---
# File: chan-ngon-than-chu/an-tho-dia-chan-ngon.md
# Title: An thổ địa chân ngôn
---

![image](/img/img_c883c25f2526b349f28e724cc4eda352.png)



# An thổ địa chân ngôn


Liên Sinh Hoạt Phật thường dạy mọi người niệm một chú  ngữ, chú ngữ này không phải là chú lớn, không phải là chú bí mật, không phải là chú phóng đại quang minh, không phải là chú vô đẳng đẳng, không phải là chú vô thượng. Mà là một chú ngữ nhỏ phổ thông.

Trong bất kì kinh điển nào đều có thể đọc thấy, rất bình phàm, bình phàm tới nỗi khiến người ta xem nhẹ nó. Đó chính là An thổ địa chân ngôn. 

Chú này như sau: “Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.”

Liên Sinh Hoạt Phật thật lòng thật sự nói với mọi người, chính là chú ngữ này có thể thay đổi vận mệnh. Đây không phải là An thổ địa chân ngôn phổ thông sao? Không sai, nhưng nó có sức mạnh lớn để thay đổi vận mệnh, thật sự không thể coi thường.

Có người trì An thổ địa chân ngôn, bệnh da liễu khó chữa mười năm của họ đã khỏi. 
Có người trên mặt có khí xui, cả đời nghèo khó, trì An thổ địa chân ngôn lâu ngày, phúc quang chiếu mệnh, vận mệnh thay đổi hoàn toàn, từ nghèo thành giàu.
Có người trì An thổ địa chân ngôn, không ngờ mười năm không có con lại có được con. 
Có người trì An thổ địa chân ngôn, cả đời khỏe mạnh không bệnh.
Có người trì An thổ địa chân ngôn, có được duyên hôn nhân, trên mặt họ hiện ánh sáng đỏ.
Có người trì An thổ địa chân ngôn, ban đầu mọi việc đều không suôn sẻ, nhưng cuối cùng thì tất cả đều thuận lợi, không có việc gì là không như ý.
Có người trì An thổ địa chân ngôn, trúng xổ số.

Tôi còn nói cho mọi người biết một bí mật, bí mật này vốn dĩ không thể nói ra, nhưng không thể không nói. Bạn chỉ cần thường xuyên trì An thổ địa chân ngôn thì khi bạn đến Las Vegas, bạn sẽ đặc biệt được như ý.

Về cơ bản thì chẳng có ai đề xướng trì tụng chú này lâu ngày, chỉ có Liên Sinh Hoạt Phật đề xướng. Liên Sinh Hoạt Phật lĩnh ngộ được nguyên lý: học Phật đương nhiên có thể thay đổi vận mệnh, học Tiên cũng có thể thay đổi vận mệnh, nhưng niệm An thổ địa chân ngôn thì sự thay đổi vận mệnh càng trực tiếp hơn.

Muốn thay đổi vận mệnh của chính mình, nắm chắc chìa khóa của tạo hóa, đích thực bất kì pháp thuật nào cũng đều phải hợp với thời cơ, hợp với cơ duyên. Chỉ cần niệm An thổ địa chân ngôn nghìn biến, vạn biến, triệu biến, nhất tâm phụng trì, phúc quang của Địa Thần sẽ chiếu mệnh, có thể cải vận, đây là sự thật.

---
# File: chan-ngon-than-chu/bat-khong-mani-cung-duong-chan-ngon.md
# Title: Bất Không Mani cúng dường chân ngôn
---

![image](/img/img_fb9072d5d80e2c795abd3e731cefb2d2.jpg)



## Bất Không Mani cúng dường chân ngôn


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp! .

Theo Bất Không Quyến Sách Thần Biến Chân Kinh đã ghi chép, công đức lợi ích của chân ngôn này bất khả tư nghì như sau:

(1) Trước khi tu pháp bất kì, trì tụng chú này, có thể khiến trong hư không pháp giới hiện lên thánh vật cúng dường vô lượng vô biên bất khả tư nghì. (Đây là lợi ích và công đức của chú này.)

(2) Nếu lấy ví dụ về phúc đức chỉ tụng mỗi câu chú này thì dùng thất bảo đầy ắp cả tam thiên đại thiên thế giới, rải đầy hoa vàng bạc, mỗi ngày ba thời cúng dường Như Lai ở khắp tam thiên đại thiên thế giới cũng không bằng một phần mười sáu phúc đức chỉ tụng mỗi câu chú này.

(3) Sáng tối mỗi lần tụng 7 biến thì nghiệp tội vô gián cũng được giải thoát.

(4) Hóa sinh hoa sen, vĩnh viễn không thai sinh, và có thể nhớ lại các kiếp trước. Về sau luôn luôn được hóa sinh từ hoa sen, vĩnh viễn không thai sinh, không còn chuyển thế nữa. Lại có thể nhớ được nhân duyên của kiếp trước, có thể nói là túc mệnh thông. Cái này chính là công đức.

Bất Không Mani cúng dường đà-la-ni được thấy trong Bất Không Quyến Sách Thần Biến Chân Kinh (Phẩm Bất Không Mani cúng dường chân ngôn): “Khi ấy, Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát. Thấy uy đức thần biến của tất cả đại mandala samaya quảng đại thần thông này. Trong sát-na xuất hiện đầy ắp mười phương. Sau đó trao thanh tịnh liên hoa cho Minh Vương xong. Liền nói Bất Không Mani cúng dường chân ngôn.”

“Bất Không Mani cúng dường đà-la-ni chỉ niệm 3 biến là tương đương với quảng đại cúng dường, khi đi ra ngoài du lịch có thể niệm chú này 3 biến.
Ôm. A-mo-ga. Pu-ja. Ma-ni. Pad-ma. Wa-ji-la. Ta-tha-ga-ta. Vi-lo-ki-te. Sa-man-ta. Pra-sa-ra. Hùm.”

Theo ghi chép của Vô Lượng Thọ Như Lai Quán Hành Cúng Dường Nghi Quỹ: “Bất Không Mani cúng dường đà-la-ni quảng đại này. Mới tụng ba biến. Lập tức trở thành ở trong tập hội của Vô Lượng Thọ Như Lai và trong các cõi Phật nhiều như vi trần. Trút mưa vô lượng quảng đại cúng dường. Gọi là đủ loại phấn thơm nhiều như biển mây. Đủ  loại mũ hoa nhiều như biển mây. Đủ loại hương thơm nhiều như biển mây. Đủ loại thức ăn kỳ diệu nhiều như biển mây. Đủ loại thiên y kỳ diệu nhiều như biển mây. Đủ loại đèn nến mani sáng rực nhiều như biển mây. Đủ loại cờ phướn, màn che quý, ô lọng quý nhiều như biển mây. Đủ loại thiên nhạc kỳ diệu nhiều như biển mây. Đầy khắp các hội của chư Phật Bồ Tát. Thành quảng đại cúng dường chân thực. Đều nhờ kết thủ ấn và tụng chân ngôn cúng dường này. Mà tập hợp được vô lượng phúc. Giống như hư không không biên giới.”

Quan Thế Âm Bồ Tát nói với Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ: “Mani cúng dường chân ngôn này, nếu người nào thường xuyên vào sáng sớm tu pháp quán tưởng tướng tự tại và tụng trì cúng dường, đủ nghìn vạn biến không gián đoạn, thì có thể sinh ra đại cúng dường nhiều như biển mây. Chân ngôn này có đầy đủ các loại thần thông lực, giống như cây ngọc Mani có thể sinh ra vô lượng vô tận các vật tối thắng, sức mạnh công đức vô tận như biển mây.”

Phật Thích Ca Mâu Ni nói với Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ: “Mani cúng dường chân ngôn này. Nếu có người như pháp lấy giấy trắng, thẻ tre, lụa, tấm bảng viết chân ngôn này. Sẽ được tiêu trừ sạch sẽ năm nghiệp vô gián tích lũy trong quá khứ. Nếu có hữu tình nào thấy hoặc nghe được chân ngôn này. Cũng được diệt trừ dơ bẩn, chướng ngại, nghiệp tội, phiền não. Người viết chép, nếu sau khi mệnh chung, được sinh về Tây phương Cực Lạc quốc thổ. Cho đến khi bồ đề cũng không đọa vào thai, noãn, thấp, hóa sinh. Được thọ sinh làm hoa sen sống trong các cõi Phật, đắc túc trụ trí.”

Bất Không Mani cúng dường đà-la-ni là Quan Thế Âm Bồ Tát từ thần thông lực của Đại Huyễn Hóa Võng Tam ma địa hóa hiện ra, là tập hợp phúc tối thắng bất khả tư nghì của chân ngôn giới, là sức mạnh đại từ bi của Quan Thế Âm Bồ Tát khi cứu tế chúng sinh khỏi khổ hải. 


![image](/img/img_539006bccbb452a89db88e25a4796fa6.jpg)



### Trò hỏi Thầy đáp - Tương tác chính là sức mạnh - Tập 44. 


Ngày 06/09/2020, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Diêu Trì Kim Mẫu tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, và khai thị Đạo Quả - bài giảng số 331.

**Câu hỏi 233: **Xin Sư Tôn khai thị. Đệ tử vì các việc như du lịch và công tác mà thường xuyên phải đi nước ngoài, khi tu pháp cúng dường đôi khi không có cúng phẩm, vì thế nghĩ đến Bất Không Mani cúng dường chân ngôn của Bất Không Quyến Sách Quan Âm Bồ Tát. Chú cúng dường bí mật này chỉ niệm 3 biến là tương đương với quảng đại cúng dường. Chú là: “Ôm. A-mo-ga. Pu-ja. Ma-ni. Pad-ma. Wa-ji-la. Ta-tha-ga-ta. Vi-lo-ki-te. Sa-man-ta. Pra-sa-ra. Hùm.” Lại thỉnh Sư Tôn vì lợi ích đại chúng mà khai thị giới thiệu công đức và ứng dụng của chú này, và thỉnh cầu phương thức hồi hướng. Bình thường chú này dùng như thế nào?

Theo Bất Không Quyến Sách Thần Biến Chân Kinh đã ghi chép, công đức lợi ích của chân ngôn này bất khả tư nghì như sau:

(1) Trước khi tu pháp bất kì, trì tụng chú này, có thể khiến trong hư không pháp giới hiện lên thánh vật cúng dường vô lượng vô biên bất khả tư nghì. (Đây là lợi ích và công đức của chú này.)

(2) Nếu lấy ví dụ về phúc đức chỉ tụng mỗi câu chú này thì dùng thất bảo đầy ắp cả tam thiên đại thiên thế giới, rải đầy hoa vàng bạc, mỗi ngày ba thời cúng dường Như Lai ở khắp tam thiên đại thiên thế giới cũng không bằng một phần mười sáu phúc đức chỉ tụng mỗi câu chú này.

(3) Sáng tối mỗi lần tụng 7 biến thì nghiệp tội vô gián cũng được giải thoát.

(4) Hóa sinh hoa sen, vĩnh viễn không thai sinh, và có thể nhớ lại các kiếp trước.

**Trả lời 233:** Kiếp trước, tương đương với có túc mệnh thông, rất nhiều đời bạn đều có thể nhớ lại được. Chà! Theo Bất Không Quyến Sách Thần Biến Chân Kinh đã ghi chép, công đức lợi ích của chân ngôn này bất khả tư nghì như vậy. Liên Hoa Dung Thừa Minh này đã nói ra lợi ích của chú ngữ này rồi. Vì anh ta đã nói ra, anh ta sẽ có công đức. Người này sẽ có công đức, khiến mọi người biết được có câu chú này. Ai đã từng đọc câu chú này rồi? Có mấy đồng môn từng đọc rồi, họ đều tụng chú này, rất tốt. 

“Thỉnh Sư Tôn vì lợi ích đại chúng mà khai thị giới thiệu công đức và ứng dụng của chú này, và thỉnh cầu phương thức hồi hướng.” Chú ngữ này là Bất Không Mani cúng dường chân ngôn của Bất Không Quyến Sách Quan Âm Bồ Tát, bạn có thể niệm chú này, tức là Bất Không Quyến Sách Quan Âm Bồ Tát quán đảnh thì sẽ có tác dụng. Mọi người biết Bất Không Quyến Sách Quan Âm, phàm là người đã từng nhận quán đảnh thì mọi thỉnh cầu đều không hỏng, cho nên khi nào làm Hộ Ma của vị này thì rất nhiều người sẽ làm chủ cầu. Bất Không Quyến Sách Quan Âm, rất nhiều người sẽ làm chủ cầu vì mọi người cũng biết lợi ích của ngài. Còn về quảng đại cúng dường của ngài, niệm chú này “Ôm. A-mo-ga. Pu-ja. Ma-ni. Pad-ma. Wa-ji-la. Ta-tha-ga-ta. Vi-lo-ki-te. Sa-man-ta. Pra-sa-ra. Hùm.” Trước kia mẹ tôi cũng niệm chú này. Công đức của chú này tôi đã giảng rồi.

(1) Trước khi tu pháp bất kì, trì tụng chú này, có thể khiến trong hư không pháp giới hiện lên thánh vật cúng dường vô lượng vô biên bất khả tư nghì. (Đây là lợi ích và công đức của chú này.)

(2) Nếu lấy ví dụ về phúc đức chỉ tụng mỗi câu chú này thì dùng thất bảo đầy ắp cả tam thiên đại thiên thế giới, rải đầy hoa vàng bạc, mỗi ngày ba thời cúng dường Như Lai ở khắp tam thiên đại thiên thế giới cũng không bằng một phần mười sáu phúc đức chỉ tụng mỗi câu chú này.

(3) Sáng tối mỗi lần tụng 7 biến thì nghiệp tội vô gián cũng được giải thoát.

(4) Hóa sinh hoa sen, vĩnh viễn không thai sinh, và có thể nhớ lại các kiếp trước.

Về sau luôn luôn được hóa sinh từ hoa sen, vĩnh viễn không thai sinh, không còn chuyển thế nữa. Lại có thể nhớ được nhân duyên của kiếp trước, có thể nói là túc mệnh thông. Cái này chính là công đức. Anh ta đã viết ra rồi.

Ứng dụng ra sao? Ứng dụng đã có ngay ở đây rồi. “Sáng tối mỗi lần tụng 7 biến thì nghiệp tội vô gián cũng được giải thoát.” Đây chính là ứng dụng. 

Phương thức thỉnh cầu hồi hướng, bạn có thể hồi hướng theo cách như sau. Cái gọi là phương thức bất không hồi hướng, niệm chú xong, bạn có thể làm hồi hướng, tôi cũng vừa mới nói về hồi hướng rồi. Trọng điểm hồi hướng tôi cũng vừa mới nói, thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, gặp dữ hóa lành, đạo tâm kiên cố, đây chính là hồi hướng. Công đức của chú đã nằm trong đó rồi, ứng dụng cũng ở trong đó rồi. Phương thức thỉnh cầu hồi hướng, dùng như thế này là được rồi. Chính bản thân anh ta đã nói ra rồi. Tôi không cần nói lại nữa. Có lợi ích lớn như vậy, hy vọng mỗi người đều có thể trì tụng, chỉ một câu là được, từ này về sau luôn được hóa sinh làm hoa sen, không còn thai sinh. Ngoài ra, công đức lớn như vậy — nghiệp tội vô gián cũng có thể được giải thoát, sớm tối mỗi lần niệm bảy biến, nghiệp tội vô gián cũng có thể giải thoát, đây là công đức rất lớn.

Còn tôi bình thường thì sao? Bản thân tôi quán tưởng, trong thangka của chúng ta chẳng phải có đồ cúng sao? Trên mỗi bức thangka, ví dụ bức Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang này, ở bên dưới có một cúng phẩm (ở chỗ thấp nhất), chính là mấy cái vại hình tròn bên trên có nắp, có mấy cái liền với nhau, đó chính là cúng phẩm, thất trân bát bảo, các loại thuốc, thứ gì cũng ở trong đó, sau đó quán tưởng thành cúng dường mây, rồi niệm bảy biến, đó chính là quảng đại cúng dường. Bạn có biết đó là thứ gì không? Mọi người có nhìn thangka không? Thangka ở đây có hay không? Mọi người nhìn xem ở bên dưới thangka có cái nắp tỏa ra ánh lửa, hơi giống mấy quả đào tiên được bày ở đây, rồi bên trên có lửa. Cái bình có nắp hơi giống quả đào, bên trong đều là cúng phẩm. Bạn hãy quán tưởng cúng phẩm này biến thành cúng dường mây, sau đó lại niệm bảy biến chân ngôn cúng dường của Bất Không Quyến Sách Quan Âm. 

Chính là quán tưởng và trì chú, làm theo phương thức này. (Máy quay chiếu trực tiếp vào bên dưới thangka). Đúng rồi đúng rồi, chính là những thứ đó, những thứ đó chính là cúng phẩm. Quán tưởng những thứ đó biến hóa thành cúng dường mây. Các bạn có biết đó là những thứ gì không? Không có ai biết à? Đó chính là ngọc mani, trong chú ngữ này cũng có. Trong câu chú vừa nãy, cái đó gọi là ngọc mani, biến ngọc mani thành cúng dường mây, sau đó niệm bảy biến, mỗi lần làm quán tưởng như vậy thì niệm bảy biến thì tức là quảng đại cúng dường.

---
# File: chan-ngon-than-chu/cam-lo-minh-vuong-chu-va-thu-an.md
# Title: Cam Lộ Minh Vương chú và thủ ấn
---

# Cam Lộ Minh Vương chú và thủ ấn


Ôm a-mi-li-ti hùm-fa-cha.
Hoặc:
Ôm a-mi-ta hùm pan.
Cam Lộ Vương, tên tiếng Phạn là Amrta-raja, là một trong Ngũ Như Lai, là biệt hiệu của hệ A Di Đà Như Lai. Di Đà hóa thân thuyết pháp, đúng lúc giáng mưa pháp cam lộ, vì thế mượn tên của Cam Lộ Vương để xưng công đức của ngài. Chú của ngài là Cam Lộ chú, đại chú thì gọi là Thập Cam Lộ Minh.

Hai tay ngón cái và ngón út nối vào nhau thành vòng, ba ngón còn lại dựng thẳng, hay tay đặt chéo nhau.


### Quyển 3: Mão Nhị 


(Mật Tông Đạo Thứ Đệ Quảng Luận - Tổ sư Tsongkhapa)

Mão Nhị: Ra ngoài, đi tắm, vào Phật đường

Tôi nhớ từng xem một bộ phim tài liệu, đó là ở vùng Tây Tạng, khuôn mặt của họ thật sự rất đen, rất nhiều ngày không tắm cho nên khuôn mặt đều có một lớp rất đen. Họ cũng dùng đất, nắm một nắm đất lên rồi chà chà lên mặt, dùng nước dội đi. Chà! Đây là một cách làm rất sạch.

Khi họ đi tắm thì làm rất nhiều niệm chú và kết thủ ấn.

“Lấy đất chia làm ba phần, để vào nơi sạch, lúc này cũng kết ba loại ấn samaya đã nói ở phần trước, tùy theo một trong số điều họ cần mà sau đó lấy đất.” Bạn phải cầm đất đó lên, sau đó chia làm ba phần, để ở bên bờ sông.

Sau đó thì sao? Lúc này ngài dùng một phương pháp để dọa quỷ, phương pháp gì đây? “Tiếp đó dùng ngón cái đè lên ngón út, các ngón tay còn lại làm thành hình chày kim cang, hai tay bắt chéo nhau đè lên cánh tay, răng trên ấn xuống môi, mắt trợn lên phẫn nộ, tụng rằng: …..” Còn phải tụng chú. Ngài kết thủ ấn này (thị phạm kết thủ ấn). Đây là thủ ấn của Cam Lộ Minh Vương. Tương tự, ngài dùng răng trên cắn vào môi dưới, ngài làm như vậy, Sư Tôn là môi dưới bặm lên môi trên, làm như vậy, cái nào trông hung dữ hơn? Môi dưới bặm lên môi trên trông hung dữ hơn đó! Thế thì ngài viết sai rồi à? Làm như thế này trông hung hơn. Ngài phải kết thủ ấn như thế này đè lên hai bên, đè vào hai vai, sau đó ở giữa, ấn như thế này, đảo mắt. 

Phương pháp này của ngài dùng để dọa quỷ, có nghĩa là phải đi đến bờ sông, bạn làm thủ ấn này, sau đó làm tướng phẫn nộ, dùng con mắt kim cang đảo vòng quanh. Đó là để làm gì? Tức là, có thứ gì không tốt, nhìn thấy tướng mặt của bạn như thế này thì nó sẽ sợ mà bỏ chạy. Thế nhưng, tôi cảm thấy các bạn căn bản là không giống, thật đó! Cho dù các bạn kết thủ ấn, sau đó môi dưới bặm lên môi trên, tiếp theo làm như thế này, đảo mắt một hồi, lại còn cười hi hi. Tôi nói cho bạn biết nhé, quỷ không những không dọa được mà còn cho rằng có thể bắt nạt được bạn, thế là sẽ đến để quấy nhiễu bạn.

Ngài dùng phương pháp này tức là dùng tướng khủng bố để dọa những thứ bất hảo bỏ đi. Làm tướng phẫn nộ để xua đuổi các ma quỷ, ý nghĩa chính là ở đây.

Sau đó niệm chú, câu chú chủ yếu nhất ở phía sau: “Ôm a-mi-ta hùm pan.” Đây là câu chú ngắn, cũng có thể niệm chú dài hơn một chút: “Ôm gu-ru gu-ru ti-cha-ti-cha pân-ta-pân-ta ha-na-ha-na a-mi-ta hùm pan.” Đây là chú trung. Nếu kết hợp hai câu này sẽ là chú dài. Đây chính là chú ngữ của Cam Lộ Minh Vương.

Niệm chú này, kết thủ ấn Cam Lộ Minh Vương, sau đó đảo mắt một lúc, như vậy thì sẽ không có ma.

Bình thường, giả sử trong phòng tắm ở nhà bạn cũng làm như thế này thì cũng được. Các bạn ở trong phòng tắm, những con ma đó đều bỏ chạy hết, sẽ không có ma đến nhìn trộm bạn tắm. Tôi nói với bạn, trong Mật giáo chúng ta có nói rằng ở trong nhà vệ sinh thật sự để có các thứ trốn ở trong đó. Vì thế, bạn (hành giả Chân Phật) khi đi vào nhà vệ sinh phải búng ngón tay một cái, biểu thị có người đến, ai ở bên trong phải đi đi. Tỏ ý như thế một chút, đưa ra sự nhắc nhở, ý nghĩa của búng ngón tay là như vậy.

Vậy thì mỗi khi bạn đi vào nhà vệ sinh nếu đều phải đảo mắt nhìn, tôi thấy thế thì chẳng thế nào “đi” ra được. Như thế sẽ rất căng thẳng, về mặt tâm lý bạn đã sợ trước rồi, muốn đi dọa quỷ, nhưng kết quả là lại dọa chính mình. Đây là phòng hộ.

Ngài phải kết thủ ấn, còn phải đánh toàn thân, hơn nữa còn phải niệm tụng: “A-mi-ta hùm pan.” Chúng ta đọc trang 54 dòng số 7: “Hai tay nắm vào trong, ngón trỏ duỗi thẳng, đánh từ đầu đến chân và xung quanh để trừ ma chướng ở trong người.” Đây là để đánh ma chướng ở trong người mình. Ngài không chỉ muốn phòng hộ ma ở bên ngoài mà còn muốn phòng hộ ma ở bên trong chính mình. Hai ngón cái ấn vào hai bên, đây là ấn gia trì, sau đó đánh toàn thân, từ đầu cho đến chân đều đánh, đây là để trừ ma chướng trên người mình. Bạn xem, lại còn phải “xòe và ngửa hai bàn  tay, hai ngón út móc vào nhau, hai ngón áp út ấn vào trong, hai ngón giữa cùng giơ lên, hai ngón trỏ cong về đốt thứ ba, ngón cái hợp lại ở trong. Kết ấn này và mặc giáp hộ thân, mặc giáp kim cang.” Thủ ấn này sao mà loằng ngoằng. Thủ ấn này rất loằng ngoằng. 


### Quyển 3: Mão Tứ


(Mật Tông Đạo Thứ Đệ Quảng Luận - Tổ sư Tsongkhapa)

Mão Tứ: Bảo vệ chính mình và nơi ở

Mật Tông Đạo Thứ Đệ Quảng Luận, hôm nay chúng ta giảng “Mão Tứ: Bảo vệ chính mình và nơi ở” (trang 58).

Hôm nay phải nói về bảo vệ cá nhân và bảo vệ đàn thành. Trong Mật giáo rất chú trọng bảo vệ cá nhân và bảo vệ đàn thành, Hiển giáo thông thường thì tương đối ít có.

Là một hành giả Mật giáo, bạn phải hiểu cách bảo vệ chính mình và phòng ma, phải đặc biệt đặc biệt coi trọng.

Thông thường trong Hiển giáo, đại khái chỉ làm sái tịnh trong chùa, cá nhân tự mình sái tịnh cho mình, điều này vẫn không đủ. Cho nên rất nhiều người tu hành hoặc pháp sư, thân thể của họ đều không tốt. Có câu nói rằng “tu hành phải mang ba phần bệnh”. Dường như mỗi người đều có bệnh, hơn nữa mặt còn xanh xao, âm thanh giọng nói rất yếu ớt, rất nhỏ, bộ dạng như sắp chết rồi. Thật sự giống như đang tha lôi một cái mạng già, tha lôi lê lết, ngày nào cũng giống như sắp chết và vẫn không chết. Như thế thì không được!

Với một hành giả Mật giáo mà nói, họ phải rất uy vũ, rất trang nghiêm, rất hùng tráng, phải là kim cương bất hoại, như thế mới là hành giả Mật giáo. 

Không thể giống như kiểu một chút khí lực cũng không có, đọc kinh lên nghe giống như muỗi kêu vậy. Trước kia tôi nghe một lão pháp sư giảng kinh, thật sự là ông ấy giảng kinh thì người ở dưới đều nghe không hiểu, không chỉ nghe không hiểu mà còn không nghe được tiếng của ông ấy, âm thanh nói chuyện của ông ấy như muỗi kêu vậy. Nói thật là nghe ông ấy giảng kinh thì phải bịt tai lại rồi nghe cho thật kĩ thì mới có thể nghe được. Hơn nữa ông ấy lại là người từ Đại Lục đến, khi nói chuyện có khẩu âm địa phương, nếu là giọng Bắc Kinh thì còn dễ nghe một chút, nhưng ông ấy lại nói thổ ngữ của Tứ Xuyên. Ôi, tôi thật sự không chịu nổi!

Chúng ta là hành giả Chân Phật, hành giả Mật giáo, nhất định phải biết bảo vệ chính mình, bảo vệ đàn thành và bảo vệ nơi ở, nhất định phải hiểu rõ, điều này tôi từng nói nhiều  lần rồi. Chí ít bạn phải sái tịnh, biết cách dùng nước hoa, niệm Cam Lộ Vương chân ngôn 7 biến, sau khi niệm xong thì vẩy lên người mình, chính là đã sái tịnh cho mình rồi.

Sái tịnh không phải là quán đảnh đâu! Hiện nay rất nhiều pháp sư coi sái tịnh là quán đảnh, loạn hết cả lên! Đáng ăn mắng! Ngoài ra còn có một điểm nữa, sái tịnh đàn thành có thể dùng nước hoa, niệm 7 biến Cam Lộ Vương chân ngôn, búng ngón tay tức là sái tịnh. Ở mỗi một nơi búng ngón tay một cái chính là sái tịnh, cách sái tịnh này là rất đơn giản rồi. Là sái tịnh, không phải quán đảnh. Cho nên phải nhớ, đó gọi  là sái tịnh, không phải quán đảnh. Sái tịnh có ý nghĩa là thanh tịnh tự thân, thanh tịnh thân mình, thanh tịnh chỗ đặt đàn thành, dùng nước chú Đại Bi để sái tịnh, dùng nước pháp Cam Lộ Vương (cam lộ thủy) để sái tịnh, đều gọi là làm sái tịnh. Đoạn đầu tiên ở đây là nói về sái tịnh, có thể niệm Cam Lộ Vương chân ngôn: “Ôm a-cưa-li-cưa-la pê-cha hùm pan.” Chú ngắn của Cam Lộ Vương.


### Pháp kết giới bằng chú Cam Lộ Minh Vương


Cho nên Mật giáo có kết giới, phòng ma, mặc bia giáp hộ thân, pháp Quan Âm thân đàn thành tránh tai nạn, đây đều là hàng phục bùa ngải. Có người làm cái gì bạn cũng không sợ, bởi vì bạn có kết giới, bốn góc có cọc kim cang, hư không có lưới kim cang, xung quanh có tường kim cang, còn có cả lửa kim cang nổi lên, đây chính là bốn tầng kết giới của Mật giáo, nhất định phải học.

Bình thường tôi làm bia giáp hộ thân, tu pháp thì làm tứ trùng kết giới. Buổi tối khi đi ngủ, bạn cũng có thể quán tưởng tứ trùng kết giới thì sẽ không có ma chướng. Bạn có thủ ấn, bạn có quán tưởng, bạn còn phải niệm chú. Niệm Cam Lộ Minh Vương chân ngôn: “Ôm a-mi-ta hùm pan. Ôm a-mi-ta hùm pan. Ôm a-mi-ta hùm pan.” Đây là chú ngữ kết giới của Cam Lộ Minh Vương, các bạn niệm chú, quán tưởng, rồi kết thủ ấn. Pháp của Mật giáo này các bạn học được rồi, thân tâm của chính các bạn đều sẽ khỏe mạnh. Vâng, cám ơn mọi người.

Om mani padme hum.

🌟

Làm một hành giả Chân Phật, hành giả Mật giáo, nhất định phải biết cách bảo vệ chính mình, bảo vệ đàn thành và bảo vệ nơi ở.

Tứ trùng kết giới của Mật giáo cũng là một pháp phòng hộ, bao gồm đàn thành và chính bản thân bạn. 

Tứ trùng kết giới có bốn thủ ấn:

Thứ nhất là thủ ấn cọc kim cang (xem hình 1):
Hai tay ngón giữa và ngón áp út cùng nối lại thành vòng, đầu mút ngón tay tiếp xúc nhau, ngón trỏ và ngón út giơ thẳng, ngón cái làm thành hình cọc đâm xuống đất, đây là ấn cọc. Làm thủ ấn cọc kim cang, quán tưởng bốn cái cọc kim cang cắm chắc tại xung quanh đàn thành và thân thể bạn.

Thứ hai là thủ ấn lưới kim cang (xem hình 2):
Tách hai ngón cái ở bên dưới ra là thành lưới kim cang. Quán tưởng lưới kim cang từ hư không buông xuống, đặt trên bốn cái cọc kim cang.

Tiếp theo là xây tường kim cang (xem hình 3):
Hai ngón cái mở hướng lên trên, lật lại là thành tường kim cang, dựng thẳng, bốn xung quanh dựng lên tường kim cang.

Sau đó thắp lửa kim cang (xem hình 4):
Dùng ngón trỏ và lòng bàn tay, chấm một cái, lửa nổi lên, quán tưởng toàn bộ lưới kim cang và tường kim cang đều bốc cháy. 

Cọc kim cang chính là địa giới, dựng lên bốn cọc kim cang trên mặt đất, trói ma trên cái cọc này.
Lưới kim cang chính là thiên giới, tấm lưới vô hình giăng khắp hư không, cũng bao trùm lấy các bức tường.
Tường kim cang chính là chu vi giới, phong tỏa toàn bộ nơi mình ở, không có kẽ hở.
Lửa kim cang chính là phòng hộ giới, lửa nổi lên, ma sẽ không thể đi vào. Võng kim cang và tường kim cang đều cháy lên ngọn lửa kim cang.

Có thủ ấn, có quán tưởng, còn phải niệm chú. Niệm Cam Lộ Minh Vương chân ngôn: “Ôm a-mi-ta hùm pan.” Đây là chú ngữ kết giới của Cam Lộ Minh Vương.

Muốn tu trì pháp này trước tiên phải nhận quán đảnh pháp tứ trùng kết giới.

---
# File: chan-ngon-than-chu/cam-lo-quan-do-loi-chan-ngon.md
# Title: Cam Lộ Quân Đồ Lợi chân ngôn  
---

![image](/img/img_46e55929d5a6f6fa3631596ee1b79db8.jpg)



# Cam Lộ Quân Đồ Lợi chân ngôn 


Quân Đồ Lợi Minh Vương là một trong Ngũ Đại Minh Vương của Mật giáo, còn gọi là Cam Lộ Quân Đồ Lợi Minh Vương, dịch nghĩa là Cam Lộ Minh Vương, Cam Lộ Tôn. Vì Minh Vương hiển tướng phẫn nộ cho nên còn gọi là Quân Đồ Lợi Dạ Xoa.

Ý nghĩa của Quân Đồ Lợi là từ bảo bình chảy ra nước trí huệ cam lộ, gột rửa phiền não, và chuyển tính tướng ngu si ngạo mạn tương ứng với thức thứ bảy của ta thành bình đẳng tính trí, vì thế trong các nghi quỹ hay gọi vị này là Cam Lộ Quân Đồ Lợi.

Quân Đồ Lợi Minh Vương có vị trí trong mandala Kim cương giới, thuộc hệ thân giáo lệnh luân của Bảo Sinh Phật, hiện thân phẫn nộ, nằm ở góc Tây Nam của Hàng Tam Thế Hội. Hình tượng của ngài là một mặt ba mắt tám tay, tay cầm vũ khí, lưng cõng ngọn lửa, dùng rắn quấn quanh thân thay cho chuỗi vòng.

Quân Đồ Lợi Minh Vương ở trong viện La Tô Tất Địa của mandala Thai tạng giới là Kim Cang Quân Đồ Lợi, mật hiệu là Cam Lộ Kim Cang, thuộc hệ sứ giả của Phật bộ, hình tượng là màu vàng, kết ấn trước ngực, ngồi trên hoa sen màu đỏ. 

Quân Đồ Lợi Minh Vương ở trong viện Quan Âm là Liên Hoa Quân Đồ Lợi, mật hiệu là Hàng Phục Kim Cang, thuộc hệ sứ giả của Liên Hoa bộ, hình tượng là màu xanh, tay trái cầm hoa sen chưa nở, mặc thiên y.

Quân Đồ Lợi Minh Vương ở trong viện Kim Cang Thủ cũng là Kim Cang Quân Đồ Lợi, mật hiệu là Cam Lộ Quân Đồ Lợi, thuộc hệ sứ giả của Kim Cang bộ, hình tượng màu vàng, hai tay làm ấn tam cổ, bắt chéo ôm trước ngực.

Bởi vì Cam Lộ Quân Đồ Lợi Minh Vương trong Mật giáo là vị Minh Vương làm việc rất nổi tiếng, Liên Sinh Hoạt Phật thường tu tập. Người phụng pháp này có thể loại trừ các loại bệnh của ma bệnh, xà chướng, nhiệt não, yếm thực, u ám, về phương diện trị bệnh, vị Minh Vương này rất có công lực.

Bình thường tu pháp đàn tràng kết giới thanh tịnh, có thể trì Quân Đồ Lợi Minh Vương chú thủy, niệm Quân Đồ Lợi Minh Vương tiểu chú: “Ôm a-mi-li-tơ hùm pây” 7 biến, quán tưởng đi vào trong nước, dùng ngón tay vẩy nước về bốn hướng Đông Tây Nam Bắc, còn bản thân cũng uống một chút nước chú Quân Đồ Lợi Minh Vương, biểu thị Đông Nam Tây Bắc Trung tất cả thanh tịnh.

---
# File: chan-ngon-than-chu/cam-lo-thuy-chan-ngon.md
# Title: Cam lộ thủy chân ngôn
---

![image](/img/img_065287bf0bdbf229ac1fa2d141128970.jpg)



# Cam lộ thủy chân ngôn


Cam lộ là một dạng tỉ dụ của giáo pháp Như Lai, trong kinh Pháp Hoa, phẩm “Dược Thảo Dụ” có nói: “Ta là Thế Tôn, không ai sánh bằng, vì yên chúng sinh, nên hiện trên đời, vì chúng sinh nói cam lộ tịnh pháp, pháp ấy nhất vị, giải thoát niết bàn.”

Đây là:
Đạo của đại giác. Tịch diệt vô tướng.
Vị ấy như thần. Ví như cam lộ.

Vậy ai là Cam Lộ Vương? Thì ra Cam Lộ Vương là chỉ A Di Đà Phật, chú của A Di Đà Phật gọi là cam lộ chú. A Di Đà Phật là Cam Lộ Vương Như Lai, bởi vì A Di Đà Phật hóa thân thuyết pháp, ban mưa cam lộ, vì thế gọi đây là công đức của ngài.

Chúng ta tu Mật pháp biết Quân Trà Lợi Minh Vương có ba loại:
1. Kim Cang Quân Trà Lợi Minh Vương.
2. Liên Hoa Quân Trà Lợi Minh Vương.
3. Cam Lộ Quân Trà Lợi Minh Vương. 

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn của Chân Phật Tông từng truyền thụ Cam Lộ Quân Trà Lợi Minh Vương cúng dường niệm tụng thành tựu nghi quỹ, còn truyền thụ mười chú cam lộ. 

Cam lộ thủy chân ngôn cơ bản nhất là:
”Na-mô su-lu-pô-yê ta-tha-yê-tô-yê ta-chi-tha ôm su-lu-su-lu pô-la-su-lu sô-ha.”

Đây là gia trì nước, khiến cho nước thanh tịnh trong veo, vẩy khắp pháp hội, khiến các loài ngạ quỷ cổ họng tự mở ra, chúng sinh pháp giới cùng lúc đều được uống cam lộ.

Chúng ta mong rằng cam lộ thủy này:
*”Mong đều sung túc bỏ tham lam
Mau thoát u minh sinh tịnh thổ
Quy y Tam Bảo phát bồ đề
Sau cùng đắc thành vô thượng đạo
Công đức vô biên tận ngày sau
Tất cả Phật tử cùng hưởng pháp.”*

Pháp môn này là:
*Các vị trời trí huệ
Thương xót loài chúng sinh
Năng mở cửa cam lộ
Quảng độ cho tất cả.*

---
# File: chan-ngon-than-chu/chan-ngon-coc-kim-cang.md
# Title: Chân ngôn Cọc kim cang
---

![image](/img/img_0990303dfeff08ce37d628dee3b8cf3c.jpg)



# Chân ngôn Cọc kim cang


**Thủ ấn: **

Ngón giữa và ngón áp út của hai tay đan vào nhau, điểm mút của ngón tay chạm vào nhau, ngón út và ngón trỏ giơ thẳng, ngón cái làm thành hình cái cọc.


![image](/img/img_a89e6337e0d02d8896e61cc99d6e56fb.png)


**Sư Tôn truyền khẩu quyết tâm yếu của pháp:**

Hành giả Mật giáo tu pháp Cọc kim cang tương đương với tu thủ hộ luân [bánh xe bảo vệ]. Trong Mật giáo, nói đến bánh xe tức là ý nghĩa bẻ gãy. Tu hộ luân làm pháp Cọc kim cang là để bảo vệ đàn thành và biến đàn thành thành thanh tịnh. 

Hành giả kết thủ ấn cọc kim cang, niệm chú, niệm chú xong thì búng ngón tay một cái tức là có môt chiếc cọc kim cang ở trước mặt bạn để trói ma, trói ma lên chiếc cọc đó. Chiếc cọc này cũng có thể cắm xuống đất, cắm xung quanh ngôi nhà, kết thủ ấn cọc kim cang, niệm chú ngữ: “Ôm cưa-li-cưa-la pan-chi-pan-chi pu-rưa pân-ta-pân-ta hùm-pan.” Dùng chú ngữ này để gia trì cho cọc kim cang. Tay kết thủ ấn cọc kim cang, sau đó niệm chú 7 biến, búng ngón tay một cái tức là một chiếc cọc kim cang cắm trên mặt đất. Sau đó quán tưởng ma bị trói trên cái cọc đó. Bạn làm với bốn phía nghĩa là bảo vệ đàn thành và bảo vệ địa điểm đó.

Ngón giữa và ngón áp út của hai tay đan vào nhau, điểm mút của ngón tay chạm vào nhau, ngón út và ngón trỏ giơ thẳng, ngón cái làm thành hình cái cọc cắm xuống đất, đây là thủ ấn cọc. Tụng chú, quán tưởng các ma bị cọc kim cang phẫn nộ đóng xuống, khiến chúng không thể chuyển động. Đây chính là thủ ấn cọc kim cang.

Trong “Mật Tông Đạo Thứ Đệ Quảng Luận” có ghi chép: “Cọc kim cang dùng ba nguyên liệu là gỗ, xương, hoặc sắt để làm. Có độ dài khác nhau như 18 đốt tay, 12 đốt tay, 8 đốt tay.” “Trên đầu cọc kim cang làm tượng Minh Vương, đầu bên dưới thì làm thành hình cọc đinh nhọn.” Cọc kim cang có pháp Đóng cọc.

Tác dụng của pháp Đóng cọc là dùng cọc kim cang để đóng đinh ma gây chướng ngại cho tu hành, khiến ma không thể nhúc nhích. Tức là dùng cọc kim cang để đóng vào đầu ma. Ngoài ra có thể đóng cọc bốn phía, tương đương có bốn vị Minh Vương bảo vệ bốn hướng, ở trong phạm vi được đóng cọc, tà ma không thể vào. Đây chính là pháp kết giới của Mật giáo. Đóng cọc kim cang rồi thì lại tu tường kim cang, tức là lấy cọc kim cang làm cột trụ để dựng lên bức tường kim cang, có ý nghĩa bảo vệ cho người tu hành.

Trong tiểu sử của đại sư Mật tông Nhiệt La Hoạt Phật có mấy truyền kỳ về cọc kim cang như sau:
”Có một con ác long thổi gió lớn đến mức sỏi đá bay tứ tung, khiến cho Nhiệt La Hoạt Phật và những người đi theo không thể tiến lên phía trước. Nhiệt La Hoạt Phật ném cọc kim cang ra, đánh mù một con mắt của ác long. Cuồng phong lập tức ngừng. Cuối cùng con rồng mù này đã đầu hàng Nhiệt La Hoạt Phật.”

Ngoài ra còn một truyền kỳ khác:
”Trên đường từ Thiên Hồ trở về, trời đã tối mà vẫn cách nơi ở còn xa, đi lại rất vất vả, mọi người nói phải làm sao đây? Nhiệt La Hoạt Phật từ hông rút ra cọc kim cang cắm lên mặt đất. Đột nhiên ở phía trước mặt xuất hiện một ngôi nhà, bên trong có nồi niêu, thức ăn, giường ghế đủ cả.
Mọi người liền ở lại đó qua đêm, ăn một bữa tối rất thịnh soạn. Sáng sớm ngày hôm sau, khi ăn sáng xong và lên đường, Nhiệt La Hoạt Phật rút cọc kim cang ra, quay đầu lại nhìn thì ngôi nhà đã biến mất rồi.”

Hai truyền kỳ này giống như thần thoại trên trời, nhưng chày kim cang của Mật giáo có cách tu pháp bí truyền, pháp này rất quý báu.

---
# File: chan-ngon-than-chu/chan-ngon-phat-bo-de-tam.md
# Title: Chân ngôn phát bồ đề tâm
---

![image](/img/img_e62efc304998cd6456bf9c3a969947d0.jpg)



## Chân ngôn phát bồ đề tâm


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chân ngôn phát bồ đề tâm là chân ngôn của tất cả Bồ Tát mới phát tâm thanh tịnh. 
”Đại Thừa Bản Sinh Tâm Địa Quán Kinh” ghi chép rằng: Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Tâm không hình tướng và cũng không có chỗ trụ, hành giả phàm phu mới phát tâm dựa vào chỗ nào, quán tướng nào?” Phật nói: “Thiện nam tử! Tướng bồ đề tâm mà phàm phu quán giống như mặt trăng thanh tịnh tròn đầy,  sáng tỏ trụ trong lòng. Nếu người nào muốn nhanh chóng đắc bất thối chuyển, tại a-lan-nhã [chùa Phật] và tịnh thất trống trải, ngồi ngay, chính niệm, kết ấn kim cang phộc trước Như Lai, nhắm mắt quan sát trăng sáng trong lòng và suy nghĩ như sau: Mặt trăng này trong năm mươi do tuần sáng tỏ vô cấu, nội ngoại trong veo cực mát lành, trăng chính là tâm, tâm chính là trăng. Không sinh ra vọng tưởng ô nhiễm do bụi che mờ, có thể khiến thân tâm chúng sinh thanh tịnh. Đại bồ đề tâm kiên cố bất thối. Kết thủ ấn này trì niệm quan sát. Những câu văn đại bồ đề tâm vi diệu.”

Chân ngôn phát bồ đề tâm: “Ôm bô-đi-chi-ta pê-cha sa-ma-ya ah-hùm.” Chân ngôn này có sức mạnh đại uy đức, người có thể trì chú thanh tịnh thân tâm, trì lâu ngày sẽ đắc bất thối chuyển. Tất cả Bồ Tát quá khứ, hiện tại, vị lai khi ở tại nhân địa sơ phát tâm đều trì chú này, nhập địa bất thối, nhanh chóng viên mãn chính giác.

“Trí Độ Luận” viết: “Bồ đề là con đường của chư Phật.” “Duy Thức Thuật Ký” viết: “Phật nói bồ đề, dịch ra là giác. Vì là giác pháp tính.” 

Trong Chân Phật Mật Pháp, Liên Sinh Thánh Tôn dạy mọi người phát ba loại bồ đề tâm, cũng chính là bồ đề tâm của hành giả chân ngôn Mật giáo:
1. Hành nguyện bồ đề tâm — tu hành phát nguyện gọi là hành nguyện. Cũng tức là “chúng sinh vô biên thề nguyện độ”, “phiền não vô biên thề nguyện dứt”, “pháp môn vô biên thề nguyện học”, “bồ đề vô thượng thề nguyện chứng”. 
2. Thắng nghĩa bồ đề tâm — đây là dừng hết những thứ không tốt, quán hiển thắng nghĩa, cuối cùng an trụ trong tâm trang nghiêm bí mật của thành quả tột cùng. Đây là giáo môn thắng nghĩa của Chân Phật Mật Pháp.
3. Tam ma địa bồ đề tâm — đây là hành giả Chân Phật đạt đến đại định, hành giả nhập vào địa tín giải, thực tu tam mật tương ứng, đẳng trì chư Phật tự hóa ra vạn đức của họ. Nhập vào giới hữu tình, bình đẳng nhiếp thọ và hộ niệm. 
Hành nguyện bồ đề tâm là đại bi.
Thắng nghĩa bồ đề tâm là đại trí.
Tam ma địa bồ đề tâm là đại định.

---
# File: chan-ngon-than-chu/chu-dai-bi-va-phap-gia-tri-nuoc.md
# Title: Chú Đại bi và pháp gia trì nước
---

# Chú Đại bi và pháp gia trì nước


(Gồm quán đảnh kim cương chỉ)


### Chú ngữ


Na-mô ta-na-tha-ya-ya. Na-mô a-rya-cha-na. 

Sa-ka-ra. Vê-lô-cha-na. Bu-ha-ra cha-ya. 

Ta-tha-ka-ta-ya. A-la-ha-tê. Sam-ya-sam bút-đà-ya. 

Na-mô sa-ơ-wa ta-tha-ka-tê bê. An-la-ha-ta bê. 

Sam-ya-sam. Bu-tê bê. Na-mô a-rya a-va-lu-kê-tê. 

Sua-ra-ya bô-đi-sat-tô-va-ya. Ma-ha sat-tô-va-ya. 

Ma-ha ka-ru-ni-ka-ya. 

Ta-đya-tha. Ôm. Đa-ra đa-ra. Đi-ri đi-ri. Đu-ru đu-ru. 

I-ti-guê. I-ti cha-rê cha-rê. Bu-đa-cha-rê. Bu-đa-cha-rê. 

Ku-su-mê ku-su-ma wa-rê. 

I-li mi-li chi-ti jơ-va-la ma-pa-na-ya sô-ha.


### Thủ ấn


Chú Đại bi này vốn là Đại bi chân ngôn được ghi trong Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh. Ấn khế khi trì chú là: trước tiên hai tay chắp lại, hai ngón cái bắt chéo nhau. Ngón cái tay phải giao với chân của ngón trỏ tay trái. Ngón cái tay trái đặt vào khớp giữa của ngón cái tay phải. Đây là ấn Đại bi. 


### Khai thị của Liên Sinh Hoạt Phật


Chúng ta biết rằng nước chú Đại bi trong Phật pháp uống vào thì công đức rất lớn, có thể chữa tám vạn bốn nghìn loại bệnh. Quan Thế Âm sắc lệnh tất cả thiện thần, kim cang mật tích thường theo bảo vệ, lúc lâm chung tùy ý sinh về bất kì cõi Phật nào.

Phàm là đệ tử của Tam Bảo, tịnh khẩu cung kính tu đều có thể niệm nước chú Đại bi, có thể tự dùng cho mình, có thể bố thí kết duyên.

Trình tự thông thường như sau: Cúng một lượng nước. Châm hương đảnh lễ Quan Thế Âm Bồ Tát.

1. Hương tán. Tịnh nghiệp chân ngôn.

1. Phụng thỉnh đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn quảng đại linh cảm Quan Thế Âm Bồ Tát.

1. Chú Đại bi 49 biến.

1. Chân ngôn bổ khuyết.

1. Dùng tay phải kết kim cương chỉ, ở trên mặt nước viết chữ Hum (tiếng Phạn/Tạng). Làm như vậy tức là đã thành nước chú Đại bi.

Công đức của nước chú Đại bi, linh cảm rộng lớn của nước này, trong giới Phật giáo người người đều biết.

**[Trò hỏi Thầy đáp - Tương tác chính là sức mạnh - Tập 6]**

Ngày 26/04/2020 tại Seattle Lôi Tạng Tự, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị pháp ngữ và giảng Đạo Quả bài giảng số 293. 

**Câu hỏi 41:** Phải làm thế nào để tu Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm đại bi cam lộ thủy dùng để uống, bài trừ độc thuật bùa chú tiềm ẩn ở trên người?

**Trả lời:**

Cô ấy muốn cầu nước Đại bi (nước chú Đại bi của Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát) để uống, bài trừ độc tố bùa chú ở trên người, câu hỏi là như vậy. Tôi nói để mọi người biết, chúng ta cầu nước chú Đại bi, dùng thủ ấn “cái đỉnh” (Sư Tôn thị phạm), đây là thủ ấn cái đỉnh. Cái đỉnh của Trung Quốc có ba chân. Rồi lấy một cái cốc. Ở đây có cốc không nhỉ? Chà, cái này vừa to vừa nặng. (Sư Mẫu nhắc nhở: Có nước thật đấy!) Nước thật thì uống một ngụm vậy. (Sư Tôn thị phạm cầm cốc.) Làm như thế này mọi người làm được chứ?

(Tay phải) Kết thủ ấn này (ấn kim cương chỉ). Đây là một cốc nước âm dương, sau đó ngón tay của bạn ở trên mặt nước viết một chữ Hum: chấm một nét, một cái khuyên, một mặt trăng, một nét ngang… Ở trên mặt nước dùng thủ ấn này viết một chữ Hum. Viết xong thì bạn niệm: “Na-mô sa-man-tô mu-thua-nam wa-zư-la đa-mô sê. Na-mô sa-man-tô mu-thua-nam wa-zư-la đa-mô sê….” Bạn niệm chú ngắn của chú Đại bi. Niệm 108 biến cũng được, 49 biến cũng được, 21 biến cũng được. Niệm xong, bạn lại viết một chữ Hum lên mặt nước để gia trì. Sau đó bạn uống nước này là có thể giải trừ độc thuật bùa ngải tiềm ẩn trên người bạn. Người ta làm một bùa ngải lên bạn, bạn dùng nước chú Đại bi để giải trừ cho chính mình. Chỉ cần niệm chú ngắn của chú Đại bi 21 biến, 49 biến, hoặc 108 biến. Sau đó kết thủ ấn này (ấn kim cương chỉ), ở trên mặt nước viết một chữ Hum tiếng Tạng hoặc Phạn. Sau đó uống nước này là được.  


### Chú Đại bi


Namo ratnatràyàya.
Namo aryàvalokites’varàya Bodhisattvaya Mahasattvaya Mahàkarunikàya.
Om sarva rabhaye sunadhàsya.
Namo skirtva imam aryàvalotites’vara ramdhava.
Namo narakindhi hrih mahàvadhasvàme.
Sarvàrthato subham ajeyam sarvasata.
Namo varga mahàdhàtu.
Tadyathà: om avaloki lokate karate.
Ehrih mahà bodhisattva sarva sarva mala mala.
Mahi hrdayam kuru kuru karman.
Dhuru dhuru vijàyate mahàvijayati.
Dhara dhara dhirini svaràya.
Cala cala mama vimala muktir.
Ehi ehi s’ins’ina àrsam prasari.
Basha basham prasàya hulu hulu mara.
Hulu hulu hrih sara sara siri siri suru suru.
Bodhiya bodhiya bodhaya bodhaya.
Maitreya narakindi dhrish nina.
Bhayamana svaha siddhaya svàhà.
Maha siddhàya svaha.
Siddha yoge s’varaya svaha.
Nirakindi svàhà.
Mara nara svaha s’ira Simha mukhàya svaha.
Sarva maha asiddhaya svaha. 
Cakràsiddhaya svaha.
Padma kastàya svaha.
Nirakindi vagalàya svaha.
Mavari śankaraya svāhā.
Namo ratnatràyàya.
Namo aryàvalokites’varaya svaha.
Om siddhyantu mantra pàdàya svàhà.


### Tụng chú Đại Bi theo âm tụng của Sư Tôn:


Na-mô hơ-la-ta-na. Tô-la-yê-yê. Na-mô a-li-yê. 

Pô-lô-gê-tê. Liêp-pân-la-yê. Pô-tê-sat-tô-pô-yê. 

Ma-ha sat-tô-pô-yê. Ma-ha ka-lu-ni-ka-yê.

Án. Sa-ta-la-fa-yi. Su-ta-la-ta-sê. 

Na-mô hê-kê-li-tô. Yi-mâng-a-li-yê. Pô-lô-kê-tê. 

Sêt-pô-la-linh-tô-pô. Na-mô na-la-kin-tin. 

Xi-li ma-ha can-tô-sa-mê. Sat-tô-a-tha. Tô-su-pâng.

A-sê-yin. Sat-tô sat-tô. Na-mô pô-sat-tô. Na-mô pô-kya. 

Mô-fa-thưa-tua. Tan-chi-tha. Ôm. A-lua-lu-yi.

Lô-ka-tê. Ka-la-tê. Yi-hê-lê. Ma-ha pu-thi-sat-tô. 

Sa-pố sa-pố. Mô-la mô-la. Mô-xi mô-xi. Yi-tô-yin. 

Ki-lu ki-lu kê-mân. Tu-lu tu-lu. 

Fa-sa-ya-tê. Ma-ha fa-sa-ya-tê. Tô-lô tô-lô. Ti-li-ni. 

Sê-pô-la-ya. Chưa-la-gia-la. Ma-ma. Fa-mô-la.

Pô-ti-yi. Yi-hê-yi-hê. Sê-li-sê-na. A-lô-san-pô la-sưa-li.

Fa-sa-fa-san. Pô-lô-sê-ha. 

Hu-lu-hu-lu mô-la. Hu-lu-hu-lu xi-li. 

Sa-la-sa-la. Xi-li-xi-li. Su-lu-su-lu. 

Pô-thê-yê. Pô-thê-yê. Pu-thô-yê. Pu-thô-yê. 

Mi-ti-li-yê. Na-la-kin-tin. Piên-li piên-ni-la. Pô-yê-mô-na.

Sa-pô-hơ. Si-thô-yê. Sô-ha. Ma-ha si-thô-yê. Sô-ha. 

Si-thô-yi-yi. Sư-pan-la-yê. Sô-ha. 

Na-la-kin-chư. Sô-ha. Mô-la-na-la. Sô-ha. 

Xi-la-châng. A-mu-chê-yê. Sô-ha. 

Sa-pô mô-hơ. A-xi-thô-yê. Sô-ha.

Chưa-chi-la. A-xi-thô-yê. Sô-ha.

Pô-thô-mô-chế xi-tô-yê. Sô-ha. 

Na-la-kin-chi. An-kya-la-yê. Sô-ha. 

Mô-pô-li-sâng kya-la-yê. Sô-ha. 

Na-mô hưa-la ta-na-tô-la-yê-yê. Na-mô a-li-yê. 

Pô-lô-gê-tê. Kê-pân-la-yê. Sô-ha. 

Ôm. Xi-ten-tu man-tô-lô ka-thô-yê. Sô-ha.

---
# File: chan-ngon-than-chu/chu-thai-tue.md
# Title: Chú Thái Tuế
---

## Chú Thái Tuế


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Liên Sinh Hoạt Phật chỉ thị chú này không cần quán đảnh, khi đón Thái Tuế và an Thái Tuế có thể niệm.


### Chú ngữ:


Tam quang hách dịch chiếu phù lệnh, thiên thượng nhật nguyệt lai củng ứng, Nam Đẩu Bắc Đẩu thôi ngũ hành, úm Phật hiển linh sắc chân lệnh, bát quái tổ sư kì trung hình, ngọc chỉ phụng lệnh Thái Tuế năm …. Lư Siêu Tinh Quân đến đây trấn, thất tinh ngũ lôi hộ lưỡng biên, lục giáp thần tướng đáo tự tiền, lục đinh thiên binh thủ hậu doanh, thiên quan tứ phúc thần cộng giáng, chiêu tài tấn bảo tụ đương minh, đệ tử nhất tâm tam bái thỉnh, phụng thỉnh Tinh Quân bảo an ninh, trấn tự quang minh nhân tôn kính, hợp gia bình an vạn sự hưng, bảo mệnh hộ thân thả trấn trạch, trực niên Thái Tuế lai giáng lâm, cấp cấp như luật lệnh.


### Nghi quỹ an phụng (nghênh đón) Thái Tuế:


Đảnh lễ Căn bản Truyền thừa Thượng sư và đàn thành Tam Bảo. 

Vỗ tay, búng ngón tay. 

Quán tưởng truyền thừa Chân Phật Tông:
Nam mô Đại Nhật Như Lai.
Nam mô Phật Nhãn Phật Mẫu.
Nam mô A Di Đà Phật.
Nam mô Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Liên Sinh Hoạt Phật.
Quán tưởng Sư Tôn và chư Phật Bồ Tát phóng quang gia trì. 

Trì Liên Hoa Đồng Tử tâm chú 7 biến.

1. Niệm chú thanh tịnh.

1. Niệm chú triệu thỉnh. 

Đệ tử nhất tâm phụng thỉnh: Nam mô Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật. (3 lần)

Nam mô … Thái Tuế Tinh Quân năm …. (3 lần)
(Triệu thỉnh chư Phật Bồ Tát Kim Cang của đàn thành và Thái Tuế Tinh Quân mới nhậm chức.)

1. Chân Phật đại lễ bái.

1. Chân Phật đại cúng dường.

1. Niệm chú Tứ quy y.

1. Mặc bia giáp hộ thân.

1. Niệm Cao Vương Kinh.

1. Niệm chú vãng sinh.

1. Tay kết thủ ấn Liên Hoa Đồng Tử, quán tưởng Liên Hoa Đồng Tử phóng tam quang bao trùm. Niệm Liên Hoa Đồng Tử tâm chú (108 biến). 

1. Hát tụng chú Thái Tuế. 

Tam quang hách dịch chiếu phù lệnh, thiên thượng nhật nguyệt lai củng ứng, Nam Đẩu Bắc Đẩu thôi ngũ hành, úm Phật hiển linh sắc chân lệnh, bát quái tổ sư kì trung hình, ngọc chỉ phụng lệnh Thái Tuế năm …. Lư Siêu Tinh Quân đến đây trấn, thất tinh ngũ lôi hộ lưỡng biên, lục giáp thần tướng đáo tự tiền, lục đinh thiên binh thủ hậu doanh, thiên quan tứ phúc thần cộng giáng, chiêu tài tấn bảo tụ đương minh, đệ tử nhất tâm tam bái thỉnh, phụng thỉnh Tinh Quân bảo an ninh, trấn tự quang minh nhân tôn kính, hợp gia bình an vạn sự hưng, bảo mệnh hộ thân thả trấn trạch, trực niên Thái Tuế lai giáng lâm, cấp cấp như luật lệnh.

1. Hồi hướng: 

Nguyện đem công đức tu pháp tụng kinh hồi hướng cho Thái Tuế Tinh Quân năm …, cầu nguyện … Thái Tuế Tinh Quân phù hộ chúng con thân thể kiện khang, sự sự như ý, trừ bệnh tiêu tai, tiền đồ xán lạn, đạo tâm kiên có, phúc huệ tăng trưởng.

1. Niệm Bách tự minh chú. (3 biến)

1. Chân Phật đại lễ bái.

1. Niệm chú viên mãn. 
Om mani padme hum. 

Thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.

Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.

(Chú ý: Câu “lục giáp thần tướng đáo tự tiền”, “trấn tự quang minh nhân tôn kính” trong chú Thái Tuế, nếu là phân đường, hội đồng tu, thì đổi chữ “tự” thành “đường”.)

---
# File: chan-ngon-than-chu/cuu-tu-chan-ngon-phap.md
# Title: Cửu tự chân ngôn pháp
---

# Cửu tự chân ngôn pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


![image](/img/img_19d393734926d54158770d272561439f.jpg)



### Liên Sinh Hoạt Phật khai thị pháp Cửu tự chân ngôn của Bất Động Minh Vương


Tại Nhật Bản phổ biến Cửu tự thiết pháp (cửu tự quyết, áo nghĩa cửu tự quyết). Cửu tự thiết pháp [pháp cắt hình chữ “cửu”] là cắt như thế nào? Vẽ ấn tứ tung ngũ hoành, lâm, binh, đấu, giả, giai, trận, liệt, tại, tiền (Sư Tôn thị phạm). Tứ tung chính là cắt dọc một, hai, ba, bốn (Sư Tôn thị phạm), ngũ hoành chính là cắt ngang năm đường. Kiếm đạo của Nhật Bản có cái gọi là “mễ tự thiết pháp” [pháp cắt hình chữ “mễ” 米 ], cắt ở giữa, cắt ngang, cắt xéo, rồi lại cắt xéo, thế là thành chữ “mễ”, một, hai, ba, bốn nét chéo (Sư Tôn thị phạm). Về cơ bản, pháp cắt của đao võ sĩ chính là “mễ tự thiết pháp”. Hôm nay kiếm Bất Động Minh Vương mà chúng ta dùng chính là ấn tứ tung ngũ hoành, tức là bốn nét dọc, năm nét ngang, một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy, tám, chín, cũng chính là lâm, binh, đấu, giả, giai, trận, liệt, tại, tiền.

Ấn thật sự tôi sẽ kết cho mọi người xem (Sư Tôn thị phạm). Nếu bạn kết kiếm ấn để vẽ ấn tứ tung ngũ hoành, Sư Tôn đặc biệt nói cho mọi người biết, ấn tứ tung ngũ hoành này của tôi hễ chỉ ra thì sẽ tự động biết vẽ (Sư Tôn thị phạm), đây là tự động vẽ ra đó, chỉ cần bạn dồn khí về ngón tay là tự nhiên sẽ vẽ ra ấn tứ tung ngũ hoành. Thường ngày, khi tôi giúp đệ tử bằng pháp cắt tứ tung ngũ hoành, cắt trên người họi, nếu như xuất hiện một phù hiệu thì cho thấy nghiệp chướng của người này rất nhẹ, nếu xuất hiện năm phù hiệu thì cho thấy nghiệp chướng của họ rất nặng. Bất kể là nặng hay nhẹ, chỉ cần dùng pháp cắt chữ thì có thể tiêu trừ được nghiệp chướng của họ, có một số người là bị bệnh nghiệp. 

Cơ bản nhất là các bạn trở về nhà thí nghiệm một chút, khi trẻ con khóc buổi đêm, trong nhà có trẻ con buổi tối khóc không dừng, cũng có thể dựa theo phương pháp này, vẽ “lâm, binh, đấu, giả, giai, trận, liệt, tại, tiền” về phía đứa bé. Nếu đứa bé khóc do bị quấy nhiễu thì đứa bé sẽ không thể ngủ yên, đặc biệt là khi có linh khác đến quấy nhiễu, bạn vẽ ấn này xong thì linh đó lập tức rời đi, đứa bé sẽ không khóc nữa. Vì thế, chữa trẻ con khóc đêm là dùng phương pháp này.

Lớn thì đến trình độ nào? Bạn vẽ ấn tứ tung ngũ hoành về phía vong linh trong nhà xác, nếu dùng cách dồn khí để làm, có năm ấn thì biểu thị nghiệp chướng của họ rất nặng, có một ấn thì biểu thị nghiệp chướng của họ rất nhẹ. Tuy nhiên, việc bạn khoa tay vẽ giống như nổi lửa Hộ Ma, sẽ tiêu trừ toàn bộ nghiệp chướng của vong linh, rất dễ cởi bỏ những trói buộc của họ, để họ vãng sinh đến West Very Happy Buddha Country.

Đến Tây phương Cực Lạc thế giới rồi, tôi không thích dùng danh từ riêng của Phật giáo, tôi dùng tiếng Anh của mình để nói, đây là tiếng Anh của người Trung Quốc chúng ta. Tiếng Anh của người Trung Quốc chúng ta, hay! Cho nên ấn tứ tung ngũ hoành, nhỏ thì có thể dừng trẻ con khóc đêm, lớn thì có thể làm cho vong linh vãng sinh Phật quốc thanh tịnh, có thể thấy là uy lực lớn đến mức nào.

Ngoài pháp cắt chữ Cửu tự chân ngôn ra, còn có “thân tự pháp”, ”thủ ấn pháp”, giống như thủ ấn tôi vừa kết, mọi người đã nhìn rõ chưa? Thật ra pháp Cửu tự chân ngôn, để tôi bỏ míc xuống đã (Sư Tôn thị phạm), “lâm, binh, đấu, giả, giai, trận, liệt, tại, tiền”, đây chính là chín thủ ấn của “lâm, binh, đấu, giả, giai, trận, liệt, tại, tiền”. Mọi người học Cửu tự chân ngôn thiết tự pháp là rất tốt. 

Nói chung, “lâm, binh, đấu, giả, giai, trận, liệt, tại, tiền”, chữ “tiền” là dùng hai bàn tay đẩy ra, nếu là có ma, có quỷ, có mị, quỷ rất hung, ma rất hung, mị cũng rất hung, nhưng chỉ cần đụng phải Cửu tự chân ngôn thì cũng giống như có Đại Nhật Như Lai ở đó, và Bất Động Minh Vương hóa thân của Đại Nhật Như Lai thì càng hung hơn, có thể đuổi ma quỷ đi. Vì thế, có người bị chiếm thân, hay bị linh nhập gì đó, về mặt tinh thần thuộc loại bệnh cho quỷ thần quấy nhiễu, thì đều có thể dùng phương pháp này để trị. Bạn chỉ cần tương ứng với Bất Động Minh Vương thì uy vũ không thể khuất phục, cực kì có *power **[sức mạnh]*, có pháp lực. Vị có sức mạnh nhất chính là Bất Động Minh Vương Kim Cang. Các bạn học được pháp này thì không chỉ như thế này, chỉ cần bạn tương ứng với Bất Động Minh Vương thì cực kì lợi hại, cuối cùng sẽ tức thân thành Phật, bạn có thể thành Phật. Bạn biết được tâm của Bất Động Minh Vương thì sẽ biết được tâm của mình, thì có thể nhìn thấy được tâm của mình, hiển hiện tâm của  mình, sau đó đầy ắp cả vũ trụ, trực tiếp tỉnh ngộ, thành tựu Phật quả. 

Khi bạn tu đến lúc tương ứng với Bất Động Minh Vương rồi, tương lai bạn có thể thành tựu Phật quả, Phật quả cao nhất. Mục đích chủ yếu chúng ta tu hành vẫn là thành tựu Phật quả, có thể thành Phật, đây là điều quan trọng nhất. Vì thế, pháp Bất Động Minh Vương có thể dạy bạn thành Phật, là pháp Kim Cang Minh Vương vĩ đại nhất. Cửu tự chân ngôn và pháp Bất Động Minh Vương tôi giới thiệu tới đây, mọi người đừng tùy tiện mà biết rồi bỏ qua. Chúng ta học pháp, chủ yếu nhất là bạn có duyên với vị nào, tuyệt đối đừng có đi lướt qua rồi thôi, nếu mà lướt qua rồi thôi thì đây là việc vô cùng đáng tiếc. Thật sự, sau khi bạn tu pháp Bất Động Minh Vương rồi, bạn không những thành tựu Bất Động Minh Vương mà còn tương đương với bạn trực tiếp thành Phật nữa.


### Trò** hỏi Thầy đáp - Tương tác chính là sức mạnh - Tập 38. **


Ngày 16/8/2020 tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Lục Độ Mẫu, và khai thị Đạo Quả, bài giảng thứ 325. 

**Hỏi:** Sư Tôn cát tường, đệ tử muốn thỉnh thị Sư Tôn về từng chi tiết quán tưởng có liên quan đến pháp thủ ấn Cửu tự chân ngôn của Bất Động Minh Vương, rốt cục đã được quán đảnh rồi, nhưng lúc kết thủ ấn làm kết giới, trừ tứ tung ngũ hoành ra, khi kết chín thủ ấn này thì cần làm quán tưởng như thế nào? Cảm ơn Sư Tôn.

**Đáp:** Tôi nói để bạn biết, khi kết thủ ấn không nhất định phải quán tưởng, bạn chỉ cần quán tưởng Bất Động Minh Vương trụ đỉnh là đươcj rồi. Quán tưởng Bất Động Minh Vương trụ tại đỉnh đầu của bạn (ở trên đỉnh đầu). Bất Động Minh Vương trụ đỉnh, sau đó bạn kết thủ ấn, kết thủ ấn pháp Cửu tự chân ngôn. Mỗi lần tôi kết thủ ấn đều có “lâm, binh, đấu, giả, giai, trận, liệt, tại, tiền” (Sư Tôn thị phạm từng thủ ấn). Đây chính là thủ ấn của Cửu tự chân ngôn đó. Mỗi lần tôi kết thủ ấn đều có “lâm, binh, đấu, giả, giai, trận, liệt, tại, tiền” (Sư Tôn thị phạm từng thủ ấn).

Nếu bạn đặc biệt muốn quán tưởng thì có một quán tưởng đặc biệt. Khi bạn kết thủ ấn giơ lên đỉnh đầu này thì bản thân bạn có thể biến thành sư tử - sư tử vua của muôn loài thú, bạn hãy quán tưởng con sư tử này, hoặc không thì bạn quán tưởng Bất Động Minh Vương trụ đỉnh là được rồi, “lâm, binh, đấu, giả, giai, trận, liệt, tại, tiền”. Ngoài ra còn có ấn tứ tung ngũ hoành, bốn nét dọc, năm nét ngang, một hai ba bốn (bên trái) năm nét ngang ở bên phải, ấn tứ tung ngũ hoành này tung ra, làm động tác “đẩy ra” (Sư Tôn thị phạm). “Lâm, binh, đấu, giả, giai, trận, liệt, tại, tiền” đẩy ra, thì ma quỷ kia, nếu như có ma quỷ ở trước mặt bạn, bạn hét lên “lâm, binh, đấu, giả, giai, trận, liệt, tại, tiền” rồi đẩy ấn tứ tung ngũ hành ra (Sư Tôn thị phạm), đẩy ra thì sẽ có sức mạnh có thể làm chấn động ma quỷ, chúng sẽ bỏ chạy.

Khi làm chín thủ ấn này, “lâm, binh, đấu, giả, giai, trận, liệt, tại, tiền”, trong đó có một thủ ấn là tam sơn ấn, bạn có thể quán tưởng mình biến thành một con sư tử, sư tử là vua của muôn thú, tất cả linh động vật nhìn thấy vua của muôn thú thì đều chạy mất, con người cũng chạy luôn, con người nhìn thấy sư tử thì cũng chạy, ma quỷ nhìn thấy sư tử cũng sẽ chạy, yêu mị quỷ quái nhìn thấy sư tử cũng sẽ bỏ chạy. 

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---
# File: chan-ngon-than-chu/dai-bao-quang-bac-lau-cac-thien-tru-bi-mat-da-la-ni-phap.md
# Title: Đại Bảo Quảng Bác Lâu Các Thiện Trụ Bí Mật Đà La Ni pháp
---

![image](/img/img_8f475ec7cd39398e7eeecc3c7b95c232.jpg)



## Đại Bảo Quảng Bác Lâu Các Thiện Trụ Bí Mật Đà La Ni pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp! 

Từng có ba vị tiên nhân Bà-la-môn sống trong khu rừng ở Bảo Sơn để tu hành. Vì phát đại bồ đề tâm nếu đắc chính quả, nguyện phổ độ tất cả hữu tình. Phật Thích Ca Mâu Ni biết chuyện liền đến trong không trung. Trong không trung, ngài hướng về ba vị tiên nhân tuyên thuyết “Đại Bảo Quảng Bác Lâu Các Thiện Trụ Bí Mật Đà La Ni”. Thế là ba vị tiên nhân liền tu hành pháp này. Tu đến cuối cùng, toàn thân của ba vị tiên nhân phát ra ba đường ánh sáng trắng, thế rồi ánh sáng xuyên vào trong đất. Chỗ ba đường ánh sáng xuyên vào trong đất đó mọc lên ba cây trúc, ba cây trúc này lớn lên mười tháng sau thì tự động tách ra, từ trong mỗi thân trúc có một đồng tử thân màu vàng kim chạy ra, tướng mạo trang nghiêm tuyệt diệu. Thế rồi ba vị kim đồng này ngồi tư thế kiết già bên dưới cây trúc, nhập vào chính định, liền thành tựu chính đẳng chính giác. Vị Phật thứ nhất tên là Ma Ni Bảo Hoa Tràng Vương Như Lai, vị Phật thứ hai tên là Chủng Chủng Ma Ni Như Lai, vị Phật thứ ba tên là Kim Cang Siêu Dũng Vương Như Lai. Còn ba cây trúc ở trong rừng đó đều biến thành ba tòa tháp trang sức bằng thất bảo. Đồng thời trong hư không lại hiện lên chữ vàng “Đại Bảo Quảng Bác Lâu Các Thiện Trụ Bí Mật Đà La Ni”. Lúc này thập phương chư Phật hiện lên tại không trung, tán thán sự vĩ đại huyền diệu của chú ngữ này.

Chú căn bản: “Nam-mô sa-ơ-wa. Ta-tha-ga-ta-na-mu. Ôm. Pây-pu-la-ka-ơ-bi. Ma-ni-pu-la-bi. Ta-tha-ka-tha. Ni-tia-ơ-sha-ni. Ma-ni-ma-ni. Su-pu-la-bi. Bi-ma-ni. Sha-ka-la. Can-pây-ni. Hùm-hùm. Chua-la-chua-la. Pu-ta-wa-yê lua-gưa-yê-tia. Gu-ha-yê. Ya-ti-chư-ta. Ka-ơ-bi. Sô-ha.”

Tâm chú: Ôm. Ma-ni. Ben-za. Hum.

Tùy tâm chú: Ôm. Ma-ni. Ta-lia. Hùm. Pây.

Tổng nhiếp tâm chú: Ôm. Ma-ni. Chưa-cha. Hùm.

Hành giả có thể tự chuẩn bị một tòa tháp thất bảo, bên trong tháp viết chú ngữ bằng tiếng Phạn, mỗi lần tu trì thì đặt tháp lên tay, có thể tăng tốc sức mạnh cảm ứng.

Pháp này không chỉ lợi ích tất cả chúng sinh hữu tình ở trong rừng mà cũng có thể lợi ích tất cả tứ sinh hữu tình. Nếu có thiện tri thức muốn tu pháp, nên đọc “Đại Bảo Quảng Bác Lâu Các Thiện Trụ Bí Mật Đà La Ni”, dùng chữ Phạn viết lên tràng phan, viết lên điện đường, viết lên giấy treo, viết lên cổng chào ở tất cả các nơi. Nếu có chúng sinh nhìn thấy, dùng tay chạm vào, thân thể chạm vào, hoặc ai nghe được âm thanh chú đó, thậm chí bụi rơi trên người đi qua, thì có thể tiêu trừ được các loại trọng tội.


![image](/img/img_d2900c48cabe039b7a8a2f19450ccdf9.png)


Người tu pháp này, thân hiện tại không chịu tất cả các bệnh khổ của thế gian, bệnh nghiệp đều được đẩy lùi và khỏi bệnh. Vì thế, “Đại Bảo Quảng Bác Lâu Các Thiện Trụ Bí Mật Đà La Ni” là chú ngữ huyền diệu và bất khả tư nghì. Chú này vốn là câu chú của Phật bộ, bắt nguồn từ bản tâm của Phật Thích Ca Mâu Ni, độ hóa ba tiên nhân. Người đời sau theo đây mà tu, tự đắc thành tựu tất cả.

---
# File: chan-ngon-than-chu/dai-luan-nhat-tu-da-la-ni-chu.md
# Title: Đại luân nhất tự đà-la-ni chú
---

![image](/img/img_a26a5d564bb82a7fd402e17acf6be39b.png)



## Đại luân nhất tự đà-la-ni chú


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

**Chú ngữ:** Ôm. Bờ-rôm. [Om Bhrum] [Trong Chân Phật Tông thường được phát âm là Ôm bu-lin.]

**Thủ ấn:**

Thứ nhất: ngón trỏ trái giơ thẳng, các ngón khác nắm lại, ngón cái đè lên ba ngón kia. Ngón trỏ phải cong lại, đè lên chóp ngón trỏ trái, bốn ngón tay kia nắm lại. 

Thứ hai: ngón trỏ trái giơ thẳng, các ngón khác nắm lại, ngón cái đè lên ba ngón kia. Ngón trỏ phải cong lại, đè lên chóp ngón trỏ trái, đầu ngón cái và ngón áp út phải chạm nhẹ vào ngón trỏ trái, hai ngón tay còn lại gập vào trong lòng bàn tay. 

**Liên Sinh Hoạt Phật khai thị tâm yếu khẩu quyết:**

Có người hỏi tôi: “Om Bhrum là chú gì?”
Tôi đáp: “Chú này là “tâm chú một chữ” trong Văn Thù Nghi Quỹ Kinh, còn gọi là “đại luân nhất tự chú”, nó được phát âm là “bờ-rôm” [bu-lin].”

Lại hỏi: “Sau khi tu xong Chân Phật Mật Pháp, vì sao đều niệm chú này?”
Tôi đáp: “Căn cứ theo kinh nói, nếu tụng tất cả chân ngôn, tu Mật pháp nhưng lo sợ rằng không thành tựu thì dùng chú này tụng sau cùng, tức là quyết định thành tựu. Nếu không thành tựu và không hiện linh nghiệm thì thần của chú này lập tức đầu sẽ bị vỡ làm bảy phần. Vì thế cần biết chú này có thể giúp tất cả chân ngôn mau đắc thành tựu.”

Hỏi: “Om Bhrum có công đức ra sao?”
Đáp: “Ngoài có thể giúp tất cả chân ngôn mau đạt thành tựu ra, nếu tụng chú này, trong vòng năm trăm trạm dịch ở xung quanh, tất cả ác quỷ thần đều tháo chạy như bay, các sao xấu và các thiên ma cũng không dám đến gần. Và chú này lại giống như viên ngọc như ý, có thể thỏa mãn tất cả nguyện vọng, có thể hàng phục ác ma, có thể đẩy lùi tất cả ác chú của thế gian, có thể thí cho tất cả chúng sinh sự không sợ hãi, có thể dành cho tất cả chúng sinh niềm vui.”

Hỏi: “Vì sao Om Bhrum có công đức lớn như vậy?”
Đáp: “Om Bhrum này là tâm của Văn Thù Bồ Tát, là đỉnh vô thượng của tất cả chư Phật.”

Nói về Đại luân nhất tự chú, thật ra chỉ là âm “Bhrum” mà thôi, còn “Om” có ý nghĩa là “cung kính quy y”. Bhrum mới là chú chính. Chú này tôi được Phổ Phương Thượng sư truyền thụ, vì thế mà tôi đặt nó làm câu chú sau cùng trong Chân Phật Mật Pháp, chủ yếu vẫn là để giúp tất cả chân ngôn mau đắc thành tựu và đạt hiệu ứng. Tại đây, chúng ta cần cảm tạ Phổ Phương Kim cương Thượng sư đã truyền thụ.

Còn nữa, cũng có người hỏi tôi, vì sao niệm ba biến “Om Bhrum” xong, lại còn niệm “Om mani padme hum” nữa. Tôi nói, Đại minh lục tự chân ngôn này ai ai cũng biết, muốn hiểu về chú Đại minh lục tự này thì có thể tự mình đọc kinh Đại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương là sẽ hiểu. Sau cùng tụng chú này nghĩa là có vô lượng tam muội pháp môn, mau đắc quả vị Bồ Tát.

Tôi có thể nói thế này, toàn bộ vùng Tây Tạng đều niệm “Om mani padme hum” đó!

---
# File: chan-ngon-than-chu/dai-phat-dinh-thu-lang-nghiem-vuong-chan-ngon.md
# Title: Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Vương chân ngôn
---

## Pháp tu trì Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Vương chân ngôn


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Chú ngữ


Tan-chi-tha. Ôm. A-na-lê. Vi-sa-thi. Bi-la. Pa-sa-la. Thua-li. Pan-thua-pan-thua-ni. Pa-sa-la. Bang-ni-ban. Hu-xin-tô-lu-yin-ban. Sô-ha.


### Liên Sinh Hoạt Phật khai thị tâm yếu khẩu quyết của pháp tu


Tôi đã được Phật Thích Ca Mâu Ni sờ đầu thọ ký, vì sao tôi lại được Phật Thích Ca Mâu Ni sờ đầu thọ ký? Bởi vì tôi đã tu trì Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Vương chân ngôn. 

Ngày nay, hành giả Mật tông nếu muốn được chư Phật quán đảnh sờ đầu thọ ký thì phải dựa theo phương pháp của tôi mà thực tu. Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người, pháp Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Vương chân ngôn có thể đạt được cái sờ đầu thọ ký của Phật.

Tuy nhiên, bày đàn pháp để tu trì pháp này là đặc thù nhất, cũng là khó nhất, trong cuốn sách “Hắc giáo hắc pháp” tôi từng kể một lần rồi, bây giờ tôi đặc biệt ghi ra như sau.

Phương thức lập đàn là một đàn thành hình bát giác, chu vi là một trượng sáu xích [tương đương khoảng 5,3 mét], chọn nơi tàng phong tụ khí và đào xuống mặt đất năm xích [khoảng 1,6 mét], lấy đất ở dưới lòng đất 5 xích, kết hợp với hương từ gỗ đàn hương, trầm thủy hương, huân lục hương, phong chi hương, thanh mộc, v.v…. cho thêm nước và trộn lẫn với nhau rồi trét lên mặt sân của đàn tràng (để làm thanh tịnh mặt sân). 

Ở trung tâm đàn thành phải dùng vàng, bạc, đồng, gỗ để làm thành bốn bông hoa sen, trong mỗi bông hoa sen đặt một cái bát, bên trong bát đựng đầy sương của tháng tám. Trong bát nước sương có bỏ cánh hoa. Ngoài ra, lấy tám chiếc gương tròn bày ở tám hướng, chiếu về phía nhau. Bên ngoài gương thì đặt hoa sen. Lại chuẩn bị thêm 16 lư hương. (Bố trí lư hương hoa sen.)

Trên bức tường bên ngoài chu vi đàn thành phải treo danh hiệu và chú ngữ của Phật Bồ Tát. Bên trong thì treo bảo tướng của tất cả thập phương tam thế Như Lai và thánh tượng của tất cả Bồ Tát, tướng của các vị Phật Bồ Tát đó bao gồm Lô Xá Na Phật, Thích Ca Mâu Ni Phật, Tỳ Lô Giá Na Phật, Di Đà Phật, Di Lặc Tôn Phật, A Súc Phật, Bảo Sinh Phật, Bất Không Thành Tựu Phật, và tượng của các đại Bồ Tát. Ngoài ra, hai bên trái phải bày Kim Cang Tạng Bồ Tát, điểm này rất quan trọng. (Bố trí pháp tướng trang nghiêm.)

Cửa hai bên để ra vào đàn thành bố trí Hỏa Đầu Kim Cang, Thanh Diện Kim Cang, Tứ Đại Thiên Vương, Vi Đà Hộ Pháp, tám đại Kim Cang Minh Vương, Đế Thích Thiên Vương hoặc Sơ Thiền Thiên Chủ. Cuối cùng còn phải dùng tám chiếc gương treo trên không trung, để cho gương ở trong đàn và gương ở trên không chiếu soi lẫn nhau, trở thành vô cùng vô tận. (Đây là pháp thiên chuyển luân bố trí Hộ Pháp Kim Cang và gương phản xạ.) 

Trước hết hành giả Mật tông phải bố trí xong đàn thành, sau đó phải học chú Lăng Nghiêm, thần chú tổng cộng có 427 câu, chú này được gọi là Vua Chú, là Phật Thích Ca Mâu Ni vì cứu A Nan tôn giả nên từ trong nhục kế trên đầu mình đã phóng ra hào quang bách bảo vô úy, trong ánh sáng tuôn ra hoa sen nghìn cánh, có một vị Như Lai ngồi trên hoa sen, vị Hóa Phật này chính là Đế Thù La Thi [Tejorazi], ngoài ra còn xuất hiện hằng hà sa số Nội mật Bồ Tát và Kim cang thần, đầy khắp hư không.
(Toàn văn của chú Lăng Nghiêm rất dài, nên tôi không ghi ra đây, xin tự đi đến chùa Phật để thỉnh.)

Cách tu trì như sau:

Trì tụng chú Lăng Nghiêm vào sáng sớm tinh mơ, khoảng 4 giờ. 4 giờ sáng tắm gội tịnh thân rồi nhập đàn, thắp lên các loại hương, chí thành đảnh lễ chư Phật Bồ Tát, sau đó đi nhiễu quanh đàn tụng chú. Đầu tiên tụng 1 biến hoặc 3 biến toàn văn chú Lăng Nghiêm, sau đó trì tụng chú ngắn (tâm chú) của chú Lăng Nghiêm.

Tan-chi-tha. Ôm. A-na-li. Vi-sa-thi. Bi-lua. Pa-sưa-lua. Thua-li. Ban-thua-ban-thua-ni. Pa-sưa-lua. Pang-ni-ban. Hu-xin-tô-lu-yin-ban. Sô-ha.

Chú ngắn có thể trì 108 biến.

Tụng chú xong, tĩnh tọa, tay kết ấn Đại Phật đỉnh.

Lúc này quán tưởng nguyệt luân của thập phương Phật phóng ra lọng quý, từng chiếc lọng quý hiện hình ở trong gương, hình thành vô lượng trùng trùng những chiếc ô trắng lớn di chuyển đến phía trên đầu hành giả, tự thân biến thành thân tâm minh tịnh như lưu ly. Quán tưởng này cần phải tu tập mỗi ngày, từng thứ một đều phải rõ ràng.

Tu tập pháp này 21 ngày, đến khi thân tâm minh tịnh của mình nhập định, thập phương Như Lai sẽ cùng xuất hiện, ở nơi ánh gương giao nhau, thập phương Phật sẽ hiện ra tay Phật để sờ đầu thọ ký cho hành giả Mật tông. Thậm chí có người có duyên Phật lớn, người kiếp trước có tu hành, người có căn khí lớn và sắc bén, chỉ cần tu trì pháp này, công phu đủ 100 ngày, lập tức đắc chứng tứ quả A La Hán. Vì thế, pháp này cũng là một trong số đại pháp vô thượng mật.

Tu tập pháp này, đương nhiên không chỉ được Phật đến sờ đầu thọ ký, thậm chí bất kì thiên ma nào cũng không có cách nào đến làm hại, vĩnh viễn biến thành không có ma sự, bởi vì nhờ sự hộ trì của Đại Phật Đỉnh Lăng Nghiêm nên tất cả đều có thể cát tường như ý, tất cả mọi độc cũng vĩnh viễn không thể chạm tới thân. Hành giả Mật tông có tám vạn bốn nghìn Kim Cang Thần bảo vệ từng giờ từng phút.

Pháp sư Hiển giáo không kết thủ ấn, không làm quán tưởng lọng quý sờ đầu, không nhập Tam ma địa, chỉ mỗi trì Đại Phật Đỉnh Lăng Nghiêm chân ngôn mà cũng có được công đức rất lớn, cũng sẽ có chúng thần bảo hộ, thì huống hồ có kết thủ ấn, lại có quán tưởng, nhập Tam ma địa, Phật nhất định sẽ đến sờ đầu thọ ký, tương lai nhất định thành Phật là điều không nghi ngờ gì.

Tôi được Phật Tổ sờ đầu khai đỉnh, tôi có “trên đầu hóa tay Phật”, nhận được sự phó thác của Phật, và rất nhiều người tu đạo thấy thế thì ghen tỵ, thật ra cũng không cần phải ghen tỵ với tôi. Tôi dạy mọi người pháp tu trì Đại Phật Đỉnh Lăng Nghiêm chân ngôn, người người cũng chắc chắn được Phật Tổ đến sờ đầu thọ ký. Chỉ cần kiền thành thực tu theo mật pháp mà tôi đã dạy, mười người tu, mười người được, trăm người tu, trăm người được, nghìn người tu, nghìn người được.

Trọng điểm của mật pháp này nằm ở bố đàn, nhất là ánh sáng gương giao nhau chính là pháp thiên chuyển luân, bí mật của hoa sen nghìn cánh nằm trong đó. Bố trí đàn pháp tốt thì Phật Bồ Tát nhất định vào lúc bạn dâng cúng sẽ giáng xuống pháp đàn và đi qua đi lại.

Tôi viết một bài kệ:

*Đàn thành bát quái như đình gác
Ánh gương phản chiếu Phật hiện hình
Sờ đầu tâm linh tôn hình tướng
Thân như lưu ly ở thiên đình.*

---
# File: chan-ngon-than-chu/dai-phat-dinh-thu-lang-nghiem-vuong-tam-chu.md
# Title: Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Vương tâm chú
---

## Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Vương tâm chú


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Chú ngữ


Ôm. A-na-lê. A-na-lê. Vi-sa-đa. Vi-sa-đa. Ban-đa. Ban-đa. Ban-đa-ni. Ban-đa-ni. Vê-ra. Va-zư-ra. Pa-ni. Phát. Hùm. Bờ-rừm. Phát. Sô-ha.


### Công đức của pháp


Thần chú Lăng Nghiêm tổng cộng có 427 câu, chú này có tên gọi là Vua Chú, là Phật Thích Ca Mâu Ni vì cứu A Nan tôn giả nên từ trong nhục kế trên đầu mình đã phóng ra hào quang bách bảo vô úy, trong ánh sáng tuôn ra hoa sen nghìn cánh, có một vị Như Lai ngồi trên hoa sen, vị Hóa Phật này chính là Đế Thù La Thi [Tejorazi], ngoài ra còn xuất hiện hằng hà sa số Nội mật Bồ Tát và Kim cang thần, đầy khắp hư không.

Kinh Lăng Nghiêm viết: “Thập phương Như Lai vì tâm chú này mà đắc thành vô thượng chính biến tri giác. Chúng sinh thời mạt thế có thể tự trì tụng, lửa không thể thiêu cháy, nước không thể nhấn chìm, độc lớn độc nhỏ không thể làm hại. Tất cả ác chú đều không thể tiếp cận. Có thể khiến người phá giới được thanh tịnh giới căn. Khiến người không có trí huệ có được trí huệ. Tất cả nghiệp tội giống như nước sôi làm tan tuyết. Không bao lâu đều đắc ngộ vô sinh nhẫn. Sau khi mệnh chung, tùy nguyện mà vãng sinh thập phương tịnh thổ. Trì tụng chú này, hoặc mang theo người, cầu trai được trai, cầu gái được gái, cầu trường thọ được trường thọ, cầu quả báo viên mãn sẽ nhanh được viên mãn. Cũng có thể bảo hộ các tu hành giả nhập Tam ma địa thì không có ma oán đến làm hại.”


### Quán tưởng


Hành giả Chân Phật trì chú này có thể quán tưởng như sau:

Khi tụng chú, quán tưởng chủng tử “Brum” tiếng Phạn màu vàng kim yên vị tại đỉnh đầu hành giả, phóng quang phổ chiếu tất cả chúng sinh. 

Brum là chủng tử tự của Đại Nhật Như Lai Phật Đỉnh. 


### Ứng dụng yết ma


Chú này có công đức rất lớn, có lợi ích như sau:
Kéo dài tuổi thọ.
Không có ma oán.
Cầu trai được trai, cầu gái được gái.
Quả vị vô sinh pháp nhẫn.
Tất cả độc thủy hỏa không thể làm hại.
Trừ tất cả ác chú bùa ngải.
Đắc trí huệ vô thượng.

---
# File: chan-ngon-than-chu/index.md
# Title: Chân ngôn thần chú
---

# Tổng tập chân ngôn - thần chú


> Chân ngôn - thần chú Chân Phật Mật Pháp

**Ghi chú: **Thần chú ở đây được phiên âm Việt hóa theo khẩu âm của chính Sư Tôn khi đọc hoặc ghi chép câu chú đó.

*“Thần chú của Chân Phật Tông, đương nhiên lấy cách phát âm được truyền miệng từ vị Căn bản Thượng sư làm chuẩn, tại sao nhất định phải do Thượng sư truyền miệng? Nói một cách đơn giản, thần chú được Thượng sư truyền miệng mới có được lực gia trì chân thực của Thượng sư, mới có thể cùng Chân Phật Mật Pháp của Liên Sinh Hoạt Phật tạo ra sự cộng hưởng và hòa hợp.
Nếu miệng tụng Phạn ngữ cổ, thì đương nhiên không phải là Chân Phật Tông.
Miệng tụng Phạn ngữ hiện đại, thì đương nhiên cũng không phải là Chân Phật Tông.*

*Tụng bằng tiếng Indonesia, tiếng Thái, tiếng Tạng, tiếng Quảng Đông hoặc bất kì ngôn ngữ địa phương nào, hầu hết đều có sự lệch lạc, tất nhiên cũng lệch xa khỏi Chân Phật Tông.*

*Âm của thần chú rốt cuộc ai đúng ai sai? Trên dãy Himalaya có hàng trăm phương ngữ, người nào cũng nói mình đúng, người khác sai? Phạn âm cổ có thực sự đúng không? Có vẻ cũng không hẳn, bởi vì người Ấn Độ cổ đã chết hết từ lâu, Phạn âm cổ mà người hiện đại khôi phục qua khảo chứng, rốt cuộc có thể cổ đến mức nào, thật đáng nghi vấn.*

*Bởi vì Liên Sinh Hoạt Phật đã thân chứng cảnh giới thông qua việc trì tụng chân ngôn của mình cho nên chú âm truyền miệng của Liên Sinh Hoạt Phật chính là sự tiếp nối của chứng đắc. Nói cách khác, tôi đã thân chứng, vì thế bạn học theo cách phát âm của tôi đương nhiên sẽ không có sai sót, và chắc chắn sẽ nhận được sức mạnh bí ẩn của sự gia trì từ Thượng sư. Đây là ngữ mật của chư tôn thông suốt với ngữ mật của Thượng sư, rồi lại thông suốt với ngữ mật của các hành giả khác, tạo thành một dòng chảy liên tục.“* [Trích lời Liên Sinh Hoạt Phật]

---
# File: chan-ngon-than-chu/kim-cang-hoa-than-chu.md
# Title: Kim cang hỏa thần chú
---

# Kim cang hỏa thần chú


Uy thần lực của chú Kim cang hỏa.

Chú Đại Phạm Thiên chính là chú này. Tụng thêm mặc giáp hộ thân để đánh ma quỷ tan tác.

Q3-1: Văn tập số 44 của Sư Tôn - cuốn “Phục ma bình yêu truyện”, chương “Thủ ấn mặc giáp hộ thân”, có nhắc đến “Sau này, tôi tu mặc giáp hộ thân còn đặc biệt gia trì thêm chú Kim cang hỏa, thì tôi thấy tấm màn kim sắc cháy lên ngọn lửa mãnh liệt, ngọn lửa này không phải là lửa thường, có thể thiêu đốt mọi ma quỷ. Có Thiên ma dùng tay chạm vào thì tay đều bị cháy xém thành than đen, nổi giận lôi đình, nhưng vẫn chẳng làm gì được tôi. Chỉ có làm như vậy thì tôi mới không bị tẩu hỏa nhập ma.” Tại đây liệu có cơ hội khẩn cầu Sư Tôn khai thị chú ngữ của chú Kim cang hỏa  như thế nào không?

A3-1: Ồ, đúng là rất lâu rồi, cuốn “Phục ma bình yêu truyện”, hình  như là tiểu thuyết võ hiệp. (Sư Tôn cười) Đây là câu hỏi thứ nhất: có ai biết chú Kim cang hỏa không? Thử tra xem chú Kim cang hỏa. Văn tập số 44 của tôi “Phục ma bình yêu truyện” - chương “Thủ ấn mặc giáp hộ thân”, có nhắc đến chú Kim cang hỏa.

(Thượng sư trình tư liệu lên cho Sư Tôn.) Dùng chú Đại Phạm Thiên là được, đây chính là chú Kim cang hỏa. Còn thủ ấn là ấn kim cang ba chấu, thủ ấn là ấn nội tam cổ kim cang. Chú ngữ là chú ngữ Đại Phạm Thiên là được. Đại Phạm Thiên chính là Brahma, chú Đại Phạm Thiên là “Ôm pê-cha bra-ma sô-ha”. Anh ấy hỏi chú ngữ như thế nào. Tôi trả lời rồi. Đã hiểu chưa? Đại Phạm Thiên ở chỗ kia (ống kính chiếu đến đàn thành Seattle Lôi Tạng Tự). Shiva, Brahma, Vishnu, ở tận cùng bên phải. Bên tay phải tôi là Shiva, bên tay trái là Brahma cùng với hai con thiên nga, bên dưới là Vishnu cùng với Garuda. Ba vị. Được rồi, tôi đã nói cho bạn biết rồi, chú Kim cang hỏa là “Ôm pê-cha bra-ma sô-ha”.

---
# File: chan-ngon-than-chu/kim-cang-tho-menh-chan-ngon.md
# Title: Kim cang thọ mệnh chân ngôn
---

![image](/img/img_351d9b51e97429de254e70991cf6f100.jpg)



# Kim cang thọ mệnh chân ngôn


Pháp bí mật kéo dài tuổi thọ này phải thờ cúng Hàng Tam Thế Minh Vương. Hàng Tam Thế Minh Vương là một trong năm đại Minh Vương, có ý kiến cho rằng ngài là hóa thân của Đông phương A Súc Phật, có ý kiến khác nói ngài là chủ thần của Bà-la-môn giáo, là hóa thân của Shiva. Pháp tướng của Hàng Tam Thế Minh Vương là bốn mặt, tám tay, có tướng hung bạo màu đen đại phẫn nộ, thông thường chân trái dẫm lên Đại Tự Tại Thiên, chân phải dẫm lên Thiên Phi Ô Ma. Bốn mặt của ngài thì mặt trước màu xanh, mặt phải mặt vàng, mặt trái màu lục, mặt sau màu đỏ. Râu tóc ngài đều có màu đỏ, để lộ răng sắc nhọn. Cánh tay trái phải thứ nhất kết ấn Hàng Tam Thế Minh Vương giữ trước ngực, tay phải thứ hai cầm chày, tay phải thứ ba cầm mũi tên, tay phải thứ tư cầm kiếm. Tay trái thứ hai cầm chuông, tay trái thứ ba cầm cung, tay trái thứ tư cầm dây thừng.

Người tu pháp này phải kết thủ ấn Hàng Tam Thế Minh Vương.

Trong đầu quán tưởng pháp tướng của Hàng Tam Thế Minh Vương, đầu tiên ngồi kiết già, nhắm mắt, hai tay kết ấn đặt trước ngực, đầu tiên quán tưởng một nguyệt luân ở không trung, trong nguyệt luân hiện ra năm cái chày kim cang, và năm chày này càng biến càng to, sau đó biến thành Hàng Tam Thế Minh Vương. Quán tưởng lúc này phải sáng tỏ rõ ràng, đến khi tất cả mọi quán tưởng đều rõ ràng rồi thì lại trì chân ngôn kim cang thọ mệnh là:

”Ôm pô-rư-la yu-sai sô-ha.”

Phải trì chân ngôn này 1080 biến.

Niệm chú xong lại quán tưởng các lỗ chân lông khắp toàn thân Hàng Tam Thế Minh Vương chảy ra cam lộ, những cam lộ này từ trong khoảng không trước mặt rơi xuống, trút vào trong người của hành giả Mật tông, từ đỉnh đầu đi vào thân tâm, khiến thân tâm được chắc khỏe. Hành giả Mật tông lúc này giống như trạng thái nhập Tam ma địa.

Sau khi xuất định, dùng chắp tay kim cang (thủ ấn tam xoa xử) đặt trên đầu, niệm:

”Ôm chân pô-rư-la yu” 7 biến.

Ấn vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, đủ năm chỗ. Chắp tay kim cang trở về trán rồi giải ấn. Ngay khi giải ấn thì quán tưởng chính mình đã mặc áo giáp, giống như kim cương bất hoại, tất cả những tai nạn nguy hại đến sinh  mạng đều rời bỏ mình mà đi, tất cả cái chết bất ngờ đều không xảy ra trên người mình.

Muốn được trường thọ, kéo dài tuổi thọ, tu pháp Hàng Tam Thế Minh Vương, chỉ cần tiến vào Tam ma địa kim cương trường thọ thì nhất định có thể kéo dài tuổi thọ, đắc kim cương bất hoại.

Trọng điểm của pháp này nằm ở cam lộ ánh sáng rơi ra từ xung quanh thân của Hàng Tam Thế Minh Vương, và hành giả Mật tông có được cam lộ ánh sáng này trút vào người, có thể tiêu trừ bách bệnh, có thể không còn tai nạn, trừ hết bệnh tật.

Khi cam lộ ánh sáng giống như mưa sao băng rơi xuống, hành giả Mật tông giống như được tắm trong ánh sáng Phật, có cảm giác hòa tan, có cảm giác vô cùng kiên cố, như thế là tương ứng.

---
# File: chan-ngon-than-chu/nguyet-quang-bo-tat-tru-benh-chu.md
# Title: Nguyệt Quang Bồ Tát trừ bệnh chú
---

![image](/img/img_9941025b11ba2ccf5988bce68800deb4.jpg)



# Nguyệt Quang Bồ Tát trừ bệnh chú


**The Candraprabha’s Mantra**

Nhật Quang Bồ Tát còn gọi là Nguyệt Tịnh, Nguyệt Quang Biến Chiếu. Nguyệt Quang Bồ Tát là người hầu hạ bên phải của Dược Sư Phật ở Đông phương Lưu Ly Thế Giới, cùng với Nhật Quang Bồ Tát - người hầu hạ bên trái của Dược Sư Như Lai, là hai đại thị giả.

Dược Sư Như Lai, Nguyệt Quang Bồ Tát và Nhật Quang Bồ Tát, ba vị hợp lại gọi chung là Đông phương tịnh thổ Tam Thánh. Tương truyền, Dược Sư Như Lai và Nhật Quang, Nguyệt Quang Bồ Tát trong đời quá khứ vốn là cha con, từng ở chỗ của Điện Quang Như Lai chăm chỉ tu Phạm hạnh, được Điện Quang Như Lai dặn dò đổi tên thành Y Vương và Nhật Chiếu, Nguyệt Chiếu, phát đại nguyện vô thượng bồ đề, thề cứu lục đạo tất cả chúng sinh hữu tình xuất ly khổ luân hồi.

Nguyệt Quang Bồ Tát biểu thị tịch định, quang minh thấu triệt, thanh lương tịch tĩnh. Nguyệt Quang Bồ Tát có thể thu nạp rộng rãi vô vàn chúng sinh của đại thiên thế giới để tránh cho họ phải chịu phiền não bởi tham sân si. Kinh Dược Sư viết: “Ở trong nước ấy, có hai vị Bồ Tát Ma Ha Tát: một vị là Nhật Quang Biến Chiếu, một vị là Nguyệt Quang Biến Chiếu, là thượng thủ của vô lượng vô số Bồ Tát.” Trong số vô lượng vô số quyến thuộc của Dược Sư Phật, Nguyệt Quang Bồ Tát và Nhật Quang Bồ Tát chiếm vị trí là Bồ Tát trọng yếu thượng thủ, hai vị nắm giữ chính pháp bảo tạng của Dược Sư Như Lai. 

Nguyệt Quang Bồ Tát Đà-la-ni: “Samdheti tusutha ah jame ututha samkitha palautiyamejatha ututha kaulotitha kimotha svaha.” Đà-la-ni này xuất xứ từ Thiên Thủ Quan Âm Đại Bi Tâm Đà-la-ni Kinh. Chú này chính là trong quá khứ hằng hà sa số chư Phật đã nói, vì hộ trì các chúng sinh, trừ tất cả chướng nạn, trừ tất cả ác bệnh đau khổ, rời xa tất cả sợ hãi, thành tựu tất cả các pháp thiện. 

Hành giả lấy sợi dây ngũ sắc, cúng trước Phật, tụng chú ngữ Nguyệt Quang Bồ Tát. Sau đó đem sợi dây ngũ sắc để ở chỗ đau nhức, hoặc buộc ở chỗ đau… như thế nỗi khổ đau nhức có thể được giảm nhẹ, thậm chí hoá thành vô hình. Lực từ bi và lực trong mát của Nguyệt Quang Bồ Tát khiến cho con người kinh ngạc. Bởi thế pháp loại bỏ đau đớn dùng chú lực của Nguyệt Quang Bồ Tát là tối cao, người tu trì không thể không biết.

---
# File: chan-ngon-than-chu/nhat-quang-bo-tat-tranh-ma-chu.md
# Title: Nhật Quang Bồ Tát tránh ma chú
---

![image](/img/img_93437079cf7b8910c41c8a1a844077f3.jpg)



# Nhật Quang Bồ Tát tránh ma chú


**The Suryaprabha Mantra**

Nhật Quang Bồ Tát, còn gọi là Nhật Quang Biến Chiếu, Nhật Diệu. Cùng với Nguyệt Quang Bồ Tát ở trong thế giới Lưu Ly thanh tịnh ở phương đông là hai đại thị giả của Dược Sư Phật, là hai vị Bồ Tát thượng thủ của vô lượng các Bồ Tát trong Phật quốc đó. 

Pháp tướng thông thường của Nhật Quang Bồ Tát là toàn thân màu đỏ thẫm, tay trái cầm mặt trời, phải cầm cành hoa dài màu đỏ thẫm, hoặc hoa nở bung, hoặc nở hé, hoặc chưa nở. 

Nhật Quang Bồ Tát có Mật hiệu là Uy Đức Kim Cang. Trong mandala Thai tạng giới, ngài trụ ở viện Địa Tạng, đây là vì ngài chưởng quản quang minh biến chiếu của Địa Tạng Bồ Tát, vì thế có công đức vô hạn. 

Trong mandala Thai tạng giới, hình tướng của ngài là: tướng của Bồ Tát, màu da, tay trái cầm cờ quý, tay phải kết ấn ban nguyện, ngồi trên hoa sen màu đỏ.

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn từng xuất thần đến chỗ của Nhật Quang Bồ Tát, thành đó gọi là thành Nhật Quang. Thành rất rộng rãi, ngoài thành có sông lớn vây quanh. Cổng thành cao như trời, cảnh trí rất ngoạn mục. 

Cung điện của Nhật Quang Bồ Tát xung quanh được giăng cờ kinh ngũ sắc, rất sáng sủa và đẹp đẽ, rất hài hòa dễ chịu, lại có cảm giác rất vui tươi, cảnh sắc rực rỡ đó không có một chút vẩn đục nào. 

Có tiên ở trong hư không khẽ ngân nga hát, cảnh tượng kiều diễm vô cùng. Cả thành gần như là màu vàng kim, đặc biệt là cung điện của Nhật Quang Bồ Tát là đỉnh vàng cao sừng sững, tỏa sáng lấp lánh, màu sắc tươi sáng.

Nhật Quang Bồ Tát có một chú ngữ là: “Na mô pô thua chuy na mi. Na mô ta ma mô hưa ti. Na mô sâng kya tô yê ni. Ti li pu pi chang chu zen na ma.”

Nếu ở trước Phật, tụng một câu chú, lạy Phật một lạy, Nhật Quang Bồ Tát hộ trì người này tu hành, phóng ánh sáng chiếu đến người này, tất cả âm ma không thể xâm phạm, tức là bạn đi đến đâu, ánh sáng mặt trời sẽ chiếu đến đó, khiến ma không thể vào được. 

Chỉ cần sáng tối niệm chú ngữ của Nhật Quang Bồ Tát 3 biến, hướng về Phật lạy 3 lạy, chỉ tu trì đơn giản như vậy thôi, vào đời vị lai, người đó sẽ được sinh ra với tướng vô cùng đoan chính, hơn nữa phúc khí cát tường, đường làm quan hanh thông, hưởng thụ mọi phú quý. Nếu là phụ nữ thì chắc chắn xinh đẹp, tôn quý như vợ vua, trí huệ hơn người.

---
# File: chan-ngon-than-chu/nhat-tu-kim-luan-phat-dinh-phap.md
# Title: Nhất tự kim luân Phật đỉnh pháp
---

![image](/img/img_afb53e54eaec949887f193f0d68c269b.jpg)



## Nhất tự kim luân Phật đỉnh pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

**Chú ngữ: **Brum.

**Thủ ấn:** Ấn trí quyền (thủ ấn Kim Cương Giới Đại Nhật Như  Lai)

Tay trái nắm lại, giơ ngón trỏ lên.
Năm ngón tay phải nắm lấy ngón trỏ tay trái, ngón cái đè lên trên đỉnh của ngón trỏ tay trái.

**Quán tưởng:** "Trong sát-na, từ bánh xe trí huệ biến thành thân Kim Cang Luân Vương Biến Chiếu Như Lai, thân hình ngài như trăng sáng, đầu đội mũ miện kim cang, những lọn tóc vòng tròn là đồ trang sức, tất cả tướng tốt, có đủ mọi trân bảo trang nghiêm, giữ đại ấn trí quyền, pháp tọa của ngài là bạch liên hoa tọa nhật luân sư tử.”

**Lợi ích tu pháp: **

Nếu có người thành tâm thành ý tu trì pháp này, cho dù là người mắc bệnh nặng như điên khùng hay câm điếc, đều có thể khỏi bệnh, sinh đẻ cũng được bình an. Công đức của pháp này vô cùng lớn, hơn nữa còn thù thắng quảng đại.

"Trong sát-na, từ bánh xe trí huệ biến thành thân Kim Cang Luân Vương Biến Chiếu Như Lai, thân hình ngài như trăng sáng, đầu đội mũ miện kim cang, những lọn tóc vòng tròn là đồ trang sức, tất cả tướng tốt, có đủ mọi trân bảo trang nghiêm, giữ đại ấn trí quyền, pháp tọa của ngài là bạch liên hoa tọa nhật luân sư tử.”

**Nghi quỹ:**

Tu trì pháp Nhất tự kim luân Phật đỉnh có thể dựa theo:

1. Nhất tự kỳ đặc Phật đỉnh kinh.

1. Nghi quỹ niệm tụng Nhất Tự Đỉnh Luân Vương.

1. Nhất Tự Phật Đỉnh Luân Vương kinh.

1. Nhất Tự Đỉnh Luân Vương Du Già kinh.

1. Pháp niệm tụng Kim Luân Vương Phật Đỉnh yếu lược.

1. Kim Cương Đỉnh kinh Nhất Tự Đỉnh Luân Vương Du Già - nghi quỹ niệm tụng thành Phật mọi lúc mọi nơi. 

1. Đại Đà-la-ni Mạt Pháp Trung Nhất Tự Tâm Chú kinh. 

Thủ ấn là: Trí quyền đại ấn.

Quán tưởng là: "Trong sát-na, từ bánh xe trí huệ biến thành thân Kim Cang Luân Vương Biến Chiếu Như Lai, thân hình ngài như trăng sáng, đầu đội mũ miện kim cang, những lọn tóc vòng tròn là đồ trang sức, tất cả tướng tốt, có đủ mọi trân bảo trang nghiêm, giữ đại ấn trí quyền, pháp tọa của ngài là bạch liên hoa tọa nhật luân sư tử.”

Chú ngữ là: Brum.

Chú này và Đại Nhật kim luân, Thích Ca kim luân là bản thể đồng nhất, hơn nữa còn có liên quan đến chú Phật Nhãn Phật Mẫu, kinh nói rằng: “Đại thiện nam tử, nếu nơi sở tại có người trì chú Phật đỉnh này, năm trăm do tuần xuất thế tại thế gian tất cả chú vương đều không thành trụ.”

Lại nói: “Tất cả các đại Bồ Tát thập địa cũng khiếp sợ thần lực uy đức của chú này, huống hồ là chư thiên có uy lực nhỏ. Nếu thường xuyên tụng chú Nhất tự Phật đỉnh luân vương, mỗi lần trước khi tụng thì niệm đủ bảy biến chú Phật Nhãn, rồi an tâm tụng chú Nhất tự Phật đỉnh luân vương cho đến khi đủ số biến, lại tụng bảy biến chú Phật nhãn, như vậy sẽ được an ổn, không có gì phải lo lắng.”

Pháp Nhất tự kim luân Phật đỉnh này là một trong sáu đại Mật pháp của Đài mật, nếu có người thành tâm thành ý tu trì pháp này, cho dù là người mắc bệnh nặng như điên khùng hay câm điếc, đều có thể khỏi bệnh, sinh đẻ cũng được bình an. Công đức của pháp này vô cùng lớn, hơn nữa còn thù thắng quảng đại.

---
# File: chan-ngon-than-chu/nhat-tu-thanh-tinh-chu-phap.md
# Title: Nhất tự thanh tịnh chú pháp
---

## Nhất tự thanh tịnh chú pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

**Chú tự:** Hum (màu lam)

**Thủ ấn:** Thân ấn (Tỳ Lô thất chi tọa)

**Công đức tu pháp:** 

Chữ Hum này có tác dụng lớn, nó có thể thanh trừ tất cả nghiệp chướng. Bạn chỉ niệm mỗi chữ Hum này thì đã là chú ngữ rồi, đây là chú ngữ rất vĩ đại. Bạn có biết không? Trong hai mươi cõi trời của chư Thiên, một chú ngữ của họ chính là chữ Hum này mà thôi, chính là chữ này. Đây gọi là pháp thanh tịnh vi diệu nhất. Chỉ tu mỗi chữ này thôi, nếu bạn tu thành thì cũng cực kì đó, Phật Bồ Tát đều có thể hợp nhất với bạn.

Pháp của Mật giáo rất vi diệu, chỉ tu mỗi chữ Hum này đã có tác dụng rồi, tác dụng mà nó sản sinh ra có thể tiêu trừ rất nhiều nghiệp chướng, tất cả nghiệp chướng đều tiêu trừ sạch sẽ. Bản thân bạn hóa thành chữ Hum màu lam thanh tịnh, trong vũ trụ này, chữ Hum màu lam và bạn hoàn toàn hợp nhất. Pháp này cũng có thể trị bệnh, cũng có thể tiêu nghiệp chướng, gia tăng phúc phần, cũng có thể thành Phật. Đến lúc đó bạn hô lên "Hum" một cái, toàn bộ vũ trụ vỡ nát, thế là bạn thành Phật rồi - "Hum!"

**Quán tưởng:**

Bây giờ tôi dạy mọi người một pháp thanh tịnh. Chúng ta dùng chữ "Hum" màu xanh lam ở trong tâm chính mình để cho hoa sen đứng thẳng. Hô một tiếng "Hum", từ lỗ mũi bên phải đi ra một chữ "Hum" đến trước mặt bạn, "Hum hum hum...". Từ chữ "Hum" mẹ này lại sinh ra một số chữ "Hum" con biến thành cả một đống chữ "Hum" bao vây lấy bạn, bao quanh toàn bộ căn phòng, đầy ắp cả ba nghìn đại thiên thế giới, toàn bộ đều là chữ "Hum" màu xanh lam.

Lúc này, bạn phải niệm Hum hum hum... liên tục phát ra âm thanh, chữ "Hum" từ lỗ mũi của bạn đi ra giống như một tấm màn chú tự, chữ này nối với chữ kia, đầy ắp cả đại thiên thế giới, trở thành một chữ "Hum" lớn màu lam. Lúc này bạn quán tưởng: toàn bộ vũ trụ đều bị chữ "Hum" này che kín hết.

Tiếp theo, bạn dùng lỗ mũi trái lại hít những chữ "Hum" này vào, hít chữ "Hum" màu xanh lam vào, "Hum hum hum...", đi vào bên trong thân thể bạn, bao gồm ngón tay, ngón chân, những nơi vi tế nhất, toàn bộ đều tràn đầy chữ "Hum" màu lam. Sau cùng chính mình biến thành một chữ "Hum" lớn màu lam.

Trì chú và quán tưởng như vậy, đây là một pháp thanh tịnh rất vi diệu. Nói cách khác là lúc này toàn bộ thân tâm của bạn hoàn toàn thanh tịnh rồi, bản thân biến thành chữ "Hum", toàn bộ vũ trụ biến thành chữ "Hum", một trạng thái "Hum" và "Hum" hợp nhất.

**Sư Tôn truyền tâm yếu khẩu quyết tu pháp:**

Bạn biết chữ "Hum" này, tôi từng nói về pháp Nhất tự thanh tịnh rồi, rất hữu dụng đó. Bạn quán tưởng chính mình thành chữ "Hum" chính là thanh tịnh rồi, bạn quán tưởng chữ "Hum" có thể đi ra ngoài, thế rồi nếu biến toàn bộ vũ trụ thành chữ "Hum", vậy thì toàn bộ vũ trụ tất cả đều thanh tịnh. Pháp Nhất tự thanh tịnh này, chữ "Hum" từ thân thể bạn đi ra, vậy thì đến đỉnh một ngọn núi rất cao hay là xuống tận đáy biển bạn đều có thể đi được. Sau khi bạn tu thành tựu rồi, dùng chữ "Hum" này để quán tưởng, quán tưởng chữ này đi đến đâu thì bạn thật sự có thể đi tới đó được, khi thật sự thành tựu là như vậy đó. Toàn bộ vũ trụ bạn đều có thể biến thành một chữ "Hum", bao gồm chính bạn cũng biến thành chữ "Hum", đây chính là quán tưởng Nhất tự thanh tịnh chữ "Hum".

Chữ "Hum" này là tiếng Phạn, tiếng Tạng, có pháp lực rất lớn. Chữ "Hum" có pháp lực rất lớn như vậy, cho nên hai chữ "Hum" này là pháp Bảy ngày vãng sinh của Mật giáo, cũng là pháp thành Phật, việc tu hành này vô cùng quan trọng, có thể quán tưởng đến mức nhất tâm bất loạn thì đây chính là khẩu quyết chân chính.

---
# File: chan-ngon-than-chu/nhu-y-luan-quan-tu-tai-bo-tat.md
# Title: Như Ý Luân Quán Tự Tại Bồ Tát 
---

![image](/img/img_886ab6c403cd82bf8cdfed71d2791f5d.png)



# Như Ý Luân Quán Tự Tại Bồ Tát 



### Giới thiệu pháp tướng Như Ý Luân Quán Tự Tại Bồ Tát


Bồ Tát có sáu tay, thân màu vàng kim, ngồi trong nguyệt luân. Trên đầu, nơi búi tóc có đội mũ miện trang nghiêm, trên mũ miện có A Di Đà Phật trụ tướng thuyết pháp. Bên phải, tay thứ nhất làm tướng tư duy, biểu thị thương nhớ tất cả chúng sinh hữu tình; tay thứ hai cầm bảo châu như ý, biểu thị có thể thỏa mãn nguyện vọng của chúng sinh; tay thứ ba cầm chuỗi hạt, biểu thị có thể cứu độ khổ của bàng sinh. Bên trái, tay thứ nhất đè lên quang minh sơn, ý rằng có thể thành tựu tín niệm của chúng sinh không dao động; tay thứ hai cầm hoa sen, vì hoa sen được ví với sự thuần khiết, biểu thị có thể tịnh trừ pháp bất chính của thế gian; tay thứ ba cầm bảo luân, biểu thị có thể chuyển vô lượng pháp luân, vì thế ngài còn được gọi là Như Ý Luân. Sáu tay biểu thị có thể đi tới lục đạo, dùng tâm đại bi để đoạn trừ khổ của chúng sinh hữu tình.


![image](/img/img_6f103f16862150624e13b4d767f94f21.jpg)


Chủng tử: chữ Seh màu vàng kim.
Thủ ấn: Ngón cái giơ thẳng chạm vào đầu ngón trỏ, ngón giữa giơ thẳng chạm đầu vào nhau, ngón áp út và ngón út duỗi thẳng đan chéo nhau. 
Chú ngữ: Ôm wa-la-ta pô-thô-mi hùm


### Pháp ngữ khai thị trân quý của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - lai lịch của Như Ý Luân Quán Tự Tại Bồ Tát và lợi ích tu pháp


Như Ý Luân Quan Âm có mật hiệu là Trì Bảo Kim Cang, là một trong những biến hóa thân của Quan Thế Âm Bồ Tát. Như Ý Luân Quan Âm có sáu cánh tay là hình tượng được người đời thờ cúng rộng rãi. Căn cứ theo ghi chép trong “Quán Tự Tại Như Ý Luân Bồ Tát du già pháp yếu”, Bồ Tát có thân màu vàng kim, ngồi trong nguyệt luân. Trên đầu, nơi búi tóc có đội mũ miện trang nghiêm, trên mũ miện có A Di Đà Phật trụ tướng thuyết pháp. Bên phải, tay thứ nhất làm tướng tư duy, biểu thị thương nhớ tất cả chúng sinh hữu tình; tay thứ hai cầm bảo châu như ý, biểu thị có thể thỏa mãn nguyện vọng của chúng sinh; tay thứ ba cầm chuỗi hạt, biểu thị có thể cứu độ khổ của bàng sinh. Bên trái, tay thứ nhất đè lên quang minh sơn, ý rằng có thể thành tựu tín niệm của chúng sinh không dao động; tay thứ hai cầm hoa sen, vì hoa sen được ví với sự thuần khiết, biểu thị có thể tịnh trừ pháp bất chính của thế gian; tay thứ ba cầm bảo luân, biểu thị có thể chuyển vô lượng pháp luân, vì thế ngài còn được gọi là Như Ý Luân. Sáu tay biểu thị có thể đi tới lục đạo, dùng tâm đại bi để đoạn trừ khổ của chúng sinh hữu tình.

Như Ý Luân Quan Âm có đại thần chú, gọi là “Đại Liên Hoa Chiên Đàn Mani Tâm Luân Như Ý Bảo Luân Vương Đà-la-ni”. Sức mạnh uy thần của pháp này giống như cây báu mani và bảo châu như ý, có thể khiến cho tất cả báu vật rơi xuống như mưa, thỏa mãn nguyện vọng của chúng sinh, có thể đắc xuất thế và của cải của thế gian. 

Chú ngữ của Như Ý Luân Quan Âm có chú dài, đại tâm chú, tùy tâm chú, chủ yếu căn cứ theo “Phật Thuyết Quán Tự Tại Bồ Tát Như Ý Tâm Đà-la-ni Kinh” thì tùy tâm chú của ngài là: “Ôm wa-la-ta pô-thô-mi hùm.”

Tụng chú này một biến, lập tức có thể miễn trừ tội nạn, thành tựu sự nghiệp. Nếu ngày ngày trì tụng 108 biến, A Di Đà Phật tự hiện thân, cũng nhìn thấy đủ tướng trang nghiêm của thế giới Cực Lạc, và nhìn thấy các Bồ Tát ở thế giới Cực Lạc, cũng nhìn thấy tất cả chư Phật mười phương, cũng nhìn thấy tịnh thổ mà Quan Thế Âm Bồ Tát cư ngụ, đắc tự thân thanh tịnh, liên hoa hóa sinh, có đủ mọi tướng, không đọa ác đạo mà thường sinh trước Phật.

Căn cứ theo ghi chép trong “Như Ý Luân Đà-la-ni Kinh”, phẩm “Đàn Pháp”, mandala Như Ý Luân phân thành Nội viện và Ngoại viện, còn gọi là “Bí Mật Như Ý Luân Đà-la-ni Đại Mandala Ấn Tam Muội Da”. Trong kinh ghi rằng: “Mandala tam muội da bí mật này, người chưa đủ lực chỉ vẽ chỗ ngồi, viết tên lên từng vị trí, làm pháp cúng dường cũng sẽ được thành tựu.” Mandala tam muội da bí mật này là nơi mà Thánh Quán Tự Tại hiện thân và nguyện, là nơi mà tất cả chư thiên thần tiên cung kính tán thán thủ hộ, là nơi các hữu tình được miễn trừ tất cả tội chướng, là nơi thành tựu hai loại thuốc thế gian và xuất thế gian. Tăng trưởng tích phúc, khi mệnh chung sẽ được vãng sinh đến cõi Tây phương Cực Lạc, liên hoa hóa sinh, mặc thiên y và tự mình trang nghiêm, nhận thức được túc mệnh trí và thậm chí bồ đề, không đọa ác đạo.”

---
# File: chan-ngon-than-chu/phan-no-ton-bach-tu-minh-chu.md
# Title: Phẫn nộ tôn Bách tự minh chú
---

# Phẫn nộ tôn Bách tự minh chú



### Tông Ủy Hội thông báo pháp vụ


**Phẫn nộ tôn Bách tự minh chú**

1. Khởi nguồn:
Ngày 28.07.2019, khi Liên Sinh Hoạt Phật khai thị Đạo Quả, lần đầu tiên truyền pháp hoàn tịnh bằng Phẫn nộ tôn Bách tự minh chú. Nay xin chỉnh lý Phẫn nộ tôn Bách tự minh chú và những việc có liên quan cần chú ý như sau. 

2. Chú văn: 

Phẫn nộ tôn Bách tự minh chú - Chú dài (hành giả nam dùng)

Ôm pê-cha hây-lu-ka sa-ma-ya. Ma-nu-pa-la-ya. 
Hây-lu-ka tê-nu-pa-ti-cha. Chưa-chô-mê-pa-wa.
Su-tô ka-yu mê-pa-wa. Su-pu ka-yu mê-pa-wa.
An-nu ra-tô mê-pa-wa. Sa-ơ-wa. Sit-đi. Mê-pu-ra-ya-cha.
Sa-ơ-wa. Ka-ơ-ma. Su-cha-mê. Chi-ta-mu. 
Si-ri-rân ku-ru-hùm. Ha-ha ha-ha hơ. 
Pa-ka-wân. Pê-cha hây-lu-ka ma-mê-mân-cha. 
Hây-lu-ka-pa-wa. Ma-ha sa-ma-ya. Sa-tô-ah. Hùm pây.

Phẫn nộ tôn Bách tự minh chú - Chú dài (hành giả nữ dùng)

Ôm pê-cha ta-chi-ni hây-lu-ka sa-ma-ya. Ma-nu-pa-la-ya. 
Ta-chi-ni hây-lu-ka tê-nu-pa-ti-cha. Chưa-chô-mê-pa-wa.
Su-tô ka-yu mê-pa-wa. Su-pu ka-yu mê-pa-wa.
An-nu ra-tô mê-pa-wa. Sa-ơ-wa. Sit-đi. Mê-pu-ra-ya-cha.
Sa-ơ-wa. Ka-ơ-ma. Su-cha-mê. Chi-ta-mu. 
Si-ri-rân ku-ru-hùm. Ha-ha ha-ha hơ. 
Pa-ka-wân. Pê-cha ta-chi-ni hây-lu-ka ma-mê-mân-cha. 
Ta-chi-ni hây-lu-ka-pa-wa. Ma-ha sa-ma-ya. Sa-tô-ah. Hùm pây.

3. Thánh Tôn chỉ thị các việc cần chú ý

(1) Phẫn nộ tôn Bách tự minh chú có thể dùng để sám hối, tịnh trừ hành giả Chân Phật đã vi phạm 14 giới đọa cơ bản của Mật giáo và các giới samaya đã phạm.

(2) Phẫn nộ tôn Bách tự minh chú phải được quán đảnh mới có thể trì tụng. (Có thể gửi thư cầu Thánh Tôn quán đảnh từ xa.)

(3) Cho dù là hành giả Chân Phật mới quy y, sau khi nhận quán đảnh Phẫn nộ tôn Bách tự minh chú xong, nếu có vi phạm giới samaya, cũng có thể niệm chú này để hoàn tịnh.

(4) Phẫn nộ tôn Bách tự minh chú này nam nữ hành giả đều có thể trì tụng, nhưng hành giả nữ khi trì tụng, trước mỗi cụm “hây-lu-ka” đều phải trì thêm “ta-chi-ni”. (Tức là Không hành mẫu - Dakini.)

(5) Khi trì Phẫn nộ tôn Bách tự minh chú, không cần có quán tưởng đặc biệt, nhưng phải chuẩn bị cúng phẩm cúng dường, các loại cúng phẩm chỉ cần là cúng phẩm thường ngày cúng Phật là được.

(6) Nếu phạm giới samaya và muốn hoàn tịnh, chí ít phải thành tâm trì niệm 200 biến Phẫn nộ tôn Bách tự minh chú hoặc hơn, hồi hướng cho tội đã phạm được tiêu trừ.

(7) Trong Phẫn nộ tôn Bách tự minh chú, tuy rằng cụm từ “hây-lu-ka” chỉ xuất hiện 4 lần, Thánh Tôn khai thị điều này cũng được.

(8) Bách tự minh chú mà bình thường đệ tử Chân Phật trì tụng gọi là Tịch tĩnh tôn Bách tự minh chú, cùng với Phẫn nộ tôn Bách tự minh chú đều có sự bổ khuyết cho nhau, có công đức tịnh trừ lỗi lầm và tội chướng, nhưng bình thường lúc tu pháp vẫn dùng Tịch tĩnh tôn Bách tự minh chú là chính.

Tông Ủy Hội Chân Phật Tông thế giới trân trọng thông báo.

---
# File: chan-ngon-than-chu/phap-hy-kim-cang-dung-mua.md
# Title: Pháp Hỷ Kim Cang dừng mưa
---

![image](/img/img_c53c15416a48274f8ba129f89b7a18ac.jpg)



## Pháp Hỷ Kim Cang dừng mưa


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Bây giờ nói ngược lại, Phật Thích Ca Mâu Ni nói, nếu như là nạn lũ lụt thì sao? Mưa quá nhiều thì phải làm sao? Trời mưa không ngớt thì có pháp dừng mưa. Pháp dừng mưa này là như thế này. Lấy một bộ quần áo của người chết. Ở Ấn Độ, người chết đều dùng vải để quấn, sau đó thì hỏa thiêu. Bạn đi đến sông Hằng, ở thành cổ Varanasi bên bờ sông Hằng, đó là tổng bộ của Ấn Độ giáo, có một lò hỏa táng cạnh sông Hằng. Ở đây lò hỏa táng không dùng điện như chúng ta mà là dùng gỗ xếp lên, đặt người chết bên trên rồi châm lửa. Ở bên cạnh sông Hằng là hỏa thiêu  như vậy, sau khi thiêu xong thì nhặt tro xương, những thứ còn lại thì đều quét xuống sông. Chúng tôi có ngồi thuyền đi xem lò hỏa thiêu, khu hỏa thiêu đó xếp thành hàng, thi thể cũng xếp thành hàng, toàn bộ đều dùng vải trắng để bọc lại.

Kiểu vải đó rất hữu dụng, có nạn lũ lụt, trời mưa không dừng, lấy một tấm vải bọc thi thể này, hoặc là lấy một mảnh từ vải bọc tử thi, một mảnh cũng được, hành giả ngồi trên mảnh vải này, trong sát-na bạn biến thành Hỷ Kim Cang, đó gọi là “đối sinh”. Khi chúng ta tu Mật pháp có cái gọi là “đối sinh”. Khi tu pháp, trước mặt xuất hiện Hỷ Kim Cang, đây gọi là đối sinh, đôi khi cũng gọi là tự sinh, tự sinh tức là thân thể của chính mình. 

Dùng chú tự của Hỷ Kim Cang, trong tâm trong tích tắc bạn biến thành Hỷ Kim Cang, tay bạn phải kết thủ ấn Hỷ Kim Cang, bạn phải nghĩ tay mình đều cầm kapala, đầu bạn biến thành đầu của Hỷ Kim Cang, thân thể biến thành thân của Hỷ Kim Cang. Sau đó, chân dẫm lên bốn ma, chính mình biến hóa thành Hỷ Kim Cang, pháp biến hóa này gọi là tự sinh. Biến chính mình thành Hỷ Kim Cang thì gọi là tự sinh. Còn đối sinh là Hỷ Kim Cang trụ trong hư không. Sau đó niệm chú dừng mưa: “Ôm. Ta chính là Hỷ Kim Cang. Sắc lệnh dừng mưa ngay! Hùm-hùm-hùm fa-cha sô-ha.” Chú ngữ này rất dễ niệm, bởi vì những câu này đều như lời nói thông thường, trực tiếp đọc lên.

---
# File: chan-ngon-than-chu/phat-thuyet-an-trach-da-la-ni-chu-kinh.md
# Title: Phật thuyết An trạch đà-la-ni chú kinh
---

![image](/img/img_b5ee338110cf6276bb7b21e7843ded26.jpg)



# Phật thuyết An trạch đà-la-ni chú kinh


Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Phật ở tại tinh xá Cấp Cô Độc trong rừng Kỳ Đà ở nước Xá Vệ, cùng các đại tì kheo là một nghìn hai trăm năm mươi người, các đại Bồ Tát là bốn vạn người, chủ của thế giới Đại Phạm Thiên Vương, Thích Đề Hoàn Nhân, Tứ Đại Thiên Vương. Đề Đầu Lại Tra Thiên Vương, Tỳ Lâu Lặc Xoa Thiên Vương, Tỳ Lâu Bác Xoa Thiên Vương, Bì Sa Môn Thiên Vương. Hai mươi tám bộ quỷ sư đại tướng quân. Như vậy các chư Thiên, tám vạn bốn nghìn A Lợi Đa, cùng các con và quyến thuộc đều đến để tụ hội. 

Khi ấy, cách cõi Phật này mười vạn ức cõi Phật, có thế giới tên là Chúng Hoa, Đức Phật nơi ấy hiệu là Tối Thắng Đăng Vương Như Lai Ứng Cúng Chính Đẳng Giác Phật Thế Tôn,** **nay hiện đang thuyết pháp, phái hai vị Bồ Tát, một là Đại Quang, hai là Vô Lượng Quang và bảo rằng: “Thiện nam tử, các ông mang đà-la-ni chú này đến thế giới Ta Bà trao cho Phật Thích Ca Mâu Ni, chú này có nhiều lợi ích, có thể khiến cho chúng sinh đêm dài được yên ổn, có được điều thiện, lợi ích, sắc đẹp, sức mạnh, danh dự.” Ngài liền nói chú rằng: “Tô-tê-ya-tha pô-lô-su-li su-li su-li-li-sa-ma-ti ma-ha-sô-ma-ti sô-man-ti ma-ha-sô-man-ti sô-li sô-lô-li sô-ha.”

Khi ấy hai vị Bồ Tát từ nơi Phật nhận lấy đà-la-ni chú này. Nhanh như tráng phu cong duỗi cánh tay, hai vị từ nước Chúng Hoa đến tinh xá Cấp Cô Độc trong rừng Kỳ Đà ở nước Xá Vệ. Khi ấy, hai vị Bồ Tát đi đến chỗ Phật, cúi đầu làm lễ dưới chân Phật rồi đứng lui về một bên mà bạch Phật rằng: “Thế Tôn! cách thế giới này mười vạn ức cõi Phật, có thế giới tên là Chúng Hoa, Đức Phật cõi ấy hiệu là Tối Thắng Đăng Vương Như Lai Ứng Cúng Chính Đẳng Giác, hiện đang nói pháp, phái chúng tôi đến hỏi thăm Thế Tôn.”

Chúng sinh thế giới Ta Bà có ít bệnh ít phiền não, khí lực có được yên không? Các hàng đệ tử bị các ma, thiên, quỷ, la sát, quỷ đói, a tu la, ca lâu la, quỷ can nhân, quỷ can đà, quỷ dịch bệnh, quỷ khiến người bị điên, quỷ khiến người loạn tâm, quỷ phương đạo, quỷ khởi thi, quỷ làm cho phát bệnh một ngày, quỷ làm cho phát bệnh hai ngày ba ngày bốn ngày cho đến bảy ngày, quỷ làm cho thường xuyên phát bệnh, các loài như vậy hoành hành gây ra phiền não.

Tối Thắng Đăng Vương Như Lai sai đem đà-la-ni chú này trao cho Thế Tôn cũng muốn khiến cho chúng sinh thế giới Ta Bà này được đêm dài an ổn, có được điều thiện, lợi ích, sắc đẹp, sức mạnh, danh dự mà nói chú như trên. 

Bấy giờ Phật bảo A Nan: “Ông nên thọ trì, đọc tụng thuộc lòng, vì người khác mà giảng giải, viết chép cúng dường đà-la-ni chú này. Tại sao vậy? Vì Phật xuất thế đã khó mà trì chú này lại càng khó hơn. A Nan! Nếu có thọ trì, đọc tụng thuộc lòng sẽ được phúc lợi lớn.”

“Phật thuyết an trạch đà-la-ni chú kinh”. (Hết)

---
# File: chan-ngon-than-chu/quang-minh-chan-ngon.md
# Title: Quang minh chân ngôn
---

![image](/img/img_b7a1e0fe61f1fd4688e0deedc066fa35.jpg)



# Quang minh chân ngôn


Có một chân ngôn tên gọi là Quang minh, công đức độ vong của chân ngôn này rất lớn. Có bài kệ rằng:
”Nghe âm diệt tội. Rải cát độ vong. Thường tự mình tụng. Tội diệt thiền tăng. Vãng sinh Tây phương.”

Kinh Mật Giáo viết:
”Nếu các chúng sinh đã gây ra mười ác năm nghịch bốn loại tội, khi thân hoại mạng chung, đọa vào các ác đạo, dùng chân ngôn này gia trì cho cát 108 biến, rải lên xác người chết, hoặc rải lên mộ, người chết lập tức được vãng sinh Tây phương Cực Lạc quốc thổ. Còn nữa, nếu có chúng sinh nghe được chân ngôn này 21 biến, đi vào tai, lập tức được trừ diệt tất cả tội chướng.”

Tên gọi gốc của chân ngôn này là: Tỳ Lô Giá Na Phật đại quán đảnh quang chân ngôn.
Chân ngôn như sau: 
”Ôm a-mô-ka vai-rô-cha-na ma-ha mu-đra ma-ni pat-ma ji-wa-la bra-wa-ta-ya hùm.”

Chú này chính là Quang minh chân ngôn.
Khi tụng chú phải quán tưởng trong tâm nguyệt luân [Mật giáo quán tưởng quả tim là vầng trăng tròn sáng, cũng là chỉ tâm bồ đề tròn đầy thanh tịnh như mặt trăng] có một chữ Phạn Ah màu vàng kim phóng quang chiếu khắp tất cả chúng sinh, những người được chiếu đến đều lìa khổ được vui.

Quang minh chân ngôn, căn cứ theo ghi chép trong “Bất Không Quyến Sách Thần Biến Chân Ngôn Kinh”, trì tụng chú này có thể diệt tất cả trọng tội, chúng sinh hễ nghe chú này là lập tức diệt tất cả tội chướng.
Dịch theo ngữ nghĩa có thể giải thích là:
Ôm [quy mệnh] a-mô-ka [Bất Không Vô Gián] vai-rô-cha-na [Tỳ Lô Giá Na Phật, quang minh biến chiếu, Đại Nhật Như Lai] ma-ha [đại] mu-đra [thủ ấn] ma-ni [bảo châu] pat-ma [hoa sen] ji-wa-la [quang minh] bra-wa-ta-ya [chuyển thành] hùm [mãn nguyện bồ đề].

---
# File: chan-ngon-than-chu/tam-muoi-da-gioi-chan-ngon.md
# Title: Tam muội da giới chân ngôn
---

![image](/img/img_b0cce64597281355f8e57e2292ad6fc9.jpg)



## Tam muội da giới chân ngôn


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp! Căn bản Thượng sư đích thân quán đảnh, chú ngữ cũng không thể quán đảnh từ xa.


### **Chú ngữ:** 


Ôm. Sa-ma-ya. Sư-tô-fan-mu.


### Công đức của pháp:


Tam muội da giới cũng là bình đẳng Phật giới. Vô thượng bồ đề lấy giới làm nền tảng, hành giả phải tự thanh tịnh ý, yên lặng an trụ. Lúc này tụng tam muội da giới chân ngôn: Ôm. Sa-ma-ya. Sư-tô-fan-mu.

“Thiền Yếu” viết: “Tụng ba biến đà-la-ni này tức giống như nghe giới. Là pháp bí mật. Cũng có thể có đầy đủ tất cả các luật nghi thanh tịnh của Bồ Tát. Các đại công đức không thể nói hết.”

“Thí Ngạ Quỷ Kinh” viết: “Khi tụng chú này, nên quán tưởng chữ màu trắng (tức là ở tâm nguyệt luân có một chữ “fan-mu” bằng tiếng Phạn màu trắng), phóng ánh sáng mạnh mẽ, chiếu khắp chúng sinh hữu tình. Ánh sáng chiếu đến thân cũng tức là tam thế chư Phật giới ba-la-mật cùng lúc viên mãn, là chân Phật tử.”

Khi tụng, quán tưởng tất cả chúng sinh đều nhận được ánh sáng kim cang của tam muội bảo giới, tâm được thanh tịnh, thân như Bồ Tát.

“Đại Nhạc Kim Cang Tam Muội Kinh” viết: “Tam muội còn gọi là bản thệ, cũng gọi là thời, gọi là kỳ khế, hoặc mandala. Vì có các tên gọi khác nhau, cho nên có bốn loại: 1. Đại; 2. Tam muội da; 3. Pháp; 4. Yết ma. Mandala này là tổng nhiếp tất cả mandala.”

Còn nữa, tam muội da cũng có bốn trí ấn, tức là: Đại thủ ấn, Tam muội da trí ấn, Pháp trí ấn, Yết ma trí ấn. “Thần Biến Nghĩa” chú thích rằng: “Tam muội da là bình đẳng nghĩa, là bản thệ nghĩa, là trừ chướng nghĩa, là cảnh giác nghĩa. Khi nói người bình đẳng gọi là Như Lai hiện chứng tam muội này, tất cả chúng sinh các loại thân ngữ ý, đều ngang bằng với Như Lai. Trí huệ thiền định và thân thực tướng cũng bình đẳng rốt ráo. Khi mới phát tâm và khi địa ba-la-mật viên mãn, cũng bình đẳng rốt ráo. Cho nên Xuất Thành Đế nói với chúng sinh, nếu điều ta nói chắc chắn không hư giả, cũng lệnh cho tất cả chúng sinh khi nói đạo lý thiện ý này, cũng được tam mật gia trì, vô tận trang nghiêm và bình đẳng với Như Lai. Nhờ nhân duyên này mà có thể làm sự nghiệp kim cang, vì thế gọi là tam muội da.”

“Kinh Cương Đỉnh Kinh” viết: “Nếu tụng 1 biến chú này, như nhập đàn luân chứng samadhi, tất cả pháp thiện đều đầy đủ, tam tụ tịnh giới cũng đồng thời viên mãn, thân giống như Phổ Hiền ngồi trên đại nguyệt luân, tất cả chư Phật nhớ đến lời thề gốc ngày xưa mà quan sát hộ niệm. Có người từng thọ Phật giới, bị ác tâm phá hủy không còn thanh tịnh nữa, nếu tụng chú này 17 biến, ô uế của tội phá giới đều được thanh tịnh, tất cả giới phẩm lại được như xưa.”

---
# File: chan-ngon-than-chu/tam-tu-minh-va-kim-cang-tung.md
# Title: Tam tự minh và Kim cang tụng
---

## Tam tự minh và Kim cang tụng


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Không cần quán đảnh, ban gia trì là được.


![image](/img/img_be9d2522a5cb943e77610e8979e7147b.jpg)


**Chú ngữ:** Om Ah Hum


### **Tâm yếu khẩu quyết Kim cang tụng**


Khí nhập trung mạch có hai cách, bất luận thế nào, chúng ta đều phải rất nghiêm túc tu khí nhập trung mạch. Phương pháp thứ nhất gọi là Kim cang tụng, là “Om Ah Hum” ba chữ tiếng Tạng của pháp hô hấp thổ nạp, khẩu quyết phải do chính miệng của Thượng sư truyền. Hôm nay tôi sẽ dạy mọi người pháp này. Chúng ta tu hành nhất định phải có nghị lực, không thể lười biếng.

Thế nào gọi là Kim cang tụng? Bạn phải niệm “Om Ah Hum”. Đầu tiên quán tưởng Bổn tôn trong hư không xuất hiện, có ánh sáng trắng chiếu đến mi tâm của bạn, chính là chữ “Om”. Có ánh sáng đỏ chiếu đến hầu luân của bạn, chính là chữ “Ah”. Vùng tim của Bổn tôn có ánh sáng màu lam chiếu đến vùng tim của bạn, chính là chữ “Hum”. Lúc này bạn phải quán tưởng trung mạch của bạn, sau đó biến “Om Ah Hum” thành một cái đĩa từ, ở tại tâm luân của bạn. Chính là một cái đĩa từ có ba chữ “Om Ah Hum”. “Om” ở bên trên, xoay tròn thuận theo chiều kim đồng hồ, quán tưởng chữ “Om”, trong tâm niệm chữ “Om”, xoay một chút. Tiếp theo là đến chữ “Ah”, cũng lại xoay một chút. Tiếp theo là chữ “Hum”, lại xoay một chút.

Khi hoàn thành bước ba ánh sáng bao trùm này, bạn phải  niệm tam tự minh chú. Bạn cần quán tưởng ba chữ này rơi xuống tề luân của bạn, hoặc tâm luân, sau đó ba chữ “Om Ah Hum” này ở trong đó. Bạn đừng niệm ra tiếng, chỉ dùng ý niệm của mình để xoay chữ “Om”, xoay chữ “Ah”, xoay chữ “Hum”, đây chính là Kim cang tụng. Bạn cứ ngồi ở đó chỉ có “Om”, tức là đang ở trong thiền định, bạn đã đang tu Kim cang tụng rồi.

Ngoài ra còn một kiểu nữa chính là hít thở của Bổn tôn, thở ra ba chữ “Om Ah Hum”, từ lỗ mũi phải của bạn đi vào, đi đến tề luân của bạn, “Om Ah Hum” liền dừng lại ở tề luân, giống như cái đĩa từ, sau đó lại xoay tròn. Cứ thế niệm “Om Ah Hum”, “Om Ah Hum”… khi niệm không phát ra âm thanh, chỉ là lưỡi động đậy thôi, cứ như thế liên tục xoay chuyển, tức là bạn đang làm Kim cang tụng rồi.

Khi bạn muốn dừng lại, “Om Ah Hum” sẽ từ lỗ mũi trái của bạn đi ra, tiến vào trong thân của Bổn tôn, cũng là tiến vào trong lỗ mũi của Bổn tôn, cứ tuần hoàn như vậy: đi vào, niệm một biến, đi ra; đi vào, niệm một biến, đi ra; rồi lại đi vào, lại niệm một biến, lại đi ra. Cứ tuần hoàn như vậy thì gọi là Kim cang tụng. Cách tu Kim cang tụng là như vậy. 


### **Tâm yếu khẩu quyết Kim cang niệm tụng**


Trước kia sư phụ tôi giảng Kim cang niệm tụng, tức là tụng từng chữ, từng chữ một. Bạn hít vào, “Om”, không phát ra tiếng, lưỡi động đậy một chút, chữ “Om” này từ lỗ mũi đi thẳng đến đan điền. Sau đó nín thở, nín thở một lúc thì thở chữ “Om” này ra ngoài. Chữ “Om” này, ở đây có nhập, trụ, dung, xuất. Đi vào, giữ ở bên trong, tan ra, rồi đi ra ngoài. Có bốn động tác như vậy.

Tiếp theo, chữ thứ hai là chữ “Ah”, vào đến đan điền, sau đó dừng lại ở đó, tức là trụ, sau đó tan ra, cuối cùng lại đi ra ngoài, đây chính là một hơi thở. Đây chính là pháp Kim cang niệm tụng. Nhưng kim cang niệm tụng này chỉ có lưỡi của bạn động đậy thôi, không phát ra âm thanh. “Hum” cũng thế. Chữ “Hum” đi vào đến đan điền, dừng ở đó rồi tan ra, sau đó lại từ từ đi ra. Nhập, trụ, dung, sau đó là xuất ra ngoài.

Ở đây có ba chữ, tam tự minh chính là như vậy. Bạn tiếp tục làm hít thở như vậy, vì sao cần làm hít thở như vậy? Khi hít vào phải đến đan điền, đây chính là hít thở hoàn toàn. Cũng tức là một kiểu thở của tu hành, đây là một kiểu khí của tu hành, không giống với hít thở bình thường. Hít thở bình thường chỉ hít vào đến phổi rồi rất nhanh chóng đã thở ra rồi. 

Nhưng bạn đừng để ý là nó đi đến đâu, dù sao bạn dùng ý niệm để hít thở sâu, nhận thức là đang có gió ở bên trong, dùng ý thức của bạn để dẫn nó đến đan điền, khi dẫn đến đan điền thì để nó tan ra ở đó, giữ ở đó và tan ra, sau đó lại thở ra ngoài. Đây chính là hít thở hoàn toàn, rất quan trọng.

Khi mới bắt đầu niệm thì cần niệm như vậy thì sẽ có thể chuyên chú. Đây gọi là Phong du già, tức là Kim cang niệm tụng. Kiểu niệm tụng này còn gọi là bất hoại, bởi vì kim cương là không bị hủy hoại.

---
# File: chan-ngon-than-chu/thap-dia-bo-tat-ho-than-kim-cang-chu.md
# Title: Thập địa Bồ Tát hộ thân kim cang chú
---

## Thập địa Bồ Tát hộ thân kim cang chú


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp! Đồng môn quy y Chân Phật Tông xin quán đảnh pháp sẽ được trì tụng.


### Chú ngữ:


**Chú hộ thân của Bồ Tát địa thứ nhất: **

Tan-chi-tha. Fu-lu-ơ-nu-la-thi. Tu-hu-tu-hu, yê-pa-su-li-yu. A-pua-pua-sa-ti. Yê-pa-chan-ta-lua. Tan-cha li-hưa-lan. Chuy-lu sô-ha.

**Chú hộ thân của Bồ Tát địa thứ hai: **

Tan-chi-tha. Uân-ru. Li-chư-li-chư-li. Uân-ru-lua-ru-lua. Nam-san-pô-san-pô. Uân-ru-li hu-lu-hu-lu. Sô-ha.

**Chú hộ thân của Bồ Tát địa thứ ba: **

Tan-chi-tha. Tan-chai-chi pan-chai-chi. Chia-la-chi. Cao-la-chi. Chi-âu-li tan-chi-li. Sô-ha.

**Chú hộ thân của Bồ Tát địa thứ tư: **

Tan-chi-tha. Sư-li-sư-li. Thua-ơ-ơ thua-ơ-ơ. Thua-li-thua-li-ơ. Sư-li-sư-li-ơ. Pi-sưa-lua pua-sư-pua-sư-na. Ban-thua-ơ-ti. Sô-ha.

**Chú hộ thân của Bồ Tát địa thứ năm: **

Tan-chi-tha. Ha-li-ha-li-ơ. Chưa-li-chưa-li-ơ chia-la-mua. Ơ-sâng-chia-la-mua. Ơ. San-bua-san-ơ chan-pa-ơ xi-tan bua-ơ mua-han-ơ. Suây-yen pu-pi. Sô-ha.

**Chú hộ thân của Bồ Tát địa thứ sáu: **

Tan-chi-tha. Pi-tu-li pi-tu-li. Mua-li-ơ ca-li-ca-li. Pi-tu-han-ti. Lu-lu-lu-lu. Chu-lu-chu-lu. Tu-lu-bua tu-lu-bua. Sưa-sưa-sưa-chưa bua-li-sa. Sô. Xi-ti-sa-bua-sa-tua-nan. Xi-tien-du. Man-tan-lua tu-thua-ơ. Sô-ha.

**Chú hộ thân của Bồ Tát địa thứ bảy: **

Tan-chi-tha. Sao-ha. Sao-ha-lu. Sao-ha sao-ha sao-ha-lu. Pây-lu pây-lu lu-chư. A-mi-li-tô hu-han-ơ. Bua-li-san-ơ. Pây-lu-tu-chi bua-lu-fa-ti. Pây-thi-sư-chư. Bin-thua pây-li-ơ. A-mi-li ti-chi. Pao-hu-chu-uy. Sô-ha.

**Chú hộ thân của Bồ Tát địa thứ tám: **

Tan-chi-tha. Sư-li-sư-li sư-li-ơ. Mi-ti-mi-ti. Chia-li-chia-lia. Xi-lu-xi-lu. Chu-lu-chu-lu. Ban-thua-ni. Sô-ha.

**Chú hộ thân của Bồ Tát địa thứ chín: **

Tan-chi-tha. Ha-li-chan cha-li-chư. Chuy-lan bua-la-thi. Tu-chư-sư. Pa-cha pa-cha-sư. Sư-li-sư-li. Chia-sư-li-chia. Pi-sư-li. Sa-xi-ti. Sa-bua sa-tua-nan. Sô-ha.

**Chú hộ thân của Bồ Tát địa thứ mười: **

Tan-chi-tha. Xi-thi. Su-xi-thi. Mua-chưa-ơ mua-cha-ơ. Pi-mu-ti an-mua-li. Pi-mua-li nê-mua-li. Mang-chia-li. Sư-lan-rưa. Chia-pây. Chia-la tan-na chia-pây. San-man-tô pa-chư-li. Sa-bua an-tha sua-tan-ơ. Mua-nai-sư mua-hưa mua-nai-sư. An-pu-ti. An-sư-pu-ti. A-la-sư pi-la-sư. An-chu-ti an-mi-li-ti. A-la-sư. Pi-la-sư. Pa-lan-mi. Pa-lua-can. Mơ-sa. Li-fu-la-ơ fu-la-na. Man-nu-la-ti. Sô-ha. 


### Liên Sinh Hoạt Phật truyền thụ tâm yếu khẩu quyết


(Trích văn tập 049 - Linh Tiên Kim Cang Đại Pháp.)

Trong cuốn sách “Phục ma bình yêu truyện”, tôi từng giải thích về “Thiên Phật Thiên Ma”, “Thứ Bồ Tát Thiên Ma”, những Thiên Ma này là Thiên Ma hạng nhất, không thể coi thường. Một khi những Thiên Ma này ra oai thì ngay cả Bồ Tát cũng không giữ được thân Bồ Tát. Vì thế, Phật Thích Ca Mâu Ni bèn nói mười loại chú ngữ, để cho những Bồ Tát mới bước vào mười địa trì chú kim cang này dùng để phá ma. Tránh cho những Bồ Tát ở mười địa quả vị này trong một lúc sơ xuất mà ngã lộn nhào, chẳng thành được Bồ Tát lại trở thành bữa điểm tâm trong miệng của Thiên Ma. 

Có thể thấy chú kim cang thập địa Bồ Tát này trân quý đến mức nào. Tam ma địa của thập địa Bồ Tát này phân loại như sau:

Địa thứ nhất, diệu bảo Tam ma địa.
Địa thứ hai, khả ái lạc Tam ma địa.
Địa thứ ba, nan động Tam ma địa.
Địa thứ tư, bất thối chuyển Tam ma địa.
Địa thứ năm, bảo hoa Tam ma địa.
Địa thứ sáu, nhật viên quang diễm Tam ma địa. 
Địa thứ bảy, nhất thiết nguyện như ý thành tựu Tam ma địa.
Địa thứ tám, hiện tiền chứng trụ Tam ma địa.
Địa thứ chín, trí tạng Tam ma địa.
Địa thứ mười, dũng tấn Tam ma địa.

Mười địa Bồ Tát này là dựa theo việc tu trì pháp môn mà đắc quả vị, tu địa thứ nhất thì dùng Thí ba-la-mật, tu địa thứ hai là Giới ba-la-mật, tu địa thứ ba là Nhẫn ba-la-mật, tu địa thứ tư là Cần ba-la-mật, tu địa thứ năm là Định ba-la-mật, tu địa thứ sáu là Huệ ba-la-mật, tu địa thứ bảy là Phương thiện thắng trí ba-la-mật, tu địa thứ tám là Nguyện ba-la-mật, tu địa thứ chín là Lực ba-la-mật, tu địa thứ mười là Trí ba-la-mật.

**Chú hộ thân của Bồ Tát địa thứ nhất: **

Tan-chi-tha. Fu-lu-ơ-nu-la-thi. Tu-hu-tu-hu, yê-pa-su-li-yu. A-pua-pua-sa-ti. Yê-pa-chan-ta-lua. Tan-cha li-hưa-lan. Chuy-lu sô-ha.

**Chú hộ thân của Bồ Tát địa thứ hai: **

Tan-chi-tha. Uân-ru. Li-chư-li-chư-li. Uân-ru-lua-ru-lua. Nam-san-pô-san-pô. Uân-ru-li hu-lu-hu-lu. Sô-ha.

**Chú hộ thân của Bồ Tát địa thứ ba: **

Tan-chi-tha. Tan-chai-chi pan-chai-chi. Chia-la-chi. Cao-la-chi. Chi-âu-li tan-chi-li. Sô-ha.

**Chú hộ thân của Bồ Tát địa thứ tư: **

Tan-chi-tha. Sư-li-sư-li. Thua-ơ-ơ thua-ơ-ơ. Thua-li-thua-li-ơ. Sư-li-sư-li-ơ. Pi-sưa-lua pua-sư-pua-sư-na. Ban-thua-ơ-ti. Sô-ha.

**Chú hộ thân của Bồ Tát địa thứ năm: **

Tan-chi-tha. Ha-li-ha-li-ơ. Chưa-li-chưa-li-ơ chia-la-mua. Ơ-sâng-chia-la-mua. Ơ. San-bua-san-ơ chan-pa-ơ xi-tan bua-ơ mua-han-ơ. Suây-yen pu-pi. Sô-ha.

**Chú hộ thân của Bồ Tát địa thứ sáu: **

Tan-chi-tha. Pi-tu-li pi-tu-li. Mua-li-ơ ca-li-ca-li. Pi-tu-han-ti. Lu-lu-lu-lu. Chu-lu-chu-lu. Tu-lu-bua tu-lu-bua. Sưa-sưa-sưa-chưa bua-li-sa. Sô. Xi-ti-sa-bua-sa-tua-nan. Xi-tien-du. Man-tan-lua tu-thua-ơ. Sô-ha.

**Chú hộ thân của Bồ Tát địa thứ bảy: **

Tan-chi-tha. Sao-ha. Sao-ha-lu. Sao-ha sao-ha sao-ha-lu. Pây-lu pây-lu lu-chư. A-mi-li-tô hu-han-ơ. Bua-li-san-ơ. Pây-lu-tu-chi bua-lu-fa-ti. Pây-thi-sư-chư. Bin-thua pây-li-ơ. A-mi-li ti-chi. Pao-hu-chu-uy. Sô-ha.

**Chú hộ thân của Bồ Tát địa thứ tám: **

Tan-chi-tha. Sư-li-sư-li sư-li-ơ. Mi-ti-mi-ti. Chia-li-chia-lia. Xi-lu-xi-lu. Chu-lu-chu-lu. Ban-thua-ni. Sô-ha.

**Chú hộ thân của Bồ Tát địa thứ chín: **

Tan-chi-tha. Ha-li-chan cha-li-chư. Chuy-lan bua-la-thi. Tu-chư-sư. Pa-cha pa-cha-sư. Sư-li-sư-li. Chia-sư-li-chia. Pi-sư-li. Sa-xi-ti. Sa-bua sa-tua-nan. Sô-ha.

**Chú hộ thân của Bồ Tát địa thứ mười: **

Tan-chi-tha. Xi-thi. Su-xi-thi. Mua-chưa-ơ mua-cha-ơ. Pi-mu-ti an-mua-li. Pi-mua-li nê-mua-li. Mang-chia-li. Sư-lan-rưa. Chia-pây. Chia-la tan-na chia-pây. San-man-tô pa-chư-li. Sa-bua an-tha sua-tan-ơ. Mua-nai-sư mua-hưa mua-nai-sư. An-pu-ti. An-sư-pu-ti. A-la-sư pi-la-sư. An-chu-ti an-mi-li-ti. A-la-sư. Pi-la-sư. Pa-lan-mi. Pa-lua-can. Mơ-sa. Li-fu-la-ơ fu-la-na. Man-nu-la-ti. Sô-ha. 

Thập địa Bồ Tát kim cang hộ thân chú có phải là người người đều có thể tu trì không? Thật ra không phải là ai ai cũng có thể tu trì, là hành giả ở quả vị thập địa Bồ Tát mới tu trì. Thập địa Bồ Tát này có mười kim cang chú mới có thể tu để lánh xa năm nạn, năm nạn này là ác thú ăn thịt, ác quỷ bức hại, oán tặc làm hại, tai nạn nước lửa, tai nạn bất ngờ. Từ đó mới có thể đắc tâm bất thối, không thối chuyển, nếu thập địa Bồ Tát chưa tu đại kim cang hộ thân chú này thì cũng đồng nghĩa với muốn gặp ma nạn.

Ngoài ra, đại Bồ Tát hộ thân kim cang chú này là dành cho hành giả ở thập địa Bồ Tát tu trì, chú âm của kim cang chú này là phát âm theo tiếng Quốc ngữ, là tiếng Quốc ngữ ghi lại âm tiếng Phạn để phát âm, cho nên kiểu ngữ âm này không chắc đã là rất chính xác, chỉ là rất gần tương tự như thế. Âm gần giống, nếu mà những người có giọng địa phương khác mà phát âm thì sẽ càng ngày càng sai, cho nên tất cả chú âm phải lấy âm mà Thượng sư truyền thụ để làm chuẩn, âm mà Thượng sư truyền dạy mới có công đức, nếu chưa được nghe truyền dạy mà dựa theo sách để niệm thì không có công đức. Điểm này cực kì quan trọng, và là hành giả Mật giáo thì nhất định phải quy y, quán đảnh, chưa quy y quán đảnh mà tu Mật pháp thì là trộm pháp, không có thầy mà đọc sách tự học thì rất dễ sai lầm mà không tự biết. 

Theo như tôi biết, thập địa Bồ Tát hộ thân chú này có năm ý nghĩa lớn:

Thứ nhất, ý của câu chú rất sâu — mười câu chú này có ý nghĩa sâu không thể đo lường, chú ngữ vốn dĩ chính là có ý  nghĩa không thể suy đoán, và thập địa Bồ Tát hộ thân kim cang chú này lại càng không thể suy đoán. Như hôm nay có rất nhiều người đến thăm dò đạo hạnh của Lư Thắng Ngạn tôi, thật ra tôi cũng là người không thể đoán biết. Có một số pháp sư đạo trưởng có suy đoán thì cũng chỉ là đoán được lông tóc của tôi, chỉ là bề ngoài của tôi mà thôi. Nếu độc giả đọc tiếp tục đọc sách của tôi thì dần dần sẽ càng ngày càng thâm nhập, càng ngày càng không thể đoán, không thể biết. 

Thứ hai, chú như tự tính — thập địa Bồ Tát hộ thân kim cang chú này chính là Đại thủ ấn của thập địa Bồ Tát, nói ngắn gọn chính là thanh tịnh toàn bộ tự tính và phát quang, mười câu chú này chính là tự tính, tự tính là thể, thể chính là tự tính, không hai không khác.

Thứ ba, nội chứng đắc lực — thập địa Bồ Tát hộ thân kim cang chú chính là vô phân biệt trí, vì vô phân biệt trí cho nên mới có thể khế nhập đắc nội chứng, đây cũng chính là lý lẽ nội chứng thậm thâm.

Thứ tư, nương dựa rất sâu — mười chú ngữ này là do hằng hà sa số chư Phật tuyên thuyết, nói là hằng hà sa số chư Phật tức là vô lượng chư Phật. Chú này là Phật Thích Ca Mâu Ni nói, nhưng Phật Thích Ca Mâu Ni còn nói rằng chú ngữ này là hằng hà sa số chư Phật đã nói, cho nên sự nương dựa của nó là sâu nhất, vì thế được gọi là vô lượng môn, có thể phá núi kim cang.

Thứ năm, pháp lực vô thượng — ở đây tức là chỉ vô dư vô trụ, vô hướng vô không hữu, cho đến khi sinh diệt.

Tôi biết rằng muốn hiểu và giải thích được đại trí huệ của Phật pháp này phải tu con mắt thứ ba, bởi vì có con mắt thứ ba mới có thể viên mãn, mới có thể bình đẳng kiến. Người đắc được con mắt thứ ba mới xem là không có tạp tư tạp huệ, mới xem là đã giải thoát đường sinh tử. Ngày nay tôi viết sách đã dần dần nói đến Vô thượng mật rồi, Vô thượng mật này mới là đại bồ đề. Nếu hôm nay tôi không viết ra thì thiên hạ người nào sẽ viết ra. Những người đắc chứng thành Phật bình thường trước nay luôn luôn là bí mật, đắc được Phật nhãn (con mắt thứ ba), xem chúng sinh đều bình đẳng thì đó là Phật, cho nên tôi mới bằng lòng nói ra!

Thập địa Bồ Tát tuy có nhân thanh tịnh, cũng có quả thanh tịnh, nhưng ma chướng thì không hoàn toàn trừ hết, vẫn không xem là thanh tịnh nhất. Giờ đây tôi tuyên thuyết thập địa Bồ Tát hộ thân kim cang chú, đó là lợi ích trời người. Phẩm hạnh nhân từ này, mưa pháp ngập tràn nhân gian và thiên giới, khiến trời người đều có được lợi ích lớn.

---
# File: chan-ngon-than-chu/that-phat-diet-toi-chan-ngon-thu-ho-phap.md
# Title: Thất Phật diệt tội chân ngôn thủ hộ pháp
---

## Thất Phật diệt tội chân ngôn thủ hộ pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

Khai thị của Sư Tôn

Ngoài ra còn có pháp Thất Phật diệt tội chân ngôn bảo vệ. Bạn niệm Thất Phật diệt tội chân ngôn "Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”, tay phải của bạn là mặt trăng, tay trái là mặt trời, sau đó bạn chắp tay lại, giữa hai bàn tay lại xuất hiện chữ "Hum" màu xanh lục, dùng chữ "Hum" này in lên toàn thân bạn, in vào đầu, vào trán, vào họng, vào tim, vai trái, vai phải, sau đó in vào chân (tay thì đã có rồi), như vậy chính là bản thân bạn đang tu bánh xe bảo hộ, chính là bảo hộ toàn thân, bản thân biến hóa thành Bổn tôn, điều này cực kì quan trọng. 

Ở đây tôi nói với mọi người, bạn niệm Thất Phật diệt tội chân ngôn, tay phải của bạn biến thành mặt trăng, tay trái biến thành mặt trời, mặt trăng và mặt trời chập lại, ở giữa hai bàn tay chắp lại có một chữ "Hum", sau đó chữ "Hum" biến thành chày kim cang ấn lên toàn thân bạn, chủ yếu là chỗ khớp xương, vai cũng là khớp xương, và ấn vào những vị trí quan trọng như là đầu, họng, tim.

Sau đó bản thân bạn tự hóa thành Bổn tôn, bạn bắt đầu niệm chú của Bổn tôn, như thế này là bạn đang tu pháp phòng hộ. Toàn thân phải được ấn như vậy. Đôi khi đơn giản một chút, bạn quán tưởng mình thành Bổn tôn, các chỗ khớp xương trên toàn thân đều có đầy chú ngữ của Bổn tôn. Bạn lại quán tưởng mình đội lên cái mũ của binh sĩ thời cổ đại, toàn thân mặc áo giáp, người hiện đại thì đội mũ cối, áo chống đạn, để bảo vệ chính mình. 

Thậm chí có vũ khí sắc bén hơn, ví dụ có một loại váy của nữ sinh, bên trên có kim nhọn, đó là dùng để bảo vệ, ngồi trên xe, kẻ biến thái đưa tay ra một cái sẽ bị đâm trúng. Đó chính là phòng hộ. Bạn mặc quần áo có kim nhọn trên người, người ta không thể chạm vào thân thể của bạn, đây chính là một kiểu phòng hộ. Cho nên bạn hãy quán tưởng mình đang mặc quần áo có kim, người khác sẽ không có cách nào chạm vào bạn.

---
# File: chan-ngon-than-chu/truong-tho-tam-ton-tam-chu.md
# Title: Trường Thọ Tam Tôn tâm chú
---

![image](/img/img_ae82c6fe649bc3d056fd6fb1f79d9f5f.jpg)



# Trường Thọ Tam Tôn tâm chú


Trường Thọ Phật tâm chú: Ôm a-ma-rua-ni chu-wân-ti-yê sô-ha.
Tôn Thắng Phật Mẫu tâm chú: Ôm bờ-rừm sô-ha. Ôm a-mi-ta a-yu-la ta-tê sô-ha.
Bạch Độ Mẫu tâm chú: Ôm ben-za gu-ru ya sô-ha.

Trường Thọ Tam Tôn của Mật giáo chính là Tôn Thắng Phật Mẫu, Trường Thọ Phật, Bạch Độ Mẫu, bạn tu pháp của ngài sẽ được trường thọ, có thể kéo dài tuổi thọ, có pháp lực uy đức vô lượng, có thể lợi ích tất cả chúng sinh. 


![image](/img/img_adc98ee7fb4985e98c04aead0457789a.jpg)



### Hình tướng của Trường Thọ Tam Tôn


Trường Thọ Phật: pháp tướng của ngài là một đầu hai tay, thân màu đỏ, tóc buộc thành búi, đội mũ Ngũ Phật, trên khoác thiên y, dưới mặc váy lụa, thân đeo chuỗi trân bảo, có đủ mọi tướng trang nghiêm của Báo thân Phật, hai tay kết định ấn đặt trên đầu gối, trên tay cầm bảo bình trường thọ, hai chân khoanh lại ngồi tư thế kiết già trên nguyệt luân hoa sen.

Tôn Thắng Phật Mẫu: ba mặt tám tay, trên mỗi khuôn mặt có ba con mắt, khuôn mặt ở giữa màu trắng tịch tĩnh trang nghiêm là Tôn Thắng Phật Mẫu, khuôn mặt bên phải màu vàng tươi cười vui vẻ là Quán Tự Tại Bồ Tát, khuôn mặt bên trái màu lam tướng phẫn nộ là Kim Cang Thủ Bồ Tát.

Tôn Thắng Phật Mẫu thân như trăng mùa thu, trắng trong không tì vết, tướng mạo như thiếu nữ tuổi thanh xuân, ngồi ngay ngắn trên nguyệt luân hoa sen, thiên y, vòng hoa, mũ miện, chuỗi vòng, trang nghiêm hiền từ, có vô lượng tịnh quang màu trắng tỏa ra. Tám cánh tay của Tôn Thắng Phật Mẫu đều cầm pháp khí, tay phải thứ nhất cầm chày kim cang chữ thập giữ trước ngực, tay phải thứ hai nâng hoa sen bên trên có A Di Đà Phật, tay phải thứ ba cầm tên, tay phải thứ tư kết ấn ban nguyện đặt trước đùi phải. Tay trái thứ nhất kết ấn phấn nỗ quyền cầm sợi thừng, tay trái thứ hai giơ lên cao làm ấn vô úy, tay trái thứ ba cầm cung, tay trái thứ tư kết định ấn nâng bảo bình cam lộ.

Bạch Độ Mẫu: thân màu trắng, một đầu hai tay, tay phải kết ấn ban nguyện, tay trái kết ấn cầm hoa, cầm hoa upala màu hồng, hoa nở ba đóa, một đóa chưa nở, một đóa nở hé, một đóa nở bung. Lòng bàn tay, lòng bàn chân, thiên tâm đều có một con mắt, tổng cộng có bảy con mắt. Tướng mạo như thiếu nữ thanh xuân, tóc buộc sau đầu, bên phải rủ xuống một lọn tóc, thân mặc thiên y váy lụa, đeo các loại chuỗi vòng, ngồi kiết già, sau lưng có nguyệt luân, xinh đẹp phi phàm. 


### Liên Sinh Hoạt Phật truyền thụ tâm yếu khẩu quyết


**Trường Thọ Phật**

Trường Thọ Như Lai còn gọi là Tây Phương Vô Lượng Thọ Như Lai, là do A Di Đà Phật biến hóa ra. Ngài có đặc trưng là bình cam lộ trường thọ, nếu có thể uống cam lộ trường thọ trong bình cam lộ trường thọ thì có thể sống lâu và khỏe mạnh.

Trường Thọ Phật có bốn vị Không Hành Mẫu tức-tăng-hoài-tru ở xung quanh, dùng móc câu để triệu tập tinh hoa, thọ mệnh, phúc đức, trí huệ của đất, nước, lửa, gió, không khí.

Trường Thọ Như Lai có thể ngăn chặn những tai nạn của chúng ta, tiếp dẫn chúng sinh u minh vãng sinh Phật quốc thanh tịnh. Ánh sáng của Trường Thọ Như Lai vô cùng sâu xa, có ánh sáng lớn màu đỏ, có thể khiến chúng sinh tăng trưởng trí huệ, tăng trưởng phúc phần, diệt trừ bệnh nghiệp, gia trăng kính ái, khiến gia đình vui vẻ hòa hợp, tất cả tai nạn và thù địch đều có thể tiêu tan.

Ánh sáng của Trường Thọ Như Lai cũng có thể tiếp dẫn mọi chúng sinh u minh vãng sinh Phật quốc thanh tịnh, vì thế vị Phật này cũng là Bổn tôn siêu độ tốt nhất.

**Kinh Vô Lượng Thọ**

“Vô Lượng Thọ Phật uy thần quang minh tối tôn đệ nhất. Ánh sáng của chư Phật không thể sánh bằng.”

Trong kinh Phật nói, trì tụng chú Trường Thọ Phật, có thể tăng trưởng thọ mệnh và phúc đức trí huệ. Tránh được những tai nạn bất ngờ hoặc chết yểu. Tiêu trừ mọi nghiệp tội, chứng thành tựu vô tử hoặc trụ sinh tại Tây phương Cực Lạc thế giới tịnh thổ. Tu trì Trường Thọ Phật có thể tiêu trừ bệnh tật, phúc thọ kéo dài, thiện duyên tăng trưởng, ác duyên tiêu trừ, khiến sự nghiệp pháp thế gian trường thọ.

Chủ yếu nhất là Phật cầm bình cam lộ, thủ ấn của ngài là định ấn thông thường, chính là định ấn của A Di Đà Phật, nhưng không vòng ngón tay lại, tay phải ở trên, tay trái ở dưới, hai ngón cái chạm vào nhau. Chú ngữ của ngài là “Om ama ruani chuantiye soha.” Hình tướng của ngài là thân màu đỏ, ngài vốn là A Di Đà Phật, và A Di Đà Phật vốn dĩ còn gọi là Trường Thọ Phật. Có hình tướng, có thủ ấn, chú ngữ thì sẽ có niệm tụng pháp của Bổn tôn Trường Thọ Phật.

Đặc trưng chủ yếu nhất của Trường Thọ Phật là bình cam lộ mà ngài cầm trên tay. Bản thân bình cam lộ có thể gia trì cho chúng sinh, cũng có thể tiếp dẫn chúng sinh. Ngài còn có tác dụng thanh tịnh, có tác dụng trị bệnh, tác dụng trường thọ và tác dụng khỏe mạnh. Còn có rất nhiều tác dụng bất khả tư nghì nữa. Cho nên, Trường Thọ Phật còn được gọi là Cam Lộ Vương Như Lai, cũng còn gọi là A Di Đà Như Lai, Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Quang Phật, Đại Quang Phật, đều là tên gọi của vị Phật này.

Tín đồ Phật giáo gặp nhau thường hay nói “A Di Đà Phật”. Các đạo sĩ Đạo giáo hoặc đạo trưởng gặp nhau thì đều nói “Vô Lượng Thọ Phật”. Thật ra, cả hai vị đều như nhau. A Di Đà Phật chính là Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang.

Trường Thọ Phật, Tôn Thắng Phật Mẫu, Bạch Độ Mẫu đều là hóa thân của đại từ đại bi, có thể đem đến sức khỏe và bình an, may mắn cho con người, gọi chung lại là Tam Trường Thọ Phật hoặc Trường Thọ Tam Tôn.

Hôm nay chúng ta nói về Trường Thọ Như Lai là rất quan trọng. Vì sao bạn có thể sống lâu? Bởi vì bạn sẽ không gặp tai nạn bất ngờ, thân thể bạn không gặp những điều ngoài ý muốn. Đi ra ngoài làm mọi thứ cũng không xảy ra điều bất trắc. Không chỉ là thân thể không xảy ra chuyện ngoài ý muốn, mà ngay cả khi đi ra ngoài cũng sẽ không gặp chuyện không may. Lái xe cũng không gặp tai nạn.

Vì thế, mọi lúc chúng ta đều có Hộ pháp của mình ở bên cạnh để bảo vệ. Hoặc bạn có thể đeo thẻ hộ thân của Hộ pháp, hoặc thẻ hộ thân của Bổn tôn, thẻ hộ thân của Thượng sư. Nếu như bạn đã tương ứng, tự nhiên sẽ có Bổn tôn ở bên cạnh bạn, bạn sẽ không gặp những tình huống ngoài ý muốn, điều này vô cùng quan trọng. Chúng ta tu hành chính là cần tu đến khi Hộ pháp ở bên cạnh bạn, Bổn tôn ở bên cạnh bạn, Thượng sư ở bên cạnh bạn. Một ngày bạn đạt được như vậy rồi thì thân tâm của bạn sẽ an định.

Bạn muốn khỏe mạnh thì cần biết tu Trường Thọ Như Lai. Điều mà Trường Thọ Như Lai dạy bạn thật ra chính là dạy: đừng lừa dối người khác, đừng ganh đua. Bởi vì ganh đua sẽ có một bên bị hại. Đừng sỉ nhục người khác, bạn sỉ nhục người khác sẽ làm tổn thương người khác. Bạn không thể sát sinh, tâm bạn cần phải rất từ bi, rất nhân từ, rất tốt bụng, phải có lòng nhân từ. Cần có tâm nghĩ cho người khác, như thế bạn chính là Bồ Tát, như vậy chính bạn sẽ có thể trường thọ. Bằng không, nếu bạn có tâm sát sinh, lại muốn sỉ nhục người khác, lại muốn ganh đua, lại muốn lừa gạt người, vậy thì thân tâm bạn sẽ bất an, làm sao có thể trường thọ được chứ? Đây chính là điểm quan trọng về Trường Thọ Như Lai đó!

**Tôn Thắng Phật Mẫu**

Tôn Thắng Phật Mẫu là sự hóa hiện vô thượng đỉnh của Thích Ca Mâu Ni Phật, cũng chính là thân khẩu ý của Thích Ca Mâu Ni Phật. Ngài chính là một vị Bồ Tát do ánh sáng vô lượng, trí huệ vô lượng, đỉnh vô lượng của Thích Ca Mâu Ni Phật tổng hợp lại mà biến hóa ra, ngài còn được gọi là Phật Đỉnh Tôn Thắng Phật Mẫu.

Vô thượng đỉnh của Thích Ca Mâu Ni Phật là trí huệ của Đại Nhật Như Lai, vô lượng quang của A Di Đà Phật, đại diện cho trí huệ vô thượng của Như Lai là “Không” và “Vô”.

Vì thế, Tôn Thắng Phật Mẫu là ba thân trong một của Quan Thế Âm Bồ Tát, Kim Cang Thủ Bồ Tát và Tôn Thắng Phật Mẫu, có đầy đủ mọi pháp, là tổng hợp của trí huệ, phẫn nộ, hàng phục và từ bi, dựa vào vô thượng đỉnh của Như Lai mà hiển hóa, có đầy đủ đại uy thần lực, có thể nói là thể, tướng, dụng đều có sẵn.

Trong kinh điển gọi Phật Đỉnh Tôn Thắng Phật Mẫu là Tối Thắng Phật Đỉnh, mật hiệu là Trừ Ma Kim Cang.

Trường Thọ Tam Tôn của Mật giáo chính là Tôn Thắng Phật Mẫu, Trường Thọ Phật, và Bạch Độ Mẫu. Bạn tu pháp của ngài thì có thể sống lâu, kéo dài tuổi thọ, có pháp lực vô lượng uy đức, có thể lợi ích mọi chúng sinh.

Sức mạnh đại công đức của Tôn Thắng Phật Mẫu:

1. Trừ tất cả phiền não nghiệp chướng.

2. Có thể phá trừ tất cả ma đạo và khổ ách của chúng sinh.

3. Có thể khiến chúng sinh được tất cả Bồ Tát đồng tâm bảo hộ, trong đời hiện tại sẽ không bị bệnh tật và các việc phiền não gây trở ngại.

4. Chú này có thể phá tất cả khổ của địa ngục, của Diêm La Vương giới và bàng sinh, có thể hồi hướng thiện đạo.

5. Người đoản mệnh có thể được trường thọ.

6. Người trì chú này đều có thể diệt trừ tất cả nghiệp tội trong trăm nghìn kiếp, nơi họ sinh ra luôn gặp được chư Phật và thậm chí đắc vô thượng bồ đề, bỏ thân này và lập tức được vãng sinh đến các sát thổ vi diệu của chư Phật.

7. Nếu người nào có thể trì tụng đà-la-ni, người này đều phá trừ và tiêu diệt được mọi khổ của địa ngục, súc sinh, Diêm La Vương giới, ngạ quỷ.

**Bạch Độ Mẫu**

Bạch Không Hành Mẫu thì sao? Là thầy dạy giới của tôi, ngài dạy tôi rất nhiều giới luật bí mật, ngài chính là Bạch Độ Mẫu. Bản thân Bạch Độ Mẫu còn là bạn đạo tu hành của Sư Tôn, hơn nữa còn là sư phụ dạy giới, cho nên, ngài vô cùng tôn quý, không thể quên ngài.

Bạch Độ Mẫu Bạch Không Hành Mẫu cũng là Thất Nhãn Phật Mẫu, hai mắt của ngài cộng thêm con mắt thiên tâm, mỗi lòng bàn tay có thêm một con mắt, lòng bàn thân có thêm một con mắt, tổng cộng là bảy con mắt, cho nên, biệt hiệu của ngài chính là Thất Nhãn Phật Mẫu.

Bạch Độ Mẫu là hóa thân từ giọt nước mắt bi mẫn của Quan Thế Âm Bồ Tát, ngài cũng là một trong số 21 vị Thánh Cứu Độ Mẫu, hay còn gọi là Tăng Thọ Cứu Độ Phật Mẫu, cùng với Trường Thọ Phật, Phật Đảnh Tôn Thắng Phật Mẫu được gọi là Trường Thọ Tam Tôn. Bạch Độ Mẫu là một trong các vị Bổn tôn chữa bệnh và kéo dài tuổi thọ trong Phật giáo. Thân tướng màu trắng của ngài có ý nghĩa là tiêu tai, toàn thân có bảy con mắt, con mắt thứ ba nằm ở chính giữa hai lông mày, có thể chiếu kiến tất cả duyên khởi của dịch bệnh, từ đó mà diệt trừ.

Vì chúng sinh vô cùng khó độ, mà trái tim của Quan Thế Âm Bồ Tát vô cùng từ bi, vì thế, ngài bộc lộ tình cảm từ bi của mình, từ con mắt chảy ra hai giọt nước mắt, một giọt hóa thành Lục Độ Mẫu, một giọt hóa thành Bạch Độ Mẫu. Bạch Độ Mẫu chính là vị Phật Mẫu được hóa sinh ra từ giọt nước mắt của Quan Thế Âm Bồ Tát, vì thế, lai lịch của Bạch Độ Mẫu và Quan Thế Âm Bồ Tát là giống nhau, từ bi cứu độ chúng sinh. Màu trắng là gốc của tiêu tai, chính là tiêu diệt tai nạn, có thể tiêu diệt ác nghiệp của chúng sinh.

Công đức thề nguyện và tâm chú của Bạch Độ Mẫu chủ yếu là để tiêu diệt bệnh khổ của chúng sinh, tiêu trừ những bệnh truyền nhiễm, dịch bệnh và các chứng bệnh do oan nghiệp, si nghiệp, ma chướng gây ra. Ngài cũng có thể đối trị với các bệnh tật do cổ độc hay chú thuật gây ra, giúp tu hành giả trừ bỏ nghịch duyên, tăng trưởng thọ lượng, giải thoát sinh tử luân hồi.

Chú của Bạch Độ Mẫu nên phân tách âm ra để niệm như sau: “Om, guru, ye, soha”. “Guru” và “ye” đọc tách nhau ra.

Bạch Độ Mẫu có nhân duyên rất sâu dày với Lư Sư Tôn. Trong cuốn văn tập Lư Thắng Ngạn số 214 “Bảo kiếm của Yogi”, toàn bộ cuốn sách này đều nói về Bạch Độ Mẫu, chính là “giới luật của Mật giáo” do chính ngài dạy. Mọi người đọc cuốn sách “Bảo kiếm của Yogi” thì có thể làm kiên cố đạo tâm của mọi người.

Tu pháp kiện khang của Bạch Độ Mẫu, bạn phải quán tưởng Bạch Độ Mẫu trụ đỉnh, chữ “Pang” biến thành bông hoa sen trắng, chữ “Tang” trong hoa sen biến thành Bạch Độ Mẫu, thế rồi hô “Cha, Hum, Ban”,  ngài trụ trên đỉnh đầu bạn, cuống hoa sen trắng cắm trên đỉnh đầu bạn. Thế rồi từng giọt từng giọt cam lộ màu trắng, pháp lạc màu trắng sẽ chảy đến nơi nào trong thân thể bạn có bệnh. Ví dụ, tim bạn có bệnh thì giọt cam lộ sẽ chảy vào tim, bạn quán tưởng cam lộ đi vào tim bạn, quán tưởng cam lộ tuần hoàn trong người bạn, quán tưởng nó ở trong tim, gan, tì, phổi, thận, chỗ nào có bệnh thì cam lộ màu trắng sẽ chảy đến chỗ đó. Mỗi lần làm quán tưởng ngài, bạn niệm chú của ngài “Om tare tutare ture soha. Om benza guru ye soha”. Quán tưởng như vậy, toàn bộ da dẻ của bạn biến thành màu trắng, toàn thân bạn biến thành màu trắng, pháp nhũ đầy ắp toàn thân bạn. Trong một cái búng tay, thân thể bạn chính là Bạch Độ Mẫu. Khi bạn ngồi thiền, bạn biến thành Bạch Độ Mẫu. Bản thân Bạch Độ Mẫu vô cùng khỏe mạnh và tràn trề tuổi thanh xuân, ngài có thể ban cho bạn sống lâu, trường thọ cũng đại diện cho khỏe mạnh mà.

Ngày xưa, Thượng sư Thubten Dhargye từng được Bạch Độ Mẫu hiện thân nói với ngài rằng phải đến Đài Loan tìm một người họ La, rồi truyền pháp cho người đó, kết quả là Thượng sư thật sự đã đến Đài Loan để tìm, nhưng không tìm được. Kết quả là Bạch Độ Mẫu** **lại giáng xuống và nói với Thubten Dhargye Thượng sư là đệ tử này đã ở bên cạnh ngài rồi đó, chính là Lư Thắng Ngạn, bởi vì ở Đài Loan, chữ “Lư” này phát âm thành “La”. Thubten Dhargye Thượng sư bỗng nhiên tỉnh ngộ, thế là ngài đã xem Lư Thắng Ngạn (Thubten Qimo) là đệ tử chủ yếu của mình, và truyền mọi khẩu quyết nội mật cho đệ tử này, ban những quán đảnh không gì sánh bằng, sức mạnh gia trì liên tục không dứt.

**Chú thích:**

Trong cuốn văn tập Lư Thắng Ngạn số 202 “Nhìn xa nghìn dặm ”, Sư Tôn đã ghi lại rằng vào buổi tối ngày 1/3/2008, Bạch Không Hành Mẫu đã hạ giáng và giáo thị rằng:
”Nếu đệ tử Chân Phật muốn sinh về cõi Tịnh thổ, hãy dùng chữ “Tang” màu trắng để triệu thỉnh ta. Ta ngồi trên đỉnh đầu của đệ tử Chân Phật, mạch và mạch tiếp nối, đệ tử Chân Phật đóng lại tám lỗ, chỉ để lại thiên khiếu, dùng chữ “Tang” của tự tâm từ đỉnh đầu đi vào trong mạch của ta.

Bạch Độ Mẫu ta bay đến A Di Đà Phật tịnh thổ, đệ tử này tự nhiên sẽ được sinh ra ở tịnh thổ.”

---
# File: chan-ngon-than-chu/vu-bao-da-la-ni-vasudhara-mantra.md
# Title: Vũ bảo đà-la-ni - Vasudhara Mantra
---

![image](/img/img_2c4fafa7e871332156c6e186454a2ec1.jpg)



# Vũ bảo đà-la-ni - Vasudhara Mantra


Vào thời đại Phật Đà, ở nước Kiêu Thiểm Di [Kosambi] có trưởng giả Diệu Nguyệt, là một đệ tử Phật rất kiền thành tịnh tín, trong nhà có rất nhiều họ hàng và tôi tớ, nhưng của cải không đủ, nam nữ trong nhà lại nhiều bệnh tật, kinh tế gia đình khó mà duy trì được. Khi ấy Phật Đà cũng sống trong rừng Kiến Tra Ca tại nước Kiêu Thiểm Di, vì thế trưởng giả Diệu Nguyệt nhân cơ duyên này đến thỉnh thị Phật Đà: 
”Nam nữ nghèo khó trên đời làm sao để thoát khỏi nghèo khó? Làm sao có được tài bảo dồi dào và có thể giúp đỡ người thân và bố thí cho chúng sinh hữu tình?”

Phật Đà nói với trưởng giả Diệu Nguyệt, vào đời quá khứ, khi ngài ở chỗ của Kim Cang Hải Âm Như Lai đã có được Vũ bảo đà-la-ni, đà-la-ni này có đại uy đức, người trì tụng sẽ có rất nhiều lợi ích:
1. Phi nhân, dược xoa, la sát, ác quỷ không thể làm hại, loài chuyên môn ăn tủy mỡ, máu mủ, nước mắt, nước miếng, nước tiểu, phân của con người, và các ma quỷ muốn đến quấy nhiễu không thể gây ra các chướng ngại, bệnh tật, đói khát, nghiệp chướng, chúng đều sẽ bị tiêu trừ.
2. Người có tâm niệm tay cầm bút viết, hoặc chỉ nghe tên mà thọ trì và tùy hỷ diễn thuyết cho người khác, thì thiện nam, thiện nữ này suốt đêm dài được yên ổn và hưởng mọi niềm vui. Đời hiện tại không nghèo khó, và chư thiên đều yêu thích, ban xuống tài bảo, ngũ cốc lương thực cho người thọ trì.
3. Nếu thiện nam nữ cúng dường tất cả Như Lai, ngày đêm trì tụng đà-la-ni này không gián đoạn, trong nhà người đó tài bảo và kho chứa đầy ắp không thiếu hụt.

Trưởng giả Diệu Nguyệt nghe Phật Đà nói đà-la-ni này xong, trong lòng hết sức hoan hỷ. Sau khi trở về nhà, trưởng giả thọ trì đọc tụng không ngừng, và giải thích rộng rãi cho những người khác.

Có một lần, Phật Đà bảo A Nan đến thăm nhà của trưởng giả Diệu Nguyệt, A Nan phát hiện thấy trong kho ở nhà của trưởng giả có đủ loại tài bảo, ngũ cốc và các báu vật, mọi của cải đều dồi dào, khác hẳn với cảnh nghèo khó ngày xưa. Lúc này Phật Đà mới bảo cho A Nan biết đây là vì trưởng giả Diệu Nguyệt trong lòng tịnh tín Thế Tôn, lại thọ trì Vũ bảo đà-la-ni này và tuyên thuyết cho tất cả chúng sinh hữu tình.

Vũ bảo đà-la-ni còn gọi là Năng hoạch nhất thiết tài bảo phục tạng, hoặc là Nhất thiết Như Lai xưng tán vũ bảo đà-la-ni giáo. Chú ngắn của Vũ bảo đà-la-ni là: “Ôm va-su đa-rê sô-ha”. Nếu có thiện nam nữ trong nhà nghèo khó thiếu thốn của cải, trong lòng tịnh tín cúng dường Như Lai, trì tụng chú này không gián đoạn, chắc chắn có thể thoát khỏi nghèo khó, có được tài bảo lớn.

(Dịch từ Tạp Chí Nhiên Đăng - Chân Phật Tông)

---
# File: gioi-thieu/bach-van-loi-tang-tu.md
# Title: Bạch Vân Lôi Tạng Tự
---

![image](/img/img_aea4065d1f753ed741ab7c59cf6c7787.jpg)



## Bạch Vân Lôi Tạng Tự và vị Thượng sư khai ngộ đầu tiên của Chân Phật


Xuất bản: N/A
Tác giả: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

Nguồn gốc: *[https://tbsn.org/news/detail/1818/真佛卓越道場系列報導18–白雲雷藏寺.html](https://tbsn.org/news/detail/1818/%E7%9C%9F%E4%BD%9B%E5%8D%93%E8%B6%8A%E9%81%93%E5%A0%B4%E7%B3%BB%E5%88%97%E5%A0%B1%E5%B0%8E18%E2%80%93%E7%99%BD%E9%9B%B2%E9%9B%B7%E8%97%8F%E5%AF%BA.html)*

---

*Tiếp sau Tịnh Âm Lôi Tạng Tự, đơn vị giành được danh hiệu đạo tràng Chân Phật xuất sắc thuộc về Bạch Vân Lôi Tạng Tự ở Calgary.*


### **1. Lịch sử đạo tràng**


Năm 1986, hơn 10 đệ tử mới quy y Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật đã tụ họp lại cùng nhau trong một nhà kho của một vị sư huynh để đồng tu. Tháng 8 cùng năm được Thánh Tôn ban cho tên gọi là Bạch Vân Đường, mở đầu cho lịch sử Chân Phật Tông hoằng pháp độ chúng tại thành phố Calgary Canada.

Sau khi thành lập, Bạch Vân Đường mỗi năm đều tổ chức mời Thượng sư từ các nơi trên thế giới đến hoằng pháp, tổ chức các pháp hội và hoạt động. Tích cực tham gia các hoạt động xã hội của Canada, đưa Phật pháp dung nhập vào xã hội phương Tây, nhờ đó nhanh chóng thu hút được thiện tín các nơi đến quy y, học tập Chân Phật Mật Pháp. Bạch Vân Đường cũng giữ vững đồng tu hàng tuần và triển khai các hoạt động pháp vụ, khiến cho sự phát triển của Bạch Vân Đường đi trên quỹ đạo phát triển đúng đắn nề nếp, và cũng khiến cho đệ tử Chân Phật ở Calgary tăng lên nhanh chóng.


### 2. Thánh Tôn năm lần đến Calgary


**Chuyến đi lần đầu tiên của Sư Phật**

Tháng 6/1988, Thánh Tôn và Sư Mẫu Liên Hương Thượng sư lần đầu tiên đặt chân đến Calgary. Sư Tôn Sư Mẫu thân mật gần gũi hỏi thăm và động viên các đệ tử, rất nhiều đồng môn lần đầu tiên gặp mặt Sư Tôn, tâm trạng vô cùng phấn khích.

Bạch Vân Đường bốn lần chuyển dời và mở rộng, địa điểm đồng tu vẫn không đủ chỗ, việc cần có một địa điểm cố định và tương đối rộng là rất cấp thiết. Năm 1993, Bạch Vân Đường thành lập ủy ban hoạch định kế hoạch xây dựng, đồng thời tổ chức cho đồng môn cùng tu pháp hồi hướng cho việc xây chùa được thuận lợi viên mãn.

Sau đó đã tìm được một tòa nhà cũ tại địa chỉ: 1809 Centre St. NW, Calgary, AB, Canada, Alberta. Trong quá trình đập bỏ và xây lại đã xuất hiện rất nhiều khó khăn và khảo nghiệm, ví dụ ngân quỹ thiếu trầm trọng, đồng môn thiếu tin tưởng, lo lắng không thể xây xong, những hộ kinh doanh ở xung quanh và nhóm phường hội do có những hiểu lầm về Phật giáo nên đã đưa ra sự phản đối gay gắt. May mắn được Thánh Tôn và Phật Bồ Tát gia trì, các Thượng sư giúp đỡ và sự phát tâm hỗ trợ của nhiều bên, ủy ban thành phố nhanh chóng thấu hiểu, vì thế mọi khó khăn và chướng ngại đều được giải quyết. Khi ấy rất nhiều lão Bồ Tát đã đem tiền gửi ngân hàng và các khoản tiết kiệm riêng ra cho vay, trong ba tháng ngắn ngủi đã giải quyết được vấn đề ngân sách xây dựng. Ngày 22/10/1993 chính thức động thổ khởi công.

**Thánh Tôn đến thăm lần thứ hai**

Ngày 30/06/1994, Thánh Tôn và Sư Mẫu lần thứ hai đặt chân đến Calgary, thị sát tòa nhà vừa mới xây xong còn chưa kịp chỉnh trang, Thánh Tôn đã tự tay viết bức hoành phi “Bạch Vân Lôi Tạng Tự”.


![image](/img/img_9b754a22bcfb292dcd096ff1b5fd85c5.jpg)


**Thánh Tôn đến thăm lần thứ ba**


![image](/img/img_e81e46d3218f30b10b0a9dee8f2f15ae.jpg)


Ngày 06/08/1994, Thánh Tôn nhận lời mời đến khai quang và cắt băng khánh thành cho Bạch Vân Lôi Tạng Tự mang đầy sắc thái Mật tông, đi cùng có tám vị Thượng sư, hai vị pháp sư. Vào ngày khai quang, trời giáng xuống cam lộ vi diệu, khiến cho Calgary tháng 8 nóng nực bỗng trở nên mát mẻ, thời tiết nóng hoàn toàn tiêu tan. Đúng 9 giờ, đoàn xe của Thánh Tôn đã đến Bạch Vân Lôi Tạng Tự, mặt trời xuyên thủng những tầng mây, lập tức ánh nắng chan hòa, chiếu sáng vạn vật cả một vùng cát tường. Bên ngoài chùa là biển người đông nghịt, hân hoan vui mừng, nhìn theo tay kéo của Thánh Tôn vung lên và dải vải đỏ rơi xuống, để lộ ra bức hoành phi “Bạch Vân Lôi Tạng Tự” ánh vàng lấp lánh, đồng thời cũng tượng trưng cho sự khởi đầu mới của Bạch Vân Lôi Tạng Tự hoằng pháp độ chúng. Ngày hôm đó Thánh Tôn ban cho bút tích “thâm nhập thiền định là Pháp Vương, Bạch Vân thâm xứ lạc tiên gia”, đồng thời ban giới xuất gia và giới Bồ Tát.


### 3. Các hoạt động thường lệ của đạo tràng



![image](/img/img_deb9c3a1f026b58f980d1c11c0ec311d.jpg)


Dưới sự lãnh đạo của các vị giám đốc các khóa của Bạch Vân Lôi Tạng Tự, các pháp sư đồng môn luôn luôn tuân theo lời dạy của Thánh Tôn, nỗ lực tinh tấn siêng tu Chân Phật Mật Pháp, hết sức phát huy tinh thần đoàn kết tập thể, đồng tâm hiệp lực, cầu sự thống nhất và duy trì sự khác biệt nhỏ, cùng nhau phối hợp về mặt công tác, có thương lượng bàn bạc, hợp mưu hợp sức, tích cực triển khai các hoạt động pháp vụ và hoạt động xã hội, khiến cho các việc của Bạch Vân Lôi Tạng Tự và các pháp vụ được làm rất sinh động, nhiều sắc thái đa dạng.

Bạch Vân Lôi Tạng Tự giữ vững thứ bảy hàng tuần đồng tu tiếng Trung và tiếng Anh, và tổ chức cả lớp đồng tu trên mạng. Thường xuyên tổ chức các buổi pháp hội và giảng tọa khác nhau.
Mỗi năm đều tổ chức một lần pháp hội Lương Hoàng Bảo Sám.
Mỗi tháng vào mồng 1, 15 đều làm hoạt động bái chủ đất.
Mỗi năm tổ chức sáu lần pháp hội, trong đó hai lần đại pháp hội đều mời Thượng sư ở các nơi trên thế giới đến hoằng pháp, đồng thời làm giảng tọa và khai thị Phật pháp, thu hoạch được ý kiến và kinh nghiệm quý báu từ các nơi, sửa đổi những chỗ khiếm khuyết.

Khích lệ đồng môn đến Seattle, tham gia đại pháp hội mùa xuân và mùa thu do Thánh Tôn chủ trì, nhận truyền pháp và quán đảnh trân quý của Thánh Tôn.


### 4. Đạo tràng đặc sắc



![image](/img/img_2f6b562ddf1958c2a2395f751a44c4c8.jpg)


Bồi dưỡng nhân viên hoằng pháp - Bạch Vân Lôi Tạng Tự là mảnh đất sinh ra tăng bảo, đến nay đã thai nghén được hai vị Thượng sư, mười vị pháp sư, một vị giảng sư, và ba vị trợ giảng.

Tháng 2/2009, trong buổi pháp hội cầu phúc mùa xuân tổ chức tại Seattle, Thánh Tôn đã đích thân chứng nhận sư huynh Liên Hoa Hạo Dân là một vị khai ngộ đầu tiên của Chân Phật Tông, là Đại Kim Liên Hoa Đồng Tử chuyển thế, sắc phong và ban pháp hiệu là Thượng sư Thích Liên Minh, ban quán đảnh Acharya. Thánh Tôn còn tự tay khoác lên Thượng sư Liên Minh chiếc áo truyền thừa “Pháp Vương tổ y” đầu tiên của Chân Phật Tông, đây là niềm vinh dự vô thượng, cũng là niềm vẻ vang của Bạch Vân Lôi Tạng Tự.

Thượng sư Liên Minh có kiến thức Phật học phong phú, đã đem đến một thời kỳ mới cho Bạch Vân Lôi Tạng Tự. Dưới sự chủ trì và dẫn dắt của Thượng sư Liên Minh, chùa đã triển khai một loạt trình tự học pháp để thâm nhập Mật pháp, suốt 10 năm qua đã giải thích cho đồng môn các kinh điển Đại thừa như kinh Bát Đại Nhân Giác, kinh Diệu Pháp Liên Hoa, kinh Viên Giác, còn liên tục tổ chức ba khóa thiền và một loạt buổi giảng tọa Phật học.

Ngày 17/10/2012, giám đốc tiền nhiệm của Bạch Vân Lôi Tạng Tự là pháp sư Thích Liên Uân đã được thăng cấp làm Thượng sư và được Thánh Tôn ban quán đảnh Acharya, trở thành vị Thượng sư thường trụ thứ hai, cũng đảm đương trụ trì chùa. Thượng sư Liên Uân và Thượng sư Liên Minh cũng là bạn đạo trước khi xuất gia, là sinh lực của thế hệ tuổi trẻ của Chân Phật Tông.

**Thánh Tôn lần thứ tư đến chùa**


![image](/img/img_88a88c5c160db590c76265a54e9e2da6.jpg)


Bạch Vân Lôi Tạng Tự không chỉ là một đạo tràng tu pháp rất tốt mà còn là một đoàn thể xã hội sôi nổi. Nhiều năm nay không chỉ trả được hết các khoản nợ mà còn mua thêm ký túc xá cho tăng đoàn và làm trang nghiêm đạo tràng, rồi mở nghĩa trang Chân Phật. Ngày 30/07/1998, Thánh Tôn lần thứ tư đến Bạch Vân Lôi Tạng Tự, thị sát nghĩa trang Chân Phật đầu tiên của tông phái và đặt tên cho ký túc xá mới mua cho tăng đoàn là Bạch Vân Tiểu Trúc.

Năm 2010, Bạch Vân Lôi Tạng Tự mở rộng đàn thành và làm thêm gác lửng, tăng thêm 244 mét vuông cho không gian. Đã xây mới điện Tài Thần, điện Dược Sư, điện Khổng Tước Minh Vương và điện Bất Động Minh Vương. Vừa bước chân vào đại điện, cảnh tượng đầu tiên lọt vào tầm mắt là kim thân Thất Phật cao 2 mét lấp lánh ánh vàng ở ngay trung tâm, bên trên có ô lọng bảy màu, trang nghiêm thu hút lòng người. Tầng dưới là tượng Phật Diêu Trì Kim Mẫu và Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật. Hai bên trái phải có tám đại Bổn tôn của Chân Phật Tông và chư Phật Bồ Tát, Hộ pháp Kim cang thần chúng. Hai bên đàn thành đặt riêng điện Dược Sư, điện Tài Thần, điện Bất Động Minh Vương và điện Khổng Tước Minh Vương.

Bốn vị Tứ Đại Thiên Vương cao gần 2,5 mét đứng ở hai bên đàn thành, cao lớn uy mãnh. Hai cột trụ rồng điêu khắc đá cao 4,5 mét càng hiển lộ vẻ trang nghiêm thù thắng. Toàn bộ đàn thành bằng gỗ lim đem đến cảm giác cao quý trang nghiêm lại thân thiết. Đáng quý hơn là, tất cả những tượng Phật được làm mới thêm khi ấy trong khi chế tác đều có xá lợi tóc của Thánh Tôn ở bên trong, càng cho thấy pháp lưu thù thắng. Bạch Vân Lôi Tạng Tự còn có bộ phận dụng cụ Phật giáo, thư viện và Đại Tạng Kinh để thuận tiện cho đồng môn học tập và thỉnh mua dụng cụ Phật giáo.

**Thánh Tôn lần thứ năm đến chùa**


![image](/img/img_459020cd624bed568a9d8b7215644913.jpg)


Tháng 8/2012, lần thứ năm đón Thánh Tôn đến Calgary để khai quang cho đạo tràng mới xây dựng, và chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Đại Nhật Như Lai Kim cương giới và Thai tạng giới. Ngày diễn ra pháp hội có 14 vị Thượng sư và hơn 30 vị pháp sư đến hộ trì, có hơn 800 đồng môn có mặt tham gia và mãn nguyện trở về. Lần đó, Thánh Tôn một lần nữa ban bút tích và mũ Pháp Vương cho Bạch Vân Lôi Tạng Tự.


![image](/img/img_66980775db78b5c60cbf5797b435b6e0.jpg)


**Nghĩa trang Chân Phật Calgary và Nghĩa trang Bạch Vân Thắng Cảnh**


![image](/img/img_22b0c48772633bbd3df54fb505da170d.jpg)


Điều đặc sắc nhất của Bạch Vân Lôi Tạng Tự chính là hoàn thiện nghĩa trang Chân Phật. Nghĩa trang Chân Phật Calgary khánh thành vào năm 1994, được Thánh Tôn đích thân đến khai quang bắt đầu sử dụng. Rất nhanh chóng, gần 900 khu đất mộ đã không đủ để đáp ứng nhu cầu. Vì thế năm 2012, khi Thánh Tôn đến Calgary, một lần nữa ngài quan sát nghĩa trang Chân Phật Calgary và thanh tịnh, gia trì, kết giới cho nghĩa trang Bạch Vân Thắng Cảnh mới được xây dựng thêm.

Vào năm 2012, Thánh Tôn đã tự mình xem phong thủy và đặt gạch an vị, còn nhiều lần khen ngợi nghĩa trang Chân Phật Calgary và nghĩa trang Bạch Vân Thắng Cảnh là một bảo huyệt phong thủy tuyệt đẹp, đây là may mắn của đồng môn ở Calgary. Thánh Tôn ngày hôm đó đã giải thích về phong thủy nghĩa trang, có thể xem thêm video trên Youtube. Nghĩa trang Bạch Vân Thắng Cảnh có môi trường thanh tịnh tao nhã, cảnh quan xanh sạch đẹp được chăm sóc cẩn thận bởi đội ngũ nhân viên tận tâm. Thánh Tôn từng hai lần khen ngợi: “Phong thủy nơi đây là đẹp nhất!” Nếu có thể lợi dụng phương vị, kết hợp tiên mệnh niên vận để lập tọa hướng tốt nhất thì có thể khiến con cháu đời sau có được hiệu quả cát tường cực lớn.


### 5. Sự tương tác giữa đạo tràng và Tông Ủy Hội


Vì tình hình dịch bệnh, Tông Ủy Hội đã tổ chức cho các Thượng sư trên khắp thế giới trên “đám mây” cùng làm chủ đàn pháp hội Hộ Ma Hổ Đầu Kim Cang để cầu phúc cho thế giới. Khi ấy, Thượng sư Liên Minh đã liên hệ với Tông Ủy Hội, cho biết rằng do múi giờ của địa phương mà Bạch Vân Lôi Tạng Tự chỉ có thể chọn thời gian khác để làm Hộ Ma, hưởng ứng cùng Tông Ủy Hội cầu phúc vì thế giới.


### 6. Hoạt động của đạo tràng và xã hội


Vào năm 2002, Bạch Vân Lôi Tạng Tự đã thành lập chi nhánh của Hội Công Đức Hoa Quang, đưa Phật pháp vào xã hội.
Mỗi năm đều tiến hành hoạt động gây quỹ từ thiện cho Hội Chữ thập đỏ và Trung tâm Ung thư Bệnh viện Nhi đồng Alberta.
Tiến hành các hoạt động gây quỹ cho người dân ở các vùng thiên tai như động đất, lũ lụt xảy ra trên khắp thế giới, vì chúng sinh gặp nạn ở các vùng thiên tai mà làm siêu độ, trì tụng chú Đại cứu nạn hồi hướng cho chúng sinh chịu khổ được thoát ly khổ nạn.
Cũng hưởng ứng lời hiệu triệu của tổng hội Hội Công Đức Hoa Quang, vào dịp sinh nhật Thánh Tôn tổ chức “Walk for Rice” [tạm dịch: Đi bộ vì Gạo] để kết duyên với chúng sinh. 
Phật tử trẻ tuổi tham gia trại “Sức sống thanh niên Phật giáo” để truyền Phật giáo đến thế hệ trẻ, gia tăng kiến thức Phật học cho họ. Bạch Vân Lôi Tạng Tự còn đưa Phật pháp và công tác quan tâm từ thiện đến hoằng pháp trong nhà tù, đưa đến viện dưỡng lão và tổ chức các hoạt động giao lưu vui chơi, đây là tuân theo lời dạy không bỏ rơi một chúng sinh của Thánh Tôn.

Thượng sư Liên Minh có nhắc đến điều Thánh Tôn nói trong một bức thư gửi đến Bạch Vân Đường: “Sự hoằng dương của Bạch Vân Đường giống như tên gọi - trong sáng thanh cao, tiêu dao tự tại. Chăm chỉ phát huy, tương lai cũng có thể trở thành đạo tràng kiểu mẫu của Chân Phật Tông.” Từ khi Bạch Vân Đường phát triển thành Bạch Vân Lôi Tạng Tự ngày nay là 35 năm, không phụ kỳ vọng của Thánh Tôn. Bạch Vân Lôi Tạng Tự đã phát huy thành một tổ chức kiện toàn, là một đoàn thể Phật giáo có tài chính ổn định, pháp vụ hưng long, hương hỏa cường thịnh, nhân tài xuất chúng, sinh khí hừng hực. Cảm ơn tất cả các vị đại đức đã tham gia xây dựng và phát triển chùa, tất cả những gì của Bạch Vân Lôi Tạng Tự ngày nay đều là thành quả của sự nỗ lực của mọi người, chúc Bạch Vân Lôi Tạng Tự nguyện bồ đề, hạnh bồ đề viên mãn.

(Hết)

**Lời bổ sung:**

Một trong những lý do khiến chúng tôi giới thiệu Bạch Vân Lôi Tạng Tự đến với các đồng môn Việt Nam là vì có khá nhiều người Việt Nam tham gia đồng tu tại ngôi chùa này. Hầu hết họ là những người Việt gốc Hoa, có thể giao tiếp bằng tiếng Hoa phổ thông hoặc tiếng Quảng. Một số đồng môn cao tuổi thuộc thế hệ trước có thể còn nói được tiếng Việt. 

Một vị sư huynh - nhân viên hoằng pháp người Việt gốc Hoa đã làm việc tình nguyện tại ngôi chùa này hơn 20 năm qua đã chia sẻ link đồng tu của chùa, hoan nghênh các đồng môn Việt Nam tham gia đồng tu. 

**Link ZOOM đồng tu:** [https://us02web.zoom.us/j/82755610273?pwd=b0JRTkc3N0JwOEJvVnFseHZhaUZWZz09](https://us02web.zoom.us/j/82755610273?pwd=b0JRTkc3N0JwOEJvVnFseHZhaUZWZz09)

**Thời gian đồng tu:** 8:30 sáng thứ bảy hàng tuần theo giờ PST  (11:30 tối thứ bảy theo giờ VN). 

Xin vui mừng thông báo nhân duyên tốt lành này rộng rãi đến các đồng môn người Việt, để đồng môn có thể kết nối, giao lưu, học tập, đồng tu. 

Om guru liansheng siddhi hum 🙏🏽

---
# File: gioi-thieu/cau-vong-loi-tang-tu.md
# Title: Cầu Vồng Lôi Tạng Tự
---

## Cầu Vồng Lôi Tạng Tự


Cầu Vồng Lôi Tạng Tự cùng với Seattle Lôi Tạng Tự là hai ngôi chùa Lôi Tạng Tự chính của Chân Phật Tông, địa điểm tại North Bend, bang Washington, Hoa Kì.


![image](/img/img_a7197f5ec2816a926ec01ee42717dbf4.jpg)


Ngôi chùa này thường xuyên diễn ra các buổi pháp hội Hộ Ma do Liên Sinh Hoạt Phật chủ trì. Linh Cốt Tháp của Chân Phật Tông (Song Liên Cảnh Giới) cũng được xây dựng tại đây.


![Song Liên Cảnh Giới - Ảnh: Cầu Vồng Lôi Tạng Tự cung cấp](/img/img_7084ce8ea2aaee441f43f987114c442f.jpg)


**Thông tin liên lạc của Cầu Vồng Lôi Tạng Tự**

彩虹雷藏寺 Rainbow Temple
14310 476th Ave SE, 
North Bend, WA 98045 U.S.A.
Tel: 425-888-3677
Fax: 425-888-9008
Website: [https://tbs-rainbow.org](https://tbs-rainbow.org/)
Email: service@tbs-rainbow.org
Facebook: [https://www.facebook.com/pages/彩虹雷藏寺/108711872551528](https://www.facebook.com/pages/%E5%BD%A9%E8%99%B9%E9%9B%B7%E8%97%8F%E5%AF%BA/108711872551528)

---
# File: gioi-thieu/dai-loan-loi-tang-tu.md
# Title: Đài Loan Lôi Tạng Tự
---

## Đài Loan Lôi Tạng Tự


Đài Loan Lôi Tạng Tự là ngôi chùa Lôi Tạng Tự Chân Phật Tông lớn nhất tại Đài Loan, ngụ trên đỉnh núi Hổ tại huyện Nam Đầu, thành phố Đài Trung. Ngôi chùa này là nơi diễn ra các buổi pháp hội lớn do đích thân Liên Sinh Hoạt Phật và các vị Thượng sư khác chủ trì với hàng vạn tín chúng tham dự.


![Toàn cảnh Đài Loan Lôi Tạng Tự (Ảnh: Đài Loan Lôi Tạng Tự cung cấp.)](/img/img_1ad3002ba9304f37b2fdf64f93cb2a04.jpg)



![Quang cảnh một buổi lễ Hộ Ma tại Đài Loan Lôi Tạng Tự (Ảnh: Đài Loan Lôi Tạng Tự cung cấp.)](/img/img_a137dc14d9a87f9fcdca30b9cea9182b.jpg)



![Quang cảnh một buổi lễ Hộ Ma tại Đài Loan Lôi Tạng Tự (Ảnh: Đài Loan Lôi Tạng Tự cung cấp.)](/img/img_51dd5cec5ac160c0e2dfd033925faaa0.jpg)



![Quang cảnh một buổi lễ Hộ Ma tại Đài Loan Lôi Tạng Tự (Ảnh: Đài Loan Lôi Tạng Tự cung cấp.)](/img/img_64ada38824a502bc4cf2f8b2c586b18f.jpg)



![Điện Tây phương Tam Thánh - Lầu 2 tại Đài Loan Lôi Tạng Tự. (Ảnh: Đài Loan Lôi Tạng Tự cung cấp.)](/img/img_f6a1967be2b6483259084d41aae2ef73.jpg)


Nằm trong quần thể Đài Loan Lôi Tạng Tự, trên ngọn núi cao hơn phía sau lưng chùa, là điện thờ Diêu Trì Kim Mẫu. Diêu Trì Kim Mẫu là một trong những vị Bổn tôn của Liên Sinh Hoạt Phật, vị Tiên Vương mà Liên Sinh Hoạt Phật cả đời một lòng tôn sùng kính ngưỡng.


![Điện Kim Mẫu trên đỉnh ngọn núi phía sau lưng Đài Loan Lôi Tạng Tự. (Ảnh: Đài Loan Lôi Tạng Tự cung cấp.)](/img/img_5ced1fade99223141722e6f19af0981f.jpg)


Trên ngọn núi phía trước Đài Loan Lôi Tạng Tự là tháp Phật Đảnh Tôn Thắng trang nghiêm. Nơi đây, bạn có thể ngắm tháp, chiêm ngưỡng toàn cảnh Đài Loan Lôi Tạng Tự, và rất nhiều Phật tử thường nhiễu quanh ngôi tháp linh thiêng này.


![Tháp Tôn Thắng Phật Mẫu (Ảnh: Đài Loan Lôi Tạng Tự cung cấp)](/img/img_fc489d3ef27222ffe06d150cc52b547d.jpg)


**Thông tin liên lạc của Đài Loan Lôi Tạng Tự**

台灣雷藏寺 Taiwan Lei Tsang Temple
54264 南投縣草屯鎮山腳里蓮生巷100號
No. 100, LianSheng Lane, Shanjiao Village, Tsao-Tun Township, Nantou County, Taiwan, 54264, R.O.C.
[Số 100, đường Liên Sinh, thôn Sơn Cước, trấn Thảo Đồn, huyện Nam Đầu, Đài Loan ROC 54254]
電話 [Điện thoại]: [+886-49-2312992](tel:+886-49-2312992)
傳真 Fax：+886-49-2350801
Email: [leybet@gmail.com](mailto:leybet@gmail.com)
Website: [https://tbsec.org/](https://tbsec.org/)
Facebook: [https://www.facebook.com/台灣雷藏寺httpstbsecorg-414354695424437](https://www.facebook.com/%E5%8F%B0%E7%81%A3%E9%9B%B7%E8%97%8F%E5%AF%BAhttpstbsecorg-414354695424437)

---
# File: gioi-thieu/dat-tang-vuong-ba-hoat-phat-cua-hong-giao-ca-ngoi.md
# Title: Đạt Tăng Vượng Ba Hoạt Phật của Hồng giáo ca ngợi
---

# Đạt Tăng Vượng Ba Hoạt Phật của Hồng giáo ca ngợi


Đạt Tăng Vượng Ba Hoạt Phật ca ngợi. 

Đây là thư của Đạt Tăng Vượng Ba Hoạt Phật. 

Trước pháp tọa của Liên Sinh Kim Cương Thượng Sư, chúc cát tường.

Từ đầu đến cuối tôi đều xin tiếp nhận chỉ dạy, tất cả đều vui vẻ. Tôi đã nhận được bức “pháp tướng con mắt thứ ba” của ngài, vô cùng hoan hỷ và khâm phục. Từ nay triết học phương Đông dần dần chuyển dịch về phương Tây.

Dòng chảy pháp của Phật pháp Mật tông hướng về phương Tây, văn hóa Đông Tây có sự giao lưu, có thể gọi là lợi ích lẫn nhau.

Ngài đã hòa hợp bốn giáo phái, rồi phát triển những tư tưởng mới, thành lập Chân Phật Tông, những quá trình này không phải là một sớm một chiều mà có thể thành được, đòi hỏi phải là người có đại chứng ngộ và đại thần thông, trải qua thời gian mấy chục năm thì mới có thể thành được. Sáng lập tông phái là sự nghiệp trăm năm, sự nghiệp nghìn vạn năm, không phải chuyện thường. Chỉ mong Chân Phật Tông của Thượng sư khiến chúng sinh mười phương đều thấm được lợi ích, hợp với mục đích Phật pháp phổ độ chúng sinh.

Tôi biết Ngài hành-giải cả đôi đều đắc, đạt được hết mọi tinh hoa của các Thượng sư Hoạt Phật, Hiển-Mật đều viên dung, hơn nữa còn phát đại bồ đề tâm, nóng lòng hoằng pháp, đáp ứng đời mà phổ biến lợi ích tinh hoa của Mật giáo, dùng ngòi bút viết ra những điều sâu sắc của đại trí huệ, cho dù là kho tàng bí mật của Mật pháp cũng đều công khai hết, in và phát hành trên đời, tôi (Đạt Tăng Vượng Ba Hoạt Phật) biết ngài là hành giả Mật thừa được gia ân, tự nguyện phân thân xả cốt, công đức nhiều tựa hằng hà sa này sao có thể đo lường!

Sự xuất thế của ngài, Liên Sư đã có ghi chép đầy huyền bí, có bài kệ rằng:

*Liên Sư sớm dự đoán
Đã ghi trong điển chương
Khi thế ma lại mạnh
Chim sắt bay trên trời
Thì đó chính là lúc
Chính pháp lại hưng thịnh
Như đèn dầu rực cháy
Ánh sáng vụt lóe lên
Chúng sinh sẽ được cứu
Gánh nặng con đường xa
Khi ấy sẽ chín muồi
Trong ánh sáng vô ngại
Chỉ nguyện cầu Thượng sư
Từ bi ban gia hộ.*

Tôi (Đạt Tăng Vượng Ba Hoạt Phật) biết ngài nhìn xa trông rộng, đã hoàn toàn biết rõ thời cơ này, ngài phải vận dụng đạo để phát huy truyền thống. 

Tại đây lúc này, cần phối hợp với sự đổi mới của thời đại và địa điểm mà hoằng pháp hưng tông, tập hợp các lực. Hành giả Mật tông phải lấy thực tu làm đầu, ngài có thể tập hợp nhiều người cùng nhau tu tập, định ra quy tắc, thứ tự tu pháp, như vậy các đệ tử mới có thể hiểu pháp của ngài là vi diệu hiếm có.

Còn về phương diện pháp khí, Mật pháp có thể nói là quá rườm rà phức tạp, hao phí rất nhiều, đủ loại nghi thức không dễ tu tập. Về phương diện thiết lập đàn thành thì chỉ cần trang nghiêm và tâm hoan hỷ. Tụng chú cúng dường thì chủ yếu là thuận tiện và tâm cung kính, còn nghi thức và pháp khí thì có thể giảm bớt, vì nếu phức tạp quá thì con người phổ thông không thể nào đảm nhiệm được. 

Phật giáo Mật tông, phương Tây dần dần đã có người tu tập Mật tông này, Hoạt Phật cũng đến phương Tây truyền pháp và quán đảnh rất nhiều, những người đi theo ngài như dòng chảy bất tận, nhìn vào thì dường như cực kì hưng thịnh. Nhưng người phương Tây thiếu mất nền tảng triết học của phương Đông, việc học pháp của người phương Tây khá thiên về lập đàn tụng chú cúng dường mà thôi, còn đối với những ý nghĩa thâm sâu huyền bí của nội tại thì lại không biết. Nhất là thời gian truyền pháp rất ngắn, cũng không có kế hoạch truyền pháp, việc dịch kinh điển cũng không có nhân tài, trong thời gian ngắn ngủi thì thành tích chưa thể lý tưởng được hết. Người phương Tây coi trọng hiện thực, nếu trong thời gian ngắn mà không thấy tương ứng thì việc tập hợp nhân duyên này cũng là công cốc, điểm này là nói về kinh nghiệm của tôi.

Nguyện lực của ngài sâu rộng, và ở nước Mỹ đã có pháp môn long tượng như vậy, đúng là nhân tài xuất chúng về truyền pháp, nhất là ngài tinh thông kinh luận, trải qua tu Đạo Hiển Mật, không nề hà khó khăn gian khổ để mà được nhiều Hoạt Phật dạy dỗ, hơn nữa ở trong thiền định còn được Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chỉ dạy giáo pháp, có được Vô thượng mật trời người khó gặp. Nay biết thường có trăm, nghìn người đến nghe pháp tại Seattle, đệ tử khắp thế giới quy y có đến sáu vạn người, sách mà ngài viết phù hợp với thời kỳ này, Phật pháp bao la uyên thâm, còn ngài viết sách thì thâm nhập và hiểu rõ ý nghĩa của cuộc đời, giải thích về Mật pháp không lệch khỏi trung quán, đây là điều cực kì có giá trị.

Tôi (Đạt Tăng Vượng Ba Hoạt Phật) biết ngài là Thượng sư Mật tông thật sự có năng lực thực hiện thực tu, hơn nữa còn hữu hình hữu nguyện, trong tương lai nên thỉnh mấy vị đại Hoạt Phật có tu có chứng đi khắp nơi giúp đỡ, để khiến cho giáo pháp và thời cơ càng phù hợp với nhau, đại khái là các đại thánh đại triết ngày nay truyền pháp cũng nên hợp thời cơ.

Có nhiều vị Hoạt Phật trợ giúp thì càng nêu cao thuyết cũ, sáng lập ý tưởng mới, cũng đều là lẽ này. Tất cả nguyên lý, hoặc đã cũ, hoặc đã suy hoại, thì càng có thể thúc đẩy sự siêu việt của thắng nghĩa Hoa Nghiêm. 

Tiếp nối chính pháp của Hồng giáo Nyingmapa đặt ở trên lưng ngài, Pháp Vương Karmapa của Bạch giáo cũng rất coi trọng ngài, ngài lại có được truyền thừa của phái Sakya và truyền thừa của phái Gelugpa. Mật tạng được mở rộng to lớn như vậy, việc ngài sáng lập giáo phái thật sự có ý nghĩa trọng đại.

Tôi (Đạt Tăng Vượng Ba Hoạt Phật) trịnh trọng báo cáo với nhiều vị Hoạt Phật rằng Vô thượng đại mật pháp mà ngài có được cũng chính là tâm pháp của phái Cổ mật Nyingmapa Hồng giáo chính thống. Đặc biệt là pháp Đại viên mãn trân quý phi thường, vô cùng hiếm gặp và khó cầu. Và Thượng sư Lư Thắng Ngạn trong thế giới Ta Bà chính là Liên Hoa Đồng Tử của Ma Ha Song Liên Trì ở Tây phương Cực Lạc thế giới, đây chẳng phải là cổ Phật lại đến sao!

Đời người khó có được, Phật pháp chính thống cũng khó nghe được, thành tựu của ngài, những Hoạt Phật chúng tôi xem là kỳ duyên hiếm có trên đời. Ngài giống như ngọn đèn sáng trong đêm đen, giống như cái bè quý trong biển khổ, nhân sĩ phương Tây lấy ngài làm chỗ nương dựa, dũng mãnh tinh tấn, đó là may mắn lớn của người phương Tây. 

Chúc cát tường viên mãn. 

Đạt Tăng Vượng Ba.
25.09.1984.

Tái bút: Mời ngài đến vùng núi của dân tộc Tạng, đây là tâm ý của tôi, sau này gặp mặt mọi người có thể nói chuyện lâu hơn một chút, cũng có thể nói chuyện tỉ mỉ hơn về tâm yếu tu pháp.

Mấy ngày nay, Sakya Cống Mã Hoạt Phật có ghé chỗ tôi, cho nên chùa chúng tôi rất bận rộn. Khoảng một thời gian nữa sẽ lại viết thư cho ngài.

---
# File: gioi-thieu/doi-dieu-nhan-gui.md
# Title: Đôi điều nhắn gửi
---

## Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn


Liên Sinh Hoạt Phật tên thật là Lư Thắng Ngạn, sinh năm 1945 tại Gia Nghĩa, Đài Loan.

Vượt qua bình diện của nhị nguyên, Tôn Sư đã thọ nhận, nắm giữ và phát triển Rimé không bộ phái từ các dòng truyền thừa Phật giáo Tây Tạng là Nyingma (Ninh mã phái - Cổ mật - Mũ đỏ - Hồng giáo), Kagyu (Cát cử phái - Bạch giáo), Sakya (Tát ca phái - Đa sắc - Hoa giáo) và Gelug (Cách lỗ phái - Mũ vàng - Hoàng giáo). Ngài cũng quảng bá và sử dụng tất cả các phương tiện thiện xảo có thể trong Đạo giáo, Đại thừa Hiển giáo cũng như Mật giáo để độ hóa chúng sinh.


![image](/img/img_5d831710f279743afd0fc7e9659f36aa.jpg)


*(Nguồn ảnh: Tổng hội Mật giáo Chân Phật Tông Indonesia)*

Trong dòng truyền thừa Chân Phật Tông, ngài là Đạo sư gốc (Root guru - Kim cương truyền thừa Thượng sư), và thường được các đệ tử gọi thân mật là Lư Sư Tôn.

Thành tựu đầy đủ Tam minh, Ngũ nhãn, Lục thông, Tôn Sư đã không ngại ngần mà thể hiện năng lực cùng hiểu biết vô song của mình để lái con thuyền pháp đưa chúng sinh đến bến bờ giác ngộ trong suốt nhiều thập kỉ.

Chỉ tính riêng đến năm 2008, toàn cầu đã có hơn 5 triệu đệ tử quy y và học pháp từ ngài, trong đó có rất nhiều Rinpoche và Lama Tây Tạng nổi tiếng. Với hơn 400 phân đường trên khắp thế giới, Chân Phật Tông là một dòng truyền Phật giáo có sức ảnh hưởng rất lớn ngày nay. Mỗi pháp hội của ngài thường có hàng chục nghìn người tham dự, có khi chật kín cả một sân vận động lớn.

*(Nguồn video: Tổng hội Mật giáo Chân Phật Tông Malaysia)*

Cho đến thời điểm này, Liên Sinh Hoạt Phật đã viết hơn 300 cuốn sách cũng như giảng pháp với hàng trăm video bằng tiếng Trung xuyên suốt các chủ đề như Phật giáo Mật tông, Phật Giáo Thiền tông, Biện giảng kinh sách, Thuật phong thủy và Đạo giáo. Rất nhiều sách trong số này đã và đang được dịch ra tiếng Indonesia, Malaysia, Anh, Nhật, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Việt Nam cùng các ngôn ngữ khác. Năm 1982 ngài chuyển đến định cư tại thành phố Seattle, bang Washington nước Mỹ. Từ đó đến nay, Ngài chủ yếu sống, tu hành và hoằng pháp tại Hoa Kỳ và Đài Loan.

"Những cuốn sách này chứa đựng đầy năng lượng tâm linh… Ngay khi bạn mở một cuốn sách ra đọc, năng lượng tâm linh sẽ tỏa ra..."

*"Đối với nhiệm vụ cứu độ chúng sinh của tôi, nguyện vọng của tôi luôn luôn là không có một ai bị bỏ rơi phía sau; tất cả mọi người sẽ được lên con thuyền pháp đi tới Ma Ha Song Liên Trì đầy bình yên, tất cả đều trở nên tốt đẹp và rực rỡ với gió luôn ở sau lưng họ. Nếu bạn tình cờ gặp ai chưa từng đọc sách của tôi, làm ơn hãy tặng họ một cuốn.

Tôi không có sự phân biệt nào giữa những người là đệ tử của tôi và những người không phải đệ tử của tôi. Sự thật là, tất thảy chúng sinh là chính tôi."*

(Trích dẫn từ cuốn 165 - Những trang thơ và bài thơ - Sách của tôi nói hộ lòng tôi. )


![image](/img/img_647505fe8877b3671375a504d53a8901.jpg)



### **Nhắn gửi đến bạn**


Hãy đến với Tôn Sư ngay khi còn có thể. Tại thời điểm này trên trái đất, rất khó gặp được một vị Đại thành tựu giả có thân người chứng ngộ ở mức độ như ngài, và lại càng khó khi vị Đại thành tựu giả ấy chấp nhận ban phước gia trì, quán đảnh hay đáp ứng mọi mong cầu ở mức độ rộng lớn như thế này.

Chỉ ở trong pháp hội bạn mới có thể cảm nhận được hết thần lực, sự gia trì, sự từ bi và cả hài hước của Tôn Sư.

Chỉ ở trong pháp hội bạn mới cảm nhận được hết lòng sùng mộ, sự yêu quý và hỗ trợ lẫn nhau giữa mọi người.

Chỉ ở trong pháp hội bạn mới cảm nhận được sự thay đổi mạnh mẽ như thế nào trong tâm thức của chính mình...

Dù bạn chỉ là người bình thường, chỉ mong cầu thế gian hay đã tu tập ở mức độ sơ cơ, dù tu tập đang ở trên giai đoạn phát triển hay giai đoạn thành tựu, dù ở Ngoại mật hay Nội mật, dù chưa tu tập bao giờ hay tu tập đã lâu nhưng không thấy thành tựu gì, dù tràn ngập niềm tin hay đã mất niềm tin vào thế giới tâm linh, dù mới chỉ trau dồi phương tiện Mật pháp hay đang đi tìm sự giác ngộ viên mãn, dù chỉ cần khỏe mạnh bình thường hay thực sự muốn thiền định sâu, từ Tứ thiền hữu sắc, tới Thiền vô sắc hay Diệt Thọ Tưởng Định.

Dù bạn tu tập theo Thiền công án, Thiền nguyên thủy, theo Đại thừa Hiển giáo, theo Mật tông Đông mật hay Mật tông Tây Tạng, dù theo nghề phong thủy sư, dù theo Đạo giáo, Ấn Độ giáo, Hatha Yoga, Raja yoga, Sahaja Yoga, hay thậm chí theo Thiên Chúa giáo v.v...

Dù bạn theo chủ thuyết New Age, theo Kabbhala hoặc thậm chí cả vô thần, không tin có thần thánh, dù bạn theo đuổi Aristotle hay tin vào Plato, theo chủ thuyết duy vật biện chứng hay vạn vật duy tâm tạo.

Dù bạn chẳng có một xu dính túi để cúng dường, dù bạn có âm thầm bịt mặt giấu kín tên tuổi thân phận để nhận sự gia trì và quán đảnh, dù bạn chẳng muốn bỏ dòng phái đang theo, không muốn rời xa vị thầy hiện tại, hay dù bạn chẳng bao giờ muốn theo con đường nào về tâm linh.

Đừng ngại ngần, hãy tới với Tôn Sư! Ngài không bao giờ từ chối, ngài không bao giờ phân biệt, và ngài có đầy đủ mọi phương tiện thiện xảo, mọi vi diệu pháp để đáp ứng mọi nhu cầu của bạn, cho dù nhu cầu của bạn tầm thường hay vĩ đại.

Ngài sẽ kết nối bạn tới vị thầy của bạn, Bổn tôn của bạn, chúa Jesus của bạn, hay với higher-self của bạn, sẽ mở cánh cổng của bạn tới với sự may mắn, niềm tin và sự thành công của bạn.

Tôn Sư đích thực là một Viên ngọc mani như ý. Giống như mặt trời rọi nắng, ánh sáng tỏa chiếu rực rỡ tự nhiên bình đẳng không phân biệt. Ngài chẳng yêu cầu bạn phải quy y, cũng chẳng quan tâm bạn thực sự theo môn phái gì, chỉ cần thấy bạn được sống tốt hơn, cuộc sống của bạn bớt khó khăn hơn, và nếu có thể, hãy làm nhiều điều có ích hơn cho người khác, dưới bất kì hình thức nào. (Tất nhiên với ngài, nếu bạn muốn trở thành hành giả mong cầu đạt tới giác ngộ viên mãn, bạn sẽ là một viên ngọc vô giá.)

Bất kì mong muốn nào, bất kì mong cầu gì, miễn là nó không có hại cho bạn và người khác, chỉ cần giữ nó trong tâm bạn, không cần phải nói ra và tới với Tôn Sư... Rất kì lạ, bằng cách nào đó, chúng sẽ được đáp ứng.

Năm 2025, ngài đã ở tuổi 81 (và thực ra đã vượt quá tuổi thọ thực tế của mình). Bạn nghĩ rằng mình có còn thời gian để chần chừ? Chúc bạn sẽ không bao giờ bỏ lỡ cơ hội quý giá trong đời mình. 

Trân trọng!

---
# File: gioi-thieu/index.md
# Title: Giới thiệu
---

# Giới thiệu


> Giới thiệu về Chân Phật Tông cùng các thông tin liên quan


---



### Truyền thừa và nhân vật



---



### Hoạt động và sự kiện


- Pháp hội Hộ ma và Quán đảnh

- Quán đảnh và gia trì từ xa

- Sinh cơ

- Đồng tu trực tuyến


---



### Địa điểm và tổ chức



---



### Mạng lưới trực tuyến toàn cầu


- Chân Phật Toàn Cầu

- Chân Phật Bát Nhã Tạng

- Chân Phật Báo


---



### Dành cho cộng đồng người Việt


- Facebook Chân Phật: [facebook.com/chanphat.org](https://www.facebook.com/chanphat.org)

- Youtube Chân Phật: [youtube.com/@chanphat](https://www.youtube.com/@chanphat)


---



### Liên hệ và cộng tác

---
# File: gioi-thieu/kalu-rinpoche-ton-sung-lien-sinh-hoat-phat.md
# Title: Kalu Rinpoche tôn sùng Liên Sinh Hoạt Phật
---

![Kalu Rinpoche (Nguồn ảnh: Internet)](/img/img_203c8b3169653931c93fe9afc35e739f.png)



# Kalu Rinpoche tôn sùng Liên Sinh Hoạt Phật


Ngày 07/01/1989, Kalu Rinpoche của Bạch giáo tôn sùng Liên Sinh Hoạt Phật.

Kalu Rinpoche - vị Thượng sư thực tu thành tựu cao nhất của Phật giáo Tây Tạng, vào ngày 7/1/1989 đã gửi đến Liên Sinh Hoạt Phật một bức thư và ba món quà, ba món quà này như sau:

(1) Một bức pháp tướng được Kalu Rinpoche đích thân ký tên.

(2) Một chiếc khăn khata.

(3) Một tấm ảnh chụp Kalu Rinpoche thân tình nâng bức pháp tướng của Liên Sinh Hoạt Phật.

**Nay xin thuật lại nội dung của bức thư như sau:**

(1) Chúng ta nhận thức rõ về nhau.

(2) Liên Sinh Hoạt Phật là vị thành tựu giả cao nhất thực tu Mật pháp, dùng tiếng Hoa để hoằng pháp độ chúng sinh.

(3) Không có những cuốn sách hoằng pháp của Liên Sinh Hoạt Phật thì việc phát huy Mật tông trên toàn thế giới không thể lan truyền với tốc độ nhanh như vậy, chúng sinh vô cùng may mắn.

Dưới bầu trời này đã xuất hiện một vị Thượng sư hoàn mỹ như vậy. Người đời cần nghiêm túc tôn sư, trọng pháp, thực tu, Mật pháp của Liên Sinh Hoạt Phật nhất định có thể khiến con người có thành tựu lớn.

(4) Tôi (Kalu Rinpoche) hai tay nâng tấm ảnh của Liên Sinh Hoạt Phật, là vì tôn sùng Liên Sinh Hoạt Phật, cho nên giống như sự tôn kính đưa hai tay cúng Phật.

(5) Tôi (Kalu Rinpoche) sẽ tự mình ký tên lên bức pháp tướng và khăn khata, kèm thêm cả tấm ảnh chụp hai tay nâng ảnh pháp tướng của Liên Sinh Hoạt Phật, để dâng tặng Liên Sinh Hoạt Phật, chúc phúc Liên Sinh Hoạt Phật, Hoạt Phật vĩnh viễn trụ nhân gian, vĩnh viễn không nhập niết bàn, vĩnh viễn trường thọ.

---
# File: gioi-thieu/ki-su-truong-thanh-cua-lu-thang-ngan.md
# Title: Kí sự trưởng thành của Lư Thắng Ngạn
---

![image](/img/img_f35ff70c91590b4c4dc815f52fe72886.png)



## Kí sự trưởng thành của Lư Thắng Ngạn


*Ghi chép theo lời kể của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn*

Xuất bản năm: N/A
Ghi chép: Trần Chỉ Tần
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

*Kí sự trưởng thành của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Khởi đầu của một cuộc đời bình phàm.*


### Phần 1. Đứa bé cuốn trong màn lụa trắng


Tỉnh Gia Nghĩa ở Đài Loan, mỗi năm vừa qua ngày Hạ chí, trên cánh đồng Gia Nam ta có thể bắt gặp hình ảnh người nông dân đầu đội nón đan lá trúc, mặc bộ đồ vải mềm màu trắng, cúi cong lưng gập người đang gặt lúa. Việc trồng lúa ở Đài Loan mỗi năm diễn ra hai lần, vụ đầu tiên vào lúc chớm xuân bắt đầu gieo mạ, đến tháng 5 nông lịch là người nông dân có thể hưởng thụ niềm vui thu hoạch những hạt giống đã gieo trồng.

Ánh mặt trời như thiêu đốt, sóng lúa xanh rì rập rờn theo gió, thỉnh thoảng có những con chim từ phía chân trời bay vòng vòng tới lui. Mùi của đất lẫn với mồ hôi của người nông dân, những bờ đất chạy giữa cánh đồng vùng thôn quê, thực sự tất cả như một bức tranh đơn sơ mộc mạc mà đầy ắp những cảnh trí đầy sức sống.

🌟

Thời gian quay ngược trở lại ngày 18 tháng 5 âm lịch, năm Dân quốc thứ 34. Chiến tranh thế giới thứ hai ở phương xa vẫn còn chưa kết thúc. Những ngôi chùa phía sau hồ Gia Nghĩa không lúc nào được nhàn rỗi, chùa nào cũng thắp đèn kết hoa, bận rộn chuẩn bị những thứ cần dùng cho sự kiện chúc mừng: cờ tam giác, túi hương, lụa đỏ, tranh vẽ. Càng gần trưa, tín chúng đổ về các chùa ngày càng nhiều. Bên trong những ngôi chùa không lớn lắm này chật cứng những khách hành hương ra ra vào vào và đầy ắp những vòng hương khói lan tỏa khắp mọi nơi.

Hôm nay là ngày sinh thần của Tổ sư Đạo giáo Trương Thiên Sư. Tình hình chính trị lúc này bất ổn, cả một niên đại khắp nơi đầy khói súng. Những gì người dân thường trên phố có thể làm có lẽ cũng chỉ là đem niềm hy vọng về hòa bình trong tâm mình gửi gắm vào trong sự sùng bái và lễ kính đối với thần minh.

Thỉnh thoảng trên bầu trời lại xuất hiện những chiếc máy bay chiến đấu đi tuần hành, tiếng động cơ rít lên từng hồi nối tiếp nhau vang lên ở phía này rồi tan biến ở phía kia, ngước mắt trông ra xa về phía chân trời chỉ thấy toàn là những vệt màu trắng mong manh còn lưu lại bởi mây và sương bị cắt xẻ.

Thiên thượng và nhân gian, chiến tranh và hòa bình, con người chắp tay khấn lầm rầm, rốt cục liệu việc này có thể xua tan đi khói sương tràn đầy khắp mọi nơi hay không?

🌟

Bởi vì cần tìm nơi lánh nạn, gia đình họ Lư lúc này đã đến sống tại một trại gà bên bờ suối Ngưu Trù (thuộc thị trấn Trúc Khê tỉnh Gia Nghĩa). Suối Ngưu Trù, còn có tên gọi là suối Ngưu Khiêu. Những người tổ tiên vượt biển đến Đài Loan cảm thấy con suối quanh co uốn lượn này giống như cảm giác lắc lư uốn éo khi ngồi trên lưng trâu, thế nên đặt tên nó là suối Ngưu Khiêu. Còn tên gọi suối Ngưu Trù ngày nay là do bởi những lời nói truyền miệng trong thôn lâu ngày bị gọi chệch đi mà thành.

Con suối này đã chảy gần nửa thế kỉ nay, nó đã tưới cho biết bao kho ngũ cốc của Đài Loan, thượng nguồn của nó là suối Phác Tử thuộc cánh đồng Gia Nam.


![Suối Ngưu Trù, Đài Loan](/img/img_7f8779764953792c538ed1612b8f3372.png)


Suối Ngưu Trù nước trong leo lẻo, tiếng suối chảy róc rách, ánh mặt trời chiếu soi in hình bóng những lùm cây mọc thưa thớt hai bên bờ. Mặt nước hồ trong suốt nhìn thấu xuống tận đáy phản chiếu ánh sáng lấp loáng như những đốm sao, cả một tấm gương sáng lóng lánh. Vẻ đẹp phong nhã của một vùng nước yên gió lặng nhường này thực sự khiến người ta khó có thể tưởng tượng được rằng không ngờ nó chỉ là một góc hình ảnh được cắt ra giữa thời kì chiến tranh loạn lạc.

🌟

Hôm đó, càng gần đến giữa trưa, Lư Ngọc Nữ càng cảm thấy những cơn quặn đau trong bụng, những đợt co thắt tử cung dần dần nhiều hơn cùng với cảm giác ẩm ướt và nóng ấm đã khiến cho thai nhi trong bụng không thể kiên nhẫn chờ thêm mà sắp muốn chui đầu ra ngoài chào thế giới này rồi. Đây là đứa con đầu lòng của nhà họ Lư. Đây cũng là lần đầu tiên Lư Ngọc Nữ được trải nghiệm làm mẹ, cái giá phải trả cho việc này thấm sâu vào từng huyết mạch. Những cơn đau chuyển dạ mãnh liệt như những con sóng không ngừng tấn công, Lư Ngọc Nữ đau tới mức nổi cả gân xanh, hai tay run rẩy dùng hết sức nắm chặt lấy tấm chăn. Bởi vì thần kinh quá căng thẳng nên toàn thân từ trên xuống dưới vã đầy mồ hôi, hơi thở hổn hển gấp gáp nghe giống như những lời thổn thức cuối cùng phát ra trước khi lìa xa cõi đời vậy. Cơn đau đẻ thực quá sức chịu đựng, đau tới mức giống như bị liên tiếp những pháo lạc đốt cháy lên thần kinh vậy. [Pháo lạc: một hình phạt thời xưa, lấy lửa đỏ đốt thân thể tội phạm.]

Cái gọi là mẫu tử liên tâm liệu có phải chính là bởi vì trải nghiệm quá trình đau đớn dứt ruột dứt gan này chăng, thế nên rõ ràng là không thể tách rời, ý nghĩa vô cùng sâu sắc?

🌟

Cậu bé tên là Lư Thắng Ngạn, cái tên này được một vị hiệu trưởng đặt cho, cậu sinh năm Ất Dậu, là tuổi con gà.

Lúc sinh ra, Lư Thắng Ngạn rất gầy gò nhỏ bé, nhìn giống y như con gà con mới chui ra từ vỏ trứng vậy. Điều khá đặc biệt là cậu bé Lư Thắng Ngạn lúc vừa mới lọt lòng toàn thân giống như được khoác một lớp màn màu trắng được dệt bằng lụa mỏng mềm mại sáng bóng. Nhìn từ xa cậu bé trông giống như một con tằm đang nhả tơ tự quấn lấy mình vậy.


![Bé Lư Thắng Ngạn và mẫu thân Lư Ngọc Nữ.](/img/img_a02725be73de21f7007328fd0ed94d50.png)


Hiện tượng kì lạ này khiến cho bà đỡ khi đó, người đã đỡ đẻ cho không biết bao nhiêu đứa trẻ sơ sinh, không giấu khỏi nét kinh ngạc trên khuôn mặt, cứ cật lực lắc đầu nói chưa từng nhìn thấy đứa bé sơ sinh nào như vậy. Lớp vải mỏng mềm bao phủ lấy toàn thân cậu bé Lư Thắng Ngạn này thực sự không dễ rửa sạch chút nào, bà đỡ mất tới mấy ngày trời, phải dùng khăn lau có thấm dầu hỏa mới dần dần lau sạch được lớp màn vải mỏng trên người của đứa bé.

🌟

20 ngày sau, ngày 15 tháng 8 dương lịch, chiến tranh thế giới thứ hai kéo dài 6 năm liên tiếp đã kết thúc sau khi chính phủ Nhật Bản tuyên bố đầu hàng. Mọi người khấp khởi hy vọng vào một thời kì bình minh. Cuối cùng hy vọng đã trở lại với người dân sau bao nhiêu lần mong chờ được đắm mình trong làn nước mùa thu.

Đó là một điểm kết thúc. Một chiến dịch toàn cầu khiến cho 50 triệu người hi sinh cuối cùng đã kết thúc rồi. Đó cũng là một điểm khởi đầu. Con người rốt cục lại tiếp tục cuộc sống hòa bình và an định, không gì khác hơn là một giấc mơ bình phàm.

Điểm kết thúc và điểm khởi đầu đều xảy ra không bao lâu sau khi đứa bé được quấn lớp lụa trắng đến với con người thế gian.

Đất nước Đài Loan vừa mới khôi phục vẫn đang trong thời đại đêm tối của giới nghiêm và bị khống chế thời gian bật đèn. Mỗi khi ánh hoàng hôn cuối cùng bị nuốt chửng bởi màn sương đêm, bầu trời nhuốm màu đỏ ối từ từ chuyển sang màu xám tro mờ mịt, trời đất càng giống như mang theo những bí mật đen tối đi vào giấc mộng vùng quê. Điều kì lạ là mỗi lần đến thời điểm này, cậu bé Lư Thắng Ngạn nhỏ xíu cứ gào khóc mãi không dừng.

🌟

"Làm sao dỗ yên được đứa bé này đây? Sao mà gào khóc to đến vậy?" Lư Ngọc Nữ nhỏm dậy đi châm ngọn đèn dầu trên bàn, chuẩn bị đi xem thằng bé ra sao.

Ngọn bấc đèn dầu được châm lên bập bùng một ngọn lửa màu cam, chẳng mấy chốc ánh sáng đã cắt xuyên qua không gian tối đen đặc. Nói kể cũng lạ, Lư Thắng Ngạn lúc ấy lập tức giống như gặp phải "nốt lặng" trong bản nhạc, trong nháy mắt đã im bặt những tiếng nức nở và nghẹn ngào. Có vài lần sau khi màn đêm buông xuống, đứa bé này cứ luôn như vậy mà không rõ vì nguyên nhân gì, chẳng vì lý do gì mà cứ khóc gào lên như vậy.

Hóa ra là nó sợ tối.

Nó thích nhìn đèn, thích nhìn ngọn lửa, thích nhìn những điểm sáng phát ra ánh sáng rực rỡ.


![Bé Lư Thắng Ngạn ở cạnh mẫu thân.](/img/img_e912955ebad519b4690920ac64298e46.png)


Sau này, thường thường sau bữa cơm tối, cha mẹ bế đứa bé con đỏ hỏn thích nhìn ánh đèn này ra bên ngoài nhìn những vì sao lấp lánh trên bầu trời. Lư Thắng Ngạn với cặp mắt tròn xoe cứ nhìn chăm chú đến sững sờ vào những ngôi sao trên màn đêm đen sì, nhìn một cách đầy tập trung tư lự vào bầu trời đêm rộng lớn.

"Nhìn xem này, đứa bé này mắt cứ dính chặt lên bầu trời, không biết nhìn thấy rồi đang nghĩ gì đây?" Những người lớn tuổi sau bữa cơm bữa trà đều tập trung lại như vậy để trò chuyện đủ thứ trên trời dưới biển đông tây nam bắc.

Một vầng trăng sáng, một bầu trời đầy sao, những người lớn tuổi lúc này đang trò chuyện và ngắm trăng sao không hiểu, nhưng Lư Thắng Ngạn hiểu. Một đêm hè rỉ rả tiếng ve kêu, gió mát thổi vi vu, ánh trăng ánh sao rải xuống thấm đẫm cảnh vật đã ôm ấp vỗ về đứa bé sợ bóng tối này, khiến nó không còn thổn thức khóc nữa.


### Phần 2: Đứa trẻ tai chuột


Lư Thắng Ngạn lúc nhỏ ngoài cơ thể gầy yếu ra, điều khiến người ta ấn tượng mạnh mẽ nhất chính là đôi tai bé tí của cậu bé. Dáng người nhỏ bé lại cộng thêm đôi tai nhỏ xíu, bộ dạng này của cậu xem ra cực kì giống một con chuột nhỏ.

Theo quan niệm của thế hệ trước thì tai của một người cần càng to càng tốt, bởi vì tai tượng trưng cho phúc phận của con người. Hễ có buổi tụ tập trong làng, Lư Nhĩ Thuận thường thích ở trước mặt mọi người chỉ vào đôi tai của Lư Thắng Ngạn nói một cách oán trách: "Xem này, xem này, đứa bé còm nhom như chữ "bát" (八) này, tai còn vừa ngắn vừa nhỏ, xem ra chẳng thể có được tí phúc báo nào, tương lai chắc chắn số mệnh sẽ xấu lắm!"


![Ảnh chụp toàn gia. Tôn sư Lư Thắng Ngạn lúc này còn bé đứng phía trước.](/img/img_e38105a15eb972727e5fc8bf4561c015.png)


Trong ấn tượng về tuổi thơ của Lư Thắng Ngạn, cha cậu thường đuổi theo kéo tai cậu nói rằng ông muốn kéo cái tai chuột này cho nó dài hơn, dày hơn. "Kéo cho nó dài dài ra nhìn cho nó trông may mắn hơn một chút…" - Lư Nhĩ Thuận thường nói như vậy.

🌟

Vào tiểu học, Lư Thắng Ngạn học trường Tiểu học Đại Đồng. Trường nằm ở chính hướng tây của quận Tân Hưng tại thành phố Cao Hùng, được thành lập vào năm Dân Quốc thứ 24 thời đại còn bị Nhật Bản chiếm đóng, bởi vậy đây là một ngôi trường cũ có lịch sử lâu dài.

"Mặt trời mọc thì làm, mặt trời lặn thì nghỉ". Trong cuộc sống nông nghiệp nhìn trời đất mà sinh hoạt đó, nhà nào nhà nấy suốt cả ngày dài bận rộn để lo cho bữa ăn kế tiếp, thực sự số gia đình có thể chu cấp cho con cái đi học chỉ là thiểu số. Đa số các bạn học khi về nhà đều phải giúp đỡ gia đình việc nhà nông, nuôi lợn nuôi gà, hoặc đến mỏ dầu hỏa để nhặt than bánh kiếm thêm chút tiền sinh sống. Do vậy chỗ ngồi trong lớp học thường xuyên có quá nhiều học sinh vắng mặt, trông lồi lõm như ổ gà vậy. Mặc dù nói giáo dục là nghĩa vụ quốc dân, nhưng trên thực tế, đại đa số đứa trẻ đi học đều là bữa đực bữa cái.

Bởi vì việc đi học không dễ dàng, thân phận giáo viên tự nhiên cũng đại diện cho một dạng trình độ địa vị xã hội. Ta sẽ thường nhìn thấy cảnh những bậc cha mẹ chưa từng đọc qua cuốn sách nào vô cùng kính cẩn thành tâm giao con cái mình vào tay những người giáo viên, lại còn không quên kính cẩn nhắc nhở cầu xin: "Xin thầy đừng ngại ngần, trẻ con cần phải bị đánh thì mới trưởng thành được!"

Vào thời kì mà ai ai cũng đều "cầu xin được trưởng thành" như vậy, tự nhiên cũng chẳng có người nào từng băn khoăn xem việc này liệu có hợp tình hợp lý hay không.

🌟

Điều khiến Lư Thắng Ngạn nhớ sâu sắc nhất chính là một tiết học Công dân.

Hôm đó, tiếng chuông báo giờ học vừa dứt không bao lâu, những đứa trẻ nhỏ không thích rời khỏi lớp học vì thời gian nghỉ không đủ, còn những đứa trẻ lớn thì chẳng thích thú gì khi phải trở vào lớp học, chúng vừa đi vừa chơi. Lúc này bỗng thầy giáo dạy công dân mặt mày xám ngoét không rõ vì sao, nổi giận đùng đùng chạy từ ngoài hành lang vào trong lớp học, thầy vừa đi qua khỏi cửa liền cảm thấy ngay một bầu không khí căng thẳng đi theo, sự u ám không xác định bao trùm lấy mọi ngóc ngách của toàn bộ lớp học.

Những đứa trẻ nhỏ không dám làm ồn, mau chóng chấn chỉnh lại tư thế ngồi, giả vờ giả bộ giở sách vở ra…

Thầy giáo công dân tức giận tới mức sắp bốc hỏa đứng trên bục giảng không nói một câu nào càng khiến cho người khác nghẹt thở, cảm giác giống như chỉ cần một cây kim rơi xuống cũng có thể kích nổ một quả bom lớn chưa từng có.

Đám học sinh sợ đến mức không dám ngẩng đầu lên, chỉ thấy đứa nào đứa nấy len lén trao đổi những cái nhìn hoang mang bên dưới bục giảng. Sự im lặng kéo dài khoảng vài phút, thầy giáo đột nhiên thẳng tay ném cuốn sách lên bàn giáo viên mạnh tới nỗi chiếc bàn rung lên làm những viên phấn nảy lên cao. Rồi thầy đút hai tay vào túi, nhìn khắp lớp học, cái nhìn sắc nhọn giống như đang tìm kiếm một con quỷ nhỏ xui xẻo để cho ông trút cơn giận dữ này.

🌟

"Đứng dậy! Lên đây! Mau!" - Thầy giáo giống như một con sư tử mất kiểm soát gào xuống phía dưới bục giảng.

Ánh mắt nhìn khiến người khác không rét mà run của thầy giáo không may gặp trúng Lư Thắng Ngạn, bốn mắt nhìn nhau, cậu bé biết ngay mình bị đại họa giáng đầu rồi. Bây giờ cậu càng bị những lời mắng mỏ không rõ nguyên nhân kia dọa cho khiến toàn thân run rẩy.

"Chính là mày, tao ghét nhất là mày, cái đồ tai chuột kia! Chính là mày, chính là mày!" - Thầy giáo tức giận phừng phừng vừa gào thét vừa đi xuống dưới lớp học, thẳng đến chỗ ngồi của Lư Thắng Ngạn.

Cậu bé Lư Thắng Ngạn vô cùng hoang mang, không hiểu có chuyện gì xảy ra. Chỉ có trực giác cho cậu thấy rằng lúc này chỉ nên mau chóng nói với thầy mấy tiếng "con xin lỗi"…

"Thầy… thầy, con… xin…"

Tốc độ của lời xin lỗi không theo kịp cơn phẫn nộ phừng phừng của thầy giáo. Một tiếng "bốp", Lư Thắng Ngạn cảm thấy trên mặt mình một cảm giác bỏng rát, tức thì chân không trụ vững nổi nữa, cậu ngã dúi dụi bên trái bên phải, đâm bổ vào bàn học của bạn bên cạnh.

Cái tát bất ngờ như trời giáng này thực sự khiến cậu bé Lư Thắng Ngạn sững sờ, trong đầu cậu vẫn in rõ mồn một hình ảnh phẫn nộ trong ánh nhìn của thầy giáo. Má phải của cậu vừa đau vừa tê buốt giống như bị sét đánh trúng vậy, mặt nóng rát như bị bỏng. Tiếp theo đó cậu không biết làm sao để đối mặt với sự ngại ngùng nên càng đỏ mặt tía tai, đầu bị choáng tới mức nảy đom đóm mắt, còn chưa kịp hoàn hồn.

Lúc này cậu chỉ nhìn thấy thầy giáo công dân, sau khoảnh khắc không kiềm chế được cơn giận dữ, cuối cùng đã lấy lại được lý trí cần có, ông tỏ ra như chưa có chuyện gì xảy ra, chỉnh lại cổ áo xộc xệch và mái tóc bù xù rồi quay người trở về bục giảng, mở sách ra, sau đó bắt đầu giảng bài như bình thường.

"Hóa ra việc không đáng nhất chính là cái tai giống như tai chuột của mình đã khiến cho thầy giáo ghét đến vậy…"

Xoáy nước trong lòng khó nói thành lời, nỗi nhục có thể nuốt xuống nhưng tâm trạng cần được trút ra, chỉ là tâm trạng này nên trút ra cho ai nghe đây?

🌟

"Thằng tai chuột", các bạn trong lớp đều hét vào cậu như vậy.

Lư Thắng Ngạn là học sinh nhỏ bé nhất lớp, luôn luôn ngồi ở dãy bàn đầu trong lớp học. Cũng bởi vì mối liên quan này mà Lư Thắng Ngạn thường bị những bạn học to con hơn trong trường bắt nạt, bị đối xử như cái "bao cát". Không hiểu vì sao mà cậu luôn phải chịu cảnh làm cái "bị đấm" cho mọi người.

Hôm nay lẽ ra nên là thời gian vui vẻ nhất của Lư Thắng Ngạn. Tranh thủ sau giờ học, cậu cùng mấy người bạn trong lớp vui vẻ chơi trò uông tử tiêu. Uông tử tiêu là một tấm thẻ bài tròn tròn nhỏ nhỏ, đường kính khoảng vài centimet, xung quanh có đường uốn lượn trơn tru mượt mà, mặt trên có các loại hình ảnh, thông thường chúng được in những hình các con rối tay hoặc các nhân vật hoạt hình đang thịnh hành thời đó.

Ngày nay trẻ em đã quen thuộc với các loại trò chơi chạy bằng pin, bởi vậy rất khó có thể hiểu được những cái thẻ bài tròn tròn dày dày kia rốt cục có sức hấp dẫn gì mà có thể khiến cho các thế hệ cha ông của chúng mê mải suốt cả ngày trời.

🌟

Hôm nay vận may của Lư Thắng Ngạn không tệ, chỉ sau vài ván cậu đã thắng được đầy cả một túi chiến lợi phẩm. Lúc này mấy người bạn học vừa béo vừa khỏe đi tới, trong đó có một cậu được gọi là "Đại Cô" (đai to) béo tới nỗi xem ra phải khó khăn lắm mới ních vừa bộ đồng phục màu khaki. Kế bên cạnh là một cậu bạn khác đeo trên cổ sợi dây giày màu trắng tên gọi là Lạc Cước, chưa cần đứng thẳng dậy đã cao hơn Lư Thắng Ngạn tới hai cái đầu. Cái nhìn ranh mãnh của chúng, khóe miệng nhếch lên cười khẩy, hai đứa có bộ dạng đang tới để gây sự.

"Làm sao đây nhỉ? Hôm nay chúng tao ngứa tay quá! Thực sự cần tìm một đứa để luyện quyền, chúng mày nói xem có đúng không?" - Thằng nhóc tiểu đại ca dẫn đầu làm động tác bẻ ngón tay kêu răng rắc.

Không kịp thu dọn đám thẻ bài còn đang lộn xộn trên mặt đất, Lư Thắng Ngạn và các bạn cùng chơi đã trông thấy lũ hung thần ác quỷ đi đến, muốn quay người bỏ chạy cũng không kịp nữa rồi, buộc phải co rúm lại với nhau trên mặt đất, sợ sệt nhìn nhau không dám ngẩng đầu lên.

"Ý? Thằng tai chuột bữa nay vận may cũng không tệ nhỉ! Vậy thì đánh nó là đúng rồi, hôm nay tao thực sự nhìn nó không vừa mắt!"

Tiếp theo đó là một trận đấm đá tối tăm mặt mũi và những tràng nhạo báng giễu cợt. Những nắm đấm thụi lên người, lên mặt, mỗi cú đấm đá đều khiến người ta cảm thấy nổ đom đóm mắt, chóng mặt quay cuồng.

Đối diện với sự bắt nạt vô duyên vô cớ không cần lý do này, Lư Thắng Ngạn vẫn chịu đựng mà không khóc. Những vết thương đau đến mức dứt da dứt thịt hết lần này tới lần khác đó cứ dần dần khắc sâu vào trong lòng cậu bé.

"Ha ha ha! Đồ ngu, thằng tai chuột khốn nạn không dám đánh lại!" - Vừa nói vừa xổ những lời khinh miệt vào mặt Lư Thắng Ngạn, chúng ném từng tấm thẻ bài, sau đó chỉ còn trông thấy một đám trẻ sau khi đạt được niềm vui phù phiếm bên ngoài nghiến răng cười lớn rồi bỏ đi.

🌟

Nói ra kể cũng lạ, mấy người bạn học này, mỗi lần nói muốn luyện gân cốt, giãn xương khớp, nhưng những nắm đấm thì hoàn toàn là thật, cứ thế giáng xuống đầu Lư Thắng Ngạn, một ngày vài lần, một lần vài đấm. Tất cả bọn chúng đều thấy việc này rất vui.

"Con chuột nhắt là tôi đây ở trong nhà đã chẳng có chút may mắn gì, ở trường học là thằng bé tai chuột, luôn luôn phải chịu đựng số phận khiếm khuyết. Tôi cố gắng hết sức để kiềm chế bản thân, một mình chịu đựng, không làm kinh động đến bất kì ai. Tôi thường nghĩ những chuyện cỏn con này nếu tôi có thể nhẫn nhịn được thì cứ nhẫn nhịn đi."

Những người bạn học luôn dứ nắm đấm, thích động thủ với người đối diện này, có lẽ phải rất lâu rất lâu về sau mới có thể phát hiện ra trong trò bắt nạt tưởng chừng hay ho năm đó, cái "thằng tai chuột" chưa từng bao giờ thốt ra một lời nào đó lại có một tính cách và mức độ chịu đựng cứng cỏi mà chúng không thể tưởng tưởng được. Tinh thần và sức mạnh khi đối diện với sự đối xử bất hợp lý, không công bằng của "thằng tai chuột" mạnh mẽ vượt xa năm ngón tay túm chặt của chúng, vượt xa những nắm đấm lộ cả gân xanh của chúng đến cả triệu lần.

Những bài luyện tập nhẫn nhịn liên tiếp liên miên khiến cho đôi chân tưởng chừng yếu đuối run sợ đã vươn lên trở thành một con người cao quý đáng tự hào.

🌟

Trước khi Lư Thắng Ngạn ra đời, Đài Loan đã từng trải qua 50 năm bị Nhật chiếm đóng. Những đứa trẻ lớn lên trong thời kì này bị ảnh hưởng bởi quan niệm uy quyền trong truyền thống phụ hệ của Nhật Bản cực kì sâu sắc. Trong gia đình, người chủ của một gia đình đa thế hệ có địa vị tối thượng, một lời nói hành động của người này đều có trọng lượng tuyệt đối. Hình tượng chắc nịch và nghiêm khắc này đã hằn sâu trong tâm, những đứa trẻ khi đó đối với cha hầu hết là giữ khoảng cách tôn kính, không dám có bất kì sự chống đối nào.

Cha của Lư Thắng Ngạn, ông Lư Nhĩ Thuận chính là đã trưởng thành trong hoàn cảnh như vậy.


![Cha của Lư Thắng Ngạn lúc còn trẻ.](/img/img_4e47829946746d6279f4ae93ff87cb65.png)


Đối với một người mà nói, chúng ta không chỉ thừa hưởng dòng máu được truyền từ cha mẹ mà còn đồng thời chịu ảnh hưởng bởi thái độ sống của họ, thậm chí cách thức họ giáo dục vợ con. Ngoài ra người đó sẽ kế thừa quan niệm thái độ này và tiếp tục dùng chúng để giáo dục thế hệ con cháu tiếp theo của mình.

Cuộc sống có lẽ vốn là một việc rất phức tạp, nó có quá nhiều quá nhiều niềm vui và nỗi buồn đan xen. Hãy lấy chính mối duyên phận giữa Lư Nhĩ Thuận và Lư Thắng Ngạn để nói. Mặc dù là cha con ruột thịt cùng chung một dòng máu, nhưng giữa họ vẫn có rất nhiều nỗi chua xót mà có lẽ chỉ nên giữ trong lòng của chính người trong cuộc.

🌟

Có một lần tan học sớm, Lư Thắng Ngạn vui vẻ vừa đi trên đường vừa ca hát nhảy nhót, lẩm bẩm những ca từ mà cậu tự nghĩ ra. Cậu lẩm nhẩm hát, cảm nhận mặt trời, gió nhẹ, hoa cỏ, cây cối đều đang lắc lư theo cậu. Tâm trạng cậu bé vui vẻ tới mức ngay cả cảnh vật bên đường đều biến thành những nốt nhạc đang nhảy nhót trên năm dòng kẻ của khuông nhạc.

Nhưng lại có một điều không may là…

Vừa bước chân qua cửa nhà, cậu đã nghe thấy tiếng cha gào thét từ trong phòng vọng lại, "Răng đau à! Răng đau có phải không! Thế còn cãi cái gì! Hát cái bài gì mà khó nghe, hay là đang hát bài Khốc Điều Tử đấy à?" [Khốc Điều Tử: một bài hát dân ca được lưu truyền lâu đời ở Đài Loan, lời lẽ và giai điệu buồn thảm bi thương.]

Rồi lập tức trông thấy Lư Nhĩ Thuận giận dữ điên cuồng từ bên kia tấm màn cửa kết từ những hạt tròn lao vụt ra. Cơn giận phừng phừng khiến ông tóm lấy cây roi tre vung cao đến trời, rồi tiếp theo đó là tiếng gió vun vút cùng với sức mạnh của cánh tay vụt xuống tới tấp một cách đầy tàn nhẫn. Viu! Viu! Âm thanh của tiếng roi đánh xuống nhanh như gió, chẳng mấy chốc, trên hai cánh tay và đôi chân nhỏ khẳng khiu của Lư Thắng Ngạn lập tức nổi đầy những vết thương sưng đỏ và những vết bầm vừa đen vừa tím.

Chiếc roi tre gần như te tua luôn luôn được đặt trên nóc chiếc đài radio trong nhà, chuyên môn được dùng để "phục vụ" Lư Thắng Ngạn.

Cậu bé Lư Thắng Ngạn đụng đâu xui đó, bước chân đi luống cuống một chút là liền nghe tiếng Lư Nhĩ Thuận nhướn mày trừng mắt tiến đến gần và hét lên đầy dữ dằn: "Mày lại làm sao đấy! Rốt cục là mày lại làm trò gì? Không biết đi đường đúng không, hay là mày đang luyện tập thể thao? Bóng với chả bánh?"

Mỗi lần như vậy, Lư Thắng Ngạn liền biết ngay mình lại thảm rồi, sẽ bị ăn roi, khi thì roi tre, khi thì thanh kiếm gỗ vừa nặng vừa dày kiểu Nhật, khi thì cây chổi tre quét lá rụng, có khi thì là ống nước, sào phơi quần áo. Nói tóm lại, bất kì "gia pháp" nào có thể được dùng tạm thời để "dạy dỗ" trẻ con, Lư Thắng Ngạn đều đã từng được nếm trải những cơn đau nhói tê buốt do chúng gây ra trên thân thể mình.

Mặc dù như vậy, cậu bé con vẫn luôn luôn đứng vững, không khóc cũng không chạy. Những cơn gào thét phẫn nộ bất ngờ giáng xuống hết lần này tới lần khác luôn khiến cho cậu bé Lư Thắng Ngạn thời thơ ấu sợ hãi và hốt hoảng. Tính cách nghiêm khắc dễ nổi giận của cha khiến cho cậu từ đầu tới cuối đều không tìm ra cách nào để đến gần và thân thiết với ông.

🌟

Trong lòng của thằng bé tai chuột cũng luôn khao khát một vòng tay rộng lớn dịu dàng ấm áp có thể dẫn dắt cậu trưởng thành. Cậu cũng khao khát một bờ vai vững chắc có thể cho cậu gục vào những lúc muốn khóc, hoặc cho cậu tạm thời dừng lại một chút để dựa vào và nghỉ ngơi.

"Những gì là quá khứ đều đã qua rồi, đối với cha, trong lòng tôi vẫn là một sự biết ơn vô cùng vô tận. Đây là sự rèn luyện của cuộc sống. Khi tôi còn nhỏ những lúc khóc nhiều hơn lúc cười, nhưng đôi khi tôi không để cho người khác biết rằng trong lòng tôi đang khóc. Tôi mím chặt môi, nuốt cơn thổn thức vào trong, bất kể là bị cha mẹ đánh, hay là thầy cô giáo chì chiết, hay là bạn học bắt nạt, tôi đều học được khả năng nhẫn nhịn."

"Mỗi nhà đều có một câu chuyện khó nói", hãy lạc quan ngước nhìn những ánh đèn rực rỡ, Lư Thắng Ngạn từ khi còn rất nhỏ đã có thể hiểu rõ đạo lý này rồi…


### Phần 3. Sự ôm ấp của sách và biển


"Ha ha ha! Lần này đạt được hai con dấu rồi, bài sau không cần phải học thuộc nữa!"

Tiếng chuông báo giờ lên lớp vừa dứt, các bạn học cùng lớp ai nấy đều lắc lắc quay quay đầu, rì rà rì rầm đọc thuộc lòng bài học. Lư Thắng Ngạn ngồi trên bàn ghế gỗ mà không khác gì ngồi trên đống đinh, tâm trí từ đầu tới cuối đều không thể đặt vào sách vở, ánh mắt cậu tò mò nhìn xung quanh lớp học và các bạn cùng lớp, quan sát nhất cử nhất động của mọi người.

Đây là môn học mà Lư Thắng Ngạn cảm thấy đau đầu nhất. Ngay khi tiếng chuông báo tan trường vang lên, những bạn học đã học thuộc cẩn thận lần lượt theo thứ tự đi lên bục giảng, đọc thuộc lòng bài cho giáo viên nghe. Rồi lại từng người lần lượt không ngừng vẫy vẫy cuốn vở cho người khác phải ngưỡng mộ. Còn bản thân cậu thì lúc nào cũng phải nỗ lực vất vả, khó khăn khổ sở mới có thể đạt được những con tem hình sao quay vòng vòng, trong lòng Lư Thắng Ngạn lại cảm thấy càng lo lắng hơn.

"Nhanh lên, nhanh lên, sắp học thuộc xong rồi… Sao học lâu thế rồi mà vẫn chưa thuộc vậy?" - Đơn giản là Lư Thắng Ngạn đang rơi vào tình trạng khẩn cấp, một mặt cậu tự "tiêm" cho mình một liều thuốc trợ tim, một mặt bồn chồn lo lắng cứ kéo ngón tay suốt.

🌟

Trong những môn học thời tiểu học, Lư Thắng Ngạn ghét nhất là môn học thuộc lòng. Không biết vì sao mà dù chỉ là một đoạn văn rất ngắn, cậu cũng phải mất tới vài ngày mới có thể đọc thuộc được. Có lúc để ứng phó với môn học khó khăn này, Lư Thắng Ngạn còn tranh thủ lúc sáng sớm tinh mơ ánh mặt trời vừa lấp ló đã tỉnh dậy để học thuộc bài, đọc đọc đọc, đọc đọc đọc, đọc suốt cả quãng đường từ nhà đến trường, Lư Thắng Ngạn miệng không ngừng lẩm nha lẩm nhẩm bài văn một cách vô vị. Cho đến khi chính mình cũng giống như các bạn học khác, cho đến khi bước lên bục giảng…

"Nhanh nhanh nhanh, tới đây đọc bài. Mau… mau… mau.""Mau… mau… mau…"

Trong đầu Lư Thắng Ngạn đã sẵn sàng cho một kết cục thảm hại, hai mắt không ngừng đảo lòng vòng tìm kiếm. Trong đôi mắt của cậu bé ánh lên cái nhìn cầu khẩn và sự phó mặc vô hạn, cậu trông chờ vào một linh cảm nào đó sẽ đến ."Cầu xin hãy nhắc cho con một chữ, nhắc cho con một chữ thôi…, một chữ là tốt rồi…"

🌟

Cậu luôn luôn không hiểu vì sao các bạn học khác có thể dễ dàng ghi nhớ bài học vào trong đầu như vậy? Họ giống như cái máy photocopy chỉ cần ấn một cái nút là có thể mau chóng chạy ro ro, bíp bíp bíp bíp là có thể mở miệng ra lặp lại từng trang từng trang bài học. Vì sao việc này đối với người khác xem ra là một việc dễ dàng như trở bàn tay, còn đối với cậu thì lại trở thành việc khó như lên trời vậy.

Học thuộc xong bài thứ nhất, còn có bài thứ hai. Học thuộc xong bài thứ hai, còn tiếp tục có bài thứ ba…

"Ai da…" Mỗi lần nghĩ đến việc này, Lư Thắng Ngạn liền cảm thấy hai vai nặng trĩu, bỗng chốc cậu như hoa héo. Việc học thuộc lòng thực sự là một biển khổ vĩnh viễn không có lối thoát!

"Tôi thực sự hy vọng có một phép thuật nào đó có thể nhét một mạch những bài học vào trong não…" Chăm chú nhìn ngắm những con chim sẻ kêu lích ra lích rích bên ngoài cửa sổ, Lư Thắng Ngạn luôn luôn nghĩ một cách tự do bay bổng như vậy.

🌟

Giống như bao đứa trẻ khác, Lư Thắng Ngạn cũng có những lúc mải chơi, có những lúc nghịch ngợm. Bởi vì sợ cái roi mây của thầy giáo nên cậu sẽ lén lút lấy vải rách nhét vào trong quần. Bởi vì hy vọng né được những cái roi trừng phạt của thầy giáo mà cậu sẽ đứng cạnh những người bạn học có hoàn cảnh gia thế tốt, đợi cho tới khi thầy giáo không dám xuống tay đánh nữa mà đành phải nói "Được rồi, được rồi! Hôm nay không đánh nữa, đánh tới đây thôi…".

Vậy thì rốt cục Lư Thắng Ngạn dùng phương pháp gì mà lần đầu tiên có được hai dấu tem, rồi lần lượt vượt qua từng kì thi một?

"Giấu! Giấu! Giấu! Tôi giấu! Tôi giấu! Tôi giấu!"

Khóe miệng Lư Thắng Ngạn khẽ mỉm cười, cái biểu hiện đắc ý đó thật giống như đang thưởng thức những tác phẩm nghệ thuật vô cùng khéo léo vậy.

Cậu bé âm thầm sung sướng dùng sức ấn lên cuốn vở, mau chóng lợi dụng hơi nước nóng và những dấu tem hình sao còn chưa khô mực, cậu ấn mạnh chúng lên bài học của trang kế tiếp. Thử nghiệm này thành công hết lần này tới lần khác càng khiến cho cậu tăng thêm sự tin tưởng đối với cái ý tưởng ranh mãnh này. Sau này thậm chí khi mực đã khô rồi, Lư Thắng Ngạn cũng sẽ tự mình nhỏ vài giọt nước lên cuốn vở, rồi lại dùng cách này để tiếp tục copy những con dấu tem hình sao.

🌟

Chỉ là người có tính nghìn tính vạn cũng không bằng ông trời tính một. Điều Lư Thắng Ngạn không ngờ đến là…

"Thằng bé Lư Thắng Ngạn này rõ ràng là học thuộc lòng đâu có giỏi thế này! Quái lại sao bỗng nhiên bây giờ lại thuộc làu làu tốt thế?"

Cho dù là tròn hay méo, đối với tính cách và trình độ của mỗi đứa trẻ trong lớp, người làm giáo viên đương nhiên là quá quen thuộc, nắm rõ trong lòng bàn tay. Lư Thắng Ngạn liên tục vượt qua bài kiểm tra rốt cục cuối cùng cũng khiến cho thầy giáo nghi ngờ. Kết quả đã quá rõ ràng, tất cả mọi giấc mơ phép màu đẹp đẽ của cậu bất ngờ tan tành, đổi lại đương nhiên là một trận roi tre cháy da cháy thịt.

Lư Thắng Ngạn hồi nhỏ không phải là một học sinh đạt tiêu chuẩn. Cậu không thích đi học, trên phương diện học tập từ đầu tới cuối thành tích đều không xuất sắc. Chỉ có năm học lớp 4, cậu từng được một giáo viên tên là Nhan Thủ Chân đặc biệt quan tâm dạy dỗ, việc học của cậu đột ngột có nhiều tiến bộ, còn những thời gian khác, Lư Thắng Ngạn gần như là luôn ở giữa ngọn roi của thầy giáo mới có thể vượt qua được bài thi "Mãn Giang Hồng" [tên một bài thơ của Nhạc Phi, một vị tướng quân giỏi đời nhà Tống ở Trung Quốc]. 

🌟

Nhưng cũng có một điều an ủi, mặc dù Thượng đế đóng cánh cửa này, nhưng cũng sẽ mở ra một cánh cửa khác cho cậu.

Đối với việc học tiểu học Lư Thắng Ngạn không có một chút hứng thú nào, nhưng cậu lại vô cùng thích đọc những sách ngoại khóa. Cậu đã từng rung động khôn xiết trước tinh thần hào kiệt của những người cùng lý tưởng như Cầu Nhiêm Khách [một nhân vật anh hùng hào kiệt trong tiểu thuyết võ hiệp] và Lý Thế Dân [vua Đường Thái Tông, được đánh giá là một vị vua vĩ đại của nhà Đường, được hậu thế đời đời ngưỡng vọng], lập chí tương lai sẽ trở thành một hiệp khách giang hồ vác kiếm đi tới tận chân trời, đấu tranh cho công lý, trừ ác phục thiện.

"Từ khi còn rất nhỏ tôi đã thong dong ngao du trong thế giới của những cuốn sách. Sách là thiên đường của tôi, là bầu trời của tôi, là đại dương của tôi, là vương quốc của những giấc mơ an lành của tôi."

"So với những cuốn sách giáo khoa khô khan chán ngắt, việc đọc sách một cách tự nhiên đã trở thành một thế giới khác trong cuộc sống. Bất kể tâm trạng có buồn bã tối tăm thế nào, chỉ cần trốn vào trong thế giới này, tôi liền giống như được chắp thêm đôi cánh, lập tức cảm thấy được phiêu du khắp mọi phương trời xa xôi từ những con chữ, được tùy ý mở rộng tầm mắt mở rộng con tim ngao du giữa những cuốn sách cuốn truyện.

Đó là một dạng tương tác vô cùng tinh tế tuyệt vời, không chỉ là một kiểu hưởng thụ mà đồng thời còn là một sự trưởng thành."

Đọc sách và sáng tác, hai sở thích ngang nhiên độc lập này giống như giàn giáo, đã mở ra cho Lư Thắng Ngạn một thế giới cổ tích tràn đầy trí tưởng tượng. Chỉ có vào những lúc này, cậu mới không còn lo lắng về những cái bạt tai hay những cú đấm liên tiếp giáng xuống, hoặc những cây roi cây gậy từ trên trời bay tới.

🌟

"A! Sáng tác của Lư Thắng Ngạn được tờ Bạn Học xuất bản rồi này!""Ồ, lợi hại thật đó!""Có đúng là văn của thằng tai chuột không? Tương lai không biết chừng cậu ta lại trở thành một tác giả lớn ấy nhỉ!"

Thời đó mỗi lớp học đều đặt mua Nhật báo Quốc ngữ. Sợ các bạn học không đọc được, Lư Thắng Ngạn đã dán những sáng tác của mình lên bảng tin ở phía sau lớp học. Đây là một biểu hiện có phần khoe khoang tự hào với mục đích muốn cho mọi người thấy được tên họ của tác giả: "Thắng Ngạn".

Từ lúc bắt đầu học tiểu học, Lư Thắng Ngạn đã thường đem những tác phẩm của mình gửi cho tờ Bạn Học và Nhật báo Quốc ngữ. Thậm chí vào năm học lớp ba, cậu đã đạt được giải nhất trong cuộc thi sáng tác văn học của toàn thành phố Cao Hùng. Lấy câu văn thay cho lời nói, lấy con chữ thay cho hành động, Lư Thắng Ngạn lúc nhỏ đã lựa chọn dùng ngòi bút của mình để làm cây cầu nối mình với thế giới. Cũng bởi vì có được chiếc chìa khóa này mà cậu đã không khóa chặt cõi lòng của mình lại sau những thất bại chán chường.


![Lư Thắng Ngạn tuổi niên thiếu.](/img/img_e5704219b84b69f0c019dab738936b4b.png)


Lư Thắng Ngạn tuổi nhỏ có lẽ hoàn toàn không nghĩ đến rằng sự tài hoa trong văn chương này sẽ có ngày theo cậu đi suốt cả cuộc đời sáng tác không ngừng nghỉ. Những bài viết thời điểm này đối với cậu mà nói chỉ giống như những tia sáng từ bên ngoài cửa sổ chiếu tới soi sáng cõi lòng đầy u ám và nặng nề của cậu, thế rồi chính những điểm sáng nhỏ xíu của lòng tự tin và tự hào này đã xoa dịu con tim đã từng trải qua bao nhiêu tổn thương và nhục mạ, tự ti và cô độc.

🌟

Vịnh Tây Tử là một địa danh du lịch nổi tiếng của thành phố Cao Hùng, nằm về phía tây thành phố, phía bắc dựa vào núi Vạn Thọ, phía nam quay mặt vào bán đảo Kì Tân, là một vịnh cảng tự nhiên với dải đá ngầm, ánh hoàng hôn, biển màu ngọc bích, trời xanh ngăn ngắt, danh tiếng lưu truyền khắp xa gần.

Tô Đông Pha đã từng viết hai câu thơ để ngợi ca vẻ đẹp yêu kiều duyên dáng của Tây Hồ: (*)"Dục bả Tây Hồ tỉ Tây Tử. Đạm trang nùng mạt tổng tương nghi." [Hai câu thơ cuối trong bài Uống rượu ở Tây Hồ lúc cơn mưa vừa tạnh của Tô Đông Pha.]

Nghĩa thơ:

"Tây Hồ Tây Tử đem so sánh. Điểm trang đậm nhạt đều đắm say."

Còn nay Tây Tử nằm ở nơi cảnh trí rung động lòng người bên bờ biển hiền hòa, vẻ đẹp thậm chí càng có phần thơ tình họa cảnh hơn.

🌟

Ngoài viết văn, khả năng bơi lội bẩm sinh cũng là một điểm đáng tự hào của Lư Thắng Ngạn.

Đã từng có một buổi học thể dục, thầy giáo đẩy tất cả học sinh trong lớp xuống nước, chỉ thấy học sinh không biết bơi đứa nào đứa nấy tay chân đập nước tung tóe loạn xạ, miệng la hét sợ hãi, đứa thì sặc nước, đứa thì kêu cứu, chỉ có Lư Thắng Ngạn giống như con vịt đạp nước mạnh mẽ, thoắt cái đã bơi ra tới giữa hồ bơi và bắt đầu thong dong tự tại rẽ nước.

Bầu trời phía nam Đài Loan thường có những ngày mặt trời lên cao, thời tiết rất đẹp với bầu trời xanh ngắt trong vắt. Mỗi dịp như vậy Lư Thắng Ngạn lại đến vịnh Tây Tử tận hưởng đắm mình trong nhịp điệu vỗ về của làn nước trong mát. Cậu như đứa trẻ thích nước một cách bẩm sinh, vừa xuống nước là có thể tự do tự tại khua tay đạp nước, hơn nữa cậu còn tự tìm ra phương pháp hít thở có nhịp điệu mà không cần ai dạy. Rồi cậu cùng lắc lư khiêu vũ với những cây cỏ dưới mặt nước, rướn người một cách tự nhiên, chìm nổi tùy ý. Cậu chỉ hoàn toàn chuyên tâm nhúng mình chìm đắm vào trong vẻ đẹp của làn nước lấp lánh dưới ánh mặt trời, xung quanh là những con sóng xô lên một màn khói nhẹ.

Những con sóng lăn tăn, những bãi cát bỏng rát bàn chân, những cơn gió biển mằn mặn và những hàng dừa khẽ đung đưa, chỉ cần như vậy là có thể khiến cho Lư Thắng Ngạn được thảnh thơi suốt cả một mùa hè. Sóng biển vỗ bờ, đợt này nối tiếp đợt khác, giữa trời và đất ngoài những âm thanh của sóng thì dường như chẳng còn lại gì khác nữa.

🌟

Liên quan đến việc bơi lội này, bố mẹ cậu luôn luôn phản đối không cho phép. Mỗi lần Lư Nhĩ Thuận và Lư Ngọc Nữ nghe Lư Thắng Ngạn chạy lại xin phép được đi bơi, họ luôn luôn xua tay nói cậu không cần phải phí lời xin xỏ. Mặc dù vậy, thường cứ đến buổi sáng ngày hôm sau họ liền phát hiện ra trên cửa sổ phòng Lư Thắng Ngạn đã thủng một cái lỗ thật to.

"Cái thằng khỉ gió này, lại trốn mẹ đi chơi nước rồi!" Những cây roi vung lên, Lư Ngọc Nữ tức đến xịt khói lỗ tai, thực sự không còn có biện pháp nào đối với thằng con thích bơi lội này nữa.

Vì sao cậu lại thích bơi đến vậy? Mặc dù biết rõ là lén đi ra ngoài chơi, khi trở về nhà chắc chắn sẽ bị đánh, vì sao đôi chân ấy vẫn bắt chấp nỗi đe dọa này? Biển lớn đối với đứa trẻ này có sức hút gì khó cưỡng đến vậy?

Thực sự có rất nhiều lần ở vịnh Tây Tử, Lư Thắng Ngạn chẳng làm việc gì khác, chỉ ngồi im lặng nhìn những người đánh cá ở phía xa xa đang kéo lưới đi tới đi lui. Bọn họ không bắt cá to, chỉ bắt cá con, bởi vì khi đó những con cá mới nở là cá sữa, một con có thể bán được tới bảy hào. Lư Thắng Ngạn thích quan sát những biểu hiện cảm xúc không ngừng thay đổi của những người đánh cá.

Cậu không chỉ thích bơi mà còn thích ngắm nhìn chăm chú, giống như lúc nhỏ cậu thích dán chặt mắt vào những vì sao trên bầu trời, im lặng nhìn về phía xa.


![image](/img/img_94b4c8839e5b44548b4bf2541003833c.png)


Biển với những con sóng xô bờ, với những đợt thủy triều lên xuống, với mặt trời mọc đằng đông, với mặt trời lặn đằng tây, biển trào dâng tráng lệ, biển yên tĩnh êm đềm, đối với Lư Thắng Ngạn mà nói, giữa đủ loại phong tình, cho dù một trạng thái tĩnh lặng cũng có hơi thở.

🌟

Chúng ta không thể kìm nén được thắc mắc phải chăng vì biển nuôi dưỡng vạn vật thực sự đã khiến cho Lư Thắng Ngạn như có đôi tay mẹ ôm ấp yêu thương? Liệu có phải sự ôm ấp và mềm mại của biển đã kịp thời làm lành những vết thương suốt một thời gian dài của thằng bé tai chuột?


![image](/img/img_791448df777cfa7afe3106025a768051.png)


Hay liệu có phải bờ biển có tên gọi Tây Tử này rốt cục đã nhiễm chút linh khí và ý thơ của đại văn hào đời Tống, khiến cho Lư Thắng Ngạn khi ở nơi đây luôn luôn có được những nguồn cảm hứng sáng tác, luôn luôn chưa từng vứt bỏ chiếc chìa khóa giúp cậu kết nối cõi lòng mình cùng thế giới…

**(Hết.)**

---

---
# File: gioi-thieu/lien-hoa-dong-tu-phap-tuong-bao-dien.md
# Title: Liên Hoa Đồng Tử \"Pháp Tướng Bảo Điển\"
---

![image](/img/img_abd9966f35546c5aecdba2586ddf9b63.png)



## "Chân Phật Pháp Tướng Bảo Điển" - Liên Hoa Đồng Tử


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: 22/12/2018
Địa điểm: Đài Loan Lôi Tạng Tự
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

*"Chân Phật Tông" Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Pháp Vương vào lúc 15:00 ngày 22 tháng 12 năm 2018 (thứ bảy), tại Đài Loan Lôi Tạng Tự chủ trì "Liên Hoa Đồng Tử hộ ma đại pháp hội", ban quán đảnh "quán đảnh truyền thừa, Căn bản Thượng sư tương ứng pháp, ngũ đại thành tựu pháp, pháp nhanh chóng nhất để tương ứng vãng sinh, Chân Phật gạo cúng pháp thí quán, pháp tu xá lợi tóc của Liên Sinh Kim cương Thượng sư, pháp hoàn tịnh (vô cùng quan trọng)", truyền giảng Đạo Quả.*


### Tóm tắt pháp tướng Liên Hoa Đồng Tử


Liên Hoa Đồng Tử đầu đội mũ miện Ngũ Phật trân quý (mũ Pháp Vương), tay phải kết ấn thuyết pháp, tay trái giữ ấn cầm hoa sen, ngồi trên pháp tọa bông hoa sen lớn màu trắng, ngồi thẳng ở tư thế chân xếp hình hoa sen kim cương, nét mặt khẽ mỉm cười, pháp tướng trang nghiêm, thân tỏa ra hàng trăm ánh sáng quang minh trân quý.

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Pháp Vương khai thị những lời Phật pháp quý báu - Lai lịch thù thắng và bí mật tu pháp thành công của Liên Hoa Đồng Tử:

- Liên Hoa - hoa sen trắng, biểu tượng của sự thanh tịnh, thoát khỏi bùn nhơ và không bị dính nhiễm.

- Đồng Tử - biểu thị sự thuần khiết, biểu thị pháp thân thanh tịnh.

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn vào năm 26 tuổi đã được Diêu Trì Kim Mẫu mở thiên nhãn, đêm đó đã xuất thần thức đi du ngoạn đến cõi tịnh thổ Tây phương Cực Lạc, tận mắt nhìn thấy ánh sáng huy hoàng chói lọi của Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử, đồng thời bên tai vọng lại lời nói rằng: Ngài chính là Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử tiếp theo!

Còn nguồn gốc của Liên Hoa Đồng Tử là vị Phật của địa thứ mười ba, gốc rễ xuất phát từ Đại Nhật Như Lai, và ở cùng nơi với Đại Nhật Như Lai chính là Phật Nhãn Phật Mẫu. Hai mắt của Phật Nhãn Phật Mẫu biến hóa thành Maha Song Liên Trì (*nghĩa là hai hồ sen rộng lớn). A Di Đà Phật là chủ tôn của Tây phương Cực Lạc thế giới, Liên Hoa Đồng Tử là chủ tôn của Maha Song Liên Trì. A Di Đà Phật hóa thân thành Liên Hoa Đồng Tử, Liên Hoa Đồng Tử lại ứng hóa thành Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.

Vì thế mà Liên Hoa Đồng Tử là hóa sinh của tất cả Phật Nhãn Đại Kim Cương Cát Tường và tất cả Phật Mẫu Tâm Tôn, Phật Nhãn Phật Mẫu thì là hóa sinh của Ngũ Phương Ngũ Phật, cũng chính là Phật hóa sinh đầu tiên và trung tâm của Đại Nhật Như Lai.

Liên Hoa Đồng Tử là gọi chung cho 18 vị Liên Hoa tôn giả ở Maha Song Liên Trì. Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử là vị đứng đầu của 18 vị Liên Hoa tôn giả. Ngoài 18 vị Liên Hoa tôn giả ra thì còn có vô số vô lượng các vị Liên Hoa Đồng Tử hợp thành một nhóm thành viên gia đình.


### Truyền thừa Chân Phật Tông


Do vậy, truyền thừa Chân Phật Tông chính là:

Đại Nhật Như Lai - Phật Nhãn Phật Mẫu - A Di Đà Phật - Liên Hoa Đồng Tử - Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.

Còn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn lại có ba Bổn tôn là A Di Đà Phật, Diêu Trì Kim Mẫu, Địa Tạng Bồ Tát. Chính là thân của Địa Tạng Bồ Tát, khẩu của A Di Đà Phật, ý của Diêu Trì Kim Mẫu, là biến hóa thân của thân-khẩu-ý, đây gọi là ứng hóa tam thân hợp nhất. Vào thời nhà Đường đã có kệ của Liên Hoa Đồng Tử được lưu truyền. Do vậy Liên Hoa Đồng Tử là từ Cực Lạc thế giới mà đến, Liên Hoa Đồng Tử cũng chính là hóa thân của A Di Đà Như Lai.


### Lai lịch thù thắng và quả vị của Liên Hoa Đồng Tử


Lai lịch thù thắng và quả vị của Liên Hoa Đồng Tử là chí cao vô thượng, liệt kê ra như sau:

1⃣ Vào thời đại của Đại Uy Đức Vương, là nhờ có Bảo Ý Đồng Tử và Bảo Thượng Đồng Tử dẫn độ Đại Uy Đức Vương đến chỗ của Kim Quang Phật, nhờ có Kim Quang Phật dạy đạo cho Đại Uy Đức Vương thành đạo, hơn nữa Đại Uy Đức Vương chính là tiền thân (kiếp trước) của Phật Thích Ca Mâu Ni. Bảo Ý Đồng Tử, Bảo Thượng Đồng Tử đều là Liên Hoa Đồng Tử. Do vậy, vị thầy dẫn độ của Phật Thích Ca Mâu Ni chính là Liên Hoa Đồng Tử.

2⃣ Trong Cao Vương Kinh có nhắc đến vị Phật số một, tên đầy đủ thực ra là Tịnh Quang Liên Hoa Đồng Tử Bí Mật Phật, do vậy Tịnh Quang Bí Mật Phật cũng chính là Liên Hoa Đồng Tử.

3⃣ Truyền thừa pháp Đại Thủ Ấn là do Bản Sơ Phật truyền cho Bảo Ý Đồng Tử, mà Bảo Ý Đồng Tử cũng chính là Liên Hoa Đồng Tử.

4⃣ Truyền thừa pháp Đại Viên Mãn là do Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền cho Xưng Tùng Đức Chân (*Trisong Detsen, 742 - 797), Di Hỷ Tha Gia (*Yeshe Tsogyal, 757 - 817), mà Liên Hoa Sinh Đại Sĩ thực ra chính là Liên Hoa Hóa Sinh, cũng là Liên Hoa Đồng Tử, còn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chính là ứng hóa của Liên Hoa Đồng Tử mà đến.

5⃣ Chân Phật Kinh, một trong số điển tích trọng yếu của Chân Phật Tông, là do Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn tâm quang phát lộ, lĩnh hội tinh thần của Tì Lư Tính Hải, trực tiếp công bố với Tây phương Cực Lạc thế giới cùng 18 Liên Hoa Đồng Tử và cảnh giới Maha Song Liên Trì.

6⃣ Trong hang động số 249 của di tích hang đá Đôn Hoàng tại Trung Quốc (*tỉnh Cam Túc, trong đó nổi tiếng nhất là hang Mạc Cao, được gọi là động nghìn Phật, được Unesco xếp hạng di sản văn hóa thế giới), có Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật A Di Đà, Phật Di Lặc và chư Phật, Diêu Trì Kim Mẫu, Liên Hoa Đồng Tử, có thể thấy địa vị cao quý tương đương của Liên Hoa Đồng Tử.

Tại hang động số 314 thì đặc biệt chỉ rõ Liên Hoa Đồng Tử, ngoài ra trong một cuốn sách viết về Đôn Hoàng do đại học Lan Châu từng xuất bản đặc biệt có bài nghiên cứu về Liên Hoa Đồng Tử.

7⃣ Nhờ có sư huynh Trương Minh Thông của Pháp Minh đồng tu hội Chân Phật Tông đã biên tập cuốn sách về nguồn gốc Liên Hoa Đồng Tử, có rất nhiều văn bản tài liệu có thể chứng minh Liên Hoa Đồng Tử là thực sự có tồn tại không phải là giả, hoàn toàn không phải là dựng chuyện, là vô cùng chính chân thực!

Trong nhiều thế kỉ, giới học giả, nghệ thuật, khảo cổ và giới Phật giáo đã bắt nguồn từ Ấn Độ vùng Tây Bắc Ấn (nay là Pakistan), họ đã hiểu nguồn gốc của nghệ thuật hình ảnh Phật giáo theo phong cách Hy Lạp, và tin rằng chỉ có Phật Đà (trước khi giác ngộ) và Bồ Tát Di Lặc.

Đến năm 1990, cuốn sách mỹ thuật Ganda II được tổng hợp bởi tác giả Lật Điền Công người Nhật Bản, xuất bản bởi Nhị Huyền xã, đã hé lộ rằng không chỉ có Phật Đà Bồ Tát (trước khi thành đạo), Bồ Tát Di Lặc, mà còn có cả Liên Hoa Thủ Bồ Tát (kì thực chính là Liên Hoa Bồ Tát, cũng chính là Liên Hoa Đồng Tử).

Điều này đã gây kinh ngạc cho cả thế giới!

Còn hai vị Liên Hoa Thủ Bồ Tát, Quan Thế Âm Bồ Tát đều trở thành nguồn gốc phát triển của Bắc truyền Đại thừa Hiển giáo và Mật thừa Bồ Tát. (Xem chi tiết trong cuốn Nguồn gốc Liên Hoa Đồng Tử, mục thứ 78, trang 79).

8⃣ Vết tích tượng Phật được làm sớm nhất tại Trung Quốc là tượng Liên Hoa Đồng Tử, vào thời đó được gọi là Hạng Quang Đồng Tử, tượng này được phát hiện tại Nghi Nam tỉnh Sơn Đông trên bia mộ đá của người Hán, vào khoảng năm 150-170 cùng lúc với Đông Vương Công, Tứ Vương Mẫu. (Xem chi tiết trong cuốn Nguồn gốc Liên Hoa Đồng Tử, mục thứ 104.)

9⃣ Tây Hạ vương triều (Đại Bạch Cao quốc) có ba vị quân vương là Cảnh Tông, Nhân Tông và Mộ Đế, cũng đều là hóa thân của Liên Hoa Đồng Tử, và Đại Bạch Cao Quốc chính là Cao Vương Quan Thế Âm Quốc được kiến lập bởi Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử, vì thế được gọi tên là Đại Bạch Cao quốc.

🔟 Trong cuốn kinh điển cổ xưa nhất của Ấn Độ - cuốn Mahabharata mà Trung Quốc dịch thành "Ma ha bà la đa", trong cuốn kinh điển này có nhắc đến tên của Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử. Bởi vì quốc vương Shambala đệ nhất là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, đệ nhị là Bạch Liên Hoa Vương.


### Liên Hoa Đồng Tử Thượng Sư tương ứng pháp


"Liên Hoa Đồng Tử Thượng sư tương ứng pháp" là pháp vô cùng siêu thắng, bất khả tư nghị!

Chỉ cần tương ứng được "Liên Hoa Đồng Tử Thượng sư tương ứng pháp", lập tức sẽ tương ứng được với Liên Hoa Đồng Tử, Liên Hoa Đồng Tử tương ứng rồi thì sẽ tương ứng A Di Đà Phật. A Di Đà Phật tương ứng rồi thì sẽ tương ứng Phật Nhãn Phật Mẫu. Phật Nhãn Phật Mẫu tương ứng rồi thì sẽ tương ứng Đại Nhật Như Lai. Do vậy, Liên Hoa Đồng Tử tương ứng pháp cũng tương đương với Đại Nhật Như Lai tương ứng pháp vậy. Hơn nữa pháp của Liên Hoa Đồng Tử là bất cứ người nào cũng có thể tu, bất cứ ai cũng có thể thành tựu.


### Liên Hoa Đồng Tử hạ sinh


Liên Hoa Đồng Tử vì giúp đỡ A Di Đà Phật của Tây phương Cực Lạc thế giới hoằng pháp nên mới hạ sinh xuống nhân gian, do vậy nhân gian mới có Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.


![image](/img/img_8e86ec48f1acc92025bd562530762489.png)


Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn vừa trùng hợp lại có rất nhiều nhân duyên, được nhận truyền dạy của nhiều vị thầy, hơn nữa cũng được đích thân Phật Thích Ca Mâu Ni thọ kí, Phật A Di Đà trao gửi lòng tin, Bồ Tát Di Lặc ban cho đội Hồng Quán, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền dạy Mật pháp. Đại pháp duyên này chính là thời đại Liên Hoa Đồng Tử cứu độ chúng sinh, giáng xuống những cơn mưa đại pháp, thổi đại pháp loa, đánh đại pháp trống, thực hiện đại pháp nghĩa!

---

---
# File: gioi-thieu/lien-sinh-hoat-phat-lu-thang-ngan.md
# Title: Liên Sinh Hoạt Phật - Lư Thắng Ngạn
---

## Tiểu sử tóm lược của Liên Sinh Hoạt Phật


*Người sáng lập Chân Phật Tông*


![image](/img/img_5d831710f279743afd0fc7e9659f36aa.jpg)


*(Nguồn ảnh: Tổng hội Mật giáo Chân Phật Tông Indonesia)*

Liên Sinh Hoạt Phật tên thật là Lư Thắng Ngạn, sinh ngày 18 tháng 5 năm 1945 âm lịch tại Hậu Hồ, tỉnh Gia Nghĩa, Đài Loan, tại một trại nuôi gà bên bờ suối Ngưu Trù. Ngài tốt nghiệp trường Trắc Lượng, chính là khoa Trắc Lượng thuộc học viện Khoa học công nghệ Trung Chính (khóa 28), có bằng kĩ sư, sau đó ngài phục vụ 10 năm trong quân đội. Trong thời kì ở quân đội, ngài đã đạt được những giải thưởng Lạc Đà Vàng, Lạc Đà Bạc cho hoạt động văn học nghệ thuật quân đội quốc gia. Thời kì đầu các tác phẩm chủ yếu của ngài là tản văn, thơ ca và bình luận. Thời thanh niên, ngài là một thanh niên văn nghệ cực kì năng động.

🌟

Một ngày vào năm 1969, Liên Sinh Hoạt Phật theo mẹ đến tham bái ngôi chùa Ngọc Hoàng Cung tại thành phố Đài Trung. Tại đây, ngài đã được Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn mở thiên nhãn, thiên nhĩ, hơn nữa ngài còn tận mắt nhìn thấy ba vị Bồ Tát hiện thân khai thị cho ngài rằng, ngài cần: nhất tâm học Phật, nhất tâm học Pháp, nhất tâm hướng thiện. Trong hư không còn xuất hiện hai chữ "trung nghĩa", nhắc nhở ngài cần hoằng pháp để làm lợi ích cho chúng sinh, quảng độ chúng sinh hữu tình. Đêm đó, thần thức của Liên Sinh Hoạt Phật đã được Phật Bồ Tát đưa đến Tây phương Cực Lạc thế giới. Ngài tận mắt nhìn thấy tiền thân của chính mình (pháp thân) chính là Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử - Bạch Y Thánh Tôn của mười tám đại Liên Hoa Đồng Tử tại Ma Ha Song Liên Trì ở Tây phương Cực Lạc. Vì độ chúng sinh mà ngài trở về Ma Ha Song Liên Trì, hơn thế nữa còn lên con thuyền từ bi hạ sinh tại nhân gian.


![Ngọc Hoàng Cung tại thành phố Đài Trung, Đài  Loan. (Ảnh: Internet)](/img/img_f3a26ce39f390b84530dfbb578aeb285.jpg)


Kể từ hôm đó, mỗi buổi tối, Liên Sinh Hoạt Phật đều cùng tu luyện Mật pháp với vị linh sư vô hình là Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh (cách gọi tôn kính của Liên Sinh Hoạt Phật đối với pháp thân của Phật Bồ Tát), cứ như vậy mà trải qua ba năm. Dưới sự chỉ dẫn của Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, vào năm 1972, ngài đã đến vùng núi ở huyện Nam Đầu bái Liễu Minh Hòa Thượng - truyền nhân đời thứ 14 của phái Thanh Thành Đạo giáo làm thầy, học tập Đạo pháp, đan đỉnh phù lục, cửu tinh địa lý đại pháp, Trung mật và Tạng mật hồng giáo đại pháp, ngũ minh, v.v… Ngài đã trở thành truyền nhân đời thứ 15 của Đạo giáo Thanh Thành phái, đạo hiệu là Huyền Hạc Đạo Trưởng.

🌟

Do nhân duyên đã nói ở trên, vào năm 1972, Liên Sinh Hoạt Phật đã hoàn thành hoàn chỉnh việc tu trì Mật pháp. Đối với các khẩu quyết tâm yếu để chứng ngộ thành Phật, cũng như những đại pháp bí mật "nghìn năm bất truyền" của các giáo phái chủ yếu được trao truyền một cách bí mật thì ngài đều thông hiểu rõ, thành tựu Bí Mật Chủ (chi tiết xin đọc cuốn văn tập số 129 của Liên Sinh Hoạt Phật "Bước vào thế giới âm dương bí mật", trang 23), thành tựu quả vị Đại Phúc Kim Cang (chi tiết xin đọc cuốn văn tập số 157 của Liên Sinh Hoạt Phật "Thêm một chuyến ngao du", trang 116) (Quả vị tương đương với Thập Địa Bồ Tát.)

🌟

Bắt đầu từ năm 1970, Liên Sinh Hoạt Phật trước sau đã quy y Ấn Thuận Đạo Sư, pháp sư Lạc Quả, pháp sư Đạo An của Hiển giáo. Năm 1972 thì ngài thọ Bồ Tát Giới tại chùa Bích Sơn Nham ở Nam Đầu, giới sư là pháp sư Hiền Đốn, pháp sư Huệ Tam, pháp sư Giác Quang, sư phụ dạy bài khóa và nghi thức là pháp sư Thượng Lâm và pháp sư Thiện Tứ.

🌟

Vào năm 1972, ở chỗ của Liễu Minh Hòa Thượng, Liên Sinh Hoạt Phật đã nhận quán đảnh học Mật pháp. Từ năm 1981 trở đi, vì nhân duyên này mà ngài tiếp tục xin quán đảnh truyền thừa của các vị Thượng sư ở nhân gian. Họ là:

- Trong phái Nyingma (Hồng giáo), Trung mật, Liên Sinh Hoạt Phật sớm đã có được tâm ấn và quán đảnh truyền thừa của Liễu Minh Hòa Thượng, được nhận tín vật truyền thừa gồm có: chuông kim cương nhỏ mà Norlha Rinpoche sử dụng, bảo vật Chiếc hộp Văn Thù, sách Pháp của cung điện Polata ở Tây Tạng, v.v…

- Trong phái Sakya (Hoa giáo), Liên Sinh Hoạt Phật có được quán đảnh Đại Nguyên Thắng Huệ, quán đảnh Acharya của Sakya Chứng Không Thượng Sư, được nhận tín vật truyền thừa gồm có: bức tượng Thánh của Phật Thích Ca Mâu Ni mà Sakya Chứng Không Thượng sư đem theo bên mình rất lâu, ngọc ấn của Tuyết Sơn Sư Tử, hoa sen, hũ ngọc, chìa khóa kim cang, v.v.
• Trong phái Kagyu (Bạch giáo), Liên Sinh Hoạt Phật đã nhận được quán đảnh Ngũ Phật từ Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ mười sáu, được nhận tín vật truyền thừa gồm có: chuỗi tràng hạt bằng thủy tinh trắng mà Pháp Vương thường cầm trong tay, bảo bình của tu viện Rumtek ở Sikkim, v.v…

- Trong phái Gelugpa (Hoàng giáo), Liên Sinh Hoạt Phật đã được nhận quán đảnh Vô Thượng Mật Bộ của Thubten Dhargye Rinpoche, được nhận tín vật truyền thừa gồm: bức tượng đất sét Kim Cang Thủ Bồ Tát, tượng đất sét Kim Cang Hợi Mẫu, tượng vàng Thời Luân Kim Cang của Cam Châu Hoạt Phật, pháp luân bằng kim cương, chuông chày kim cang bằng vàng, chày kim cang một cổ ba mặt, quần áo của Sư Tử Pháp Vương, chuỗi gồm 108 chày kim cang bằng vàng của Thubten Dhargye Rinpoche, v.v…

🌟

Ngày 16 tháng 6 năm 1982, toàn bộ gia đình Liên Sinh Hoạt Phật đã di cư đến Seattle nước Mỹ. Ngài ở tại Linh Tiên Các khổ tu tất cả các pháp bí mật. Thời gian này, ngài được Phật Thích Ca Mâu Ni sờ đầu thọ kí, đỉnh đầu hóa bàn tay Phật. (Điều này là xác nhận ngài đã đạt quả vị Thập Địa Bồ Tát.)

Ngày 27 tháng 8 năm 1982 (ngày 10 tháng 7 âm lịch), pháp thân của tổ sư Mật giáo - Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, đã xuất hiện trong thiền định của Liên Sinh Hoạt Phật, và trong suốt một năm ngài đã truyền thụ pháp Đại Viên Mãn đệ nhất (tổng cộng gồm 18 bộ), hơn nữa còn ban cho quán đảnh Đại Trì Minh Kim Cang Acharya, ban cho danh hiệu là Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn Giả. Sau đó Liên Sinh Hoạt Phật lại nhận được quán đảnh và gia trì của Tam Tôn Phật ở ngọn tuyết sơn Rainier.

Liên Sinh Hoạt Phật ở tại căn nhà của mình mà ngài gọi tên là Linh Tiên Các, ở quận Ballard, Seattle, đã đóng cửa ẩn tu ba năm. Trong thời gian này ngài đã nghiên cứu và học tập:

- Đại Huyễn Hóa Võng Mật Tục

- Mật Tích Kim Cang Mật

- Thượng Lạc Kim Cang Mật Tục

- Diễm Mạn Đức Già Mật Tục

- Thời Luân Kim Cang tối bí mật

- Tát Đan Già Du ca tương ứng hỏa diễm pháp

- Kim Cương Man Đỉnh tối bí mật pháp

- Pháp song thân Tịch Tĩnh Bổn Tôn và Phẫn Nộ Bổn Tôn

- Vô thượng mật tục của Đại Viên Mãn địa thủy hỏa phong không

- 6 pháp của Naropa: chuyết hỏa, huyễn thân, giấc mộng, quang minh, thiên thức, trung ấm

Liên Sinh Hoạt Phật đã hoàn thành nghiên cứu và học tập toàn bộ những khẩu quyết trọng yếu của bốn thứ tự pháp tu: tác mật, tu mật, du già mật, vô thượng du già mật. Ngài đã du nhập đến Bì Lư Tính Hải, thực sự thành tựu tám ngoại pháp và tám nội pháp.

Xưng hiệu mà Liên Sinh Hoạt Phật được chư Phật chứng nhận là: Tây Phương Liên Trì Hải Hội, Ma Ha Song Liên Trì, Thập Bát Đại Liên Hoa Đồng Tử, Bạch Y Thánh Tôn, Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư, Chủ Kim Cương Chân Ngôn Giới Bí Mật Chủ, Đại Trì Minh Đệ Nhất Thế Linh Tiên Chân Phật Tông, Lư Thắng Ngạn Mật Hành Tôn Giả.

🌟

Trong ba năm Liên Sinh Hoạt Phật đóng cửa ẩn tu, vô số các vị tổ sư Tạng Mật trong lúc Hoạt Phật thiền định đã hiển hiện pháp thân để chỉ dạy những "chí thâm tinh nghĩa" và "thậm thâm nội nghĩa". Trong quá trình học pháp, Liên Sinh Hoạt Phật đã được chư Phật Bồ Tát hiện pháp thân để ban gia trì:

- Phật Thích Ca Mâu Ni chạm đỉnh đầu thọ kí.

- A Di Đà Phật đích thân ủy thác.

- Bồ Tát Di Lặc ban cho mũ miện đỏ.

- Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đích thân truyền Mật pháp.

Liên Sinh Hoạt Phật bởi vì có nhân duyên đại sự mà đã đến nhân gian, khởi đầu với thân phàm phu, từng bước từng bước tu hành theo thứ tự, thực tu thực chứng, tu trì cho đến khi chứng ngộ "tức thân thành Phật". Thậm chí ngài còn từ bi phát nguyện cứu thế: "Phân thân xả cốt độ chúng sinh, đời đời kiếp kiếp tại nhân gian. Địa ngục chưa sạch, thề không thành Phật.", và thề nguyện "không bỏ rơi bất kì chúng sinh nào".

🌟

Ngày 28 tháng 6 năm 1983 (ngày 18 tháng 5 âm lịch), vừa hay trùng với sinh nhật của Liên Sinh Hoạt Phật, Liên Sinh Hoạt Phật đã chứng đắc thành tựu thân "cầu vồng bất tử". Lúc này có hàng triệu Không Hành Mẫu hoan hô tán thán! Thành tựu "cầu vồng bất tử" tức là Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác (hoặc còn được gọi là Tức thân thành Phật.)

Ngày 6 tháng 5 năm 1992, Liên Sinh Hoạt Phật đã được Phật Thích Ca Mâu Ni đặc biệt thọ kí là Hoa Quang Tự Tại Phật.

🌟

Năm 1975, tại Đài Loan, Liên Sinh Hoạt Phật đã thành lập Linh Tiên Tông, năm 1983 tại Seattle nước Mỹ, ngài chính thức thành lập Chân Phật Tông, ngoài ra vào năm 1985 thành lập Chùa Tổ của Chân Phật Tông là Seattle Lôi Tạng Tự, phục vụ cho việc hoằng dương Chân Phật Mật Pháp.


![Seattle Lôi Tạng Tự - Chùa Tổ Chân Phật Tông tại thành phố Seattle bang Washington, Hoa Kì. (Ảnh: Internet)](/img/img_a32a4499dbdea82bdd04a8064f3f6632.jpg)


Ngày 19 tháng 3 năm 1986 (tức mồng 10 tháng 2 âm lịch), tại Chân Phật Mật Uyển ở Redmond nước Mỹ, Liên Sinh Hoạt Phật chính thức được pháp sư Thích Quả Hiền xuống tóc, trở thành người xuất gia để quảng độ chúng sinh.

🌟

Hơn 50 năm qua, Liên Sinh Hoạt Phật đã dành toàn bộ thời gian vào ba việc lớn sau:

**I) Tinh tấn sáng tác**

Có thể nói Liên Sinh Hoạt Phật là nhân vật số một trong việc viết văn độ chúng sinh. Những giáo lý của "tức thân thành Phật" và cảnh giới "minh tâm kiến tính" trong truyền thống Mật giáo đều là những vấn đề rất trừu tượng, sâu sắc khó hiểu. Liên Sinh Hoạt Phật đã dùng trí huệ vô thượng của con người siêu việt để diễn đạt và giải thích những lý thuyết Phật giáo và Phật pháp thâm sâu ảo diệu. Mỗi ngày ngài đều viết văn không hề gián đoạn. Tính đến tháng 2 năm 2023, ngài đã hoàn thành 292 cuốn văn tập có nội dung Phật học, hơn nữa ngài vẫn đang tiếp tục sáng tác. Không chỉ có vậy, các tác phẩm của ngài còn được dịch ra các ngôn ngữ khác nhau như tiếng Anh, Nhật, Bồ Đào Nha, tiếng Việt, tiếng Pháp, tiếng Hàn Quốc, tiếng Indonesia và tiếng Thái, sách được xuất bản và quảng bá rộng khắp trên toàn thế giới. Ngoài ra thư viện Quốc hội Mỹ đã lưu giữ toàn bộ các tác phẩm của ngài.

**II) Tinh tấn tu pháp**

Mỗi ngày Liên Sinh Hoạt Phật đều thiền định, mỗi ngày đều tu Chân Phật Mật Pháp, đặc biệt là tu Mật pháp, tụng kinh niệm chú, say mê đọc sách, nghiên cứu toàn bộ Kinh, Luật, Luận của Đại Tạng Kinh. Sự thiền định tinh tấn và thậm thâm của Liên Sinh Hoạt Phật chứa đầy sức mạnh thần thông, minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử. Hơn nữa, mỗi ngày ngài tu pháp để độ chúng sinh, hóa giải tai nạn, cứu thế cứu người.

**III) Tinh tấn thuyết pháp**

Bắt đầu từ năm 1990 đến nay, Hoạt Phật mỗi ngày đều không dừng thuyết pháp. Ngài lấy những kinh nghiệm chứng ngộ của bản thân để làm lợi lạc cho chúng sinh hữu tình. Hiện nay, pháp ngữ khai thị của Hoạt Phật đã được tổng kết lại thành sách như sau:

Pháp ngữ khai thị

- Hồng Quang Đại Thành Tựu (7 tập)

- Lời lời thăng hoa (5 tập)

- Bộ Hồng Quang Đại Thành Tựu mới (5 tập)

- Nói chuyện ngang dọc về Phật pháp (4 tập)

- Tâm sự cùng bạn (10 tập)

- Theo đuổi những thứ trên mặt đất, sẽ đánh mất những thứ trên thiên đường (1 tập)

- Bài ca của Hoạt Phật (10 tập)

- Đại Viên Mãn cửu thứ đệ (nhiều tập)

Hạng mục giảng dạy Phật pháp

- Phật học tổng thuyết (1 tập)

- Mật giáo đại quang hoa - Giảng giải chi tiết nghi quỹ Mật pháp hoàn chỉnh (1 tập)
Giải thích kinh Phật

- Giải thích Chân Phật Kinh (1 tập)

- Cửu phẩm Liên Hoa Sinh - Phật giảng kinh A Di Đà và Di Đà pháp yếu (1 tập)

- Tịnh quang của vô thượng cứu cánh / Đại trí huệ đến paramita (Giải thích Tâm Kinh - 1 tập)

- Thấu kính thanh tịnh (Giải thích kinh Viên Giác - 4 tập)

- Địa Tạng Bồ Tát bản nguyện kinh (4 tập)

- Thanh kiếm trí huệ của Mật giáo (Giải thích Mật tông đạo thứ đệ quảng luận - 13 tập)

- Đại tâm ấn - Liên Sinh Hoạt Phật giảng Lục Tổ thiền kinh (5 tập)

- Giảng nghĩa Hỷ Kim Cang / pháp Đại viên mãn/ Đạo quả

Liên Sinh Hoạt Phật văn tập

- Đến tháng 2 năm 2023, tổng cộng có 292 cuốn văn tập (vẫn tiếp tục được viết thêm).
Ngoài những pháp ngữ khai thị được nói đến ở trên ra còn có rất nhiều băng hình video ghi lại những khai thị tại các pháp hội, được lưu truyền qua các phương tiện truyền thông để độ chúng sinh.

Bắt đầu từ năm 1989, Hoạt Phật thường đáp ứng những lời mời của đệ tử ở khắp các quốc gia trên thế giới, ngài vân du khắp nơi để hoằng pháp, in dấu chân trên khắp năm châu lục, cử hành vô số hoạt động hoằng pháp quy mô rất lớn, từng chủ trì một pháp hội có tới bảy vạn người tham dự, cảnh tượng vạn người quy y thực sự khiến người ta cảm động.

🌟

Bởi Liên Sinh Hoạt Phật là một bậc giác ngộ chân chính, ngài đã kêu gọi được vô số người đến xin quy y, đến nay toàn cầu đã có hơn 5 triệu đệ tử [5 triệu là con số ước lệ dùng trong Phật giáo, chỉ ý nghĩa rất rất nhiều, trên thực tế số lượng đệ tử quy y Liên Sinh Hoạt Phật nhiều hơn con số này rất nhiều], trong số đó không ít là các vị Lama Hoạt Phật của Mật tông Tây Tạng và các pháp sư Hiển giáo.

Các vị Hoạt Phật Tây Tạng đến quy y gồm có: Đạt Thừa Hoạt Phật, Kháp Khắc Thoát Khắc Hoạt Phật, Tát Già Cát Mã Hoạt Phật, Bổn Lạp Hoạt Phật, Hạ Khắc Đức Cách Hoạt Phật, Già Nhiếp Hoạt Phật, Thổ Đăng Gia Thố Hoạt Phật v.v…
Các đại pháp sư Hiển giáo đến quy y gồm có: pháp sư Thích Đại Hùng ở Singapore, pháp sư Thích Tuệ Tung ở chùa Phật Quang Sơn, pháp sư Thích Hội Đạt ở chùa Nguyên Hanh Đài Loan, pháp sư Thích Tiệp Viên ở chùa Ấn Tâm, Thích Tục Bách tức Đức Hải Đại Hòa Thượng ở Việt Nam, v.v…

- Năm 1988, Pháp chủ hội Phật giáo Đài Loan Trung Quốc Ngộ Minh Trường đã đích thân đến thăm Liên Sinh Hoạt Phật, ca ngợi Chân Phật Mật Pháp là Phật pháp chân thực, là chính pháp.

- Năm 1989, trưởng lão Kalu Rinpoche - bậc thực tu đạt thành tựu tối cao phái Bạch Giáo của Phật Giáo Tây Tạng, đã tán thán và ca ngợi Liên Sinh Hoạt Phật là thành tựu giả thực tu Mật pháp cao nhất trong số những người dùng tiếng Hán để hoằng pháp độ chúng sinh trên thế giới.

- Năm 1991, Ông Kháp Khắc Hoạt Phật của phái Gelugpa với hơn 1300 vị Hoạt Phật và Lama đã đích thân tặng "Pháp Vương bảo tọa" tôn quý nhất cho Liên Sinh Hoạt Phật. Cùng năm này, các vị trưởng lão của bốn đại giáo phái Tạng mật, Yoeser Rinpoche của phái Mũ Đỏ, Sang Sang Rinpoche của phái Mũ Vàng, Chiêm Dương Rinpoche của phái Sakya, đã đích thân đến hộ trì Liên Sinh Hoạt Phật tổ chức đại pháp hội Hộ Ma tại Hồng Kông.

- Năm 1995, tại nhà khách chính phủ Điếu Ngư Thai tại Bắc Kinh Trung Quốc, Liên Sinh Hoạt Phật đã gặp gỡ với sư phụ của Lama Panchen đời thứ mười là Hạ Lỗ Hoạt Phật. Hạ Lỗ Hoạt Phật nói: "Liên Sinh Hoạt Phật đã nội chứng Mật giáo tam muội, trên thân có quang khí cực mạnh, là một vị Hoạt Phật chân chính."

- Năm 1996, người đại diện đời thứ 100 của tổ sư dòng Mũ Vàng - đại sư Tsongkhapa, trụ trì của tu viện Ganden - một trong ba ngôi đại tự của dòng Mũ Vàng Tây Tạng, Pháp Vương Ganden Tripa, vị Pháp Vương tối cao của phái Mũ Vàng toàn thế giới, đã đặc biệt từ miền nam Ấn Độ đến Seattle thăm chính thức Liên Sinh Hoạt Phật, ngoài ra còn đem theo nhiều tặng phẩm đích thân tặng cho Liên Sinh Hoạt Phật, gồm: một bộ long bào Pháp Vương, một chiếc chuông kim cang của Pháp Vương, một chiếc chày kim cang của Pháp Vương, một chiếc trống của Pháp Vương, ba pháp bảo của tổ sư, một số thuốc trân quý nhất của Mật giáo.

-  Pháp Vương Ganden Tripa nói với Liên Sinh Hoạt Phật rằng: "Món quà long bào Pháp Vương chỉ mặc trong những pháp hội lớn nhất, long bào Pháp Vương này có pháp lực vô cùng, từng đường kim mũi chỉ đều được trì chú mà đan thành áo. Liên Sinh Hoạt Phật mặc long bào Pháp Vương này thì chính là Đại Pháp Vương."

- "Chày, chuông, trống đều là những pháp khí được Pháp Vương sử dụng nhiều năm rồi, tượng trưng cho dòng chảy pháp tối cao của dòng Mũ vàng Tạng mật này chảy trong người Liên Sinh Hoạt Phật." Việc Pháp Vương Ganden Tripa ban tặng Long bào Pháp Vương này là một ấn chứng trân quý vô thượng. Liên Sinh Hoạt Phật không chỉ có ấn chứng của Phật Bồ Tát mà còn có ấn chứng của Pháp Vương ở nhân gian.

- Ngày 16 tháng 11 năm 1996, Liên Sinh Hoạt Phật đã lên đường đi Ấn Độ thăm các chùa chiền của Phật giáo Tây Tạng. Ở tại tu viện Drepung, một trong ba ngôi đại tự của Tạng mật, ngài đã ngồi trên pháp tọa thuyết pháp cho hơn hai nghìn tăng chúng. Tại ngôi chùa Karma Lekshey Ling, ngài đã được tiếp nhận nghi thức "Tọa sàng đại điển" của dòng Mũ Trắng được Kachen Rinpoche cử hành long trọng.

🌟

Tháng 7 năm 1996, Liên Sinh Hoạt Phật đã có được khởi thị của Thập phương Như Lai, ngài đặt bút viết cuốn văn tập số 120 "Cảnh giới mới của Phật Vương". Trong cuốn sách này, Hoạt Phật đã hé lộ những cơ mật lớn nhất của Thập phương Như Lai, hé lộ thân phận thực sự của Liên Hoa Đồng Tử chính là A Di Đà Phật.

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Kim Cương Thượng Sư chính là một trong những ứng hóa thân của Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật, trong kiếp này đã hóa danh là Liên Hoa Đồng Tử hạ giáng cõi Ta Bà, đem Chân Phật Mật Pháp để quảng độ chúng sinh.
Do vậy, truyền thừa chân chính của Liên Sinh Hoạt Phật là:
Đại Nhật Như Lai - Phật Nhãn Phật Mẫu - A Di Đà Phật - Liên Hoa Đồng Tử - Liên Sinh Hoạt Phật.

Liên Hoa Đồng Tử hạ sinh thế giới Ta Bà thuyết pháp độ chúng sinh, mười tám đại Liên Hoa Đồng Tử và các trung, tiểu Liên Hoa Đồng Tử ở tại Ma Ha Song Liên Trì đều hạ sinh tại nhân gian để hộ trì Phật pháp.

Lai lịch truyền thừa của Liên Hoa Đồng Tử là: Đại Nhật Như Lai là vị Phật ở địa thứ 13, ngài là vị Phật chính nhất của Thai Tạng Giới và Kim Cương Giới. Dưới Đại Nhật Như Lai có một phi tử quan trọng nhất là Phật Nhãn Phật Mẫu. Hai con mắt của Phật Nhãn Phật Mẫu chính là Ma Ha Song Liên Trì, cũng chính là Tây phương Cực Lạc thế giới của A Di Đà Phật. Trong Song Liên Trì có mười tám đại Liên Hoa Đồng Tử, Liên Hoa Đồng Tử hạ sinh ở nhân gian chính là Lư Sư Tôn, chính là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Do vậy, truyền thừa Chân Phật Tông của chúng ta chính là: Đại Nhật Như Lai - Phật Nhãn Phật Mẫu - A Di Đà Phật - Liên Hoa Đồng Tử - Liên Sinh Hoạt Phật.

🌟

**Toàn bộ quá trình tu hành của Liên Sinh Hoạt Phật như sau:**

Đầu tiên ngài trải qua Cơ Đốc giáo, Đạo giáo, Phật môn Hiển giáo, cuối cùng là tu trì Mật pháp mà đạt thành tựu. Do vậy, trong toàn bộ hệ thống của Chân Phật Tông vẫn còn gìn giữ và dung hợp rất nhiều pháp thuật Đạo giáo, phù lục, linh cơ thần toán, địa lý phong thủy, các pháp môn nhập thế, nhằm giúp chúng sinh giải quyết khó khăn hoạn nạn, loại bỏ ưu phiền, đạt được mục đích quảng độ chúng sinh là: Tiên dĩ dục câu khiên, hậu linh nhập Phật trí. [Trước tiên thông qua những dục vọng để lôi kéo, sau đó dẫn nhập vào trí huệ Phật.]

Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn thành lập Chân Phật Tông, đem đến cho con người thế gian một pháp môn tu trì thực tu thực chứng. Liên Sinh Hoạt Phật đã có lời hứa như sau với đệ tử của mình:
"Chỉ cần bạn không quên Căn bản truyền thừa thượng sư, mỗi ngày đều tu, lúc lâm chung, Liên Hoa Đồng Tử nhất định sẽ hiện thân tiếp dẫn bạn vãng sinh Ma Ha Song Liên Trì tịnh độ."

Một đời hoằng pháp độ chúng sinh của Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, ngài luôn nghiêm khắc tuân thủ lời giáo huấn của Liễu Minh Hòa Thượng (Thanh Chân Đạo Trưởng): "Không được quy định giá tiền, tất cả đều phải tùy duyên". Cả một đời Hoạt Phật đã phụng hành như vậy, điều này đã trở thành nhân cách vĩ đại của ngài.

🌟

Tính đến năm 2019, Chân Phật Tông đã có hơn 5 triệu đệ tử quy y trên toàn thế giới, tổng cộng có hơn 400 phân đường và trung tâm hoằng pháp phân bố trên khắp thế giới, đã xây dựng được 62 tòa Lôi Tạng Tự, tất cả đều do các đệ tử tự nguyện đứng ra tiến hành và tổ chức.

*(Nguồn video: Tổng hội Mật giáo Chân Phật Tông Malaysia)*

Liên Sinh Hoạt Phật dùng nhãn quang và tư thái của một hành giả đã khai ngộ để ứng xử trước sự phát triển nhanh chóng của tông phái: Tất cả mọi nỗ lực tích cực đều không được vì ý đồ riêng, sự sống còn hay kết thúc của các tổ chức hoằng pháp tất cả đều phải tùy duyên. Trong hơn mười năm qua, Chân Phật Tông đã thành lập rất nhiều tổ chức hoằng pháp tương đối lớn ở khắp nơi trên thế giới:

- Tổng hội Mật giáo Chân Phật Tông Trung Quốc.

- Tổng hội Mật giáo Chân Phật Tông Malaysia.

- Tổng hội Mật giáo Chân Phật Tông Indonesia.

- Hội công đức Hoa Quang thế giới.

- Hiệp hội Phật giáo Nội Minh Quốc Tế.

- Chân Phật Báo.

- Tạp chí Nhiên Đăng.

- Mạng thông tin Chân Phật.

- Truyền hình hoằng pháp.

- Đại học Chân Phật trực tuyến.

- Chân Phật Bát Nhã Tạng - kho tàng lưu trữ các văn tập Lư Thắng Ngạn.

Tháng 11 năm 1997, Liên Sinh Hoạt Phật đã đích thân thành lập "Tông vụ ủy viên hội Chân Phật Tông thế giới" (gọi tắt là Tông Ủy Hội), các sự vụ hành chính của tông phái đều giao cho Tông Ủy Hội phụ trách xử lý. Với tấm lòng bi mẫn ôm trọn cả trời người, Liên Sinh Hoạt Phật đã quan tâm đến sự an dưỡng cho những người già, tích cực đẩy mạnh ba sự nghiệp:

- Viện dưỡng lão.

- Chăm sóc xoa dịu nỗi đau lúc lâm chung.

- Chân Phật mộ viện.

Liên Sinh Hoạt Phật khích lệ đệ tử giúp đỡ những nhóm người dễ bị thương tổn trong xã hội, đẩy mạnh ba sự nghiệp lớn, quan tâm chăm sóc người già, giúp cho họ vào lúc sinh mệnh sắp hết có thể được an tịnh bình yên mà bước vào thời điểm lớn lúc lìa xa cõi đời.

---
# File: gioi-thieu/long-bao-phap-vuong-cua-lien-sinh-hoat-phat-bay-vao-vu-tru.md
# Title: Long bào Pháp Vương của Liên Sinh Hoạt Phật bay vào vũ trụ
---

![image](/img/img_559f9b89ffcd093fe9b10e2a85191727.jpg)



## Long bào Pháp Vương của Liên Sinh Hoạt Phật bay vào vũ trụ


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

4:53 chiều ngày 24/02/2011 theo giờ địa phương (Houston, Mỹ), tàu con thoi Discovery mang số hiệu nhiệm vụ STS-133 của NASA đã được phóng vào không gian từ trung tâm vũ trụ Johnson (JSC). Long bào Pháp Vương của Liên Sinh Hoạt Phật cũng có mặt trong chuyến bay này. 

Ngoài long bào Pháp Vương, chiếc áo phông đồng phục của quỹ từ thiện Lư Thắng Ngạn cũng được đem theo trên chuyến bay. 

Sau khi hoàn thành 202 vòng bay quanh trái đất, kéo dài 12 ngày 19 giờ 1 phút với quãng đường bay là 5,3 triệu 4140 dặm, vào lúc 11:57 sáng ngày 09/03/2011 (giờ địa phương), tàu con thoi này đã hạ cánh xuống trái đất. 

Ngày 02/07/2011, tại Đài Loan Lôi Tạng Tự, Sư Mẫu Liên Hương Thượng sư đã vui mừng chia sẻ với đồng môn về sự kiện vô cùng đặc biệt mà trong giới Phật giáo chỉ có Chân Phật Tông mới có này. 

Sau chuyến bay, cơ quan vũ trụ Hoa Kỳ đã trao tặng hai giấy chứng nhận, xác nhận rằng chiếc long bào và chiếc áo phông thực sự đã được tàu con thoi Discovery đưa vào không gian.


![image](/img/img_1070a495c407d764af335b426df822bc.jpg)


Nguồn gốc của sự kiện đặc biệt này là như thế nào?

Tại Houston có Mật Nghi Lôi Tạng Tự, tổng giám đốc là sư huynh Tăng Kiến Thịnh phục vụ tại NASA, có mối giao tình tốt đẹp với các phi hành gia. Các phi hành gia nói rằng trong nhiệm vụ bay cuối cùng của họ, họ có thể mang theo một món quà từ người nhà lên vũ trụ, và Tăng sư huynh đã đề xuất đem theo long bào của Sư Tôn. NASA khi ấy nói rằng họ cần xem xét vì đó là lần đầu tiên họ biết đến Liên Sinh Hoạt Phật.

Sau khi tìm hiểu thông tin, NASA đưa ra kết luận rằng vật phẩm của Liên Sinh Hoạt Phật có đủ tư cách để bay lên vũ trụ, bởi vì ngài có cống hiến rất lớn đối với xã hội. 

Mọi người đều biết rằng bình thường Sư Tôn có thể thần du, xuyên vào các cõi giới quỷ thần, du hành thánh địa của Phật Bồ Tát, nhưng lần này là long bào hữu hình bay vòng quanh trái đất 202 vòng, tương đương với đem pháp vị của Chân Phật Mật Pháp rải khắp mười phương pháp giới, tràn ngập toàn bộ hư không, cho nên đâu đâu cũng có pháp vị. 

Bài nói chuyện chia sẻ của Sư Mẫu đã được đăng chi tiết trên Tạp chí Nhiên Đăng.

---
# File: gioi-thieu/phap-hoa-duong.md
# Title: Pháp Hoa Đường
---

![image](/img/img_0fcb185d87e657a7cac13ba33d36f806.jpg)



# **Pháp Hoa Đường**


🏡 Địa chỉ: Số 43 ngõ 218 đường Nhật Tân khu Đông thành phố Gia Nghĩa, Đài Loan.

☎️ Điện thoại: +886966520610

📧 Email: hellofahua@gmail.com

Tên gọi Pháp Hoa Đường do Căn bản Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật vào ngày 13.08.2014, đúng dịp Diêu Trì Kim Mẫu Thánh đản thiên thu, tại Chân Phật Mật Uyển đã đích thân ban cho bút tích trân quý và căn dặn ba người là Giáo sư ưu tú Vương Tiến Hiền, phu nhân sư tỉ Lâm Thế Trân và cậu con trai nhỏ - sư huynh Vương Lượng Quân (hiện là Thượng sư Liên Anh), rằng trong tương lai phải tích cực phát huy pháp vụ của Phật đường tại Gia Nghĩa - nơi Sư Tôn sinh ra, để hoằng dương Chân Phật Mật Pháp.

Đồng thời, trong buổi đồng tu Liên Hoa Đồng Tử tại Seattle Lôi Tạng Tự vào ngày 16.08.2014, Sư Tôn đã tuyên bố lai lịch của ba người: Giáo sư Vương là Liên Hoa Đồng Tử chuyển thế, sư tỉ Lâm là Đế Thích Thiên Công Chúa chuyển thế, Thượng Sư Liên Anh là Bất Động Minh Vương chuyển thế, cùng lúc thông báo rằng họ sẽ thành lập Pháp Hoa Đường tại Gia Nghĩa Đài Loan. Sư Tôn còn dự đoán rằng tương lai, Chư La (tên cổ của Gia Nghĩa) sẽ là “chim sắt bay trên trời, Mật pháp đại hưng”!

Sau khi ba người trở về Đài Loan đã lập tức tìm những đồng môn hữu duyên để bắt đầu đồng tu, và vào tháng 6.2016 họ đã xin phép chính quyền thành phố Gia Nghĩa thành lập Pháp Hoa Học Hội Chân Phật Tông Thành Phố Gia Nghĩa, do giáo sư Vương giữ chức chủ tịch chịu trách nhiệm chính. Họ đã phát tâm mua ngôi nhà số 1 và 2 tầng 2 tòa nhà số 1 đường Tân Vinh thành phố Gia Nghĩa, từ đó pháp vụ và hội vụ đã bước trên con đường phát triển đúng đắn, quảng độ hữu tình.

Tại pháp hội Đại Lực Kim Cang ngày 27.08.2016, Liên Hoa Lượng Quân đã được Căn bản Thượng sư cạo đầu xuất gia, ban pháp hiệu là Liên Anh, khi ấy ngài 22 tuổi. Thượng sư Liên Anh khi ấy vẫn đang là sinh viên năm thứ 3 khoa Trung Văn trường Đại học Đông Hải, sự phát tâm như thế đủ cho thấy đại nguyện và quyết tâm tu hành và hoằng pháp của ngài. 

Sau khi pháp sư xuất gia đã tích cực thúc đẩy pháp vụ, bản thân tinh tấn tu hành, thích làm việc thiện và dẫn dắt đại chúng thực hành tinh thần kính sư, trọng pháp, thực tu.

Tháng 02.2018, Tông Ủy Hội đã tuyên bố pháp sư Liên Anh là thị giả theo sát bên cạnh Căn bản Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật. 

6 năm kể từ sau khi xuất gia, pháp sư Liên Anh trên cương vị của mình luôn tận tụy thận trọng hướng dẫn cho rất nhiều chúng sinh quy y Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tu trì Chân Phật Mật Pháp, có thành tích xuất sắc trong công tác tuyên truyền, quảng bá, trả lời thư tín, thiết kế tượng Phật và thuyết pháp. Vì thế, vào ngày 21.01.2023, tại mật đàn trên tầng 6 của Đài Loan Lôi Tạng Tự, Căn bản Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật đã ban cho pháp sư Liên Anh quán đảnh Acharya, trở thành Thượng sư của Chân Phật Tông, đảm đương trách nhiệm hoằng pháp sâu rộng hơn nữa.

Dưới sự dẫn dắt của Thượng sư Liên Anh, Pháp Hoa Đường ngoài duy trì đồng tu và khai thị mỗi tuần hai lần thì còn mời các chuyên gia từ mọi tầng lớp xã hội đến chia sẻ các bài giảng về sức khỏe y học, vận động dưỡng sinh, khoa học đời sống, văn học lịch sử, v.v… 

Ngoài phương diện pháp vụ, Pháp Hoa Đường còn dốc sức đẩy mạnh hoạt động từ thiện, trong những năm qua đã tích cực phối hợp với hoạt động cứu giúp người nghèo của Hội Công Đức Hoa Quang khu vực phía Nam của Chân Phật Tông, cấp phát tư lương, gạo, quan tâm đồng hương, thăm hỏi người già neo đơn, làm việc thiện không cần người khác biết, nhưng cũng không hề tụt hậu. Đây là tinh thần mà Sư Tôn dạy chúng ta: người đói thì ta đói, người chìm thì ta chìm. 

Pháp Hoa Đường luôn phối hợp với các hoạt động có tính toàn cầu được Tông Ủy Hội phát động hàng năm như trì chú, hội cúng, thỉnh Phật trụ thế. Pháp Hoa Đường đã thâm nhập địa phương, trở thành trạm chuyển tiếp quan trọng trong việc thúc đẩy pháp vụ của tông phái.

Hơn nữa, Sư Tôn còn đích thân dặn dò Thượng sư Liên Anh dùng pháp phương tiện “Hỏi Việc”, lấy Diêu Trì Kim Mẫu làm chủ tôn hỏi việc, để tùy duyên độ chúng, phát huy năng lực bẩm sinh của ngài. Địa điểm hỏi việc ngoài Pháp Hoa Đường ra thì do Sư Tôn chỉ thị, đạo tràng thỉnh mời, Thượng sư cũng không quản ngại vất vả mỗi tuần đều đi đi về về từ Nam ra Bắc đến Hương Hoa Lôi Tạng Tự ở Đài Trung và Pháp Ký Lôi Tạng Tự ở Đào Viên để phục vụ Hỏi Việc, thật sự đã giúp đỡ rất nhiều đồng môn giải quyết rất nhiều vấn đề.

Chủ tịch nhiệm kỳ 2 và 3 của Pháp Hoa Học Hội là bác sĩ Ngô Đông Long hiện là chủ nhiệm khoa ngoại tổng hợp của bệnh viện Thánh Martin ở thành phố Gia Nghĩa, đồng thời cũng là một đệ tử Chân Phật lương thiện sùng đạo, kính sư trọng pháp thực tu. Ông đã mua một ngôi biệt thự độc lập tại số 43 ngõ 218 đường Nhật Tân thành phố Gia Nghĩa, cúng dường không hoàn lại cho Pháp Hoa Đường và Pháp Hoa Học Hội sử dụng, đúng là sự phát tâm của một Đại Bồ Tát!

Nhờ sự hỗ trợ lớn của chủ tịch Ngô, Thượng sư Liên Anh đã tận tâm tận lực đi gây quỹ và một tay thiết kế, trang hoàng, bố trí, điêu khắc tượng Phật cho Phật đường mới, trong thời gian chưa đầy một năm đã biến ngôi nhà thô sơ thành một đạo tràng rất trang nghiêm. Sau khi Thượng sư Liên Anh và đường chủ, chủ tịch chuyển Phật đường đến địa chỉ mới đã đi Mỹ vào tháng 08.2022, tại Chân Phật Mật Uyển đã báo cáo với Sư Tôn Sư Mẫu và nhận được sự khen ngợi, động viên rất lớn.

Tháng 05.2018, Liên Sinh Hoạt Phật đã đáp ứng lời thỉnh pháp của Thượng sư Liên Anh, tại Gia Nghĩa sẽ đích thân lần đầu tiên truyền Ngũ Sắc Bất Động Minh Vương bất cộng đại pháp, nhưng không ngờ do dịch bệnh mà thời gian pháp hội đã bị hoãn lại. May mắn thay, sau khi Pháp Hoa Đường chuyển đến đường Nhật Tân thật sự đã đón nhận một bầu không khí mới. Khi dịch bệnh thuyên giảm, Liên Sinh Thánh Tôn trở về Đài Loan, vào ngày đầu tiên của năm mới tức 01.01.2023, Thánh Tôn đã đích thân lần đầu tiên truyền Ngũ Sắc Bất Động Minh Vương tại Sân Vận Động Công Viên Thể Thao thành phố Gia Nghĩa. 

Pháp này đã ứng với lời vàng của Liên Sinh Thánh Tôn vào tháng 08.2014 rằng Gia Nghĩa (Chư La), nơi sinh ra của Liên Sinh Thánh Tôn, cuối cùng đã đại hưng Mật pháp.

Pháp Hoa Đường cũng hy vọng dưới sự gia trì của Sư Tôn có thể triển khai mạnh mẽ nhiệm vụ hoằng pháp, tự độ độ tha, tự giác giác tha, cùng với chúng sinh cùng lên Ma Ha Song Liên Trì.


![image](/img/img_7df807aa2acaf105dec0a04b301d8eb0.jpg)

---
# File: gioi-thieu/sakya-chung-khong-thuong-su-quan-danh-ngu-phuong-phat.md
# Title: Sakya Chứng Không Thượng sư quán đảnh Ngũ Phương Phật
---

# Sakya Chứng Không Thượng sư quán đảnh Ngũ Phương Phật


(Quán đảnh Ngũ Phật nghiêm đỉnh) Chỉ có một người ở bên cạnh là đệ tử của Hoạt Phật, tên là Ha Mã Đạt Xa Y.

Thế còn tôi nhận quán đảnh Hỷ Kim Cang chính là do Sakya Chứng Không Thượng sư quán đảnh.

Khi tôi nhận quán đảnh, đột nhiên có thể nhìn thấy đàn thành của Hỷ Kim Cang hiển hiện, đây là một sự việc rất vi diệu. Rất nhiều sự việc rất vi diệu ở đây, nhân duyên này thật trùng hợp. Ngày 16/6/1982 tôi đến Ballard, đến năm 1985, tôi rời Ballard, chính là chuyển đến nơi của Lôi Tạng Tự mà bây giờ tôi đang sống, tức là Chân Phật Mật Uyển. Sakya Chứng Không Thượng sư ở chùa Sakya vào năm 1982, 1983, 1984, 1985, đến năm 1986 thì ngài trở về Tây Tạng.

Thượng sư lại lấy ra năm hạt gạo, đặt vào trong lòng bàn tay trái của tôi, dạy tôi kết thủ ấn cúng dường, sau đó dạy tôi niệm từng câu từng câu của chú ngữ Bách tự minh. Thượng sư niệm một câu, tôi niệm một câu, niệm xong, Thượng sư yêu cầu tôi nhập định. Lần nhập định này, tôi lập tức đến được vùng trời của năm phương vũ trụ, Thượng sư ở phía trước, tôi ở phía sau, cả hai cùng bay và dừng lại ở vùng trời của năm phương vũ trụ. Tôi tung một hạt gạo đến phương Tây, phương Tây liền nở đầy hoa sen, những bông hoa chưa nở đều nở rộ, nơi chưa có hoa thì kết nụ. Tôi lại tung một hạt gạo về phương Đông, phương Đông xuất hiện rất nhiều pháp bảo trang nghiêm tỏa sáng. Tôi lại tung một hạt gạo về phương Nam, phương Nam hiện ra một đám tăng chúng đồng thời xướng lên chú ngữ bằng tiếng Phạn. Tiếp theo tôi tung một hạt gạo về phương Bắc, phương Bắc hiện ra vô số cờ báu lọng báu và các vị Phật trang nghiêm. Sau cùng tôi tung một hạt gạo về trung tâm, trung tâm nổ “hùm” một tiếng, xuất hiện một Phật quốc, có  một vị Phật, chính là Tỳ Lô Giá Na Phật. Ngài đưa tay ra xoa lên đầu tôi một cái.

Thượng sư vô cùng vui mừng, ở trước Phật cầm một bông hoa đưa cho tôi. Tôi nhận lấy bông hoa, biểu thị đã tiếp nhận tâm ấn của Thượng sư, sau đó tôi lại đưa bông hoa cho Thượng sư, Thượng sư lại dâng cúng trước Phật. Thượng sư nói: “Ta truyền tâm ấn cho con, con có được tâm ấn rồi thì lại phát huy làm rạng rỡ truyền thống, rồi trả về cho Thượng sư, rồi cúng cho Phật, đây chính là tâm ấn bất diệt của chính pháp chân truyền. Chính là điều kinh Kim Cang đã nói, Phật Nhiên Đăng thọ ký cho Phật Thích Ca Mâu Ni, ngươi vào đời sau sẽ được làm Phật. Hôm nay ta cũng nói như vậy, con vào đời sau sẽ được thành Phật.”

Thượng sư ở trước tôi lần lượt diễn hóa đại thủ ấn, dạy tôi từng phần động tác, nói đây là kết giới. Thượng sư nói: “Người tu pháp, vì có ma đến quấy nhiễu, cho nên nhất định phải kết giới để chặn sự xâm nhập của ma. Trên trời kết thiên giới, dưới đất kết địa giới, tại đàn thành của người tu kết tường giới, trên thân của người tu kết võng giới. Người tu phải học kim cang kiếm, kim cang hỏa. Bốn xung quanh và trên dưới giống như bức thành kim cang, ngoại ma không thể xâm phạm.” Lúc này Thượng sư lại tỉ mỉ dạy tôi một vài thủ ấn để sau này ứng dụng khi truyền pháp. Thượng sư ân cần nói cho tôi biết, trong tương lai, sau thời kỳ Hiển pháp thịnh hành qua đi, Mật tông nhất định sẽ thịnh hành, một khi Mật tông tỏa ánh hào quang thì sẽ có hắc ma đến thừa cơ quấy nhiễu đạo đức Phật, dẫn dắt một số người đi vào bàng môn. Lúc này con phải đứng lên làm tiếng gầm sư tử của chính nghĩa để phân biệt chính tà. Đây là một bí mật lớn mà hôm nay ta truyền tâm ấn của chính pháp cho con. Đồng thời muốn con phát dương Chân Phật Tông, để người nhập môn đều phát đại bồ đề tâm, giải trừ đau khổ phiền não của chúng sinh.”

---
# File: gioi-thieu/seattle-loi-tang-tu.md
# Title: Seattle Lôi Tạng Tự
---

## Seattle Lôi Tạng Tự


Seattle Lôi Tạng Tự là Chùa Tổ của Chân Phật Tông, hoàn thành xây dựng vào năm 1985 tại thành phố Seattle, bang Washington, Hoa Kì.

Seattle Lôi Tạng Tự cùng với Cầu Vồng Lôi Tạng Tự là hai ngôi chùa Lôi Tạng Tự chính của Chân Phật Tông tại nước Mĩ.


![(Ảnh: Seattle Lôi Tạng Tự cung cấp)](/img/img_76df5d92fcf12b58603507b3f0843f80.jpg)



![image](/img/img_551ad5265e5007e7e86d335c8b498916.jpg)


**Địa chỉ liên lạc của Seattle Lôi Tạng Tự**

西雅圖雷藏寺 Ling Shen Ching Tze Temple
17012 NE 40th Court
Redmond, WA 98052-5491, U.S.A.
Website: [https://www.tbsseattle.org/](https://www.tbsseattle.org/)
Email: [webmaster@tbsseattle.org](mailto:webmaster@tbsseattle.org)
Tel: (425) 882-0916
Fax: (425) 883-7360
Facebook: [https://www.facebook.com/tbsseattle.org/?ref=page_internal](https://www.facebook.com/tbsseattle.org/?ref=page_internal)

---
# File: gioi-thieu/su-dung-ban-van-tu-upala.md
# Title: Sử dụng bản văn từ Upala
---

# Về việc sử dụng bản văn từ Upala



### Tôi có thể sử dụng và chia sẻ các bản văn từ Upala không?


Hoan nghênh các bạn sử dụng các bản văn và videos từ Upala, dưới bản quyền của Tbboyeh (Chân Phật Bát Nhã Tạng), TBSN (Mạng Chân Phật Toàn Cầu) và TBSEC (Đài Loan Lôi Tạng Tự) dưới danh nghĩa cá nhân, phi vụ lợi khi chia sẻ. Chúng tôi hoàn toàn tin tưởng rằng, các mục đích chia sẻ khéo léo vì mục tiêu cao thượng là một điều tốt đẹp và cao quý. 

Trên thực tế, các huynh đệ đồng môn có sử dụng dưới hình thức cá nhân vẫn đã và đang trực tiếp liên hệ riêng Upala và đề nghị được sử dụng một cách hợp lí. Đây là điều đáng trân trọng. Mong rằng khi chia sẻ, các bạn ghi rõ nguồn từ các trang của chúng tôi để kết nối thêm nhiều người đến với nguồn thông tin chính thống của Chân Phật Tông.

Riêng dưới danh nghĩa là một tổ chức, bạn cần liên hệ trực tiếp với Tbboyeh để xin bản quyền, xin giấy phép sử dụng hoặc ít nhất cũng cần trích dẫn chính xác (không thay đổi nội dung) cũng như cần ghi chú nguồn dịch rõ ràng. Đây cũng là lẽ thường tình.

Nếu bạn thấy các bản văn hữu ích, vui lòng thoải mái sử dụng, càng nhiều càng tốt, đây là điều chúng tôi thật sự mong đợi, và điều này cũng hợp với tinh thần của Sư Tôn, đó là chia sẻ và kết nối thật nhiều, Sư Tôn không có sự phân biệt nào về việc một người nào đó có phải là đệ tử CPT hay không.


### Tôi có thể thu âm các bản dịch của Upala và phổ biến không?


Vấn đề thu âm các bản dịch cũng liên quan đến bản quyền, và bạn cần xin bản quyền trực tiếp từ các đơn vị nói đến ở trên. 

Tuy nhiên, chúng tôi không khuyến khích bạn thu âm. Các bản dịch vẫn chưa được Upala xếp vào mức độ hoàn hảo 100%. Chúng sẽ được tiếp tục hiệu đính, rà soát cho tới khi chúng tôi hài lòng. 

Nếu các bản ghi âm bản văn còn chưa được hoàn thiện được lan truyền rộng rãi thì chúng có thể sẽ lẫn lộn với các bản ghi âm chính thức sau này. Đây là điều không tốt, cả về phương diện thế gian lẫn xuất thế gian (gánh nghiệp nếu chúng ta không cẩn thận).

Khi hoàn thiện, chúng tôi sẽ kết hợp cùng Tbboyeh để thu âm và cùng Tông Ủy Hội để quảng bá một cách chính thức các bản thu hoàn chỉnh (cũng dưới bản quyền của các đơn vị kể trên). 

Chúng tôi biết các bạn rất nóng lòng có bản thu âm, do nguồn lực hiện tại rất có hạn, chúng tôi hiện chưa thể làm nhanh cùng một lúc rất nhiều mảng công việc. Cùng là đệ tử của Sư Tôn, mong chúng ta cùng nhau chậm lại một chút để đảm bảo chất lượng cao nhất, và mong tất cả chúng ta cùng hỗ trợ cho Upala cũng như các đơn vị kể trên trong công việc này.

Cảm ơn các bạn!

Om guru liansheng siddhi hum! 🙏

---
# File: gioi-thieu/thuong-su-thich-lien-anh.md
# Title: Thượng sư Thích Liên Anh
---

![image](/img/img_ea361f89fb49f958ad2ede27ac8ef3c0.jpg)



# Thượng sư Thích Liên Anh



### Phong làm Thượng sư


Vào thứ bảy ngày 21/01/2023, vào lúc chiều tối của ngày cuối năm, tại đàn thành trên tầng 6 của Đài Loan Lôi Tạng Tự, Pháp Vương Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật đã đích thân ban cho pháp sư Thích Liên Anh quán đảnh Acharya, trở thành Thượng sư của Chân Phật Tông.

Kể từ khi pháp sư Thích Liên Anh - thường trụ tại Đài Loan (Pháp Hoa Đường), xuất gia, đã luôn nghiêm túc chăm chỉ trên cương vị của mình, tinh tấn thực tu, thúc đẩy sự nghiệp bồ đề, quảng độ chúng sinh, nhiều năm qua biểu hiện đặc biệt xuất sắc, khiến rất nhiều chúng sinh quy y Liên Sinh Hoạt Phật, giáo pháp của truyền thừa Chân Phật như dòng chảy dài nối tiếp.

Nay cơ duyên chín muồi, được Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật ban quán đảnh Acharya trở thành Thượng sư của tông phái. Thánh Tôn cổ vũ Thượng sư mới phong cần có thể minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử, tự độ độ tha, gánh vác trách nhiệm hoằng pháp lợi sinh, phối hợp với các hoạt động của Tông Ủy Hội, hoằng dương Chân Phật Mật Pháp, quảng độ càng nhiều chúng sinh quy y Chân Phật.


### Cuộc đời thù thắng của pháp sư Thích Liên Anh - Lựa chọn từ bỏ tình yêu nhỏ, thành tựu tình yêu lớn của vợ chồng giáo sư Vương Tiến Hiền



![image](/img/img_5dcd6f6e0b80d88c8e86a264db16f5c2.jpg)


(Hiểu Hiểu - phóng viên Chân Phật đưa tin, trên trang tin tức Chân Phật Báo, ngày 23/09/2016.)

Ngày 27/08/2016, tại trung tâm hội nghị Meydenbauer ở Seatlle nước Mỹ, Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đã làm chủ đàn đại pháp hội A Di Đà Phật tiêu tai siêu độ năm Bính Thân, đồng thời lần đầu tiên truyền Đại Lực Kim Cang bất cộng đại pháp và quán đảnh. Trong bài khai thị sau khi pháp hội kết thúc, Sư Tôn có nhắc đến: “Đại Lực Kim Cang chính là vị Kim Cang Thần đại diện cho giới luật.” “Giới luật trước kia của Chân Phật Tông quá lỏng lẻo…, bởi vì từ trước tới nay Sư Tôn không quản, Tông Ủy Hội cũng không thể quản, tất cả đều là “tự do tâm chứng”… Nói để mọi người biết, phạm giới có thể trở thành thói quen, hơn nữa càng phạm càng lớn… Cố ý phạm giới luật là có Giới Thần ở đó, sẽ là nhân quả tự mình chịu… Sau này, giới luật của Chân Phật Tông cũng sẽ càng ngày càng nghiêm.”

Thật ra, đời này có thể gặp được Phật pháp, minh sư, chúng ta đều nên có một cảm giác thành tựu. Trí huệ vô song của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni không có nền giáo dục và kiến thức nào trên thế giới sánh bằng. Điều đáng tiếc là ngay cả khi một số hành giả may mắn bước vào cửa Phật, họ vẫn mắc phải căn bệnh tai hại là “người có kiến thức sâu rộng sẽ kiêu ngạo, người tu tập tốt sẽ tích lũy tiền của, ai theo nơi tĩnh lặng thì càng tán loạn nhiều, còn những người tu tập tốt sẽ tích lũy kho báu, ai rời cố hương thì lại không thấy hổ thẹn”, chỉ trở thành một kẻ lọc lõi trong Phật giáo mà thôi.

Trong đại pháp hội mùa thu tại Seattle lần này, vui mừng thay, có một người thanh niên (và cũng là một người duy nhất) cao lớn vạm vỡ với khuôn mặt tròn - pháp sư Liên Anh. Ngài ôm ấp một lòng tin kiên định, lập lời thề muốn theo bước chân của Sư Tôn, đi trên đại đạo thành Phật, Chân Phật Tông vì thế lại có thêm một tăng bảo trân quý.

Kể ra, vị pháp sư Liên Anh này cũng có lai lịch không tầm thường. Ngài là công tử của sư huynh Vương Tiến Hiền, Giáo sư ưu tú của khoa Kỹ thuật điện, Đại học Quốc gia Trung Chính, Đài Loan. Trong buổi đồng tu tại Seattle ngày 16/08/2014, Sư Tôn đã công khai chứng nhận cả nhà tiến sĩ Vương Tiến Hiền là Phật Bồ Tát, thiên nhân chuyển thế, trong đó, giáo sư Vương là Liên Hoa Đồng Tử chuyển thế, phu nhân Lâm Thế Trân là công chúa của Đế Thích Thiên chuyển thế, pháp sư Liên Anh là Bất Động Minh Vương chuyển thế.

Ngày 27/08/2016, vào ngày diễn ra đại pháp hội A Di Đà Phật, pháp sư Liên Anh đã cung kính quỳ trước đàn thành trang nghiêm, nhận giới điệp xuất gia mà Sư Tôn ban cho. Sư Tôn hỏi: “Vì sao anh lại nghĩ đến chuyện muốn xuất gia?” Pháp sư Liên Anh thong thả điềm tĩnh niệm tụng bài kệ hồi hướng trong Liên Hoa Đồng Tử tương ứng pháp: 
*Cung kính Liên Sinh Thánh Tôn pháp.
Một phái Chân Phật giúp chúng sinh.
Niệm chú sinh về Song Liên Trì.
Thập bát Liên Hoa đến hóa sinh.
Bí mật vô thượng và hiếm có.
Nay con tu trì cúng dường hết.
Phát lời thề nguyện trong thâm tâm
Mong con sớm đăng Phật địa này.
Thỉnh cầu Thánh Tôn gia trì lực.
Ban cho quán đảnh liên hoa sinh.
Quảng đại viên mãn đắc tự tại.
Độ mình độ người đến Phật quốc.*

Pháp sư Liên Anh chỉ ra rằng, có lẽ có đồng môn sẽ cho rằng anh ở trên bục niệm bài kệ này chẳng qua chỉ là kiểu học thuộc lòng, nhưng trên thực tế không phải như vậy. “Trước kia Sư Tôn cũng từng hỏi rất nhiều người vì sao muốn xuất gia, cũng có trăm nghìn kiểu câu trả lời. Bản thân tôi thì thật sự biết Chân Phật Mật Pháp là thật, cho nên quyết định chắc chắn dấn bước đi tu hành, đặc biệt là nhân lúc còn trẻ, khi bản thân vẫn còn có thể lực và tinh thần.” Pháp sư nói: “Mỗi lần tôi tu pháp, niệm đến bài kệ này đều rất có cảm xúc, tôi cảm thấy đó chính là việc mà một đệ tử Phật cần phải chuyên tâm hướng về, cho dù bạn tại gia hay xuất gia đều nên dốc hết sức để tiến bước theo hướng đó. Bởi vì bài kệ này rất có ích đối với tôi, cho nên tôi thật lòng đọc nó ra.”

Pháp sư Liên Anh năm nay mới 23 tuổi, phong nhã hào hoa. Sư Tôn cũng hài hước hỏi: “Thế bạn gái của anh phải làm sao?” Chỉ thấy pháp sư bật cười trả lời: “Sư Tôn gia trì để ác duyên chuyển thành thiện duyên.” Sư Tôn nói: “Không có gì gọi là ác duyên chuyển thành thiện duyên, chỉ dựa vào tâm của chính anh thôi, tất cả do tự anh làm chủ.”

Trước kia, pháp sư Liên Anh có một người bạn gái, nhưng ngài dần dần tiết lộ việc mình muốn xuất gia, vì thế cũng dần dần được bạn gái cảm thông và chúc phúc. Giờ đây người bạn gái này cũng đã quy y Chân Phật Tông, trở thành bạn đạo trên con đường tu hành. Hiện tại, pháp sư Liên Anh vẫn là sinh viên tại một trường Đại học ở miền Trung Đài Loan, sắp lên năm bốn. Sư Tôn cũng đặc biệt cho phép ngài có thể mặc thường phục, để tóc húi cua, tiếp tục hoàn thành sự nghiệp học tập và nghĩa vụ quân sự.

Pháp sư Liên Anh là con trai của vợ chồng giáo sư Vương Tiến Hiền, sinh ra trong gia đình dòng dõi Nho học, trên còn có một chị gái và một anh trai. Đối với sự lựa chọn của con trai, mẹ của pháp sư - sư tỉ Lâm Thế Trân dịu dàng nói: “Tâm trạng của tôi cũng giống với tất cả những người mẹ trên đời, nhưng con đường tu hành này đối với pháp sư là một sứ mệnh, vì sự thành tựu của pháp sư, chúng tôi đều hết lòng chúc phúc, toàn lực ủng hộ.” Giáo sư Vương cũng nói: “Làm cha mẹ, nếu mà nói rằng không buồn và không tiếc nuối chút nào thì đó là nói dối, không có ai cao siêu vĩ đại như vậy. Nhưng pháp sư đã có tính cách suy nghĩ độc lập, chúng tôi đương nhiên sẽ tôn trọng và chúc phúc. Điều tôi mong nhất là pháp sư tu hành phải thành tựu, giúp đỡ người khác. Tôi cũng nói đùa với pháp sư là, đợi tôi già rồi, hy vọng pháp sư có thể giúp cứu độ tôi.”

Pháp sư Liên Anh thật sự là người có phúc phần lớn. Nghe giáo sư Vương Tiến Hiền nói, tháng 2/1995, Sư Tôn tại Seattle Lôi Tạng Tự nước Mỹ lần đầu tiên truyền Đại Uy Đức Kim Cang bất cộng pháp, ông ấy đã có mặt ở Seattle để giúp cho bé Lượng Quân (tên tục gia của pháp sư Liên Anh) mới ra đời chưa tròn một tuổi quy y Chân Phật. 

Nói đến duyên Chân Phật của gia đình giáo sư Vương Tiến Hiền thì đúng là một câu chuyện tuyệt vời, và cũng cực kì gợi mở lòng người, cổ vũ đồng môn, chẳng trách mà pháp sư Liên Anh lại nói: “Từ khi sinh ra tôi đã quy y Chân Phật Tông, mặc dù lúc nhỏ tôi không hiểu tu hành, nhưng tôi cảm thấy đó đã là may mắn của tôi, tôi có thể vừa sinh ra đã trồng duyên Phật, hạt giống này đương nhiên sẽ từ từ mọc mầm. Và trong quá trình lớn lên, dần dần tôi có năng lực học tập, trong nhà cũng có được hoàn cảnh này, mưa dầm thấm đất, tôi dần dần có hứng thú với Phật học.”

Giáo sư Vương Tiến Hiền quy y Sư Tôn vào năm 1986. Ông ấy thường tự trào phúng mình đã từng là một kỹ sư “răng sắt”, sự giáo dục mà ông đã nhận được cũng đưa chính mình vào trong vô minh và vô tri. Lần đầu tiên ông tiếp xúc với Chân Phật Tông là một đoạn hồi ức kỳ lạ không thể nào phai mờ trong cuộc đời mình. Giáo sư Vương còn nhớ đó là vào một buổi chiều hoàng hôn sau bữa tối khi ông đang học năm nhất trường cấp ba Nhất Trung ở Đài Trung, ông đi đến hiệu sách Tam Dân ở Đài Trung và lần đầu tiên nhìn thấy sách tâm linh của Lư Sư Tôn. Trong sách kể chuyện Sư Tôn đến thăm nhà của một đồng môn, sau khi triệu thỉnh Địa Tạng Vương Bồ Tát, “mặt đất nứt ra, Bồ Tát từ dưới lòng đất trồi lên”. Đọc đến đây, trong lòng ông ấy thấy kinh sợ, cứ nghĩ: sao lại có thể nói như vậy? Người này sao có thể viết ra một cách trực tiếp như vậy? Nếu đây không phải là chuyện quái dị lừa bịp thì thế nào mới là quái dị lừa bịp chứ? Lúc đó, ông ấy sợ đến nỗi kéo tay của người bạn cùng học, bước nhanh trở về kí túc xá.

Đến khi giáo sư Vương Tiến Hiền bước vào lớp tiến sĩ tại Viện Điện Tử, Đại học Giao Thông Đài Loan, ông ấy và bà Lâm Thế Trân kết tình vợ chồng. Anh ba của bà Lâm (hiện là pháp sư Liên Nhật - hòa thượng xuất gia của Chân Phật Tông), là một người thích tu hành từ rất sớm, đã đọc lướt qua các tông phái. Khi ấy, pháp sư Liên Nhật còn chưa quy y Chân Phật, nhưng đã yêu thích rất nhiều sách tâm linh của Sư Tôn. Khi giáo sư Vương gặp phải bối rối trong cuộc sống và đang nghĩ đến việc tìm kiếm kinh Phật và nhờ ông giúp đỡ, pháp sư Liên Nhật đã không ngần ngại đề nghị: “Nếu muốn quy y thì hãy tìm Lư Sư Tôn, đọc sách của Sư Tôn.” “Sách của Sư Tôn có một hương vị khác, một hương thơm tươi mát, một dạng sức mạnh ở trong đó, và chúng là chân lý tuyệt đối.” Và thế là duyên phận của vợ chồng giáo sư Vương và Chân Phật Tông đã dần dần nối đường ray.

Chỉ là, giáo sư Vương rốt cục đã chịu sự huân tập của nền giáo dục khoa học trong thời gian dài, muốn bảo là thay đổi suy nghĩ cũng không phải là chuyện một sớm một chiều. Lúc đầu, mỗi lần bà Vương là pháp sư Liên Nhật sôi nổi thảo luận Phật pháp, giáo sư Vương đều chỉ ngồi yên lặng bên cạnh, mãi đến sau này chứng kiến mấy sự thật mà chính mình đã trải qua, cách nghĩ của giáo sư Vương mới có chuyển biến lớn lao, từ đó trở thành một tín đồ Phật giáo kiền thành.

Một hôm, vợ ông mua từ chợ về một mớ cá đã phơi bụng trắng và thở thoi thóp, nhưng sau khi được pháp sư Liên Nhật niệm chú Đại Bi gia trì, không ngờ mớ cá này đã sống lại và bơi lội tự do. Giáo sư Vương nhìn thấy tận mắt thì rất chấn động, thì ra ngoài khoa học vẫn có một không gian như vậy, một dạng năng lượng tồn tại cùng với trường năng lực của vũ trụ. Thế là, theo quan sát của bà Vương, “giáo sư Vương từ lúc đó mới dần dần chú ý đi nghe những cuộc nói chuyện của chúng tôi, cũng bắt đầu mua sách của Sư Tôn về nghiên cứu.”

Khi Giáo sư Vương viết đoạn sau cùng của luận văn lớp Tiến sĩ của Đại học Giao Thông cứ liên tục làm không thuận lợi, thế là bà Vương liền giúp đọc 1000 biến Cao Vương Kinh để hồi hướng. “Khi ấy, tôi ngồi cũng niệm, đứng cũng niệm, nằm cũng niệm, đến khi niệm đủ số biến, luận văn của chồng cuối cùng đã được thông qua.” Đương nhiên, bản thân Giáo sư Vương cũng biết, tất cả những điều này đều là nhờ vào sự gia trì của Sư Tôn, thế là trong trang cảm ơn của luận văn Tiến sĩ, ông ấy chân thành viết lời kết là: “Cảm tạ Bồ Tát, tất cả không cần phải nói nhiều!” 

Tốt nghiệp xong, vì công việc và nghiên cứu, Giáo sư Vương lại gặp vấn đề khó khăn và vướng mắc, thế là ông ấy phát nguyện không ăn những thứ dưới nước và tu pháp Long Vương bảo bình, không ngờ điều mong cầu nhanh chóng được như ý nguyện. 

Thế nhưng, điều thật sự khiến Giáo sư Vương Tiến Hiền có đạo tâm kiên cố, tin tưởng sâu sắc nhân quả, và “từ người không tin vào kiến thức ngoài sách vở cho đến khi bán mạng từ nội hàm tôn giáo đi theo đuổi thực tướng của sinh mệnh” (lấy nguyên câu nói của ông ấy), chính là sự việc bé Lượng Quân bị ngộ độc. 

Sau khi quy y Chân Phật Tông, Giáo sư Vương Tiến Hiền và vợ thường xuyên ở tại Nội Minh Đường (nay là Phúc Hựu Lôi Tạng Tự) tham gia đồng tu. Sau khi sống ở Thiên Trúc 12 năm, họ chuyển nhà đến Gia Nghĩa làm việc, và cả hai cùng làm giáo chức. Một ngày chủ nhật nọ, vợ chồng Giáo sư Vương cùng với em vợ, con cái và bế bé Lượng Quân mới một tuổi, lái hai chiếc xe lên phía Bắc đến trường Tiểu học Hương Sơn ở Tân Trúc tham gia pháp hội do Phúc Hựu Lôi Tạng Tự tổ chức, không ngờ cậu con trai nhỏ trên đường đi có vẻ bị ngộ độc thức ăn, trước lúc pháp hội đã bị nôn và đi ngoài bên cạnh hội trường, bị nôn rất nặng. Quái lạ là những người cùng đi đều ăn thức ăn giống nhau, nhưng không có ai gặp chuyện gì cả.

Giáo sư Vương không còn cách nào khác, đành phải một mình đưa con trai nhỏ đến bệnh viện để cấp cứu, truyền nước. Khi ấy, đứa bé chưa biết nói nhưng lại làm rất nhiều động tác kỳ lạ không hiểu ra làm sao, cuối cùng, bác sĩ làm hóa nghiệm cũng không ra kết quả. Sau khi miễn cưỡng cho xuất viện, được Kim cương Thượng sư của Chân Phật Tông chỉ thị thì mới biết là oan thân trái chủ đã tìm đến. Khi ấy, bà Vương nước mắt như mưa, Giáo sư Vương tay chân xụi lơ. Cả nhà trở về Gia Nghĩa dằn vặt suốt cả một tuần lễ, bé Lượng Quân vẫn uống thuốc nhưng vô hiệu. Thế là họ lại tìm đến một vị Kim cương Thượng sư khác xin giúp đỡ, vị Thượng sư đó cũng xác nhận là nhân quả đòi nợ, và dặn dò là phải lập tức làm một công khóa lớn, đây cũng là nguồn gốc mà hai vợ chồng họ bắt đầu thực tu. Nhưng điều bất khả tư nghì là, vào ngày đầu tiên họ trở về nhà, niệm xong kinh chú hồi hướng thì giống như kỳ tích, bệnh của đứa bé đã không thuốc mà khỏi.


![image](/img/img_209ba5d99e45ef3b4f0797dfe293180d.jpg)


Trải nghiệm khắc cốt ghi tâm lần này khiến Giáo sư Vương Tiến Hiền hiểu được rằng: “Thì ra ngoài nhục thể sinh bệnh ra còn có cái gọi là bệnh nghiệp chướng. Thì ra chỉ có thật sự phát tâm, hơn nữa càng ngày càng rộng lớn, thì nghiệp chướng mới tiêu trừ càng nhanh, nhưng sự tôi luyện, khảo nghiệm cũng sẽ càng lớn hơn. Tứ gia hành, Bách tự minh chú, pháp Sám hối, nhất định phải nhanh chóng hoàn thành. Tu pháp càng kiên cố, lực gia trì của Phật Bồ Tát và nỗ lực của bản thân cũng sẽ càng lớn, sức mạnh chịu đựng đau khổ của tâm cũng trở nên mạnh mẽ hơn.”

Giáo sư Vương Tiến Hiền là một nhà khoa học vô cùng ưu tú. Thái độ học tập chăm chỉ và nghiêm túc của ông được thể hiện trọn vẹn qua việc tu hành hàng ngày. Quy y 30 năm, ông đã niệm đủ 100.000 biến Bách tự minh chú, 8.000.000 biến Thượng sư tâm chú, và tu hơn 200 đàn Hộ Ma, tụng hơn 20.000 biến Cao Vương Kinh. Thường ngày, ông cũng tận lực dùng thời gian buổi tối để tu trì Tứ gia hành, Thượng sư tương ứng pháp. Giáo sư Vương nói: “Bởi vì muốn giải trừ nhân quả, cho nên tôi vẫn làm rất nhiều công khóa khác, bản thân tôi có một bảng biểu để ghi chép lại.”

Đối với hơn 200 cuốn văn tập của Sư Tôn, Giáo sư Vương Tiến Hiền đều đọc từng cuốn. Ông cho rằng: “Sách của Sư Tôn đều nói sự thật, cho nên phải đọc rất nghiêm túc, mỗi cuốn đọc hai lần, thậm chí ba lần đều tốt cả, điều này rất quan trọng.” Giáo sư Vương chỉ ra rằng, khai thị của Sư Tôn và những bài giảng kinh thuyết pháp thuần túy của các vị đại sư Phật học các đời không giống nhau. Bởi vì phần lớn đối với Sư Tôn là lần đầu tiếp xúc, nội dung tư liệu quá lớn, từ khái niệm về đời sống thường ngày, khái niệm tu hành, khái niệm Phật học, cho đến khi tiến vào khái niệm về không gian bốn chiều, khái niệm về lục đạo, khái niệm về luân hồi, tất cả điều này đòi hỏi thời gian để thiết lập tổ chức mạch lạc và các khái niệm bên trong. Hy vọng có ngày trong tông phái có người có thể phát tâm lực lớn để làm công việc chỉnh lý và phân loại, những thứ này đều vô cùng trân quý. Ngoài ra, Giáo sư Vương còn có một tâm đắc: “Sư Tôn thường kể rất nhiều câu chuyện, nhưng tuyệt đối đừng coi những câu chuyện chỉ là câu chuyện, bởi vì bên trong mỗi câu chuyện đều có một vài đạo lý, đều rất quan trọng, đều có thể chắt lọc ra một vài thứ.”


![image](/img/img_369d070345e03e811b1b71973f4b8d3a.jpg)


Năm 2016, theo ý chỉ của Sư Tôn, Pháp Hoa Đường được thành lập tại Gia Nghĩa - quê hương nơi Sư Tôn sinh ra. Hiện tại Giáo sư Vương Tiến Hiền là đường chủ của Pháp Hoa Đường. 


![image](/img/img_ed9edfa0ffd99d5b8dfc7588cdcfff9e.jpg)


Pháp Hoa Đường phục vụ hỏi việc vào ngày chủ nhật hàng tuần, do pháp sư Liên Anh phụ trách. Ngày 13/08/2014 tại Chân Phật Mật Uyển ở Seattle, Sư Tôn ở trước mặt đã chỉ thị những nguyên tắc mà pháp sư Liên Anh sau này khi hỏi việc cần tuân thủ. Tháng 5/2015, pháp sư Liên Anh lại một lần nữa thỉnh thị Sư Tôn, Sư Tôn lại xác nhận dựa vào Diêu Trì Kim Mẫu là chính.


![image](/img/img_e9beb628a3f92de2af9a462d4b7da75c.jpg)


Ngoài ra, bắt đầu từ tháng 12/2015, vào lúc 7 giờ tối thứ hai hàng tuần, pháp sư Liên Anh cũng phục vụ hỏi việc tại Hương Hoa Lôi Tạng Tự. Tin rằng đã có rất nhiều đồng môn từng tìm đến pháp sư Liên Anh để hỏi việc, nghe người đã từng hỏi nói rằng, pháp sư Liên Anh rất khiêm nhường nhã nhặn, có hỏi sẽ đáp, đặc biệt là đáp án thần chuẩn. Pháp sư Liên Anh là Bất Động Minh Vương chuyển thế, gánh vác sứ mệnh độ chúng sinh, phục vụ hỏi việc chỉ là một trong các hình thức hoằng pháp lợi sinh của ngài. Cuối tháng 8/2016, sau khi pháp Sư Liên Anh cạo tóc, Sư Tôn đã chỉ thị rằng, pháp sư vẫn phải tiến hành phục vụ hỏi việc tại Pháp Hoa Đường và Hương Hoa Lôi Tạng Tự, và mặc pháp y Chân Phật Tông hoặc áo xanh đều được.

Việc pháp sư Liên Anh xuất gia là vô cùng đáng quý. Khi những người trẻ tuổi ở thế gian đều bận rộn với công việc của mình, cho rằng chỉ có cuộc sống, gia đình, thanh danh, tình cảm của mình mới là quan trọng nhất, thì pháp sư Liên Anh đã quyết định đi một con đường khác. Pháp sư Liên Anh nói: “Nói về cá nhân tôi thì gia cảnh mặc dù cũng không tệ, nhưng trong đó bản thân tôi cũng đã trải qua nhiều trắc trở, khảo nghiệm, bất kể là về mặt sức khỏe hay sự nghiệp học hành, vì thế tôi bắt đầu có những suy nghĩ khác về nhân gian. Khi những đau khổ của thế gian còn chưa kết thúc, Phật pháp và giáo pháp của Sư Tôn mãi là một phương pháp giải quyết và đối trị. Trải qua hết lần này đến lần khác khiến tôi cảm thấy Phật pháp đúng là trí huệ vô thượng siêu việt thế gian. Vì thế dần dần, tín tâm và đạo tâm của tôi càng kiên cố.”

Pháp sư Liên Anh còn nói, những năm qua, Phật Bồ Tát không ngừng giáng xuống ban những chỉ dẫn tâm linh cho chính ngài và người nhà, cũng tạo nên những ảnh hưởng sâu sắc đến ngài. Đầu tiên, ngài đã hiểu rằng, ồ, thì ra những điều này đều là thật, hơn nữa cũng không phải là cái gì rất đặc biệt. Điều quan trọng là thông qua phương thức này có thể biết rất rõ ràng, thì ra vạn sự vạn vật trong cõi vô hình đều có quan hệ nhân quả. Nhưng chúng ta cũng không nên dừng lại mãi ở giai đoạn này, làm sao để tu cho tốt thân và tâm linh của mình, tu cho vững chắc ổn định, mới là chân đế của Mật pháp của Sư Tôn.

Đối với việc Sư Tôn cho phép pháp sư Liên Anh khi mới là sinh viên năm hai đã có thể hỏi việc cho người ngoài, ngài cũng cảm thấy đây là một việc rất tốt, hơn nữa còn khiến cho cách nghĩ của bản thân có trải nghiệm chân thực siêu thoát. Pháp sư Liên Anh chỉ ra, những tín chúng đến hỏi việc có người quy y 20 năm, 5 năm, cũng có người là lần đầu tiên hoặc không phải lần đầu tiên đến, nhưng những điều mà mọi người hỏi đều gần như giống nhau, không nằm ngoài tiền, sắc, danh, ăn, ngủ, đều thuộc về những thứ thế gian. Càng thú vị hơn là, những vấn đề này gần như dùng Phật pháp và trí huệ của Sư Tôn là đều có thể đối trị.

Trong quá trình hỏi việc, pháp sư Liên Anh đã sâu sắc lĩnh ngộ được rằng, những việc vụn vặn bận rộn của thế gian sẽ không bao giờ kết thúc cho đến tận cuối đời, làm xong một việc lại lập tức có một việc khác, giống như những gợn sóng nước liên miên không ngừng. Vì thế, ngài đã suy nghĩ rất thận trọng xem mình cần cù tận tụy làm tất cả, đến khi chết có tác dụng gì không. May mắn thay, pháp sư Liên Anh vẫn còn trẻ như vậy mà đã nhìn ra không nên phí hoài cuộc đời, đời người nên chuyển hướng, thế là ngài đã đi trên con đường bồ đề có thể khiến chính mình giải thoát. 

Tương lai, con đường của pháp sư Liên Anh vẫn còn rất dài, khảo nghiệm còn rất nhiều. Nhưng ngài biết, chỉ có giống như Sư Tôn dạy, mỗi bước đi đều phải tu một cách thực chất, bắt đầu từ Tứ gia hành, tạo nền móng vững chắc. Đối với văn tập của Sư Tôn, mặc dù từ nhỏ đến lớn ngài đã đọc rất nhiều, nhưng vẫn muốn đọc lại để nghiên cứu kĩ càng hơn, bởi vì bên trong đều có kho báu, mỗi lần đọc đều sẽ có những cảm nhận khác nhau.

Ban đầu, pháp sư Liên Anh cũng giống như bạn và tôi, chỉ là phàm phu tục tử. Sau đó vì ngài tinh tấn tích lũy tư lương mà giờ đây ngài đã xuất gia, đang bước đến Phật quốc tịnh thổ ở bờ bên kia, vì thế đáng để chúng ta kính trọng.

Chúng ta chúc phúc pháp sư Liên Anh! Cũng mong rằng pháp sư Liên Anh sớm thành tựu Phật quả.


![image](/img/img_8ae7852a5f2208c036a824401a043c25.jpg)


(Hết.)

---
# File: gioi-thieu/thuong-su-thich-lien-tang.md
# Title: Thượng sư Thích Liên Tăng
---

![image](/img/img_f31afe1c5f3188ecb547b21390c5f9d7.jpg)



# Thượng sư Thích Liên Tăng


🏅 Trưởng lão Thượng sư Thích Liên Tăng - trưởng Ban Giám Sát của Tông Ủy Hội nhiệm kỳ 6. 

Trưởng lão Thích Liên Tăng sinh ra tại Đài Loan, tốt nghiệp Học viện Nghệ thuật Columbia tại Chicago, Hoa Kỳ. Ngài lớn lên trong gia đình Phật giáo, quy y Liên Sinh Hoạt Phật năm 1983, tháng 9/1997 thì xuống tóc xuất gia, tháng 1/1999 được Sư Phật ban quán đảnh Acharya, tháng 9/2021 được Sư Phật đích thân trao cho chức vụ trưởng lão Bộ Truyền Pháp của Chân Phật Tông. Hiện tại Thượng sư đang đảm nhiệm chức vụ trưởng lão của Bộ Truyền Pháp và trưởng Ban Giám Sát của Tông Ủy Hội và là Thượng sư thường trú của Tôn Thắng Lôi Tạng Tự.

Sau đây là bài phỏng vấn của phóng viên về trách nhiệm hiện tại của Trưởng lão và Trưởng lão làm sao để cân bằng giữa các đơn vị khác nhau.

❓ **Hỏi:** Ban Giám Sát đóng vai trò và chức năng gì trong Chân Phật Tông?
🌟 **Đáp:** Ban Giám Sát bao gồm ba vị ủy viên thường vụ của Ban Giám Sát là Thượng sư Thích Liên Âu, Thượng sư Thích Liên Phi, Thượng sư Thích Liên Tổ, một thư ký chấp hành là thầy giảng dạy Thích Liên Truy, trợ lý hành chính, năm Thượng sư chuyên viên điều tra và tổng cộng 12 vị điều tra viên tại Malaysia, Indonesia, v.v… Tổng cộng có 22 thành viên giúp đỡ Ban Giám Sát xử lý nghiệp vụ khen thưởng và giám sát của tông phái. Ban Giám Sát cũng là đơn vị chịu trách nhiệm về hệ thống nhân sự của các đạo tràng và nhân viên hoằng pháp của Chân Phật Tông, nhiệm vụ chính là tiến cử người hiền tài, phấn đấu được như người tài đức, chấn chỉnh tác phong của tông phái, giữ giới và bảo vệ giáo lý. 

❓** Hỏi: **Trong những năm qua khi giữ nhiệm vụ chấp hành giám sát, ngài đã gặp phải những vấn đề khó khăn hỗn loạn nào?

🌟** Đáp: **
1. Đồng môn thiếu hiểu biết và tín nhiệm đối với quy trình làm việc của Ban Giám Sát.

Đồng môn không hiểu nghiệp vụ và trách nhiệm của Tông Ủy Hội, không tin tưởng vào sự giám sát vô tư của Ban Giám Sát, thậm chí còn nghi ngờ rằng Ban Giám Sát có thể che đậy việc xử phạt những trường hợp kiện cáo. Trên thực tế, trước khi Ban Giám Sát xử lý các cá nhân phạm giới đã phải tiến hành nhiều cuộc điều tra khác nhau, thu thập chứng cứ, viết báo cáo vụ việc, gửi cho nhóm nòng cốt xem xét và phê duyệt, sau đó trình lên Ban Kiểm Soát để xem xét lần cuối, sau khi thông qua mới báo cáo lên Sư Phật và đưa ra quyết định cuối cùng, do Tông Ủy Hội thực thi biện pháp xử phạt.

2. Nhiều người phạm giới hoặc đạo tràng đều thiếu hiểu biết và tôn trọng giới luật, quy tắc điều lệ của Chân Phật Tông.

3. Có sự chênh lệch giữa kỳ vọng của đồng môn đối với Tông Ủy Hội và cách làm việc của Tông Ủy Hội.

Tuyệt đại đa số đồng môn đều ủng hộ và mong đợi Tông Ủy Hội ra sức cải cách và lập lại trật tự những sự hỗn loạn đang tồn tại trong tông phái để khôi phục lại tông phong. Tuy nhiên, Tông Ủy Hội xử lý những trường hợp vi phạm giới luật dưới góc độ tư vấn, thái độ đương nhiên sẽ khoan dung hơn, chỉ cần người phạm giới sám hối và sẵn sàng hợp tác thì Tông Ủy Hội sẽ khoan dung và cho phép người phạm giới cơ hội để làm lại từ đầu, vì thế không thể tránh khỏi việc có sự khác biệt so với kỳ vọng của đồng môn. Chúng ta cần phải biết rằng con người khó tránh khỏi việc mắc sai lầm, chỉ cần thành tâm sám hối và thay đổi thì có thể hoàn tịnh, chính Sư Phật bằng sự mẫu mực của mình đã giáo hóa mọi người với lòng từ bi và khoan dung.

❓ **Hỏi:** Làm sao để khiến cho đạo tràng, đồng môn tích cực phối hợp với cách thức làm việc của Tông Ủy Hội?

🌟 **Đáp:** Muốn để cho đồng môn, đạo tràng phối hợp với cách thức làm việc của Tông Ủy Hội thì chắc chắn không chỉ là sự phối hợp một chiều. Tông Ủy Hội nên duy trì sự tương tác tốt với đồng môn, sử dụng nhiều kênh đa phương tiện, gặp gỡ trao đổi, v.v… để giao tiếp và tuyên truyền, khiến cho đồng môn hiểu rằng Tông Ủy Hội đang trong sự không ngừng tiến bộ, tự nhiên sẽ khiến cho đồng môn có sự tín nhiệm đối với Tông Ủy Hội, mong muốn phối hợp tốt hơn với cách thức làm việc của Tông Ủy Hội.

❓** Hỏi:** Xin hỏi Ban Giám Sát có kế hoạch hàng năm nào lớn không?

🌟** Đáp: **Kế hoạch hàng năm của Ban Giám Sát năm nay (2023) gồm có:
1. Chuẩn bị cho sự ra mắt trang web Chân Phật Tông Vụ vào nửa cuối năm 2023, đây là một mạng lưới liên lạc chung thuộc về tất cả đệ tử Chân Phật, gồm có tin tức của tông phái, quản lý nhân sự đạo tràng, kho tàng Chân Phật (bao gồm Chân Phật pháp tạng, phù tạng, kinh tạng, chú tạng, ấn tạng, đạo tạng, v.v…), các sự kiện Chân Phật, hệ thống khen thưởng, hệ thống nghiệp vụ hành chính trực tuyến, v.v… tất cả những tin tức có liên quan đến tông phái đều sẽ được đăng tải trên trang web Chân Phật Tông Vụ. Mục đích quan trọng nhất của trang web này là đoàn kết và liên kết các đạo tràng, nhân viên hoằng pháp và đồng môn của toàn tông phái.

2. Kế thừa và tiếp nối quảng bá “Dự án xuất sắc của đạo tràng Chân Phật”, khuyến khích càng nhiều đạo tràng tích cực tham gia.

3. Tháng 9/2023 sẽ triển khai kế hoạch khen thưởng các cá nhân của tông phái, đây là một kế hoạch hoàn toàn mới, phối hợp với các hội giao lưu và tuyên truyền của các đạo tràng để quảng bá đến mọi người trong tông phái, và vào tháng 1/2024 sẽ bắt đầu triển khai kế hoạch khen thưởng cá nhân.


![image](/img/img_72f26234b7c12f40423104bf6fb9fc2b.png)


❓ **Hỏi: **Tông Ủy Hội từ trước đến nay đã thúc đẩy những kế hoạch tông vụ quan trọng nào? Có thể lấy ví dụ để nói rõ không?

🌟 **Đáp:** Có rất nhiều sự cải cách trong tông vụ được thúc đẩy kể từ Tông Ủy Hội nhiệm kỳ 5, chẳng hạn như:
1. Ban Giám Sát là một trong những nghiệp vụ hoàn toàn mới, khích lệ mọi người tôn sư thủ giới, đã cải chính rất nhiều sự hỗn loạn, khen ngợi những đệ tử ưu tú lương thiện trong tông phái, đem lại một cảm giác bừng sáng trong tông phái. 

2. Tông Ủy Hội bắt đầu tiến cử rất nhiều nhân viên hoằng pháp hoặc đồng môn ưu tú trở thành nhân viên hành chính chuyên chú với sự hậu thuẫn của hệ thống hành chính vững mạnh, như vậy tông vụ có thể có được sự phát triển bền vững. 

3. Ban Tuyên Truyền đã tổ chức rất nhiều hoạt động tập trung như trì chú online, hội cúng, khiến cho tông phái trở nên đoàn kết hơn và có sức mạnh gắn kết hơn.

4. Ban Giáo Dục thực hiện đẩy mạnh các khóa đào tạo bồi dưỡng nhân viên hoằng pháp các cấp, đại diện của đạo tràng hoặc đồng môn, vì thế chất lượng của tông phái từ trên xuống dưới sẽ được nâng cao trong tương lai gần. 

5. Thành lập nền tảng cho Tổng hội Công đức Chân Phật làm cơ sở cho việc vận hành gây quỹ cho Tông Ủy Hội sau  này. 

Đây đều là những nghiệp vụ đổi mới mà Tông Ủy Hội nhiệm kỳ trước đã xây dựng.

Các việc của tông phái quy mô lớn được Tông Ủy Hội nhiệm kỳ này lên kế hoạch và thúc đẩy bao gồm:
1. Kế hoạch khen thưởng đạo tràng và cá nhân xuất sắc của Ban Giám Sát.
2. Trang web Chân Phật Tông Vụ tổng hợp toàn bộ nguồn tài nguyên của tông phái.
3. Ban Quan Hệ Công Chúng sẽ triển khai toàn bộ kế hoạch chăm sóc tăng chúng.
4. Để tăng cường tuyên truyền phát triển các công việc của tông phái, Ban Tuyên Truyền đã thành lập nhóm phóng viên tông vụ.
5. Thu nạp các tài năng tinh anh làm cố vấn cho việc phát triển tông phái, Tông Ủy Hội đã lên kế hoạch thành lập hội Xúc tiến Phát triển Tông vụ và sẽ cố gắng để thành lập và vận hành trong thời gian sớm nhất.
6. Nhân viên hành chính và nhân viên được mời đặc biệt của Tông Ủy Hội sẽ sát hạch để lập kế hoạch khen thưởng để mong thu hút càng nhiều nhân tài ưu tú tham gia giúp đỡ Tông Ủy Hội.


![image](/img/img_3ae82c8a53ee888fb6b00160bd7746d4.jpg)


❓** Hỏi: **Trưởng lão Thích Liên Tăng đã là trưởng Ban Giám Sát của Tông Ủy Hội, đồng thời cũng là trưởng lão danh dự của Bộ Truyền Pháp, lại còn phải chăm lo cho Tôn Thắng Lôi Tạng Tự, làm sao để cân bằng xử lý những nghiệp vụ này? Thượng sư có thể kể rõ quá trình hoạt động của tâm trí mình được không?

🌟 **Đáp: **Khi có nhiều chức vụ thì theo thứ tự từng bước hoàn thành công việc, chỉ cần làm tốt vài điểm quan trọng:
1. Sự tin tưởng lẫn nhau trong nhóm — thiết lập sự đồng thuận và mục tiêu chung của nhóm làm việc.
2. Lên kế hoạch trước — Nếu muốn đến đích, bạn phải lên kế hoạch trước cho lộ trình để đạt được kết quả gấp đôi với một nửa công sức.
3. Phân công cụ thể — Thành viên trong nhóm đều phải biết trách nhiệm và nghiệp vụ của mình.
4. Chấp hành chính xác — Thiết lập theo dõi công việc để đảm bảo rằng các kế hoạch được thực hiện chính xác.
5. Đánh giá thực tế – khi công việc tiến triển, hãy tiến hành đánh giá và cải tiến một cách thực tế và liên tục.
6. Cống hiến quên mình – không lấy lợi ích riêng mà làm hại việc công, lấy sự phát triển của tông phái làm trọng tâm.

Thượng sư Thích Liên Tăng có nói rằng bản thân hiện tại dành 2/3 thời gian ở Seattle để giúp đỡ mọi việc, 1/3 thời gian trở về Tôn Thắng Lôi Tạng Tự, và nói rằng Thượng sư đặc biệt cảm ơn sự tín nhiệm và ủng hộ của hội đồng Tôn Thắng Lôi Tạng Tự và đồng môn để Thượng sư có thể yên tâm phụng sự Sư Phật và giúp đỡ Tông Ủy Hội. Cũng cảm ơn sự ủng hộ của các vị trưởng lão của Bộ Truyền Pháp, các Thượng sư, thầy giảng dạy, pháp sư ở văn phòng làm việc của Seattle để cho nghiệp vụ của trung tâm hồi đáp thư tín và tông phái được tiến hành thuận lợi.

Cảm ơn trưởng lão Thích Liên Tăng đã chia sẻ nghiệp vụ và phương pháp lên kế hoạch của bản thân, cũng mong rằng mọi người tuân thủ lời dạy của Căn bản Thượng sư, dưới sự dẫn dắt của Tông Ủy Hội, người người tôn trọng và tuân thủ quy tắc và giới luật, phát tâm bồ đề, cùng thúc đẩy Chân Phật bát nhã, lợi lạc tất cả chúng sinh hữu tình. 

**Chú thích: **Tin vui cho các đồng môn người VN. Trang web Chân Phật Tông Vụ sẽ có cả tiếng Việt. Khi trang web chính thức ra mắt, các đồng môn người Việt đều có thể tạo tài khoản cá nhân của mình, từ đó có thể thâm nhập vào hệ thống tư liệu của Chân Phật Tông - kho tàng dữ liệu này đã và đang được dịch sang tiếng Việt, có thể tìm hiểu mọi hoạt động của Chân Phật Tông đang diễn ra, và giao lưu với các chùa, đạo tràng và đồng môn trên toàn thế giới.

---
# File: gioi-thieu/tin-vat-truyen-thua-cua-lien-sinh-hoat-phat.md
# Title: Tín vật truyền thừa của Liên Sinh Hoạt Phật
---

![image](/img/img_71c2d82c7a8274c5f64d78c7aaaaef8f.jpg)



# Tín vật truyền thừa của Liên Sinh Hoạt Phật


Ở Hồng Kông, tôi đã đến thăm Thubten Dhargye Thượng sư. Việc này khiến tôi nhớ đến các tín vật truyền thừa mà tổ sư các đời đã để lại cho tôi. 

Tôi lần lượt liệt kê chúng ra đây như sau:


### **Về Hồng giáo**


(1) Chuông kim cang nhỏ — là Liễu Minh Hòa Thượng tặng. Bên ngoài màu đen, kết cấu rất chuẩn xác, nhìn mộc mạc chân phương, nhưng nó chính là cái chuông mà Norla Thượng sư của Hồng giáo sử dụng, âm thanh trong trẻo.

(2) Tráp Văn Thù — là Liễu Minh Hòa Thượng tặng, là báu vật nổi tiếng và đặc biệt như một món đồ tinh xảo. Đây vốn là một món đồ của cung điện Potala, Norla Thượng sư tặng cho Liễu Minh Hòa Thượng, Liễu Minh Hòa Thượng tặng cho tôi. Đây là món đồ thủ công tinh xảo thượng hạng, là tráp báu vô cùng trân quý.


### **Về Hoàng giáo**


(1) Bức Kim Cang Thủ Bồ Tát nặn bằng đất — là món đồ của Cam Châu Hoạt Phật, thậm chí trong tưởng tượng bạn cũng không tưởng tượng được, dùng đất sét để tạo hình, tinh xảo trang nghiêm, có tô màu, kích cỡ nhỏ trong lòng bàn tay, to hơn ngón tay cái một chút, không người nào có thể tưởng tượng được. Là Cam Châu Hoạt Phật tặng cho Thubten Dhargye Thượng sư, rồi Thubten Dhargye Thượng sư tặng cho tôi.

(2) Bức Kim Cang Hợi Mẫu nặn bằng đất — là món đồ của Cam Châu Hoạt Phật, kích cỡ giống như bức Kim Cang Thủ Bồ Tát nặn bằng đất sét, không tô màu nhưng đẹp y như nhau, bất khả tư nghì, là Thubten Dhargye Thượng sư tặng cho tôi.

(3) Bức Thời Luân Kim Cang bằng vàng —  là món đồ của Cam Châu Hoạt Phật, được làm từ vàng ròng, có chú tự thời luân, sau lưng có chữ ký “Cam Châu”. Thubten Dhargye Thượng sư căn dặn ví dụ như khi làm đại pháp hội thì mang theo là được.

(Ba món đồ ở trên là tín vật của Cam Châu Hoạt Phật.)

(4) Pháp luân bằng kim cương — là món đồ của Thubten Dhargye Thượng sư, dùng kim cương lấp lánh để khắc thành hình bánh xe pháp. Thượng sư nói với tôi trên thế giới chỉ có một cái, là tín vật duy nhất.

(5) Chuông chày kim cang bằng vàng — kích thước bằng ngón tay út, dùng để đeo trên chuỗi niệm hạt, là tín vật mà khi Thubten Dhargye Thượng sư quán đảnh Vô thượng mật bộ đã tặng cho tôi. 

(Tín vật mà Thượng sư truyền thừa của Hoàng giáo tặng cho tôi rất nhiều. Có móc bằng vàng, kính cánh dơi, tượng ngọc, Kim Cang Tát Đỏa, quả cầu thủy tinh, nhẫn vàng song long, Thần Tài Mũi Voi nằm, v.v…)

(6) Chày kim cang một chấu ba mặt — là tín vật được đặc biệt tặng cho tôi vào ngày 12/1/1993. Bên trên là Kim Cang Thần ba mặt, bên dưới là chày một chấu, Thubten Dhargye Thượng sư đặc biệt dặn dò tôi sau này làm pháp Yết ma có thể dùng vật này để hóa giải tất cả hung sát, chuyển nguy thành an.


### **Về Bạch giáo**


(1) Chuỗi niệm hạt bằng thủy tinh trắng — là món đồ của Đại Bảo Pháp Vương Karmapa 16, Pháp Vương thường cầm trên tay và chuyên niệm. Chuỗi niệm hạt bằng thủy tinh này, mỗi một hạt to như trứng chim, không phải là chuỗi hạt thủy tinh bình thường, đeo trên tay. Khi tôi nhận quán đảnh Ngũ Phật nghiêm đỉnh, Pháp Vương đã thuận tay tặng chuỗi hạt lộng lẫy này cho tôi làm tín vật.

(2) Bình ngọc — là món đồ của Đại Bảo Pháp Vương Karmapa 16, Pháp Vương có rất nhiều món đồ bằng ngọc đủ kiểu đủ loại, trong nhà gần như thứ gì cũng có. Chỗ ngồi của ngài được lót bằng thảm Tây Tạng thượng hạng. Từ trên chiếc bàn trắng tinh, Pháp Vương lấy một chiếc bình ngọc tặng cho tôi làm tín vật, bình ngọc này đã từng được gọt giũa, là món đồ của tu viện Rumtek ở Sikkim. 

(Khi Đại Bảo Pháp Vương Karmapa 16 tặng tín vật cho tôi, các Lama có mặt ở đó đều vô cùng kinh ngạc, cho rằng là pháp duyên thù thắng và bất khả tư nghì.)


### **Về Hoa giáo**


(1) Tượng thánh của Phật Thích Ca Mâu Ni — là món đồ của Sakya Chứng Không Lama, đúc bằng đồng đen, niên đại rất lâu, to bằng bàn tay, ngài đem theo bên mình rất lâu, dùng vải trắng bọc lại. Sakya Chứng Không Lama giống như một tăng nhân khổ hạnh lang thang, trong bất kì hoàn cảnh nào đều không mang theo nhiều đồ vật bên mình.

(2) Ấn ngọc sư tử tuyết — là món đồ của Sakya Chứng Không Lama, đây là tín vật truyền thừa mà ngài đặc biệt tặng cho tôi. Núi tuyết là chỉ núi Tanggula [Đường Cổ Lạp Sơn], sư tử tuyết là linh thú của Tây Tạng, ngài muốn tôi sau này can đảm giống như sư tử kim cương.

(Sakya Chứng Không Lama [Dezhung Rinpoche III Kunga Tenpai Nyima] sinh ra tại Kunchok Lhundrup Tây Tạng, 16 tuổi xuất gia, 26 tuổi rời Tây Tạng, từng sống tại Bhutan, Sikkim, núi Himalaya ở bắc Ấn Độ để tu hành. Giới luật của ngài rất nghiêm, giới Mật tông của tôi đại bộ phận đều do ngài quán đảnh.)

Tín vật mà Sakya Chứng Không Lama tạng cho tôi còn có hoa sen, ấm ngọc, tóc kim cang, khóa kim cang, v.v… 

(Lời trong ảnh: Truyền thừa là pháp mạch quan trọng nhất của Mật giáo, tương đương với cội nguồn của tu học Mật giáo. Vì Mật giáo cần có thầy dạy, cho nên “khẩu nhĩ tương truyền” mới là đệ tử Mật giáo chân chính.)

---
# File: gioi-thieu/to-chuc-va-co-cau-cac-vi-tri-trong-chan-phat-tong.md
# Title: Tổ chức và cơ cấu các vị trí trong Chân Phật Tông
---

## Tổ chức và cơ cấu các vị trí trong Chân Phật Tông


*Tổ chức Chân Phật Tông (viết tắt là CPT)*

**Chân Phật Tông thế giới**

Thành lập: Năm 1975.
Tên gọi: Linh Tiên Chân Phật Tông, gọi tắt là Chân Phật Tông. Tên gọi này do Diêu Trì Kim Mẫu ban cho.
Tông chủ: A Di Đà Phật của Tây phương Cực Lạc thế giới.
Tôn chỉ thành lập: Tức thân thành Phật.
Tổng đường: Ma Ha Song Liên Trì, tại Tây phương Cực Lạc thế giới.

**Chân Phật Tông thế giới tông vụ ủy viên hội (gọi tắt là Tông Ủy Hội)**

Thành lập: Ngày 1/1/1997
Mục đích: Hoằng dương Chân Phật Mật Pháp một cách có trật tự và suôn sẻ.
Nhiệm vụ chủ yếu: Quản lí tất cả sự vụ của tông phái, trợ giúp các phân đường địa phương và Lôi Tạng Tự.
Phạm vi quyền lợi: Hành chính, giới luật, nhân sự, tài chính, pháp vụ, tuyển cử, giáo dục, v.v… Nếu có phát sinh Thượng sư hoặc phân đường CPT không nghe theo chỉ đạo và góp ý của Tông Ủy Hội, nhóm nòng cốt của Tông Ủy sẽ đưa ra quyết định. Quyết định cao nhất là: Thượng sư đó hoặc nhóm hoằng pháp đó phải rút khỏi đội ngũ CPT và gửi thông báo đến toàn thế giới.

**Tổng hội Mật giáo Chân Phật Tông**

Liên Sinh Hoạt Phật từng nói: “CPT là một tông phái thực tu Mật giáo, nói một cách nghiêm khắc là, tôn chỉ chỉ có “tức thân thành Phật”. Thế nhưng tôn chỉ này quá cao, cần phải thành lập một tổ chức Mật giáo thống nhất chính thức. Vì thế, CPT Tông Ủy Hội thúc đẩy các nước trên thế giới tự thành lập Tổng hội Mật giáo.”

Hiện tại trên toàn thế giới chỉ có 3 Tổng hội Mật giáo CPT được chính thức công nhận:

1. CPT Tổng hội Mật giáo Trung Quốc.

1. CPT Tổng hội Mật giáo Malaysia.

1. CPT Tổng hội Mật giáo Indonesia.

**Lôi Tạng Tự**

“Tiếng sấm rền vang thập pháp giới, Như Lai ẩn tạng hiển chân như”, đây là lời kệ mà Liên Sinh Hoạt Phật đề cho Lôi Tạng Tự. Hiện tại có gần 60 tòa Lôi Tạng Tự trên toàn thế giới. 

Hiện tại, ở VN không có Lôi Tạng Tự của CPT. 

**Phân đường, hội đồng tu**

Mục đích thành lập: cung cấp đạo tràng và các pháp bản (tài liệu tu tập) cho đồng môn, giúp đỡ chúng sinh quy y CPT, cùng tu Chân Phật Mật Pháp (viết tắt là CPMP), hoằng dương CPMP.
Điều kiện thành lập: yêu cầu phải có từ 40 người trở lên, địa điểm lập phân đường và hội đồng tu phải thích hợp mới có thể xin phép thành lập. Tên của phân đường, tên của hội đồng tu cần thỉnh Căn bản Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật ban cho mới xem là có truyền thừa, và là một tổ chức hoằng pháp có trật tự. (Các điều kiện để xin thành lập đã được Tông Ủy Hội công bố cụ thể.)

Nghĩa vụ và trách nhiệm thành lập: Ba nguyên tắc trọng yếu nhất là hộ trì Căn bản Truyền thừa Thượng sư, truyền thừa của CPT, hộ trì CPMP, tuân thủ giới luật Mật tông.


### **Cơ cấu tổ chức từ trên xuống dưới**


1. Người sáng lập CPT Liên Sinh Hoạt Phật - cũng là Căn bản Truyền thừa Thượng sư.

1. Sư Mẫu Liên Hương Kim cương Thượng sư.

1. Nhóm nòng cốt Tông Ủy Hội.

1. Tông Ủy Hội CPT thế giới.

1. Tổng hội Mật giáo ở các nước.

1. Tổ chức hợp pháp ở các nước được Tông Ủy Hội cho phép và công nhận. (Ở VN chưa có tổ chức CPT VN nào được Tông Ủy cho phép và công nhận.)

1. Hội đồng tu ở các nước.


![image](/img/img_bd39d92368572a04c204b098add756be.png)



### **Cấp bậc và quy định trang phục trong CPT**



![image](/img/img_b5726acce200445f518d4336154ee728.png)


**Xuất gia chúng**

Kim cương Thượng sư của CPT phải là người xuất gia, do chính Liên Sinh Hoạt Phật sắc phong và làm nghi thức xối nước quán đảnh Acharya (A-xà-lê). 

Xuất gia chúng của CPT đầu tiên phải xuống tóc xuất gia, bắt đầu từ pháp sư trở đi phải trải qua kiểm tra sát hạch để lựa chọn người đạt yêu cầu. 

Trang phục của các nhân viên hoằng pháp của CPT đều do Sư Tôn lập ra quy định, tất cả trang phục đều không được tự ý thay đổi. Muốn phân biệt đâu là nhân viên hoằng pháp thì hãy chú ý đến màu sắc ở cổ áo là được.

**Thượng sư:** trang phục Lama màu đỏ tía, cổ vàng. Trong CPT, chỉ có vị trí Thượng sư mới được phép đội mũ Ngũ Phật, và chỉ đội trong pháp hội và khi làm pháp. Thượng sư đã thọ giới xuất gia bình thường đều phải mặc trang phục Lama, không được mặc thường phục. 

**Giáo thọ sư:** những người đã thông qua bài kiểm tra pháp sư mới được lựa chọn vào vị trí này, mặc áo lama đỏ tía cổ xanh lục. 

**Pháp sư:** đệ tử tại gia của CPT khi xuất gia thì sẽ trở thành pháp sư của CPT, điều kiện phải trên 18 tuổi. Người xuất gia trong CPT đều do chính tay Sư Tôn xuống tóc hoặc do các Thượng sư khác thay mặt Sư Tôn cạo đầu. Pháp sư mặc trang phục Lama màu đỏ tía, cổ áo cùng màu.

**Tại gia chúng**

**Giảng sư và trợ giảng:**** **đệ tử tại gia muốn hỗ trợ hoằng pháp, có thể tham gia chương trình đào tạo và kì kiểm tra lựa chọn, đạt tiêu chuẩn sẽ được ủy nhiệm chức vụ trợ giảng. Trợ giảng sau một số năm giúp đỡ, đạt đến trình độ tu Mật pháp cao hơn, có phẩm đức hợp với giới luật của tông phái, năng lực độ chúng sinh biểu hiện xuất sắc, được Sư Mẫu tiến cử, và thông qua bài kiểm tra của Tông Ủy Hội, nếu đạt thì được thăng lên làm giảng sư. Giảng sư mặc áo đỏ cổ xanh lam, trợ giảng mặc áo đỏ cổ trắng.

**Nhân viên hoằng pháp tại gia:** có nhiệm kì hạn chế, và có thể gia hạn sau khi tham gia kì kiểm tra và đạt tiêu chuẩn, trừ trường hợp Sư Tôn trực tiếp chỉ thị cho một nhân viên hoằng pháp tại gia là có nhiệm kì vĩnh viễn, gọi là “nhân viên hoằng pháp tại gia cả đời”. 

**Trợ lí hoằng pháp:** là người giúp đỡ các nhân viên hoằng pháp nói đến ở trên trong các công việc liên quan đến pháp vụ, giúp đỡ đồng môn, phạm vi nhiệm vụ rất hạn chế.

---
# File: gioi-thieu/truyen-thua-ton-chi-cua-chan-phat-tong.md
# Title: Truyền thừa, tôn chỉ của Chân Phật Tông
---

### Truyền thừa của dòng phái


Đại Nhật Như Lai - Phật Nhãn Phật Mẫu - A Di Đà Phật - Liên Hoa Đồng Tử - Liên Sinh Hoạt Phật.

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn là một trong những ứng hóa thân của Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật. Hóa danh trong một kiếp là Liên Hoa Đồng Tử hạ giáng xuống cõi Ta Bà, dùng Chân Phật Mật Pháp để quảng độ chúng sinh.

Truyền thừa gia trì trực tiếp vô thượng của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn:
Thích Ca Mâu Ni Phật - A Di Đà Phật - Di Lặc Bồ Tát - Liên Hoa Sinh Đại Sĩ - Liên Sinh Hoạt Phật.

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đã được:

- Phật Thích Ca Mâu Ni thọ kí.

- Phật A Di Đà phó thác.

- Bồ Tát Di Lặc trao mũ miện đỏ.

- Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền thụ Mật pháp.

Tại thế gian này, Liên Sinh Hoạt Phật đã có được truyền thừa của bốn dòng phái lớn của Mật giáo gồm:

- Bạch giáo (phái Kagyupa) - Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16.

- Hoàng giáo (phái Gelugpa) - Thubten Dhargye Rinpoche.

- Hoa giáo (phái Sakya) - Sakya Chứng Không Rinpoche (Dezhung Rinpoche thứ ba).

- Hồng giáo (phái Nyingmapa) - Trung mật - Liễu Minh Hòa Thượng (Thanh Chân Đạo Trưởng).


### Lý luận cơ bản của Chân Phật Tông


Lấy trọng tâm là lời dạy của tổ sư Mật giáo Liên Hoa Sinh Đại Sĩ "kính sư, trọng pháp, thực tu", dựa vào sự thực tu thực chứng để chứng minh Phật pháp là có cơ sở lý luận, không phải là mê tín, đồng thời yêu cầu đệ tử quy y tu hành mỗi ngày.

Đối với hành vi, yêu cầu:
- Bên ngoài: mọi việc ác không làm, làm mọi điều thiện.
- Bên trong: tu luyện Mật pháp, đạt đến lý tưởng thành Phật là thân, khẩu, ý tam nghiệp thanh tịnh. Đồng thời yêu cầu đệ tử tuân thủ giới luật cơ bản của Hiển-Mật như 14 đại giới căn bản của Mật giáo, Sự sư pháp ngũ thập tung, và giới luật Chân Phật Tông.

Lấy tâm thái bình đẳng và bao dung để đối đãi với các tông phái khác.

Trong quá trình hoằng pháp làm lợi cho chúng sinh, vận dụng các pháp môn nhập thế tốt đẹp và tiện lợi để viên mãn nguyện vọng của chúng sinh, từ đó dẫn dắt con người đến với trí huệ Phật.

Không phân biệt bất kì tôn giáo tín ngưỡng, bất kì chủng tộc nào, tại gia, xuất gia, ăn chay, ăn mặn, ai cũng có thể quy y để tu trì Chân Phật Mật Pháp.


### Tôn chỉ của Chân Phật Tông


Lấy "kính sư, trọng pháp, thực tu" làm gốc.
Lấy "minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử" làm đích, từ đó nỗ lực tu tâm tu pháp.


### Sự thù thắng của Chân Phật Tông


Có thể lấy thành tựu quả vị làm nguyên nhân để tạo lập phương tiện tu trì.

Có pháp "Căn bản thượng sư tương ứng", còn gọi là "Liên Hoa Đồng Tử Kim Cương tương ứng đại pháp", là pháp đem lại cảm ứng nhanh nhất giữa Căn bản Truyền thừa Thượng sư và các đệ tử.

Chân Phật Tông có một bộ hoàn chỉnh trình tự tu hành "Pháp nhập thế" và "Pháp xuất thế", và Đại Bản Tôn Pháp thích hợp với con người với các căn khí Đạo - Hiển - Mật để tu trì.

Chân Phật Tông có một vị Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Đại Trì Minh Lư Thắng Ngạn tôn giả đã được thập phương tam thế tất thảy chư Phật Bồ Tát cùng minh chứng là một vị Kim Cương Thượng Sư với đầy đủ mười phẩm chất để là một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư.

Chân Phật Tông là một tông phái đã được nghiệm chứng. Chân Phật Mật Pháp ngoài khả năng hiển hiện thần thông nhập thế cứu độ đã được nghiệm chứng ra thì điều khiến cho thế nhân kinh ngạc còn là thành tựu xuất thế của nó tương đương với việc đạt được nghiệm chứng viên mãn. Nhìn chung những người tu tập Chân Phật Mật Pháp sau khi vãng sinh đều có được một dạng xá lợi nào đó từ tro, bao gồm cả nhiều người là tội phạm bị xử tử, nhưng sau khi quy y Liên Sinh Hoạt Phật rồi, tro của họ sau khi hỏa thiêu đều có hạt xá lợi. (*Các đệ tử Chân Phật Tông sau khi vãng sinh có được những hiện tượng cát tường rất nhiều, không thể kể hết.*)
Do vậy có thể thấy rằng: Chân Phật Tông là một tông phái đã được nghiệm chứng, Chân Phật Mật Pháp là Phật pháp chính tín thù thắng.

---
# File: hoat-dong/dang-ky-dat-sach-dot-01-truc-tuyen.md
# Title: Đăng ký đặt sách đợt 01 (trực tuyến)
---



---
# File: hoat-dong/index.md
# Title: Hoạt động
---

# Hoạt động

---
# File: hoat-dong/portfolio.md
# Title: Portfolio
---



---
# File: kinh-luat-luan/cao-vuong-kinh.md
# Title: Cao Vương Kinh
---

![image](/img/img_d0085e2899da9ae578a74ea3fd0a3f3a.jpg)



## Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Xuất bản năm: N/A
Xuất xứ tự tâm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Niệm **Cao Vương Kinh - Việt nghĩa** hoặc **Cao Vương Kinh - Hán Việt** hoặc **Cao Vương Kinh - Tiếng Trung** đều có hiệu lực như nhau. (Vào 13h ngày 06/04/2019, dưới sự thỉnh cầu của đệ tử tại Đài Loan, Liên Sinh Hoạt Phật đã đích thân gia trì cho hiệu lực trên.)


### Chuẩn bị


**Đại lễ bái
**Một lễ bái chư Phật mười phương.
Hai lễ bái chư Bồ Tát.
Ba lễ bái Hộ Pháp Kim Cang.
Bốn bái Bình đẳng một cúi đầu.

**Tịnh khẩu nghiệp chân ngôn**
Ôm, su-ri, su-ri, ma-ha-su-ri, su-su-ri, sô-ha  [Om suri suri mahasuri susuri soha]

**Tịnh thân nghiệp chân ngôn
**Ôm, su-đô-ri, su-đô-ri, su-mô-li, su-mô-li, sô-ha  [Om sudori sudori sumoli sumoli soha]

**Tịnh ý nghiệp chân ngôn
**Ôm, va-zờ-ra-đam, hô-hô-hùm  [Om vajradam ho ho hum]

**Hương tán
**Lư hương sạ nhiệt. Pháp giới mông huân.
Chân Phật hải hội tất diêu văn. Tùy xứ kết tường vân.
Thành ý phương ân. Chư Phật hiện toàn thân.

Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần)
Nam mô Chân Phật hội thượng chư Phật Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần)

**Khai kinh kệ**

Phật pháp rộng sâu rất nhiệm màu.
Trăm nghìn vạn kiếp khó tìm cầu.
Nay con nghe thấy chuyên trì tụng.
Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm sâu.


### Cao Vương Kinh - Việt nghĩa


Phụng thỉnh bát đại Bồ Tát
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Kim Cang Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Diệu Cát Tường Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.

Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ thất Phật. Vị lai hiền kiếp thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Niệm danh hiệu Phật sáu phương
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyệt Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Hết thảy chúng sinh trung ương, chư vị trong Phật giới, trú ngụ trên mặt đất, cho đến tại không trung, thương lo cho tất cả chúng sinh. Ai cũng an ổn tốt lành. Ngày đêm tu trì. Tâm thường cầu tụng kinh này. Diệt được khổ sinh tử. Tiêu trừ hết độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Tụng bản kinh không ngừng. Thất Phật Thế Tôn. Liền nói chú sau:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-lô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-ki-a-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha” (7 lần)

Mười phương Quan Thế Âm. Hết thảy chư Bồ Tát.
Đã thề cứu chúng sinh. Xướng danh tất giải thoát.

Nếu gặp người trí tuệ. Ân cần mà giảng nói.
Lại có đủ nhân duyên. Đọc tụng không ngơi nghỉ.
Tụng kinh tròn nghìn biến. Niệm niệm tâm không dừng.
Gặp lửa cháy chẳng sao. Việc đao binh cũng thoát.
Nóng giận thành vui vẻ. Chết rồi hóa sống vui.
Đừng nghĩ rằng không đúng. Chư Phật chẳng nói chơi.
Cao Vương Quan Thế Âm. Cứu được hết khổ nạn.
Lúc khó khăn nguy cấp. Người chết còn thành sống.
Chư Phật chẳng nói đùa. Vì vậy nên đảnh lễ.
Niệm tụng trọn nghìn lần. Tội nặng đều tiêu diệt.
Người có phúc tín tâm. Hãy chuyên tâm đọc tụng.

Nguyện mang công đức này. Gửi tới hết chúng sinh.
Tụng tròn một nghìn biến. Tội nặng đều tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (Hết)!

**Hồi hướng kệ
**Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh độ.
Trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ tam đồ.
Nếu có kẻ thấy nghe, đều phát lòng bồ đề.
Hết một báo thân này, đồng sinh cõi Cực Lạc.


### Cao Vương Kinh - Hán Việt


Phụng thỉnh bát đại Bồ Tát
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Kim Cang Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Diệu Cát Tường Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.

Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyệt Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-lô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-ki-a-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha” (7 lần)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!

**Hồi hướng kệ**
Nguyện dĩ thử công đức, trang nghiêm Phật tịnh thổ.
Thượng báo tứ trùng ân, hạ tế tam đồ khổ.
Nhược hữu kiến văn giả, tất phát bồ đề tâm.
Tận thử nhất báo thân, đồng sinh Cực lạc quốc.

**(Hết)**

---
# File: kinh-luat-luan/chan-phat-kinh.md
# Title: Chân Phật Kinh
---

![image](/img/img_b4fe904f57745707c1baf3baa8391e20.jpg)



# Chân Phật Kinh


Xuất bản năm: N/A
Xuất xứ tự tâm: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Niệm **Chân Phật Kinh - Việt nghĩa** hoặc **Chân Phật Kinh - Hán Việt** hoặc **Chân Phật Kinh - Tiếng Trung** đều có hiệu lực như nhau. (Vào 13h ngày 06/04/2019, dưới sự thỉnh cầu của đệ tử tại Đài Loan, Liên Sinh Hoạt Phật đã đích thân gia trì cho hiệu lực trên.)


## Chuẩn bị


**Đại lễ bái
**Một lễ bái chư Phật mười phương.
Hai lễ bái chư Bồ Tát.
Ba lễ bái Hộ Pháp Kim Cang.
Bốn bái Bình đẳng một cúi đầu.

**Tịnh khẩu nghiệp chân ngôn**
Ôm, su-ri, su-ri, ma-ha-su-ri, su-su-ri, sô-ha  [Om suri suri mahasuri susuri soha]

**Tịnh thân nghiệp chân ngôn
**Ôm, su-đô-ri, su-đô-ri, su-mô-li, su-mô-li, sô-ha  [Om sudori sudori sumoli sumoli soha]

**Tịnh ý nghiệp chân ngôn
**Ôm, va-zờ-ra-đam, hô-hô-hùm  [Om vajradam ho ho hum]


### Niệm văn cầu thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật gia trì


Ôm A Hùm [Om Ah Hum]
Kính đem thân khẩu ý thanh tịnh.
Cúng dường Tỳ Lô Giá Na Tôn.

Pháp thân Phật Nhãn Phật Mẫu Thánh.
Báo thân Liên Hoa Đồng Tử thân.
Ứng Thân giáo chủ Liên Sinh Phật.
Ba thân không khác, đại Phật ân.

Cung kính Chân Phật đại truyền thừa.
Thần thông ban trải đầy thế giới.
Phóng quang chiếu rọi khắp ba thời.
Hóa hiện không ngừng chứng nhất như.
Đệ tử tha thiết thường cầu tới.
Soi chiếu quang minh, phúc huệ tăng.

Xưa đến thọ ký, Phật Thích Ca.
Phó thác ân cần, A Di Đà.
Di Lặc Bồ Tát ban hồng quán.
Liên Hoa Đại Sĩ mật pháp truyền.
Thánh Tôn xin thỉnh đừng quên nguyện.
Cứu độ chúng sinh chúng con đây.
Hộ niệm như thế xin nhiếp thọ.
Thành tựu nhanh nhanh thỉnh gia trì.

Nam mô Tỳ Lô Giá Na Phật.
Nam mô Phật Nhãn Phật Mẫu.
Nam mô Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Chân Phật hải hội thập phương tam thế chư Phật Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Niệm thánh cáo (3 lần)**
Tây phương Liên Trì hải hội, Ma Ha Song Liên Trì, thập bát đại Liên Hoa Đồng Tử, Bạch Y Thánh Tôn, Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng sư, Chủ Kim Cương Chân Ngôn Giới Bí Mật Chủ, Đại Trì Minh Đệ Nhất Thế Linh Tiên Chân Phật Tông. Lư Thắng Ngạn mật hành tôn giả.

**Hương tán
**Lư hương sạ nhiệt. Pháp giới mông huân.
Chân Phật hải hội tất diêu văn. Tùy xứ kết tường vân.
Thành ý phương ân. Chư Phật hiện toàn thân.

Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần)
Nam mô Chân Phật hội thượng chư Phật Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần)

**Phụng thỉnh hai Phật tám Bồ Tát
**Nam mô Pháp Giới Tối Thắng Cung Tỳ Lô Giá Na Phật.
Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới A Di Đà Phật.
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Kim Cương Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Diệu Cát Tường Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.


### **Khai kinh kệ**


Phật pháp rộng sâu rất nhiệm màu.
Trăm nghìn vạn kiếp khó tìm cầu.
Nay con nghe thấy chuyên trì tụng.
Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm sâu.


## Chân Phật Kinh - Việt nghĩa


Tôi nghe như vầy.
Một thời, Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử tại Ma Ha Song Liên Trì, ngồi trên pháp tọa hoa sen lớn màu trắng, xung quanh là mười bảy đóa hoa sen lớn khác.


Hoa màu xanh phát ánh sáng xanh.
Hoa màu vàng phát ánh sáng vàng.
Hoa màu đỏ phát ánh sáng đỏ.
Hoa màu tím phát ánh sáng tím.
Mỗi đóa hoa sen tỏa ra hương thơm tinh khiết vi diệu.

Bạch Liên Hoa Đồng Tử âm thầm vận thần thông làm Ma Ha Song Liên Trì biến hóa thành ánh sáng vàng kim chói lọi. Tất cả hương hoa tỏa mạnh ra thơm ngát. Tiên thảo cũng tỏa ngát hương thơm. Chim Bạch hạc, Khổng tước, Anh vũ, Xá lợi, chim Ca lăng tần già, chim Cộng mạng, đều hóa màu vàng kim, cùng hót lên âm thanh hòa nhã của cõi trời.

Trong hư không xuất hiện ánh sáng vàng kim cùng âm thanh cõi trời thanh tịnh vi diệu. Có hương thơm nồng tỏa trong các thế giới, có tầng các bằng vàng trên không trung, tất cả cùng phát hào quang hoa rực rỡ. Mọi chốn nở đầy hoa sen vàng kim và hoa trời bay phấp phới khắp hư không.

Lúc bấy giờ,
Ma Ha Song Liên Trì chấn động mạnh mẽ. Vô lượng chư Thiên đều cảm nhận được, chư Phật, chư Bồ Tát cùng chư Thanh Văn cũng đều cảm nhận được, tất cả liền đi đến Ma Ha Song Liên Trì. Ba mươi ba vị thiên chủ cõi trời cũng vội đến Ma Ha Song Liên Trì. Tập hợp liền hai mươi tám loại thiên chúng, Đế Thích, Phạm Vương, bát bộ, tứ chúng. Rộng giảng nói pháp yếu.

Lúc bấy giờ:
Kim Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Đại trí huệ.
Bạch Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Pháp giới.
Lục Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Vạn bảo.
Hắc Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Hàng phục.
Hồng Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Hạnh nguyện.
Tử Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Đoan nghiêm.
Lam Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Quả đức.
Hoàng Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Phúc túc.
Tranh Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Đồng chân. 

Chư Thiên thấy vậy cảm thấy kinh ngạc lạ kỳ. Thế là Đế Thích từ trong chỗ ngồi đứng dậy, cúi đầu hướng về Bạch Liên Hoa Đồng Tử mà thưa rằng: "Thánh Tôn, thật hy hữu hiếm có. Ma Ha Song Liên Trì do nhân duyên nào mà xuất hiện ánh sáng đại quang hoa rực rỡ này?"

Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử nói: "Đó là vì để thuyết giảng cho các ông vậy."
Đế Thích nói: "Thánh Tôn uy quyền tối tôn. Chỉ mong Thánh Tôn vì chúng sinh mà tuyên thuyết. Tất cả trời người sẽ đều biết phải hướng quay về."

Lúc bấy giờ Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử nói với Đế Thích cùng các đại chúng: "Lành thay lành thay. Nay ta vì các ông và chúng sinh đời mạt thế, cùng những người hữu duyên trong đời tương lai, giảng cho tất cả đều biết đạo lý chân thực Phật pháp và tiêu tai ban phúc."

Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử liền nói tiếp:
"Chư Phật, Bồ Tát cứu độ chúng sinh.

Có:
Tối Thắng thế giới,
Diệu Bảo thế giới,
Viên Châu thế giới,
Vô Ưu thế giới,
Tịnh Trú thế giới,
Pháp Ý thế giới,
Mãn Nguyệt thế giới,
Diệu Hỷ thế giới,
Diệu Viên thế giới,
Hoa Tạng thế giới,
Chân Như thế giới,
Viên Thông thế giới.
Bây giờ sẽ có Chân Phật thế giới."

Thế là Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác cùng chư Thánh chúng nghe Thánh Tôn khai diễn Chân Phật thế giới.
Biết được sự cát tường, thiện thệ, đại bi, nhân quả của quá khứ - hiện tại - vị lai, là do Thánh Tôn vì chúng sinh hóa thân thị hiện, ai nấy hoan hỷ chưa từng có, cúi đầu tán thán mà hát lên bài kệ:

Thánh Tôn đại từ bi.
Vô thượng bí mật tôn.
Quá khứ sớm tu chứng.
Giới siêu phàm thoát tục.
Nay lập Chân Phật giới.
Xót thương chư chúng sinh.
Hóa thân làm giáo chủ.
Hạ giáng cõi Ta Bà.
Lành thay hiệu Liên Sinh.
Vì chúng sinh quảng thuyết.
Chúng con đều đã nghe.
Nguyện sẽ đại hộ trì.

Lúc bấy giờ, Thánh Tôn Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử nói với đại chúng:
"Tu hành lấy vô niệm làm chính giác Phật bảo. Lấy thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh làm Pháp bảo. Lấy Chân Phật Thượng sư làm Tăng bảo."

Thánh Tôn nói với đại chúng:
"Nếu có thiện nam tử, tín nữ tử vào ngày 18 tháng 5 hàng năm, tắm rửa trai giới, mặc y phục sạch sẽ, hoặc vào ngày 18 hàng tháng, hoặc ngày sinh thần của mình ở trước mật đàn, phụng thỉnh hai Phật tám Bồ Tát, tụng "Chân Thực Phật Pháp Tiêu Tai Ban Phúc Kinh" thì cầu gì tùy tâm, sẽ có cảm ứng. Có thể cúng dường hương, hoa, đèn, trà, quả, chí thành cầu nguyện, đều được như ý."

Thánh Tôn nói với đại chúng:
"Những vị quan chức, quý nhân, sa môn, cư sĩ, người tu đạo, phàm tục trong thế gian, nếu nghe kinh này, thêm thọ trì tụng niệm thì những người này bổng lộc chức vị tối thắng, thọ mệnh kéo dài, cầu trai được trai, cầu gái được gái, có được phúc nhiều vô lượng, là đại phúc bảo kinh tăng ích.
Những vong linh, oan thân trái chủ chưa được cứu độ mà còn ở trong chốn u minh, nếu có thể trì tụng kinh này, ấn tống kinh này thì người chết sẽ được lên trời, oan gia trái chủ sẽ bỏ đi, hiện tại còn gặt hái được phúc đức.
Những người nam, người nữ nào hoặc bị tà ma xâm phạm, hoặc bị quỷ thần hãm hại, hoặc có ác mộng hỗn loạn, nếu thọ trì kinh này, ấn tống kinh này thì tà ma sẽ bỏ chạy. Họ lập tức sẽ được an lạc.
Những ai có bệnh tật đeo bám, phải trả nhân quả nghiệp báo của kiếp trước hoặc có các bệnh do quỷ thần, nếu thọ trì kinh này, ấn tống kinh này thì tai ương sẽ được cứu, bệnh tật sẽ tiêu trừ.
Những ai có ác vận, dính phải kiện tụng, bị giam cầm tù tội nhưng có thể trì tụng kinh này, ấn tống kinh này thì tai họa sẽ được giải trừ, điều hung sẽ hóa thành cát tường.
Nếu hai nước xảy ra chiến tranh, có thể trì tụng kinh này, lập tượng cúng dường, sẽ được gia tăng uy lực, chiến thắng chắc chắn.
Người đọc tụng, người ấn tống, người bố thí, tất cả sẽ được cát tường như ý viên mãn, tiêu trừ các độc hại, có thể diệt sinh tử khổ."

Tây phương Chân Phật hải hội, tại Ma Ha Song Liên Trì, Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử đều ở trong đó mà nói chú rằng:
“Ôm, gu-ru, lién-sâng, sít-đi, hum” [Om guru liansheng siddhi hum] (vô số lần)

Thánh Tôn khi giảng xong kinh này, Đế Thích cùng chư đại chúng, Thiên long, Bát bộ, Tứ chúng cung kính hành lễ, tín thọ phụng hành.
Chân Thực Phật Pháp Tiêu Tai Ban Phúc Kinh (Hết!)

**Hồi hướng kệ
**Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật tịnh độ.
Trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ tam đồ.
Nếu có kẻ thấy nghe, đều phát lòng bồ đề.
Hết một báo thân này, đồng sinh cõi Cực Lạc.

**Mục chú giải**

Ma Ha Song Liên Trì: Hai hồ sen lớn.

Kim Liên Hoa Đồng Tử: Liên Hoa Đồng Tử màu vàng kim.

Bạch Liên Hoa Đồng Tử: Liên Hoa Đồng Tử màu trắng.

Lục Liên Hoa Đồng Tử: Liên Hoa Đồng Tử màu xanh lá.

Hắc Liên Hoa Đồng Tử: Liên Hoa Đồng Tử màu đen.

Hồng Liên Hoa Đồng Tử: Liên Hoa Đồng Tử màu đỏ.

Tử Liên Hoa Đồng Tử: Liên Hoa Đồng Tử màu tím.

Lam Liên Hoa Đồng Tử: Liên Hoa Đồng Tử màu xanh lam.

Hoàng Liên Hoa Đồng Tử: Liên Hoa Đồng Tử màu vàng.

Tranh Liên Hoa Đồng Tử: Liên Hoa Đồng Tử màu cam.

Chốn u minh: Âm gian, cõi âm.

Ấn tống: In và phát tặng kinh sách. 

Tín thọ phụng hành: Tin, hiểu và làm theo.


## Chân Phật Kinh - Hán Việt


Như thị ngã văn.
Nhất thời,
Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử tại Ma Ha Song Liên Trì, tọa ư Đại Bạch Liên Hoa pháp tọa chi thượng. Chu vi thập thất đóa đại liên hoa.

Thanh sắc thanh quang.
Hoàng sắc hoàng quang.
Xích sắc xích quang.
Tử sắc tử quang.
Các đóa liên hoa, vi diệu hương khiết.

Bạch Liên Hoa Đồng Tử, mặc vận thần thông, tương nhất cá Ma Ha Song Liên Trì, biến hóa đắc cách ngoại kim quang xán lạn. Sở hữu hương hoa toàn bộ nộ phóng. Thụy thảo phóng xuất hương tức. Bạch hạc, Khổng tước, Anh vũ, Xá lợi, Ca lăng tần già, Cộng mạng chi điểu, quân hóa kim sắc, xuất hòa nhã thiên âm.

Không trung kim sắc quang. Hữu tịnh diệu thiên âm lai tự hư không. Chư thế giới hương khí phân phức. Không trung kim các. Toàn sinh quang hoa. Biến phu kim liên. Hư không chi trung thiên hoa phiêu tán.

Nhĩ thời,
Ma Ha Song Liên Trì đại đại chấn động. Vô lượng chư thiên giai cảm thọ chi. Phật, Bồ Tát, Thanh văn giai cảm thọ chi, quân chí Ma Ha Song Liên Trì. Tam thập tam thiên chủ quân cản phó Ma Ha Song Liên Trì. Tập chư nhị thập bát Thiên chúng, Đế Thích, Phạm vương, Bát bộ, Tứ chúng, quảng thuyết pháp yếu.

Nhĩ thời,
Kim Liên Hoa Đồng Tử hiện xuất Đại tuệ quang.
Bạch Liên Hoa Đồng Tử hiện xuất Pháp giới quang.
Lục Liên Hoa Đồng Tử hiện xuất Vạn bảo quang.
Hắc Liên Hoa Đồng Tử hiện xuất Giáng phục quang.
Hồng Liên Hoa Đồng Tử hiện xuất Hành nguyện quang.
Tử Liên Hoa Đồng Tử hiện xuất Đoan nghiêm quang.
Lam Liên Hoa Đồng Tử hiện xuất Quả đức quang.
Hoàng Liên Hoa Đồng Tử hiện xuất Phúc túc quang.
Tranh Liên Hoa Đồng Tử hiện xuất Đồng chân quang.

Chư Thiên kiến chi, đại cảm kinh dị. Ư thị Đế Thích thung tọa nhi khởi, kê thủ hướng tiền, đối Bạch Liên Hoa Đồng Tử nhi thuyết: “Hy hữu Thánh tôn, Ma Ha Song Liên Trì dĩ hà nhân duyên hiện thử đại quang hoa?”

Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử thuyết: “Đương vị nhữ đẳng tế thuyết.”
Đế Thích thuyết: “Thánh tôn uy quyền tối tôn. Duy nguyện Thánh tôn vị chúng tuyên thuyết, nhất thiết Nhân, Thiên hàm tri quy hướng."

Nhĩ thời,
Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử cáo Đế Thích cập chư đại chúng thuyết: “Thiện tai, thiện tai. Ngô kim vị nhữ cập mạt thế chúng sinh, hữu duyên giả ư đương lai chi thế, hàm cộng tri chi Chân Thực Phật Pháp Cập Tức Tai Tứ Phúc chi lý.”

Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử tức thuyết:
“Chư Phật, Bồ Tát cứu độ chúng sinh, hữu:
Tối Thắng thế giới,
Diệu Bảo thế giới,
Viên Châu thế giới,
Vô Ưu thế giới,
Tịnh Trú thế giới,
Pháp Ý thế giới,
Mãn Nguyệt thế giới,
Diệu Hỷ thế giới,
Diệu Viên thế giới,
Hoa Tàng thế giới,
Chân Như thế giới,
Viên Thông thế giới.
Như kim, tương hữu Chân Phật thế giới.”

Ư thị Phật, Bồ Tát, Thanh văn, Duyên giác, cập chư Thiên chúng văn Thánh tôn khai diễn Chân Phật thế giới.

Tri thị Quá khứ - Hiện tại – Vị lai chi cát tường Thiện thệ đại bi nhân quả. Thị Thánh tôn vị chúng sinh hóa thân kỳ hiện. Các các hoan hỷ đắc vị tằng hữu, kê thủ xưng tán nhi thuyết kệ ngôn:

Thánh tôn đại từ bi,
Vô thượng bí mật tôn.
Quá khứ tảo tu chứng,
Ly dục siêu phàm gian.
Kim sáng Chân Phật giới,
Liên mẫn chư quần hữu.
Hóa thân vi giáo chủ,
Hạ giáng chí Ta bà.
Thiện tai hiệu Liên Sinh,
Vị chúng quảng tuyên thuyết.
Ngã đẳng quân dĩ văn
Đương vi đại hộ trì.

Nhĩ thời,
Thánh tôn Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử cáo đại chúng:
“Tu hành dĩ vô niệm vi Chính giác Phật bảo, thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh vi Pháp bảo. Y Chân Phật thượng sư vi Tăng bảo.”

Thánh tôn cáo đại chúng:
“Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, ư mỗi niên ngũ nguyệt thập bát nhật, mộc dục trai giới, trước tân tịnh y phục, hoặc ư mỗi nguyệt thập bát nhật, hoặc bản mệnh sinh thần nhật, tại mật đàn tiền, phụng thỉnh nhị Phật, bát Bồ Tát, phụng tụng Chân Thực Phật Pháp Tức Tai Tứ Phúc Kinh, tùy tâm sở cầu, tự hữu cảm ứng. Canh năng cung dưỡng hương, hoa, đăng, trà, quả, kiền thành kỳ đảo, hàm đắc như ý.”

Thánh tôn cáo đại chúng:
“Thế gian cao quan, quý nhân, sa môn, cư sĩ, tu đạo, tục nhân đẳng, nhược văn thử kinh, thọ trì độc tụng. Như thị chi nhân, lộc vị tối tôn, thọ mệnh duyên trưởng, cầu tử đắc tử, cầu nữ đắc nữ, hoạch phúc tối thị vô lượng. Thị tăng ích đích đại phúc bảo kinh.
Nhược hữu tiên vong, oán thân trái chủ, vị năng đắc độ, trệ tiết u minh, nhược năng trì tụng bản kinh, ấn tống bản kinh, vong giả thăng thiên, oán thân thoái tán, hiện tồn hoạnh phúc.
Nhược hữu nam tử, nữ nhân, hoặc bị tà ma sở xâm, quỷ thần vi hại, ác mộng hôn loạn, thọ trì bản kinh, thí ấn bản kinh, tà quỷ thoái tàng, tức đắc an lạc.
Nhược hữu tật ách triền thân, tiền thế nhân quả nghiệp báo, quỷ thần bệnh đẳng, thọ trì bản kinh, ấn thí bản kinh, tức đắc tai ách tiêu trừ, bệnh nguyên lập giải.
Nhược hữu ác vận, quan tụng khiên triền, tù cấm ngục hệ, đãn năng trì tụng bản kinh, ấn thí bản kinh, tức đắc giải trừ, hung ương điễn diệt, hóa vi cát tường.
Nhược lưỡng quốc tranh chiến, năng trì thử kinh, lập tượng cung dưỡng, tức đắc gia uy, chiến vô bất thắng.
Tụng giả, ấn giả, thí giả, năng nhất thiết cát tường như ý viên mãn, tiêu trừ chư độc hại, năng diệt sinh tử khổ."

Tây phương Chân Phật hải hội, Ma Ha Song Liên Trì, Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử, tức ư kỳ trung, nhi thuyết chú viết:
“Ôm, gu-ru, lién-sâng, sít-đi, hum” [Om guru liansheng siddhi hum] (vô số biến)

Thánh tôn thuyết thử kinh dĩ, Đế Thích cập chư đại chúng, Thiên long, Bát bộ, Tứ chúng, cung kính tác lệ, tín thọ phụng hành.
Chân Thực Phật Pháp Tiêu Tai Tứ Phúc Kinh (Chung!)

**Hồi hướng kệ
**Nguyện dĩ thử công đức, trang nghiêm Phật tịnh thổ.
Thượng báo tứ trùng ân, hạ tế tam đồ khổ.
Nhược hữu kiến văn giả, tất phát bồ đề tâm.
Tận thử nhất báo thân, đồng sinh Cực lạc quốc.

**(Hết)**


## Chân Phật Kinh - Tiếng Trung - Bính âm



### 祈請蓮生活佛加持文


Qí qǐng lián shēng huó fó jiā chí wén

嗡。啞。吽。
om a hong.

敬以清淨身口意。供養毘盧遮那尊。
jìng yǐ qīng jìng shēn kǒu yì. gòng yǎng pí lú zhē nà zūn

法身佛眼佛母聖。報身蓮花童子身。
fǎ shēn fó yǎn fó mǔ shèng. bào shēn lián huā tóng zǐ shēn.

應身教主蓮生佛。三身無別大佛恩。
yīng shēn jiào zhǔ lián shēng fó. sān shēn wú bié dà fó ēn.

恭敬真佛大傳承。具足神通彌六合。
gōng jìng zhēn fó dà chuán chéng. jù zú shén tōng mí liù hé.

放光遍照於三際。一如無間能現證。
fàng guāng biàn zhào yú sān jì. yī rú wú jiàn néng xiàn zhèng.

佛子時時常哀請。光明注照福慧增。
fó zǐ shí shí cháng āi qǐng. guāng míng zhù zhào fu huì zēng.

昔日釋迦來授記。阿彌陀佛殷付託。
xī rì shì jiā lái shòu jì. ah mí tuó fó yīn fù tuō.

彌勒菩薩戴紅冠。蓮華大士授密法。
mí lè pú sà dài hóng guān. lián huá dà shì shòu mì fǎ.

祈請不捨弘誓願。救度我等諸眾生。
qí qǐng bù shě hóng shì yuàn. jiù dù wǒ děng zhū zhòng shēng.

如是護念而攝受。祈請加持速成就。
rú shì hù niàn ér shè shòu. qí qǐng jiā chí sù chéng jiù.

南摩毘盧遮那佛。
ná mó pí lú zhē nà fó.

南摩佛眼佛母。
ná mó fó yǎn fó mǔ.

南摩蓮花童子。
ná mó lián huā tóng zǐ.

南摩蓮生活佛。
ná mó lián shēng huó fó.

南摩真佛海會十方三世諸佛菩薩摩訶薩。(三稱）
ná mó zhēn fo hǎi huì shí fāng sān shì zhū fo pú sà mó hē sà.(sān chēng)

**唸聖誥三遍
niàn shèng gào sān biàn**

西方蓮池海會。摩訶雙蓮池。
xī fāng lián chí hǎi huì. mó hē shuāng lián chí.

十八大蓮花童子。白衣聖尊。
shí bā dà lián huā tóng zǐ. bái yī shèng zūn.

紅冠聖冕金剛上師。
hóng guān shèng miǎn jīn gāng shàng shī.

主金剛真言界秘密主。
zhǔ jīn gāng zhēn yán jiè mì mì zhǔ.

大持明第一世靈仙真佛宗。
dà chí míng dì yī shì líng xiān zhēn fó zōng.

盧勝彥密行尊者。
lú shèng yàn mì xíng zūn zhě.

**香讚****
****xiāng zàn**

爐香乍熱。法界蒙熏。真佛海會悉遙聞。
lú xiāng zhà rè fǎ jiè méng xūn zhēn fó hǎi huì xī yáo wén.

隨處結祥雲。誠意方殷。諸佛現全身。
suí chù jié xiáng yún chéng yì fāng yīn zhū fú xiàn quán shēn.

南無香雲蓋菩薩摩訶薩 (三遍) 
ná mó xiāng yún gài pú sà mó hē sà (sān biàn).

南無真佛會上諸佛菩薩摩訶薩 (三遍)
ná mó zhēn fó huì shàng zhū fo pú sà mó hē sà (sān biàn).

**奉請二佛八菩薩
fèng qǐng èr fó bā pú sà**

南摩法界最勝宮毘盧遮那佛。
ná mó fǎ jiè zuì shèng gōng pí lú zhē nà fó.

南摩西方極樂世界阿彌陀佛。
ná mó xī fāng jí lè shì jiè ah mí tuó fó.

南摩觀世音菩薩摩訶薩。
ná mó guān shì yīn pú sà mó hē sà.

南摩彌勒菩薩摩訶薩。
ná mó mí lè pú sà mó hē sà.

南摩虛空藏菩薩摩訶薩。
ná mó xū kōng záng pú sà mó hē sà.

南摩普賢菩薩摩訶薩。
ná mó pǔ xián pú sà mó hē sà.

南摩金剛手菩薩摩訶薩。
ná mó jīn gāng shǒu pú sà mó hē sà.

南摩妙吉祥菩薩摩訶薩。
ná mó miào jí xiáng pú sà mó hē sà.

南摩除蓋障菩薩摩訶薩。
ná mó chú gài zhàng pú sà mó hē sà.

南摩地藏王菩薩摩訶薩。
ná mó di zàng wáng pú sà mó hē sà.

南摩諸尊菩薩摩訶薩。
ná mó zhū zūn pú sà mó hē sà.


### 開經偈


kāi jīng jì

無上甚深微妙法。
wú shàng shèn shēn wéi miào fǎ.

百千萬劫難遭遇。
bǎi qiān wàn jié nàn zāo yù.

我今見聞得受持。
wǒ jīn jiàn wén dé shòu chí.

願解如來真實義。
yuàn jiě rú lái zhēn shí yì.


### 蓮生活佛說「真實佛法息災賜福經」


lián shēng huó fó shuō 「zhēn shí fó fǎ xī zāi cì fú jīng」

如是我聞。一時大白蓮花童子。在摩訶雙蓮池。
rú shì wǒ wén. yī shí dà bái lián huā tóng zǐ. zài mó hē shuāng lián chí.

坐於大白蓮花法座之上。周圍十七朵大蓮花。
zuò yú dà bái lián huā fǎ zuò zhī shàng. zhōu wéi shí qī duǒ dà lián huā.

青色青光。黃色黃光。赤色赤光。
qīng sè qīng guāng. huáng sè huáng guāng. chi sè chì guāng.

紫色紫光。各朵蓮花。微妙香潔。
zǐ sè zǐ guāng. gè duǒ lián huā. wéi miào xiāng jié.

白蓮花童子。默運神通。將一個摩訶雙蓮池。變化得格外金光燦爛。
bái lián huā tóng zǐ. mò yùn shén tōng. jiāng yī gè mó hē shuāng lián chí. biàn huà dé gé wài jīn guāng càn làn.

所有香花全部怒放。瑞草放出香息。
suǒ yǒu xiāng huā quán bù nù fàng. ruì cǎo fàng chū xiāng xī.

白鶴。孔雀。鸚鵡。舍利。
bái hè. kǒng què. yīng wǔ. shè lì.

迦陵頻迦。共命之鳥。均化金色。出和雅天音。
jiā líng pín jiā. gòng mìng zhī niǎo. jūn huà jīn sè. chū hé yǎ tiān yīn.

空中金色光。有淨妙天音來自虛空。
kōng zhōng jīn sè guāng. yǒu jìng miào tiān yīn lái zì xū kōng.

諸世界香氣芬馥。空中金閣。全生光華。遍敷金蓮。虛空之中天花 飄散。
zhū shì jiè xiāng qì fēn fù. kōng zhōng jīn gé. quán shēng guāng huá. biàn fū jīn lián. xū kōng zhī zhōng tiān huā piāo sàn.

爾時。摩訶雙蓮池。大大震動。無量諸天皆感受之。
ěr shí. mó hē shuāng lián chí. dà dà zhèn dòng. wú liàng zhū tiān jiē gǎn shòu zhī.

佛菩薩聲聞皆感受之。均至摩訶雙蓮池。
fo pú sà shēng wén jiē gǎn shòu zhī jūn zhì mó hē shuāng lián chí.

三十三天主均趕赴摩訶雙蓮池。
sān shí sān tiān zhǔ jūn gǎn fù mó hē shuāng lián chí.

集諸二十八天眾。帝釋。梵王。
jí zhū èr shí bā tiān zhòng. dì shì. fàn wáng.

八部四眾。廣說法要。
bā bù sì zhòng. guǎng shuō fǎ yào.

爾時。金蓮花童子現出大慧光。
ěr shí. jīn lián huā tóng zǐ xiàn chū dà huì guāng.

白蓮花童子現出法界光。
bái lián huā tóng zǐ xiàn chū fǎ jiè guāng.

綠蓮花童子現出萬寶光。
lǜ lián huā tóng zǐ xiàn chū wàn bǎo guāng.

黑蓮花童子現出降伏光。
hēi lián huā tóng zǐ xiàn chū xiáng fú guāng.

紅蓮花童子現出行願光。
hóng lián huā tóng zǐ xiàn chū xíng yuàn guāng.

紫蓮花童子現出端嚴光。
zǐ lián huā tóng zǐ xiàn chū duān yán guāng.

藍蓮花童子現出果德光。
lán lián huā tóng zǐ xiàn chū guǒ dé guāng.

黃蓮花童子現出福足光。
huáng lián huā tóng zǐ xiàn chū fú zú guāng.

橙蓮花童子現出童真光。
chéng lián huā tóng zǐ xiàn chū tóng zhēn guāng.

諸天見之。大感驚異。
zhū tiān jiàn zhī. dà gǎn jīng yì.

於是帝釋從座而起。稽首向前對白蓮花童子而說。
yú shì dì shì cóng zuò ér qǐ. qǐ shǒu xiàng qián duì bái lián huā tóng zǐ ér shuō.

稀有聖尊。摩訶雙蓮池。以何因緣。現此大光華。
xī yǒu shèng zūn. mó hē shuāng lián chí. yǐ hé yīn yuán. xiàn cǐ dà guāng huá.

大白蓮花童子說。當為汝等細說。帝釋說。
dà bái lián huā tóng zǐ shuō. dāng wèi rǔ děng xì shuō. dì shì shuō.

聖尊威權最尊。惟願聖尊為眾宣說。一切人天咸知皈向。
shèng zūn wēi quán zuì zūn. wéi yuàn shèng zūn wèi zhòng xuān shuō. yī qiè rén tiān xián zhī guī xiàng.

爾時。大白蓮花童子告帝釋及諸大眾說。
ěr shí. dà bái lián huā tóng zǐ gào dì shì jí zhū dà zhòng shuō.

善哉善哉。吾今為汝及末世眾生。
shàn zāi shàn zāi. wú jīn wéi rǔ jí wèi shì zhòng shēng.

有緣者於當來之世。咸共知之真實佛法及息災賜福之理。
yǒu yuán zhě yú dāng lái zhī shì. xián gòng zhī zhī zhēn shí fó fǎ jí xī zāi cì fú zhī lǐ.

大白蓮花童子即說。諸佛菩薩救度眾生。
dà bái lián huā tóng zǐ jí shuō. zhū fó pú sà jiù dù zhòng shēng.

有最勝世界。妙寶世界。圓珠世界。
yǒu zuì shèng shìj iè. miào bǎo shì jiè. yuán zhū shì jiè.

無憂世界。淨住世界。法意世界。滿月世界。
wú yōu shì jiè. jìng zhù shì jiè. fǎ yì shì jiè. mǎn yuè shì jiè.

妙喜世界。妙圓世界。華藏世界。
miào xǐ shì jiè. miào yuán shì jiè. huá záng shì jiè.

真如世界。圓通世界。如今。將有真佛世界。
zhēn rú shì jiè. yuán tōng shì jiè. rú jīn. jiāng yǒu zhēn fó shì jiè.

於是佛菩薩聲聞緣覺及諸天眾聞聖尊開演真佛世界。
yú shì fó pú sà shēng wén yuán jué jí zhū tiān zhòng wén shèng zūn kāi yǎn zhēn fó shì jiè.

知是過去現在未來之吉祥善逝大悲因果。是聖尊為眾生化身示現。
zhī shì guò qù xiàn zài wèi lái zhī jí xiáng shàn shì dà bēi yīn guǒ. shì shèng zūn wèi zhòng shēng huà shēn shì xiàn.

各各歡喜得未曾有。稽首稱讚而說偈言。
gè gè huān xǐ dé wèi céng yǒu. qǐ shǒu chēng zàn ér shuō jì yán.

聖尊大慈悲。無上秘密尊。
shèng zūn dà cí bēi. wú shàng mì mì zūn.

過去早修證。離欲超凡間。
guò qù zǎo xiū zhèng. lí yù chāo fán jiān.

今創真佛界。憐愍諸群有。
jīn chuàng zhēn fó jiè. lián mǐn zhū qún yǒu.

化身為教主。下降至娑婆。
huà shēn wèi jiào zhǔ. xià jiàng zhì suō pó.

善哉號蓮生。為眾廣宣說。
shàn zāi hào lián shēng. wèi zhòng guǎng xuān shuō.

我等均已聞。當為大護持。
wǒ děng jūn yǐ wén. dāng wéi dà hù chí.

爾時。聖尊大白蓮花童子告大眾。
ěr shí. shèng zūn dà bái lián huā tóng zǐ gào dà zhòng.

修行以無念為正覺佛寶。
xiū xíng yǐ wú niàn wèi zhèng jué fó bǎo.

身清淨。口清淨。意清淨為法寶。依真佛上師為僧寶。
shēn qīng jìng. kǒu qīng jìng. yì qīng jìng wèi fǎ bǎo. yī zhēn fó shàng shī wèi sēng bǎo.

聖尊告大眾。若有善男子。善女人。於每年五月十八日。
shèng zūn gào dà zhòng. ruò yǒu shàn nán zǐ. shàn nǚ rén. yú měi nián wǔ yuè shí bā rì.

沐浴齋戒。著新淨衣服。
mù yù zhāi jiè. zhuo xīn jìng yī fú.

或於每月十八日。或本命生辰日。
huò yú měi yuè shí bā rì. huò běn mìng shēng chén rì.

在密壇前。奉請二佛八菩薩。奉誦「真實佛法息災賜福經」。隨心所求。自有感應。
zài mì tán qián. fèng qǐng èr fo bā pú sà. fèng sòng `zhēn shí fó fǎ xī zāi cì fú jīng’ suí xīn suǒ qiú. zì yǒu gǎn yìng.

更能供養香花燈茶果。虔誠祈禱。咸得如意。
gèng néng gòng yǎng xiāng huā dēng chá guǒ. qián chéng qí dǎo. xián dé rú yì.

聖尊告大眾。世間高官貴人
shèng zūn gào dà zhòng. shì jiān gāo guān guì rén.

沙門居士修道俗人等。若聞此經。受持讀誦。
shā mén jū shì xiū dào sú rén děng. ruò wén cǐ jīng. shòu chí dú sòng.

如是之人祿位最尊。壽命延長。
rú shì zhī rén lù wèi zuì zūn. shòu mìng yán cháng.

求子得子。求女得女。獲福最是無量。是增益的大福寶經。
qiú zi dé zi. qiú nǚ dé nǚ. huò fú zuì shì wú liàng. shì zēng yì de dà fú bǎo jīng.

若有先亡。怨親債主。未能得度。滯泄幽冥。
ruò yǒu xiān wáng. yuàn qīn zhài zhǔ. wèi néng dé dù. zhì xiè yōu míng.

若能持誦本經。印送本經。亡者昇天。怨親退散。現存獲福。
ruò néng chí sòng běn jīng. yìn sòng běn jīng. wáng zhě shēng tiān. yuàn qīn tuì sàn. xiàn cún huò fú.

若有男子女人。或被邪魔所侵。鬼神為害。惡夢昏亂。
ruò yǒu nán zǐ nǚ rén. huò bèi xié mó suǒ qīn. guǐ shén wéi hài. è mèng hūn luàn.

受持本經。施印本經。邪鬼退藏。即得安樂。
shòu chí běn jīng. shī yìn běn jīng xié guǐ tuì cáng. jí dé ān lè.

若有疾厄纏身。前世因果業報。鬼神病等。
ruò yǒu jí è chán shēn. qián shì yīn guǒ yè bào. guǐ shén bìng děng.

受持本經。印施本經。即得災厄消除。病源立解。
shòu chí běn jīng. yìn shī běn jīng. jí dé zāi’è xiāo chú. bìng yuán lì jiě.

若有惡運。官訟牽纏。囚禁獄繫但能持誦本經。印施本經。即得解除。
ruò yǒu è yùn. guān sòng qiān chán. qiú jìn yù xì dàn néng chí sòng běn jīng. yìn shī běn jīng. jí dé jiě chú.

凶殃殄滅。化為吉祥。
xiōng yāng tiǎn miè. huà wéi jí xiáng.

若兩國爭戰。能持此經。立像供養。
ruò liǎng guó zhēng zhàn. néng chí cǐ jīng. lì xiàng gòng yǎng.

即得加威。戰無不勝。
jí dé jiā wēi. zhàn wú bù shèng.

誦者。印者。施者。能一切吉祥如意圓滿。
sòng zhě. yìn zhě. shī zhě. néng yī qiè jí xiáng rú yì yuán mǎn.

消除諸毒害。能滅生死苦。
xiāo chú zhū dú hài. néng miè shēng sǐ kǔ.

西方真佛海會。摩訶雙蓮池。
xī fāng zhēn fó hǎi huì. mó hē shuāng lián chí.

大白蓮花童子。即於其中。而說咒曰：
dà bái lián huā tóng zǐ. jí yú qí zhōng. ér shuō zhòu yuē:

「嗡。古魯。蓮生悉地。吽。」(無數遍）
“om. gǔ lǔ. lián shēng xī di. hōng.” (wú shù biàn)
“Om, guru, lian-sheng siddhi, hum.”

聖尊說此經已。帝釋及諸大眾。
shèng zūn shuō cǐ jīng yǐ. dì shì jí zhū dà zhòng.

天龍八部四眾。恭敬作禮。信受奉行。
tiān lóng bā bù sì zhòng. gōng jìng zuò lǐ. xìn shòu fèng xíng.

真實佛法息災賜福經終。
zhēn shí fó fǎ xī zāi cì fú jīng zhōng.

---
# File: kinh-luat-luan/dai-vien-man-cuu-thu-de-tap-1.md
# Title: Đại Viên Mãn cửu thứ đệ - Tập 1
---

## Giảng luận Đại Viên Mãn cửu thứ đệ - Tập 1


(Liên Sinh Hoạt Phật giảng Đại Viên Mãn cửu thứ đệ)

Văn tập số: N/A
Xuất bản năm: N/A
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên tập và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Bài giảng số 1


**Một chân pháp giới chẳng nhiễm vạn cảnh, ứng hóa tại thế gian rộng rãi giảng truyền Đại Viên Mãn cửu thứ đệ**

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã dùng phương thức "di truyền" để giấu pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" vào trong bộ não kiếp trước của Lư Sư Tôn.

(*Trong đại pháp hội Hộ Ma Tịnh Thổ Tam Tôn diễn ra tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự ở Hoa Kì vào ngày 2 tháng 6 năm 2013, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đã khai thị tinh yếu*.)

Hôm nay là buổi đầu tiên chúng ta bắt đầu nói về "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ". Đầu tiên, tôi xin nói về việc tôi đã có được truyền thừa pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" như thế nào.

Tôi có bốn vị sư phụ Mật giáo, người thứ nhất là Liễu Minh Hòa Thượng, người thứ hai là Sakya Chứng Không Thượng Sư, người thứ ba là Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16, người thứ tư là Thubten Dorjie Thượng Sư. Đây là bốn vị thầy căn bản của tôi. Trong số đó, vị thầy thứ nhất Liễu Minh Hòa Thượng thuộc phái Nyingmapa, Nyingmapa gọi là Cựu giáo. Mật giáo phân ra làm Cựu giáo và Tân giáo. Cựu giáo thì gọi là phái Nyingmapa.

Những tư tưởng của phái Nyingma là cũ, là cổ xưa. Hoàng giáo là Gelugpa, Hoa giáo là Sakya, Bạch giáo là Kagyupa, ba phái này thuộc về Tân giáo. Còn phái Nyingma là thuộc về Cựu giáo, là cổ xưa, chính là Hồng giáo. Bản thân Liễu Minh Hòa Thượng thuộc Hồng giáo. Khi còn ở Tứ Xuyên, ông ấy học tập pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" từ chỗ của Norlha Rinpoche. Do vậy, tôi nhận quán đảnh "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" ở chỗ của Liễu Minh Hòa Thượng thì đây là truyền thừa nhân gian của tôi.

Ngoài ra, tôi có một kiếp, nếu mà các bạn đã đọc cuốn "Đại chuyển thế của Pháp Vương" thì có thể đã biết, Sư Tôn từng có một kiếp là tán phổ (hoàng đế) Tây Tạng, tính từ cuối lên thì là vua Trisong Detsen đời thứ ba, cũng chính là vị Trisong Detsen đã mời Liên Hoa Sinh Đại Sĩ vào Tây Tạng. Khi ấy, vị đầu tiên vào Tây Tạng chính là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, vua Trisong Detsen đã bái Liên Hoa Sinh Đại Sĩ làm thầy, học tập "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ".

Hơn nữa, bên cạnh Liên Hoa Sinh Đại Sĩ còn có một vị chính là Tịnh Mệnh tôn giả (Tịnh Mệnh đại sư, còn gọi là Tịch Hộ đại sư), khi ấy họ ở cùng nhau, và họ còn xây Chùa Samye, hay còn gọi là Chùa Nhậm Vận. Ý nghĩa của nhậm vận chính là rất tự do tự tại, là ngôi chùa có thể nhậm vận trong hư không và trong thế giới Ta Bà.

Bản thân vua Trisong Detsen lúc học pháp cũng rất bí mật, bởi vì các vương thần khi ấy đều phản đối Phật giáo tương đối nhiều, tôn giáo ở Tây Tạng khi ấy là đạo Bon, Tây Tạng vốn tôn thờ thần linh tổ tiên, tôn thờ tự nhiên, đạo Bon và đạo Shaman cũng giống nhau cùng thờ đá, thờ cây, thờ núi, thờ sông hồ, thờ tất cả tổ tiên, tôn giáo này gọi là đạo Shaman. Khi ấy ở Tây Tạng, đạo Shaman vô cùng hưng thịnh. Khi Liên Hoa Sinh Đại Sĩ vào Tây Tạng, vua Trisong Detsen mặc dù nghênh đón Liên Sư nhưng khi ngài tu pháp thì lại rất bí mật.

Sau này, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ một mặt đi ngao du khắp Tây Tạng, đến Bhutan, thậm chí đến Nepal. Trong khi ngao du, ngài đã viết pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" bí mật lên những tấm da dê, giấu trong hang đá, giấu trong hồ nước, giấu trong cây, giấu ở những nơi bất kì, để sau này có người hữu duyên có thể phát hiện và lấy ra. Duy nhất có một cách giấu khác biệt, đó chính là ngài đã giấu pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" trong não của vua Trisong Detsen. Bởi vì Sư Tôn có nhân duyên chuyển thế như vậy nên Sư Tôn có thể ngồi thiền, tập trung vào trong thiền định là có thể hiển hiện ra "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" mà năm xưa Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã giấu vào trong não của tôi.

Ở đây gọi là truyền thừa "cách thời đại", nếu nói theo khoa học ngày nay thì chính là "gen di truyền", tôi có di truyền của pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", bởi vậy tôi có thể hiểu được "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ". Ở đây có hai truyền thừa, truyền thừa thứ nhất là truyền thừa nhân gian, là do Liễu Minh Hòa Thượng quán đảnh "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" cho Lư Sư Tôn, truyền thừa thứ hai chính là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã dùng phương thức "di truyền" để giấu pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" của chính mình vào trong não của vua Trisong Detsen, chờ đến khi chuyển thế, vì đã có "gen" của "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" rồi, nên trong khi ngồi thiền có thể tự tâm tuôn chảy ra pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ".

Nói thẳng thắn với mọi người, "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" là đỉnh cao, giống như đỉnh Chomolungma trên dãy núi Himalaya vậy, cũng chính là đỉnh Thánh Mẫu, là đỉnh núi cao nhất, là đỉnh cao nhất của mọi Mật giáo. Thành tựu lớn nhất số một là thân thể Liên Hoa Sinh Đại Sĩ có thể hóa thành cầu vồng, rồi giống như cầu vồng có thể biến mất hút về phía chân trời của hư không, thân thể hóa thành ánh sáng cầu vồng, đây là thành tựu tuyệt vời số một. Chúng ta cũng có thành tựu tuyệt vời số ba, đó chính là Thượng sư Liên Hoa Ích Dân, xá lợi toàn thân của ông ấy là thành tựu tuyệt vời số ba. Thế còn sự tuyệt vời thứ hai chính là hóa thành ánh sáng cầu vồng, nhưng vẫn còn để lại quần áo, lông tóc, móng tay, đó là thành tựu tuyệt vời số hai. Chính vì vậy mà "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" được gọi là đỉnh cao.

Những kinh tục tích tồn về pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ có 640 vạn kinh điển Tục Bộ, là 640 vạn quyển đó! "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" của ngài ấy có 640 vạn bộ kinh điển. "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" được truyền sớm nhất và đầu tiên bởi A Đạt Nhĩ Mã Phật Phổ Hiền Vương Như Lai, Phổ Hiền Vương Như Lai khác Phổ Hiền Bồ Tát, ở đây là hai vị Như Lai, Phổ Hiền Vương Như Lai chính là A Đạt Nhĩ Mã Phật, thuộc về Phật ở địa thứ 16. Tì Lô Giá Na Phật Đại Nhật Như Lai thuộc về Phật ở địa thứ 13. Quan Thế Âm Bồ Tát, Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát thuộc về Phật ở địa thứ 11, bản thân Phật cũng phân thành các cấp, đây là do con người chúng ta phân ra.

Tuy nhiên, vị Phật đầu tiên nhất chính là Phổ Hiền Vương Như Lai. Trước kia, trong cuốn sách số 056 "Mật giáo Đại Viên Mãn" của tôi, tôi đã viết về "Bà Tiên Như Lai", vì sao lại gọi là Bà Tiên Như Lai? Thật ra đó chính là Phổ Hiền Vương Như Lai, tôi viết thành Bà Tiên Như Lai, Bà trong từ Ta Bà, Tiên trong từ tiên nhân, Phổ Hiền (Pu Xian) --- Bà Tiên (Po Xian) , tôi cố ý viết thành Bà Tiên, vì sao vậy? Bởi vì tôi không muốn nói để mọi người biết là Phổ Hiền Vương Như Lai, đây là huyền cơ mà tôi cần giấu.

Khi tôi viết sách, đôi khi tôi cũng có giấu một vài huyền cơ ở trong đó, tôi cố ý dùng phát âm gần giống để viết ra, chỉ là chúng sinh không hiểu không thấy mà thôi. Pháp này truyền đến đời vua Lãng Đạt Mã, tức là sau vua Trisong Detsen, trải qua một đời vua nữa, rồi đời vua kế tiếp chính là vua Lãng Đạt Mã. Lãng Đạt Mã diệt Phật, tiêu diệt toàn bộ Phật giáo. Vì Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã biết trước vị vua này sẽ hủy diệt Phật giáo nên ngài ấy mới giấu hết mọi kinh điển đi, giấu ở các nơi khác nhau, ở Bhutan, ở Nepal, thậm chí là giấu trong sông hồ.

Những thứ ngài đã giấu thì rất vi diệu, có rất nhiều người không thừa nhận các pháp terma, nhưng cũng có rất nhiều người thừa nhận, chỉ cần đó là một vị đại sư terton có duyên với terma thì đều là đệ tử trong đời quá khứ của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Người đó sẽ có cảm ứng, vào những lúc trăng tròn, thuyền trôi đến giữa hồ nước nào thì được dặn là chờ ở đó. Chờ cái gì? Chờ kinh điển xuất hiện, ví dụ như đột ngột có con cá nhảy lên, một con cá có đôi mắt to từ dưới hồ nhảy lên, miệng nó sẽ nhả ra một thứ, giống như là ánh sáng vậy, chíu! Rơi trên thuyền, mở ra xem thì đó chính là kinh điển mà Liên Hoa Sinh Đại Sĩ năm xưa đã giấu. Thật không ngờ terma lại nằm trong bụng của con cá ở hồ này. Trùng hợp như vậy, sự việc vi diệu như vậy đều có khả năng xuất hiện. Như tôi đây là hay nhất! Trong gen của tôi đã có sẵn "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", mọi người nghe xong, có cảm thấy kì lạ không?

Những terma của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ vô cùng ảo diệu. Vào thế kỉ thứ 14, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát từng hóa thân thành Longchenpa tôn giả, ngài ấy đã từng chỉnh lí "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", viết thành hai cuốn sách, chủ yếu nhất là Longchen Nyingthig, cũng chính là "Đại Viên Mãn tâm trong tâm", rất quan trọng. Pháp "Đại Viên Mãn tâm trong tâm" gọi là Nyingthig. Tuy nhiên, pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" ban đầu vốn là chỉ cái gì? Nãy giờ nghe cả buổi rồi vẫn không biết! Để tôi nói, nó có "ngoại tam thứ đệ", "nội tam thứ đệ", và "vô thượng tam thứ đệ".

Cái gọi là "ngoại tam thứ đệ" là nói về cái gì đây? Nói về Thanh Văn thừa, Duyên Giác thừa, Bồ Tát thừa. Cái gọi là "nội tam thứ đệ" là Sự Bộ, Hành Bộ, Du Già Bộ của Mật giáo. Ba thứ tự du già rất to lớn cuối cùng là cái gì? Đó chính là Đại Du Già (Maha Yoga), A Nỗ Du Già (Anu Yoga, là du già vô song), và A Để Du Già (Ati Yoga, vô thượng du già). Ba bậc ở ngoài, ba bậc ở trong, ba bậc du già được gọi "Chín bậc Đại Viên Mãn", bao gồm tất cả Mật pháp. Sau khi được Longchenpa tôn giả chỉnh lí, viết ra những trọng điểm thì được gọi là Longchenpa Nyingthig, có hai bộ, Longchenpa Nyingthig thuộc về bộ Tâm trong tâm của "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", cũng chính là phần quan trọng nhất.

Sau này, đến thế kỉ 18, có một vị gọi là Jigme Lingpa, ông ấy là một terton, quá khứ cũng từng là đệ tử chuyển thế của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, ông ấy chuyên đi tìm những terma của "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" xem rốt cuộc chúng ở đâu. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chỉ thị cho ông: "Cái cây to này, ông hãy chặt nó xuống, ở trong sẽ có terma của ta." Ông ấy thật sự đã chặt cái cây đó, chẻ ra, bên trong đúng thật là có kinh điển, chính là do Liên Hoa Sinh Đại Sĩ để lại. Trong các hang động cũng có terma của ngài.

Có một lần, Jigme Lingpa đến bên một tảng đá lớn, ông ấy ngồi lên trên nó, bên trong tảng đá phát ra âm thanh nói với ông: "Bên trong tảng đá này có kinh điển." Trước đây, các giáo phái mới Gelugpa, Sakya, Kagypa không mấy tin tưởng vào terma, chỉ dựa vào những gì mắt nhìn thấy. Bên trong đá có kinh điển à, mọi người không tin, đem cưa ra cưa, lấy rìu ra chặt, sau khi chém vỡ thành nhiều mảnh vụn, bới ra xem, bên trong thật sự thấy có kinh điển, hơn nữa lại còn được viết trên tấm da dê thời xưa, nội dung bên trong chính là pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" viết bằng tiếng Phạn. Bên trong não của Sư Tôn cũng có terma, chúng đã biến thành gen của chính tôi rồi. Bởi vậy, tôi có thể giảng pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" vô cùng rõ ràng.

Chúng ta cần phải được quán đảnh "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", đầu tiên phải quán tưởng cây quy y. Cây quy y chính là trung tâm tín ngưỡng của chính bạn, bất kể là đạo Cơ đốc, phái Nyingma, phái Gelug, phái Sakya, phái Kagyu, thì đều có cây quy y. Cũng giống như cây như ý, từ trong nước công đức mọc lên một cái cây, có thân, có cành, có lá, hình thành nên một cái cây như vậy, ở chính giữa là Căn bản Thượng sư của bạn. Trong phái Nyingma thì thượng sư chính là Guru Rinpoche, chính là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, phía trên đều là các vị tổ sư của dòng truyền thừa, tổng cộng có 15 vị thầy truyền thừa.

Sau này, tôi sẽ lần lượt nói với mọi người về các thượng sư của truyền thừa. Ở trên cao nhất chính là A Đạt Nhĩ Mã Phật Phổ Hiền Vương Như Lai, bởi vì ngài đã truyền pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", tiếp theo chính là tất cả các vị tổ sư. Đầu tiên, pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" được truyền giữa các vị Phật với nhau, sau đó được truyền ở các thiên thượng giới. Sau đó được truyền giữa các đế vương ở các cõi địa thượng. Cuối cùng mới truyền ở thế giới Ta Bà, mới đến nhân gian, truyền thừa ở nhân gian cũng có rất nhiều các vị tổ sư, sau này tôi sẽ lần lượt giới thiệu cùng mọi người. Ở chính giữa cây quy y là Guru Rinpoche, cũng chính là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. "Om benza pema hum" chính là tâm chú ngắn nhất của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.

Ngài ấy ngồi ở chính giữa của cây quy y, sau lưng ngài cũng chính là 640 vạn bộ kinh điển Tục Bộ của Đại Viên Mãn, toàn bộ đều ở sau lưng của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Phía trên cây quy y có các vị tổ sư truyền thừa xếp hàng, phía bên phải của Liên Sư có ba hộ chủ của Mật giáo, đó là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Kim Cương Thủ Bồ Tát và Quan Âm Tứ Thủ. Phía bên trái của Liên Sư là Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, cùng tất cả Duyên Giác, Thanh Văn, v.v… đều ở bên này. Ở phía trước chính là Phật Thích Ca Mâu Ni cùng thập phương tam thế chư Phật, nghìn vị Phật của hiền kiếp tương lai, xếp vòng tròn xung quanh.

Cho nên, sau lưng Liên Sư là kinh điển, trước mặt là Thích Ca Mâu Ni Phật cùng tất cả chư Phật của thập phương tam thế, hai bên có Quan Âm Tứ Thủ, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát và Kim Cương Thủ, ở bên kia thì có Thanh Văn, Duyên Giác, Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên và tất cả Bồ Tát. Ngoài ra, phía thấp nhất thì có Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, Chư Thiên, toàn bộ đều ở bên dưới phía trước mặt của Phật Thích Ca Mâu Ni.

Mọi người hãy dùng bộ óc để tưởng tượng xem. Từ trong biển, từ trong nước bát công đức sinh ra một cái cây to, ở chính giữa cây to là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, phía trên là toàn bộ các vị tổ sư truyền thừa, bên phải là Mật giáo Tam Tôn, bên trái có Thanh Văn, Duyên Giác, trước mặt có Thích Ca Mâu Ni Phật, sau lưng có kinh, tục bộ, có 640 vạn bộ, bên dưới có các vị thần Kim Cang, thần Hộ Pháp, trong tất cả mọi khoảng trống đều có các thiên thần giáng xuống trú ngụ trong đó. Đây chính là cây quy y. Nói cách khác là, vào lúc quy y, ta thường niệm: "Namo guru bei, namo buddha ye, namo dharma ye, namo sangha ye.", kì thực chính là cần phải quán tưởng cây quy y này, đây là điều chủ yếu nhất.

Pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" vô cùng quan trọng, nó bao gồm tất cả mọi thứ của Mật giáo. Ở đây có hai vị tổ sư truyền thừa vĩ đại nhất, một vị là Guru Rinpoche Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, ngài chính là tổ sư truyền thừa. Một vị là Liễu Minh Hòa Thượng, chính là vị thầy truyền thừa ở nhân gian của tôi. Trong việc chỉnh lí Đại Viên Mãn thì người quan trọng nhất là Longchenpa, vị tổ sư này rất quan trọng, bởi vì ngài ấy đã chỉnh lí tất cả Kinh Bộ và Tục Bộ.

Ngoài ra còn phải kể đến Jigme Lingpa, ông ấy đã đi khắp nơi để lấy ra những thứ của pháp Đại Viên Mãn, khi lấy ra được thì đều vô cùng thần kì. Thật ra ở đây không có gì mâu thuẫn, bởi vì "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" có "ngoại tam thừa", "nội tam thừa" và "du già tam thừa", chúng có tính thứ tự, đầu tiên là Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, tiếp theo là Sự Bộ, Hành Bộ, Du Già Bộ, cho đến cao nhất thì chính là Đại Du Già, A Nỗ Du Già, A Để Du Già. A Để Du Già là quan trọng nhất, nên hoàn toàn không có mâu thuẫn gì cả.

Có một câu chuyện cười, người con trai hỏi người bố già: "Bố à, trên đời này có rất nhiều điều mâu thuẫn đúng không?" Người bố trả lời: "Đương nhiên, ví dụ như bà mẹ già của con, cả đời chỉ chuyên chú vào hai việc, một là ăn cơm, hai là giảm béo." Ăn cơm và giảm béo là hai việc mâu thuẫn nhau, cơ bản chính là mâu thuẫn, vừa muốn ăn vừa muốn giảm béo.

Trong thiên hạ có rất nhiều việc mâu thuẫn. "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" bản thân không hề mâu thuẫn, đây là điều rất quan trọng. Có một câu chuyện cười, trường học quy định giáo viên lên lớp không được nghe điện thoại. Một hôm, chúng tôi có tiết học vật lí, điện thoại của thầy giáo đổ chuông, thầy giáo bèn nhìn học sinh hỏi: "Đây là điện thoại của lãnh đạo, rốt cục có nên nhận điện thoại không?" Tất cả các học sinh đều trả lời: "Lãnh đạo gọi điện đến thì nhất định phải nhận rồi." Thầy giáo liền đi ra ngoài, kêu lên một tiếng: "Bà xã, bà làm gì vậy? Tôi đang lên lớp mà." Vợ cũng là lãnh đạo, điều này cũng mâu thuẫn rồi. Đứa con hỏi mẹ: "Vì sao ai cũng kêu mẹ là chanh chua vậy?" Bà mẹ trả lời: "Đó là lời khen ngợi mẹ là người phụ nữ hoạt bát đáng yêu." Hai điều này khác nhau rất xa. [ ND: ở đây có sự chơi chữ, trong tiếng Hán Việt, "bát phụ" là danh từ để gọi người phụ nữ đanh đá chanh chua, nhưng đồng thời chữ "bát" còn có nghĩa là hoạt bát, do vậy ở đây người mẹ đã cố ý tách từ "bát phụ" thành người phụ nữ hoạt bát. ]

Ở đây có một câu chuyện cười nói rằng đời người cũng giống như Tây Du Kí. Khi còn nhỏ chúng ta giống như Tôn Ngộ Không, rất nghịch ngợm, đại náo thiên cung. Lúc trẻ thì chúng ta giống như Trư Bát Giới, dám yêu dám hận. Lúc trưởng thành thì chúng ta giống như Sa Ngộ Tĩnh, công việc rất nhiều, vừa thật thà, vừa trung hậu. Khi già, chúng ta giống như Đường Tam Tạng, lôi thôi lằng nhằng, rất phiền phức. Đây không phải mâu thuẫn, mà là mọi thứ cứ theo đời người mà diễn ra.

"Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" cũng không mâu thuẫn. Đầu tiên học Thanh Văn, tiếp theo là học Duyên Giác, sau đó là học Bồ Tát. Tiếp theo là tiến nhập vào Mật giáo, đầu tiên học Sự Bộ, tiếp theo học Hành Bộ, tiếp nữa học Du Già Bộ, cuối cùng là tiến nhập vào Đại Viên Mãn, có Đại Du Già, A Nỗ Du Già, A Để Du Già. Đây chính là thứ tự, cũng giống như đời người, từ lúc trẻ, cho đến trung niên, cho đến khi già, chính là theo một thứ tự. Thứ cuối cùng chúng ta cần học là A Để Du Già, chính là thứ cần học cuối cùng trong Đại Viên Mãn. Trong pháp Đại Viên Mãn có rất nhiều thứ, vô cùng vô cùng nhiều, nhưng tuyệt đối không hề mâu thuẫn với nhau.

Có một người cực kì tin vào phong thủy, có chuyện gì cũng đi hỏi thầy phong thủy, luôn muốn dự đoán trước lành dữ họa phúc. Một hôm, anh ta ngồi bên dưới bức tường, bỗng nhiên có động đất, tường đổ sập, đè anh ta ở bên dưới, anh ta kêu to để cầu cứu, những người hầu đều đến và nói với ông chủ rằng: "Ông chủ, xin hãy cố chịu một chút, chúng tôi quay về hỏi thầy phong thủy trước đã, xem xem hôm nay có thể động thổ được hay không." Đây chính là mâu thuẫn đó, thật sự đang ở vào lúc cấp bách như vậy thì bạn cũng chẳng thể để ý quá nhiều thứ được nữa.

Điều quan trọng nhất mà bạn phải nắm chắc, thứ quan trọng nhất chính là cái cuối cùng, A Để Du Già, đó cũng chính là Nyingthig, Nyingthig chính là A Để Du Già, sau này tôi sẽ nói với mọi người về A Để Du Già, sẽ giống như Đường Tam Tạng lôi thôi loằng ngoằng. Sư Tôn khai thị thì không có lôi thôi loằng ngoằng, nhưng có thể sẽ nói rất nhiều thứ lôi thôi loằng ngoằng, bởi vì nãy giờ tôi cứ nói vòng quanh về Đại Viên Mãn, đến cuối cùng thì mới nói vào phần chính, mới nói cho mọi người biết về cái cốt lõi là Nyingthig: "Ồ! Thì ra Phật pháp chính là cái này, Phật pháp chân chính chính là cái này."

Cái gọi là Nyingthig, tôi lấy một ví dụ để nói cho các bạn nghe. Có một vị vua lệnh cho hai người thợ điêu khắc con chuột, một người điêu khắc ra con chuột sống động như thật, người thứ hai cũng điêu khắc ra con chuột nhưng không giống lắm. Khi vua định tuyên bố người thợ thứ nhất chiến thắng, người thợ thứ hai đề nghị để cho con mèo đến gần để xem bức điêu khắc nào tốt hơn. Kết quả lại khác, con mèo thích bức con chuột mà không giống lắm, nguyên nhân là vì sao? Là bởi vì người thợ này dùng nguyên liệu là xương cá để điêu khắc, do vậy con mèo mới chọn bức điêu khắc của người này.

Hôm nay chúng ta nói về Nyingthig cũng giống như vậy, chúng ta muốn Nyingthig - cái cốt lõi của pháp Đại Viên Mãn, chúng ta muốn nắm bắt lấy cái cốt lõi, cái quan trọng nhất này. Con mèo chọn bức điêu khắc không giống mới là thứ tốt thật sự, giống quá thì ngược lại không phải là thứ tốt, bởi vì nguyên liệu không giống nhau. Mọi người biết ý nghĩa của Nyingthig - tâm trong tâm, cũng chính là thứ mà bản thân bạn muốn nhất, cần có nhất.

Thầy giáo hỏi học sinh: "Nếu so sánh các trò như những bông hoa tươi xinh đẹp, vậy thì có thể so sánh thầy với cái gì?" Học sinh nói: "Không biết." Thầy giáo nói: "Nghĩ thử xem, người nào thường cầm cái kéo, ở trong vườn hoa cắt tới cắt lui?" Học sinh trả lời: "Là kẻ trộm hoa." Thật ra thì là người làm vườn đó.

Thầy giáo đúng là người làm vườn, Sư Tôn cũng giống như thầy giáo, muốn dạy cho mọi người "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" thì nhất định cần phải điều chỉnh những quan niệm của mọi người cho rõ ràng trước. "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" là gì, truyền thừa của nó là gì, nguồn gốc của nó là gì. Phái Nyingma là Mật giáo cổ xưa lâu đời nhất, cũng chính là Mật giáo mà Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đưa từ Ấn Độ vào Tây Tạng, Tây Tạng khi ấy vẫn không tin thờ Mật giáo, thời đó họ tín ngưỡng đạo Bon.

Sau khi Liên Hoa Sinh Đại Sĩ vào Tây Tạng thì Tây Tạng mới có Mật tông, mới có Mật giáo. Do vậy, những gì mà Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã truyền chính là pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ". Nguồn gốc của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chính là hóa hiện hợp nhất của ba vị A Di Đà Phật, Thích Ca Mâu Ni Phật và Quan Thế Âm Bồ Tát.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là gì? Nghĩa là đứa trẻ sinh ra từ hoa sen, từ hoa sen mà sinh ra, không có cha không có mẹ, là đứa bé sinh ra đã nằm trong bông hoa sen, chính là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, cũng chính là Liên Hoa Sinh Đồng Tử. Đồng Tử chính là Đại Sĩ, Đại Sĩ chính là Đồng Tử, là giống nhau, là một không phải là hai. Do vậy, ngài ấy là Liên Hoa Đồng Tử của chúng ta. Nguồn gốc rất sâu đó! Sư Tôn là Liên Hoa Đồng Tử, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ cũng là Liên Hoa Đồng Tử, vì khi ngài ấy ra đời cũng là hóa thân từ hoa sen mà!

Hôm nay tôi bắt đầu giảng "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", phần mở đầu thì tôi giới thiệu đến đây thôi. Cảm ơn mọi người. Om mani padme hum.


### Bài giảng số 2


**Nguồn gốc và truyền thừa của pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ”**

*(Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" trong buổi đồng tu Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật tại Seattle Lôi Tạng Tự, Hoa Kì, vào ngày 8 tháng 6 năm 2013.)*

Đầu tiên cần nói về nguồn gốc và lai lịch của pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ". Lần trước tôi đã nói qua về truyền thừa, nguồn gốc cũng tương đương với truyền thừa, tất cả mọi pháp đều từ sự giác ngộ chính đẳng chính giác của Phật mà tuôn chảy ra. Dòng chảy pháp là như vậy. Ban đầu Phổ Hiền Vương Như Lai, ngài ấy cũng là vị Phật đầu tiên của toàn bộ Phật pháp, còn gọi là Thái  Sơ Phật, có nghĩa là vị Phật sớm nhất, Hồng giáo thì gọi ngài là A Đạt Nhĩ Mã Phật, từ sự chính giác của ngài mà tuôn chảy ra pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ".

Giữa Phật và Phật với nhau thì có cùng một tâm, chỉ cần bạn thành Phật rồi thì bạn sẽ biết ở đâu có Phật, bạn sẽ biết ai là Phật, có thể cảm ứng thấy được. Bản thân Phật mà nói, khi ngài tuôn chảy ra pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" thì Ngũ phương Ngũ Như Lai đều lập tức biết được pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ". Ngũ phương Ngũ Như Lai chính là Tì Lô Giá Na Phật, A Di Đà Phật, A Súc Phật, Bảo Sinh Phật, Bất Không Thành Tựu Phật, năm vị Phật này lập tức đã có pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ". Ngoài ra, những vị Phật khác cũng đều biết hết.

Trong truyền thừa của chúng ta thì pháp này gọi là gì? Trước đây, có một người là Thanh Hải Vô Thượng Sư có cái gọi là "tâm ấn", có nghĩa là "ta ban cho con tâm ấn". Nhưng mà có phải là tâm ấn thật không? Tâm ấn không phải là gài ở trong tim một cái ấn, mà thật ra là tâm của tôi và tâm của bạn là giống nhau. Phật tuôn chảy ra pháp môn, mọi vị Phật đều có được pháp môn này, là pháp môn tâm và tâm tương ấn, chỉ có pháp môn tâm và tâm tương ấn, pháp môn tâm tâm tương ấn mới là "tình nhân" chân chính đó.

Khi tâm của một vị Phật tràn đầy pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" thì tâm của mọi vị Phật đều giống như vậy, những tâm giống nhau cứ chảy qua chảy lại, nên tất cả đều có được truyền thừa Đại Viên Mãn, đây gọi là tâm tâm tương ấn. Bạn và tôi tâm tâm tương ấn, tâm của tôi tràn đầy trong bạn, tâm của bạn chắc chắn cũng tràn đầy trong tôi, đây chính là pháp môn ấn tâm. Ấn tâm, trong Phật pháp mà nói, còn gọi là mật ý, pháp mang những ý niệm bí mật tuôn chảy ra, khi ấy, tất cả đều có được dòng chảy pháp mang ý nghĩa bí mật.

Đầu tiên, "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" được truyền giữa Phật với Phật. Tiếp theo là Ngũ Phương Phật truyền cho Kim Cang Tát Đỏa, Kim Cang Tát Đỏa là báo thân Phật, bởi vì pháp thân Phật thì không có hình tướng. Ngũ Phương Phật truyền cho Kim Cang Tát Đỏa, bởi vậy Kim Cang Tát Đỏa có được pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" trước. Cũng có nghĩa là từ vị Phật đầu tiên cổ xưa nhất là Phổ Hiền Vương Như Lai, đến Ngũ Phương Phật cùng tất cả các vị Phật, tiếp theo là Kim Cang Tát Đỏa, mà Kim Cang Tát Đỏa là báo thân Phật, nên đó là truyền thừa thứ ba.

Bản thân Kim Cang Tát Đỏa hiển hiện ra Kim Cang Thủ Bồ Tát, Kim Cang Thủ Bồ Tát đến thiên giới, đến Đao Lợi Thiên ở cõi trời thứ 33, ở Đao Lợi Thiên có năm trăm thiên tử, trong số đó có một người gọi là Thắng Tâm Thiên Tử, Kim Cang Thủ Bồ Tát liền chọn Thắng Tâm Thiên Tử làm người đầu tiên ở thiên giới để truyền pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ". Kim Cang Thủ Bồ Tát quán đảnh cho Thắng Tâm Thiên Tử, truyền pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" cho người này. Đó là truyền thừa tại thiên giới. Truyền thừa này gọi là "truyền thừa trì minh".

"Truyền thừa trì minh" là thế nào? Rất đơn giản, sau này, khi Di Lặc Bồ Tát hạ sinh tại Long Hoa Tam Hội ở nhân gian để độ chúng sinh, thì tất cả đều là "truyền thừa trì minh". Bồ Tát chỉ cần từ tâm mình phóng ra một tia sáng thì tia sáng này chiếu rọi bao trùm lấy tâm của mọi người, mọi người lập tức sẽ minh tâm kiến tính, có được truyền thừa minh tâm kiến tính. Chỉ cần một câu "namo buddha ye", ánh sáng liền chiếu đến bạn, tất cả nghiệp chướng đều tiêu trừ hoàn toàn.

Khi ấy tại Long Hoa Tam Hội, Di Lặc Bồ Tát độ tất cả chúng sinh đến thiên thượng giới, độ họ đến Phật quốc tịnh thổ, đó là "truyền thừa trì minh" của Di Lặc Bồ Tát. Do vậy, ban đầu, truyền thừa ở thiên thượng giới chính là Kim Cang Thủ Bồ Tát dùng ánh sáng của pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" chiếu đến Thắng Tâm Thiên Tử để quán đảnh cho người này. Thắng Tâm Thiên Tử đã có được truyền thừa Đại Viên Mãn, ánh sáng này rất lợi hại, gọi là "truyền thừa trì minh". Ánh sáng vừa chiếu đến thì lập tức rõ ràng minh bạch, minh tâm kiến tính. Về sau, Thắng Tâm Thiên Tử chuyển thế đến vương quốc Orgyen, làm con trai của quốc vương, gọi là Cực Hỉ Kim Cang, khác với Hỉ Kim Cang.

Ở Tây Tạng, Kim Cang gọi là Dorje. Lúc này, Kim Cang Thủ Bồ Tát lại đến nhân gian quán đảnh cho Cực Hỉ Kim Cang, quán đảnh xong thì lập tức có được pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", truyền thừa ở nhân gian bắt đầu. Truyền thừa tiếp sau đó ở nhân gian đã trở thành "truyền thừa khẩu nhĩ", miệng tôi giảng, tai bạn nghe, quán đảnh cho bạn như thế thì gọi là truyền thừa khẩu nhĩ. Cuối cùng, Cực Hỉ Kim Cang đã truyền pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" cho Diệu Cát Tường Hữu, Diệu Cát Tường Hữu lại truyền pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" cho Cát Tường Sư Tử, Cát Tường Sư Tử lại truyền pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" cho Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Truyền thừa này ở nhân gian tương đối dài, việc truyền cho Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là chủ yếu nhất.

Cát Tường Sư Tử đã truyền cho một vài người Tạng, bao gồm Vajrasana, còn Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là người Ấn Độ. Sau khi Liên Hoa Sinh Đại Sĩ vào Tây Tạng, ngài ấy đã truyền cho vua Tây Tạng khi đó là Trisong Detsen. Còn nữa, ngài ấy còn truyền cho Yeshe Tsogyal, Yeshe Tgogyal chính là vị minh phi chủ yếu nhất của ngài. Vua Trisong Detsen khi ấy đã bí mật học pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ". Nên nói như thế này, khi vua Trisong Detsen học pháp thì không hoàn toàn hiểu được đầy đủ trọn vẹn, do vậy Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã cất giấu pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" vào trong não của vua, đây cũng gọi là truyền thừa đó!

Từ Phổ Hiền Vương Như Lai cho đến Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, đến vua Trisong Detsen, đến Yeshe Tsogyal. Yeshe Tsogyal biết rằng Tây Tạng sắp gặp họa diệt Phật, đó chính là do vua Lãng Đạt Mã diệt Phật, vì vậy bà cũng đem toàn bộ pháp Đại Viên Mãn mà Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã truyền cho giấu đi, giấu tại Tây Tạng, Nepal, Bhutan, tại những nơi bất kì ở khu vực lân cận, toàn bộ đều giấu hết, giấu trong núi đá, giấu trong hư không, giấu dưới đáy hồ, giấu trong cây lớn, là như vậy đó.

Đến cuối cùng, Longchenpa tôn giả và Jigme Lingpa tôn giả là hai vị terton chủ yếu nhất. Hai vị đã đem tất cả những terma tập hợp lại thành pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ". Ngoài ra, Longchenpa tôn giả còn tập hợp lại thành Longchenpa Nyingthig chính là pháp chủ yếu nhất. Tôi phải giảng cho mọi người về truyền thừa này trước.

Truyền thừa nào là nhanh nhất? Đương nhiên là truyền thừa mật ý, chính là ấn tâm, truyền thừa tâm tâm tương ấn là nhanh nhất.

Ở đây có một câu chuyện cười. Có ba gia đình cùng bán một mặt hàng. Ba gia đình này cạnh tranh với nhau. Bởi vì bán cùng một mặt hàng giống nhau, các cửa hàng gần nhau, và vì cửa hàng của ba gia đình này ở gần nhau nên họ cùng cạnh tranh buôn bán. Cửa hàng bên phải treo một tấm biển hiệu rất to, trên đó có viết: "Đại hạ giá, rẻ bất ngờ", cửa hàng bên trái treo lên tấm biển hiệu to hơn: "Giảm giá sốc, đại chiết khấu". Hai bên cạnh tranh, cửa hàng ở giữa treo lên tấm biển: "Lối vào". Có ba nhà mà! Bên này là "đại hạ giá", bên kia là "giảm giá sốc", nhà ở giữa viết "lối vào", vậy thì nhà nào nhanh nhất? Lối vào là nhanh nhất.

Truyền thừa cũng như vậy. Di Lặc Bồ Tát độ chúng sinh rất nhanh, bởi vì "truyền thừa trì minh" của Bồ Tát là dùng tâm quang của ngài ấy chiếu rọi, tất cả nghiệp chướng của con người đều tiêu diệt hết, chỉ một câu "namo buddha ye" là lập tức bay đến Phật quốc, cách độ này là nhanh nhất. Sau này, không biết chúng ta có thể gặp được lúc Di Lặc Bồ Tát hạ giáng không, để tâm quang của ngài ấy chiếu tới chúng ta, toàn bộ nghiệp chướng được tiêu trừ, chỉ còn lại Phật tính, trực tiếp đến Phật quốc, thế thì không cần phải nói nhiều nữa.

Còn những thứ như "đại hạ giá", "chiết khấu lớn", "giảm giá sốc", "thanh lý giải phóng mặt bằng", muốn thanh lý hàng hóa, ở Đài Loan chúng ta hay thấy "giảm giá sốc", đều không có tác dụng gì cả. Có tác dụng nhất phải là như Di Lặc Bồ Tát hạ giáng, dùng ánh sáng của ngài chiếu đến bạn, toàn bộ nghiệp chướng của bạn tiêu trừ, còn lại Phật tính, rồi trực tiếp thành Phật.

Sư Tôn cũng tiếp nhận quán đảnh của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, tôi từng viết trong sách, trong những cuốn sách viết thời kì đầu đó! Khi xưa, tôi có hai lần quán đảnh. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đưa tôi, linh hồn (trung ấm) của tôi xuất ra khỏi đỉnh đầu, ở trong hư không, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đưa linh hồn của tôi bay bay bay bay, bay đến Nepal. Trong sách tôi viết là Nepal, ở bên trong một hang động, trong đó là một nghĩa địa, khu mộ phần. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói: "Bất kể Lư Thắng Ngạn anh là ai, thì ta cũng ăn anh trước đã." Ngài ấy liền túm lấy tôi, bỏ vào trong miệng ngài, sau đó tôi đi xuống bên trong thân thể ngài, rồi lại từ mật luân đi ra "viu" một cái, rất kinh khủng đó.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ há to miệng nuốt tôi vào trong, sau đó tôi từ mật luân của ngài thoát ra, việc này tương đương với việc những ô uế trên thân thể tôi đã được thanh tịnh rồi. Chiêu này của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ cũng rất có tác dụng, giống như "truyền thừa trì minh" vậy, trong chốc lát đã tiêu trừ hết nghiệp chướng của tôi, Phật tính liền hiển hiện.

Ở đây có một câu chuyện cười nói về thân thể người. Có một nhân viên ở tiệm bánh ngọt tên là Cường, trên mặt có in vết bạt tai, là do bị đánh, trở vào bên trong cửa tiệm. Ông chủ hỏi: "Trên mặt cậu có cái gì vậy?" Cường nói: "Hôm qua, có một cô gái nói sinh nhật bà của cô ấy, cô ấy muốn cháu giao bánh tới, nhưng cháu không biết bà cô ấy bao nhiêu tuổi, vì thế cháu liền hỏi người khách nữ đó, kết quả là bị ăn một cái tát." Ông chủ hỏi: "Khách hàng sao có thể đánh cậu chứ?" Cường nói: "Cháu chỉ hỏi người khách nữ này là: bà cô bao nhiêu tuổi?" Thật ra ở đây anh ta chỉ muốn hỏi xem bà của cô gái tuổi tác được bao nhiêu rồi, chứ không phải hỏi là ngực của cô ấy to cỡ nào. Từ này có hai nghĩa khác nhau. [ ND: trong tiếng Hán, từ* nai nai *vừa có nghĩa là bà nội, vừa có nghĩa là bộ ngực ]

Sư Tôn bị Liên Hoa Sinh Đại Sĩ ăn vào, có nghĩa là bị ngài nuốt từ miệng vào bụng, "viu" một cái, lại từ mật luân của ngài đi ra, thật sự tôi chẳng có cảm giác gì cả, chỉ là bị ngài ấy nuốt vào, xong lại bị ngài ấy đẩy ra ngoài, giống như là đi tiểu phóng ra bên ngoài thôi. Thế nhưng khi ngài ấy nuốt tôi vào rồi phóng tôi ra ngoài như vậy thì giữ lại bản tính của tôi, còn tất cả những tập tính không tốt thì đều giúp tôi tiêu trừ hết. Sau đó là quán đảnh thứ hai, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ toàn thân phóng quang, phóng tỏa ánh sáng rực rỡ. Chà! Ánh sáng này rất sáng, trong ánh sáng xuất hiện trăm vị văn võ, là các vị Phật Bồ Tát thanh cao tao nhã và các vị thần Kim Cang hung tợn, tổng cộng có một trăm vị, những ánh sáng ấy toàn bộ đều chiếu đến tôi, đây chính là quán đảnh của trăm vị văn võ. Cái này mới lợi hại.

Nhờ có pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" trong não tôi, bởi vì cần phải thuyết pháp, nên gần đây tôi thường tự gia trì cho chính mình, xem xem có linh cảm gì nổi lên thì đem những linh cảm đó nói cho mọi người nghe. Nói toàn bộ một trăm phần trăm cho mọi người nghe.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đem terma của ngài ấy gia trì cho tôi, Sư Tôn năm xưa từng chuyển thế tại Tây Tạng (làm vua Trisong Detsen), Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đặt terma trong não tôi. Bây giờ tôi không có sách ở đây, trước kia tôi có từng viết một cuốn sách là "Mật giáo đại viên mãn", mọi người có thể đọc thử, bây giờ những gì tôi nói và những gì tôi đã viết đại khái là giống nhau! Trước kia, tôi viết là Bà Tiên Như Lai, thật ra đó chính là Phổ Hiền Vương Như Lai.

Trước khi tôi giảng "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", tôi ấn ấn vào đỉnh đầu mình, gia trì một lát, linh cảm đến rồi, đã xuất hiện rồi, thế thì tôi sẽ giảng nguồn gốc của Đại Viên Mãn cho mọi người nghe. Bởi vì Sư Tôn có terma của pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" ở bên trong não cho nên chỉ cần gia trì, trong não liền sinh ra linh cảm, thế là tôi có thể giảng nó. Tôi sẽ nói toàn bộ một trăm phần trăm, nói toàn bộ một trăm phần trăm cho mọi người nghe.

Có một câu chuyện cười tôi xin kể với mọi người, cười một chút cũng tốt, thư giãn thoải mái. Đời người giống như một câu chuyện cười, ở Trung Quốc Đại Lục, mỗi tỉnh đều có một bí thư tỉnh, mỗi địa phương đều có một bí thư của địa phương. Thượng sư Liên Ấn, bố của anh là bí thư ở đâu vậy? Là bí thư ở Cáp Nhĩ Tân à. Nếu như bố của Thượng sư Liên Ấn là tổng bí thư thì tuyệt vời quá rồi. Tổng bí thư hiện nay là Tập Cận Bình, nghĩa là chủ tịch. Bố của Thượng sư Liên Ấn cũng là bí thư, tuyệt vời quá, thế là cũng rất to rồi.

Có một bí thư hỏi một nông dân: "Nếu anh có một mẫu ruộng, anh có thể quyên góp nó cho đất nước được không?" Nông dân nói: "Được." Chà! Thật là hào phóng. Bí thư lại hỏi: "Nếu anh có một trăm vạn, anh có sẵn lòng đóng góp cho đất nước không?" Nông dân nói: "Tôi sẵn lòng." Bí thư lại hỏi: "Nếu anh có một con trâu, anh có sẵn lòng đóng góp cho đất nước không?" Nông dân nói: "Tôi không đồng ý." Bí thư lại hỏi: "Vì sao vậy?" Nông dân bèn nói: "Bởi vì đúng là tôi có một con trâu."

Sư Tôn kể câu chuyện này là có ý nghĩa của nó. Tôi sẽ đem toàn bộ pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" dạy cho mọi người, tặng miễn phí. Pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" của Hồng giáo là truyền thừa lâu đời nhất, nhưng Mật tông hiện tại đang lưu truyền tại Tây Tạng dường như vẫn vô cùng khao khát có được pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", tuy vậy vẫn còn rất lộn xộn, vẫn chưa có trật tự. Sư Tôn đặc biệt chỉnh lí pháp này, đặc biệt giảng cho mọi người nghe, đây là pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" độc đáo.

Vì sao lại như vậy? Khi xưa Hồng giáo truyền pháp xuống, mặc dù rất phổ cập, nhưng đã bị vua Lãng Đạt Mã diệt trừ sạch, ông vua này đã loại bỏ hết tất cả Phật pháp. Khi ấy, những người xuất gia đã phải chạy trốn khắp nơi, Mật pháp bị rơi rụng tản mát, giống như Yeshe Tsogyal và Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã đem Mật pháp giấu trong hang động, trong hư không, giấu dưới đáy hồ, giấu dưới đáy biển, giấu ở rất nhiều nơi, tất cả đều không còn như trước nữa. Mãi cho đến sau này mới có người đào chúng ra. Vì thế mà pháp môn "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" này đã bị tản mát phân tán, không có người nào chỉnh lý. Sau này, một tăng nhân lang bạt của phái Hồng giáo, ông ấy một thân một mình, tên là Zurchen Shakya Jungne, ông ấy đã thu thập pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", và sau đó do Zurchung Sherab Drakpa chỉnh lý, và sau đó lại được Zur Shakya Sengge [ Dropukpa - con trai của Zurchung Sherab Drakpa ] hoằng dương, tuy nhiên cũng rất phân tán, ba vị này được gọi là ba người họ Zur.

(Chú thích: trong giai đoạn đầu của Phật giáo Tây Tạng, có ba vị đại sư phái Nyingma đóng vai trò quan trọng đối với việc hình thành phái Nyingma. Ba vị đại sư này được lịch sử gọi là Tam Zur, cụ thể là Zurchen Shakya Jungne, gọi là Đại Zur, thuộc gia tộc họ Zur, Zurchung Sherab Drakpa là con nuôi của Đại Zur, gọi là Tiểu Zur, và Zur Shakya Sengge là con trai của Tiểu Zur.

Tương truyền, ba vị họ Zur đã chỉnh lý kinh sách đã bị tản mát của phái Nyingma, chế định ra nghi quỹ và quy phạm tu tập Đại Viên Mãn, xây dựng chùa chiền, từ đó hình thành nên phái Nyingma. Ba vị họ Zur thuộc về truyền thừa kinh điển của phái Nyingma, tức là hệ thống Karmapa, nội dung đã truyền chủ yếu là hai bộ "Huyễn Biến" và "Tập Kinh".)

Phái Nyingma sớm nhất của Hồng giáo là do ba vị họ Zur chỉnh lý kinh điển, nhưng truyền thừa của ba vị họ Zur cũng đã suy tàn rồi. Do vậy Hồng giáo không có nhân vật hạt nhân chủ yếu xuất hiện. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ cũng đã tạ thế, vậy cái cốt lõi chủ yếu của Hồng giáo nằm ở đâu? Đương nhiên, có chùa của Hồng giáo, ví dụ như Mẫn Châu Lâm Tự chính là một ngôi chùa Hồng giáo, nhưng không có người nào lãnh đạo. Mọi người so sánh mà xem, trong Mật tông Tây Tạng, hãy xem phái Hoàng giáo hiện tại đang chấp chính, có Dalai Lama, có Panchen Lama, họ có những nhân vật cốt lõi.

Tây Tạng trước đây có cung điện Potala, cũng có ba ngôi chùa lớn là tu viện Drepung, Sera, Ganden, là ba ngôi chùa chủ yếu nhất. Nhân vật chủ yếu, một người là Panchen, một người là Dalai, bởi vậy mà Hoàng giáo có nhân vật cốt lõi. Bản thân Hoa giáo cũng có nhân vật cốt lõi, pháp vương hiện tại của họ là Pháp Vương Trizin, còn có một vị là Pháp Vương Dagchen, ông ấy là vị pháp vương thứ hai, sống tại Seattle. Hai vị pháp vương này có truyền thừa, là nhân vật cốt lõi thuộc gia tộc Khon.

(Chú thích: dòng họ Khon đến từ thiên nhân thuộc dòng dõi trời, truyền thừa của phái Sakya sớm nhất có thể bắt nguồn từ Long Vương Hộ, ngài là một trong bảy vị Tịch Hộ Tĩnh Mệnh. Vua Tây Tạng Trisong Detsen đã mời Tịch Hộ và Liên Hoa Sinh Đại Sĩ vào Tây Tạng, vào khoảng năm 779 sau Công Nguyên thì xây dựng chùa Samye, Tịch Hộ đảm nhiệm chức trụ trì chùa Samye. Tên gọi Thất Giác Sĩ là chỉ bảy tì kheo thọ giới từ Tịch Hộ lần thứ nhất tại chùa Samye, họ là Thiên Vương Hộ, Biện Chiếu Hộ, Long Vương Hộ, Thiện Thệ Hộ, Bảo Hộ, Trí Vương Hộ, Bảo Vương Hộ.

Em trai của Long Vương Hộ là pháp mạch chủ yếu của truyền thừa phái Sakya của gia tộc họ Khon. Trước đời quan Khon Khước Kiệt Ba, gia tộc họ Khon là đệ tử của phái Nyingma. Chùa Sakya là do quan Khon Khước Kiệt Ba xây dựng, sau khi xây chùa Sakya, quan Khon Khước Kiệt Ba đã thu nhận đệ tử rộng rãi, truyền giáo thuyết giảng, sáng lập nên phái Sakya. Chùa Sakya đều do những người đàn ông của gia tộc họ Khon nắm quyền, dần dần hình thành nên một chính giáo hợp nhất trong cục diện gia tộc họ Khon. Trong lịch sử của phái Sakya, vị tổ thứ năm của phái Sakya có cống hiến vượt bậc cho sự phát triển của phái Sakya.)

Hoa giáo được truyền trong một gia tộc, không phải là Hoạt Phật chuyển thế, họ cũng có Hoạt Phật chuyển thế, nhưng nói chung thì những người chủ trì của phái này đều là người của gia tộc họ Khon, họ cũng có những ngôi chùa chính, gọi là chùa Sakya. Bạch giáo là phái Gelug, họ có nhân vật cốt lõi không? Có đó! Chính là Đại Bảo Pháp Vương, Đại Bảo Pháp Vương đội mũ đen, và Đại Tích Đỗ Ba đội mũ đỏ, họ là những nhân vật cốt lõi. Các chùa chính đương nhiên cũng có, Chùa Long Đức ở Sikkim chính là chùa của Đại Bảo Pháp Vương, chùa này ở Ấn Độ. Còn ở Tây Tạng có chùa Sở Bố, là chùa cốt lõi của Bạch giáo. Còn có chùa Đại Tích Đỗ Ba Bát Bạng. Ngoài ra, còn có Cống Cát Hoạt Phật đến hoằng pháp tại Trung Quốc, là Cống Cát Hoạt Phật của chùa Cống Cát ở núi Cống Cát, có ba đạo tràng chủ yếu, rất là to.

Còn Hồng giáo thì sao? Phái Nyingma rất tản mát, không có nhân vật cốt lõi. Ai là giáo chủ? Không có. Hoàng giáo có Dalai, Panchen, Bạch giáo có Đại Bảo Pháp Vương, Đại Tích Đỗ Ba, Cống Cát Hoạt Phật là chủ yếu nhất. Hoa giáo thì sao? Có Trizin Pháp Vương, Dagchen Pháp Vương. Còn Hồng giáo thì không có. Trước kia thì có Dugjom Pháp Vương, đệ tử của ngài ấy tương đối nhiều. Ngoài ra, bây giờ thì có Zhatral Rinpoche, Phật Mẫu của ngài ấy là Phật Mẫu Kamala, Zhatral Rinpoche đã 104 tuổi rồi, là trưởng lão của Hồng giáo. Trước kia, ở Nepal có Urgyen Rinpoche, ngài ấy cũng thuộc Hồng giáo.

Còn có một vị đại Hoạt Phật ở vùng Kham Tây Tạng, là Norlha Thượng sư hoằng pháp tại Trung Nguyên. Truyền thừa nhân gian của Sư Tôn chính là từ Thượng sư Norlha ở Kham Tây Tạng truyền cho Liễu Minh Hòa Thượng, Liễu Minh Hòa Thượng lại truyền cho tôi, quán đảnh cho tôi. Khi ấy, tôi vẫn còn chưa biết "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" là cái gì, thế nhưng ngài ấy đã quán đảnh cho tôi rồi. Đây là truyền thừa nhân gian của tôi. Liễu Minh Hòa Thượng theo học Norlha Thượng sư ở Tứ Xuyên, điều này tôi cũng cần nói rõ ràng với mọi người.

Trên phương diện "truyền thừa trì minh" thì chính là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đem terma truyền thừa mật ý đặt vào trong não tôi, như thế là tôi trở thành có truyền thừa mật ý rồi. Còn có một loại nữa mà rất ít người biết, hơn nữa hình như người bình thường rất ít nói đến, đó chính là "thậm thâm thiền định thanh tịnh truyền thừa". Ví dụ, khi vừa cố gắng niệm nhập tam ma địa, tôi liền kết thủ ấn nhập tam ma địa, tôi sẽ làm cửu tiết Phật phong, ánh sáng trắng đi vào lỗ mũi phải, đi một vòng, lại đi ra từ lỗ mũi trái, ánh sáng đi vào từ lỗ mũi trái rồi lại đi ra từ lỗ mũi phải, rồi lại đi vào từ hai lỗ mũi và đi ra từ cả hai lỗ mũi. Đầu tiên cần làm cửu tiết Phật phong đó! Bởi vì khi tinh thần của tôi chỉ tập trung vào việc hít thở thì tâm trí của tôi trở nên rất thống nhất.

Khi tinh thần của tôi đã thống nhất thì pháp lưu sẽ hạ xuống, khi thật sự thiền định, hai mắt nhắm lại, pháp lưu hạ xuống, tôi sẽ tiến nhập vào trong thiền định, nhất tâm bất loạn. Vào chính lúc ấy, có Phật Bồ Tát xuất hiện chỉ thị cho tôi biết "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" là cái gì. Một sự xuất hiện khác thì nói cho tôi biết pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" là gì, tu thế nào, làm ra sao. Điều quan trọng nhất nằm ở đâu? Nằm ở A Để Du Già (Ati yoga). "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" chính là nằm ở trong A Để Du Già.

Vì sao lại gọi là "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ"? Ở Cầu Vồng Lôi Tạng Tự tôi đã giảng qua rồi, ba thứ tự đầu tiên là Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, ba thứ tự tiếp theo là Sự Bộ, Hành Bộ, Du Già Bộ, ba thứ tự sau cùng là Đại Du Già (Maha yoga), A Nỗ Du Già (Anu yoga), A Để Du Già (Ati yoga), cộng vào là chín thứ tự, vì thế gọi là "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ".

Sau đây, tôi xin hỏi, pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" ở nhân gian rốt cục đã có ai từng giảng chưa? Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát thì Phật Thích Ca Mâu Ni đã giảng rồi, ở nhân gian đã có giảng rồi, Phật Thích Ca Mâu Ni đã giảng ba thứ tự. Tiếp theo là Sự Bộ, Hành Bộ, Du Già Bộ, là ai đã giảng? Là Kim Cang Tát Đỏa giảng. Cuối cùng là Đại Du Già, A Nỗ Du Già, A Để Du Già là ai đã giảng? Là do Phổ Hiền Vương Như Lai truyền thụ. Như vậy, mọi người đã hiểu cái gọi là pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" rồi. Ngày mai tôi sẽ giảng cho mọi người pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" nói về cái gì. Om mani padme hum.

Biểu đồ minh họa truyền thừa chèn ở dưới đây.


### Bài giảng số 3


**Pháp Đại Viên Mãn có thể thông kì kinh bát mạch khiến thân thể bạn khỏe mạnh**

*(Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị buổi thứ ba về pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" trong đại pháp hội Hộ Ma Mã Đầu Minh Vương tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, Hoa Kì, vào ngày 9 tháng 6 năm 2013.)*

Đại Viên Mãn có công đức gì? Đại Viên Mãn là gì? Có hai ông vua đều rất giỏi nói khoác. Vua của nước lớn thì nói khoác thế nào đây? "Ta có đội quân năm trăm vạn binh, ngươi còn chưa đầu hàng sao?" Vua của nước nhỏ nói: "Đương nhiên ta đầu hàng, đất nước của ta thật sự quá nhỏ bé, không thể chứa được hết năm trăm vạn tù nhân đâu." Mọi người nghe có hiểu không? Pháp Đại Viên Mãn là vô cùng vĩ đại, có thể nói là pháp vĩ đại nhất, cao sâu nhất trong Mật giáo.

Thật ra, pháp Đại Thủ Ấn, ở đây là Đại Thủ Ấn của Bạch giáo, Đại Uy Đức của Hoàng giáo, Đại Viên Thắng Huệ của Hoa giáo, ba pháp này cùng với Đại Viên Mãn của Hồng giáo, thì Đại Viên Mãn của Hồng giáo là có sớm nhất, còn ba pháp kia có khả năng là lấy từ trong pháp Đại Viên Mãn ra làm thành một pháp riêng. Tôi chỉ có thể nói như vậy thôi, pháp Đại Viên Mãn rất lớn, không phải là một pháp nhỏ. Pháp Đại Viên Mãn là một pháp vô cùng hay, tiếng Anh gọi là *so good*, vô cùng hay, vô cùng lành, trong kinh Phật thường hay nhắc đến "lành thay, lành thay", ý nghĩa chính là rất tốt rất tốt đó.

Pháp Đại Viên Mãn là rất tốt rất hay, *so good, so happy*, vô cùng sung sướng, là cực lạc, pháp Đại Viên Mãn là pháp cực lạc đó. Tu pháp này thì vô cùng vui vẻ, vì thế mới gọi là *so happy*, rất vui sướng, tâm linh vô cùng sảng khoái. Sảng nghĩa là vui thích, khoái nghĩa là sung sướng, pháp Đại Viên Mãn là một pháp rất vui vẻ và sung sướng. *So wonderful*, là *number one*, Đại Viên Mãn là số một, vô cùng tuyệt vời. Rồi lại còn *so nice. Nice*, tôi không biết giải thích, *nice* chính là rất hay, rất vi diệu, trong pháp Đại Viên Mãn có rất nhiều rất nhiều điều vi diệu.

Ngoài ra còn có một cái là *so perfect*. *Perfect* nghĩa là hoàn mĩ, bởi vậy, pháp Đại Viên Mãn là vô cùng hoàn mĩ, vì vô cùng hoàn mĩ cho nên mới gọi là Đại Viên Mãn. Hoàn mĩ vô khuyết, không có một chút khuyết điểm nào nên gọi là Đại Viên Mãn. Pháp Đại Viên Mãn có thể khiến bạn trong khi tu hành đạt được niềm vui, đạt đến đỉnh cao, sau đó đạt được sự viên mãn. Có được sự xảo diệu phi thường, có được những thứ vô cùng tốt đẹp, vô cùng sung sướng, vô cùng sảng khoái. Pháp hay như vậy mà không học, ở nhân gian gặp được nhưng lại lãng phí bỏ qua thì đời người chẳng còn mấy ý nghĩa, sống trên đời này chẳng có ý nghĩa gì nữa. Bạn không học pháp Đại Viên Mãn, không học Phật pháp, thì đời này sống tại nhân gian cũng là lãng phí thôi.

Vì sao pháp Đại Viên Mãn lại tốt như vậy? Thứ nhất, nó có thể khiến thân thể bạn khỏe mạnh. Vì sao tu pháp Đại Viên Mãn lại khỏe mạnh? Nói chung thì tất cả mọi pháp, thân thể của mỗi cá nhân khỏe mạnh hay không khỏe mạnh là điều rất khó nói, nhưng học pháp Đại Viên Mãn rồi, bên trong pháp này có rất nhiều cách để thông kì kinh bát mạch, ví dụ như kinh mạch và luân xa trên thân thể bạn, bảy luân xa, trung mạch, mạch trái mạch phải, kinh mạch toàn thân, đều thông suốt.

Bởi vì trong pháp Đại Viên Mãn, có một pháp gọi là "thể vị pháp", là vị trí của thân thể, bạn triển khai một động tác, ví dụ như cánh tay của bạn đưa ra, ở đây có mạch, vươn tay ra, ở đây có mạch, nâng lên, có mạch, hạ xuống, có mạch, các bộ phận trên thân thể đều có đầy các mạch, tu pháp Đại Viên Mãn có thể khiến kinh mạch toàn thân bạn đều được thông suốt, đó chính là vì có pháp "thể vị" trong pháp Đại Viên Mãn. Ví dụ như Sư Tôn đánh kim cang quyền, đây chính là tư thế, ngồi có tư thế của ngồi, đứng có tư thế của đứng, nằm có tư thế của nằm, có rất nhiều vị trí tư thế, ví dụ như tư thế di chuyển, tư thế quay lên trên, rất nhiều pháp thể vị có thể khiến kinh mạch của bạn thông suốt, thân thể khỏe mạnh.

Khí và huyết trên thân bạn toàn bộ có thể trôi chảy, hoàn toàn trôi chảy, không có nơi nào là khí huyết không chảy đến được. Không giống như một số người già, họ cái gì cũng đi lên, huyết áp tăng lên, đường máu tăng lên, ba cao, bảy cao, sáu cao, cái gì cũng cao. Chỉ có một niềm vui vĩnh cửu, đó là khí huyết không tăng thì mới có niềm vui vĩnh cửu. Nếu như khí huyết mà tăng thì bạn sẽ chẳng thể có niềm vui vĩnh cửu, tất cả mọi thứ của bạn sẽ cùng tăng cao.

Pháp Đại Viên Mãn này chính là khiến cho huyết khí của bạn có thể thông đến bất kì nơi nào. Nơi không có huyết khí đến thì ngũ tạng lục phủ chắc chắn sẽ vô cùng suy yếu. Huyết khí của người nào mà không đến được tim thì chết từ lâu rồi. Nếu như huyết khí không đến được phổi thì bạn cũng không thể thở được. Huyết khí không đến được gan thì gan sẽ bị xơ cứng, cơ quan nào mà huyết khí không tới thì cơ quan đó sẽ bị hoại tử. Pháp Đại Viên Mãn có tư thế, có thể khiến cho huyết khí toàn thân bạn hoàn toàn đủ đầy, thân thể sẽ khỏe mạnh, rất đơn giản như vậy.

Ngoài ra, tâm linh của bạn sẽ vô cùng vui vẻ. Kì lạ, tâm linh sao có thể vui vẻ được nhỉ? Tâm của con người chúng ta là vô hình, tâm của bạn nên vĩnh viễn được giữ gìn trong một trạng thái vui vẻ phi thường. Pháp Đại Viên Mãn giúp bạn hiểu rõ cái tâm vốn có của bạn, như tôi vừa nói, chỉ cần bạn khai ngộ rồi, bạn sẽ hiểu được tâm của chính mình. Bạn hiểu được tâm của chính mình thì bạn sẽ không để những phiền não ở trong tâm nữa. Bạn sẽ gạt bỏ hết những phiền não trong tâm, duy trì sự vui vẻ vĩnh viễn.

Pháp Đại Viên Mãn có thể khiến bạn minh tâm, chính là khai ngộ. Minh tâm rồi, bạn sẽ rất vui vẻ, thân thể khỏe mạnh, tâm linh vui vẻ, thân tâm có thể hợp nhất, những gì mà tâm nghĩ đến thì thân thể sẽ làm được, thân tâm sẽ hợp nhất, thân tâm có thể dung hòa lẫn nhau. Pháp Đại Viên Mãn có thể khiến thân tâm bạn hài hòa, là một trạng thái hợp nhất hoàn toàn. Thân tâm hài hòa chính là đại viên mãn, nhục thể của bạn và tâm linh của bạn đều có thể vô cùng hài hòa.

Người tuổi tác cao thì khi tu pháp Đại Viên Mãn cũng có thể luyện đến khi thân tâm hài hòa. Trong tâm bạn nghĩ ra sao thì thân thể có thể biểu hiện ra trạng thái thân tâm hài hòa đó. Có rất nhiều người thân tâm không hài hòa, học vị càng cao, học thức càng nhiều, siêu thông minh, nhưng mà sao? Chưa chắc thân tâm họ đã hài hòa, điều này rất quan trọng. Bạn có biết không? Có rất nhiều tội phạm học lực rất cao, là tiến sĩ, hoặc những luật sư rất nổi tiếng, hoặc những nhà khoa học rất nổi tiếng, nhưng họ cũng gây ra rất nhiều nghiệp.

Vì sao vậy? Vì thân tâm không hài hòa. Nếu như thân tâm thật sự hài hòa thì tâm lý sẽ rất vui vẻ, sẽ không ghét người khác. Bởi vì sinh ra lòng thù ghét thì tâm đã bại hoại rồi. Nếu như bạn hận một người thì tâm của bạn đã bại hoại rồi, bạn sẽ có phiền não, điểm quan trọng chính là ở chỗ này đó! Hôm qua, tôi ở trước cửa Mật Uyển nói: "Bạn chấp vào cái gì thì bạn sẽ phiền não cái đó. Bạn không chấp vào cái gì, cái gì bạn cũng *I don’t care*, không quan tâm, thì bạn sẽ không có phiền não nữa. Bạn *care *cái gì thì bạn sẽ có phiền não. Bạn yêu một người thì bạn chắc chắn sẽ bị tình yêu trói buộc. Bạn ghét một người thì bạn chắc chắn sẽ bị lòng thù hận trói buộc. Tình cảm đặt vào đâu thì bạn chắc chắn sẽ bị tình cảm trói buộc. Bạn sinh lòng hận thù với người nào đó thì bạn tuyệt đối sẽ bị lòng thù hận này trói buộc, bạn sẽ không vui vẻ được.

Vì thế, bạn tu pháp Đại Viên Mãn, sau khi minh tâm, bạn sẽ biết: "Chà! Thì ra là như vậy. *I don't care everything.*" Lúc này thì bạn sẽ không bị thứ gì trói buộc nữa, không gì có thể trói buộc được bạn, phiền não cũng không còn, phiền não sẽ giảm nhẹ. Tu pháp Đại Viên Mãn, tâm linh của bạn trong đó sẽ vui vẻ, bởi vì bạn đã khai ngộ rồi thì đương nhiên tâm linh của bạn sẽ vô cùng vui vẻ, thân thể khỏe mạnh, tâm linh vui vẻ, thân tâm hài hòa, điều này cực kì tốt, chính là cực kì viên mãn. Thân tâm hài hòa chính là đại viên mãn.

Sau đó, bạn lại nỗ lực tu tiếp thì bạn có thể tức thân thành Phật, là thân thể này, thân thể đều thành Phật. Cái này lạ nhỉ! Đại bộ phận sẽ là trung ấm (linh hồn) của chúng ta thoát ra, sau đó Bổn tôn đến tiếp dẫn thành Phật. Thân thể làm sao thành Phật được? Một thứ là tổ hợp của đất, nước, lửa, gió, làm sao thành Phật? Bạn sẽ chuyển hóa hết những thứ này, pháp Đại Viên Mãn có thể giúp bạn chuyển hóa hết toàn bộ thân thể, không còn thân thể nữa, chỉ còn lại Phật tính, như thế là thành Phật rồi. Bạn hóa thành một dải cầu vồng, thân thể biến thành một dải ánh sáng, thế là thành Phật rồi, đây gọi là tức thân thành Phật.

Còn có một cái gọi là "tức sinh thành Phật", sinh trong từ sinh mạng, đời này bạn tu pháp Đại Viên Mãn, đời này bạn thành tựu rồi thì chắc chắn đời này bạn sẽ thành Phật, đây gọi là thành Phật trong một đời.

Kể một câu chuyện cười vậy! Thời tiết nóng quá, mọi người đều thấy buồn ngủ. Thư kí Tiểu Lị đi làm luôn đến muộn, lúc sắp hết giờ làm, giám đốc hỏi Tiểu Lị: "Tiểu Lị à, buổi tối có rảnh không?" Tiểu Lị vốn có tình cảm với anh chàng giám đốc trẻ tuổi đẹp trai này, vừa nghe thấy hỏi: "Tiểu Lị à! Buổi tối có rảnh không?" thì cô ấy đã vui sướng tới mức suýt ngất xỉu rồi, cô ấy lập tức trả lời: "Rảnh, tối nào em cũng rảnh." Anh chàng giám đốc trẻ tuổi đẹp trai liền bảo cô: "Vậy thì xin cô mỗi tối đi ngủ sớm một chút, để sáng sáng không đi làm muộn."

Ở đây gọi là hy vọng thành thất vọng. Chúng ta tu pháp này thì sẽ không thất vọng đâu, chỉ cần bạn tinh tấn tu pháp Đại Viên Mãn thì đời này bạn sẽ có thể thành tựu. Mật giáo có ba loại pháp, như Kim Cang Tát Đỏa đã giảng, ngài ấy giảng ba pháp: Sự Bộ, Hành Bộ, Du Già Bộ. Bạn chỉ tu mỗi pháp Sự Bộ thì cần bảy kiếp mới thành Phật, không phải bảy năm, bảy năm thì rất nhanh là đến rồi, mà là bảy kiếp mới có thể thành Phật. Pháp Hành Bộ thì cần năm kiếp mới có thể thành Phật. Du Già Bộ thì cần ba kiếp mới có thể thành Phật.

Tu hành khó lắm, Sự Bộ, Hành Bộ, Du Già Bộ, tu pháp Sự Bộ cần bảy kiếp mới có thể thành Phật, tu pháp Hành Bộ thì cần năm kiếp mới có thể thành Phật, tu pháp Nhất vị Du Già thì cần ba kiếp mới có thể thành Phật. Có thể một kiếp thành Phật thì phải tu Đại Viên Mãn.

Pháp Đại Viên Mãn có hai phương pháp thành Phật. Loại thứ nhất là thân thể đều hóa thành ánh sáng, giống như Liên Hoa Sinh Đại Sĩ vậy, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là truyền nhân của pháp Đại Viên Mãn, khi ngài ấy muốn nhập niết bàn thì thân thể liền biến hóa, toàn bộ thân thể liền biến thành ánh sáng cầu vồng. Viu! Ngài ấy thành Phật và đi mất. Ngài ấy đã đến Phật quốc Orgyen của chính mình, căn bản là ngay cả thân thể này cũng không còn nữa, đây chính là tức thân thành Phật, thân ở đây là thân thể.

Ngoài ra, bạn tu kém một chút thì cũng có thể tức sinh thành Phật, trong kiếp này bạn có thể thành Phật, thành tựu rất lớn. Tôi từng nói rồi, Thượng sư Liên Hoa Ích Dân có xá lợi toàn thân, thân thể hỏa táng xong thì đương nhiên thân thể không còn, nhưng cái mà ta thấy được là tất cả xương, tất cả xương do đất, nước, lửa, gió ngưng kết lại mà thành thì toàn bộ đều hóa thành những hạt xá lợi, gom lại thì cũng không thể nói là cao như núi, nhưng xá lợi nhiều như vậy thì gói ghém thế nào đây? Những cái hũ đựng tro bình thường thì không thể chứa được. Những chiếc hũ bình thường thì từng hũ từng hũ đều là xá lợi, chí ít cũng phải tới mấy hũ đó! Thùng rác ở Mỹ cái nào cũng rất to, dùng cái thùng to như thế để đựng thì cũng tạm được, một người ngồi xuống, bên trong đều là hạt xá lợi, toàn thân xá lợi, thật là tuyệt vời đó.

Mọi người sau này xem Sư Tôn sau khi hỏa táng xong thì… í? Sao chẳng có gì hết vậy, thế thì các bạn có thể biết rằng đó là toàn thân đã hóa thành ánh sáng cầu vồng đi mất rồi. Chẳng còn gì cả. À có rồi! Có rồi! Sư Tôn có hai hạt xá lợi, ở bên tai phải có một hạt, ở bên tai trái có một hạt, nếu để mỗi người sờ thử thì thời gian không đủ mất.

Tu pháp Đại Viên Mãn có nhiều lợi ích như vậy, hóa thân cầu vồng, thân hóa cầu vồng, toàn thân hóa thành một dải ánh sáng, trực tiếp thành Phật. Lợi ích của pháp Đại Viên Mãn là để cho thân thể bạn khỏe mạnh, tâm linh vui vẻ, thân tâm rất hài hòa, có thể tức thân thành Phật, cũng có thể tức sinh thành Phật, cũng có thể thân hóa cầu vồng, hóa thân cầu vồng có một dải cầu vồng nghĩa là thành tựu rồi. Giống như khi Đại Bảo Pháp Vương thứ 16 sau khi hỏa táng, trong không trung liền xuất hiện một dải cầu vồng đó.

Gần đây khi Sư Tôn muốn truyền pháp của Trường Mi tôn giả, bầu trời phía trên Seattle Lôi Tạng Tự xuất hiện một vệt mây, vệt mây dài này vắt ngang qua bầu trời phía trên Seattle Lôi Tạng Tự, chúng ta có chụp ảnh lại đó, khi ấy trời trong vạn dặm không mây! Chỉ có đúng một dải mây dài vắt ngang ở trên bầu trời phía trên Seattle Lôi Tạng Tự của Trường Mi tôn giả, xuất hiện hai lần, bởi vì có hai bên lông mày mà! Chúng hiện lên trên bầu trời, rất vĩ đại đó.

Trước kia, khi Sư Tôn muốn giảng "Lục Tổ Đàn Kinh", bầu trời phía trên Đài Loan Lôi Tạng Tự xuất hiện sáu dấu chân, màu đen, khi ấy cũng là bầu trời trong vạn dặm không mây, chỉ có sáu dấu chân lớn này in lên bầu trời, "Lục Tổ Đàn Kinh", sáu dấu chân, là Lục Tổ đó! Những việc này đều là trời hiện lên những tướng lạ khác thường. Bạn nói xem, đang là trời trong vạn dặm không mây nhé! Chỉ có ở đây lại có một dải mây dài cong như lông mày, xuất hiện hai lần, một lần ở bầu trời phía trên Lôi Tạng Tự, một lần ở phía đối diện với Lôi Tạng Tự, hai dải mây dài. Bởi vì tôi muốn truyền pháp Trường Mi tôn giả, do vậy xuất hiện ra thiên tướng như vậy.

Khi giảng "Lục Tổ Đàn Kinh" thì bầu trời xuất hiện sáu dấu chân. Hơn nữa, khi bạn nhìn dải mây ấy một lúc, đi vào bên trong Lôi Tạng Tự rồi lại đi ra, thì mây cũng biến mất luôn. Lại là một bầu trời trong vắt vạn dặm không mây! Rõ ràng là có một dải mây rất lớn mà, vắt ngang qua bầu trời, sao mà vừa đi vào, đi ra đã lại biến mất rồi, đi đâu mất rồi? Tiêu biến rồi, hơn nữa trông nó giống như vệt lông mày vậy. Có thể thấy là mỗi lần Sư Tôn muốn thuyết pháp thì đều sẽ có trời ban dị tượng đó.

Người cha nói với con trai: "Bài kiểm tra đầu năm học sao mà đã bị điểm 0 vậy?" Con trai rất thông minh nói: "Thầy giáo bảo tất cả đều bắt đầu từ số 0." Hôm nay chúng ta cũng cần bắt đầu từ số 0, pháp Đại Viên Mãn cũng là bắt đầu từ số 0, từ 0 biến thành Đại Viên Mãn.

Cá nhân tôi cảm thấy pháp Đại Viên Mãn là pháp cực kì hay, vô cùng vi diệu, là pháp số một, hơn nữa còn rất viên mãn, rất *perfect *hoàn mĩ, là một pháp vô cùng hoàn hảo. Sau này, khi tôi giảng tiếp về pháp Đại Viên Mãn sẽ còn xuất hiện nhiều thứ rất vi diệu nữa, những thứ rất hay sẽ xuất hiện. Vùng Trung Nguyên vì sao lại có pháp Đại Viên Mãn? Bởi vì Mật giáo đến Trung Thổ, sớm nhất thì có một người là Lama Bạch Phổ Nhân, đây là người sớm nhất, ông ấy đến Trung Thổ hoằng pháp.

Nói về thời hiện đại, thời cổ đại không nói nữa. Cổ đại thì có ba vị đại sĩ thời Khai Nguyên (Đường Huyền Tông) là Kim Cang Trí, Thiện Vô Úy, Bất Không, ba vị này ở vào thời Đường. Nói về thời hiện đại thì là Lama Bạch Phổ Nhân, tiếp theo là Thổ Đăng Ni Mã (Alak Zenkar Rinpoche), Thổ Đăng Ni Mã đến Trung Thổ hoằng pháp, Thổ Đăng Ni Mã là đệ tử của Cam Châu Hoạt Phật, Thổ Đăng Ni Mã dạy cho Thổ Đăng Đạt Lực, Thổ Đăng Đạt Lực truyền pháp cho Thổ Đăng Đạt Cát, Thổ Đăng Đạt Cát lại truyền pháp cho Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn là Thổ Đăng Kì Ma. Bây giờ Thổ Đăng Kì Ma sau này lại truyền pháp cho Thổ Đăng Siddhi, đây là một truyền thừa. Sư Tôn cũng có truyền thừa của Thổ Đăng Ni Mã, Thổ Đăng Ni Mã cũng đến Trung Thổ hoằng pháp.

Tiếp theo thì sao? Có Norlha Rinpoche, Norlha Rinpoche cũng đến Trung Thổ hoằng pháp, ông ấy cho rằng Phật giáo ở Trung Thổ cần phát triển hưng thịnh, do vậy, ông nói với Cống Cát  Hoạt Phật rằng: "Ông cũng cần đến Trung Thổ hoằng pháp."

Do vậy, sau khi Cống Cát Hoạt Phật kế tục Norlha Rinpoche, ông ấy cũng đến Trung Thổ hoằng dương Mật pháp. Tại Tứ Xuyên, Norlha Rinpoche đã kết Phật duyên với Liễu Minh Hòa Thượng, Liễu Minh Hòa Thượng giảng Kinh Kim Cang cho Norlha Rinpoche, còn Norlha Rinpoche thì lại dạy và quán đảnh cho Liễu Minh Hòa Thượng pháp Đại Viên Mãn của Hồng giáo.

Liễu Minh Hòa Thượng sau khi nhận được quán đảnh thì lại quán đảnh pháp Đại Viên Mãn cho Sư Tôn, đây chính là truyền thừa ở nhân gian của Sư Tôn. Cống Cát Hoạt Phật Thượng sư có đến Trung Thổ để hoằng pháp, ông ấy ở Thành Đô, ở Trùng Khánh, ở Côn Minh, ở Nam Kinh, ông ấy đã đi rất nhiều nơi, ông ấy còn đến cả Vân Nam Côn Minh nữa. Mặc dù ông ấy là một vị Hoạt Phật của Bạch giáo, là Hoạt Phật của Đại Thủ Ấn, nhưng ông ấy cũng học pháp Đại Viên Mãn, Norlha Thượng sư cũng quán đảnh cho ông ấy pháp Đại Viên Mãn. Những vị này đều có truyền thừa pháp Đại Viên Mãn.

Thế còn truyền thừa pháp Đại Viên Mãn ở nhân gian của Sư Tôn là từ Norlha Thượng sư, Liễu Minh Hòa Thượng đến Sư Tôn, đây là truyền thừa nhân gian chủ yếu nhất, còn cái khác thì là truyền thừa cách thời đại. Ngoài ra còn có "thậm thâm thiền định thanh tịnh" truyền thừa, nghĩa là ở trong thiền định, tôi đã minh tâm kiến tính rồi, tôi tu cửu tiết Phật phong, tu Kim cang tụng, tu Bảo bình khí, tinh thần tập trung, tự nhiên nhập vào thiền định, các vị Phật Bồ Tát hóa hiện lên trong thiền định đã dạy tôi khẩu quyết và chỉ cho tôi những điểm chính nằm ở đâu, đây gọi là truyền thừa thậm thâm thiền định thanh tịnh, trên đời này rất hiếm có đó.

Hôm nay tôi giảng cho mọi người biết pháp Đại Viên Mãn là gì, nó có thể khiến thân thể bạn khỏe mạnh, tâm linh vui vẻ, thân tâm hài hòa, đạt được chứng ngộ, có thể tức thân thành Phật, có thể tức sinh thành Phật, có thể thân hóa cầu vồng, tương lai có thể trực tiếp thành Phật, hơn nữa còn là có thể thành Phật trong một kiếp. Om mani padme hum.


### Bài giảng số 4


**Tì kheo ni công chúa nước Orgyen hoài thai thánh linh sinh hạ vị tổ số một của pháp Đại Viên Mãn tại nhân gian Cực Hỉ Kim Cang**

*(Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" trong buổi đồng tu A Di Đà Phật tại Seattle Lôi Tạng Tự, Hoa Kì, vào ngày 15 tháng 6 năm 2013.)*

Hôm nay tôi muốn giới thiệu vị tổ đầu tiên tại nhân gian của pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", đó là Cực Hỉ Kim Cang (Garab Dorje). Ngài sinh ra tại đất nước Orgyen, sự ra đời của ngài cũng rất vi diệu. Khi ấy, có một công chúa là con của Quốc vương rất tin Phật, công chúa nguyện cả đời không lập gia đình, nguyện xuất gia làm tì kheo ni. Khi ấy ở Ấn Độ gọi là nữ Brahmin, nghĩa là tì kheo ni xuất gia. Công chúa cũng không lấy chồng mà đã cạo đầu xuất gia rồi.

Khi cô xuất gia tu hành, cô mơ thấy một tòa tháp lưu li, có Phật quang giáng xuống, Phật cầm tháp lưu li đặt trên đỉnh đầu cô quán đảnh ba lần. Có một tia sáng thanh tịnh màu trắng đi vào bên trong thân thể của tì kheo ni, là một tia ánh sáng lấp lánh đi vào bên trong người tì kheo ni. Là một công chúa con vua, cô ấy không kết hôn, hơn nữa lại là tì kheo ni xuất gia, thế mà bụng cô tự nhiên lại cứ to lên, đây là một sự việc rất phiền phức. Đại bộ phận các lão tổ sư khi ra đời thì đều có rất nhiều kì tích, rất nhiều sự việc thần kì. Do vậy, tôn giáo không tách rời khỏi những kì tích, không tách rời những thần tích, không có thần tích thì không được gọi là tôn giáo. Tì kheo ni này cũng giống như Đức mẹ Maria của chúa Jesus vậy, thật sự là trinh nữ hoài thai, bụng càng ngày càng to lên.

Vị mà giáng xuống là từ Đao Lợi Thiên, là Thiên Vương của 33 Thiên cung, tên là Song Huỳnh. Ngài ấy sinh hạ thái tử Thắng Tâm, thái tử Thắng Tâm là một trong số năm trăm vị thiên tử của 33 cõi trời, là con trưởng. Lần trước tôi đã giảng rồi, Thắng Tâm thiên tử được Kim Cang Thủ Bồ Tát quán đảnh pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", từ đó ở thiên thượng giới, ngài đã tu hành "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", sau đó, ngài hạ giáng đến nhân gian, chính là hạ giáng lên thân của tì kheo ni kia.

Trải qua mười tháng hoài thai, công chúa cảm thấy mình là một tì kheo ni thanh tịnh, bỗng dưng lại có con, đây là một việc rất xấu hổ. Thế là cô bèn lén ôm đứa con chạy đến một cái hố tối tăm bên trong một hang núi, cô bỏ lại đứa bé ở trong hang, để mặc nó, sống chết không quan tâm. Lâu sau, cô nghĩ đứa bé này chắc hẳn đã chết đói rồi, cô liền quay trở lại xem, baby này vẫn còn cười với cô, và nó vẫn sống khỏe mạnh, cũng không bị chết đói!

Đột nhiên, một linh cảm tâm linh khiến cô cảm động nói rằng: "Đứa bé này là thánh hiền chuyển thế, cô không được bỏ nó, hãy đưa nó về nuôi dưỡng cẩn thận." Tì kheo ni cũng cho rằng đứa bé này là thánh hiền, thế là cô thật sự đã đem đứa bé về nuôi dưỡng. Cha của tì kheo ni là Quốc vương, cũng cho rằng đứa bé này là thánh hiền, do vậy đặt tên cho đứa bé, dịch ra tiếng Trung nghĩa là Cực Hỉ Kim Cang. Đây là một câu chuyện thần kì của Ấn Độ thời cổ đại, không giống như Jesus, Jesus thì con người trong thiên hạ đều biết.

Trước kia bà Trần Truyền Phương có kể một câu chuyện cười, có một cô gái sinh con trong bệnh viện, bác sĩ khoa sản phụ chúc mừng cô: "Chúc mừng cô! Cô đã sinh ra một công tử. Cô hãy nói với chồng mình là cô đã sinh được một công tử rồi." Cô ấy bèn nói: "Tôi không có chồng." Bác sĩ khoa sản phụ nghe xong thì hiểu ra, liền nói: "Thế thì cô nói với bạn trai rằng cô đã sinh ra một bé trai rồi." Cô gái nói: "Tôi không có bạn trai." "Hả?" Bác sĩ không nói gì, cuối cùng, ông ấy chỉ nói: "Thế này vậy! Chúc mừng cô! Chúa Jesus thứ hai đản sinh rồi." Bởi vì cô ấy không có chồng, cũng không có bạn trai, thế thì làm sao mà có con đây?

Tì kheo ni còn có thánh linh nói cho cô ấy biết rằng đây là thánh hiền đến chuyển thế, Quốc vương cũng cho rằng đó là thánh hiền đến chuyển thế, và còn đặt tên cho đứa bé, gọi là Cực Hỉ Kim Cang. Khi đứa bé lên bảy tuổi, cậu bé đã biện luận cùng 500 vị pandita, pandita ở Ấn Độ là từ để gọi các bậc đại thiện tri thức, đại thiện tri thức của Phật pháp. Một đứa bé bảy tuổi biện luận cùng với 500 vị pandita, thật bất ngờ là đứa bé bảy tuổi đã thắng. Bởi vậy, bản thân đứa bé có thiên phú. Về sau, cậu bé quyết định tu hành chăm chỉ, và cậu bé đã đến một nơi gọi là núi Thái Dương Quang Minh.

Được rồi! Hôm nay tôi sẽ giảng về thái dương xuất hiện. Ở bên cạnh có một vòng hào quang, chính là đại diện cho Cực Hỉ Kim Cang, bởi vì hôm nay tôi sẽ giảng về Cực Hỉ Kim Cang. Ngài ấy đến núi Thái Dương Quang Minh, liên tục ở đó tu hành cho đến khi 32 tuổi. Khi ấy Kim Cang Thủ Bồ Tát cũng xuất hiện trước mặt ngài, mở ra terma pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" đã giấu trong não ngài, vừa mở ra thì ngài liền hiểu rõ tất cả: "Chà! Thì ra ta đã từng tu hành pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" ở cõi trời rồi."

Chính vào năm 32 tuổi, tại núi Thái Dương Quang Minh, trong sát-na, ngài đã trực tiếp thành Phật. Hôm nay, trong hư không hiển hiện thái dương, ánh sáng của mặt trời, chính là núi Thái Dương Quang Minh mà Cực Hỉ Kim Cang ở bên đó tu hành mà hiển hiện ra. Do vậy, hôm nay vì sao lại hiện ra ánh sáng mặt trời? Bởi vì núi mà Cực Hỉ Kim Cang tu hành gọi là núi Thái Dương Quang Minh. Bạn xem, mặt trời hiển hiện trong hư không còn có cả ánh sáng của ngài xuất hiện nữa.

Tiếp tục nói về Cực Hỉ Kim Cang, sau khi ngài ấy khai ngộ, ngài bắt đầu độ chúng sinh. Sau khi ngài thành Phật, ngài liền đến rừng Thi Đà Lâm hoằng pháp. Rừng Thi Đà Lâm ở Ấn Độ là một nghĩa địa, và ở đó cũng không có chuyện hỏa táng, chỉ là đem tử thi đến bỏ lại nơi đó, rồi chẳng quan tâm nữa, mau mau bỏ đi. Do vậy, ở nơi đó tử thi chất thành đống, rất nhiều xác chết, để cho chim ăn, côn trùng ăn, có một chút giống với hình thức thiên táng ở Tây Tạng. Thiên táng là xẻ thịt ra, vứt lên không trung, để cho chim kền kền đến tranh nhau mổ rỉa. Thi Đà Lâm ở Ấn Độ phần lớn đều quăng tử thi ở đó, dùng vải bọc lại, để lại ở đó rồi bỏ đi, từ đó không quan tâm đến nữa.

Do vậy, toàn bộ khu nghĩa địa rất đáng sợ, Thi Đà Lâm ở Ấn Độ rất đáng sợ. Tuy vậy thì Thi Đà Lâm cũng là một nơi tốt nhất để tu hành, cũng là nơi mà các Không Hành Mẫu, Không Hành Phụ tụ họp, rất kì lạ! Đặc điểm hoàn cảnh đất nước khác nhau, đó là một nơi vô cùng đáng sợ, âm u, nhưng những người tu hành thì đại bộ phận đều ở đó, bởi vì tu hành chính là cần phải nghĩ rằng: "Rốt cục thì ta cũng sẽ chết, có một ngày, ta cũng sẽ đến đây." Và khi ấy suy nghĩ này sẽ thức tỉnh tâm tu hành tinh tấn của bạn. Khi mà tất cả mọi thứ đều buông bỏ, cái gì là ái hận tình thù, account (tài khoản) ngân hàng, xe hơi, nhà cửa, vợ đẹp bồ xinh, khi tất cả đều buông bỏ thì sẽ khơi dậy tâm tu hành thật sự của bạn.

Vì thế nên khi xưa, rất nhiều người tu hành đều tập trung ở Thi Đà Lâm để tu hành. Cực Hỉ Kim Cang bèn đến Thi Đà Lâm hoằng pháp, hoằng dương pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ". Khi ấy, có rất đông người đến nghe ngài ấy giảng pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ". Sau cùng có một người đến, người này chính là vị tổ sư thứ hai tại nhân gian của pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", là vị tổ sư thứ hai tại nhân gian, tên gọi là Diệu Cát Tường Hữu (Mañjuśrīmitra), truyền thừa lúc này là Thắng Tâm Thái Tử --- Cực Hỉ Kim Cang. Lần trước tôi nói là Đại Cát Tường Hữu là vì tôi nhớ đến Đại Cát Tường Thiên Nữ, do vậy mới nói thành Đại Cát Tường Hữu. Nhưng thật ra Đại cũng chính là Diệu, không khác là mấy! Nhưng tên gọi đúng thì là Diệu Cát Tường Hữu.

Diệu Cát Tường Hữu đi nghe pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", có được niềm hoan hỉ và quán đảnh của Cực Hỉ Kim Cang, ngài đã ở bên cạnh Cực Hỉ Kim Cang tổng cộng hơn 70 năm, Cực Hỉ Kim Cang khi ấy 32 tuổi thì chứng ngộ, thành Phật, đến Thi Đà Lâm hoằng pháp. Diệu Cát Tường Hữu ở cùng Cực Hỉ Kim Cang hơn 70 năm, thì chẳng phải là hơn trăm tuổi sao? Người Ấn Độ rất ít người sống đến hơn trăm tuổi đó.

Hẳn là thế này, cách tính năm của Ấn Độ khác với cách tính năm của chúng ta bây giờ. Một năm của chúng ta tính là một tuổi, họ thì nửa năm đã tính là một tuổi rồi. Do vậy, thật ra, Diệu Cát Tường Hữu ở cùng với Cực Hỉ Kim Cang là khoảng 30 năm, không phải là hơn 70 năm.

Có người nói Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp 49 năm, nhưng e rằng chỉ là 25 năm thôi. Có người nói Phật Thích Ca Mâu Ni sống đến 80 tuổi, thật ra, cũng chưa chắc, khả năng chỉ là 60 tuổi.

Cực Hỉ Kim Cang truyền pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" cho vị tổ thứ hai là Diệu Cát Tường Hữu. Khi truyền cho Diệu Cát Tường Hữu xong thì Cực Hỉ Kim Cang bèn nhập niết bàn, khi ngài niết bàn thì thân hóa thành cầu vồng, toàn thân đều tiêu biến, biến thành một dải ánh sáng bay lên hư không, vô cùng kì diệu. Cách nhập niết bàn này là vô cùng tuyệt diệu, chính là toàn thân hóa thành một dải cầu vồng bay lên hư không rồi tan biến mất. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ cũng vậy, thân hóa cầu vồng, biến thành một dải cầu vồng bay vào hư không. Cực Hỉ Kim Cang đã kết thúc một đời như vậy. Đây là vị tổ sư đầu tiên tại nhân gian của pháp Đại Viên Mãn. Ngày mai tôi sẽ giảng cho mọi người về vị tổ thứ hai là Diệu Cát Tường Hữu. Om mani padme hum.


### Bài giảng số 5


**Diệu Cát Tường Hữu (Mañjuśrīmitra) niết bàn lại truyền pháp Đại Viên Mãn cho Liên Hoa Sinh Đại Sĩ**

*(Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị về pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" trong đại pháp hội Hộ Ma Bất Động Minh Vương tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, Hoa Kì, vào ngày 16 tháng 6 năm 2013.)*

Chúng ta lại giới thiệu tiếp về vị tổ sư thứ hai của pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", chính là Diệu Cát Tường Hữu. Diệu Cát Tường Hữu sinh ra tại một gia đình Bà La Môn tương đối giàu có. Bà La Môn nghĩa là người tu hành. Ấn Độ có bốn tầng lớp lớn, thứ nhất là người tu hành, địa vị cao nhất, thứ hai là hoàng tộc, thứ ba là thương nhân, thứ tư là nô lệ. Cho đến hiện tại thì bốn tầng lớp này cũng vẫn chưa kết hôn chéo lẫn nhau.

Trong đó thì tầng lớp Bà La Môn là cao nhất, họ rất tôn kính những người tu hành. So sánh với ngày nay thì Ấn Độ giống như Đài Loan Trung Hoa Dân Quốc, còn nước Cộng Hòa Nhân Dân như Mỹ thì căn bản là không coi trọng người tu hành, không tôn kính người tu hành. Nhưng ở Ấn Độ thì họ rất tôn kính người tu hành, xếp người tu hành vào tầng lớp số một. Diệu Cát Tường Hữu sinh trưởng trong một gia đình người tu hành giàu có. Ngài ấy rất có Phật duyên, sau khi ra đời cũng rất nỗ lực học Phật, ngài đi khắp nơi bái sư phụ, ngài đã bái 500 vị pandita.

Cực Hỉ Kim Cang đã tranh biện cùng 500 vị pandita, vì sao mà Diệu Cát Tường Hữu này cũng lại bái 500 vị pandita làm thầy? Trong kinh Phật nhắc đến con số 500, cái gì cũng 500, ví dụ như 500 thương nhân qua sông, 500 tì kheo, 500 tì kheo ni,… cái gì cũng 500, 500 là có ý nghĩa gì đây? Ở Ấn Độ, 500 mang ý nghĩa là nhiều, không phải 500 ngoại đạo nghĩa là đúng 500 người, không phải 500 pandita thì nghĩa là đúng 500 vị đại thiện tri thức, đây chỉ là một so sánh, chỉ là để biểu thị rằng ngài ấy đã bái rất nhiều sư phụ thôi. Giống như nói Đề Bà Đạt Đa đem 500 tì kheo rời bỏ Phật Thích Ca Mâu Ni thì thật ra ý nghĩa chỉ là rất nhiều thôi.

Có một câu chuyện cười, lão Tiền nói với lão Lý rằng: "Đêm qua xui xẻo quá." Lão Lý nói: "Xảy ra chuyện gì vậy?" Lão Tiền nói: "Đêm qua tôi về nhà sớm, trước đây tôi toàn nhằm lúc tối ôm người hầu, kết quả là tôi lại ôm nhầm bà vợ tôi." Lão Lý nói: "Vậy thì có liên quan gì đâu!" Lão Tiền nói: "Nhưng mà, bà vợ tôi lại nói: "Tiểu Mã, lão Tiền về nhà rồi, mày còn chưa đi sao?"

Tôi nói về sự hiểu lầm. Chúng ta đừng hiểu lầm ý nghĩa của con số 500, người Ấn Độ nói 500, người Tây Tạng nói 500, trong kinh Phật nói 500 nghĩa là so many, nghĩa là rất nhiều rất nhiều đó.

Diệu Cát Tường Hữu bái 500 vị đại thiện tri thức, học tập Phật pháp, ngài đã nghiên cứu rất nhiều về Phật pháp, dường như ngài đã học Phật pháp bát thánh, có nghĩa là Phật pháp bát thứ đệ. Bình thường, ngài rất ngạo mạn rằng: "Phật pháp tôi đều học hết rồi, cái gì tôi cũng hiểu." Lúc này, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát hiện thân nói với ngài rằng: "Còn có Phật pháp tốt hơn nữa, ở trong rừng Thi Đà Lâm, có một người là Cực Hỉ Kim Cang đang dạy "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", vẫn còn có Phật pháp cao sâu nhất. Ông cần đi bái Cực Hỉ Kim Cang làm thầy."

Diệu Cát Tường Hữu nói: "Tôi mới là người hiểu hết Phật pháp. Cực Hỉ Kim Cang thì có cơ gì chứ? Ông ta không đáng làm thầy tôi. Bây giờ tôi đã là thầy của chúng sinh rồi." Diệu Cát Tường Hữu rất ngạo mạn. Bởi vậy, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát mới bảo ông: "Thật đó, Phật pháp mà ông học còn chưa đủ đâu, còn có pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" A Để Du Già cao sâu hơn, vi diệu hơn, ông còn không đi học sao?" Diệu Cát Tường Hữu nói: "Tôi rất vĩ đại rồi! Không đi học nữa." Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát khuyên: "Hay là ông đi tham khảo một tí cũng được!" "Được! Vậy tôi sẽ biện luận cùng ông ấy."

Bản thân Diệu Cát Tường Hữu muốn đến Thi Đà Lâm để biện luận Phật pháp cùng Cực Hỉ Kim Cang, ông ấy rất ngạo mạn đi đến Thi Đà Lâm, trông thấy Cực Hỉ Kim Cang gật đầu một cái "Ừ!", động tác này chính là biểu thị "chẳng có gì to tát cả". Chúng ta học Phật không thể như vậy, ngạo mạn như thế là không tốt. Thật ra, rất ít người học Phật mà tôn trọng lẫn nhau.

Giống như người viết văn chương vậy, văn nhân thường coi thường lẫn nhau. Tôi viết văn, anh ta cũng viết văn, tôi xem thường anh, anh xem thường tôi. Võ tướng cũng coi thường lẫn nhau, đố kị tới lui, người nào vượt lên trước ta thì ta sẽ ghét người đó. Người có tiền cũng có thể bị coi thường. Bởi thế, khi Bill Gates đi ra đường, đột nhiên bị ném một quả trứng trúng mặt. Ông ấy nói: "Tôi với anh có quan hệ gì không?" "Anh và tôi chẳng có quan hệ gì cả, vì sao anh lại ném trứng vào mặt tôi?" "Tôi không thích kẻ có tiền vậy thôi." Bởi vì bản thân người này không có tiền, nên anh ta ghen tị với những người có tiền.

Tài hoa càng cao, kẻ thù càng nhiều, tài hoa trung bình thì kẻ thù cũng ở mức bình thường. Nếu như bạn chẳng có tài hoa thì căn bản là sẽ chẳng có kẻ thù. Nếu như bạn là một kẻ ngốc thì ai sẽ coi bạn là kẻ thù đây? Người có năng lực lớn thì sẽ có kẻ thù lớn, người có năng lực nhỏ thì sẽ có kẻ thù nhỏ. Không có năng lực thì không có kẻ thù, thế giới này là như vậy.

Diệu Cát Tường Hữu cho rằng bản thân đã học được toàn bộ Phật pháp rồi "Cực Hỉ Kim Cang nhà ngươi, Văn Thù Sư Lợi
Bồ Tát bảo ta bái ông làm thầy, nhưng tôi chẳng biết ông là ai?" Hai người bắt đầu biện luận. Kì thực, những gì mà Diệu Cát Tường Hữu đã học là "nhất thiết hữu bộ", những gì mà Cực Hỉ Kim Cang đã học là "nhất thiết không bộ", hai người đấu nhau, những gì mà Diệu Cát Tường Hữu nói thì đều bị Cực Hỉ Kim Cang bác bỏ, những gì Cực Hỉ Kim Cang nói thì Diệu Cát Tường Hữu nghe không hiểu. Diệu Cát Tường Hữu không có cách nào trả lời được, bởi vì ông ấy không hiểu. Do vậy Diệu Cát Tường Hữu đã thua trong cuộc tranh biện.

Trên thế giới này, không thua thì là thắng. Có một chàng trai không muốn tiêu tiền, lần đầu tiên đến nhà bạn gái, vì không muốn tiêu tiền nên anh ta nghĩ ra một kế sách, khi anh ta vừa vào nhà bạn gái thì đã làm bộ mặt đau khổ nói rằng: "Hôm nay xui xẻo quá, có một cái đồng hồ mới mua, vốn định tặng em, không ngờ trên xe buýt đã bị kẻ móc túi lấy mất rồi." Bạn gái nghe xong vô cùng cảm động, nói đầy tiếc nuối: "Sau này cẩn thận một chút." Chàng trai lập tức đồng ý: "Chắc chắn rồi, tên móc túi quả thật rất đáng ghét, lần sau, anh sẽ không cầm theo cái gì cả, xem xem nó sẽ trộm cái gì." Thật là keo kiệt, theo đuổi bạn gái mà như vậy chắc chắn sẽ thất bại.

Trước kia, tôi đến nhà Sư Mẫu thăm Sư Mẫu, mỗi lần đến tôi đều đem theo thứ gì đó, không có lần nào là không, không lần nào đi tay không đến nhà bạn gái cả, không hề có chuyện như vậy. Tôi luôn hai tay cầm theo thứ gì đó đến nhà Sư Mẫu. Em gái của Sư Mẫu trông thấy thì bảo tôi một câu: "Sau này, đồ để lại, còn người không cần phải vào đâu." Có chuyện như vậy đó. Phải vậy không? Đúng mà. Bạn xem! Tôi đi đến nhà bạn gái, tuyệt đối luôn đem theo thứ gì đó, làm như thế là rất khéo léo đó.

Diệu Cát Tường Hữu đi đến chỗ của Cực Hỉ Kim Cang, hai tay không, cũng chẳng mang lễ vật, lại còn coi thường người ta, nhìn là muốn trói lại đánh rồi, lại còn muốn tranh biện. Cực Hỉ Kim Cang bèn tranh biện cùng ông ấy, Diệu Cát Tường Hữu không trả lời được. "Phải làm sao đây?" Khi ấy, Diệu Cát Tường Hữu vô cùng xấu hổ, nói: "Rốt cục Cực Hỉ Kim Cang đã nói gì, thật sự ta không hiểu." Diệu Cát Tường Hữu vốn tràn đầy tự tin, kết quả là nay thật sự không hiểu, nên vô cùng xấu hổ. Ông nói với Cực Hỉ Kim Cang: "Ở đây có dao không?" Cực Hỉ Kim Cang nói: "Có! Bình thường thái thức ăn nên có dao mà! Ông muốn làm gì?" Diệu Cát Tường Hữu nói: "Hôm nay tôi xấu hổ vô cùng, tôi muốn cắt lưỡi mình."

Cực Hỉ Kim Cang nói: "Ông không cần phải cắt lưỡi mình, như thế thì lại tạo thành nghiệp chướng không tốt, làm tổn hại đến thân Phật trang nghiêm. Con người chính là Phật mà! Mỗi người đều có Phật tính mà! Ông không thể tự làm hại bản thân được! Cắt lưỡi mình thì chẳng phải là làm tổn hại Phật tính của chính mình sao?" Bởi vậy tôi nói người học Phật không thể tự sát chính là như vậy. Bởi vì tự sát là giết hại Phật tính của chính mình, cắt lưỡi tương đương với làm tổn hại thân Phật trang nghiêm, đó là tự làm hại bản thân. Nghe Cực Hỉ Kim Cang nói như vậy, Diệu Cát Tường Hữu chỉ có thể nói: "Tôi đã tranh luận thua ông rồi, tôi không còn biết giấu mặt vào đâu nữa, tôi lại cũng không đem theo lễ vật, vậy tôi phải làm sao đây?"

Cực Hỉ Kim Cang bèn nói với Diệu Cát Tường Hữu: "Ông hãy cùng ta học pháp, ta sẽ dạy toàn bộ các pháp cho ông." Diệu Cát Tường Hữu rất xấu hổ, phủ phục xuống đất, ngay tại chỗ đã bái Cực Hỉ Kim Cang làm thầy, học tập A Nỗ Du Già, A Để Du Già, Đại Du Già một cách rất khiêm tốn, bởi vì ông ấy ngạo mạn nhưng thất bại, nên nay trở nên rất khiêm tốn, đã cúi rạp mình xuống đất để quy y Cực Hỉ Kim Cang. Diệu Cát Tường Hữu đã theo Cực Hỉ Kim Cang học pháp 75 năm. Thời Ấn Độ Cổ đại thì nửa năm tính là một năm, người ta tính như vậy cho nên mới thành ra là 75 năm.

Có một hôm, Cực Hỉ Kim Cang biến hóa thành cầu vồng, bay đến hư không, Diệu Cát Tường Hữu liền cầu nguyện sư phụ rằng: "Sư phụ! Sư phụ! Bây giờ thầy muốn niết bàn, thầy hãy dạy cho con khẩu quyết quan trọng nhất đi!" Đột nhiên, từ hư không rơi xuống ba cuốn sách, chính là ba yếu quyết, rơi trúng  đầu Diệu Cát Tường Hữu mấy cái, thế là Diệu Cát Tường Hữu đã khai ngộ ngay tại chỗ. Sự chứng ngộ của ngài cũng giống với Cực Hỉ Kim Cang.

Diệu Cát Tường Hữu sau đó đã đi đến một nơi khác, đi đến Bodhgaya, phía tây của Bodhgaya có một rừng Thi Đà Lâm, Diệu Cát Tường Hữu liền đi đến Thi Đà Lâm đó, trở thành một vị sư phụ, hơn nữa còn truyền pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" cho mọi người biết. Thời gian truyền pháp của ngài rất dài, cho đến tận khi ngài nhập niết bàn. Ở đây cũng có bí mật, là bí mật gì vậy?

Tôi kể một câu chuyện cười trước. Có một bé gái mới lên hai tuổi rưỡi, thế nhưng đã cực kì thông minh, hỏi gì cũng biết. Có một lần, mommy của cô bé hỏi: "Mắt dùng để làm gì?" Bé gái đáp: "Để nhìn các thứ." Mommy lại hỏi: "Tai dùng để làm gì?" Cô bé nói: "Để nghe." Mommy lại hỏi: "Thế còn miệng?" Bé gái nói: "Để ăn các thứ!" Mommy lại hỏi: "Còn mũi thì sao?" Bé gái bèn trả lời: "À, để ngoáy gỉ mũi."

Bây giờ Sư Tôn sẽ nói bí mật của Diệu Cát Tường Hữu. Sau khi đã minh tâm kiến tính thì ngài cũng đến Thi Đà Lâm ở Bodhgaya để truyền thụ Phật pháp, chính là Bodhgaya nơi có cây bồ đề mà Phật Thích Ca Mâu Ni đã thiền định đó, là khu rừng Thi Đà Lâm nằm về phía tây. Diệu Cát Tường Hữu ở đó truyền pháp độ chúng sinh, khi viên tịch thì ngài ấy hóa thành cầu vồng. Tôi nói cho mọi người biết, có hai vị Diệu Cát Tường Hữu. Sau khi Diệu Cát Tường Hữu viên tịch, pháp thân của ngài ở Áo Minh thiên cung đột nhiên cảm thấy nhiệm vụ còn chưa hoàn thành, ngài vẫn còn phải đi độ một người cách thời đại nữa. Người này chính là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.

Khi Diệu Cát Tường Hữu nhập niết bàn, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ khi ấy còn chưa thành tựu, nhưng Diệu Cát Tường Hữu biết tương lai Liên Hoa Sinh Đại Sĩ sẽ có thành tựu rất lớn, do vậy, ngài phải đến thế giới Ta Bà lần nữa. Bởi vậy, pháp thân của ngài thật sự đã từ Áo Minh thiên cung hạ giáng, hạ giáng trên một bông hoa sen, hoa sen vốn đang khép lại, nhưng vì ngài hạ giáng ở bên trong nên hoa sen từ từ mở ra, bên trong là một baby, một cơn gió thổi qua, đứa bé liền lớn phổng. Đó là ai? Chính là Diệu Cát Tường Hữu sau này, điều này không được ghi lại trong kinh điển.

Tại biển Đạt Lai Quách Khiếu, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ hóa sinh thành một baby, Diệu Cát Tường Hữu lại hóa sinh ở bên cạnh ngài, cũng là hóa sinh trong hoa sen, hoa sen nở ra, một cơn gió thổi đến, Diệu Cát Tường Hữu lập tức lớn lên. Vào lúc ấy, ngài bèn thuyết pháp cho đứa bé mà Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã hóa sinh thành. Ngài đã dạy cho Liên Hoa Sinh Đại Sĩ những khẩu quyết trọng yếu của pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ".

Những điều này không được viết trong sách. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ từ từ lớn lên, Diệu Cát Tường Hữu đã truyền cho ngài pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" trong bí mật. Chúng ta gọi Diệu Cát Tường Hữu này là Hậu Diệu Cát Tường Hữu, còn Diệu Cát Tường Hữu đầu tiên thì gọi là Tiền Diệu Cát Tường Hữu.

Diệu Cát Tường Hữu từng tập hợp toàn bộ 640 vạn bài kệ của Cực Hỉ Kim Cang phân thành ba bộ, bộ thứ nhất gọi là Tâm Bộ, bộ thứ hai là Giới Bộ, bộ thứ ba là Khẩu Bộ. Tâm chính là heart, giới trong từ kết giới, khẩu thì là kuchi, tôi biết mimi là tai, tôi từng học tiếng Nhật cổ. Còn mọi người thì trẻ tuổi, tôi nói để mọi người biết, những gì tôi học là do bố mẹ tôi chỉ cho. Mọi người đều có một cái miệng to. Ở đây là Khẩu Bộ, còn có Tâm Bộ và Giới Bộ.

Diệu Cát Tường Hữu phân 640 vạn bài kệ thành ba loại để dạy, Tâm Bộ là nói về các vấn đề về "trụ tâm", tâm của bạn làm sao để trụ vững là điều rất quan trọng, là những vấn đề về trụ tâm. Tâm của con người chúng ta rốt cục là ở đâu, chúng ta không biết. Nhưng bạn cần phải tập trung tinh thần, suy nghĩ của mình lại, đây chính là vấn đề của việc trụ tâm, trong Tâm Bộ đều có giải thích. Giới Bộ là nói về rất nhiều nghi quỹ trọng yếu, nghi thức rất trọng yếu rất quan trọng, tu hành Giới Bộ rất tinh tấn, cái này thuộc về phạm vi của Giới Bộ. Ngoài ra, Khẩu Bộ là dạy về các khẩu quyết trọng yếu.

Bởi vậy, Diệu Cát Tường Hữu đã phân 640 vạn bài kệ của Cực Hỉ Kim Cang thành Tâm Bộ, Giới Bộ, Khẩu Bộ. Hậu Diệu Cát Tường Hữu cũng biến hóa thành một Liên Hoa Đồng Tử để dạy một Liên Hoa Đồng Tử khác, chính là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Có hai Liên Hoa Đồng Tử sao? Bản thân Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là hóa sinh từ hoa sen, nên ngài ấy chính là Liên Hoa Đồng Tử! Ai bảo không phải Liên Hoa Đồng Tử? Hậu Diệu Cát Tường Hữu cũng hoa sinh từ hoa sen, cũng là Liên Hoa Đồng Tử.

Vì thế, Liên Hoa Đồng Tử hiện tại là xuất chúng, có càng ngày càng nhiều Liên Hoa Đồng Tử, đều là hóa sinh từ hoa sen. Hậu Diệu Cát Tường Hữu, vị tổ sư thứ hai của pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", chính là Hậu Diệu Cát Tường Hữu hóa sinh từ hoa sen. Liên Hoa Đồng Tử lại dạy cho Liên Hoa Đồng Tử, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ cũng là hóa sinh từ hoa sen mà. Điều này rất kì diệu đó! Thật ra thì cũng không kì lạ, bởi vì đến Tây phương Cực lạc thế giới rồi thì ai cũng là hóa sinh từ hoa sen, đều là Liên Hoa Đồng Tử. Sau này, nếu có người nói rằng không có Liên Hoa Đồng Tử thì cấm không cho đến Tây phương Cực lạc thế giới. Bởi vì Tây phương Cực lạc thế giới toàn là hóa sinh từ hoa sen mà! Nếu như nói không có Liên Hoa Đồng Tử thì không cần phải đến Tây phương Cực lạc thế giới nữa đâu!

Buổi trưa hôm nay bà Trần Truyền Phương kể một câu chuyện cười về tính trung thực, có một người mẹ trẻ đang dỗ dành một baby, người mẹ nói: "Nếu như con không ngủ thì con đi ngủ cùng với ông nội đi." Baby liền nói: "Con không muốn đi ngủ cùng ông nội." "Nếu con không đi ngủ cùng ông nội thì mẹ sẽ đi ngủ cùng ông nội đó." Ông nội đi qua và đã nghe thấy. "Chà! Muốn đi ngủ cùng ông nội." Cả buổi tối ông không ngủ được. Đến hôm sau tỉnh dậy, ông nội liền nói với con dâu: "Cô không thể dạy con trẻ như vậy được, một đằng thì cô dỗ trẻ con, một đằng thì cô lừa người già, thế là không được."

Đây là một vấn đề về tính trung thực. Bây giờ tôi sẽ kể một câu chuyện cười về tính trung thực, không giống câu chuyện mà bà Trần Truyền Phương kể. Một doanh nhân khởi nghiệp thành công nói với đứa con của mình: "Một người thành công cần có hai điều kiện tất yếu là tính trung thực và trí tuệ." Đứa con hỏi bố: "Tính trung thực là gì?" Người bố nói: "Trung thực nghĩa là biết rõ ngày mai sẽ phá sản thì hôm nay cũng vẫn phải giao hàng hóa đến tay khách hàng, đó chính là trung thực." Đứa con liền hỏi: "Thế cái gì là trí tuệ?" Người bố bèn nói: "Đừng có làm việc ngốc nghếch như vậy." Đây chính là điểm mâu thuẫn giữa trung thực và trí tuệ.

Học Phật không thể bốc phét (khoác lác), bạn học đến cái gì thì bạn nói cái đó, chưa học đến cái gì thì không thể nói về cái đó. Hôm nay, thật sự là trong đầu tôi có Diệu Cát Tường Hữu thì tôi mới có thể nói về Tiền Diệu Cát Tường Hữu và Hậu Diệu Cát Tường Hữu. Diệu Cát Tường Hữu đã học pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" như thế nào, cần phải biết được quá trình ngài học pháp. Sau này, đầu tiên tôi cần phải nói về các vị tổ sư, bởi vì sau Diệu Cát Tường Hữu là Cát Tường Sư Tử (Shri Singha), sau Cát Tường Sư Tử là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Giới thiệu xong về bốn vị tổ sư này thì mới đi vào chủ đề của pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ".

Vì thế trước khi đi vào chủ đề, tôi sẽ giảng về bốn vị tổ sư chủ yếu trước. Một người là Cực Hỉ Kim Cang, là tổ sư đầu tiên tại nhân gian. Diệu Cát Tường Hữu là tổ sư thứ hai tại nhân gian. Cát Tường Sư Tử là tổ sư thứ ba tại nhân gian. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là tổ sư thứ tư tại nhân gian. Đây là bốn vị tổ sư quan trọng nhất. Thật ra, trong pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" không chỉ có mấy vị này, bởi vì có rất nhiều người học, rất nhiều học sinh, nhưng thật sự trở thành thế hệ tổ sư, độ cực kì nhiều chúng sinh thì chỉ có bốn vị này, thế nên bốn vị này tương đối quan trọng. Vì thế nên tôi cũng mới giới thiệu cùng mọi người về bốn vị tổ sư này.

Mẹ hỏi con trai: "Con à! Năm nay con sáu tuổi rồi, hoạt bát hiếu động, vô cùng đáng yêu, giống như chú hổ con vậy." Con trai nói: "Hây hây hây! Con là hổ con, thế mẹ là gì?" Mẹ nói: "Mẹ là mẹ của con." Con trai nói: "Không đúng, phải như bố thường nói, mẹ là hổ cái." Cách xưng hô lẫn nhau, hổ con, hổ mẹ thì đều rất vĩ đại đó.

A nói với B: "Trong đời tôi chỉ cầu xin thượng đế làm một việc, không biết thượng đế có thể làm được không?" A nói: "Tôi chỉ cầu xin tôi không chết." Không thể nào! Đây là việc không thể nào có, cầu bất tử là không thể được, con người đều phải chết mà. Con người đến lúc chết thì vạn sự đều ngừng, tất cả đều chẳng còn gì, yêu gì, hận gì, bao nhiêu tiền, nghèo ra sao, có bao nhiêu quyền thế… cũng chẳng có tác dụng gì. Người học Phật cần hiểu điều này, vì vậy cũng không nên quá nặng nề mọi thứ. Nói dễ nghe một chút thì là biết rằng cái mà ta có chỉ là nhất thời, nghĩa là lúc này ta sống được tốt là được, sống được thiện là được, ta thật sự tu Phật pháp là được, ta thật sự làm việc thiện là được, ta thật sự phát bồ đề tâm là được, ta thật sự tu một đàn pháp là được, ta thật sự đang trì chú là được, ta nghiêm túc đọc một cuốn sách thiện là được.

Chúng ta chỉ có thể như vậy. Tất cả những thứ khác đều nên xem nhẹ. Giống như Bill Gates, bây giờ ông ấy cũng biết rồi, kiếm tiền chẳng có ý nghĩa gì cả, ông ấy không muốn làm chủ tịch của Microsoft, ông ấy về hưu, để cho người khác đi làm việc vất vả, ông ấy biết rằng kiếm nhiều tiền hơn cũng không có tác dụng gì. Ông ấy lập hội từ thiện, ông ấy cũng giúp đỡ người khác, hơn nữa còn giúp rất nhiều người nữa. Ông ấy biết rằng sẽ đến một ngày tới lượt ông ấy, ông ấy cũng biết sẽ chẳng có được thứ gì. Bởi vậy, người học Phật giống như tôi vừa nói ở trên, mọi người làm đúng theo như vậy, biết rằng mọi thứ chỉ là nhất thời, tất cả mọi thứ bạn đều rất hoàn mĩ, rất thiện, rất thanh lương, rất thanh tịnh, như vậy là được rồi. Những thứ khác thì đừng quản lo. Om mani padme hum.


### Bài giảng số 6


**Shri Singha - vị tổ sư nhân gian thứ ba của pháp Đại Viên Mãn là tộc người Đảng Hạng thời Tây Hạ**

*(Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" trong buổi đồng tu Địa Tạng Vương Bồ Tát tại Seattle Lôi Tạng Tự, Hoa Kì, vào ngày 29 tháng 6 năm 2013.)*

Vị tổ sư thứ ba của pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" chính là Sư Lợi Tinh Ha (Shri Singha). Theo những lời đồn đại phổ thông thì ngài là người Hán, nghĩa là một người Đông Thổ. Thế nhưng ngài ấy cũng sống ở Thiên Trúc, chính là Ấn Độ. Rất kì lạ, vì sao ngài ấy ở Đông Thổ, lại cũng ở Ấn Độ được?

Trong truyền thuyết, vị tổ sư thứ ba của pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" là người Hán, ngài cũng có một tên gọi của người Hán, gọi là Tống Huệ Thọ, ngoài tên gọi này ra thì những lời đồn đại khác cũng rất nhiều. Thật ra ngài không phải là người Hán, Sư Tôn biết điều này, ngài là người Tây Hạ, sinh trưởng tại Cam Túc, ngài là tộc người Đảng Hạng.

Người của vương triều Tây Hạ gọi là tộc người Đảng Hạng, trong số đó có một người là Tống Huệ Thọ, từ nhỏ đã rất yêu thích Phật pháp, hiểu biết rất nhiều loại ngôn ngữ, hiểu ngôn ngữ Đảng Hạng. Bởi sinh ra ở Cam Túc nên ngài hiểu một chút tiếng Tạng, cũng hiểu một chút tiếng Phạn. Như tôi vừa nói, ngài ấy đã học thanh minh [ND: thuyết minh về ngôn ngữ văn tự ], nghĩa là trên phương diện ngôn ngữ, ngài đã học nhiều ngôn ngữ của các nước, bao gồm tiếng Phạn, tiếng Tạng, tiếng Hán, tiếng Tây Hạ, và cả chữ viết của Tây Hạ, ngài ấy đều biết hết.

Ngài ấy cũng học Ngũ minh, từ nhỏ đã thích Phật học. Ngài đã học nội minh, cũng học phương pháp chữa bệnh, chính là y phương minh, cũng học cả nhân minh, nghĩa là nhân quả và học logic. Những gì mà ngài ấy học chính là Ngũ minh: nhân minh, thanh minh, nội minh, công xảo minh, y phương minh. Ngài ấy cũng đã học rất nhiều kĩ thuật, rất hiếu học, vô cùng thông minh, ngài rất muốn học Phật pháp sâu hơn nữa. Do vậy, ngài đã từ Cam Túc đi theo con đường tơ lụa mà sang đến tận Afghanistan. Khi ngài đến được Afghanistan thì đột nhiên Quan Thế Âm Bồ Tát hiển hiện.

Các vị cổ nhân khi xưa đều có thể nhìn thấy Bồ Tát. Bạn xem, Cực Hỉ Kim Cang nhìn thấy Kim Cang Thủ Bồ Tát, Kim Cang Thủ Bồ Tát đã tác động lên não bộ của ngài, khiến ngài biết rằng ngài ấy vốn là Thắng Tâm thiên tử, mở ra toàn bộ pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", thế là ngài lập tức hiểu ngay về "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ". Ở đây là Kim Cang Thủ Bồ Tát giúp ngài khai mở, ngài cũng nhìn thấy Bồ Tát. Vị tổ sư thứ hai là Diệu Cát Tường Hữu cũng là do Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát đến chỉ bảo cho ngài cần mau mau đi bái Cực Hỉ Kim Cang làm thầy. Ngài ấy cũng nhìn thấy Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.

Sư Lợi Tinh Ha ở một nơi trên đất Afghanistan đã nhìn thấy Quan Thế Âm Bồ Tát hiển hiện nói với ngài rằng: "Ngài cần phải đi tìm Diệu Cát Tường Hữu, ở chỗ ngài ấy có Phật pháp thứ đệ viên mãn thật sự." Quan Thế Âm Bồ Tát nói với ngài một lần. Sư Lợi Tinh Ha nghĩ: "Phật pháp hiện nay của ta chưa phải là hay nhất, nên đi đến nơi nào đây?" Ngài ấy muốn đi tìm cầu Phật pháp viên mãn nhất, nhưng ngài ấy chỉ hiểu Phật pháp thông thường. Ngài ấy muốn biết Phật pháp sâu hơn nữa, cái gọi là Ngoại mật, Nội mật ngài ấy đều chưa học, huống hồ là pháp cửu thứ đệ viên mãn nhất. Cái gì mà A Nỗ, A Để, Maha Yoga, căn bản là ngài chẳng hiểu.

Vì thế, ngài muốn học Ngoại mật và Nội mật, ở đâu có thể học được Phật pháp này? Chính là Ngũ Đài Sơn. Vì sao có thể học Phật pháp ở Ngũ Đài Sơn? Bởi vì khi Phật pháp từ Ấn Độ truyền đến Trung Thổ thì đầu tiên là truyền tới Ngũ Đài Sơn. Vì thế, Sư Lợi Tinh Ha từ Cam Túc vùng Tây Hạ đã đến Ngũ Đài Sơn ở Sơn Tây. Ngài ấy bái một vị sư phụ, vị sư phụ này hiểu về Mật pháp, thế là ngài đã học Ngoại mật và Nội mật, vị sư phụ này tên là Bối Lạp Ca Địa, việc này thật kì diệu. Sau khi ngài học xong, Quan Thế Âm Bồ Tát lại hiển hiện lần thứ hai, nói rằng: "Ngài hãy mau chóng đến Thi Đà Lâm ở Sơ Sa Châu tại Ấn Độ." Đây chính là Thi Đà Lâm ở một nơi gọi là Sơ Sa Châu thuộc phía Tây của Bodhgaya. Đi đến nơi đó có thể học được pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" chân chính, là Mật pháp viên mãn nhất.

Quan Thế Âm Bồ Tát đã xuất hiện lần thứ hai nói cho ngài biết rồi, Sư Lợi Tinh Ha liền rời khỏi Trung Thổ, rời khỏi Ngũ Đài Sơn, đi một mạch đến Thi Đà Lâm ở Sơ Sa Châu ở phía tây Bodhgaya. Ở đó thì ngài đã gặp được Diệu Cát Tường Hữu, và ngài đã ở lại đó học pháp. Ngài đã học pháp tại đó 25 năm, học pháp thật sự là rất không đơn giản. Năm xưa, Atisa tôn giả từ Ấn Độ đến Sri Lanka, sau đó lại đến Jambi Indonesia để học pháp, ngài học pháp cùng Kim Châu Đại Sư, đã học bao nhiêu năm? 12 năm, không sai. Sư Lợi Tinh Ha học pháp ở chỗ của Diệu Cát Tường Hữu 25 năm, Atisa tôn giả học cùng Kim Châu Đại Sư 12 năm. Sư Tôn từng đến Jambi ở Indonesia rồi, Sư Tôn cũng đã đến Bodhgaya rồi. Thế còn Tây Hạ, rất nhiều kiếp trước, Sư Tôn đã ở Tây Hạ, tất cả những nơi này đều có một chút liên hệ với tôi. Do vậy tôi mới biết ngài ấy là tộc người Đảng Hạng ở Tây Hạ, không phải là người Hán đích thực. Điều này chỉ có tôi biết, chỉ có tôi giảng, người khác không biết.

Lại nói, vị đầu tiên xuất hiện tại nhân gian để dạy pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" cho lão tổ sư Cực Hỉ Kim Cang là Kim Cang Thủ Bồ Tát, chỉ thị cho lão tổ sư thứ hai Diệu Cát Tường Hữu mau đi học pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, chỉ thị cho lão tổ sư thứ ba Sư Lợi Tinh Ha là Quan Thế Âm Bồ Tát. Trong Mật giáo, ba vị này là Tam Hộ Chủ. Bạn không cảm thấy kì lạ sao? Vì sao không phải là Địa Tạng Vương Bồ Tát? Vì sao không phải là Phổ Hiền Bồ Tát? Vì sao không phải là Trừ Cái Chướng Bồ Tát? Vì sao không phải?

Bởi vì các vị hiển hiện cần thuộc về Mật giáo, do vậy mà ba vị hộ chủ của Mật giáo xuất hiện, vì cần học Mật giáo nên ba vị hộ chủ đã xuất hiện, điều này chỉ có Sư Tôn biết thôi. Quan Thế Âm Bồ Tát đại diện cho từ bi, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát đại diện cho trí huệ, Kim Cang Thủ Bồ Tát đại diện cho pháp lực, tổng hợp của ba điều này chính là Kim Cang Tát Đỏa. Kì thực Tam Hộ Chủ đều là do Kim Cang Tát Đỏa hóa hiện ra.

Do vậy, Kim Cang Tát Đỏa mới là tổ sư chân chính của Mật giáo. Điều này chỉ có Sư Tôn nói, người khác không hiểu, người khác không biết. Kim Cang Tát Đỏa là một vị Bồ Tát rất vĩ đại, ngài ấy là Pháp Vương Tử của Ngũ Phật, trung ương Tì Lô Giá Na Phật, tây phương A Di Đà Phật, đông phương A Súc Phật, nam phương Bảo Sinh Phật, bắc phương Bất Không Thành Tựu Phật, Ngũ Phật đều là Phật ở địa thứ 13, tổng hợp của Ngũ Phật chính là Kim Cang Tát Đỏa. Kim Cang Tát Đỏa lại phân ra thành Quan Thế Âm Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát và Kim Cang Thủ Bồ Tát, sự hóa hiện này là vô tận không dừng, vô cùng vĩ đại, và cũng có truyền thừa.

Có một người bị vợ đánh, nguyên nhân là vì đã đọc trộm một cuốn sách, cuốn sách này tên là "Dạy bạn cách đánh vợ", kết quả là bị vợ phát hiện ra, liền đánh cho một trận. Phía sau cuốn sách có ghi chú: "Người đọc cuốn sách này chắc chắn sẽ bị vợ đánh."

Ý của tôi muốn nói rằng Phật và Bồ Tát hóa hiện tới hóa hiện lui,  bạn không thể hiểu được nhân duyên của các vị đâu. Câu chuyện cười tôi vừa kể có nghĩa là, vì bạn đọc cuốn sách "Dạy bạn cách đánh vợ", thế rồi, vợ chắc chắn sẽ đánh bạn, đây là một logic, một mối quan hệ nhân quả.

Nói cách khác là sự hóa hiện của Phật Bồ Tát đều có mối quan hệ nhân quả. Ba vị lão tổ sư chính là như vậy. Sư Lợi Tinh Ha đến Sơ Sa Châu ở Thiên Trúc để tìm Diệu Cát Tường Hữu, ở lại đó 25 năm. Khi Diệu Cát Tường Hữu sắp viên tịch nhập niết bàn, ngài đã hóa thành một dải cầu vồng, từ phía trên linh cốt tháp ở Sơ Sa Châu bay lên. Sư Lợi Tinh Ha nói: "Con còn chưa chứng ngộ mà! Sư phụ, thầy mau truyền cho con một khẩu quyết đi." Từ trong cầu vồng lại xuất hiện Diệu Cát Tường Hữu, ngài đã đặt vào tay Sư Lợi Tinh Ha một cuốn sách nhỏ có viết khẩu quyết ở trong đó, Sư Lợi Tinh Ha mở ra xem thì ngài hoàn toàn hiểu tất cả, đã khai ngộ rồi. Vị tổ sư thứ ba ở nhân gian của pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" đã khai ngộ như vậy đó, ngài theo sư phụ học pháp 25 năm.

Đệ tử Chân Phật Tông của chúng ta rất cừ, hỏi: "Anh học pháp bao năm rồi?" "Ba năm, chẳng có chút cảm ứng gì cả, tôi muốn bỏ đi rồi." Người ta học 25 năm, đương nhiên, ở Ấn Độ nửa năm tính là một năm, do vậy 25 năm cần phải chia đôi, nhưng thế thì cũng vẫn là thời gian rất dài, đều đòi hỏi công phu nhiều năm. Chúng ta thường nói "bước lên đài mười phút, dưới đài luyện mười năm". [ ND: chỉ có khổ luyện thì mới có thành công ]

Bạn xem, các trò diễn xiếc của Trung Quốc rất lợi hại. Quả bóng đặt trên đầu rơi xuống vai, rồi lại rơi xuống tay, sau đó lại chuyền qua bên này, chuyền qua chuyền lại, lại chuyền ra sau lưng như thế này, bóng vẫn không rơi xuống đất, chỉ có chuyền tới chuyền lui trên thân, lăn tới lăn lui vẫn ở trên thân, luyện như thế suốt 10 năm, thế nhưng lên biểu diễn thì chỉ mất 10 phút thôi! Những trò xiếc ấy luyện tập từ nhỏ tới lớn, "bước lên đài mười phút, dưới đài luyện mười năm", rất không đơn giản.

Chúng ta học Phật pháp cũng như vậy, nếu không mài dũa từ nhỏ, giống như Sư Tôn đã mài dũa hơn 40 năm rồi! Cuối cùng mài dũa nên một con người, vẫn còn không dám nói bản thân mình có cái gì, sư phụ dạy chúng ta cần khiêm tốn một chút, cần hạ giọng một chút. Sư phụ thường nói: "Anh cần hạ giọng một chút, bởi vì tiếng tăm của anh đã quá lớn rồi, trở thành bia bắn tên của mọi người rồi." Vì thế cần khiêm tốn một chút, điều này là đúng đó, tiếng tăm quá lớn, giống như Jesus Christ ra ngoài hoằng pháp, ngài vừa xuất hiện đã hiển hiện mười loại đại thần thông, ngài ấy có thể đi trên mặt biển.

Thánh Peter vừa trông thấy Jesus đi trên mặt biển liền nói: "Tôi cũng có thể đi trên mặt biển được không?" Jesus nói: "Chỉ cần ngài có tín tâm, ngài sẽ có thể đi trên mặt biển." Thánh Peter liền bước tới biển, và thật sự có thể đứng trên mặt biển. Đó là Jesus đã khiến cho thánh Peter dựa vào tín tâm của chính ông ấy để mà bước trên mặt biển. Lúc ấy thì Thánh Peter trông thấy sóng biển to như vậy, thân thể lắc tới lắc lui, ông ấy càng lúc càng sợ, sau đó đã đánh mất tín tâm, tùm! Thế là rơi xuống biển. Trong Kinh Thánh có ghi lại như vậy.

Tuy nhiên, Jesus Christ đã hiển hiện thần thông quá lớn, ví dụ như có một người bị tâm thần đi qua, ngài liền kêu người bị tâm thần kia "bình thường đi", sau đó kêu những ma quỷ bên trong người bị tâm thần "mau biến đi", thế là những con ma quỷ liền đi hết, rất nhiều ma quỷ đã chạy đi và nhập vào những con lợn, những con lợn ấy đều bị điên, trở thành crazy pigs (lợn điên), toàn bộ đều nhảy xuống vách núi mà chết. Những thần tích mà Jesus đã tạo ra rất lợi hại, ngài có thể kêu người chết sống lại, có một người đã chết mấy ngày rồi, người đó là đệ tử và cũng là bạn của Jesus, Jesus đi thăm người đó, thần thông mà ngài hiển hiện này mới lợi hại, bởi vì người này đã chết ba, bốn ngày rồi, toàn thân đã quấn vải kín rồi.

Jesus đi đến nơi đó, hỏi rằng: "Ôi? Cậu ta làm sao vậy?" Người ta nói: "Cậu ta đã chết ba ngày rồi." Jesus nói: "Tôi sẽ gọi cậu ta tỉnh dậy." Jesus liền gọi: "Tỉnh dậy đi." Thế là người đó liền tỉnh dậy, thần thông này của Jesus quá lớn. Do vậy, câu chuyện về đấng cứu thế Messiah đã lan truyền đến mọi người ở khắp các địa phương. Quốc vương La Mã cho rằng ngài là đấng cứu thế Messiah, là vua của vạn vị vua, to hơn cả Đế quốc La Mã.

Vì vậy mà đương nhiên binh lính La Mã đã bắt ngài lại, tiếng tăm quá lớn mà, bởi thế họ mới bắt ngài lại. Ngài mới hoằng pháp ba năm đã bị đóng đinh trên thập tự giá rồi. Sư Tôn hoằng pháp 40 năm, vẫn chưa bị đóng đinh lên thập tự giá là may mắn lắm rồi. Cảm ơn Chúa, cảm ơn Thánh Allah, cảm ơn Jehovah, Sư Tôn vẫn chưa bị đóng đinh vào thập tự giá, thật sự là quá hạnh phúc rồi, MC vừa nãy mới nói rằng: "Niệm hơn một vạn biến Thượng sư tâm chú để Sư Tôn hạnh phúc và vui vẻ."

Sư Tôn nghe vậy thì rất vui mừng. Vì sao vậy? Bởi vì Sư Tôn vốn dĩ rất vui vẻ, vốn dĩ rất hạnh phúc. Có thể hoằng pháp bốn mươi mấy năm mà chưa bị đóng đinh vào thập tự giá, chỉ bị người ta chửi tới chửi lui thôi, như thế là đủ hạnh phúc rồi. Amen! A Di Đà Phật! Thật ra thì cũng giống nhau, A Di Đà Phật và Amen đều tương tự nhau, đều có một chữ "A".

Tôi không cảm thấy cuộc sống của tôi có nhiều ưu phiền hoặc kiểu như vậy. Nếu như có gì phải lo lắng thì đó cũng là việc của Tông Ủy Hội, không phải tôi. Bản thân tôi rất vui vẻ. Còn Tông Ủy Hội thì lo lắng cái gì? Họ tự lo việc của họ, tôi không quản. Sư Tôn đã tu đến vô sinh pháp nhẫn rồi. Thế nào gọi là vô sinh pháp nhẫn? Hai chữ "vô sinh" là rất quan trọng, bạn chỉ cần hiểu được hai chữ "vô sinh" thì bạn đã có thể vui vẻ rồi. Bạn không hiểu hai chữ "vô sinh" thì bạn vĩnh viễn đau khổ.

Bạn còn cho rằng "hữu sinh" thì đảm bảo bạn còn đau khổ. Hễ ốm là bạn đau khổ. Hễ đau răng là bạn đau khổ. Còn "hữu sinh" thì tuyệt đối còn đau khổ. Nếu như bản thân bạn hóa thành "vô sinh" thì bạn sẽ không còn đau khổ, sự chịu đựng này gọi là pháp nhẫn, bạn hiểu được dạng nhẫn nhục này của Phật pháp. Đã khai ngộ minh tâm thì bạn lập tức hiểu được vô sinh pháp nhẫn, người khai ngộ chính là đạt được quả vị vô sinh pháp nhẫn. Nhưng nếu như bạn vẫn không nhẫn được, không có cách nào nhẫn nhục được, thì là bạn vẫn chưa thực tiễn được sự khai ngộ của bạn.

Nói thật lòng, Chân Phật Tông ở nhân gian nhất định cũng cần phải có power (sức mạnh), không thể không có sức mạnh được. Vì Chân Phật Tông ở nhân gian độ chúng sinh, đối với những người chặn đứt con đường giác ngộ của người khác thì đương nhiên Chân Phật Tông cần pháp huy power của mình. Anh chặn đứt huệ mệnh của người khác đương nhiên sẽ có quả báo. Tất cả các đệ tử Chân Phật Tông của chúng ta phải đoàn kết nhất trí, lập chí hướng thành Phật, hộ trì Chân Phật Mật Pháp, liên tục kéo dài không ngừng. Đây là điều nhất định phải làm được, nên cần hộ trì điều này.

Đương nhiên, chúng ta không thể giống như đạo Hồi có quân đội đánh nhau khắp nơi. Chúng ta không phải Hồi giáo, chúng ta cũng bảo vệ tăng đoàn của mình, bảo vệ và kéo dài huệ mệnh của Chân Phật Tông, đây là điều nên làm, mọi người nên đoàn kết nhất trí, cần nhận thức rõ, cần biết rằng đừng gây nên sự tình gì trong đoàn thể của mình. Tôi thì cho rằng Chân Phật Tông ở nhân gian, chúng ta ở nhân gian tu pháp, chúng ta là một tăng đoàn, tăng đoàn và tất cả những cư sĩ tại gia kết hợp lại, không thể chia rẽ.

Đối với người cản trở Phật pháp lưu truyền và chặn đứt huệ mệnh của người khác, cần phải đưa ra "lời nói đanh thép" và sức mạnh của bạn thì tông phái của chúng ta mới có thể sinh tồn được, bằng không thì cũng lại chia năm xẻ bảy, không chỉ là chia năm xẻ bảy mà toàn bộ đều lụi bại hết. Những gì chúng ta sử dụng đương nhiên là Phật pháp và pháp luật ở nhân gian, đó là những gì chúng ta có thể dùng. Chúng ta thuộc chính phái thì phải dùng phương pháp của chính phái để giải quyết các vấn đề. Như vậy có đúng không? (Đúng!) Như vậy có phải không? (Phải!) Cần kêu gọi điều này, cần làm, bỏ tiền bỏ sức đều là điều nên làm.

Mặc dù cá nhân tôi, bản thân đã tu đến quả vị vô sinh pháp nhẫn, nhưng tôi cảm thấy Chân Phật Tông ở nhân gian, có một số việc vẫn phải dùng phương pháp ở nhân gian để ngăn chặn thì mới là chính xác. Sư Tôn là người không quan tâm, có sỉ nhục tôi thế nào tôi cũng vẫn rất hạnh phúc, rất vui vẻ. Tôi sẽ chẳng làm sao cả, có vấn đề gian nan trước mặt tôi tôi cũng phớt lờ. Con người tôi là như vậy, hơn nữa vì bản thân tôi tu đến "vô sinh", do vậy con người tôi đã đưa ra một lời thề: "Bản thân tôi không kiện người ta."

Tuy nhiên, Tông Ủy Hội và Hộ Pháp Kim Cang, Phật Bồ Tát ngồi ở đây nhìn, các vị sẽ không kiện người ta, Thất Phật ở trên đầu chúng ta, mỗi vị đều ngồi rất ngay ngắn, các vị sẽ không kiện người ta, các vị căn bản là không kiện được. Nhưng đều có Kim Cang Hộ Pháp ở đây, Kim Cang Lực Sĩ, Vi Đà, Già Lan, còn có tất cả các thần Kim Cang ở đây, các vị đều đang hộ trì cho Phật pháp. Đây chính là đạo lí mà! Sư Tôn đã chứng vô sinh pháp nhẫn của bát địa, nếu như mọi người khai ngộ thì sẽ biết thế nào là vô sinh pháp nhẫn. Mọi người nói khai ngộ chính là "vô sinh", không sai! Khai ngộ chính là "vô sinh". Thế nhưng, vô sinh là trạng thái gì? Bản thân bạn cần đi tìm hiểu.

Điều tôi muốn hỏi bạn là, vì sao lại là "vô sinh"? Đây mới là khai ngộ. Bạn cần hiểu được hai chữ "vô sinh", vì sao lại là "vô sinh"? Nếu như bạn hiểu được vì sao lại là "vô sinh", bạn mới được gọi là khai ngộ. Không phải nói là: "Tôi hiểu rồi, khai ngộ chính là vô sinh." Nhưng vì sao là vô sinh, bạn cần giải thích rõ ràng thì mới gọi là khai ngộ đó! Khai ngộ là vô sinh và cũng là vô tử, khai ngộ cũng là thường lạc ngã tịnh, đây mới gọi là khai ngộ. A Để Du Già cao sâu nhất của pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", đến cuối cùng tôi sẽ dạy bạn khẩu quyết, thì bạn sẽ có được vô sinh pháp nhẫn, bạn lập tức minh tâm kiến tính.

Sư Lợi Tinh Ha là một vị tổ sư rất vĩ đại, ngài là người Tây Hạ, bản thân ngài sau khi đã học hiểu pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" thì có rất nhiều người theo ngài học pháp. Người đầu tiên theo ngài học pháp chính là Ca Nạp Tô Trá, người thứ hai theo ngài học pháp là Tất Mã Lạp Mễ Trá, người thứ ba chính là vị tổ sư được truyền dạy những điều quan trọng nhất - Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Sau khi Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đến Tây Tạng, Tây Tạng đã phái năm người học Phật đi tìm Sư Lợi Tinh Ha, kết quả là có một người học thành công, người này là Bì Lư Già Na (Vajrasana).

Sư Lợi Tinh Ha đã truyền dạy cho rất nhiều đệ tử, trong số đó Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là vị Thượng sư thứ tư của pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" vĩ đại nhất. Vì sao trong lịch sử Đường triều không có Tống Huệ Thọ - Sư Lợi Tinh Ha là một vị tổ sư vĩ đại như vậy cơ mà? Bởi vì ngài ấy không phải là người của Đường triều, mà là người của Đại Bạch Cao Quốc Tây Hạ bên cạnh Đường triều.

Bản thân Sư Lợi Tinh Ha thường xuyên đi đi về về giữa Ngũ Đài Sơn và Ấn Độ. Vì sao ngài ấy có thể thường xuyên đi về như vậy? Thần thông của ngài ấy rất lợi hại, ngài ấy có thể cầm một nắm cát, thổi một hơi khí, tung cát vào hư không, thế là người của ngài liền đi vào trong cát, rất thần tốc đã có thể đến Ngũ Đài Sơn rồi, rồi lại rất thần tốc đã trở về Ấn Độ rồi. Ngài ấy có thể đi lại trong đất. Pháp thuật này gọi là "độn thổ", Trung Quốc mới có, còn người phương Tây chưa bao giờ nghe qua độn thổ là cái gì. Ngài ấy có thể đi lại dưới mặt đất, hơn nữa tốc độ còn cực kì nhanh. Trong "Phong Thần Bảng" có một người gọi là Thổ Hành Tôn, người này cũng có thể đi lại dưới mặt đất.

Sư Tôn cũng từng nằm mơ giống như vậy, chỉ cần tôi hóa thân thể mình thành hư vô, xuyên xuống mặt đất, hai mắt nhắm lại, muốn đến nơi nào thì tôi liền xuất hiện ở nơi đó. Chỉ cần tôi nghĩ đến nơi nào, chỉ cần hai mắt tôi nhắm lại, hóa thân thể thành hư vô, liền độn nhập vào trong đất, thân thể lập tức có thể xoay tít. Muốn đến nơi nào? Muốn đến Đài Loan. Viu! Khi  trồi lên thì đã ở ngay tại nhà ở Đài Loan, tôi đã xuất hiện trong nhà mình ở Đài Loan rồi. Hoặc là xuất hiện tại nhà đệ tử ở Đài Loan, hoặc xuất hiện tại rất nhiều nơi trên thế giới, tôi đều có thể xuất hiện.

Tuy nhiên, tôi nói để mọi người biết, đây là ở trong mơ, là ở trong mơ tôi có thể làm được. Tôi cũng thường có những giấc mơ bay đi bay lại và những giấc mơ đi xuyên qua mặt đất, khi vừa xuống lòng đất thì thân thể dường như xoay tít, trong đầu tôi nghĩ: "Hây! Mình đến Singapore vậy!" Chỉ một suy nghĩ thì người đã xuất hiện tại Singapore rồi, muốn gặp người nào là gặp được người đó. Thế nhưng đó đều là ở trong mơ.

Kẻ uống rượu thì nói: "Vũ trụ trong hũ rượu lớn." Tôi thì là: "Vũ trụ trong giấc mơ lớn." Trong mơ, vũ trụ của tôi rất lớn. À! Câu này là "Vũ trụ trong ống tay áo lớn, ngày tháng trong hũ rượu dài", đúng rồi! Sư Tôn cũng biết thần toán, là vũ trụ trong ống tay áo đó! Nghĩa là bấm vài cái, trong ống tay áo tính toán một chút, thế là liền biết nên làm thế nào. Người uống rượu thì luôn say sưa, chỉ một lát là hết một ngày, hết hai ngày, chẳng mấy chốc mà qua một năm, ngày ngày uống rượu, ngày tháng rất dài. Say xỉn mụ mị, không được như vậy. Người học Phật không thể như vậy, một ngày không tu thì một ngày là ma. Một ngày không tu hành thì ngày đó bạn chính là ma. Do vậy, chúng ta phải tu hành vững bền và chắc chắn.

Sư Lợi Tinh Ha phân pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" thành bốn loại phương pháp Ngoại mật, Nội mật, Bí mật, Cực mật. Vì thế, những người học Phật pháp ở Tây Tạng ngày nay đều biết đến bốn loại phương pháp Ngoại mật, Nội mật, Bí mật, Cực mật này. Sư Lợi Tinh Ha cũng đã giảng hai Nyingtik, một là "Không Hành Nyingtik", chính là pháp mà Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã truyền cho Yeshe Tsogyal, Nyingtik chính là tâm yếu khẩu quyết quan trọng nhất, còn gọi là "tâm trong tâm" [ ND: cốt lõi của cốt lõi ]. Ngoài ra, còn có một Nyingtik nữa, chính là Vima Nyingtik, là Nyingtik của một vị tổ sư khác. Như vậy, Sư Lợi Tinh Ha đã truyền hai Nyingtik, ngài ấy biết về hai khẩu quyết này, sau này chúng ta sẽ nói tới.

Chơi bài cũng có khẩu quyết đó. Play mahjong đánh mạt chược cũng có khẩu quyết, có kĩ thuật và phương pháp đó. "Chơi bài chơi được tốt, chứng tỏ đầu óc tốt." Chơi bài cũng cần có đầu óc đó. "Đánh bài đánh rất kinh, chứng tỏ suy nghĩ đỉnh." Suy nghĩ cũng phải rất rõ ràng. "Đánh bài rất vi tế , chứng tỏ hiểu kinh tế." "Chơi bài không sợ gian, chứng tỏ người mạnh dạn." Không sợ bị dọa. "Thắng cũng không phát ngôn, chứng tỏ người tinh khôn. Thua cũng không đầu hàng, vẫn cạnh tranh ngang tàng." Tinh thần cạnh tranh vẫn mạnh mẽ. "Thắng thua vẫn tỉnh bơ, chứng tỏ rất có cơ." Có sự kiềm chế là đúng rồi.

"Đánh bài có lắm chiêu, chứng tỏ tố chất siêu. Đánh bài thích đấu đá, chứng tỏ thanh niên hóa. Dám đánh một thẻ đơn, chứng tỏ có hậu trường. Thắng thua đều không bỏ, có thể thành sừng sỏ." Sừng sỏ nghĩa là người đứng đầu đó! Sư Tôn thì thắng thua đều bỏ đi, vì đã thắng chắc rồi nên tôi chạy thôi. Thua thì tôi cũng mau mau chạy để không bị thua quá nhiều. "Các đồng chí thích chơi bài, có hy vọng rồi, cố lên!" Những câu nói đùa này nghĩa là sao? Là một sự khéo léo, đánh bài cũng là một sự khéo léo, đánh cho khéo, đánh cho hay, đánh cho tuyệt vời thì mới là cao thủ đánh bài.

Vợ hỏi chồng: "Vì sao mỗi lần rửa tay xong đều cảm thấy tay rất trắng nhỉ?" Chồng nói: "Vì tay bị úng nước mà." Vợ hỏi: "Vì sao mỗi lần rửa chân xong cũng đều cảm thấy chân rất trắng?" Chồng nói: "Vẫn là vì chân bị úng nước mà." Vợ hỏi: "Vì sao mỗi lần tắm xong đều cảm thấy thân thể mình rất thon thả nhỉ?" Chồng nói: "Là vì não của em bị úng nước rồi." Cái này rất có logic đấy.

Đôi khi, chúng ta nhìn nhận sự việc là vấn đề ở góc độ. Hai người đang đứng nói chuyện như thế này, bạn nhìn từ đằng sau, bạn cho rằng hai người họ đang kiss hôn nhau, đây là vấn đề góc độ, sự khác biệt trong góc độ thì bạn sẽ nhìn lầm, chỉ là hai người đang đối thoại thôi, chứ không phải đang kiss. Vì thế, đừng hiểu lầm, rất nhiều sự việc là vấn đề của góc độ.

Bạn cho rằng mấy ngày nay ăn bớt đi một bữa cơm, thân thể bạn đã trở nên thon thả hơn chăng? Thế thì não bạn bị úng nước rồi, khác rất xa đó, là vấn đề góc độ. Con gái hỏi bố: "Bố ơi! Bố ơi! Con là gì của bố?" Con gái cho rằng bố sẽ trả lời: "Con là người tình bé bỏng sweet heart của bố, con là cục cưng của bố!" Nào ngờ, bố của cô bé quay đầu lại nói một cách ai oán: "Con là "Hình phạt cho sự bốc đồng" của bố." [ Tên một bài hát ] Là vấn đề góc độ. Bố của cô bé nói cũng đúng, sau khi bốc đồng thì hình phạt chính là sinh ra cô bé.

Chúng ta học Phật pháp cũng cần phải dùng góc độ bao quát để nhìn nhận. Như hôm nay tôi nói, góc độ của Tông Ủy Hội và góc độ của Sư Tôn là khác nhau. Góc độ của Sư Tôn là không quan tâm, không kiện cáo người ta. Nhưng theo góc độ của Tông Ủy Hội thì cần phải hộ trì cả tông phái. Sư Tôn nói không kiện người ta, nhưng cũng không phải là bảo tất cả đệ tử Chân Phật Tông đều không kiện người ta, mà đều để cho người ta kiện. Bạn nói xem, bạn không kiện người ta, nhưng người ta kiện bạn đó! Còn gì nữa? Một vấn đề khác, khi vợ chồng ly hôn, thì phải làm sao? Bạn nói xem, bạn học Phật rồi, thì tất cả đều cho đối phương hết, bạn có sẵn lòng không? Người ta sẽ lấy hết đi đó! Bạn phải làm sao? Vì thế, trên góc độ này, bạn cũng phải kiện tụng thôi.

Có đúng không? Góc độ của Sư Tôn là không quan tâm, vô sinh pháp nhẫn, tôi có thể không kiện người ta. Góc độ của Tông Ủy Hội là cần xem xét bao quát, những người này là những kẻ chặn đứt huệ mệnh của người khác mà! Tông Ủy Hội vì sao lại không ra mặt? Sư Tôn thì không kiện người ta, nhưng Hộ Pháp Kim Cang Tông Ủy Hội thì cần ra mặt đó! Hôm nay những gì tôi nói chính là vấn đề góc độ, học Phật là cần học tính bao quát, Sư Tôn đã là người học được tính bao quát rồi, sau khi Sư Tôn minh tâm kiến tính thì đã phát lời thề "không kiện cáo người ta, cũng không phỉ báng người ta". Sư Tôn chưa bao giờ phỉ báng người ta, cũng không muốn chỉ trích người khác, không muốn. Thế nhưng trên góc độ của Tông Ủy Hội thì cần phải làm như vậy. Đây là vấn đề góc độ. Hôm nay nói với mọi người đến đây thôi. Om mani padme hum.


### Bài giảng số 7


**Liên Hoa Sinh Đại Sĩ cùng Sư Lợi Tinh Ha học pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" 25 năm**

*(Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị về pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" trong đại pháp hội Hộ Ma Bắc phương Bất Không Thành Tựu Phật tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, Hoa Kì, vào ngày 30 tháng 6 năm 2013.)*

Hôm nay tôi sẽ giảng về Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là một trong tám đại Bổn tôn của Chân Phật Tông chúng ta. Guru Rinpoche của Mật giáo, nghĩa là Thượng sư Rinpoche, nghĩa là vị tổ sư tối cao của tất cả Tạng mật, chính là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Khi ngài ra đời là năm thứ tám sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni niết bàn, sinh ra trên biển Đạt Lai Quách Khiếu. Miền bắc của Ấn Độ không có biển, nhưng mà họ gọi tất cả những hồ lớn là biển, vì thế mới gọi là biển Đạt Lai Quách Khiếu. Trên biển Đạt Lai Quách Khiếu mọc đầy hoa sen, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã sinh ra từ hoa sen.

Khi ấy, có một vị vua nước Orgyen ở bắc Ấn Độ đi đến những địa phương khác để tìm kiếm báu vật, trên đường trở về đã được Không Hành Mẫu chỉ thị: "Tại biển Đạt Lai Quách Khiếu có một baby ra đời, ông cần đi đem baby này về nuôi dưỡng." Thế là vị vua này bèn đến biển Đạt Lai Quách Khiếu và thật sự đã trông thấy Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, đúng là có một baby ở đó, đứa bé ở trong một bông hoa sen. Vua bèn ôm đứa bé về, đặt tên là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, bởi vì ngài sinh ra ở trong hoa sen.

Cho nên, Liên Hoa Đồng Tử đều là sinh ra từ hoa sen. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ sinh ra từ hoa sen. Còn nữa, lần trước tôi đã nói, sau khi Tiền Diệu Cát Tường Hữu viên tịch thì đã chuyển thế thành Hậu Diệu Cát Tường Hữu, ngài ấy cũng sinh ra từ hoa sen, cũng là Liên Hoa Đồng Tử. Về sau, Hậu Diệu Cát Tường Hữu cũng dạy Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ có nguồn gốc là thân của Phật Thích Ca Mâu Ni, là ngữ của A Di Đà Phật, là tâm của Quan Thế Âm Bồ Tát chuyển thế mà thành. Có thể nói, thân khẩu ý của ngài chính là tổng hợp của thân của Phật Thích Ca Mâu Ni, khẩu của Phật A Di Đà, ý niệm của Quan Thế Âm Bồ Tát, chuyển thế thành Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, là hợp nhất. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ từ nhỏ đã có Phật duyên, ngài ấy từ bỏ vương vị, sau đó đã cạo đầu xuất gia. Ai là người cạo đầu xuất gia cho ngài ấy? Là A Nan tôn giả. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là Phật Thích Ca Mâu Ni chuyển thế, là A Di Đà Phật chuyển thế, là Quan Thế Âm Bồ Tát chuyển thế, kết quả lại là được A Nan tôn giả cạo đầu xuất gia.

Ví dụ kiểu này vào thời hiện đại cũng có. Mọi người biết rằng khi Sư Tôn 43 tuổi, tôi có mái tóc đen và dài, rất là đẹp, tôi rất giữ gìn mái tóc này, mỗi ngày tôi đều soi gương chải tóc đó! Khi ấy tôi luôn mang theo lược bên mình, chải tóc đến khi bản thân mình thấy hài lòng thì thôi, rất tao nhã đó! Thế nhưng khi ấy, Bồ Tát chỉ thị cho tôi: "Đến năm 43 tuổi sẽ xuất gia!" Tôi nói: "Không muốn xuất gia." On Friday night, I can go to tarven, drink wine, go to night club dancing, or go to karaoke singing songs (Tối thứ sáu, tôi có thể đi đến quán rượu, uống rượu, đi đến các câu lạc bộ đêm khiêu vũ, hoặc đi hát karaoke.) It's so good, I don't want to be a monk. (Như thế quá tuyệt, tôi không muốn làm nhà sư.) Kết quả là, năm đó vào một lần tôi đi tắm, tôi vuốt ra được cả một nắm tóc rơi xuống đất, tôi nhìn lại thì thấy trên đầu chẳng còn được bao nhiêu tóc. Tóc rụng rồi, tóc tôi đã trở nên rất thưa. Chẳng còn cách nào, Bồ Tát nói 43 tuổi tôi sẽ cạo đầu xuất gia, tôi xem thời gian thì cũng đúng là 43 tuổi rồi.

Khi ấy, vừa hay có đại hòa thượng Quả Hiền ở Hồng Kông, bây giờ ông ấy cũng già rồi, ông ấy đến Seattle, ông ấy là đệ tử quy y tôi. Khi ấy, tôi lái xe đưa hòa thượng Quả Hiền đến Vancouver Canada, khi ấy Tam Nguyên (Thượng sư Chân Tam Nguyên) ở đó. Đúng vậy không? Là tôi đã lái xe đưa Quả Hiền đi, lái xe hơn ba tiếng đồng hồ đến Vancouver, rồi lại lái xe quay về. Pháp sư Quả Hiền là đệ tử của tôi, ông ấy đã quy y tôi, ông ấy nói với tôi: "Ngày 10 tháng 2 âm lịch là một ngày rất đẹp." Vì sao ngày 10 tháng 2 lại là ngày đẹp? "Bởi vì Liên Hoa Sinh Đại Sĩ cũng cạo đầu xuất gia vào ngày hôm đó." Khi xưa, A Nan tôn giả đã cạo đầu cho Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là Phật Thích Ca Mâu Ni chuyển thế, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ tỏa hào quang.

Cũng vào ngày 10 tháng 2 đó, tôi đã để cho đại hòa thượng Quả Hiền cạo đầu cho tôi tại chùa Huệ Tuyền ở Sa Điền Hồng Kông. Phật Thanh đứng trên lầu ở Mật Uyển nói: "Bố ơi đừng cạo đầu!" Nó hét lên: "Bố ơi đừng cạo đầu!" Thế nhưng tóc đã cạo rồi, chẳng có cách nào khác. Hơn nữa nếu như không cạo đầu thì tóc cũng sẽ rụng hết, thế nên cạo luôn cho xong. Quả Hiền đem đến rất nhiều áo cà sa, ông ấy giúp tôi mặc lên bộ quần áo cà sa của Hiển giáo. Tôi soi gương, trông không hẳn là đẹp lắm, nhưng cũng không hẳn là xấu.

Quả Hiền đứng phía sau nói: "Chà! Cạo đầu xong trông rất trang nghiêm đó!" Tôi nghĩ: "Cạo thì cũng cạo rồi! Đợi ông quay về tôi lại hoàn tục." Tôi hỏi ông ấy: "Sau khi ông về Hồng Kông còn đến đây nữa không?" Ông nói: "Còn đến." Còn đến, thế thì tôi xong rồi, nếu như tôi hoàn tục thì không được rồi. Có đúng không? Phải dứt khoát giữ nguyên như thế này. Về sau, ông ấy còn đến mấy lần nữa. Những khoản đóng góp của ông ấy cho Seattle Lôi Tạng Tự là nhiều nhất.

Khi ấy, có tám đại gia, mỗi đại gia bỏ ra 20.000 đô Mỹ, thế nhưng hòa thượng Quả Hiền một mình đã bỏ ra 100.000 đô Mỹ. Thật đó! Nhà tài trợ vàng cho việc xây chùa thật sự là ông ấy. Mọi người hùn tiền lại để mua đất xây chùa, Seattle Lôi Tạng Tự đã được xây dựng nên như vậy đó. Tôi thật sự rất nhớ ông ấy. Tôi đi Hồng Kông, ông ấy đến hỏi tôi: "Sư Tôn, ngài minh tâm kiến tính rồi, rốt cục là cái gì vậy?" Tôi thấy huệ căn của ông ấy rất sâu, ông ấy có huệ căn rất lớn, tôi bèn nói bên tai ông ấy một câu. Ông ấy nói: "Thế thì tôi biết rồi." Pháp sư Quả Hiền bây giờ cũng là một đại hòa thượng đã khai ngộ rồi.

Sau khi A Nan tôn giả cạo đầu cho Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, Liên Sư đã bái rất nhiều sư phụ. Rất nhiều người nói rằng nhiều điều trong sách của Sư Tôn đều được sao chép từ trong các kinh điển. Rất nhiều điều trong sách của Sư Tôn đều được sao chép từ trong Đại Tạng Kinh. Vốn dĩ Phật pháp chính là đọc kinh sách, cảm thấy Phật pháp này rất hay, thì đương nhiên tôi sẽ dùng chúng trong sách. Lấy từ Đại Tạng Kinh không được sao? Đại Tạng Kinh không có bản quyền, bởi vì Đại Tạng Kinh không có tác giả mà! Chỉ có người phiên dịch, do vậy không có bản quyền, ai cũng có thể sao chép.

Mọi người có sao chép Kinh A Di Đà không? Có sao chép Quan Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm không? Có sao chép Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh không? Mọi người đều sao chép mà, đạo văn mà! Thế mà còn nói sách của Sư Tôn đều là sao chép. Những gì giáo viên dạy, từ điển quốc ngữ, có cái nào không phải là sao chép chứ. Lư Thắng Ngạn tôi cũng sao chép, cha mẹ tôi dạy tôi: "Con viết "Lư Thắng Ngạn", đây là tên của con." Tôi liền viết "Lư", thế cũng là sao chép từ cha tôi, mẹ tôi, "Lư Thắng Ngạn" cũng là sao chép. Có thứ nào không phải là sao chép chứ? Không có thứ nào là không phải sao chép.

Phật pháp, bạn sinh ra là đã biết sao? Tôi bảo bạn nhé, bạn sinh ra thì chỉ biết ăn các thứ thôi! Chỉ biết uống sữa, còn thì cái gì cũng không biết. Bản thân chúng ta chính là sao chép mọi thứ của xã hội. Cái gọi là văn chương chính là giống như đem các loại rau, hoa quả, thịt, canh, tất cả bỏ vào xào nấu, xem xem mùi vị ra sao, giống như các nguyên liệu của nồi lẩu thôi! Văn chương chính là như vậy, gom rất nhiều thứ lại, xào nấu thành món ăn, xào nấu ngon thì là văn chương hay, xào nấu dở tệ thì là văn chương dở ẹc, chính là như vậy mà thôi! Bạn cho rằng văn chương đều là những thứ ở trong bụng bạn sao? Tôi nói cho bạn biết, dù có treo ngược bạn lên thì một miếng nước bọt bạn cũng không nhổ ra được đâu!

Đạo văn là gì? Tôi nói cho bạn biết, những thứ ở trong đầu, những thứ viết trên sách, những câu nói của Phật Thích Ca Mâu Ni, chúng ta đưa chúng vào sách. Các tác phẩm của mọi thành tựu giả, chúng ta cho rằng có liên quan đến bài viết này, chúng ta liền đưa chúng vào sách. Sau đó, cắt xén thêm bớt, giống như làm thợ may vậy, chỗ nào cần cắt thì cắt bớt, chỗ nào cần nới thì nới ra, kết hợp với hình thể mà mọi người mặc, và thế là ra được bộ quần áo rất đẹp. Cùng một tấm vải, cùng một vật liệu, văn chương đều là những vật liệu giống nhau, tư liệu đều đưa cho bạn rồi, bạn đã gom hết toàn bộ mọi tư liệu rồi, sau đó tổ hợp chúng lại, cắt xén thêm bớt, thế là thành một bài văn chương. Đây mới gọi là sáng tác của chính mình.

Tuy nhiên, chính bạn cần phải có sự sáng tạo, cần tạo ra những thứ mới mẻ. Tôi nói cho bạn biết, trong Phật pháp chỉ cần làm được thứ gì mới thì mọi người sẽ nói bạn là "phụ Phật ngoại đạo" [ ND: Chỉ những kẻ nương nhờ Phật giáo, sống trong Phật giáo mà lập ra học thuyết sai lầm, phản lại chính nghĩa của Phật giáo. ] "Những điềuu đó không phải do Phật nói." "Do tự anh tạo ra thôi." Sáng tạo cũng không được, sáng tạo cũng bị chửi là "phụ Phật ngoại đạo". Vì thế, không thể tự mình sáng tạo ra Phật pháp, cần dựa hoàn toàn theo thánh ngôn lượng của Phật Thích Ca Mâu Ni.

Cho nên, thế nào gọi là đạo văn? Chẳng phải là bạn phải sao chép gen của cha mẹ bạn thì mới sinh ra bạn sao, từ nhỏ ngôn ngữ bạn nói ra chẳng phải là bắt chước theo bố mẹ nói sao, ở trường học thì học theo giáo viên, sao chép lời giáo viên, ở nhà thì sao chép lời cha mẹ, ngoài xã hội thì sao chép những thứ trong xã hội, đến chỗ nào thì bạn sao chép theo chỗ đó. Xã hội là một thùng thuốc nhuộm lớn, và mọi thói quen đều được sao chép từ thùng thuốc nhuộm lớn này mà ra. Có người nào là không sao chép? Bao gồm cả việc ăn, uống, vệ sinh, đều là sao chép cả.

Bản thân nghĩ mà xem, khi bạn mới ra đời, bạn biết cái gì? Không có cái gì cả, tất cả đều phải bắt chước. Được rồi, tôi giải thích xong rồi. Bạn cho rằng văn tự mà tôi xuất bản đều là sao chép đúng không? Đương nhiên rồi, đó đều là những chữ trong từ điển quốc ngữ mà, đều là sao chép từ đó ra, nếu bạn không làm thế thì bạn làm thế nào? Vốn dĩ chính là như vậy. Trước đây, giáo viên ngữ văn nói với chúng ta rằng: "Các trò không biết làm văn à? Các trò không biết sao, văn chương trong thiên hạ là một sự sao chép lớn!" Văn chương trong thiên hạ là một sự sao chép lớn, không phải anh sao chép tôi thì là tôi sao chép anh. Bây giờ cũng có người sao chép văn chương của tôi. Sao chép của tôi cũng không sao cả, lấy những thứ quý giá của tôi đi biên tập lại thành một cuốn sách cũng không sao cả.

Bởi vì tất cả văn chương, tất cả tri thức, tất cả kiến thức, tất cả Phật pháp, đều là sao chép mà ra. Những thứ tôi sao chép đến từ thầy của tôi, thầy dạy cho tôi thế nào thì tôi viết ra như thế. Vì thế, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ khi ra đời hoàn toàn không hiểu Phật pháp, ngài ấy đã bái nhiều vị sư phụ, người đầu tiên chính là Hậu Diệu Cát Tường Hữu, không phải là Tiền Diệu Cát Tường Hữu. Long Thọ Bồ Tát cũng là sư phụ của ngài, Bì Mã Lạp Mễ Trá, Vima Nyingtik vĩ đại nhất cũng là sư phụ của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Sư Lợi Tinh Ha là sư phụ mà ngài theo học lâu nhất, cũng tới 25 năm. Trùng hợp như vậy. Sư Lợi Tinh Ha cũng theo học Diệu Cát Tường Hữu 25 năm. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ theo Sư Lợi Tinh Ha học pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" cũng 25 năm. Sau đó, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã tổng hợp những thứ đó đến Thi Đà Lâm tu hành.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ cũng đi ra từ khổ hạnh. Phật Thích Ca Mâu Ni cũng từng ở Tuyết Sơn tu khổ hạnh sáu năm. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ cũng tu khổ hạnh ở Thi Đà Lâm. Khi tu khổ hạnh thì như thế nào? Pháp tọa của ngài là các thi thể, ngài xếp các thi thể lại làm thành pháp tọa. Ngài lấy những tấm vải quấn các thi thể, bởi khi người Ấn Độ chết thì họ đều dùng vải trắng để quấn thi thể lại, ngài đã lấy những mảnh vải này để làm quần áo cho mình, khoác lên thân thể mình, đồ mặc trên thân chính là những thứ đó. Pháp khí của ngài là pháp khí bằng xương người, ví dụ như xương cánh tay, hay xương sườn này, phía trên cắm vào ba cái đầu lâu, ngài lấy thứ này làm pháp khí, gọi là "kachangka".

Thế ngài ấy ăn cái gì? Người ta đem thi thể đến, sau khi vứt ra đó thì cũng ném đi một ít cúng phẩm, giống như là rắc hoa lên trên cúng phẩm vậy, rồi lại ném ra một ít bánh bao, hoặc là món cà-ri mà người Ấn Độ ăn, hoặc là bánh mì Ấn Độ, những thứ này được ném ở nghĩa địa để cúng tế. Đồ ăn của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chính là những thứ này. Tiếp theo, pháp tọa của bản thân ngài, nơi mà ngài ngồi chính là ngồi lên các xác chết. Hiện tại, các yogi ở Ấn Độ đều lấy tro cốt sau khi hỏa thiêu để bôi lên thân thể và mặt của mình.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ tu hành ở đó, có được sự hỗ trợ và giúp đỡ của Phổ Ba Kim Cang. Phổ Ba Kim Cang là thần thủ hộ của Thi Đà Lâm, khi ấy, Phổ Ba Kim Cang chứng kiến Liên Hoa Sinh Đại Sĩ như vậy, ngài đã đấu pháp cùng Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, kết quả là bị Liên Hoa Sinh Đại Sĩ hàng phục, trở thành quyến thuộc của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Vì thế, thân phẫn nộ của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chính là Phổ Ba Liên Sư Phẫn Nộ Thân. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ tiến nhập vào trong tâm của Phổ Ba Kim Cang, biến thành tướng Phổ Ba Kim Cang của Guru Rinpoche.

Ngoài ra, khi ấy Mã Đầu Minh Vương cũng hỗ trợ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Vì thế, trong Không Hành Nyingtik của pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", trong Không Hành khẩu quyết của ngài đã có hai vị Minh Vương ở bên cạnh Liên Sư. Cuối cùng, tại Thi Đà Lâm, ngài đã đạt được đại thần thông viên mãn, rất viên mãn, đại thần thông uy lực mạnh nhất.

Về sau, vua Trisong Detsen biết Liên Hoa Sinh Đại Sĩ thần thông quảng đại bèn mời ngài vào Tây Tạng. Tây Tạng khi ấy yêu ma quỷ quái, có rất nhiều ma quỷ, người dân thì tin vào đạo Bon, đạo này còn gọi là Hắc giáo. Đạo Bon chọn cái tên cũng rất hay, đúng là binh binh boong boong. Cả Tây Tạng đều tứ tung bát nháo, đều tín ngưỡng nào là đất đá, cây cối, mặt trời, mặt trăng, núi, hồ…. Họ đều tin vào những thứ của giới tự nhiên, ngay cả sói cũng tin. Loài sói ở đó là sói hoang, ở Tây Tạng có một loài sói, sói xuất hiện từng bầy từng bầy.

Bên cạnh đó, họ cũng tin vào báo, thần sói, thần báo, thần rắn, thần trâu, thần gì cũng có, Hắc giáo chính là như vậy. Vì thế, vua Trisong Detsen đã thỉnh Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đến Tây Tạng truyền Phật pháp chân chính, vua Trisong Detsen chính là hóa thân của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, còn Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là tổng hợp của thân Thích Ca Mâu Ni Phật, khẩu A Di Đà Phật, tâm Quan Thế Âm Bồ Tát.

Hai người vừa gặp mặt, một người là Văn Thù, một người là Thích Ca, một người là Quốc vương, một người là Pháp vương. Vốn dĩ, Quốc vương cho rằng bản thân rất vĩ đại, "Cả Tây Tạng đều là của ta, mặc dù ông là đại pháp sư, ông đến chỗ của ta, ông phải đảnh lễ trước ta mới phải." Hai người đứng ở bên bờ sông Yarlung Tsangpo, ai phải đảnh lễ trước ai đây? Một người là vua Trisong Detsen hóa thân của Văn Thù, một người là hóa thân tổng hợp của Thích Ca Mâu Ni Phật, A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát.

Vua Trisong Detsen không muốn cúi đầu, "Ta cũng là vua mà!", "Ta là Quốc vương, làm gì có chuyện ta cúi đầu trước ông?".
Còn vị Pháp vương kia thì cho rằng "Ta là Thích Ca mà! Ta là A Di Đà Phật, ta là Quan Thế Âm Bồ Tát, làm gì có chuyện ta cúi đầu trước ông?" Hai người cứ đứng đối diện nhau ở đó. Kết quả là, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nghĩ: "Người ta mời ta đến, ta là khách, ông ấy là chủ, thôi ta cứ cúi đầu một cái là xong." Thế là, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ liền cúi đầu trước, chắp tay và cúi thấp đầu để kính một lễ. Thế nhưng, vừa làm lễ thì quần áo của Quốc vương liền bốc cháy, phát hỏa, bị cháy xém một bên. Lúc này thì đã biết ai vĩ đại hơn rồi.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ vào Tây Tạng tổng cộng dài tới 55 năm, ở đó ngài có bốn thành tựu rất lớn:
Thành tựu thứ nhất, ngài đã thu phục tất cả ma quỷ ở Tây Tạng, yêu ma quỷ quái, tà ma ngoại đạo, toàn bộ đều quy thuận Phật pháp, toàn bộ đều trở thành hộ pháp của bản thân Phật pháp. Tối hôm qua vừa mới nói mọi người cần làm Hộ Pháp Kim Cang, nghĩa là giúp đỡ True Buddha School Chân Phật Tông, giúp đỡ hoằng dương tông phái, mọi người làm Hộ Pháp Kim Cang, bỏ tiền bỏ sức, điều này rất quan trọng. Vì thế, bản thân việc Liên Hoa Sinh Đại Sĩ vào Tây Tạng là rất quan trọng, ngài đã hàng phục tất cả tà ma ngoại đạo và yêu ma quỷ quái, thần thông của ngài rất lợi hại. Hôm nay, chúng ta vì hàng phục những yêu ma quỷ quái này nên mới bỏ tiền bỏ sức làm Hộ Pháp Kim Cang.
Đây là cống hiến đầu tiên vĩ đại nhất của ngài đối với Tây Tạng, truyền Phật pháp vào Tây Tạng, thu phục tất cả tà ma ngoại đạo, yêu ma quỷ quái ở Tây Tạng, khiến cho Tạng mật sau đó trở thành một Phật quốc Tạng mật.

Thành tựu thứ hai, ngài đã truyền pháp cho một số người chủ yếu, người đầu tiên mà ngài truyền là Yeshe Tsogyal, chính là vợ của ngài, tương đương với Phật Mẫu của ngài. Thứ hai là truyền cho vua Trisong Detsen. Chủ yếu là truyền pháp cho vua Trisong Detsen và Yeshe Tsogyal.

Thành tựu thứ ba rất vĩ đại. Ngài đã xây dựng Chùa Samye, còn gọi là Chùa Nhậm Vận. Ngài đã dùng hình tượng của toàn bộ vũ trụ để xây nên chùa Samye, ở giữa là núi Tu Di, bên cạnh có bốn đại châu, tám tiểu châu, bảy biển vàng (biển nước thơm), dựa theo hình thức ấy mà xây dựng nên chùa Samye. Điều hay nhất của chùa Samye là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã thuê Vajrasana, Vajrasana là một người thông dịch, ông ấy hiểu Phạn văn, cũng hiểu cả Tạng văn, ông ấy đã dịch Phạn văn sang Tạng văn, tại chùa Samye, ông ấy đã phiên dịch rất nhiều kinh Phật. Kinh Phật tiếng Tạng chính là từ đó mà ra. Cống hiến lớn thứ ba của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chính là xây dựng chùa Samye.

Cống hiến lớn thứ tư, bản thân Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã đem Không Hành Nyingtik, chính là những tâm yếu khẩu quyết của pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" mà ngài biết được yêu cầu Yeshe Tsogyal giấu trong hư không, dưới đáy hồ, trong hang đá tại Nepal, Tây Tạng, Bhutan, giấu hết toàn bộ những kinh điển này, bởi vì Liên Hoa Sinh Đại Sĩ biết rằng tương lai sẽ có vua Lãng Đạt Mã diệt Phật, sẽ có một khoảng thời gian mấy trăm năm không có Phật pháp.

Vì vậy phải cất giấu những Phật pháp này đi, giấu trong hang đá, giấu dưới đáy sông hồ, giấu trong hư không, giấu trong rừng sâu, giấu ở những nơi bất kì. Đợi các Rinpoche chuyển thế trong tương lai sau khi thông qua sự mở bày của trời, sự chỉ thị của Không Hành Mẫu mà đi tìm những terma này, một lần nữa lấy lại được Phật pháp. Đây chính là điểm vĩ đại thứ tư của bản thân Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.

Có thể nói Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là lão tổ sư đầu tiên của Mật giáo Tây Tạng. Ngài có tổng cộng năm vị đại minh phi, hai mươi vị trung minh phi, năm mươi vị tiểu minh phi, thời gian ngài sống rất dài, sống lâu nhất. Cuối cùng, ngài cưỡi thiên mã, thiên mã mà Tứ Thiên Vương dâng tặng cho ngài, ngài cưỡi trên lưng thiên mã, khi bay lên không, ngài đã nói một câu: "Thế gian tham lam, nhất đao lưỡng đoạn." Tất cả sự tham lam trên đời cần phải thẳng tay cắt đứt. "Biến ngũ độc thành ngũ dụng". Ngũ độc tham-sân-si-nghi-mạn có thể linh hoạt sử dụng được. "Bạn có thể tự tại như như." Trong Phật pháp, bạn có thể tự tại như như. Đến lúc ấy, khi bạn đã có được Phật pháp rồi, người hiểu được kính sư, trọng pháp, thực tu nhất định có thể minh tâm kiến tính, khai ngộ, đắc chứng. Như vậy là tôi đã nói với mọi người xong về Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.

Tôi lại kể mấy câu chuyện cười. Có một đứa trẻ phàn nàn với mẹ: "Sao mẹ lại sinh ra con béo như vậy?" Người mẹ trả lời: "Mẹ sinh ra con chỉ có hơn ba cân, trách mẹ cái gì chứ?" Đúng mà! Không phải mẹ sinh ra bạn béo như vậy, là chính bạn tự biến mình thành béo như thế. Con người vì sao lại béo? Là vì cái miệng của anh béo, cái miệng của anh to quá, cái gì cũng ăn  hết nên mới béo, đây là quan hệ nhân quả mà! Hôm nay chúng ta học Phật pháp cũng vậy, anh sẽ trở thành như thế nào, xem anh ăn thứ gì thì anh sẽ biến thành như thế. Phật pháp cũng là nhân quả đó! Cái này không thể trách sư phụ được, ai bảo anh ăn bậy bạ. Có đúng không?

Phật pháp cũng như vậy, quan hệ nhân quả, ăn gì thì sẽ trở thành cái đó. Tôi nhớ Thượng sư Liên Trí từng nói một câu, trước kia bà ấy làm y tá, trước cửa bệnh viện có đặt một tấm bảng: "Bạn ăn thứ gì thì sẽ trở thành người như thế." (You are what you eat.) "Có bạn gái 40 kg thì thấy vô cảm. Có bạn gái 50kg thì thấy xúc cảm. Có bạn gái 60kg thì thấy gợi cảm. Có bạn gái 70kg thì thấy tình cảm. Có bạn gái 80kg thì thấy mặc cảm."

Thế nên, Thượng sư Huệ Quân béo như vậy chẳng có liên quan gì đến True Buddha School Chân Phật Tông cả, là vì miệng của bà ấy thôi. Tại một bệnh viện, bệnh nhân đang xếp hàng để kiểm tra thính lực. Có một người xông lên phía trước để tìm y tá: "Tôi là số 33." Y tá nói: "Số 33 đã qua rồi, vừa nãy gọi tên ông, ông không nghe thấy sao?" Người kia rất tức giận nói: "Tôi mà nghe thấy thì tôi đã không đến đây kiểm tra."

Thật ra, con người có rất nhiều điểm mâu thuẫn. Rõ ràng biết rằng không thể ăn nhưng bạn vẫn ăn. Rõ ràng biết rằng ăn thứ này thì sẽ béo nhưng bạn vẫn ăn. Đây chính là chỗ mâu thuẫn đó. Bản thân con người cần hàng phục được chính mình trước, đừng lúc nào cũng muốn hàng phục người khác, hàng phục bản thân mình trước là quan trọng. Có một bà vợ nhìn vào gương khóc: "Mình càng ngày càng béo, càng ngày càng già, càng ngày càng xấu." Vợ hờn giận với chồng: "Chồng à! Anh mau khen em cái gì đi, dỗ em đi." Chồng nghĩ một lúc rồi nói: "Vợ à, thị lực của em vẫn còn tốt lắm."

Chúng ta học Phật không được tự dỗ dành. Bất kể là cảnh giới học Phật như thế nào, bạn cần thực tu, bạn thực tu rồi thì pháp lực mới có thể tăng trưởng, đó là đạo lí chắc chắn. Vừa nãy chúng ta cúng rong biển sợi. Cúng rong biển sợi để làm gì? Nghĩa là mong muốn pháp lực tăng trưởng, tất cả mọi người đã đến đây nhận quán đảnh thì pháp lực đều tăng trưởng. Muốn pháp lực tăng trưởng, làm sao để tăng trưởng? Bạn nhất định cần chăm chỉ thực tu thì pháp lực mới tăng trưởng được.

Vì thế, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói phải kính sư, phải trọng pháp thì mới có thể thực tu, đây là sự liên quan, liên hệ nhân quả. Bạn tôn kính sư phụ thì tự nhiên sẽ tôn trọng pháp của sư phụ. Bạn tu pháp của sư phụ thì pháp lực sẽ tăng trưởng, đến cuối cùng bạn sẽ đạt được chứng ngộ. Kính sư, trọng pháp, tu hành thực tế, bạn sẽ đạt được chứng ngộ. Đây là mối liên hệ nhân quả đó! Bạn không kính sư, bạn sẽ không trọng pháp, bạn sẽ không thực tu, không thực tu thì bạn sẽ không chứng quả, sự liên hệ nhân quả mà.

Có một chàng trai có IQ rất cao, cậu ta tỏ tình với bạn gái, trên tờ giấy viết: "5201314", nghĩa là "Anh yêu em trọn đời trọn kiếp." Cậu ta viết những con số này đưa cho bạn gái xem, bạn gái đó cũng có IQ rất cao, cô ấy gửi lại một mảnh giấy viết: "(520+1314)x10" Chà! Chàng trai này vui mừng như điên: "Em yêu anh trọn đời trọn kiếp, nhân lên mười lần." Chàng trai này rất vui mừng. Mọi người dùng máy tính tính thử xem, đáp án của phép tính này là "18340", nghĩa là "Tát cho một cái chết luôn." Vậy thôi. Om mani padme hum.


### Bài giảng số 8


**Longchenpa tôn giả - Tổ sư của phái Nyingmapa là hóa thân của Văn Thù Bồ Tát**

*(Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" trong buổi đồng tu Đại Chuẩn Đề Phật Mẫu tại Seattle Lôi Tạng Tự, Hoa Kì, vào ngày 6 tháng 7 năm 2013.)*

Hôm nay tôi giảng pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", không thể không nhắc đến một vị tổ sư, vị tổ sư này chính là Longchenpa. Lúc đầu tôi cho rằng nói đến Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là được rồi, nhưng không thể không nói đến Longchenpa và Jigme Lingpa tôn giả. Vì sao cần nói đến Jigme Lingpa tôn giả? Bởi vì Jigme Lingpa là vua Trisong Detsen chuyển thế. Vì thế nhất định cần phải nói đến Jigme Lingpa tôn giả. Còn vì sao phải nói đến Longchenpa? Bởi vì ngài ấy đã tổng hợp lại hai Nyingtik, nghĩa là những khẩu quyết quan trọng nhất của pháp cốt lõi của cốt lõi, ngài ấy là người kết hợp Vima Nyingtik và Không Hành Nyingtik lại với nhau.

Vì thế tôi nhất định cần phải nói, nếu như không nói về hai vị này thì tôi cảm thấy không nói tiếp được. Nên hôm nay tôi sẽ nói về Longchenpa. Ông ấy sinh năm 1308, tuổi đời cũng không quá dài, con người này rất quan trọng. Vì sao cần nói? Bởi vì, ở Tây Tạng, Văn Thù Bồ Tát có ba hóa thân lớn, vị thứ nhất chính là Longchenpa, vị thứ hai là Sakya Pandita, nghĩa là người có trí huệ cao nhất của phái Sakya Hoa giáo, vị thứ ba chính là tổ sư Tsongkhapa. Ở Tây Tạng ba vị này được gọi là Văn Thù tam đại hóa thân. Vì thế nhất định cần phải nói về Longchenpa. Longchenpa đại diện cho phái Nyingma, Tsongkhapa đại diện cho Gelugpa, Sakya Pandita đại diện cho Sakya, lần lượt là ba vị tổ sư của Hồng giáo, Hoàng giáo, Hoa giáo.

Longchenpa từ nhỏ đã vô cùng thông minh, không giống như Sư Tôn, từ nhỏ đã vô cùng ngu ngốc, thật đúng là tương phản. Mọi  người thi cử thì đều đỗ, đều xếp hạng tốt nhất, tôi thì luôn đứng bét. Vì thế, khi tôi đi học, tôi lưu ban hai lần, đó là một việc rất mất mặt. Bởi vì lưu ban nên mới phải chuyển từ trường Cấp hai công lập Cao Hùng số hai sang trường Cấp hai công lập Cao Hùng số ba. Có người hỏi tôi: "Ngài lưu ban hai lần, vì sao mà đến cấp ba thành tích lại có thể đứng nhất lớp?"

Bởi vì tôi vẫn được xem là nghiêm túc với chuyện học hành, mặc dù lưu ban, nhưng trong số những học sinh lưu ban, tôi là đứa khá nhất. Khi chuyển sang lớp học lưu ban đó, ai cũng học kém hơn tôi mà! Rồi bỗng nhiên, tôi học hành có hứng thú trở lại. Khi ấy, tôi còn học hơn người khác, nên mới bồi dưỡng thói quen học hành, mới dần dần học lại, kết quả là lại thi đỗ cấp ba. Khi thi đỗ cấp ba thì tôi đã rất thích học hành rồi. Vì thế, trong sáu học kì tại cấp ba, tôi đều đứng nhất lớp.

Longchenpa từ nhỏ đã rất thông minh, rất thích học hành, ngôn ngữ gì cũng biết, kĩ năng gì cũng biết, tôi đã từng nói về Ngũ minh, ngài học thanh minh nên hiểu rất nhiều ngôn ngữ, Phạn văn cũng hiểu, Tạng văn cũng hiểu, Hán văn cũng hiểu, ngôn ngữ gì cũng hiểu hết, đây gọi là thanh minh. Giống như con người chúng ta bây giờ, tiếng Pháp cũng hiểu, tiếng Anh cũng hiểu, tiếng Tây Ban Nha cũng hiểu, tiếng Phổ thông cũng hiểu, tiếng quê hương của bạn cũng hiểu, tiếng Quảng Đông cũng hiểu, đây gọi là thanh minh, là học ngôn ngữ. Longchenpa biết rất nhiều ngôn ngữ. Công xảo minh cũng biết. Nhưng mà như các công cụ hiện nay, những công cụ mà người ta dùng để phát trực tiếp trên mạng thì đương nhiên thời ấy Longchenpa không biết.

Tôi đang nói về thời đại đó, mọi kĩ thuật ngài ấy đều hiểu. Còn cả nội minh cũng hiểu, nội minh nghĩa là Phật học, Hiển giáo, Mật giáo ngài ấy đều học. Ngài ấy đã bái hai mươi mấy vị sư phụ Mật giáo để học Phật pháp, có được rất nhiều truyền thừa, đây là nội minh. Nhân minh, nhân quả luân hồi, môn học về logic, ngài ấy cũng hiểu. Ngoài ra còn có y phương minh, nghĩa là bạn mắc phải bệnh gì thì tôi sẽ kê đơn thuốc cho bạn, việc này ngài ấy cũng biết. Ngài ấy biết hết cả Ngũ minh, vì vậy, ngài ấy là một người rất có trí huệ, rất có tri thức.

Ngài ấy đã bái hơn hai mươi thượng sư để học Phật pháp, trí nhớ của ngài phi thường, năng lực lại rất tốt. Đến năm 27 tuổi, ngài đã gây xôn xao cả Tây Tạng, mọi người đều nói ngài là một thiên tài, một thiên tài rất vĩ đại. Khi ấy, ngài đã có được Nyingtik của truyền thừa "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" Tất Mã Lạp Mễ Trá (Vimalamitra?) từ vị thầy tên là Cố Mã Thượng sư. Ngài ấy đã học Vima Nyingtik từ Cố Mã Thượng sư, Nyingtik chính là Nyingtik của pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ". Về sau, ngài lại đi tìm cầu Không Hành Nyingtik, Không Hành Nyingtik là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ giảng cho Yeshe Tsogyal và vua Trisong Detsen.

Khi xưa, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ có hiện ra, nói rằng Longchenpa cần đi đến đâu để tìm thầy, hơn nữa thầy nào có Mật pháp Không Hành Nyingtik, sau đó Lonchenpa liền đi bái vị thầy đó. Vì thế, đến năm 32 tuổi, ngài đã có được truyền thừa Không Hành Nyingtik từ chỗ của Bối Mã Thượng sư. Longchenpa cũng biết sáng tác văn chương, ngài ấy có thể sáng tác, hiểu văn học, ngài đã kết hợp hai Nyingtik lại, mọi người gọi là Longchen Nyingtik, cái này cũng rất quan trọng.

Bây giờ pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" mà chúng ta giảng chính là giảng Longchenpa Nyingtik. Vì vậy, không thể không  nhắc đến vị lão tổ sư này. Vốn dĩ tôi nghĩ chỉ nói đến Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, sau đó là vua Trisong Detsen, tiếp đến là Sư Tôn, như thế là được rồi, không ngờ, vẫn còn phải nói về hai lão tổ sư, nguyên nhân chính là ở đây. Bởi vì ngài Longchenpa đã kết hợp hai Nyingtik lại với nhau. Các tác phẩm của Longchenpa vô cùng nhiều, vì thế, truyền thừa của pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" có thể liên tục lưu truyền, nhờ có sự liên hệ của Longchenpa mà cho đến hiện tại, pháp lưu của ngài liên tục không gián đoạn.

Vì nghiên cứu Không Hành Nyingtik mà Longchenpa có được lực gia trì của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ và Yeshe Tsogyal. Giống như khi Sư Tôn giảng "Mật tông đạo thứ đệ quảng luận" thì tôi cũng được Tổ sư Tsongkhapa tại hư không gia trì. Ngày đầu tiên tôi giảng thì Tổ sư Tsongkhapa đã xuất hiện tại hư không, chính là hình tướng của Tsongkhapa, xung quanh ngài là miên man ánh hào quang, tất cả ánh hào quang đều dội xuống đầu tôi, từ lỗ chân lông thấm vào bên trong thân thể tôi. Trong chốc lát, tôi đã đọc xong hết "Mật tông đạo thứ đệ quảng luận", đã có thể đọc hiểu hết. Tính đến hiện tại mà nói thì đại bộ phận mọi người đều đọc không hiểu "Mật tông đạo thứ đệ quảng luận", bởi vì văn tự vô cùng thâm sâu ảo diệu.

Hơn nữa, người không hiểu Mật giáo, hoặc là người thật sự hiểu được Mật giáo từ tứ quán trở lên mới có thể hiểu được "Mật tông đạo thứ đệ quảng luận" thì cũng không có ai trực tiếp giảng "Mật tông đạo thứ đệ quảng luận". Trong thế giới người Hoa, chỉ có Lư Sư Tôn mới giảng "Mật tông đạo thứ đệ quảng luận". Bài giảng về "Mật tông đạo thứ đệ quảng luận" của tôi được phát trên truyền hình, chính là kênh của Thượng sư Liên Duyệt, kênh của bà ấy cũng chính là Truyền hình Trung Thiên, kênh này có "Lục Tổ Đàn Kinh" và "Mật tông đạo thứ đệ quảng luận". Bà ấy là nhà sản xuất chương trình "Mật tông đạo thứ đệ quảng luận". Khi "Mật tông đạo thứ đệ quảng luận" phát sóng, còn có cả những Lama Tây Tạng, nghĩa là các Thượng sư, chuyên xem chương trình "Mật tông đạo thứ đệ quảng luận" của tôi. Sau khi xem xong họ còn viết thư đến nói: "Cảm tạ ngài đã giảng Mật tông đạo thứ đệ quảng luận." Rất nhiều điều họ không hiểu thì cuối cùng đã hiểu được rồi. Rất không đơn giản, những bài thuyết pháp của Sư Tôn là vô giá, thật đó.

Vào dịp lễ Tình Yêu Valentine's Day, vợ nói: "Anh yêu, em thích nước hoa Pháp." Vào ngày lễ Tình Yêu Thất Tịch, vợ lại nói: "Anh yêu, kim cương tượng trưng cho sự vĩnh hằng." Vào ngày sinh nhật vợ, vợ lại nói: "Anh yêu, em… " Chồng lập tức cắt ngang: "Đợi chút ! Vợ yêu, em có thích thứ gì rẻ rẻ một chút không?" Vợ nói: "Có chứ! Em thích anh nhất đó!" Thứ rẻ nhất không ngờ lại là người chồng. Sư Tôn thuyết pháp có thể nói là rất rẻ đó, là món quà rất rẻ. Thế nhưng pháp này là quý giá nhất đó.

Rốt cuộc, Longchenpa tôn giả có cống hiến gì? Chúng ta cần phải kể đến cống hiến của ngài ấy, cống hiến chân chính của ngài là như sau. Thứ nhất, ngài có rất nhiều các tác phẩm về Mật pháp, bởi vì ngài là một pandita, do vậy các tác phẩm của ngài rất nhiều, sách viết rất nhiều, lưu truyền vô cùng rộng rãi. Thứ hai, ngài ấy còn trực tiếp hoằng pháp. Ngài ấy không chỉ viết sách mà còn hoằng pháp, đi khắp nơi giảng kinh thuyết pháp, giảng pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ". Sau đó, ngài ấy còn kết hợp Vima Nyingtik và Không Hành Nyingtik thành Longchen Nyingtik, có nghĩa là ngài ấy đã kết hợp những thứ quan trọng nhất lại. Vì thế, ngài ấy cũng rất vĩ đại, có thể dung hợp hai khẩu quyết vào với nhau, việc này cũng là vô cùng vĩ đại.

Sau khi Longchenpa viên tịch, rời xa thế gian, ngài ấy vẫn tiếp tục gia trì cho tất cả chúng sinh, đây cũng là điểm rất vĩ đại. Có nghĩa là sau khi ngài viên tịch, ngài ấy đã rời khỏi nhân gian rồi, nhưng ngài ấy vẫn hiển thị trong hư không để gia trì cho chúng sinh. Khi tôi giảng "Mật tông đạo thứ đệ quảng luận", Tổ sư Tsongkhapa hiện thân gia trì cho Sư Tôn, khiến tôi có thể giảng liên tục, cho đến khi giảng xong "Mật tông đạo thứ đệ quảng luận". Từ trong "Mật tông đạo thứ đệ quảng luận", tôi đều nói ra được hết rất nhiều pháp bí mật của Mật giáo.

Khi Longchenpa tại thế có một lần gặp phải một sự việc vô cùng nguy hiểm. Quan viên chính phủ khi đó yêu cầu quân đội bắt ngài, ngài liền chạy trốn, thật ra ngài ấy chạy trốn không được. Ngài một mình cưỡi ngựa, ngài ấy trốn vào đâu được? Bởi vì truy binh rất đông, rất nhiều người kéo đến. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã xuất hiện bảo rằng: "Hãy đi con đường xa nhất, hướng về con đường hẻo lánh, đi theo đường vòng rộng rồi lại vượt lên trên." Nghĩa là vốn dĩ con đường này là đường chính, phía sau có binh lính đuổi theo, như vậy thì đảm bảo sẽ bị bắt. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ hiện thân bảo ngài rằng lập tức đi theo con đường hẻo lánh, đi thành một vòng lớn, đừng đi con đường đó, bởi vì con đường đó có truy binh.

Khi truy binh ập đến, khi chúng gần như sắp bắt được Longchenpa, trong hư không đột ngột giáng xuống một màn mây mù màu đen cản trở đám truy binh, truy binh không dám tiến lên trước, bởi vì không nhìn thấy đường. Đợi đến khi Lonchenpa đã chạy thoát theo đường nhỏ, mây đen mới tản ra. Khi mây đen tản ra thì truy binh mới tiếp tục đuổi theo. Ấy? Đuổi không kịp Longchenpa rồi, không biết ngài ấy đã đi đâu rồi. Thật ra, ngài ấy đi theo đường vòng, rồi lại chuyển hướng, ngài ấy đã chạy đến Bhutan rồi. Longchenpa từng sống tại Bhutan. Ở Bhutan, ngài cũng xây dựng một ngôi chùa, sau đó ngài ấy lại trở về Tây Tạng. Ngài từng gặp một chuyện như vậy, đây là điều mà tôi biết được. Mọi người chưa chắc đã biết được rõ ràng như vậy, ở trong đầu tôi hiện lên một sự việc như vậy.

Ngài ấy cũng từng tu pháp ở rừng Thi Đà Lâm. Phái Nyingma khi ấy có Mã Đầu Minh Vương, Đại Bàng Kim Sí Điểu, và Phẫn Nộ Liên Sư, ngoài ra ở đây còn Bát Đại Heruka (Bát Đại Kim Cương Minh Vương), trong pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" của phái Nyingma đều có phương pháp tu trì Bát Đại Heruka, Mã Đầu Minh Vương, Đại Bàng Kim Sí Điểu, Phẫn Nộ Liên Sư. Hành giả nam bình thường có thể tu pháp Heruka, chính là pháp Kim Cang, Heruka chính là Bát Đại Kim Cang pháp. Hành giả nữ có thể tu Đại Lạc Phật Mẫu pháp.

Đại Lạc Phật Mẫu là ai? Chính là Yeshe Tsogyal Phật Mẫu của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Có thể tu Yeshe Tsogyal, cũng có thể tu Sư Diện Không Hành Mẫu (Không Hành Mẫu mặt sư tử). Khi bắt đầu tu pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", có thể tu Yeshe Tsogyal Đại Lạc Định Hành Mẫu, cũng có thể tu Sư Diện Không Hành Mẫu xem như là Bổn tôn của hành giả nữ.

Nếu muốn tu pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", bạn phải chọn một trong hai, Sư Diện Không Hành Mẫu hoặc là Đại Lạc Không Hành Mẫu, đây là pháp tu của hành giả nữ. Hành giả nam có thể tu Bát Đại Heruka.

Đừng cho rằng Heruka trông khó coi, Heruka chính là thần Kim Cang, thật ra tâm của ngài rất từ bi, rất lương thiện. Mặc dù diện mạo của ngài vô cùng hung ác, nhưng luôn luôn tốt hơn con người hiện đại. Con người hiện đại thì "mặt thiện tâm ác", mặt mũi rất đẹp đẽ, nhưng trong lòng thì rất ác độc, khẩu Phật tâm xà mà! Người Quảng Đông thích nói là khẩu Phật tâm xà, nghĩa là tướng mạo rất tốt nhưng tâm địa bất hảo. Kì thực, tướng mạo của Heruka rất hung ác, nhưng tâm thì lại rất từ bi. Vì thế, hành giả chúng ta khi trông thấy Heruka rất hung ác xuất hiện thì đừng có bỏ chạy. Bởi vì bản thân ngài thật sự rất từ bi đó.

Có một câu chuyện cười, có một "em gái khủng long" đến nhà bạn làm khách. [ ND: em gái khủng long là tiếng lóng, dùng để gọi những cô gái xấu xí ]. Con trai hơn mười tuổi của người bạn trông thấy cô ấy bèn nói: "Cô này xấu quá." Em gái khủng long nghe xong thì rất không vui, đang chuẩn bị nổi khùng. Người bạn vội vàng kêu đứa con trai nhận lỗi, cậu con trai lập tức nói với em gái khủng long: "Cô à, thật ra cô cũng khá xinh đấy." Em gái khủng long nghe thế thì rất vui, đang chuẩn bị tỏ ra khiêm tốn thì nghe người bạn liền lớn giọng dạy dỗ con trai: "Mẹ bảo con nhận lỗi, chứ không bảo con nói dối."

Con người chỉ nhìn thấy một vẻ bề ngoài, đôi khi là như vậy. Thật ra có rất nhiều biểu hiện. Trong tiểu thuyết "Ỷ thiên đồ long kí" của Kim Dung, mẹ của Trương Vô Kị nói với con trai rằng: "Con gái càng xinh đẹp thì càng hay nói dối, con hãy nhớ lấy câu này." Thế nhưng, hành giả Mật giáo không thể phỉ báng phụ nữ. Dù sao cũng không thể nói như vậy. Bởi vì biết người biết mặt khó biết lòng, vẽ hổ vẽ da khó vẽ xương, hoàn toàn không phải người có diện mạo xinh đẹp thì tâm địa sẽ bất hảo, và cũng không chắc rằng người có diện mạo rất xấu thì tâm sẽ xấu. Thật ra không nên nói như vậy.

Vì thế, luôn luôn phải dùng huệ nhãn của bạn để quan sát, dùng trí huệ của bạn để quan sát thì bạn mới có thể hiểu được tất cả. Trước kia, tôi có quen một "em gái khủng long" ở trường Trắc Lượng, tôi gọi cô ấy là chị cả. Ở trường, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của cô ấy, tôi cần cái gì cô ấy đều giúp đỡ tôi, cô ấy rất thích giúp đỡ người khác, rất nổi tiếng ở trường học. Mọi người xem cô ấy là một người rất xấu xí, nhưng cô ấy vẫn luôn luôn giúp người. Vì vậy, không thể tùy tiện đánh giá một con người.

Bản thân Lonchenpa tôn giả có thành tựu lớn là vì ngài ấy bản chất thông minh, tài trí và có phương hướng đúng đắn thì ngài ấy mới có thể đạt được thành tựu rất lớn. Ngài ấy có trí huệ lớn, có thể dung hợp tất cả các pháp của Mật giáo, tiến vào bên trong pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", sau đó đã truyền lại pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" rất quý giá. Cả cuộc đời ngài cũng gặp phải rất nhiều khó khăn, cũng có rất nhiều lời phỉ báng dành cho ngài, thậm chí còn có quan binh của chính phủ muốn bắt ngài. Khi ấy, thật may là trời giáng mây đen chặn trước mặt quan binh, việc này là vô cùng thù thắng, vô cùng khó gặp.

Bản thân Sư Tôn cũng gặp phải những tai nạn rất lớn, cũng có rất nhiều sự việc truyền kì. Bạn xem, khi Sư Tôn giảng "Lục Tổ Đàn Kinh", có người chụp một tấm ảnh, sư tỉ Từ Nhã Kì chụp ảnh lại, trong chương trình "Thắp sáng ngọn đèn tâm" đã từng phát sóng rồi đó, trong hư không có sáu dấu chân màu đen, chính là sáu bước chân, sáu bàn chân, tôi giảng "Lục Tổ Đàn Kinh" thì trong hư không liền xuất hiện như vậy. Giống như pháp hội mùa thu năm nay tôi giảng về Trường Mi tôn giả thì trong hư không liền hiển hiện đám mây hình cặp lông mày dài (Trường Mi). Có đúng vậy không? Mọi người đều đã nhìn thấy rồi.

Tôi vẽ tranh, rất ít khi tôi vẽ đại bàng. Hôm ấy, tôi vẽ hai con chim đại bàng, khi vẽ con đại bàng thứ hai, tất cả các đồng môn đều nhìn lên bầu rời, trên không liền xuất hiện một con chim đại bàng. Hình như cũng có video trên mạng đó, có phải không? Ngày hôm đó, đúng lúc tôi vẽ đại bàng, thật là trùng hợp. Ngoài ra, còn có một lần, tôi vẽ Seattle Lôi Tạng Tự, phía sau lưng Lôi Tạng Tự tỏa ánh sáng đỏ. Đúng không? (Đúng!) Sau khi vẽ xong, buổi tối hôm đó, phía sau lưng Seattle Lôi Tạng Tự đều là ánh sáng màu đỏ. Cái đó gọi là gì? Cái đó gọi là tương ứng. Mỗi lần tôi vẽ tranh xong thì lập tức xuất hiện thứ ở trong tranh. Giống như hôm đó vừa hay tôi vẽ Seattle Lôi Tạng Tự, trên không liền xuất hiện ánh sáng màu đỏ, đỏ rực, là kiểu ánh sáng cầu vồng lúc hoàng hôn, đẹp vô cùng.

Có rất nhiều sự việc đều trùng hợp cực kì. Ví dụ tôi vẽ tranh, có một lần, tôi vẽ xong một mĩ nữ, tối hôm đó thật sự xuất hiện một cô gái xinh đẹp trước đây chưa từng gặp, giống hệt với mĩ nữ mà tôi đã vẽ. Hơn nữa, tôi vẽ tóc cô ấy màu vàng kim, thì tóc của cô gái xinh đẹp hôm ấy cũng có màu vàng kim. Tôi cầm bức vẽ ra để đối chiếu với cô gái đó thì thật sự là rất giống. Tôi vẽ một mĩ nữ thì có một mĩ nữ xuất hiện, sau này, tôi cần vẽ nhiều mĩ nữ hơn mới được. Sự việc cảm ứng kiểu này nhiều vô cùng, trùng hợp vô cùng.

Bởi vậy, Phật Bồ Tát thật sự là vô cùng linh ứng, biết tôi đang làm cái gì liền khiến cho tôi cảm ứng thấy rất nhiều sự tình, vô cùng kì lạ. Ví dụ, ngài nói với tôi: "Ngày mai hãy chuẩn bị lá phù." Tôi nói: "Là phù gì vậy?" Ngài nói: "Thượng an phù, người đầu tiên đến gặp chính là cần ba lá phù này thì anh ta sẽ khỏi bệnh." Kết quả, đúng là như thế! Vào ngày hôm đó, người đầu tiên đến tìm gặp tôi, anh ta nói với tôi anh ta mắc bệnh gì, muốn xin phù như thế nào, tôi bảo: "Chuẩn rồi." Tôi lấy lá phù cất trong người ra đưa cho anh ta nói: "Chính là ba lá phù này, Phật Bồ Tát đã giao ba lá phù này cho anh." Trùng hợp đến như vậy đó.

Pháp sư Liên Ngôn có ở đây không? Bà ấy về rồi. Cũng là một việc rất trùng hợp, bà ấy nghe tôi thuyết pháp tại Kim Cương Lôi Tạng Tự ở New York, khi nhìn thấy trong mắt tôi có thứ gì đó, bà liền đưa cho tôi mảnh khăn giấy, nói: "Sư Tôn, thầy cầm lấy lau mắt đi." Tôi liền lau lau mắt. Vốn dĩ, tôi định cầm khăn giấy đi vứt, vừa hay Liên Ngôn đứng bên cạnh, bà ấy liền cầm lấy tờ khăn giấy của tôi bỏ vào trong túi áo, nói rằng để lát nữa bà ấy vứt, bà ấy tạm để trong túi trước. Sau đó, bà ấy bay trở về Panama. Gặp một đệ tử nữ quỳ trước pháp sư Liên Ngôn, kể rằng mắt của cô ấy mù rồi, bởi vì bị lửa xộc vào nên mắt bị mù rồi.

Thế thôi xong! Pháp sư Liên Ngôn nói: "Một pháp sư như tôi thì làm sao cứu được cô?" Bà ấy nhớ ra: "Trong túi áo của tôi có tờ khăn giấy Sư Tôn đã dùng để lau mắt." Bà ấy liền đưa tờ khăn giấy cho đệ tử bị mù mắt này lau mắt. Chờ chút, Liên Ngạn, Liên Hỉ có ở đây không? Hai người đã từng nghe chuyện này chưa? Hai người đến từ Thường Hoằng Lôi Tạng Tự ở Panama đúng không? Hai người có biết câu chuyện này không? Biết à! Pháp sư Liên Ngôn đưa tờ khăn giấy cho đệ tử kia lau mắt. Ngày hôm sau, cô ấy mở hai mắt ra thì lại có thể nhìn được rồi. Thật sự là có một chuyện kì diệu như vậy. Thế nhưng, nếu như bây giờ bạn đưa cho tôi tờ khăn giấy, bảo tôi lau mắt, sau đó cầm về đưa cho ai đó lau thì lại không linh đâu, muốn có sự trùng hợp vô cùng kì diệu như vậy thì phải có linh cảm xuất hiện thì mới có cách giải quyết được. Mọi người đừng thấy tất cả Phật Bồ Tát, vị thì đứng, vị thì ngồi, các vị ở đây đều bất động, nhưng thật sự là các vị có huệ nhãn, người nào có thiên nhãn thì nhìn là thấy mỗi một vị đều bay tới bay lui, đều hoạt động tới lui đó.

Khi tôi viết sách, bạn cho rằng Sư Tôn viết sách rất dễ dàng sao? Viết sách kì thực cần phải dựa vào linh cảm, muốn viết như thế nào đều phải dựa vào linh cảm. Viết sách không phải là đơn giản, thật sự không phải là dễ dàng. Nếu như khi tôi không biết ngày mai cần viết cái gì, thì buổi tối đó đi ngủ, có vị lại đến, đặt vào trong đầu tôi một chương sách cho tôi đọc: "Ngày mai, ngài sẽ viết chương sách này." Ngày hôm sau tỉnh dậy tôi đã ghi nhớ rồi, bèn mau chóng ghi ra những điểm chính để khỏi quên. Sau đó tôi đi ăn sáng, ăn sáng xong thì lại đi viết sách, và như thế là có thể viết ra chương sách đó. Mỗi lần tôi viết sách đều như vậy. Khi đầu óc tôi hoàn toàn trống rỗng, khi không có văn chương, không có linh cảm gì, thì các vị lại đem một chương sách cho tôi xem, tôi viết sách như vậy đó. Vì vậy, Sư Tôn cũng là sao chép lại linh cảm mà Phật Bồ Tát đưa cho tôi đó.

Đời người giống như một giấc mộng, thật sự đó! Mộng huyễn, chuyển thế, luân hồi, trải qua một đời lại một đời cứ chuyển biến như vậy. Nghĩ mà xem, thật đó, từ vua Trisong Detsen chuyển thế thành Jigme Lingpa tôn giả, lại chuyển thế thành Lư Sư Tôn, mà vua Trisong Detsen lại là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, mà Văn Thù Bồ Tát lại có liên kết với A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát và Đại Uy Đức Kim Cang lại có liên kết với nhau. Cứ như vậy chuyển tới chuyển lui, thật sự là giống như một giấc mộng. Chúng ta ở trong thế giới mộng huyễn này cần phải làm sao đây? Chúng ta cần nhớ, cần chăm chỉ tu hành. Sống một ngày cần vui vẻ một ngày, sống một ngày cần tu pháp một ngày, sống một ngày cần cảm ơn một ngày. Phải cảm ơn đó! Vì sao? Bởi vì người học Phật trong lòng không thể có thù hận, có nghiệp chướng. Do đó, tất cả đều phải cảm ơn, tất cả đều phải tu pháp, tất cả đều phải vui vẻ. Bạn đừng để bị vướng bận, nghĩa là khi bạn đang sống, đừng vướng bận vào những phiền não. Sống một ngày, vui vẻ một ngày; sống một ngày, cảm ơn một ngày; sống một ngày, tu hành một ngày. Om mani padme hum.


### Bài giảng số 9


**Jigme Lingpa viết "Công Đức Tạng" - Terma Đại Viên Mãn**

*(Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị về pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" trong đại pháp hội Hộ Ma Trường Thọ Như Lai tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, Hoa Kì, vào ngày 7 tháng 7 năm 2013.)*

Hôm nay tôi muốn giới thiệu về Jigme Lingpa tôn giả. Ban đầu tôi nghĩ giới thiệu đến Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là được rồi, tuy nhiên, sau này còn có hai vị tôn giả nữa, bởi vì họ đều có mối liên hệ, Longchenpa Nyingtik đang lưu truyền hiện nay cũng chính là khẩu quyết về pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" của Longchenpa. Jigme Lingpa cũng có được sự gia trì của Longchenpa, sức mạnh gia trì rất lớn, bản thân ngài cũng là người phát triển Longchen Nyingtik. Vì thế không thể không giới thiệu Jigme Lingpa. Jigme Lingpa sinh năm 1730, cách thời đại của chúng ta tương đối gần, khi sinh ra ngài cũng đã rất thông minh, vừa ra đời đã rất thông minh rồi.

Tối qua tôi đã kể rằng Sư Tôn rất ngu ngốc, sinh ra đã ngốc rồi. Tôi sinh năm 1945, vừa đúng lúc Mỹ ném bom B-52 xuống Đài Loan, chủ yếu là ném bom xuống sân bay Thủy Thượng, vì thế mà vùng Gia Nghĩa cũng bị ném bom. Vốn dĩ ông nội Lư Xương của tôi rất giàu có, toàn bộ những ngôi nhà trên một con phố là nhà của ông nội tôi, ông nội tôi còn có nhiều đất đai ở Đông Thế Trường ở Gia Nghĩa. Năm 1945, tôi sinh ra tại một trại nuôi gà ở Gia Nghĩa, đó là ở bên suối Ngưu Trù, suối Ngưu Trù là một vùng nông thôn, thuộc về huyện Hậu Hồ của Gia Nghĩa ngày nay. Ở đó có một trại nuôi gà mà ông nội tôi để lại, tôi đã được sinh ra ở đó.

Chúa Jesus ra đời tại một máng nuôi ngựa, Lư Sư Tôn thì sinh ra ở chuồng gà, hai việc này cũng có điểm chung. Jesus ra đời cũng vì vấn đề hộ khẩu, trải qua một thời gian ở Bethlehem thì Đức Mẹ Maria mới sinh ra Jesus tại máng ngựa. Sau khi sinh ra Jesus, người bạn trai của Maria trong lòng rất buồn bã, họ vẫn còn chưa động phòng mà Maria đã sinh ra Jesus rồi, rốt cuộc là có chuyện gì vậy? Tên của người bạn trai ấy là Joseph, Joseph là một thợ mộc, anh ta rất muốn chia tay Maria, nhưng Thánh Linh nói với anh ta rằng đây là thai Thánh, thai từ thiên đường đến, không thể chia tay được. Do vậy họ mới không chia tay.

Vì thế, khi Jesus độ chúng sinh, ngài quay trở về quê hương của mình, người ta bảo: "Đó là con trai của người thợ mộc thôi!" Chẳng qua những con người ở vùng quê đó tương đối khó độ. Sư Tôn sinh ra ở trại gà, vận mệnh cũng tương tự như Jesus, Jesus ở máng ngựa, tôi ở chuồng gà. Sau khi ra đời, mọi người đều nghe về câu chuyện của tôi, bởi vì tôi sinh non, bảy tháng đã ra đời rồ. Khi ấy, cha mẹ tôi rất vui: "Choa! Cuối cùng tôi đã có một đứa con trai rồi." Bố tôi chạy đi kể với họ hàng, họ hàng nó với bố tôi: "Anh mới kết hôn bảy tháng mà đứa bé đã sinh rồi, thế đứa bé này rốt cục là con ai?"

Trong lòng bố tôi rất không thoải mái, vận mệnh của tôi rất giống với Jesus. Lúc nhỏ tôi bẩm sinh đã không khỏe mạnh, sau này lại ăn uống thiếu thốn, chẳng trách mà tôi lại thấp bé như vậy, đó chính là nỗi đau trong lòng tôi! Cần phải cầu tới Tăng Trưởng Thiên Vương trong bốn vị Tứ Đại Thiên Vương. Thật ra, rất nhiều người ở trong mơ đã nhìn thấy linh thể của tôi, Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử Lư Sư Tôn to cao như núi Tu Di. Cầu Trường Thọ Phật Như Lai, hy vọng vào những năm cuối đời, để cho tôi phúc phần tăng trưởng, chiều cao tăng lên, A Di Đà Phật! Phúc phần cần tăng trưởng mà! Kính ái cần tăng trưởng mà! Trí huệ cũng cần tăng trưởng mà! Chiều cao cũng cần tăng trưởng mà! Như thế mới gọi là tăng chứ!

Lúc nhỏ, tôi bẩm sinh ốm yếu, con nhà người ta chí ít cũng uống sữa mẹ, không thì sữa bò, thế còn tôi thì uống cái gì? Tiếng Đài Loan gọi là nước gạo, gạo nghiền thành bột, bỏ thêm nước vào nấu. Lúc nhỏ thứ mà tôi uống chính là nước gạo, thế nên tôi lớn lên rất thấp lùn, bẩm sinh ốm yếu, sau đó lại thiếu dinh dưỡng, cho đến tận khi học cấp ba cũng không được bổ sung dinh dưỡng gì cả. Tuy vậy, lúc nhỏ tôi rất thích vận động, tập xà đơn, xà đôi, vòng đôi, luôn luôn vận động. Có một lần, sau khi tắm xong, tôi cởi trần và chỉ mặc một chiếc quần đùi, bố tôi trông thấy cơ thể tôi liền giật nảy mình: "Thằng nhóc này, chẳng cho nó ăn cái gì mà cũng có thể luyện tập được cơ thể như vậy." Trông giống như là sinh ra đã có xương cốt như sắt thép vậy. Tôi cũng luyện cơ bắp toàn thân, đến bây giờ vẫn duy trì được.

Jigme Lingpa ban đầu là một tiểu sa-di, ngài rất thông minh. Năm 13 tuổi, ngài đã gặp Thổ Đăng Đa Kiệt. Gia đình Jigme Lingpa không giàu có, vì vậy ngài mới bị gửi đến chùa làm một tiểu sa-di. Lúc tôi còn nhỏ, nhà tôi rất nghèo, vì sao vậy? Ông nội tôi có nhiều tiền, cả đường phố đều là nhà của ông, thế nhưng sau khi bị quân đội Mỹ ném bom, Đài Loan khi ấy vẫn thuộc về Nhật Bản, quân đội Mỹ chính là muốn ném bom vào quân Nhật, sau khi ném bom, những ngôi nhà của ông nội tôi đều bị cháy rụi.

Jigme Lingpa đã bái rất nhiều sư phụ, vào năm 13 tuổi, ngài đã bái một vị thầy tên là Đồ Khước Đa Kiệt. Vị thầy này đối xử với ngài rất tốt, thầy đã dạy cho ngài pháp Đại Thủ Ấn của Bạch giáo. Vì thế, ngài đã có được truyền thừa Đại Thủ Ấn. Thế nhưng Jigme Lingpa vẫn chưa thỏa mãn, đã bái rất nhiều sư phụ, ngài đã có được rất nhiều kiến thức Mật giáo, rất nhiều Bổn tôn gần như ngài đều đã có được hết.

Đến năm Jigme Lingpa 28 tuổi, ngài bế quan. Khi bế quan thì ngài dùng phương pháp thiền định, hễ thiền định là đầu của ngài liền tách ra, người ta mà đầu bị tách ra thì rất đau đớn, thế nhưng đầu ngài tách ra thì lại rất thoải mái, giống như bông hoa sen nở cánh hoa tách ra vậy. Từ bên trong nhật nguyệt luân ở chính giữa hoa sen liền xuất hiện một vị tôn giả, tôn giả này tên là vua Trisong Detsen, vua Trisong Detsen cai trị Tây Tạng. Sau vua Trisong Detsen, cách hai, ba đời thì không còn Tạng Vương nữa.

Vua Trisong Detsen hiển hiện trong bông hoa sen, Trisong Detsen nói với Jigme Lingpa: "Ta có pháp Đại Viên Mãn, là khi xưa Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền cho ta. Ngài, Jigme Lingpa tôn giả, chính là hóa thân thứ hai của ta." Ngài ấy chính là Trisong Detsen chuyển thế.

Vì sao tôi muốn giảng về Jigme Lingpa? Bởi vì Trisong Detsen chuyển thế thành Jigme Lingpa, bản thân tôi cũng là Trisong Detsen chuyển thế. Mọi người nghĩ xem, hoa sen nở ra, đầu tách ra, biến thành một đóa hoa sen, bên trong có nhật nguyệt luân, trong nhật nguyệt luân xuất hiện một vị tôn giả Trisong Detsen, sau đó nói rằng ngài thật sự có truyền thừa của pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ". Vì thế, Jigme Lingpa đã trực tiếp mở ra truyền thừa của pháp Đại Viên Mãn.

Jigme Lingpa ngồi yên lặng trong thiền định, đột nhiên hoa sen lại khép lại, ngài lập tức tỉnh ngộ, thì ra ngài chính là người kế thừa pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", ở đây nghĩa là ngài đã khám phá ra tiền kiếp của ngài, bản thân ngài chính là vua Trisong Detsen chuyển thế. Điều này là quá tuyệt vời, ngài lập tức tỉnh ngộ, rất nhanh chóng ngài đã chứng ngộ được pháp Đại Viên Mãn. Khi ngài đã chứng ngộ pháp Đại Viên Mãn, ngài vô cùng sung sướng.

Lúc này, còn có một vị tôn giả xuất hiện giảng giải cho ngài pháp Đại Viên Mãn, vị tôn giả này chính là Longchenpa, thế thì lại càng vĩ đại hơn. Longchenpa hiện lên giải thích cho ngài pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ". Vì thế, Jigme Lingpa tôn giả là tổ sư của pháp Đại Viên Mãn. Bởi vì ngài là Trisong Detsen chuyển thế, Trisong Detsen là người được đích thân Liên Hoa Sinh Đại Sĩ gia trì, cái gọi là terma chính là tất cả các pháp Đại Viên Mãn được đặt bên trong não của ngài. Mà Jigme Lingpa là Trisong Detsen chuyển thế, nên tự nhiên ngài ấy có thể lĩnh ngộ được pháp Đại Viên Mãn. Sư Tôn cũng như thế, có thể lĩnh ngộ được pháp Đại Viên Mãn, chính là nguyên nhân này.

Jigme Lingpa tôn giả cũng viết sách, cũng viết sách giống như Longchenpa tôn giả. Ngài ấy có một tác phẩm hay tuyệt vời, tên là "Công Đức Tạng", chính là pháp Đại Viên Mãn được giấu trong não của ngài. Trong não của Sư Tôn cũng giấu pháp Đại Viên Mãn. Ngài ấy có được sự gia trì của Longchenpa tôn giả, Longchenpa tôn giả hiện lên giải thích cho ngài nghe, vì thế ngài đã viết rất nhiều tác phẩm. Lão tổ sư Jigme Lingpa này cũng từng quảng truyền pháp Đại Viên Mãn, vô cùng thù thắng. Pháp Đại Viên Mãn của ngài phân thành hai loại, một loại là có tính chất quảng đại, và một loại là có tính chất thậm thâm, nghĩa là những khẩu quyết vô cùng sâu của pháp Đại Viên Mãn, cùng với những khẩu quyết có tính chất rộng lớn của pháp Đại Viên Mãn, đó là những gì mà tổ sư Jigme Lingpa đã có được. Nguyên nhân phải kể đến Jigme Lingpa chính là vì vua Trisong Detsen.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ dạy pháp cho vua Trisong Detsen, cùng Yeshe Tsogyal. Yeshe Tsogyal ở cùng với Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, một người là Pháp vương, một người là minh phi của Pháp vương, ba người họ đều có được truyền thừa của pháp Đại Viên Mãn, đây là một sự việc vô cùng thù thắng.

Chúng ta biết rằng Mật giáo có bốn đại pháp. Đối với Hồng giáo thì đó chính là pháp Đại Viên Mãn, đối với Bạch giáo thì là pháp Đại Thủ Ấn, Hoa giáo thì gọi là pháp Đại Viên Thắng Huệ, Hoàng giáo thì là pháp Đại Uy Đức, chính là bốn đại pháp này. Sư Tôn có truyền thừa của pháp Đại Viên Mãn, có truyền thừa của pháp Đại Thủ Ấn, cũng có truyền thừa của pháp Đại Viên Thắng Huệ, cũng có truyền thừa của pháp Đại Uy Đức, bốn loại truyền thừa đều có.

Vì thế, mọi người đến với Sư Tôn ở đây thì Hồng, Hoàng, Bạch, Hoa trong Mật giáo đều có hết. Sư Tôn có bốn vị Căn bản Thượng sư, Thượng sư thứ nhất là Liễu Minh Hòa Thượng, ngài ấy thuộc Hồng giáo, truyền thừa của ngài đến từ Norlha Hotogtu Thượng sư ở vùng Kham Tây Tạng. Khi Liễu Minh Hòa Thượng ở Tứ Xuyên đã theo Norlha Thượng sư. Bởi vậy, ngài đã có truyền thừa pháp Đại Viên Mãn của Hồng giáo. Thứ hai chính là Sakya Chứng Không Thượng sư của Hoa giáo, ngài ấy có pháp  Đại Viên Thắng Huệ, ngài cũng dạy Sư Tôn, vì thế Sư Tôn cũng có được truyền thừa Đạo Quả và Hỉ Kim Cang. Thứ ba, Bạch giáo có pháp Đại Thủ Ấn, chính là do Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16 ban cho Sư Tôn "Ngũ Phật nghiêm đỉnh quán", đây là truyền thừa của Ngũ Phật.

Truyền thừa của pháp Đại Thủ Ấn rốt cục từ đâu đến? Đến từ Bảo Ý Bồ Tát, A Đạt Nhĩ Mã Phật truyền pháp Đại Thủ Ấn cho Bảo Ý Bồ Tát. Bảo Ý Bồ Tát là ai? Chính là Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử. Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử lại truyền cho Ngũ Phương Phật, Ngũ phương Ngũ Như Lai, rồi lại từ Đại Bảo Pháp Vương thứ 16 quán đảnh cho Sư Tôn lại từ đầu. Vì thế, Sư Tôn biết rằng pháp Đại Thủ Ấn có bốn phương pháp, một là "chuyên nhất du già", một là "li hí du già", một là "nhất vị du già", cuối cùng là "vô tu du già". Tiếp theo, thứ tư là pháp Đại Uy Đức, là do Thubten Dorje Thượng sư truyền cho Sư Tôn.

Pháp Đại Uy Đức là gì? Là Đại Uy Đức Kim Cang 13 tôn pháp vô cùng hoàn thiện, bao gồm pháp Thời Luân Kim Cang, còn có đủ loại Phật pháp. Sư Tôn thu thập tất cả truyền thừa của bốn phái Hồng - Hoàng - Bạch - Hoa. Mọi người đến đây rồi thì không phải đến với người khác nữa.

Có một khách hàng đã phàn nàn rất nhiều: "Em ơi, món ăn của nhà hàng này chán quá." Cô gái phục vụ nhà hàng nói: "Sao có thể chứ?" Khách hàng nói: "Không tin thì kêu ông chủ của các cô đến ăn thử xem." Cô gái nói: "Thật xin lỗi! Ông chủ của chúng tôi đã sang nhà hàng bên cạnh ăn cơm rồi."

Tôi bảo mọi người, Sư Tôn mở ra nhà hàng này, cái gì cũng có, bảo đảm bạn ăn ngon, ăn no, lại còn được thưởng thức tuyệt vời, giá tiền thì lại rẻ, tất cả đều có hết, không cần phải đi đến chỗ khác ăn đâu.

Từ rất lâu trước đây Sư Tôn đã viết cuốn sách "Mật giáo Đại Viên Mãn", là cuốn số 56, trong cuốn sách này còn có "tâm trong tâm", chính là Nyingtik. Vì sao khi ấy tôi đã viết thành sách rồi? Bởi vì khi ấy tôi đã biết rồi. Mọi người đọc cuốn sách này sẽ biết những điều ảo diệu bên trong, bên trong là pháp cốt lõi của cốt lõi, chính là Nyingtik. Những thứ mà Sư Tôn dành cho mọi người đều rất trân quý đó.

Một người chồng nói với vợ: "Em yêu, em đoán thử xem anh mua quà gì cho em?" Vợ thờ ơ nói: "Cái gì vậy?" Người chồng chỉ vào một chiếc xe ô tô màu trắng ở gần đó: "Em có nhìn thấy cái xe ô tô màu trắng kia không?" Vợ rất háo hức nói: "Em thấy rồi, không ngờ anh lại mua xe tặng em." Lúc này người chồng nói: "Anh mua cho em một cái bàn chải đánh răng màu trắng." Cũng là màu trắng mà.

Những gì Sư Tôn tặng cho mọi người là rất quý giá đó. Không phải là những vật dụng hàng ngày, mà là những lễ phẩm quý giá để mọi người có thể vãng sinh Phật quốc, có thể chấm dứt sinh tử. Sư Tôn không phải là kẻ điên đâu! Không phải là những lời nói điên rồ, bạn đọc cuốn sách số 56 sẽ thấy tôi còn viết về "Công khai pháp vô thượng của Hồng giáo do Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chân truyền".

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ có truyền cho Sư Tôn pháp Đại Viên Mãn không? Ngài ấy sống cách Sư Tôn rất xa, mặc dù ngài ấy sống tới một nghìn tuổi, nhưng khi ấy tôi vẫn còn chưa ra đời mà! Làm sao có được truyền thừa của pháp Đại Viên Mãn? Tôi đã từng nhận hai truyền thừa, một là ngài ấy đã túm tôi vào trong một ngôi mộ cổ ở Nepal và ngài ấy đã quán đảnh cho tôi. Đầu tiên là ngài nuốt tôi vào bụng, sau đó tôi từ luân xa bí mật của ngài đi ra. Sau đó toàn bộ các lỗ chân lông của ngài đều phóng quang, tất cả mọi ánh sáng đều đi vào từ lỗ chân lông của tôi, đây là một quán đảnh rất vĩ đại đó! Quán đảnh qua lỗ chân lông, lỗ chân lông của ngài phóng quang, toàn bộ đều phóng vào bên trong lỗ chân lông của tôi. Tôi bị nuốt vào từ miệng của ngài, rồi đi ra từ luân xa bí mật, đúng là thay da đổi thịt đó! Tôi lại cũng là Trisong Detsen chuyển thế nữa.

Vì thế, nhờ có terma ở trong não của tôi nên tôi mới có thể đại công khai pháp vô thượng của Hồng giáo do Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chân truyền, trong cuốn sách số 56 đã có nói rồi. Không phải là tôi uống rượu say rồi nói linh tinh đâu. Ở đây có một câu chuyện cười. Có một nữ sinh vào toilet đi vệ sinh. Có một gã say xỉn xông vào nhà vệ sinh nữ, nghe thấy âm thanh của tiếng đi tiểu, gã say rượu liền nói: "Đừng rót nữa, tôi thật sự không thể uống tiếp được đâu." Nữ sinh này giật thót mình, không dám đi tiểu tiếp nữa, nhưng không nhịn được bèn đánh một cái rắm. Gã say rượu liền nói: "Ô hô! Lại khui thêm chai nữa." Tôi muốn nói rằng Sư Tôn không phải là gã say rượu, tôi nói những lời rất thật, tôi không dọa mọi người, trong cuốn sách số 56, tôi đã viết "Mật giáo Đại Viên Mãn", khi ấy tôi còn rất trẻ! Nhưng tôi đã có được pháp rồi.

Jigme Lingpa thường có một giấc mơ, mơ thấy thân thể của mình biến thành rất to, nằm thẳng bắc ngang qua hai ngọn núi, rất nhiều người đi lên trên người ngài. Quái lạ! Sư Tôn lúc nhỏ cũng thường mơ thấy giấc mơ ấy! Giấc mơ này rất kì lạ đặc biệt, tôi đã viết trong sách. Giấc mơ của tôi là như thế nào vậy? Cũng là có hai ngọn núi lớn, thân thể của tôi nằm ở giữa hai ngọn núi, đầu ở núi này, chân ở núi kia, có rất nhiều chúng sinh đi trên người tôi. Điều này cho thấy Jigme Lingpa lại đến để độ hóa chúng sinh.

Hiện nay, truyền thừa của Jigme Lingpa cũng rất nhiều, lưu truyền rộng rãi ở Tây Tạng. Longchen Nyingtik của Longchenpa cũng lưu truyền rất rộng. Còn nữa, hiện nay Sư Tôn độ chúng sinh cũng rất nhiều, thuyết pháp, viết văn, chúng tôi có cùng một giấc mơ giống nhau! Chúng tôi thật sự đang độ chúng sinh đó! Không giống như một số người được gọi là "phụ Phật ngoại đạo" đâu! Hay là "đạo sĩ tóc rối" đâu! Những gì Sư Tôn đã giảng thì khác, những gì Sư Tôn viết cũng là chính pháp.

Sau này khi tôi giảng đến chính pháp, tôi sẽ giới thiệu với mọi người thế nào là Thanh Văn thừa, thế nào là Bồ Tát thừa, thế nào là Duyên Giác thừa, sự phân biệt nằm ở đâu. Trong pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" có ba thừa này, là do Phật Thích Ca Mâu Ni giảng. Trên phương diện du già thì có Sự Bộ, Hành Bộ, Du Già Bộ. Phân biệt như thế nào? Ba thừa sau cùng là Maha Du Già, A Nỗ Du Già, A Để Du Già, ba thừa này phân biệt như thế nào, tôi đều có thể lần lượt giải thích rõ ràng cho mọi người, mọi người sẽ hiểu được.

Có một câu chuyện cười, một cô gái luôn có rất nhiều chàng trai vây quanh. Một hôm, không thể chịu đựng được nữa, cô ấy phàn nàn với Tiểu Minh: "Đáng ghét quá! Vì sao xung quanh tớ luôn có một đám ruồi nhặng vậy?" Tiểu Minh liền trả lời: "Tớ không biết! Khả năng là vì cậu trông giống một đống phân!" Tất nhiên không phải thế rồi. Những nữ sinh xinh đẹp khi học cấp hai, cấp ba, đại học thì sẽ có rất nhiều người theo đuổi, đó chính là nguyên nhân mà các cô gái xinh đẹp đều không thể có được bằng tiến sĩ, bởi vì họ sớm đã có người theo đuổi, sớm đã lập gia đình, nên không tiếp tục học nữa. Nhưng vì sao cũng có rất nhiều nữ sinh có thể lấy được bằng tiến sĩ? Bởi vì họ không có người theo đuổi, không lấy chồng được, tốt nhất là đi học, vì thế lấy được bằng tiến sĩ. Rất nhiều tiến sĩ là như vậy, họ không có người theo đuổi mà! Tốt nhất là ngày ngày đi học.

Ấy! Phật Thanh cũng lấy được bằng tiến sĩ Luật, nó rất thích đi học, vẻ ngoài trông cũng không tệ, tướng mạo cũng khá được. Khi nó học cấp 3 thì Andy đã luôn theo đuổi nó rồi, trên bàn học của Andy viết đầy tên "fo-ching", thật sự là theo đuổi rất gắt gao. Cuối cùng chẳng còn cách nào, nó liền đi Santa Clarita California học đại học, hai đứa vẫn có liên lạc. Phật Thanh lại đến New York học tiến sĩ, đó là trường Lawyer School (Học viện Pháp luật), Andy vẫn không ngừng theo đuổi, thật đó! Hai người yêu nhau cuối cùng đã trở thành người một nhà, chẳng có cách nào. Không phải tiến sĩ nào cũng đều xấu, Phật Thanh cũng là tiến sĩ, thế mà tôi quên, I forgot.

Có một câu chuyện cười. Vợ rất tức giận nói với chồng: "Rốt cục anh có muốn bỏ thuốc không?" Chồng nói: "Được thôi! Anh chỉ cần hút thuốc vào hai thời điểm đặc biệt là được rồi." Vợ nói: "Vậy thì tốt, là hai thời điểm nào?" "Một là lúc trời mưa, hai là lúc trời không mưa."

Có rất nhiều việc rất khó giải quyết, thế nhưng chúng ta nhất định cần giải quyết được một việc. Việc này chính là: cuộc đời của chúng ta có thể đạt được sự giải thoát. Phật pháp chính là giải thoát cuộc đời của chúng ta, để chúng ta có thể đến được cảnh giới tốt đẹp hơn. Tôi chúc phúc mọi người đều có thể học tập Phật pháp được tốt. Om mani padme hum.


### Bài giảng số 10


**Thanh Văn thừa tin rằng nhân gian khổ nhiều vui ít, nhiều người đi vào núi sâu tu hành**

*(Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" trong buổi đồng tu Hoàng Tài Thần tại Seattle Lôi Tạng Tự, Hoa Kì, vào ngày 13 tháng 7 năm 2013.)*

Hôm nay nội dung tôi muốn giảng là "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ pháp" là gì? Cửu thứ đệ là chín thứ tự nào? Tôi giải thích với mọi người một chút. Vốn dĩ pháp mà tôi muốn giảng hôm nay rất khô khan, nếu như là pháp sư khác giảng thì bản thân ông ta cũng mệt mà người nghe cũng mệt. Bản thân pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" rất khó nghe hiểu. Trước tiên tôi kể một câu chuyện cười. Một buổi tối, đêm đã khuya, có đứa bé đang ngủ thì khóc ré lên. Khi người bố quyết định hát một khúc hát ru để dỗ con ngủ, vừa hát được mấy câu thì hàng xóm liền chạy sang cự nự: "Thôi cứ để thằng bé khóc đi! Anh đừng hát nữa." Cho thấy rằng anh ta hát rất khó nghe.

Pháp hôm nay tôi muốn giảng không phải là rất dễ nghe, thế nhưng vẫn cứ phải giảng. Trước hết chúng ta giảng về ba thừa đầu tiên, ở giữa có ba Mật thừa, tiếp theo là ba thừa của Nội mật, cộng vào là thành chín thừa. Ba thừa đầu tiên chính là do Thích Ca Mâu Ni Phật giảng, ba thừa ở giữa là Kim Cang Tát Đỏa giảng, ba thừa sau cùng là Bản Sơ Phật giảng, có phân biệt như vậy. Vì thế, chúng ta nói về pháp mà Phật Đà thuyết trước đã. Chín thứ tự này cũng chính là chín nấc thang, từng nấc từng nấc thang đi đến viên mãn. Điều này rất quan trọng, giống như trèo cầu thang vậy, bậc thứ nhất, bậc thứ hai, bậc thứ ba, bậc thứ tư, bậc thứ năm, bậc thứ sáu, bậc thứ bảy, bậc thứ tám, bậc thứ chín. Đến bậc thứ chín thì là cao nhất rồi. Do đó gọi là cửu thứ đệ, ý nghĩa là chín bậc thang.

Chúng ta học Phật không thể làm người mù. Lúc đang dạo phố, có một người ăn mày đeo kính râm chặn một người đàn ông và vợ ông ta lại. Ông ta chặn người đàn ông trước, nói: "Soái ca, hãy làm ơn làm phước! Tôi là người mù." Người đàn ông đang chuẩn bị lấy tiền từ trong túi ra, bà vợ liền ngăn lại: "Đủ rồi! Quá rõ ràng rồi, hắn ta không phải là người mù." Người đàn ông liền nghĩ một lúc rồi chỉ vào bà vợ, hỏi kẻ ăn mày mù: "Người phụ nữ này có xinh không?" Sau khi tên mù nhìn vợ của người đàn ông liền nói: "Ôi! Xinh quá." Người đàn ông nói với bà vợ: "Không sai đâu, hắn ta đúng là mù rồi." Học Phật không thể làm một kẻ mù, cần phải xem xét rõ ràng, chín thứ tự này đều cần phải hiểu rõ ràng. Có người học Phật nhưng thật sự là kẻ mù. Rõ ràng là Phật pháp nhưng lại cố chấp không học. Thế họ học cái gì? Học xem bói. Đoán mệnh là pháp thế tục, thuộc về pháp thế gian.

Mặc dù cái gì cũng đều là Phật pháp, không sai! Thế nhưng, học Phật pháp cần học điều mà Phật Thích Ca Mâu Ni giảng, Kim Cang Tát Đỏa giảng, Bản Sơ Phật giảng, như vậy thì mới là chính đạo. Có người nói "cửa hông thì cũng là cửa", giống như là ở đây bạn đi qua cánh cửa của phòng âm thanh và ghi hình thì đó cũng là cửa, cũng có thể vào được đại điện, cửa hông cũng là cửa, thế nhưng đi cửa này thì xa hơn, cửa nào gần nhất thì đó là cửa chính, cửa nào xa hơn thì đó là cửa hông. Phải đi vòng vòng vòng vòng một hồi thì mới vào tới nơi, cũng đúng thôi! Thật ra, đoán mệnh cũng không sai, xem địa lý cũng không sai, chẳng qua đó vẫn chỉ là pháp thế tục mà thôi.

Phật Thích Ca Mâu Ni tương đối là không chủ trương pháp thế tục. Vì thế, ngài đã tổ chức tăng đoàn, tăng đoàn chính là những người xuất gia. Những người tại gia thì phải đi vòng rất nhiều con đường, bởi vì họ cần phải làm rất nhiều việc thế tục. Hôm nay có một đồng môn hỏi tôi, mỗi ngày anh ta phải làm việc kiếm tiền, thế nhưng trong khi kiếm tiền thì lại mất đi công phu tu hành. Những người xuất gia thì tương đối chuyên nghiệp hơn, người xuất gia ngày ngày đều làm công khóa tu hành, chuyên nghiệp hơn, không có kiếm tiền, không ở bên ngoài làm các việc thế tục. Đời người vốn dĩ rất ngắn ngủi, bạn làm sự nghiệp thế tục, bận rộn với những việc thế tục, thời gian tu hành sẽ ít đi, thì lại càng khó hơn. Vì thế, nếu như muốn tu hành thì xuất gia vẫn chuyên nghiệp hơn một chút. Sự khác biệt giữa đi đường chính và đi cửa hông nằm ở đây.

Đời người rất ngắn, cái gì đáng trân trọng thì cần trân trọng, cái gì nên từ bỏ thì từ bỏ. Đồng môn nói với tôi: "Tiền kiếm được cũng không tồi! Gia đình cái gì cũng tốt, tuy vậy vẫn cảm thấy chính xác là đang sống qua ngày tại thế gian. Có đúng không?" Thật ra, chính xác là cần có một phương pháp tu hành về mặt tinh thần. Người tại gia vẫn cần dành ra một chút thời gian để tu hành. Người xuất gia thì chuyên môn với công phu tu hành, có nghĩa là tập trung vào đạo giải thoát và đạo bồ đề.

Đầu tiên Phật Thích Ca Mâu Ni giảng về Thanh Văn thừa, là thứ bậc đầu tiên trong chín thứ bậc. Thanh Văn tu Tứ Thánh Đế khổ - tập - diệt - đạo, cũng chủ trương "vô ngã", nhưng cho phép có tâm vĩnh cửu. Điều này tương đối khó giải thích, một  người có tâm liên tục tồn tại thì đó là Thanh Văn thừa.

Có một câu chuyện cười, xe hơi cưới tàu hỏa, chẳng bao lâu thì li hôn. Xe hơi vô cùng đau buồn kể: "Anh ấy ngày ngày lo lắng cho mình bị đâm, còn mình thì sao, mình lúc nào cũng sợ anh ấy đi chệch khỏi đường ray, không thể chịu được. Vì thế mà hai chúng tôi li hôn." Xe hơi và tàu hỏa li hôn. Thật ra, Thanh Văn thừa chính là xe hơi, chở được ít người, đại bộ phận đều là tu hành một mình, khá nhiều người đi vào trong núi sâu tu hành, thậm chí người xuất gia còn nhiều hơn. Thanh Văn thừa cho rằng thời gian ở thế gian rất ngắn, rất khổ, thời gian vui vẻ thì chẳng có nhiều.

Mọi người thử nghĩ một chút mà xem, tôi thường hay nói: "Một tuổi bắt đầu một cuộc đời", đều là cha mẹ chăm sóc cho bạn! Chẳng có gì khổ, chẳng có gì vui, bắt đầu đi học thì bắt đầu khổ rồi. Người khác đi học cảm thấy rất vui, nhưng tôi đi học thì lại thấy rất đau khổ. Bởi vì tôi thi cử thường trượt. Vì thế mà tôi phải ở lại lớp! Tôi bị lưu ban hai lần đó! Đối với tôi mà nói thì đi học đương nhiên là rất khổ. Rõ ràng là bình thường tôi rất thoải mái, nhưng hễ gặp thi cử là tôi liền khổ sở, gặp kì thi là tôi lại không ngủ được. Hễ gặp kì thi là lại không dám nhìn người khác nữa, rất là khổ, rất mệt mỏi. Tuy nhiên, đi học là khổ, vì sao vẫn cần đi học? Ai đưa ra quy định đó? Thật khiến tôi tức chết mất. Lúc 10 tuổi, việc học hành là quan trọng nhất. Mọi người chăm chỉ phấn đấu. Học sinh tiểu học cũng hiểu rằng cần phấn đấu học hành, phấn đấu đứng thứ nhất. Tôi từng có một người bạn học như thế này, cậu ấy luôn đứng thứ nhất, có một lần rớt xuống vị trí thứ hai, cậu ấy liền tự sát. Khổ quá! Không đứng thứ nhất được thì rất đau khổ. Còn học sinh yếu kém như tôi đây, lần nào cũng đứng bét lớp, tôi chẳng thấy khổ tí nào. Bởi vì tôi vốn dĩ chính là như vậy, trái lại, rất nhiều người phía bên kia cạnh tranh tới lui thì rất khổ. Đi học có khổ không? Khổ chứ! Khi Phật Thanh học tiến sĩ Luật, nó nói: "Học luật khổ quá!" Sách à! Đọc đọc đọc, cuối cùng cầm sách lên, tức giận quăng cuốn sách đi thật xa. Kết quả là cũng vẫn phải bò bò bò bò, bò đi mà nhặt sách về rồi đọc tiếp. Đi học vốn dĩ là khổ mà! Có cái gì không khổ? Học xong, tốt nghiệp rồi đi làm, thế cũng là khổ!

Bạn cho rằng làm việc rất vui vẻ sao? Sếp của bạn bất ngờ điều bạn vào vị trí rất vất vả lại lương thấp. Mỗi người đi làm chẳng phải khổ sao? Kiếm tiền là khổ! Kiếm tiền rất khó đó, kiếm tiền có thể coi là một việc khó, cũng rất khổ. Gia đình, có khổ không? Gia đình là cái gông trói tay bạn lại, nhốt bạn vào trong hoàn cảnh ấy, một tờ giấy đã trói buộc hai người lại với nhau. Có khổ không? Gia đình cũng là khổ mà! Bạn xem rất nhiều người li hôn, những người yêu nhau thật sự rất ít, những người mà bạn trông thấy đại bộ phận đều là khổ. Hễ cãi nhau là hai người thận chí nửa năm cũng không thèm nói chuyện.

Có gia đình nào không khổ? Bạn nói xem, trước khi kết hôn, yêu đương có khổ không? Tình yêu mới là thuốc đắng, Vu Tiên đã nói rồi, bạn tìm thấy tình yêu chính là tìm thấy kẻ thù. Như tôi vừa kể, xe hơi và tàu hỏa kết hôn, tàu hỏa từ sáng tới tối lo lắng xe hơi bị đâm, còn xe hơi thì từ sáng tới tối lo lắng tàu hỏa trật bánh, tàu hỏa sẽ rơi khỏi đường ray. Liệu có trật đường ray không? Xã hội hiện đại, bất kể bạn có kết hôn hay không, con trai muốn theo đuổi con gái, bất kể là con gái đã kết hôn hay chưa, có bạn trai hay chưa, hoặc là như thế nào đó thì vẫn cứ theo đuổi thôi! Con gái cũng thế, bất kể là người con trai kia đã kết hôn hay chưa, hay là đã có bạn gái chưa, bất kể như thế nào cũng vẫn theo đuổi! Khắp nơi là các cuộc tình tay ba, tay bốn, tay năm, tay sáu, tay bảy, rốt cục là tay nào mới là thật đây? Chẳng thể hiểu được. Như thế có khổ không? Thật sự là thuốc đắng. Gia đình chính là một cái gông đã đóng khung bạn lại, một tờ giấy khiến cho bạn vĩnh viễn không thấy được ngày hết hạn nằm ở đâu, một tờ giấy đã hạn chế bạn, đều là khổ cả!

Càng khổ hơn là còn có những tai nạn liên quan đến đất nước lửa gió. Bỗng dưng động đất, bỗng dưng hỏa hoạn, bỗng dưng gió bão, bỗng dưng ngập lụt, những của cải vất vả kiếm được bỗng chốc tiêu tan, có khổ không chứ? Khổ mà!

Người với người ở cùng nhau là khó nhất, cái gọi là "làm người khó" đó là bạn và người khác rất khó hòa đồng, tự nhiên hôm nay đang tốt, ngày mai đã xấu rồi. Hôm nay tâm trạng tốt, ngày mai đã lại thành xấu, ngày sau nữa tâm trạng lại tốt, ngày sau đó nữa tâm trạng lại không tốt. Thời tiết cũng như vậy, hôm qua lạnh, hôm nay nóng, ngày mai càng nóng hơn, có phiền phức không? Nóng thì cũng nóng chết mất, lạnh thì cũng lạnh chết mất. Seattle đây này! Nóng thì nóng muốn chết, lạnh thì lạnh muốn chết. Trước kia Seattle đâu có nóng như thế, chính là vì những người di dân đến đây mang theo cả cái nóng tới.

Trước kia Seattle rất lạnh. Khi tôi đến đây, từng có cả ba năm chẳng hề đổ mồ hôi. Gần đây tôi phát hiện thấy mình đổ mồ hôi, thời tiết biến đổi rồi, bạn cho rằng lòng người không thay đổi sao? Lòng người cũng thay đổi đó. Hôm nay nói yêu bạn, aishiteru, ngày mai lại nói NO! Chia tay! Thay đổi quá nhanh, lật mặt cũng nhanh như lật sách vậy, thay đổi liên tục, chỉ không phải là thay đổi mỗi ngày mà thôi. Buổi tối ăn cơm vẫn còn vui vẻ, sau khi ngủ một giấc dậy thì không còn vui vẻ nữa rồi. Bạn nói xem có khổ hay không? Khổ mà! Làm người gì đây chứ! Chẳng bằng tu hành, chúng ta đi tu, tu Thanh Văn, đi vào trong núi sâu tu, bởi vì khổ quá mà! Cái thứ nhất chính là khổ, rời xa nhân gian, tôi tự mình đi tu hành, buông bỏ tất cả nỗi khổ của nhân gian.

Tập hợp tất cả các cái khổ lại thì vẫn còn đó! Bệnh khổ không khổ sao? Khổ nhất chính là bệnh đó! A Di Đà Phật! Bạn vào bệnh viện, những quỷ tốt của Diêm Vương cầm dao cưa đầu của bạn, cầm dao cưa bụng của bạn, xem xem bạn bị bệnh ở chỗ nào thì sẽ giúp bạn mổ. Nước Mỹ thích nhất là mổ đó, chỗ nào có bệnh thì mổ ở chỗ đó. Bạn nói xem, đau răng có đau không? Đau chết đi được, điều này bác sĩ nha khoa biết, đau đến chết đi được, sợ chết khiếp. Trước kia chúng ta nhổ răng là dùng sợi dây chỉ buộc vào răng, một đầu buộc vào phía trên cánh cửa, dùng chân đạp vào cánh cửa một cái thì răng cũng bay ra luôn, ngày xưa nhổ răng là như vậy, có khổ không chứ? Khổ mà! Hễ vào viện là bất kì ai cũng bị xâu xé, nhỏ xíu như bệnh cảm, nhiễm lạnh một tí, đau đầu một tí là đã khiến bạn rất không thoải mái rồi, thỉnh thoảng lại đau, đau lưng, đau vai. Bảy mươi tuổi rồi, tôi chưa bao giờ đi soi chiếu bao giờ, bác sĩ bảo tôi "đi soi ruột đi", "đi kiểm tra mắt đi". Tôi bảo: "Mắt tôi có chỗ nào cần phải kiểm tra chứ?"

Tám đại pháp của Diêu Trì Kim Mẫu (có pháp luyện mắt), mắt của tôi có thể chuyển động rất lợi hại đó, chữ rất nhỏ tôi đều có thể nhìn rõ được. Tôi lái xe chưa bao giờ đeo kính, trước nay chẳng hề đeo kính. Có một số người rất khổ sở, có hai cặp kính, một là kính viễn thị, hai là kính loạn thị, viễn thị, loạn thị, cận thị, ba loại kính, bốn loại kính, viễn thị đều có cả, rất khổ sở đó. Có người đi mổ laser, nghe nói sau khi mổ laser, mấy năm sau lại tái phát. Liên Chủ đó! Mắt ông thế nào rồi? Vẫn tốt à? Số ông thế là may đó! Ông ấy đi mổ laser, thật may tất cả đều vẫn tốt. Thật đó! Rất nhiều người thân thể có bệnh, khổ muốn chết. Già, có khổ không? Khổ mà! Bạn nhìn xem những người ở viện dưỡng lão, khá nhất thì là dùng những dụng cụ hỗ trợ cho việc đi lại, tiếp đến những người kém hơn thì phải ngồi xe lăn, tiếp đến người kém hơn nữa thì toàn thân phải cần có người khác phục vụ. Một số người có thể lái xe là rất tốt rồi, người không thể lái xe, phải để người ta lau lau rửa rửa thì còn công dụng gì đây?

Đời người căn bản chính là khổ đó! Sống cũng khổ, già cũng khổ, bệnh cũng khổ, chết cũng khổ. Sự đau đớn lúc sắp chết thì cho dù bạn có quyền uy gì, bạn là quốc vương hay hoàng tộc, hoặc bạn là người gì thì cũng đều phải già, phải chết. Hơn nữa, đến lúc tuổi già, bệnh tật ập đến thân bạn rồi thì bạn sẽ biết khổ sở là thế nào. Rốt cục bạn trẻ được bao lâu? Từ 20 tuổi đến 40 tuổi, là lúc tinh hoa nhất, được bao nhiêu năm? 20 năm, trừ đi 10 năm cho việc ngủ, chỉ còn lại 10 năm, bạn có gì gọi là vui chứ? Vẫn là tu hành tốt hơn mà! Thanh Văn thừa nghĩa là những người đi vào núi sâu tu hành, tu đạo giải thoát, nhận định rằng bản thân mình chẳng có, là Không! Chỉ còn lại một cái tâm, tâm tương tục [ ND: liên tục không gián đoạn]. Tu khổ, tập, tập trung tất cả mọi cái khổ lại, diệt, diệt hoàn toàn các nhân của khổ này, biến thành vô ngã mới có thể giải thoát. Đây chính là Thanh Văn thừa.

Thứ tự thứ hai gọi là Duyên Giác thừa. Thế nào là Duyên Giác thừa? Bạn có 12 nhân duyên, bởi vì tất cả đều là nhân duyên quả báo, trong Phật pháp gọi là 12 loại nhân duyên quả báo "vô minh, hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử", nghĩa là cái này biến thành cái kia, cái kia lại biến thành cái khác, biến đổi tới cuối cùng thì lại quay trở về biến thành cái này, gọi là pháp "thập nhị nhân duyên". Biến tới biến lui, đến cuối cùng, biến thành một sự trống rỗng. Duyên Giác thừa chính là ngẫm nghĩ theo sự biến hóa của thập nhị nhân duyên, nghiền ngẫm mà biết về vô ngã, và còn hiểu được về "vô ngã" và "vô pháp". Pháp là thứ gì, chính là tất cả mọi thứ trên thế gian, những thứ này cũng đều là Không cả. Xe hơi, nhà cửa, bao gồm cả bạn bè tốt, thậm chí là vợ con, người yêu, đều là không hết. Sao lại không là không được chứ? Có một ngày sẽ đều biến thành không hết! Theo pháp nhân duyên thì đều biến thành không, không có một thứ tương tự nào là của bạn, con cái không phải là của bạn, vợ cũng không phải là của bạn, người thân yêu nhất cũng không phải của bạn, xe đắt tiền nhất cũng không phải của bạn, nhà cửa cũng không phải là của bạn, tất cả mọi thứ đều không phải là của bạn, đều sẽ hư hoại, bao gồm chính bản thân bạn cũng sẽ hư hoại.

Vì thế, Duyên Giác thừa cho rằng là vô ngã, vô pháp, pháp ở đây là đại diện cho tất cả mọi thứ của thế gian, chứ không phải là pháp trong Phật pháp. Đây gọi là "ngã pháp đều không" [ ND: ta và mọi thứ đều là không ]. Bạn đã nhận thức được tất cả mọi thứ trên thế gian đều là không, bao gồm cả bản thân cũng không có. Sau đó, bạn theo đó mà đi vào trong núi sâu, y theo pháp thập nhị nhân duyên mà đạt được giải thoát, cái này trong Phật giáo gọi là "Nhị thừa". Giai đoạn thứ nhất gọi là Thanh Văn thừa, giai đoạn thứ hai gọi là Duyên Giác thừa. Chúng ta tu hành thì nên suy nghĩ như vậy, "khổ, tập, diệt, đạo, 12 nhân duyên". Tiếp theo là Bồ Tát thừa, là do Phật Thích Ca Mâu Ni nói. Bồ Tát lấy việc làm lợi cho người khác là chính, chỉ vì người khác, dựa vào phương pháp "lục độ". Lục độ chính là nội dung trước đây Sư Tôn thường giảng, cần bố thí, cần giữ giới, cần tinh tấn, cần nhẫn nhục, cần trí huệ, cần thiền định, dùng những phương pháp này để dạy bảo chúng sinh.

Bồ Tát lấy việc lợi tha làm chủ, dựa vào sự tu hành lục độ, Bồ Tát hoàn toàn là "ngã không", "pháp không", khi đến cảnh giới Bồ Tát thì tâm liên tục dường như cũng không có nữa. Sư Tôn cũng không còn tâm nữa, bởi vì tâm đã bị người ta lấy đi mất rồi. Vì thế, tôi không còn tâm. Đây là Bồ Tát thừa. Tôi giới thiệu đơn giản ngắn gọn mấy thừa này như vậy, bạn cho rằng tu hành rất dễ sao? Ba thừa này rất khó, đều cần tu hành thời gian dài, Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói như vậy.

Có một người chủ nông trại có một con gà chạy rất nhanh, rất nhiều khách du lịch đều tranh nhau đến để xem con gà này rốt cục chạy nhanh tới mức nào. Một hôm có một phú ông đến, trông thấy con gà này, phúc ông vô cùng kích động, định bỏ tiền ra mua. Khi phú ông nói với người chủ nông trại rằng: "Ta sẽ bỏ một trăm nghìn đồng ra mua con gà của anh." thì thấy người chủ nông trại lắc đầu, nét mặt chẳng có chút biểu cảm. "Trăm nghìn đồng ít quá sao? Thế thì, hai trăm? Năm trăm? Một triệu để mua con gà của anh nhé." Mỗi lần phú ông tăng tiền, người chủ trang trại đều lắc đầu không biểu cảm gì cả. Cuối cùng, phú ông không chịu nổi nữa, bèn hỏi: "Ta đã đưa ra nhiều tiền như vậy rồi, vì sao anh không bán cho ta?" Người chủ nông trại trả lợi: "Bởi vì tôi không bắt được nó."

Tôi nói cho bạn biết, Phật Thích Ca Mâu Ni giảng về Thanh Văn thừa, Duyên Giác thừa, Bồ Tát thừa rất đơn giản. "Bạn hãy ngẫm nghĩ về khổ, tập, diệt, đạo thế là giải thoát rồi." "Bạn hãy ngẫm nghĩ về thập nhị nhân duyên, đến cuối cùng là không, thì bạn cũng giải thoát rồi." "Làm một Bồ Tát thì tâm nào cũng không còn nữa, tâm của chính mình cũng không còn, chỉ là luôn giúp đỡ người khác, dùng pháp lục độ vạn hành, luôn luôn giúp người." Đây là tư lương đạo, thu thập tư lương của cõi trời, thì có thể giải thoát đến nơi tốt đẹp hơn, trở thành một vị Bồ Tát, bản thân hoàn toàn không còn nữa.

Thật ra, Thanh Văn cũng là vô ngã đó. Duyên Giác cũng là vô ngã đó! Còn có vô pháp, Bồ Tát cũng là vô ngã, vô pháp đó! Sau đó lại đi làm việc lợi tha, làm những việc của tư lương đạo. Duyên Giác và Thanh Văn thì tương đối ít làm những việc của Bồ Tát thừa, chỉ là khiến cho bản thân được giải thoát xong là thôi. Vì thế, họ đều đi vào núi sâu tu hành. Còn Bồ Tát tại thế gian thì luôn giúp đỡ người khác, dùng pháp để giúp đỡ người khác, dùng tiền để bố thí giúp đỡ người khác, hơn nữa còn làm liên tục không ngừng, luôn luôn làm tư lương đạo. Đó là phương pháp của Bồ Tát, tuy nhiên cũng đều không phải là rất dễ dàng đâu. Cũng giống như con gà kia chạy rất nhanh, muốn mua được nó cũng rất khó, bởi vì bạn chẳng đuổi kịp được nó. Tu hành không dễ đâu! Phật Thích Ca Mâu Ni mới chỉ có giảng về ba loại Thanh Văn thừa, Duyên Giác thừa, Bồ Tát thừa mà bạn đã khó làm được rồi, rất khó để theo kịp rồi.

Có những người rất ki bo kẹt sỉ, bo bo giữ tiền để làm cái gì? Đương nhiên cũng có lợi, chuẩn bị cho tương lai già rồi thì vẫn có tiền để tiêu, nhưng mà tiêu không hết, tiêu không hết thì hãy để làm phúc cho người khác. Còn con trai, con gái, cháu trai, cháu gái, chúng đều cần tiêu tiền của bạn, như chúng ta hiện nay đều đã đang tiêu tiền của con mình, tiêu hết sạch tiền của chúng rồi. Của mình cũng là của chúng, tiền của mình cũng là tiền của chúng sinh, sau này cũng chẳng biết tiền sẽ đi về đâu nữa. Bạn bo bo giữ chặt tiền, đến cuối cùng, con cái bạn cũng tiêu hết sạch, cháu trai cháu gái cũng tiêu hết sạch. Ông nội tôi giữ tiền chặt muốn chết, nhưng sáu bà vợ cũng tiêu hết sạch tiền của ông. Lúc ông chết thì mỗi bà vợ cũng mang theo một hòm vàng bạc châu báu, giống như chiếc hòm kho báu ở Đảo Hải Tặc vậy, còn đem theo rất nhiều tiền bạc bỏ đi nữa, bố tôi liền trở thành kẻ nghèo xác xơ. Bởi vì của cải đã bị các bà mẹ lấy đi hết rồi. Nghe nói bà nội tôi, bà là người vợ thứ ba, lúc ông nội tôi qua đời, bà cũng cầm hòm tiền dọn đi, bỏ đi đến nhà bạn trai. Ông nội thì không tiêu tiền, còn bà nội thì đem theo hòm tiền đó dọn tới nhà bạn trai, bạn trai tiêu hết sạch tiền rồi thì bà lại một mình quay trở về, trở về nhà bố mẹ tôi nói: "Anh nuôi tôi đi!" Bạn xem, ai có số may thì người ấy tiêu. Bạn cho rằng đó là tiền của bạn sao? Ông nội tôi cho rằng có sáu hòm giống như đảo kho báu, cũng từng hòm từng hòm châu báu giống như vậy, nhưng rồi ai tiêu? Sáu bà vợ đều lấy đi hết, mỗi người lại còn tái giá với người khác nữa. Bố tôi lại chẳng kiếm ra tiền. Khi tôi kết hôn, chiếc nhẫn một carat vẫn là dùng tiền lương của tôi để mua, chỉ hơi to một chút thôi, là một carat nhỉ? À 0,2 carat! Có viên nhỏ như vậy sao? Thảm quá! Tôi thật sự chẳng có tiền để cưới vợ, tôi tiết kiệm được hơn bốn vạn Đài Tệ để kết hôn, đến lúc cưới xong thì tiền cũng không còn. Cái gì là của bạn đây? Chẳng có thứ gì là của bạn cả, chẳng có đâu. Rất nhiều người cho rằng vợ là của ta, chồng là của ta, NO! Bạn cho rằng người yêu là của bạn, NO! No way! Để cho bạn trân trọng tạm thời thì được thôi.

Rất khó theo đuổi một món đồ, tu hành càng khó hơn! Bạn vào núi sâu tu hành cả đời, thật ra, công phu của bạn cũng không có được bao nhiêu. Vì thế, ba thừa mà Phật Thích Ca Mâu Ni nói cũng giống như con gà chạy nhanh kia, muốn bắt nó cũng rất khó, muốn có được nó là rất khó, bạn cũng chẳng có được, bởi vì bạn chẳng có cách nào bỏ đi cái tôi, cũng chẳng thể nào bỏ  hết nào là pháp, nhà cửa, xe cộ, vàng bạc tài bảo, và còn cả người mà bạn yêu nhất nữa, còn nói chuyện tu hành cái gì chứ?

Thanh Văn thừa, Duyên Giác thừa, Bồ Tát thừa đều nói xong rồi. Mọi người nghe rồi là được, dù sao mọi người cũng không có nắm được, đương nhiên cũng có người nắm được, nếu bạn tu hành vô cùng nghiêm túc thì có thể xem bản thân mình thành không, buông bỏ hết tất cả mọi thứ, như thế thì cũng rất gần rồi. Chỉ là bạn không thể buông bỏ hết được, bạn không thể bỏ hết, buông bỏ không được, bản thân bạn không có cách nào biến mình thành không được, những thứ bên ngoài không thể coi như không có được, thế thì bạn không thể giải thoát được bản thân.

Tôi lại giảng tiếp về Mật tam thừa vậy! Mật giáo ban đầu có "Sự mật", lúc mới bắt đầu là "Sự mật". Thế nào là "Sự mật"? Điều tôi nói đến là "Pháp sự mật", Bổn tôn là Bổn tôn, bạn cần lễ bái Bổn tôn giống như người hầu, sau đó là cúng dường Bổn tôn. Bổn tôn là chủ nhân của bạn, bạn là người hầu, Mật pháp như vậy gọi là pháp "Sự mật". Tôi phân biệt một cách đơn giản cho mọi người thấy thế nào gọi là "Sự mật". Đó là mọi loại phương pháp phục vụ Bổn tôn của bạn. Bạn muốn thỉnh Bổn tôn đến, ví dụ như muốn thỉnh Chuẩn Đề Phật Mẫu, đầu tiên bạn phải niệm kinh chú của Chuẩn Đề Phật Mẫu, niệm bảy ngày bảy đêm, đốt đèn để cúng dường, lấy hoa, hương, đèn, trà, quả để cúng dường, cuối cùng Bổn tôn sẽ hạ giáng.

Lúc này Bổn tôn sẽ gia trì cho bạn, bạn giữ giới luật của Bổn tôn, bạn tu trì pháp của Bổn tôn, đây gọi là "Sự mật". Cơ sở đầu tiên của Mật giáo đó là Bổn tôn là chủ nhân của bạn, bạn là người hầu, mỗi ngày bạn đều phải cúng dường Bổn tôn, lễ lạy Bổn tôn, cần sám hối với Bổn tôn, bạn làm sai việc gì, phạm vào giới luật gì, bạn đều phải sám hối với Bổn tôn, cách thức mở đầu chính là như vậy. Bổn tôn là chủ nhân của bạn, bạn là người hầu, cách tu hành Mật giáo như vậy gọi là "Sự mật", có thể giúp thanh tịnh sắc thân của bạn. Thân thể của bạn giữ giới luật, khẩu giữ giới luật, ý niệm giữ giới luật, đó là điều quan trọng nhất. Khi thỉnh cầu Bổn tôn gia trì, bạn phải làm đủ các nghi quỹ, để Bổn tôn gia trì cho bạn, đây là phương pháp số một.

Thứ hai là tiến thêm một bước nữa, gọi là "Hành mật". Đây là nấc thang thứ năm (thứ tự). Thế nào là "Hành mật"? Nghĩa là Bổn tôn và bạn đã có thể "đối sinh" rồi. Cái mà hiện tại chúng ta đang tu chính là "Hành mật". Thế "Hành mật" là gì? Chính là Bổn tôn xuất hiện trên biển, tại hoa sen, tại nhật nguyệt luân, từ chú tự xoay vòng, Bổn tôn xuất hiện rồi, bạn không cần phải  niệm kinh rất lâu nữa, bạn chỉ cần trì chú của Ngài là được rồi, hoặc là quán tưởng Ngài là được rồi, hoặc kết thủ ấn của Ngài là được rồi. Làm như vậy thì Ngài sẽ đến để gia trì cho bạn, khiến thân khẩu ý của bạn thanh tịnh, đây gọi là làm "đối sinh". Bổn tôn là Bổn tôn, bạn là bạn, nhưng một cách nhanh chóng, Bổn tôn liền xuất hiện, đây gọi là "đối sinh".

Đương nhiên cũng cần cúng dường Ngài, bái lạy Ngài, thỉnh cầu Ngài gia trì, để khiến cho thân khẩu ý của bản thân bạn được thanh tịnh, đây gọi là "Hành mật". "Sự mật" nói về phương pháp phụng sự Bổn tôn, bạn là người hầu. Đến "Hành mật" thì Bổn tôn chính là bạn bè của bạn, mối quan hệ giữa bản thân bạn và bạn bè. "Tôi mời … [祂-也+nhi-nhân] đến nhà tôi, tôi dâng trà cho bạn, mời bạn gia trì cho tôi, chỉ đạo cho tôi về Phật pháp." Lúc này gọi là "Hành mật", có nghĩa là Bổn tôn có thể đối diện với bạn, tác dụng của "đối sinh" cũng là thanh tịnh thân khẩu ý của bạn.

"Du già mật" chính là bậc thứ sáu. Tôi tóm gọn một cách đơn giản, mật thứ nhất, Bổn tôn là chủ nhân của bạn; mật thứ hai, Bổn tôn là bạn, friend của bạn; mật thứ ba "Du già mật" thì Bổn tôn chính là bạn rồi, như thế là tương ứng rồi. "Du già mật" chính là tương ứng, bạn và Bổn tôn đã rất gần rồi, Bổn tôn dung nhập vào bên trong thân thể của bạn, lời bạn nói ra là lời của Bổn tôn, âm thanh bạn nghe thấy chính là âm thanh của Bổn tôn, thân thể bạn chính là Bổn tôn, đây chính là giai đoạn thứ sáu.

Mật tam thừa có ba giai đoạn: Sự mật, Hành mật, Du già mật, là do Kim Cang Tát Đỏa giảng, cũng có thể nói rằng do Kim Cang Thủ Bồ Tát giảng, nói như vậy là rất rõ ràng rồi nhỉ! Mật giáo cao nhất, chúng ta còn chưa nói đến Ma ha du già, A nỗ du già, A để du già, bởi vì pháp Đại Viên Mãn đặc biệt nói về A để du già, còn chúng ta chỉ mới nói đến Mật tam thừa thôi. Mật thứ nhất, Bổn tôn là chủ nhân của bạn, mật thứ hai - Hành mật - Bổn tôn là bạn của bạn, mật thứ ba gọi là Du già mật, Du già mật thì gọi là tương ứng. Khi đã tương ứng cùng Bổn tôn thì Bổn tôn chính là bạn, bạn chính là Bổn tôn.

Ở Đài Loan, có một lần tôi ho rất dữ dội, không có cách nào ngừng ho. Kì lạ! Lên pháp tọa thì không ho, xuống khỏi pháp tọa thì lại ho. Vì thế, rất ít người biết tôi đang bị ho, tôi ho rất dữ dội. Thế nhưng hễ lên pháp tọa, bắt đầu giảng pháp thì lại không ho nữa. Cổ họng tôi ngứa thì ấn vào một chút là cũng không ho nữa. Khi một người bị ho thì rất khó mà bảo họ không ho nữa là có thể không ho, nếu mà thế thì bạn đã là bác sĩ rồi! Chuyên trị ho! Trong Du già mật, tôi đã tu đến mức độ tương ứng rồi, Bổn tôn chính là tôi, tôi chính là Bổn tôn đó! Mỗi lần khi tôi sờ đầu cho mọi người, tôi chắp tay lại, sau đó Bổn tôn liền hạ giáng xuống thân tôi, tay của tôi chính là tay của Diêu Trì Kim Mẫu, khi sờ đầu thì chính là tay của Diêu Trì Kim Mẫu đang sờ đầu mọi người đó, có nghĩa là Bổn tôn của tôi đang sờ đầu mọi người. Đó là Du già mật.

Bạn có thể khiến cho Bổn tôn của bạn dung nhập vào bên trong thân thể của bạn, hợp nhất cùng với bạn, thì đó gọi là Du già mật. Vì thế, khi tôi bị ho, chữa không khỏi, tôi đã khám nhiều bác sĩ rồi đều chữa không khỏi, phải làm sao đây? Có một hôm, tôi đột nhiên nhớ đến Du già mật, tôi liền nói với Diêu Trì Kim Mẫu: "Diêu Trì Kim Mẫu à! Ngài chính là con, con chính là Ngài, Ngài có thích bị ho không? Con đang bị ho đây! Lẽ nào Ngài không ho sao? Ngài cũng phải ho chứ? Nếu như Ngài không thích ho thì hãy để con khỏi ho đi!" Ngày hôm sau tôi khỏi luôn rồi! Nói chuyện với Kim Mẫu như thế là khỏi rồi!

Còn có một lần, cũng là khi tôi ở Đài Loan, tôi gặp một chứng bệnh viêm da cơ địa, rất nặng! Tôi cũng nói với Diêu Trì Kim Mẫu: "Diêu Trì Kim Mẫu, con đã đi khám hết các bác sĩ rồi, thuốc gì cũng bôi hết rồi, thuốc gì cũng uống cả rồi, Ngài là con, con là Ngài mà! Ngài không giúp con thì còn giúp ai đây? Con uống một chén nước cúng dường Ngài, đây chính là thuốc, ngày mai sẽ phải khỏi đó." Đúng thật! Ngày hôm sau tôi đã khỏi rồi. Cô Honifa phiên dịch viên có biết sự việc này. Cô ấy nói: "Ấy! Thật à!" Thật sự là ngày hôm sau tôi đã khỏi hoàn toàn, Sư Mẫu cũng biết chuyện này, chứng viêm da cơ địa kì lạ đó! Các loại thuốc tôi đều đã uống rồi, thuốc tiêm cũng tiêm rồi, các loại thuốc bôi cũng đều bôi rồi, chẳng có cái nào khỏi cả, uống chén nước của Diêu Trì Kim Mẫu thì khỏi luôn.

Trong lớp của thiền sư Dược Sơn có hai đệ tử, một người tên là Đạo Ngộ, một người tên là Vân Nghiêm. Một hôm, mọi người đang ngồi ở ngoại ô tham thiền, trông thấy bên đường có một cái cây mọc rất sum sê, lá xanh um tùm, còn một cái cây khác thì lại chết khô. Thiền sư Dược Sơn liền thử kiểm tra công hành của hai đệ tử, đầu tiên hỏi Đạo Ngộ: "Cây sum sê tốt, hay cây chết khô tốt?" Đạo Ngộ liền trả lời: "Cây sum sê tốt." Câu trả lời này không có đạo hạnh gì cả. Hỏi Vân Nghiêm, Vân Nghiêm nói: "Cây khô tốt." Câu trả lời này cũng chẳng có đạo hạnh gì cả. Lúc này vừa hay có một sa-di tới, thiền sư Dược Sơn bèn hỏi anh ta: "Là cây sum sê tốt, hay cây chết khô tốt?" Sa-di liền nói: "Sum sê thì kệ nó sum sê, chết khô thì kệ nó chết khô." Đây là cảnh giới cao nhất của tâm, chỉ có hai chữ "bất động", tâm của bạn mà động thì là chết rồi.

"Có tiền tốt, hay là không có tiền tốt?" Mọi người đều nói: "Có tiền tốt." Người tu hành chân chính thì là như thế này, "có tiền cũng tốt, không tiền cũng tốt, tiền nhiều cũng tốt, tiền ít cũng tốt, không tiền cũng tốt". Đây mới là hành giả chân chính. Sư Tôn bảo mọi người, mọi người báo danh đèn quang minh, báo danh Thái Tuế, hoặc cái gì đó, làm siêu độ, làm cầu phúc, phí báo danh tùy ý, nghĩa là ý gì? Nghĩa là nhiều cũng tốt, ít cũng tốt, không có cũng tốt, chính là bất động đó! Bạn không bị ảnh hưởng. Trên thực tế, trên thế giới này, tâm của mỗi người đều chịu ảnh hưởng, hôm nay người ta chửi bạn một câu, bạn liền nghĩ tận ba ngày xem cần chửi trả người ta thế nào.

Ví dụ như một cô gái xinh đẹp đi trên đường, một chàng trai từ phía sau đi tới, khoác lấy vai cô. Cô gái xinh đẹp này liền nói buổi tối cô ấy sẽ không ngủ được mất, bởi vì chàng trai kia đã ăn mất "đậu phụ" của cô ấy rồi, trái tim đã xúc động lắm rồi! Trái tim của mỗi người đều kích động rồi thì ai đó nói một câu rất khó nghe, bạn nghe thấy thì: "Ai da! Tôi chịu không nổi nữa.", thế là buổi tối liền mất ngủ. Sư Tôn cũng từng mất ngủ, vì sao lại mất ngủ? Vì trái tim rung động đó mà! Còn một điểm khác, là bạn tuổi tác đã cao rồi, chất melatonin không còn nữa, về mặt sinh lý, con người đi ngủ, mắt nhắm lại, chất melatonin cứ thế sản sinh ra, chính là hormone, khiến bạn đi vào trạng thái ngủ. Nếu như bạn không có chất melatonin, tuổi tác đã cao, hormone giảm bớt, thì sẽ mất ngủ, là do chất melatonin không còn nữa.

Về mặt tâm lý, bạn có chuyện phiền não, nghĩ không thông, thì tối đó bạn cũng sẽ không ngủ được. Bạn không có chuyện gì, vô sự vô tâm, thì chỉ một lúc là đi vào giấc mộng rồi. Bạn cũng không biết lúc nào mình ngủ nữa, dường như lên giường là ngủ luôn rồi. Ngủ ra sao? Bạn cũng không nói ra được, dù sao thì cũng ngủ mất rồi. Người không ngủ được thì cứ nằm bên cạnh quay qua quay lại, bởi vì có điều phiền não mà! Về mặt tâm lý có phiền não, về mặt sinh lý thì chất melatonin đã ít đi một nửa, thì bạn sẽ mất ngủ. Chính là vì bạn "bất không". Vốn dĩ chính là như vậy. Một cái là sinh lý, một cái là tâm lý. Nếu bạn thật sự bất động, ngã không, pháp không, thì ba thừa đầu tiên cũng gần như đủ tốt rồi.

Sự mật, Hành mật, Du già mật, Sư Tôn cũng đã giải thích rất rõ ràng rồi. Mặc dù nói đơn giản và ngắn gọn thì cũng đã nói cho mọi người rõ ràng rồi. Lần sau tôi sẽ giảng tiếp về ba thừa sau cùng là Ma ha du già, A nỗ du già, A để du già. Om mani padme hum.

**(Hết tập 1)**

---

---
# File: kinh-luat-luan/dai-vien-man-cuu-thu-de-tap-2.md
# Title: Đại Viên Mãn cửu thứ đệ - Tập 2
---

## Giảng luận Đại Viên Mãn cửu thứ đệ - Tập 2


(Liên Sinh Hoạt Phật giảng Đại Viên Mãn cửu thứ đệ)

Văn tập số: N/A
Xuất bản năm: N/A
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên tập và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Bài giảng số 11


**Ma ha du già - Bản thân là Bổn tôn, phu nhân là Phật Mẫu, con cái là quyến thuộc của Phật Bồ Tát**

*(Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" trong buổi đồng tu pháp Bổn tôn Liên Hoa Sinh Đại Sĩ tại Seattle Lôi Tạng Tự, Hoa Kì, vào ngày 20 tháng 7 năm 2013.)*

Hôm nay chúng ta giảng pháp Đại Viên Mãn, Thượng sư Liên Lai lại hỏi rất nhiều câu hỏi, ông ấy nói Sư Tôn nói rằng "Sự bộ", "Hành bộ", "Du già bộ" mà Kim Cang Tát Đỏa giảng, cái gọi là "Sự bộ" nghĩa là coi Bổn tôn là chủ nhân, chúng ta là người hầu, sau đó thì phục vụ Ngài, đây gọi là "Sự bộ"; cái gọi là "Hành bộ" thì gần hơn một chút, nghĩa là biến thành bạn bè của mình, nghĩa là Bổn tôn là bạn của mình, giống như mình, "đối sinh" xuất hiện, nghĩa là đối diện, chính diện trong hư không, đó là "Hành bộ"; "Du già bộ" thì là dung nhập, Bổn tôn đi vào bên trong bản thân, bản thân đi vào bên trong Bổn tôn, dung hợp thành một với Bổn tôn như vậy, có hiện tượng tương ứng, đây gọi là "Du già bộ".

Lần trước tôi đã giảng như vậy. Thượng sư Liên Lai lại nói: "Nếu xét trong việc tu pháp thì còn có sự phân biệt gì nữa?" Cái này mà nói ra thì rất dài, đây là câu hỏi của Thượng sư Liên Lai. Thật ra cái gọi là "Sự bộ" đều hoàn toàn dựa theo những quy tắc quy chuẩn. "Sự bộ" của chúng ta tôi cũng đã giải thích rồi, muốn thỉnh cầu Bổn tôn quán đảnh thì trước tiên cần làm cúng dường mandala, có nghĩa là lập đàn thành. Ở vùng Tây Tạng, họ dùng nhiều loại cát màu sắc để cúng mandala cát, rất trang nghiêm, hơn nữa còn cần kéo sợi dây để làm viền trong tròn ngoài vuông, ở bên trong là hình tròn, bên ngoài là hình vuông, làm thành mandala cung điện của Bổn tôn, giống như một pháp đài vậy, giống như một cung điện có bốn cổng, dùng sợi chỉ để căng ra, sau đó lại dùng loại cát đặc biệt để chế tạo, làm ra một mandala hoàn chỉnh. Có rất nhiều Lama cùng tham gia làm mandala. Sau khi làm xong còn phải tụng kinh, thỉnh Bổn tôn xuống.

Tôi lấy một so sánh, giả dụ là "Sự bộ", muốn thỉnh Bát Nhã Phật Mẫu thì bạn phải niệm kinh Đại Bát Nhã, kinh Đại Bát Nhã rất dài, có rất nhiều bộ, cần niệm bảy ngày bảy đêm, đây là điều cơ bản nhất. Nếu không thì phải niệm kinh Đại Bát Nhã 49 ngày, niệm xong kinh Đại Bát Nhã thì lại dùng nghi thức trang nghiêm để triệu thỉnh, còn phải dùng "đa mã" (cúng phẩm đồ ăn) để cúng dường cho Ngài, làm phương pháp triệu thỉnh để Bổn tôn hạ xuống mandala. Muốn làm một quán đảnh cần tiến hành như vậy, cần niệm kinh bảy ngày bảy đêm, lại còn phải làm mandala cát, làm mandala cát cũng cần mấy ngày, muốn làm một quán đảnh thì mất thời gian tới nửa tháng hoặc một tháng, kinh Đại Bát Nhã chính là "Sự bộ".

Đến "Hành bộ" thì đơn giản hơn rồi, bởi vì kết tinh của bản thân kinh Đại Bát Nhã chính là kinh Kim Cang, tất cả bát nhã kết tinh lại thành kinh Kim Cang, kinh Kim Cang thuộc về "Hành bộ". Khi làm "Hành bộ", bạn niệm kinh Kim Cang, niệm bảy bộ, một buổi tối là niệm xong rồi. Một buổi tối niệm bảy bộ kinh Kim Cang là rất đơn giản, ngày hôm sau có thể quán đảnh rồi. Hơn nữa, bố trí đàn thành không cần phải phức tạp như trên, chỉ cần Bát Nhã Phật Mẫu ngồi ở chính giữa, sau đó các quyến thuộc của Bát Nhã Phật Mẫu ngồi ở xung quanh, không cần mandala cát, như thế này gọi là làm "Hành bộ", niệm kinh cũng ngắn. Còn đàn thành thì sao? Thậm chí ở chính giữa có thể dùng một nắm đất để tượng trưng cho Bát Nhã Phật Mẫu, bên cạnh đặt vài nắm cát tượng trưng cho quyến thuộc của Ngài, như thế cũng được xem là một đàn thành rồi. Đó chính là pháp "Hành bộ", niệm kinh Kim Cang là được rồi.

Còn đối với "Du già bộ", thân thể của chính bạn là đàn thành, bởi vì bạn đã hợp nhất cùng với Bát Nhã Phật Mẫu rồi, chỉ cần Bát Nhã Phật Mẫu hạ giáng, dung nhập vào với thân thể của bạn, thì đây chính là "Du già bộ" rồi. Ngài lập tức có thể quán đảnh cho bạn. Một lát nữa đây, Sư Tôn cần quán đảnh cho mấy người, ngay khi các vị từ trong hư không hạ giáng xuống, tiến vào bên trong trung mạch của Sư Tôn, xếp thành một hàng, đôi khi, thậm chí có hàng trăm vị đều hạ giáng đến bên trong thân thể tôi.

Trước đây ở Cao Hùng, khu vực Đào Nguyên có ba cây cầu được đặt tên theo tên của Sư Tôn, gọi là Cầu Liên Sinh số 1, Cầu Liên Sinh số hai, Cầu Liên Sinh số 3. Chúng là cầu nối giữa người dân tộc và thế giới bên ngoài. Khi khánh thành cầu, lúc tôi đang cắt băng khánh thành khai quang cho cây cầu, ngay tại đó còn có cúng tế, có chuẩn bị rất nhiều cúng phẩm để thỉnh cầu chư Tôn giáng lâm. Lúc cầu thỉnh, rất nhiều Sơn Thần, Thổ Địa ở bốn xung quanh khu vực Đào Nguyên đều đến, giáng xuống bên trong trung mạch của tôi, toàn bộ đều giáng xuống bên trong thân thể tôi.

Ngày hôm đó, khi các vị giáng xuống, tôi đặc biệt triệu thỉnh, cũng lắc trống, lắc chuông. Khi vừa lắc chuông lắc trống thì có năm vị giáng xuống, từ bên trong trung mạch đi xuống. Nếu mọi người chú ý thì sẽ thấy khi các vị giáng xuống sẽ hơi có cảm giác, bản thân tôi đã có cảm giác. Các vị đi vào trung mạch, dung nhập vào trong thân của Căn bản Thượng sư thì có thể biết được các vị cùng giáng xuống, đây gọi là "Du già bộ". Khi ấy nếu có làm quán đảnh cũng đều được, bởi vì thân thể của tôi chính là đàn thành của chư Tôn rồi.

Thế còn phải niệm cái gì đây? Niệm chú là được rồi. Niệm chú gì đây? Bạn có thể niệm tâm chú của Bát Nhã Phật Mẫu: "Om gati gati paluagati paluasanggati bodhi soha." "Om gati gati palua gati palua sanggati bodhi soha." Bạn hãy niệm chú này, Bát Nhã Phật Mẫu sẽ giáng xuống thân bạn, thế là bạn có thể quán đảnh Bát Nhã Phật Mẫu, đây chính là "Du già bộ".

Tôi nói như vậy mọi người cũng khá rõ ràng rồi. Cái gọi là "Sự bộ" thì làm tương đối phức tạp, "Hành bộ" thì xấp xỉ ở giữa, đơn giản nhất chính là "Du già bộ", bởi vì thân thể chính là đàn thành, căn bản là bạn không cần làm đàn thành, bởi vì thân thể của hành giả đã chính là đàn thành rồi, các vị đều có thể xuống. "Sự bộ" cần làm đàn thành, giống như mandala cát. "Hành bộ" chỉ cần làm đàn thành đơn giản là chủ tôn cũng có thể xuống rồi. "Du già bộ" thì thân thể chính mình đã là đàn thành rồi, chủ tôn có thể hợp nhất, dung nhập với bạn, như vậy là có thể làm quán đảnh rồi.

Vì vậy, đợi một lát nữa khi tôi làm quán đảnh, ai muốn quy y có thể làm quán đảnh quy y. Nếu không thì mọi người lấy một tờ giấy ghi ra, Sư Tôn lập tức triệu thỉnh, sẽ quán đảnh vị mà bạn muốn quán đảnh. Thật ra, cũng không cần triệu thỉnh, bởi vì Ngài đã ở trên người tôi rồi. Có một số người hôm nay có báo danh xin quán đảnh. Tuy nhiên, tôi nói với mọi người một chuyện, ví dụ như Kim Cang Thần, có một số vị không thể quán đảnh được, những vị đó cần phải tu pháp trước thì mới có thể quán đảnh được. Tốt nhất là bây giờ tu vị nào thì tu cho xong, rồi làm quán đảnh của vị đó, như thế là tốt nhất, đây là cách tương đối thuận tiện.

Bạn không thể tùy tiện viết ra một cái tên, viết ra tên vị Bổn tôn mà bạn muốn quán đảnh, có người nào đã nói với Sư Tôn là muốn quán đảnh gì đó, đợi lát nữa cùng ra quán đảnh. Bằng không thì ai muốn làm quán đảnh, nhất định phải cúng dường "đa mã", điều này rất quan trọng. Thế "đa mã" là cái gì? Tiếng Tạng nghĩa là đồ ăn, là những thứ có thể ăn được, nghĩa là bạn cần đem những thứ này cúng dường cho Bổn tôn mà bạn muốn quán đảnh. Không thể làm lộn xộn! Ví dụ ở bên kia bạn muốn quán đảnh vị đó, những đồ ăn thuộc về vị đó thì vị khác đến cũng không thể ăn được. Bởi vì bạn muốn quán đảnh vị đó nên đồ ăn của bạn là đặc biệt dâng cho vị đó thôi, phải như vậy mới được.

Nếu như hôm nay mọi người không mua đồ ăn thì không thể tùy tiện ra xin quán đảnh, vì như vậy thì không làm được. Quán đảnh nhất định phải có cúng phẩm, có rượu không, có thịt không? Có không? Ai đã mua rượu rồi? Có hai người mua rượu rồi. Vậy những thứ vừa nãy tôi trông thấy là đúng rồi. Ngoài ra, có ai mua thịt rồi? Anh cũng mua thịt rồi à, ok, vừa nãy tôi thấy có rượu, có thịt. Nói chung thì tôi muốn làm quán đảnh, tôi sẽ quán tưởng đồ ăn giống như mây vậy, trong hư không tràn ngập mây, như vậy mới có thể làm quán đảnh. Sau này muốn làm quán đảnh, cần nói trước với Sư Tôn xem bạn muốn làm quán đảnh gì, nếu tôi có thời gian, tôi sẽ đến Mật Uyển giúp bạn quán đảnh, tốt nhất là khi đồng tu thì sẽ quán đảnh giúp bạn, như vậy thì rất tốt. Lúc đồng tu làm quán đảnh, bởi vì có các vị giáng xuống. Hôm nay mặc dù Bổn tôn Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đang ở đây, nhưng còn có các các vị khác cũng đã tiến nhập vào bên trong thân thể của Sư Tôn rồi, vì thế có thể giúp quán đảnh cho mọi người.

Các pháp được nói đến trong Mật giáo là rất bí mật, rất secret, làm pháp cũng rất bí mật. Trước kia, ví dụ như triều Thanh, chỉ có thể ở trong cung đình mới có Mật pháp, cũng mới có thể tu Mật pháp, các gia đình bình thường không có tu Mật pháp. Bây giờ là do Mật pháp phổ truyền, càng ngày càng công khai, nên mới có nhiều Mật pháp được nói giảng ra ngoài. Ở đây tôi có một câu chuyện cười. Có một chàng trai định trêu bạn gái của anh ta, là anh ta bất chợt nổi hứng nghĩ ra, anh ta gửi đến bạn gái một tin nhắn nặc danh rằng: "Này người đẹp, buổi tối có rảnh không?" Bạn gái của anh ta không biết là ai gửi, liền hỏi: "Anh là…?" Anh ta nói đùa rằng: "Anh là khách hàng yêu thích của em." Bạn gái liền nói: "Tôi đã không làm nghề này rất lâu rồi." Bạn trai của cô đọc thấy, thôi xong! Đây cũng là một bí mật đó.

Thật ra rất nhiều người đều có bí mật. Trước kia tôi cũng từng kể một câu chuyện cười khác nói về bí mật. Có một hôm Tiểu Minh biết được bí mật của bố, cậu bé liền nói với bố: "Bố ơi, con biết bí mật của bố rồi." Bố cậu liền lo lắng nói: "Bố cho con một trăm đồng, con đừng có nói chuyện này ra." Tiểu Minh nói: "Ô! Vâng ạ." Cậu bé cầm một trăm đồng và không nói gì hết. Cậu đột nhiên cảm thấy nói như thế rất có tác dụng, cậu bèn đi nói với mẹ: "Mẹ ơi, con biết bí mật của mẹ rồi." Mẹ cậu rất căng thẳng nói: "Mẹ cho con năm trăm đồng, con tuyệt đối không được nói ra." Tiểu Minh nghĩ: "Chỉ cần nói với người lớn về bí mật thì đều có lợi, ai cũng cho mình tiền." Ngày hôm đó người đưa thư tới, Tiểu Minh nói với người đưa thư: "Chú đưa thư, cháu biết bí mật của chú rồi." Người đưa thư rơi nước mắt nói: "Cuối cùng hôm nay con đã biết chú là bố của con rồi."

Bí mật thì không thể nói ra. Bản thân Mật pháp cũng là một dạng bí mật, vốn dĩ là không thể nói, bây giờ thì đã biến thành có thể nói rồi. Theo luật quốc gia, bạn không thể nói về chuyện riêng tư của mọi người, bạn không thể công bố chuyện bí mật riêng tư của người khác, hoặc không thể công bố thư tình của người ta. Nguyên nhân vì sao Sư Tôn không viết thư tình chính là vì khi tôi học tiểu học, tôi đã viết một bức thư tình gửi cho bạn gái của tôi, không ngờ đến ngày hôm sau, cô bạn đột ngột dán lên bảng thông báo. Tôi nghĩ: "Bạn học sao lại cùng tụ tập ở chỗ bảng thông báo xem cái gì vậy nhỉ?" Tôi chạy lại xem, ối! Mặt tôi xanh lét, xém tí nữa thì ngất xỉu, không ngờ thư tình của tôi lại bị dán lên bảng thông báo! Khi ấy trong lòng tôi nghĩ: "Từ hôm nay trở đi, mình sẽ không viết thư tình nữa." Tôi đã thề không viết thư tình, phải hành động thực tế. Về sau, tôi thật sự không viết thư tình nữa, tôi chẳng gửi thư tình cho ai cả, một chữ cũng không.

Vì thế mà hôm nay tôi vẫn còn có thể ngồi yên ổn trên pháp tọa này. Nếu như có thư tình thì tôi sẽ thảm lắm, người ta viết thư tình cho tôi, tôi tuyệt đối không trả lời. Tôi nói cho bạn biết nhé, đừng cho rằng bạn viết thư tình cho tôi thì tôi sẽ trả lời lại thư tình của bạn, không đâu! Thế nhưng, bạn viết thư tình cho tôi, tôi sẽ ghi nhớ, tôi sẽ giúp bạn cất giữ chúng cẩn thận, "Đây là thư tình của ai?", "Đây là thư tình của người nào?", tôi sẽ cất giữ cẩn thận. Thế nhưng tôi sẽ không trả lời thư tình của bạn đâu. Bởi vì, nếu như tôi trả lời thư bạn, bạn đem công bố lên mạng thì toàn thế giới lập tức biết được. Vì thế, Sư Tôn không tùy tiện viết các thứ, đây cũng là bí mật đó! Bản thân Mật giáo là một bí mật, hôm nay mọi người có thể nghe được pháp Mật giáo là vô cùng khó có được.

Chúng ta lại tiến thêm một bước nữa nói về "Ma ha du già" của pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", chính là "Đại du già", so với "Du già bộ" thì tiến hơn một bước.

"Ma ha du già" chủ yếu nhất chính là đã xem bản thân mình là Bổn tôn rồi, giống như là nhà của bạn đều biến thành cung điện rồi. Đại du già là như vậy, người bên cạnh bạn, ví dụ như phu nhân của bạn, sẽ là Phật Mẫu của bạn, con cái của bạn, con trai thì trở thành quyến thuộc của Phật, con gái thì trở thành quyến thuộc của Bồ Tát. Tương tự, trong gia đình bạn, tất cả mọi người, bạn thân của bạn cũng xem như là quyến thuộc. Bên trong cảnh giới Đại du già, tất cả sông hồ đại địa đều trở thành tịnh thổ, bản thân bạn thì tương đương là một vị Bổn tôn, tiến thêm một bước cao hơn thì bạn chính là Bổn tôn rồi.

Đại du già là "chính bản thân bạn là Bổn tôn", không chỉ là tương ứng thôi đâu, bởi vì bạn đã hóa thành Bổn tôn rồi, phu nhân của bạn chính là Phật Mẫu, phu nhân thứ hai second wife của bạn chính là phi tử của bạn. Tất cả con cái của bạn đều là quyến thuộc của Phật Bồ Tát là bạn. Không khác gì Phật Bồ Tát, bạn bè của bạn cũng thế, tất cả mọi người đều trở thành giống như Phật Bồ Tát, tất cả nhà cửa đều trở thành cung điện, tất cả núi sông đại địa đều trở thành tịnh thổ, chẳng khác gì Phật quốc.

Bạn chính là Bổn tôn, tất cả đều biến thành một cuộc sống như Phật quốc mà không có sự khác biệt nào, chính là một cuộc sống phương tiện của Đại du già. Đại du già --- Ma ha du già, có ý nghĩa như vậy. Đó là một pháp phương tiện, trong Đại du già, có rất nhiều pháp phương tiện. Ở trong tịnh thổ, bạn đã hưởng thụ cái gọi là khoái lạc và mọi quang minh, sau đó lại xem những thứ này thành tính Không, đây là tu hành Đại du già, là ý nghĩa của Ma ha du già.

Ngoài ra, tiến thêm một bước nữa, tu hành theo cách này cũng không đơn giản, đó là cấp độ hoàn toàn không còn phân biệt. Ở đây có một câu chuyện cười, người này cũng hoàn toàn không có sự phân biệt nào cả. Có một chàng trai đi vào quán rượu, anh ta gọi phục vụ: "Cho hai ly rượu." Tiếp viên quầy rượu liền hỏi: "Thưa ông, vì sao lại gọi hai ly rượu?" Anh ta nói: "Một ly là cho tôi, một ly là cho bạn gái tôi. Bởi vì bạn gái tôi mắc bệnh nặng, nhập viện rồi, vì thế tôi uống thay cô ấy một ly." Ngày hôm sau, anh ta lại đến quán rượu, nói với tiếp viên quầy rượu: "Cho một ly rượu." Tiếp viên quầy rượu liền sốt sắng hỏi: "Bạn gái của ông đã vãng sinh rồi sao? Nếu không thì vì sao ông lại chỉ gọi một ly rượu?" Anh ta rất tức giận nói: "Nói bậy!" Tiếp viên quầy rượu lại hỏi: "Thế thì vì sao hôm nay chỉ gọi một ly thôi?" Anh ta nói: "Bởi vì hôm nay tôi bỏ rượu rồi. Tôi chỉ uống thay ly của bạn gái tôi thôi."

Có thể giúp bạn gái uống rượu cũng xem như là Đại du già. Đại du già là như vậy, Đại du già là tính tổng hợp, núi sông đại địa, nhà cửa, bản thân bạn, toàn bộ đều là Bổn tôn của bạn biến hóa ra; thân khẩu ý của bạn toàn bộ đều là Bổn tôn; thân thể của bạn làm gì, mỗi tư thế chuyển động đều là thủ ấn, miệng nói ra lời gì thì đều là chú ngữ, suy nghĩ của bạn đều là suy nghĩ của Phật Bồ Tát.

Nhờ tu hành như vậy, sự biến hóa của thân khẩu ý cũng chính là đủ loại biến hóa của Phật Bồ Tát. Núi sông đại địa, nhà cửa, đất đai,v.v…, toàn bộ đều là sự biến hóa của Phật Bồ Tát, bao gồm chính bạn, tất cả quyến thuộc, tất cả đều là sự biến hóa của Phật Bồ Tát. Nhất cử nhất động của bạn đều là Bổn tôn. Miệng bạn nói gì, đọc gì, đều là chú ngữ, tai bạn nghe thấy gì đều là thiên nhạc, đừng có sự phân biệt nào; sống tại thế giới Ta Bà cũng tương đương với sống tại Phật quốc tịnh thổ, sự tu hành như vậy gọi là Ma ha du già.

Tiếp theo, nói về A nỗ du già. Thật ra trước đây, tôi đã giảng rất nhiều rồi, Hỉ Kim Cang tu hành khí, mạch, minh điểm thuộc về trí huệ, thuộc về thứ tự viên mãn, thuộc về khoái lạc, quang minh và tính không, đều nằm trong A nỗ du già. Yogi tu khí, yogi tu minh điểm, yogi tu trung mạch, tổng hợp lại đều là phạm vi của A nỗ du già. Sư Tôn từng giảng khí, mạch, minh điểm, trong Hỉ Kim Cang đã có nói rồi, cũng có nói khoái lạc, minh, không, những cái này đều thuộc về trí huệ, là pháp thứ tự viên mãn. Mà pháp thứ tự viên mãn thì cũng tương đương với A nỗ du già.

Ở đây có một câu chuyện cười, không biết có liên quan gì đến A nỗ du già không. Có người rất thích con đười ươi ở Châu Phi. Một hôm anh ta đi đến vườn thú xem đười ươi, khi nhìn thấy đười ươi, anh ta rất hào hứng vẫy tay với đười ươi. Kết quả là khiến con đười ươi rất tức giận, tất cả đám đười ươi đều cầm đá ném người này. Anh ta bị đá ném trúng, đầu chảy máu, tức giận đi tìm người quản lý vườn thú để lý luận. Người quản lý rất nghi hoặc hỏi: "Anh đã làm gì bọn chúng?" Anh ta nói anh ta chỉ vẫy tay gọi bọn chúng mà thôi. Người quản lý đáp: "À, trong ngôn ngữ của loài đười ươi thì vẫy tay có ý nghĩa là chửi chúng nó ngu đó." "Thế thì tôi nên làm gì để chào hỏi chúng nó đây?" Người quản lý đáp: "Anh chỉ cần hướng về chúng đấm ngực và hét lên woo woo, thế là được rồi." Thế là anh ta lập tức chạy đến trước mặt đám đười ươi đấm ngực và hét lên, thế là tất cả đám đười ươi đã vẫy tay với anh ta.

Trong A nỗ du già, tu khí, mạch, minh điểm có một chút tính tượng trưng, nó là trí huệ. Rất nhiều thủ ấn, ví dụ như những thủ ấn mà hiện tại chúng ta đang làm, đều rất có trí huệ, đều có tính tượng trưng. Nhưng bản thân thủ ấn có tồn tại trí huệ của nó. Trong A nỗ du già, bạn muốn triệu thỉnh Bổn tôn nào thì thật ra chỉ cần giơ một ngón tay ra, làm thành ấn móc câu là được rồi. Muốn triệu thỉnh vị nào thì một ấn móc câu là đủ rồi. Càng lợi hại hơn là giống như lông mi giả của các cô gái, bạn chỉ cần quán tưởng lông mi thành một cái móc câu, đều là lông mi giả, chỉ cần nhắm mắt lại, suy nghĩ muốn triệu thỉnh vị nào, như thế người khác không biết thủ ấn của bạn, nhưng thật ra là bạn đã dùng lông mi giả của mình để biến thành móc câu kim cương để thu hút rồi.

Trong A nỗ du già, trung mạch thông là tối quan trọng, giống như Sư Tôn trung mạch thông thì sẽ biết được Bổn tôn nào đi vào. Người có trung mạch thông thì chạm vào lỗ đỉnh đầu một lúc, Bổn tôn tiến vào là từ lỗ đỉnh đầu đi vào, đi đến trung mạch của bạn. Khi trung mạch của bạn thông rồi thì trăm vị văn võ có thể tiến vào bên trong thân thể bạn. Tôi vừa an tịnh lại, triệu thỉnh Bổn tôn Liên Sư, Yeshe Tsogyal, Mandarava thì các vị lập tức có thể đi vào bên trong thân thể tôi.

Thỉnh thoảng khi tôi đang làm cúng dường, tôi thường hay làm cúng dường, cái này cũng có thể làm cúng dường. Đây là tiếng chuông, rất vang, âm thanh cũng rất hay. Mọi người đều thấy thân thể tôi bất động một lúc, đó là tôi đang cúng dường thanh âm tới Bổn tôn của tôi. Bổn tôn của tôi tiếp nhận cúng dường thanh âm, cúng dường âm thanh, cúng dường âm thanh tuyệt diệu, lúc này tôi ngưng bặt một lúc, biểu thị rằng ngài đã đến tiếp nhận và đi rồi. Sự ngưng bặt này không phải là bản thân tôi ngưng bặt lại, mà là tự nhiên như thế, khi ngài đến tiếp nhận cúng dường này xong thì tự nhiên tôi sẽ không ngưng bặt nữa.

Thượng sư Liên Lai thấy mỗi khi Sư Tôn cúng dường đồ ăn thì cầm đồ ăn từ bàn ăn lên, và tôi niệm rất đơn giản: "Mời Diêu Trì Kim Mẫu, mời A Di Đà Phật, mời Địa Tạng Vương Bồ Tát, mời chư Tôn." (Sư Tôn ngưng bặt lại một lúc.) Ấy? Bây giờ trên tay tôi chẳng có đồ ăn mà tôi cũng bất động một lúc, chính là biểu thị rằng các ngài đã đến tiếp nhận cúng dường của tôi, hơn nữa tôi còn thấy rất rõ ràng rằng các Du Già Mẫu, các Không Hành Mẫu, rất nhiều Không Hành Mẫu đã đến tiếp nhận cúng dường. Có thể thấy được Bổn tôn của mình đến tiếp nhận cúng dường, điều này cho thấy trung mạch đã thông rồi, các ngài đã có thể đi vào bên trong thân thể bạn, rất nhiều vị đều có thể tiến vào bên trong. Tu trung mạch thông là rất quan trọng, trung mạch không thông thì không được.

Khi ấy tôi nói với Thượng sư Liên Lai: "Muốn trung mạch thông, đầu tiên cần phải tu khí. Các yogi nhất định phải tu khí, đây là phạm vi của A nỗ du già, sau đó lại tu thông trung mạch. Thứ hai là phải chú ý ba việc, một là trong đầu không được có phiền não, hai là trong đầu cần trống rỗng, hoàn toàn là không, không được giữ lại điều gì trong đầu nữa." Đừng có để những thứ rác rưởi ở trong đầu bạn. Những gì chứa trong đầu con người không phải là Phật Bồ Tát, không thường nhớ đến Phật Bồ Tát, thì những thứ mà bạn thường nghĩ đến đều là rác rưởi, ví dụ như người nào là người rất đáng ghét, người nào là người bạn rất thích, chuyện nào khiến bạn vui, chuyện nào khiến bạn tức giận. Bạn chỉ nghĩ tới những chuyện thất tình lục dục, trong đầu bạn toàn là garbage (rác rưởi). Nếu như trong đầu bạn toàn là garbage thì trung mạch sẽ bị tắc nghẽn, triệu thỉnh Bổn tôn, Bổn tôn sẽ không đến.

Bạn chỉ cần loại bỏ hết bản thân, loại bỏ hết rác rưởi, trút bỏ hết bùn nhơ, vứt bỏ hết những vọng tưởng mơ hồ, loại bỏ hết vọng tưởng, loại bỏ hết những vọng niệm, tạp niệm, suy nghĩ ô uế trong đầu bạn, ví dụ như "tôi ghét người kia", "tôi ghen với người đó", "tôi đố kị với người này", bởi như thế thì lúc này trong đầu bạn toàn là rác rưởi. Bạn muốn triệu thỉnh vị nào đến thì vị đó đều không muốn đến, cũng không muốn tiến vào bên trong bạn, bởi vì bên trong bạn đều rất bẩn, rất dirty, vì sao phải tiến vào chứ? Bạn cần phải thanh tịnh, thân thể bạn cần thanh tịnh, ý niệm của bạn thanh tịnh, khẩu của bạn thanh tịnh, hơn nữa bạn phải buông bỏ tất cả, quét sạch sẽ mọi vọng niệm, khi ấy Bổn tôn mới có thể tiến đến được. Phương pháp tu hành như vậy chính là A nỗ du già. Nói như vậy thì tương đối có thể hiểu được rồi, tu trung mạch, dùng trung mạch để đại diện, như vậy là có thể hiểu được rồi, đây là sự tu hành mang tính trí tuệ. Ý niệm của bạn nhất định phải thanh tịnh.

Trong Chân Phật Kinh có nói đến "thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh", bạn không thể đem toàn bộ những việc vừa mới làm đặt vào trong đầu mà không trút bỏ, bạn đem bao nhiêu sự việc suốt mười mấy năm tích trữ ở trong đầu bạn, không giải phóng chúng đi, như thế thì đến bao giờ bạn mới thanh tịnh được đây? Căn bản là không hề thanh tịnh mà! Vì thế, nếu như không thanh tịnh thì trung mạch sẽ bị tắc nghẽn, trung mạch sao có thể thông được? Bạn muốn trung mạch thông thì còn phải tu khí, phải tu mạch, phải tu minh điểm thanh tịnh, đều phải nhìn thấy được minh điểm.

Thượng sư Liên Vượng, ông có nhìn thấy được minh điểm không? (Có.) Ông ấy nhìn được ánh sáng minh điểm, đây chính là thanh tịnh. Tu thân khẩu ý của bạn thanh tịnh, tu trung mạch của bạn có thể thông, minh điểm có thể hạ xuống, chuyết hỏa có thể nâng lên, những phương pháp này đều được nói đến trong A nỗ du già. Trước kia tôi cũng đã nói với mọi người rồi. Bổn tôn có thể tiến vào, vì sao vậy? Tất cả mọi vị đều có thể dung nhập vào bên trong thân thể bạn, đó là vì bạn đã trút bỏ hết rồi, đã biến thành không rồi.

Cái gì là thanh tịnh nhất? Trống không là thanh tịnh nhất, trống không đương nhiên là thanh tịnh nhất. Cái gì là không thanh tịnh? Bạn tập trung tất cả những thứ "có" lên người bạn thì làm sao có thể thanh tịnh được? Thanh tịnh nhất chính là bạn quét sạch hết những rác rưởi của bạn, toàn bộ đều quăng đi hết, hoàn toàn không còn gì, đó chính là thanh tịnh. Nếu trong nhà bạn toàn là garbage (rác) thì khách đến nhà cũng chẳng muốn vào nhà, vừa vào đã cảm thấy ặc, hôi hám quá, nghĩa là bên trong thân thể bạn hôi thối quá. Nếu không xả bỏ hết thì bên trong đều là rác rưởi, Phật Bồ Tát có muốn vào hay không?

Vì thế, đương nhiên là không thể tiến vào, đây là một điểm quan trọng. Bản thân A nỗ du già chính là tu khí, mạch, minh điểm, quan trọng nhất là thân khẩu ý thanh tịnh, dùng hình thức trí huệ. Chúng ta mở miệng ra nói đều rất hòa nhã, là khẩu thanh tịnh; viết văn chương đều viết rất nho nhã, rất hay, hơn nữa lại rất có ý nghĩa, không chửi người ta, không bỉ ổi, không hạ tiện. Viết văn cũng không thể viết về những chuyện khó chịu, bởi vì suy nghĩ của bạn khi ấy chắc chắn không thanh tịnh, trong đầu bạn chỉ muốn chửi người ta, muốn hạ thấp người khác, những suy nghĩ như thế chính là garbage, suy nghĩ rác rưởi. Chúng ta cần phải nghĩ rằng mỗi người đều có điểm tốt, đều có ưu điểm, đều là tốt cả, đó chính là suy nghĩ thanh tịnh, ý niệm thanh tịnh. Điều này trong Ma ha du già đã dạy bạn rồi.

Cuối cùng, A để du già chính là cứu cánh. Cứu cánh là gì đây? Chính là để cho bạn thấy được Phật tính của bản thân, chính là cứu cánh. A để du già là điểm cao nhất rồi, để cho bạn biết bản thân bạn chính là Phật tính, để bạn biết được bạn chính là cứu cánh. Tự tính chính là Phật tính, tính vốn có của bạn là Phật tính, để bạn biết, bạn nhìn thấy được, bạn cũng biết rõ ràng, đạt đến cứu cánh rồi thì bạn cũng minh tâm kiến tính rồi, đó là A để du già.

Trong Đại Viên Mãn có nói đến Nyingtik, thế nào gọi là Nyingtik? Nyingtik còn gọi là "tâm tủy", tủy trong từ cốt tủy, có nghĩa là bộ phận quan trọng nhất, chính là khẩu quyết, tâm yếu quan trọng nhất gọi là Nyingtik, chúng ta thì gọi là "tâm trong tâm". A để du già nói về Nyingtik, nói về tâm yếu quan trọng nhất, khẩu quyết quan trọng nhất, để bạn hiểu rõ tâm, thấy được Phật tính.

Lúc này, bạn có thể biết tất cả thế giới rộng lớn chính là pháp thân Phật, thế giới vô cùng vô tận đều là pháp thân Phật, bạn hiển hiện ra ánh sáng, bạn chính là báo thân Phật; bạn hiển hiện ra ánh sáng cầu vồng, bạn sẽ biến thành báo thân Phật; nếu như bạn hiện ra ảnh hưởng và pháp lực của bạn thì bạn chính là ứng thân Phật. Tôi nói như vậy, không biết mọi người có hiểu không?

Bình Nhi ba tuổi, người bạn nhỏ của tôi, tôi đối với cô bé rất thanh tịnh. Vì sao tôi và cô bé lại thân như vậy? Bởi vì cô bé là một Không Hành Mẫu mà tôi đưa từ thiên thượng giới xuống. Đôi mắt cô bé bây giờ có thể nhìn thấy bên trong thân thể con người có cái gì. Thiên nhãn của Bình Nhi đã được mở rồi. Mọi người có biết Bình Nhi không? Rất nhiều người biết đó. Hôm đó, cô bé nhìn một sư tỉ, nó nói: "Trên người sư tỉ này toàn là sâu." Rất nhiều sâu. Không sai, sư tỉ đó cũng biết trên người cô ấy có rất nhiều sâu. Sư tỉ đó ở đâu? Ở bên trong kia à! Ở bên trong kia là được rồi, tôi không muốn nói đó là người nào. Bình Nhi nhìn thấy được, nhìn thấy trên người sư tỉ đó có rất nhiều sâu.

Tôi nói với Bình Nhi: "Con xem trên người Sư Tôn có cái gì?" Bình Nhi liền nói với mẹ cô bé: "Trên người Sư Tôn có ánh sáng màu đỏ." Một em bé ba tuổi không biết nói dối đâu, cô bé không biết thế nào là quan hệ lợi hại. Nếu như cô bé quay người lại nhìn một lúc xem trên người Sư Tôn có cái gì: "Sư Tôn là lang đó!" Lang là cái gì? Tiếng Đài Loan nói là lang, tiếng phổ thông nghĩa là người. Tôi hỏi Bình Nhi: "Sư Tôn có phải là người màu đỏ không?" Bình Nhi nhìn một lúc nói: "Trên người Sư Tôn có ánh sáng đỏ." Thế nên Sư Tôn không phải là người màu đỏ, Bình Nhi có thể nhìn thấy, hơn nữa còn nhìn thấy cực kì rõ ràng nữa. Mẹ Bình Nhi nói, họ đi du lịch, Bình Nhi cùng mẹ, bố và anh trai của cô bé đi du lịch ở Oakland. Họ đi đến bãi biển, ngắm hoàng hôn. Họ đến biển ở Oakland (ở Oregon) ngắm hoàng hôn.

Hai ngày mà Bình Nhi đi chơi, cô bé nói với mẹ rằng: "Con rất nhớ Sư Tôn." Thật đó! Tôi cũng rất nhớ cô bé! Tôi còn nhớ lúc tôi phải đi Anh hoằng pháp, tôi đi bốn, năm ngày thì vội vàng trở về, tôi không dám đi chơi. Vì sao vậy? Bởi vì tôi phải trở về thăm Bình Nhi, tôi làm sao có thể đi lâu như vậy được chứ? Tôi nói với cô bé: "Bình Nhi! Ông đi châu Âu, đi England (nước Anh), ông chỉ đi ba ngày thôi, cả đi cả về tổng cộng năm ngày, sau năm ngày, ông sẽ về thăm cháu." Tôi nói: "Bình Nhi! Tạm biệt nhé." Cô bé nói: "No, không muốn tạm biệt." Tôi nói sau năm ngày sẽ quay về thăm cô bé, cô bé liền khóc luôn, cô bé khóc thật sự, tôi là nam tử hán đại trượng phu không thể khóc. Cô bé thật sự đã khóc rồi! Vì thế, tình cảm hai ông cháu chúng tôi là thật đó. Tôi thật sự yêu Bình Nhi, Bình Nhi cũng vô cùng yêu tôi. Chà! Tôi chắc là đã thơm cô bé đến mấy nghìn lần rồi, cô bé thật sự vô cùng đáng yêu. Tôi thường hát một bài hát cho cô bé nghe: "Hãy vén tấm che mặt của bạn lên, để tôi nhìn thấy khuôn mặt bạn, khuôn mặt bạn vừa tròn vừa đỏ, giống như trái táo vào mùa thu, khuôn mặt bạn vừa tròn vừa đỏ, giống như trái táo vào mùa thu." Tôi hát cho cô bé nghe!

Mỗi ngày tôi đều học thuộc một bài hát thiếu nhi để hát cho cô bé nghe, cô bé rất vui sướng. Nếu không thì thỉnh thoảng cô bé sẽ đổ lỗi cho tôi, một Không Hành Mẫu, vì sao lại đem đến thế giới Ta Bà chứ? Cô bé biết rằng chính cô bé là Không Hành Mẫu. Bây giờ tôi phải thường xuyên học thuộc bài hát thiếu nhi để hát cho cô bé nghe, nếu không thì thỉnh thoảng cô bé lại làm bộ mặt vô cảm với tôi. Cô bé nói chuyện với người khác thì rất nhiều, nhưng hễ thấy tôi thì lại bẽn lẽn, trốn sau lưng mẹ. Hễ tôi muốn thơm cô bé thì cô bé luôn để cho tôi thơm. Tôi nói: "Để ông ôm một cái nào." Cô bé nói: "Không được." Cô bé không để cho tôi ôm, lí do không để cho tôi ôm là vì cô ấy xấu hổ. Có một hôm, cô bé không xấu hổ nữa thì lại để cho tôi ôm.

Đây chính là sự tiếp xúc lẫn nhau trong hư không. Hàng ngày Sư Tôn đều có thể trông thấy Không Hành Mẫu, mỗi ngày tôi đều có thể nhìn thấy rất nhiều Không Hành Mẫu, họ nhảy múa trong hư không. Khi tôi cảm thấy buồn, ngày hôm đó tôi cùng mọi người từ Lôi Tạng Tự đi ra đường lớn, rồi lại từ đường lớn quay trở về Lôi Tạng Tự, Không Hành Mẫu trông thấy tôi buồn liền vẩy một chút cam lộ lên tôi, khi ấy trời đang trong xanh không mây đó! Không Hành Mẫu ở phía trên vẩy nước cam lộ đó! Vẩy lên người tôi. "Ấy? Sao lại có những giọt nước mưa lớn như vậy rơi trên tay tôi nhỉ?" Mọi người cho rằng là tôi uống nước, nước rớt ở trên tay tôi, thật ra không phải, ngày hôm đó, ai được vẩy cam lộ hãy giơ tay? Đó là cam lộ của Không Hành Mẫu, mọi người có uống hết không? Không à? Uống vào có thể trường sinh bất lão đó! Thật sự là Không Hành Mẫu vẩy cam lộ đó! Tôi biết, tôi không muốn kể chuyện này ra. Không Hành Mẫu thấy tôi buồn, vì thế họ đã nhảy múa trong hư không, là cam lộ do Không Hành Mẫu vẩy xuống, là những giọt nước mắt của Không Hành Mẫu, biết rằng tôi buồn quá, vì thế ở trong hư không múa cho tôi xem, sau đó vẩy một ít cam lộ xuống. Ai bị vẩy cam lộ trúng người thì giơ tay? Có không? Chà! Có nhiều người như vậy được cam lộ vẩy tới, thế mọi người có uống không? Có ai uống thì giơ tay? Không có à? Ôi chao! Đáng tiếc rồi! Giọt nước của tôi to nhất ư? Đúng rồi, hôm đó giọt nước trên người tôi là to nhất, một giọt ở đây, một giọt ở đây, hai giọt nước cam lộ. Vậy thôi! Om mani padme hum.

(còn tiếp)

---

---
# File: kinh-luat-luan/dieu-tri-kim-mau-duong-chinh-chan-kinh.md
# Title: Diêu Trì Kim Mẫu dưỡng chính chân kinh
---

![image](/img/img_0fe5085843d5015bbb3c81f92aba5e64.png)



## Diêu Trì Kim Mẫu dưỡng chính chân kinh


Bản tiếng Trung theo Mạng Chân Phật Toàn Cầu TBSN
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

## Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


## Phần 2: Diêu Trì Kim Mẫu Dưỡng Chính Chân Kinh



### **Cung thỉnh**


Vô Cực Diêu Trì Đại Thánh Tây Vương Kim Mẫu bảo cáo. Chí tâm quy mệnh lễ. (3 lần)

Thiên địa khai thái. Vô Cực Thánh Mẫu. Long Hoa thắng hội yến tiệc Diêu Trì. Vạn linh thống lĩnh truyền giáo chỉ.
Chư Tiên hiến thọ. Chư Thánh chúc rượu. Công cao đức trọng. Điều phối quyền hành. Tiên chủ Đạo tông.
Ba nghìn thị nữ. Sinh hoàng tấu lên thiên nhạc [sinh hoàng: một dụng cụ âm nhạc như chiếc khèn]. Bàn đào trăm năm [bàn đào: loại đào dẹt, trong truyền thuyết đây là loại đào dành cho thần tiên]. Mở linh viên kim bích. Cứu khổ nạn chúng sinh. Rắc cam lộ xuống cõi trần. 
Đại bi đại nguyện. Đại thánh đại từ. 
Vô Cực Diêu Trì Đại Thánh Tây Vương Kim Mẫu Đại Thiên Tôn. (Xưng danh hiệu 3 lần, khấu đầu 12 lạy.)


### **Khai kinh kệ**


Nhất khí khai thiên địa. Nay đã sáu vạn năm.
Mây mưa cùng sương gió. Cỏ cây cùng núi sông.
Đạo khí đều thấm đẫm. Thần quang chiếu khắp nơi.
Người tu được chính pháp. Tự đắc thành Chân Tiên.


### Chương 1: Tu thân


Dưỡng tính tu thân, là điều căn bản của con người. 
Chính tâm thành ý, là cái gốc sâu xa của ta.
Mọi động tĩnh cần thường xuyên kiểm điểm, tu trì hành vi mỗi ngày.
Công ơn cha mẹ lớn như trời đất, cần hiếu thuận không được thiếu sót. 
Tổ tiên ban lộc cho con cháu, cần tôn kính không được thất lễ.
Biết nghĩ về nguồn cội, bản thân chịu trách nhiệm báo đáp.
Có thể sửa chữa lỗi sai, cần tu công đức.
Rời khỏi con đường mê lầm, đi vào con đường giác ngộ.
Lên được bến bờ bên kia, tiến vào cánh cửa tính Không.
Khóa chặt tâm ngựa ý vượn, như như bất động.
Luyện cho chân linh chính khí, luôn luôn thường tồn.
Ba thứ quý giá tinh, khí, thần cần giữ lâu dài.
Thất tình lục dục yêu ghét ham muốn cần diệt trừ vĩnh viễn.
Bồi dưỡng bát đức, tôn trọng Thánh hiền.
Gìn giữ tam cương, trị quốc trị gia.
Trên hiểu đạo trời có đức hiếu sinh, dưới xót thương sinh mệnh vạn vật mà đừng sát hại.
Học sự khiêm tốn của quân tử, luôn thận trọng cần cù. 
Pháp của Thánh nhân cần cung kính cẩn thận, kiến tính minh tâm.
Thấy sắc đẹp như thấy hổ dữ, có được đức hạnh tài năng cũng như có được kho báu quý giá.
Không ham phú quý, cần phải biết Sắc là Không, Không là Sắc,.
Trong cảnh nghèo khó cũng nên vui vẻ, cần biết không thể thật sự có được cái gì, Có cũng là Không.
Nhà giàu cần giúp đỡ người thân, có tài đức cần giáo hóa những người ngu muội.
Tích lũy đạo đức vô hình, tu luyện tinh thần bất lão.
Rời xa con đường mê lầm, tự đắc tai tiêu họa diệt.
Tâm gần chính đạo, sẽ được quỷ thần nể phục ngưỡng mộ.
Phát đại từ bi, cứu người cứu ta, tạo lập thiện nguyện lớn, cứu giúp người nghèo khổ.
Luyện đạo thành chân, trên báo bốn ơn sâu.
Siêu phàm nhập Thánh, dưới giúp khổ tam đồ.
Lấy nhân đức làm điều quý giá nhất của bản thân, lấy từ bi làm đại cương của Phật.
Tâm trong veo như trăng dưới nước, tỏa sáng phá tan u tối. Tính sáng sủa như những vì sao mới có thể uyên bác thông thiên đạt địa.
Tu nhiều âm đức, để lại phúc ấm cho cháu con.
Tích lũy thiện nhân, công đức hồi hướng siêu độ tổ tông.
Giúp tăng nhân quảng truyền đạo pháp, tự nhiên kết duyên cửa Phật.
Lễ Phật tham thiền, xứng đáng chứng ngộ bảo địa.


### Chương 2: Tham huyền luyện đạo


Con người là linh của vạn vật, cần biết học đạo. 
Tâm làm chủ thân này, phải ngộ ra điều ấy mà tìm hiểu sâu xa.
Thân người quý giá, quý ở chỗ biết tu. 
Thiên tính tròn sáng, sáng ở chỗ biết hiểu.
Thường thanh thường tịnh, tự thấy được bản ngã Như Lai. Không thấy không nghe, cần phải quên sắc tướng thân người.
Loại bỏ bốn tướng để nhập hư vô. 
Chấm dứt ba tâm quy về thanh tịnh.
Tính mệnh song tu, ngoại công đầy đủ mà nội quả viên mãn. Tinh thần cùng luyện, đại lạc thơm mà chân đan kết. 
Luyện khí thuần dương, khí hóa thành thần. 
Nung đan bất lão, đan thành làm Phật.
Quên hết hoàn cảnh, như si như say. 
Tâm thân đều định, như có như không. 
Mài kiếm trí huệ để thường sắc bén, chém đứt tình dục. 
Lau dọn tâm linh để không cáu bẩn, chiếu hiện sao trời.
Ở cõi trần, đừng mang theo cái nhà lục căn. 
Xuất thế gian, đừng dắt theo cái lưới ngũ uẩn. 
Sống ở nơi phúc địa động thiên, tiêu dao tự tại. 
Đi đến tận cùng huyền môn đạo cảnh, cảnh tượng thanh tịnh đẹp đẽ.
Từ đây thoát con đường luân hồi, theo đó bước ra khỏi cánh cửa sinh tử.


### Chương 3: Siêu phàm nhập Thánh


Hồng trần cuồn cuộn, chôn vùi bao kẻ tục tử. 
Ô trọc sóng xô, trầm luân vô số phàm phu.
Vạn kiếp luân hồi, vẫn chẳng thể phản bản hoàn nguyên. 
Đời này đọa lạc, sao có thể lìa trần xuất thế.
Muốn lên núi Tiên, cần biết tìm sự buông bỏ chân thực. 
Muốn về đạo cảnh, cần luôn thành thật loại bỏ hoang tưởng. Tìm kiếm đại đạo tiên thiên vốn có, khám phá đạo lý chân thực trường tồn. 
Một lòng thanh tịnh, quét sạch tình duyên đừng mê muội. 
Loại bỏ ngũ uẩn, tu tính mệnh đến vô cùng. 
Nếu không đắc trí huệ vẹn toàn thì cũng đắc thân tâm an lạc.
Công phu đạt đến trình độ, tự đặt tên mình trong hàng ngũ thần tiên. 
Tu được huyền diệu, sẽ chứng được quả thiên cung. 
Bước vào pháp môn Đại thừa, cửa mở ra phương tiện. 
Đi trên Thánh đạo trung dung, đường mở ra khang trang.
Độ chúng sinh trong biển khổ, thoát khỏi vạn kiếp lạc đường. Một lòng từ bi, tế tử siêu sinh. 
Công đức trường tồn, sánh ngang trời đất. 
Vui niềm vui chốn linh sơn, nhàn cái nhàn nơi tịnh thổ.


### Chương 4: Phản bản hoàn nguyên


Đạo tồn tại trong đạo đức đời sống. 
Không giữ được đạo thì chẳng có gì mà tu. 
Lúc thiền ngộ, minh tâm tính. 
Có thể ngộ, tự đắc thiền.
Thiên đạo ích khiêm, khiêm tốn tự nhiên hưởng lợi. 
Nhân tình hại mãn, tự mãn tự chiêu tổn hại.
Bỏ ý tham lam, không sân không hận. 
Cái tâm chấp giới, chớ muội chớ mê. 
Giữ tâm bình đẳng, luôn luôn độ lượng ung dung. 
Hồi tính viên minh, nơi nơi tinh thần thư thái. 
Không vì của cải mà say đắm, không vì tình duyên mà loạn chí.
Sảy chân sẽ thành nỗi ân hận nghìn năm, quay đầu sẽ là may mắn ba đời. 
Tồn tại trên đời, phải sớm tu chân học đạo. 
Sống tại nhân gian, đừng muộn dốc hết sức mình.
Pháp tĩnh thần, thử quán nước lặng mây dừng. 
Công dưỡng khí, cần xem linh quy dã hạc. 
Bắt chước giữ thần giữ khí, đồng thời quên hết ưu phiền. 
Thân dù ở trần gian, nhưng bụi trần không nhiễm. 
Tâm có thể thoát tục, và tục chẳng thể xâm nhập. 
Tinh khí thần, ba thứ căn bản phải giữ vững chắc. 
Thân tâm ý, trăm thứ dơ bẩn phải quét sạch tinh.
Trên quan sát diều hâu bay, tinh thần hoạt bát. 
Dưới xem nước sâu cá nhảy, linh tính tiêu dao.
Điều hòa hai khí, âm dương trong thân luôn hòa hợp. 
Nhất linh tự tại, trí huệ trong tâm chẳng xa rời.
Sắc tướng đều không, tự thấy Như Lai bản tính. 
Tình duyên hết rồi, có thể quay về tự tại Linh Sơn.


### Chương 5: Xuất mê nhập ngộ


Khổ hải mênh mông, khuyên người quay đầu là bờ. 
Mê lộ mờ mịt, dựa vào ai để rút chân thoát ra. 
Trong ánh điện lửa đá, bể dâu đã mấy lần biến đổi. 
Trong sương sớm mùa xuân, tháng năm cũng đã đổi thay.
Sinh tử khép lại, người nào có thể thoát ra. 
Con đường luân hồi, mấy ai có thể rời khỏi. 
Đại đạo không tu, nghìn đời chịu nạn. 
Huyền môn không vào, vạn kiếp lang thang.
Mong muốn xuất mê nhập ngộ, cần phải tu trì tâm tính. 
Nếu muốn thoát tục siêu phàm, cần phải cắt đứt tình duyên. 
Buông bỏ thân giả mà luyện pháp thân, duy trì chân tính mà tu thiên tính.
Cửa vào hiếm khi phẳng lặng, không thấy nghe ở thanh sắc. Con đường đạo lý huyền diệu, đắc tự tại vì tiêu dao. 
Nhất linh giữ nơi vũ trụ, vạn vật nhỏ như vi trần. 
Cần hiểu sắc thân là huyễn, tâm ngộ chân không. 
Đừng nên mê đắm trọc thế, chí tu đại đạo.


### Thu kinh kệ


Tụng dưỡng chính chân kính. Quần sinh được khai sáng.
Tu tâm sáng đại đạo. Luyện tính ngộ huyền công.
Mạt kiếp độ bách tính. Chân thành tạo hóa thông.
Con thuyền vượt biển khổ. Ơn phổ tế vô cùng.


### Kết thúc kinh kệ


Chân kinh giác thế. Dưỡng chính khai mông. Quần sinh học đạo ngộ tu công.
Nhất khiếu tự nhiên thông. Con thuyền từ bi trên biển khổ. Trong ánh sáng ân từ phổ chiếu. 

Vô Cực Diêu Trì Đại Thánh Tây Vương Kim Mẫu Đại Thiên Tôn. (Xưng danh hiệu 3 lần, khấu đầu 12 lạy.)

Diêu Trì Kim Mẫu Dưỡng Chính Chân Kinh. 

**(Hết)**

---

---
# File: kinh-luat-luan/dieu-tri-kim-mau-pho-do-thu-vien-dinh-hue-giai-thoat-chan-kinh.md
# Title: Diêu Trì Kim Mẫu phổ độ thu viên định huệ giải thoát chân kinh
---

![image](/img/img_5c382dc7cabc4529e4395030e74146eb.png)



## Diêu Trì Kim Mẫu phổ độ thu viên định huệ giải thoát chân kinh


Bản tiếng Trung theo Mạng Chân Phật Toàn Cầu TBSN
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### **Cung thỉnh**


Vô Cực Diêu Trì Đại Thánh Tây Vương Kim Mẫu bảo cáo. Chí tâm quy mệnh lễ. (3 lần)

Thiên địa khai thái. Vô Cực Thánh Mẫu. Long Hoa thắng hội yến tiệc Diêu Trì. Vạn linh thống lĩnh truyền giáo chỉ.
Chư Tiên hiến thọ. Chư Thánh chúc rượu. Công cao đức trọng. Điều phối quyền hành. Tiên chủ Đạo tông.
Ba nghìn thị nữ. Sinh hoàng tấu lên thiên nhạc. Bàn đào trăm năm. Mở linh viên kim bích. Cứu khổ nạn chúng sinh. Rắc cam lộ xuống cõi trần. 
Đại bi đại nguyện. Đại thánh đại từ. 
Vô Cực Diêu Trì Đại Thánh Tây Vương Kim Mẫu Đại Thiên Tôn. (Xưng danh hiệu 3 lần, khấu đầu 12 lạy.) 


### Kinh văn


Một thời. Diêu Trì Kim Mẫu ở trong vô cực quang. Lệnh cho thái nữ Đổng Song Thành tiên cô cung kính truyền lời kinh.

Kim Mẫu nói rằng, thầy của ta từ xưa tới nay. Huyền Huyền Thượng Nhân. Truyền đạo cho Mộc Công. Mộc Công truyền đạo cho ta. Sau đó là khẩu khẩu tương truyền. Không ghi lại văn tự. 

Giờ đây. Thiên khai hoành đạo. Phổ độ Đông Lâm. [Đông Lâm: chỉ khu vực Trung Quốc, Đài Loan và Đông Nam Á. Cũng có thuyết cho rằng Đông Lâm là chỉ khu vực Hoa Liên ở Đài Loan, nơi Diêu Trì Kim Mẫu ngự giá, thiết lập tổng đường Từ Huệ Đường.]
Mong thế nhân sớm tìm cầu minh sư, hiểu thấu đáo tâm tính. Tiếc rằng hồng trần như nhà cháy, đọa vào rất dễ mà thoát ra rất khó. Nếu không có huệ lực thì sao có thể giải thoát. Muốn cầu giải thoát, trước hết cần định huệ.

Thế là, Từ Hàng Đại Sĩ chắp tay cung kính mà thưa với Mẫu rằng. Mong Mẫu mở cánh cửa phương tiện, thuyết đạo giải thoát. Cái may mắn của chúng sinh cũng là may mắn của Từ Hàng.

Khi ấy. Khuôn mặt hiền từ của Kim Mẫu vui mừng nói với Từ Hàng Đại Sĩ rằng. Ngươi dùng đại bi tâm, hiển hóa ở Đông Thổ. Nay nhờ giải thoát mà thỉnh cầu. Ngươi hãy yên lặng lắng nghe ta tuyên thuyết Phổ độ thu viên định huệ giải thoát chân kinh.

Lúc đó. Trời phóng ánh sáng cát tường, mây ngũ sắc bao quanh. Chim loan chim hạc thị vệ. Cờ phướn khắp không trung. Kim Mẫu cưỡi trên cỗ xe cửu phụng, kéo theo mây ngũ sắc. Trong chốc lát. Tam giáo Thánh hiền đều đến ủng hộ. Hoa trời rực rỡ. Tiên nhạc nhịp nhàng. Thế rồi, Kim Mẫu thương xót nam nữ Đông Lâm, phóng ra ánh sáng vô cực. Rồi ngài ở trong ánh sáng ấy mà tuyên thuyết.

Trời từ trong vô cực mở ra. Thái cực nhật nguyệt tam đài. Nhật nguyệt âm dương vận chuyển. Con người từ âm dương mà phôi thai. Là nam hay là nữ. Đều từ vô cực mà ra. Chỉ vì thái cực vận chuyển. Chớp mắt đọa lạc hồng trần. Rơi vào ngũ trọc ác thế. Tham luyến tửu sắc khí tài. Vì thế luân hồi loanh quanh. Sóng tình biển dục tai họa. Xót xa máu loãng chảy quanh. Bi ai thi hài rơi rụng. Lão Mẫu nói kinh đến đây. Nước mắt không ngừng tuôn rơi.

Khi ấy. Từ Hàng tôn giả chắp tay cung kính thỉnh rằng. Đệ tử nghe lời Kim Mẫu. Vô cực thì sinh thái cực. Lưỡng nghi lại phân tam gia. Vạn vật từ đó sinh ra. Rồi lại từ đây diệt mất. Sao không khiến họ không sinh không diệt. Tránh cho máu chảy tràn mặt đất, xương chất cao như núi. Chẳng phải là may mắn cho thiên hạ vạn vật hay sao.

Kim Mẫu nói. Thái cực phân chia. Thiên địa sinh tâm của vạn vật. Máu chảy tràn mặt đất, xương chất cao như núi. Vạn vật tự gây tội mà thôi. Nay ngươi hỏi điều này. Chỉ có đạo không sinh không diệt. Chẳng có lý không sinh không diệt. 

Khi ấy. Từ Hàng tôn giả quỳ xuống phía trước. Khẩn cầu tuyên thuyết đạo không sinh không diệt.

Kim Mẫu xoa ngực rất lâu, nói rằng. Vì thương xót nam nữ Đông Lâm. Ta mới nói với ngươi. Đạo nằm ở chỗ trả về bản lai diện mục. Vạn vật đều có gốc. Từ gốc mà sinh cành. Từ cành mà sinh lá. Từ lá mà sinh hoa. Từ hoa mà kết quả. Con người và vạn vật. Không đồng chất thì cũng đồng lý. Cái gốc đã lập ra thì rễ sinh ra. Rễ sinh ra thì cành lá um tùm. Gốc khô thì rễ mục. Rễ mục thì cành lá lưa thưa. Vì thế tu đạo cần làm chắc cái gốc. Thế nào là làm chắc cái gốc? Con người lấy hiếu đễ làm gốc. Đạo lấy tinh thần làm gốc. Có hiếu đễ thì con người không hổ thẹn. Tinh thần dồi dào thì đạo có thể tu. Tu đạo không phải gì khác. Vẫn là diện mạo vốn có mà thôi. Tinh thần từ đâu tản mát. Thì cần từ đó thu về. 

Từ Hàng tôn giả nghe lời Mẫu nói. Trong tâm đại ngộ. Lại rập đầu thỉnh rằng. Đệ tử có duyên sâu. May gặp được Kim Mẫu làm sáng tỏ đạo này. Khấu đầu cảm tạ từ bi. Lại khẩn thỉnh giải thích đạo giải thoát có được chăng?

Kim Mẫu rằng. Giải thoát không khó. Khó ở định huệ. Thân tâm đại định. Liền sinh trí huệ. Trí huệ đã sinh. Giải thoát rất dễ. Muốn hiểu giải thoát. Trước trừ lục tặc. Tai không nghe tiếng. Mắt không nhìn sắc. Thân không chạm bẩn. Ý không chấp vật. Mũi không ngửi bừa. Miệng không tham ăn. Lục tặc trống rỗng. Ngũ uẩn hiển minh. Thọ tưởng hành thức. Như gương thấy ảnh. Ngũ uẩn đã sáng. Tam gia hội hợp. Tinh khí và thần. Trưởng dưỡng hoạt bát. Trên dưới lưu thông. Giải thoát khó gì.

Từ Hàng tôn giả nghe lời Mẫu nói. Trong tâm tỉnh ngộ. Mừng rỡ rập đầu ca ngợi rằng:

*Từ khi vô cực sinh thái cực. 
Hoặc làm con người hoặc làm vật.
Luân hồi sinh tử vạn** nghìn lần**.
Nguồn gốc đọa lạc khó giải thoát.
Không hiểu vững gốc để tu thân. 
Lại như cây khô không cành lá.
Diêu Trì Lão Mẫu phát từ bi.
Tự cưỡi mây trắng trao lá bối. 
Trước nói đạo quả hợp tam gia.
Sau thuyết trí huệ cần định lực.
Quét sạch lục tặc ngũ uẩn không.
Phản bản hoàn nguyên là thượng sách.*

Diêu Trì hầu giá thái nữ tiên cô ca ngợi rằng:

*Từ Hàng đạo nhân đại từ bi.
Hết ba bốn bận cầu giải thoát.
Gặp được Kim Mẫu nói rõ ràng.
Chỉ ra thiên cơ chân diệu quyết.*

Đại Thành Chí Thánh và Nho Trị Thế Thiên Tôn ca ngợi rằng:

*Con người lấy hiếu đễ làm gốc.
Tinh thần là diệu dược của đạo.
Lập được gốc rồi đạo tự sinh.
Thành Tiên thành Phật do ta cả.*

Thái Thượng Lão Quân Chưởng Giáo Thiên Tôn ca ngợi rằng:

*Đúng là bệnh lâu gặp lương y.
Lại như trời xanh hiện bạch hạc.
Khẩn thiết ghi tạc triều ngũ khí.
Tam hoa tụ đỉnh năng thoát xác.*

Thích Ca Mâu Ni Cổ Phật Thiên Tôn ca ngợi rằng:

*Lão Mẫu chân ngôn chẳng giấu kín
Lời lời đều là ba la mật
Giải thoát định huệ đại công phu
Ở cùng chúng sinh làm thuyền chở.*

Thánh chúng ca ngợi đã xong. Lão Mẫu thuyết kinh đã dứt. Thái nữ thị vệ. Cỗ xe bay lên. Khi ấy. Tam giáo Thánh hiền. Thập phương chư Phật. Cung kính đảnh lễ. Tín thọ phụng hành. Lưu truyền kinh này độ thế. Thu được định huệ viên mãn. Nam nữ hồng trần. Sớm tối tụng niệm. Miệng nói tâm ứng. Tâm niệm chẳng rời. 

Lão Mẫu sẽ tự phái thần hộ vệ đến bảo hộ. Thân không bị ma khảo. Nhà có được bình an. Đất nước được thái bình. Ngày niệm kinh này. Được bảo hộ an ninh. Đêm niệm kinh này. Trong mơ không kinh sợ. Đi đường niệm kinh này. Thổ Địa thần linh bảo vệ. Đi tàu xe niệm kinh này. Có được chuyến đi bình an. Niệm niệm đều thanh tịnh. Lời lời đều siêu thăng.

Diêu Trì Kim Mẫu phổ độ thu viên định huệ giải thoát chân kinh. Hết.


### Kệ hồi hướng


Nguyện đem công đức này
Trang nghiêm Phật tịnh độ
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu khổ tam đồ
Nếu có người thấy nghe
Đều phát tâm bồ đề
Hết một báo thân này
Cùng sinh cõi Cực Lạc.

**Hết.**

---

---
# File: kinh-luat-luan/giang-thuyet-cao-vuong-kinh.md
# Title: Giảng thuyết Cao Vương Kinh
---

![image](/img/img_edd82e1e74a9df0d917cf09484412f83.jpg)



## Giảng thuyết - linh nghiệm Cao Vương Kinh


Xuất bản năm: N/A
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**

Sự tích cùng những câu chuyện linh nghiệm về Cao Vương Kinh


### 01. Xem xét Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Viết bởi: Pháp sư Thích Huệ Ba

Ở đất nước tôi, Cao Vương Quan Thế Âm Kinh đã được lưu truyền từ lâu, từ thời Tùy, Đường đã thịnh hành rồi. Mặc dù không có ai đề xướng, cũng chưa từng được đưa vào Tạng Kinh, nhưng bởi vì những người trì tụng kinh này thực sự đều có thể gặp được những sự việc cảm ứng thần kì, do vậy từ xưa tới nay kinh này vẫn được lưu truyền. Tới triều đại nhà Thanh đã có các chùa (ví dụ như Phúc Kiến Thừa Thiên Tự, Dũng Tuyền Tự, Cổ Sơn Tự, v.v…) làm các bản khắc để in ấn. Những năm Dân Quốc đầu tiên, cư sĩ Đinh Phúc Bảo (người biên tập cuốn "Phật học đại từ điển") ngoài việc viết lời dẫn giải ra thì còn đưa kinh này vào trong cuốn "Phật học đại từ điển".

Có lẽ cần ghi chú thêm là vào năm dân quốc thứ 60, ở thành phố Đài Bắc, lão pháp sư của Hoa Nghiêm Liên Xã Nam Đình (nay đã vãng sinh) từng khởi xướng việc in ấn. Trong đó, phần đầu bản kinh ngoài việc đưa thêm vào lá thư tay do chính cư sĩ Nhạc của phái Triều An Tông viết ra thì còn có những bài phê bình ngắn gọn nữa. Có lẽ trong những bài dẫn giải trước đây, cư sĩ Đinh Phúc Bảo chỉ dẫn ra là có các cuốn sách cổ như Ngụy Thư, Bắc Sử, Pháp Uyển Châu Lâm, và Tục Cao Tăng đã có ghi lại lai lịch của Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, nhưng đều đưa ra rất ít số liệu. Những gì được nói đến cũng khá mù mờ và không rõ ràng, khiến cho người đọc thực sự không sao có được những hình dung rõ ràng. Đặc biệt là phần cuối của lời dẫn giải đã giải thích Cao Vương là số một trong tất cả mọi pháp. Đây không phải là nói về lai lịch, xuất xứ, mà chỉ có thể nói rằng đây là do cá nhân ông ấy tự mình giải thích như vậy mà thôi!

🌟

Cao Vương Quan Thế Âm Kinh, theo như các vị sơn tăng được biết thì ngoài bốn cuốn sách được nhắc đến ở trên có ghi chép, thì trong "Phật Tổ tổng kí" chương 54, trong "Kê Cổ Lược" chương 2 cũng đều có ghi chép lại. Đại ý cụ thể viết rằng:

Trước đây, vào khoảng thời gian năm Thiên Bình thời Đông Ngụy (sau khi Ngũ Hồ nổi loạn Trung Hoa, khoảng vào năm 534 sau Công nguyên), trong quân đội Định Châu (nay được quy định là huyện Hà Bắc), có một vị quan quân được chiêu mộ tới, tên gọi là Tôn Kính Đức. Ông văn võ toàn tài, vô cùng xuất sắc, do ông tin tưởng sâu sắc vào Quan Thế Âm Bồ Tát, nên tại nơi ông bảo vệ, ông đã cho tạo một bức tượng Quan Thế Âm Bồ Tát rất trang nghiêm. Vào những lúc rảnh rỗi, các quan công vụ khác hoặc là đi săn hoặc lao vào các thú vui không chính đáng, chỉ có ông là vẫn dùng toàn bộ tâm lực của mình để lễ kính kiền thành đối với Quan Thế Âm Bồ Tát.

Về sau, hết nhiệm kì bảo vệ, khi ông được điều trở về kinh đô, ông bị gian thần ghen tị mà gài bẫy vu cáo, bị bắt giam vào thiên lao (nhà tù trong kinh thành, trực thuộc Hành Bộ, tương đương với Bộ pháp vụ ngày nay).

Mỗi ngày ông đều phải chịu đánh đập tra khảo và phải chịu những tra tấn khác đau đớn không thể nào chịu đựng nổi, bởi vậy đành phải thừa nhận là mình đã gây tội. Kết quả là ông bị phán tội cực hình (tội tử hình chặt đầu).

Trong thời gian chờ đợi thu quyết (đến mùa thu thì sẽ chấp hành hình phạt), đêm trước ngày hết hạn, ông mơ thấy một hòa thượng, hòa thượng này hỏi ông:
"Ông có sợ chết không?"
"Mọi sinh mệnh đều ham sống sợ chết, sao tôi lại là ngoại lệ được chứ?"- Ông nói: "Nhất là tôi còn bị gài bẫy vu oan, tôi lại càng không cam tâm!"
"Đừng sợ!" - Hòa thượng nói: "Tôi dạy ông niệm Quan Âm Cứu Thế Kinh, ông chỉ cần niệm hết một nghìn biến, tôi bảo đảm ông sẽ không bị chết."

Trong kinh này có rất nhiều tên các vị Phật, công đức niệm danh hiệu Phật đã chẳng phải là ít, huống hồ còn có cả Thất Phật Diệt Tội đà-ra-ni thần kì nhất nữa, Thanh Lương Bảo Sơn hàng tỉ hàng triệu Bồ Tát và thánh hiệu của Bát Đại Bồ Tát nữa.

Sau khi ông tỉnh lại, với sự thành tâm không chút nghi ngờ, ông liền theo những gì hòa thượng dạy trong mơ, nhớ lại và ghi chép lại (toàn bộ kinh văn tổng cộng cũng chỉ có 666 chữ). Ông cảm thấy không có chút sai sót gì, thế là, ông liền vội vã niệm hết lần này tới lần khác.

Đến khi trời hửng sáng, ông chỉ mới niệm được có một trăm biến, nhưng lúc này, người phụng hành đã đến để trói ông đi rồi. Ông không vì thế mà thôi tụng niệm, ngay cả trên đường bị áp giải tới nơi hành hình (trước đây triều đình xử tử người ta ở tại ngã tư trung tâm của kinh thành), ông vẫn không hề ngừng niệm. Khi tên đao phủ giơ ngọn đao sáng loáng lên thì vừa hay ông niệm đủ một nghìn biến.

🌟

Khi ngọn đao của đao phủ chuẩn bị chém xuống cổ, bất ngờ thay, cổ ông không có cảm giác gì cả, dù một sợi tóc cũng không bị tổn hại, còn ngọn đao trong tay đao phủ thì đột nhiên giống như chém xuống cột thép vậy, tay tên đao phủ cũng rung lên bần bật, đao cũng bị nứt gẫy thành ba đoạn, rơi trên mặt đất! Cứ như vậy, họ liên tiếp thay tới ba tên đao phủ, dùng ba ngọn đao lớn, còn Tôn Kính Đức quỳ trên mặt đất, ông vẫn nhắm mắt im lìm tụng niệm "Quan Âm Cứu Thế Kinh", dường như ông chẳng có cảm giác gì.

Các vị quan giám sát và người hành hình vây thành vòng tròn xung quanh quan sát đều không ngớt kinh ngạc, cho rằng ông ta có tà thuật, thế là liền ngừng cuộc hành hình, áp giải ông ta trở về đại lao, sau đó báo cáo sự việc lên cấp trên.

Thừa tướng khi đó (tương đương với Viện trưởng Hành chính của chúng ta ngày nay, nhưng vào thời phong kiến, quyền lực của thừa tướng cao hơn viện trưởng hành chính ngày nay rất nhiều lần) là Cao Hoan, người Hoài Sóc (nay là tỉnh Tuy Viễn, huyện Ngũ Nguyên) liền gọi ông đến để thẩm vấn tỉ mỉ. Sau khi thừa tướng hiểu được nguyên nhân (quả nhiên là bị gài bẫy vu oan), hơn nữa sau khi phát hiện ra đích thực là nhờ có sức mạnh uy thần của Bạch Y Quán Thế Âm Bồ Tát khiến Tôn Kính Đức không bị chết, liền tấu lên Hoàng Thượng để đặc xá cho ông, phục hồi lại chức vụ ban đầu cho ông.

🌟

Nhờ có sự linh nghiệm thần kì của Quan Âm Cứu Thế Kinh, thừa tướng Cao Hoan ngoài việc ra lệnh cho quan dân trong kinh thành phải sao chép truyền tụng kinh này ra, thì sau khi Tôn Kính Đức trở về khu trại của mình, trông thấy trên bức thánh tượng Quan Thế Âm Bồ Tát mà ông đã làm trước đây, ở chỗ cổ nơi mà ông bị đao chém xuống, không ngờ cũng hằn lên vết ba đường đao chém xuống. Ông đau đớn cảm kích không ngừng. Ngoài bản thân càng kiền thành lễ kính và trì tụng kinh ra, ông cũng phát động người dân trong thôn làng cùng sao chép truyền tụng. Đây là lý do vì sao bản kinh này được đổi tên thành Cao Vương Quan Thế Âm Kinh, hoàn toàn không phải là như những lời đồn đại rằng do Cao Vương gặp nạn gì đó, mà là do nhờ đọc Quan Âm Cứu Thế Kinh có được trong mơ mà tránh được cái chết. Ngoài ra, con trai của Cao Hoan khi đó là Cao Dương đã chiếm đoạt Đông Ngụy, sau khi đổi hiệu thành Bắc Tề, đã truy phong cho phụ thân ông làm Thần Võ Hoàng Đế.

Khi đó, Cao Dương cho rằng sở dĩ vì sao Quan Âm Cứu Thế Kinh có thể được đại chúng yêu thích đọc tụng như vậy là do công lao của phụ thân ông, vì thế nên ông đổi thành Cao Hoàng Quan Thế Âm Kinh. Hậu thế không thích phiền phức nên khi viết thành sách hoặc làm bản in đều giản lược chữ Hoàng thành chữ Vương. Đây chính là lai lịch và nguồn gốc phát triển của Cao Vương Quan Thế Âm Kinh.

Lịch sử cũng xác nhận sự thật này, mọi điểm đều rõ ràng, chứ không phải giống như những người không hiểu lịch sử bình thường vẫn nói rằng đây là kinh ngụy tạo, tuyệt đối không thể có việc phát sinh những sự việc cảm ứng linh nghiệm được.

Có một số phái Đạo giáo khi in kinh Cao Vương Quan Thế Âm Kinh này đã tự ý đưa thêm chữ "Chân" vào trong tên gọi nên trở thành Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh.


### 02. Sự linh nghiệm của Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Viết bởi: Cư sĩ Mạc Chính Hi

Liên quan đến sự tích Lư Cảnh Dụ, trong Nho Lâm Truyền thời Bắc Ngụy và Lư Đồng Truyền thời Bắc Sử đều có ghi chép lại.

Lư Cảnh Dụ chuyên môn nghiên cứu kinh học, làm quan Lịch Nhân Quốc Tử bác sĩ [ND: bác sĩ ở đây là tên học quan thời xưa], lại yêu thích nghiên cứu kinh Phật. Những nghĩa lý chủ yếu của Phật giáo ông đều thông hiểu, tuy nhiên, anh trai của ông là Lư Trung Lễ cùng với Hình Ma Nạp nắm quyền ở quê hương, gây nên mối thù ghét với những bên phiến loạn. Khi đó, Hiến Võ Vương của Bắc Tề đã dẹp yên họ, nhưng Lư Cảnh Dụ cũng bị liên lụy, bị nhốt trong kiên lao ở Tấn Dương.

Kể từ sau khi bị giam trong nhà lao, Lư Cảnh Dụ thành tâm tụng niệm Cao Vương Quan Thế Âm Kinh, niệm được mấy ngày thì ông có thể tự gỡ bỏ tất cả mọi xiềng xích trói trên người. Cai ngục tấu chuyện này lên Tề Hiến Võ Vương. Tề Hiến Võ Vương biết nhất định là ông bị oan, liền miễn tội cho ông, về sau cứ thế ông thăng quan đến chức Quốc Tử bác sĩ.

🌟

Đồng thời, lại có một vị quan viên phạm vào tội chết, buổi tối mơ thấy một hòa thượng dạy ông tụng niệm Cao Vương Quan Thế Âm Kinh. Sau khi tỉnh dậy, ông làm theo những gì hòa thượng chỉ dạy, niệm thầm đủ một nghìn biến. Đến khi bị hành hình, một đao chém xuống, đao bị gãy còn cổ ông thì chẳng mảy may bị thương. Vị quan giám sát chặt đầu lại đem chuyện này tấu lên Thượng Hiến Võ Vương, vị quan viên phạm tội đó lại được miễn tội chết.

Từ đó, bộ Cao Vương Quan Thế Âm Kinh lại càng trở nên thịnh hành. Nhưng bản kinh này không phải là kinh được dịch từ tiếng Phạn của Ấn Độ, trong Đại Tạng Kinh từ trước tới nay đều chưa từng xuất bản. Đây là bộ kinh có được từ trong mơ, từ trong giấc mơ mà học được, tuy nhiên từ thời Nam Bắc Triều tới nay, hễ ai đọc tụng bản kinh này đều có được rất nhiều sự linh nghiệm.

Đây chẳng phải là những điều phàm phu có thể ngụy tạo ra. Bởi vì trong bản kinh có rất nhiều danh hiệu Phật, cũng có danh hiệu Quan Thế Âm Bồ Tát, người gặp phải lúc nguy cấp, tụng niệm kinh này đủ một nghìn biến, chắc chắn sẽ đạt được rất nhiều cảm ứng, có thể thấy rằng sức mạnh của Phật là bất khả tư nghì.


### 03. Liên Sinh Hoạt Phật và Cao Vương Kinh


Sự coi trọng của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đối với Cao Vương Kinh:

Tại Ngọc Hoàng Cung [ND: một ngôi chùa tại thành phố Đài Trung, Đài Loan], cuốn kinh điển đầu tiên mà tôi có được là:
Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh.

Cuốn kinh điển đầu tiên mà tôi thuộc lòng là:
Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh.

Cuốn kinh điển đầu tiên mà tôi có được tương ứng linh nghiệm là:
Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh.

Cuốn kinh điển đầu tiên mà tôi truyền bá rộng rãi là:
Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh.

Bởi vậy, tôi nói rằng: Linh Tiên Chân Phật Tông tôn sùng Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh.

🌟

Những tâm đắc về việc đọc tụng Cao Vương Kinh:

Trong những khóa tu buổi tối cách đây hơn mười năm trước, tôi thường tiến nhập vào cảnh giới của Cao Vương Kinh. Từng vị Phật Bồ Tát đều phóng ánh sáng chiếu rọi vào tôi, trên phương diện tâm linh có những sự chuyển hóa huyền diệu, hoàn toàn không có những cảm giác lo lắng bất an, chỉ có cảm giác tinh tấn hơn. Mỗi lần tôi đều rớt nước mắt, những âm thanh trong bản kinh muốn tôi đừng bám chấp vào những hiện tượng thế gian, tất cả phiền não chỉ như một nét bút phết qua mà thôi, tôi đã có được những quan kiến về giải thoát chân chính.

Niệm tụng Cao Vương Kinh khiến cho tất cả mọi đau khổ sinh tử và phiền não đều tiêu trừ, lại càng cảm thấy tâm trí trong sáng, trí tuệ sáng suốt, giống như dòng suối nước trong vắt róc rách chảy từ tâm mình ra vậy. Tất cả những ô nhiễm nhơ bẩn đều được gột sạch, tất cả bực tức nóng nảy đều hóa thành dịu mát. Trong tu hành chứng nghiệm thấy hoa sen hiển hiện, phóng đại quang minh, khiến tôi trong cảm giác hỉ lạc mà có được pháp lạc.

Ngày xưa, khi tôi bị kẻ xấu phá hoại thì đều cảm thấy bất lực, thân tâm đều bị tổn thương, có thể nói là lòng căm giận hừng hực như lửa đốt, gần như không sao chịu đựng nổi, rất muốn phá búa chìm thuyền để giải tỏa hoàn toàn những uất ức. Thế là, tôi đến Phật đường, cứ thế niệm Cao Vương Kinh. Tôi nhìn thấy Quan Thế Âm Bồ Tát hiển hiện, đứng trong không trung, dùng cành dương liễu vẩy nước, rắc mấy giọt cam lộ lên đầu tôi, thế là ngọn lửa phừng phừng hóa thành hồ sen trắng, tâm trạng tôi có chuyển biến lớn, tôi cảm thấy được an ủi, lập tức cảm thấy thần trí thanh minh, hoàn toàn điềm nhiên sáng suốt.


### 04. Liên Sinh Hoạt Phật giảng Cao Vương Kinh


Kinh chú nào tốt nhất:

Có người hỏi tôi, kinh nào tốt nhất? Chú nào có công đức nhất?
Đáp án của tôi là: "Chỉ cần kinh chú nào có duyên với ta thì đó là thượng phẩm. Kinh chú không phân biệt trên dưới, có thể niệm đến khi chuyển được pháp luân chính là thành công."

Bởi vậy tôi cho rằng, kinh điển Đại thừa và kinh điển Tiểu thừa đều có công đức. Chú lớn và chú nhỏ đều có pháp lực, chỉ cần bạn có động lực và nỗ lực thì sắt đá cũng biến thành vàng. Công đức của niệm kinh trì chú là bất khả tư nghì. Chư Phật Bồ Tát dựa vào kinh chú để tiếp nhận chúng sinh bình phàm trong thiên hạ, còn chúng sinh bình phàm dựa vào kinh chú để có được sự bảo vệ của chư Phật Bồ Tát.

🌟

Bí mật thành công của niệm kinh chú:

Khi mọi kinh chú đều hợp nhất thuần thục với tâm - khẩu - ý thì ngữ âm của kinh chú sẽ hóa thành ánh sáng trắng xoay vòng. Ánh sáng trắng sẽ tỏa ra từ trong miệng, từ trên đỉnh đầu, từ những lỗ chân lông trên khắp thân thể, trở thành một luồng ánh sáng rực rỡ tươi sáng. Ánh sáng này cùng với Phật quang của kinh chú kết hợp lại với nhau, Phật Bồ Tát có thể cảm nhận thông suốt đến kinh chú của người tu đạo. Chính ánh sáng trắng xoay vòng làm chuyển động pháp luân. Người bình thường niệm tới khi pháp luân xoay chuyển có thể nói là đã cởi bỏ được lớp vỏ phàm phu, tương lai sẽ đến được Tây phương cực lạc thế giới, hóa sinh thành hoa sen, vĩnh viễn không phải chịu khổ báo luân hồi nữa, thành Phật thành thánh, có được cuộc sống vĩnh hằng.

🌟

Hoàn cảnh niệm kinh và phương thức trì tụng:

Muốn niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, trước tiên tắm rửa sạch sẽ, phần mở đầu không cần niệm, chỉ cần niệm nguyên văn là được rồi. Thông thường nơi niệm kinh đương nhiên ở tại Phật đường là tốt nhất, không có Phật đường thì có thể ở trong thư phòng. Nếu không có thư phòng thì chọn một góc trong phòng ngủ, dọn sạch sẽ là có thể được rồi. (Đừng đọc kinh ở những chỗ không sạch sẽ, sẽ mất đi tấm lòng cung kính).

Thắp lên một nén hương, hoặc đốt đàn hương, nếu không thực sự thuận tiện thì chắp tay cung kính niệm cũng vẫn có được hiệu ứng. Đứng chắp tay niệm, ngồi chắp tay niệm, quỳ chắp tay niệm, dùng pháp khí hoặc không dùng pháp khí tùy theo mong muốn, hoàn toàn không có quy định cứng nhắc.

Điều quan trọng nhất là tấm lòng phải kiền thành, miệng đọc ra thành tiếng cũng được, không thành tiếng cũng được, không được để suy nghĩ chạy lung tung.

Trì tụng Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, người có nguyện lực lớn, mỗi ngày niệm mười biến, mỗi sáng tối niệm năm biến, thậm chí càng nhiều càng tốt. Người có nguyện lực nhỏ, mỗi ngày niệm hai biến, sáng tối mỗi lần một biến. Gặp chuyện cấp bách cần thỉnh Bồ Tát ra sức bảo hộ thì một ngày niệm một trăm biến, mười ngày sẽ xong hết một nghìn biến. Có kiên trì như vậy thì tôi tin rằng cảm ứng sẽ theo bạn như hình với bóng, có cầu có ứng. Người càng có tín tâm kiên định thì càng có công lực, đây là một đạo lý chắc chắn.

🌟

Điểm cốt yếu khi trì tụng Cao Vương Kinh:

1. Điều chỉnh tâm quy về một chỗ, không khởi vọng niệm.
2. Bất kể thời gian, địa điểm nào, quan trọng nhất là tâm linh tự tại.
3. Lời đi ra từ miệng, đi vào tai, in vào tâm.
4. Với mỗi điều cầu nguyện cần đọc đủ 1000 biến.
5. Nếu vẫn chưa đạt hiệu quả, tự mình cần biết nghiệp chướng còn rất nặng, càng nên tiếp tục trì tụng cho đến khi đạt hiệu quả mới thôi.

🌟

Ý nghĩa tinh túy của Cao Vương Kinh:

Nam mô Ma ha Bát Nhã Ba La Mật thị vô đẳng đẳng chú. Đây là kim quang thuần tịnh, cũng là ánh sáng chiếu rọi khắp nơi, không thay đổi biến hóa, không bao gồm thành - trụ - hoại - không, vô khởi vô chung, tràn trề khắp mọi nơi, không sinh không diệt, tất cả đều viên mãn.

Kim quang lấp lánh của mỗi vị Phật đều tượng trưng cho tịnh độ trang nghiêm, là cảnh giới được trang hoàng diễm lệ bởi mọi ngọc báu, hàm chứa rất nhiều pháp môn bí mật nằm dưới sự bảo hộ của các kim cang thần. Người có thiện căn cực dày, người có duyên sẽ khai mở được pháp yếu vô thượng.

Lục phương lục Phật vốn là trí huệ vô cùng tận, thông thiên triệt địa, nắm rõ hết mọi sự trên trời dưới đất, quang hoa trường tồn vạn cổ, là tinh hoa của Phật, quang minh huy hoàng như vàng bạc ngọc bích, vốn là những huyền bí lớn trong huyền bí, là đại thánh trong thánh, về cơ bản là không có lời nào giải thích hết được, có nói cũng chỉ là lời cụt ý cạn mà thôi.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, chính là sự hóa hiện lòng từ bi không chút e sợ. Người nào phát tâm thọ trì lập tức được ban cho sự bảo hộ từ bi, người nào trì tụng sẽ có được kho báu vô giá tuyệt vời đạt được mọi sự như ý, có thể luôn mang trên đầu sự gia trì bảo hộ, ý nghĩa đích thực trong đó là: "Năng diệt sinh tử khổ, tiêu trừ chư độc hại."

Thất Phật Thế Tôn: "Lipo lipo te, kio kio te, tola nite, pili nite, mohua chante, chanling cante, soha", kể tên ở đây gồm các vị Bì Bà Thi Phật, Thi Khí Phật, Bì Xá Phù Phật, Câu Lưu Tôn Phật, Câu Na Hàm Mâu Ni Phật, Ca Diếp Phật, Thích Ca Mâu Ni Phật.

Niệm chân ngôn này nghĩa là bộc lộ tâm sám hối, tâm từ bỏ sợ hãi, tâm thề nguyện rời xa cái ác, tâm bồ đề, tâm bình đẳng với oan - thân, tâm niệm Phật báo ân, tâm quan sát tội chính là tính không. Một khi đã bộc lộ bảy tâm này cũng chính là biết được bí mật của sinh tử, có được đại trí huệ của nhiều kiếp, là đệ nhất nghĩa luận, là con đường rời xa cái khổ đến với an lạc. Sự sáng chói của Thất Phật lại càng rực rỡ gấp đôi, biến những thứ mục nát thành thần kì, chuyển chết thành sống, biến những con người đang chết dần chết mòn thành hoàn toàn tươi mới, được thiên long bảo vệ, hộ pháp bảo vệ, thực là một viễn cảnh kì vĩ tráng lệ, có được pháp lạc lớn nhất.

🌟

Cao Vương Kinh được truyền tụng rộng rãi khắp nơi:

Quang minh truyền tới khắp chư thiên, trời người đều truyền tụng kinh này, các cõi âm phủ cũng đều truyền tụng kinh này, đó là ánh sáng chiếu rọi khắp vũ trụ, rực rỡ mười phương, trở thành chân ngôn phổ biến khắp nơi nơi, trường tồn bất diệt, phá vỡ hoàn toàn tất cả thời gian và không gian. Người nào trì tụng và gìn giữ kinh này đang từng bước từng bước tiến lên. Đây là pháp môn thù thắng nhất xuyên suốt thế giới đến để tiếp dẫn những mầm mống cỏ cây của thế kỉ này.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh - lợi ích Phật pháp thuần tịnh nhất.
Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh - cõi tịnh độ oai phong nhất.
Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh - ngọn cờ pháp cao nhất.

🌟

Sức mạnh của Cao Vương Kinh:

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh là kinh điển được Chân Phật Tông tôn sùng nhất. Thực tế đây là kinh điển có hiệu nghiệm rất lớn, niệm rồi sẽ có được pháp lực lớn, vô cùng bất khả tư nghì. Vào triều đại nhà Đường, kinh này đã cực kì nổi tiếng, ai nấy cung kính đọc tụng.

Kì thực, trong kinh này bao gồm ba sức mạnh lớn:
Thứ nhất là sức mạnh hồng danh của chư Phật, hồng danh của chư Phật tượng trưng cho ý thức vũ trụ. Cao Vương Kinh chính là bộ kinh tổng hợp tên hiệu của chư Phật.
Thứ hai là sức mạnh của câu chú. Cao Vương Kinh có Thất Phật diệt tội chân ngôn, chú lực của một vị Phật đã vô cùng lớn, huống hồ là chú lực của bảy vị Phật, bởi vậy Thất Phật chân ngôn là bất khả tư nghì.
Thứ ba là trong Cao Vương Kinh có nói đến mười chữ: "Năng diệt sinh tử khổ, tiêu trừ chư độc hại", ai tin sẽ được cứu.

🌟

Trì tụng Cao Vương Kinh và bí mật thành tựu tịnh quang:

Chúng ta thường nói về "Tịnh Quang thành tựu pháp". Trong tam giới của ba cõi giới thiên - dục giới, sắc giới, vô sắc giới, tôi nghĩ cần phân biệt thế nào nhỉ?

Ở cõi trời dục giới, người có phúc báo lớn có thể đến được cõi trời dục giới, bởi vậy đây thuộc về Phúc đại, phúc khí rất lớn. Vì sao phúc khí rất lớn? Bởi vì họ từng bố thí, làm công đức, nên phúc khí rất lớn, bởi vậy họ được đến cõi trời dục giới để hưởng phúc.

Tôi thấy rằng cõi trời sắc giới là Huệ đại, không phải là "nổi điên". [ND: Ở đây Sư Tôn đùa, chơi chữ. Huệ lớn - có phiên âm là hui da, đồng âm với nổi điên - có phiên âm là huo da.]

Huệ đại là chữ huệ trong trí huệ. Bởi vì họ thiền định, nhờ vào sức mạnh của thiền định mà tiến được vào sâu bên trong sản sinh ra trí huệ, gia tăng sức mạnh trí huệ, rồi cứ thế mà đi lên từng cấp từng cấp cõi trời, do vậy thuộc về Huệ đại.

Tôi thấy rằng cõi trời vô sắc giới là Không đại, cái gì là Không đại? Bởi vì họ tu hư không, tu duy thức, tu vô tưởng, vô tưởng chính là phi tưởng, rồi ngay cả phi tưởng cũng loại bỏ được thì chính là phi tưởng phi phi tưởng. Loại bỏ đi mọi ý thức, biến thành vô sở hữu, do vậy họ ấn chứng được Không đại, nên tôi cho rằng ở cõi trời vô sắc giới là thuộc về Không đại.

Thế còn "Tịnh quang thành tựu pháp", tôi cho rằng là ở cõi trời sắc giới, sắc giới thiên sẽ sản sinh ra tịnh quang. Tịnh quang sinh ra như thế nào? Kì thực đó chính là khi thủy hỏa vận hành hòa quyện mà sinh ra, nước rơi xuống, lửa đi lên, mở ra tâm luân.

Đối với phương diện khai mở tâm luân, tôi phát hiện ra có một chỗ rất ảo diệu. Bình thường chúng ta niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, giả sử bạn rất cẩn thận, niệm rất tập trung chuyên nhất, bạn sẽ phát hiện ra trong kinh này toàn là danh hiệu của Phật Bồ Tát khắp mười phương.

Trên phương diện niệm Phật, Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh tương đương với thập phương Phật, thập phương Bồ Tát. Nếu không tin, bạn đọc trong Đại Tạng Kinh có giải thích Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, toàn bộ đều là danh hiệu của thập phương Phật Bồ Tát. Bạn niệm tập trung được thì cũng tương đương với niệm vạn vạn tỉ tỉ vô số danh hiệu Phật và Bồ Tát.

🌟

Bạn có thể niệm với tinh thần tập trung chuyên nhất, thập phương Phật, thập phương Bồ Tát sẽ quán đảnh cho bạn. Tôi nói cho bạn biết một hiện tượng này. Niệm một biến tương đương với giảm bớt một ít nghiệp chướng của bạn, điều này giống với cái gì nhỉ? Rất giống với việc giúp bạn lột bỏ nghiệp chướng, từng lớp từng lớp nghiệp chướng được lột bỏ dần, sau đó mạch trên toàn thân bạn sẽ được thả lỏng.

Bạn nên biết rằng ở quanh tâm luân có rất nhiều mạch phiền não, rất nhiều mạch phiền não đau đớn khổ sở xoắn lại với nhau. Hôm nay bạn tu khí mạch là có thể nới lỏng những nút thắt phiền não của bạn, hơn nữa thủy hỏa còn có thể hòa quyện, nói cách khác chính là nới lỏng được những phiền não của tâm mạch. Sau khi mở được tâm mạch, hoa sen ở tâm giới của bạn mới có thể khai nở, vậy mới được gọi là mở ra tâm liên.

Bạn niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, Phật Bồ Tát trong hư không sẽ quán đảnh gia trì cho bạn, Phật Bồ Tát của mười phương sẽ quán đảnh gia trì cho bạn. Lột bỏ nghiệp chướng của bạn, lột bỏ… lột bỏ…, lột bỏ đến cuối cùng, tâm liên của bạn sẽ nở ra, tâm luân cũng mở ra, bên trong lập tức có ánh sáng, ánh sáng ngũ sắc của tâm mạch liền hiển hiện, đây gọi là Tâm quang phát lộ. Nguyên nhân của Tâm quang phát lộ chính là ở đây. Cái gì gọi là Tâm quang phát lộ? Đây chính là Tâm quang phát lộ đó.

🌟

Chúng ta nói rằng ánh sáng do tự mình phát ra thì gọi là tử quang (ánh sáng con), tử quang chính là ánh sáng của chính bạn. Ánh sáng của ý thức vũ trụ tối thượng gọi là mẫu quang (ánh sáng mẹ). Hai thứ ánh sáng này được gọi là tử tịnh quang và mẫu tịnh quang. Bạn đem ánh sáng của mình bay lên cùng hòa hợp với mẫu tịnh quang thì gọi là quả tịnh quang, ta gọi ba thứ ánh sáng này là Tam quang.

Tử tịnh quang thuộc về ánh sáng thanh tịnh do chính mình phát ra, ý thức vũ trụ được gọi là mẫu tịnh quang - ánh sáng vốn có của ý thức vũ trụ. Tử - mẫu quang gặp nhau gọi là quả tịnh quang. Lúc này bạn lập tức có thể ấn chứng được Tì Lư Tính Hải. Bạn bí mật bơi trong đại quang minh của Tì Lư Tính Hải, bơi lội ở trong đó. Bạn bắt đầu bơi trong biển ánh sáng, đảm bảo sẽ không bị hết hơi, sẽ không bị chìm xuống. Sau khi tắm xong trong ánh sáng đó thì bạn trở nên vô cùng thanh tịnh, khiến cho bạn cảm thấy ở nơi đây sao mà vui sướng đến thế. Niềm vui sướng này gọi là đại lạc, là niềm hạnh phúc vô thượng, là vô thượng đại lạc, thắng lạc diệu hỉ.

🌟

Trong kinh Phật chúng ta thường nhắc tới một câu: "Thường lạc ngã tịnh", chúng ta có thể nói nó chính là "tịnh quang thế giới". Bạn đã thành tựu được tịnh quang rồi, tiến vào được Tì Lư Tính Hải rồi, bơi trong biển ánh sáng rồi, lúc này được gọi là "thường lạc ngã tịnh". Một sự khoái lạc vĩnh hằng vĩnh cửu, ta mãi mãi được thanh tịnh. Bốn chữ "thường lạc ngã tịnh" này chính là cảnh giới kết hợp lại của cõi trời dục giới và cõi trời sắc giới. Cảnh giới kết hợp này là "thường lạc ngã tịnh".

Đến được với "thường lạc ngã tịnh" đã là rất tốt rồi, muốn được thường lạc, ở đâu có thể có cách để được thường lạc đây? Bạn xem, đạo địa ngục, đạo ngạ quỷ, đạo súc sinh, ở đâu có được thường lạc? Đạo súc sinh có niềm vui ngắn ngủi, còn đâu chỉ toàn là tranh đấu. Đạo atula toàn là tranh đấu. Đạo địa ngục, đạo ngạ quỷ vĩnh viễn chỉ có đau khổ, đạo súc sinh cũng vĩnh viễn chỉ có khổ, đó là thường khổ, chẳng phải thường lạc mà là thường khổ. "Thường khổ ngã tảng" là như thế đó.

Bởi vậy, có thể nói rằng cảnh giới của thường lạc ngã tịnh chính là thành tựu tịnh quang. Bạn đến được cõi trời dục giới và cõi trời sắc giới đều là thành tựu rồi, đã leo lên đến được tầng trời thứ hai rồi. Bạn chỉ cần tu được thành tựu pháp tịnh quang nữa, phát ra được tịnh quang, đạt được trạng thái tử quang và mẫu quang gặp nhau biến thành quả quang, thì bạn chính là thường lạc ngã tịnh, chính là thành tựu tịnh quang rồi.

Phương pháp tu hành này vô cùng đặc biệt, hãy nhớ nhất định cần niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh để lột bỏ hoàn toàn nghiệp chướng của bạn, để những phiền não xung quanh tâm luân của bạn đều được tịnh trừ!
Hôm nay tôi giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.


### 05. Sáu bí quyết lớn cho một cuộc đời phúc huệ


Nghiệp chướng là gì?
Nghiệp là ngôn ngữ của Phật gia, tiếng Phạn chính là karma [Hán Việt là yết ma], nói cách khác là những gì do thân, khẩu, ý tạo ra thì gọi là nghiệp.

Nghiệp có thiện tính và ác tính.
Thiện tính thì sẽ chiêu cảm hạnh phúc. (nghiệp trắng)
Ác tính thì sẽ chiêu cảm đau khổ. (nghiệp đen)

Nghiệp của đời quá khứ là túc nghiệp.
Nghiệp của đời hiện tại là hiện nghiệp.

Thân nghiệp là nghiệp do thân người này tạo ra, khẩu nghiệp là nghiệp do miệng tạo ra, ý nghiệp là nghiệp do suy nghĩ tạo ra. Còn nghiệp chướng chính là những chướng ngại do ác nghiệp tạo ra, ác nghiệp cũng làm hại đến người chính đạo theo Phật pháp. Nghiệp còn có định nghiệp, là hai loại báo ứng khổ hoặc sướng mà người ta chắc chắn sẽ nhận được. Còn có bất định nghiệp, là không nhất định phải chịu quả báo.

🌟

Làm sao để tiêu trừ nghiệp chướng:
Tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) nói, mặc dù nghiệp báo nhân quả không thể diệt sạch, nhưng lại có thể dùng phương pháp khác để làm nghiệp trổ ra.

1. Thế thân: nhờ pháp lực của Sư Tôn, Sư Tôn thay đệ tử chịu khổ, từ đó tiêu trừ tai ách của đệ tử.
2. Chuyển dời: nhờ pháp lực của Sư Tôn, Sư Tôn chuyển dời quả báo vào hư không (vào trong đất, nước, lửa, gió), từ đó tiêu trừ tai ách của đệ tử.

Trước đây tôi từng nói như sau, muốn tiêu trừ nghiệp chướng, những người có tín tâm và hành giả cần có được sự thế thân và chuyển dời. Để làm điều này có tám phương pháp:

1. Đọc tụng Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh một nghìn biến. (sức mạnh của kinh)
2. Trì tụng Căn bản Thượng sư tâm chú một vạn biến. (sức mạnh của chú)
3. Tu pháp sám hối 200 đàn. (sức mạnh của pháp)
4. Lễ bái cúng dường, xây chùa, xây tháp, làm tượng Phật. (sức mạnh bố thí)
5. Niệm danh xưng của Phật Bồ Tát cho đến khi tương ứng. (sức mạnh của Phật)
6. Thiền định để có sức mạnh giới - định - huệ. (sức mạnh của thiền định)
7. Căn bản Thượng sư tu pháp để gia trì, thế thân và chuyển dời. (sức mạnh của thầy)
8. Chân không hóa vô. (sức mạnh tính Không)

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn nói, bảy loại sức mạnh đầu tiên là thế thân và chuyển dời. Chỉ có phương pháp thứ tám sử dụng sức mạnh tính Không mới là cách thức tiêu trừ nghiệp chướng chân chính.

🌟

Sáu bí quyết lớn cho một cuộc đời phúc huệ:
Muốn biến những nghiệp chướng đau khổ thành niềm vui, tôi cho rằng cần có những quan niệm như sau:

1. Phúc phận là do số trời: Cần có nhận thức rõ ràng rằng phúc phận đã được định sẵn từ khi sinh ra, muốn có được phúc phận thì trước tiên cần phải bố thí.

2. Thắng bại là do trời định: Mọi việc thắng lợi tất sẽ vui, còn nếu thất bại thì hãy nghĩ rằng thắng hay bại là chuyện thường tình của nhà binh, cần nỗ lực nhiều hơn.

3. Được hay mất là có định luật: Có được tất có mất, mất rồi sẽ lại có, trong chuyện được mất đừng nên quá bận tâm, tất cả đều xem là bình đẳng.

4. Thiện nghiệp tăng lên: Làm tốt mỗi việc nhỏ, tự nhiên thiện nghiệp sẽ tăng lên, có thể đạt được tất cả thiện quả lớn.

5. Cảnh giới vận chuyển: Đừng cho rằng vui chỉ là vui, đừng cho rằng khổ chỉ là khổ, trong khổ cũng có thể có được niềm vui, trong mọi việc đều nên nghĩ đến cái vui.

6. Tư tưởng "không thành vấn đề": Có cũng tốt, không có cũng tốt, thành cũng tốt, bại cũng tốt, được cũng tốt, mất cũng tốt, đây chính là đỉnh cao của tư tưởng "không thành vấn đề".


### 06. Con ma bóng đè


*(Bản văn này được trích từ văn tập số 173 của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - Một giấc mộng một thế giới.)*

Có đệ tử nọ thường xuyên mắc chứng bệnh đi ngủ bị bóng đè, có những lúc không dám nhắm mắt, vì hễ nhắm mắt một cái là liền nhìn thấy một bóng đen từ từ leo lên giường, đè lên trên người anh. Anh không thể mở miệng ra nói, cố gắng hết sức để ngồi dậy nhưng không thể ngồi dậy được, mắt cũng không thể mở ra được, toàn thân cứng đờ nặng trịch như khúc gỗ.

Cứ như vậy một lúc, bóng đen kia tự động rời đi, chỉ khi bóng đen bỏ đi rồi thì anh mới có thể ngủ được. Thế nhưng, tình trạng của mắt anh thì ngày càng tồi tệ, buổi sáng tỉnh dậy mệt mỏi tới mức không thể chịu đựng được, toàn thân đau nhức không còn chút sức lực nào, tình trạng càng khốn quẫn hơn.

Anh đã đi gặp nhiều bác sĩ, bác sĩ cho thuốc uống, nhưng từ đầu tới cuối đều chẳng có hiệu quả gì. Anh cũng tìm gặp pháp sư để xin bùa niệm chú, cửa sổ cửa ra vào đều dán bùa cả, nhưng chỉ được vài hôm, mọi thứ lại đâu vào đó, khiến anh chẳng còn biết làm cách gì nữa. Đây thực sự đúng như Phật Đà nói: "Quán thọ thị khổ." [ ND: cần quán chiếu thấy rằng đã có nhận lấy bất kì cái gì là có khổ. ]

Sau khi đệ tử này quy y, chăm chỉ trì tụng Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, cũng đã trì tụng được một khoảng thời gian khá dài rồi. Nhưng bóng đen ma quái này vẫn bám riết không buông tha anh, nó vẫn cứ đến. Cứ thế cho đến một hôm, anh cảm thấy Cao Vương Kinh chẳng có hiệu quả gì, muốn từ bỏ. Rồi anh mơ thấy Sư Tôn đến nói với anh:
"Đừng từ bỏ, hãy trì tụng tiếp 21 ngày nữa."
Kể từ hôm đó, anh liền đánh dấu lại, lại tiếp tục trì tụng thêm 21 ngày. Nói ra cũng kì lạ, cái bóng đen ma quái đó lại đến.

Lần này, đầu giường xuất hiện một đường ánh sáng màu trắng, trong ánh sáng trắng có một người phụ nữ nhìn rất giống Quan Âm Bồ Tát hét lên một câu: "To gan, nghiệt súc, dám ở đây hại người!"
Bóng đen kia vừa nhìn thấy ánh sáng trắng liền tháo chạy.
"Chạy đi đâu!"
Người phụ nữ trong quầng ánh sáng trắng cầm bình cam lộ thổi hút vào bóng đen vào trong, thế rồi ánh sáng trắng cũng từ từ biến mất. Đêm đó, đệ tử này ngủ một giấc ngủ ngon chưa từng có. Ngày hôm sau, tinh thần sảng khoái, bách bệnh tiêu trừ, trở thành người chẳng còn bệnh tật gì.

Sau đêm hôm đó, hiện tượng bị bóng đè tự nhiên biến mất, chứng bệnh kinh niên này đã hoàn toàn khỏi rồi. Đệ tử này trong lúc hoảng hốt bỗng chốc như hai con người hoàn toàn khác, con người trước đây thì yếu ớt mệt mỏi, còn con người sau này thì thần quang rực rỡ.


### 07. Bị câm bẩm sinh


*(Bản văn này được trích từ văn tập số 173 của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - Một giấc mộng một thế giới.)*

Trong lúc thần hành trong tam muội, tôi trông thấy một cặp vợ chồng rất thành khẩn cầu xin Phật Bồ Tát ban cho họ một đứa con trai. Họ đã cầu xin nhiều năm, rốt cục cũng có cảm ứng, hạ sinh được một đứa con trai. Đứa bé lớn lên nhưng lại có một khiếm khuyết, đó là bị câm bẩm sinh. Họ nghe người ta nói thờ cúng tượng sứ của Thượng sư thì sẽ có được nhiều cảm ứng, thế là họ liền thờ cúng một bức tượng sứ Liên Hoa Đồng Tử. Chính bởi vì nhân duyên đó mà trong lúc tôi thần hành trong tam muội đã thấy được đôi vợ chồng rất thành tâm tín Phật này. Tôi cũng trông thấy đứa con bị câm bẩm sinh của họ.

Họ hướng về tượng sứ Liên Hoa Đồng Tử cầu nguyện, đau đớn rơi nước mắt, tôi trông thấy cũng không cầm lòng được.

Tôi kiểm tra lưỡi đứa bé, không có vấn đề.
Tôi kiểm tra thanh đới của đứa bé, không có vấn đề.
Tôi kiểm tra họng của đứa bé, không có vấn đề.

Tôi vẽ một tấm phù "Mở miệng phát âm", rồi đi vào trong giấc mơ của cậu bé, cho cậu uống phù, chẳng ngờ không có hiệu lực. Tôi không hiểu tại sao, nghĩ suốt cả nửa ngày, rồi bèn đi tìm thần chim Ca Lăng Tần Già, là thần chim phát ra âm thanh tuyệt mĩ nhất. Các thần chim rất thương xót nhưng cũng không có cách nào giúp.

Tôi đã muốn từ bỏ, nhưng sau đó, tôi nghĩ có thể là vấn đề nhân quả. Nhân quả thực sự phức tạp, phải kiểm tra rất lâu, thế rồi tôi thấy được kiếp trước đứa bé khi là pháp sư, đã phạm phải ba lỗi nghiêm trọng:

1. Đánh mất lòng tôn kính với sư phụ của mình.

1. Đánh mất bồ đề tâm.

1. Đánh mất giới luật.

Còn kiếp trước của cặp vợ chồng này, không ngờ họ cũng là cha mẹ thân sinh kiếp trước của pháp sư. (Nhân quả nhiều kiếp ràng buộc với nhau.) Tôi nhìn thấy nhân quả như thế cũng thấy thật đáng sợ.

Đến đây tôi muốn bỏ cuộc nhưng rồi lại không đành lòng. Tôi đi vào trong giấc mơ của cặp vợ chồng, khuyên họ niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh đủ 1000 biến. Quả nhiên cặp vợ chồng đó phát nguyện sẽ trì Cao Vương Kinh cả đời, sám hối tất cả, hồi hướng cho đứa con trai, không chỉ là 1000 biến mà họ đọc cả vạn biến, vạn vạn biến. (Đọc tụng tròn nghìn biến, trọng tội đều tiêu diệt.)

Theo như tôi biết, đứa con trai đã có cảm ứng. Một ngày nọ, cậu bé trượt chân ngã xuống nước, được người ta cứu lên, cậu bé nôn ra rất nhiều nước. Điều khiến người ta kinh ngạc tán thán là cậu bé bỗng nhiên mở miệng phát ra âm thanh. Sau khi bị rơi xuống nước thì bệnh câm bẩm sinh không ngờ biến mất, cậu mở miệng nói được rồi.

Cặp vợ chồng cảm kích không ngừng.
Đây chính là cảm ứng rất lớn của Cao Vương Kinh!


### 08. Chuyển hóa suy nghĩ


Tôi có thần thông thiên nhãn, cũng giỏi quan sát khí sắc. Tôi nhiều lần giúp chúng sinh hỏi chuyện, những chuyện từng hỏi cũng linh dị phi phàm.

Có một người là ông Nhan từng đến chỗ tôi. Khi gặp ông, tôi giật nảy mình, bởi vì trước sau, trái phải của ông là một bầy quỷ quái dị hình dị dạng. Những con quỷ này đều phơi bày bộ dạng hung ác bám theo người đàn ông họ Nhan này.

Tuy nhiên, tôi cũng không để lộ ra điều này. Sau khi hỏi việc xong, tôi tặng ông Nhan một cuốn Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. Tôi bảo ông Nhan mỗi ngày đọc tụng ba biến, sẽ có ích lợi. Ông Nhan hỏi:
"Ích lợi gì?"
Tôi đáp:
"Thường lạc ngã tịnh."

🌟

Ông Nhan đem quyển kinh về nhà, mấy hôm sau ông Nhan này lại đến chỗ tôi, lần này đi theo ông ta là người, không còn là những ma quỷ hình dạng quái dị nữa, hơn nữa trên đầu người này còn đội bảo quán, trên thân thì mặc thiên y, tỏa ra ánh sáng thanh tịnh của thiện thần, còn có cả một đám đông với hoa thơm cờ phướn theo sau, mười phần trang nghiêm. Những thiện thần này đều vô cùng vui vẻ cát tường.

Tôi nói với ông Nhan những gì mà tôi nhìn thấy.
Ông Nhan chắp tay lại quỳ xuống trước tôi nói:
"Ngài biết không, tôi vốn là một người học tà thuật bùa chú, lần trước tôi đến chỗ ngài là bởi vì người ta đồn nhau rằng pháp thuật của ngài cao cường hơn tôi, nên tôi mới đến thám thính thực tế xem sao, nhằm chuẩn bị so bì với ngài một phen. Sau đó, ngài tặng tôi cuốn Cao Vương Kinh, tôi làm theo lời ngài nói mỗi ngày đọc ba biến. Đêm đó tôi nằm mơ, trong mơ vô cùng rõ ràng, tôi thấy ngài vốn là hóa thân của A Di Đà Phật. Sau khi tỉnh dậy, toàn thân tôi đổ mồ hôi đầm đìa, vốn dĩ tôi muốn làm pháp để đối phó với ngài, để cho ngài trúng bùa phép, thần kinh thất thường. Bây giờ tôi thay đổi suy nghĩ rồi, hôm nay tôi đến đây là muốn quy y ngài, học tập chính pháp, cũng không làm bùa phép lên người ta nữa."

Tôi nghe ông nói xong cũng không kém phần kinh ngạc. Thế là, tôi nhận ông Nhan làm đệ tử, làm quán đảnh quy y cho ông, dạy ông mấy Mật pháp cơ bản, bảo ông mỗi ngày cần nghiêm túc tu trì. Sự việc này khiến tôi có chút cẩn trọng đề phòng. Tôi thường nói: "Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã, nghĩ gì sẽ chiêu cảm cái đó!"

🌟

Khi có ác niệm thì sẽ chiêu cảm những ác quỷ theo mình.
Khi có thiện niệm thì sẽ chiêu cảm những thiện thần đến bảo vệ mình.

Giống như ông Nhan vậy, ông vốn dĩ là người học tà pháp giáng đầu, những pháp của ông toàn là ác quỷ ác ma đến trợ giúp. Thế nhưng, một khi suy nghĩ thay đổi, ông muốn cải tà quy chính, những ác quỷ này liền bỏ đi, lập tức thiện thần đến để bảo vệ ông. Do vậy, suy nghĩ của ta vô cùng quan trọng đó!

Tôi nhấn mạnh, Mật giáo là Phật pháp thực tu, tu một đàn pháp cần niệm chú, cần làm thủ ấn, cần quán tưởng. Khi làm như vậy thì thực tiễn niệm lực sẽ thanh tịnh viên mãn, dẫn dắt người tu hành tiến nhập tới cái thiện, thường lạc, tịnh quang. Chỉ cần tu pháp nghiêm túc, thực hành trong cuộc sống hàng ngày, tương ứng cùng Phật, đây mới gọi là người học Phật chân chính.
*(Bản văn này được trích từ văn tập số 153 của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - Để mặt trời chiếu soi.)*


### 09. Xích sắt đứt từng đoạn


*(Bản văn này được trích từ văn tập số 173 của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - Một giấc mộng một thế giới.)*

Khi nhập vào tam muội, tôi đến một bệnh viện lớn, trông thấy một minh sứ ở âm phủ đem theo xích chân xích tay tới để trói người. Đương nhiên tôi biết nhất định có người bệnh sắp chết nên minh sứ tới để đưa người đi.

Quả nhiên chẳng sai, có người ở trong phòng mổ, chỉ là mổ dây thần kinh bên hông, nhưng tim đã ngừng đập, thần thức vừa xuất hiện một cái là minh sứ tiến lên trước, trói lại và đem đi.

Tuy nhiên đã xảy ra một sự việc kì lạ. Sợi xích trói tay chân đứt ra từng đoạn, thần thức muốn bỏ chạy. Minh sứ liền lấy ra một sợi xích khác để trói thần thức của người bệnh lại, bảo nó đừng có chạy nữa, nhưng càng kì lạ hơn là sợi xích lại đứt ra từng đoạn. Minh sứ rất kinh ngạc.

Đúng vào lúc cả hai bên đều chẳng rõ chuyện gì xảy ra, Quan Thế Âm Bồ Tát xuất hiện nói với minh sứ: "Ông không thể đưa người này đi được đâu."
Minh sứ đáp:
"Ông ta có tên trong sổ, đã phạm tội, vì sao xích sắt lại đứt ra từng đoạn vậy?"
Bồ Tát nói:
"Ông ta niệm Cao Vương Kinh một nghìn biến, trọng tội đều tiêu diệt, tự nhiên sẽ không phải vào địa ngục nữa."
Minh sứ hỏi Bồ Tát:
"Sao có thể như thế? Tội này linh hồn sẽ đi về đâu?"
Quan Thế Âm Bồ Tát nói:
"Ở đây cũng có nhân duyên cả, người này niệm Cao Vương Kinh, chính là đã đọc bản kinh mà Liên Sinh Hoạt Phật khuyên đọc, ông ấy tin theo và làm đúng như vậy nên mới đọc kinh này, hơn nữa người in kinh này để tặng cho ông ấy cũng ở đây, linh hồn của người phạm tội hãy để Lư Thắng Ngạn đưa đi vậy!"

Minh sứ quay đầu lại, vừa nhìn thấy tôi liền cười lớn ha ha. Tôi chắp tay đảnh lễ Quan Thế Âm Bồ Tát, chắp tay chào minh sứ, rồi tôi đưa linh hồn phạm tội đi, đưa trở về hồ Diệp Tử. Linh hồn này theo tôi học Phật, sau này chắc chắn sẽ tới được Tây phương cực lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì hóa thân ở đó.

Tôi xuất ra khỏi tam muội. Vậy là lại thêm một người âm nữa theo tôi học Phật pháp. Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh khiến xích sắt đứt ra từng đoạn, vậy là lại thêm một ví dụ nữa.

Tôi viết một bài kệ:
Niệm hết Chân Kinh nghìn biến trọn
Địa ngục khổ hình cũng thoát ngay
Xích sắt đứt rời, chân thật có
Hóa sinh Tịnh độ tất có ngày.


### 10. Kết thiện duyên cùng ma


Lần này tôi bế quan ở hồ Diệp Tử, đối tượng để tôi độ sinh cũng có chút thay đổi. Tôi không chỉ độ mỗi cho con người, ngược lại tôi độ nhiều nhất lại là chúng sinh thuộc cõi ma, kết duyên với pháp sâu nhất là:
Những con mà ở Đại Âm Sơn.
Những con mà ở cõi ngạ quỷ.
Những quỷ thần hoang dã.
Những cô hồn dã quỷ.

Tôi ở đây rộng rãi kết thiện duyên, với người sống thì ít, ngược lại lại kết thiện duyên cùng ma quỷ thì nhiều. Thật sự tôi đã độ được không ít các đệ tử ma.

Mỗi ngày, tôi đặc biệt dùng hai chiếc bình sứ do Cảnh Đức Trấn sản xuất [ ND: thành phố trực thuộc tỉnh Giang Tây, nổi tiếng về sản xuất đồ gốm sứ ], đổ nước sạch vào đó, một chiếc bình thì cúng dường Phật Bồ Tát chư Tôn, bình kia thì cúng dường: "Đại bàng Kim Sí Điểu, hoang dã quỷ thần chúng, la sát quỷ tử mẫu, cam lộ đều tràn đầy. Om mu ti so ha."

Tôi hóa thực khiến cho quỷ thần chúng đều được no nê cam lộ.

Chúng sinh cõi ma đến nơi đây để nhận đồ ăn mà tôi hóa thực càng ngày càng nhiều. Tôi không cho những con quỷ đói ăn, cũng không làm đạo tràng thủy lục, lại càng không làm pháp hội siêu độ rộng rãi hay làm đại Phật sự. Nhưng việc hóa thực nước cam lộ của tôi thì cõi âm đều biết.

Tôi viết lên nước sạch ba chữ Hum Hum Hum (bằng tiếng Phạn), miệng tụng: "Om Ah Hum". Thật sự nước cam lộ nhiều như biển. Mỗi ngày tôi niệm: "Namo 36 vạn tỉ, 11 vạn, 9 nghìn, 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật." Quỷ chúng và tôi cùng niệm. Tôi hướng dẫn cho họ cùng niệm Phật để vãng sinh Tây phương cực lạc thế giới Phật quốc tịnh độ. Chúng sinh cõi ma quỷ cũng rất đáng thương, khổ hơn cả con người, tám lạnh tám nóng, thân không an định, đồ ăn đồ uống chẳng ở yên một chỗ, cứ trôi nổi không dừng, một số ma quỷ còn chẳng biết lạy Phật sám hối để diệt tội.

Tôi hóa cam lộ là để cúng dường cho họ. Tôi dạy họ niệm Phật để cho họ có cơ hội thoát khổ. 

Tôi niệm Cao Vương Kinh, phụng thỉnh tám đại Bồ Tát, tôi còn niệm Thất Phật Diệt Tội chân ngôn. Ma lớn, ma nhỏ, ma nam, ma nữ, ma già, ma trẻ, ma tự sát, ma bị người ta giết, cô hồn, ác quỷ, thiện quỷ, hung quỷ, quỷ đầu to, quỷ xanh, quỷ đỏ, v.v… tất cả đều đến đảnh lễ Phật, Bồ Tát, Thánh hiền.

Tôi nói:
Tâm quỷ là Phật.
Bình đẳng không khác.

*(Bản văn này được trích từ văn tập số 164 của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - Mỗi ngày một chuyện nhỏ.)*


### 11. Bí mật của những chấm tròn


Bình thường, chúng ta thấy những đệ tử Mật tông học tập, trên tay họ đeo một cái đồng hồ đếm. Khi họ làm công khóa gia hành, họ sẽ đếm số biến mà họ trì chú, bởi vì trong Mật tông có "thành tựu trì minh".
Trì Thượng sư tâm chú một triệu biến hoặc nhiều hơn.
Trì chú bổn tôn một triệu biến hoặc nhiều hơn.
Trì chú hộ pháp một triệu biến hoặc nhiều hơn.

Ngoài "tam căn bản" này ra [ ND: tam căn bản nghĩa là chú của Thượng sư, chú bổn tôn, chú hộ pháp], rất nhiều chú ngữ của bổn tôn có duyên với ta đều cần trì trên một triệu biến. Đồng hồ đếm chính là dùng để đếm số biến khi trì chú.

Thêm nữa, chúng ta cũng thường thấy ở những nơi phân phát sách thiện, trang cuối cùng của những cuốn sách như Bạch Y Thần Chú, Cao Vương Kinh, Quan Âm Kinh, Vãng sinh thần chú, Tông Thắng chú, Lăng Nghiêm chú, v.v… có một trang giấy trắng, ở trên đó có in một loạt những chấm tròn nhỏ.

Đây cũng chính là những chấm tròn dùng để đếm. Thông thường niệm chú, niệm kinh xong được bao nhiêu biến thì sẽ dùng bút đỏ để chấm một cái vào trong những chấm tròn đó.

Đến khi toàn bộ các chấm tròn đã được điểm màu đỏ rồi, có người sẽ:
Gửi cho sư phụ của chính mình, thể hiện rằng đã hoàn thành công khóa rồi.
Giơ lên trong không trung và đốt, hồi hướng cho vãng sinh tịnh độ.
Đốt rồi rắc tro xuống sông suối, hồi hướng độ hóa cho thủy tộc.
Đốt trước đàn thành, thỉnh cầu đạt được nguyện vọng.
v.v…



🌟



Tôi có một đệ tử tên là Liên Hoa Khiết Như. Bản thân ông thường bị ác mộng quấy nhiễu, theo danh từ y học hiện đại thì là chất lượng giấc ngủ không tốt lắm. Không chỉ như vậy, ông thường xuyên mơ thấy ác mộng nên nửa đêm tỉnh dậy, mồ hôi đầm đìa, khổ sở tới mức kêu thét lên. Hơn nữa cũng vì gặp ác mộng nên ông thường xuyên mất ngủ. Ông hay mơ thấy:
Bị bầy rắn cắn.
Bị ác quỷ đuổi bắt.
Bị giết chết.
Bị chặt chân chặt tay.

Những giấc mơ của Liên Hoa Khiết Như toàn là ác mộng, hung mộng, tà mộng, chẳng bao giờ có ngoại lệ. Thế là ông liền niệm Cao Vương Quan Thế Âm Kinh một nghìn biến. Cứ niệm xong 10 biến thì ông lại dùng bút đỏ chấm một cái vào trong những chấm tròn nhỏ, tổng cộng đã chấm được 100 chấm tròn, tương đương với 1000 biến.

Ông tin vào điều Cao Vương Kinh nói:
Năng diệt sinh tử khổ
Tiêu trừ chư độc hại
Niệm tròn một nghìn biến
Trọng tội đều tiêu diệt.

Liên Hoa Khiết Như niệm xong 1000 biến thì cũng chấm dấu đỏ được 100 chấm tròn. Nhưng ông không biết phải giao cho ai cái trang giấy có các chấm tròn này, cũng không biết hồi hướng thế nào. Trong lúc ông đang lưỡng lự thì Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đến trong giấc mơ của ông.
Sư Tôn hỏi:
"Ông có gì nghi ngờ?"
"Tôi đã đọc xong 1000 biến Cao Vương Kinh rồi, tờ giấy in chấm tròn khong biét phải xử lý thế nào?"
"Ông cầu xin việc gì?"
"Hết gặp ác mộng, đêm mơ thấy những giấc mơ ngọt ngào."



🌟



Trong mơ, tôi hướng dẫn Liên Hoa Khiết Như như sau:
"Lấy tờ giấy có in chấm tròn này gập thành hình bát quái, rỗng ở giữa, xung quanh gập lại. Nếu không biết làm thì gập tờ giấy này thành hình vuông cũng được, rồi đặt nó bên trong gối của mình."
"Gối của tôi bẩn lắm."
"Mua một cái gối mới cũng được, hoặc giặt sạch đi là được."

Thế là Liên Hoa Khiết Như làm theo lời dạy của tôi, mua một chiếc gối mới, đặt tờ giấy có in chấm tròn vào bên trong gối. Nếu có ngủ mơ thì sẽ mơ thấy gặp Quan Âm, mơ thấy các cõi tịnh độ, mơ thấy mình trang nghiêm sang trọng, mơ thấy mình cưỡi mây bay lượn, mơ thấy mình ở trong những lầu các bằng vàng bạc, mơ thấy mình niệm Phật trì chú.

Trước đây hễ đi ngủ là ông cảm thấy sợ hãi. Bây giờ thì ông cực kì sung sướng. Tụng Cao Vương Kinh một nghìn biến thật là siêu siêu hữu hiệu.

*(Bản văn này được trích từ văn tập số 181 của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - Dẫn lối trên con đường tươi sáng.)*


### 12. Thử nghiệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


*(Bản văn này được trích từ văn tập số 173 của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - Một giấc mộng một thế giới.)*

Có một đệ tử nọ thích niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, đặc biệt là thích một câu Sư Tôn giảng: "Kinh này thịnh hành từ triều đại nhà Đường cho đến nay, có linh nghiệm rất lớn, năng diệt sinh tử khổ, tiêu trừ chư độc hại, niệm mãn nhất thiên biến, trọng tội giai tiêu diệt."

Rất nhiều năm trước, ở Ngọc Hoàng Cung tại Đài Trung, Đài Loan, tôi đã có được một cuốn kinh này, tôi không chỉ tự mình đọc mà còn khuyên người khác đọc, hơn nữa còn khuyên người ta giúp đỡ in ấn. Cho đến nay tôi vẫn còn tụng không ngừng. Chính tôi cũng nhìn thấy kim thân của Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát thực sự trang nghiêm tuyệt diệu, tán thán không ngớt lời!

Nói thật lòng, tôi nay đã 60 tuổi rồi mà vẫn còn đọc tụng không ngừng đó!

Đệ tử kia của tôi có một vài nghiệp chướng, vẫn là bệnh nghiệp thôi. Anh bị mắc bệnh sỏi thận, đã đi khám bác sĩ thì thực sự là căn bệnh này. Các bác sĩ thông thường có kiến nghị là mổ để lấy sỏi ra, không phải là việc khó. Người mổ để gắp sỏi thận rất nhiều, nhưng anh ta sợ mổ, chỗ đau ẩn bên trong khiến anh rất sợ.

Anh mơ thấy Sư Tôn (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) đến trong giấc mơ nói với anh rằng: "Con là hành giả Mật giáo, hiểu về pháp quán tưởng, tại sao không tụng một biến Cao Vương Kinh, kèm theo quán tưởng ở chỗ có sỏi thận bay ra một viên sỏi đen. Quán tưởng như vậy có thể sẽ không cần phải mổ nữa."

Anh mơ thấy Sư Tôn nên đương nhiên rất vui mừng. Nhưng nói về pháp "sỏi bay" này, cũng có nhiều người bán tín bán nghi. Sỏi thận đâu dễ bị bài tiết ra ngoài, chỉ có mổ mà gắp ra thôi, chưa nghe thấy phương pháp nào khác. Đệ tử cũng không dám tin, nhưng anh lại sợ mổ, nên cũng chỉ còn cách duy nhất là phải thử xem. Anh niệm một biến Cao Vương Kinh, quán tưởng một viên sỏi đen từ chỗ bị sỏi thận bay ra. Đệ tử tụng Cao Vương Kinh một biến rồi quán tưởng một lần.

Đã xảy ra chuyện kì lạ rồi. Một ngày kia, tự anh cảm thấy cái chỗ đau ẩn bên trong không thấy đâu nữa, anh không cảm thấy đau chút nào. Chính anh cũng cảm thấy chỗ đau đã hoàn toàn biến mất rồi.

Anh đến bệnh viện lớn làm xét nghiệm, báo cáo đưa ra, trong thận hoàn toàn không còn sỏi nữa, khác hẳn so với lần kiểm tra trước đây. Lúc trước rõ ràng có sỏi kết lại, bây giờ một viên sỏi cũng không có, thật kì diệu làm sao!
Vốn dĩ anh cần mổ, bây giờ thì không cần nữa rồi.

Đệ tử này hàng ngày đều tụng Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh không ngừng, có được sự cứu giúp của Quan Thế Âm Bồ Tát, có tôi báo mộng kịp thời dạy anh "phi thạch pháp" (pháp sỏi bay). Đây cũng là phúc phận của chính đệ tử này, chẳng phải là sức mạnh của tôi!


### 13. Liễu Minh Hòa Thượng truyền thụ thuật cầu tự


Trên thế gian này, có rất nhiều người mắc chứng bệnh vô sinh, kết hôn đã nhiều năm nhưng ngay cả một quả trứng cũng chẳng có. Cũng có người thì toàn sinh con trai. Lại có người toàn sinh con gái.

Muốn có thể sinh cả trai lẫn gái, lại còn muốn con cái sinh ra phải là trai đẹp gái xinh, hơn nữa lại còn phải tài trí hơn người, phẩm học kiêm ưu [ND: vừa giỏi giang vừa đạo đức tốt], thật khó làm sao!

Tuy nhiên, thuật cầu tự của Liễu Minh Hòa Thượng có thể giúp cho tất cả được như ý nguyện, điều này chẳng phải là trân quý phi phàm sao? Đây chẳng phải là những điều vô giá nhất sao?



🌟



Thuật cầu tự của Liễu Minh Hòa Thượng như sau:
Điểm quan trọng của thuật này là việc kiếm được vài vật. Cần phải tìm được chuỗi tràng hạt của một vị Bồ Tát già đã niệm Phật niệm chú được trên 10 năm, thời gian càng lâu càng tốt. Vật liệu làm nên chuỗi hạt này tốt nhất là hạt bồ đề tử, bởi vì hạt bồ đề tử có một chữ "tử" trong đó nên có được chuỗi hạt này sẽ có tương ứng. Nếu không phải là chuỗi hạt bồ đề thì chuỗi hạt làm bằng chất liệu khác cũng có thể được.

Vì sao cần chọn vật liệu của chuỗi hạt? Theo Liễu Minh Hòa Thượng nói thì:
Niệm Phật một câu đã có vô lượng công đức, niệm chú một câu thì diệt trừ được tội lỗi nhiều như cát trên sông. Tay của con người khi lần tràng hạt thì chuỗi hạt đã có được linh tính. Chuỗi hạt vừa được Phật chú gia trì, vừa được tay gia trì, nên ngay từ đầu đã là một loại linh vật, niệm càng lâu thì linh khí càng nhiều.

Muốn có được chuỗi hạt do chính tay lão Bồ Tát niệm, bạn có thể dùng một chuỗi hạt sáng bóng mới tinh và có giá trị hơn để trao đổi, hoặc dùng tiền để mua nó.
Cần ghi nhớ điều này:
Nếu lão Bồ Tát là nam thì chắc chắn sẽ cầu được bé gái.
Nếu lão Bồ Tát là nữ thì chắc chắn sẽ cầu được bé trai.
(Ở đây vẫn là đạo lý khác biệt giới tính thì hấp dẫn lẫn nhau.)



🌟



Cách làm pháp như sau:
Lấy bất kì một hạt nào trong chuỗi hạt cũng được, đến ngôi chùa có liên quan, ví dụ như chùa có thờ phụng Bà Mụ hoặc Tống Tử Quan Âm. Nếu như gần nơi bạn sống không có ngôi chùa nào thờ phụng Bà Mụ hoặc Tống Tử Quan Âm thì có thể đến miếu Thành Hoàng, miếu Cảnh Chủ, am thờ Địa Tạng,… đều được.
1. Thời gian: buổi chiều, chọn ngày Thành Nhật.
2. Dâng hương, cúng quả, cầu nguyện giống như thực hiện nghi lễ cúng Phật.
3. Lấy một hạt bồ đề tử, lén chôn vào tro của lư hương, ấn xuống nơi sâu nhất.
4. Niệm kệ:
"Trong ruộng bát thức
Trồng chủng tử Phật
Sương mưa tưới tắm
Ra hoa kết quả."
5. Cầu nguyện mong sớm sinh con trai, con gái.
6. Cát tường viên mãn.

Thuật cầu tự của Liễu Minh Hòa Thượng được rất nhiều người làm theo, ai nấy đều có được cảm ứng linh nghiệm. Nếu thực hiện phương pháp này đúng thì thực sự là cầu trai được trai, cầu gái được gái, hơn nữa đứa bé sinh ra chắc chắn sẽ là trai đẹp gái xinh, bé nào cũng thông minh trí tuệ.



🌟



Ngoài ra, Chân Phật Tông chúng ta cũng tôn sùng Cao Vương Quan Thế Âm Kinh. Vào thời Đường, kinh này đã nổi danh là kinh điển rất linh nghiệm, có thể gặt hái được nhiều quả phúc.

Bài kệ cuối cùng trong bản kinh này là:
Mười phương Quan Thế Âm. Hết thảy chư Bồ Tát.
Đã thề cứu chúng sinh. Xướng danh tất giải thoát.
Nếu gặp người trí tuệ. Ân cần mà giảng nói.
Lại có đủ nhân duyên. Đọc tụng không ngơi nghỉ.
Tụng kinh tròn nghìn biến. Niệm niệm tâm không dừng.
Gặp lửa cháy chẳng sao. Việc đao binh cũng thoát.
Nóng giận thành vui vẻ. Chết rồi hóa sống vui.
Đừng nghĩ rằng không đúng. Chư Phật chẳng nói chơi.
Cao Vương Quan Thế Âm. Cứu được hết khổ nạn.
Lúc khó khăn nguy cấp. Người chết còn thành sống.
Chư Phật chẳng nói đùa. Vì vậy nên đảnh lễ.
Niệm tụng trọn nghìn lần. Tội nặng đều tiêu diệt.
Người có phúc tín tâm. Hãy chuyên tâm đọc tụng.

Sự linh nghiệm của Cao Vương Kinh là cực kì nhiều. Tương tự, đọc Cao Vương Kinh cũng có thể cầu tự. Những điều cần chú ý khi trì tụng Cao Vương Kinh là:
1. Tập trung tâm trí, không nghĩ lung tung.
2. Thời gian, địa điểm không quan trọng, chủ yếu là "tâm linh tự tại" [ND: tinh thần thoải mái].
3. Lời đọc ra khỏi miệng, âm thanh đi vào tai, ghi nhớ vào trong tâm.
4. Với mỗi điều thỉnh cầu thì đọc đủ 1000 biến.
5. Nếu vẫn chưa có hiệu quả, cần tự biết là nghiệp chướng của bản thân còn nặng, lại càng nên tiếp tục trì tụng cho đến khi nào hiệu nghiệm mới được.



🌟



Còn nữa, Liễu Minh Hòa Thượng từng truyền dạy cho tôi một lá phù, đây là phù "khóa lại bệnh chứng không sinh được con". Liễu Minh Hòa Thượng nói: nếu có người nào lấy vợ, lấy thiếp, nhiều năm không sinh được con thì dùng phù này, vào ngày bản mệnh của người vợ (ngày sinh), đốt phù rồi uống, sẽ có hiệu nghiệm. Tôi thực lòng thực sự nói để mọi người biết, sau khi tôi có được phù này, tôi đã vẽ rất nhiều phù này để giúp người, quả nhiên tôi đã giúp được vô số người.

Có người suốt mười năm không có con, nay đã sinh con.
Có người sinh lý khiếm khuyết, không ngờ cũng sinh được con.
Có người bác sĩ nói bó tay, cũng đã sinh con.
Có người luôn bị sảy thai, cuối cùng cũng đã sinh con thành công.
………….
(Kì tích liên tiếp, kì tích không ngừng dứt, kì tích vẫn còn tiếp tục.)



🌟



Đối với pháp vẽ phù, Liễu Minh Hòa Thượng chỉ dạy cần bày hương án, hoa quả, rượu, hoa tươi, nến, cần đốt hương, cần chúc hương.
Trình tự thực hiện là: lễ bái, nước, giấy, bút, mực đã được niệm chú để thanh tịnh và gia trì, vẽ phù, niệm chú của phù, phát ra mệnh lệnh.

Liễu Minh Hòa Thượng còn nói: đối với việc vẽ phù thì cần bút vẽ xuống giấy một cách dứt khoát rõ ràng, không được vẽ mờ, yếu hoặc hỗn loạn. Chỉ cần có được linh quang gia trì cho phù thức thì phù này sẽ có hiệu nghiệm.

Phù thức của phù khóa lại chứng không sinh được con như hình kèm theo.



🌟



Liễu Minh Hòa Thượng nói với tôi:
"Tương lai, những đứa trẻ có được do việc dùng thuật cầu tự đều sẽ trở thành những Phật tử có trí tuệ hơn người!"
Tôi hỏi:
"Lấy đâu ra lắm Phật tử như vậy?"
"Con không tin sao?"
"Tin thì có tin, nhưng những Phật tử này từ đâu tới?"
"Để ta đưa con đi xem!"

Một buổi tối, Liễu Minh Hòa Thượng (Thanh Chân Đạo Trưởng) đưa tôi đến Đại Phạm Thiên.

Đại Phạm Thiên có một cái cây vàng, cây vàng này cành lá xum xuê, chu vi phải tới cả trăm lí [ND: đơn vị đo lường thời xưa, một lí khoảng 500m], cây vàng còn ra quả vàng, có tới hàng nghìn hàng vạn quả. Liễu Minh Hòa Thượng chỉ vào những quả vàng nói:
"Những quả này đều là Phật tử!"
"Những quả vàng này sao lại là Phật tử được?"

Liễu Minh Hòa Thượng lại đưa tay chỉ vào những quả vàng, ra hiệu một cái, không ngờ vỏ quả tự động tách ra, từ trong quả xuất hiện một hài nhi, da của hài nhi trắng như tuyết, vô cùng đáng yêu, lũn cũn nhảy xuống.

Hài nhi nói:
"Con từ đâu tới?"
Hài nhi lại nói:
"Ai sinh ra con vậy?"

Liễu Minh Hòa Thượng nói:
"Những đứa bé sinh ra nhờ thuật cầu tự đều là những đứa trẻ đến từ thiên thượng giới, chúng vừa mới sinh ra đã có trí tuệ lớn rồi! Ví dụ như câu hỏi con từ đâu tới, ai sinh ra con, đều là những câu hỏi mang tính thiền, đáng để ngẫm nghĩ!"

Nhờ có Liễu Minh Hòa Thượng chỉ ra, tôi nghĩ đến một vấn đề: "Rốt cục là ai sinh ra ai?"
Rốt cục là ai sinh ra ai?
Vì sao vừa là Phật, thoát cái đã xuống cõi Ta Bà, chớp lóe một cái đã một nghìn năm, ai là bạn, ai là tôi?

Rốt cục là ai sinh ra ai?
Thoắt cái là ông già, thoắt cái lại là trẻ con, trẻ con lại sinh ra ông già, ông già lại sinh ra trẻ con.

Rốt cục là ai sinh ra ai?
Đứa bé mà bạn đang ôm trên tay, là trẻ con, hay là ông già?

*(Bản văn này được trích từ văn tập số 114 của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - Pháp thuật của Mật giáo.)*


### 14. Phúc họa may rủi


Thời kì tôi xem bói hỏi chuyện, tôi giúp người ta quan sát đoán về phúc họa may rủi. Do vậy tôi hiểu được đạo lý phúc họa phụ thuộc lẫn nhau, phúc cũng là dựa vào họa, mà họa cũng dựa vào phúc. Lành dữ phúc họa, là phúc hay là họa cũng là số trời mà thôi!

Bởi thế, tôi hiểu được rằng:
Phúc đến không thể hưởng tận. 
Họa đến nhẫn nhịn vượt qua.



🌟



Có một người là ông Mã, vốn là phóng viên của một tờ báo nọ, sau này được thăng lên chức chủ nhiệm phỏng vấn, ông đến để hỏi về việc lành dữ họa phúc. Tôi đáp:
"Phúc."
Ông nói:
"Phải rồi! Tôi vừa được thăng chức chủ nhiệm phỏng vấn mà."
Tôi lại nói:
"Cũng có họa."
Ông kinh ngạc:
"Họa từ đâu đến?"
"Mấy ngày tới ông sẽ biết."

Vị chủ nhiệm phỏng vấn này nửa tin nửa ngờ bỏ về.



🌟



Tôi biết chuyện họa phúc của ông là thế này. Đầu tiên tôi nhìn thấy có phúc thần đi theo ông ta vào trong nhà tôi. Sau đó, tôi cũng lại nhìn thấy có hai con quỷ dữ đẩy phúc thần ra ngoài, quỷ dữ đứng hai bên người đàn ông này, thế nên tôi biết cũng lại sắp có tai họa xảy ra. Hai con mắt của tôi trước tiên nhìn thấy phúc thần, sau đó lại nhìn thấy quỷ dữ, do vậy tôi biết đầu tiên ông sẽ gặp may, nhưng sau đó lại gặp chuyện chẳng lành.

Kì thực, thần toán không chỉ dựa vào việc nhìn thấy như vậy. Đôi khi tôi quan sát khí sắc, khí sắc của người đến hỏi chuyện như thế nào, người xem tướng giỏi xem khí sắc sẽ thấy người có khí đỏ hên, còn người có khí đen xui. Sắc đỏ và đen ở đây không phải là là do bị mặt trời làm cho da đỏ hồng lên hay bị đen da, mà là chỉ thần khí của con người. Ngoài ra, phúc họa may rủi cũng có khi do quỷ thần đến báo, việc này thuộc về pháp "nhĩ báo", khi hỏi chuyện sẽ có quỷ thần ở bên tai thông báo cho biết. Cũng có người có "tâm thông", người đến hỏi việc không cần phải nói ra tất cả, người xem bói sẽ tâm huyết dâng trào, phán đoán một chút là biết được tất cả mọi việc. 

Còn có các các pháp xem bói như: 
Thiết bản thần toán (số). 
Hoàng cực thiên số.
Nhất trượng thanh.
Kì môn độn giáp.
Tử vi đẩu số.
Ma Y tướng số.
Tam đình tướng pháp.
Văn Vương bát quái.
Bói bài, bói quả cầu thủy tinh, bói bàn xoay, xem tướng mặt, bói chỉ tay, xem xương cốt, xem bóng trong nước,… và những cách bói ở mức độ thấp hơn nữa.

Tôi thấy giữa trời đất này, mặc dù con người là linh hồn của vạn vật, nhưng khi quỷ thần tác oai tác quái thì quỷ thần có thể làm ảnh hưởng đến con người, cũng có thể nói rằng giữa con người và quỷ thần xung quanh có sự ảnh hưởng lẫn nhau. Điều này tôi nói hoàn toàn là sự thật. Bạn không tin, tôi cũng không miễn cưỡng bạn, nhưng như tôi thấy thì đúng là như vậy.



🌟



Phóng viên họ Mã được thăng chức chủ nhiệm phỏng vấn, chức vị cao hơn, lương cũng tăng gấp đôi, đương nhiên là phúc. Những đồng nghiệp ở tòa báo mượn cớ này mà chúc mừng, cùng nhau tụ tập ăn uống tại một nhà hàng. 

Đồng nghiệp này nói một câu: "Chúc mừng chủ nhiệm."
Đồng nghiệp kia nói một câu: "Chúc mừng chủ nhiệm."

Bên này một chén, bên kia một chén. Thế là uống rất nhiều rượu. 
Bình thường tửu lượng của ông Mã cũng không tệ, còn được gọi là tửu lượng như biển, hành vi thì cũng hào khí như biển, thế nên bữa tiệc chúc mừng này ông cũng chẳng hạn chế gì, liên tiếp đi mấy "tăng". Đi mấy "tăng" chính là ăn uống ở chỗ này xong lại đổi qua chỗ khác tiếp tục ăn uống. Cứ như thế mà chơi tiếp ba, bốn "tăng", đến mức say lướt khướt.

Sau khi về nhà, ông vào phòng tắm, xả nước nóng rồi ngủ quên luôn trong bồn tắm. Ngày hôm sau, người nhà mới đi tìm thì không ngờ ông đã tắt thở từ lâu. Sướng quá hóa khổ, người chết bất thình lình, việc thăng chức này không ngờ đã thăng tới tận tây phương rồi. 



🌟



Sự việc trên do đồng nghiệp của ông đến chỗ tôi kể lại chi tiết tường tận, bởi vậy tôi mới biết được, vì thế mà cảm thán không ngừng. Uống rượu nhiều tới mức trúng phong, tới mức não ngừng hoạt động, đây đúng là cái họa. Thật là xui rủi làm sao.

Một đêm nọ, hồn ma chủ nhiệm phỏng vấn họ Mã đến tìm tôi. 
"Lư sư phụ, ngài nói đúng rồi, phúc trước họa sau."
"Đúng là như vậy."
"Làm sao ngài biết là tôi sẽ gặp đại họa?"
"Khi ông còn giữ chức phóng viên, ông biết được chuyện bí mật của một cô gái, muốn đưa tin này lên báo. Dù cô gái này đã cầu xin ông, nhưng ông đã lợi dụng việc này mà đe dọa cô, vừa đòi tiền, vừa đòi sắc, có chuyện này không?"
"Có."
"Trước hưởng phúc, sau gặp họa."

"Khi ông còn làm phóng viên, có công ty thực phẩm nọ dùng dầu thô giả làm dầu tinh luyện, ông muốn đưa tin chuyện này, công ty đã cho người đến thương lượng, ông đã nhận hối lộ, có chuyện này không?"
"Có."
"Trước hưởng phúc, sau gặp họa." - Tôi nói.
"Phóng viên khác cũng làm như vậy, vì sao họ vẫn yên lành, vẫn chưa gặp tai họa gì?" - Chủ nhiệm họ Mã phẫn nộ bất bình.
Tôi trả lời:
"Phúc của họ chưa hưởng hết, một khi phúc hết rồi thì họa sẽ tự đến thôi!"



🌟



Lại có một phóng viên họ Chu đến hỏi tôi chuyện phúc họa may rủi. 
Tôi đáp: 
"Rủi."

Phóng viên Chu đã có bài học từ chủ nhiệm phỏng vấn họ Mã nên lo lắng âu sầu, lo lắng ra mặt, cứ hỏi tôi mãi cách làm sao để tìm may tránh xui. 

Tôi nói:
"Trên phương diện Phật pháp mà nói thì pháp để thay đổi vận mệnh có phóng sinh, tụng kinh nghìn lần, làm Hộ Ma có được chứng nghiệm, hành thiện bố thí, trì chú niệm Phật một triệu biến, in ấn kinh hoặc in sách thiện, tu pháp tức tai, v.v…"

Phóng viên Chu nghĩ một lúc rồi hỏi:
"In kinh gì?"
"Cao Vương Kinh." - Tôi lấy ra một cuốn Cao Vương Kinh cho ông xem. 
"Niệm kinh nào là tốt nhất?"
"Ông niệm Cao Vương Kinh đi!"
Ông lại hỏi:
"Làm như vậy có thể tránh được họa không?"
"Làm hết sức thì có thể được."

Tôi lấy một tấm thẻ bài hộ thân của Chân Phật Tông đưa cho phóng viên Chu đeo trên cổ. Vừa đeo tấm thẻ bài hộ thân này lên cổ, tôi nhìn thấy một tên hung quỷ ở sau lưng phóng viên Chu lập tức lùi ra sau ba bước, hai con mắt lóe lên ánh nhìn hung tợn, trợn mắt nhìn tôi. Tôi cười ha ha một tiếng rồi phớt lờ luôn con quỷ hung dữ đó. 



🌟



Sau khi phóng viên Chu trở về nhà, ông mau chóng in ba nghìn cuốn Cao Vương Kinh, đồng thời mỗi ngày ông đều niệm Cao Vương Kinh, hễ có thời giờ rảnh là ông lại niệm, niệm như sắp chết tới nơi, nên rất mau chóng ông đã niệm hết một nghìn biến. Ông vẫn tiếp tục niệm không dừng, tấm thẻ bài hộ thân cũng luôn đeo trên cổ, không dám lơ là.

Thậm chí phóng viên Chu còn hỏi tôi:
"Khi tắm thì thẻ bài phải làm sao?"
"Tạm thời cởi ra!" - Tôi nói.
"Không được, chủ nhiệm Mã chính là chết trong khi tắm đó."
Tôi nói:
"Được rồi! Tôi cho ông một thẻ bài chống nước."
Ông lại hỏi:
"Khi đi toilet thì phải làm sao?"
"Tạm thời cởi ra!" 
"Không được!" - Ông cũng không dám cởi. 
"Thế này đi! Ông cứ đeo thẻ bài khi đi toilet cũng được, đi xong thì ông dùng nước hoa để xịt cho thẻ bài thanh tịnh trở lại là được."
Phóng viên Chu gật gù đồng ý. 

Một hôm, phóng viên Chu lái xe đi phỏng vấn tin tức, khi lái xe qua đường giao với tàu hỏa, không ngờ lan can ngăn cách bị hỏng không hạ xuống, xe của phóng viên Chu chạy tới đường ray. Trước mặt có xe khác chặn đường đi tới, phía sau cũng có xe chặn mất đường lùi, còn tàu hỏa thì đang tăng tốc tới. Lúc này đã quá muộn, một tiếng đâm dữ dội, xe của phóng viên Chu bị đâm nát bét, tất cả đều đi đời, xe ô tô bị tàu hỏa đẩy đi hai trăm mét mới dừng. 

Điều người ta không thể nghĩ nổi là phóng viên Chu vẫn ngồi an toàn trong xe, không ngờ chẳng bị thương dù một sợi tóc, xe ô tô bị hỏng hoàn toàn, nhưng người thì hoàn toàn vô sự, thật sự là quá kì quái. Những người chứng kiến sự việc đều nói:
"Phóng viên Chu mạng lớn!"

Tôi đã bói thấy phóng viên Chu gặp chuyện hung. Nhưng trong cái hung lại đưa tới cái may. Đây cũng chính là đạo lý về sự phụ thuộc lẫn nhau giữa họa và phúc. 

*(Bản văn này được trích từ văn tập số 177 của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - Gặp thần gặp quỷ.)*


### 15. Biểu hiện của việc trì tụng có được tương ứng


Kinh Tô Tất Địa viết: [ND: tên đầy đủ là kinh Tô Tất Địa Yết La] nếu giảm bớt ăn uống, nếu ít bệnh tật, nếu phát lộ thắng huệ, nếu gia tăng uy quang quảng đại kiên cố, nếu có được thiện mộng, thường mơ thấy sự việc thực tế, nếu nhờ việc niệm tụng mà hoan hỉ gấp bội, nếu ít mệt mỏi và thân có mùi thơm, vui vẻ tu công đức, kính trọng bổn tôn, thì đây chính là biểu hiện của trì tụng có được tương ứng."



🌟



Tôi giải thích đoạn kinh văn này như sau:
Nếu giảm bớt ăn uống --- không ăn uống quá độ hay thừa dinh dưỡng, mà có lượng ăn thanh nhẹ.
Nếu ít bệnh tật --- không còn bệnh tật, luôn có tinh thần tốt, khí huyết tốt.
Nếu phát lộ thắng huệ --- xuất hiện trí huệ vượt trội.
Nếu gia tăng uy quang quảng đại kiên cố --- thân có ánh sáng, lòng tin vững chắc, có sức mạnh thu hút triệu tập rộng lớn. 
Nếu có được thiện mộng, thường mơ thấy sự việc thực tế - các giấc mơ ban đêm đều là các giấc mơ tốt lành, những gì mơ thấy chắc chắn sẽ thành hiện thực, có được sự tỉnh giác trong mơ.
Nếu nhờ việc niệm tụng mà hoan hỉ gấp bội --- thích tu pháp trì chú.
Nếu ít mệt mỏi --- tinh, khí, thần đều sảng khoái, tinh tấn khác thường.
Thân có mùi thơm --- thân thể có mùi thơm nhẹ, hương thơm rất tự nhiên.
Vui vẻ tu công đức --- hoan hỉ làm việc thiện, sẵn lòng giúp người.
Kính trọng Bổn tôn --- luôn luôn nhớ về Bổn tôn, lễ bái Bổn tôn.

Những biểu hiện của sự tương ứng ở trên có thể nói là những biểu hiện bên ngoài của một hành giả Mật giáo. Còn những biểu hiện bên trong là tham sân si kiêu mạn và tất cả những sự ô nhiễm xấu đều đã tịch diệt, hành giả Mật giáo này có được tứ vô lượng tâm bình đẳng quảng đại, Bổn tôn hiện lên trước mặt, chính mình đã là Bổn tôn. 



🌟



Mặt khác, một hành giả Mật giáo nếu trì tụng trong một khoảng thời gian, nhưng càng tu thì tâm lại càng không tin, lười biếng thoái thác, thậm chí dừng luôn cả việc niệm tụng, luôn thấy phiền não, tăng thêm trạo cử, tăng thêm ưu phiền, tập trung vào sự nghiệp kiếm tiền, không cung kính đối với Căn bản Thượng sư, không thích tu pháp, thích nói lời trêu ghẹo buôn chuyện, làm việc bất thiện, cản trở người khác tin Phật tụng niệm, mơ thấy ác mộng, bị ma ám, thân nhiễm ác bệnh, v.v… thì là biểu hiện của việc vẫn chưa tương ứng.

Trên phương diện này, tôi giải thích như sau:
Người không có đủ tín tâm thì đương nhiên rất khó tương ứng. Mật giáo là chân lý của vũ trụ, nếu tín tâm của bạn không đủ thì làm sao có thể tiến vào bên trong chân lý của vũ trụ được. Người lười biếng thoái thác cũng rất khó có được tương ứng. Việc chuyên tâm vào sự nghiệp kiếm tiền, đối với con người hiện đại mà nói, thì cũng có thể hiểu được, nhưng mỗi ngày nhất định cần cố định thời gian để chuyên chú vào tụng niệm, nếu chỉ chuyên chú vào kiếm tiền, lơ là niệm tụng, lâu dần sẽ trở thành phàm phu, càng rời xa với sự tương ứng. Lúc đó sẽ có những biểu hiện trạo cử, ưu phiền, không có trí tuệ, không cung kính Căn bản Thượng sư, sẽ mất đi lực gia trì của truyền thừa. Thích nói lời trêu ghẹo buôn chuyện thì khẩu không thanh tịnh. Làm việc bất thiện, hành vi sai quấy, làm điều xấu ác, cản trở người khác tin vào Phật và niệm tụng kinh chú, không độ chúng sinh mà lại ngăn chặn chúng sinh. Mơ thấy ác mộng, những gì mơ thấy đều không phải là thiện mộng. 



🌟



Bị ma ám thì lại càng là vấn đề nghiêm trọng hơn. Nếu một hành giả bị ma ám thì những việc mà người này làm đều chắc chắn là những việc quỷ ma. Nếu ma ám trên thân của một hành giả thì không những không phải là tu hành mà ngược lại, biến thành "nghịch hành", hành vi của người này không gì nằm ngoài:

1. Lừa thầy diệt tổ.
2. Phỉ báng, coi thường Căn bản Thượng sư. (Tìm ra tất cả mọi khuyết điểm của Thượng sư.)
3. Dùng cách nhìn của bản thân để tranh luận chính pháp.
4. Hành vi hủy Phật diệt thầy.
5. Tự nguyện xuống địa ngục kim cương.
6. Cười nhạo chân lý.
7. Dùng hành vi bỉ ổi nhất đều hãm hại hành giả chân chính, nhằm đạt được mục đích phá hủy thì mới hài lòng.



🌟


 
Tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) thực lòng thực sự nói để mọi người biết rằng, một hành giả Mật giáo chân chính cần luôn làm được như sau:
1. Ba thời cúng dường, ba thời lễ bái, ba thời nhớ về Thượng sư, Bổn tôn.
2. Sám hối.
3. Phát đại nguyện.
4. Tụng Cao Vương Kinh, Chân Phật Kinh.
5. Làm mandala.
6. Quán tưởng, trì chú, nhập tam ma địa.

(Nếu thực sự quá bận, không có cách nào làm được ba thời mỗi ngày (sáng sớm, trưa, chiều tối), cũng phải mỗi ngày tu một lần, còn hai thời kia thì có thể thay bằng tụng chân ngôn của Bổn tôn 21 biến.)
Giả sử hành giả Mật giáo có được những biểu hiện của sự tương ứng thì đương nhiên là rất tốt. Nếu vẫn chưa có được biểu hiện của sự tương ứng, thì càng cần nỗ lực hơn nữa, càng tinh tấn hơn nữa mới được. Cần biết rằng nghiệp chướng của bản thân mình chắc chắn là rất nặng, cần luôn luôn sám hối, tu pháp sám hối, chỉ cần tiêu trừ được nghiệp chướng thì sẽ không có chuyện không tương ứng. 

Thái độ của một hành giả Mật giáo đối với Căn bản Thượng sư là hễ tìm thấy được ưu điểm của Thượng sư thì cần học tập theo, đây gọi là tăng thượng duyên. Nếu tìm khuyết điểm của Thượng sư để phóng đại lên thì sẽ tăng hạ duyên. Người trước sẽ đạt thành tựu, người sau sẽ bị ma ám. (Chi tiết được ghi trong Sự sư pháp ngũ thập tụng.)

*(Bản văn này được trích từ văn tập số 102 của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - Pháp vị của cam lộ.)*


### 16. Nhất tâm là quan trọng nhất


*(Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn kể lại trong văn tập số 173 của mình - Một giấc mộng một thế giới.)*

Hồi tưởng lại cuộc đời này của tôi, những kiếp nạn tai ương chẳng hề nhẹ. Việc tôi có thể vượt qua từng kiếp nạn một có liên quan đến việc tôi nhất tâm tôn sùng Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh.

Tôi có được kinh này, niệm kinh, khuyên người ta niệm, tự mình niệm, khuyên người ta in ấn, tự mình in ấn, tặng rộng rãi Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, chính mình gặp được Quan Âm, thực sự có rất nhiều nhân duyên.

Trong Chân Phật Mật Pháp, có một phần chính là niệm Cao Vương Kinh. Bản thân tôi cảm thấy sự nhất tâm rất quan trọng. Khi tôi còn trẻ, tôi đã có được bản kinh này, tôi niệm cho tới khi 60 tuổi, tôi chỉ nghĩ đến:
Năng diệt sinh tử khổ
Tiêu trừ chư độc hại.
Hóa thân của Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát thực sự vô cùng trang nghiêm, trên đầu đội mũ miện, mặt như trăng tròn, tướng mạo như Phật, mũ miện rủ xuống hai bên, thân mặc thiên y váy xếp, đeo vòng ngọc, khuyên tai, vòng tay, lắc chân, đứng trên hoa sen cầu vồng, sau lưng có chữ Phạn tỏa ánh sáng vàng kim, toàn thân tỏa sáng, chiếu khắp thập phương tam thế.

Những kiếp nạn tai ương trong đời này của tôi quả thực không thể đếm hết.
Bị lưu manh mai phục muốn giết chết. (Nhưng lưu manh đã bị tai nạn xe chết trước đó.)
Bị lưu manh đuổi theo dồn vào chỗ chết. (Sau đó tôi tự mình thoát được nạn này.)
Tai nạn xe. (Người văng xuống đất, không bị thương.)
Bị máy móc đâm trúng. (Thoát chết trong gang tấc.)
Bị truyền thông bao vây. (Chút xíu nữa là tôi không nghĩ thông suốt được.)
Bị tôn giáo bao vây. (Hết phái này tới phái khác vây hãm nhưng tôi không chết.)
Bị cạm bẫy bao vây. (Lần lượt tôi đều tự mình giải thoát.)
Bị chính trị phá hoại. (Có quý nhân xuất hiện.)
Bị gài bẫy ở đầm lầy. (Tôi rơi xuống rồi tự mình trèo lên được.)
Bị đầu gấu gài bẫy. (Tôi đã tránh được nạn này.)
Bệnh tuổi già đến thân. (Tự mình chữa khỏi.)
Và còn nhiều nữa……….

Mỗi tai nạn này đều chẳng phải là những sự việc nhỏ, mỗi việc đều khiến tôi sống không được chết không xong. Thậm chí, đệ tử quy y tôi cũng muốn chôn sống sư phụ của mình cho chết, những nỗi khổ này tôi đều đã trải qua. Tôi ban ngày niệm Cao Vương Kinh, ban đêm niệm Cao Vương Kinh, tôi có thể sống được 60 năm qua, ẩn cư ở hồ Diệp Tử viết sách và sống sót thực sự chẳng phải là đơn giản.

Từ đầu chí cuối tôi đều cảm thấy sự nhất tâm là cực kì quan trọng. Phật cũng dạy chúng ta cần nhất tâm, chỉ cần nhất tâm thì tất cả đều có thể làm được. Kì thực, người sáng lập Chân Phật Tông chẳng biết điều gì. Thứ mà ông ấy biết chỉ là nhất tâm bất loạn thành Phật mà thôi.


### 17. Hồi hướng


Có một lần ở hồ Diệp Tử, tôi chuyên chú niệm Cao Vương Kinh. Sau khi niệm xong, bỗng nhiên tôi nghĩ đến một đệ tử đang mắc bệnh nặng. Tôi lập tức hồi hướng toàn bộ công đức niệm kinh cho đệ tử này. Lúc này, không ngờ tôi nhìn thấy một đường ánh sáng từ khu vực tim của tôi phóng ra, chiếu thẳng vào trong hư không. Trong hư không có một vị Không Hành Mẫu tiếp nhận ánh sáng này, đem ánh sáng đi đến chỗ đệ tử đang lâm bệnh. Lúc này, tôi biết rằng việc hồi hướng này đã có công đức rồi.

Các đệ tử có chuyện gì muốn cầu nguyện khi gửi thư đến Chân Phật Mật Uyển, Phật, Bồ Tát, Không Hành, chư Thiên liền biết được. Tôi chỉ ở hồ Diệp Tử niệm Cao Vương Kinh một chút, rồi hồi hướng một chút, không ngờ ánh sáng đã chiếu khắp nơi, lành thay! Lành thay!

Do vậy, về nhân quả mà nói thì con người chỉ cần khởi tâm động niệm, từng lời nói từng hành động, thiện nghiệp hoặc ác nghiệp đều có sự hồi báo đồng đẳng. Hành giả chúng ta tu pháp nhẫn nhục, bởi vì nếu không biết nhẫn nhục thì ngọn lửa vô minh sẽ bùng lên. Ngọn lửa vô minh này một khi bùng lên thì người đầu tiên chịu tai ương không phải là người khác mà chính là bản thân ta. Đạo lý của việc hồi hướng nằm ở đây, cũng chính là hồi hướng cho mình.



🌟



Tôi làm tất cả mọi việc, hồi hướng đến Cực lạc thế giới, việc hồi hướng này rất tốt, công đức tập trung tại Cực lạc thế giới, sau này nhất định sẽ là hóa sinh hoa sen.

Thơ:
Tôi đóng cửa ẩn cư chẳng muốn so với người
Tôi mạnh mẽ dứt khoát từ chối mọi danh lợi
Một lòng một ý chỉ niệm Phật trì chú
Hồi hướng chúng sinh cứu khỏi bể khổ
Chuông kim cương lắc lên
Trên tay phải chày kim cang một chiếc
Tiếng chuông vang lên
Chày chỉ vào mây bay giữa không trung
Nguyện mọi mong cầu đều viên mãn
Lời hồi hướng từ tận đáy tim tôi.

*(Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn kể lại trong văn tập số 174 của mình - Một dải cầu vồng.)*

**(Hết)**

---

---
# File: kinh-luat-luan/giang-thuyet-chan-phat-kinh.md
# Title: Giảng thuyết Chân Phật Kinh
---

![image](/img/img_edd82e1e74a9df0d917cf09484412f83.jpg)



## Giảng thuyết - linh nghiệm Chân Phật Kinh


Xuất bản năm: N/A
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Liên Sinh Hoạt Phật thuyết giảng về Chân Phật Kinh cùng những câu chuyện linh nghiệm


### Lời người biên tập (Tbboyeh)


Trong tiểu thuyết võ hiệp, ai ai cũng đều muốn có được bí kíp võ lâm, tu được thần công cái thế, điều này cho thấy con người luôn theo đuổi mộng tưởng siêu thực. Cho dù chẳng thể nào đạt đến được nhưng vẫn say mê không biết chán! Mọi người không ngại thì thử nghĩ mà xem, đối với cuộc sống hiện thực của chính mình, có phải vẫn tồn tại những mộng tưởng rất ngây thơ chân thật không? Ai ai cũng khát khao thành công, mong mỏi một cuộc đời bình an vô ưu, không muốn bị nhấn chìm trong những con sóng ngầm và mê lầm khiến cho cạn kiệt tinh lực và quãng thời gian sống quý giá. Thế nhưng khao khát này liệu có lại là một giấc mộng không?

Tuy nhiên, trong cuộc sống hiện thực của chúng ta, đích xác là có tồn tại một nguồn sức mạnh để mở ra cánh cửa vào Thánh giới. Bởi nhờ thông qua một bản kinh điển chân thực, sự thâm nhập để có được sự thấu hiểu toàn bộ sẽ có thể dẫn dắt bạn nhận ra giá trị của một cuộc sống an trụ.

Bản kinh điển này thông qua những nghiệm chứng của những người đi trước đã cho chúng ta biết những bí mật về tiêu tai và ban phúc, giúp ta tránh được những kiếp nạn sống chết ngoài ý muốn. Cũng thông qua những kiến chứng của con người hiện đại, những người nhiều lần đã cởi bỏ được những dây xích của vận mệnh, đồng thời cũng thông qua sự nghiệm chứng về cõi âm dương (thế giới linh hồn) để từ đó khởi đầu một cuộc sống quang minh.

Bản kinh điển này, trong một thế giới của một chiều không gian khác, có một nguồn sức mạnh đến từ cõi linh thánh bất khả tư nghì, có thể khiến cho tinh thần mệt mỏi kiệt quệ của bạn được lấp đầy trợ lực. Có rất nhiều người sau khi có được trợ lực này đã trân trọng sâu sắc và chăm chỉ thực hành, khiến cho cuộc sống trở nên tươi sáng rực rỡ, thực sự thấu hiểu được câu nói: "Chỉ cần đưa tay ra là nắm được kì tích." Hóa ra thực sự có sự ban phúc từ trên trời đưa xuống.

Cuối cùng, chúng tôi xin trích một câu nói của Liên Sinh Hoạt Phật - tác giả cuốn sách này: "Cải vận bằng cách thay đổi vẻ bề ngoài thì chẳng có tác dụng gì, nếu muốn hoàn toàn thay đổi vận mệnh thì cần thay đổi hoàn toàn nội tại cái gốc thực sự của bạn!"
Chúc cho bạn, người đọc cuốn sách này: mệnh số quang minh, có được đại phúc!


### 01. Tương ứng của việc in ấn Chân Phật Kinh


*(Bản văn này được trích từ văn tập số 173 của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - Một giấc mộng một thế giới.)*

Khi tôi tuần hành đến âm phủ, tôi gặp một minh sứ đang đưa một người già muốn lên thiên giới thanh tịnh. Người già này vốn ở địa ngục chịu khổ, bây giờ chẳng ngờ lại được lên thiên giới, tôi lấy làm kì lạ.
Hỏi: Cụ họ gì?
Đáp: Ông.
Hỏi: Vì sao lại được thiên giới?
Đáp: Nhờ con cháu đời sau in ba nghìn cuốn Chân Phật Kinh hồi hướng công đức cho tôi.
Hỏi: Làm sao biết mà in Chân Phật Kinh?
Đáp: Con cháu của ông cụ có được một bộ Chân Phật Kinh trong một ngôi chùa, anh ta chú ý tới những bản văn trong cuốn kinh đó có dạy về thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh, ngoài ra còn dạy người ta lấy vô niệm làm chính giác, do vậy đây cũng là chính pháp để đạt minh tâm kiến tính. Thế là anh ta tin tưởng trì niệm.

Cụ già họ Ông kể, sau khi con cháu cụ trì niệm Chân Phật Kinh thì cảm ứng thấy một giấc mơ, trong mơ thấy tổ tiên đang ở trong âm phủ chịu khổ cực. Rồi gặp một người tỏa ra ánh sáng vàng kim rực rỡ chói lọi nói với anh rằng, in tặng Chân Phật Kinh thì tổ tiên sẽ thoát khổ. Sau khi tỉnh dậy, anh cũng chẳng mảy may để ý vì anh cho rằng ban ngày nghĩ sao thì ban đêm mơ vậy. Thế rồi đêm thứ hai, đêm thứ ba anh lại có giấc mơ tương tự, thế rồi anh mới tin.

Anh bèn đem tiền tiết kiệm bấy lâu gửi cho pháp sư của Lôi Tạng Tự, rồi cùng với quỹ quyên góp của chùa mà in kinh sách. Chính vì như vậy mà tổ tiên lập tức được thoát khỏi khổ địa ngục, thăng lên thiên giới.

Về sau tôi biết được chuyện này liền chú ý đến đệ tử họ Ông. Phúc báo mà ông in Chân Phật Kinh không chỉ có như sau:

1. Tổ tiên thăng thiên.

1. Trúng xổ số, mua liền được ba căn nhà sang trọng.

1. Ba đứa con trai gái đều thi đỗ vào trường đại học lý tưởng nhất.

1. Bản thân ông cũng được thăng quan tiến chức.

Cá nhân tôi cho rằng việc in tặng sách thiện có công đức rất lớn, đương nhiên không chỉ mỗi in Chân Phật Kinh, mà in Cao Vương Quan Thế Âm chân kinh, Liễu Phàm Tứ Huấn, Bạch Y Đại Sĩ thần chú, Ngọc Lịch Bảo Sao, Thái Thượng Cảm Ứng thiên, Văn Xương Đế Quân âm chất văn, Phổ môn phẩm, sách Phật kinh điển, các sách thiện, đều có công đức rất lớn.

Kinh Hoa Nghiêm, quyển 68 có ghi chép:
Núi non trên biển bao Thánh hiền
Thành tựu thanh tịnh bao điều quý
Rừng cây hoa trái khắp nơi nơi
Suối sông hồ nước luôn tràn đầy.
Trượng phu dũng mãnh Quán Tự Tại
Cư ngụ núi này vì chúng sinh
Nếu con hỏi cách tạo công đức
Ngài sẽ dạy con phương tiện này.


### 02. Chân Phật Kinh phóng quang


*(Bản văn này được trích từ văn tập số 147 của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - Đừng đánh mất tâm.)*

Có một người lạ tên là Tống Viên. Anh đến kể cho tôi nghe một chuyện kì lạ.
Anh theo một người bạn đến tham dự buổi pháp hội Chân Phật Bảo Sám ở Lôi Tạng Tự. Bản thân Tống Viên từ trước tới nay chẳng theo tín ngưỡng tôn giáo nào, anh ngẫu nhiên đến thăm bạn, vừa hay người bạn chuẩn bị đi ra ngoài. Anh hỏi bạn đi đâu, bạn nói đi tham gia pháp hội, anh ta cũng tiện và rảnh nên đi theo bạn tới pháp hội luôn.
Người tham dự pháp hội cũng không ít, mỗi người được phát một cuốn Chân Phật Kinh. Anh lật lật sách, đọc một chút, thấy một câu chú: "Om guru liansheng siddhi hum.", Tống Viên cũng tò mò mà niệm mấy tiếng rồi ngáp một cái.

Tống Viên tìm một góc tường ngồi xuống, ngao ngán nhìn một đám đông người hát hát niệm niệm, quỳ quỳ lạy lạy. Thế rồi Tống Viên ngủ gật luôn. Trong giấc mơ, bỗng nhiên anh nghe thấy có người nói ngay bên tai anh:
"Chân Phật Kinh này hay lắm!"
"Chân Phật Kinh là bộ kinh quý cực linh nghiệm."
"Chân Phật Kinh đem theo người có thể bảo vệ anh đó!"

Tống Viên tỉnh dậy, nhìn trái nhìn phải, chẳng có ai đang nói chuyện với anh cả, mọi người khác đều đang bái sám, chẳng có ai để ý đến anh cả. Tống Viên cảm thấy rất khó hiểu, đưa tay xoa xoa đầu, nhưng cũng không bận tâm.  

Cuối cùng pháp hội Chân Phật Bảo Sám cũng kết thúc. Trước khi ra về, Tống Viên hỏi pháp sư của chùa: "Cuốn Chân Phật Kinh này thì sao?"
Pháp sư trả lời: "Có thể tặng cho anh đó!"

Người bạn trước khi đi về còn cười với anh rằng: "Kinh sách miễn phí, cậu có thể lấy thêm mấy cuốn. Nhưng cậu lấy Chân Phật Kinh làm gì? Lẽ nào cậu về nhà niệm kinh sao?"
Tống Viên mặt đỏ bừng: "Thì... cái này là mở sách ra là có lợi ích mà!"

Sau khi Tống Viên lấy Chân Phật Kinh về thì tiện tay cất Chân Phật Kinh trong chiếc tủ đầu giường ngủ. Một hôm, anh đột nhiên thấy chiếc tủ đầu giường của mình phát quang, anh liên tiếp vài lần nhìn thấy những tia sáng kì lạ. Anh tìm trong tủ đầu giường. Chẳng có vật gì phát ra ánh sáng cả, chỉ có một cuốn Chân Phật Kinh.


🌟


Năm đó, đoàn thể công ty anh đi du lịch, thuê nguyên một chiếc xe du lịch loại lớn. Trước khi Tống Viên rời nhà đi thì anh lại một lần nữa nhìn thấy cuốn Chân Phật Kinh phát quang. Tiện tay anh cầm lấy cuốn Chân Phật Kinh đặt vào trong ba lô hành lý, khoác ba lô trên lưng.

Đây là chuyến du lịch kéo dài 3 ngày 2 đêm. Vào ngày thứ hai, xe đi tới vùng núi, vùng núi này vừa mới trải qua một trận mưa lớn.
Đường núi ngoằn ngoèo uốn khúc, hết khúc cua này lại tới khúc cua khác, nhưng tài xế vẫn không hề giảm tốc độ. Một vài đồng nghiệp nữ sức khỏe tương đối yếu mau chóng bị say xe, có một người còn bị nôn nữa. Tống Viên vẫn khỏe nên mau mắn lấy lọ "cao Con Hổ" đưa cho đồng nghiệp nữ kia. Tay anh cầm chiếc ba lô lên.

Thế rồi, chuyện xảy ra trong tích tắc. Chiếc xe du lịch loại lớn dường như mất điều khiển, từ trên đường bay lên không trung rồi rơi xuống vách đá vực sâu. Bởi vì khoảng cách giữa đường núi và thung lũng rất rộng nên toàn bộ người trên xe không còn ai sống sót. Chỉ có Tống Viên trên tay ôm ba lô, dường như có một sức mạnh rất lớn kéo anh ta, chiếc ba lô văng ra ngoài cửa sổ, còn cả người anh cũng bất ngờ bị kéo văng ra ngoài cửa sổ xe, dường như Tống Viên và chiếc ba lô đều cùng bị một lực kéo văng ra ngoài cửa sổ xe. Trước khi cả chiếc xe rơi xuống vực thì Tống Viên đã bị kéo văng ra ngoài xe rồi, anh ngã lên bãi cỏ bên đường, cánh tay chỉ bị trầy xước mà thôi.

Khi Tống Viên tỉnh táo lại thì chiếc xe du lịch đã lộn nhào mấy vòng và nằm im lìm bất động dưới thung lũng sâu. Toàn bộ người trên xe đều bất động, đồ đạc văng tán loạn tứ phía. Đây là một vụ tai nạn xe khách thảm khốc.

Mặc dù Tống Viên bị một phen vô cùng sợ hãi, nhưng anh là người duy nhất còn sống sót. Sau sự việc anh hồi tưởng lại, việc này nhất định là do cuốn Chân Phật Kinh đã cứu anh. Anh nghĩ lại buổi pháp hội Chân Phật Bảo Sám có người nói bên tai mình rằng: "Chân Phật Kinh đem theo người có thể bảo vệ anh đó!", rồi liên tiếp mấy lần anh nhìn thấy cuốn Chân Phật Kinh phát sáng, thế là Tống Viên bắt đầu niệm Chân Phật Kinh. Anh đã quy y Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Bất kể bên ngoài người ta chỉ trích Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn ra sao, anh từ đầu tới cuối vẫn vững chắc đạo tâm, không hề lay động. Anh thực sự cho rằng Chân Phật Kinh đã cứu anh một mạng.

🌟

Câu chuyện của Tống Viên khiến tôi chú ý. Đương nhiên tôi tin cuốn Chân Phật Kinh đã cứu mạng sống của Tống Viên, nhưng tôi lại có một suy nghĩ khác. Vì sao Chân Phật Kinh lại không thể cứu sinh mạng của tất cả mọi người trong xe, mà chỉ cứu mạng sống của mỗi một người chứ?

Đúng vào lúc tôi đang suy nghĩ như vậy, tôi phát hiện ra có một vầng hào quang đến gần, bên trong hào quang là một vùng núi rừng xanh biếc, trong rừng xuất hiện một vị thần, vị thần này nói với tôi:
"Liên Sinh, thấy ngài có thắc mắc nên tôi đặc biệt tới đây nói cho ngài biết."
"Ông là thần gì?"
"Phúc Đức Chính Thần."

Phúc Đức Chính Thần nói với tôi, ông là vị Phúc Đức Chính Thần bảo hộ vùng rừng núi đó, là thần thổ địa của nơi xảy ra sự việc tai nạn xe du lịch.
Phúc Đức Chính Thần nói, buổi tối trước ngày xảy ra vụ tai nạn xe, Phúc Đức Chính Thần vẫn như thường lệ, ông thắp một ngọn đèn thần. Cầm đèn trên tay, ông đi tuần cả vùng núi rừng, đi đến nơi có dòng chảy xiết của thung lũng, bỗng nhiên ông phát hiện ra Thất Gia tướng quân và Bát Gia tướng quân của miếu Thành Hoàng cầm theo khoảng một trăm lính quỷ hừng hực khí thế chiếm đóng khu thung lũng, trên tay mỗi quỷ đều cầm theo dụng cụ hình phạt, bộ dạng giống như muốn bắt người vậy.

Phúc Đức Chính Thần trông thấy Thất Gia, Bát Gia và lính quỷ có mặt tại đây liền biết là sắp có chuyện xảy ra, có tới cả trăm lính quỷ thì sự việc nhất định không hề nhỏ. Còn Thất Gia, Bát Gia cũng trông thấy Phúc Đức Chính Thần. Phúc Đức Chính Thần tiến tới hỏi: "Tướng quân vất vả rồi, có chuyện gì mà tới đây?"
Bát Gia tướng quân đáp:
"Ở đây không có việc của ông, tiểu thổ địa ạ, ông mau về đi ngủ đi!"
"Việc này…"

Bát Gia tướng quân nói:
"Theo luật âm của miếu Thành Hoàng thì miếu thổ địa không được can dự."
Phúc Đức Chính Thần lắp bắp nói:
"Nhưng mà vùng núi non thung lũng này tôi vẫn luôn bảo vệ cẩn thận."

Thất Gia tướng quân nghe xong cảm thấy cũng có lý, ông không nói gì, từ trong áo lấy ra văn kiện truy nã. Phúc Đức Chính Thần vừa đọc xong thì kinh hãi, hóa ra là tai nạn xe lớn, tổng cộng cần bắt 50 người, trong danh sách ghi rõ tên từng người một, tổng cộng là 50 người cả nam cả nữ.

Trong số đó có một người tương đối đặc biệt, đó là người cuối cùng trong danh sách 50 người, tên của người này chính là Tống Viên. Vì sao người này tương đối đặc biệt, bởi vì 50 cái tên khác đều có màu xám tro, chỉ có tên của người này là có một điểm ánh sáng.
Phúc Đức Chính Thần hỏi:
"Có cửa sống ư?"
"Không sai."
"Vì sao Tống Viên lại được sống tiếp?"
"Người này có một cuốn kinh điển phòng thân bảo vệ."
"Là kinh gì?"
"Chân Phật Kinh."

Phúc Đức Chính Thần trong lòng đầy từ bi, nên ông cũng hỏi một vấn đề tương tự:
"Kì lạ, trên xe có Chân Phật Kinh, vì sao không thể bảo vệ sinh mạng của mọi người trong xe, mà lại chỉ bảo vệ mạng sống của mỗi một người?"
Bát Gia trả lời:
"Tống Viên này đã đọc Chân Phật Kinh, cũng niệm tâm chú Liên Hoa Đồng Tử. Còn những người khác vẫn chưa biết Chân Phật Kinh, cũng chưa từng niệm tâm chú. Tất cả sinh tử đều có định số, giữa trời đất này, tất cả họa phúc, lành dữ đều có nghiệp tồn tại. Trời đất quỷ thần chỉ là người chấp hành, khi nào bắt chỉ là vấn đề thời gian mà thôi."

Phúc Đức Chính Thần nghe xong, trong lòng buồn bã, lê thê trở về miếu thổ địa nhỏ của mình.

🌟

Phúc Đức Chính Thần nói:
"Bởi vì Liên Sinh Hoạt Phật thương tiếc cho vụ tai nạn xe này, cũng nghĩ tới câu hỏi tương tự, do vậy tôi mới hiện thân để nói cho ngài hay."

Tôi chắp tay cảm tạ Phúc Đức Chính Thần. Phúc Đức Chính Thần rất hoan hỉ rời đi.
Tôi đau lòng thay!

Thượng Thiên vốn rất ưu ái con người, do vậy mới đưa xuống rất nhiều kinh điển tu hành để cứu người. Những kinh chú này vốn đều là những lời dạy bảo chân thành, cũng là tấm lòng của Phật Bồ Tát, có thể nói giống như một sợi sinh cơ. Con người chỉ cần bám chắc lấy sợi sinh cơ này là có thể giữ được mạng sống, chỉ cần chăm chỉ đọc kinh niệm chú, mọi việc ác đừng làm, mọi việc thiện đều làm, thanh tịnh thân, khẩu, ý của chính mình, đưa vào thực hành trong cuộc sống hàng ngày, đây chính là con đường trở về cõi trời, cũng chính là con đường hóa giải tai họa, gia tăng phúc huệ.


### 03. Linh hồn chết oan được siêu thoát


*(Bản văn này được trích từ văn tập số 118 của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - Phong thái giữa trời đất.)*

Tôi ra ngoài hoằng pháp, lúc trở về khách sạn thì thấy một cụ bà quỳ dưới đất không chịu đứng dậy. Tôi hỏi bà có chuyện gì xảy ra. Bà cụ đáp, con trai gặp tai nạn xe, từ đầu đến chân bị nghiền nát, thê thảm vô cùng, chắc chắn là phải xuống âm ti địa ngục rồi, mong tôi có thể tiến cử anh được siêu thoát. Bà cụ cứ quỳ mà khóc như vậy, mọi người thì đứng vòng tròn xung quanh bà. Thế là tôi đồng ý với bà, xin bà viết ra họ tên, ngày sinh, địa chỉ khi còn sống của con trai, và cả ngày chết của anh. Tôi xin bà đứng dậy trước đã, buổi tối tôi nhất định sẽ thay con trai bà làm Phật sự.

Tối đó, tại phòng khách ở khách sạn, tôi chuẩn bị một ít bánh bao và cơm chay đơn giản, rồi tắm rửa sạch sẽ, bắt đầu niệm kinh. Trước tiên tôi niệm tịnh khẩu nghiệp chân ngôn, rồi lại niệm thần chú thanh tịnh thân tâm, làm cúng dường, tứ quy y. Sau đó tôi niệm Chân Thực Phật Pháp Tiêu Tai Ban Phúc kinh [Chân Phật Kinh], phụng thỉnh hai Phật tám Bồ Tát.

Trong kinh có nói: nếu có người chết oan, oan thân trái chủ, chưa được siêu độ, phải chịu vật vờ trong cõi u minh, nếu họ có thể trì tụng kinh này, ấn tống kinh này, thì người chết sẽ được lên trời, oan thân sẽ rút lui, sẽ gặp được vận may. Tôi tụng kinh xong thì lại niệm bảy biến Chú vãng sinh.

Sau đó tôi cảm thấy vẫn chưa được, bởi vì thân tâm tôi vẫn chưa có được cảm giác an tĩnh, oan khí vẫn còn chưa tan. Tôi lại niệm thêm vài biến Chân Phật Kinh nữa, rồi làm tịnh pháp thế thân, thắp thêm nhiều loại hương, lúc này oan khí mới tản đi. Cuối cùng, tôi tiễn chư Phật Bồ tát, đốt sớ văn. Tôi bận rộn làm đến tận đêm khuya rồi mới yên tâm lên giường đi nằm nghỉ.

Ngày hôm sau, mới sáng tinh mơ, tôi muốn đi ra ngoài. Cả gia đình người lớn trẻ nhỏ của bà cụ đã lại quỳ hết ngay trước cửa phòng tôi.

Tôi nói: "Tôi đã giúp anh ta được siêu thoát rồi, thực sự tôi đã làm rồi."
"Chúng tôi biết, chúng tôi đã biết rồi, chúng tôi đặc biệt tới để bày tỏ lòng biết ơn ngài!"
"Không cần cảm ơn, đây là bổn phận của tôi mà!"
Bà cụ nói: "Liên Sinh Hoạt Phật, ngài nhất định phải nghe tôi nói, đây đúng là kì tích đó! Ngài nhất định phải nghe!"

Tôi vừa nghe nói là kì tích thì mới chịu đứng yên. Họ kể cho tôi nghe thế này: chính vào đêm qua, già trẻ trong nhà của bà cụ, vợ của con trai bà, anh em của con trai bà, con trai của con trai bà đều mơ thấy cùng một giấc mơ. Họ đều mơ thấy linh hồn của người chết vì tai nạn xe trở về nói với họ rằng: "Tôi ở trong địa ngục chết oan đã chịu rất nhiều khổ nạn, chẳng có cách nào thoát thân. Nay may mắn gặp được Thánh Tôn đã niệm Chân Phật Kinh, đã giải hết nghiệp chướng nhiều kiếp của tôi. Giờ đây tôi đã được giải thoát khỏi xiềng xích rồi, âm ty Minh Vương đặc biệt ban sớ văn xuống, tôi sẽ được chuyển thế đi đầu thai vào một gia đình người tốt. Mọi người nên cảm tạ Thánh Tôn, không được lơ là, không được qua loa. Tôi đi đây."

Anh em của con trai bà mơ thấy bèn kể lại cho chị dâu em dâu, không ngờ chị em dâu cũng có giấc mơ này. Không chỉ như vậy, ngay cả đứa trẻ cũng mơ thấy cha đến nói như vậy. Họ cùng đi kể cho bà cụ nghe. Bà cụ nói: "Ta cũng mơ thấy như vậy." Cả nhà đều kinh ngạc vô cùng.

Thế là cả nhà họ từ già đến trẻ chuẩn bị một món quà để tạ lễ. Mới bình minh họ đã đến trước cửa khách sạn, chủ yếu là đến để lạy tạ tôi. Tôi nghe xong trong lòng rất vui mừng, nói: "Đây là phúc phận của mọi người, cũng là lòng từ bi của Phật Bồ tát, chẳng phải năng lực của tôi. Tạ lễ này không dám nhận."
"Không được, nhất định ngài phải nhận." Họ đồng thanh nói.
"Không thể nhận được."
"Nhất định phải nhận."
"Như thế này là được rồi." Tôi nói: "Vừa hay Singapore đang xây Lôi Tạng Tự, phần quà này của các vị xin đem đóng góp vào đúc tượng kim thân của Như Lai đi!"
Nói như vậy họ mới đồng ý.

🌟

Ngoài ra còn một chuyện siêu độ bốn vong linh nữa tôi cũng muốn kể lại trong bản văn ngắn này. Chuyện này có liên quan đến nhiều mối quan hệ lớn, tôi vốn không muốn đề cập đến. Nhưng thôi cứ kể vậy!

Có một vị cao tăng 90 tuổi nổi tiếng khắp trong nước ngoài nước, ông cũng có xây dựng một vài đạo tràng. Nhưng sau khi ông viên tịch thì không ngờ lại bị đọa vào địa ngục. Minh Vương thông báo mời tôi đến tham gia "hội thẩm".

Tôi thực lòng thực dạ nói cho mọi người biết, tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) có thể đến được Tam Tào. Tam Tào chính là Thiên Tào, Địa Tào, Nhân Tào. Vị cao tăng 90 tuổi bị đọa địa ngục, sao tôi lại phải đi "hội thẩm" nhỉ? Hóa ra việc này thực sự có liên quan đến tôi, bởi vì vị cao tăng này đã phỉ báng Mật giáo, cũng từng phỉ báng tổ sư của Mật giáo, thậm chí phỉ báng tôi càng nhiều nữa. Khẩu nghiệp của cao tăng rất nặng, bởi vậy ông mới rơi vào tay của Minh Vương.

Lúc hội thẩm, cao tăng vẫn khoác áo cà sa, nhưng mặt mày nhợt nhạt lạnh ngắt, đầy vẻ hối hận. Khi còn ở nhân gian, từ lâu ông đã bị bệnh tật dày vò đau đớn. Đồng thời trong lúc hội thẩm còn có ba đệ tử khác của cao tăng cũng phạm nghiệp nặng tương tự. Linh hồn của bốn người xếp thành một hàng.

Tôi hỏi Minh Vương: "Tăng nhân phải làm sao để được giải thoát?"
Minh Vương đáp: "Chỉ có ngài giúp được mà thôi."
"Sao lại nói vậy?"
"Tăng nhân phỉ báng Mật giáo, cũng phỉ báng ngài, ngài là đương kim bí mật chủ, chủ của kim cương chân ngôn giới, chỉ có ngài mới có thể giải thoát cho ông ta."
"Tôi phải làm sao?"
Minh Vương đáp: "Liên Hoa Đồng Tử phóng bạch quang, ở phía trước tiếp dẫn, nhưng phải dạy tăng nhân trì tâm chú của ngài mà đi thì mới có thể được giải thoát."

Trong lòng tăng nhân do dự, nhưng ông chẳng còn lựa chọn nào khác. Miệng đành phải lầm bầm niệm tâm chú của tôi, tôi ở không gian trên đầu phía trước, tăng nhân theo sau, tất cả cùng đi ra khỏi u minh giới.

Chuyện này chính là:

"Lành thay đại chân ngôn
Trì chú diệt tội chướng
Lòng tôi thường mong muốn
Tiếp dẫn đến Tây phương."

Có lẽ sẽ có người chất vấn tôi rằng đường đường là một cao tăng nổi tiếng khắp trong ngoài Trung Quốc lại bị đọa địa ngục, cũng cần có ngài cứu độ, liệu có sai sót gì ở đây không? Câu chuyện này của tôi có người làm chứng, là Liên Hoa Thụ Anh. Bà từ đầu đến cuối đều trông thấy tôi tiếp dẫn cao tăng 90 tuổi này đi ra khỏi địa ngục. Bốn linh hồn ma ở hội thẩm bà đều nhìn thấy, Liên Hoa Thụ Anh là người làm chứng cho chuyện này.


### 04. Chết rồi sống lại


*(Bản văn này được trích từ văn tập số 145 của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - Sống từng phút giây trong sáng.)*

Có người đến hỏi về thọ mệnh thế nào.
Tôi đáp: "Tôi không bao giờ đoán tuổi thọ của người ta." Đây là quy tắc nhiều năm của tôi ai cũng biết.

Người đó nói:
"Tôi không hỏi tuổi chết, chỉ muốn hỏi có sống lâu không?"
Tôi đáp: "Lâu."
Người đó vui vẻ ra về, đem tin tức về việc sống lâu nói cho tất cả mọi người biết. Người nhà, hàng xóm và bạn bè thân hữu đều vui mừng cho anh ta.

Khoảng hai năm sau.
Người đàn ông "có số sống lâu" này, khi đó 49 tuổi ở ngay trước cửa nhà mình đột nhiên thấy mọi thứ quay cuồng, rồi ngất xỉu ngã lăn ra đất bất tỉnh. Cấp cứu đến bệnh viện thì bác sĩ nói rằng đã có dấu hiệu chết thật rồi, nên tính sẽ trả về nhà chuẩn bị lo tang lễ.
Con trai anh ta là Tưởng Hưng đến tìm tôi xử, hung hăng hỏi tội: "Cha tôi nói sẽ sống lâu mà sao 49 tuổi đã chết!"
Tôi đáp: "Không thể nào."
"Làm sao mà không thể, rõ ràng đã chết rồi, Lư Thắng Ngạn ông là tên lừa đảo. Cái gì mà Đệ Nhất Thần Toán, có mà bói toán bịp bợm."
Tôi không biết nói gì, chỉ có thể lập bập: "Cái này... Cái này..."
"Cái này cái gì. Trả lại mạng người đây!"
"Một mạng người đền rồi thì tôi làm sao còn mạng mà sống chứ?"
"Không phải là mạng sống thì tôi không muốn bất kì cái gì khác." - Tưởng Hưng nổi điên lên giơ nắm đấm muốn đánh tôi.

Tôi nói: "Tôi sẽ giúp cha anh xem lại vì sao thọ mệnh lại như vậy, rồi báo lại cho anh biết được chứ?"
"Hãy cho chúng tôi biết một lý do tử tế, nếu không chắc chắn tôi sẽ không bỏ qua cho ông đâu. Tôi sẽ công khai trên truyền thông rằng ông là một tên bịp bợm!"- Tưởng Hưng nổi giận phừng phừng.
 
Tôi định tâm, vận khởi nguyên thần…
*Học tập càn khôn thiên địa hàm.
Nguyên thị Bồ Tát hạ cửu thiên.
Quang minh thấu triệt mang hộ hữu.
Chư đa hộ pháp bài lưỡng biên.
Kim lô trầm đàn hương yên khởi.
Pháp thân thanh tịnh tính tự nhiên.
Nhất thanh tích lịch tam thiên giới.
Trực siêu tam giới chứng niết bàn.*
 
Dịch nghĩa:

*Học nắm càn khôn trong trời đất.
Bồ Tát cửu thiên, hạ giáng trần.
Quang minh thấu triệt, không ngừng giúp.
Trì hộ hai bên, hộ pháp thần.
Kim lư trầm đàn, hương tỏa chân.
Thanh tịnh tự nhiên, chính Pháp thân.
Vang lên tiếng sét, xuyên thiên giới.
Tam giới vượt siêu, chứng niết bàn.*
 
Tôi đuổi theo cha của Tưởng Hưng. Trên đường đến suối vàng, tôi trông thấy hai người mặc áo màu xanh lục áp giải cha của Tưởng Hưng đi phía trước.
Tôi vừa đến thì cha của Tưởng Hưng nhìn thấy bèn la lên:
"Lư Thắng Ngạn cứu mạng! Lư Thắng Ngạn cứu mạng! Xin cứu mạng!"
Tôi ngăn hai người áo xanh lại: "Người này thọ mệnh vẫn chưa tới, vì sao lại bắt đi làm người âm?"

Hai người áo xanh nhìn thấy tôi tỏa ra Tam quang (ba loại ánh sáng) liền cúi đầu, từ trong tay áo lấy ra một cuốn sách lớn cho tôi xem.
Dưới tên của cha Tưởng Hưng có viết rất nhiều thứ, đều là những phúc lộc lúc còn sống và quả nhiên là tuổi thọ rất dài.
Thế nhưng ở phía sau lại có ghi chú: "Vào ngày X tháng Y năm Z đã gian dâm một cô gái nên lập tức bị tước đoạt tuổi thọ, chỉ sống đến 49 tuổi..." Tôi xem mà giật mình.

Tôi hỏi cha Tưởng Hưng: "Có chuyện này không?"
"Đó chỉ là vì hưng phấn nhất thời, nay tôi biết sai rồi! Tôi nhất định sẽ hối cải, nhất định siêng năng làm việc thiện. Lư Thắng Ngạn cứu tôi với, Lư Thắng Ngạn cứu tôi."

Tôi không nhẫn tâm, bèn hỏi hai người mặc áo xanh:
"Còn có thể cứu được không?"
"Không." - Hai người mặc áo xanh lắc đầu: "Sách lớn đã viết rồi, không thể nào tiếp tục sống. Trừ phi người phạm tội lập lời thề và được Thần minh áp ấn, nếu không thì không thể cứu được."

"Tôi có thể thề" - Cha của Tưởng Hưng hét to.

"Ai áp ấn?"
Hai người mặc áo xanh nói: "Ngài trên người có ba loại ánh sáng, Phật quang, Linh quang, Kim quang, chính ngài có thể áp ấn!"

Hai người mặc áo xanh, áp giải cha Tưởng Hưng quay mặt hướng về biển lớn mênh mông bắt lập lời thề rằng: "Thề tránh phạm giới tà dâm đến hết thọ mệnh của mình, vĩnh viễn không thay lòng. Nếu còn phạm tội thì lập tức tai họa sẽ đến. Từ nay về sau nỗ lực khuyến cáo mọi người giữ giới. Nỗ lực làm việc thiện cho tới khi chết. Trở thành Phật tử, nỗ lực tu hành."
Rồi tôi vẽ áp ấn vào cuốn sách lớn. Hai người mặc áo xanh liền đẩy cha Tưởng Hưng vào trong biển.

Nói về phía cha Tưởng Hưng, vốn dĩ tim đã ngừng đập, nhiệt độ cơ thể cũng tụt xuống, đôi mắt trở nên trắng dã, hai chân duỗi thẳng, đây gọi là "duỗi chân trợn mắt". Người đã chết một ngày, xung quanh con cái bạn bè thân cận đều đã tụ tập một đám. Nhưng đột nhiên máy đo tim lại bắt đầu "tu tu" rồi tim đập trở lại, quanh tim dần có hơi ấm, tứ chi dần dần có cảm giác.

Mí mắt giật giật! Đầu ngón tay cử động!
Cha Tưởng Hưng đột nhiên tỉnh dậy, không ngờ chết rồi mà sống lại, muốn uống nước. Vụ chết rồi sống lại đã làm kinh động giới báo chí, cũng được đăng lên báo.

Tưởng Hưng hỏi: "Sau khi chết đi thì thế nào?"
Đáp: "Như ảo mộng."
"Ảo mộng cái gì?"
Đáp: "Hư không."

Còn cha Tưởng Hưng không nói gì. Dù cha Tưởng Hưng không nói gì, nhưng từ đó ông ta gặp ai cũng luôn khuyên răn không được tà dâm và nói rõ họa của tà dâm.
 
Một hôm, cha Tưởng Hưng tới tìm tôi.
"Lư Thắng Ngạn, tôi tới tìm ngài!"
"Tôi biết ông sẽ tới."
"Tôi tới cảm ơn ngài đã cứu tôi, cũng giúp tôi áp ấn."
"Không có gì." - Tôi nói.
"Tôi tới quy y ngài học Pháp, bái ngài làm thầy."
"Rất tốt."
"Thỉnh Sư Tôn ngồi."

Tôi ngồi trên bồ đoàn, đoan nhiên bất động. Cha Tưởng Hưng đoan đoan chính chính hướng về tôi lễ bái quy y.

Tôi nói: "Tam quy y của tôi ở đây so với Tam quy y của các Pháp sư trên thế giới đại khái không giống nhau. Tam quy y của các Pháp sư trên thế giới là quy y Phật không đọa địa ngục, quy y Pháp không đọa ngạ quỷ, quy y Tăng không đọa luân hồi. Pháp luân thường chuyển. Tam quy y của tôi, quy y Phật phải định ba tâm, quét sạch lục dục, thường giữ thanh tịnh, bất loạn chân tính, đây mới là quy y Phật.

Quy y Pháp là không nói, không nhìn, không làm những việc phi lễ giáo. Thân không làm những việc bừa bãi, miệng không nói những lời tệ hại, phải nhất tâm suy nghĩ đúng đắn, đây mới là quy y Pháp chân chính.

Còn quy y Tăng là giữ thân thanh tịnh, siêu xuất tam giới, biết nơi pháp thân chân chính mà an thân lập mệnh. Hiểu sinh ra từ đâu, chết đi từ đâu, biết con đường đến cửa sinh cửa tử, hiểu thấu nơi pháp thân thanh tịnh để thường trụ bất diệt, đây mới là quy y Tăng chân chính."

Cha Tưởng Hưng nghe xong càng hiểu Tam quy y chân chính.
"Lời của Sư Tôn là chân lý. Con muốn báo đáp ơn quy y!"

Cha Tưởng Hưng hỏi tôi:
"Sau này Sư Tôn thân đi về đâu để con còn hầu phụng?"
Tôi đáp: "Không vướng bận việc đi Nam về Bắc, tôi phiêu du khắp năm châu thế giới, muốn hỏi thân ở đâu thì tôi thường tu ở trên trời tịnh diệt. Tôi nói cho ông hay, ông không cần phải phụng sự tôi, báo đáp tôi. Nếu như ông dựa vào Tam quy ngũ giới mà tu hành nỗ lực không ngừng nghỉ, thì chính là phụng sự, cũng chính là báo đáp rồi."

Cha Tưởng Hưng kính lễ rồi đi.
 
Sau này tôi được biết cha Tưởng Hưng in rất nhiều sách thiện, in Ngọc Lịch Bảo Sao Khuyên Thế Văn (phiên bản ở Việt Nam là Ngọc Lịch Bửu Phiêu) và Cao Vương Kinh tặng người ta, in tặng cả Chân Phật Kinh. Ngoài ra đối với việc "không tà dâm", ông gặp ai cũng đều nỗ lực khuyên răn.

Cha Tưởng Hưng sau này xuất gia làm tăng. Tăng nhân trong chùa có lần nghe thấy tên Lư Thắng Ngạn, đã không ngớt lời nhục mạ. Chỉ riêng cha Tưởng Hưng không nói mà chỉ một tiếng niệm Phật.

Ông ta viết một bài kệ gửi cho tôi.

*Tha Phật tự Phật.
Tha Tiên tự Tiên.
Thao thao hồng trần.
Thanh tịnh tự nhàn.*
 
Dịch nghĩa:

*Kệ người ta Tiên Phật.
Ta tự có Phật Tiên.
Hồng trần cuồn cuộn chảy.
Tịnh tâm, tự an nhàn.*

Cha Tưởng Hưng đã ngộ ra rồi đó!


### 05. Ung thư thực sự biến mất


*(Bản văn này được trích từ văn tập số 173 của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - Một giấc mộng một thế giới.)*

Chuyện xảy ra ở khoa Ung Thư tại một bệnh viện lớn.
Có hai bệnh nhân mắc ung thư, sau khi làm hóa trị xong cùng nói chuyện với nhau:
"Anh và tôi hôm nay sinh mệnh chỉ còn tính bằng giờ khắc, có cách nào có thể cứu được không nhỉ?"
Người kia cười khổ:
"Phép thần."
Người hỏi thản nhiên nói:
"Trên thế gian này làm gì có phép thần."
Người cười khổ nói:
"Có người chuyên tâm niệm A Di Đà Phật, cũng có người chuyên tâm niệm Quan Thế Âm Bồ Tát, cũng có người chuyên tâm đọc kinh, đều là hy vọng vào phép thần. Phật pháp hiển hóa, thiên chủ cứu độ."
"Được sao?"
"Có người được có người không."
"Vì sao thế?"
"Tất cả đều là duyên phận."

Người cười khổ nói:
"Có người mắc bệnh ung thư, sau khi làm hóa trị thì khỏi bệnh. Nhưng cũng có người chữa mà không khỏi, chẳng phải là duyên phận sao?"
"Nói cũng phải."
Người cười khổ nói:
"Có người tặng tôi một cuốn kinh, là Chân Phật Kinh, tôi muốn tùy duyên tặng cho anh. Anh niệm đi! Nói không chừng anh lại có duyên. Cần có tín tâm, tín tâm rất quan trọng đó."

Người hỏi cầm lấy cuốn Chân Phật Kinh, niệm một biến, trì tâm chú. Trong giấc mơ anh lập tức nhìn thấy một người vươn tay vào trong phổi anh, lấy ra một thứ bẩn ở trong phổi, anh cảm giác như được giải thoát, tất cả đau đớn của bệnh đột nhiên nhẹ nhõm hẳn, thậm chí chẳng còn thấy gì nữa.
Người trong mơ nói với anh:
"Anh có duyên, bệnh của anh sẽ khỏi, sống đến 99 tuổi."

Sáng hôm sau tỉnh lại, kể cũng kì lạ, bệnh nhân mắc ung thư này kiểm tra toàn thân thì không thấy các tế bào ung thư đâu nữa, thực sự bệnh đã hoàn toàn biến mất. Nhưng người cười khổ, người tặng cho anh cuốn Chân Phật Kinh thì đã chết rồi, cũng đã được giải thoát khỏi bệnh khổ rồi.

Bệnh nhân mắc ung thư này cầm cuốn Chân Phật Kinh đi đến vài ngôi chùa hỏi những người xuất gia và cư sĩ tại gia, tất cả đều nói "không biết kinh này". Anh tìm kiếm rất lâu, sau đó mới biết kinh điển này là do Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn tuôn chảy ra từ tâm mình. Anh muốn tìm tôi để cảm ơn, nhưng cũng không gặp được, bởi vì tôi đã bế quan, không gặp người ngoài nữa. Anh đến Lôi Tạng tự xin quy y và quán đảnh. 

Anh nói:
"Trong giấc mơ anh nhìn thấy một người vươn tay lấy ra thứ gì đó bẩn từ trong phổi anh, người này thực sự là Lư Thắng Ngạn Sư Tôn."


### 06. Thập phương hiển thánh cứu người hôn mê


*(Bản văn này được trích từ văn tập số 089 của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - Chân Phật mộng trong mộng.)*

(1)

Sư Tôn, Sư Mẫu kính yêu!
Đệ tử là Liên Hoa Sâm Minh và vợ là Liên Hoa Mỹ Ngọc rất biết ơn Sư Tôn lần này đã đến Singapore, để cho rất nhiều các đồng môn Singapore và Malaysia có cơ hội tham gia hai pháp hội thù thắng. Mọi người đều hy vọng Sư Tôn có thể tới đây thường xuyên hơn.

Đêm qua ngày 18 tháng 2 âm lịch, đệ tử không sao ngủ yên được. Tới gần sáng, vào lúc nửa tỉnh nửa ngủ, con đã mơ thấy Sư Tôn đến nhà cha mẹ con để gia trì cho cha mẹ. Sau đó Sư Tôn hóa thành ánh sáng bay đi!

Hôm nay (ngày 19 âm lịch), buổi tối con gọi điện về nhà mới biết buổi chiều hôm trước mẹ của con bị ngất xỉu, cho đến buổi sáng hôm nay mới tỉnh lại. Hóa ra là sáng sớm nay Sư Tôn đã đi cứu mẹ con. Con không biết phải làm sao để cảm tạ tấm lòng từ bi của Sư Tôn đã cứu giúp, chỉ có thể rớt nước mắt nói lên mấy tiếng cảm ơn. Hiện tại mẹ con đã khỏe lên một chút rồi, chỉ là nếu đứng dậy đi vài bước thì sẽ bị chóng mặt. Đệ tử quỳ xuống cầu xin Sư Tôn lại đến chữa bệnh cho mẹ con. Đệ tử sống tại Singapore, còn mẹ và em gái em trai của đệ tử thì đều sống tại Selangor, Malaysia.
…

Cầu nguyện cho các bậc cha mẹ trong thiên hạ đều an khang.
Nguyện tất cả chúng sinh đều có được Phật pháp, thực tu viên mãn.
Phật an!
Đệ tử: Liên Hoa Sâm Minh - đêm 19 tháng 2 âm lịch sám hối.

(2)

Tôi biết Liên Hoa Sâm Minh và Liên Hoa Mỹ Ngọc thường trì tụng Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, cũng thường trì tụng Chân Phật Kinh không gián đoạn.

Nhưng Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh không phải là kinh điển dịch từ tiếng Ấn Độ, trong Đại Tạng Kinh không có kinh này, trong kinh này có tên các vị Phật và thánh hiệu của Quan Thế Âm Bồ Tát.

Tuy vậy, trong "Nho Lâm Truyền" thời Bắc Ngụy và "Lư Đồng Truyền" thời Bắc Sử đều có ghi chép lại sự tích về Lư Cảnh Dụ. [Nho Lâm Truyền là bộ truyền thuyết do nhà sử học Ban Cố thời Đông Hán biên soạn.] Lư Cảnh Dụ do bị liên lụy phải vào tù, ở trong tù thành tâm tụng niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, không ngờ tất cả những xiềng xích trói trên người đều tự động tuột ra. Sau đó Vũ Vương Tề Hiến biết được ông bị kết tội oan liền miễn tội cho ông.

Sự linh nghiệm của Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh nhiều không thể đếm hết. Chân Phật Kinh cũng vậy. Những sự linh nghiệm này không phải là những việc mà phàm phu tục tử có thể ngụy tạo ra. Liên Hoa Sâm Minh và Liên Hoa Mỹ Ngọc thường xuyên trì tụng hai bản kinh này.

Cần biết rằng Chân Phật Kinh có thân samaya, là tam thân của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, là thân chủng tử, thân tam muội, thân tôn giả, cũng còn được gọi là tam thân: pháp thân, báo thân, ứng thân. Trong kinh có cảnh giới nội chứng của Phật Bồ tát, có lời thề của hộ pháp thần Kim cang, có biểu tượng hoa sen của Bồ tát. Người đọc tụng Chân Phật Kinh nếu có thể đạt đến "tam muội tương ứng" có thể nhìn thấy được vẻ mặt từ bi của Liên Sinh Hoạt Phật, hoặc thấy ngài thân màu trắng, hoặc thấy hoa sen trắng to như bánh xe.

Do vậy, Liên Hoa Sâm Minh nhìn thấy Sư Tôn đi đến nhà cha mẹ để gia trì cho mẹ anh. Sau đó Sư Tôn hóa thành ánh sáng bay đi. (Hóa ra là do mẹ anh bị bất tỉnh một ngày đêm, Sư Tôn đã đi cứu bà.) Sự việc này chính là thập phương hiển thánh cứu người hôn mê.

(3)

Những sự việc linh nghiệm chân thực giống như thế này cực kì nhiều.
Có một người tên là Liên Hoa Thời Triều, khi mới quy y đã mắc bệnh nặng tới mức sắp chết, gần chết mấy lần rồi đều được các vị cứu sống lại, cả trăm loại thuốc cũng đều không có hiệu quả gì. Ông thường bất tỉnh không biết chuyện gì xảy ra xung quanh. Ông mắc nhiều bệnh như u não, bệnh thận, bệnh tim, bệnh tràng vị… Sau khi ông quy y thì nhất tâm trì tụng Chân Phật Kinh, trì tới ba nghìn biến.

Có một đêm, ông mơ thấy Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, người cao lớn mặc quần áo trắng giống như một vị bác sĩ vậy. Ngài mở não ông lấy u não ra. Rồi ngài lại dùng dao mổ cắt tràng vị và mổ tim, mổ thận, v.v… Tất cả đều được ngài rửa sạch sẽ lại như mới. Sau khi mọi thứ đều được rửa sạch thì lại để các bộ phận của tràng vị lại về chỗ cũ. Liên Sinh Hoạt Phật nói với ông:
"Mọi bệnh của ông đều đã khỏi cả rồi đó."
Liên Hoa Thời Triều hỏi:
"Sao Liên Sinh Hoạt Phật lại là bác sĩ thế này?"
"Tôi là Đại Y Vương mà." - Sư Tôn trả lời.

Ở trong mơ, Sư Tôn kéo tay ông, đỡ ông đứng dậy, ông còn có thể nhảy ở lối đi bên cạnh giường được nữa, động tác này bình thường ông đâu dám làm.

Liên Hoa Thời Triều tỉnh dậy, thân thể cảm thấy vô cùng sảng khoái, cảm giác mọi thứ hoàn toàn thay đổi, tinh thần phấn chấn, không chỉ khỏi bệnh hôn mê mà bệnh tim cũng khỏi, bệnh thận cũng khỏi hẳn. Từ đó về sau các bệnh trên thân thể đều khỏi cả.

Bản thân ông không dám tin, nhưng bạn bè xung quanh ông đều biết rõ ràng, tất cả đều quy y Chân Phật Tông, trì tụng Chân Phật Kinh.

(4)

Tôi đã từng cứu "người thực vật", từng cứu người hôn mê nửa năm tỉnh lại. Người bị hôn mê ba tháng, một tháng, nửa tháng, mười ngày được tôi cứu cho tỉnh lại thì rất nhiều.

Có người hỏi tôi:
"Rốt cục là ngài có bản lĩnh gì?"
Tôi đáp:
"Những việc này là dùng sức mạnh thần thông để cứu những trường hợp khẩn cấp trong khổ nạn của chúng sinh chứ cũng chẳng phải là có bản lĩnh gì. Còn tôi đã ngộ nhập niết bàn, hiểu rằng đại ngũ uẩn đều là không, do vậy tất cả bệnh khổ đều từ nhân duyên mà sinh ra. Tôi là người tự tính vốn không, là người đã thông đạt tất cả, tôi chỉ niệm Phật, vô tác giả, vô thọ giả."

Người hỏi câu này không hiểu lời tôi nói, ông á khẩu không biết nói gì. Kì thực việc ông không hiểu được cũng không có gì đáng ngạc nhiên. Bởi vì mấy câu nói này chính là cánh cửa giải thoát thâm sâu bí mật, người thế tục làm sao hiểu được đây?


### 07. Triết lý về bệnh nghiệp


Chiều nay chúng ta đã nghe pháp sư Cửu Như nói về bệnh nghiệp. Vừa nãy dường như trong lúc ông đang giảng thì có nhắc đến tâm thanh tịnh thì thân cũng thanh tịnh, sẽ không còn bệnh tật. Trên thực tế, Phật Thích Ca Mâu Ni đương nhiên là có tâm thanh tịnh, thân cũng thanh tịnh. Nhưng khi ngài thành tựu rồi thì vẫn có bệnh, việc này thuộc về nghiệp nhiều kiếp, do vậy bệnh và nghiệp có liên hệ chặt chẽ với nhau.

Gần đây có một sự việc có thật, là một cuộc tranh luận rất lớn.
Chúng ta đã biết gần đây có hội XX, người sáng lập ra hội này thường nói rằng có bệnh thì không cần đi khám bác sĩ, bởi vì bệnh là nghiệp chướng. Dù bạn đi khám bác sĩ, chữa khỏi bệnh xong rồi, nhưng nghiệp đó thì vẫn chưa được tiêu trừ, nghiệp vẫn còn. Vì thế bạn cần phải để cho bệnh tồn tại, không được đi khám bác sĩ, làm như thế thì nghiệp chướng mới tiêu trừ. Đại ý là ông này nói như thế.

Ý của ông ta là bệnh chính là nghiệp, nghiệp muốn tiêu trừ thì cần phải để bệnh tồn tại, không thể đi khám bác sĩ. Bởi vì không khám bác sĩ, sau khi bạn vượt qua được bệnh thì nghiệp đó mới thực sự được tiêu trừ. Ý của ông ta chính là vậy.

Những phê phán tranh luận dấy lên gần đây chính là trên phương diện đó, do ông ta nói rằng khi có bệnh thì chớ đi khám bác sĩ. Rất nhiều người cho rằng ý trên là đúng, bởi vì bệnh chính là nghiệp mà! Cho nên muốn tiêu trừ nghiệp thì vì sao lại đi chữa bệnh? Hãy để cho bệnh tự hết, nghiệp sẽ được tiêu trừ, còn nếu đi khám bác sĩ mà chữa khỏi bệnh rồi thì nghiệp của bạn sẽ vẫn còn đó.

Tuy nhiên, ở đây tôi muốn hỏi một câu: Làm sao bạn biết được rằng, khi bệnh của bạn được chữa khỏi sau khi khám bác sĩ thì nghiệp đó vẫn chưa được tiêu trừ? Biết đâu chủ định của số mệnh là nghiệp này của bạn cần phải đi khám bác sĩ để tiêu trừ nghiệp thì sao? Mọi người dùng đầu óc thử nghĩ một chút xem. "Người có bệnh, được chữa khỏi sau khi đi gặp bác sĩ, thì làm sao mà biết được là nghiệp chướng đó đã được tiêu trừ hay chưa?"

Ở đây có lẽ chúng ta nên nói: "Người có bệnh thì nên đi khám bác sĩ, bởi vì số mệnh của ta là cần phải khám bác sĩ thì nghiệp này mới được tiêu trừ." Cũng giống như bạn xin được một Thượng sư gia trì, ví dụ mọi người đến xin tôi gia trì, tôi gia trì cho họ, bệnh của họ liền khỏi, như vậy thì nghiệp của họ vẫn còn hay sao? Chỉ là khỏi bệnh thôi còn nghiệp thì vẫn còn hay sao? Nói không chừng thì chính nhờ việc gia trì này mà nghiệp (bệnh) của bạn mới hết đó.

Do vậy ở đây có điều cốt lõi, đó là mối liên hệ giữa bệnh - nghiệp là có tồn tại và sự liên hệ này xem ra thì rất phức tạp, nhưng rất nhiều bệnh vẫn sẽ khỏi được. Sau khi khỏi bệnh rồi thì bạn lại tiếp tục làm công đức, làm việc thiện, bố thí, tu hành, tinh tấn, trì chú, tu luyện, cuối cùng có thể thành Phật. Nếu bạn có bệnh mà không đi chữa bệnh, không chịu đi tìm bác sĩ để khám chữa bệnh, rồi bệnh nhỡ không khỏi. Cứ kệ nó, nếu nhỡ không khỏi bệnh thì làm sao? Không lẽ chết rồi thì nghiệp tiêu trừ luôn ư? Về cơ bản thì như thế là bạn đem chính thân thể mình đi tặng cho Diêm Vương rồi đó.

Theo đạo lý mà nói thì có bệnh cần đi khám bác sĩ, chữa khỏi được bệnh rồi thì nghiệp chướng của bạn cũng hết, nói cách khác là bệnh nghiệp của bạn đã được tiêu trừ. Thế còn chữa không khỏi thì sao? Chữa không khỏi thì là do nghiệp của bạn quá nặng. (Sư Tôn cười.) Nói bệnh là nghiệp thì không sai, nhưng chúng ta cũng cần biết rằng không hẳn là nghiệp của bạn chỉ cần bác sĩ chữa đơn giản nhẹ nhàng cho bạn là bệnh sẽ khỏi đâu. Bạn không cần đi khám [mà vẫn khỏi bệnh] thì xem như là bạn may mắn đó. Ý của tôi muốn nói rằng rất nhiều người đến cầu xin Sư Tôn gia trì cho bệnh nghiệp. Được thôi!

Thế nhưng nếu bạn lại nói rằng bệnh này không thể chữa được, vậy bạn đi cầu xin gia trì để làm gì? Thế vì sao tôi lại cần phải gia trì cho bạn chứ? Bởi vì dù tôi có gia trì thì nghiệp của bạn không hết, sau này bạn vẫn còn tiếp tục phải chịu nghiệp đó, vậy thì tại sao tôi lại phải gia trì cho bạn làm gì? Và nếu vậy thì các bạn cũng không cần đến tìm tôi xin gia trì nữa. Có bệnh cũng không cần đến tìm tôi gia trì, bởi vì gia trì cũng chẳng thể tiêu trừ nghiệp của bạn. Khám bác sĩ cũng chẳng thể tiêu trừ được nghiệp, tìm Thượng sư xin gia trì cũng chẳng có tác dụng gì, cũng như nhau cả, nghiệp này cũng chẳng thế nào được tiêu trừ. Cái đạo lý kiểu này, chúng ta có đầu óc thì hãy nên suy nghĩ cẩn thận một chút.

Có bệnh thì cần phải đi khám bác sĩ.
Bệnh và nghiệp có mối quan hệ, nghiệp có nặng có nhẹ, có định nghiệp, cũng có bất định nghiệp. Nếu bạn gặp phải bất định nghiệp thì vốn dĩ việc khám bác sĩ có thể chữa khỏi được, còn nếu bạn cứ kệ, không đi khám bác sĩ, oa, thế là chết, thì xem như là bạn hết vận may rồi. Ý của tôi muốn nói chính là như vậy. 

Ngoài ra, vừa rồi pháp sư Cửu Như giảng về thân thanh tịnh, tâm thanh tịnh thì sẽ không có bệnh, nhưng mà vẫn có đấy! (Sư Tôn cười.) Bởi vì nghiệp là nhiều kiếp, nghiệp từ rất nhiều kiếp cùng đổ về, nặng có, nhẹ có, còn kiếp số ra sao nữa. Do vậy không thể nói rằng tâm thanh tịnh, thân thanh tịnh thì bạn sẽ không mắc bệnh nữa, vẫn mắc bệnh đó.
Om mani padme hum.
*(Pháp thoại này trích từ cuốn 654 của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - Bài ca của Hoạt Phật - phần 3.)*


### 08. Chân Phật Kinh là gì?


Chân Phật Kinh bao hàm ba phương diện: con người, pháp, chỉ dụ.
Con người được nói đến ở đây chính là Thượng sư Lư Thắng Ngạn, là nói duy nhất đến Thượng sư Lư Thắng Ngạn giảng pháp của Liên Hoa Đồng Tử. Từ đây mở rộng đến pháp môn của Tây phương cực lạc thế giới, trong đó có cảnh giới Ma Ha Song Liên Trì với sự thường hằng, tĩnh tịch, quang minh mang nhiều ý nghĩa huyền diệu. Con người trong bộ kinh này chính là Thượng sư Lư Thắng Ngạn.


Pháp được nói đến ở đây chính là pháp của Tây phương cực lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì. Niệm Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, quán tưởng Liên Hoa Đồng Tử, kết thủ ấn Liên Hoa Đồng Tử, trụ trong Liên Hoa Đồng Tử tam ma địa, là có thể thẳng tiến đến Ma Ha Song Liên Trì, gặp được A Di Đà Phật, "gặp Phật thoát sinh tử, độ tất cả như Ngài".


Chỉ dụ được nói đến ở đây chính là ẩn dụ so sánh. Chân Phật vốn không thể trực tiếp nói ra, do vậy càng cần sự so sánh.


🌟


Giải thích ba chữ Chân Phật Kinh này như sau:
Chân là gì? Chân ở đây chính là sự thật.
Phật là gì? Phật chính là người giác ngộ, nói chính xác là Đại thánh nhân đã tự giác - giác tha, giác hành viên mãn. Đạt được giác hành viên mãn này chính là Phật, đạt được chứng ngộ hai loại trí huệ vốn có: một là Vô thượng chính trí, cũng chính là A Nậu Đa La tam miệu tam bồ đề (trí hiểu biết rộng lớn); hai là Nhất thiết chủng trí (trí huệ hiểu biết tất cả), chính là Bồ Tát Bát Nhã. Từ tu hành chân chính đến được Phật địa, đạt được địa vị thành Phật.

Chữ Phật này có thể mở rộng ra là:
Phật nhật --- phá bỏ bóng đêm ngu si của chúng sinh, giống như mặt trời xua tan đêm tối. So sánh Phật pháp từ bi quảng đại độ chúng sinh khắp nẻo không phân biệt, như ánh sáng mặt trời chiếu soi khắp đại địa.
Phật ấn --- mọi thực tướng của pháp, chính là những ấn khế bất biến mà chư Phật đã quyết định.
Phật thừa --- minh tâm kiến tính - trí huệ của thừa pháp.
Phật tính --- tất cả chúng sinh đều có Phật tính, là tính giác ngộ bất biến không thể đổi khác, là thực thể bất sinh bất diệt, chính là Chân Như.

Chân Phật --- là vô vi, là bình đẳng, là từ bi, là hỉ xả, là phóng quang chân chính, là độ hóa hết thảy chúng sinh.

Kinh là gì? Kinh chính là tiếng Phạn của Sutra, còn được gọi là đạo lý mà thập phương chư Phật đã thuyết giảng, trên hợp với trí huệ pháp tính mà thập phương chư Phật đã nói, dưới hợp với chân lý muốn đi trên con đường tu hành của thập phương chúng sinh. Nói cách khác là mô tả lại đạo lý tu hành như thế nào thì được gọi là Kinh. Kinh vốn là những lời mà Như Lai đã nói. Phàm là những quy củ và khai ngộ mà các bậc thánh nhân đã giáo thị xuống thì đều được gọi là Kinh.


🌟


Vậy Chân Phật Kinh là gì? Một bậc giác ngộ đã minh tâm kiến tính, Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Lư Thắng Ngạn tôn giả, đã viết lại trí huệ của Phật mà ngài đã lĩnh hội hoàn toàn, hiểu thông hiểu thấu. Đây là tất cả những gì Như Lai đã thuyết giảng, bởi vậy Chân Phật Kinh là sự thật. Trong Chân Phật Kinh có cảnh giới nội chứng của Phật Bồ tát, có lời thề gốc của Hộ pháp thần Kim cang, có biểu tượng hoa sen của Bồ tát.

Tên của bản kinh này kì thực chính là con đường đạo dẫn đến giác ngộ chân chính, do vậy kinh này vừa có thể tiêu trừ rất nhiều tai nạn, vừa có thể ban phúc. Người đọc bản kinh này sẽ có được phúc khí, cũng giống như có được vận may từ trên trời rơi xuống, chính là có được thiên phúc.
Tên gọi đầy đủ là Chân Thực Phật Pháp Tiêu Tai Ban Phúc Kinh, gọi đơn giản là Chân Phật Kinh.


### 09. Liên Sinh Hoạt Phật giảng Chân Phật Kinh (1)


**Kinh văn:**
”Ôm A Hùm [Om Ah Hum]
Kính đem thân khẩu ý thanh tịnh.
Cúng dường Tì Lô Giá Na Tôn.
Pháp thân Phật Nhãn Phật Mẫu Thánh.
Báo thân Liên Hoa Đồng Tử thân.
Ứng Thân giáo chủ Liên Sinh Phật.
Ba thân không khác, đại Phật ân.
Cung kính Chân Phật đại truyền thừa.
Thần thông ban trải đầy thế giới.”

Người niệm tụng kinh này trước tiên cần niệm tụng Văn cầu thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật gia trì. Ba chữ mở đầu là Om Ah Hum, điều này trước đây Sư Tôn đã từng giải thích rồi.

Om A Hum là gì?
Om --- là vũ trụ.
Ah --- là nhất, là Phật.
Hum --- là quả vị, là quả.
Om, Ah, Hum, chính là tương đương với chư Phật của toàn vũ trụ hiển hiện tất cả mọi hình tướng và tất cả mọi quả vị. Kì thực, ba chữ này còn có ý nghĩa vô cùng thâm sâu ẩn chứa trong nó, không phải chỉ có mỗi nói về vũ trụ, hay là tất cả các hình tướng mà chư Phật hiển hiện, mà còn có hàm nghĩa khác.

Có thể giải thích là:
Sự thanh tịnh của trời.
Sự thanh tịnh của đất.
Sự thanh tịnh của chúng sinh.
Bản tính thanh tịnh của tất cả.

Sự thanh tịnh của thân khẩu ý là gì?
Sự thanh tịnh của thân, khẩu, ý chính là tất cả mọi thứ của thân thể đều thanh tịnh, tất cả mọi thứ về khẩu đều thanh tịnh, cũng như tất cả mọi thứ thuộc về ý niệm đều thanh tịnh. Đem toàn bộ thân thể bạn, bao gồm cả sự thanh tịnh của thân, khẩu, ý để cúng dường Đại Nhật Như Lai. [Phật Tỳ Lô Giá Na.]

Mọi người đừng cho rằng thân thanh tịnh tức là đi tắm rửa một cái là xong. Bạn có thể rửa sạch những thứ bên ngoài, nhưng bên trong thì vẫn còn các thứ này khác. Bạn cho rằng bạn đã đi "hái hoa" rồi cơ mà (đã đi toilet rồi), nhưng thực tế là bên trong vẫn còn thừa lại một chút chút. Sự thanh tịnh của thân thể chính là biểu thị rằng tay của bạn không hề làm việc xấu, không sờ mó lung tung, không ăn cắp vặt. Không lấy trộm, không cướp bóc, không sờ lung tung, không chạm lung tung, thì như vậy mới là thân thanh tịnh, chứ không phải nói rằng đi tắm một cái là thanh tịnh rồi đâu.

Thứ hai là nói về khẩu thanh tịnh. Thói quen của rất nhiều người là hễ mở mồm ra, những điều nói ra chẳng phải là những thứ ngon lành như socola hay kẹo ngọt, mà là thốt ra những lời như tên bắn khiến người khác bị thương. Hoặc như bịa chuyện không có thật, những lời khoác lác hoặc bịa đặt, những lời chọc ghẹo ong bướm. Giả sử bạn mở miệng ra mà không hề nói những điều sai quấy thì đây được gọi là sự thanh tịnh của khẩu. Nhưng tôi thấy rằng để có khẩu thanh tịnh cũng rất khó. Bởi vì mọi người có cái tật là nghe thấy rồi thì không nói ra không được, giữ lại trong lòng thì ruột sẽ trương lên mà chết mất. Hy vọng mọi người sau khi nghe được điều gì, lọt vào tai rồi, cứ thế đi xuống tới dạ dày rồi tới ruột, rồi cứ thế đi ra theo đường dưới là được rồi, cùng lắm thì cũng chỉ là bốc mùi tí thôi!

Sự thanh tịnh của thân và sự thanh tịnh của khẩu là những vấn đề tương đối nhẹ, đều phần nào có thể kiểm soát được, có thể tu dưỡng cải tiến được. Nhưng ý thanh tịnh - sự thanh tịnh của ý niệm là khó nhất. Ai dám nói ý niệm của bản thân đều hoàn toàn trong sạch đây? Vừa nãy khi mọi người nhập tam ma địa, Sư Tôn thấy trên đầu mỗi người đều có một điểm sáng màu đen, thế thì tam ma địa cái gì chứ? Là "hoang tưởng địa" thì có.

Trên thực tế, chỉ cần bạn chưa phải là Thánh nhân, thì bạn đã phạm tội trên phương diện ý niệm rồi. Thánh nhân xuất hiện trên thế giới này chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay mà thôi, mà phần lớn Thánh nhân cũng đều trốn trong núi sâu rồi, không dám bước ra chốn thành thị, vì nhìn thấy áp-phích quảng cáo phim thôi là đã hoa mắt chóng mặt rồi.

Tại cõi Sắc giới, Dục giới, để có sự thanh tịnh của ý niệm là rất khó. Thánh nhân hiện tại tất cả đều tập trung tại cõi Vô sắc giới, vì chỉ có ở tại cõi Vô sắc giới, mọi hình tượng đều không tồn tại, khi đó mới là sự thanh tịnh thực sự. Do vậy, ý niệm thanh tịnh là vô cùng khó đạt được.

Câu thứ nhất nói rằng: "Cần đem thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh để cúng dường Phật Tỳ Lô Giá Na." (Kính đem thân khẩu ý thanh tịnh, cúng dường Tỳ Lô Giá Na Tôn.) Ngày nay rất nhiều đệ tử cúng dường Sư Tôn cũng nói: "Con đem thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh để cúng dường Sư Tôn là được rồi." Trung tâm hồi đáp thư tín của Seattle đều biết rằng cúng dường kiểu này sẽ buộc chúng tôi phải mất tiền dán tem, tốn thêm thời gian và tiền bạc. Tuy nhiên, hôm nay tôi nói với mọi người thế này: "Giả sử mọi người thực sự có thể có được sự thanh tịnh của thân, khẩu, ý để cúng dường Phật, cúng dường người xuất gia, cúng dường tất cả Thánh nhân, nếu như bạn thực sự làm được như vậy, thì miễn phí." Giả sử không có cách nào làm được như vậy, tôi cho rằng vẫn nên kèm theo một chút vật chất thì có lẽ hay hơn.

Tỳ Lô Giá Na Phật - Phật Nhãn Phật Mẫu - Liên Hoa Đồng Tử - Liên Sinh Hoạt Phật:
Mọi người đều biết rằng Phật Tỳ Lô Giá Na chính là Đại Nhật Như Lai, ngài là bổn tôn của rất nhiều vị Phật. Khi ngài biến hóa pháp thân, từng biến hóa thành Phật Nhãn Phật Mẫu hạ sinh. Đôi mắt của Phật Nhãn Phật Mẫu chính là Ma Ha Song Liên Trì hóa hiện tại Tây phương cực lạc thế giới, còn ánh sáng của đôi mắt thì hóa thành Liên Hoa Đồng Tử. Vậy Liên Hoa Đồng Tử thì sao? Bởi vì Liên Hoa Đồng Tử đều hạ sinh tại thế giới này, hiện tại đang ở thế giới Ta Bà, biến hóa thành ứng thân, chính là Liên Hoa Đồng Tử hạ sinh đến nhân gian này để độ chúng sinh.

Pháp thân, báo thân, ứng thân đều không có gì khác biệt. Ngày xưa Phật Thích Ca Mâu Ni hạ sinh tại cõi Ta Bà, pháp thân của ngài chính là Phật Tỳ Lô Giá Na, báo thân của ngài chính là Phật Lô Xá Na, ứng thân của ngài chính là Phật Thích Ca Mâu Ni. Pháp thân, báo thân, ứng thân đều không có khác biệt. Đệ tử Chân Phật chúng ta đều nên cung kính truyền thừa vĩ đại này của Chân Phật Tông. Chúng ta tu hành, tương lai đều trở về bên trong thế giới của Liên Hoa Đồng Tử, chính là trở về trong đôi mắt của Phật Nhãn Phật Mẫu. Thế giới đó chính là Chân Phật Thế Giới, chính là nơi chúng ta thuộc về, là tịnh thổ chân chính.

Ba thân không khác đại Phật ân:
Pháp thân, báo thân, ứng thân, ba thân này lúc trước có người giảng rằng đó chính là vũ trụ, là mặt trăng, và những mặt trăng hiện trên mặt nước hồ khi trăng soi sáng. So sánh này tương đương với pháp thân, báo thân, ứng thân. Hiện tượng này và hiện tượng mây trên trời biến thành nước mưa, nước mưa đông cứng lại thành băng, thì băng, nước, mây này là giống nhau, không hề có khác biệt gì cả, chỉ là khác nhau về hình dạng mà thôi. Đây chính là "ba thân không khác đại Phật ân".

Thần thông ban trải đầy thế giới:
Câu tiếp theo là "thần thông ban trải đầy thế giới". Vừa hay tối nay lại nói đến hai chữ "thần thông", cái này Sư Tôn cần nghiên cứu xem lại vài kiếp trước xem có làm việc gì sai không. Giả sử nếu đã từng làm việc gì sai thì xem ra cũng rất nguy hiểm. Đây là chuyện khiến người ta rất lo lắng phiền não, bởi vì nếu có gì sai thì sẽ bị người ta ném đá cho chết, thế thì không thể ăn cơm được nữa.

Việc thần thông, biến hóa là có thật. Nếu bạn có thể tu hành đến mức tinh thần thống nhất thì sẽ sản sinh ra một dạng sức mạnh, sức mạnh này sẽ biến thành thần thông. Chúng ta biết rằng ánh nắng mặt trời không thể giết người, nhưng giả sử chúng ta đặt một thấu kính phóng đại dưới ánh nắng mặt trời, khiến cho tiêu cự tập trung tại một điểm, chiếu vào mu bàn tay của bạn. Khi có ánh nắng mặt trời, bạn đặt một thấu kính phóng đại, điều chỉnh tiêu cự cho nó chiếu lên da thịt bạn, xem thử xem bạn có đau hay không nhé?
Mọi người đừng thử nghiệm, nếu không sẽ biến thành thịt nướng đó!

Trên thực tế, khi làm như vậy là ta tập trung tất cả năng lượng ánh sáng lại, lúc này sẽ sinh ra một năng lượng rất lớn. Cũng như vậy, khi tập trung ý niệm của bạn thành một điểm thì bất kì sức mạnh nào cũng có thể nhìn thấu quá khứ, thiên nhãn thông chính là như vậy mà sinh ra.

Ngoài ra, nếu bạn dùng sức mạnh này, nếu tất cả các tế bào trên người bạn đều hóa thành không, sức mạnh của bạn sẽ phát ra. Cũng giống như chính bạn là một dụng cụ phóng xạ, tần số phóng xạ phát ra thì cả vũ trụ này đều tràn ngập tần số của bạn. Điều này là để giải thích cho câu "thần thông ban trải đầy thế giới".

Niệm lực của bạn có thể tồn tại trong cả vũ trụ này, do vậy khi các bạn niệm Thượng sư tâm chú, mà vừa niệm một cái là đã có cảm ứng thấy rồi, đó là vì trong hư không này có tồn tại niệm lực của Thượng sư tâm chú. Trong số các đệ tử Malaysia, có một người chuyên môn thay người ta làm các liệu pháp tâm linh, dùng năng lực của mình đi giúp đỡ người khác, ông là Liên Loại nhỉ? Xin đứng dậy cho mọi người được thấy. Mọi người xem, tóc ông ấy rất bạc đó! Trước đây sức khỏe của ông rất kém, sau khi quy y Sư Tôn thì thân thể mới khỏe lên. Còn khi chưa quy y thì ông ấy cần được người khác chữa bệnh cho, sau khi quy y xong thì biến thành ông chữa bệnh cho người khác. Nguyên nhân tóc của ông rất bạc là vì các tế bào trong tóc đều đã chết hết rồi, do trước đây sức khỏe không tốt nên tóc đã bạc hết, không phải sau khi quy y xong mới bạc đâu.

Khi ông chữa bệnh cho người ta thì thường dùng cách quán tưởng, dùng niệm lực quán tưởng chư Phật, Bồ tát ở trên đầu ông, hoặc Sư Tôn ở trên đỉnh đầu ông, quán tưởng Phật phóng quang, quang năng này tiếp thêm sức mạnh lên người ông, sau đó ông lại chuyển quang năng này lên thân thể người khác. Ông thường quán tưởng Sư Tôn ở trên đầu ông, tóc của ông thì biến thành một bông hoa sen trắng, Sư Tôn ngồi trên bông hoa sen trắng đó. Tay của ông đưa ra, ánh sáng của Sư Tôn chiếu đến ông thì ông lại đẩy ánh sáng này đi để chiếu lên người khác, khiến cho bệnh trên thân thể người khác đều khỏi.

Hôm nay Sư Tôn vừa gặp ông thì liền biết ngay, nói "ồ hóa ra là ông!" Bởi vì ông thường mượn điện của tôi dùng đó! Chắc là nên thu của ông ít tiền điện nhỉ, vì ông luôn cứ trộm điện trên người tôi, hại tôi không còn điện nữa. [Đùa]
Om mani padme hum.


### 10. Liên Sinh Hoạt Phật giảng Chân Phật Kinh (2)


**Kinh văn:**
”Phóng quang chiếu rọi khắp ba thời.
Hóa hiện không ngừng chứng nhất như.
Đệ tử tha thiết thường cầu tới.
Soi chiếu quang minh, phúc huệ tăng.

Xưa đến thọ ký, Phật Thích Ca.
Phó thác ân cần, A Di Đà.
Di Lặc Bồ Tát ban hồng quán.
Liên Hoa Đại Sĩ mật pháp truyền.
Thánh Tôn xin thỉnh đừng quên nguyện.
Cứu độ chúng sinh chúng con đây.
Hộ niệm như thế xin nhiếp thọ.
Thành tựu nhanh nhanh thỉnh gia trì.

Nam mô Tỳ Lô Giá Na Phật.
Nam mô Phật Nhãn Phật Mẫu.
Nam mô Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Chân Phật hải hội thập phương tam thế chư Phật Bồ Tát Ma Ha Tát.”

**Niệm thánh cáo (3 lần)**
Tây phương Liên Trì hải hội, Ma Ha Song Liên Trì, thập bát đại Liên Hoa Đồng Tử, Bạch Y Thánh Tôn, Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng sư, Chủ Kim Cương Chân Ngôn Giới Bí Mật Chủ, Đại Trì Minh Đệ Nhất Thế Linh Tiên Chân Phật Tông. Lư Thắng Ngạn mật hành tôn giả.

**Hương tán
**Lư hương sạ nhiệt. Pháp giới mông huân.
Chân Phật hải hội tất diêu văn. Tùy xứ kết tường vân.
Thành ý phương ân. Chư Phật hiện toàn thân.

Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần)
Nam mô Chân Phật hội thượng chư Phật Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần)


Phóng quang chiếu rọi khắp ba thời. Hóa hiện không ngừng chứng nhất như:
Hôm nay tôi giảng về câu "phóng quang chiếu rọi khắp ba thời". Pháp hội siêu độ năm nay cũng chụp được rất nhiều ảnh phóng quang. Cái gọi là "chiếu rọi khắp ba thời", ba thời chính là chỉ quá khứ, hiện tại, tương lai. "Hóa hiện không ngừng chứng nhất như" chính là không bị hạn chế về thời gian, hoàn toàn quảng đại vô lượng, có khả năng lập tức chứng minh được mọi thần thông.


Đệ tử thiết tha thường cầu tới. Soi chiếu quang minh, phúc huệ tăng:
"Đệ tử thiết tha thường cầu tới", câu này ý nói rằng người học Phật cần tu hành mọi lúc mọi nơi. "Thiết tha" được nói đến ở đây không phải là vô cùng "thống thiết", không ngừng kêu gào bằng mọi giá, mà là người muốn tu hành thì luôn nên chuẩn bị cho cái chết, thường xuyên tu hành, bất kể lúc nào cũng đều phải vô cùng thanh tịnh. Làm được như vậy thì sẽ luôn có ánh sáng quang minh chiếu trên thân, khiến cho phúc phận và trí huệ của người này cứ sau mỗi lần tu hành lại được gia tăng, một mạch đạt đến viên mãn.

Xưa đến thọ kí, Phật Thích Ca:
Trong quá khứ, Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng thọ kí cho Liên Hoa Đồng Tử. Thọ kí có nghĩa là nói rằng tương lai con cần thành Phật, cần độ chúng sinh, cần phát bồ đề tâm.

Phó thác ân cần, A Di Đà:
Trong quá khứ, A Di Đà Phật đã từng rất ân cần giao phó nhiệm vụ độ chúng sinh cho Liên Hoa Đồng Tử.

Di Lặc Bồ Tát ban hồng quán:
Di Lặc Bồ Tát đã đội cho Liên Hoa Đồng Tử một chiếc mũ miện đỏ.

Liên Hoa Đại Sĩ mật pháp truyền:
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ cũng dạy cho Liên Hoa Đồng Tử các pháp bí mật để độ chúng sinh trên thế giới này.

Thánh tôn, xin thỉnh đừng quên nguyện. Cứu độ chúng sinh, chúng con đây:
Bởi vì Liên Hoa Đồng Tử đã có được những truyền thừa chân chính này, và một khi đã là người học Phật thì không thể vứt bỏ lời thề nguyện khi mới quy y, cho nên Liên Hoa Đồng Tử không thể quên đi lời thề nguyện này. Thường xuyên nhớ đến lời thề, lời nguyện này để phát bồ đề tâm, chính là "không nỡ từ bỏ lời thề nguyện".

Nói cách khác là Liên Hoa Đồng Tử đã tuyên bố lời thề nguyện, cần phải đến cõi Ta Bà này để độ chúng sinh. Bây giờ xin đừng quên lời thề nguyện khi xưa đã nói ra. Chỉ một người đi trên con đường tu hành thì chưa được, mà cần phải đưa tất cả mọi người đi theo, chính là yêu cầu Liên Hoa Đồng Tử cần phải "cứu độ chúng sinh chúng con đây".

Do vậy, Liên Hoa Đồng Tử luôn luôn bảo hộ những mong mỏi của bạn, hơn nữa còn tiếp nhận, giúp đỡ bạn, che chở bạn. Hãy cầu thỉnh sự gia trì của Liên Hoa Đồng Tử, hy vọng bạn có thể nhanh chóng có được thành tựu.

Cầu thỉnh truyền thừa:
Phần sau của đoạn văn cầu thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật gia trì này chính là nói về truyền thừa.
Nghĩa là:
Nam mô Tỳ Lô Giá Na Phật --- chính là truyền thừa gốc.
Nam mô Phật Nhãn Phật Mẫu.
Nam mô Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Chân Phật hải hội thập phương tam thế chư Phật Bồ Tát Ma Ha Tát.

Ý nghĩa của từ "Ma Ha" ở đây chính là to lớn, biểu thị Đại Bồ Tát. Do vậy, truyền thừa này của chúng ta vô cùng quan trọng. Thời điểm sơ khai có Trung Ương Phật, chính là Vị Phật đầu tiên nhất, cũng chính là Phật Nguyên Thủy, ngài chính là Đức Phật Tỳ Lô Giá Na.

Phật Tỳ Lô Giá Na hóa thành Phật Nhãn Phật Mẫu, đôi mắt của Phật Nhãn Phật Mẫu hóa thành hai hồ sen lớn gọi là Ma Ha Song Liên Trì. Ánh sáng của Ma Ha Song Liên Trì hóa thân thành Liên Hoa Đồng Tử.

Ngày hôm nay, Sư Tôn giảng về đại truyền thừa này chính là nói đến "Chân Phật hải hội thập phương tam thế chư Phật Bồ Tát Ma Ha Tát".


**Niệm thánh cáo:**
Tiếp theo là niệm thánh cáo ba biến, thánh cáo này rất dài. Nếu mà tôi in ra danh thiếp thì sẽ đầy kín hết cả. Do vậy Sư Tôn rất ít khi in danh thiếp, danh thiếp toàn là đệ tử in cho. Vốn dĩ Sư Tôn rất hiếm khi nào in danh thiếp, những cái hiện có đều là do đệ tử in rồi gửi đến chùa. Trước nay tôi cũng chẳng hề phát danh thiếp cho người khác, bởi vì nếu in cho đúng ra thì danh thiếp sẽ rất dài, dù có in cả cuốn sách thì cũng chẳng đủ.

Tây phương Liên Trì hải hội:
"Tây phương Liên Trì hải hội" chính là nơi có hồ sen của Tây phương A Di Đà Phật, hồ sen rộng lớn như biển. Bên trong hồ sen này có mười tám vị Đại Liên Hoa Đồng Tử, trong đó có một vị mặc áo trắng. Sư Tôn thì không thường xuyên mặc đồ màu trắng lắm, nhưng tóc trắng này thì là thật đó.


Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng sư:
Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng sư chính là do Sư Tôn đã được Di Lặc Bồ Tát đội cho mũ đỏ, chính ngài đã ban cho thánh miện này. Vị Kim cương Thượng sư này đã đắc kim cang tâm, là vị thầy vô thượng, vì thế gọi là Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng sư.

Chủ Kim Cương Chân Ngôn Giới Bí Mật Chủ:
"Chủ Kim Cương Chân Ngôn Giới Bí Mật Chủ" là hóa thân hiện tại. Bí mật chủ ở đây chính là Kim Cang Tát Đỏa, bách tự minh chú của Kim Cang Tát Đỏa chính là "Kim Cang Tâm". Vì sao lại gọi là "Chủ Kim Cương Chân Ngôn Giới Bí Mật Chủ"? Bởi vì ngài đã đạt được kim cang tâm, cũng có nhiệm vụ hoằng pháp giống như Kim Cang Tát Đỏa. Do vậy ngài làm chủ của Kim Cang chân ngôn giới. Giải thích về Chủ Kim Cương Chân Ngôn Giới Bí Mật Chủ chính là như vậy.

Bởi vậy Sư Tôn đã viết bốn cuốn sách, một cuốn tên là "Bí mật trong bí mật", cuốn thứ hai là "Kì lạ trong kì lạ", cuốn thứ ba là "Pháp trong pháp", cuốn thứ tư là "Phật trong Phật". Những cuốn này đều rất thần bí, do thần bí nên gọi là Bí Mật Chủ.

[Những cuốn văn tập được nhắc đến này là của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, cuốn số 63 "Chân Phật bí mật trong bí mật", cuốn số 68 "Mật tạng kì lạ trong kì lạ", cuốn số 75 "Chân Phật pháp trong pháp", cuốn số 80 "Vua của Phật Vương."]

Đại Trì Minh:
Tất cả những bí mật của pháp, những bí mật trong bí mật, những kì lạ trong kì lạ, Phật trong Phật này, nếu tất cả bạn đều có thể nói ra được, bạn đều được thấy tất cả một cách vô cùng rõ ràng, tất cả đều hiểu rõ, nắm rõ được tất cả, chính là nắm giữ được tất cả quang minh. Quang minh rất nhiều, rất lớn nếu bạn đều nắm giữ được, không có điều gì là bạn không hiểu, thì bạn sẽ được gọi là một vị "Đại Trì Minh".

Đệ Nhất Thế:
Thế nào thì được gọi là "Đệ Nhất Thế"? Đệ Nhất Thế chính là đời thứ nhất, không phải thứ hai, cũng không phải thứ ba. Mà vì không phải là đời thứ hai, cũng không phải là đời thứ ba, cho nên chính là đời thứ nhất, bởi vì không có cái gì gọi là "đời thứ không".

Nhân đây tôi có một câu chuyện này để kể cho mọi người nghe.
Rất nhiều người vì việc này mà nói với Sư Tôn rằng: "Sư Tôn! Ngài nói rằng truyền thừa này của ngài là đời thứ nhất. Tôi thấy là hiện nay rất nhiều dòng Mật tông, rất nhiều giáo phái đều đã truyền tới đời thứ mười hai, đời thứ mười tám, đời thứ mười bốn, đời thứ mười lăm, đời thứ hai mươi mấy rồi, thậm chí là ba mươi mấy đời rồi. Thế nhưng mà vẫn chưa từng thấy giáo phái nào đời thứ nhất cả?"

Họ hỏi tôi:
"Vậy thì truyền thừa này của thầy có phải là thật hay không?"
(Là đệ tử của tôi hỏi.)
Tôi hỏi anh ta:
"Thế trong dòng phái của ta thì anh là đời thứ mấy?"
Anh trả lời:
"Sư Tôn là đời thứ nhất, thế thì đương nhiên con là đời thứ hai."
Tôi lại hỏi anh:
"Anh có biết không nhỉ? Thế trước đời thứ mười hai là đời thứ mấy?"
Anh ta trả lời:
"Trẻ con tiểu học cũng biết trả lời, chắc chắn là đời thứ mười một rồi."
Tôi hỏi anh ta:
"Thế mười một đời tính tới trước đời thứ mười hai, là đời thứ mấy?"
Anh trả lời:
"Đó chắc chắn là đời thứ nhất rồi!"
Tôi nói với anh:
"Vậy thì người đó cũng giống như Sư Tôn bây giờ vậy!"

Anh ta nói:
"Nhưng họ đều là đời này truyền cho đời khác, thế sư phụ của Sư Tôn là ai? "Đời thứ không" là ai?"
Tôi nói với đệ tử:
"Anh đi hỏi vị đời thứ mười hai kia xem, vị đời thứ nhất của ông ấy là ai truyền pháp cho?"

Cũng giống như Sư Tôn cả thôi. Truyền thừa của vị kia cũng là từ hư không truyền cho vậy. Truyền thừa của Sư Tôn cũng là từ hư không truyền cho Sư Tôn.

Anh đi hỏi vị kia, họ nói: "Chúng tôi là con người truyền cho con người."
Tôi nói: "Khoác lác! Nói vớ nói vẩn."
Tôi hỏi: "Vị đời thứ nhất của anh thì là ai truyền cho?"

Thảm rồi!
Họ đều chẳng biết phải trả lời thế nào, hóa ra cũng là hư không truyền cho vị thứ nhất mà.
Người thứ nhất của bất kì tông phái nào cũng chắc chắn là được truyền pháp từ hư không. Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi thiền định dưới gốc cây bồ đề thì được ai truyền pháp cho? Do ngài tự mình lĩnh ngộ được tâm mình, tâm của chính mình cũng là từ hư không mà tới.
Do vậy, một vị Phật chân chính của Phật giáo là có truyền thừa từ hư không truyền cho ngài. Có người nói rằng kiếp trước của Phật Thích Ca Mâu Ni (có lẽ là vài kiếp trước đó) đã được Nhiên Đăng Cổ Phật thọ kí cho ngài, sau đó ngài ngồi thiền định dưới gốc cây bồ đề mà tự giác ngộ - tự mình khai ngộ, do đó mới có truyền thừa Phật giáo. Ngày nay Phật Thích Ca Mâu Ni thọ kí cho Sư Tôn, Di Lặc Bồ Tát ban cho Sư Tôn hồng quán thánh miện, do vậy mới có truyền thừa.

Đệ tử này nghe xong thì "A!" Hóa ra là như vậy, đã hiểu rồi, hóa ra Sư Tôn vĩ đại như vậy đó! Là đời thứ nhất cơ mà!
Tôi nói: "Thế nên các anh là đời thứ hai, vậy là thắng mấy người đời thứ mười tám, thứ mười bốn, thứ mười hai rồi nhé, tất cả đều thắng hết rồi nhé."


Truyền thừa này vốn là từ hư không truyền tới, sau đó mới là người truyền cho người, giống như Sư Tôn truyền pháp cho mọi người vậy. Mọi người chính là được truyền thừa từ con người, còn mọi đời thứ nhất thì đều được hư không truyền cho.

Mật hành tôn giả:
Tôi lại giải thích tiếp về bốn chữ "mật hành tôn giả". Thế nào được gọi là "mật hành"?
Có người nói Sư Tôn căn bản là chẳng có gì là bí mật. Nếu giả sử tôi không có bí mật gì cả thì các bạn còn cái gì để mà học nữa?
Bí mật của tôi nhiều lắm đó! Ví dụ trong thời kì tôi đi cầu pháp, tôi tìm đến tận những nơi đỉnh núi để học pháp, rất là gian khổ. Tôi dùng cả sinh mệnh của mình để đổi lấy những pháp này! Những pháp đó đều là tôi dùng sinh mệnh của mình để đổi mà có được. Trong thời kì học pháp, trong quá trình tu hành đều có những điều vô cùng bí mật.

Rất nhiều đệ tử theo Sư Tôn mười mấy năm đều muốn biết tôi đi tới những đâu để học pháp. Ví dụ như tôi đi tới ngọn núi nào để tìm thần tiên để họ biết mà đi tìm tôi. Lần nào tôi cũng đều chỉ đưa họ đến chân núi, hái ít nhãn, ít vải, ăn xong rồi kêu họ đi về, đến đây là bí mật của riêng tôi thôi.

Thời gian tôi ở đó tu hành, tôi không muốn để người khác biết tôi tu như thế nào, tôi dùng sinh mệnh của mình để đổi lấy pháp như thế nào. Các bạn chỉ cần biết rằng tôi có công phu là được rồi, không cần phải biết nhiều hơn nữa. Đây chính được gọi là "mật hành tôn giả".

**Hương tán:**
Tiếp theo là "hương tán". Mỗi lần trong lúc hát tụng, mọi người đều biết rằng hương và lư hương đều là để ta đốt hương. Mùi hương thơm tỏa lên rất cao, vừa thơm vừa ấm, pháp giới đều đầy ắp, Chân Phật hải hội đều có thể ngửi thấy tất cả những thứ bạn cúng dường.

Việc cúng dường này cũng giống như những đám mây cát tường trên trời vậy, tràn đầy khắp cả bầu trời. Sự thành tâm trong lòng bạn vô cùng ân cần, vô cùng khẩn thiết, chính là trong sự vô cùng ân cần, vô cùng khẩn thiết đó mà chư Phật, Bồ Tát sẽ hiển hiện toàn thân.


Các vị Đại Bồ tát:
Thế nào là "Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát"? Chính là việc cúng dường của bạn giống như mây thơm trên trời, tràn đầy và to lớn như một tấm màn hoa. 

Nam mô chính là quy y, quy y tất cả các vị Phật, Bồ Tát ở Chân Phật hải hội, tất cả các vị đại Phật, đại Bồ Tát.
Hôm nay tôi giảng tới đây thôi! Om mani padme hum.


### 11. Liên Sinh Hoạt Phật giảng Chân Phật Kinh (3)


**Kinh văn:
Phụng thỉnh hai Phật tám Bồ Tát**
Nam mô Pháp Giới Tối Thắng Cung Tỳ Lô Giá Na Phật.
Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới A Di Đà Phật.
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Kim Cương Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Diệu Kiết Tường Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Khai kinh kệ**
Phật pháp rộng sâu rất nhiệm màu.
Trăm nghìn vạn kiếp khó tìm cầu.
Nay con nghe thấy chuyên trì tụng.
Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm sâu.

**Liên Sinh Hoạt Phật thuyết: Chân Thực Phật Pháp Tiêu Tai Ban Phúc Kinh**

“Tôi nghe như vầy.
Một thời, Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử tại Ma Ha Song Liên Trì, ngồi trên pháp tọa hoa sen lớn màu trắng, xung quanh là mười bảy đóa hoa sen lớn khác.

Hoa màu xanh phát ánh sáng xanh.
Hoa màu vàng phát ánh sáng vàng.
Hoa màu đỏ phát ánh sáng đỏ.
Hoa màu tím phát ánh sáng tím.
Mỗi đóa hoa sen tỏa ra hương thơm tinh khiết vi diệu.

Bạch Liên Hoa Đồng Tử âm thầm vận thần thông làm Ma Ha Song Liên Trì biến hóa thành ánh sáng vàng kim chói lọi. Tất cả hương hoa tỏa mạnh ra thơm ngát.”


Phụng thỉnh hai Phật:
Chúng ta nói đến Chân Phật Kinh cần phụng thỉnh hai Phật tám Bồ Tát. Hai vị Phật cần phụng thỉnh ở đây là:

Nam mô Pháp Giới Tối Thắng Cung Tỳ Lô Giá Na Phật.
Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới A Di Đà Phật.

Có người nói rằng Phật Tỳ Lô Giá Na là vị Phật đầu tiên nhất, gọi là vị Phật đầu tiên nhất vì trước ngài không có vị Phật nào khác, ngài là vị Phật đầu tiên, ngài có một tên gọi là "Pháp Giới Tối Thắng Cung". Khi nói đến "Pháp Giới Tối Thắng Cung" thì trong đầu chúng ta sẽ tưởng tượng đến một cung điện vô cùng đẹp đẽ, có lẽ chúng ta sẽ tưởng tượng nó đẹp giống như cung A Phòng của Tần Thủy Hoàng trước đây vậy.
Thế nhưng cung được nói đến ở đây là "pháp giới", thế nào gọi là pháp giới? Pháp giới là đại diện cho Tứ thánh lục phàm, bao gồm toàn bộ tất cả các cõi giới. Tứ thánh giới chính là Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn, đó chính là Tứ thánh giới. Thế còn lục phàm? Đó là trời, người, a tu la, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.

Thế còn cung điện ở đây tương đương với cả vũ trụ, toàn bộ thế giới, bao gồm cả nhân gian. Tất cả mọi thứ bao gồm trong đó chính là pháp giới, là toàn bộ mọi thứ được xây dựng bên trong cung điện này. Tối thắng chính là tốt nhất, hoàn mĩ nhất, viên dung nhất, tất cả những gì tuyệt vời nhất đều có, đó chính là tối thắng.

Mọi người biết rằng Phật Tỳ Lô Giá Na chính là vị Phật căn bản, cũng chính là Thái Sơ Cổ Phật, ngài cũng chính là vị Phật quan trọng nhất trong truyền thừa Chân Phật Tông của chúng ta, từ đó mà bắt đầu dòng truyền thừa Phật. Do vậy trước khi chúng ta tụng kinh, cần triệu thỉnh vị Phật truyền thừa của chúng ta trước (vị thứ nhất).

Tiếp đó, vì sao lại cần triệu thỉnh Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới A Di Đà Phật? Bởi vì vị Phật này là vị Phật phó thác, chính ngài đã yêu cầu (kì vọng) Liên Hoa Đồng Tử từ Tây phương cực lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì hạ sinh ở nhân gian để truyền Chân Phật Mật Pháp. Là ngài hy vọng, là ngài phó thác, giống như ngài mong bạn xuống đây, do vậy nhất định cần triệu thỉnh. Ngày hôm nay, giả sử không có Phật Tỳ Lô Giá Na, không có Phật A Di Đà thì sẽ không có Chân Phật Tông!

Phụng thỉnh tám đại Bồ Tát:
Chúng ta cũng cần phải phụng thỉnh tám vị đại Bồ Tát.
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Kim Cương Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Diệu Cát Tường Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.


Phụng thỉnh tám vị Bồ tát rồi, cuối cùng cũng vẫn phải nói thêm một câu "Nam mô Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát". Ý nghĩa của câu này chính là phụng thỉnh tất cả các vị Bồ tát, khi kêu gọi như vậy thì tất cả các Bồ tát đều có duyên phận lớn với Chân Phật Tông chúng ta. Chúng ta phụng thỉnh hai Phật tám Bồ tát chính là phụng thỉnh những bổn tôn truyền thừa cơ bản, còn có cả truyền thừa phó thác rất vĩ đại nữa, tất cả các vị Bồ tát đều đến nghe, đến hộ trì.

**Khai kinh kệ:**
Tiếp theo tôi nói đến bài khai kinh kệ. Trong mỗi bản kinh văn đều có bài kệ này. Nói vài câu đơn giản thì chính là: "Những pháp cao quý sâu sắc như vậy, các bạn rất khó gặp được! Nay bạn đã gặp được thì cần mau chóng đọc tụng đi! Đọc đi! Và đi tìm hiểu ý nghĩa của pháp đi."
Sau đó thì mới bắt đầu đi vào kinh văn.

Tôi nghe như vầy:
Câu đầu tiên "Tôi nghe như vầy", có nghĩa là những gì mà chính tôi nghe được trong pháp hội. Gần như trong mỗi bản kinh Phật đều bắt đầu bằng câu "tôi nghe như vầy".
Trong số các bạn có người lớn tuổi hơn Sư Tôn, có người nhỏ tuổi hơn Sư Tôn. Người lớn tuổi hơn thì đương nhiên khi tôi không còn tại thế nữa, tôi không dám bảo đảm là các bạn vẫn còn tại thế. Những người trẻ hơn Sư Tôn thì rất hay! Bảo đảm các bạn vẫn còn sống.

Gần đây, trong lúc tôi viết sách, tôi luôn nghĩ, hiện tại tôi đã viết được 80 cuốn rồi, cuốn số 80 này tên là "Vua của Phật Vương", nghe có vẻ như có chút mùi vị "đạo văn". Sách của người ta tên là "Vua của vạn vua", còn sách của tôi là "Vua của Phật Vương". Thế nhưng cuốn sách này tôi viết vô cùng nghiêm chỉnh. Gọi là nghiêm chỉnh chính vì không có giọng điệu thoải mái, mà giọng điệu tương đối nghiêm túc, hơn nữa phong cách cũng tương đối thâm sâu ảo diệu. Tất cả những khẩu quyết quan trọng nhất trong Phật pháp tôi đều viết trong cuốn sách này.

Tôi nghĩ, cuốn sách này cũng giống như một điểm kết thúc cho việc sáng tác của tôi. Sau này tôi vẫn viết tiếp, nhưng giai đoạn này là một điểm rất quan trọng. Nói một cách nhẹ nhàng hơn chính là sau khi viết xong cuốn sách này thì tôi cũng có thể "tạm nghỉ" được một chút rồi.

Trong quân đội, khi chúng ta nói "tạm nghỉ" có nghĩa là nghỉ ngơi một chút, nó giống như cảm giác rằng ta đã mang một gánh nặng đi khá xa rồi, tới đây có thể bỏ xuống, có thể nghỉ ngơi một lát. Tôi vừa nghĩ tới việc có thể nghỉ ngơi, nếu giả sử định nghỉ lâu một chút, thế mà mới 44 tuổi tôi đã hoàn thành xong cuốn sách thứ 80 mất rồi! 44 tuổi thì có vẻ như thọ mệnh có phần hơi ngắn. Để không khiến cho bản thân "đi" sớm như vậy, nên tôi đã mau chóng viết cuốn thứ 81, đặt tên cuốn thứ 81 là "Chân Phật nghi quỹ kinh", nói một chút về quy tắc này nọ của Chân Phật Tông, hoặc giải đáp về lễ tiết, tất cả đều viết hết trong cuốn sách này. Tuy nhiên, cuốn sách này vẫn chưa định ngày xuất bản.

80 cuốn sách là một điểm kết thúc, là một điểm dừng, giả sử nếu dừng rất lâu, vậy thì tôi chỉ có sống được tới 44 tuổi thôi. Nhưng, tôi cảm thấy viết xong 80 cuốn sách rồi thì cũng xem như nhiệm vụ đến với nhân gian này, nhiệm vụ quan trọng này đã hoàn thành rồi.

Gọi là hoàn thành nghĩa là tôi đã bàn giao lại nhiệm vụ quan trọng này rồi, còn những trách nhiệm khác thì để cho Phật A Di Đà phụ trách là được rồi. Nhiệm vụ này đã xong một chặng, những việc khác có thể tương đối thoải mái nhẹ nhàng xử lý rồi.

Tương lai thì sao? Có người đến đây nghe tôi giảng pháp, sau này nếu muốn viết một cuốn sách, thì mở đầu bạn có thể viết là "tôi nghe như vầy". Điều này là rất đúng mà, vì các bạn có mặt tại chính lúc đó để nghe pháp, chính là tôi đang ở tại đó nghe Sư Tôn giảng như vậy. Bây giờ Sư Tôn chẳng còn nữa rồi! Nhưng lúc đó thì mọi người đều có mặt tại đó nghe, mọi người đối chứng thấy đều đúng cả, vậy thì đó là "tôi nghe như vầy".

Câu nói này chính là vào thời kì Phật Thích Ca Mâu Ni còn thuyết pháp, đệ tử của ngài kết tập những bài giảng pháp của ngài, những lời thảo luận của ngài, cho nên mỗi bản kinh đều bắt đầu bằng bốn chữ này, chính là biểu thị rằng khi đó tôi có mặt tại đó nghe Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp, do vậy mà nói "tôi nghe như vầy".

Bốn chữ này cho thấy rằng chính tôi trước đây, tại Tây phương cực lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì, tôi đã có mặt tại nơi đó, tôi đã nghe Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử, tôi đã nhìn thấy hoàn cảnh lúc đó, chính bản thân mình tận mắt tận tai nghe thấy, do vậy tôi dùng bốn chữ "tôi nghe như vầy" này.

Chứng kiến sinh tử:
Tôi cảm thấy con người đều có nhân quả, hơn nữa phải trải qua rất nhiều rất nhiều lần sinh tử. Kì thực, chuyện sống chết chính là ở kia không còn trông thấy bạn nữa, còn ở đây thì lại thấy bạn. Ở đây không thấy bạn nữa, thì ở kia lại trông thấy bạn. Ở đó không trông thấy bạn, vì bạn lại chạy tới chỗ khác rồi, sống chết cũng giống như vậy thôi!

Trước đây khi tôi còn ở Tây phương cực lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì, các vị ở đó đều có thể trông thấy tôi, nhưng giờ thì ở đó tôi đã chết rồi, vì hiện tại tôi đang sống tại đây. Tôi nghĩ một chút xem tôi bao nhiêu tuổi thì đến nước Mỹ? Tôi sống tại Đài Loan 37 năm, tôi ở Đài Loan đã chết rồi. Bây giờ tôi ở Mỹ vừa tròn bảy năm, nhưng có lẽ sang năm tôi cũng lại chết ở Mỹ rồi, khả năng tôi lại sống tại Indonesia nữa! Hoặc sống tại Malaysia! Hoặc sống tại Singapore! Hoặc sống tại Australia!

Sinh tử đều chỉ như một sự việc mà thôi, chẳng qua là bạn sinh ra tại chỗ này chết tại chỗ kia, chết tại chỗ này rồi lại sinh ra tại chỗ khác. Hãy xem việc sống chết như vậy thì bạn sẽ cảm thấy vô cùng nhẹ nhàng. Bạn nói có người ở đây vừa chết rồi, mọi người đều khóc lóc thê thảm rằng không còn được gặp người này nữa rồi, nhưng thực tế thì người kia sống ở nơi khác lại rất vui vẻ. Do vậy chuyện sinh tử cần có cách nhìn nhận như vậy.

Một thời:
Cái gọi là "một thời", thế nào thì gọi là "một thời" đây? Một thời bao hàm một khoảng thời gian quá khứ rất rất xa. Ngày xưa có một lão thiền sư tên gọi là Thiên Long thiền sư, mọi người hỏi ông việc gì, ông đều làm như thế này (chú thích: Sư Tôn giơ một ngón tay lên). Kì thực, đôi khi có người hỏi chuyện ông, ông trả lời không được, ông liền làm như thế này (Sư Tôn giơ ngón tay lên). Hành động này tượng trưng cho điều gì? Chính là "nhất", chính là "nhất thiết", việc bạn hỏi nhất định là nằm trong "tất cả" mà! [nhất thiết có nghĩa là tất cả, hết thảy] Bảo đảm câu trả lời của bạn luôn đúng. 

Có người hỏi ông: "Núi Tu Di ở đâu?" Ông liền giơ ngón tay như vậy, ui da! Đúng thật là trông giống như một ngọn núi mà!

Có người hỏi ông: "Thế giới ở đâu?" Ông cũng giơ ngón tay như vậy, ý của ông là vũ trụ thuộc về nhất nguyên, toàn bộ vũ trụ đều là tạo hóa bởi nhất nguyên. Bạn nói xem, không phải nhất nguyên sao?

Người ta hỏi ông: "Thế nào là phụ nữ? Vì sao gọi là phụ nữ?", ông cũng làm như vậy.
Người ta lại hỏi ông: "Làm sao phân biệt nam nữ?" Cũng là "nhất", bởi vì khi thiên thượng giới này còn là một thể thống nhất thì chẳng có sự phân biệt nam nữ, do vậy vẫn là "nhất". Cái chữ "nhất" này có thể bao hàm cả trời đất, bao gồm cả núi, bao gồm cả nước, bao gồm cả người, bao gồm tất cả mọi sự vật, bao gồm nguyên thủy, quá khứ, hiện tại, vị lai, mọi thứ đều bao hàm trong đó hết. Do vậy lão hòa thượng này hễ gặp người nào hỏi vấn đề tương đối khó, khi ông không biết trả lời ra sao, thì ông đều giơ một ngón tay lên.

Về sau có một đệ tử theo học ông, lão thiền sư hễ giơ một ngón tay lên thì đệ tử đó cũng làm như vậy (Sư Tôn giơ ngón tay lên). Lão thiền sư tức điên, cầm lấy con dao chặt đứt ngón tay của anh ta. Anh ta nói: "Cái nhất của thầy ở đâu rồi?", thế là ông liền biến nó thành thế này (Sư Tôn cong ngón tay lại liền biến thành "vô".)

Thiền trong thiền tông, bản thân nó đôi khi không nói ra, nhưng trong nó đã bao hàm rất nhiều sự biến hóa và đạo lý. Do vậy, bạn hỏi tôi: "Một thời này của Sư Tôn là thời nào vậy?". Là một trăm năm trước, một nghìn năm trước, một vạn năm trước, một tỉ năm trước, toàn bộ đều nằm trong đó, bảo đảm là đúng! Một thời, chính là vào cái lúc đó, bất kể là cái lúc nào thì cũng đều bao hàm trong một thời đó.

Một thời chính là cái thời có một vị là Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử ở Tây phương cực lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì. Đóa hoa sen trắng ở đây, màu trắng chính là sự tổng hợp của mọi màu sắc, tương đương với sự tổng hợp tất cả mọi màu sắc lại. Tôi nhớ có một nghiên cứu như thế này, nếu như đem tất cả các loại màu sắc cùng xoay chuyển với nhau thì sẽ thành màu trắng, còn lấy từ trong đó ra một màu sắc, lại xoay chuyển thì sẽ biến thành màu đen. Bất kể là xoay chuyển thế nào thì tóm lại, màu trắng chính là màu sắc viên mãn nhất, còn các màu sắc khác đều là thứ yếu.

Do vậy, bản thân Pháp Giới Tối Thắng Cung của Phật Tỳ Lô Giá Na, hay Đại Nhật Như Lai cũng là màu trắng, chủ tôn của Ma Ha Song Liên Trì đương nhiên cũng là màu trắng. Bởi vì tất cả các vị Phật, Bồ tát trước khi muốn trở thành Phật Bồ tát đều cần tu bạch thiện pháp màu trắng, nói cách khác là cần tu pháp thanh tịnh, đạt đến cực điểm thanh tịnh rồi thì chính là màu trắng.

Vừa nãy, thượng sư Trịnh có giảng về "tu hành cần Không, cần Vô". Bạn nói xem, Không và Vô có màu sắc gì? Không và Vô đều là màu trắng. Giả sử trộn lẫn các loại màu sắc vào với nhau thì sẽ thành một màu sắc khác, duy chỉ có màu trắng là thanh tịnh nhất.

Ngồi trên pháp tọa hoa sen lớn màu trắng:
Do vậy, Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử chính là chủ tôn của Ma Ha Song Liên Trì, ngồi trên pháp tọa hoa sen lớn màu trắng tại Ma Ha Song Liên Trì. Có một đệ tử nói với tôi: "Sư Tôn, ở đây viết là ngồi tại pháp tọa hoa sen lớn màu trắng là được rồi, không cần phải là ngồi trên." Đệ tử đó nói: "Người ta khi ngồi tại hoa sen thì đều là ngồi ở phía trên rồi, chẳng có ai là ngồi ở giữa hoa sen, hay ngồi ở trong, cũng chẳng có ai ngồi ở dưới, ngồi ở bên cạnh, ngồi bên trái, ngồi bên phải, đây đều là những việc không thể nào xảy ra, do vậy hai chữ ngồi trên này là thừa."

Đệ tử đó lấy một ví dụ, anh nói: "Thầy có thể nói là ngồi ở trên xe buýt không? Ngồi trên nghe giống như là ngồi trên nóc xe vậy." Tôi nói với đệ tử đó: "Không cần phải xoi mói với Sư Tôn như vậy, dù sao thì cũng là ngồi trên pháp tọa hoa sen thôi. Mọi người hiểu được là được rồi, anh tìm thêm phiền phức như vậy, vậy thì bản kinh này cần viết thế nào?"

Xung quanh Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử tổng cộng có mười bảy đóa hoa sen lớn. Đệ tử đó cũng lại bới lông tìm vết, anh nói: "Ở trong bản này cũng xuất hiện rất nhiều từ thừa, màu xanh ánh sáng xanh, màu vàng ánh sáng vàng, màu đỏ ánh sáng đỏ, màu tím ánh sáng tím, đây đều là những từ thừa." Anh nói tiếp: "Sư Tôn có bị mù màu không? Lẽ nào màu xanh lại phát ra ánh sáng đỏ? Còn màu vàng lại phát ra ánh sáng xanh lục sao? Thế làm sao mà Sư Tôn lại thi được bằng lái xe vậy?"

Kì thực, anh ta cũng lại thích gây phiền phức! Chẳng qua đây chỉ là một cách nói lặp thôi, đương nhiên là nói về màu xanh, màu sắc của màu xanh này sau đó lại phóng tỏa ra ánh sáng xanh, như vậy thì biểu thị hai lớp màu, giống như là hoa sen màu xanh thì phát ra ánh sáng màu xanh vậy. Giải thích như vậy là được rồi đúng không! Kì thực trong Chân Phật Kinh cũng có rất nhiều ví dụ như vậy.

Giống như là Liên Hoa Đồng Tử màu xanh thì cầm hoa sen màu xanh, rồi phóng tỏa ánh sáng màu xanh, rồi đến tất cả các tia sáng xung quanh đều là màu xanh, ví dụ là như vậy. Vế sau kết hợp với vế trước đó, không coi là có mâu thuẫn, mà là có nhiều hơn, có dư thừa hơn.

Mỗi đóa hoa sen tỏa ra hương thơm tinh khiết vi diệu:
"Mỗi đóa hoa sen tỏa ra hương thơm tinh khiết vi diệu", câu này nói rằng mỗi đóa hoa sen đều thơm vô cùng, hương thơm biểu thị sự thuần khiết, mùi thơm này rất đẹp, rất tinh khiết. Tóm lại, hai chữ "vi diệu" thường được dùng trong kinh Phật, ý nói rằng cái gì cũng đều tốt đẹp, đẹp đến mức cực điểm.

Trước đây có một đệ tử họ Thẩm, người Đài Trung, tên là Diệu Quyên. Tên của cô có một chữ "Diệu". Ban đầu ấn tượng của cô đối với chữ Diệu này không tốt, cô nói: "Tôi cũng chỉ là một con người thôi mà! Có cái gì đẹp, có cái gì tuyệt diệu chứ? Diệu vớ diệu vẩn." Mọi người đều nói với cô rằng: "Tuyệt, cô thì có điểm nào tuyệt diệu chứ? Một chút cũng chẳng có gì tuyệt diệu cả, thế nên rất nhiều người đều nói cái tên này của cô đúng là mạc danh kì diệu." [mạc danh kì diệu là thành ngữ, có ý nghĩa là không thể giải thích nổi.]

Kể từ sau khi quy y Sư Tôn, đọc được rất nhiều kinh Phật, cô nói: "Ái chà! Trong kinh Phật đều dùng tới chữ Diệu này, hơn thế nữa ở California còn có cả Diệu Ấn Đường nữa." Giờ đây cô nghĩ lại thì thấy thật là tuyệt diệu! Cái tên này ban đầu cô còn muốn đổi, bây giờ thì không muốn đổi nữa.

Âm thầm vận thần thông:
"Bạch Liên Hoa Đồng Tử âm thầm vận thần thông", cái chữ "âm thầm" trong "âm thầm vận thần thông" này được dùng rất khéo, dùng rất hay, bởi vì thần thông vốn là vô hình, chính là một kiểu biến hóa, một kiểu tự nhiên. Mây trên trời có thần thông, nó biến thành nước; nước có thần thông chính vì nước biến thành băng; băng có thần thông vì băng lại hóa thành nước; nước có thần thông vì lại hóa thành khí, biến tới biến lui đều là thần thông của tự nhiên.

Người có thần thông có thể biến hóa một số thứ, có thể hô mây tạo thành mưa, mưa kết thành băng, băng lại biến thành khí, cứ biến hóa tới lui như vậy chính là sự vận chuyển của tự nhiên, tự nhiên cứ ở đó âm thầm thi triển thần thông.

Kì thực, rất nhiều người phụ nữ, người nội trợ ở nhà nấu cơm đều âm thầm vận thần thông. Họ đi siêu thị, đến siêu thị SAFEWAY mua một con cá tanh ngòm, lại còn rẻ nhất, mùi tanh rất nặng, cái loại cá mà ngửi thấy đã muốn nôn rồi ấy. Sau khi mua về nhà, người phụ nữ này cho thêm xì dầu, thêm dấm, thêm đường, thêm hành, hành át đi mùi tanh của cá, thế là con cá tanh này được trải qua một cuộc âm thầm vận thần thông mà biến thành cá thơm phức! Mỗi người chúng ta ăn cái thứ thơm ngon này vào, rồi lại âm thầm vận thần thông một lúc, thế là lại biến thành thối, lại trở về với cái mùi lúc ban đầu.

Ở Mỹ họ trồng rau, đương nhiên là rất ít dùng phân bón "nguyên thủy". Thế nhưng loại phân bón mà họ dùng đó cũng được sản xuất từ phân bón "nguyên thủy" mà ra, ví dụ như axit uric, đạm, v.v… đều từ phân bón "nguyên thủy" mà ra cả. Cả vũ trụ này chính là một vòng tuần hoàn thần thông.

Bạn dùng nước tưới hôi thối nhất để tưới cho thực vật, thực vật hấp thụ, sinh trưởng, rồi lại lấy thực vật đem nuôi cá, nuôi lợn (ví dụ như lấy nước thiu cho lợn ăn), đem những thứ bẩn thỉu nhất để nuôi những thứ thơm tho nhất, rồi lại biến những thứ thơm tho nhất thành những thứ hôi thối nhất. Những thứ hôi thối đem nuôi những thứ thơm tho, những thứ thơm tho lại nuôi những thứ hôi thối, cứ thế nuôi tới nuôi lui.

Mọi người hiểu được đạo lý này thì có thể hiểu được đạo lý của vũ trụ chính là một kiểu vòng tuần hoàn, đây chính là giới tự nhiên âm thầm vận thần thông. Giả sử mỗi người chúng ta tu hành cho đến khi đạt tới một kiểu trạng thái hòa hợp với tự nhiên thì chính bạn cũng có thể âm thầm vận thần thông để phù hợp với tự nhiên. Thậm chí bạn có thể chuyển hóa tự nhiên, đây chính là thần thông.

Mọi người biết rằng, x-quang có thể chiếu xạ trên cơ thể con người, có thể chụp xuyên thấu hình ảnh nội tạng của bạn. Nếu bạn tu luyện cho mắt bạn trở thành x-quang thì bạn đã có được thiên nhãn thông rồi đó! Thế vận hội Olympic ngày nay họ biểu diễn các môn thể thao, các cuộc thi đấu, v.v… giả sử bạn có thiên lý nhãn, mắt bạn nhìn lên vệ tinh nhân tạo trong không gian, vệ tinh nhân tạo đó vừa hay đã tiếp nhận tất cả mọi hình ảnh của thế vận hội Olympic rồi phản chiếu lại trong mắt bạn, thế là bạn có thần thông thiên lý nhãn rồi đó.

Ngày nay chúng ta có thể gọi điện thoại tới Đài Loan, Singapore, Indonesia, chỉ cần nhấc điện thoại lên là đã có thể kết nối rồi. Giả sử bạn tu luyện cho tai của bạn thành một đường dây cáp như vậy, đường dây này nối trực tiếp tới miệng của bạn của bạn, là bạn có thể nghe thấy được người bạn kia đang nói gì. Thế là bạn có thiên nhĩ thông rồi. Phương pháp này không hẳn là không thể, hoàn toàn nằm ở hai chữ "vi diệu", hoàn toàn nằm ở hai chữ "âm thầm".

Thế nào gọi là "âm thầm"? Đó là hoàn toàn an tịnh lại, cứ thế an tịnh mãi cho đến khi an tịnh ở tầng sâu nhất. Thế nào gọi là "vận"? Bạn dùng sự an tịnh ở tầng sâu nhất này để hóa thành không có gì, biến chính mình thành không có gì, khi phù hợp với trạng thái tất cả mọi sức mạnh đều có ta, lúc đó sẽ biến thành thần thông vĩ đại nhất.


Làm Ma Ha Song Liên Trì biến hóa thành ánh sáng vàng kim chói lọi:
"Làm Ma Ha Song Liên Trì biến hóa thành ánh sáng vàng kim chói lọi." Phiên bản sách này do Phật đường Viên Chứng ở Singapore in ra phải không? Ở đây có một chữ là chữ biến hóa "thành". Có một số nơi in là biến hóa "thành", có một số nơi lại in là biến hóa "của", nên dùng từ "thành" thì tương đối đúng hơn. Phật đường Viên Chứng của Singapore đã in đúng rồi.

Sau này các bạn có thể học một chút thần thông, ví dụ như có một bông hoa còn đang nụ ở trước mặt bạn, cánh hoa vẫn khép lại chưa nở ra, bạn âm thầm vận thần thông lên nó một chút, thế là nó liền nở "póc" một cái! Giả sử bạn có thể làm được điều này thì bạn có thể biến hóa cả thế giới này trở nên xinh đẹp tuyệt vời, chói lọi rực rỡ.

Mùa thu, mùa đông của chúng ta ở đây tương đối lạnh, hoa đều bị héo cả. Có người có đại thần thông có thể thay đổi cả thời tiết, có thể biến đổi thời tiết thành mùa xuân. Vốn dĩ khi trái đất và mặt trời ở tại một góc độ kia thì sẽ là mùa thu, khi đó ánh sáng và nhiệt độ sẽ yếu hơn. Vào mùa thu và mùa đông, bạn âm thầm vận thần thông, khiến cho cả trái đất dịch chuyển sang bên một tí. Oa! Thế là biến thành mùa xuân rồi, nóng tới mức khiến bạn toát mồ hôi luôn.

Kì thực, chúng ta chỉ cần dịch chuyển trái đất sang bên này một chút xíu thôi thì toàn bộ khí hậu đều thay đổi hết rồi! Trước đây khi tôi mới đến nước Mỹ, tôi sống tại quận Ballard, tôi rất sung sướng nói: "Ôi chao! Ở Seattle thật là tốt, từ đầu năm tới cuối năm chưa một lần nào toát mồ hôi cả!"

Khi tôi chuyển tới ở Redmond, tôi mới phát hiện ra mùa thu ở đây dường như dài hơn một chút, hơn nữa dường như mặt trời cũng to hơn một chút, cũng nóng hơn một chút, không ngờ vào mùa thu cũng vẫn đổ mồ hôi. Có người nói: "Bang Washington có khả năng sẽ xây dựng mấy lò hạt nhân." Những chiếc lò hạt nhân này sẽ thải ra rất nhiều khí độc hại.

Chỉ cần bốn cái lò hạt nhân cùng thải khí ra thì vừa hay có thể đẩy dịch trái đất một chút, như vậy thì những cái lò hạt nhân này cũng đang âm thầm vận thần thông khiến cho mùa thu ở Seattle dài hơn một chút, đồng thời cũng nóng hơn một chút. Đối với người sợ nóng như tôi đây thì đây quả là một tin tức chẳng tốt đẹp gì.

Tất cả hương hoa tỏa mạnh ra thơm ngát:
Sau khi âm thầm vận thần thông thì sẽ khiến cho "tất cả hương hoa tỏa mạnh ra thơm ngát". Vừa nãy tôi đã nói rồi, âm thầm vận thần thông như vậy sẽ khiến cho tất cả hoa đều nở rộ. Lần tới cần dạy cho mọi người thần thông này nhỉ. Thế thì nhà anh kia là sung sướng nhất rồi đó, bởi vì nhà anh bán hoa mà, thần thông mà anh cần phải học là khiến cho hoa chẳng bị héo nữa! Nhưng nếu hoa không héo thì cũng không hay lắm nhỉ, bởi vì hoa không héo thì mọi người chỉ cần mua một lần thôi, mua một lần về rồi thì có thể dùng cả năm, thế thì lại chẳng cần mua hoa của nhà anh kia nữa. Theo tôi thấy thì anh không cần học thần thông này nữa rồi!
Hôm nay tôi giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.


### 12. Liên Sinh Hoạt Phật giảng Chân Phật Kinh (4)


**Kinh văn:**

“…làm Ma Ha Song Liên Trì biến hóa thành ánh sáng vàng kim chói lọi. Tất cả hương hoa tỏa mạnh ra thơm ngát. Tiên thảo cũng tỏa ngát hương thơm. Chim Bạch hạc, Khổng tước, Anh vũ, Xá lợi, chim Ca lăng tần già, chim Cộng mạng, đều hóa màu vàng kim, cùng hót lên âm thanh hòa nhã của cõi trời.

Trong hư không xuất hiện ánh sáng vàng kim cùng âm thanh cõi trời thanh tịnh vi diệu. Có hương thơm nồng tỏa trong các thế giới, có tầng các bằng vàng trên không trung, tất cả cùng phát hào quang hoa rực rỡ. Mọi chốn nở đầy hoa sen vàng kim và hoa trời bay phấp phới khắp hư không.”

Hoa thơm và các loài chim:

“Tất cả hương hoa tỏa mạnh ra thơm ngát. Tiên thảo cũng tỏa ngát hương thơm" cũng có nghĩa là tất cả các loại hoa đều trong một sát-na mà nở rộ, tất cả các loại cây cỏ đều tỏa ra những mùi hương vô cùng tuyệt diệu.
"Chim Bạch hạc, Khổng tước, Anh vũ, Xá lợi, chim Ca lăng tần già, chim Cộng mạng, đều hóa màu vàng kim, cùng hót lên âm thanh hòa nhã của cõi trời.", những loài chim này đều biến thành màu vàng kim, vì sao lại biến thành màu vàng kim như vậy? Bởi vì vàng là đắt nhất mà!

Hót lên âm thanh hòa nhã của cõi trời:
"Hót lên âm thanh hòa nhã của cõi trời" chính là cất lên những âm thanh dịu dàng nhất, cao sang nhất, đẹp đẽ nhất. Sư Tôn đã từng nói: "Tây phương Cực Lạc thế giới có một loại âm thanh được gọi là hòa nhã thiên âm, âm thanh này có sức mạnh rất lớn."

Chúng ta thử nghĩ xem, trên thế giới này có rất nhiều người trong tương lai sẽ tới Tây phương Cực Lạc thế giới, trong số họ, có những người sẽ mang nghiệp vãng sinh, nói cách khác là bản thân họ vẫn còn một ít nghiệp chướng, nhưng họ đã có thể vãng sinh tới Tây phương Cực Lạc thế giới rồi. Những người này liệu có phải là muốn lấy trộm một ít đồ, vì vẫn còn một ít lòng tham, vẫn có lòng tham, thấy những thứ đẹp đẽ thế là liền thích ngay? Vậy thì thiên nữ ở Tây phương Cực Lạc thế giới có phải là rất nguy hiểm không?

Kì thực, không cần phải sợ hãi! Chính bởi vì ở đó có hòa nhã thiên âm, nên khi trong lòng bạn nghĩ: "Hầy! Đá quý này quý giá như vậy, trộm một ít thôi!", lòng tham trong bạn vừa mới khởi lên, thì hòa nhã thiên âm này sẽ truyền tới bên trong bạn, khiến cho ý nghĩ muốn ăn trộm một ít của bạn liền biến mất, tâm trí trở nên vô cùng thánh thiện và tinh khiết. "Ta là Thánh nhân, làm sao ta có thể lấy trộm mấy thứ đồ này đây?"

Khi dục vọng của bạn như lửa bùng cháy thiêu đốt tâm trí bạn, hòa nhã thiên âm này cũng giống như nước lạnh dội từ đầu xuống chân bạn, giống như nước đá đẹp đẽ nhất, thuần khiết nhất, lạnh như băng, trong suốt, gột rửa sạch sẽ hoàn toàn những suy nghĩ xấu xa ô uế trong tâm trí bạn.

Có người đã tới Tây phương Cực Lạc thế giới nhưng vẫn mang phiền não, anh ta nói: "Ở nhân gian, tôi vẫn còn vợ con, tiền bạc, vẫn còn một số chuyện lo lắng chưa giải quyết xong." Đã vãng sinh đến Tây phương rồi, anh ta không thể trở về được nữa, nhưng chỉ cần nghe được hòa nhã thiên âm này thì những suy nghĩ kiểu như vậy sẽ đều tan biến hết.

Hòa nhã thiên âm chính là cảnh giới tâm linh vô cùng đẹp đẽ vi diệu. Có một số người phạm tội sát sinh, có người phạm tội sát sinh rất nặng, đến được Tây phương Cực Lạc thế giới rồi, vừa nghe thấy hòa nhã thiên âm này thì không còn có thể sát sinh được nữa. Do vậy, tâm trộm cắp, tâm tham dâm, thậm chí tâm sát sinh, tất cả đều bị hòa nhã thiên âm cải biến. Hòa nhã thiên âm thực sự có tác dụng vi diệu, thơm mát thuần khiết, thánh thiện thanh tịnh như vậy đó.

Tôi đã từng nói rằng cõi nhân gian có nhiều ưu phiền. Còn Tây phương Cực Lạc thế giới vì sao lại được gọi là Cực Lạc? Bởi vì ở đó có sự vui vẻ hạnh phúc vĩnh viễn! Chỉ cần bạn nghe được những âm thanh hòa nhã của cõi trời, âm thanh đi vào trong tâm trí bạn, thì những lo âu của bạn đều không còn nữa! Tế bào toàn thân bạn đều nhảy múa, nhảy múa bay bay nhè nhẹ như vậy, mà một khi đã nhảy múa rồi thì không có cách nào để dừng lại được. Do vậy, đây chính là lý do mà cõi giới này được gọi là Cực Lạc thế giới!

Có người hỏi: "Sư Tôn giảng thì hay như vậy, rằng khúc nhạc này khiến bạn nghe sẽ cảm thấy rất thoải mái, thế nhưng cứ nghe mãi một khúc nhạc thì nghe lâu cũng chán ngấy." Yên tâm đi! Tây phương Cực Lạc thế giới có tới cả mấy vạn khúc nhạc, mấy tỉ khúc hòa nhã thiên âm, bảo đảm bạn nghe mãi chẳng hết được, hơn thế nữa thọ mệnh của bạn cũng vô cùng dài.

Trong hư không xuất hiện ánh sáng vàng kim:
"Trong hư không xuất hiện ánh sáng vàng kim cùng âm thanh cõi trời thanh tịnh vi diệu. Có hương thơm nồng tỏa trong các thế giới, có tầng các bằng vàng trên không trung, tất cả cùng phát hào quang hoa rực rỡ. Mọi chốn nở đầy hoa sen vàng kim và hoa trời bay phấp phới khắp nơi." Đoạn này nói về toàn bộ không trung của Ma Ha Song Liên Trì đều phóng tỏa ra ánh sáng vàng kim vi diệu, là những ánh sáng đẹp đẽ nhất, có thiên âm vô cùng thanh tịnh và thiên âm vô cùng vi diệu tới từ hư không.

Âm thanh cõi trời thanh tịnh vi diệu:
Muốn giải thích về thứ âm nhạc này chỉ có thể dùng bốn chữ "thanh tịnh" và "vi diệu" để giải thích mà thôi. Kì thực, thứ âm nhạc này cũng giống như thiên nhạc, ở nhân gian không cách nào có thể nghe biết được. Giống như Sư Tôn lần này đến California, buổi tối lén đi ra ngoài (chỉ có một lần) bởi vì nghe có người nói: "Ở California này, chúng tôi có những thứ ở Seattle không có." Bọn họ nói rằng ở đâu có “Thế giới” gì đó ấy! Cái gì mà là số một ấy! Hoa hồng gì ấy nhỉ! Bởi vì tấm lòng của chúng ta rất rộng mở, liền bèn đến “Đại thế giới” xem thử một chút.

Âm nhạc ở đó thực sự rất hay, sàn khiêu vũ cũng rộng bằng nửa cái chùa của chúng ta! Tôi nghe nói ở đó họ có ba mươi vũ nữ, và chẳng hề có âm thanh cõi trời thanh tịnh vi diệu gì cả. Lần đó tôi đi cùng với Sư Mẫu, chúng tôi chỉ xem chứ không có nhảy.

Thế nhưng khi nghe thứ âm nhạc đó, thứ âm nhạc giống như những ca khúc quốc ngữ của Đài Loan trước đây, vũ trường ở đó có mở những ca khúc quốc ngữ, (ở Mỹ rất hiếm khi nghe được những ca khúc quốc ngữ, hơn nữa rất hiếm những vũ khúc tango, nhìn chung ở Mỹ ít khi nào gặp nhạc tango), khi tôi nghe những khúc nhạc đó, mặc dù không xuống sàn để khiêu vũ, nhưng chân cũng dậm theo nhịp. 

Thậm chí ngay thứ âm nhạc thô tục này người bình thường nghe thấy đã cảm thấy tâm tình vui vẻ thoải mái rồi, chân cũng đã dậm theo nhịp rồi, người thích khiêu vũ thì sẽ xuống sàn khiêu vũ, rất vui vẻ, rất thoải mái. Từ đó có thể thấy rằng, âm nhạc thanh tịnh vi diệu ở Tây phương Cực Lạc thế giới còn hay hơn cả thứ âm nhạc này gấp mấy tỉ lần. Nên bảo mọi tế bào của những người ở nơi đó làm sao mà không nhảy múa được đây? Tôi so sánh như vậy là để nói lên sự thần thánh của chính loại âm nhạc ở đó, âm nhạc rất hay, đích thực có thể gột rửa sạch sẽ tâm hồn con người.

Có hương thơm nồng tỏa trong các thế giới:
"Có hương thơm nồng tỏa trong các thế giới", câu này ý nói rằng bởi vì tất cả mọi loại hoa đều nở rộ, cây cỏ cũng rất thơm, vậy nên hương thơm lấp đầy toàn bộ hư không.

Có một hôm, Sư Tôn đến một nhà hàng ăn cơm. Tối hôm đó, do nhất thời cao hứng nên Sư Tôn có xịt một chút nước hoa. Tôi phát hiện ra mùi thơm của nước hoa này hơi giống mùi đàn hương. Thứ mùi đàn hương đó không giống với mùi thơm của dã thảo mà các cô gái trẻ thông thường vẫn xịt mỗi khi chơi. Khi tôi đi ra ngoài, vừa hay có một quý bà ở phía sau tôi nói: "Ôi chao! Toàn thân Sư Tôn tỏa mùi thơm! Có Bồ tát đi theo rồi!" Tôi không dám nói gì, chỉ nói: "Hình như có thì phải?" Tuy nhiên, người tu hành cũng có những lúc thân thể thật sự phát ra mùi thơm.

Sư Tôn từng nói, thân thể mỗi người đều có một mùi riêng, hơn nữa mùi cơ thể của mỗi người đều khác nhau. Bởi vì Sư Tôn đã gặp mấy nghìn mấy vạn người rồi. Khi họ đến hỏi việc, tới ngồi trước mặt tôi, tôi liền ngửi thấy mùi cơ thể của họ, có một số người hỏi việc tương đối lâu, mùi trên người họ tương đối dễ chịu. Nhưng cũng có người thì vừa vào ngồi xuống, Sư Tôn chỉ lập tức muốn đứng dậy ngay, tôi thật lòng nói cho mọi người biết, những lúc đó tôi đều nhịn thở để nói chuyện, cơ bản là tôi không hít thở. Con người thực sự có mùi cơ thể, người tu hành tốt thì trên người tự nhiên sẽ tỏa ra mùi thơm. Người thường xuyên có những suy nghĩ bất hảo, cũng không tu hành gì, thì mùi tiền bạc rất nặng, hơn nữa người thường xuyên bơi ở những vùng nước bẩn thì đều có mùi rất thô nặng.

Có người thường xuyên đánh bạc, trong đầu chỉ toàn nghĩ chuyện thắng thua, anh ta vừa ngồi xuống là lập tức một mùi thắng thua và tiền bạc từ trên người anh tỏa ra. Rất nhiều người trên người có kiểu mùi này, việc này không hay lắm! Giả sử anh ta ngồi bên cạnh tôi ăn cơm, tôi liền để ý xem từ miệng anh ta có bắn nước bọt ra không. Thật là đáng sợ!

Ma Ha Song Liên Trì của chúng ta tỏa ra mùi hương thơm nồng nàn. Mùi hương này nói thẳng ra là ở thế gian chẳng thế nào biết tới được! Nhờ thế, tâm tình của con người ở cõi giới này đương nhiên rất thư thái, họ đều yêu thích Cực Lạc thế giới, thích nghe âm nhạc ở đó, thích ngửi hương thơm ở đó.

Hoa trời bay phấp phới khắp hư không:
Các tòa nhà ở Ma Ha Song Liên Trì đều là các lầu các bằng vàng, được xây nên từ vàng, tỏa ra ánh sáng vàng kim chói lọi. Toàn bộ lầu các trong không trung đều được chạm khắc hoa sen, do đó có rất nhiều hoa sen vàng. Thậm chí trong hư không cũng có rất nhiều hoa đẹp xinh đang rơi xuống.

Rất nhiều người hỏi Sư Tôn: "Những bông hoa rơi từ hư không rơi xuống này, nếu rơi trúng đầu thì có bị vỡ đầu chảy máu không?" Tôi nói với họ: "Yên tâm! Những bông hoa vàng này từ trong hư không rơi xuống, khi chạm tới bạn thì sẽ đi xuyên qua thân thể bạn. Khi những bông hoa đó đi xuyên qua sẽ khiến cho mọi tế bào trên thân thể bạn có một cảm giác thích thú như được mát-xa vậy."

Bạn thử nghĩ xem, những bông hoa xinh đẹp như vậy rơi xuống, rơi trên đầu bạn, đi xuyên qua thân thể bạn, xuyên qua các cơ quan trên thân giống như có một bàn tay khéo léo đang mát-xa cho bạn, xoa bóp thân thể bạn như vậy, cái cảm giác đó, bạn nghĩ xem dễ chịu biết bao. Hơn nữa, cảm giác khi mỗi bông hoa chạm vào thân thể bạn đều khác nhau. Không giống như khi chúng ta đi mát-xa đều chẳng khác gì, luôn luôn là một kiểu như vậy! Còn cảm giác thích thú do hoa mát-xa kia chỉ có ở thiên đường, thuộc loại dịu dàng nhất, dễ chịu nhất.
Hôm nay tôi giảng tới đây thôi. Om mani padme hum.


### 13. Liên Sinh Hoạt Phật giảng Chân Phật Kinh (5)


Kinh văn:

“Lúc bấy giờ,
Ma Ha Song Liên Trì chấn động mạnh mẽ. Vô lượng chư Thiên đều cảm nhận được, chư Phật, chư Bồ Tát cùng chư Thanh Văn cũng đều cảm nhận được, tất cả liền đi đến Ma Ha Song Liên Trì. Ba mươi ba vị thiên chủ cõi trời cũng vội đến Ma Ha Song Liên Trì. Tập hợp liền hai mươi tám loại thiên chúng, Đế Thích, Phạm Vương, Bát bộ, Tứ chúng. Rộng giảng nói pháp yếu.

Lúc bấy giờ:
Thế nào gọi là "lúc bấy giờ"? Không phải là lúc này, không phải là lúc quá khứ, cũng không phải là lúc đó, tóm lại là có một thời điểm nào đó. Trong bản kinh này có rất nhiều "lúc bấy giờ", ở đây thể hiện rằng không có tính chất thời gian, mà là thời gian nào cũng đều được cả!

Sáu cơn đại chấn động:
Ở Ma Ha Song Liên Trì rộng lớn, toàn bộ các Phật quốc, toàn bộ các cõi giới đều chấn động. Nói chung, Phật quốc rất hiếm khi nào gặp chấn động, thông thường nếu có chấn động thì mọi thứ đều sẽ bị hủy hoại hết. Thế nhưng trong kinh Phật cũng có nhắc đến sáu cơn chấn động mạnh. Đó đều là những thời khắc vô cùng ý nghĩa, chỉ cần là những cơn chấn động lớn, hoặc cho dù chấn động tới mức nào, thì cũng đều rất có ý nghĩa.

Vài trường hợp có sáu cơn đại chấn động rất nổi tiếng, ví dụ như khi Phật Thích Ca Mâu Ni hạ sinh cũng có sáu cơn đại chấn động. Khi Phật Thích Ca Mâu Ni đắc đạo, chính là khi ngài khai ngộ dưới gốc cây bồ đề, thì cũng có sáu cơn đại chấn động. Ngoài ra, khi Phật Thích Ca Mâu Ni nhập niết bàn, chính là lúc Phật Thích Ca Mâu Ni cần trở về, thời khắc đó cũng có sáu cơn đại chấn động. Có lần trong lúc Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp, khi giảng đến pháp trọng yếu nhất thì cũng có sáu cơn đại chấn động. Khi Phật Thích Ca Mâu Ni xuống tóc xuất gia cũng có sáu cơn đại chấn động.

Chúng ta hiện tại chỉ luôn hy vọng không có động đất xảy ra. Ngày nay ở California, ở San Francisco, mọi người đều rất sợ động đất. Sư Tôn bây giờ không dám giảng pháp trọng yếu nữa, bởi nếu giảng vô thượng đại pháp cao nhất thì sẽ xảy ra sáu cơn động đất lớn mất, thế thì chúng ta sẽ thảm lắm!

Ma Ha Song Liên Trì cũng có sáu cơn chấn động lớn. Sáu cơn đại chấn động được nói đến ở đây không chỉ giống như chúng ta chỉ có mỗi động đất đâu, mà còn có cả động trời, động đất, động gió, chấn động hai bên trái phải, chấn động trên dưới, chấn động trước sau, tổng cộng có sáu loại chấn động lớn, khiến cho sao trên trời cũng phải rơi rụng xuống, mặt trăng cũng rơi rụng xuống, tất cả đều chấn động. Những âm thanh rung rung ầm ầm đó mới được gọi là sáu cơn đại chấn động.

Cơn chấn động này khiến cho các cõi trời đều cảm nhận được, toàn bộ sáu cơn đại chấn động ở Ma Ha Song Liên Trì các vị đều cảm ứng được, bao gồm các Phật quốc, Bồ Tát, Thanh Văn, tất cả đều cảm ứng thấy! Bởi vì các vị cảm nhận được sáu cơn đại chấn động này, biết được có việc quan trọng xảy ra, có việc quan trọng xuất hiện, nên các vị đều tới Ma Ha Song Liên Trì.

Ba mươi ba vị thiên chủ, hai mươi tám loại thiên chúng, bát bộ tứ chúng:
"Ba mươi ba vị thiên chủ cõi trời cũng vội đến Ma Ha Song Liên Trì", ba mươi ba cõi trời ở đây chính là cõi trời Dục giới, cõi trời Dục giới ở trên đỉnh núi Tu Di. Cõi trời ở trung tâm gọi là Đao Lợi Thiên, chính xác là Đế Thích Thiên. Đế Thích Thiên ở trung tâm, xung quanh tổng cộng có ba mươi hai cõi trời, nghĩa là mỗi phương có tám cõi trời, bốn lần tám ba mươi hai, cộng thêm Đế Thích Thiên ở trung tâm nữa, nên thành ba mươi ba cõi trời, sắp xếp theo mặt phẳng.

Phía trên thì sao? Còn có hai mươi tám thiên chúng. Thế nào được gọi là hai mươi tám cõi trời? Có nghĩa là ba cõi thiên giới, bao gồm cõi trời Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới, toàn bộ phạm vi của ba cõi giới này gộp lại, trên dưới sắp xếp có tổng cộng hai mươi tám tầng, là hai mươi tám cõi trời. Vậy thì trong đó có rất nhiều vị đều là chủ nhân của các cõi trời, Đế Thích, Phạm Vương đều là chủ nhân, ví dụ như Đại Phạm Thiên Vương, Loa Kế Phạm Vương, Đế Thích, những vị này đều là thiên chủ của các cõi trời này.

Vì sao gọi là Bát bộ? Bát bộ được nói đến ở đây chính là trong bộ phim Thiên Long Bát Bộ mà ngày trước chúng ta đã từng xem đó, chính là Thiên Long Bát Bộ đó! Thiên Long Bát Bộ chính xác là một kiểu hộ pháp bảo vệ những cõi trời này, hoặc là các vị kim giáp thần [các vị thần mặc áo giáp vàng] bảo vệ Bồ tát, hộ trì Phật, hoặc chư Thiên, hoặc các loài rồng, do vậy gọi là Thiên Long Bát Bộ.

Vì sao gọi là Tứ chúng? Tứ chúng chính là nam cạo đầu, nữ cạo đầu, nam để tóc, nữ để tóc. Nam được gọi là tì kheo, nữ được gọi là tì kheo ni. Nam tu hành giả được gọi là ưu bà tắc, nữ hành giả được gọi là ưu bà di. Đây là bốn loại cư sĩ tu hành, hợp lại được gọi là bốn loại người, gọi tên là Tứ chúng.

Vào mùa đông, Sư Tôn rất muốn để tóc dài, để khi tuyết rơi vẫn có thể ăn kem! Thế nhưng bây giờ mà để tóc dài thì không hay lắm, bởi vì bây giờ tóc tôi đã bạc rồi, nên tôi vẫn đang đắn đo xem có nên để tóc dài không.

Tập hợp Đế Thích, Phạm vương, Bát bộ, Tứ chúng, chư Thiên, Phật, Bồ Tát, tất cả đều tới hết là để làm gì? Chính là bởi vì muốn nghe thuyết pháp, bởi vì có sự "rộng giảng nói pháp yếu". Ma Ha Song Liên Trì có rất nhiều sự việc quan trọng (buổi họp quan trọng), ở đây sẽ giảng những pháp vô cùng trọng yếu! Thích hợp với pháp hiện đại, cần truyền đạt đi, do vậy mà tập hợp thiên chúng, Phật, Bồ Tát, Thanh Văn đến để rộng giảng pháp trọng yếu.

Rất nhiều thiên nhân, thần, thậm chí là chư Phật, Bồ tát đều đến. Khi Sư Tôn đến New York, San Francisco thuyết pháp, trong hư không cũng luôn có pháp luân màu xanh lam, chính là màu xanh lam biến thành một vòng tròn ánh sáng - vòng tròn pháp luân màu xanh lam. Đây chính là "chuyển pháp luân quang". Nguyên nhân của việc này là gì? Đây chính là Phật, Bồ tát và thiên chúng trong hư không biết được rằng có đại pháp, mỗi dịp có thuyết giảng pháp, họ cũng đều đến để nghe pháp! Nhưng vì họ không thể ngồi cùng chúng ta, thế nên họ ngồi trên hư không nghe pháp, giống như là họ ngồi trên tầng hai, còn chúng ta ngồi dưới tầng một vậy. Khi họ ngồi trên đó, đúng lúc hình hành một vòng tròn ánh sáng, một vòng quang luân, sẽ giống như họ ngồi trong quang luân nghe pháp vậy. Vì vậy khi có thuyết pháp, hầu như luôn có Phật, Bồ Tát, thiên chúng hạ giáng đến nghe pháp. Hôm nay tôi giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.


### 14. Liên Sinh Hoạt Phật giảng Chân Phật Kinh (6)


**Kinh văn:**

“Lúc bấy giờ:
Kim Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Đại trí huệ.
Bạch Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Pháp giới.
Lục Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Vạn bảo.
Hắc Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Hàng phục.”

Lúc bấy giờ:
Tôi đã giảng về "lúc bấy giờ" rồi, chính xác là không phải lúc đó, không phải lúc này, cũng không phải là một lúc nào đấy trong tương lai, tóm lại, chính là một thời điểm. Khi viết văn thì dùng cụm từ "lúc bấy giờ" là hay nhất, bởi vì chắc chắn sẽ luôn đúng.

Kim Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Đại trí huệ:
"Kim Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Đại trí huệ", thế nào được gọi là ánh sáng đại trí huệ? Đại trí huệ ở đây nếu giải thích ra thì rất sâu, đại chính là có ý nghĩa vô cùng vô tận, trí huệ chính là một dạng trí tuệ vô thượng và viên mãn, bản thân từ trí huệ đã mang ý nghĩa hoàn toàn tràn đầy, vô cùng vô tận rồi.

Trí huệ ở đây hoàn toàn không giống như trí tuệ thế gian. Trí tuệ thế gian có rất nhiều loại, ví dụ, chúng ta có thể dựa vào các vòng tròn trong thân cây để đoán biết được tuổi của cây, chúng ta có thể nghiên cứu để biết cây này thuộc loại thực vật nào, nó là cây bụi hay cây thân gỗ, chúng ta cũng có thể nghiên cứu biết được lá cây của nó có bao nhiêu chất diệp lục, chúng ta có thể nghiên cứu được gỗ của loại cây nào thích hợp để làm loại đồ gỗ gia dụng nào, hoặc loại nào có thể dùng để xây nhà. Cây có rất nhiều tác dụng, thậm chí là loại gỗ nào dùng để làm củi đốt. Trên thực tế, bản thân mỗi cái cây đã chứa đựng rất nhiều kiến thức trong đó, có thể cung cấp cho ta rất nhiều điều để nghiên cứu, đây cũng là một loại trí tuệ lớn. Nhưng trí huệ và đại trí huệ mà chúng ta nói đến ở đây thì khác.

Thế nào được gọi là đại trí huệ? Đại trí huệ đương nhiên cũng bao gồm cả kiến thức về thực vật rồi, bao gồm cả kiến thức về con người, bao gồm cả kiến thức về núi, về biển, về không khí, về sự vận hành của vũ trụ, không những gồm tất cả những kiến thức ngoại tại mà còn có cả kiến thức nội tại nữa.

Vậy thì nhất định mọi người sẽ nghĩ rằng, khi Sư Tôn nói về trí huệ nội tại, chắc chắn là tôi biết! Trí huệ nội tại mà Thánh tôn nói đến chắc chắn là hiểu biết về tim, gan, tỳ, phổi, thận rồi, năm cơ quan nội tạng, các cơ quan của cơ thể con người, vòng tuần hoàn máu, sức sống gì đó, ví dụ như lượng cholesterol là bao nhiêu này! Không phải đâu. Cái gọi là đại trí huệ chính là trong tư duy của bạn, trong tư tưởng của bạn, trong ý niệm của bạn được phân thành rất nhiều tầng tri thức, và trí huệ chính là một dạng ý thức ở sâu bên trong nhất.

Hôm nay, một phi công của hãng hàng không Malaysia cũng tới đây để cầu được quán đảnh. Anh ta nói: "Sư Tôn truyền nhiều pháp như vậy, cũng có nhiều khẩu quyết như vậy, liệu có phải là vẫn còn rất nhiều bí mật nữa không?" Ý của anh ta là muốn tôi nói cho anh biết những điều bí mật nhất và những khẩu quyết cơ mật nhất.

Trong lòng tôi nghĩ, mình học Phật đã hai mươi mấy năm, để có được những thứ cơ mật nhất như vậy, tôi đã phải dùng cả sinh mệnh của mình để đổi lấy! Thánh tôn đã phải dùng cả sinh mệnh và sự mạo hiểm của mình, cộng thêm rất nhiều nỗ lực của bản thân mới có thể đạt được, không phải chỉ là tiền, mà còn cả thời gian, mạng sống để đổi lấy! Tôi cũng cần phải đợi mọi người trả giá cao một chút chứ! Câu này là tôi nói đùa thôi!

Tôi nói với anh ta rằng: "Khẩu quyết này rất vi diệu." Sao lại gọi là "vi"? Vi có nghĩa là vô cùng vi tế. Sao lại gọi là "diệu"? Diệu chính là tuyệt đối hoàn hảo, vừa hay vừa hợp. Do vậy, muốn thực sự có được những khẩu quyết thành Phật, bạn cần phải hiểu được hai chữ "vi diệu" này.

Bạn phải rất tỉ mỉ, suy nghĩ một cách tường tận cặn kẽ, thâm nhập vào cảnh giới rất rất sâu. Bạn đừng cho rằng khi ta nhập vào cảnh giới rất sâu rất vi tế, nhỏ như một cái lỗ kim rồi, thì ở trong đó làm sao mà có ánh sáng đại trí huệ được đây? Tôi nói cho mọi người biết nhé, cái gọi là ánh sáng đại trí huệ chính là ánh sáng vi diệu nhất. Khi ý niệm của bạn thẳng một mạch thâm nhập được vào tầng thứ nhất bên trong của ý thức, rồi tới tầng thứ hai, tầng thứ ba, tầng thứ tư, tầng thứ năm, tầng thứ sáu, tầng thứ bảy, tầng thứ tám, tầng thứ chín, thì khi đó giống như bạn đã đi vào một căn phòng rất tối tăm, sau đó bạn thắp lên một ngọn nến giúp bạn nhìn rõ tất cả mọi thứ trong căn phòng này.

Lúc đó, bạn sẽ thấy được rất rõ ràng minh bạch quá khứ của bạn là gì, hiện tại của bạn là gì, tương lai của bạn là gì. Lúc đó, ánh sáng của bạn có thể chiếu tới toàn bộ vũ trụ, lục hợp, bốn phương tám hướng, trên dưới, quá khứ, hiện tại, tương lai, tất cả đều rõ ràng như một với hai!

Nếu bạn từng không biết về kiếp quá khứ, về tất cả mọi kiếp sống trước đây của mình, thì lúc này tất cả mọi thứ đều hiển hiện ra trước mặt bạn. Bạn có thể biết được hiện tại, cũng có thể biết được tương lai. Tôi bảo mọi người nhé: "Ánh sáng này chính là ánh sáng đại trí huệ." Những thứ mà Sư Tôn đã đạt được đều phải dùng tính mệnh để đổi lấy, đơn giản là vậy đó.

Bạch Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Pháp giới:
"Bạch Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Pháp giới", thế nào gọi là ánh sáng Pháp giới? Chúng ta biết các vị trí đã được xác định của toàn bộ vũ trụ, khi phân chia theo tầng lớp thì có tứ thánh giới, lục phàm giới. Tứ thánh giới chính là Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn. Lục phàm giới là trời, người, a tu la, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.


Ánh sáng Pháp giới chính là ánh sáng do Bạch Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra. Ánh sáng này không chỉ có ở Ma Ha Song Liên Trì mà thậm chí chiếu tới tất cả tứ thánh giới, đến thẳng các cõi giới của Phật, xuống dưới thì chiếu tới tận cõi địa ngục, cõi súc sinh, cõi ngạ quỷ. Do toàn bộ trong mười pháp giới đều được ánh sáng chói chang chiếu tới, nên gọi là ánh sáng Pháp giới. Vì thế, ánh sáng Pháp giới này rất lợi hại, tương đương với việc phá bỏ toàn bộ mười pháp giới để biến thành duy nhất một pháp giới vậy.


Lục Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Vạn bảo:
"Lục Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Vạn bảo", thế nào được gọi là ánh sáng Vạn bảo? Mọi người hễ nghe thấy ánh sáng Vạn bảo thì tâm trí đều chú ý ngay! Mọi người nhất định sẽ nghĩ "Sư Tôn lại định giảng về pháp tài bảo gì đây! Lục bảo, lam bảo, hồng ngọc, hay là kim cương đây nhỉ! Tất cả mọi đá quý bảo ngọc đều gom cả lại thì chính là ánh sáng Vạn bảo rồi." Kì thực, không phải như vậy đâu! Ánh sáng Vạn bảo được nói đến ở đây chính là nói tới pháp bảo.

Chúng ta cần biết, Đại Tạng Kinh hiện tại mà chúng ta đang sử dụng, bộ tam tạng pháp bảo này chỉ là một chút xíu bề mặt trên cùng của núi băng trôi mà thôi. Việc này trước đây tôi đã từng giảng rồi. Pháp bảo mà Phật Thích Ca Mâu Ni nói đến này là vô cùng vô tận, nếu gom chúng lại với nhau thì nhiều tới mức bằng cả một đoàn tàu hỏa, dùng xe tải đến chở hết thùng này tới thùng khác thì cũng thành cả một hàng dài như vầy.

Thế nhưng những pháp bảo này hiện tại đang ở đâu? Nghe nói đã bị ngựa của cõi trời và rồng của đại dương chở đi hết rồi, tất cả đã được chở tới long cung rồi, hiện tại đang được giấu ở trong long cung.

Mọi người nghĩ mà xem, bên trong long cung có nhiều pháp bảo như thế, nên trước đây ở Ấn Độ có một vị là Long Thọ Bồ Tát. Ngài ấy đã từng đến long cung để xem những kinh Phật đó. Sau khi xem được kinh Phật, ngài trở về và dựa vào trí nhớ của mình để viết chúng ra, viết ra những kinh Phật mà ngài đã đọc được ở dưới long cung. Tuy nhiên những gì ngài ấy đã viết ra được cũng vẫn chỉ là một góc của núi băng trôi mà thôi.

Lục Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Vạn bảo ở đây chính là nói đến bản thân Lục Liên Hoa Đồng Tử có thể hóa hiện ra hết mấy vạn pháp bảo này, phóng tỏa ánh sáng, có thể thấy là Lục Liên Hoa Đồng Tử rất vĩ đại! Đó nhất định là hóa thân của Long Thọ Bồ Tát, như các bạn thấy đáy biển đó, phần lớn đáy biển đều có màu xanh lục là vì thế! Lục Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Vạn bảo, có mối liên hệ với hàng tỉ hàng vạn pháp bảo đang được giấu tại long cung.

Hắc Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Hàng phục:
"Hắc Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Hàng phục", ánh sáng Hàng phục này là ánh sáng gì? Ánh sáng Hàng phục chính là ánh sáng có màu đen. Nói chung, nói đến hàng phục thì mọi người đều sẽ nghĩ đến Kim cang pháp, có người nói: "Phật, Bồ tát đều từ bi như thế, thế thì chúng ta có thể "bắt nạt" các vị đó rồi!" 

Phật và Bồ Tát đều là tu thiện pháp, chính là những pháp nhẫn nhục. Có người nói anh ta không muốn học Phật, bởi vì học Phật sẽ bị người khác bắt nạt! Giả sử bạn nói lại người ta một câu, hoặc là đánh trả người ta một cái, người ta sẽ nói: "Ô! Chẳng phải anh học Phật sao?" Nếu nhìn từ góc độ này thì xem ra việc học Phật đúng thật là xui xẻo rồi. Trước đây khi tôi ở Đài Loan, tôi thường nghĩ, học Phật pháp rốt cục lại biến thành "suy vĩ đạo nhân" mất thôi (trong tiếng Đài Loan có nghĩa là ma xúi quẩy). Ý nói rằng bởi vì đối với bất kì sự việc gì ta cũng đều cần nhẫn nại, cần học theo Bồ Tát, rồi trước rất nhiều sự việc cần phải nhẫn nhục, không thể nói lại người ta câu gì, lại còn cần giữ gìn sự tu dưỡng của bản thân. Sống như vậy hình như chẳng có chút ý nghĩa gì!

Tuy nhiên, trong vũ trụ có một kiểu thần, chính là thần Kim cang hộ pháp. Các vị này đến để hộ trì, để bảo vệ, chữ "hộ" ở đây chính là bảo hộ, "trì" chính là trì giữ, nói cách khác chính là trì giữ trật tự của Phật pháp để không thể có chuyện người học Phật luôn luôn bị người khác bắt nạt. Nói tóm lại là các vị này cần trở thành hộ pháp ở bên cạnh con người.

Thế còn bản thân Hộ pháp thì sao? Tượng Kim cang với con mắt phẫn nộ như chúng ta vẫn gọi, kì thực, tôi cho rằng hàng phục chính là một kiểu cảnh báo, cảnh tỉnh bạn một chút. Cũng giống như khi chúng ta đi học, nếu như học hành không tốt, trở thành học sinh cá biệt ở trường, thì trước tiên trường học sẽ gửi tới bạn một lời cảnh cáo, tiếp đó phạt nhẹ bạn, tiếp nữa là phạt nặng, tiếp nữa là giữ bạn ở lại trường để theo dõi bạn.

Trong sự hàng phục cũng có ý nghĩa khuyến thiện. Nói cách khác là mặc dù biểu hiện bên ngoài là trừng phạt bạn, nhưng kì thực là đang khuyến cáo bạn, sau đó lại đến để che chở cho bạn, hy vọng bạn có thể nghe lời, có thể nghe những lời khuyên tốt, đừng làm việc ác, hãy biết làm điều thiện, đây chính là ý nghĩa của hàng phục.

Bởi vậy, khi Kim cương Thượng sư tu pháp hàng phục, có khi làm pháp chỉ một ngày, hai ngày thì Kim cang Hộ pháp thần đã thương xót bạn rồi, tay ngài cũng trở nên mềm yếu vì ngài thương xót bạn, đồng cảm với bạn, ngài chỉ thực hiện pháp hàng phục đối với bạn có hai ngày là bạn đã ốm rất nặng rồi. Hoặc là bạn sẽ bị ngã xe đạp, hoặc là bạn sẽ bị trầy xước da một chút xíu! Để bạn thấy là bạn hãy nên cảnh giác đó!

Các vị Kim cương Thượng sư khi tu pháp hàng phục, đại bộ phận sau khi tu pháp hàng phục thì sẽ giúp bạn tu một lần pháp tiêu tai lại từ đầu. Nói cách khác là trước tiên tu pháp hàng phục, sau đó lại tu pháp tiêu tai, là để bạn nếm được mùi vị cảnh cáo trước, sau đó sẽ giúp bạn giải trừ những tai nạn này.

Ánh sáng mà pháp hàng phục hiển hiện ra chính là một loại quang khí màu đen. Người bị trúng pháp hàng phục thì chúng ta nhìn mặt họ sẽ thấy có khí xám xịt trên mặt họ. 
Hôm nay tôi giải thích đến đây thôi. Om mani padme hum.


### 15. Liên Sinh Hoạt Phật giảng Chân Phật Kinh (7)


**Kinh văn:**

“Hồng Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Hạnh nguyện.
Tử Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Đoan nghiêm.
Lam Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Quả đức.
Hoàng Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Phúc túc.
Tranh Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Đồng chân.”


Hồng Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Hạnh nguyện:
Lần trước tôi đã giảng đến ánh sáng Hàng phục, lần này tôi giảng tiếp đến "Hồng Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Hạnh nguyện". Trước đây Sư Tôn đã từng nói, mỗi người lương thiện, mỗi người tốt (chính là người có tâm địa tốt), người làm việc thiện, người đưa ra nguyện lực lớn, người bố thí, người dành toàn bộ thời gian, tiền bạc, mọi hoạt động của mình đều vì cống hiến cho chúng sinh, thì trên đỉnh đầu của họ sẽ phóng tỏa ra một loại ánh sáng màu đỏ gọi là ánh sáng hạnh nguyện.

Sư Tôn thường hay nghĩ đến một câu nói trong Kinh Thánh rằng: "Cho đi tốt hơn nhận lấy." Vì sao lại vậy? Kì thực là thế này, tôi phát hiện ra dường như trước đây Sư Tôn rất ít khi làm việc thiện, tới gần đây thì bắt đầu làm việc thiện nhiều hơn so với ngày trước một chút. Tôi nhận thấy dường như khi chúng ta cho người khác thứ gì đó, hoặc bố thí, hoặc làm việc thiện, thì trong lòng sẽ cảm thấy rất vui vẻ, bình an! Đặc biệt khi bạn đem thứ đồ bạn thích nhất, thứ bạn cho là trân quý nhất, thứ mà bạn không nỡ từ bỏ, để đem cho người khác, thì niềm vui bạn có được sẽ là một thứ hạnh phúc ở mức độ tương đối cao cấp.

Chúng ta nên phá bỏ kiểu quan niệm “cái này là của tôi, cái kia là của bạn.” Giả sử muốn phá bỏ quan niệm này thì bạn cần phải làm được "hạnh" và "nguyện", có nghĩa là hành vi của bạn và nguyện lực của bạn phải hợp với nhau, sau đó mới có thể phá bỏ kiểu quan niệm “cái này là của tôi, cái kia là của bạn.”

Mọi người hãy nghĩ thử xem, sau này giả sử có tới nào đó bạn nghĩ rằng "của tôi cũng chính là của chúng sinh", thì trên đỉnh đầu của bạn sẽ xuất hiện ánh sáng hạnh nguyện màu đỏ. Nếu như hàng ngày bạn vẫn nghĩ: "Của tôi là của tôi, của anh cũng là của tôi, của mọi người cũng đều là của tôi!", thế thì trên đầu bạn sẽ có ánh sáng màu đen. Muốn thành Phật, muốn thành Bồ tát, cần tu hành và phải không còn hai chữ "của tôi" nữa.

Bởi vậy, trên thực tế, những thứ trên đời này không có cái gì là của bạn cả. Khi bạn có thể nghĩ được rằng "mọi thứ trên đời này không có gì là của bạn", thì trên đỉnh đầu bạn sẽ xuất hiện ánh sáng hạnh nguyện màu đỏ. Tấm lòng của bạn sẽ rộng mở, quảng đại như trời đất, sẽ có thiện tâm vô lượng để giúp đỡ người khác. Những người như vậy trong tương lai sẽ chính là Hồng Liên Hoa Đồng Tử.


Tử Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng đoan nghiêm:
"Tử Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Đoan nghiêm", đoan chính là đoan chính, nghiêm chính là trang nghiêm, màu sắc ở đây là màu tím. Ánh sáng đoan trang và trang nghiêm này cũng hiển hiện trên hành vi của bản thân mỗi người. Ánh sáng này cũng từ tâm mà phát ra.

Gọi là "đoan" bởi vì không đảo lộn, không đảo lộn cũng có nghĩa như bất động. Chúng ta đã học rằng tâm chúng ta cần không có vọng niệm, không lẫn lộn, nghĩa là hành vi của chúng ta phải cực kì đoan chính. Nghiêm" chính là không có sự lỏng lẻo. Màu tím mà ánh sáng này tỏa ra không hề có một chút khiếm khuyết nào, hơn nữa cũng chẳng có một chút kẽ hở rò rỉ.

Lam Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Quả đức:
"Lam Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Quả đức", vì sao Liên Hoa Đồng Tử màu lam lại hóa hiện ra ánh sáng Quả đức? Bản thân ánh sáng màu xanh lam có tác dụng giúp đỡ người khác, hơn nữa còn có thể đạt được kết quả rất tốt đẹp, giống như hoa quả vậy. Đơm hoa, sau đó kết trái, rồi lại từ trong quả mà xuất hiện ra từng hạt từng hạt rất tròn đầy, chính là một loại quả vậy!

Vậy thì, quả này từ đâu đến? Quả chính là đến từ đức hạnh, hoàn toàn từ sự đức hạnh mà kết thành một loại quả, giống như hoa sen vậy, hoa sen nở rất đẹp, phóng tỏa ra ánh sáng màu xanh lam vô cùng viên mãn, đây chính là một loại quả tròn trịa, tròn đầy.

Hoàng Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Phúc túc:
"Hoàng Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Phúc túc", Sư Tôn đã từng giảng rồi. Vì sao Hoàng Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Phúc túc? Hơn nữa, vì sao màu vàng lại là phúc túc? Nguyên nhân là vì màu vàng rất gần với vàng đó. Trong thiên hạ, màu gì là màu được cho là quý giá nhất? Màu sắc của vàng chính là quý giá nhất, mặc dù kim cương cũng rất đắt rất quý, nhưng kim cương lại không chắc chắn được người ta thừa nhận. Cho tới nay, vàng được dùng làm tỉ giá, có thể thực sự làm một tiêu chuẩn về giá trị, dựa vào trọng lượng của vàng để làm cơ sở so sánh giá, làm biểu giá, còn kim cương thì không thể dùng làm biểu giá được.

Vì sao ánh sáng của màu vàng được gọi là ánh sáng Phúc túc? Cần biết rằng, chữ "phúc" là từ chữ "đức" mà có. "Phúc" cũng là từ "trí huệ" mà có. Người tu hành chúng ta cũng cần tu phúc, cái này gọi là "phúc huệ song tu", chỉ có tu phúc mà không tu huệ thì sẽ biến thành kẻ thế tục, chỉ có tu huệ mà không tu phúc thì chỉ có thể độ chính mình, không thể giúp đỡ người khác, không thể độ chúng sinh. Do vậy, cần phối hợp cùng tu phúc và đức, Hoàng Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Phúc túc chính là phân chia đồng đều tất cả mọi phúc phận.

Tranh Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Đồng chân:
"Tranh Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Đồng chân", thế nào được gọi là đồng chân? Một đám các em bé ban nãy vừa đi qua đây đều là đồng chân đó. Đồng chân ở đây chính là đồng tử (trẻ em), nói cách khác là bản thân đám trẻ này rất thuần khiết, chỉ có sự trong sáng và ngây thơ, không có xấu tốt, không có thiện ác, cũng không làm việc xấu, và căn bản là chúng cũng chẳng nghĩ ngợi làm sao để làm việc xấu. Đây chính là ý nghĩa của chữ "đồng", chính là trong sáng ngây thơ.

Đám trẻ này cũng chẳng e ngại gì, như khi chúng ta ngồi ở đây đông như thế, lại có rất nhiều Thượng sư ngồi ở phía trước, nhưng chúng cũng chẳng cần phải để ý, cứ thế mà đi qua trước mặt, cũng không cần phải hiểu rằng trẻ con bọn chúng khi nói chuyện thì cần nhỏ tiếng một chút, nếu không sẽ ảnh hưởng đến mọi người đang nghe giảng kinh. Bọn chúng không màng đến lễ nghĩa, nguyên nhân chủ yếu là cái chữ "đồng" đó! Bạn có thể bảo con chim nhỏ trên cây là không được kêu nữa, điều này sao có thể được đây?

Chữ "chân" ở đây chính là những gì mà đám trẻ này làm đều là những việc rất chân thực, chúng không giả tạo. Khi vui, chúng sẽ cười, khi bị đánh, chúng liền khóc. Chúng thích bạn thì sẽ "kiss" bạn một cái, còn chúng không thích bạn thì chúng sẽ trợn mắt với bạn. Bởi vì chúng không biết giả vờ, bạn biết chứ?

Tôi phát hiện ra rằng người lớn chúng ta, con người khi tuổi càng cao thì lại càng hay giả tạo. Rõ ràng là không thích, nhưng lại nói với bạn rằng: "Đa tạ anh đã chỉ giáo." Rõ ràng là rất ghét bạn, nhưng lại nói: "Ngưỡng mộ đã lâu! Ngưỡng mộ đã lâu!" Rõ ràng là không hoan nghênh bạn đến, thế nhưng miệng vẫn nói: "Lần sau lại đến nhé! Có thời gian rảnh xin mời lại đến chơi!" Đây chính là những người lớn xấu xí. Người tu hành cần lấy lại sự "đồng chân", đừng giả tạo.

Tranh Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng này hoàn toàn là một thứ ánh sáng đồng chân, ánh sáng trong sáng và ngây thơ, ánh sáng này chưa từng bị ô nhiễm. Còn như chúng ta đều đã từng bị ô nhiễm rồi. Do vậy, mọi người đã thấy những ánh sáng này, có ánh sáng đại trí huệ, có ánh sáng kết nối các pháp giới, có ánh sáng của vạn thứ bảo vật xuất hiện, có ánh sáng hàng phục tà ma, có ánh sáng hạnh nguyện viên mãn màu đỏ, có ánh sáng đoan trang trang nghiêm, có ánh sáng từ phúc sinh ra quả, có ánh sáng phúc phận đủ đầy dư thừa, có ánh sáng đồng chân vô cùng chân thành giống như trẻ con, mọi người nghĩ thử xem, ở Ma Ha Song Liên Trì có nhiều loại ánh sáng như vậy cùng giao thoa, cùng chiếu sáng, cùng chói lọi, bạn thử nghĩ xem, thế giới đó có rực rỡ và mĩ miều hay không!

Bởi thế, trong tương lai cõi tịnh độ Ma Ha Song Liên Trì này sẽ làm chấn động toàn thế giới, toàn bộ địa cầu sẽ chấn động! Gần đây, cuốn Chân Phật Kinh này đã gây chấn động tới các quốc gia trên toàn thế giới rồi, bao gồm tất cả các tín đồ Phật giáo và tín đồ các tôn giáo khác, họ đều đã "bắn pháo" chúc mừng rồi. "Bắn pháo" này chính là "nổ pháo có ý kiến" đó!
Hôm nay tôi giảng tới đây thôi. Om mani padme hum.


### 16. Liên Sinh Hoạt Phật giảng Chân Phật Kinh (8)


**Kinh văn:**

“Chư Thiên thấy vậy cảm thấy kinh ngạc lạ kỳ. Thế là Đế Thích từ trong chỗ ngồi đứng dậy, cúi đầu hướng về Bạch Liên Hoa Đồng Tử mà thưa rằng: "Thánh Tôn, thật hi hữu hiếm có. Ma Ha Song Liên Trì do nhân duyên nào mà xuất hiện ánh sáng đại quang hoa rực rỡ này?"

Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử nói: "Đó là vì để thuyết giảng cho các ông vậy."
Đế Thích nói: "Thánh Tôn uy quyền tối tôn. Chỉ mong Thánh Tôn vì chúng sinh mà tuyên thuyết. Tất cả trời người sẽ đều biết phải hướng quay về."

Lúc bấy giờ Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử nói với Đế Thích cùng chư đại chúng: "Lành thay lành thay. Nay ta vì các ông và chúng sinh đời mạt thế, cùng những người hữu duyên trong đời tương lai, giảng cho tất cả đều biết đạo lý chân thực Phật pháp và tiêu tai ban phúc."

Chư thiên kinh ngạc và thưa hỏi:
Chư thiên ở đây đại diện cho các thiên thần của hai mươi tám cõi trời có tại thiên thượng giới, cùng các thần tiên của ba mươi ba cõi trời có tại thiên thượng giới. Họ đều nhìn thấy rất rất nhiều quang sắc hiển hiện, nhìn thấy quang sắc này tràn đầy cả hư không, thậm chí tràn đầy khắp cả thập pháp giới, bao gồm cả tứ thánh giới, lục đạo chúng sinh, tam ác đạo, tất cả đều tràn ngập ánh sáng bao la, nên cảm thấy vô cùng kinh ngạc và hiếu kì, bởi vì toàn bộ thập pháp giới đều xuất hiện hiện tượng ánh sáng nhiều màu sắc tràn ngập như thế vốn chẳng phải là một chuyện thường gặp! 

Chính lúc đó, Đế Thích (chính là Thích Đề Hoàn Nhân, cũng chính là thiên chủ của ba mươi ba cõi trời), từ chỗ ngồi của ngài đứng dậy. Ý nghĩa của hành động "cúi đầu" chính là chắp tay, chắp tay cung kính chính là cúi đầu. "Cúi đầu hướng về Bạch Liên Hoa Đồng Tử mà thưa", điều này cũng đồng nghĩa với việc hỏi chuyện Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử vậy.
"Thật hy hữu hiếm có. Ma Ha Song Liên Trì do nhân duyên nào mà xuất hiện ánh sáng đại quang hoa rực rỡ này?" ý nói rằng, hiện tượng ánh sáng ngập tràn chói lọi này vô cùng hiếm gặp, vô cùng hy hữu, rốt cục là Ma Ha Song Liên Trì này, Thánh giới này có nguyên nhân gì đây? Là nhân duyên nào mà xuất hiện ánh sáng đại quang hoa rực rỡ như vậy?

Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử nói với Thích Đề Hoàn Nhân (Đế Thích) cùng với tất cả thiên thần của các cõi thiên giới, ý rằng: "Bởi vì ông đã hỏi nên tôi mới vì ông mà giải thích một chút là vì nguyên nhân gì đã xuất hiện đại quang hoa này."

Uy quyền tối tôn:
"Đế Thích nói: "Thánh Tôn uy quyền tối tôn. Chỉ mong Thánh Tôn vì chúng sinh mà tuyên thuyết. Tất cả trời người sẽ đều biết phải hướng quay về.", ở đây tôi giải thích thế nào gọi là uy quyền tối tôn.

Uy ở đây, như chúng ta vẫn nói, chính là uy phong. Uy phong bát diện!
Ngày trước chúng ta xem múa rối tay, có một vị công phu rất cao cường hễ xuất hiện một cái là, oa, rất nhiều ánh sáng chiếu vào cũng xuất hiện! Khi âm nhạc tấu lên điệu cao nhất thì ông ta mới nhảy ra. Cái "uy" này cũng tương tự như một sự uy nghiêm, vô cùng uy nghiêm, tối cao vô thượng.

Giống như bây giờ chúng ta đi nhìn mặt trời, khi mặt trời lên cao và sáng chói thì chẳng có cách nào nhìn mặt trời trực tiếp bằng mắt được cả, bởi vì cường độ sáng của nó rất mạnh mẽ. Ánh sáng chói lọi.

Thế còn chữ "quyền" thì sao? Chính là nói đến quyền lực, quyền thế, cùng với sức mạnh mà ngài nắm giữ, nói cách khác chính là sức mạnh của chính ngài, pháp lực của ngài. Đế Thích Thiên Vương (Ngọc Hoàng Đại Đế) nói: "Đây vừa là sự uy nghiêm, vừa là quyền lực tối tôn, chính là tối cao, vô thượng, chí thượng, tôn quý nhất." Đế Thích Thiên Chủ nói rằng "Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử uy quyền tối tôn" khả năng là bởi vì ngài ấy đã nhìn thấy phía trên Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử có một vị Đại Nhật Như Lai, Đại Nhật Như Lai đương nhiên là uy quyền tối tôn mà!

Chúng ta biết rằng, bản thân Liên Hoa Đồng Tử chính là hóa thân của Phật Nhãn Phật Mẫu. Hai con mắt của Phật Nhãn Phật Mẫu hóa thành Ma Ha Song Liên Trì, ánh sáng của Ma Ha Song Liên Trì hóa thành các vị Liên Hoa Đồng Tử. Vậy còn Phật Nhãn Phật Mẫu thì sao? Ngài lại được biến hóa ra từ Đại Nhật Như Lai, việc này đồng nghĩa với Liên Hoa Đồng Tử là hóa thân ánh sáng của Đại Nhật Như Lai. Điều này giải thích cho ta thấy nguồn gốc của Liên Hoa Đồng Tử là đến từ Đại Nhật Như Lai.


🌟


Buổi tối hôm nay chúng ta tu pháp Chuẩn Đề Phật Mẫu. Nguồn gốc của Chuẩn Đề Phật Mẫu là từ đâu đến? Kì thực, Chuẩn Đề Phật Mẫu cũng đến từ cung điện Pháp Giới Tối Thắng của Đại Nhật Như Lai, vì thế Chuẩn Đề Phật Mẫu và Liên Hoa Đồng Tử có cùng một nguồn gốc. Chuẩn Đề Phật Mẫu là chị gái của Liên Hoa Đồng Tử, do đó hai vị giống như chị em vậy, tình cảm vô cùng tốt! Cho nên Chuẩn Đề Phật Mẫu là một trong số tám bổn tôn lớn nhất của chúng ta là có nguyên nhân của nó.

Trong Trung mật và Đài mật [Mật tông của núi Thiên Thai được gọi là Đài mật, còn Trung mật chính là Mật tông Trung Quốc], và cả Đông mật [chính là Mật tông Nhật Bản], Chuẩn Đề Phật Mẫu đều được xem như là Phật Mẫu chủ tôn. Còn trong Mật tông Tây Tạng thì Chuẩn Đề Phật Mẫu rất ít khi nghe nói đến. Trong Mật tông Tây Tạng, rất nhiều vị Rinpoche Tây Tạng đều không biết đến Chuẩn Đề Phật Mẫu. Do vậy, đối với Mật tông Trung Quốc, Mật tông Thiên Thai, Mật tông Nhật Bản, cũng chính là đối với Trung thổ, thì Chuẩn Đề Phật Mẫu đặc biệt quan tâm chăm sóc chúng ta, còn đối với người Tây Tạng thì ngài không quan tâm mấy.

Bởi vì bản thân Liên Hoa Đồng Tử đến từ cung của Đại Nhật Như Lai nên ngài biết rõ Chuẩn Đề Phật Mẫu cần hoằng dương trên toàn thế giới. Tông phái của chúng ta có bát đại bổn tôn, Chuẩn Đề Phật Mẫu chính là một vị trong số đó. Chuẩn Đề Phật Mẫu còn có tên gọi khác là Tối Thắng Kim Cang và Như Ý Kim Cang, nguyên nhân chính là vì sao? Chính là vì bản thân ngài đến từ cung của Đại Nhật Như Lai.


🌟


Đế Thích nói "Thánh Tôn uy quyền tối tôn" xong thì sao? Ngài liền yêu cầu Thánh Tôn vì tất cả thiên chúng, thiên thần, Phật, Bồ Tát hiện đang có mặt ở đó mà tuyên thuyết. Ý nghĩa của tuyên thuyết chính là giải thích công khai, để cho tất cả trời và người đều biết được nhân duyên, biết được để mà hướng quay về.


“Lúc bấy giờ Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử nói với Đế Thích cùng chư đại chúng: "Lành thay lành thay. Nay ta vì các ông và chúng sinh đời mạt thế, cùng những người hữu duyên trong đời tương lai, giảng cho tất cả đều biết đạo lý chân thực Phật pháp và tiêu tai ban phúc.” nghĩa là vào lúc đó, Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử nói với Đế Thích Thiên Chủ và tất cả các vị Phật, Bồ Tát đang ở tại đó, với tất cả các thiên chúng, lúc đó ngài nói rằng "lành thay, lành thay" chính là câu cửa miệng của rất nhiều lão hòa thượng trước đây hay nói.

Trước đây, Sư Tôn đọc tiểu thuyết võ hiệp thường thấy lão hòa thượng cầm chiếc xẻng vuông, gặp những lúc phải phạm vào giới sát sinh thì đều nói: "Thiện tai! Thiện tai! Để lão tăng tiễn các người đến Tây Thiên!" [Đùa]

Đương nhiên kể chuyện hòa thượng phạm vào giới sát sinh như vậy thì chẳng hay gì rồi! Nhưng câu văn đó thì được dùng rất hay. Thế nào gọi là "thiện tai, thiện tai?" Có nghĩa là rất tốt, rất tốt! Người xuất gia như bọn họ giết người mà vẫn còn tiễn người ta đến Tây Thiên, có vẻ như hàm nghĩa rất sâu sắc.

Trên thực tế, tôi cảm thấy những người xuất gia hoặc các vị đạo trưởng trong các tiểu thuyết võ hiệp này, kì thực nhìn chung đều là cố ý viết ra thôi, chỉ là thân phận của người xuất gia và đạo trưởng có một chút đặc thù. Đại bộ phận người xuất gia và đạo trưởng đều là người tu hành, chỉ có một bộ phận nhỏ người xuất gia hoặc đạo trưởng là dấn thân vào những ân oán giang hồ. Những thứ được viết trong tiểu thuyết võ hiệp đương nhiên có rất nhiều hư cấu. Nói "thiện tai, thiện tai" ở đây là chỉ có ý rằng "rất hay, rất hay", không phải ý là muốn tiễn đến Tây Thiên đâu.


🌟


Ngày hôm nay ta [giảng Chân Phật Kinh] chính là vì Đế Thích Thiên Chủ và tất cả chúng sinh ở tại thế giới Ta Bà trong đời mạt thế cùng tất cả chúng sinh trong đời tương lai, chỉ cần là người có duyên phận trong đời tương lai. Thế nào gọi là đời tương lai? Đời tương lai nghĩa là từ thời điểm hiện tại bắt đầu thuyết pháp trở về sau, cũng chính là thế giới hiện tại và tương lai, và còn có rất nhiều đời, nhiều kiếp sau thời điểm hiện tại này, thì được gọi là các đời tương lai.

Như thế ở đây có đạo lý giống như ngày trước, khi chúng ta học Kinh Thánh, có vị thầy chuyên đảm nhận việc tra cứu Kinh Thánh. Trong Kinh Thánh có câu nói rằng chúng ta cần có lòng tin, khi Cơ Đốc Giáo tuyên truyền rộng rãi thì đã nói, người có lòng tin có thể lên thiên đường, người không tin thì xuống địa ngục.

Xưa kia, giống như Chúa Jesus Chris hạ giáng tại thế giới Ta Bà này, hạ sinh tại nhân gian. Do hiện tại là năm 1988 [thì tính ra] cũng chính là 1988 năm trước, chúa đã hạ sinh tại thế giới Ta Bà này, hạ sinh tại nhân gian để truyền bá đạo lý của Thượng Đế, truyền dạy đạo lý của Chúa.

Khi nghiên cứu đạo lý này [lúc còn học Kinh Thánh], tôi liền giơ tay hỏi mục sư, tôi nói: "Ai tin vào chúa Jesus thì mới được lên thiên đường, còn ai không tin thì phải xuống địa ngục, vậy thì, Trung Quốc chúng ta có năm nghìn năm lịch sử, xin hỏi: Trung Quốc hai nghìn năm trở về trước, trong khoảng ba nghìn năm, các triều đại Đường, Ngu, Hạ, Thương, Chu, Tần, Hán, Tam Quốc, Ngụy Tấn, Nam Bắc Triều, con người của các triều đại liên tiếp này hoàn toàn không có tiếp xúc gì với Matteo Ricci, chẳng hề biết Jesus Chris ở đâu, thế thì những người này phải làm sao?"

Mặt của vị mục sư kia thoạt trắng thoạt đỏ, ông ấy chỉ vào mũi tôi và nói: "Cậu là loại thích gây khó dễ cho người khác, chuyên môn gây phiền phức." Nhưng từ đầu tới cuối tôi vẫn không hiểu, lịch sử Trung Quốc chúng ta lịch sử năm nghìn năm, vậy thì con người của ba nghìn năm trước đây đã thế nào?

Do đó, bản kinh này của chúng ta rất hay! Những người trong quá khứ chưa từng đọc được bản kinh này xem như không có duyên. Chúng ta là những người có duyên phận thì trong các đời tương lai (đời hiện tại và đời tương lai) đều có duyên với bản kinh này, người nào đọc được chính là “những người có duyên trong đời tương lai.”

Trước đây tôi đã học điều thứ nhất trong mười điều răn của Chúa. Điều thứ nhất trong mười điều răn của Chúa mà Đức Jehovah dạy cho Moses là: "Ngoài ta ra, không có Đức Chúa Trời nào khác." Theo ý nghĩa của Kinh Thánh, ý của câu này là, ngoài Chúa ra, tất cả những thứ khác đều là ma quỷ.

Khi đó, tôi nói với mục sư như thế này: "Ngoài ta ra, không có Đức Chúa Trời nào khác, [thì ngầm hàm ý] chứng tỏ rằng trong hư không vẫn còn Chúa khác."

Kì thực, Đức Jehovah nói như vậy về "Chúa" cũng đúng, bởi vì nếu ngài thừa nhận rằng có rất nhiều vị Chúa khác, [ngộ nhỡ] mọi người tin theo các vị Chúa khác, thì bản thân ngài sẽ chán nản lắm. Ở đây, chúng ta hiểu tâm tình của Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời hy vọng mọi người đều có thể đi theo ngài, và cũng có thể lên được thiên đường như ngài. Ngài có thể dẫn dắt những người này hưởng phúc ở trên thiên đường.

Ngài không muốn [các đệ tử] đến với các vị Chúa khác, bởi vì hy vọng [chỉ có nhờ vậy], việc "kinh doanh" trên cõi thiên đường của ngài mới tốt, còn tình hình "kinh doanh" của các cõi thiên đường khác thì cứ mặc kệ nó đi. Ý là như vậy. [Đùa]

Cá tính của Đế Thích Thiên:
Kì thực, theo Sư Tôn biết, Đế Thích Thiên của Phật giáo chính là Đức Chúa Trời của Cơ Đốc Giáo, cũng chính là Thiên Chúa của Thiên Chúa Giáo, là Thánh Allah của Hồi giáo. Trước đây tôi cũng đã dành khá nhiều thời gian để tìm hiểu về vị Đế Thích này.

Cá tính của vị Đế Thích như sau: cá nhân ngài rất tốt, bản thân ngài rất giỏi, quản lý ba mươi ba cõi trời, tất cả thiên chúng đều do ngài quản lý. Phạm vi quản lý của ngài rất rộng, hơn nữa ngài mang thân phận là một Thiên Chúa, ngài hy vọng tất cả người nhân gian đều có thể tin tưởng theo ngài .

Mặc dù ngài rất giỏi, nhưng có hai khuyết điểm nhỏ: Thứ nhất là có hơi một chút cao ngạo, thứ hai là ngài lấy hơi nhiều vợ. Tôi kể như vậy, vị Đế Thích Thiên này có lẽ sẽ không tức giận, bởi vì uy năng của bản thân Đế Thích Thiên cũng rất tôn quý, toàn bộ nhân gian đều nằm dưới sự quản lý của ngài.

Có thể nói rằng ngài là Thiên Chúa của cõi Dục giới trong ba cõi giới, đồng thời, ngài cũng là Cổ Phật chuyển thế, ngài ta có duy nhất…, duy nhất…., điều này hơi khó nói! Ngài có duy nhất một kẻ địch, đó chính là bố vợ của ngài, bởi vì bố vợ của ngài cũng muốn chiếm được địa vị là Thiên Chúa của ba mươi ba cõi trời. Trên thiên đường mà có thể gây nên một vụ "Ô Yên chướng khí" như vậy chính là do ngài và bố vợ của ngài gây ra...

Ô! Tôi cũng trở nên lộn xộn rồi. Vì sao Sư Tôn lại nói mấy chuyện này nhỉ? Mặc dù Đế Thích vĩ đại như vậy, mặc dù Đức Jehovah của Cơ Đốc Giáo rất vĩ đại, Thiên Chúa, Jehovah, Đức Chúa Trời đều rất vĩ đại, nhưng họ gặp vấn đề thì vẫn phải đi hỏi Liên Hoa Đồng Tử.

Do vậy, Liên Hoa Đồng Tử lúc này mới nói cho họ, để cho mọi người được biết rằng cái gì là Chân Phật Mật Pháp. Thế nào là đạo lý tiêu tai ban phúc?

Phật pháp chân thực hoàn toàn không phải là biểu hiện sùng bái bên ngoài, đương nhiên Kinh Thánh cũng rất hay, bởi vì biểu hiện bên ngoài của nó đều là khuyên người ta làm việc thiện, khuyên người ta cần làm người thế nào, làm việc thế nào, cũng nói chuyện đạo lý.

Những điều mà Kinh Thánh giảng cũng đều là những đạo lý rất hay. Tuy nhiên, đạo lý trong Kinh Thánh vẫn là biểu hiện bên ngoài. Chúng ta đến giáo đường chính là để nghe mục sư giảng đạo, sau đó chúng ta cầu nguyện, hướng về Thiên Chúa cầu nguyện, sau đó thì sao? Chúng ta đọc văn cầu nguyện, ngâm thơ tán thán Thượng Đế. Sau đó, chúng ta có lễ Giáng Sinh, mục sư sẽ phát kẹo cho ta, đây đều là những biểu hiện bề ngoài.

Trong Phật pháp của chúng ta cũng có [các hoạt động] tương tự, ví dụ khi chúng ta sám hối thì ta niệm văn cầu thỉnh, hát tán thán, niệm Phật, tụng kinh, trì chú. Nghi thức bên ngoài này khá tương đồng với Cơ Đốc Giáo.

Trước đây trong Cơ Đốc Giáo của chúng tôi đọc văn cầu nguyện, chúng tôi dùng tiếng Đài Loan để niệm. Tôi đọc một đoạn cho mọi người nghe: "Cha ở trên thiên đường của chúng con, Cha Thượng Đế, chúng con ở đây!" Ví dụ cầu nguyện như vậy gọi là biểu hiện bề ngoài, cũng chính là sự sùng bái trên phương diện hình thức.

Dùng Phật pháp chân thực để cải vận:
Nhưng Phật pháp chân thực thì hướng vào tìm hiểu nội tâm của bạn, hướng vào nội tâm của bạn để tìm hiểu một cách sâu xa, để thấu hiểu nội tâm bạn, khiến cho cái tâm chân chính của bạn có thể chắt lọc ra được Phật tính chân thực, biến nhân tính của bạn thành Phật tính. Tu hành như vậy mới là Phật pháp chân thực.

Như thế, Phật pháp chân thực hoàn toàn không phải là biểu hiện sùng bái bên ngoài, cũng không phải là cứ ở đó đọc kinh, niệm văn cầu thỉnh, hoặc là đi sám hối, không phải như vậy. Nó hoàn toàn là việc nhận ra thế giới nội tâm của bản thân bạn, sự thức tỉnh này mới là Phật pháp chân thực. Phật pháp không tách rời tự tâm, rời xa tự tâm liền không còn pháp thì đó cũng là ngoại đạo.

Vì thế, chúng ta đến nhà thờ, hoặc đến chùa chiền, thấy những người đến đó chỉ châm hương vái lạy, rồi nói chuyện với Bồ Tát, nói rất nhiều lời, đều là ca thán than phiền, những người này chẳng phải là học Phật pháp chân thực.


🌟


Trước đây tôi từng kể chuyện có một bà lão đem theo một buồng chuối đến chùa nói chuyện với Bồ Tát suốt từ 10 giờ tối cho đến tận 2 giờ sáng. Lão hòa thượng trông nom chùa hễ thấy bà đến là biết ngay tối nay chẳng được ngủ rồi. Tóm lại, kiểu gì cũng phải đến sáng sớm mới có thể đóng cửa chùa.

Lão hòa thượng này thấy bà lão đến liền nói với bà:
"Bà không đến vào ban ngày được sao?"
Bà nói:
"Buổi tối tôi mới rảnh."

"Bà có thể nói ngắn gọn một chút không?"
"Tôi đã tích tụ nỗi phiền muộn này bao nhiêu năm rồi, bây giờ cần phải nói với Bồ Tát, sao ông lại có thể cư xử thiếu phép tắc như vậy?"

Bà lão nói chuyện với Phật, Bồ Tát, vừa bắt đầu nói chuyện là bà bắt đầu kể lể. Nào là con trai lớn của bà bất hiếu! Thằng con trai thứ hai của bà thì hư hỏng! Thằng con trai thứ ba thì không cho bà tiền! Con dâu cả thì đuổi bà ra khỏi nhà ra sao! Con dâu thứ hai thì hễ nhìn thấy bà là trợn trừng mắt lên. Còn con dâu thứ ba thì sao? Cô ta cố ý ăn hết đồ ăn mà bà thích ăn! Tốt nhất là cho lũ chúng nó ngã hết, ngã lộn nhào, ngã gẫy chân thì thôi!


🌟


Chúng ta hiểu rằng đây chẳng phải là Phật pháp chân thực. Đây chỉ là sự sùng bái bên ngoài mà thôi. Lúc này đây, giống như chúng ta đang ngồi trong lễ đường nghe giảng đạo, hoặc đang hát thánh ca tán thán, sau đó cầu nguyện. Những việc kiểu này nhìn chung mà nói thì đều là những hành động biểu hiện bề ngoài.

Người có thể theo phương pháp giảng trong Kinh Thánh hoặc trong kinh Phật để biết cách làm người, làm việc thiện cũng đã là rất tốt, tuy nhiên đó cũng chưa phải là chân thực nhất. Phật pháp trong cuốn Chân Phật Kinh này mới có thể đủ khả năng tiêu tai, mới đủ khả năng ban phúc, cũng như đủ khả năng thay đổi vận mệnh của bạn. Không những thay đổi vận mệnh mà còn có thể giúp bạn vãng sinh đến tầng cao nhất tại Ma Ha Song Liên Trì ở Tây phương Cực lạc Thế giới.

Rất nhiều người đều hy vọng có thể thay đổi vận mệnh. Các thuật sĩ giang hồ lợi dụng tâm lý này của con người nên nói rằng “tôi có thể giúp anh cải vận”, ý rằng anh phải đưa cho tôi cái gì đó thì tôi mới giúp anh cải vận, để giúp vận mệnh của anh tốt hơn. Sư Tôn cho rằng việc đó chẳng thể nào thay đổi vận mệnh được.

Các bạn muốn cải vận thì cần phải học tập Phật pháp chân thực, thay đổi từ chính nội tâm mình, có như vậy bạn mới có thể thực sự thay đổi vận mệnh. Điều này có nghĩa là phải thay đổi toàn bộ nội tại, cái gốc chân chính của bạn thì vận mệnh của bạn mới có thể thay đổi. Đó chính là "đạo lý chân thực Phật pháp tiêu tai ban phúc".
Hôm nay tôi giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.


### 17. Liên Sinh Hoạt Phật giảng Chân Phật Kinh (9)


**Kinh văn:**

“Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử liền nói tiếp:
Chư Phật, Bồ Tát cứu độ chúng sinh.

Có:
Tối Thắng thế giới,
Diệu Bảo thế giới,
Viên Châu thế giới,
Vô Ưu thế giới,
Tịnh Trú thế giới,
Pháp Ý thế giới,
Mãn Nguyệt thế giới,
Diệu Hỷ thế giới,
Diệu Viên thế giới,
Hoa Tạng thế giới,
Chân Như thế giới,
Viên Thông thế giới.
Bây giờ sẽ có Chân Phật Thế Giới.

Thế là Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác cùng chư Thánh chúng nghe Thánh Tôn khai diễn Chân Phật Thế Giới.
Biết được sự cát tường, thiện thệ, đại bi, nhân quả của quá khứ - hiện tại - vị lai, là do Thánh Tôn vì chúng sinh hóa thân thị hiện. Ai nấy hoan hỉ chưa từng có, cúi đầu tán thán mà hát lên bài kệ.”

Pháp cúng dường của Mật giáo:
Buổi tối hôm nay, vào lúc chúng ta làm đại cúng dường, tôi cứ nghĩ mãi, hình như không có thứ gì có thể cúng dường chư Phật, Bồ tát thì phải? Tôi vừa nhắm mắt lại liền có thể nhìn thấy những ngọn đèn rất đẹp này, những ngọn đèn rất đẹp kia. Mỗi một ngọn đèn biến hóa thành một vị Bồ tát đến đây.

Lúc đầu tôi dự định là sau khi nhìn thấy những ngọn đèn này rồi thì tôi sẽ cúng dường chúng cho tất cả các vị Phật, Bồ tát, nhưng chẳng ngờ những ngọn đèn này lại đều biến thành từng vị từng vị Phật, từng vị từng vị Bồ tát. Những ngọn đèn này là vô tận, do vậy, các vị Phật, Bồ tát cũng nhiều vô tận.

Trong lòng tôi nghĩ, làm sao có thể lấy Bồ tát để cúng dường Bồ tát đây? Tôi thấy hình như không được đúng lắm, sao có thể lấy Bồ tát để cúng dường Bồ tát được? Bây giờ thì tốt rồi, đọc tới đoạn kinh văn này là thấy có thể lấy Bồ tát để cúng dường Bồ tát rồi.

Trong Mật pháp chúng ta có một pháp là đem toàn bộ chúng sinh (dùng gạo tượng trưng cho chúng sinh) để cúng cho Phật Bồ tát, điều này biểu thị rằng người tu hành chúng ta dùng tâm của chính mình để độ chúng sinh, rồi lại cúng toàn bộ chúng sinh được độ cho Phật và Bồ tát.

Kì thực, chúng sinh đều là Phật tương lai, bên ngoài thì bạn là chúng sinh, nhưng trong tâm bạn lại có Phật tính, do vậy chúng sinh chính là Phật. Phật giáo có một câu nói rất hay rằng: "Mê là chúng sinh, ngộ liền là Phật." Do vậy chúng sinh và Phật là bình đẳng.

Hôm nay tôi nhìn thấy rất nhiều đèn. Hầy, giờ không còn đèn nữa, tất cả đều đem cúng hết rồi, đương nhiên là không còn nữa! Một cách đột ngột, những ngọn đèn này đều chẳng còn, đều đã được cúng đi hết rồi. Sư Tôn dùng Phật để cúng Phật, nói cách khác là đem chúng sinh cúng Phật, cũng như nhau cả! Do vậy, lấy Phật để cúng Phật là cách cúng chí cao vô thượng. Bởi dùng Phật để cúng dường Phật nên trở thành cả một thế giới Phật.

Thế giới của Phật:
Ở đây, thế giới được nói đến trong đoạn kinh văn này hoàn toàn không phải là nói tới thế giới Ta Bà. Tất cả là để chỉ các thế giới của Phật. Ở đoạn này có vài thế giới, Sư Tôn sẽ kể cho mọi người những thế giới mà Sư Tôn đã từng đến từ rất nhiều đời trước đây, thậm chí từ vô lượng kiếp trước, và có một vài thế giới Sư Tôn vẫn chưa đến. Tôi không dám nói bừa, nơi nào đã từng đến thì hôm nay tôi sẽ kể cho mọi người nghe.

Tôi đã từng đến Tối Thắng Thế Giới, bởi vì trong cái tên gọi này có một chữ "Thắng" mà, giống với tên của tôi. Nơi đó gọi là Tối Thắng Thế Giới, nên tôi đương nhiên phải đến đó rồi, bởi vì trong tên của tôi cũng có chữ Thắng đó mà. Có phải thế không? Kì thực, Tối Thắng Thế Giới chính là thế giới gốc, thế giới cơ bản, chính là thế giới của Đại Nhật Như Lai, và cũng chính là Tối Thắng Cung Thế Giới.

Tên tôi có một chữ Thắng, tôi thừa nhận trước đây mình cũng tương đối hiếu thắng, viết văn chương cũng có phần ghê gớm. Cái phản ứng "giữa đường gặp chuyện bất bình bèn cầm dao xông tới giúp" này dường như có chút hơi hướng của anh hùng hảo hán, thế nhưng bây giờ thì sao?

Tôi tu Tứ vô lượng tâm rồi, tu pháp tĩnh tịch rồi, muốn học Bồ tát nên tâm cũng đã mềm hơn. Thế giới hiện tại của Sư Tôn chính là "Tối Thua Thế Giới, thế nên ba cái chữ Lư Thắng Ngạn này của tôi nên đổi thành Lư Thua Ngạn, không phải Thắng nữa mà là Thua, không chỉ là thua mà còn thua sạch sẽ. Trước đây, Sư Tôn đã từng đến Tối Thắng Thế Giới, bởi vì Tối Thắng Pháp Giới Cung chính là thế giới của Đại Nhật Như Lai. Trong cuốn văn tập "Đêm ở hồ U Linh", Sư Tôn có nhắc đến Tối Thắng Pháp Giới Cung.

Thế còn thế giới thứ hai, Diệu Bảo Thế Giới, tôi cũng đã đến đó rồi. Có người nói: "Ngài đã đến Diệu Bảo Thế Giới, thế ngài có đem thứ gì về cho chúng tôi xem không?" Tên gọi Diệu Bảo Thế Giới này hoàn toàn không phải là nói tới những bảo vật đó, cũng hoàn toàn không phải là nói mang bảo vật trong nội tâm ra để cho mọi người xem đâu! Diệu Bảo không phải chỉ bảo vật, mà là pháp bảo, pháp bảo mới là diệu bảo. Thế giới này là thế giới của Bảo Sinh Phật, do vậy được gọi là Diệu Bảo Thế Giới.

Tiếp theo, chúng ta nói về Viên Châu Thế Giới. Những người đã từng đến mật đàn của tôi, trông thấy quả cầu thủy tinh tròn tròn liền nói: "Hẳn Viên Châu Thế Giới chính là thế giới trong quả cầu thủy tinh đó." Không phải vậy, tuy nhiên tôi chưa từng đến thế giới này, nên thực tình cũng không biết nó như thế nào, do vậy tôi sẽ không nói về nó. Sau này tôi đi tới đó, khi trở về sẽ kể lại cho mọi người nghe.

Tiếp đến là Vô Ưu Thế Giới. Vô Ưu Thế Giới này Sư Tôn đã đến rồi, đó là thế giới của Di Lặc Bồ Tát. Sư Tôn có hai chiếc Hồng Quán Thánh Miện, một chiếc là chính là Hồng Quán vô hình, chỉ có người có pháp nhãn, huệ nhãn, Phật nhãn, thiên nhãn mới có thể nhìn thấy, mắt trần thì không nhìn thấy được. Chiếc Hồng Quán mà mắt trần của mọi người nhìn thấy là do Thượng sư Trịnh Dư Tín mua cho tôi đó. Bởi vì Thượng sư Trịnh thấy chiếc mũ đó cũng tương đối rẻ. Kì thực, chiếc Hồng Quán đó là một chiếc mũ thô sơ nhất trong số mũ miện Ngũ Phật. Chiếc mũ Ngũ Phật đó đội lên trông trang nghiêm nhất, đẹp nhất, nhưng cũng lại là chiếc mũ vừa rẻ nhất vừa thô sơ nhất. Tuy vậy nói thật lòng, chiếc mũ Ngũ Phật đó tôi vẫn chưa dám đội. Chiếc mũ Ngũ Phật quý giá nhất là chiếc mũ vô hình hiện đang ở chỗ của Di Lặc Bồ Tát. Nó có lúc thì ở chỗ của Sư Tôn, có lúc thì lại bay trở về chỗ của Di Lặc Bồ Tát.

Tiếp đến, chúng ta nói về Tịnh Trú Thế Giới. Nơi này tôi chưa đến. Tôi cũng chưa đến Pháp Ý Thế Giới. Những nơi này sau này tôi đi về rồi sẽ nói sau.

Tiếp theo là Mãn Nguyệt Thế Giới, tôi đã đến rồi. Vào ngày rằm chính là lúc trăng tròn nhất, mọi người đều có thể nhìn được. Trước đây vào buổi tối hôm rằm, chúng tôi đo trắc lượng thiên văn "nguyệt yểm tinh quan trắc", đây là một thuật ngữ trong ngành trắc lượng. Nguyệt yểm tinh quan trắc chính là sử dụng một loại dụng cụ đo đạc cao cấp. Khi ánh trăng chiếu vào bên trong khí cụ thì sẽ xuất hiện tại đĩa thủy tinh bên trong một vòng tròn. Đó chính là việc quan sát nguyệt yểm tinh, chúng tôi nhìn được rất rõ ràng. Đây chỉ là một cách gọi, không thể dịch ra được! Thế giới đó chính là của Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, thế giới của Phật Dược Sư. Đương nhiên tôi đã đến rồi, vì ngài là một trong bát đại bổn tôn mà!

Mặt trăng có lúc màu trắng, có lúc màu lưu ly, có lúc màu xanh lam, mọi người đã từng nhìn thấy mặt trăng màu lam chưa nhỉ? Trước đây chúng ta có một bài hát tên gọi là "Bé trăng giống quả chanh", thế thì quả chanh là màu lam sao?

Bởi vì thế giới của Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật rất nhiều màu lưu ly, hơn nữa lại tròn như mặt trăng, giống như mặt trăng tròn đầy, biểu thị rằng ở nơi đó tất cả mọi thứ đều vô cùng thanh tịnh, vô cùng viên mãn, hơn nữa lại sáng rực rỡ. Một thế giới như vậy tất là thế giới của Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật.

Tiếp đến là Diệu Hỷ Thế Giới. Tôi đã đến đây rồi, đây là thế giới của A Súc Phật. Thế giới của A Súc Phật tất cả đều cực kì vui vẻ, mỗi người sống ở đó đều vô cùng vui vẻ, thỏa mãn, không hề có tranh đấu. Đây chính là một thế giới không có sự ganh đua. Mỗi vị Bồ Tát, mỗi vị Phật khi gặp nhau đều tràn đầy pháp hỷ. Đồ ăn đồ uống ở thế giới này rất kì lạ, các vị đều lấy pháp hỷ của thiền định làm thức ăn. Pháp hỷ của thiền định thì ăn thế nào đây? Sau này các bạn đến thế giới này sẽ biết thôi.

Tiếp theo là Diệu Viên Thế Giới, tôi chưa đi tới đó.

Tiếp nữa là Hoa Tạng Thế Giới, các bạn đọc trong kinh điển đều thấy có nhắc đến, Hoa Tạng Thế Giới trùng trùng vô tận, quang hoa của thập phương thế giới đều ẩn giấu ở đây, vậy nên gọi là Hoa Tạng Thế Giới. Tôi chưa từng lưu lại ở thế giới này, chỉ đi ngang qua, nghĩa là chỉ đi ngang qua đường mà thôi.

Còn Chân Như Thế Giới là thế giới của Bất Không Phật, tôi chỉ nghe nói đến, chưa từng đến đó. 

Viên Thông Thế Giới chính là thế giới của Quan Thế Âm Bồ Tát, thế giới của Quán Tự Tại Như Lai.

Tiếp theo, kể từ hôm nay về sau, chính là kể từ lúc tôi đang giảng này trở về sau sẽ xuất hiện Chân Phật Thế Giới. Xin hỏi mọi người, Chân Phật Thế Giới này là nơi như thế nào? Đó chính là thế giới của Liên Hoa Đồng Tử (Liên Hoa Bồ Tát), là thế giới của chính bản thân ngài, chính là Ma Ha Song Liên Trì.

Vì sao chúng ta cần nói đến những thế giới này? Giống như địa cầu của chúng ta cũng là một thế giới, thế giới địa cầu được gọi là thế giới Ta Bà.

Tôi cảm thấy rất kì lạ, rằng vì sao trong kinh Phật lại gọi toàn bộ địa cầu này là thế giới Ta Bà? Cá nhân tôi cảm thấy, "Ta" được gọi ở đây là để chỉ cát trên mặt đất của chúng ta, do vậy Phật Thích Ca Mâu Ni rất thông minh, ngài nói về thế giới này cần hình dung nó như thế nào? Ngài đưa mắt nhìn, ai chà! Đều là cát, khắp nơi đều là cát, bởi vậy nên đây là thế giới của cát. Còn chữ "Bà" này thì tôi chẳng nghĩ ra được, có lẽ Phật Thích Ca Mâu Ni thường thấy trên thế giới này rất nhiều người, mỗi người đều cực kì ngu muội (gọi là ngu muội chính là ngu si ngốc nghếch vậy), lại cũng không muốn tu hành, bảo họ tu hành thì rồi cũng chẳng biết họ đang làm cái gì nữa. Nói với họ rằng Tây phương Cực Lạc thế giới tốt như thế, họ cũng nghe không hiểu, vừa điếc vừa câm, vừa run lẩy bẩy, vừa ngu si vô tri, cũng chẳng khác gì bà lão già yếu.

Cuối cùng thì tôi cũng hiểu ra rồi. Hóa ra Phật Thích Ca Mâu Ni nhận thấy thế giới Ta Bà này khắp nơi là cát, con người ở đây thì đều giống như những bà lão già nua vô tri ngu muội, do vậy nên mới gọi là thế giới Ta Bà.

Thế còn Tối Thắng Thế Giới và các thế giới khác đương nhiên không phải tồn tại ở thế giới Ta Bà hay toàn bộ địa cầu chúng ta đâu. Tuy nhiên:
Hai chữ Tối Thắng chính là đệ nhất.
Hai chữ Diệu Bảo là pháp bảo vi diệu.
Hai chữ Viên Châu chính là quang minh viên mãn.
Hai chữ Vô Ưu chiníh là không có phiền não.
Hai chữ Tịnh Trú chính là thế giới hoàn toàn thanh tịnh.
Hai chữ Pháp Ý chính là ý thức Phật pháp tràn đầy.
Hai chữ Mãn Nguyệt là lưu ly tròn đầy.
Hai chữ Diệu Hỷ chính là pháp hỷ vi diệu tràn đầy.
Hai chữ Diệu Viên chính là viên mãn vi diệu.
Hai chữ Hoa Tạng chính là thế giới hoa sen trùng trùng điệp điệp vô tận.
Hai chữ Chân Như, Chân chính là hoàn toàn chân thực, Như là Như Lai.
Hai chữ Viên Thông chính là thập phương pháp, thập phương Phật, thập phương tăng toàn bộ đều viên mãn, đầy ắp cả thế giới.

Chân Phật chính là thế giới tương lai, là Phật pháp đích thực, chân thực. Trong Phật pháp chân thực này sẽ xuất hiện pháp và tất cả chư Phật, Bồ tát chân thực, tất cả đều ở trong thế giới này.

Chúng ta lại giảng tiếp một đoạn nữa: 
“Thế là Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác cùng chư Thánh chúng nghe Thánh Tôn khai diễn Chân Phật Thế Giới. Biết được sự cát tường, thiện thệ, đại bi, nhân quả của quá khứ - hiện tại - vị lai, là do Thánh Tôn vì chúng sinh hóa thân thị hiện. Ai nấy hoan hỉ chưa từng có…”

Đoạn văn này nói rằng tất cả chư Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác, còn có tất cả thiên chúng ở tại Ma Ha Song Liên Trì, bao gồm hai mươi tám cõi trời, ba mươi ba cõi trời, nghe được Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử đang giảng về toàn bộ Chân Phật Thế Giới, thế là họ liền biết được đây là pháp duyên rất vĩ đại của quá khứ, hiện tại, vị lai.

Cát tường thiện thệ đại bi nhân quả:
Chúng ta nói về hai chữ cát tường trước. Rất nhiều người khi nhận được thư trả lời của Sư Tôn đều thấy trong thư viết hai chữ “cát tường”. Cát tường có nghĩa là sao? Nghĩa là tốt nhất, lành nhất, so với những thứ tốt đẹp nhất vẫn còn tốt đẹp hơn thế, nói cách khác là không có gì tốt đẹp hơn sự cát tường này cả.

Thế nào là thiện thệ? Từ thiện thệ này rất khó giải thích. Trước đây, tôi đặc biệt vì hai chữ thiện thệ này mà đã tham khảo các kinh điển Phật giáo, rồi tra cả từ điển, đây chính là một danh hiệu của Phật, nghĩa là cái chết rất tốt lành. Thiện chính là tốt lành, thệ chính là qua đời. Ôi chà! Nếu mà căn cứ theo từng chữ mà giải thích như vậy thì không hẳn đâu! [Cần hiểu] Thiện Thệ chính là một trong mười danh hiệu của Như Lai, nghĩa là tất cả mọi thứ đều tốt lành.

Mọi người lại nghĩ không ra, sao có thể như vậy được nhỉ? Trong số mười danh hiệu của Như Lai lại có cái chết tốt lành sao? Tôi nói cho mọi người biết, điều này là thật đó. Một điều vui nhất trong đời người chính là khi nên chết thì chết, khi nên sống thì sống. Vì thế ở đây, khi Như Lai xuất hiện là vừa đúng lúc, khi ngài đi cũng là đúng lúc, vậy mới chính là Như Lai đó! Khi ta cần đến thì đến, khi cần đi thì đi, vừa hay khi mọi người muốn mời khách đến thì ngài đến, vừa ngay khi sắp xảy ra chiến tranh thế giới thì ngài đi, ngài chẳng muốn làm lính. Tôi nói cho mọi người biết, hai chữ này không hề đơn giản chút nào!

Chúng sinh trên đời này chẳng ai có thể Thiện Thệ, chỉ có Như Lai mới có thể Thiện Thệ, ngài biết rằng thế giới hiện tại không có Phật pháp, thời điểm nên đến thì ngài đến, còn khi rất nhiều Như Lai đều đến thế giới này rồi thì ngài không cần phải đến nữa, thế nên sẽ không đến. Bởi thế nên một trong số mười danh hiệu lớn của Phật chính là Thiện Thệ. Do đó, ngày hôm nay Sư Tôn có thể ở đây thuyết pháp cũng chính là thiện thệ. Cái chữ "thệ" này đại diện cho sự sinh ra và chết đi một cách đúng lúc, ở đây có mấy ý nghĩa như vậy.

Tiếp theo, nói về đại bi nhân quả. Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử hạ sinh tại thế giới Ta Bà này đều có nguyên nhân, có quả, do vậy mới gọi là nhân quả. Thế nào gọi là đại bi? Nghĩa chính là đại từ đại bi đó. Ở một nơi tốt đẹp như vậy mà ngài không ở, lại đến ở nơi bẩn thỉu này. Bạn cho rằng Sư Tôn lái xe Rolls Royce thì tâm trạng rất vui phải không? Kì thực khi trông thấy đồng hồ đo xăng này, khi thấy xăng bị tiêu thụ lãng phí, trong lòng tôi thấy rất xót xa! Tôi lại nghĩ đến tòa sen trắng mà tôi ngồi ở tại Ma Ha Song Liên Trì, muốn đi đâu là có thể tới đó, làm gì có chuyện xe chảy xăng với xe chảy nước.

Hoa sen thì chẳng thể nào chảy dầu rồi, cũng chẳng chảy nước, cũng chẳng cần bơm xăng, cũng không cần tốn chi phí gì cả, chỉ cần chuyển suy nghĩ một cái là hoa sen có thể bay đến nơi khác. Chính vì thương xót chúng sinh trong thiên hạ, chính vì có "đại bi nhân quả" này, do vậy mới "thiện thệ" - sinh ra tại nơi đây, và cũng ra đi tại nơi đây. Nói tóm lại, bởi vì "Thánh Tôn vì chúng sinh hóa thân thị hiện", đại bi nhân quả như vậy là vô cùng thù thắng, thế nên rất nhiều vị Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác, cùng ba mươi ba thiên chủ, hai mươi tám thiên chúng nghe được sự thuyết pháp như vậy, ai nấy đều vô cùng hoan hỉ, biết rằng việc này trước nay chưa từng có.

Vốn dĩ trước nay chưa từng có sự việc như vậy. Trước đây ai đã nói về Ma Ha Song Liên Trì? Trước đây ai đã nói về mười tám vị Đại Liên Hoa Đồng Tử? Căn bản là không có! Vậy thì Sư Tôn "không có" mà làm ra "có" ư? A, không phải là "không có" mà làm ra "có", nói vậy là sai rồi! Là từ cái vô hình biến thành cái hữu hình, cái vô hình biến thành cái hữu hình chính là từ Không làm ra Có đó!


🌟


Tôi đích thực là đến từ Ma Ha Song Liên Trì, cần phải thề thế nào mọi người mới tin đây nhỉ? Kì thực tôi có thề thế nào mọi người cũng đều chẳng tin! Người nào tin thì sẽ tin, người nào không tin thì vẫn cứ không tin, do vậy độ chúng sinh rất khó! Chính vào buổi tối của cái ngày mà tôi được Diêu Trì Kim Mẫu mở thiên nhãn đó, tôi đã được du hành vào thế giới hư không rộng lớn, đích thực thấy Ma Ha Song Liên Trì, hơn nữa còn có Phật Bồ tát nói bên tai tôi rằng: "Vị kia chính là Liên Hoa Đồng Tử."

Tôi nhìn thấy vô cùng rõ ràng chân thực. Buổi tối hôm đó, tôi thực sự nghe thấy, thực sự nhìn thấy. Tôi đã đi gặp rất nhiều người xuất gia, hỏi han rất nhiều lão hòa thượng tu pháp, đại pháp sư, tôi kể với các vị nghe, họ đều nói những gì tôi kể là lời ma quỷ, thế thì tôi chịu rồi. Tôi đích thực nhìn thấy, đích thực nghe thấy, vậy phải làm sao đây? Phật Bồ tát còn muốn tôi sau này phải độ rất nhiều chúng sinh nữa.

Trước đây, trước cuốn sách số 16, tôi sáng tác văn nghệ, thơ tình, tản văn, tiểu thuyết. Từ cuốn số 16 trở đi, tôi mới bắt đầu đổi sang viết về đạo và Phật. Có một số người nói: "Lư Thắng Ngạn này có mục đích bất lương, hắn ta có lẽ có ý đồ gì đó, nên mới thêu dệt thế giới về Liên Hoa Đồng Tử, sau đó đi lừa bịp chúng sinh trong thiên hạ."

Tuy nhiên, hôm nay tôi nói thẳng với mọi người: "Những gì ngày hôm đó Sư Tôn nhìn thấy và nghe thấy, thực sự hoàn toàn không có một câu nào giả dối." Bởi vì mọi người [ở đây] đều tin tưởng tôi, nên tôi không cần thề trước mặt mọi người nữa nhé! Nhưng câu nói thành thật này khi tôi nói trước nghìn người vạn người và đưa ra lời thề, lời thề cho dù rất nặng, hoặc thề một cách nào đó, thì người không tin vẫn cứ không tin, thế nên tôi thực sự cũng chẳng có cách nào cả! Bởi thế, pháp này vô cùng khó có được, vô cùng thù thắng! Sau này, vì mục đích thảo luận về sự chân thực không hề hư giả của thế giới của Liên Hoa Đồng Tử, về thế giới Ma Ha Song Liên Trì, tôi nhất định còn phải biểu diễn vài trò hay cho mọi người xem! Mấy trò hay này có thể là tôi làm cho đồ gì đó biến mất, rồi biểu diễn thêm mấy trò thần biến, rồi mấy trò biến hóa thần kì, nhưng không phải là ảo thuật.

Như thế ở thế giới hiện tại này phải để mọi người đích thân nhìn thấy thì mọi người mới tin, còn chỉ dùng ngôn ngữ và văn chương để khiến mọi người có thể tin bạn thì vô cùng khó khăn! Trước đây mẹ tôi đã từng nói: "Cho dù có phanh ngực của con ra, lấy tim của con ra cho mọi người xem, thì người ta vẫn sẽ còn ghê tởm mùi máu tanh."

Bây giờ tôi chỉ có thể nói với các bạn thế này, tôi đã thực sự đích thực đến đó, tôi nhắc lại một lần nữa là: tôi thực sự đã đến. Người nào tin thì có phúc, người nào không tin thì vô duyên. Om mani padme hum.


### 18. Liên Sinh Hoạt Phật giảng Chân Phật Kinh (10)


**Kinh văn:**

"Thánh Tôn đại từ bi.
Vô thượng bí mật tôn.
Quá khứ sớm tu chứng.
Giới siêu phàm thoát tục.
Nay lập Chân Phật Giới.
Xót thương chư chúng sinh.
Hóa thân làm giáo chủ.
Hạ giáng cõi Ta bà.
Lành thay hiệu Liên Sinh.
Vì chúng sinh quảng thuyết.
Chúng con đều đã nghe.
Nguyện sẽ đại hộ trì."

Thánh tôn đại từ bi:
Tôi giải thích ba chữ "đại từ bi" trong câu thứ nhất "Thánh Tôn đại từ bi". Gọi là "đại từ" cũng chính là sự cứu độ quảng đại vô lượng. Vì sao bạn lại không nói là "tiểu từ bi"? Cũng có "tiểu từ bi" đấy [sự ích kỉ], con người bình thường, đại bộ phận con người, đại bộ phận chúng sinh đều chỉ có tiểu từ bi. Ví dụ, người nọ phát hiện ra ở nơi kia dễ kiếm tiền, anh ta liền một mình đi tới đó kiếm tiền, không nói cho người khác biết. Ví dụ Thượng sư Triệu Thiếu Đông, bây giờ ông ấy đang làm *agent **[môi giới]*, nơi nào dễ kiếm tiền, ông ấy sẽ không nói cho agent thứ hai biết, không nói cho agent thứ ba biết, ông ấy làm ăn kinh doanh như vậy cũng có lý của ông ấy, nếu như ông ấy để cho người khác biết tin tức tốt, thông tin hay, vậy thì ông ấy còn kiếm được gì, uống được gì, ăn được gì đây?

Thế còn, vì sao lại gọi là Thánh Tôn "đại từ bi"? Tôi biết một phương pháp tu hành có thể đến được Ma Ha Song Liên Trì ở Tây phương Cực Lạc thế giới, tôi đã biết, hơn nữa tôi còn biết có một nơi như thế thì một mình tôi đi tới đó là được rồi, hà tất phải nói cho mọi người làm gì. Tôi nói một câu tương đối thực tế. Đồ ăn ở nơi đó ăn bất tận. Sau đó thì sao, nói một điều rất thực tế nữa, đó là cung điện ở nơi đó vô cùng đẹp, người phục vụ bạn ở đó có rất nhiều, rất nhiều, tôi một mình đi tới đó là được làm vua. Chính bản thân tôi biết điều này, nhưng tôi không giấu cho riêng mình, mà tôi nói cho mọi người về nơi này, về pháp này để mọi người đều biết và có thể đi tới đó, đây gọi là đại từ bi.

Tôi không cho rằng Ma Ha Song Liên Trì này là của riêng tôi, không ai được đến cả, không giống như một số các Thượng sư ngày nay. Kiểu như tôi chiếm vùng phía nam, anh chiếm vùng phía bắc, nếu Thượng sư ở nam bộ chạy tới bắc bộ, như vậy là xâm nhập vào địa bàn của anh rồi, Thượng sư ở bắc bộ của anh chạy tới vùng nam bộ của tôi thì cũng xâm nhập vào địa bàn của tôi. Nơi của anh thì thuộc về Thượng sư ở nơi đó quản, đệ tử ở đó chạy tới bắc bộ thì coi như là gián điệp. Đệ tử ở bắc bộ chạy tới trung bộ để đồng tu thì cũng bị nói là gián điệp! Do vậy, kì thực, đệ tử Chân Phật Tông không nên phân biệt lẫn nhau, mọi người đều cần phải có lòng từ bi, không thể chỉ có "tiểu từ bi" được.

Đừng chỉ có chăm chăm lo cái đỉnh núi của ta, thức ăn ở nơi đây là của ta thu thập, có ai từ nơi khác đến thì lại xem như là xâm nhập vào địa bàn của ta, hơn nữa xem họ tới nơi đây để cắt xén thóc gạo của ta. Do vậy, người học pháp tu hành chúng ta cần có tâm đại từ bi, không thể giống như đại chúng trong xã hội chỉ có tiểu từ bi, tấm lòng tiểu từ bi cũng chính là lòng ích kỉ, "Thánh Tôn đại từ bi" được nói đến ở đây chính là có ý nghĩa như vậy.

Vô thượng bí mật tôn:
Câu thứ hai nói rằng "vô thượng bí mật tôn". Tình hình hiện tại càng ngày càng thể hiện rõ hai chữ "vô thượng" của tông phái chúng ta. Thế nào gọi là "bí mật tôn"? Kì thực, tôi chính là bí mật tôn đây! Từ rất rất lâu trước đây tôi đã biết những sự tình kiếp trước của mình. Thế nhưng khi tôi còn ở Đài Loan, tôi luôn luôn không nói ra những bí mật kiếp trước của mình. Sau khi tôi đến nước Mỹ thì tôi mới nói ra những bí mật này trong sách. Bởi vì trước đây tôi không nói, bây giờ mới nói, nên bí mật trước đây đến bây giờ đã không còn là bí mật nữa rồi, hiện nay tôi càng ngày càng được người ta tôn sùng, đây chính là một dạng biểu trưng vô thượng.

Quá khứ sớm tu chứng:
Câu nói "quá khứ sớm tu chứng" cũng có nghĩa là từ rất lâu trong quá khứ đã vốn là Phật rồi! Quá khứ đã thành Phật rồi, rất nhiều kiếp trước đã thành Phật rồi.

Chính tôi biết rằng, đời quá khứ của Sư Tôn rất thân cận với Đại Nhật Như Lai - Tỳ Lô Giá Na Phật, cũng rất thân cận với Phật Nhãn Phật Mẫu, với A Di Đà Phật lại càng giống như mối quan hệ cha con, có vẻ như càng nói ra thì lại càng huyền bí. Phật Thích Ca Mâu Ni cũng không khác gì anh em với tôi, còn Di Lặc Bồ Tát thì sao? Ngài chính là bác của tôi. Còn Liên Hoa Sinh Đại Sĩ thì sao? Nói thẳng là giữa ngài và tôi chẳng hề phân biệt! Vì thế nói tóm lại, các vị đều giống như người thân họ hàng của tôi, điều này chính là "quá khứ sớm tu chứng".

Chư vị đừng cho rằng Sư Tôn lại tự cao tự đại rồi. Bình thường tôi đều rất khiêm tốn, thế mà bây giờ càng nói lại càng nghe rất to tát. Kì thực, các bạn cũng vậy thôi, nếu mỗi người tu hành, một khi đã khai ngộ rồi, thì đều trở thành họ hàng thân thiết với Phật Bồ Tát cả, các bạn cũng như vậy thôi!

Bởi vì quá khứ đã sớm tu chứng rồi, nên hiện tại tôi cũng đã rời xa mọi dục vọng của thế gian, vượt lên trên khỏi thế giới Ta Bà. "Nay lập Chân Phật Giới", ý nghĩa của "Chân Phật Giới" này chính là biến Ma Ha Song Liên Trì thành Chân Phật Thế Giới, vì thế lại càng đồng cảm vô cùng với chúng sinh hữu tình tại thế giới Ta Bà.

Hóa thân làm giáo chủ:
Rất nhiều người chỉ vì câu tiếp theo này mà đến hỏi tôi thế nào là "hóa thân làm giáo chủ", họ nói: "Sư Tôn chẳng phải là chủ của tông phái sao? Sao lại vừa là giáo chủ vừa là tông chủ? Làm họ chẳng hiểu gì cả!" Rất nhiều người e sợ hai chữ "giáo chủ" này, bởi vì Phật Thích Ca Mâu Ni chính là giáo chủ của Phật giáo! Nếu bây giờ tôi là giáo chủ, chẳng phải là gạt Phật Thích Ca Mâu Ni qua một bên sao, bởi vì giờ chính tôi làm giáo chủ mà! 

Tôi giải thích với họ như sau, tôi giải thích thế này: Phật Thích Ca Mâu Ni là giáo chủ của thế giới Ta Bà, còn như giáo chủ của Tây phương Cực Lạc thế giới chính là A Di Đà Phật, Ngũ Phật của năm phương đều là giáo chủ. Thế còn, giáo chủ của Chân Phật Thế Giới tương lai là Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử, ngài là giáo chủ của Chân Phật Thế Giới.

Bởi vậy, phần trước đã viết về rất nhiều thế giới, và kì thực, mỗi thế giới đều có một vị giáo chủ. Tối Thắng Thế Giới, Diệu Bảo Thế Giới, Viên Châu Thế Giới, Vô Ưu Thế Giới, Tịnh Trú Thế Giới đều có giáo chủ. Giáo chủ của Ta Bà Thế Giới chính là Phật Thích Ca Mâu Ni. Đó không phải là tôi muốn đoạt ngôi vị đâu, mọi người không cần phải căng thẳng! Rất nhiều người rất căng thẳng, bao gồm cả đệ tử tông phái chúng ta và đệ tử các tông phái khác, dường như cho rằng Lư Thắng Ngạn muốn làm giáo chủ của Thế Giới Ta Bà, thế thì Phật Thích Ca Mâu Ni tính sao đây?


Lành thay hiệu Liên Sinh:
"Lành thay hiệu Liên Sinh", “liên sinh” chính là hóa sinh từ hoa sen đó! “Lành thay” nghĩa là rất tốt, pháp hiệu của ngài chính là có ý nghĩa hóa sinh từ hoa sen.

"Vì chúng sinh quảng thuyết" nghĩa là bắt đầu vì chúng sinh trong thiên hạ mà tới để hoằng dương Phật pháp, tuyên thuyết rộng khắp Chân Phật Mật Pháp. Những ai đến nghe pháp hiện tại đều đã nghe được rồi. Do vậy, họ mới nguyện rằng sẽ vì Chân Phật Thế Giới này, vì Chân Phật tông phái và vì Chân Phật Mật Pháp mà sẽ đến để làm công tác "đại hộ trì".
Hôm nay tôi giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.


### 19. Liên Sinh Hoạt Phật giảng Chân Phật Kinh (11)


**Kinh văn:**
"Lúc bấy giờ, Thánh Tôn Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử nói với đại chúng: Tu hành lấy vô niệm làm chính giác Phật bảo. Lấy thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh làm Pháp bảo. Lấy Chân Phật Thượng sư làm Tăng bảo."

Bàn về tâm từ bi:
Tuần trước chúng đã đã nói đến đại từ bi và tiểu từ bi. Chúng ta nói chuyện rằng Thượng sư Thiếu Đông trên phương diện làm kinh doanh thì là tiểu từ bi, bởi vì khi ông ấy làm môi giới, biết được tin tức tốt sẽ không nói ra, thế nên công việc môi giới của ông ấy đặc biệt tốt! Do đó tối hôm nay ông ấy mới đến muộn như vậy! Tuy nhiên tôi xin bổ sung thêm một chút, đó là Thượng sư Thiếu Đông của chúng ta cũng có đại từ bi.

Trước đây khá lâu, tôi một mình lái xe tới Vancouver, ngày hôm trước lái xe đi, ngày hôm sau đã lại lái xe về. Có thể là do tinh thần tôi cực kì tập trung cho nên tròng mắt tôi có chút bất động, lưng thì giữ thẳng quá nên sau khi trở về thì lưng và eo của tôi bị đau. Tôi đã từng bị đau dây thần kinh ở vùng này, đau mất hai, ba tiếng, bởi vì thời gian lái xe đi mất ba tiếng, lái về mất ba tiếng nữa, tổng cộng là sáu tiếng, cũng xem như là một chặng lái xe dài.

Thượng sư Thiếu Đông của chúng ta trên phương diện tinh thần hoằng pháp thì có đại từ bi. Bạn nghĩ mà xem, mỗi tối thứ bảy, ông ấy lái xe suốt ba tiếng để đến Lôi Tạng Tự làm phiên dịch, phiên dịch xong, ông lại lái xe ba tiếng trở về Vancouver. Ở đây chúng ta có rất nhiều đệ tử đến từ Vancouver, họ cũng như vậy, mỗi lần đều lái xe ba tiếng tới đây rồi lại lái xe ba tiếng trở về, việc này không hề đơn giản. Nếu không có tâm từ bi lớn, hoặc tâm hoằng pháp, hoặc tâm muốn nghe pháp, thì không thể làm được. Ví dụ như Phật đường Bồ Đề ở Vancouver, tôi vẫn chưa từng đến tham gia đồng tu của họ lần nào, một lần cũng chưa, bởi vì tôi ngại phải lái xe tận ba tiếng đồng hồ, rồi lại lái xe ba tiếng để trở về, do vậy, trên tinh thần hoằng pháp mà nói thì Thượng sư Triệu thực sự là đại từ bi.

Nghĩ xem, trên đường đi vào buổi tối thì cũng chẳng ngắm được phong cảnh gì, chỉ là một màn đêm dày đặc mà thôi! Có thể nhẫn nại lái xe trong màn đêm ba tiếng đồng hồ để trở về, về đến nhà thì đã quá nửa đêm rồi, không chỉ một lần, hai lần, mà là cả năm nay rồi. Về điểm đó thì tôi thua rồi! Do đó, tôi rất cảm ơn họ đã đến đây, chính là những đệ tử ở Vancouver đó, họ có thể vội vã đến đây rồi trở về, trong lòng tôi thực sự vô cùng cảm động.

Bây giờ chúng ta đọc một đoạn Chân Phật Kinh: "Lúc bấy giờ, Thánh Tôn Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử nói với đại chúng: Tu hành lấy vô niệm làm chính giác Phật bảo. Lấy thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh làm Pháp bảo. Lấy Chân Phật Thượng sư làm Tăng bảo." 

Đoạn kinh văn này, tôi đã từng giảng tại một trung tâm hội nghị ở góc phía bắc của Hồng Kông rồi, nhưng hôm nay tôi giảng lại từ đầu một chút. Đoạn văn này chính là một đoạn quan trọng nhất trong toàn bộ Chân Phật Kinh, cũng chính là tinh hoa của cả bản kinh này. Mỗi hành giả Chân Phật chỉ cần thực hiện đúng được như đoạn này thì đã thành Phật rồi. Đoạn văn này chính là bí mật của toàn bộ Chân Phật Kinh. Nhưng cũng không thể nói rằng có đoạn văn này rồi thì phần trước không cần nữa, phần sau cũng không cần nữa. Tôi bảo mọi người đọc Chân Phật Kinh một nghìn biến, thì mọi người không đọc phần nào khác, chỉ đọc mỗi đoạn này, thế thì sẽ rất nhanh hoàn thành xong một nghìn biến Chân Phật Kinh. Nhưng hôm nay tôi nói với các bạn, chỉ cần mọi người làm theo được như những gì bạn đọc tụng, tinh thần phù hợp được đúng như đoạn văn này, thì bạn đã là một Chân Phật chân chính rồi, vô niệm chính là “chính giác Phật bảo”.

Lấy vô niệm làm chính giác Phật bảo:
Thượng sư Thường Nhân từng hỏi tôi: "Vì sao rất nhiều công án Thiền tông đều rất khó hiểu?" Ví dụ có một thiền sư nọ ngồi trước một đoạn thân tre, ông ta cứ ngẫm nghĩ về một vài câu hỏi. Lúc này, đột nhiên có một âm thanh "póc" vọng đến. Khi đoạn tre nứt ra thì kêu "póc" một tiếng, ngay lúc đó thiền sư liền khai ngộ. Nghe thấy âm thanh này ngài liền khai ngộ luôn.

Có rất nhiều thiền sư ngồi thiền trong rừng. Bỗng nhiên một chiếc lá từ trong không trung rơi xuống, họ liền giác ngộ luôn. Ngồi thiền trong rừng, đột nhiên có chiếc lá từ trong không trung rơi xuống, nhìn thấy lá rơi xuống, rơi trên mặt đất, "soạt" một tiếng, thế là giác ngộ liền. Có thiền sư thì chạy bạt mạng, cứ chạy mãi, chạy mãi không ngừng, rồi đột nhiên, chân khuỵu xuống, cả người đổ sập xuống, "bộp" một tiếng, đầu đập xuống đất một cái, thế là liền giác ngộ. Hoặc như đại thiền sư thấy tiểu thiền sư vẫn chưa khai ngộ, liền lấy một cái gậy, rồi gõ vào đầu một cái như thế này, thế là tiểu thiền sư liền giác ngộ! Nếu những chuyện như thế này mà có thể khiến giác ngộ được thì mọi người đều sẵn lòng làm. Đợi một chút đến khi tỉnh ngộ rồi thì mọi người lại nói: *"Master go to the court, I suit you in the court." **[Sư Tôn mau ra tòa, tôi kiện thầy ra tòa.]* A! Mọi người đều cùng kiện tôi.

Kì thực, ở đây chỉ có một chữ thôi! Sư Tôn sẽ nói về bí mật của công án thiền tông, mọi người hãy ngoáy tai cho thật sạch và nghe cho cẩn thận, không có gì kì lạ cả, nói ra thì chẳng còn một xu giá trị. Còn nếu không nói ra thì tôi sẽ bảo mọi người nghĩ trong ba năm, chỉ một chữ thôi, đó là "dừng". Đó chính là bảo bạn "dừng lại". Bạn cứ nghĩ, nghĩ rất lâu cũng chẳng nghĩ ra gì, rồi đột nhiên, tiếng cây tre nứt "póc" một tiếng, âm thanh này chính là bảo bạn: "Này! Ây! Đừng nghĩ nữa, không cần nghĩ." Lão thiền sư đi đi lại lại, ngã đánh "bộp" một tiếng, ui chà, đây cũng chính là "dừng". Sư Tôn lấy cây gậy đánh vào đầu bạn, các bạn đều ngất xỉu, rồi bất tỉnh, đây cũng chính là "dừng". Sao lại thế? Vì sao mà cái sự "dừng" này lại có thể làm khai ngộ được? "Dừng" chính là bảo bạn đừng nghĩ nữa! Đừng nên có suy nghĩ nữa! Không suy nghĩ nữa chính là đang ở trong "vô niệm".

Vừa nãy chúng ta ở bên đó nhập tam ma địa là nhập vào tam ma địa nào? Khi nãy mọi người nhập tam ma địa rồi, thế bạn có nghĩ là tam ma địa nào không? Mọi người nghĩ thử xem! Tam ma địa ẩm thực chăng? Tam ma địa đồ ăn ngon chăng? Tam ma địa sắc đẹp chăng? Tam ma địa tiền bạc chăng? Tam ma địa thời trang chăng?

Nếu hôm nay Sư Tôn mặc quần áo mới, khi ngồi thiền lại cứ nghĩ đến bộ quần áo mới của mình, thì sẽ nhập vào tam ma địa quần áo mới. Hoặc như có người lợi dụng lúc Sư Tôn đang thuyết pháp mà lén đi vào, thì tam ma địa này lại càng phức tạp hơn.

Muốn khai ngộ được thì cần nhập tam ma địa, và chỉ có một chữ thôi, đó là bạn phải "dừng", dừng lại tất cả niệm tưởng của bạn, dừng hết mọi suy nghĩ thì mới có thể đạt đến trạng thái không còn niệm tưởng gì nữa.

Tam ma địa chân chính là không nghĩ thiện, không nghĩ ác, vô trú, vô niệm. Tôi nói cho mọi người biết, chân tâm chân chính của vũ trụ chính là vô niệm. Bạn đến được trạng thái vô niệm thực sự rồi thì tâm của bạn mới là vô cùng tận, tâm của bạn lúc này mới hợp với tâm của trời đất.

Sư Tôn thường đi giúp đỡ người khác, hoặc nửa đêm du hành (nửa đêm du hành không phải là chạy ra ngoài đi chơi đâu nhé, mà là xuất linh hồn ra khỏi thân), để đi giúp đỡ các đệ tử và những người cần giúp đỡ. Có đôi lúc một buổi tối phải giải quyết tới ba nhiệm vụ, do đó khi trở về thì rất mệt, nếu mà bị mệt như vậy thì phải làm sao đây? Chỉ có thể dựa vào cách nhập tam ma địa mà thôi.

Giả sử bạn có thể tu hành đến mức vô niệm, có thể dừng lại tất cả mọi niệm tưởng của mình, lập tức sẽ có dòng chảy pháp của vũ trụ đổ ào xuống đầu bạn, gần giống như được sạc pin vậy. Vốn dĩ thân thể của bạn cần phải tốn rất nhiều sức để đi giúp đỡ người khác, dùng hết rất nhiều sức, nhưng sức mạnh của vũ trụ lại tiếp thêm vào thân thể bạn, đi vào trong thân thể bạn, thì bạn giống như cục pin khô kiệt lại được sạc đầy, khiến bạn có thể tiếp tục đi cứu giúp người khác.

Giả sử khi tu hành, bạn không thể đạt đến trạng thái vô niệm, hơn nữa nếu bạn thường xuyên đi cứu giúp người khác, tới khi đồng tu tại đây lại càng không được ngủ gật, thế nên bạn sử dụng cạn kiệt sức của mình mà không có sự bù đắp lại. Ban ngày cũng muốn ngủ, buổi đêm cũng muốn ngủ, thậm chí khi lái xe cũng buồn ngủ, bất cứ lúc nào, kể cả khi bạn đứng cũng có thể ngủ được, ngồi cũng có thể ngủ được, cứ như vậy lúc nào cũng có thể ngủ được hết, như vậy thì chẳng thể có được sự vô niệm của việc tu hành. Bạn sẽ cảm thấy tinh thần của chính mình vô cùng mệt mỏi, dù có luôn bổ sung lại cũng vẫn không đủ!

Mỗi một ngày, chỉ cần bạn có vài phút ở trong trạng thái vô niệm thì bạn đã có thể phục hồi lại tinh thần của mình. Khi tâm của bạn ở trạng thái vô niệm, tâm của bạn khi đó chính là vô lượng tâm, chính là bồ đề tâm. Chỉ duy nhất khi ở trạng thái vô niệm thì mới là lúc thanh tịnh nhất, không hề có chút ô nhiễm. Chỉ duy nhất khi ở trạng thái vô niệm thì mới gọi là thực sự đạt đến bến bờ bên kia của Phật, hơn nữa còn đạt được chính giác, có được trí huệ của Phật và tất cả định lực, tất cả đều nằm trong trạng thái vô niệm.

Nói cho mọi người biết nhé, "dừng" của thiền định chính là “một”, có thể đạt đến mức độ dừng là đã cực kì phi thường rồi. Lại còn tiến nhập vào không gian “vô niệm”, không gian “vô chỉ tận” thì đây chính là chính giác Phật bảo, chính là thành Phật. Về vấn đề "vô niệm", tôi chỉ có thể nói đến đây thôi, bởi vì nếu nói tiếp nữa thì sẽ vô cùng bí mật, bất khả tư nghì.

Tôi nói cho mọi người biết, khi bạn ở trạng thái vô niệm thì địa cầu này đều sẽ chấn động, các vì sao trên bầu trời đều rơi rụng xuống, Ma Vương đều run sợ, tất cả mọi không gian vũ trụ, thập phương pháp giới, toàn bộ đều phóng tỏa ánh sáng mạnh mẽ. Khi bạn thực sự đạt đến trạng thái vô niệm thì bạn đã sở hữu toàn bộ vũ trụ tối cao, pháp lực lớn nhất, không chỉ là muốn cái gì là có cái đó, mà khi bạn ở trong cảnh giới vô niệm thì mọi vũ trụ, mọi thế giới sẽ đều là của bạn, bởi vì bạn đã thành Phật rồi! Ở bất kì nơi nào cũng đều có thể thấy được bạn! Con người bạn đang "vô niệm" ở Lôi Tạng Tự Seattle, nhưng ở Đài Loan, Malaysia, Indonesia, Philippines, ở bất kì một đất nước nào, chỉ cần có người nghĩ đến bạn thì người đó sẽ nhận được sóng điện của bạn, sẽ lập tức nhìn thấy bạn. Đây chính là chính giác Phật bảo.

Lấy thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh làm Pháp bảo:
Tôi nói tiếp đến: "Lấy thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh làm Pháp bảo." Đây chính là tam mật, ba bí mật về thân khẩu ý. Chúng ta làm thủ ấn, trong lúc làm thủ ấn thì ta có được thân thể thanh tịnh tạm thời. Chúng ta niệm một câu chú “Ôm gu-ru lién-shâng sít-đi hùm” [Om guru liansheng siddhi hum] thì chúng ta tạm thời có được khẩu thanh tịnh. Gõ vào đầu bạn một cái, bảo bạn đừng nghĩ lung tung, thì bạn có được ý thanh tịnh tạm thời.

Người tu hành chúng ta cần phải kéo dài ba sự thanh tịnh thân, khẩu, ý tạm thời này vào trong hành vi đi đứng ngồi nằm của chúng ta. Trong cuộc sống hàng ngày luôn duy trì được ba bí mật này thì như vậy chính là tu hành tam mật hợp nhất. Vào các buổi đồng tu tối thứ bảy của chúng ta thì ta có được ba mươi phút thanh tịnh tạm thời, chính là ba mươi phút thanh tịnh trong lúc đồng tu. Chúng ta cần tu pháp như vậy để có ba mươi phút thanh tịnh tạm thời, đây chính là pháp bảo của chúng ta.

Ví dụ có người hỏi bạn rằng: tối qua bạn ăn cơm với ai, đi chơi với ai, đi dạo với ai, ngủ với ai? Bạn trả lời ra sao? Tôi nói cho bạn biết nhé, bạn cần trả lời rằng bạn ăn cơm cùng Phật, cùng Phật ra ngoài chơi, cùng Phật đi dạo, cùng Phật đi ngủ. Nếu giả sử từng giờ từng phút bạn ở cùng Phật thì chính là bạn đã có được tam mật thanh tịnh, là hiểu được việc tu hành, là bạn đã có được pháp bảo. Giả sử bạn ngủ cùng người khác thì thôi, tôi cũng không quan tâm nữa!

Lấy Chân Phật Thượng sư làm Tăng bảo:
Câu cuối cùng là "lấy Chân Phật Thượng sư làm Tăng bảo". Mỗi Thượng sư của Chân Phật Tông chúng ta đều có thể thu nhận đệ tử, thế nhưng, Thượng sư Chân Phật Tông của chúng ta nhất định cần phải làm được như hai chữ "Chân Phật". Khi tôi quán đảnh cho một người làm Thượng sư, trước đây rất hiếm khi tôi nói một câu nào, nhưng bây giờ tôi cần bổ sung thêm một câu này: "Làm Thượng sư chính là bản thân thành Phật rồi thì lại tiếp tục độ cho chúng sinh thành Phật." 


Thượng sư Chân Phật chân chính chỉ có một con đường này. Ngoài ra vẫn còn một con đường nữa, đó chính là làm Thượng sư nhưng không phù hợp với các điều kiện của Thượng sư Chân Phật, thì sẽ đi vào con đường tới địa ngục Kim Cương, không thành Phật thì sẽ xuống địa ngục Kim Cương, không có con đường thứ ba. Thế nên tôi hy vọng mỗi Thượng sư của Chân Phật Tông đều trở thành Chân Phật Thượng sư chân chính.
Om mani padme hum.


### 20. Liên Sinh Hoạt Phật giảng Chân Phật Kinh (12)


**Kinh văn:**

Thánh Tôn nói với đại chúng:
"Nếu có thiện nam tử, tín nữ tử vào ngày 18 tháng 5 hàng năm, tắm rửa trai giới, mặc y phục sạch sẽ, hoặc vào ngày 18 hàng tháng, hoặc ngày sinh thần của mình ở trước mật đàn, phụng thỉnh hai Phật tám Bồ tát, tụng "Chân Thực Phật Pháp Tiêu Tai Ban Phúc Kinh"  thì cầu gì tùy tâm, sẽ có cảm ứng. Có thể cúng dường hương, hoa, đèn, trà, quả, chí thành cầu nguyện, đều được như ý."

Thánh Tôn nói với đại chúng:
"Những vị quan chức, quý nhân, sa môn, cư sĩ, người tu đạo, phàm tục trong thế gian, nếu nghe kinh này, thêm thọ trì tụng niệm thì những người này bổng lộc chức vị tối thắng, thọ mệnh kéo dài, cầu trai được trai, cầu gái được gái, có được phúc nhiều vô lượng, là đại phúc bảo kinh tăng ích.
Những vong linh, oan thân trái chủ chưa được cứu độ mà còn ở trong chốn u minh, nếu có thể trì tụng kinh này, ấn tống kinh này thì người chết sẽ được lên trời, oan gia trái chủ sẽ bỏ đi, hiện tại còn gặt hái được phúc đức.
Những người nam, người nữ nào hoặc bị tà ma xâm phạm, hoặc bị quỷ thần hãm hại, hoặc có ác mộng hỗn loạn, nếu thọ trì kinh này, ấn tống kinh này thì tà ma sẽ bỏ chạy. Họ lập tức sẽ được an lạc.
Những ai có bệnh tật đeo bám, phải trả nhân quả nghiệp báo của kiếp trước hoặc có các bệnh do quỷ thần, nếu thọ trì kinh này, ấn tống kinh này thì tai ương sẽ được cứu, bệnh tật sẽ tiêu trừ.
Những ai có ác vận, dính phải kiện tụng, bị giam cầm tù tội nhưng có thể trì tụng kinh này, ấn tống kinh này thì tai họa sẽ được giải trừ, điều hung sẽ hóa thành cát tường.

Nếu hai nước xảy ra chiến tranh, có thể trì tụng kinh này, lập tượng cúng dường, sẽ được gia tăng uy lực, chiến thắng chắc chắn.
Người đọc tụng, người ấn tống, người bố thí, tất cả sẽ được cát tường như ý viên mãn, tiêu trừ các độc hại, có thể diệt sinh tử khổ."

Tây Phương Chân Phật hải hội, tại Ma Ha Song Liên Trì, Đại Bạch Liên Đồng Tử đều ở trong đó mà nói chú rằng:
“Ôm, gu-ru, lién-sâng, sít-đi, hum” [Om guru liansheng siddhi hum] (vô số lần)

Thánh Tôn khi giảng xong kinh này, Đế Thích cùng chư đại chúng, Thiên long, Bát bộ, Tứ chúng cung kính hành lễ, tín thọ phụng hành.
Chân Thực Phật Pháp Tiêu Tai Ban Phúc Kinh (Hết!)

Ích lợi của bản kinh văn:
Phần trọng điểm chủ yếu của Chân Phật Kinh đã nói đến đoạn "lấy Chân Phật thượng sư làm tăng bảo", xem như phần quan trọng nhất đều ở đoạn trước rồi. Đoạn sau này nói về lợi ích của Chân Phật Kinh, tôi đọc đoạn này một lần thì mọi người tương đối có thể hiểu được rồi.

Kì thực, đoạn kinh văn mà tôi vừa đọc ở trên nói chung là mọi người đều có thể hiểu được, bởi vì đoạn văn này rất dễ hiểu, chủ yếu là nói về những ích lợi của bản thân bản kinh này. Phần đầu của đoạn này nói rằng tùy tâm mong cầu thì sẽ có được cảm ứng, có thể cúng dường thì lại càng có thể được như ý nguyện. Đoạn này được rất nhiều người đặt câu hỏi, Có đệ tử nói với tôi: "Khi Thánh Tôn giảng đến đoạn này thì bất luận thế nào tôi cũng đến nghe." nhưng hôm nay anh ta chẳng đến, thế nên tôi muốn mau chóng giảng cho xong đoạn này.

Giải cứu chiến tranh giữa hai nước:
Đoạn này chính là: "Nếu hai nước xảy ra chiến tranh, có thể trì tụng kinh này, lập tượng cúng dường, sẽ được gia tăng uy lực, chiến thắng chắc chắn." Rất nhiều đệ tử đều nói: "Đoạn kinh văn này dường như dạy người ta trở nên hiếu chiến hơn?" Kì thực, khi hai nước chiến tranh thì người phải chịu kiếp nạn chính là những người dân thường, biết bao tiếng khóc thương ai oán và cảnh người chết nhà tan. Chân Phật Kinh sao có thể đứng về phía gia tăng kích động chiến tranh, hơn nữa bản kinh nói rằng có thể giúp chiến thắng mọi cuộc chiến, đó chẳng phải là cổ vũ những hiềm nghi về chiến tranh sao? Phật Bồ tát đều nói về đại từ đại bi, làm sao ở đây lại biến thành người cổ vũ chiến tranh? Rất nhiều người đặt ra câu hỏi này, tôi đều nói với mọi người rằng: "Đừng nên hỏi nữa, ở đây có một bí mật." Bí mật này nói ra thì không hay lắm, nhưng nếu không nói ra thì sao đây? Mọi người có nhiều nghi vấn như vậy, liệu có cần nói không? Thế thì lại phải tiết lộ bí mật, rốt cuộc là nên nói ra hay không nói ra sẽ tốt hơn?

Có đệ tử nói với tôi: "Lẽ nào ngài đem theo bí mật này theo vào trong quan tài luôn sao?" Người đó nói tới mức ghê gớm như vậy đó, vậy thì nói ra thì hơn. Nếu hai quốc gia xảy ra chiến tranh, khi có chiến tranh, đất nước nào đọc tụng bản kinh này và lập tượng cúng dường, thì câu nói "sẽ được gia tăng uy lực" ở đây cần được giải thích rằng, đó là sẽ được gia tăng sức mạnh khiến tâm bình khí hòa, trở nên bình tĩnh hơn, tránh được sự căng thẳng. Nói cách khác là, nếu có thể lập tượng cúng dường, niệm Chân Phật Kinh, niệm cho tới khi hiểu được về "năng diệt sinh tử khổ, tiêu trừ chư độc hại" thì người tụng niệm, người thọ trì sẽ nhận được sức mạnh gia trì, sau đó sẽ càng ngày càng không muốn tham chiến nữa.

Hai đất nước cùng tụng niệm thì đương nhiên cả hai nước đều trở nên tâm bình khí hòa rồi! Lập tượng cúng dường, hai nước đều có được sự gia trì, trở nên bình tĩnh bớt căng thẳng, đương nhiên là chiến thắng mọi cuộc chiến, vì không chiến nữa chính là đã thắng rồi. Nếu như chỉ có một đất nước tụng niệm, đất nước kia không đọc tụng, thì cũng không thể đánh thắng được, vì sao vậy? Tôi lấy một câu tục ngữ để giảng điều này: "Một đồng xu không thể tạo ra tiếng kêu." Tiền xu nhất định cần có hai đồng mới có thể tạo ra âm thanh. Nếu một nước đã lui rồi, nhường cho bên kia thắng, anh làm lão đại, tôi làm lão nhị là được rồi, như vậy thì cũng là thắng mọi mặt trận rồi.

Đã nói tới chiến tranh hai nước thì nhất định phải cần có hai nước cùng muốn đánh nhau thì mới dẫn đến chiến tranh lớn được. Giả sử có một đất nước không muốn đánh nhau, nếu anh muốn xâm chiếm, muốn đánh thì tôi để cho anh đánh, như vậy sẽ không dẫn đến những tổn thất nặng nề. Đương nhiên, chúng ta hy vọng đất nước này có thể lập tượng cúng dường, sau khi đọc tụng bản kinh này, có được sức mạnh gia trì thì sẽ tạo ảnh hưởng đến đối phương, khiến đối phương cũng trở nên tâm bình khí hòa, như vậy có thể xem là đại thắng hơn nữa.

Thế nên, đoạn kinh văn này chủ yếu là hy vọng mỗi đất nước, mỗi quốc gia đều có thể đọc tụng bản kinh này, thì họ sẽ có được tâm bình khí hòa, cũng có thể đạt được hòa bình mãi mãi. Do vậy mới nói rằng "tất cả sẽ được cát tường như ý viên mãn", có thể như ý viên mãn rồi thì cũng chẳng còn chiến tranh gì nữa. Thế nên, gia tăng uy lực để hóa giải chiến tranh, biến thành chiến thắng mọi cuộc chiến.

Căn bản truyền thừa Thượng sư tâm chú:
Tôi giải thích một chút về câu chú cuối cùng:
"Om" nghĩa là vũ trụ.
"Guru" nghĩa là đạo sư, đạo sư của vũ trụ.
"Liansheng siddhi", nghĩa là đạo sư dẫn dắt tất cả chúng sinh hóa sinh từ hoa sen.
"Siddhi" chính là Phật quốc.
"Hum" chính là thành tựu viên mãn.
Giải thích toàn bộ câu chú này là: "Vị đạo sư vĩ đại của vũ trụ hóa sinh từ hoa sen tại Phật quốc Ma Ha Song Liên Trì, dẫn dắt tất cả chúng sinh đạt đến thành tựu."
Đến đây, tôi đã hoàn tất việc giải thích toàn bộ Chân Phật Kinh rồi.


### 21. Ba bí quyết của phúc huệ bảo tạng thư


Xin chào các vị Thượng sư, các bạn đồng tu!
Hôm nay tôi rất vui lại được đến đây gặp mặt mọi người. Tối hôm qua ở sân bay Hồng Kông, tôi đã gặp mặt một vài Thượng sư và các bạn đồng tu rồi, tâm trạng của tôi vô cùng phấn khởi. Vừa đến sân bay tôi liền hỏi Thượng sư Liên Hàn xem pháp hội ngày mai có khai thị thuyết pháp không. Thượng sư Liên Hàn nói: "Không có. Sư Tôn có thể thư giãn ngồi trên sân khấu, tất cả mọi thứ đều đã chuẩn bị xong hết rồi." Kết quả là khi tôi xem tờ chương trình của pháp hội hôm nay, trên đó lại có viết là Sư Tôn thuyết pháp khai thị. Vừa nãy tôi ngồi ở đây đã cảm thấy đứng ngồi không yên rồi, bởi vì thực sự tôi không biết tiếp theo đây tôi có phải thuyết pháp với khai thị nữa không.

Tôi có chút lo lắng, liền nhờ một cô gái phục vụ lấy cho cây bút và mấy tờ giấy trắng, chuẩn bị viết ra một số nội dung mà mình muốn giảng. Thế nhưng cũng không kịp mất rồi, trên tờ giấy trắng này đến một chữ tôi cũng chưa kịp viết. Vốn dĩ là lên ghế này thì ngồi có thể thư giãn thoải mái một chút, giờ thì tôi biết là mình bị Thượng sư Liên Hàn hại đến thảm rồi, thế là thành ra chẳng có được chút thư giãn nào. Tuy vậy, bởi vì vừa nãy mọi người đã đọc bản Chân Phật Kinh mới xuất bản, nên hôm nay tôi sẽ nói về nguồn gốc của Chân Phật Kinh và ý nghĩa của Chân Phật Kinh vậy.


🌟


Chân Phật Kinh là gọi tắt của Chân Thực Phật Pháp Tiêu Tai Ban Phúc Kinh, vì sao lại cần nói là "Chân"? Bởi vì tất cả mọi điều trong đó đều chân thực. Tôi đã từng đến Tây phương cực lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì, những gì tôi chứng kiến và nghe được là vô cùng chân thực, hoàn toàn không phải là nằm mơ. Sau khi tôi trở về từ Tây phương cực lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì, người đầu tiên mà tôi kể chuyện này chính là mẹ của tôi. Do cha tôi đã đọc Phong Thần Bảng tới mức mê mẩn cả người, ông ấy nói: "Liên Hoa Đồng Tử chẳng phải là Na Tra Tam Thái Tử hay sao? Bản thân bố đây sao có thể trở thành Thác Tháp Thiên Vương Lý Tĩnh được?"

Liên Hoa Đồng Tử Sư Tôn ở đây không phải là Na Tra Tam Thái Tử đồ đệ của Thái Ất Chân Nhân, mà là tôi thực sự đã đến Tây phương cực lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì, trông thấy Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử, toàn thân ngài xung quanh đều phóng đại quang minh, hơn nữa ngài cất tiếng nói với tôi: “Ta chính là ngài đó.”

Đây là một trải nghiệm hoàn toàn chân thật từ hai mươi năm trước, bởi vậy nên ở đây có một chữ "Chân", nghĩa là tôi thực sự nhìn thấy, thực sự nghe thấy, thực sự ngửi thấy, hơn nữa, tôi đích thực đã đến Ma Ha Song Liên Trì.

Hôm nay, dòng phái Chân Phật Tông chúng ta đã trải qua rất nhiều thăng trầm và rất nhiều nỗ lực mới được như bây giờ. Những kinh nghiệm trong suốt quá trình này, phần lớn tôi đã đều viết trong sách, các bạn đọc sách sẽ hiểu được rõ ràng, sẽ hiểu được nguồn gốc của Chân Phật Tông.

Chân Phật Tông có siddhi thực sự. Thế nào là "siddhi"? Siddhi chính là thành tựu chân thực, là Phật địa chân thực. Tương lai mọi người có thể vãng sinh đến Tây phương cực lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì. Chúng ta còn có pháp tu chân thực - đó là Chân Phật Mật Pháp, là phương pháp tu hành chân thực của dòng phái Chân Phật Tông, có được sức mạnh tích lũy và triệu tập của Thượng sư. Ở đây không phải là nói về pháp lực, mà là nói về Bồ Tát từ bi, pháp lực từ bi thường xuyên hiển hiện sức mạnh thần thông vĩ đại.

Giống như khi nãy trong pháp hội cầu phúc mọi người hát Hương tán, hát Thanh tịnh pháp thân Phật, Sư Tôn nhìn xuống hội trường thấy rất nhiều Phật, Bồ tát hạ giáng, biến thành một vòng pháp luân xoay chuyển, một vòng tròn màu xanh lam to lớn giống như một ngọn núi vậy, tất cả Phật Bồ tát đều bay trên pháp luân. Hôm nay nếu có người nào chụp ảnh mà cơ duyên đủ may mắn thì sẽ chụp được pháp luân màu xanh lam, vô cùng chân thực. Bởi vậy, Chân Phật Mật Pháp của chúng ta, pháp hội của chúng ta (ví dụ pháp hội cầu phúc, siêu độ) đều vô cùng chân thực và có nhiều cảm ứng.

"Nhân” của chúng ta là do Sư Tôn đã nghe thấy vô cùng thật, nhìn thấy rất thật, nơi mà Sư Tôn đã đến cũng rất thật, nên đây chính là cái "nhân" thật. Thế còn "Quả" của chúng ta cũng là thật, nhờ bởi việc tu hành của chúng ta đều sẽ thành tựu và đạt kết quả, có thể trở về Tây phương cực lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì, nên đây chính là "Quả” thật.

Chúng ta cũng có phương pháp tu hành, phương pháp và thành tựu tu hành của chúng ta chính là Chân Phật Mật Pháp. Tu hành theo thứ tự này có thể giúp chúng ta đạt được "Quả" chân thực. Từ "Nhân" đến "Quả", cùng với thứ tự tu hành đều vô cùng chân thực.


Nguồn gốc Chân Phật Kinh
Rất nhiều người đã đọc bản Chân Phật Kinh này rồi, mọi người đều biết đây là từ Không tạo ra Có, nếu từ Không lại tạo ra Có, thế chẳng phải là giả sao? Không phải là giả, mà là từ vô hình biến thành cái hữu hình, đây chính là ý nghĩa của sự từ Không tạo ra Có. Bản kinh này làm sao mà có? Đó chính là Sư Tôn quan sát tâm của chính mình, mở rộng tâm mình ra, rồi trong toàn bộ sự tập trung, từng chữ từng chữ từ trong tâm hiển hiện ra, từ đó Sư Tôn đã hoàn thành bản kinh văn này.

Mọi người có thể cho rằng sự xuất hiện của bản kinh này có lẽ là do trong mơ Sư Tôn có được, hoặc là tự nhiên Sư Tôn nhặt được trên đường, hoặc là từ trong không trung rơi xuống, hoặc là trong một đống giấy lộn đột nhiên trồi ra. Sự thật là bản kinh này do Sư Tôn quan sát tâm mình mà thấy, thấy được tâm mình mà có được nó.

Trong bản kinh này có một câu vô cùng quan trọng, đây cũng là bí mật lớn nhất trong bản kinh. Kinh văn rất đơn giản, nhưng thực sự ảo diệu phi phàm, đoạn văn này chính là: "Lúc bấy giờ, Thánh tôn Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử nói với đại chúng: Tu hành lấy vô niệm làm chính giác Phật bảo. Lấy thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh làm Pháp bảo. Lấy Chân Phật Thượng sư làm Tăng bảo."


Lấy vô niệm làm Phật bảo
Hôm nay, các đệ tử quy y Chân Phật Tông và mọi người có mặt ở đây phần lớn đều là người tu hành. Trên phương diện tu hành, mọi người đều biết cần phải dựa vào cái gì để tu sửa hành vi của chính mình. Nhưng tu hành thì dựa vào gì để làm Phật bảo đây? Cái quan trọng nhất chính là lấy vô niệm làm Phật bảo.

Vô niệm nghĩa là không còn ý niệm. Chúng sinh trên thế giới này ai ai cũng đều có ý niệm, nhưng người tu hành có thể tu đến trạng thái vô niệm thì sẽ trở thành vô tâm và vô ngã. Khi đạt vô niệm rồi, thân thể của bạn sẽ tràn đầy khắp trong hư không. Một người tu hành có thể tiến vào trạng thái vô niệm, thân thể của người đó tương đương với toàn bộ hư không vũ trụ, tương đương với hư không. Khi vô niệm rồi thì không còn ô nhiễm nữa, không còn ô nhiễm tức là thanh tịnh, mà thanh tịnh như vậy thì chính là Phật rồi. Do vậy, vô niệm chính là “chính giác Phật bảo.”

Mọi người thấy vô niệm có vẻ như rất đơn giản, kì thực vô niệm là khó số một và cũng là thù thắng số một. Có lẽ sẽ có người cho rằng đại khái mỗi tối đi ngủ là có thể đạt đến trạng trái vô niệm rồi, nhưng thực tế tôi biết mọi người khi đi ngủ là rơi vào trạng thái hôn mê, không phải là vô niệm. Thế còn bình thường, chúng ta có vô niệm không? Các bạn đồng tu ở đây nếu đã từng ngồi thiền sẽ biết, càng muốn vô niệm thì lại càng "có niệm". Còn bạn nào có thể trải nghiệm được sự ảo diệu của vô niệm thì chính là đã đạt đến chính giác Phật bảo chân chính rồi.

Lấy thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh làm Pháp bảo
Vậy làm sao để đạt tới vô niệm đây? Muốn đạt đến vô niệm thì cần phải học pháp, học pháp chính là cần phải học được thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh và ý thanh tịnh. Thân thể thanh tịnh nghĩa là tay của bạn không thể nào sờ lung tung, cơ thể này không thể chạm lung tung, nhưng cũng không phải nói bạn cứ phải ngày ngày tắm rửa đâu, tuy nhiên thường xuyên giữ được sự sạch sẽ thì chính là thân thanh tịnh.

Thế còn khẩu thanh tịnh thì sao? Nghĩa là bảo bạn thường xuyên niệm Phật trì chú, nhưng bạn lại chẳng niệm Phật trì chú, mà lại thường xuyên chửi Tam Tự Kinh, Tứ Tự Kinh là bất hảo, thì như vậy không phải là khẩu thanh tịnh rồi. Khẩu thanh tịnh ở đây chính là cần trì chú, cần niệm Phật, cần nói lời thiện lành, đó chính là khẩu thanh tịnh.

Tật lớn nhất của con người chính là thích buôn chuyện, nói những lời khó nghe nhất về người khác. Vì thế, chúng ta có một câu tục ngữ là: "Mười cái miệng chín cái mông", vì sao gọi là mười cái miệng chín cái mông? Chính là "thối mồm" đó, ở đây không phải là nói bạn không đánh răng, hay là đại tràng bạn không tốt đâu, thối mồm thật sự chính là những lời bạn nói ra lúc nào cũng rất thối.

Do vậy, khẩu thanh tịnh có nghĩa là trong những ngôn từ mà bạn nói ra cần luôn luôn thiện lành, khiến cho người khác cảm thấy thoải mái, khiến người khác vui vẻ, hơn nữa có thể khuyên người khác những điều thiện, khuyên người khác tin Phật, như vậy mới được gọi là khẩu thanh tịnh.

Cái thanh tịnh tiếp theo mới là vô cùng khó, đó chính là ý thanh tịnh. Trong Chân Phật Mật Pháp có dạy mọi người quán tưởng, nghĩa là luôn luôn nghĩ đến sự trang nghiêm của Phật Bồ tát. Kì thực, quán tưởng chính là rèn luyện cho ý niệm của chúng ta được thanh tịnh, sự thanh tịnh trong ý niệm này vốn rất khó đạt được.

Tối hôm qua tôi đã đến Hồng Kông, khi đi qua chợ đêm, tôi cảm thấy ở Hồng Kông tu hành rất khó. Ở trong núi sâu hoặc trên đỉnh núi cao, cứ ở đó không xuống núi nữa thì tu hành sẽ dễ dàng hơn. Bởi vì khi chúng ta ở trong núi sâu thì ta chỉ nhìn thấy toàn là cây, những gì mắt nhìn thấy đều vô cùng xanh mát trong lành. Còn đến chợ đêm Hồng Kông thì chỉ cần nhìn thấy một vài bảng hiệu là tất cả đều bị ô nhiễm hết cả. Ở Seattle tốt hơn ở Hồng Kông một chút.

Vì sao ý niệm lại quan trọng đến vậy? Liên Sinh Hoạt Phật nói để mọi người biết, ý niệm thanh tịnh là quan trọng một trăm phần trăm. Nếu có người không tin rằng ý niệm có sức mạnh, chúng ta làm một thực nghiệm thế này để chứng minh. Khi bụng của bạn đói, tôi để một bát cơm chiên Dương Châu trước mặt bạn, bạn vừa nhìn thấy bát cơm chiên Dương Châu ở trước mặt, dù chưa ăn cơm, nhưng nước miếng đã tiết ra rồi, đây chính là sức mạnh của ý niệm.

Chúng ta đổi cái bát cơm chiên đó thành một bát phân đặt trước mặt bạn, bạn vừa nhìn thấy bát phân đó, liệu bạn có chảy nước miếng không? Bạn sẽ nôn ngay! Nhưng mà bạn vẫn chưa hề ăn cơm chiên Dương Châu đó, cũng như chưa hề ăn phân, nhưng bạn vẫn sẽ chảy nước miếng hoặc nôn ọe, tôi nói cho mọi người biết, đây chính ý niệm.

Trước đây tôi từng nói là muốn kiểm tra một số Thượng sư. Ở Seattle, Sư Tôn sẽ đưa vài Thượng sư đến một nơi, rồi để cho họ hoàn toàn tự do ở đó, một tiếng đồng hồ sau, Sư Tôn lại đến đón họ, xem xem sắc mặt của họ có còn thanh tịnh không. Sư Tôn sẽ đưa họ đi xem Topless đó [múa thoát y]. Đây là một bài kiểm tra rất hay.

Bạn xem mấy cái màn Topless này, mắt bạn có bị nhiễm sắc không? Ý niệm có bị nhiễm sắc không? Ý niệm và mắt của bạn đã bị nhiễm sắc rồi thì bạn chỉ là Thượng sư giả. Bạn có thể như như bất động thì mới là Thượng sư thật. Tuy vậy, cho đến nay tôi vẫn chưa dùng tới bài kiểm tra này. Trên thực tế, sự thanh tịnh của ý niệm được xếp ở vị trí đứng đầu trong ba loại thanh tịnh. Nếu ý niệm thực sự thanh tịnh thì sẽ không nhiễm sắc, bạn thực sự là "Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc" rồi.

Mọi người đừng cho rằng Sư Tôn nói đến Topless [thì mọi người cũng] nên tối nào cũng chạy đến nơi đó để làm bài kiểm tra! Chỉ sau khi bạn thực sự có được định lực thì tự bạn hẵng cân nhắc xem mình có thể thực nghiệm hay không. Trên thực tế, tu hành là việc rất khó. Do vậy thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh chính là pháp bảo của tu hành Chân Phật Mật Pháp.

Cuối cùng là câu "*lấy Chân Phật Thượng sư làm Tăng bảo*". Căn bản truyền thừa Thượng sư của Chân Phật Tông nhất định phải là người có tu trì, bạn phải xem thầy như Phật vậy! Học tập những mặt tốt của Căn bản truyền thừa Thượng sư, nhưng chớ để ý đến những thiếu sót của thầy. Bạn học cái tốt và bỏ qua cái xấu, đến cuối cùng bạn sẽ có thể thành tựu. Nếu bạn học cái xấu mà bỏ qua cái tốt thì chắc chắn bạn sẽ đọa xuống địa ngục.

Bạn học tập những cái tốt có thể thành Phật, học những cái xấu thì sẽ xuống địa ngục, hơn nữa trong Mật giáo có nói, nếu bạn quan sát cái xấu của Căn bản truyền thừa Thượng sư đủ lâu thì bạn chắc chắn sẽ phỉ báng thầy, nếu mà việc này xảy ra thì bạn đã học để về địa ngục đó, chứ không phải là học để thành Phật nữa đâu.

Điểm quan trọng của bản kinh này nằm ở hai chữ "vô niệm". Chân Phật Mật Pháp tiết lộ cho chúng sinh biết nhập vào tam ma địa của sự vô niệm. Khi bạn đã tiến vào trạng thái vô niệm rồi thì bạn có thể biết được tất cả mọi thứ, cũng như hiểu được rất rõ ràng minh bạch về mọi thứ, có thể tự chủ sinh tử, có thể minh tâm kiến tính.

Vô niệm chính là vô nhiễm, vô nhiễm chính là hoàn toàn thanh tịnh. Khi bạn đã hoàn toàn thanh tịnh thì bạn cũng như hư không, như hư không trong không gian vũ trụ, và như thế bạn có thể hoàn toàn dung nhập vào hư không, bạn chính là thế giới, thế giới chính là bạn, bạn chính là Phật, Phật chính là bạn.

Việc này vô cùng vĩ đại, hơn nữa mười phương đều dung hòa thông suốt với nhau. Do vậy mới nói là thập phương pháp giới chính là một pháp giới, thập phương tam thế [quá khứ, hiện tại, vị lai] chính là bạn có thể phá bỏ hoàn toàn không gian và thời gian, đây chính là khai ngộ.

Cuốn văn tập số 80 của Sư Tôn có tựa đề "Vua của Phật Vương". Cuốn Vua của Phật Vương viết về những chứng ngộ và cảnh giới giác ngộ. Sau khi văn tập đó ra mắt, hy vọng mọi người có thể thể hội được một cách đúng đắn, tinh tấn cẩn thận và nghiên cứu học tập chính xác.
Om mani padme hum.
Tại Phật đường Tín Pháp, Hồng Kông, ngày 23/12/1988.

**(Hết.)**

---

---
# File: kinh-luat-luan/giang-thuyet-kinh-a-di-da-cuu-pham-lien-hoa-sinh.md
# Title: Giảng thuyết Kinh A Di Đà - Cửu phẩm liên hoa sinh
---

![image](/img/img_a13d7c6cd2f7d9cf87466b376d2bfae8.jpg)



## Cửu phẩm liên hoa sinh - Liên Sinh Hoạt Phật giảng Kinh A Di Đà


Địa điểm: Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ. 
Thời gian: Năm 1996
Quyển số: 627
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Mở đầu: Phật Thuyết A Di Đà Kinh (Kinh Văn)


**Phật Thuyết A Di Đà Kinh
**Pháp sư Tam Tạng Cưu Ma La Thập đời Diêu Tần dịch

Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ, trong vườn Kỳ Thụ Cấp Cô Độc, cùng với đại chúng tỳ kheo một nghìn hai trăm năm mươi vị, đều là bậc đại A La Hán, được mọi người biết đến: trưởng lão Xá Lợi Phất, Ma Ha Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp, Ma Ha Ca Chiên Diên, Ma Ha Câu Hy La, Ly Bà Đa, Chu Lợi Bàn Đà Già, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lư Phả La Đọa, Ca Lưu Đà Di, Ma Ha Kiếp Tân Na, Bạc Câu La, A Nậu Lâu Đà, cùng các vị đại đệ tử như thế; và các vị Bồ Tát Ma Ha Tát: Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử, A Dật Đa Bồ Tát, Càn Đà Ha Đề Bồ Tát, Thường Tinh Tấn Bồ Tát, cùng các vị đại Bồ Tát như thế, và Thích Đề Hoàn Nhân và vô lượng chư thiên đại chúng có đủ.

Bấy giờ, Đức Phật bảo trưởng lão Xá Lợi Phất: "Từ đây về phương Tây, cách xa mười vạn ức cõi Phật, có một thế giới tên là Cực Lạc. Ở cõi ấy có Đức Phật hiệu là A Di Đà, hiện đang thuyết pháp. Này Xá Lợi Phất! Vì sao cõi ấy gọi là Cực Lạc? Vì chúng sinh trong cõi nước đó không có các nỗi khổ, chỉ hưởng các điều vui, nên gọi là Cực Lạc.

Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc có bảy lớp lan can, bảy lớp lưới giăng, bảy lớp hàng cây, tất cả đều được bao quanh bởi bốn loại báu, vì thế nên cõi ấy gọi là Cực Lạc. Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc có ao bảy báu, nước tám công đức tràn đầy trong đó, đáy ao thuần dùng cát vàng trải đất. Bốn bên thềm bậc được làm bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê hợp thành. Phía trên có lầu gác, cũng được trang hoàng bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xà cừ, hồng ngọc, mã não. Trong ao có hoa sen to như bánh xe, màu xanh ánh sáng xanh, màu vàng ánh sáng vàng, màu đỏ ánh sáng đỏ, màu trắng ánh sáng trắng, hương thơm tinh khiết vi diệu. Này Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm như thế.

Lại nữa, Xá Lợi Phất! Cõi Phật ấy thường nổi thiên nhạc, mặt đất bằng vàng ròng. Ngày đêm sáu thời, mưa hoa mandala từ trên trời rơi xuống. Chúng sinh cõi ấy, thường vào mỗi sáng sớm, đều dùng y phục đựng các hoa đẹp vi diệu, đem cúng dường mười vạn ức Phật ở phương khác, đến giờ ăn liền trở về cõi nước của mình, thọ trai, kinh hành. Này Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm như thế. Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Cõi ấy thường có các loại chim kỳ diệu đủ màu sắc: bạch hạc, khổng tước, anh vũ, xá lợi, ca lăng tần già, và chim cộng mạng. Các loài chim ấy, ngày đêm sáu thời, hót lên âm thanh hòa nhã, diễn xướng các pháp như ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần, bát thánh đạo phần; chúng sinh trong cõi ấy nghe những âm thanh này rồi, hết thảy đều niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng.

Này Xá Lợi Phất! Ông chớ nghĩ rằng: "Những con chim này thực sự do tội báo mà sinh ra." Vì sao vậy? Vì cõi Phật ấy không có ba đường ác. Này Xá Lợi Phất! Cõi Phật ấy còn không có tên gọi của đường ác, huống chi là có thật. Những con chim ấy đều do Phật A Di Đà muốn cho âm thanh của pháp được lan truyền mà biến hóa ra. Này Xá Lợi Phất! Ở cõi Phật ấy, gió nhẹ thổi động các hàng cây báu và lưới báu, phát ra âm thanh vi diệu, ví như trăm nghìn loại nhạc cùng trỗi lên một lúc. Người nghe những âm thanh ấy tự nhiên sinh tâm niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng. Này Xá Lợi Phất! Cõi Phật ấy thành tựu công đức trang nghiêm như thế.

Này Xá Lợi Phất! Ý ông thế nào? Vì sao Đức Phật kia có hiệu là A Di Đà? Này Xá Lợi Phất! Ánh sáng của Đức Phật ấy vô lượng, chiếu khắp mười phương cõi nước, không bị chướng ngại, vì thế nên có hiệu là A Di Đà. Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Thọ mạng của Đức Phật ấy và nhân dân của Ngài là vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp, nên có hiệu là A Di Đà. Này Xá Lợi Phất! Đức Phật A Di Đà thành Phật đến nay đã được mười kiếp. Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Đức Phật ấy có vô lượng vô biên đệ tử Thanh Văn, đều là bậc A La Hán, không thể dùng toán số mà biết được, các Bồ Tát cũng như vậy. Này Xá Lợi Phất! Cõi Phật ấy thành tựu công đức trang nghiêm như thế.

Này Xá Lợi Phất! Chúng sinh nào sinh về cõi nước Cực Lạc đều là bậc bất thoái chuyển. Trong số đó có rất nhiều vị Nhất Sinh Bổ Xứ, số lượng nhiều không thể tính đếm được, chỉ có thể nói là vô lượng vô biên a-tăng-kỳ. Này Xá Lợi Phất! Chúng sinh nghe được điều này nên phát nguyện sinh về cõi ấy. Vì sao vậy? Vì sẽ được cùng hội họp một chỗ với các bậc thượng thiện nhân như thế. Này Xá Lợi Phất! Không thể dùng chút ít thiện căn, phước đức, nhân duyên mà được sinh về cõi ấy. Này Xá Lợi Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe nói đến Phật A Di Đà, chấp trì danh hiệu trong một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, bảy ngày, nhất tâm bất loạn, thì khi người ấy lâm chung, Phật A Di Đà cùng các thánh chúng sẽ hiện ra trước mặt. Người ấy khi mạng chung, tâm không điên đảo, liền được vãng sinh về cõi Cực Lạc của Phật A Di Đà. Này Xá Lợi Phất! Ta thấy lợi ích ấy nên nói những lời này. Nếu có chúng sinh nào nghe được điều này, nên phát nguyện sinh về cõi nước ấy.

Này Xá Lợi Phất! Như ta hôm nay, tán thán công đức lợi ích không thể nghĩ bàn của A Di Đà Phật: ở phương Đông có A Súc Bệ Phật, Tu Di Tướng Phật, Đại Tu Di Phật, Tu Di Quang Phật, Diệu Âm Phật, và vô số chư Phật nhiều như cát sông Hằng như thế. Mỗi vị đều ở tại cõi nước của mình, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời chân thật rằng: "Chúng sinh các ngươi nên tin kinh này, kinh được tất cả chư Phật hộ niệm, tán thán công đức không thể nghĩ bàn." Này Xá Lợi Phất! Ở thế giới phương Nam, có Nhật Nguyệt Đăng Phật, Danh Văn Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tu Di Đăng Phật, Vô Lượng Tinh Tấn Phật, và vô số chư Phật nhiều như cát sông Hằng như thế. Mỗi vị đều ở tại cõi nước của mình, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời chân thật rằng: "Chúng sinh các ngươi nên tin kinh này, kinh được tất cả chư Phật hộ niệm, tán thán công đức không thể nghĩ bàn."

Này Xá Lợi Phất! Ở thế giới phương Tây có Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Tướng Phật, Vô Lượng Tràng Phật, Đại Quang Phật, Đại Minh Phật, Bảo Tướng Phật, Tịnh Quang Phật, và vô số chư Phật nhiều như cát sông Hằng như thế. Mỗi vị đều ở tại cõi nước của mình, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời chân thật rằng: "Chúng sinh các ngươi nên tin kinh này, kinh được tất cả chư Phật hộ niệm, tán thán công đức không thể nghĩ bàn." Này Xá Lợi Phất! Ở thế giới phương Bắc có Diệm Kiên Phật, Tối Thắng Âm Phật, Nan Thư Phật, Nhật Sinh Phật, Võng Minh Phật, và vô số chư Phật nhiều như cát sông Hằng như thế. Mỗi vị đều ở tại cõi nước của mình, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời chân thật rằng: "Chúng sinh các ngươi nên tin kinh này, kinh được tất cả chư Phật hộ niệm, tán thán công đức không thể nghĩ bàn."

Này Xá Lợi Phất! Ở thế giới phương dưới có Sư Tử Phật, Danh Văn Phật, Danh Quang Phật, Đạt Ma Phật, Pháp Tràng Phật, Trì Pháp Phật, và vô số chư Phật nhiều như cát sông Hằng như thế. Mỗi vị đều ở tại cõi nước của mình, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời chân thật rằng: "Chúng sinh các ngươi nên tin kinh này, kinh được tất cả chư Phật hộ niệm, tán thán công đức không thể nghĩ bàn." Này Xá Lợi Phất! Ở thế giới phương trên có Phạm Âm Phật, Tú Vương Phật, Hương Thượng Phật, Hương Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân Phật, Sa La Thọ Vương Phật, Bảo Hoa Đức Phật, Kiến Nhất Thiết Nghĩa Phật, Như Tu Di Sơn Phật, và vô số chư Phật nhiều như cát sông Hằng như thế. Mỗi vị đều ở tại cõi nước của mình, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời chân thật rằng: "Chúng sinh các ngươi nên tin kinh này, kinh được tất cả chư Phật hộ niệm, tán thán công đức không thể nghĩ bàn."

Này Xá Lợi Phất! Ý ông nghĩ sao? Vì sao gọi là kinh được tất cả chư Phật hộ niệm? Này Xá Lợi Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe kinh này và thọ trì, cùng nghe danh hiệu chư Phật, thì những thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy đều được tất cả chư Phật hộ niệm, đều được bất thoái chuyển nơi đạo A nậu đa la tam miểu tam bồ đề. Vì vậy, này Xá Lợi Phất! Các ông đều nên tin nhận lời ta và lời chư Phật đã nói. Này Xá Lợi Phất! Nếu có người đã phát nguyện, đang phát nguyện, sẽ phát nguyện muốn sinh về cõi Phật A Di Đà, thì những người ấy đều được bất thoái chuyển nơi đạo Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác, ở cõi nước kia, hoặc đã sinh, hoặc đang sinh, hoặc sẽ sinh. Vì vậy, này Xá Lợi Phất! Các thiện nam tử, thiện nữ nhân, nếu có lòng tin, nên phát nguyện sinh về cõi nước ấy.

Này Xá Lợi Phất! Như ta hôm nay tán thán công đức không thể nghĩ bàn của chư Phật, các Đức Phật ấy cũng tán thán công đức không thể nghĩ bàn của ta mà nói rằng: "Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có thể làm được việc rất khó và hiếm có, có thể ở trong cõi Ta Bà, ngũ trược ác thế: kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sinh trược, mạng trược, mà chứng được đạo Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác. Vì các chúng sinh mà nói pháp khó tin này trong tất cả thế gian." Này Xá Lợi Phất! Nên biết ta ở trong ngũ trược ác thế làm việc khó này, chứng được đạo Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác, vì tất cả thế gian nói pháp khó tin này, thật là rất khó!" 

Khi Đức Phật nói kinh này xong, Xá Lợi Phất cùng các tỳ kheo, tất cả thế gian, trời, người, atula, nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ tin nhận, đảnh lễ rồi lui ra.


### 01. Trình bày "A Di Đà Kinh Thích Yếu" (1)


Trước đây, những gì tôi giảng có thể gọi là rời rạc. Thế nào gọi là rời rạc? Đó là nghĩ tới đâu nói tới đó, không có một chương trình nhất định. Bây giờ chúng ta sẽ giảng kinh Phật chính thống, giống như chuyên chở cả một con tàu đầy ắp. Trước đây giảng như thuyền nhỏ, hôm nay giảng như tàu container; trước đây giảng có thể nói là vui vẻ, còn bây giờ giảng thì không vui vẻ như vậy.

Trước đây khi tôi theo học với thầy Lý Bỉnh Nam, nghe giảng Kinh A Di Đà, một lần nghe giảng kinh như thế là năm năm. Năm năm mà Thầy Lý vẫn chưa giảng xong một bộ Kinh A Di Đà, có thể thấy bộ kinh này thật vô cùng ý nghĩa!

Tuần trước chúng ta làm pháp hội, mọi người cũng đã được nghe những Mật pháp vô cùng quý báu. Tin rằng mọi người đã học xong những Mật pháp trong "Bí Mật Trong Chân Phật Mật Pháp", rồi sau đó lại học các pháp trung cấp; các pháp sơ cấp đã học xong, bây giờ là trung cấp, như pháp quán vô lượng tâm, pháp quán bảo kiếm Văn Thù Bồ Tát, hai pháp quán này thuộc về trung cấp.

Vậy thì, giữa Mật pháp trung cấp và cao cấp, chúng ta cần nghỉ ngơi một chút. Cho nên, vừa hay chọn quyển Kinh A Di Đà này để cùng nhau thảo luận, giảng giải, để chúng ta cùng nghiên cứu với nhau.

Tôi đã từng quy y lão pháp sư Lạc Quả, lão pháp sư Lạc Quả đã từng giảng giải một quyển "A Di Đà Kinh Thích Yếu". Khi tôi quy y lão pháp sư Lạc Quả là ở Sa Lộc, Đài Trung, thầy có một ngôi chùa ở Phố Lý gọi là chùa Phật Quang, cọc mốc trung tâm và đo đạc địa lý của điện chính chùa Phật Quang đều do tôi giúp thầy xem. Tuy nhiên, rất đáng tiếc là lão pháp sư Lạc Quả đã viên tịch. Hôm nay giảng Kinh A Di Đà, tôi sử dụng pháp bản của lão pháp sư Lạc Quả, cũng có ý nghĩa tưởng nhớ lão pháp sư trong đó.

Kinh này là do pháp sư Lạc Quả giảng khi còn tại thế, tôi xin đọc một đoạn cho mọi người nghe:
"Đức Thế Tôn Thích Ca ra đời thuyết pháp là vì độ chúng sinh. Trong tám vạn bốn nghìn pháp môn, những chúng sinh được độ bởi pháp môn Tịnh độ không thể tính đếm. Trong các pháp môn Tịnh độ, những người được độ bởi Kinh Phật Thuyết A Di Đà cũng không thể tính đếm. Nói chung, tin vào lời Phật Thích Ca, cùng tin vào lời chư Phật sáu phương, niệm Phật thành Phật, đây là nhân duyên lớn của đời người. Do vậy, mong rằng các vị cư sĩ hộ pháp, nghe pháp rồi giảng lại cho người khác, thường mơ thấy điềm lành như vậy. Huống chi là lưu thông Kinh Phật Thuyết A Di Đà, thọ trì đọc tụng, vì người diễn nói. Công đức lợi ích này không thể dùng tâm suy nghĩ hay lời nói mà diễn tả được, đó chính là nhân quả của Phật vậy."

Bốn chữ "Thích Ca Thế Tôn" ở trước, Thích Ca là một họ, cho nên chúng ta thường nói rằng, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni vốn thuộc về một chủng tộc gọi là tộc Thích Ca. Nơi Ngài sinh ra, theo nghiên cứu hiện nay, thực ra là ở vùng biên giới giữa Ấn Độ và Nepal. Phật giáo phát triển mạnh ở Ấn Độ, Nepal và Kashmir.

Từ thuở ban đầu, trước khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni sáng lập đạo, chỉ có đạo Bà La Môn, lúc đó chưa có tên gọi Phật giáo. Chỉ sau khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giác ngộ chân lý, thì danh xưng Phật giáo mới bắt đầu tồn tại.

Thế Tôn nghĩa là gì? Thế Tôn có nghĩa là bậc được tất cả mọi người trên thế gian hết sức tôn kính. Câu này có nghĩa là: "Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, bậc được tất cả mọi người trên thế gian tôn kính."

Khi xưa, lúc Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giác ngộ dưới cội bồ đề, trời đất đã có sáu lần chấn động lớn. Thực ra, sau khi rời cung điện xuất gia, Ngài không phải lập tức đến dưới cội bồ đề ngồi thiền để giác ngộ. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trước tiên đã đi tham bái các vị thầy Bà La Môn, tổng cộng đã tham học với vô số vị, nhưng nổi tiếng nhất có sáu vị thầy.

Ngài từng treo một chân lơ lửng trên cây, đầu chúc xuống để tu luyện; từng nhịn ăn nhiều ngày, ngồi trong bụi gai để cho gai đâm vào thân thể; cũng từng không mặc quần áo ngồi trên núi cao tuyết phủ để tu luyện ; và còn từng lặn xuống đáy sông nín thở để tọa thiền.

Ngài tu luyện trên núi tuyết tổng cộng sáu năm, tức là tu luyện trong rừng khổ hạnh sáu năm. Sau sáu năm tu luyện, Ngài cảm thấy trình độ của mình chỉ có thể tạm thời quên đi nỗi đau khổ, chỉ có thể đưa tinh thần của mình lên đến tầng trời thứ tư, Ngài luôn muốn tiến lên cao hơn nhưng không thể.
Có rất nhiều vị tiên nhân nói với Ngài: "Ngươi theo ta thì không sai đâu."
Tiên nhân nói với Ngài: "Ở chỗ ta, ngươi có thể học được thuật thôi miên."
Phật Thích Ca Mâu Ni không dùng miệng để trả lời, chỉ dùng mắt nhìn chằm chằm vào thầy của mình, và thầy đã bị Ngài thôi miên.

Thầy nói với Đức Phật Thích Ca Mâu Ni: "Ngươi có thể đi được rồi, vì ngươi đã học được hết những gì ta có thể dạy."

Phật Thích Ca Mâu Ni lại đến chỗ một vị tiên nhân khác, vị tiên nhân này có khả năng phun lửa từ miệng. Vị tiên nhân đó nói với Phật Thích Ca Mâu Ni: "Hãy theo ta học đi."
Phật Thích Ca Mâu Ni nói: "Sau khi học được cách phun lửa, con sẽ phải đi làm đầu bếp sao?"
Vị đạo sĩ phun lửa hỏi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni: "Vậy ngươi muốn đạt được điều gì?"
Đức Phật nói: "Con muốn đạt được chân lý đích thực của cuộc đời."
Vị đạo sĩ phun lửa đó nói: "Ta không có những điều đó."

Lại có một vị tiên nhân nói với Phật Thích Ca Mâu Ni: "Ta có thể muốn ăn gì là có ngay thứ đó!" Ông ta chỉ cần đặt cái nồi trước cửa hang là lập tức biến ra thịt gà, thịt vịt, bánh bao, cả đống thức ăn đầy ắp, nhưng Phật Thích Ca Mâu Ni cũng không học điều này.

Tiếp đến, Ngài gặp một vị tiên nhân có trình độ rất cao, vị tiên nhân này có thể bay lượn, và còn có thể ngồi trên cành cây đung đưa như đánh đu. Tuy nhiên, Phật hỏi ông ta: "Chân lý là gì?"
Kết quả là vị tiên nhân đó nói: "Ta cũng không biết."

Một lần nọ, khi Phật Thích Ca Mâu Ni muốn đứng dậy khỏi tòa kim cang dưới cội bồ đề, Ngài phát hiện mình không thể đứng dậy và không thể đi được, chỉ có thể bò đến sông Ni Liên Thiền để uống nước. Khi bò được nửa đường, may mắn có một cô bé chăn cừu dâng sữa cừu cúng dường Ngài.

Ngài ngộ ra một câu "Người tu hành cần phải có sự kết hợp hài hòa giữa tinh thần và thể xác". Tuy về mặt tinh thần đã khai ngộ, nhưng về mặt thể xác vẫn cần phải bổ sung thức ăn. Hôm nay, Thượng sư dạy mọi người đừng nghĩ rằng nhịn đói tu hành là rất có nghị lực. Chúng ta không nên ăn quá nhiều để tránh dư thừa thịt. Vì vậy, ăn chỉ để đáp ứng nhu cầu của thể xác và tinh thần, vừa đủ là tốt.

Sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni hiểu được đạo lý này, Ngài đã chủ trương rằng thể xác và tinh thần cần phải hài hòa. Tuy nhiên, năm vị đệ tử xuất gia đầu tiên đã lần lượt rời bỏ Ngài, bởi vì họ nhận thấy Phật Thích Ca Mâu Ni đã từ bỏ khổ hạnh và bắt đầu ăn uống trở lại.

Cho nên khi các bạn thấy tôi ăn uống, hãy biết rằng tôi đang học theo Phật Thích Ca Mâu Ni. Tuy trong thời gian tu hành, tôi cũng đã trải qua nhiều ngày nhịn đói, nhưng thực tế, tinh thần con người cần giấc ngủ, thể xác con người cần thức ăn. Tu hành bằng cách nhịn ăn rất dễ gây tổn thương cho cả thể xác lẫn tinh thần.

Vì vậy, Ngài đã rời khỏi những vị tiên nhân Bà La Môn này để tìm kiếm chân lý của riêng mình. Cuối cùng, Đức Phật đến bên sông Ni Liên Thiền, dưới cội bồ đề. Ngài ngồi thiền ở đó từ tối đến sáng, và khi trời gần sáng, Ngài nhìn thấy một ngôi sao ở phương Đông, ngôi sao ấy chiếu vào tâm Ngài. Cuối cùng Ngài đã hiểu được thế nào là chân lý.

Tâm ấn mà Phật Thích Ca Mâu Ni đã chứng ngộ, tôi đã giảng cho mọi người vào hôm thứ Bảy rồi. Chân lý là gì? Chân lý chính là sự hợp nhất giữa bản thân với tâm thức vũ trụ! Ngoài "sự hợp nhất giữa bản thân với tâm thức vũ trụ" là chân lý ra, không có điều gì khác là chân lý cả. Những vì sao trên bầu trời vũ trụ chính là đại diện cho chân lý, ngôi sao chiếu vào tâm biểu thị rằng Phật Thích Ca Mâu Ni đã hợp nhất với tâm thức vũ trụ.

Bây giờ, mọi người đều đã khai ngộ. Nhưng trong tu tập thực sự, các bạn cũng phải đạt được sự hợp nhất với tâm thức tối thượng của vũ trụ, không thể sau khi khai ngộ về mặt tinh thần rồi thì để thân thể rơi vào hỗn loạn, vì vậy thực tế là phải tu hành.

Bây giờ nói đến câu thứ hai: "Thích Ca Thế Tôn, xuất thế thuyết pháp." Phật Thích Ca Mâu Ni từ đâu đến? Thực ra Phật Thích Ca Mâu Ni đến từ cõi trời Đao Lợi. Ngài từ cõi trời Đao Lợi trực tiếp giáng sinh xuống thế giới Ta Bà này, vì vậy khi vừa sinh ra, Ngài đã có thể bước đi trên hoa sen, mỗi bước chân đều sinh ra hoa sen, và còn có thể nói: "Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn". Đây chính là thuyết pháp, vừa sinh ra đã bắt đầu thuyết pháp.

Có một vị lão hòa thượng nói: "Nếu lúc đó tôi có mặt ở đó, tôi sẽ đánh chết Ngài bằng một gậy rồi đem cho chó ăn." Tại sao người này lại nói như vậy? Mọi người hãy suy nghĩ xem! Bởi vì vừa sinh ra đã biết đi, dưới chân sinh hoa sen, lại còn biết mở miệng nói chuyện, nếu không phải yêu quái thì là gì? Thực ra không phải vậy! Đây là lời của Thiền tông. Bởi vì Thiền tông có câu: "Gặp Phật giết Phật, gặp tướng diệt tướng, phàm những gì có tướng đều là hư vọng." Điều này nói hơi sâu một chút.

May mà vị lão hòa thượng đó không có mặt ở đó, tuy nhiên, khi câu nói này của Phật vừa được thốt ra, thiên hạ đều chấn động, mọi người đều nói: "Thằng nhỏ này quá kiêu ngạo, không phải là coi thường người khác sao? Làm sao có thể nói 'Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn' được?"

Hiện nay có nhiều người tu hành bắt chước câu nói của Phật Thích Ca Mâu Ni. Họ mới ăn chay được ba ngày đã nói "Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn", cho rằng không ai ở trên mình, tất cả đều ở dưới mình. Tuy nhiên, học theo cách này là sai. Đây là lời thuyết pháp đầu tiên của Phật Thích Ca Mâu Ni, ý nghĩa bề ngoài là như vậy.

Các bạn có biết trong ngày đầu tiên giáng sinh, khi Ngài nói "Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn", chữ "ngã" này ám chỉ điều gì không?

Chữ "ngã" này chỉ "chân lý", chữ "ngã" này chỉ "tâm thức vũ trụ", chữ "ngã" này chính là "đại ngã vô cùng tận", chữ "ngã" này là "bất tử", là "vô hình", là "vô cùng lớn", là "vô hạn".

Hôm nay giảng rõ như vậy là tốt rồi, nếu không giảng rõ, mọi người đều biến thành ma. Chữ "ngã" này không phải chỉ Phật Thích Ca Mâu Ni, Ngài không nói về "tôi", Ngài nói về "trời" và "đất", Ngài đã chỉ ra "cái tôi lớn vô cùng" này.

Tất cả mọi người trên thế giới đều chỉ nói về "cái tôi của chính mình", chỉ có Phật Thích Ca Mâu Ni mới nói về "cái tôi của trời", "cái tôi của đất", "cái tôi vô cùng lớn". Vì thế ngay khi Phật Thích Ca ra đời, Ngài đã thuyết pháp. Một bậc vĩ đại như vậy, đương nhiên khi sinh ra phải có hoa sen mọc dưới chân, và lập tức biết đi, lập tức biết thuyết pháp.

Mặc dù từ cõi trời Đao Lợi giáng sinh và có khả năng thuyết pháp, nhưng Ngài vẫn phải trải qua những khổ hạnh ở cõi người; sáu năm trong rừng khổ hạnh, chịu đựng vô vàn khổ đau. Vì vậy môi trường tu hành của chúng ta ngày nay quá tốt, không có gì lạ khi tất cả đều rơi vào "Tam ma địa ngủ gật".

Người ta ngồi thiền là phải ngồi giữa rừng gai, để những cái gai đâm vào thịt mà ngồi thiền, như vậy mới không ngủ gật, đây là biểu hiện của sự tu hành, là nghị lực thực sự tập trung tinh thần. Người tu hành vì ăn ít, có thể khi ngồi thiền bụng đói, nhưng có thể chuyển hóa cơn đói, có thể chuyển hóa bệnh tật trong cơ thể, có thể chuyển hóa tất cả những phước báu của mình, có thể thực sự có được sức mạnh tinh thần, để cho dòng pháp của vũ trụ tràn đầy thân thể.

Đức Phật trụ thế và thuyết pháp đều có ý nghĩa của nó. Như ngài Milarepa, tu hành mười hai năm, đến cuối cùng, tất cả y phục đều rách nát, giống như lá cây rơi trên thân vậy, chỉ cần cơ thể hơi động đậy, tất cả lá cây đều rơi xuống đất. Vì thế có những cô gái mang đồ đến cúng dường Ngài đều sợ hãi, bởi vì trên thân Ngài không còn lấy một thứ gì, tất cả đều rách nát.

Vì độ chúng sinh mà phải chịu nhiều khổ đau như vậy. Vậy mà chúng ta bây giờ mới tu được bao lâu? Mọi người có thể cho rằng tu một ngày đã là rất khổ rồi. Tôi cứ nghĩ mãi, tại sao các bạn ăn cơm không thấy khổ? Mà còn đều đặn ba bữa mỗi ngày. Các bạn chỉ thấy được cơm hữu hình, mà không thấy được cơm vô hình.

Thật ra, dòng chảy pháp của vũ trụ chính là thức ăn vô hình của chúng ta; các bạn có được dòng sữa pháp tuyệt vời như vậy từ vũ trụ, chúng ta gọi đó là sữa - sữa pháp của vũ trụ, sữa của Phật pháp, thế mà cho các bạn uống cũng không chịu uống. Một ngày chỉ bảo uống một lần cũng không uống, thật lạ! Mọi người chỉ thích ăn cơm.

Hiện nay tôi không ăn sáng, những ngày gần đây, buổi sáng tôi chỉ uống đơn giản một ly sữa nhỏ mà thôi, không ăn gì cả. Dành một bữa để uống sữa pháp - sữa của Phật pháp. Khi bạn thật sự có thể nếm được sữa pháp, bạn sẽ cảm nhận được niềm hạnh phúc chân thật, còn hạnh phúc hơn cả trúng số độc đắc; khi có thể uống được sữa pháp của vũ trụ, cũng giống như toàn bộ vũ trụ đều thuộc về bạn.

Pháp thoại tối nay nhằm mong mọi người thực sự có thể nếm được sữa pháp của vũ trụ. Ai đã nhận được sữa pháp của vũ trụ xin giơ tay! Vừa rồi sữa pháp của vũ trụ đã tuôn xuống. Tôi tin rằng những ai đang chụp ảnh, nếu gặp được duyên lành, sẽ chụp được hình ảnh sữa pháp đang tuôn xuống. Mong mọi người rửa ảnh ra xem, sẽ thấy như một thác sữa vậy; thác nước thì là nước, nhưng thác này là thác sữa, sức mạnh của nó thật vô cùng vĩ đại!

Phật Thích Ca Mâu Ni đến thế gian này không phải để dạy người ta cầu tài lộc, nên câu thứ hai mới nói "Thích Ca Thế Tôn, xuất thế thuyết pháp." Phật Thích Ca Mâu Ni đến thế gian là để giảng về pháp của sữa pháp này.

Những gì tôi nói với mọi người hôm nay chính là giảng về pháp của sữa pháp này. Các bạn đi theo tôi, chắc chắn sẽ có sữa pháp để uống, không cần phải tốn bao nhiêu tiền, bởi vì chỉ cần khi tu pháp có thể thực sự hợp nhất với vũ trụ, sữa pháp nhất định sẽ tuôn xuống. Chắc chắn có thể cảm nhận được hương vị thơm ngát bên trong, tràn đầy khắp thân thể, toàn thân đều có thể tỏa sáng, trở thành một với chân lý, vũ trụ chính là của bạn, đây chính là "sự sống vĩnh hằng" mà Cơ Đốc giáo nói đến, là "vô sinh" mà Phật giáo nói đến, điều này chúng ta đã nói đến lần trước.

Trạng thái ban đầu khi nhập Tam ma địa là ở thiên tâm và đỉnh huyệt có cảm giác tê tê, sữa pháp tuôn xuống, làm cho tất cả tế bào ở đầu đều tràn ngập niềm hạnh phúc. Sau đó sữa pháp tiếp tục chảy xuống phần thân trên của bạn, tất cả tế bào ở thân trên và đầu đều ngập tràn hạnh phúc, rồi sữa pháp chảy xuống đến chân, khiến tất cả tế bào trong toàn thân đều tràn đầy hạnh phúc, đây chính là Đại Lạc Kim Cang, đây chính là Tam ma địa ở giai đoạn sơ cơ.

Khi có được Tam ma địa sơ cơ, sữa pháp sẽ chảy từ đỉnh huyệt xuống bình thân thể của bạn, khiến cho bình thân thể của bạn tràn đầy sữa pháp. Bạn biết không! Những cô gái xinh đẹp kia giống như trái bầu vậy, có hình dạng như trái bầu, có nghĩa là bên trong tràn đầy dòng pháp, bắt đầu từ đỉnh đầu, rồi khi tràn đầy thì trái bầu này trở nên trong suốt, trái bầu này chính là đại diện cho một con người.

Hôm nay Phật Thích Ca Mâu Ni đã thuyết pháp, tôi theo học với Phật Thích Ca Mâu Ni, giải thích về pháp, và tôi thực sự đã thể nghiệm được pháp này. Vì bản thân đã có sự thể nghiệm nên tôi mới giảng cho mọi người nghe. Điều này vô cùng quý giá, và là điều chân thật, quý báu, không thể dùng tiền mà mua được.

Cuối cùng, tôi xin nói thêm một câu mà Phật đã dạy: "Trên trời dưới đất, chỉ có chân lý là tối thượng". Vậy chân lý là gì? Chân lý chính là sự hợp nhất hoàn toàn với sữa pháp của vũ trụ, chỉ có như vậy mới đạt được "sự sống vĩnh hằng" và "vô sinh", ngoài ra, không có một thứ gì trên thế gian này là tồn tại mãi mãi!

Om mani padme hum.


### 02. Trình bày "A Di Đà Kinh Thích Yếu" (2)


Tuần trước chúng ta đã nói về "Thế Tôn Thích Ca, xuất thế thuyết pháp." Sự xuất thế thuyết pháp này chính là "vì độ chúng sinh nên thuyết tám vạn bốn nghìn pháp môn, trong đó những người được độ bởi pháp môn Tịnh Độ thì không thể tính đếm được." Điều này có nghĩa là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni xuất hiện ở thế gian là để độ chúng sinh. Còn bản thân tôi nghĩ rằng, việc tôi đang thuyết pháp ở đây cũng là để độ chúng sinh.

Tuy nhiên, đôi khi nghĩ lại, độ chúng sinh thật ra là chúng sinh khó độ. Có lúc lại nghĩ, không chỉ chúng sinh khó độ, mà độ chính mình cũng khó. Một người nếu có thể thật sự độ được chính mình, đã đủ tư cách gọi là bậc thánh nhân. Những người trên thế gian này, ai cũng có hoài bão lớn lao, hiện nay có những người muốn tu hành, ngay từ đầu đã phát tâm bồ đề muốn độ chúng sinh. Thực ra, tôi nghĩ thế này, trong tương lai tông phái của chúng ta, nếu có một người được độ, hoặc hai người được độ, hoặc nhiều hơn nữa - mười người được độ, thì đã là rất đáng mừng rồi.

Thật ra, độ chúng sinh là việc rất khó khăn, muốn độ chúng sinh cần phải thuyết rất nhiều pháp. Phật Thích Ca Mâu Ni đối với chúng sinh Tiểu thừa thì giảng pháp Tứ đế; đối với chúng sinh Đại thừa thì giảng pháp Lục độ; đối với chúng sinh Trung thừa thì giảng pháp Thập nhị nhân duyên. Phật Thích Ca Mâu Ni thuở xưa cũng giảng Kinh A Di Đà, vì vậy khi pháp sư Lạc Quả nói đến đoạn này, ngài đã dạy rằng: "Chỉ riêng những người được độ bởi pháp môn Tịnh Độ đã không thể tính đếm được."

Pháp môn Tịnh Độ là gì? Pháp môn Tịnh Độ bắt nguồn từ hòa thượng Huệ Viễn của Trung Quốc. Khi ngài đến lầu tạng kinh xem kinh sách và đọc được Kinh A Di Đà, ngài nhận thấy trong kinh dạy rằng: "Chỉ cần niệm Phật, niệm đến nhất tâm bất loạn, Phật sẽ đến tiếp dẫn vãng sinh về Tây phương". Hòa thượng Huệ Viễn cho rằng bộ kinh này là một pháp môn rất thuận tiện và tốt đẹp, vì vậy ngài đã thành lập Niệm Phật Xã ở Lư Sơn (Bạch Liên Xã). Pháp môn này được gọi là pháp môn Tịnh Độ, cũng chính là tông phái Tịnh Độ tông trong Phật giáo ngày nay.

Lúc mới bắt đầu, tôi đã từng đọc một cuốn sách của Tịnh Độ tông, đó là "Văn Tịnh Độ Long Thư". Trong cuốn sách này mô tả có rất nhiều người, nhờ học Tịnh Độ và niệm Phật, mà đạt được đại thành tựu vãng sinh Tây phương.

Trước đây tôi cũng đọc cuốn sách này và vô cùng xúc động. Tuy hiện nay chúng ta tu Mật pháp, nhưng mỗi lần tu Mật pháp xong, sau khi kết thúc pháp hội đồng tu, chúng ta đều có niệm Phật. Chúng ta lấy tu Mật pháp làm chính, lấy niệm Phật làm phụ. Tôi luôn nghĩ rằng, vì Mật pháp cần phải có người đại trí tuệ mới tu được, còn Tịnh Độ thì sao? Bất kể bạn là đại trí tuệ hay tiểu trí tuệ, tất cả đều có thể tu được. Cho nên, không bắt được chuyến bay đầu tiên thì có thể bắt chuyến thứ hai. Dù Mật pháp chưa tu đến tương ứng, nhưng nếu bạn niệm Tịnh Độ thuần thục, chư Phật Bồ Tát vẫn sẽ đến tiếp dẫn bạn vãng sinh. Vì vậy, Thượng sư truyền pháp không chỉ giảng Mật tông mà còn giảng Tịnh Độ, giăng nhiều tấm lưới như vậy chính là để bắt được cá.

Kinh A Di Đà này, số người được độ cũng không thể tính đếm được. Vì đây là kinh do Đức Phật thuyết giảng, và vì chúng ta tin Phật, nên chúng ta tin vào cõi Tịnh Độ của Phật A Di Đà. Khi chúng ta niệm danh hiệu của Ngài, Ngài nghe được tiếng gọi của chúng ta và sẽ đến tiếp dẫn. Giống như việc hôm nay các bạn vừa nghe tôi nói "Chủ nhân của tôi xin nghỉ một tiếng đồng hồ", các bạn đều tin đó là sự thật! Bởi vì các bạn tin tưởng Lư Thắng Ngạn! Nếu các bạn không tin lời tôi nói, thì đoạn vừa rồi của tôi chẳng khác nào nói khoác.

Từ đó chúng ta biết rằng: "Do tin vào lời dạy của Phật Thích Ca Mâu Ni và lời dạy của chư Phật sáu phương, việc niệm Phật thành Phật là nhân duyên lớn của đời người. Do vậy, mong rằng các vị cư sĩ hộ pháp, sau khi nghe pháp hãy giảng lại cho người khác. Thường xuyên có những giấc mộng tốt lành như vậy, huống chi là lưu thông Kinh Phật Thuyết A Di Đà, thọ trì đọc tụng, và giảng giải cho người khác. Công đức lợi ích này không thể dùng tâm suy nghĩ hay lời nói mà diễn tả được, đó chính là nhân quả của Phật vậy."

Trong những kinh Phật thuyết giảng, có kinh nói về khoa học, có kinh nói về triết học, thiên văn, địa lý, chính pháp, và cả những pháp phương tiện. Bậc đại trí giác ngộ như vậy rất hiếm có trên thế gian này. Bởi vì bản thân tôi cũng đã từng đến thế giới Tây phương Cực Lạc, và tôi còn cam đoan rằng, tôi là người từ thế giới Tây phương Cực Lạc đến, nếu sau này khi tôi ra đi, có lẽ cũng sẽ trực tiếp trở về nơi đó. Những điều tôi đã "thấy" trước đây đều rất chân thật, cho đến bây giờ vẫn còn rõ ràng như ở trước mắt vậy. Vì đã thực sự chứng kiến, nên tôi càng tin tưởng sâu sắc vào sự hiện hữu của thế giới Tây phương Cực Lạc.

Ngày nay các pháp sư thuyết giảng kinh, trong sách viết thế nào thì họ giảng y như vậy. Có người hỏi: "Thầy đã từng đến thế giới Tây phương Cực Lạc chưa?" Họ đáp: "Nếu tôi đã đến đó thì tôi đã chết rồi!" Như thể hỏi họ đã đến đó chưa là đang thúc họ mau chết vậy, bởi vì trên nhà tang lễ đều treo biển "Vãng sinh Tây phương" mà!

Tuy nhiên, hôm nay Thượng sư có thể nói với mọi người rằng: "Tôi thật sự đã đến đó, và tôi đã đến một lần, only one, chỉ một lần duy nhất. Về việc muốn đến đó lần nữa, Ngài nói: 'Đợi khi ra đi hẳn rồi hãy đến!'"

Vì vậy, tôi cam đoan với mọi người rằng thế giới Tây phương Cực Lạc thực sự tồn tại, và chư Phật ở đó vô cùng trang nghiêm. Mọi người có thể tin vào lời dạy của Phật Thích Ca Mâu Ni, và cũng có thể tin vào những lời tôi nói hôm nay. Chỉ cần chúng ta thường xuyên niệm Phật và tưởng nhớ đến Phật vào buổi sáng và tối khi có thời gian, với sự nhất tâm bất loạn, chắc chắn Phật sẽ đến tiếp dẫn chúng ta. Như pháp sư Lạc Quả đã dạy: "Tóm lại, tin vào lời Phật Thích Ca, tin vào lời chư Phật sáu phương, niệm Phật thành Phật, đó là nhân duyên lớn của đời người."

Tôi cảm thấy Phật Thích Ca Mâu Ni rất thông minh và có trí huệ lớn. Sự lựa chọn của Ngài khác với sự lựa chọn của người đời. Người đời nếu sinh ra là thân vương tử thì sẽ chọn làm vua trong tương lai, không muốn xuất gia, đây gọi là "nhân duyên lớn". Nếu ngày xưa Phật Thích Ca không xuất gia mà làm vua một nước nhỏ ở Ấn Độ thì ngày nay chẳng ai biết đến Ngài. Ngày nay ai biết tên các vị vua của những nước nhỏ ở Ấn Độ chứ! Nói thật, ngay cả các đời tổng thống Mỹ, tôi cũng chỉ biết một vài người, như Washington khai quốc, Lincoln, Wilson, Jefferson! Chỉ biết những người nổi tiếng này thôi, còn lại không biết. Cho nên thực tế mà nói, sự lựa chọn của Phật Thích Ca là đúng đắn, Ngài muốn xuất gia thành Phật, không muốn làm vua.

Nói thêm, trước đây khi tôi từ chức thiếu tá trong quân đội, cấp trên của tôi đã nói với tôi: "Đừng nghỉ! Nếu anh không nghỉ, tôi sẽ cho anh lên trung tá, và còn có thể thăng tiến xa hơn nữa, có thể lên đến thiếu tướng, làm tướng đấy!" Tôi nói: "Tôi không muốn, tôi không muốn làm tướng, bởi vì nếu bây giờ tôi làm tướng, chẳng có mấy ai biết đến tôi, chỉ có vài thuộc cấp biết tôi thôi." Vì vậy, ngày nay tôi học Phật cũng là vì nhân duyên lớn của đời người, nhờ đó mà hiện nay trên toàn thế giới mới có hơn trăm nghìn đệ tử.

Vì vậy sự lựa chọn ngày hôm nay, tất cả chúng ta đều đang chọn lựa một nhân duyên lớn trong cuộc đời, làm vua hay làm tướng đều không có ý nghĩa bằng việc học Phật. Giống như những người giàu có trên thế gian này, đôi khi người ta chưa chắc đã biết đến họ. Chúng ta hôm nay học Phật, học pháp chính là vì một nhân duyên lớn. Điểm xuất phát của chúng ta giống như Phật Thích Ca Mâu Ni vậy, như thế cuộc đời của chúng ta sẽ có ý nghĩa hơn bất kì ai khác.

Pháp sư Lạc Quả dạy: "Như vậy, mong rằng các vị cư sĩ hộ pháp, sau khi nghe pháp hãy giảng lại cho người khác. Thường xuyên có những giấc mộng tốt lành như vậy, huống chi là lưu thông Kinh Phật Thuyết A Di Đà, thọ trì đọc tụng, và giảng giải cho người khác. Công đức lợi ích này không thể dùng tâm suy nghĩ hay lời nói mà diễn tả được, đó chính là nhân quả của Phật vậy." Chúng ta đều là những người có nhân Phật và quả Phật, hôm nay nghe Kinh Phật Thuyết A Di Đà, chúng ta phải thường xuyên giảng về công đức của Phật A Di Đà cho mọi người, in ấn Kinh Phật Thuyết A Di Đà, thường xuyên niệm Phật, hoặc đọc tụng kinh này, và thường xuyên giảng giải kinh này cho người khác. Điều này mang lại rất nhiều công đức và có ý nghĩa sâu sắc. Người giảng kinh là gieo nhân Phật vào tâm chúng sinh, còn người nghe sẽ đạt được quả Phật! Hôm nay xin giảng đến đây.

Om mani padme hum.


### 03. Trình bày "A Di Đà Kinh Thích Yếu" (3)


"Phật Thuyết A Di Đà Kinh" là do Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng về Phật A Di Đà, không phải Phật A Di Đà thuyết giảng về Phật Thích Ca Mâu Ni. Giảng tới giảng lui đều là A Di Đà Phật, không giảng cũng là A Di Đà Phật, bây giờ giảng cũng là A Di Đà Phật, một lát nữa giảng xong vẫn là A Di Đà Phật.

Tại sao phải giảng về Phật A Di Đà? Bởi vì chỉ cần thọ trì danh hiệu của Phật A Di Đà thì sẽ có công đức và lợi ích. Bản thân Thượng sư cũng thường niệm A Di Đà Phật, khi các bạn đảnh lễ Thượng sư, Thượng sư liền niệm "Nam mô A Di Đà Phật", điều này là niệm cho các bạn nghe, để in vào tâm các bạn, để trong tâm có hạt giống Phật, sau này sẽ nảy mầm và phát triển.

Chúng ta thường niệm A Di Đà Phật cho người khác, đây chính là "nhân Phật" và "quả Phật".

Thật ra, trước khi có "Phật Thuyết A Di Đà Kinh", trên thế gian này đã có A Di Đà Phật rồi, A Di Đà Phật là vị Phật tồn tại vĩnh hằng. Hôm nay, có lẽ các bạn không biết A Di Đà Phật tối nay có đến hay không? Thực ra không đến mà cũng có đến. Bởi vì Ngài không đến không đi, không ở đây mà cũng ở đây, cho nên gọi là "Như Lai".

Niệm Phật có thể thành Phật, tại sao vậy? Bởi vì bản thân bạn vốn là Phật. Khi bạn niệm Phật, miệng được thanh tịnh; khi tai nghe được Phật, tai được thanh tịnh; khi tai nghe được Phật, ấn Phật này khắc vào tâm bạn, tâm bạn được thanh tịnh. Nhờ những yếu tố này mà bản thân tự chuyển hóa thành hình tượng Phật.

Pháp niệm Phật của Tịnh Độ tông thực ra cùng một nguyên lý với việc tu hành và thành Phật của Mật tông. Hôm nay cũng có người hỏi tôi: "Thầy học Mật tông, tại sao lại giảng Kinh A Di Đà?" Thực ra Kinh A Di Đà của Tịnh Độ tông chính là pháp phương tiện của Mật tông. Khi chúng ta niệm Phật, miệng sẽ không nói lời thô tục; khi chúng ta niệm A Di Đà Phật, tai chỉ nghe được danh hiệu A Di Đà Phật; khi chúng ta quán tưởng hình tướng trang nghiêm của Phật trong tâm, đó chính là pháp quán tưởng của Mật tông. Như vậy không phải là tam mật thành tựu sao? Ngày nay ở Đài Loan có rất nhiều tông phái, phần lớn nghi thức lễ bái và tu hành của họ đều dùng niệm tưởng.

Tuy bản thân chúng ta học Mật tông, nhưng cũng dạy mọi người niệm Phật, vì vậy cần phải giảng quyển Kinh A Di Đà này cho mọi người.

Mấy câu tiếp theo là: "Nay giải thích kinh này, xin tuân theo Thiên Thai tông, giải thích theo Ngũ trùng huyền nghĩa." Ý nghĩa là: hôm nay khi giải thích Kinh A Di Đà này, vẫn phải theo phương pháp của Thiên Thai tông để giải thích bộ kinh điển này.

Khi Thiên Thai tông giải thích và phiên dịch tất cả kinh điển, đều phải giảng về "Ngũ trùng huyền nghĩa". "Ngũ trùng" nghĩa là năm tầng, năm trình tự - từ một đến năm. Còn "huyền nghĩa" là gì? Đó là dùng cách diễn giải huyền diệu để giải thích ý nghĩa bên trong kinh.

Ngũ trùng gồm: Thứ nhất, "Thích danh" là giải thích tên kinh. Thứ hai, "Biện thể" là giải thích thể tướng của bản kinh. Thứ ba là "Minh tông", làm rõ tông chỉ của kinh, Đức Phật thuyết kinh này với mục đích gì? Thứ tư là "Luận dụng", bàn về cách vận dụng bộ kinh này như thế nào, có những phương pháp nào để ứng dụng? Thứ năm là "Phán giáo", nghĩa là phân định giáo pháp của Phật để độ chúng sinh, xem xét độ nông sâu của giáo pháp đó.

Vì vậy, khi giải thích bộ kinh này, chúng ta sẽ dùng năm phương pháp này, thông qua hỏi và đáp để giải thích bộ kinh điển này.

Hôm nay giảng "Phật Thuyết A Di Đà Kinh" đến đây.

Om mani padme hum.


### 04. Ngũ trùng huyền nghĩa — Thích danh


Trước tiên chúng ta sẽ nói về tầng thứ nhất trong Ngũ trùng huyền nghĩa. Tầng thứ nhất chính là "Thích danh", nghĩa là giải thích tên của bộ kinh này. Bộ kinh này lấy gì làm tên? Đó chính là năm chữ "Phật Thuyết A Di Đà". Thực ra, bộ kinh này dùng tên của hai vị làm tên kinh, một vị là Phật Thích Ca Mâu Ni, vị kia là Phật A Di Đà, tức là Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng về Phật A Di Đà. Tại sao nói là người thuyết giảng? Bởi vì lúc đó Phật Thích Ca Mâu Ni là người!

Tại sao nói Phật A Di Đà cũng là người? Chúng ta giải thích rằng cả hai vị đều là những người đã chứng đắc quả vị giác ngộ tối thượng vi diệu. Vậy thế nào là Phật? Đại giác chính là Phật. Khi một người đạt được đại giác ngộ, danh hiệu của người đó chính là "Phật".

Vì thế trong kinh Phật có câu: "Người giác ngộ là Phật, người chưa giác ngộ là chúng sinh." Cho nên có thể nói hai vị này đều là "bậc cứu cánh", nói cho cùng, đó là "con người chân chính". Vậy chúng ta là người gì? Chúng ta không phải là người sao? Nếu ai đó nói chúng ta không phải là người, chúng ta sẽ rất tức giận. Không sao cả! Chúng ta không phải là người, mà là Phật. Lần sau có người mắng bạn: "Anh không phải là người!" Bạn có thể nói: "Không sao cả! Vì tôi là Phật".

Đức Phật - Phật Thích Ca Mâu Ni và Phật A Di Đà đều là những bậc giác ngộ viên mãn. Hai chữ "viên mãn" này thật sâu sắc! Đó chính là những bậc đã đạt được chân lý, thông đạt được đại đạo, vì vậy khi bắt đầu giải thích thì trước tiên phải giải thích tên của bộ kinh này.


### 05. Ngũ trùng huyền nghĩa — Biện thể


Trong Ngũ trùng huyền nghĩa, tầng thứ hai là "Biện thể", nghĩa là phân biệt bộ kinh này thuộc thể loại gì? Thuộc dạng thể văn như thế nào? Kinh Phật Thuyết A Di Đà lấy gì làm thể? Lấy "thực tướng" làm thể. Vậy thực tướng là gì? Thực tướng còn gọi là phi tướng, nghĩa là không có tướng, không không tướng. Như đã viết ở trên "vô phi hữu phi vô tướng" và "ly tứ tướng, tuyệt bách phi". Trong đó, "tứ tướng" được nhắc đến trong Kinh Kim Cang, đó là "vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng", nghĩa là không còn bốn tướng này. Vì vậy, khi không còn bốn tướng này, gọi là "thực tướng".

Tôi giải thích về "vô ngã tướng". Hôm nay tôi đang thuyết pháp ở đây, hôm nay tôi không thuyết pháp ở đây, hai điều này mâu thuẫn với nhau. Hiện giờ tôi đang thuyết pháp ở đây, các bạn có tin không? Các bạn tin! Nhưng nếu tôi nói rằng hôm nay tôi không thuyết pháp ở đây, các bạn có tin không? Các bạn không tin! Bởi vì hiện giờ đang thuyết pháp. Nhưng giả sử tất cả các bạn đều đã về hết, tôi cũng đã đi rồi, bỗng nhiên có một người đến, bên trong không có ai cả, người đó có tin rằng hôm nay tôi thuyết pháp không? Người đó không tin. Ở đây có một vấn đề tồn tại: có "ngã" thì có phiền não, không có "ngã" thì không có phiền não.

Phiền não trên thế gian này đều do cái "ngã" mà sinh ra. Hôm nay có người chửi người khác, tôi không phiền não, nhưng chửi tôi thì tôi phiền não, đi kiện ra tòa, ra tòa kiện người ta, vì anh chửi tôi nên tôi kiện anh, đó chính là có cái "ngã", có cái "ngã" xuất hiện. Giả như bạn tu luyện đến mức không còn "ngã", thì lời chửi từ đây vào, đi qua đây, rồi từ phía sau đi ra, vì không chạm được vào "ngã" nên những lời chửi đó vô dụng, do đó không có phiền não. Chúng sinh có phiền não là vì có "ngã tướng", cho nên chư Phật Bồ Tát dạy chúng ta phải "vô ngã tướng".

Hôm nay người khác có tiền là chuyện của họ, nhưng đôi khi nói đến chuyện có tiền sẽ bị người khác ghen tị, bởi vì "ngã tướng" hiện ra; không có tiền bạn cũng phiền não, vì "ngã tướng" cũng hiện ra. Giả như bỏ được cái "ngã" này đi, bạn sẽ không ghen tị với người khác, cũng không bị người khác ghen ghét. "Ngã tướng" chính là nguồn gốc của phiền não, điều này rất sâu sắc, vì vậy người tu hành phải tu đến mức "vô ngã tướng". Hiện giờ tôi đã tu đến mức chỉ còn nửa cái ngã, có người đánh vào bên này, vừa hay đánh trúng nửa phần "không có" của tôi, tôi không cảm thấy đau, còn nếu muốn đánh bên này, tôi tránh sang bên kia, cũng đánh trúng nửa phần không có. Tuy tôi vẫn thấy bạn muốn đánh tôi, nhưng phiền não chỉ còn chút ít.

"Vô nhân tướng" là gì? Đó chính là không có ta, cũng không có người. Có cái ta thì sẽ nảy sinh cái tâm tự ngã; có cái người thì sẽ có sự so sánh. Vì vậy, Đức Phật dạy chúng ta phải vô nhân tướng. Ví dụ: khi có sự so sánh giữa hai bên, tôi cũng tin Phật, bạn cũng tin Phật, tôi nói Phật của tôi lớn hơn Phật của bạn, bạn nói Phật nhà bạn linh ứng hơn Phật nhà tôi; tôi hỏi bạn tụng chú gì? Người đó nói họ tụng chú vãng sinh, tôi nói tôi tụng chú Thất Phật, tôi hơn bạn sáu vị Phật. Thôi xong! Như vậy, "có ta", "có người", lại còn so sánh nữa, thế thì gay go rồi! Tôi muốn hỏi bạn, bạn tu pháp gì?

Tu Hoàng Tài Thần, họ nói Hoàng Tài Thần chuyên kiếm tiền; rồi họ hỏi tôi tu gì? Tôi tu Dược Sư Phật. Tôi liền nói: Dược Sư Phật của tôi chuyên cứu độ chúng sinh, chuyên cứu người, còn Thần Tài của anh chỉ có mùi tiền. Đây chính là "có ngã tướng", "có nhân tướng" đều hiện ra, so sánh lẫn nhau, đấu tranh lẫn nhau. Vì vậy chúng ta không thể rơi vào cái bẫy đấu tranh. Bởi vì Phật giáo dạy chúng ta phải "vô ngã", "vô nhân", phát triển rộng ra thành "không có chúng sinh", cuối cùng trở thành "vô vi mà làm". Trụ trong Niết bàn rồi lại ra khỏi Niết bàn, tất cả đều tự do tự tại. Người thực sự đạt đến cảnh giới này mới thực sự không còn bốn tướng.

Chỉ khi đã trừ hết bốn tướng mới gọi là tuyệt bách phi, chỉ khi đã lìa bốn tướng mới gọi là thực tướng. Theo lời Phật Thích Ca Mâu Ni dạy, chỉ khi đạt đến cảnh giới "trừ tứ tướng, tuyệt bách phi" mới được gọi là cảnh giới thực tướng, mới thực sự là như ý. Tất nhiên, cảnh giới này rất cao, không phải người bình thường như chúng ta có thể đạt được. Vì vậy hiện giờ tôi mới tu được một nửa, mỗi lần chụp ảnh phóng quang vẫn còn lộ ra một tay một chân. Cho nên nếu bạn đánh vào tay tôi, đánh vào chân tôi, tôi vẫn sẽ đá lại bạn.

Hôm nay tôi giảng về "biện thể", biện thể chính là lấy thực tướng làm thể. Trước đây có một đồng môn tranh luận với tôi về vấn đề này. Anh ấy nói: "Thế giới Tây phương Cực Lạc có những nơi đẹp đẽ như vậy, làm sao có thể là thực tướng được? Vậy thể của Kinh Phật Thuyết A Di Đà là thực tướng, có đúng không?" Tôi trả lời anh ấy như thế này: "Anh nhìn thấy tướng, tôi nhìn thấy không, tất cả cảnh tượng ở thế giới Tây phương Cực Lạc của Phật A Di Đà là một sự biến hóa, là từ không mà biến thành có; vì vậy người nhìn bề ngoài sẽ thấy tướng, người nhìn bên trong vẫn thấy là không."

Vậy nên hôm nay Lư Thắng Ngạn đang thuyết pháp ở đây, có hay không? Không! Bởi vì nếu phân tích ra, đây chỉ là quần áo, lời tôi nói ra chỉ là một thứ vô hình, toàn thân thể tách ra chỉ là thịt, xương và máu, khi tách rời ra thì chẳng có người. Vậy cái "tôi" này ở đâu? Thiền tông bảo người ta tham cứu "hiện giờ tôi đang ở đâu?", "ai đang thuyết pháp?". Nếu bây giờ các bạn có thể nói ra được "ai đang thuyết pháp", thì tất cả các bạn đều thành Phật.

Om mani padme hum.


### 06. Ngũ trùng huyền nghĩa — Minh tông


"Minh tông": "Sau khi biện thể phải minh tông, hỏi kinh này lấy gì làm tông, đáp lấy tín nguyện trì danh làm tông; hỏi tin là tin điều gì? Đáp tin lời Phật Thích Ca thuyết."

Bởi vì tin vào lời Phật Thích Ca Mâu Ni dạy. Đã từng có người hỏi tôi: "Phật là gì?" Có người nói: "Tâm chính là Phật, Phật chính là tâm." Chúng ta vì trong tâm nghĩ Phật, niệm Phật, nên có thể thành Phật. Tông phái này xem tâm người như một thửa ruộng - tâm điền, tức là mảnh ruộng tâm. Trong mảnh ruộng này chúng ta trồng đậu thì được đậu, trồng dưa thì được dưa. Hôm nay chúng ta gieo hạt giống Phật vào tâm điền, thì sẽ sinh ra Phật tử, thật ra, pháp này chính là một loại nhân quả.

Bởi vì chúng ta thường xuyên niệm Phật, miệng niệm, tai nghe, tâm nghĩ đến, đây là một phương pháp đơn giản nhất. Chính vì đơn giản nên mới có thể độ được nhiều chúng sinh; nhưng cũng vì quá đơn giản nên có nhiều người không tin. Vậy tại sao chúng ta phải tin vào bộ kinh này? Bởi vì đó là lời Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng. Chúng ta tin vào lời Phật Thích Ca Mâu Ni dạy, nên chúng ta tin rằng niệm Phật có thể thành Phật. Trong kinh còn nói rằng, đây là sự tán thán chung của chư Phật sáu phương. Đã là chư Phật sáu phương cùng tán thán thì chắc chắn phải vô cùng chân thật.

Theo tôi biết, có rất nhiều người niệm Phật đã thành Phật. Từng có một người thợ rèn, ông tự đặt ra quy tắc là mỗi lần đập sắt phải niệm một tiếng Phật, nên mỗi ngày ông vừa rèn sắt vừa niệm Phật, cho đến lúc sắp rời khỏi thế giới này vẫn còn đang rèn sắt. Ông có một bài kệ nổi tiếng rất hay: "Binh binh bang bang, rèn sắt thành gang; ta nay niệm Phật, vãng sinh Tây phương." Ông vừa rèn sắt vừa niệm bài kệ này, niệm xong, đứng thẳng mà vãng sinh.

Vì vậy mọi người hãy nghĩ xem: một người thợ rèn vì mỗi ngày đều rèn sắt, cứ đập một nhát sắt lại niệm một câu "A Di Đà Phật", cứ như vậy cho đến khi đứng niệm một bài kệ rồi thành Phật. Người thợ rèn này tất nhiên không có nhiều kiến thức, hoàn toàn dựa vào sức lao động của bản thân để kiếm sống. Bản thân ông không có kiến thức cao siêu gì, bạn nói với ông về bất kì quyển kinh nào trong Đại Tạng Kinh ông đều không hiểu, chỉ biết một câu "A Di Đà Phật", ngoài ra không biết gì khác, nhưng ông vẫn cứ rèn sắt, và vẫn thành Phật.

Vì vậy, tông phái này là một tông phái thành Phật rất thuận tiện. Khi chúng ta học Phật, nếu có thể học được với lòng kiên trì như vậy, mỗi ngày niệm Phật không ngừng, và niệm Phật đến mức thuần thục, thì cũng có thể vãng sinh. Thực ra, chỉ cần bốn chữ này là có thể thành Phật: "tín nguyện trì danh". Giống như khi tôi gặp mọi người cũng sẽ niệm một câu "A Di Đà Phật", gặp một người niệm một câu, gặp hai người niệm hai câu. Hôm nay có bao nhiêu người đến thì niệm bấy nhiêu câu "A Di Đà Phật", vì vậy, tôi cũng đang tu pháp này.

Các bạn hãy tự nghĩ xem, mỗi ngày các bạn niệm được bao nhiêu câu "A Di Đà Phật"? Có nhiều người đang chuyển hàng, thì mỗi khi chuyển một món có thể niệm một câu "A Di Đà Phật". Đôi khi, chúng ta có thể tìm cơ hội trong lúc làm việc, như là khi làm bất cứ việc gì, đều có thể niệm một câu "A Di Đà Phật". Ví dụ như làm việc ở bưu điện, tôi thấy trong ti vi có người đang đóng dấu bưu điện, vừa nhai kẹo cao su vừa đóng dấu; thực ra họ có thể mỗi lần đóng dấu là niệm một câu, cứ "bộp, bộp" đóng dấu như vậy, chắc chắn cũng sẽ có thành tựu.

Chỉ cần có lòng kiên trì, tôi tin rằng khi bạn niệm danh hiệu Ngài, Đức Phật ngồi ở nơi đó, ngồi ở Tây phương xa xôi, bạn đã niệm danh hiệu Ngài lâu như vậy mà Ngài vẫn không động lòng thì còn gọi là Phật được sao! Bởi vì bạn luôn niệm danh hiệu của Ngài, chắc chắn Ngài sẽ rất gần gũi với bạn. Khi bạn sắp lâm chung, Ngài nhất định sẽ đến nắm lấy bạn, dù cho bạn đã kiệt sức, nhưng chỉ cần Ngài nâng lên một cái, bạn sẽ về được Tây Phương.

Vì vậy người Trung Quốc có câu tục ngữ: "Lâm thời ôm chân Phật", có thể nói là lúc chết, khi sắp chết mới ôm chân Phật. Tuy nhiên, trong kinh Phật có dạy, dù bạn lâm thời ôm chân Phật vẫn có tác dụng, bởi vì Bồ Tát vốn từ bi mà! Người đệ tử này đã lâu không nghĩ đến ta, đến lúc chết mới niệm danh hiệu ta, nhưng Phật được gọi là Đại Từ Phụ (người cha đại từ đại bi), Đại Từ Mẫu (người mẹ đại từ đại bi), dù bạn không tốt, nhưng lúc lâm chung còn nghĩ đến Ngài, Ngài vẫn sẽ kéo bạn một cái.

Nghe nói ở thế giới Tây phương Cực Lạc cũng có trường mẫu giáo, phải bắt đầu từ lớp mẫu giáo. Có những người trước đây thường xuyên niệm Phật hàng ngày, đã niệm đến mức hình thành dáng Phật, chỉ trong chớp mắt, bên này vừa mất thì bên kia đã hiện ra. Còn những người "lâm thời ôm chân Phật" tất nhiên cũng có thể vãng sinh, nhưng chỉ được vãng sinh vào trường mẫu giáo của cõi Phật.

Ở đây nói rằng, chỉ cần trì danh hiệu Phật tức là niệm Phật, khi niệm Phật đến lúc công phu thuần thục, đạt đến trạng thái nhất tâm bất loạn, thì sẽ đầy đủ vô lượng công đức. Vô lượng công đức này, đương nhiên chính là thành Phật. Thực ra, một người niệm Phật, muốn niệm đến mức nhất tâm bất loạn, quả thật không phải dễ dàng.

Bởi vì nhất tâm bất loạn chính là thiền định, cũng chính là cảnh giới Tam ma địa mà Mật tông chúng ta thường nói, niệm Phật cũng có thể niệm đến mức nhập Tam ma địa. Bởi vì niệm Phật là để tập trung tinh thần; thiền định cũng là để tập trung tinh thần; Mật tông nhập Tam ma địa cũng là để tập trung tinh thần. Thực ra, những tông phái này đến cuối cùng đều đi cùng một con đường, khi đạt đến cảnh giới đó chính là "nhất tâm bất loạn". Bởi vì khi bạn niệm Phật đến mức nhất tâm bất loạn, tâm sẽ không còn điên đảo. Khi cảnh giới khác đến lôi kéo bạn sẽ không thể lôi kéo được, bởi vì tâm bạn chỉ hướng thẳng về Tây phương.

Quyển Kinh A Di Đà này lấy "tín nguyện trì danh" làm tông chỉ. Lấy "tín nguyện trì danh" làm tông chỉ chính là Tịnh Độ tông.

Mục đích cuối cùng là vãng sinh về tịnh thổ. Tôi hy vọng sau này ở thế giới Tây phương Cực Lạc sẽ thấy mọi người đều là những liên hoa đồng tử hóa sinh từ hoa sen, ai ai cũng thành Phật. Đừng để khi viện trưởng đến thăm trường mẫu giáo, lại thấy các bạn đều là những đứa trẻ sơ sinh, lúc đó nhìn lại mới biết là bạn chưa từng niệm Phật tu hành, đến lúc sắp chết mới kêu vài tiếng.

Tuy nhiên, tôi hy vọng rằng dù thế nào đi nữa, mọi người phải thường xuyên niệm Phật, và đừng quên. Đừng như những người thế tục thông thường, đến lúc lâm chung vẫn còn nhớ nghĩ đến ông bà cố, cha mẹ, rồi mọi người khóc lóc thảm thiết. Ah! Tệ nhất là vẫn còn lo nghĩ về tài khoản ngân hàng, kim cương, vàng bạc có cất giữ an toàn không.

Vì vậy, điều quan trọng nhất chỉ có một câu: "Nhất tâm thành Phật, nhất tâm niệm Phật." Khi lâm chung chỉ cần "nhất tâm niệm Phật" mà thôi, không nên nghĩ đến điều gì khác.

Om mani padme hum.


### 07. Ngũ trùng huyền nghĩa — Luận dụng


Kinh A Di Đà, đến điểm thứ tư là "luận dụng", nghĩa là bàn về tác dụng của bộ kinh này. Bộ kinh này do Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng, vậy việc giảng bộ kinh này có tác dụng gì? Có công dụng gì? Câu trả lời của bộ kinh này là: nhằm giúp hành giả vãng sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc và không còn thối chuyển. Mục đích quan trọng nhất trong bộ kinh này chính là "vãng sinh tịnh thổ".

Trước đây trong kinh Phật thường đề cập đến việc nhiều tông phái đều phải dựa vào sức mình để tu hành, như Mật tông cần rất nhiều tự lực, Thiền tông cũng chủ trương dựa vào sức mình để tu. Tuy nhiên, trong Kinh A Di Đà dạy rằng: cần một phần tự lực, nhưng cũng cần nương vào sức mạnh của Phật.

Thiền tông thông thường hoàn toàn dựa vào việc tự mình tọa thiền, cho đến khi tâm quang của mình tỏa chiếu, rồi cùng vũ trụ giao hòa, nghĩa là dùng sức mạnh tâm linh của chính mình để thành Phật, lấy "vô niệm làm tông", dùng sức tu của bản thân để thành Phật.

Mật tông tuy dựa vào quán tưởng, trước tiên quán tưởng Phật, sau đó vận dụng sức mạnh của chính mình (cũng cần dựa vào lửa đan điền của bản thân), rồi luyện thành bảy luân xa, khai mở đỉnh đầu, và trực tiếp thành Phật. Vì vậy, Tam Bảo của Mật tông nói về: khí, mạch, điểm.

Về "khí" thì sao? Trước tiên vận khí trong cơ thể ra, đạo lý là trước hết vận khí khắp toàn thân, tức là dẫn khí này thông qua các kinh mạch toàn thân, sau đó tập trung khí tinh thuần nhất kết thành một điểm. Vậy điểm này thì sao? Thông qua bảy luân xa, từ đan điền đi lên đến Tề luân, đến Tâm luân, đến Hầu luân, đến Mi tâm luân, đến đỉnh khiếu, rồi thoát ra. Mật tông chính là nói về pháp tu "khí mạch điểm" này, rồi vận chuyển cho đến khi hòa nhập vào vũ trụ.

Vì vậy, tu Mật tông và Thiền tông đều khá khó khăn, nhưng tu Tịnh Độ tông lại đơn giản nhất, bởi vì bạn chỉ cần dựa vào việc niệm Phật, không cần phải tu "khí mạch điểm", cũng không cần phải tu cái "vô niệm mà niệm", "vô vi mà vi", "vô tâm mà tâm" này nọ, không cần phải tu những thứ đó.

Thực ra, Tịnh Độ tông giống như nói rằng, bình thường tôi chỉ niệm Phật, niệm "Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật", bởi vì niệm lâu ngày thì sẽ quen. Giống như việc cầu nguyện hàng ngày vậy, ngày nào cũng cầu nguyện, thì Phật ở trong hư không sẽ nghe được lời cầu nguyện của bạn mỗi ngày. Trước đây có người hỏi tôi: Ngày nào cũng cầu nguyện với Ngài như vậy, Ngài có bị phiền không? Thực ra Ngài không phiền đâu, bởi vì tâm lượng của Ngài rất lớn, Ngài không giống như chúng ta chỉ là một con người, tâm lượng của Ngài rất rộng lớn.

Giống như trước đây khi tôi còn ở Đài Loan, sáng sớm vừa mở cửa ra là đã có hơn ba trăm người ùa vào như thác nước chảy vào phòng khách. Ai cũng phải xếp hàng, lấy giấy, đăng ký, rồi cãi nhau, đánh nhau. Hồi đó ở Đài Loan, cứ 8 giờ sáng mở cửa là bắt đầu hỏi việc cho đến 12 giờ trưa, có khi không kịp ăn cơm trưa. Lúc đó tôi quy định mỗi người chỉ được 3 phút, nhưng nhiều người vừa đến đã chuẩn bị sẵn cả mấy tờ giấy câu hỏi.

Thật ra, với sức một mình tôi đối phó với nhiều người như vậy, dĩ nhiên tôi rất đau đầu và phiền lòng, bạn biết đấy, bên này hỏi, bên kia cứ hỏi liên tục không ngừng. Tuy nhiên có một điều rất kỳ diệu là chỉ cần tôi ngồi trên chiếc ghế tiếp khách đó, liên tục bảy tám tiếng đồng hồ mà không cần đi vệ sinh lấy một lần, giống như vòi nước bị khóa vậy.

Như thể có một lưới ánh sáng từ trên không trung bao phủ lấy mình, người ta hỏi gì là trả lời ngay đó, lại không hề cảm thấy mệt mỏi, thật là lạ. Nhưng đôi khi cũng cảm thấy, cứ phải lặp đi lặp lại những ngày như thế này, quả thật là một việc rất phiền não.

Vậy, khi chúng ta thường xuyên niệm Phật và tưởng nhớ đến chư Phật Bồ Tát như vậy, liệu Phật có cảm thấy phiền không? Thực ra là không! Tại sao vậy? Bởi vì con người chỉ là một phần rất nhỏ trong thế giới này, trong khi ánh sáng của vũ trụ mạnh hơn con người không biết bao nhiêu lần. Hiện nay nhân loại có bao nhiêu tỷ người? Tôi biết riêng Trung Quốc đại lục đã có một tỷ người, nghe nói đó cũng là con số lớn nhất!

Tuy nhiên, ở thế giới Tây Phương Cực Lạc có đến "ba mươi sáu vạn tỷ" vị Phật A Di Đà. Vì vậy, khi chúng ta niệm một tiếng A Di Đà Phật, chỉ cần một vị Phật nghe thấy là đủ rồi, có những vị còn chưa nghe thấy nữa! Cho nên trái đất nơi chúng ta đang sống, trong mắt Phật A Di Đà chỉ nhỏ bé như một hạt cát mà thôi. Vì thế, việc các ngài cứu độ chúng ta rất đơn giản, và các ngài cũng không cảm thấy phiền hà gì, bạn cứ việc niệm lớn tiếng, nếu bạn có thể niệm được ba vị Phật đến thì càng tốt.

Trong bộ kinh này dạy rằng, hy vọng bạn có thể cầu nguyện mỗi ngày, mỗi ngày niệm Phật. Tuần trước tôi có nói: ít nhất khi bạn đang niệm Phật, bạn sẽ không chửi mắng người khác; ít nhất khi bạn đang niệm Phật, trong tâm trí bạn sẽ không có những ý nghĩ xấu xa; ít nhất khi bạn đang niệm Phật, tay bạn sẽ không làm điều xấu.

Thật ra, khi bạn niệm Phật, miệng bạn đang tụng thần chú; khi niệm Phật, trong tâm trí cũng sẽ nghĩ đến hình tượng Phật; đôi tay bạn cũng sẽ chắp lại, và khi tay chắp lại chính là kết thủ ấn; khi tâm trí nghĩ đến Phật, đó chính là quán tưởng.

Vì vậy, nói đến cùng, việc niệm Phật của Tịnh Độ tông, do niệm đến mức ý nghĩ, tư tưởng tạo ra sóng não hướng lên trên rung động, một khi sóng não phát sinh, tất cả chư Phật A Di Đà ở thế giới Tây Phương Cực Lạc đều nhận được sóng não của bạn.

Một ngày nào đó khi việc niệm Phật của bạn đã thuần thục, cứ niệm mãi cho đến khi thuần thục, sức mạnh sóng não của bạn sẽ rất lớn, tạo ra một lực hút, một sức hút từ sự khẩn cầu. Khi thân thể này (ngôi nhà này) sắp hư hoại, lúc đó vừa buông bỏ thân xác, chỉ còn lại năng lượng của tâm niệm vừa phát sinh, từ sóng não này vừa phát ra, Phật sẽ kết nối với bạn, hai luồng ánh sáng giao nhau, một khi hút là sẽ đưa bạn về thế giới Tây phương Cực Lạc.

Tông phái này chính là tông phái vãng sinh bất thoái. Nghĩa là khi bạn niệm Phật đến mức trong não phát sinh từ trường, có thể hút A Di Đà Phật xuống, Ngài sẽ đưa bạn lên, đó chính là cách vãng sinh. Sức mạnh này bao gồm lực của chính bản thân và lực của Phật ban xuống, hai bên giống như hai nam châm hút nhau vậy, một khi đến gần nhau sẽ phát ra tiếng "cạch" và dính vào nhau.

Tuy nhiên, Thiền tông và Mật tông thì khác. Trong Thiền tông và Mật tông, chư Phật đứng vững một chỗ, bạn phải tự tu, tu cho đến khi có đủ năng lực mới có thể tiến lên phía trước để gần gũi với các Ngài, không phải là sự tương tác từ cả hai phía. Vì vậy Tịnh Độ tông dễ hơn, còn Thiền tông và Mật tông thì khó hơn.

Bây giờ mọi người nghĩ xem: Ôi! Vậy tại sao chúng ta lại học Mật tông! Chúng ta học Tịnh Độ tông là được rồi. Tịnh Độ tông có một cách nói rằng, tông phái này thu nhận tất cả mọi người, từ người có trí tuệ cao cho đến người có trí tuệ thấp.

Bởi vì chúng ta ở đây đều là những người có trí tuệ cao, nên chúng ta mới học Mật tông, ai cũng không muốn bị người khác xem là kẻ có trí tuệ thấp. Tuy nhiên, vì bản thân chúng ta có nhiều mặt còn trí tuệ thấp và sức lực chưa đủ để tu Mật, nên tông phái của chúng ta cũng có pháp môn niệm Phật. Mặc dù chúng ta tu Mật, nhưng trong Mật giáo cũng có đặt vào pháp môn Tịnh Độ. Ví như cảnh giới của Phật A Di Đà ở thế giới Tây phương Cực Lạc, đó là cảnh giới của chính bạn. Khi bạn tu Mật tông, ồ! cứ tiến lên, đến một điểm nào đó không leo lên được nữa, cứ lăn hoài ở đó, vừa hay chúng ta lại có niệm Phật, Ngài cũng đến gần, "cạch"!

Vì vậy những người tin theo tông phái của chúng ta, không sót một ai, tất cả đều về Tây phương. Người có khả năng thì đi tàu vũ trụ, người không có khả năng thì đi máy bay, ở đây chúng ta không có ai phải đi xe đạp cả, đây chỉ là ví dụ thôi. Thực ra, giống như là nói nếu đã không bắt kịp tàu tốc hành, thì chúng ta đi tàu chậm như ở Đài Loan vậy, từ từ mà đi, người nhanh người chậm cuối cùng đều đến cùng một nơi, không ai thiệt thòi gì.

Tôi thấy người nhanh không cần kiêu ngạo, người chậm cũng đừng buồn phiền, bởi vì đi chậm có một cái lợi là có thể ở thế gian ăn thêm vài bát cơm, phải không? Còn có thể trải qua thêm vài mối tình nữa, lên thiên đường quá sớm, chưa chắc đã có những niềm vui gì tốt đẹp.

Om mani padme hum.


### 08. Ngũ trùng huyền nghĩa — Phán giáo tướng


Điều thứ năm trong Ngũ trùng huyền nghĩa được gọi là "Phán giáo tướng". Những giáo lý mà Đức Phật đã giảng, mỗi bộ kinh đều tương đương với một "giáo". Đức Phật vì muốn cứu độ chúng sinh đã thuyết rất nhiều pháp, trong đó có những pháp rất sâu sắc, cũng có những pháp rất đơn giản. Đừng nghĩ rằng bộ kinh này, "Phật Thuyết A Di Đà Kinh", hoặc những giảng dạy về Tịnh Độ là những điều đơn giản.

Bởi vì ba đời chư Phật cũng đều sinh ra từ bộ kinh này. Bộ kinh này cũng là giáo lý viên mãn mà Đức Phật đã thuyết giảng.

Tuy nhiên, bên trong cũng mang một ý nghĩa "phương tiện", đây chính là điểm rất quan trọng của bộ kinh này.

Những điều đã nói về Ngũ trùng huyền nghĩa ở trên, trước khi đề cập đến kinh văn, năm loại giáo tướng này đều đã được giảng giải. Từ tuần sau mới thực sự giảng đến kinh văn. Hôm nay xin dừng tại đây!

Om mani padme hum.


### 09. Giải thích tên kinh — Phật (1)


Hôm nay giảng về "Phật Thuyết A Di Đà Kinh", vẫn chưa lật đến trang đầu tiên, chỉ mới nhìn thấy tiêu đề của sách mà thôi, tiêu đề này cần giải thích thành ba phần.
Phần thứ nhất là "Phật".
Phần thứ hai là "Thuyết".
Phần thứ ba là "A Di Đà".

Trước tiên nói về "Phật". Mọi người đều biết, hiện nay mọi người tin theo đều là Phật giáo. Trước tiên hỏi mọi người: "Phật là gì?" Chắc chắn mọi người sẽ nói: "Không phải hỏi thừa sao?" Mọi người sẽ nói: "Phật là vị ngồi ở đó."
"Rốt cuộc Phật là gì?"
"Phật ở phương Tây sao?"
"Phật ở trong temple (ngôi chùa) sao?"
"Phật ở trong tâm của bạn sao?"

À! Phật có thần thông, có thể biến hóa đủ kiểu! Có người nói, mẹ của bạn chính là Quan Thế Âm Bồ Tát, cha của bạn chính là A Di Đà Phật. Rốt cuộc Phật tồn tại bao nhiêu ở thế gian? Ngài đến như thế nào? Đi ra sao? Trước đây mọi người đều biết, tôi cũng đã từng nói về định nghĩa của Phật.

Trước đây có người nói rằng: Phật đều ở trong chùa.
Có người nói rằng: Bức tượng gỗ kia, đó chính là Phật.
Có người nói rằng: Bức tượng đồng kia, đó chính là Phật.
Nếu người điêu khắc tượng Phật chạm khắc Phật thành hình dạng gì, thì Phật sẽ có hình dạng đó.
Có người chạm khắc Phật thành đầu trọc, thì đó là Phật đầu trọc.
Có người chạm khắc tóc của Phật thành búi tóc cuộn lên, thì đó là Phật có búi tóc.
Cũng có người chạm khắc Phật để râu, thì đó là Phật có râu.
Có người tạo đôi lông mày của Phật thành màu trắng, thì đó là Phật lông mày trắng.

Thực tế, hình tượng của Phật thì thiên biến vạn hóa, nhưng định nghĩa về Ngài thì chỉ có một. Nếu lấy hình tượng để chỉ Phật thì đó là một sai lầm. Ví dụ như có người khăng khăng nói: "Tôi muốn đến Lôi Tạng Tự để lễ Phật." Câu nói này xét về triết lý, triết học thì nói được, vì trong Lôi Tạng Tự có Phật.
Sau đó lại hỏi bạn một câu: "Phật ở đâu?"
Bạn trả lời: "Ở Lôi Tạng Tự." 
Về mặt triết lý thì câu trả lời này không đúng.
"Trong Lôi Tạng Tự có Phật, nhưng Phật không nhất định ở trong Lôi Tạng Tự."

Bởi vì Phật bao trùm toàn bộ hư không, lấp đầy cả vũ trụ. Vì vậy, khi mọi người nói chuyện, cần đặc biệt chú ý đến định nghĩa triết học này. Nói rằng trong Lôi Tạng Tự có Phật là đúng! Thực sự bên trong có Phật; nhưng nói rằng Phật ở Lôi Tạng Tự thì không đúng.

Trước đây tôi đã từng kể, có một lão hòa thượng có đạo hạnh rất cao, ngồi trên pháp tòa, phía trước có một bức tượng Phật. Vì tuổi già, mỗi lần ho là ông lại nhổ đờm lên đầu của bức tượng Phật. Nhiều người nhìn thấy liền nói: "Vị lão hòa thượng này không tôn kính Phật, nếu muốn nhổ đờm thì nên ra ngoài, làm sao có thể nhổ đờm lên đầu tượng Phật được?" Lão hòa thượng trả lời mọi người, ông nói: "Xin mọi người cho tôi biết, nơi nào không có Phật?" Đây là một câu hỏi cần phải suy ngẫm!

Thực tế, nơi nào không có Phật?

Tôi nói với mọi người: "Tất cả các bạn đều là Phật."

Bạn có biết không, những người đã nhận lễ quán đảnh của Mật tông, đều là các vị Phật dự bị trong tương lai. Sau này, hãy nhờ các nghệ nhân điêu khắc tạc lại tất cả khuôn mặt của các bạn, tất cả đều có thể được thờ phụng, tất cả đều là Phật; giống như cô gái kia khi lắng nghe kinh, dáng vẻ của cô ấy chính là thế, nhưng bạn đừng coi thường dáng vẻ đó, đây chính là dáng Phật, Phật được tạc ra chính là dáng vẻ này.

Đừng nghĩ rằng ở giữa có một chút hói đầu, Phật sau này cũng sẽ có hói đầu; bạn đừng nghĩ rằng có nhiều người đeo kính, Phật hiện đại cũng có đeo kính. Bất kì một hình dáng nào, trong Mật giáo đều nói rằng: "Bất kì một hình tướng nào cũng đều là hình tướng của Phật." Bạn đừng xem thường việc trẻ con đắp người tuyết, chỉ cần người tuyết được đắp lên, chỉ cần có linh hồn của Phật bên trong, người tuyết này chính là Phật.

Tôi nói với các bạn, trong Mật tông có một giới luật, đó là giới luật nghiêm trọng nhất. Giới luật này là: "Tự sát chính là giết Phật." Bởi vì chính bạn là Phật tương lai, nếu đã giết đi Phật tương lai, thì không phải là giết Phật thì là giết gì? Vì vậy, Phật pháp không phải là nói về huyền học, mà là có lý luận triết học trong đó.

Phật cũng có ngồi đó bắt chấy, cũng có nằm ngủ ở ven đường như một người say rượu, cũng có thân thể như bộ xương chỉ còn lại một khung xương trong hoang dã. Người thực sự giác ngộ sẽ biết rằng: "Tướng của chúng sinh, đều là tướng của Phật."

Vậy định nghĩa của Phật là gì? Ba chữ, đó là: Người giác ngộ.
"Người giác ngộ chính là Phật."
"Người chưa giác ngộ chính là Phật tương lai."

Người giác ngộ có hai định nghĩa: Định nghĩa thứ nhất là "nhận biết", định nghĩa thứ hai là "giác ngộ". Tại sao con người có thể thành Phật? Bởi vì họ phải nhận biết những phiền não của cuộc sống, trước tiên phải nhận biết rằng cuộc sống có những chướng ngại. Hôm nay tôi muốn nói với mọi người về hai chữ "nhận biết", hai chữ này cũng rất quan trọng.

Có rất nhiều người trong suốt cuộc đời của họ có thể nói rằng không hề có hai chữ "nhận biết", từ khi sinh ra, họ đã là học sinh, bắt đầu đi học thì nỗ lực vì các kỳ thi; sau khi tốt nghiệp thì bắt đầu cạnh tranh trong công việc, muốn trở thành tổ trưởng, trưởng phòng, rồi trưởng ban, giám đốc, và cuối cùng là chủ tịch hội đồng quản trị; sau đó thì kết hôn, sau khi kết hôn thì sao? Họ lại sinh con, rồi họ lại phải chăm lo cho con cái học hành, làm việc, kết hôn, rồi sinh cháu.

Vậy thì khi sự nghiệp đã thành công, lại có cháu, thì gần như là "an nghỉ cuối đời" rồi! Một số người sẽ mong mình sống lâu hơn một chút, có thể nhìn thấy cháu kết hôn. Nói đi cũng phải nói lại, từ khi sinh ra cho đến lúc chết, rất nhiều người chưa từng nhận ra rằng "cuộc sống là có trở ngại", thực tế phiền não của họ rất nhiều, nhưng họ không thể giải quyết được hết những phiền não trong cuộc đời này.

Thời niên thiếu phiền não vì thi cử, thời thanh niên đôi khi phiền não vì tình yêu, khi kết hôn thì phiền não vì hôn nhân, thành bại trong sự nghiệp cũng là phiền não, bệnh tật của cơ thể cũng là phiền não, người già cũng có phiền não, việc hòa giải trong các mối quan hệ cũng là một phiền não. Trong thế giới cạnh tranh của cuộc sống này, phiền não thường không có hồi kết, hết đợt này đến đợt khác mà không ngừng lại.
Sinh, già, bệnh, chết thực sự đều là nguồn gốc của phiền não.
Danh, sắc, tiền, ăn, ngủ cũng đều là nguồn gốc của phiền não.

Những ham muốn này thực chất đều là nguồn gốc của phiền não, nhưng nếu không nhận thức được phiền não này từ đâu mà đến? Làm sao để loại bỏ? Cả cuộc đời cứ mơ hồ trôi qua như vậy. Vì thế, trước tiên cần có nhận thức, sau đó mới có giác ngộ. Chúng ta bây giờ đều đã là những người có nhận thức, bởi vì có nhận thức nên mới biết tu hành, rồi mới hiểu được sự giác ngộ, mở toàn bộ ánh sáng tâm hồn, giống như Phật.

Cái gọi là giác ngộ, chính là phá bỏ phiền não, đạt được sự giải thoát hoàn toàn. Hôm nay tôi vừa trả lời một lá thư, có một đệ tử luôn hỏi tôi: "Xin Thượng sư khai thị, làm thế nào để phá bỏ phiền não?" Tôi đã trả lời cho người ấy một bài kệ:
Phiền não ở nơi đâu, tất cả đều ở trong tâm;
Xưa nay vốn không có, chính tâm mình làm chủ.

Hôm nay, tôi đã nói rất nhiều về phiền não ở đây, bây giờ Thượng sư lại nói phiền não ở đâu? Vậy thì lời Thượng sư nói trước sau mâu thuẫn, câu trước chẳng ăn nhập gì với câu sau. Thực ra, ý của tôi là thế này, tôi có ý riêng của mình. Tôi thường nói: "Trước khi trái đất tồn tại, phiền não ở đâu?" Nói gần hơn, "Trước khi bạn tồn tại, phiền não của bạn ở đâu?"

Vốn dĩ không có! Chính vì có "bạn", nên mới có phiền não. Vậy phiền não chẳng phải nằm trong tâm bạn sao? Tôi lại nói: "Sau khi bạn chết, phiền não ở đâu?" Phiền não lại không còn nữa, chẳng phải bạn đã mang theo rất nhiều phiền não như thế mà đi sao. Vì vậy, đây là một tư duy triết học.

Người Trung Quốc chúng ta từng nói một câu: "Thiên hạ vốn vô sự, kẻ tầm thường tự chuốc lấy phiền toái." Lại có một thành ngữ khác: "Tự tìm phiền não." Tôi muốn nói đến việc "tự tìm phiền não" là thế nào? Có một đệ tử viết thư cho tôi, anh ấy nói rằng mình mắc chứng sợ đi máy bay. Anh ấy thường xuyên đọc báo, thấy các vụ tai nạn máy bay, từ đó hình ảnh tai nạn máy bay đã ăn sâu trong tâm trí anh ấy. Anh ấy là một doanh nhân, nhất định phải đi máy bay, trừ khi không còn cách nào khác, anh ấy sẽ không đi máy bay.

Mỗi lần anh ấy đi máy bay đều như vậy! Vì thế, các tiếp viên hàng không trên máy bay chỉ cần nhìn thấy anh ấy là đã cảm thấy chóng mặt. Anh ấy viết thư cho tôi, nói rằng: "Làm thế nào để giúp anh ấy tránh khỏi chứng sợ đi máy bay?" Bởi vì mỗi lần khi cửa máy bay vừa đóng lại, anh ấy liền bắt đầu gõ cửa đòi ra ngoài. Toàn bộ máy bay bị anh ấy làm cho rối tung lên, tâm trạng của mọi người đều không tốt, mỗi lần anh ấy lên máy bay là mọi người cùng chịu xui xẻo theo.

Tôi đã đưa ra phương pháp điều trị cho anh ấy, đó là yêu cầu anh ấy mỗi ngày đều phải ngồi máy bay, bay đi rồi bay về, liên tục trong một tháng. Vì tay anh ấy ít nhất sẽ gõ đến mức không thể gõ nổi nữa, giọng nói cũng sẽ hét đến mức không thể hét thêm được! Đến khi anh ấy không thể gõ cửa hay hét lên được nữa, anh ấy sẽ nhận ra rằng, à! Thực ra máy bay rất an toàn! Bay đi bay lại đều không có vấn đề gì xảy ra. Loại chướng ngại tâm lý như vậy thực sự là "tự chuốc lấy phiền toái"! Đây chính là "Thiên hạ vốn vô sự, kẻ tầm thường tự chuốc lấy phiền toái."

Còn có một vị đệ tử, mỗi khi vào khách sạn, anh ấy liền chuẩn bị sẵn khăn mặt, anh còn bôi một ít xà phòng lên khăn, nói rằng có thể che mũi để không bị ngạt khói. Trước khi đi ngủ, anh nhất định phải mở vòi nước, đổ đầy nước vào bồn tắm trong phòng tắm, anh nói rằng nếu xảy ra hỏa hoạn, anh có thể nằm trong nước để không bị cháy. Mỗi lần đến khách sạn, anh cũng nhất định phải tìm lối thoát hiểm (EXIT) trước, tìm cách làm thế nào để chạy ra ngoài. Khi trả lời thư anh ấy, tôi nói: "Anh nên chuẩn bị luôn một cái dù nhảy đi thì hơn!"

Thực tế, chúng ta không thể trách anh ấy vì sự quan tâm đến an toàn của bản thân, chúng ta không thể trách anh ấy, đó là một cách để bảo vệ chính mình. Nhưng nếu đi quá xa, lần nào cũng như vậy, bạn xem, điều này chẳng phải rất khổ sao?

Giống như tôi, khi đi máy bay hoặc ở khách sạn, tôi thường nghĩ rằng: "Phật Bồ Tát phù hộ, mọi chuyện sẽ không sao." Dù có chuyện gì xảy ra, cũng là mệnh định như vậy. Đúng không? Nếu nghĩ như thế, có thể giảm bớt đau khổ trong nửa đời sau, hơn nữa còn có nhiều người đồng hành, tại sao lại không vui, nhiều người cùng đi vẫn tốt hơn đi một mình.

Bạn nói phiền não ở đâu? Khi con người có tầm nhìn rộng mở và thông suốt như vậy thì sẽ không còn phiền não. Vì thế, khi thực sự xảy ra nhiều chuyện bất ngờ, tôi thường nhìn qua và nói: "Ôi, thật may mắn quá!" Nếu là tôi, tôi thấy chẳng có gì đáng ngại. Những người như chúng ta đã nhìn thấu sinh tử thì sẽ hiểu rằng "thiên hạ vốn chẳng có chuyện gì".

Khi người ta viết báo chỉ trích Lư Thắng Ngạn, tôi còn hỏi: "Lư Thắng Ngạn là ai vậy?" Có khi, tôi đọc những bài viết chỉ trích mình, tôi lại nói: "Ôi chao! Chỉ trích hay quá! Tôi còn không chỉ trích được hay như thế!" Đó chính là đã nhìn thấu suốt rồi! Không có "bạn" thì làm gì có "bạn" từ trước?

Khi bạn ngang với vũ trụ, bạn chính là người giác ngộ, là một vị Phật giác ngộ. Khi bạn có thể giác ngộ chân lý của Phật, tâm bạn thực sự khai ngộ. Phiền não ở đâu? Bạn ở đâu? Tôi ở đâu? Chúng sinh bình đẳng, nào có kẻ thù? Những gì bạn yêu và những gì bạn ghét vốn dĩ bình đẳng như nhau!

Hiểu được chân lý này, ánh sáng tâm của bạn sẽ tỏa chiếu, ngang với với Viên Giác! Khi nhận biết được phiền não của cuộc đời, rồi vận dụng sức mạnh của sự nhận biết để đạt được giác ngộ, bạn trở thành người giác ngộ; người giác ngộ chính là Phật. Vì vậy, có người nói tượng Phật là Phật, Phật ở đâu? Nếu nói Phật ở đây thì còn cách xa Phật lắm.

Hôm nay chỉ giảng một chữ - Phật. Các bạn phải tin vào chính mình, tất cả chúng ta ngồi ở đây, mỗi người đều là Phật!

Om mani padme hum.


### 10. Giải thích tên kinh — Phật (2)


Tuần trước khi giảng Kinh A Di Đà, tôi chỉ giảng một chữ Phật, tôi tưởng đã giảng xong chữ Phật này rồi, nhưng khi xem lại sách thì thấy vẫn chưa giảng hết, nên hôm nay tôi sẽ tiếp tục giảng về chữ Phật này.

Tuần trước, tôi đã nói "Phật và chúng sinh là như nhau", bởi vì "chúng sinh là Phật chưa giác ngộ", còn "Phật là bậc đã giác ngộ", sự khác biệt chỉ nằm ở chỗ đã giác ngộ hay chưa giác ngộ mà thôi. Vậy thì hôm nay tôi sẽ giảng về ba loại Phật khác nhau.

Loại thứ nhất, "Ngài khác với phàm phu". Bản chất của phàm phu là mê đắm trong lục trần, chìm đắm trong lục trần này, nên gọi là phàm phu, còn Phật thì vượt thoát khỏi lục trần.
Lục trần là gì? Đó là "sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp".
Sắc — tức là màu sắc.
Thanh — tức là các âm thanh, những âm thanh hay.
Hương — phân biệt thơm, hôi.
Vị — cảm giác của lưỡi, một loại cảm giác ngon khi ăn đồ.
Xúc — sờ vào cái tốt biết là tốt, sờ vào cái xấu biết là xấu.
Pháp — nói chung, là tất cả các hiện tượng trong thế gian.

Phàm phu vì xoay vần trong lục trần này, không vượt thoát ra được, nên gọi là phàm phu; bản thân Phật đã vượt lên trên lục trần này. Bản thân phàm phu không có tự giác, không cảm nhận được mình là phàm phu, vì không có tự giác nên cũng không thể giác tha. Phật khác với phàm phu, điểm khác biệt này là vì Phật đã có sự giác ngộ và tỉnh thức, nên mới khác với phàm phu. Nếu phàm phu có được sự giác ngộ và tỉnh thức, cũng có thể giống như Phật.

Điểm khác biệt thứ hai là "Phật khác với hàng Nhị thừa". Chúng ta gọi "hàng Nhị thừa" là những người biết rằng cần phải giác ngộ và tỉnh thức, nhưng họ chỉ tu hành cho riêng mình, không quan tâm đến chúng sinh, chỉ tu cho bản thân, nên gọi là "hàng Nhị thừa". Hàng Nhị thừa chỉ có thể tự giác mà không thể giác tha, nghĩa là họ tu hành có thể tự mình giác ngộ, nhưng không có tâm cứu độ người khác. Vì vậy, cảnh giới của họ rất hạn hẹp, được gọi là "kẻ tự độ", đây chính là sự khác biệt giữa Phật và "hàng Nhị thừa".

Thứ ba, "Phật và Bồ Tát cũng có sự khác biệt". Bồ Tát có thể tự mình giác ngộ, có khả năng độ chúng sinh và giúp chúng sinh giác ngộ, đó là Bồ Tát. Tuy nhiên, giữa Bồ Tát và Phật có một điểm khác biệt, đó là Bồ Tát còn chút tình nhiễm; "tình nhiễm" là một dạng cảm xúc. Nói chung, Bồ Tát vẫn chưa hoàn toàn viên mãn, trong sự viên mãn vẫn còn chút bụi trần; còn bản thân Phật đã vượt trên Bồ Tát, hoàn toàn viên mãn, vì vậy chúng ta rất hiếm khi thấy Phật rơi lệ.

Đôi khi chúng ta thấy Bồ Tát rơi lệ vì lòng từ bi, như Quan Thế Âm Bồ Tát đã từng rơi hai giọt nước mắt từ bi. Theo truyền thuyết Tây Tạng, vì Quan Thế Âm Bồ Tát rơi hai giọt nước mắt, một giọt hóa thành Lục Độ Mẫu, một giọt hóa thành Bạch Độ Mẫu, cả hai đều chuyển thế xuống trần gian để cứu độ chúng sinh.

Bồ Tát còn có một danh xưng là "Giác Hữu Tình", ba chữ này có một ý nghĩa là đem trí tuệ của mình trao cho chúng sinh hữu tình, giúp họ được giác ngộ. Nhưng vì bản thân Phật có trí tuệ viên mãn, hoàn toàn trọn vẹn, nên việc độ sinh của Phật không phải là sự chú tâm đặc biệt vào chúng sinh hữu tình, mà là một sự độ hóa tự nhiên.

Vì vậy ở đây có một sự phân biệt: Phật là sự độ hóa viên mãn, còn Bồ Tát là lòng từ bi với hữu tình. Cho nên Phật là viên mãn, Bồ Tát vẫn còn chút bụi trần, vẫn còn tình nhiễm; đây là ba điểm khác biệt giữa Phật với chúng sinh, với phàm phu, với La Hán và với Bồ Tát.

Phần lớn chư Phật hoàn toàn không có phiền não, nếu còn một chút phiền não thì không thể gọi là Phật. Vì vậy, chúng sinh chúng ta hiện nay, nếu có tâm từ bi cứu độ chúng sinh thì được gọi là Bồ Tát chứ không gọi là Phật, bởi vì bản thân Phật đã hoàn toàn siêu thoát khỏi phiền não, hoàn toàn giải thoát khỏi phiền não, tức là đã chứng đắc vô thượng bồ đề và đầy đủ lục thần thông.

Phật còn có một danh hiệu khác, tuần sau chúng ta sẽ nói về danh hiệu của Phật, đó là mười danh hiệu mà chúng ta thường nhắc đến. Đó là: Như Lai, Ứng Cúng, Chính Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật.

Danh hiệu này rất dài, tổng cộng có mười danh hiệu, đây là những danh xưng tiêu biểu. Có vẻ như tuần sau chúng ta vẫn phải tiếp tục giảng về chữ Phật.

Om mani padme hum.


### 11. Giải thích tên kinh — Phật (3)


Hôm nay chúng ta tiếp tục giảng "A Di Đà Kinh Thích Yếu". "Kinh Phật Thuyết A Di Đà" hôm nay vẫn giảng về mười danh hiệu. Mười danh hiệu của Phật là: Như Lai, Ứng Cúng, Chính Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật. Tổng cộng có mười danh hiệu này, nếu giảng mỗi danh hiệu một ngày, mười lần như vậy thì gần như mất cả năm, nên chúng ta cần giảng nhanh hơn một chút.

Thế nào gọi là "Như Lai"? Danh xưng đầu tiên, Như Lai chính là Phật. "Như" tức là như như, vậy thế nào gọi là "như như"? Như như chính là "tự nhiên như vậy". Thế nào gọi là "Lai"? Chính là tự nhiên mà đến, tự nhiên mà đến - đó chính là Như Lai. "Như như mà đến, như như mà đi, cũng không đến, cũng không đi", đó chính là "Như Lai", cho nên danh hiệu này là cảnh giới rất cao. Bạn hãy suy nghĩ xem, bởi vì đã không đến thì ở đó, lại không đi thì ở đây. "Không đến không đi" là thế nào? Thật ra, đã bao hàm tất cả rồi. Vốn dĩ là như vậy!

Không có thì quá khứ, không có thì hiện tại, cũng không có thì tương lai, tiếng Anh là như vậy đó. Bạn nói có đúng không? Sao mà rắc rối quá, cái gì mà quá khứ, hiện tại, tương lai chứ, phải không? Dù sao tất cả đều như nhau thôi. Đó chính là Như Lai!

Thế nào gọi là "Ứng Cúng"? Danh hiệu này là tốt nhất, nghĩa là xứng đáng được mọi người cúng dường. Cảnh giới cao như vậy, muốn học theo ngài thì đương nhiên phải dùng tâm để suy nghĩ, dùng tâm để cúng dường, để học tập, phải dùng một tấm lòng rất chân thành để học mới đạt được chân lý. Đó chính là ý nghĩa của "Ứng Cúng" - xứng đáng được cúng dường.

Vì vậy khi Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế, Ngài thường đi ứng cúng. Khi gặp pháp sư Quả Hiền, tôi nói: "Để tôi mời thầy." Thầy ấy đáp: "Không thể để ngài mời, tôi là ứng cúng, phải được cúng dường". Nhưng nghĩ lại, "ứng cúng" là tôi phải cúng dường cho thầy chứ? Hay thầy phải cúng dường cho tôi? Đột nhiên không rõ nữa.

Tuy nhiên, có lẽ là như thế này, bạn cúng dường Phật, cúng dường Như Lai thì không sai. Nhưng khi bạn cúng dường người nghèo khó, hoặc bố thí, bố thí cho người khác, đây cũng gọi là ứng cúng. Vì vậy cúng dường không phân biệt người này người kia, có khi là trên cúng dưới, có khi là dưới cúng trên, hai bên cùng cúng dường lẫn nhau.

Bản thân Phật có ý nghĩa Như Lai ứng cúng, với cảnh giới cao như vậy, bạn nên cúng dường Ngài. Nhưng vì bạn cúng dường Ngài, Ngài sẽ ban phúc báo cho bạn, nên Ngài cũng là ứng cúng, đạo lý là như vậy.

Danh hiệu thứ ba là "Chính Biến Tri". Thế nào gọi là Chính Biến Tri? Nghĩa là biết được cả cái chính và cái "ngoại đạo". Phật biết tất cả chân lý, đạo lý chân chính, Phật có trí huệ viên mãn, biết tất cả trí huệ. Đối với trí tuệ "ngoại đạo", Ngài cũng biết; tất cả tà thuật, Ngài cũng biết. Vì vậy, tà pháp, Tiểu thừa, Thiên thừa, tất cả đều phải biết, đây gọi là Chính Biến Tri. Cái chính bạn biết, cái "ngoại đạo" bạn cũng biết; cho nên Thượng sư cũng biết tất cả mọi thứ, trước đây tôi cũng từng học nhiều pháp "ngoại đạo", nói về mạt chược Đài Loan tôi cũng biết, mạt chược Đại Lục tôi cũng biết, phải không, mười ba quân, mười sáu quân, cái gì cũng thông. Có người hỏi một câu: "Thầy đã từng đến night club chưa?" Tôi đáp: "Chỗ nào tôi cũng đã từng đến, không có nơi nào tôi chưa từng đến cả."

Đây là điều gọi là biết cả chính pháp và tà pháp. Giả sử bạn chỉ biết tà pháp mà không biết chính pháp, điều đó không được; nếu bạn chỉ biết tà pháp mà không biết chính pháp, đó chính là ma; vì vậy khi bạn biết cả tà pháp và chính pháp, đó chính là Phật. Nếu bạn chỉ biết chính pháp mà không biết tà pháp, làm sao bạn độ được chúng sinh? Làm sao bạn hiểu được tâm chúng sinh? Muốn hiểu tâm chúng sinh, bạn phải nhập thế, phải biết tất cả mọi thứ, đó chính là ý nghĩa của Chính Biến Tri.

Tuy nhiên, nếu một vị Phật mê đắm vào tà pháp, xa rời chính pháp, đó chính là ma; nếu bạn xa rời tà pháp và tự mình đạt được chính giác, đó chính là Phật, sự khác biệt chỉ có vậy thôi. Việc tu hành của Phật không nhất thiết phải ở cảnh giới cao nhất mà từ bỏ chúng sinh, Ngài hiểu được cảnh giới của chúng sinh, cũng biết được chính giác của Phật, đó chính là Chính Biến Tri.

Danh hiệu thứ tư gọi là "Minh Hành Túc". Sự thông suốt về tất cả hành vi, có thể đến được mọi nơi, đó gọi là Minh Hành Túc. Thông suốt tất cả hành vi, hiểu rõ mọi hành động, việc nào có thể làm, việc nào không thể làm; điều gì hợp lý, điều gì không hợp lý; điều gì đúng bảy phần, sai ba phần, Ngài đều thấu tỏ, tất cả đều là những hành vi rõ ràng minh bạch. Đây chính là trí huệ viên mãn, thật không đơn giản!

Danh hiệu thứ năm gọi là "Thiện Thệ". Thế nào gọi là thiện? Tốt là thiện, không tốt là ác. Còn thệ? Chính là đi. Đi đến nơi tốt đẹp chính là Thiện Thệ. Như việc mọi người học Phật ngày nay là đi đến nơi tốt đẹp, nên gọi là Thiện Thệ. Danh hiệu này theo cách nói của chúng ta là đi đến nơi tốt đẹp; theo nghĩa đen là viên tịch về nơi tốt đẹp cũng được. Dù sao tất cả mọi người đều về Tây phương Cực Lạc, tất cả đều về Tây phương, chính là viên tịch về nơi tốt đẹp. Còn nếu bạn đi về địa ngục thì đó là ác thệ, không phải thiện thệ. Giải thích này rất đơn giản.

Thứ sáu là "Thế Gian Giải". Nghĩa là thấu hiểu tất cả mọi việc trong thế gian, giải thoát tất cả phiền não của thế gian, đó gọi là Thế Gian Giải. Giải quyết hết tất cả phiền não của thế gian này, gọi là Thế Gian Giải.

Thứ bảy gọi là "Vô Thượng Sĩ". Khi đạt đến cảnh giới của Phật, thật sự là vô thượng. Không có cảnh giới nào cao hơn nên gọi là vô thượng. Đây là cao nhất, không còn gì cao hơn nữa, nên gọi là vô thượng. Vô thượng chính là danh hiệu tốt nhất của Phật, không có gì cao hơn được nữa.

Danh hiệu thứ tám là "Điều Ngự Trượng Phu". Chữ "trượng phu" này chúng ta không thể hiểu là "chồng" (husband). Người Trung Quốc nói về trượng phu, điều ngự trượng phu, ý nói người có phẩm chất cao thượng, mạnh mẽ, có năng lực, có thể hòa giải mọi việc, phải hiểu theo nghĩa này. Điều ngự có nghĩa là xử lý mọi việc rất tốt, có thể điều chỉnh, hướng dẫn mọi người đi về nơi tốt đẹp, có thể điều phục những con người, cuộc sống, người trong thế gian, tất cả chúng sinh, đều có thể dạy dỗ họ một cách ngăn nắp trật tự, đó gọi là Điều Ngự Trượng Phu.

Danh hiệu thứ chín gọi là "Thiên Nhân Sư". Trên trời, bạn có thể dạy người trên trời, cũng có thể dạy chúng sinh ở nhân gian. Trên trời, dưới đất bạn đều là bậc đạo sư, đó chính là Thiên Nhân Sư.

Danh hiệu thứ mười là "Phật". Lần trước đã giảng về ý nghĩa của chữ "Phật", đó là giác ngộ và tỉnh thức, người đạt được chính giác chính là Phật.

Vì vậy có mười danh hiệu: Như Lai, Ứng Cúng, Chính Biến Tri, Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, tổng cộng là mười danh hiệu. Cách giải thích của tôi cũng gần như đúng với ý nghĩa, cách giải thích này không rời xa ý nghĩa chính của nó. Vị có đủ mười danh hiệu trên được gọi là "Thế Tôn". Thế nào gọi là Thế Tôn? Đó là bậc được tất cả mọi người trong thế gian tôn kính, nên gọi là Thế Tôn; vì vậy khi chúng ta xưng tán Phật Thích Ca Mâu Ni, đôi khi cũng gọi là Thế Tôn. Khi nói đến Thế Tôn tức là trực tiếp chỉ Phật Thích Ca Mâu Ni, bậc được mọi người trong thế gian cùng tôn kính, cùng ngưỡng mộ chính là Thế Tôn.

Chỉ riêng việc giảng chữ "Phật" trong "Kinh Phật Thuyết A Di Đà", việc giải thích chữ Phật này, đến hôm nay mới vừa giảng xong. Tuần sau chúng ta sẽ giảng chữ "Thuyết", thuyết chính là giảng, giảng chính là thuyết. Nếu giảng nhanh thì đã xong rồi, còn nếu giảng chậm thì có rất nhiều điều để nói.

Có điều có thể nói, cũng có điều không thể nói; có cách nói sâu, cũng có cách nói nông; có cách giải thích, cũng có cách không nói; có cách nói dài, cũng có cách nói ngắn.

Phật pháp nói ra thật vi diệu, một chữ mà giảng gần cả tháng rồi! Vậy đến chữ "Thuyết" tiếp theo này, đương nhiên có thể nói dài hay nói ngắn. Chúng ta sẽ gặp lại vào thứ Bảy tuần sau nhé!

A Di Đà Phật!


### 12. Giải thích tên kinh — Thuyết 


Hôm nay chúng ta sẽ giảng về chữ "Thuyết" trong "Kinh Phật Thuyết A Di Đà".
Vậy ai là người thuyết giảng bộ kinh này? Chính là Phật Thích Ca Mâu Ni.
Thế Phật thuyết giảng về ai? Ngài thuyết giảng về Phật A Di Đà.
Vậy Ngài thuyết giảng cho ai nghe? Ngài thuyết giảng cho ngài Xá Lợi Phất.

Hôm nay chúng ta sẽ nói về ngài Xá Lợi Phất. Vậy ngài Xá Lợi Phất là ai? Ngài là đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni. Theo kinh điển ghi chép, ngài Xá Lợi Phất là vị đệ tử thượng thủ của Phật Thích Ca Mâu Ni. Trong số các đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni, ngài được tôn xưng là bậc trí huệ đệ nhất. Vì sao vậy?

Xá Lợi Phất vốn theo đạo Bà La Môn, cha ngài vốn là một tu sĩ Bà La Môn rất có trí tuệ. Từ nhỏ Xá Lợi Phất đã được cha dạy dỗ trở thành người rất có trí tuệ. Khi lớn lên, ngài cũng có rất nhiều đệ tử, cuối cùng ngài quy y Phật Thích Ca Mâu Ni và dẫn theo ba trăm năm mươi đệ tử cùng quy y theo Phật.

Trí tuệ của Xá Lợi Phất, chúng ta có thể thấy được qua rất nhiều kinh điển. Ngài là bậc trưởng lão có trí tuệ siêu việt, có thể tự tại sinh tử, có thể minh tâm kiến tính.

Một lần nọ, Phật Thích Ca Mâu Ni nói rằng Ngài sắp phải ra đi, Xá Lợi Phất liền thưa với Đức Phật rằng con muốn đi trước Thầy. Là đệ tử phải đi trước để chuẩn bị phòng ốc cho Thầy, mua sắm đất đai, xe cộ và những vật dụng sinh hoạt cần thiết! Vì thế Xá Lợi Phất nói rằng ngài muốn đi trước để chuẩn bị.

Thế nhưng, Xá Lợi Phất có thể nói như thế này, ngài bảo: "Thầy sắp ra đi, làm đệ tử phải đi trước, chuẩn bị sẵn một số thứ cho Thầy khi Thầy đến nơi đó." Sau đó Xá Lợi Phất liền trở về nơi mình ở trước kia, dọn dẹp phòng sạch sẽ, một mình ngồi giữa nhà, nhập định và ra đi! Vì thế ngài là vị đệ tử ra đi còn sớm hơn cả Thầy. Từ đó, chúng ta có thể thấy được ngài Xá Lợi Phất có khả năng tự chủ sinh tử.

Ngày nay, giả sử có một số đệ tử nói rằng: "Thưa Thầy, nếu Thầy sắp ra đi, con muốn đi trước Thầy mười ngày." Công phu đó thật là cao siêu. Con người không thể nói muốn chết là chết một cách đơn giản như vậy! Tất nhiên những cách như treo cổ, nhảy xuống nước, tự thiêu hay cắt cổ tay không tính! Những cách này không được tính, mà phải có khả năng "tự chủ sinh tử", phải giống như ngài Xá Lợi Phất, ngồi như thế và nói: "Ôi! Con muốn đi trước Thầy mười ngày", rồi ngồi như vậy mà ra đi. Theo như tôi được biết, trong tương lai Xá Lợi Phất sẽ trở lại nhân gian thành Phật, danh hiệu của ngài sẽ là Hoa Quang Phật.

Lần trước trong quyển "Chấn động lớn của Thiền", tôi có nhắc đến vài chữ về ngài Xá Lợi Phất, có kể về câu chuyện của ngài. Bản thân ngài Xá Lợi Phất khá là không thích cái này... Nói thế nào nhỉ? Lady, ngài rất không thích. Ngài rất chấp trước, ngài nói người tu hành bên cạnh không được có phụ nữ.

Có một lần ngài đến thăm bệnh ngài Duy Ma Cật, chỉ vì bên cạnh ngài Duy Ma Cật có thiên nữ, có các cô gái hầu hạ bên cạnh, ngài Xá Lợi Phất nhìn thấy trong lòng nghĩ rằng: "Bên cạnh người tu hành lại có những cô gái đẹp như vậy đi tới đi lui, ở đó hầu hạ ông, điều này không đúng!"

Vị tiên nữ bên cạnh có tha tâm thông, biết được những suy nghĩ trong lòng ngài Xá Lợi Phất. Bỗng nhiên, từ trên trời rơi xuống rất nhiều hoa, thiên nữ rải hoa từ trên không trung, ôi chao! Có rất nhiều hoa rơi xuống, những cánh hoa rơi trúng người khác thì lập tức rơi xuống đất, chỉ có những cánh hoa rơi trên người ngài Xá Lợi Phất là dính chặt lại. Ngài Xá Lợi Phất dùng tay phủi những cánh hoa đó đi, nhưng cuối cùng vẫn không thể phủi được.

Ngài Xá Lợi Phất hỏi vị tiên nữ bên cạnh: "Tại sao ta không thể phủi được những cánh hoa trên người?" Tiên nữ đáp: "Bởi vì trong lòng ngài có hoa, nên hoa mới không thể phủi đi được." Trong đó có một đạo lý rất sâu sắc.

Vị tiên nữ này lại hiện thần thông, biến ngài Xá Lợi Phất thành tiên nữ, còn tiên nữ thì biến thành Xá Lợi Phất đứng đó. Ngài Xá Lợi Phất cũng dùng thần thông, vội vàng muốn biến trở lại thành mình, nhưng không thể biến được. Tiên nữ liền nói với ngài: "Bây giờ ngài chính là tôi, còn tôi bây giờ chính là ngài. Vậy một người con gái xinh đẹp hầu hạ Bồ Tát Duy Ma Cật thì có gì không đúng đâu?"

Theo ý tiên nữ muốn nói rằng, đây chỉ là sự khác biệt về hình tướng mà thôi. Tâm này, Phật tính là như nhau, nam nữ chỉ là một loại hình tướng. Ngài Xá Lợi Phất sau khi nhận được bài học này, đã hiểu ra nam nữ chỉ là hình tướng, không có gì phân biệt. Bởi vì nam có thể biến thành nữ, nữ cũng có thể biến thành nam, tất cả những chuyển biến chỉ là vấn đề về hình tướng mà thôi.

Vì vậy, trong mắt chư Phật Bồ Tát, người phàm phu thì phân biệt nam nữ, còn Phật thì không phân biệt nam nữ, khi đạt đến cảnh giới tối cao thì hoàn toàn không có sự phân biệt nam nữ. Do đó, Bồ Tát Quan Thế Âm muốn hóa thành nữ thì hóa thành nữ, muốn hóa thành nam thì hóa thành nam, vì thế Bồ Tát Quan Thế Âm cũng có thể là Thiên Nhân Trượng Phu Quan Thế Âm Bồ Tát, Ngài thị hiện thành nữ chỉ để hiển lộ tướng từ bi. Vị thiên nữ hầu cận bên Bồ Tát Duy Ma Cật đã từng hầu hạ vô số chư Phật, nên khi Xá Lợi Phất xem thường nàng, thực ra, nàng cũng là bậc rất vĩ đại.

Đức Phật thuyết bộ kinh này với đầy đủ trí huệ, công đức và thần thông lực. Bởi vì bản thân ngài Xá Lợi Phất là bậc tôn giả trí huệ đệ nhất, có thể thấy "Kinh Phật Thuyết A Di Đà" cũng là một bộ kinh điển có trí tuệ vô cùng cao siêu.

Khi Đức Phật thuyết kinh, thường có nhiều cách thuyết giảng khác nhau; có thuyết dài, có thuyết ngắn, có thuyết rõ ràng, có thuyết bằng ẩn dụ, có thuyết trực tiếp, có thuyết gián tiếp, có khi không thuyết gì cả, có khi thuyết rất nhiều, có thuyết về quá khứ, có thuyết về tương lai, có thuyết về hiện tại, vì vậy Phật pháp là vô tận.

Cho nên hôm nay tôi ngồi ở đây thuyết giảng, cũng giống như ngồi mà thuyết; hơn nữa không chỉ là ngồi, mà là ngồi trên sàn nhà mà thuyết. Ah! Tôi cũng không biết sẽ ngồi bao lâu? Tóm lại, tôi thuyết, các bạn nghe, tương lai các bạn cũng có thể thuyết. Rồi một ngày nào đó mọi người thuyết pháp, thuyết đến độ không còn gì để nói nữa, đó chính là phù hợp với lời Phật dạy "Tất cả pháp Phật thuyết, đều là không có pháp để thuyết." Khi đạt đến cảnh giới không còn pháp để thuyết, đó mới chính là "thuyết chân thật"!

Om mani padme hum.


### 13. Giải thích tên kinh — A Di Đà


Hôm nay giảng về "A Di Đà". A Di Đà là tiếng Ấn Độ, trong tiếng Phạn gọi là A Di Đà, dịch sang tiếng Trung gọi là Vô Lượng Quang, Vô Lượng Quang nghĩa là ánh sáng vô lượng; ngoài ra cũng được dịch là Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Thọ, chữ thọ này đại diện cho thời gian, tuổi thọ dài vô lượng thời gian, gọi là Vô Lượng Thọ. Vô Lượng Quang có nghĩa là: trên dưới mười phương, tất cả đều tràn đầy ánh sáng, gọi là Vô Lượng Quang, cũng chính là như chúng ta thường nói "thụ cùng tam tế, hoành biến thập phương". Tam tế ở đây chính là quá khứ, hiện tại, vị lai, ngang khắp mười phương, mười phương đều tràn đầy.

A Di Đà - chúng ta đều biết đó là Phật A Di Đà. Trong quá khứ, A Di Đà Phật từng thị hiện ở thế gian, là một vị hoàng tử. Vị hoàng tử này sau khi xuất gia được gọi là tỳ kheo Pháp Tạng, sau này thành Phật chính là Phật A Di Đà. Tỳ kheo Pháp Tạng đã dùng thần thông du hành qua hàng tỷ cõi Phật, tức là những cõi Phật nơi chư Phật an trụ, nói theo cách hiện đại thì đó chính là không gian vũ trụ. Ngài đã đi qua tất cả cảnh giới trong không gian vũ trụ, sau đó chọn lấy những điều tốt đẹp nhất để thiết lập một cõi Phật trang nghiêm nhất ở phương Tây, đó chính là thế giới Tây phương Cực Lạc.

Ngài có mười hai danh hiệu, bản thân Phật A Di Đà có mười hai danh hiệu, có mười hai loại hoa, mười hai loại ánh sáng. Ngài đã phát bốn mươi tám đại nguyện, bốn mươi tám nguyện lớn, chủ yếu đều vì độ chúng sinh, Phật A Di Đà thật vĩ đại. Mọi người đều biết, ngày nay chúng ta niệm Phật, đều niệm A Di Đà Phật, được người ta niệm nhiều nhất cũng là A Di Đà Phật, vị Phật mà mọi người biết đến nhiều nhất cũng là A Di Đà Phật, và nơi mà mọi người muốn đến trong tương lai cũng chính là cõi của Phật A Di Đà.

Vì vậy, trước đây ở nhà tang lễ có một tấm biển ngang được viết rất đẹp và rõ ràng, mỗi khi xe tang đi ra đều thấy dòng chữ "Vãng sinh Tây phương", ai cũng mong muốn được về nơi đó. Thực ra, Diêu Trì của Đạo giáo cũng ở phương Tây, cho nên không phải Diêu Trì thì cũng là Tây phương, đây là hai nơi mà người đời hướng về nhiều nhất.

Phật A Di Đà hiện nay vẫn đang làm giáo chủ ở thế giới Tây phương Cực Lạc, hai vị thị giả phụ tá Phật A Di Đà chính là Bồ Tát Quan Thế Âm và Bồ Tát Đại Thế Chí. Phật A Di Đà ở thế giới Tây phương Cực Lạc, hiện nay vẫn đang thuyết pháp. Ở đó có bao nhiêu vị Phật A Di Đà? Bởi vì bản thân Ngài là vô lượng quang và vô lượng thọ, cho nên Phật A Di Đà cũng chính là vô lượng.

Tôi thường giảng về vị Liên Hoa Đồng Tử mà chúng ta tôn kính, và vị Liên Hoa Đồng Tử ở Ma Ha Song Liên Trì mà tôi đã thấy ở thế giới Tây Phương Cực Lạc hai mươi năm trước, tôi luôn nhấn mạnh về cảnh giới này, nhưng chưa từng giải thích tại sao thế giới Tây phương Cực Lạc lại có Liên Hoa Đồng Tử? Nhiều người không hiểu, tại sao thế giới Tây phương Cực Lạc lại có Liên Hoa Đồng Tử? Thực ra, có lẽ mọi người cũng đã hiểu được bí mật này: "Liên Hoa Đồng Tử chính là Phật A Di Đà".

Chỉ là đổi tên gọi mà thôi, Liên Hoa Đồng Tử thực chất chính là Phật A Di Đà, chỉ là khi Ngài cho tôi thấy thì dùng một danh xưng khác. Liên Hoa, vốn dĩ ở thế giới Tây phương Cực Lạc đâu đâu cũng là hoa sen, ai ai cũng đứng trên hoa sen, đó là tên gọi chung. Đồng Tử chính là Bồ Tát, bởi vì khi Phật A Di Đà xuống độ chúng sinh, mọi người chắc chắn sẽ nói: "Ôi! Không thể nào! Tại sao một vị Phật vĩ đại như vậy lại xuống độ chúng sinh? Ở Tây phương đã đủ bận rộn rồi, sao còn phải xuống trần gian độ chúng sinh nữa?"

Thực ra, Ngài chỉ hóa hiện một danh xưng khác mà thôi. Vì vậy, khi đó Phật A Di Đà phó thác Liên Hoa Đồng Tử xuống độ chúng sinh, Phật Thích Ca Mâu Ni thọ ký cho Liên Hoa Đồng Tử, Phật A Di Đà phó thác, Bồ Tát Di Lặc ban mũ miện đỏ, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền Mật pháp, chính là như vậy đó.

Vì vậy tôi luôn không dám nói rằng Liên Hoa Đồng Tử chính là Phật A Di Đà, không dám nói, nhưng hôm nay dù không dám nói cũng phải nói ra rồi, tôi nghĩ, chắc lại có người phỉ báng thôi! Tuy nhiên, cả cuộc đời tôi có thể dùng ba chữ hoặc hai chữ để đại diện, đó là "vô úy", cũng chính là "thí vô úy". "Vô úy" nghĩa là không sợ bất cứ điều gì, "thí vô úy" nghĩa là chỉ có ban cho chúng sinh, không sợ bất cứ điều gì.

Vì vậy, người ta nói gì cũng không quan trọng. Hình tướng đều không tồn tại, ngày nay nếu có người phỉ báng Phật A Di Đà, phỉ báng Liên Hoa Đồng Tử, phỉ báng Phật Thích Ca Mâu Ni, thực ra cũng không sao cả. Giống như có người đến phỉ báng Thượng sư cũng không sao, bởi vì đều là vô úy và thí vô úy; chỉ có ban cho chúng sinh, không cần sợ gì cả, đó chính là vô úy và thí vô úy. Tất cả mọi thứ đều không còn quan trọng nữa, ở thế gian này cũng chẳng có gì quan trọng nữa! Bạn nói có gì quan trọng đâu? Vấn đề thể diện, tôi đã không còn thể diện rồi! Vấn đề địa vị, tôi cũng chẳng có địa vị gì, không có! Vấn đề tiền bạc, tôi cũng sống tạm đủ thôi! Vợ, của cải, con cái, tuổi thọ, bổng lộc, những thứ này tôi đều nhìn rất nhạt nhòa, gần như không còn nữa, vậy thì bạn còn sợ gì nữa? Cho nên khi đạt đến cảnh giới này, cũng chẳng còn sợ gì nữa, cái gì cũng bố thí không sợ hãi!

Phật A Di Đà có một số thủ ấn, đây là những thủ ấn để độ chúng sinh, khi các bạn làm lễ siêu độ cũng có thể kết những thủ ấn này, rất đơn giản. Cửu phẩm liên hoa sinh, phần lớn mọi người đều biết thủ ấn cửu phẩm liên hoa sinh phải không! Thượng phẩm thượng sinh, thượng phẩm trung sinh, thượng phẩm hạ sinh, trung phẩm thượng sinh, trung phẩm trung sinh, trung phẩm hạ sinh, hạ phẩm thượng sinh, hạ phẩm trung sinh, hạ phẩm hạ sinh; đó chính là chín thủ ấn này, thủ ấn cửu phẩm liên hoa sinh của Phật A Di Đà để độ chúng sinh, khi làm lễ siêu độ, dù chỉ tụng một thời kinh, kết chín thủ ấn này, đương nhiên cũng là cửu phẩm liên hoa sinh, cũng có thể độ được chúng sinh.

Bài giảng tối nay đến đây thôi.

A Di Đà Phật.


### 14. Giải thích tên kinh — Kinh


Tối nay chúng ta nói về chữ "Kinh". Thực ra chữ Kinh chính là chữ đầu tiên trong Tam Tạng, tức là chữ đầu tiên trong "Kinh, Luật, Luận", chính là Kinh. Chữ Kinh này từ xưa đã được hiểu là những lời Đức Phật thuyết giảng được kết tập lại gọi là Kinh, còn có một tên gọi khác là "Thông", nghĩa là thông suốt từ đây đến đó; một cách giải thích khác, Kinh chính là "đạo lộ", có nghĩa là: con đường dẫn từ nơi này đến nơi kia chính là Kinh.

Bộ "Phật Thuyết A Di Đà Kinh" này chính là kinh điển do Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng. Tôi nhớ trước đây Chúa Jesus từng nói một câu: "Ta là con đường." Vậy thì, cũng có thể nói rằng, Chúa Jesus nói: "Ta là Kinh."

Kinh này trước đây là tiếng Phạn, nhưng có một vị pháp sư đã dịch sang tiếng Trung với tựa đề "Pháp sư Tam Tạng Cưu Ma La Thập đời Diêu Tần dịch". Diêu Tần là một triều đại, Tam Tạng đại diện cho Kinh, Luật, Luận, còn pháp sư là một vị xuất gia thông thạo Kinh, Luật, Luận được gọi là Tam Tạng pháp sư. Pháp sư Cưu Ma La Thập, tôi xin giới thiệu với mọi người, ngài là một vị pháp sư rất nổi tiếng, là một bậc đại thành tựu giả, đã dịch rất nhiều kinh Phật và có rất nhiều đệ tử theo học. Khi sắp viên tịch, ngài đã nói một câu: "Nếu những kinh Phật tôi dịch là đúng, thì lưỡi của tôi sẽ không cháy". Quả thật, khi Cưu Ma La Thập viên tịch, sau khi hỏa táng, chiếc lưỡi của ngài thật sự không cháy, điều này chứng minh những kinh điển do Cưu Ma La Thập dịch đều vô cùng chính xác.

Ngài Cưu Ma La Thập cũng là một bậc đại học giả, là người Ấn Độ, cha và các đời tổ tiên của ngài đều là tể tướng của đất nước (tức là thủ tướng). Sau đó, cha ngài cưới một công chúa, sinh ra Cưu Ma La Thập. Từ khi còn nhỏ, ngài đã có biện tài vô ngại, có thể giảng giải nhiều kinh điển, và khi còn rất trẻ đã trở thành quốc sư. Ban đầu ngài học Phật pháp Tiểu thừa, sau đó học Phật pháp Đại thừa, rồi quay về độ vị thầy Tiểu thừa của mình.

Cưu Ma La Thập có đóng góp rất lớn trong công tác phiên dịch kinh điển Phật giáo Trung Hoa, danh tiếng của ngài từ Ấn Độ truyền đến Trung Quốc, và chính Phù Kiên đã thỉnh mời ngài từ Ấn Độ sang Trung Quốc để dịch kinh Phật. "Cưu Ma La Thập" trong tiếng Phạn có nghĩa là "Đồng Thọ", nghĩa là trẻ thơ, nhưng ngài lại có trí tuệ rất lớn, vì vậy cái tên này cũng phù hợp với dấu vết hoạt động cả đời của ngài. Muốn biết chi tiết về mọi việc trong cuộc đời của Cưu Ma La Thập, mọi người có thể đọc một cuốn sách của Trung Quốc tên là "Cao Tăng Truyện", trong đó có ghi chép về ngài. Vị cao tăng dịch kinh này, bản thân cũng là người có nhiều thần thông.

Om mani padme hum.


### 15. Tôi nghe như vầy (1)


Hôm nay chúng ta bước vào phần kinh văn của "Phật Thuyết A Di Đà Kinh". Bốn chữ đầu tiên "Tôi nghe như vầy" có nghĩa là gì? Tôi thường đọc kinh Phật và hay thấy "như vầy, như vầy", điều này giống như "dường như là, dường như là", "có vẻ như là", nhưng thực ra không nên giải thích như vậy. Đúng hơn là: giống như tôi đang ngồi trước mặt Đức Phật để nghe giảng kinh. Tại sao vậy? Bởi vì sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni nhập Niết bàn, các đệ tử dựa vào trí nhớ của mình, tập hợp và ghi chép lại những giáo pháp mà Phật đã thuyết giảng. Trong kinh Phật, mỗi lần mở đầu kinh văn, bốn chữ đầu tiên nhất định phải viết là "tôi nghe như vầy". Tôi nghe như vầy có nghĩa là "như tôi đã đích thân nghe Đức Phật thuyết pháp".

Hai chữ "như vầy" chính là đại diện cho "sự thành tựu của niềm tin". Mặc dù lúc đó chúng ta không có mặt để nghe, nhưng khi chúng ta đọc bộ kinh này, cũng giống như chúng ta đang có mặt để nghe Đức Phật thuyết pháp. Bởi vì chúng ta tin rằng đây là những lời Phật dạy, tin rằng kinh điển này do Phật thuyết giảng, cho nên "như vầy" chính là một dạng "sự thành tựu của niềm tin".

"Tôi nghe" là thành tựu gì? Đó chính là "thành tựu của việc tôi đến nghe" - thành tựu của việc tôi nghe. Mọi người có thể nghĩ như thế này: ai cũng đều có thành tựu, bởi ít nhất các vị cũng đã thành tựu được "việc lắng nghe". Việc tôi đến nghe cũng là một loại thành tựu, việc tôi tin tưởng cũng là một loại thành tựu; các vị không tin sao? Lấy Thiên Chúa giáo làm ví dụ, họ chuyên nói về "tin là được cứu rỗi", cái gọi là tin là được cứu rỗi, thực ra chính là thành tựu của đức tin, và rồi ở đây chúng ta thêm bốn chữ này, đó là:

Một "thành tựu của đức tin", một "thành tựu của việc lắng nghe".

Tiếp theo là hai chữ "một thời", tức là chỉ thời điểm nào đó, trong khoảng thời gian nào đó, gọi là một thời. Thực ra, thời điểm đó cũng có sự thành tựu, đó là thành tựu gì? Đó chính là "thành tựu về thời gian", sự thành tựu của thời gian. Khi Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp, có rất nhiều đệ tử ngồi ở đó, tin tưởng có thành tựu, lắng nghe có thành tựu, và trong thời điểm đó có sự lĩnh ngộ chính là thành tựu về thời gian.

Sau này, khi bạn nghe pháp ở đây và tôi không còn ở cõi trần nữa, bạn cũng có thể viết "tôi nghe như vầy". Khi viết "tôi nghe như vầy", bạn phải ghi nhớ thật rõ ràng, ví dụ như vào ngày tháng năm nào đó, lúc 8 giờ tối, ai đó ngồi ở đây thuyết pháp, bạn phải ghi nhớ cho rõ! Đừng viết kiểu như: có một người hình như tên là Thượng sư Lư Hà đang thuyết pháp tại chùa Vũ Điền. Tại sao lại biến thành chùa Vũ Điền? Bởi vì nhìn chữ Lôi từ xa một chút đã biến thành Vũ Điền mất rồi. Còn chữ Lư này, không nhớ ra chữ phía dưới là gì, nên tiện tay dùng chữ Hà của sông nước, gọi là Lư Hà luôn, như vậy thì "tôi nghe như vầy" đã sai rồi. Tuy nhiên, tôi thấy mình trí nhớ không tốt, đôi khi viết lách cũng có hiện tượng này, như kiểu ghép đông với tây, đầu trâu miệng ngựa vậy.

Khi kết tập kinh điển trong quá khứ, cũng có nhiều vấn đề bị bỏ sót. Nhiều đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni phải tập hợp lại, họ nghiên cứu xem lúc đó Phật đã giảng như thế nào, cần phải tập hợp trí nhớ của nhiều người mới có thể kết tập thành kinh điển như thế này. Nếu chỉ một người viết thôi (một người viết đơn lẻ), rất có thể sẽ ghi sai hết thời gian, địa điểm, tên gọi. Gần đây tôi xem tạp chí chúng ta xuất bản, khi ghi lại lời Thượng sư giảng pháp, đôi khi nhắc đến tên người hoặc từ ngữ nào đó, vì chỉ nghe âm thanh mà không biết chữ thật sự là gì, nên vẫn còn nhiều chỗ sai. Vì vậy khi gặp danh từ riêng, cần phải chú ý một chút, nếu không sẽ bị sai.

"Tôi nghe như vầy, một thời, Phật...". Chữ Phật này cũng có một sự thành tựu, đương nhiên Phật Thích Ca Mâu Ni là một sự thành tựu, đó chính là "sự thành tựu chủ yếu" - chính là Phật.

Về địa điểm thì sao? Đó là "tại vườn Kỳ Thụ Cấp Cô Độc ở nước Xá Vệ", đây cũng là một sự thành tựu. Thành tựu này gọi là gì? Gọi là "xứ thành tựu" - tức là sự thành tựu về địa điểm. Vườn Kỳ Thụ Cấp Cô Độc của Phật Thích Ca Mâu Ni là do một thí chủ cúng dường cho Phật, Ngài đã thuyết pháp giảng kinh rất nhiều tại địa điểm đó, và địa điểm ấy đã trở thành một sự thành tựu. Giống như ngày nay, Lôi Tạng Tự của chúng ta cũng là một "xứ thành tựu". Không phải chữ "xứ" như trong "giấm chua" đâu nhé, đừng để sau này nghe giọng rồi viết thành: Sư Tôn giảng về thành tựu của giấm chua. Không phải chữ "xứ" trong giấm chua đâu, mà là chữ "xứ" trong xử lý kìa. Chữ "xứ" và "giấm" có âm giống nhau, thật ra người Đài Loan học tiếng Phổ thông hay bị "thều thào" khi nói. Tôi tin rằng chữ "xứ" và "giấm" phải có sự khác biệt, âm thanh chắc chắn phải khác nhau, nhưng tôi thực sự không phát âm rõ ràng được.

Tôi cảm thấy khả năng nói tiếng Phổ thông của mình khá chuẩn, bởi vì trước đây trong hơn 10 năm phục vụ trong quân đội, tôi chỉ nói tiếng Phổ thông. Nhưng khi sang Mỹ, trong khoảng 5 năm qua, tôi rất ít có cơ hội nói tiếng Phổ thông. Thượng sư Trần và những người khác đều nói tiếng Đài Loan, ông Lâm ở bên cạnh cũng nói tiếng Đài Loan, mọi người đều nói tiếng Đài Loan, chỉ có một mình tôi nói tiếng Phổ thông thì không thông. Vì vậy gần đây trình độ tiếng Phổ thông của tôi đã suy giảm nhiều, do đã lâu không có cơ hội sử dụng, nên khi thuyết pháp cũng có đôi chút không mạch lạc. Nhiều đệ tử ở Đài Loan nghe băng ghi âm đã hỏi tại sao tiếng Phổ thông của tôi lại như vậy, nói không được trôi chảy, nên ở đây tôi cũng xin họ thông cảm, thực sự là đã 5 năm không nói rồi.

Khi nào tôi nói tiếng Phổ thông? Chỉ khi thuyết pháp thôi, mà lại không có chuẩn bị, phần lớn những gì tôi giảng đều không chuẩn bị trước. Giống như chọn một đề tài, dựa vào kiến thức đọc sách thường ngày để tổ chức và trình bày, nên khó có thể nói được trôi chảy. Còn tiếng Phổ thông của các Thượng sư Trần và những vị khác, tôi còn nghe không hiểu nữa, nhưng thành thật mà nói với mọi người: tiếng Đài Loan của tôi không thể sánh với họ. Khi họ dùng tiếng Đài Loan thuyết pháp chắc chắn rất hay, nếu bảo họ dùng tiếng Đài Loan giảng kinh thuyết pháp, họ còn nói hay hơn cả người kể chuyện trong rối bóng, tiếng Đài Loan của họ "trong trẻo rõ ràng", rất tuyệt vời. Nếu mọi người hiểu được tiếng Đài Loan, chúng ta có thể mở lớp tiếng Đài do Thượng sư Trần chủ giảng, tôi phụ trách lớp tiếng Phổ thông, còn Thiếu Đông sau này có thể dạy lớp tiếng Anh và tiếng Quảng Đông.

Thực tế mà nói, vấn đề ngôn ngữ này cũng rất khó khăn, chủ yếu là vì đất nước Trung Quốc quá rộng lớn, phương ngữ quá nhiều. Tôi cũng hy vọng trong tương lai Trung Quốc chỉ nói một loại ngôn ngữ duy nhất, như vậy sẽ thuận tiện hơn cho việc thống nhất toàn Trung Quốc sau này.

Câu tiếp theo là "cùng với đại chúng tỳ kheo một nghìn hai trăm năm mươi vị, đều là bậc đại A La Hán, được mọi người biết đến" - câu này nói về "chúng thành tựu" - tức là tất cả mọi người đều có thành tựu. "Một nghìn hai trăm năm mươi vị, đều là đại A La Hán", tất cả đều là đại A La Hán. Đại A La Hán là một trong bốn quả vị thánh cao quý, nghĩa là mọi người đều có thành tựu. Hôm nay mọi người ngồi đây nghe pháp, sau này khi viết kinh văn có thể viết: "Tôi nghe như vầy. Khoảng một trăm năm mươi người. Đều là đại Bồ Tát." Sau này mọi người có thể viết kinh như vậy. Nhưng có vẻ không đủ một trăm năm mươi người, còn con số một nghìn hai trăm năm mươi người kia cũng là rất nhiều, ở đây chúng ta chỉ có một trăm năm mươi người là quá ít, trừ đi những người từ xa đến, từ Canada đến, chỉ còn lại ba mươi người, lại trừ đi mấy vị Thượng sư ngồi phía trước, chỉ còn lại mười người. A Di Đà Phật! Hy vọng sẽ ngày càng đông hơn.

Om mani padme hum.


### 16. Tôi nghe như vầy (2)


Lần trước khi giảng Kinh A Di Đà, chúng ta đã nói đến "tôi nghe như vầy". Bốn chữ này có một điển tích, được nhắc đến ở phần sau, đó là trước khi Phật Thích Ca Mâu Ni nhập Niết bàn, tôn giả A Nan đã đến hỏi Ngài bốn việc, trong đó có một việc liên quan đến bốn chữ này.

Bốn việc đó là:
Thứ nhất, A Nan hỏi Thế Tôn: "Khi Thế Tôn còn tại thế, chúng con nương theo Thế Tôn làm thầy; sau khi Thế Tôn diệt độ, chúng con nương theo ai làm thầy?"
Thứ hai, A Nan hỏi Thế Tôn: "Khi Thế Tôn còn tại thế, chúng con nương theo Thế Tôn để an trú; sau khi Thế Tôn diệt độ, chúng con nương vào đâu để an trú?"
Câu hỏi thứ ba là: "Khi Thế Tôn còn tại thế, Thế Tôn điều phục được các tỳ kheo ác tính; sau khi Thế Tôn diệt độ, làm sao điều phục họ?"
Thứ tư, hỏi rằng: "Những lời dạy trong suốt cuộc đời của Thế Tôn, vì lợi ích cho đời sau, xét về lý nên kết tập, vậy phần đầu kinh văn nên đặt những lời gì?"

Phật Thích Ca Mâu Ni trả lời bốn câu hỏi này, câu trả lời cho câu hỏi thứ nhất là: "Sau khi Thế Tôn diệt độ, lấy giới làm thầy." Giới chính là giới luật. Giống như chúng ta bây giờ, Chân Phật Tông có giới luật của Chân Phật Tông, thực ra giới luật của Chân Phật Tông và Phật giáo là giống nhau.

Câu hỏi thứ hai là "lấy tứ niệm xứ làm chỗ an trú." Tứ niệm xứ là gì? Đó là: Một là quán thân bất tịnh, hai là quán thọ là khổ, ba là quán tâm vô thường, bốn là quán pháp vô ngã. Lấy bốn loại quán niệm này làm chỗ an trú, đó chính là hạt giống thành Phật.

Câu hỏi thứ ba, Phật Thích Ca Mâu Ni trả lời: "Đối với tỳ kheo ác tính, dùng mặc tẫn để đối trị." Mặc tẫn nghĩa là im lặng, dùng sự im lặng để đối trị.

Câu hỏi thứ tư là về vấn đề "tôi nghe như vầy" ở đầu kinh, Ngài dạy: "Đầu kinh nên ghi 'tôi nghe như vầy'." Bốn chữ "tôi nghe như vầy" này có nghĩa là "những điều Phật thật sự đã dạy". Bốn chữ "tôi nghe như vầy" chính là những điều Phật thật sự đã dạy, khiến người nghe phải tin sâu và tiếp nhận.

Ở đây, tôi cũng xin giải thích sơ qua về "Tứ niệm xứ". "Quán thân bất tịnh" nghĩa là phải thường xuyên quán chiếu rằng thân thể của mình vốn không thanh tịnh, xác thân và bản thể của mình đều không thanh tịnh. Chúng ta cũng cần thường xuyên quán chiếu rằng trong cuộc đời này khổ nhiều vui ít, nỗi khổ nhiều hơn niềm vui. Mọi người cũng có thể nghĩ xem, ngay cả Thượng sư cũng gần như bị tiền bạc đè chết, vẫn còn đau khổ!

Điểm thứ ba là "quán tâm vô thường", nghĩa là phải thường xuyên quan sát những ý niệm của mình. Thật ra, ý niệm của chúng ta luôn luôn biến đổi không ngừng, chưa bao giờ được yên tĩnh. Điểm thứ tư là "quán pháp vô ngã", điểm này rất quan trọng, nghĩa là trong khi tu tập phải quên đi cái tôi, bởi vì chỉ khi nào "tọa vong" (quên mình trong thiền định), bạn mới có thể tìm thấy "chân ngã" đích thực.

Nếu bạn luôn tu pháp vì cái "tôi" này, thì trí tuệ đạt được chỉ là trí tuệ nhỏ của cá nhân và phước báu nhỏ của cá nhân mà thôi; khi tu pháp đến mức bản thân đã trở thành trạng thái vô ngã, bạn mới có thể kết duyên với chúng sinh, chia sẻ pháp tu của mình cho chúng sinh, giống như việc giảng kinh vậy.

Tôi tiết lộ cho mọi người một bí mật, có thể làm giàu trong hàng trăm kiếp là vì tu pháp không phải vì bản thân mà là vì chúng sinh, chúng sinh trong hàng trăm kiếp đều mắc nợ bạn, bạn không thể không trở thành người giàu có! Vì vậy Phật Thích Ca Mâu Ni chưa giảng rõ, "quán pháp vô ngã" này là pháp lớn thứ nhất - "không vì mình tu mà vì chúng sinh tu", phước báu của bạn sẽ vô cùng vô tận.

Trong đây có điều bí mật, mọi người hãy tu pháp cho tốt, sẽ có phước báu vô tận, trí tuệ vô cùng, một người có thể có đến hàng trăm căn nhà. Tuy nhiên, đừng nên quá tham lam, bởi vì ban đêm bạn chỉ có thể ngủ trên một chiếc giường. Trước đây có nhiều người giàu nói rằng: khi họ còn nhỏ cắt cỏ, từ bên này cắt đến bên kia, thì bên này cỏ đã mọc lên rồi.

Vì vậy, người giàu thật sự có nỗi lo của người giàu, nhà nghèo cũng có nỗi lo của nhà nghèo. Cuối cùng chỉ có một câu: nỗi lo của người có tiền vẫn tốt hơn nỗi lo của người không có tiền, mong rằng mọi người đều có nỗi lo của người có tiền.

Om mani padme hum.


### 17. Tôi nghe như vầy (3)


Tuần trước chúng ta đã nói về bốn câu hỏi mà tôn giả A Nan hỏi Phật Thích Ca Mâu Ni. Tôn giả A Nan là thị giả của Phật Thích Ca Mâu Ni, thị giả là người thường xuyên theo hầu bên cạnh Phật. Phật Thích Ca Mâu Ni từng khen ngợi Ngài (tôn giả A Nan) là "đa văn đệ nhất".

Đa văn đệ nhất nghĩa là gì? Đa văn là vì Ngài thường xuyên theo Phật Thích Ca Mâu Ni, nên được nghe nhiều đạo lý nhất, được nghe nhiều Phật pháp nhất. Tuy nhiên, dù đa văn là điều tốt, nhưng cũng có một khuyết điểm, đó là thiếu thực hành. Ngài ngày nào cũng đi nghe Phật thuyết pháp, ngày nào cũng nghe, nghe rất hoan hỷ, cái gì cũng muốn học, những pháp Phật giảng, Ngài đều biết hết, nhưng lại không thực sự tu tập nghiêm túc.

Sau khi Phật nhập Niết bàn, tất cả các vị A La Hán tập hợp lại với nhau, chuẩn bị tập trung toàn bộ những giáo lý, Phật lý mà Phật Thích Ca Mâu Ni đã giảng dạy để cùng nhau thảo luận. Cuộc hội tập này do Đại Ca Diếp làm chủ trì, nhưng vì tôn giả A Nan là người được nghe nhiều Phật pháp nhất, nên mọi người đã mời Ngài làm vị chủ tọa để điều hành cuộc kết tập này, lúc đó có tổng cộng năm trăm vị A La Hán cùng tham dự.

Tuy nhiên, vào lúc đó, Đại Ca Diếp từ chối A Nan, Ngài nói: "Tuy ông nghe được nhiều, nhưng không có thực hành tu tập và chứng ngộ thực sự, nên ông không thể vào được." Tôn giả A Nan nghe xong rất đau lòng, bốn trăm chín mươi chín vị đều được vào trong, chỉ còn lại một mình Ngài ở bên ngoài. Cuối cùng, Ngài nói: "Được rồi! Đã như vậy, tôi sẽ nhanh chóng thực tu."

Ngài bắt đầu tu tập mỗi ngày, từ sáng đến tối, liên tục tu tập bảy ngày bảy đêm, không ngủ nghỉ. Tuy nhiên, vẫn chưa chứng ngộ, Ngài vẫn chưa tìm ra được. Ngài nói: "Tôi đã nghe được rất nhiều đạo lý, nhưng vì không thực tu, nên không chứng ngộ, mọi người không cho tôi vào bên trong tham gia kết tập."

Ngài liên tục tu tập bảy ngày bảy đêm, giống như học sinh chúng ta ôn thi thâu đêm vậy. Đến ngày thứ bảy, vẫn chưa chứng ngộ; bỗng nhiên Ngài lên giường: "Chà! Tu hoài không chứng ngộ, thôi đi ngủ cho rồi." Khi Ngài vừa nằm xuống giường, vừa chạm vào giường, liền chứng ngộ.

Ngài vội vàng chạy đến chỗ kết tập để gặp tôn giả Đại Ca Diếp và nói với Ngài: "Tôi đã chứng ngộ rồi." Đại Ca Diếp rất không tin: "Làm gì có chuyện nhanh như vậy, bảy ngày mà ông đã chứng ngộ? Chắc chắn là nói dối!" Lúc họ kết tập, bốn trăm chín mươi chín vị A La Hán đang ở trong một hang núi. Đại Ca Diếp đóng cửa hang lại, cửa kín không một kẽ hở. Ngài nói với tôn giả A Nan đang đứng bên ngoài: "Nếu ông đã chứng ngộ thì hãy tự mình vào đây." Cửa đã đóng, đã khóa chặt, làm sao mà vào được?

Tôn giả A Nan từ từ phân giải thân thể của mình thành khí, rồi đi xuyên qua lỗ khóa vào trong hang núi, sau đó khôi phục lại thân thể như cũ. Ngài nói với bốn trăm chín mươi chín vị A La Hán bên trong: "Tôi đã tự mình vào được rồi!" Đại Ca Diếp nói: "Ông đã vào được, được rồi! Ông quả thật đã chứng ngộ, có thể cùng chúng ta kết tập giáo lý của Phật."

Đây là một thần thông rất lợi hại! Thần thông này giống như thần thông của kẻ trộm vậy, nếu ai quan tâm đến điều này thì chắc chắn sẽ rất tuyệt, nhất định sẽ thành đại phú gia. Nhớ lại hồi nhỏ, thật kỳ lạ, tôi thường hay mơ một giấc mơ rất kỳ lạ, thường khi đi đến trước một bức tường, tôi có thể đi xuyên qua bức tường đó; thường hay có giấc mơ như vậy, mấy lần đều mơ như thế, đều có thể xuyên tường như vậy, giống như người đi xuyên tường vậy.

Theo như thần thông hiện tại mà nói, là biến thân thể mình thành một tần số còn loãng hơn cả nước và khí. Lý thuyết là vậy, dù bạn có thể biến thành ánh sáng, biến thành chất lỏng, vẫn không thể xuyên tường được, nhất định phải biến thành sóng tần số như sóng radio mới có thể xuyên qua tường. Vì vậy trong Mật pháp, đã từng có người biến mình thành trong suốt, rồi khi hai người đâm vào nhau, người này xuyên qua thân thể người kia, người kia cũng xuyên qua thân thể người này, có những thần thông kỳ lạ như vậy.

Khi tôn giả A Nan lên tòa để kết tập và giảng lời Phật (giảng đạo lý của Phật), mọi người cảm nhận được khuôn mặt của Ngài giống hệt như Đức Phật. Lúc đó, mọi người đều cảm thấy rất lạ lùng, tại sao khuôn mặt của A Nan đột nhiên lại trở nên giống Phật như vậy?

Nghi vấn đầu tiên là nghi ngờ Phật Thích Ca Mâu Ni chưa nhập diệt, Ngài đang thuyết pháp trở lại; nghi vấn thứ hai là có thể một vị Phật từ nơi khác đã đến; nghi vấn thứ ba là A Nan đã thành Phật. Thực ra, lúc đó tôn giả A Nan cũng đã như được khai ngộ; và mỗi lần giảng kinh, Ngài đều phải nói câu "tôi nghe như vầy" trước tiên, bởi vì khi nói câu "tôi nghe như vầy" này, tâm mọi người mới an định lại, nhận ra A Nan vẫn là A Nan. Hôm nay chúng ta giảng đến đây!

Om mani padme hum.


### 18. Một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ, trong vườn Kỳ Thụ Cấp Cô Độc


Tôi tin rằng, tuần này có vài người biết tôi và Thượng sư Liên Hỏa có một chuyến đi bí mật, tôi và Thượng sư Liên Hỏa đã đến Hồng Kông vào thứ Hai, hôm nay mới về, khoảng hơn 1 giờ mới từ Hồng Kông trở về Seattle. Từ thứ Hai đến thứ Bảy, tôi và Thượng sư Liên Hỏa đều ở Hồng Kông. Tuy là chuyến đi bí mật, không cho ai biết, nhưng thực tế, như câu tục ngữ Đài Loan nói: "Trứng vịt dù kín đến mấy cũng có kẽ hở".

Nói thế nào nhỉ? Khi chúng tôi xuống máy bay tại sân bay Hồng Kông, một nhân viên sân bay - người lái xe kéo đầu máy bay - là đệ tử của chúng tôi, anh ấy đã nhận ra tôi khi thấy logo Chân Phật Tông trên túi xách và nhìn thấy mặt tôi. Khi trở về Seattle, chị Ôn, một đệ tử làm phiên dịch viên tại Sở Di trú và Hải quan ở sân bay, cũng nhìn thấy chúng tôi. Chị ấy rất ngạc nhiên khi thấy chúng tôi từ chuyến bay quốc tế xuống, bởi vì thứ Bảy tuần trước chúng tôi đã không thông báo về việc đi xa hay đến một quốc gia khác.

Chuyến đi Hồng Kông lần này của chúng tôi chủ yếu là để chuẩn bị một nơi đặt chân cho việc chu du khắp nơi trong tương lai, một trung tâm tại Hồng Kông. Các đệ tử ở Hồng Kông đã rất chân thành tặng cho Thượng sư một ngôi nhà, để sau này khi Thượng sư chu du khắp thế giới, có một nơi đặt chân lấy Hồng Kông làm trung tâm.

Vì vậy ngày đầu tiên, chúng tôi bận rộn đến ngân hàng mở tài khoản, ngày thứ hai, bận rộn đến văn phòng luật sư để ký giấy chuyển nhượng, ngày thứ ba, lại ký các giấy chứng nhận. Các đệ tử Hồng Kông rất chân thành, ngôi nhà đó có một phòng khách rất rộng có thể thuyết pháp, tầng trên có ba phòng ngủ, garage có thể đậu hai xe, phía trước và sau đều có vườn hoa, hai bộ thiết bị vệ sinh, phía sau nhà là khu bảo tồn chim, không được phép xây thêm nhà nữa, môi trường rất đẹp.

Tôi nghĩ sau này khi các Thượng sư của Chân Phật Tông đến Hồng Kông hoằng pháp, đều có thể ở trong ngôi nhà này. Họ đã rất chân thành tặng một ngôi nhà tốt như vậy, trị giá hơn trăm nghìn đô Mỹ, tặng cho Thượng sư.

Thật ra, như tôi đã nói lần trước, có nhiều nhà như vậy chưa chắc đã có lợi. Bởi vì ngay cả khi chưa ở, đã phải trả tiền nước, tiền điện, phí vệ sinh, phí linh tinh, phí quản lý, phí đậu xe, đủ thứ phí phải trả. Tuy nhiên, tôi nghĩ vẫn có lợi ích, vì ngôi nhà đó giống như một trung tâm vân du, một trung tâm truyền pháp.

Ở Hồng Kông, tuy nói là không cho tất cả mọi người biết, nhưng thực tế, các Thượng sư ở Hồng Kông đều biết. Tôi cũng đã giảng pháp một chút tại chỗ Thượng sư Cao An Dân, cũng giảng pháp một chút cho các đệ tử ở chỗ pháp sư Quả Hiền, còn lại thời gian là để ăn uống. Vì thời gian ở Hồng Kông rất gấp rút, thực tế chỉ có ba ngày ở đó.

Có lúc mọi người cũng nghĩ: "Thượng sư thích thế, người ta tặng xe, tặng nhà, khắp các nước trên thế giới đều có nhà, sao không tặng cho chúng con một căn?" Tuy nhiên, tôi cho rằng những ngôi nhà này, trong tương lai sẽ phát huy tác dụng trở thành trung tâm hoằng pháp của Chân Phật Tông, chứ không phải để tôi hưởng thụ cá nhân kiểu lúc ở bên này, ngày mai bay bên kia, ngày mốt lại bay chỗ khác.

Trong Kinh A Di Đà mà chúng ta đang giảng đây, Phật thuyết Kinh A Di Đà tại tinh xá Kỳ Viên, thực ra tinh xá Kỳ Viên này cũng là do đệ tử cúng dường cho Phật. Tinh xá Kỳ Viên này chính là "xứ thành tựu" - một sự thành tựu về nơi chốn - được nói đến trong phần giảng giải Kinh A Di Đà.

Có hai người đã cúng dường tinh xá Kỳ Viên cho Phật Thích Ca Mâu Ni, trong đó một người là thái tử nước Xá Vệ tên là Kỳ Đà. Ban đầu khu vườn này thuộc về ông ấy, nhưng đã được bán cho đại thần Cấp Cô Độc, sau đó ông đã cúng dường tất cả cây cối trên mảnh đất đó cho Phật Thích Ca Mâu Ni, vì vậy tên thật của tinh xá Kỳ Viên là "Kỳ Thụ Cấp Cô Độc Viên".

"Kỳ Thụ" có nghĩa là gì? Đó là vì Kỳ Đà đã cúng dường tất cả cây cối trên mảnh đất cho Phật Thích Ca Mâu Ni, nên gọi là "Kỳ Thụ". Còn "Cấp Cô Độc", không phải là nói chuyên cho người cô độc, cái tên này rất lạ, tại sao lại gọi là "Cấp Cô Độc"?

Tên gọi này có nguồn gốc từ việc vị đại thần này chuyên giúp đỡ người khác làm điều thiện. Ông làm những việc như giúp đỡ người già không con, trẻ nhỏ không cha, khiến họ không cô đơn, giống như xây dựng viện dưỡng lão và cô nhi viện vậy. Viện dưỡng lão là dành cho người già không con, cô nhi viện là dành cho trẻ nhỏ không cha. Vì vị đại thần này thường xuyên giúp đỡ những người già cô đơn và trẻ em cô độc như vậy, nên mọi người tôn xưng ông là "Cấp Cô Độc".

Khi Phật thuyết pháp tại nước Xá Vệ, trưởng giả Cấp Cô Độc và thái tử Kỳ Đà đã dâng cúng khu vườn rộng lớn này cho Phật Thích Ca Mâu Ni. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có được mảnh đất rộng lớn, rừng cây tốt đẹp như vậy, nên đã an trí hàng nghìn đệ tử trong vườn Kỳ Thụ Cấp Cô Độc này, khiến các đệ tử có thể an cư tu hành. Vì Phật Thích Ca Mâu Ni có được khu vườn này, nhờ đó ngài có thể thuyết pháp và độ chúng sinh, nên nguyên lý này được gọi là "xứ thành tựu".

Trong tương lai, những trung tâm của chúng ta sẽ trở thành trung tâm hoằng pháp, trung tâm thuyết pháp, trung tâm vân du, sẽ xuất hiện khắp nơi trên thế giới. Vì vậy, mọi người đừng xem những ngôi nhà này là tài sản riêng của Thượng sư, bởi vì trong tương lai chúng sẽ phát huy sức mạnh hoằng pháp.

Tôi biết rằng, chỉ cần chúng ta chuyên tâm hoằng pháp, trời sẽ chuẩn bị cho chúng ta nhiều chỗ ở. Của cải trên trời là vô tận, và là nguồn không bao giờ cạn kiệt, chỉ cần chúng ta nghiêm túc thực hiện Phật sự, chư Phật Bồ Tát sẽ chuẩn bị cho chúng ta mọi nơi chốn để hoằng pháp.

Đúng như hôm nay Thượng sư Trịnh đã nói: "Người đắc đạo tự nhiên được nhiều người giúp đỡ", người đắc đạo tự nhiên có nhiều người đến giúp, không cầu giàu mà được giàu, không đi cầu của cải, tự nó sẽ đến; không cần phải cầu danh, tự nhiên danh tiếng vang khắp thiên hạ. Vì vậy bây giờ tôi thường nghĩ, của cải của tôi ở đâu? Tôi cho rằng của cải của tôi không nằm ở mặt đất, mà là ở trong hư không, "trong hư không đều chứa đầy của cải, thì đương nhiên bạn sở hữu tất cả".

Om mani padme hum.


### 19. Cùng với đại chúng tỳ kheo một nghìn hai trăm năm mươi vị, đều là bậc đại A La Hán


Trong câu đầu tiên của Kinh A Di Đà có nhắc đến một số thuật ngữ: "Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ, trong vườn Kỳ Thụ Cấp Cô Độc, cùng với đại chúng tỳ kheo một nghìn hai trăm năm mươi vị, đều là bậc đại A La Hán, được mọi người biết đến."

Lần trước chúng ta đã nói về "vườn Kỳ Thụ Cấp Cô Độc", hôm nay chúng ta nói về "đại tỳ kheo tăng" là gì? Đại tỳ kheo ở đây là chỉ các vị đại hòa thượng xuất gia; thông thường khi người ta nghe đến hòa thượng thì... người Quảng Đông sợ chết khiếp, pháp sư Quả Hiền đã từng gặp một trường hợp ở China Town; thực ra, nói chung hòa thượng không có gì đáng sợ, nhưng người Quảng Đông lại rất sợ hòa thượng, điều này khiến tôi thấy rất lạ. Lần trước có một bà cụ, khi nhìn thấy pháp sư, liền thốt lên: "Ôi trời! Xui xẻo quá!" Pháp sư bước tới nói với bà: "Bà đâu có xui xẻo, tôi có thể ban phúc cho bà mà."

Vì hai người đều nói tiếng Quảng Đông nên tôi tưởng pháp sư có người thân ở đây và họ đang chào hỏi nhau. Hai người nói chuyện một hồi lâu, vì người Quảng Đông nói chuyện nghe như đang cãi nhau vậy! Nên tôi nghĩ: "Ồ! Mừng cho pháp sư, cuối cùng cũng gặp được chị em gái."

Sau đó tôi mới biết là họ đang nói về chuyện xui xẻo, khiến tôi từ đó về sau mỗi khi ra phố China Town đều mặc thường phục. Bởi vì người Quảng Đông có một sự mê tín, họ cho rằng nếu nhìn thấy người đầu trọc thì tối đó đánh mạt chược chắc chắn sẽ thua sạch. Đặc biệt người Quảng Đông rất thích cá cược ngựa, chó, gà, họ thường xuyên chơi những trò này, nên khi ra đường, mặc thường phục vẫn thuận tiện hơn.

Thực ra, danh từ đại hòa thượng có ba ý nghĩa. Thứ nhất là "khất sĩ", nghĩa là đi khất thực xin cơm như người ăn xin. Thứ hai, tại sao phải đi xin cơm? Xin cơm là để nuôi dưỡng sắc thân, nuôi dưỡng thể xác, duy trì mạng sống của mình. Có người cho rằng hòa thượng là kẻ ăn bám, không làm mà chỉ xin ăn, nhưng thực ra hòa thượng xin ăn là để ban phúc cho người khác.

Khi thí chủ cúng dường tiền của cho nhà sư, họ được phúc đức cúng dường; nhà sư nhận sự cúng dường của thí chủ và dùng Phật pháp để truyền lại cho thí chủ, đó là pháp thí. Một bên là tài thí, một bên là pháp thí, hai bên ngang nhau, không ai nợ ai. Có khi, nhà sư nhận của bạn một đồng sẽ trả lại bạn mười đồng; bạn cho nhà sư mười đồng sẽ được trả lại một trăm đồng; bạn cho nhà sư một trăm đồng sẽ được trả lại một nghìn đồng; nếu bạn không cho nhà sư tiền thì sẽ bị thua lỗ; nhà sư có phước báu lắm! Ai có duyên thì hãy xuất gia làm nhà sư! Vì vậy nhà sư là khất sĩ, nghĩa là khất thực, họ ôm bình bát đi xin cơm.

Ngoài việc khất thực, nhà sư còn phải "cầu tuệ", nghĩa là đi cầu pháp để có được trí tuệ; khất thực là để nuôi dưỡng sắc thân, cầu tuệ là để nuôi dưỡng pháp thân. Pháp thân này rất quan trọng, khi đã là người xuất gia, đã là nhà sư, không thể chỉ biết ăn cơm, mà phải tràn đầy trí tuệ. Có đầy đủ trí tuệ thì mới là cao tăng. Nếu không có trí tuệ, chỉ biết xin ăn, thì chỉ là tăng tầm thường.

Điểm thứ hai, đại tỳ kheo còn có một ý nghĩa nữa, đó là "phá ác". Phá ác là gì? Nghĩa là khi đã trở thành đại tỳ kheo, phải dạy điều thiện ngăn điều ác, phải chuyển hóa cái ác thành cái thiện, đó là trách nhiệm của đại tỳ kheo, của bậc đại hòa thượng.

Thứ ba là "khủng bố ma quỷ". Khủng bố ma quỷ là gì? Đó là khi ma quỷ nghe nói bạn là một đại tỳ kheo thì sẽ cảm thấy vô cùng kinh sợ. Trong quá khứ, khi Phật Thích Ca Mâu Ni chứng đạo và truyền giới cụ túc cho tất cả đệ tử, thiên cung và ma cung đều chấn động, Ma vương đã triệu tập tất cả ma quỷ họp lại, tất cả đều rất lo lắng, không biết chuyện gì đã xảy ra.

Ma vương nói rằng: "Thế gian có một vị Phật Thích Ca Mâu Ni đã chứng đạo, và đã truyền giới cụ túc cho tất cả đệ tử để họ trở thành đại tỳ kheo." Chính vì vậy mà ma quỷ không thể đứng vững trong nhân gian được nữa, khiến chúng vô cùng sợ hãi.

Một vị đại hòa thượng cần có ba yếu tố này: thứ nhất là "khất sĩ", thứ hai là "phá ác", thứ ba là "khủng bố ma quỷ", đó chính là ý nghĩa của danh từ đại hòa thượng, đại tỳ kheo.

Tiếp theo, chúng ta nói về "đại A La Hán". A La Hán trong tiếng Phạn nghĩa là Thanh Văn, nhiều đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni là những vị "trong tu hạnh Bồ Tát, ngoài hiện tướng Thanh Văn". Mỗi vị A La Hán đều phải trải qua thời gian tu hành rất lâu dài mới có thể trở thành bậc đại A La Hán.

Tôi nhớ, vào thời Phật Thích Ca Mâu Ni, có một vị A La Hán tên là Đạt Ca Tôn Giả, cũng từng theo Đức Phật một thời gian, nhưng ngài rất chậm hiểu, vô cùng ngu muội: Phật giảng kinh, buổi sáng giảng thì buổi chiều đã quên, buổi chiều giảng thì buổi tối đã quên, buổi tối giảng thì sáng hôm sau lại không còn nhớ gì. Đạt Ca vẫn không thể lĩnh hội được Phật pháp; cuối cùng, Phật không còn cách nào khác đành dạy ngài: "Ông hãy nhớ bốn chữ: 'Giữ miệng trị ý', giữ gìn miệng lưỡi và điều phục ý nghĩ của mình." Chỉ dạy bốn chữ "giữ miệng trị ý" như vậy.

Ban đầu, vị tôn giả này nghe Phật dạy "giữ miệng trị ý", liền thật sự giữ miệng không nói lời nào, đến nỗi cả lúc ăn cơm cũng không mở miệng, cuối cùng Phật Thích Ca Mâu Ni phải nói với ngài: "Khi ăn cơm thì phải mở miệng." Được rồi! Cuối cùng ngài cũng hiểu ra, và từ đó về sau, ngoài lúc ăn cơm ra, những lúc khác ngài đều không mở miệng.

Về câu thứ hai, Phật dạy ngài phải điều phục tâm, nhưng ngài vẫn không hiểu, nên Phật Thích Ca Mâu Ni đã chỉ cho ngài về tâm bên trong, tâm bên ngoài và tâm trong hư không. Từ đó, ngài suốt ngày chỉ quán chiếu về tâm bên trong, tâm bên ngoài và tâm trong hư không. Như vậy, ngài tu hành tổng cộng mười ba năm, rồi một ngày nọ, khi ngài đưa tay chỉ vào mình, "À!", ngài thấy một điểm sáng ở bên trong, rồi khi chỉ ra bên ngoài, bên ngoài cũng có một điểm sáng, và khi chỉ vào vũ trụ, toàn thân ngài tỏa sáng, dần dần, chướng ngại của ngài không còn nữa, nghiệp chướng đã được tiêu trừ.

Một ngày nọ, ngài đi cùng Phật Thích Ca Mâu Ni, và được mang bình bát của Phật. Phật nhận lời thỉnh cầu, một vị quốc vương mời ngài đến dùng cơm, ngài không dẫn theo ai khác ngoài Đạt Ca Tôn Giả. Đạt Ca Tôn Giả cầm bình bát đi theo Phật vào thành. Khi đến cổng thành, người gác cổng nhìn thấy Đạt Ca Tôn Giả liền nghĩ: "Tại sao Phật Thích Ca Mâu Ni lại dẫn theo một đệ tử vừa ngu vừa đần như vậy?"

Người gác cổng chỉ cho phép Phật Thích Ca Mâu Ni vào cung thọ trai, còn nghĩ rằng một đệ tử ngu ngốc như vậy thì đứng ngoài cổng là được rồi! Phật Thích Ca Mâu Ni vào trong cung điện cùng quốc vương dùng cơm, nhưng như các vị biết đấy, người xuất gia khi ăn cơm nhất định phải dùng bình bát. Bất chợt, từ trong hư không có một cánh tay duỗi dài ra, từ hư không vươn qua bức tường thành cao, xuyên qua nhiều lớp cửa và cửa sổ, vươn tới tận trong cung điện, và trao bình bát cho Phật Thích Ca Mâu Ni.

Quốc vương vô cùng kinh ngạc: "Chuyện gì vậy? Sao lại có một bàn tay từ hư không đưa bình bát này đến để ngài đựng thức ăn?" Phật Thích Ca Mâu Ni nói: "Đệ tử của ta là Đạt Ca Tôn Giả đang đứng đợi bên ngoài thành, nhưng người vẫn luôn quan tâm đến ta, biết ta sắp dùng cơm nên đã gửi bình bát đến cho ta từ đó."

Khi mọi người nghe thấy thần thông như vậy, tôi cũng muốn học được điều này! Dù sao thì muốn lấy vật gì chỉ cần giơ tay là có. Nhưng chúng ta không thể học cách có ba tay như vậy, có hai tay rồi, không thể mọc thêm một tay nữa! Các bạn thấy đó, tất cả tượng Phật của chúng ta tuy có nhiều tay, nhưng chưa bao giờ thấy tượng Phật nào có ba tay cả.

Nếu các bạn học được thần thông này, các bạn sẽ trở thành Bồ Tát ba tay. Tôi kể câu chuyện nhỏ này để nói rằng: tất cả các vị A La Hán, dù trí tuệ cao hay thấp, đều phải trải qua một thời gian tu hành bí mật rất lâu dài. Người có trí tuệ cao có thể chứng ngộ, người có trí tuệ thấp cũng có thể chứng ngộ.

Tôn Giả Đạt Ca cũng từng được mời lên giảng kinh, vì mọi người biết ngài có công phu tu hành như vậy nên thỉnh ngài lên giảng. Khi ngài bước lên pháp tòa, không nói một lời nào, rồi chỉ nói: "Phật Thích Ca Mâu Ni chỉ dạy tôi bốn chữ, và giờ đây tôi xin truyền lại bốn chữ ấy cho mọi người, đó là 'giữ miệng trị ý'." Nói xong, ngài bước xuống khỏi pháp tòa. Những người phía dưới đều vô cùng kinh ngạc, không một ai cười nhạo ngài. Bởi vì chỉ cần thực sự tu tập bốn chữ này đến nơi đến chốn thì sẽ đạt được giác ngộ.

Thật ra, pháp tu của chúng ta ngày nay cũng vậy. Hiện nay có nhiều đệ tử vừa mở miệng đã đòi tôi dạy Kim Cang pháp, mới quy y được hai ngày đã muốn học Vô thượng mật, rồi mới học được một tháng đã nói mình đã tương ứng hết tất cả, muốn làm Thượng sư. Họ gửi cúng dường Thượng sư cho tôi chỉ có hai đồng tiền Malaysia. Trời ơi! Tiền tem gửi thư về còn không đủ! Vì vậy chúng ta học pháp không nên đặt mục tiêu cao xa, cũng không nên học đủ mọi pháp.

Hôm nay thấy pháp quán nước hay thì muốn học pháp quán nước; ngày mai thấy pháp Hộ Ma hay thì muốn học Hộ Ma; ngày kia thấy bay lượn trên không còn hay hơn thì muốn học bay; thấy mọi người đều phát tài thì lại đòi học pháp Tài Thần; rồi lại có người nói: "Ôi! Pháp nào cũng không hay bằng pháp xuất thần."

Tôi thấy, học pháp như vậy không tốt! Học pháp như vậy chắc chắn sẽ không có thành tựu! Chúng ta nên chuyên tâm vào một pháp, và khi đã đạt được tương ứng với pháp đó rồi, vẫn tiếp tục tu tập pháp ấy. Đối với những pháp môn khác, chỉ cần hiểu biết thôi, đừng tu tập, như vậy dễ khai ngộ và dễ chứng đắc.

Khi bạn đã khai ngộ và chứng đắc rồi, tự nhiên sẽ thấu hiểu được các pháp môn khác, tất cả các pháp môn bên cạnh đều sẽ dần dần thấu tỏ. Mọi người học pháp tuyệt đối không nên một lúc học tới mười pháp, nghìn pháp, vạn pháp, tuyệt đối không nên như vậy, chỉ cần niệm một danh hiệu Phật, đó đã là một công phu rất vững chắc rồi.

Có người học chú ngữ, một lúc học vài trăm câu chú, mỗi ngày đứng trước Phật đường tụng một trăm câu chú đến nỗi toàn thân đổ mồ hôi. Anh ta viết thư nói với tôi: "Con đi làm lúc nào cũng trễ." Tôi nói với anh ta: "Những câu chú đó con có thể bớt đi, trong hơn một trăm câu chú đó con chỉ cần chọn bảy câu để tụng là được rồi." Anh ta nói: "Không được đâu! Trước đây con có tụng, bây giờ không tụng nữa, Bồ Tát sẽ giận con."

Thật ra, nếu bạn chuyên tâm tụng một câu chú, thì vị Bồ Tát đó sẽ thông với tất cả các vị Bồ Tát khác. Như hiện nay chúng ta chuyên tâm vào chú của Bát Đại Bổn Tôn, nhưng có nhiều đệ tử, sau khi tụng xong chú Bát Đại Bổn Tôn rồi, lại đi tìm thêm hơn trăm vị Bổn tôn khác để tụng, tụng hết chú của hơn trăm vị Bồ Tát, tụng một hồi lâu như vậy thì việc trì tụng chú Bát Đại Bổn Tôn lại trở nên tản mát, cách tụng như vậy rất khó đạt được tương ứng.

Vì vậy, chúng ta chỉ có một vị Bổn tôn chính, còn bảy vị Bổn tôn khác thì vây quanh vị Bổn tôn chính. Chú của Bổn tôn chính có thể tụng 108 biến, hoặc 1080 biến, còn các chú khác chỉ cần tụng 3 biến. Chú của Bổn tôn chính là chú căn bản, các chú khác là chú kết duyên, đây là bí quyết tu pháp.

Cũng không thể nói rằng mình đã trở thành Thượng sư rồi, đã học được Vô thượng mật, đã học Kim cang pháp, đã đạt được thành tựu lớn rồi, rồi bỗng nhiên lại đi học cái này... nói không nên lời! (Vị Thượng sư phiên dịch chen vào :"Pháp tương ứng Thượng sư".) Cái này... chỉ là kỹ thuật nhỏ. Pháp tương ứng Thượng sư mới là "đệ nhất đại pháp"!

Người đời không biết, tôi xin kể cho các bạn một câu chuyện, hôm nay nói đến pháp tương ứng Thượng sư, tôi mới kể cho các bạn nghe. Đại sư Marpa đến Ấn Độ tìm đạo sư Naropa cầu pháp, ngài tìm thấy Naropa ngồi dưới một gốc cây lớn. Lúc đó, Naropa hiện ra một đàn thành rất lớn cho ngài xem, tất cả chư Phật đều ở trên hư không, nhưng đạo sư Naropa vẫn ngồi bên cạnh gốc cây.

Đại sư Marpa vừa thấy đàn thành hiện ra vô cùng trang nghiêm, lập tức đảnh lễ đàn thành trước, sau đó mới đảnh lễ đạo sư Naropa. Đạo sư Naropa nói với đại sư Marpa rằng: "Ngươi đảnh lễ đàn thành trước, rồi mới đảnh lễ Thượng sư của ngươi, vì ngươi đảnh lễ đảo lộn như vậy, nên sẽ mất đi con trai."

Đại sư Marpa hỏi đạo sư Naropa: "Tại sao con lễ đàn thành trước rồi mới lễ ngài, lại phải mất con trai, tội của con ở chỗ nào?"

Naropa đáp như thế nào? Ngài nói: "Trong Mật giáo 'lấy Thượng sư là thật, đàn thành là giả', không có Căn bản Thượng sư, làm sao có đàn thành? Đàn thành chính là hóa thân của Thượng sư, điều chân thật nhất chính là Căn bản Thượng sư."

Vì vậy, Mật giáo khác với những giáo pháp thông thường. Các bạn hay nhận giả làm thật, nhận thật làm giả. Nếu các bạn đã từng đọc kinh điển Mật giáo, các bạn sẽ biết: "Đàn thành được xem là giả, Căn bản Thượng sư được xem là thật."

Vì vậy "Căn bản Thượng sư là quán chiếu đệ nhất", đây là pháp tối thượng vô thượng. Nếu không có quán chiếu Căn bản Thượng sư đệ nhất, tất cả đều là lâu đài trên không, giống như xây nhà trên hư không vậy, làm sao xây được? Cho nên điều này rất quan trọng, nói như vậy có vẻ quá nghiêm túc rồi, A Di Đà Phật!

Đại pháp, tiểu pháp, trung pháp đều là pháp, không thể xem thường, nếu khởi một niệm xem thường, đó chính là tội khinh mạn trong giới Bồ Tát. Thật thà mà nói với mọi người, hiện nay tôi vẫn đang tu tập Tứ gia hành và pháp tương ứng Thượng sư. Đây là lời nói rất thật lòng.


### 20. Trưởng lão Xá Lợi Phất


Hôm nay giảng một đoạn khác. Nguyên văn như sau: "Trưởng lão Xá Lợi Phất, Ma Ha Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp, Ma Ha Ca Chiên Diên, Ma Ha Câu Hy La, Ly Bà Đa, Chu Lợi Bàn Đà Già, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lư Phả La Đọa, Ca Lưu Đà Di, Ma Ha Kiếp Tân Na, Bạc Câu La, A Nậu Lâu Đà, các vị đại đệ tử như vậy."

Ở đây có tổng cộng mười sáu vị đại đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni, khi đó họ đang lắng nghe Phật thuyết giảng Kinh A Di Đà cho ngài Xá Lợi Phất. Trong số mười sáu vị đại đệ tử này, vị đứng đầu chính là ngài Xá Lợi Phất. Trong kinh này có nhắc đến Xá Lợi Phất, vì sao ngài có tên như vậy? Ở Ấn Độ có một loài chim tên là Xá Lợi, mẹ của ngài Xá Lợi Phất có đôi mắt giống như mắt của loài chim Xá Lợi; đôi mắt của loài chim này có thể nhìn thấy chim bay rất xa trên không trung và cả cá bơi dưới nước. Mẹ của ngài Xá Lợi Phất là một người phụ nữ rất trí tuệ và có tầm nhìn xa. Khi ngài Xá Lợi Phất được sinh ra, tên của ngài có nghĩa là "con trai của chim Xá Lợi", nên được gọi là Xá Lợi Phất.

Trước đây tôi đã từng kể câu chuyện về ngài Xá Lợi Phất, ngài là bậc đệ nhất về trí tuệ, trí tuệ của ngài là cao nhất, hoàn hảo nhất và viên mãn nhất. Khi Phật Thích Ca Mâu Ni sắp nhập Niết bàn, ngài Xá Lợi Phất đã biết trước, và ngài đã thông báo với tất cả đồng môn rằng Phật sắp rời khỏi thế gian này, ngài muốn làm người tiên phong mở đường, đến nơi ấy trước để đón Phật, nên ngài phải đi trước. Ngài Xá Lợi Phất trở về nơi mình ở, chuẩn bị một căn phòng sạch sẽ, tắm rửa sạch sẽ, mặc y phục, rồi ngồi thiền và viên tịch trước Phật Thích Ca Mâu Ni.

Trước đây tôi đã từng nói, cách ra đi như vậy gọi là "tự chủ sinh tử". Trong tương lai, tôi cũng mong mình có thể tự chủ sinh tử như vậy, và cũng mong mọi người tu hành đến mức có thể tự chủ sinh tử. Một ngày nào đó, một vị thần trên trời đến trước mặt bạn và nói: "Ngày 28 tháng 6 (ngày mai), hãy chuẩn bị sẵn sàng."

Khi nghe tin này, các bạn nên vô cùng hoan hỷ, không nên buồn bã rơi lệ. Cách ra đi này rất tốt, thiên thần đến báo tin cho bạn, trước tiên gửi một bức điện tín, gọi một cuộc điện thoại cho bạn, nói khi nào nên đi, không được lưu luyến thế gian, lưu luyến cõi đời hoa lệ này nữa! Tất cả những điều đó đều phải buông bỏ! Nếu bạn còn quỳ xuống cầu xin: "Xin cho con sống thêm vài năm nữa." Như vậy thật thiếu can đảm! Đây cũng là một cách ra đi cao cấp - thiên thần đến báo trước cho bạn biết khi nào phải đi, tự mình chuẩn bị sẵn sàng, đến lúc đó ra đi, rất tốt. Tuy nhiên đây là do người khác báo tin cho bạn biết khi nào phải đi, điều này vẫn còn kém một bậc.

Tôi biết có một phương pháp là cách ra đi đẳng cấp nhất. Cách ra đi cao nhất này là khi ngồi thiền, trước tiên hạn chế mọi cử động của thịt và xương trong cơ thể, giữ cho tất cả bất động, như thể bị trói lại, sau đó dùng năng lực của mình để ngưng hoàn toàn sự tuần hoàn của máu, khiến máu trong mạch không còn chảy nữa, tất cả đều dừng lại, rồi dập tắt lò lửa trong cơ thể, tức là nguồn sinh nhiệt, sau đó đóng tất cả các cửa sổ lại, ngưng thở, cuối cùng để nguyên thần - linh hồn duy nhất - nhẹ nhàng bay ra khỏi đỉnh đầu, như vậy sẽ không thể uống rượu nữa, cũng không thể làm bất cứ việc gì, không còn biết gì nữa, thế là xong!

Tôi xin nói với mọi người, quá trình ra đi mà tôi vừa mô tả chính là quá trình "xuất ly pháp". Vấn đề là ở chỗ bạn có thể kiểm soát được xương, thịt, lò lửa, huyết dịch, hơi thở hay không, tự mình nắm giữ được và khiến linh hồn thoát ra. Nếu bạn có thể làm được như vậy, hoàn toàn dùng ý chí của mình để kiểm soát các yếu tố trong cơ thể, khiến nó đóng lại hay mở ra, đó chính là tự chủ sinh tử, là cách ra đi hạng nhất. Còn việc chờ người khác thông báo, được người khác báo trước, đó là cách ra đi hạng hai.

Cách ra đi hạng ba là khi người cõi âm đến đón bạn, chính là những người thân đã khuất, họ mở tiệc chào mừng "sinh nhật vui vẻ", bởi vì bạn đã được sinh ra ở thế giới của họ rồi mà, nên mới gọi là "sinh nhật vui vẻ". Tuy nhiên khi bạn thấy người thân đến đón, chắc chắn đó không phải là vãng sinh về thiên quốc, mà là vãng sinh về cõi âm.

Cái chết tệ nhất là khi những thứ đó... đến bắt bạn đi, là bị lôi đi chứ không phải được đón tiếp, thậm chí cũng chẳng có tiếng hát nào! Đó là xuống địa ngục rồi.

Cho nên! Tôi mong rằng các đệ tử của chúng ta đều có cái chết hạng nhất và hạng nhì. Còn có một dạng chết khác nữa là chết để tiêu nghiệp chướng, tức là khi nghiệp chướng của bạn còn rất nhiều, phải trả những nghiệp này, nên trước khi chết ở nhân gian, bạn phải chịu nhiều đau khổ, sẽ bị bệnh, cứ bệnh rồi kéo dài hai năm, ba năm, bốn năm, năm năm, thậm chí mười năm, hai mươi năm. Thực ra khi chúng ta thấy người ta chết vì bệnh, họ đang tiêu nghiệp chướng, bởi vì họ có rất nhiều nghiệp phải trả, họ phải chịu đau khổ, vì một khi đau khổ, nghiệp sẽ tiêu, sẽ nhẹ đi, cái chết như vậy là một dạng chết để tiêu nghiệp chướng.

Cái chết như vậy cũng không tốt lắm, chúng ta nên tu tập sớm để tiêu trừ nghiệp chướng, để đến lúc đó không phải chịu cái chết đau đớn vì bệnh tật. Tốt nhất là có một vị thiên thần xuất hiện, báo cho biết thời điểm sẽ đến đón mình, đó là điều tốt nhất.

Vì vậy việc tu tập của chúng ta rất quan trọng, tu tập chính là tu tâm, tu tâm là giữ cho tâm trong sạch, tiêu trừ hết thảy nghiệp chướng. Tu tâm là giữ cho ý nghĩ thanh tịnh, tâm phải sáng suốt, nên chúng ta phải thường xuyên quét dọn, thường xuyên quét sạch nghiệp trong thân, quét sạch những bụi bặm này. Khi chúng ta đã quét sạch rồi, chúng ta sẽ không phải chịu nỗi khổ vì bệnh nghiệp! Ít nhất là có thiên thần đến báo tin, nhưng nếu chúng ta có thể tự biết được thời điểm ra đi, đó là điều tốt nhất.

Om mani padme hum.


### 21. Ma Ha Mục Kiền Liên


Hôm nay tôi giảng về Ma Ha Mục Kiền Liên. Mục Kiền Liên và Xá Lợi Phất cùng quy y Phật Thích Ca Mâu Ni một lúc, vị Đại Mục Kiền Liên này chính là người bạn thời thơ ấu của Xá Lợi Phất. Tên Mục Kiền Liên dịch ra có nghĩa là "hái đậu". Hái đậu là gì? Thời cổ Ấn Độ có rất nhiều người tu hành, họ không ăn gì nhiều, chỉ ăn đậu hái được, bộ tộc này lấy thức ăn tu hành làm tên gọi, nên được gọi là tộc Hái Đậu, và Mục Kiền Liên chính là hậu duệ của những vị tu hành thời xưa, lấy tên thức ăn tu hành làm tên tộc.

Tôn Giả Mục Kiền Liên là một trong mười đại đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni, được xưng tụng là "thần thông đệ nhất". Tôn Giả Mục Liên có một sự kiện thần thông rất nổi tiếng, đó là câu chuyện "Mục Liên cứu mẹ" mà trước đây cũng đã được dựng thành phim. Vì Ngài nhớ thương mẹ đã qua đời, không biết mẹ đã đi về đâu. Sau đó, Ngài nhìn vào nước, thấy dòng nước của con sông lớn đang chảy, nước chảy dần ra biển, rồi chảy xuống địa ngục, mang theo tâm ý của Mục Liên. Từ sông nhỏ đổ vào sông lớn, sông lớn đổ vào hồ, hồ lại đổ ra biển, biển chảy xuống địa ngục, Ngài nhìn thấy mẹ mình đang chịu khổ trong đạo ngạ quỷ nơi địa ngục.

Đạo ngạ quỷ là nơi những con quỷ có bụng rất to, cổ họng rất nhỏ, đầu rất lớn, cổ họng của chúng nhỏ như lỗ kim, không thể nuốt được thức ăn, bụng thì rất to mà lại luôn đói, nên mới gọi là đạo quỷ đói. Mục Liên dùng thần thông của mình, mang cơm canh vào trong đạo ngạ quỷ, đem thức ăn này đến cúng dường mẹ, nhưng khi mẹ Ngài vừa cầm thức ăn đưa vào miệng, những thức ăn này lập tức biến thành than lửa, hoàn toàn không thể ăn được!

Mục Liên nhìn thấy vậy rất đau lòng, quay về thưa với Phật Thích Ca Mâu Ni: "Như vậy phải làm sao đây?" Phật dạy: "Phải tập hợp sức mạnh của rất nhiều người xuất gia tu hành mới có thể cứu được mẹ ông."

Ý Phật là sức của một người không thể tự cứu được mình, nghiệp chướng tội ác nặng nề rất khó phá trừ, phải tập hợp sức mạnh của chư tăng mới có thể độ được mẹ của ông. Vì thế về sau mới phát triển thành việc cúng dường tất cả người xuất gia vào tháng bảy Trung Nguyên, dùng sức mạnh tụng kinh và chú nguyện của các vị xuất gia để siêu độ cho các vong linh cõi âm. Cho nên dù Tôn Giả Mục Liên đã là bậc thần thông đệ nhất mà vẫn không có đủ sức để cứu được mẹ mình, có thể thấy thần thông không phải là phương pháp duy nhất để giải trừ nghiệp chướng.

Cuối cùng, vì sự tích thần thông cứu mẹ này, tất cả ngoại đạo và nhiều tôn giáo ở Ấn Độ thời đó đều biết đến, nên họ rất ghen tị với thần thông của Ngài, việc Ngài có thể xuống địa ngục, có thể biến hóa, có thể bay lượn trên không trung, lại có thể vào địa ngục. Nhiều người tu hành rất ganh ghét, và cuối cùng, một lần khi Ngài đang tu trong núi, đã bị một số ngoại đạo lõa thể ném đá đến chết.

Trước đây, nhiều người đặt ra câu hỏi này, tại sao Tôn Giả Mục Kiền Liên - bậc thần thông đệ nhất lại không thể cứu được chính mình? Phật Thích Ca Mâu Ni đáp: "Bởi vì Tôn Giả Mục Kiền Liên có sẵn số mệnh bị đánh chết, khi thời điểm viên tịch của Ngài đến, thần thông cũng không thể vượt qua nghiệp lực của chính mình."

Thực ra, với thần thông của Mục Kiền Liên, khi một tảng đá lớn đè xuống, Ngài có thể biến nó thành tro bay đi. Trước đây có người muốn hại Ngài, đốt nhà của Ngài, khóa cửa lại, đóng đinh cửa lại rồi đốt, nhưng Mục Kiền Liên có thể chui qua lỗ khóa mà thoát ra. Tôn Giả Mục Liên có thể bay lên, như bay từ Trái đất thẳng đến sao Thiên Vương để nghe Phật ở đó giảng kinh.

Khi các vị Bồ Tát ở sao Thiên Vương đang nghe kinh, bỗng nhiên phát hiện có một vật nhỏ như con muỗi bay qua bay lại ở đó, các vị Bồ Tát ở sao Thiên Vương hỏi Phật: "Đây là vật gì vậy?" Đức Phật ở đó đáp: "Đây chính là đệ tử thần thông đệ nhất của Phật Thích Ca Mâu Ni ở thế giới Ta Bà, Tôn Giả Mục Kiền Liên."

Có thể thấy thần thông của Mục Kiền Liên có thể đến khắp nơi trong vũ trụ để nghe Phật thuyết pháp. Ngài thể hiện rất nhiều thần thông, có thể dùng bình bát thu hết tất cả mọi người ở Seattle vào trong, Mục Kiền Liên chỉ cần nâng bình bát lên, ném lên không trung một cái, toàn bộ Seattle bao gồm cả những tòa nhà bảy mươi tầng đều chui vào trong đó. Có thể thấy thần thông của Tôn Giả Mục Liên quả thật là đệ nhất, nhưng tại sao Ngài lại không chống nổi tảng đá kia?

Lời Phật dạy, mọi người hãy ghi nhớ: "Thần thông không thắng nổi nghiệp lực", khi thời điểm đến vẫn phải chịu quả báo. Hôm nay giảng về Ma Ha Mục Kiền Liên đến đây.

Om mani padme hum.


### 22. Ma Ha Ca Diếp


Hôm nay giảng về "Ma Ha Ca Diếp". "Ma Ha Ca Diếp" chính là Đại Ca Diếp Tôn Giả. Tôi đọc một đoạn: "Ma Ha Ca Diếp, dịch là Đại Ẩm Quang. Ẩm Quang nghĩa là có thể thu hết ánh sáng khác, khiến chúng không hiện ra. Còn có tên là Quang Ba, thân phóng hào quang rực rỡ. Lại có tên là Đại Quy Thị theo họ. Vì tổ tiên của Ngài tu đạo, cảm ứng được linh quy mang đồ đến. Ngài thuộc dòng họ Đức Mệnh. Xưa gọi là Ẩm Quang Tôn Giả, thân có sắc vàng, được truyền tâm ấn của Phật làm Sơ Tổ, là bậc hạnh đầu đà đệ nhất."

Trong số mười đại đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni, Tôn Giả Đại Ca Diếp là một vị rất đặc biệt. Trong tất cả những người tu hành, Ngài là người khổ hạnh, có thể nói là đại diện cho sự khổ hạnh. Ngài ăn uống rất đạm bạc, bởi vì mỗi lần Tôn Giả Đại Ca Diếp đi khất thực, Ngài đều tìm đến những nhà nghèo khổ nhất, những người không có tiền để xin cơm. Ngài nói với mọi người rằng, vì họ không có tiền nên Ngài xin cơm từ họ, là để ban phúc cho những người nghèo khó. Sau đó, việc Ngài xin cơm từ những nhà nghèo cũng thể hiện chí nguyện của mình, Ngài chỉ ăn đủ để duy trì một chút khí lực và sinh mệnh cho cơ thể, như vậy là đủ rồi. Ngài rất phản đối việc các tỳ kheo xuất gia chuyên đi tìm những nhà giàu có, Ngài thấy một số đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni, mỗi lần đi khất thực đều tìm đến những nhà giàu có, Ngài nói những người đi xin cơm từ nhà phú hộ, ai nấy đều ăn đến mặt mũi tròn trịa, bụng to, thân thể phì nộn, còn Tôn Giả Đại Ca Diếp, bản thân Ngài ăn uống đến nỗi gầy gò, trông rất khô quắt.

Mỗi lần Đại Ca Diếp đều nghiêm túc giữ giới luật, vậy Ngài ở đâu? Ngài ở giữa hai ngôi mộ, ngủ nghỉ ngay giữa các mộ phần, đó gọi là sống ở nghĩa địa. Sống trong nghĩa địa có nghĩa là ngủ giữa các ngôi mộ đấy! Ngài không ngủ trên giường cao đẹp, Ngài không ngủ ở những nơi như thế, cũng không phải tùy tiện lấy một tấm đệm, chăn mền gì đó, hoặc ngủ ở bên cạnh, không phải vậy, Ngài chỉ ngủ bên bờ sông, dưới gốc cây, giữa các ngôi mộ, Ngài tu hành như vậy đó, cho nên Tôn Giả Đại Ca Diếp là một bậc tôn giả vĩ đại, khổ hạnh.

Trước khi Phật Thích Ca Mâu Ni nhập Niết bàn, Ngài đã đạt được giác ngộ. Một lần nọ, khi Phật ngồi trên pháp tòa thuyết pháp, bên dưới có rất nhiều đại đệ tử, các tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di, mọi người ngồi chật kín, có đến mấy nghìn người.

Phật Thích Ca Mâu Ni tiện tay hái một đóa hoa cầm trên tay, Ngài không nói gì, chỉ hái một đóa hoa cầm trên tay. Tất cả đệ tử đều thấy Phật hái một đóa hoa, cầm trên tay như vậy mà không nói gì, các đệ tử bên dưới không hiểu vì sao Phật lại hái một đóa hoa, cứ cầm đóa hoa trước mặt mà không nói gì, họ còn tưởng Ngài đang ngửi hương hoa; chỉ có Tôn Giả Đại Ca Diếp khi thấy Phật cầm hoa liền mỉm cười; lúc đó, tất cả các đệ tử đều không hiểu ý của Phật là gì, chỉ có Tôn Giả Đại Ca Diếp hiểu được, Phật đang truyền tâm ấn của Phật, và Tôn Giả Đại Ca Diếp biết Phật đã truyền tâm ấn cho mình. Vì Đại Ca Diếp đã biết, Ngài đã nhận được tâm ấn của Phật Tổ, nên Tôn Giả Đại Ca Diếp trở thành Sơ Tổ của Thiền tông, đây chính là tích "Thế Tôn cầm hoa, Ca Diếp mỉm cười" nổi tiếng.

Vì vậy, trong tu hành, Tôn Giả Đại Ca Diếp vốn không thiết lập đàn tràng, không cầu sự trang nghiêm, đàn tràng của Ngài ở ngay giữa hư không. Phật pháp của Ngài không được viết thành văn tự, mà là dùng tâm - dùng tâm đã đắc đạo của mình để ấn chứng tâm đắc đạo của người khác, đó chính là "Thiền", Tôn Giả Đại Ca Diếp chính là Sơ Tổ của Thiền tông.

Tôn Giả Đại Ca Diếp cũng là một người "hữu thủy vô chung". Trong số mười vị đại đệ tử, sự tu hành của Ngài vô cùng cao diệu. Nói hữu thủy vô chung nghĩa là Ngài có sinh ra nhưng không có chết đi. Sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni nhập diệt, người đầu tiên chủ trì kết tập toàn bộ kinh điển Phật giáo chính là Đại Ca Diếp. Sau khi hoàn thành việc này, Ngài một mình đi đến một ngọn núi tên là Kê Túc Sơn, khi Ngài đến bên núi, núi tự động mở ra cho Ngài vào, rồi khép lại.

Lúc đó Ngài nói một câu: "Đợi khi nào Bồ Tát A Dật Đa giáng sinh ở cõi Ta Bà, trong ba hội Long Hoa, ta sẽ ra làm hộ pháp." Bồ Tát A Dật Đa chính là Bồ Tát Di Lặc. Điều này chứng tỏ rằng Ngài vốn không hề chết. Ngài đi vào trong núi Kê Túc, hiện nay có lẽ đang tọa thiền ở đó, đợi đến khi Bồ Tát Di Lặc giáng sinh, cửa núi Kê Túc sẽ mở ra và Ngài sẽ bước ra, hiện giờ Ngài đang nhập định dưới lòng đất, đây quả là điều vô cùng vĩ đại.

Con đường tu hành của Tôn Giả Đại Ca Diếp hoàn toàn tập trung vào việc tu tâm, do đó Ngài là một vị A La Hán, là một đại diện đặc biệt trong số các vị A La Hán, vì thế trong số mười đại đệ tử, Ngài được tôn xưng là "đầu đà đệ nhất". Trong suốt cuộc đời, hành vi của Ngài chưa từng phóng túng, mỗi ngày đều nghiêm túc tu hành, làm công khóa, uống nước sông, ăn thức ăn đạm bạc, ngày ngày đều như vậy.

Mỗi khi đi đường, mắt Ngài luôn nhìn xuống đất cách chân sáu thước, không nhìn ngó lung tung. Ngài có một giới luật rất nghiêm ngặt là không nói chuyện với phụ nữ, nên cả đời không gặp nạn về nữ sắc. Tôn Giả Đại Ca Diếp không gặp nạn về nữ sắc, không giống như một vị tôn giả khác thường hay gặp nạn về nữ sắc, có lẽ vì Đại Ca Diếp tướng mạo không đẹp. Đây cũng là một điển hình, một nhân vật rất đặc biệt trong số mười đại đệ tử của Phật. Thực ra, trí tuệ và sự giác ngộ của Ngài đều rất chân thật.

Om mani padme hum.


### 23. Ma Ha Ca Chiên Diên


Hôm nay chúng ta nói về Ma Ha Ca Chiên Diên, dịch nghĩa là Đại Văn Sức, dùng văn tự để thấu lý, chứng quả A La Hán, xưa gọi là Đại Văn Sức Tôn Giả. Trong mười vị đại đệ tử, Ngài được tôn xưng là "nghị luận đệ nhất". Vị tôn giả này thuyết pháp rất giỏi, cả đời chỉ dùng thuyết pháp để độ chúng sinh, tên Ngài là Ma Ha Ca Chiên Diên.

Ngài có một người cậu (uncle) là một vị tiên nhân nổi tiếng. Khi Phật Thích Ca Mâu Ni vừa mới ra đời, phụ thân của Ngài (Vua Tịnh Phạn) đã mời một vị tiên nhân đến xem tướng cho Ngài, vị tiên nhân này chính là cậu của Ma Ha Ca Chiên Diên. Ma Ha Ca Chiên Diên là con trai cả của một vị trưởng lão Bà La Môn chuyên nghiên cứu Kinh Vệ Đà, học vấn của Ngài rất uyên bác. Sau khi quy y Phật, Ngài thường có thành tựu xuất sắc trong việc nghị luận, vì vậy thành tựu của Ngài được gọi là "nghị luận đệ nhất".

Ngày nay trong Mật pháp chúng ta cũng giảng về hai loại là Sự pháp và Giáo pháp. Sự pháp là thực hành trên thực tế, Giáo pháp là lý thuyết; trong Mật pháp, Giáo pháp và Sự pháp giống như hai bánh xe của một chiếc xe đạp, thiếu một bánh thì không thể được.

Hiện nay mọi người đang nghe pháp ở đây, chúng ta đều biết trình tự tu pháp hàng ngày, chúng ta thực sự thực hành, đó chính là giáo pháp, thuộc về mặt lý thuyết; trong tương lai nếu ai có chí hướng muốn trở thành Thượng sư, người đó không những phải nắm rõ hoàn toàn về Sự pháp, mà còn phải thông suốt toàn bộ giáo lý của Mật tông.

Vì vậy, hãy nhớ kĩ! Muốn trở thành Thượng sư, mỗi ngày phải đọc kinh, mỗi ngày phải đọc sách. Hiện nay tôi cũng vậy, mỗi ngày nhất định phải đọc sách, mỗi ngày nhất định phải đọc kinh. Tôi nhận thấy hiện nay phong trào đọc sách ngày càng giảm, có người thậm chí một cuốn sách cũng không đọc. Họ nói rằng: "Kiếm tiền còn không kịp, lấy đâu thời gian đọc sách?"

Tuy nhiên tôi thấy việc đọc sách rất quan trọng, bởi vì sách chính là tri thức, trong đó sẽ dạy cho bạn rất nhiều trí tuệ; đặc biệt là những người học Phật, tu hành như chúng ta, cần phải đọc một số sách do các bậc tu hành trước đây viết, và phải đọc kinh Phật nữa. Hãy nhớ kĩ! Nhất định phải "ngày ngày đọc sách, ngày ngày đọc kinh"! Không thể chỉ muốn làm Thượng sư mà không đọc sách gì cả, đây cũng là một điểm rất quan trọng.

Chúng ta dĩ nhiên không thể mong mỗi đệ tử đều là bậc nghị luận đệ nhất, nhưng ít nhất mỗi ngày phải đọc một chút sách.

Om mani padme hum.


### 24. Ma Ha Câu Hi La


Hôm nay chúng ta sẽ thảo luận về Ma Ha Câu Hi La. Ngài là cậu (bác trai) của ngài Xá Lợi Phất. Trong những cuộc tranh luận với chị gái (mẹ của Xá Lợi Phất), Ngài thường giành phần thắng. Tuy nhiên, kể từ khi chị gái mang thai Xá Lợi Phất, tình thế đã thay đổi - chị gái luôn chiến thắng trong mọi cuộc tranh luận. Nhận thấy đứa trẻ trong bụng chị gái đã có khả năng ảnh hưởng đến việc tranh luận ngay từ khi còn trong thai, Ngài cảm thấy buồn lòng và quyết định đi đến một nơi xa xôi để học đạo. Do tập trung cao độ vào việc học tập và tu hành, Ngài không còn thời gian để cắt móng tay. Vì thế, người đời thường gọi Ngài là "Phạm Chí Móng Tay Dài" [vị tu sĩ Bà La Môn có móng tay dài].

Cuối cùng, khi trở về và muốn gặp người cháu, chị gái nói với Ngài: "Xá Lợi Phất đã quy y Phật Thích Ca Mâu Ni rồi." Câu Hi La nghĩ: "Xá Lợi Phất ngay từ khi còn trong bụng mẹ đã có tài năng cao như vậy, vậy ai có thể làm thầy của cháu đây?" Câu Hi La đi tìm Phật Thích Ca Mâu Ni để tranh luận, và tất nhiên Phật Thích Ca Mâu Ni đã chiến thắng. Vì không thể tranh luận thắng được Phật Thích Ca Mâu Ni, cuối cùng Câu Hi La cũng quy y theo Ngài.

Chúng ta biết Ca Chiên Diên rất thích tranh luận, gặp ai cũng muốn tranh luận, vì thế trong số mười đại đệ tử của Phật, Ngài được tôn xưng là "đệ nhất về vấn đáp". Theo cách nói của chúng ta, đệ nhất về vấn đáp cũng chính là đệ nhất về tranh luận. Trong tiếng Đài Loan, người giỏi tranh luận nhất được gọi là gì? Gọi là "Thầy Cãi"!

Trước đây khi còn trẻ, tôi cũng rất thích tranh luận với người khác, từ lúc ngồi tranh luận, rồi đứng dậy tranh luận, sau đó lại ngồi xuống tranh luận. Nhưng bây giờ, thời kỳ nhiệt huyết đã qua rồi, hiện nay tôi chỉ thuyết pháp thôi, nếu ai muốn tìm tôi tranh luận, tôi đều không muốn nói chuyện, bởi vì tôi sợ, tuổi đã cao rồi, một khi tranh luận là dễ bị cao huyết áp, sung huyết não, rất nguy hiểm.

Hiện nay tư tưởng của tôi có khuynh hướng bình dị hơn, giữ một tâm trạng ổn định, không thích tranh luận với người khác nữa, cho nên nói về tranh luận thì tôi có lẽ là "tranh luận hạng bét".

Thực ra không phải là không muốn độ chúng sinh, mà là "tùy thuận", có duyên thì đến, không duyên thì đi, người đến không từ chối, người đi cũng không giữ lại, vì vậy tâm trạng như thế tốt hơn một chút, bình hòa hơn, tư tưởng hòa bình hơn, sẽ không bị tức giận đến mức sung huyết não.

Om mani padme hum.


### 25. Ly Bà Đa


Tối nay chúng ta nói về một đại đệ tử tên là Ly Bà Đa. Ba chữ Ly Bà Đa có nghĩa là "tinh tú", tức là những ngôi sao trên trời; vì cha mẹ của Ngài khi sinh Ngài đã từng cầu nguyện với các vì sao trên trời, nên mới sinh ra Ly Bà Đa. Ngoài tên Tinh Tú ra, Ngài còn được gọi là Giả Hòa Hợp, đây là tên do Phật Thích Ca Mâu Ni đặt cho Ngài.

Ly Bà Đa như Thượng sư Liên Chủ vừa nói, là người tu thiền định, rất thích thiền định. Gần đây tôi cũng rất thích thiền định, tuy nhiên, khi định quá sâu thì thường bị nghiêng ngả. Trước đây tôi không tin là khi ngồi thiền lại có thể bị ngủ gật, nghiêng qua nghiêng lại, không thể định tâm được. Khi người ta quá mệt mỏi, có người vừa ngồi xuống là đã vào "tứ ma địa" [ngủ gật], không những định sâu mà còn ngáy nữa. (Mọi người cười lớn.) Trước đây mỗi lần tôi nhập định đều ở trạng thái giữa tỉnh và ngủ, định thực sự phải ở giữa trạng thái tỉnh thức và ngủ mới gọi là định. Gần đây khi định tôi hơi bị run rẩy, có vẻ như đi quá sâu, đột nhiên giật mình một cái rồi tỉnh lại, có lẽ là do quá mệt mỏi.

Định thực sự có thể có nhiều tầng cảnh giới khác nhau. Như vị đệ tử của Phật là Ly Bà Đa, có lần Ngài nhập định tại một ngôi đình trống, giống như một nhà chờ trên núi, Ngài nhập định ở đó. Thực ra, ở những nhà chờ trên núi, hoặc chùa miếu, hoặc những nơi hoang vắng, thường có rất nhiều ma quỷ; tuy nhiên ở chùa Lôi Tạng của chúng ta thì không có, đừng lo sợ.

Một lần nọ, Ly Bà Đa đang ngồi thiền trong một ngôi đình trên núi, trong lúc nhập định thì thấy ma. Một con ma lớn và một con ma nhỏ ở trong đình, hai con ma đang khiêng một xác chết, rồi tranh giành nhau để ăn thịt xác chết đó, cả hai đều muốn giành phần đùi! Có vẻ như phần đùi ngon hơn những phần khác. Không biết làm sao, hai con ma đang tranh chấp, chợt thấy bên cạnh có một người tu hành đang ngồi thiền, chúng liền nhờ Ly Bà Đa làm trọng tài.

Thực ra trong lòng Ly Bà Đa nghĩ, ma quỷ vốn không biết điều lý, đã không biết điều lý thì dù có phân xử thế nào đi nữa, cuối cùng vẫn sẽ tranh chấp. Nhưng không còn cách nào khác, Ngài nghĩ, nên đồng cảm với kẻ yếu thế, ai cũng có lòng thương người yếu thế, nên Ngài nói: "Vậy thì để con ma nhỏ ăn phần đùi vậy." Con ma lớn tất nhiên không phục, kết quả là nó tức giận xấu hổ, liền định ăn thịt luôn cả Ly Bà Đa.

Vì vậy đôi khi, người làm trọng tài thường bị đánh cho tơi tả. Khi thấy hai con trâu đánh nhau, trâu húc trâu, đừng có đi can ngăn, bởi vì không khéo, cả hai con trâu sẽ quay sang húc bạn, thế là bạn chết chắc.

Ly Bà Đa chính vì can thiệp vào chuyện không đâu này, nên con ma lớn liền ăn thịt Ngài, nó lấy cánh tay của Ngài ra ăn, con ma nhỏ thấy vậy, thấy Ly Bà Đa vì phân xử giúp mình mà bị thương tổn, nó đem lòng thương cảm, liền lấy cánh tay của cái xác chết đắp vào cho Ngài, rồi con ma lớn lại ăn tay trái của Ngài, con ma nhỏ lại vội vàng đắp tay trái vào, con ma lớn lại ăn đầu của Ly Bà Đa, con ma nhỏ vội vàng lấy đầu của cái xác chết đắp vào cho Ngài, con ma lớn lại tháo hai chân của Ngài ra ăn, con ma nhỏ lại vội vàng lấy hai chân của cái xác chết đắp vào cho Ngài.

Cuối cùng con ma lớn và con ma nhỏ đều đi mất, Ly Bà Đa cũng xuất định. Ngài vốn đã nhìn thấy cảnh tượng này trong định, và bây giờ Ngài đã xuất định, sau khi xuất định thì Ngài đã trở thành một người khác, bởi vì gương mặt vốn là của Ly Bà Đa, giờ đây toàn thân từ tay chân cho đến gương mặt đều đã biến đổi, trở thành một người hoàn toàn khác.

Lần sau khi các bạn ngồi thiền mà biến thành người khác, chắc chắn là đã bị ma ăn thịt rồi; lần sau nếu tôi ngồi thiền mà biến thành người khác, các bạn sẽ không nhận ra tôi nữa. Thực ra, đây là chuyện rất đáng sợ, Ly Bà Đa đi đến đâu cũng hỏi người khác: "Diện mạo vốn có của tôi đâu rồi?" Ngài thường hỏi mọi người: "Tôi đang ở đâu?"

Các bạn không tin có chuyện như vậy sao! Tôi nói cho các bạn biết, có những người, khuôn mặt thực ra không phải là mặt của họ, bởi vì mặt của họ chính là mông của họ đấy, tôi nghe nói các viện thẩm mỹ rất thích lấy thịt ở mông để dán lên mặt. Bây giờ các viện thẩm mỹ có phương pháp căng da, cắt bỏ da ở một bên, kéo da nhăn lên, gọi là căng da; đã có thể căng da thì tất nhiên cũng có thể vá da, và chỗ nào mịn màng trắng trẻo nhất đương nhiên là mông rồi; vì vậy bạn tưởng đó là mặt của họ, nhưng thực ra không phải, đó là mông của họ đấy. Cái gọi là vá da, sự biến đổi này, đều như vậy cả, một người không nhất thiết hoàn toàn là chính họ.

Vì Ly Bà Đa cả ngày cứ đi hỏi người khác: "Tôi đang ở đâu? Tôi là ai?" Bởi vì cái xác chết đó Ngài hoàn toàn không nhận ra! Đột nhiên biến thành "người chết" đó, Ngài liền hỏi: "Tôi là ai? Tôi rốt cuộc là ai?" Ly Bà Đa ban đầu không còn nữa, bây giờ đã biến thành một Ly Bà Đa mới, vậy Ly Bà Đa mới này là ai? Ngài đi hỏi người khác: "Tôi là ai?" Điều này rất hay, có thể tưởng tượng được! Các bạn cũng có thể thường xuyên tự hỏi mình "Mình là ai?"

Ôi chao! Hồi trước khi còn trẻ, nhìn ảnh chụp tôi rất gầy, trông khá thanh tú, bây giờ soi gương, tôi thường tự hỏi: "Mình là ai?" Vì vậy gần đây tôi thường phải ăn kiêng, bởi vì thấy cái bụng này thật không ra thể thống gì, cho nên các bạn cũng nên thỉnh thoảng tự hỏi "Mình là ai?" Bởi vì các bạn trước đây cũng đâu phải như thế này. Diện mạo lúc còn trẻ có giống bây giờ không? Hoàn toàn khác! Vì vậy, câu chuyện của Ly Bà Đa chính là câu chuyện của chính chúng ta, chứ không chỉ đơn thuần là chuyện của Ly Bà Đa.

Một đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni, nghe Ly Bà Đa thường hỏi "Tôi là ai?", liền nói: "Ôi chao! Người này phi thường, công phu của người này thâm hậu quá." Rồi dẫn Ly Bà Đa đến gặp Phật Thích Ca Mâu Ni.

Ngài hỏi Phật Thích Ca Mâu Ni: "Thân này của tôi là ai vậy?"
Phật Thích Ca Mâu Ni đáp: "Thân thể này của ông vốn là tử thi của người khác, không phải của chính ông."
Ly Bà Đa lập tức... Ồ! Cảm nhận được, đã ngộ ra, trong phút chốc Ngài liền khai ngộ! Ly Bà Đa hiểu ra rằng, cái gọi là thịt của thân thể, xương của thân thể, bao gồm tất cả vật chất của thân thể, đều từ cha mẹ mà ra, đều từ cha mẹ mà đến, không phải là cái ta thật. Khi ấy Ngài có thể khai ngộ như vậy, Phật Thích Ca Mâu Ni liền ban cho Ngài một danh hiệu là Giả Hòa Hợp, nghĩa là sự hòa hợp giả tạm mà thành.

Vì vậy, tất cả chúng ta đều đang ở nhà thuê, ở căn nhà đẹp một chút thì vui, ở căn nhà xấu một chút thì không vui; có những căn nhà rất vững chắc, rất kiên cố, có những căn nhà lại bị dị ứng phấn hoa, hay bị cảm cúm, chảy nước mũi, rồi chỗ này lại bị khoét một lỗ... ôi thôi! Không nói nữa; vì vậy mọi người phải nghĩ như thế này, chúng ta hiện giờ đang "sống trong căn nhà này", căn nhà này rồi một ngày nào đó bão đến, lửa đến, nước đến, đột nhiên gặp động đất, căn nhà này sẽ sập; nhà sập rồi, bạn không thể tìm nhà mới được nữa, bạn phải dọn nhà, và lần dọn nhà này chính là "về nhà".

Căn nhà này được làm từ những gì? Chính là đất, nước, lửa, gió, được tạo ra từ bốn thứ này.
Đất - chính là thịt và xương trên thân.
Nước - chính là máu và nước tiểu trong thân.
Lửa - chính là nhiệt độ của thân.
Gió - chính là hơi thở và không khí trong thân.
Thân thể được tạo thành từ bốn thứ này. Vậy chủ nhân là ai? Chủ nhân chính là "ý thức" mà Phật đã dạy. Chúng ta tu hành là tu cái chủ nhân này, chứ không phải là tô son trát phấn lên mặt. Bạn tưởng đánh chút phấn lên mặt, để râu là đẹp sao! Đó chỉ là lớp sơn bên ngoài mà thôi.

Tô son điểm phấn giống như vẽ khung cửa trước cổng; để râu thì như cỏ mọc trong nhà. Tất cả đều chỉ là huyễn tướng, đều là giả tướng cả. Vì có những huyễn tướng này nên Phật Thích Ca Mâu Ni mới ban cho Ngài danh hiệu: "Ông đã hiểu được tất cả huyễn tướng, nên biết rằng ông chính là sự hòa hợp giả tạm." Sau khi chúng ta hiểu được điều này rồi, chúng ta có thể biết được thế nào là "chân ngã"? Thế nào là "giả ngã"?

Khi ngôi nhà của bạn hư hoại và đến lúc phải dọn nhà, nếu có thể dọn đến một nơi tốt đẹp hơn, đó chính là mục đích tu hành của chúng ta. Bạn không thể dọn đến nơi tệ hơn được! Ban đầu là một ngôi nhà đẹp đẽ, thanh lịch phong nhã, vậy mà sau khi dọn đi lại biến thành có sừng, thành bốn chân, thành hình trụ tròn, thậm chí không có chân, có khi dọn nhà thành loài biết bay, loài suốt ngày bơi dưới nước, hay thành rệp chuyên cắn người.

Vì vậy tôi hy vọng sau này mọi người khi dọn nhà, hãy dọn đến nơi tốt đẹp hơn, càng dọn càng đẹp. Chúng ta học Phật tu hành, phụ nữ càng dọn càng xinh đẹp, nam giới càng dọn càng phong độ. Đây cũng là hy vọng nếu kiếp sau làm người, mong rằng sẽ dọn đến chỗ đẹp đẽ hơn, có nhiều duyên với người hơn. Còn những ai không muốn tái sinh nữa thì cứ dọn thẳng về Tây phương Cực Lạc là xong.

Tôn Giả Ly Bà Đa này nhờ lĩnh ngộ được "Ta rốt cuộc là ai" nên được gọi là Tôn Giả Tinh Tú. Ngài thường ngồi thiền nhập định, được xưng tụng là "bậc nhất về tâm không tán loạn".

Tôi nhớ lúc trước khi giảng kinh từng nói:
Ngày xưa thầy giáo hỏi chúng tôi: "Cái gì là của con?"
Nếu bạn trả lời thầy: "Con có rất nhiều thứ là của con."
Thầy tôi sẽ nói: "Nếu là của con thì đưa cho thầy xem thử." 
Chúng tôi thường không đưa ra được! Chúng tôi sẽ nói: "Những thứ này không phải của chúng ta, ít nhất thì trái tim cũng là của con chứ!"
Nhưng ngay cả trái tim bây giờ cũng chưa chắc là của bạn, ở Đài Bắc có một người được ghép tim, tim của họ không còn nữa, đã thay bằng tim của người khác. Ôi! Tim của bạn ở đâu? Nói thật, tôi cũng đã không còn tim từ lâu rồi.

Có người hỏi tôi: "Tại sao không có tim?" Bởi vì tim của tôi đã sớm bị những kẻ trộm tim lấy mất rồi! Ngày xưa bạn gái nói với tôi: "Em không cần gì của anh cả, em chỉ cần trái tim của anh thôi." Thế là không còn cách nào, vì tôi có quá nhiều bạn gái, nên phải chia nhiều trái tim cho họ! Quá nhiều bạn gái lại phải chia tim ra, nên bây giờ đã trở thành người "không có tim". Vì vậy, những gì chư Phật, Bồ Tát dạy không sai, ngay cả tim của bạn cũng không phải là của bạn, đúng không? Bây giờ có nhiều cô gái chuyên đi xin tim người ta, họ nói: "Anh định cho em tiền à? Em không cần đâu, em chỉ cần trái tim của anh thôi."

Cho nên, tim cũng không phải là của mình, có thể thấy mọi thứ hữu hình trên thế gian này đều không phải của chúng ta. Tôn Giả Ly Bà Đa đã nhận ra điểm này rất rõ ràng, nên Ngài được gọi là "bậc nhất về tâm không điên đảo"; tôi còn hiểu rõ hơn nữa, bởi vì tôi "vốn dĩ không có tim"!

Om mani padme hum.


### 26. Chu Lợi Bàn Đà Già


Hôm nay trong Kinh A Di Đà, chúng ta sẽ nói về Chu Lợi Bàn Đà Già.

Chu Lợi Bàn Đà Già là một trong hai anh em, cả hai đều quy y Phật Thích Ca Mâu Ni. Một trong hai người rất đần độn, Phật dạy ông tụng kệ nhưng ông không thể nhớ nổi. Cuối cùng, Phật đành phải dạy ông niệm sáu chữ "Nam Mô A Di Đà Phật", nhưng khi ông nhớ được "Nam Mô" thì lại quên mất "A Di Đà". Khi ông nhớ được "Đà Phật" thì lại quên mất "Nam Mô". Gần như cả 500 vị tăng trong chùa đều cười nhạo ông, anh trai ông bảo: "Thôi, em hoàn tục đi, tu hành làm gì?" 

Ông cứ khóc mãi, rồi đi ra cổng thì gặp Phật Thích Ca Mâu Ni. Phật hỏi ông vì sao, ông thưa: "Tôi rất ngu đần, trí nhớ kém, ngay cả sáu chữ danh hiệu Phật cũng không niệm được." Phật hỏi ông: "Ông có biết thở không?" Ông đáp: "Có biết!" Vì người sống ắt phải thở, làm sao không biết được? Phật dạy: "Tốt, ông biết thở là đủ rồi, có thể tu thành đạo được." Phật dạy: "Thở ra là 'hô', hít vào là 'hấp', một hô một hấp là một hơi thở, được rồi, vậy ông về ngồi thiền, chú ý thở ra, hít vào tính là một, lại thở ra, hít vào là hai." Phật hỏi ông: "Như vậy ông có làm được không?" Ông đáp: "Như vậy được, rất đơn giản." Dù sao ông cũng đếm được từ một đến một trăm. Thế là ông về làm theo lời Phật dạy, hít vào, thở ra, một; hít vào, thở ra, hai. Vị tôn giả này chỉ học được pháp này thôi, không biết pháp nào khác, chỉ học mỗi pháp này, và còn cho rằng trong đó có điều gì đó thâm sâu.

Đừng thấy nó đơn giản, thực ra bên trong có cả một bài học. Bởi vì đôi khi chúng ta không để ý đến hơi thở của mình, thực ra hơi thở thường thô, gấp gáp, nhanh và phát ra tiếng ồn! Bạn có biết tại sao tôi thường ngủ một mình không? Vì tôi sợ làm người khác thức giấc, thực ra không phải họ làm phiền tôi, mà là tôi làm phiền họ! Vì vậy tôi sợ làm phiền người khác nên đành ngủ riêng.

Có những người béo thở ra tiếng to đến nỗi có thể thổi đổ cả bức tường, giống như dàn nhạc giao hưởng vậy, không chỉ có sấm sét mà còn có mưa và gió, thu âm lại làm bằng chứng mà vẫn không tin. Vì vậy thở thực sự rất khó, hơi thở tốt phải rất nhẹ nhàng, chậm rãi và dài; không thể thở hổn hển, hơi thở càng ngắn thì càng gần với cái chết, thở thô tức là có bệnh, thở gấp và ngắn nghĩa là cơ thể đã có vấn đề ở đâu đó.

Vị tôn giả này học cách thở, cuối cùng có thể thở rất nhẹ, rất dài và rất chậm, dần dần, ngay cả âm thanh của hơi thở cũng không còn nữa. Sau đó, thân tâm trở nên an lạc vô cùng, đạt đến trạng thái không tịch, bỗng nhiên ngài cảm thấy mình không còn thở nữa, toàn thân nhẹ nhõm bay bổng lên.

Trong trạng thái vô ngại này, ngài đã ngồi thiền nhập định, sau khi đạt được niềm vui thiền định này, ngài lại tiến vào cảnh giới vô ngại. Tôn Giả Chu Lợi Bàn Đà Già ngay lập tức đạt được cảnh giới A La Hán, và được tôn xưng là "niệm trì đệ nhất".
Niệm - nghĩa là thường xuyên quán tưởng hơi thở của chính mình.
Trì- nghĩa là vĩnh hằng, liên tục, tu hành mãi như vậy.

Cho nên một pháp tuy nhìn có vẻ rất đơn giản, nhưng thực ra ý nghĩa bên trong rất sâu xa. Người học Phật chúng ta không thể vì mình ngu dốt mà từ bỏ, cũng đừng tự thương hại mình, chỉ cần biết một pháp, thường xuyên niệm trì, tu trì, ắt sẽ có thành tựu.

Om mani padme hum.


### 27. Nan Đà


Hôm nay trong Kinh A Di Đà, chúng ta sẽ nói về Nan Đà.

Vị Nan Đà này, tên tiếng Phạn là Sundara Nanda, trong đó Sundara là tên của vợ ông, có nghĩa là Diễm Lệ.

Trong kinh giải thích rằng ông là em ruột của Đức Phật, em ruột của Phật Thích Ca Mâu Ni. Tôi nghĩ rằng khi nói ông là em ruột của Phật, có lẽ là cùng cha khác mẹ, bởi vì mẹ của Phật Thích Ca Mâu Ni sau khi sinh Phật không lâu đã vãng sinh, nên không thể nào trước khi vãng sinh lại sinh thêm một người em nữa.

Người em này, thân thể cũng có đủ ba mươi tướng tốt, ba mươi tướng tốt này nghĩa là rất trang nghiêm, vị em này cũng có dung mạo rất trang nghiêm, có đủ ba mươi tướng đẹp. Do có đủ ba mươi tướng tốt, dung mạo rất viên mãn, nên được tôn xưng là "dung mạo đệ nhất".

Tôi nhớ trong kinh có đề cập đến Nan Đà này, ông cũng là một người xuất gia, nhưng thực sự đã có vợ. Tôi nhớ, vào ngày cưới của ông, Phật Thích Ca Mâu Ni đã đến cung điện và thuyết phục người em trai của mình xuất gia. Vì vậy ông còn giỏi hơn cả Phật Thích Ca Mâu Ni, ngay cả đêm tân hôn cũng chưa trải qua đã xuất gia. Phật Thích Ca Mâu Ni rất giỏi, vừa vào đã nói: "Này! Đừng kết hôn nữa, đi xuất gia với ta." Thế là ông đi xuất gia luôn. Thực ra, theo như tôi biết, lúc đó người em của Phật cũng đang gặp khó khăn về chuyện tình cảm, vì ông rất đẹp trai, được xưng là dung mạo đệ nhất, có nhiều cô gái theo đuổi. Nhưng Phật Thích Ca Mâu Ni rất tài, trước tiên đưa người em này lên thiên giới xem các tiên nữ, ông vừa nhìn thấy các tiên nữ trên trời, ôi chao! Từng người đều đẹp như tiên! Sau đó Phật Thích Ca Mâu Ni lại vào cung điện tìm em trai để xuất gia. Người em nhìn vợ mình, trời ơi! Trông như rác vậy. Cho nên, lần sau có đệ tử như vậy, nên đưa họ lên thiên giới xem tiên nữ trước, rồi xuống trần gian nhìn những cô gái đẹp sẽ thấy như rác thôi.

Việc người em này xuất gia với Phật Thích Ca Mâu Ni vào ngày cưới là có nguyên nhân như vậy. Đây là thông tin tôi tra cứu được.

Om mani padme hum.


### 28. A Nan Đà, La Hầu La


Hôm nay chúng ta nói về hai nhân vật trong Kinh A Di Đà, một vị đã được nói đến rồi, đó là A Nan Đà - người "đa văn đệ nhất". Vị thứ hai là La Hầu La. La Hầu La chính là con trai của Phật Thích Ca Mâu Ni, do chính thất Da Du Đà La sinh ra, là người con trai đầu tiên của Phật. Phần nói về La Hầu La nằm ở trang 18 của "Phật Thuyết A Di Đà Kinh Thích Yếu", đoạn văn này rất đơn giản, mọi người đọc qua là hiểu được, nên tôi không cần phải giảng nữa! Vậy bài giảng kinh hôm nay đến đây kết thúc. OK!

※Chú thích: Sau đây là trích đoạn về La Hầu La trong "Phật Thuyết A Di Đà Kinh Thích Yếu":

La Hầu La nghĩa là che giấu. Thuở xưa ngài bịt hang chuột sáu ngày, ở trong thai sáu năm. Da Du Đà La mang thai sáu năm mới sinh con. Mọi người trong ngoài hoàng cung, cả quốc vương và dòng họ Thích đều nổi giận, vì thế ra lệnh ném vào hố lửa. Da Du Đà La phát đại thệ nguyện: "Nếu ta có điều phi lễ, mẹ con đều chết. Nếu đây là hậu duệ của Phật, xin trời chứng giám." Nói xong bế con nhảy vào hố lửa. Hố lửa hóa thành ao mát mẻ, hoa sen nâng đỡ thân. Lúc đó vua và dân trong nước mới hết nghi ngờ. Sau khi Phật trở về nước, Da Du Đà La bảo con là La Hầu La dâng bánh vui vẻ lên Phật. La Hầu La nói: "Con còn nhỏ tuổi, kính cẩn dâng lên Phật trước đại chúng." Da Du Đà La nhờ đó dẹp được lời phỉ báng. Xưa gọi là Tôn Giả Phú Tàng, là thái tử của Phật, là bậc "mật hành đệ nhất".


### 29. Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lư Phả La Đọa


Hôm nay giảng "Phật Thuyết A Di Đà Kinh Thích Yếu", đề cập đến hai nhân vật. Vị đầu tiên là Kiều Phạm Ba Đề. Kiều Phạm Ba Đề ở đây được dịch là "người rống như trâu", vị tôn giả này trong đời trước từng rất bất kính với người tu hành, thường bắt chước tiếng trâu rống, tiếng hừ hừ để chế nhạo họ. Vì lý do này, Phật Thích Ca Mâu Ni đã ban cho ngài một chuỗi hạt, bảo ngài niệm Phật để ngăn chặn nghiệp phỉ báng từ kiếp trước, hậu thế gọi ngài là Ngưu Tư Tôn Giả, vị tôn giả này được tôn xưng là "thọ thiên cúng dường đệ nhất".

Thọ thiên cúng dường đệ nhất nghĩa là gì? Đó là vì có rất nhiều vị thần trên trời mang nhiều thức ăn quý giá đến cúng dường ngài, dâng những y phục tốt đẹp cho ngài mặc. Tại sao ngài được như vậy mà chúng ta thì không? Bởi vì vị Kiều Phạm Ba Đề này đã học được tất cả thần chú trên cõi trời, thường xuyên tụng đọc các thần chú đó. Vào thời đó rất ít người biết được điều này, vị tôn giả này chỉ cần vừa tụng, các vị thần tiên trên trời đều vui vẻ xuống tặng lộc cho ngài.

Giống như chúng ta bây giờ nghe ca hát vậy, nghe bài hát hay thì cho ca sĩ một ít tiền thưởng. Vì Kiều Phạm Ba Đề biết tụng thần chú của cõi trời, nên chư thiên đều ban lộc cho ngài, vì vậy ngài được tôn xưng là "thọ thiên cúng dường đệ nhất".

"Tân Đầu Lư Phả La Đọa, dịch nghĩa là lợi căn bất động. Xưa được gọi là người trụ lâu trong thế gian, nhận sự cúng dường của đời sau, là bậc ruộng phước đệ nhất". Tôn Giả Tân Đầu Lư Phả La Đọa, ở đây được dịch là "lợi căn bất động", trong quá khứ, mọi người đều gọi ngài Tân Đầu Lư Phả La Đọa là bậc trụ lâu trong thế gian, ngài sống trong thế giới này, nhận sự cúng dường của người đời; danh hiệu của ngài là "ruộng phước đệ nhất".

Vị Tân Đầu Lư Phả La Đọa này là một vị xuất gia, nhưng ngài thường thị hiện thần thông trước mặt các cư sĩ. Nhiều cư sĩ biết vị tôn giả này có thần thông nên mời ngài biểu diễn, hễ ai mời là ngài liền biểu diễn: có thể ngồi tại chỗ rồi lập tức bay lên không trung, sau đó biểu diễn ngủ trên không và lộn nhào, ngài có thể đi trên không trung, xoay vòng như phi hành gia rồi quay về, không chỉ lộn nhào mà còn đánh quyền võ Trung Quốc trên không, còn việc có biểu diễn cởi áo hay không thì không rõ.

Vì ngài dễ dàng thị hiện thần thông nên bị Phật Thích Ca Mâu Ni quở trách. Phật Thích Ca Mâu Ni nói với vị tôn giả này rằng: "Nơi đây đâu phải gánh xiếc mà cứ biểu diễn show thần thông hoài". Cuối cùng ngài bị quở trách đến nỗi rất buồn lòng, liền phát nguyện trước Phật rằng ngài sẽ mãi mãi trụ ở thế gian này, không cầu thành Phật, mà sẽ giúp đỡ chúng sinh trong thời mạt pháp.

Vị Tân Đầu Lư Phả La Đọa tôn giả này, trong mười tám La Hán của Trung Quốc được gọi là Trường Mi Tôn Giả, chính là vị có đôi lông mày trắng rất dài kia.


### 30. Ca Lưu Đà Di, Ma Ha Kiếp Tân Na


Đầu tiên chúng ta sẽ giảng "Kinh A Di Đà Thích Yếu", sau đó giới thiệu hai vị đại La Hán. Vị đầu tiên tên là Ca Lưu Đà Di, ngài là con trai của một vị đại thần trong vương quốc của Phật Thích Ca Mâu Ni. Ngài có gương mặt rất đen, trông rất đáng sợ. Có lần ngài đi khất thực vào ban đêm, một số người khi mở cửa nhìn thấy ngài đã sợ chết khiếp! Ngài được tôn xưng là "giáo hóa đệ nhất". Ca Lưu Đà Di còn có thể dịch là Hắc Quang, nghĩa là ánh sáng đen.

Người ta kể rằng, trước đây khi Phật Thích Ca Mâu Ni điều hành tăng đoàn, các vị xuất gia tu hành cùng nhau, chưa có quy định không ăn sau giờ Ngọ, mà vẫn ăn sáng, ăn trưa, ăn tối như người thường. Nhưng như chúng ta đã biết, ở Ấn Độ thời đó, cách đây mấy nghìn năm không có đèn điện, người giàu thì thắp nến, người nghèo thì không có đèn. Ban đêm, khi các vị tỳ kheo cùng nhau đi khất thực, gõ cửa nhà người; khi mở cửa ra, ôi chao! Họ sợ đến chết khiếp, tưởng gặp ma! Có người sợ đến ngất xỉu; ngoài ra, một số người Ấn Độ nghĩ rằng: Chuyện gì vậy? Nửa đêm có người đến gõ cửa nhà mình, hoặc đứng im lặng trước cửa, tưởng là kẻ trộm nên đánh họ một trận. Vì xảy ra vài trường hợp tỳ kheo đi khất thực làm thí chủ sợ chết khiếp, lại có tỳ kheo đi khất thực bị thí chủ đuổi đánh vì tưởng là kẻ trộm, nên Phật Thích Ca Mâu Ni nghĩ: Đã là người tu hành thì chỉ cần đủ dinh dưỡng là được, vì vậy đặt ra quy định "từ nay về sau, các tỳ kheo khi trời tối không được đi khất thực nữa", và điều này đã phát triển thành quy định không ăn sau giờ Ngọ.

Hiện nay vì người tu hành cần phải khổ hạnh, không thể ăn quá no, và đôi khi chỉ cần một hai bữa là đủ dinh dưỡng, nên vẫn có người giữ quy tắc không ăn sau giờ Ngọ. Nhưng thời đại bây giờ đã khác, ban đêm có đèn điện, người xuất gia cũng ít khi đi khất thực, nên có người ăn tối tại nhà; đi khất thực ban đêm có lẽ cũng không làm ai sợ hãi nữa. Chính vị La Hán Hắc Quang này khi đi khất thực đã làm người ta hoảng sợ.

Tôi nhớ trước đây khi làm thành viên đoàn thánh ca của nhà thờ Thiên Chúa giáo, vào đêm Giáng sinh, chúng tôi thường đi hát thánh ca cho mọi người nghe, đi thăm viếng. Một tối nọ, vào đêm Giáng sinh, vị mục sư của chúng tôi nói: "Tối nay chúng ta sẽ đến khu dân nghèo hát cho họ nghe, sau đó ném kẹo và thiệp Giáng sinh vào nhà họ." Chúng tôi đều mặc đồng phục trắng của ca đoàn, vào nửa đêm, khoảng 11-12 giờ, cho đến 2 giờ sáng, cả nhóm trong trang phục trắng đổ về khu dân nghèo. Chúng tôi vừa hát vừa ném kẹo, thấy khe cửa là ném vào, thiệp Giáng sinh cũng ném vào như vậy. Chúng tôi cố gắng đi thật khẽ, bước chân nhẹ nhàng, giọng hát nhỏ nhẹ, không dám bước mạnh, cứ thế lướt đi trên đường.

Có vài bà cụ thức dậy đi vệ sinh nửa đêm, nhìn thấy chúng tôi đều sợ ngất đi. Những bà cụ ấy thấy một đám người mặc đồ trắng, đi nhẹ nhàng và vừa đi vừa hát, trông như ma, họ sợ đến run chân, họ nói: "Các người muốn dọa chết tôi sao!" Ôi! Lần đó, nhiều người vì chúng tôi ném kẹo, ném thiệp nên tỉnh giấc, mở cửa ra xem, trời ơi! Không trung toàn những bóng áo trắng bay! Nghe nói khu dân nghèo đó hôm sau có nhiều thầy đến làm lễ giải kinh. Thực ra không phải gặp ma, mà là gặp chúng tôi.

Tiếp theo giới thiệu một vị đại La Hán nữa, đó là Ma Ha Kiếp Tân Na. Tên này dịch ra chính là tên một ngôi sao, trong Trung Quốc có 28 sao, đây là ngôi sao thứ tư trong 28 sao. Vì cha mẹ ngài đã cầu nguyện với các vì sao trên trời nên sinh ra được vị Ma Ha Kiếp Tân Na này, ngài được tôn xưng là "ngôi sao đệ nhất".

Vị Ma Ha Kiếp Tân Na vốn cũng là một vị quốc vương, nước của ngài tên là Câu Tất Đa, ngài chính là vua nước Câu Tất Đa. Do ngưỡng mộ Phật pháp của Phật Thích Ca Mâu Ni nên ngài đã xuất gia; sau khi xuất gia, ngài rất thích tu hành một mình và đã từng chứng được pháp vị Niết bàn. Sau khi quy y, ngài rất nghiêm túc tu tập theo giáo pháp của Đức Phật, sống trong hang động trên núi sâu. Ngài tu tập phương pháp luyện hỏa đan điền, khiến "hỏa" này có thể chạy khắp toàn thân, đến từng mạch máu nhỏ, từng lỗ chân lông đều có thể dùng lửa để đốt thân thể, sau đó luyện nội hỏa trở nên tinh thuần, tập trung toàn bộ lửa ở thiên đình, và còn có thể phóng ra ngoài, khiến nhiệt độ cơ thể hoàn toàn hạ xuống, có thể nhịn ăn nhịn uống trong một tháng.

Mặc dù thân thể ngài vẫn ở trên mặt đất, nhưng thực ra rất giống với lúc nhập Niết bàn; pháp vị này, sự thanh tịnh hoàn toàn này, không còn dục vọng, niềm pháp lạc đạt được, gọi là pháp vị Niết bàn. Tất nhiên, với niềm pháp lạc này, ngài có thể du hành đến tứ thiền thiên, có thể đến bất kì cõi Phật nào. Tuy không ăn bất cứ thứ gì, nhưng thực ra đã ăn tất cả, ngài đạt được pháp vị Niết bàn này hoàn toàn nhờ tu tập trong hang động trên núi sâu.

Một ngày nọ, Phật Thích Ca Mâu Ni xuất hiện trước hang động của ngài và hỏi: "Hiện giờ ông đã thỏa mãn chưa?" Ngài đáp: "Rất thỏa mãn. Phật nói: "Đã thỏa mãn rồi thì cũng phải giúp người khác được thỏa mãn!" Vì vậy Phật Thích Ca Mâu Ni mời ngài ra làm công việc giáo giới. Bởi vì lúc bấy giờ, nhiều đệ tử khi mới quy y đều rất nghiêm giữ giới luật, nhưng sau đó lại không giữ giới nữa, nên Ma Ha Kiếp Tân Na đã ra làm vị đạo sư dạy trì giới. Khi ngài ra khỏi hang động, cách làm đã khác trước - trước kia ngài an trụ trong pháp vị Niết bàn, cuối cùng Phật Thích Ca Mâu Ni gọi ngài ra dạy giới luật cho tất cả đệ tử Phật. Ban đầu ngài được gọi là bậc tự trì giới, sau trở thành bậc dạy người trì giới, nên ngài được tôn xưng là "ngôi sao đệ nhất", và còn được gọi là "bậc giáo giới đệ nhất".

Thật ra, giới luật rất quan trọng, không có giới luật thì sẽ hành xử bừa bãi. Giữ giới cũng giống như chúng ta tuân thủ trật tự của quốc gia, chính là tuân theo pháp luật. Khi đệ tử Phật giữ giới, nhờ trì giới mà hành vi của họ trở nên rất đoan chính, nhờ hành vi đoan chính mới sinh tâm định, nhờ có định mới phát sinh trí tuệ, đạt được trí tuệ mới có thể khai ngộ, mới có thể thành Phật.

Nhiều người hỏi tôi: "Phái Chân Phật Tông có giới luật không?" Chân Phật Tông cũng có giới luật như các phái khác, chúng ta có giới luật của Hiển giáo thông thường và cả giới luật của Mật giáo. Thực ra, giới luật của chúng ta cũng rất nghiêm ngặt, xét theo giới luật thì rất nghiêm khắc, nhưng vì chư Phật Bồ Tát từ bi hơn một chút nên nhìn có vẻ thoải mái hơn, tuy nhiên hôm nay tôi muốn nói với mọi người rằng: "Muốn có thành tựu, nhất định phải có giới." Thượng sư cũng có giới của Thượng sư, vì vậy chúng ta phải đọc giới luật của Chân Phật Tông, trong quyển sách nhỏ đó đều có. Hy vọng mọi người đừng vì chư Phật Bồ Tát từ bi mà quên hết giới luật.

Mỗi hành giả khi mới bắt đầu tu tập, nhất định phải giữ giới luật; đến khi khai ngộ, tuy những giới luật đó có thể phá bỏ, nhưng vì độ chúng sinh, cũng phải để chúng sinh thấy được giới luật của mình. Thực ra, Thượng sư đã từng nói: "Nơi sư tử nhảy qua, thỏ không thể nhảy theo."

Điều này có nghĩa là những việc mà một vị đại hòa thượng có thể làm, một vị tiểu hòa thượng chưa chắc đã có thể làm theo. Khi một người đã khai ngộ, những việc họ làm không nhất thiết là những việc mà người mới vào cửa Phật có thể bắt chước. Đây là vấn đề về cảnh giới tu tập. Vì vậy, khi bạn đã trở thành sư tử, bạn có thể nhảy vực; nhưng khi chưa trở thành sư tử mà nhảy vực thì chính là tự sát. Khi tâm bạn đã bất động, bạn có thể đến night club; nhưng khi tâm còn dao động mà đến night club thì chính là tự sát. Do đó, việc tu học có từng cấp độ. Nếu các bạn muốn tự sát thì có thể đi theo thầy; còn nếu thấy mình chưa đủ sức thì tốt nhất là ở nhà ngủ ngon!

Vừa rồi Thượng sư Liên Hỏa đã cảm ơn tất cả mọi người, tôi cảm thấy chúng ta làm bất cứ việc gì cũng phải mang lòng biết ơn. Miễn là mỗi người đều tận tâm tận lực làm tốt việc của mình, và giúp đỡ làm những việc chung, chúng ta đều nên mang lòng biết ơn. Bởi vì lòng biết ơn có thể sinh ra lòng từ bi, trong vũ trụ này vốn dĩ là đồng thể đại bi; vì vậy chúng ta không chỉ cảm ơn những người bỏ tiền, bỏ công sức, những người có tâm, mà đối với những người phỉ báng chúng ta và những lời trái ý cũng phải mang lòng biết ơn. Bởi vì họ đến thử thách chúng ta, cũng chính là đang giúp đỡ chúng ta, khi bạn cũng biết ơn những lời trái ý này, thì sẽ hiểu được rằng "lời trái ý cũng chính là trợ duyên của chúng ta". Vì vậy tôi đã từng nói:
"Trên thế gian này vốn dĩ không có chuyện gì cả."
"Người tu hành chính là người vô sự."
"Chúng ta chỉ cần tận tâm tận lực làm việc, không tính toán thành bại, đó chính là vô sự."

Om mani padme hum.


### 31. Bạc Câu La, A Nậu Lâu Đà, cùng các vị đại đệ tử như thế


Chúng ta đã giới thiệu mười bốn vị La Hán, tối nay sẽ tiếp tục giới thiệu thêm hai vị La Hán nữa, tổng cộng là mười sáu vị tôn giả.

Vị thứ mười lăm được giới thiệu là Bạc Câu La. Vị tôn giả này suốt đời không thuyết pháp, không giảng đạo, không đi khắp nơi giảng đạo thuyết pháp, ngài hoàn toàn không nói chuyện. Bởi vì vị tôn giả này không nói chuyện, nhưng thích thiền định, chỉ thích tọa thiền, nên thọ mạng của ngài rất dài, sống đến một trăm sáu mươi tuổi.

Thích thiền định thì thọ mạng sẽ dài, điều này có lý của nó. Các bạn biết đấy, khi thiền định, giống như trạng thái ngủ đông của động vật, cơ thể hoạt động rất ít, dùng rất ít năng lượng để vận hành cơ thể; các bạn biết đấy, chúng ta sử dụng cơ thể quá nhanh, lại quá gấp gáp, cơ thể thường hay hư hỏng, cơ thể đều có tuổi thọ nhất định, dù sao dùng nhiều cũng sẽ hỏng. Vì Bạc Câu La từ từ sử dụng cơ thể của mình, nên sống đến một trăm sáu mươi tuổi.

Chúng ta biết có một loài động vật sống rất thọ, đó là rùa. Rùa có tuổi thọ rất cao và cũng không thích nói chuyện. Bạn nhìn những con rùa dưới đáy ao, chúng thường xuyên thiền định, cứ bò, bò, bò đến khe đá rồi ở đó... trông như đang ngủ vậy. Chúng cũng không nhiều lời. Phải biết rằng, những người thích nói chuyện, thích ba hoa thường có tuổi thọ ngắn hơn. Tại sao vậy? Trong nội công cũng có giải thích, bởi vì khi nói chuyện, khí thường xuyên phải thoát ra ngoài. Chúng ta hít vào nhiều, thở ra ít thì sẽ trường thọ; thở ra nhiều, hít vào ít thì sẽ đoản thọ.

Vị Bạc Câu La này rất ít nói chuyện, chỉ thích thiền định, nên được gọi là "thọ mạng đệ nhất". Hơn nữa, ngài cũng giữ giới không sát sinh, ngài trì giới không giết hại sinh mạng. Trong cuộc đời, ngài có mấy lần không chết, đó là khi bị đặt vào đĩa cũng không thể thiêu chết được, khi bị thiêu vẫn không chết; ở trong nước không chết, bị luộc cũng không chết, bị một con cá lớn cắn cũng không chết, bị cá lớn nuốt vào bụng rồi lại ra được mà vẫn không chết, có năm loại bất tử như vậy.

Vị tôn giả Bạc Câu La này cũng rất ít khi đau ốm, vì vậy ngoài danh hiệu "thọ mạng đệ nhất", ngài còn có một biệt danh là "đệ nhất không bệnh". Việc không bệnh tật này cho thấy ngài tu hành rất tốt, bởi vì ngài thường xuyên thiền định, bảo dưỡng cơ thể rất tốt, nên ngài... dù sao cũng rất ít khi có bệnh!

Tôi rất ngưỡng mộ "đệ nhất không bệnh" này. Ban đầu tôi còn nói to rằng: "Từ khi đến Mỹ chưa từng bị bệnh!" Nhưng bây giờ không dám nói to nữa, vì từ khi đến Mỹ, trong sáu năm ít nhất cũng bị cảm cúm một lần, hơn nữa răng còn bị sứt một miếng. Mặc dù tôi nghĩ mình rất khỏe mạnh, nhưng răng thực sự cũng là một căn bệnh. Vị đệ tử này rất tốt, biết răng tôi không tốt nên đã mua tặng tôi một bàn chải điện tự động; hai người từ Toronto chuyển đến Vancouver cũng mua bàn chải điện cho tôi. Tôi cũng đánh răng hàng ngày, không phải là không đánh đâu, cái bàn chải điện tự động đó con trai tôi cũng lấy để dùng, mỗi ngày tranh nhau dùng với tôi.

Vị tôn giả này không có bệnh tật, những người thích thiền định sẽ trường thọ, và cũng ít khi bệnh tật, bởi vì khi thiền định đến trình độ cao nhất, con người sẽ chuyển hóa thành hư không; bởi vì con người đã chuyển hóa thành hư không rồi, bạn thử nghĩ xem, hư không có bệnh tật gì? Khi gió thổi đến, có thể xuyên qua thân thể của ngài; khi lửa đốt hư không, lửa sẽ tự tắt; nước muốn dâng lên ngập hư không cũng không thể ngập được; lấy vật kim loại đánh vào hư không, hư không cũng không bị tổn hại. Một người trong thiền định, thường xuyên chuyển hóa thân thể thành hư không thì sẽ không có bệnh tật gì cả.

Người có thể thiền định cũng không có phiền não, bởi vì những việc trên thế gian không thể ảnh hưởng đến hư không. Bạn thử nghĩ xem, hư không có phiền não gì? Vì vậy, chỉ khi nào con người trong thiền định lĩnh hội được đạo lý về Không mới đạt được vô ngã chân thực, khi ý niệm vô ngã đó sinh khởi, đó mới là "thiền định chân chính". Cho nên, người đạt được thiền định chân chính là: dù có việc hay không có việc, đều tự nhiên đạt được tự tại của đại trí huệ chân chính.

Bây giờ tôi xin giới thiệu vị La Hán thứ mười sáu, tên là A Nậu Lâu Đà, dịch nghĩa là "Vô Bần". Vị này cũng là một hoàng tử, là em họ của Phật Thích Ca Mâu Ni. Trong kiếp trước của ngài, ngài từng sinh ra trong một đất nước, khi đó đang có nạn đói, có một vị Độc Giác Phật đi khất thực, khất thực là khi đói bụng đi xin cơm; có một người rất nghèo, bản thân rất nghèo khổ, chỉ còn lại một bát cơm, đúng lúc vị Độc Giác Phật đến khất thực, nhưng người nghèo đó vẫn đem bát cơm đó cúng dường cho vị Độc Giác Phật.

Do người nghèo này chịu bố thí bát cơm duy nhất của mình cho vị Phật Độc Giác, nhờ công đức này mà đời đời kiếp kiếp ông đều giàu có, không bao giờ nghèo khổ. Nhờ công đức bố thí một bát cơm, vị nghèo khổ này được tái sinh thành bậc "Vô Bần" và mãi mãi không phải chịu cảnh nghèo khó nữa. Vì không bao giờ phải chịu cảnh nghèo khổ nên được gọi là Tôn giả Vô Bần.

Từ khi bắt đầu giảng Kinh Phật Thuyết A Di Đà, chúng ta vừa giới thiệu xong vị tôn giả thứ mười sáu, đây là một trong những vị tôn giả đứng đầu trong số một nghìn hai trăm năm mươi vị, là một trong mười sáu vị đại A La Hán được nhắc đến trong Kinh A Di Đà.

Om mani padme hum.


### 32. Và các vị Bồ Tát Ma Ha Tát: Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử


Mười sáu vị tôn giả đã giảng xong, bây giờ sẽ giảng về một số vị Bồ Tát, đại Bồ Tát.

Trong kinh văn viết rằng: "Cùng các vị Bồ Tát Ma Ha Tát: Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử, A Dật Đa Bồ Tát, Càn Đà Ha Đề Bồ Tát, Thường Tinh Tấn Bồ Tát, và các vị đại Bồ Tát như vậy."

Ở đây, "Ma Ha" có nghĩa là "đại", "Bồ Tát" nghĩa là "giác hữu tình", có ý nghĩa là trên cầu giác ngộ, dưới độ hóa chúng sinh.

Vị Bồ Tát đầu tiên được giảng là Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử. Văn Thù Sư Lợi có lai lịch rất đặc biệt, là bậc vô thượng trong tất cả các vị Bồ Tát, trong quá khứ ngài cũng từng là một vị Phật, có pháp hiệu là Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật, núi Thiên Thai của Trung Quốc chính là đạo tràng của Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi.

Trong nhiều ngôi chùa có một vị đại Bồ Tát cưỡi sư tử (trông giống sư tử nhưng thực ra không gọi là sư tử), chúng ta gọi là Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi; vị cưỡi voi là Bồ Tát Phổ Hiền. Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi trong Mật pháp có rất nhiều thân tướng hiển hiện.

Tại sao trong pháp hội A Di Đà này, khi Phật Thích Ca Mâu Ni đang giảng Kinh A Di Đà, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi cũng có mặt để nghe kinh? Điều này chứng tỏ Kinh A Di Đà do Phật giảng vô cùng quan trọng, ngay cả Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, một vị đại Bồ Tát cao quý như vậy cũng xuất hiện trong pháp hội, cho thấy tầm quan trọng đặc biệt của Kinh A Di Đà.

Trong các vị Bồ Tát, Phật là Pháp Vương, còn Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi thường được gọi là Pháp Vương Tử. Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi có nhiều danh hiệu khác như: Diệu Đức, Diệu Cát Tường. Sư Tôn đã từng... Bây giờ nói về vấn đề pháp lực, tôi đã từng đến đạo tràng của Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, ngài thấy hàng hậu bối đến thăm cũng rất vui, ngài đã từng duỗi cánh tay màu vàng kim, cánh tay vàng kim vốn chỉ dài như thế thôi, nhưng ngài có thể biến hóa, duỗi dài ra, ồ! cứ thế vươn tới, rồi xoa đầu đứa trẻ này: "Chào con!" Trước Phật và Bồ Tát, chúng ta giống như những con muỗi nhỏ bé, chúng ta thật sự quá nhỏ bé. Vì thế, được Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi xoa đầu, tôi vui đến cả tuần, đầu cũng không nỡ gội, suýt nữa thành đầu hôi.

Om mani padme hum.


### 33. A Dật Đa Bồ Tát


Hôm nay tôi xin giới thiệu thêm một vị Bồ Tát, đó là A Dật Đa Bồ Tát. Trong tiếng Phạn, A Dật Đa được dịch là "Vô Năng Thắng", còn được gọi là "Vô Tam Độc Giả", tam độc chính là tham, sân, si.

Bồ Tát Di Lặc trong tương lai sẽ thành Phật, hiện tại ngài đang ở quả vị Đẳng Giác Bồ Tát. A Dật Đa Bồ Tát chính là Bồ Tát Di Lặc được thờ trong các chùa hiện nay, Bồ Tát Di Lặc là vị Bồ Tát có cái bụng to, hiện đang ở cung trời Đâu Suất, ngài đang thuyết pháp ở đó. Cung trời Đâu Suất có tổng cộng bốn mươi chín viện, trong đó có một viện gọi là viện Thuyết Pháp, ngài đang thuyết pháp trong viện này. Trước đây Sư Tôn có viết, chiếc mũ đỏ của Sư Tôn, chiếc mũ Ngũ Phật đội lên đó, chính là do Bồ Tát Di Lặc đội lên.

Bồ Tát Di Lặc ở Ấn Độ và Tây Tạng có hình tướng khác với Bồ Tát Di Lặc ở Trung Quốc. Bồ Tát Di Lặc Trung Quốc có khuôn mặt to, tai dài, bụng lớn, trông rất mập mạp; nhưng ở Ấn Độ và Tây Tạng thì trông gầy hơn, có lẽ vì thức ăn ở Trung Quốc phong phú hơn, còn Ấn Độ và Tây Tạng nghèo hơn một chút. Thực ra không phải vậy! Theo kết quả nghiên cứu của tôi, trước đây ở tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc từng xuất hiện một vị hòa thượng Bố Đại, vị này rất mập, bụng to, mặt tròn, trước khi viên tịch đã để lại một bài kệ "Di Lặc Di Lặc Di Lặc thật", ngài muốn nói rằng: "Đã đến nhân gian một chuyến rồi, nhưng mọi người vẫn chưa nhận ra."

Bồ Tát Di Lặc này có đạo hạnh rất cao, ngài mang theo một chiếc túi vải, người ta hỏi pháp ngài: "Nghe nói ngài đã khai ngộ rồi, xin hãy giảng pháp cho chúng con nghe."

Hòa thượng Bố Đại liền đặt chiếc túi vải xuống đất, các vị hòa thượng đang hỏi ngài đều cảm thấy kỳ lạ, sao không nói gì mà chỉ đặt chiếc túi vải xuống? Theo như người có trí tuệ hiện nay, họ hiểu rằng đây là sự khai thị của hòa thượng Bố Đại, ngài muốn nói: "Ông phải buông bỏ tất cả mọi thứ."

Người học Phật phải buông bỏ tất cả, như tôi vừa nói, người học Phật phải học đến chỗ không còn mong cầu, tức là phải buông bỏ tất cả, bởi vì phải buông bỏ phiền não trong tâm, buông bỏ tất cả những chướng ngại trong tâm thuộc về thế tục và đủ loại khác, kể cả những chướng ngại của thân thể, mới có thể giải thoát, mới có thể thành Phật.

Kết quả sau khi các vị hòa thượng được khai thị như vậy, lại hỏi ngài: "Sau khi buông xuống rồi thì còn gì nữa?" Hòa thượng Bố Đại liền nhặt chiếc túi vải lên, đặt lên vai rồi bỏ đi. Điều này có ý nghĩa gì? Người có trí tuệ sau này giải thích: "Đây là phải buông bỏ tất cả phiền não trước, sau đó nhấc lên đặt lên vai, tức là phải gánh vác sứ mệnh lớn lao của Như Lai để cứu độ chúng sinh." Việc nhấc lên này chính là để cứu độ chúng sinh. Vì vậy buông xuống là Niết bàn, nhấc lên là độ sinh.

Người học Phật không chỉ cần buông bỏ, mà còn phải độ chúng sinh. Khi chúng ta tu hành cho bản thân phải không mong cầu, nếu có cầu thì cầu cho chúng sinh, "không vì mình cầu, mà vì chúng sinh cầu". Nói đến hiện tại, tuy miệng tôi luôn nói rằng mình đã vô sở cầu, không cầu gì cả, nhưng có điều gì đó cũng sẽ cầu một chút, chỉ là một chút thôi.

Tượng Bồ Tát Di Lặc ở Đài Loan còn có thêm mấy chữ rất hay: "Luôn mở miệng cười, cười người đáng cười trong thiên hạ". Tại sao lại cười người đáng cười trong thiên hạ? Bởi vì tất cả mọi người đều đáng cười! Vì thế Bồ Tát Di Lặc luôn mở miệng cười, khóe miệng ngài luôn nở nụ cười. Ngài có cái bụng to, "bụng lớn dung chứa, chứa việc khó dung trong thiên hạ"; Bồ Tát Di Lặc thường cười người đáng cười trong thiên hạ, có thể dung chứa những việc khó dung trong thiên hạ, nụ cười của ngài chính là sự giác ngộ trọn vẹn. Ngài hiểu rõ tất cả, nên mới cười tất cả mọi người trên đời. Công phu nhẫn nhục, nhẫn nại của ngài cũng rất tốt, ngài có thể dung chứa những việc khó bao dung nhất trên đời, điều này cũng cho thấy ngài đã đạt được tất cả thiên hạ.

Bồ Tát Di Lặc trong tương lai sẽ thành Phật, là vị Phật kế tiếp sau Phật Thích Ca Mâu Ni, sẽ thành Phật độ chúng sinh trong thế giới Ta Bà. Cái gọi là Long Hoa Tam Hội là ba lần thuyết pháp độ chúng sinh, chính là Bồ Tát Di Lặc sẽ trở thành giáo chủ của thế giới Ta Bà.

Om mani padme hum.


### 34. Càn Đà Ha Đề Bồ Tát, Thường Tinh Tấn Bồ Tát


Hôm nay tôi sẽ giới thiệu thêm hai vị Bồ Tát, đó là Càn Đà Ha Đề Bồ Tát và Thường Tinh Tấn Bồ Tát.

Khi dịch sang ra, một vị được gọi là Bồ Tát Không Nghỉ Ngơi, và vị còn lại là Bồ Tát Thường Tinh Tấn. Cả hai danh hiệu Không Nghỉ Ngơi và Thường Tinh Tấn đều thể hiện sự tu tập rất nghiêm túc; giống như những gì Thượng sư Liên Trí vừa nói, các ngài đều chú trọng vào thực hành, là những vị Bồ Tát không nghỉ ngơi và luôn tinh tấn.

Điều này cho thấy khi Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng Kinh A Di Đà, có rất nhiều Bồ Tát đến nghe pháp. Bồ Tát Không Nghỉ Ngơi và Bồ Tát Thường Tinh Tấn đều là những vị Bồ Tát có địa vị rất cao, cảnh giới của các ngài vô cùng thâm sâu, vì vậy Kinh A Di Đà không phải là một bộ kinh thông thường, mà là bộ kinh được tất cả các vị đại Bồ Tát đến nghe Đức Phật giảng.

Vì bộ kinh này cũng có thể giúp đại chúng nhanh chóng chứng đắc vô thượng bồ đề, nên bộ kinh này vô cùng quan trọng. Gần đây có đệ tử viết thư cho Thượng sư, mong Thượng sư truyền dạy cho họ pháp môn đặc biệt, cũng có nhiều người từ nơi xa bay đến để học pháp. Họ cho rằng, Thượng sư tu tập mà có thể khai ngộ nhanh như vậy, chắc hẳn phải có pháp môn bí mật nào đó, có thể phải bỏ ra rất nhiều tiền, vì thế khi một đệ tử đến thăm tôi, vào phòng tôi tham quan, anh ta hỏi: "Thượng sư có uống thuốc gì không?" Anh ta rất chú ý những vật đặt trên bàn của tôi, xem có tiên đan không, tôi hỏi anh ta: "Thuốc gì?" Anh ta nói: "Loại thuốc uống vào là có thể nhanh chóng thành tựu ấy." Ah! Thực ra không có thuốc đó! Cũng có người đến, mong được cùng Thượng sư tu pháp, khi Thượng sư đang tu pháp, họ đặc biệt chú ý, xem Thượng sư có kết ấn đặc biệt nào khác người không, hoặc tụng chú có âm thanh kỳ lạ gì mà người khác không thể tụng được, hoặc có bí quyết đặc biệt nào khác; thực ra không có! Rồi cũng có người, mong tôi có thể chỉ dạy bí mật tối thượng trong pháp tu, tức là chỉ cần một câu nói là có thể lập tức thành Phật thì càng tốt; vậy có không? Thực ra cũng không có! Hôm nay tôi xin nói thật với mọi người: "Phương pháp thành Phật nhanh nhất chính là không nghỉ ngơi và thường tinh tấn."

Nói thật ra, Không Nghỉ Ngơi và Thường Tinh Tấn không chỉ là hai vị Bồ Tát. Trong Kinh A Di Đà này có đến ba vị Không Nghỉ Ngơi và bốn vị Thường Tinh Tấn, và Thượng sư cũng là người không nghỉ ngơi và thường tinh tấn. Gần đây có một đệ tử rất buồn phiền, anh ấy nói: "Muốn rời khỏi Chân Phật Tông để đi nơi khác học pháp." Anh ấy nói đã theo tôi và quy y được một thời gian rồi, nhưng Thượng sư vẫn chưa truyền pháp cho anh ấy. Tôi đã trả lời rất thẳng thắn, tôi nói với anh ấy: "Lý do tôi có thể đạt được trình độ như ngày hôm nay, chỉ đơn giản là nhờ tâm kiên định, chỉ là nhờ có tâm bền bỉ mà thôi." Tâm kiên định là gì? Bởi vì tôi nhất định phải tu pháp mỗi ngày, hàng chục năm như một ngày, trên máy bay phải quán tưởng tu pháp, ở khách sạn cũng phải quán tưởng tu pháp, khi đi du lịch, đi bộ cũng có thể quán tưởng tu pháp, tất cả đều dùng quán tưởng để tu thành.

Bây giờ, mỗi ngày tôi vẫn tu pháp! Vậy pháp mà tôi tu có gì đặc biệt không? Thật ra không có gì đặc biệt, chỉ đơn giản là tu pháp Bổn tôn, chính là pháp mà chúng ta cùng tu vào tối thứ bảy hàng tuần ở chùa, chính là pháp mà Thượng sư tu hàng ngày. Các bạn đến tìm bí mật của Thượng sư, hoặc nhiều người đến tìm hiểu bí mật tại sao Thượng sư thành tựu nhanh như vậy, nhìn kĩ một hồi mới thấy rằng họ tu còn kém xa tôi. Tôi nghĩ pháp tu của tôi thực sự không bằng các bạn đâu, chỉ là tôi rất kiên tâm làm mà thôi.

Bây giờ Trần Ngạn Đình mỗi ngày đến Chân Phật Mật Uyển lúc 6 giờ chiều để cùng tu với tôi, thời gian tu của tôi không dài, chỉ khoảng nửa tiếng. Tôi nghĩ mỗi lần Trần Ngạn Đình tu có thể phải mất đến 50 phút, hơn nữa anh ấy một lần tu đến ba pháp, bốn pháp, năm pháp, thật ra Trần Ngạn Đình còn có pháp bí mật, còn tôi thì không. Bây giờ anh ấy tinh tấn hơn tôi, sự tinh tấn của tôi không bằng anh ấy. Tuy nhiên, mỗi ngày tôi chỉ tu một lần pháp, cứ đi từng bước một, tôi liên tục không ngừng nghỉ, giống như con rùa vậy. Tuy mọi người tu pháp rất tinh tấn, nhưng các bạn không thể như thỏ ngủ quên. Hiện nay trong số đệ tử của chúng ta, nhiều người tìm kiếm những pháp bí mật rất đặc biệt, nhưng mọi người không biết rằng, Thượng sư mỗi sáng tu tứ gia hành, mỗi tối tu pháp Bổn tôn. Không có bí mật nào cả, bí mật duy nhất chính là kiên tâm.

Nói thật ra, người không tu pháp giống như sắt, sẽ bị rỉ sét; người tu pháp giống như cỏ, sẽ phát triển. Khi sắt bị rỉ, ta không thể thấy được nó đang rỉ, lười biếng vài ngày có sao đâu! Lười biếng... là sẽ bị rỉ sét! Khi chúng ta tu pháp, không thể thấy được pháp lực, công lực đang tăng trưởng; nhưng mỗi ngày tu pháp, "cỏ" sẽ mọc lên, đó chính là bí mật lớn nhất để thành tựu. Bí mật lớn nhất chính là thường tinh tấn, không nghỉ ngơi. Vì vậy ở chỗ tôi không có tiên đan, cũng không có gì đặc biệt, cũng không có bí mật. Dù các bạn có đưa tôi nhiều tiền đến đâu, tôi vẫn chỉ truyền cho các bạn pháp Bổn tôn.

Pháp ở đâu? Từ lâu tôi đã truyền cho bạn rồi! Bạn không tu, lại nói tôi không truyền pháp cho bạn. Có người còn nói: "Làm trò gì đâu, vẫn chưa truyền à! Thượng sư định đem theo xuống mồ sao!" Có kkiên tâm, bạn sẽ đạt được, đừng nói tôi không truyền pháp, pháp đơn giản như vậy đó. Cho nên hôm nay tôi tu nửa ngày vẫn là pháp đó, họ không tu, ngược lại còn nói tôi không truyền pháp.

A Di Đà Phật.


### 35. Và Thích Đề Hoàn Nhân và vô lượng chư thiên đại chúng có đủ


Thích Đề Hoàn Nhân chính là Đao Lợi Thiên Chủ, tức là Đế Thích Thiên Chủ. Thích Đề Hoàn Nhân là thiên chủ của ba mươi ba cõi trời, vô lượng chư thiên đều ở trên đỉnh núi Tu Di, với Đao Lợi Thiên ở giữa, xung quanh có tám cõi trời, tổng cộng là ba mươi ba cõi trời. Về lai lịch của Thích Đề Hoàn Nhân, nghe nói có một người phụ nữ, thấy Phật Ca Diếp nhập diệt, rất cung kính Phật Ca Diếp, sau đó xây tháp cúng dường Phật Ca Diếp. Lúc đó có ba mươi hai người đến giúp người phụ nữ này xây tháp, vì thế ba mươi ba người này trở thành thiên chủ của ba mươi ba cõi trời.

Trong đoạn văn này, nói về "vô lượng chư thiên", thể hiện rằng có rất nhiều thiên nhân đến nghe Phật thuyết pháp, vô lượng chư thiên đều đến pháp hội để nghe Phật giảng Kinh A Di Đà. Những đoạn văn tiếp theo đều nói về hai mươi tám cõi trời và những chuyện về tất cả thiên nhân, mọi người có thể xem "A Di Đà Kinh Thích Yếu" sẽ hiểu rõ! Vì vậy những người đến nghe pháp có thiên nhân mười phương, hộ pháp, thiên long bát bộ, vô lượng vô số, nên mới gọi là "đại chúng có đủ".

Một người phụ nữ xây tháp cúng dường Phật Ca Diếp, liền được phúc báo làm thiên nhân, trở thành thiên chủ cõi trời Đao Lợi. Trước đây có người hỏi tôi: "Sao lại đơn giản vậy? Vậy tôi cũng xây vài cái tháp cúng dường Phật, rồi tôi sẽ thành thiên chủ trên trời luôn." Ah! Ít nhất trong Lôi Tạng Tự của chúng ta cũng có bốn tháp Quang Minh! Theo như tôi biết, việc người phụ nữ này trở thành thiên chủ cõi trời Đao Lợi có hai ý nghĩa. Điều này giống như một sự khai thị, chỉ cần làm một chút việc thiện, hoặc hành thiện, là có thể đạt được phúc báo của thiên nhân; hơn nữa, vị thiên chủ Đế Thích này vốn là cổ Phật chuyển thế, cũng là một vị Phật chuyển thế, hóa thân làm thiên chủ Đế Thích, trong đó có rất nhiều nhân quả và duyên phận.

Chúng ta biết trên cõi trời cũng có chiến tranh, những cuộc chiến trên cõi trời chính là giữa Đế Thích Thiên Chủ Thích Đề Hoàn Nhân và vua Atula thường xuyên giao chiến với nhau. Nguyên nhân nào dẫn đến cuộc chiến này? Nghe nói vua Atula đang tổ chức tiệc sinh nhật dưới đáy biển, đúng lúc đó Đế Thích Thiên Chủ cùng các thiên nhân đi du ngoạn bay qua vùng biển đó, ồn ào náo nhiệt. Vua Atula nói: "Ta đang tổ chức tiệc sinh nhật, các ngươi lại dám bay qua không trung như vậy, đây chính là sự sỉ nhục đối với ta." Chỉ vì lý do đó mà dẫn đến cuộc chiến lớn trên cõi trời. Từ điểm này chúng ta có thể thấy, trí tuệ của thiên nhân không nhất định vượt qua trí tuệ của con người chúng ta. Trí tuệ của người học Phật đôi khi còn vượt qua trí tuệ của thiên nhân. Trên cõi trời vẫn có sự tranh chấp cao thấp, lớn nhỏ.

Vì nói đến chuyện cao thấp, lớn nhỏ nên tôi mới kể, gần đây có một vị đường chủ viết thư cho tôi, nói rằng ông ấy muốn làm Thượng sư. Tôi nói với ông ấy: "Có phải hơi sớm không?" Ông ấy khẳng định nhất định phải được làm. Tôi hỏi: "Nếu không cho ông làm thì sao?" Ông ấy đáp: "Sẽ dẫn đầu tất cả các đường chủ tuyên bố độc lập." Ông ấy cho rằng Thượng sư lớn hơn đường chủ, vì đường chủ ngồi hàng đầu còn Thượng sư ngồi phía trên, đây là sự phân biệt cao thấp. Làm Thượng sư mà không giác ngộ được đạo, tất cả đều phải xuống địa ngục Kim Cang; làm đường chủ không giác ngộ được đạo, đầu thai vẫn làm người. Trách nhiệm của Thượng sư rất lớn, nên cần phải có sự so sánh như vậy.

Nói thêm, có một đệ tử cũng yêu cầu tôi cho một đạo tràng. Tôi nói: "Bên cạnh chỗ anh ở không phải đã có một đạo tràng rồi sao?" Anh ấy nói với tôi là không hợp với vị đường chủ đó. "Vậy anh muốn có đạo tràng để làm gì?" Anh ấy đáp: "Con muốn có đạo tràng để đối đầu với đạo tràng kia." Ah! Nghe như là chiến tranh vậy!

Còn nữa, có một vị Thượng sư chạy đến đây nói với tôi: đạo tràng lớn của ông ấy đã bị gián điệp từ đạo tràng nhỏ xâm nhập vào. Tôi nói: "Vậy không phải là gián điệp đấu với gián điệp sao?" Người tu hành mà tu thành như vậy, đều giống như atula vậy! Tính tranh đấu rất mạnh, hiếu chiến và háo thắng, càng tu hành thì lửa vô minh càng lớn, suốt ngày cứ thấy ai không vừa mắt là muốn đánh cho một cái vào đầu! Chuông và chày kim cang không phải để hàng ma, mà là để đánh người, những hành vi như vậy chúng ta đều biết, điều này càng ngày càng xa rời đạo.

Đạo thật sự bất khả thuyết, tự nhiên chính là đạo, tinh tấn chính là đạo, vô tư chính là đạo, vô ngã chính là đạo. Con người trên thế gian này có chiến tranh, có tranh cao thấp, có tranh lớn nhỏ, đều là vì "có ngã". Nếu như lĩnh ngộ được đạo lý này thì đã gần với đạo. Tôi mong muốn tất cả đệ tử Chân Phật Tông đều có thể thành Phật, không nhất định phải làm Thượng sư, cũng không nhất định phải làm đường chủ. Tôi tin rằng sau này các đệ tử đều thành Phật hết, chỉ có đường chủ và Thượng sư không thành Phật được. Bởi vì đường chủ và Thượng sư chỉ cần sinh một chút tâm kiêu ngạo, sẽ đọa vào địa ngục Kim Cang.

Om mani padme hum.


### 36. Bấy giờ, Đức Phật bảo trưởng lão Xá Lợi Phất… hiệu là A Di Đà, hiện đang thuyết pháp


Kinh văn: 
"Bấy giờ, Đức Phật bảo trưởng lão Xá Lợi Phất: "Từ đây về phương Tây, cách xa mười vạn ức cõi Phật, có một thế giới tên là Cực Lạc. Ở cõi ấy có Đức Phật hiệu là A Di Đà, hiện đang thuyết pháp."

Bây giờ chúng ta thật sự đi vào nội dung kinh văn, những phần trước đã giới thiệu tên của tất cả chư Phật Bồ Tát trong pháp hội này. Giờ tôi đọc đoạn kinh văn này một lần cho mọi người nghe: "Bấy giờ, Đức Phật bảo trưởng lão Xá Lợi Phất: Từ đây về phương Tây, cách xa mười vạn ức cõi Phật, có một thế giới tên là Cực Lạc. Ở cõi ấy có Đức Phật hiệu là A Di Đà, hiện đang thuyết pháp."

Hai chữ "bấy giờ" nghĩa là lúc đó. Thực ra, hai chữ "bấy giờ" này, cũng giống như khi Thượng sư Trần vừa thuyết pháp, cũng tương đương với việc nói "bấy giờ". Ngài nói về con chuột đen và con chuột trắng, chuột trắng tượng trưng cho ban ngày, chuột đen tượng trưng cho ban đêm, biểu thị thời gian "con người" sống trong thế giới này rất ngắn ngủi, và thời gian trôi qua rất nhanh.

Tôi cảm thấy mình cũng lãng phí rất nhiều thời gian ban ngày, còn thời gian ban đêm thì có lẽ không lãng phí vì đều ngủ cả, ban đêm ai cũng ngủ nên không lãng phí. Tại sao tôi nói lãng phí nhiều thời gian ban ngày? Lúc tôi còn học cấp ba, có một thầy giáo mời tôi đi ăn, bữa ăn đó rất thú vị, thầy đặt một đĩa nước tương phía trước, trên bàn ăn có để một cái lồng nhỏ, trong lồng nhốt vài con chuột con, những con chuột đó mới sinh, từ bên ngoài có thể nhìn thấy ruột và bụng của chúng, vẫn còn mới sinh ra, là những con chuột bạch rất nhỏ; thầy giáo dạy chúng tôi ăn bữa tối, là nắm đuôi chuột, chấm qua nước tương rồi ăn như vậy, giống như ăn sashimi vậy; thầy nói, chuột bạch mới sinh như thế này bổ dưỡng nhất, đây là món bổ thận mà người Trung Quốc rất thích. Tôi đã từng nói, ngày xưa tôi là người ăn tất cả mọi thứ, biệt danh của tôi là "kẻ ăn tất cả". Vì vậy tôi nói lãng phí nhiều thời gian ban ngày, vì đã ăn không ít chuột bạch, vì một con chưa đủ no, tối hôm đó ăn khoảng sáu con, giờ nghĩ lại vẫn còn cảm giác mùi chuột!

Thật ra, từ "bấy giờ" đó chính là lúc Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp, cách thời điểm hiện tại đã mấy nghìn năm. Vậy thì, hiện giờ chúng ta thuyết pháp, cũng được gọi là "bấy giờ". Nói về thời gian này, theo như tôi biết thì: "Thực ra chẳng có thời gian, thời gian là do con người tạo ra." Con người chia một năm thành ba trăm sáu mươi lăm ngày, chia một năm thành mười hai tháng, rồi một tháng lại có hai mươi tám ngày, hai mươi chín ngày, ba mươi ngày, ba mươi mốt ngày, một ngày lại chia thành hai mươi bốn giờ, ở Mỹ thì còn phải chỉnh đồng hồ nhanh lên một giờ rồi lại giảm đi một giờ. Thật ra, tất cả những điều này đều do con người tạo ra.

Trong số chúng ta có người từ kiếp trước ở Ai Cập đầu thai đến, có người tiền kiếp là người Ấn Độ chuyển sinh vào cộng đồng hiện tại của chúng ta, có người Nhật, người Phi Châu, trong chúng ta còn có cả bộ tộc ăn thịt người, thậm chí có một số không phải từ cõi người chuyển sinh đến, trong số chúng ta có người tiền kiếp là một con cá kiếm, còn có một chú gấu con quý hiếm nữa. Vào thời điểm này, phá vỡ giới hạn không gian thời gian, những gì mắt nhìn thấy, quá khứ đều hiện ra hết, bạn cũng có thể thấy được tương lai của người đó. Trong chúng ta có người tương lai sẽ làm Diêm La Vương, con gấu quý hiếm kia kiếp sau vẫn là gấu quý hiếm, nhưng kiếp này là người, còn ông cá kiếm kia tương lai sẽ được sinh lên cõi trời thành thiên nhân, người bộ tộc ăn thịt người kia kiếp sau chuyển sinh làm người mổ lợn.

Hai chữ "bấy giờ" này chứa đựng rất nhiều học vấn. Hãy nhìn vào sách của Thượng sư, không cần nói đến "bấy giờ", chỉ cần nhìn tấm ảnh của tôi chụp ở trường cách đây hai mươi năm, và bây giờ tôi ngồi đây thuyết pháp, đã không còn là cùng một người nữa. Hai mươi năm trước và hai mươi năm sau có giống nhau không? Chỉ trong khoảng thời gian ngắn ngủi hai mươi năm thôi mà đã khác biệt như hai con người. Thời gian này chỉ mang tính tượng trưng, vốn dĩ không có thời gian, nhưng vì dấu vết chúng ta để lại khi bước đi, nên mới tạo thành thời gian. Vì vậy thời gian trôi qua rất nhanh, nếu chúng ta không tu hành, sẽ càng ngày càng xấu xí đi.

Nếu bạn có tính cách như heo, kiếp sau sẽ đầu thai làm heo; nếu bạn có tính hay đấu đá, gặp ai cũng muốn chiếm lợi, muốn hại người, kiếp sau sẽ đầu thai làm rắn; nếu bạn quỷ quyệt xảo trá, kiếp sau sẽ làm cáo; nếu bạn có tâm lượng hẹp hòi và nhiều mưu mẹo, kiếp sau sẽ làm rết, vì có nhiều mưu mẹo nên biến thành nhiều tay nhiều chân, bản thân có nhiều kế sách nên trở thành con rết. Kiếp sau, khi bạn chết, nếu có người khiêng kiệu đến đón, phải cẩn thận, sẽ biến thành cua. Còn nữa! Nếu có xe buýt đến đón, phải cẩn thận, sẽ biến thành sâu bướm, nếu máy bay đến đón thì sẽ biến thành chuồn chuồn. Nếu bạn nghĩ mình đang đi qua đường hầm thời gian, sẽ biến thành rắn. Đây đều là những cảnh giới sinh ra vào lúc lâm chung, và dẫn dắt bạn đi con đường tương lai.

Trong cái nhìn của Phật, "bấy giờ" đại diện cho "quá khứ", "hiện tại" và "tương lai". Thực ra có rất nhiều vị Phật, Bồ Tát có thể hóa thân, có thể tái sinh, hiện đang ở trần gian độ chúng sinh. Các ngài cũng là Phật, Bồ Tát trong quá khứ, nay các ngài là người, đang thuyết pháp, đang độ chúng sinh. Nhưng bạn xem, các ngài vẫn phải ăn cơm, đi vệ sinh, vẫn phải ngủ, có thể không nhận ra quá khứ các ngài là Phật, là Bồ Tát. Giống như bây giờ bạn không thể nhận ra ai là gấu, ai là cá kiếm, ai là người bộ tộc ăn thịt người. Đừng hỏi tôi nhé, vì nếu nói ra chắc chắn sẽ có người kiện tôi phỉ báng.

Câu thứ hai là "Phật bảo trưởng lão Xá Lợi Phất". Trước đây khi Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp, thường là đệ tử hỏi trước rồi Phật mới trả lời. Nhưng lần này khác, Phật Thích Ca Mâu Ni chủ động thuyết giảng, trực tiếp giảng cho tất cả mọi người, giảng cho Xá Lợi Phất, tại sao lại chủ động giảng như vậy? Bởi vì nếu Ngài không giảng, thì các đệ tử bên dưới và tất cả chư thiên đều không biết A Di Đà Phật là gì.

Trước đây có rất nhiều đệ tử hỏi tôi: "Phật Thích Ca Mâu Ni có phải là Phật A Di Đà không?" Bởi vì nhiều người không hiểu rõ. Phật Thích Ca Mâu Ni là Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật A Di Đà là Phật A Di Đà. Hiện nay đôi khi bạn hỏi một số cụ bà Phật tử, hỏi họ có bao nhiêu vị Phật? Họ sẽ nói một vị, vì họ chỉ biết Phật Thích Ca Mâu Ni, nên chỉ có một vị. Thực ra, có rất nhiều vị Phật. Hôm nay chúng ta đọc danh hiệu Phật A Di Đà, đọc đến ba mươi sáu vạn tỷ, chỉ một câu đã khiến chúng ta kinh ngạc. Mãi đến giờ cứ tưởng con người là vĩ đại nhất, không ngờ số lượng Phật còn nhiều hơn chúng ta, còn vĩ đại hơn. Thực ra, con người không nên thường nghĩ mình vĩ đại nhất, thực tế con người rất nhỏ bé.

Nói về trái đất, so với bất kì hành tinh nào khác, trái đất cũng chỉ là một chấm nhỏ mà thôi. Khi chúng ta lấy thái dương hệ của mình, lấy trái đất của mình để so sánh với tất cả các hành tinh, sẽ thấy được trái đất nơi loài người chúng ta đang sống nhỏ bé đến nhường nào. Nói về sự giàu có, dĩ nhiên hiện tại chúng ta đang sống trên trái đất, tự cho rằng nó rất lớn, có thể trái đất rất giàu có. Nhưng nào ngờ, những hành tinh kia như mặt trời, sao Thiên Vương, sao Diêm Vương, sao Hỏa, sao Thổ, rất nhiều hành tinh đều lớn hơn và giàu có hơn trái đất chúng ta. Hóa ra, trái đất chỉ là một giọt nước nhỏ sinh ra từ cái hắt hơi của mặt trời mà thôi. Vì vậy, về mặt giàu có, giống như chúng ta cứ nghĩ nhà mình to, chỗ ở rộng là giàu có, thực ra người trái đất mới là nghèo nhất.

Phật nói với trưởng lão Xá Lợi Phất: "Từ đây (nơi thuyết pháp này) đi về phương Tây, qua mười vạn ức cõi Phật." Mười vạn ức cõi Phật xa đến mức nào? Chưa đến được phương Tây đã có đến mười vạn ức cõi Phật. Có thể thấy Tây phương Cực Lạc thế giới xa biết nhường nào!

Trước đây, đại đệ tử thần thông đệ nhất của Phật Thích Ca Mâu Ni đã đến một cõi Phật khác để nghe giảng kinh. Giống như ở đây, ví dụ Lôi Tạng Tự là một cõi Phật, có một vị Phật đang giảng kinh, Ngạn Đình đang ngồi nghe, bỗng có một con muỗi xám bé tí đang bay qua bay lại trước mặt Ngạn Đình. Ngạn Đình thấy con muỗi này sẽ đốt mình, định đuổi nó đi hoặc vỗ cho chết, vị Phật liền bảo Ngạn Đình rằng, đừng đập chết nó, vì con muỗi xám bé nhỏ này chính là Mục Kiền Liên - đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni, ngài đã dùng thần thông từ cõi Ta Bà hiện đến cõi Phật của chúng ta để nghe kinh.

Bạn xem, người ở cõi Ta Bà này xấu xí như muỗi vậy, lại còn bé nhỏ nữa, chỉ có cái miệng há ra là dọa được người ta thôi. Chúng ta thử nghĩ xem, người ở các cõi Phật khác to lớn biết bao, còn người cõi Ta Bà của chúng ta thì bé nhỏ biết bao. Vũ trụ này vĩ đại vô cùng, không hề nhỏ bé như trong trí óc con người chúng ta tưởng tượng.

Tôi xin kể một ví dụ đơn giản. Khi hai quốc gia đang giao tranh với nhau, khi hai cường quốc trên thế giới đang đánh nhau, trong con mắt của Phật, chỉ giống như hai con vi khuẩn đang đánh nhau trên một góc rất nhỏ như râu của con ốc sên vậy. Vì thế, việc hai con vi khuẩn đánh nhau trên râu ốc sên thì liên quan gì đến Phật Thích Ca Mâu Ni?

Trước đây có người đến nói với tôi rằng: "Lư Thắng Ngạn ơi, ông nói có Phật, vậy tại sao Phật không giúp tôi? Ông nói có Phật, sao Phật không giúp đất nước tự do của chúng ta? Tại sao Phật để cho nhiều người phải chịu sự đàn áp của chính quyền xấu xa, khiến nhiều người phải chết chóc thương vong?" Vậy bây giờ, tôi xin hỏi ngược lại mọi người: "Các vị có quan tâm đến cuộc chiến của vi khuẩn không? Các vị có quan tâm con vi khuẩn nào thắng con vi khuẩn nào không?" Phật nhìn chúng sinh cũng giống như nhìn vi khuẩn đánh nhau vậy. Đây là hiện tượng tự nhiên, nếu các vị không tu hành, không thành Phật, thì cũng giống như những con vi khuẩn đó thôi. Tôi đã nói với người đó rằng: "Con người chỉ có thể tự cứu mình, không thể dựa vào người khác để cứu, cũng không thể dựa vào Phật để cứu."

"Qua mười vạn ức cõi Phật, có một thế giới tên là Cực Lạc." Riêng hai chữ "Cực Lạc" này cũng cần phải giải thích rất lâu. Cõi Cực Lạc, nói chung, là một thế giới không có khổ đau và phiền não, nên gọi là Cực Lạc, là hương vị an lạc tối thượng. Không có niềm vui nào vui hơn niềm vui này nên gọi là Cực Lạc. Niềm vui của con người chúng ta thường phải trải qua đau khổ mới có được niềm vui. Người Trung Quốc có câu nói rất hay, niềm vui tột độ gọi là "thống khoái" [khoái lạc thống khổ]. "Thống khoái quá!" Các triết gia nói rằng, niềm vui lớn nhất, đau khổ nhất chính là "lạc cực sinh bi", vui đến cực điểm thì sinh ra bi thương. Khổ đau chính là niềm vui, niềm vui cũng là khổ đau, nhưng ở thế giới Cực Lạc này không có khổ đau. Trong cõi tịnh thổ này, trong thế giới Cực Lạc như vậy có một vị Phật, danh hiệu của Ngài là A Di Đà. Danh hiệu A Di Đà này có nhiều tên gọi khác, còn được gọi là Vô Lượng Quang (vô lượng ánh sáng), Vô Lượng Thọ (vô lượng thọ mạng).

"Nay" có nghĩa là hiện tại, "đang thuyết pháp". Vào thời đó, cách đây hơn hai nghìn năm đang thuyết pháp, nhưng bây giờ, có đang thuyết pháp không? "Hiện tại vẫn đang thuyết pháp", tuy nhiên thuyết pháp cũng có lúc tạm dừng để uống trà; còn hiện tại đang uống trà hay đang thuyết pháp? Tôi không biết. Tôi nghĩ, khi Phật nói A Di Đà Phật hiện đang thuyết pháp là nói về thời điểm đó đang thuyết pháp. Tuy nhiên, nếu suy rộng ra, vì dù Phật đang ăn cơm, đang ngủ, đang đi lại, hay đang uống trà, tất cả đều là đang thuyết pháp.

Bây giờ thuyết pháp đã kết thúc! Vừa rồi Phật đang thuyết pháp, bây giờ nghỉ ngơi.

Om mani padme hum.


### 37. Xá Lợi Phất! Vì sao cõi ấy gọi là Cực Lạc… chỉ hưởng các điều vui, nên gọi là Cực Lạc.


Kinh văn: 

"Này Xá Lợi Phất! Vì sao cõi ấy gọi là Cực Lạc? Vì chúng sinh trong cõi nước đó không có các nỗi khổ, chỉ hưởng các điều vui, nên gọi là Cực Lạc."

Ý nghĩa của câu này là: Tại sao cõi này gọi là thế giới Cực Lạc? Vì chúng sinh ở cõi nước này không có các nỗi khổ, chỉ hưởng thụ tất cả niềm vui, nên gọi là Cực Lạc. Hai chữ Cực Lạc cần được giải thích, nghĩa là trong cõi này không có khổ, chỉ có vui.

Trong đây có giải thích về chữ "Lạc", lạc là gì? Trong này có nói đến "sinh chốn vui", giống như sự ra đời của chúng ta, niềm vui khi sinh ra ở đó, nhưng ở cõi người chúng ta thì sinh là khổ, không phải sinh là vui. Thế nào gọi là sinh khổ? Khi người mẹ sinh con, nhất định phải chịu đau đớn như xé xương, đó là cơn đau khi sinh nở, đó chính là khổ, có người nói nếu dưới đất có lỗ thì cũng chui xuống, khổ đến vậy đó! Nam giới không phải chịu đựng điều này, nữ giới rất khổ. Cho nên nam nữ vốn dĩ không bình đẳng, phụ nữ phải chịu đựng nhiều đau khổ hơn nam giới, nên dù có đề xướng nam nữ bình đẳng, thực tế vẫn là không bình đẳng.

Ở đây nói rằng, khi sinh ra lúc nhỏ, dĩ nhiên bạn đã quên đi những nỗi khổ đó, khi còn trong bụng mẹ, bạn đang trải nghiệm sự khổ nhưng đã quên mất rồi. Bạn có biết xung quanh toàn là những dòng máu hôi tanh bao quanh bạn, khi mẹ không ăn cơm, bạn cũng bị đói trong đó. Tôi nói cho bạn biết, bạn hít thở được rất ít, hai mắt nhắm nghiền chỉ thấy tối tăm mờ mịt, nằm trong đó mười tháng khó thở vô cùng. Bạn nghĩ khi da ngứa có thể gãi được không? Tôi nói cho bạn biết, khi nằm trong bụng mẹ, da có ngứa đến mấy cũng không thể gãi được, nỗi khổ lúc đó còn hơn bất kì nỗi khổ nào. Khi bạn có thể cử động, duỗi tay duỗi chân cũng không thể phá vỡ được thành bụng. Hãy nghĩ xem, bị giam mười tháng, giam trong bóng tối không thấy ánh sáng, giống như ở trong tù vậy, đó gọi là nỗi khổ khi sinh ra.

Vậy thì nói về sự sinh ra ở Tây phương Cực Lạc thế giới, được gọi là niềm vui khi sinh, đó là một mùi hương thơm ngát, rất vi diệu, như hương thơm của hoa vậy, hoa vừa nở là người đã sinh ra. Khi con người sinh ra ở cõi này, toàn thân đều dơ bẩn; nhưng sinh ra ở cõi Phật thì khác hẳn, giống như hương thơm của hoa vậy, toàn thân đều thanh tịnh, vi diệu, đó chính là sinh ra ở chốn vui.

Tiếp theo nói về "sống ở chốn vui". Hiện nay chúng ta đang sống trên trái đất, tất nhiên nước Mỹ có môi trường sống tốt hơn so với các nước khác. Lấy ví dụ như Nepal - nơi Mật tông đang hưng thịnh nhất hiện nay, môi trường vệ sinh ở đó rất kém, trên đường đầy phân, trẻ em có thể đi tiểu ngay trên phố, trâu bò, dê, heo đi lại trên đường, đi bộ phải hết sức cẩn thận! Nói về môi trường, chúng ta sống ở Seattle, Mỹ, mùa đông rất lạnh, có tuyết rơi, có lúc lạnh đến nỗi phải mặc nhiều quần áo, đến mùa hè lại nóng bức, toát mồ hôi.

Thế giới Cực Lạc cũng có vàng, tuy nhiên, vàng ở thế giới Cực Lạc được dùng làm đường đi, lát đất bằng vàng thật, không giống như Nepal lát đường bằng phân. Dĩ nhiên rồi, thử nghĩ xem, nếu chúng ta thấy đường phố toàn vàng, toàn những khối vàng, làm sao không nhặt ngay? Ở đó, thời tiết thế giới Cực Lạc vừa phải, giống như khách sạn sang trọng hiện nay có điều hòa không khí, có điều chỉnh nhiệt độ, nhiệt độ và không khí vô cùng dễ chịu. Vào mùa hè không đổ mồ hôi, mùa đông không bị lạnh cóng tay chân. Nơi chúng ta ở đó là những ngôi nhà thủy tinh tuyệt đẹp, nhà vàng, nhà kim cương, nhà mã não, tất cả đều đẹp như vậy. Tất nhiên, không có chuyện động đất San Francisco hay động đất Los Angeles, đó chính là sống ở chốn vui, nơi ở vô cùng an lạc.

Tiếp theo nói về "niềm vui khi nhìn thấy sắc tướng" ở thế giới Cực Lạc. Niềm vui khi nhìn thấy sắc tướng này không phải là kêu bạn về phố Hoa Tây ở Đài Loan! Niềm vui khi nhìn thấy sắc tướng này cũng không phải là đi xem các show diễn giải trí, hay những màn biểu diễn hở hang, không phải vậy. Vậy niềm vui khi nhìn thấy sắc tướng là gì? Đó là khi bạn nhìn thấy những cảnh tượng vô cùng đẹp đẽ, tất cả những gì mắt thấy đều khiến tâm hồn vui thích. Ví như nhìn thấy mặt đất bằng vàng, vô cùng rực rỡ và đẹp đẽ; nhìn thấy cung điện, nhà cửa bằng pha lê vô cùng tráng lệ; nhìn thấy cây cối mọc rất kỳ diệu; nhìn thấy dòng nước chảy rất đẹp; nhìn thấy những con chim đầy màu sắc rực rỡ, và rất hiền hòa, đều biết chào hỏi bạn.

Tiếp đến là "niềm vui khi nghe âm thanh", đó là niềm vui khi được nghe các loại âm thanh. Niềm vui khi nghe âm thanh là gì? Ở thế giới Cực Lạc có một loại âm nhạc, giống như tiếng tụng kinh Phạn âm, luôn vang vọng trong không trung, rất vi diệu, cứ thế từ từ trôi đi, trôi đi, đi vào tai này rồi lại trôi ra tai kia của bạn, lúc đó, vì được nghe loại âm nhạc ấy, thân thể cảm thấy vô cùng thanh tịnh.

Hiện tại nơi ở của chúng ta ở Seattle này cũng khá tốt, không có những tiếng ồn đặc biệt nào, chỉ có buổi sáng có tiếng quạ kêu mà thôi. Tuy nhiên, tiếng quạ kêu cũng là đang tụng chú đấy! Nó đang tụng âm "Ah" trong thần chú "Om Ah Hum". Khi chúng ta nghe thấy quạ biết tụng chú, thật là kỳ diệu, tôi nghĩ con quạ này trong tương lai đều có thể thành Phật, bởi vì chữ "Ah" này rất quan trọng. Khi chúng sinh bị tổn thương, âm thanh đầu tiên phát ra chính là "Ah". Niệm chữ "Ah" này đều có thể thành Phật.

Ở thế giới Cực Lạc có một loại âm nhạc rất vi diệu, khi nó chảy qua tâm bạn, chảy qua thân thể bạn, khiến cho thân tâm bạn đều được thanh tịnh, khi nghe được âm nhạc như vậy, bạn sẽ muốn cùng ca hát, cùng niệm Phật với nó, trong lòng sẽ sinh ra niềm vui. Dòng chảy pháp âm này không bao giờ ngừng nghỉ, vì vậy mới gọi là thế giới Cực Lạc.

Bởi vì những người sinh ra ở đó đều do hoa sen hóa sinh, mồ hôi chảy ra đều là mồ hôi thơm, hơi thở tỏa ra đều là hơi thở thơm, quần áo không có bụi bẩn, nên tất nhiên không cần phải tắm rửa, cũng không có mùi hôi miệng. Bạn biết đấy, ở cõi người rất dơ bẩn, cơ thể tiết ra mồ hôi hôi, trong tai rất bẩn, mắt có ghèn, mũi có gỉ mũi, mỗi ngày phải ngoáy cho sạch, không ngoáy thì không sạch được. Bạn nghĩ hôn nhau là sạch sẽ sao? Đó là truyền vi khuẩn đấy, trong lỗ chân lông toàn là vi khuẩn! Tất nhiên, chưa kể đến chất thải nữa. Tất cả những thứ này ở thế giới Cực Lạc đều không có! Bởi vì đó là do hoa sen hóa sinh, không phải do tinh huyết hóa sinh, mà là do hoa sen hóa sinh, điều này hoàn toàn khác biệt. Vì vậy những niềm vui này đều không thể nghĩ bàn, là những điều chúng ta ở cõi người không thể tưởng tượng được, niềm vui như vậy mới gọi là Cực Lạc.

Nhiều người nói rằng: "Chỉ có ở cõi người mới có niềm vui." Họ không hiểu rằng, niềm vui chốc lát chính là nỗi buồn vĩnh hằng! Thực tế, các triết gia đã từng nói một câu: "Niềm vui chốc lát chính là nỗi buồn vĩnh hằng." Chính vì cái niềm vui chốc lát đó mà phải nuôi dưỡng cả một đời, cho đến khi học xong đại học. Tôi nói cho bạn biết, khi nó cười bạn phải cười theo, khi nó bệnh bạn phải bệnh theo, khi nó khóc bạn phải ở bên cạnh khóc cùng. Nói chung, niềm vui ở cõi người đều rất ngắn ngủi, tạm bợ.

Niềm vui ở cõi Phật là niềm vui không thể nghĩ bàn, còn niềm vui chân chính chính là "sự tịch tĩnh chân chính", chính là "Niết bàn chân chính hoàn toàn", chỉ có trong tịch tĩnh mới có niềm vui chân chính. Nhiều người hỏi tôi: "Thế giới Cực Lạc rốt cuộc vui sướng như thế nào? Nếu giống như cõi người thì chúng ta cần gì phải về đó?" Tuy nhiên, niềm vui ở Tây phương Cực Lạc là niềm vui vĩnh hằng hơn, tịch tĩnh hơn, và bền vững hơn; trong khi niềm vui ở cõi người thì dơ bẩn hơn, ngắn ngủi hơn, như hoa quỳnh sớm nở tối tàn vậy.

"Tại sao cõi này được gọi là Cực Lạc?" Bởi vì tất cả những gì được thọ dụng ở cõi này đều chỉ có niềm vui mà không có khổ. Đâu như ở cõi người có một nỗi khổ gọi là sinh ly tử biệt, tin rằng nỗi khổ sinh ly tử biệt này rất nhiều người đã trải qua. Ngoài ra còn có một nỗi khổ gọi là ghét mà phải gặp, ghét mà phải gặp có nghĩa là, người mà bạn rất ghét, lại cứ suốt ngày bám theo bạn; còn người mà bạn rất thích, lại ở cách xa nghìn trùng núi, vạn dặm sông. Giống như trong văn phòng luôn có một người mà bạn rất ghét, và người đó đi đến đâu cũng như một gián điệp theo dõi bạn đến đó, điều này trong cách nói của người Trung Quốc gọi là "gặp tiểu nhân", đây chính là ghét mà phải gặp.

Điều này thường xảy ra ở cõi người, không chỉ giữa cha mẹ và con cái có ghét mà phải gặp, mà giữa anh chị em cũng có ghét mà phải gặp, bạn bè cũng có ghét mà phải gặp, vợ chồng cũng có ghét mà phải gặp, nếu không phải là ghét mà phải gặp thì đã chẳng kết hôn. Tuy nhiên, người Trung Quốc thì có khả năng chịu đựng hơn, dù có ghét mà phải gặp nhưng vẫn không ly hôn; còn người phương Tây thì thực tế hơn, sáng còn gọi nhau là "cục cưng ơi", "honey", đến tối không thoải mái là đã ly hôn rồi.

Ở thế giới Tây phương Cực Lạc không có chuyện ghét mà phải gặp đâu, không có! Giả sử bạn ở thế giới Cực Lạc bỗng nhiên gặp lại kẻ thù ở cõi người cũng được sinh về đó, bạn có thể nổi giận. Nhưng điều đó sẽ không xảy ra! Tại sao không? Bởi vì những người được sinh về thế giới Cực Lạc đều là những người có tu dưỡng, có tâm vô lượng, và kẻ thù ở cõi người kia, có thể được sinh về thế giới Cực Lạc chính là vì họ đã được bạn cảm hóa, biến oán thù thành thiện hữu, vì vậy các bạn đã cùng nhau sinh về thế giới Cực Lạc, đây không còn là kẻ thù nữa, mà là người bạn tốt, người bạn thân thiện, là đạo hữu tu hành tốt.

Vì vậy khi bạn ở thế giới Tây phương Cực Lạc, gặp kẻ thù từ cõi người, đừng nghĩ rằng: "Ôi không! Hỏng rồi! Tiểu nhân lại đến nữa." Cứ yên tâm! Chỉ những người có lòng độ lượng, tâm vô lượng mới được sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc. Những người còn tâm đấu tranh sẽ sinh vào cõi người, đường súc sinh, địa ngục, ngạ quỷ, atula. Chỉ khi từ bỏ được tâm đấu tranh mới có thể sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc. Nếu bạn vẫn còn tâm đấu tranh mà được sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc, thì tất cả chư Phật Bồ Tát sẽ nói: "Ôi không! Hỏng rồi, tiểu nhân đến kìa." Người đó sẽ đi mách lẻo với tất cả chư Phật Bồ Tát, lại đến thế giới Tây phương Cực Lạc để gây rối, ly gián mọi người.

Chúng ta nói rằng thế giới Tây phương Cực Lạc là thế giới Cực Lạc chính là vì không có những điều này, không có đấu tranh, không có mách lẻo, không có ly gián, cho nên mới gọi là thế giới Cực Lạc!
Muốn về thế giới Tây phương Cực Lạc, nhất định phải:
Phải có lòng tin.
Phải niệm Phật.
Phải nương vào sự tu hành của chính mình.
Và phối hợp với lực nhiếp thọ của chư Phật Bồ Tát mới có thể về được.

Bất kể là tôn giáo nào, nhất định phải tu tâm cho thật thiện lành, hành vi cho thật đoan chính. Nếu chỉ muốn nương vào lực của Phật mà nói rằng: "Tâm con không thiện lành, hành vi cũng không đoan chính, xin Phật cứu con là được." Không được đâu! Bởi vì bạn vẫn còn là tiểu nhân, "small person"! Mong rằng mỗi người chúng ta, hãy học tập tâm lượng rộng lớn, hành vi đoan chính, đây là điều kiện đầu tiên để về Tây phương.
Om mani padme hum.


### 38. Lại nữa, Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc… vì thế nên cõi ấy gọi là Cực Lạc


Kinh văn:

"Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc có bảy lớp lan can, bảy lớp lưới giăng, bảy lớp hàng cây, tất cả đều được bao quanh bởi bốn loại báu, vì thế nên cõi ấy gọi là Cực Lạc."

Nói đến "bảy lớp lan can" nghĩa là gì? Đó chính là có bảy lớp lan can bao quanh và giới định phạm vi của cõi Cực Lạc. Mọi người chắc sẽ thấy rất lạ, tại sao cõi Cực Lạc lại cần đặt lan can? Nghe như để ngăn không cho tội nhân trốn ra, hay để ngăn người khác vào vậy? Tuy nhiên những lan can này rất trang nghiêm và đẹp đẽ, như một ranh giới. Phạm vi của Phật quốc Cực Lạc này được tạo nên rất đẹp. Theo cá nhân tôi, nếu không có những lan can này cũng sẽ có vấn đề; bởi vì theo như tôi biết, bên cạnh Phật quốc Cực Lạc có một cung điện gọi là Nghi Thành Thai Cung.

Những người sống trong Nghi Thành Thai Cung này chính là "những người niệm Phật với tâm nghi ngờ", họ sống trong thành nghi hoặc.

Thế nào gọi là Thai Cung? Thai Cung là nơi của những người sinh ra từ thai, giống như chúng ta hiện nay là thai sinh; nhưng ở Phật quốc Cực Lạc là hóa sinh từ hoa sen, có hương thơm khác biệt, có mùi hương đặc biệt, còn chúng ta thai sinh này có khí trọc đặc biệt, khác nhau, không khí hít thở cũng khác. Dù sao thì những người thai sinh đều ở trong Thai Cung này. Những người có tâm nghi ngờ và thai sinh họ cũng niệm Phật, nhưng không còn cách nào khác, vì họ là người thai sinh và có tâm nghi ngờ, nên chỉ có thể ở trong Nghi Thành Thai Cung này. Điều này trong kinh Phật rất ít đề cập đến, đây là điều tôi biết được. Những lan can này bao quanh, những người đó không thể vào được, người bên trong không phải là không thể ra ngoài, mà là người bên ngoài không thể vào được, không để khí trọc này quấy nhiễu Phật quốc Cực Lạc. Vì vậy những lan can này được thiết lập để trang nghiêm Phật quốc Cực Lạc, tổng cộng có bảy lớp.

Ngoài ra, "bảy lớp lưới giăng" nghĩa là gì? Tôi biết rằng trên vũ trụ của chúng ta có Ngọc Hoàng Đại Đế, nơi đó có một tấm lưới gọi là "Đế võng", trong mỗi điểm giao nhau của lưới đều có một viên minh châu; tấm lưới đó được giăng trên không trung, bao quanh toàn bộ Phật quốc của Đế Thích, tại mỗi điểm giao nhau của sợi tơ đều có một viên minh châu, cho nên gọi là Đế võng minh châu.

Ở thế giới Cực Lạc, Đế võng minh châu này có tất cả bảy lớp, bảy tầng Đế võng minh châu trải khắp hư không. Những ánh sáng đó trang nghiêm cho ánh sáng của Phật quốc Cực Lạc. Như hôm nay chúng ta bước ra ngoài, nhìn bầu trời Seattle không thấy một ngôi sao nào vì trời mưa; nhưng khi nhìn bầu trời thế giới Cực Lạc, có bảy lớp minh châu treo lơ lửng giữa hư không, vô cùng đẹp đẽ, như thể chúng ta đang xem pháo hoa mỗi đêm vậy, đó là sự trang nghiêm của hàng nghìn viên ngọc tỏa sáng. Hàng nghìn, hàng vạn viên minh châu trong không trung, tỏa ánh sáng chiếu rọi Phật quốc Cực Lạc, khiến quốc độ này vô cùng trang nghiêm.

Lần trước tôi giảng: Tại sao ở Phật quốc Cực Lạc, tâm trạng của mọi người đều vô cùng hoan hỷ? Bởi vì Phật quốc Cực Lạc tạo ra một loại âm nhạc vô cùng tuyệt diệu, thường xuyên lan tỏa khắp nơi, khiến trong tâm mỗi người đều cảm nhận được âm nhạc hoan hỷ đó, ai ai cũng vui vẻ, vì vậy mới gọi là Cực Lạc.

Ở cõi Phật Cực Lạc còn có "bảy lớp hàng cây", tức là có bảy tầng cây, khi cây lay động sẽ tạo ra một loại âm nhạc vô cùng tuyệt diệu, hoan hỷ, lan tỏa vào tâm của mỗi người trong Phật quốc, khiến ai ai cũng cực kì hạnh phúc, đó chính là Cực Lạc. Dù muốn hay không bạn cũng phải hạnh phúc thôi! Âm nhạc hoan hỷ đó đi vào tai, không cho phép một chút phiền não nào sinh khởi, hai chân sẽ nhảy múa vì hạnh phúc. Bất kì ai vừa có ý nghĩ phiền não, khi âm điệu hoan hỷ vang lên đều không thể cưỡng lại được, chỉ có thể hạnh phúc mà thôi. Âm thanh hoan hỷ này cũng chính là để trang nghiêm toàn bộ cõi nước Cực Lạc.

Thậm chí những lan can này, cùng với lưới giăng trên không trung, và tất cả hàng cây đều được làm bằng bốn loại báu vật vô cùng quý giá. Tại sao Phật quốc Cực Lạc lại hoan hỷ đến vậy? Nguyên nhân chính là vì có bảy lớp lan can, bảy lớp lưới giăng trên không, và bảy lớp hàng cây này, mới tạo thành một Phật quốc Cực Lạc.

Tuy nhiên không khí ở Seattle thực sự tốt hơn Tokyo và Hong Kong rất nhiều. Ở Tokyo và Hong Kong, chỉ cần ở một ngày là lỗ mũi đã đen rồi. Không khí ở Seattle tốt hơn một chút, có lẽ phải mất vài ngày lỗ mũi mới đen. Ở thế giới Cực Lạc thì hoàn toàn khác, quần áo không cần giặt, không đổ mồ hôi, cơ thể tự tỏa hương thơm, là một mùi hương kết hợp giữa hoa và một loại khí đặc biệt, khó có thể diễn tả được. Và nó luôn giữ nguyên như vậy, không bị biến chất, không bị hư hỏng. Ở Seattle chúng ta có thể nhìn thấy rất xa, các ngọn núi phía xa đều nhìn thấy rõ ràng, còn núi ở Tokyo và Hong Kong do không khí ô nhiễm nên trông có vẻ mờ ảo.

Ở thế giới Tây phương Cực Lạc, tất cả đều như đang trôi bồng bềnh. Không khí hoàn toàn như đang lơ lửng, mùi hương cũng như đang phiêu đãng, âm thanh cũng vậy, thậm chí ngay cả thân thể cũng như đang trôi nổi, tạo cảm giác vô cùng sảng khoái. Khi tôi ở nơi đó, có lúc nhìn các vị Phật Bồ Tát mà không thể mở mắt ra được, các ngài còn rực rỡ hơn cả kim cương VVS thượng hạng, tỏa ra ánh sáng vô cùng chói lọi, lấp lánh trước mặt. Vì vậy, các vị Phật Bồ Tát ở đó đều vô cùng thanh khiết, tinh khiết, và tỏa ra mùi hương vi diệu khó tả.

Thực ra, có rất nhiều thứ trên trái đất mà chúng ta không thể nhìn thấy được. Chỉ cần rời khỏi trái đất và lên không gian, ở đó có nhiều điều vượt xa trí tưởng tượng của con người. Ví dụ như vành đai của sao Thổ, nếu không có kiến thức khoa học và hiểu biết về vũ trụ, làm sao chúng ta có thể tưởng tượng được sao Thổ lại có vành đai đẹp đến vậy? Chúng ta cũng khó mà hình dung được trên sao Diêm Vương có rất nhiều khoáng thạch quý hiếm, còn lấp lánh hơn cả kim cương. Vũ trụ có vô vàn điều kỳ diệu mà kiến thức hiện tại của loài người không thể nào tưởng tượng được. Vì vậy, Phật quốc Tây phương Cực Lạc không phải là không có thật! Đây là điều mà chính Phật Thích Ca Mâu Ni đã thuyết giảng.

Tôi cũng đã từng đến nơi đó và tôi nghĩ tương lai mình cũng sẽ đến đó. Tuy nhiên, sau khi đến đó rồi, tôi vẫn phải quay về, bởi vì cõi người có hơi ấm! Ở thế giới Tây phương Cực Lạc lâu ngày, có lẽ sẽ cảm thấy cô đơn. Ở thế giới Tây phương Cực Lạc, mỗi ngày đều hạnh phúc, không có việc gì để làm, cũng rất cô đơn! Không trách được các vị Phật Bồ Tát phải đến cõi người để độ chúng sinh! Bởi vì cõi người vẫn có chút hơi ấm.

Om mani padme hum.


### 39. Lại nữa, Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc có… thành tựu công đức trang nghiêm như thế


Kinh văn:

"Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc có ao bảy báu, nước tám công đức tràn đầy trong đó, đáy ao thuần dùng cát vàng trải đất. Bốn bên thềm bậc được làm bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê hợp thành. Phía trên có lầu gác, cũng được trang hoàng bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xà cừ, hồng ngọc, mã não. Trong ao có hoa sen to như bánh xe, màu xanh ánh sáng xanh, màu vàng ánh sáng vàng, màu đỏ ánh sáng đỏ, màu trắng ánh sáng trắng, hương thơm tinh khiết vi diệu. Này Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm như thế."

Chúng ta hãy tiếp tục giảng Kinh A Di Đà, tôi xin đọc lại đoạn kinh văn hôm nay: "Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc có ao bảy báu, nước tám công đức tràn đầy trong đó, đáy ao thuần dùng cát vàng trải đất. Bốn bên thềm bậc được làm bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê hợp thành. Phía trên có lầu gác, cũng được trang hoàng bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xà cừ, hồng ngọc, mã não. Trong ao có hoa sen to như bánh xe, màu xanh ánh sáng xanh, màu vàng ánh sáng vàng, màu đỏ ánh sáng đỏ, màu trắng ánh sáng trắng, hương thơm tinh khiết vi diệu. Này Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm như thế."

Điều này có nghĩa là, tại cõi Cực Lạc, nơi ở rất tốt đẹp, mọi thứ được sinh ra cũng rất tốt đẹp, sinh ra ở đó rất hạnh phúc, sống ở đó cũng rất hạnh phúc.

"Ao bảy báu" là ao được trang hoàng bằng bảy loại báu vật vô cùng đẹp đẽ.

Có "nước tám công đức tràn đầy trong đó", vậy nước tám công đức là gì? Thứ nhất, nước này vô cùng thanh tịnh, không có chút ô nhiễm nào. Ví dụ nước hồ Washington của chúng ta là hồ ở cõi người nên bị ô nhiễm; bản chất của nước tám công đức rất trong, rất sạch, nó rất mát mẻ, chúng ta biết rằng nước này uống vào rất ngọt, có vị ngọt, uống vào đều ngọt; mọi người hãy đến thế giới Tây phương Cực Lạc, rất tuyệt! Vì Thượng sư thích nhất món tráng miệng là nước đường cho nên răng mới bị hỏng, có lẽ là vì vậy; tôi tin rằng nước đường ở thế giới Tây phương Cực Lạc uống vào không làm hỏng răng. Nước này nhẹ nhàng và mềm mại, nước trơn láng và tươi mát, khiến thân tâm đều rất an hòa, nghe tiếng nước còn có thể tạo ra tâm trạng hoan hỷ và khinh an, còn có thể khiến tất cả mọi người đều cảm thấy được tăng thêm lợi ích vô cùng, có thể khiến pháp thân của chính mình đều được tăng ích.

Đạo tổ của Đạo giáo Trung Quốc ngày xưa - Lão Tử, ngài là tổ sư của Đạo gia, cũng rất sùng bái nước. Bản thân tôi cũng rất thích nước, tôi nhìn thấy nước là vui vẻ, còn Sư Mẫu nhìn thấy nước là chóng mặt. Vì tôi thích nước, và từ nhỏ tôi đã biết bơi, còn Sư Mẫu mỗi khi bơi là chìm xuống luôn! Có lẽ là vì trong 12 cung hoàng đạo phương Tây, tôi thuộc cung Cự Giải (Con Cua). Tại sao tôi lại thích nước? Bởi vì nước mạnh mẽ nhất, khi nước lớn đến, không có gì có thể cản được. Điều này cho thấy khi chúng ta hoằng pháp, giống như sóng thần vậy, sẽ cuốn sạch tất cả mọi thứ.

Nước cũng là thứ yếu ớt nhất, vì nước luôn chảy xuống chỗ thấp, bản tính của nước có thể rửa sạch mọi ô uế trên thân người, kể cả tất cả những ô uế trong vũ trụ, tất cả đều có thể rửa sạch.

Tính chịu đựng của nước cũng là tốt nhất, bạn phải biết rằng, dùng vật tròn để đựng nước, nước sẽ trở thành tròn, dùng vật vuông để đựng nước, nước lại trở thành vuông.

Nước lại là thứ biến hóa muôn hình vạn trạng, bạn bảo nước rất nông ư? Khi nông thì rất nông, nhưng khi sâu thì còn cao hơn cả dãy Himalaya.

Sức mạnh của nước rất nhỏ sao? Nước có thể xuyên qua đá, cũng có thể xuyên qua vàng. Sức mạnh của nước khiến bạn không thể chặt đứt, chỉ cần có một lỗ nhỏ, nó liền chui vào. Khi nước lũ thực sự đến, không thứ gì có thể cản được.

Nước là thứ thuận theo tự nhiên nhất, khi thế đất thấp, nó sẽ chảy xuống; khi thế đất cao, nó sẽ dâng lên; vì vậy công đức của nước là vô tận, không thể nói hết được. Nếu con người có thể học được công đức của nước, tức là đã đạt được trí tuệ, vì nước là thứ có trí tuệ nhất. Tôi rất thích nước nên mới nói về những điều tốt đẹp của nó. Bởi vì ở thế giới Tây phương Cực Lạc cũng có rất nhiều ao nước, nếu đạt được nước, sẽ hiểu được cách nhập định vào tam muội của nước, sẽ đạt được biện tài, khéo ăn nói, khi thì nói về hình tròn, khi thì nói về hình vuông, khi thì nói về hình tam giác, khi thì nói về hình thoi.

Tuyệt vời nhất chính là nước ở thế giới Tây phương Cực Lạc! Đáy ao được lát bằng cát vàng. Bản thân tôi không thích vàng lắm, vàng vật chất ấy, tôi không thích. Nhưng tôi thích màu sắc của nó. Cho nên lần sau đến thế giới Tây phương Cực Lạc, có thể nhảy từ hoa sen xuống nước, xuống tận đáy ao nhìn cát vàng, lén vốc một nắm cát vàng, mang về cõi người là thành đại gia. Ở đây viết rằng "đáy ao thuần dùng cát vàng trải đất", không có bụi bẩn, cũng không có ô nhiễm, "bốn bên thềm bậc, đều dùng bốn báu vật bao quanh". Chúng ta chỉ cần nhìn thấy ao như vậy, nói thật, đôi mắt đều vô cùng hoan hỷ; đôi mắt vô cùng hoan hỷ, chính là "thấy sắc vui", thấy sắc vui thay! Sắc này chẳng phải sắc kia. Cảnh giới vi diệu như vậy, chính là niềm vui của Phật quốc Cực Lạc.

Ngoài ra, tôi muốn nói về hoa sen! Lần trước tôi đã từng nói về thế giới Tây phương Cực Lạc, khi nhìn thấy những đóa hoa sen từng đóa một, những đóa hoa sen mà tôi nhìn thấy, đều "lớn như bánh xe", to bằng bánh xe vậy, có rất nhiều màu sắc khác nhau. Ở đây nói rằng: "Màu xanh tỏa ánh xanh, màu vàng tỏa ánh vàng, màu đỏ tỏa ánh đỏ, màu trắng tỏa ánh trắng, tất cả đều vô cùng vi diệu và rất thơm ngát." Có người hỏi: "Thưa Thượng sư, Ma Ha Song Liên Trì này rốt cuộc ở đâu trong thế giới Tây phương Cực Lạc?" Tôi sẽ nói cho mọi người một bí mật, không biết trước đây đã từng nói chưa? Ma Ha Song Liên Trì chính là đôi mắt của Phật Nhãn Phật Mẫu. Mọi người sẽ nghĩ: "Hai mắt của Phật nhỏ như vậy, làm sao chứa được nhiều hoa sen đến thế?" Mọi người đừng nói rằng hai mắt của Phật nhỏ! Trong kinh điển viết rằng, đôi mắt của Phật vô cùng thanh tịnh, vô cùng sáng ngời, như ánh sáng của nước ở phương Tây vừa nói đến; hơn nữa, trong kinh Phật nói rằng, một mắt của Phật to bằng bốn đại dương. Một mắt đã to bằng các đại dương của chúng ta, vậy hai mắt còn lớn hơn cả trái đất. Vậy đầu của Phật to đến mức nào? Chúng ta không dám tưởng tượng! Cho nên trong mắt Phật, chúng ta thực sự còn chưa đáng là một hạt cát. Vì vậy đừng nghĩ rằng Ma Ha Song Liên Trì nhỏ bé, chỉ đi vài người là đã đầy. Tất cả chúng ta cùng đi, cũng chỉ như "lấp góc tường" (tiếng Đài) mà thôi! Nghĩa là tất cả chúng ta cùng đi, cũng chỉ chiếm một góc tường mà thôi.

Phật A Di Đà dạy rằng, chỉ cần chúng ta niệm Phật, một người niệm Phật, một người sẽ về Tây phương, mười người niệm Phật, mười người sẽ về Tây phương. Khi niệm Phật, thế giới Tây phương Cực Lạc sẽ nở ra một đóa hoa sen, niệm một thời gian, nhưng sau đó không niệm nữa, đóa hoa sen đó sẽ khép lại và biến mất. Vì vậy chúng ta phải niệm cho đến khi về được nơi đó. Khi chúng ta niệm đến cuối cùng, người ở đây không còn nữa, thì sẽ sinh ra ở bên đó; đây là điều Phật đã dạy, phải có lòng kiên trì, bạn mới có thể vãng sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc; không có lòng kiên trì, đóa hoa đó cũng sẽ héo tàn, điều này là hoàn toàn chân thật.

Bản thân tôi cũng đã từng đến đó, vô cùng chân thật! Bởi vì từ khoảng 9 giờ tối tôi đã nhìn thấy liên tục cho đến 7 giờ sáng, suốt một đêm chỉ để ngắm nhìn cảnh sắc của thế giới Tây phương Cực Lạc. Như tôi đã nói tối nay, tôi đã từng đến thế giới Tây phương Cực Lạc, có lẽ mọi người sẽ nghĩ rằng tôi đang nói mơ, nhưng tôi muốn nói với mọi người một câu: "Vô cùng chân thật!" Nếu như trước đây 99% là lời nói dối, thì câu này hoàn toàn là sự thật, tôi chỉ mong mọi người tin vào câu nói này của tôi, đây thực sự là lời đã được rèn giũa nghìn lần, tinh khiết như vàng ròng!

Hôm nay tôi lập nên tông phái này là vì tôi thực sự đã đến đó rồi mới trở về, nên tôi mới dám lập nên tông phái này. Nếu câu nói hôm nay của tôi là giả, thì tất cả đều là rỗng không, đều là giả dối. Bởi vì câu này là thật, nên tất cả đều là thật. Hôm nay tôi đưa ra chứng minh như vậy, nói lên sự chứng minh này, đều là lời chân thật, là lời thực tế; Phật A Di Đà đang ở đây, Ngài tràn đầy trong hư không, Ngài biết rằng câu nói này của tôi là thật. Giả sử có người cầm hàng trăm triệu đô la Mỹ, bảo tôi nói câu này, họ nói: "Câu mà ông vừa nói đó, chỉ cần ông nói là giả, tôi sẽ cho ông hàng trăm triệu đô la." Tôi cũng không chấp nhận. Nói đi nói lại cả buổi, cuối cùng vẫn là thật, ông không cần đưa tiền cho tôi, tôi vẫn nói: "Thật!"

Om mani padme hum.


### 40. Lại nữa, Xá Lợi Phất! Cõi Phật ấy… đến giờ ăn liền trở về cõi nước của mình, thọ trai, kinh hành. 


Kinh văn:

"Lại nữa, Xá Lợi Phất! Cõi Phật ấy thường nổi thiên nhạc, mặt đất bằng vàng ròng. Ngày đêm sáu thời, mưa hoa mandala từ trên trời rơi xuống. Chúng sinh cõi ấy, thường vào mỗi sáng sớm, đều dùng y phục đựng các hoa đẹp vi diệu, đem cúng dường mười vạn ức Phật ở phương khác, đến giờ ăn liền trở về cõi nước của mình, thọ trai, kinh hành."

Đây chính là nói về âm nhạc cõi trời ở thế giới Tây phương Cực Lạc. Lần trước tôi đã nói về âm nhạc cõi trời này, khi nghe sẽ khiến người ta cảm thấy vô cùng hoan hỷ, vô cùng vi diệu, vô cùng nhẹ nhàng. Ngay cả kẻ trộm khi nghe được loại âm nhạc này cũng quên mất việc đi trộm cắp; còn những tên cướp, khi nghe được âm nhạc này, tâm hung ác và lửa sân hận của chúng cũng bị dập tắt như nước dội vào. Vì vậy, những kẻ sát nhân, những người phạm tội này đều nên được đưa đến thế giới Tây phương Cực Lạc để nghe loại âm nhạc này, bởi vì sau khi được âm nhạc này tẩy rửa, những người xấu đều sẽ trở thành người tốt. Lần sau khi đến thế giới Tây phương Cực Lạc, tôi đề nghị trước tiên hãy mang âm nhạc này ra cho mọi người nghe thử, đem phát trong tất cả các nhà tù, tâm mọi người đều sẽ trở nên tốt đẹp.

Ở cõi nước này "mặt đất bằng vàng ròng", mặt đất được làm bằng vàng. Tôi vẫn thường nghĩ, tại sao ở cõi này mọi người không tranh giành lợi ích để kiếm tiền, không điên cuồng tìm kiếm tiền bạc, vàng bạc, kim cương, tại sao người dân ở cõi này lại sống hòa thuận đến vậy? Tôi nghĩ điều này là có lý do, bởi vì khắp mặt đất đều là vàng! Những viên đá ở nhân gian này đều là vàng ròng, vậy còn cần vàng để làm gì nữa? Bởi vì chỉ khi không có mới thấy quý, đã là vàng khắp nơi rồi thì còn tranh giành những viên đá đó làm gì? Vì vậy người ở cõi Phật A Di Đà, họ sống rất hòa thuận với nhau, không tranh giành vàng bạc.

Ở đó, vào sáu thời trong ngày đêm, từ trên trời có những đóa hoa tuyệt đẹp rơi xuống, đây chính là một loại "niềm vui của màu sắc". Chúng sinh ở cõi Phật thường dùng những vật đựng trong sạch nhất, đặt vào đó những "phẩm vật cúng dường vi diệu", rồi đi đến các cõi Phật khác để cúng dường chư Phật, Bồ Tát ở những cõi đó. Chúng sinh ở thế giới Cực Lạc có thể biến hóa ra nhiều vật phẩm, rồi đem đi cúng dường tất cả chư Phật, Bồ Tát.

Mọi người sẽ thấy kỳ lạ, những thức ăn và những vật phẩm tinh xảo đẹp đẽ đó từ đâu mà có? Trước đây tôi đã từng xem "Công chúa ngủ trong rừng", có ba vị thiên thần dùng đũa phép chạm một cái là biến ra đồ vật. Ở thế giới Cực Lạc của Phật cũng tương tự như vậy, nhưng họ không cần dùng đến đũa phép, không phải như thế; khi bạn ở Phật quốc Cực Lạc, muốn ăn món gì thì món đó sẽ hiện ra trước mặt bạn, khi nó xuất hiện, không cần phải dùng tay lấy, nó sẽ từ từ bay đến miệng, bạn có thể ăn ngay. Sau đó những thứ này, dù là thức ăn hay những vật phẩm tốt đẹp nhất, ăn còn dư thừa, bạn vẫn có thể đem đi cúng dường chư Phật Bồ Tát khác, có thể cúng dường mười vạn ức Phật, mười vạn ức Phật ở các cõi Phật khác, tôi cảm thấy điều này thật không thể nghĩ bàn.

Ở Phật quốc Cực Lạc có rất nhiều điều tuyệt diệu, khi bạn nghĩ đến việc muốn mặc trang phục nào, trên thân đã có sẵn bộ trang phục đó, khi bạn muốn ăn món gì, món đó đã hiện ra trước mặt bạn, hoàn toàn có thể thỏa mãn mọi điều mong muốn trong tâm, vì vậy mới gọi là Cực Lạc.

Vừa rồi tôi nói về "mưa hoa mandala", đây là một loại hoa. Ví như khi chúng ta muốn thưởng thức một đóa hoa, chúng ta phải đi mua cây cảnh để trồng, phải mua cây giống về trồng, phải chuẩn bị đất, phải diệt trừ sâu bọ, phải bón phân, còn phải có mùa thuận lợi, đủ nước, hoa mới nở được! Vì quá phiền phức như vậy nên nhà tôi không có hoa thật. Nhà tôi tuy có hoa, nhưng đó là hoa nhựa, toàn là hoa giả, trông có vẻ đẹp nhưng ngửi không có mùi hương. Ở cõi Phật Tây phương Cực Lạc, không cần phải tự chuẩn bị đất, không cần bón phân, diệt trừ sâu bọ, không cần phải trồng, hoa cũng không héo tàn sau vài ngày nở.

Những đóa hoa này rơi xuống từ bầu trời, khi chúng sinh ở cõi Phật nhìn thấy hoa, họ đều cảm thấy vô cùng hoan hỷ, những đóa hoa đẹp như vậy ngày nào cũng rơi xuống cho mọi người chiêm ngưỡng. Những bông hoa rơi xuống không phải là hoa nhựa đâu, mà là hoa thật, vô cùng đẹp đẽ, và đang nở rộ, vì vậy mới gọi là "mưa hoa mandala". Đừng nghĩ rằng những đóa hoa rơi xuống này giống như hoa hồng ở nhân gian có gai nhọn; theo kinh điển mô tả, những đóa hoa này rất mềm mại và vừa ý, khi chạm vào bạn sẽ cảm thấy: "Ôi, thật tuyệt vời quá!", không giống như hoa hồng có gai, chạm vào là bị thương. Vì vậy, nói như thế này, tất cả đều là cảnh giới không thể nghĩ bàn, vô cùng không thể nghĩ bàn.

Ngoài ra, ở thế giới Cực Lạc, mọi người nghĩ rằng muốn đi cúng dường các cõi Phật khác thì phải lái xe đi phải không? Phải lái xe à? Đi tàu hỏa? Đi máy bay? Nếu không thì từ cõi này đến cõi khác xa như vậy, phải không? Phải làm sao đây? Trong kinh điển nói rằng, người ở Phật quốc đều có thần túc thông. Giống như thế nào? Được rồi! Bạn đang ăn ở đây, muốn cúng dường Phật, gói ghém phần thức ăn còn lại, chỉ trong nháy mắt, đã đến được cõi Phật khác rồi quay về, thức ăn của bạn vẫn còn ở đây, không ai ăn trộm mất, điều này cho thấy việc đi lại, "ăn uống đi lại" đều có thần thông qua lại, trong một sát-na có thể đi về, thật không thể nghĩ bàn.

Giống như chúng ta ăn cơm phải dùng bát để đựng, phải lấy bát đựng thức ăn mới có thể ăn được. Nhiều người không thích ăn cua và tôm, họ nói không phải vì không ngon, mà vì phải bóc vỏ, rất phiền phức và khó chịu; chỉ ăn phần thịt thì rất ngon, nhưng bóc vỏ thì quá khó; hỏi họ tại sao không muốn ăn? Còn phải rửa bát nữa! Nhưng ở thế giới Cực Lạc thì khác, sau khi dùng bát đựng thức ăn cho bạn ăn xong, cái bát sẽ tự động biến mất, không cần rửa, nó không còn nữa. Khi tôm cua xuất hiện, chúng đã tự động tách vỏ. Vì vậy, có rất nhiều điều tốt! Mọi người hãy đến đó để hưởng thụ nhé! Một nơi tốt đẹp như vậy quả thật không thể tìm thấy ở nhân gian, tôi nghĩ ngay cả cá ở đó cũng không có xương. Nếu có xương cá, hoặc có vỏ, hoặc còn phải rửa bát, chúng ta đều không muốn đến. Ý của tôi là nói rằng, ở thế giới Cực Lạc không có khổ, ngay cả một chút khổ nhỏ cũng không có, hoàn toàn là một Phật quốc cực lạc.

Trong kinh nói: "Vì Phật quốc Cực Lạc có rất nhiều điều tốt đẹp như vậy, nên mọi người tu hành đều lấy thế giới Tây phương Cực Lạc làm mục tiêu". Chúng ta có niềm vui từ thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác và xúc giác, quan trọng nhất là có pháp lạc, đó là niềm vui của việc tu hành. Ở đó vì có rất nhiều niềm vui dành cho bạn, và còn có pháp lạc, nên bạn hiểu được cách tu hành, tương lai đều có thể trở thành vị Phật kế thừa, bạn chính là vị Phật trong tương lai, sau khi tu hành sẽ thành Phật được.

Ở đây có một câu nói rằng: "Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm như thế". Thực ra thiên quốc này, trong Cơ Đốc giáo thường nói đến thiên đường, trong Đạo giáo cũng đề cập đến cõi trời, trên trời cũng có niềm vui như vậy!

Tôi đã từng đến cõi trời Đế Thích, cõi trời Đế Thích chính là cung trời Đao Lợi, nơi đó cũng rất đẹp. Khi ra ngoài, chúng tôi ngồi trên xe bay có bánh xe rất êm ái. Do cõi trời này chỉ ở trên đỉnh núi Tu Di, gần với nhân gian, nên ở đó vẫn có chợ. Cõi trời này khác với cõi trời ở Tây phương Cực Lạc, ở Cực Lạc chỉ cần khởi ý nghĩ là có ngay, còn ở đây vẫn có mua bán, chỉ là các vị thiên nhân ở đây đều rất giàu có. Các bạn tưởng rằng khi tôi nói về sự giàu có này, chắc là họ chuyển tiền từ ngân hàng Mỹ lên cõi trời Đao Lợi để đổi tiền, họ nghĩ rằng giữa cõi trời Đao Lợi và ngân hàng Mỹ có trung tâm đổi tiền, nhưng không phải vậy! Tùy theo công đức đã làm ở nhân gian, sau khi sinh lên cõi trời Đao Lợi, việc mua bán ở đó rất đơn giản, thích món đồ trang sức nào, thích thức ăn gì, những thứ đẹp đẽ quý giá, bạn muốn có, họ có thể bán cho bạn, người bán sẽ đưa tay xin tiền, nhưng tiền từ đâu ra? Tiền sẽ ra từ các lỗ chân lông trên cơ thể, các lỗ chân lông sẽ mở ra và tiết ra một đồng vàng, như một đồng tiền vậy, đó chính là tiền để mua đồ. Tiền đó từ đâu ra? Tiền đó chính là công đức đã làm ở nhân gian, biến thành tiền công đức ẩn trong các lỗ chân lông trên cơ thể, dùng công đức để mua những thứ này. Vì vậy, khi thích món đồ nào, nhìn thấy thích, công đức sẽ tự nhiên từ cơ thể chảy ra để trao đổi, rồi mang đồ về.

Khi mua sắm quá nhiều, hưởng thụ đủ rồi, những công đức trong người không còn nữa, ôi chao! Bạn liền trở thành người nghèo! Ở cõi trời, nếu khi không còn công đức, những bông hoa cài trên đầu sẽ héo úa; quần áo đẹp đẽ đang mặc sẽ bắt đầu dơ bẩn; thân thể vốn tỏa ra hương thơm công đức, giờ lại chảy ra mồ hôi hôi; thân thể vốn rất nhẹ nhàng, bỗng nhiên cảm thấy rất nặng nề, không thể bay được; tâm hồn vốn luôn vui vẻ, bỗng nhiên cảm thấy bồn chồn, phiền não. Đây chính là khi phước báu ở cõi trời đã hưởng hết, bắt đầu phải đầu thai xuống nhân gian, hoặc đọa xuống địa ngục. Những người ở cõi trời tưởng rằng được hưởng phước trên trời là tốt lắm, nhưng thực ra một khi phước báu ở cõi trời đã hết, lại phải tiếp tục luân hồi.

Vì vậy, thiên quốc và thế giới Cực Lạc là khác nhau, ở thế giới Cực Lạc vì phước báu vô tận, có nhiều pháp lạc, và còn có thể tu hành, nên có thể tiếp tục tu hành, tiếp tục tiến bộ. Ở thiên quốc chỉ có hưởng phước, khi phước hết thì không còn gì. Vì thế trong Kinh Thánh có câu nói rằng: đến lúc đó mọi người sẽ cùng Chúa Jesus làm vua một nghìn năm, có giới hạn thời gian, sau một nghìn năm làm vua rồi, lại không biết phải làm sao? Cho nên thiên quốc của Cơ Đốc giáo và thế giới Cực Lạc của Phật giáo là hai nơi khác nhau. Công đức ở thế giới Cực Lạc là vô tận, không thể nói hết được.

Trước đây, khi chúng ta nghe những điều này đều cảm thấy rất kỳ diệu và khó tin, nhưng với sự phát triển dần dần của khoa học, ngày nay đã có cửa tự động, không cần phải đẩy cửa bằng tay, cửa tự mở. Thức ăn đôi khi cũng được chế biến sẵn, như ở Philippines có một loại cá mắt to thật sự không có xương. Vì vậy trong tương lai, nếu ai có thể phát minh ra cách ăn cua không cần bóc vỏ, ăn tôm không cần bóc vỏ, tôi nghĩ chắc chắn sẽ có rất nhiều người muốn ăn. Hôm nay chúng ta giảng pháp đến đây.

Om mani padme hum.


### 41. Lại nữa, Xá Lợi Phất! Cõi ấy thường có… đều niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng.


Kinh văn:

"Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Cõi ấy thường có các loại chim kỳ diệu đủ màu sắc: bạch hạc, khổng tước, anh vũ, xá lợi, ca lăng tần già, và chim cộng mạng. Các loài chim ấy, ngày đêm sáu thời, hót lên âm thanh hòa nhã, diễn xướng các pháp như ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần, bát thánh đạo phần; chúng sinh trong cõi ấy nghe những âm thanh này rồi, hết thảy đều niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng."

Trước tiên tôi đọc đoạn kinh văn: "Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Cõi ấy thường có các loại chim kỳ diệu đủ màu sắc: bạch hạc, khổng tước, anh vũ, xá lợi, ca lăng tần già, và chim cộng mạng. Các loài chim ấy, ngày đêm sáu thời, hót lên âm thanh hòa nhã, diễn xướng các pháp như ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần, bát thánh đạo phần; chúng sinh trong cõi ấy nghe những âm thanh này rồi, hết thảy đều niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng."

Trước đây, chúng tôi đã từng đặt câu hỏi rằng: "Thế giới Tây phương Cực Lạc toàn là hóa sinh từ hoa sen, vậy tại sao lại có chim bay trên trời? Điều này là sao?" Đây là một câu hỏi hay! Bởi vì ở thế giới Tây phương Cực Lạc không có đạo súc sinh, vậy tại sao lại có những con chim bay lượn trên không trung như vậy? Theo lời giải thích của Phật, tất cả những con chim bay lượn trong thế giới Tây phương Cực Lạc đều do Phật A Di Đà biến hóa ra.

Âm thanh hay nhất trên thế giới là âm thanh gì? Có người nói đó là âm nhạc, âm nhạc hay là tốt nhất, nhưng dường như âm nhạc hiện đại không hẳn là hay, có nhiều loại nhạc không thực sự tốt. Có lúc chúng tôi tò mò, có đệ tử mở vũ trường, đệ tử này mời chúng tôi đến, vừa bước vào, âm thanh thật không chịu nổi, như sấm đánh vậy. Trước đây khi còn đi học tôi cũng từng học nhảy twist, học nhảy soul, nhảy soul và twist đều nhảy khá tốt, nhưng bây giờ không còn thịnh hành twist và soul nữa, mà thịnh hành cái gọi là disco, nhìn quả thật như ngã lên ngã xuống! Tiếng trống trong vũ trường và những tiếng kêu thảm thiết đó, nghe chẳng khác gì tiếng ồn trong lò mổ, giống như tiếng mổ lợn vậy! Âm nhạc đó, chúng tôi vừa bước vào đã phải bịt tai lại.

Tôi nhớ trước đây thầy dạy nhạc của tôi từng kể một câu chuyện: Có một người đang nổi cơn thịnh nộ, cầm dao định giết một nhạc sĩ. Vị nhạc sĩ liền chạy sang một bên, lập tức mở đàn piano ra và chơi một bản Ánh Trăng. Vừa khi tiếng đàn vang lên, trời như tối đi và trăng hiện ra, tạo nên một khung cảnh thật đẹp! Có những cây xinh đẹp, trên cây có nhiều chim đang hót! Người hung thủ ban đầu cầm dao định giết nhạc sĩ, khi nghe thấy âm nhạc tuyệt vời như vậy, anh ta đã quên mất ý định giết nhạc sĩ. Vị nhạc sĩ lại chơi tiếp những âm thanh như dòng nước chảy, từ một nơi rất xa, một dòng suối nhỏ, nước chảy rất nhẹ nhàng, chảy mãi về phương xa! Người hung thủ vốn đang rất tức giận trong lòng, khi nghe thấy âm thanh dòng nước tuyệt diệu này, cơn giận trong lòng lập tức tan biến, bàn tay đang cầm dao cũng buông xuống. Nhạc sĩ lại chơi thêm những giai điệu làm tâm hồn tràn ngập niềm vui, người hung thủ vẫn cầm dao, bắt đầu nhẹ nhàng đu đưa, chân nhẹ nhàng trượt theo, nhảy điệu valse.

Âm nhạc có thể gột rửa tâm hồn con người, những con chim mà Phật A Di Đà hóa hiện trong hư không chính là để hát những bài ca này nhằm thanh tẩy tâm hồn mọi người, loài chim này được gọi là chim cộng mạng. Tiếng hót của chúng khiến cho tâm người hướng về Phật, pháp, tăng, và điều thiện. Những gì chim này hót ra đều là pháp, đều là Phật pháp, chúng không hót lung tung. Giống như loài chim có tiếng hót hay nhất - chim họa mi, khi chim họa mi cất tiếng hót, âm thanh đều rất tuyệt vời. Những con chim mà chúng ta thấy ở thế giới Tây phương Cực Lạc đều do chính Phật A Di Đà biến hóa ra.

Việc này làm tôi nhớ lại trước đây khi bố vợ tôi sắp qua đời, lúc đó tôi đang sống ở Ballard, bố vợ tôi họ Lư, tên là Lư Kim Thủy. Một ngày trước khi ông mất, Địa Tạng Vương Bồ Tát đã dẫn bố vợ tôi đến bên giường tôi, Địa Tạng Vương Bồ Tát nói với tôi: "Bố vợ ngài có một chút nghiệp chướng, đời sau sẽ chuyển kiếp thành chim." Tôi nói: "Nếu được làm chim ở thế giới Tây phương Cực Lạc thì tốt quá!" Bởi vì tôi biết chim ở thế giới Tây phương Cực Lạc cũng như đã thành Phật, chúng đều diễn pháp, hót lên những âm thanh tuyệt diệu và còn dạy pháp cho người khác. Nhưng không phải vậy! Ngài nói: "Cả đời ông ấy làm người cũng tốt, chỉ là thích vui chơi." Thích vui chơi như thế nào? Bởi vì ông rất thích đi du lịch, đã từng đến mũi Nga Loan hơn mười lần, từng đi chơi Bành Hồ cũng nhiều lần, như đến núi Dương Minh, đến hồ Nhật Nguyệt, nhiều đến không đếm xuể, du lịch chính là niềm vui lớn nhất trong đời ông.

Tại sao lại chuyển kiếp thành chim? Bởi vì cả đời ông ấy đến già vẫn cứ bay đi bay lại khắp nơi để du lịch, tâm của ông ấy giống như chim vậy, ngày nào cũng bay. Vì thế Địa Tạng Vương Bồ Tát tính toán một hồi lâu rồi nói: "Làm chim là tốt nhất." Đây chính là nhân quả, nếu chúng ta thích du lịch thì kiếp sau có thể sẽ làm chim. Thế là tôi nói: "Làm sao có thể như vậy được? Tôi là Lư Thắng Ngạn, bố vợ tôi cũng họ Lư, nên vợ tôi cũng họ Lư. Thật kỳ lạ, bố vợ của Lư Thắng Ngạn lại chuyển sinh vào đường súc sinh, như vậy không phải là... mất mặt lắm sao?" Tôi nói: "Như vậy thì không thể giữ được thể diện!" Địa Tạng Vương Bồ Tát hỏi: "Vậy phải làm sao?" Tôi nói: "Bây giờ tôi không biết phải nói gì với Ngài, tóm lại, xin Bồ Tát nghĩ cách là được." Địa Tạng Vương Bồ Tát rất khó xử, nhưng rồi linh cảm chợt đến, linh cảm của Bồ Tát rất sáng suốt, Ngài nói: "Bố vợ ngài tuy cả đời thích đi đây đi đó, nhưng chưa từng đi nước ngoài, không có duyên với nước ngoài, nên tương lai chuyển kiếp chỉ có thể chuyển sinh ở Đài Loan." Bồ Tát suy nghĩ một lúc rồi nói: "Được rồi, có một cách, ở Đài Loan vừa hay có một địa danh gọi là Điểu Tùng Hương." Nơi này nằm bên cạnh Phượng Sơn thuộc Cao Hùng, ngay cạnh hồ Trừng Thanh, có một địa danh gọi là Điểu Tùng Hương, đó là một vùng nông thôn rất đẹp, non xanh nước biếc. Theo lời Bồ Tát, đưa ông ấy đến Điểu Tùng Hương để đầu thai làm người, lấy cái vốn là sẽ sinh làm chim, thêm vào chữ Tùng Hương, thành ra Điểu Tùng Hương. Người này là Lư Kim Thủy, từ chuyển thế làm chim, rồi thêm vào Tùng Hương, đây gọi là "lách luật" (tiếng Đài). Cứ thế, để ông ấy chuyển thế đến Điểu Tùng Hương, đây là vấn đề giữ chút thể diện.

Sáng sớm hôm sau, điện thoại từ Đài Loan gọi đến báo tin bố vợ tôi đã qua đời. Tôi đã biết trước tin này sớm hơn họ gần một ngày, đây là sự thật! Đây là một chuyện rất thật! Người chuyển kiếp thành chim cũng không tốt lắm, vẫn là đường súc sinh, súc sinh đạo là noãn sinh, chim là noãn sinh. May mắn thay, tôi có chút giao tình với Địa Tạng Vương Bồ Tát, chỉ cần thêm hai chữ vào sau chữ "điểu" (chim) là có thể chuyển thành người, lần sau tôi phải gửi chút quà tặng Địa Tạng Vương Bồ Tát. Điều này chỉ là vì chúng tôi có tu pháp, nên có thể trao đổi với Bồ Tát, có thể điều chỉnh một chút, không thể thay đổi hoàn toàn. Chuyển thế thành chim, rồi đổi thành chuyển thế ở Điểu Tùng Hương, thực ra cũng không khác nhau là mấy.

Những con chim này có thể "phát ra âm thanh vi diệu" - những âm thanh tuyệt vời nhất. Tôi nghĩ rằng phần lớn những người có khả năng ca hát đều là chim chuyển kiếp, à! Tôi không nói về những con chim bình thường trong thế gian này, mà là những con chim do Phật A Di Đà hóa hiện ở thế giới Tây phương Cực Lạc trên thiên giới; những con chim này còn có thể thuyết pháp, chúng có thể giảng về ba mươi bảy đạo phẩm, tức là những gì được nói trong kinh Phật về ba mươi bảy đạo phẩm, nói về "giới, định, huệ", được chia thành bảy phần. Mặc dù cảnh giới của con người cao hơn chim, nhưng thực ra cảnh giới của con người chúng ta cũng chẳng cao siêu gì cho lắm.

Bây giờ chúng ta nói về "bốn niệm", bốn niệm xứ cũng nằm trong ba mươi bảy đạo phẩm. Chúng ta phải thường xuyên quán tưởng rằng thân thể của chúng ta không phải là hoàn toàn thanh sạch, sự không thanh sạch của thân thể được chia thành bảy loại, bảy loại bất tịnh, chúng ta phải luôn nghĩ như vậy.

Thứ nhất là "chủng tử bất tịnh". Thực ra chủng tử của con người chính là tế bào, và tế bào không thanh sạch.

Thứ hai là "thọ sinh bất tịnh". Ngoài tế bào không thanh sạch ra, khi chúng ta thọ sinh là lúc bất tịnh nhất, bởi vì khi con người được sinh ra, trong bào thai của mẹ, xung quanh toàn là những thứ dơ bẩn bao bọc, máu bẩn bao quanh chúng ta, đó chính là chỗ ở không sạch sẽ.

Sau đó "thức ăn cũng bất tịnh", giống như chúng ta ăn những thứ mà mẹ đã tiêu hóa, những gì còn lại chúng ta hấp thụ, những gì mẹ ăn vào, tiêu hóa rồi lại phân phối cho chúng ta.

"Khi sinh ra cũng không sạch sẽ", bởi vì lúc sinh ra có rất nhiều thứ dơ bẩn cùng ra một lúc.

Chúng ta toàn thân đều không sạch sẽ, lớp da bên ngoài của chúng ta tuy trông có vẻ sạch sẽ một chút, nhưng thực ra bên trong đều không sạch, nói cho cùng ngay cả bề mặt cũng không sạch. Nhiều cô gái rất giỏi trang điểm, trước đây tôi coi việc các cô trang điểm như là đang quét sơn vậy, cô đang quét sơn khuôn mặt đấy. Thực ra, có hai hạng người biết rõ nhất các cô có đẹp hay không, có người nói thế này, đó là người giao sữa buổi sáng, bởi vì lúc đó các cô vừa mới thức dậy chưa kịp trang điểm, mở cửa ra lấy sữa, nhìn thấy mặt là giật mình ngay. Sau khi "quét sơn" xong thì trông như tiên nữ, còn khi chưa "quét sơn" thì trông như ác quỷ, khiến người ta phải sợ chết khiếp.

Có người hỏi tôi chỗ nào sạch sẽ? Trước đây tôi đã từng nói: "Ngay trong nhà vệ sinh bạn cũng có thể tu pháp." Tôi có một đệ tử hỏi tôi, anh ấy nói cha mẹ không cho anh tu pháp, anh sống trong nhà, rất chật hẹp, không có chỗ tu pháp. Tôi nói sao anh không tu pháp trong nhà vệ sinh! Anh ấy nói thế nào, anh ấy nói: "Nhà vệ sinh rất dơ, làm sao có thể tu pháp trong đó được?" Tôi nói với anh ấy: "Trong cơ thể anh cũng có nhà vệ sinh, chỉ là một cái ở trong, một cái ở ngoài mà thôi."

Hành giả Mật tông chân chính biết rằng, trên đời không có nơi nào là sạch sẽ, cũng có thể nói trên đời đâu đâu cũng sạch sẽ. Bạn nghĩ nhà vệ sinh rất bẩn, không thể tu hành ở đó, nhưng thực ra trong bụng bạn toàn là những thứ như trong nhà vệ sinh, bạn nghĩ che đậy như vậy là sạch sao? Thực ra, chỗ nào cũng sạch, cũng có nghĩa là chỗ nào cũng không sạch. Hơn nữa, khi người ta chết đi, cái mùi thịt thối rữa, thối tha đó, ôi chao! Thật là không sạch. Con người có gì đáng nói đâu? Có gì để nói là sạch sẽ đâu, cho nên dù sao thì ai cũng không sạch sẽ, tất cả đều như nhau. Ngoại trừ ở thế giới Tây phương Cực Lạc, mồ hôi chảy ra là mồ hôi thơm, chứ con người bình thường, ngoài việc xức nước hoa, hay bôi phấn thơm, hoặc cố tình tạo ra mùi thơm, thì đều là không sạch. Chúng ta phải thường xuyên nghĩ như vầy: "Thân người không sạch", vì thế chúng ta phải tu hành để về thế giới Tây phương Cực Lạc, nơi đó thanh tịnh nhất.

Ở đó thực sự có những âm nhạc tuyệt vời để nghe, những bài hát chúng ta nghe được ở nhân gian không nhất định đều hay, nhưng ở thế giới Tây phương Cực Lạc, những bài hát nghe được đều là hay nhất, hôm nay giảng kinh đến đây.

Om mani padme hum.


### 42. Diễn thuyết ba mươi bảy đạo phẩm (1)


Hôm nay Thượng sư Liên Hỏa giảng về "Các hành vô thường", vừa hay trong Kinh A Di Đà cũng đề cập đến việc vô thường này. Điều đầu tiên nói đến là thế gian đều rất khổ, chúng ta không cần phải nói thêm về sự khổ của thế gian nữa, trước đây cũng đã nói rồi. Thực ra, dù có giàu có đến đâu, thân thể khỏe mạnh thế nào, địa vị cao đến mấy, mọi thứ đều viên mãn, vẫn có lúc khổ; bởi vì người "có" sẽ muốn "có thêm", nên rất khổ. Như người giàu có, đã có vài triệu rồi, vẫn muốn có vài tỷ, nên rất khổ; người đã có một gia đình viên mãn, vẫn muốn có hai gia đình, ba gia đình, nên cũng rất khổ. Như Sư Tôn cũng rất khổ, vì số nhà 17102 (chú thích: số nhà của Chân Phật Mật Uyển), một vợ! Mãi mãi chỉ một vợ! Căn nhà ở Hồng Kông là tốt nhất, ba vợ bốn bồ (chú thích: số 3747)! [Ở đây Sư Tôn chơi chữ, số 7 có cùng cách phát âm với chữ vợ.] Đừng có ghen tị nhé, vì dù có ghen tị thế nào, cũng không có thời gian, vẫn rất khổ. Thân thể không làm chủ được, dạ dày không tốt, nhìn người khác ăn uống thỏa thích, cũng rất khổ. Ai dám nói thân thể này sẽ không bao giờ bệnh? Như tôi không có thời gian để bệnh, vẫn bị bệnh, tôi thường nói ở Mỹ bao nhiêu năm nay, cũng có một lần bị cảm cúm, chóng mặt ba ngày, đây cũng là khổ.

Kinh A Di Đà giảng về "tâm niệm xứ". Chúng ta biết "các hành vô thường", không chỉ các hành vô thường, mà tâm cũng vô thường. Hôm nay, có rất nhiều đệ tử đến quy y, sau khi quy y với Thượng sư, họ đều như thể đã phát lời thề sẽ mãi mãi đi theo Thượng sư, ai nấy đều tỏ ra trung thành tuyệt đối. Tôi thấy hiện tượng này cũng không tốt lắm, bởi vì chỉ cần có một chút, một tẹo không vừa ý là đã hỏng! Thượng sư làm chín mươi chín điều khiến họ hài lòng, nhưng có một điều không vừa ý, thì lòng trung thành tuyệt đối ấy liền biến thành... không nói nổi nữa! Tâm là vô thường, sẽ thay đổi, tâm người là hay thay đổi! Những lời ngọt ngào, cái sweet talk này cũng không nên tin, sáng còn gọi honey, honey, tối đã đòi divorce [ly hôn]. Vì thế sáng còn nói Thượng sư vĩ đại lắm, tối đã đem trả chứng thư quy y! Đây chính là biểu hiện của tâm cũng vô thường, tâm người là hay thay đổi.

Thời đó, khi tôi mới bắt đầu bái Phật, thành thật mà nói, tôi cũng mắc phải căn bệnh này, đây là tâm người, cũng là chuyện thường tình. Mỗi ngày tôi đều lễ bái Phật Bồ Tát vào buổi sáng. Nhưng có một lần khi tôi xem tướng cho người khác, tôi cầu chỉ dẫn từ chư Phật Bồ Tát, nhưng những gì các ngài chỉ dạy lại hoàn toàn trái ngược với những gì người đó gặp phải, có nghĩa là không chính xác. Có lẽ là do khả năng thông linh của tôi có sai sót, nhưng tôi nghĩ, thật kỳ lạ, chín mươi chín điều Phật Bồ Tát chỉ dạy tôi đều rất chính xác, sao lại có một điều không đúng như vậy? Sáng hôm đó tôi không vào Phật đường lễ bái, khi đi ngang qua Phật đường còn liếc mắt nhìn các ngài, không những thế, còn mấy ngày liền không tụng kinh, thật sự tức giận đến nỗi mắng "đồ tượng gỗ" (tiếng Đài). Ngày xưa tâm tôi như vậy đó, cũng thường dao động, có lúc tu hành chăm chỉ một chút, có lúc lại lười biếng. Khi có cảm ứng sâu sắc thì chúng ta tu hành tương đối nghiêm túc, không có cảm ứng thì chúng ta lại xa rời, đây chính là tâm vô thường, sự biến hóa của tâm.

Sự biến đổi của tâm không chỉ hoàn toàn nói về mặt tôn giáo. Ví dụ trong việc kết bạn, hôm nay người bạn này rất tốt với bạn, nhưng có thể ngày mai đã thay đổi rồi, một người bạn tốt, chỉ cần tâm vừa thay đổi, liền biến thành người chuyên phá đám, phá hoại bạn; ngược lại, cũng có người vốn là kẻ thù, cuối cùng lại trở thành bạn tốt; còn có giữa nam nữ, vốn khi yêu đương là những người bạn rất thân thiết, cuối cùng lại trở thành xa lạ; vợ chồng khi mới cưới đều rất yêu thương nhau, cuối cùng trở thành kẻ thù cũng rất nhiều; đây là gì? Đây chính là "tâm vô thường".

Tâm vô thường này sẽ khiến người vốn rất chính trực bỗng nhiên trở nên rất tham lam; người vốn rất có tu dưỡng bỗng nhiên nổi giận đùng đùng; người vốn rất thông minh bỗng nhiên làm một việc rất ngớ ngẩn. Đây chính là niệm đang biến chuyển, không thể giữ cho niệm mãi mãi chính trực, mãi mãi không nổi giận, mãi mãi thông minh. Nếu chúng ta hiểu được tình huống này rồi, chúng ta phải thu nhiếp tâm này lại. Nếu có thể học cách kiểm soát tâm mình, sẽ có thể kiểm soát được niệm và hành vi. Việc tu hành của chúng ta chính là nắm bắt được tâm, niệm và hành vi này của mình.

Ngoài ra còn có "quán pháp vô ngã", nghĩa là nhìn pháp thế gian, pháp tu hành, đều phải có tư tưởng vô ngã. Thiện pháp vô ngã, pháp tốt không có "ngã", ác pháp cũng không có "ngã". Tay phải chúng ta làm việc thiện, không để tay trái biết. Như tuần trước chúng ta quyên góp tiền từ thiện, chúng ta cũng mời phóng viên đến chụp ảnh, trên báo dường như cũng đăng tin phải không? Ah! Điều này thật là ngại quá! Bởi vì có vẻ như làm việc thiện để được đăng báo, điều này không tốt lắm; tuy nhiên chúng ta cũng xem đó như một sự khích lệ! Chúng ta làm việc thiện, bắt đầu từ việc để mọi người biết làm việc thiện, điều này cũng tốt, không phải là không tốt.

Ý nghĩa của "thiện pháp vô ngã" là:
Khi bạn làm việc thiện, đừng nghĩ rằng mình đang làm việc thiện, đừng nghĩ như vậy.
Thầy tôi còn dạy thêm một điều:
Khi bạn độ chúng sinh, đừng nghĩ rằng "tôi đang độ chúng sinh".
Khi bạn tu pháp, cũng không được nghĩ "tôi đang tu pháp".

Hãy xem việc làm thiện và tu pháp như không phải do ta làm, mà là điều diễn ra một cách tự nhiên, thì công đức đó mới là lớn nhất. Làm việc thiện vì danh tiếng, hoặc tu pháp vì muốn thành Phật, đều là "có mong cầu". Tư tưởng "quán pháp vô ngã" này chính là điều Lão Tử đã nói "không vì gì mà làm", tức là "vô vi nhi vi". Vô vi nhi vi nghĩa là không mong cầu điều gì cả, rồi ta mới làm, đó chính là vô vi nhi vi. Ví như khi chúng ta làm việc thiện, nếu muốn cho tất cả mọi người đều biết ta đang làm việc thiện, thì công đức sẽ nhỏ hơn. Nếu bạn đã âm thầm làm việc thiện, không ai hay biết, nhưng bạn đã làm, thì công đức đó mới lớn. Vì thế mới có cái gọi là dương đức và âm đức, âm đức thì công đức lớn hơn một chút.

Gần đây tôi đã bắt đầu viết một cuốn sách mới, mới chỉ bắt đầu viết thôi, hôm qua mới viết (chú thích: quyển thứ 76), là viết về chuyện tiền kiếp của tôi. Ngay từ đầu, Phật A Di Đà đã kể về việc Liên Hoa Đồng Tử đã rời khỏi Ma Ha Song Liên Trì ở thế giới Tây phương Cực Lạc để đến thế gian này chịu khổ như thế nào. Gần đây vì buổi tối ở nhà yên tĩnh hơn, nên tôi đã lục lại tất cả những ký ức về tiền kiếp trong tâm trí. Trong đó cũng bao gồm nhiều cảnh giới và hình ảnh trong Kinh A Di Đà. Mỗi đêm tôi đều đến thế giới Tây phương Cực Lạc, trở về nơi xưa cũ, nơi đó thật tuyệt vời!

Thật kỳ lạ, khi tôi còn sống ở đây trước đây, mỗi tối đều mơ màng không rõ ràng, còn bây giờ chuyển đến nơi ở mới, có lẽ nhờ ánh sáng hồ chiếu rọi, tâm như tấm gương sáng, nên mọi việc đều hiện lên rõ ràng, như một bộ phim được chiếu lại vậy. Tiền kiếp của tôi, thực sự như một bộ phim được phát lại, viết ra rất rõ ràng. Phật A Di Đà đã từng dặn dò tôi xuống trần gian một chuyến nữa; Bồ Tát Quan Thế Âm cũng chỉ dạy tôi khi xuống trần gian phải từ bi; Bồ Tát Đại Thế Chí cũng nhắc nhở tôi khi xuống trần gian, phải học hỏi trí tuệ thật tốt, nghe ba vị Bồ Tát dạy như vậy, tôi đã khóc rất nhiều.

Trong đó, tôi còn đi vào trong ma cung. Vì sắp xuống trần gian rồi mà, lúc đầu tôi ngồi trên đài sen, ngồi rất thong dong, còn thoải mái hơn cả tấm thảm chúng ta đang đặt chân lên bây giờ, nhưng có lẽ vì nghe Phật A Di Đà thuyết pháp quá vui nên đã duỗi hai chân đạp xuống dưới hoa sen. Ôi! Hỏng rồi! Không ngờ vừa đạp xuống như vậy, trái đất liền rung chuyển, đến cả ma cung cũng rung động, ngay cả Ma Vương trên trời cũng biết được rằng có một Liên Hoa Đồng Tử sắp hạ sinh xuống trần gian, vì thế Ma Vương đã phái mấy trăm thiên ma xuống. Chẳng trách tôi phải chạy trốn như chó mất chủ vậy. Sau này vẫn sẽ gặp lại những điều này, sau này những thiên ma này và Thượng sư vẫn sẽ gặp lại nhau.

Câu chuyện này rất dài, các bạn sẽ được đọc khi sách xuất bản. (Vị Thượng sư phiên dịch hỏi: "Là rất dài hay rất thảm?") "Dài lắm!" Bạn tưởng là thảm sao? Những điều thảm đã qua bớt rồi, đừng thảm thêm nữa. Tôi mong có thể sống tiếp một cách bình an thuận lợi, đừng có quá nhiều ma nạn, bởi vì tôi cảm thấy đã vất vả sống được nửa đời người rồi, nếu còn thêm ma nạn nữa thì thật là mệt mỏi. Tuy nhiên Sư Tôn vẫn ổn, tôi đã đạt được "vô ngã", nên dù có bao nhiêu ma nạn đến, tôi cũng không màng.

Tuy nhiên dù có "vô ngã" đến đâu, khi người thân của mình làm tổn thương mình thì vẫn trở thành "có ngã". Người khác có làm gì mình, mình vẫn giữ được vô ngã, nhưng khi chính người thân làm tổn thương mình, mình lại "có ngã". Điều này cho thấy việc tu hành vẫn còn tình cảm, chưa hoàn toàn đạt đến cảnh giới Không. Nếu mọi người đọc quyển sách "Chứng ngộ tính Không" của tôi, sẽ hiểu được cảnh giới mới này của Thượng sư. Trong quyển sách mới này, tôi cũng rất thẳng thắn, đề cập đến những tư tưởng vô ngã này. Chúng ta học được tư tưởng vô ngã và tư tưởng tự nhiên, thì sẽ dễ thích nghi hơn với thế giới này. Nếu bạn không có tư tưởng tự nhiên, tức là vẫn còn chấp trước; nếu trong tâm vẫn còn một chút ý niệm về ngã, thì vẫn còn đau khổ. Hôm nay, lý do Thượng sư có thể chiến thắng ma, không, không nên nói là chiến thắng, mà là kết bạn với ma, không còn bận tâm điều gì, chính là nhờ có tư tưởng tự nhiên và vô ngã.

Mong rằng mọi người có thể lĩnh hội được tự nhiên, lĩnh hội được vô ngã. Dùng tự nhiên và vô ngã, thì có thể quan sát được "chư hành vô thường" và "tâm vô thường" của thế gian này.

Om mani padme hum. 


### 43. Diễn thuyết ba mươi bảy đạo phẩm (2)


Hôm nay chúng ta giảng Kinh A Di Đà, đang nói về "bốn chính cần" trong ba mươi bảy đạo phẩm. "Chính cần" nghĩa là sự tinh tấn chân chính không có sai lệch.

Tôi thấy có một ví dụ rất hay về tu hành, tu hành giống như khoan gỗ lấy lửa, mỗi ngày nỗ lực tu hành, ắt có ngày sẽ khai ngộ. Lấy ví dụ bản thân mình cho mọi người nghe, mỗi ngày tôi đều dậy đúng giờ, sau đó lái xe đến Chân Phật Mật Uyển, đó chính là nhà cũ của tôi, về đến nhà, vào Phật đường, thắp hương, tu Tứ gia hành, tu xong Tứ gia hành thì viết sách, mỗi ngày cố định viết hai trang; trưa mang cơm hộp, ăn xong nghỉ ngơi một chút, 1 giờ chiều bắt đầu trả lời thư. Thời gian nghỉ trưa cũng là lúc đọc thư, trả lời thư đến 4 giờ thì tan làm. Sau khi tan làm lúc 4 giờ, lại vào Phật đường làm công khóa buổi chiều, đến 5 giờ thì lái xe về nhà; cuộc sống hoàn toàn có quy củ như vậy, thay đổi rất ít, từ trước đến nay đã gần mười mấy, hai mươi năm. Qua Mỹ cũng không khác gì ở Đài Loan là mấy, nếu lúc 4 giờ, vì có khách hay có việc đặc biệt, đợi làm xong việc đặc biệt rồi, vẫn phải tu pháp. Về mặt tu hành, buổi sáng tôi nhất định tu Tứ gia hành, buổi tối nhất định tu pháp Bổn tôn.

Thực ra, tôi tu hành cũng không có phương pháp đặc biệt gì. Có người nói: "Thượng sư chắc chắn phải có phương pháp đặc biệt nào đó, chúng ta phải chú ý xem ngài tu như thế nào." Thực ra không có! Tôi rất bình thường. Điều duy nhất đáng nhắc đến là tâm lý luôn rất an bình, mỗi ngày đều tu pháp cố định như vậy, chưa từng gián đoạn. Khi đi xa, tôi tu pháp trong khách sạn, hoặc tu pháp trên máy bay. Cho nên, nói ra tôi không phải vĩ đại, mà rất bình thường, nhưng trong sự bình thường đó vẫn duy trì mỗi ngày một thời Tứ gia hành, một thời Bổn tôn pháp. Nói đơn giản, có kiên trì thì có thể đắc đạo chứng ngộ.

Trước đây nhiều người hỏi: "Sao thầy viết và xuất bản sách nhanh vậy? Có phải thầy viết buổi sáng, chiều cũng viết, tối không ngủ cũng viết?" Không phải vậy, tôi chỉ đơn giản là viết đều đặn mỗi ngày, và viết hai trang giấy, chỉ vậy thôi, không có ngày nào lười biếng! Vì thế việc tu pháp của tôi cũng giống như viết văn vậy, không có ngày nào lười biếng. Sách của tôi đã xuất bản đến quyển thứ 75, hiện đang viết quyển thứ 76 (chú thích: đến tháng 4 năm 2025 đã xuất bản đến quyển thứ 304), 50 ngày đúng 100 trang giấy, tức là một quyển sách. Đây là gì? Đây chính là "chính cần".

Tôi cảm thấy làm như vậy không có gì vĩ đại, cũng chẳng có gì đặc biệt, nhưng nếu có thể duy trì được thì đó là điều phi thường, đây chính là "khoan gỗ lấy lửa". Trước đây tôi thường nghĩ, khi nào mới có thể đạt được giác ngộ? Phật bảo tôi, mỗi ngày chỉ cần đi một bước là đủ, rồi sẽ đến đích. Tuyệt đối đừng một ngày đi cả nghìn bước, rồi sau đó ngừng lại hai mươi năm, như vậy là vô ích. Mỗi ngày chỉ cần đi một bước, nhất định sẽ đạt được mục tiêu, đây là một phương pháp tu hành. Bạn không thể nói tôi sáng cũng tu, chiều cũng tu, tối cũng tu, nửa đêm cũng tu, một tháng liền không ngủ; nhưng nếu bạn một tháng không ngủ, thì sau đó sẽ phải ngủ liền ba năm! Tu hành kiểu này là lệch lạc, không bình thường.

Trong đây nói rằng, khi tu hành, nếu đã sinh khởi những ý niệm không tốt, chúng ta phải nhanh chóng loại bỏ những ý niệm không tốt đó; nếu chưa sinh khởi những ý niệm không tốt, cũng phải phòng ngừa những ý niệm không tốt thấm vào như dòng nước. Và việc tu hành của chúng ta phải giống như khoan gỗ lấy lửa, bởi vì khoan gỗ lấy lửa phải liên tục khoan, không thể dừng lại, chỉ cần dừng là phải bắt đầu lại từ đầu. Đối với những người đã đạt được diệu pháp này, chúng ta hy vọng họ có thể tiến bộ hơn nữa, đây chính là "bốn chính cần".

Cuộc đời này, như Thượng sư Trịnh vừa nói, chúng ta tu hành đều sẽ gặp chướng ngại; chủ yếu là do đời trước có nhiều tai nạn, tạo nhiều nghiệp, nên trở thành chướng ngại trong việc tu hành. Tôi cảm thấy những chướng ngại của mình hiện giờ đã trở nên rất vi tế, tức là đã trở nên rất nhỏ, tâm lượng cũng trở nên rộng mở hơn, không còn vì những chuyện nhỏ nhặt mà phiền não, có thể nói phiền não đã hóa thành những hạt bụi li ti bay đi. Mấy ngày trước trong thiền định, tôi lại trở về Ma Ha Song Liên Trì, mọi cảnh tượng trong quá khứ hiện ra rõ ràng trước mắt.

Ma Ha Song Liên Trì có mười tám vị Liên Hoa Đồng Tử, mỗi vị được vây quanh bởi năm trăm vị Trung Liên Hoa Đồng Tử, và mỗi vị Trung Liên Hoa Đồng Tử lại được vây quanh bởi năm trăm vị Tiểu Liên Hoa Đồng Tử. Nhớ lại trước khi giáng sinh, mười tám vị Liên Hoa Đồng Tử đều đưa ra ý kiến về việc sau khi xuống trần nên dùng pháp môn nào để độ chúng sinh. Mười tám vị Liên Hoa Đồng Tử đều trình bày kinh nghiệm tu chứng của mình, mỗi vị đều có sự khai ngộ và kiến giải rất thâm sâu, vì vậy Chân Phật Tông chúng ta độ chúng sinh theo nguyên tắc "phương tiện đa môn", tức là sử dụng nhiều pháp môn khác nhau để độ chúng sinh.

Một vị Tiểu Liên Hoa Đồng Tử cũng bước ra phía trước để phát biểu ý kiến, giơ tay hỏi: "Mặc dù con là Tiểu Liên Hoa Đồng Tử chưa chứng đắc thánh quả Như Lai, nhưng con cũng hiểu đạo lý thành Phật." Vị ấy nói: "Bây giờ con có một thắc mắc muốn hỏi chủ tôn, tuy con chưa chứng đắc thánh quả Như Lai, nhưng sau khi giáng sinh, con có thể độ chúng sinh được không? Có thể thuyết pháp không?" Đại Liên Hoa Đồng Tử trả lời: "Người chưa khai ngộ cũng có thể phát tâm độ chúng sinh, cũng có thể thuyết pháp, đây gọi là Bồ Tát phát tâm." Bởi vì khi bạn hiểu được Phật lý, đạo lý của Phật, biết được con đường về nhà, thì có thể chỉ con đường đó cho người khác; mặc dù bản thân chưa từng về nhà, nhưng biết đường thì có thể chỉ dẫn người khác về nhà, đây gọi là Bồ Tát phát tâm. Giống như bây giờ, mọi người nghĩ: "Ôi! Làm sao tôi có thể kêu gọi người khác đến lễ Phật được? Bản thân tôi còn chưa thành Phật mà!" Có người nói: "Từ khi tu hành đến giờ tôi chưa có tương ứng, cũng chẳng có cảm ứng gì, chẳng có gì cả, làm sao tôi dám thuyết pháp?" Nhưng điều đó là có thể, tại sao vậy? Bởi vì bạn biết mặt trăng ở đâu, ngón tay bạn chỉ mặt trăng chính là con đường, biết được đạo lý thành Phật thì có thể thuyết pháp, đây gọi là Bồ Tát phát tâm.

Nếu bạn đã chứng quả Phật, đạt được thánh quả Như Lai, sau đó dùng kinh nghiệm của mình để giảng giải cho chúng sinh nghe, dẫn dắt chúng sinh quay về chính giác, đó gọi là Như Lai ứng thế. Vì thế Bồ Tát phát tâm và Như Lai ứng thế đều là phương pháp độ chúng sinh.

Vị Tiểu Liên Hoa Đồng Tử này vô cùng hoan hỷ vì bản thân cũng có thể đến nhân gian độ chúng sinh. Chính vì Bồ Tát vừa phát tâm như vậy, trên trời liền rơi xuống một quả tiên, sau khi ăn quả tiên này, đạo tâm sẽ kiên cố, vĩnh viễn không thoái lui đạo tâm. Quả tiên này sau này tôi sẽ viết trong sách, thì ra người tặng những quả tiên này cho tất cả Liên Hoa Đồng Tử ăn chính là Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn.

Tôi nhớ lại chuyện trong quá khứ, Phật A Di Đà từng đích thân ủy thác, đến cung Đại Nhật ở pháp giới để gặp Đại Nhật Như Lai, sau đó trở về Ma Ha Song Liên Trì họp hội, rồi tất cả các vị Liên Hoa Đồng Tử mới giáng sinh. Việc giáng sinh không phải là đột ngột rơi xuống trần gian, vì nếu rơi xuống đột ngột sẽ bị vỡ đầu, cho nên phải từng tầng từng tầng đi xuống. Chúng tôi cũng đã đến cõi trời Ma Ê Thủ La, cõi trời Ma Ê Thủ La chính là cõi trời Ma Vương, gặp Ma Vương, Ma Vương nói: "Sau này ta sẽ giả dạng giống như ngươi vậy." Ông ta đến để giúp đỡ chúng ta, để kiểm tra chúng ta, những người tu hành đều sẽ có thử thách.

Thực ra thử thách là điều rất tốt, nó có thể giúp chúng ta đạt được thành tích tốt, tu hành nghiêm túc và vượt qua thử thách. Giống như khi chúng ta lướt sóng ở Hawaii, sóng càng cao, miễn là chúng ta không ngã, rồi lại lướt lên, thì sẽ bay cao hơn nữa. Những thử thách này, sau này khi về già tôi có thể viết ra. Tôi có một trăm cửa ải khó khăn, nhưng tất cả đều đã vượt qua, thì thành Phật rồi, còn nếu không vượt qua được, thì kiếp sau lại đến!

Vì vậy chúng ta đừng sợ khó khăn, đừng sợ ma chướng, càng gặp tai nạn và thử thách lớn, chúng ta càng nâng cao được bản thân, cho nên ma đến là để giúp đỡ chúng ta, ma có rất nhiều điều tốt. Nếu sợ ma và bị ma đánh bại thì sẽ rất tầm thường. Khi tôi ở cõi trời Ma Ê Thủ La, Ma Vương nói với tôi: "Chúng ta là anh em ruột thịt, là bạn tốt, cũng có thể là vợ chồng. Có ma làm bạn đồng hành thì đạo hạnh của ngươi mới có thể vượt trội, không có ma thử thách thì chỉ là phàm phu tầm thường mà thôi."

Tôi mong mọi người đừng phiền não, đừng sợ ma, hãy giữ tâm bình an và thuận theo tự nhiên, rồi xem ma như không có gì, thì kiếp này ở nhân gian sẽ sống rất vui vẻ. Dù ma nạn có lớn đến đâu cũng không thể cản trở được đức tin của Liên Hoa Đồng Tử, bởi vì đạo tâm của bạn vĩnh viễn không thay đổi và không thoái chuyển. Người có đạo tâm không thay đổi, không thoái chuyển, chỉ cần mỗi ngày tu tập, nhất định sẽ trở về Ma Ha Song Liên Trì.

Om mani padme hum.


### 44. Diễn thuyết ba mươi bảy đạo phẩm (3)


Tối nay chúng ta tiếp tục giảng về "bốn như ý túc" trong Kinh A Di Đà.

Như ý túc thứ nhất là "dục như ý túc", tức là có ước muốn và lòng ham thích, ý nguyện tùy tâm. Thứ hai là "niệm như ý túc". Thứ ba là "tấn như ý túc". Thứ tư là "huệ như ý túc". Đây được gọi là "bốn thần túc".

Cái gọi là "dục như ý túc" chính là "dục thần túc". Khi người tu hành chúng ta tu tập đến mức sinh ra pháp lực, sẽ sinh ra một loại thần thông gọi là dục như ý túc, tương tự như câu chúc phúc thường thấy trong thư từ ngày nay - "tâm tưởng sự thành". Dục như ý túc này là trạng thái thần tiên sơ khởi. Chư thiên ở cõi Dục giới vẫn còn ước muốn, họ vẫn thích mặc y phục đẹp đẽ, thưởng thức món ngon, thậm chí kết giao với người đẹp, bởi vì họ vẫn đang ở trong cõi trời còn ước muốn này, nên những ước muốn đó vẫn tồn tại. Khả năng thỏa mãn được những ước muốn ấy chính là "có đầy đủ thần thông về ước muốn".

Mấy ngày trước đây Thượng sư từng đến một cảnh giới thần tiên, gọi là Thiên Hà Thắng Cảnh. Vì những ngày này đều viết về hồi ức chuyện trên trời trong quá khứ, nên đặc biệt trở lại thăm một lần nữa, rồi trở xuống, thường xuyên qua lại như vậy, nên đã thấy được rất nhiều điều kỳ diệu của các vị thần tiên. Những vị thần tiên ở Thiên Hà Thắng Cảnh, họ vẫn còn nhiều dục vọng, nếu nói về cuộc sống của thần tiên, có lẽ mọi người đều không dám tin! Có những vị thần tiên cũng có nhiều bạn gái, điều này không phải là giả đâu.

Vị Thượng sư đến từ Đài Loan hôm trước vừa nói về trầu cau ở Đài Loan, kể cho mọi người nghe: "Ở Thiên Hà Thắng Cảnh cũng có người ăn trầu cau!" Tôi nghĩ lại chuyện trước đây, đã từng có một nơi nào đó trời đổ mưa màu đỏ, tôi đoán có lẽ là do các vị thần tiên ở Thiên Hà Thắng Cảnh ăn trầu cau, họ nhổ nước trầu ra nên mới thành mưa đỏ trên trời. Mọi người thấy lạ lùng không? Sao thần tiên trên trời cũng ăn trầu cau vậy? Thực ra không có gì lạ cả, bởi vì thần tiên ở đó, mọi ước muốn của họ đều được thỏa mãn, khi họ nghĩ về việc ăn trầu cau lúc còn ở nhân gian, chỉ cần muốn ăn, ước muốn vừa sinh khởi, trước mặt họ liền có trầu cau. Họ muốn gì, chỉ cần ước muốn vừa sinh khởi, trước mặt họ liền có thứ đó. Sau khi thành thần tiên, ngay cả những cô gái mà trước đây theo đuổi không được, cũng có thể dùng ý nghĩ biến ra.

Vì vậy cảnh giới của thần tiên vượt xa trí tưởng tượng của các bạn. Không phải cứ nghĩ, ôi, trông đẹp quá! Mặc toàn thiên y! Không cần tắm rửa! Không phải vậy đâu. Cảnh giới của thần tiên chính là - ước muốn, mọi ước muốn của bạn đều được thỏa mãn, cho nên khi làm thần tiên mà muốn tắm sauna, tự nhiên sẽ hiện ra ba hồ tắm sauna cho bạn.

Mọi người chắc chắn sẽ nghĩ rằng Sư Tôn nhất định có "dục thần túc". Đúng vậy, tôi xin nói với mọi người, Sư Tôn có dục thần túc. Tôi có thể kể cho các bạn một chuyện rất thật, ví dụ: bây giờ tôi muốn xem gì, lập tức có thể xem được phim đó; bây giờ muốn nghe loại nhạc nào, lập tức có thể nghe được; bây giờ muốn ăn gì, trong nước miếng liền sinh ra hương vị của món đó, nuốt vào chính là món đó; tôi muốn thứ gì, tuy không thể có ngay lập tức, nhưng cách vài ngày, thậm chí vài tháng, một năm, hoặc vài năm sau tôi đều có thể có được, chắc chắn sẽ có được, đây gọi là "dục thần túc".

Tóm lại, khi ước muốn vừa sinh khởi trong tâm, lập tức cảm nhận được ngay. Mọi người sẽ nghĩ, thật kỳ lạ, Sư Tôn muốn xem gì là có thể xem được ngay, vậy xem vào lúc nào? Khi ngủ thì đã quên sạch hết rồi, chính là lúc vừa đắp chăn lên người, nhắm mắt lại là có thể thấy được, lúc đó vẫn chưa ngủ, vừa hay muốn xem gì thì xem được nấy, cho nên giải thích về dục thần túc chính là "ước muốn điều gì, dục vọng tùy tâm". Dục thần túc là cấp độ sơ cấp nhất, Thượng sư có được dục thần túc này, mọi người tu hành cũng có thể đạt được dục thần túc.

Thứ hai là "niệm thần túc", cũng gọi là "niệm như ý túc". Như hiện giờ, khi Thượng sư vừa nghĩ đến, giống như đã nói trong pháp hội lần trước, đã đến cung Đại Nhật Pháp Giới, từ Đại Nhật Như Lai rồi hạ xuống Ma Ha Song Liên Trì, từ Ma Ha Song Liên Trì đến cõi Ma Vương, từ cõi Ma Vương đến cõi Đao Lợi, từ cõi Đao Lợi đến cõi Đế Thích, từ cõi Đế Thích lại hạ xuống địa ngục, rồi từ địa ngục đến Phổ Đà Sơn, từ Phổ Đà Sơn đến Thiên Hà Thắng Cảnh, cứ xoay chuyển qua lại như vậy, đều là "niệm như ý túc", đó là những trải nghiệm hạ sinh trong tiền kiếp của Thượng sư, không hề quên mất. Điều này không có nghĩa là chúng ta luôn tồn tại trong không gian ba chiều, bốn chiều, năm chiều, luôn luôn lưu chuyển trong quá khứ, hiện tại, tương lai, mà là khi bạn muốn biết về tiền kiếp, chỉ cần chuyển một ý niệm trong tâm trí, những cảnh tượng của tiền kiếp sẽ lần lượt hiện ra trước mắt, đây chính là thần túc thứ hai "niệm thần túc", Thượng sư cũng có điều này.

Vì vậy để đi vào kiếp trước một đời, hai đời, ba đời, thậm chí đến năm trăm đời trước, chỉ cần khởi một ý niệm là có thể nhớ lại tất cả. Năm trăm đời giống như năm trăm bộ phim vậy, nếu muốn biết về bộ phim thứ 499, chỉ cần tìm nó trong máy tính và phát lên xem, đó chính là niệm thần túc. Thượng sư đã tu chứng được niệm thần túc, không biết các bạn đã có chưa? Nếu không thể phát lại những ký ức tiền kiếp một lần nữa, thì giống như bây giờ, sẽ không thể hiểu được mối quan hệ giữa mình với tiền kiếp. Cuốn sách mà tôi đang viết đây chính là cuốn sách về "niệm thần túc".

Có một đệ tử từ Cao Hùng đến hỏi tôi: "Pháp môn Quan Âm là gì?" Nếu làm Thượng sư như tôi mà không trả lời được câu hỏi này thì chẳng phải rất mất mặt sao? May mắn thay, khi tôi tọa thiền, trong niệm thần túc, tôi đã đến rừng Tử Trúc ở Nam Hải Phổ Đà Sơn để gặp Quan Thế Âm Bồ Tát. Trong kiếp trước, Quan Thế Âm Bồ Tát có một con chim tên là chim Thái Bình. Con chim này thấy tôi từ xa ngồi trên hoa sen trắng bay đến, rất ngạc nhiên, liền kêu lên: "Liên Hoa Đồng Tử đến rồi!" Các bạn có biết con chim này thường làm gì không? Nó thường ngậm tràng hạt của Quan Thế Âm Bồ Tát, nên khi vừa mở miệng, tràng hạt liền rơi xuống đất với một tiếng "bộp". Lúc đó, Quan Thế Âm Bồ Tát nói với nó: "Đây là một lỗi lầm nghiêm trọng, ngươi thấy người đến liền mở miệng kêu lên, làm rơi tràng hạt quý giá xuống đất, lỗi lầm này chính là nhân duyên khiến ngươi phải đầu thai xuống trần gian." Trong này có rất nhiều nhân quả, tạm thời không nói đến.

Tuy nhiên, khi ở chỗ Quan Thế Âm Bồ Tát, Ngài đã dạy tôi pháp môn Quan Âm. Pháp môn Quan Âm nói khó thì rất khó, nói dễ thì cực kỳ đơn giản, bởi vì Quan Thế Âm Bồ Tát từng nói một câu rằng: "Chỉ cần niệm danh hiệu của ta, tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn." Pháp môn Quan Âm được chia thành hai giai đoạn tu tập, giai đoạn thứ nhất là "pháp nhiếp niệm", giai đoạn thứ hai là "pháp hóa niệm". Học được pháp môn Quan Âm có thể đạt được thành tựu, có thể thành Phật, pháp này cũng đầy đủ vạn pháp. Tôi đã học pháp này từ Quan Thế Âm Bồ Tát, đã viết nó trong sách, và cũng đã nhận được ấn tâm từ Quan Thế Âm Bồ Tát, ấn tâm chính là tâm ấn. Vì vậy, những gì tôi nói hôm nay về việc đến chỗ Quan Thế Âm Bồ Tát học được pháp môn Quan Âm, toàn bộ ký ức tiền kiếp này được hiện ra, đó chính là "niệm thần túc".

Như tôi đã từng nói lần trước, con của tôi và nhiều đứa trẻ khác đều đến từ cõi trời Đế Thích. Khi chúng mới sinh ra đã kết ấn Đế Thích, bà đầu bếp chính là Đại Cát Tường Thiên Nữ; mẹ tôi chính là chim Thái Bình; còn bố tôi chính là sứ giả cầm đèn. Rất nhiều nhân quả tiền kiếp liên kết với nhau, từng mắt xích một, tôi sẽ dùng niệm thần túc để viết ra tất cả. Tuy nhiên, những điều này đều không liên quan gì đến tôi, bởi vì tất cả chỉ là duyên mà thôi. Có duyên thì ở bên nhau, vô duyên thì chia lìa.

Thần túc thứ ba gọi là "tấn thần túc", tức là "tấn như ý túc". "Tấn như ý túc" là gì? "Tấn" nghĩa là "tinh tấn không gián đoạn", không ngừng nghỉ. Cuốn sách này viết ra để giải thích về sự tinh tấn không gián đoạn, không nghỉ ngơi. Thực ra, còn có một cách giải thích sâu xa hơn, khi đạt được tấn thần túc, mọi lúc mọi nơi đều là Phật, mỗi cử chỉ hành động đều là cử chỉ hành động của Phật, đây là bước tiến xa hơn nữa. Thần túc thứ nhất là "thỏa mãn ước muốn", thần túc thứ hai là "ý niệm của bạn luôn được thỏa mãn", thần túc thứ ba là "bạn hoàn toàn hợp nhất với Phật", gọi là "tấn thần túc".

Lấy một ví dụ, đôi khi chúng ta tu hành rất tinh tấn, khi nhập Tam ma địa, cảm nhận được dòng chảy pháp tràn ngập toàn thân, vô cùng xúc động, thậm chí rơi lệ, lúc đó lòng từ bi của chư Phật Bồ Tát chiếm ngự thân tâm ta, thực sự rất từ bi, khi đó tâm lượng của ta rất rộng lớn, rất ôn hòa, khi nói chuyện với người khác, làm việc đều thể hiện thân tâm của Phật Bồ Tát. Nhưng khi vừa rời khỏi chùa, rời khỏi nhà thờ, lại đi đến hộp đêm, lại uống rượu, hút thuốc, nói lời thô tục, lúc thì là Phật, lúc lại thành phàm nhân, đó không phải là tấn thần túc. Có người chỉ đi nhà thờ sám hối một lần mỗi tuần, từ thứ Hai đến thứ Bảy thì phạm tội, Chủ nhật lại vào nhà thờ sám hối. Đây chính là một vòng tuần hoàn phạm tội - sám hối - phạm tội - sám hối. Nếu chúng ta cũng như vậy, lúc nhập định thì là Phật, ra khỏi định lại phạm tội, như đang luân hồi vậy, lúc thì rất tinh tấn, tu tập rất tốt, lúc lại phạm sai lầm, đó không phải là tấn thần túc. Tấn thần túc là đã không còn gián đoạn hay thăng trầm nữa, đã giống như Phật vậy, là Phật không gián đoạn. Một sự tinh tấn không ngừng nghỉ, không gián đoạn, đó chính là "tấn thần túc", tức là đã thành Phật, trong đó có học vấn rất sâu xa.

Một vị Phật có tấn thần túc, khi nhập định là Phật, khi xuất định được gọi là "dạo chơi cõi người", dạo chơi cõi người chính là du hý tam muội. Thực ra trong du hý tam muội của Phật, tâm không hề lay động, nhưng hành vi của Ngài giống như người thường, bởi vì Ngài phải độ chúng sinh, nên hình tướng, thói quen, ngôn ngữ đời sống đều phải hòa đồng với chúng sinh. Vì vậy, dù đi đến địa ngục độ chúng sinh, đến hộp đêm độ chúng sinh, hay đến bất kỳ nơi nào để độ chúng sinh, đều phải giống như chúng sinh, nhưng điểm khác biệt duy nhất là tâm Ngài không hề lay động. Ngài muốn độ người ăn chay thành Phật thì cũng ăn chay; muốn độ người ăn mặn thành Phật thì cũng ăn mặn; muốn độ người điên thành Phật thì cũng phải giả điên! Vì vậy, Phật tùy thuận chúng sinh, trong sự tùy thuận đó rồi mới tìm cách độ hóa. Chỉ cần trong tâm luôn có Phật, không bao giờ gián đoạn, đó chính là "tấn như ý túc".

Thần túc thứ tư chính là "huệ như ý túc". Khi đã đạt được tấn như ý túc thì tự nhiên sẽ đạt được huệ như ý túc. Cần phải biết rằng trí huệ này không chỉ là kiến thức thế gian, mà là thấu hiểu tường tận tất cả các pháp. Khi người khác hỏi về bất kì pháp nào, có thể lập tức vận dụng trí huệ để trả lời rõ ràng. Là một vị Thượng sư, chúng ta phải hiểu biết tất cả các pháp, không những thế còn phải biết cách tu học những pháp này, có thể viên mãn thông suốt tất cả các pháp, đầy đủ trí huệ viên mãn, đồng thời phải giữ cho tâm mình luôn có Phật, không để mất đi. Khi đầy đủ bốn loại thần túc này thì gọi là "thần túc thông". Khi bạn hiểu được trí huệ từ đâu mà có, thế nào là "trí huệ chân chính", thì mới có "huệ thần túc thông". Khi bạn đầy đủ huệ thần túc thông, có thể nói bạn là người số một thiên hạ, tuyệt đối không phải người thứ hai.

Khi mọi người học pháp và đạt được trí huệ chân chính, sẽ cảm thấy toàn thể vũ trụ, mười phương trên dưới đều vì mình mà sinh ra, mọi trí huệ trong thiên hạ đều nằm trong tâm, không có vấn đề nào là không thông suốt, bất kì vấn đề nào cũng có thể dung thông hiểu thấu, như nghệ thuật, tôn giáo, triết học, học vấn của nhân gian, thậm chí tất cả mối quan hệ giữa người với người, cõi trời và mười pháp giới đều thấu hiểu tường tận, đó chính là "huệ thần túc".

Om mani padme hum.


### 45. Âm thanh của chúng diễn xướng các pháp như ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần


Hôm nay giảng về "ngũ căn, ngũ lực" trong Kinh A Di Đà. Thực ra ngũ căn, ngũ lực và như ý túc là gần giống nhau. Chúng ta có thể tự đọc, về ngũ căn và ngũ lực này mọi người nhìn qua đều sẽ hiểu.

"Ngũ căn là: Thứ nhất, tín căn - tin tưởng và chấp nhận các chân lý với lòng hoan hỷ. Thứ hai, tấn căn - do tin vào các pháp nên càng thêm tinh tấn. Thứ ba, niệm căn - luôn ghi nhớ không quên chính đạo và trợ đạo. Thứ tư, định căn - thu nhiếp tâm vào chính định, tương ứng không tán loạn. Thứ năm, huệ căn - tự soi chiếu quán xét, phân biệt rõ ràng. Giải thích ngũ căn xong."

Ngũ lực là: Thứ nhất, tín lực - khi tín căn tăng trưởng, có thể phá tan sự nghi ngờ. Thứ hai, tấn lực - khi tấn căn tăng trưởng, có thể phá tan sự lười biếng. Thứ ba, niệm lực - khi niệm căn tăng trưởng, có thể phá tan sự mê mờ quên lãng. Thứ tư, định lực - khi định căn tăng trưởng, có thể phá tan sự tán loạn. Thứ năm, huệ lực - khi huệ căn tăng trưởng, có thể phá tan sự ngu mê. Năm lực này nương theo năm căn ở trên, như cây lớn sinh rễ. Người tu tập ngũ lực giống như cành lá sum suê, ắt sẽ kết quả lớn. Giải thích ngũ lực xong.

Hôm nay chúng ta nói một chút về "thất bồ đề phần". Thực ra hai chữ "bồ đề" chính là "giác", dịch thành "giác". "Thất bồ đề phần" còn gọi là "thất giác chi".

Giác chi đầu tiên chúng ta gọi là "niệm giác chi". Niệm giác chi được nói đến ở đây dạy chúng ta tu hành chính là tu tập tâm niệm của mình. Nhiều người cho rằng tu hành là việc phiền muộn nhất, mỗi ngày đều phải làm công khóa cố định. Hồi còn đi học, điều sợ nhất là làm bài tập về nhà, nếu một ngày thầy cô thông báo: "Hôm nay không có bài tập, các em về nhà không cần làm bài!" thì vui mừng biết bao! Nhưng bây giờ là người tu hành, mỗi ngày đều phải làm công khóa, nghĩ lại quả thật rất mệt mỏi. Đôi khi đúng giờ làm công khóa cố định, lại gặp chương trình ti vi hay, liền nghĩ thôi vậy; đi tiệc tùng, ngày mai lại thôi; ngày mốt có người mời ăn cơm, cũng thôi luôn, cái thôi này không phải không đi ăn, mà là bỏ qua công khóa! Rồi ngày kia nữa, hiếm khi bị cảm cúm, tinh thần không tốt, Sư Tôn từng dạy tinh thần không tốt tu pháp cũng vô ích, à, thế thì nghỉ ngơi vậy; đến thứ Bảy, định đến Lôi Tạng Tự tham gia đồng tu, ôi, xe không chạy nổi, thôi, đừng đi nữa. Cứ như vậy, dần dần cảm thấy tâm trạng thoải mái, càng ngày càng xa rời việc tu hành, cuối cùng giống như đồng hồ ngừng chạy vậy. Tâm niệm chúng ta chưa bao giờ nhớ nghĩ đến Phật, nên càng ngày càng xa rời Phật.

Thực ra mỗi ngày phải cố định vào Phật đường để làm đại lễ bái, bốn pháp gia hành; lại phải tĩnh tọa, lại phải quán tưởng, lại phải kết thủ ấn, người khác sẽ cho rằng lãng phí thời gian, một người ở đó múa tay múa chân, đang làm gì vậy? Đời người thời gian cũng không dài, lãng phí trong mật đàn có ý nghĩa gì? Có người mỗi ngày tu pháp, đã tu được một năm, hai năm, ba năm, bốn năm, năm năm, bảy năm lâu như vậy rồi, mà một chút cảm ứng cũng không có.

Nhưng sau khi tu tập bảy năm như vậy mà vẫn chưa có một chút cảm ứng nào, phải làm sao đây? Sư Tôn dạy: "Chỉ cần tâm niệm càng tu càng sáng suốt, càng tập trung, đó chính là tiến bộ." Tốt nhất là khi tọa thiền, nhập định, có thể cảm nhận được niềm hoan hỷ vô cùng phát sinh. Sư Tôn khi nhập Tam ma địa, thậm chí ngay cả lúc cầm chuỗi hạt tụng chú cũng đã nhập định rồi. Trong trạng thái nhập định, sẽ cảm thấy rất nhẹ nhàng, thoải mái, chúng ta gọi cảm giác này là "pháp hỷ", chính là niềm vui trong tu pháp. Phải giải thích thế nào về niềm vui tu pháp này đây? Thật sự rất khó, nhưng tôi thường thích ví von đó như "các tế bào đang nhảy múa".

Trong cuộc đời có hai điều hạnh phúc nhất, một là ăn, hai là ngủ. Trước kia khi tôi chưa tu pháp, tôi cho rằng ăn là niềm vui số một thiên hạ, ngủ là niềm vui số hai thiên hạ. Bố tôi thì khác với tôi, ông thường nói rằng ngủ quan trọng hơn ăn. Dù sao đi nữa, ai cũng cho rằng ăn và ngủ đều rất sướng. Sư Tôn đã phát hiện ra một điều bí mật, khi chúng ta tu pháp, chính là các tế bào trong cơ thể đang ăn uống, và hương vị của pháp này rất ngon, sau khi mỗi tế bào được thưởng thức, tất cả đều nhảy múa.

Vì vậy khi công phu trở nên buồn tẻ, chúng ta càng phải tinh tấn hơn nữa. Khi đã nếm được pháp vị và các tế bào tràn đầy linh lực, niềm vui nhẹ nhàng đó sẽ giúp bạn tiếp tục tu hành mãi mãi. Trạng thái này chính là khi dòng pháp trong vũ trụ đổ đầy vào thân, khiến bạn cảm thấy toàn thân nhẹ bổng bay lên. Nếu có được trải nghiệm như vậy, sẽ không còn sợ hãi hay lười biếng tu pháp nữa, bởi vì vào mật đàn tu pháp chính là để được nhẹ nhàng, để được bay bổng! Mỗi ngày được vào trong đó thư giãn một chút, bay bổng một chút, không phải rất tốt sao? Vì vậy Sư Tôn có thể tu pháp liên tục mỗi ngày là có lý do, đó chính là mỗi ngày được vào trong đó thư giãn một chút, tu pháp và bay bổng.

Bạn biết đấy, cuộc sống con người trên thế gian này có rất nhiều nỗi khổ, mỗi người đều có phiền não riêng, nhà nào cũng có nỗi khó khăn của riêng mình. Tâm trí chúng ta thường xuyên bấp bênh, khi phiền não đến, tâm giống như một chiếc thuyền con liên tục lay động, không thể giữ được bình tĩnh; lúc tâm trạng bất ổn dễ nổi giận, cáu gắt, cũng dễ làm sai việc, thường xuyên như một con thuyền tròng trành không định. Khi chúng ta vào mật đàn tu pháp, có thể loại bỏ được tâm phiền não này, giúp con thuyền trong tâm được vững vàng, để biển tâm được bình lặng. Ý nghĩ của con người thường xoay chuyển trong biển khổ, nhưng nhờ có tu pháp, tu tâm, nên khiến ý nghĩ trở nên tĩnh lặng không sóng. Vì tu pháp có thể sinh định, từ định sinh huệ, nên chúng ta vẫn phải tu pháp mỗi ngày, tốt nhất là có thể sinh ra pháp hỷ, một khi có pháp hỷ, sẽ tinh tấn tu pháp, không còn lười biếng.

Chúng ta hãy bàn về yếu tố giác ngộ thứ hai, đó là "trạch giác chi". Trạch giác chi thực chất là một loại trí tuệ, giúp chúng ta có thể quán chiếu mọi sự việc để phân biệt đâu là chính, đâu là tà, đâu là thật, đâu là giả - đó chính là trí tuệ.

Thế giới này vốn dĩ là sự pha trộn giữa thật và giả, như tôi đã từng nói, ở đời có thật thì sẽ có giả, nói về tu hành chẳng hạn, ai cũng tự cho mình là đúng; Sư Tôn nói: "Phật pháp tôi giảng là Phật pháp thật." Nhưng người khác lại không nói như vậy! Họ sẽ nói: "Phật pháp của chúng tôi mới là thật, Phật pháp bên Thượng sư Lư là giả." Có người còn nói: "Những gì tôi đang học mới là cao siêu nhất, bên Thượng sư Lư là tà." Tuy nhiên cũng có nhiều người đến đây nghe pháp, sau khi nghe xong cảm thấy Sư Tôn giảng hay, nơi này mới là thật.

Nhưng khi gặp một người tu hành khác nói với anh ta rằng: "Anh không biết đâu! Chỗ của Thượng sư Lư không thể đến được, đó là tà đạo!" Lúc đó trong lòng anh ta sẽ nảy sinh nghi hoặc - rốt cuộc đâu là thật, đâu là giả? Không thể lựa chọn được, bởi vì không có trí tuệ. Thế là, một lúc thì Nhật Liên Tông gọi anh ta đến quy y, anh ta liền đi theo, suốt ngày niệm "Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh". Rồi khi tiếp xúc với Tịnh Độ Tông, họ nói không được niệm kinh của Nhật Liên Thượng Nhân nữa, phải niệm Phật! Anh ta lại đi quy y, bây giờ lại niệm "Nam Mô A Di Đà Phật".

Sau đó có người của Tiên Thiên Đạo nói với anh ta: "Đạo của chúng tôi chỉ cần điểm đạo là lên thiên đường ngay." Thế là anh ta lại đi điểm đạo, bây giờ đổi sang niệm ngũ tự chân ngôn "Vô Thái Phật Di Lặc". Bất chợt lại có người của Thiên Đức Giáo đến nói: "Những cái đó đều thấp kém cả, Vô Hình Đạo Tổ của chúng tôi mới là cao nhất." Ồ! Thế là anh ta lại đi quy y, niệm nhị thập tự chân ngôn "Trung Hiếu Liêm Minh Đức Bác Ái Tín Nhẫn Công". [Nhị thập tự chân ngôn gồm 20 chữ đầy đủ là "trung thứ liêm minh đức, chính nghĩa tín nhẫn công, bác hiếu nhân từ giác, tiết kiệm chân lễ hòa".] Đột nhiên anh ta nghĩ: "Ôi, lâu quá không đến Lôi Tạng Tự, đến thăm một chút vậy." Thế là anh ta lại bắt đầu niệm: "Ôm bua-rua lan chưa-li". Chẳng biết làm sao! Không có trí tuệ để quán chiếu, không thể tự lựa chọn, người ta nói Đông thì theo Đông, người ta nói Tây thì theo Tây.

Người tu hành chúng ta cần phải thiền định để đạt được "trạch giác chi", tức là dùng trí tuệ để quán chiếu, vì vậy mọi việc đều phải dùng lý trí để phân biệt, không thể nghe một vài lời nói mà đã thay đổi mục tiêu tu hành của mình. Thực ra, mỗi việc đều phải dùng lý trí để phân biệt, rồi dùng trí tuệ để quán chiếu, chọn lấy cái đúng làm kim chỉ nam cho cả đời, như vậy mới đúng. Người tu hành phải biết tự lựa chọn, phải có chủ kiến, dùng lý trí để phân biệt, chứ không phải người ta nói Đông thì theo Đông, nói Tây thì theo Tây, người ta nói một chút không đúng là không đến nữa, như vậy là không đúng.

Yếu tố giác ngộ thứ ba là "tinh tấn giác chi", tu hành cần phải tinh tấn, không được gián đoạn.

Yếu tố giác ngộ thứ tư là "hỷ giác chi", như vừa nói ở trên, đó là đạt được pháp hỷ, pháp vị, không điên đảo và có thể tinh tấn.

Yếu tố giác ngộ thứ năm là "khinh an giác chi". Khinh an nghĩa là đoạn trừ phiền não, chỉ có người đoạn trừ được phiền não mới có thể đạt được thân tâm khinh an. Bởi vì nếu trong tâm có chuyện, sẽ cảm thấy rất nặng nề. Nếu tâm không có phiền não, không có việc gì, sẽ cảm thấy rất nhẹ nhàng, vui vẻ.

Yếu tố giác ngộ thứ sáu là "định giác chi", định giác chi là gì? Bởi vì tâm đã định, nên có thể bất động, đã bất động thì sẽ không còn yêu, không còn ghét.

Yếu tố giác ngộ thứ bảy gọi là "xả giác chi". Chúng ta đều biết trong thế giới này, một trong những điều khó nhất chính là buông xả; đôi khi chúng ta rất khó buông bỏ tình cảm quá khứ, như người ta thường nói "ngọn lửa tình cũ bùng cháy trở lại", ở Đài Loan có một bài hát tên là "Tình xưa miên man"; không chỉ khó buông bỏ tình yêu, tiền bạc cũng khó buông xả, còn rất nhiều thứ khác nữa, như những oán hận trong quá khứ, những điều tiếc nuối, cũng không thể buông bỏ. Vì vậy, công phu buông xả là một yếu tố giác ngộ, phải có khả năng buông xả thì mới có thể đạt được thành tựu. Tại sao Phật Thích Ca Mâu Ni có thể đạt được thành tựu? Bởi vì Ngài có thể buông xả, buông bỏ ngôi vua, buông bỏ vợ con, buông bỏ tài sản, buông bỏ tất cả những duyên bên ngoài, Ngài có thể hoàn toàn nhìn thấu, hoàn toàn buông bỏ danh vọng, lợi lộc, địa vị, thậm chí tất cả mọi thứ trên thân mình, vì vậy mới đạt được đại thành tựu. Đó chính là xả giác chi.

Bảy yếu tố giác ngộ đến đây là hết.

Om mani padme hum.


### 46. Bát thánh đạo phần… hết thảy đều niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng


Kinh văn: 

"… bát thánh đạo phần; chúng sinh trong cõi ấy nghe những âm thanh này rồi, hết thảy đều niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng."

Tối nay chúng ta tiếp tục giảng Kinh A Di Đà. Thứ Bảy tuần trước chúng ta đã giảng về "thất giác chi", tối nay sẽ giảng về "bát chính đạo". Trong đó có đề cập đến chữ "chính", tức là nói về chính đạo, nghĩa là đi trên một con đường chân chính, tu hành của chúng ta chính là phải đi trên một con đường chân chính.

Bát chính đạo là chia chính đạo thành tám loại đạo lý để giảng:

Thứ nhất là nói về "chính kiến", chữ "kiến" này có nghĩa là "sự thấy biết chân chính". Khi Phật Thích Ca Mâu Ni bắt đầu thuyết pháp, Ngài giảng về bốn diệu đế, tức là Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Hiểu rõ được đạo lý của Khổ, Tập, Diệt, Đạo chính là một loại chính kiến. Giáo pháp đầu tiên mà Phật Thích Ca Mâu Ni giảng là bốn diệu đế, và giáo pháp cuối cùng Ngài giảng cũng là bốn diệu đế.

Thứ hai là nói về "chính tư", "chính tư" còn gọi là "chính tư duy", nghĩa là tư tưởng của bạn rất chân chính. Tư tưởng rất chân chính là bởi vì từ chính kiến về pháp bốn đế của bản thân mà dẫn phát ra tư tưởng, đó chính là tư tưởng chân chính, gọi là chính tư duy. "Chính kiến" và "chính tư", một cái là kiến giải chân chính, đúng đắn, một cái là tư tưởng chân chính, đúng đắn.

Thứ ba là "chính ngữ", thông thường những lời chúng ta nói ra đều phải rất công chính, và phải hết sức đúng đắn, hợp lý, gọi là chính ngữ. Cái gọi là chính ngữ bao gồm cả việc không được nói ỷ ngữ, ỷ ngữ là gì? Đôi khi rất khó giải thích. Trước đây khi chúng ta mới bắt đầu học tiếng Anh, có những giáo viên nói: "Các em học tiếng Anh tốt nhất nên bắt đầu từ những từ ỷ ngữ (những từ khiếm nhã)." Tại sao giáo viên tiếng Anh lại bảo chúng ta bắt đầu học từ những từ khiếm nhã? Bởi vì nó dễ thu hút người học hơn. Trước đây khi tôi còn học đại học, có một người bạn thường xuyên đọc tiểu thuyết tiếng Anh, anh ấy học tiếng Anh rất nghiêm túc, gặp từ nào không hiểu là lập tức tra từ điển. Tôi hỏi: "Sao cậu lại chăm chỉ đến thế?" Anh ấy đáp: "Vì đó là tiểu thuyết khiêu dâm." Cốt truyện của nó rất lôi cuốn, dễ dàng kích thích hứng thú học tập. Nếu là tiếng Anh chính thống thì anh ấy không đọc nổi, chỉ có tiểu thuyết khiêu dâm mới khiến anh ấy chăm chỉ tra từ điển, những đối thoại trong loại tiểu thuyết này gọi là ỷ ngữ.

Trong chính ngữ còn có một điểm rất quan trọng là "không hai lưỡi", điểm này rất quan trọng, bởi vì hai lưỡi là một điều rất đáng sợ. Tôi nhận thấy trong thế gian này, có rất nhiều người nói nhiều không ngừng, như người Trung Quốc thường nói: "Chê nhà họ Trương, khen nhà họ Lý." Họ lúc chạy đến nhà này nói chuyện nhà kia, lúc chạy đến nhà kia nói chuyện nhà này, đây gọi là hai lưỡi, người nói lời chân chính không hai lưỡi. Thực ra trên đời này muốn tìm một người quân tử chân chính rất hiếm, ai cũng có khuyết điểm, chúng ta là người tu hành phải che giấu điều xấu, phát huy điều tốt, học những ưu điểm của người khác, không nên phô bày khuyết điểm của người khác, như vậy mới có thể thực sự học được chính ngữ.

Tôi nghĩ như lời Khổng Lão Phu Tử đã từng nói: "Chỉ có đàn bà và tiểu nhân là khó dạy." Có lẽ ngài đang đề cập đến chính ngữ. Trước đây tôi từng đọc một quyển sách, nói về bảy đời, ba đời hay mấy đời sống chung một nhà, trong đó có một câu chung là "đừng nghe lời phụ nữ"; bởi vì một khi nghe theo lời phụ nữ thì xong rồi, nửa đời cũng không thể sống chung được. Tất nhiên, đàn ông đôi khi cũng nói hai lời, nhưng phụ nữ thường hay nói hai lời hơn một chút, vì vậy cả nam lẫn nữ đều phải giữ gìn chính ngữ.

Còn có một điều tệ hại hơn nữa là "ác khẩu", miệng lúc nào cũng thốt ra những lời chửi rủa ba chữ, năm chữ, trong tiếng Anh có cả những câu chửi bốn chữ, những điều này đều không tốt. Bởi vì đây là những lời lệch lạc, không phải là chính ngữ.

Tại sao việc tu hành lại dạy mọi người niệm Phật? Bởi vì khi niệm Phật, tâm sẽ được thu nhiếp, tại sao lại dạy bạn trì chú? Bởi vì khi trì chú, sẽ không thể ác khẩu. Chú chính là một loại chính ngữ, danh hiệu Phật cũng là một loại chính ngữ. Niệm Phật trì chú có thể thu về khẩu nghiệp của bạn, khiến cho khẩu nghiệp được thanh tịnh.

Thứ tư, chúng ta nói về "chính nghiệp". Chính nghiệp không phải là nghiệp đen, mà là nghiệp thiện màu trắng. Chúng ta nói nghiệp thanh tịnh chính là thuộc về chính nghiệp.

Thứ năm, chúng ta nói về "chính tinh tấn". Tinh tấn là tinh tấn, vậy tại sao còn phải thêm chữ "chính"? Đi trên con đường chân chính mới gọi là chính tinh tấn. Nếu không, dù có hiểu được đạo lý tinh tấn, nhưng pháp tu không đúng, đã lệch lạc mà bản thân chưa nhận ra, thì sự tinh tấn như vậy là vô dụng. Học pháp là để làm gì? Nếu học pháp chỉ để có được thần thông rồi hơn người, đấu đổ tất cả các pháp sư, thì không gọi là chính tinh tấn. Có nhiều người học kiếm thuật, chăm chỉ luyện kiếm chỉ để giết hết tất cả những người biết kiếm thuật, muốn trở thành thiên hạ đệ nhất, thì đó cũng không phải là chính tinh tấn. Có người rất tinh tấn, nhưng lại thích so đo hơn thua với đồng môn, sau khi có được pháp lực thì chuyên đi hại người bằng bùa ngải, đó cũng không phải là chính tinh tấn.

Trước đây có một vị Tổ sư của phái Bạch giáo tên là Milarepa đến tham học với Lama Ung Đông Giáp. Ngài học pháp với tâm oán hận, mục đích chỉ để trả thù những người đã từng gây hại cho gia đình. Bởi vì trước kia, dân làng đã ngược đãi họ - một gia đình góa phụ và cô nhi, và đuổi họ ra khỏi làng, nên giờ đây ngài học pháp trở về là để trừng phạt những người đồng hương đó. Milarepa đã học được thuật làm mưa đá, và khi quay về làng, ngài đã thi triển pháp thuật khiến mưa đá rơi xuống, phá hủy toàn bộ lúa mạch và lúa gạo của dân làng. Đây chính là tâm thái "người khác càng đau khổ, ta càng vui sướng". Tương tự như một vị thầy thuốc học được tà pháp, rồi thi triển khiến cả làng mắc dịch bệnh, buộc tất cả mọi người phải đến nhờ ông ta chữa trị; hoặc như người bán quan tài thi triển pháp thuật khiến nửa dân làng chết đi. Những cách học pháp như vậy đều không phải là chính tinh tấn.

Milarepa rất lợi hại, những người cô, dì trước đây đã bắt nạt ngài, tất cả đang ở trong ngôi nhà mới, đang ăn tiệc cưới, ngài liền làm một pháp thuật, pháp thuật vừa làm xong, ôi trời ơi! Tất cả chuột bọ đều tụ tập lại gặm nhấm các cột nhà mới. Mối cũng tập trung lại, ăn hết cả bốn cột trụ của ngôi nhà. Trên lầu đang uống rượu mừng, ăn tiệc cưới, cũng là ngày vui chuyển nhà, không ngờ các cột trụ vừa bị ăn xong, cả ngôi nhà sụp đổ, đè chết hơn hai mươi người. Mặc dù pháp lực của Milarepa rất mạnh, nhưng thực ra đây không gọi là chính tinh tấn, bởi vì pháp này là lệch lạc. Vì vậy khi chúng ta học pháp phải chính tinh tấn. Pháp bốn đế là một chính pháp, điều quan trọng nhất là càng học tâm càng phải bình an, càng tĩnh lặng, để đi vào Niết bàn tịch tĩnh, chứ không phải càng học pháp càng muốn đấu tranh.

Trước đây có một thời gian Sư Tôn cảm thấy mình là người số một thiên hạ, gặp một số pháp sư giỏi hơn mình là muốn tìm họ tính sổ; bây giờ thì khác, giờ là người cuối cùng thiên hạ, không dám như vậy nữa. Lúc mới học pháp, cảm thấy mình rất mạnh, trong vũ trụ mười phương trên dưới chỉ có mình ta cao nhất, ta chính là Phật. Thực ra trong thiên hạ, cao thủ còn có cao thủ hơn, núi này cao còn có núi khác cao hơn, sóng sau đẩy sóng trước, người mới thay người cũ, giờ tôi càng lớn tuổi thì đầu óc càng kém, càng mờ mịt. Con hổ con mới sinh thì trời cao đất dày chẳng sợ gì cả, bê con mới đẻ không sợ cọp, nhưng bây giờ thì cái gì cũng sợ. Mới bắt đầu học Phật thì Phật ở trước mặt; học Phật năm mươi năm rồi thì Phật ở tận chân trời. Trí tuệ của đời người thật là bao la viên mãn, không phải kiếp sống nhỏ bé của chúng ta có thể học hết được. Lý do bây giờ không dám làm người số một thiên hạ, là vì càng học càng sợ, càng học càng thấy mình nhỏ bé, càng học càng không dám ngạo mạn, cuối cùng đành phải im lặng. Vì vậy nhờ pháp bốn đế mà có thể hướng đến Niết bàn, tâm được bình an tĩnh lặng, đó là vì đã hiểu rõ tất cả.

Thứ sáu, chúng ta nói về "chính định". Ở đây chính định không phải là thiền định, mà là bất động, nghĩa là chuyên tâm đi trên con đường chân chính này, không quay đầu lại, không thoái lui tâm ban đầu. Sư Tôn đã không thoái lui tâm ban đầu, dù sao thì kiếp này đã quyết tâm đi con đường này đến cùng. Thực ra trong số những người đến tu hành, hay những người đến quy y, người có thể chính định, hoàn toàn không dao động, cũng không nhiều. Người có thể có lòng kiên trì, có thể tu hành, có tâm định tĩnh, có thể quyết chí không lay chuyển, đó gọi là chính định.

Thứ bảy là "chính niệm", chính niệm có nghĩa là ý niệm của bạn rất đúng đắn, ở đây được giải thích là tâm bất động. Chúng ta biết dùng tâm có thể tiêu diệt tất cả hoàn cảnh, ai cũng nói: "Tâm tôi đã không động"; nhưng khi hoàn cảnh vừa thay đổi, tâm liền động. Tâm người thực ra đều bị ảnh hưởng bởi môi trường bên ngoài, tôi đã từng nói, đang niệm Nam Mô A Di Đà Phật, Nam Mô A Di Đà Phật, bỗng có một cô gái đẹp đi qua cửa, bạn nghĩ: "A Di Đà Phật đẹp quá!", thực ra A Di Đà Phật không phải là đẹp, A Di Đà Phật là trang nghiêm. Miệng vẫn còn niệm A Di Đà Phật, nhưng tâm đã động rồi, tâm người thật không dễ tu đến mức bất động. Ý niệm của chúng ta thường bị môi trường bên ngoài lôi kéo, vì vậy chính niệm chính là giữ tâm không động.

Có lẽ mọi người đều nghĩ rằng mình đã tu tập rất tốt rồi, tâm đã không còn động nữa. Thực ra, muốn thử xem tâm mình có động hay không rất đơn giản, chỉ cần nhắm mắt lại một chút, khi nhắm mắt lại tâm đang nghĩ gì? Có thể vừa nhắm mắt lại, bạn gái liền hiện ra trong tâm; có thể vừa nhắm mắt lại, liền thấy kẻ thù; có lúc vừa nhắm mắt lại, phát hiện trong tâm đang nói chuyện, hóa ra trong tâm toàn là đang chửi người; hoặc có khi vừa nhắm mắt lại, ôi chao! Tệ quá, vừa rồi mình xem một cuốn tạp chí, có một cô gái xinh đẹp, cô ấy liền hiện ra trong tâm. Tâm luôn luôn động, không có chuyện bất động. Nói rằng tâm mình không động, những người chưa tu tập đều là nói dối. Người chơi chứng khoán, trong tâm toàn là cổ phiếu; người thích chính trị, trong tâm đã đang bầu cử; người thích triết học, trong tâm toàn là lý thuyết triết học. Hãy nghĩ xem, tâm bạn đã từng tĩnh lặng chưa? Vì vậy Phật pháp dạy người ta phải chính niệm, chính là nói về tâm bất động.

Thứ tám là nói về "chính mệnh", thông thường mà nói, chính mệnh này cũng rất khó giải thích, Phật đã từng nói về năm loại tà mệnh, chỉ cần chúng ta thấu hiểu kĩ càng, sẽ có thể phân biệt rõ ràng giữa chính mệnh và tà mệnh.

Loại thứ nhất gọi là hiện tướng đặc biệt. Thể hiện khác với người khác, giống như khi chúng ta cùng đứng chụp ảnh, tôi phát hiện có một đệ tử cứ thò đầu ra như thế này, rất kỳ lạ, bất kể tấm ảnh nào, đầu của người đó cũng như vậy, đây gọi là hiện tướng đặc biệt, luôn thích thể hiện bản thân khác với người khác; cách giải thích này có thể không hoàn toàn chính xác, nhưng đây chính là hiện tướng đặc biệt. Có người rất thích thể hiện bản thân, thực ra thể hiện cũng là điều tốt, nhưng phải tự nhiên, đừng vì muốn thể hiện mình mà cố tình làm những hành động kỳ quặc. Ý của chư Phật Bồ Tát là như vậy rất giả tạo, bởi vì sự giả tạo của bạn và việc thể hiện những điều kỳ lạ, đây không phải là chính mệnh tốt.

Loại thứ hai là tự nói công đức. Cảm thấy mình vĩ đại, công đức đã nhiều lắm rồi, cao như trời vậy, tôi đã làm bao nhiêu việc thiện, in bao nhiêu kinh sách, độ bao nhiêu người, cúng dường bao nhiêu, tôi đã từng thuyết pháp độ chúng sinh cho hàng vạn người, không ai có công đức bằng tôi, đây cũng là tà mệnh. Bởi vì trong mắt chư Phật Bồ Tát, cái gọi là công đức chính là không có công đức, không có công đức mới là công đức thật sự. Chúng ta làm việc thiện phải không khởi tâm nghĩ đến công đức, đó mới là công đức thật sự, nếu còn nghĩ đến công đức mà làm việc thiện, thì công đức sẽ giảm một nửa. Cho nên thường xuyên khoe khoang công đức của mình lớn lao, đó chính là một loại tà mệnh.

Loại thứ ba là xem bói cho người khác - chiêm đoán lành dữ. Thực ra việc chiêm đoán lành dữ đôi khi cũng không phải là không tốt, miễn là dẫn dắt người ta hướng thiện, dẫn người vào cửa Phật, điểm xuất phát này đều là thiện. Nhưng nếu chỉ nói về điềm tốt xấu, mà không đi đúng chính đạo, thì đó là tà mệnh. Thậm chí còn nhân cơ hội lừa tiền, đe dọa người khác, thậm chí còn lừa gạt sắc dục, đây chính là tà mệnh của việc chiêm đoán lành dữ.

Trước đây chúng tôi từng đến một nơi xem bói, thầy bói nói: "Ôi chao! Không được rồi, năm nay anh phải mặc đồ trắng." Ông ta không nói thẳng ra, chỉ nói mặc đồ trắng, chúng tôi đều cảm thấy rất lạ, mặc đồ trắng là sao? Có phải là quần áo của chúng tôi đều trắng và sạch sẽ? Theo phong tục của người Trung Quốc, mặc đồ trắng là biểu hiện nhà có tang sự mới mặc đồ trắng, giống như là đồ tang vậy. Sau khi hiểu ra, chúng tôi nghĩ: "Phải làm sao đây? Là ông nội, bà nội, cha, hay là mẹ? Rốt cuộc là ai?" Chúng ta thường mong muốn người thân trường thọ, sống càng lâu càng tốt, vừa nghe nói năm nay có tang sự, trong lòng liền hoảng sợ. Lúc này, thầy bói lấy một cái búa, từ một hòn đá đập xuống một mảnh đá nhỏ, dùng một tờ giấy vàng gói lại, ông ta nói: "Vật này có thể cứu mạng người nhà anh, anh có muốn không?" Chúng tôi đương nhiên nói muốn! Một mảnh đá nhỏ này có thể cứu mạng người nhà, làm sao tôi có thể không muốn chứ! Bên cạnh ông ta đặt một ống bút, ông ta liền đưa lên trên ống bút và nói: "Muốn thì phải trả ○○ tiền, không muốn thì tôi sẽ ném xuống." Đương nhiên lúc đó trong lòng rất giằng xé, vì nếu không lấy, tức là mất đi một người thân, còn nếu muốn thì phải đưa ra bao nhiêu tiền. À! Tôi biết được thủ đoạn nhỏ của thầy bói này, nên tôi nói với ông ta: "Không lấy." Ông ta nói: "Anh không lấy, tôi thật sự ném xuống là chết đấy." Lúc đó tôi vẫn giữ tâm không động và nói không lấy. Tại sao vậy? Bởi vì lúc đó tôi cũng không có nhiều tiền như thế, hơn nữa lại còn rất keo kiệt. Thực ra, đó là lừa đảo! Hoàn toàn không có chuyện đó. Nhưng thầy bói nắm được tâm lý "Anh muốn người đó sống hay chết?" để đe dọa bạn, khiến bạn phải móc tiền ra.

Loại thứ tư là cao giọng giương oai". Thực ra khi Phật Thích Ca Mâu Ni đề cập đến điểm này, tôi thấy cũng khá thú vị. Tôi nhận thấy những người nói to để thể hiện uy quyền thường là quan chức hoặc người giàu có. Bởi vì nếu không nói to thể hiện uy quyền, người ta sẽ không biết họ có tiền có thế, người giàu thường nói chuyện to tiếng hơn, ít nhất là vì họ đang đứng trên đống tiền mà nói chuyện. Tuy nhiên khi chư Phật Bồ Tát nói về việc thể hiện uy quyền bằng cách nói to, phần lớn là chỉ những người giàu có, quan chức hay người có phước báu. Những người giàu có, quan chức địa vị cao do họ có phước báu nên mới thể hiện uy quyền bằng cách nói to, đôi khi cũng không có gì sai! Thực ra khiêm nhường một chút thì tốt hơn là thể hiện uy quyền bằng cách nói to, nếu không sẽ bị người ta chê là "mùi thùng phân quá nồng" (tục ngữ Đài Loan). Kiêu căng ngạo mạn, mùi hôi xông trời, dễ khiến người khác cảm thấy không hài lòng hoặc gây ra tranh chấp, vì vậy đây cũng là một loại tà mệnh. Do đó, quan chức càng khiêm nhường, người giàu càng khiêm nhường thì càng được người khác tôn kính hơn.

Loại thứ năm là nói về lợi ích đạt được. Ví dụ trong việc tu pháp, giống như sáng nay có người gọi điện đến nói: "Sư Tôn, con đã đắc đạo rồi." Tôi nói với anh ấy: "Chúc mừng anh!" Vài ngày sau anh ấy lại gọi điện đến nói: "Sư Tôn, con lại không đắc đạo nữa rồi." Nói thật, việc anh ấy nói không đắc đạo mới là bình thường. Khi anh ấy nói đã đắc đạo, tôi rất buồn, bởi vì có thể đầu óc anh ấy đã có vấn đề! Trước đây cũng có người gọi điện cho tôi nói: "Sư Tôn, tối qua con đã đắc đạo rồi." Ah! Tôi rất lo lắng, bởi vì chỉ vài ngày nữa chắc chắn anh ấy sẽ bị đưa vào bệnh viện tâm thần. Cho nên đắc đạo không phải là thứ dùng miệng nói ra, cũng không phải dùng tâm, cũng không phải dùng thân thể để thể hiện; mà là trong tâm thực sự đã giác ngộ, vô cùng bình an, vô cùng an lành.

Trước đây có người gọi điện cho tôi nói rằng: "Sư Tôn, con đã đến Tây phương Cực Lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì và gặp được ngài." Tôi hỏi: "Vậy anh thấy tôi như thế nào?" Người đó đáp: "Thầy là một chú ếch nhỏ trong Ma Ha Song Liên Trì." Không lâu sau, tình trạng trở nên nghiêm trọng và người đó phải vào bệnh viện tâm thần. Cho nên những người nói mình đã đắc đạo thật ra là chưa đắc đạo, thần thông quá mức sẽ dẫn đến tẩu hỏa nhập ma, đó chính là tà mệnh. Thần thông chân chính là không có thần thông, bởi vì tâm bạn vận hành tự nhiên như vũ trụ, tự nhiên không có thần thông gì cả, tất cả đều diễn ra một cách tự nhiên, người giác ngộ thật sự là người không tranh đua với đời, tâm luôn bình an.

Tám chính đạo này còn gọi là tám chính pháp, giống như tám con thuyền hướng về chính đạo, có thể vượt qua sông phiền não, đến được bờ bên kia của sinh tử, đạt đến Niết bàn chân chính. Phần giải thích về tám chính đạo đến đây là hết.

Om mani padme hum.


### 47. Này Xá Lợi Phất! Ông chớ nghĩ rằng…. muốn cho âm thanh của pháp được lan truyền mà biến hóa ra. 


Kinh văn:

"Này Xá Lợi Phất! Ông chớ nghĩ rằng: "Những con chim này thực sự do tội báo mà sinh ra." Vì sao vậy? Vì cõi Phật ấy không có ba đường ác. Này Xá Lợi Phất! Cõi Phật ấy còn không có tên gọi của đường ác, huống chi là có thật. Những con chim ấy đều do Phật A Di Đà muốn cho âm thanh của pháp được lan truyền mà biến hóa ra."

Tuần trước chúng ta đã nói về tất cả các loài chim ở thế giới Tây phương Cực Lạc, âm thanh mà chúng phát ra, và giáo pháp do chính những con chim này thuyết giảng, đến đây là kết thúc.

Do đó trong kinh có nói: "Tất cả các loài chim này, ngày đêm sáu thời, phát ra âm thanh hòa nhã, những âm thanh ấy diễn giảng về ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần, bát thánh đạo phần và các pháp như vậy; chúng sinh ở cõi đó nghe được âm thanh này rồi, thảy đều niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng."

Ở đây có hai đoạn kinh văn: "Ông chớ nghĩ rằng: 'Những con chim này thực sự do tội báo mà sinh ra.' Vì sao vậy? Vì cõi Phật ấy không có ba đường ác." Đoạn này nói về những con chim ở thế giới Tây phương Cực Lạc không phải sinh ra từ đường ác.

Trong kinh văn còn nói: "Này Xá Lợi Phất! Cõi Phật ấy còn không có tên gọi của đường ác, huống chi là có thật. Những con chim ấy đều do Phật A Di Đà muốn cho âm thanh của pháp được lan truyền mà biến hóa ra." Ý nghĩa của đoạn kinh văn này là nói, những con chim ở thế giới Tây phương Cực Lạc đều do chính Phật A Di Đà biến hóa ra, không phải do nghiệp báo từ ba đường ác sinh ra. Trước đây, có một vị thiền sư hỏi: "Tại sao Phật A Di Đà lại hóa ra những con chim bay đi bay lại trong thế giới Tây phương Cực Lạc?" Tôi nghĩ việc Phật A Di Đà biến hóa ra những con chim là có lý do của Ngài, bởi vì tiếng chim hót rất hay; khi chim bay lượn trên không trung, dáng vẻ rất đẹp; bộ lông của chim rất đẹp, màu sắc phong phú, và hình dáng của chim nhìn rất đẹp. Chim tượng trưng cho sự du hành, chúng bay khắp nơi, rất tự do, đây là điều mà người ta thường mơ ước. Vị thiền sư này hỏi: "Tại sao Phật A Di Đà lại biến hóa ra những con chim bay lượn trên không trung?" Bởi vì người đời đều thích chim, nên Ngài hóa ra những con chim để thuận theo ý nguyện của chúng sinh.

Phật A Di Đà rất thông minh, Ngài không biến hóa ra những con rắn ở thế giới Tây phương Cực Lạc, nếu thế giới Tây phương Cực Lạc toàn là rắn thì tôi sẽ là người đầu tiên không dám đến. Ngoài ra tại sao thế giới Tây phương Cực Lạc không có gấu? Tại sao không có hổ? Tại sao không có voi hay tê giác? Bởi vì những con vật này hoặc là quá to lớn, hoặc là quá hung dữ, hoặc là trông rất xấu xí. Nếu trong Ma Ha Song Liên Trì có cả cá sấu thì chúng ta sẽ khốn đốn! Không phải là loài cá đói bụng đâu, mà là loài gọi là alligator, tôi còn biết từ này đấy. Nhưng những con chim ở thế giới Tây phương Cực Lạc không có loại to lớn và hung dữ như đại bàng hay kim sí điểu, tất cả đều là những con chim rất hiền hòa. Giống như cách chúng ta hay ví von hiện nay, phe chủ trương dùng vũ lực gọi là phái diều hâu, phe chủ trương hòa bình gọi là phái bồ câu, bồ câu là loài chim có tính tình ôn hòa và hiền lành hơn.

Ngoài ra tôi còn nghĩ, tại sao Phật A Di Đà lại biến hóa ra những con chim ở thế giới Tây phương Cực Lạc? Bởi vì những con chim này được biến hóa ra để thuận theo sở thích của chúng sinh. Tiếng chim rất du dương, và chúng diễn xướng những âm thanh Phật pháp, khiến người nghe sinh tâm hoan hỷ.

Bản thân tôi rất ngưỡng mộ tư tưởng của Trang Tử, tư tưởng của Lão Tử và Trang Tử đều như thể có thể bay lên, khi tư tưởng bay bổng, nó giống như chim vậy, lướt đi hàng vạn dặm, vượt xa trí tưởng tượng của người đời. Vì thế Trang Tử từng mơ mình là một con bướm, khi bướm bay, dáng vẻ cũng vô cùng uyển chuyển đẹp đẽ. Nhưng tôi không thích giống như bướm, bởi vì bướm đến mùa đông đều phải chết.

Sư Tôn thích chim hơn, như những loài chim bốn mùa, xuân hạ thu đông đều sống được. Ngoài ra, trước đây tôi cũng có cảm tình với chim, vì khi chưa theo đạo Phật, ở Đài Loan tôi rất thích ăn thịt chim nướng. Thịt chim nướng rất ngon, nhưng sau này, khi hiểu được Phật pháp, thấy làm vậy quá tàn nhẫn với chim, nên không còn ăn thịt chim nướng nữa.

Phật A Di Đà hóa hiện những con chim này, chủ yếu là để dạy cho người đời đừng nên phân biệt, giống như những con chim này đều có thể sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc, đây chính là Pháp thân bình đẳng. Đây là điều được nói trong Kinh A Di Đà về thế giới Tây phương Cực Lạc, lời Phật dạy về lý do có loài chim cộng mạng.

Tối nay vì có đệ tử muốn học pháp, tôi đã giảng nửa ngày, dường như không có pháp nào để dạy, vừa hay hôm nay chúng ta nói về chim, vậy thì hôm nay hãy dạy một pháp về chim vậy! Các bạn đừng xem thường pháp này, Sư Tôn nói cho các bạn biết, đây cũng là một pháp trong Mật tông. Trong Mật pháp có một pháp Đại Bàng Kim Sí Điểu, nhưng tối nay Sư Tôn dạy không phải pháp Đại Bàng Kim Sí Điểu, mà là pháp Ca Lăng Tần Già.

Thần chú của pháp này là "Ôm ka-lin-pin-ka sô-ha".

Trong phép quán tưởng này, lấy Phật A Di Đà làm trung tâm, xung quanh hiện ra rất nhiều chim đẹp. Xung quanh Phật A Di Đà có rất nhiều chim nhiều màu sắc, vô cùng đẹp đẽ.

Khi thực hành pháp môn này, thủ ấn được kết là thủ ấn chim, thủ ấn chủ yếu của chim chính là đôi cánh. Thủ ấn này rất đơn giản, là hai cánh và một đầu đặt trước ngực, đây chính là thủ ấn Ca Lăng Tần Già, cũng là thủ ấn của chim cộng mạng. Trong pháp tu của chúng ta, trước tiên quán tưởng Phật A Di Đà xuất hiện, sau đó xung quanh có rất nhiều chim, có rất nhiều chim nhiều màu sắc, rồi kết thủ ấn chim. Quán tưởng những con chim đó bay lượn trong không trung, sau đó quán tưởng Phật A Di Đà phóng quang chiếu rọi hành giả. Tiếp theo tụng chú: "Ôm ca lăng tần già sô-ha", âm đọc là "Ôm ka-lin-pin-ka sô-ha".

Đây là thần chú, phép quán tưởng và thủ ấn được sử dụng khi thực hành pháp môn.

Mọi người sẽ hỏi, tu tập pháp môn này có lợi ích gì? Liệu tu tập pháp môn này có khiến chúng ta biến thành chim trong tương lai không? Không phải vậy! Pháp môn này có ý nghĩa giúp thần thức xuất ra, nhiều người ban đêm hay gặp ác mộng, khó ngủ, tu tập pháp môn này có thể ngăn chặn ác mộng, bởi vì sau khi tu tập, thân thể sẽ trở nên nhẹ nhàng, tâm hồn cũng trở nên thanh thoát như chim. Ngoài ra có nhiều đệ tử khi nằm mơ, lúc thì bị rắn cắn, lúc thì bị chó cắn, lúc thì có người cầm dao muốn giết, chạy không thoát, lúc thì gặp ma quỷ, lúc thì gặp những việc rất tàn bạo, chạy cũng không thoát; nếu tu tập pháp môn này thì trong mộng sẽ có thể bay được, những con chó và rắn đó sẽ không thể cắn được bạn.

Tóm lại, tu tập pháp môn này, ít nhất trong tương lai cũng được làm thiên nhân, chứ không phải biến thành loài quạ trong thế gian này cứ "a a a". Tuy nhiên, nếu có biến thành quạ cũng không tệ, vì nó biết niệm chú, niệm "a". Bồ câu cũng biết niệm chú, bạn có biết bồ câu niệm chú gì không? "Guru guru guru guru", guru chính là Thượng sư. Thật ra, chúng ta tu tập pháp môn này, niệm "Ôm ka-lin-pin-ka sô-ha" chính là bước đầu tiên để sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc. Nếu chúng ta tu tập pháp môn này tương ứng, trong mơ sẽ được an lành, tiếp đến sẽ xuất thần, đắc thần túc thông. Tôi nghĩ những người có phiền não tu tập pháp môn này cũng có lợi ích, bởi vì tâm trạng sẽ được giải thoát, như thể trên thân đã mọc cánh có thể bay được.

Tôi nhớ lúc còn nhỏ khi đến nhà thờ, thấy những bức tranh thiên thần đều có một đôi cánh. Hồi nhỏ tôi đến nhà thờ chỉ có hai mục đích, một là vào dịp Giáng sinh để lấy thiệp và kẹo, hai là vào dịp Phục sinh để ăn trứng đỏ. Còn về phần bột mì thì tôi không được chia vì còn quá nhỏ; ngoài ra, cũng vì bạn gái thời tiểu học của tôi cũng đi nhà thờ.

Pháp môn mà tôi vừa giảng cho mọi người rất dễ tu tập và rất nhẹ nhàng. Bạn có thể quán tưởng các loài chim xung quanh Phật A Di Đà bay lượn tuyệt đẹp, bạn sẽ cảm nhận được âm thanh thần chú vô cùng vi diệu, "Ôm ka-lin-pin-ka sô-ha", âm thanh thần chú này rất nhẹ nhàng, như thể sắp bay lên vậy. Thường xuyên trì tụng thần chú này, quán tưởng bầy chim bay lượn, tâm hồn sẽ như chim bay lượn, có thể vượt thoát khỏi thế gian, không trụ ở thế gian mà ở trên thiên giới, thường xuyên bay lượn như chim, sẽ không còn phiền não, tầm nhìn có thể nhìn xa, có thể thấy núi non, thấy sông nước, thấy được tướng của chúng sinh, thực sự là sống trong cõi trời.

Trì tụng thần chú này chính là kết duyên với Phật A Di Đà, bởi vì những con chim này đều là hóa thân của chính Phật A Di Đà. Cảnh giới cao nhất có thể đạt đến thế giới Tây phương Cực Lạc, có thể đi vào trong tâm của Phật A Di Đà, có thể xem pháp môn này là pháp tu sơ cấp của Phật A Di Đà. Khi bạn tu tập đến mức có thể bay trong mơ, tâm hồn trở nên nhẹ nhàng, có thể thấy được thế giới nghìn đèn nghênh đón của Phật A Di Đà ở cõi Cực Lạc, đó chính là tương ứng, đã đắc thần túc thông, có thể đi khắp nơi. Đây chính là pháp Ca Lăng Tần Già được truyền trong tối nay.

Các bạn đã từng nghe về pháp này chưa? Trước đây có người chỉ tu một pháp này thôi mà vẫn được vãng sinh về Tây phương Cực Lạc. Những ca sĩ tu pháp này, giọng hát sẽ mãi mãi tuyệt vời. Còn một điều tốt nữa là khi người ta tặng quà cho bạn, họ sẽ tặng những bộ quần áo đẹp. Dù không tu thành tựu đi nữa, kiếp sau chuyển thế, giọng nói sẽ trong trẻo như chim, tất cả mọi người khi nghe giọng nói của bạn đều như bị điện giật vậy, ai cũng sẽ thích bạn. Nhờ vào giọng nói tuyệt vời đó, ở kiếp sau, bạn có thể đạt được tất cả của cải, nghề nghiệp tốt nhất là làm nhân viên trực tổng đài.

Pháp môn này thực sự hữu dụng, những ví dụ mà Thượng sư đưa ra trong khi giảng pháp đều rất chân thật. Vì vậy, xin nhắc lại đại ý một lần nữa, tu tập pháp môn này có thể đắc thần túc thông, phá trừ phiền não, âm thanh tuyệt diệu, vãng sinh về Tây phương Cực Lạc thế giới của Phật A Di Đà, ít nhất cũng chắc chắn được sinh lên cõi trời.

Các bạn còn nhớ thủ ấn không? Thần chú là "Ôm ka-lin-pin-ka sô-ha". Trong pháp truyền thừa này, ở giữa là Phật A Di Đà, xung quanh là những con chim nhiều màu sắc. Hôm nay giảng pháp đến đây.

Om mani padme hum.


### 48. Này Xá Lợi Phất! Ở cõi Phật ấy… cõi Phật ấy thành tựu công đức trang nghiêm như thế.


Kinh văn:

"Này Xá Lợi Phất! Ở cõi Phật ấy, gió nhẹ thổi động các hàng cây báu và lưới báu, phát ra âm thanh vi diệu, ví như trăm nghìn loại nhạc cùng trỗi lên một lúc. Người nghe những âm thanh ấy tự nhiên sinh tâm niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng. Này Xá Lợi Phất! Cõi Phật ấy thành tựu công đức trang nghiêm như thế."

Giảng thêm một chút về Kinh A Di Đà. Hai đoạn kinh văn hôm nay đều rất đơn giản, mọi người có thể tự đọc. "Này Xá Lợi Phất! Ở cõi Phật ấy, gió nhẹ thổi động các hàng cây báu và lưới báu, phát ra âm thanh vi diệu, ví như trăm nghìn loại nhạc cùng trỗi lên một lúc. Người nghe những âm thanh ấy tự nhiên sinh tâm niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng. Này Xá Lợi Phất! Cõi Phật ấy thành tựu công đức trang nghiêm như thế." Dù sao hai đoạn này mọi người đều rất rõ, vừa đọc là hiểu, cho nên hôm nay giảng kinh đến đây là kết thúc.

Om mani padme hum.


### 49. Này Xá Lợi Phất! Ý ông thế nào… không bị chướng ngại, vì thế nên có hiệu là A Di Đà


Kinh văn:

"Này Xá Lợi Phất! Ý ông thế nào? Vì sao Đức Phật kia có hiệu là A Di Đà? Này Xá Lợi Phất! Ánh sáng của Đức Phật ấy vô lượng, chiếu khắp mười phương cõi nước, không bị chướng ngại, vì thế nên có hiệu là A Di Đà."

Chúng ta hãy tiếp tục giảng về "Kinh Phật Thuyết A Di Đà".

"Này Xá Lợi Phất! Ý ông thế nào? Vì sao Đức Phật kia có hiệu là A Di Đà?" Đoạn này nói về báo thân chính của Phật A Di Đà. Phật hỏi Xá Lợi Phất rằng: "Theo ý ông, tại sao Phật có danh hiệu A Di Đà?"

Câu trả lời của Ngài là: "Này Xá Lợi Phất! Ánh sáng của Đức Phật ấy vô lượng, chiếu khắp mười phương cõi nước, không bị chướng ngại, vì thế nên có hiệu là A Di Đà."

Vừa rồi chúng ta đã nói về ánh sáng, ở đây sẽ giảng về ba ý nghĩa của Phật A Di Đà. Ý nghĩa thứ nhất là "Quang", ánh sáng của Phật A Di Đà là vô lượng. Thế nào gọi là "Quang vô lượng"? Ánh sáng vô lượng này giống như có thể hòa nhập vào toàn bộ hư không vậy, đạt đến trình độ như vậy mới gọi là quang vô lượng. Khi mọi người tọa thiền vào Tam ma địa, vì thân thể phát ra ánh sáng, ánh sáng này hòa nhập với ánh sáng vũ trụ, tự mình biến thành ánh sáng vũ trụ, như vậy mới có thể đạt được quang vô lượng. Trước đây, Sư Tôn đến thế giới Tây phương Cực Lạc Ma Ha Song Liên Trì, thấy các vị Liên Hoa Đồng Tử, mỗi vị đều tỏa sáng.

Hôm nay nhớ lại, những ánh sáng đó giống như gì? Dường như chính là loại ánh sáng này. Ánh sáng mà mắt nhìn thấy chiếu thẳng đến, mắt thường không thể mở ra để nhìn được, ôi! Đó thực sự là một biển ánh sáng vô tận. Ở đây nói rằng: "Phật A Di Đà là vô lượng quang." Có người hỏi: "Tại sao ánh sáng này lại vô lượng?" Ánh sáng mà chúng ta thường thấy không phải là vô lượng, đôi khi chỉ có chỗ này có ánh sáng, những nơi khác vẫn không có. Nhưng hãy nghĩ xem, vành đai ánh sáng quanh sao Thổ lớn đến mức nào? Vũ trụ lớn đến đâu? Phải biết rằng tàu vũ trụ của chúng ta bay một vòng quanh hệ Mặt Trời cần bao nhiêu năm ánh sáng? Nếu dùng tuổi thọ của chúng ta để bay vòng quanh hệ Mặt Trời hay vũ trụ, phải qua bao nhiêu đời con cháu mới có thể bay hết số năm ánh sáng đó và quay về. Thực ra, chúng ta đều biết vũ trụ này là vô lượng. Ai có thể đo được ánh sáng của mặt trời sáng bao nhiêu? Chỉ riêng ánh sáng mặt trời đã là vô lượng rồi. Do vậy có thể thấy rằng "quang vô lượng" của Phật A Di Đà là điều có thể giải thích được.

Thứ hai là "thọ vô lượng". Hãy nghĩ xem, đã là quang vô lượng thì tuổi thọ của Ngài đương nhiên cũng vô lượng. Thời gian hình thành của vũ trụ, chúng ta có thể gọi là năm ánh sáng. Đã là ánh sáng vô lượng, thì thọ mạng của Ngài cũng vô lượng.

Thứ ba là "đồ chúng vô lượng". Bản thân Phật A Di Đà có số tín đồ là vô lượng, chỉ riêng đệ tử ở Ma Ha Song Liên Trì của thế giới Tây Phương Cực Lạc đã vô lượng rồi, có mười tám vị Đại Liên Hoa Đồng Tử, bên cạnh mỗi vị Đại Liên Hoa Đồng Tử có năm trăm vị Trung Liên Hoa Đồng Tử, bên cạnh mỗi vị Trung Liên Hoa Đồng Tử có năm trăm vị Tiểu Liên Hoa Đồng Tử, bên cạnh mỗi vị Tiểu Liên Hoa Đồng Tử lại có năm trăm vị Tiểu Tiểu Liên Hoa Đồng Tử. Nghĩ như vậy, quả thật là vô lượng, không biết tính thế nào! Hôm nay tôi bảo họ tính, họ tính mãi vẫn không ra được.

Thật ra, vô lượng này cũng giống như đạo lý một hạt cát chứa đựng đại thiên thế giới, một giọt nước chứa tiểu thiên thế giới vậy. Các nhà khoa học nói rằng, chỉ riêng một điểm nhỏ ở đầu mũi kim đã có hàng tỷ hạt nhân nguyên tử, hàng tỷ proton, hàng tỷ neutron và electron. Vô lượng này, từ vĩ đại như vũ trụ cho đến nhỏ bé như lỗ kim, đều chứa đựng nhiều thành phần như vậy, cho nên vô lượng được giải thích như thế.

Ở đây giải thích: "Ánh sáng mặt trời, ánh sáng mặt trăng chiếu soi khắp thế giới không hề bị ngăn ngại, sơn hà đại địa không thể cản trở được ánh sáng của Ngài, ánh sáng của mười phương cõi Phật đều là vô lượng, vì vậy nên có danh hiệu là A Di Đà."

Vừa rồi tôi đã giảng với mọi người về vô lượng quang của Đức Phật A Di Đà. Mỗi người chúng ta trong quá trình tu tập thiền định, chỉ cần đạt được trạng thái vô ngã thì cũng có thể hiển hiện vô lượng quang. Ý nghĩa của câu này là không nên nhớ nghĩ về bản thân, không nghĩ về người mình yêu thương, cũng không nghĩ về người mình ghét, không giận dữ, không đố kỵ, trong lòng không buồn phiền, cũng không vui mừng. Khi đạt được trạng thái cân bằng tuyệt đối này thì mới có thể tập trung tinh thần và đạt đến vô ngã. Lúc này sẽ cảm thấy thân thể rất nhẹ nhàng, như đang bay bổng; tinh thần vốn đã tập trung, sau đó hóa thành hư không, rồi mở rộng thành ánh sáng mười phương; trước tiên tập trung thành một điểm sáng, sau đó mở rộng điểm sáng đó, từ các lỗ chân lông tỏa ra ánh sáng mười phương. Đã vô ngã thì thân xác cũng không còn. Lúc này ánh sáng bên ngoài và ánh sáng từ thân hòa làm một, dung hợp thành ánh sáng vũ trụ, lúc đó bạn chính là Phật A Di Đà. Tu hành nhập vào Tam ma địa của Phật A Di Đà thì có thể hóa thành ánh sáng mười phương, trong ngoài hợp nhất. Khi đó, ánh sáng vũ trụ sẽ hút lấy bạn, chỉ kéo một cái là đưa bạn lên thế giới Tây phương Cực Lạc. Tôi thành thật nói với mọi người, điều này hoàn toàn dựa vào sức mạnh của thiền định, nương vào tự lực để trực tiếp sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc.

Nói chung, Hiển giáo vì bản thân chưa thể phóng quang bay đi được, chỉ có thể nương nhờ ánh sáng của Phật A Di Đà chiếu rọi, hút lấy chút ánh sáng nhỏ như ngọn nến trên thân mình, tu hành thực ra là như vậy. Hôm nay giảng đến đây.

Om mani padme hum.


### 50. Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Thọ mạng của Đức Phật ấy… Đức Phật A Di Đà thành Phật đến nay đã được mười kiếp


Kinh văn: 

"Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Thọ mạng của Đức Phật ấy và nhân dân của Ngài là vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp, nên có hiệu là A Di Đà. Này Xá Lợi Phất! Đức Phật A Di Đà thành Phật đến nay đã được mười kiếp."

Tối nay chúng ta tiếp tục giảng "Kinh A Di Đà Thích Yếu". Tuần trước đã giảng đến câu "chiếu khắp mười phương cõi nước, không bị chướng ngại, vì vậy có hiệu là A Di Đà".

Tôi đọc tiếp một đoạn kinh văn: "Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Thọ mạng của Đức Phật ấy và nhân dân của Ngài là vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp, nên có hiệu là A Di Đà." Đoạn này nói về thọ mạng của Đức Phật A Di Đà cũng là vô lượng.

"Đức Phật A Di Đà thành Phật đến nay đã được mười kiếp." Mười kiếp này, có lẽ là mười năm chăng? Giả sử tính một kiếp là một trăm năm thì cũng chỉ được một nghìn năm. Thực ra phải hiểu như thế này, vì sao gọi Phật A Di Đà là thọ mạng vô lượng? Bởi vì thọ mạng của Ngài quả thật rất dài, tựa như vô lượng, thực ra không phải là thực sự không có khởi đầu, không có kết thúc, mà là thọ mạng của Ngài rất dài, giống như vô lượng vậy.

Điều mà chúng ta gọi là một đại kiếp có thể tính như thế này: giống như trái đất, vũ trụ có giai đoạn "thành", sau khi thành rồi trải qua một thời gian là giai đoạn "trụ", rồi khi sự vật hư hoại đi là giai đoạn "hoại", "hoại" rồi lại trở thành "không", thành-trụ-hoại-không, tính như vậy thành một kiếp.

Nhiều nhà khoa học nghiên cứu tuổi thọ của Trái đất, phát hiện ra trước đây có cái gọi là chuyển động tạo núi, giống như núi biến thành biển, biển lại biến thành núi. Chu kỳ này đã xảy ra bảy lần, vì vậy đôi khi trên đỉnh núi có thể tìm thấy vỏ sò, còn dưới đáy biển cũng có thể có núi lửa.

Trái đất trải qua mỗi chu kỳ thành-trụ-hoại-không được tính là một tiểu kiếp; tám mươi tiểu kiếp gọi là một đại kiếp. Như vậy Phật A Di Đà đã thành Phật được mười đại kiếp rồi, chúng ta thử nghĩ xem, thọ mạng này thực sự quá dài, khó có thể tưởng tượng được có thọ mạng dài như vậy, cho nên Phật A Di Đà là quang vô lượng, cũng là thọ vô lượng.

Lại nói về "trong ánh sáng có thọ mạng, trong thọ mạng có ánh sáng". Ánh sáng vô lượng và thọ mạng vô lượng như vậy dường như đã vượt quá khả năng tưởng tượng của con người chúng ta. Có nhiều điều rất khó tưởng tượng, giống như ánh sáng di chuyển, ánh sáng của Phật A Di Đà di chuyển trong vũ trụ, đương nhiên cũng mang theo thọ mạng, bởi vì ánh sáng di chuyển ắt phải có tốc độ, đã có tốc độ thì nhất định có thời gian, đã có thời gian thì nhất định có thọ mạng. Phật A Di Đà ở một thế giới Tây phương Cực Lạc rất xa xôi, từ nơi này đến chỗ Phật A Di Đà phải trải qua không gian và thời gian của hàng tỷ năm. Chúng ta phải dùng hiện tượng vũ trụ mới có thể hiểu được ý nghĩa của quang vô lượng và thọ vô lượng.

Om mani padme hum.


### 51. Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Đức Phật ấy có vô lượng vô biên đệ tử Thanh Văn… thành tựu công đức trang nghiêm như thế.


Kinh văn: 

"Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Đức Phật ấy có vô lượng vô biên đệ tử Thanh Văn, đều là bậc A La Hán, không thể dùng toán số mà biết được, các Bồ Tát cũng như vậy. Này Xá Lợi Phất! Cõi Phật ấy thành tựu công đức trang nghiêm như thế."

Ở đây lại nói: "Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Đức Phật ấy có vô lượng vô biên đệ tử Thanh Văn, đều là bậc A La Hán, không thể dùng toán số mà biết được, các Bồ Tát cũng như vậy."

Những vị gọi là Thanh Văn đều là người tu hành và đạt được thành tựu trong tĩnh lặng, Thanh Văn chính là A La Hán. Có một số người có thể tu theo Thanh Văn thừa, tính tình khá nóng nảy, lại khá cô độc, thích yên tĩnh, họ có thể tu theo Thanh Văn thừa, bởi vì họ không thích độ chúng sinh, chỉ cần nhắc đến việc độ chúng sinh là nổi giận. Phần lớn những vị Thanh Văn, đều thấy người trong thế gian này khó độ, nhìn mà không chịu nổi, lại sinh tâm sân hận, nên một mình tu trên núi. Thanh Văn vì bản thân khá cố chấp, nóng tính, cũng không thích chúng sinh, chỉ thích tu hành một mình, nên mới trở thành Thanh Văn.

Ở đây chúng ta có Thập Bát La Hán, tất cả đều là bậc Thanh Văn. Tượng điêu khắc của các ngài trông khá nghiêm nghị, với những nét mặt độc đáo. Mỗi vị Thanh Văn đều có điểm cố chấp riêng, có vị suốt đời không chịu mở mắt vì cho rằng nhìn thấy mọi thứ trên đời sẽ làm ô nhiễm đôi mắt. Có vị hoàn toàn không nói một lời nào, bởi họ cho rằng khẩu nghiệp đều từ miệng mà ra, nên giữ miệng như bình, không nói lời nào. Có vị không nghe bất cứ điều gì, vì cho rằng mỗi lần người ta nói chuyện đều là bàn chuyện thị phi, lời có ý nghĩa thì ít mà chuyện phiếm thì nhiều, không muốn nghe nhiều lời, nên bịt kín tai lại, nếu vô tình nghe được âm thanh nào lọt vào tai thì vội vàng chạy ra bờ sông rửa tai.

Những vị La Hán này, mỗi người đều có những điểm cố chấp riêng. Có người chỉ sống trên cây, không chịu xuống. Trước đây có một vị thiền sư Điểu Sào cũng sống trên cây không chịu xuống, có người nói với ngài: "Sống trên cây rất nguy hiểm." Ngài đáp: "Tôi ở trên cây không bao giờ sợ nguy hiểm." Chúng ta sống dưới mặt đất có nhiều nguy hiểm, đi trên đường có thể gặp tai nạn xe cộ, hỏa hoạn bất ngờ; ngoài thiên tai ra còn có những khó khăn do con người gây ra. Nhưng ngài sống trên cây lại rất an toàn, bởi vì không xâm phạm đến ai, nên người khác cũng không làm hại ngài. Vì vậy những vị Thanh Văn thực ra có lý lẽ riêng của họ.

Bây giờ chúng ta hãy nói về Bồ Tát chúng. Bồ Tát khó tu hơn Thanh Văn, vì Bồ Tát phải độ chúng sinh, Bồ Tát là người nguyện độ tất cả chúng sinh hữu tình. Không giống như Thanh Văn, Bồ Tát có thể hàng phục rồng và chế ngự hổ. Làm Bồ Tát phải sẵn sàng xả thân, nếu có con hổ đói đi đến, còn phải bước tới cho nó ăn. Bồ Tát vì lòng từ bi độ chúng sinh, nên xem tất cả chúng sinh hữu tình trong thế gian như chính mình. Thậm chí có những vị nữ Bồ Tát, khi thấy người đàn ông hung ác, còn cố ý kết duyên với họ, rồi từ đó khuyên bảo, khiến họ quay đầu hướng thiện; những vị Bồ Tát như vậy, đã xả bỏ cả sinh mạng và danh tiết của mình. Đây chỉ là ví dụ, mọi người đừng bắt chước, bởi vì nếu bạn muốn khuyên một người xấu mà không thành công, lại còn hy sinh bản thân, thì không tốt chút nào.

Bồ Tát còn được gọi là Giác Hữu Tình, tức là dùng sự giác ngộ của mình để ảnh hưởng đến chúng sinh hữu tình, khiến chúng sinh cũng được giác ngộ, đó chính là Bồ Tát.

Om mani padme hum.


### 52. Này Xá Lợi Phất! Chúng sinh nào… vô lượng vô biên a-tăng-kỳ.


Kinh văn:

"Này Xá Lợi Phất! Chúng sinh nào sinh về cõi nước Cực Lạc đều là bậc bất thoái chuyển. Trong số đó có rất nhiều vị Nhất Sinh Bổ Xứ, số lượng nhiều không thể tính đếm được, chỉ có thể nói là vô lượng vô biên a-tăng-kỳ."

Ở đây lại nói: "Này Xá Lợi Phất! Chúng sinh nào sinh về cõi nước Cực Lạc đều là bậc bất thoái chuyển. Trong số đó có rất nhiều vị Nhất Sinh Bổ Xứ, số lượng nhiều không thể tính đếm được, chỉ có thể nói là vô lượng vô biên a-tăng-kỳ."

Trước đây khi tôi tụng kinh, thường tụng về A-bệ-bạt-trí này, vậy A-bệ-bạt-trí là gì? Chúng ta dịch là "bất thoái", tức không thoái chuyển. Tất cả chúng sinh khi đến Tây phương Cực Lạc thế giới đều được gọi là A-bệ-bạt-trí, nghĩa là đã đạt đến trạng thái không còn thoái chuyển. Ở đây nói về bất thoái có ba ý nghĩa:

Thứ nhất gọi là danh vị bất thoái. Cần biết rằng, địa vị của chúng sinh đều là thăng trầm vô thường, ở cõi Ta Bà này, chúng sinh sống trong cõi phàm trần, địa vị đều phải thoái. Trước đây Sư Tôn có xem tướng số cho người khác, có một vị cấp trên đến hỏi tôi: "Khi nào tôi có thể đạt được chức vụ cao nhất?" Tính toán một hồi, tôi biết một năm sau ông ấy sẽ lên được chức vụ Cục trưởng cao nhất ngành đo đạc, nhưng chưa đầy một năm sau sẽ rớt xuống vị trí thấp nhất. Tôi nói với ông ấy: "Một năm sau ông sẽ được làm Cục trưởng." Nhưng tiếp theo tôi nói: "Tuy nhiên sau một thời gian, ông sẽ..." Chưa nói hết câu thì ông ấy đã nói: "Không cần nói nữa." Ông ấy bảo chỉ cần biết được chức vụ cao nhất là đủ rồi. Vị cấp trên của chúng tôi thực sự đã đạt đến chức vụ cao nhất, nhưng vì phạm phải một sai lầm, khi mọi người đến tìm ông, ông cầm kéo nói: "Đừng ai đến tìm tôi, tôi sẽ tự kết liễu!" Rồi ông lấy kéo đâm vào bụng mình, chưa đầy một năm giữ chức vụ cao đó thì đã tự sát. Đúng như lời Sư Tôn đã nói: "Từ địa vị cao nhất bỗng chốc rơi xuống thấp nhất", thậm chí là xuống tận địa ngục.

Tôi đã thấy rất nhiều trường hợp, các cấp trên của chúng tôi đều leo lên từng bước, leo đến tận đỉnh, rồi "bộp" một cái là rơi xuống. Sư Tôn là người từng trải qua ba đời thượng cấp. Bản thân tôi là kỹ sư kiêm nhân viên đo đạc, mãi mãi chỉ là nhân viên đo đạc kiêm kỹ sư; tôi tận mắt chứng kiến ba vị cấp trên đều lên đến đỉnh cao nhất, rồi rơi xuống, lại đẩy một người khác lên, rồi người đó cũng bị đẩy xuống. Chính trị cũng vậy, người này lên, người kia mất chức, rồi người khác lại lên, người khác lại mất chức, đều như thế cả.

Vì vậy đến Tây phương Cực Lạc có một điều tốt là một khi đã lên rồi thì không còn bị trượt xuống nữa, không giống như chúng ta chơi cầu trượt. Nếu Tây phương Cực Lạc mà giống như cầu trượt thì tôi không muốn đến đó. Bất thoái này có nghĩa là không còn thoái chuyển nữa, đây gọi là danh vị bất thoái.

Thứ hai là tu hành bất thoái. Trong Tây phương Cực Lạc, môi trường xung quanh tạo nên một nguồn năng lượng tích cực, khuyến khích sự tinh tấn tu tập. Tất cả những gì hành giả nhìn thấy, nghe thấy và cảm nhận được đều là những điều thiện lành của sự tu tập - từ cảnh quan thanh tịnh, âm nhạc vi diệu, đến niềm an lạc trong thiền định. Chính môi trường thù thắng này đảm bảo cho sự tinh tấn không bị thoái chuyển.

Thứ ba là niệm bất thoái. Vì tâm bạn đã hòa nhập vào biển pháp của vũ trụ, nên tâm trở nên rộng lớn vô biên, lấy tâm vũ trụ làm tâm mình. Tâm niệm của người thường chúng ta thường là những suy nghĩ nhỏ nhen, tâm lượng hẹp hòi, ví dụ như: đôi khi làm gì cũng không vừa ý (chú thích: tiếng Đài Loan), nghĩa là không được hoàn hảo. Chúng ta lấy một ví dụ: như khi tôi mời khách, tôi đi mời họ, họ không đến, trong lòng chúng ta sẽ nghĩ là họ coi thường mình; tôi mời bạn mà bạn không đến? Thật là kiêu ngạo! Chắc chắn là coi thường tôi rồi, trong lòng không thoải mái, lần sau bạn mời tôi, mười lần tôi cũng không đi. Ngược lại, nếu tôi mời khách, bạn đến, nhưng lại dẫn theo mười người, mà tôi không chuẩn bị nhiều như vậy! Trong lòng rất không vui, trên mặt cũng lộ vẻ khó chịu. Nhất là khi chỉ mang đến một chai rượu sake thường, trong lòng bạn nghĩ: "Lần này thua lỗ rồi, lần sau bạn mời khách tôi sẽ dẫn một trăm người đến." Người đến sớm, bạn chưa chuẩn bị xong, trong lòng không thoải mái; người đến muộn, lại cho là không giữ đúng giờ; có khi khách đến, làm bẩn chỗ này chỗ kia, trong lòng lại nổi giận, còn có người làm vỡ cả đồ cổ quý giá. Vì vậy để làm được mọi việc thật hoàn hảo, thật khó!

Người tu hành khác với người thế tục, người tu hành do tâm lượng rộng lớn, tư tưởng cao rộng, nên cho dù trong hoàn cảnh nào cũng có thể thông cảm cho người khác, tâm họ luôn rộng lớn, tự nhiên không thoái chuyển, đây gọi là niệm bất thoái.

Nếu tâm lượng nhỏ hẹp, làm bất cứ việc gì cũng sẽ sinh phiền não; nếu tâm lượng rộng lớn, việc gì cũng không gây phiền não. Người học Phật khi đến thế giới Tây phương Cực Lạc, cũng không thể nào còn những phiền não đó nữa. Không thể nào khi ở Tây phương Cực Lạc lại bỗng nhiên nghĩ: "Chết tiệt! Ai cũng được gặp Phật A Di Đà, chỉ có mình tôi là chưa được gặp, tức quá, tôi về đây!" Hoặc nói: "Tối qua Phật A Di Đà dạy sư huynh tôi một pháp bí mật, còn tôi chỉ được dạy một pháp nhỏ, tôi cũng tức lắm, quyết định bỏ về!" Đây đều là những biểu hiện của niệm thoái chuyển - tư tưởng thoái chuyển, nhưng khi đến thế giới Tây phương Cực Lạc rồi thì sẽ không còn những hiện tượng này nữa.

Danh bất thoái chuyển, tu hành bất thoái chuyển, ý niệm bất thoái chuyển, ba loại bất thoái chuyển này được gọi là A-bệ-bạt-trí.

Trong đó còn có rất nhiều vị Phật, rất nhiều vị Bồ Tát, các vị Phật tương lai, các vị Bồ Tát tương lai, đều được gọi là hậu bổ Phật, nghĩa là sự bổ sung về sau. Hậu bổ có nghĩa là bạn cứ ở đó chờ đợi, một ngày nào đó chắc chắn sẽ đến phiên mình, rồi sẽ có ngày đến lượt mình.

Om mani padme hum.


### 53. Này Xá Lợi Phất! Chúng sinh nghe được… được cùng hội họp một chỗ với các bậc thượng thiện nhân như thế.


Kinh văn:

"Này Xá Lợi Phất! Chúng sinh nghe được điều này nên phát nguyện sinh về cõi ấy. Vì sao vậy? Vì sẽ được cùng hội họp một chỗ với các bậc thượng thiện nhân như thế."

Chúng ta hãy đọc một đoạn kinh văn: "Này Xá Lợi Phất! Chúng sinh nghe được điều này nên phát nguyện sinh về cõi ấy. Vì sao vậy? Vì sẽ được cùng hội họp một chỗ với các bậc thượng thiện nhân như thế." Đoạn kinh văn này dạy rằng: "Chúng ta nên phát nguyện vãng sinh về cõi Phật Tây phương Cực Lạc. Vì sao vậy? Bởi vì khi đến đó, ta sẽ được cùng hội họp với tất cả những bậc thiện nhân."

Tôi tin rằng ở thế giới Tây phương Cực Lạc, khắp nơi đều treo những túi hương thơm. Nói về các bậc thượng thiện nhân - đều là những người tốt, nói về việc hội họp một chỗ tức là mọi người cùng nhau tụ hội, những người rất tốt, rất thiện lành đều tụ hội một nơi, giống như việc chúng ta hiện nay có thể cùng nhau tụ hội, lắng nghe Phật pháp, chính là "cùng các bậc thượng thiện nhân hội họp một chỗ" vậy.

Tôi nhớ trước đây ở một nơi nọ, buổi sáng có rất nhiều người tập thể dục, có người múa kiếm, có người tập võ, có người chạy bộ, có người nhảy dân vũ. Nhưng đôi khi người ta nhận thấy họ chỉ "tập thể dục cái miệng". "Tập thể dục cái miệng" là gì? Bề ngoài thì nói là đi chạy bộ buổi sáng, nhưng thực tế mọi người tụ tập lại chỉ để nói chuyện mà chẳng chạy. Nhiều người rất thích "tập thể dục cái miệng", bàn tán chuyện thị phi, như thể không được nói thì khó chịu lắm. Thường xuyên A nói với B, B nói với C, bảo A đừng nói với B nữa, cũng bảo B đừng nói với C nữa, nhưng cuối cùng ai cũng biết hết, đây chính là "những kẻ xấu xa tụ họp một chỗ". Con người có một căn bệnh chung, thật kỳ lạ! Đó là càng là chuyện bí mật thì càng thích nghe, mà càng là chuyện bí mật thì càng thích nói; điều tốt thì tuyệt đối không nói, còn khuyết điểm của người khác thì nhất định phải nói ra.

Vì vậy chúng ta đến đây tham gia đồng tu, đến niệm Phật, cùng tu tập, nghe Phật pháp, chính là mong mọi người bớt vận động cái miệng đi một chút, vận động đôi tai nhiều hơn một chút. Ngoài ra, khi đến đây, hãy cố gắng để bản thân không có phiền não, tâm được quang minh thanh tịnh.

Tất nhiên, trong xã hội cũng có rất nhiều hội nhóm tốt, như Hội Sư Tử, Hội Rotary, Hội Đồng Tế, đều là những hội rất tốt. Tuy nhiên tôi cho rằng những hội cao cấp như vậy, đôi khi cũng không tránh khỏi một số tật xấu, những điều này sau này sẽ biến thành "hội khoe của". Hội Sư Tử, Hội Rotary đều rất tốt, nhưng một khi đến đó, nếu phải so kim cương của ai to hơn, xe có phải dòng SEL không, bộ vest may ở nước nào, áo khoác kia làm từ da chồn bắt ở Bắc Cực... những điều này tuy là "các bậc thượng thiện nhân tụ hội một chỗ", nhưng vẫn không thoát khỏi tâm thái "khoe của" của người phàm tục.

Ở nơi đây của chúng ta, khi "các bậc thượng thiện nhân cùng hội họp một chỗ", hoàn toàn không có sự hư vinh và tâm danh lợi của người phàm tục, ở đây chỉ có tu hành, niệm Phật, mọi người đều bình đẳng như nhau. Chúng ta đều phát nguyện vãng sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc, đây chính là một nguyện vọng vô thượng, không có nguyện vọng nào cao hơn thế nữa.

Chúng ta có thể thấy rằng, người đời nếu không tu hành thì trong cuộc đời chỉ có hai mục đích - một là tranh danh, hai là tranh lợi. Cuộc đời rốt cuộc đang theo đuổi điều gì? Chính là hai điều này. Nhưng hôm nay chúng ta đến đây là để vượt thoát danh và lợi, nên mới gọi là vô thượng, việc quan trọng bậc nhất mà chúng ta theo đuổi chính là đạo; còn người đời chỉ theo đuổi hình tướng bên ngoài, theo đuổi danh lợi, nên không thể hiểu được đạo. Những người đắc đạo như chúng ta không còn phiền não thế gian, nhưng những người ở ngoài cửa đạo vẫn đang theo đuổi phiền não thế gian. Khi về đến thế giới Tây phương Cực Lạc, tương lai mọi người đều là Bồ Tát, đều là La Hán. Bồ Tát và La Hán là những bậc đã dứt sạch mọi phiền não, đoạn trừ tất cả phiền não, họ tụ hội nơi Cực Lạc tịnh độ, đó mới thực sự là "chư thượng thiện nhân tụ hội một chỗ".

Om mani padme hum.


### 54. Này Xá Lợi Phất! Không thể dùng chút ít thiện căn, phước đức, nhân duyên mà được sinh về cõi ấy


Kinh văn:

"Này Xá Lợi Phất! Không thể dùng chút ít thiện căn, phước đức, nhân duyên mà được sinh về cõi ấy."

Chúng ta hãy đọc một đoạn kinh văn: "Này Xá Lợi Phất! Không thể dùng chút ít thiện căn, phước đức, nhân duyên mà được sinh về cõi ấy."

Trên thế gian này, nhiều người làm việc thiện đều mong được đăng báo, để mọi người biết họ đã làm việc tốt, đó gọi là "hữu sở vị nhi vi" (làm vì mục đích); còn người tu hành chúng ta là "vô sở vị nhi vi" (làm không vì mục đích).

Làm vì mục đích thì cũng có thể sinh lên cõi trời, không phải làm như vậy là sai, nhưng phước báo và đức hạnh có được từ cách làm này khá ngắn ngủi, không phải vô hạn, chỉ là phước báo hữu hạn mà thôi. Tất nhiên chúng ta đều cần có những thiện căn này mới có thể vãng sinh về Tây phương Cực Lạc, nhưng những thiện căn này không phải để cầu phước báo sinh thiên, mà là để cầu phước báo thanh tịnh, tức là phước báo hoàn toàn trong sạch, mới có thể vãng sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc. Nhiều người làm việc thiện thực ra cũng chỉ vì danh tiếng; khi chúng ta làm việc thiện, phát tâm, đừng trụ tâm vào đó rồi mới sinh tâm, đừng vì có mục đích mới làm, như vậy không tốt. Không mục đích, giữ một lòng, công đức hoàn toàn thanh tịnh, mới thực sự là công đức của tịnh thổ.

Tối nay Thượng sư Liên Chủ giảng về câu "gần mực thì đen, gần đèn thì sáng", hoàn toàn phù hợp với đạo lý trong Kinh A Di Đà mà chúng ta đang giảng tối nay. Những thứ ô uế, chỉ cần tay chạm vào, trong thời gian rất ngắn, thân thể đã nhiễm mùi hôi. Chúng ta đến đây tu pháp, khi về thân thể đều tỏa hương thơm, vì vậy chúng ta làm bất cứ việc gì cũng phải có tiết chế.

Khổng Tử từng nói rằng, chúng ta cần biết sống vui vẻ, nhưng không được vượt quá giới hạn - tức là không vượt qua khuôn phép. Ví dụ như uống rượu cũng là việc rất vui, nhưng không được uống say, uống say thì trở thành đau khổ. Bạn có thể đến vũ trường nhảy múa cũng không sao, just exercise, chỉ là để tập thể dục, nhưng ngoài việc tập thể dục ra, nếu còn có những tiết mục khác thì đã vượt quá khuôn phép rồi. Ở Mỹ, cách chào hỏi lịch sự của họ là ôm nhau, còn người phương Đông chúng ta chỉ dừng lại ở bắt tay mà thôi, nhưng dù là ôm hay bắt tay, đều phải biết tự kiềm chế không vượt quá giới hạn. Vì vậy nhiều việc đều như thế, nếu chúng ta biết tự kiềm chế thì là thiện, không biết tự kiềm chế thì trở thành ác.

Người tu hành chúng ta cũng vậy, nếu biết tự kiềm chế thì việc tu hành sẽ không bị lạc đường lầm lối; còn tu hành mà không biết tự kiềm chế thì rất nguy hiểm. Không phải Phật sai, mà là tâm niệm sai. Từng có một người tu theo Bổn tôn Quan Thế Âm Bồ Tát, Quan Âm vốn rất trang nghiêm và thường xuyên hộ trì người đó, nhưng vì người này cảm thấy quá gần gũi với Bồ Tát Quan Thế Âm nên tâm niệm bị lệch lạc, cuối cùng còn nói rằng Bồ Tát Quan Thế Âm xuống hôn mình. Đây chính là tâm niệm không chân chính, kết quả cuối cùng đương nhiên là phải vào bệnh viện tâm thần. Vì vậy việc tu hành của chúng ta chính là tu cho tâm niệm hoàn toàn thanh tịnh, quang minh, không có những ý nghĩ xấu.

Ngoài ra, trước đây Thượng sư đã từng giảng, khi làm lễ cúng dường cần cúng dường Kim Xí Điểu, đó là một loài chim bay trong hư không, một con chim rất lớn, chuyên ăn thịt rồng. Nhưng có một đệ tử, tâm niệm không chân chính, anh ta nghĩ khi chim đang bay, liền lấy cung tên bắn vào chim. Anh ta không thể ngăn được ý nghĩ này, vốn dĩ là cúng dường Kim Xí Điểu, nhưng kết quả là mỗi lần quán tưởng đều thành bắn chết chim. Tôi tin rằng nhiều người khi quán tưởng cũng mắc phải căn bệnh này, cách tốt nhất là dừng việc cúng dường này lại.

Bởi vì những ý nghĩ trong tâm của con người qua nhiều kiếp, nhiều đời truyền lại, đều được cất giấu trong tiềm thức, bình thường không dễ hiện ra, nhưng khi tĩnh lặng lại thì sẽ hiện ra. Khi ngồi thiền, phát hiện trong tiềm thức toàn là những ý nghĩ chửi bới người khác, lúc này, cần phải chuyển đổi quan niệm, sau đó lấy một thứ thanh tịnh nhất để thay thế, chuyển đổi những ý nghĩ xấu đó đi. Thanh tịnh chính là những thứ rất trong sạch, hãy nghĩ đến một điều khác rất thanh tịnh, rất tốt đẹp, để chuyển đổi những ý nghĩ chửi bới trong tâm.

Sư Tôn từng trải qua nhiều kinh nghiệm tương tự, có một lần gặp một cô gái rất xinh đẹp bị bệnh tâm thần, khi cơn bệnh phát tác, những lời thô tục cô ấy thốt ra trong bệnh viện không ai dám nghe. Nhưng cha mẹ cô ấy nói rằng, bình thường cô ấy là người rất văn nhã, thậm chí không thể chịu được khi nghe một câu tục tĩu. Nhưng tại sao khi mắc bệnh tâm thần, những lời cô ấy nói ra lại khó nghe đến vậy? Thực ra Sư Tôn biết, đây đều là những ý niệm trong tiềm thức của cô ấy, chỉ là lúc bình thường, cô ấy đã kìm nén hoàn toàn những ý nghĩ xấu này mà thôi.

Việc tu hành của chúng ta chính là phải chuyển hóa những ý nghĩ xấu, những nghiệp ác từ kiếp trước, bằng cách dùng những ý niệm tốt đẹp, quán tưởng chư Phật Bồ Tát trang nghiêm để thay thế và chuyển đổi chúng. Đây là một phương pháp tu hành sâu sắc và vi diệu hơn. Hôm nay giảng đến đây.

Om mani padme hum.


### 55. Này Xá Lợi Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân… vãng sinh về cõi Cực Lạc của Phật A Di Đà


Kinh văn:

"Này Xá Lợi Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe nói đến Phật A Di Đà, chấp trì danh hiệu trong một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, bảy ngày, nhất tâm bất loạn, thì khi người ấy lâm chung, Phật A Di Đà cùng các thánh chúng sẽ hiện ra trước mặt. Người ấy khi mạng chung, tâm không điên đảo, liền được vãng sinh về cõi Cực Lạc của Phật A Di Đà."

Tối nay chúng ta tiếp tục giảng Kinh A Di Đà. Trước tiên chúng ta đọc kinh văn: "Này Xá Lợi Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe nói đến Phật A Di Đà, chấp trì danh hiệu trong một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, bảy ngày, nhất tâm bất loạn, thì khi người ấy lâm chung, Phật A Di Đà cùng các thánh chúng sẽ hiện ra trước mặt. Người ấy khi mạng chung, tâm không điên đảo, liền được vãng sinh về cõi Cực Lạc của Phật A Di Đà."

Đoạn kinh văn này, nhiều người đọc xong trong lòng rất hoan hỷ, vì nghĩ rằng chỉ cần niệm Phật một ngày là đủ. Có người nói trong này viết tối đa chỉ cần niệm bảy ngày; nhưng thực ra Sư Tôn biết rằng, đoạn kinh văn này rất sâu sắc và khó thực hành. Nhiều người đọc đoạn kinh này tưởng rằng việc vãng sinh về Tây phương Cực Lạc dễ dàng như vậy, niệm một ngày, hay hai ngày, hoặc một tuần là có thể vãng sinh. Trong này có một số điểm khó khăn, tôi xin giải thích trước.

Thứ nhất, khi nói "nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân" đã là một điều rất khó. Như vừa rồi Thượng sư Liên Chủ có kể, có người đã thỏa thuận với thần linh, rồi trộm bài vị thần, vậy có thể gọi là người tốt không? Khi nói chuyện với Bồ Tát, người đó nói: "Con đã thưa với Bồ Tát rồi! Đây là mượn thôi." Nói rõ là mượn. Hơn nữa, ban đầu trộm một bài vị vàng, đợi kiếm được nhiều tiền hơn sẽ trả lại hai cái, tưởng rằng như vậy là công đức. Nhưng chúng ta biết, đây không phải là việc thiện.

Trước đây trong Kinh Thánh có một câu: "Trên đời này không có một người tốt nào, dù là nửa người cũng không." Nếu như không có dù chỉ nửa người tốt, vậy thì thiện nam tử, thiện nữ nhân này từ đâu ra? Theo lời Kinh Thánh, tất cả mọi người đều phải xuống địa ngục, còn nói gì đến việc vãng sinh về Tây phương Cực Lạc? Chúa Jesus cũng từng nói: "Nếu trong số các ngươi đây, ai là người tốt, chưa từng làm điều sai trái, hãy cầm đá ném ta." Vào lúc đó không ai dám cầm đá ném Ngài. Do vậy, ngay từ câu đầu tiên "thiện nam tử, thiện nữ nhân" đã là điều rất khó thực hiện.

Chữ "thiện" ở đây không nhất thiết chỉ việc làm thiện, mà là chỉ tâm địa vô cùng quang minh, tâm rất an bình, rất trong sạch, không hề cảm thấy nhất định phải lên thiên đường, cũng không cảm thấy nhất định phải xuống địa ngục, họ thấu hiểu mọi đạo lý. Tóm lại, không phải đi cầu xin điều gì, mà là hoàn toàn an trú trong một cảnh giới vô cùng quang minh, thanh tịnh. Đây mới chính là thiện nam tử, thiện nữ nhân chân chính.

Tiếp theo, cụm từ "nghe nói đến Phật A Di Đà" cũng là điều rất khó. Mọi người nghĩ, Sư Tôn hàng ngày đều niệm A Di Đà Phật, niệm A Di Đà Phật với mọi người, làm sao lại khó được? Được rồi, chúng ta hiện đang sống ở Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, một nơi rất đẹp, nhưng bạn thử hỏi người phương Tây xem có bao nhiêu người biết đến A Di Đà Phật? Dù có nghe qua thì họ cũng không hiểu đang niệm gì? Như đã từng nói, khi mọi người niệm "Nam mô A Di Đà Phật", nhiều người phương Đông lại giải thích câu này thành: "Phương Nam không có A Di Đà Phật"; rất nhiều người phương Tây chưa từng nghe đến A Di Đà Phật, nên câu này cũng rất khó. Hôm nay chúng ta truyền bá kinh này ở phương Tây, cũng chính là hy vọng các đệ tử phương Tây có thể niệm danh hiệu Phật này, có thể có được năng lực như vậy để vãng sinh.

Tôi tin rằng nhiều người khi lâm chung không niệm A Di Đà Phật. Người phương Tây thường thích niệm "my God", có khi niệm "boy", người phương Đông thích niệm "Ôi mẹ ơi!". Đến lúc lâm chung, để niệm một câu "A Di Đà Phật" cũng rất khó. Người ta khi lâm chung, nếu không có nền tảng niệm Phật lâu dài, sẽ không có cách nào nhớ được danh hiệu này, lúc đó, ngay cả một chữ "A", chữ "A" trong câu A Di Đà Phật cũng không niệm ra được! Tôi còn nói thật với mọi người, lúc đó, trong hoàn cảnh lâm chung, có khi ngay cả họ tên của mình là gì cũng không nhớ nổi.

Tôi từng biết một chuyện, khi người ta bệnh rất nặng, có lúc bạn dẫn trẻ con đến thăm bệnh nhân: "Xem ai đến thăm này?" Bệnh nhân đó không thể gọi được tên người đó, gọi rất nhiều tên đều gọi sai. Điều này cho thấy lúc đó đã thần trí không minh mẫn, vào thời điểm đó bảo họ niệm "A Di Đà Phật" càng khó hơn. Bình thường không niệm, trong tâm không có hạt giống Phật, đến lúc đó sẽ không niệm ra được.

Tại sao có đoạn kinh văn này? Đó là vì Ngài hy vọng tất cả đệ tử biết phương pháp này rất đơn giản, rất thuận tiện, là để khuyến khích mọi người, nói rằng niệm Phật là có thể vãng sinh. Cho nên ở đây nói "nếu một ngày", thực ra không chỉ một ngày không niệm được, một câu bạn cũng không niệm nổi.

Cuối cùng Ngài nói "khi người ấy mạng chung", lúc con người lâm chung "tâm không điên đảo", cái "tâm không điên đảo" này cũng rất khó. Khi lâm chung, người ta nghĩ đến điều gì? Họ nghĩ đến nỗi đau khổ của thân tâm đang phân ly, như thể thân thể đang tan rã, như núi lở đất nứt! Lúc đó quá đau đớn, chỉ nghĩ đến cơn đau, không thể nghĩ đến A Di Đà Phật. Xung quanh có nhiều người thân vây quanh, khi mọi người rất đau buồn, bạn chỉ nghĩ đến người thân, không nỡ xa lìa người thân, lúc đó bạn chỉ nghĩ đến người thân, không thể nghĩ đến A Di Đà Phật. Có nhiều người khi lâm chung, không còn nghĩ đến người thân nào nữa, tiếng khóc cũng không còn, hy vọng cũng không còn, đau khổ cũng không còn, nhưng đôi khi lại nghĩ đến số tiền riêng của mình, chỗ cất giấu mà không ai biết, không ai dùng thì phải làm sao? Điều này là có thật.

Chúng ta có một ví dụ như thế này. Có một đệ tử là một người giàu có, từ Mỹ bay sang Nhật, rồi khi bay về Đài Loan, tại sân bay bị nghẽn mạch cơ tim, ngất xỉu ngay lập tức, đây là cơn đau tim đột ngột, khi được đưa đến bệnh viện, bác sĩ cấp cứu ngay. Sau khi hôn mê gần cả chục ngày mới tỉnh lại, lần đầu tiên tỉnh lại, ông ta nói với người thân: "Chúng ta có bảo hiểm ở bệnh viện này không?" Câu đầu tiên của vị đại gia này là hỏi có bảo hiểm hay không? Vừa nghe không có bảo hiểm, lập tức mắng người thân, bảo nhanh chóng xuất viện, chuyển đến bệnh viện có bảo hiểm. Vì vậy, một đệ tử như thế này, khi lâm chung, bạn nghĩ họ có nghĩ đến A Di Đà Phật không? Người sắp chết rồi mà vẫn còn nghĩ đến vấn đề có bảo hiểm hay không!

Vì vậy, những người có tiền riêng hoặc cất giấu tiền riêng, hãy nói cho Sư Tôn biết số két sắt, thầm thì với Sư Tôn về nơi cất giấu, Sư Tôn sẽ không lấy đâu, đây gọi là "tâm điên đảo". Thực ra, vị đệ tử giàu có này, theo tôi biết, cách đây 7 năm, không nói đến hiện tại, 7 năm trước có tài sản hơn 8 tỷ Đài tệ, khi kinh doanh tốt nhất, một tháng kiếm được 100 triệu Đài tệ. Tuy nhiên theo lời ông ấy, khi thua lỗ nhiều nhất, một tháng lỗ 20 triệu Đài tệ. Thực tế, một người giàu có như vậy, vào lúc sinh tử, vẫn chỉ nhớ nghĩ đến bảo hiểm.

Tôi còn có một đệ tử khác, trước đây từng làm Phó Bộ trưởng. Khi lâm chung, ông ấy gọi người thân đến bên, chỉ để lại hai chữ di ngôn, hai chữ đó là "Bộ trưởng". Con trai ông nghe mãi như vậy, tưởng rằng cha mình sắp nói điều gì quý giá, nhưng ông chỉ nói hai chữ Bộ trưởng. Sư Tôn thì biết, tại sao vậy? Bởi vì vị Phó Bộ trưởng này thường nói với Sư Tôn rằng, điều tiếc nuối lớn nhất trong đời ông là chưa được làm Bộ trưởng. Ông cho rằng làm Phó Bộ trưởng thì còn phải đứng dưới một người, vẫn còn một Bộ trưởng ở trên, nếu được làm Bộ trưởng thì tức là tôi đã mãn nguyện rồi, tôi đã là người lớn nhất trong Bộ này, cho nên việc chưa được làm Bộ trưởng là điều khó quên nhất trong đời ông. Xin hỏi vị Phó Bộ trưởng này khi lâm chung có nghĩ đến A Di Đà Phật không? Ông ấy ngay cả một câu "A Di Đà Phật" cũng không niệm!

Còn Sư Tôn thì sao? Mỗi ngày gặp ai cũng nói "A Di Đà Phật". Thực ra, khi đi bộ chạy bộ tôi cũng niệm "A Di Đà Phật", khi ăn cơm cũng "A Di Đà Phật", khi ngủ cũng "A Di Đà Phật", khi chống đẩy cũng "A Di Đà Phật", khi tắm rửa cũng "A Di Đà Phật", khi nhổ cỏ cũng "A Di Đà Phật". Đây không phải là nhổ bỏ A Di Đà Phật đi, mà đã trở thành thói quen, biến thành một thói quen, làm bất cứ việc gì cũng đều "A Di Đà Phật".

Có lúc, khi đi vệ sinh cũng muốn niệm ra tiếng, nhưng biết là không hợp hoàn cảnh nên chỉ niệm thầm trong tâm. Khi chúng ta bị cảm cúm thật sự rất khổ, hoặc khi đau răng cũng rất khổ, thật ra cứ tiếp tục niệm "A Di Đà Phật", đau răng thì đương nhiên chỉ có niệm thôi, lúc đau đớn, cũng niệm "A Di Đà Phật". Mỗi lần Sư Tôn đi khám răng, nhắm mắt lại và cứ niệm mãi, niệm không ngừng. Dù sao răng cứ để nha sĩ nạo, họ nạo một cái, tôi dùng một câu "A Di Đà Phật" để chống lại, khi đau thì quán tưởng A Di Đà Phật phóng quang chiếu soi tôi, khiến tôi mát mẻ, khiến dao nạo của nha sĩ đừng nạo trúng thịt của tôi.

Sư Tôn cho rằng, tương lai chắc chắn tôi có thể vãng sinh, bởi vì tôi đâu chỉ niệm có bảy ngày! Hy vọng mọi người có thể thường xuyên trì danh hiệu "A Di Đà Phật", đừng đợi đến ngày cuối cùng mới niệm! Cũng đừng chỉ niệm có bảy ngày! Bởi vì khi thực sự xảy ra, như bệnh tim đột ngột chỉ là chuyện vài giây, vài phút, bạn không kịp một ngày đâu! Không ai may mắn đến mức bị bệnh kéo dài lâu như vậy.

Thực tế có những người khi bị bệnh, họ biết phải niệm Phật, nên cứ niệm mãi, kết quả niệm cả năm mà vẫn chưa được siêu thoát; có nhiều người cứ niệm liên tục, từ lúc bị bệnh bắt đầu niệm, kết quả niệm suốt bốn năm, năm năm mà vẫn chưa chết, cuối cùng họ nổi giận, không niệm nữa, và chính trong ba giờ không niệm đó thì họ qua đời. Đây chính là tâm điên đảo, không thể giữ vững được ba giờ cuối cùng, tâm đã điên đảo mất rồi. Thực ra, việc "tâm không điên đảo" là điều khó nhất.

Vừa rồi chúng ta đều ngồi thiền, ai là người thực sự không có một chút vọng niệm nào, chỉ còn một tâm đang sống, là ai? Giơ tay lên! Khi ngồi thiền vừa rồi, bạn hãy tự nghĩ xem, mình đang nghĩ gì? Những người khi ngồi thiền vừa rồi mà không có vọng tưởng lăng xăng, đó là người đầu tiên có thể vãng sinh về Tây phương Cực Lạc. Những người vừa rồi hoàn toàn không nghĩ gì cả, hoàn toàn trống rỗng, ngồi xuống là hoàn toàn trống rỗng, không nghĩ gì hết, chắc chắn sẽ vãng sinh. Thứ hai, những người khi ngồi thiền, luôn giữ Địa Tạng Vương Bồ Tát trong tâm, nhập vào Tam ma địa của Địa Tạng Vương Bồ Tát, cũng chắc chắn được vãng sinh. Ngoài hai trường hợp này ra, tất cả đều không thể vãng sinh.

Thời gian ngồi thiền vừa rồi rất ngắn, chỉ có 4 phút thôi. Ngay cả Sư Tôn cũng không thể vãng sinh được, bởi vì tôi đã để ý đến đồng hồ. Bạn hãy nghĩ xem, chỉ ngồi thiền có 4 phút mà đã không thể kiểm soát được vọng niệm, suy nghĩ lung tung, vậy thì lúc lâm chung làm sao niệm Phật được? Cho nên việc giữ tâm không điên đảo là rất khó, đặc biệt là trong thời khắc lâm chung khi ý chí không thể hoàn toàn tự kiểm soát được, đó là lúc khó khăn nhất.

Những người thường ngày có niệm Phật, hoặc người nhập Tam ma địa, có thể đi vào trạng thái "không", và có thể đạt đến trạng thái "nhất", tức là trong trạng thái tinh thần thống nhất, đều có thể vãng sinh được.

Bởi vì bạn thường xuyên đi vào trạng thái không, hợp nhất với Phật, trở thành trạng thái "nhất", thân thể đã sinh ra từ tính. Trong kinh văn có viết "A Di Đà Phật cùng các thánh chúng, hiện ra trước mặt." Cái gọi là "hiện ra trước mặt" nghĩa là, Tây phương Cực Lạc thế giới tự nó là một nguyện lực rất lớn, là một từ trường rất mạnh, tự nó đang hút các chúng sinh; bản thân bạn là một nam châm, còn Ngài là một từ trường rất lớn, rất dễ dàng vì sự gần gũi của bạn, phù hợp với sự gần gũi của Tây phương, từ tính hai bên tương đồng, một khi hút vào, lập tức đến được Tây phương Cực Lạc thế giới.

Nếu thường ngày hoàn toàn không có từ tính đó, đến lúc lâm chung chỉ đơn giản niệm một câu A Di Đà Phật, chưa kịp tạo ra từ tính đó, thì giống như một chất cách điện, chỉ có câu niệm đó là có từ tính, lực hút này không đủ, không thể nào hút được bạn về, vì vậy bạn vẫn còn trong vòng luân hồi lục đạo.

Chúng ta không thể đợi đến ngày cuối cùng, hoặc tuần cuối cùng, mới bắt đầu nhất tâm bất loạn niệm Phật. Chúng ta phải thường xuyên niệm từ bây giờ, hơn nữa phải nhập định, vào Tam ma địa, sinh ra tính không của thân thể, hợp nhất với tinh thần, có như vậy mới có sức mạnh, có lực hút mới có thể vãng sinh được. Vì vậy đoạn này tương ứng với đoạn kinh văn trước, đoạn trước có nói: "Không thể với ít thiện căn phước đức nhân duyên mà được sinh về cõi đó."

Tuy nhiên Sư Tôn cho rằng, khi một người đến lúc lâm chung, tức là khoảnh khắc sắp chết, mà vẫn có thể niệm được một câu Phật hiệu, thì điều đó cho thấy vẫn còn có thể được cứu. Bởi vì câu Phật hiệu đó giống như một hạt giống, gieo vào trong tâm, nghĩa là trong tương lai khi luân hồi lục đạo, vẫn còn có Phật duyên này, có thể được nghe Phật pháp, có thể vãng sinh.

Trong lúc ngồi thiền 4 phút vừa rồi, có ai thực sự đạt được tính Không không? Hoàn toàn không có một ý niệm nào, không có vọng niệm. Có ai thực sự có ý niệm về Địa Tạng Vương Bồ Tát trong tâm không? Không nghĩ đến bất cứ điều gì khác, có ai không? Nếu có người như vậy, người đó chính là Phật, là một vị Phật chân chính. Bốn phút, không phải dễ đâu, bởi vì trong quá trình tu hành của chư Phật Bồ Tát, thường chỉ là khoảng không sinh ra giữa một niệm và một niệm.

Vì vậy, đoạn kinh văn vừa rồi, hy vọng mọi người có thể lĩnh hội, và quý trọng nhân duyên Phật pháp khó gặp này, chúng ta phải thường xuyên niệm Phật.

Om mani padme hum.


### 56. Này Xá Lợi Phất! Ta thấy lợi ích ấy… nên phát nguyện sinh về cõi nước ấy.


Kinh văn:

"Này Xá Lợi Phất! Ta thấy lợi ích ấy nên nói những lời này. Nếu có chúng sinh nào nghe được điều này, nên phát nguyện sinh về cõi nước ấy."

Trước tiên tụng một đoạn kinh văn: "Này Xá Lợi Phất! Ta thấy lợi ích ấy nên nói những lời này. Nếu có chúng sinh nào nghe được điều này, nên phát nguyện sinh về cõi nước ấy."

Vừa rồi Thượng sư Liên Thế nói rằng Sư Tôn đã bảo đảm, cam kết không trả lại giấy bảo đảm. Khi nghe điều này, trong lòng tôi rất lo sợ, bởi vì hiện nay có đến 200 nghìn đệ tử (chú thích: hiện nay đã có 5 triệu người), tôi phải bảo đảm cho 200 nghìn người, làm sao gánh nổi! Đến lúc đó dù có chặt thân thành nhiều mảnh cũng không đủ. Tuy nhiên, khi đọc đến đoạn kinh văn này thì không còn sợ nữa, bởi vì người bảo lãnh cho tấm phiếu bảo đảm này chính là Phật Thích Ca Mâu Ni. Đúng là tấm phiếu của tôi không sai, nhưng người bảo lãnh lại là Phật Thích Ca Mâu Ni! Khi bị trả lại phiếu, mọi người đừng tìm tôi, hãy đi tìm Phật Thích Ca Mâu Ni.

Mọi người có thấy đoạn kinh văn này nói gì không? Chữ "Ta thấy lợi ích ấy", chữ "Ta" chỉ ai vậy? "Ta" chính là Phật Thích Ca Mâu Ni. Đây là Phật Thích Ca Mâu Ni thấy được lợi ích to lớn như vậy, nên vội vàng nói những lời quan trọng này: "Nếu chúng sinh nghe được điều này, thì mỗi người đều nên phát nguyện vãng sinh về Tây phương Cực Lạc thế giới." Chỉ cần dựa vào câu nói này, chúng ta có thể thấy rằng người bảo lãnh chính là Phật Thích Ca Mâu Ni. Chính Phật Thích Ca Mâu Ni đã bảo chúng ta rằng: "Mỗi người đều nên phát nguyện vãng sinh về Tây phương Cực Lạc thế giới." Sau này nếu mọi người muốn tìm ai, hãy đi tìm Phật Thích Ca Mâu Ni.

Nhưng nếu bạn tìm được Ngài thì cũng đã vãng sinh rồi, còn nếu không tìm được Ngài thì đó là không may của bạn. Khi bạn đến tìm tôi, tôi sẽ bảo bạn đi tìm Ngài. Chính vì Phật Thích Ca Mâu Ni đã tận mắt thấy và thực sự biết rõ, nên Ngài mới dám nói những lời như vậy, và Sư Tôn cũng dám nói như vậy. Bởi vì, quả thật khi sức mạnh tưởng niệm của một người được tập trung, sẽ sinh ra một nguồn năng lượng toàn thân, mỗi người khi tinh thần tập trung đều sẽ sinh ra một nguồn lực. Việc chúng ta tu hành, làm nghi quỹ hôm nay hoàn toàn là để cầu sự thống nhất tinh thần. Ở đây là kêu gọi mọi người phát nguyện, trong tâm có nguyện vọng, tập trung tưởng niệm vào nguyện vọng đó, rồi niệm Phật, quán tưởng, như vậy sẽ sinh ra từ tính, Ngài sẽ đến hút lấy bạn, và bạn sẽ có thể vãng sinh.

Om mani padme hum.


### 57. Này Xá Lợi Phất! Như ta hôm nay… Tu Di Quang Phật, Diệu Âm Phật


Kinh văn:

"Này Xá Lợi Phất! Như ta hôm nay, tán thán công đức lợi ích không thể nghĩ bàn của A Di Đà Phật: ở phương Đông có A Súc Bệ Phật, Tu Di Tướng Phật, Đại Tu Di Phật, Tu Di Quang Phật, Diệu Âm Phật."

Tiếp theo, mấy đoạn kinh văn phía sau càng đọc càng thấy thú vị. Hóa ra sau bao lâu nay, không chỉ có Phật Thích Ca Mâu Ni là người bảo chứng. Đoạn kinh văn phía sau viết như thế này: "Này Xá Lợi Phất! Như ta hôm nay, tán thán công đức lợi ích không thể nghĩ bàn của A Di Đà Phật: ở phương Đông có A Súc Bệ Phật, Tu Di Tướng Phật, Đại Tu Di Phật, Tu Di Quang Phật, Diệu Âm Phật." Bởi vì Phật Thích Ca Mâu Ni cũng rất giỏi, tổ chức của Ngài cũng rất lớn, không phải chỉ có một mình Ngài làm chủ, tôi cứ tưởng chỉ có một mình Ngài bảo chứng, nhưng thật ra phương Đông có người bảo chứng, phương Tây, phương Nam, phương Bắc, phương trên, phương dưới, các phương đều có người bảo chứng.

Trong đoạn này là đang tán thán Phật A Di Đà, không chỉ có một mình Phật Thích Ca Mâu Ni, mà còn có rất nhiều vị Phật khác cũng tán thán Phật A Di Đà như vậy. Vì thế tôi thấy đây là một tấm vé chắc chắn, bởi vì chỉ một tấm phiếu nhỏ như vậy, một giấy thông hành, nếu mời tất cả các vị Phật đến ký thì đã kín hết rồi, tôi nghĩ còn phải bổ sung thêm nhiều tờ nữa. Phật Thích Ca Mâu Ni nói về công đức không thể nghĩ bàn của Phật A Di Đà, không chỉ Ngài tán thán, mà ở phương Đông còn có Phật A Bệ, chữ "A Bệ" này có nghĩa là bất động, tâm không động. Thực ra trong đoạn kinh văn này, Phật Thích Ca Mâu Ni đang dạy tất cả chúng ta về tâm bất động.

Chủ nhật tuần trước, Sư Tôn đến Oregon thuyết pháp. Trong số đó có một người theo đạo Cơ Đốc, trước khi tôi thuyết pháp, đã hỏi tôi: "Ý nghĩa của cuộc sống rốt cuộc là gì?" Lúc đó tôi cũng giả vờ không hiểu, tôi nói tôi cũng muốn hỏi lại anh, và anh ấy thừa nhận thật sự không tìm ra câu trả lời. Thực ra, hiện nay mỗi người trên thế giới này đều có câu hỏi như vậy trong lòng: Cuộc đời, chúng ta sống trên thế gian này, rốt cuộc là để làm gì? Đây cũng là câu hỏi của rất nhiều người trong suốt hàng nghìn năm qua.

Từng có một người đi rất xa đến phương Đông, trong một ngọn núi sâu tìm được một vị tu hành đạo hạnh cao thâm đang tu tập ở đó, và đến hỏi câu hỏi này. Vị tu sĩ đang ngồi thiền, người đó hỏi: "Con xin hỏi Đại sư một câu, chúng ta sống trên đời này, rốt cuộc có ý nghĩa gì?" Vị Đại sư đang ngồi thiền liền mở mắt ra và nói: "Ông thấy ta ngồi đây làm gì?" Người đó đáp: "Ngài đang tọa thiền." "Vậy tọa thiền để làm gì?" "Ngài đang tĩnh tâm quán tưởng." Vị Đại sư bèn nói với người đến hỏi: "Ta đang suy nghĩ về câu hỏi của ông đấy!" Câu nói này cho thấy, tất cả mọi người trên đời đều đang suy nghĩ về câu hỏi này, hàng trăm triệu chúng sinh đều đang suy nghĩ về câu hỏi này, ngay cả các bậc cao tăng tu hành trong núi sâu cũng đang suy nghĩ về câu hỏi này.

Có rất nhiều người giải đáp câu hỏi này, ai cũng biết rằng, ôi! Chúng ta đến thế giới này là để tu hành, trái đất này là một trường huấn luyện, chúng ta được gửi đến đây là vì hành vi và tâm niệm của chúng ta chưa chính, nên cần phải tu tập để đạt đến viên mãn, rồi mới trở về nơi ban đầu. Thực ra, chân lý này, chúng ta nói rằng: "Ý nghĩa của cuộc sống là tìm kiếm chân lý." Vậy chân lý có đơn giản như vậy không? Chúng ta sống và đến với cõi người này, rốt cuộc là để làm gì? Vị cao tăng ngồi im lặng ở đó, lại là để làm gì? Hôm nay chúng ta đến đây tu hành, đến đây nghe pháp, đến đây làm những nghi quỹ này, lại là để làm gì?

Khi tôi ở Oregon, tôi đã nói với thính giả rằng: "Những gì chúng ta học là để đạt đến sự hợp nhất giữa trời và người, để tâm được vô lượng, chúng ta phải tu tập đến mức bất động trước mọi thứ trên thế gian này - tài, sắc, danh, ăn, ngủ." Bởi vì khi bất động mới không có phiền não, khi không có phiền não mới có thể đạt đến sự thanh tịnh hoàn toàn. Khi bạn đạt được sự thanh tịnh hoàn toàn, bạn mới có thể viên mãn, và trong cảnh giới này, bạn mới có thể thấu hiểu được thiên đạo. Giá trị như vậy mới không phải là giá trị của phàm phu thế tục. Vì thế tôi nói với thính giả: "Chúng ta là để theo đuổi cái vô hình, và theo đuổi chân lý vô hình, cho đến khi đạt được sự hợp nhất giữa trời và người." Giá trị như vậy mới là siêu việt, không phải là điều mà người thường theo đuổi. Nếu là điều mà người thường theo đuổi, thì đó không phải là giá trị chân thật.

Vị Phật thứ hai ở đây là Diệu Cao Phật. Tu Di Tướng Phật trong tiếng Phạn có nghĩa là diệu cao, diệu là vô cùng vi diệu, cao là cao nhất.

Vị thứ ba là Đại Tu Di Phật. Có nhiều người nói ý nghĩa của cuộc đời là theo đuổi căn nhà tốt nhất, lái chiếc xe tốt nhất, kiếm được nhiều tiền nhất. Nhưng, căn nhà tốt nhất là như thế nào? Chiếc xe tốt nhất là gì? Nhiều tiền nhất thì phải là bao nhiêu tiền mới đủ?

Ý nghĩa của cuộc đời là thực sự đạt được phước báu lớn nhất và trí tuệ cao nhất. Phước báu lớn nhất nằm ở thế giới Tây phương Cực Lạc, trí tuệ cao nhất cũng chính là trí tuệ của thế giới Tây phương Cực Lạc. Bạn đã từng thấy ngôi nhà làm bằng vàng chưa? Trên thế gian này không có, như vua Brunei có một chút, nghe nói vòi nước máy của vua Brunei đều làm bằng vàng, tôi tin rằng chậu rửa mặt của ông ấy cũng bằng vàng, bồn tắm chắc cũng bằng vàng, bàn chải đánh răng cũng bằng vàng. Nhưng tôi đã từng đến Brunei, nhìn thấy những bức tường đó, ngôi nhà đó không làm bằng vàng. Khi bạn đến thế giới Tây phương Cực Lạc, ngay cả đường đi cũng làm bằng vàng, vì vậy người có phước báu lớn nhất không phải là vua Brunei, mà là Phật A Di Đà, phước báu lớn nhất và trí tuệ cao nhất đều ở thế giới Tây phương Cực Lạc. Ý nghĩa lớn nhất của cuộc đời chúng ta hôm nay, cũng là theo đuổi phước báu lớn nhất và trí tuệ cao nhất.

Vì vậy, những danh hiệu Phật trong này đều rất có ý nghĩa. Ý nghĩa của cuộc đời chính là theo đuổi sự bất động. Giống như vị cao tăng sống trong núi sâu, ngồi bất động trong hang núi, theo đuổi sự vi diệu của việc hợp nhất giữa trời người, sự cao siêu của việc viên mãn vô thượng, phước báu lớn nhất và trí tuệ cao nhất.

Ở đây còn có một vị Phật là Tu Di Quang Phật. Vị Tu Di Quang Phật này chính là ánh sáng vô lượng, ánh sáng lớn nhất, và còn tượng trưng cho sự viên mãn. Như vậy, có nghĩa là tràn đầy khắp pháp giới, toàn bộ pháp giới đều được sung mãn.

Như vậy A Súc Bệ Phật, Tu Di Tướng Phật, Đại Tu Di Phật, Tu Di Quang Phật và Diệu Âm Phật, tất cả những vị Phật này đều tượng trưng cho ý nghĩa của cuộc đời. Xin hỏi mọi người, ý nghĩa của cuộc đời này là gì? Câu trả lời đã được giải đáp hoàn toàn ở trong đây rồi.

Vị Diệu Âm Phật này còn tượng trưng cho: Dù thân tâm đang phiền não, nhưng khi nghe được âm thanh đó, liền được giải thoát hoàn toàn. Tu Di Quang Phật chính là tượng trưng cho những ánh sáng thanh tịnh, khiến toàn thân không còn ô nhiễm, hoàn toàn thanh tịnh.

Om mani padme hum.


### 58. Vô số chư Phật nhiều như cát sông Hằng như thế… kinh được tất cả chư Phật hộ niệm


Kinh văn:

"Vô số chư Phật nhiều như cát sông Hằng như thế. Mỗi vị đều ở tại cõi nước của mình, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời chân thật rằng: "Chúng sinh các ngươi nên tin kinh này, kinh được tất cả chư Phật hộ niệm."

Tối nay chúng ta sẽ tiếp tục giảng Kinh A Di Đà. Tuần trước vì Hòa thượng Ngộ Minh đến thuyết pháp nên đã cách một tuần không giảng Kinh A Di Đà, hôm nay chúng ta sẽ tiếp tục.

Xin đọc lại một đoạn kinh văn: "Vô số chư Phật nhiều như cát sông Hằng như thế, mỗi vị đều ở tại cõi nước của mình, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời chân thật rằng: 'Này các chúng sinh, các ngươi nên tin kinh này, một bộ kinh ca ngợi công đức không thể nghĩ bàn, được tất cả chư Phật hộ niệm.'"

Trong những đoạn kinh văn này đều nói rõ, chư Phật ở thế giới phương Đông đến hộ trì kinh này, ngoài ra còn có chư Phật ở thế giới phương Nam, phương Tây, tất cả chư Phật ở mọi thế giới đều đang hộ trì kinh này, vì vậy gọi là "Kinh được tất cả chư Phật hộ niệm". Điều này có nghĩa là không chỉ Phật Thích Ca Mâu Ni nói như vậy, mà tất cả chư Phật trong mười phương trên dưới đều tán thán kinh này, và còn hộ trì những người niệm Phật tụng kinh.

Tôi xin giải thích một vài từ trong đoạn này. Có người hỏi: "Tướng lưỡi rộng dài là gì?" Tướng lưỡi rộng dài này rất kỳ lạ, đây là một trong 32 tướng tốt của Phật. Nói về cái lưỡi rộng, không giống như lưỡi của người bình thường chúng ta không rộng, khi Ngài mở miệng, thè lưỡi ra thì rất rộng, rất dài, nhưng không dày mà rất mỏng.

Trước đây thầy tôi đã nói với chúng tôi, lưỡi của Phật khi thè ra có thể che phủ hết cả khuôn mặt, tôi đã nói với thầy: "Vậy sao không dùng làm chăn cho tiện?" Một người mà có thể thè lưỡi ra để đắp như chăn thì chắc là ấm lắm. Về tướng lưỡi rộng dài này, khi trước thầy giải thích cho tôi, tôi thường nghĩ đến hai công dụng vi diệu. Tôi nhớ lúc còn nhỏ, hay khi còn đi học, tôi rất nhút nhát (chú thích: Thượng sư phiên dịch dịch là chicken), từ "chicken" nghe không hay ho gì, nhưng trong 12 con giáp tôi lại đúng tuổi Dậu. Ngày xưa, mỗi khi nói sai điều gì, hay làm điều gì sai, hoặc khi ở cạnh con gái, mặt tôi đều đỏ bừng lên, nếu có thể thè lưỡi ra che kín mặt như vậy thì thật là hữu dụng!

Chuyện thứ hai là, khi còn nhỏ tôi thường tự nấu cơm và đun nước nóng để tắm. Lò ngày xưa là loại đốt than, trước tiên phải đặt một ít giấy xuống dưới, rồi bào một ít gỗ mỏng, sau đó cho than cốc vào. Lúc đầu cho loại than cốc đen và mịn xuống dưới, trên cùng đặt thêm than viên, rồi nhóm lửa như vậy. Sau khi nhóm được lửa, ngay khi lửa vừa cháy lên phải nấu cơm trước, đến cuối còn chút lửa tàn mới dùng để đun nước nóng. Mỗi lần tắm, mỗi người múc một xô nước nóng, rồi thêm chút nước lạnh vào, cứ thế mà tắm. Tôi cứ nghĩ, hồi đó chúng tôi dùng quạt tre để quạt lửa, nếu có "tướng lưỡi rộng dài" này thì tốt quá, không cần dùng quạt, chỉ cần thè lưỡi ra, động đậy một chút là lửa sẽ bùng lên. Trước đây tôi rất giỏi nhóm lửa, nhưng vì là trẻ con nên rất lười, đến mùa đông thường nói với mẹ: "Hôm nay đừng nhóm lửa đun nước nóng." Mẹ sẽ hỏi chúng tôi: "Vậy hôm nay con không tắm à?" Chúng tôi sẽ nói: "Trời lạnh, chúng con chỉ rửa chân thôi." Rửa chân rồi lên giường, giường sẽ không bị bẩn.

Nhiều người hỏi, tướng lưỡi rộng dài này có phải là chư Phật thường xuyên thè lưỡi ra để nói chuyện không, và lưỡi lại mỏng, liệu có giống như những người hay buông lời đồn đại, suốt ngày cứ lải nhải không? Trước đây thầy tôi giải thích rằng, tướng lưỡi rộng dài này chỉ nói những lời tán thán, toàn là lời hay. Phật thường thuyết pháp, nhưng các Ngài nói toàn những lời hay, lời thiện lành, lời Phật pháp, tuy thường xuyên nói nhưng đều là lời tốt đẹp, nên gọi là "tướng lưỡi rộng dài", khác hẳn với tướng "lưỡi dài" thông thường.

Còn tướng "lưỡi dài" kia một khi gặp nhau thì như súng máy bắn liên thanh không ngừng nghỉ, toàn nói những điều không hay, chẳng có lời tốt đẹp nào. Vì vậy người Trung Quốc có câu dạy về đạo làm người rằng: "Chuyện phiếm đừng bàn chuyện phải trái của người, nên học điều hay, đừng nói điều dở của người." Đây là nói "đừng kể xấu người, đừng khoe tốt mình." Nhưng có những người lại làm ngược lại, cứ muốn bàn tán phải trái của người khác, thực ra người đó chẳng liên quan gì đến mình, dù nói thế nào cũng chẳng dính dáng gì, vậy mà vẫn cứ bàn tán phải trái của người. Đây là tướng lưỡi dài của người đời, không phải tướng lưỡi rộng dài của Phật. Tóm lại, "tướng lưỡi rộng dài" chuyên nói điều thiện, còn "tướng lưỡi dài" chuyên nói điều ác.

Tướng lưỡi rộng dài này có nghĩa là: những lời nói đều chân thực và rất thành thật. Vì tất cả chư Phật có tướng lưỡi rộng dài đều đến tán thán bộ kinh này, cho nên tất cả chúng sinh đều nên tin tưởng và tán thán công đức không thể nghĩ bàn của kinh này, đây là một bộ kinh được tất cả chư Phật hộ niệm.

Tôi xin đọc tiếp về chư Phật ở thế giới phương Nam: "Này Xá Lợi Phất! Ở thế giới phương Nam có Phật Nhật Nguyệt Đăng, Phật Danh Văn Quang, Phật Đại Diệm Kiên, Phật Tu Di Đăng, Phật Vô Lượng Tinh Tấn."

Còn nữa: "Này Xá Lợi Phất! Ở thế giới phương Tây có Phật Vô Lượng Thọ, Phật Vô Lượng Tướng, Phật Vô Lượng Tràng, Phật Đại Quang, Phật Đại Minh, Phật Bảo Tướng, Phật Tịnh Quang."

"Ở thế giới phương Bắc có Phật Diệm Kiên, Phật Tối Thắng Âm, Phật Nan Thư, Phật Nhật Sinh, Phật Võng Minh."

"Ở thế giới phương dưới có Phật Sư Tử, Phật Danh Văn, Phật Danh Quang, Phật Đạt Ma, Phật Pháp Tràng, Phật Trì Pháp."

"Ở thế giới phương trên có Phật Phạm Âm, Phật Tú Vương, Phật Hương Thượng, Phật Hương Quang, Phật Đại Diệm Kiên, Phật Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân, Phật Sa La Thọ Vương, Phật Bảo Hoa Đức, Phật Kiến Nhất Thiết Nghĩa, Phật Như Tu Di Sơn."

Đó là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã dẫn chứng chư Phật ở sáu phương Đông, Nam, Tây, Bắc, Trên, Dưới để tán thán bộ kinh này, đó chính là Kinh Phật Thuyết A Di Đà, được xem là kinh điển để thành Phật.

Nếu chúng ta có thể nhất tâm trì danh hiệu A Di Đà Phật, vĩnh viễn không thoái chuyển, niệm trì mãi mãi, không quên không lui sụt, nhất định sẽ được vãng sinh, và như vậy chúng ta sẽ có thể thành Phật.

Hôm nay giảng Kinh Phật Thuyết A Di Đà đến đây.

Om mani padme hum.


### 59. Này Xá Lợi Phất! Ý ông nghĩ sao… A nậu đa la tam miểu tam bồ đề. 


Kinh văn:

"Này Xá Lợi Phất! Ý ông nghĩ sao? Vì sao gọi là kinh được tất cả chư Phật hộ niệm? Này Xá Lợi Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe kinh này và thọ trì, cùng nghe danh hiệu chư Phật, thì những thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy đều được tất cả chư Phật hộ niệm, đều được bất thoái chuyển nơi đạo A nậu đa la tam miểu tam bồ đề."

Hôm nay chúng ta sẽ đọc thêm một đoạn kinh A Di Đà. Bởi vì những đoạn kinh này đều rất đơn giản và ai cũng có thể hiểu được.

"Này Xá Lợi Phất! Ý ông nghĩ sao? Vì sao gọi là kinh được tất cả chư Phật hộ niệm? Này Xá Lợi Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe kinh này và thọ trì, cùng nghe danh hiệu chư Phật, thì những thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy đều được tất cả chư Phật hộ niệm, đều được bất thoái chuyển nơi đạo A nậu đa la tam miểu tam bồ đề." A nậu đa la tam miểu tam bồ đề này, dịch sang tiếng Hán là Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác".

Om mani padme hum.


### 60. Vì vậy, này Xá Lợi Phất! Các ông đều nên tin nhận lời ta… nên phát nguyện sinh về cõi nước ấy.


Kinh văn:

"Vì vậy, này Xá Lợi Phất! Các ông đều nên tin nhận lời ta và lời chư Phật đã nói. Này Xá Lợi Phất! Nếu có người đã phát nguyện, đang phát nguyện, sẽ phát nguyện muốn sinh về cõi Phật A Di Đà, thì những người ấy đều được bất thoái chuyển nơi đạo Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác, ở cõi nước kia, hoặc đã sinh, hoặc đang sinh, hoặc sẽ sinh. Vì vậy, này Xá Lợi Phất! Các thiện nam tử, thiện nữ nhân, nếu có lòng tin, nên phát nguyện sinh về cõi nước ấy."

Những đoạn này đều do Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng: "Nên phát nguyện, mỗi người đều phải phát nguyện vãng sinh về Tây phương Cực Lạc thế giới."

Phật Thích Ca Mâu Ni bảo ngài Xá Lợi Phất rằng, tất cả mọi người đều phải tin tưởng lời của Ngài và chư Phật đã dạy. Khi về được cõi Phật A Di Đà rồi, đều được bất thoái chuyển, nghĩa là tâm không bao giờ thối lui.

Trong đó có đã sinh, đang sinh, sẽ sinh. "Đã sinh" là chỉ những người hiện đã sinh về cõi nước đó; "Sẽ sinh" là những người trong tương lai sẽ sinh về cõi nước đó; còn "Đang sinh" là gì? Là những người hiện đang ở tại cõi nước đó. Về phần đã sinh thì rất nhiều, như Bồ Tát Quan Thế Âm, Bồ Tát Đại Thế Chí và tất cả chư vị Bồ Tát đều đã sinh về đó.

Vì những đoạn kinh này đều rất dễ hiểu và đơn giản nên không cần phải giải thích, mọi người đều đã hiểu rồi. Chính vì vậy mà việc giảng kinh diễn ra nhanh hơn, và bộ kinh này sắp giảng xong rồi.

Tôi tin rằng khi Phật Thích Ca Mâu Ni giảng bộ kinh này cũng thường xuyên lặp lại, Ngài muốn củng cố ấn tượng cho mọi người. Vì thế mà phần sau của kinh lại lặp lại, lặp lại rất nhiều điều ở phần trước. Những người đang nghe kinh ở đây bây giờ, thực ra thông minh hơn người thời đó cả triệu lần, nên những phần lặp lại không cần phải giảng nữa. Các vị vừa đọc qua đã hiểu rõ hơn tôi rồi.

Om mani padme hum.


### 61. Này Xá Lợi Phất! Như ta hôm nay … Vì các chúng sinh mà nói pháp khó tin này trong tất cả thế gian


Kinh văn:

"Này Xá Lợi Phất! Như ta hôm nay tán thán công đức không thể nghĩ bàn của chư Phật, các Đức Phật ấy cũng tán thán công đức không thể nghĩ bàn của ta mà nói rằng: "Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có thể làm được việc rất khó và hiếm có, có thể ở trong cõi Ta Bà, ngũ trược ác thế: kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sinh trược, mạng trược, mà chứng được đạo Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác. Vì các chúng sinh mà nói pháp khó tin này trong tất cả thế gian."

Hôm nay chúng ta tiếp tục giảng Kinh A Di Đà.

Trước tiên chúng ta đọc một đoạn kinh văn: "Này Xá Lợi Phất! Như ta hôm nay tán thán công đức không thể nghĩ bàn của chư Phật, các Đức Phật ấy cũng tán thán công đức không thể nghĩ bàn của ta mà nói rằng: 'Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có thể làm được việc rất khó và hiếm có, có thể ở trong cõi Ta Bà, ngũ trược ác thế: kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sinh trược, mạng trược, mà chứng được đạo Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác. Vì các chúng sinh mà nói pháp khó tin này trong tất cả thế gian.'"

Đoạn này nói rằng: Phật Thích Ca Mâu Ni tán thán tất cả chư Phật có công đức không thể nghĩ bàn, và tất cả chư Phật cũng tán thán Phật Thích Ca Mâu Ni có công đức không thể nghĩ bàn.

Điều cần giải thích ở đây chính là "kiếp trược". Trước hết tôi giải thích về kiếp trược, tất cả chúng ta ngồi đây hôm nay đều đang ở trong kiếp trược này, tức là từ khi sinh ra cho đến khi chết đi, đó là một kiếp số, trong kiếp số này được tính là một kiếp trược. Nghĩa là khi sinh ra làm người đã là bất hạnh rồi, đã định sẵn phải sống trong một thế giới ô trược như thế này, lại không thể sống riêng mình cho thanh thản, tóm lại là bất hạnh đến cùng, đó chính là kiếp trược. Điều đầu tiên cần nói là khi chúng ta đến thế gian này một chuyến, không phải mọi thứ đều hoàn hảo, hạnh phúc, mà đều phải chịu khổ. Vì vậy thế giới này chính là kiếp trược trong ngũ trược thế giới, nghĩa là đã sinh ra trong thế giới này thì phải chịu kiếp số này.

Điều thứ hai cần giải thích là "kiến trược". Những gì mắt nhìn thấy không trong sạch mà nhơ bẩn, đó chính là kiến trược. Tôi xin lấy một ví dụ, như vừa nói về ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch, tức là Tết Đoan Ngọ, ngày Tết Đoan Ngọ là ngày tưởng nhớ Khuất Nguyên. Trước đây ông làm quan Đại phu, vì nhìn thấy trong triều đình kẻ tiểu nhân đắc chí, người quân tử bị đày ải, ông nhìn thấy triều đình tối tăm, trong lòng rất đau khổ, đó chính là kiến trược, nhìn thấy toàn những điều nhơ bẩn. Có kiến trược nghĩa là mọi người nhìn thấy nhiều điều xấu; tuy cũng có người nhìn thấy nhiều điều tốt, nhưng thực ra những điều tốt đó cũng đều không tốt.

Điều thứ ba là "phiền não trược". Do nhìn thấy nhiều hiện tượng không tốt nên trong lòng sinh phiền não, tâm sinh phiền não, đó chính là phiền não trược. Chúng ta đã nhắc đến Khuất Nguyên, bản thân ông chính vì có phiền não trược, chính vì nhìn thấy trong triều đình toàn kẻ gian thần đắc chí, nên trong lòng vô cùng phiền não, liền ra bờ sông đi dạo, muốn kết thúc mạng sống của mình. Trước khi Khuất Nguyên tự vẫn, ông đã gặp một người đánh cá, người đánh cá thấy ông sầu não đầy mặt, liền nói với ông một câu: "Nếu ông thấy nước sông này sạch sẽ thì hãy dùng để rửa mặt! Nếu ông thấy nước sông này dơ bẩn thì hãy dùng để rửa chân!" Có lẽ vì Khuất Nguyên không hiểu nhiều về triết học, ông không nghe ra được lời cảnh tỉnh của người đánh cá, chỉ vì triều đình nghe theo lời gian thần, không trọng dụng ông, khiến chí hướng của ông không thể thực hiện được, cảm thấy cuộc sống vô dụng, nên đã nhảy sông tự vẫn.

Lời người đánh cá nói với ông rất có lý. Câu nói "nước sạch thì dùng để rửa mặt, nước bẩn thì dùng để rửa chân" chính là "tâm bình thường". Ví dụ như hai người không thích nhau, có xích mích, nhìn nhau không vừa mắt, nếu anh đối xử với tôi thế nào thì tôi đối xử với anh như vậy, đó chính là nước sạch có thể rửa mặt. Trường hợp thứ hai là không sao cả, anh không đếm xỉa đến tôi, nhưng tôi vẫn đối xử tốt với anh, đó là nước dù bẩn nhưng vẫn dùng để rửa chân. Trường hợp thứ ba là anh không đếm xỉa đến tôi, tôi cũng không đếm xỉa đến anh, thế là dẫn đến tự sát. Đó chính là gặp ánh sáng thì chết, như vua gặp vua, vua gặp vua thì phải chết, như tướng đỏ gặp tướng đen thì phải chết.

Thực ra chúng ta không nên học theo Khuất Nguyên, bởi vì Khuất Nguyên đã nói: "Ôi! Triều đình không đếm xỉa đến ta, ta cũng chẳng còn cách nào để quan tâm đến triều đình nữa, thôi thì chết cho xong!" Ông ấy là như vậy đó. Thực ra, là người tu hành chúng ta phải như thế này: người ta không đếm xỉa đến mình, mình vẫn cứ quan tâm đến họ, giống như đi theo đuổi bạn gái vậy, dù sao anh không để ý đến tôi, tôi vẫn có thể để ý đến anh mà! Thực ra nếu lúc đó Khuất Nguyên hiểu được triết lý này, ông có thể hết lòng giúp đỡ triều đình làm việc, bất kể triều đình đối xử với ông thế nào.

Ngày nay, các đệ tử Chân Phật Tông chúng ta muốn độ chúng sinh cũng phải như vậy, dù người ta không thèm để ý đến chúng ta, chúng ta vẫn ngày ngày bám theo họ, phải có tinh thần như thế. Tất nhiên đôi khi trong lòng chúng ta cũng có phiền não: "Ôi! Sao cố gắng nửa ngày rồi mà vẫn không lay chuyển được gì?" Ah! Không được sinh tâm phiền não! Nhưng trên thế giới này, sự thật là nó đầy rẫy kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, đó chính là thế giới như thế.

Điều thứ tư là "chúng sinh trược" là gì? Chúng sinh sống như thế này: vừa sinh ra, rồi lớn lên, học tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, đại học, cao học, lấy bằng tiến sĩ, kiếm tiền, kết hôn, sinh con, già đi, rồi chết. Thế là xong! Đó chính là quá trình của cuộc đời chúng ta. Nhưng mỗi ngày chúng ta làm những việc gì? Chính là ngủ dậy, đánh răng, rửa mặt, làm việc, kiếm tiền, về nhà, ăn cơm, đi ngủ cứ như vậy, còn có đi vệ sinh nữa. Nếu lược bỏ cuộc sống hàng ngày thì chỉ còn là zero, là "số không". Hiện nay tất cả chúng sinh nhìn thấy, cuộc sống của họ chỉ là học hành, ăn uống, ngủ nghỉ, kiếm tiền, cứ sống như vậy, hầu như không còn gì mới mẻ hơn nữa. Điều này nói lên rằng, chúng sinh đều sống như vậy, mọi người nhìn thấy, đều là như thế! Không thể có ý nghĩa đặc biệt sâu sắc hơn nữa, đó chính là chúng sinh trược.

Cuối cùng, điều thứ năm gọi là "mạng trược". Trên đời cái gì dơ bẩn nhất? Con người có lẽ là dơ bẩn nhất. Đôi khi chúng ta thấy động vật chết, chúng ta sẽ tụng kinh cho chúng. Chúng ta thấy thịt động vật vẫn khá thơm ngon, có thể nấu canh, xào nấu và ăn được. Nhưng thử nghĩ xem, khi một người chết đi, người sống nhìn thấy xác chết đều phải khiếp sợ; và dù có thể ăn được hầu hết các loại thịt, nhưng thịt người thì không thể ăn được, trên thực tế, mùi của người sau khi chết còn khó ngửi hơn bất kì loài động vật nào.

Mọi người đều thắc mắc, chẳng lẽ Sư Tôn đã ngửi qua rồi sao? Ah! Sư Tôn đã từng ngửi qua! Trước đây tôi đã từng đi tụng kinh cho người khác, người ta chết rồi, tụng kinh, làm pháp sự, nhưng người đó đã chết lâu rồi, khi chết lâu thì quan tài rất to, và người ta sơn lớp sơn bên ngoài, nhưng vì trời hè nóng quá, sơn không khô được, chất dịch từ trong kẽ hở chảy ra, mùi đó thật là... Có người tự cho rằng cơ thể mình thơm tho, nhưng thực ra khi ngủ chảy nước dãi lên gối, bạn hãy nhấc lên ngửi thử xem. Được rồi! Bạn nghĩ những thứ bên trong cơ thể đều tốt đẹp sao? Thực ra tất cả đều hôi thối không chịu nổi. Lúc sống đã ô uế, lúc chết cũng ô uế, bản thân cơ thể bạn chính là tổng hợp của sự ô uế. Đó chính là mạng trược.

Phật Thích Ca Mâu Ni có thể thuyết pháp trong một thế giới dơ bẩn như vậy, quả thật là điều hiếm có và khó được.

Om mani padme hum.


### 62. Này Xá Lợi Phất! Nên biết ta ở trong ngũ trược ác thế… đều hoan hỷ tin nhận, đảnh lễ rồi lui ra


Kinh văn:

"Này Xá Lợi Phất! Nên biết ta ở trong ngũ trược ác thế làm việc khó này, chứng được đạo Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác, vì tất cả thế gian nói pháp khó tin này, thật là rất khó! 
Khi Đức Phật nói kinh này xong, Xá Lợi Phất cùng các tỳ kheo, tất cả thế gian, trời, người, atula, nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ tin nhận, đảnh lễ rồi lui ra."

Tôi lại đọc kinh văn: "Xá Lợi Phất! Hãy biết rằng ta ở trong đời ác năm trược này, thực hiện điều khó khăn này, chứng đắc Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác, vì tất cả thế gian mà nói pháp khó tin này, thật là rất khó!" Sau khi Phật nói kinh này xong, Xá Lợi Phất cùng các vị tỳ kheo, tất cả chư thiên, người và a tu la trong thế gian, nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ tin nhận, đảnh lễ rồi lui ra."

Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng Kinh A Di Đà, đây là điều vô cùng quý báu và khó được. Mọi người có thể nghe được bộ kinh này đã là một phúc phần lớn lao, bởi vì chính pháp thật khó được nghe! Nhưng hiện giờ mọi người đã được nghe rồi. Trước đây mọi người đều chưa khai ngộ, nhưng hôm nay đã được nghe rồi, mọi người cũng đều đã khai ngộ. Mỗi người trong tâm đều phải sinh khởi tâm hoan hỷ, phải tin tưởng và tiếp nhận.

Hôm nay, phần giảng giải cốt yếu của Kinh Phật Thuyết A Di Đà, Kinh A Di Đà đến đây là kết thúc.

Om mani padme hum.


### 63. Phụ lục 1: A Di Đà Phật Bổn tôn pháp


Bây giờ xin trình bày chi tiết về quy trình tu quán A Di Đà Phật Bổn tôn pháp của Chân Phật Tông như sau:

1. Nhập đàn niệm chú thanh tịnh.

2. Niệm chú triệu thỉnh. Triệu thỉnh chư vị Hộ pháp.

3. Chân Phật đại lễ bái pháp.

4. Chân Phật đại cúng dường pháp. (có thể ngồi)

5. Chân Phật tứ quy y pháp.

Niệm chú tứ quy y 3 biến: Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê.

6. Mặc giáp hộ thân pháp.

7. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (1~3 biến)

8. Hai tay kết định ấn: Ngửa hai lòng bàn tay, chồng lên nhau, ngón cái và ngón trỏ của hai tay chạm vào nhau tạo thành vòng tròn. (đặt dưới rốn)

Hoặc kết ấn căn bản: Hai tay trước tiên đan vào nhau như nắm đấm, dựng thẳng hai ngón giữa chạm vào nhau tạo thành vòng tròn. (đặt trước ngực)

9. Kết ấn quán tưởng: Trước tiên quán Không. Trong hư không hiện ra A Di Đà Phật thân hình màu đỏ, khoác cà sa, ngồi kiết già trên đài sen nghìn cánh, hai tay kết định ấn, nâng bát đầy cam lộ, mắt từ bi nhìn chúng sinh. Quán tưởng bát trong tay A Di Đà Phật, cam lộ trong bát hóa thành nước cam lộ ánh sáng trắng, nâng lên, tạo thành hình vòng cung, rót vào đỉnh đầu của hành giả mật tông, khiến toàn thân hành giả trở nên trong suốt như pha lê trắng, nghiệp chướng hoàn toàn tiêu trừ. (Hoặc đóa sen trong tay Phật phóng ra ánh sáng trắng chiếu vào hành giả cũng được.)

10. Tụng chú căn bản A Di Đà Phật: "Ôm a-mi-đê-wa sê." (108 biến) Khi tụng chú tay lần chuỗi hạt.

11. Cửu tiết Phật phong.

12. Quán tưởng A Di Đà Phật hóa thành một chấm đỏ, từ đỉnh đầu của hành giả đi vào, theo trung mạch đi xuống đến tim của hành giả, an tọa trên đài sen trong tim của hành giả, lúc này A Di Đà Phật dần dần phóng to lên, đến khi bằng với hành giả, hành giả tức là A Di Đà Phật, A Di Đà Phật tức là hành giả, hai thân hòa hợp làm một, không có sự khác biệt.

13. Nhập định. (Không sinh một niệm, nhất tâm bất loạn, nhập vào Tam ma địa của A Di Đà Phật.) Tay kết định ấn.

14. Xuất định. Tụng tán:

Tịnh nguyện trang nghiêm an lạc lợi,
Phổ tế trọc thế chư hữu tình;
Tây phương tiếp dẫn chứng vô sinh,
A Di Đà Phật con kính lễ. (Chỗ này có thể thêm niệm Phật trăm lần nghìn lần.)

15. Hồi hướng:

Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

16. Đại lễ bái Phật. Xuất đàn.

🌟

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, diệu pháp "chú, ấn, quán tưởng" của Phật A Di Đà mà tôi đã viết ra không hề phức tạp, chỉ cần hành giả thực hành theo trình tự trong thời gian dài sẽ trở nên rất thuần thục, mỗi lần vào đàn tu pháp sẽ thành thạo dần, thậm chí có thể lĩnh hội được tâm yếu bên trong, thực sự nhập vào Tam ma địa.

Hiện nay trên thị trường có rất nhiều pháp tướng của Phật A Di Đà, có vị ngồi trên đài sen hai tay kết định ấn, nâng bát. Có vị Phật A Di Đà đứng, tay cầm đài sen. Có vị hai tay kết ấn ban nguyện, trong tư thế tiếp dẫn, và còn nhiều kiểu khác nữa.

Quán tưởng này là linh hoạt:
Nâng bát đầy cam lộ: "Quán tưởng cam lộ hóa thành ánh sáng trắng rót vào đỉnh đầu qua thiên khiếu."
Tay cầm đài sen: "Quán tưởng hoa sen hóa thành ánh sáng trắng chiếu vào hành giả."
Hai tay kết ấn ban nguyện: "Quán tưởng ánh sáng trắng từ tướng bạch hào giữa chân mày A Di Đà Phật xoay tròn, bay lên không trung, tạo thành hình cung, chiếu vào đỉnh đầu qua thiên khiếu, lan tỏa khắp toàn thân tạo thành ánh sáng."

Liên Sinh Hoạt Phật nói: "Quán tưởng trong Mật pháp rất linh hoạt, điều quan trọng nhất là tập trung tâm niệm vào một vị A Di Đà Phật."
Sau phần Cửu tiết Phật phong, nếu ai muốn tiếp tục tu nội hỏa minh điểm cũng được.
Nếu sau khi tụng xong Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, muốn tụng Kinh A Di Đà cũng được.

Về phần hồi hướng, nếu muốn thay người khác tu pháp, có thể thêm câu: "Công đức tu pháp lần này, xin hồi hướng cho người nào đó, giúp họ vãng sinh cõi Phật, hoặc sớm kết duyên Phật, hoặc quay về điều thiện, v.v…" Hồi hướng cũng cần vận dụng linh hoạt, không cần cứng nhắc theo một khuôn mẫu không đổi.

Liên Sinh Hoạt Phật từng viết trong cuốn sách "Mật Giáo Đại Viên Mãn", trang 141, về nghi quỹ tu pháp Bổn tôn A Di Đà Phật của Tạng mật. Pháp của Tạng mật này khá phức tạp, cần tụng bảy bài văn và có quán tưởng biến hóa. Một số đệ tử khó học được, vì vậy, tôi đặc biệt viết ra "Trình tự tu pháp A Di Đà Phật của Chân Phật Tông" đơn giản hơn, cả hai đều có năng lực pháp và công đức như nhau. Hành giả có thể đối chiếu lẫn nhau.

Có Hoạt Phật Tây Tạng cho rằng, đại mật pháp dễ đạt thành tựu nhất, vững chắc nhất, và nhanh chóng thành Phật nhất vẫn là mật pháp A Di Đà Phật.

Tôi cho rằng, câu nói này rất đúng, bởi vì bốn mươi tám đại nguyện của A Di Đà Phật không phải tầm thường, Tây phương Cực Lạc thế giới tiếp dẫn chúng sinh cả linh lợi và ngu độn, pháp niệm Phật của Tịnh Độ tông, chỉ cần nhất tâm cầu vãng sinh, hoặc nhất tâm niệm Phật cầu A Di Đà Phật từ bi tiếp dẫn, chỉ cần lúc lâm chung niệm Phật bảy ngày là thành tựu.

Tôi cho rằng, "tín niệm vãng sinh" của Tịnh Độ tông là một con đường tắt trực tiếp vãng sinh. Còn một hành giả quán tu học mật, sâu hơn Tịnh Độ tông, tu mật pháp A Di Đà này, sẽ thành tựu bản tính Di Đà, ta tức Di Đà, Di Đà tức ta, là tâm là Phật, là Phật là tâm, không gì không thành tựu.

Liên Sinh Hoạt Phật nhận thấy rằng, trong tất cả sự cứu độ của chư Phật, ở thế giới Ta Bà nhân gian, Phật A Di Đà đứng hàng đầu. Gần như những đứa trẻ ba tuổi cũng biết niệm câu "A Di Đà Phật". Hào quang của Phật A Di Đà có thể chia thành: "Vô lượng quang, Vô biên quang, Vô ngại quang, Vô đối quang, Diệm vương quang, Thanh tịnh quang, Hoan hỷ quang, Trí huệ quang, Bất đoạn quang, Nan tư quang, Vô xứng quang, Siêu nhật nguyệt quang." Tây phương Cực Lạc thế giới có cảnh giới tam phẩm cửu sinh.

Tôi từng thấy pháp tướng của Phật A Di Đà:
A Di Đà Phật tì kheo Pháp Tạng.
A Di Đà Phật kết pháp giới định ấn.
A Di Đà Phật tiếp dẫn ban nguyện.
A Di Đà Phật đội mũ miện.
A Di Đà Phật thân pha lê đỏ.
A Di Đà Phật tư duy năm kiếp.
A Di Đà Phật cầm đài sen.
A Di Đà Phật ba mặt sáu tay. (Vị này rất hiếm gặp, xuất phát từ Kinh Đại Giáo Vương Du Già.)

Phật A Di Đà trong Mật giáo là một trong năm trí huệ của Đại Nhật Như Lai, sinh ra Tây phương diệu quan sát tam muội. Trong Thai Tạng Giới, ngài ở phương Tây của viện Trung Đài Bát Diệp, trong Kim Cương Giới, ngài ở phương Tây của Ngũ Giải Thoát Luân. Ngài làt trí huệ phương tiện của Như Lai.

Trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ nói: "Thân Phật Vô Lượng Thọ, như trăm nghìn vạn ức màu vàng diêm phù đàn của cõi trời Dạ Ma, thân Phật cao sáu mươi vạn ức na-do-tha hằng hà sa do-tuần. Tướng bạch hào giữa chân mày xoay về bên phải uốn lượn, như năm núi Tu Di, mắt Phật như bốn biển lớn, xanh trắng phân minh rõ ràng, toàn thân các lỗ chân lông đều tỏa ánh sáng."

Tôi cho rằng, đệ tử Chân Phật Tông, nếu tự chọn Bổn tôn, có thể chọn A Di Đà Phật, bởi vì sự cứu độ của Ngài rộng lớn nhất, Pháp thân của Liên Sinh Hoạt Phật Liên Hoa Đồng Tử chính là Liên Hoa Bồ Tát của thế giới Tây phương Cực Lạc. Điều huyền diệu bên trong thực sự không thể nói hết.

Đặc biệt ghi lại kệ:
*Di Đà mật pháp cứu độ sâu,
Không phân khôn đần phàm với tăng;
Bốn tám đại nguyện rộng cứu kiếp,
Thế giới Ta Bà vạn đời tôn.*

~ Bài viết này được trích từ cuốn văn tập số 063 của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - Bí Mật Trong Chân Phật Mật Pháp


### 64. Phụ lục 2: Khẩu quyết Bổn tôn A Di Đà Phật - Nhất tâm bất loạn


Khẩu quyết của Bổn tôn A Di Đà Phật chỉ về "nhất tâm bất loạn", nghĩa là "tâm ý chuyên nhất không tán loạn".
"Nhất tâm" chính là chuyên nhất.
"Bất loạn" là không điên đảo.
Chỉ cần nhất tâm bất loạn tin tưởng vững chắc vào bản nguyện của A Di Đà Phật, ắt sẽ thành tựu vãng sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc.

Liên Sinh Hoạt Phật nhận thấy rằng thế giới Tây phương Cực Lạc của Phật A Di Đà có năng lực độ sinh vô lượng, bởi vì thế giới này có chín phẩm liên hoa sinh, chín phẩm ấy là:

Thượng phẩm thượng sinh - dành cho người tu hành Đại thừa thượng thiện, lúc lâm chung được A Di Đà Phật đón tiếp, ngồi đài sen kim cương, trong chớp mắt liền vãng sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc, thấy Phật thoát sinh tử, đắc quả vị vô sinh pháp nhẫn.

Thượng phẩm trung sinh - dành cho người tu hành đức hạnh kế dưới bậc Đại thừa thượng thiện, lúc lâm chung được A Di Đà Phật đón tiếp, ngồi đài sen tử kim, vãng sinh về thế giới Cực Lạc, thấy Phật đắc bất thoái chuyển, trải qua một tiểu kiếp nữa sẽ đắc quả vị vô sinh pháp nhẫn.

Thượng phẩm hạ sinh - dành cho người tu hành đức hạnh kế dưới nữa, lúc lâm chung được A Di Đà Phật đón tiếp, ngồi hoa sen sắc vàng vãng sinh về thế giới Cực Lạc, được nghe và thấy Phật pháp, trải qua ba tiểu kiếp sẽ đắc quả vị hoan hỷ địa.

Trung phẩm thượng sinh - dành cho người tu hành Tiểu thừa thượng thiện, lúc lâm chung được A Di Đà Phật đón tiếp, vãng sinh về thế giới Cực Lạc, nghe pháp bốn đế, đắc quả vị A La Hán.

Trung phẩm trung sinh - dành cho người tu hành Tiểu thừa hạ thiện, lúc lâm chung, Phật đến đón tiếp, vãng sinh về thế giới Cực Lạc, trải qua nửa kiếp sau mới thành tựu quả vị A La Hán.

Trung phẩm hạ sinh - dành cho người làm việc thiện thế tục, lúc lâm chung, nghe được đức của Phật mà vãng sinh về thế giới Cực Lạc, trải qua một tiểu kiếp sau sẽ đắc quả vị A La Hán.

Hạ phẩm thượng sinh - dành cho người phạm mười điều ác nhẹ, lúc lâm chung niệm Phật, có thể tiêu trừ tội sinh tử trong năm mươi ức kiếp, vãng sinh về hồ báu ở thế giới Cực Lạc, sau bốn mươi chín ngày, hoa sen mới nở, mới được nghe pháp.

Hạ phẩm trung sinh - dành cho người phạm giới nhẹ, lúc lâm chung niệm Phật, có thể tiêu trừ tội sinh tử trong mười ức kiếp, vãng sinh về hồ báu ở thế giới Cực Lạc, trải qua sáu kiếp, hoa sen mới nở, mới được nghe pháp.

Hạ phẩm hạ sinh - dành cho người phạm năm tội nghịch nặng, lúc lâm chung, mười niệm niệm Phật, trong mỗi niệm có thể tiêu trừ tội sinh tử trong tám mươi ức kiếp, vãng sinh trong hoa sen ở thế giới Cực Lạc, trải qua mười hai kiếp sau, mới được nghe pháp.

Đây là sự phân biệt của "chín phẩm liên hoa sinh". Khi tôi hiểu ra rằng, trong chín phẩm liên hoa sinh, ngay cả những người phạm mười điều ác nhẹ, những người phạm giới nhẹ, những người phạm năm tội nghịch nặng, chỉ vì lúc lâm chung nhất tâm niệm Phật, mà cũng được vãng sinh, có thể thấy sự siêu việt của thế giới Cực Lạc, bản nguyện của A Di Đà Phật thật sự vĩ đại, Ngài quả thật là vị Vô Lượng Thọ Phật đệ nhất về độ sinh.

Theo cảm nhận cá nhân tôi, việc vãng sinh về thế giới Cực Lạc, chỉ cần nhất tâm bất loạn niệm Phật là có thể vãng sinh, tưởng như rất dễ, nhưng thực ra cũng khá khó khăn, bởi vì nhất tâm bất loạn cần phải lấy "thập tín" làm nền tảng, muốn niệm Phật, trước hết phải có lòng tin, và lòng tin phải kiên định, không điên đảo mới được.

"Thập tín" này, chính là tâm hợp với lý, chắc chắn không đổi dời, diệt tất cả vọng tưởng, gọi là tín tâm. Dù trải qua vô số kiếp, xả thân thọ thân, nhưng một niệm hiện tiền này quyết định không quên, gọi là niệm tâm. Không tạp gọi là tinh, không thoái gọi là tiến, chuyên trì một vị Phật, gọi là tinh tấn tâm. Tâm thuần hạnh siêng năng, trí tuệ tự sinh, gọi là tuệ tâm. Trăm thứ tạp nhiễm tan biến, tâm thể trong lặng, gọi là định tâm. Ánh sáng định phát chiếu, tiến tu không mỏi mệt, gọi là bất thoái tâm. Tiến đến công đức thuần thục, giữ gìn không mất, cùng mười phương Như Lai, khí phần tương tiếp, gọi là hộ pháp tâm. Do giữ gìn sức tu đạo, nên cùng Phật quang giao tiếp, gọi là hồi hướng tâm. An trụ tịnh giới, tâm quang thường ngưng đọng, gọi là giới tâm. Đi khắp mười phương, hóa độ chúng sinh, tùy theo nguyện ước đều được viên mãn, gọi là nguyện tâm.

Có được "thập tín" này, quyết định vãng sinh không nghi ngờ.

Sự thù thắng của thế giới Cực Lạc nằm ở chỗ có bốn loại tịnh thổ: Phàm Thánh Đồng Cư thổ, Phương Tiện Hữu Dư thổ, Thật Báo Trang Nghiêm thổ và Thường Tịch Quang thổ. Đặc biệt là Phàm Thánh Đồng Cư thổ còn có thể "mang nghiệp vãng sinh", đây là một phương tiện vĩ đại nghìn đời, trong cảnh giới hoa sen thù thắng, chuyển tâm sinh diệt của phàm phu thành tâm bồ đề bất sinh bất diệt.

Khi hành giả Mật tông tu Mật pháp, quán tưởng thân mình là đức A Di Đà Phật duy nhất hiện tại của thế giới này, phía trên là A Di Đà Phật quá khứ, phía dưới là A Di Đà Phật vị lai. A Di Đà Phật phía trên hóa thành điểm sáng hạ xuống, A Di Đà Phật phía dưới hóa thành điểm sáng đi lên, như vậy quá khứ, hiện tại, vị lai hợp thành một, rồi lại khiến mười phương thế giới hợp thành một, hóa thành thế giới Cực Lạc.

Đây là pháp tối mật "thụ cùng tam thế nhất thời, hoành biến thập phương nhất thể".
Mật chú trì tụng là "Ôm a-mi-tê-wa sê."
Thủ ấn là pháp giới định ấn".

Một người nếu tu Mật pháp Bổn tôn A Di Đà Phật, giữ lòng tin không nghi ngờ, nhất tâm bất loạn, khi lâm chung có thể niệm danh hiệu A Di Đà Phật, đóng kín tất cả lỗ chân lông trên toàn thân, chỉ để hở Phạn huyệt đỉnh, niệm một tiếng chữ "Hum", nguyên thần sẽ xông ra từ đỉnh đầu, Tây phương Tam Thánh hiện tiền, liền được hóa sinh trong hoa sen.
A Di Đà Phật và Liên Hoa Đồng Tử có mối liên hệ sâu sắc.
Tây phương Tam Thánh và Liên Hoa Đồng Tử không hai không khác.
Trong đây có bí mật của bí mật.

~Trích từ văn tập số 075 của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - Chân Phật Pháp Trung Pháp


### 65. Phụ lục 3: Tôi thường dạy chú vãng sinh


Bác gái của tôi là người xuất gia, khi còn sống, bác đã xuất gia tại Thiên Tự ở Tân Hóa, Đài Nam. Bác rất chăm chỉ trì chú vãng sinh, bởi vì bác tin rằng trì chú vãng sinh chắc chắn sẽ vãng sinh.

Trong Phật giáo lan truyền rộng rãi một câu chuyện. Vào thời kỳ Thiên Gia, núi Lư Sơn có một vị là Trân thiền sư, khi nhập định, ông đã nhìn thấy mấy trăm người cùng lên một chiếc thuyền pháp đi về phía Tây, Trân thiền sư yêu cầu những người ở trên thuyền pháp thất bảo nhân tiện chở ông ấy đến Tây phương. Nhưng người trên thuyền nói Trân thiền sư tuy đã giảng được Kinh Niết Bàn, có định lực bất khả tư nghì, nhưng Trân thiền sư lại chưa trì tụng Kinh A Di Đà và chú vãng sinh, cho nên không thể chở ông ấy cùng về Tây phương được. 

Vị Trân thiền sư này nghe vậy, sau khi xuất định, lập tức dừng giảng kinh, ngày đêm chuyên tụng Kinh Di Đà và niệm chú vãng sinh. Khi niệm chú vãng sinh được 20.000 biến thì trong thiền định nhìn thấy thần nhân gửi đến một tòa hoa sen màu trắng, đồng thời còn nói rằng, nếu pháp sư thọ chung viên tịch thì hãy ngồi trên tòa sen này vãng sinh đến nước Tây phương Cực Lạc A Di Đà Phật. Trân thiền sư liền biết công lực của Kinh A Di Đà và chú vãng sinh lớn như vậy, quyết định vãng sinh.

Vào lúc Trân thiền sư thọ chung, mọi người cũng nghe thấy trong không trung có thiên nhạc vang lên, khắp phòng tỏa hương thơm, mấy tháng không hết, Trân thiền sư đã vãng sinh rồi.

Chú vãng sinh có lợi ích gì? Nếu có người thường niệm chú vãng sinh, tụng đủ 200.000 biến, thì sẽ có hạt mầm của Phật sinh ra trong tim, nếu trì 300.000 biến, A Di Đà Phật sẽ thường trụ trên đầu người đó, ngày đêm đều bảo vệ người đó được an ổn, lúc lâm chung tự nhiên vãng sinh Phật quốc. 

Cá nhân tôi khi tu trì Mật pháp độ âm, triệu thỉnh linh hồn người ngoại quốc đến trước đàn cúng của tôi, tôi thường trì chú vãng sinh, rồi thường dạy u linh niệm chú vãng sinh. Những u linh này niệm chú vãng sinh rồi nhất định sẽ cảm động A Di Đà Phật đến tương ứng, sẽ vãng sinh Tây phương Cực Lạc thế giới.

Tu trì pháp vãng sinh, tôi dạy mọi người như sau:
Trước tiên thờ cúng Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật, pháp tướng của ngài tốt nhất là một tay cầm hoa sen. A Di Đà Phật trong Kim Cương Giới là vị Phật của phương Tây, trong Mật giáo, ngài là một trong ngũ trí thuộc hệ Đại Nhật Như Lai, trú trong tam muội Tây phương Diệu quan sát trí. Trong Thai Tạng Giới ngài ở phía Tây của viện Trung Đài Bát Diệp. Bốn đại Bồ Tát của ngài là Kim Cang Pháp, Kim Cang Lợi, Kim Cang Nhân, Kim Cang Ngữ. Tây phương Cực Lạc thế giới có bốn tịnh thổ lớn, cửu phẩm liên hoa sinh, có cảnh hai mươi lăm Bồ Tát đến nghênh đón, là một Phật quốc tịnh thổ rất thù thắng.

Tôi dạy người ta tu pháp vãng sinh vô cùng giản tiện, mọi người có thể tay kết thủ ấn mãn nguyện, tức là tay trái nắm vào áo cà sa, tay phải duỗi thẳng, lòng bàn tay ngửa lên trời.

Hành giả Mật tông trước tiên quán tưởng bảo tướng trang nghiêm của Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật, sau đó tinh thần tập trung vào đài hoa sen trên tay của A Di Đà Phật. Nếu bạn thích đài hoa sen màu đỏ thì quán tưởng đài hoa sen màu đỏ phóng quang; nếu thích đài hoa sen màu trắng thì quán tưởng đài hoa sen màu trắng phóng quang; nếu thích đài hoa sen màu vàng thì quán tưởng đài hoa sen màu vàng phóng quang, dựa theo màu sắc hoa sen mà mình thích để quán tưởng.

Sau đó tiếp tục quán tưởng đài hoa sen đó bay lên không, từ trên tay của A Di Đà Phật bay đến trên tay phải của mình, trở thành hoa sen tương lai của chính mình, và đài hoa sen trên tay mình phóng quang.

Quán tưởng hoàn tất, liền sau đó trì chú vãng sinh:
”Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê. Tô-tây-ya-tha. A-mi-ni-tô pô-pi. A-mi-ni-tô si-tam pô-pi. A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê. A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô. Ka-mi-ni ka-ka-na. Chê-tô ka-ni sô-ha.” Tổng cộng trì chú 108 biến.
Sau đó là nhập thiền định.

Tôi cảm thấy nếu có người tu trì pháp này, một ngày hai lần hoặc một lần, liên tục và không gián đoạn, tất cả chúng sinh nhất định có thể vãng sinh đến nước A Di Đà Phật. Nếu muốn quy mệnh A Di Đà Phật, phải thường niệm danh hiệu hoặc trì tâm chú của A Di Đà Phật, hoặc tu Di Đà đại pháp, hoặc tu đại mật pháp chú vãng sinh mà tôi viết ra. Y theo thề nguyện của Phật thì rất dễ vãng sinh Tây phương Cực Lạc thế giới tịnh thổ.

Tôi cảm thán, A Di Đà Phật có pháp đại thuận tiện như vậy, một người tu một người đi, vạn người tu vạn người đi, tiếc thay chúng sinh sao lại không tin. Hôm nay tôi - Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư ở tại đây, thay Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật làm một minh chứng lớn, Di Đà đại pháp, Di Đà vãng sinh pháp, Di Đà cưỡi hoa sen pháp đều là những pháp rất có công lực. Một người tu Mật, chỉ tu Tứ gia hành, sau đó tu Thượng sư tương ứng, cuối cùng tu Di Đà vãng sinh pháp, duy trì một ngày tu pháp một lần, vào ngày họ mệnh chung, chắc chắn vãng sinh, nếu không vãng sinh, Thượng sư Lư Thắng Ngạn tôi đây chịu trách nhiệm. Tôi đã liều mình đưa ra lời thề nguyện phân thân xả cốt mà nói như vậy, lẽ nào chúng sinh không tin sao?

Trí tính của A Di Đà Phật không sinh không diệt, bên trong chiếu bảo tướng của các pháp, bên ngoài chiếu căn cơ của chúng sinh, công đức của ngài vô lượng vô biên, ban lợi ích cho tất cả chúng sinh. 

Viết một bài kệ:
*Tây phương Cực Lạc hồ hoa sen,
Trí huệ vô biên như biển lớn,
Pháp bao tiện lợi người ngợi khen
Chuyên tu vững chắc là chính đạo.*

~ Bản văn này trích từ văn tập Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn số 054 - Mật Tông Yết Ma Pháp.

**(Hết.)**

---

---
# File: kinh-luat-luan/giang-thuyet-kinh-kim-cang-tap-1.md
# Title: Giảng thuyết Kinh Kim Cang - Tập 1
---

![image](/img/img_ff730f3c3a29aa0c7697a25b64a1bd6b.png)



## Giảng thuyết Kinh Kim Cang - Tập 1


(Liên Sinh Hoạt Phật giảng Kinh Kim Cang)

Cuốn số: 710
Xuất bản năm: N/A
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời người biên tập


*Đại từ đại bi - Quả vị trí huệ tính Không kim cương bất hoại*

Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn vào ngày 13 tháng 4 năm 2013 tại Đài Loan Lôi Tạng Tự, trong buổi đại pháp hội Hộ Ma Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát đã khai thị như sau:

Mọi người đều đọc kinh Kim Cang rồi, có người biết đọc, có người có thể đọc thuộc lòng, nhưng bạn có hiểu nội dung của kinh Kim Cang là cái gì không? Có rất nhiều người giảng kinh Kim Cang, tôi nói với mọi người, không có một người nào nói đúng cả. Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh tức là nói rằng có thể phá hủy được kim cương, nên bộ kinh này mới được gọi là kinh Kim Cang, ngay cả kim cương cũng đều có thể phá hủy, nên bộ kinh này mới là kinh Kim Cang vua của các bộ kinh. Tôi còn phải nói với mọi người rằng, cái gọi là kinh Kim Cang tức là phá hủy tất cả tập tính và quy phạm của nhân sinh thế tục, tất cả mọi thứ được cho là thiện, ác đều nhất loạt phá hủy hết, bất kể là thiện hay là ác đều đồng loạt phá hủy hết, thì mới coi là kinh Kim Cang. Hơn nữa còn phá hủy tất cả những gì bạn cho rằng là quy tắc, quy phạm trên người bạn đều phá hủy toàn bộ.

Nếu bạn có thể hiểu lời tôi đang nói lúc này thì bạn đã hiểu ý nghĩa sâu nhất của kinh Kim Cang rồi, hiểu chân đế của kinh Kim Cang. Nếu bạn nghe không hiểu lời tôi đang nói bây giờ, bạn sẽ không thể hiểu được kinh Kim Cang. Kinh Kim Cang còn gọi là kinh phá hủy tất cả mọi thứ, đây mới là kinh Kim Cang chân chính. Nếu trong kinh Kim Cang bạn còn nhắc đến rằng Phật có nói ra một quy phạm nào đó thì bạn vẫn chưa hiểu kinh Kim Cang. Vô cùng thâm sâu đó! Ai có thể hiểu rõ kinh Kim Cang đây?

Thế nên tôi nói câu này, người ở dưới liên hỏi: “Sư Tôn, lẽ nào thầy không muốn chúng tôi bố thí sao? Lẽ nào thầy không muốn chúng tôi làm việc thiện sao? Lẽ nào thầy không muốn chúng tôi chiếu theo pháp của Phật mà tu sao? Vì sao lại phá hủy sạch sành sanh mọi thứ? Sư Tôn có ý gì vậy?” Tôi lấy một so sánh đơn giản nói cho bạn nghe, tôi hỏi bạn: Trên mặt trăng, cái gì là thiện, cái gì là ác? Bây giờ ai có thể trả lời tôi? Trên mặt trăng cái gì mặn cái gì là chay? Ai có thể trả lời tôi? Bây giờ tôi nói với bạn một câu, cái gọi là kinh Kim Cang tức là kinh điển phá hủy tất cả.

Trên thế giới này người có thể hiểu thấu kinh Kim Cang, Lư Sư Tôn là một trong số đó. Người giảng kinh Kim Cang thì có rất nhiều, nhưng không có người nào nói như vậy. Cái gọi là bố thí tức là không có bố thí, biết rằng không có bố thí mới gọi là bố thí. Cái gọi là công đức là vì biết rằng không có công đức nên mới gọi là công đức. Cái gọi là quả vị là vì biết rằng không có quả vị nên mới gọi là quả vị. Rất khó giải thích, nhưng Sư Tôn có thể biết được đó là ý gì, chân đế của nó nằm ở đâu, chính là vì tôi đã minh tâm khai ngộ. Khi bạn minh tâm kiến tính rồi bạn mới có thể giảng kinh Kim Cang, nếu chưa minh tâm kiến tính mà giảng kinh Kim Cang thì sẽ bỏ sót nghĩa đế chủ yếu nhất của kinh Kim Cang.

Người Trung Quốc chúng ta, người Hán là thích kinh Kim Cang nhất, và Tâm Kinh nữa, rất nhiều người đều có thể thuộc lòng, hơn nữa còn chép lại, sao chép, điều này rất tốt. Sư Tôn bảo mọi người cũng phải bố thí, cũng phải làm việc thiện, không hề nói rằng mọi người đừng làm bố thí và làm việc thiện. Nhưng đây chỉ là một giai đoạn, là một giai tầng. Thật sự đến được cảnh giới cao nhất rồi thì là kim cang phá hủy tất cả, tôi nói để mọi người biết, ngay cả Phật pháp cũng phá hủy! Phật Đà trong kinh Kim Cang đã nói rất rõ ràng rồi, “pháp còn nên bỏ huống hồ không phải là pháp”. Phật pháp đều phải bỏ huống hồ không phải là pháp, đó là cảnh giới cao nhất. Cho nên không ai hiểu kinh Kim Cang, người có thể giảng kinh Kim Cang thì nhất định phải là người đã minh tâm kiến tính, nhất định đã đắc được chân đế của Như Lai thì mới có thể giảng kinh Kim Cang.

Tôi lại nói đến Hỉ Kim Cang, “điều trọng yếu là sinh khởi nhân duyên”, nếu bạn và Hỉ Kim Cang có duyên, bạn nhận được quán đảnh của Hỉ Kim Cang, bạn có được kiến địa của Hỉ Kim Cang, bạn tu pháp của Hỉ Kim Cang rồi, bạn có pháp lực của Hỉ Kim Cang rồi, đắc được quả của Không trí [trí huệ tính Không]. Hai chữ “Không trí” này rất quan trọng, đây là quả Không trí mà trong kinh Kim Cang nói đến. Khi mới bắt đầu, bạn phải có nhân duyên với Phật pháp, bạn nhận quán đảnh của Bổn tôn, bắt đầu có kiến địa của Phật pháp, cuối cùng bạn tu Phật pháp rồi, đến khi bạn lại đắc được pháp lực của Phật pháp, cuối cùng bạn đắc được quả Không trí, và Không trí này chính là kinh Kim Cang.

Dưới sự cùng thỉnh pháp của Chân Phật Tông Tông Vụ Ủy Viên Hội, Chân Phật Tông Seattle Lôi Tạng Tự, Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, Đài Loan Lôi Tạng Tự, vào ngày 24/07/2021, Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật đã bắt đầu giảng dạy bộ kinh Kim Cang - Vua của các kinh này. 

Nay chúng tôi đã biên tập và chỉnh lí hoàn chỉnh kinh văn Kinh Kim Cang và nội dung giảng kinh của Pháp Vương để trình bày với bạn đọc những yếu nghĩa giảng kinh thuyết pháp sâu sắc thấu đáo.


### **Giới thiệu văn tập 710. Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn giảng Kinh Kim Cang**



### 00. Tác giả Kinh Kim Cang là ai?


Hôm nay tôi thấy buổi đồng tu này có hai chủ đề chính: Thứ nhất, thỉnh pháp vừa rồi là yêu cầu tôi giảng kinh Kim Cang. Thật ra, giảng về Đạo Quả, đến một người cũng không có, bởi vì Đạo Quả rất khó giảng. Người giảng kinh Kim Cang thì lại vô cùng nhiều, rất nhiều pháp sư đã giảng rồi. Nhưng tôi cho rằng ý nghĩa trọng yếu của kinh Kim Cang còn khó giảng hơn cả Đạo Quả. Rất nhiều người giảng kinh Kim Cang, nhưng tất cả đều là "học sinh mầm non" hết… Không thể nói tất cả đều là *kindergarten, kindergarten baby* [trẻ em mầm non]. Thật ra, kinh Kim Cang là "chí kim", "chí cang", là một bộ kinh điển vô cùng vĩ đại! Rất ít người có thể nói trúng yếu nghĩa, vì thế tôi mới phải bắt đầu giảng kinh Kim Cang.

Rất nhiều người giảng kinh Kim Cang là giảng như thế nào? Đầu tiên là họ giải thích tên gọi kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, sau đó họ lại giảng về người phiên dịch là pháp sư Tam Tạng Cưu Ma La Thập đời Hậu Tần, nói về dịch giả. Còn tôi thì nói với các bạn một sự thật: kinh Phật là Phật Thích Ca Mâu Ni giảng. Thế còn là ai viết ra? Tác giả là ai? Tác giả là ai, đại bộ phận đều không có tác giả… Kinh điển Hiển giáo có dịch giả Cưu Ma La Thập, ông ấy phiên dịch, kinh Kim Cang là do Cưu Ma La Thập dịch, thế nhưng tác giả là ai? Không có, không có tác giả. Kinh điển Hiển giáo đại bộ phận đều là như vậy, gần như bất kì kinh điển nào cũng là như vậy, không có tác giả, chỉ có dịch giả. 

Kinh điển Mật giáo thì khác. Mọi người có chú ý thấy không nhỉ? Các kinh điển Mật giáo đều có tác giả, có dịch giả. Bản kinh này là ai viết? Đạo Quả, Virupa là tác giả, còn bản dịch thì có dịch giả. Kinh điển Mật giáo cũng có rất nhiều, và đều có tác giả: Là ai viết? Tsongkhapa viết "Mật tông đạo thứ đệ quảng luận", "Bồ đề đạo thứ đệ quảng luận"… tất cả "Ngũ bộ đại luận" đều có tác giả, không phải là Di Lặc Bồ Tát viết; Duy thức, Trung quán đều có tác giả. Vô Trước, Thế Thân viết về Duy thức. Còn Trung quán thì có Long Thọ, có Đề Bà, đều có tác giả. Duy nhất chỉ có kinh điển Hiển giáo là không có tác giả, chỉ có người phiên dịch. Mọi người có phát hiện ra không? Là mọi người phát hiện ra sao? Mỗi bộ kinh điển Mật giáo đều có tác giả, có dịch giả, kinh điển Hiển giáo thì toàn bộ đều không kí tên, không có tác giả. Đây là một vấn đề đáng tìm hiểu.

Đương nhiên kinh Hiển giáo là Phật Thích Ca Mâu Ni giảng, nhưng khi giảng, vào thời Ấn Độ cổ đại, lúc Phật Thích Ca Mâu Ni giảng, nếu như những người ngồi ở dưới nghe cũng lập tức bận bịu ghi chép lại, ngay tại chỗ đó dùng bút ghi chép lại, thì vào thời Ấn Độ cổ đại, đó không phải là một hành vi lễ phép, không phải là một hành vi lịch sự. Ấn Độ cổ đại coi đó là hành vi không hợp lễ nghĩa. Nếu mà Phật Thích Ca Mâu Ni đang thuyết pháp, đệ tử ở dưới lui cui ghi chép, ghi lại những điều mà sư phụ giảng, thì đó là điều không thể. Thời hiện đại này thì được, thời cổ đại thì không được. Do vậy mà có cái gọi là lần kết tập thứ nhất, lần kết tập thứ hai, lần kết tập thứ ba, lần kết tập thứ tư, là để chỉ những người đã nghe xong, sau đó mọi người cảm thấy cần ghi chép lại những lời Phật Đà đã nói giảng khi ấy, sau đó lại biên soạn chúng lại, kinh điển thông thường đều như vậy. 

Khả năng ghi nhớ của A Nan tôn giả rất tốt, vì thế đại bộ phận đều là do A Nan tôn giả nghe được, ghi nhớ những điều nghe được, rồi ngài ấy có thể nói lại chúng, rồi những đệ tử ở dưới xác nhận rằng đúng là Phật có nói lời đó, sau đó họ mới lại ghi chép chúng. Còn con người hiện đại, ai có được trí nhớ tốt như vậy? Lúc này tôi đang nghĩ, Sư Tôn thuyết pháp lâu như vậy, bản thân tôi cũng quên rồi, rất nhiều điều bản thân tôi cũng quên rồi, tôi đã nói gì tôi cũng quên rồi. Các vị đang ngồi ở đây, ai là người có thể nhớ hết những bài thuyết pháp của Sư Tôn từ lúc bắt đầu cho đến bây giờ? Có hay không? Nếu có người như thế thì hãy đến bảo tôi, thế thì bạn chính là A Nan trong quá khứ đó.

Lần đầu tiên tôi thuyết pháp là ở đâu? Địa điểm là Đầu Biện Khanh ở Đài Trung. Lần đó sau khi chúng tôi bơi xong, tôi mặc quần áo vào rồi lên một tháp nước, ở trên tháp nước tôi đã giảng kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Khi ấy có ai có mặt ở đó? Chà, mọi người xem! Liên Thế, Liên Chủ, họ là hai đệ tử lâu năm. Hai người có xuống bơi không? Khi ấy sau khi tôi xem phong thủy xong liền đi bơi ở con sông ở Đầu Biện Khanh Đài Trung. Tôi thích bơi, mọi người đều cùng xuống bơi, sau khi bơi xong thì vẫn còn thời gian, tôi ở trên tháp nước, ngồi ở phía trên tháp nước giảng kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Bắt đầu từ lúc đó cho đến bây giờ, có ai có thể nhớ bài thuyết pháp của tôi không? Hoặc từ khi bạn quy y nghe Sư Tôn thuyết pháp, bạn có hoàn toàn ghi nhớ hết từng chữ không? Người nhớ được nhất định là A Nan tôn giả chuyển thế đó. Thật sự rất khó đó! Vì thế thật sự vô cùng thù thắng, vô cùng hi hữu.

Hôm nay thuyết pháp đến đây thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 24/07/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Quan Thế Âm Bồ Tát Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và giảng Đạo Quả bài giảng thứ 419.)*


### 01. Ý nghĩa chân thực của Kinh Kim Cang


*(Bài giảng 1)*

Hôm nay tôi bắt đầu giảng một chút về kinh Kim Cang. Hôm nay sẽ nói về hai chữ Kim Cang. Kim Cang là gì? Chúng ta đã xem bộ phim điện ảnh King Kong chưa? Rồi à, đó chính là Kim Cang, Kim Cang chính là đại tinh tinh đó, bộ phim King Kong. Kim Cang ở đây không phải là King Kong kia. Cái được gọi là kim cang ở Ấn Độ là một vũ khí của Ấn Độ cổ đại, là một loại vũ khí dùng vào thời cổ đại khi họ đánh nhau, vũ khí được dùng khi các quốc gia đánh nhau gọi là kim cang. Thế kim cang là gì? Giống như hình thêu trên áo đây. (Sư Tôn chỉ vào hình chày kim cang được thêu trên áo ngài.) Đây chính là kim cang. (Sư Tôn giơ chiếc chày kim cang lên.) Đây là vũ khí được dùng vào thời Ấn Độ cổ đại. Thật ra cái này rất kiên cố không hư hỏng, vũ khí này dùng làm gì? Chính là dùng để phá hủy mọi thứ. Phá hủy quân địch, tiêu diệt quân địch, vào thời Ấn Độ cổ đại, vũ khí này dùng để tiêu diệt kẻ địch.

Kim Cang có rất nhiều hàm nghĩa, cũng có thể nói rằng, đây chính là kim cang, kí hiệu này chính là kim cang, đại diện cho sự bất hoại, cái này sẽ không hư hoại, nhưng nó có thể phá hủy tất cả. Bởi vì nó rất cứng chắc, có thể phá hủy mọi thứ. Chúng ta cầm chày kim cang là cầm như thế này, dùng ấn phẫn nộ để cầm chày kim cang (Sư Tôn thị phạm). Phẫn nộ Kim Cang, Đại Lực Kim Cang của Chân Phật Tông chúng ta, ngài ấy là Đại Lực Kim Cang phá hủy tất cả. Hùng Thiên Hộ Pháp cũng gọi là Đại Lực Kim Cang, một tên gọi khác của ngài ấy chính là Đại Lực Kim Cang. Hùng Thiên Hộ Pháp chính là Đại Lực Kim Cang, mọi người hãy tìm hiểu một chút về Đại Lực Kim Cang mà xem.

Rất nhiều người không biết kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật rốt cục hàm nghĩa nằm ở đâu. Chỉ riêng tên kinh này đã chỉ ra ý nghĩa của kinh Kim Cang nằm trong đó rồi. Phá hủy tất cả, chính là kinh Kim Cang. Ý nghĩa nói tóm gọn lại thành kinh Kim Cang, phá hủy tất cả, cái gì cũng phá hủy hết. Bởi vậy, khi Tổ sư Đạt Ma thuyết pháp, ngài ấy đi lên, ngồi xuống, sau đó đập bàn một cái, xong, thuyết pháp xong rồi, thế rồi đi xuống. Hôm nay tôi giảng kinh Kim Cang, đã giảng xong rồi, bởi vì chẳng có gì có thể nói được mà, cái gì cũng đều phá hủy hết rồi thì còn nói gì nữa? Không cần giảng, đến cả pháp cũng phá hủy hết thì còn giảng pháp gì nữa chứ?

Chẳng có ai nói như vậy cả. Chẳng có ai giảng kinh Kim Cang lại nói như vậy cả. Những người mà giảng thì đều thao thao bất tuyệt, người nghe thì cũng thờ ơ, rốt cục hiểu được cái gì? Hôm nay giảng kinh Kim Cang chính là cần nói về ý nghĩa trọng yếu của nó. Phá hủy tất cả chính là yếu nghĩa của kinh Kim Cang, ngay đến pháp cũng phá hủy, ngay cả Phật pháp cũng phá hủy. Bạn tự mình nghĩ thử xem, mọi người hãy dùng một chút não bộ nghĩ thử xem, nếu như bạn đã thành Phật rồi, tôi hỏi bạn, bạn đã thành Phật rồi, bạn là A Đạt Nhĩ Mã Phật, bạn là Tì Lô Giá Na Phật, bạn là A Di Đà Phật, bạn là Dược Sư Như Lai, bạn là A Súc Phật, bạn là Bảo Sinh Phật, bạn là Bất Không Thành Tựu Phật, thế thì bạn mỗi ngày còn tu Phật pháp không? Có cần phải tu Phật pháp không? Có cần không? Đúng rồi, vô tu mà, không cần tu nữa, Phật pháp có thể quẳng đi, bạn đã thành Phật rồi mà, vô tu chính là tu, tu cũng tức là vô tu. Kinh Kim Cang chính là phá hủy tất cả, chính là thành tựu, nói như vậy mọi người sẽ thấy rõ ràng. Bạn thành Phật rồi thì còn tu Hộ Ma không? Thành Phật rồi, bạn còn làm Hộ Ma không? Bạn cần cúng dường ai nữa? Có Bổn tôn nào không phải là bạn đây? Sau khi bạn thành Phật rồi bạn còn tu Hộ Ma, thế thì bạn cúng dường cái gì? Cúng dường người à? Cúng cái gì? Không cần cúng, bạn là Ứng Cúng, bạn nên nhận đồ cúng chứ không phải là đi cúng dường. Nói như thế mọi người nghe hiểu hay không hiểu?

Cái gì gọi là Bát Nhã Ba La Mật? Bát nhã, chúng ta biết đó là trí huệ, trí huệ không phải là trí huệ bình thường, mà là Phật huệ, trí huệ của Phật, không phải là tri thức của nhân gian, không phải là trí tuệ của nhân gian, không phải tri thức của nhân gian, không thuộc về tri thức nhân gian, mà là tri thức xuất thế gian. Hai chữ bát nhã này thuộc về trí huệ xuất thế gian. Đến khi trí huệ viên mãn rồi thì thành tựu cảnh giới Không, tất cả đều quét sạch.

Ba la mật, trước đây chúng ta thường nói Bát nhã Ba la mật, Ba la mật, Ba la mật thừa chính là Đại thừa, là quảng đại vô biên. Ý nghĩa của Kim Cang chính là nói rằng trí huệ phá hủy tất cả là Như Lai đệ nhất, Đại thừa quảng đại vô tận. Ý nghĩa của kinh điển này chính là nằm ở đây, trí huệ phá hủy tất cả, Ba la mật quảng đại vô biên. Bản kinh điển này, bạn hãy ghi nhớ: nó là kinh điển quảng đại vô biên về trí huệ phá hủy tất cả. Cách giải thích của tôi khác với cách giải thích của người khác. Bạn có thể thấy người khác giải thích không giống như vậy. Có người cũng giải thích như vậy, bởi vì kim cang là kiên cố, nên họ gọi là trí huệ bất hoại. Kinh điển trí huệ bất hoại quảng đại vô biên. Ba la mật được gọi là Ba la mật thừa, chính là Đại thừa, Ba la mật thừa chính là Đại thừa. Hỏi "Anh học cái gì?" "Tôi học Đại thừa, chính là Ba la mật thừa." Tiểu thừa là *Small* thừa, *small potato* thừa. Kinh điển trí huệ bất hoại quảng đại vô biên. Kinh điển trí huệ bất hoại đạt đến quảng đại vô biên. Hoặc có thể nói rằng, là kinh điển quảng đại vô biên vĩ đại nhất, là kinh điển về trí huệ phá hủy tất cả để đạt đến Phật quả. Quả là quả trong từ quả vị, không phải là quốc trong từ quốc gia. Cũng có thể nói như vậy.

Thật ra, Ba la mật mọi người đã từng ăn chưa? [trong tiếng Trung, từ quả mít cũng có cách đọc là ba la mật] Loại quả đó gọi là ba la mật. Mọi người có biết quả mít được trồng ở đâu không? Đông Nam Á, Đông Nam Á có quả mít. Có ngon không? Tôi không thích ăn lắm, mọi người nói ngon, nhưng tôi lại không thích ăn lắm, tóm lại là có một hương vị hơi lạ. Ba La Mật kinh, như thế là đã biết đến danh từ này rồi, hôm nay sẽ nói về danh từ này. Kim Cang vừa là bất hoại vừa là phá hủy, Bát nhã chính là trí huệ, hàm ý của Ba la mật rất nhiều. Quảng đại vô biên, giúp đến được bỉ ngạn, thành tựu Phật quả, cứ nói như thế này thì rất dài.

Bản kinh điển này, người phiên dịch là Tam Tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập đời Hậu Tần. Bản thân người phiên dịch, mọi người thử lấy điện thoại tìm kiếm xem, có tư liệu về ông ấy đấy, mọi người sẽ biết ngay thôi, không cần tôi nói nữa. Ông ấy đương nhiên là người Ấn Độ, ấy, có phải là người Ấn Độ không? Có phải không? Đúng là người Ấn Độ. Có thể là người Trung Quốc di dân đến Ấn Độ không, rồi lại từ Ấn Độ quay về? Hình như có một pháp sư là như thế, đúng, đó là Sư Lợi Tinh Ha. Sư Lợi Tinh Ha thầy của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, ngài ấy là người Hán, di dân đến Ấn Độ học tập Phật pháp, sau đó Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã bái ngài ấy làm thầy. Sư phụ của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là người Hán, di dân đến Ấn Độ trở thành người Ấn Độ, sau đó lại truyền pháp cho Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là người Ấn Độ. Mọi người đã từng nghe qua chưa? Sư Lợi Tinh Ha là người Hán, di dân đến Ấn Độ (Thiên Trúc), sau đó trở thành người Ấn Độ, rồi lại truyền pháp cho Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.

Thôi, hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.

(Ngày 25/07/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Liên Hoa Sinh Đại Sĩ tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 1.)


### 02. Liên hệ giữa kinh Kim Cang và pháp Thời luân, pháp Thí thân


*(Bài giảng 2)*

Kim cang chính là vũ khí của thời Ấn Độ cổ đại. Kim cương thừa biểu thị sự bất hoại. Giống như kim cang, đây chính là kim cang. Đây là vũ khí thời Ấn Độ cổ đại, nó là thứ bất hoại. Bạn không tin sao? Bạn thử cầm nó lên và ném vào tường, nó cũng sẽ không hỏng đâu, vẫn như thế này. Bạn ném nó xuống đất nó cũng không hỏng, nó cũng vẫn như thế này. Đây là vũ khí của thời Ấn Độ cổ đại, tượng trưng cho Kim cương thừa. Vũ khí của Ấn Độ cổ đại, cầm vũ khí này tượng trưng cho sự bất hoại, đây chính là kinh Kim Cang. Cái thứ bất hoại này là để làm gì? Để phá bỏ tất cả, kinh Kim Cang cũng như vậy. 

Kim Cang là kinh điển trí huệ bất hoại để phá bỏ tất cả đạt đến thành tựu. Giải thích về kinh Kim Cang tôi đã nói rồi. Là kinh điển dựa vào trí huệ bất hoại của kim cang, Bát nhã chính là trí huệ, để đạt đến thành tựu, nên gọi là kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật. Thành tựu rất lớn, thành tựu lớn nhất, thành tựu vô thượng, chính là Ba la mật, đại diện cho Đại thừa, Ba la mật thừa đại diện cho Đại thừa, Ba la mật chính là tượng trưng cho thành tựu vô thượng. Bởi vậy, kinh điển này chính là kinh điển dựa vào trí huệ của kim cang bất hoại để mà quét sạch tất cả, đạt đến thành tựu vô thượng. Giải thích thế này là rõ ràng rồi. 

Tôi bảo mọi người nhé, từ kinh điển này tôi đã liên tưởng đến Thời Luân Kim Cang. Thời Luân Kim Cang là ai biến hóa ra? Là Thích Ca Mâu Ni Phật biến hóa ra Thời Luân Kim Cang, tại tháp Amaravati ở miền nam Ấn Độ, ngài đã đem pháp Thời Luân Kim Cang truyền cho Quốc vương xứ Shambhala là Vua Nguyệt Hiền. Thời luân có ý nghĩa là gì? Là bánh xe lớn của thế gian liên tục quay vòng, không có một thứ nào là không bị hủy hoại. Nhà cửa, ví dụ, tuổi đời của Chân Phật Mật Uyển dài, hay là thọ mạng của Sư Tôn dài? Tuổi đời của nhà cửa tương đối dài, đúng vậy không? Có những ngôi nhà có thể kéo dài tới một trăm năm, hai trăm năm, thậm chí những ngôi nhà mấy trăm tuổi cũng có, đã trở thành những ngôi nhà cổ rồi, lâu đài cổ, chúng vẫn tồn tại như xưa. Nhưng chúng sẽ có lúc bị hủy diệt không? Có, bởi vì chúng đã trải qua một thời gian rất dài. Thời Luân Kim Cang chính là bánh xe thời gian khổng lồ, phá hủy toàn bộ, hủy hoại tất cả. Đây là ý nghĩa của bánh xe thời gian, ý nghĩa của Thời Luân Kim Cang. 

Mọi người đã nghe qua Thời Luân Kim Cang, ý nghĩa chân chính của Thời Luân Kim Cang chính là bánh xe thời gian khổng lồ khi lăn qua thì cái gì cũng chẳng còn. Xe cộ có hỏng không? Có, sẽ hỏng. Nhà cửa có hỏng không? Sẽ hỏng. Con người có hoại diệt không? Sẽ hoại diệt. Hoại diệt như thế nào? Thời gian qua đi, bạn sinh ra là trẻ sơ sinh, sau đó thành trẻ con, thành thanh niên, thiếu niên, rồi trưởng thành, tiếp theo là tuổi già, cuối cùng bạn chết đi, thế là bạn đã hoại diệt rồi. Cái thứ gì đã khiến mọi thứ hoại diệt? Là bánh xe thời gian. Thời gian, nằm trong thời gian. 700 triệu năm trước, chúng ta học vật lý đôi khi có nhắc đến. 700 triệu năm trước trái đất đã có bảy lần chuyển biến, có nghĩa là núi biến thành ruộng dâu, ruộng dâu biến thành núi. Biển rộng là núi, sau đó núi lại biến thành biển, biển lại biến thành núi, tất cả mọi thứ đều hoại diệt hết cả. Nằm trong thời gian thì chẳng thứ gì tồn tại được, nghĩa là quét sạch tất cả. Thời Luân Kim Cang cũng quét sạch tất cả. 

Ngoài ra, bạn có nhớ Tổ sư Đạt Ma đến Tây Tạng đã đổi tên thành gì không? Là Padampa Sanggye. Khi đến Tây Tạng, tên của ngài được gọi là Padampa Sanggye. Padampa Sanggye đã truyền cho Mã Cát Lạp Tôn [Machig Labdron] pháp gì? Pháp này gọi là pháp Thí thân. Pháp Thí thân, pháp Xả thân. Đó là pháp Đoạn. Đoạn, thế nào gọi là pháp Đoạn? Phá hủy hết! Cắt luôn cả cái cổ của mình. Người Nhật Bản thì rạch bụng mà chết. Họ có ba cây đao, một cây đao dài, một cây đao trung, một cây đao ngắn. Đao ngắn dùng để làm gì? Khi thất bại thì họ rạch bụng, đó là tinh thần võ sĩ đạo. Mổ bụng tự sát, rạch bụng. Rạch bụng trong tiếng Nhật gọi là gì? Tiếng Nhật, *Japan language*. Tôi nhớ hình như là *seppuku*. Tôi không nhớ rõ lắm, bởi vì trước kia bố tôi thường kể chuyện rạch bụng tự sát. Phát âm thế nào, từ rạch bụng ấy? Tôi nhớ hình như bố tôi nói là… tôi nghe rồi nhưng lại quên mất rồi. *Seppuku* phải không? *Seppuku*. Đúng thế à, đúng thế không? *Is it true? No kidding?* [Có đúng không? Không đùa chứ?] *Seppuku*. Thấy không, tôi vẫn còn nhớ được, bố tôi thường nói *seppuku*. Bố tôi cầm cái *bokken* trong nhà, là cái kiếm gỗ, kiếm gỗ của samurai Nhật Bản, rất dày, rất thô, để đánh tôi tới mức cây gậy này cũng gãy luôn. Chà, thật đó. Thế nên Sư Tôn là mình đồng da sắt đó. Bốp! Cái gậy *bokken* Nhật Bản cũng gãy luôn. 

Bánh xe lớn thời gian này là Đoạn pháp, Tổ sư Đạt Ma truyền cho Mã Cát Lạp Tôn chính là Đoạn pháp. Cắt lìa cái cổ, đem toàn bộ thân mình cúng dường cho tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát của thập phương tam thế, cúng dường lục đạo chúng sinh, đem toàn bộ thân mình cúng dường hết, đây gọi là tinh thần cho đi và tinh thần xả bỏ. Chúng ta tu hành cần có tinh thần này mới có thể thành tựu. 

Hôm nay bạn nghe tôi giảng kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, bạn cần phải có tinh thần từ bỏ tất cả. Đừng để điều tốt lưu lại trong tâm, cũng đừng để điều xấu lưu lại trong tâm. Thiện, ác đều không đặt trong tâm, tất cả việc lớn, việc vừa, việc nhỏ đều không để trong tâm, hãy quét sạch tất cả. Chỉ vì người ta nói bạn một câu mà bạn đau lòng đến ba ngày, không đáng như thế! Bạn là hành giả, đừng đem những thứ rác rưởi này bỏ vào bên trong thân thể bạn, cần vứt bỏ hết những thứ rác rưởi bên trong thân thể bạn! Tiền bạc, sự nghiệp, tình yêu, tình thân, tất cả vàng bạc châu báu, bao gồm cả thân thể của chính mình, tất cả đều loại bỏ sạch sẽ, thì đó mới là kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật. 

Bạn có hiểu kinh điển này không? Chỉ một câu nói có thể khiến bạn đau lòng mất mấy ngày, một việc nhỏ xíu thế là bạn chẳng đến nữa. Lão phu không đến nữa, tôi chẳng lên pháp tọa thuyết pháp nữa! Không sướng mà! Có được như thế không? Mỗi sự việc đều là việc tốt, tôi đã nói rồi: "Tất cả mọi việc đều là sự an bài hoàn hảo nhất." Thế thì còn có việc gì nữa, sự an bài hoàn hảo vẫn còn là có việc, ngay cả sự an bài hoàn hảo cũng cần phải bỏ đi. Tôi giảng kinh Kim Cang không giống những người khác giảng. Chỉ riêng mỗi tên gọi kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật tôi đã nói lâu như vậy rồi. 

Mọi người hiểu kinh Kim Cang, mọi người mỗi ngày đều niệm kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật: *"Tôi nghe như vầy. Một thời, Đức Phật ở thành Xá Vệ trong khu vườn Kì Thụ Cấp Cô Độc cùng với một nghìn hai trăm năm mươi vị đại tì kheo. Hôm ấy, gần đến giờ thọ trai, Thế Tôn đắp y cầm bát, đi vào thành Xá Vệ để khất thực. Ở trong thành, ngài lần lượt khất thực rồi trở về nơi ở của mình. Ăn xong, ngài thu dọn y bát, rửa chân rồi bày chỗ để ngồi."* Ngày ngày niệm, thế bạn có biết kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật là gì không? Chính là bánh xe thời gian, chính là pháp Đoạn! Đoạn trừ tất cả! Tình yêu gì chứ? Khốn kiếp! Thật đó, tất cả đều là nhất thời thôi! Bạn không biết sao? Đó là nhất thời đó! Lúc này thì có tình yêu, bạn chết đi rồi thì còn tình yêu gì nữa? Bạn chết rồi thì còn tiền bạc của cải gì nữa? Bạn chết rồi thì còn nhà cửa xe hơi gì nữa? Bạn chết rồi thì ngay cả nhục thể cũng chẳng còn, bạn muốn thành tựu thì ngay cả nhục thể này cũng cần phải thanh trừ sạch sẽ hết!

Sự nghiệp à, tình yêu à, vận mệnh à, phong thủy à, tử vi à,… kì thực Phật Đà nói, chúng đều là khốn kiếp cả! Phật Đà chẳng thích gì những thứ này. Người hiểu phong thủy là Xá Lợi Phất, đại đệ tử số một của Phật, là vị trí huệ bậc nhất, phong thủy chủ yếu dùng tại nhân gian, là dùng pháp nhập thế để độ chúng sinh mà thôi, chứ thật ra chẳng có tác dụng gì.

Hôm nay tôi giảng kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật thì sẽ giảng rõ ràng một chút cho mọi người rằng: kinh này có liên quan với pháp Thời luân! Bánh xe lớn của thời gian lăn qua, tất cả mọi thứ đều chẳng còn. Kinh này có liên quan đến pháp Thí thân, con người chết rồi thì cái gì cũng chẳng còn. Tuy nhiên, là tôi nói một ý chung, tất cả mọi thứ trên đời đều chẳng còn. Con người chết đi rồi, tất cả mọi thứ trên thế gian đều chẳng còn gì! Tình thân cái gì, tình yêu cái gì, tình cái gì, tình cái gì, cho dù như ông Piano cũng chẳng còn nữa! (Sư Tôn chỉ vào Thượng sư Liên Cầm - chữ Cầm này trong từ dương cầm, nghĩa là đàn piano). Piano và Sakura, Thượng sư Liên Cầm này gọi là Piano, Sakura là thầy giảng dạy Liên Anh (Anh trong từ hoa anh đào), thật sự đều chẳng còn gì. Hoa anh đào cũng chẳng còn, sakura. Om mani padme hum. 

*(Ngày 31/07/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Địa Tạng Vương Bồ Tát Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 2.)*


### 03. Phần thứ 1: Nguyên do của pháp hội (1)


*(Bài giảng 3) *Nguồn gốc thời gian địa điểm của người giảng kinh Kim Cang

Bây giờ chúng ta lại nói một chút về kinh Kim Cang. Đi vào chủ đề "Phần thứ 1: Nguyên do của pháp hội". 
Kinh Kim Cang này, Phật Thích Ca Mâu Ni muốn nói kinh Kim Cang thì cũng phải có điều kiện, bây giờ nói về điều kiện của nó. Thứ nhất, phải có người giảng kinh. Nhân vật chính là ai? Là Phật Thích Ca Mâu Ni. Người nghe là ai? Người đặt câu hỏi chủ yếu là ai? Nhìn chung mà nói thì Phật Thích Ca Mâu Ni giảng kinh cũng là trò hỏi thầy trả lời, một trong số những đệ tử này nêu lên thắc mắc, Phật Thích Ca Mâu Ni sẽ theo điều mà người đó hỏi mà nói bộ kinh điển này. Người hỏi ở đây, nhân vật nam chính thứ hai chính là Tu Bồ Đề. Địa điểm là ở đâu? Ở tịnh xá Kì Viên. Phật Thích Ca Mâu Ni từng sống ở ba nơi rất quan trọng, một là hang động Linh Sơn, hang động ở núi Linh Thứu, hai là tịnh xá Trúc Lâm, thứ ba là tịnh xá Kì Viên. Trong đời Thích Ca Mâu Ni Phật đã từng sống ở ba nơi, hang động ở núi Linh Thứu, tịnh xá Trúc Lâm và tịnh xá Kì Viên.

Thế còn nguyên do là gì? Là do có người hỏi. Ai hỏi? Tu Bồ Đề hỏi. Vì sao lại là Tu Bồ Đề hỏi? Bởi vì là kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật. Tu Bồ Đề cũng là một trong số mười đại đệ tử, là "giải Không nghĩa đệ nhất", tức ngài ấy hiểu rõ nhất về tính Không, nên ở đây do ngài ấy hỏi. Trí huệ đệ nhất là Xá Lợi Phất. Thần thông đệ nhất là Mục Kiền Liên. Còn đây là do người hiểu rõ về tính Không nhất là Tu Bồ Đề hỏi, phần lớn đều là giải đáp câu hỏi của Tu Bồ Đề. Nguyên do của pháp hội, chúng ta mỗi lần tụ hội để giảng đều có người giảng kinh, có người nghe kinh, có địa điểm. Có nhân vật, thời gian, địa điểm, còn có quá trình diễn ra, nên đây là "Phần thứ 1: Nguyên do của pháp hội". Nói như vậy mọi người hiểu rồi chứ? Thế nào là "Phần thứ 1: Nguyên do của pháp hội"? Có nhân vật, có địa điểm, có hỏi có đáp, quá trình hỏi đáp, có thời gian (đương nhiên chính là lúc sống tại tịnh xá Kì Viên), nguyên do của pháp hội chính là như vừa nói. 

Lúc ban đầu, Phật Thích Ca Mâu Ni lên Đao Lợi Thiên giảng kinh Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện cho phu nhân Maya nghe, chính là mẫu thân của ngài. Sau đó, Phật Thích Ca Mâu Ni biến mất khỏi đó một lúc, rồi đột nhiên trở về. Liên Hoa Sắc là một tì kheo ni xinh đẹp nhất trong tăng đoàn. Bởi vì trong tăng đoàn, Liên Hoa Sắc là người xinh đẹp nhất, nên đã hại rất nhiều tăng nhân đầu trọc chạy theo nàng ấy. Liên Hoa Sắc là người đầu tiên chạy đến trước mặt Phật Đà, nàng nói: "Con đến trước tiên để nghênh đón Thế Tôn trở về." Phật Thích Ca Mâu Ni nói: "Không phải, không phải cô." Nàng ấy nói: "Rõ ràng con là người đầu tiên đến, vì sao lại nói không phải con?" Phật Thích Ca Mâu Ni nói: "Có một người đến trước cô." Nàng ấy nói: "Không có đâu, con là người đầu tiên chạy đến, tì kheo ni Liên Hoa Sắc con là người đầu tiên chạy đến, vì sao thầy lại nói còn có người khác, bên cạnh con chẳng có người nào khác, con là người đầu tiên đến nghênh tiếp Phật Thích Ca Mâu Ni." Phật Thích Ca Mâu Ni nói: "Có một người đến trước cô, người này chính là Tu Bồ Đề." Bởi vì Tu Bồ Đề cũng biết Phật Thích Ca Mâu Ni sắp từ Đao Lợi Thiên xuống, ngài ấy muốn đi nghênh tiếp, nhưng ngài ấy đứng lên rồi lại ngồi xuống, đây là ngồi thiền định còn suy nghĩ thì đi nghênh tiếp Phật Thích Ca Mâu Ni. Phật Thích Ca Mâu Ni lập tức biết ngay: "Người đầu tiên đến nghênh tiếp ta là Tu Bồ Đề tôn giả." Ngài ấy không dùng hình tượng thật để đi đón tiếp Phật Thích Ca Mâu Ni, còn Liên Hoa Sắc thì có hình tượng thật để đi đón tiếp Phật Thích Ca Mâu Ni, nhưng người đến đầu tiên vẫn là Tu Bồ Đề. Vì thế ở đây nói đến hai nhân vật chính, một là Phật Thích Ca Mâu Ni là người giảng kinh, hai là Tu Bồ Đề là người nêu câu hỏi. Kinh Kim Cang chính là vì hai nhân vật chính này mà mới thành kinh Kim Cang. Đây là "Phần thứ 1: Nguyên do của pháp hội". Hôm nay chúng ta sẽ nói về câu nói này. 

Đúng thế, nguyên do của pháp hội nhất định cần có địa điểm, là ở tịnh xá Kì Viên. Cần có nhân vật, Tu Bồ Đề nêu câu hỏi, Phật Thích Ca Mâu Ni trả lời. Quá trình diễn ra sự việc, có bao nhiêu người ở đó, ở tịnh xá Kì Viên, đây chính là lí do dẫn đến pháp hội. Thời gian thì sao? Là hơn 2600 năm trước, 100 năm nữa đã qua rồi, nên thành ra là hơn 2600 năm trước tại tịnh xá Kì Viên thành Xá Vệ ở Ấn Độ. Có thời gian, có địa điểm, có nhân vật, như vậy mới có thể thành một bản kinh điển, đây chính là "Phần thứ 1: Nguyên do của pháp hội". 

Nếu như không nói như thế này, nhân duyên chính là bắt đầu, nhân duyên bắt đầu chính là thứ nhất, tiếp theo thì là đoạn văn này: *"Tôi nghe như vầy. Một thời, Đức Phật ở thành Xá Vệ trong khu vườn Kì Thụ Cấp Cô Độc cùng với một nghìn hai trăm năm mươi vị đại tì kheo. Hôm ấy, gần đến giờ thọ trai, Thế Tôn đắp y cầm bát, đi vào thành Xá Vệ để khất thực. Ở trong thành, ngài lần lượt khất thực rồi trở về nơi ở của mình. Ăn xong, ngài thu dọn y bát, rửa chân rồi bày chỗ để ngồi."*

Đoạn văn này hẳn là mọi người rất hiểu rồi, nhưng ở đây cũng có rất nhiều hàm nghĩa, đừng coi thường đoạn văn này. Đoạn văn này cũng cần phải giảng tới mấy ngày đó. Sao, làm gì có cái gì? Mọi người nghĩ mà xem, bạn đọc đoạn văn này thấy rất rõ ràng, bạn đọc đều hiểu cả. Ở nơi đó, mọi người ra ngoài rồi đem bát trở về, bày chỗ ngồi ra, sau đó ăn cơm xong, rửa chân, rửa mặt, đi tắm, rồi lại lên chỗ ngồi, đại khái là như vậy. Đâu có đơn giản như thế. Có hàm ý đó, mọi người tự mình thử nghĩ trước đi, ở đây rốt cục có hàm ý gì? Đây là cuộc sống của Phật Thích Ca Mâu Ni đó, trong đây có hàm ý gì, bạn tự mình nghĩ xem. Rồi đợi đến thứ bảy tuần sau tôi sẽ nói cho bạn nghe, bạn sẽ hiểu.

Những gì viết trong đoạn này là địa điểm và các vị đại tì kheo nhiều như vậy, khi ấy họ đi ra ngoài hóa duyên, hóa duyên trở về thì ăn cơm no. Ăn no rồi thì dọn dẹp y bát, rửa chân, Phật Thích Ca Mâu Ni đã ngồi ở đó. Cái này rất đơn giản, tôi đã nói xong rồi, đúng vậy không? Là như thế à? Trong đây còn có ý nghĩa rất sâu nữa, tôi bảo bạn nhé, bạn đừng có không biết một cách ngốc nghếch thế, ý nghĩa rất sâu nằm ở trong này đó. Thôi nói đến đây thôi. Om mani padme hum. *

(Ngày 01/08/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 3.)*


### 04. Phần thứ 1: Nguyên do của pháp hội (2)


*(Bài giảng 4) *Chuyện ăn mặc ở hoạt động đi lại của Phật Đà

*“Tôi nghe như vầy. Một thời, Đức Phật ở thành Xá Vệ trong vườn Kì Thụ Cấp Cô Độc cùng với một nghìn hai trăm năm mươi vị đại tì kheo. Hôm ấy, gần đến giờ thọ trai, Thế Tôn đắp y cầm bát, đi vào thành Xá Vệ để khất thực. Ở trong thành, ngài lần lượt khất thực rồi trở về nơi ở của mình. Ăn xong, ngài thu dọn y bát, rửa chân rồi bày chỗ để ngồi.”*

Hôm nay chúng ta nói về kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, nghĩa là kinh điển dùng trí huệ bất hoại để đạt được thành tựu vô đẳng đẳng, vô thượng, là kinh điển lấy trí huệ bất hoại để phá hủy tất cả, đạt đến vô đẳng đẳng. Pháp hội đã bắt đầu, pháp hội, và kinh Kim Cang này cũng bắt đầu rồi!

*"Tôi nghe như vầy."* Bốn chữ này, bình thường thì chữ "tôi" này là để chỉ… chủ yếu là chỉ A Nan tôn giả, cùng tất cả những người có mặt ở đó đã nghe được, người nghe pháp, "tôi" ở đây là chỉ A Nan tôn giả nghe Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp, cùng tất cả đồng môn cùng ngồi nghe Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp, nên gọi là "tôi nghe như vầy", nghĩa là tôi đang ngồi ở đó nghe được Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp. "Tôi" này là chỉ A Nan tôn giả.

Khả năng ghi nhớ của A Nan tôn giả là *Number One*. Trí nhớ của ngài ấy là tốt nhất, thế nên "tôi nghe như vầy" là ngài ấy đã ghi nhớ tất cả lời mà Phật Thích Ca Mâu Ni từng nói. Vốn dĩ tôi muốn nói, có thể ghi nhớ tất cả kinh điển mà Phật Thích Ca Mâu Ni từng giảng, trí nhớ như vậy là thiên hạ vô song, chẳng có người nào khác. Tôi không thể nào tin được, lão phu đây không tin. Có loại người nào như thế không, thời bây giờ ấy? Nói thử xem. Có kiểu người như thế không? Tôi cũng chẳng thể nhớ được.

Hôm nay, tôi nói để bạn biết, Chu Thời Nghi dạy Lực học lượng tử, lượng tử này, sáng nay tôi vừa ngủ dậy thì cứ nghĩ mãi về hai chữ "lượng tử", rốt cục là các hạt, hay là điện tử, hay là trung tử, hay là cái gì tử? Nghĩ cả nửa ngày rồi thì từ bên trong, chữ "lượng" này mới bật ra, tôi mới nhớ ra là Lực học lượng tử, ông ấy là chuyên gia. Một chữ "lượng" đã khiến tôi nghĩ lâu như vậy. Bạn chê tôi ư? Tôi mắc chứng đãng trí rồi, tôi làm sao mà nhớ được chứ?

Nghe nói trí nhớ của A Nan siêu tốt, những gì Phật Đà nói ông ấy đều biết, kinh đều do A Nan và những người bổ sung cho trí nhớ của A Nan. Những người ngồi nghe pháp khi ấy, cái gọi là "tuyệt kĩ" chính là nằm ở đây đó. Câu này Phật Thích Ca Mâu Ni có từng nói không? Có, mọi người cùng thừa nhận, và thế là sẽ ghi lại, và như thế là "tôi nghe như vầy". Mỗi kinh điển đều bắt đầu bằng bốn chữ này. Là A Nan và các đại tì kheo có mặt ở đó nghe pháp. 

*"Một thời, Đức Phật ở thành Xá Vệ trong vườn Kì Thụ Cấp Cô Độc",* ở đây có vườn Kì Thụ Cấp Cô Độc, thành Xá Vệ thì mọi người đã biết rồi, Phật Đà sống ở thành Xá Vệ. Vườn Kì Thụ Cấp Cô Độc này gọi là tịnh xá Kì Viên. Phật Đà từng sống ở ba nơi: một là hang động ở núi Linh Thứu, đó là lúc sớm nhất, nơi tiếp theo là tịnh xá Trúc Lâm, cuối cùng là tịnh xá Kì Viên, gọi đầy đủ là vườn Kì Thụ Cấp Cô Độc. Thế nào là Kì Thụ? Kì thụ tức là cây kì lạ, có người nói thế này, đó là cây (thụ) mà. *No*, sai rồi, là Thái Tử Kì Đà. Hồi ấy có một người là Thái Tử Kì Đà, khu vườn này thuộc về thái tử. Rồi có trưởng lão Cấp Cô Độc muốn mua khu vườn này. Ai đã đi xem địa lí? Là Xá Lợi Phất. 

Xá Lợi Phất đã tìm khắp nơi trong nước Xá Vệ thì tìm thấy địa điểm này. Trưởng lão Cấp Cô Độc, hay còn gọi là trưởng giả Cấp Cô Độc, ông ấy là một từ thiện gia lớn ở nước Xá Vệ. Thế nào gọi là Cấp Cô Độc? [Cấp cô độc nghĩa là tặng cho người cô đơn.] Nghĩa là, hễ bạn là cô nhi, quả phụ, hoặc đàn ông độc thân, người nghèo, ông ấy sẽ đều cho thức ăn, cho chỗ để ở. Bởi vậy đại thiện nhân này có biệt danh là trưởng giả Cấp Cô Độc. Trưởng giả Cấp Cô Độc muốn dâng tặng một khu vườn cho Phật Thích Ca Mâu Ni, ông ấy muốn cúng dường một mảnh vườn cho Phật Thích Ca Mâu Ni. Xá Lợi Phất đã nhìn trúng khu vườn này, đó là khu vườn của Thái Tử Kì Đà. Thái Tử Kì Đà nói với trưởng lão Cấp Cô Độc: "Nếu ông có thể dùng vàng, dùng vàng để phủ lên khu vườn này thì tôi sẽ bán nó cho ông." Thế rồi trưởng giả Cấp Cô Độc thật sự đã dùng vàng để phủ lên mặt đất, mặt đất toàn bộ đều lát vàng, thế là Thái Tử Kì Đà đã không thể không bán cho trưởng lão Cấp Cô Độc. Nói như vậy mọi người rõ rồi chứ?

Thế nhưng ông ấy chỉ phủ vàng lên mặt đất, trên cây không có phủ vàng. Trong khu vườn này có rất nhiều cây, cây không được phủ vàng. Những cây ấy là do ai cúng dường? Là Thái Tử Kì Đà nói rằng vì ông đã cúng dường đất này cho Phật Thích Ca Mâu Ni rồi, vậy thì tôi sẽ cúng dường cây ở đây cho Phật Thích Ca Mâu Ni, vì thế nên gọi là vườn Kì Thụ Cấp Cô Độc. Nói như vậy hiểu rồi chứ? Mọi người nghe có hiểu không? Khu vườn này vốn dĩ là của Thái Tử Kì Đà, Cấp Cô Độc muốn mua, Thái Tử nói: "Chỉ cần ông dùng vàng phủ lên mảnh đất này, phần đất được phủ vàng tôi sẽ bán cho ông."

Trưởng giả Cấp Cô Độc thật sự là một người rất có tiền, bởi vì ông ấy là đại phú hào, ông ấy chuyên môn chu cấp cho người cô quả, còn cho cả người cô đơn, là một đại thiện nhân cho người ta ăn, cho người ta chỗ ở. Ông ấy đã dùng vàng để phủ lên mảnh đất này để tặng cho Phật Thích Ca Mâu Ni. Cây thì không phủ vàng, cây là của Thái Tử Kì Đà, những cây ấy là do Thái Tử Kì Đà cúng dường Phật Thích Ca Mâu Ni, vì thế trở thành vườn Kì Thụ Cấp Cô Độc, gọi đơn giản là tịnh xá Kì Viên. Như vậy mọi người hiểu rồi chứ?

Đoạn này, *"Một thời, Đức Phật ở thành Xá Vệ trong vườn Kì Thụ Cấp Cô Độc",* người khác dịch ra đôi khi dịch sai. Kì thụ có người dịch thành... cây không có gốc đúng không? Cây không có gốc thì gọi là kì thụ, có người dịch thành cây không gốc. Sai rồi! Là cây của Thái Tử Kì Đà tặng cho Phật Thích Ca Mâu Ni, cùng với trưởng giả Cấp Cô Độc tặng khu vườn này cho Phật Thích Ca Mâu Ni, phong thủy địa lí của khu vườn này là do Xá Lợi Phất xem. 

*"Cùng với một nghìn hai trăm năm mươi vị đại tì kheo"*, tổng cộng có 1250 người, có nhiều người như vậy. Khi ấy, Phật Thích Ca Mâu Ni *"gần đến giờ thọ trai"*, giờ ăn đã đến rồi, ngài mặc y phục, cầm theo bát, đi vào thành Xá Vệ để khất thực. *"Ở trong thành, ngài lần lượt khất thực rồi trở về nơi ở của mình. Ăn xong, ngài thu dọn y bát, rửa chân rồi bày chỗ để ngồi."* Tôi giải thích đoạn này. Giờ ăn cơm đã đến rồi. Ăn cơm, tiếng Đài Loan gọi là "đi ăn", tiếng Quảng Đông gọi là "xực phàn", tiếng Mã Lai, Ấn Độ gọi là "makan nasi". Còn tiếng Quốc ngữ thì sao? Là "ăn cơm", đúng không?

Đúng, chúng ta thì vào buổi trưa sẽ nói là* lunch time*, buổi tối thì nói là *dinner time*, buổi sáng thì là *breakfast*. Ăn cơm ở đây cũng có kiến thức đó. Đại Ca Diếp chuyên tìm đến người nghèo để xin đồ ăn. Phật Thích Ca Mâu Ni có hỏi ông ấy vì sao lại tìm đến nhà người nghèo để xin ăn? Ông ấy nói ông ấy muốn chúc phúc cho người nghèo, để họ sau này trở nên giàu có. Đó là Đại Ca Diếp. Thế nên Đại Ca Diếp ăn như thế nào? Ăn giống như pháp sư Liên Tự ấy. Còn A Nan tôn giả thì chuyên môn đến nhà người giàu để xin ăn. Thế là, Phật Thích Ca Mâu Ni hỏi ông ấy, vì sao ông chuyên môn xin ăn từ những người có tiền? A Nan trả lời rằng ông ấy muốn giảm bớt gánh nặng của người nghèo, người nghèo muốn cúng dường ông ấy nhưng họ đã rất nghèo rồi, lại còn phải san sẻ thức ăn để cúng dường ông ấy thì thật sự không đành lòng, vì thế ông ấy chuyên đi xin thức ăn từ người giàu. Thế nên A Nan nhìn trông như pháp sư Tuyên Nhân vậy. 

Mọi người nhìn xem hai người này đứng lên thấy rất khác nhau. Tuyên Nhân thì trông to như thế này, còn Liên Tự thì còm nhom gầy khô. Đại Ca Diếp cũng còm nhom gầy khô, còn A Nan thì béo béo mầm mập. Cả hai người nói đều có lí. Phật Đà nói, hai ông nói đều có lí, nhưng cũng chẳng có lí. Hai ông không có "bình đẳng quán"! Ông ra ngoài hóa duyên, đi khất thực, ông gặp được cái gì thì ăn cái đó, không có chuyện ông lựa chọn, ông còn lựa chọn thì đã đi chệch đường rồi. Giáo huấn của Phật Thích Ca Mâu Ni là như vậy đó. Ăn, bạn cần có quan điểm bình đẳng, không thể lựa chọn đồ ăn. Người xuất gia chính là như thế, hôm nay có cái gì thì ăn cái đó. Hôm nay bạn gặp người nghèo thì bạn ăn đồ của người nghèo. Ngày mai bạn gặp người giàu, người có rất nhiều tiền, thì bạn ăn đồ của người giàu. 

Ăn cũng cần có học vấn! Phật nói, một người chuyên môn xin ăn từ người nghèo, một người chuyên môn xin ăn từ người giàu, thì đều không có "bình đẳng quán", đều có thiên lệch. Một người hướng về người nghèo, một người hướng về người giàu, hai người đều không đúng. Có cái gì thì ăn cái đó, bản thân là một hành giả thì không thể chọn lựa thức ăn, điểm này cần chú ý đó! Bạn chọn lựa đồ ăn là không đúng đâu. Tôi bảo bạn nhé, Đại Ca Diếp là cực kì đó! Ông ấy là người cực kì đó! Ông ấy ăn… gọi ông ấy là Đầu Đà Đệ Nhất chẳng phải là gọi bừa đâu! Vì sao cuối cùng ông ấy lại rời bỏ tăng đoàn của Phật Thích Ca Mâu Ni? Bởi vì sau này, Phật Thích Ca Mâu Ni sống tại tịnh xá Trúc Lâm, sống ở nơi này, sống cũng cần có học vấn đó. Ở đây nói đến sống, ở đây cần bàn về chuyện ăn, mặc, ở, đi lại. 

Đại Ca Diếp bởi vậy gọi là Đầu Đà Đệ Nhất, trên phương diện ăn, phương diện ở, phương diện mặc, phương diện hoạt động, toàn bộ việc ăn mặc ở hoạt động ông ấy đều không giống những người khác. Về việc ăn, thức ăn xin được, trước tiên ông ấy quán tưởng, trước khi ăn đều làm quán tưởng, đem những thức ăn này… giống như chúng ta vậy, đầu tiên cúng dường Phật Bồ Tát chư Tôn, cúng dường lục đạo chúng sinh, sau đó lại quán tưởng những thức ăn này biến thành *poo*! [Poo trong tiếng Anh có nghĩa là cục phân.] Canh để ăn thì biến thành nước tiểu, uống nước tiểu! Ăn phân! Đây là dùng hạnh đầu đà để làm mọi việc. Bạn là người tu hành thì cần ghi nhớ! Không chỉ là "bình đẳng quán" mà còn phải quán tưởng những thứ này thành những thứ khó nuốt trôi nhất trong thiên hạ. Thật đó. "Pháp sư ăn phân, uống nước tiểu", không phải là uống rượu, mà là uống nước tiểu, ăn nước tiểu, ăn phân, đó là cách ăn của Đầu Đà Đệ Nhất.

Vì sao ông ấy rời tăng đoàn? Bởi vì cuối cùng Phật Thích Ca Mâu Ni sống tại tịnh xá Trúc Lâm, sống ở vườn Cấp Cô Độc, là nơi quá tuyệt vời! Đó là biệt thự đó! Đại Ca Diếp không hề muốn sống ở đó. Nơi ông ấy sống là ở đâu? Ông ấy sống ở giữa nghĩa địa, giữa những phần mộ, ở giữa các ngôi mộ, sống trong hang, sống dưới cây, đó đích thực là Đại Ca Diếp, bởi vậy mới nói ông ấy là một đệ tử rất vĩ đại. Ông ấy không sống ở tịnh xá, không ngủ trên giường, tuyệt đối luôn ngủ giữa những ngôi mộ, ngủ dưới cây, ngủ trong hang động, đó là việc sống của ông ấy. 

Ông ấy ngủ cũng vẫn không ngả ra, tuyệt đối không nằm xuống, ông ấy ngủ ngồi, đó là Đại Ca Diếp. Ông ấy giữ thói tu hành theo hạnh đầu đà, là người số một, vì thế ông ấy được gọi là Đầu Đà Đệ Nhất. Nào có giống như A Nan, ngủ giống như heo vậy! Thế nên hai người ấy vốn không hợp nhau, A Nan và Đại Ca Diếp căn bản là không hợp nhau. Một người giống như Liên Tự, một người giống như Tuyên Nhân, hình thể đều khác nhau. Một người ăn tới béo mầm, một người còm nhom, Đại Ca Diếp là như vậy. Ồ, thật đó! Ngón tay ông ấy duỗi ra thì trông như chân gà vậy. 

Tiếp theo lại nói về việc mặc. Thời ấy Phật Thích Ca Mâu Ni mặc đồ là mặc như thế nào? Một tấm vải! Hồi đầu tiên, vị Đầu Đà Đệ Nhất mặc như thế nào? Ở nghĩa trang, rất nhiều khu rừng vứt xác ở Ấn Độ là những gò đất chôn lộn xộn! Những người chết ấy, những mảnh vải quấn lên thân người chết, lấy ra để quấn lên người mình, cách mặc là quấn vải lên người như vậy, đó là cách mặc của Đại Ca Diếp. Cách mặc sau này, cách họ mặc và cách mặc quấn lên người có một chút giống với cách mặc của các hòa thượng Tiểu thừa ở Thái Lan, họ vẫn còn gìn giữ cách mặc của thời cổ đại ở Thiên Trúc. 

Cách mặc, mặc quần áo không giống với chúng ta hiện tại là mặc một chiếc váy Lama, một chiếc áo khoác, thế là thành trang phục Lama, có đúng không? Còn khoác thêm cái áo choàng không tay này, áo thiền, khoác thêm cái áo thiền, cái đó gọi là áo thiền. Cái này đã thay đổi rồi, đã cải biến rồi. Cách mặc đúng là một tấm vải quấn lên người, hơn nữa tấm vải ấy không phải là vải tốt gì, đều giống như tấm vải quấn người chết, cái vải bọc người chết lại. Ở Ấn Độ khi chết, lấy tấm vải quấn lên thân người chết, đó là cách mặc của họ. Cách mặc cũng có học vấn đó. Bạn xem họ mặc ra sao? Bạn có biết mặc không? Thật sự đem tấm vải ra cho bạn mặc, bạn có biết mặc không? Đưa cho bạn y phục của Tiểu thừa để mặc, chỉ có một tấm vải quấn lên người thôi.

*"Cầm bát, đi vào thành Xá Vệ để khất thực. Ở trong thành, ngài lần lượt khất thực"*, mọi người đều đi như vậy, sau đó họ đi chân đất, thời ấy là đi chân đất, bây giờ thì đã đi giày rồi, đi dép cỏ. Hòa thượng bây giờ đã khác rồi! Đi giày da, đi cái gì… trước kia là đi dép cỏ, đi giày cỏ, thế nhưng vào mùa hè, vì Ấn Độ nhiều mưa, khi ấy thường hay mưa, thế nên mới có "an cư kết hạ". "An cư kết hạ" là ý nói rằng bởi vì trời mưa, sâu bọ sẽ bò ra, bạn đi ra ngoài khất thực sẽ dẫm lên những sâu bọ này, khiến chúng bị dẫm chết, bởi vì không sát sinh, cho nên mới gọi là "an cư kết hạ", "an cư kết hạ" trong thời gian ba tháng.

Ở đây sau khi vào thành khất thực xong, *"trở về nơi ở của mình"*, nghĩa là trở về tịnh xá Kì Viên. Mọi người ăn cơm xong, chỉnh đốn lại y phục, sắp xếp lại, dọn dẹp sạch sẽ, *"thu dọn y bát, rửa chân"*, bởi vì đi chân đất nên phải rửa chân, khi đi về thì chân đều bẩn cả, thế nên phải rửa chân. Sau đó đem giường ngồi ra… họ gọi là giường ngồi, tương đối rộng một chút, sau đó bày một tấm thảm ngồi, sau đó ngồi lên thảm, ngồi ngay trên mặt đất. Đoạn này nói về hạnh đầu đà. Ăn, vừa rồi ta đã nói rồi. Mặc, là quấn vải dùng cho người chết, loại vải để bọc người chết, quấn nó lên trên người. Ở, nếu là hạnh đầu đà, thì họ sống ở nơi nghĩa địa và hang động, hoặc dưới cây. Còn đi lại, chính là đi chân đất, đi chân trần. Mọi người đều đi chân đất, tiếng Đài Loan gọi là đi chân đất, đó là việc đi lại. 

Về đoạn này, mọi người có ý kiến gì không? 
Nhưng rồi về sau, Đại Ca Diếp đã rời khỏi tăng đoàn. Vì sao vậy? Tăng đoàn đã thay đổi rồi, hơn nữa Phật Thích Ca Mâu Ni cũng tiếp nhận người ta cúng cơm, cuối cùng Phật Thích Ca Mâu Ni cũng tiếp nhận người ta cúng cơm, nghĩa là có thí chủ nói "tôi mời các vị ăn cơm", "mời tăng đoàn các vị ăn cơm", mọi người đều cùng đi ăn, tiếp nhận cúng cơm, sau này Phật Đà cũng tiếp nhận cúng cơm. Việc mặc y phục cũng có thay đổi, những vải quấn người chết trước kia đã trở thành một loại hình như gọi là… có một loại quần áo gọi là "áo trăm mảnh vá", vải mà người ta không cần, đem những mảnh vải ấy khâu lại với nhau, may thành quần áo để mặc, đó gọi là "áo trăm mảnh vá". Vải mà người ta không cần đem bỏ đi, thì nhặt chúng về, may chúng lại thành quần áo. Nói như vậy bạn có thể hiểu được những điều tôi vừa mới nói chứ?

Phật Đà thời cổ đại, hồi mới đầu là Phật Đà ở trong hang động. Sau đó có người cúng dường tịnh xá Trúc Lâm, sau đó lại có người cúng dường nơi ở tốt nhất, nơi đó cũng tương tự như biệt thự, tịnh xá Kì Viên chính là vườn Kì Thụ Cấp Cô Độc. Cái này thì rất tốt rồi! Đó là nơi phong thủy mà Xá Lợi Phất đã nhìn ra. Đoạn này đã giảng xong rồi. 

Bởi vậy bây giờ chúng ta tu hành, thật sự là quá tiện lợi cho những hòa thượng các bạn rồi, quá tiện nghi rồi. Liên Tự chẳng phải là không ăn đồ ngon, mà là hệ tiêu hóa của ông ta không tốt! Ông ấy chẳng giống Đại Ca Diếp đâu. Bạn xem, lại còn quán tưởng nữa chứ! Đại Ca Diếp còn quán tưởng nữa kìa! Cầm lấy đồ ăn ngon, lại quán tưởng chúng thành *poo*. Quán tưởng thành "xi xi", *pee pee*, quán tưởng thành *pee pee*. [pee pee trong tiếng Anh là đi tiểu - ý Sư Tôn là quán tưởng thành nước tiểu]

Bạn xem, ăn lại còn phải quán tưởng như vậy. Còn Mật giáo của chúng ta thì lại khác. Người tu Mật giáo là biết, mỗi lần ăn gì cũng cần quán tưởng. Thế là may quá rồi. Còn y phục Lama thì còn may cả đường cong nữa! Áo Lama lại còn may thành những đường cong, chà, A Di Đà Phật. Om mani padme hum. 

*(Ngày 08/08/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Chuẩn Đề Phật Mẫu Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 4.)*


### 05. Phần thứ 1: Nguyên do của pháp hội (3)


*(Bài giảng 5) *Chuyện ăn mặc ở đi lại có phải là tu hành không?

Hôm qua tôi đã giảng “Phần thứ 1: Nguyên do của pháp hội”. 
*”Tôi nghe như vầy. Một thời, Đức Phật ở thành Xá Vệ trong vườn Kì Thụ Cấp Cô Độc cùng với một nghìn hai trăm năm mươi vị đại tì kheo. Hôm ấy, gần đến giờ thọ trai, Thế Tôn đắp y cầm bát, đi vào thành Xá Vệ để khất thực. Ở trong thành, ngài lần lượt khất thực rồi trở về nơi ở của mình. Ăn xong, ngài thu dọn y bát, rửa chân rồi bày chỗ để ngồi.”*

Đoạn này, hôm qua tôi đã giảng đoạn này rồi, không biết mọi người đã xem chưa? Tôi hỏi mọi người, các bạn có biết ý nghĩa của đoạn này không? Hôm qua đã giải thích ý nghĩa từng từ rồi, nhưng thật ra vẫn còn ý nghĩa sâu xa nữa. Có người hỏi Lư Sư Tôn: "Lư Sư Tôn, ngài tu hành như thế nào?" Tôi đáp, ăn cơm đi ngủ, câu trả lời của tôi là ăn cơm rồi đi ngủ. Mọi người hỏi tôi: "Ngài tu hành ra sao?" Tôi nói: "Ăn cơm rồi đi ngủ." Người đó liền nói: "Cái này thì ai cũng biết mà!" Mỗi người đều biết ăn cơm, đi ngủ. 

Tu hành chính là ăn cơm đi ngủ, không hề sai! Vừa rồi giảng về phẩm thứ nhất, phần thứ nhất nguyên do của pháp hội, chính là ăn cơm, mặc quần áo, rửa chân, lên giường đi ngủ, chính là ăn cơm đi ngủ. Người ấy rất vui mừng: "Thế thì tôi cũng biết tu hành, tôi cũng ăn cơm đi ngủ mà." Không giống đâu, bên trong có ý nghĩa đó. Bạn phải biết hôm nay chúng ta ăn cơm cũng có kiến thức trong đó. Bạn ăn cơm thì có làm cúng dường, ăn cơm thì cũng làm siêu độ, ăn cơm thì phải làm thanh tịnh. Bạn có biết làm không? Đó mới là biết cách ăn cơm thật sự. Bạn phải biết đi ngủ cũng có kiến thức, tu hành chân chính là bạn phải biết giấc mơ trong khi ngủ, bạn biết rằng đó chỉ là mơ, bạn có làm được thế không? Giấc mơ xấu tôi có thể thay đổi thành giấc mơ tốt, bạn có thể không? Có biết không? Rồi trong mơ, tôi còn có thể tu pháp trong khi ngủ nữa, bạn có biết không? Khác nhau đấy! Bởi thế ý nghĩa chính là ở đây. 

Cuộc sống của Phật Đà cũng giống với người bình thường, ăn cơm đi ngủ, nhưng cũng không giống với người bình thường. Mặc dù bên ngoài vẫn là ăn cơm đi ngủ, nhưng ý nghĩa sâu nhất của nó thì khác, không giống với người bình thường. Khác hẳn đó. Bạn đừng tưởng rằng là giống nhé. Mọi người đều biết ăn cơm đi ngủ. Mọi người hỏi Lư Sư Tôn: "Ngài tu hành thế nào?" "Ăn cơm đi ngủ." Thế thì ai mà không biết chứ? Tôi bảo bạn nhé, đâu phải ai cũng biết. Bạn có biết cúng dường không? Bạn có biết siêu độ không? Bạn có biết thanh tịnh không? Ăn cơm, trong việc này có ba hàm nghĩa. Đi ngủ, bạn biết là mơ, có thể thay đổi giấc mơ hoặc có thể tu hành trong mơ, thì đây chính là đang làm công phu thanh tịnh thực sự đó. Bạn có biết không? Vì thế, người học Mật pháp nhất định phải hiểu. 

Hơn nữa, tôi nói để mọi người biết, trong đây còn có hàm nghĩa. Hôm qua nói về việc ăn, ăn mặc ở đi lại đều là tu hành, ngoài ra còn có một điểm, là thanh tịnh. Bạn biết rằng Đại Ca Diếp tu hành theo hạnh đầu đà, việc ăn mặc ở hoạt động của ông ấy không giống người ta. Hạnh đầu đà của ông ấy là phá hủy. Phá hủy cái gì? Nơi ông ấy sống, tôi nói để mọi người biết, là ở giữa những phần mộ, ở giữa rừng vứt xác giữa những ngôi mộ, ở dưới cây, ở trong hang động, không có giường ngủ. Tay của ông ấy không chạm vào tiền, tay không được chạm vào tiền. Nếu mắt ông ấy nhìn thấy tì kheo ni, nhìn thấy phụ nữ xinh đẹp, ông ấy không nhìn, mắt ông ấy sẽ nhìn xuống đất, không nhìn người ta, hạnh đầu đà là như thế đấy, mắt nhìn xuống đất, không được nhìn vào mắt của phụ nữ, nhìn rồi thì có điện, bạn sẽ bị điện giật mà chết đó, tôi nói để bạn biết đấy. Mắt của phụ nữ bạn có dám nhìn không? Bạn biết Đường Tam Tạng gặp phải yêu tinh nhện: "Ông hòa thượng, mắc vào lưới này rồi thì không bò ra được đâu, để cho yêu tinh nhện ăn thịt thôi." Bởi vậy nói, cái gọi là A La Hán chính là trừ bỏ lục tặc nhãn nhĩ tị thiệt thân ý, chính là nằm trong việc ăn mặc ở đi lại hoạt động. 

Bạn xem Đại Ca Diếp, tiền, ông ấy không chạm vào, trên người ông ấy không một xu dính túi, không chạm vào tiền. Sắc, mắt ông ấy nhìn xuống đất, không nhìn phụ nữ. Danh, ông ấy không tranh tên tuổi, rời khỏi tăng đoàn. Trong tăng đoàn cũng có tranh đấu, bạn xem, Đề Bà Đạt Đa kia chính là muốn tranh giành tăng đoàn với Phật Thích Ca Mâu Ni. Lúc Phật Thích Ca Mâu Ni đã già, Đề Bà Đạt Đa tu hành cũng rất tốt, ông ấy cũng tu được 30 tướng tốt và 80 vẻ đẹp, Phật Thích Ca Mâu Ni tu được 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp. Đề Bà Đạt Đa tu được 30 tướng tốt, chỉ kém Phật Thích Ca Mâu Ni hai tướng tốt mà thôi, và đều có 80 vẻ đẹp. Ông ấy muốn làm, làm cái gì? Ông ấy muốn làm người lãnh đạo tăng đoàn: "Phật Thích Ca Mâu Ni già đanh ra rồi mà vẫn còn chưa chết, nên đến lượt ta rồi chứ."

Đề Bà Đạt Đa đã có cách nghĩ như vậy: "Nên đến lượt ta làm lãnh đạo rồi, làm Tổng thống, làm thế nào đây? Mi đứng ở đó à, đứng ở hố xí rồi mà còn không ị đi, cái lão già đanh rồi mà vẫn còn không mau chết đi, ta muốn làm lãnh đạo rồi." Đề Bà Đạt Đa đã nghĩ như thế đó, danh, đã cắm đầu vào cái chữ "danh" này rồi. Còn có cả cắm đầu vào việc ăn. Bạn xem Đại Ca Diếp ăn, ăn những thứ nghèo nàn nhất rồi mà lại còn quán tưởng những thứ nghèo nàn nhất ấy thành *poo* và *pee pee*. Ngủ, bạn xem, con người có năm nhu cầu lớn, tiền, sắc, danh, ăn, ngủ, năm nhu cầu lớn, Đại Ca Diếp đều bỏ qua hết. Đây chính là hàm nghĩa sâu nhất của đoạn thứ nhất này. Người khác không giảng như vậy, Lư Sư Tôn mới giảng như vậy thôi. Bạn nói xem có đúng thế không?

Giống như A Nan, con lợn lười biếng đó, ăn tới mức béo phây phây, từ sáng đến tối ở cùng với những cô gái, vừa tham ăn vừa háo sắc, lại còn cái gì cũng muốn hưởng thụ. Trong số mười đại đệ tử thì sau khi Phật Đà tạ thế, A Nan tôn giả chẳng đạt được cảnh giới gì, sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni viên tịch thì ông ấy mới bắt đầu tu hành. Mười đại đệ tử người ta mỗi người đều có thành tựu. Trong tăng đoàn của Phật Đà có Xá Lợi Phất, có Mục Kiền Liên, bởi vì Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên bản thân cũng có đoàn thể của chính mình. Trước khi Xá Lợi Phất quy y Phật Thích Ca Mâu Ni, bản thân ngài ấy đã có một đoàn thể tu hành rồi. Mục Kiền Liên cũng thế, họ đều là người đứng đầu. Xá Lợi Phất là trưởng lão, Mục Kiền Liên cũng là trưởng lão, một người là trí huệ đệ nhất, một người là thần thông đệ nhất. Xá Lợi Phất là trí huệ đệ nhất. Mục Kiền Liên là thần thông đệ nhất. Bởi vì cảm nhận thấy Phật pháp của Phật Thích Ca Mâu Ni vô cùng hay nên họ mới đến quy y Phật Thích Ca Mâu Ni. Họ vốn dĩ đã lãnh đạo đoàn thể của họ đến quy y ở chỗ Phật Thích Ca Mâu Ni. Mục Kiền Liên cũng thế, ngài ấy lãnh đạo đoàn thể của mình đến quy y ở chỗ của Phật Thích Ca Mâu Ni, vì thế tăng đoàn của Phật Đà mới trở nên lớn mạnh như vậy. Bởi vậy, Phật Đà rất tôn trọng Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên, bởi vì bản thân họ vốn đều là người đứng đầu, nên khá tôn trọng họ, Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên. 

Đại Ca Diếp, Phật cũng rất tôn trọng. Vì thế, khi ông ấy mới rời khỏi tăng đoàn, Phật Thích Ca Mâu Ni một mực gọi ông ấy quay lại, ông ấy không chịu, gọi mấy lần ông ấy vẫn không muốn quay lại, cho đến tận lúc Phật Thích Ca Mâu Ni viên tịch, ông ấy từ một nơi rất xa vội vã trở về. Phật Thích Ca Mâu Ni rất tôn trọng Đại Ca Diếp, bởi vì ông ấy thật sự tu hành. A Nan thì chỉ lười biếng, vì thế Đại Ca Diếp rất coi thường A Nan. Mặc dù cuối cùng A Nan cũng có thành tựu thì cũng là do Đại Ca Diếp thúc ép ông ấy. Hai người ấy vốn dĩ bất hòa, Đại Ca Diếp nhìn thấy một người lười như heo, thế nhưng lại làm thị giả của Phật Thích Ca Mâu Ni, cho nên ông ấy lặng lẽ rời khỏi tăng đoàn, đến cuối cùng, Đại Ca Diếp cũng độ được không ít người, khi Phật Đà viên tịch, ông ấy đã đặc biệt quay về. A Nan đã mấy lần nổi lửa để thiêu Phật Thích Ca Mâu Ni, nhưng hễ muốn hỏa thiêu thì châm lửa kiểu gì cũng không thành. Chỉ có sau khi Đại Ca Diếp quay về thì mới có thể châm lửa lên, có thể thấy là Phật Thích Ca Mâu Ni rất tôn trọng Đại Ca Diếp, Phật đã đợi ông ấy trở về. 

Tôi vừa giảng với mọi người xong rồi, đây chính là "Phần thứ 1: Nguyên do của pháp hội", về ý nghĩa sâu xa bên trong của nó, là phá bỏ cả việc ăn mặc ở hoạt động, phá hủy tài sắc danh ăn ngủ, nằm ở việc đóng lại nhãn nhĩ tị thiệt thân ý, đây mới là trọng điểm của đoạn này. Có ai giảng như vậy không? Có người nào giảng kinh Kim Cang như vậy không? Mọi người đã từng nghe người ta giảng kinh Kim Cang chưa? Có người nào giảng như vậy không? Khả năng là có, cũng có khả năng là không có, nhưng Sư Tôn thì giảng như vậy đó. Ý nghĩa của đoạn này chính là nằm ở đây. Om mani padme hum.

*(Ngày 09/08/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Hỉ Kim Cang tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 5.)*


### 06. Phần thứ 2: Thiện Hiện thưa hỏi (1)


*(Bài giảng 6) *Thiện Hiện có ý nghĩa gì?

Bây giờ sẽ giảng kinh Kim Cang. Phần thứ 2: Thiện Hiện thưa hỏi. Bây giờ tôi hỏi mọi người nhé. Thế nào gọi là Thiện Hiện. Tiêu đề "Phần thứ 2: Thiện Hiện thưa hỏi." Thế nào là Thiện Hiện? Các Thượng sư, các vị đọc kinh Kim Cang thường niệm Phần thứ 2: Thiện Hiện thưa hỏi. Phần thứ 1: Nguyên do pháp hội, Phần thứ 2: Thiện Hiện thưa hỏi. Thế nào là Thiện Hiện? Nếu như bạn biết thì hãy giơ tay, người nào hiểu thì giơ tay. Thế nào gọi là Thiện Hiện? Thượng sư Liên Vượng có biết hay không? (Thượng sư Liên Vượng thử trả lời câu hỏi của Sư Tôn.) Ông bảo là đoán thôi à? Mời ngồi!

Nhưng ông ấy đoán đúng rồi. Tôi bảo bạn nhé, Tu Bồ Đề có ba tên gọi, tên thứ nhất là Không Sinh, tên thứ hai là Thiện Cát, tên thứ ba là Thiện Hiện. Ở đây nhắc đến tên gọi thứ ba. "Phần thứ 2: Thiện Hiện thưa hỏi." Bởi vậy rất nhiều người không hiểu vì sao tiêu đề này lại gọi là phần "Thiện Hiện thưa hỏi." Liên Vượng đoán bừa rằng là Tu Bồ Đề thỉnh cầu. Ông ấy đoán thôi, để cho ông ấy đi mò cá thì cũng mò được cá đấy, mò bừa mà không ngờ cũng bắt được cá. (Sư Tôn cười) Ba tên gọi này cũng có nguồn gốc, để tôi nói cho bạn biết. 

*Trưởng lão Tu Bồ Đề ở trong đại chúng từ chỗ ngồi đứng dậy, để lộ vai phải, đầu gối phải chạm đất, chắp tay cung kính bạch Phật rằng: "Thật hiếm có! Thế Tôn! Như Lai khéo hộ niệm chư Bồ Tát, khéo dặn dò chư Bồ Tát. Thế Tôn! Thiện nam, thiện nữ phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề thì nên sống ra sao? Nên hàng phục tâm ra sao?"*
*Phật nói: "Lành thay, lành thay. Tu Bồ Đề! Đúng như ông vừa nói. Như Lai khéo hộ niệm các vị Bồ Tát, khéo dặn dò các vị Bồ Tát. Nay hãy lắng nghe, ta sẽ vì các ông mà nói thiện nam, thiện nữ phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề nên sống thế nào, nên hàng phục tâm ra sao."*
*"Vâng thưa Thế Tôn! Con nguyện được lắng nghe."*

Tôi đọc một lần kinh văn. Bây giờ sẽ giảng về nguồn gốc của Thiện Hiện. Tôi nói về Tu Bồ Đề trước. 

Được rồi, Tu Bồ Đề, có người nói thế nào nhỉ? Tu nghĩa là cần, Bồ Đề, Cần Bồ Đề, thế có đúng không? Nói đúng thì cũng đúng, nói không đúng thì cũng không đúng. Bởi vì bạn đã tách cái tên gọi của người ta ra, cái tên vốn dĩ là Tu Bồ Đề. Thật ra, đệ tử của Phật Đà có hai vị Tu Bồ Đề. Một Tu Bồ Đề thuộc hàng vương tộc. Bạn biết rằng Ấn Độ giai cấp phân rất rõ ràng, người tu hành là người tu hành, một người là Tu Bồ Đề tu hành, Tu Bồ Đề của tộc Bà La Môn, một người là Tu Bồ Đề của vương tộc. Tu Bồ Đề này là Tu Bồ Đề của Bà La Môn, là Tu Bồ Đề sinh ra trong gia đình của người tu hành, không phải là Tu Bồ Đề của dòng dõi vua kia. Đầu tiên phải nói rõ rằng không thể tách tên gọi của ông ấy ra được. "Tu", mỗi người chúng ta đều cần bồ đề, điều này thật sự rất đúng. Nhưng Tu Bồ Đề là tên gọi của một người, là tôn giả Tu Bồ Đề. 

Nếu như bạn từng đọc một cuốn kinh điển tên là Bách Duyên Kinh, trước tiên tôi nói với bạn điều mà người ta không biết, trong Bách Duyên Kinh cũng không có viết đâu, chỉ có Lư Sư Tôn biết thôi. Người ta nói nhân quả ba đời, cái tôi nói là nhân quả bốn đời. Nhân quả bốn đời của Tu Bồ Đề, bốn kiếp đầu tiên, không có ai biết, chỉ có Lư Sư Tôn biết. Trong kiếp quá khứ, ông ấy cũng là một hành giả. Kiếp sớm nhất đó chỉ có tôi biết, không có người nào từng nói, bây giờ tôi nói mọi người mới biết. Tôi mà không nói thì bạn có đọc Bách Duyên Kinh cũng không thấy có viết đâu. Bách Duyên Kinh cũng chỉ nói rằng ông ấy cũng là một hành giả thôi. Nhưng Bách Duyên Kinh cũng có viết rằng hành giả này vốn dĩ cũng có rất nhiều đồ đệ, nhưng toàn bộ đồ đệ của ông ấy cuối cùng đều rời bỏ ông ấy. Trong lòng ông ấy sinh niềm tức giận, phẫn nộ, đây chính là cái sân trong tham sân si. Đối với mỗi đệ tử bỏ đi, ông ấy đều nguyền rủa họ, đều chửi họ. Đó là một kiếp trong tam thế của Tu Bồ Đề. Tôi nói về kiếp trước đó, trước cả cái kiếp này. Đó là điều mà Bách Duyên Kinh đã ghi chép, là nói về kiếp ấy. Điều tôi nói nằm ngoài Bách Duyên Kinh, điều mà không có ai biết. Vì sao tôi lại biết? Là Tu Bồ Đề nói với tôi. 

Vào kiếp quá khứ trong quá khứ, ông ấy cũng là hành giả. Ông ấy nhận nuôi một vài trẻ mồ côi ở trong chùa. Những đứa trẻ mà người ta không muốn thì ông ấy đem về nhận nuôi chúng. Thời ấy tiếng đồn lan xa rằng nếu bạn sinh trẻ con mà không muốn chúng, thì bạn hãy đem đến chùa đó, ông ấy sẽ nhận nuôi chúng. Khi ấy, Tu Bồ Đề là trụ trì của ngôi chùa đó. Bởi vì những lời đồn đại mà bọn đạo tặc đã biết được tin tức ấy, chúng cho rằng chùa có nhiều tiền, cho rằng Tu Bồ Đề có tiền nên ông ấy có thể nhận nuôi trẻ mồ côi, nên chúng liền đi đến chùa đó để cướp. 

Kết quả là lục lọi thế nào cũng chẳng ra tiền. Bọn cướp bức hỏi Tu Bồ Đề: "Đem tiền ra đây!" Những tên cướp này rất hung hãn đòi đưa tiền ra. Tu Bồ Đề nói: "Tôi không có tiền!". Bọn cướp hỏi: "Không có tiền mà sao ông nhận giữ trẻ mồ côi?" Ông ấy nói: "Chúng tôi đi ra ngoài hóa duyên, trở về được nhiều hơn một chút, nên đem cho những đứa trẻ mồ côi này ăn." Bọn cướp không tin. Bọn cướp thật sự không tin, chúng liền bắt lũ trẻ mồ côi lại, nhốt những đứa trẻ ở đó cho bọn trẻ con khóc, chúng nói chúng sẽ uy hiếp Tu Bồ Đề: "Nếu như ông không nói ra chỗ giấu tiền, bọn tao sẽ giết hết những đứa trẻ này!" Tu Bồ Đề nói: "Tôi thật sự không có tiền, tôi chỉ thương xót những đứa trẻ mồ côi thôi. Tôi đi hóa duyên về, bản thân ăn một ít, còn lại là cho bọn chúng."

Bọn cướp không tin. Chúng nói: "Không giết một đứa thì ông sẽ không nói ra chỗ giấu tiền!" Bọn cướp liền giết một đứa bé, máu chảy đầy mặt đất. Tu Bồ Đề òa khóc, thật sự ông ấy không lấy đâu ra tiền, nếu như có tiền thì đã tốt rồi. Bọn cướp lại giết đứa thứ hai, giết hết lũ trẻ mồ côi rồi, Tu Bồ Đề cũng không đưa ra được tiền. Bọn cướp thấy vậy, thật sự có lẽ đã nhìn ra rằng không có tiền thật, chúng liền chạy mất, bỏ lại một mình Tu Bồ Đề. Lúc này, Tu Bồ Đề vô cùng căm phẫn, vô cùng căm hận. Ông ấy nói ông ấy không muốn làm người nữa, không muốn làm người nữa rồi. Không muốn làm người, thì làm gì? Cuối cùng, vì trẻ mồ côi đều đã bị giết, ông ấy liền rời khỏi chùa này đi vào hang động trong núi sâu cho đến những năm cuối đời. Tu Bồ Đề đã kể với tôi như vậy. Chuyện này không có người nào biết. Trong lòng ông ấy có sự hận thù con người, từ lúc ấy bắt đầu có lòng hận thù con người.

Đó là một kiếp, một kiếp sống của ông ấy đã trải qua như vậy. Còn trong Bách Duyên Kinh là Phật Thích Ca Mâu Ni nói về lai lịch của Tu Bồ Đề, là kiếp thứ hai, khi ông ấy là trụ trì của một ngôi chùa, đem theo các đệ tử đi ra ngoài hóa duyên, cũng đi khất thực như vậy. Nhưng đến cuối cùng thì mỗi đệ tử đều bỏ đi hết, từng người từng người một đều không tin ông ấy nữa, bởi vì trong lòng ông ấy có một sự căm hận, mọi người bị ông ấy mắng, bị vị trụ trì Tu Bồ Đề này mắng, mắng đến mức mọi người đều bỏ đi hết. Bỏ đi rồi thì ông ấy lại càng chửi. Ông ấy vốn dĩ rất căm ghét con người, ông ấy nói: "Con người chẳng phải thứ tốt đẹp gì!", chửi câu này thì rất ác độc, chửi hết cả đám đệ tử của ông ấy, chửi tới mức mọi người đều rời bỏ ông ấy, đó là những gì ghi lại trong Bách Duyên Kinh, tất cả đệ tử đều bỏ đi hết sạch.

Trong lòng ông ấy lại có sự thù hận thứ hai, đó là kiếp tiếp theo. Bởi vì có cái duyên thù hận này, hai kiếp thù hận, mà ông ấy đã biến thành độc long, có năm trăm kiếp ông ấy đều làm độc long. Độc long là gì? Nói theo cách thông thường thì chúng ta nói ở Thiên Trúc không phân biệt rồng và rắn, rồng và rắn không phân biệt, như vậy cũng có nghĩa là ông ấy có năm trăm kiếp đọa làm thân rắn độc, ông ấy biến thành một con độc long, rắn độc. "Naga", chính là rắn độc, naga chính là rắn. Có một ngày, thời gian làm rắn độc của ông ấy đã hết, tâm sân hận của ông ấy vẫn còn, do vậy đến khi xong kì hạn làm rắn độc, có đại bàng kim sí điểu bay tới, dùng móng bắt lấy độc long từ trong biển, bay lên không trung để chuẩn bị nuốt gọn, con độc long này rất to, và đại bàng kim sí điểu đã sẵn sàng có một bữa ăn ngon rồi.

Phật Thích Ca Mâu Ni biết được, khi vừa thành Phật, ngài đã biết, ngài liền hóa ra một thân biến thành một tì kheo sống ở lưng chừng núi. Đại bàng kim sí điểu bắt được con độc long ấy thì bay lên núi này, bay qua trước mặt Phật Thích Ca Mâu Ni. Con rắn độc này miệng phát ra âm thanh, gật đầu với Phật Thích Ca Mâu Ni, chính là gật đầu. Gật đầu, sau đó miệng phát ra âm thanh cầu xin tì kheo cứu nó, bởi vì nó đã sắp sửa biến thành thức ăn rồi. Phật Thích Ca Mâu Ni không cứu nó, và thế là con độc long này đã bị đại bàng kim sí điểu ăn mất. Nhưng vì nó đã cầu cứu và gật đầu với Phật Thích Ca Mâu Ni, gật đầu cung kính để cầu xin tì kheo cứu nó, Phật Thích Ca Mâu Ni không cứu nó, như vậy là đã trải qua một kiếp được nói đến trong Bách Duyên Kinh. 

Sau đó ông ấy chuyển thế đến nhà của một Bà La Môn, sinh ra làm một đứa bé. Khi đứa bé này ra đời, nhà kho của nhà đó vốn dĩ có rất nhiều tiền, gia đình Bà La Môn ấy rất lắm tiền, có nhà kho, có vàng bạc châu báu, có biệt thự, khi đứa bé ra đời thì những của cải này cũng biến mất luôn, bởi vậy mới gọi đứa bé là "Không Sinh". Đứa bé lấy tên này, người nhà đó nói, mày vừa ra đời thì nhà kho, vàng bạc châu báu, và tất cả nhà cửa của nhà ta đều chẳng còn nữa, mày vừa ra đời thì nhà ta biến thành trống rỗng, chẳng còn thứ gì cả, thế nên đặt cho mày tên là Không Sinh. 

Nhà ấy chạy đi tìm một thầy tướng mệnh để xem mệnh số, quẻ bói nói rằng đó là biểu tượng của điềm lành, là điều tốt, đứa bé này là điều lành, là tượng trưng cho cát tường, chính là Tu Bồ Đề. Quẻ bói này đã nói đứa trẻ này là tốt, là may mắn, vì thế đứa bé được đặt cho cái tên thứ hai là Thiện Cát. Bảy ngày sau, ấy, nhà kho lại có, nhà cửa lại xuất hiện, vàng bạc châu báu lại xuất hiện, vì thế, người nhà lại đặt cho đứa bé tên gọi thứ ba gọi là Thiện Hiện. Vì thế, Tu Bồ Đề vừa tên là Không Sinh, vừa tên là Thiện Cát, tên gọi thứ ba là Thiện Hiện.

Thế nên "Phần thứ 2: Thiện Hiện thưa hỏi", Thiện Hiện chính là Tu Bồ Đề, phần thưa hỏi chính là thỉnh cầu Phật Thích Ca Mâu Ni bắt đầu thuyết pháp, vì thế nên đây gọi là "Phần thứ 2: Thiện Hiện thưa hỏi". Ý nghĩa của Thiện Hiện là từ đây mà có, nói như vậy mọi người hiểu chứ? Thế nên Thượng sư Liên Vượng đã mò được con cá trong cái ao nước đen, mò cá đó, thật sự ông ấy đã tóm được con cá rồi. Thiện Hiện chính là tên của Tu Bồ Đề, bản thân ông ấy còn tên là Không Sinh, sau đó tên là Thiện Cát, tên thứ ba gọi là Thiện Hiện, chính là Tu Bồ Đề. 

*"Trưởng lão Tu Bồ Đề ở trong đại chúng từ chỗ ngồi đứng dậy, để lộ vai phải, đầu gối phải chạm đất, chắp tay cung kính bạch Phật."* Vì sao lại là để lộ vai phải và đầu gối phải? Bây giờ tôi hỏi mọi người, vì sao lại là để lộ vai phải và đầu gối phải? Bạn biết rằng để lộ vai phải nghĩa là, như các Lama Tây Tạng bây giờ, ở bên này họ đều để lộ ra, tôi mới hỏi họ là vì sao lại để lộ vai phải? Họ bảo để như thế trông "gợi cảm", đó là một vị geshe nói đó. Tôi sẽ không nói tên ra, vị geshe đó nói để như thế trông khá gợi cảm.

Để lộ một bên vai, sau đó đầu gối phải, đây là tập tục của đất nước Thiên Trúc. Để lộ vai phải, đầu gối phải, chủ yếu là thuận theo chiều kim đồng hồ, thuận theo chiều kim đồng hồ là biểu thị hành vi là chính pháp, những gì chúng tôi làm là chính pháp, nên mới là vai phải, đầu gối phải. Bạn xem, mỗi khi chúng ta đi vòng quanh tháp, vòng quanh núi, vòng quanh hồ, vòng quanh chùa, đều là đi theo chiều thuận kim đồng hồ, bạn đừng đi ngược chiều kim đồng hồ, quay kinh luân cũng như vậy, bạn cần quay thuận chiều kim đồng hồ, đừng quay ngược chiều kim đồng hồ, phải thuận theo chiều kim đồng hồ mà quay, như thế thì được coi là chính pháp. Nếu làm ngược chiều kim đồng hồ thì sẽ bị coi là tà môn ngoại đạo. Truyền pháp ngoại đạo… Vì thế, để lộ vai phải, đầu gối phải biểu thị đó là chính pháp, không phải là để cho gợi cảm, để cho gợi cảm là do vị geshe kia nói đó. 

Geshe người Tây Tạng họ gọi là *doctor* (tiến sĩ), geshe cũng phân thành mấy loại, có geshe cao, có geshe thấp, đó là do một vị geshe nói. Chúng tôi có hỏi họ vì sao anh lại để lộ vai phải, không để lộ vai trái? Anh ta nói để cho nó gợi cảm. Vai phải vai trái giống nhau mà, thật đúng là… Chắp tay cung kính, hỏi Phật Thích Ca Mâu Ni… Đã hơn 10 giờ rồi à, đã quá thời gian nhiều rồi. 

Vợ hỏi: "Chồng à, mắt em cứ nháy suốt, phải làm sao đây?" Chồng nói: "Mắt trái nháy thì có tiền, mắt phải nháy thì có họa, mắt nào của em nháy?" Vợ nói: "Mắt trái em nháy." Chồng nói: "Em sắp phát tài rồi." Vợ nói: "Cũng đúng đấy, hôm nay em dọn dẹp phòng, phát hiện ra quỹ đen của chồng đó." Chồng nói: "Tiên sư, chả trách mắt phải của anh cứ nháy mãi." Câu chuyện này cũng là trái phải, thế nhưng việc nháy mắt của anh ta không đúng lắm với điều chúng ta nói.
Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 14/08/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Hoàng Tài Thần Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 6.)*


### 07. Phần thứ 2: Thiện Hiện thưa hỏi (2)


*(Bài giảng 7) *Làm sao để loại bỏ chủng tử sân hận trong tâm 

*Khi ấy, trưởng lão Tu Bồ Đề ở trong đại chúng từ chỗ ngồi đứng dậy, để lộ vai phải, đầu gối phải chạm đất, chắp tay cung kính bạch Phật rằng: "Thật hiếm có! Thế Tôn! Như Lai khéo hộ niệm chư Bồ Tát, khéo dặn dò chư Bồ Tát. Thế Tôn! Thiện nam, thiện nữ phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề thì nên sống ra sao? Nên hàng phục tâm ra sao?"
Phật nói: "Lành thay, lành thay. Tu Bồ Đề! Đúng như ông vừa nói. Như Lai khéo hộ niệm các vị Bồ Tát, khéo dặn dò các vị Bồ Tát. Nay hãy lắng nghe, ta sẽ vì các ông mà nói thiện nam, thiện nữ phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề nên sống thế nào, nên hàng phục tâm ra sao."
"Vâng thưa Thế Tôn! Con nguyện được lắng nghe."*

Bây giờ chúng ta lại nói về trưởng lão Tu Bồ Đề. Thật ra, đoạn văn này… (Pháp Vương đọc diễn cảm "Phần thứ 2: Thiện Hiện thưa hỏi" một lần.) Đoạn kinh văn này mọi người đều nên hiểu. Một người đặt câu hỏi, nghĩa là Tu Bồ Đề đặt câu hỏi. Đoạn kinh văn này hẳn là đã rất rõ ràng rồi, không cần phải giải thích lại. Hay là vẫn nên giải thích một chút nữa nhỉ! Chúng ta vẫn nói về ba chữ Tu Bồ Đề. Sau khi Tu Bồ Đề ra đời, ông ấy rất thông minh, vô cùng thông minh. Nhưng ông ấy vẫn còn chủng tử sân hận ở bên trong. Bởi vì những sự liên quan của mấy kiếp trước nên trong lòng ông ấy vẫn còn chủng tử sân hận. Vì thế, Phật Thích Ca Mâu Ni dạy bảo Tu Bồ Đề, đầu tiên là dạy Nhẫn nhục ba la mật, ngài dạy ông ấy Nhẫn nhục ba la mật. Ông ấy đã đạt đến tam muội gọi là Vô tranh tam muội, đã đắc được Vô tranh tam muội rồi, cuối cùng, ông ấy đã đạt được cái gì? Samaya tính Không.

Trong lúc Phật truyền pháp, ngài đã đến làng quê của Tu Bồ Đề. Tu Bồ Đề nghe nói Phật Thích Ca Mâu Ni là một người trí huệ rất cao, ông ấy tự nhận thấy trí huệ của mình cũng rất cao, vì thế khi Phật đang thuyết pháp, ông ấy đứng từ xa xa nghe. Khi Phật thuyết pháp thì ngài đã nói gì? Ngài nói: "Thật ra chúng sinh là bình đẳng, không có sự phân biệt người và ta." Phật đã giảng pháp tột cùng nhất: không có sự phân biệt người và ta, chúng sinh là bình đẳng. Ngài cũng nói: "Thật ra chúng sinh chính là ta, ta chính là chúng sinh, không có sự phân biệt người và ta, là bình đẳng." Lúc này, Tu Bồ Đề đang đứng ở nơi xa nghe thấy, ông ấy liền chắp tay lại. Phật Thích Ca Mâu Ni nói: "Không có sự phân biệt người và ta." Thật ra, điều mà Ngài giảng rất hợp với tâm của Tu Bồ Đề, vì thế, khi Phật Đà quay trở về nơi ngài ở, Tu Bồ Đề cứ đi đi lại lại ở ngoài cửa nơi Phật ở. Phật Thích Ca Mâu Ni biết được, liền mời ông ấy vào trong ngồi, hai người nói chuyện, vừa nói thì đã rất hợp ý nhau, đã có duyên rồi. Duyên từ đâu đến? Duyên chính là từ lúc ông ấy còn là một con độc long bị đại bàng kim sí điểu dùng móng tóm lấy bay lên không trung, Phật Thích Ca Mâu Ni thì ngồi ở lưng núi, con độc long đã cầu cứu Phật Thích Ca Mâu Ni, gật đầu với Phật Thích Ca Mâu Ni cầu cứu. Đó chính là duyên. Ông ấy và Phật Thích Ca Mâu Ni đã có duyên, cái duyên này là từ đây mà có.

Bởi vậy tôi nói, cái duyên vô cùng quan trọng, duyên phận vô cùng quan trọng. (Không phải là "phân vượn" trong từ bãi phân của loài khỉ vượn đâu nhé.) Có đúng không? Là như vậy mà, không có duyên phận thì Sư Tôn cũng chẳng có cách nào. Vì thế, Phật Đà có nói một câu rằng: "Chẳng có cách nào độ người không có duyên phận." Phật có ba điều không thể, không thể độ người vô duyên, tất cả đều cần có duyên phận. Vì thế, có rất nhiều người từ rất xa xôi đến tìm tôi, cầu tôi giúp họ chữa bệnh trị bệnh. Tôi đưa tay ra thì phát hiện ra sức mạnh ấy không thể phát ra được, cho thấy rằng người này và tôi không có duyên phận, họ sẽ không có cách nào khỏi bệnh được, cuối cùng tôi chẳng có cách nào để giúp họ cả, đây là vì duyên phận quá mỏng. Chỉ cần có duyên phận thì sẽ xuất hiện kì tích, sẽ hiển hiện kì tích.

Cô Elizabeth ở đây nhỉ. Đúng, Elizabeth, cô ấy và tôi có duyên phận. Lúc trước cô ấy đến Seattle, trong đầu cô ấy có khối u. Chụp X-quang, MRI, trong đầu có một khối u. Cô ấy đến đây. Sau đó quay trở về, sau khi gặp Sư Tôn rồi thì quay về. Buổi tối cô ấy nằm mơ. Trong mơ, Sư Tôn đã biến thành bác sĩ ngoại khoa, đẩy cô ấy vào trong phòng phẫu thuật, mổ não cho cô ấy, lấy khối u ra, để lại một mảnh da. Sau đó nói với cô ấy: "Khối u này đã giúp cô lấy ra rồi, chỉ còn lại một chút da." Ấy, trong mơ cô ấy được Sư Tôn mổ não, cô có cảm thấy đau không? Có không? Không à? Phẫu thuật trong mơ đương nhiên là không thấy đau rồi. Thực tế mà mổ xem, chỉ có tiêm thuốc tê mới không đau thôi. Nhưng trên thực tế là tôi không có mổ não cho cô ấy. Trong mơ phẫu thuật thì không có cảm giác gì. 

Xong rồi, qua một đêm. Cô ấy đã nhìn thấy Sư Tôn là người mổ não cho cô ấy. Tôi không phải là bác sĩ ngoại khoa, tôi không học khoa đó. Đến con gà tôi cũng không dám giết, Sư Tôn không dám giết gà. Trước kia mẹ tôi từng giết gà. Mẹ tôi thường niệm một câu: "Làm gà làm chim đến bao giờ hết. Tao hóa kiếp cho mày. Cắt!" Thế là cắt tiết. Mẹ tôi từng giết gà. Mẹ tôi nói câu: "Làm gà làm chim đến bao giờ hết. Tao hóa kiếp cho mày. Cắt!" Bạn làm gà, làm chim, vĩnh viễn chẳng thể hết kiếp được, hãy mau chóng đi chuyển thế đi, ý câu nói ấy là thế.

Tôi phẫu thuật mổ não cho Elizabeth. Trước nay tôi chưa từng cầm vào dao, tôi sợ nhất là dao, nhưng khi nằm mơ thì lại dám cầm. Được rồi, sau khi lấy khối u ra, cô ấy không còn đau nữa, hơn nữa quay trở về kiểm tra thì khối u đó thật sự đã biến mất rồi, chỉ còn thừa lại chút da. Đây chính là có duyên phận đó, có duyên phận mới có khả năng giúp bạn làm thủ thuật thì mới khỏi được. Bản thân Elizabeth cũng biết cô ấy và Sư Tôn có duyên từ mấy kiếp, duyên phận trong mấy kiếp nằm ở đây, cho nên rất dễ khỏi bệnh. Cũng có rất nhiều người đã đến đây, khỏi bệnh rồi thì trở về, đều là do duyên phận mấy kiếp nên mới có khả năng, không có duyên phận thì không thể chữa được, đơn giản như vậy thôi.

Vì thế, bạn muốn nương dựa vào Phật, Tu Bồ Đề nương dựa vào Phật Thích Ca Mâu Ni cũng cần có duyên đó, chính là từ lúc ông ấy làm độc long bị đại bàng kim sí điểu bắt lấy, ông ấy đã cầu xin tì kheo cứu, người đó là Phật Thích Ca Mâu Ni, việc cầu cứu này đã trở thành có duyên, vì thế lần sau gặp mặt, ông ấy sẽ có thể nương dựa vào Phật Thích Ca Mâu Ni. Sau khi Tu Bồ Đề nương dựa vào Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật Thích Ca Mâu Ni biết kiếp quá khứ của ông ấy, nói ra rằng trong lòng ông ấy có sân có hận, vì thế muốn giải trừ sân hận của ông ấy, nên bảo ông ấy tu Nhẫn nhục ba la mật. Ông ấy đã tu đến Vô tận tam muội, tu đến Vô sinh pháp nhẫn, đã chứng được Vô sinh pháp nhẫn. Vô sinh pháp nhẫn là một quả vị, quả vị rất cao. Bây giờ mà muốn chứng được Vô sinh pháp nhẫn thì không đơn giản đâu, thật sự là không dễ đâu! Chỉ cần ngoáy một cái lông gà vào mũi bạn là bạn đã thấy ngứa rồi, có đúng không? Chỉ mới nói bạn vài câu là bạn đã tâm trạng không tốt rồi. Không được đánh lộn, hễ đánh lộn là thôi bạn xong rồi, hôn nhân chắc chắn là rạn nứt. Vì thế, kiểu gì cũng không được đánh lộn. Vợ chồng không thể đánh lộn, chỉ cần đánh là sẽ hằn vào trong tâm, in dấu vào trong tâm rồi thì sẽ sinh ra sân hận. Chửi mắng cũng không được, chửi rồi cũng không được, nói những lời nặng nề cũng không được. Nếu có tức giận: "Bảo anh làm thế nào thì anh làm như thế đi!" Trong lòng liền không thoải mái: "Lão phu đây không làm đấy!" Thế là không sướng rồi, bạn nghe hiểu rồi chứ?

Chồng thường mắng vợ, cuối cùng vợ đã phản kháng. Một hôm, vợ không phản kháng nữa, chồng cảm thấy rất kì quái: "Sao lại không phản kháng nhỉ? Trái lại sao lại cầm bàn chải đi cọ bồn cầu nhỉ?" Mỗi lần chồng chửi vợ, vợ liền đi chùi bồn cầu. Ôi, vợ đã thay đổi rồi, rất tốt! 
Chồng nói: "Vì sao mỗi lần tôi chửi cô, cô đều đi cọ bồn cầu?" 
Vợ liền nói: "Tôi cầm cái bàn chải đánh răng của anh đi cọ bồn cầu đó." 

Vẫn còn có sân hận trong lòng, vì thế, người với người chung sống với nhau thật sự là rất khó, bởi vậy nói việc người khó. Thiên hạ có ba cái khó: lên trời khó, thứ hai là kiếm tiền khó, thứ ba là việc người rất khó. Chuyện thị phi của nhân gian rất khó. Bạn cần phải tu đến khi hoàn toàn có thể nhẫn nhịn, chính là Nhẫn nhục ba la mật. Tu Bồ Đề đã tu Nhẫn nhục ba la mật, người ta nói cái gì, ông ấy đều vẫn như thế, bởi vì chung quy vẫn là không. Ông ấy đắc được Không tam muội, đắc được Vô sinh pháp nhẫn, cuối cùng, ông ấy đã loại bỏ được chủng tử sân hận của khiếp quá khứ trên người mình rồi. Người ấy chính là Tu Bồ Đề vĩ đại.

Bởi vậy cần hiểu, chúng ta tu hành, bạn tu hành cái gì? Cần hiểu nhẫn nhục, nhẫn nhục chính là tu hành, ai không hiểu nhẫn nhục thì thật sự là *kindergarten baby* (trẻ con mẫu giáo). Rất nhiều đệ tử thực sự mà nói thì hoàn toàn không hiểu nhẫn nhục, cùng ở dưới một mái hiên, nhưng bạn còn tranh giành tới lui. Cùng là đồng môn quy y, bạn còn không sướng nhau, còn đấu tới đấu lui, còn đấu tranh, còn phỉ báng lẫn nhau. Nếu như bạn biết tu Nhẫn nhục ba la mật thì sẽ không có chuyện, không tu Nhẫn nhục ba la mật thì chắc chắn có chuyện. Hãy học tập Tu Bồ Đề đi, có phải không? Mọi người tu Nhẫn nhục ba la mật, tất cả mọi thứ đều quy về không, vứt bỏ hết những rác rưởi bên trong thân thể bạn. Bạn đem rác rưởi đặt vào trong lòng làm cái gì? Vứt đi! Để cho tâm mình trống rỗng, sẽ chẳng còn chuyện gì cả.

Tâm không giải phóng được, rác rưởi đều chất chồng bên trong bạn, để cho rác rưởi lên men ở bên trong. Không phải lên men, là phát điên đó. Bạn tự làm cho mình ngột ngạt. Thật là ngốc! Ngu quá! Ngốc quá! Nhẫn nhục ba la mật đi thôi, hôm nay Sư Tôn dạy mọi người Nhẫn nhục ba la mật của Tu Bồ Đề để vứt bỏ rác rưởi trên người bạn, giải phóng hết! Tất cả đều không quan trọng, giải phóng chúng hết đi, cái gì cũng chẳng có, sống ung dung tự tại. Tự bạn đem rác rưởi quẳng vào trong thân thể mình, như thế cả buổi, chính bạn sẽ sinh ra sự ngột ngạt, những rác rưởi ấy đã lên men, biến thành có độc. Bạn không mắc Covid-19, nhưng bạn đã bị chính mình nhiễm độc mà chết. Bạn không mắc Covid-19, không sai. Những người ngồi ở đây đều không nhiễm Covid-19, nếu có người nào mắc Covid-19 thì chúng ta phải chạy mau! Nhưng tâm của bạn đã bị nhiễm độc mà chết rồi. Thật đó, kiếp sau, vì bạn có chủng tử sân hận, bạn sẽ chuyển thế đến nơi có độc. Hôm nay mọi người nghe điều này: Tu Bồ Đề tu Nhẫn nhục ba la mật, đạt được Vô tranh tam muội. Om mani padme hum.

*(Ngày 15/08/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Địa Tạng Vương Bồ Tát tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 7.)*


### 08. Phần thứ 2: Thiện Hiện thưa hỏi (3)


*(Bài giảng 8) *Vô sinh pháp nhẫn

*Khi ấy, trưởng lão Tu Bồ Đề ở trong đại chúng từ chỗ ngồi đứng dậy, để lộ vai phải, đầu gối phải chạm đất, chắp tay cung kính bạch Phật rằng: "Thật hiếm có! Thế Tôn! Như Lai khéo hộ niệm chư Bồ Tát, khéo dặn dò chư Bồ Tát. Thế Tôn! Thiện nam, thiện nữ phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề thì nên sống ra sao? Nên hàng phục tâm ra sao?"
Phật nói: "Lành thay, lành thay. Tu Bồ Đề! Đúng như ông vừa nói. Như Lai khéo hộ niệm các vị Bồ Tát, khéo dặn dò các vị Bồ Tát. Nay hãy lắng nghe, ta sẽ vì các ông mà nói thiện nam, thiện nữ phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề nên sống thế nào, nên hàng phục tâm ra sao."
"Vâng thưa Thế Tôn! Con nguyện được lắng nghe."*

"Phần thứ 2: Thiện Hiện thưa hỏi" vẫn còn chưa bắt đầu giảng nữa. Vẫn còn đang nói về Tu Bồ Đề. Ba chữ này cần nói rất lâu. Vẫn cần phải nói về Tu Bồ Đề.
Phật Đà dạy Tu Bồ Đề là vô cùng có dụng ý. Phật Đà quan sát kiếp quá khứ của Tu Bồ Đề… quá khứ của ông ấy tôi đã nói rồi. Tâm sân hận của ông ấy vô cùng nặng, tham sân, tâm sân này vô cùng nặng. Vì thế Phật Đà dạy ông ấy Nhẫn nhục ba la mật trước. Tôi đã giảng Nhẫn nhục ba la mật, Nhẫn nhục ba la mật cần tu đến trình độ nào? Tu đến không còn nhẫn nhục. Vừa là nhẫn nhục, vừa không có nhẫn nhục, nhưng vẫn là nhẫn nhục. Phải biến hai chữ nhẫn nhục này thành tự nhiên mà thế thì sẽ trở thành không có nhẫn nhục nữa.

Chúng ta bắt đầu là nhẫn nhục: nhẫn nhục thì khó chịu lắm, người ta sỉ nhục bạn mà bạn vẫn bất động là điều rất khó. Đại bộ phận nhìn chung mà nói đều là, chúng ta gọi là cái gì nhỉ? Tiếng Đài Loan cái gì mà như một đám khói, giống như một đám lửa, thế rồi một cơn gió thổi đến, vù! Thổi đám lửa này tán loạn tứ tung. Bạn vốn dĩ đang bất động, bỗng dưng người ta nói một câu, bạn liền giống như đám lửa kia, lửa bùng bùng khói ngùn ngụt. Tiếng Đài Loan có một câu nói, là thế nào nhỉ? Người ta đụng vào một cái đã giãy nảy lên như đỉa phải vôi. Có đúng thế không? Lại vẫn là cái lão già này nghĩ ra, mấy người đều từ Đài Loan đến mà chẳng nói ra được! Người ta đụng vào một cái đã giãy nảy lên như đỉa phải vôi.

Tu Bồ Đề ban đầu là như vậy. Phật Đà dạy ông ấy Nhẫn nhục ba la mật: "Ông phải nhẫn." Ông ấy nhịn, nhẫn nhịn mọi thứ, nhẫn nhịn đến cuối cùng thì trở thành tự nhiên. Tất cả mọi sự phỉ báng, tất cả mọi sự công kích, tất cả cái gì đến, ông ấy đều rất tự nhiên như không, chẳng có cảm giác gì. Cái này thì không phải là nhẫn nhục, không cần nhẫn nhục nữa rồi! Bạn đã tự nhiên rồi thì làm gì còn phải nhẫn nữa? Vì thế cái này mới gọi là thành công. Sau đó tiến thêm một bước, bạn đạt đến Vô sinh pháp nhẫn thì lại là một bước cao hơn. Tu Bồ Đề ông ấy đã chứng đắc Vô sinh pháp nhẫn rồi. Tất cả mọi sự công kích đều là chẳng có công kích gì, tất cả mọi phỉ báng đều chẳng phải là phỉ báng. Tất cả mọi sỉ nhục đều không phải là sỉ nhục, đều chẳng sinh ra thì lấy đâu ra sỉ nhục? Cái này gọi là Vô sinh. Bạn tu đến trình độ này rồi thì quả vị này mới gọi là Vô sinh pháp nhẫn. 

Không có phỉ báng, không có công kích, cái gì cũng không có. Cái này làm được không? Phật Đà dạy ông ấy: "Ông chứng đắc cái này rồi thì mới gọi là Vô sinh pháp nhẫn." Cái này, đương nhiên bây giờ nói như thế này mọi người nghe không hiểu, sau này giảng tiếp mọi người sẽ hiểu. Kinh Kim Cang là nói đến điều này. Đây là một điều trong số đó: căn bản là không có phỉ báng, bạn cũng không cần nhẫn nhục. Căn bản là không có cái gì gọi là công kích, bạn cũng không cần nhẫn nhục. Căn bản là cái gì cũng chẳng có. Mà cái gì cũng không có thì bạn nhẫn nhục làm cái gì? Bởi vì không có nhẫn nhục thì mới gọi là nhẫn nhục. Được rồi, Tu Bồ Đề tu đến mức như thế, như thế mới gọi là Vô tranh tam muội mà Phật dạy. Vô tranh, không có cái gọi là tranh luận, cái đó gọi là Vô tranh, Tu Bồ Đề đã chứng đến đây, cuối cùng, ông ấy đã đạt đến Không tam muội, bởi vì vô sinh mà, nên có thể chứng được Không tam muội, cũng có nghĩa là tiến nhập vào thiền định tính Không.

Bởi vì Tu Bồ Đề đã tiến nhập vào bên trong thiền định tính Không - Không tam muội rồi, ông ấy có hai hiện tượng sản sinh ra: hiện tượng thứ nhất, ông ấy ở trong hang động trên núi Linh Thứu, sống trong hang động tu hành thiền dịnh. Khi tiến nhập vào Không tam muội, rất nhiều thiên nữ xuất hiện trong hư không rắc hoa cho ông ấy. Hoa trời từ trong hư không rơi xuống ấy khiến nửa thân người ông ấy ngập trong hoa, nghĩa là hoa ngập đến cả nửa thân người. Hoa trời rơi xuống chỗ ông ngồi, rắc lên trên người ông. Sau đó hoa làm thành vòng quây xung quanh ông, khiến ông ấy ngập cả nửa người trong hoa.

Tu Bồ Đề tỉnh lại, vừa nhìn lên trời thì: Chà! Bao nhiêu là hoa trời đang rơi xuống! Ông ấy hỏi: "Các vị là ai? Vì sao từ trên trời rắc hoa cho tôi?" Lúc này, thiên chủ của Đế Thích Thiên mới nói rằng: "Ta là thiên chủ của Đế Thích Thiên, đem theo thiên nhân của Đế Thích Thiên, bởi vì biết ông đã tiến nhập vào Không tam muội, toàn thân tỏa sáng, ánh sáng trực thấu (đẳng lưu), chúng tôi ở trên trời đều cảm nhận thấy, ánh sáng này ở thiên thượng là bất khả tư nghì. Nhìn xuống dưới thì thấy là Tu Bồ Đề đang tiến nhập vào Không tam muội, chúng tôi khen ngợi, vì thế mới rắc hoa."

Tu Bồ Đề cũng hỏi: "Thế vì sao các vị lại rắc hoa?" "Chính là vì ông đã tiến nhập vào Không tam muội." Thế nào gọi là Không tam muội? Không có phiền não, không có ngã chấp, ngã chấp không còn, phiền não không còn, pháp chấp cũng không còn. Không còn pháp chấp, không còn ngã chấp, không còn phiền não, tiến nhập vào Không tam muội. Vì thế nên mới rắc hoa khen ngợi Tu Bồ Đề! Tu Bồ Đề liền cùng với thiên nhân nói một vài đạo lí, đạo lí tiến nhập vào Không tam muội, nhắc đến: không còn cái Ngã, cũng không còn pháp, cũng không còn phiền não, như thế tiến nhập vào Không tam muội. Vì thế thiên nhân ca ngợi, rắc hoa cho ông ấy, đó là điều thứ nhất, chỉ có Tu Bồ Đề mới được ghi vào trong kinh điển rằng Tu Bồ Đề đã đắc Không tam muội, khi tiến nhập vào Không tam muội thì Đế Thích Thiên và thiên nữ cùng rắc hoa cho ông ấy. 

Hiện tượng thứ hai là, có một hôm Tu Bồ Đề bị ốm, bị bệnh. Bạn nói xem, Tu Bồ Đề đã chứng đắc Không tam muội rồi thì vì sao vẫn bị ốm? Ông ấy thật sự đã chứng đắc Không tam muội rồi, ông ấy không còn cái tôi nữa, nhưng cái thân thể thì vẫn phải đi theo Phật Đà. Cái bụng đói thì vẫn phải đi ra ngoài hóa duyên, vẫn cần phải ăn. Vì thế, con người ta ăn ngũ cốc hoa màu, có ai là không sinh bệnh chứ? Đều sẽ có bệnh, không có người nào là không sinh bệnh. Mọi người ở đây ai không mắc bệnh hãy giơ tay, ai chưa từng mắc bệnh thì hãy giơ tay? Ai chưa từng mắc bệnh, chưa từng bị cảm cúm thì giơ tay? Mọi người đều từng bị cảm cúm. Bây giờ mọi người ai đang cảm thấy thân thể hoàn toàn không có bệnh gì cả thì giơ tay? Một chút bệnh cũng không có sao? Bạn có bị nhức hông không, có bị đau lưng không? Thân thể có chỗ nào không đau? Mắt bạn có bị cận thị không? Mắt vẫn tốt à, không bị cận thị à? Tốt.. Ơ! Thế bạn từng mổ lazer à? Từng mổ lazer thì là có bệnh rồi! 

Sư Tôn mới là chưa từng mổ lazer. Tôi trước nay chẳng hề đeo kính. Tôi chẳng qua chỉ là học một pháp: mỗi ngày, buổi sáng ngủ dậy… cái này tôi từng nói rồi, mỗi buổi sáng khi ngủ dậy thì đứng bên cửa sổ, sau đó nhắm mắt lại đảo mắt 14 lần, sau đó bất thình lình mở to mắt ra. Đảo mắt cần phải đảo hết cỡ đấy nhé! Con mắt và nhãn cầu cùng chuyển động, đảo theo vòng tròn 14 lần, nhắm mắt lại đảo mắt 14 lần, sau đó lại mở to mắt ra, nhìn vào nơi xa nhất. Tôi nhìn vào *double trees* ở xa nhất, hai cái cây, tôi nhìn vào hai cái cây ở xa nhất. Tôi tập đảo mắt như vậy đã bao nhiêu năm rồi… đổi lại là không phải đeo kính. Chữ gì tôi cũng nhìn rõ ràng được hết, chữ nhỏ tôi cũng nhìn rõ được. Cái này cần công phu luyện tập bao nhiêu năm đó! Bởi vậy cái này cũng là một sự bền bỉ. 

Sau đó là răng đập vào nhau 36 lần, đập thế xong rồi cuối cùng răng cũng rụng mất một chiếc. Sau đó bác sĩ nha khoa Quế Thanh đã gắn răng lại cho tôi. Sau khi tôi gắn răng lại, không thể nói là răng của tôi không có bệnh. Răng của tôi vẫn có bệnh đó. Lần trước răng còn bị viêm, răng bị viêm thì cũng đau. Ngoài ra, tôi còn có trò gõ màng nhĩ: bịt lỗ tai lại, gõ vào màng nhĩ, giống như là gõ trống vậy, gõ 70 lần, tôi gõ 70 lần. Một, hai, ba, bốn, năm, sáu; một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy, tổng cộng làm mười lần; một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy. Đôi khi tôi nói là một hai ba bốn năm sáu, sau đó nói A Di Đà Phật. Hai hai ba bốn năm sáu A Di Đà Phật. Ba hai ba bốn năm sáu A Di Đà Phật… Tổng cộng 70 lần. Tai tôi vẫn tốt, nhãn lực vẫn tốt, còn răng thì… cũng là việc chẳng có cách nào. Đời người bảy chục mới bắt đầu mà. Bảy chục mới bắt đầu cái gì? Bảy chục bắt đầu rụng răng! Còn gì nữa? Đau khớp, đau hông, mọi thứ đau đều đến. Bảy chục tuổi bắt đầu có những cái đau như vậy, những thứ khác thì vẫn tốt. 

Vì thế Tu Bồ Đề mắc bệnh, Đế Thích Thiên này lại đến, khi ông ấy mắc bệnh. Lần này Tu Bồ Đề lại hỏi Đế Thích Thiên: "Các vị đến làm gì?" "Tôi đến để hát tặng cho ông nghe." Đế Thích Thiên nói "Tôi đến hát cho ông nghe", thế rồi hát. Tất cả thiên nhân trong hư không đều hát cho Tu Bồ Đề nghe, an ủi ông ấy. Tu Bồ Đề nghe xong thì trong lòng vui vẻ! Những đóa hoa tâm đều nở. Hoa tâm nở ra thì bệnh cũng khỏi. Họ đã hát cái gì vậy? "Đức hạnh cao hơn cả trời! Công ở nơi ấy dài giống như nước chảy! Đức thì cao như núi! Hạnh của ông, công đức của ông dài như dòng nước chảy vậy!" Ca ngợi Tu Bồ Đề. Vì Tu Bồ Đề được thiên nhân hát cho nghe, âm nhạc có thể chữa lành, âm nhạc có thể trị bệnh, thế là bệnh của Tu Bồ Đề đã khỏi rồi.

Mọi người có biết không? Có một lần Sư Tôn mắc chứng viêm mô tế bào. Lão hòa thượng Hư Vân trong hư không đi qua, nhìn thấy tôi bị bệnh, ông ấy chỉ giơ tay ra, cứ thế xuyên qua mây, từ trên mây chỉ vươn cánh tay ra rất dài, vươn đến tận trong nhà tôi, từ mái nhà đi vào trong nhà tôi, thẳng đến giường bệnh mà tôi đang nằm, ông ấy sờ lên đầu tôi. Mọi người có nhớ không? Đó là lão hòa thượng Hư Vân… Tôi còn chẳng biết nữa… Bấy giờ tôi mới biết có một vị là lão hòa thượng Hư Vân, do đồng tu hội Thập Phương ở Hồng Kông điêu khắc tặng cho tôi, là Thượng sư Thường Nhân tặng cho tôi một bức tượng lão hòa thượng Hư Vân, trong Mật Uyển có một bức tượng lão hòa thượng Hư Vân đó. Giữa tôi và lão hòa thượng Hư Vân có nhân duyên tồn tại. Vì thế khi ông ấy đi qua, nhìn thấy tôi đang bị bệnh, ông ấy cũng xoa đầu tôi để an ủi tôi. 

Sau đó mọi người có nhớ không? Khi tôi ẩn cư, tôi đã mắc chứng nứt não, nứt não, bộ não đã sắp vỡ ra rồi. Tôi đi nhiễu chùa, đi lễ Phật, nhiễu chùa, nhiễu tháp, cứ thế đi đến chỗ của Phật Dược Sư, một vị rất lớn… Hàn Quốc có một vị Phật Dược Sư rất to lớn, Phật Dược Sư đặt ở ngoài trời. Tôi đi đến đó làm đại lễ bái trước Phật, đi đến nơi đó làm đại lễ bái, người cũng sắp xỉu cả rồi. Trên đường trở về, tôi nhìn thấy Dược Sư Như Lai đến, Dược Thượng Bồ Tát, Dược Vương Bồ Tát, Nhật Quang Biến Chiếu Bồ Tát, Nguyệt Quang Biến Chiếu Bồ Tát, 12 Dược Xoa Thần Tướng, toàn bộ đều hiển hiện lên trước mặt tôi. Tôi liền biết rằng bệnh này được cứu rồi, các vị như thể đang an ủi tôi.

Tương tự, Đế Thích Thiên hạ giáng để an ủi Tu Bồ Đề: "Ông bị ốm rồi.", các vị hạ giáng hát cho Tu Bồ Đề nghe. Vì sao Tu Bồ Đề có thể có được sự ca ngợi của thiên nhân, được họ rắc hoa và hát cho ông ấy nghe? Bởi vì ông ấy thật sự đã có thể tiến nhập vào Không tam muội. Không tam muội là chủ đề của kinh Kim Cang. Kinh Kim Cang là nói về Không tam muội. Phá hủy tất cả, chính là Không. Cho nên, sau cùng thì Thiền tông dựa vào kinh Kim Cang để nhận định xem bạn đã khai ngộ hay chưa. Chính là dựa vào kinh Kim Cang để phán đoán: bạn đã khai ngộ chưa, kinh Kim Cang đây sẽ nhận định xem bạn đã khai ngộ rồi hay bạn chưa khai ngộ, dùng kinh Kim Cang để đánh giá bạn. Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 21/08/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Diêu Trì Kim Mẫu Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 8.)*


### 09. Phần thứ 2: Thiện Hiện thưa hỏi (4)


*(Bài giảng 9) *Tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề

Bây giờ tôi cùng mọi người nói về Phần thứ hai: Thiện Hiện thưa hỏi. 
*”Khi ấy, trưởng lão Tu Bồ Đề ở trong đại chúng từ chỗ ngồi đứng dậy, để lộ vai phải, đầu gối phải chạm đất, chắp tay cung kính bạch Phật.”* Để lộ vai phải, đầu gối phải chạm đất. Cái này thuộc về một kiểu nghi thức ở Thiên Trúc thời ấy, biểu thị là cách quỳ đúng, chứ không phải tà môn, là đúng đắn. 

*Chắp tay cung kính bạch Phật rằng: "Thật hiếm có! Thế Tôn! Như Lai khéo hộ niệm chư Bồ Tát, khéo dặn dò chư Bồ Tát. Thế Tôn! Thiện nam, thiện nữ phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề thì nên sống ra sao? Nên hàng phục tâm ra sao?" *Đây là điều Tu Bồ Đề hỏi, ý nói rằng: thật vô cùng hiếm có, Phật Thích Ca Mâu Ni trụ thế là điều vô cùng hiếm có. Thời gian qua Phật vẫn luôn hộ trì tất cả Bồ Tát, cũng có thể giúp đỡ tất cả Bồ Tát. Phật Thích Ca Mâu Ni, tất cả thiện nam, thiện nữ phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, có nghĩa rằng rất nhiều tín chúng phát tâm ấy... Thế nào gọi là tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề? Bây giờ tôi hỏi mọi người. Bốn chữ, trả lời đúng thì có thưởng. Ồ, anh đã kêu lên trước. (Có một đệ tử nào đó nói: Chính đẳng chính giác.) Vậy chuỗi hạt này tặng cho anh. Chính là chính đẳng chính giác. Tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề chính là phát tâm cầu được chính đẳng, cầu chứng minh chính đẳng chính giác. Chính đẳng chính giác, phát cái tâm này.

*"Nên sống ra sao? Nên hàng phục tâm ra sao?"* Chủ yếu là nói rằng: tâm phải trụ ở chỗ nào? Nên làm thế nào để hàng phục tâm ấy? Đây là điều Tu Bồ Đề hỏi. Trước kia, mẹ tôi nói tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, cái này chính là phát tâm chính đẳng chính giác, câu này chính là thế. Thế nào là thiện nam, thiện nữ? Ý muốn nói rằng, người phát tâm chính đẳng chính giác này thì gọi là thiện nam, thiện nữ. Bạn không phát tâm muốn đạt đến chính đẳng chính giác này thì bạn không phải là thiện nam thiện nữ. Thật ra, thiện nam thiện nữ có ý nghĩa vô cùng rộng, chủ yếu ở đây là nhắc đến ưu bà tắc, ưu bà di. Những ưu bà tắc, ưu bà di tín ngưỡng Phật giáo đều gọi là thiện nam, thiện nữ. *"Nên sống ra sao? Nên hàng phục tâm ra sao?"* Tu Bồ Đề hỏi vậy. 

*Phật nói: "Lành thay, lành thay. Tu Bồ Đề! Đúng như ông vừa nói. Như Lai khéo hộ niệm các vị Bồ Tát, khéo dặn dò các vị Bồ Tát. Nay hãy lắng nghe, ta sẽ vì các ông mà nói thiện nam, thiện nữ phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề nên sống thế nào, nên hàng phục tâm ra sao."*

*"Vâng thưa Thế Tôn! Con nguyện được lắng nghe."*Đây là Tu Bồ Đề nói. Nguyện được lắng nghe nghĩa là con sẵn lòng nghe một cách vui vẻ, mong Phật Thích Ca Mâu Ni trả lời câu hỏi này của con. Con rất hoan hỉ lắng nghe Phật Thích Ca Mâu Ni trả lời câu hỏi này của con. Con nguyện lắng nghe, nghe một cách vui vẻ.

Cũng thế, *"khéo hộ niệm các vị Bồ Tát, khéo dặn dò các vị Bồ Tát",* ở đây là Phật Thích Ca Mâu Ni, bản thân ngài chính là điều ngự trượng phu. Thế nào gọi là điều ngự trượng phu? Ai đi chệch đường thì gọi trở về, ai đi sai đường thì gọi người ấy trở về chính đạo. Gọi mà không trở về thì phải làm sao? Thả trâu đi ăn cỏ. Thả trâu đi ăn cỏ, để tùy họ đi. Giống như Quỷ Bà của chúng ta bái quỷ đó, thật ra tôi cũng rất cảm kích bà ấy, tôi nói thật lòng đó, nhiều năm như vậy đều đi trên chính đạo, đột nhiên gặp phải quỷ liền bị quỷ mê muội đầu óc, không ngờ lại đi đem tấm bia ở Bách Tính Công Miếu đến thôn Quốc Tính (ở huyện Nam Đầu, Đài Loan) để đặt ở đó. Đến khi bố của Thượng sư Liên Đông đã trang hoàng xong xuôi, bà ấy lại đem những tấm bia đó về. Bạn biết không, khi bà ta đem đến đặt ở Quốc Tính, có hai tì kheo ni trông giữ tấm bia này đều bị chết. Hai tì kheo ni ấy đều chết rồi, mọi người đều biết rồi đó. *Selamat pagi*, đúng không nhỉ? Tiếng Indonesia là *selamat, selamat* chính là chết rồi. 

Tôi nói cho bạn biết nhé, ai đã đi đem tấm bia đó về? Chính là bố của Thượng sư Liên Đông. Ông ấy đã đem tấm bia đó về, ngay cả ông ấy cũng bị trúng bùa. Ông ấy cắt tóc thành kiểu đầu Nhật Bản, kiểu đầu của võ sĩ Nhật Bản, chỗ này là một túm tóc, phần tóc hai bên thì cạo sạch, ở giữa có một túm tóc, ông ấy dẹp bỏ hết tượng Phật ở đàn thành trong nhà mình. Bạn có biết không? Đã phải tốn biết bao nhiêu công sức mới chữa khỏi được cho ông ấy, tất cả đều bị tinh thần thất thường. Tấm bia ấy đã được đặt ở khu Quan Âm ở Đào Viên, Đài Loan. Một trong hai tòa Điện Hộ Pháp đã được xây dựng ở đó, tấm bia ở Bách Tính Công Miếu đã được bày ở đó. Đó là đã đi vào tà đạo, đi vào quỷ đạo, kêu bà ta quay lại, bà ta không quay lại, không quay lại thì tôi cũng chẳng còn cách nào, thả trâu ăn cỏ thôi, thả trâu ăn cỏ. Bạn quay về, bạn thay đổi cho đúng là xong rồi, đúng vậy không. Đây gọi là bậc trượng phu giỏi dặn dò điều ngự. Ai đi sai đường thì sửa chữa lại họ, đi vào tà đạo thì khiến họ cải tà quy chính. Đây gọi là khéo hộ niệm, khéo dặn dò. 

Về đoạn này, có còn ai không hiểu không? Thiện nam, thiện nữ là chỉ ưu bà tắc, ưu bà di, chứ không phải là con người có tâm địa tốt thông thường. Đừng có nhầm lẫn mà cho rằng thiện nam là người nam có tâm địa tốt, thiện nữ là người nữ có tâm địa tốt, không phải đâu, chính là ưu bà tắc, ưu bà di có tâm muốn học chính pháp của Phật giáo để tương lai muốn chứng được chính đẳng chính giác.

Có người giải thích tâm Tam miệu tam bồ đề là thượng đan điền, trung đan điền, hạ đan điền chính là tam, có người giải thích là pháp thân, báo thân, ứng thân, ba thân này chính là tâm tam bồ đề. Cũng có người giải thích Tì Lô Giá Na Phật, Lô Xá Na Phật, Thích Ca Mâu Ni Phật gọi là tâm Tam miệu tam bồ đề. Thật ra chỉ đơn giản là Chính đẳng chính giác thôi, đừng nghĩ nó quá phức tạp. Om mani padme hum.

*(Ngày 22/08/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Diêu Trì Kim Mẫu tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 9.)*


### 10. Phần thứ 2: Thiện Hiện thưa hỏi (5)


*(Bài giảng 10) *Chính đẳng chính giác

Chẳng phải Tu Bồ Đề hỏi Phật Thích Ca Mâu Ni sao? *"Phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề nên sống thế nào, nên hàng phục tâm ra sao."*
Hôm đó tôi đã hỏi thế nào là tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, và Thượng sư Liên Chủ đã trả lời đúng rồi, nghĩa là chính đẳng chính giác. Kết quả là ông ấy đã được thưởng một chiếc vòng tay. Vậy thì bây giờ tôi hỏi mọi người, tôi hỏi nhé: Thế nào là chính đẳng? Thế nào là chính giác? Ở đây cũng có ý nghĩa rất sâu đó! Thế nào gọi là chính đẳng, thế nào gọi là chính giác? Ông ấy đã nói rồi, Thượng sư Liên Chủ đã nói rồi, là chính đẳng chính giác. Chính đẳng chính giác nghe rất hay, thế ý nghĩa sâu xa của nó là gì? Bạn phải biết được thâm nghĩa của nó, ý nghĩa chủ yếu nhất của nó nằm ở đâu.

Khi Phật Thích Ca Mâu Ni đắc chính đẳng chính giác, ngài ấy có ba lần chuyển pháp luân. Mọi người đều biết, lần chuyển pháp luân thứ nhất tại vườn Lộc Dã, đó là khi Phật truyền dạy Khổ - Tập - Diệt - Đạo của Tiểu thừa, đây là lần chuyển pháp luân thứ nhất, tại vườn Lộc Dã. Bây giờ tôi hỏi bạn, hỏi mọi người lần chuyển pháp luân thứ hai ở đâu? Phật Đà đã giảng cái gì? Lần thứ hai chuyển pháp luân là giảng ở đâu? Mọi người học Phật nhiều năm như vậy rồi, Phật Thích Ca Mâu Ni có ba lần chuyển pháp luân. Bây giờ tôi hỏi, lần chuyển pháp luân thứ hai là giảng ở đâu? Tịnh xá Trúc Lâm ư? Lần thứ hai vị Phật chuyển pháp luân là ở thành Vương Xá, tại thành Vương Xá đã nói về lần chuyển pháp luân thứ hai. Được rồi, vậy thì giảng cái gì? Bát nhã. Còn gì nữa? Ý nghĩa của nó nằm ở đâu? Nằm ở "vô tướng". Vô tướng, vô, vô nghĩa là không có, và tướng, là vô tướng. 

Bây giờ tôi hỏi bạn, lần chuyển pháp luân thứ ba là giảng ở đâu? Ở thành nào? Giảng cái gì? Lần chuyển pháp luân thứ ba là tại thành Liên Hoa, Phật giảng "liễu nghĩa". Bởi vậy, chính đẳng, cái gì là chính đẳng? Vô tướng chính là chính đẳng. Cái gì là chính giác? Liễu nghĩa chính là chính giác. Cái này rất thâm sâu nhỉ, tôi đã nói rồi, bản thân kinh Kim Cang rất thâm sâu đó. Nói vô tướng là chính đẳng. Ở đây nói đến hai loại trí huệ. Cái gì là chính đẳng? Bình đẳng tính trí chính là chính đẳng. Đại viên kính trí chính là liễu nghĩa. Trong Phật pháp, hai cái này vô cùng quan trọng. Ba lần chuyển pháp luân của Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói rõ về chính đẳng chính giác của Phật.

Lần thứ nhất chính là nói về Khổ - Tập - Diệt - Đạo của Phật, chính là chân lí. Cái gọi là đế, khổ đế, tập đế, đạo đế, diệt đế, toàn bộ đều là chân lí, gọi là đế, chữ đế bên trái có bộ ngôn, bên phải có chữ hoàng trong từ hoàng đế. Chữ đế này chính là chân lí, Khổ - Tập - Diệt - Đạo chính là chân lí. Bình đẳng chính là chân lí. Viên mãn, liễu nghĩa chính là chân lí. Vô tướng chính là chân lí. Điều mà kinh Kim Cang nói đến chính là cái này, chính đẳng chính giác. Mọi người thử dùng não để nghĩ một chút mà xem, sau này khi tôi giảng tiếp kinh Kim cang thì mọi người sẽ càng hiểu rõ hơn thế nào gọi là chính đẳng chính giác.

Rồi, chúng ta giảng đoạn thứ ba này. Phần thứ ba: Đại thừa chính tông. Đại thừa, cái gì là Đại thừa? Mật giáo cũng là một giáo phái trong Đại thừa. Đại thừa bao hàm rất nhiều tông phái. Chính tông, thế nào là chính tông? Hàm nghĩa chân chính, liễu nghĩa chân chính, liễu nghĩa chân chính của Đại thừa, đó là phần thứ ba này nói đến.

Phần thứ 3: Đại thừa chính tông

*Phật bảo Tu Bồ Đề: "Chư Bồ Tát Ma Ha Tát nên hàng phục tâm như thế này! Cần nghĩ tất cả các loài chúng sinh hoặc sinh từ trứng, hoặc sinh từ bào thai, hoặc sinh nơi ẩm thấp, hoặc biến hóa mà sinh ra, hoặc có sắc, hoặc không sắc, hoặc hữu tưởng, hoặc vô tưởng, hoặc không phải hữu tưởng không phải vô tưởng, ta đều cho vào Vô dư niết bàn mà diệt độ. Như vậy, diệt độ vô lượng vô số vô biên chúng sinh, nhưng thật ra không có chúng sinh nào được diệt độ. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, thì không phải là Bồ Tát.*
 
Đoạn này nói về việc tương ứng chính đẳng chính giác. Phật nói rằng, hoặc sinh từ trứng, hoặc sinh từ bào thai, hoặc sinh nơi ẩm thấp, hoặc biến hóa mà sinh ra, chúng ta nói về đoạn này trước. Sinh từ trứng, hôm nay chúng ta ăn món trứng chưng cà chua, trứng chính là noãn sinh. Món trứng chưng cà chua, trước kia chúng tôi làm bộ đội, làm lính, quân nhân, khi tôi học trường quân đội cũng có một món mà mọi người rất thích ăn, chính là món trứng chưng cà chua. Đây là một món ăn nổi tiếng trong quân đội, một món ăn nổi tiếng của bộ đội. Chúng tôi cũng thường xuyên ăn. Chùa của chúng ta, mặc dù chúng ta làm hòa thượng, thật ra cũng không khác làm bộ đội là mấy, tôi cũng ngày ngày ăn trứng chưng cà chua, trứng này chính là noãn sinh. 

Tôi ở nơi đây lâu như vậy rồi, nhưng vẫn chưa từng ăn trứng rùa. Thật ra rùa cũng là loài noãn sinh, chúng nở ra từ trứng, vì thế mới có "vương bát đản", nguyên nhân mà có từ "vương bát đản" là vì vậy đấy. [Vương bát đản, vương bát là con rùa, đản là quả trứng, trong tiếng Trung từ này có nghĩa là thằng khốn, đồ vô lại, hoặc có ý chửi người khác là đồ con rùa rụt cổ.] Thế nên, chuyện kể rằng có người đến nhà hàng để ăn món ba ba. Sau đó gọi* waiter* (bồi bàn), họ có năm người, năm người đi đến nhà hàng ăn ba ba, gọi *waiter* lại nói: "Anh hãy chia thành năm bát cho tôi!". Người *waiter* loay hoay một hồi rồi nói: "Tôi không có cách nào chia được". Anh ta hỏi: "Vì sao lại không chia được?" "Bởi vì con ba ba này có tổng cộng sáu quả trứng, các ông chỉ có năm người, có sáu quả trứng, vậy ông bảo tôi chia thế nào?" Nói sáu quả trứng rùa chẳng phải là chửi họ sao, hơn nữa đích xác lại còn lôi cả chính bản thân mình vào nữa, khách có năm người mà có sáu tên vô lại. Đây chính là noãn sinh, là sinh ra từ trứng.

Thấp sinh, thế nào gọi là thấp sinh? Thấp sinh chắc chắn là rất nhiều rồi. Thật đó, trong nước có rất nhiều sinh vật do ẩm ướt mà sinh ra. Vì thế những sinh vật sinh ra từ nước đều gọi là thấp sinh. Như thế thì nhiều lắm. Do đó, người ăn chay chân chính thì ngay cả vaccine cũng không thể tiêm. Vì sao thế? Bạn tiêm vaccine rồi thì chẳng phải là giết hết virus Covid-19 sao. Virus cũng là sinh mạng mà, bởi vì chúng sống, thế là bạn sát sinh rồi, bạn đi tiêm vaccine chẳng phải là giết bọn chúng rồi sao? Đó là thấp sinh! Rất nhiều vi khuẩn đó: *"Uống một ngụm nước sạch, tám vạn bốn nghìn trùng, nếu như không trì chú, khác gì giết chúng sinh."*

Thực vật cũng là sinh vật đó, bạn nhổ chúng lên, ví dụ như là củ cải, khi cắt chúng thì chúng kêu "á", kêu "á" một cái thế là bạn nhổ cây cải lên, thực vật có biết kêu không? Chúng mọc dài ra, chúng có tế bào, bạn cho rằng ăn rau chính là ăn chay sao? Nhầm rồi. Việc ăn chay là ai nói? Là do Lương Vũ Đế nói. Hòa thượng ở Thái Lan có ăn chay không? Tôi bảo bạn nhé, việc ăn mặc ở Thái Lan, ăn, mặc, ở, đi lại đều kế thừa Phật giáo nguyên thủy, họ mang nhiều sắc thái đậm nhất, còn những hòa thượng ở nơi khác đều đã có thay đổi rồi. Đặc biệt là khi Phật giáo truyền đến Đông Thổ, Phật giáo Trung Quốc đã thay đổi thành ăn chay, điều này là do Lương Vũ Đế thay đổi. Việc điểm giới sẹo là do Lương Vũ Đế kêu người ta làm. Hòa thượng Thái Lan ở đâu có điểm giới sẹo? Căn bản là không có chuyện đó! Vì sao phải điểm giới sẹo chứ? Tâm phân biệt quá nặng!

Vị Lương Vũ Đế này, mặc dù ông ta là Phật tâm thiên tử, nhưng ông ta đã làm hậu cung loạn cào cào. Ông ta đã cưới một người phụ nữ yêu kiều nhất của triều đại trước. Bạn biết rằng khi Lương Vũ Đế đóng đô tại Kiến Khương (hiện nay là thành phố Nam Kinh, tỉnh Giang Tô), ông ấy đã đánh bại triều đại trước, sau đó toàn bộ phi tần đều bị Lương Vũ Đế đem đi, vì thế hoàng hậu khi đó hối hận vì Lương Vũ Đế làm hoàng đế, bà ấy nói, từ nay về sau, bà ấy cũng không gặp được Lương Vũ Đế nữa. Lương Vũ Đế rất háo sắc, thật sự là một tên họ Trư đó! Mọi người có biết Lương Vũ Đế không? Ông ta đã sinh bao nhiêu đứa con, mọi người nói xem? Ông ta đã kết nạp phi tần yêu kiều xinh đẹp nhất của triều đại trước làm sở hữu của mình, sinh ra hai người con gái — đây chính là báo ứng: hai người con gái đó đều qua lại với chú và bác của chúng. Thật sự là loạn, loạn luân. Lương Vũ Đế rất đồi bại!

Chúng ta thường tụng Lương Hoàng Bảo Sám để sám hối, Lương Hoàng Bảo Sám là kinh dùng để sám hối, nhưng không phải là của ông ta! Chỉ là dùng tên của ông ta thôi, là do khi đó Lương Vũ Đế bảo những người xuất gia viết một bản kinh sám hối, để siêu độ cho một phi tử mà ông ta sủng ái. Lương Vũ Đế rất đồi bại, là một tên họ Trư! Thật đó, ông ta ngồi trong cung điện, nhìn thấy một cung nữ, rất nhiều cung nữ đứng bên cạnh, rồi gió thổi qua, váy của cung nữ nào tốc lên ông ta nhìn thấy đùi của cung nữ đó, thế là tối hôm đó, ông ta liền nói "ta muốn ngươi". 

Mọi người có biết Lương Vũ Đế không, mỗi lần ông ta gặp trắc trở là lại muốn xuất gia làm hòa thượng, liền chạy đến chùa Đồng Thái Tự ở cạnh đó để làm hòa thượng! Ngay sát vách đó! Nằm ở sát vách với hoàng cung, ông ta xây một ngôi chùa, chính là đi sang chùa ở sát vách để làm hòa thượng. Rồi tất cả thần tử lại kéo ông ta về, lôi trở về, thế thôi, ông ta lại làm hoàng đế, đến khi gặp chuyện khó khăn lại đi làm hòa thượng, rồi lại bị lôi trở về. Đến lần thứ ba lại đi làm hòa thượng, lại bị lôi về… thật là báo ứng! Vì thế, đến cuối cùng, ông ta chết đói tại hoàng cung. Tôi giảng lan man đi đâu mất rồi…? Không phải tôi phê bình Lương Vũ Đế, tôi nói cho bạn biết, Lương Vũ Đế là Phật tâm thiên tử, ông ta đã xây rất nhiều chùa. Thai sinh, thấp sinh, việc ăn chay là do ai tạo ra? Là Lương Vũ Đế. Điểm giới sẹo là do ai tạo ra? Lương Vũ Đế. Bởi vì Phật giáo Trung Nguyên chính là do ông ta làm như vậy nên mới có điểm giới sẹo, mới có ăn chay, những việc này là do Lương Vũ Đế làm.

Hóa sinh, thế nào là hóa sinh? Là hóa ra từ trong không khí! Con vi khuẩn Covid-19 là từ không khí hóa ra, là hóa sinh, nó có thể biến chủng! Bạn có biết không? Đóng cửa ở trong nhà từ sáng tới tối thì cũng mắc bệnh sưng phù, biến thành phù to lên, béo mập ra, đều sẽ biến thành phù lên. Nó có thể hóa sinh biến chủng đó! Hai loại kết hợp lại với nhau rồi biến hóa, đó chính là hóa sinh. Còn có thai sinh, con người chúng ta là thai sinh. Rất nhiều động vật cũng là thai sinh, cũng có rất nhiều động vật là noãn sinh, đại bộ phận loài chim đều là noãn sinh, có rất nhiều động vật là thai sinh, và cũng có rất nhiều là noãn sinh.

Bốn hình thức sinh ra này, thế nào nhỉ… nói điều này là có ý nghĩa gì? Bình đẳng. Hoặc có sắc, hoặc không sắc, hoặc hữu tưởng, hoặc vô tưởng, hoặc không phải hữu tưởng không phải vô tưởng, ta đều cho vào Vô dư niết bàn mà diệt độ. Bình đẳng, bình đẳng diệt độ. Thế nào là Vô dư niết bàn? Giờ hỏi mọi người, tôi đã từng nói rồi, người nào giơ tay trả lời Vô dư niết bàn? Tôi đã giảng rồi, mọi người đều không nhớ được sao? Thế nào là Vô dư niết bàn? Là không còn nhân duyên Sinh, cũng không còn nhân duyên Tử, đó là Vô dư niết bàn đó! Bạn sẽ không sinh ra nữa, bạn cũng sẽ không chết nữa, đây gọi là Vô dư niết bàn. Giảng cho mọi người chẳng có tác dụng gì cả, giảng xong mọi người đều quên… so với trí nhớ kém cỏi của lão già tôi đây thì trí nhớ của mọi người còn kém hơn. 

Hoặc có sắc, tôi hỏi bạn, chữ sắc này là ý gì? Tôi nói cho bạn biết, chữ sắc này không phải là sắc trong từ háo sắc đâu. *Hou sek* (tiếng Quảng, ý là ngon), háo sắc… à, là ngon à? Ngon và háo sắc không giống nhau! Có sắc nghĩa là có hình tượng. Hoặc không sắc, là không có hình tượng. Bạn nói xem cái gì là không có hình tượng? Vi khuẩn này, bạn có nhìn thấy chúng không? Chúng không có hình tượng! Nhưng Covid-19 thì có hình tượng, nó có hình cầu, đội thêm cái chóp, dưới kính hiển vi có thể nhìn thấy. Khi đó chúng ta gọi chúng là không sắc, đó là vô sắc. Ma cũng không có hình tượng, *ghost *[ma]* *không có hình tượng.

Hoặc có sắc, hoặc không sắc, trung ấm cũng không có hình tượng. Hoặc hữu tưởng, là có tư tưởng, có suy nghĩ, và không có suy nghĩ. Thế nào là thứ không có suy nghĩ? Thực vật đều có suy nghĩ, hòn đá, nó có suy nghĩ không? Thật ra nếu nói cho đúng thì vẫn là có… bạn xem đá quý, đá quý có tồn tại từ tính. Bạn chặt nó làm đôi, từ tính của nó sẽ giảm đi một nửa, một nửa này không phát sáng được. Một nửa kia nó vẫn có từ tính, một nửa kia thì không có. Bây giờ khoa học đã chứng minh như vậy. Muốn tìm ra được những thứ thật sự không có tư tưởng là rất khó.

Hoặc không phải hữu tưởng không phải vô tưởng, cũng không phải là hữu tưởng cũng không phải là vô tưởng, nghĩa là ở giữa. Có lúc có suy nghĩ, có lúc không có suy nghĩ, thì Phật Thích Ca Mâu Ni đều cho vào Vô dư niết bàn mà diệt độ. Vừa nãy tôi đã giải thích thế nào là Vô dư niết bàn rồi, không còn nhân duyên Sinh, cũng không còn nhân duyên Tử, thì đó là Vô dư niết bàn. Diệt độ là chữ diệt cuối cùng, là diệt trong Tứ thánh đạo, độ tương đương với độ hóa, độ hóa cho chúng sinh.

Như vậy, diệt độ vô lượng vô số vô biên chúng sinh, chúng sinh mà Phật độ hóa là vô lượng vô biên, ai muốn làm như vậy? Như vậy, diệt độ vô lượng vô số vô biên chúng sinh, có ai muốn như vậy? Có một người… Có một vị Bồ Tát làm điều đó, ngài ấy ở trước mặt rất nhiều vị Phật và phát nguyện rằng: "Tôi muốn độ hóa tất cả chúng sinh, nếu tôi không độ hóa những chúng sinh này, nếu tôi không làm theo lời thề nguyện của tôi, đầu tôi sẽ vỡ thành mười phần." Đó là Quan Thế Âm Bồ Tát, ngài đã phát lời thề này, khi ấy có thập ức câu tri Phật, một câu tri chính là mười triệu, ở trước mặt mười ức câu tri Phật, nghĩa là ở trước mặt vô lượng vô số Phật mà phát nguyện, đó là Quan Thế Âm Bồ Tát. Ngài ấy muốn độ hóa chúng sinh, nếu như ngài ấy không làm đúng theo mà thối lùi cái tâm lúc đó, tâm của ngài thay đổi, thì đầu ngài sẽ bị vỡ thành mười phần. Đây là lời thề của Quan Thế Âm Bồ Tát, Quan Thế Âm Bồ Tát rất từ bi, chúng sinh mà ngài ấy độ hóa là nhiều nhất. Hôm nay tạm thời giảng đến đây thôi! Om mani padme hum.

*(Ngày 28/08/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Liên Hoa Sinh Đại Sĩ Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 10.)*


### 11. Phần thứ 3: Đại thừa chính tông (1)


*(Bài giảng 11) *Ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng

(Tiếp tục bài giảng trước) *Ta đều cho vào Vô dư niết bàn mà diệt độ. Như vậy, diệt độ vô lượng vô số vô biên chúng sinh, nhưng thật ra không có chúng sinh nào được diệt độ. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, thì không phải là Bồ Tát. *

Bây giờ chúng ta nói về *"Ta đều cho vào Vô dư niết bàn mà diệt độ. Như vậy, diệt độ vô lượng vô số vô biên chúng sinh, nhưng thật ra không có chúng sinh nào được diệt độ."* Câu này là quan trọng nhất! Bạn nói xem, chúng ta độ hóa chúng sinh, thật ra không có chúng sinh nào để mà bạn có thể diệt độ. Quan Thế Âm Bồ Tát phát nguyện muốn cứu độ tất cả chúng sinh, đến cuối cùng ngài ấy phát hiện ra, những chúng sinh mà ngài đã độ không tăng cũng không giảm (không tăng thêm cũng không giảm bớt), chúng sinh vẫn là chúng sinh, không ít đi dù chỉ một người. Quan Thế Âm Bồ Tát vô cùng nản lòng, thế là đầu của ngài liền vỡ thành mười phần, vì đã chùn bước rồi, không độ hóa chúng sinh nữa, mất lòng tin rồi, nên đầu vỡ thành mười phần. Sư phụ của ngài là A Di Đà Phật vội vã đến, khẩn trương biến các mảnh đầu của ngài (toàn bộ mười mảnh vỡ) thành mười cái đầu, biến mỗi phần đầu thành một khuôn mặt, rồi lại cộng thêm bản thân Bồ Tát đứng ở trên, thế là thành mười một cái đầu, rồi biến thành Quan Thế Âm Bồ Tát nghìn tay nghìn mắt.

A Di Đà Phật đến nói với Quan Thế Âm Bồ Tát: "Ngươi thật là đứa trẻ ngốc! Ngươi thật ngốc quá!" A Di Đà Phật đã sắp xếp tổ hợp lại từ đầu, thế là biến thành Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát. Thật không có chúng sinh nào được diệt độ, là vì sao? Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, thì không phải là Bồ Tát. Đây chính là đáp án. 

Thích Liên Thùy là ai? Lôi Phong Bồi, anh trả lời câu hỏi này thế nào? Tôi hỏi anh: "Anh là ai?" Anh hãy trả lời câu hỏi này. Tổ sư Đạt Ma đã từng trả lời rồi. Lương Vũ Đế hỏi Tổ sư Đạt Ma: "Người ở trước mắt ta là ai?" Tổ sư Đạt Ma trả lời thế nào? Mọi người có trả lời được không? Rất đơn giản, mọi người đều đã đọc qua điển tích này rồi. Lương Vũ Đế hỏi: "Người đứng trước mặt ta đây là ai?" Hỏi Tổ sư Đạt Ma như vậy. Tổ sư Đạt Ma trả lời thế nào? Có ai biết không? Ôi, chuỗi hạt này (Sư Tôn cầm chuỗi hạt ở trên bàn lên), chà chuỗi hạt này đẹp quá! Thích Liên Thùy, anh trả lời xem nào. Anh ta im thin thít kìa. Mọi người trả lời đi, ai nói trúng thì có thưởng. (Một đệ tử nào đó nói: không biết.) Không biết ư? Không biết vẫn chưa được, vẫn chưa hoàn toàn nói đúng. Mới được tạm một nửa. Thôi giữ lại, không tặng nữa!

Ở đây nói đến: Nếu Bồ Tát có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, thì không phải là Bồ Tát. Hỏi mọi người, ngã tướng, đương nhiên biết rồi, vô ngã tướng. Nhân tướng, mọi người biết rồi, ngã tướng chính là cá thể, nhân tướng chính là hình tướng của cá thể. Chúng sinh tướng, cái gọi là chúng sinh tướng là rất rất nhiều chúng sinh. Thọ giả tướng nghĩa là sự dài ngắn của thời gian, thời gian dài ngắn. Thật ra, theo những gì Phật nói, cái gọi là ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, thì chúng sinh tướng chính là không gian, thọ giả tướng chính là thời gian. Một vị Bồ Tát (Bodhisattva) nếu còn có cái tâm ngã ở trong đó, cùng cái tâm "tôi là một con người" ở trong đó, còn có những chúng sinh khác ở trong đó, còn có thọ mạng của tôi dài bao nhiêu ở trong đó, thế thì đây không phải là Bồ Tát. Ý nghĩa chính là nằm ở đây.

Ý nghĩa của nó, ý nghĩa rất quan trọng trong kinh Kim Cang, vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, cái này đại diện cho… Tôi hỏi bạn nhé, thời gian bây giờ là mấy giờ? Bây giờ là 4 giờ 56 phút, thời gian này là do ai định ra? Là con người định ra. Tôi nói cho bạn biết nhé, làm gì có thời gian? Không có thời gian. Thời gian là do con người đặt ra. Mọi người thử nghĩ một chút mà xem, hôm nay nếu không có thời gian, con người sẽ… giống như bây giờ chúng ta đang là năm 2021, là bắt đầu tính từ lúc chúa Jesus của đạo Cơ Đốc ra đời, đạo Cơ Đốc bắt đầu từ chúa Jesus, năm dương lịch hiện tại là năm 2021. Khi ấy, thời của chúa Jesus là hơn 2000 năm trước, nhưng hơn 2600 năm trước Phật Thích Ca Mâu Ni đã đản sinh rồi, Phật còn sớm hơn cả Jesus, còn Lão Tử của Trung Quốc lại càng sớm hơn cả Phật Thích Ca Mâu Ni, còn sớm hơn nữa. Đó đều là dùng thời gian để tính toán. 

Thời gian là ai định ra? Là con người định ra. Vô thọ giả tướng nghĩa là thời gian không còn nữa, vì thời gian đã không còn, nếu như không có thời gian, thì còn có nhân duyên hòa hợp gì nữa chứ. Không có nhân duyên hòa hợp gì. Không có không gian, tôi nói cho bạn biết, vô chúng sinh tướng, vì đã không còn chúng sinh thì còn có nhân duyên hòa hợp cái gì nữa. Không còn, nhân duyên cũng không còn nữa. Tất cả nhân duyên sinh, tất cả nhân duyên diệt, đều không còn gì nữa. Vậy cái mà Phật pháp nói đến (vừa nãy điều mà Liên Thùy hỏi chính là ở đây) nhấn mạnh tất cả đều là do nhân duyên mà sinh ra, sinh diệt vô thường, duyên khởi tính Không chăng? Ngay cả duyên khởi cũng không còn, không còn chúng sinh tướng thì làm gì có duyên khởi gì đây. Vì thế toàn bộ cái này đều là phiến diện, tất cả Phật pháp cũng là phiến diện, còn có Phật gì đây? Không Phật, không chúng sinh. Ngã tướng, nhân tướng, cái này càng thấp cấp. Lại còn thêm Bồ Tát có ngã tướng ư? Bồ Tát là nghĩ vì chúng sinh, không nghĩ vì bản thân. Bạn vẫn còn vì bản thân ư? A Di Đà Phật! Thế thì bạn không phải là Bồ Tát.

Vì thế, người học Phật chúng ta, dựa theo cuộc sống của mình, dựa theo việc tu hành mỗi ngày của mình mà làm, điều bạn làm không phải vì bản thân, mà là làm vì chúng sinh. Bạn làm pháp lục độ — bố thí, nhẫn nhục, trì giới, trí huệ, thiền định, tinh tấn, làm pháp lục độ là Bồ Tát, không làm vì bản thân, bạn làm vì chúng sinh. Thật ra, khi bạn làm điều này mà trong mắt không có chúng sinh, nhưng bản thân bạn vẫn cứ làm như vậy, thì cái này mới là Bồ Tát chân chính. Còn nếu như bạn làm pháp lục độ, mà trong mắt vẫn còn có chúng sinh thì cũng không phải. Vì thế, chúng ta nói tam luận thể không: không có người làm pháp lục độ, cũng không có người nhận pháp lục độ, cũng không có sự việc làm hoặc nhận, đây mới là Bồ Tát.

Nói thế này đã là rất sâu rồi. Tôi nói điều này đã là rất sâu rồi. Vì thế, hôm nay tôi thuyết pháp ở đây: Sư Tôn ở đây thuyết pháp, nhưng không có người thuyết pháp. Mọi người ở dưới nghe pháp, nhưng không có người nghe pháp. Cũng không có việc thuyết pháp này. Đây mới là điều chính xác. Vì thế, nếu có người nói Phật Thích Ca Mâu Ni có thuyết pháp thì chính là đang phỉ báng Phật. Nói thế mọi người có hiểu không? Ở đây ý nghĩa rất sâu đó! Nếu Bồ Tát có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, tức là không phải Bồ Tát. Tất cả Phật pháp đều phá bỏ hết. Liệu có phải là giảng quá sâu một chút rồi không? (Đệ tử: xin Sư Tôn giải thích một lần nữa.) Không có người giảng (không có người thuyết pháp), cũng không có người nghe pháp, cũng không có sự việc thuyết pháp này.

Vì thế, Lương Vũ Đế xây nhiều chùa như vậy, tự cho rằng công đức của mình rất cao, nhưng trước mặt Đạt Ma thì không đáng giá một đồng. Lương Vũ Đế hỏi Đạt Ma rằng: "Ta xây nhiều chùa như vậy, nuôi dưỡng nhiều hòa thượng như vậy, công đức của ta thế nào?" Đạt Ma chỉ nói một câu: "Không có công đức." Lời Đạt Ma nói mới là đúng. Lương Vũ Đế vừa nghe nói rằng không có công đức thì ông ta liền tức giận, không nghe lời Đạt Ma nữa. Đạt Ma đi rồi, ông ta còn phái quân đi truy sát Đạt Ma nữa. Khi đó, Chí Công hòa thượng, Chí Công cũng là một cao tăng đắc đạo, mới đến nói với Lương Vũ Đế rằng: "Điều ngài ấy nói mới là đúng. Điều Đạt Ma nói mới là đúng." Thế rồi mới tìm ngài ấy về, nhưng không đưa về được, ngài đã đến nước Ngụy rồi (chính là Bắc Ngụy, Nam Lương Bắc Ngụy), không đưa ngài ấy về được!

Lương Vũ Đế vẫn còn chưa đến được trình độ đó, nhiều nhất ông ấy cũng chỉ là một tín đồ Phật giáo mà thôi. Ông ta rất háo sắc, hôm qua tôi đã nói rồi đúng không? Gió thổi qua, thổi tốc váy của cung nữ lên, ông ta nhìn thấy là thèm nhỏ dãi, tối đó liền muốn cô cung nữ đó, kết quả là lại sinh con. Đứa con này là cung nữ sinh ra, những đứa con do các phi tần sinh ra đều coi thường đứa con này, cuối cùng đứa con này đã chiếm quân đội hùng hậu, anh ta cũng là con trai của Lương Vũ Đế, chỉ là mẹ của anh ta tương đối thấp hèn mà thôi, cô ta chỉ là một cung nữ. Từ nhỏ đứa con trai này đã bị các A Ca lớn bắt nạt, cuối cùng anh ta đã nắm lấy một lực lượng quân đội hùng hậu.

Lương Vũ Đế hỏi Chí Công: "Sau này ta sẽ gặp phải chuyện gì?" Chí Công không dám trả lời, chỉ vào yết hầu và cổ của mình, kết quả là một phản tướng của Đông Ngụy tên là Hầu Cảnh đã bao vây đánh Lương Vũ Đế. Khi ấy, Hầu Cảnh rời bỏ Đông Ngụy, Lương Vũ Đế đầu hàng, sau đó ông ta quy thuận Nam Lương. Lương Vũ Đế đóng đô tại Kiến Khang, chính là Nam Kinh. Khi Lương Vũ Đế bị Hầu Cảnh bao vây, vây thành, khi toàn bộ hoàng cung bị bao vây, đứa con trai của cung nữ nắm đội binh hùng hậu, anh ta là người nhỏ nhất trong số các A Ca, anh ta nắm quân đội hùng hậu, anh ta chỉ cần xuất binh là có thể giải cứu được Lương Vũ Đế, nhưng anh ta đã không xuất binh, kết quả là Lương Vũ Đế đã chết đói. Bởi vậy, thật ra Lương Vũ Đế cũng là một hoàng đế rất tốt, ông ta không muốn bị như vậy, nhưng sau khi lên làm hoàng đế rồi thì đã thay đổi. Đây cũng là lịch sử, thế nên gọi là "sóng cuốn trôi hết cả những nhân vật anh hùng thiên cổ." Om mani padme hum.*

(Ngày 29/08/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Câu Tài Thiên Nữ tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 11.)*


### 12. Phần thứ 3: Đại thừa chính tông (2)


*(Bài giảng 12) *Vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng

*Phật bảo Tu Bồ Đề: "Chư Bồ Tát Ma Ha Tát nên hàng phục tâm như thế này! Cần nghĩ tất cả các loài chúng sinh hoặc sinh từ trứng, hoặc sinh từ bào thai, hoặc sinh nơi ẩm thấp, hoặc biến hóa mà sinh ra, hoặc có sắc, hoặc không sắc, hoặc hữu tưởng, hoặc vô tưởng, hoặc không phải hữu tưởng không phải vô tưởng, ta đều cho vào Vô dư niết bàn mà diệt độ. Như vậy, diệt độ vô lượng vô số vô biên chúng sinh, nhưng thật ra không có chúng sinh nào được diệt độ. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, thì không phải là Bồ Tát. *

Có người hỏi: "Trong phần thứ 3: Đại thừa chính tông, vì sao Sư Tôn giảng chúng sinh tướng, thọ giả tướng, thọ giả tướng là chỉ thời gian, chúng sinh tướng là thuộc về không gian, không có không gian, không có thời gian thì có gì tốt?" Có người hỏi vấn đề này. Chúng sinh tướng… Phần thứ 3: Đại thừa chính tông, "chúng sinh tướng" và "thọ giả tướng", "vô ngã tướng".

Vô ngã tướng… Nếu Bồ Tát có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, thì không phải là Bồ Tát. Vậy thì nhất định phải không có rồi! Thế còn chúng sinh tướng, Sư Tôn nói, chính là không gian. Thọ giả tướng là thời gian. Tôi nói với mọi người, thọ giả tướng là thời gian, tuổi thọ đại diện cho thời gian. Vì sao? Có người trường thọ, có người đoản thọ, có người sống lâu, có người sống rất dài, cái này gọi là thọ giả tướng. Nếu như không có thời gian, trong Phật giáo gọi là "tam tế nhất như". Thế nào là tam tế nhất như? Quá khứ, hiện tại, vị lai đều thành một khối. Sư Tôn có thể biết đời quá khứ, có thể biết đời tương lai của mình, vì sao tôi có thể biết được? Bởi vì đó là vô thọ giả tướng, không có thời gian, thời gian đều là do con người tạo ra.

Bạn xem đó, *I miss you every year, every month, every second, every minute, every second, every hour. I miss you.* (Anh nhớ em từng năm, từng tháng, từng giây, từng phút, từng giờ. Anh nhớ em.) Đây là lời những người yêu nói với nhau. Là lời mà trước đây tôi nói (Sư Tôn cười). Bây giờ thì không nói nữa, không biết nữa rồi. *Every second, I miss you.* Chà, cái này thật lợi hại, trong từng giây đều đang nhớ. Ở đây, năm, tháng, ngày, giờ, phút, giây, hàng tuần, cứ thế từ đầu tới cuối, toàn bộ đều là con người đặt ra, vốn dĩ không có thời gian, đều là do bản thân con người thiết lập ra. Vô thọ giả tướng, ai có thể thật sự tính được, thiên địa huyền hoàng, vũ trụ hồng hoang, ai có thể tính ra được là bao lâu?

Đương nhiên rồi, Phật giáo có nói, Phật Thích Ca Mâu Ni có nói, chính là nói về kiếp: đầu tiên chính là Sơ kiếp, kiếp cuối cùng gọi là Câu lạc kiếp, kiếp hiện tại gọi là Hiền kiếp. Trong Phật giáo có nói, Hiền kiếp có nghìn vị Phật, có không? Hiền kiếp thiên Phật. Vì thế, khi bạn tu hành chứng được vô thọ giả tướng, bạn có thể trở về quá khứ. Quá khứ tôi là ai, là ai… tôi đều có thể nói được ra. Sau này tôi sẽ ra sao, tôi có thể nói được ra, tam tế nhất như mà! Quá khứ hiện tại vị lai, tam tế nhất như là cùng một thời gian, cùng một lúc, thì gọi là vô thọ giả tướng. Có được lợi ích này.

Vô chúng sinh tướng thì là buổi tối hôm nay tôi muốn đến nơi nào, tôi không có khái niệm không gian. Tôi muốn đi tìm bạn, tôi liền đi tìm bạn, bất kể bạn sống ở đâu, bạn sống ở Malaysia cũng được, sống tại Đài Loan cũng được, sống tại nước Anh cũng được, sống tại Pháp, tại Thụy Điển, tại bất kì nơi nào… Iceland, thậm chí sống tại Nam Cực, Bắc Cực, tôi đều có thể đến, bởi vì tôi không còn khái niệm không gian. Khi bạn tu hành đạt đến không còn không gian, thì điều càng lợi hại hơn là, bạn muốn đến thế giới Cực Lạc, đến thế giới, đến Phật quốc, đến thế giới Viên Thông của Quan Thế Âm Bồ Tát, đến tịnh thổ Thúy Vi của Địa Tạng Vương Bồ Tát, đến thế giới Cực Lạc của A Di Đà Phật, đến thế giới Diệu Hỉ của A Súc Phật, đến chỗ nào bạn cũng đều có thể đi được hết.

Cái này gọi là "không còn không gian". Chớp mắt một cái là bạn đã đến nơi rồi, tôi không cần phải tốn rất nhiều thời gian để đi bằng máy bay, hay là cưỡi mây đạp sương, hay là như ta vẫn nói là niệm chú một lát, một đám mây liền hạ xuống, bạn ngồi trên đám mây đó, rồi đám mây chở bạn đi, không cần phải thế. Vô chúng sinh tướng nghĩa là không còn không gian, lợi ích còn có rất nhiều nữa, tôi nói với mọi người, đúng thế không. Chà, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, vô nhân tướng, vô ngã tướng, đây là điều Phật Thích Ca Mâu Ni nói với Tu Bồ Đề.

Mọi người biết ngôi chùa Jokhang, chùa Ramoche đều có các bức tướng của Phật Thích Ca Mâu Ni, đúng vậy không? Có tướng Phật Thích Ca Mâu Ni 8 tuổi, có thân tướng Phật Thích Ca Mâu Ni trong độ tuổi 12. Bức tướng ở chùa Jokhang là do công chúa nào tặng? Có một người là công chúa Xích Tôn ở Nepal tặng. Còn bức kia là do một người là công chúa Văn Thành của triều Đường tặng. Công chúa Văn Thành lấy bức tướng mấy tuổi? Khi công chúa gả vào hoàng cung Tây Tạng đã đem theo bức tướng 12 tuổi. Còn công chúa Xích Tôn thì đem theo bức tướng 8 tuổi, hai bức tướng của Phật Thích Ca Mâu Ni, một bức để ở chùa Jokang, một bức để ở chùa Ramoche, có đúng không? Một bức là 12 tuổi, một bức là 8 tuổi, hai bức tướng này là từ đâu đến?

Làm sao mà một bức từ Trung Quốc đến vùng đất tuyết, đến Tây Tạng, một bức thì từ Nepal đến Tây Tạng, là ai điêu khắc? Ai đem cho vật liệu? Mọi người có biết không? Đều không ai biết à? Bồ Tát Di Lặc cho vật liệu, người điêu khắc là Công Tượng Thiên. Di Lặc Bồ Tát đã bỏ ra rất nhiều vàng bạc, châu báu của ngài, tập hợp lại, tặng cho Công Tượng Thiên, Công Tượng Thiên đã chế tác ra bức thân tướng Phật Thích Ca Mâu Ni 12 tuổi và 8 tuổi. Vì sao lại có bức thân tướng Phật Thích Ca Mâu Ni 8 tuổi và 12 tuổi? Có ai biết khi ấy Phật Thích Ca Mâu Ni cao bao nhiêu không? Có ai biết không?

Khi xưa, lúc điêu khắc ra bức tướng này, Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói với Công Tượng Thiên: "Anh hãy điêu khắc thân tướng 8 tuổi và 12 tuổi của ta." Công Tượng Thiên đó nói: "Tôi không biết lúc 8 tuổi thì ngài cao bao nhiêu, cũng không biết lúc ngài 12 tuổi thì cao bao nhiêu?" Thế là Phật Thích Ca Mâu Ni nói với anh ta rằng: "Có một nhũ mẫu khi ta còn nhỏ vẫn còn sống…" nghĩa là nhũ mẫu mà cho ngài bú sữa vẫn còn sống, "… nhũ mẫu đưa ta đến một nơi, anh hãy đến hỏi nhũ mẫu của ta là biết được khi 8 tuổi ta cao bao nhiêu, khi 12 tuổi ta cao bao nhiêu."

Kết quả là Công Tượng Thiên liền tìm đến nhũ mẫu đó. Nhũ mẫu bảo anh ta rằng: "Tôi biết. Khi Phật Thích Ca Mâu Ni còn nhỏ tôi cho ngài uống sữa, tại một cái chòi nghỉ mát ở thành Ca Tì La Vệ, ở đó có hai bức tượng, một bức vóc dáng tương đối nhỏ, một bức vóc dáng tương đối cao, bức nhỏ chính là Phật Thích Ca Mâu Ni lúc 8 tuổi, bức cao chính là Phật lúc 12 tuổi, anh hãy tới đó mà đo." Công Tượng Thiên đó đi đo, thế là biết được khi 8 tuổi Phật Thích Ca Mâu Ni cao bao nhiêu, khi 12 tuổi Phật Thích Ca Mâu Ni cao bao nhiêu.

Sư Tôn biết được những sự việc trong quá khứ này của Đức Phật. Vì sao ngài biết những việc này chứ? Thân tướng lúc 8 tuổi, thân tướng lúc 12 tuổi, cúng tại chùa Jokhang, chùa Ramoche. Chùa Jokhang, chùa Ramoche ở Tây Tạng, làm sao ngài biết được đo được bao nhiêu tấc, thân hình ra sao, vì sao mà ngài biết được? Bởi vì, tôi đã là vô chúng sinh tướng, tôi đã vô thọ giả tướng. Khi tôi vô chúng sinh tướng thì tôi có thể đi đến bất kì chỗ nào. Khi vô thọ giả tướng, tôi có thể trở về quá khứ, đương nhiên tôi biết được! Còn mọi người có biết không? Biết làm sao được! Mấy giờ rồi nhỉ? 10 giờ 13 phút à? Chà, hôm nay tôi kể chuyện xưa cho mọi người nghe rồi. 

Tu Bồ Đề, Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, A Nan, bốn người này. Nếu như bạn đi xem bốn người này, sau lưng bức thân tướng của Phật Thích Ca Mâu Ni lúc 8 tuổi và thân tướng lúc 12 tuổi có bốn đệ tử của ngài. Bốn người này được điêu khắc đứng sau lưng Phật Thích Ca Mâu Ni, có bốn bức tướng, chính là Xá Lợi Phất, Tu Bồ Đề, Mục Kiền Liên, A Nan. Vì sao không có Đại Ca Diếp? Bởi vì khi đó Đại Ca Diếp đã rời khỏi tăng đoàn rồi, vì ngài ấy cãi nhau với A Nan, nên ngài muốn rời khỏi tăng đoàn.

Phật Thích Ca Mâu Ni giữ ngài ấy ở lại, nói "ông đừng bỏ đi, ông đừng đi", Phật Thích Ca Mâu Ni giữ ông ấy ở lại tăng đoàn. Ông ấy nói, tôi thật sự không thấy có lí do gì để ở lại, mọi người sống và ăn mặc tốt như vậy, tôi theo hạnh đầu đà, vẫn phải theo pháp của Thanh Văn. Thế nào gọi là Thanh Văn? Tôi hỏi mọi người, vì sao gọi là Thanh Văn? Bên cạnh Phật Thích Ca Mâu Ni có mười đại Thanh Văn, chính là mười đại A La Hán. Vì sao gọi là Thanh Văn? Thế nào gọi là Thanh Văn?

Tôi nói cho bạn biết, Thanh Văn chính là tận tai nghe được Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp, thì gọi là tai nghe được âm thanh của Phật Thích Ca Mâu Ni, nghe được tiếng nói của Phật Thích Ca Mâu Ni, người nghe Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp mà thành tựu thì gọi là Thanh Văn. Mọi người hiểu chứ? Hôm nay tôi nói điều này, bạn xem, Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Tu Bồ Đề và A Nan, đều ở phía sau thân tướng 8 tuổi và 12 tuổi của Phật, bốn người này, khi xưa bốn người này ở gần Đức Phật nhất. Tôi biết, mọi người đến chùa Jokhang, chùa Ramoche xem những bức tượng này, bốn trong số mười đại đại A La Hán, bốn vị trong số đó đều có tượng điêu khắc ở sau lưng Phật.

Ngày mai tôi sẽ bắt đầu giảng "Phần thứ tư: Diệu hạnh vô trụ". Tôi nói cho bạn biết nhé, hôm nay tôi giảng cái này là bí mật đó, không được nói ra ngoài đâu đấy! Không có ai biết đâu, cái này buộc phải vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng mới có thể biết được, không có ai biết đâu! Mọi người đã biết được căn nguyên của bức thân tướng 8 tuổi, bức thân tướng 12 tuổi của Phật. Ngoài ra, các bức tướng sau lưng ngài là gì, chỉ có Sư Tôn biết thôi! Om mani padme hum.

*(Ngày 04/09/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Liên Hoa Đồng Tử Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 12.)*


### 13. Phần thứ 4: Diệu hạnh vô trụ (1)


*(Bài giảng 13) *Vô tướng bố thí

Hôm nay chúng ta giảng Kinh Kim Cang. Phần thứ 4: Diệu hạnh vô trụ.

*"Tiếp nữa, Tu Bồ Đề! Trong pháp, Bồ Tát nên vô sở trụ mà làm việc bố thí, gọi là không bám vào sắc tướng mà bố thí, không bám vào thanh, hương, vị, xúc, pháp mà bố thí. Tu Bồ Đề, Bồ Tát nên bố thí như vậy, đừng trụ vào tướng. Vì sao như vậy? Nếu Bồ Tát không trụ vào tướng mà bố thí thì phúc đức ấy bất khả tư lượng."
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Hư không phương đông có thể đoán chừng được không?"
"Không thể, thưa Thế Tôn!"
"Tu Bồ Đề! Hư không phương nam, tây, bắc, bốn phương phụ, phương trên phương dưới có thể đoán chừng được không?"
"Không thể, thưa Thế Tôn!"
"Tu Bồ Đề! Bồ Tát bố thí mà không bám trụ vào tướng thì phúc đức cũng bất khả tư lượng như vậy. Tu Bồ Đề! Bồ Tát chỉ nên trụ tâm theo như điều đã dạy."*

Phần thứ 4: Diệu hạnh vô trụ. Diệu hạnh, diệu hạnh mà ở đây nói đến chính là bố thí. Là Bồ Tát, bạn muốn làm một Bồ Tát đăng địa, bố thí là việc số một cần phải làm. Trong kinh Kim Cang gọi đó là diệu hạnh. Một loại hành vi rất tốt được gọi là diệu hạnh. 

Đoạn này, tôi cảm thấy Guru Jesus của tôi cũng đã từng nói rồi, trong Kinh Thánh cũng có nói đến. Tôi thường nói, tay phải làm việc thiện đừng để tay trái biết, tay trái làm việc thiện đừng để tay phải biết. Câu nói này của Jesus chính là làm diệu hạnh vô trụ. Đây là điều mà Jesus đã từng nói trong Kinh Thánh, tay phải làm việc thiện đừng để tay trái biết, tay trái làm việc thiện đừng để tay phải biết, như thế là vô trụ rồi. 

Nếu mà bạn hữu trụ bố thí thì đó là tình trạng gì? Nghĩa là bạn cố ý làm điều đó! "Tôi phải đi làm việc thiện đây." Trước khi làm việc thiện mà bạn lại nói: "Tôi phải đi bố thí đây!" Thế thì đó là cố ý bố thí, công đức đó chỉ nằm trong việc bố thí của bạn mà thôi, một sự bố thí rất nhỏ bé. Bạn quên luôn cả việc bố thí, thì đây gọi là… Chúng ta ở United States, Texas, vì sao có Lôi Tạng Tự gọi là Tam Luân Lôi Tạng Tự nhỉ? Tôi đặt tên cho nó là Tam Luân Lôi Tạng Tự, khi tôi viết "Tam Luân Lôi Tạng Tự", mọi người trông thấy nói là xe ba bánh, bây giờ làm gì có xe ba bánh chứ?

Chúng ta nói: *xe ba bánh chạy rất nhanh, trên xe có bà già đanh, đòi năm chục đưa một "cành", thế có phải là sang chảnh*? Vì sao xe ba bánh chạy rất nhanh, trên xe có bà già đanh, đòi năm chục đưa một "cành"? Bởi vì người kéo xe là tình nhân trong quá khứ của bà già, khi trở về nhà bà ấy đã ngồi trên xe ba bánh của ông ta, thấy người yêu cũ vẫn còn phải kéo xe ba bánh, vì thế xe ba bánh đó chạy tới, đòi năm chục, bà ấy đưa hẳn một trăm, đồng cảm với hoàn cảnh của ông ta.

Tôi không bảo Tam Luân Lôi Tạng Tự là xe ba bánh đâu, mà trọng điểm của nó là "tam luân thể không". Bạn bố thí phải là không có người bố thí, không có người nhận bố thí, không có vật bố thí, đó gọi là bố thí không bám trụ vào sắc tướng, gọi là tam luân thể không. Đây là một cảnh giới rất cao, bạn thật sự muốn làm việc thiện, không cần phải nói ra rằng "tôi đang làm việc thiện đây", bất kể thời gian nào bạn cũng đều đang làm việc thiện. Không có tiền làm sao làm việc thiện? Có người hỏi tôi: "Tôi không có tiền làm sao làm việc thiện?" Có thể chứ, cười với người khác một cái, bạn không làm được sao?

Một nụ cười, bạn đừng có kiểu như… (Sư Tôn làm bộ mặt khó đăm đăm) "để tôi xem anh nợ tôi bao nhiêu tiền", đó không phải là làm việc thiện. Người ta đến nhà bạn thì bạn hỏi "Đến làm gì? Anh đến đây làm cái gì?" Người ta mắc nợ bạn sao? Hãy cười với người ta một cái: "Hoan nghênh!" Sau đó cười với họ: "Mời ngồi! Mời ngồi!" Đừng giống như mấy người canh cổng, gác cổng của Lôi Tạng Tự chúng ta cứ ngồi bên trong mà tiếp đãi. Vào lúc đó, có người đi vào, bạn hãy cười tươi hoan nghênh họ, phải tự nhiên một chút: "Chào mừng bạn đến thăm." "Xin hỏi có phải bạn đến bái Phật không?" "Xin hỏi bạn đến rút thẻ phải không?" "Xin hỏi có phải bạn đến khu bán đồ Phật giáo để thỉnh đồ không?" "Xin hỏi…" Thế rồi bạn dắt họ đi, rất chào đón họ, đây chính là cúng dường đó. Không được như thế này: có người đến (Sư Tôn làm động tác xua tay để bảo người ta đi mau đi), không được như thế! Ở nơi bán đồ Phật giáo, khách hỏi: "Xin hỏi món này bao nhiêu tiền?" "Đừng hỏi bao nhiêu tiền, muốn mua thì mua!" Không được thế! Bạn như thế có phải là bố thí không? "Nếu bạn thích, nhưng bạn lại không có tiền, thì bạn cứ cầm về đi." "Nếu bạn thích, nhưng không đủ tiền, bạn cứ cầm về đi, lần sau cầm tiền đến đưa cho tôi cũng được." Thế thì tốt bao nhiêu! Đó là bố thí đó!

Bạn có biết không, Dagchen Rinpoche, Pháp Vương của phái Sakya, chính là Pháp Vương phái Sakya của chùa Sakya của chúng ta ở đây, Dagchen Rinpoche. Chỉ có hai vị Pháp Vương phái Sakya thôi, một người là Trizin (Trizin ở Ấn Độ), một người ở Seattle, chính là Dagchen. (Dagchen Rinpoche viên tịch ngày 29 tháng 4 năm 2016). Dagchen Rinpoche và Sư Tôn cùng làm hỏa cúng, có ảnh chụp làm chứng, ngài ấy cùng Sư Tôn làm hỏa cúng tại Seattle Lôi Tạng Tự. Khi ấy chúng ta đang là Tết Hải Dương nên bày sạp bán đồ, vào Tết Hải Dương chúng ta có bày sạp bán đồ, Dagchen Rinpoche đi tham quan Tết Hải Dương, trông thấy cái kinh luân quay tay mới cầm lên chơi, lắc lắc, lắc lắc, hỏi bao nhiêu tiền. Pháp sư trông nom đã giật ngang ngay: "Không bán! Không bán!" Không bán kinh luân quay tay. Ngài ấy là một trong hai vị Pháp Vương của phái Sakya đó, Dagchen và Trizin, chỉ có hai vị Pháp Vương mà thôi, ngay cả Pháp Vương mà anh cũng không tặng cho họ được cái kinh luân quay tay sao, chí ít anh cũng phải kết thiện duyên chứ. Người ta là Pháp Vương cơ mà, rất hiếm có, rất hi hữu đó, từ nơi rất xa đến đây. Người ta đến thăm ngài ấy thì đều phải bò, phải quỳ đến trước cửa chùa, quỳ ở trước mặt ngài ấy để cầu xin gia trì đó, thế mà pháp sư của chúng ta lại nói: "Không bán! *No, go your way.*" [Không, ông đi đi.] Không lẽ pháp sư của chúng ta vĩ đại hơn sao?

Có điều, phải hiểu về bố thí đó! Không được đắc tội với khách, có người đến, bạn phải độ họ, một người thì một người, nhất định phải độ cho họ. Có người đến đã là rất khó có được rồi, thế mà đều bị bạn đắc tội hết cả, thế thì chẳng còn ai đến nữa. Chồng của Jennifer, ông ấy sinh ra tại Ấn Độ, ông ấy có rất nhiều bạn bè Ấn Độ, trước kia có rất nhiều người Ấn Độ đến, là do chồng của Jennifer giới thiệu họ rằng ở đây có một ngôi chùa. Người Ấn Độ đều đến tham bái, thế là bị một vài pháp sư của chúng ta ở đây lần lượt "mời đi", từ đó không có người Ấn Độ đến nữa. A Di Đà Phật! Phải thay đổi đó! Đó là bố thí đó, là độ chúng sinh, không phải là chặn chúng sinh. Điều này rất quan trọng, một người đến thì độ một người, bất kể thế nào cũng phải nói những lời hết sức tốt đẹp, tươi cười chào hỏi, rất vui vẻ, rất khiêm nhường nói chuyện và tiếp đãi họ, mời họ uống một chén trà. Họ có thiện cảm với chùa của bạn thì cũng tăng thêm niềm vẻ vang của Phật Bồ Tát. Đó là bố thí đó, bình thường bạn cần phải tu dưỡng. Cái đó cũng gọi là bố thí, ngôn ngữ nồng hậu, ngôn ngữ ấm áp, nét mặt tươi cười: "Hoan nghênh bạn đến! Chào mừng đến thăm!" Mọi người đến rồi, hoan nghênh đã đến chơi, những cô gái bán hàng trong trung tâm thương mại người ta còn biết nói, sao mà bạn không biết nói thế chứ? "Anh muốn gì? Anh đến đây làm gì?" Ở đâu có cái kiểu đó vậy? Hãy độ chúng sinh đi!

Tu Bồ Đề! Trong pháp, Bồ Tát nên vô sở trụ mà làm việc bố thí. Đừng dùng cái tâm của bạn, bạn mà dùng tâm của bạn, tâm phải như thế nào? Hãy tự nhiên mà đi cảm hóa người ta đến quy y Chân Phật, tự nhiên như nó là thế mà đi cảm hóa, cái đó chính là bố thí, cái đó chính là bố thí pháp, ý nghĩa của nó là như vậy. Bạn đừng quá giả tạo: "Hê hê hê hê! Hi hi hi hi!" Giả tạo quá, đó là giả tạo, nhìn qua một cái là thấy bạn đang giả tạo rồi. Hãy làm một cách tự nhiên, tôi không bảo mọi người phải giả tạo, nên vô sở trụ mà làm. Trong pháp Bồ Tát nên vô sở trụ. Đừng có giả dối, trong tâm bạn phải thấy tự nhiên thoải mái mà làm việc bố thí. Gọi là không bám vào sắc tướng mà bố thí, không bám vào thanh, hương, vị, xúc, pháp mà bố thí. Đây là bố thí ở mức độ cao hơn, bố thì ở mức cao nhất, tự nhiên mà sinh ra, là một dạng bố thí tự nhiên sinh ra trên phương diện tâm lí, đây chính là bố thí mà không bám trụ vào tướng. 

Bồ Tát không trụ vào tướng mà bố thí thì phúc đức ấy bất khả tư lượng. Ngày ngày bạn đều nghĩ: "Hôm nay mình phải bố thí cái gì đây?" Thế thì công đức bố thí này rất là có hạn! Bố thí xong rồi thì quên luôn, coi đó là việc rất tự nhiên, thì phúc đức mới là không thể đo lường được. Phúc báo và đức hạnh ấy mới là không thể đo lường được. Đoạn này chủ yếu là nói về những điều này. 

Tu Bồ Đề! (Mỗi khi Phật nói một câu đều sẽ gọi tên của ngài ấy). Ý ông thế nào? Hư không phương đông có thể đoán chừng được không? Ý ông thế nào: ở đây là có ý gì? Ông hãy xem hư không phương đông có thể đoán chừng được không? Ông hãy nhìn hư không, hư không ở phương đông có thể suy xét được không? Phương đông xa tới bao nhiêu? Không thể đo lường được! Đông tây nam bắc bốn phương phụ và hư không trên dưới có thể đoán chừng được không? Đương nhiên, đông tây nam bắc toàn bộ cả hư không đều không thể xét đoán được.

Tu Bồ Đề! Bồ Tát bố thí mà không bám trụ vào tướng thì phúc đức cũng bất khả tư lượng như vậy. Nếu như Bồ Tát không trụ vào tướng mà bố thí… vì sao không trụ vào tướng mà bố thí? Ý là, tôi cầm món đồ này tặng cho người ta, nhưng không tính toán món đồ đó bao nhiêu tiền. Ngày ngày cứ nghĩ tôi tặng bạn món đồ đó đáng giá bao nhiêu tiền, thế thì bố thí đó rất ít, nghĩa là bạn chỉ xét đoán những món đồ đó mà thôi. Căn bản là bạn không nghĩ ngợi món đồ đó bao nhiêu tiền, bạn cứ cho đi, như thế gọi là bố thí mà không bám trụ vào tướng. Đồng thời, hôm nay bạn cho rồi, một lúc sau là bạn cũng quên luôn, đừng ghi nhớ là bạn đã tặng người ta cái gì, cho rồi là cho thôi. Nếu như bạn không trụ vào tướng mà bố thí thì phúc phận và phúc đức của việc đó cũng sẽ là không thể đo lường được.

Tu Bồ Đề! Bồ Tát chỉ nên giữ tâm theo như điều đã dạy. Đây gọi là không trụ tướng mà bố thí, muốn hiểu được điều này rất đơn giản, xem ra rất đơn giản, nhưng làm được thì rất khó, thật đó! Vì thế chúng ta, bất kể là bạn như thế nào cũng không được đánh giá người khác thông qua quần áo họ mặc bên ngoài. Bất kì người nào đến Seattle Lôi Tạng Tự, Biệt thự Cầu Vồng, Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, thì đều phải có thái độ như thế. Không trụ tướng mà bố thí: không được thường xuyên nghĩ đến mình đã làm được bao nhiêu công đức, đi tính toán xem hôm nay mình đã làm được bao nhiêu công đức rồi, hoặc là kiểu như thế, đừng đi tính toán, thì công đức đó mới là không thể đo lường. Cũng đừng quá giả tạo, bởi vì giả tạo chính là bị trụ vào tâm mất rồi, và cũng đừng có nghĩ mãi đến điều đó.

Nhưng người tiếp nhận thì cần cảm ơn — người tiếp nhận cần cảm ơn, cần thường xuyên báo đáp người ta, báo đáp người ta khi xưa đã cho bạn những thứ này, thường xuyên cảm ơn họ. Vì thế, Sư Tôn thường hay nói một câu rằng: "Trong cuộc đời tiếp theo đây của tôi chỉ còn lại hai chữ, đó chính là cảm ơn." Đối với mỗi một người đều cần cảm ơn, người ta cho bạn một hào một xu, bạn cũng đều phải cảm ơn hết, phải hồi hướng. Đúng vậy! Tôi vẫn luôn nghĩ rằng trong cuộc đời này chỉ còn lại hai chữ "cảm ơn" mà thôi, chỉ còn lại cảm ơn. Tôi thường nghĩ, bố tôi, khi tôi còn nhỏ ông ấy đã không thừa nhận tôi, đến khi ông ấy ra đi, ông ấy vẫn không nhận tôi. Bởi vì khi tôi còn nhỏ, ông ấy cho rằng tôi không phải là đứa con do ông sinh ra, cho đến tận khi ông ấy ra đi, ông ấy vẫn cho rằng tôi không phải là con do ông sinh ra. Nhưng tôi có cần cảm ơn không? Cần! Vì sao? Vì sao ông ấy đối với tôi như vậy mà tôi vẫn cần cảm ơn ông ấy? Vẫn nên cảm ơn! Nếu không có bố tôi nuôi dưỡng tôi… Mẹ tôi không đi làm kiếm tiền, mặc dù bà ấy có giúp người ta may quần áo để kiếm chút tiền, rồi nuôi gà để kiếm chút tiền, nuôi lợn để kiếm chút tiền, mẹ tôi từng nuôi gà, nuôi lợn, cũng bán lợn, bán gà, cũng giúp người ta may quần áo, bà ấy cũng kiếm được chút tiền, nhưng vẫn là số tiền lương mà bố tôi kiếm được để nuôi những đứa trẻ chúng tôi. Mặc dù ông ấy đối xử với tôi không tốt, Sư Tôn cũng vẫn là ăn cơm của ông ấy mà lớn lên. Vẫn cần cảm ơn, ông ấy vẫn có công ơn đối với tôi, mặc dù ông ấy không thừa nhận tôi, nhưng tôi không thể không nhận ông ấy. Bạn vẫn cần cảm ơn, người xấu xa thế nào bạn cũng đều phải cảm ơn họ.

Trước kia tôi bị giáo viên đánh, bởi vì thành tích học hành của tôi không tốt lắm, lại còn bị lưu ban hai lần. Đó là niềm "vẻ vang" của tôi đó, trong số các bạn có ai bị lưu ban hai lần không? Làm sao mà dốt bằng tôi được chứ, mọi người cũng lưu ban hai lần à, thật không đó? Cấp hai, năm một thời cấp hai tôi lưu ban hai lần, sau đó bị chuyển đến trường cấp ba hạng ba ở thành phố Cao Hùng, tôi không thể tiếp tục học ở trường cấp ba hạng hai nữa. Anh lưu ban hai lần, vậy thì tống anh đến lớp học nghề, lớp huấn luyện nghề. Trong lớp học lưu ban đó, thành tích của tôi xem ra lại là tốt nhất, vì thế mới khích lệ tôi bắt đầu học hành. Tôi bị chuyển tới trường cấp ba hạng ba ở Cao Hùng (hiện tại là trường cấp ba Sư Giáp), còn trường hạng hai thì tôi không biết hiện tại có còn hay không, nó ở cạnh sông Ái Hà. Khi xưa là trường cấp ba hạng ba ở Cao Hùng, cấp hai tôi bị lưu ban hai lần, bị chuyển đến trường cấp ba hạng ba, hai lớp học đều là học sinh lưu ban, gọi là lớp huấn luyện nghề (lớp học nghề). Tôi bị chuyển đến nơi đó, nhưng vẫn phải cảm ơn, cảm ơn những giáo viên đó, tôi vẫn cần cảm ơn.

Lúc nhỏ tôi thường xuyên bị đánh, nhưng tôi cũng khá thông minh, con trai của hội trưởng hội cha mẹ học sinh đứng ở chỗ này, thầy giáo đánh từ bên kia qua, tôi nhanh chóng đứng cạnh con trai của hội trưởng hội cha mẹ học sinh, thầy đánh tới chỗ này, trông thấy con trai của hội trưởng hội cha mẹ học sinh, thầy giáo liền không dám đánh nữa. Thầy giáo không dám đánh con trai của hội trưởng hội cha mẹ học sinh, thầy nói: "Những em còn lại không cần đánh nữa, tay tôi mỏi rồi." Thế là tôi không bị đánh nữa. Sau đó, tôi cũng sẽ lót thêm bao bố bên trong quần kaki, khi thầy giáo đánh vào mông tôi: "Bộp! Bộp! Có chuyện gì thế nhỉ?" Thầy liền lôi ra được bao bố bên trong quần kaki của tôi ra. Tôi cảm ơn cách giáo dục đánh mắng của họ, cảm ơn họ, điều đó thúc giục bạn tinh tấn hơn, thật sự đã thúc giục tôi tinh tấn hơn. Từ một học sinh lưu ban đến khi tôi lên cấp ba, tôi đều đứng nhất lớp, còn giành được học bổng của công ty xi măng Gia Tân Cao Hùng nữa, lần nào tôi cũng được học bổng, hơn nữa còn được miễn học phí. Học sinh xếp thứ nhất được miễn học phí. Gia đình thanh bần được miễn học phí, còn giành được học bổng của công ty xi măng Gia Tân. Đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ công ty xi măng Gia Tân, không biết công ty đó có còn không. Tôi thật sự rất cảm ơn họ đã cho tôi học bổng, để tôi được đi học miễn phí.

Vì thế bây giờ các bạn đã biết là cần cảm ơn, cũng cần hiểu về bố thí, hơn nữa, khi bố thí thì phải vô tướng. Cho người khác cái gì thì cũng quên luôn việc đó đi, gia trì cũng quên luôn, làm việc gì cũng quên luôn. Mỗi người hãy nhớ điều này. Vì như thế mới được công đức lớn. 

Cả đoạn này "Phần thứ 4: Diệu hạnh vô trụ" là nói về tam luân thể không, Jesus cũng từng nói rồi, trong Kinh Thánh có nói: "Việc mà tay phải làm, chớ để tay trái biết." Như vậy mọi người nghe có hiểu lời tôi nói không? Khi bố thí, bạn đừng chủ động nói rằng tôi đang bố thí đây, cứ tự nhiên mà phát tâm bố thí thôi, cái này gọi là hành vi khéo léo, là thật sự vô trụ, vô trụ tướng bố thí. Còn đối với những người nhận bố thí như chúng ta, chúng ta cần ghi nhớ, hơn nữa còn phải biết ơn, cũng cần học tập tinh thần tinh tấn đó, cũng đi thực hiện vô trụ bố thí. Đây là điều quan trọng nhất. Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 05/09/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma mùa thu A Di Đà Phật tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 13.)*


### 14. Phần thứ 4: Diệu hạnh vô trụ (2)


*(Bài giảng 14) *Lại nói về bất trụ tướng bố thí

Bây giờ tôi giảng tiếp Kinh Kim Cang. Phần thứ 4: Diệu hạnh vô trụ. Đoạn này nói về bố thí.
Trước tiên tôi nói một điều này: đúng vào buổi tối hôm trước… Sư Tôn ngồi xuống, buổi tối tôi tu pháp siêu độ nghìn chiếc thuyền pháp. Tôi ngồi thiền, tôi thỉnh, ra lệnh, tôi niệm: "Xin mời các thân trung ấm hữu duyên, xin mời lên thuyền pháp.", "Triệu tỉnh các thân trung ấm hữu duyên, xin mời lên thuyền." Tôi cứ niệm như vậy. Sau khi niệm xong thì có một vị Bồ Tát đến, vị này gọi là Hiền Thủ Bồ Tát. Hiền là chữ Hiền trong Thánh hiền, Thủ là chữ thủ trong thủ lĩnh, Bồ Tát Hiền Thủ. Có Hiền Thủ Bồ Tát đến, nói với tôi: "Lư Sư Tôn, ngài siêu độ gì đấy?" Nghĩa là ngài siêu độ cái gì. Tôi nói với Hiền Thủ Bồ Tát: "Bây giờ tôi đang làm siêu độ, đang siêu độ cho tất cả những linh hồn hữu duyên đã chết do bị nhiễm virus corona." Hiền Thủ Bồ Tát lại hỏi: "Vậy khi ngài siêu độ chuyển dời và độ hóa cho các đệ tử Chân Phật Tông, lúc viên tịch, khi đệ tử Chân Phật Tông viên tịch, ngài cũng siêu độ sao?" Tôi nói: "Có, tôi có siêu độ. Chỉ cần viết thư gửi đến Tông Ủy Hội, tôi đều cùng siêu độ cho họ lên thuyền pháp, nghĩa là đệ tử Chân Phật Tông tôi cũng siêu độ."

Sau đó ngài ấy hỏi tôi: "Tổ tiên của ngài và cả bạn bè của ngài, ngài đều siêu độ sao?" Tôi nói: "Đúng, tôi cũng siêu độ." Điểm quan trọng là ở đây — cuối cùng, Hiền Thủ Bồ Tát hỏi tôi: "Đối với các linh hồn trung ấm đã qua đời, những linh hồn mà đến đây để mong ngài siêu độ, họ là những linh hồn trung ấm hoàn toàn không có quan hệ gì với ngài cả, cũng chẳng phải bạn bè thân thích của ngài, cũng không phải là tổ tiên của ngài, cũng không phải là đệ tử của ngài, cũng không phải là những người đã chết vì virus corona,… những trung ấm này ngài cũng siêu độ sao?" Tôi lập tức không trả lời được, đúng vậy không? Bởi vì họ và tôi không có duyên mà, những linh hồn mà ngay cả một chút quan hệ cũng không có thì tôi không siêu độ được.

Hiền Thủ Bồ Tát nói với tôi: "Thế thì việc siêu độ của ngài gọi là hữu tướng siêu độ rồi." Vậy ngài bảo tôi phải làm sao đây? "Sau này ngài phải thay đổi: trung ấm hữu duyên, trung ấm vô duyên, xin mời lên thuyền pháp." Bồ Tát nói: "Có như thế thì công đức của ngài mới là vô lượng, công đức vô đẳng đẳng. Kinh Kim Cang nói rồi: hư không có thể đo lường được không? Không thể. Nhưng chỉ cần ngài làm siêu độ không bám trụ vào tướng, thì công đức không thể ước đoán! Đạo lý tương tự, vì thế, ngài cần phải làm vô tướng siêu độ - trung ấm hữu duyên, trung ấm vô duyên, đều phải siêu độ. Bất kể là người mà ngài quen biết hay không quen biết, là đệ tử Chân Phật Tông hay không phải là đệ tử Chân Phật Tông, cho dù là bạn bè của ngài cũng tốt, không phải bạn bè của ngài cũng tốt, là tổ tiên của ngài cũng tốt, không phải tổ tiên của ngài cũng tốt, là người chết vì dịch bệnh cũng tốt, không phải là người chết vì dịch bệnh cũng tốt, toàn bộ đều siêu độ hết. Đây mới gọi là vô tướng siêu độ.” Hiền Thủ Bồ Tát nói với tôi như vậy.

Tôi nói, xin cảm ơn, bởi vì Hiền Thủ Bồ Tát đã nói một câu: "Vô duyên đại từ, đồng thể đại bi. Tất cả những gì có linh hồn đều cần siêu độ. Như thế mới gọi là làm công đức vô đẳng đẳng… nhưng lại không nghĩ về công đức, đừng nghĩ về những việc này thì có công đức. Hơn nữa còn vô đẳng đẳng, không nghĩ về nó, đó mới gọi là vô tướng siêu độ." Hiền Thủ Bồ Tát nói với tôi như vậy. Tôi đem kể chuyện này, vì đoạn kinh hôm nay chính là cái này.

Phần thứ 4: Diệu hạnh vô trụ.
*"Tiếp nữa, Tu Bồ Đề! Trong pháp, Bồ Tát nên vô sở trụ mà làm việc bố thí, gọi là không bám vào sắc tướng mà bố thí, không bám vào thanh, hương, vị, xúc, pháp mà bố thí. Tu Bồ Đề, Bồ Tát nên bố thí như vậy, đừng trụ vào tướng. Vì sao như vậy? Nếu Bồ Tát không trụ vào tướng mà bố thí thì phúc đức ấy bất khả tư lượng."
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Hư không phương đông có thể đoán chừng được không?"
"Không thể, thưa Thế Tôn!"
"Tu Bồ Đề! Hư không phương nam, tây, bắc, bốn phương phụ, phương trên phương dưới có thể đoán chừng được không?"
"Không thể, thưa Thế Tôn!"
"Tu Bồ Đề! Bồ Tát bố thí mà không bám trụ vào tướng thì phúc đức cũng bất khả tư lượng như vậy. Tu Bồ Đề! Bồ Tát chỉ nên trụ tâm theo như điều đã dạy."*

Như vậy mọi người có hiểu không? Tôi kể, trước kia có một viên ngoại già, vào lúc mất mùa, ông ấy đã bố thí cháo, tiếng Quảng Đông gọi là cháo, bố thí cháo. Ông ấy cứ nấu, cứ thế nấu ra cho người hầu phục vụ. Vào lúc mất mùa, mọi người không có gì để ăn, rất nhiều người đói bụng, vừa nghe nói viên ngoại này bố thí cháo, kết quả là người hầu, có rất nhiều người hầu đang bố thí, rất nhiều người đến. Người hầu chạy lại nói: "Viên ngoại, viên ngoại! Chúng tôi nhận thấy người có tiền cũng đến ăn cháo đó!" Viên ngoại già ở đó nói: "Không sao, vẫn cứ bố thí, có tiền hay không có tiền thì đều bố thí."

Hàng xóm của ông ta cũng đến, "Cái người hàng xóm gia đình cũng đâu có tệ, thế mà họ cũng đến!" "Không sao!" Lão viên ngoại nói: "Đều được hết." Người hầu lại chạy đến nói: "Còn có một vài người sau khi lấy một bát rồi, ăn xong lại đến lấy nữa đó! Lại đến gói, lại đến lấy, cầm theo cả cái thùng để đựng nữa!" Viên ngoại già cũng nói: "Không sao cả, để họ lấy, không có vấn đề gì." "Không được đâu! Họ không phải chỉ có một người đến, cả nhà lớn lớn nhỏ nhỏ, lại còn ôm cả cháu chắt đến hết nữa!" "Không sao cả." Viên ngoại già vẫn nói là không hề gì. "Rồi còn nữa, thế còn cái gì mà… họ đã đến nhiều lần rồi, ngày nào cũng đến ăn, họ đã xem chỗ của ông như quán cơm rồi!" "Không sao cả." Viên ngoại già cũng vẫn nói: "Không có vấn đề gì."

"Liệu có cần phải giới hạn thời gian không, vào lúc nào có thể đến, lúc nào không thể đến không?" "Không sao cả." Viên ngoại già cũng vẫn nói như thế: "Cái gì cũng không sao hết. Người nào đến lấy mang về cũng không sao, đem thùng đến đựng cũng không sao, thậm chí lấy cả một thùng đi cũng không sao, chúng ta lại nấu tiếp thôi." Câu chuyện về viên ngoại già này chính là vô tướng bố thí đó! Tất cả đều bố thí hết.

Còn phải bất trụ tướng bố thí: những người ác, những kẻ ác nhất trong làng, giết người vô số, có người thì cướp bóc, có người thì rất xấu xa, có người trộm cướp, cũng có người lừa đảo, nói dối, có kẻ phạm tội giết người, đều đến để lấy cháo. Người hầu lại chạy đến nói: "Không được đâu, tên sát nhân cũng đến, tên lừa đảo cũng đến, tên trộm cướp cũng đến, kẻ hiếp dâm cũng đến, đều đến để ăn cháo của ông đó!" Viên ngoại già nói: "Không sao cả, được hết. Tất cả bất kể là thiện hay ác, đều bố thí cho họ hết."

Tôi nói với mọi người rất đơn giản, đây là vô tướng bố thí. Chúng ta đừng nói về công đức, không bám trụ vào tướng công đức. Nhưng Phật Thích Ca Mâu Ni có nói thế này, *"công đức này mới là bất khả tư nghì".* Viên ngoại kia đời đời kiếp kiếp đều là người giàu có, ông ấy không cầu lên trời, cũng không mong xưng thần, nhưng mỗi một kiếp sống của ông, trong vô lượng kiếp đều là người giàu có, hơn nữa thân thể lại không có bệnh tật. Tôi nghĩ sau đợt dịch bệnh này, khi mọi người lại sống bình thường, tôi cũng hy vọng Seattle Lôi Tạng Tự, cho dù hàng xóm đến ăn cũng tốt, hãy để cho họ ăn. Bất kể là người ta ở lại bao lâu cũng không hạn chế, bất kì ai đến ăn đều được. Cả nhà đến ăn cũng được, gói đem về cũng được, thậm chí bạn gói đem về cho hàng xóm ăn cũng được, đều được cả, cái gì cũng được hết, tôi sẽ nấu.

Thật sự là ăn đến mức mỏ vàng cũng cạn. Pháp sư Liên Từ ơi… Seattle Lôi Tạng Tự hết tiền rồi à, phải làm sao đây? Tất cả đều bị ăn hết rồi à? Đệ tử trên khắp thế giới đến ăn, rồi ở lại không đi, ngày ngày đến ăn cơm! Không chỉ ăn cơm, ngay cả bữa phụ, bữa trưa, bữa tối, bữa sáng đều gói về hết! Hơn nữa không chỉ như vậy, người ta còn đưa cả nhà đến! Không chỉ cả nhà đến, hàng xóm xung quanh cũng đều gói đem về!" Tôi bảo bạn nhé: "Sẽ không vô ích đâu, công đức vô lượng đó!"

"Tuyệt đối đừng sắp cơm hộp cho những người này!" "Không được, anh đã ở đây tương đối lâu rồi đó!", lại còn gói ghém cơm mang đi, coi chừng pháp sư sẽ chửi đó, Thượng sư sẽ chửi đó. Cơm hộp đã cầm đến tay rồi còn bị thu lại, đó thật là sự việc xấu hổ quá. Người ta lấy đi rồi thì cứ lấy đi thôi, đừng chỉ vì một hộp cơm, đúng thế không? Vì thế, phải thật sự bố thí vô lượng đó! Phật Thích Ca Mâu Ni nói vô tướng bố thí, tất cả Bồ Tát khi làm lục độ đều là vô tướng, đây là điều do chính Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói, là điểm quan trọng trong Kinh Kim Cang.

Thế nào là vô tướng? Sư Tôn phải làm vô tướng siêu độ, tất cả chúng sinh, tất cả người xuất gia, tì kheo, tì kheo ni, tổ nấu ăn, thậm chí tất cả nhân viên làm việc, sau này khi dịch bệnh qua đi rồi, bởi vì khi có dịch bệnh thì chúng ta có hạn chế người đến, vì sao phải hạn chế người? Bởi vì sợ tụ tập đông thì sẽ bị lây nhiễm, thế nên buộc phải như vậy, nên phải giới hạn số người, bao nhiêu người thì được vào, bao nhiêu người thì không được vào, đặt ra sự phân biệt số người, đặt ra sự phân biệt về thời gian, đặt ra sự phân biệt về thời gian ngắn dài. Hình như ở chỗ nào đó chúng ta có dán một mảnh vải, dán một tờ giấy trắng, phải không? Hình như là ở lâu trên ba tháng thì không được ăn cơm hộp nữa, người ở trên ba tháng thì không được ăn cơm hộp đúng không?

Không vấn đề gì, không vấn đề gì hết! Hãy để cho họ ăn đi! Hàng xóm sống trong khu vực nếu như đến lấy cơm hộp thì cũng cho họ lấy, bất kể là vì dịch bệnh mà họ lấy về ăn, hoặc là ở trong lều ăn, ăn ở bên ngoài, đều được cả. Ở trong nhà chúng ta hạn chế số người bởi vì liên quan đến dịch bệnh, sau này Seattle Lôi Tạng Tự, hoặc Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đều hãy vô tướng bố thí. Đừng sợ người ta đến ăn! Bởi vì người ta ăn xong thì bạn sẽ có phúc phần đó, người nấu ăn có phúc phần, trụ trì có phúc phần, hễ là người xuất tiền hỗ trợ Lôi Tạng Tự thì đều có phúc phần. Đều là vô tướng. Điều này rất quan trọng. Như vậy thì không phải chặn chúng sinh, mà thật sự là đang giúp đỡ tất cả chúng sinh. Bởi vậy, chúng ta trợ giúp tất cả chúng sinh đều là vô tướng.

Diệu hạnh vô trụ ở đây là không trụ vào cái gì hết. Không vì cái gì cả, cứ thế bố thí thôi. Bởi vậy nói, nên vô sở trụ mà làm việc bố thí, gọi là không bám vào sắc tướng mà bố thí, không bám vào thanh, hương, vị, xúc, pháp mà bố thí. Thật ra trong việc bố thí này… không bám vào sắc tướng mà bố thí, rất đơn giản mà! Người trẻ tuổi đến, tôi bố thí; người già đến, tôi bố thí, đây gọi là không bám vào sắc tướng mà bố thí. Người bệnh thân thể ốm yếu đến tôi bố thí; người khỏe mạnh đến tôi bố thí, đây gọi là không bám vào sắc tướng mà bố thí. Cũng thế, sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, hoàn toàn đều bố thí như vậy, thì công đức này là không thể đo lường được, Phật Thích Ca Mâu Ni nói như vậy. Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 11/09/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Dược Sư Phật Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 14.)*


### 15. Phần thứ 5: Thấy lẽ thật đúng lí


*(Bài giảng 15) *Phàm tất cả mọi tướng đều là hư vọng

Chúng ta giảng Phần thứ 5: Thấy lẽ thật đúng lí

*"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Có thể dựa vào thân tướng mà thấy Như Lai không?"
"Không thể, thưa Thế Tôn! Không thể dựa vào thân tướng mà thấy được Như Lai. Là vì sao? Thân tướng mà Như Lai nói đến cũng tức không phải thân tướng." 
Phật nói với Tu Bồ Đề:
"Phàm tất cả mọi tướng đều là hư vọng. Nếu thấy mọi tướng không phải tướng tức là thấy Như Lai."*

Nếu thấy mọi tướng không phải tướng thì mới có thể thấy được Như Lai, vì thế điều mà ở đây nói đến chính là vô tướng. Vô tướng, ở đây có ý nghĩa rất sâu. *"Có thể dựa vào thân tướng mà thấy Như Lai không?"* Hỏi Tu Bồ Đề, Tu Bồ Đề trả lời: *"Không thể, thưa Thế Tôn! Không thể dựa vào thân tướng mà thấy được Như Lai."* Vì sao vậy? Thân tướng mà Như Lai nói đến tức không phải là thân tướng.

Tôi nhớ trước kia trong kinh sách có ghi chép lại, Công Xảo Thiên (cũng chính là Tài Nghệ Thiên) muốn làm tượng của Như Lai. Tôi từng kể với mọi người rồi, ông ấy muốn làm tượng đẳng thân của Phật Thích Ca Mâu Ni 8 tuổi và tượng đẳng thân của ngài lúc 12 tuổi. Bức tượng đẳng thân 8 tuổi của Như Lai ở Nepal được nghênh đón qua Tây Tạng, bức tượng đẳng thân 12 tuổi ở Đại Đường cũng được nghênh đón qua Tây Tạng, được thỉnh đến Tây Tạng để thờ cúng. Một bức ở chùa Jokhang, một bức ở chùa Ramoche. Công Xảo Thiên muốn đo thân tướng của Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi xuống để cho ông ta đo, nhưng từ đầu tới cuối ông ta không thể đo được thân tướng của Phật Thích Ca Mâu Ni, bởi vì thân thể của Phật có vô kiến đỉnh tướng [vô kiến đỉnh tướng là một trong ba tướng đặc biệt của Phật, tướng cao quý nhất, nằm ở đỉnh đầu Phật phóng hào quang màu vàng], đó là một trong 32 tướng tốt của Phật, là vô kiến đỉnh tướng. Ông ta không có cách nào nhìn thấy được đỉnh đầu của Phật, không thể đo được đỉnh đầu của Phật, thân tướng của Như Lai không thể thấy được, không có cách nào để đo. Vì sao lại như vậy? Bởi vì tất cả mọi tướng đều là phi tướng.

Trên thực tế cũng như vậy. Bạn ở tại thế giới Ta Bà, bạn nhìn thấy hình tướng của tôi Lư Thắng Ngạn, rất nhiều người chụp ảnh thân tướng của Lư Thắng Ngạn, chụp thân tướng của tôi: "Lư Sư Tôn bây giờ là tướng gì, chúng tôi chụp tướng đó." Tôi bây giờ không muốn bạn chụp ảnh tôi, vì sao vậy? Tôi đã 77 tuổi rồi, bây giờ đã già rồi, bạn muốn chụp ảnh tôi, bạn hãy chụp bức ảnh khi tôi còn trẻ ấy, bức ảnh đó là tôi thích nhất, vì thế, tôi luôn mang theo bên mình. Đúng rồi, bức ảnh *young man* đó. (Sư Tôn lấy tấm ảnh từ trong túi đem theo mình ra.) Người ta so sánh bức ảnh này của tôi với một ngôi sao Hàn Quốc, họ nói: "Ôi chao! Tấm ảnh này của Sư Tôn rất giống một ngôi sao điện ảnh Hàn Quốc đó." Có thể chiếu được bức ảnh này không? Đến gần một chút có thể chiếu được không? Mọi người xem bức ảnh này, vừa đẹp trai vừa phong độ. Bức ảnh này của tôi mà đưa cho các nữ sinh xem, nữ sinh sẽ ra sức mà hôn, ra sức hôn tấm ảnh này của tôi. Họ không hôn bản thân tôi, thế vì sao lại hôn bức ảnh này? Đây cũng là Lư Thắng Ngạn mà. Lư Thắng Ngạn, người nào mới là Lư Thắng Ngạn đây? Lư Thắng Ngạn lúc sơ sinh, Lư Thắng Ngạn lúc nhi đồng, Lư Thắng Ngạn thời niên thiếu, Lư Thắng Ngạn lúc trung niên, Lư Thắng Ngạn lúc đứng tuổi, Lư Thắng Ngạn già nua hiện tại, đều chẳng giống nhau! Đây chính là phi tướng, có thứ nào thật sự có thể bảo lưu một loại tướng tồn tại mãi chứ?

Đoạn sau có nói đến, trong kinh Kim Cang có nói đến, bất kì một tướng nào cũng đều là một hợp tướng. Thế nào gọi là một hợp tướng? Là một sự cấu thành, là tổ hợp. Thế nào là tổ hợp? Là đất nước lửa gió tổ hợp lại, nhà cửa cũng là một sự tổ hợp, cái xe cũng là một sự tổ hợp, bất kì một cái nào, bạn xem những thứ này đều là sự tổ hợp, bất kì thứ gì cũng đều là sự tổ hợp. Bạn có thể thật sự nhận ra cái tướng ban đầu nào mới là Lư Thắng Ngạn không? Bạn nói xem, tướng nào? Tương lai tôi sẽ tạ thế, nếu như tôi có thể sống đến 80 tuổi, sống đến 90 tuổi, sống đến 100 tuổi, sống đến 110 tuổi, sống đến 120 tuổi… còn có người bảo tôi sống đến 150 tuổi, họ nói: "Sư Tôn, thầy phải đưa con đi, con muốn cùng thầy đi đến Tây phương Cực Lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì, nhưng bây giờ con vẫn còn rất trẻ, nếu như thầy không sống đến 150 tuổi thì làm sao con đi cùng thầy được?" Tôi sống đến 150 tuổi ư? Đừng nằm mơ nữa, đó chỉ là chuyện trong mơ thôi. Sống đến 120 tuổi ư, đừng có nằm mơ, đừng có mơ nữa. Sống đến 100 tuổi, ngay cả mơ tôi cũng không dám mơ. Sống đến 90 tuổi, thế thì rất may mắn rồi, may mắn lắm mới có thể sống đến 90 tuổi. Bây giờ tôi gặp những người 90 tuổi, tôi liền cảm thấy, ôi bà tôi ơi! Dọa tôi chết mất! Sao mà xấu xí thế, khó coi thế! 90 tuổi thì trông rất xấu rồi. Sống đến 80 tuổi thì còn có thể miễn cưỡng được một chút.

Muốn đi cùng với tôi, không phải tôi nói là thân thể xương thịt này đi cùng nhau, không phải, bạn muốn đi cùng Sư Tôn, được thôi, tôi đều đồng ý với bạn, cùng Sư Tôn vãng sinh Phật quốc tịnh thổ, nhưng tôi đi trước, bạn đi sau. Tôi đi trước, bạn đi sau, đều có thể cùng đi, cũng là cùng đi mà, sau này đều ở cùng nhau, đều ở Ma Ha Song Liên Trì mà, cái đó mới gọi là sống mãi. Phải tu hành, đúng vậy không? Đến khi bạn thấy được pháp nhĩ bản nhiên rồi, bỏ được ngã chấp, pháp chấp, loại bỏ hết phiền não, loại bỏ hết tập khí, loại bỏ hết mọi loại nghiệp chướng, thì bạn có thể vãng sinh. Phải tu hành đó, trước tiên phải loại bỏ được điều này thì pháp nhĩ bản nhiên sẽ ở ngay đó, đó mới là cùng đi, chứ không phải là biến mất cùng thân thể xương thịt này, mọi người cùng đi. Cùng đi là được rồi, Chân Phật Tông không còn nữa, mọi người đều cùng đi thì Chân Phật Tông làm gì còn nữa? Chẳng còn nữa đâu. 

Vì thế, điều nói đến ở đây là, chúng ta đều là phi tướng, ta ở đây chỉ là một biểu hiện bên ngoài, là sự tổ hợp của đất nước lửa gió. Thân thể của chúng ta là đất nước lửa gió, đất chính là thịt và xương cốt, nước là máu và dịch, lửa là nhiệt độ, gió là hô hấp. Những thứ ở bên trong cơ thể thì là gì? Những thứ đó chính là đất, chính là đất đó, lục phủ ngũ tạng chính là đất, ta chỉ là một sự tổ hợp của đất nước lửa gió. Bạn nhìn thấy bản thân mình chính là sự tổ hợp của đất nước lửa gió, mà vì bạn đã biết thân thể của bạn là tổ hợp đất nước lửa gió rồi, bạn mới có thể nhìn thấy được chân tướng. Hiểu được phi tướng rồi thì bạn sẽ *"nếu thấy mọi tướng không phải tướng tức là thấy Như Lai".* Nếu bạn giải tán hết đất, nước, lửa, gió, thì cái còn lại chính là Phật tính, là Như Lai. Nói như thế mọi người hiểu chứ? Đoạn này là thế.

Đương nhiên, không thể dựa vào thân tướng mà thấy Như Lai, bởi vì Như Lai cũng có tướng lúc 8 tuổi, cũng có tướng lúc 12 tuổi, cũng có tướng lúc mới chỉ vài tuổi. Phật sống đến 80 tuổi. Không thể dựa vào thân tướng mà thấy Như Lai. Bạn cho rằng Lư Sư Tôn chính là như thế này sao, thế thì tôi trước kia phong độ anh tuấn, đó cũng là tôi mà, đúng không? Bạn xem, tôi đã lấy tấm ảnh ra, đây chính là bằng chứng rồi, khi xưa tóc hất như thế này, để lệch, rất nhiều nữ sinh đều sẽ rú lên rồi ngất xỉu đó. Khi xưa tôi có nhiều bạn gái, thật đó.

Bởi vậy, điều mà Như Lai nói,* "thân tướng, tức không phải thân tướng"*, chỉ là sự tổ hợp tạm thời của đất nước lửa gió. Phật bảo Tu Bồ Đề: *"Phàm tất cả mọi tướng đều là hư vọng."* Bạn đừng cho rằng những thứ trên trái đất là thật, tôi nói cho bạn biết, cho rằng trái đất là thật, là thực tướng, *NO*, trái đất cũng sẽ có ngày vỡ ra. Nói một cách rất đơn giản, trái đất cũng là một tổ hợp, cũng là một tổ hợp của đất nước lửa gió. Có một ngày, những tai nạn đất nước lửa gió xảy đến, nước nhấn chìm cả địa cầu, trái đất vỡ ra, khi ấy còn tướng không? Cũng là một tổ hợp thôi, vì thế Phật nói, phàm tất cả mọi tướng đều là hư vọng, đều là giả hết. Đây là thấy lẽ thật đúng lí, dùng đạo lí để nói, thật sự nhìn thấy được phi tướng. 

Cuộc đời chúng ta cũng giống như điều nói ở đây:
Đời người giống như một đống phân.
Cơ hội giống như cục phân, nước dội đi thì cũng không lấy lại được. Nước bồn cầu mà dội đi thì không lấy lại được nữa.
Tình yêu cũng giống như cục phân, khi đã "đến" rồi thì ngăn cũng không ngăn được nữa. Làm sao có thể nhịn được? Tôi cảm thấy người tuổi cao sẽ có trải nghiệm này, tuổi tác cao rồi, khi buồn đi vệ sinh thì không nhịn được, bởi vì sao, cứ đúng bảy giờ là đi vệ sinh, nhưng chín giờ thì mới ngủ dậy. Người già là như vậy. 
Cuộc đời giống như một đống phân, mỗi ngày đều như thế, cũng lại không phải như thế. Bạn có nhìn phân của bạn không? Có nhìn phân của bạn mỗi ngày không? Đó là thứ nghệ thuật nhất do chính bạn chế tạo ra mà. Nghệ thuật đó, bức họa ấy, mỗi ngày bạn đều vẽ lên trên bồn cầu, hơn nữa hình dạng đi ra đều khác nhau, màu sắc cũng khác, mỗi ngày đều phải thế, nhưng mỗi ngày đều không giống nhau. 
Đi làm cũng giống như đại tiện, đôi khi rất nỗ lực rất lâu, nhưng chỉ đánh được một cái rắm.
Đáng tiếc nhất là, kem mà chúng ta thích ăn nhất cũng giống như cục phân. Vì sao vậy? Lúc kem tuôn ra thì cũng quấn mấy vòng, cuối cùng nhấn một cái mới thật sự thành cây kem. Đời người chính là như thế, đời người chính là một đống phân. 
Om mani padme hum.

*(Ngày 12/09/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Lục Độ Mẫu tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 15.)*


### 16. Phần thứ 6: Hiếm người có được chính tín (1)


*(Bài giảng16) *Chính tín nghĩa là thấy tướng là phi tướng
Bây giờ giảng đến Phần thứ 6: Hiếm người có được chính tín. Tiêu đề này rất hay… Nếu bạn có chính tín thì là vô cùng hiếm có đó. Ý nghĩa của tiêu đề "Phần thứ 6: Hiếm người có được chính tín" này cũng chính là nói rằng bạn có thể có chính tín thì đã là vô cùng hi hữu.

Bây giờ tôi có một câu hỏi rất đơn giản hỏi mọi người. Ở đây chúng ta không chuẩn bị quà. Chỉ có cái phất trần. Thế nên không có món quà nào có thể tặng mọi người. Được rồi, mọi người đều biết chính tín, mọi người đều nói chính tín Phật giáo mà. Bây giờ hỏi mọi người: Thế nào là chính tín? Trong kinh Kim Cang nói rằng người có chính tín là vô cùng hi hữu. Các tín đồ Phật giáo hiện nay thường thích nói thế này: "Tôi có lòng tin vào Phật giáo. Lư Sư Tôn ấy à, ông ta vừa là Cơ đốc giáo, Jesus cũng là guru của ông ta, ông ta cũng là Đạo giáo, Diêu Trì Kim Mẫu là Bổn tôn của ông ta, A Di Đà Phật cũng là Bổn tôn của ông ta. Rốt cục ông ta tin A Di Đà Phật hay là tin Diêu Trì Kim Mẫu? Hay là tin Guru Jesus của ông ta? Lư Thắng Ngạn kia chẳng phải là chính tín Phật giáo!"

Bây giờ tôi hỏi bạn, rất nhiều người đều nói là chính tín Phật giáo. Hai chữ chính tín này, bạn nói cho tôi biết, thế nào là chính tín? (Mọi người có mặt tại chỗ hăng hái trả lời.) Thiện tri thức, chính đẳng chính giác ư? Nói to tát quá rồi! Tam pháp ấn? Đó là chân đế. Là tín ngưỡng khiến bản thân đạt được thân khẩu ý thanh tịnh? Trung đạo, bát chính đạo? Ấy, trong bát chính đạo có chính tín, đều là chính. Ôi, nói ra được một cái chính… chính tín nghĩa là gì? Ý nghĩa chân chính của chính tín nằm ở đâu? Chính tín, thế nào là chính tín? Trong kinh Kim Cang có nói đến chính tín đó!

Không có sai lệch? Không có sai lệch đương nhiên là chính rồi, không sai, không có sự sai lệch… thế nhưng chỗ nào là không có sai lệch? Trung quán? Chỉ dựa vào giáo pháp của Phật Đà làm chính tín? Phạm vi của câu nói này quá lớn rồi, Phật Thích Ca Mâu Ni giảng nhiều như vậy mà. Tôi đang nói về ý nghĩa chủ yếu nhất của hai chữ chính tín, trong kinh Kim Cang, ý nghĩa chủ yếu nhất là cái gì? Lấy giới làm thầy? Lấy giới làm thầy là di huấn cuối cùng của Phật Thích Ca Mâu Ni, là di huấn cuối cùng của Phật. Nếu như tôi hỏi di huấn cuối cùng của Phật Thích Ca Mâu Ni là gì và bạn trả lời là lấy giới làm thầy thì như thế là đúng, còn tôi đang nói về chính tín.

Lấy bát nhã làm tôn chỉ, lấy trí huệ làm tôn chỉ? Thật ra những điều mọi người nói đều không sai, đều xoay quanh đó. Sư Tôn sẽ nói với mọi người chính tín chân chính là cái gì. Tôi thu lại chuỗi hạt này, không bán nữa. Phá bỏ tất cả phiền não? Nhưng vẫn còn bám chấp. Khổ - Tập - Diệt - Đạo? Đó là Tứ thánh đế. Người hợp với đạo, ý nói rằng, hợp với đạo lí đúng đắn… đạo thì quá lớn rồi, hợp nhất với đạo, ý của anh là hợp nhất với đạo à? Xin hỏi ngài đại sứ? (Sư Tôn ngoảnh đầu hỏi đại sứ Liêu Đông Châu, đại sứ đáp: thấy tất cả là không, như mộng huyễn.) Ô… rất gần rồi. Sư Tôn nói cho bạn nghe cái gì gọi là chính tín. Chính tín trong kinh Kim Cang, ở phần trên đã nói rồi, thấy tướng không phải tướng, tức là thấy Như Lai! Tất cả mọi tướng mà bạn nhìn thấy, đó đều không phải là thật, bởi vì đều không phải là thật thì bạn sẽ thấy được Như Lai.

Thế nào là chính tín Phật giáo? Cái gọi là chính tín, phần chính tín hi hữu ở đây, bởi vì rất khó hiểu được thế nào gọi là chính tín, vì thế, hôm nay tôi mới giảng cho mọi người. Điều người ta nói: "Vừa tin Guru này, Jesus vừa là Guru của ông ấy, Diêu Trì Kim Mẫu cũng là Bổn tôn của ông ấy, A Di Đà Phật cũng là Bổn tôn của ông ấy, thế thì người này chẳng phải là chính tín Phật giáo." Họ không hiểu về chính tín. Hai chữ “chính tín” chính là thấy tướng không phải tướng, mọi tướng mà bạn nhìn thấy toàn bộ đều là hư vọng… hư trong từ hư giả, huyễn, đều là hư huyễn, nghĩa là phi tướng. Thấy tướng không phải tướng tức là thấy Như Lai, bạn sẽ nhìn thấy được Như Lai, thấy được đạo chân chính.

Vì thế, thấy tướng không phải tướng, phi tướng chính là chính tín. Đạo lí này… người có thể hiểu được đạo lí này là vô cùng hiếm có, vô cùng ít. Phần này nói rằng, có thể hiểu được đạo lí này, người có thể hiểu được chính tín là vô cùng ít. Vì thế, con người thế gian bình thường đều là chấp tướng. Vì sao con người thế gian không có chính tín? Bởi vì họ đều chấp tướng. Bạn xem, người trẻ tuổi ngày nay, những người đàn ông chưa kết hôn, những chàng trai trẻ tuổi, mỗi người họ đều muốn cưới vợ xinh đẹp, có ai chịu lấy vợ xấu? Người xấu thì không gả được cho ai. Người mà xấu thì chẳng thể gả đi được. Đàn ông đều muốn lấy vợ xinh. Có người trẻ tuổi nào không muốn lấy người xinh đẹp? Họ đều chấp vào tướng.

Bất kể là người xinh hay xấu, hoàn toàn đều không phải là tướng, đều là đất nước lửa gió tổ hợp thành. Bao gồm cả toàn bộ trái đất này, bất kì một thứ gì cũng đều là đất nước lửa gió hợp thành. Xe hơi cũng vậy, nhà cửa cũng vậy, cái gì cũng đều là một hợp tướng. Bạn nhìn thấy những tướng này, hiểu rằng chúng là do đất nước lửa gió hợp thành, khi phân tán ra thì chẳng còn gì hết, thì sẽ không chấp tướng nữa. Bạn không chấp tướng thì gọi là chính tín. Người chấp tướng chính là người thế tục. Đơn giản như vậy thôi. Thấy tướng không phải tướng, bởi vậy điều mà ngài đại sứ nói là gần đúng nhất, chính là điều mà phần trước nói đến, thấy tướng không phải tướng tức là thấy Như Lai, cái này chính là chính tính. Vô cùng hi hữu, bạn muốn hiểu được điều này là vô cùng hiếm có đó!

Trên thế gian này, có người nào không chấp tướng? Cái họ chấp vào là tướng của tiền. Họ tin vào cái gì? Tin vào tiền! Không phải tiền của sư tỉ Tiền… cũng là tiền của sư tỉ Tiền. Đúng vậy không? Họ chấp vào tiền, tài, tiền tài, mọi người đều chấp vào những cái này. Tiếp đó là chấp vào sắc, những thứ đẹp đẽ: chấp vào nhãn hiệu, mặc toàn đồ hàng hiệu, ngay cả khẩu trang cũng phải hàng hiệu, ngay cả gậy ba-toong cũng phải hàng hiệu, ngay cả xe lăn cũng phải hàng hiệu, đều là đồ hàng hiệu, đó chính là chấp tướng, chấp sắc. Còn có chấp địa vị, chấp địa vị gì? Bạn xem, là tranh giành. Nước Mĩ và Trung Quốc tranh chấp cái gì? Minh chủ võ lâm. Minh chủ võ lâm trong tiểu thuyết Kim Dung, thật đó. Trên trái đất này ai to nhất? "Lão phu là to nhất" - đây là cái danh đó!

Bạn xem, giữa nước này và nước kia cũng là cái danh, đất nước nhỏ chẳng có tiếng tăm gì, người ta đều coi thường. Người ta nhìn vào nước lớn, coi thường nước nhỏ. Trung Quốc nổi dậy rồi, bắt đầu rồi, khẩn trương, ai là minh chủ võ lâm, ai là lão đại? Họ tranh giành cái danh! Bạn xem, bây giờ có trưởng lão nổi dậy rồi, Chân Phật Tông chúng ta vừa lâu vừa già… Trưởng lão nổi dậy rồi, nhưng vì sao tôi không phải là trưởng lão, mọi người mới là trưởng lão? Mọi người là cái thứ gì chứ! Tranh giành cái danh trưởng lão này, đúng vậy không?

Thượng sư cũng đang tranh cái danh. Pháp sư tranh với Thượng sư, Thượng sư tranh với trưởng lão, trưởng lão tranh với người tiếp nối, mọi người đều đang tranh với nhau, đúng thế không? Đây là một chữ danh đó! Thấy tướng chẳng phải tướng, tức là thấy Như Lai. Toàn bộ đều là giả, là không, đều là hư huyễn, không có cái nào là chân thực! Bạn tu đến khi Phật tính của mình hiển hiện thì sẽ thấy Như Lai. Tất cả các tướng mà bạn nhìn thấy, bạn đều không bám chấp, khi ấy gọi là thấy tướng chẳng phải tướng, tức là thấy Như Lai. Vì thế, hôm nay tôi cùng mọi người nói về chính tín hi hữu. Hiểu được thấy tướng chẳng phải tướng là vô cùng hiếm có. 

Hôm nay tôi chỉ giảng tiêu đề này thôi, thế là đã rất đủ rồi, đối với mọi người là đủ rồi, khi trở về hãy tận hưởng đi, hai chữ chính tín này là cái gì. Trở về hãy ngẫm nghĩ kĩ. Không giống như tín đồ Phật giáo bình thường, nói "Tôi chính tín Phật giáo." Anh chính tín cái gì chứ? Chấp tướng! Ngay việc anh có cách nghĩ chính tín cũng là chấp tướng rồi, thật ngốc. Bởi vậy, chính tín… họ nói bản thân họ chính tín Phật giáo, họ chấp vào chính tín Phật giáo, đồ ngốc. Thật sự là… Om mani padme hum.

(Ngày 18/09/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu A Di Đà Phật Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 16.)


### 17. Phần thứ 6: Hiếm người có được chính tín (2)


*(Bài giảng 17) *Đừng nên chấp pháp, đừng nên chấp vô pháp

*Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: "Thưa Thế Tôn, liệu có chúng sinh nào nghe được những lời dạy này mà sinh lòng tin thật sự không?"
Phật bảo Tu Bồ Đề: "Đừng nói như vậy. Sau khi Như Lai diệt độ, năm trăm năm sau, có người giữ giới tu phúc, với những lời dạy này có thể sinh tín tâm, coi những lời này là chân thật, nên biết là người ấy không chỉ gieo thiện căn ở một vị Phật, hai vị Phật, ba bốn năm vị Phật, mà là đã gieo thiện căn ở vô lượng nghìn vạn vị Phật. Thậm chí là người nghe được những lời này chỉ một niệm cũng sinh niềm tin thanh tịnh thì Tu Bồ Đề, Như Lai đều biết đều thấy rằng những chúng sinh ấy có được vô lượng phúc đức. Vì sao vậy? Vì các chúng sinh ấy không còn ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng."
"Không còn pháp tướng, cũng không còn phi pháp tướng, là cớ vì sao? Vì các chúng sinh nếu tâm bám vào tướng thì tức là mắc vào ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả."
"Nếu còn bám vào pháp tướng, tức là chấp vào ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả. Là vì sao? Nếu còn bám vào phi pháp tướng, tức là chấp vào ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả. Vì thế, đừng nên chấp pháp, đừng nên chấp vô pháp. Vì ý nghĩa này, Như Lai thường nói: tì kheo các ông nên biết pháp mà ta thuyết giảng như cái bè trên sông, pháp còn nên bỏ, huống hồ không phải là pháp."*

Đoạn này vô cùng thâm sâu ảo diệu, bạn đừng coi thường đoạn này, đoạn này vô cùng sâu. Rất nhiều người đều biết tụng kinh Kim Cang, nhưng hàm nghĩa trong đoạn này là cực sâu, bạn phải hiểu được ý nghĩa chân chính của đoạn này nằm ở đâu. Bạn hiểu được đoạn này thì quá tuyệt vời rồi. Tôi sẽ cùng mọi người nói kĩ về đoạn này. Bám vào "hữu tướng" đương nhiên không đúng rồi, nhưng bám vào "vô tướng" thì cũng không đúng. Sao lại như vậy? Câu trả lời chính là ở trong đoạn này. 

Tu Bồ Đề hỏi Phật, là hỏi như thế nào? *"Thưa Thế Tôn, liệu có chúng sinh nào nghe được những lời dạy này mà sinh lòng tin thật sự không?"* Lòng tin thật sự chính là chính tín. "Liệu có sinh chính tín không?" Phật Thích Ca Mâu Ni nói với Tu Bồ Đề rằng đừng nói như vậy. Chớ nói như vậy, đừng nói như vậy. Sau khi Như Lai diệt độ, nghĩa là sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni viên tịch. 500 năm sau, 500 năm sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni diệt độ. Có người giữ giới tu phúc, với những lời dạy này có thể sinh tín tâm, coi những lời này là chân thật, nghĩa là người có thể sinh lòng tin đối với những gì mà Phật Thích Ca Mâu Ni nói. Coi những lời này là chân thật: cái này chính là chính tín. Nên biết là người ấy, cần biết con người này. Không chỉ gieo thiện căn ở một vị Phật, hai vị Phật, ba bốn năm vị Phật,… Chúng ta gặp được Phật thì cũng đồng nghĩa với đã trồng được thiện căn rồi, nghĩa là có thiện căn thì mới gặp được Phật. Nghĩa là bạn do có chính kiến đối với thực tướng phi tướng thì cũng tương đương trồng thiện căn ở vô lượng nghìn vạn vị Phật, nghĩa là thiện căn của bạn vô cùng thâm hậu, bạn sẽ gặp được nghìn vạn vị Phật.

Thậm chí là người nghe được những lời này chỉ một niệm cũng sinh niềm tin thanh tịnh. Niềm tin thanh tịnh, tín ngưỡng hoàn toàn thanh tịnh. Tu Bồ Đề, Như Lai đều biết đều thấy, nghĩa là Phật đều biết đến bạn, sẽ nhìn thấy bạn, cũng biết đến bạn. Bạn hiểu được thực tướng phi tướng thì Phật đều sẽ thấy được bạn và biết đến bạn. Những chúng sinh ấy có được vô lượng phúc đức. Công đức của những chúng sinh này là vô lượng, phúc phần và phúc đức đều là vô lượng. Vì sao có thể như vậy? Vì các chúng sinh ấy không còn ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng. Không còn pháp tướng, cũng không còn phi pháp tướng. Bởi vì những chúng sinh này không còn ngã tướng, đã vô ngã rồi. Cũng không còn nhân tướng, cái tướng con người này. Chúng sinh tướng là chúng sinh ở thế giới Ta Bà. Thọ giả tướng nghĩa là có người sống lâu, có người sống ngắn. Vô pháp tướng là không còn tướng của pháp. Cũng không còn phi pháp tướng, đây chính là chỗ sâu nhất.

*"Không còn pháp tướng, cũng không còn phi pháp tướng, là cớ vì sao? Vì các chúng sinh nếu tâm bám vào tướng thì tức là mắc vào ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả. Nếu còn bám vào pháp tướng, tức là chấp vào ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả. Là vì sao? Nếu còn bám vào phi pháp tướng, tức là chấp vào ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả.” *Vì thế, đừng nên chấp pháp, đừng nên chấp vô pháp. Chỗ sâu sắc nhất là ở đây. Cái chữ "bám" này vô cùng quan trọng, bạn bám vào pháp tướng, cái gì là pháp. Pháp được nói đến ở đây là sơn hà đại địa, bạn cho rằng có sơn hà đại địa thì đó chính là bám vào pháp tướng. Bạn cho rằng không có sơn hà đại địa thì chính là bám vào phi pháp tướng. Nhìn chung mà nói, đến đây thì đều là chấp ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả, đều là chấp tướng. Bám vào phi pháp tướng cũng là chấp tướng, trọng điểm nằm ở việc "bám". Xuất hiện chữ "bám" này thì biểu thị rằng có cái ngã rồi. Nếu như bạn không có cái ngã thì bạn bám vào cái gì?

Mọi người đọc kinh thì cứ thế là đọc, đọc, đọc, đọc rồi đọc cho hết. 
Thậm chí là người nghe được những lời này chỉ một niệm cũng sinh niềm tin thanh tịnh thì Tu Bồ Đề, Như Lai đều biết đều thấy rằng những chúng sinh ấy có được vô lượng phúc đức. Vì sao vậy? *“Vì các chúng sinh ấy không còn ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng."*
*"Không còn pháp tướng, cũng không còn phi pháp tướng, là cớ vì sao? Vì các chúng sinh nếu tâm bám vào tướng thì tức là mắc vào ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả."
"Nếu còn bám vào pháp tướng, tức là chấp vào ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả. Là vì sao? Nếu còn bám vào phi pháp tướng, tức là chấp vào ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả. Vì thế, đừng nên chấp pháp, đừng nên chấp vô pháp. Vì ý nghĩa này, Như Lai thường nói: tì kheo các ông nên biết pháp mà ta thuyết giảng như cái bè trên sông, pháp còn nên bỏ, huống hồ không phải là pháp."*

Đọc xong rồi, đọc xong là xong thôi, bạn không biết ý nghĩa của nó nằm ở đâu. Vì sao không thể bám vào ngã tướng? Bởi vì vô ngã mà, tôi đã từng giảng rồi, không có cái tôi. Tôi đã từng nói, Lư Thắng Ngạn là ai, không có người nào là Lư Thắng Ngạn. Tôi đã lấy tấm ảnh cho bạn xem, người đó chính là Lư Thắng Ngạn ư, không phải đâu, đó là quá khứ của tôi. Vậy bạn nói người hiện tại chính là Lư Thắng Ngạn, không thể, ông ta cũng sẽ thành quá khứ. Người nào mới là Lư Thắng Ngạn? Người ở Song Liên Cảnh Giới là Lư Thắng Ngạn phải không? Linh cốt tháp Song Liên Cảnh Giới, linh cốt tháp của chúng ta, người ở đó chính là Lư Thắng Ngạn phải không? Cũng không phải, đó chỉ là tro cốt của ông ta, hoặc là một chút xá lợi đã thiêu ra được, đó cũng không phải là Lư Thắng Ngạn. Thế Lư Thắng Ngạn ở đâu? Căn bản là không có. Ở đâu có Lư Thắng Ngạn? Người đang thuyết pháp bây giờ có phải là Lư Thắng Ngạn không? Cũng không phải. Tôi nói, ngày mai chúng ta lại ở đây lại làm một lễ Hộ Ma. Tôi nói cho bạn biết, tôi dứt khoát không đến, mỗi ngày cứ bận bịu thế để làm cái gì, đúng vậy không, thật khiến lão già này mệt chết mất. Những người cho dù có đến thì cũng không chắc là các vị ở đây. Có một số người không đến, "Hôm qua chủ nhật vừa mới làm Hộ Ma xong, thứ hai lại kêu chúng tôi đến đây làm Hộ Ma, để làm cái khỉ gì chứ? Tôi không đi." Thế là không đến. Thay đổi tới lui, biến hóa tới biến hóa lui, căn bản là di động, chưa từng bao giờ dừng lại, suy nghĩ của bạn, những suy nghĩ trong đầu bạn, cái nào là suy nghĩ chứ? Suy nghĩ cũng thay đổi tới lui. 

Vừa mới nói "con người này tốt lắm đó", lúc sau đã "con người này là đồ khốn nạn". Thằng đểu, đồ vô lại, đồ thối tha. Ngày hôm nay bạn ca ngợi người ta, ngày mai bạn đã chửi người ta rồi. Suy nghĩ cũng thay đổi lung tung. Bạn biết không, thật là đáng sợ. Bạn yêu một người, ôi chao, ngày mai người ta hận bạn, bạn yêu người ta, yêu tới mức muốn chết, thế thì hỏng rồi, yêu tới mức muốn chết, nếu như người ta không yêu bạn, bạn liền muốn người ta chết, suy nghĩ này rất đáng sợ đó. Bạn có yêu người ta không? Yêu, yêu nhất! Được, yêu nhất, yêu nhất thì cũng hận nhất, có một ngày bạn không yêu người ta nữa, bạn trông thấy họ thì… Tình yêu, tôi bảo bạn nhé, kết duyên thì rất dễ, chia tay thì rất khó. Thật sự chia tay là một môn học rất lớn, chia tay mà không tốt thì người ta mà yêu bạn đến muốn chết thì người ta cũng xử bạn luôn, cũng chết đẹp luôn, rất nguy hiểm đó. Bạn cho rằng tình yêu rất ngọt ngào sao? Nguồn gốc của đau khổ đó, sẽ sản sinh ra rất nhiều đau khổ, bạn không hiểu sao.

*”Vì các chúng sinh nếu tâm bám vào tướng thì tức là mắc vào ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả."
"Nếu còn bám vào pháp tướng, tức là chấp vào ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả. Là vì sao? Nếu còn bám vào phi pháp tướng, tức là chấp vào ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả. Vì thế, đừng nên chấp pháp, đừng nên chấp vô pháp. Vì ý nghĩa này, Như Lai thường nói…”*

Nói riêng về đoạn này. Không nên chấp pháp, không nên chấp vô pháp. Đây là cảnh giới cao nhất. Vì thế, theo những điều Phật nói, không nên chấp vào yêu cũng không nên chấp vào hận, không nên chấp thiện cũng không nên chấp ác. Đó là cảnh giới cao nhất. Trước kia, trong Thiền tông có nói một câu rằng: "Không nghĩ thiện không nghĩ ác." Lục Tổ nói, không nghĩ thiện không nghĩ ác. Khi xưa Lục Tổ thật sự rất thông minh, không đi học, không biết chữ (có quỷ mới tin), ngài ấy có thể hiểu được không nghĩ thiện không nghĩ ác, đây chính là kinh Kim Cang, vô cùng sâu sắc. Ở đây ý nghĩa rất sâu, nói thẳng ra là không thể nói được, không thể giảng được, không thể giảng, đến cảnh giới này thì đã không thể dùng ngôn ngữ văn tự để mà giảng ra được. Không nên chấp pháp, cũng không nên chấp phi pháp, không nghĩ thiện không nghĩ ác. 

Bởi vậy, chữ "bám" này rất quan trọng, hễ có bám vào thì sẽ có cái ngã, cái tôi vốn dĩ là không có thì tôi bám vào cái gì? Đây là một cảnh giới rất cao. Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, bạn sẽ không còn nghiệp nữa. Bạn làm thiện nghiệp bạn sẽ lên trời, đạt quả nhỏ làm người làm trời. Bạn làm ác nghiệp bạn sẽ đọa tam đồ, gặp phải ác báo. Vì thế, bạn làm điều thiện rồi, không sai, bạn hành thiện nhưng không cần biết là thiện, đây là điều mà Jesus nói. Guru của tôi nói một câu: "Tay phải làm việc thiện, đừng để tay trái biết." Tôi cảm thấy Jesus chắc chắn là đã đọc kinh Kim Cang rồi, bởi thế ngài ấy hiểu được điều này mà. Tay phải việc thiện, đừng để tay trái biết. Ngài ấy không chấp thiện, không chấp ác, không chấp pháp, không chấp pháp tướng, không chấp phi pháp tướng, như thế mới có thể thành Phật. 

Hôm nay tôi nói với mọi người điều rất quan trọng… tôi vẫn chưa giảng xong đoạn này, lần sau sẽ giảng đến Phần thứ 7: Vô đắc vô thuyết. Tôi nói để mọi người biết, vô đắc vô thuyết chính là ý này, không có được, cũng không nói được.

Có một đôi vợ chồng tham quan triển lãm tranh, người vợ bị cận thị nặng, bỗng nhiên có tiếng bà ấy kinh ngạc thét lên: "Đây là bức tranh xấu nhất mà tôi từng thấy." Chồng của bà bèn kéo bà sang một bên: "Nói nhỏ một chút, cái mà bà vừa nhìn thấy là cái gương đó." Đây gọi là chấp tướng.

Sư tử trông thấy một con chó điên liền vội vàng tránh đi. Sư tử con nói: "Bố ơi, bố dám đánh nhau với hổ, dám tranh hùng với báo, thế sao lại lẩn tránh con chó điên này, thật là mất mặt quá!" Sư tử hỏi: "Con à, đánh bại một con chó điên thì có vinh quang không?" Sư tử con lắc đầu. "Vậy để con chó điên cắn một miếng thì có xui xẻo không?" Sư tử con gật đầu. "Bởi vì như thế, việc gì chúng ta phải dây dưa với con chó điên này. Không phải người nào cũng đáng làm đối thủ của con, đừng tranh biện với những người không đủ tố chất, hãy cười một chút, tránh thật xa, đừng để cho nó cắn con." Điều này bạn phải hiểu rõ, bởi vì rất nhiều người trên thế giới hiện nay đang đánh nhau với chó điên đó.

Vì thế, Phật giáo có nói một câu: "Đừng để ý." Hãy phớt lờ đi. Còn tôi nói ba chữ "Không can hệ". Đừng để ý thì vẫn còn có sự việc đó. Không can hệ, tôi đã nói rồi, tôi nói sau khi tôi chết, sau này còn lại Chân Phật Tông chẳng có liên quan gì đến tôi. Tôi đã chết rồi mà. *Selamat pagi. Selamat malam. Selamat*, sẽ có một ngày tôi sẽ chết. Chân Phật Tông và tôi có quan hệ gì chứ? Không can hệ. Có Chân Phật Tông, không can hệ. Không có Chân Phật Tông, không can hệ. Chân Phật Tông không còn, cũng không can hệ, chẳng có một chút liên quan nào đến tôi. Tôi và cái tôi còn không có quan hệ gì cả thì còn có quan hệ gì với Chân Phật Tông chứ? Mọi người nghĩ mà xem, Chân Phật Tông và Lư Thắng Ngạn có can hệ gì? Chẳng có can hệ gì cả. Chân Phật Tông chỉ là một danh từ, Lư Thắng Ngạn cũng là một danh từ, đều là một danh từ mà thôi, căn bản là chẳng có, căn bản là chẳng có gì. Sau này chẳng còn gì thì cũng là cần phải như thế. Không có quan hệ gì cả. Vì thế, trong tâm tôi chẳng có một chút lăn tăn nào, chẳng hề có suy nghĩ đó.

Rất nhiều phóng viên hỏi tôi, rất nhiều người phỏng vấn tôi: "Sau này ngài có kế hoạch gì không? Tương lai ngài muốn làm gì? Tương lai Chân Phật Tông muốn phát triển đến mức nào? Ngài muốn viết bao nhiêu cuốn sách? Ngài muốn vẽ bao nhiêu bức tranh? Ngài muốn thành tựu ra sao?" Tôi đều lắc đầu, không có. *No, I don't care*. Không có can hệ gì, chính là như thế, tôi chỉ có thể lấy ví dụ với mọi người như vậy mà thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 19/09/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Khổng Tước Minh Vương tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 17.)*


### 18. Phần thứ 6: Hiếm người có được chính tín (3)


*(Bài giảng 18) *Thế nào là pháp? Thế nào là phi pháp?

*Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: "Thưa Thế Tôn, liệu có chúng sinh nào nghe được những lời dạy này mà sinh lòng tin thật sự không?"
Phật bảo Tu Bồ Đề: "Đừng nói như vậy. Sau khi Như Lai diệt độ, năm trăm năm sau, có người giữ giới tu phúc, với những lời dạy này có thể sinh tín tâm, coi những lời này là chân thật, nên biết là người ấy không chỉ gieo thiện căn ở một vị Phật, hai vị Phật, ba bốn năm vị Phật, mà là đã gieo thiện căn ở vô lượng nghìn vạn vị Phật. Thậm chí là người nghe được những lời này chỉ một niệm cũng sinh niềm tin thanh tịnh thì Tu Bồ Đề, Như Lai đều biết đều thấy rằng những chúng sinh ấy có được vô lượng phúc đức. Vì sao vậy? Vì các chúng sinh ấy không còn ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng."
"Không còn pháp tướng, cũng không còn phi pháp tướng, là cớ vì sao? Vì các chúng sinh nếu tâm bám vào tướng thì tức là mắc vào ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả."
"Nếu còn bám vào pháp tướng, tức là chấp vào ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả. Là vì sao? Nếu còn bám vào phi pháp tướng, tức là chấp vào ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả. Vì thế, đừng nên chấp pháp, đừng nên chấp phi pháp. Vì ý nghĩa này, Như Lai thường nói: tì kheo các ông nên biết pháp mà ta thuyết giảng như cái bè trên sông, pháp còn nên bỏ, huống hồ không phải là pháp."*

Tôi đã nói rồi: Vì thế, đừng nên chấp pháp, đừng nên chấp vô pháp. Tôi đã giảng rồi, không nên chấp pháp, không nên chấp vô pháp, trọng điểm nằm ở chữ chấp. Bạn chấp thì sẽ là hữu tướng. Không nên chấp phi pháp, mặc dù phi pháp là vô tướng, nhưng việc bám chấp này của bạn lại là hữu tướng. Kinh Kim Cang nói về vô tướng, không thể chấp pháp. Khi bạn thật sự có được cái nghĩa này rồi thì Như Lai thường nói: *“Tì kheo các ông nên biết pháp mà ta thuyết giảng như cái bè trên sông, pháp còn nên bỏ, huống hồ không phải là pháp.”*

Như cái bè trên sông, pháp còn nên bỏ, huống hồ không phải là pháp được nói đến ở đây là một điểm quan trọng. Tôi thường nói, tu hành giống như ngồi trên thuyền bè, bạn được chở trên cái thuyền này, cái thuyền này cần đến một bến khác, cái thuyền này đi đến nơi đó, bạn xuống thuyền, bạn có còn muốn bám trụ vào cái thuyền này không? Nói tôi không xuống thuyền, tôi muốn cái thuyền này cơ. Bạn cần cái thuyền này để làm gì? Cái thuyền này phải quay đầu, bạn đã lên bờ rồi, bạn vẫn còn muốn bám trụ lấy cái thuyền này không buông, thế gọi là bám chấp. Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp là nói như thế này, bạn tu hành nắm chắc vào một điểm, bạn tu thành rồi, thì điểm này cũng phải vứt bỏ, bạn đã đến được bờ rồi, bạn còn cần cái pháp đó làm gì nữa? Giống như chúng ta, nếu như chúng ta nói đời này tu hành, cuối cùng bạn đã đến được tịnh thổ rồi. Tốt rồi, bạn ở tịnh thổ, bạn có còn tu "pháp đến tịnh thổ" nữa không? Không cần nữa! Bạn đã đến được tịnh thổ rồi mà, cái pháp ban đầu bạn tu để có thể đến tịnh thổ bây giờ không cần dùng nữa, có thể quẳng đi rồi.

Giống như cái bè, bạn ngồi trên chiếc thuyền nhỏ, đã đến được bờ rồi thì còn cần chiếc thuyền này nữa không? Không cần nữa. Không dùng đến con thuyền này nữa, không cần phải đi thuyền, không cần trở về nữa. Bạn đã đến tịnh thổ rồi thì sẽ không thối chuyển nữa. Có thể không cần dùng đến pháp nữa rồi. Phật pháp mà bạn tu để đến tịnh thổ đã có thể không cần nữa, huống hồ là cái không phải là pháp. Thế nào là phi pháp? Phi pháp được nói đến ở đây chính là những thứ như xem phong thủy, chính là phi pháp, cái này không thể khiến bạn vãng sinh được. Bạn giải trừ tai họa, giúp người ta tiêu tai giải ách, cái này cũng không thể vãng sinh. Xem tướng cho người ta, xem tướng rất giỏi cũng không thể vãng sinh được! Đó chính là phi pháp.

Bạn hiểu về cửu cung, chín cung ở trên bầu trời, xem tướng sao, bạn cũng không thể vãng sinh, cái này đều là phi pháp. Phật Thích Ca Mâu Ni nói những cái này đều là phi pháp, không phải là Phật pháp chân chính. Còn tử vi đẩu số, bát tự đoán mệnh, tướng mặt, ma y tướng thuật, những cái này là phi pháp. Bạn xem phong thủy có thể vãng sinh không? Không thể, đó không phải là pháp để vãng sinh Phật quốc tịnh thổ. Tối thiểu vào lúc bạn sắp đi, tây phương Tam Thánh phải hiện lên trước mặt. A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát hiện lên trước mặt bạn, cầm một đài hoa sen để cho bạn ngồi lên thì bạn mới có thể đến được Phật quốc tịnh thổ đó, đây mới là chính pháp, chính là chính pháp của Tịnh thổ tông.

Chúng ta tu hành Mật giáo còn cần thân thể chính mình hóa thành ánh sáng, dùng ánh sáng của chính mình để đến được Phật quốc tịnh thổ, nhờ ánh sáng của chính mình trực tiếp đến được Phật quốc tịnh thổ. Hóa thành cầu vồng, đi vào bên trong biển Phật, tử quang gặp mẫu quang, đó là Mật giáo! Những cái này mới thuộc về chính pháp. Còn những cái khác, ngũ thuật, bốc quẻ, tôi biết quẻ Văn Vương, xem bói, biết bát quái, thượng quái là gì, hạ quái là gì, vận mệnh tương lai của bạn ra sao… Tôi đều có thể tính ra được. Cái đó không thể vãng sinh được! Cái đó đều là phi pháp. Bạn biết tử vi đẩu số, cái này là phi pháp. Biết phong thủy, xem núi xem nước, xem loan đầu, xem tướng sao. Bạn biết xem hướng long mạch sơn thủy, bạn đều có thể xem được, nhưng cũng không thể vãng sinh. Chỉ là có thể khiến bạn đời sau có thể xưng vương, có phúc phận, có danh vọng, có ích ở thế giới Ta Bà, còn ở cõi trời, cõi tịnh thổ thì chẳng có tác dụng gì. Đó đều là phi pháp.

Vì thế, hôm nay chúng ta tu hành, bạn nghĩ là "ấy, để tôi xem có thể kiếm được bao nhiêu tiền", đúng thế không, xem có thể kiếm được bao nhiêu tiền, bạn tu tương ứng với Hoàng Tài Thần, tương ứng với Dzambhala, bạn có thể đến được chỗ của ngài Dzambhala, bạn có thể đi đến Tứ Thiên Vương Thiên, đó chỉ là một pháp phương tiện. Đến được Tứ Thiên Vương Thiên rồi thì bạn vẫn phải tu hành… Đến được Thiên giới rồi, vẫn còn phải tu hành. Vì thế, ở đây, Phật Thích Ca Mâu Ni nói trong đoạn này, tôi nhất định phải giảng cho rõ ràng cái gì là pháp, cái gì là phi pháp. Phật Thích Ca Mâu Ni nói, tất cả cái gì mà không phải là Phật pháp đều phải bỏ, huống hồ với Phật pháp, khi bạn đã đạt đến thành tựu rồi, đến được tịnh thổ rồi, bạn còn cần những pháp tịnh thổ để làm gì nữa? Không cần nữa! Đoạn này mọi người hiểu chưa? Tôi đã giảng cho mọi người rất rõ ràng rồi.

Bảo bạn học Phật không phải là bảo bạn học xem phong thủy, học xem tướng mặt. Tôi cũng biết đó. Nhìn lông mày để xem anh em, nhìn mắt để xem trí tuệ, nhìn tai để xem thọ mạng, nhìn cằm để xem nô bộc, nhìn mũi để xem tiền tài… xem tiền tài của bạn có bao nhiêu. Nhìn miệng để xem vận, vận tốt, vận xấu, thì phải xem miệng của bạn. Ở phía sau đuôi mắt này thì xem số đào hoa. Cái này là tướng mặt! (Sư Tôn lần lượt chỉ các bộ phận trên khuôn mặt.) Đây là cung đào hoa, đây là cung huynh đệ, đây là cung trí tuệ, đây là cung tài bạch, đây là cung nô bộc, đây là cung vận khí, đây là cung đào hoa. Cái tai này, kéo nó ra, dài ra một chút, thì sẽ thành tai trường thọ ngay. Tai trường thọ, tai Phật Bồ Tát đều rất dài, dái tai đều rủ xuống vai, rủ xuống vai như thế này.

Cái này đều là phi pháp! Không phải chính pháp, cái này đều không thể vãng sinh tịnh thổ được! Nếu bạn giỏi y thuật, bạn học y thuật rất giỏi, bạn thật sự là một thầy thuốc vĩ đại, bạn cứu độ rất nhiều chúng sinh, thì đây là một cơ sở để vãng sinh Thiên quốc. Bạn cứu độ rất nhiều người, bạn có thể đến cõi trời, còn Phật quốc thì vẫn chưa thể đến được, bởi vì bạn không có duyên tu Phật, không phải chính pháp. Nhưng bạn có thể dựa vào những thứ phi Phật pháp này để cứu độ chúng sinh, cái này được. Bạn có thể đến cõi trời, nhưng không thể đến Phật quốc, đó thuộc về phi Phật pháp. Vì thế, chính pháp và phi pháp, mọi người nghe rõ rồi, như thế là mọi người biết rồi.

Đừng cho rằng đoán mệnh cũng là Phật pháp, đừng cho rằng biết xem sao trời cũng là Phật pháp. Có thể mượn gió đông, hô phong hoán vũ… bạn cho rằng gọi gió hô mưa là Phật pháp sao? Điều binh khiển tướng, thiên binh thiên tướng, cái mà thiên binh thiên tướng cấp cấp như luật lệnh, thần binh thần tướng cấp cấp như luật lệnh, bạn biết niệm câu chú này, thần binh thần tướng cấp cấp như luật lệnh, tất cả thần tướng bạn đều có thể điều động tới lui, chẳng có tác dụng gì, đều không phải là Phật pháp! Căn cứ theo những điều mà Phật Thích Ca Mâu Ni giảng, đó là bàng môn tà đạo, đều không phải là Phật pháp. Sư Tôn cũng có thể niệm, thần binh thần tướng cấp cấp như luật lệnh! Bạn bấm vào đầu ngón tay nào thì là vị thần nào, hôm nay ai trực nhật, bây giờ là thời gian nào, tí sửu dẫn mão thìn tị ngọ mùi thân dậu tuất hợi, bạn ấn vào thời gian nào, sau đó bạn niệm chú, thì vị thần trực nhật của thời gian đó sẽ giáng xuống, thần trực nhật hôm nay sẽ giáng xuống để chờ nghe lệnh.

Tôi bảo anh đi làm việc gì, anh chờ đợi nghe lệnh, thế rồi đi làm việc. Như thế có thể đến Phật quốc tịnh thổ không? Không thể! Nhiều nhất cũng chỉ có thể giúp bạn lên được cõi trời mà thôi, hưởng thiên phúc. Bạn cho rằng bạn là người có phúc phận, bạn giúp đỡ rất nhiều người nghèo khó, thế là bạn có thể đến Phật quốc tịnh thổ ư? Không có đâu, đến cõi trời thôi. Đây là điểm khác biệt giữa Phật giáo và các giáo phái khác. Vì thế, tôi giảng điểm này: Phần thứ 6: Hiếm người có được chính tín. Tất cả các tì kheo, nên biết pháp mà ta thuyết giảng như cái bè trên sông, pháp còn nên bỏ, huống hồ không phải là pháp. Đoạn này tôi đã giảng rõ ràng rồi.

Vợ và chồng đang xem phim truyền hình, phim cổ trang về đề tài chiến tranh. Vợ xem rồi nói với chồng: "Không ngờ con người cổ đại cũng tự yêu bản thân đến như vậy!" Chồng nghi hoặc hỏi: "Tự yêu bản thân như thế nào?" Vợ nói: "Họ ra chiến trường, anh xem, họ giơ lá cờ lên, trên lá cờ còn viết một chữ "soái" to đùng nữa chứ!" [soái vừa có nghĩa là chủ tướng, vừa có nghĩa là đẹp trai] Tôi bảo cho bạn biết nhé, đây gọi là thiếu tri thức, người vợ này không đủ tri thức. Vì thế, người học Phật chúng ta ngày nay phải có đủ tri thức, giống như hôm nay giảng kinh Kim Cang, có đủ tri thức, bạn có thể phân biệt được, không có đủ tri thức thì bạn sẽ bị lừa!

Bạn cho rằng bạn biết đoán mệnh, bạn biết xem bói, bạn có thể này kia… xem đông, xem tây, xem nam, xem bắc, bạn đều có thể tính ra được, thế nào cũng đều tính được… vô ích! Không đến được tịnh thổ, đó chẳng phải là Phật pháp. Bạn cho rằng bạn biết thần thông, thần cũng chẳng thông được, quỷ thông thì có! Thần thông cái gì chứ? Là quỷ thông, không phải thần thông! Hoặc thông loạn cào cào, thông cái gì chứ. Bạn có thể thông đến Phật quốc mới là chính pháp, những cái khác đều là tà pháp, thần thông cũng là tà pháp.

Đương nhiên, bạn đã sản sinh năng lực rồi, bạn thành tựu rồi thì đương nhiên bạn sẽ sản sinh ra năng lực, đó chỉ là sản phẩm phụ thôi, tôi hoàn toàn không bảo bạn theo đuổi những thứ đó! Bạn mê đắm vào thần thông, thế thì bạn xong rồi, bạn không đến được Phật quốc tịnh thổ đâu. Thông cái gì mà thông? Tôi bảo cho bạn biết, có mà táo bón! Táo bón thì chẳng thông đâu. Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 25/09/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Quan Thế Âm Bồ Tát Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 16.)*


### 19. Phần thứ 7: Vô đắc vô thuyết (1)


*(Bài giảng 19) *Vô đắc vô thuyết

*"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như Lai có đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề chăng? Như Lai có thuyết pháp chăng?"
Tu Bồ Đề nói:
"Như con hiểu ý nghĩa mà Phật nói, không có pháp nhất định gọi là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, cũng không có pháp nhất định mà Như Lai có thể nói. Là vì sao? Là vì pháp mà Như Lai nói đều không thể lấy, không thể nói, chẳng phải pháp, chẳng phải phi pháp. Vì sao như thế? Vì tất cả Thánh Hiền đều dựa vào pháp vô vi mà có sự khác biệt."*

Đoạn này - Phần thứ 7: Vô đắc vô thuyết. Tôi giảng tiêu đề "Vô đắc vô thuyết" này. Tổ sư Đạt Ma, người ta mời ngài ấy thuyết pháp, khi ngài ấy đến Trung Thổ, người ta thỉnh ngài thuyết pháp, ngài nói: "Được, tôi thuyết pháp." Ngài ấy lên pháp tọa, cầm một cái hình như là tấm lót, cầm lên rồi đập bộp xuống bàn một cái. Xong rồi, thuyết pháp kết thúc, thế rồi đi xuống. Là như thế đó. Đơn giản như thế đó, tôi cũng làm được, lần sau tôi làm pháp hội, tôi sẽ đi lên, lắc chuông kim cang một cái, hoàn tất bài thuyết pháp, rồi tôi đi xuống. Thuyết pháp chẳng khác gì không thuyết pháp, có được cũng như chẳng có được gì, vô đắc vô thuyết. 

Phần thứ 7: Vô đắc vô thuyết. Tu Bồ Đề rất lợi hại, Tu Bồ đề thật sự là số một về biện giải ý nghĩa tính Không, bởi vì ngài ấy đã chứng được tính Không. Có chứng đắc tính Không không? Không có, đây gọi là vô đắc, bởi vì người chứng đắc tính Không sẽ chẳng nói tôi chứng đắc tính Không rồi đâu.

A nậu đa la tam miệu tam bồ đề chỉ là một danh từ mà thôi. Bạn thấy đó, vô đắc vô thuyết, không có người nào có được, cũng không có người nào mất. Một số người sẽ hỏi: "Sư Tôn, ngài nói vô đắc, không được không mất, ngài nói không được không mất: không có được gì, cũng không mất đi. Nếu thế thì, vì đã là vô đắc, chúng ta còn tu hành làm cái gì? Không cần tu nữa." Mọi người đi chơi, đi leo núi, đi chơi nước. Đưa mọi người đi leo núi, leo lên núi Chẩm Đầu mà ngủ [chẩm đầu nghĩa là cái gối], leo lên núi Sa Mạo ở phía sau Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, mọi người đi leo núi, ở đó có một công viên, núi ở đó cũng rất đẹp, có thác nước nhỏ. "Cầu nhỏ nước chảy bãi cát mây, đường cổ gió tây con ngựa gầy." Cực kì nên thơ, đi leo núi ở đó, thật sự có cây cầu nhỏ, có nước chảy, có thác nước, có bãi cát. Đi chơi là được rồi, đời người vui chơi là được rồi, còn tu hành cái gì chứ? Bảo chúng tôi tu hành ư? Chẳng có được cái gì cả thì tu cái hành gì chứ? Phải tu hành đó, bởi vì bạn cần tu hành mới có thể biết về vô đắc, bạn không tu hành thì làm sao biết về vô đắc được chứ. Bạn tu đến cuối cùng, thì cuối cùng bạn sẽ biết: "Tôi chẳng đạt được cái gì cả." Cái này chính là chứng nghiệm, bạn thật sự vô đắc, người biết được vô đắc mới gọi là có chứng nghiệm, bạn đã chứng được vô đắc rồi. 

Vì thế, trong Kinh Kim Cang có viết: *"Tâm quá khứ không thể đắc, tâm hiện tại không thể đắc, tâm vị lai không thể đắc"*. Bạn nắm bắt, đắc được tâm gì? Có một ông bác đang bán các món điểm tâm, ông bác này nói với một hòa thượng (hòa thượng đó muốn lên núi tìm sư phụ), ông bác nói: "Tôi đang bán điểm tâm, tôi xin hỏi cậu một câu, tâm quá khứ không thể nắm bắt, tâm hiện tại không thể nắm bắt, tâm vị lai không thể nắm bắt, thế cậu nắm bắt được tâm gì?" Hòa thượng kia không trả lời được. Cậu ta lên núi đi tìm sư phụ. Ông bác nói: "Mọi người xem, lại thêm một người nữa chết." Câu hỏi của ông bác không ai có thể trả lời được. "Tâm quá khứ không thể đắc, tâm hiện tại không thể đắc, tâm vị lai không thể đắc. Cậu đắc được tâm gì? Nếu cậu trả lời được, tôi sẽ cho cậu điểm tâm miễn phí. Trả lời không được thì không cho nữa." Rất đơn giản, đó là tâm vô sở đắc. Tôi có được cái tâm vô sở đắc đó!

Nếu như là tôi, ông bác hỏi tôi: "Tâm quá khứ không thể đắc, tâm hiện tại không thể đắc, tâm vị lai không thể đắc. Anh đắc được tâm gì?" "Tôi muốn ăn điểm tâm này thôi." Tôi lấy luôn rồi đi. Cái đó là ngay lập tức, ngay tức thì tôi muốn ăn điểm tâm của ông. Rất nhiều người theo Thiền tông bây giờ đều nói về ngay lúc này, tôi nói cho bạn biết nhé, nói rất đơn giản, ngay lúc này cũng là sai. Ngay lúc này cũng là sai, bởi vì ngay lúc này của bạn hiện tại chính là tâm hiện tại rồi, tâm hiện tại chính là ngay lúc này mà. Rõ ràng đã nói với bạn rồi mà: "Tâm hiện tại cũng không thể đắc." Vì thế ngay lúc này của bạn cũng là sai, vậy cái gì mới là đúng? Vô đắc mới là đúng. Đây chính là tiêu đề mà hôm nay tôi giảng: Vô đắc.

Vô thuyết. Phật pháp, vì sao cần giảng Phật pháp? Căn bản là không có Phật pháp. Trong kinh Kim Cang nói: tính Không vốn dĩ đã tồn tại rồi, Phật tính vốn dĩ đã tồn tại rồi, không phải là tu mà ra. Lần trước tôi đã giải thích qua một lần rồi, không phải là bạn dùng tu hành để tu ra được Phật tính, Phật tính từ đầu đã có rồi. Điều này rất sâu đó. Vô thuyết, Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp 49 năm, nhưng Ngài ấy không hề nói gì cả, trong kinh Kim Cang còn nói: "Nếu nói rằng ta có thuyết pháp, thì là phỉ báng ta, nghĩa là phỉ báng Phật." Đây đều là những điều rất thâm sâu ảo diệu. Pháp nhĩ bản nhiên chính là ở đây. Vô đắc vô thuyết chính là pháp nhĩ bản nhiên, chính là Phật tính, chính là tính Không. Bạn chỉ cần trực nhận được tính Không, trực nhận được Phật tính này. Bây giờ tôi hỏi mọi người, trên thế giới này bạn đạt được cái gì? Tôi hỏi bạn, trên thế giới này bạn có được thứ gì? Bạn có thể có được thứ gì? Mỗi người các bạn đang ngồi đây, sau này bạn sẽ có được cái gì?

Nói đơn giản là, chúng ta ở đây người trẻ tuổi nhất là mấy tuổi? Tenzin, cậu trẻ tuổi nhất, cậu mấy tuổi rồi? 19 tuổi à? Được rồi, tôi hỏi cậu: 100 năm sau cậu có được cái gì? Vô sở đắc, không sai, mời ngồi. Thế cậu còn đi học làm cái gì? Đúng thế, người nào có thể có được cái gì? Có ai có thể có được thứ gì? Vô đắc mà, chẳng phải tôi đã nói rõ rồi sao. Bạn cho rằng tiền bạn kiếm được bây giờ là của bạn, không phải của bạn. Những thứ bạn vừa ăn lúc trưa xong mới là của bạn, nhưng mà cũng chẳng phải là của bạn, buổi tối là lại ra ngoài luôn. Bạn có được cái gì? Rốt cục bạn có được cái gì?

Bởi vậy, điều mà kinh Kim Cang nói đến là mộng. Huyễn - mộng huyễn, bào - bong bóng nước, ảnh - cái bóng. Mộng huyễn bào ảnh thôi! Mọi người bán mạng kiếm tiền, bán mạng tranh làm minh chủ võ lâm, tiểu thuyết Kim Dung đã viết đó, mọi người đều tranh nhau làm minh chủ võ lâm. Bây giờ ai đang làm minh chủ võ lâm? Nước Mĩ đã làm một thời gian rồi. Không thể làm vĩnh viễn được, người nào có thể vĩnh viễn làm minh chủ võ lâm? Thế giới này thay đổi liên tục, biến tới biến lui, biến hóa vô cùng. Thật vô thường, trong Phật giáo chúng ta gọi là vô thường, không có trạng thái thường hằng. Bạn cho rằng sẽ vĩnh viễn làm minh chủ võ lâm ư? Hỏi bạn nhé: trên thế giới này bạn có thể có được cái gì? Không có, chính là vô đắc. Vô thuyết, bởi vì vô đắc rồi mà, thế thì còn nói cái gì nữa? Không cần nói nữa. Vì thế, mặc dù Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp 49 năm nhưng cũng không khác gì không nói. Sư Tôn thuyết pháp nhiều năm như vậy cũng như không nói. Vì thế, thuyết pháp là vì muốn bạn hiểu được vô đắc vô thuyết. Nếu bạn hiểu được vô đắc vô thuyết thì tâm bạn sẽ bình lặng. Thế giới sẽ được hòa bình thực sự. Bạn cho rằng vẫn còn có được thì sẽ khởi lên chiến tranh, khởi lên tranh luận, tranh tới tranh lui.

Trước kia, sư phụ tôi nói với tôi, những con dòi trong hố phân đều tranh tới tranh lui, những con dòi nhỏ nhỏ màu trắng đó, có hay không? Chúng cứ thế tranh nhau nhung nhúc trong hố phân. Trước kia chúng ta còn có hố phân để mà nhìn, bây giờ mọi người đã không còn thấy hố phân nữa rồi. Bây giờ đã không còn nhà xí, nhà xí ở cạnh ruộng không còn nữa rồi, bây giờ đã dùng phân bón hóa học. Ngày xưa khi chúng tôi còn nhỏ còn phải ngồi xổm trên hố xí nữa, ở quê thì vẫn phải ngồi xổm, ngồi xổm trên hố xí, phía dưới thì những con dòi bò tới bò lui, lúc nha lúc nhúc, chúng có được cái gì không? Con người cũng giống như thế, chẳng có được cái gì cả. Vì thế, lúc này bạn có thể tâm bình khí hòa. Bạn thật sự nhận ra vô sở đắc chính là tu hành, vô đắc chính là tu hành, tâm sẽ lắng xuống, cũng không tranh đấu không phiền não, bởi vì cuối cùng thì đều như nhau cả, về cơ bản chính là như vậy, vô đắc mà! Có ai có thể đạt được một thứ gì chứ? Nhà cửa, bạn nói bạn có nhà cửa, nhà cửa so với tuổi thọ của bạn còn dài hơn. Khi Sư Tôn đi rồi, Chân Phật Mật Uyển vẫn còn đó, biệt thự Cầu Vồng vẫn còn đó, đúng thế không? Tro cốt của tôi sẽ được gửi đến Song Liên Cảnh Giới, cũng thế thôi. Bạn có được một chỗ trong đó, mua được một vị trí trong đó, có được một chỗ trong đó, thật ra vị trí đó cũng không hẳn là của bạn, không có, đó là không có không mất.

Vô đắc vô thuyết, muốn thuyết pháp, pháp chân chính, chẳng có pháp nào có thể nói. Chúng ta nói pháp này nghĩa là nói về công cụ. Lần trước đã nói đến: Phật pháp chính là cái bè, pháp còn nên bỏ, huống hồ không phải là pháp. Phật pháp chân chính bạn còn phải bỏ, huống hồ là những thứ không phải là pháp kia. Ngày hôm qua đã nói rồi. Vì thế, mọi người tâm bình khí hòa, tâm bình khí hòa, vô niệm, chính là tu hành. Vô niệm, không can hệ, chính là tu hành. Chẳng phải hôm qua tôi đã nói đừng cho rằng Sư Tôn mặc kệ con trai, con gái, cháu trai, cháu gái của mình, mặc kệ, không phải là không yêu họ, có yêu. Không sai, chúng là con trai, con gái của bạn thì đương nhiên là yêu rồi, nhưng bạn có biết con trai, con gái của bạn là oan thân trái chủ kiếp trước của bạn không? Bạn có biết hay không? Có người là do thiện duyên mà đến, sẽ đối với bạn rất tốt, có người là do ác duyên mà đến, e rằng còn giết cả bạn nữa! Đó chính là duyên. Cái duyên đời đời kiếp kiếp của chúng ta, nghiệp chướng đời đời kiếp kiếp của chúng ta đang kiểm soát chúng ta đó.

Khi bạn đã hiểu Phật pháp rồi, biết rằng vô sở đắc rồi, bạn sẽ tâm bình khí hòa. Bạn vẫn còn yêu con cái, nhưng tất cả đều xuôi theo chúng, đối với cháu trai, cháu gái cũng vậy. Chẳng phải là vô tình, tôi muốn độ hóa chúng, nhưng còn phải xem nhân duyên của chúng nữa. Bây giờ chúng vẫn còn bám chấp vào tất cả mọi thứ của thế gian này, không hiểu về vô đắc vô thuyết. Bạn thật sự hiểu vô đắc vô thuyết thì bạn sẽ tu hành đó. Bạn chẳng có được cái gì thì bạn đi tranh giành với người ta làm cái gì? Bạn đi trộm đồ của người ta làm cái gì? Bạn đi khoe mẽ sắc dục của bản thân làm cái gì? Cuộc sống của bạn về cơ bản đã đủ rồi thì vì sao bạn còn phải đi tranh giành những thứ khác? Đó là "độc", Phật Thích Ca Mâu Ni nói rồi, những thứ đó là rắn độc đó. Bởi vậy, bạn hãy pháp nhĩ bản nhiên đi, cái gì đến sẽ đến, cái gì đi sẽ đi, cái gì có được sẽ có được, cái gì không có được thì không có được. Những thứ vật chất là như thế đó, con cái cũng thế thôi, con cái, cháu chắt đều là như thế. Phải lĩnh ngộ được những điều này là yếu nghĩa trọng yếu nhất của kinh Kim Cang. Hôm nay tôi đã giảng Phần thứ 7: Vô đắc vô thuyết. Om mani padme hum.

*(Ngày 26/09/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Hổ Đầu Kim Cang tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 19.)*


### 20. Phần thứ 7: Vô đắc vô thuyết (2)


*(Bài giảng 20) *"Vô vi pháp" và "vô hữu định pháp”

*"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như Lai có đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề chăng? Như Lai có thuyết pháp chăng?"
Tu Bồ Đề nói:
"Như con hiểu ý nghĩa mà Phật nói, không có pháp nhất định gọi là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, cũng không có pháp nhất định mà Như Lai có thể nói. Là vì sao? Là vì pháp mà Như Lai nói đều không thể lấy, không thể nói, chẳng phải pháp, chẳng phải phi pháp. Vì sao như thế? Vì tất cả Thánh Hiền đều dựa vào pháp vô vi mà có sự khác biệt."
*
Tất cả Thánh Hiền đều dựa vào pháp vô vi mà có sự khác biệt, câu này cũng rất quan trọng, vô cùng quan trọng. Vô thuyết, vô đắc vô thuyết, phần thứ bảy.

Lần trước chúng ta đã nói về vô đắc, tôi đã giảng một buổi tối rồi, bây giờ tôi nói về vô thuyết. Ý của Tu Bồ Đề là như thế này. Những pháp mà Như Lai đã nói, ở đây, lời mà Phật Thích Ca Mâu Ni đã giảng: pháp, đều không thể có được, không thể lấy được, cũng không thể nói được. Chẳng phải pháp, chẳng phải phi pháp. Vì sao như thế? Tôi hỏi mọi người nhé: thế nào là chẳng phải pháp, chẳng phải phi pháp? Vì sao lại nói như vậy? Phi pháp, phi phi pháp. Lần trước chúng ta đã nói về phi pháp, thế nào là chẳng phải pháp? Đoán mệnh này, xem tướng này, bốc quẻ này, xem sao trời này, tiên đoán này, xem phúc phận của bạn được bao nhiêu, nghiệp chướng nhẹ không, tử vi đẩu số này, hoàng cực mệnh số này, cân lạng của Viên Thiên Cương này, phong thủy địa lý của Lí Thuần Phong này, những cái này đều thuộc về phi pháp. 

Thế còn cái gì là phi phi pháp? Có ai có thể giải thích câu này không? Tôi nói cho mọi người biết nhé, cái gì gọi là không phải pháp, không phải phi pháp: hình như có pháp, mà hình như cũng không có pháp. Hãy nhớ cho kĩ, hình như có pháp, hình như có thuyết pháp đó, nhưng hình như không có pháp. 

Bạn có biết vì sao lại có hai chữ gọi là Như Lai không? Vì sao chúng ta lại dịch ra là Như Lai? Xin hỏi, Như Lai có ý nghĩa gì? (Có người trả lời tại chỗ: không đến, không đi.) Không phải không đến, không đi, không phải thế, tôi đã nói với mọi người rồi mà, lần trước tôi đã giảng rồi mà: hình như có đến, đó chính là Như Lai. Thế nào gọi là Như Khứ? Thật ra, Như Khứ cũng giống với Như Lai thôi, hình như có đi, đúng vậy không? Hình như có đến, nên gọi là Như Lai. Hình như có đi, nên gọi là Như Khứ. Cái chữ "như" ở đây nghĩa là "giống như" mà. Bởi vậy, thế nào gọi là chẳng phải phi pháp? Hình như có pháp, lại hình như không có pháp, cái này chính là chẳng phải phi pháp. 

Vậy thì rốt cục có thuyết pháp hay không? Vô thuyết. Thật sự đến cảnh giới cao nhất thì gọi là vô thuyết. Vì thế, tôi kể chuyện Tổ sư Đạt Ma, bạn xem Tổ sư Đạt Ma đó, người ta mời ngài thuyết pháp. Thiếu Lâm Tự, bởi vì ngài ấy sống ở Tung Sơn mà, ở núi phía sau Tung Sơn Thiếu Lâm Tự, ở đó quay mặt vào tường. Sau đó ngài đi ra ngoài, mọi người biết ngài ấy là cao tăng đắc đạo bèn thỉnh ngài thuyết pháp. Ngài ấy đi lên pháp tọa… chẳng phải tôi đã kể với mọi người rồi sao? Lấy một quyển sổ ghi chép, cầm lên rồi đập bộp xuống một cái! "Xong, thuyết pháp xong rồi." Thế rồi ngài đi xuống. Bây giờ tôi cũng thuyết pháp xong rồi, là như vậy đó. Vô pháp khả thuyết, vô thuyết, căn bản là không có nói giảng, Tổ sư Đạt Ma căn bản không giảng, không thuyết pháp, chỉ bước lên rồi đập bộp xuống bàn một cái, rồi đi xuống, như thế là đã thuyết pháp xong rồi.

Đó là cảnh giới tối cao, cao nhất. Vì sao lại như thế? Tôi kể cho mọi người một chuyện: mọi người cho rằng chúng ta đang ở trên trái đất, trên trái đất này có rất nhiều quốc gia, mỗi một quốc gia đều có rất nhiều người, đúng vậy không? Đều có rất nhiều, rất nhiều người, đều có rất nhiều, rất nhiều nhà cửa, rất nhiều xe cộ chạy tới chạy lui. Bây giờ, nước Mĩ và Trung Quốc, cả hai đều là nước lớn, xem ra thì đều to cả. Hai nước Mĩ - Trung thật sự là chẳng biết đang làm cái trò gì nữa… Cá nhân tôi không tham dự vào chính trị, cá nhân tôi trước nay không tham gia vào chính trị, tóm lại tôi cảm thấy, hai bên tranh tới tranh lui, cũng chẳng biết là tranh nhau cái gì nữa? Tranh đua à! Mọi người tranh đua, chẳng có liên quan gì đến tôi cả, tôi sống cuộc đời tôi, họ tranh nhau thì cứ tranh đi.

Vậy mọi người nghĩ thử xem, cảnh giới cao nhất là cái gì? Đây là một kiến thức rất sâu. Trong con mắt của tôi, căn bản là không có trái đất, không có các quốc gia, không có chúng sinh, không có những con người này. Thật đó, các bạn tranh giành cái gì? Trong con mắt của tôi cơ bản là không có các quốc gia, không có những người này, không có ai đang làm minh chủ võ lâm. Bây giờ cái mà họ đang tranh giành chính là địa vị minh chủ võ lâm, trong tiểu thuyết Kim Dung có viết về minh chủ võ lâm, bây giờ người ta đang tranh nhau làm minh chủ võ lâm.

Trong mắt mọi người có những con kiến không, có hay không? Có à? Chúng ta thường nhìn thấy những con kiến đang bò, đúng vậy không? Kiến và kiến, kiến đỏ và kiến đen có đánh lộn không? Còn nữa, kiến đen có đánh nhau với kiến đen không? Còn nữa, kiến nhỏ có đánh nhau với kiến to không? Kiến to và kiến nhỏ, và kiến các loại màu sắc có đánh nhau không? Thêm nữa, kiến ở trên núi có đánh nhau với kiến ở dưới núi không? Tôi hỏi bạn đó?

Trước kia tôi thường thấy kiến đánh nhau. Tôi sống ở Cao Hùng, kí túc xá của công ty điện lực Cao Hùng. Tôi thường thấy một bầy kiến từ bên đây bò qua, kiến từ bên kia bò qua, hai bên cắn nhau, đánh nhau đến cuối cùng thì xác kiến khắp nơi, xương cốt cao như núi! Toàn bộ đều là xác kiến, tất cả đều ở đó. Bọn chúng có tranh giành tới lui không? Có. Hơn nữa chúng còn cắn sừng của nhau, cắn nhau đến cuối cùng chết một đống. 

Hình như có kiến… bây giờ trong lòng mọi người nghĩ, hình như có kiến, hình như không có kiến. Con người chúng ta, thật sự là giống hệt lũ kiến! Trong mắt bạn có kiến không? Bạn có từng nghĩ đến vương quốc kiến, kiến là một đất nước, một đất nước, nếu bạn có nghiên cứu về động vật thì bạn sẽ biết, kiến có đời sống quần tụ, có những vương quốc kiến, đôi bên sẽ vì lợi ích mà cũng đánh nhau. Bạn có thuyết pháp cho lũ kiến không? Bạn hãy nhìn một cách rộng hơn, con người có thuyết pháp không? Kiến có thuyết pháp không? Cái này chính là phi phi pháp. Tôi lấy ví dụ như vậy, không giống với kinh Kim Cang mà mọi người tưởng tượng. Kinh Kim Cang đích xác là phá hủy tất cả, bạn đắc được cái gì?

Hôm đó tôi hỏi cậu, Tenzin Gyatso, một trăm năm sau cậu có được cái gì? Không có được gì. Thế rồi tôi hỏi thêm một câu: Thế bây giờ cậu còn đi học cái gì nữa? Vì sao còn phải đi học nữa? Tôi bảo cậu nhé, cậu phải trả lời thế này: "Bởi vì con cần phải đi học thêm để bổ sung tri thức, hiểu được lời Sư Tôn đang nói, sau đó lĩnh ngộ được vô đắc, vô thuyết." Đây là câu trả lời chính xác đó! Bạn cần hiểu được vì sao là vô sở đắc, vì sao là vô sở thuyết. Bạn cần lĩnh ngộ được những điều này. Vì thế, hôm nay tôi chủ yếu giảng về tiêu đề này: Vô đắc vô thuyết.

Phật Thích Ca Mâu Ni hình như có thuyết pháp, mà cũng hình như không có. Trên thực tế cũng là như thế. Vì sao lại như vậy? Tu Bồ Đề nói, tất cả Thánh Hiền đều dựa vào pháp vô vi mà có sự khác biệt. Thế nào là pháp vô vi? Vô vi pháp là làm chẳng vì cái gì cả, thì gọi là vô vi, tôi hoàn toàn làm chẳng vì cái gì cả. Giả sử hôm nay tôi làm việc thiện, giúp đỡ rất nhiều người, tôi cần phải xem báo ngày mai có đưa tin không, xem ti vi có phát tin tức không. Truyền hình có đưa tin việc tôi làm việc thiện không nhỉ. Tôi thấy mình làm việc thiện thì trong lòng rất sung sướng. Truyền hình có đưa tin, báo chí không đưa tin. Tôi làm việc thiện lớn như vậy mà báo chí không đăng à, ti vi cũng không phát, cũng chẳng đưa tin về tôi, thế thì sau này tôi không làm nữa, như thế thì gọi là hữu vi pháp. 

Thế nào là pháp vô vi? Jesus nói rồi: Việc thiện mà tay phải làm, đừng để tay trái biết. Jesus chính là một vị Guru cao minh, ngài đã nói câu này thì chính là "tam luân thể không" đó! Làm không phải vì điều gì cả, đó là pháp vô vi. Bạn mà làm vì một chút gì đó thì đó là pháp hữu vi. Vì thế, Thánh Hiền có sự khác biệt, tất cả Thánh Hiền đều dựa vào pháp vô vi mà có sự khác biệt. Pháp vô vi của bạn thanh tịnh được mấy phần?

Có được cái gì chăng? Vô vi pháp đương nhiên là không thể có được gì, có vì cái gì không? Cũng không phải là vì cái gì cả, chỉ là bạn cứ làm việc thiện một cách rất tự nhiên thôi. Mọi việc ác đừng làm, hãy làm mọi việc thiện, làm rồi thì cũng coi như chưa làm, nói rồi cũng không khác gì chưa nói. Kinh Kim Cang là kinh điển rất cao sâu đó! Bạn đừng xem thường nó, bạn nghĩ rằng nói rất dễ sao? Thật ra không hề dễ giảng đâu! Pháp vô vi có sự khác biệt gì, rốt cục bạn thanh tịnh được mấy phần? Vì thế, trong Mật giáo của chúng ta có cái gọi là phần thanh tịnh. Phần thanh tịnh là cái gì vậy? Hoàn toàn thanh tịnh nghĩa là pháp vô vi chân chính.

Mọi sự khác biệt… bạn thanh tịnh hai phần thì bạn sẽ đăng địa, tới Bồ Tát địa thứ hai, bạn thanh tịnh được bốn phần thì là Bồ Tát địa thứ tư, thanh tịnh được tám phần thì là Bồ Tát địa thứ tám, thanh tịnh được mười phần là Bồ Tát địa thứ mười. Trong Mật giáo, bạn thanh tịnh được mười hai phần rưỡi thì bạn là Bồ Tát địa thứ mười hai rưỡi, bạn đến được mười ba phần thanh tịnh thì chính là Ngũ Phương Phật, thanh tịnh được mười sáu phần thì bạn chính là A Đạt Nhĩ Mã Phật, chính là Bản Sơ Phật.

Trong thân thể chúng ta, chúng ta có ngũ luân, năm luân xa chính là mười địa, mỗi luân xa đại diện cho hai địa. Bạn mở được mật luân thì sẽ có được hai địa. Mở được tề luân thì bạn đạt được bốn địa, bạn mở được tâm luân thì đạt được sáu địa, bạn mở được hầu luân thì đạt được tám địa, mở được mi tâm luân thì đạt được mười địa Bồ Tát. Sau đó lại mở tiếp đỉnh luân thì sẽ là địa thứ mười hai. Mở được đỉnh kế thì là địa thứ mười hai rưỡi, cho đến khi thành Phật. Đây chính là sự khác biệt, đều do có pháp vô vi mà có sự khác biệt. Tôi nói đến chính là điều này.

Vì thế, bạn thanh tịnh được mấy phần rồi? Không phải như người thế tục… Hôm nay tôi làm được việc thiện, ngày mai tôi phải xem báo, thậm chí phải mở cuộc họp báo, ngày mai phải xem mời phóng viên ảnh đến, phóng viên viết bài đến, ngày mai phải xem báo: "Tôi làm việc thiện đây, anh xem, mọi người đều biết tôi là người tốt đó!" Thế thì chẳng có tư cách, bạn chỉ có được suất lên trời, không có tư cách làm một Bồ Tát. Làm một vị Phật, Bồ Tát. Thế nào là Bồ Tát? Bồ Tát là vì người khác, không vì bản thân, nghĩ vì người khác, không nghĩ cho bản thân, đó mới là Bồ Tát. Chuyên nghĩ cho bản thân thì đó là còn có cái tôi, không phải là Bồ Tát, nhiều nhất thì là Nhân - Thiên thừa. Bồ Tát là nghĩ cho người khác, không nghĩ vì chính tôi, không nghĩ cho bản thân, đây mới là Bồ Tát, nhưng cũng có sự khác biệt.

Có một phú ông đang dắt chó đi dạo, một sát thủ từ trong bụi cỏ nhảy ra, hai tiếng "binh binh", hắn ta đã đánh chết con chó. Phú ông nổi giận: "Anh giết con chó của tôi làm cái gì?" Tên sát thủ cười lạnh lùng: "Có người trả năm trăm vạn muốn tôi lấy cái mạng chó của ông." Phú ông nhìn tên sát thủ một cái, rất xúc động nắm lấy tay hắn: "Thầy dạy văn của cậu là ai vậy? Tôi muốn tặng quà cho ông ta." Thế nên đi học có tác dụng đó, Tenzin Gyatso ạ, nếu không khi cậu làm sát thủ, người ta thuê cậu đi lấy mạng chó của người nào đó, cậu lại giết chết con chó của họ, thế cũng là sai lầm đó. Tên sát thủ kia cũng phạm sai lầm rồi.

Có một người đang bị đau răng, anh ta liền đi nhổ răng (anh ta tự bỏ tiền để đi nhổ răng), cuối cùng đã nhổ được chiếc răng. Người bệnh nói với nha sĩ: "Anh thật là biết kiếm tiền, trong vòng ba giây anh đã kiếm được của tôi 1500 đồng rồi." Nha sĩ nói với ông ta: "Nếu như ông sẵn lòng thì tôi có thể làm động tác chậm để nhổ răng cho ông." Cái này cũng là hiểu sai rồi, nhổ răng mà lại làm động tác chậm. Vì thế, thế nào là tất cả Thánh Hiền đều dựa vào pháp vô vi mà có sự khác biệt, thế nào là phi pháp phi phi pháp, pháp mà Như Lai nói đều không thể lấy, không thể nói, vì cũng không có pháp nhất định mà Như Lai có thể nói.

Tất cả mọi pháp, trong câu chuyện cười vừa nãy có nói rồi, trên đời không có pháp nhất định. Bạn có biết không? Pháp Mật giáo là do các vị tổ sư trước kia truyền lại. Liệu có phải tự bản thân có thể tạo ra không? Có thể. Tổ sư Mật giáo tạo ra một pháp mới, có thể, điều này không sai, có thể như thế, rất nhiều pháp đều là pháp mới, nhưng các pháp này đều có thể thay đổi, vì thế mới gọi là không có pháp nhất định. Cái này mọi người cũng phải nghĩ một chút. Không có pháp nhất định mà Như Lai có thể nói, vì không có pháp nhất định mà Như Lai có thể nói. Vì thế, Phật Thích Ca Mâu Ni thường nói: "Bất khả thuyết!", bởi vì không có pháp nhất định, vì thế không thể nói.

Tiểu Quyền và Tiểu Lưu hẹn nhau vào rừng leo núi, không cẩn thận bị lạc đường, điện thoại di động thì không có tín hiệu. Tiểu Quyền nói: "Đừng sợ, tớ có đem theo bản đồ." Tiểu Lưu vô cùng vui mừng giật lấy, mở ra xem rồi nói: "Cái cậu đem theo là bản đồ thế giới mà." Cũng là bản đồ, nhưng cái quan trọng là bản đồ của khu rừng này cơ, chứ không phải là bản đồ thế giới. Nói như thế mọi người đã hiểu chưa? 
Om mani padme hum.

*(Ngày 02/10/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Địa Tạng Vương Bồ Tát Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 20.)*

(Hết tập 1)

---

---
# File: kinh-luat-luan/giang-thuyet-kinh-kim-cang-tap-2.md
# Title: Giảng thuyết Kinh Kim Cang - Tập 2
---

![image](/img/img_ff730f3c3a29aa0c7697a25b64a1bd6b.png)



## Giảng thuyết Kinh Kim Cang - Tập 2


(Liên Sinh Hoạt Phật giảng Kinh Kim Cang)

Cuốn số: 710
Xuất bản năm: N/A
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### 21. Phần thứ 7: Vô đắc vô thuyết (3)


*(Bài giảng 21) *Dùng logic học để làm rõ "phi phi pháp”

Chúng ta nói về Phần thứ 7: Vô đắc vô thuyết. Tối hôm qua, khi tôi tu pháp, Diêu Trì Kim Mẫu đã nói với tôi: "Tối hôm qua ngài giảng quá mơ hồ, mọi người nghe chẳng ai hiểu, rất ít người nghe mà hiểu được, ngài phải giảng lại một lần nữa." Tôi nói: "Giảng lại một lần nữa, họ nghe cũng không hiểu đâu." Kim Mẫu nói: "Ngài hãy dùng cách so sánh để mà nói." Bởi Phật Thích Ca Mâu Ni khi thuyết pháp rất thích dùng cách thức so sánh để giảng, để mà thuyết pháp. 

Tối qua tôi giảng A nậu đa la tam miệu tam bồ đề là ý gì? Như Lai có đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề chăng? Như Lai có thuyết pháp chăng? Tu Bồ Đề trả lời: *"Như con hiểu ý nghĩa mà Phật nói, không có pháp nhất định gọi là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề." *Không sai. Ở đây nói rằng, khi bạn đã trở thành một vị Bồ Tát rồi thì bạn không cho rằng bạn là Bồ Tát, nếu bạn thường xuyên nghĩ "ta là Bồ Tát" thì như thế là có nắm giữ. Rất đơn giản thôi, khi bạn đã đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề rồi, bạn sẽ không từ sáng tới tối nói với người ta rằng: "Tôi đã đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề." Bạn sẽ không nói với người khác như thế. Bạn nói hẳn ra "Tôi đã đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề", thế thì nghĩa là bạn chưa đắc đâu, người thật sự đắc được thì sẽ không nói. Một vị Bồ Tát sẽ không nói từ sáng đến tối rằng: "Tôi là Bồ Tát", vị ấy đã là Bồ Tát rồi, nhưng sẽ không nói ra rằng "tôi là Bồ Tát", điều này mọi người hiểu chứ? Bởi vậy, tôi nói với mọi người một cách rất đơn giản, ý mà Phật nói là như vậy.

Tiếp theo, pháp mà Như Lai nói đều không thể lấy, không thể nói, chẳng phải pháp, chẳng phải phi pháp. Hôm qua tôi giảng phi pháp, phi phi pháp. Phi pháp thì chúng ta đã biết rồi, phi phi pháp thì không biết. Tôi nói rằng: hình như có pháp, hình như không có pháp. Kim Mẫu bảo thế là mơ hồ quá. Thế nào là quá mơ hồ? Diêu Trì Kim Mẫu bảo tôi: "Đó là logic, ngài phải nhớ cái này là logic học đó, phi pháp, phi phi pháp." Bây giờ tôi nói rõ với mọi người, người học logic chúng ta sẽ biết, bạch mã là ngựa, đúng không? (Mọi người trả lời: đúng.) Ngựa là bạch mã, có đúng không? Không đúng! (Mọi người trả lời: không đúng! Còn có những con ngựa màu sắc khác nữa.) Bạch mã là ngựa, ngựa không phải là bạch mã, nói vậy mọi người hiểu chưa? Chính là cái logic đó. Vì thế Diêu Trì Kim Mẫu nói với tôi: "Ngài phải nói với mọi người về logic, thế thì mọi người sẽ hiểu cái gì gọi là phi phi pháp." Bố thí là Phật pháp, đúng thế không, nhưng Phật pháp không phải là bố thí, cái này mới là đúng. Nếu Phật pháp là bố thí, thế là sai rồi, cái này chính là chẳng phải phi pháp. Rất giống Phật pháp nhưng lại không phải là Phật pháp, thì nghĩa là chẳng phải phi pháp. Vì thế, muốn giảng Phật pháp, phạm vi của nó là rất lớn.

Bởi vậy, trước kia, tôi ở Bản Sư Đường tại Cao Hùng, Đài Loan, khi tôi thuyết pháp ở đó, tôi đã nói một câu: "Từ tế là Phật pháp, Phật pháp không phải là từ tế." Bên dưới có một người hay làm việc tình nguyện giúp đỡ, hình như là người của hội công đức Từ Tế, anh ta đứng dậy nói: "Sư Tôn, ngài nói sai rồi, từ tế chính là Phật pháp, Phật pháp chính là từ tế." Tôi bảo anh ta rằng: "Anh hãy về hỏi Chứng Nghiêm Thượng Nhân đi, bà ấy là sư tỉ của tôi đó." Chứng Nghiêm Thượng Nhân là sư tỉ của tôi, thật đó, tôi không lừa bạn đâu, bà ấy là đệ tử của Ấn Thuận Đạo Sư.

Tôi là đệ tử của Ấn Thuận Đạo Sư, bà ấy lớn tuổi hơn tôi, nên tôi gọi bà ấy là sư tỉ được chứ? Đúng mà, bà ấy gọi thầy Minh Thánh là sư bá, thầy Minh Thánh là hàng xóm của nhà tôi. Khi tôi còn sống tại biệt thự Tinh Võ ở Đài Loan, nhà tôi chỉ cách nhà thầy Minh Thánh một bức tường, chỉ cách nhà Ấn Thuận Đạo Sư một bức tường thôi. Nhà chúng tôi là biệt thự kề nhau, tôi sống ở gian nhà phía trong, gian nhà phía ngoài là Hoa Vũ Tinh Xá của Ấn Thuận Đạo Sư. Ấn Thuận Đạo Sư sống ở đó, thầy Minh Thánh là thị giả của ngài ấy, ông ấy là người quản gia (Chú thích: đạo tràng Giám Viện.) Chính là thầy Minh Thánh. Bà ấy gọi thầy Minh Thánh là sư bá, thầy Minh Thánh và tôi rất thân thuộc.

Vì thế, mọi người phải ghi nhớ câu nói này, Diêu Trì Kim Mẫu nói với tôi: "Chẳng phải phi pháp nghĩa là nói rằng: bố thí là Phật pháp, Phật pháp không phải là bố thí, nhẫn nhục là Phật pháp, Phật pháp không phải là nhẫn nhục…" Bởi vì Phật pháp quá rộng lớn, tất cả mọi thứ đều là Phật pháp, bạn tùy ý chỉ bất kì cái gì cũng đều là Phật pháp, nhưng mà, bạn nói Phật pháp là nhẫn nhục thì đó là sai rồi. Do vậy, đây chính là cách giải thích về không phải phi pháp, ý nghĩa của không phải phi pháp chính là ở đây: là Phật pháp lại không phải là Phật pháp. Giải thích như vậy là cách mà Diêu Trì Kim Mẫu đã dạy tôi. 

Rất đơn giản thôi, đây là logic: bạch mã là ngựa, ngựa không phải là bạch mã. Vì sao vậy? Ngựa có màu trắng, màu đen, màu nâu, có màu sắc hoa văn, bất kì loài ngựa nào cũng đều có, bây giờ ở Đài Loan còn phát minh ra loài "ngựa cỏ bùn" [tên gọi một loài động vật giống con alpaca, đồng thời cũng được sử dụng như một từ tiếng lóng vận dụng chơi chữ vì có cách phát âm gần giống một câu chửi bậy ở Trung Quốc] Có chuyện gì nữa không biết? Hát thì cứ hát thôi, Tạ Kim Yến hát thì cứ hát thôi, sao mà lại còn cưỡi một con ngựa cỏ bùn nữa chứ? [Tạ Kim Yến là một ca sĩ, diễn viên, người mẫu, người viết ca khúc, sinh năm 1974 tại Cao Hùng Đài Loan] Đài Loan còn có một nghệ nhân tên là Mã Quốc Tất, đúng không nhỉ? Không hiểu chuyện gì nữa? Tên gì không lấy, lại đi lấy cái tên là Mã Quốc Tất. Còn gì nữa, không đặt tên là ngựa gì khác, lại gọi là "ngựa cỏ bùn". Đúng thật là… 

Tiếp nữa, Diêu Trì Kim Mẫu nói với tôi: "Có một điểm ngài cũng nói không rõ ràng: Tất cả Thánh Hiền đều dựa vào pháp vô vi mà có sự khác biệt. Ngài nói thế nào nhỉ?" Diêu Trì Kim Mẫu nói với tôi: "Bồ Tát chính là Thánh Hiền." Đúng rồi! Tứ Thánh đều là Thánh Hiền, A La Hán, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật đều là Thánh Hiền, chúng ta chỉ lấy Bồ Tát làm ví dụ để nói. Bồ Tát là Thánh Hiền, *"đều dựa vào pháp vô vi"*, Bồ Tát chính là tu pháp vô vi, làm mà không vì cái gì cả, nhưng vẫn làm, thế là đúng rồi. Pháp vô vi là cái gì? Tôi làm không vì cái gì cả, chỉ là tôi dùng bồ đề tâm của Bồ Tát để mà làm thôi, phát bồ đề tâm để làm các thứ thì chính là Bồ Tát. Tôi phát bồ đề tâm mà đi làm việc, tôi làm việc này là do phát bồ đề tâm, chứ không phải làm vì cái gì khác, chính là pháp vô vi. 

Nhưng vì sao có sự khác biệt? Có chứ! Bồ Tát có sự khác biệt, Bồ Tát sơ địa gọi là Hoan hỉ địa, tiếp theo có Diễm huệ địa (địa thứ tư), Bồ Tát ở địa thứ bảy gọi là Viễn hành địa, Bồ Tát ở địa thứ mười gọi là Pháp vân địa, từ Bồ Tát sơ địa đến Bồ Tát thập địa, ở giữa có Bồ Tát của mỗi địa, đây chính là sự khác biệt. Bạn là Bồ Tát sơ địa, bạn là Bồ Tát nhị địa, bạn là Bồ Tát tam địa, bạn là Bồ Tát tứ địa, Bồ Tát ngũ địa, Bồ Tát lục địa, Bồ Tát thất địa, Bồ Tát bát địa, Bồ Tát cửu địa, Bồ Tát thập địa, đều dựa vào pháp vô vi mà có sự khác biệt, khác biệt chính là nằm ở đây: bạn là Bồ Tát ở địa nào?

Diêu Trì Kim Mẫu nói với tôi: "Ngài phải giảng rõ ràng đó! Tất cả Thánh Hiền đều dựa vào pháp vô vi mà có sự khác biệt." Bồ Tát có các cấp địa, A La Hán có các cấp địa không? Đợt lát nữa sẽ giảng đến, kinh Kim Cang có nhắc đến A Na Hàm, A La Hán là đẳng cấp cao nhất. Có bốn đẳng cấp: có vị gọi là A La Hán trụ thế, sống tại thế gian. Có vị gọi là A La Hán nhất lai, nghĩa là còn phải đến một lần nữa thì mới có thể thành tựu A La Hán. Có vị gọi là A La Hán bất hoàn, vị này ở Bất Hoàn Thiên. Có vị là A La Hán Thánh Hiền tối cao. Bốn cấp, bốn cấp này có sự khác biệt, có khác nhau. 

Phật cũng có khác biệt, Bản Sơ Phật là Phật ở địa thứ 16, Ngũ Phương Phật là Phật ở địa thứ 13, Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát cũng tương đương với Phật, ngài ấy là địa thứ 11, ngài ấy có 11 khuôn mặt. Đến cao nhất là A Di Đà Phật. Ngài có 11 khuôn mặt, Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát còn gọi là Quan Âm Thập Nhất Diện. Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát là Phật ở địa thứ 11. Vì vậy, tất cả Thánh Hiền đều dựa vào pháp vô vi mà có sự khác biệt, nói như vậy đã rõ ràng chưa?

Vì thế, tôi giải thích Phần thứ 7: Vô đắc vô thuyết, tối hôm qua (tối thứ bảy) những gì tôi nói chưa đủ rõ ràng dễ hiểu, nên tối hôm qua Kim Mẫu bảo tôi phải giảng lại một lần nữa. Do đó tôi giảng lại một lần nữa cho mọi người, mọi người có thể hiểu rõ ràng hơn. 

Có một đôi vợ chồng sinh được một đứa con trai mặt heo, nghĩa là đứa con trai có khuôn mặt giống Trư Bát Giới. Người vợ nói: "Tôi đẹp như tiên nữ, anh cũng rất đẹp trai, vì sao con mình lại thành ra thế này? Lẽ nào sinh ra yêu quái?" Người chồng nói: "Đây đều là do họa di truyền, tôi chính là Trư Bát Giới đã được phẫu thuật thẩm mỹ." 

Thế nên, trên thế giới này, thật sự, mọi người cần phải mở to con mắt ra một chút, nhìn mọi thứ rõ hơn một chút, rất nhiều sự việc bạn cần phải nhìn cho rõ ràng bạn mới có thể hiểu được. Vì thế, đôi khi những gì trên ti vi có nói, hoặc trên báo có viết, cũng không chắc đã là thật đâu, bạn phải xem xét đó, đúng thế không? Chân Phật Tông rất trung thực này, nó chỉ là một group (nhóm) tu hành thôi, không có mưu đồ gì với việc gì khác cả, vì thế cần phải thấy rõ. Những gì trên ti vi nói hoặc trên báo viết cũng không chắc là đúng đâu. Trên thế giới này cái trung thực nhất, có khi chính là Chân Phật Tông đó. 

Hôm nay tôi giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 03/10/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Kim Cang Tát Đỏa tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 21.)*


### 22. Phần thứ 8: Y pháp xuất sinh (1)


*(Bài giảng 22) *Cái gọi là Phật pháp, cũng tức không phải Phật pháp

*"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Nếu có người dùng thất bảo đầy cả tam thiên đại thiên thế giới để bố thí, thì phúc đức người đó được nhiều không?"
Tu Bồ Đề nói:
"Thưa Thế Tôn, rất nhiều! Là vì sao? Vì phúc đức ấy cũng tức không phải tính phúc đức, do đó Như Lai nói là phúc đức nhiều."
"Nếu lại có người, nếu thọ trì kinh này, cho dù chỉ bốn câu kệ, vì người khác mà thuyết giảng, thì phúc của người này còn hơn cả bố thí. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Hết thảy chư Phật và pháp A nậu đa la tam miệu tam bồ đề của chư Phật đều từ kinh này mà ra. Tu Bồ Đề! Cái gọi là Phật pháp, cũng tức không phải Phật pháp."*

Phần này, tôi vừa đọc xong đoạn kinh văn rồi. Bây giờ giảng về câu thứ nhất. Phần thứ 8: Y pháp xuất sinh. Tất cả Phật pháp, ở trong đây đã nhắc đến rồi, đều là xuất phát từ bản kinh điển này mà ra… tất cả Phật pháp đều từ Kinh Kim Cang mà ra. Trong đoạn này, Phật Thích Ca Mâu Ni nói: *"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Nếu có người dùng thất bảo đầy cả tam thiên đại thiên thế giới để bố thí, thì phúc đức người đó được nhiều không?"* Phật Thích Ca Mâu Ni nói như vậy. 

Tu Bồ Đề trả lời: *"Thưa Thế Tôn, rất nhiều! Là vì sao? Vì phúc đức ấy cũng tức không phải tính phúc đức, do đó Như Lai nói là phúc đức nhiều." *Đoạn tiếp theo lại là Phật Thích Ca Mâu Ni nói: *"Nếu lại có người, nếu thọ trì kinh này, cho dù chỉ bốn câu kệ, vì người khác mà thuyết giảng, thì phúc của người này còn hơn cả bố thí. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Hết thảy chư Phật và pháp A nậu đa la tam miệu tam bồ đề của chư Phật đều từ kinh này mà ra. Tu Bồ Đề! Cái gọi là Phật, pháp, cũng tức không phải Phật, pháp." *Câu này Phật Đà nói.

Bởi vậy, cần phải phân biệt rõ cái nào là Phật Đà nói, cái nào là Tu Bồ Đề nói, mọi người phải thấy rõ. Đoạn ở đầu là Phật Đà nói, đoạn ở giữa là Tu Bồ Đề nói, đoạn ở sau lại là Phật Đà nói. Phần Y pháp xuất sinh này, Phật pháp từ kinh Kim Cang mà sinh ra, câu nói này ý là như vậy. Phần thứ 8: Y pháp xuất sinh: Phật pháp sinh là từ kinh Kim Cang mà bắt đầu sinh ra. Ở đây có mấy điểm quan trọng. Thứ nhất là sự so sánh, trong đoạn kinh văn này đầu tiên là so sánh. Nếu có người dùng thất bảo đầy cả tam thiên đại thiên thế giới, đem thất bảo của tam thiên đại thiên thế giới này, đem đi bố thí, thì phúc đức của người này có nhiều không? Tu Bồ Đề nói, rất nhiều. Vì sao vậy? Bởi vì phúc đức ấy cũng tức không phải tính phúc đức, do đó Như Lai nói là phúc đức nhiều. Đây là nói đảo lại, trong kinh Kim cang có rất nhiều câu nói đều là như vậy. Ở đây cũng nhắc đến cái gọi là Phật pháp cũng tức không phải Phật pháp. Nếu không giải thích thì mọi người sẽ chẳng có cách nào biết được những câu này là nói đảo lại. 

Tôi hỏi bạn một câu. Trước kia Sư Tôn đi thăm cư sĩ Lí Bỉnh Nam, tôi và cư sĩ Lí Bỉnh Nam hai người nói chuyện, cư sĩ Lí Bỉnh Nam ở Đài Loan rất nổi tiếng, ông ấy là một vị tổ sư của Tịnh độ tông, có thể nói ông ấy là tổ sư, cư sĩ Lí Bỉnh Nam, ông ấy theo Tịnh độ tông, là vị tổ sư chủ trương theo Tịnh độ. Tôi đến nhà ông ấy, khi ấy ông ấy sống tại số 9 đường Chính Khí ở Đài Trung. Tôi gặp ông ấy, gặp mặt Lí Bỉnh Nam. 

Tôi nhắc đến cư sĩ Trương Trừng Cơ, chính là cư sĩ Trương Trừng Cơ người đã dịch cuốn Milarepa, cũng là đệ tử của tôi, ông ấy là *Doctor*, làm tiến sĩ ở Mỹ, tôi đã quán đảnh quy y và gia trì cho ông ấy. Trương Trừng Cơ đến nhà tôi. Ông ấy đã viết một cuốn sách nhỏ "Cái gì là Phật pháp", tôi đem đến cho cư sĩ Lí Bỉnh Nam xem cuốn "Cái gì là Phật pháp" mà tiến sĩ Trương Trừng Cơ viết. Lí Bỉnh Nam trả lời: "Tôi muốn hỏi tiến sĩ Trương Trừng Cơ, Phật pháp là cái gì?" Cư sĩ Lí Bỉnh Nam cho rằng viết về vấn đề này là sai rồi. Cái gì là Phật pháp? Lí Bỉnh Nam cho rằng cái gì cũng đều là Phật pháp, làm gì có cái nào không có Phật pháp. Mọi người đã nghe rõ ràng rồi: cái gì cũng đều là Phật pháp!

Bây giờ tôi lại hỏi bạn một câu hỏi: trên trái đất có Phật pháp, trên mặt trăng có Phật pháp không? Tôi hỏi bạn, trên mặt trăng có Phật pháp hay không? Không có ư? Mọi người nói không có. (Có người trả lời: Có.) Anh nói có. Tôi nói cho anh biết một điều: rất đơn giản, bởi vì có con người, nên mới có tám vạn bốn nghìn pháp để đối trị tám vạn bốn nghìn loại bệnh. Phật pháp ra đời như thế nào? Từ trong kinh Kim Cang mà sinh ra. Tôi đã nói rồi, mặt trăng có Phật pháp không? Mọi người nói không có. (Có người trả lời: Không có! Có!)

Tôi bảo bạn nhé, Phật pháp là để đối trị tám vạn bốn nghìn loại bệnh. Nếu trên mặt trăng không có người thì không cần đến Phật pháp. Bởi vì con người mới có bệnh mà! Trên mặt trăng có người không? Không có. Nhưng trên mặt trăng, theo như kinh Phật nói, Quan Thế Âm Bồ Tát ở trên mặt trăng, vì thế trên mặt trăng cũng có Phật pháp. Cái này đã nói với bạn rồi: Cái gọi là Phật pháp, cũng tức không phải Phật pháp. Nếu tất cả con người đều là Thánh Hiền thì không có Phật pháp nữa, đúng thế không? Cái gọi là Phật pháp, cũng tức không phải Phật pháp, thì không có Phật pháp nữa. Con người đều là Thánh Hiền thì cần Phật pháp để làm gì? Không cần Phật pháp nữa. Cái gọi là Phật pháp, cũng tức không phải Phật pháp, chính là câu này, Phật pháp là từ đây mà ra.

So sánh một chút. Chúng ta nói, người này làm bố thí rất nhiều, đã mua hẳn tam thiên đại thiên thất bảo, người đó đem tam thiên đại thiên thất bảo đi bố thí, công đức rất lớn, Tu Bồ Đề nói công đức rất lớn. Vì sao lại nói một câu là: *“Thưa Thế Tôn, rất nhiều! Là vì sao? Vì phúc đức ấy cũng tức không phải tính phúc đức, do đó Như Lai nói là phúc đức nhiều.”* Đây cũng là lời nói tương đồng, tôi vừa nãy đã giảng rồi, cái gọi là Phật pháp cũng không phải là Phật pháp, bởi vì không phải là Phật pháp nên mới là Phật pháp. Cái gọi là phúc đức nghĩa là không phải tính phúc đức, vì thế Như Lai nói là phúc đức nhiều. Cái gọi là phúc đức cũng không phải phúc đức, bởi vì không phải là phúc đức, cho nên phúc đức… đều là kiểu nói này. 

Hỏi bạn một câu. Ai thật sự có phúc đức, ai? Tôi? Tôi đã vừa nói với bạn rồi, cái gọi là phúc đức thì không phải phúc đức, bởi vì không phải phúc đức nên mới cần phúc đức. Tôi chưa bao giờ nghĩ về chuyện phúc đức, thất bảo của tam thiên đại thiên thế giới, người nào có thể có được? Tôi hỏi bạn, có người nào có thể có được thất bảo của tam thiên đại thiên thế giới? Người đó thật sự là có phúc đức, thật sự là nhiều đó! Nhưng có được rồi thì có tác dụng gì? Chẳng có tác dụng gì cả! Thế nên lại không phải là phúc đức, có tác dụng gì đâu. 

Tôi bảo bạn nhé, bốn câu kệ ở đây, đoạn sau nói đến: *"Nếu lại có người, nếu thọ trì kinh này, cho dù chỉ bốn câu kệ, vì người khác mà thuyết giảng, thì phúc của người này còn hơn cả bố thí. Là vì sao?"* Bốn câu kệ là cái gì vậy? Đã nói rồi: vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. "Ngã" không tồn tại… Hôm đó chúng ta thấy Thượng sư Liên Ấn ngồi ở đây, ông ấy ngồi ở bên đó. Xin hỏi, bây giờ Thượng sư Liên Ấn đâu? Vô ngã tướng, tôi đã giảng rất rõ ràng rồi mà, khi bạn là đứa trẻ lúc mới sinh ra, tấm ảnh Thượng sư Liên Ấn khi còn trẻ, người đó là Thượng sư Liên Ấn sao? Cái người mà đi tới đi lui là Thượng sư Liên Ấn sao? Người ngồi ở bên kia là Thượng sư Liên Ấn sao? Người đã bị hỏa thiêu là Thượng sư Liên Ấn sao? Những hạt xá lợi là Thượng sư Liên Ấn sao? Những tro cốt kia là Thượng sư Liên Ấn sao? Vô ngã tướng, chính là cái này! Bạn nói xem, bạn có được cái gì? Hạt xá lợi sao? Đó là những viên đá cứng, hạt xá lợi còn gọi là hạt kiên cố, những viên đá cứng.

Hết rồi, không còn gì nữa. Bạn có thể giải thích được vô ngã tướng, có thể nói hết về vô ngã tướng, giải thích được cho người khác. Vô nhân tướng, ngoài Liên Ấn ra, chúng ta cũng đều không có nữa. Tôi nói với Tenzin Gyatso: "Một trăm năm sau cậu ở đâu? Cậu có được cái gì?" Cậu ta nói, chẳng có được cái gì cả. "Cậu không có được gì, vậy cậu đi học làm cái gì?" Tôi giải thích với cậu ấy rằng: phải đi học, cần đọc sách, chính là hi vọng rằng nghe hiểu được những lí thuyết Phật giáo mà Sư Tôn giảng, những Phật pháp mà Sư Tôn giảng. Xin mời ngồi. Cậu ta trẻ tuổi nhất, một trăm năm sau… làm gì còn tuổi trẻ với cái vẻ bề ngoài như một đứa trẻ con nữa.

Nhưng một trăm năm sau mọi người đều sẽ ở đâu? Đều biến mất rồi! Sư Tôn cũng chẳng thấy nữa, mọi người cũng đều sẽ không thấy nữa… Sư Tôn mấy năm sau cũng sẽ biến mất rồi, căn bản là chẳng có cái gì cả! Bạn có được cái gì? Có được vàng sao? Tôi có một ít vàng đó, vô dụng, đó chẳng phải của bạn, chỉ để cho bạn ngây ra ngắm thôi. Tôi có mang một ít tiền trên người, tôi mang theo số tiền này trên người, một túi to đó! Ôi chà, tiền không được để lộ ra… Để ngây ra ngắm thôi! Tôi ở Seattle nước Mĩ thì chỉ có mua… đi đến *gas station* (trạm xăng). *I buy gas in the gas station because I drive a car, I want gas.* (Tôi mua xăng ở trạm xăng bởi vì tôi lái xe, tôi cần mua xăng.) Tôi phải đổ xăng cho nên tôi mua xăng thôi. *I go back Taiwan, I just want water, I buy water.* (Tôi về Đài Loan, tôi chỉ cần nước, nên tôi mua nước.) Mua nước, ở đây thì mua xăng, ở Đài Loan thì mua nước. Còn những thứ khác thì sao? Cũng không có cái gì là của bạn. Không có. Tuổi đời cái xe của tôi còn dài hơn cả tôi.

Bạn không tin ư? Cái gì cũng đều không có được, bạn không có được thứ gì cả, cái gì cũng đều không có, vô ngã tướng, vô nhân tướng, chúng ta đều như nhau. Vô chúng sinh tướng, chúng sinh trên toàn thế giới đều như nhau. Thế bạn tranh giành cái gì chứ? Thế nên Phật giáo mới nói hai chữ "vô tranh". Trên thế giới, những người còn đang tranh giành thật sự là không hiểu bốn câu kệ này: vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Nếu như bạn có thể nói giảng cho người khác về bốn câu kệ này thì phúc đức của bạn là cực kì đó. Nhưng mà, phúc đức cũng không phải là phúc đức thì mới là phúc đức, chính là câu nói này. 

Sư Tôn có được cái gì? Phúc đức ư? Vừa nãy bạn nói Sư Tôn có được phúc đức, không có, tôi làm gì có được phúc đức gì? Phúc đức của tôi xem ra rất lớn… Trước kia, Thubten Daerji Thượng sư khi nhìn thấy tôi đã nói: "Phúc đức của anh rất lớn, Sư Tôn, phúc báo của tôi rất nhỏ, phúc báo của anh rất lớn, anh có biệt thự Cầu Vồng, tặng biệt thự Cầu Vồng cho tôi được không?" Tôi nói: "Được chứ!" Thế là thầy liền viết: "Lư Thắng Ngạn tặng biệt thự Cầu Vồng cho tôi." Rồi bảo: "Sư Tôn kí tên đi, Lư Sư Tôn kí tên tặng cho tôi đi." Tôi nói: "Được, được, tôi tặng cho thầy." Tôi liền kí tên. Tôi nói: "Tôi tặng thầy biệt thự Cầu Vồng." Thầy nói: "Hầy, tôi cầm tờ giấy này đi làm ông chủ ở biệt thự Cầu Vồng đây!"

Thầy ấy nói như vậy. Vì sao tôi muốn tặng cho thầy ấy? Tôi đã phải bỏ rất nhiều tiền để cày bừa ở đó đó! Xây nhà ở chính, xây điện Hộ Ma, xây bốn gian nhà nhỏ dùng cho việc bế quan, xây nhà vệ sinh… nhà vệ sinh cũng là tôi xây, đều là do tôi xây cả… Tôi và Sư Mẫu hai người, không thể nói là mình tôi, tôi và Sư Mẫu hai người đã xây dựng nó lên. Đất cũng là tôi mua, tôi lại có thể như thế ư, rộng rãi tặng nó cho Thubten Daerji Thượng sư ư? Khẳng khái làm sao, hơn nữa còn kí tên đóng dấu, còn đóng cả ấn để tặng cho thầy ấy… Tôi biết là thầy ấy cũng chẳng có được đâu mà.

Đừng nói rằng thầy ấy không có được, tôi cũng có được gì đâu. Bạn xem, bây giờ là người ta quản lí, tôi đi đến đó làm pháp hội thôi, mỗi buổi họ đưa tôi một nghìn đồng. Tôi ở bên đây làm các buổi đồng tu, mỗi buổi họ đưa cho tôi hai trăm đồng. Cái này thật là… thật là khiến người ta tức muốn chết! (Đùa). Chùa ở đây to như thế này, hai trăm đồng! Chùa bên kia cũng chẳng phải là nhỏ, một nghìn đồng. Bây giờ tôi thật sự là nghèo đến mức thảm thương. Nhưng mà tôi cũng chẳng buồn phiền, vì sao vậy? Chúng ta biết rồi, vô sở đắc. Bạn không thể có được gì thì cũng không tranh nữa. Nếu bạn có thể vô tranh thì tâm sẽ ôn hòa. Bạn sẽ chẳng có bệnh gì, về mặt tinh thần bạn sẽ chẳng có bệnh gì.

Vì sao tâm linh của con người có tám vạn bốn nghìn loại bệnh? Vì sao vậy? Chính là vì bạn cho rằng có thể có được, thế nên mới có bệnh. Nếu bạn hiểu vô sở đắc thì bạn sẽ không có bệnh. Vì sao anh chị em lại tranh nhau tài sản? Còn bạn, người ở thiên đường, tiền ở ngân hàng, anh em thì đang tranh giành tài sản của bạn, vợ thì nằm trên ngực của người khác. Cái gì là của bạn chứ? Hãy nghĩ cho rõ ràng, không có thứ gì là của bạn. Khi bạn cảm thấy đúng là vô sở đắc — phúc đức cũng là không phải phúc đức, thì tức là phúc đức. Phật pháp chẳng phải Phật pháp thì chính là Phật pháp. Những câu tương phản đều nằm ở đây, bằng không bạn sẽ không hiểu rõ vì sao Phật Thích Ca Mâu Ni nói là, cái gọi là Phật, pháp, cũng tức không phải Phật, pháp. Thật chẳng hiểu ra làm sao, vừa nói là Phật pháp, vừa nói là không phải Phật pháp, phúc đức gì mà lại là không phải phúc đức?

Hôm nay tôi đã giảng rõ ràng cho mọi người rồi. Một câu nói quan trọng nhất trong Tâm Kinh là: *"Dĩ vô sở đắc cố, Bồ Đề Tát Đỏa."* Bởi vì bạn đã nhận rõ là vô sở đắc rồi, nhận thức rõ ràng rồi, thì tâm bạn sẽ ôn hòa, không tranh chấp, bạn có thể an định, bạn có thể nghĩ cho người khác, chính là Bồ Đề, Bồ Đề Tát Đỏa. Dĩ vô sở đắc cố, Bồ Đề Tát Đỏa. Bồ Đề Tát Đỏa chính là Bồ Tát, Bồ Tát do như vậy mà có. Chúng ta muốn làm một Bồ Tát, trước tiên phải dựa vào tâm vô sở đắc, trọng điểm của kinh Kim Cang nằm ở đây, phần Y pháp xuất sinh. 

Vì sao lại có Phật pháp sinh ra? Bởi vì bản thân con người có tám vạn bốn nghìn loại bệnh, từ tám vạn bốn nghìn loại bệnh này mà sinh ra tám vạn bốn nghìn loại Phật pháp. Nếu không có con người thì không cần Phật pháp, tất cả đều là Thánh Hiền thì cũng không cần Phật pháp. Phật pháp cũng tức không phải Phật pháp. Như vậy mọi người nghe hiểu không? Vì thế, vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, đây là "tứ phi tứ tướng" mà Phật Thích Ca Mâu Ni nói. Bốn tướng này đều loại bỏ hết, thật sự hiểu được điều này thì trong lòng sẽ vô cùng bình hòa, tôi cũng sẽ không tính toán chi li vì sao Seattle Lôi Tạng Tự chỉ đưa cho tôi hai trăm đồng, ở biệt thự Cầu Vồng thì họ đưa cho tôi một nghìn đồng… Biệt thự Cầu Vồng là đưa một nghìn đồng nhỉ? Một cái gói một nghìn đồng. Còn ở bên kia là hai trăm đúng không? Bạn thấy đấy, mỗi buổi tôi về nhà, tôi đếm số tiền đó rất kĩ càng đó. Mỗi tuần sẽ có được một nghìn hai trăm đồng… bây giờ nghèo muốn chết rồi, nghèo tới nỗi ma còn không muốn bắt tôi nữa. (Đùa)

Thật đó, rất thảm. Khoảng thời gian này, thời kì dịch bệnh thật sự là rất thê thảm, người ở nơi khác đến không nhiều, cũng không có đại pháp hội, người ở nơi khác đến rất ít. Kể từ gần đây nới lỏng một chút, người ở các bang khác có thể đến một chút. Trước kia khi chưa nới lỏng, các nước đều đóng cửa đất nước, mọi người đều không ra ngoài, các đệ tử đều không xuất hiện nữa, thế là Sư Tôn không có thu nhập gì, rất thê thảm, sống những ngày tháng thê lương. Rất thê lương, chỉ có trông vào hai trăm đồng ngày thứ bảy, và một nghìn đồng vào ngày chủ nhật. Tôi còn phải nuôi con xe Rolls-Royce nữa chứ! Mong nó không bị hỏng, mỗi lần tôi sửa nó là mấy nghìn đồng đó. Rolls-Royce mỗi lần sửa là hết mấy vạn đồng, nếu mà xe Rolls-Royce bị hỏng thì… có một lần tôi sửa hết bốn chục nghìn đô đó. Bạn có biết không? Trước kia xe Rolls-Royce sửa hết bốn chục nghìn đô đó! Bốn chục nghìn à… tôi phải ở đây thuyết pháp đến lúc tôi chết cũng không có được bốn chục nghìn đồng! Ở Biệt thự Cầu Vồng có được một nghìn đồng... Tôi còn phải nuôi ngôi nhà nữa, còn phải nộp thuế nữa! Thật đó, gần đây tôi đi ra ngoài đều thất vọng ủ ê.

Nhưng còn may, tâm lí tôi rất yên ổn, tôi biết là vô sở đắc. Được nhiều, được ít, phúc đức nhiều, phúc đức ít, đều bình đẳng như nhau. Có được cái tâm này thì rất thản nhiên. Bạn sẽ sống một cách ung dung thoải mái, chúng ta có thì cố gắng hết sức để bố thí, đi làm những việc gọi là công đức. Thật ra cái gọi là công đức cũng là không có công đức, vì thế, do không có công đức nên mới là công đức, chính là như thế, đều là như vậy. Bạn sẽ là một vị Bồ Tát, Bồ Tát chính là từ đây mà sinh ra. A La Hán cũng từ đây mà sinh ra, Bồ Tát cũng là từ đây mà sinh ra, Duyên Giác cũng từ đây mà sinh ra, Phật cũng từ đây mà sinh ra. Kinh Kim Cang là cái gốc, phá hủy tất cả cái gốc, những thứ vốn dĩ không có đều sinh ra. Chính là như vậy, vì thế ở đây nói rất hay. 

Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Tu Bồ Đề, ông nghĩ như thế nào? Nếu con người đem thất bảo đầy cả tam thiên đại thiên thế giới để bố thí thì phúc đức mà người đó có được chẳng phải nhiều sao? Tu Bồ Đề nói: *"Rất nhiều."* Thật đó, dùng thất bảo nhiều bằng tam thiên đại thiên để bố thí thì đương nhiên phúc đức của người đó là vô cùng nhiều. Phúc đức ấy cũng tức không phải tính phúc đức, người ta không biết việc đó có ý nghĩa gì… vừa nãy tôi đã giảng rồi, bởi vì phúc đức không phải là phúc đức, cho nên Như Lai nói phúc đức nhiều. Cái gọi là phúc đức chính là chẳng phải phúc đức, bởi vì chẳng mang tính phúc đức nên là phúc đức, cho nên có phúc đức.

Nếu lại có người, nếu thọ trì kinh này, cho dù chỉ bốn câu kệ, tức là vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Tôi thường nói, vô chúng sinh tướng là thuộc về không gian, vô thọ giả tướng là thuộc về thời gian. Thời gian là con người đặt ra, vốn dĩ cũng không có. Không gian cũng không có, không gian cũng không tồn tại. Bạn nói xem nó to lớn chừng nào? Vũ trụ này lớn chừng nào? Đến bây giờ người ta vẫn chưa biết nó to cỡ nào. Bạn cũng chưa thể vượt ra ngoài hệ mặt trời. Bạn biết vũ trụ lớn bao nhiêu không? Trước kia con người chúng ta nói, thiên viên địa phương, luật lệnh cửu chương, trời là tròn, đất là vuông, thế thì cứ đi, đi,… đi đến đây thì rơi "bộp"! Thế là rơi xuống mất tiêu. Đương nhiên thế là sai rồi, đất là vuông sao? Đương nhiên không phải rồi, bây giờ chúng ta đã biết đất không phải vuông.

Rốt cục to bao nhiêu, nhỏ bao nhiêu? Không có, bạn không thể đo được, không thể đo không thể biết, đó là cảnh giới bất khả thuyết. Vũ trụ này to lớn cỡ nào? Cảnh giới bất khả thuyết. Lần trước có người hỏi Sư Tôn: Sư Tôn có biết phân thân của ngài đi đến những đâu không? Có biết không? Khi tôi trở về, tôi đã hỏi Phật Bồ Tát, tôi phải nói thế nào đây? Các vị nói với tôi: bất khả thuyết. Điều đó thuộc về cảnh giới bất khả thuyết. Phân thân này đi đến đâu? Phân thân trở về Đài Loan, phân thân ở Nhật Bản, phân thân ở Indonesia, phân thân đến Malaysia, phân thân đi đến những nơi nào, ở trong mơ thuyết pháp cho mọi người. Cái đó thuộc về cảnh giới bất khả thuyết. Bất khả thuyết, bạn có bao nhiêu phân thân là điều bất khả thuyết. 

Tôn Ngộ Không trước kia trong truyện Tây Du Kí, Tôn Ngộ Không nhổ hết lông ra, thổi một hơi, toàn bộ đều biến thành Tôn Ngộ Không. Rốt cuộc có bao nhiêu Tôn Ngộ Không? Tôi hỏi bạn, bạn có bao nhiêu sợi tóc? Đó là phạm vi không thể nói được. Trên người bạn có bao nhiêu lỗ chân lông? Đó là cảnh giới bất khả thuyết đó. Ngay trên thân người đã có điều không thể nói được rồi! Vì vậy, có bao nhiêu phân thân? Các vị Phật Bồ Tát nói với tôi: đó là điều bất khả thuyết. Còn việc phân thân đi đâu, bạn có biết không? Bạn cùng người kia thuyết pháp, thuyết pháp gì, bạn có biết không? Đó là cảnh giới bất khả thuyết, nhưng đôi khi Sư Tôn có biết. 

Đúng rồi, mọi người có biết không? Không biết. Bởi vì không thể nói mà. Tôi kể cho bạn một chuyện rất kì quái. Gần đây, người ta tặng cho tôi một bộ quần áo bọ cạp. Có ai biết không? Mọi người có biết bộ quần áo bọ cạp không? Biết à. Tôi cởi áo một chút cho mọi người thấy, bây giờ nhìn thấy y phục của tôi rồi. Đây là quần áo trong của tôi, quần áo trong mà tôi mặc bây giờ, bộ quần áo đó gọi là quần áo bọ cạp, nghĩa là có hình dáng của một con bọ cạp, tôi mặc lên người. Có đệ tử mơ thấy hai tay của họ bị hai con bọ cạp cắn, họ nói, ấy, quái lạ, đây là mộng cảnh gì vậy nhỉ, vì sao thế? Sau đó, tôi trả lời cho họ rằng, bởi vì tôi đã mặc lên người bộ quần áo bọ cạp, cho nên họ sẽ mơ thấy bọ cạp.

Tương ứng đó! Rất ít người biết tôi mặc bộ đồ bọ cạp, bởi vì đó là quần áo trong, mặc ở bên trong, người ta không biết tôi mặc quần áo bọ cạp gì cả, kết quả là mơ thấy con bọ cạp. Họ nói, họ chưa từng bao giờ nghĩ đến bọ cạp, bởi vì tôi cũng rất ít khi nghĩ đến bọ cạp, bởi vì ở đây chúng ta không nhìn thấy bọ cạp, ở chỗ bạn có thể nhìn thấy nhưng ở Mĩ cũng rất ít khi thấy bọ cạp, nên cũng sẽ chẳng nghĩ đến bọ cạp. Kết quả là họ nằm mơ, không ngờ mơ thấy bọ cạp! Đây là hiện tượng tương ứng. Vì thế, phân thân là một chuyện vô cùng kì lạ. 

Mắt tôi nhắm lại, tôi biết tôi đã đến nơi nào đó rồi. Bạn đừng thấy tôi ngồi trên pháp tọa ngủ gật, bởi vì tôi vô niệm, tôi chẳng có suy nghĩ gì. Khi mọi người đang nghĩ thì tôi chẳng nghĩ gì, khi mọi người đang trì chú thì tôi chẳng trì chú, bởi vì tôi vô niệm, tâm dừng lại ở một, ngay cả một cũng không có nữa. Vốn dĩ là nhập định, kết quả là đã ngủ gật mất… Bạn đừng cho là tôi ngủ mất rồi đấy nhé! Tôi ngủ là thật ra đã đi ra ngoài làm rất nhiều chuyện đấy, sau đó tôi lại quay về. Bạn thấy tôi ngủ gật, gục gặc cái đầu, nhưng bạn có biết linh hồn của tôi thoát ra khỏi lỗ đỉnh đầu không? Đi ra rồi, đi đến nơi khác rồi, tôi biết tôi đi làm việc gì, tôi cũng biết đó. Vì vậy, đây là một chuyện rất vi diệu, một cảnh giới bất khả thuyết.

Tôi bảo mọi người: không phải của bạn. Trước kia có một người nói với Sư Tôn: "Sư Tôn, tình hình của tôi rất căng, Sư Tôn có thể cho tôi vay tiền không?" Tôi nói: "Có thể chứ." Tôi liền đem số tiền tiết kiệm khi đó của tôi cho anh ta vay, gói lại toàn bộ đưa cho anh ta. Anh ta cầm theo cái túi, anh ta đã chuẩn bị cả cái túi, bỏ tất cả số tiền của tôi vào trong đó, khoác lên lưng rồi ngoái lại nhìn tôi một cái. Tôi nói một câu: "Khi ngoảnh lại, đã trăm năm rồi." Đến hôm nay… khi ấy tôi nhìn tấm lưng anh ta, anh ta nhấc túi lên một cái rồi đi. Từ đó tôi không còn gặp lại anh ta nữa, đến tận bây giờ. Liên Chủ, Liên Thế, hai người có quen anh ta không, cái người cầm theo cái túi rồi bỏ đi đó? Họ Phan, có biết không? Tôi không gặp lại anh ta nữa, sau khi anh ta khoác túi bỏ đi, tôi không gặp lại anh ta nữa. Ngoảnh đầu lại thì đã trăm năm rồi. Tôi vẫn còn nhớ sự việc này, nhưng tôi cũng không có cái suy nghĩ đòi anh ta phải trả lại. Vì sao vậy? Tôi cũng chưa bao giờ tìm anh ta. Bởi vì anh ta cầm tiền đi thì cũng đi rồi mà, đó cũng chẳng phải là tiền của tôi. Hiểu chứ? 
Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 09/10/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Chuẩn Đề Phật Mẫu Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 22.)*


### 23. Phần thứ 8: Y pháp xuất sinh (2)


*(Bài giảng 23) *Bố thí tiền, bố thí pháp và bố thí vô úy

Ở đây có một so sánh. Nếu con người đem thất bảo đầy cả tam thiên đại thiên thế giới dùng để bố thí, thì phúc đức người này có được rất nhiều, nhưng vì người khác mà nói bốn câu kệ, vì người khác mà giảng thuyết, thì phúc đức này còn hơn cả phúc đức bố thí tam thiên đại thiên thế giới thất bảo. Phúc đức này còn hơn cả phúc đức kia. Đây là một sự so sánh, vì thế trong kinh Kim Cang có rất nhiều so sánh dùng để ví dụ. Dùng thất bảo của tam thiên đại thiên thế giới để bố thí, công đức rất lớn, nhưng vì người khác mà giải thích bốn câu kệ này: vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, giải thích bốn câu kệ, thì công đức của việc này còn lớn hơn công đức của bố thí thất bảo của tam thiên đại thiên thế giới.

Vì thế, ở đây cần nói đến một điểm, bố thí thật ra có ba loại. Loại thứ nhất là bố thí tiền. Vừa rồi có bố thí thất bảo, đây là dùng tiền để bố thí, dùng tiền để đi làm công đức, đi bố thí, đây là loại thứ nhất, có thể nói nghĩa là dùng thất bảo của tam thiên đại thiên thế giới để bố thí. Loại thứ hai là bố thí pháp. Bạn thuyết pháp cho người khác, giảng Phật pháp cho người ta nghe, đây cũng là một kiểu bố thí, cái này chính là bố thí pháp, công đức hơn hẳn loại kia — công đức này lớn hơn bố thí tiền.

Loại thứ ba chính là bố thí vô úy. Thế nào là bố thí vô úy? Cũng tương đương với bố thí bình đẳng, bình đẳng xả thí là Bồ Tát. Bình đẳng xả, hôm qua tôi đã nói rồi, trước kia có một đệ tử cũ vay tiền của tôi, tôi cho anh ta vay tiền và nói: "Khi ngoảnh đầu lại thì đã trăm năm rồi." Anh ta ngoảnh lại nhìn tôi một cái, rồi cầm túi tiền trong đó đựng số tiền mà tôi đã dành dụm riêng bỏ di. Toàn bộ số tiền tiết kiệm riêng của tôi đều đưa cho anh ta, anh ta đem toàn bộ số tiền dành dụm riêng của tôi đi, đó là tôi đã bố thí vô úy [cho đi mà không lo sợ điều gì], không nghĩ ngợi anh ta sẽ trả lại tiền không, tôi đã cho rồi thì là cho. 

Anh ta vay tiền tôi, tôi liền cho anh ta vay. Bạn có biết anh ta vay tiền để dùng làm gì không? Tôi không biết. Nếu như anh ta đem đi, đem số tiền này đi để bố thí, cầm đi làm việc thiện, cầm đi làm những việc tốt thì sao? Từ trước đến giờ tôi nghĩ như thế này: tôi rất ít khi tiêu tiền, bây giờ có người giúp tôi tiêu tiền, tiền vốn dĩ là để tiêu mà, đúng không? Tiền mà không tiêu thì làm gì gọi là tiền, chỉ là giấy thôi. Sư Tôn không tiêu tiền, thế thì thẳng thắn nói luôn là tiền của ngài cứ đưa tôi dùng hết cho. Anh cầm tiền đi làm việc thiện, được thôi, đây là bố thí vô úy, bố thí bình đẳng. 

Tiền vốn dĩ chính là để tiêu, tiền của bạn không tiêu thì chỉ là giấy thôi, so với giấy vệ sinh thì có gì khác đâu chứ? Nếu tiền của anh không tiêu thì có gì khác với giấy vệ sinh? Bạn nghĩ mà xem, tiền vốn dĩ là để tiêu, thế thì tôi dành dụm số tiền riêng đó, tôi chẳng bao giờ dùng đến, anh lấy đi dùng, thì đó là anh giúp tôi tiêu, thế thì chẳng sao cả, bình đẳng, cần nghĩ như vậy, vì thế, tôi cũng không đòi anh ta trả lại tiền, tôi sẽ không chạy theo anh ta mà nói: "Lần trước anh cầm tiền của tôi, bây giờ phải trả lại tôi toàn bộ." *No*, tôi sẽ không làm thế.

Cái này tương đương với bố thí bình đẳng vô úy, đây là sự thí xả của Bồ Tát, luôn luôn nghĩ vì người khác, người ta cầm đi làm việc thiện. Trên đời này làm gì có tiền của bạn, bạn chẳng qua chỉ là gặp cơ duyên may mắn, bạn có được số tiền này, người ta giúp bạn tiêu, bạn còn phải cảm ơn người ta đó. Bạn còn phải đi cảm ơn người ta: "Cảm ơn anh đã giúp tôi tiêu tiền." Đây cũng chính là tinh thần của Guru Jesus của tôi. Người ta lấy mất quần áo ngoài của bạn, thế thì quần áo trong bạn cũng đưa cho họ luôn. (Thế thì bạn cũng trần trùng trục luôn.) Người ta lấy đi cái quần tây của bạn, vậy thì cái quần lót bạn cũng cởi ra đưa cho người ta luôn. Đó là tinh thần của Jesus, Jesus cũng là bố thí vô úy, Ngài cũng có tinh thần của một vị Bồ Tát.

Buổi tối cuối cùng, Ngài đã cầu nguyện đến Thượng Đế như thế nào? Ngài biết rõ sẽ bị bắt đi đóng đinh trên thập tự giá, Ngài đã cầu nguyện ra sao? Ngài nói: "Những gì họ đã làm họ không biết, vì thế, xin Thượng Đế hãy tha thứ cho những người đóng đinh con lên thập tự giá." Xin Thượng Đế tha thứ cho những người đóng đinh Ngài lên thập tự giá, vì họ không biết về những việc họ làm, Jesus cũng bố thí vô úy. Cho nên, nếu bạn tu hành có được ba loại bố thí này, bố thí pháp tốt hơn bố thí tiền, bố thí bình đẳng vô úy tốt hơn bố thí pháp. Cần phải hiểu kiểu so sánh này, bởi vì tinh thần của Bồ Tát thật sự là vô cùng vĩ đại. Jesus cũng đã thể hiện sự vô úy không sợ hãi, bình đẳng, còn tha thứ cho những người đã hại Ngài, cầu nguyện lên Thượng Đế xin tha thứ cho những người đã hại Ngài, đây chính là chỗ rất vĩ đại của bản thân Jesus. 

Vì vậy, tôi cảm thấy, chúng ta tu hành cần thật sự làm một vị Bồ Tát (Bồ Đề Tát Đỏa), đó là mục tiêu của chúng ta. Trong kinh Kim Cang nói đến bình đẳng vô úy, có so sánh rằng: ở đây nói, nếu có người đem thất bảo của tam thiên đại thiên thế giới dùng để bố thí, công đức rất lớn, nhưng nếu lại có người, trong bài kinh này, thọ trì dù chỉ bốn câu kệ, vì người khác mà nói, thì phúc ấy còn hơn cả phúc kia. Bố thí pháp càng lớn hơn, vĩ đại hơn, sau đó bố thí bình đẳng vô úy còn vĩ đại hơn nữa, đây là một sự so sánh.

Rồi, hôm nay tôi giảng cho mọi người Phần thứ 8: Y pháp xuất sinh, nói với mọi người rõ ràng một chút, trong đây có sự so sánh, một cái là bố thí thất bảo, một cái là bố thí pháp, tôi nói thêm một cái nữa là bố thí bình đẳng vô úy. Nếu bạn có bố thí bình đẳng vô úy thì thế giới này đã được an ninh rồi. Thế nào gọi là thế giới đại đồng? Lí tưởng của Khổng Tử, thế giới đại đồng, đại đồng thế giới, đây là một điều lí tưởng, cả thế giới Ta Bà này đều là tịnh thổ, mỗi một người đều nghĩ cho người khác, không khởi lên tranh chấp, không có tranh chấp. Giữa người và người với nhau sẽ không khởi tranh chấp, không có đố kị, không có ghen tuông.

Bởi vì người khác tốt hơn bạn nên bạn ghen tuông, bạn sẽ đố kị, chỉ nghĩ cho bản thân, thế thì đó không phải là tinh thần của Phật giáo, đó là "hữu ngã" chứ không phải "vô ngã". Thật sự đến được vô ngã rồi, là một Bồ Tát nghĩ cho người khác không nghĩ cho bản thân, là một Bồ Tát không cầu cho mình mà cầu cho người khác. Bạn xem thế giới này, bạn mở ti vi ra mà xem xem, tất cả đều thế, mỗi người đều ích kỉ, mỗi gia đình đều ích kỉ, mỗi quốc gia đều ích kỉ. Đạo lí lớn của Phật giáo, thế giới đại đồng thật sự nằm trong Phật giáo, cái gì là vô duyên đại từ, đồng thể đại bi? Vô duyên đại từ, đồng thể đại bi, đó là Bồ Tát đó, vì thế đừng vì cá nhân, đặc biệt là ghen tuông, đố kị, cái này đều không tốt, thật sự đó.

Thật ra mọi người cần luôn luôn nghĩ cho người khác, đừng nghĩ cho bản thân, cho nên tôi thường nói, người thọ Bồ Tát giới đến thọ Bồ Tát giới, tôi nói: "Bồ Tát không nghĩ cho bản thân, nghĩ cho người khác, phát bồ đề tâm hoán đổi mình và người khác." Bạn luôn luôn nghĩ: "Nếu chính bạn là người ta thì bạn sẽ như thế nào?" Hãy luôn có suy nghĩ như vậy. Đặt mình vào vị trí của người khác chính là một cách trong pháp phát bồ đề tâm. Kim Châu Đại Sư truyền cho Atisha tôn giả pháp phát bồ đề tâm, cách hoán đổi mình và người khác trong đó chính là dạy bạn làm một vị Bồ Tát, cho nên, đặt mình vào vị trí của người khác để nghĩ cho người khác là ở đây. 

Trong so sánh ở Phần thứ 8: Y pháp xuất sinh này, bố thí pháp tốt hơn bố thí tiền, tiếp theo nữa, bố thí bình đẳng vô úy tốt hơn bố thí pháp. Bạn là một Bồ Tát, học tập tinh thần của Bồ Tát, bạn thọ Bồ Tát giới rồi, học tập tinh thần của Bồ Tát, giúp đỡ người khác thậm chí đến mức hi sinh bản thân mình, không còn bản thân nữa. Bồ Tát là không còn bản thân, khi ấy gọi là thành tựu, bởi vì không còn bản thân, nên cũng không có thành tựu, bởi vì không có thành tựu, cho nên mới gọi là thành tựu, chính là như vậy đó. Phần thứ 8: Y pháp xuất sinh được nói đến ở đây, tôi nói một so sánh này cho mọi người nghe, cái này vô cùng quan trọng. Phật Thích Ca Mâu Ni đưa ra so sánh này ở đây, nếu như tôi không giảng, mọi người cũng sẽ không biết. So sánh này phải… chỉ riêng giải thích bốn câu kệ này đã vượt trội sự bố thí tiền rồi, sau đó lại thêm bố thí bình đẳng vô úy nữa, thế thì lại càng tốt hơn, tất cả đều viên mãn.

Vì sao giữa các quốc gia có chiến tranh kinh tế, cuộc chiến gì cũng đều vì đất nước của chính mình? Vì sao bạn không nghĩ cho đất nước khác? Tối hôm qua tôi xem ti vi, có một người nuôi rất nhiều mèo, sau đó anh ta đem lũ mèo đi khắp nơi làm bẩn toàn bộ cả khu phố. Sau đó người khác bí mật đi thông báo cho ban quản lí, ban quản lí cảnh cáo anh ta, anh ta ghét hàng xóm đối diện đã bí mật báo cho ban quản lí, không ngờ anh ta đã đem rác ra chặn ở trước cửa nhà của hàng xóm. Tôi xem thấy đoạn phim này, đó chính là chỉ vì bản thân mình, anh cũng cần phải nghĩ cho hàng xóm một chút, anh nuôi nhiều mèo như vậy chúng đi ị bậy khắp nơi, khiến cho cả khu đều bốc mùi hôi thối, hàng xóm có chịu nổi không?

Sau đó người ta bí mật đi tố cáo anh ta, anh ta lại chặn cửa nhà người ta lại. Anh ta kéo các thứ đến để chặn trước cửa nhà người ta, hại người ta không ra được. Người ta ở trong nhà không ra được, còn phải gọi điện thoại kêu cảnh sát đến để mở cửa, sau đó camera đã ghi lại được là do hàng xóm đối diện làm. Đều là ích kỉ tư lợi, nhìn xem, ôi chao, ích kỉ tư lợi. Quốc gia cũng thế, bạn nghĩ xem mấy người làm Tổng thống, bạn xem những người làm Tổng thống như thế nào? Những người học Phật chúng ta cũng đừng phê bình người khác, chúng ta chỉ cảm thấy cần nói rằng, đời người ngắn ngủi như một trò chơi, bạn xem, Liên Ấn đã đi rồi, "Mắt thấy người ta chết, trong lòng nóng như lửa, chẳng phải lo người khác, lo sắp tới lượt mình." Tiếp theo lại đến lượt mình. Nghĩ mà xem, bạn còn tranh giành cái gì? Mọi người đừng tranh tới tranh lui, bình đẳng vô úy buông xả đi. Om mani padme hum.

*(Ngày 10/10/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Ma Lợi Chi Thiên tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 23.)*


### 24. Phần thứ 9: Nhất tướng vô tướng (1)


*(Bài giảng 24) *Sơ quả A La Hán Tu Đà Hoàn

*"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Một vị Tu Đà Hoàn có thể có suy nghĩ "Ta đã đắc quả Tu Đà Hoàn" không?"
Tu Bồ Đề nói: 
"Không thể, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Tu Đà Hoàn còn được gọi là Nhập Lưu, nhưng không có chỗ nào mà nhập vào, không nhập vào sắc - thanh - hương - vị - xúc - pháp thì gọi là Tu Đà Hoàn."*

Nhất tướng cũng tương đương với vô tướng, đây là phẩm thứ chín. Phật hỏi Tu Bồ Đề: *"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Một vị Tu Đà Hoàn có thể có suy nghĩ "Ta đã đắc quả Tu Đà Hoàn" không?" *Đây là Phật Thích Ca Mâu Ni hỏi. Tu Bồ Đề nói… Tu Bồ Đề trả lời: *"Không thể, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Tu Đà Hoàn còn được gọi là Nhập Lưu, nhưng không có chỗ nào mà nhập vào, không nhập vào sắc - thanh - hương - vị - xúc - pháp thì gọi là Tu Đà Hoàn."*

Tôi giải thích với mọi người đoạn này. Thật ra mấy đoạn tiếp theo cũng đều là một vấn đề giống nhau. Chúng ta biết rằng A La Hán là cao nhất. A La Hán phân thành bốn loại, một loại là "Nhập Lưu" như vừa nãy mới nói, là Tu Đà Hoàn - A La Hán sơ quả. Tiếp theo, A La Hán nhị quả gọi là "Nhất Lai". A La Hán tam quả gọi là "Bất Hoàn". A La Hán tứ quả gọi là "Li Thế", đó là bốn cảnh giới của A La Hán. A La Hán phân thành bốn cấp, cũng chính là tu Khổ - Tập - Diệt - Đạo. Phật hỏi Tu Bồ Đề: Ý ông thế nào? Một vị Tu Đà Hoàn có thể có suy nghĩ "Ta đã đắc quả Tu Đà Hoàn" không?

Đúng, không sai. Bạn không thể nói "Bây giờ tôi là Phật", bạn cũng không thể nói "Tôi là Bồ Tát", bạn cũng không thể nói "Tôi là A La Hán", không thể nói thế. Bởi vì thân ở trong đó, đó chỉ là một cái tên thôi! Phật là một cái tên, Bồ Tát là một cái tên, A La Hán là một cái tên, Tu Đà Hoàn này chỉ là một cái tên thôi! Bây giờ có nói "Tôi đã đắc quả Tu Đà Hoàn" không? "Tôi đã đắc quả Tu Đà Hoàn" không? Nếu có người đã là Tu Đà Hoàn rồi, bây giờ người đó lại nói rằng "Tôi đã đắc Tu Đà Hoàn", ở đây Tu Bồ Đề nói: Không có chuyện như vậy.

Thưa Thế Tôn! Là vì sao? Tu Đà Hoàn còn được gọi là Nhập Lưu. Tôi hỏi mọi người, thế nào gọi là nhập lưu? Tôi nói cho mọi người biết luôn, không cần tôi phải hỏi nữa… bởi vì ở đây tôi cũng không có quà gì để tặng. Hỏi rồi lại không có giải thưởng, bạn trả lời đúng cũng không có giải thưởng, ở Biệt thự Cầu Vồng còn có mấy thứ để làm giải thưởng, ở đây hoàn toàn chẳng có giải thưởng gì, tôi mời bạn uống một cốc nước vậy. (Có người có mặt ở đó trả lời: Ở trong ngăn kéo có.) Ồ, bên trong ngăn kéo có à? Giấu ở trong đây à? Bên trong ngăn kéo có cái cóc khô gì thế? Không thấy gì! Bị người ta lấy đi mất rồi à? Bên trong ngăn kéo… vì thế tôi mới bảo mọi người: trả lời đúng thì được cái cóc khô gì chứ?

Rồi, tôi nói cho mọi người biết, thế nào gọi là nhập lưu? Chúng ta nói đến nhà ăn lớn ở Seattle Lôi Tạng Tự, phòng ăn, ở phía trước chẳng phải có một vị Tân Đầu Lư sao? Nói cho bạn biết, Tân Đầu Lư chính là Nhập Lưu. A La Hán trụ thế, A La Hán sống tại thế giới Ta Bà này thì gọi là Nhập Lưu. Chữ “lưu” này của chúng ta nằm trong ý nghĩa xã hội suy đồi con người bon chen. Bạn nhập lưu nghĩa là bạn tiến vào một dòng chảy. Dòng chảy này là cái gì? Là ngũ trọc ác thế. Đó gọi là nhập vào dòng, A La Hán trụ thế gọi là Nhập Lưu, họ tiến vào ngũ trọc ác thế của thế giới Ta Bà. Tân Đầu Lư của chúng ta thuộc nhóm A La Hán Nhập Lưu, sống trong xã hội suy đồi con người bon chen này, ngài ấy là A La Hán trụ thế, gọi là Nhập Lưu.

Ở đây nói với mọi người một cách đơn giản, vì sao Tu Đà Hoàn gọi là Nhập Lưu, nhưng không có chỗ nào để nhập vào? Mặc dù Tân Đầu Lư sống trong ngũ trọc ác thế, nhưng ngài ấy không thật sự tiến nhập vào ngũ trọc ác thế, ngài ấy giữ gìn sự thanh tịnh của một bậc Tu Đà Hoàn. Ngài ấy thanh tịnh! Ngài ấy là một A La Hán thanh tịnh. Mặc dù ngài ấy tiến vào ngũ trọc ác thế, ở trong xã hội suy đồi con người bon chen, nhưng ngài ấy thuộc hàng A La Hán thanh tịnh, cái này tương đương với không nhập lưu, như vậy mọi người hiểu chứ? Bởi thế, người bình thường họ không hiểu được vì sao nhập lưu lại không phải là nhập lưu. Là ý gì đây? Bởi vì mặc dù ngài ấy sống trong ngũ trọc ác thế nhưng không chịu ảnh hưởng của ngũ trọc. Vì sao không chịu ảnh hướng của ngũ trọc? Tu Bồ Đề đã trả lời: không nhập vào sắc - thanh - hương - vị - xúc - pháp thì gọi là Tu Đà Hoàn.

Ngài ấy không tiến nhập vào, ngài không bị sắc thanh hương vị xúc pháp ảnh hưởng… Tân Đầu Lư của chúng ta ngồi ở đó, Trường Mi Tôn Giả ngồi ở đó, cặp lông mày dài dài, cái miệng mở to, Phật Thích Ca Mâu Ni ở phía sau, bức tướng của Phật Thích Ca Mâu Ni treo ở phía sau. Miệng ngài há ra, bởi vì bị Phật Thích Ca Mâu Ni phạt phải ở lại thế giới Ta Bà, ngài ấy kêu thảm thiết một tiếng "á". Vị Bạch Mi Tôn Giả này, ngài ấy không nhập vào sắc. Tôi kể với mọi người, ví dụ hôm nay có một cô gái xinh đẹp bước vào nhà ăn để ăn cơm, ngài ấy cũng sẽ không mở to mắt nhìn chằm chằm vào cô ấy. Nếu mà mắt háo sắc, nước miếng túa ra thì cái anh chàng họ Trư này sẽ rớt nước dãi. Ngài ấy sẽ không như thế, ngài ấy như như bất động!

Nếu có người rất xấu bước vào, ngài ấy cũng chẳng hừ giọng, trong mắt ngài cơ bản là không có sắc. Bạn có hát bài hát rất hay cho ngài nghe, ngài cũng không tiếp nhận, bởi vì mắt tai mũi lưỡi thân ý của ngài, lục tặc đã đóng lại hết rồi. Vốn dĩ tu cái này nghĩa là phải đóng lục tặc lại. Bạn xem trên cái tấm che ánh sáng kia, chỗ đó có Tân Đầu Lư của chúng ta. Hang động của Tân Đầu Lư, khi ngài ấy tu hành ở núi Linh Sơn, hang động của ngài ấy cách hang động của Xá Lợi Phất cực kì gần. Ngài ấy là bạn của tôi đó, *my friend*. Tôi còn nhớ khi tôi đi Kyoto… chùa Đông Đại nhỉ? Có chùa Đông Đại không? Ở Nara à? Nara Đại Phật à? Khi đến chùa Đại Phật ở Nara, bên cạnh có một vị Tân Đầu Lư, ngài ấy ngồi ở cổng chùa. 

Tôi vừa nhìn vào mắt ngài ấy thì… ối, mắt ngài ấy cử động! Tôi nói: "Này, Tân Đầu Lư đến rồi. Bảo mọi người hãy mau đến sờ đi." Khi đó, có người tên là Nhật Lương và Nguyệt Cầm, người đó là La Nhật Lương, còn Nguyệt Cầm kia họ gì? Họ Hoàng à, La Nhật Lương, Hoàng Nguyệt Cầm, họ là đôi vợ chồng đi theo tôi. La Nhật Lương mắc bệnh dạ dày rất nghiêm trọng, vì thế người rất gầy, bệnh rất nghiêm trọng. La Nhật Lương nghe thấy thế, anh ta rất có linh cảm. Tôi nói: "Mau lên, trên người anh chỗ nào có bệnh thì nhanh nhanh đi sờ đi, sờ lên thân thể của ngài đi." Anh ta liền trèo lên, bởi vì bức tượng đó rất to lớn, anh ta liền bò lên để sờ vào bụng. Kể từ hôm đó, bệnh dạ dày của La Nhật Lương đã khỏi rồi. 

Trước kia, anh ta hoàn toàn không thể ăn dứa, hễ ăn một miếng dứa là anh ta sẽ đau dạ dày. Bây giờ anh ta có thể ăn cả quả dứa rồi. Tôi bảo anh ta: "Anh xem đi, bây giờ Tân Đầu Lư đang ở đây, hãy mau đi sờ đi, thân thể anh chỗ nào có bệnh thì mau đi sờ đi." Khi ấy tôi cũng có bệnh nấm kẽ chân, tôi liền đi sờ chân của ngài ấy, sờ một chút, kể từ hôm đó tôi không còn bị nấm kẽ chân nữa. Có ai đi làm lính mà không bị mắc bệnh nấm kẽ chân chứ… làm lính, chúng tôi trước kia làm quân nhân, giặt quần áo tập thể, tất cả đồ lót đều giặt cùng, tất cả bỏ chung vào một cái nồi, cùng giặt, người nào cũng mắc bệnh truyền nhiễm, mắc tới mắc lui, đều mắc các bệnh da liễu, rất là nhiều.

Bởi vì trong quân đội là cuộc sống tập thể, rất đông người, cực kì đông người, mỗi người đều mắc bệnh ngoài da. Tôi còn bị mắc bệnh nấm kẽ chân, mặc bệnh phong tú cầu. Bệnh phong tú cầu là gì… không thể nói được. Khi xưa bệnh nấm kẽ chân rất khó chữa! Quái lạ, vì sao bệnh này lại đặt tên là "chân Hồng Kông" nhỉ, *Hongkong feet*? Tiếng Hồng Kông, chân Hồng Kông, tôi đang nói tiếng Anh. Tôi nói cho mọi người biết, thật sự là bệnh "chân Hồng Kông" rất khó chữa, khỏi được mấy ngày nó lại bị lại, khỏi được vài hôm nó lại bị lại… Bệnh nấm kẽ chân của tôi đã hoàn toàn khỏi rồi, hoàn toàn khỏi hẳn rồi, không còn tái phát nữa. Dạ dày của La Nhật Lương sau khi sờ tượng xong cũng khỏi thật rồi.

A La Hán trụ thế, Tân Đầu Lư. Có bao nhiêu A La Hán trụ thế? Rất nhiều. Ngài ấy là người dẫn đầu, Tân Đầu Lư là người tiên phong. Vốn dĩ ngài ấy có thể đến Tứ thánh giới, chỉ vì ngài ấy hiển lộ thần thông bừa bãi nên bị Phật Thích Ca Mâu Ni phạt phải trụ thế, làm một vị A La Hán sống tại thế giới Ta Bà này. Do đó, hôm nay tôi giải thích với mọi người thế nào gọi là Nhập Lưu. Nghĩa là trụ thế, chính là sơ quả. Sơ quả chính là trụ thế, nhưng không có chỗ nào mà nhập vào, không nhập vào sắc - thanh - hương - vị - xúc - pháp, không sai. Sắc thanh hương vị xúc pháp chính là mắt tai mũi lưỡi thân ý. Đóng chặt sáu cái cửa này lại, tịnh trừ toàn bộ lục tặc, trong tu hành chúng ta gọi những cái này là sáu tên giặc. 

Trong tiếng Quảng Đông, trẻ con gọi là gì? Nhãi à? Nhãi? Nói gần giống như "giặc" nhỉ! Lục tặc này, tôi cảm thấy cái từ "nhãi" trong tiếng Quảng Đông này, chữ này là tặc, không phải là nhãi, nhãi là tiếng Quảng Đông, nghĩa là trẻ con. Bạn thấy đấy, trước tiên phải tu cái này. Mắt đã bị sắc mê hoặc rồi, tai đã bị thứ âm nhạc đồi trụy mê hoặc rồi, lưỡi bị mùi vị mê hoặc rồi, mũi thì thích hương thơm, ngửi thấy mùi hôi thối thì cự tuyệt, cái thơm thì thích, đây chính là những dục vọng của con người. Mắt tai mũi lưỡi thân ý, sắc thanh hương vị xúc pháp… Không được nhập vào sắc thanh hương vị xúc pháp thì gọi là Tu Đà Hoàn, ở đây đã đóng chặt lục tặc rồi, nên mặc dù trụ thế, nhưng thật ra không chịu truyền nhiễm từ ngũ trọc ác thế, không bị nhiễm. Do đó, tôi giảng điều này như thế hẳn là rõ ràng rồi. 

Vì thế, bạn đọc kinh Kim Cang thì phải hiểu được ý nghĩa gốc của bản thân kinh Kim Cang. Rất nhiều người biết, đều niệm kinh Kim Cang từ sáng tới tối, buổi tối cũng niệm kinh Kim Cang, buổi sáng cũng niệm kinh Kim Cang, nhưng lại không hiểu ý của nó. Vì sao là nhập lưu mà lại là không nhập? Rõ ràng là nhập lưu, vì sao lại là không nhập lưu. Sự thật ở đây là: nhập lưu nghĩa là không nhập lưu, là nói đến điều quan trọng nhất của Tu Đà Hoàn, là mặc dù họ nhập lưu nhưng thật ra là không nhập lưu. Trong kinh này có rất nhiều câu nói kiểu này, trong kinh Kim Cang có nhắc đến. Ý nghĩa là gì? Vì vậy hôm nay tôi đã giảng rồi, mọi người đã hiểu được: mặc dù ngài sống ở ngũ trọc ác thế, thật ra ngài không dùng đến mắt tai mũi lưỡi thân ý của mình để tiếp xúc với ngũ trọc ác thế, đây gọi là Tu Đà Hoàn, là một quả vị, là A La Hán sơ quả. 

Tôi còn nói cho mọi người một bí mật nữa: ở Seattle Lôi Tạng Tự của chúng ta có hai vị Tu Đà Hoàn, là A La Hán sơ quả, ở chính đây. Mọi người không biết đâu. Nếu bạn biết, bạn có thể chắp tay đảnh lễ các vị đó, các vị cũng ứng cúng. Thế nào gọi là ứng cúng? Là nên cúng dường các vị đó. Có hai vị Tu Đà Hoàn sống tại Seattle Lôi Tạng Tự của chúng ta. Tôi nói cho mọi người biết điều đó. 

Tôi lại giảng thêm một đoạn nữa, hay là giảng như vậy là đủ rồi? Ngày mai lại giảng tiếp vậy. Cho nên, tôi đã giải thích cho mọi người thế nào gọi là Nhập Lưu. Tu Đà Hoàn gọi là Nhập Lưu. Ngày mai tôi sẽ giảng "Nhất Lai". Thế nào gọi là Nhất Lai? Ở đây là tu hành còn chưa đạt đến nhị quả, bạn là A La Hán nhị quả thì gọi là Nhất Lai. Ồ, ở đây viết là "Nhất Vãng Lai"… cái này để đến ngày mai giảng tiếp nhé, ngày mai tôi sẽ giải thích rõ hơn với mọi người. Bởi vì trước tiên phải giảng hai chữ Nhập Lưu đã. Rất khó… bạn đi hỏi những người thường xuyên niệm kinh Kim Cang xem: "Xin hỏi vì sao Tu Đà Hoàn gọi là Nhập Lưu?" Nhập vào cái dòng chảy gì? Có một số người họ không biết, đã gọi là nhập lưu rồi vì sao còn gọi là không nhập lưu? Bởi vì các vị ấy đã đóng lục tặc rồi, nghĩa là đóng mắt tai mũi lưỡi thân ý.

Vì thế không có sắc thanh hương vị xúc pháp, không nhập vào sắc thanh hương vị xúc pháp thì sẽ không bị sáu loại sắc thanh hương vị xúc pháp này mê hoặc. Người đạt đến cảnh giới này gọi là Tu Đà Hoàn. Nói như vậy là hiểu rồi chứ? Ngày mai tôi lại giải thích cho mọi người thế nào gọi là Nhất Vãng Lai. Nhất Vãng Lai này, bạn hỏi những người thường niệm kinh Kim Cang xem cái gì gọi là Nhất Vãng Lai? Có lẽ họ cũng không biết đâu. Vì sao là Nhất Vãng Lai, lại không phải là Nhất Vãng Lai? Ý nghĩa là gì? Ngày mai tôi sẽ nói rõ với mọi người. Om mani padme hum.

*(Ngày 16/10/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Hoàng Tài Thần Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 24.)*


### 25. Phần thứ 9: Nhất tướng vô tướng (2)


*(Bài giảng 25) *Nhị quả A La Hán Tư Đà Hàm - Nhất Vãng Lai

*"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Một vị Tư Đà Hàm có thể có suy nghĩ "Ta đã đắc quả Tư Đà Hàm" không?"
Tu Bồ Đề nói:
"Không thể, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Tư Đà Hàm còn gọi là Nhất Vãng Lai, nhưng thật ra không hề có sự đến đi, thì gọi là Tư Đà Hàm."*

Bây giờ giảng đoạn này. Giải thích đoạn tôi vừa nhắc đến là nói thế này: "Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Một vị Tư Đà Hàm có thể có suy nghĩ "Ta đã đắc quả Tư Đà Hàm" không?" (Nhị quả A La Hán gọi là Tư Đà Hàm.) Có phải người đó thường xuyên nghĩ đến "Ta đã đắc nhị quả A La Hán" không? Thật ra là không, sẽ không nghĩ như thế. 

Tôi lấy một ví dụ, khi cá bơi, khi ở trong nước, chúng có nghĩ rằng "bây giờ mình đang ở trong nước" không? Nó không cần nghĩ, vốn dĩ nó đang ở trong nước mà, nó không cần phải nghĩ về nước nữa. Bạn đắc được Tư Đà Hàm rồi, bạn không cần thường xuyên nghĩ rằng "mình đã đắc Tư Đà Hàm rồi", bởi vì vốn dĩ đã ở trong Tư Đà Hàm rồi mà, bạn còn ngày ngày nghĩ đến Tư Đà Hàm làm cái gì nữa?

Tôi lấy một ví dụ, giống như con người chúng ta ở trong không khí, bạn có ngày ngày nghĩ đến không khí không, ngày ngày nói rằng: "Ta ngày ngày nghĩ đến không khí, không khí, không khí, không khí, ở đây cũng là không khí, ở giữa cũng là không khí, trốn trong chăn bông cũng là không khí, ngồi trong toilet cũng là không khí, ngồi ở chỗ nào thì chỗ đó cũng là không khí, trong nhà kho cũng là không khí, trong phòng làm việc cũng là không khí, ở chỗ nào…" căn bản không cần phải nghĩ về không khí, không khí tự nhiên ở xung quanh bạn, không cần nghĩ, đây chính là ý nghĩa mà Phật Đà nói với Tu Bồ Đề: "Người đắc Tư Đà Hàm có còn ngày ngày nghĩ đến Tư Đà Hàm không?" Không cần nghĩ, bạn vốn dĩ chính là Tư Đà Hàm rồi, bạn vốn dĩ đã ở trong Tư Đà Hàm rồi, ngày ngày nghĩ đến Tư Đà Hàm làm cái gì, không cần nghĩ, ý ở đây là thế.

Cá ở trong nước, ngày ngày nghĩ: "Mình bơi đến chỗ này là nước, bơi đến chỗ kia cũng là nước, ở đây cũng là nước…" Không cần nghĩ, bạn vốn dĩ đã ở trong nước rồi mà, bạn vốn dĩ chính là một con cá mà. Chúng ta vốn dĩ là một con người, chúng ta sống trong không khí, bạn còn nghĩ đến không khí làm cái gì? Chúng ta thường nói: "Người này coi tôi như không khí", nghĩa là không coi bạn là con người, bạn có đến thì cơ bản người ta cũng chẳng đoái hoài gì đến bạn. "Người này coi tôi như không khí", trong lòng bạn rất tức giận. "Ngay cả gật đầu hay cười một cái cũng không, lại còn liếc xéo tôi một cái." Trong lòng rất bực, xem mình như không khí thì rất bực. (Coi như không tồn tại người khác.)

Kì thực, không khí lúc nào cũng tồn tại, cho nên, cũng là "không thể". "Không thể, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Tư Đà Hàm còn gọi là Nhất Vãng Lai, nhưng thật ra không hề có sự đến đi, thì gọi là Tư Đà Hàm." Tôi nói là Nhất Lai, được rồi, vì sao Nhất Lai lại không có vãng lai? "Gọi là Nhất Vãng Lai, nhưng thật ra không có vãng lai, thì gọi là Tư Đà Hàm." Ý nghĩa của Nhất Lai, nhị quả A La Hán là phải trở về nhân gian một lần nữa, xong rồi thì lại trở về thiên thượng, thậm chí là Tứ thánh đạo.

Nhị quả A La Hán thì chắc chắn phải trở lại nhân gian một lần nữa, nhân duyên này là như vậy. Vì sao các vị đến nhân gian mà vẫn là không có đến đi, cũng chẳng hề đến đi giống như con người, vì sao vậy? Mọi người chắc chắn sẽ nghĩ đến điều tôi nói ngày hôm qua, hôm qua giảng: "Nhập thế thật ra là không nhập thế, do vậy mới gọi là nhập thế." Hôm qua nói đến Tu Đà Hoàn, Tu Đà Hoàn là Nhập Lưu, mà thật ra lại không nhập lưu, bởi vì các vị giữ gìn thanh tịnh. Không sai, các vị phải đến nhân gian, các vị cần giữ gìn giới thể thanh tịnh để quay trở về thiên thượng, thật ra cũng không khác gì các vị chưa tới nhân gian.

Bởi vì nhân gian là cái gì? Nhân gian là ngũ trọc ác thế, là thùng thuốc nhuộm lớn, một khi bước vào thì bạn sẽ bị ô nhiễm, bạn sẽ biến thành kimchi (món kimchi Hàn Quốc). Bạn biết kimchi được làm như vậy đó, một cái vại, bỏ tất cả rau vào trong đó, rồi bỏ thêm nước xốt, cả một đống nguyên liệu đậy lại muối một năm, hai năm sau (không cần phải muối lâu như vậy), dù sao bạn muối xong thì tất cả đều là một mùi vị, chính là dưa muối, chính là kimchi đó. Dưa muối đều có một mùi vị, bởi vì bạn đã bước vào ngũ trọc ác thế rồi, nhân gian này chính là một thùng thuốc nhuộm lớn, một khi bạn bước vào thì bạn sẽ nhiễm tất cả những tập khí nhơ bẩn của con người, một khi bạn đã bị nhiễm hết rồi thì bạn không trở về được nữa.

Thế thì phải làm sao? Tôi bảo bạn nhé, tôi đã gặp một vị Tư Đà Hàm. Trước kia, khi tôi đang học ở trường Trắc Lượng, tôi có quen một người bạn gái nhưng không phải là bạn gái, nghĩa là không phải là bạn gái mà chỉ là bạn bè thôi, cô ấy là người làm thuê ở trường Trắc Lượng. Văn phòng của trường Trắc Lượng có thuê một vài nữ sinh làm việc tạm thời, tôi đã quen cô ấy ở trường đó, tuổi cô ấy lớn hơn tôi một chút, nên tôi gọi cô ấy là chị. Sau khi tôi có thiên nhãn, có một lần tôi đến nhà cô ấy, thấy mẹ cô ấy bế một người, thì ra trong số chị em của cô ấy có một người sinh ra rất nhỏ bé, cô ấy nói đó là chị của cô ấy. "Chị của chị sao nhỏ như vậy? Mẹ của chị còn phải bế nữa." "Bởi vì chị ấy bị mắc bệnh xương mềm, khi sinh ra đã mắc bệnh này rồi." Vừa sinh ra đã mắc bệnh mềm xương, mềm xương, không thể cử động được gì, mắt chỉ có thể mở ra nhìn mẹ thôi, hai con mắt còn rất đẹp nữa, còn những thứ khác thì… không biết nói chuyện, không biết nói, xương cốt toàn thân đều rất mềm. Vừa sinh ra đã mắc bệnh mềm xương, rất nhỏ bé, sau này đã nuôi hai mươi mấy năm mà xương vẫn mềm. 

Chỉ có hai con mắt, tôi nhìn vào đứa bé đó, bởi vì khi ấy tôi đã có thiên nhãn, mắt tôi nhìn vào mắt của đứa bé, vừa nhìn vào trong mắt của cô bé đó thì tôi đã nhìn ra bản chất, ôi! Cô bé đó không ngờ là một Thánh Hiền, là nhị quả A La Hán, là Tư Đà Hàm. Tôi nói: "Mọi người có lễ phép với người chị này không?" Cô ấy nói: "Rất kì lạ, chị ấy sinh ra đã mềm xương, nhưng mỗi người chúng tôi (bao gồm cha, mẹ, cả các anh chị em) lại vô cùng yêu quý và nâng niu người chị bị mềm xương này, rất lo sợ làm chị bị tổn thương, hàng ngày đều đút cho chị ăn nữa." Cô bé này có thể sống, toàn thân mềm nhũn không chút sức lực, mềm xương, xương cốt đều rất mềm, da dẻ trắng nõn, đôi mắt rất có trí huệ, nhưng cô bé không biết nói và nghe cũng không hiểu, cái gì cũng không biết, chỉ có hai con mắt là tỏa ra ánh sáng trí huệ.

Tôi nhìn vào trong đôi mắt, tôi nói với họ: "Đứa bé này là một vị Tư Đà Hàm." Họ không hiểu thế nào là Tư Đà Hàm. Đứa bé này là Tư Đà Hàm, chính là Nhất Lai, đến thế gian một lần nữa, vị đó vì để giữ gìn giới thể của mình nên đã tìm đến một gia đình có duyên với mình, một thí chủ sẽ nuôi dưỡng vị ấy, để xuất sinh tại nhân thế gian, tay đều không thể cử động, chân cũng không thể cử động, tai không thể nghe, miệng không thể nói, chỉ biết đến mùi vị khi người ta cho ăn, vị ấy có thể ăn, chính là để duy trì thân thể này. Có một ngày vị ấy sẽ chết, vị ấy chính là đến một lần nữa, chính là một vị Tư Đà Hàm. Trên thế gian này vị ấy có tạo nghiệp không? Không có, cho nên khi vị ấy trở về vẫn là Tư Đà Hàm, nhị quả A La Hán, vị ấy đã hoàn thành số mệnh phải đến thế giới Ta Bà một lần nữa.

Vì sao người nhà lại yêu thích đứa bé này? Đứa bé rõ ràng là mềm xương mà, nếu sinh ra một đứa con vô dụng thì nhiều nhà cũng đánh cho chết luôn rồi, nếu như sinh ra trong nhà của người khác thì có khi đã bị đánh chết từ lâu rồi, vì sao nhà họ lại không đánh đứa bé, hơn nữa mọi người còn chăm sóc hàng ngày, mỗi ngày đều thay nhau bế đứa bé? Đứa bé chỉ biết ngủ, mở to mắt, cả đời đứa bé chỉ có ngủ và mở to mắt, anh chị em đều nuôi dưỡng đứa bé này, cha, mẹ đều rất yêu đứa bé này.

Chính vì đã tìm được một thí chủ tốt, sinh ra trong nhà họ, nên sau đó vị ấy không hề tạo nghiệp, bởi vì cũng chẳng có cách nào để mà ác khẩu, giết - căn bản là không thể, vị ấy không thể cử động, trộm - tay của vị đó cũng không thể lấy đồ của người khác, dâm - vị ấy cũng không phạm vào dâm, hai lưỡi ác khẩu - đều không nói được, uống rượu - cũng không thể uống rượu, vị ấy chỉ có thể uống sữa thôi. Những thứ khác cái gì cũng đều không biết, căn bản là vị ấy không tạo nghiệp, bởi vì không tạo nghiệp ở thế giới Ta Bà, nên sau khi qua đời, sau khi chết, cha mẹ chôn cất cho vị đó yên ổn, vị ấy lại trở về là Thánh Hiền ban đầu, vị ấy đã hoàn thành được một lần vãng lai.

Bởi vậy, nói tóm lại, tôi đã dùng một ví dụ, chính là ví dụ về Tư Đà Hàm, nhị quả A La Hán có hiện tượng như vậy. Không phải là mỗi vị Tư Đà Hàm đều có hiện tượng này, nhưng vị Tư Đà Hàm thông minh thì sẽ dùng hiện tượng này, chuyển thế đến một nhà có duyên với vị đó, ở trong một gia đình yêu thương vị đó. Sinh ra đã bị mềm xương, cho nên anh chị em và cha mẹ đều rất yêu thương chăm sóc, cho đến khi chết đi, đây là một ví dụ về nhất vãng lai mà thật ra là chẳng hề vãng lai. Như vậy mọi người đã hiểu chưa?

Hôm nay nếu tôi không có kinh nghiệm này thì không thể nói được vì sao một lần đến thế giới Ta Bà mà thực ra lại không hề có sự đến đi là ý nghĩa thế nào? Vị đó đã sinh ra tại thế giới Ta Bà rồi, nhưng thật ra căn bản là vị ấy chưa hề đến, không đến thế giới Ta Bà là có ý nghĩa gì? Vị ấy có đến thế giới Ta Bà không? Có, một lần đến. Sự thật là không đến đi là ý nghĩa gì? Là căn bản vị ấy không có nghiệp, thiện nghiệp cũng không làm, ác nghiệp cũng không làm, chẳng làm cái gì cả, nên cũng tương đương như là chẳng hề đến đi.

Vừa hay là Sư Tôn mở thiên nhãn, nhìn vào đôi mắt của đứa bé này, thâm nhập vào bên trong mà biết được đó là một vị Tư Đà Hàm. Tư Đà Hàm đương nhiên là phiên âm theo tiếng Phạn, do vậy tôi dùng chuyện này làm ví dụ, cũng là muốn nói rằng, nhị quả A La Hán Nhất Vãng Lai thường dùng trạng thái xuất hiện này. Tôi đã thấy được, dùng tư thái của A La Hán này, nghĩa là xương mềm toàn thân không thể cử động, nên không hề tạo nghiệp, chỉ mỗi con mắt là chuyển động được thôi, và miệng để ăn các thứ, những cái khác đều không có, giết cướp dâm vọng rượu năm giới đều không phạm, không có nghiệp ác cũng không có nghiệp lành, chỉ là "một cái gì đó" đến nhân gian một lần rồi trở về, bởi liên quan đến nhân duyên, sau đó lại trở về Thánh giới. Tôi có thể giải thích đoạn này, nếu không có kinh nghiệm này của Sư Tôn thì cũng không có cách nào giải thích được thế nào là Nhất Vãng Lai nhưng thật ra là không hề đến đi. 

Nhất định phải chuyển thế làm người, nhưng chuyển thế làm người thì rất khó trở về, bởi vì chuyển thế làm người thì như bước vào thùng thuốc nhuộm lớn, và rồi bạn sẽ biến thành kimchi, mà vì đã biến thành kimchi thì có thể nói là mùi vị của tập khí sẽ tỏa ra, giết, cướp, dâm, hai lưỡi, ác khẩu, rượu, cái gì cũng có hết. Trừ phi bạn đến đây và nhanh chóng biết đến tu hành, lập tức đóng chặt lục tặc, mắt tai mũi lưỡi thân ý đều đóng lại. Tôi lấy ví dụ này hay chứ? Bởi vì có ví dụ này nên tôi mới giải thích được, không có ví dụ này, thật sự tôi muốn giải thích thì cũng rất khó.

Con người đều có tập khí, ghen tuông cũng là tập khí, đố kị cũng là tập khí, thế rồi ích kỉ cũng là tập khí. Tôi vừa giảng rồi đấy, vừa đọc lên đoạn này, ở đây đều là tập khí: nông cạn, tầm nhìn hạn hẹp, nhũng nhiễu, vô tri, bụng dạ hẹp hòi, soi mói, chỉ trích, bi quan, mong ngóng, oán hận, ỷ lại, tất cả đều là tập khí. 

Vì vậy, hôm nay chúng ta tu hành, không có phiền não là cái gì? Là loại bỏ hết những kì vọng của bản thân, không kì vọng cái gì cả, như thế bạn sẽ không thất vọng. "Tôi không kì vọng điều gì, không được không mất, tôi cũng không cần có được cái gì cả." Cần hiểu rằng, mọi người chăm chỉ tu hành! Sơ quả A La Hán, nhị quả A La Hán, còn có tam quả A La Hán, tứ quả A La Hán, A La Hán có bốn quả vị, lát nữa đây chúng ta sẽ cùng giảng về A Na Hàm.

Đây cũng là một câu chuyện cười rất hay. Rất lâu trước kia có một quốc vương muốn tìm một câu nói mà có thể khiến người vui nghe xong thì thấy buồn, người buồn nghe xong thì thấy vui, nhưng ông ta đã tìm kiếm một thời gian rất dài rồi mà vẫn không tìm được. Cho đến một buổi đêm nọ, ông ta mơ thấy một bậc trí giả nói với ông một câu, chính là câu mà bản thân ông muốn tìm kiếm. Câu nói thần kì nhất trong lịch sử chính là: "Tất cả rồi sẽ qua đi, bất kể là chuyện tốt hay chuyện xấu, không có thứ nào có thể vĩnh hằng bất biến.” Khi bạn thất bại đau khổ, bạn cần nói với chính mình, tất cả đều sẽ qua đi, khi bạn thành công mà đắc ý vênh váo, bạn cũng phải biết rằng tất cả đều sẽ qua đi. "Tất cả đều sẽ qua đi" là câu nói của tôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 17/10/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Liên Hoa Đồng Tử tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 25.)*


### 26. Phần thứ 9: Nhất tướng vô tướng (3)


*(Bài giảng 26) *Tam quả A La Hán A Na Hàm - Bất Lai

Hôm nay sẽ nói về A Na Hàm.

*"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Một vị A Na Hàm có thể có suy nghĩ "Ta đã đắc quả A Na Hàm" không?"
Tu Bồ Đề nói:
"Không thể, thưa Thế Tôn! Là vì sao? A Na Hàm còn gọi là Bất Lai, mà thật sự không có không đến thì gọi là A Na Hàm."*

Tôi giảng đoạn này là xong. Tu Bồ Đề nói: "Không thể, thưa Thế Tôn! Là vì sao? A Na Hàm còn gọi là Bất Lai, mà thật sự không có không đến thì gọi là A Na Hàm." Ở đây vẫn là cùng một đạo lí, bạn đắc quả A Na Hàm rồi, bạn sẽ không nói "Tôi đã đắc quả A Na Hàm". Tuần trước tôi đã lấy ví dụ cá ở trong nước sẽ chẳng thường xuyên nhớ mãi đến nước. Nếu cá sống trong nước, hàng ngày nó đều sống trong nước, thì nó sẽ không nghĩ đến nước, bởi vì nó đã quen rồi mà, căn bản là nó không rời xa nước, nó phải có nước thì mới sống được. Con người chúng ta sống trên trái đất này, chúng ta sẽ không ngày ngày nghĩ đến không khí, không nghĩ rằng "Ôi, hôm nay có không khí không nhỉ? Hôm nay có không khí gì nhỉ?" Sẽ không thường xuyên nghĩ đến, vì chúng ta đã có được không khí rồi. Bạn đã đắc A Na Hàm rồi, bạn chính là A Na Hàm, bạn sẽ không ngày ngày nghĩ đến "Ta là A Na Hàm."

Xem bạn đến cảnh giới nào, bạn đã có được cảnh giới nào rồi, bạn sẽ không muốn nói rằng tôi đã đến cảnh giới nào đó rồi, bạn đã là như vậy rồi mà, sẽ không ngày ngày nghĩ về điều đó nữa. Vì thế, Tu Bồ Đề nói rằng: Như một vị A Na Hàm, ngày ngày sẽ không nghĩ vị ấy là A Na Hàm, sẽ không thế. Ở đây nói A Na Hàm sẽ là như thế nào: gọi là Bất Lai, mà thật sự không có không đến thì gọi là A Na Hàm. Thế nào gọi là Bất Lai? Chúng ta nhớ rằng, thứ nhất: Tu Đà Hoàn, Tu Đà Hoàn gọi là Nhập Lưu, nhập vào dòng chảy dục vọng của ngũ trọc ác thế, nên gọi là Nhập Lưu, đây là vị A La Hán trụ thế, sơ quả A La Hán. Tiếp theo là Tư Đà Hàm, Tư Đà Hàm chính là Nhất Vãng Lai, lần trước tôi đã giảng: vị này cần phải đến thế giới Ta Bà một lần nữa, sau đó thì không đến nữa.

Bây giờ giảng A Na Hàm. A Na Hàm chính là Bất Lai: vị ấy đã không còn đến thế giới Ta Bà nữa, đây là tam quả A La Hán. Chúng ta gọi là tam quả A La Hán, gọi là A Na Hàm. Tam quả A La Hán đã tương đương với Thánh Hiền, thế nhưng vị ấy ở đâu? Vì sao vị ấy được gọi là Bất Lai? Tam quả A La Hán có năm cõi trời, vị ấy sống tại Thiên giới, không phải ở cõi Dục giới. A Na Hàm biểu thị rằng vị ấy đã rời xa đủ mọi dục vọng của cõi Dục giới rồi. Dục vọng này, bởi vì con người là loài có dục vọng, giống như vừa rồi Sư Tôn ngủ gật chính là một trong những loại dục vọng. Ngủ là một trong những loại dục vọng. Tiền, thích tiền là một trong những loại dục vọng. Sắc, bạn thích mĩ sắc cũng là một trong những loại dục vọng.

Danh, bạn háo danh, ví dụ như các đệ tử Chân Phật Tông của chúng ta háo danh, pháp sư háo danh muốn làm Thượng sư, Thượng sư háo danh muốn làm trưởng ban, trưởng ban của Tông Ủy Hội, trưởng ban háo danh muốn làm trưởng lão, có đúng thế không? Trưởng lão háo danh muốn làm tông chủ tương lai. Ai cũng có cách nghĩ như vậy, hết cái háo này đến cái háo khác, đó là háo danh. Giống các nhân vật chính trị đều là háo danh: họ muốn làm ủy viên lập pháp, sau ủy viên lập pháp lại muốn làm thị trưởng thành phố, có thực quyền thực lợi. Làm thị trưởng rồi thì sao nữa? Còn muốn làm bộ trưởng, cao hơn một chút, làm bộ trưởng. Làm bộ trưởng rồi lại muốn làm viện trưởng, viện trưởng Ngũ Viện. Lên viện trưởng Ngũ Viện rồi lại muốn làm phó Tổng thống, sau phó Tổng thống lại muốn lên nữa, muốn làm Tổng thống. Ở đây chỉ là háo danh.

Tài, sắc, danh… rồi lại đến ăn. Bạn có thích ăn đồ ăn ngon không? Thích chứ, đây chính là dục vọng của bạn. Tài sắc danh thực… các món ăn. Ngủ, ngủ cũng là dục vọng của bạn đó, sau đó, bạn vẫn còn muốn nữa! Tôi muốn mua đồ hàng hiệu, đồ dùng xịn, đi xe sang, ở nhà xịn, ăn mặc sống đi lại đều là dục vọng. Phải mặc quần áo đẹp, mặc quần áo hàng hiệu, túi xách hàng hiệu cầm ra ngoài, bạn xem đều treo trên tay này. Lại còn háo danh nữa. Bạn hỏi tôi, cái miệng há ra, bên trong toàn là răng vàng, sau đó giơ ngón tay có đeo nhẫn ra, "đường này rẽ bên đây", trong mắt chỉ nhìn vào chiếc nhẫn… anh xem chiếc nhẫn của tôi này, anh xem, nhẫn kim cương đó! Mười carat đó! Họ cũng phải khoe một chút, đúng thế không? Cái gì cũng háo, đều là dục vọng. Lái xe cũng là có dục vọng, đi lại cũng là có dục vọng, mặc cũng là dục vọng, cái gì cũng là dục vọng cả.

Rời xa mọi thứ dục vọng, tôi nói cho bạn biết, Dục giới thiên cũng là dục vọng. Từ tứ Thiên Vương thiên cho đến Đao Lợi thiên cao nhất, ba mươi ba cõi trời, hai mươi tám cõi trời, trong đó sáu cõi trời Dục giới đều là dục vọng. Vì thế, vị A Na Hàm không sống tại Dục giới. Vậy vị ấy sống ở đâu? Nơi đó gọi là ngũ Tịnh Cư thiên. Ngũ Tịnh nào? Vô Phiền thiên, Vô Nhiệt thiên, Hỉ Kiến thiên, Hỉ Hiện thiên, Sắc Cứu Cánh thiên, năm cõi trời này gọi là Ngũ Tịnh Cư thiên. Năm cõi trời này chính là nơi ở của Thánh Hiền. Không còn dục vọng nữa thì gọi là Thánh Hiền. Đó là Vô Phiền thiên, không còn phiền não. Vô Nhiệt thiên, không còn chịu nóng bức. Thiện Kiến thiên, Thiện Hiện thiên, và Sắc Cứu Cánh thiên. Sẽ không trở lại nữa, sẽ không đến Dục giới nữa, bởi vì họ đã rời xa mọi dục vọng rồi, nên gọi là Thánh Hiền.

Vì sao là Vô Phiền thiên? Rời xa dục vọng thì không còn phiền não nữa. Có dục vọng thì tuyệt đối sẽ có phiền não, rời bỏ dục vọng thì sẽ không còn phiền não. Bởi vì bạn không muốn có cái gì cả thì bạn còn phiền não cái gì, căn bản là bạn không muốn cái gì cả thì không có phiền não. Đó gọi là Vô Phiền thiên. Không còn khó chịu vì cái nóng, bởi vì bạn cũng sẽ không bị thời tiết nóng khiến bạn muốn mở máy lạnh, muốn lạnh chừng nào, bởi thế thì bạn vẫn còn ưa thích máy lạnh. Đến Vô Nhiệt thiên rồi thì không còn phải chịu nóng bức nữa. Thế nào gọi là Thiện Kiến thiên? Những gì mà ta nhìn thấy đều là những cảnh sắc tốt đẹp nhất, Thiện Kiến thiên tối thắng. Những gì mà các vị nhìn thấy đều là hoàn mĩ, là Thiện Kiến thiên.

Thế nào là Thiện Hiện thiên? Tam quả A La Hán ở Thiện Hiện thiên có thể xuất hiện ở bất kì nơi nào, vị ấy cần đi giúp đỡ thì đều có thể xuất hiện. Ở đây nói rằng A Na Hàm gọi là Bất Lai, nghĩa là không nhập vào dòng chảy ô trọc của Dục giới, tất cả những dòng chảy ô trọc của Dục giới đều sẽ không đến, nhưng thật ra không phải là không đến. Ý là gì? Bởi vì có Thiện Hiện thiên, các vị đã nhìn thấy, các vị muốn đi giúp người ta, giúp chúng sinh, thì các vị sẽ đến, thật ra không phải không đến, nghĩa là các vị vẫn sẽ đến Dục giới. Đến Dục giới để làm gì? Để độ chúng sinh. 

Các vị có thể không đến, nhưng Thiện Hiện thiên các vị biểu hiện rằng các vị không có dục vọng, đến giải thích cho chúng sinh nghe về không còn dục vọng, sẽ xuất hiện ở ngũ trọc ác thế, xuất hiện tại Dục giới thiên, chủ yếu là đến để độ hóa tất cả những người còn có dục vọng, chúng sinh của cõi trời. Vì thế, không có không đến chính là ý nghĩa này. Bởi thế, ở đây có một cõi trời gọi là Thiện Hiện thiên, chỉ cần là điều tốt thì các vị đều sẽ xuất hiện, sẽ đến giúp đỡ chúng ta. Cho nên vẫn là có đến, chứ không phải là không đến. Chỉ là các vị đều không còn dục vọng, việc đến đây cũng là không có dục vọng.

Thường thường khi tôi bước vào Seattle Lôi Tạng Tự, tôi nhìn thấy bên trên lư hương của chúng ta, trên lư hương thiên cung đó có một vị tam quả A La Hán. Bạn có biết không? Trên đỉnh của Song Liên Cảnh Giới có hai con hươu và pháp luân, trên pháp luân thường có một vị tam quả A La Hán ngồi ở đó. Vị ấy có đến đó, có đến thế giới Ta Bà của chúng ta, chỉ là vị ấy không còn dục vọng gì. Vị ấy ngồi ở đó, giúp đỡ những người có thiện niệm. Vị ấy cũng từng ở bên trong Song Liên Cảnh Giới để mà thuyết pháp khai thị cho những linh hồn trung ấm ở bên trong Song Liên Cảnh Giới. 

Tam quả A La Hán là Bất Lai, nhưng thật sự thì các vị vẫn đến. Ở trên lư hương có một vị tam quả A La Hán, ở trên pháp luân tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, Sư Tôn thường mở cửa sổ ra là có thể nhìn thấy một vị A Na Hàm - tam quả A La Hán, ngồi ở đó. Thỉnh thoảng, khi đi lên đó là sẽ nhìn thấy có một vị tam quả A La Hán ngồi ở trên lư hương, ở Seattle Lôi Tạng Tự. Vì thế ở đây các vị thật sự không phải là không đến. Các vị có thể không đến, nhưng thỉnh thoảng các vị vẫn đến. Bởi vì có Thiện Kiến thiên, các vị biết đó là điều thiện, các vị sẽ nhìn thấy, thế là các vị sẽ đến. Có Thiện Hiện thiên, nên các vị sẽ xuất hiện, nhìn thấy là thiện thì các vị sẽ xuất hiện.

Như vậy mọi người đã hiểu đoạn này chưa? Có thể đạt đến tam quả A La Hán là đã rất tốt rồi, A Na Hàm. Đó chính là Thánh Hiền, chính là li dục, rời khỏi dục vọng. Dục vọng có rất nhiều loại, dục vọng thật sự là rất nhiều, dục vọng mà tôi vừa nói khi nãy… thật đó, tiền sắc danh ăn ngủ. Quần áo, ăn mặc, đi lại, ngoài ra còn có sống, sống cũng là một dục vọng. Bạn nói xem nơi bạn đang sống bây giờ, có người luôn chuyển nhà tới lui, chuyển tới chuyển lui, "tôi muốn sống tốt hơn một chút". Vì sao thường xuyên chuyển nhà? Là vì muốn sống tốt hơn một chút, đây chính là ham muốn về việc sống. Vì sao phải lái xe sang? Đó chính là ham muốn về việc đi lại. Vì sao phải mặc quần áo xịn? Đó là ham muốn về ăn mặc. Ăn mặc sống đi đứng đều là dục vọng.

Còn nữa, vì sao phải đi học trường nổi tiếng? Bạn muốn học ở trường xịn cũng là một dục vọng đó! Bạn vào được trường danh tiếng, vì sao bạn không đi học ở một trường học lộn xộn làng nhàng đi? Vì sao không đi? Mà khăng khăng phải đi học nào là… muốn học trường luật, lại còn muốn học trường luật tốt nhất nữa. Muốn học trường khoa học công nghệ thì phải đến học ở học viện công nghệ Massachusetts cơ, trường công nghệ California cơ. Vì sao bạn muốn đi học ở Harvard? Vì sao bạn không đi học ở các trường đại học khác, vì sao nhất định phải đến Harvard? Chính là một cái danh đó! Bạn tốt nghiệp Harvard… đúng là trò cười. Đúng vậy không? "Tôi tốt nghiệp Harvard đây." Bạn xem, Harvard cho ra được bao nhiêu Tổng thống? Không giống nhau mà. Người tốt nghiệp Harvard đi ra ngoài còn được tiếng thơm nữa! Vì là trường học xịn mà, bó tay, chỉ là một cái tên đi theo bạn thôi. Cái gì cũng thế, đi học cũng là dục vọng.

Con người đều như vậy. Bạn biết không? Có một người lúc nào cũng là số một. Có một lần người đó xếp thứ hai, anh ta liền tự sát. Anh ta luôn nói tôi phải là người đứng thứ nhất (không thể nào). Bỗng có một lần, anh ta đứng thứ hai, thế là anh ta bị trầm cảm, thế rồi tự sát... Thật là đáng thương! Bị cái danh trói lại. Tài sắc danh ăn ngủ, còn có rất nhiều rất nhiều dục vọng. Người học Phật chúng ta nhất định phải thoát khỏi cái này. Sau này bạn thành Thánh Hiền rồi, bạn hoàn toàn không còn dục vọng thì bạn sẽ là Thánh Hiền. Bởi vì cõi trời thứ nhất: Vô Phiền thiên, cõi trời không còn phiền não… Ngũ Tịnh Cư thiên cao nhất là Sắc giới, Sắc Cứu Cánh thiên là cao nhất, trong Ngũ Tịnh Cư thiên thì cao nhất là Sắc Cứu Cánh thiên. Phật Thích Ca Mâu Ni hiện tại đang ở đâu? Ở tại Sắc Cứu Cánh thiên thuyết pháp. Phật vẫn là có đến, Ngài ấy ở Sắc Cứu Cánh thiên thuyết pháp. Rồi, hôm nay chúng ta biết được tới đây cũng là rất tốt rồi. Tôi giải thích như vậy rõ ràng rồi chứ?

Hỏi người bạn: "Anh nuôi con vẹt biết nói đó đến giờ thế nào rồi?" Người bạn đáp: "Ôi đừng nhắc nữa. Không ngờ tôi nuôi nó một tuần nó đã chết rồi." Tôi hỏi: "Nó bị bệnh chết à?" Người bạn đáp: "Không phải bị bệnh chết, nó thi nói với bà xã tôi, nói đến khi không còn sức lực nữa mà chết." Tôi kể cho bạn một chuyện nhé! Nói chuyện cũng là một loại dục vọng. Có người nếu hoàn toàn không nói gì thì phải khẩn trương cưới người đó ngay! Bởi vì *exercise mouth* (vận động miệng) thì phụ nữ là lợi hại nhất. Sư Tôn nói chuyện điện thoại thì không quá mấy câu, nói mấy điều quan trọng rồi thôi không nói nữa, chứ không buôn chuyện qua điện thoại. 

Bạn biết mấy cô gái nói chuyện điện thoại là thế nào không? Trước kia cho dù bạn cầm điện thoại di động nói chuyện, "Chúng ta nghỉ một lát nhé?" thế là cái tay này hạ xuống nghỉ một lát, ngay sau đó lại cầm lên "Rồi, chúng ta nói tiếp đi." Bây giờ hình như còn có cả cái giá đỡ rồi, đặt điện thoại lên cái giá là nói thôi. Mọi người có trải nghiệm này không? Phụ nữ mà nói chuyện điện thoại thì… ôi, trời ạ. Sư Tôn nói chuyện điện thoại, nói cho bạn biết, tôi không buôn chuyện, nói xong điểm chính, không còn gì nữa là thôi. Bạn nói chuyện với phụ nữ thì cũng hoa mắt chóng mặt đấy! Tôi chịu không nổi, đã sắp chết đến nơi rồi. Tôi nói: "Tôi phải đi ăn cơm." "Không được đi ăn cơm!" "Vì sao?" "Nói tiếp chứ." Thật đó! Sao lại thế chứ? Nói chuyện cũng là một loại dục vọng. Hôm nay giảng đến đây thôi, A Di Đà Phật!

*(Ngày 23/10/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Liên Hoa Sinh Đại Sĩ Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 26.)*


### 27. Phần thứ 9: Nhất tướng vô tướng (4)


*(Bài giảng 27) *Tứ quả A La Hán tự tính thanh tịnh

*"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Một vị A La Hán có thể có suy nghĩ "Ta đã đắc đạo A La Hán" không?"
Tu Bồ Đề nói:
"Không thể, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Thật ra không có pháp danh là A La Hán. Thưa Thế Tôn! Nếu A La Hán có suy nghĩ: "Ta đã đắc đạo A La Hán", tức là đã chấp vào ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả. Thế Tôn! Phật nói con đã đắc Vô Tránh Tam Muội, là đệ nhất trong số con người, là A La Hán bậc nhất đã lìa bỏ tham dục. Thưa Thế Tôn! Con không khởi suy nghĩ "Ta đã đắc đạo A La Hán". Thế Tôn! Nếu con khởi suy nghĩ "Ta đã đắc đạo A La Hán" thì Thế Tôn đã chẳng nói rằng Tu Bồ Đề là hành giả ưa thích hạnh A Lan Na. Do Tu Bồ Đề thật sự vô sở hạnh, nên nói là Tu Bồ Đề ưa thích hạnh A Lan Na."*

Ở đây là Phật Thích Ca Mâu Ni hỏi, và Tu Bồ Đề đã trả lời nhiều việc như vậy. A La Hán chính là tứ quả, tứ quả A La Hán, đó cũng là Thánh nhân của Thanh Văn thừa. A La Hán chính là tứ Thánh quả mà chúng ta nói đến. Cái gọi là Tứ thánh quả là: Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn, tứ Thánh quả chính là bốn cảnh giới Thánh Hiền vượt lên trên cả thiên giới. Thanh Văn chính là A La Hán, tứ quả A La Hán gọi là Thanh Văn. 

Thế nào gọi là Thanh Văn? Vì sao lấy tên gọi là Thanh Văn? Nghe được pháp của Phật Đà mà đắc đạo, mà chứng đạo thì gọi là Thanh Văn, nghe được Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp mà chứng đạo thì là Thanh Văn. Thanh nghĩa là âm thanh - giọng nói của Phật Đà, bạn nghe thấy và hơn nữa bạn còn chứng đạo, do vậy gọi là Thanh Văn thừa, là tứ quả A La Hán cao nhất. Tôi cho rằng A La Hán tứ quả là tự tính thanh tịnh, Phật tính của bản thân bạn đã hiển hiện rồi, đã thanh tịnh rồi thì là tứ quả A La Hán, đó đã là bất thối chuyển rồi, ở nơi đó gọi là bất thối chuyển.

Hôm qua chúng ta giảng về tam quả A La Hán, tam quả A La Hán ở Ngũ Tịnh Cư thiên (nghĩa là năm cõi trời bất hoàn), vị ấy cũng sẽ không đến Dục giới nữa, nhưng vị ấy vẫn ở tại Ngũ Tịnh Cư thiên (Ngũ Bất Hoàn thiên), sẽ không trở về, đó là tam quả A La Hán, cũng là Thánh Hiền. Tự tính hoàn toàn thanh tịnh rồi thì là tứ quả A La Hán, gọi là Thanh Văn. Tôi phân biệt một cách đại khái như vậy, đây chỉ là đại khái thôi, hoàn toàn không phải là cách phân biệt theo quy định chặt chẽ. 

Bạn muốn tu tứ quả A La Hán, bạn phải theo lời Phật Đà nói, khổ - tập - diệt - đạo mà Phật Đà giảng trong lần chuyển pháp luân đầu tiên, từ đó thành tựu đại La Hán. Duyên Giác, thế nào gọi là Duyên Giác? Duyên Giác cũng là Thánh nhân, gọi là Độc Giác, một vị làm theo pháp thập nhị nhân duyên mà Phật nói, để lĩnh ngộ được đạo lý của nó, thực tiễn pháp thập nhị nhân duyên, tu pháp thập nhị nhân duyên thì gọi là Duyên Giác. 

Thế nào là Bồ Tát? Là vị tu hành theo pháp lục độ, lục độ là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, trí huệ, thiền định, y theo pháp lục độ mà tu thì là Bồ Tát. Tu theo bát chính đạo thì là Phật. Tôi phân biệt sơ lược như vậy để mọi người thấy rõ ràng một chút vì sao gọi là Phật, vì sao gọi là Bồ Tát, vì sao gọi là Duyên Giác, vì sao gọi là Thanh Văn. Thanh Văn chính là A La Hán, tự tính thanh tịnh do thực hành khổ - tập - diệt - đạo. 

Phật Đà hỏi: *"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Một vị A La Hán có thể có suy nghĩ "Ta đã đắc đạo A La Hán" không?" *Tu Bồ Đề trả lời: *"Không thể, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Thật ra không có pháp danh là A La Hán. Thưa Thế Tôn! Nếu A La Hán có suy nghĩ: "Ta đã đắc đạo A La Hán", tức là đã chấp vào ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả." *Câu này rất quan trọng, bạn nói: "Tôi đã đắc A La Hán rồi." Cái này chính là chấp tướng, chấp vào cái tên gọi, chấp vào danh. Tôi đắc đạo A La Hán, cái "tôi" này là chỉ cái tôi nào đây? Vì thế, ở đây có một kiến thức rất lớn, và Tu Bồ Đề hiểu được điều này, ngài ấy nói: "Nếu như nói tôi đã đắc đạo A La Hán, thế thì tôi không thể nào là A La Hán." Bởi vì bạn đã chấp tướng rồi, chấp vào cái tướng của danh từ đó, chấp vào danh tướng. "Tôi đã thành Phật rồi." Bạn đã chấp vào cái danh tướng Phật. Bạn chỉ tự thực tiễn thôi chứ không có cái tên gọi Phật này, không có cái tên gọi Bồ Tát này, không có cái tên gọi A La Hán này, không có cái tên gọi Duyên Giác này. Bởi vì sau khi bạn chứng đạo, danh tướng đều phải buông bỏ, không bám chấp vào cái gọi là "tôi chính là Bồ Tát", "tôi chính là A La Hán"… Không có cái chuyện đó. 

Nếu như tôi nói tôi đã đắc đạo A La Hán, thì đó là chấp ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả tướng. Bởi vì đã vô ngã rồi thì sẽ không còn có con người, mà đã không có con người thì đương nhiên không có chúng sinh, đã không có chúng sinh thì cái gì là thọ giả đây (vì thọ giả là thời gian)? Chúng ta nói thọ giả tương tự như thời gian, chúng sinh tương tự như không gian. Vì thế, tôi giảng đạo lí này như vậy, mọi người có thể hiểu rồi, đạo lí chính là cái ý nghĩa này, bạn không được chấp vào danh tướng, mặc dù bạn đã là A La Hán, nhưng bạn sẽ không thường xuyên nghĩ: "Ta chính là A La Hán." Sẽ không thế! Bạn đã là một Bồ Tát rồi, bạn sẽ không thường xuyên nghĩ: "Ta chính là một Bồ Tát." Cái "ta" này chính là đã chấp vào ngã tướng rồi — tướng của cái ta này, ngã tướng, không thể chấp vào danh tướng.

Trong lần chuyển pháp luân thứ hai, Phật Đà đã nói về vô tướng. Bạn chấp vào ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả, vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, đều không thể có bốn tướng này. Phật nói pháp vô tướng, lần chuyển pháp luân thứ hai, Phật đã giảng về vô tướng. Tiếp nữa, vì không thể chấp vào danh tướng cho nên không thể thường xuyên nghĩ "tôi đã đắc A La Hán rồi". Thật ra, rất nhiều các đệ tử của Phật đều là A La Hán, chúng ta thường nói năm trăm vị A La Hán, năm trăm chính là mang ý nghĩa rất nhiều, chứ không phải thật sự chỉ có năm trăm vị A La Hán. Vào thời đại của Phật Đà, người đắc đạo A La Hán nhiều vô cùng, cho nên chúng ta nói năm trăm vị A La Hán thì ở đây năm trăm là ý nói rất là nhiều.

 *"Thế Tôn! Phật nói con đã đắc Vô Tránh Tam Muội, là đệ nhất trong số con người." *Thế nào gọi là Vô Tránh Tam Muội? Rất đơn giản, bởi vì đã vô ngã rồi thì còn tranh cái gì với người ta nữa? Vô Tránh Tam Muội, không có cái ta, bạn còn tranh cái gì với người ta nữa, có cái gì đáng để tranh? Không có tôi, không có bạn, không có người khác, không có chúng sinh, vậy bạn tranh với ai? Tôi hỏi bạn một câu rất đơn giản là thấy. Có người nói tôi đã đến mặt trăng để mở khách sạn Hilton. Tôi đợi đến khi một số người di cư đến mặt trăng, tôi đợi chúng sinh ở thế giới Ta Bà (con người trên trái đất) tương lai sẽ bay bay bay, ngồi trên tàu vũ trụ bay thẳng tới mặt trăng, lên đó có khách sạn Hilton, tôi kiếm tiền của chúng sinh, kiếm tiền của trái đất. Tôi có thể tiên tri, nên bây giờ mở khách sạn Hilton ở đó, rồi đợi tàu vũ trụ của các bạn bay đến, mọi người đến đây, hoan nghênh hoan nghênh, phòng Tổng thống bao nhiêu tiền, những căn phòng bình thường bao nhiêu tiền, bao nhiêu tiền. Bạn cầm số tiền đó có tác dụng gì? Bởi vì chỉ có mỗi cái khách sạn Hilton của bạn, bên cạnh chẳng có cái gì, ngay cả một quầy hàng ăn vặt cũng không có, ngay cả xe ô tô, xe buýt cũng đều chẳng có. 

Bạn cầm số tiền đó thì có tác dụng gì? Tôi hỏi bạn, bạn cầm tiền không dùng được, bạn đem kim cương cho tôi có được không? Bạn bay đến đó, đưa kim cương cho anh ta, kim cương có công dụng gì không, kim cương có thể ăn không? Không thể ăn, kim cương không thể ăn, vàng thì có thể nhỉ, vàng rất đắt, đè chết bạn luôn. Bạn đi tới đó mở khách sạn Hilton, bạn mở cả buổi, kết quả là tên lửa bắn không thành công, con người đăng kí bay lên mặt trăng, nhưng rồi chẳng ai đến được cả, bạn đã mở khách sạn Hilton rồi, ở đó ngày ngày nhìn thấy Hằng Nga, nhìn thấy thỏ ngọc, nhìn thấy Ngô Cương chặt cây quế, thật không hiểu ra làm sao cả! 

Tôi hỏi bạn, một câu rất đơn giản: "Ở trên mặt trăng bạn tranh với ai?" Chỉ có một mình bạn ở trên mặt trăng, bạn tranh với ai? Phật Đà nói rồi, vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, bạn tranh với ai? Đây là Vô Tránh Tam Muội. Tôi nói một ví dụ đơn giản cho bạn nghe, bạn sẽ hiểu thế nào gọi là Vô Tránh Tam Muội. Vì đã vô ngã rồi thì bạn còn tranh với ai? Nếu như còn tranh với người ta thì cho thấy vẫn còn có cái ngã.

Trước kia, Sư Tôn đã làm rất nhiều việc sai, tôi đã làm rất nhiều việc sai. Trước kia tôi viết mục "Chân Phật luận kiếm", tôi phê bình người này, phê bình người kia, sai lầm rồi, đó vẫn còn là có cái ngã. Trước kia tôi rất hay mắng người ta, từng có một tờ báo, tờ báo đó là báo gì nhỉ? Ở Đài Loan có một tờ báo rất nổi tiếng, từ hồi rất lâu rồi, bây giờ còn không nhỉ? (Đệ tử nói: Tờ Thời Báo Trung Quốc.) Thời Báo Trung Quốc. Giống như tờ tuần san Times đó, tuần báo Times, đăng bài rằng Lư Thắng Ngạn là chửi người ta số một. Tuần báo Times nói tôi là người chửi người ta số một, bởi vì trong Chân Phật Báo có mục "Chân Phật luận kiếm", Chân Phật luận kiếm chính là như thế, luận kiếm mà, Hoa Sơn luận kiếm, Chân Phật luận kiếm, choa, giết tới giết lui, chặt tới chặt lui, đã chém rất nhiều người, rất sướng! Điều đó không phù hợp với Vô Tránh Tam Muội, thật đó.

Bạn đã tu đến vô ngã rồi còn tranh với người ta cái gì? Vô Tránh Tam Muội mà! Đừng tranh với người khác, giống như con rùa, hãy tu bản thân cho thành tựu, sau đó lại đến độ chúng sinh, làm một vị Bồ Tát. Làm con rùa, mọi người có chém bạn thì bạn cũng đều trốn trong mai rùa, có chặt chém thế nào cũng chém không được, tay cũng không chặt được, chân cũng không chặt được, ta cứ trốn ở bên trong mà tu pháp cho tốt, tu thành rồi mới ra ngoài để thuyết pháp độ chúng sinh, đây mới gọi là Vô Tránh Tam Muội đó.

"Phật nói con đã đắc Vô Tránh Tam Muội, là đệ nhất trong số con người", (là người số một trong số mọi người). Tu Bồ Đề nói, Phật nói ngài ấy là vị A La Hán bậc nhất đã rời bỏ tham dục. Cảnh giới rời bỏ dục vọng chính là A La Hán, rời xa tất cả dục vọng chính là A La Hán. "Thưa Thế Tôn! Con không khởi suy nghĩ "Ta đã đắc đạo A La Hán." Tu Bồ Đề nói: "Con không nghĩ như vậy, con là bậc A La Hán rời bỏ tham dục." Đương nhiên không nghĩ, bởi vì nếu ta nghĩ như vậy thì đó không phải là A La Hán. Bởi vì có cái tôi rồi mà, không thể chấp vào danh tướng.

*"Nếu con khởi suy nghĩ "Ta đã đắc đạo A La Hán" thì Thế Tôn đã chẳng nói rằng Tu Bồ Đề là hành giả ưa thích hạnh A Lan Na." *Thế nào gọi là ưa thích hạnh A Lan Na? Thế nào là ưa thích hạnh A Lan Na? Có ai biết không? Đại sứ Liêu giơ tay, tốt lắm, xin mời. (Đại sứ Liêu: Hạnh A Lan Na chính là thích ở một mình, giống như con rùa mà thanh tịnh tu hành.) Đó chính là điều tôi vừa nói mà! (Đại sứ Liêu: ưa thích hạnh A Lan Na nghĩa là suy nghĩ rất thanh tịnh.) Đúng rồi! Không sai. Cho nên cái này chuyển tới chuyển lui vẫn là một con rùa. Bạn không thể có suy nghĩ này, suy nghĩ này không thể xuất hiện: "Tôi đã đắc đạo A La Hán." Nếu mà "ta" còn có cái suy nghĩ này, thì Thế Tôn sẽ không nói Tu Bồ Đề là người ưa thích hạnh A Lan Na.

"Do Tu Bồ Đề thật sự vô sở hạnh, nên nói là Tu Bồ Đề ưa thích hạnh A Lan Na." Ngài ấy thật sự không làm gì cả. Chúng ta cũng nghĩ như vậy, thật ra con người ở thế giới Ta Bà, thật sự bạn cũng chẳng làm gì cả. Cho nên sau này sẽ nói rằng, Lư Sư Tôn bây giờ đang ở đây thuyết pháp, cũng giống như chẳng hề thuyết pháp, không đang làm gì cả, chẳng qua chỉ là ở thế giới huyễn này mà làm việc huyễn thôi.

Cho nên Đức Phật, Phật pháp là rất cao thâm, tuyệt đối không hề giống các tôn giáo bình thường, bởi vì trí huệ của Phật pháp vô cùng cao siêu. Kiểu trí huệ này cũng tương tự như trí huệ không có trí huệ, bởi vì không có trí huệ cho nên mới gọi là trí huệ. Cái này vô cùng cao, ở vào thời đại đó, Phật Đà đã có thể nói pháp vô tướng như vậy, đây tuyệt đối không phải là người bình thường, cũng không phải là tôn giáo bình thường, tuyệt đối không phải là tôn giáo bình thường. Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, chỉ cần bốn điều này, bạn đã có thể đạt đến bốn điều này thì bạn đã thành tựu rồi. 

"Tu Bồ Đề thật sự vô sở hạnh, nên nói là Tu Bồ Đề." Câu nói này, ngài ấy thật sự đã làm cái gì, ngài ấy có làm, nhưng mà ngài ấy không chấp vào cái việc đã làm này, tương đương như xem nó là không làm, bởi vì vô ngã cho nên cũng là vô tác. Hôm nay Lư Sư Tôn ở đây thuyết pháp, tôi nói căn bản là tôi không thuyết pháp, điều này chính là vô tác - không làm, chỉ là phát bồ đề tâm, thuận theo như thế mà làm, làm cũng như không làm gì cả. Tôi chưa từng bao giờ xem việc thuyết pháp hôm nay là này nọ cả, hoặc cứ luôn nhớ đến nó, tôi nói pháp gì, thuyết pháp gì, thuyết pháp gì… tôi đang thuyết pháp gì. Không có cái tôi này đang thuyết pháp.

Vì thế, khi người ta bảo Tổ sư Đạt Ma thuyết pháp, ngài ấy mới lên pháp tọa, đập bàn một cái, "bộp", thuyết pháp đã xong, rồi đi xuống. Điều đó chính là nói đến việc này: hoàn toàn không làm gì cả. Có người nói Tu Bồ Đề thuyết pháp, như thế là phỉ báng Tu Bồ Đề, về sau, trong kinh Kim Cang có nói: "Phật cũng không thuyết pháp, không có pháp nào có thể nói." Trí huệ rất cao đó, mọi người phải hiểu cho kĩ càng. Kinh Kim Cang không hề dễ nói giảng đâu, có thể giảng đến mức kĩ càng tỉ mỉ không dễ đâu. Cho nên, Tu Bồ Đề cũng không phải là bậc A La Hán rời bỏ tham dục số một, cũng không phải là nguời số một trong số con người.

Thế nào gọi là Vô Tránh Tam Muội, vô tránh? Mọi người đi vào đại điện của Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đi vào căn phòng khách nhỏ đó, muốn đến căn phòng khách nhỏ ở nhà ăn, ở bên đó có viết hai chữ "vô tránh", là Sư Tôn viết đó. Không có cái ngã thì làm gì có việc tranh giành? Vô Tránh Tam Muội đó! Không có cái tôi, làm gì có tranh giành? Bạn tranh với người ta cái gì? Cho nên, người nghe lời Sư Tôn nhưng chẳng hề thực hành, trở về là lại ghen tuông, lại đố kị, hoặc làm mấy việc ngốc nghếch, đó là làm việc ngu ngốc trong mơ, đều chưa đến được hai chữ vô tránh này, đều chưa có tác dụng gì cả.

Nếu bạn học Phật học đến bây giờ mà vẫn còn tranh giành với người khác, tranh danh, tranh vị, tranh lười nhác, đến cả lười biếng cũng phải tranh, đúng thế không? "Anh có thể lười như thế thì vì sao tôi lại phải làm? Tôi phải lười hơn anh." Đó chính là tranh lười đó, tông phái chúng ta thích nhất là tranh nhau lười biếng đó. "Vì sao tôi phải vất vả như thế chứ?" "Vì sao người kia lại rảnh rỗi thế nhỉ?" "Tôi làm tì kheo ni, vì sao tôi không thể lười chứ, vì sao mỗi ngày tôi đều phải làm những việc này? Tôi cũng phải học lười như người ta."… Đó đều là tranh lười nhác, cũng là tranh.

Chúng ta không tranh tinh tấn, mà lại tranh lười nhác, tông phái chúng ta thích nhất là tranh lười nhác: "Cái này kêu người khác đi làm là được rồi, vì sao tôi phải đến làm chứ?" Ba bí quyết làm việc: thứ nhất là đùn đẩy, đùn đẩy cho người khác: "Tôi không làm", "Tôi không có thời gian đâu", "Anh làm đi", …. Thứ hai là trì hoãn. Ba ngày phải làm xong thì tôi kéo dài tới một tuần lễ, tôi kéo dài tới một tháng, tôi kéo dài tới một năm, kéo dài hai năm, kéo dài ba năm… Bí quyết làm việc thứ hai là trì hoãn. Bí quyết làm việc thứ ba là lôi kéo. Thực sự không trì hoãn được nữa thì lôi kéo người khác đến làm, mau chóng đi lôi kéo thêm người. Đùn đẩy, trì hoãn, lôi kéo, ba bí quyết làm việc. Trong Hậu Hắc Học, Lí Tông Ngô đã viết rằng, da mặt phải dày, tâm phải đen tối, cái đó gọi là Hậu Hắc Học. Da mặt dày, tâm phải đen tối, gọi là Hậu Hắc Học, Lí Tông Ngô viết vậy. Bạn đọc xong Hậu Hắc Học sẽ cảm thấy rất buồn cười, ba bí quyết làm việc là đùn đẩy, trì hoãn và lôi kéo.

Người học Phật chúng ta phải Vô Tránh Tam Muội. Tinh tấn, nhất định phải tinh tấn. Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum. 

*(Ngày 24/10/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Quan Thế Âm Bồ Tát tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 27.)*


### 28. Phần thứ 10: Tịnh thổ trang nghiêm (1)


*(Bài giảng 28) *Thật không đạt được điều gì về pháp

*Phật hỏi Tu Bồ Đề:
"Ý ông thế nào? Xưa kia Như Lai ở chỗ của Phật Nhiên Đăng, có đạt được điều gì về pháp không?"
"Không có, thưa Thế Tôn! Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng thật không đạt được điều gì về pháp."
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Bồ Tát có làm trang nghiêm Phật thổ không?"
"Không có, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Người làm trang nghiêm cõi Phật tức không trang nghiêm, thì gọi là trang nghiêm."
"Vì thế Tu Bồ Đề, các Bồ Tát Ma Ha Tát nên như thế mà sinh tâm thanh tịnh, không nên trụ vào sắc mà sinh tâm, không nên trụ vào thanh - hương - vị - xúc - pháp mà sinh tâm, nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy."
"Tu Bồ Đề! Ví như có người, thân to như núi Tu Di, ý ông thế nào, là thân ấy rất to lớn chăng?"
Tu Bồ Đề nói: 
"Rất lớn, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Phật nói không phải thân, thì gọi là thân lớn."*

Thế nào là tịnh thổ? Ví dụ như Tây phương Cực Lạc thế giới chính là tịnh thổ, chúng ta thường xuyên nói Tây phương Cực Lạc thế giới. Thực tế có rất nhiều tịnh thổ: ở chỗ của Địa Tạng Vương Bồ Tát có tịnh thổ Thúy Vi, chỗ của Quan Thế Âm Bồ Tát có tịnh thổ Viên Thông, chỗ của A Di Đà Phật thì chính là tịnh thổ Tây Phương, chỗ của Dược Sư Lưu Li Quang Vương Phật là tịnh thổ Lưu Li. Vậy thế nào là tịnh thổ? Nơi mà Thánh nhân ở, nơi mà các Thánh Hiền đều đến đó để ở, nơi mà tất cả đều rất thanh tịnh, không có khổ chỉ có vui. Pháp thân Phật ở nơi đó, báo thân Phật cũng ở nơi đó, ứng thân Phật cũng ở nơi đó.

Tây phương Cực Lạc thế giới còn có cõi "Phàm Thánh đồng cư", ở nơi đó chủ yếu là những người mang nghiệp vãng sinh, bạn vẫn còn có nghiệp chướng, trước tiên bạn đi đến nơi đó để ở cùng với Thánh nhân, chịu những ảnh hưởng và cảm hóa từ Thánh nhân, thế rồi bạn sẽ trở thành Thánh nhân, đó chính là cõi "Phàm Thánh đồng cư". Tiếp theo là cõi "Phương tiện hữu dư", tiếp theo cao hơn nữa là cõi "Thực báo trang nghiêm", cao tiếp nữa là cõi "Thường tịch quang". Cõi "Thường tịch quang" chính là nơi pháp thân Phật cư ngụ. Cõi "Thực báo trang nghiêm" chính là nơi báo thân Phật cư ngụ. Tiếp theo thì sao? Cõi "Phương tiện hữu dư" là nơi ứng thân Phật cư ngụ. Pháp thân Phật, báo thân Phật, ứng thân Phật đều ở cõi tịnh thổ, và những nơi mà các Thánh Hiền cư ngụ gọi là tịnh thổ. 

Thế nào gọi là trang nghiêm? Thanh tịnh chính là trang nghiêm. Ở đây nói đến phần thứ mười rồi, Phật nói với Tu Bồ Đề: *"Xưa kia Như Lai ở chỗ của Phật Nhiên Đăng, có đạt được điều gì về pháp không?" *Đây là Phật Thích Ca Mâu Ni nói với Tu Bồ Đề. *"Không có, thưa Thế Tôn! Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng thật không đạt được điều gì về pháp."* Tôi sẽ giảng câu nói này. Trong kiếp quá khứ, khi Phật Thích Ca Mâu Ni là Thiện Huệ Đồng Tử, đã đem hoa sen mà Da Du Đà La đưa cho ngài để đi cúng dường Phật Nhiên Đăng. Ở chỗ của Phật Nhiên Đăng ngài ấy có đạt được cái gì không? Tu Bồ Đề trả lời:* "Không có, thưa Thế Tôn! Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng thật không đạt được điều gì về pháp." *Có nghĩa là: Phật Thích Ca Mâu Ni đi đến chỗ của Phật Nhiên Đăng học được điều gì? Thật sự là chẳng học được điều gì cả, Tu Bồ Đề trả lời như vậy.

Đây rồi, ba chữ "vô sở đắc" lại xuất hiện rồi, thật không có được điều gì. Ai có thể nói hoàn toàn rõ ràng viên mãn về "vô sở đắc"? Vì sao là vô sở đắc? Bạn có thể nói rõ, bạn có thể nói rất trọn vẹn hoàn hảo thì Sư Tôn sẽ tặng cho bạn chuỗi hạt này. Mọi người đều biết niệm kinh Kim Cang mà, khi mọi người siêu độ thì cũng niệm, bạn làm bất kì pháp sự nào cũng đều niệm kinh Kim Cang. Chính câu nói này, nếu bạn có thể nói về nó một cách đầy viên mãn thì tôi sẽ tặng bạn chuỗi hạt. *"Không có, thưa Thế Tôn! Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng thật không đạt được điều gì về pháp." *Vô sở đắc, vì sao Phật Thích Ca Mâu Ni đi gặp Phật Nhiên Đăng, nhưng lại chẳng có được cái gì cả? Vì sao vậy? Bạn có thể trả lời đúng và đầy đủ, bộ não hoạt động đi nào, lập tức trả lời, chuỗi tràng hạt này sẽ là của bạn. 

Bạn có thể trả lời về vô sở đắc thì là bạn "hữu sở đắc" rồi. (mọi người cười) Không có ai nói được à? Lại đùn đẩy cho tôi à? Nói được chính xác thì cầm ngay chuỗi hạt này mà đi. Không phải nói nhiều, chuỗi hạt này chính là của bạn. Vì sao Phật Thích Ca Mâu Ni đi đến chỗ Phật Nhiên Đăng nhưng Phật Nhiên Đăng lại chẳng hề dạy gì cho Phật Đà? Vì sao? Phật Đà không có được cái gì cả. Vì sao vậy? Hôm nay tôi sẽ giảng câu nói này. Nhất định sẽ phải nói cho trọn vẹn, tôi nói để bạn biết, sự việc này không nói cho rõ ràng thì mọi người sẽ không hiểu được kinh Kim Cang.

Tôi nói với mọi người nhé, đây là một vấn đề rất nghiêm túc. Sau thời Lục Tổ, nếu muốn phán đoán xem bạn đã khai ngộ hay chưa thì đều phải dựa vào kinh Kim Cang để đoán định. Bạn đã khai ngộ hay chưa? Bạn đã hợp được với ý nghĩa của kinh thì gọi là khai ngộ, không hợp với ý nghĩa của kinh thì không được xem là khai ngộ! Vì sao Phật Thích Ca Mâu Ni nói là vô sở đắc? Tất cả Thánh Hiền, bất kể là bạn đi đến nơi nào, bạn đi đến chỗ sư phụ mà bạn theo, nếu còn có những điều thu được thì những cái đó không tính. Những thứ đó đều không tính! Bất kể là bạn theo sư phụ nào, nếu thực sự bạn có thu được điều gì thì đều không phải là thật sự có được. Cái thật sự có được là gì? Là cái vô sở đắc. Cái thật có được chính là vô sở đắc.

Khi xưa khi Phật Thích Ca Mâu Ni khai ngộ đã nói một câu: chúng sinh trên đời đều có Phật tính. Mà vì bạn đã có Phật tính rồi, bạn làm gì còn đi lấy Phật tính nữa? Không thể nào! Bạn đã có Phật tính rồi, lẽ nào Phật Nhiên Đăng còn đưa cho bạn cái đèn sao? Đưa cho bạn cây đèn hoặc thắp lên ngọn đèn tâm cho bạn sao? Hay là cho bạn ánh sáng? Không phải! Trong tâm bạn… mỗi một chúng sinh đều có Phật tính! Vì thế, "Chỉ Nguyệt Lục"… Sư Tôn dùng ngón tay này để chỉ vào mặt trăng, là có ý gì? Tôi chỉ thế này là ý nói rằng "Bạn đã có Phật tính rồi". Phật tính ở trên người bạn, không cần phải đến tìm tôi nữa. Bạn vừa mới nói là vô sở cầu, không sai, là không còn mong cầu gì nữa. Chỉ cần bạn nhìn thấy được, nhìn thấy Phật tính của chính mình, thì Phật Nhiên Đăng không thể cho tôi cái gì cả, tôi vô sở đắc. Ý nghĩa này nằm ở đây.

Nghe cho rõ nhé, bạn đọc đến câu này phải nhớ câu này rất quan trọng. Vì sao Phật Thích Ca Mâu Ni ở chỗ Phật Nhiên Đăng không có được cái gì? Bởi vì chính bản thân bạn đã có rồi, không cần phải đến tìm tôi nữa! Bạn chỉ cần dùng một ngón tay chỉ vào mặt trăng, Phật tính của bạn ở đó. Chỉ cần bạn nhìn thấy mặt trăng đó thì chính là nhìn thấy Phật tính của chính mình. Bạn có được cái gì? Chẳng có gì. Cái này gọi là vô sở đắc. Chỉ có Tu Bồ Đề mới có thể nói ra được câu này: *"Không có, thưa Thế Tôn! Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng thật không đạt được điều gì về pháp.*" Đúng thế không?

Nhưng cái nội tại thì vốn là ta đã có, thành Phật cũng là cái mà ta có, nên ta không thể nào do Phật Nhiên Đăng cho ta thành Phật được. Thành Phật không phải là tôi ban cho các bạn đâu! Tương lai các bạn thành Phật là do tự mình thành Phật đó chứ! Làm gì có chuyện tôi cho bạn? Tôi cho bạn thứ gì? Cái mà tôi cho bạn đều là những thứ thế tục: chuỗi hạt này là món đồ thế tục, tôi cho bạn cái chày kim cang… "Lấy được một cái chày kim cang ở chỗ Phật Nhiên Đăng, đó là cái tôi có được" ư? Chẳng phải, đó là thứ của thế tục. Cái thứ đích thực chính là Phật tính thì bạn vốn đã có rồi, bạn còn có gì để mà đạt được nữa? Nói như vậy có đúng không?

Vì thế bạn đọc kinh bạn phải hiểu rõ, mọi người đều thuộc làu kinh Kim Cang, mọi người ngày nào cũng đọc, đọc tới đọc lui, thuộc tới thuộc lui, nhưng bạn lại không hiểu ý nghĩa của kinh nằm ở đâu. Hôm nay, trọng điểm chính là câu nói này: "Thực vô sở đắc." Bạn xem, *"Không có, thưa Thế Tôn! Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng thật không đạt được điều gì về pháp."* Tu Bồ Đề biết điều này. Nếu không giải thích câu nói này, nếu không phải là tôi biết, tôi giảng cho các bạn nghe thì các bạn mãi mãi không biết câu nói này rốt cục là nói cái gì. Chỉ biết là vô sở đắc. Trong Tâm Kinh nói: "Dĩ vô sở đắc cố, Bồ Đề Tát Đỏa." Bởi vì vô sở đắc nên bạn mới có thể trở thành một vị Bồ Tát.

Vừa rồi có đệ tử kia hỏi về "tám ngọn gió thổi vẫn bất động", thật ra tám ngọn gió thổi vẫn bất động chính là một quá trình tu hành. "Vô sinh pháp nhẫn" là quan trọng nhất, bạn có thể tu hành đến được quả vị "vô sinh pháp nhẫn" thì tám ngọn gió căn bản là có thổi thì bạn vẫn bất động. Bất kể chúng ta đọc kinh cũng được, học Phật cũng được, nhưng phải hiểu ý nghĩa của kinh. Những sư phụ bình thường khác thì chỉ thuyết pháp giống như Liên Tự, Liên Tự vừa mới thuyết giảng về pháp: tâm quá khứ không thể đắc, tâm hiện tại không thể đắc, tâm vị lai không thể đắc, đều là không thể nắm bắt được, các vị thầy khác chỉ có thể giảng như thế thôi, nhưng họ không biết vì sao Phật Thích Ca Mâu Ni đi đến chỗ Phật Nhiên Đăng học tập mà sau khi học xong ngài ấy lại chẳng có được cái gì.

Thiền tông có một vị tổ sư đã đến chỗ của sư phụ của ngài ấy để học. Khi trở về, rất nhiều người hỏi ngài: "Ngài có được cái gì từ chỗ của sư phụ?" Ngài ấy nói: "Cuối cùng tôi đã có được rồi." "Có được cái gì?" "Tôi đã biết rồi." "Biết cái gì?" "Con mắt nằm ngang, cái mũi nằm dọc!" Cái này thì ai chẳng biết! Con mắt nằm ngang, cái mũi nằm dọc ư? Thật ra ngài ấy nói "con mắt nằm ngang, cái mũi nằm dọc" là có ý nói rằng "căn bản là tôi chẳng có được cái gì". Vì thế, kì thực thành Phật là tự mình thành Phật, không phải là sư phụ cho bạn. Tôi chỉ là trỏ vào mặt trăng, đầu ngón tay tôi trỏ vào mặt trăng kia, bạn nhìn xem đó là mặt trăng đó, là như vậy đó.

Có một người mẹ dắt đứa con trai bốn tuổi đi vào siêu thị. Sau khi vào siêu thị, người mẹ liền tháo lỏng đai quần của con trai ra. Nhân viên làm việc ở siêu thị liền hỏi: "Vì sao chị lại làm như vậy?" Người mẹ trả lời: "Tay của nó sẽ bận túm cái quần lên, thế thì sẽ chẳng có cách nào cầm nắm lung tung các thứ." Đây là trí tuệ của người mẹ.

Tôi nói cho bạn biết nhé, Phật pháp mà Phật Thích Ca Mâu Ni giảng đều vô cùng có trí huệ, đều là Phật huệ tối cao! Kinh Kim Cang là trí huệ Như Lai rất cao siêu, không phải là thứ mà người thế tục có thể biết được. Giống như Tâm Kinh, mọi người đều thuộc lòng, Tâm Kinh rất ngắn, kinh điển ngắn nhất chính là Tâm Kinh. Tôi đã nói rồi, chắt lọc của kinh Đại Bát Nhã chính là kinh Kim Cang, chắt lọc của kinh Kim Cang chính là Tâm Kinh, tinh hoa đều nằm ở Tâm Kinh và kinh Kim Cang. Kinh Đại Bát Nhã là trí huệ của Như Lai, nếu bạn thật sự ngộ rồi, thật sự khai ngộ rồi, thì lấy bất kì kinh điển nào ra đọc, thì liếc qua là hiểu ngay. Bạn chưa khai ngộ thì mỗi kinh điển sẽ đều là chướng ngại của bạn.

Đừng nói là bạn thuộc lòng Tâm Kinh, bạn có thể đọc thuộc kinh Kim Cang, ngày ngày bạn niệm kinh Kim Cang, chẳng bằng Lục Tổ Huệ Năng nghe được một câu: "Nên vô sở trụ mà sinh tâm ấy." Lục Tổ nghe được câu này thì lập tức ngài ấy có được ngộ cảnh. Hôm nay Sư Tôn chỉ giảng một câu nói này mà thôi. Câu nói này chính là điểm chính, điểm qua trọng mà hôm nay tôi giảng. Chính bạn đã có thì tuyệt đối đừng đi tìm ở bên ngoài, vì thế nên bạn mới là vô sở đắc. Om mani padme hum.

*(Ngày 30/10/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Liên Hoa Đồng Tử Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 28.)*


### 29. Phần thứ 10: Tịnh thổ trang nghiêm (2)


*(Bài giảng 29) *Cõi Phật trang nghiêm tức không trang nghiêm

*Phật hỏi Tu Bồ Đề:
"Ý ông thế nào? Xưa kia Như Lai ở chỗ của Phật Nhiên Đăng, có đạt được điều gì về pháp không?"
"Không có, thưa Thế Tôn! Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng thật không đạt được điều gì về pháp."
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Bồ Tát có làm trang nghiêm Phật thổ không?"
"Không có, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Người làm trang nghiêm cõi Phật tức không trang nghiêm, thì gọi là trang nghiêm."*

Lúc này Phật Thích Ca Mâu Ni lại hỏi: *"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Bồ Tát có làm trang nghiêm Phật thổ không?" "Không có, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Người làm trang nghiêm cõi Phật tức không trang nghiêm, thì gọi là trang nghiêm."*

Lại có một câu hỏi rồi: Bồ Tát có làm trang nghiêm Phật thổ không? *"Không có, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Người làm trang nghiêm cõi Phật tức không trang nghiêm, thì gọi là trang nghiêm."* Câu hỏi này cũng rất hay. Bạn có thể đọc nó lên, rất đúng. Bồ Tát có làm trang nghiêm tịnh thổ không? Không phải, không phải Bồ Tát làm trang nghiêm tịnh thổ. *"Người làm trang nghiêm cõi Phật tức không trang nghiêm." *Vì sao người làm trang nghiêm Phật thổ thì không phải là trang nghiêm, nhưng lại gọi là làm trang nghiêm? Vì sao vậy?

Câu hỏi của ngày hôm qua, hôm nay muốn lấy đồ gì nhỉ… cái vòng tay này cũng không tồi, để tôi hà một hơi khí. Rồi, giờ có linh khí rồi nhé, cái vòng tay đã có linh khí. Vì sao Bồ Tát không hề làm trang nghiêm tịnh thổ? Vì sao rõ ràng là ở đó rất trang nghiêm, nhưng lại chẳng phải là trang nghiêm, bởi vì không phải trang nghiêm nên chính là trang nghiêm? Ai trả lời được giơ tay, cái vòng tay này sẽ là của người đó. (Đệ tử: không chấp tướng, không bám chấp vào tướng bên ngoài.) Không chấp vào ngoại tướng. Cũng không sai, nhưng cũng không hoàn toàn là như thế. Vâng, xin mời đại sứ. (Đại sứ Liêu Đông Châu: Phật thổ trang nghiêm chỉ là một cái danh dùng để độ hóa chúng sinh, Phật thổ vốn dĩ đã là trang nghiêm rồi, vì thế không có cái gọi là Bồ Tát làm trang nghiêm Phật thổ hoặc là Phật thổ trang nghiêm của ai.) Lời đại sứ nói cũng được khoảng 99 điểm rồi. Lời đại sứ nói cũng được 99 điểm rồi, chiếc vòng tay này tặng cho đại sứ. Vâng cảm ơn ông, ông nói rất đúng.

Phải hiểu được điều này! Bạn đọc hết *"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Bồ Tát có làm trang nghiêm Phật thổ không?" "Không có, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Người làm trang nghiêm cõi Phật tức không trang nghiêm, thì gọi là trang nghiêm."* Bồ Tát vốn dĩ đã là trang nghiêm rồi, Phật vốn dĩ đã là trang nghiêm rồi. Tướng của bản thân Phật có 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, mọi người đều biết điều này. Thế nào là 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp? Hai dái tai dài đến vai, dái tai rất dài, đúng thế không? Hai dái tai rủ xuống vai, bạn xem dái tai Sư Tôn cũng rủ xuống, cũng chạm xuống vai đây nè! Lông mày thì cong như mặt trăng lưỡi liềm, đôi mắt thì là đôi mắt trí huệ, mũi thì cao như núi Tu Di, cái miệng thì không quá nhỏ, cũng không to đến mức rộng sang hai bên, lưỡi có thể thè ra rất dài tới mức che kín cả mặt, đây gọi là tướng lưỡi rộng dài. Cánh tay rất dài, dài quá đầu gối, đứng dậy thì cánh tay rất dài, qua đầu gối, chân có bánh xe nan hoa, trên chân có bánh xe nan hoa, giống như là cái lưới hình bánh xe tỏa ra vậy. Đó là 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp. 

Bạn bảo có một kiểu trang nghiêm gọi là sáu thứ trang nghiêm, đó là những thứ bên ngoài: đeo hoa tai, trước ngực có đeo chuỗi hạt, ba chuỗi hạt ngọc, trên tay có vòng tay, ở chân có vòng chân, đó là sáu thứ trang nghiêm, bảy thứ trang nghiêm ở bên ngoài. Đó là trang nghiêm, thỉnh thoảng xuất hiện trên sân khấu thì đó chính là tướng trang nghiêm, đó là trang nghiêm bên ngoài. Vừa rồi ta nói đến trang nghiêm ở bên ngoài, thật ra Bồ Tát và Phật bản thân đã trang nghiêm rồi, khi các vị đến Phật thổ, Bồ Tát ở trong Phật thổ, không cần phải làm trang nghiêm Phật thổ, nó tự động sẽ trang nghiêm, vốn dĩ là tự trang nghiêm rồi. 

Tây phương Cực Lạc thế giới đã có *tree *(cây), đã có *lake* (hồ), đã có *beautiful house* (nhà đẹp), không có mùa đông lạnh, cũng không có mùa hè với mặt trời to như vậy, cũng không nóng cũng không lạnh, nhiệt độ vừa đủ dễ chịu. Những hàng cây thất bảo ở đó (chính là *tree*), có bát công đức thủy (chính là *lake*), có các đình đài lầu gác rất đẹp, có những ngôi nhà lấp lánh để cho bạn ở, khắp mặt đất đều là vàng, trên cây cũng có y phục (thiên y). Chuyện ăn uống, trong đầu bạn nghĩ muốn ăn gì thì thứ đó liền xuất hiện. Chuyện quần áo, trên cây sẽ trổ ra y phục của cõi trời, có thể mặc được. Nơi ở thì chính là những gác vàng lầu bạc, đi lại thì bằng xe mây, xe mây sẽ đưa bạn đi bất kì nơi nào bạn muốn, rất nhanh chóng.

Và như thế tự nhiên các cõi tịnh thổ đều trang nghiêm rồi chứ không phải là cố ý tạo dựng ra sự trang nghiêm ở đó. Là vô tâm, căn bản là vô tâm mà làm nên sự trang nghiêm đó. Vô cùng trang nghiêm, nhưng trang nghiêm cũng lại không phải là trang nghiêm, bởi vì không phải là trang nghiêm nên mới là trang nghiêm. Không phải là Bồ Tát cố ý đi tạo ra sự trang nghiêm đó, mà là vốn dĩ tịnh thổ đã trang nghiêm rồi. Phật cũng không tự mình cố ý tự tạo cho mình tướng trang nghiêm, mà là Phật vốn dĩ đã trang nghiêm rồi. Như ngài đại sứ nói đó, vốn dĩ chính là đã trang nghiêm rồi, còn phải tạo ra sự trang nghiêm để làm cái gì? Bởi vì không phải là trang nghiêm mới là trang nghiêm, câu nói này, Sư Tôn đã giảng rõ ràng rồi, như vậy có đúng không?

Vì thế, bạn đọc thuộc hết kinh Kinh Cang, biết niệm kinh Kim Cang, vì thế bạn có thể nói: *"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Bồ Tát có làm trang nghiêm Phật thổ không?"* "Không có." Đương nhiên là không có rồi. Tôi đâu có cố ý đi làm trang nghiêm Phật thổ. *"Thưa Thế Tôn! Là vì sao?" *Phật thổ trang nghiêm như vậy, không phải là cố ý làm cho nó trang nghiêm, nó vốn dĩ đã trang nghiêm rồi, gọi tên là trang nghiêm. Chỉ một câu rất ngắn này, nếu không giảng giải thì mọi người cũng sẽ không hiểu được là vì sao. 

Vốn dĩ Bồ Tát là trang nghiêm, Phật cũng trang nghiêm, tịnh thổ vốn là trang nghiêm không cần phải cố hết sức làm cho nó trang nghiêm, nó vốn dĩ đã là trang nghiêm rồi, vì thế chẳng phải là trang nghiêm, chẳng phải cố ý làm cho nó trang nghiêm, thật ra nó đã trang nghiêm rồi, ý nghĩa này chính là nằm ở đây. Nếu hôm nay không giải thích thì sẽ không có ai hiểu ý nghĩa này. Hôm nay giảng đoạn này như vậy là cũng rất tốt rồi, như thế này là mọi người cũng đã thu được lời rồi.

Cuối cùng kể một câu chuyện cười vậy. Một trường tiểu học nọ đang tổ chức đại hội thể dục thể thao. Đây là cuộc thi chạy tiếp sức, chỉ thấy một học sinh nam bé nhỏ đang ra sức chạy như bay về phía trước, khi cậu sắp chạm được vào cây gậy, thầy giáo điên cuồng hét lên: "Tóm chắc, tóm chắc vào! Các em phải tóm chắc vào!" Thế là hai học sinh nam ngay lập tức đờ người ra, hai bên nhìn nhau vô cùng bối rối, sau đó ôm lấy nhau và hôn môi nhau. [ở đây có hai từ đồng âm khác nghĩa, từ tóm chắc và hôn môi trong tiếng Trung có âm giống nhau]

Ý của thầy giáo là phải tóm chắc một chút, vì đây là chạy tiếp sức mà, khi cây gậy đó chuyển giao cho người kia thì phải khẩn trương tóm chắc, đừng để rơi mất, tóm chắc, tóm chắc. Kết quả là hai đứa trẻ ôm lấy nhau và hôn môi. Cái này có thể so sánh với việc rất nhiều người đọc kinh Kim Cang nhưng không hiểu được ý nghĩa của nó, đúng kiểu chỉ có chạy đến mà ôm hôn. Om mani padme hum.

*(Ngày 31/10/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Bất Động Minh Vương tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 29.)*


### 30. Phần thứ 10: Tịnh thổ trang nghiêm (3)


*(Bài giảng 30) *Nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy

Bây giờ chúng ta giảng kinh Kim Cang.

*"Vì thế Tu Bồ Đề, các Bồ Tát Ma Ha Tát nên như thế mà sinh tâm thanh tịnh, không nên trụ vào sắc mà sinh tâm, không nên trụ vào thanh - hương - vị - xúc - pháp mà sinh tâm, nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy."*

Chúng ta giảng đến chỗ này đã, đoạn bên dưới sẽ giảng vào lúc khác. Đoạn này có một câu nói nổi tiếng, một câu rất nổi tiếng: *"Nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy"*. Trong đoạn này có điển cố: Lục Tổ Huệ Năng của Thiền tông nghe hàng xóm đọc kinh Kim Cang, đọc đến câu *"Nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy" *thì Lục Tổ Huệ Năng lập tức lĩnh hội được. Vẫn là những người họ Lư chúng tôi lợi hại, Lục Tổ Huệ Năng mang họ Lư, ngài ấy là Lư hành giả, vừa nghe đến câu này thì ngài ấy lập tức giác ngộ.

*"Nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy"*… Trên thế giới này có người nào không phạm sai lầm? Trong kinh Địa Tạng nói chúng sinh ở cõi Nam Diêm Phù Đề làm gì nghĩ gì không có cái nào không là nghiệp, đại ý là thế này, khởi tâm động niệm, không có cái gì không là nghiệp. Đều là nghiệp cả! Có người nào không phạm lỗi? Người nào không phạm sai lầm giơ tay? Nếu người nào không phạm sai lầm thì tôi tặng cho chuỗi hạt này. Chà, chuỗi hạt này rất nhiều màu sắc nhé! Rất đẹp đó, chuỗi hạt này rất đẹp… có cả linh khí nữa. (Sư Tôn hà hơi vào chuỗi hạt.) Tôi tin rằng không người nào dám giơ tay, chỉ có một người dám giơ tay thôi, để tôi nói cho bạn biết, đó là người chết. 

Phật đương nhiên là có thể, bởi vì Phật chính là* "Nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy".* Chỉ có một người là không phạm sai lầm: người chết! Người chết thì sẽ không phạm lỗi nữa, chẳng cử động được, thế thì đương nhiên sẽ không tạo nghiệp nữa! Nằm thẳng đơ ra đó thì làm sao tạo nghiệp được? Không thể tạo nghiệp. 

Được rồi, bây giờ tôi giảng nhé, cái này rất khó:* "Vì thế Tu Bồ Đề, các Bồ Tát Ma Ha Tát nên như thế mà sinh tâm thanh tịnh, không nên trụ vào sắc mà sinh tâm, không nên trụ vào thanh - hương - vị - xúc - pháp mà sinh tâm".* Ai vô tâm? Con người đều có tâm, đều có suy nghĩ, đều có ý nghĩ. Tôi còn nhớ trước kia tôi đi nghe một pháp sư giảng kinh. Ông ấy nói, có người niệm Phật: "Nam mô A Di Đà Phật, nam mô A Di Đà Phật…" khi mở mắt ra nhìn thấy trước mặt có một cô gái đi qua "….nam mô A Di Đà Phật, ôi xinh quá!" Ông ấy đã bị sắc làm động tâm rồi! Đây gọi là "trụ sắc sinh tâm"! Rồi lại niệm "Nam mô A Di Đà Phật, nam mô A Di Đà Phật…", một mùi thơm từ nhà bếp của Lôi Tạng Tự bay tới: "Ấy, đúng món đậu hũ thối mà mình thích ăn nhất!" Đây là "trụ vị sinh tâm" rồi! Ngửi thấy mùi vị mà sinh tâm.

Tiếp tục lại "Nam mô A Di Đà Phật, nam mô A Di Đà Phật…", nghe thấy âm nhạc: *"Nhớ em khi em ở nơi xa xôi, nhớ em khi em ở ngay trước mắt, nhớ em em ở trong tâm trí, nhớ em em ở trong tim anh…" *Chao, hay quá! "Trụ thanh sinh tâm" rồi! Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp… vì thế người niệm Phật cũng thế thôi! Lục trần này sẽ ảnh hưởng đến tâm bạn. Cho nên Phật mới nói: *"Vì thế Tu Bồ Đề, các Bồ Tát Ma Ha Tát nên như thế mà sinh tâm thanh tịnh, không nên trụ vào sắc mà sinh tâm, không nên trụ vào thanh - hương - vị - xúc - pháp mà sinh tâm, nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy."* Rất khó! Bạn tu đến khi có thể *"nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy"* thì bạn chính là Bồ Tát rồi!

Vì thế chúng ta… bạn hỏi Sư Tôn: "Sư Tôn, ngài có năm triệu đệ tử, vì sao ngài không xây dựng Lôi Tạng Tự cho chính mình? Người ta XX đó (Quỷ Bà ở San Francisco) đều có Lôi Tạng Tự của riêng mình, vì sao ngài không xây Lôi Tạng Tự cho chính ngài nhỉ? Ngài chỉ cần nói rằng ngài xây Lôi Tạng Tự thì rất nhiều đệ tử của ngài sẽ đều gửi cúng dường đến, ngài có thể xây một tòa Lôi Tạng Tự rất to! Các đệ tử của ngài đều sẽ bỏ tiền ra, ngài có Lôi Tạng Tự cho riêng mình, tốt biết bao?"

Quỷ Bà người ta có thể xây Lôi Tạng Tự của bà ấy, bà ấy không xây Lôi Tạng Tự, bây giờ đã không còn gọi là Lôi Tạng Tự nữa rồi. Bà ấy ấy xây chùa riêng của bà ấy. Ngài cũng có thể xây chùa riêng cho mình mà? Tôi không vì cái chùa này mà sinh ra cái tâm xây chùa, tôi không có. Nói như vậy mọi người có hiểu không? Tôi không trụ vào cái chùa này. Tôi không tạo nên cái tâm xây chùa cho bản thân, căn bản là tôi không có tâm ấy.

"Thế bây giờ ngài có truyền pháp không?" Truyền pháp cũng là một cái tâm, tôi truyền pháp xong thì tôi cũng quên luôn việc đó. 
"Ngài thuyết pháp mà, ngài thuyết pháp là để độ chúng sinh, có sinh cái tâm độ chúng sinh không?" Không có! Tôi nói là việc của tôi, bạn nghe là việc của bạn, nghe hay không là do bạn!

"Tương lai ngài sẽ có bao nhiêu đệ tử?" Không quan tâm! Mãi mãi vẫn là năm triệu, không tăng lên, cũng không giảm bớt. 
"Sau này nếu ngài không có đệ tử thì sao?" Cũng vẫn *OK* thôi, không vấn đề gì. *No problem*. 
"Ngay đến một đệ tử cũng không có?" *No problem. *

Tôi không trụ vào cái gì để mà sinh tâm, đó chính là "không trụ tâm" đó! Nếu như muốn trụ tâm thì hôm nay tôi đã xây Lôi Tạng Tự cho riêng mình rồi! Tôi xây đó! Tôi muốn xây thật là to! Ngôi chùa nào to nhất? Lôi Tạng Tự của Lư Thắng Ngạn là to nhất! Là chùa của Lư Thắng Ngạn, sẽ đặt tên là Lư Thắng Ngạn Lôi Tạng Tự. Lôi Tạng Tự của Lư Thắng Ngạn là to nhất. Thế thì đó không phải là to! Tôi không trụ vào cái này. Không trụ vào danh, có cái danh gì chứ? Tôi thường xuyên nghĩ mình là một người chết. Người chết thì có cái gì? Cái gì cũng chẳng có! Thế bây giờ ông đang làm cái gì? Chỉ là làm những việc mà tôi nên làm thôi. Trung Quốc có một câu thành ngữ nói rằng "tự nhiên mà làm", "tự nhiên mà làm" nghĩa là "*nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy"*.

Bây giờ tôi là "tự nhiên mà làm", tôi đang làm rất nhiều việc, nhưng tôi đều không trụ tâm vào việc đó, không vì cái gì cả, cái này mới là Bồ Tát. Rất nhiều người hôm nay làm một việc thiện, ngày mai liền đi xem ti vi xem ti vi có đưa tin không, trên báo có chú ý tới không. Làm một việc thiện rất lớn thì khẩn trương xem báo, xem ti vi xem xem có đăng tin không. Đó là làm vì muốn có được gì đó, chứ không phải làm không vì cái gì cả.

Vì thế khi xưa, Lư hành giả Lục Tổ Huệ Năng nghe được câu này lập tức giác ngộ. Câu nói này rất nhiều người không hiểu, cũng không rõ vì sao *"nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy"*. Ý nghĩa là gì? Chính là câu mà Jesus nói "việc tốt mà tay phải làm đừng để tay trái biết". Lư Sư Tôn là một đạo nhân vô tâm, làm cái gì, bất kể là viết văn chương gì, viết xong rồi cũng bỏ luôn. Tôi không thể nói: "Tôi đã viết 286 cuốn sách rồi, cuốn 287 cũng đã hoàn thành rồi, bây giờ tôi đang viết cuốn 288. Tôi cho rằng, chà, 288 cuốn sách, bản thân tôi đã rất cừ rồi! Có người nào sánh được với tôi viết tận 288 cuốn sách chứ?" Không được có cách nghĩ như vậy! Nghĩ như thế là sai rồi! Làm xong rồi thì cũng quên luôn.

Tiếng tăm lớn đến mức nào? Cũng vô dụng! Con người thế gian theo đuổi danh lợi! Một cái là danh, một cái là lợi, bạn trụ tâm vào lợi thì bạn sẽ muốn tiền của người ta! Bạn trụ tâm vào danh thì bạn sẽ đọ sức để đạt được tiếng tăm! Bạn không trụ vào danh, cũng không trụ vào lợi mà vẫn làm tất cả mọi việc bố thí thì chính là Bồ Tát. Rất đơn giản thôi. Vì thế, trước kia sư phụ nói với tôi: "Tuyệt đối không được mở miệng ra đòi tiền của người khác! Đây chính là giới luật của anh!" Nghĩa là không trụ vào lợi! Không được nghĩ tiếng tăm của mình lớn đến mức nào, muốn xông lên, muốn để cho người trong thiên hạ biết bạn là Chúa cứu thế! Không được có cách nghĩ như vậy.

Quỷ Bà kia nói trong tạp chí Tử Liên rằng Jesus nói với bà ta: "Bà hãy đi nói với mọi người trong thiên hạ rằng bà là Chúa cứu thế!" Quỷ Bà là Chúa cứu thế sao? Tôi chưa bao giờ từng nghĩ đến hai chữ "cứu thế", tôi có thể cứu được chính mình đã không đơn giản rồi, còn cứu thế cái gì? Bản thân mình còn không thể cứu nổi mà còn đòi cứu thế? Tôi khinh! Trong Mật giáo có một chữ "pei" để giải tán, đúng thế không? Rất đơn giản thôi! Tôi không trụ thế, tôi không trụ vào cái danh, tôi chẳng quan tâm hữu danh vô danh cái gì cả. Bất kể cái gì có lợi hay không có lợi, tôi cũng không thể mở mồm ra đòi tiền người ta! Nếu tôi mở mồm ra đòi tiền bạn thì tôi sẽ bò trên mặt đất, tôi chính là một con rùa!

Rất đơn giản mà, đúng thế không? Vì thế hôm nay tôi giảng *"nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy"* chính là Bồ Tát. Không hề vì cái gì cả, tôi vẫn làm bố thí, cứu tế chúng sinh, tôi chính là một vị Bồ Tát. Bạn cũng không thể có suy nghĩ mình là Bồ Tát, bạn có suy nghĩ mình là Bồ Tát thì không phải là Bồ Tát nữa rồi! Bởi vì không có suy nghĩ mình là Bồ Tát thì mới là Bồ Tát. Ý nghĩa của kinh Kim Cang rất quan trọng, ý nghĩa ở trong đây. Vì thế, nếu Sư Tôn có mở miệng ra đòi tiền bạn thì bạn hãy chỉ thẳng vào mũi tôi mà nói: "Ông phạm giới rồi!"

Cần tiền để làm gì? Tôi đâu phải là Tăng Diệu Toàn [ý ở đây là: "thật cần tiền"]. Chúng ta có một đồng môn tên là Tăng Diệu Toàn sư huynh, thật đó, "thật cần tiền" (cụm từ đồng âm khác nghĩa). Còn có một người nữa cũng cần tiền, tên là Hứa Đức Toàn (tên này đọc lên nghe giống như "muốn có tiền"). Có một người nữa tên là Lập Toàn (kiếm tiền). Vì thế hôm nay tôi giải thích *"nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy"*: không vì cái gì cả, nhưng bạn đi làm công tác độ hóa chúng sinh, đi làm công tác độ hóa chúng sinh không vì cái gì cả thì cái này gọi là *"nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy"*. Hôm nay tôi giải thích câu này thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 06/11/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Dược Sư Phật Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 30.)*


### 31. Phần thứ 10: Tịnh thổ trang nghiêm (4)


*(Bài giảng 31) *Phật nói không phải thân, thì gọi là thân lớn

*"Tu Bồ Đề! Ví như có người, thân to như núi Tu Di, ý ông thế nào, là thân ấy rất to lớn chăng?"
Tu Bồ Đề nói: 
"Rất lớn, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Phật nói không phải thân, thì gọi là thân lớn."*

Đoạn này rất thú vị, hôm nay tôi sẽ giảng đoạn này. 
*"Tu Bồ Đề! Ví như có người, thân to như núi Tu Di, ý ông thế nào, là thân ấy rất to lớn chăng?" Tu Bồ Đề nói: "Rất lớn, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Phật nói không phải thân, thì gọi là thân lớn." *Trọng điểm nằm ở chữ "lớn", thế nào là lớn? Tôi nói để bạn biết, núi Tu Di trong Phật giáo, trong thế giới quan của Phật giáo, trên đỉnh của núi Tu Di là 33 cõi trời, ở giữa là Tứ Thiên Vương Thiên, phía dưới núi Tu Di phân thành bốn đại châu, tám tiểu châu, ở giữa có biển nước thơm, đây chính là vũ trụ quan của Phật giáo.

Cách nhìn về vũ trụ là như vậy, ở giữa là núi Tu Di, núi Tu Di đương nhiên là to lớn nhất rồi, Phật Thích Ca Mâu Ni liền so sánh: "Núi Tu Di có to lớn không? Nếu có người to lớn như núi Tu Di thì có xem là lớn không?" Lớn, nhưng Tu Bồ Đề lại nói: "Đúng là rất lớn, nhưng mà không phải là thân." Ngài ấy nói thế này: *"Phật nói không phải thân thì gọi là thân lớn."* Phật Đà nói không phải thân thì mới gọi là lớn. Bây giờ vấn đề lại nằm ở chữ "lớn" này. Núi Tu Di chỉ là một sự so sánh. Núi Tu Di, có người to cao giống như núi Tu Di thì có xem là lớn không? Lớn! Thế cái gì mới thật sự là lớn đây? Tu Bồ Đề đáp: *"Phật nói không phải thân thì gọi là thân lớn." *Ngài ấy đã trả lời rồi, vấn đề chính là nằm ở chữ "lớn" này, núi Tu Di chỉ là một so sánh mà thôi.

Vũ trụ này của chúng ta có lớn không? Lớn. Hệ mặt trời có lớn không? Lớn. Hệ mặt trời chẳng qua chỉ nằm trong vũ trụ, là một hệ mặt trời trong số hơn trăm hệ mặt trời mà thôi, nếu so với cả vũ trụ thì không lớn, khoa học kĩ thuật của con người càng phát triển thì càng không biết vũ trụ lớn tới mức nào nữa, căn bản hiện nay vẫn chưa biết vũ trụ lớn đến mức nào. Nước Mĩ có lớn không? Lớn. Trung Quốc có lớn không? Lớn. Ấn Độ có lớn không? Lớn. Brazil có lớn không? Brazil cũng rất lớn, Brazil cũng cực kì lớn. Hiện nay nước mạnh nhất trên thế giới, chúng ta không dám nói, bởi vì hai nước đang tranh nhau, Trung Quốc và Mĩ đang tranh nhau xem ai lớn nhất, mọi người đều muốn làm ông lớn. 

Nước Mĩ đã quen làm ông lớn rồi, ta là United States of America [hợp chủng quốc Hoa Kì], ta là bá chủ cả địa cầu, trên thế giới rất nhiều quốc gia đều muốn nghe theo ta, ai không nghe theo ta chứ? Nam Hải, Nam Hải ở Trung Quốc, cách Trung Quốc tương đối gần, đúng không? Cách Mĩ tương đối xa, đúng không? Nhưng Mĩ cũng quản cả Nam Hải luôn, ta đem cả hàng không mẫu hạm đến Nam Hải, ngươi xây dựng đảo đá ngầm ở Nam Hải, đang làm căn cứ, ta vẫn phải quản, Mĩ cái gì cũng muốn quản, khoảng cách tới Mĩ rất xa, Nam Hải thật sự cách Trung Quốc Đại Lục khá gần.

Nam Hải này, Nam Hải của chúng ta còn có Quan Thế Âm Bồ Tát, Đông Hải thì còn có Đông Hải Long Vương, còn có Tứ Hải Long Vương nữa, Trung Quốc có Tứ Hải Long Vương, Nam Hải cũng là Trung Quốc, Nam Hải còn có Quan Thế Âm Bồ Tát, cũng là của Trung Quốc chúng tôi, cớ sao Nam Hải lại biến thành của các người được, thế thì Quan Thế Âm Bồ Tát của chúng tôi ở đâu? Đây chỉ là một câu chuyện cười, chuyện cười thời hiện đại. Sư Tôn thấy vở kịch này đúng là do Kim Dung viết, đều là tranh làm minh chủ võ lâm. Những thứ mà Kim Dung viết không phải là không có đạo lí triết học, những thứ mà ông ấy viết là có đạo lí triết học cả, mọi người đều đang tranh làm ông lớn.

Bạn xem, đừng nói là nước này với nước khác, đừng chỉ nói là giữa các quốc gia với nhau, những người giàu có có tiền đều đang tranh nhau xem ai là người giàu số một thế giới, đều đang tranh đua. Hai chúng ta đều là người có tiền, tôi thấy anh không thuận mắt, anh cũng thấy tôi không vừa mắt. Amazon, bạn biết là ông chủ của Amazon rất giàu có, ông chủ của hãng xe điện cũng rất giàu có, đúng không? Ông chủ của Amazon thấy vậy nói, xe điện của anh kiếm được tiền thì có là cái gì, tôi cũng làm xe điện cho anh xem, Amazon bây giờ cũng muốn bắt đầu làm xe điện đó, cả hai người đều có lắm tiền, ông chủ của Amazon rất có tiền, ông chủ hãng xe điện cũng rất có tiền, hai người đang tranh tới tranh lui, đều muốn làm người có nhiều tiền nhất.

Rồi giới tôn giáo cũng thế, thật ra, mọi người trên thế giới này đều muốn tranh làm số một. Trước kia ở Đài Loan thì Phật giáo Trung Quốc làm ông lớn, sau khi bỏ những hạn chế thì mọi người lũ lượt tách riêng, Phật giáo Trung Quốc đã biến thành cái vỏ rỗng. Khi xưa lúc vừa bỏ những hạn chế thì Phật Quang Sơn cũng tách riêng, Từ Tế cũng tách riêng, mọi người đều độc lập, đều lập phái riêng. Trước kia mỗi một giáo phái đều phải là một chùa nào đó hội nào đó gắn với Hội Phật Giáo Trung Quốc, trước kia đều thuộc dưới Hội Phật Giáo Trung Quốc, Hội Phật Giáo Trung Quốc Đài Bắc Phổ Tế Tự, Thiện Đạo Tự, Hội Phật Giáo Trung Quốc Đài Bắc Phân Hội Thiện Đạo Tự, đều là phân biệt như vậy, khi xưa tất cả đều quy về Hội Phật Giáo Trung Quốc. 

Thân phận người xuất gia cũng đều do Hội Phật Giáo Trung Quốc quản, Sư Tôn có thân phận là tăng nhân xuất gia, cũng là do trưởng lão Ngộ Minh của Hội Phật Giáo Trung Quốc phát cho tôi (khi ấy ông ấy là chủ tịch hội), tôi vẫn mang theo người đây, tôi là người xuất gia chân chính, Sư Tôn không phải là giả mạo đâu. Để tôi xem có đem theo người không? Có đem theo người thì sẽ cho mọi người xem, không mang theo người thì chẳng có cách nào. Ui chà! Có rồi, chứng nhận hội viên Hội Phật Giáo Trung Quốc, pháp hiệu Liên Sinh, quê quán Gia Nghĩa Đài Loan, họ tên Lư Thắng Ngạn, nam, sinh ngày 27 tháng 6 năm 34 (Dân Quốc), tăng tử Đài Loan số hiệu 002083. Đây là chứng nhận của Hội Phật Giáo Trung Quốc, người xuất gia phải có thẻ chứng nhận xuất gia này, đúng thế không? Sư Tôn có thẻ chứng nhận thân phận xuất gia thật đây, đây là chứng minh thân phận của người xuất gia. 

Ai là ông lớn? Bây giờ không có nữa, bây giờ mọi ông đều là ông lớn. Đúng vào lúc đang tranh giành này, đúng vào lúc người ta cứ ở đó mà tranh tới tranh lui, Phật Thích Ca Mâu Ni nói: "Người hợp với đạo là lớn." Phật Thích Ca Mâu Ni nói một câu rất rõ ràng: Người hợp với đạo là lớn. Bạn đã hợp nhất với đạo rồi thì bạn chính là lớn, người hợp với đạo là thân gì? Là phi thân, chính là phi thân, không phải là thân thể nữa, cái gì cũng không phải, nhưng bạn hợp nhất với đạo rồi thì bạn chính là số một. Vì thế, mọi người đều đang tranh làm số một, học sinh cũng như thế, thi cử nhất định phải đứng thứ nhất, mỗi lần thi đều phải tranh vị trí số một, tâm hiếu thắng rất mạnh, nhất định phải là số một. Có người kia một lần đứng thứ hai, thế là'"khậc"… ! Anh ta chết rồi, tự sát chết, thật đáng thương! Thật đó, học sinh đi học đứng số một có tác dụng gì? Lư Sư Tôn lưu ban hai lần, bây giờ ngồi trên pháp tọa, sáng lập tông phái Chân Phật Tông, nhiều đệ tử như vậy đến quy y. Tôi bảo cho bạn biết nhé, chỉ cần bạn lưu ban là bạn có thể sáng lập tông phái đấy, không cứ phải đứng thứ nhất mới là tốt đâu, không cần phải tranh đấu, không cần phải cạnh tranh cái này.

Phật Đà đã nói một câu, một câu nói tối quan trọng sau cùng: "Người hợp với đạo là lớn." Lớn này là vô hình, lớn mà lại không phải là cái bên ngoài - lớn đến mức không còn cái bề ngoài, nhỏ mà lại không phải là cái bên trong - không có bên trong cũng không có bên ngoài, cái này mới là lớn thật sự, đạo là như vậy, lớn mà không phải bên ngoài, nhỏ mà không phải bên trong, đây mới là đạo chân chính, là lớn. Cái lớn này là cái gì? Phi thân, không có hình tướng, vô tướng, người không có hình tướng mới gọi là lớn, còn có hình tướng thì đều là nhỏ hết.

Bạn cho rằng bạn ở dinh thự, dinh thự lớn cỡ nào? 16.000 xích (khoảng 5300 mét vuông), Biệt thự Cầu Vồng có được 16.000 xích không? Gộp toàn bộ biệt thự Cầu Vồng vào thì còn lớn hơn 16.000 xích, rất lớn rồi, biệt thự Cầu Vồng là dinh thự. Nhà người ta là 20.000 xích, người ta ở trong căn nhà hai mẫu Anh (1 mẫu Anh khoảng 4.050 mét vuông) bạn đã từng thấy chưa? Bạn so với người ta, "chim cu" mà đòi so với đùi gà à, làm sao mà so được? Không so được, những thứ đó đều là hữu hình. Bạn cho rằng "Tôi ở dinh thự, nhà tôi to nhất." Bạn cho rằng bạn lái xe Rolls-Royce thì bạn rất là to. Xe Rolls-Royce, tôi nói cho bạn biết nhé, Ferrari có chiếc tới một triệu đô, Rolls-Royce của bạn chẳng qua cũng chỉ nửa triệu đô, một chiếc Ferrari bằng hai chiếc Rolls-Royce đó. Lamborghini có thể so được: bạn muốn xe mười triệu đô tôi cũng có thể làm được cho bạn. Mọi người so sánh mà xem, ôi dào, xe của anh cũng vẫn là nhỏ thôi, Rolls-Royce cũng chỉ coi là nhỏ thôi. Cho nên cái gì cũng đều không so sánh được, tôi nói để bạn biết, những thứ hữu hình đều không phải là lớn, Phật Đà nói rồi: "Người hợp với đạo là lớn", vô tướng là lớn nhất, những gì hữu tướng thì đều là nhỏ, vì thế tôi mới nhắc lại cho bạn câu nói này. 

*"Tu Bồ Đề! Ví như có người, thân to như núi Tu Di, ý ông thế nào, là thân ấy rất to lớn chăng?" *Tu Bồ Đề nói: *"Rất lớn, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Phật nói không phải thân, thì gọi là thân lớn." *Phi thân, không phải là thân có hình tướng, thì gọi là lớn nhất. Không phải là thân có hình tướng thì là cái gì? Là đạo, là Phật tính, bạn đã tu hành đến vô tướng rồi, hơn nữa Phật tính đã hiển lộ rồi - hiển lộ Phật tính của bạn rồi, thì đó là lớn nhất. Đọc kinh Kim Cang, bạn cần biết rằng Phật nói chẳng phải thân, cái gì là chẳng phải thân? Cái không có hình tướng là lớn nhất, chính là đạo, chính là Chân như, chính là Phật tính. Om mani padme hum.

*(Ngày 07/11/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Đại Tùy Cầu Bồ Tát tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 31.)*


### 32. Phần thứ 11: Phúc vô vi là hơn hết


*(Bài giảng 32) *Bao nhiêu hạt cát là bấy nhiêu sông Hằng

Chúng ta giảng kinh Kim Cang.

*"Tu Bồ Đề! Giống như tất cả số cát có trong sông Hằng, bao nhiêu hạt cát là bấy nhiêu sông Hằng, ý ông thế nào, số cát trong tất cả số sông Hằng ấy có nhiều không?"
Tu Bồ Đề nói: 
"Rất nhiều, thưa Thế Tôn! Chỉ riêng số sông Hằng đã nhiều vô số huống chi là cát!"
"Tu Bồ Đề! Nay ta nói lời thật cho ông nghe: nếu có thiện nam, thiện nữ, dùng thất bảo nhiều bằng tất cả số cát sông Hằng trong tam thiên đại thiên thế giới để bố thí thì phúc ấy có nhiều không?"
Tu Bồ Đề nói:
"Rất nhiều, thưa Thế Tôn!"
Phật bảo Tu Bồ Đề: 
"Nếu có thiện nam, thiện nữ, cho dù chỉ niệm bốn câu kệ trong kinh này, vì người khác mà thuyết giảng, thì phúc đức ấy còn hơn cả phúc đức nói ở trên."*

Hôm nay chúng ta giảng Phần thứ 11: Phúc vô vi là hơn hết. Vâng, Phần thứ 11: Phúc vô vi là hơn hết. Đầu tiên nói đến hai chữ vô vi. Thế nào là vô vi?* "Nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy"*, gọi là làm một cách tự nhiên. Nếu nên không có chỗ trụ thì chính là vô vi, vô sở trụ chính là vô vi. Ý nghĩa của phần phúc hơn hết là: dùng phúc đức để so sánh, dùng phúc và đức để làm một sự so sánh, đây là phẩm thứ mười một.

Phật Thích Ca Mâu Ni hỏi, Phật Thích Ca Mâu Ni thường xuyên dùng so sánh, *"Tu Bồ Đề! Giống như tất cả số cát có trong sông Hằng, bao nhiêu hạt cát là bấy nhiêu sông Hằng, ý ông thế nào, số cát trong tất cả số sông Hằng ấy có nhiều không?" *Câu nói này có người đọc không hiểu. Mọi người chú ý nhé! Câu nói này cũng không phải là rất đơn giản mà có thể giảng được đâu.

*"Tu Bồ Đề! Giống như tất cả số cát có trong sông Hằng, bao nhiêu hạt cát là bấy nhiêu sông Hằng, ý ông thế nào, số cát trong tất cả số sông Hằng ấy có nhiều không?"
Tu Bồ Đề nói: 
"Rất nhiều, thưa Thế Tôn! Chỉ riêng số sông Hằng đã nhiều vô số huống chi là cát!"
*
Phật Thích Ca Mâu Ni lại nói:*
”Tu Bồ Đề! Nay ta nói lời thật cho ông nghe: nếu có thiện nam, thiện nữ, dùng thất bảo nhiều bằng tất cả số cát sông Hằng trong tam thiên đại thiên thế giới để bố thí thì phúc ấy có nhiều không?"
Tu Bồ Đề nói:
"Rất nhiều, thưa Thế Tôn!"
Phật bảo Tu Bồ Đề: 
"Nếu có thiện nam, thiện nữ, cho dù chỉ niệm bốn câu kệ trong kinh này, vì người khác mà thuyết giảng, thì phúc đức ấy còn hơn cả phúc đức nói ở trên."*

Ở đây là so sánh phúc đức. Phật Thích Ca Mâu Ni rất thích dùng so sánh, ngài ấy rất thích hai so sánh: một là núi Tu Di, là rất lớn, cao lớn, còn dùng cát để so sánh mức độ nhiều vô cùng. Ai đã đến Ấn Độ thì sẽ biết sông Hằng này, chúng tôi đã đi rồi, Sư Tôn đã đi đến Ấn Độ, đã đi Varanasi, Varanasi là thành cổ có năm nghìn năm văn hóa, Ấn Độ cũng là một trong bốn nền văn minh lớn gồm: Trung Quốc, Ấn Độ, Babylon, Ai Cập. Babylon đã không còn nữa, chỉ còn lại Ai Cập, Ấn Độ và Trung Quốc, là những quốc gia có nền văn hóa trên năm nghìn năm. Thành phố Varanasi này đã tồn tại năm nghìn năm, nó nằm bên bờ sông Hằng, người Ấn Độ gọi sông Hằng là dòng sông Thánh. Cũng giống như người Trung Quốc, người Trung Quốc cho rằng sông Trường Giang, Hoàng Hà, đều là hai dòng sông chủ yếu nhất của họ. Người Ấn Độ cho rằng sông Hằng chính là dòng sông Thánh của đất nước họ. Chúng tôi từng chèo thuyền du ngoạn trên sông Hằng, ngồi thuyền đến giữa sông Hằng để ngắm.

Ở đây Phật Thích Ca Mâu Ni rất thích nói về cát sông Hằng, dùng cái này để so sánh. Câu thứ nhất nói, cát sông Hằng là rất nhiều rất nhiều, không thể đếm hết, bởi vì sông Hằng xuyên suốt cả Ấn Độ mà. Như thế cát sông Hằng đương nhiên là không thể nào đếm được, cho nên ở đây có ý nghĩa là vô lượng. Phật Thích Ca Mâu Ni nói, mỗi lần nhắc đến cát sông Hằng thì nghĩa là vô lượng, rất nhiều, rất nhiều đếm không hết. Nhưng Phật cũng lại thêm một câu nữa! Mọi người xem ngài nói câu này, rất nhiều người không biết câu này: *"Giống như tất cả số cát có trong sông Hằng, bao nhiêu hạt cát là bấy nhiêu sông Hằng." *Thế nào là *"bao nhiêu hạt cát là bấy nhiêu sông Hằng"*? Phật Đà là muốn nói thế này: nếu mỗi một hạt cát lại tương đương với một con sông Hằng, câu nói này rất nhiều người không hiểu được hết, bao nhiêu hạt cát là bấy nhiêu sông Hằng, nghĩa là mỗi hạt cát lại ví von thành một dòng sông Hằng! *"Số cát trong tất cả số sông Hằng ấy có nhiều không?"* Chà, thế này thì quá khủng khiếp rồi! Cát của một con sông Hằng đã là vô số rồi, nếu mỗi một hạt cát đó lại tương đương với một con sông Hằng, thế thì có bao nhiêu cát? Chẳng có cách nào mà đếm được, cũng có nghĩa là vô cùng nhiều, ý nghĩa là nhiều vô cùng đó.

Vốn dĩ là rất nhiều, rất nhiều, không đếm được, một hạt cát này lại tương đương với một con sông Hằng, thế thì quá khủng khiếp rồi, vậy thì có bao nhiêu cát sông Hằng đây? Số cát đó lại càng nhiều hơn. Phật Thích Ca Mâu Ni rất thích ví von, một hạt cát tương đương với một sông Hằng, thế thì "khủng" quá, đó là vô số sông Hằng, vô số cát, không cách nào đếm được. Tu Bồ Đề liền trả lời: Rất nhiều, thưa Thế Tôn! Nhiều sông Hằng như vậy đã không có cách nào đếm được rồi, lại còn đi đếm số cát đó nữa ư? Căn bản là chẳng có cách nào. Ý của ngài ấy là như vậy.

Rất nhiều người nếu đọc đến câu này mà cho rằng Phật Đà chỉ nói đến cát sông Hằng, không, không phải thế, Phật Đà nói rằng trong một con sông Hằng có rất nhiều, vô cùng nhiều cát, và mỗi hạt cát nếu đều là một con sông Hằng thì số cát đó là bao nhiêu? Tu Bồ Đề liền trả lời: Vô cùng nhiều thưa Thế Tôn. Số sông Hằng nhiều như thế đã chẳng có cách nào đếm được rồi. Sông Hằng vốn dĩ chỉ có một thôi, nhưng nếu nó lại biến thành nhiều như cát, thế thì quá khủng khiếp, vô số đó! Chỉ riêng các con sông Hằng đã là vô số rồi, những sông Hằng này đã không có cách nào đếm được rồi, huống hồ là cát! Chà, đoạn đối thoại này mọi người cần biết, bởi vì có một số người đọc xong cho rằng Phật Thích Ca Mâu Ni chỉ nói về cát, mà không hiểu rằng cát lại biến thành sông Hằng. Đúng thế không?

Đúng mà, nếu bạn không đọc kĩ đoạn kinh văn này, bạn không biết Phật Thích Ca Mâu Ni đang ví von cái gì, trong cái nhỏ hơn còn có cái nhỏ hơn nữa. Nếu bạn đọc, đọc xong một cái rồi cũng thôi! Chính là cát sông Hằng, rất nhiều đó! Tu Bồ Đề nói cát sông Hằng là rất nhiều, nhưng bạn không biết là Phật đang hỏi cái gì. Rất nhiều đó, các sông Hằng là rất nhiều. Tu Bồ Đề nói: *"Rất nhiều, thưa Thế Tôn! Chỉ riêng số sông Hằng đã nhiều vô số huống chi là cát!"* Hai câu này là đối ứng nhau. Rất nhiều người đọc kinh Kim Cang, nói "Mỗi ngày tôi đều đọc thuộc kinh Kim Cang đó", nhưng mà bạn có biết ở đây, Phật Đà có nói đến hai ý không? Tất cả cát biến thành sông Hằng, bên trong những sông Hằng đó lại có cát. Vì thế Tu Bồ Đề trả lời: *"Chỉ riêng số sông Hằng đã nhiều vô số huống chi là cát!"* Nói như vậy mọi người hiểu rồi chứ? Cho nên người đọc kinh, khi người đọc kinh này nếu không cẩn thận thì sẽ cho rằng Phật Đà chỉ nói về cát sông Hằng thôi, không ngờ rằng Phật Đà lại còn biến cát thành sông Hằng nữa.

Vì thế, Tu Bồ Đề trả lời câu hỏi này, bạn xem ngài ấy nghe rất rõ ràng, các sông Hằng… sông Hằng vốn chỉ có một, cái gì mà "chư sông Hằng" chứ? Không phải là "trư" của Trư Bát Giới đâu. Sông Hằng vốn dĩ chỉ có một thôi, vì sao Phật lại nói là các sông Hằng? Bởi vì là tất cả cát mỗi hạt đều biến thành một sông Hằng. Do đó bạn xem Tu Bồ Đề đó, ngài ấy nghe lời Phật Thích Ca Mâu Ni giảng rất rõ ràng, Sư Tôn khi giải thích kinh điển cũng nói rất rõ ràng. Các sông Hằng nghĩa là rất nhiều, rất nhiều sông Hằng, đã không có cách nào đếm được hết các sông Hằng rồi, huống hồ là cát trong chúng? Câu này, nói chung, người đọc kinh thư đều sẽ đọc qua quýt, cho rằng Phật Đà chỉ nói đến số cát sông Hằng thôi, cát sông Hằng rất nhiều mà, núi Tu Di rất cao mà, cát sông Hằng rất nhiều mà, ví von của Phật Thích Ca Mâu Ni đều là như vậy.

Phật thường dùng so sánh, vì thế trong kinh Phật có một bộ kinh điển gọi là kinh Tỉ Dụ. Mọi người có biết… Kinh Thí Dụ à? Vậy thì phát âm tiếng Quốc Ngữ của tôi không đúng chuẩn rồi! Kinh Thí Dụ hay kinh Tỉ Dụ thì cũng gần như nhau, không khác nhau là mấy. Kinh Thí Dụ, thí dụ chính là tỉ dụ mà, đúng vậy không? Vì thế, có người nói kinh Kim Cang này là kinh Toản Thạch [toản thạch nghĩa là viên kim cương] Kinh này phiên dịch Anh văn gọi kinh Kim Cang là kinh Kim Cương. Bởi vì bản thân kim cương là rất cứng, là bất hoại, là bất diệt, dùng thứ bất diệt để diệt trừ tất cả mọi thứ thì chính là kinh Kim Cương. Do đó người nước ngoài gọi kinh Kim Cang dịch thành kinh Kim Cương, kim cương so sánh với kim cang, đá kim cương cũng rất cứng. Vì thế tôi từng giảng ý nghĩa của kinh Kim Cang là: phá hủy tất cả. Kinh Kim Cang chính là kinh điển phá hủy tất cả, cái gì cũng đều phá hủy hết.

Ở đây nói… tiếp theo là đoạn sau:
*"Tu Bồ Đề! Nay ta nói lời thật cho ông nghe: nếu có thiện nam, thiện nữ, dùng thất bảo nhiều bằng tất cả số cát sông Hằng trong tam thiên đại thiên thế giới để bố thí thì phúc ấy có nhiều không?"
Tu Bồ Đề nói:
"Rất nhiều, thưa Thế Tôn!"
Phật bảo Tu Bồ Đề: 
"Nếu có thiện nam, thiện nữ, cho dù chỉ niệm bốn câu kệ trong kinh này, vì người khác mà thuyết giảng, thì phúc đức ấy còn hơn cả phúc đức nói ở trên."
*
Phật bảo Tu Bồ Đề: "Hôm nay ta dùng lời rất thật, thật lòng thật sự nói để ông biết, nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân, dùng thất bảo nhiều bằng tất cả số cát sông Hằng trong tam thiên đại thiên thế giới", dùng thất bảo… thế nào là thất bảo? Trong kinh điển này của chúng ta có viết, thế nào là thất bảo? Ví dụ như vàng cũng là một trong thất bảo, ốc xà cừ cũng là một trong thất bảo, mã não cũng là một trong thất bảo. Những thứ này đều là những thứ quý giá của nhân gian. *"Thất bảo nhiều bằng tất cả số cát sông Hằng trong tam thiên đại thiên thế giới"*, tam thiên đại thiên thế giới là rất nhiều đó! Nếu bạn nghe thấy trong kinh Phật nói đến tam thiên đại thiên thế giới thì cũng biểu thị cực kì nhiều, do vậy Phật Thích Ca Mâu Ni thường xuyên dùng so sánh.

Vì thế bạn nghĩ mà xem, vì sao Sư Tôn chỉ có năm triệu đệ tử? Bởi vì năm triệu chính là biểu thị rất nhiều đó. Bạn xem Phật Thích Ca Mâu Ni thường hay nói, năm trăm thương nhân qua sông. Thế nào gọi là năm trăm thương nhân qua sông? Lẽ nào thật sự là năm trăm người thương nhân qua sông? Không phải! Là rất nhiều, rất nhiều thương nhân qua sông, rất nhiều, rất nhiều nhóm lạc đà đang qua sông Hằng. Thế rồi Phật Đà còn nói năm trăm La Hán, thế nào là năm trăm La Hán? Lẽ nào chỉ có năm trăm vị La Hán thôi sao? Không phải, là rất nhiều, rất nhiều La Hán, thì gọi là năm trăm! Do đó Sư Tôn đã mượn khẩu khí của Phật để nói Sư Tôn có năm trăm vạn đệ tử, không tăng lên thành sáu trăm vạn đệ tử, cũng không ít đi, không phải là bây giờ đã ít đi rồi thì nói thành bốn trăm vạn, tôi nói năm trăm vạn ý là rất nhiều, rất nhiều đệ tử, nói như vậy mọi người hiểu chứ? Đó là tôi dùng cách ví von của Phật Thích Ca Mâu Ni đó! Thường xuyên nghe thấy năm trăm: năm trăm thương nhân, năm trăm giặc cướp, đều là năm trăm.

Sư Tôn cũng dùng cách nói năm trăm vạn của Phật… vì sao trải qua thời gian lâu như vậy rồi, rất nhiều đệ tử hỏi, vì sao Sư Tôn vẫn chỉ có năm trăm vạn đệ tử? Bây giờ tăng lên nhiều như thế rồi, nhiều người quy y như thế rồi, vì sao không phải là sáu trăm vạn? Không cần, năm trăm chính là biểu thị rất nhiều, rất nhiều rồi, ý này chính là như thế. Bây giờ, nhiều thất bảo như vậy, giống như tam thiên đại thiên thế giới số cát sông Hằng, lấy thất bảo của tam thiên đại thiên thế giới này để bố thí, thì phúc phận ấy có lớn không? Đương nhiên là lớn. Trong Bồ Tát lục độ, bố thí là đứng hạng nhất, phúc đức của bố thí rất lớn, phúc phận rất lớn. Tu Bồ Đề nói: "Rất nhiều, thật sự phúc phận này là quá lớn rồi, thưa Thế Tôn!"

Phật bảo Tu Bồ Đề: 
*"Nếu có thiện nam, thiện nữ, cho dù chỉ niệm bốn câu kệ trong kinh này, vì người khác mà thuyết giảng, thì phúc đức ấy còn hơn cả phúc đức nói ở trên." *Đây là so sánh, nếu có thiện nam, thiện nữ, từ trong cuốn kinh Kim Cang này, bạn thọ trì bốn câu kệ, đó là "vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng", bạn dùng bốn câu kệ này để nói cho người khác nghe, giảng giải bốn câu kệ này, thì phúc đức này còn hơn cả phúc đức của việc dùng *"thất bảo nhiều bằng tất cả số cát sông Hằng trong tam thiên đại thiên thế giới"* để đem bố thí, vượt trội so với phúc đức ấy rồi. Đoạn này, Phần thứ 11: Phúc vô vi là hơn hết, tôi nói để bạn biết, con người chỉ cần làm được đến khi vô ngã, vô ngã tướng, thì đã là Thánh Hiền rồi. Thất bảo của nhân gian, nhiều thất bảo như vậy, đều thua hết một cái "vô ngã tướng", huống hồ là bốn câu kệ này chứ?

Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, bạn chỉ cần bốn cái này, thọ trì bốn cái này, bạn chính là Thánh Hiền, bạn chính là Bồ Tát! Bạn còn phiền não gì nữa? Vô ngã tướng, bạn còn phiền não gì đây? Hôm nay bạn có phiền não, đó là bởi vì còn "có ngã tướng" nên bạn mới phiền não, không có cái tôi này thì còn phiền não cái gì? Bạn phiền não thân thể có bệnh sao? Không còn cái tôi này thì làm gì còn có bệnh? Thế nào là "nhân, ngã, thị, phi"? Bởi vì là có tôi, có người ta, nên mới có thị phi đó! Trước kia tôi nhớ Đài Loan có một Bộ trưởng nói một câu: "Nơi nào có người thì sẽ có thị phi." Bạn đã vô ngã rồi, vô ngã tướng rồi, vô nhân tướng rồi, bạn làm gì còn người ta nào, tôi nào, thị phi nào? Không còn. Không còn cái tôi thì đã không còn phiền não rồi. Thế thì tốt quá! Vì thế trước tiên học vô ngã, chỉ cần bạn có thể thọ trì vô ngã thì ba tướng khác đều sẽ xuất hiện.

Cho nên Sư Tôn rất dễ ngủ gật trên pháp tọa, đó là vô ngã tướng. Tôi còn bảo: "Năn nỉ đấy, hãy làm cái ghế pháp này thành cái giường đi, rồi cho tôi một cái gối, một tấm chăn, để tôi ngủ." "Lư Sư Tôn, thầy phải thuyết pháp chứ! Vì sao lại ngủ ở đây?" "Mọi người ở dưới niệm còn tôi ở trên ngủ, vì sao? Vì sao có thể như thế chứ? Không được! Như thế thì làm gì còn trang nghiêm nữa!" Tôi đã vô ngã tướng rồi, tôi còn phải lo đến cái trang nghiêm của nhà anh sao? Đúng thế không? Tôi lo gì trang nghiêm hay không trang nghiêm chứ! Tôi ngủ xong, tỉnh dậy tôi lại thuyết pháp. Vì thế đừng căng thẳng, Sư Tôn chẳng hề có phiền não gì, bởi vì chẳng có vấn đề gì cả! Cứ mặc kệ đi, muốn làm cái gì thì đó là việc của nhà anh! Việc của nhà anh chẳng có can hệ gì đến tôi! Tôi thường hay nghĩ như vậy, rồi dần dần nhập vào vô ngã tướng.

Người ta nói, người cao tuổi phần lớn đều rất khó ngủ, tuổi tác càng cao thì càng khó ngủ, tôi thì tuổi tác càng cao càng dễ ngủ, tôi đúng kiểu là ngủ không đủ đó! Tôi rất thích ngủ, buổi sáng tôi đều không dậy nổi. Buổi tối tôi dỗ Sư Mẫu ngủ, ngủ đi, ngủ nào, bà ấy ngủ rồi, tôi mới rón rén đi ra, trở về phòng mình. Mỗi sáng bà ấy lại đến gọi tôi, bà ấy nói: "Hôm nay là chủ nhật, ông phải đến Cầu Vồng Lôi Tạng Tự đó." Tôi nói: "Xin nghỉ phép!" Thế nhưng tôi vẫn phải dậy! Rốt cục vẫn là phải tinh tấn, phải thuyết pháp. Mỗi lần tôi bảo "Cho tôi nghỉ phép đi!" nhưng rồi vẫn phải bò dậy. Đời người là như vậy, vô sở trụ tốt biết bao. Vô vi, không vì cái gì cả, chỉ là làm việc mà tôi nên làm thôi.

Do vậy, về sau sẽ nói đến kinh Kim Cang là thật sự "không tứ tướng", thật sự là vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Cho nên mấy chương sau này sẽ đều nói đến. Sư Tôn ở đây thuyết pháp, có thuyết pháp không? Có thuyết pháp cũng tương đương với không thuyết pháp, bởi vì không có việc thuyết pháp mới là thuyết pháp. Pháp có tồn tại không? Bạn lên mặt trăng xem xem có Phật pháp không? Mặt trăng chính là vô nhân tướng, bạn đến mặt trăng rồi thì là vô nhân tướng, không có con người mà! Mặt trăng không có người mà! Ở đó có Phật pháp gì? Có cái tôi gì? Có chúng sinh không? Không có. Có người không? Không có. Có người sống trường thọ không? Cũng không có. Trên mặt trăng, thời gian có liên quan gì đến bạn? Thời gian có tác dụng gì? Tôi hỏi bạn, thời gian ở đó có tác dụng gì? Có tác dụng không? Thọ chính là thời gian, chúng sinh tướng chính là không gian.

Ở nơi đó… được rồi, Sư Tôn nói: "Đất đai trên toàn bộ mặt trăng là của tôi, anh có muốn mua không?" Tôi bán cho mọi người, bán cho mọi người thì Sư Tôn kiếm bộn tiền! Tôi bán cho bạn đất trên mặt trăng, tôi viết: "Lư Thắng Ngạn bán mấy mẫu đất trên mặt trăng, ở Đài Loan gọi là mẫu, ở đây tính theo mẫu Anh, bán cho bạn bao nhiêu mẫu đất." Thế thì tôi thành địa chủ rồi! Tôi bảo cho bạn biết, tờ giấy bán đất này của tôi, bạn có thể xác nhận, cuối cùng khi bạn đáp tàu vũ trụ đến mặt trăng, bạn nói rằng "Đây là của Lư Sư Tôn, Lư Sư Tôn bán cho tôi mảnh đất ở đây." Đến lúc đó, bạn đi đến chỗ nào bạn cũng có bằng chứng, có chứng cứ này để nói tôi là chủ nhân của mặt trăng. Đâu có tác dụng gì! Ở nơi đó, vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng!

Tôi bán hết mặt trăng rồi còn bán sao Thổ, bán sao Hỏa, bán sao Diêm Vương, bán sao Hải Vương, bán sao Kim. Đất trên địa cầu tôi không cần, tôi bán không gian vũ trụ cơ. Tôi còn bán… bán gì nữa? Chứng khoán vãng sinh Phật quốc! Tôi muốn bán vé lên thuyền pháp của tôi! Bạn muốn ngồi trên thuyền pháp của tôi đến Tây phương Cực Lạc thế giới tịnh thổ, bạn buộc phải mua vé thuyền của tôi. Tôi nói để bạn biết: đến được Tây phương Cực Lạc thế giới rồi, những tờ giấy đó đều chẳng có tác dụng gì hết! Tôi bán vé thuyền để làm cái gì?

Hôm nay tôi cũng đã lấy rất nhiều ví dụ cho mọi người nghe, thế nào gọi là vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Tấm vé đi thuyền từ Ta Bà đến Tây phương Cực Lạc thế giới đó, là vì bạn đã thanh tịnh rồi, sự thanh tịnh đó chính là vé thuyền của bạn! Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 13/11/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu A Di Đà Phật Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 32.)*


### 33. Phần thứ 12: Tôn trọng chính giáo (1)


*(Bài giảng 33) *Tôn trọng chính giáo

Bây giờ tôi giảng kinh Kim Cang!

*"Lại nữa, Tu Bồ Đề, nói theo kinh này, cho dù chỉ bốn câu kệ, nên biết nơi này, tất cả thế gian, Trời, Người, Atula, đều nên cúng dường, ví như chùa tháp Phật, huống hồ có người hết sức thọ trì đọc tụng. Tu Bồ Đề! Nên biết rằng người này thành tựu pháp tối thượng đệ nhất hi hữu. Những nơi nào có kinh điển này thì xem như có Phật hoặc đệ tử đáng tôn trọng."*

Đoạn này cực kì đáng nói, tôi cũng mới nói rồi. Bạn có biết không? Tôi tôn trọng tất cả các bức tượng Phật Bồ Tát, bất kể đó là tượng, hay tranh vẽ, bất kể là tượng gì, là làm bằng gỗ, hay bằng đất, bằng gốm sứ, bằng kim loại, tôi đều chắp tay chào hỏi các vị. Các vị Phật Bồ Tát trong nhà tôi thật sự quá nhiều rồi, ở trong Chân Phật Mật Uyển Phật Bồ Tát cũng quá nhiều rồi, tôi chỉ lấy một vị trong số đó để đại diện. Tôi chạm mặt bức Dorje Drollo của Liên Sư phẫn nộ: tôi kính lễ các vị Dorje Drollo, kính lễ các vị Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát, kính lễ các vị Diêu Trì Kim Mẫu, kính lễ tất cả các lão tổ sư, kính lễ tất cả đồng tử, kính lễ A Di Đà Phật. Tôi bước vào đó thì phải chào hỏi hết, không có cách nào cả. Vừa bước vào là lập tức phải làm như vậy.

Buổi sáng ngủ dậy, đầu giường tôi đã có Hổ Đầu Kim Cang, chính là Diêu Trì Kim Mẫu, đầu giường tôi có đặt bức Hổ Đầu Kim Cang và Diêu Trì Kim Mẫu, tôi liền nói với Diêu Trì Kim Mẫu *good morning*, nói với Hổ Đầu Kim Cang *good morning*. Quay người một cái, thấy Yeshe Tsogyal ở bên đó, lại nói *good morning* với Yeshe Tsogyal. Sau đó ở phía trên có Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, bên dưới có Bất Động Minh Vương, bên phải có A Di Đà Phật, phía dưới có Kim Cang Tát Đỏa, ở bên này có Đại Uy Đức Kim Cang, bên dưới có tất cả Thổ Địa Công Địa Thần, tất cả tôi đều chào hỏi hết, dọc đường đi đều chào hỏi hết. Các vị thỉnh thoảng cũng nói chuyện với tôi, hễ nói chuyện thì tôi phải đứng nghiêm nghe các vị nói, sau đó đôi khi chào chung các vị, chắp tay lại, sau đó quán tưởng bàn tay mình biến hóa thành nghìn nghìn vạn vạn bàn tay để lễ bái đảnh lễ các vị. Sau đó các vị có cảm ứng với tôi, nói chuyện với tôi, bận rộn lắm, *it is busy*. 

Tôi nói cho bạn biết nhé, Phần thứ 12: Tôn trọng chính giáo, chính là tôn trọng. Bạn đừng thấy Đại Lực Kim Cang, bức này là ở chỗ Thượng sư Thường Nhân ở hội đồng tu Thập Phương tại Hồng Kông… vị này tôi rất thích, tôi nói tôi muốn đem về nhà tôi, tôi muốn thỉnh ngài về. Khi Liên Ấn vẫn còn, ông ấy đã khẩn trương đưa ngài về, ban đầu ông ấy đặt ngài ở bên cạnh toilet, tôi nói: "Ông để cạnh toilet, thế thì tôi sẽ đưa ngài về nhà tôi, sao lại có thể đặt ngài bên cạnh toilet chứ?" Ông ấy vừa nghe tôi nói thế thì không cho tôi đưa về nhà nữa, ông ấy liền chuyển đến đây, hại tôi mỗi lần đều phải nhìn thấy ngài như thế này, tôi đi lên thì buộc phải kính lễ với ngài. Mọi người xem, có lần nào tôi lên pháp tọa này mà không phải kính lễ với ngài ấy chứ? Tôi cứ thế mà ngồi lên pháp tọa sao? Không có chuyện đó đâu, tôi nhất định phải kính lễ với ngài. Bức tượng này tôi rất thích, cực kì thích, nhưng mà… tôi giống như Phần thứ 12: Tôn trọng chính giáo, Sư Tôn tôn trọng, tranh vẽ tôi cũng tôn trọng, tượng gỗ tôi cũng tôn trọng, tượng kim loại tôi cũng tôn trọng, tất cả đều tôn trọng, đó chính là Phật đó!

Kinh điển tôi cũng tôn trọng, mọi pháp khí tôi đều tôn trọng, huống hồ là kinh Kim Cang. Tôi tôn trọng kinh Kim Cang, tôi từng dùng kinh Kim Cang để cứu ma. Có vị Cửu Thiên Ứng Nguyên Phổ Hóa Thiên Tôn đang đuổi theo một con ma, liên tục cho sét đánh, tôi nói: "Bên ngoài sao có tiếng sấm to thế? Có chuyện gì thế nhỉ?" Tôi đang ở đây viết sách, một con ma trốn ngay dưới bàn tôi. Tôi liền hỏi nó: "Cô bị làm sao?" Nó nói: "Lư Sư Tôn, xin lỗi, cho tôi trốn nhờ một chút." Tôi nói: "Không được đâu, sấm sét kia đã đánh tới xung quanh nhà tôi rồi, đến lúc đó nhà tôi sẽ bị đánh nát thì phải làm sao?" Bởi vì có sét đánh mà. Cửu Thiên Ứng Nguyên Phổ Hóa Thiên Tôn tôi có quen biết, ngài ấy nhìn thấy nhà của Lư Sư Tôn mà vẫn liên tục đánh sét ở xung quanh như vậy, cứ thế đánh…

Kết quả là tôi nhìn thấy một con ma trốn ở dưới bàn viết của tôi, tôi thấy con ma này rất xinh đẹp, là một cô gái đẹp, tôi nói thế này thì hay rồi, cô ấy nói: "Lư Sư Tôn cứu tôi!" Từ phía sau đống sách, tôi lấy ra một cuốn kinh Kim Cang đặt lên đỉnh đầu cô ấy. Tiếng sấm chớp liên tiếp đánh vào xung quanh nhà tôi, đánh cật lực, phải đánh tới ba, bốn chục nhát, sau đó thì bỏ đi. Vị ấy đánh đổ một cái cây trong nhà tôi, thế rồi trở về báo cáo rằng đã đánh rồi.

Tôi đã cứu con ma này, bởi vì tôi thấy cô ấy xinh đẹp quá, tôi chưa bao giờ thấy con ma nào xinh đẹp như thế. Trên thế gian có ba kiểu xinh đẹp: một là rất biết trang điểm làm dáng, hai là rất quyến rũ, ba là rất duyên dáng, rất duyên dáng nghĩa là xinh đẹp, xinh xắn diễm lệ. Rất quyến rũ, còn có một kiểu nữa là rất lẳng lơ, con ma này rất lẳng lơ, giống như một con ma yêu tinh vậy, tôi đã thu nhận cô ta làm thị giả của tôi, bởi vì thực sự là cô ta quá xinh đẹp, nhưng ở bên cạnh tôi cô ấy rất tốt, cô ấy không làm những việc xấu. Trước kia cô ấy làm rất nhiều việc xấu, vì thế Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thanh Phổ Hóa Thiên Tôn mới truy đuổi cô ấy, Lôi Công, Điện Mẫu truy đuổi cô ấy, muốn băm vằm cô ấy (muốn đánh chết). Sau đó tôi đã cứu cô ấy, cứu xong rồi thì thu nhận cô ấy làm thị giả ở bên cạnh tôi.

Phần thứ 12: Tôn trọng chính giáo này, hôm nay tôi nói về sự tôn trọng, đối với Phật Bồ Tát, đối với tất cả quỷ thần tôi đều tôn trọng, nhưng tôn trọng quỷ thần, với ma quỷ cũng tôn trọng sao? Đúng vậy, đối với ma quỷ tôi cũng tôn trọng, chỉ cần bạn không phải là ác quỷ, ác quỷ đương nhiên tôi vẫn tôn trọng bạn. Trước kia, những con quỷ cũng không phải do tôi giết, mà là Bất Động Minh Vương và Đại Lực Kim Cang giết, không phải tôi giết. Thật ra đối với ma quỷ tôi cũng đầy tôn trọng, những con quỷ đó ở bên ngoài lưới ánh sáng của tôi, khi tôi đi ngủ có một lưới ánh sáng bao trùm, ma quỷ đứng ở bên ngoài nói: "Lư Sư Tôn, ta muốn bắt ngươi đến San Francisco gặp chủ nhân của ta." Chúng cứ hét lên như thế, nói với tôi thế này: "Lư Sư Tôn, bây giờ ta phải đến để bắt ngươi đi San Francisco gặp chủ nhân của ta." Thôi đủ rồi chứ, dám hét lên với tôi như vậy… thật là! Không lâu sau thì… xẹt, xẹt, xẹt, bảo kiếm của Bất Động Minh Vương xoay tròn giống như quạt máy vậy, chặt đầu toàn bộ trăm nghìn con quỷ đã kéo đến đây.

Đó không phải là tôi muốn làm thế, căn bản là tôi vẫn nằm trên giường chẳng hề ngồi dậy, thật đó. Đại Lực Kim Cang cũng thế, Đại Lực Kim Cang từ trong miệng tôi bay ra. Sự thật là, buổi tối hôm đó, bọn quỷ ở bên ngoài lưới ánh sáng hét lên với tôi: "Lư Sư Tôn, ta đến để bắt ngươi đi San Francisco gặp chủ nhân của ta." Chúng nói như vậy, tôi nghe thấy rõ mồn một. Cho nên nói thật lòng, đối với ma quỷ tôi vẫn rất tôn trọng, đối với thần lại càng tôn trọng, đối với thần cũng rất tôn trọng, đối với tất cả chính giáo lại càng thêm tôn trọng. Thật đó, mỗi lần kết bạn tôi đều hỏi thử xem: "Diêu Trì Kim Mẫu, con có thể chơi với người bạn này không?" Hỏi ý kiến, Kim Mẫu nói có thể được thì tôi mới dám. Tôi đều hỏi xem sao, tôi không phải là không tôn trọng các vị, tôi đều phải hỏi trước, nếu không được thì đó là do tôi không tốt. Nếu tôi không hỏi thử thì đó hoàn toàn là vì tôi không tốt. Tôi đều hỏi trước, cái này chính là Phần thứ 12: Tôn trọng chính giáo. Hôm nay chúng ta chỉ giảng tiêu đề phần này thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 14/11/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Hoàng Tài Thần tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 33.)*


### 34. Phần thứ 12: Tôn trọng chính giáo (2)


*(Bài giảng 34) *Đệ tử đáng tôn trọng

Bây giờ chúng ta giảng kinh Kim Cang, đi vào chủ đề. 

Phần thứ 12: Tôn trọng chính giáo. Tôn trọng chính giáo, thế nào là chính giáo? Sư Tôn nói với bạn bốn câu kệ trong kinh Kim Cang: vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Nghĩa là chính giáo của Phật Đà. Bạn nhất định phải tôn trọng vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng.

*"Lại nữa, Tu Bồ Đề, nói theo kinh này, cho dù chỉ bốn câu kệ, nên biết nơi này, tất cả thế gian, Trời, Người, Atula, đều nên cúng dường, ví như chùa tháp Phật, huống hồ có người hết sức thọ trì đọc tụng. Tu Bồ Đề! Nên biết rằng người này thành tựu pháp tối thượng đệ nhất hi hữu. Những nơi nào có kinh điển này thì xem như có Phật hoặc đệ tử đáng tôn trọng."*

Điều nói đến ở đây, rất nhiều người hỏi Sư Tôn, thế nào là đệ tử đáng tôn trọng. Đệ tử vẫn phải tôn trọng sao? Thật ra rất nhiều người hỏi Sư Tôn câu này, thế nào là đệ tử đáng tôn trọng? Được rồi, Sư Tôn muốn hỏi mọi người, tôn trọng đệ tử là ý nghĩa gì? Anh bảo sao? Thế nào là tôn trọng đệ tử? Có ai giơ tay không? Ở đây có rất nhiều chuỗi hạt. Thế nào là đệ tử đáng tôn trọng? Rất nhiều người đọc kinh Kim Cang, đọc đến chỗ này nói đệ tử đáng tôn trọng là ý gì? Không có ai giơ tay, được rồi. Sư Tôn nói để mọi người biết, rất đơn giản, đệ tử đáng tôn trọng, cũng chính là đệ tử tôn trọng chính giáo, chẳng qua là thêm vào mấy chữ mà thôi. 

Đệ tử tôn trọng chính giáo chính là đệ tử đáng tôn trọng, chứ không phải nói rằng "tôi phải đi tôn kính đệ tử của tôi", không phải cái ý nghĩa ấy. Mà là vốn dĩ đó đã là đệ tử tôn trọng chính giáo rồi. Đơn giản như vậy thôi, rất đơn giản, rất* easy* (dễ), *so easy* (rất dễ). Chẳng qua là mọi người không nắm bắt được. Đọc kinh Kim Cang, mọi người các bạn đều đọc: siêu độ cũng đọc, hỉ sự cũng đọc, tang sự cũng đọc, bình thường cũng đều đọc. Mấy chữ này, đệ tử đáng tôn trọng, chính là đệ tử tôn trọng chính giáo, cũng chính là đệ tử đáng tôn trọng. Bạn đã là đệ tử tôn trọng chính giáo rồi thì bạn đã là một đệ tử đáng tôn trọng. Nói như vậy hiểu rồi chứ? Câu tiếp theo. Rất nhiều người hỏi, bạn đọc kinh Kim Cang, mọi người đều đọc rồi, đúng thế không? Mọi người đều đã từng đọc. Đọc hết phẩm nọ rồi đến phẩm kia, nhưng mấy chữ sau cùng thì lại chẳng hiểu. Đệ tử tôn trọng chính giáo.

Ở đây nói đến: phải tôn trọng cái gì? Tôn trọng pháp mà Phật Đà đã dạy, nghĩa là chính giáo. Trong kinh Kim Cang nói đến cái gì? Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Bạn buộc phải tôn trọng. Ở đây nên biết điều này, tất cả thế gian, Trời, Người, Atula, đều nên cúng dường, chúng ta biết rằng Trời là: Dục giới thiên, Sắc giới thiên, Vô sắc giới thiên, thiên nhân của ba cõi trời này, thậm chí Atula — là một trong lục đạo, đều phải cúng dường. Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng đều phải cúng dường. Giống như chùa tháp của Phật, bạn phải cúng dường Phật, cũng cần cúng dường tháp, cũng cần cúng dường chùa, giống như Seattle Lôi Tạng Tự của chúng ta, chúng sinh tới đây, họ đem cúng phẩm đến chính là cúng dường.

Trong Mật giáo, tôi nói để mọi người biết, chúng ta cúng dường cái gì? Thân thể của Phật, khẩu của Phật, ý của Phật. Thân khẩu ý của Như Lai, bạn đều cần cúng dường. Cái gì là thân của Phật? Các vị có biểu tượng, trên đỉnh đầu của Sư Tôn có bảy vị Phật, bạn nhìn thấy thì phải chắp tay: cúi đầu quy y Susiddhi, chắp tay. Giống như Sư Tôn, cũng như thế, mỗi lần đi vào nhà ăn của Seattle Lôi Tạng Tự, Sư Tôi nhất định phải chắp tay. Tân Đầu Lư, Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, nhất định phải chắp tay. Bởi vì ở đó là vị Tân Đầu Lư, Tân Đầu Lư ngồi ở phía trên, phía sau tấm thangka là Phật Thích Ca Mâu Ni, nên nhất định phải chắp tay. Ăn cơm xong đi ra ngoài, nhìn thấy các vị, cũng nhất định phải chắp tay. Cái này chính là tôn trọng thân của Phật, bởi vì vị ấy tượng trưng cho thân của Phật. Phía trên có Thất Phật, phía dưới có tất cả Bổn tôn và Hộ pháp, tất cả đều phải kính trọng, đều phải chắp tay cung kính. Đây chính là cúng dường, chắp tay cũng là cúng dường, đó là thân tướng của Phật.

Ngoài ra phải cúng dường… cái gì là khẩu của Phật? Kinh điển, pháp mà Phật đã thuyết giảng, bạn nhất định phải tôn trọng. Kinh điển, đặc biệt là kinh Kim Cang. Ở đây nói: ví như chùa tháp Phật, bên trong có thân của Phật, còn có kinh điển của Phật. Khẩu, bạn phải kính trọng khẩu của Phật, khẩu chính là pháp, pháp là gì? Chính là kinh điển, kinh điển mà Phật Đà đã giảng. Cái gì là tháp? Xá lợi của Phật, mà cũng là ý của Phật. Ý của Phật là gì? Chính là tháp. Bạn nói là ở Thiên Trúc phải không? Ở Thiên Trúc xây nên một cái tháp Phật, Thiên Trúc có rất nhiều tháp Phật, trong mỗi một tháp Phật đều có xá lợi của Phật, đó là ý của Phật. Vì vậy chúng ta tôn trọng thân của Phật, khẩu của Phật, ý của Phật. Kinh điển, pháp chính là khẩu của Phật, thân, chính là tượng Phật và các vị Bổn tôn, ý là tháp của Phật.

Trong kinh Phật có nhắc đến, chỉ cần là tháp thì cũng như là có Phật ở trong đó, đó là ý của Phật. Hạt xá lợi chính là ý của Phật. Huống hồ có người hết sức thọ trì đọc tụng, không chỉ là tôn trọng mà còn có thể thọ trì đọc tụng, khi bạn đọc kinh này, khi bạn trì vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, thì Tu Bồ Đề! Nên biết rằng người này thành tựu pháp tối thượng đệ nhất hi hữu. Do đó kinh Kim Cang được gọi là kinh hiếm có số một chính là bởi chỗ này.

Những nơi nào có kinh điển này, chỉ cần là nơi có kinh Kim Cang thì nơi đó có Phật. Nơi có kinh điển tồn tại thì chính là có Phật, cũng có nghĩa là có đệ tử tôn trọng chính giáo. Rất nhiều người đọc kinh Kim Cang, đọc đến câu cuối cùng, Sư Tôn giảng từ câu cuối cùng giảng đi, đệ tử đáng tôn trọng là ý gì? Không có ai trả lời được. Vì sao đệ tử phải tôn trọng? Không phải bản thân bạn là đệ tử đáng tôn trọng, mà là đệ tử tôn trọng thân của Phật, khẩu của Phật, ý của Phật, đệ tử tôn trọng kinh Kim Cang, đệ tử tôn trọng vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Đoạn này, nói như vậy là mọi người đã hiểu rõ ràng rồi.

Giống như người học Phật chúng ta nhìn thấy tháp Phật, cũng phải chắp tay, bất kể là tháp to, tháp nhỏ… Sư Tôn từng đi đến Hàn Quốc, núi Bát Công có tháp Phật, bởi vì rất nhiều người xếp những tháp Phật nhỏ ở hai bên, họ dùng sỏi, nhặt một ít sỏi, hòn to thì để ở dưới, tiếp theo là hòn sỏi cỡ vừa, trên cùng là hòn sỏi nhỏ nhất, để làm thành một cái tháp Phật nhỏ. Họ đi đến đó xây tháp, khắp cả mặt đất… rất nhiều nơi đều có tháp nhỏ, đều là những viên sỏi xây lên, một tháp, lại một tháp. Vì sao làm nhiều tháp như vậy? Bởi vì họ kính trọng tháp Phật, bảo tháp, bên trong sẽ có xá lợi. Nơi nào có tháp cũng giống như có Phật. Xung quanh tháp, rất nhiều người thay phiên nhau làm tháp nhỏ, đi đến nơi đó, Sư Tôn đều chắp tay.

Nhìn thấy tượng Phật là chắp tay đảnh lễ, thấy nơi nào có kinh điển là chắp tay đảnh lễ, thấy có tháp Phật là chắp tay đảnh lễ. Bởi vì tượng Phật chính là thân của Phật, kinh điển chính là khẩu của Phật, tháp mà ta gặp chính là ý của Phật. Đối với thân khẩu ý của Phật, chúng ta đều phải rất tôn trọng. Do đó, chúng ta đọc đoạn này, Sư Tôn giảng như vậy, mọi người đều hiểu rõ ràng rồi, đều rất hiểu rồi: phải tôn trọng chính giáo, như thế chúng ta đều thuộc về những đệ tử đáng tôn trọng, tôn trọng thân khẩu ý của Phật. Mật giáo thường nói đến thân khẩu ý, chúng ta dùng thân khẩu ý tu hành thanh tịnh để tôn trọng thân khẩu ý của Phật. Nếu bạn có thể tôn trọng theo cách như vậy thì chính là đã thành tựu pháp tối thượng đệ nhất hi hữu. Thật ra pháp này là vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. 

Ở đây có một câu chuyện cười. "Trong lòng tôi luôn có một nỗi nghi hoặc không tháo gỡ được, anh có thể giúp tôi không?" Người bạn hỏi: "Thế anh bị làm sao?" Câu hỏi của anh ta là: "Tôm hùm có được xem là tôm không?" Người bạn đáp: "Lẽ nào nó là con hùm sao?" Không coi là tôm, lẽ nào nó là con hùm sao? Cái này rất thú vị! Cái này rất giống với kinh Kim Cang, "đệ tử đáng tôn trọng", bạn chính là đệ tử đáng tôn trọng mà, một câu trả lời rất đơn giản như vậy, bạn xem, chẳng người nào có thể lấy được cái vòng tay này, thôi vẫn để nó ở đây vậy. Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 20/11/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Quan Thế Âm Bồ Tát Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 34.)*


### 35. Phần thứ 13: Thọ trì đúng như pháp (1)


*(Bài giảng 35) *Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật

*Lúc này, Tu Bồ Đề bạch Phật rằng:
"Thế Tôn! Kinh này tên gọi là gì? Chúng con phụng trì ra sao?"
Phật bảo Tu Bồ Đề:
"Kinh này tên gọi là "Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật", các ông nên dựa vào tên này mà phụng trì. Vì sao như vậy? Tu Bồ Đề! Phật nói Bát Nhã Ba La Mật, tức chẳng phải Bát Nhã Ba La Mật, nên gọi là Bát Nhã Ba La Mật."*

Phần thứ 13: Thọ trì đúng như pháp, nghĩa là dạy cho bạn phương pháp thực tu. Phần thứ 13: Thọ trì đúng như pháp, như pháp, thế nào gọi là như pháp? Chúng ta thường nói như pháp, thật ra như pháp chính là hợp với pháp, hợp với pháp mà thọ trì, thọ trì nghĩa là tiếp nhận và tu trì. Phẩm thứ mười ba, lúc này, Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: *"Thế Tôn! Kinh này tên gọi là gì? Chúng con phụng trì ra sao?"*

Tu Bồ Đề hỏi Phật Thích Ca Mâu Ni: *"Kinh này tên gọi là gì? Chúng con phụng trì ra sao?" *
*Phật bảo Tu Bồ Đề:
"Kinh này tên gọi là "Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật", các ông nên dựa vào tên này mà phụng trì. Vì sao như vậy? Tu Bồ Đề! Phật nói Bát Nhã Ba La Mật, tức chẳng phải Bát Nhã Ba La Mật, nên gọi là Bát Nhã Ba La Mật. Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như Lai có từng thuyết pháp không?" *
Tôi giảng đoạn này, đây là lời thường có trong kinh Kim Cang, thường xuyên có. Là kinh được gọi là Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật. Kinh điển này được gọi là Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật. Kim Cang, tôi từng nói rồi, là bất hoại, nó sẽ không bị hủy hoại, nó là vô cùng kiên cố, nó có thể phá trừ tất cả. Bát nhã, chúng ta thường hay nói bát nhã, thật ra bát nhã chính là trí huệ, ở Tây Tạng gọi là piacha, piacha chính là bát nhã, tiếng Hoa gọi là bát nhã, trong tiếng Tạng gọi là piacha. Piacha có ý nghĩa gì? Chính là trí huệ của Như Lai, gọi là Phật huệ, trí huệ của Như Lai cũng giống như kim cương vậy. Ba la mật là ý nghĩa gì? Bình thường thì dịch thành "từ bến bờ này đến bến bờ khác", tên gọi của kinh điển này chính là Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, lấy tên gọi này để mà phụng trì. Đây chính là tên gọi của kinh điển, Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, bạn cần phụng trì kinh điển này.

Sau đó Phật lại nói: *“Vì sao như vậy? Tu Bồ Đề! Phật nói Bát Nhã Ba La Mật, tức chẳng phải Bát Nhã Ba La Mật, nên gọi là Bát Nhã Ba La Mật.”* Ý nghĩa là gì? Phật nói, cái gọi là Bát Nhã Ba La Mật thì không phải là Bát Nhã Ba La Mật, cho nên chính là Bát Nhã Ba La Mật. Mọi người thường xuyên bị những câu nói kiểu này trong kinh Kim Cang làm cho mơ hồ. Tôi thường rất thích dùng cách nói này, tôi luôn luôn thích dùng mặt trăng để ví dụ: trên mặt trăng có Phật pháp không? Trên sao Thổ có Phật pháp không? Trên sao Hỏa có Phật pháp không? Chúng ta chỉ nói về mặt trăng là được rồi, không cần phải nói xa xôi như thế, mặt trăng tương đối gần, bởi vì nó là vệ tinh của trái đất. 

Mặt trăng tương đối gần, mặt trăng không có người. Không nhìn thấy có người, nhìn vào kính thiên văn thì mặt trăng mà ta nhìn thấy rất sáng và không có người. Một bên sáng, một bên tối, không có người, không nhìn thấy có người, Phật pháp ở đó cũng chẳng có tác dụng gì, ở đó không có Phật pháp. Nói một cách rất đơn giản, tôi dùng ví dụ này để làm gì? Rất đơn giản thôi! Trong bánh mặt trăng có mặt trăng không? Không có, bởi vì không có mặt trăng nên mới gọi là bánh mặt trăng. Trong bánh mặt trời có mặt trời không? Không có, bởi vì không có mặt trời cho nên gọi là bánh mặt trời. Trong bánh bà xã có bà xã không? Không có, bởi vì không có bà xã nên mới gọi là bánh bà xã. [bánh mặt trăng tức là bánh trung thu. Bánh mặt trời, bánh bà xã cũng là tên gọi của hai loại bánh nổi tiếng ở Đài Loan]

Ý nghĩa này cũng gần tương tự. Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật chính là trí huệ kim cang của Phật có thể phá hủy tất cả, đạt đến cảnh giới không, đến cảnh giới không huệ, bởi vì là không nên không phải là Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, bởi vì không có, cho nên mới gọi là Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật. Nói như vậy mọi người nghe có hiểu không? Là cái danh từ "không hữu" này, nhưng đây là trí huệ cao nhất, trí huệ cao nhất chính là Không huệ, chính là tính Không, tính Không chính là Phật tính, cái này thì không có cách nào nói giảng được. 

Tôi mới vừa chỉ thị rằng "bất khả thuyết" [trước đó có đệ tử đặt câu hỏi và Sư Tôn trả lời rằng "bất khả thuyết" - không có khả năng nói giảng], thật sự là bất khả thuyết, cho nên khi bạn thật sự có được trí huệ ấy rồi, bạn có thể buông bỏ tất cả, thật đó. Giống như Sư Tôn mà nói, giống như Sư Mẫu, đương nhiên vợ chồng là vô cùng thân thiết, vô cùng gắn bó, vợ chồng là vô cùng thân mật, Sư Mẫu đã giúp đỡ Chân Phật Tông rất nhiều rất nhiều, tôi rất cảm ơn bà ấy, thật sự, nói thật lòng, tôi rất biết ơn bà ấy. Nhưng mà, đương nhiên thôi, nếu như nói là tôi đi trước… tôi hi vọng tôi sẽ đi trước, tôi không hi vọng Sư Mẫu đi trước, tôi đi trước có cái lợi, tôi đi rồi, cái gì tôi cũng có thể buông bỏ, cái gì của Sư Mẫu trả về với Sư Mẫu, tôi quy về tôi, ông tu ông được, bà tu bà được, bà ấy có công đức của bà ấy, tôi có công đức của tôi.

Nếu như bà ấy đi trước thì tôi sẽ khá phiền phức, vì sao lại phiền phức? Đối với các việc của thế gian tôi chẳng khác gì kẻ ngốc, tôi không biết đi ngân hàng lĩnh tiền, tôi không biết ghi chi phiếu, tôi không biết khai báo thuế, tôi sống ở nhân gian là một kẻ ngu đần. Cây có cành khô, người có ngu đần, Sư Tôn là kẻ ngu đần, bạn có tin hay không? Bạn nên tin điều này, bởi vì ngay cả đến điện thoại di động tôi cũng không biết dùng, tôi chưa từng một lần đến ngân hàng, chưa từng một lần lĩnh tiền, tôi chưa từng một lần khai báo thuế, những cái này đều là việc của Sư Mẫu. Bà ấy đi trước rồi, tôi sẽ rất thê thảm đó. Đúng thế! Tôi cái gì cũng không biết, tôi là một kẻ ngu đần sống tại nhân gian, tôi chỉ biết Phật pháp, cái gì cũng đều không biết, làm sao mà tôi sống đây? Tôi sẽ khóc gần chết mất! Sao mà bà có thể vứt bỏ tôi lại, còn bản thân thì đi trước thế? Tôi phải đi trước mới đúng chứ! Bởi vì tôi là kẻ đần độn, bà rất thông minh, ở nhân gian bà lăn lộn bôn ba, bà đều chẳng gặp vấn đề gì cả, tôi thì không thể lăn lộn, không biết báo thuế, lập tức tôi sẽ đi đời.

Làm sao đây? Bạn phải buông bỏ tất cả. Muốn buông bỏ tất cả nghĩa là phải hiểu Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, bởi vì bạn biết Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật chính là buông bỏ tất cả, khi đó tôi buông bỏ tất cả rồi, đương nhiên tôi đã trở nên không hề gì rồi, đối với nào là Phật Thanh, Phật Kì, tôi cũng không quyến luyến, đối với cháu trai, cháu gái, tôi cũng không quyến luyến. Tôi và Sư Mẫu, tôi cũng nói rằng không hề quyến luyến, tôi đi trước rồi thì hoàn toàn chẳng còn liên lụy. Để lại tôi một mình trên thế gian thì tôi sẽ gặp phiền phức lắm: về mặt lí mà nói tôi sẽ phải cần người ta giúp đỡ, nhưng về mặt lí trí mà nói, căn bản tôi là người buông bỏ hoàn toàn. Nếu Sư Mẫu đi trước, tôi không biết cách khai báo thuế, thế thì tôi nhất định sẽ bị chính phủ Mỹ bắt đi. Anh trốn thuế, anh né báo thuế, thì nhất định đi đời!

Vì thế, rất nhiều sự việc, thật sự… Nhưng nếu bạn hiểu trí huệ của Như Lai thì bạn có thể buông bỏ hoàn toàn, trí tuệ tính Không mà, đó là một cái Không. Thật ra đời người chính là như vậy, sẽ có một ngày sẽ hỏng hóc, đều sẽ phải bị loại bỏ, cái gì cũng đều bị loại bỏ hết. Sống tại nhân gian rất phiền phức, quá phiền phức rồi, phải báo thuế, sống ở đất nước nào cũng đều phải báo thuế. Ở bất kì đất nước nào cũng phải làm một số việc: phải đi ngân hàng, tôi chưa từng bao giờ đến ngân hàng; phải công chứng, tôi chưa bao giờ đi công chứng, cái gì tôi cũng không biết, đây là việc rất phiền phức.

Cho nên bây giờ tôi nói thế nào đây nhỉ? Tôi thành tựu pháp tối thượng đệ nhất hi hữu, cái gì cũng không có liên lụy gì đến tôi, nhưng mà cũng là điều bi thảm nhất. Hôm ấy cuối cùng tôi đã gặp được cháu gái tôi, sinh nhật mẹ của cháu gái tôi, cháu gái tôi đã đến Nam Sơn Nhã Xá, đã lâu như vậy tôi không gặp cháu gái tôi, vừa nhìn thấy cháu, tôi giật nảy mình! Á! Cháu gái tôi đã trở nên xinh xắn như vậy! Tôi chụp ảnh cùng cháu tôi, lần đầu tiên tôi nhận thấy cháu tôi rất xinh đẹp. 

Có quyến luyến không? Không có, tôi chẳng có liên hệ gì với cháu gái tôi, tôi cũng chẳng có quan hệ gì với cháu trai tôi, không có quan hệ. Đứa cháu trai ấy của tôi, Lư Hoằng, trên đời này nó là… tôi thấy trên toàn nước Mĩ này người hiền lành nhất chính là nó, nó thật sự rất hiền lành, một hình mẫu hiền lành điển hình. Ai chà ủa ôi, hiền lành đến chết mất thôi! Nói một cách khác thì là ngờ nghệch muốn chết, nó là một người rất ngây thơ, rất hiền lành, bởi vì nó là một vị trưởng lão ở Phật Sơn chuyển thế, cũng giống như tôi vậy. Tôi không biết là tôi có hiền lành không, nhưng nó thì thật sự rất hiền lành, Lư Hoằng là trưởng lão ở Phật Sơn chuyển thế. Lư Quân là Bồ Tát thất địa, Bồ Tát Viễn hành địa, đến địa thứ tám là cực kì ghê gớm rồi, địa thứ tám thì là bất động địa rồi. Nhưng đó là chúng, không liên quan gì đến tôi, tương lai chúng có nghiệp của chúng, tương lai chúng có… 

Con trai, con gái, cháu trai, cháu gái, đều không liên lụy, tôi không để trong lòng. Bởi vì lần đầu tiên gặp lại cháu gái, thấy nó sao mà đã trở nên xinh đẹp như vậy, Sư Mẫu ở bên cạnh lo lắng: "Liệu có bị người ta bắt cóc không?" Tôi nói: "Đó cũng là việc của nó, không có liên quan gì với chúng ta." Tâm chúng ta giống như một tấm gương sáng, trong tâm của Sư Tôn giống như một tấm gương sáng. Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật tức chẳng phải là Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, cũng chính là Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật. 

Hôm nay tôi nói lải nhải những điều này… tâm của Sư Tôn, mọi người đều biết, giống như một tấm gương, cái gì cũng không biết, tất cả mọi phiền não (phiền não của nhân thế gian) đều để cho Sư Mẫu gánh vác, tôi chỉ biết hai việc là viết sách và tu pháp, những việc khác, trong tâm như tấm gương sáng, không có vướng mắc, ý tôi là như vậy. Vì thế, Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật chính là thanh tịnh, không có gì cả, thanh tịnh, không có một chút vương vấn nào, chính là Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật. Bởi vì không còn chút vương vấn nào, chính là không, tức chẳng phải là Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, nên cũng chính là Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật. Om mani padme hum.

*(Ngày 21/11/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Diêu Trì Kim Mẫu tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 35.)*


### 36. Phần thứ 13: Thọ trì đúng như pháp (2)


*(Bài giảng 36) *Như Lai có thuyết pháp không?

*“Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như Lai có từng thuyết pháp không?"
Tu Bồ Đề bạch Phật rằng:
"Thế Tôn! Như Lai không thuyết pháp."*

Phật Thích Ca Mâu Ni hỏi Tu Bồ Đề, Như Lai có thuyết pháp không? Tu Bồ Đề trả lời, Như Lai không thuyết pháp. Câu nói này mọi người đều biết đọc, bởi vì bạn đọc kinh Kim Cang, siêu độ cũng dùng nó… siêu độ cũng dùng kinh Kim Cang, cầu phúc cũng dùng kinh Kim Cang, thế rồi những người bình thường thích kinh Kim Cang cũng đều đọc kinh Kim Cang. Vậy Phật Thích Ca Mâu Ni hỏi bạn, Như Lai có thuyết pháp không? Hỏi Tu Bồ Đề. Tu Bồ Đề nói rằng, Như Lai không thuyết pháp. Như Lai không thuyết pháp, câu nói này giải thích thế nào? Tôi nói một cách đơn giản là được rồi, tôi lấy ví dụ đơn giản rồi lại nói dài dòng một chút. Cái gọi là thuyết pháp, không có pháp nào có thể nói, bởi vì không có pháp nào có thể nói nên chính là thuyết pháp. Tôi nói thế này thì cũng là hơi dài một chút: cái gọi là thuyết pháp, không có pháp để nói. Vì không có pháp để nói thì là thuyết pháp. 

Cái này nếu như dựa vào Tam luận thể không để mà nói, bởi vì kinh Kim Cang nói về tính Không, cho nên: vô thuyết pháp giả, không có người thuyết pháp; vô thính pháp giả, không có người nghe pháp; và rồi, cũng không có sự việc thuyết pháp này, đây là cách nói theo Tam luận thể không. Tam luận thể không, không có người nói, không có người nghe, lại càng không có pháp nào để mà nói. Đây là cảnh giới Tam luận thể không. Cũng chính là thuyết pháp mà cũng như không thuyết pháp, bởi vì không có thuyết pháp mới được gọi là thuyết pháp.

Cái này khả năng mọi người cũng rất khó hiểu, Phật Thích Ca Mâu Ni rõ ràng có thuyết pháp, những kinh điển mà Phật đã giảng không phải là pháp sao? Chúng ta nói rồi, chúng ta phải tôn trọng… Namo guru beh, namo buddha ye, namo dharma ye, namo sangha ye. Namo guru beh chính là quy y Kim Cương Thượng Sư, namo buddha ye chính là quy y Phật, namo dharma ye chính là quy y Pháp, namo sangha ye chính là quy y Thánh Hiền Tăng. Vậy bạn quy y pháp, bây giờ bạn lại nói là không có Phật pháp, thế thì những kinh điển mà Phật Thích Ca Mâu Ni đã giảng thì sao? Không phải là pháp sao? Là pháp đó. Bây giờ chúng ta đọc kinh Kim Cang, kinh Kim Cang này cũng là pháp đó. Vì sao Tu Bồ Đề lại trả lời rằng *"Như Lai không thuyết pháp"*, Phật Thích Ca Mâu Ni cũng hỏi: *"Như Lai có từng thuyết pháp không?"* Tu Bồ Đề nói: *"Như Lai không thuyết pháp."*

Tôi nói xa hơn một chút để mọi người biết. Tôi thích dùng mặt trăng để làm ví dụ: bạn đến mặt trăng rồi, mặt trăng không có người mà, trên mặt trăng có ai đang thuyết pháp không? Không có. Có ai đang nghe pháp không? Không có. Vậy cái gì là pháp đây? Trên mặt trăng có pháp không? Cũng không có. Vì thế trên mặt trăng là phá bỏ tất cả. Trên mặt trăng thời gian có công dụng gì không? Không có. Thời gian chỉ có ở nhân gian mới có con người dùng thôi. Bạn nói không gian thì sao ư? Sư Tôn nói về không gian, được thôi, ở đó tôi có một mảnh đất, mảnh đất đó là của tôi, trên trái đất tôi có mua một mảnh đất, tôi là địa chủ của mảnh đất đó. Bạn nói ở trên mặt trăng bạn cũng có một mảnh đất, bạn cũng là địa chủ đó. Thế mảnh đất đó đối với bạn có hữu dụng không? Chẳng hề hữu dụng. Có đáng tiền không? Chẳng hề đáng tiền. Không gian trên mặt trăng là cả một vùng đất, không gian ấy có công dụng không? Không có, chẳng hề hữu dụng.

Vì thế, trên mặt trăng không có thời gian. Thời gian ở trên mặt trăng cũng chẳng dùng đến! Không gian ở trên mặt trăng cũng chẳng dùng đến. Vậy thì tôi nói với bạn một câu này… đoạn sau có nói rõ: thế giới Ta Bà của chúng ta bây giờ, vào mười hai vạn năm sau, sẽ nát thành cát bụi, toàn bộ trái đất cũng là thành - trụ - hoại - không. Khi đến kiếp không, trái đất không còn nữa. Xin hỏi Phật pháp ở đâu? Có ai thuyết pháp? Có ai nghe pháp? Có Phật pháp không? Khi đến kiếp Không, kiếp Không có nghĩa là trái đất đã hoàn toàn hủy hoại, nhân loại cũng không tồn tại, tất cả những gì vốn có đều không tồn tại nữa… xin hỏi, ai thuyết pháp? Ai nghe pháp? Phật pháp ở đâu? Nếu ta đẩy đến tận kiếp Không, kiếp thành, kiếp trụ, kiếp hoại. 

Hiện tại cũng… Chúng ta nói một cách ngẫu nhiên là được rồi. Bất kể là kiếp nào, bây giờ đang thuộc về kiếp hoại rồi, châu Phi đã xuất hiện biến chủng virus mới, gọi là gì nhỉ? Mọi người còn không biết virus đó rốt cục là chuyện gì đây, tóm lại là biến chủng của virus Corona, biến chủng này càng lợi hại hơn, biến đổi đến cuối cùng thì chẳng có thuốc miễn dịch nào còn dùng được nữa, đến lúc ấy tất cả nhân loại đều chết hết. Hay rồi, tôi nói tất cả nhân loại đều bị lây nhiễm hết, toàn bộ đều cùng đi đời, trên trái đất không còn con người nữa. Tôi hỏi bạn, ai thuyết pháp? Ai nghe pháp? Có Phật pháp không? Nói gần một chút thì sẽ biến thành như vậy.

Tôi nói, xuất hiện một virus siêu cấp, không chỉ là chủng virus châu Phi đâu, chỉ cần bạn nghe thấy tên của virus đó là bạn đã mắc rồi, là đã nhiễm bệnh rồi, bạn đã bị lây nhiễm. Bạn nghe thấy tên của virus này thôi, khi bạn chỉ vừa mới nghe thấy tên gọi này thôi là bạn đã bị mắc bệnh rồi, hơn nữa virus này còn có thể khiến bạn tiêu đời lập tức. Cho nên nhân loại đều không tồn tại nữa, xin hỏi: Ai thuyết pháp? Ai nghe pháp? Cái gì là Phật pháp? Tôi nói như vậy, lấy ví dụ như vậy, mọi người gần như cũng đều có thể nghe hiểu rồi, cũng tương đối rồi. 

Vì thế bạn biết rằng, điều Phật nói, tất cả đều là vô thường, tam pháp ấn mà Phật nói chính là chân lí đó! Cái gì gọi là tam pháp ấn? Chính là chân lí: chư hành vô thường, chư pháp vô ngã, niết bàn tịch tĩnh, cái cuối cùng là niết bàn tịch tĩnh. Ý của Phật pháp là bảo bạn biến chính mình thành Không, vô ngã, dùng cái Không này để đi ấn chứng cái Không của vũ trụ, Không và Không tương ứng rồi, thì cái đó chính là niết bàn.

Thật ra niết bàn chính là cái Không của chính bạn, theo như Mật giáo nói, ý của Phật Đà muốn nói rằng: dùng tính Không trên chính con người bạn để đi ấn chứng tính Không của vũ trụ, tiến nhập vào một trạng thái niết bàn; trạng thái của pháp nhĩ bản nhiên chính là đã thoát khỏi luân hồi rồi, tiêu diệt cả luân hồi luôn rồi. Kinh Kim Cang chính là một bản kinh điển tiêu diệt luôn cả luân hồi. Nhân duyên cũng không còn, không có nhân thì sẽ không có duyên. Cái gì là niết bàn? "Không có nhân sinh, không có nhân tử" gọi là niết bàn. Bởi thế, Phật pháp rất thâm sâu, người bình thường chúng ta không thể đi lí giải được Phật pháp. Tôn giáo thông thường chẳng qua chỉ là một cái là thiên đường, một cái là địa ngục, một cái là nhân gian, ba cái. Ấn Độ giáo thì nói đến Phạm - Ngã hợp nhất, Phạm chính là trời, Phạm Thiên và ta hợp nhất, cảnh giới cao nhất của Ấn Độ giáo là Phạm Thiên và ta hợp nhất. Giống như người Trung Quốc nói "trời người hợp nhất"... Người Trung Quốc cũng nói Trời - Người hợp nhất đó!

Phật giáo thì khác, Phật giáo nói về "Không và Không hợp nhất". Lấy tính Không của bản thân để đi ấn chứng tính Không, hợp nhất, tiến nhập pháp nhĩ bản nhiên, không tái luân hồi, thì gọi là đã niết bàn rồi. Đó là một cảnh giới vô cùng cao siêu. Những gì Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói cũng không có cảnh giới nào có thể nói. Vì thế, *"Như Lai không thuyết pháp"* mà Phật nói đến ở đây, Tu Bồ Đề có thể… ông ấy là bậc "giải Không nghĩa đệ nhất" mà, ông ấy là người hiểu rõ nhất về tính Không đó! Vì thế ông ấy có thể nói ra rằng: *"Như Lai không thuyết pháp"*, chính là ý này. Đương nhiên rồi, hôm nay điều mà mọi người đã nghe, thật sự đó, rất là khác!

Làm sao để phá bỏ luân hồi? Bạn có nhân thì sẽ có quả, muốn phá bỏ luân hồi, trừ phi chính bản thân bạn biến thành vô ngã thôi! Bởi vì khi vô ngã, bạn mới không tạo ra nhân nữa, tất cả mọi nhân đều không còn. Không còn nhân nữa thì sẽ không có quả mà, sẽ không có duyên nữa! Nhân duyên gì? Cái gì cũng không có! Đều không có. Luân hồi cũng sẽ biến mất… Kinh Kim Cang đã phá bỏ hết rồi, luân hồi cũng không còn nữa! Không phải luân hồi nữa, luân hồi cũng không còn nữa rồi! Vì vậy vô ngã… chính là tam pháp ấn mà Phật nói: vô ngã, vô thường, thành trụ hoại không. Thân thể của chúng ta cũng là thành trụ hoại không, bất kì thứ gì cũng đều là thành trụ hoại không, trong con mắt của Phật mà nói thì tất cả đều là khổ.

Khổ à! Bạn phải nhanh chóng thoát khổ được vui, bởi vì chúng sinh đều là khổ cả, chư hành vô thường đều là khổ mà! Vì thế bạn muốn thành tựu, trước tiên phải học vô ngã, vô ngã thì sẽ thành Bồ Tát. Bạn vì bản thân thì sẽ có nhân đó. Bạn không buông bỏ được, không buông được, không bỏ được… Chính bởi vì vô ngã cho nên bạn mới có thể buông bỏ được! Bạn còn có cái ngã thì bạn làm sao buông bỏ được đây? Đó là một đạo lí rất đơn giản, chúng sinh không hiểu. Vì vậy, thế nào là vô ngã? Vô ngã thì là Bồ Tát rồi! Chỉ vì chúng sinh, không vì bản thân ta, phát bồ đề tâm, đây là một điểm quan trọng đó!

Do đó tôi từng nói rồi, vô cùng rõ ràng: sở dĩ Sư Tôn đảnh lễ với đệ tử, đó chẳng xem là điều gì cả. Vốn dĩ chính là bình đẳng mà — Jesus rửa chân cho đệ tử, cái đó biểu thị bình đẳng, khiêm nhường. Chúa cũng là vô ngã đó! Buông bỏ, vô ngã, bạn mới có thể khiêm nhường, còn có cái ngã tồn tại thì đừng nói đến chuyện khiêm nhường. Bởi vậy, bạn phải hiểu tiến nhập niết bàn chính là không còn nhân của sinh, bạn không xuất hiện nhân của sinh nữa thì bạn sẽ không có nhân của tử, cũng sẽ không bị chết, cũng sẽ không sinh ra, pháp nhĩ bản nhiên, chính là niết bàn.

Khi ấy thì còn phải thuyết pháp gì đây? Không có pháp nào để mà nói. Tất cả đều là vô thường, tất cả đều là vô ngã, cái cuối cùng chính là niết bàn, pháp nhĩ bản nhiên. Tất cả đều là tịch tĩnh, tiến nhập vào một kiểu trạng thái tịch tĩnh, cũng không có cái gì gọi là đạt thành tựu. Cho nên câu nói này là sâu sắc nhất đó! Tôi có thể giải thích đoạn này, thật sự là không đơn giản. Hôm nay bạn đọc: *"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như Lai có từng thuyết pháp không?" *Thế rồi, *"Thế Tôn! Như Lai không thuyết pháp."* Đúng mà, tôi vừa nói rồi đó… không có người thuyết pháp, cũng không có người nghe pháp, cũng không có pháp, trên mặt trăng là như vậy đó. Có một ngày, đột nhiên xuất hiện một loại virus biến chủng rất lớn, mọi người đều bị nhiễm mắc, tất cả đều kết thúc. Xin hỏi ai thuyết pháp? Ai nghe pháp? Có Phật pháp không? Hôm nay tôi giảng đến đây. Om mani padme hum.

*(Ngày 27/11/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Địa Tạng Vương Bồ Tát Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 36.)*


### 37. Phần thứ 13: Thọ trì đúng như pháp (3)


*(Bài giảng 37) *Phi tướng

Chúng ta giảng một chút kinh Kim Cang. Hôm qua giảng: *"Như Lai có thuyết pháp không?"* Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: *"Thưa Thế Tôn! Như Lai không thuyết pháp." *Tôi đã giải thích xong rồi.

Phần thứ 13: Thọ trì đúng như pháp.

*"Như Lai có từng thuyết pháp không?"
Tu Bồ Đề bạch Phật rằng:
"Thế Tôn! Như Lai không thuyết pháp."
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Tất cả vi trần trong tam thiên đại thiên thế giới có nhiều không?"
Tu Bồ Đề nói:
"Rất nhiều, thưa Thế Tôn!"
"Tu Bồ Đề! Các vi trần ấy, Như Lai nói rằng chẳng phải vi trần, thì gọi là vi trần. Như Lai nói thế giới chẳng phải là thế giới thì gọi là thế giới."
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Có thể dựa vào ba mươi hai tướng mà thấy Như Lai không?"
"Không thể, thưa Thế Tôn! Không thể dựa vào ba mươi hai tướng mà thấy Như Lai. Là vì sao? Như Lai nói: ba mươi hai tướng tức chẳng phải tướng, do vậy gọi là ba mươi hai tướng."
"Tu Bồ Đề! Nếu có thiện nam, thiện nữ, dùng thân mạng nhiều như cát sông Hằng mà bố thí, nếu lại có người cho dù chỉ thọ trì bốn câu kệ trong kinh này, vì người khác mà giảng thuyết, thì phúc ấy rất nhiều!"*

*"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào?"* Phật Đà lại nói: *"Tất cả vi trần trong tam thiên đại thiên thế giới có nhiều không?" Tu Bồ Đề nói: "Rất nhiều, thưa Thế Tôn!"* Câu nói này, chúng ta nói thẳng thắn, Phật Thích Ca Mâu Ni thật sự có thần thông rất lớn, thời đó không có đài thiên văn, làm sao biết được có hệ mặt trời? Không chỉ là một hệ mặt trời, còn có rất nhiều hệ mặt trời khác, hệ mặt trời nhiều không đếm xuể. Phật Thích Ca Mâu Ni có thể nói: *"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Tất cả vi trần trong tam thiên đại thiên thế giới…"* Câu nói này cho thấy thần thông quảng đại của Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật có thể biết được tam thiên đại thiên thế giới. 

Mọi người có thể tra xem thế nào gọi là tiểu thiên thế giới, thế nào gọi là trung thiên thế giới, thế nào gọi là đại thiên thế giới, đó là toàn bộ vũ trụ không thể nào mô tả nổi, tam thiên đại thiên thế giới chính là toàn bộ vũ trụ không thể nào mô tả nổi. Sao Phật biết được? Làm sao mà Phật Thích Ca Mâu Ni biết được? Khoa học ngày nay, con người hiện tại chúng ta biết rằng vũ trụ là lớn vô hạn mà vẫn còn không biết ranh giới nằm ở đâu. Ai có thể biết được? Nhưng không ngờ Phật Đà lại có thể nói tất cả vi trần trong tam thiên đại thiên thế giới.

Bạn xem Cơ Đốc giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, họ cũng chỉ có một thiên đường, một nhân gian, một địa ngục, thế giới của họ chính là một thiên đường, một nhân gian, một địa ngục, chỉ có Phật Thích Ca Mâu Ni mới có thể nói ba nghìn đại thiên thế giới - thế giới lớn vô hạn. Ở đây chính là Phật nhãn, pháp nhãn, thiên nhãn, huệ nhãn, không chỉ là con mắt thịt, Phật Thích Ca Mâu Ni không chỉ thế giới nhìn thấy bằng con mắt thịt, Phật có thể nói đến ba nghìn đại thiên thế giới, thế giới lớn vô hạn. Đây là cái chỗ không hề đơn giản của Phật Đà, các tôn giáo khác đại bộ phận chỉ có một thiên đường, một nhân gian, một địa ngục, họ chỉ nói đến cái này, Phật có thể nói đến ba nghìn đại thiên thế giới. [Trong vũ trụ quan của Phật giáo, Phật giáo nói một mặt trời mặt trăng chiếu bốn thiên hạ, bao gồm Lục dục thiên, Sơ thiền thiên, gọi là một tiểu thế giới. Một nghìn tiểu thế giới bao gồm một Nhị thiền thiên làm thành một tiểu thiên thế giới; một nghìn tiểu thiên thế giới bao gồm một Tam thiền thiên làm thành một trung thiên thế giới, một trung thiên thế giới bao gồm một Tứ thiền thiên làm thành một đại thiên thế giới. Một đại thiên thế giới có ba loại tiểu, trung, đại thiên thế giới, do vậy gọi là tam thiên đại thiên thế giới. Mỗi tam thiên đại thiên thế giới là một Phật quốc.]

Tất cả vi trần, thế nào gọi là vi trần? Vi trần chính là PM2.5 (bụi mịn), mắt thường không nhìn thấy. Tất cả vi trần, bạn không thể nhìn được những hạt bụi đó đâu! Tôi kể một câu chuyện cười vậy: Đường Tam Tạng đi lấy kinh, đưa Tôn Ngộ Không đến một nơi, nhìn thấy núi mờ mịt, chim mờ mịt, nước mờ mịt, Tôn Ngộ Không nói: "Ở đây chắc là cách Tây phương thế giới rất gần rồi, giống như tiên cảnh vậy." Hỏi Đường Tam Tạng: "Đã đến Tây phương Cực Lạc thế giới rồi sao?" Đường Tam Tạng nói: "Không, đây là Đài Trung ở Đài Loan." Đài Trung ở Đài Loan, vì sao vậy? Nhà máy phát nhiệt điện ở Đài Trung mà, nhà máy phát nhiệt điện lớn nhất là ở Đài Trung, khói mà nó nhả ra đã biến thành… Vừa bước ra khỏi cửa những tòa nhà cao tầng thì ngay cả đến nhà cao tầng cũng mờ mịt. Bạn đứng trên tầng cao nhất, Bồ Tát Đỉnh đó của tôi… tôi có một ngôi nhà gọi tên là Bồ Tát Đỉnh, đứng ở đó nhìn xuống, trời ạ! Cả một vùng mờ mịt, che mờ tất cả nhà cửa, giống như một đại dương vậy, đám bụi mù che phủ như vậy. Đó không phải là sương, mà là bụi mịn PM2.5 đó!

Bao gồm toàn huyện Nam Đầu… Bạn đứng từ Lôi Tạng Tự nhìn xuống núi, cả thị trấn Thảo Đồn đều chìm trong một màn bụi mù mịt, thật đáng thương! Tôn Ngộ Không nói "đây là Tây phương Cực Lạc thế giới", Đường Tam Tạng liền bảo Ngộ Không rằng: "Ngộ Không à, con thích nơi này, thế thì con hãy ở lại đi! Ta đi Tây phương đây, nơi này là Đài Trung của Đài Loan." Tôn Ngộ Không liền nói: "*No*, con muốn cùng sư phụ đi đến Tây phương lấy kinh, con không ở lại nơi này, con muốn đi Tây phương lấy kinh." Đường Tam Tạng nói: "Ở lại cũng có cái tốt, rất nhanh chóng sẽ đến được Tây phương Cực Lạc thế giới, rất nhanh thôi, con ở lại, rất nhanh chóng con sẽ đến được Tây phương Cực Lạc thế giới." Sớm muộn gì cũng đều mắc ung thư phổi, rất nhanh chóng sẽ đến được Tây phương Cực Lạc thế giới. Bạn thấy đấy. 

Cho nên, tất cả vi trần của tam thiên đại thiên thế giới, PM2.5 có phải là rất nhiều không? Không nhìn thấy, rất nhiều đó! Bạn không nhìn thấy những hạt bụi đó, bụi mịn PM2.5 bạn không thể nhìn thấy. "Có nhiều không?" Tu Bồ Đề nói: *"Rất nhiều, thưa Thế Tôn!" "Tu Bồ Đề! Các vi trần ấy, Như Lai nói rằng chẳng phải vi trần, thì gọi là vi trần."* Cùng một câu nói: "Bạn không nhìn thấy mà!" Vi trần là một danh từ thôi, PM2.5. Bây giờ chúng ta đã biết PM2.5 chính là bụi mịn, nhưng khi xưa bạn không có kính hiển vi, bạn không thể nhìn được bụi. Tất cả bụi trong tam thiên đại thiên thế giới có nhiều không? Tu Bồ Đề nói: "Rất nhiều, thưa Thế Tôn!" "Tu Bồ Đề! Các vi trần ấy, Như Lai nói rằng chẳng phải vi trần, thì gọi là vi trần." Rất đơn giản: không nhìn thấy, nhưng mà có vi trần, có PM2.5, nhưng mà không nhìn thấy, do vậy gọi thẳng ra là vi trần.

Giống như bụi mịn PM2.5 bạn cũng không nhìn thấy, làm sao bạn nhìn thấy được, đúng thế không? Những hạt bụi nhỏ ấy. Vì thế khi chúng tôi ở Đài Loan thì phải đeo một cái máy lọc không khí, nói rằng cái máy đó sẽ loại bỏ PM2.5, không khí chúng tôi hít vào là không khí sạch. Thật ra có phải là lừa người ta không thì chúng tôi cũng không rõ lắm. Máy đó do Nhật sản xuất, nói rằng chuyên để đối phó với PM2.5, đeo ở trước ngực. Bạn không nhìn thấy bụi mà, cho nên những hạt bụi này cũng lấy một cái tên đặt cho nó gọi là vi trần. Thật ra chúng đều vào trong nhà rồi, nhưng ở trong nhà bạn không nhìn thấy bụi, nhưng bạn đứng trên núi cao là sẽ nhìn thấy, đứng trên tầng cao sẽ nhìn thấy, cả một vùng mờ mịt, đây là miền trung, bao gồm Nam Đầu, Đài Trung, Chương Hóa đều như thế.

Tiếp theo là "Như Lai nói thế giới chẳng phải là thế giới thì gọi là thế giới." Cùng một câu nói giống nhau: "Thế giới phi thế giới." Thế giới này bạn có nhìn thấy không? Cũng không nhìn thấy mà, chúng ta bây giờ, những gì mà con mắt thịt nhìn thấy thì chỉ thấy thành phố này của chúng ta gọi là North Bend, đúng thế không? North Bend, chúng ta nhìn thấy Rainbow Villa Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, chúng ta đến Redmond thì sẽ nhìn thấy Redmond Lôi Tạng Tự của chúng ta. Những gì mà con mắt nhìn thấy là như thế. Bạn có nhìn thấy thế giới không? Chúng ta nhìn trái đất… "Trái đất đây, chúng tôi nhìn thấy thế giới rồi." *No*, đó không phải là thế giới, thế giới rộng lớn lắm, còn bao gồm cả mặt trăng. Chúng ta có nhìn thấy mặt trăng không? *No*, đó không phải là thế giới, còn có sao Hỏa, sao Thổ, sao Thiên Vương, sao Diêm Vương, sao Hải Vương, đúng thế không? Còn có rất nhiều các ngôi sao mà bạn không nhìn thấy, trừ thái dương hệ này ra thì vẫn còn có những hệ mặt trời khác nữa, nghe nói còn có tới một trăm hệ mặt trời cơ! Những ánh sáng ấy chẳng có cách nào đến được thái dương hệ của chúng ta đây.

Vì vậy, *"Tu Bồ Đề, thế giới chẳng phải là thế giới thì gọi là thế giới."* Tôi đã giải thích điều này rõ ràng rồi. Chúng ta nói thế giới, thực ra chúng ta không nhìn thấy, nên đặt tên là thế giới, đặt cho nó một cái tên gọi là thế giới, chứ thật ra bạn không nhìn thấy. Chẳng phải thế giới, căn bản là bạn không nhìn thấy, cho dù bạn có nhìn thấy thì cũng là nhân duyên hòa hợp. Các bạn nhìn thấy Lư Thắng Ngạn, Lư Thắng Ngạn này rồi sẽ hư hoại, căn bản là không còn nữa, bởi vì đó là tứ đại tổ hợp: đất nước lửa gió, thân thể của bạn chính là đất, xương thịt của bạn chính là đất; huyết dịch trong thân thể bạn là nước, nhiệt độ của bạn là lửa, hô hấp của bạn là gió, đây là tứ đại tổ hợp. Tứ đại mà phân rã thì không còn gì nữa, bạn có nhìn thấy không? Bây giờ bạn nhìn thấy Lư Thắng Ngạn, trước kia vào 77 năm trước, có Lư Thắng Ngạn này không? Không có đâu. Sau mấy năm nữa, mọi người cũng không nhìn thấy tôi nữa, cũng không có Lư Thắng Ngạn. Lư Thắng Ngạn chỉ là một cái danh từ tạm thời thôi, đây chính là thế giới. Vì thế, *"thế giới chẳng phải là thế giới thì gọi là thế giới"* chính là giải thích như vậy đó.

*"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Có thể dựa vào ba mươi hai tướng mà thấy Như Lai không?" "Không thể, thưa Thế Tôn! Không thể dựa vào ba mươi hai tướng mà thấy Như Lai. Là vì sao? Như Lai nói: ba mươi hai tướng tức chẳng phải tướng, do vậy gọi là ba mươi hai tướng." *Cái nói đến ở đây chính là tướng. Kinh Kim Cang chính là vô tướng… tôi nói với bạn, trọng điểm nằm ở vô tướng, là phi tướng. Tất cả mọi tướng đều sẽ hư hoại, những thứ bạn nhìn thấy đều sẽ hư hoại. Trước kia có một cái ghế tựa mà tôi ngồi rất vừa vặn, để cho cái mông của tôi rơi bịch xuống mấy lần, thế rồi nói cũng gẫy luôn. Tôi vận động vài lần, tôi chống người lên như thế này, rồi ngồi bịch xuống, rắc! Ghế hỏng luôn rồi. Cái ghế cũng sẽ hỏng đó, bàn cũng sẽ hỏng, nhà cũng hỏng, đều sẽ hỏng cả.

Nhà mới xây lên, nhà mới sau vài năm cũng biến thành nhà cũ, sau đó không có người ở nữa, rồi thì cũng hỏng luôn. Xe cộ, làm bằng sắt, xe cũng sẽ hỏng, dùng mấy năm rồi hỏng luôn, sẽ biến thành xe đồng nát. Đều sẽ hỏng cả! Đều là phi tướng, có thứ nào không hư hoại chứ? Đều sẽ hư hoại! Bạn nói bất động sản, bất động sản có hư hoại không? *No*, bây giờ đều là động sản, động đất thì sẽ biến thành động sản mà, làm gì có bất động sản chứ? Vỏ trái đất sẽ hư hoại, có thứ gì không hư hoại? Trái đất đều sẽ hư hoại, thành trụ hoại không mà, Phật Đà nói vô thường mà! Có thứ nào sẽ không hỏng? Câu này như thế là hiểu được rồi.

*"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Có thể dựa vào ba mươi hai tướng mà thấy Như Lai không?"* *"Không thể, thưa Thế Tôn! Không thể dựa vào ba mươi hai tướng mà thấy Như Lai. Là vì sao? Như Lai nói: ba mươi hai tướng tức chẳng phải tướng, do vậy gọi là ba mươi hai tướng."* Ba mươi hai tướng là tướng của bản thân Phật, tôi đã giảng rồi, là hai tai dài xuống vai, hai tai đến tận vai, bạn xem, tai của Sư Tôn cũng đều chạm vai rồi. Tướng lưỡi rộng dài, đầu lưỡi vươn ra có thể che kín cả mặt. Tướng lưỡi rộng dài là cực kì đó! Vì sao mà Phật lại có tướng lưỡi rộng dài? Đầu lưỡi thè ra khiến người ta phát sợ, rất kinh khủng đó! Che kín cả mặt, tướng lưỡi dài rộng. Tượng Phật thì rất trang nghiêm, dựa vào ba mươi hai tướng mà thấy Như Lai, đương nhiên, đó là giả tướng. Đó là tướng giả, chỉ là chúng ta tôn trọng vị ấy, tôn trọng vị ấy đại diện cho Phật Thích Ca Mâu Ni. "Có thấy Như Lai không?" Đương nhiên đó là giả rồi, cho nên Phật Thích Ca Mâu Ni liền nói: *"Có thể dựa vào ba mươi hai tướng mà thấy Như Lai không?" "Không thể, thưa Thế Tôn! Không thể dựa vào ba mươi hai tướng mà thấy Như Lai. Là vì sao? Như Lai nói: ba mươi hai tướng tức chẳng phải tướng, do vậy gọi là ba mươi hai tướng." *

Phi tướng… Kinh Kim Cang nói rồi, trong đó mọi người ghi nhớ rõ hai chữ "phi tướng", hai chữ này, bởi vì Kknh Kim Cang nói đến vô tướng. Lần chuyển pháp luân thứ hai Phật nói đến vô tướng, lần chuyển pháp luân thứ hai có trí huệ nhất là nói đến vô tướng, Phật Thích Ca Mâu Ni nói, tất cả mọi tướng đều là phi tướng. Tôi thấy cô gái kia vô cùng xinh đẹp, phi tướng! Bạn thấy cô ấy bây giờ xinh đẹp, đương nhiên rồi, cô ấy 20 tuổi thì đương nhiên là xinh đẹp, đợi đến khi cô ấy 80 tuổi bạn lại nhìn mà xem, thật sự là *sorry* (rất lấy làm tiếc). Đã biến đổi rồi, vô thường! Cuối cùng cũng thành hồ thôi, biến thành hồ dán, một thùng hồ dán, đặt bạn vào trong một cái vại, rồi để ở trong Song Liên Cảnh Giới. Cho bạn vào trong một cái hũ rồi đặt ở Song Liên Cảnh Giới, bạn dù có xinh đẹp thế nào thì vẫn là một cái hũ, bạn có xấu thế nào cũng là một cái hũ, cái hình tướng ban đầu của bạn đâu? 32 tướng đâu? Không có! Một cái hũ. Cho nên hãy chú ý: Phật Đà nói phi tướng, vô tướng, mỗi một thứ đều sẽ hư hoại, bạn dù có xinh đẹp thế nào thì cũng chẳng có ích gì, vô ích thôi! Vì thế, lời này là rất trí huệ, điều Phật Thích Ca Mâu Ni nói.

Con người thế gian chỉ nhìn thấy trước mắt, không nghĩ đến tương lai sẽ ra sao. Trước mắt à, kiếm tiền, mua bất động sản, mua đất đai, mua nhà cửa, hưởng thụ cuộc sống, đến cuối cùng sẽ thế nào? Thành hồ, cuối cùng cũng thành hồ thôi! Bởi thế, Phật Đà nhìn rất xa, phi tướng, nói rất rõ ràng. Phật nói: "Ba mươi hai tướng tức chẳng phải tướng, do vậy gọi là ba mươi hai tướng." Câu nói này có thể giải thích với bạn một cách rất đơn giản: 32 tướng mà bây giờ bạn nhìn thấy sẽ không tồn tại vĩnh viễn, nó sẽ hư hoại, nghĩa là biến thành phi tướng. Vì sao cũng là 32 tướng? Rõ ràng là có 32 tướng mà, nhưng thật ra nó sẽ hư hoại, là vô tướng.

Câu nói sau cùng hẳn là mọi người đều có thể biết rồi: *"Tu Bồ Đề! Nếu có thiện nam, thiện nữ, dùng thân mạng nhiều như cát sông Hằng mà bố thí, nếu lại có người cho dù chỉ thọ trì bốn câu kệ trong kinh này, vì người khác mà giảng thuyết, thì phúc ấy rất nhiều!" *Lúc trước cũng đã giảng về bố thí này. Cho dù bố thí nhiều thế nào thì cũng không sánh bằng công đức của bốn câu kệ này: vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Tương lai toàn bộ trái đất hoại rồi thì vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng sẽ xuất hiện ra hết. Nếu trái đất hoại rồi, không còn nhân loại nữa, đương nhiên cũng không có tôi, không có con người, cũng không có chúng sinh, cũng không có người nào sống lâu. Cái gọi là thọ chính là thời gian, vô chúng sinh nghĩa là không gian, nói như vậy hiểu chứ? Om mani padme hum.

*(Ngày 28/11/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Đại Uy Đức Kim Cang tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 37.)*


### 38. Phần thứ 14: Lìa tướng tịch diệt (1)


*(Bài giảng 38) *Tịch diệt

*Khi ấy, Tu Bồ Đề đã nghe giảng kinh này, hiểu sâu ý nghĩa, rớt nước mắt mà bạch Phật rằng: 
"Thật hiếm có, thưa Thế Tôn! Phật nói kinh điển thâm sâu như vậy, huệ nhãn của con từ xưa tới nay chưa từng thấy kinh điển như vậy…"*

Chúng ta biết rằng, rời xa tất cả mọi tướng nghĩa là tịch diệt, ấn cuối cùng trong tam pháp ấn chính là "niết bàn tịch tĩnh ấn". Rời xa tướng rồi thì sẽ tiến nhập vào Phần thứ 14: Lìa tướng tịch diệt. Thế nào là lìa tướng? Chính là rời xa bốn tướng: vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Bạn rời xa bốn tướng này thì bạn sẽ tiến nhập "tịch diệt". Tịch diệt nói đến ở đây là cái gì? Hỏi đáp có thưởng đây. 

Tịch diệt là gì? (Đại sứ Liêu Đông Châu trả lời.) Tôi nói với mọi người nhé! Lời giải thích vừa rồi của ông đại sứ đương nhiên là chính xác một trăm phần trăm, lời đại sứ vừa nói là chính xác một trăm phần trăm. Điều ông ấy nói đến là cảnh giới của Phật, còn như tịch diệt chính là cảnh giới của Phật. Cảnh giới của Phật cũng chính là tịch diệt, điều này tuyệt đối không sai, chính xác một trăm phần trăm. Nhưng điều tôi muốn nói là, hai chữ tịch diệt, vừa rồi ông ấy cũng nhắc đến niết bàn… tôi đã từng giảng rồi, thế nào gọi là tịch diệt? Không phải là không có gì cả, không phải là trống rỗng. Cảnh giới của Phật là gì? Nói sâu hơn một tầng nữa, cảnh giới của Phật chính là tịch diệt, tịch diệt chính là cảnh giới của Phật đó!

Nói sâu hơn một tầng nữa, trước kia tôi từng nói mấy câu, tôi từng nói mấy câu đơn giản là: không còn nhân sinh, không còn nhân tử. Đã không còn lục đạo luân hồi rồi thì gọi là tịch diệt. Bạn đã không còn luân hồi rồi, có thể nói là không còn phải luân hồi nữa. Không có nhân sinh, không có nhân tử: Phật không có nguyên nhân sinh ra, cũng không có nguyên nhân chết đi, cái này chính là niết bàn, chính là cảnh giới của Phật. Tịch diệt là cảnh giới của Phật, Phật chính là tịch diệt, nhưng nội hàm của Phật chính là không còn nhân sinh, không còn nhân tử, không lục đạo luân hồi nữa. Như vậy thì là đúng.

Cho nên tịch diệt không phải là không có gì. "Lìa tướng" mà Phật giáo nói đến nghĩa là hoàn toàn rời xa vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả, cái này chính là lìa tướng. Lìa tướng rồi thì thế nào? Không còn lục đạo luân hồi nữa rồi, không có nguyên nhân sinh ra, cũng không có nguyên nhân chết đi, chính là niết bàn, không còn lục đạo luân hồi nữa. Mẹ của Ngụy Tư Nhan nói rằng bà ấy không muốn lục đạo luân hồi nữa, bà ấy nói không muốn lại luân hồi nữa. Không sai, mỗi cá nhân đều không muốn lại phải luân hồi. Nhưng, rốt cục bạn có lìa tướng không? Bạn có còn nghiệp thân khẩu ý không? Nếu bạn có nghiệp thân khẩu ý thì nhất định bạn sẽ phải lục đạo luân hồi.

Phật Thích Ca Mâu Ni sinh ra tại Ấn Độ, nói để các bạn biết, ngài ấy sinh ra tại Ấn Độ, nên ngài rất hiểu Ấn Độ giáo. Chủ yếu nhất của Ấn Độ giáo chính là Phạm - Ngã hợp nhất, sử dụng suy tưởng và tất cả Thiên, Trời và Ta hợp nhất, điều chủ yếu nhất của Ấn Độ giáo gọi là Phạm-Ngã hợp nhất. Phạm là cái gì? Ví dụ như Đại Phạm Thiên, Đại Phạm Thiên chính là Phạm. Đại Phạm Thiên là gì? Là Brahma. Shiva là Đại Tự Tại Thiên, Vishnu là Biến Tịnh Thiên. Cách nói của Phật là: Thiên cũng không tồn tại. Cách nói của Phật giáo đã tách rời khỏi Ấn Độ giáo.

Bản thân Ấn Độ giáo mà nói, một điều mà chúng ta thường nói là: Thần Sáng Tạo là Đại Phạm Thiên, còn Thần Hủy Diệt là Shiva - là Đại Tự Tại Thiên, Vishnu là Thần Bảo Hộ, là Biến Tịnh Thiên. Bạn nhìn xem ở bên kia là ba Đại Thần của Ấn Độ giáo. Cưỡi Garuda là Vishnu, người có con ngỗng trắng là Đại Phạm Thiên. Còn kia là Đại Tự Tại Thiên Shiva. (Sư Tôn chỉ về phía đàn thành của Seattle Lôi Tạng Tự.) Shiva, Brahma, Vishnu, vị lớn nhất là Vishnu. Đó là ba đại Thần của Ấn Độ giáo, Phật giáo là sinh ra từ Ấn Độ giáo.

Bởi vì Phật Thích Ca Mâu Ni sinh ra tại Ấn Độ, Ấn Độ giáo nói về Phạm - Ngã hợp nhất, cũng không phải là không tốt. Bạn biết thọ mệnh của Đại Phạm Thiên là dài bao nhiêu không? Ngài ấy trải qua… có người nói là một trăm kiếp, một kiếp tức là một trăm triệu năm, một trăm kiếp nghĩa là mười tỉ năm, một trăm kiếp nghĩa là mười tỉ năm sau, rồi sẽ thế nào? Đại Phạm Thiên vẫn phải lục đạo luân hồi. Chứng tỏ rằng… đã đủ lâu chưa? Mười tỉ năm đó! Shiva ở cõi trời cao nhất của Dục giới thiên, Đại Tự Tại Thiên, thọ mệnh của ngài ấy đương nhiên là rất dài. Còn Vishnu lại càng dài hơn! Ngài ấy ở tại Sắc cứu cánh thiên, lên cao hơn là Vô sắc giới thiên. Biến Tịnh Thiên chính là Sắc cứu cánh thiên, cao nhất rồi, là cõi trời vô cùng cao, thọ mệnh rất dài.

Niết bàn tịch diệt của Phật giáo, mặc dù vị trí cõi trời của các vị ấy đều rất cao, như Brahma, Shiva, Vishnu, họ đều là những vị Thiên vô cùng cao, nhưng Dục giới thì vẫn phải lục đạo luân hồi. Cho nên hôm nay pháp mà Phật Thích Ca Mâu Ni nói, "lìa tướng tịch diệt" là đã rời khỏi lục đạo luân hồi rồi. Muốn không luân hồi nữa, có khó không? Rất khó đó! Nhiều nhất là thăng lên cõi trời: Bạn làm việc thiện, thân khẩu ý thanh tịnh, hành thiện, thì bạn vẫn đến được thiên giới. Cho nên muốn lìa tướng, dường như là chuyện không thể… nhưng mà vẫn có thể, chuyện không thể thì vẫn có thể.

Phần thứ 14: Lìa tướng tịch diệt, ở đây nói đến: *"Khi ấy, Tu Bồ Đề đã nghe giảng kinh này, hiểu sâu ý nghĩa, rớt nước mắt…"* Tôi giảng đoạn này là được rồi, đủ rồi. Vì sao khi Tu Bồ đề nghe thấy Phật Thích Ca Mâu Ni giảng kinh này, ngài ấy hoàn toàn có thể hiểu được ý nghĩa và tôn chỉ của nó? Vì sao ngài ấy lập tức đau khổ mà rơi lệ? Vì sao đau khổ mà khóc? Có hai lí do, bạn có nói được vì sao mà Tu Bồ Đề khóc không? Trong kinh không có nói. Vì sao ngài ấy khóc? Cảm động đến mức khóc ư? Tôi cảm động tôi cũng khóc đó, mỗi người mà xúc động thì cũng khóc mà?

Có hai lí do. Thứ nhất là Phật Thích Ca Mâu Ni đã giải đáp điều bí mật từ thiên cổ đến nay. Bởi vì rất nhiều người không hiểu đạo lí này, đạo lí của lục đạo luân hồi, điều bí ẩn thiên cổ đã được giải đáp, ngài ấy đã đưa ra lời giải rồi, đã phá bỏ hết luân hồi rồi, đạo lí này đương nhiên là khiến Tu Bồ Đề vô cùng cảm động. Như vừa rồi nói về cảm động, ngài ấy rất cảm động, cho nên ngài ấy đã khóc, đây gọi là vui quá mà khóc. Một lí do nữa là đau buồn quá mà khóc. Thế nào gọi là đau buồn quá mà khóc? Ngài ấy khóc vì: chúng sinh không hiểu đạo lí này, vẫn còn ở trong lục đạo luân hồi, vì danh vì lợi, vì tài sắc danh thực thụy, và cứ như thế mà luôn luôn tạo nghiệp, trong luân hồi vẫn không ngừng lặp lại như vậy, vĩnh viễn không có cách nào đắc chứng được cái đạo lí ấy, không có cách nào chứng được địa vị của Phật, không có cách nào chứng được địa vị của không luân hồi. Ngài ấy đau buồn vì chúng sinh.

Cho nên có hai lí do này: một là vui mừng quá, cuối cùng ngài ấy đã biết, điều bí ẩn thiên cổ đã được giải đáp rồi, cho nên khóc vì sung sướng. Và còn có khóc vì đau buồn, ngài ấy cho rằng chúng sinh không hiểu hoặc là không làm được, vẫn còn đang lục đạo luân hồi. Đặc biệt là tiền, tiền là thứ rất mê hoặc con người! Tiền này rất mê hoặc con người! Tiền đó! Bạn nghĩ mà xem, đều là khoáng thạch đó! Vàng, kim cương, những thất trân bát bảo đều là khoáng vật đó! Tiền, tiền là cái gì? Là giấy thôi! Là *paper*, là giấy đó! Bạn mê muội vào đám giấy đó, mê muội vào những khoáng vật đó có tác dụng gì? Lại còn sắc, bạn mê muội vào sắc thì có tác dụng gì? Chúng chỉ là nhất thời thôi! Một thời gian mà thôi, khi bạn xinh đẹp đương nhiên vẫn còn có sắc, khi bạn không xinh đẹp nữa thì sao đây?

Người trẻ tuổi tranh luận với người già: “Bà có trẻ trung xinh đẹp giống như cháu đây không?” Bà cụ nói: “Bà cũng từng trẻ, bà cũng từng xinh đẹp giống như cháu đó! Nhưng cháu đã từng già chưa?” Bạn từng già chưa? Vẫn là cụ bà thắng, tuổi trẻ thì mọi người chúng ta đều từng trải qua rồi, đúng thế không? Nói một câu rất đơn giản: sắc, nhất thời. Chỉ lúc bạn còn trẻ thì bạn mới có được. Bạn già rồi thì nhan sắc cũng suy tàn, còn sắc cái gì mà sắc? Chỉ còn một thân thể già nua. Chỉ còn đến các quán trà của của ông cụ mà tiêu tiền thôi! Đúng thế không? Bỏ tiền ra mà mua thôi.

Mọi người nghĩ mà xem, tài sắc danh cũng là không đó! Ba thứ này làm người ta mê muội nhất, tài sắc danh. Bạn cho rằng làm Tổng thống thì tốt sao? Hễ nhậm chức Tổng thống là bị đạp đổ, bốn năm sau bạn sẽ bị đạp xuống cái "bịch", bằng không, nếu bạn vẫn giữ được chức vụ, thì tám năm sau vẫn cứ bị đạp xuống cái "bịch". Bạn cho rằng bạn vĩnh viễn làm Tổng thống sao? Thế nào rồi cũng sẽ bị lật đổ, bạn xem các triều đại, mỗi hoàng đế đều muốn làm vua vĩnh viễn: Tần Thủy Hoàng muốn làm hoàng đế vĩnh viễn, Hán Vũ Đế muốn làm hoàng đế vĩnh viễn, đi ra ngoài biển để tìm tiên đơn, xem xem ăn rồi có thể sống vĩnh viễn được không… người nào có thể vĩnh viễn? Không có đâu! Danh cũng không có, Đường Ngu Hạ Thương Chu, Tần Hán, Tứ quốc (Thụy Thục Ngô Yên), Ngụy Tấn Nam Bắc Triều, Tùy Đường Tống Nguyên Minh Thanh, hoàng đế của thời đại nào còn lưu lại?

Làm hoàng đế rất tốt đó! Sư Tôn cũng từng làm rồi… Sư Tôn mặc hoàng bào, bạn xem tôi khoác hoàng bào đó! Tôi ngồi trên pháp tọa, ở vị trí cao nhất đó! Bạn xem hậu cung có ba nghìn mỹ nhân! (Sư Tôn vừa cười vừa nhìn về phía đàn thành ở sau pháp tọa.) Đều là Phật Bồ Tát, thật là tuyệt vời, các vị Phật Bồ Tát của chúng ta ở đây thật bá đạo, thật đó. Cái gì là vĩnh viễn? Không có, chỉ có tịch diệt mà Phật nói đến, thoát li khỏi luân hồi mới là vĩnh viễn.

Brahma, Shiva, Vishnu, Mahasriya, Sarasvati, đều không phải là vĩnh viễn. Các Đại Thần của Ấn Độ giáo đều ở đó, Kali, Sarasvati, Mahasriya, Thần Khỉ đều ở đó. Đại Thần của Ấn Độ giáo, Cát Tường Thiên cũng ở đó, Cát Tường Thiên, Diệu Âm Thiên, Kali, ba Đại Thần, họ đều vẫn phải luân hồi. Theo như Phật nói, rời khỏi Phạm Thiên… cho nên ở đây là Phần thứ 14: Lìa tướng tịch diệt.

Tu Bồ Đề khóc có hai nguyên nhân: thứ nhất, điều bí ẩn thiên cổ đã được giải đáp, giải đáp xong rồi, đã thoát li lục đạo luân hồi rồi, điều bí ẩn này đã giải đáp rồi. Điều ngài ấy khóc là… điều đau lòng là, chúng sinh không hiểu, nên vĩnh viễn ở trong lục đạo mà luân hồi! "Khi ấy, Tu Bồ Đề đã nghe giảng kinh này, hiểu sâu ý nghĩa, rớt nước mắt…" Cho nên, khóc lóc thảm thiết là có hai nguyên nhân, thứ nhất là đều bí ẩn thiên cổ đã được giải, ngài ấy hoan hỉ, rất vui. Thứ hai là rất đau lòng mà nói, chúng sinh tương lai không thể thoát li lục đạo luân hồi. Ba thứ mà con người mê đắm nhất: tài sắc danh… không có người nào có thể thoát li lục đạo luân hồi, đều ở trong lục đạo luân hồi. Bạn mê tài sắc danh thì bạn sẽ tham sân si đó! Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 04/12/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Chuẩn Đề Phật Mẫu Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 38.)*


### 39. Phần thứ 14: Lìa tướng tịch diệt (2)


*(Bài giảng 39) *Ngũ nhãn

*Khi ấy, Tu Bồ Đề đã nghe giảng kinh này, hiểu sâu ý nghĩa, rớt nước mắt mà bạch Phật rằng: 
"Thật hiếm có, thưa Thế Tôn! Phật nói kinh điển thâm sâu như vậy, huệ nhãn của con từ xưa tới nay chưa từng thấy kinh điển như vậy. Thế Tôn! Nếu lại có người nghe được kinh này, tín tâm thanh tịnh, liền sinh thực tướng, nên biết người này thành tựu công đức hi hữu đệ nhất."*

Tôi nói sơ qua một chút về trọng điểm nằm ở đâu. Tu Bồ Đề hỏi Phật: *"Thật hiếm có, thưa Thế Tôn! Phật nói kinh điển thâm sâu như vậy, huệ nhãn của con từ xưa tới nay chưa từng thấy kinh điển như vậy."* Tôi giảng đến đoạn này là được rồi, nó có nghĩa là, Tu Bồ Đề nói từ rất lâu rồi ngài ấy đã có được huệ nhãn này. Từ rất sớm Tu Bồ Đề đã có được huệ nhãn, nhưng chưa bao giờ từng thấy qua kinh điển thâm sâu như thế. 

Kinh Kim Cang thật sự là kinh điển vô cùng thâm sâu, vì sao lại thâm sâu? Vì sao nói kinh Kim Cang vô cùng sâu sắc? Tôi kể một mẩu đối thoại giữa tôi và Dalai Lama, tôi và Dalai Lama nói chuyện về Tâm Kinh, Dalai Lama hỏi tôi: "Thế nào là sắc tức thị không, không tức thị sắc, cái này giải thích thế nào?" Sắc tức thị không, không tức thị sắc, sắc bất dị không, không bất dị sắc. Cái này giải thích thế nào? Câu trả lời của tôi là song vận, sắc - không song vận. Dalai Lama trả lời bằng hai chữ: tự nhiên.

Tôi và Dalai Lama gặp nhau nửa tiếng, hai chúng tôi đàm luận về vấn đề của kinh điển, toàn bộ đều chỉ thảo luận về vấn đề kinh điển, không dính líu gì đến chính trị, chúng tôi không nói về chính trị, tôi là người của tôn giáo, tôi chỉ nói với ngài ấy về Phật pháp. 
"Sắc tức thị không, không tức thị sắc, sắc bất dị không, không bất dị sắc" giải thích ra sao? Tôi nói là song vận, sắc - không song vận. Dalai Lama nói hai chữ tự nhiên. Song vận cũng có nghĩa là sắc tức thị không, không tức thị sắc, sắc bất dị không, không bất dị sắc, là hai kiểu.

Thật ra, song vận chính là trung đạo mà Phật Đà đã nói, không hẳn là lìa xa sắc cũng không phải là lìa xa không, hai cái hòa vào lẫn nhau, cái hòa lẫn chung với nhau thì gọi là song vận. Dalai Lama nói là tự nhiên, tự nhiên nghĩa là thấy sắc thì là sắc, thấy không thì là không, ý của ngài ấy là như vậy. Kì thực tự nhiên, song vận, tôi cảm thấy cũng không khác nhau là mấy, sự khác biệt không nhiều lắm, xem ra hai người là ngang sức ngang tài. Một người nói cờ, một người nói trống, kì thực là cờ trống tương đương.

Tu Bồ Đề nói rằng đây là kinh điển thâm sâu, vô cùng sâu, kinh điển vô cùng sâu sắc. Tôi đã giảng vì sao lại là kinh điển rất thâm sâu. Nếu bạn đã hiểu được kinh Kim Cang, và đi thực tiễn rồi, bạn sẽ có thể thành Phật. Bạn có thể tiêu trừ mọi nghiệp chướng của bạn, mọi nghiệp chướng đều bị tiêu trừ hết tại đây, không còn nhân sinh, bởi vì đã vô ngã tướng, vì bạn đã vô ngã rồi, bạn còn tạo nghiệp gì nữa chứ? Không còn nghiệp, tất cả nghiệp chướng toàn bộ đều không còn, vô ngã, vô nhân.

Tôi hỏi bạn nhé, hỏi bạn một câu rất đơn giản: "Trên mặt trăng có thiện ác không? Xin hỏi bạn ở trên mặt trăng có thiện ác không?" Không có, đó là đáp án chính xác. Trên mặt trăng chẳng có cái gì cả, vì đã không có thì làm gì còn có thiện gì, ác gì. Mặt trăng không có sinh vật mà, không có con người mà, lấy đâu ra thiện ác. Không có hổ báo voi sư tử, không có gì, thậm chí covid-19 cũng không lây truyền đến đó được, không có thứ gì có thể lây truyền mà, ngay cả virus cũng không có.

Thế nào là thiện, thế nào là ác? Không có, vì không có nhân thiện, thiện ác, không có ác duyên, không có thiện duyên, không có cái nhân gì cả, cái gì cũng không có. Đây chính là kinh điển thâm sâu nhất. Điều mà bạn chưa bao giờ từng nghĩ tới: không có nhân sinh, không có nhân tử. Sinh tử từ đâu đến? Do nghiệp chướng mà đến, bởi vì bạn có nghiệp chướng thì mới có sinh tử, không có nghiệp chướng sẽ không có sinh tử. Không có ác nghiệp, bạn không có nhân sinh; không có thiện nghiệp, bạn không có nhân sinh. Không có nghiệp thiện ác, căn bản là bạn sẽ không có nhân sinh, không có quả tử. Không có thiện ác, lấy đâu ra sinh tử? Không có sinh tử, lấy đâu ra lục đạo luân hồi. Toàn bộ đều được tháo gỡ rồi.

Kinh điển thâm sâu mà Phật Đà giảng chính là cái này. Trọng điểm là, nghiệp là bất khả tư nghì, căn bản không có nghiệp thì lúc này mới có thể thành tựu. Bạn có thiện nghiệp, sẽ thăng thiên, bạn có ác nghiệp, sẽ xuống tam đồ. Bạn không thiện không ác, sẽ biến thành người. Bạn có tu hành, nhưng bạn có đố kị, có ghen tuông, bạn sẽ là Atula, bạn thích tranh đấu thì bạn sẽ là Atula đó. Đây đều là có nhân có quả, nhân quả bất khả tư nghì, nghiệp bất khả tư nghì. Nghiệp này, điều mà kinh điển thâm sâu nói đến chính là nghiệp. 

Tu Bồ Đề có được huệ nhãn, nói một câu rất đơn giản, con người chỉ có mắt thịt, nhìn thấy những thứ hữu hình là mắt thịt. Sư Mẫu có con mắt âm, bà ấy không chỉ có mắt thịt, bà ấy còn có mắt âm, bà ấy có thể nhìn thấy quỷ thần. Bà ấy còn có mắt âm, có một buổi tối, bà ấy nhìn Sư Tôn bảo: "Ấy, ông thay đổi rồi." Tôi nói: "Thay đổi cái gì?" Bà ấy nói: "Ông biến thành quái vật." Bà ấy nói tôi biến thành quái vật. Tôi nói: "Trên đầu mọc sừng sao?" Bà ấy bảo không có, bà ấy nói: "Trên mặt ông có năm con mắt." Năm con mắt à, trời ơi! Con người chúng ta chỉ có hai con mắt, bà ấy nhìn thấy tôi có năm con mắt: ở giữa một con mắt, bên này một mắt, bên dưới một mắt, năm con mắt thì biến thành quái vật rồi. 

Vì sao là năm con mắt? Rất đơn giản thôi, mắt thịt, thiên nhãn, pháp nhãn, huệ nhãn, Phật nhãn, là năm con mắt. Tôi nói: "Bà nhìn rất chuẩn, bởi vì Phật Thích Ca Mâu Ni gọi tôi đến Sắc cứu cánh thiên, ngài ấy trao giải thưởng cho tôi, tất cả Phật Bồ Tát đều nhìn thấy tôi, tất cả Phật và rất nhiều Bồ Tát ở đó nhìn thấy tôi. Phật Thích Ca Mâu Ni trao giải thưởng cho tôi, tôi giở từng lớp vải đỏ ra, bên trong có năm con mắt, năm con mắt ấy không ngờ lại bay lên trên mặt tôi, thế là tôi biến thành có năm con mắt. Hôm qua chúng vừa mới bay lên mặt tôi, hôm nay bà đã nhìn thấy trên mặt tôi có năm con mắt rồi." Chà! Thật đó, Sư Mẫu nhìn thấy trên mặt tôi có năm con mắt, bà ấy lợi hại ghê, bà ấy nhìn được năm con mắt của tôi. 

Tu Bồ Đề từ sớm đã có được huệ nhãn. Bạn thấy không, từ lâu đã có được huệ nhãn rồi, nhưng chưa bao giờ thấy qua kinh điển như vậy, ngài ấy chưa từng thấy qua kinh điển giống như kinh Kim Cang, chưa từng nghe bao giờ. Khi Phật Thích Ca Mâu Ni nói kinh Kim Cang, rất nhiều đệ tử có mặt ở đó đều nghe được, nghe kinh Kim Cang có thể tin và hiểu, và có thể biết được, trọng điểm này là đây, nghiệp gì cũng không làm. Vô ngã tướng, vì đã vô ngã rồi, bạn còn làm thiện nghiệp, ác nghiệp gì? Bạn làm thiện nghiệp cũng là vô ngã mà làm. 

Không mong cầu thiện quả, đây gọi là vô vi, cái này chính là vô vi. Chúng ta làm thiện nghiệp, giống như Sư Tôn giảng kinh thuyết pháp cũng là vô vi, tôi giảng xong, tôi cũng không hề yêu cầu gì mọi người mà nói rằng: "Mọi người đều phải y theo kinh điển tôi giảng như vậy mà làm, tôi hi vọng như vậy." Tôi thường nói một câu: "Không có hi vọng thì sẽ không có thất vọng." Căn bản là nếu tôi không mong trúng xổ số thì tôi sẽ không thất vọng. Bởi vì bạn không kì vọng, cứ vô vi mà làm chính là như thế: tôi không nghĩ sẽ được cái gì, nhưng tôi vẫn cứ làm. Đây chính là pháp vô vi, vô ngã tướng chính là hiểu về pháp vô vi.

Không có nhân thiện, không có nhân ác, cho nên Lục Tổ Huệ Năng nói một câu rất đơn giản: "Không nghĩ thiện không nghĩ ác." Chính vào lúc này, không nghĩ thiện không nghĩ ác: bạn không nghĩ về cái thiện —"Việc tôi làm là thiện." Không nghĩ ác, ngay cả việc ác cũng không nghĩ đến, cái thiện, không nghĩ đến, là nói về nghiệp đó. Lục Tổ Huệ Năng nói không nghĩ thiện không nghĩ ác, ai nghe hiểu được thì hiểu.

Bạn không tạo nghiệp, trên mặt trăng tạo nghiệp gì? Trên mặt trăng cũng không có thiện, cũng không có ác, tạo nghiệp gì chứ? Ở đó vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả, tôi lấy ví dụ này là rõ ràng nhất rồi. Trên mặt trăng vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả, nghiệp là cái gì? Trên mặt trăng có nghiệp gì? Không có. Bạn có học được như thế này không: vô thiện vô ác, không có thiện, ác nghiệp. Nếu bạn không có điều này, điều mà kinh điển thâm sâu nói, thì bạn sẽ là Tu Bồ Đề có được rất nhiều trí huệ. 

Thế nào là con mắt thịt? (Chúng ta nói Tu Bồ Đề có được huệ nhãn.) Mắt thịt, chính là mắt nhìn thấy những thứ có hình tượng, thì là mắt thịt. Cái gì là thiên nhãn đây? Nhìn được xa, có thể nhìn được chư Thiên, nhìn được Dục giới thiên, nhìn được Sắc giới thiên, nhìn được Vô sắc giới thiên, thì đây chính là thiên nhãn, nhìn được thần, nhìn được trời, nhìn được người trời, đây chính là thiên nhãn. Cái gì là pháp nhãn đây? Bạn hiểu Phật pháp, tất cả mọi pháp bạn đều hiểu rõ ràng, có thể hiểu thấu, thì đó là pháp nhãn. Còn huệ nhãn là cái gì? Tất cả trí (tất cả trí huệ) bạn đều hiểu được, tất cả trí huệ bạn đều thông suốt toàn bộ. Thế nào là Phật nhãn? Hiểu rõ những điều thâm sâu mà Phật Thích Ca Mâu Ni nói, cái đó chính là Phật nhãn, đã bao gồm ngũ trí - pháp giới thể tính trí, thành sở tác trí, đại viên kính trí, diệu quan sát trí, bình đẳng tính trí. Tất cả mọi trí huệ bạn đều hiểu, bao gồm cả những điều trong kinh Kim Cang… vua của các kinh, vua của mọi kinh mà Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói, đó chính là Phật nhãn, hơn nữa bạn còn phải thực tiễn được!

Tâm của bạn có thể trống rỗng không có gì như mặt trăng không? Đó chính là tịch diệt đó, tịch diệt cái gì? Tịch diệt mọi nghiệp. Sinh tử, không còn sinh tử. Cho nên Thánh Nghiêm Pháp sư có bài kệ, mấy chữ cuối cùng là "sinh tử đều bỏ được", bài kệ "sinh tử đều bỏ được" (câu cuối cùng đó), tôi sẽ nói về câu đó: câu đó cho thấy ông ấy vẫn còn có sinh tử để mà đem ra vứt bỏ đi, thế thì không đúng rồi!

Bạn là người hiểu kinh Kim Cang thì sẽ biết, không có sinh tử để mà vứt bỏ, không có sinh tử có thể đem vứt bỏ. Bạn vẫn còn có sinh tử để mà vứt bỏ, có thể thấy bạn vẫn là người thôi! Bạn có ngã tướng thì mới có sinh tử, nếu bạn hiểu được kinh Kim Cang thì "không có sinh tử để mà bỏ", tôi đã sửa câu này rồi. Bài kệ kia được ông ấy viết bốn năm trước khi qua đời, chuẩn bị bài kệ đó, đợi đến bốn năm sau thì lấy ra để cho thế nhân đọc, kết quả là vẫn có khuyết điểm: sinh tử đều bỏ được, cho thấy ông vẫn còn có sinh tử để mà bỏ, điều đó thể hiện rằng ông vẫn còn có ngã tướng.

Nếu tôi viết kệ, tôi chỉ có ba chữ: "không can hệ". Thế nào gọi là không can hệ? Cái gì cũng không liên quan gì đến tôi, không có can hệ, thì tất cả đều không có, thì sẽ là mặt trăng đó, ngay đến con người cũng không có, vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Không can hệ, tôi và chúng sinh không có liên quan gì cả. Tôi và "ngã" không có quan hệ, tôi và "nhân" không có quan hệ, tôi và "chúng sinh" không có quan hệ, tôi và "trường thọ, đoản thọ" đều chẳng có quan hệ gì.

Cái này chính là ngũ nhãn. Tu Bồ Đề có được huệ nhãn nhưng lại chưa từng thấy qua kinh điển này, bạn thấy không, lần này ngài ấy mới nghe được. "Con từ xưa tới nay chưa từng nghe thấy kinh như vậy." Ngài ấy đã có được huệ nhãn rồi mà còn chưa biết đến kinh điển này, cho nên kinh Kim Cang này là kinh điển phá hủy tất cả (tôi từng nói rồi mà). Om mani padme hum.

*(Ngày 05/12/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Địa Tạng Vương Bồ Tát tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 39.)*


### 40. Phần thứ 14: Lìa tướng tịch diệt (3)


*(Bài giảng 40) *Tín tâm thanh tịnh

Hôm nay tôi giảng một điểm quan trọng trong đoạn này.

*Khi ấy, Tu Bồ Đề đã nghe giảng kinh này, hiểu sâu ý nghĩa, rớt nước mắt mà bạch Phật rằng: 
"Thật hiếm có, thưa Thế Tôn! Phật nói kinh điển thâm sâu như vậy, huệ nhãn của con từ xưa tới nay chưa từng thấy kinh điển như vậy. Thế Tôn! Nếu lại có người nghe được kinh này, tín tâm thanh tịnh, liền sinh thực tướng, nên biết người này thành tựu công đức hi hữu đệ nhất…"*

Tu Bồ Đề nói, *"Nếu lại có người nghe được kinh này, tín tâm thanh tịnh, liền sinh thực tướng, nên biết người này thành tựu công đức hi hữu đệ nhất".* Phần lớn những người giảng kinh chúng ta thì với câu nói này chẳng có cái gì để mà giảng, vì sao thế? Nếu có người nghe được kinh này, người ấy sinh ra lòng tin, hơn nữa lòng tin này lại vô cùng thanh tịnh, người ấy sẽ sinh ra thực tướng. Người ấy sẽ thật sự hiểu được thế nào gọi là thực tướng, cái tướng thực tại. Nên biết rằng người này thành tựu công đức hi hữu đệ nhất. Phần lớn con người đều như thế này: mấy câu nói đơn giản, chẳng khác gì lời nói suông, cũng không cần phải giải thích. 

Nhưng bạn cần chú ý nhé!* "Tín tâm thanh tịnh, liền sinh thực tướng"*, chú ý bốn chữ này "tín tâm thanh tịnh". Rất nhiều người đều cho rằng họ có tin Phật, "tôi rất sùng đạo", cái ấy chính là tín tâm thanh tịnh, nghĩa là tin hoàn toàn, hoàn toàn tín ngưỡng Phật giáo, hoặc là có thể nói "tôi thuần tín". Thế nào gọi là thuần tín? Một chút hoài nghi cũng không có, như thế là rất thuần. Giống như chúng ta có *gold* (vàng) 999, chúng ta gọi đó là vàng ròng, không phải là mạ vàng. Mạ vàng chỉ là mặt ngoài, thật phải là vàng ròng 999. Chỉ còn thiếu một chút xíu thôi, thế là vô cùng thuần rồi, thuần hết mức có thể!

Cái đó có phải là tín tâm thanh tịnh không? Đương nhiên tôi tin, tôi tin tưởng Bổn tôn Diêu Trì Kim Mẫu, A Di Đà Phật, Địa Tạng Vương Bồ Tát của mình. Bởi vì rất thuần, nên chuyện gì tôi cũng đều nói với ngài, không có giấu diếm, nhưng chúng ta không thể nào vì như vậy mà sinh thực tướng, không thể nào, tín tâm ở đây không phải nói về cái lòng tin vào tín ngưỡng đó đâu! Hai chữ "thanh tịnh" rất quan trọng, cái đó mới là thực tiễn.

Tín tâm là phải dùng thực tiễn! Thực tiễn cái tín tâm của bạn mới gọi là thanh tịnh! Không phải là tín ngưỡng biểu hiện bề ngoài! Thật đó, cho nên mọi người cho rằng "tín tâm thanh tịnh thì tôi sẽ sinh thực tướng", không phải. Tín tâm thanh tịnh là cần bạn phải đi thực tiễn nó! Thực tiễn cái gì? Thực tiễn cái vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, đó mới là thuần thật sự. Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng mới gọi là thuần!

Lúc này mới gọi là làm gì? "Thụ cùng tam tế, hoành biến thập phương." Đây là thuật ngữ của Phật giáo, "thụ cùng tam tế" là quá khứ, hiện tại, vị lai trở thành nhất quán. "Hoành biến thập phương" là phía trên, phía dưới, tám phương, rộng lớn không giới hạn. Cái này mới gọi là tín tâm thanh tịnh. "Thụ cùng tam tế" đại diện cho cái gì? Thời gian, đại diện rằng thời gian đều thanh tịnh, đại diện cho đời quá khứ của bạn là thanh tịnh, đời hiện tại cũng là thanh tịnh, đời tương lai cũng là thanh tịnh. Sau đó lại còn "hoành biến thập phương", phía trên cũng thanh tịnh, phía dưới cũng thanh tịnh, tám phương toàn bộ không gian, "hoành biến thập phương" chính là toàn bộ không gian đều thanh tịnh.

Tôi cũng lấy một ví dụ, tôi thường xuyên lấy ví dụ này: mặt trăng không có con người, cả mặt đất rộng lớn không có sinh vật… rốt cục có sinh vật không? Khoa học hiện nay nói thế, tôi cho rằng, nếu coi mặt trăng là hoàn toàn không có sinh vật, trên mặt trăng một con người cũng không có. Thời gian đối với mặt trăng mà nói có ích gì, có hại gì? Không có, không ảnh hưởng, đúng thế không? Thời gian không có ảnh hưởng gì, không gian cũng không có ảnh hưởng gì. Lư Sư Tôn nói, trên mặt trăng là đại địa chủ, mảnh đất kia là của Lư Sư Tôn… cũng chẳng có tác dụng gì, bởi vì không gian không có giá trị gì cả.

Đất trên mặt trăng có đáng giá không? Có lẽ tương lai có thể có. Chỉ cần con người lên mặt trăng, ở trên mặt trăng dựng lên một đại khách sạn Hilton, bạn hãy ở bên đó đợi đi, đợi những con tàu vũ trụ đến để ở trong đại khách sạn Hilton của bạn, kiếm US Dollar (đô la Mĩ). Bạn ở đó cầm US Dollar (đô la Mĩ), chẳng phải là không khác gì giấy sao? Đám giấy đó ở trên mặt trăng có tác dụng gì không? Trên trái đất mới có tác dụng. Cho dù đến mặt trăng để ở khách sạn Hilton, đòi trả bằng vàng, bạn muốn vàng thì cũng có tác dụng gì? Trên mặt trăng có công dụng gì không? Cũng vô dụng. Cái này mới gọi là tín tâm thanh tịnh đó.

Mọi người dùng đầu óc mà suy nghĩ một chút xem: tâm bạn như hư không, tâm bạn rộng lớn giống như không gian, trong tim bạn giống như mặt trăng vậy, không có cái gì gọi là thiện, không có cái gì gọi là ác, đối với bạn mà nói thì chẳng có gì. Cũng không có cái tôi này, cũng không có chúng sinh, cũng không có thời gian, cũng không có không gian, mức độ thuần này gọi là đệ nhất, đây mới gọi là tín tâm thanh tịnh, lúc này mới sinh ra thực tướng. Rất nhiều người giảng kinh Kim Cang tuyệt đối không nói đến điểm này, tôi nói để bạn biết như thế. Không có ai nói đến điểm này đâu. 

Vì sao Khổng Tử phải đi hỏi đạo ở chỗ Lão Tử? Khổng Tử là Thánh nhân, vì sao phải đi hỏi Lão Tử chứ? Hỏi Lão Tử giảng đạo cho ông ấy… giảng cho Khổng Tử nghe đạo này, đó là giảng đạo gì? Lão Tử giảng cho Khổng Tử nghe, Khổng Tử là Thánh nhân Trung Quốc, cũng đã rất vĩ đại rồi, thế mà Lão Tử giảng đạo cho Khổng Tử nghe, ngài ấy giảng cái gì? Đó là hai chữ "chí hư". "Chí" tức là đạt tới. "Hư", là hoàn toàn tịnh không.

"Chí hư" là cái gì? "Chí hư" mới là đạo. Điều này rất sâu sắc nhỉ? Lão Tử nói với Khổng Tử, "chí hư" mới là đạo. Anh đến hỏi ta cái gì là đạo. Ta nói với anh: "Chí hư" mới là đạo! "Chí hư" mới là thực, thực trong thực tướng! Trong kinh Kim Cang nói: *"Tín tâm thanh tịnh, liền sinh thực tướng."* Chính là nói đến điều này. Không có ai giảng kinh Kim Cang mà biết nói điều này đâu. Đại bộ phận chỉ nói "tín tâm thanh tịnh rồi thì thực tướng của bạn sẽ xuất hiện…" Lấy đâu ra mà đơn giản thế? Nếu đơn giản như thế, Khổng Tử không cần đi hỏi Lão Tử. "Chí hư" mới sinh thực tướng, "chí hư" mới là thực đó! Cho nên câu tiếp theo: thực tướng chính là phi tướng, câu nói này mọi người có hiểu không? Thực tướng chính là chí hư, nghĩa là không có tướng!

Thực tướng là không có tướng! Cho nên Như Lai mới nói tên là thực tướng, mới gọi là thực tướng. Nói như thế bạn mới có thể hiểu được, bằng không bạn sẽ không hiểu. Vì sao thực tướng là phi tướng, phi tướng mới là thực tướng? Lão Tử đã nói rồi: "Chí hư" chính là thực, "tất cả đều không có" mới là thực tướng. Cho nên, hôm nay tôi đã giảng cho mọi người về "tín tâm thanh tịnh", bốn chữ này không phải là dễ giải thích đâu. Hôm nay chỉ có Lư Sư Tôn mới có thể giảng được thôi.

Mọi người đều biết Khổng Tử hỏi đạo ở chỗ Lão Tử, đều biết Khổng Tử đi thỉnh giáo Lão Tử đạo này. Lão Tử rốt cục đã nói với Khổng Tử điều gì? "Chí hư." Chính là điều mà kinh Kim Cang nói đến: phi tướng mới là thực tướng, cũng có nghĩa là thực tướng chính là phi tướng, từ đó mới có thể nói đoạn tiếp theo là *"Thế Tôn! Thực tướng ấy tức chẳng phải tướng, vì thế Như Lai nói là thực tướng."*

Nói như vậy mọi người hiểu chứ? Cho nên giảng kinh Kim Cang, phải giảng được cái điểm quan trọng nhất này. Bạn không nói ra được thì còn giảng kinh Kim Cang gì chứ? Đó là kinh điển bất hoại đó! Chí hư sao có thể hoại được? Phi tướng sao có thể hoại được? Đó là bất hoại! Không có thời gian, không có không gian, sao có thể hoại được chứ? Phải đạt đến cảnh giới này mới là Phật đó! Thiếu một chút đều không được.

Hôm nay chỉ có Lư Sư Tôn hiểu được đạo lí này. Bạn đi xem người ta giảng kinh Kim Cang… rất nhiều người giảng kinh Kim Cang, tôi không lừa bạn đâu, rất nhiều pháp sư đều giảng kinh Kim Cang. Họ đều không nghĩ đến tín tâm thanh tịnh. Tôi giảng như thế này, bạn lập tức sẽ biết được: thực tướng chính là phi tướng, phi tướng cũng chính là thực tướng. Bạn lập tức có thể nhanh chóng hiểu được. Tôi không giải thích như vậy, không ai có thể biết được. Bề ngoài bạn nói lướt qua nó một cái rồi đi, cái mà bạn giảng đó không phải là kinh Kim Cang, đó là "kinh hữu hoại", kinh sẽ hư hoại! Cho nên kinh Kim Cang mà Lư Sư Tôn giảng là kinh bất hoại, nó sẽ không thể hư hoại. Om mani padme hum.

*(Ngày 11/12/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Hoàng Tài Thần Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 40.)*

(Hết tập 2)

---

---
# File: kinh-luat-luan/giang-thuyet-kinh-kim-cang-tap-3.md
# Title: Giảng thuyết Kinh Kim Cang - Tập 3
---

![image](/img/img_ff730f3c3a29aa0c7697a25b64a1bd6b.png)



## Giảng thuyết Kinh Kim Cang - Tập 3


(Liên Sinh Hoạt Phật giảng Kinh Kim Cang)

Cuốn số: 710
Xuất bản năm: N/A
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### 41. Phần thứ 14: Lìa tướng tịch diệt (4)


*(Bài giảng 41) *Tin hiểu thọ trì

Hôm qua chúng ta giảng: *"Thế Tôn! Nếu lại có người nghe được kinh này, tín tâm thanh tịnh, liền sinh thực tướng, nên biết người này thành tựu công đức hi hữu đệ nhất. Thế Tôn! Thực tướng ấy tức chẳng phải tướng, vì thế Như Lai nói là thực tướng." *Chúng ta đã giảng đến chỗ này rồi, hơn nữa Sư Tôn còn giảng cực kì rõ ràng, cần hiểu rằng thực tướng chính là phi tướng, bởi vì phi tướng cho nên là thực tướng. Điều này mọi người đều hiểu rồi.

*"Thưa Thế Tôn! Nay con nghe được kinh điển này, tin hiểu thọ trì cũng không khó gì. Nhưng nếu đời sau, năm trăm năm sau, có chúng sinh nghe được kinh này mà tin hiểu thọ trì, thì người ấy cũng là bậc nhất hiếm có. Là vì sao? Vì người này vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Thế rồi thì sao? Ngã tướng tức chẳng phải tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng tức chẳng phải tướng."*

Chúng ta không cần phải giảng nhiều như vậy, chỉ giảng cái này:* "Thưa Thế Tôn! Nay con nghe được kinh điển này, tin hiểu thọ trì cũng không khó gì." *Đây là Tu Bồ Đề nói, ngài ấy có thể tin, có thể hiểu, cũng có thể thọ trì, đối với Tu Bồ Đề mà nói thì không phải là một chuyện khó khăn, hoàn toàn không phải là việc rất khó. *"Nhưng nếu đời sau, năm trăm năm sau,"* (sau 500 năm nữa), *"có chúng sinh nghe được kinh này mà tin hiểu thọ trì, thì người ấy cũng là bậc nhất hiếm có."* Nói về đoạn này, chúng ta giảng về đoạn *"bậc nhất hiếm có"*, giảng về *"bậc nhất hiếm có" *ở đây. Câu về tin hiểu thọ trì này, tôi đã giảng về tín tâm thanh tịnh rồi. Tin, nghĩa là tôi tin tưởng kinh Kim Cang, tôi tin tưởng vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Hiểu, bạn có thể biết bây giờ cái tướng "ngã" này là vô ngã. Bạn có thể hiểu, giải thích chính bạn, tôi là vô ngã, thì như thế là hiểu.

Bởi vì thân thể chúng ta là tứ đại giả hợp, cũng không có hình tướng cố định. Tôi từng giảng rồi, lúc Sư Tôn còn trẻ thì rất điển trai đó! Tôi có rất nhiều bạn gái, thật đó. Lúc tôi sống ở hợp tác Thôn Mới ở Đài Trung, có người bạn gái kia ngồi trong nhà tôi không chịu về, bố tôi, mẹ tôi đều muốn đi ngủ rồi, tôi cũng muốn đi ngủ, mà cô ấy không về, cô ấy cứ ngồi mãi trong phòng khách nhà tôi. Tôi muốn đi ngủ rồi mà cô ấy vẫn chưa về, cô ấy cứ ngồi ở đó… tôi biết tên của cô ấy, nhưng không tiện nói ra. Mà tôi cũng không biết bây giờ cô ấy còn sống không nữa. Nên nói ra chắc là không sao đâu nhỉ? Tôi gọi cô ấy là Giang Hà. Giang Hà, cô ấy cứ ngồi trong phòng khách nhà tôi không về, khi ấy trông tôi rất điển trai, cô ấy cứ không về là không về, tôi phải tiễn cô ấy về tận nhà sau đó tôi tự đi về nhà mình thì cô ấy mới chịu đi.

Đó là lúc tôi còn trẻ, cái tướng ấy khiến người ta chết mê chết mệt! Tôi tự thấy cũng đúng! Đúng là tôi trông cũng rất bảnh! Khi ấy tôi không cảm thấy gì, là như thế đấy. Còn bây giờ thì sao? Bạn xem tướng của tôi bây giờ đã khác rồi, ngày xưa, bây giờ, còn có cái lúc tôi vừa mới chào đời chưa mặc quần áo nữa, lúc còn chưa mặc quần áo cũng có chụp một tấm ảnh. Đó căn bản đều là một thứ do tứ đại giả hợp thôi! Đều sẽ biến hóa, đều sẽ thay đổi, mỗi một thời điểm đều sẽ thay đổi: *baby* (em bé) mới chào đời, lúc học tiểu học, lúc học cấp hai, lúc học cấp ba, lúc học đại học, lúc ra đời đi làm, lúc lập gia đình, sau đó bước vào tuổi trung niên, rồi cuối cùng là tuổi già, bây giờ tôi 77 tuổi rồi, là như thế đó. Mỗi thời điểm đều khác nhau, bất kì thời gian nào cũng đều khác nhau, điều này chính là đại diện cho vô ngã.

Đến một ngày tôi sẽ biến thành tro tàn, sau đó được đưa đến Song Liên Cảnh Giới. Tôi ở đâu? Căn bản là tôi đang biến hóa, biến hóa trong sự vô thường, cái tôi thật sự là ai? Làm gì có! Ba chữ Lư Thắng Ngạn này cũng là tên giả. Tôi từng nói rồi, đó là vô ngã tướng, bạn nhận thức được "ngã" là "vô ngã" rồi, cần phải hiểu được điều này, sau khi tin rồi thì phải hiểu được. Tiếp theo là phải tiếp nhận vô ngã tướng, vô nhân tướng, bởi vì khi bạn không còn có cái suy nghĩ "tôi là như thế này, tất cả chúng sinh cũng đều là như thế này", thì đó là vô nhân tướng rồi. Vô chúng sinh tướng, rất đơn giản, cái gì là chúng sinh? Chính là không gian đó. Thứ nào là của bạn? Tôi nói để bạn biết, tôi đang sống, cũng không có ý định sống tiếp. Được thôi, tôi hỏi bạn: khi bạn chết, bạn đem theo được cái gì? Vô chúng sinh tướng mà!

Bạn nói: "Bây giờ tôi có bất động sản." Nhà cửa là của bạn sao? Không có. Đất đai là của bạn sao? Không có. Tôi nhìn những người giàu có, chà! Nước Mĩ có rất nhiều người giàu, người phát minh ra xe ô tô điện này, ông ấy cũng là một tỉ phú, gần đây ông ấy bán hết toàn bộ nhà cửa, biệt thự của ông ấy cũng đem bán hết, rồi đi ở trong một nhà chung cư. Tôi nói để bạn biết, nhà chung cư cũng không phải của ông ấy. Tôi nhìn những người có quyền lực rất lớn, ví dụ như Biden, hay chủ tịch nước Trung Quốc Đại Lục, như Đài Loan… đúng vậy! Họ có thể làm được bao lâu? Đều sẽ chỉ được vài năm, đều sẽ không được lâu.

Nhà cửa, đất đai đều không phải là của bạn, đó chính là vô chúng sinh tướng. Bạn có thể sống được bao lâu, đó chính là thọ giả tướng (thời gian). Tôi thử hỏi cậu Tenzin: *"How old are you?"* (Cậu bao nhiêu tuổi?) *Nineteen*, 19 tuổi. Mời ngồi! "100 năm sau cậu ở đâu?" Nói không chừng cậu có thể sống đến 119 tuổi đấy, nhưng đó cũng là điều rất khó, đúng thế không? Rất khó đó, rất khó. Đến lúc đó thì không còn nữa, cậu không còn nữa, chúng tôi đều không còn nữa, cho nên những người đang ngồi đây, có lẽ là trừ các em bé ra, thì hầu hết sẽ không còn sống nữa, sau 119 tuổi thì đều không còn nữa, cái ấy chính là thời gian, chính là vô thọ giả tướng.

Bạn có thể hiểu được bốn điều này — không có bạn, không có người khác, không có thời gian, không có không gian, bạn có thể hiểu, thì đây gọi là tin và hiểu. Thọ, là sau khi bạn biết được điều này rồi, bạn có thể tiếp nhận. Trên thực tế là bạn không tiếp nhận không được, như tôi vừa nói, tôi đang sống cũng không dự tính được là sống tiếp, bạn cần phải chấp nhận thực tế này, bạn tiếp nhận rồi, bạn "trì" (duy trì), nghĩa là bạn đã tiếp nhận rồi, sau khi tiếp nhận rồi thì bạn theo đó mà tu trì, tu trì cái gì? Tâm của bạn vẫn còn chưa bình tịnh đúng không? Bạn vẫn còn đố kị đúng không? Bạn đố kị ai? Đố kị những người có tiền sao?

Bill Gates đến một nơi nọ, người ta vô duyên vô cớ cầm bánh *gateaux* ném "bộp" vào mặt ông ấy, thế là cả mặt dính đầy bánh kem. Vì sao vậy? Bởi vì đối phương nói một câu: "Tao ghét người có tiền." "Tao ghét người có tiền", đó chính là ghen tuông và đố kị. Bạn cần biết rằng, người có tiền và chúng ta là giống nhau, bạn cũng cần biết, những người ở địa vị cao cũng giống như chúng ta thôi, họ ở đó cũng chẳng có gì là tốt đẹp hơn. Người có tiền cũng không hẳn là tốt hơn nhiều, cũng giống như chúng ta thôi. Tâm lí của bạn vô cùng tĩnh lặng, tâm lí giống như nước đứng yên, bạn có thể thiền định. Bạn có trí huệ này, bạn có thể thiền định, cái này gọi là tin hiểu thọ trì. 

Người có tiền, người xinh đẹp, bạn rất ghen tị họ: "Choa, cái người kia thật sự xinh đẹp quá!" Sư Tôn vẽ Đại Cát Tường Thiên, còn có Trường Thọ Ngũ Thiên Nữ, 12 Cát Tường Thiên, rồi còn có Sarasvati, ba thị nữ của Diêu Trì Kim Mẫu, những người con gái của Diêu Trì Kim Mẫu tôi đều vẽ rồi. Người nào cũng đẹp như Thiên Tiên, đó là cõi trời đó, những người ở cõi trời thì chúng ta không tính. Chúng ta ở thế giới Ta Bà, sắc, mọi người hãy nhớ một câu "người già ngọc ố", người hay ngọc đều biến đổi, đều là vô thường, đều đang biến động trong vô thường. Tiền, bạn có thể rất điềm nhiên trước tiền, thì sẽ không tham lam. Sắc, bạn cũng rất điềm nhiên trước sắc, thì sẽ không tham lam. Tham, sân, si, nghi, mạn, tất cả những thứ không tốt, bạn đều đã hiểu thấu hết, như thế tức là "thọ". 

Tâm linh của bạn vô cùng an bình, không có phiền não. Có cái gì đáng để phiền não chứ? Vui vẻ chẳng qua cũng là nhất thời, đau khổ cũng là nhất thời. Đương nhiên đời người là khổ, không sai, khổ sinh lão bệnh tử, những chuyện đau khổ quá nhiều, chuyện vui thì rất ít, đời người là như thế, cho nên ngày xưa khi Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp đều luôn nói một câu, bắt đầu bài giảng bằng câu "đời người là khổ". Phật Thích Ca Mâu Ni cũng vì nhìn thấy mọi cái khổ bên ngoài cho nên mới nhanh chóng xuất gia, 25 tuổi Phật đã xuất gia rồi. Năm 19 tuổi Phật cũng kết hôn, đến 25 tuổi thì xuất gia. Phật Thích Ca Mâu Ni vì du lịch bên ngoài bốn bức tường thành, ngài nhìn thấy sinh lão bệnh tử ở khắp nơi, cho nên ngài liền xuất gia. Đây chính là "thọ". 

Còn "trì" thì sao? Bạn căn cứ theo vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng của mình mà tâm linh bình tịnh thiền định. Làm theo phương pháp của Mật giáo để mở ra năm luân xa là đến được Bồ Tát thập địa, mở ra được đỉnh kế nữa là địa thứ mười hai rưỡi rồi. Mở ra lỗ đỉnh đầu, đỉnh luân, mi tâm luân, hầu luân, tâm luân, tề luân, mật luân, thì bạn đạt đến địa thứ mười hai, đến khi sinh ra đỉnh kế thì là địa thứ mười hai rưỡi, địa thứ mười ba thì là Phật. Trong Đạo Quả có nói đến rồi, đây chính là "trì", tất cả đều thanh tịnh hết.

Tôi nói để bạn biết, vừa nãy tôi nói một câu rất thù thắng: "Phá hủy tất cả thanh tịnh." Lúc hồi hướng tôi nói phá hủy tất cả thanh tịnh. "Sư Tôn, câu nói này có phải là bị nói nhầm không? Phá hủy tất cả thanh tịnh ư?" Không, tôi không nói nhầm đâu. Ngay cả đến cái từ thanh tịnh này tôi cũng phá hủy luôn, bởi vì căn bản là không có cái gọi là thanh tịnh. Như vậy là sao đây? Chẳng phải thầy bảo chúng tôi tu thanh tịnh sao, vì sao ngay cả thanh tịnh cũng phá hủy? Thanh tịnh chỉ là một từ thôi, bạn có thể duy trì vững vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, bên trong không có thanh tịnh, bên trong là trống rỗng, cái gì cũng không có, đó là cảnh giới cao nhất đó!

Lục Tổ Huệ Năng nói: "Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, chính vào lúc ấy." Khi ấy tôi rất hoài nghi về câu nói "không nghĩ thiện không nghĩ ác" này của Lục Tổ. Tôi nói: "Lẽ nào ngài nói chúng ta không cần làm việc thiện sao?" Không nghĩ thiện, câu này sai rồi, khi xưa tôi cho rằng Lục Tổ nói sai rồi. Không nghĩ ác thì được, bạn không được nghĩ đến chuyện làm điều xấu. Không nghĩ ác, được, nhưng nhất định phải nghĩ thiện, làm sao lại không nghĩ thiện chứ? Ngay cả thiện cũng không nghĩ, vì sao vậy?

Giờ đây khi tôi đã đọc kinh Kim Cang, tôi đã biết, đã hiểu, bởi vì trên mặt trăng, tôi hỏi bạn, cái gì là thiện, cái gì là ác. Trên mặt trăng cái gì là thiện cái gì là ác đây? Không có thiện, không có ác, nơi nào có con người thì mới có thiện ác. Hôm nay chúng ta làm việc thiện, giống như Hội Công Đức Hoa Quang, Sheng Yen Lu Foundation - Tổ chức từ thiện Lư Thắng Ngạn đang làm việc thiện, nhưng không có suy nghĩ về thiện, đây gọi là không nghĩ thiện. Tôi đi làm việc thiện, làm bố thí, nhưng tôi chưa bao giờ để cái việc bố thí ấy ở trong đầu, làm xong là thôi, làm xong là xong, chưa bao giờ để trong tâm. Cái này chính là, nói một cách đơn giản, là không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy. Vô sở trụ: tôi không bám trụ vào cái gì, tôi làm việc này, tôi không vì cái gì đó mà làm, đó là pháp vô vi. Bạn có thể làm pháp vô vi, việc ác đương nhiên không thể làm, việc ác không thể nghĩ cũng không thể làm, việc thiện cũng không cần phải nghĩ nhiều, nhưng cần phải làm, bạn làm xong thì là xong, không phải vì cái gì đó thì mới làm, cái này chính là không nghĩ thiện không nghĩ ác.

Thế nên hôm nay tôi nói phá hủy tất cả thanh tịnh, nghĩa là hãy xem những việc thiện bạn từng làm như là không có, phá hủy hết, bạn đã làm rất nhiều việc thiện rồi, nhưng bạn đều hủy bỏ hết những việc đó, nghĩa là phá hủy tất cả thanh tịnh. Không phải tôi nói nhầm đâu, mọi người ở dưới nghĩ rằng: "Làm sao mà tất cả thanh tịnh đều phá hủy hết?" Không sai! Bởi vì chỉ cần bạn có thể làm được vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, thì bạn hoàn toàn đạt được đến tính Không của Như Lai rồi. Cái này là gì, chính là "trì". Nhưng mà cái "trì" này rất là không dễ dàng, tiếp nhận thực tế này, và duy trì làm nó là vô cùng khó. Tin hiểu thọ trì, cái "trì" này không dễ, bạn có thể duy trì được, bạn không có phiền não, được cũng được, mất cũng được, hôm nay như thế này cũng được, ngày mai như thế kia cũng được, ngày nào cũng tốt. Tôi đã viết mấy chữ: "Tất cả đều là sự an bài hoàn hảo nhất."

Tất cả đều là sự an bài hoàn hảo nhất, hôm nay bạn bị đột quỵ phải vào bệnh viện, cũng là sự an bài tốt đẹp. Hôm nay trên người có khối u, mắc ung thư cũng là sự an bài đẹp đẽ nhất, để bạn hưởng thụ cái khổ của đời người, để bạn càng thấy rõ được cái thân thể này không phải là của bạn. "Tôi không hề muốn tôi mọc khối u, mắc ung thư đâu, tôi không hề muốn nó đến, nó tự đến đó chứ." Thân thể là của bạn sao? Nếu như thân thể là của bạn thì sẽ phải để cho chính bạn tự chủ, bạn không thể làm chủ được thân thể của bạn mà. Ung thư này nói đến là đến, đi kiểm tra, mắc rồi, phải phẫu thuật, bạn than thở: "Lại còn phải hóa trị, đau khổ làm sao!" Nhưng bạn phải nghĩ như thế này: thân thể chỉ là để cho bạn cư trú tạm thời thôi, nó là cái nhà của bạn. Đừng cho rằng bạn xinh đẹp, bỗng nhiên mắc ung thư, hóa trị xong, trông bạn cứ như đã già đi 50 năm, cứ thế hóa trị tiếp, ôi! Đúng là, đó là đau khổ đó.

Tôi thường xuyên thương xót con người ở nhân gian này mà khóc, tối hôm qua tôi cũng khóc một trận, vì con người thế gian, vì những người phải hóa trị, vì tế bào ung thư đã lan ra khắp người mà qua đời rồi. Tối hôm qua tôi cũng khóc, khóc vì chúng sinh. Đời người rất khổ, cho nên bạn phải biết, tất cả mọi thứ trên đời thật sự là vô thường, cho nên mọi người phải tin, hiểu, thọ, trì, bốn chữ này. Đừng vì cái chuyện bé xíu này mà cứ ở đó nói đi nói lại, nhai đi nhai lại như thế chứ, thật nhàm chán, nhàm chán quá, chẳng có gì hay cả!

Trong tâm bạn cũng đừng có phiền não, cũng đừng buồn phiền. Khổ, hãy nhẫn nhục chịu đựng; đau, nhẫn nhục chịu đựng, bất kể gặp phải hoàn cảnh nào bạn cũng nhẫn nhục chịu đựng. Bạn có thể tiếp nhận, bởi vì bạn biết rằng vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Nếu bạn hiểu được điều này, bạn sẽ không ước ao được như người có tiền, cũng không hâm mộ những người có địa vị rất cao, cũng không thèm muốn được như những người xinh đẹp, như người đẹp trai anh tuấn, đều không cần phải ước ao. Trong lòng bạn rất an bình, hễ nhập định là lập tức tiến vào thiền định, vừa nằm xuống ngủ là ngủ lập tức. Việc khổ gì rơi vào đầu bạn cũng hóa thành không, tất cả đều là sự an bài tốt đẹp nhất.

Tất cả đều là sự an bài hoàn mĩ nhất. Một cụ bà trước lúc lâm chung gọi con cái đến bên giường, lấy ra một tờ giấy ghi nợ hai trăm nghìn đô, nói với các con: "Giấy ghi nợ hai trăm nghìn đô này, là do mẹ mượn ở chỗ cậu của các con, mẹ đi rồi, các con phải trả." Con trai nghe xong liền rối cả lên: "Con không có tiền, con không trả." Con gái nghe xong thì khóc và nói: "Mẹ, mẹ hãy yên tâm, con không có tiền, nhưng con sẽ trả, con kiếm không được nhiều tiền, con sẽ từ từ trả." Làm tang sự xong, con gái cầm tờ giấy ghi nợ đến nhà người cậu để thương lượng chuyện trả nợ, người cậu nói: "Giấy ghi nợ này là giả đó, đây là tiền của mẹ cháu kiếm được để ở nhà cậu. Mẹ cháu dặn cậu, ai đem giấy nợ này đến trả nợ thì tiền sẽ trao cho người đó." Hãy nghĩ đến câu này: tất cả đều là sự an bài hoàn hảo nhất. Om mani padme hum.

*(Ngày 12/12/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Thời Luân Kim Cang tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 41.)*


### 42. Phần thứ 14: Lìa tướng tịch diệt (5)


*(Bài giảng 42) *Bậc nhất hiếm có

Bây giờ tôi giảng kinh Kim Cang. Đây là Tu Bồ Đề nói:

*"Thế Tôn! Thực tướng ấy tức chẳng phải tướng, vì thế Như Lai nói là thực tướng. Thưa Thế Tôn! Nay con nghe được kinh điển này, tin hiểu thọ trì cũng không khó gì. Nhưng nếu đời sau, năm trăm năm sau, có chúng sinh nghe được kinh này mà tin hiểu thọ trì, thì người ấy cũng là bậc nhất hiếm có. Là vì sao? Vì người này vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Thế rồi thì sao? Ngã tướng tức chẳng phải tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng tức chẳng phải tướng. Là vì sao? Lìa bỏ tất cả mọi tướng thì gọi là chư Phật."*

Được rồi, hôm nay tôi đã giảng xong về tin hiểu thọ trì rồi. *"Thì người ấy cũng là bậc nhất hiếm có."* Bậc nhất hiếm có này ý nói rằng người mà vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng là bậc nhất hiếm có. Có thể tin hiểu thọ trì là người hiếm có bậc nhất. Phật Thích Ca Mâu Ni giảng kinh điển này, vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, vì sao ngài lại là bậc nhất hiếm có? Bởi vì chưa từng có một vị giáo chủ nào nói như vậy. Phật Thích Ca Mâu Ni nói vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng.

Trên thế giới này có rất nhiều tôn giáo. Vào thời Đế quốc La Mã, họ tin vào giáo hội của phương tây, tức là tòa thánh Rome bây giờ. Tòa thánh Rome thuộc giáo hội phương tây. Tại Đế quốc La Mã có giáo hội phương đông, giáo hội phương đông và giáo hội phương tây sau này càng ngày càng tách xa nhau. Giáo hội phương tây trở thành tòa thánh ngày nay, tòa thánh Vatican, có Giáo hoàng. Giáo hội phương đông chính là Đông Chính Giáo, Đông Chính Giáo thì ở Thổ Nhĩ Kì, địa điểm chính của nó là ở Thổ Nhĩ Kì và Hi Lạp. Tòa thánh Vatican là giáo hội phương tây, còn giáo hội phương đông thuộc về Đông Chính Giáo. Đây là hệ thống của Thiên Chúa giáo, cũng chính là Cựu Ước Thánh Kinh trong Kinh Thánh. Ngài ấy là một vị Thần, vị Thần này chính là Thiên Chúa, vị Chúa ở trên trời, đây là đạo một thần.

Thế còn đạo Cơ Đốc do chúa Jesus giáng thế, sau khi ngài đến ở Nassad và được rửa tội bởi John người rửa tội, cửa thiên đường của ngài đã mở ra. Theo những gì mà Tân Ước Thánh Kinh viết, đây là con trai của ta, đứa con mà ta yêu thương. John người rửa tội tại dòng sông kia đã dùng nước sông giúp rửa tội cho Jesus. Cổng thiên đường mở ra, Thánh linh giống như con chim bồ câu giáng lên người Jesus, thân thể của Jesus đã tỏa sáng. Ngài ấy bắt đầu hoằng dương phúc âm của mình, chúng ta gọi đó là phúc âm, vì thế chúng ta giảng Tân Ước Toàn Thư chính là Matthew, Mark, Luke, Johan, sách Công Vụ Tông Đồ. Bốn phúc âm chính là Matthew phúc âm, Mark, Luke, Johan, bốn sách phúc âm này và các sứ đồ trong sách Công Vụ Tông Đồ là những tông đồ hoằng dương Thánh giáo của Jesus sau này. 

Lúc Jesus 33 tuổi, ngài ấy đã đến Thánh địa Jerusalem, khi ấy còn dưới thời Đế quốc La Mã. Và do thế lực của Jesus rất mạnh, Đế quốc La Mã đã dùng một kẻ không tên tuổi (tội danh) đóng đinh ngài lên thập tự giá, vị thống đốc khi ấy của thành phố Jerusalem là Pilate, hắn đã phán xử đóng đinh Jesus lên thập tự giá, lúc Jesus chết mới có 33 tuổi. Ngài ấy cũng là một vị Thần, chính là hợp nhất của Thượng đế (cha), Jesus (con) và Thánh thần. Cha chính là Jehovah, Jesus và tất cả thiên sứ hợp lại. Ba hợp làm một, đây là tín ngưỡng một thần.

Tiếp theo nói đến Mohammed. Sau khi nhà tiên tri Moses dẫn người Hebrew vượt biển Đỏ, họ lang thang giữa những vùng hoang dã trong nhiều năm. Đến núi Sinai, Moses chỉ về vùng Canaan nói rằng đó là mảnh đất Thượng Đế ban cho các người, các người phải ở nơi đó, nơi đó bây giờ gọi là Palestine. Jerusalem trở thành Thánh địa của bốn tôn giáo: một là Thánh địa của người Do Thái, một là Thánh địa của Thiên Chúa giáo, một là Thánh địa của Cơ Đốc giáo, một là Thánh địa của Hồi giáo.

Thánh địa Hồi giáo có ba nơi: một là Mecca, Mecca và Jerusalem. Mohammed 63 tuổi thì qua đời. Lúc sinh ra ngài ấy vốn là người rất giàu có, sau đó gia đình sa sút, từ nhỏ ngài ấy đã giúp người ta việc chăn cừu. Sau đó bằng nỗ lực của chính mình, ngài đã cùng một người đàn bà góa lái lạc đà và trở thành người đứng đầu các thương nhân buôn bán lạc đà. Người vợ đầu tiên của Mohammed là một góa phụ. Cuối cùng, Mohammed theo đạo Hồi đã cưới tổng cộng 12 người vợ, thật là hâm mộ. 

Thế nên trong kinh Koran có nói đến một chồng nhiều vợ, một chồng lấy bốn bà vợ, đó là điều được phép, nhưng họ cũng chủ trương một vợ một chồng. Tôi đã đọc kinh Koran, đọc từ đầu tới cuối. Đó là vì ở giữa Mecca và Medina có một hang động, Mohammed đến hang động đó đã nhìn thấy thiên sứ Gabriel, thiên sứ ấy nói với ngài rằng: ngài là vị tiên tri cuối cùng, Moses cũng là nhà tiên tri, Jesus cũng là nhà tiên tri. Sau đó, đến ngài ấy là vị tiên tri cuối cùng. Chỉ thị của bề trên nói với ngài ấy rằng: đệ tử sau này sẽ biên tập nên cuốn kinh Koran, tôn giáo của Mohammed cũng là tôn giáo một thần.

Kết quả cuối cùng, ý nghĩa của Cơ Đốc giáo là như thế này. Khi Jesus lại đến, nếu như Jesus quay trở lại, linh hồn này sẽ cùng với thể xác đã được chôn cất kết hợp lại với nhau, như thế con người có thể hồi sinh, cùng với Jesus lên thiên đường. Điều này được ghi lại trong Lời Sấm Truyền. Thật ra đạo Hồi cũng giống như vậy. Khi ngày đó đến, linh hồn sẽ cùng với thể xác đã được chôn hợp lại với nhau, bạn tin theo đạo Hồi thì bạn cũng sẽ được thăng thiên.

Thế còn, ngày trước khi tôi còn đi học ở học viện Kinh Thánh, tôi biết Cơ Đốc giáo chính là một thiên đường một địa ngục. Thế còn Hồi giáo cũng là một thiên đường, họ gọi là Vườn địa dàng (khu vườn của cõi trời), cũng là một thiên đường một địa ngục giống như vậy. Giống hệt nhau. Sau khi đến nơi đó rồi, con người không thể trở thành Thượng đế, bởi vì Thượng đế là thần. Thượng đế là một vị thần, con người vĩnh viễn không thể nào thành được Thượng đế.

Phật giáo thì có điểm khác biệt. Trên thế giới này mấy tôn giáo, bạn so sánh với nhau. Ví dụ Do Thái giáo, Đông Chính giáo, Thiên Chúa giáo, Cơ Đốc giáo, Hồi giáo, bạn xem những tôn giáo này đều là tôn giáo thờ một thần, với một thiên đường, một địa ngục. Kinh Kim Cang thì khác, vì sao nó lại là bậc nhất hiếm có? Bởi vì nó không phải là một thiên đường, cũng không phải là một địa ngục. Điều mà Phật nói là lục đạo luân hồi, lục đạo này đã rất khác biệt rồi: gồm Trời, Người, Atula, Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh. Có sự luân hồi trong sáu đạo, và trời cũng không phải chỉ có một trời. Có các cõi trời gọi là Dục giới thiên, Sắc giới thiên, Vô sắc giới thiên, có tới ba cõi trời, không phải một trời. Các tôn giáo khác chỉ có một cõi trời, một Thượng đế, một Thần mà thôi. Một Thượng đế, một Allah, chính là Thượng Chủ, là Chúa Trời.

Cho nên đây chính là bậc nhất hiếm có rồi. Bởi vì chỉ có Phật Thích Ca Mâu Ni mới có thể nói rõ ràng đến vậy, đó đương nhiên là hiếm có bậc nhất. Hơn nữa không chỉ có thế, ngài ấy còn vượt lên cả trời, vượt quá cả trời, bạn ở trong cõi trời thì vẫn phải luân hồi, theo như lời Phật Thích Ca Mâu Ni giảng thì khi hưởng hết phúc báo ở trên trời rồi, bạn vẫn phải luân hồi. Đây là điều mà các tôn giáo khác không có, các tôn giáo khác chỉ lên đến trời là dừng lại. Đến địa ngục thì vĩnh viễn chịu hình phạt thiêu sống. Thật ra địa ngục của Hồi giáo, địa ngục của Cơ Đốc giáo, và địa ngục của Thiên Chúa giáo đều là hình phạt lửa thiêu, là giống nhau. Vậy không thể nào là một trời, một đất, một người, mà là một Thần, một vị Thần thôi, tôn giáo thờ một Thần, chỉ có một Thần.

Phật giáo thì khác, Phật giáo phá hủy tất cả, cái tinh thần vô ngã tướng này, vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng này, thọ giả ở đây tức là đại diện cho thời gian, chúng sinh tướng đại diện cho không gian. Ngã - đại bộ phận con người đều cho rằng cái tôi này là trung tâm, thật ra các tôn giáo khác đều lấy cái tôi này làm trung tâm. Phật pháp của Phật Thích Ca Mâu Ni thì khác, là phá bỏ toàn bộ cái tôi này. Trong kinh Kim Cang nói: vô ngã tướng, nghĩa là phá bỏ cả cái tôi này, phá bỏ hết cái tôi dục vọng này. 

Vậy đương nhiên, các tôn giáo khác trên thế giới đều là tôn giáo có cái tôi. Chỉ có Phật Thích Ca Mâu Ni là nói không còn cái ngã. Nếu nói là tôn giáo thì đó chính là tôn giáo. Nếu không phải là tôn giáo thì cơ bản cũng nói chẳng phải là tôn giáo. Tôn giáo cũng là một danh từ mà thôi. Vì đã vô ngã rồi, cái này chỉ có Phật Thích Ca Mâu Ni nói đến, không có cái tôi rồi thì sẽ không còn dục vọng nữa.

Nhưng các tôn giáo khác đều có cái tôi, có dục vọng. Chỉ có Phật Thích Ca Mâu Ni nói: không có cái tôi, không có dục vọng. Đây chính là bậc nhất hiếm có. Nếu như bạn không còn dục vọng, bạn tu đến khi hoàn toàn không còn dục vọng, thì bạn chính là Thánh nhân. Sao lại không phải là Thánh hiền? Bạn không có dục vọng, bởi vì có dục vọng mới biến thành nghiệp lực. Pháp mà Phật Thích Ca Mâu Ni giảng đều hoàn toàn không còn dục vọng, cái tôi này không có nữa thì sẽ không có dục vọng.

Bạn thường xuyên nhớ rằng bạn là không, không có cái ta này, thế thì bạn sẽ không sản sinh ra dục vọng nữa. Vì đã không sản sinh dục vọng, tất cả hành vi của bạn sẽ hợp với chính nhân Thánh hiền của trời đất. Bởi vì dục vọng sản sinh nghiệp lực, người không có dục vọng sẽ không sản sinh nghiệp lực, căn bản không còn nghiệp lực, cũng có nghĩa là không có nhân sinh, không có nhân tử. Không có nhân sinh nghĩa là sống vĩnh viễn, nghĩa là niết bàn. Khác với sự bất tử của các tôn giáo khác, cho nên đây là bậc nhất hiếm có. Chỉ có Lư Sư Tôn mới có thể nói thế nào là bậc nhất hiếm có.

Phật giáo nói đến ngũ độc tham sân si nghi mạn, tài sắc danh thực thụy, đều là dục vọng, tất cả những điều này đều phải loại bỏ. Tài sắc danh thực thụy, cái này đều phải phá bỏ. Tham sân si nghi mạn, toàn bộ đều bị phá trừ. Nếu bạn có thể phá bỏ, dục vọng của bạn không còn nữa, thì nghiệp lực sẽ không còn, bạn sẽ tiến nhập niết bàn. Niết bàn mà Phật giáo nói đến chính là sống mãi, không có nhân sinh, không có nhân tử. Phật Thích Ca Mâu Ni nói được điều này là bậc nhất hiếm có.

Vì thế, tôi thường xuyên so sánh, lần nào cũng đều so sánh với mặt trăng, mặt trăng không có người, mà đã không có người thì cái gì là thiện đây? Cái gì là ác đây? Không có thiện ác. Không có con người thì lấy đâu ra thiện ác. Vậy ở trên mặt trăng, bạn còn tham cái gì chứ? Nếu một mình bạn ở trên mặt trăng, bạn tham cái gì? Tiền ư, bạn cũng sẽ chẳng tham. Sắc ư, bạn cũng sẽ chẳng tham. Danh ư, bạn cũng sẽ chẳng tham. Ăn, bạn cũng chẳng ham. Ngủ, bạn cũng chẳng ham. Cái gì cũng không có. Phật Thích Ca Mâu Ni nói: cái gì cũng không có mới là thực tướng.

Hoàng đế Trung Quốc, tôi không nói đến hoàng đế bình thường - những hoàng đế lên ngôi làm hoàng đế. Tôi nói đến Hiên Viên Chi tổ tiên sớm nhất của người Trung Quốc, hoàng đế, hoàng đế Trung Quốc hỏi đạo ở chỗ của Quảng Thành Tử. Còn Thánh nhân Trung Quốc, Khổng Tử hỏi đạo ở chỗ của Lão Tử. Lão Tử và Quảng Thành Tử, đều nói một câu "chí hư". Anh hỏi đạo ở chỗ tôi, tôi nói với anh rằng "chí hư" chính là đạo, cái gì cũng không có chính là đạo. Vì bạn đã không còn cái gì cả thì đó là thanh tịnh một trăm phần trăm. Căn bản không có dục vọng, chính là Thánh hiền một trăm phần trăm.

Cho nên, kinh Kim Cang là bất hoại, cho nên nó là *diamond* (kim cương). Có một số người phương tây họ gọi đây là kinh Kim Cương, đắt nhất, bất hoại. Kinh Kim Cang là bất hoại, cái gì cũng không có thì làm gì mà bị hư hoại? Chính vì có nên mới sẽ bị hư hoại. Nếu bạn còn có bản ngã, cái tôi này sẽ già, sẽ chết, những nghiệp được sinh ra trong đó sẽ biến thành nguyên nhân khiến bạn luân hồi. Khi bạn tu đến vô ngã rồi, bạn bất hoại, bạn sẽ được sống mãi. Ý nghĩa ở đây chính là như vậy.

Theo những gì được nói trong kinh Phật: có dục vọng nhất định có nghiệp lực. Vì vậy, nguyên nhân tôi học Phật chính là ở đây. Bởi vì những điều mà Phật Thích Ca Mâu Ni nói không giống với những tôn giáo thờ một Thần nói, hoàn toàn không giống.

Cho nên, "người ấy cũng là bậc nhất hiếm có". Cái sự hiếm có này, đương nhiên là hiếm có bậc nhất. Bởi vì Phật không còn gì cả, ngài không còn dục vọng. Và như thế, Thần Tiên không còn dục vọng thọ cùng trời đất, sống thọ cùng với trời đất. Vì sao linh hồn cứ phải bám vào cái nhục thể này, phải hợp với cái nhục thể này mới có thể thăng thiên? Linh hồn trực tiếp thăng thiên là được rồi mà? Sự hoài nghi của tôi là như vậy. 

Tôn giáo một Thần nói: vì sao họ phải cắm cây thập tự trên phần mộ? Là vì khi chúa Jesus quay trở lại, người tin theo Jesus, nhục thể lại có thể đi ra cùng với linh hồn kết hợp lại, thế rồi đến thiên đường, vĩnh viễn duy trì sự thanh xuân. Tôi không biết thanh xuân này đại diện cho bao nhiêu tuổi, tóm lại là rất trẻ, vĩnh viễn giữ được thân thể như vậy. Khi chết đi, nhục thể đó đã thối rữa rồi, làm gì còn có nhục thể chứ? Cho nên, linh hồn có thể trực tiếp thăng thiên.

Phật Đà thì nói rằng nhục thể chẳng có tác dụng gì, thân thể này của chúng ta là vô dụng. Hơn nữa càng ngày càng già, già đến cùng thì chết, đến lúc đó thì hóa thành tro, hóa thành đất. Làm gì còn có con người tồn tại? Vì sao không phải là linh hồn này trực tiếp thăng thiên, mà lại phải là linh hồn này cùng với con người trong ngôi mộ kia kết hợp lại, sau đó lại thăng lên thiên đường chứ? Kinh Koran, kinh Thánh đều viết như vậy. 

Tôi thảo luận với mọi người về các tôn giáo khác nhau trên thế giới, và điều Phật nói về việc loại bỏ cái tự ngã này, hóa thành thân thể thanh tịnh tồn tại vĩnh viễn. Khi bạn không còn dục vọng, bạn sẽ cùng tồn tại với trời đất, cái đó chính là cảnh giới niết bàn. Vì thế, cái này thuộc về *"người ấy cũng là bậc nhất hiếm có"*, tôi chỉ có thể nói là bậc nhất hiếm có, là số một, vô cùng hi hữu. Bởi vì Phật không còn cái ngã, không còn nghiệp, không còn nguyên nhân sinh, cũng không còn nguyên nhân tử, Phật vĩnh viễn tồn tại, chính là Buddha. Như vậy tôi có thể giải thích tiếp đoạn sau.

"Là vì sao?" Vì sao vậy? "Vì người này vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Thế rồi thì sao? Ngã tướng tức chẳng phải tướng", bởi vì sẽ hư hoại hết, nên là phi tướng, căn bản là không còn gì. "Nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng tức chẳng phải tướng." Tiếp theo, mọi nhân tướng, còn cả mọi không gian, thời gian đều không phải là tướng. "Là vì sao?" Vì sao lại như vậy? "Lìa bỏ tất cả mọi tướng thì gọi là chư Phật." Lìa bỏ những tướng này, hoàn toàn thanh tịnh một trăm phần trăm chính là Phật (Buddha). Giảng đến đoạn này.

Một người đi qua một ruộng dưa hấu, trong lòng nảy ra một suy nghĩ không tốt, đó là ăn trộm dưa thật nhanh, kết quả là bị phát hiện. Bị người trồng dưa đuổi theo suốt đoạn đường, người này nghĩ: "Xong rồi, lần này nhất định chết chắc." Kết quả là người trồng dưa chạy theo mồ hôi đầm đìa, cuối cùng cũng tóm được. Người trồng dưa hét: "Anh bạn, dưa hấu này có thuốc trừ sâu, nếu anh muốn ăn thì phải rửa nhiều lần." Người nông dân trồng dưa này tâm địa rất tốt, anh ta đuổi theo người ăn trộm không phải vì muốn bắt, mà là vì trên quả dưa có thuốc trừ sâu, nếu anh muốn ăn thì phải mau rửa sạch đã, rửa sạch hết thuốc trừ sâu.

”Khi duyên phận đến thì có ngăn cũng không ngăn được. Tôi liên tục suốt một tháng liền mua đồ ăn sáng cho một đồng nghiệp nữ mà tôi vô cùng ái mộ, sau một tháng thì tôi đã cùng với bà chủ quán ăn sáng ở bên nhau rồi." Không phải anh ta thân với đồng nghiệp nữ. Hai mẩu chuyện cười này đều là có dục vọng, chuyện cười thứ nhất là ham muốn ăn uống, ăn trộm dưa hấu chính là muốn đem về ăn. Chuyện cười thứ hai là ham muốn về sắc, hai chuyện đều có dục vọng, cho nên có dục vọng thì mới là nhân gian, không có dục vọng thì tức là Thánh hiền. Om mani padme hum.

*(Ngày 18/12/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Liên Hoa Sinh Đại Sĩ Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 42.)*


### 43. Phần thứ 14: Lìa tướng tịch diệt (6)


*(Bài giảng 43) *Không kinh không hãi không sợ

Bây giờ chúng ta giảng kinh Kim Cang. 

*Phật bảo Tu Bồ Đề:
"Đúng vậy! Đúng vậy! Nếu lại có người, nghe được kinh này, không kinh, không hãi, không sợ, nên biết rằng người này rất hiếm có. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Như Lai nói: đệ nhất Ba la mật, tức chẳng phải đệ nhất Ba la mật, thì gọi là đệ nhất Ba la mật."*

Tôi nói để mọi người biết. Người đọc kinh Kim Cang, người đã nghe Lư Sư Tôn giảng pháp, không kinh (nghĩa là không có cảm giác rất kì lạ), không hãi (không hãi hùng), không sợ (cũng không sợ sệt), sáu chữ này *"không kinh không hãi không sợ"* vô cùng quan trọng. Nhìn chung mà nói, phần lớn người nghe đến kinh Kim Cang, người nghe tôi thuyết pháp, kì thực sẽ giật nảy người kinh ngạc. Vì sao vậy? Vì sao mà giật nảy người kinh ngạc (đại bộ phận nhìn chung mà nói đều sẽ hết hồn)? Kinh Kim Cang nói đến vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, không có tôn giáo nào nói như vậy cả, ngoại trừ Phật Thích Ca Mâu Ni. 

Phật Thích Ca Mâu Ni sinh ra tại Ấn Độ, trong Ấn Độ giáo có nói đến ba Đại Thần: Sắc giới thiên… cao nhất là Sắc cứu cánh thiên, trong Sắc cứu cánh thiên có Biến Tịnh Thiên Vishnu. Sơ thiên của Sắc giới thiên có Đại Phạm Thiên, là Thần Sáng Tạo Brahma. Cõi trời cao nhất của Dục giới thiên thì là Đại Tự Tại Thiên Shiva. Đây là ba vị đại Thần của Ấn Độ giáo, ba đại Thần cao nhất. Biến Tịnh Thiên Vishnu, Đại Phạm Thiên Vương, và Đại Tự Tại Thiên, là ba vị đại Thần của Ấn Độ giáo, họ đều có hình tướng, hơn nữa còn đều có thú cưng. Vishnu có thú cưng là Garuda (đại bàng Kim Sí Điểu), đó là thú cưng của ngài ấy. Thú cưng của Đại Phạm Thiên là thiên nga, thiên nga trắng. Thú cưng của Đại Tự Tại Thiên là trâu trắng, thú cưng của Shiva là trâu trắng, đều là những vật hữu hình.

Chỉ có Phật Thích Ca Mâu Ni nói căn bản là không có gì, không có tôi, không có bạn, không có người ta. Cho nên mọi người đều sẽ thất kinh: "Đâu có, vẫn còn có trời mà?" Ngay cả trời cũng không có. "Còn có địa ngục mà?" Ngay cả địa ngục cũng không có. Kì lạ thật! Vì sao Phật Thích Ca Mâu Ni lại nói như vậy, chẳng phải rõ ràng nói là có địa ngục sao? Có địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh mà? Bởi vì trong con mắt của Phật thì không có thứ gì cả, khi bạn thật sự tu đến được cảnh giới cao nhất rồi, kinh Kim Cang này là tối cao - vua của các kinh, không có kinh nào cao hơn, là bậc nhất hiếm có. Người giảng kinh Kim Cang đều phải hiểu điều đó, làm sao mà không kinh chứ? Kinh sợ bỏ xừ!

Tôi nhớ Thiền tông có một công án thế này. Có một đệ tử đến hỏi sư phụ: "Có địa ngục không?" Sư phụ bảo anh ta là có. Đệ tử thứ hai đến hỏi sư phụ: "Có địa ngục không?" Sư phụ bảo anh ta là không có. Thị giả của sư phụ này ở bên cạnh thấy rất kì quái: "Thầy vừa mới nói với người kia là có địa ngục, với người này lại nói là không có địa ngục." Thế nên thị giả cũng hỏi sư phụ: "Sư phụ à, thầy vừa nói với đệ tử đầu tiên là có địa ngục, nói với đệ tử thứ hai là không có, con không hiểu rốt cục địa ngục có hay không có? Bây giờ con là thị giả, con hỏi thầy: Rốt cục địa ngục có hay không có?" Sư phụ bảo người này rằng: "Điều con hỏi đều đúng, có và không có, đều đúng."

Chuyện này là thế nào? Tôi nói để bạn biết, câu trả lời rất đơn giản. Người đầu tiên, người này bản thân có nghiệp, sẽ đến địa ngục, cho nên sư phụ nói với anh ta là có địa ngục. Người thứ hai, anh ta tu hành vô cùng thanh tịnh, sư phụ nói với anh là không có địa ngục. Nói như vậy bạn hiểu rồi chứ? Bởi vì người đó không phải đến địa ngục, cho nên căn bản là không có địa ngục. Vì vậy, bạn đã đến được cảnh giới của vua của các loại kinh, bậc nhất hiếm có, các cõi trời đều không có: Vô sắc giới thiên không có, Sắc giới thiên không có, Dục giới thiên không có, tất cả đều không có. Bởi vì sau khi bạn nghe đến kinh điển này, bạn đã siêu vượt khỏi tam giới, không có cái gì gọi là các cõi trời, không có cái gì gọi là địa ngục. 

Điều này chỉ có mỗi Phật Thích Ca Mâu Ni có thể nói ra, bạn không kinh hãi sao? Đương nhiên ai nghe rồi thì đều kinh hãi. Thứ hai, bạn nghe xong không hoảng hốt sao? Vì sao mà hoảng hốt? Đương nhiên là sợ rồi. Bây giờ bạn đang sống để làm gì? Cái gì cũng không có, tôi cũng không có, Lư Thắng Ngạn cũng không có, Chân Phật Tông cũng không có, sách tôi viết cũng không có, tất cả con trai, con gái, cháu trai, cháu gái của tôi đều không có. Bạn nghe xong có sợ hãi không? Tiền của bạn cũng là không, nhà cửa của bạn cũng là không, đất đai của bạn cũng không phải là của bạn, nhà cửa cũng không phải là của bạn, xe cũng không phải là của bạn. Nghe xong có sợ hãi không? Ta không có gì cả, không sợ hãi sao? Đương nhiên là sợ rồi, những gì của ta đều không có nữa!

Đôi khi ngồi thiền, hễ thiền đến khi tiến vào bên trong cái thùng đen ngòm, có người ngồi thiền một lúc là bay vọt lên, bay lên rất cao rất cao, anh ta sợ phát khiếp: "Ôi trời ơi! Lát nữa rơi xuống thì phải làm sao?" Rất sợ hãi, bạn không có gì để dựa vào, bên trên không có chỗ dựa, bên dưới không có chỗ dựa, bên trái không có chỗ dựa, bên phải không có chỗ dựa, cả người bạn ở trong hư không, trở thành một mình bạn ngồi trong hư không, bạn không bị dọa sợ muốn chết sao? Thật sự rất kinh sợ đó. Đây chính là khủng bố. Khủng bố, khủng bố, đây là kinh điển khủng bố số một.

Không sợ: bạn cũng không cự tuyệt nó. Điều Phật Thích Ca Mâu Ni nói, bạn cũng không cự tuyệt. Sư Tôn đã giải thích rồi, cái gì cũng không có chính là thực tướng, thực tướng chính là phi tướng, phi tướng chính là thực tướng, tôi đã giải thích với bạn rồi. Có nghiệp mới có tướng, bạn không có nghiệp thì tướng gì cũng không có. Bạn cũng không phải luân hồi, bạn cũng không phải niết bàn, là Phật vĩnh viễn, sống mãi, là Phật tồn tại vĩnh viễn. Bồ Tát cũng thế, đến được cảnh giới Bồ Tát rồi thì cũng vậy, Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn, Tứ thánh giới đều như thế. Cho nên rất nhiều việc đều là nhất thời, bởi vậy tôi mới nói: những người ngồi trên địa vị cao nhất kia, chỉ là nhất thời, người có nhiều tiền nhất, chỉ là nhất thời, người xinh đẹp nhất, chỉ là nhất thời. Tất cả đều chỉ là nhất thời mà thôi, thật ra cái gì cũng không có, đây là điều nói đến trong kinh này. Cho nên, tôi giải thích: khi có thể hiểu được ý nghĩa quan trọng nhất của kinh này, bạn sẽ không kinh, không hãi, không sợ.

"Nên biết rằng người này rất hiếm có", cực kì ít, đại bộ phận con người đều sợ mất. Bạn xem, Tần Thủy Hoàng của Trung Quốc chúng ta, ông ấy muốn làm hoàng đế vĩnh viễn, ông ấy đi khắp nơi để tìm tiên đơn, ăn vào có thể trường sinh bất lão, vĩnh viễn làm Tần Thủy Hoàng. Nhất thời thôi! Hán Vũ Đế cũng tìm tiên đơn, đi khắp nơi để tìm, đến đỉnh núi Thái Sơn để cầu Diêu Trì Kim Mẫu, hi vọng Diêu Trì Kim Mẫu sẽ "bùm", bỗng dưng hiện ra một viên tiên đơn để cho ông ấy, ông ấy ăn xong viên tiên đơn thì sẽ vĩnh viễn làm Hán Vũ Đế bất tử. Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế đều là những nhân vật có công danh sự nghiệp vĩ đại, nhưng cũng đều là nhất thời, không có cái gọi là bất tử, không có đâu. 

Trước kia làm hoàng đế là cao nhất rồi, bây giờ người có quyền hành cao nhất trong tay cũng chẳng qua chỉ là nhất thời. Có tiền cũng thế thôi, đều chỉ trong một thời gian mà thôi. Nhà cửa, đất đai, đều là nhất thời, thân thể của bạn cũng là nhất thời, bạn đâu có sở hữu một thân thể vĩnh viễn, trên thế giới này chưa từng có chuyện như vậy. Tôi thường xuyên nói một câu: "Tôi đang sống đây nhưng không nghĩ việc sống trở lại." Đúng mà! Làm gì có người nào sống trở lại? Đều chết hết, cho nên cái này là nhất thời mà thôi, thân thể cũng là nhất thời, hiểu rõ rồi!

Phật Thích Ca Mâu Ni nói với bạn, cần phải nhìn rõ những điều này. Bạn nói, tình yêu, có một ca khúc tên là "Yêu em một vạn năm", yêu em một vạn năm, lừa đảo à, đó là bài hát lừa đảo đó. Bài hát "yêu em một vạn năm" do tập đoàn lừa đảo viết ra. Tôi nói để bạn biết nhé, bảy năm, năm thứ bảy là ngứa ngáy lắm rồi, lấy đâu ra mà vạn năm? "Nên biết rằng người này rất hiếm có", bạn hiểu thấu được điều này, thường xuyên lưu ý nó trong tâm, dần dần bạn sẽ lược bỏ bớt dục vọng của bạn. Đừng vội vàng, không hề gì, không sao cả, bạn sẽ trở nên không căng thẳng, không hề gì, không sao cả, tùy thuận, tùy mọi người đi!

*"Là vì sao? Tu Bồ Đề! Như Lai nói: đệ nhất Ba la mật, tức chẳng phải đệ nhất Ba la mật, thì gọi là đệ nhất Ba la mật."* Tôi giảng cái này. *"Như Lai nói: đệ nhất Ba la mật, tức chẳng phải đệ nhất Ba la mật, thì gọi là đệ nhất Ba la mật."* Ở đây rất đơn giản: người đầu tiên có thể đến được bờ bên kia, cũng không phải là người đầu tiên đến được bờ bên kia, bởi vì không phải là người đầu tiên đến được bờ bên kia cho nên mới là người đầu tiên đến được bờ bên kia. Câu này có lẽ là có thể giải thích như vậy, đúng không. Bởi vì bạn đến được bờ bên kia rồi thì cũng tương đương như chưa hề đến bờ bên kia, căn bản là không có bờ bên kia, bờ bên này chính là bờ bên kia mà. Bạn hiểu được cái này, cho nên đệ nhất Ba la mật cũng không phải là đệ nhất Ba la mật, mà cũng chính là đệ nhất Ba la mật. Ý nghĩa này, nói như vậy mọi người có hiểu không? Om mani padme hum.

*(Ngày 19/12/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma A Di Đà Phật tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 43.)*


### 44. Phần thứ 14: Lìa tướng tịch diệt (7)


*(Bài giảng 44) *Nhẫn nhục Ba la mật

“*Tu Bồ Đề! Nhẫn nhục Ba la mật, Như Lai nói chẳng phải là nhẫn nhục Ba la mật, thì gọi là nhẫn nhục Ba la mật. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Như khi xưa ta bị vua Ca Lợi cắt đứt thân thể, ta khi ấy vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Là vì sao? Ngày xưa khi ta bị cắt ra từng phần, nếu có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, thì ắt sinh lòng sân hận. Tu Bồ Đề! Lại nhớ năm trăm kiếp quá khứ ta làm tiên nhân nhẫn nhục, vào thời ấy, không có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng. Thế nên, Tu Bồ Đề! Bồ Tát nên lìa bỏ tất cả mọi tướng, phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.” *

“*Tu Bồ Đề! Nhẫn nhục Ba la mật, Như Lai nói chẳng phải là nhẫn nhục Ba la mật, thì gọi là nhẫn nhục Ba la mật. Là vì sao?” *Đương nhiên rồi, nhẫn nhục Ba la mật, nhẫn nhục cao nhất chính là chẳng phải nhẫn nhục Ba la mật. Bởi vì vô ngã thì còn phải nhẫn nhục cái gì đây? Không cần nhẫn, vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, bạn còn nhẫn cái gì? Không còn nhẫn nữa, cho nên nhẫn nhục Ba la mật chính là chẳng phải nhẫn nhục Ba la mật, thì cũng chính là nhẫn nhục Ba la mật. Đây là một trong số sáu Ba la mật, có nghĩa là bạn có thể nhẫn nhịn mọi sự sỉ nhục đạt đến bỉ ngạn. 

Vì sao là “chẳng phải nhẫn nhục” nhỉ? Bởi vì vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Lư Sư Tôn thường lấy ví dụ: trên mặt trăng, nhẫn nhục cái gì? Cũng chẳng có người nào chửi bạn, cũng không có người nào bị chửi, cũng chẳng có cái việc chửi này, thế thì bạn còn nhẫn nhục cái gì? Chính vì không cần nhẫn nhục, cho nên vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, bản thân bạn đã hoàn toàn trống rỗng rồi, bạn căn bản không cần nhẫn nhục. 

Người ta chửi bạn cái gì thì cũng như gió đông thổi qua tai ngựa, đi vào từ tai này thì lại đi ra từ tai kia, căn bản không giữ ở trong tâm mình. Bạn còn nhẫn nhục cái gì? Không cần nhẫn! Chính là nhẫn nhục Ba la mật. “*Tu Bồ Đề! Nhẫn nhục Ba la mật, Như Lai nói chẳng phải là nhẫn nhục Ba la mật, thì gọi là nhẫn nhục Ba la mật.” *Nghĩa là như thế, rất đơn giản có thể giải thích được rồi. Bạn không cần nhẫn, bởi vì bạn không để ở trong tâm mình, bạn còn nhẫn cái gì?

Người không thể nhẫn nhịn tức là còn có ngã tướng thì bạn mới không nhẫn nhịn được. Người ta nói bạn một câu thì bạn đã nổi cơn tam bành: “Tao giết chết mày!” Bị áp bức và nhục mạ một tí thì bạn đã trở nên ghê gớm rồi! Thật sự, phải hiểu kinh Kim Cang đó! Bạn đã đọc bao nhiêu lần kinh Kim Cang rồi mà vẫn không hiểu, không cần nhẫn nhục chính là nhẫn nhục. Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, bạn còn nhẫn nhục cái gì? Không cần nhẫn, làm trống rỗng chính mình, không còn cái tôi nữa. Ai chửi bạn thì cũng chẳng chửi được.

Những con người thế tục kia, những chúng sinh thế tục, chúng ta nói những kẻ cặn bã mới chửi người khác, mới đánh người khác. Không cần chửi, không cần đánh, vô ngã, cái gì cũng không có. Nhẫn nhục Ba la mật, đây là điều mà Phật Thích Ca Mâu Ni nói. Tôi đã giải thích rất rõ ràng rồi, không có ai chửi bạn, bạn còn nhẫn nhục cái gì? Không có người bị chửi, bạn còn nhẫn nhục cái gì? Cũng không có cái việc chửi. Giống như tôi vừa nói, kẻ cặn bã mới chửi người khác, loại người này là rác rưởi. Người này đúng là rác rưởi, *garbage *(rác rưởi), *dirty *(bẩn thỉu), *yuck* (kinh tởm). Đúng là cái đồ đầu heo! Đó đều là chửi người ta. Mẹ nhà mày, con mẹ mày, đây đều là câu chửi. 

Cho nên bạn phải đọc hiểu kinh Kim Cang, nhẫn nhục Ba la mật, không sao cả, mặc kệ đi! Đừng căng thẳng, chửi thì chửi đi! Cũng chẳng làm sao cả, chửi thì cũng chẳng chết được, đúng thế không? Đừng đánh nhau, đừng động chân động tay là được rồi, quân tử dùng miệng không dùng tay. 

“*Là vì sao? Ngày xưa khi ta bị cắt ra từng phần, nếu có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, thì ắt sinh lòng sân hận. Tu Bồ Đề! Lại nhớ năm trăm kiếp quá khứ ta làm tiên nhân nhẫn nhục, vào thời ấy, không có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng.” *Nếu mà như người bình thường thì đương nhiên sẽ nổi xung lên, vì quá đau khổ!

Trong đời quá khứ, Phật Thích Ca Mâu Ni từ rất sớm trước kia, ngài là một người thành tựu, chúng ta đều gọi là tiên nhân, ngài ấy là tiên nhân nhẫn nhục. Phật Thích Ca Mâu Ni cũng từng là tiên nhân nhẫn nhục. Khi ngài thuyết pháp, cũng không rõ là hữu ý hay vô ý mà ngài quay sang bốn vị phi tử của vua Ca Lợi. Vua Ca Lợi có mấy vị ái phi. Tiên nhân nhẫn nhục này ở dưới gốc cây thuyết pháp (tôi giả dụ là ở dưới cây thuyết pháp), bốn ái phi của vua Ca Lợi nhìn thấy tiên nhân đang thuyết pháp thì đi nghe, tiên nhân nhẫn nhục giảng rất vui vẻ, giảng Phật pháp cho bốn vị ái phi nghe. 

Khi giảng như vậy thì vua Ca Lợi trông thấy ái phi của mình ở cùng với người đàn ông lạ mặt, họ ở đó nghe giảng pháp rất thân mật, trong lòng liền sinh ra ghen tuông: “Mấy ái phi kia trước nay chưa từng chắp tay trước ta như vậy, trước nay chưa từng cung kính với ta như vậy, thế mà lại cung kính với con người kia!” Trong lòng sinh ra đố kị. Bắt lấy tiên nhân kia, chặt tay ngài, chặt chân ngài, chặt ngón tay ngài, móc mắt ngài, sau đó chặt thành từng miếng. Trong kinh điển viết như vậy. 

“*Như khi xưa ta bị vua Ca Lợi cắt đứt thân thể”, *ngày xưa Phật Thích Ca Mâu Ni bị vua Ca Lợi chặt đứt thân thể. “*Ta khi ấy vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Là vì sao?” *Ngày xưa khi bị vua Ca Lợi chặt thân thể thành từng khúc, nếu mà có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, thì hẳn là sẽ sinh sân hận. Bạn nói rằng không tức giận sao? Jesus Christ khi bị đóng đinh trên thập tự giá, ngài ấy có hận không? Nếu như ngài ấy có hận thì đã không là Jesus Christ rồi! Đóng đinh trên thập tự giá có khổ không? Cái đinh ấy rất sắc, từ đây đóng đinh qua, đinh cắm vào giá chữ thập, hai chân bắt chéo nhau, đóng đinh như thế, máu cứ thế chảy ra, có khổ hay không? Có đau hay không? Đau!

Jesus Christ là bị đóng đinh mà chết, Phật Thích Ca Mâu Ni trong quá khứ, lúc làm tiên nhân nhẫn nhục cũng như thế, khi truyền pháp bị vua Ca Lợi chặt ngón tay, chặt thành từng khúc, thân thể bị chặt thành từng khúc từng khúc, trong lòng ngài có hận không? Có thể so sánh hai vị này với nhau, Jesus Christ và Phật Thích Ca Mâu Ni. Bị chặt liên tiếp đó! Chặt thành từng khúc từng khúc. Bạn nói xem, khi tay bạn bị dao cắt vào thì cũng đã rất đau rồi. Tai bị cắt đi có đau không? Mũi bị cắt đi có đau không? Trong lòng có oán ghét không, có oán hận không? Không có ư? Bạn có muốn thử không? Móng tay bị cắt đi một mẩu thì còn được chứ! Con người thế gian chúng ta không chịu nổi đâu, Sư Tôn cũng chẳng chịu nổi.

Có một lần, tôi đẩy cửa đi vào, ngón tay của một bàn tay vẫn còn chưa rút ra, vì cánh của đó có tính đàn hồi, đầu ngón tay đã bị kẹp lại, tôi kêu “á” lên một tiếng thảm thiết, trong lòng tôi khi ấy có bực không? Lại chả muốn chửi lên ba tiếng tam tự kinh ấy chứ! Sao cái cửa ấy lại có tính đàn hồi, mở cửa đi vào, tay còn chưa rút ra đã bị kẹp rồi! Bởi vì tay đang vặn khóa cửa, cửa đã đóng lại kẹp vào ngón tay, thế là đã bị bầm tím rồi, sao mà không đau chứ? Tức chết đi chứ, trong lòng đã oán trách rồi: “Ai làm cái kiểu này chứ?….” Trong lòng đã có oán trách rồi. Đó là vì có ngã tướng! Bạn xem, Phật Thích Ca Mâu Ni và Jesus giống nhau, nhẫn nhục Ba la mật, bị đóng đinh trên thập tự giá, bị vua Ca Lợi cắt thân thể thành từng đoạn, ghê gớm như vậy mà!

Nếu có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng thì sẽ sinh sân hận. Nhất định sẽ oán trách, con người thế gian đại bộ phận đều có ngã tướng. Bạn muốn học được như Phật Thích Ca Mâu Ni: vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, thân thể bị chặt, bị móc mắt, bị cắt tai, bị chặt lìa ngón tay, sau đó thân thể đều bị băm chặt thành thịt băm, như thế mà không tức giận sao? Lão già này không tin! Thật sự không tin. Nhưng tiên nhân thì khác, ngài ấy là thành tựu giả, là người giác ngộ. Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, đó là người khai ngộ, đó là Thánh nhân!

Vì thế, hôm nay bạn học Phật phải ghi nhớ, những cái nhẫn nhục nhỏ bé mà cũng không chịu được thì nói chi đau khổ lớn đến như vậy, làm sao mà bạn có thể chịu được? Bạn hễ có sân hận thì sẽ là nghiệp, sẽ xuống tam đồ! Chuyển thế thành kẻ thù, rất ghê gớm, như thế thì nhất định muốn báo thù. Cho nên, kinh Kim Cang là kinh điển thật sự vô cùng cao siêu, vô cùng vĩ đại. Bốn câu kệ này, bạn học “vô ngã tướng” là được rồi. Vô ngã tướng mà bạn học được thì bạn đã đến được bỉ ngạn rồi, bạn đã thành tựu rồi. Không dễ đâu! Thật sự là không dễ đâu.

Mọi người trong lòng hãy thử nghĩ mà xem, thật sự không dễ dàng. Tiên nhân nhẫn nhục, khi người ta cắt lìa thân thể của bạn, khi liên tục bị cắt lìa thân thể, trong lòng bạn một chút oán trách cũng không có. Tôi nói rồi, khi Jesus bị đóng đinh trên thập tự giá, trong lòng ngài có sân hận không? Không có! Ngài ấy vì cứu nghiệp chung của chúng sinh, cho nên trong lòng không sinh oán hận, như thế ngài ấy mới có thể là Jesus Christ, ngài ấy là vua của vạn vị vua. Phật Thích Ca Mâu Ni cũng thế. Đây là điểm tương đồng. Trước khi ngài bị đóng đinh trên thập tự giá, ngài còn cầu nguyện Thượng Đế tha thứ cho những người đóng đinh ngài lên thập tự giá: “Bởi vì những gì họ làm, họ không biết.”

Vì thế hôm nay với chúng ta là ngày Giáng Sinh, tôi kể chuyện Jesus trước khi bị đóng đinh vào thập tự giá, ngài ấy đã tha thứ cho những người đóng đinh ngài, nếu là một người bình thường thì từ lâu đã chửi liên tục ba chữ tam tự kinh rồi. Khi ấy, có một thống đốc ở tỉnh đó tên là Pilate nghĩ rằng nếu là ông ấy thì ngay từ đầu, ông ấy đã chửi người ta rất thê thảm: “Rõ ràng đã kết án ta đóng đinh trên thập tự giá, cái thứ gì vậy? Ta là Jesus Christ, ta lập tức cho nhà ngươi đi đời, nghĩa là *“game over”* đó. Ta không chỉ kêu nhà ngươi *game over* đâu, bố mẹ ngươi, anh chị em ngươi, người cả gia tộc ngươi, toàn bộ đều *game over* hết, tất cả đều bị *knock-out.*” Người bình thường nếu bị đóng đinh trên thập tự giá thì nỗi oán hận ấy sâu đến mức nào?

Người bình thường bị cắt mũi, bị cắt tai, bị chặt lìa ngón tay, nỗi hận ấy sâu đến mức nào? Kinh điển cũng nói thọ giả tướng. Khi bị cắt rất đau, khi ấy nói đến “phi tứ tướng”. Thân thể không phải của ta (vô ngã), mặc cho người cắt xẻ cũng chẳng cắt được đến ta, cũng không có ai cắt được đến ngài ấy, ngài ấy không sinh sân hận. Vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, không có thời gian, không có không gian, mặc cho người ta cắt xẻ.

Vì thế, nguyên nhân mà Phật giáo nói không sát sinh chính là ở đây. Bởi vì nếu bạn sát sinh, chúng sẽ sinh lòng sân hận. “Kiếp gà chim chẳng tốt gì, cho mày mau mau đi chuyển thế.” [Sư Tôn nói câu này bằng Đài ngữ.] Trước kia người sát sinh đều đọc câu này, ngày xưa mẹ tôi cũng giết gà, khi giết gà bà ấy đều đọc câu này. Vì sao phải đọc câu này? Dịch ra tiếng Quốc ngữ thì có nghĩa là “Kiếp gà chim chẳng tốt gì, cho mày mau mau đi chuyển thế”, ý nghĩa là như thế. 

Bây giờ ở Mĩ hoặc như các nước phương tây, đệ tử làm nhà hàng rất nhiều. Phải nhớ: khi bạn sát sinh phải niệm chú vãng sinh, quán tưởng con cá này sống lại, sau đó bay lên hư không; quán tưởng Bổn tôn của bạn đưa con cá này đến tịnh thổ của ngài; sau đó niệm chú vãng sinh: 

“*Namo amitābhāya tathāgatāya
Tadyathā
Amṛtod-bhave
Amṛta-siddhaṃ bhave
Amṛta-vikrānte
Amṛta-vikrānta
Gāmine gagana
Kīrta-kare svāhā.”*

*“Om ah pei la hum khan tra la so ha.*”

Niệm chú vãng sinh, niệm chú Văn Thù vãng sinh, dùng sức mạnh của chú để siêu độ cho chúng. Bởi vì rất đông người Hoa mở nhà hàng ở các quốc gia phương tây, mỗi ngày họ phải sát sinh rất nhiều, cho nên phải niệm chú. Giống như chúng ta khi ăn cũng phải làm cúng dường, phải siêu độ, chúng ta cần làm như vậy, nếu không chúng sẽ sinh tâm sân hận, sau này bạn sẽ là kẻ thù của chúng.

Phật Thích Ca Mâu Ni ở đoạn này: “*Như khi xưa ta bị vua Ca Lợi cắt đứt thân thể, ta khi ấy vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Là vì sao? Ngày xưa khi ta bị cắt ra từng phần, nếu có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, thì ắt sinh lòng sân hận.” *Nói đến “ắt sinh lòng sân hận”, người bình thường chúng ta tuyệt đối sẽ sinh lòng sân hận. Người có tu hành nhìn chung mà nói, nếu như bị người ta chửi hoặc thế nào đó, đừng căng thẳng, không sao cả. 

Kể từ khi Sư Tôn bắt đầu hoằng pháp đã bị người ta chửi rồi, trước nay chưa bao giờ dừng lại. Khi ấy còn có người muốn giết tôi nữa, thật may có Bồ Tát cứu tôi. Họ ra giá rằng móc mắt Sư Tôn thì cho bao nhiêu tiền, chặt cái tay viết sách của Sư Tôn đi thì cho bao nhiêu tiền… sau này tôi mới biết, rất đáng sợ. Vì thế làm một người bình phàm thì tương đối dễ, còn làm một người hơi đứng đầu một chút thì khó lắm. Khi tôi mới viết sách và trở nên nổi tiếng thì đã có rất nhiều người chửi tôi rồi, ghê gớm lắm, bên này chửi, bên kia chửi, chửi tới chửi lui, kinh khủng lắm, khi ấy thật sự là chịu không nổi. 

Khi ấy tôi vẫn còn chưa tu dưỡng được tốt như Phật Thích Ca Mâu Ni, đúng thế không? Phật Thích Ca Mâu Ni “vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng”. Tôi khi ấy vẫn còn có ngã tướng, tôi còn viết cuốn sách là “Cơn giận của Bồ Tát đất”, “Tuyển tập Con mắt phẫn nộ của Kim Cang”. Bồ Tát đất làm gì có cơn giận? Là cơn tức giận của chính mình thôi. “Tuyển tập Con mắt phẫn nộ của Kim Cang”, so sánh chính mình với Kim Cang, thế thì bạn sẽ không thể thành tựu. Bây giờ thì tôi hiểu rồi, tu dưỡng đã khá hơn một chút. Con người chúng ta tu dưỡng, tu từ từ, trong một lúc không thể nào vô ngã tướng được ngay, trong một lúc mà vô ngã tướng sẽ bị người ta đánh chết. Tóm lại, chúng ta hãy nỗ lực để được như vô ngã tướng. 

Om mani padme hum. 

*(Ngày 25/12/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Liên Hoa Đồng Tử Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 44.)*


### 45. Phần thứ 14: Lìa tướng tịch diệt (8)


*(Bài giảng 45) *Bồ Tát nên rời xa mọi tướng

*“Tu Bồ Đề! Lại nhớ năm trăm kiếp quá khứ ta làm tiên nhân nhẫn nhục, vào thời ấy, không có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng. Thế nên, Tu Bồ Đề! Bồ Tát nên lìa bỏ tất cả mọi tướng, phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, không nên trụ trong sắc mà sinh tâm, không nên trụ trong thanh hương vị xúc pháp mà sinh tâm, nên sinh tâm vô sở trụ. Nếu tâm có nơi trụ cũng tức là không phải trụ. Thế nên Phật nói: tâm Bồ Tát không nên trụ trong sắc mà bố thí.”*

Đoạn này đọc lên rất dài, chúng ta nói một cách đơn giản. *“Tu Bồ Đề! Lại nhớ năm trăm kiếp quá khứ ta làm tiên nhân nhẫn nhục, vào thời ấy, không có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng.” *Bây giờ tôi giảng đoạn này. Chúng ta nói về nhẫn nhục Ba la mật, tiên nhân nhẫn nhục. Sáu Ba la mật (trong đó có một cái là nhẫn nhục), là bố thí Ba la mật, tinh tấn Ba la mật, nhẫn nhục Ba la mật, trì giới Ba la mật, thiền định Ba la mật, trí huệ Ba la mật. Tiên nhân nhẫn nhục là người chuyên môn tu nhẫn nhục. 

Trong quá khứ, Phật Thích Ca Mâu Ni từng là tiên nhân nhẫn nhục, ngày hôm qua chúng ta cũng đã giảng rồi, ngài ấy bị vua Ca Lợi cắt lìa thân thể, cắt thành nhiều phần, liên tiếp bị chặt chân tay là một việc rất đau khổ, nhưng ngài đều có thể chịu đựng được. Thật ra là rất khó có thể chịu đựng. Vì việc này mà tôi đã viết một chương sách, tôi nói: “Phật Đà à, ngài giảng là việc của ngài, tôi kêu là việc của tôi.” Vì sao tôi kêu là việc của tôi? Bởi vì đau mà! “Ngài nói là việc của ngài, tôi kêu là việc của tôi.” Bạn bị dao cắt như vậy, “xoẹt” như thế này, thế thì đau lắm, phải kêu chứ, làm sao mà chịu được? Xương bị chặt làm sao có thể chịu được? Chỉ có kêu oai oái thôi!

Xương bị đứt lìa rồi, gãy rồi, cái đau ấy thật sự là… vì thế tôi nói với Phật Thích Ca Mâu Ni: “Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng mà ngài nói, tôi đều hiểu!” Tôi cũng có thể giải thích vô ngã tướng, bởi vì tứ đại phân rã thì cũng không có gì nữa, làm gì còn có cái tôi tồn tại? Đất nước lửa gió một khi phân rã thì cũng chính là trống không mà, làm gì còn có cái tôi? Cái chết thật sự là tứ đại phân rã rồi, đau cũng không tồn tại nữa, khổ cũng không tồn tại nữa, phiền não cũng không tồn tại nữa, cái gì cũng không còn nữa, như thế là vô ngã tướng rồi. Nhưng mà vì ta còn có cái nhục thể này mà! Lão Tử nói: “Hoạn nạn của cuộc đời tôi chính là có cái nhục thể này đây.”

Tôi và Lão Tử giống nhau, Sư Tôn bây giờ 77 tuổi rồi, sang năm theo tuổi Đài Loan là 78 tuổi. Cách nghĩ của tôi giống với Lão Tử, tôi hiểu vô ngã tướng, đất nước lửa gió phân rã, không còn nữa thì là vô ngã tướng rồi, nhưng mà có cái nhục thể này. Lão Tử nói: “Hoạn nạn của cuộc đời tôi chính là có cái nhục thể này.” Bây giờ đến lượt tôi nói, hoạn nạn của cuộc đời tôi chính là có cái nhục thể này. Bạn xem buổi tối Sư Tôn đi ngủ, đột nhiên chỗ cằm rất ngứa, tôi liền dùng tay để gãi, bây giờ móng tay của tôi đã bị cắt cụt rồi, không còn móng tay nữa. Bởi vì tôi dùng móng tay để gãi cằm, rất ngứa nên tôi cứ gãi, gãi, gãi… Chà! Gãi thành vết luôn. Người ta đều hỏi tôi: “Sư Tôn, cằm của ngài, ở chỗ môi này, sao lại bị một vết đỏ bầm thế này?” Tôi nói: “Thật không may, bị một cô gái xinh đẹp hôn đó.” Người đó nói: “Đó không phải là hôn, là bị cắn đó, cắn bị thương rồi, là trồng dâu tây đó! Cô gái đó đã trồng dâu tây ở chỗ dưới môi ngài, cái này sẽ không biến mất đâu.” Đương nhiên là nói đùa thôi, đây là do ban đêm tôi bị ngứa nên gãi đó. Nếu bạn vô ngã tướng, tứ đại phân rã, thì làm gì còn ngứa? Sẽ không bị, ngay cả ngứa cũng không bị.

Bạn biết vô ngã tướng, tứ đại phân rã rồi thì còn phải nhẫn nhục không? Không cần nhẫn nhục đâu, chính vì có cái thân thể này nên mới phải nhẫn. Bởi vì bạn vẫn còn thính giác, người ta chửi bạn bạn vẫn nghe thấy, người ta đánh bạn bạn vẫn có xúc giác mà! Khi tôi đang hỏi thăm tình hình, đột nhiên tay của một cô gái thò vào bên trong váy Lama sờ lên phía trên! Trời ơi, cô gái này to gan quá, dám sờ vào “chân ngọc” của lão phu. Thế nhưng tôi không động thanh sắc, bởi vì đó là cảm giác đặc biệt mà! Đã rất lâu rồi tôi không có cảm giác đó. Có cảm giác này cảm thấy rất là lời, đúng thế không? Được lời rồi! [Đùa]

Rất nhiều sự việc cần nhẫn nhục. Bởi vì thân thể này có cảm giác mà, khi liên tiếp bị chặt chân tay, vô ngã tướng, Phật Đà có thể làm được, Lư Thắng Ngạn tôi không làm được. Vì sao? Tôi sẽ kêu cha kêu mẹ, thật đó, xương bị đứt lìa rồi, tôi sẽ kêu cha kêu mẹ. Cho nên đoạn sau chương sách đó tôi nói: “Phật Đà, ngài giảng là việc của ngài, tôi kêu là việc của tôi.” Chính là nguyên nhân này, bởi vì ta còn có cái thân thể này.

Nhưng tôi cũng có thể hiểu được, khi người ta chửi bạn, bạn hãy coi như gãi ngứa, tôi có thể coi chúng như là gió thổi bên tai. Bạn tu dưỡng đã đủ rồi, người ta có chửi bạn thế nào, bạn cũng vẫn như như bất động. Đừng căng thẳng, anh muốn chửi bao lâu thì tùy anh chửi, chửi đến khi anh miệng khô lưỡi cháy, chửi tới khi anh tinh thần không yên, chửi đến khi anh tinh thần bực bội, tôi vẫn như như bất động, có thể làm được! Cái này thì tôi có thể làm được. Bạn đã tu dưỡng đến mức đủ rồi, đồng nghĩa với vô ngã tướng rồi, là tiên nhân nhẫn nhục. Nhưng tôi không làm tiên nhân nhẫn nhục, tôi không muốn làm tiên nhân nhẫn nhục, vì sao? Người ta sẽ cắt thịt của bạn, làm sao mà chịu nổi?

Phật Đà trong mấy kiếp, có một kiếp thế này: có con diều hâu đói, ngài liền cắt thịt cho nó ăn, cắt thịt chính mình để cho con diều hâu kia ăn, xả thân cho hổ ăn, xả bỏ thân thể của mình cho hổ ăn thịt. Việc này tôi không làm được, tôi mà nhìn thấy con hổ đến thì tôi chạy liền. Nhìn thấy hổ đến là tôi chạy ngay, tôi không phải là Võ Tòng, Võ Tòng biết đánh hổ. Thật ra Võ Tòng rất sợ hổ đó, chỉ vì anh ta uống rượu say nên đi lên gò cao, con hổ đến, anh ta mạnh bạo đánh nhau với hổ, đánh đến mức cánh tay đau nhức thì mới hàng phục được con hổ đó. 

Cho nên, “*Lại nhớ năm trăm kiếp quá khứ ta làm tiên nhân nhẫn nhục, vào thời ấy, không có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng.” *Tiên nhân nhẫn nhục nghĩa là phải không còn có cái gì cả, đương nhiên cũng không cần nhẫn nhục, vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng rồi thì không cần nhẫn nhục nữa, đạo lí này tôi hiểu, nhưng muốn làm được giống như Phật Đà thì thật sự là rất khó.

“*Thế nên, Tu Bồ Đề! Bồ Tát nên lìa bỏ tất cả mọi tướng, phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, không nên trụ trong sắc mà sinh tâm.” *Chúng ta nói Bồ Tát nên rời xa mọi tướng, phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, cũng chính là câu nói của Jesus: “Việc thiện mà tay phải làm, đừng để cho tay trái biết.” Không trụ tâm, làm việc gì cũng không trụ tâm, nói cách khác là, bạn làm việc thiện, đừng có cái ý nghĩ là “Tôi muốn làm việc thiện” thì tự nhiên bạn sẽ không trụ tâm, làm rồi thì cũng quên việc đó luôn. Làm xong rồi thì cũng quên nó luôn, điểm này chính là pháp nhĩ bản nhiên.

Vì thế vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng chính là pháp nhĩ bản nhiên. Vốn dĩ chính là làm như vậy, không mang bất kì một loại tướng nào, không phải là làm cho người khác nhìn, không phải là làm cho chính mình. Làm cho chúng sinh nhìn, làm cho bạn, làm cho người ta, tất cả đều không đúng. Không phải làm cho chính mình, cũng không phải làm cho người khác nhìn. Ở đây nói rằng, tiên nhân nhẫn nhục cần phải làm được như vậy.

Lúc này, “*Bồ Tát nên lìa bỏ tất cả mọi tướng”, *có thể nói rời xa mọi tướng chính là hoàn toàn không phải vì chính mình, không phải vì người khác, cũng không phải vì chúng sinh, mà là có được bồ đề tâm này, bồ đề tâm này không phải vì chính mình, cũng không phải vì người khác, cũng không phải vì chúng sinh mà phát bồ đề tâm, ý nghĩa nằm ở đây. Vậy thôi! Om mani padme hum.

*(Ngày 26/12/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Bất Không Quyến Sách Quan Âm tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 45.)*


### 46. Phần thứ 14: Lìa tướng tịch diệt (9)


*(Bài giảng 46) *Vô sở trụ

Hôm nay chúng ta giảng kinh Kim Cang.

*“Thế nên, Tu Bồ Đề! Bồ Tát nên lìa bỏ tất cả mọi tướng, phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, không nên trụ trong sắc mà sinh tâm, không nên trụ trong thanh, hương, vị, xúc, pháp mà sinh tâm, nên sinh tâm vô sở trụ. Nếu tâm có nơi trụ cũng tức là không phải trụ. Thế nên Phật nói: tâm Bồ Tát không nên trụ trong sắc mà bố thí. Tu Bồ Đề! Bồ Tát nên vì lợi ích của tất cả chúng sinh mà bố thí như vậy. Như Lai nói: tất cả mọi tướng tức chẳng phải tướng. Lại nói: tất cả chúng sinh tức chẳng phải chúng sinh.”*

Tôi nói với mọi người, tôi nói một chút về đại ý ở đây. Bản thân Lư Sư Tôn trong cuộc đời này đi đến hiện tại, sang năm là tôi 78 tuổi rồi. *Next year, I am seventy-eight years old. *Xấp xỉ đến tuổi này thì đã *retire* rồi, từ lâu đã ở nhà nghỉ hưu rồi, thế mà tôi vẫn ngồi trên pháp tọa. *Seventy-seven, seventy-eight, retired, so old. Every day go to mountain, take a walk. In the lake, you fish. *(Bảy mươi bảy, bảy mươi tám, nghỉ hưu rồi, già rồi. Hàng ngày đi lên núi, đi dạo bộ. Câu cá ở hồ.) Đương nhiên phải niệm chú vãng sinh rồi. *You fish, go mountain. Every day, just happy. See the mountains, see the water, see the trees. Seattle air is clean. So good, so nice, so happy. How come in the temple, teach Buddha dharma, how come? *(Bạn đi câu cá, đi leo núi. Hàng ngày, đều vui vẻ. Ngắm nhìn núi, ngắm nhìn sông, ngắm nhìn cây cối. Không khí ở Seattle trong lành. Thật tốt, thật đẹp, thật vui vẻ. Thế mà lại ở chùa, dạy Phật pháp, sao lại thế chứ?) Vì sao? Nói một câu dễ nghe một chút thì là độ chúng sinh đó! Nghĩa là vẫn còn cái tâm này để đi độ chúng sinh.

Rất đơn giản thôi, nói thật lòng, tôi phân thành hai con người: một con người là vô hình, vĩnh viễn tồn tại, người đó “không phán xét”, thế nào là không phán xét? Nghĩa là bất động, đó là pháp thân của tôi. Pháp thân của tôi vốn là bất động, không phán xét, tất cả đều tự nhiên như nó là, nhậm vận, tự tại, vô cùng vui vẻ. Bốn chữ đơn giản (trong Cao Vương Kinh có) là: thường - vĩnh viễn tồn tại; lạc - vĩnh viễn vui vẻ, đó là cái ngã chân thực, con người đó là tịch diệt. Thường lạc ngã tịnh, đó là cái tôi chân thực, người đó chính là “chân ngã”. Chính là pháp thân, chính là Phật tính, người đó mới là thật. Thường - vĩnh viễn tồn tại; lạc - nhậm vận tự tại; ngã - đó là cái ngã chân thật; con người đó là tịch diệt. Thường lạc ngã tịnh là chân thực.

Còn một người kia chính là Lư Thắng Ngạn lúc này đang ngồi trên pháp tọa thuyết pháp, Lư Sư Tôn thuyết pháp, cái tôi này là giả, là “giả ngã”. Cái ngã thật chính là như trong kinh Kim Cang nói: “*Bồ Tát nên lìa bỏ tất cả mọi tướng”, *không có mọi tướng tức là vô hình đó! Rồi còn phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, chính là Phật tính đó! Chân ngã đó có Phật tính, không có trụ sắc sinh tâm, không có vì sắc tướng nào mà sinh tâm, vô sắc, không phán xét.

“*Không nên trụ trong thanh, hương, vị, xúc, pháp mà sinh tâm”, *cũng không có thanh hương vị xúc pháp gì, chân ngã là vô sở trụ, thế nào gọi là vô sở trụ? Ở khắp mọi nơi chính là vô sở trụ đó! Chân ngã không trụ ở đâu cả. Bạn cho rằng là ở Cực Lạc thế giới à, ở Lưu Li Quang thế giới à, ở tịnh thổ nào đó à… không có! Khi tôi gặp Liên Hoa Đồng Tử, chỉ có một vùng ánh sáng hào quang thôi, không có hình tượng, không trụ vào cái gì cả. Phật nói *“nếu tâm có nơi trụ cũng tức là không phải trụ”, *nếu như nói là có trụ cũng là không có trụ đó. 

“*Thế nên Phật nói: tâm Bồ Tát không nên trụ trong sắc mà bố thí.” *Tôi nói để bạn biết, làm một Bồ Tát thì làm mà không vì cái gì cả. Nói ví dụ hôm nay, tôi đang độ chúng sinh, độ chúng sinh này cũng là một danh từ thôi. Cũng không có cái tôi này. Cái tôi này là giả đó! Các bạn đang ngồi đó cũng đều là “giả ngã”, bao gồm cả tôi cũng là cái tôi giả, làm gì có độ chúng sinh gì chứ? Cái tôi giả đang độ các bạn giả đó. Nói một cách rất đơn giản là như vậy. Bây giờ tôi đang thuyết pháp chính là đang bố thí, vì sao là bố thí? “*Bồ Tát nên vì lợi ích của tất cả chúng sinh mà bố thí như vậy.” *Nên làm như vậy. Tôi nói: *How come? Retired..., how come in the temple, talk Buddha dharma? How come?* (Sao lại thế? Đã nghỉ hưu rồi… sao lại ở trong chùa giảng Phật pháp? Sao lại thế?) Chính là vì không trụ tướng mà bố thí đó! Cũng không phải là bố thí đâu, bố thí không nên trụ trong cái gì mà bố thí, thuyết pháp cũng không vì điều gì mà thuyết pháp, chính là như vậy đó, đã hiểu rõ chưa?

*“Như Lai nói: tất cả mọi tướng tức chẳng phải tướng. Lại nói: tất cả chúng sinh tức chẳng phải chúng sinh.” *Tôi đã nói, trên mặt trăng, một con người cũng không có, làm gì có tướng gì? Cái gì là Phật pháp, không có người lấy đâu ra Phật pháp? Trên mặt trăng, cái gì là thiện? Làm gì có thiện? Cái gì là ác? Làm gì có ác? Bạn nói là chay, là mặn, trên mặt trăng căn bản không có chay mặn, ở đó có cái gì? Cái gì cũng không có, thực tướng chính là cái này, cái này mới là thực tướng, tướng chân thực. 

Người khai ngộ đều biết, khai ngộ cũng là giả. Tôi nói với bạn rằng căn bản không có khai ngộ! Không có hai chữ khai ngộ này, chỉ là danh từ, Lư Thắng Ngạn cũng là danh từ thôi! Thực tướng mà Phật Thích Ca Mâu Ni nói, bạn xem, “*Lại nói: tất cả chúng sinh tức chẳng phải chúng sinh.” *Chúng sinh đều là người giả, vì sao là giả? *Game over.* Trò chơi này đã kết thúc rồi, bạn không tin à? Trò chơi của bạn đã kết thúc rồi. 

Khi tôi học mẫu giáo, bên cạnh tôi có một cô bé ngày nào cũng giúp tôi lấy phấn, cô ấy tên là Lâm Yến Ngọc, thời mẫu giáo tôi đã có bạn gái rồi. *Kindergarten, I have the girlfriend.* Bạn gái tôi ngồi bên cạnh tôi, ngày nào bạn đó cũng lấy phấn cho tôi chơi… kết quả là tôi rất thích bạn đó, bởi vì người bạn đó rất thơm, tôi liền cùng với bạn đó làm bạn trai bạn gái. Có một hôm bạn đó mời tôi đến nhà, khi ấy tôi đang học mẫu giáo, tôi thật sự đã đến nhà bạn đó chơi. Mẹ bạn đó nhìn thấy tôi thì nói: “Này, bạn trai con đến rồi đó!” Đúng là một giấc mộng! Nói cho bạn biết, bạn có còn là trẻ mẫu giáo không? Không còn! Thế còn Lâm Yến Ngọc? Tôi cũng không biết bạn đó đã đi đâu rồi. Đó không phải là một giấc mơ sao? Bạn bảo tôi quay về đi tìm Lâm Yến Ngọc, tìm ở đâu bây giờ? Một giấc mộng, thời mẫu giáo chính là một giấc mộng.

Bạn học tiểu học với tôi Hoàng Kim Hùng, cậu ấy là người bạn thân nhất của tôi, mỗi lần tôi trốn học trốn nhà, tôi đều ở nhà cậu ấy. Nhà cậu ấy ở đường Vĩnh Thái và đường Vĩnh Mậu, là đại lộ lớn nhất ở Cao Hùng, bố mẹ cậu ấy trước kia làm linh kiện xe hơi. Khi ấy rất ít người làm linh kiện xe hơi, rất ít người có xe hơi, họ làm linh kiện xe hơi kiếm được rất nhiều tiền, trong nhà rất giàu có. Hoàng Kim Hùng vẫn là bạn rất thân với tôi cho đến tận khi tôi học đại học. Khi tôi trở về Đài Loan thì cậu ấy đã đi rồi. *Game over.* Cậu ấy bị mắc bệnh tim và qua đời rồi. Bạn học thân nhất thời tiểu học của tôi, đó chính là một giấc mơ, giấc mơ đã qua rồi. 

Bạn học thân nhất của tôi thời cấp ba là Trang Chính Hòa, là tổng cán sự của Hiệp hội leo núi Cao Hùng, cậu ấy chết ở đâu? Người ở Mainland China (Trung Quốc Đại Lục) đều biết Đài Loan có núi A Lí. Khi xưa chúng tôi hát: “Một hai ba, đến Đài Loan, Đài Loan có A Lí Sơn”, lúc còn nhỏ chúng tôi thường xuyên hát. Bạn xem, tổng cán sự của Hiệp hội leo núi, khi leo núi vì lạc đường mà chết trên núi A Lí rồi. Bạn thân nhất của tôi Trang Chính Hòa, trước kia cậu ấy là phó chủ biên của tờ tạp chí Thanh Niên Công Nghiệp Cao Hùng, tôi cũng là phó chủ biên, nhưng tôi kiêm chủ biên, bởi vì tôi tự mình biên tập tờ tạp chí Thanh Niên Công Nghiệp Cao Hùng, tờ tạp chí Thanh Niên Công Nghiệp Cao Hùng của trường Cấp ba Công Nghiệp Cao Hùng, hai cái tên của chúng tôi đặt cạnh nhau, Lư Thắng Ngạn, Trang Chính Hòa, chủ biên là Tuyết Hồng (Lí Thế Khai). 

Một giấc mộng thôi, đều đã qua rồi, người này cũng *game over* rồi. Bạn xem đi, đều là mơ thôi! Dịch bệnh này không phải là mơ sao? Dịch bệnh này cũng là một giấc mơ, giấc mơ này đến giấc mơ khác đều qua đi, còn tương lai thì sao? Chính mình cũng không có. Tương lai tôi vẫn còn có một cái chân thân, thường lạc ngã tịnh, cho nên cuộc đời tôi phân thành hai con người, kinh Kim Cang nói, thực tướng mà Phật Thích Ca Mâu Ni nói chính là như vậy. 

Giống như bây giờ rất nhiều người già có bệnh, đúng thế không? Chúng ta trước kia có Thượng sư Lí Hạnh Chi, bà ấy chết rồi, sau đó trở về nói với tôi: “Chu choa, tôi không hề biết chết đi rồi tốt biết bao! Khi tôi còn sống, đi lại cũng rất khó khăn, chỗ này đau, chỗ kia đau, đầu gối đau, toàn thân đau! Đi lại phải còng lưng gập bụng, thân thể không thoải mái, đau đầu, đau họng, xương khớp toàn thân đều đau, đi lại rất khổ sở!” Sau khi bà ấy chết rồi thì chạy tới nói với tôi: “Bây giờ rất thoải mái!” *Butterfly*, thành con bướm rồi! Nhàn nhã ung dung, bay tới bay lui, làm gì còn đau? Chết rồi thì đau đớn gì cũng không còn, một giấc mơ! Chồng, con trai, con gái, một giấc mơ thôi! Bà ấy nói với tôi: “Nói với mọi người, chết đi thật tốt!” Bà ấy vãng sinh Phật quốc mà còn bay đến nói với tôi, bạn xem, chết đi tốt biết bao! Lúc còn sống, giai đoạn tuổi già đau khổ lắm, thời gian bị bệnh rất là thảm! Nhưng cũng là một giấc mộng huyễn, thực tướng chính là như vậy.

Vì thế, kinh Kim Cang là kinh điển xuất thế, kinh điển liễu nghĩa, nói cho bạn biết rằng, thực tướng chính là như vậy. Bạn đừng cho rằng bây giờ bạn rất vui vẻ, có tiền, có thế, tiền tài có, sắc cũng có, bạn cũng trẻ và xinh đẹp, còn có địa vị nữa. Địa vị bạn cũng có, sắc đẹp bạn cũng có, tiền bạn cũng có, đó chỉ là một giấc mộng thôi! Không có vĩnh viễn! Đều là nhất thời! Tôi nói với bạn, cái này đều là một giấc mơ ngắn ngủi. Cho nên nói với bạn rằng: *“Tất cả chúng sinh tức chẳng phải chúng sinh”. *Không phải một cá nhân tôi như vậy, các bạn cũng đều như vậy! Tôi là cái tôi giả, các bạn là con người giả. *“Tất cả chúng sinh tức chẳng phải chúng sinh. Tất cả tướng tức không phải tướng.” *Đúng vậy, tôi cũng từng trẻ trung phong độ mà, đúng vậy không?

Tôi để tấm ảnh lúc tôi còn trẻ trung phong độ ở trong cái ví da của tôi, tôi nói cho bạn biết, tôi so với ca sĩ, so với những ngôi sao ca nhạc, so với những ngôi sao điện ảnh, như Hàn Quốc đó, những thiếu niên trẻ tuổi, tôi còn đẹp trai hơn họ nữa! Đúng mà, khi tôi còn trẻ tôi rất đẹp trai! Tôi hất mái tóc một cái như thế này thì rất nhiều cô gái đều kêu ré lên rồi ngất xỉu đó! Tôi có không ít bạn gái đâu, tôi nói với bạn, Sư Mẫu không biết đâu. Thật đó, tôi rất đẹp trai. Bạn nhìn tấm ảnh của tôi lúc còn trẻ, chẳng phải tôi từng lấy ra cho các bạn xem rồi sao? Tôi mang theo người, bây giờ ở trong ví da cũng có, lấy ra xem tấm ảnh đẹp trai hơn cả những thanh niên Hàn Quốc bây giờ, tôi có thể so sánh được với họ.

Thế nên Như Lai nói: *“Tất cả mọi tướng tức chẳng phải tướng.”* Đương nhiên rồi, qua đi rồi thì không còn nữa. Vì thế Phật nói *“không nên trụ trong thanh hương vị xúc pháp mà sinh tâm, nên sinh tâm vô sở trụ”*. Thanh hương vị xúc pháp, toàn bộ đều là nhất thời. Những gì bạn nhìn thấy bây giờ, cảnh giới mà bạn chạm tới, đó là cảnh giới nhất thời, cảnh giới trong một thời gian ngắn như thế thôi, sau đó là không còn nữa. Vì thế, *“Như Lai nói: tất cả mọi tướng tức chẳng phải tướng. Lại nói: tất cả chúng sinh tức chẳng phải chúng sinh.” *Tôi nói với bạn, những gì nói đến trong kinh Kim Cang là thật. 

Bố hỏi: “Con yêu bố hay yêu mẹ?” Tiểu Minh: “Yêu cả hai.” Bố: “Nếu bố đi Mĩ, mẹ đi Paris, con đi đâu?” Tiểu Minh: “Paris.” Bố: “Vì sao?” Tiểu Minh: “Bởi vì Paris đẹp.” Bố: “Nếu bố đi Paris, mẹ đi Mĩ thì sao?” Tiểu Minh: “Đương nhiên là đi Mĩ rồi.” Bố: “Vì sao lần này con vẫn đi cùng mẹ?” Tiểu Minh: “Bởi vì vừa mới đi Paris rồi.”

Tôi nói với bạn, đi Paris, đi Mĩ đều là giấc mơ, đi đâu cũng đều là một giấc mơ. Có một ngày bạn không đi nữa, đó chẳng phải mơ thì là gì? Paris tôi đã từng đi rồi, Anh Quốc tôi cũng đi rồi, Châu Âu tôi cũng đã đi nhiều quốc gia rồi, sau này không đi nữa, đó không phải là giấc mơ sao? Một giấc mộng huyễn thôi!

Ông Vương đánh bài thua 100 đồng, bị vợ mắng ngay nơi công cộng, tức là mắng ngay trước mặt mọi người. Tôi thấy ông Vương rất tội nghiệp liền an ủi ông ấy: “Ông thế là còn tốt đấy, tuần trước tôi ở chợ mua rau, từ xa nhìn thấy một người đàn ông bị vợ chửi như thể dội máu chó lên đầu, thế mới gọi là mất mặt.” Ông Vương nghe xong thì nước mắt rơi lã chã: “Người kia cũng là tôi đó.” Đừng sợ, rồi sẽ có một ngày, vợ bạn sẽ không chửi bạn nữa, bởi vì khi trò chơi này kết thúc rồi, *game over*, thì chẳng còn gì nữa. Hôm nay chúng ta nói đến đây cũng *game over*. Om mani padme hum!

*(Ngày 1/1/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Dược Sư Phật Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 46.)*


### 47. Phần thứ 14: Lìa tướng tịch diệt (10)


*(Bài giảng 47) *Lời chân thật

*“Tu Bồ Đề! Như Lai nói lời chân chính, đúng thật, như nghĩa, không nói dối, không nói lời sai khác.*

*Tu Bồ Đề! Pháp mà Như Lai có được, pháp này không thực không hư. Tu Bồ Đề! Nếu tâm Bồ Tát trụ vào pháp mà làm việc bố thí, thì giống như người đi vào chỗ tối, cũng chẳng thấy gì. Nếu tâm Bồ Tát không trụ vào pháp mà làm việc bố thí thì giống như người có mắt, nhờ ánh sáng chiếu soi mà thấy đủ mọi sắc tướng. *

*Tu Bồ Đề! Vào các đời sau, nếu có thiện nam, thiện nữ có thể thọ trì đọc tụng kinh này thì xem như Như Lai dùng trí huệ Phật mà đều biết người ấy, đều thấy người ấy đều đạt thành tựu công đức vô lượng vô biên.”*

Tôi chỉ giảng một câu *“Tu Bồ Đề! Như Lai nói lời chân chính, đúng thật, như nghĩa, không nói dối, không nói lời sai khác.” *Kinh điển này nói về thực tướng, thực tướng chính là phi tướng, không có mọi tướng. Bản thân Phật nói ngài là người *nói lời chân chính*, điều ngài nói là lời thật, người *nói lời chân chính*, điều nói ra là lời đúng thật, như nghĩa, chân tướng này giống như tôi đã giảng, *không nói dối*, Phật không hề lừa người ta. *Không nói lời sai khác*, không nói hai lời, chỉ có một lời thôi. Thực tướng duy nhất, thực tướng chính là phi tướng, căn bản là cái gì cũng không có. Câu này giải thích đơn giản chính là như vậy, nếu bạn thâm nhập được, bạn sẽ biết. 

Tôi nói với bạn, bây giờ tôi đang ngồi ở đây thuyết pháp, đích thực là có một Lư Thắng Ngạn đang ngồi thuyết pháp, Cầu Vồng Lôi Tạng Tự cũng là có thật, bạn đều nhìn thấy. Hôm nay có gió tuyết đầy trời, bạn đều nhìn thấy, Hộ Ma Bảo Điện bạn đều nhìn thấy, cái này không phải là chân thực sao? Người ngồi bên trái bạn, bên phải bạn là ai, bạn đều nhìn thấy được, sao mà không thật chứ? Vì sao lại nói là đều không có? Những gì chúng ta nhìn thấy hôm nay, chúng ta tiếp xúc, đều là chân thực mà! Sư Tôn ở đây thuyết pháp, các bạn ngồi ở dưới kia, đúng vậy không? Bạn thấy Liên Viễn đến từ Indonesia kia, bạn thấy Liên Già đến từ Brazil, bạn thấy Liên Uân đến từ địa phương nào đó, nhìn thấy bốn người đang ngồi trơ ra đó, mọi người đều nhận ra mà, đó chẳng phải là rất chân thực sao? Sao lại nói là không có ai thuyết pháp, không có ai nghe pháp, cũng không có việc thuyết pháp này, làm sao phân biệt đây?

Phật Thích Ca Mâu Ni nói “thực tướng chính là phi tướng”, ngài là người nói lời chân thật, điều ngài nói là lời chân thật, lẽ nào điều chúng ta nói là lời giả dối sao? Tenzin Gyatso ngồi ở đó mà, đúng không? Còn đây là Thượng sư Piano, hai người còn lại chúng ta không nói, nhưng hai người này thì đích thực là con người thực tại, đây chẳng phải là rất chân thực sao? Tôi nói với bạn một chuyện, cái đó gọi là thấy cảnh sinh tình, là cảm nhận hiện tại của bạn, bạn có cảm giác thấy, con mắt bạn nhìn thấy, thậm chí bạn nghe thấy họ, bạn có nhìn thấy hình tướng đó, theo như lời Phật nói thì đó chỉ là nhất thời, một khoảng thời gian ngắn. Hôm nay mọi người ngồi ở đây, nhìn người bên trái bên phải, tuần sau lại đến nhìn thì không giống nữa, tuần sau lại đến thì đã khác rồi.

“Khi nào ông đi?” (Sư Tôn hỏi Thượng sư.) Thứ tư đi à. Bạn xem, tuần sau là không còn ông ấy nữa rồi, đã khác rồi, tuần sau là không thấy ông nữa rồi. Liên Nguyên khi nào thì đi? Ngày 12, thế thì tuần sau vẫn còn ở đây, anh có còn ngồi ở đây nữa không? Đúng mà! Cái gì thay đổi thì không phải là chân thực, cái chân thực thì sẽ không thay đổi, chỉ có cái Không mới không đổi, bất kì cái gì cũng đều biến đổi, đều đổi khác.

Giống như một đôi tình nhân thề non hẹn biển: “Nước biển có thể khô cạn, sỏi đá có thể thối rữa, nhưng tấm chân tình của tôi vẫn không đổi.” Cái đó gọi là “bốc phét”, không có chuyện đó. Tình yêu đều thay đổi. Thế nào là “yêu em một vạn năm”, ai hát bài đó nhỉ? Lưu Đức Hoa. Tôi không biết anh ta đã thay đổi chưa. Đó căn bản là nói khoác. Theo như điều Phật nói, bất kì sự việc gì cũng đều nằm trong sự biến đổi, mỗi một giây, mỗi một phút, mỗi một giờ, đều đang thay đổi, bất kì lúc nào cũng đều là vô thường. Điều Phật nói đều là vô thường, toàn bộ đều sẽ thay đổi, tình cảm cũng thay đổi, vợ chồng cũng sẽ thay đổi như thế. Cái gọi là “phu thê” chính là lừa gạt lẫn nhau đó [Ở đây Sư Tôn chơi chữ bằng cách dùng từ đồng âm khác nghĩa.] Hôm nay tôi lừa anh, ngày mai anh lừa tôi, mọi người lừa qua lừa lại, thật sự, cái gì là thực tướng?

Cái duy nhất không đổi chính là Phật tính, chính là cái Không, là không có gì cả. Có một người chứng đạo, viết một bài “Chứng đạo ca”, là của đạo sư Vĩnh Gia viết: “Trong mộng rõ ràng có lục thú, tỉnh rồi trống trải không đại thiên.” Ở trong mơ bạn rõ ràng có lục thú, mơ là chỉ cuộc đời, có Trời, Người, Atula, Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh, đây là lục thú. Chúng ta hiện tại cũng là có lục thú, lục đạo luân hồi. Tối hôm qua tôi quên không nói, bạn có nghiệp thì chắc chắn sẽ có lục đạo luân hồi, trừ phi nghiệp của bạn đã không còn gì thì bạn mới có thể thành đạo. “Tỉnh rồi trống trải không đại thiên”, bạn đã khai ngộ rồi thì mới biết là không có, ngay cả đại thiên thế giới cũng không tồn tại. 

Một nhật nguyệt của chúng ta (một mặt trời, một mặt trăng) làm thành một tiểu thiên thế giới, ba nghìn tiểu thiên thế giới làm thành một trung thiên thế giới, ba nghìn trung thiên thế giới làm thành một đại thiên thế giới. Ba nghìn đại thiên thế giới thì gọi là tam thiên đại thiên thế giới. Phật giáo nói đến tam thiên đại thiên thế giới, bạn nói xem thế giới lớn đến mức nào? “Tỉnh rồi trống trải không đại thiên.” Tam thiên đại thiên thế giới đều không tồn tại, đó là điều mà đại sư Vĩnh Gia viết: “Trong mộng rõ ràng có lục thú, tỉnh rồi trống trải không đại thiên.” Ngẫm nghĩ thì đúng là vậy. Vì thế Phật Thích Ca Mâu Ni nói, *“Như Lai nói lời chân chính, đúng thật, như nghĩa, không nói dối, không nói lời sai khác.” *Không có cách nói thứ hai, cái gì cũng không có.

Mọi người cho rằng Phật Thích Ca Mâu Ni nói thế nào? Có phải là chân thực không? Trước kia tôi đi Paris xem tháp Eiffel, tôi thật sự đã nhìn thấy tháp Eiffel như thế này, bây giờ tôi không ở nước Pháp, tôi không nhìn thấy tháp Eiffel ở Paris, trong kí ức của tôi thì có, kí ức về tháp Eiffel ở Paris, nhưng mà có thật không? Trong kí ức, có hình tượng của tháp Eiffel ở Paris trong não tôi. Tôi đã đến sông Thames, tôi biết sông Thames trông như thế nào. Tôi đã đi Hà Lan, đã biết nhà cửa ở Hà Lan được xây dựng như thế nào. Tôi đã đến núi Alps, tôi biết hình dáng núi Alps như thế nào. Tôi đã đến Thụy Sĩ, nhìn thấy hình dáng hồ của Thụy Sĩ. Tôi đã đến nước Đức, đã đến Munchen, tôi cũng đã thăm nhà máy sản xuất xe BMW, trong ấn tượng của tôi đều có.

Nếu như bạn chưa đi, bạn chỉ nhìn tranh ảnh thì bạn cũng có ấn tượng đó ở trong đầu, chúng ta xem phim ảnh cũng có ấn tượng đó ở trong đầu. Nhưng bây giờ đã thay đổi rất nhiều rồi, nếu bạn không đi lại thì có phải là dường như đã mấy đời trôi qua không? Cuộc đời này có lẽ có thể đi, cũng chưa chắc có thể đi. Ví dụ như hội đồng tu ở Tây Ban Nha vẫn luôn muốn tôi đi, muốn đi đến đó thì cũng phải xem thời gian thế nào. Trong não của tôi, hội đồng tu ở Tây Ban Nha đó, tôi chỉ nhìn qua ảnh chụp. Mọi người vì xúc cảnh sinh tình mới khiến bạn cảm thấy là có, bạn không nhìn thấy thì sẽ biến thành không có, bạn chưa nghe thấy thì sẽ biến thành không có.

Vì thế trước đây Malaysia có “Con Khỉ” chỉ trích Sư Tôn ở trên mạng, Singapore thì có Nghiêu Trung cũng chỉ trích Sư Tôn ở trên mạng, ở Đài Loan cũng có mấy người, họ cũng phê bình Sư Tôn, nhưng con người tôi đây không có điện thoại cầm tay, không có máy vi tính, không có máy tính bảng, từ đầu tới cuối tôi đều chẳng đọc được những lời phê bình đó. Cũng có người in ra đưa cho tôi đọc, Sư Mẫu cũng in ra rất nhiều đưa cho tôi đọc, tôi nói tôi không đọc những cái này, tôi không muốn đọc chúng nên quăng chúng đi luôn. Người ta phê bình, sau đó đồng môn nói với tôi: “Sư Tôn ơi, nghiêm trọng lắm, rất nghiêm trọng.” Tôi chẳng cảm thấy nghiêm trọng gì, bởi vì tôi không biết, người ta viết cái gì tôi cũng đều không biết, tôi không để trong lòng, cũng không để trong đầu, vì thế căn bản là không có áp lực gì, một chút xíu áp lực cũng không có.

Bởi vì bạn thấy cảnh tư tình, đọc thấy thì mới có áp lực, bạn không đọc thấy thì sẽ không có áp lực. Đồng môn đọc xong nói với tôi là rất nghiêm trọng, còn tôi thì mỗi ngày đều sống rất tốt, một chút cảm giác cũng không có. Chửi bạn, phê bình bạn, chẳng hề có cảm giác gì, bởi vì bạn không nhìn thấy cũng không nghe thấy, căn bản là bạn không có áp lực. Nếu như bạn nhìn thấy và cũng nghe thấy, đương nhiên sẽ có áp lực rồi, cho nên bạn hãy tắt nó đi thì bạn chẳng hề có áp lực gì, trống rỗng trống trơn. Ồ, đã 5 giờ 31 phút rồi. Bạn xem, tôi đã nhìn thấy giờ rồi, thế là tâm lí tôi sẽ rất căng thẳng, đây chính là xem thời gian thì trong lòng sẽ căng thẳng đó, chứ nếu không thì tôi cứ tiếp tục nói, giảng đến 6 giờ luôn. 

Đây gọi là thấy cảnh nghĩ tình, bởi vì bạn đã nhìn thấy rồi, nếu không nhìn thấy, một chút áp lực cũng không có. Vì thế Lão Tử nói một câu: “Vi học nhật ích”, nghĩa là mỗi ngày bạn cần hấp thụ thêm vào những tri thức mới, học vấn của bạn sẽ trở nên rất lớn. “Vi đạo nhật tổn”, nghĩa là học đạo thì nhất định phải vứt bỏ hết những thứ rác rưởi. Lão Tử nói câu này cũng giống như Phật Thích Ca Mâu Ni, phải tiêu trừ toàn bộ nghiệp chướng của bạn giống như thế, bạn sẽ trống không, bạn sẽ có thể chứng đạo, đó mới là đạo chân chính.

Điều Phật Thích Ca Mâu Ni nói, trong thân thể bạn hoàn toàn không có thứ gì nữa, không có nghiệp nữa, căn bản sẽ không có lục đạo luân hồi, có lục đạo luân hồi này là vì bạn có nghiệp nên mới có lục đạo luân hồi. Có thiện nghiệp thì sẽ sinh vào đạo Trời, đạo Người, đạo Atula, có ác nghiệp thì sẽ sinh vào Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh. Con người đều ở trong sinh sinh tử tử, tử tử sinh sinh, sinh tử, cứ sinh tử như thế trong luân hồi, lục đạo là luân hồi như vậy. Bạn muốn thoát khỏi lục đạo luân hồi, hôm nay tôi nói lời chân thật: làm sạch trơn nghiệp chướng của bạn thì bạn mới có thể đắc đạo, mới có thể thành Phật, mới có thể thành Bồ Tát. Om mani padme hum.

*(Ngày 02/01/2022 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Hổ Đầu Kim Cang tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 47.)*


### 48. Phần thứ 14: Lìa tướng tịch diệt (11)


*(Bài giảng 48) *Không thực không hư

*"Tu Bồ Đề! Pháp mà Như Lai có được, pháp này không thực không hư.” *Vì sao Phật nói là không thực không hư? Bởi vì hư chính là thực, thực chính là hư. 

*“Tu Bồ Đề! Nếu tâm Bồ Tát trụ vào pháp mà làm việc bố thí, thì giống như người đi vào chỗ tối, cũng chẳng thấy gì. Nếu tâm Bồ Tát không trụ vào pháp mà làm việc bố thí thì giống như người có mắt, nhờ ánh sáng chiếu soi mà thấy đủ mọi sắc tướng.*

*Tu Bồ Đề! Vào các đời sau, nếu có thiện nam, thiện nữ có thể thọ trì đọc tụng kinh này thì xem như Như Lai dùng trí huệ Phật mà đều biết người ấy, đều thấy người ấy đều đạt thành tựu công đức vô lượng vô biên.”*

Đoạn mà chúng ta giảng ngày hôm nay, pháp mà Phật Thích Ca Mâu Ni có được, có thực có hư, vì sao? Bởi vì hư chính là thực, thực chính là hư. Tôi đã giảng nhiều như vậy, các bạn đã biết thế nào gọi là hư, “vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng” chính là hư; thực tướng là cái gì? Thực tướng chính là hư, thực tướng chính là “vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng”. Thực chính là hư, hư chính là thực, thực thực hư hư, hư hư thực thực.

Vì sao Phật Đà luôn nhắc đến *“mà làm việc bố thí”*? Thường xuyên nhắc đến hai chữ bố thí. Tôi nói với bạn, bố thí chính là làm việc tốt, chính là từ bi hỉ xả đó, nếu bạn “trụ tướng bố thí”, thì sẽ không thể rời xa luân hồi. Thế nào gọi là “trụ tướng bố thí”? Phật Đà thường nói câu này, bạn muốn rời xa lục đạo luân hồi, đây là điều quan trọng nhất của người học Phật chúng ta. Sau khi bạn khai ngộ rồi bạn mới đi tu hành trên thực tế, có một ngày bạn thoát khỏi luân hồi rồi, bạn không còn phải luân hồi nữa, bạn đã đến Tứ thánh giới rồi, nhưng chỉ cần bạn trụ tướng thì bạn sẽ không thể đến được Tứ thánh giới.

Không hề sai đâu, hôm nay chúng ta làm bố thí, chúng ta đang làm từ bi hỉ xả, nhưng bạn không thể có suy nghĩ bố thí, không thể nghĩ là bạn đang làm việc thiện, bạn đang làm từ, làm bi, làm hỉ, làm xả, không được nghĩ như vậy, thế mới gọi là “không trụ tướng bố thí” mà Phật Thích Ca Mâu Ni thường nói đến. Bởi vì bạn mà “trụ tướng bố thí” thì tuyệt đối vẫn thăng lên cõi trời, nhưng cõi trời thì vẫn không thể rời xa luân hồi, điều mà Phật giáo nói đến chính là phải thoát khỏi luân hồi, giải thoát luân hồi thì bạn vĩnh viễn có thể thành tựu Như Lai. 

Một mục đích, bạn làm việc thiện, tuyệt đối không thể có cái suy nghĩ là “mình làm việc thiện” để ở trong tâm. Bạn có suy nghĩ này thì cũng là tốt, nhưng không phải là rất tốt, và bạn chỉ có thể có được phúc báo làm Thiên nhân, bạn có được phúc báo này bạn có thể lên trời. Phật Thích Ca Mâu Ni nhấn mạnh điểm này, nhấn mạnh cực kì cực kì nhiều lần. Tôi thường xuyên nói, Jesus cũng nói: “Việc thiện tay phải làm đừng để tay trái biết”, cái này gọi là làm việc thiện chân chính.

Khi bạn làm việc thiện, tâm bạn vốn dĩ chính là đang làm việc thiện, tất cả hành vi của bạn đều đang hành thiện, nhưng không thể có suy nghĩ hành thiện thì đây gọi là không có tướng, Phật Thích Ca Mâu Ni nhấn mạnh điểm này, nhấn mạnh rất nhiều lần, luôn luôn nhấn mạnh điểm này. Bởi vì làm việc thiện tức là không phải làm việc thiện, bởi vì không phải làm việc thiện mới là việc thiện đó. Cái gọi là công đức chính là không phải công đức, bởi vì không phải công đức nên mới là công đức đó. Trong kinh Kim Cang cũng nhiều lần nhắc đến, cái gọi là công đức căn bản không phải là công đức, vì không phải là công đức nên mới là công đức đó!

Cho nên chúng ta làm bất kì bố thí nào thì không phải là bố thí, bởi vì không phải là bố thí nên mới là bố thí chân chính! Nếu hôm nay bạn làm việc thiện, ngày mai đã đăng lên báo, lên ti vi rồi thì việc đó không có công đức, đó chỉ là giúp bạn lên trời mà thôi! Bạn đã làm rất nhiều việc thiện, người ta ca ngợi bạn là người tốt, tôi nói với bạn, làm việc thiện cũng đừng để người ta nói bạn là người tốt! Người ta có nói thì bạn cũng không được để trong lòng, bạn vốn dĩ là tốt, nhưng không để trong lòng. Không trụ tướng bố thí, điểm này rất quan trọng, cho nên bạn đọc toàn bộ kinh văn này: *“Tu Bồ Đề! Nếu tâm Bồ Tát trụ vào pháp mà làm việc bố thí, thì giống như người đi vào chỗ tối, cũng chẳng thấy gì. Nếu tâm Bồ Tát không trụ vào pháp mà làm việc bố thí thì giống như người có mắt, nhờ ánh sáng chiếu soi mà thấy đủ mọi sắc tướng.”*

*“Tu Bồ Đề! Vào các đời sau, nếu có thiện nam, thiện nữ có thể thọ trì đọc tụng kinh này…” *Người có thể giảng giải kinh này, có thể tiếp nhận “vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng”, người có thể vĩnh viễn giữ gìn, hơn nữa còn có thể đọc tụng, người này tương lai nhất định có thể thành Phật. Nếu bạn làm được như vậy, sau này nhất định có thể giải thoát lục đạo luân hồi.

*“Dùng trí huệ Phật mà đều biết người ấy, đều thấy người ấy đều đạt thành tựu công đức vô lượng vô biên.” *Vì sao Như Lai đều biết người ấy? Bởi vì Phật và Phật biết nhau, Như Lai đều biết người ấy, đều thấy người ấy, bởi vì bản thân người đó đã không còn là con người, không là con người thì là cái gì? Người ta chửi bạn “Mày đúng là không phải là con người!”, vậy thì bạn nên vui mừng, bởi vì bạn là Phật rồi! Cái này chỉ có Phật và Phật với nhau biết, đạo lí này chỉ có Phật và Phật biết với nhau, giải thoát lục đạo luân hồi rất khó đó. 

Tôi từng nói với người ta, kinh Kim Cang này nói rất hay, vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, bạn đi thực hành “không trụ tướng bố thí”, sau này bạn sẽ có thể thành tựu, trở thành Phật Bồ Tát, Bồ Tát chân chính, A La Hán chân chính. Vì sao có thể trở thành A La Hán? Bởi vì con người có cảm giác, cảm giác của con người từ đâu đến? Từ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý mà đến, A La Hán đóng chặt sáu giác quan, nhắm mắt lại không nhìn, tai không nghe, miệng không nói, lưỡi không có vị, thân thể không tiếp xúc, ý niệm suy nghĩ cũng không có thì sẽ thành tựu A La Hán. 

Có người nói với tôi: “Đạo lí mà Sư Tôn nói chúng tôi đều biết, chỉ là rất khó làm được.” Vì sao rất khó làm được? Thói quen đều không thay đổi thì làm sao bạn làm được. Tập tính vẫn còn đó! Tham sân si nghi mạn này, đủ mọi tập tính, bạn phải từ từ thay đổi, thay đổi đến cuối cùng thì tất cả đều bình đẳng. Cho nên những gì như Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói đây rất khó tìm thấy ở những tôn giáo khác, đương nhiên tôn giáo khác cũng có, chỉ là họ không nói một cách rõ ràng giống như Phật Thích Ca Mâu Ni nói.

Tôn giáo khác chỉ đến Thiên đường, nhưng nếu hiểu được Jesus, bạn hiểu Jesus thì sẽ thấy đạo của Jesus thật sự có Phật pháp, ở con người Jesus thật sự là Phật pháp. Bạn hãy xem chữ “xả” trong từ bi hỉ xả kia, Jesus cũng có nói về chữ “xả” này, Jesus cũng nói về “không trụ tướng bố thí”: “Việc mà tay phải làm, đừng để tay trái biết.” Đây là không trụ tướng bố thí, Jesus cũng nói, chỉ là rất ít người hiểu được.

Bởi vì bản thân Jesus cũng đã đến núi Himalaya, học pháp của Bạch giáo, học pháp của Hồng giáo, ngài trở về truyền Phúc Âm của Thiên đường. Ngài đến thế giới Ta Bà nói về Thiên đường, đó chỉ là cơ bản thôi, bởi vì thọ mệnh của ngài rất ngắn, ngài truyền pháp chỉ được ba năm thì đã bị đóng đinh trên thập tự giá rồi, không kịp để giảng thêm! Bằng không thì nói không chừng Jesus cũng là Phật Đà đó, ngài thật sự giống như Phật Thích Ca Mâu Ni. Vì thế đạo lí tôi nói ở đây, bạn xem Thánh Teresa của Thiên Chúa giáo, ngài coi mỗi con người đều là Thượng Đế, tư tưởng này chính là bốn chữ từ bi hỉ xả. Trên phương diện nhập thế, chữ “xả” đó của ngài là quan trọng nhất, chữ xả đó hoàn toàn xem là bình đẳng, mỗi con người đều là Thượng Đế, đó không phải là Thánh nhân thì là cái gì? Đương nhiên ngài là Thánh nhân, nếu là Thánh nhân thì có thể xuất khỏi tam giới, không còn luân hồi nữa. 

Đây là đoạn mà Phật Thích Ca Mâu Ni nói: 

*"Tu Bồ Đề! Pháp mà Như Lai có được, pháp này không thực không hư. Tu Bồ Đề! Nếu tâm Bồ Tát trụ vào pháp mà làm việc bố thí, thì giống như người đi vào chỗ tối, cũng chẳng thấy gì. Nếu tâm Bồ Tát không trụ vào pháp mà làm việc bố thí thì giống như người có mắt, nhờ ánh sáng chiếu soi mà thấy đủ mọi sắc tướng. Tu Bồ Đề! Vào các đời sau, nếu có thiện nam, thiện nữ có thể thọ trì đọc tụng kinh này thì xem như Như Lai dùng trí huệ Phật mà đều biết người ấy, đều thấy người ấy đều đạt thành tựu công đức vô lượng vô biên.”*

Hãy nhớ rõ, thọ trì, đọc tụng chính là truyền pháp, người đó chính là Như Lai. Trí huệ của Phật, huệ nhãn của Phật đều có thể biết người này là Như Lai, đều biết người ấy, người này chính là Phật. *“Đều thấy người ấy đều đạt thành tựu công đức vô lượng vô biên”, *căn bản là vô lượng vô biên, công đức có được rất nhiều, chính là như thế. Om mani padme hum.

*(Ngày 08/01/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu A Di Đà Phật Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 48.)*


### 49. Phần thứ 15: Công đức trì kinh (1)


*(Bài giảng 49)* Tín tâm thuận theo

Chẳng trách mà có rất nhiều người niệm kinh Kim Cang, thì ra trì tụng kinh điển này cũng có công đức. 

*"Tu Bồ Đề! Nếu có thiện nam, thiện nữ vào đầu ngày mới dùng thân nhiều như số cát sông Hằng mà bố thí, vào giữa ngày dùng thân nhiều như số cát sông Hằng mà bố thí, vào cuối ngày dùng thân nhiều như số cát sông Hằng mà bố thí, cứ như thế trong vô lượng trăm nghìn vạn ức kiếp dùng thân mà bố thí; nếu lại có người nghe kinh điển này, tín tâm thuận theo, thì phúc còn hơn cả công đức bố thí kia.”*

Phật Đà là như vậy đó, Phật Thích Ca Mâu Ni rất thích dùng so sánh, hễ so sánh là lại lấy cát sông Hằng ra để so sánh. Ấn Độ chỉ có một con sông Thánh, con sông Thánh này chính là sông Hằng. Vào thời đại Phật Thích Ca Mâu Ni, Nữ Thần Sông Hằng chính là Saraswati, rất nổi tiếng. Cái này cũng là so sánh, Phật nói chỉ cần bạn nghe được kinh điển này, có lòng tin đối với kinh điển này, và không làm trái ý nghĩa của kinh điển này, trọng điểm nằm ở hai chữ “thuận theo” này. *“Nghe kinh điển này”, *bạn nghe được kinh Kim Cang này, nghe được và tín tâm thuận theo, chà, hai chữ “thuận theo” này rất quan trọng, không vi phạm ý nghĩa của kinh Kim Cang, có nghĩa là bạn thực thi những ý nghĩa trong kinh Kim Cang, trọng điểm là nằm ở đây.

“*Thì phúc còn hơn cả công đức bố thí kia”, *đương nhiên là công đức vô cùng to lớn, công đức vô lượng. Ngài nói như vậy, vào đầu ngày mới, thế nào gọi là đầu ngày mới? Khi mặt trời mới mọc thì gọi là đầu ngày mới. Vào giữa ngày, khi mặt trời lên cao chính giữa thì gọi là giữa ngày; vào cuối ngày, khi mặt trời sắp xuống núi thì gọi là cuối ngày. Phật nói: “*dùng thân nhiều như số cát sông Hằng mà bố thí”, *bố thí của người đó giống như bố thí cát sông Hằng, nhưng mà trải qua thời gian bao lâu? *“Cứ như thế trong vô lượng trăm nghìn vạn ức kiếp.” *Chà, trăm nghìn vạn ức kiếp, thời gian ấy thật sự là quá dài.

Bạn làm được công đức như vậy, liên tục làm, làm không ngừng nghỉ, ý nói rằng cả ngày bạn đều làm bố thí, số lượng bố thí nhiều như số cát sông Hằng, mỗi ngày đều làm như vậy, hơn nữa phải làm thời gian bao lâu? Trăm nghìn vạn ức kiếp. Một kiếp đã là cực kì rồi, mọi người tra xem một kiếp là bao nhiêu thời gian? Trong kinh điển thường dùng kiếp. (Đệ tử: một tiểu kiếp là hơn 1600 vạn năm.) Hơn 1600 vạn năm, bạn xem Trung Quốc có lịch sử 5000 năm thì là mấy kiếp? Một tiểu kiếp là hơn 1600 vạn năm. 

Ở đây viết *“vô lượng trăm nghìn vạn ức kiếp” *đó! Bạn làm công đức bố thí lâu như vậy, hơn nữa cả ngày đều phải làm, buổi sáng, buổi trưa, buổi tối, làm không ngừng nhiều công đức bố thí như vậy, thế mà đều thua việc nghe được kinh điển này, *“tín tâm thuận theo, thì phúc còn hơn cả công đức bố thí kia”, *phúc đức này còn thắng cả những công đức kia. Chỉ mỗi đọc tụng kinh điển này, hiểu nghĩa của kinh điển này, thực thi “vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng”, bạn làm theo như vậy, như thế còn hơn cả những công đức kia.

“Thuận theo”, không phải là vi phạm những ý nghĩa trọng yếu ở trong kinh Kim Cang. Hai chữ “thuận theo” rất quan trọng! Không phải là mỗi ngày bạn tụng một biến thì công đức sẽ hơn cả bố thí trăm nghìn vạn ức kiếp, bố thí trăm nghìn vạn ức kiếp đều thua tôi hết, tôi niệm kinh Kim Cang là có công đức như vậy, không phải! Phật nói “nghe kinh điển này”, bạn nghe thấy, bạn tin tưởng, và bạn tín tâm tuân theo, không vi phạm yếu nghĩa trong kinh Kim Cang. 

Yếu nghĩa của kinh Kim Cang là “vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng”, phúc đức này là cực kì, hơn cả công đức có được khi bạn bố thí trăm nghìn vạn ức kiếp, thắng vượt công đức đó. Trên thực tế, tôi cũng cảm thấy là siêu việt hơn, chính tôi cũng biết chắc chắn là siêu việt hơn, bởi vì không ai có thể thắng được “vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng”, không có ai!

Nếu như bạn có thể làm như vậy, “vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng”, bạn có thể nắm chắc được yếu nghĩa của nó, có thể thực tiễn trên chính bạn, bản thân bạn chính là Phật, như thế là rất cao rồi. Kì thực, “vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng” chính là khai ngộ, bạn đi thực thi sự khai ngộ này thì bạn chính là Phật rồi, A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, chính là Phật tính.

Điều Lão Tử nói, Lão Tử nói cái gì? Tôi nói thành lời nói xuôi dễ hiểu: “Chính vì cái gì cũng đều không có, kì thực cái gì cũng đều không có, nhưng trong đó có vật, dường như trong đó có vật.” Lão Tử nói như thế: cái gì cũng không có, trong mơ hồ có vật, trong đó có vật. (Chú thích: Đạo Đức Kinh viết: “*Hốt hề, hoảng hề, kì trung hữu tượng. Hoảng hề, hốt hề kì trung hữu vật”*, tức là: trong hoảng hốt vẫn có hình tượng của Đạo, trong hoảng hốt vẫn có vật - bản thể của Đạo.) Bây giờ tôi cũng nói, cái gì cũng không có, nhưng trong đó có Phật tính. Cái gì cũng không có, trong đó đã có Phật tính, Phật tính đó chính là Phật.

Hai chữ “thuận theo” là trọng điểm, bạn không vi phạm những yếu nghĩa nói đến trong kinh Kim Cang, bạn có thể thực tiễn, bản thân bạn chính là Như Lai. Vậy bây giờ chúng ta là cái gì? Chúng ta ngồi đây nghe pháp, người thuyết pháp thực ra là không có, cũng không có Phật pháp; người nghe pháp không nghe thấy Phật pháp, người thuyết pháp không có giảng Phật pháp, cũng không có cái thứ Phật pháp này, nhưng mà trong đó có vật. 

Tôi nói như thế này, cái gì gọi là Như Lai? Hình như có đến, kì thực chúng ta thường nói Như Lai, Như Lai, Như Lai chính là Phật rồi. Chúng ta nói A Di Đà Như Lai, và A Di Đà Phật thật ra là như nhau, Phật chính là Như Lai. Như Lai có ý nghĩa gì? Dường như có đến. Thế nào gọi là Như Khứ? Bạn tra kinh điển một chút sẽ biết, dường như có đi, Như Khứ cũng chính là Như Lai. Tôi nói với mọi người, mọi người đều chỉ biết Như Lai, không biết Như Khứ, Như Khứ cũng là Như Lai, dường như có đến, dường như có đi.

Hôm nay đây, hình như Lư Sư Tôn có làm Hộ Ma ở Biệt thự Cầu Vồng, giảng Phật pháp cho mọi người, chỉ có thể nói hình như có, chính là Như Lai. Đợi một lát pháp hội này của chúng ta kết thúc rồi, mọi người đều trở về, hình như có đi, chính là Như Khứ. Dường như có đến, dường như có đi, người này chính là Phật, Như Lai, Như Khứ đều là Phật. Nếu bạn hiểu được đạo lí này thì sẽ biết, điều chúng ta đang làm bây giờ chính là “Như” (dường như), vì thế Phật Thích Ca Mâu Ni vào thời đại đó, dường như có ở Linh Sơn thuyết pháp.

Phật Thích Ca Mâu Ni dường như có ở Linh Sơn thuyết pháp, Sư Tôn dường như có ở Linh Sơn nghe pháp, chỉ có thể nói như vậy, bởi vì đó đã là quá khứ rồi, sau này sẽ cùng mọi người nói đến. Phật Thích Ca Mâu Ni nói, kì thực cái gì cũng không có, bởi vì pháp hội ở Linh Sơn đã qua rồi. Bây giờ Lư Sư Tôn đang ở Hộ Ma Bảo Điện của Biệt thự Cầu Vồng thuyết pháp, hiện tại cũng sẽ trở thành quá khứ. Tuần trước tôi nói Thượng sư Liên Già ngồi ở đây, bây giờ Thượng sư Liên Già đã không còn ở đây nữa rồi, bà ấy đã trở về văn minh cố quốc rồi. Sự việc này liệu có diễn biến lại không? Không có, đã qua rồi.

Bà ấy hình như có đến, lại hình như có đi, còn bây giờ thì không có, cho nên hiện tại cũng sẽ trở thành quá khứ, bởi vì ngày mai sẽ trôi qua, sẽ không có lại nữa. Hãy nhìn đi! Quá khứ đã qua rồi, hiện tại cũng sẽ thành quá khứ, tương lai còn chưa đến, vậy ở đây có cái gì? Cái gì cũng không có. Yếu nghĩa của kinh Kim Cang là ở đây - quá khứ đã trôi qua, hiện tại cũng sẽ thành quá khứ, tương lai còn chưa đến, ở đây có cái gì? Không có! Vì thế Tâm Kinh mới nói là “bất khả đắc”. 

Bạn có biết Trung Quốc trước kia, đế quốc lớn nhất là đế quốc Mông Cổ, là lớn nhất! Kéo dài suốt châu Á đến châu Âu, bạn hãy xem đế quốc Assyria, đế quốc Macedonian, đế quốc La Mã, khi xưa huy hoàng biết bao, cả châu Âu kéo dài đến tận châu Á, đế quốc đó là rất rộng lớn. Macedonian, Assyria, La Mã đại đế quốc đều là những đế quốc rất lớn. Dường như có những đế quốc này là đúng, có! Nhưng đã qua rồi, đã như khứ rồi, đế quốc cũng không còn tồn tại nữa. Giống như đại đế quốc Mông Cổ to lớn như vậy cũng không còn nữa! Ba Tư trước kia cũng từng là một đại đế quốc Ba Tư, cũng có một giai đoạn là đại đế quốc. 

Bạn hãy xem Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế đều muốn làm hoàng đế vĩnh viễn, tìm kiếm trường sinh bất lão, còn đi ra ngoài biển để tìm tiên đơn. Hán Vũ Đế cũng đã uống không ít tiên dược, tiên đơn, Hán Vũ Đế kêu người ta luyện tiên đơn cho ông ấy uống, kết quả là Hán Vũ Đế cũng chẳng còn nữa! Tần Thủy Hoàng nói: “Ta là Thủy Hoàng Đế, thống nhất sáu nước, ta là Thủy Hoàng Đế!” Nghĩa là vị hoàng đế vĩnh viễn. Tần Thủy Hoàng cũng phái Từ Phúc đi ra ngoài tìm tiên đơn, ba nghìn đồng nam, ba nghìn đồng nữ cùng lên thuyền, bảo Từ Phúc đi thuyền ra núi Tiên ở ngoài biển để tìm tiên đơn, kết quả là một đi không trở lại! Tần Thủy Hoàng cũng không thể làm hoàng đế vĩnh viễn. Hán Vũ Đế cũng muốn làm hoàng đế vĩnh viễn, cũng muốn trường sinh bất lão, đã uống không ít tiên đan, nghe nói Hán Vũ Đế còn bị tiên đơn hại chết nữa, uống tiên đơn kết quả là bị chết.

Thế nên bạn hãy nhìn lịch sử, một triều đại như vậy, một triều đại tiếp tục, tôi đã đọc Trung Quốc 5000 năm văn hóa, các triều đại Đường, Ngu, Hạ, Thương, Chu, Tần, Hán, bốn nước (Ngụy, Thục, Ngô, Yên), Ngụy, Tấn nam bắc triều, Tùy, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, cho đến bây giờ, bao nhiêu triều đại rồi, bao nhiêu chiến tranh rồi, bao nhiêu cuộc tranh bá, kết quả đều là không, cái gì cũng không có. Như lai, như khứ, bạn phải hiểu yếu nghĩa của kinh Kim Cang. 

Sư Tôn vừa mới giảng yếu nghĩa của kinh Kim Cang, thế nên Thiền tông mới có người nêu ra “ngay lúc này”. Tôi nói cho bạn biết, ngay lúc này cũng vô dụng! Ngay lúc này vui vẻ thì tốt, nắm chắc ngay lúc này, mỗi ngày đều nắm chắc một chút vui vẻ của hiện tại, chính là cuộc đời của bạn. Ngay lúc này khi rất đau khổ cũng là ngay lúc này. Đời người những thứ vui vẻ thì ngắn ngủi, đau khổ thì nhiều, vui vẻ đương nhiên là có, nhưng khổ cũng nhiều. Một ngày này, những niềm vui của một ngày tập hợp lại, chính là cuộc đời của bạn. Một ngày, đau khổ của một ngày tập hợp lại, chính là cuộc đời của bạn. Mỗi một ngày, mỗi một ngày liên kết lại với nhau, vì sao có thể liên kết lại? Bởi vì chúng để ở trong não bạn mà!

Có một ngày bạn mất trí nhớ rồi, kho kí ức của bạn không còn gì nữa, trống rỗng. Khi ấy, Sư Mẫu đến hỏi tôi: “Tôi là ai?” “Bà à, là con gái tôi.” “Bà à, là cháu tôi.” Kho kí ức không còn nữa, xóa sạch rồi, bạn còn có cuộc đời không? Không còn nữa! Tôi nói với bạn, rất nhiều người con gái trở về thăm mẹ: “Mẹ còn nhận ra con là ai không?” Thì người mẹ hỏi ngược lại con gái: “Cô là ai?” Sống cùng nhau bao nhiêu năm, kho kí ức đã trống rỗng rồi, rỗng không rồi.

Tôi nói để bạn biết, có một ngày kho kí ức của bạn trống rỗng rồi, cuộc đời bạn ở đâu? Không còn nữa, bạn không còn có cảm giác gì mà! Chúng ta bây giờ có cảm giác là vì có mắt tai mũi lưỡi thân ý, bạn để ở trong kho kí ức của mình. Có một ngày kho kí ức không còn gì, cuộc đời của bạn chính là zero, cái gì cũng không có. Bạn có nhiều tiền, bạn là người có uy tín ở khoa tim mạch, bạn là người có uy tín ở khoa thần kinh, nhưng kho kí ức không còn nữa thì bạn cũng là *zero* thôi, cuộc đời đều không còn. Tôi nói với bạn về yếu nghĩa ở trong kinh Kim Cang như vậy.

Vợ hỏi chồng: “Chồng ơi, em mắc bệnh rồi, em sợ đến nỗi đã mua một cái túi.” Chồng nói: “Mắc bệnh mà mua túi để làm gì?” Vợ nói: “Lẽ nào anh không nghe người ta nói “bao trị bách bệnh” sao?” Người chồng này đi ra ngoài cầm vào một viên gạch, vợ hỏi: “Anh làm cái gì đấy?” Chồng nói: “Cái này gọi là viên gạch trị các loại bệnh khó chữa.” Om mani padme hum.

*(Ngày 09/01/2022 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Liên Hoa Đồng Tử tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 49.)*


### 50. Phần thứ 15: Công đức trì kinh (2)


*(Bài giảng 50) *Ngũ thừa

*“… huống chi là chép viết, thọ trì, đọc tụng, vì người khác mà giảng thuyết. Tu Bồ Đề! Lời quan trọng nhất là kinh này có công đức vô biên bất khả tư nghì, không thể đo lường. Như Lai vì những người phát tâm Đại thừa mà nói, vì những người phát tâm Tối thượng thừa mà nói.”*

Hôm nay chúng ta giảng đoạn này. Có người thường xuyên dùng bút để chép kinh Kim Cang này, cũng có người đọc tụng kinh Kim Cang, rất nhiều người buổi tối hoặc buổi sáng ngủ dậy đều niệm một biến kinh Kim Cang. “Thọ trì” ở đây tôi đã giảng rồi, bạn hiểu được yếu nghĩa của kinh Kim Cang, bạn thọ trì yếu nghĩa của kinh Kim Cang, điểm này là quan trọng nhất. Bạn thực tiễn những yếu nghĩa của kinh Kim Cang, điểm này là quan trọng nhất. Chúng ta biết yếu nghĩa “vô ngã tướng” của kinh Kim Cang, bạn chỉ cần “vô ngã tướng” đã là rất khó rồi, hai chữ “vô ngã” bản thân đã vô cùng khó rồi, cho nên trong yếu nghĩa của kinh Kim Cang, đầu tiên bạn phải tu “vô ngã”. 

Hôm nay bạn còn có thể tức giận không? Xin hỏi người nào chưa bao giờ tức giận giơ tay? Không có ai giơ tay, có thể thấy là ai cũng từng tức giận. Kì thực nhà chúng tôi có thói nóng tính gia truyền, khi tôi còn trẻ, thường xuyên khi tôi viết văn, tôi viết rằng: “Gia tộc của chúng tôi thuộc về gia tộc vịt mặt đỏ.” Thế nào gọi là vịt mặt đỏ? Nghe thấy khó chịu là mặt lập tức đỏ lên, lửa dâng lên, đỏ mặt ngay. Sau đó, không chỉ là miệng, đôi khi còn động thủ nữa.

Ông nội tôi Lư Xương, họ Lư, chữ Xương có hai mặt trời ghép lại, Lư Xương. Nghe mẹ tôi kể có một lần chị cả của tôi (do mẹ khác sinh ra), chị của tôi đang may vá, chị ấy nói một câu, ông nội tôi từ bên cạnh đi qua, nghe thấy không vui, ông liền dùng tay đẩy đầu chị đập vào cái máu khâu, máy khâu làm bằng sắt đó! Bị đập đầu như vậy, máu chảy túa ra. Đó là ông nội tôi, mẹ tôi kể lại cho tôi nghe, tính nóng của ông nội tôi không tốt.

Bố tôi di truyền tính nóng nảy của ông nội tôi, bố tôi theo tinh thần của người Nhật, *Nihon sensei* (đại trượng phu Nhật Bản), cái tính khí nóng nảy của những *Japanese husband* (ông chồng Nhật Bản), đại nam nhân chủ nghĩa. Trong nhà tôi có một cây kiếm gỗ, là một thanh kiếm gỗ rất thô, *bokken* (tiếng Nhật). Miyamoto Musashi, kiếm thuật của Miyamoto Musashi rất cao minh, cầm lên thanh kiếm võ sĩ, Yến Phản kiếm thuật như thế này, “viu, viu”, viết chữ “chi”, Yến Phản kiếm thuật vung qua vung lại. Tôi bị bố tôi đánh đến mức kiếm gỗ đó gãy luôn! Kiếm gỗ đó đánh “pẹt pẹt pẹt” như thế này, kiếm gỗ cũng gãy luôn! Kiếm gỗ đó rất thô, đánh đến mức kiếm gỗ cũng gãy luôn. 

Người tôi đại khái là cứng như thép nhỉ! Thép có thể khắc chế được gỗ, đánh đến mức gãy luôn. Tôi quay đầu lại nói với bố tôi, tôi rất tức giận: “Con vĩnh viễn ghi nhớ bố đã đánh con như thế này!” Khi tôi khoảng ba tuổi, có một lần tôi không uống thuốc, bố tôi từ phía sau đi tới, túm lấy tôi từ trên ghế ở bàn ăn, nhấc lên cao quá đầu, sau đó từ trên không quăng tôi đi, giống như là quăng quả bóng rổ xuống đất vậy, sàn nhà là nền xi-măng. Bạn có biết không? Tôi từ trên không bay “viu… viu…” rồi “bộp”, rơi xuống đất. Mẹ tôi vội vàng chạy đến xem, sờ vào mũi, vẫn còn hơi thở, vẫn còn sống!

Vì thế, hồi nhỏ sau khi bị đánh, tôi đã hướng lên trời phát lời thề: “Kể từ nay về sau, bất kể là trẻ con làm chuyện gì, tôi sẽ đều không đánh trẻ con.” Bắt đầu từ lúc đó thì tôi không còn đánh trẻ con nữa. Phật Thanh và Phật Kì tôi đều chưa từng đánh chúng. Chỉ có một lần… cũng không phải là đánh chúng, lần đó là tôi đang ngồi thiền, hai đứa đang chơi bên cạnh cười hi hi ha ha, hai đứa đẩy qua đẩy lại. Tôi liền đưa tay đẩy hai đứa chúng nó một cái. Chỉ có một lần đó, tôi đẩy Phật Thanh và Phật Kì một cái, đẩy chúng nó ra ngoài, hai đứa nó nhớ mãi lần tôi đẩy chúng. Tôi nói: “Kể từ khi sinh ra cho đến nay, bố chưa từng bao giờ đánh hai đứa.” Nó nói: “Có chứ!” “Có khi nào?” “Bố đẩy chúng con một cái.” Bạn xem, chúng nó đều nhớ cả.

Vì thế, ai cũng có nóng giận. Khi bạn tu đến vô ngã rồi, căn bản bạn chính là Thánh nhân đó! Bạn không còn là chính mình nữa, bạn chỉ làm công việc bố thí, giống như Bồ Tát làm bố thí, mỗi ngày đều cứu người, giúp đỡ người ta, không có bản thân mình nữa. Giống như vị nữ tu của Thiên Chúa giáo, Thánh Teresa, tôi đã kể rồi, bà ấy coi mỗi con người đều là Thượng Đế, bạn sẽ không đánh Thượng Đế đúng không? Bạn không thể đánh Thượng Đế. Bà ấy xem mỗi một người đều là Thượng Đế, bạn sẽ không nổi cáu với Thượng Đế đúng không? Chỉ có dùng tâm từ bi và cung kính để đối đãi với mỗi con người, Thánh Teresa là như vậy.

Bà ấy còn có một điểm rất quan trọng nữa (là Thượng sư Liên Vượng nói), Thánh Teresa có nói một câu: “Sau này nếu tôi được phong Thánh, tôi không muốn đến Thiên đường, tôi muốn sống ở nhân gian thế giới Ta Bà tại nơi đen tối nhất, tiếp tục giúp đỡ chúng sinh.” Điều này giống với Địa Tạng Vương Bồ Tát “địa ngục chưa trống thề không thành Phật”. Bà ấy phát lời thề này, cho nên Thánh Teresa không đến Thiên đường, “cho dù tôi trở thành Thánh nhân, tôi sẽ không đến Thiên đường, tôi vĩnh viễn sống ở nơi tối tăm nhất để giúp đỡ chúng sinh.” Đó là Thánh nhân. Tinh thần này chính là tinh thần “vô ngã tướng” của Phật giáo, căn bản là bạn không còn cái tôi nữa, không nghĩ cho chính mình, chỉ nghĩ vì chúng sinh, nghĩ cho người khác, đó là người không còn hận, chỉ có yêu chúng sinh.

Đầu tiên hãy tu điều này đã, đúng thế không? Điều này rất quan trọng. Bạn phải thọ trì, vì người khác mà giảng thuyết, bây giờ tôi đang vì người khác mà giảng thuyết về “vô ngã tướng”. Bạn phải thọ trì yếu nghĩa của kinh Kim Cang là quan trọng nhất, hơn nữa còn giảng thuyết cho người khác, giảng nói cho người khác thế nào là “vô ngã tướng”. Giống như Thánh Teresa, giống như Địa Tạng Vương Bồ Tát, chính là vô ngã tướng. Ngài không đến Tứ thánh giới, vì vốn dĩ ngài chính là Tứ thánh giới rồi, ngài vốn dĩ chính là Thánh nhân rồi, nhưng ngài lại nguyện sống ở nơi đen tối nhất để phục vụ chúng sinh, ngài sẽ không có oán hận. Chữ “hận” này không có nữa, thù hận là không có. Cho nên tôi rất tôn kính bố tôi, đối với ông ấy tôi hoàn toàn không có ý nghĩ thù ghét, không có bố tôi thì tôi cũng không thể trưởng thành, không nên có oán ghét. Tôi cũng không nên có oán hận chúng sinh, tôi không ghét bất kì ai, chỉ nghĩ cho chúng sinh, đây chính là “vô ngã tướng”. Vì người khác giảng thuyết, tôi vừa mới nói rồi, chính là vì người khác mà giảng giải thế nào là vô ngã.

*"Tu Bồ Đề! Lời quan trọng nhất là kinh này có công đức vô biên bất khả tư nghì, không thể đo lường.”* Chúng ta cũng không nghĩ về công đức, Phật Thích Ca Mâu Ni nói có công đức vô biên, kì thực nếu trong lòng nghĩ là “mình làm như vậy là có công đức” thì đó không có công đức. Bởi vì bạn không nghĩ về việc làm công đức thì đó mới là công đức. Cho nên chúng ta làm bất kì việc gì cũng đừng nghĩ về công đức, bởi vì bạn không nghĩ về công đức thì mới là công đức. Nếu bạn có nghĩ về công đức thì không phải là công đức. Bạn không nghĩ về công đức thì là công đức vô biên.

Phật Thích Ca Mâu Ni nói là *“bất khả tư nghì, không thể đo lường”*, không thể nào so sánh, đó là công đức vô biên. *“Như Lai vì những người phát tâm Đại thừa mà nói, vì những người phát tâm Tối thượng thừa mà nói.”* Phật Thích Ca Mâu Ni nói cho những người phát tâm Đại thừa, nói cho người phát tâm Tối thượng thừa. Phật giáo có năm thừa - Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh Văn thừa, Bồ Tát thừa, Phật thừa. 

Nhân thừa là nói đến tùy tâm làm gì bạn muốn mà không vượt quá các quy tắc, tùy tâm bạn mà làm, tùy thuận chúng sinh mà làm, nhưng không vượt quá các quy tắc, chính là giữ giới. Đừng vượt quá quy tắc, quy tắc đó chính là giới luật. Bạn có thể tùy tâm làm gì bạn muốn, tùy thuận mà làm, nhưng bạn không được vượt quá quy tắc. Chúng ta hiểu rằng Nhân thừa là đạo lí làm người, Thánh nhân Khổng Tử của Trung Quốc chuyên môn nói về những thứ như lễ, nhạc, thơ, sách, dịch, đó là những thứ nói đến trong “Luận Ngữ”. Học thuyết của Khổng Tử, Mạnh Tử đều nói về Nhân thừa, cũng là thuộc về Phật giáo.

Thiên thừa, Thiên đường của Jesus Christ: “Bạn làm một người nhân nghĩa bạn sẽ có thể lên Thiên đường.” Chữ “nghĩa” trong từ trung nghĩa, bạn phải làm một con người nhân nghĩa, làm một người có quy tắc, chính là một con người nhân nghĩa, bạn sẽ có thể đến được Thiên đường, đó là Thiên thừa. Bạn làm công đức, người tốt có thể đến được Thiên đường, đó là thuộc về Thiên thừa. 

Thứ ba là Thanh Văn thừa, tức là Tiểu thừa, đã đến được Tứ thánh giới rồi, độ được chính mình, nhưng không rộng rãi đi độ chúng sinh. Độ chính mình mà thôi, chứ không rộng rãi đi độ chúng sinh, đó chính là Tiểu thừa hay Thanh Văn thừa. Tiếp theo là Bồ Tát thừa, là rất cao. Bồ Tát thừa chính là chỉ vì chúng sinh, không vì bản thân thì chính là Bồ Tát! Tôi nói một cách đơn giản như vậy, bởi vì ở trong đây còn có rất nhiều nội dung. Tối thượng thừa chính là Phật thừa, bạn đã khai ngộ rồi, làm không vì điều gì cả, không vì cái gì cả, nhưng làm gì đó mà không vì cái gì mà làm thì gọi là Phật thừa. Phật thừa tức là nói rằng, ngoài tự mình độ chính mình ra thì còn độ người khác, còn giảng thuyết cho người khác.

Kinh này của Phật Thích Ca Mâu Ni là giảng cho ai? Giảng cho những người Tối thượng thừa, chính là vì những người Phật thừa hoặc Bồ Tát thừa mà giảng. Đại thừa chính là Bồ Tát, Tối thượng thừa chính là Phật thừa. Ngũ thừa này: Nhân, Thiên, Thanh Văn, Bồ Tát, Phật. Tối thượng thừa chính là Phật, Đại thừa chính là Bồ Tát. Kinh Kim Cang là vì người Bồ Tát và người Tối thượng thừa mà giảng nói. Tự mình độ chính mình, còn cần độ người khác, đây là “tự giác giác tha”, Phật là “giác hành viên mãn”. Tự giác giác tha chính là Bồ Tát, còn Phật là giác hành viên mãn, làm đến mức vô cùng viên mãn chính là Phật. Om mani padme hum. 

*(Ngày 15/01/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Quan Thế Âm Bồ Tát Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 50.)*


### 51. Phần thứ 15: Công đức trì kinh (3)


*(Bài giảng 51) *Thọ trì đọc tụng

*“Nếu có người có thể thọ trì đọc tụng, vì người khác mà rộng rãi giảng thuyết, thì Như Lai đều biết người này, đều thấy người này đạt thành tựu công đức không thể đo lường, không thể cân tính, không có biên giới, không thể nghĩ bàn. Những người như thế tức là gánh vác A nậu đa la tam miệu tam bồ đề của Như Lai. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Nếu người nào yêu thích pháp nhỏ, chấp vào ngã kiến, nhân kiến, chúng sinh kiến, thọ giả kiến, thì đối với kinh này không thể nghe, thọ trì, đọc tụng, vì người khác mà giảng thuyết.”*

Ngày xưa tôi không giảng kinh Kim Cang, hồi mới đầu, vì sao tôi chưa giảng kinh Kim Cang? Bởi vì trong tông phái chúng ta, tức là chúng ta có Thượng sư muốn giảng kinh Kim Cang, thế là tôi đem nguyên bản pháp sư Lạc Quả giảng kinh Kim Cang tặng cho Thượng sư đó, để cho Thượng sư đó giảng kinh Kim Cang. Sau này, mọi người đều thúc giục Sư Tôn giảng kinh Kim Cang.

Tôi biết kinh Kim Cang là kinh liễu nghĩa. Thế nào gọi là kinh liễu nghĩa? Trong thuyết pháp của Phật có cái gọi là liễu nghĩa và không liễu nghĩa, cái gọi là liễu nghĩa tức là kiến đạo, kinh điển nhìn thấy đạo, đó là kinh liễu nghĩa. Thế nào gọi là không liễu nghĩa? Giống như Phật giáo Nhân thừa giảng đạo lí làm người, Phật giáo Thiên thừa giảng về Thiên đường, đến Thiên giới, đó thuộc về không liễu nghĩa. Phật Thích Ca Mâu Ni cũng giảng rất nhiều kinh điển không liễu nghĩa. Kinh Kim Cang là kinh điển liễu nghĩa, Tâm Kinh cũng là kinh điển liễu nghĩa, kinh Đại Niết Bàn cũng là kinh điển liễu nghĩa.

Ngoài ra còn có rất nhiều kinh điển thuộc về liễu nghĩa, cũng có kinh không liễu nghĩa. Kinh không liễu nghĩa nói về việc chưa kiến đạo, kinh liễu nghĩa là nói về việc đã kiến đạo rồi. Vì thế muốn giảng kinh điển này, nhất định phải là người kiến đạo mới có thể giảng được, người chưa kiến đạo chỉ là giảng theo cách thông thường mà thôi. Thông thường tức là chỉ giải thích dựa theo mà căn bản không thể nói trúng đạo lí của bản thân kinh điển, không thể nói trúng yếu nghĩa chân chính nằm ở đâu.

Cho nên nói “thọ trì đọc tụng”, đọc tụng kinh Kim Cang thì mọi người đều biết đọc, cũng đều biết chép lại, nhưng mà thọ trì thì không dễ dàng, trọng điểm chính là ở việc thọ trì này. Bạn tiếp nhận yếu nghĩa của nó, hơn nữa còn có thể duy trì được yếu nghĩa ấy. Tối hôm qua tôi đã nói rồi, bạn còn có nóng giận không? Có nóng giận! Còn có tập khí không? Có tập khí! Cho dù bạn đã hiểu kinh Kim Cang, đã hiểu yếu nghĩa của kinh Kim Cang, nhưng bạn không thể thọ trì, bạn tiếp nhận rồi, nhưng bạn không có cách nào duy trì được, bởi vì tập khí của bạn vẫn còn, cho nên tập khí nhất định phải từ từ giảm đi.

Hai chữ “thọ trì” tức là nhất định phải loại bỏ tập khí của bản thân con người bạn, ví dụ như tham, sân, si, nghi, mạn, ngoài ra còn có ghen tuông, đố kị đều là những tập khí của con người, bạn không loại bỏ cái này thì bạn không thể nào thọ trì. Nếu như bạn vẫn còn nóng giận, vẫn còn ghét người ta: “Tôi ghét người này, người nào tôi cũng có thể tiếp nhận, nhưng người này thì tôi ghét.” Như thế thì bản thân bạn vẫn còn tâm sân hận, chính là có cái tôi, vì là có cái tôi, nên bạn không làm được “vô ngã tướng”, bạn muốn làm được “vô ngã tướng” là vô cùng khó! Vì thế, đây mới gọi là liễu nghĩa.

Người có thể liễu nghĩa tức là đã đến Tứ thánh giới rồi, tương đương với Thánh nhân rồi, vì thế có thể thọ trì đọc tụng, còn có thể nói với rất nhiều người, cuối cùng Phật Thích Ca Mâu Ni và các vị Phật đều biết con người này, đều thấy con người này, vì sao vậy? Phật và Phật biết nhau, bạn đã đến được cảnh giới nào, làm gì có chuyện Phật không biết? Bạn đã đến được cảnh giới nào rồi, Phật đều biết bạn, Phật đương nhiên *“đều biết người này, đều thấy người này”*, ngài có thể nhìn thấy bạn. Bạn đã làm được, bạn đã biết rồi, *“đều biết người này”*, Phật hiểu bạn, giữa Phật và Phật với nhau đều biết.

Lúc này, người này có thể nói là *“công đức không thể đo lường, không thể cân tính, không có biên giới, không thể nghĩ bàn”,* công đức ấy là vô biên vô tận, cũng không cần phải nói công đức vô biên vô tận, bởi người này đã là Thánh nhân rồi. Vì thế phải tu hành đến khi kiến đạo, sau khi kiến đạo rồi mới cần tu đạo, mới phải tu, chính là tu quán tưởng, trì chú, kết thủ ấn, nhập tam ma địa của Mật giáo chúng ta.

Kì thực tu hành Mật giáo cũng rất tốt. Quán tưởng, ý niệm của bạn sẽ thanh tịnh; bạn trì chú, khẩu sẽ thanh tịnh; bạn kết ấn, thân sẽ thanh tịnh, thân khẩu ý thanh tịnh. Giống như bạn ở thế giới Ta Bà làm đủ mọi việc, bạn đều có thể quán tưởng, có thể kết ấn, có thể trì chú, thì bạn là thanh tịnh. Làm bất kì việc gì đều có thể quán tưởng, đều có thể trì chú, đều có thể kết ấn, đều có thể như vậy. Cho nên Mật giáo có lợi ích chính là ở đây, thân khẩu ý thanh tịnh, từ tam nghiệp chuyển thành tam mật, đây là một điểm quan trọng.

Trong Mật giáo chúng ta dùng quán tưởng, bạn đang quán tưởng cái gì? Quán tưởng mắt của Như Lai, quán tưởng lông mày của Như Lai, quán tưởng tai của Như Lai, quán tưởng miệng của Như Lai, bạn đều có thể quán tưởng, rồi tổ hợp lại thành hình tướng của một vị Như Lai. Trong khi bạn quán tưởng thì tinh thần thống nhất, bạn sẽ không nghĩ đến điều gì khác nữa, thì tức là ý niệm thanh tịnh rồi. Miệng bạn trì chú tức là khẩu của bạn thanh tịnh, tay bạn kết ấn (thân thể kết ấn) tức là thân bạn thanh tịnh. Thân khẩu ý thanh tịnh, đây là phương pháp tu hành, bình thường làm bất kì việc gì cũng đều như vậy.

Tôi nói để bạn biết, cho dù là sinh hoạt vợ chồng, hai vợ chồng ở trong phòng, bạn làm cái việc ấy, chúng ta gọi là làm “chuyện vui”. Sinh hoạt vợ chồng bạn cũng có thể quán tưởng, cũng có thể trì chú, cũng có thể kết thủ ấn, *“Như Lai đều biết người này, đều thấy người này”*, bạn biết, Phật biết. Cho nên, thế nào là pháp song thân? Trong Mật giáo có nói đến pháp song thân, rất nhiều tôn giáo đều chửi pháp song thân của Mật giáo: “Sao mà như thế cũng gọi là tu hành chứ?”

Tôi đã nói với bạn trong pháp song thân phải quán tưởng ra sao rồi, phải trì chú ra sao, phải kết thủ ấn ra sao, tức là biến cái việc ấy thành tu pháp, chỉ đơn giản như vậy thôi, cũng là thanh tịnh. Việc này con người thế gian không hiểu, không hiểu thì phỉ báng, phỉ báng pháp song thân của Mật giáo chính là ở điều này, Mật giáo chẳng qua là biến việc ấy thành một loại tu hành. Như vậy ban ngày cũng có thể tu, ban đêm cũng có thể tu, trong mơ cũng có thể tu, còn có thể tu hành trong mơ nữa đó! Pháp của Mật giáo là tuyệt đối khác với bình thường.

Vì thế nói rằng Phật Thích Ca Mâu Ni biết người này, không gì khác là có thể nhìn thấy người này, người này việc gì cũng đều có thể làm được, bởi vì việc mà họ làm đều hợp với Phật pháp. Lúc này chính là *“gánh vác A nậu đa la tam miệu tam bồ đề của Như Lai”*, đây là đạo, người ấy gánh vác mọi đạo, người ấy đã gánh vác mọi đạo rồi, có công đức bất khả tư nghì, đó là *“công đức không thể đo lường, không thể cân tính, không có biên giới, không thể nghĩ bàn”. *Đương nhiên rồi, cảnh giới ấy của người đó là không có biên giới, đến được cảnh giới vô ngã này rồi thì không còn biên giới nữa, không còn biên giới nào. 

*“Không thể đo lường”*, không thể dùng thước để mà đo được. “Không thể cân tính”, thực sự không có gì để nói. *”Không có biên giới”, *đương nhiên rồi, vô ngã tướng, đã là vô ngã tướng thì làm gì có biên giới? Không chỉ là thái dương hệ, một thái dương hệ chẳng qua là một tiểu thiên thế giới mà thôi; kết hợp ba nghìn tiểu thiên thế giới mới là một trung thiên thế giới, kết hợp ba nghìn trung thiên thế giới mới là một đại thiên thế giới, kết hợp ba nghìn đại thiên thế giới, bạn nói xem lớn thế nào? Thế giới đã to lớn như vậy rồi, nhưng mà công đức của người đó còn không có biên giới, cái này chính là công đức vô cùng to lớn của bản thân kinh Kim Cang, nó là kinh điển liễu nghĩa.

Phật lại nói với Tu Bồ Đề: *“Nếu người nào yêu thích pháp nhỏ, chấp vào ngã kiến, nhân kiến, chúng sinh kiến, thọ giả kiến, thì đối với kinh này không thể nghe, thọ trì, đọc tụng, vì người khác mà giảng thuyết.”* Nếu là người có ngã tướng, người có chúng sinh tướng, người có thọ giả tướng, đối với kinh điển này, người đó không có cách nào tiếp nhận được, không có cách nào đọc tụng, cũng không có cách nào vì người khác mà thuyết pháp, bởi vì bản thân người đó chưa đến được cảnh giới ấy. Nếu có người tham tài yêu tiền tức là ngã kiến, tức là tham. Bạn háo sắc, đó là tham! Khổng Phu Tử nói là “tính tham sắc”, nghĩa là tính người vốn dĩ chính là ăn và sắc, đó đều là tập tính của con người, tiền, sắc, danh, ăn, ngủ, đều là tập tính của con người, những tập tính đó phải loại bỏ. 

Sư Tôn vốn dĩ cũng có lo lắng một chút. Hôm nay vào buổi trưa lúc tôi đang ăn cơm cũng nói: “Thôi bỏ đi!” Bỏ đi cái gì? Sư Tôn đi Đài Loan cũng xấp xỉ được 10 năm rồi, quãng thời gian 10 năm là nửa năm ở Đài Loan, nửa năm ở Mĩ. Tôi có nhà ở Đài Loan, không phải là một nhà. Một nhà, hai nhà, ba nhà, bốn nhà, Sư Mẫu cũng có hai nhà, cộng lại là sáu nhà. Đúng vậy! Sáu nhà, chúng tôi đều già rồi, dịch bệnh thì như thế này, muốn trở về nhà ở Đài Loan đều phải cách li lâu như vậy. Trong nhà cũng có để một vài đồ đạc, để một ít này kia, trong nhà có để một vài thứ đông tây nam bắc, [Ở đây Sư Tôn chơi chữ, trong tiếng Trung, “đông tây” cũng có nghĩa là “đồ đạc, sự vật”.] chúng cũng là những thứ có giá trị. Những nhà này đều là tiền, mặc dù có hai căn hộ nhỏ thì nhỏ thôi nhưng cũng đều là tiền, những thứ đông tây nam bắc để ở trong nhà cũng đều là tiền, số tiền ấy phải làm sao đây? Sư Mẫu bây giờ sức khỏe như vậy, Sư Tôn nói ra thì mặc dù vẫn còn tàm tạm, nhưng trời có gió mây khó đoán, người có họa phúc sớm chiều, bạn biết vô thường khi nào sẽ tới sao? Tôi cũng có biết sơ sơ một chút, Phật Bồ Tát có thể bí mật nói cho tôi biết, tôi có thể biết một chút. Nếu tôi là người bình thường tôi sẽ lo lắng. Tôi tuổi tác đã cao rồi, theo tuổi Đài Loan thì năm mới là 78 tuổi rồi, sắp 80 rồi. Nhà ở Đài Loan, những thứ đông tây nam bắc ở Đài Loan phải làm sao đây? Làm rau trộn! Là của ai thì người đó lấy đi!

Tôi có thể nhìn rất thoáng, những thứ đó là đông tây mà cũng là nam bắc, không quan trọng! Bị trộm thì phải làm sao? Thì cứ trộm đi, dù sao bạn không dùng thì người khác dùng! Gặp phải cướp thì làm sao? Người ta lấy áo ngoài của bạn, bạn cho luôn áo trong của bạn. Sư Tôn có cách nghĩ như vậy: “Yên tâm! Không hề gì!” Vì sao? Đó không phải là đồ của tôi thì chẳng dùng được đâu! Nhà ở Mĩ thì sao? Ở Mĩ tôi cũng có hai nhà, một nhà chính là Chân Phật Mật Uyển, một nhà chính là Nam Sơn Nhã Xá mà bây giờ tôi đang ở. Trong nhà cũng có đồ này đồ nọ, cất giấu ở khắp nơi, không cần nữa, bỏ thì bỏ thôi, kệ đi! Người ta muốn lấy thì để cho người ta lấy đi, người ta thích thì cho người ta, đều chẳng phải là của bạn. 

Ngay cả thân thể của bạn cũng không phải là của bạn, có hiểu không? Vô ngã mà, ta cũng không phải của ta, cái vỏ bọc này của ta đều không phải của ta, những thứ đông tây nam bắc đó thôi bỏ đi! Vì thế, những người nghĩ thoáng chúng ta đều nghĩ như vậy. Sư Tôn nói là nghĩ thoáng, không có thứ gì quan trọng, duy có một thứ quan trọng, đó chính là đạo. Bạn có được đạo này rồi thì bạn có thể trở về nhà của Như Lai, đó mới là ngôi nhà vĩnh hằng, những nhà khác đều là giả.

Vì thế tôi vừa mới kể có một đệ tử hỏi việc, anh ta tên là Liên Hạt, đặt cái tên này rất hay. Trên đời này ai cũng mù, mù mù mù, toàn bộ con người đều mù mắt rồi. [Ở đây Sư Tôn chơi chữ, trong tiếng Trung, “hạt” đồng âm với “mù”.]  Chỉ có một mình bạn là sáng. Phật có thể nhìn thấy bạn, Bồ Tát nhìn thấy bạn, chỉ có mình bạn là sáng. Bạn sẽ không bám chấp vào những thứ của nhân gian, nhà cửa, xe cộ, bao gồm cả cái vỏ thân thể này của bạn, bao gồm tất cả tài sản của bạn đều không phải là của bạn, bao gồm thân thể này của bạn cũng không phải là của bạn, chỉ có cái đạo đó, bạn biết được con đường trở về nhà, con đường trở về nhà của Như Lai, đây mới là chân chính, loại người này mới có thể giảng kinh Kim Cang.

Nếu bạn vẫn còn có tham sân si nghi mạn, bạn còn có ghen tuông, đố kị, còn có hận, còn có tình yêu ích kỉ, thì bạn không trở về được con đường về nhà, nói một cách đơn giản là như vậy. Vì thế đoạn này nói rất rõ ràng, bạn gánh vác sự nghiệp của Như Lai. *“Nếu người nào yêu thích pháp nhỏ, chấp vào ngã kiến…”*, bạn còn có sự bám chấp vào cái tôi, còn có bám chấp vào con người, còn có bám chấp vào chúng sinh, còn có bám chấp vào thọ giả, thì đối với kinh điển này *“không thể nghe, thọ trì, đọc tụng, vì người khác mà giảng thuyết”, *trọng điểm nằm ở giảng thuyết, không thể giảng kinh Kim Cang. Vì sao tôi đến lúc già như thế này mới giảng kinh Kim Cang? Bạn thực sự đích thực hiểu rõ ràng minh bạch rồi bạn mới giảng kinh Kim Cang.

Thế thì mọi người bảo, vì cái gì Sư Tôn cũng nhìn thoáng rồi, vậy thì cũng không cần phải cúng dường Sư Tôn nữa nhỉ? Tôi nói với bạn, cúng dường vẫn cần. Cái này là gì? Chính là các bạn tùy tình cảm, Sư Tôn cũng nói mọi người tùy ý, tùy ý, tùy tình cảm, tùy tâm ý của chính các bạn. Như Lai cũng có một tên gọi là Ứng Cúng (nên cúng dường), đây cũng là một danh xưng của Như Lai, bạn nên cúng dường. Sư Tôn bây giờ còn có nhục thể, còn phải ăn cơm, đúng vậy không? Xe còn phải đổ xăng, về Đài Loan còn phải mua nước, phải mua xăng. *In Taiwan, I buy water. In the US, I buy gas. Go to gas station, I buy gas. *(Ở Đài Loan, tôi mua nước. Ở Mĩ, tôi mua xăng. Đi đến trạm xăng, tôi mua xăng.) Đúng mà! *Every breakfast, lunch, dinner, I eat.* (Tôi ăn mọi bữa sáng, bữa trưa, bữa tối.) Còn phải ăn cơm, còn phải sống. 

Mặc dù việc ăn, mặc, ở, đi lại của Sư Tôn đều là người ta cúng dường, nhưng Sư Tôn cũng không bám chấp. Nếu tôi muốn bám chấp thì Biệt thự Cầu Vồng kia chính là do tôi xây mà, Biệt thự Cầu Vồng chính là do tôi và Sư Mẫu hai người xây nên mà. Tôi bỏ tiền, Thượng sư Liên Thế đi mời công nhân xây dựng Biệt thự Cầu Vồng, là tôi bỏ tiền ra đó, nên bây giờ các bạn mới ngồi đây làm pháp hội, đúng không? (Đệ tử: Là của Sư Tôn.) Anh ấy nói là của Sư Tôn. Tôi nói với bạn nhé, tôi không có suy nghĩ như vậy, cả khu biệt thự này không có tên của Sư Tôn, cũng không có tên của Sư Mẫu, đều là lấy tên của mọi người đi làm pháp sự, còn chúng tôi ở đây hoằng pháp độ chúng sinh.

Tôi trở về Đài Loan 10 năm, khi ấy Đài Loan Lôi Tạng Tự chưa xây dựng được, sắt thép đều bị gỉ cả, sắt thép đều gỉ sét, không xây được, nói thẳng ra là không có tiền để tiếp tục xây, bỏ dở ở đó. Trở về Đài Loan 10 năm, tôi giúp Đài Loan Lôi Tạng Tự xây dựng đến khi hoàn chỉnh xong xuôi rồi, sau đó bây giờ xây tòa nhà hành chính, tôi cũng đã chuẩn bị rất nhiều tiền để xây dựng tòa nhà hành chính bảy tầng. Khi xây dựng gần như Đài Loan Lôi Tạng Tự không có tiền. Ban đầu Thượng sư Liên Triết muốn xây viện dưỡng lão nữa, ông ấy đã xin giấy phép xây dựng, nhưng không còn tiền nữa, Sư Tôn cũng không trở về, nên tiền đã ít đi rồi.

Tôi nói với Thượng sư Liên Triết: “Khi nào có tiền thì khi ấy ông hẵng xây, không có tiền thì ông đừng miễn cưỡng xây, không có tiền thì tạm thời ông đừng xây viện dưỡng lão.” Mặc dù ông đã rất vất vả để xin được giấy phép xây dựng viện dưỡng lão, xin giấy phép đã được rồi, muốn xây viện dưỡng lão. Nhưng tạm thời ông đừng xây, bởi vì xây xong tòa nhà hành chính thì không còn tiền nữa! Sư Tôn đã 78 tuổi rồi, lại trở về 10 năm nữa ư, bà tôi ơi! Tôi giúp ông xây viện dưỡng lão à? Nhưng tôi có thể sống được đến 88 tuổi không? (Mọi người vỗ tay: Có thể!) Tuổi có thể sống là có hạn mà, tuổi của tôi thật sự rất có hạn, tôi không thể sống lâu như vậy được, Phật Thích Ca Mâu Ni cũng chỉ sống đến 80 tuổi thôi!

Tôi đã 78 tuổi rồi, tôi còn có thể sống mấy năm nữa đây? Ông hãy nghĩ cho Sư Tôn một chút, ông tuyệt đối không thể xây viện dưỡng lão, ông mà xây thì trách nhiệm của tôi sẽ nặng nề lắm, tôi phải trở về hoằng pháp mà! Còn có bệnh dịch kia nhất định phải lắng xuống thì người ở các nước mới có thể đến được, mới có thể trợ giúp Đài Loan Lôi Tạng Tự. Đạo lí này Thượng sư Liên Triết phải biết chứ, ông không thể xây dựng nó được, cứ xây thì tôi sẽ chết đó! Tôi nói với Thượng sư Liên Triết trụ trì Đài Loan Lôi Tạng Tự rằng, có bao nhiêu tiền thì làm bấy nhiêu việc, mặc dù đã xin giấy phép xây dựng viện dưỡng lão rồi, tạm thời ông hãy bỏ đi, không sao cả!

Đợi đến khi Lôi Tạng Tự có tiền rồi, chúng ta lại xin giấy phép xây dựng viện dưỡng lão, mặc dù muốn xây thì cũng có kì hạn thôi, nhưng hiện tại thì Đài Loan Lôi Tạng Tự, tôi biết là không có tiền, không thể xây dựng. Tôi ở đây cũng không thể giúp được, đó không phải là số tiền nhỏ đâu! Bạn biết xây tòa nhà hành chính, bây giờ mấy chủ thầu đều đang kêu đó, chủ thầu kêu cái gì? Giá cả đều tăng, mọi vật liệu xây dựng đều tăng giá, đúng là “tiếng kêu vang rừng núi” mà. Mọi vật liệu xây dựng đều tăng giá, để xây tòa nhà hành chính của ông, xây xong rồi, tôi còn thiếu tiền đó! Chủ thầu cũng mất tiền, nhà thầu xây dựng cũng mất tiền! Thế nên, Thượng sư Liên Triết à, có bao nhiêu tiền thì làm bấy nhiêu việc, chúng ta không có tiền cũng không cần miễn cưỡng.

Đợi tôi trở về đi! Đợi đến khi tôi có thể trở về, tôi trở về giúp ông, Sư Tôn cũng không vì bản thân, mà là vì chúng sinh, vì người già. Cho nên Sư Tôn có thể giảng kinh Kim Cang, bởi vì Sư Tôn không phải vì bản thân. Nếu bạn vì bản thân thì vẫn có *“nhân kiến, chúng sinh kiến, thọ giả kiến, thì đối với kinh này không thể nghe, thọ trì, đọc tụng, vì người khác mà giảng thuyết”*. Đạo lí này chính là ở đây. Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 16/01/2022 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Lục Độ Mẫu tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 51.)*


### 52. Phần thứ 15: Công đức trì kinh (4)


*(Bài giảng 52) *Kinh Kim Cang chính là đại diện cho Phật

Hôm nay chúng ta lại giảng kinh Kim Cang. Phật Đà lại nói: *"Tu Bồ Đề! Bất kì nơi nào có kinh này, thì tất cả thế gian, Trời, Người, Atula, đều nên cúng dường, nên biết nơi này tức là tháp, đều nên cung kính, làm lễ nhiễu quanh, dùng mọi hoa thơm mà rải khắp nơi ấy.”*

Đoạn này rất hay, mọi người đều biết, Phật Đà nói với Tu Bồ Đề *“bất kì nơi nào có kinh này”*, nếu có kinh Kim Cang ở đó,* “thì tất cả thế gian, Trời, Người, Atula đều nên cúng dường”*, ở thế gian, Thần ở trên trời, Người và Atula, đây là ba thiện đạo. *“Đều nên cúng dường”*, đều nên cúng dường kinh điển này. *“Nên biết nơi này tức là tháp”*, nơi có kinh Kim Cang chính là có một bảo tháp. *“Đều nên cung kính, làm lễ nhiễu quanh, dùng mọi hoa thơm mà rải khắp nơi ấy”*, thiên nữ cúng dường tung hoa, tung hoa thơm lên kinh Kim Cang, hoặc đi nhiễu quanh kinh Kim Cang giống như nhiễu tháp. 

Chúng ta biết rằng Phật từng nói, nơi nào có tháp thì sẽ có Phật. Cho nên trong chùa của chúng ta thường hay xây tháp, giống như Biệt thự Cầu Vồng của chúng ta, ở Cầu Vồng Lôi Tạng Tự có tháp Ngũ Luân, có năm tháp Ngũ Luân nhỉ? Bạn thường xuyên đi nhiễu tháp, bởi vì nơi nào có tháp là có Phật. Vào thời cổ đại, khi bày đàn thành, đôi khi Mật giáo chúng ta, ở trên đàn thành có tượng kim thân của Phật, bên phải của Phật, tức là bên Thanh Long, chúng ta có tháp thì cúng tháp, bởi vì tháp chính là đại diện cho Phật.

Còn kinh điển để bên Bạch Hổ, kinh điển đại diện cho pháp. Cuốn kinh Kim Cang này đại diện cho Phật, bởi vì trong đó có ý của Phật, ý của Phật ở trong đó nên là đại diện cho Phật, kinh Kim Cang đại diện cho Phật. Vì thế, bên Thanh Long bạn bày tháp, bên Bạch Hổ bạn bày kinh điển, kinh điển là đại diện cho pháp. Nhưng kinh Kim Cang cũng có thể đặt ở bên Thanh Long, tức là đại diện cho tháp. Còn cúng dường? Đương nhiên là bày hoa thơm, mùi thơm của hoa đặt ở nơi đó, rồi còn làm lễ và đi nhiễu quanh. 

Trước kia tôi có cứu một con ma. Lúc đó, tôi đang viết sách, xung quanh nhà đột nhiên nổi sấm, tiếng sấm hết sức vang dội, tiếng Đài Loan chúng ta gọi là tối tăm trời đất, nghĩa là bầu trời tối sầm, rất giống như sắp đổ mưa, sấm rung chớp lóe ở ngay bên cạnh thư phòng của tôi. Sấm rung chớp lóe không phải chỉ có một lần, mà là mười lần, trăm lần, tiếng sấm nổ kinh người, ở ngay bên cạnh thư phòng mà tôi đang ngồi viết sách. Kì lạ ghê? Vì sao mà chớp lại cứ liên tục lóe lên ở bên này? Xung quanh thư phòng của tôi liên tục chớp lóe không ngừng, hơn nữa trời u đất ám. Khi ấy tôi nhìn dưới chân mình, bên dưới bàn viết của tôi có thứ gì đang động đậy.

Tôi nhìn thì trời ơi! Là một ma nữ rất xinh đẹp đang trốn ở dưới bàn viết của tôi! Chà, cô ấy rất xinh đẹp, một con ma nữ hết sức xinh đẹp! Thật đó, xinh đẹp giống như tiên nữ vậy! Ma có thể biến thành ma nữ xinh đẹp đến như vậy đúng là hiếm thấy đó! Ma nữ đó nhìn thấy tôi đang nhìn cô ấy liền nói với tôi: “Lư Sư Tôn! Cứu tôi!” Khi ấy tôi liền cảm ứng thấy, thì ra những sấm rung chớp giật này chính là vì muốn bắt ma nữ này, thế nên mới ra sức nổi sấm chớp xung quanh phòng tôi. Thần Sấm đó, Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thanh Phổ Hóa Thiên Tôn cứ đi tới đi lui như vậy xung quanh phòng tôi, đi tới đi lui, cứ thế phóng sấm chớp muốn đánh chết ma nữ này.

Khi ấy tôi khởi tâm từ bi, giá sách sau lưng tôi vừa hay có kinh Kim Cang, tôi liền lấy cuốn kinh Kim Cang ra đặt lên đầu của ma nữ kia. Một lúc sau, bên cạnh thư phòng của tôi có một cái cây, “đoàng” một tiếng, Thần Sấm đã đánh cái cây gãy đổ, cây liền đổ xuống, sau đó trời bắt đầu sáng dần lên, mây đen tản đi. Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thanh Phổ Hóa Thiên Tôn biết Lư Sư Tôn cứu ma nữ này, dùng kinh Kim Cang đặt trên đầu, sấm chớp chẳng thể nào đánh được ma nữ, bởi vì kinh Kim Cang đặt ở trên đầu không khác gì có Phật ở trên đầu ma nữ đó. Có một sự việc như vậy, vì thế mà tôi đã cứu ma nữ này.

Chà, ma nữ đó rất cảm ơn, thật sự rất cảm ơn tôi, bởi vì con người tôi giống như câu nói mà người ta cầu xin tôi “Lư Sư Tôn, cứu tôi!”, bởi vì lời nói mới ngọt ngào làm sao, trái tim tôi lập tức mềm nhũn, thế là cứu cô ấy luôn. Nhưng tôi cũng dạy cô ấy phải cải tà quy chính, cô ấy cũng quy y, sau đó cô ấy trở thành thị giả của tôi, chính là như vậy đó! Cho nên kinh Kim Cang có thể cứu người, bởi vì tương đương với Phật trụ tại đỉnh đầu, Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thanh Phổ Hóa Thiên Tôn kia (chính là Thần Sấm) cũng không có cách nào đánh được cô ấy. Có một câu chuyện như vậy, hình như tôi đã viết trong sách rồi nhỉ? Trong sách của tôi có viết, đặt kinh Kim Cang lên trên đầu cô ấy.

Vì thế bây giờ khi tôi làm các thứ, thật sự là có ma ở cùng với tôi. Buổi tối tôi trở về nhà có rất nhiều ma, nhưng những con ma đó đều là ma tốt. Tôi từng kể rồi, nhà tôi có một đoạn hành lang, từ phòng Sư Mẫu muốn đi qua phòng của tôi thì phải đi qua mấy bức tường, ở hành lang “binh” một tiếng, trong bức tường “binh” một tiếng, một cái đầu liền thò ra, rồi lại “binh” một tiếng, một cái đầu nữa lại thò ra, rất nhiều cái đầu cứ mọc ra như thế, tôi nói: “Mấy người làm gì mà cứ dọa tôi thế?” Bởi vì trong nhà không có ai, cho nên họ cứ “binh” một tiếng làm tôi cũng giật nảy mình. 

Tôi đi về phòng mình, đầu tiên tôi nhìn thấy là Địa Tạng Vương Bồ Tát, sau đó là Nam mô Cát Tường Thiên, Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Nam mô Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát, Nam mô Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát, Nam mô A Di Đà Phật, Nam mô Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, Nam mô Hắc Phẫn Nộ Mẫu, Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn, Nam mô Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, Nam mô Bất Động Minh Vương, Nam mô A Di Đà Phật, Nam mô Kim Cang Tát Đỏa, Nam mô Đại Uy Đức Kim Cang, các Địa Thần, Hổ Đầu Kim Cang và Chư Tôn, các vị ở tầng dưới tôi đều gọi là Chư Tôn, các vị ở tầng trên thì tôi đều lần lượt xưng hô, đi dọc hành lang đều xưng hô.

Khi tôi đi đến bên bức tường thì “binh binh binh”, những cái đầu đều thò ra, tôi nói: “Các người dọa tôi!” Họ nói: “Không phải là dọa Lư Sư Tôn, là xin gia trì.” Thế là tôi lại vừa đi vừa lần lượt gia trì cho những cái đầu từ trong bức tường thò ra trên suốt quãng hành lang. Ngày ngày tôi sống cùng với ma. Đến bên chậu trúc cảnh thì có tiếng “bộp bộp bộp” như thế này, ở trong nhà tôi có rất nhiều tiếng động lạ! Thính lực của Sư Mẫu rất tốt, hẳn là bà ấy nghe thấy, còn có những ma khác sống trong nhà tôi, đại bộ phận đều thấy những âm thanh lạ vang lên. Tôi đi qua tủ lạnh, tủ lạnh cũng kêu lên, tôi đi qua bức tường, tường cũng kêu lên, mỗi bức tường đều có tiếng động vang lên.

Thỉnh thoảng tôi đi qua những chỗ khá tối, cánh cửa ở phòng vận động sẽ chuyển động, cứ thế chuyển động, cứ thế chuyển động, sau đó đóng cửa lại. Cửa đóng lại thì tôi lại đẩy nó ra, tôi nói: “Mấy người làm gì đấy? Muộn thế này rồi, mấy người đóng cửa làm cái gì?” Họ nói: “Chúng tôi đang mở tiệc.” Họ nói họ đang mở tiệc đấy! Tôi khẽ mở cửa ra nhìn, chà! Đúng là một đám người đang tập trung ở trong đó, không đếm xuể, có tới mấy trăm mấy nghìn người. Hàng ngày tôi và ma sống cùng với nhau cũng quen rồi, họ cũng sợ tôi.

Khi tôi đi vào nhà vệ sinh, cái nắp bồn cầu luôn kêu lên một tiếng “cạch”, cái nắp bồn cầu cũng kêu “cạch”, nắp bồn cầu đó vốn dĩ bình thường, nhưng hễ tôi đi qua thì lại kêu “cạch”. Tôi đi tới cửa phòng vệ sinh thì cố ý không đi tiếp nữa, nó cũng không kêu gì. Được rồi, nhưng tôi vừa dợm bước thì bên trong cái nắp bồn cầu lập tức kêu “cạch”. Hễ tôi đi qua là nó lại kêu “cạch”, tôi cố ý không đi qua thì nó sẽ không kêu lên như thế. Đôi khi sống cùng với ma cũng khá thú vị! Còn có rất nhiều Thần, Phật Bồ Tát đều ở đó, ma vào nhà tôi đều là tốt, đều là thiện, không phải sợ. 

Khi tôi làm lễ chào Diêu Trì Kim Mẫu, tôi về đến cửa phòng mình, tôi sẽ làm lễ chào Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn và Chư Tôn, làm lễ chào xong, ngẩng đầu lên, tôi lại cúi chào Diêu Trì Kim Mẫu ở trên tường, Diêu Trì Kim Mẫu ở trên tường sẽ phóng quang chiếu đến tôi. Mỗi lần Diêu Trì Kim Mẫu ở trên tường phóng quang chiếu đến tôi, tôi đều nghe thấy tiếng bước chân, có đôi khi là tiếng giày da đi ở trên hành lang đó từ xa đến gần, bước từng bước đi tới, bạn cũng đừng sợ, ở nhà tôi có hiện tượng như vậy.

Khi tôi làm siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp mà có hơi muộn một chút, họ sẽ gọi tôi “nhanh lên, nhanh lên”, “đánh răng nhanh lên”. Tôi ngồi trên ghế sofa dùng chỉ nha khoa để làm sạch răng, họ sẽ từ bên trong sofa thò ra mấy nắm đấm để đẩy tôi, đẩy tôi như thế này, tôi nói: “Đừng giục tôi!” Đợi tôi đánh răng xong rồi tôi sẽ lên pháp tọa, đúng thế không? Đánh răng rửa mặt xong thì tôi lên pháp tọa, không cần phải giục tôi! Họ liền an phận một chút, thu nắm đấm lại như thế này, những sự việc này là hết sức chân thực đó! Tôi nói với bạn, nếu các bạn có thiên nhãn thì đến nhà tôi đi lòng vòng mà xem.

Kinh Kim Cang là kinh điển vĩ đại. Tôi nói với bạn: kinh điển này vô cùng vĩ đại, là vua của các loại kinh! Bạn hiểu kinh điển này, bạn có thể đi thực tiễn, bạn có thể tránh khỏi rơi vào lục đạo luân hồi, tất cả phiền não không gặp. Không có gì để mà phiền não nữa! Bởi vì căn bản là cái gì bạn cũng không có được thì còn phiền não cái gì? Ai cũng đều không có được cái gì cả. Trong kinh Kim Cang đã nói rất rõ ràng rồi, vậy bạn ghen tuông cái gì? Đố kị cái gì? Bill Gates có nhiều tiền như vậy, bạn ghen tị với ông ấy à? Ông ấy có tiền cũng như không có tiền thôi! Tôi nói với bạn, ông ấy cũng không có được tiền! Trong kinh Kim Cang đã nói rất rõ rồi, ông ấy cũng không có được tiền, bạn ghen tị với ông ấy để làm gì? Bạn ghen tuông cái gì? Có duyên thì hợp, không có duyên thì chia tay thôi, ghen tuông cái gì chứ?

Những tập tính này đều không còn nữa, mọi phiền não cũng không còn nữa. Có phiền não gì? Phải chết thì chết, sống thì cứ sống, chết rồi thì chết thôi, không có gì đáng phiền não cả! Thân thể sinh bệnh, đó là đang tiêu nghiệp của bạn đó! Đến khi bạn không còn bệnh nữa, bạn chết rồi, chẳng phải là rất tốt sao? Tiêu nghiệp chướng đó, nên tiêu nghiệp, có gì đáng phiền não đâu? Không có cái gì đáng phiền não cả. Bạn mắc bệnh ung thư, tôi nói với bạn, ung thư đều là do kẻ thù kiếp trước của bạn ở trên người bạn tác quái. Chúng ta nhìn thấy rất rõ ràng, họ làm thành những viên bi, ném lên người bạn, ném vào trong não bạn, thế là não bạn có u, ném lên cổ bạn, thế là cổ bạn có khối u, ném vào chỗ nào trên người bạn thì chỗ đó sẽ có khối u, nói để bạn biết, là kẻ thù của bạn làm đó. 

Nhưng chúng ta là người hồn nhiên, chúng ta thông cảm với kẻ thù của chúng ta, chúng ta phải yêu kẻ thù của chúng ta, người thành Phật là bình đẳng như vậy, bình đẳng tính trí, phải yêu chúng sinh, yêu kẻ thù của chúng ta. Bạn đọc kinh Kim Cang rồi, bạn phải thực tiễn thì bạn sẽ hiểu. Tôi nói với bạn, hiểu thì khá dễ dàng, làm thì mới khó! Tập tính rất khó thay đổi, tập tính khó đổi thì vẫn phải đổi! Bạn không đổi thì nói gì đến chuyện rời khỏi lục đạo luân hồi? Rất đơn giản, *easy*, tức là bạn không được có phiền não nữa, không được có tập tính nữa, người ta khen bạn, bạn cũng không quá vui mừng, bạn biết rằng cái gì cũng đều vô sở đắc, vậy bạn còn phiền não cái gì? Bạn còn đố kị cái gì? Đều là vô sở đắc mà!

Những người có tiền, bạn ghen tị với họ? Họ phải vất vả muốn chết, họ mới đáng thương đó! Những con người đáng thương ấy. Rồi còn những người thích chính trị, thích làm lãnh đạo, làm người chịu trách nhiệm, họ giữ những vị trí rất cao, thật đáng thương! Hãy thông cảm với họ, bởi vì họ phải gánh vác rất nhiều người trên vai. Nhất là khi bạn nhìn thấy những ông chủ lớn của các công ty kia, họ nuôi bao nhiêu con người? Công xưởng lớn đến vậy, người làm đếm không xuể, gánh nặng của họ rất nặng, rất tội nghiệp! Những người này mới là những người đáng thương. Còn những người trọc đầu chúng ta đây thì đang ở trong phúc mà không biết là phúc! Om mani padme hum.

*(Ngày 22/01/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Địa Tạng Vương Bồ Tát Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 52.)*


### 53. Phần thứ 16: **Có thể làm sạch nghiệp chướng (1)**


*(Bài giảng 53) *Có thể làm sạch

Chúng ta giảng về tiêu đề của phần này - Phần thứ 16: Có thể làm sạch nghiệp chướng.

Kinh Kim Cang có thể thanh tịnh nghiệp chướng của bản thân bạn, giải thích tiêu đề này rất thú vị. Phần thứ 16: Có thể làm sạch nghiệp chướng. Phần thứ 16 kinh Kim Cang nói về có thể thanh tịnh nghiệp chướng của bạn. Nghiệp chướng thanh tịnh xong rồi, bạn không còn nghiệp chướng nữa, đương nhiên bạn đã giải thoát, giải thoát rồi thì bạn có thể đến Thường Tịch Quang Thổ ở Tây phương Cực Lạc thế giới, trên người phát ra ánh sáng. Không có nghiệp chướng thì thân thể tự nhiên sẽ phát quang, thế là có thể đến được Thường Tịch Quang Thổ cao nhất. Thực Báo Trang Nghiêm Thổ, tịnh thổ của Báo thân Phật bạn đều có thể đi tới đó. Phương Tiện Hữu Dư Thổ đương nhiên cũng có thể đến, tịnh thổ của mười phương Phật quốc bạn đều có thể đến.

Phần thứ 16: Có thể làm sạch nghiệp chướng. Kinh Kim Cang có thể thanh trừ nghiệp chướng của bản thân bạn, tiêu đề này chính là nói về có thể làm sạch. Có thể làm sạch nghiệp chướng của bạn, nghiệp chướng của bạn toàn bộ tiêu trừ rồi, mười phương Phật quốc đều có thể đi, bạn cũng thành tựu Tứ thánh giới rồi, Tứ thánh giới chính là Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn. Chúng ta hãy nói về kinh văn đi, vừa xong đã giảng rồi, kinh văn chính là như vậy, vậy là đã giảng xong rồi.

Giảng đến đây, tôi có một cảm tưởng, kinh Kim Cang là nói về cái Không, vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, chính là Không. Tâm Kinh cũng nói về Không. *“Vô nhãn nhĩ tị thiệt thân ý, vô sắc thanh hương vị xúc pháp, vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới, vô vô minh diệc vô vô minh tận, vô lão tử diệc vô lão tử tận.” *Điều được nói ở đây cũng giống với kinh Kim Cang.

Tâm Kinh cũng nói về Không, vô sở đắc, bạn không có được thứ gì cả, trên thế giới này bạn không có được thứ gì. Tôi có một so sánh nói với mọi người, bây giờ tôi đang ở đây thuyết pháp, mọi người đang ở dưới nghe pháp, trong kinh Kim Cang nói, vô thuyết giả - không có người thuyết pháp, không có người nghe pháp, không có pháp, đây chính là Không, cũng tức là tam luân đều không, gọi là tam luân thể không.

Vì thế tôi mới nói Tam Luân Lôi Tạng Tự đó, chúng ta ở Texas có Tam Luân Lôi Tạng Tự, tôi đặt tên là Tam Luân, tôi nói: “Hãy gọi là Tam Luân Lôi Tạng Tự đi.” Đầu tiên họ nói với tôi: “Sư Tôn à, sao thầy lại cho chúng tôi một chiếc xe ba bánh, xe người ta toàn là bốn bánh, sao thầy lại cho chúng tôi xe ba bánh.” Ý nghĩa của Tam Luân chính là tam luân thể không trong kinh Phật, phải lĩnh ngộ được tính Không này. 

Tâm cảnh của Sư Tôn hiện tại, nhân sinh quan của tôi, tôi nói với mọi người, tôi giống như một khán giả, đi vào trong rạp chiếu phim xem một bộ phim, trong bộ phim có một nhân vật nam chính tên là Lư Thắng Ngạn, có một nữ chính tên là Lư Lệ Hương, hai người bắt đầu diễn vở kịch cuộc đời. Bắt đầu diễn kịch tức là có rất nhiều cảnh, rất nhiều vai phụ. Có rất nhiều vai nam phụ, vai nữ phụ, còn có rất nhiều diễn viên tạm thời, còn có rất nhiều bối cảnh. Bối cảnh là gì? Bối cảnh chính là ở Cao Hùng Đài Loan, ở Đài Trung, liên tục diễn, diễn cho đến Seattle nước Mĩ. 

Diễn cho đến bây giờ, Lư Thắng Ngạn này đã trở thành Lư Sư Tôn, Lư Sư Tôn ở bên đó thuyết pháp, bên dưới ông ấy có rất nhiều tín chúng, sáng lập ra Chân Phật Tông. Tôi đi vào rạp chiếu phim chính là để xem bộ phim này, tên của bộ phim là “Lai lịch của Lư Thắng Ngạn”, bắt đầu diễn, từ lúc ông ấy ra đời thế nào, liên tục diễn đến cuối cùng, cuối cùng bộ phim này đã diễn xong rồi, tức là *“The End”*, tức là kết thúc rồi. Bộ phim đã kết thúc rồi, còn tôi xem xong thì tôi lại rời khỏi rạp chiếu phim. 

Đương nhiên tôi có thể bị bộ phim này làm cảm động, bởi vì những hỉ nộ ái ố ở trong đó, tôi đi cùng với những tình tiết… Lư Thắng Ngạn và Lư Lệ Hương đó, hai người diễn bộ phim, trong bộ phim, cuộc đời của ông ấy đều được diễn ra, vai nam chính, vai nữ chính, còn có vai phụ, và một đám đông những diễn viên tạm thời. Sau đó, bộ phim kết thúc rồi, *owari* (tiếng Nhật), tức là kết thúc rồi, bộ phim đã kết thúc rồi. Tôi xem xong thì cũng ra khỏi rạp. Lư Thắng Ngạn thật đang xem bộ phim của Lư Thắng Ngạn giả. 

Người giảng kinh Kim Cang, bây giờ tôi đang ở đây thuyết pháp là Lư Thắng Ngạn giả, Phật tính của tôi là Lư Thắng Ngạn thật. Lư Thắng Ngạn thật đang xem Lư Thắng Ngạn giả đang diễn phim, có một ngày sẽ kết thúc, owari, kết thúc rồi. Xem xong rồi, xin hỏi nam, nữ chính, diễn viên tạm thời, diễn viên phụ và mọi cảnh trong bộ phim có liên quan gì đến người xem này không?

Khi bạn xem bộ phim này, cũng có thể có cảm động, khi người ta cười thì bạn cũng cười theo, khi người ta khóc thì bạn cũng khóc theo, khi người ta tức giận thì bạn cũng tức giận, khi người ta bi ai thì bạn cũng bi ai, khi người ta vui vẻ thì bạn cũng vui vẻ theo. Xem xong rồi, ồ! Thì ra chỉ là một bộ phim, hai người chẳng có liên quan gì cả. Người khán giả này (tôi là khán giả) xem chính mình đang diễn bộ phim, đây chính là yếu nghĩa của kinh Kim Cang.

Những gì diễn trong phim đương nhiên đều là giả, giả và thật cũng gần như nhau, nhưng tôi chỉ là một người xem, người xem này chính là Phật tính, là Lư Thắng Ngạn thật. Bây giờ trên thế giới Ta Bà Lư Thắng Ngạn kia là Lư Thắng Ngạn giả, còn có diễn viên giả, toàn bộ đều là giả, tất cả đều là giả. “Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng”. Nhưng Phật tính của bạn tự chủ, xem xong rồi, ta và Lư Thắng Ngạn giả kia hoàn toàn không liên quan, ta chính là Phật tính.

Tôi nói với mọi người điều này, mọi người hiểu thế nào là Phật tính, thế nào là giải thoát, Lư Thắng Ngạn thật này mới là người giải thoát, trong phim tất cả những gì được diễn toàn bộ đều là giả. Nhưng Lư Thắng Ngạn ở trong bộ phim này, nếu như phạm giới, có nghiệp chướng, thì anh ta cũng sẽ ở trong lục đạo mà luân hồi. Vì thế có thể nói như thế này, lục đạo luân hồi đều là giả, nếu bạn không nhận ra được điều đó, bạn vĩnh viễn ở trong lục đạo mà luân hồi.

Nếu bạn nhận ra rằng bạn chỉ là đang xem một vở kịch, vở kịch này sẽ kết thúc, vậy thì bạn đã giải thoát được chính mình rồi, có thể thành tựu rồi, bạn là tự chủ, bạn là nhậm vận, bạn hoàn toàn giải thoát, không phải lục đạo luân hồi. Nếu bạn cho rằng Lư Thắng Ngạn giả này chính là Lư Thắng Ngạn thật, vậy thì bạn còn phải lục đạo luân hồi. Bởi vì anh ta còn có chỗ phạm giới, còn có chỗ làm sai việc, anh ta chắc chắn phải chịu nghiệp báo này mà tiếp tục luân hồi. 

Ở đây tôi nói về kinh Kim Cang nói làm sao để giải thoát, làm sao để thanh tịnh nghiệp chướng của bạn, vì thế Lục Tổ Huệ Năng nói “không nghĩ thiện không nghĩ ác”, thiện ác và ngài không có quan hệ gì. Bây giờ bạn đã thoát ra rồi, sau khi bạn đọc kinh Kim Cang, bạn đang xem vở kịch mà cuộc đời này bạn đã diễn, nhưng bạn cũng phải thanh tịnh chính mình thì bạn mới có thể thoát khỏi lục đạo luân hồi. Nếu bạn không thanh tịnh nghiệp chướng của bản thân thì không có cách nào thoát khỏi luân hồi. Vì thế, có một ngày khi tôi - Lư Thắng Ngạn giả này chết đi, tôi chỉ còn để lại ba chữ “không liên quan”, tôi và Lư Thắng Ngạn giả đó không có quan hệ gì, tôi chỉ đang nhìn anh ta diễn, tôi chỉ là một khán giả. Nói như vậy đã hiểu chưa?

Bởi vậy, làm sao để có thể thanh tịnh nghiệp chướng của chính mình? Tiêu đề phần này là làm sao để thanh tịnh nghiệp chướng của chính mình. Bạn đã nhìn rõ rồi, cuộc đời bạn chính là một bộ phim, mỗi người chúng ta đều đang diễn bộ phim đó, đều là diễn viên, tức là đang diễn bộ phim của chính mình, lấy tự ngã làm trung tâm để diễn bộ phim này. Có một ngày bộ phim này sẽ kết thúc, nếu bạn không biến thành Phật tính, bạn sẽ ở trong bộ phim, vĩnh viễn cho rằng bộ phim này là thật, chính là bạn. Bạn đang diễn bộ phim, bạn vẫn còn phải chuyển thế, chuyển tới chuyển lui trong lục đạo luân hồi, chuyển tới chuyển lui, bởi vì nghiệp chướng của bạn chưa thanh trừ sạch sẽ.

Sau khi bạn hiểu kinh Kim Cang rồi, đã biết “vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng”, tôi không diễn vở kịch này nữa, tôi thanh tịnh chính mình, tôi thoát ra ngoài, biến thành người xem để xem chính mình, để anh ta đừng phạm lỗi nữa.

Bạn diễn vai chính này đừng phạm vào những việc nghiệp chướng thì bạn có thể không cần diễn lại bộ phim này, không cần lục đạo luân hồi tiếp tục diễn tiếp nữa, bạn đã bước ra rồi, có thể thanh trừ nghiệp chướng của bản thân, bạn đã giải thoát rồi. 

Điểm này tôi nói rõ với mọi người, tham sân si nghi mạn, đóng lại lục tặc nhãn nhĩ tị thiệt thân ý, không còn mắt tai mũi lưỡi thân ý nữa, không có sắc thanh hương vị xúc pháp nữa, không có tham niệm về tiền sắc danh ăn ngủ nữa thì bạn sẽ giải thoát. Bởi vì còn có Lư Thắng Ngạn giả đó thì mới có luân hồi, Lư Thắng Ngạn thật sẽ không phải chịu luân hồi. 

Nói đến tham, hai ngày trước tôi cùng với Sư Mẫu ăn nhẹ vào buổi tối, sau đó bà ấy muốn trở về phòng đi ngủ, tôi phải đi nhỏ thuốc mắt cho bà ấy, rồi đắp chăn cho bà ấy, sau đó lại làm kiết giới cho căn phòng của bà ấy. Khi đi đến cửa phòng của bà ấy, bà ấy có một chiếc xe lăn bốn bánh nhỏ, bình thường nếu bà ấy đi lại khó khăn thì bà ấy sẽ ngồi trên xe lăn đó, có thể ở trong nhà đi tới đi lui. Chiếc xe lăn đó rất nhỏ, một người ngồi, là loại xe nhỏ, người đi lại bất tiện thì ngồi ở trên đó, chiếc xe muốn đi tới chỗ nào trong nhà đều được, bà ấy có thể đi từ phòng bà ấy sang phòng tôi. Bà ấy nhìn chiếc xe lăn đó rồi nói: “Trên xe có một cô gái đang ngồi.” Trên chiếc xe lăn nhỏ có một cô gái đang ngồi, tôi liền hỏi bà ấy: “Cô ấy có xinh không?” Bà ấy liền liếc tôi một cái.

Thế rồi hôm nay tôi hỏi bà ấy: “Cô gái ngồi trên xe lăn hôm trước bà nhìn thấy có xinh không?” Bà ấy nói: “Cô gái ấy là ma, cho dù con ma này có xinh đẹp thì tôi cũng sẽ ghen đấy.” Vì thế, bà ấy không nói cho tôi biết cô gái ấy có xinh đẹp hay không. Những gì bà ấy nhìn thấy có thật không? Bà ấy chuẩn bị đi vào trong phòng mình thì nói với tôi rằng trên xe lăn có một cô gái, câu đầu tiên tôi đã hỏi cô ấy có xinh không? Đó chính là cái tâm của Lư Sư Tôn giả. Đó rõ ràng là một con ma vô hình mà anh còn hỏi con ma đó có xinh không? Đây là giả mà tôi cũng hỏi như thế. 

Ngoài ra, mỗi lần khi Sư Tôn trở về phòng mình thì chắp tay trước Diêu Trì Kim Mẫu: “Om jinmu siddhi hum. Om jinmu siddhi hum. Om jinmu siddhi hum.” Diêu Trì Kim Mẫu sẽ bay lên hư không, mi tâm của ngài phóng quang, sau đó chiếu đến mi tâm của tôi. Đúng vào lúc ấy, tôi sẽ nghe thấy âm thanh “cạch cạch cạch” của tiếng giày cao gót, từ phía xa của hành lang, “cạch cạch cạch” đi đến bên tôi, sau đó không còn âm thanh nữa. Thật may đây là tôi, nếu là bạn thì úi giời ơi nổi hết cả da gà! Thật đó, tôi tuyệt đối không lừa bạn đâu. Tiếng “cạch cạch cạch… đi đến bên cạnh rồi không còn âm thanh nữa. Ngày nào cũng như vậy, ngày nào cũng vang lên âm thanh đó. Nếu không thì cũng là tiếng giày da của đàn ông đang bước đi, hoặc là dép lê, hoặc là loại dép gì đó, họ đi những loại giày dép khác nhau bước tới, đi đến bên cạnh tôi. Thật may đây là tôi, khi ấy tôi có cảm nghĩ như vậy.

Thỉnh thoảng khi họ làm ồn ào tôi, tôi sẽ nói với họ: “Tôi đến đây để vấn an các vị, các vị không cần hỏi thăm tôi, tôi sẽ chào hỏi các vị, xin chào mọi người. Sau đó các vị không cần phải phát ra âm thanh đâu, tuy tôi không sợ những thứ vô hình, nhưng đột nhiên các vị phát ra âm thanh sẽ làm tôi giật mình đó.” Tôi cũng bị dọa cho giật mình chứ, thật đó, đột nhiên phát ra âm thanh lớn như vậy. Dọa tôi để làm gì? Lần nào cũng muốn dọa tôi, tiếng giày đó lúc nào cũng muốn dọa tôi, tôi nói, tôi biết các vị ở đây, nên tôi sẽ chào hỏi các vị “xin chào”. Mấy ngày nay tôi đi đến đâu, đầu tiên đến cửa tôi sẽ nói: “Xin chào các vị.” thì đều không có âm thanh, họ không còn dọa tôi nữa, họ phát ra tiếng động cũng sẽ khiến tôi giật mình đó.

Thật sự có những người vô hình này, tuyệt đối không phải là không có, nếu không có vô hình thì hôm nay các bạn đeo khẩu trang để làm gì? Virus Covid-19 cũng đều là vô hình, các bạn cũng chẳng có cách nào nhìn thấy, vô hình chính là như thế, rõ ràng là có. Cho nên tôi đã trải nghiệm thấy, tức là thật sự có âm gian, thật sự có ma quỷ vô hình. Cho nên, bạn không thể biến thành trung ấm được! Sau này mỗi người phải giống như tiêu đề phần này “có thể làm sạch nghiệp chướng”, các bạn đều có thể thanh trừ nghiệp chướng của chính mình. Hôm nay giảng đến đây. Om mani padme hum.

*(Ngày 23/01/2022 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Đại Lực Kim Cang tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 53.)*


### 54. Phần thứ 16: **Có thể làm sạch nghiệp chướng (2)**


*(Bài giảng 54) *Lợi ích của thọ trì đọc tụng kinh Kim Cang

*"Tiếp nữa, Tu Bồ Đề! Thiện nam, thiện nữ thọ trì đọc tụng kinh này, nếu bị người khác khinh chê, thì người này do nghiệp kiếp trước đáng lẽ phải đọa ác đạo, thì đời này do bị người khinh chê mà nghiệp tội kiếp trước bị tiêu diệt, sẽ đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.”*

Tôi vừa nói về mối liên hệ nhân quả, đây chính là mối liên hệ nhân quả. Nếu có thiện nam thiện nữ đọc tụng kinh Kim Cang, người ta vẫn còn rất khinh chê người này, người này kiếp trước có nghiệp tội,* “đáng lẽ phải đọa ác đạo, thì đời này do bị người khinh chê mà nghiệp tội kiếp trước bị tiêu diệt”. *Bởi vì con người đời này khinh thường bạn, thế thì nghiệp tội kiếp trước của bạn sẽ vì thế mà tiêu trừ đi. Vì thế đây là “có thể làm sạch nghiệp chướng”, bạn đọc kinh Kim Cang có lợi ích, có thể tiêu trừ nghiệp tội của chính bản thân bạn.

Mật giáo có Kim Cang Tâm bách tự minh, mỗi lần chúng ta đều phải niệm ba lần Bách tự minh chú, bởi vì nó có thể tiêu trừ nghiệp chướng. Kinh Kim Cang là Không, bất kì tội gì đến được Không rồi thì sẽ như mây tan khói tản. Bách tự minh chú là cái gì? Tôi đã nói về Không, nó cũng là Không. Bạn niệm Bách tự minh chú, tội chướng sẽ tiêu trừ hết, đó là câu chú tiêu trừ nghiệp chướng tốt nhất. Vì thế tôi nói bạn niệm xong 100.000 biến Bách tự minh chú, lấy cây phất trần: *“Quét một cái sạch sẽ phiền não, quét hai cái loại trừ vận rủi, quét ba cái trừ bỏ nghiệp chướng. Giáng xuống đây Bổn tôn phúc phần. Om benza satto hum.”* (3 lần) “Om benza satto hum” là câu chú ngắn của Kim Cang Tát Đỏa bách tự minh.

Vì thế, bạn niệm xong 100.000 biến Bách tự minh chú tức là tiêu trừ nghiệp chướng của mình, dùng dòng chảy pháp Không để làm cho bạn sạch trơn, làm sạch nghiệp chướng của bạn. Kinh Kim Cang cũng có sức mạnh như vậy. Bạn niệm kinh Kim Cang, khi bạn niệm, vẫn sẽ chịu sự coi thường của người khác (tức là khinh rẻ hoặc sỉ nhục), Phật Thích Ca Mâu Ni nói người này kiếp trước có nghiệp tội, lẽ ra sẽ đọa vào ác đạo, nhưng “*đời này do bị người khinh chê”, *vì thế đời này người ta sẽ coi thường bạn, sẽ khinh chê bạn, sẽ sỉ nhục bạn.

Nhưng vì bạn niệm kinh Kim Cang, nghiệp tội kiếp trước của bạn sẽ được tiêu trừ, đây là Phần thứ 16: Có thể làm sạch nghiệp chướng. *“Sẽ đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề”*, về sau nếu như nghiệp tội tiêu trừ hết rồi thì sẽ đắc được A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Phải tiêu trừ nghiệp chướng của chính mình trước là vô cùng quan trọng. Bản thân tôi cũng cảm giác thấy như vậy, trong Mật giáo chúng ta nói đến Đạo Quả, tôi đã giảng Đạo Quả rồi, trên phương diện nội tu, bạn dùng minh điểm và chuyết hỏa của mình hợp nhất, sau đó mở ra năm luân xa, nó có ý nghĩa của nó.

Mi tâm luân, hầu luân, tâm luân, tề luân, mật luân này, chỉ cần mở ra được một luân xa là bạn được thanh tịnh hai địa, mở ra năm luân xa là bạn được thanh tịnh mười địa, khi đó gọi là thập địa Bồ Tát. Mở ra đỉnh luân thì tương đương với thanh tịnh hai địa nữa, tức là Bồ Tát địa thứ mười hai. Rồi mở ra thêm đỉnh kế nữa thì sẽ trở thành Bồ Tát địa thứ mười hai rưỡi. Trong Đạo Quả viết như vậy, tôi căn cứ theo Đạo Quả mà giảng như vậy. 

Vì sao đến địa mười hai là Bồ Tát, địa mười ba chính là Phật? Nguyên nhân chủ yếu là nói rằng, bạn mở ra một luân xa thì tương đương đã thanh tịnh một phần, nghiệp chướng của thân thể bạn đã thanh tịnh rồi, ý nghĩa chính là như vậy. Từ Hoan hỉ địa cho đến Pháp vân địa, địa thứ mười là Pháp vân địa. Trong Hiển giáo, Bồ Tát chỉ có mười địa, địa thứ mười một chính là Phật rồi. Điều đó cho thấy rằng bạn thanh tịnh được mấy phần thì sẽ đến gần Bồ Tát được mấy phần, Bồ Tát sơ địa chính là sự thanh tịnh ban đầu, vì thế đương nhiên rồi, tiêu trừ nghiệp chướng chính là thanh tịnh. Cho nên phải tiêu trừ nghiệp chướng trước, nghiệp chướng tiêu trừ đến khi hoàn toàn thanh tịnh rồi thì bạn sẽ đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, cái này là đạo, bạn sẽ hợp với đạo.

Vì sao ma lại sợ Sư Tôn? Tôi biết ma rất sợ tôi, bởi vì tôi chỉ cần đi đến nơi có ma thì ma đó đều bỏ chạy, nghĩa là chạy một mạch “bạch bạch bạch”. Thật đó, nếu tôi bước vào một ngôi nhà ma, nếu ở nơi đó có ma, bức tường sẽ phát ra tiếng động, liên tục chạy “beng beng beng”, hơn nữa còn thật sự phát ra âm thanh. Điều này đã thông qua thực nghiệm của cá nhân tôi. Tôi bước tới tủ lạnh trong nhà tôi, tủ lạnh nhất định sẽ kêu lên. Tôi đi vào *toilet* trong nhà tôi, *toilet* nhất định sẽ kêu lên. Tôi đi qua chậu cây cảnh, chậu cây cảnh đó nhất định sẽ kêu lên. Kết quả sẽ thành là họ kêu lên thì tôi cũng giật nảy mình, bởi vì đó là buổi tối mà! Bạn biết không, toàn là lúc 12 giờ, 1 giờ đêm. 

Khi tôi trở về phòng mình, suốt dọc đường họ cứ kêu lên, cứ hét lên, tôi nói với họ: “Thế này là đủ rồi, mấy người không cần gọi, tôi chào hỏi mọi người trước, xin chào, xin chào.” Tôi hoàn toàn bình đẳng! Tôi cũng nói với Phật Bồ Tát là *good morning*, mỗi buổi sáng tôi ngủ dậy tôi đều nói với các vị là *good morning*. Tôi cũng như vậy, mấy người không cần gọi, không cần làm ồn, tôi nói “xin chào” rồi tôi đi qua, các vị không cần gọi. Bởi vì trong nhà tôi làm siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp mà! Trong nhà có bao nhiêu ma trốn? Mỗi chiếc thuyền đều ngồi chật kín cả! Bao nhiêu trung ấm chạy tới nhà tôi. Những người sau khi được kiểm tra xong thì đi vào, không biết là bao nhiêu. Trong tủ lạnh cũng có, trong tủ quần áo cũng có, trong tủ bếp cũng có. Tôi đi đánh răng, bên dưới bồn rửa toàn phát ra âm thanh “bang bang bang”, đi qua bức tường, bức tường đó đều kêu “bang bang bang”, đi tới chậu cây cảnh, chậu cây cũng kêu “binh binh binh”, sau đó thì khá ồn ào. Tôi chào hỏi mọi người trước, mọi người đừng làm ồn, cũng không cần chạy. Là như vậy đó, ngày nào vào buổi tối tôi cũng nói với họ như vậy. Hai năm nay đều như vậy.

Vì thế, Sư Mẫu nhìn thấy những con ma đang mở tiệc, một số còn mặc đồ cổ trang nữa. Sau khi nhìn thấy Sư Mẫu thì họ trốn trong tủ quần áo. Mở tủ quần áo ra, rồi tất cả lũ ma đi vào hết rồi đóng tủ lại, vẫn còn bị kẹt cái mũ của một con ma ở ngoài, họ còn đưa tay ra để lấy nữa. Sau đó chân họ còn thò ra ngoài, Sư Mẫu còn nhìn thấy cái chân đó là chân giả, là ma bị cụt chân, ma lắp chân giả chui vào trong đó. Còn có một người khác nhìn thấy, đó là bà Ngụy Tư Nhan ở California nhìn thấy.

Tôi nói với mọi người, cái này đều có nhân quả ở trong đó! *“Đáng lẽ phải đọa ác đạo”*, ác đạo tức là ba ác đạo: địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, ba ác đạo là không tốt nhất. Đạo người, nửa thiện nửa ác, nhưng mà cũng rất khổ, đều là vì nghiệp trước đây đã làm, vì nghiệp tội. Sau này thì sao? Bạn niệm kinh Kim Cang có thể tiêu trừ nghiệp, đắc được A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Tôi nói như vậy mọi người đã hiểu rõ chưa? Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 29/01/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Chuẩn Đề Phật Mẫu Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 54.)*


### 55. Phần thứ 16: **Có thể làm sạch nghiệp chướng (3)**


*(Bài giảng 55) *Công đức thọ trì đọc tụng kinh Kim Cang

*"Tu Bồ Đề! Ta nhớ quá khứ vô lượng a-tăng-kì kiếp trước thời Đức Phật Nhiên Đăng, ta được gặp tám trăm bốn nghìn vạn ức na-do-tha chư Phật, ta đều cúng dường cung kính phụng sự không bỏ sót vị nào. Nếu lại có người, vào thời mạt pháp sau này, có thể thọ trì đọc tụng kinh này, thì công đức người ấy có được so với công đức cúng dường chư Phật của ta nhiều hơn bội phần, trăm phần ta không bằng một phần họ, nghìn vạn ức phần, thậm chí tính toán tỉ dụ thì cũng không thể so bì được.”*

*"Tu Bồ Đề! Nếu thiện nam, thiện nữ vào thời mạt pháp, có thọ trì đọc tụng kinh này thì công đức người đó có được, dù ta nói ra đầy đủ thì có lẽ có người nghe thấy tâm sẽ cuồng loạn, nghi ngờ không tin. Tu Bồ Đề! Nên biết nghĩa kinh này bất khả tư nghì, quả báo cũng bất khả tư nghì.”*

Đây là Phật Thích Ca Mâu Ni nói. Tu Bồ Đề, mỗi lần Phật thuyết pháp, đệ tử nào hỏi ngài thì ngài sẽ đọc tên đệ tử đó. Phật trong *“quá khứ vô lượng a-tăng-kì kiếp trước thời Đức Phật Nhiên Đăng” *(chính là Định Quang Phật), *“được gặp tám trăm bốn nghìn vạn ức na-do-tha chư Phật”*. Chà, thế là Phật nhiều không đếm xuể! Vô số vị Phật *“đều cúng dường, phụng sự không bỏ sót vị nào”*, cúng dường toàn bộ những vị Phật này, để các vị đều hài lòng, không bỏ sót một vị Phật nào. 

Nếu có người vào thời mạt thế có thể thọ trì kinh Kim Cang, đọc tụng kinh Kim Cang, “c*ông đức người ấy có được so với công đức cúng dường chư Phật của ta nhiều hơn bội phần, trăm phần ta không bằng một phần họ, nghìn vạn ức phần, thậm chí tính toán tỉ dụ thì cũng không thể so bì được”. *Đây chính là so sánh mà Phật Thích Ca Mâu Ni nói, ngài lấy việc cúng dường vô lượng các vị Phật và việc thọ trì kinh Kim Cang ra để so sánh với nhau. Phật Thích Ca Mâu Ni đem công đức của hai việc: cúng dường vô lượng chư Phật và người đời sau có thể thọ trì và đọc tụng kinh Kim Cang ra để so sánh. 

Phật Thích Ca Mâu Ni so sánh như thế này: *“trăm phần ta không bằng một phần họ”*, tức là còn chưa đến một phần trong một trăm phần. Bạn cúng dường vô lượng chư Phật còn thua người có thể thọ trì kinh Kim Cang và đọc tụng kinh Kim Cang. Tôi đã từng giảng trọng điểm nằm ở hai chữ “thọ trì”, vì sao vậy? Bởi vì bạn cúng dường Phật là có công đức, nhưng còn có thể đếm được. Bạn thọ trì kinh Kim Cang là không thể nào đếm được, không có cách nào đếm. Mọi người cần phải chú ý điểm này, ở đây có sự so sánh.

Phật Thích Ca Mâu Ni trong đời quá khứ từng cúng dường vô cùng vô cùng nhiều các vị Phật, không bỏ qua một vị nào, mọi vị Phật ngài đều cúng dường cả. Ngoài ra có một người là tôi thọ trì kinh Kim Cang, tôi đọc tụng kinh Kim Cang, đem so sánh hai người, vấn đề nằm ở hai chữ “so sánh”. Tôi muốn nói với mọi người, ở đây có ẩn giấu ý nghĩa ở bên trong, rất ít người nhắc đến điều này. Tôi nói với bạn, chúng ta ở trên thế gian này không được so sánh, Lư Sư Tôn nói bốn chữ “không được so sánh”, tuyệt đối không được so sánh. Vì sao? Bởi vì so sánh là nguồn gốc của phiền não, so sánh tức là có cái “ngã”, có cái tôi thì mới có so sánh, bạn vô ngã rồi thì còn so sánh với ai?

Ý nghĩa ở trong kinh Kim Cang, ở đây nhắc đến Phật Thích Ca Mâu Ni *“tám trăm bốn nghìn vạn ức na-do-tha chư Phật đều cúng dường cung kính phụng sự”. *Cúng dường và phụng sự nhiều vị Phật như vậy không bỏ sót vị nào, cho dù một vị Phật cũng không bỏ qua, đều cúng dường phụng sự hết. Và công đức của một người thọ trì đọc tụng kinh này *“so với công đức cúng dường chư Phật của ta nhiều hơn bội phần, trăm phần ta không bằng một phần họ, nghìn vạn ức phần, thậm chí tính toán tỉ dụ thì cũng không thể so bì được”. *

Phật Thích Ca Mâu Ni nói đến hai chữ so sánh này. Tôi không nói với Phật Thích Ca Mâu Ni, tôi nói với các bạn rằng không được đi so sánh, làm sao có thể so sánh? So sánh chính là nguồn gốc của phiền não đó! Hôm nay bạn đi ra đường nhìn thấy một mĩ nữ, trở về nhà nhìn thấy vợ mình, thế là bạn bắt đầu đập vỡ cốc, đem những đồ cổ trong nhà ra đập vỡ hết… đồ cổ thì không được đâu, rất quý đó! Tìm thứ gì rẻ một chút mà đập. Vì sao? Người ta thì đẹp như thế, vì sao trở về nhà nhìn vợ mình thì lại như thế này? Trong lòng bạn sẽ tức giận. Không được so sánh, phiền não chính là từ so sánh mà ra.

Bạn xem, phía sau Seattle Lôi Tạng Tự của chúng ta chính là công ty Microsoft, công ty rất to, càng ngày càng to, họ mua hết toàn bộ đất rồi. Khi xưa tôi đi qua nơi đó, lúc đó còn chưa có Seattle Lôi Tạng Tự, tôi liền bảo người ở khu này đều là những người giàu nhất thế giới. Khi tôi đi qua khu đó, tôi nói khu đất này có địa lí, là đất của người giàu nhất thế giới. Chúng tôi mua ở dưới núi, rồi đi lên phía trên chính là Microsoft. Bạn so sánh mình với Bill Gates, đúng là “chim cu so với đùi gà”, làm sao mà so sánh chứ?

Người ta hễ vung tay là mấy tỉ mấy tỉ, làm từ thiện là cho bạn mấy tỉ mấy tỉ. Ông ấy thấy châu Phi rất nghèo, liền cho châu Phi mấy tỉ mấy tỉ để đi nuôi gà, ông ấy không biết rằng gà đều là nuôi từ châu Phi mà ra, nhưng mà một khi ông ấy đã tiêu thì toàn là mấy tỉ mấy tỉ! Quỹ từ thiện Lư Thắng Ngạn đến bây giờ không biết đã tiêu bao nhiêu tiền rồi nhỉ? Tổng số khoảng mấy triệu nhỉ! Tôi cũng không dám nói mấy triệu, người ta mấy tỉ, làm sao mà so sánh chứ? Người ta hễ ra tay là tiền tỉ, chúng ta ra tay chỉ có tiền triệu, làm sao mà so sánh? So sánh rồi thì tức chết mất, không bằng người ta mà. 

Giống như so sánh Chân Phật Tông chúng ta và Hội công đức Từ Tế, chúng ta chẳng bằng con số lẻ, con số ở phía đuôi của tiền của Hội công đức Từ Tế, huống chi là con số ở phía trước. Chúng ta so sánh với Phật Quang Sơn, làm sao mà bì được! Chùa của người ta *so big* (quá to), chùa của chúng ta *so small *(quá nhỏ). Phật Quang Sơn xây chùa ở bất kì đất nước nào, ở Nam Phi cũng xây một ngôi chùa, chùa mà Phật Quang Sơn xây, bạn nhìn xem tại thị trấn Đại Thụ ở Cao Hùng, trên cả một ngọn núi, chùa Phật Quang Sơn to vô cùng! Chúng ta chẳng thể nào sánh bằng, hễ so sánh là bạn phiền não ngay. Bạn xem Trung Đài Thiền Tự, bạn đi đến Trung Đài Thiền Tự sẽ nhìn thấy rất nhiều đồ cổ, một món đồ cổ chúng ta cũng không không sánh bằng.

Bạn đến Pháp Cổ Sơn, cái chuông khổng lồ đó, cái chuông rất to, đêm giao thừa hàng năm đều gióng chuông, mọi nhân vật chính trị quan trọng đều đi gióng chuông, Tổng thống, phó Tổng thống đều đến Pháp Cổ Sơn để gióng chuông. Chúng ta không có cái chuông to như vậy, làm gì có cái chuông to như thế? Chúng ta chỉ có chuông kim cang. Cái chuông của họ rất to, cần rất nhiều người kéo như thế này, “tùng”, gõ như vậy. Không thể so bì, bạn so bì với Pháp Cổ Sơn, bạn so bì với Hội công đức Từ Tế, bạn so bì với Trung Đài Sơn, bạn so bì với Phật Quang Sơn, không thể nào sánh bằng!

Ở đây tôi nhấn mạnh không được so sánh, so sánh là nguồn gốc của phiền não. Kinh Kim Cang nói về Không nghĩa, chuông là không, chùa là không, tiền là không, đồ cổ là không, bạn chỉ dựa vào cái Không mà dung nạp thì mọi thứ đều đi vào. Bạn phụng sự cúng dường vô lượng chư Phật đều thua việc thọ trì đọc tụng kinh Kim Cang. Bạn có thể trì tụng kinh Kim Cang thì bạn chính là Không, phạm vi của cái Không bao gồm vạn vật vũ trụ. Tôi nói với bạn, bạn hiểu được kinh Kim Cang rồi, tâm của bạn có thể sinh ra vạn pháp.

Vì thế ở đây, Phật Thích Ca Mâu Ni nói đến so sánh, ngài đã phụng sự vô lượng chư Phật, đều thua công đức của một người có thể thọ trì đọc tụng kinh này có được. Vì sao? Bạn phải hiểu được đạo lí này, bởi vì kinh Kim Cang là Không, Không có thể sinh vạn pháp, cho nên tất cả đều đến từ Không, đất nước lửa gió đều đến từ Không. Chúng ta biết rằng trong đất - nước - lửa - gió - không, cái “không” là thứ cuối cùng, nhưng cái “không” có thể dung nạp đất nước lửa gió, cái “không” đó có thể dung nạp tất cả. Vừa rồi tôi cũng đã so sánh, Sư Tôn vì lấy ví dụ mà làm so sánh, Phật Thích Ca Mâu Ni ở đây cũng làm so sánh. Hai chữ so sánh, tôi nói để mọi người biết, là căn nguyên của phiền não. Bạn gặp phải chuyện gì cũng đều không được so sánh.

Hôm nay tôi lái xe ra ngoài, chiếc xe này của tôi là xe sang, xe của tôi là xe Maserati, Maserati là xe thể thao, Maserati do Italy sản xuất. Bạn gặp phải chiếc Lamborghini, gặp phải Ferrari, Ferrari và Lamborghini có đắt hơn Maserati không? Đắt hơn đó! Đúng mà, bạn sẽ cảm thấy trong lòng không sướng. Bạn gặp phải chiếc xe Honda hoặc Infiniti của Nhật, Suzuki hoặc Subaru, bạn nhìn thấy thì sẽ cảm thấy xe Maserati của mình tốt hơn. Người ta nói với bạn là “*good car*” (xe ngon) thế là bạn rất sướng. Người ta lái xe Lamborghini đi qua bạn thì… (Sư Tôn thị phạm biểu hiện không sướng.) Đây là một so sánh nhỏ.

Hễ so sánh là bạn sẽ sinh phiền não, bất kể bạn thích hay không thích, cho nên chúng ta phải hiểu không thể so sánh. Phật Thích Ca Mâu Ni vì nói kinh Kim Cang mà làm so sánh, tôi vì giải thích đoạn kinh văn này mà tôi cũng làm so sánh. Tôi nói với mọi người, không được so sánh, bởi vì trong kinh Kim Cang nói vô ngã tướng, không có cái ngã thì làm gì có so sánh? Vô nhân tướng, vô ngã thì sẽ vô nhân, vậy thì ai so sánh với ai? Vô chúng sinh tướng, không có chúng sinh, vậy bạn so sánh với ai? Vô thọ giả tướng, không có thời gian, không có so sánh.

Tôi thường xuyên lấy ví dụ, trên mặt trăng căn bản là “vô nhân tướng, vô ngã tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng”, trên mặt trăng ai so sánh với ai? Cái gì là thiện? Cái gì là ác? Cái gì là Phật pháp? Cái gì là mặn? Cái gì là chay? Tất cả đều không có, tất cả đều nằm trong cái Không. Vì thế đôi khi, nếu bạn không so sánh, bạn đã nhận thức được cái Không rồi, bạn lĩnh ngộ được cái Không rồi, đó chính là khai ngộ. Bạn thực tiễn cái Không này thì bạn chính là Thánh hiền, đây là điều vĩ đại nhất, bởi vì phiền não không có nữa, công đức cũng không có nữa, bám chấp cũng không có nữa.

Bạn chấp vào cái gì? Bám chấp cũng không có nữa. Còn cả những tâm trạng của bạn, đó chỉ là *small potato* (củ khoai tây nhỏ), tâm trạng của bạn cũng không còn nữa. Bạn không còn so sánh thì còn tâm trạng gì? Tâm trạng cũng không có nữa, không có so sánh thì không có tâm trạng, hễ so sánh thì sẽ sản sinh tâm trạng. Ngoài ra, vì bạn đã vô ngã rồi, bạn còn có tập tính gì nữa? Không có, tập tính cũng tương đương với số không, tương đương với trống rỗng, không còn nữa, đây chính là có thể giải trừ hết, hơn nữa ở trong cái Không, bạn còn bao hàm vạn pháp. Nguyên nhân mà kinh Kim Cang là vua các kinh điển là ở đây. Hôm nay tôi giảng đến đây. Om mani padme hum.

*(Ngày 30/01/2022 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Câu Tài Thiên Nữ tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 55.)*


### 56. Phần thứ 16: **Có thể làm sạch nghiệp chướng (4)**


*(Bài giảng 56) *Nên biết ý nghĩa kinh là bất khả tư nghì, quả báo cũng bất khả tư nghì

*"Tu Bồ Đề! Nếu thiện nam, thiện nữ vào thời mạt pháp, có thọ trì đọc tụng kinh này thì công đức người đó có được, dù ta nói ra đầy đủ thì có lẽ có người nghe thấy tâm sẽ cuồng loạn, nghi ngờ không tin. Tu Bồ Đề! Nên biết nghĩa kinh này bất khả tư nghì, quả báo cũng bất khả tư nghì.”*

Phật Thích Ca Mâu Ni nói như thế này, kinh này không dễ lí giải, bởi vì bản thân nó vô cùng thâm sâu ảo diệu, nghĩa lí của nó hàm chứa đạo lí rất sâu, không dễ để mà hiểu được nó. Bản thân kinh Kim Cang không dễ lí giải, bởi vì nó là Vua Kinh, không dễ mà hiểu được. Cho nên có người nghe rồi nhưng không chắc sẽ tin tưởng, cho dù có tin tưởng thì cũng sẽ có một chút nghi hoặc. Ý nghĩa của kinh này là bất khả tư nghì, nói cách khác là nghĩa lí của kinh Kim Cang là bất khả tư nghì, nhân quả báo ứng của nó cũng bất khả tư nghì giống như vậy.

Phật Thích Ca Mâu Ni nói câu nói này, nghĩa của kinh là bất khả tư nghì, vậy nghĩa của kinh rốt cục là cái gì? Kì thực nó bao gồm “có thể làm sạch nghiệp chướng”, muốn thanh tịnh nghiệp chướng bạn nhất định phải “thọ trì đọc tụng”. Thọ trì - bạn tiếp nhận rồi, bạn duy trì rồi, bạn tu hành rồi, thực tiễn nó rồi. Đọc tụng - bạn có thể đọc, cũng có thể tụng. Bạn tiếp nhận rồi, bạn cũng có thể thực tiễn nó, hai chữ thọ trì vô cùng quan trọng.

Vì sao có thể làm sạch nghiệp chướng? Rất nhiều người đều biết kinh Kim Cang có thể tiêu trừ nghiệp chướng, nhưng không đưa ra được một đạo lí, đạo lí của nó rất sâu. Đạo lí rốt cục ở đâu? Tôi nói với mọi người, đó chính là diệu quan sát trí của A Di Đà Phật (trong năm trí huệ, A Di Đà Phật có diệu quan sát trí), dùng diệu quan sát trí để thâm nhập vào trong ý nghĩa của kinh, sau đó lại quan sát chính mình. Quan sát chính mình cái gì? Quan sát ý niệm của mình, đây chính là thọ trì đó, nghĩa lí quan trọng chính là ở đây!

Tôi hỏi mọi người, bạn có quan sát suy nghĩ của chính mình không? Mỗi ngày các bạn đều nghĩ về những sự việc, những suy nghĩ liên tiếp sinh ra, tôi nói để bạn biết, bạn không chú ý đến suy nghĩ của chính mình, bạn chỉ chú ý đến hành vi của người khác thôi, bạn quan sát hành vi của người khác. Bạn phải quan sát suy nghĩ của chính mình, nghĩa lí quan trọng nhất nằm ở đây. Mọi người biết A Di Đà Phật có diệu quan sát trí, bạn biết diệu quan sát trí của A Di Đà Phật là quan sát cái gì không? Phật Thích Ca Mâu Ni đã giấu đi nghĩa lí không nói ra, chính là quan sát ý niệm của chính mình.

Trong suy nghĩ của bạn, bạn đang nghĩ cái gì? Bạn có đang nghĩ mình đang nghĩ cái gì không? Đây là hai việc khác nhau. Bởi vì chính bạn đang nghĩ gì bạn lại không quan sát. Thật ra trong suy nghĩ của bạn có rất nhiều sai lầm, rất nhiều người khi gặp một vài vấn đề liền nghĩ như thế này, người kia đối với mình không tốt, hoặc là nói rằng người này hôm nay chửi mình, trong lòng mình không thoải mái, sẽ có một ngày mình nhất định phải chửi lại, lấy mắt trả mắt, lấy răng trả răng, đại bộ phận con người đều nghĩ như vậy, suy nghĩ này là sai lầm.

Ví dụ bình thường chúng ta sát sinh: “Ví dụ côn trùng nhỏ, gián hoặc muỗi, ruồi, thạch sùng, đập một phát là giết luôn, có gì đâu! Dù sao mặc dù là sinh mạng, nhưng mà chúng đáng chết mà!” Bạn cũng nảy sinh ra suy nghĩ này: “Chuột chắc là không sao đâu!” Thế là giết luôn. Kì thực tín đồ Phật giáo chúng ta là phải niệm chú vãng sinh. Đối với những loài không tốt như rắn độc bị chúng ta giết, chúng ta cũng phải giúp chúng niệm chú vãng sinh, và đừng có suy nghĩ sát sinh.

Khi bạn nảy sinh suy nghĩ sát sinh: “Người này đối với tôi rất tồi tệ, lát nữa hắn đi ra ngoài để cho hắn bị xe đâm trúng đi!” Bạn nảy sinh suy nghĩ này, mặc dù chỉ một lúc thôi rồi sẽ hết, nhưng mà đây chính là suy nghĩ không tốt, bạn không hề quan sát thấy, bởi vì suy nghĩ này chỉ xuất hiện trong một sát-na rất nhanh chóng. Bạn bị trộm tiền, bạn liền nguyền rủa kẻ trộm tiền này. Thậm chí đôi khi bạn nhìn thấy tiền, nhặt tiền rơi trên đất, dù sao cũng không có ai nhìn thấy thì coi như là của mình. Suy nghĩ như vậy đều sẽ có. Nhìn thấy thứ gì hay, trong bếp có cái nồi hay, tôi chẳng nói đó là nồi người khác mua, tôi cầm nó về nhà cho mình nấu, dù sao lấy trộm thì cũng không có ai biết, cũng không có ai biết là tôi cầm về nhà nấu. Những suy nghĩ kiểu này đều không đúng, đó là suy nghĩ ăn trộm, bạn cho rằng đều rất nhẹ thôi, kì thực suy nghĩ này đều không đúng.

Ngoài ra, nam sinh nhìn thấy nữ sinh cảm thấy rất xinh đẹp, thế là ghi nhớ trong đầu, thường xuyên nghĩ đến cô ấy, hơn nữa còn biến thành một hình tượng khác. Nữ sinh nhìn thấy một nam sinh rất đẹp trai phong độ, nam sinh “cao phú soái” [cao to, giàu có, đẹp trai], nữ sinh liền ghi nhớ trong đầu, sau đó sản sinh ra những huyễn tưởng khác. Kiểu suy nghĩ này cũng không đúng, có rất nhiều suy nghĩ đều không đúng đắn.

Bạn có quan sát suy nghĩ của chính mình không? Trong kinh Kim Cang nói bạn phải quan sát suy nghĩ của bạn, phải dừng lại mọi suy nghĩ tiêu cực, phải gia tăng suy nghĩ tích cực, như vậy mới có thể làm sạch nghiệp chướng, trọng điểm nằm ở đây, bạn phải thanh tịnh nghiệp chướng của bạn. Làm thế nào mới có thể thanh tịnh nghiệp chướng của bạn? Bạn quan sát suy nghĩ của chính mình, bởi vì suy nghĩ xong thì sẽ sinh ra hành vi, ngoài thanh tịnh hành vi của mình, bạn còn phải thanh tịnh suy nghĩ của mình. Bạn lấy việc quan sát suy nghĩ của chính mình và quan sát hành vi của chính mình xem có đúng hay không để thanh tịnh nghiệp chướng của chính bản thân bạn, trọng điểm nằm ở đây. 

Nếu bạn chỉ có đọc, và bạn vẫn còn không hiểu yếu nghĩa mà Sư Tôn nói về nghĩa lí quan trọng của kinh Kim Cang nằm ở đâu, thì sao có thể thanh tịnh nghiệp chướng chứ? Là phải nhờ bạn dùng diệu quan sát trí để quan sát suy nghĩ và hành vi của bạn, để thanh trừ hết những thứ tiêu cực, kéo dài và tăng trưởng những thứ tích cực, như vậy bạn sẽ có thể làm sạch nghiệp chướng. Nếu không làm như vậy, bạn chỉ mỗi đọc kinh thôi, không có thọ trì thì làm sao thanh tịnh nghiệp chướng được?

Tôi vừa giảng với mọi người rồi, đây là điều mà người khác không giảng được, người khác khi giải thích chương này, họ không thể giảng được điều này đâu! Tôi nói như vậy có đúng không? Bởi vì có nhân quả mà! Chúng ta nói rằng có nhân quả, đã làm ra nhân ác thì chắc chắn sẽ chịu quả ác. Nhưng lại có người nói kinh Kim Cang nếu đã nói về cái Không thì thiện kia cũng có thể không cần làm, vậy chúng ta cũng có thể làm ác thôi! Bởi vì tất cả đều là không, thiện cũng là không, ác cũng là không, vậy thì tôi làm ác, giết cướp dâm cái gì cũng làm, đó chính là tạo ra vô nhân quả.

Nhân quả là phàm phu thế tục, tôi bây giờ là Thánh nhân hiểu kinh Kim Cang, tất cả đều là không, vậy thì tôi giết, trộm, dâm cũng đều là không mà! Cái này chính là cuồng loạn, tư tưởng điên loạn, hiểu sai hết rồi. Thật ra nhân quả không mơ hồ, nhân quả không che giấu, không che giấu nhân quả, chứ không phải là tạo ra vô nhân quả, chứ không thì vì sao vẫn còn phải thanh trừ nghiệp chướng? Nếu bạn đã là không thì nghiệp chướng cũng là không. Cái gì cũng là không, thế thì làm loạn, mọi người cùng làm loạn, trở thành như thế này, cái này chính là tư tưởng điên loạn, cho nên vẫn là nhân quả không mờ mịt [nhân quả báo ứng là cực kì rõ ràng hiển nhiên].

Phật Thích Ca Mâu Ni nói: *“Nên biết nghĩa kinh này bất khả tư nghì, quả báo cũng bất khả tư nghì.”* Vẫn là có nhân quả báo ứng, không thể nói là vì kinh Kim Cang là Vua Kinh, “vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng”, cho nên căn bản chính là không có nhân quả báo ứng. Nếu bạn nói như vậy, vậy thì giải thích thế nào về quả báo cũng bất khả tư nghì đây? Phật Thích Ca Mâu Ni vẫn nói rằng có nhân quả báo ứng. Thế còn “nghĩa kinh ngày bất khả tư nghì”, nghĩa lí này có thể làm sạch nghiệp chướng, vì sao có thể thanh tịnh nghiệp chướng? Bởi vì thọ trì đọc tụng là có thể tịnh nghiệp chướng, trọng điểm nằm ở việc thọ trì.

Bạn quan sát hành vi của mình, quan sát suy nghĩ của mình, có gì không tốt thì bỏ, tiêu cực phải bỏ, để lại những điều tích cực, như thế mới là đúng, mới có thể tịnh nghiệp chướng, nếu như không nói thì các bạn không biết. Bảo bạn quan sát hành vi của mình, quan sát suy nghĩ của mình, bạn không làm, bạn lại đi quan sát hành vi của người khác, quan sát lời mà người khác nói. Kì thực tu hành là tu chính mình, tự giác trước rồi mới giác tha [tự mình giác ngộ trước rồi mới giúp người khác giác ngộ], sau đó mới nói cho người khác biết dùng phương pháp gì để có thể làm sạch nghiệp chướng. 

Hôm nay tôi đang giảng phương pháp với mọi người đây. Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 05/02/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Hoàng Tài Thần Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 56.)*


### 57. Phần thứ 17: Vô ngã tột cùng (1)


*(Bài giảng 57) *Vô ngã tột cùng

Chúng ta nói về tên gọi của chương này - Phần thứ 17: Vô ngã tột cùng. Thế nào gọi là “vô ngã tột cùng”? Ai có thể nói xin mời giơ tay. (Sư Tôn lấy mặt dây chuyền hồ lô ra cho mọi người xem.) Chà! Cái này hay lắm, để treo trong xe ô tô, mặt hồ lô này rất đẹp, hồ lô có thể nạp tài, vàng bạc tài bảo đều ở bên trong hồ lô. Ai nói đúng thì sẽ tặng cho người đó. Thật ra ai nói hợp với ý của Sư Tôn thì coi là đúng. Giải thích bốn chữ “vô ngã tột cùng” này như thế nào?

Tốt, Liên Hữu. (Thượng sư Liên Hữu: vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng.) Ý cô nói là vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, thế còn “tột cùng” thì sao? (Thượng sư Liên Hữu: Bởi vì không có bốn tướng là thực tướng, cho nên gọi là tột cùng.) Đương nhiên điều mà cô nói đều đúng rồi. Còn gì nữa không? (Có người nói: hình như có “ngã”, kì thực không có “ngã”, bởi vì “ngã” là huyễn hóa. Tột cùng là nói về vô sinh, cho nên là vô ngã.) Như bạn nói cũng là đúng rồi. Còn nữa không? (Có người nói: Tột cùng có Phật tính, là vô tướng, là vô ngã tướng.) Tột cùng chính là vô ngã tướng. Còn gì nữa? Liên Tự. (Pháp sư Liên Tự: tột cùng vốn dĩ chính là Phật tính thanh tịnh, nó không còn ở trong sự khác biệt bạn, tôi, người khác.) Tốt, mọi người nói đều đúng rồi!

Muốn đạt đến thành tựu tột cùng thì nhất định phải vô ngã, đây chính là vô ngã tột cùng. Tiêu đề này chính là: “Muốn đạt đến thành tựu tột cùng thì phải vô ngã”, chính là như vậy! Thật ra mọi người trả lời đều đúng rồi, mỗi người trả lời đều đúng, chỉ là phải hợp với câu nói của Sư Tôn: “Muốn đạt đến thành tựu tột cùng thì phải vô ngã, chính là vô ngã tột cùng.” Là như vậy mà thôi, nó chính là tiêu đề của ngày hôm nay.

Chúng ta biết rằng thành tựu tột cùng chính là cảnh giới cao nhất, Tứ thánh giới đều có thể nói là thành tựu tột cùng, Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn đều là thành tựu tột cùng, các vị đã đều không ở trong lục đạo luân hồi, không phải chịu luân hồi nữa, đó đã là thành tựu tột cùng rồi. Không chịu luân hồi, không phải ở trong sáu đạo Thiên giới, Người, Atula, Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh mà luân hồi tới lui nữa, lúc thì đạo Trời, lúc thì lại phải xuống nhân gian (đạo Người), lúc thì lại đọa lạc đến tam ác đạo, có lúc lại đến đạo Atula, cứ luân chuyển không ngừng trong lục đạo như vậy.

Các vị đã rời xa lục đạo luân hồi rồi, đây là vĩnh sinh, tồn tại vĩnh viễn, đã không ở trong lục đạo mà luân hồi nữa, không còn đến nhân gian nữa. Khổ nhân gian rất khổ, khi Phật Thích Ca Mâu Ni làm vương tử, vì ngài không biết nhân gian có bệnh khổ, một lần ngài đi du lịch ra ngoài bốn cổng thành, nhìn thấy sinh lão bệnh tử thì mới thấy sợ. Thì ra con người có bệnh, con người sẽ chết, và sẽ già, những điều này đều là những việc rất đau khổ, từ khi sinh ra cho đến khi chết đều rất khổ. Ngài bèn quyết ý phải đi tu hành, đi ngộ đạo, sau đó không còn phải đến nhân gian luân hồi nữa. Vì Phật Thích Ca Mâu Ni đi du lịch ra ngoài bốn cổng thành, sau khi nhìn thấy sinh lão bệnh tử mới quyết định cần phải tu hành.

Tột cùng, trong kinh Kim Cang Phật Thích Ca Mâu Ni nói, bạn muốn đạt đến thành tựu tột cùng thì nhất định phải vô ngã, đó chính là tiêu đề của ngày hôm nay - Phần thứ 17: Vô ngã tột cùng. Chúng ta nói một chút về vô ngã, trên thế giới này thật sự có ai có thể vô ngã? Rất khó đó! Bởi vì bản thân con người có thứ gì tồn tại? Có tập tính, mỗi người sinh ra đều có tập tính. Có người nóng nảy không tốt, có người thì tư tưởng đi chệch hướng, có người bị thùng thuốc nhuộm lớn là xã hội làm ô nhiễm, trở thành một phần tử của tập đoàn lừa đảo, có người trở thành lưu manh, có người làm kẻ cướp, có người làm kẻ trộm. Vậy còn tập tính thì sao? Có rất nhiều người phạm vào tội tà dâm, suy nghĩ đại bộ phận đều bất chính.

Thế nào là vô ngã? Thật sự, giảng về vô ngã là rất khó. Điều chúng ta cảm nhận thấy là con người muốn học vô ngã là rất khó. Tôi từng nói về vị nữ tu Thánh Teresa, bà ấy có hiện tượng của sự vô ngã: phàm việc gì cũng không vì mình. Chẳng phải tôi đã nói rồi sao, bà ấy coi mỗi con người đều là Thượng Đế để phục vụ, ai có thể làm được điều này? Tôi thấy mỗi người đều không làm được. Thánh Teresa là một Thánh nhân, là một nữ tu Thiên Chúa giáo, sau đó bà ấy được phong Thánh, thêm vào một chữ “Thánh”, Thánh Teresa, một nữ tu ở Ấn Độ, bà ấy có một tổ chức từ thiện, lời vàng của bà ấy là: “Tôi coi mỗi con người đều là Thượng Đế để phục vụ.” 

Xin hỏi mọi người, các bạn có làm được không? Bạn coi mỗi một người đều là Thượng Đế, khó mà có thể được. Bởi vì bản thân con người chúng ta có yêu, ghét, yêu người mà ta thích, ghét người mà ta không thích. Ở nơi bạn làm việc luôn có người bạn thích và người mà bạn không thích. Sếp của bạn cũng như vậy, họ thích một nhân viên nào đó, họ không thích bạn. Nhưng Thánh Teresa là vô ngã, bà ấy coi mỗi con người là Thượng Đế, điều này rất nhiều người không làm được. 

Nhưng nếu bạn muốn xưng Thánh thì nhất định phải coi mỗi con người là Phật. Chúng ta phải học tinh thần của bà ấy, coi mỗi con người đều là Phật, bạn có thể làm được không? Bạn có cung kính với Phật không? Có đi hành lễ đại lễ bái không? Tượng trưng cho thân, bạn làm đại lễ bái trước hình tướng Phật, bạn có làm đại lễ bái trước mỗi con người không? Bạn có cung kính đối với họ không? Cái này chính là vô ngã. Tôi lấy ví dụ này để nói. Ngoài ra, Thánh Teresa còn nói một câu: “Nếu có Thiên đường, tôi không đi, tôi sẵn sàng ở lại nơi tăm tối để phục vụ chúng sinh.” Đây cũng là tinh thần vô ngã! Bà ấy vĩnh viễn phục vụ chúng sinh ở nơi tối tăm. 

Bạn có biết khi bà ấy phục vụ người bệnh, chúng ta từng nghe rồi, bệnh nhân da dẻ chảy mủ, mắc bệnh phong, khắp người da dẻ lở loét, tiếng Đài Loan gọi là bệnh hủi, bệnh phong còn gọi là bệnh hủi, bệnh này rất bẩn, da dẻ đỏ tấy chảy mủ. Tôi nghe nói Thánh Teresa phục vụ họ như thế nào, bạn đã từng nghe chưa? Đúng vậy, bà ấy dùng lưỡi để hút mủ đó ra, ở đây là bà ấy có tinh thần vô ngã. Ngoài ra còn một điểm nữa, bà ấy có tư cách đến Thiên đường để hưởng phúc nhưng lại không đi, bà ấy muốn ở lại nơi tối tăm để phục vụ những người bệnh ấy, những chúng sinh tội nghiệp ấy, vĩnh viễn muốn làm như vậy, cái này chính là tinh thần vô ngã. Thế nào là vô ngã? Tôi lấy chuyện này làm ví dụ.

Tôi lại hỏi các bạn một câu: “Các bạn có thể yêu kẻ thù của mình không?” Ai làm được? Người này thường xuyên soi mói bạn, thường xuyên hận bạn, nhưng bạn phải yêu họ, bạn có khởi lên được tình yêu không? Làm gì có chuyện đó! Họ thường xuyên sỉ nhục tôi, bắt nạt tôi, chửi tôi, đã khiến tôi thấy rất chán ghét rồi, tôi còn phải yêu họ ư? Quên đi! Tôi không cắn họ một miếng đã là tốt lắm rồi. Hàm răng của tôi đã rất muốn cắn ngập thịt hắn một cái, ghét đến mức răng ngứa ngáy lắm rồi, mà lại còn muốn tôi “yêu kẻ thù của bạn” ư? Ai nói câu đó vậy? Là Jesus nói đó. Đừng bảo chỉ có Phật giáo chúng ta, Jesus Christ người ta cũng nói “phải yêu kẻ thù của bạn” đó, đây là vô ngã đó!

Kì thực trong lòng tôi cũng có người mà tôi rất ghét, nói thẳng thắn, tôi cảm thấy bóng dáng hắn thấp thoáng, cái tư thế đi lại của hắn nhìn đã thấy ghét rồi, nhưng tôi có uốn nắn suy nghĩ của mình, tôi không thể cảm thấy họ đáng ghét, hoặc là cảm thấy họ không tốt, hoặc là cảm thấy họ hung ác, không thể nghĩ đến mặt không tốt của họ, họ cũng có mặt tốt, tôi có đang tu sửa cho đúng suy nghĩ của chính mình. Đối với người đó tôi cảm thấy như vậy là không tốt, như vậy là không đúng, tôi phải thông cảm với họ, phải cung kính họ, tôi phải cải chính suy nghĩ của mình, cái này chính là tu hành!

Khi bạn có suy nghĩ: nhìn thấy người này là tôi thấy khó chịu rồi. Nhưng không thể có suy nghĩ này, suy nghĩ này là sai rồi. Bởi vì Guru của tôi nói với tôi: “Bạn phải yêu kẻ thù của bạn.” Thánh Teresa đã giáo dục tôi: “Bạn phải coi mỗi con người là Thượng Đế.” Hai điểm này, tôi thường xuyên đang tu cho đúng suy nghĩ của chính mình, phải coi mỗi con người là Thượng Đế, coi mỗi con người là Phật. Mặc dù họ không có duyên hợp với bạn, nhưng họ làm những động tác đáng ghét, bạn đều phải thông cảm cho họ, hơn nữa còn phải đối với họ tốt hơn. Trong quá trình tu hành, bạn có cảm giác người nào đó mà bạn nhìn đã thấy không thích không? Có! 

Kì thực tôi thường xuyên nghĩ thế này. Ví dụ Quỷ Bà, tôi đã viết năm cuốn sách, thỉnh thoảng trong một vài cuốn sách khác cũng có nhắc đến bà ấy, không chỉ là năm cuốn này. Bây giờ tôi cảm thấy tôi làm như vậy là không được. Bà ấy có nhân duyên của bà ấy, bà ấy đưa người ta và quỷ đến gần nhau, thậm chí có người vì thế mà mắc bệnh tâm thần, có người tự sát, có người đi đến đạo tràng của bà ấy trở về thì sắc mặt trắng bệch, tôi đã gặp rất nhiều rồi, khi ấy tôi dựa trên lòng căm phẫn mà viết sách. Nhưng bây giờ nghĩ lại, đây cũng là nhân duyên của bà ấy, đó là tự bạn đi theo Quỷ Bà, đây cũng là nhân duyên của bà ấy. Bạn đừng thấy bà ấy như vậy, nói không chừng bà ấy sau này có thể cải chính những người đó, hoặc là những người này vốn dĩ có duyên phận thân cận với quỷ, bạn không thể miễn cưỡng. Cho nên tôi viết năm cuốn sách về bà ấy, tôi cảm thấy đã lãng phí rất nhiều thời gian của tôi, hơn nữa, tôi cũng đã phê phán bà ấy đến mức tơi bời hoa lá rồi.

Không nên đi ghét bỏ người này, mặc dù bà ấy thân cận với quỷ, dùng quỷ, nhưng có liên quan gì đến anh? Ở trong Chân Phật Tông, bà ấy đã thả ra bao nhiêu là quỷ, nhưng tôi cảm thấy nếu người nào đạo tâm kiên cố rồi thì sẽ không đi theo bà ấy. Cái gì nên thuộc về anh thì sẽ thuộc về anh, cái gì nên thuộc về bà ta thì sẽ thuộc về bà ta, hà tất anh phải nhiều chuyện? Bây giờ tôi có đôi chút ngẫm nghĩ lại, bà ấy cũng có nhân duyên của bà ấy, bà ấy cũng có quyền lợi sinh tồn của bà ấy. Bên chỗ bà ấy mặc dù là ác quỷ, vậy thì anh hãy giúp đỡ những con quỷ ấy, anh hãy coi chúng là đối tượng để anh siêu độ. 

Tôi nghĩ như vây, có liên quan gì đến anh? Chân Phật Tông sau này cũng chưa chắc đã phải là của anh, có liên quan gì đến Chân Phật Tông của anh chứ? Anh hãy tự làm cho việc tu hành của chính mình thăng hoa, anh vẫn cần phải cung kính với Quỷ Bà mới đúng. Bởi vì anh hãy nhìn Thánh Teresa coi mỗi con người đều là Thượng đế, tôi cũng nên coi Quỷ Bà là Phật, là Thượng đế, bây giờ nghĩ lại thì tôi nghĩ như vậy đó.

Người đi theo bà ấy, anh lại càng phải thông cảm với họ, khuyên họ trở về, khuyên mà họ không trở về thì cũng bỏ qua đi, có liên quan gì đến anh chứ? Anh cũng cần phải coi mỗi người đi đến chỗ bà ấy là Thượng Đế, đó mới gọi là vô ngã. Tôi nói như vậy, mọi người có hiểu không? Chẳng có liên quan gì đến anh! Bà ấy chiêu binh mãi mã lại từ đầu, xây dựng vương quốc của mình từ đầu, (vương quốc của quỷ), đó là việc của bà ấy, chẳng có liên quan gì đến anh. Vẫn nên cung kính bà ấy, coi bà ấy là Phật, như vậy thì bạn có thể thành tựu, thật sự có được thành tựu tột cùng. Bạn muốn đạt được thành tựu tột cùng thì nhất định phải như vậy. Nếu trong lòng bạn còn oán ghét người nào đó thì bạn tuyệt đối không có được thành tựu. Nếu trong lòng bạn còn có một chút hận thì bạn sẽ không có được thành tựu. Tôi nói với bạn, bạn còn chưa làm cho mình thành Không. Tôi nói với mọi người, tôi nghĩ như vậy, và tôi cũng làm theo phương thức như vậy. 

Tính khí của Sư Tôn trước kia rất không tốt, tôi từng nói, tính nóng nảy của ông nội tôi không tốt, tính nóng nảy của bố tôi cũng không tốt, thế tôi rốt cục là ai sinh ra, chính tôi cũng không rõ nữa, bởi vì bố tôi từ khi tôi sinh ra cho đến khi ông ấy chết, ông ấy đều không thừa nhận tôi là con trai ông ấy. Nhưng nguyên nhân mà tôi vẫn cung kính ông ấy chính là vì không có bố tôi thì tôi cũng không thể trưởng thành. Mặc dù lúc tôi còn nhỏ, đầu tiên là bà ngoại tôi nuôi, tiếp theo là dì tôi nuôi. Bà ngoại tôi qua đời thì giao tôi cho dì tôi nuôi. Dì tôi kết hôn thì cũng không thể đem tôi theo mà đi lấy chồng, thế là gửi tôi trở về nhà. Mặc dù bố tôi đối với tôi không tốt, nhưng vẫn là nhờ có ông ấy tôi mới trưởng thành, điểm này tôi phải cảm ơn, phải cung kính ông ấy, không thể vì ông ấy đối với tôi không tốt mà ông ấy không còn là bố anh nữa, không phải. Ông ấy vẫn là bố tôi, tôi vẫn phải kính trọng ông ấy, tôi vẫn phải siêu độ cho ông ấy, việc này là như vậy.

Vì thế, hãy học tập tinh thần của Phật, học tập tinh thần của Jesus, học tập tinh thần của Thánh Teresa, trong lòng ghi nhớ một câu: “Nếu bạn còn trút cơn nóng giận lên người người khác, trong lòng bạn vẫn còn cơn tức giận ấy, cái đó phải mau loại bỏ.” Đừng tức giận, bởi vì đó là tập tính, không tốt! Đó là thói quen xấu của chính bạn. Tôi đã từng rất nóng nảy và rất dễ mất bình tĩnh, bây giờ phải học tập những Thánh nhân này, học tập vô ngã. Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 06/02/2022 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Hổ Đầu Kim Cang tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 57.)*


### 58. Phần thứ 17: Vô ngã tột cùng (2)


*(Bài giảng 58) *Vô trụ vô tâm

Hôm nay tôi cùng mọi người giảng kinh Kim Cang. Lần trước chúng ta nói về Phần thứ 17: Vô ngã tột cùng. 

*Khi ấy, Tu Bồ Đề bạch Phật rằng:
"Thưa Thế Tôn! Thiện nam, thiện nữ phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề nên trụ tâm thế nào? Làm sao hàng phục tâm ấy?"
Phật bảo Tu Bồ Đề:
"Thiện nam, thiện nữ phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề nên sinh tâm thế này: Ta nên diệt độ tất cả chúng sinh, diệt độ hết thảy chúng sinh rồi nhưng không có một chúng sinh nào thật sự diệt độ. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, tức chẳng phải Bồ Tát. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Vì thật không có pháp phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề."*

Chúng ta nói về khi ấy, vào thời đó. Khi ấy, bình thường chúng ta nói là vào thời đó, đúng vậy không? Vào thời đó rốt cục đã phát sinh chuyện gì? Các vị đang ngồi đây, có ai vào thời đó đã ở trong pháp hội Bát Nhã đó không? Hãy mở kí ức tiền kiếp của bạn ra, người nào trong các bạn đã tham gia pháp hội Bát Nhã của Phật Thích Ca Mâu Ni? Pháp hội Bát Nhã giảng kinh Kim Cang các bạn có mặt tại đó không? Rốt cục là có ở đó hay không? Có.

Vậy thì tôi hỏi bạn, khi ấy, vào thời đó đã phát sinh chuyện gì? Khi ấy, vào thời đó, khi nói về chương này - Phần thứ 17: Vô ngã tột cùng, đã xảy ra một sự việc, các bạn ai nói ra được (Pháp Vương lấy ra miếng hồ lô bằng ngọc), tôi hà một hơi khí, miếng hồ lô bằng ngọc này sẽ tặng cho người đó. Ai có mặt ở đó sẽ biết vào thời đó đã xảy ra chuyện gì. Ai không có mặt ở đó sẽ không thể biết được khi ấy đã phát sinh chuyện gì.

Mọi người đều rất yên lặng nhỉ, không có ai muốn vật này sao? Một vật tốt như thế này, đã kêu mấy lần rồi mà không có ai lấy đi, hồ lô này là một món đồ rất tốt đó! Hai chữ “khi ấy” ở đây không có người nào nhắc đến, bạn xem, có người nào có thể nói ra. Ai nói ra được thì cho thấy người đó có mặt tại Linh Sơn Hội Thượng. Khi nói về Bát Nhã, giảng Đại Bát Nhã (Ma Ha Bát Nhã), khi nói kinh Đại Bát Nhã, giảng kinh Kim Cang đến Phần thứ 17: Vô ngã tột cùng, vào lúc nói “khi ấy”, rốt cục đã phát sinh chuyện gì? Không có ai nói cả.

Tôi nói với mọi người, vào lúc pháp hội bắt đầu, khi bắt đầu chuẩn bị giảng phần “Vô ngã tột cùng”, có Long Nữ dâng tặng bảo châu của mình. Long Nữ dâng tặng bảo châu nghĩa là cúng dường châu báu của mình tới Phật Thích Ca Mâu Ni, dâng tặng bảo châu sáng chói của mình cho Phật Thích Ca Mâu Ni. Bạn có thể nói được thì miếng hồ lô này là của bạn, bạn nói được tức là bạn đã có mặt tại Linh Sơn Hội Thượng, bạn có tham gia pháp hội Linh Sơn. Chính là vào lúc giảng phần “Vô ngã tột cùng”, Long Nữ đã dâng tặng viên ngọc sáng cho Phật Thích Ca Mâu Ni. 

Ở đây có dụng ý quan trọng, khi ấy Phật Thích Ca Mâu Ni nói với Long Nữ rằng: “Ta thọ kí cho Long Nữ thành Phật, Long Nữ sau này sẽ thành Phật.” Phật Đà nói câu này “Long Nữ sẽ thành Phật”, Long Nữ sẽ trực tiếp biến thành Phật, nghĩa là vào thời khắc đó, Long Nữ thành Phật rồi. Mọi người đều biết chuyện Long Nữ thành Phật. Chính vào lúc đó, Long Nữ đã dâng tặng bảo châu. Bạn nghe người ta giảng kinh Kim Cang tuyệt đối không nói đến điều này. 

*“Nên trụ tâm thế nào? Làm sao hàng phục tâm ấy?”* Câu nói này tôi hỏi các bạn, cái này là đơn giản nhất rồi. Nên trụ tâm thế nào? Làm sao hàng phục tâm ấy? Đó là Tu Bồ Đề hỏi Phật: *"Thưa Thế Tôn! Thiện nam, thiện nữ phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề nên trụ tâm thế nào? Làm sao hàng phục tâm ấy?” *Nghĩa là nên trụ tâm thế nào, hàng phục tâm như thế nào? Tôi hỏi các bạn, ai trả lời được thì tôi vẫn tặng hồ lô này. Trụ thế nào? Chính là Vô trụ, đừng thêm vào chữ “Sở”. Làm sao hàng phục tâm? Vô tâm. Không sai, chính là vô trụ vô tâm. Nhưng bây giờ nên tặng cho ai đây? Người nào nói trước nhỉ? Vô trụ vô tâm là đúng rồi. Được rồi, vậy tặng cho Liên Ha đi! 

Phật Thích Ca Mâu Ni khi giải thích đoạn này, *“Nên trụ tâm thế nào? Làm sao hàng phục tâm ấy?”, *không sai, đó là vô trụ và vô tâm. Bây giờ lại có vấn đề rồi, vì sao là vô trụ? Vì sao là vô tâm? Phát bồ đề tâm, phát bồ đề tâm cần phải là vô trụ và vô tâm. Đoạn này là hết sức thâm sâu ảo diệu, nói thật là vô cùng thâm sâu, bí mật, vô cùng sâu sắc. Tôi đã nói rồi, “vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng”, vì đã không còn cái “ngã” rồi thì bạn còn trụ vào đâu? Vì đã không còn cái “ngã” rồi thì bạn còn có tâm gì? Còn phải hàng phục tâm gì? Vì đã không còn cái “ngã” thì không còn tâm, thì không cần phải hàng phục tâm nữa. 

Tôi thường xuyên lấy một so sánh để mọi người hiểu, chính là ở trên mặt trăng. Xin hỏi: trên mặt trăng có A nậu đa la tam miệu tam bồ đề không? Không có. Mặt trăng có vì muốn làm cái gì nên mới làm cái đó không? Không có. Trên mặt trăng, bạn còn cần hàng phục tâm gì không? Không có. Ở đó là thanh tịnh một cách cực kì thanh tịnh. Vừa nãy khi tôi làm hồi hướng chung có nói: “Thanh tịnh, tất cả thanh tịnh, toàn bộ mọi thứ đều thanh tịnh.” Đó là cảnh giới gì? Đó là cảnh giới của tính Không.

Cái gì thanh tịnh nhất? Không là thanh tịnh nhất! Không làm gì cả, không có hành vi gì cả. Thế là bạn vô trụ rồi. Thế nào là vô tâm? Vô ngã đương nhiên là vô tâm, trên mặt trăng còn có tâm gì chứ, đó là nơi thanh tịnh vĩnh viễn đó! Chính vì có con người nên mới không thanh tịnh, có chúng sinh mới không thanh tịnh, không có chúng sinh tướng thì làm sao có thể không thanh tịnh? Bởi vì có cái tôi nên tâm ích kỉ mới sinh ra, nếu bạn vô ngã rồi thì bạn còn có cái tâm ích kỉ gì nữa. Cho nên Phật Thích Ca Mâu Ni rất nhấn mạnh điểm này.

Thành tựu Bồ Tát chính là vì bạn không còn tâm ích kỉ thì mới là Bồ Tát. Bạn có tâm ích kỉ thì nước này mới đánh nhau với nước kia, có tâm ích kỉ thì gia đình mới xảy ra tranh chấp ồn ào. Có tâm ích kỉ thì người với người mới không hòa hợp, *person to person,* một người đối với một người, bạn có hai người thì tức là có tâm ích kỉ. Bạn nhìn tôi không vừa mắt, tôi nhìn bạn cũng không vừa mắt, lớn thì là quốc gia mà nhỏ thì là mỗi cá nhân, bởi vì còn có tư lợi thì còn có trụ, tức là có tâm, nếu bạn vô trụ vô tâm, thì là không, thanh tịnh tuyệt đối.

Vì thế Phật Thích Ca Mâu Ni nói: “Phật giáo là tôn giáo vô tranh.” Là vô tranh đó! Vô tranh tức là căn bản sẽ không khởi lên tranh chấp. Vì sao ngày nay giữa các nhóm tôn giáo của Phật giáo có tranh chấp? Bỏi vì là con người mà, họ vẫn còn có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng. Phật Thích Ca Mâu Ni trong phần “vô ngã tột cùng” đã nói rất rõ ràng rồi, chỉ có cái Không mới là thanh tịnh, cho nên chúng ta phải tu hành đến mức giống như Bồ Tát chân chính là không có tâm ích kỉ, ít nhất cũng phải đến gần một chút.

Cho nên tôi thường nói, phải quan sát suy nghĩ của chính bạn, thường xuyên quan sát ý niệm của mình, sửa cho đúng những suy nghĩ không tốt của bản thân. Thật ra có đôi khi tôi nhìn thấy một người này. Ui dào! Người này tôi không thích lắm, người này là phụ nữ, tôi nhìn không thích lắm, cảm thấy cô ta đi lại cứ kì kì, khi cô ta nói chuyện thì cũng rất giả tạo, ánh mắt cũng không đứng đắn, ngay cả cái mũi cũng vẹo, nhìn cô ta đi đứng không ra làm sao. Nhưng mà tôi biết suy nghĩ này của tôi là không đúng, như thế là bạn đã sản sinh ra cảm giác ghét người này rồi, một sự chán ghét không ưa, một cảm giác không thoải mái. 

Về mặt suy nghĩ thì bạn phải nghĩ đến điểm tốt của cô ta, chí ít cô ta còn có thể hô lên với bạn một tiếng là: “Chào Sư Tôn!” Đúng thế không? Bạn phải nghĩ như vậy. Bạn phải nghĩ ngược lại về cô ta. Cô ta đối với bạn căn bản là vô hại, vì sao bạn phải nhìn cô ta không vừa mắt chứ? Cho nên đôi khi chúng ta đối với một người cần phải nghĩ: ưu điểm của cô ta ở đâu? Ưu điểm của cô ta chứ đừng nghĩ đến khuyết điểm, phải như vậy mà từ từ sửa đổi cách suy nghĩ của mình.

Điều chỉnh tiêu cực trở thành tích cực tức là bạn đang tu hành, chính là đang quan sát suy nghĩ của mình. Hãy nhớ rằng bạn phải quan sát suy nghĩ của mình, nghĩ về ưu điểm của người ta, đừng nhìn vào khuyết điểm của người ta, sau đó trở nên tích cực. Tuyệt đối đừng có kẻ thù, đừng có kẻ địch, đừng có oán hận. Bạn có oán hận rồi, tôi nói để bạn biết, chính bạn đau khổ trước, người đau khổ không phải là họ, họ căn bản không biết bạn đang hận họ đâu, vấn đề nằm ở đây đó.

Bạn ghét người này, mặc dù bạn không biểu hiện ra ngoài, nhưng bạn đã đang hành hạ chính mình rồi, trong lòng bạn sẽ sinh ra cảm giác không thoải mái. Cho nên bạn phải nghĩ tốt về họ, thay đổi suy nghĩ này, họ sẽ trở thành tốt, điều này sẽ trở thành năng lượng tích cực. Nếu bạn có thể biến mọi chúng sinh và những người bạn tiếp xúc thành năng lượng tích cực thì bạn sẽ sinh ra một cảm giác của năng lượng tích cực. Đây chính là sửa cho đúng suy nghĩ của mình. Quan sát suy nghĩ của mình, tu sửa cho đúng suy nghĩ của mình chính là tu hành.

Chúng ta không có cách nào giống như kinh Kim Cang mà Phật giảng, bạn vẫn có tâm niệm tồn tại, bạn có suy nghĩ, chỉ là bạn không quan sát suy nghĩ của bản thân, bạn luôn đi theo hướng năng lượng tiêu tực, nếu cứ tiếp tục đi, trong lòng bạn sẽ rối bời, khó chịu, hành hạ chính mình ngủ không ngon, ăn cũng không ngon, bạn không thể chính danh ngôn thuận mỗi ngày đều sảng khoái. Sư Tôn mỗi ngày đều rất vui vẻ, tôi vẫn luôn tu sửa cho đúng suy nghĩ của mình, đối với mỗi một người đều tốt, đối với mỗi một người đều cảm thấy người ta đều tốt, tôi thích người ta. 

Chẳng phải tôi thường nói 520 sao (âm đọc gần giống với tôi yêu bạn), đúng không? Hơn nữa tôi sẽ không cảm thấy thế nào cả. Bây giờ, tôi cảm thấy Quỷ Bà kia cũng có điểm tốt, bà ấy không phải là không có điểm tốt, tôi đã thay đổi cách suy nghĩ về Quỷ Bà, tôi nghĩ về điểm tốt của bà ấy. Trước kia vào mỗi dịp năm mới, tôi đều nói “đồ rê mi” với bà ấy, ý tức là tôi chế giễu bà ấy, chế giễu bà ấy cái gì? Bà ấy luôn nói rằng tôi 73 tuổi sẽ chết, đã nói hơn 10 năm nay rồi, nói rằng 73 tuổi thì tôi sẽ “tinh tinh” đó!

Đến bây giờ tôi vẫn không “tinh tinh”, tôi vẫn còn sống, theo tuổi Đài Loan thì đã 78 tuổi rồi, theo tuổi ở Mĩ thì là 77 tuổi rồi, bà cứ nói là 73 tuổi tôi sẽ chết, nên mỗi năm tôi đều làm “đồ rê mi” chế giễu bà ấy. Bây giờ thì không được! Rốt cục bà ấy khiến tôi vào năm 73 tuổi, ngày nào tôi cũng đều rất cẩn thận, đây cũng là điều tốt đó! Tôi nghe bà ấy nói 73 tuổi tôi sẽ chết, nên năm 73 tuổi tôi đặc biệt thận trọng, đến đi cầu thang tôi cũng đều rất cẩn thận. Khi đi tắm tôi cũng rất cẩn thận, không để bàn chân dính xà phòng sẽ bị trượt ngã, ngã trong nhà tắm thì tôi sẽ “tinh tinh” đó. Cho nên tôi đã đặc biệt cẩn thận, ngay cả mặc đồ lót tôi cũng phải dựa vào tường, nhất cử nhất động đều rất cẩn thận.

Bạn thấy đây là điểm tốt của Quỷ Bà đúng không? Cho nên tôi đã sống được, tôi còn phải cảm ơn bà ấy. Thật đó, bà ấy cũng có rất nhiều điểm tốt, cho nên đổi lại tôi không nghĩ nữa, tôi không coi bà ấy là kẻ địch nữa, cũng không ghét bà ấy, hoàn toàn bỏ hết, trống không rồi! Tất cả đều viên mãn rồi, không cần oán hận. Bạn có hận thì hãy hận chính mình. *“I will kill you! I hate you, you are dirty! You are garbage!*” (Tao sẽ giết mày! Tao ghét mày, mày là đồ bẩn thỉu! Mày là rác rưởi!) Sao phải thế? Người đau khổ trước là bạn, là chính mình đó! Bạn hãy quan sát ngược lại mình, khi bạn ghét một người, trong lòng đau khổ biết bao! Vì thế bạn phải mở lòng ra, vô tâm, mọi người đều tốt thì sẽ vui vẻ, hạnh phúc, tự tại. Om mani padme hum.

*(Ngày 13/02/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang Xuân mới năm Nhâm Dần tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 58.)*


### 59. Phần thứ 17: Vô ngã tột cùng (3)


*(Bài giảng 59) *Tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề

Chúng ta giảng kinh Kim Cang. 

*"Thiện nam, thiện nữ phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề nên sinh tâm thế này: Ta nên diệt độ tất cả chúng sinh, diệt độ hết thảy chúng sinh rồi nhưng không có một chúng sinh nào thật sự diệt độ. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, tức chẳng phải Bồ Tát. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Vì thật không có pháp phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.”*

*"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng có được pháp phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề không?"
"Không có, thưa Thế Tôn! Như con hiểu nghĩa Phật nói, Phật ở chỗ Phật Nhiên Đăng không có được pháp A nậu đa la tam miệu tam bồ đề."*

*Phật nói:
"Đúng thế, đúng thế. Tu Bồ Đề! Thật không có pháp Như Lai đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Tu Bồ Đề! Nếu có pháp Như Lai đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề thì Phật Nhiên Đăng ắt không thọ kí cho ta rằng: "Vào đời sau sẽ thành Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni." Vì thật không có pháp A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, nên Phật Nhiên Đăng mới thọ kí cho ta.”*

Phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, vì sao tôi phải giảng câu nói này? Bởi vì tôi thường xuyên nghe mẹ tôi khi niệm kinh, tức là niệm bằng tiếng Đài Loan tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, cho nên tôi mới đọc theo. Tôi niệm bằng tiếng Đài Loan vẫn chuẩn hơn. Bởi vì có chữ chúng ta rất ít dùng, cũng không biết phát âm, không phải là chữ nào tôi cũng hiểu đâu. Mặc dù Sư Tôn viết văn đã viết nhiều như vậy, cũng không phải là chữ nào tôi cũng biết, cho nên tôi nghe mẹ tôi niệm tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, tôi liền niệm tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. 

*“Nên sinh tâm thế này: Ta nên diệt độ tất cả chúng sinh, diệt độ hết thảy chúng sinh rồi nhưng không có một chúng sinh nào thật sự diệt độ. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, tức chẳng phải Bồ Tát.” *Trước tiên tôi giảng điều này đã. *“Nên sinh tâm thế này: Ta nên diệt độ tất cả chúng sinh” *là nói rằng, bạn là người phát tâm bồ đề, cần phải phát cái tâm là “tôi muốn cứu độ tất cả chúng sinh”. 

Sau khi độ tất cả chúng sinh, “*nhưng không có một chúng sinh nào thật sự diệt độ”, *lại không có một chúng sinh nào được bạn độ hóa. Điều này rất khó giải thích, bảo chúng tôi phải phát bồ đề tâm đi cứu độ chúng sinh, rồi lại bảo các chúng sinh đều không phải là bạn cứu độ đâu, thật sự không có một chúng sinh nào được cứu độ. Mọi chúng sinh cũng không phải là do bạn cứu độ, cái này rất khó giải thích, nhưng hãy đọc câu sau: “*Là vì sao?” *Là nguyên nhân gì đây?

*“Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, tức chẳng phải Bồ Tát.” *Ý câu này là làm một Bồ Tát, bạn phát tâm phải đi cứu độ chúng sinh, nhưng thực tế không có một chúng sinh nào mà bạn cứu độ được, cũng không có chúng sinh nào được cứu độ. Vì sao? Bởi vì bạn chỉ có thể phát tâm này, sau đó đi làm việc này, còn như chúng sinh có được độ hay không thì không có liên quan đến bạn, không có quan hệ gì tới bạn cả. Bạn cũng đừng cho rằng bạn có bao nhiêu công đức, nếu bạn có nghĩ về công đức tức là có cái tâm “ta”, có ngã tâm tức có ngã tướng.

Rốt cục bạn cứu độ được bao nhiêu chúng sinh tức là có ngã tướng thì mới có thể nói rằng tôi có bao nhiêu công đức. Vậy rốt cục tôi cứu độ được bao nhiêu người đây? Đó chính là có chúng sinh tướng. Bạn cũng đừng có chúng sinh tướng, dù sao bạn đi làm việc đó là đúng rồi. Bạn đã phát cái tâm này, sau đó đi cứu độ chúng sinh, cũng đừng nghĩ về công đức, cũng đừng nghĩ chúng sinh có được độ hay không, cũng đừng nghĩ bạn đã độ được bao nhiêu chúng sinh, đều không được nghĩ, thì như thế là được. Tôi giải thích với mọi người như vậy. 

Mọi người đọc thấy điều này đều không hiểu, vừa phải phát tâm đi độ chúng sinh, vừa không có một chúng sinh nào là do bạn độ, vừa không có một chúng sinh nào được độ, chuyện này là thế nào? Cho nên đoạn sau có giải thích: “*Nếu Bồ Tát có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, tức chẳng phải Bồ Tát.” *Nếu bạn chấp vào ngã tướng, chúng sinh tướng, nhân tướng, thọ giả tướng thì bạn không phải là Bồ Tát. Vì thế Bồ Tát phát tâm độ chúng sinh là như vậy mà thôi, bạn độ bao nhiêu, có được độ hay không thì đều không quản lo, ý của Phật là như vậy, câu này mới nói rõ đó!

Cuối cùng thì Phật nói thế nào là Bồ Tát chân chính, Ngài nói: Người mà vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng thì mới là Bồ Tát thật. Nếu có ngã tướng thì đó không gọi là Bồ Tát. Bạn vì công đức mà đi làm, bạn vẫn còn đếm xem rốt cục tôi đã độ được bao nhiêu người. Vì thế nói đến đệ tử của Chân Phật Tông có bao nhiêu, tôi thường nói năm triệu người, ý của năm triệu là rất nhiều. Có người nói năm triệu là nói từ lâu lắm rồi, bây giờ phải là sáu triệu rồi, có người còn nói là bảy triệu rồi. 

Tôi bảo, không cần phải nói sáu triệu, bảy triệu, chúng ta nói năm triệu tức là rất nhiều rồi. Rốt cục là nhiều tới bao nhiêu? Đừng có nghĩ, đó là vô nhân tướng. Bạn đừng đi nghĩ xem có bao nhiêu người, đừng có nghĩ đệ tử Chân Phật Tông có bao nhiêu người. Đừng có nghĩ bạn có bao nhiêu công đức, bởi vì vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Nếu bạn đi nghĩ về những điều đó thì là có cái ngã rồi. Bạn đã độ bao nhiêu chúng sinh? Như thế là bạn có nhân tướng rồi, chính là như vậy đó! Ý của Phật nói chính là như vậy, tôi giải thích đơn giản với mọi người, bằng không có một số người đọc đến đây sẽ không hiểu vì sao lại có thể như vậy.

*"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng có được pháp phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề không?” *Phật hỏi Tu Bồ Đề, Như Lai ở chỗ của Phật Nhiên Đăng, nghĩa là lúc Phật Thích Ca Mâu Ni gặp Phật Nhiên Đăng, có pháp được truyền cho Phật Thích Ca Mâu Ni hay không? *"Không có, thưa Thế Tôn! Như con hiểu nghĩa Phật nói, Phật ở chỗ Phật Nhiên Đăng không có được pháp A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.”* Tu Bồ Đề trả lời rằng: “Không có, thưa Thế Tôn! Con hiểu liễu nghĩa mà Phật nói, ý nghĩa chân chính, Phật Thích Ca Mâu Ni ở chỗ Phật Nhiên Đăng không hề có được pháp.” Nói cách khác là, Phật Nhiên Đăng không hề dạy pháp A nậu đa la tam miệu tam bồ đề tâm cho Phật Thích Ca Mâu Ni, vì sao? Phật Thích Ca Mâu Ni đi gặp Phật Nhiên Đăng, ngài cúng dường Phật Nhiên Đăng hoa sen, Phật Nhiên Đăng thọ kí cho ngài nói rằng: “Sau này thành Phật thì gọi là Phật Thích Ca Mâu Ni.” Chỉ thọ kí cho ngài, không hề truyền pháp cho ngài, vì sao lại như vậy?

Cái này lại phải hỏi mọi người rồi, vì sao Phật Nhiên Đăng không truyền pháp cho Phật Thích Ca Mâu Ni? Sau này tôi sẽ bảo với mọi người, sẽ lại phải giải thích lại điều này, vốn dĩ không có pháp mà! Vốn dĩ không có pháp thì làm gì có việc truyền pháp này? Không có việc truyền pháp, đây là liễu nghĩa đó! Trong đoạn đối thoại giữa Tu Bồ Đề và Phật Thích Ca Mâu Ni hoàn toàn là đối thoại không có liễu nghĩa. Nếu như có ngã, có Phật Nhiên Đăng, có Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật Nhiên Đăng truyền pháp cho Phật Thích Ca Mâu Ni thì tức là có pháp. 

Phật Nhiên Đăng là vị Phật chân chính, cái ngài truyền là Không, bên trong không có pháp. Phật Thích Ca Mâu Ni lĩnh hội được cái Không của Phật Nhiên Đăng, cái Không làm gì có pháp chứ? Không có pháp! Chỉ cần trải nghiệm được, lĩnh hội được cái mà Phật Nhiên Đăng truyền cho tôi chính là một chữ Không, tôi đạt được cái Không này, không hề có pháp. Cái Không có thể bao hàm mọi pháp rồi. Tôi nói với bạn nhé, trong Thiền tông nói đến “tất cả do tâm tạo”. Là ý thức của bạn nghĩ ra trước rồi mới hiển hiện thứ đó.

Tôi nói với bạn một cách đơn giản, giống như chúng ta nói con người chết rồi, tự mình không thể tự chủ, đột nhiên một vị Bạch Vô Thường và Hắc Vô Thường xuất hiện, một vị rất cao, một vị rất thấp. Bạn biết rằng Thất Gia là người rất cao, hễ gặp là đại cát, Bát Gia là người rất thấp và đen sì, toàn thân đều đen. Từ trong miếu Thành Hoàng đi ra một cao một thấp, một người là Thất Gia, một người là Bát Gia, đó là Bạch Vô Thường và Hắc Vô Thường đã in trong não của tôi. Bạn là người Hoa thì trong ý thức của bạn có Bạch Vô Thường, Hắc Vô Thường, khi bạn chết rồi nằm xuống đó, Bạch Vô Thường và Hắc Vô Thường sẽ xuất hiện, khi bạn không thể tự chủ được, họ sẽ bắt bạn đi, *catch you*, sẽ bắt bạn đi mất!

Là trong ý niệm của bạn có Bạch Vô Thường, Hắc Vô Thường nên Bạch Vô Thường, Hắc Vô Thường mới xuất hiện. Chúng ta bảo rằng một người da trắng thật tốt, họ chưa từng nghe nói đến Phật pháp, cũng không biết cái gì là Bạch Vô Thường, Hắc Vô Thường, khi họ chết, Bạch Vô Thường, Hắc Vô Thường có xuất hiện không? Không! Bởi vì trong ý thức của họ không có Bạch Vô Thường, Hắc Vô Thường, trong ý thức của họ có Thần Chết cầm lưỡi hái, mặt thì che kín, nên người sẽ xuất hiện chính là Thần Chết.

Bạn đã hiểu “tất cả do tâm tạo” chưa? Cho nên, địa ngục cũng vì thế mà hình thành, Thập Điện Diêm Vương của chúng ta sao mà toàn là người Hoa, lẽ nào không có người nước ngoài sao? Không giống, không như nhau. Người nước ngoài xuống địa ngục thì là địa ngục lửa, dùng lửa, có thể nói là những gì mà Phật giáo và Đạo giáo chúng ta nói đến là địa ngục Bát Nhiệt, địa ngục Bát Hàn Bát Nhiệt. Địa ngục Bát Nhiệt chính là dùng lửa thiêu, nhìn chung người da trắng xuống địa ngục thì sẽ dùng lửa để thiêu đốt họ, thiêu rụi bạn toàn bộ, là địa ngục lửa thiêu.

Người Hoa chúng ta thì khác, bởi vì trong đầu chúng ta có Thập Điện Diêm Vương, bạn phải thông qua Thập Điện Diêm Vương. Địa ngục ở trong não bạn là gì thì bạn sẽ sản sinh ra hiện tượng của địa ngục đó. Tất cả do tâm tạo. Phật Thích Ca Mâu Ni nói, bạn không có cái tâm đó thì làm gì có pháp. Bạn có cái tâm này thì mới có pháp này. Bạn vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, cái mà Phật truyền cho bạn là Không, cái Không của bạn chứa vạn pháp. Tôi chỉ có thể nói với mọi người như vậy thôi.

Vì thế, không phải không có thiên đường, địa ngục, người da trắng hiện ra thiên đường và địa ngục là thiên đường trong đầu óc họ, là địa ngục trong đầu óc họ. Thiên đường và địa ngục trong Phật giáo và Đạo giáo thì không giống lắm, cũng không phải là thứ giống nhau. Cho nên trong não bạn có cái gì, bạn sẽ chịu báo ứng cái đó, bởi vì tất cả do tâm tạo, đều là những thứ trong tâm bạn nghĩ ra.

Vì thế Tu Bồ Đề nói: *"Không có, thưa Thế Tôn! Như con hiểu nghĩa Phật nói, Phật ở chỗ Phật Nhiên Đăng không có được pháp A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.”* Bởi vì không có pháp mới là pháp, mới là liễu nghĩa chân chính, có pháp rồi thì không phải liễu nghĩa, đó là cảnh giới cao nhất rồi! Không có pháp mới là pháp chân chính, có pháp thì tuyệt đối có hạn chế. Nói như vậy bạn có thể nghĩ thông được không?

Phật nói chính là như vậy đó! *“Tu Bồ Đề! Thật không có pháp Như Lai đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Tu Bồ Đề! Nếu có pháp Như Lai đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề thì Phật Nhiên Đăng ắt không thọ kí cho ta rằng: "Vào đời sau sẽ thành Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni." Vì thật không có pháp A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, nên Phật Nhiên Đăng mới thọ kí cho ta.” *Bởi vì lấy Không truyền Không, pháp này là lớn nhất, chính là Không, Không là pháp lớn nhất, lấy Không truyền Không. Nói như vậy bạn nghe có hiểu không?

“*Vì thật không có pháp A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, nên Phật Nhiên Đăng mới thọ kí cho ta.” *Giống như A nậu đa la tam miệu tam bồ đề cũng là một danh từ mà thôi. Kì thực chính là một chữ Không. Nếu bạn có thể ấn chứng tính Không này, tự bạn có thể ấn chứng tính Không này, lấy Không để hòa tan tất cả tức là thành tựu rồi.

Vì thế chúng ta nói khi Phật Đà thuyết pháp có nói giới, vì đã không có con người, thì giới có tác dụng gì? Giới cũng là Không mà! Vì đã không có con người, bạn định cái gì định? Định cũng là Không đó! Vì đã không có con người, bạn huệ cái gì huệ? Trí huệ, bát nhã cũng là danh từ, cũng là Không đó! Giới, định, huệ, tam vô lậu học, học Phật là bắt đầu từ đây, không sai, thứ mà đến cuối cùng ấn chứng được, khi đến được sự thấu hiểu chân chính, bạn sẽ hiểu sau khi thành tựu bạn chính là tính Không, chính là Phật tính. Cái này nói quá sâu rồi, thật sự là quá sâu.

Phật pháp là có chứ, không phải không có, chúng ta thường nghe nói đến Tam học Giới - Định - Huệ, Tứ thánh đế Khổ - Tập - Diệt - Đạo, ngũ căn ngũ lực, ba mươi bảy đạo phẩm, bát chính đạo, lục độ, đều là Phật pháp đó, sao có thể không có Phật pháp chứ? Kinh Kim Cang là nói cái gì? Nó nói về hủy diệt tất cả! Toàn bộ những thứ này đều nằm trong cái Không đó! Cho nên Phật Nhiên Đăng truyền cái Không cho Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật Thích Ca Mâu Ni không hề có được pháp, là có được cái Không, ngài hiểu được chữ Không, cho nên thọ kí cho ngài hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Cái này quá sâu rồi, cái này không dễ nói.

Ông Vương muốn bỏ thuốc lá, ông bảo vợ: “Bà giám sát tôi, nếu tôi hút thuốc thì không cho tôi lên giường.” Sau hai tháng, vợ nói: “Ông thế này không phải là bỏ thuốc, mà là bỏ sắc! Ông muốn bỏ tôi phải không? Không được, phải thay đổi quy tắc, ông hút một điếu thì phải làm tôi một lần.” Chiêu này quả nhiên có hiệu quả, không đến một tuần, ông Vương hễ nhìn thấy thuốc lá là hai chân run rẩy.

Câu chuyện cười này có ý nghĩa đó! Bỏ thuốc chính là pháp, không bỏ thuốc là phạm pháp. Bỏ thuốc cũng là pháp, vậy phải làm sao? Căn bản là không có thuốc, đó mới là tam miệu tam bồ đề chân chính. Bạn bỏ thuốc tức là một phương pháp, không bỏ thuốc tức là phạm pháp. Cái thật sự quan trọng nhất là căn bản không có thuốc, bạn chính là Không! Như vậy có hiểu không? Om mani padme hum.

*(Ngày 19/02/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Liên Hoa Sinh Đại Sĩ Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 59.)*


### 60. Phần thứ 17: Vô ngã tột cùng (4)


*(Bài giảng 60) *Như thực như hư

Tối hôm qua tôi trở về nhà đi ngủ, kết quả là tôi bị Diêu Trì Kim Mẫu, A Di Đà Phật và Địa Tạng Vương Bồ Tát cằn nhằn: “Tối qua ngài thuyết pháp, ngài thuyết pháp gì vậy? Người ta nghe xong, càng nghe càng hồ đồ.” Tôi nói: “Vậy tôi phải nói thế nào đây? Đơn giản là không nói nữa.” A Di Đà Phật, Diêu Trì Kim Mẫu và Địa Tạng Bồ Tát nói: “Không nói là đúng rồi.” Bởi vì bất khả thuyết mà! Các vị nói với tôi: “Bất khả thuyết, bởi vì nói không tới được. Ngài nói những điều đó lặp đi lặp lại, chỉ vài câu đó lặp đi lặp lại, căn bản là nói không rõ ràng, họ càng nghe càng hồ đồ, cái ngài giảng là pháp gì?”

Tôi nói: “Vậy tôi nói thế nào đây?” Không giảng cũng không được mà, đúng không? Được, không nói nữa, không nói thì chúng ta tan ca thôi, bây giờ chỉ đợi ăn cơm, xem biểu diễn, thật tốt biết bao, đúng không? Không giảng nữa mà. Đương nhiên pháp này là giảng cho những người có phân ở trong bụng nghe, nếu là người có phân ở trong não thì họ nghe xong sẽ không thấy thoải mái. Pháp là để giảng cho người tương đối bình thường nghe, còn những người không bình thường, trong não có phân, thì căn bản là nghe không thông. Cho nên bây giờ là thế này, các vị bảo tôi giảng lại từ đầu.

*"Không có, thưa Thế Tôn! Như con hiểu nghĩa Phật nói, Phật ở chỗ Phật Nhiên Đăng không có được pháp A nậu đa la tam miệu tam bồ đề."
Phật nói:
"Đúng thế, đúng thế. Tu Bồ Đề! Thật không có pháp Như Lai đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Tu Bồ Đề! Nếu có pháp Như Lai đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề thì Phật Nhiên Đăng ắt không thọ kí cho ta rằng: "Vào đời sau sẽ thành Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni." Vì thật không có pháp A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, nên Phật Nhiên Đăng mới thọ kí cho ta.”*

A nậu đa la tam miệu tam bồ đề này là bất khả thuyết, nếu phải nói một cách miễn cưỡng thì chỉ có thể dùng so sánh để mà nói, cho nên tối hôm qua Diêu Trì Kim Mẫu, A Di Đà Phật, Địa Tạng Bồ Tát, ba vị Bổn tôn của tôi nói với tôi: “Cái gọi là pháp chính là vô pháp, bởi vì vô pháp mới là pháp.” Không có pháp mới là pháp, các vị bảo tôi làm so sánh gì đây? Các vị nói: “Lấy chính ngài làm so sánh là được rồi.” Tôi thường xuyên lấy chính mình ra làm ví dụ so sánh. Được rồi, tôi là ai? Lư Thắng Ngạn chính là tôi, tôi chính là Lư Thắng Ngạn, điều này đương nhiên không có gì để nói, tôi cũng không phải là Thượng sư Piano, tôi cũng không phải thầy giảng bài Sakura, đúng không? Tôi chính là Lư Thắng Ngạn thôi!

Các vị nói: “Ngài nghĩ xem, Lư Thắng Ngạn là tên của ngài, còn cái thực tại của ngài ở đâu? Ngài phải hỏi chính mình: Ta là ai?” Lư Thắng Ngạn chỉ là một cái tên thôi! Tôi là Lư Thắng Ngạn, Lư Thắng Ngạn là tôi, Đài Loan tổng cộng có mười sáu Lư Thắng Ngạn, người nào mới là anh? Lư Thắng Ngạn là đại diện cho mười sáu người à, có mười sáu Lư Thắng Ngạn, có mười sáu người cùng tên này ở Đài Loan, vậy Lư Thắng Ngạn làm sao là anh được chứ? Đó chỉ là một cái tên mà thôi, anh thật sự ở đâu? Không tìm ra!

Xá lợi tóc của Lư Thắng Ngạn cũng không có nữa rồi. Ngày ngày cạo đầu, tóc đã cạo sạch nhẵn rồi. Người ta muốn thỉnh xá lợi tóc thì phải làm sao? Lông nách cũng bị cạo sạch rồi, nách cũng không có lông nữa rồi, thảm quá, không có lông thì phải làm sao đây? Vẫn còn bên dưới vẫn có lông, không sao hết, cắt thôi! Cắt luôn cả lông ở bên dưới. Cho nên có người lấy được xá lợi tóc của Sư Tôn lại thắc mắc: “Sao lại xoăn xoăn nhỉ?” Biết làm sao đây, trên người tôi không còn lông nữa. Người da trắng đại bộ phận mà nói thì trên ngực họ đều có lông, sau lưng có lông, sờ lên giống như tấm thảm vậy. Ở phía trước, khi muỗi bay vào thì còn bị lạc đường, muỗi bay đến ngực họ đều nghĩ là muốn đốt một cái, nhưng mà chúng đều bị lông làm cho hồ đồ rồi, đều lạc đường không bay ra được. Người Hoa chúng ta thì không có, nếu có vài sợi thì cũng để đó, không dám cắt chúng đi.

Cho nên Lư Thắng Ngạn là bất khả thuyết, không có cách nào để đi miêu tả Lư Thắng Ngạn, điều này anh nói đúng rồi, bởi vì A nậu đa la tam miệu tam bồ đề là không thể nào giảng, không có cách nào giảng được cái cốt lõi của nó, không có một thứ nào có thể đại diện cho nó, cho nên căn bản là không thể nào giảng. Bởi vì giảng không được, Phật Nhiên Đăng giảng không được, Phật Thích Ca Mâu Ni cũng giảng không được, bởi vì hai vị đều giảng không được, cho nên Phật Nhiên Đăng liền thọ kí cho Phật Thích Ca Mâu Ni là: “Sau này ngài thành Phật gọi là Thích Ca Mâu Ni.” Bởi vì các vị đều lĩnh ngộ được cái cảm giác không nói ra được ấy, đó là không thuyết giảng được.

Tối hôm qua Diêu Trì Kim Mẫu, A Di Đà Phật và Địa Tạng Bồ Tát nói với tôi, đó là cái không giảng được, đó là cái không thể nói, bởi vì là Không, là cái bất tận. Tôi nói: “Nói như thế thì mọi người có thông không?” Các vị nói: “Ngài phải nói như vậy mới là đúng, là chính xác.” Người khác không nói như vậy đâu! Cái gì mà giới định huệ, ngũ căn ngũ lực, tứ niệm xứ, tứ chính cần, ba mươi bảy đạo phẩm, bát chính đạo, thập nhị nhân duyên, lục đạo, đều không có cách nào nói rằng cái này là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.

Cái đó là pháp, chỉ là công cụ để cho bạn đạt được A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, ví dụ như một chiếc xe, tứ thánh đế chính là bốn cửa của chiếc xe, bát chính đạo chính là tám hàng ghế, lục độ chính là giống như động cơ sáu xi-lanh, cuối cùng hợp tất cả những thứ này lại, giới định huệ, tứ thánh đế, bát chính đạo, thập nhị nhân duyên, lục độ đều tập hợp lại, tạo nên một chiếc xe. Bạn muốn nói về vật chất thì chính là như thế này, nếu còn nếu như muốn nói về Phật pháp thì đó là bất khả thuyết, giảng không được.

Đoạn sau Phật Thích Ca Mâu Ni có nói đến, pháp chính là con thuyền đưa bạn đến bờ bên kia, không phải là pháp chính là bờ bên kia. Không thể nói bát chính đạo chính là bờ bên kia, lục đạo chính là bờ bên kia, tứ thánh đế chính là bờ bên kia, giới định huệ chính là bờ bên kia, không thể nói như vậy. Những cái này chỉ là tập hợp lại trở thành một con thuyền chở bạn đến nơi của đạo chân chính, chính là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Nói như vậy mọi người nghe rõ chưa?

*“Vì thật không có pháp A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, nên Phật Nhiên Đăng mới thọ kí cho ta mà nói rằng: "Vào đời sau sẽ thành Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni." Là vì sao? Vì Như Lai tức là mọi pháp đều như nghĩa."
"Nếu có người nói: Như Lai đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Tu Bồ Đề! Thật không có pháp Phật đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Tu Bồ Đề! A nậu đa la tam miệu tam bồ đề mà Như Lai có được trong ấy không thật không hư.”*

Bạn xem, không có thứ thực tại, là vô thực, nhưng lại không phải là thứ hư cấu, không có thứ thực tại, cũng không phải là thứ hư cấu, đây chính là cái chỗ vi diệu. Như “không thực không hư” chính là Đạo, chính là giống như Lão Tử nói “đạo khả đạo phi thường đạo”. Đạo là thứ không giảng được. Đạo có thể nói được nhưng đó cũng không phải là đạo thông thường, là đạo không giảng được. Đạo khả đạo, phi thường đạo, đạo có thể giảng được, nhưng cũng là đạo không giảng được, cái này chính là như “không thực không hư”, dường như là thứ có thực, lại dường như là không có thứ này.

*“Vì thế Như Lai nói: tất cả mọi pháp đều là Phật pháp.”* Như Lai nói tất cả mọi pháp đều là Phật pháp. Cho nên, trước kia đệ tử của tôi là tiến sĩ Trương Trừng Cơ đã viết một cuốn sách tên là “Cái gì là Phật pháp”, khi tôi đi gặp cư sĩ Lí Bỉnh Nam, Lí Bỉnh Nam nói với tôi: “Thứ mà tên tiểu tử này viết sai rồi!” Trong lòng tôi nghĩ đó là đệ tử của mình, tôi nên thay đệ tử bào chữa mới đúng. Lí Bỉnh Nam nói: “Tôi muốn hỏi anh ta cái gì là Phật pháp?” Trương Trừng Cơ viết “Cái gì là Phật pháp”, các bạn ai đã đọc cuốn sách đó giơ tay? Đó là sách mà đồng môn của bạn - tiến sĩ Trương Trừng Cơ viết đó.

Tôi đã từng xem phong thủy cho nhà anh ấy, nhà anh ấy ở núi Bát Quái ở huyện Chương Hóa, là nhà của nhà nước phân cho anh ấy, anh ấy là con rể của Vu Hữu Nhâm, Vu Hữu Nhâm là một ông lớn ở Đài Loan trước đây. Là con rể của Vu Hữu Nhâm nhưng anh ấy không thích làm quan, lại thích Phật pháp, anh ấy viết cuốn “Cái gì là Phật pháp”. Lí Bỉnh Nam cũng là một cư sĩ già, nghiên cứu Phật pháp và chuyên môn giảng Tịnh độ tông, ông ấy muốn hỏi Trương Trừng Cơ cái gì là Phật pháp. Ở đây Phật đã nói ra rồi: “*Vì thế Như Lai nói: tất cả mọi pháp đều là Phật pháp.”* Không có cái không phải là Phật pháp, cái gì cũng đều là Phật pháp, đây là điều Phật nói, phạm vi là rất lớn. Là Phật Thích Ca Mâu Ni nói, ngài không phân chia Phật pháp thành những bộ phận nhỏ, mà là cái gì cũng đều là Phật pháp.

Vì thế tôi cho rằng Jesus Christ cũng là Phật pháp, Thánh Mẫu Maria cũng là Phật pháp, kinh Koran cũng là Phật pháp, đạo lí mà Khổng Tử nói cũng là Phật pháp… (Trong phòng có đồ vật rơi xuống.) Rơi rồi à! Tôi nói đến mức mà nó cũng sợ, hiện tượng linh dị đây! Bạn có biết phái lên đồng viết chữ gọi Khổng Tử là gì không? Là Đại Thành Chí Thánh Hưng Nho Trị Thế Thiên Tôn, đạo hiệu của Khổng Tử là Chí Thánh Tiên Sư. Đạo lí mà Khổng Tử nói cũng là Phật pháp, đạo lí mà Mạnh Tử nói cũng là Phật pháp, đạo lí mà Tăng Sâm nói cũng là Phật pháp, rất nhiều Phật pháp, bao la vạn tượng cái gì cũng là Phật pháp. Phật Thích Ca Mâu Ni ở đây cũng nói:* “Như Lai nói: tất cả mọi pháp đều là Phật pháp.”*

*“Tu Bồ Đề! Nói là tất cả mọi pháp tức chẳng phải tất cả mọi pháp, thế nên gọi là tất cả mọi pháp.”* Lại nữa rồi. Rất đơn giản, mọi người đều biết rồi, đúng không? Ở đây Phật lại làm một so sánh, so sánh này bây giờ đã nói xong rồi. 

*"Tu Bồ Đề! Ví dụ như nói thân người cao lớn."
Tu Bồ Đề nói:
"Thế Tôn! Như Lai nói: thân người cao lớn tức chẳng phải thân lớn, thì gọi là thân lớn."*

Thế nào gọi là thân người cao lớn? Lẽ nào thân người rất cao lớn sao? Ví dụ những cô gái, cô Sư Đầu là người cao lớn đó. Sư Đầu, cô đứng dậy cho mọi người nhìn một chút. Cô ấy rất cao, trong số phụ nữ ở đây người nào cao hơn cô ấy? Bây giờ ở đây có phụ nữ nào cao hơn cô ấy không? Đứng dậy để tôi xem xem, bây giờ hai người so với nhau xem sao. Cô có tóc à, không sao hết, hai người so một chút xem sao, như vậy là ai cao? Cao bằng nhau à. Cao bằng nhau là đánh mạt chược rồi! Mời ngồi, hai người đều là những người cao lớn đó! Ở đây nói tất cả những thứ hữu hình đều không tính. 

*“Vì thế Như Lai nói: tất cả mọi pháp đều là Phật pháp. Tu Bồ Đề! Nói là tất cả mọi pháp tức chẳng phải tất cả mọi pháp, thế nên gọi là tất cả mọi pháp."
"Tu Bồ Đề! Ví dụ như nói thân người cao lớn."
Tu Bồ Đề nói:
"Thế Tôn! Như Lai nói: thân người cao lớn tức chẳng phải thân lớn, thì gọi là thân lớn."*

Vóc dáng chúng ta nhỏ, đương nhiên không so được với người cao, chúng ta là thân nhỏ, họ là thân lớn, lớn nhỏ là so sánh với nhau. Nếu là trong Phật pháp, thậm chí là trong Phật tính, thì không có sự phân biệt lớn nhỏ, vì thế ở đây nói: “*thân người cao lớn tức chẳng phải thân lớn, thì gọi là thân lớn”. *Tương đối cao là thân lớn, không sai, nhưng mà so sánh với cái Không thì đều như nhau thôi, đều là bình đẳng. Cho nên ý nghĩa là nói đều là bình đẳng.

Tôi giảng kinh Kim Cang không giống như người khác nói. Bạn xem, tối hôm qua Diêu Trì Kim Mẫu, A Di Đà Phật và Địa Tạng Bồ Tát, bốn chúng tôi, các vị nói rằng: “Ngài (những gì đã giảng vào hôm thứ bảy) sẽ khiến người ta càng nghe càng hồ đồ.” Bởi vì là bất khả thuyết, không thể nói được, vì sao không thể nói được? Bởi vì như thực như hư, dường như là có lại dường như không có. Cái tôi thật sự dường như có lại dường như không có. Phật tính thật sự dường như có lại dường như không có, không nói ra được. Cho nên thân người cao lớn, thân người nhỏ thì so sánh được, nếu không so sánh được thì căn bản không có cái gì gọi là thân cao lớn, thân lớn là thân lớn, thân nhỏ là thân nhỏ, đó là thế giới vật chất hữu hình.

Cho nên hôm qua các vị lại nói với tôi một câu: “Lấy một hạt cát sông Hằng, nói đây chính là sông Hằng, đương nhiên không phải, cát sông Hằng làm sao có thể đại diện cho sông Hằng chứ?” Sông Hằng đó nói như thế nào, bạn cũng không nói được, bạn lấy một giọt nước sông Hằng nói đây là sông Hằng, cũng có phải đâu, không có cách nào nói được. Như vậy mọi người đã hiểu thế nào gọi là bồ đề tâm, thế nào gọi là đạo, thế nào gọi là Phật tính. Phật Thích Ca Mâu Ni đã dùng rất nhiều so sánh. Tối hôm qua Diêu Trì Kim Mẫu, A Di Đà Phật, Địa Tạng Bồ Tát nói với tôi: “Ngài dùng chính bản thân để làm so sánh, ngài rốt cục là ai?” Nghĩ thử xem “ta là ai?”. Không có một thứ nào có thể tượng trưng cho bạn. Om mani padme hum. 

*(Ngày 20/02/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Kim Cang Tát Đỏa tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 60.)*

(Hết tập 3)

---

---
# File: kinh-luat-luan/giang-thuyet-kinh-kim-cang-tap-4-het.md
# Title: Giảng thuyết Kinh Kim Cang - Tập 4 (Hết)
---

![image](/img/img_ff730f3c3a29aa0c7697a25b64a1bd6b.png)



## Giảng thuyết Kinh Kim Cang - Tập 4 (Hết)


(Liên Sinh Hoạt Phật giảng Kinh Kim Cang)

Cuốn số: 710
Xuất bản năm: N/A
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### 61. Phần thứ 17: Vô ngã tột cùng (5)


*(Bài giảng 61) *Thích Ca Mâu Ni

Khi chúng ta nói đến kinh Kim Cang, bây giờ tôi nói một chút về quá khứ. *“Phật Nhiên Đăng mới thọ kí cho ta mà nói rằng: Vào đời sau sẽ thành Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni.”*

Ở đây có một câu hỏi, vì sao Phật Nhiên Đăng lại thọ kí cho Phật Thích Ca Mâu Ni là “Thích Ca Mâu Ni”? Ai biết ý nghĩa của bốn chữ “Thích Ca Mâu Ni”? Ai nói được hoàn toàn thì tặng cho người đó chuỗi niệm hạt này. Năng nhân và tịch tĩnh? Tốt, còn gì nữa không? Nói từng chữ một, Thích là ý nghĩa gì? Ca là ý nghĩa gì? Mâu Ni là ý nghĩa gì? Bạn nói năng nhân thì không sai, nhưng nếu nói từng chữ một thì sao? Phật Nhiên Đăng vì sao ban tên gọi là Thích Ca Mâu Ni? Khi ấy ngài chưa được gọi là Phật Thích Ca Mâu Ni đâu.

Khi ngài đi gặp Phật Nhiên Đăng, ngài là Thiện Huệ Đồng Tử, phải thế không? Ngài đến bên một cái giếng, bởi vì tất cả hoa sen đã được bán hết rồi, không có hoa sen, ngài nhìn thấy bên cạnh giếng có một cô gái đang rửa hoa sen, ngài đã mua hoa sen của cô gái này để cúng dường Phật Nhiên Đăng. Cô gái bán hoa sen cho ngài, sau này cô chuyển thế thành thê tử của Phật Thích Ca Mâu Ni, chính là Yashodhara [Da Du Đà La]. Nếu bạn có đọc tiểu sử, khi ấy Phật Thích Ca Mâu Ni có một xưng hiệu, hình như ngài cũng là tiên nhân, nghĩa là một người tu hành.

Còn gì nữa không? Vì sao thọ kí cho ngài bốn chữ Thích Ca Mâu Ni? Câu chú của Phật Thích Ca Mâu Ni là: “Om muni muni maha muni sakyamuni soha.” Bởi vì không có ai biết, cho nên mới hỏi các bạn. Mọi người đều nói là năng nhân và năng tịch, đây là điều mọi người đều biết, nhưng tách từng chữ ra thì lại khác, tức là đặc biệt giải thích bốn chữ này.

Thích chính là giải thoát, trong tiếng Trung thì Thích chính là giải thoát. Ý nghĩa của chữ Ca chính là tăng lên, có thể nói là gia tăng giải thoát. Hai chữ Mâu Ni là bảo châu, chúng ta thường nói là ngọc Mani, là bảo châu đó! Là châu báu, bảo châu, trên đời căn bản là không có cái gọi là ngọc Mani. Ngày xưa, bảo châu mà Long Nữ dâng tặng là ngọc Mani, thế gian không có đâu, đó là viên bảo châu quý giá nhất trên đời, tỏa ra vạn tia ánh sáng. Bốn chữ này ghép lại, chính là “thành tựu giải thoát, giống như bảo châu quang minh trân quý nhất”. Chính là ý nghĩa của bốn chữ này.

Bây giờ chúng ta giải thích hai chữ Mâu Ni, còn gọi là năng nhân, cũng có nghĩa là “có thể ở thế giới Ta Bà vượt trên con người bình thường, có thể dùng bố thí để độ hóa con người chúng sinh”, chúng ta gọi là năng nhân. Mâu Ni còn gọi là năng nhân, Thích Ca là tộc Thích Ca. Phật Nhiên Đăng vào lúc ấy đã sớm biết ngài sẽ sinh ra trong gia tộc Thích Ca rồi, sau đó ngài sẽ trở thành năng nhân, giải thoát, có thể giải thoát, có thể cứu độ chúng sinh. Cho nên hôm nay tôi đặc biệt giảng hàm nghĩa chính là như vậy. Điều bạn nói cũng đúng rồi, đó là ý nghĩa chủ yếu của Thích Ca Mâu Ni. Năng tịch, năng nhân, có thể tịch diệt, cũng có thể năng nhân bố thí pháp cho chúng sinh, Phật Nhiên Đăng khi ấy đã ban cho ngài ý nghĩa của bốn chữ Thích Ca Mâu Ni như vậy.

*"Tu Bồ Đề! Bồ Tát cũng như thế. Nếu nói rằng: "Ta đang diệt độ vô lượng chúng sinh" thì không gọi là Bồ Tát. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Thật không có pháp gọi là Bồ Tát. Thế nên Phật nói: mọi pháp vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả. Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát nói rằng: "Ta đang làm trang nghiêm cõi Phật" thì không gọi là Bồ Tát. Là vì sao? Như Lai nói: trang nghiêm cõi Phật tức chẳng phải trang nghiêm, thì gọi là trang nghiêm. Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát thông đạt pháp vô ngã thì Như Lai nói đó đúng là Bồ Tát.”*

Đoạn này rất đơn giản. *"Tu Bồ Đề! Bồ Tát cũng như thế. Nếu nói rằng: "Ta đang diệt độ vô lượng chúng sinh" thì không gọi là Bồ Tát.” *Nếu Bồ Tát nghĩ như thế này “Ta phải đi cứu độ chúng sinh”, vậy thì đó không phải là Bồ Tát. Vì sao không phải là Bồ Tát? Không có cái danh xưng Bồ Tát này, chỉ là miễn cưỡng nói thành Bồ Tát. Giống như Sư Tôn nói “Trong cuộc đời này tôi đang độ chúng sinh”, nếu tôi nghĩ như vậy thì không phải là Lư Sư Tôn. Không thể nghĩ như vậy, bởi vì mỗi con người đều như nhau, Sư Tôn cũng như vậy, Phật tính là bình đẳng, bình đẳng tính trí, không có “tôi là Bồ Tát, các bạn không phải”, không có chuyện đó. Chỉ có sự khác biệt giữa ai giác ngộ trước ai giác ngộ sau mà thôi.

Bạn chỉ là tỉnh ngộ trước mà thôi, chúng tôi tỉnh ngộ sau mà thôi, sự khác biệt là như vậy. Cho nên ai tỉnh giấc mộng lớn trước, ai thức tỉnh trước, người thức tỉnh trước lại đi đánh thức người còn chưa thức tỉnh, như vậy tức là nói tôi đang độ chúng sinh. Tôi thức tỉnh trước, bạn thức tỉnh sau, có sự khác biệt trước sau, và những cái khác căn bản không có sự khác biệt gì cả. Cho nên Bồ Tát không thể nghĩ thế này “Tôi đang diệt độ vô lượng chúng sinh”. “Tôi phải độ rất nhiều rất nhiều chúng sinh”, không thể nghĩ như vậy, đó không gọi là Bồ Tát.

Vì sao vậy? *“Tu Bồ Đề! Thật không có pháp gọi là Bồ Tát.”* Thực tế không có cái tên gọi Bồ Tát này, Bồ Tát cũng là một hư danh thôi. Nếu bạn nghĩ “Tôi muốn làm một Bồ Tát”, bạn nghĩ như vậy là bạn vì điều gì đó mà làm. Ý của Phật nói rằng bạn căn bản không trụ tâm, vô trụ, bạn không trụ vào cái bề ngoài của Bồ Tát, không trụ trên cái tên gọi Bồ Tát, bởi vì bạn không trụ cho nên mới gọi là Bồ Tát, nếu bạn có trụ thì không phải là Bồ Tát. Bởi vì bạn có trụ thì tức là có ngã, có nhân, có chúng sinh, có thọ giả. Trong kinh Kim Cang chủ yếu nhất chính là vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả. Vì đã là vô ngã thì còn có Bồ Tát gì? Không có, không có Bồ Tát. Vì đã vô ngã thì còn có Phật gì? Không có, cho nên đó là một danh từ, Bồ Tát, thứ gì cũng đều là danh từ.

Nếu như vẫn còn có Bồ Tát nói như thế này: “Tôi phải đi làm trang nghiêm cõi Phật”, cõi Phật vốn dĩ đã trang nghiêm rồi mà, cần gì bạn đi làm trang nghiêm nữa? Bạn cho rằng bạn có thể làm trang nghiêm cõi Phật sao? Không thể làm trang nghiêm cõi Phật! Chính vì có ngã, có chúng sinh nên bạn mới đi làm trang nghiêm cõi Phật đó! Bạn có ngã tướng mới đi làm trang nghiêm cõi Phật, cõi Phật không cần trang nghiêm, vốn dĩ đã rất trang nghiêm rồi. Cái gì trang nghiêm nhất? Cái Không chính là trang nghiêm, cái gì cũng không có chính là trang nghiêm. Trang nghiêm là cái gì? Chính là thanh tịnh đó! Cái gì cũng không có chính là thanh tịnh, thanh tịnh chính là trang nghiêm đó! Đâu cần bạn đi thanh tịnh? Cái Không vẫn cần bạn đi tạo ra cái Không sao? Bạn không tạo ra được cái Không, chỉ là bạn biến mình thành cái Không, lấy cái Không đi ấn chứng cái Không, lấy thanh tịnh đi ấn chứng thanh tịnh.

Không trang nghiêm được, bởi vì bạn có ngã tướng nên bạn mới nghĩ là đi làm trang nghiêm, mới nghĩ đến trang nghiêm, cho nên *"Ta đang làm trang nghiêm cõi Phật - thì không gọi là Bồ Tát.” *Đó không phải là Bồ Tát. Có suy nghĩ này thì đã có ngã tướng rồi, bạn đã không thanh tịnh rồi thì làm sao trang nghiêm? *“Là vì sao? Như Lai nói: trang nghiêm cõi Phật tức chẳng phải trang nghiêm.” *Bạn muốn đi làm trang nghiêm cõi Phật, kì thực không có việc làm trang nghiêm này, bởi vì không có trang nghiêm mới gọi là trang nghiêm, nói ra thì là như vậy. Vốn dĩ chính là không, bạn đi trang nghiêm cái gì?

Không là cái gì? Chính là thanh tịnh đó! Thanh tịnh chính mình, không còn một chút gì nữa thì đó là Không, không có hai chữ trang nghiêm này, đó mới gọi là trang nghiêm. Nếu bạn thêm vào hai chữ trang nghiêm này thì đó còn gọi là Không ư? Đó là Bất Không rồi. Cho nên Không và Bất Không ở đây phân biệt rất rõ ràng, Không chính là thanh tịnh, thanh tịnh chính là trang nghiêm. Vậy Không lại còn thêm vào hai chữ trang nghiêm thì không còn ý nghĩa nữa, không cần! Vốn dĩ chính là thanh tịnh, vốn dĩ chính là Không.

*“Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát thông đạt pháp vô ngã”, *nếu có một Bồ Tát đã hiểu được pháp vô ngã rồi thì vị đó sẽ biết, sẽ hoàn toàn hiểu rõ. Lúc này Phật mới nói, người này mới là Bồ Tát chân chính, Bồ Tát cũng là một danh từ thôi! Cho nên danh xưng của sư phụ tôi là Sakya Chứng Không Thượng sư, thế nào gọi là Sakya Chứng Không Thượng sư? Ngài đã chứng được tính Không rồi, ngài đã hoàn toàn thanh tịnh rồi, mới là Sakya Chứng Không Thượng sư. 

Ngài đã hoàn toàn thanh tịnh rồi, Sakya Chứng Không Thượng sư chỉ là một danh từ, ngài chính là Trisong Rinpoche, ngài bảo tôi gọi ngài là Sakya Chứng Không Thượng sư. Chùa Sakya ở Seattle chính là do Sakya Chứng Không Thượng sư đi quyên tiền mà xây dựng lên. Vì sao ngài bảo tôi gọi ngài là Sakya Chứng Không? Ngài đã chứng tính Không rồi, ngài đã đạt được tính Không, không cần gọi ngài là Trisong Rinpoche, gọi ngài là Sakya Chứng Không - vị Thượng sư đã chứng được tính Không, đó mới là Thượng sư chân chính, chứng được tính Không mới gọi là một Thượng sư chân chính.

Có Thượng sư chỉ có cái danh Thượng sư, còn thật ra là không thanh tịnh, đương nhiên họ không học được vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Khi bạn thật sự có thể đến được vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng thì lúc đó chính là đã chứng minh bạn là Thượng sư Chứng Không, Thượng sư đã chứng tính Không. Khi ấy mới có thể nói *“Như Lai nói đó đúng là Bồ Tát”*, người đó chính là Bồ Tát chân chính rồi. Người bình thường không giảng được, chỉ có Sư Tôn hiểu được, nghiêm túc mà nói thật sự là rất khó giảng. 

Ví dụ Sakya Chứng Không Thượng sư, ngài cũng từng nói với tôi ngài là Trisong Rinpoche, vì sao tôi không gọi ngài là Trisong Rinpoche? Bởi vì đó là tên giả, Chứng Không mới là cái tên chân chính. Mọi người sau này mỗi người chứng ngộ được tính Không rồi, bạn dung nhập vào tính Không, vậy thì bạn thành tựu rồi. Bạn dựa vào vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng để bố thí cho người khác, để họ cũng có thể chứng được tính Không, đây chính là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Cho nên căn bản là không có danh từ này, cũng có nghĩa là bạn là người tỉnh trước, sau đó lại gọi người khác thức tỉnh.

Cũng có rất nhiều người gọi không dậy, bởi vì trong đầu của con người hiện đại đều có phân, phân thì đều không sạch, bạn còn gọi được họ dậy sao? Bạn bảo họ “phải yêu kẻ thù của bạn”, họ ghét muốn chết mà còn phải yêu ư? Trong đầu có phân mà! Bạn làm sao đây? Không cứu được. Bạn xem các quốc gia cũng như vậy, Nga đánh Ukraine, bởi vì có một bên cho rằng: “Tôi phải dựa vào bên đó.” Bên này nói: “Anh không được dựa vào bên đó, anh phải quy về bên này của tôi, anh không nghe lời tôi, tôi sẽ tiêu diệt anh!” Quốc gia và quốc gia, con người và con người cũng chẳng có khác biệt gì, cũng như nhau thôi.

“Anh không nghe tôi, tôi sẽ tiêu diệt anh!” Bên đó coi là Thượng sư sao? Đó là “hạ sư”! Không thể nào có chuyện mỗi người đều nghe bạn được, đúng không? Tôi độ chúng sinh cũng không nói rằng mỗi chúng sinh đều phải nghe tôi. *No!* Ai sẽ nghe bạn? Cũng không thể nói độ mấy người, người ta hỏi tôi: “Lư Sư Tôn, bây giờ ngài đã độ bao nhiêu người rồi?” Tôi nói: “Nửa người.” Á? Con người làm gì có nửa người? Tôi nói: “Tôi không có độ chúng sinh.” Tôi làm gì có độ chúng sinh. 

Không phải tôi độ! Là tôi gọi bạn tỉnh dậy, tôi tỉnh trước rồi gọi bạn tỉnh dậy, đây cũng không phải là là độ chúng sinh, mọi người đều bình đẳng, sẽ có một ngày sẽ tỉnh ra. Đợi đến khi bạn tỉnh rồi, bạn sẽ hiểu thế nào là vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Nếu bạn không có bốn điều này, tôi bảo đảm, quốc gia và quốc gia sẽ đánh nhau tới lui, trong gia đình cũng có phân tranh, giữa người và người cũng không hợp lại, không phải tôi tiêu diệt anh thì anh cũng tiêu diệt tôi, không phải anh hại tôi thì là tôi hại anh, không phải anh ghét tôi thì là tôi ghét anh.

Cho nên chúng ta làm một người tu hành phải vô ngã tướng, bạn đi làm bất cứ việc thiện gì cũng đừng để ở trong tâm, đó mới là chân thiện, là việc thiện chân chính. Nếu bạn làm một việc thiện mà lại ghi nhớ ở trong tâm, “tôi mãi mãi ghi nhớ ở trong tâm, tôi làm việc thiện gì, làm bao nhiêu việc thiện, tôi đều ghi nhớ trong lòng”, vậy đó không gọi người tốt, bạn không phải là người tốt, bạn là vì điều gì đó mà làm chứ không phải là làm mà không vì gì cả. Kinh Kim Cang chính là nói đến điều này. Om mani padme hum.

*(Ngày 26/02/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Liên Hoa Đồng Tử Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 61.)*


### 62. Phần thứ 18: Nhất thể đồng quán (1)


*(Bài giảng 62) *Nhất thể đồng quán

Chúng ta nói về “nhất thể đồng quán” là được rồi. Thế giới đại đồng mà Khổng Phu Tử của chúng ta nói chính là nhất thể đồng quán. Nhất thể đồng quán mà Thánh nhân Khổng Tử của Trung Quốc nói là thế giới đại đồng. Tiêu đề này Phật Thích Ca Mâu Ni nói đến chính là điều này. Tôi thường nghĩ đến một việc, vì sao bây giờ mỗi quốc gia đều phải có quân đội, đều phải có Bộ trưởng Quốc phòng? Tôi thường nghĩ chúng ta cùng sống trên một địa cầu, vì sao không phải là những người sống trên địa cầu đều là người cùng một nhà? Không cần phải có quân đội, có cảnh sát là được rồi. 

Cảnh sát thì vẫn cần, có cảnh sát để bắt những người phạm tội, trộm này, cắp này, dâm này, cướp này, những việc này đương nhiên là phạm pháp. Phóng hỏa, giết người, đây đều là tội rất nặng, đều cần cảnh sát để bảo vệ. Bộ đội thì không cần, vì sao? Tôi thường nghĩ thế này: vì sao nước này phải đánh nhau với nước kia? Không cần! Không cần phải có bộ đội, không cần có Bộ trưởng Quốc phòng, hãy biến thế giới thành một liên hợp quốc chân chính, tất cả con người trên trái đất đều là một đất nước, đất nước này gọi là Liên Hợp Quốc, đừng so bì với nhau, cũng đừng đánh nhau. Ý của Phật, ý của Như Lai là như vậy.

Phật từng nói rằng, mọi chúng sinh đều có Phật tính, có thể nói là mọi chúng sinh đều là Phật. Sinh mệnh của họ là có hạn, từ khi họ sinh ra đến khi chết, quãng thời gian này hãy để cho họ được sống những ngày hạnh phúc vui vẻ mĩ mãn. Bây giờ đã phân thành nhiều quốc gia như vậy, mỗi quốc gia đều có quân đội. Nếu một nhà lãnh đạo cấp thế giới bước ra và phát biểu rằng, tất cả vũ khí, chiến xa, quân cơ, chiến hạm mà bộ đội sử dụng toàn bộ đều hủy bỏ, không cần có quân đội nữa, vậy con người liệu có thể sống tương đối hạnh phúc một chút không? Bởi vì con người trong thời gian ngắn ngủi này, sinh mạng có hạn mà! Các bạn hãy dùng đầu óc suy nghĩ một chút đi. Cách nghĩ của Sư Tôn chính là như vậy.

Cách nghĩ của Sư Tôn là không cần có quốc gia, trên địa cầu chính là một đất nước địa cầu, có thể có hôn nhân, thương mại thông với nhau mà không có ranh giới nào cả, có thể đến đến đi đi mà không cần thị thực, cũng không cần phải thế nào cả, không cần phải giữ nghiêm như vậy, mọi người có thể đi tới đi lui tùy ý mọi người. Nhưng phải có cảnh sát để quản, bạn không thể làm điều phi pháp, bạn không thể giết người phóng hỏa, bạn không thể trộm cướp, như vậy có phải là tốt hơn một chút không? Cả thế giới chính là một quốc gia, như vậy liệu có hạnh phúc hơn một chút không? Các bạn có từng nghĩ đến điều này không? Không có à, không có ai từng nghĩ đến điều này.

Không cần có Bộ trưởng Quốc phòng, không cần có quân đội. Bạn biết quân đội rất lãng phí mạng sống con người mà! Có một số người cả đời làm bộ đội, hoặc là phải chịu huấn luyện quân sự, làm bộ đội trong nhiều năm, điều này rất lãng phí. Hơn nữa còn chế tạo ra những vũ khí, chế tạo ra những thứ giết người, tôi rất phản đối điểm này. Rất nhiều quốc gia vào ngày Quốc khánh của mình, chiến xa xếp hàng đi qua phủ Tổng thống. Hoặc là tên lửa gì đó, hoặc là đạn đạo, thậm chí bom nguyên tử, bom hạt nhân đều được mang ra, một đống những thứ giết người đó đều được mang ra, tôi phản đối nhất là điều này!

Vào ngày Quốc khánh thì phải là xe hoa diễu hành, Sư Tôn chủ trương là những cô gái xinh đẹp đều ra múa cột! Bạn nói xem, khi mọi người hoan hỉ vui mừng kỉ niệm sinh nhật của đất nước này, bạn đem những vũ khí giết người ra để làm cái gì? Tôi cứ nghĩ đến vấn đề này đó! Vì sao cố ý phải tỏ ra “đất nước tôi rất mạnh, tôi có bao nhiêu tên lửa”, đó có ý nghĩa gì? Đó không phải là nhất thể đồng quán. Nhất thể chính là mọi người đều là như nhau, chỉ cần là con người, mọi người đều như nhau thì gọi là nhất thể, bạn, tôi và người khác không có phân biệt, chỉ có yêu không có ghét. 

Cái gọi là chiến tranh chính là nước này và nước kia ghét nhau. Theo Phật nói, chỉ có yêu không thể có ghét, cho nên mới có thể là nhất thể, bạn tách ra, hễ tách ra thì sẽ phiền phức rồi, sẽ có phân biệt, hễ có phân biệt thì sẽ có ghét. Nếu nhất thể là không có oán ghét thì thế giới đại đồng rồi! Mọi người đều như nhau mà, chính là thế giới đại đồng mà Khổng Tử nói. Tôi tán thưởng nhất là phụ thân của Khổng Tử, 70 tuổi lấy cô vợ 20 tuổi rồi sinh ra Khổng Tử, vì sao tôi lại tán thưởng ông ấy? Tôi cũng không nói ra được. Nhất thể mà, đừng phân biệt lẫn nhau, đều là đồng thể đó!

Chẳng phải Phật giáo nói rằng “vô duyên đại từ, đồng thể đại bi” sao? Vô duyên đại từ tức là tôi và bạn mặc dù không phải là cùng một nguồn gốc, nhưng tôi vẫn từ bi bạn, chúng ta đều là con người đương nhiên là đồng thể rồi! Cho nên thật sự vào ngày Quốc khánh, mời Lư Sư Tôn ra ngoài múa cột, tôi cũng có thể múa, tôi có thể nhảy, mặc dù múa cũng chẳng được lắm đâu nhưng cần múa thì cũng có thể chứ! Ngày Quốc khánh, mọi người diễu hành xe hoa, khắp chốn mừng vui, đem những vũ khí kia bày ra cho mọi người xem có ý nghĩa gì chứ? Anh muốn khoe cơ bắp, “đất nước tôi rất mạnh, tôi có *muscle* (cơ bắp)” để làm cái gì? Cho nên đó đều trái ngược với tinh thần của Phật Đà, Phật Đà là nói về vô duyên đại từ, đồng thể đại bi, vì thế Phật Thích Ca Mâu Ni mới là vĩ đại, vĩ nhân!

Ý tưởng của Sư Tôn là như thế này, tôi cho rằng không cần có các quốc gia, và không có ranh giới, muốn đi đâu thì đi đến đó, không cần hộ chiếu. Không có quốc gia mà! Toàn bộ địa cầu là một quốc gia thì cần gì phải có hộ chiếu? Cũng không cần vũ khí, bạn không cần làm ra những vũ khí giết người đó, tên lửa, đạn pháo, bom hạt nhân, bom nguyên tử, đạn gì chứ… toàn là trứng gà! [Trong tiếng Trung, từ đạn và trứng đồng âm với nhau.] Đúng là trứng gà thối, tư tưởng của con người thật *dirty* (bẩn), rất bẩn thỉu, rất *dirty*. Vì sao không hiểu tinh thần của Phật Đà? Nhất thể đồng quán, tinh thần của Phật Đà chính là như vậy. 

Vì thế tôi nghĩ, ví dụ như nhiều quốc gia như vậy có bom hạt nhân, nước có nhiều số một là Nga, nước thứ hai là Mĩ, nước thứ ba là Trung Quốc, kì thực đều không cần phải có, không cần có cái gì mà súng trường AK tự động, không cần! Không cần chiến xa, chiến hạm, quân cơ, toàn bộ đều là máy bay dân dụng. Chúng ta chỉ cần hai thứ: máy bay dân dụng và gà rán, để cho con người hạnh phúc một chút mà, đúng thế không? Anh làm những thứ kia để làm cái gì?

Tôi đang nói đến nhất thể đồng quán, cho nên tôi có cảm nghĩ như vậy. Tôi giải thích nhất thể đồng quán khác với người ta, điều tôi giảng không giống họ. Bởi vì tôi là người trái đất, tôi nhìn địa cầu của chúng ta và nghĩ, mọi người ở trên trái đất này có thể sống cuộc đời 100 năm rất hạnh phúc. Chúng ta nếu tính bình quân tuổi thọ là 100 tuổi đi, mọi người sống 100 năm rất hạnh phúc, yêu thương lẫn nhau, hòa hợp lẫn nhau, viên mãn lẫn nhau, đều không có tranh cãi, mọi người rất vui vẻ, bên nào có nạn đói, chúng ta liền giúp bên đó, bên nào có dịch bệnh, chúng ta đi cứu giúp họ, phát minh ra những loại vaccine để giúp đỡ họ.

Giống như lần này có dịch bệnh, mọi người cùng giúp đỡ, mỗi quốc gia đều giúp đỡ nhau, đây đều là việc rất tốt, đây chính là nói một cách rất đơn giản về đồng thể đại bi, vô duyên đại từ đồng thể đại bi chính là như vậy. Khiến cho trái đất này càng hạnh phúc hơn, càng viên mãn hơn, trong một giấc mộng ngắn ngủi này, chí ít cũng có một giấc mộng đẹp chứ không phải là ác mộng. Đừng hận tới hận lui, đừng có tôi ghét anh, anh ghét tôi, con người lúc nào cũng tôi ghét anh, anh ghét tôi, gia đình thì là vợ chồng hận nhau tới lui, giữa vợ chồng con cái không hợp nhau hoặc như thế nào đó, đều không cần có những điều này, sau đó các quốc gia cũng thế. Cho nên chiếu theo tinh thần của Phật Đà, không cần có Bộ trưởng Quốc phòng, không cần có quân đội, không cần phải chết nhiều người như vậy.

Hàng ngày mỗi buổi tối, Sư Tôn làm siêu độ cho những người chết vì dịch bệnh, chết vì virus, đã làm hai năm rồi. Tôi không có được thù lao gì của những người đó, không cần thù lao, tôi không phải vì tiền mà làm việc này, cũng không phải vì công đức mà làm việc này, không phải vì làm việc này thì có công đức, cũng không phải vì công đức này mà làm. Làm siêu độ đã hai năm không vì cái gì cả, đây chính là nhất thể đồng quán, không phân biệt bạn là người nước nào, không phân biệt bạn là người của tôn giáo nào. Tối hôm qua có cái đoạn phim hoạt hình kia: “Bạn theo tôn giáo nào, tôi đều có thể giúp bạn, bất kể bạn tin theo tôn giáo gì, tôi đều có thể giúp bạn.” Đây chính là tư tưởng của tôi, nhất thể đồng quán mà, chính là như vậy. 

Tôi giải thích điều này tuyệt đối khác với người ta giải thích. Sau này chúng ta ở đây nếu có người làm Tổng thống, tôi hi vọng vào ngày Quốc khánh, vào lễ kỷ niệm quốc gia, hãy làm xe hoa diễu hành, Tổng thống hạ một cái lệnh là được, đừng có đem những vũ khí kia ra trình diễn, vũ khí đều tiêu hủy hết, không cần có Bộ trưởng Quốc phòng, không cần có quân đội. Kì thực bây giờ châu Âu có mấy nước trung lập, tư tưởng của họ gần với nhất thể đồng quán: chúng ta đều là trung lập, chúng ta không dựa vào bên nào cả, tốt nhất là không có Quốc phòng, không có Bộ trưởng Quốc phòng, không có Quốc phòng không có quân đội, tôi không đánh nhau với người ta.

Sau này chúng ta ở đây, bất kể là thế hệ này hay thế hệ sau, thậm chí thế hệ sau nữa, khi họ lên làm Tổng thống, ngày Quốc khánh thì hãy diễu hành xe hoa, không có ai múa cột thì Sư Tôn sẽ ra múa! Lần sau ở Hộ Ma Bảo Điện chúng ta hãy làm một cái cột, huấn luyện mấy người múa cột, trước khi làm Hộ Ma thì biểu diễn cho Phật Bồ Tát xem. Đây chính là ý tưởng lạ của tôi, mọi người không nghĩ đến, còn tôi thì nghĩ như thế.

Trước Tết ước rằng có thể tài nguyên cuồn cuộn, bây giờ đã thực hiện được ba phần tư rồi, bây giờ tôi đã trở thành “viên cuồn cuộn” rồi. Tài nguyên cuồn cuồn, tài chưa thấy cuồn cuộn, nhưng vóc dáng thì đã trở thành “viên cuồn cuộn” rồi. [Trong tiếng Trung, từ nguyên và viên (tròn) đồng âm.] Được rồi, hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 27/02/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Kim Cang Tát Đỏa tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 62.)*


### 63. Phần thứ 18: Nhất thể đồng quán (2)


*(Bài giảng 63) *Ngũ nhãn

*"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như Lai có nhục nhãn không?"
"Thưa Thế Tôn, đúng vậy! Như Lai có nhục nhãn."
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như Lai có thiên nhãn không?"
"Thưa Thế Tôn, đúng vậy! Như Lai có thiên nhãn."
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như Lai có huệ nhãn không?"
"Thưa Thế Tôn, đúng vậy! Như Lai có huệ nhãn."
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như Lai có pháp nhãn không?"
"Thưa Thế Tôn, đúng vậy! Như Lai có pháp nhãn."
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như Lai có Phật nhãn không?"
"Thưa Thế Tôn, đúng vậy! Như Lai có Phật nhãn."*

Hôm nay tôi giảng về Ngũ nhãn. Trước khi giảng về Ngũ nhãn, tôi muốn nói với mọi người, mặc dù chúng ta đã học pháp vô ngã, trong kinh Kim Cang nói về vô ngã, tột cùng, bạn muốn đắc được pháp tột cùng thì nhất định phải vô ngã. Bạn đã học rồi, biết rồi, muốn đạt đến tột cùng thì nhất định phải vô ngã. Vậy bạn học vô ngã rồi, vì sao còn cần những con mắt này? Kì thực trong phần trước của kinh Kim Cang không nói đến, nhưng trước đây tôi đã từng nói với mọi người, hai chữ “quán chiếu” rất quan trọng, chúng ta có Quán Chiếu Lôi Tạng Tự. Quán Chiếu Lôi Tạng Tự ở bang nào nhỉ? Ở bang New Jersey cạnh bang New York có Quán Chiếu Lôi Tạng Tự. 

Hai chữ “quán chiếu” rất quan trọng, mặc dù bạn đã học pháp vô ngã, nhưng bạn vẫn cần có quán chiếu mới có thể nói về Ngũ nhãn. Nếu bạn đã học pháp vô ngã, bạn nói không có cái ngã rồi thì còn quán chiếu cái gì? Tôi không quán chiếu cái gì cả. Nhưng quán chiếu vẫn tồn tại đó! Chúng ta ở tại thế giới Ta Bà, quán chiếu của bạn vẫn còn đó! Thế nào gọi là quán chiếu? Tôi chẳng đã nói rồi sao? Phải tu cho đúng hành vi của bạn, và tu cho đúng suy nghĩ của bạn đó! Cái này chẳng phải cần quán chiếu sao?

Cái gọi là tu hành chính là tu cho đúng hành vi của bạn, và tu cho đúng suy nghĩ của bạn. Bạn nói: “Tôi đã học pháp vô ngã rồi, vậy tôi nằm ra đó, không ăn không uống, không tiểu tiện.” Người ta có ăn, có uống thì mới có tiểu tiện. Không ăn không uống thì sẽ không tiểu tiện. Nằm xuống giống như một người chết, không làm gì cả, vô ngã mà, tức là tương đương với chết rồi! Vậy nghiệp của bạn vẫn còn đó, những nghiệp bạn đã từng làm vẫn còn đó!

Vì thế chúng ta tu hành nhất định phải quán chiếu, quán chiếu là không thiếu được. Quán chiếu cái gì? Nhìn rõ hành vi của bạn có tạo nghiệp hay không? Rồi lại nhìn rõ suy nghĩ của bạn có tạo nghiệp hay không? Đây chính là tu hành đó! Bằng không bạn sẽ chẳng có gì nữa, sẽ chỉ còn lại việc chờ chết thôi! Có người hỏi tôi: “Lư Sư Tôn ở thế giới Ta Bà này làm cái gì?” Tôi nói tôi chờ chết đó! Tất cả vô sở đắc mà, tôi còn làm cái gì nữa? Chính là đợi chết đó! Nhưng cũng không thể như vậy, bạn phải quán chiếu hành vi của chính bạn. Bạn vẫn còn có hành vi, vẫn còn có suy nghĩ của bạn mà, nằm ra đó nghĩ lung tung có tác dụng gì? Đó không phải là tu hành. Cho nên hai chữ “quán chiếu” rất quan trọng.

Trong kinh Kim Cang cũng nhắc đến, bạn xem A Di Đà Phật là thế nào? Diệu quan sát trí! Diệu quan sát trí là cái gì? Quán chiếu! Trong năm trí huệ lớn của Như Lai có một loại là diệu quan sát trí. Bạn phải quan sát hành vi và suy nghĩ của chính mình, đây mới là tu hành. Sau đó tu sửa chúng cho đúng, biến chúng thành đúng, đừng có suy nghĩ ngông cuồng, đó chính là biến thành chính niệm. Đừng có hành vi bất hảo, đó là chính, bát chính đạo không có chính hành nhỉ, mà là chính nghiệp, cũng tức là như vậy.

Tiếp theo tôi giải thích dùng cái gì để quán chiếu. Đương nhiên là dùng con mắt của bạn, dùng suy nghĩ của bạn đó! Dùng suy nghĩ để xem xét suy nghĩ. Ở đây có nhắc đến Phật Thích Ca Mâu Ni hỏi Tu Bồ Đề: “Như Lai có nhục nhãn không?” “Có.” Tu Bồ Đề trả lời đều nói có. Nhục nhãn là làm gì? Muôn vàn chúng sinh đều có nhục nhãn, chúng sinh chúng ta đều có con mắt thịt, để nhìn cái gì? Quan sát lời nói và sắc mặt, mọi cảnh tượng của thế giới Ta Bà này bạn đều có thể nhìn được, đó là phạm vi của con mắt thịt. “Như Lai có thiên nhãn không?” Tu Bồ Đề trả lời: “Có.” Thiên nhãn là làm gì? Bạn có thể nhìn thấy những thứ mà nhục nhãn của người bình thường không nhìn thấy, ba nghìn đại thiên thế giới bạn đều có thể nhìn thấy.

Ví dụ tối hôm qua, Sư Mẫu nhìn thấy một vị Cát Tường Thiên Nữ ở trước mặt bà ấy. Bà ấy đích thực đã nhìn thấy, bà ấy kể với tôi rằng trước lúc bà ấy sắp ngủ thì nhìn thấy Cát Tường Thiên Nữ. Đa phần là bà ấy đã nhìn thấy rất nhiều ma, tối hôm qua lại đặc biệt nhìn thấy Tiên nữ. Buổi tối tôi từ hành lang nhà tôi, khi tôi trở về phòng ngủ của tôi, tôi đều niệm, đầu tiên là niệm Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát, vị thứ hai tôi nhìn thấy chính là Cát Tường Thiên. Tối hôm qua Sư Mẫu nhìn thấy Cát Tường Thiên, đây là con mắt gì? Người khác không nhìn thấy nhưng thiên nhãn có thể nhìn thấy, nhìn thấy ba nghìn đại thiên thế giới, đó thuộc về phạm vi của thiên nhãn.

Tiếp theo, “Như Lai có huệ nhãn không?” "Thưa Thế Tôn, đúng vậy! Như Lai có huệ nhãn.” Tu Bồ Đề trả lời rằng cũng có, liên tục năm lần trả lời có, đều là Tu Bồ Đề trả lời. Huệ nhãn là làm cái gì? Có thể nhìn thấy tâm của chính mình, nhìn vào bên trong chính là huệ nhãn, huệ nhãn không phải là nhìn ra bên ngoài, mà là nhìn vào bên trong chính mình. Nhìn cái gì? Nhìn suy nghĩ của chính bạn đó! Nhìn hành vi của chính bạn đó! Nhìn cái nội tại của bạn, bạn tu hành đến khi Phật tính của bạn hiển hiện, nhìn thấy Phật tính của chính bạn, cái này thuộc về huệ nhãn.

Tiếp theo, “Như Lai có pháp nhãn không?” Tu Bồ Đề trả lời: “Có, có pháp nhãn.” Thế nào là pháp nhãn? Bạn có phát bồ đề tâm muốn đi cứu độ chúng sinh không? Người có pháp nhãn mới có thể đi quảng độ chúng sinh đó! Bạn hiểu Phật pháp của Đại thừa, Tiểu thừa, Phật pháp của Tiểu thừa bạn cũng hiểu, bạn hiểu đệ nhất nghĩa pháp. Thế nào là đệ nhất nghĩa pháp? Pháp vô ngã chính là đệ nhất nghĩa pháp, là pháp tối thượng thừa, pháp cao nhất là pháp vô ngã, vô ngã chính là đệ nhất nghĩa pháp. Bạn đã có pháp nhãn thì bạn mới có thể dùng pháp đệ nhất nghĩa của bạn để đi gọi người khác thức tỉnh. Hiểu được đệ nhất nghĩa pháp này mới là người có pháp nhãn, không có pháp nhãn thì bạn không hiểu được.

Sư Tôn đã nói rồi, các bạn hiểu được thế nào là đệ nhất nghĩa pháp, pháp vô ngã chính là đệ nhất nghĩa pháp, vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Thế nào là chúng sinh tướng? Vô chúng sinh tướng này và vô nhân tướng chẳng phải là như nhau sao? Không giống nhau. Chúng sinh là đại diện cho toàn bộ không gian. Thọ giả là đại diện cho thời gian đó! Tôi phải nói rõ với mọi người, không gian, thời gian đều phá bỏ! Không gian và thời gian đều phá bỏ, đây mới là vô ngã chân chính. Cho nên bạn có thể nhìn thấy Phật tính, là vì bản thân Phật tính là phá bỏ không gian và thời gian, đâu đâu cũng có. Đây là thuộc về pháp nhãn. 

Tiếp theo hỏi: “Như Lai có Phật nhãn không?” Không sai, Như Lai có Phật nhãn. Phật nhãn là thế nào? Không chỉ là có thể nhìn được Tứ thánh giới, thậm chí trên nhìn đến Tứ thánh giới, dưới có thể nhìn đến địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, mười pháp giới đều có thể nhìn được hết, bao gồm cả tâm của con người. Người nào khởi tâm động niệm Phật đều có thể thấy, đều rất rõ ràng. Đây chính là năm con mắt, Ngũ nhãn đó!

Bạn phải phân biệt rõ Ngũ nhãn. Thế nào là nhục nhãn, chính là bạn có thể nhìn thấy những hình ảnh sắc tướng của thế giới Ta Bà. Thế nào là thiên nhãn? Ba nghìn đại thiên thế giới bạn đều có thể chiếu kiến. Thế nào là pháp nhãn? Bạn có thể biết cái gì là pháp đệ nhất nghĩa, pháp tối thượng thừa, pháp cứu cánh bạn đều hiểu được, chính là pháp nhãn. Thế nào là huệ nhãn? Bạn có thể quan sát hành vi của chính mình, suy nghĩ của chính mình, bao gồm Phật tính của chính bạn hiển hiện, bạn đều có thể biết, chính là huệ nhãn. Thế nào là Phật nhãn? Phật nhãn là trên nhìn được Tứ thánh giới, dưới nhìn được tam đồ, mười tám tầng địa ngục bạn đều có thể nhìn thấy được, bao gồm mọi vọng niệm của chúng sinh bạn đều nhìn rõ mồn một.

Vì thế hôm nay chúng ta nói về Ngũ nhãn, năm loại con mắt, tôi giảng cho mọi người về năm con mắt này. Như Lai có Ngũ nhãn này mới có thể viên mãn. Tôi lấy một ví dụ thế này. Buổi tối hôm trước tôi đột nhiên đi đến một nơi, sau đó tôi đã nhìn thấy đệ tử đó. Tôi không phải là nhìn lén người ta đâu, tôi là tùy ý, nói cách khác là nguyên thần này đi ra, sau đó đi đến một nơi nhìn thấy một đệ tử. A! Tôi bất ngờ phát hiện ra bí mật của anh ta, *secret,* bí mật của anh ta đó. “A! Thì ra anh ta là như vậy!” Tôi không nhìn ra mà. Thật đó, tôi tình cờ nhìn thấy bí mật của anh ta, sau khi tôi nhìn thấy bí mật của anh ta, tôi liền trở về. Sau khi trở về, buổi sáng tôi tỉnh dậy, tôi nghĩ thì ra là như vậy, thì ra anh ta có thể như vậy, chính là vì như thế. Bởi vì như thế cho nên anh ta mới như thế này, chà! Cuối cùng tôi đã hiểu rồi, cuối cùng tôi đã biết được bí mật của anh ta rồi!

Nhưng bí mật này không thể nói ra được, cũng không thể nói công khai, cũng không thể nói riêng, cái gì tôi cũng không dám nói. Vậy hiểu rồi thì có tác dụng gì? Chính là để Sư Tôn biết người này có cách nghĩ như vậy. Anh ta đã làm một việc rất bí mật, nhưng anh ta cũng bày kế nghi binh để mọi người không rõ anh ta đang làm cái gì. Khi làm việc này, anh ta đã nghĩ rất nhiều kế sách, cố ý bày nghi binh để mọi người tin tưởng anh ta, rằng làm như vậy bạn sẽ tin tưởng tôi. 

Không ngờ tôi lại đi nhìn thấy bí mật của anh ta, ôi chao! Điều không nên nhìn thấy tôi đều đã nhìn thấy rồi, nhưng lại không thể nói ra. Cho nên tôi nói điều này tức là bạn có thể biết được tâm chúng sinh, mặc dù anh ta bề ngoài ngụy trang là một người như thế này, nhưng bạn đã hiểu được bí mật của anh ta rồi. Như Lai có năng lực này để biết được vọng tâm của một con người, khởi tâm động niệm của anh ta bạn đều có thể hiểu được rất rõ ràng.

Giống như một câu chuyện cười thế này. Tiểu Minh: “Bố ơi, con biết bí mật của bố rồi.” Kì thực Tiểu Minh có biết hay không thì chính bố cậu cũng không rõ. Bố nói: “Con biết giữ mồm thì bố sẽ cho con 500 đô la Mĩ.” 500 đô la Mĩ là rất nhiều đó. Tiểu Minh nói: “Chà! Hữu dụng đến thế cơ? Một lúc đã kiếm được 500!” Cậu liền nói với mẹ: “Mẹ ơi, con biết bí mật của mẹ rồi!” Mẹ lấy ra 1000 đô Mĩ nói: “Cho con 1000 đô này, con không được nói ra!” Người đưa thư đến, Tiểu Minh nói với người đưa thư: “Bác đưa thư, cháu biết bí mật của bác rồi!” Người đưa thư liền khóc: “Cuối cùng con đã biết ta là bố của con rồi!” Lần này không cho tiền, người đưa thư ôm chặt lấy cậu bé, Tiểu Minh thì chẳng hiểu ra làm sao cả. Có rất nhiều bí mật không thể nói ra đâu. Hôm nay chúng ta nói đến đây thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 05/03/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Dược Sư Phật Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 63.)*


### 64. Phần thứ 18: Nhất thể đồng quán (3)


*(Bài giảng 64) *Vô sở đắc

Bây giờ chúng ta giảng kinh Kim Cang. Bây giờ Phật Đà lại hỏi Tu Bồ Đề, Ngài vẫn lấy cát sông Hằng để so sánh. 

*"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như trong một con sông Hằng có bao nhiêu cát lại có bấy nhiêu sông Hằng nhiều bằng số cát ấy, lại có số cõi Phật nhiều bằng tất cả cát của tất cả sông Hằng ấy, như thế có nhiều không?"
"Rất nhiều, thưa Thế Tôn!"
Phật bảo Tu Bồ Đề:
"Trong tất cả quốc thổ ấy, tất cả chúng sinh có bao nhiêu loại tâm, Như Lai đều biết. Là vì sao? Như Lai nói: mọi tâm đều chẳng phải tâm, thì gọi là tâm. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Tâm quá khứ không thể đắc, tâm hiện tại không thể đắc, tâm vị lai không thể đắc."*

*"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như trong một con sông Hằng có bao nhiêu cát lại có bấy nhiêu sông Hằng nhiều bằng số cát ấy, lại có số cõi Phật nhiều bằng tất cả cát của tất cả sông Hằng ấy, như thế có nhiều không?" "Rất nhiều, thưa Thế Tôn!" *Rất nhiều người không biết giải thích câu này. Trước đây tôi từng nói, Phật Thích Ca Mâu Ni rất thích nói câu này, dùng cát sông Hằng để làm so sánh. Ý của câu này nói rằng: “Cát của sông Hằng có nhiều không? Nhiều đến mức không cách nào đếm được. Nhưng nếu mỗi hạt cát là một con sông Hằng, vậy cát đó nhiều không?” Câu nói này là như vậy, vì thế khi đọc kinh các bạn phải ghi nhớ.

*"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như cát có trong sông Hằng, Phật nói đó là cát chăng?” "Thưa Thế Tôn, đúng vậy! *Như Lai nói là cát.” Cát của sông Hằng là cát. Tiếp theo: *"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như trong một con sông Hằng có bao nhiêu cát lại có bấy nhiêu sông Hằng nhiều bằng số cát ấy.” *Câu nói này rất nhiều người đều không có cách nào giải thích được. Phật Thích Ca Mâu Ni nói nếu tất cả cát trong sông Hằng, mỗi một hạt cát lại là một sông Hằng. Ý của câu “sông Hằng nhiều bằng số cát ấy” là muốn nói rằng một hạt cát tương đương với một sông Hằng. “S*ố cõi Phật nhiều bằng tất cả cát của tất cả sông Hằng ấy”, *thế giới của Phật, thế giới của Như Lai tương đương với tất cả số cát của tất cả sông Hằng. *“Như thế có nhiều không?" *Như vậy có được xem là nhiều không? Đương nhiên là nhiều rồi! Cát sông Hằng đã là rất nhiều rồi, một hạt cát lại tương đương với một sông Hằng, thế giới của Phật nhiều tương đương như vậy. Thế giới của Như Lai tương đương với cát sông Hằng, lại còn là một hạt cát tương đương với một sông Hằng, và tất cả số cát tương đương với thế giới của Phật. Tôi thấy thế giới của Phật là vô cùng nhiều, đếm không xuể!

*Phật bảo Tu Bồ Đề: "Trong tất cả quốc thổ ấy, tất cả chúng sinh có bao nhiêu loại tâm, Như Lai đều biết.” *Trong mỗi một tịnh thổ, mỗi một Phật quốc này, tâm niệm của mọi chúng sinh, một suy nghĩ mà họ nghĩ ra Phật đều biết, vì sao vậy? Chiếu theo lí mà nói thì Phật hẳn là không biết được, bạn nói xem cát sông Hằng, nếu một hạt cát là một chúng sinh, làm sao mà nghĩ được tâm nhiều như số cát ấy đang nghĩ cái gì. Huống hồ là mỗi hạt cát lại tương đương với một sông Hằng. Nhiều cát như vậy, nhiều thế giới Phật như vậy, nhiều chúng sinh trong các thế giới Phật như vậy, đầu của họ đang nghĩ cái gì Phật cũng biết, vì sao? 

Bây giờ tôi cũng biết, bao nhiêu loại tâm Như Lai đều biết. Phật đều biết, là vì sao? Vì sao có thể biết được đây? Lúc này Như Lai mới nói ra nguyên nhân, Như Lai nói: “Mọi tâm đều chẳng phải tâm.” Mọi suy nghĩ, mọi ý tưởng đều là chẳng phải tâm, tất cả đều không phải là ý nghĩ, bởi vì đều không phải là ý nghĩ nên chẳng phải tâm chính là tâm. Là vì sao? Cho nên Phật nói thế này: *“Tu Bồ Đề! Tâm quá khứ không thể đắc, tâm hiện tại không thể đắc, tâm vị lai không thể đắc.” *Đương nhiên tôi cũng hiểu ba chữ này. 

Tâm chúng sinh* *giống như cát sông Hằng, cho dù một hạt cát là một chúng sinh rồi, cát sông Hằng đã khiến bạn không đếm nổi rồi, làm sao bạn biết được tâm của chúng sinh chứ? Không thể nào! Một hạt cát đó lại tương đương với một sông Hằng, vậy thì có bao nhiêu cát chứ? Căn bản là không có cách nào đếm nổi. Cát của một sông Hằng đã không có cách nào đếm được rồi, lại còn một hạt cát tương đương với một sông Hằng, toàn bộ số cát lại tương đương là một Phật quốc, vậy chúng sinh trong Phật quốc nhiều như thế nào? Vô số đó. Đó là bao nhiêu loại tâm, rất nhiều, rất nhiều suy nghĩ Như Lai đều biết, vì sao vậy? Phật nói: *“Tu Bồ Đề! Tâm quá khứ không thể đắc, tâm hiện tại không thể đắc, tâm vị lai không thể đắc.” *Đây chính là nguyên nhân, cũng là câu nói quan trọng nhất trong kinh Kim Cang. Ba chữ “vô sở đắc” mà tối hôm qua tôi đã giảng. 

Ví dụ nói mỗi thế giới Ta Bà của chúng ta là được rồi, chúng ta nói thế giới Ta Bà tổng cộng có bao nhiêu người? Trên trái đất này tổng cộng có bao nhiêu người? Bảy tỉ, được, vậy Phật biết tâm của bảy tỉ người này đang nghĩ gì, vì sao Phật biết được? Đáp án nằm ở đây: “Tâm quá khứ không thể đắc, tâm hiện tại không thể đắc, tâm vị lai không thể đắc.” Cũng có thể nói thế này, mọi điều mà các bạn nghĩ, điều mà mỗi con người nghĩ trong tâm, các bạn đều không có được, cho nên Như Lai biết tâm chúng sinh, bởi vì không có người nào có thể có được, không cần phải nói! Phật cũng không cần nghĩ.

Dù sao các bạn cũng không có được, mọi người các bạn đều suy nghĩ đi: “Tôi muốn có được tiền, tôi muốn trúng xổ số, tôi muốn trúng Power [một giải xổ số độc đắc ở Mĩ], tôi muốn thế nào đó…” Bạn nghĩ đi, để cho bạn nghĩ. Tôi nói với bạn, không ai có thể có được. Cho dù bạn trúng xổ số rồi, trúng Power rồi, không ai có thể vĩnh viễn có được Power này, có được xổ số này, không có! Bạn có biệt thự, rất tốt! Bạn liền mua nhiều căn nhà, bạn có tiền mua nhiều căn nhà, có thể kiếm tiền. Bạn mua rất nhiều nhà, bạn làm nhà trọ, thế là bạn kiếm được tiền rồi.

Tôi thường nghĩ, Seattle Lôi Tạng Tự của chúng ta cũng đã mua mấy gian phòng khách nhỉ, Seattle Lôi Tạng Tự có mấy gian phòng khách. Người hiện sống trong phòng khách này, Thượng sư Liên Vượng, phòng khách bên đó của ông có mấy người ở? Một người ở, một gian phòng khách chỉ một người ở, chính là căn mà Liên Vượng ở. Còn có phòng không có người ở không? Đều có người ở hết à? Chắc là Bích Trân biết rõ hơn một chút. Mỗi phòng đều có người ở, ở được bao nhiêu người? (Thượng sư Bích Trân: ngoài phòng của Thượng sư Liên Vượng ra, ít nhất đều có thể ở hai người trở lên, phòng phía tây, phía bắc hiện tại đều đã kín người, phòng phía nam cũng có rất nhiều người ở.) Có một vài căn là ít người ở. (Thượng sư Bích Trân: bình thường tương đối ít người, nếu có pháp hội thì bên đó sẽ ở kín hết.) Được rồi, cảm ơn!

Ví dụ Thượng sư Liên Vượng một người ở một phòng, tôi nghĩ, căn phòng đó có thể làm phòng trọ! Còn có trong số những người ấy, bạn chỉ cần tập trung người ta vào ở một nửa số phòng, một nửa kia có thể lấy ra làm phòng trọ, thuê người đến quản lí, thu tiền hàng tháng. Còn có một người chuyên môn tu sửa phòng trọ nữa, ví dụ có thứ gì đó hỏng thì họ liền đi sửa chữa. Người có đầu óc kinh doanh thì chắc chắn sẽ kiếm tiền, tuyệt đối có thể kiếm tiền, thuê hai người, một người chuyên môn sửa chữa đồ đạc bị hỏng, một người là quản lí, đi giám sát, thu tiền và tiếp khách. 

Làm nhà trọ đi, bởi vì có phòng mà! Có phòng không thể nào để một người ở trong một phòng, chà! Thế này lãng phí quá! Ông rất may mắn đó ông biết không? (Thượng sư Liên Vượng: Tôi phải quét phòng, quét sân.) Dù sao ông không phải trông phòng là tốt rồi. Tôi nói với bạn, bất kể bạn kiếm được bao nhiêu tiền, đầu óc của bạn tính toán rất nhanh, cuối cùng cũng là vô sở đắc! Cho dù nhà bạn to thế nào, là biệt thự, cuối cùng cũng chẳng có được!

Giống như xe mà Sư Tôn lái toàn là xe hàng đầu đó! Là xe do sư tỉ Hanifa tặng, sư tỉ Hanifa tặng tôi hai chiếc xe, một chiếc là xe Rolls-Royce hàng đầu, là do sư tỉ Hanifa tặng, một chiếc là xe bán thể thao Maserati, tiếng Ý gọi là Maserati, họ chuyên môn làm xe thể thao, bây giờ cũng làm xe bán thể thao, xe Sư Tôn đi là xe bán thể thao, đây cũng là xe rất đắt. Bạn có thể vĩnh viễn có được hai chiếc xe này không? Không thể nào, không thể có được! Sẽ có một ngày phải rời xa xe của bạn, rời xa biệt thự của bạn, xe, nhà bạn đều không có được, tiền làm sao bạn có thể có được chứ?

Cho nên Phật biết tâm chúng sinh đang quằn quại, cũng giống như cái hố xí thời xưa của chúng ta. Các bạn đã từng ngồi trong hố xí ngày xưa chưa? Khi ấy chúng ta phải ngồi xổm, không hề có bồn cầu ngồi bệt, lấy đâu ra bồn cầu ngồi, rồi còn bồn cầu xả nữa nữa, nước xả ra là không còn gì nữa, cái này cũng rất hay, ngay cả phân cũng chẳng phải là của bạn! Những thứ có trên người bạn, đó là phân của bạn tồn ở trong đại tràng của bạn, bạn ngồi như thế này, xả một cái, “ào”, không còn gì nữa. Hố xí ngày xưa bạn cho rằng có, không sai, nhưng phải gọi người ta đến để lấy ra, phải moi hết toàn bộ những thứ đó ra. Còn nữa, bạn nhìn thấy ở phía trên hố xí ngày xưa có rất nhiều dòi, những con dòi màu trắng ở đó ngọ nguậy lăn lộn. Mấy thứ của bạn vừa rơi xuống, “pẹt”, bọn chúng liền lao vào tranh nhau, cả một đống. Tôi nói với bạn, suy nghĩ của con người, những gì đầu óc bạn nghĩ mỗi ngày cũng giống như những con sâu non trong cái hố xí ngày xưa, ở trong đó lăn lộn quằn quại. Mọi của cải không người nào có thể có được cái gì.

Nói một cách rất đơn giản, có người muốn sống lâu, vừa rồi thỉnh Phật trụ thế vô lượng thọ, nghĩ mà xem, chẳng qua cũng chỉ thêm vài năm nữa, nếu thật sự có tăng thêm tuổi thọ thì cũng chỉ sống thêm vài năm thôi, sống thêm mấy năm nữa. (Mọi người vỗ tay.) Có gì đáng để vỗ tay chứ, cuối cùng cũng vẫn “tinh tinh” thôi. Ngày trước tôi đi đến chỗ của thầy Thubten Daerji, thầy ấy thường giơ ra một ngón tay kêu “tinh tinh”, thầy luôn nói với tôi “tinh tinh”, “tinh tinh” thế là đi thôi! Thị giả của thầy (Thubten Qigong) cũng “tinh tinh” giống như thế rồi đi. Thầy Thubten Daerji đi rồi, thầy chuẩn bị một phần các thứ của chính mình giao cho Thubten Qigong, Thubten Qigong cũng chẳng có được, bây giờ ông ấy cũng đã “tinh tinh” rồi, cũng đã đi rồi. 

Vì thế, cuối cùng rồi con người cũng đều “tinh tinh”, đều nằm xuống “tinh tinh”. Tiền không phải của bạn, nhà cửa không phải của bạn, xe không phải của bạn, vợ không phải của bạn, con cũng không phải của bạn, cháu cũng không phải của bạn, đây chính là tâm quá khứ không thể đắc, tâm hiện tại không thể đắc, tâm vị lai không thể đắc.

Tối hôm qua tôi đã nói rằng quá khứ đã qua rồi, hiện tại cũng sẽ thành quá khứ, tương lai còn chưa đến, xin hỏi bạn có được cái gì? Tôi hỏi lại một câu: “Mọi người sau này có thể có được cái gì?” Mọi người thử nghĩ xem, tương lai bạn sẽ có được cái gì? Có người cho rằng: “Tôi sẽ trở nên rất xinh đẹp.” Trở nên rất đẹp thì sẽ có tâm ngạo mạn, bởi vì cô ấy trở nên xinh đẹp thì sẽ có tâm kiêu ngạo. Không thể vĩnh viễn, không có thứ gì thuộc về ta vĩnh viễn. 

Vừa rồi chẳng phải đã nói câu chuyện cười đó sao? “Khi bạn là sinh viên năm hai, bạn nặng bao nhiêu kg? Hãy giết chết trái tim của bạn trai bạn bằng cách hãy đi ăn cơm cùng với bạn trai trước đây, để cho anh ta cắt bỏ cái tâm ấy.” Cho nên sắc đẹp cũng không phải là vĩnh viễn, tuyệt đối không phải là vĩnh viễn, chẳng mấy chốc sẽ không có gì. Hơn nữa thanh xuân cũng chẳng qua là một chốc rồi sẽ tan biến, ta muốn tóm chặt lấy cái đuôi của hoàng hôn, là cái đuôi của thanh xuân. Tôi nói cái đuôi của hoàng hôn chỉ một chốc cũng tiêu biến, sẽ không có hoàng hôn nữa. Hoàng hôn đẹp nhất, nhưng ngay lập tức cũng không còn nữa. Cái đuôi của tuổi trẻ cũng như vậy, muốn túm chặt lấy cái đuôi của tuổi trẻ để cho mình đẹp lâu hơn một chút, nhưng cuối cùng cũng không thể có được. 

Hôm đó hình như chúng ta ở nhà ăn của Seattle Lôi Tạng Tự, nhìn thấy có một phụ nữ đang hát, đúng không? Bà ấy đi hát từ khi còn trẻ cho đến khi già yếu và biến thành một bộ xương, đó đại diện cho bất khả đắc. Sắc không thể có, muốn túm lấy cái đuôi của tuổi trẻ, tôi nói để bạn biết rất đơn giản, không cần Như Lai phải biết tôi cũng biết, túm không được! Tôi đều biết cả rồi, tôi thường lấy ra tấm ảnh của tôi, đó là tấm ảnh hồi hai mươi mấy tuổi, có giống ngôi sao điện ảnh không? Rất giống mà. 

Bây giờ ai còn mang theo tấm ảnh đó? Trên mạng có à? Tôi không xem mạng, tôi không biết trên mạng có tấm ảnh đó. Bây giờ tôi có giống ảnh đó không? Khi ấy tôi ngoài 20 tuổi, bạn gái của tôi là Lưu Giang Hà ngồi ở phòng khách nhà tôi, tối nào cô ấy cũng ngồi ở phòng khách nhà tôi không đi. Bố mẹ tôi nói: “Chúng ta sắp đi ngủ rồi, bạn gái anh vẫn chưa đi, làm sao đây?” Tôi nói: “Để con tiễn cô ấy về, con đưa cô ấy về.” Lưu Giang Hà, ngày nào cô ấy cũng ngồi trong phòng khách nhà tôi, cứ ngồi mãi cho đến khuya vẫn không đi.

(Trong phòng có nhiều người giơ điện thoại lên.) Có tấm ảnh đó rồi, tìm được bốn tấm ảnh à? (Màn hình hiển thị ảnh của Pháp Vương.) Đó là bộ đội, khi ấy tôi mặc quân phục, đó là tấm ảnh khi tôi học ở trường quân đội. Không phải tấm đó, là tấm này, không phải để cho tôi xem đâu, đó là tôi, đưa cho tôi xem làm gì? Đúng vậy, không giữ được tuổi trẻ, không thể có! Thân thể của bạn cũng không phải là của bạn, con người đều sẽ già, hơn nữa đôi khi vô thường đến rất nhanh, vô thường rất nhanh chóng, hôm nay vẫn còn đây, một lúc sau đã không còn nữa, vì thế sắc đẹp cũng không giữ được.

(Màn hình hiển thị một tấm ảnh khác của Pháp Vương.) Ồ, là tấm ảnh đó phải không? Có người nói có hơi giống ngôi sao điện ảnh đó! Bạn nhìn xem có giống tôi hiện tại không? (Mọi người: giống.) Đừng lừa tôi, đừng có lừa tôi, bây giờ nếu mà tôi giống như vậy thì đi ra ngoài đường không biết có bao nhiêu người huýt sáo. Điều đáng tiếc duy nhất trong cuộc đời này của tôi chính là tôi lùn quá. Người ta nói cao to đẹp trai, đẹp trai, lúc trẻ có, nhưng không thể nói là cao to đẹp trai được, không thể nói hai chữ cao to được, vốn dĩ là không thể có mà! Làm sao bạn có thể hoàn hảo được? Con người không thể nào hoàn hảo như vậy.

Pháp sư Lị Lị ở đâu nhỉ? (Pháp sư Lị Lị: Dạ ở đây!). Bố và mẹ của pháp sư Lị Lị chúng tôi đều biết, bố của pháp sư Lị Lị từng nói: “Trong số ba người con gái của tôi, đứa thứ hai là xinh đẹp nhất.” Người con gái thứ hai chính là pháp sư Lị Lị, cô đứng dậy cho mọi người nhìn xem, bây giờ có xinh đẹp không? Vâng, mời ngồi! Cuối cùng cũng xinh đẹp một chút. Khi xưa pháp sư Lị Lị là phó chủ tịch của ngân hàng Rainier, ngân hàng Rainier là tiền thân của Seattle First, cô ấy là phó chủ tịch của một đơn vị của ngân hàng Rainier.

Khi ấy có ba người mới di cư qua (ba người đàn ông). Bởi vì cô ấy là người Hoa, rất nhiều người Hoa đến ngân hàng đều tìm cô ấy để gửi tiền, rút tiền, làm nghiệp vụ ngân hàng gì phần lớn đều tìm cô ấy. Có ba người đàn ông này ngày nào cũng cắt cỏ trong sân vườn nhà cô ấy, chúng tôi biết căn bản là nhà cô ấy không cần cắt cỏ, đã có ba người đàn ông đó đến cắt cỏ miễn phí ở nhà cô ấy rồi. Có ba người đàn ông, một người hình như làm kiến trúc, một người bán hoa quả, người kia thì không biết là làm cái gì. Cô đã quên rồi à, tôi thì vẫn nhớ, một người làm xây dựng, bây giờ rất phát đạt, làm xây dựng kiếm được rất nhiều tiền. Một người là nhập khẩu trái cây, còn có một người không biết là người nào? Tóm lại là có ba người đàn ông thường xuyên giúp cô ấy cắt cỏ, cô ấy khi đó là tiền hô hậu ủng, rất uy phong. Cho nên bạn xem, tiền không thể có, sắc không thể có, địa vị không thể có.

Người nào có thể làm Tổng thống vĩnh viễn? Không có ai, đại bộ phận đều là đời này tới đời kia, chính là như vậy. Triều đại cũng như thế, đều là luân phiên, không có vĩnh viễn. Giống như Tần Thủy Hoàng muốn làm hoàng đế vĩnh viễn, Hán Vũ Đế cũng muốn làm hoàng đế vĩnh viễn, họ đều luyện đơn, ăn Tiên đơn trường sinh bất lão, giống như ở trên tấm vải kia viết vô lượng thọ, họ đều muốn có được vô lượng thọ. Tần Thủy Hoàng cũng muốn có được vô lượng thọ, cho nên đã phái đạo sĩ khi đó là Từ Phúc dẫn ba nghìn đồng nam, ba nghìn đồng nữ đi ra biển để tìm Tiên đơn, một đi không trở lại, đi đến Nhật Bản trở thành tổ tiên của người Nhật. Hán Vũ Đế cũng tương tự, luyện đơn uống Tiên đơn, xem xem có thể vô lượng thọ không, đến cuối cùng thì cũng “tinh tinh”. Có mấy người đều muốn làm hoàng đế vĩnh viễn, chẳng có ai, đều sẽ chết.

Cho nên mọi người nghĩ mà xem, vô sở đắc, khi đặt ba chữ này vào trong tâm, phiền não gì cũng không có, nó có thể cắt đứt tập khí, cắt đứt phiền não, có thể cắt đứt mọi bám chấp. Bạn chấp vào cái gì? Vô sở đắc! Bạn chấp vào cái gì? Bạn phiền não cái gì? Vô sở đắc! Bạn không cần tức giận, bởi vì bạn có nổi giận thì cũng là vô sở đắc. Cắt đứt! Bạn phiền não cái gì? Dù sao mọi người đều như vậy, sau này mọi người đều sống ở Tây Phương Cảnh, Song Liên Cảnh Giới, đi đến nơi đó, ở bên trong cái hộp càng tốt hơn! Có được cái gì đây? Vô sở đắc mà! Tiền, sắc, danh, ăn, ngủ, không ai có được cái gì.

Vì thế đương nhiên Như Lai hiểu được tâm của con người, bởi vì mọi tâm đều chẳng phải là tâm. Những gì bạn nghĩ đến đều không phải là nghĩ, bởi vì những gì bạn nghĩ đều là vô sở đắc, vì thế chính là chẳng phải tâm. Điều bạn nghĩ đều vô ích, đều không phải là suy nghĩ của bạn, bởi vì không phải suy nghĩ mới gọi là tâm. Tôi đã giải thích với bạn câu này rồi. Như Lai đều biết các bạn đang nghĩ cái gì, bởi vì đều vô sở đắc mà. Ba chữ vô sở đắc là đúng rồi, không ai có thể có được cái gì, cho nên Phật đương nhiên đều biết vô sở đắc.

Chỉ có mê muội trong thế giới Ta Bà, suy nghĩ đủ thứ về thế giới, họ ở trong mê mà không biết, cho nên không thể cắt đứt phiền não, không thể cắt đứt bám chấp, không thể cắt đứt tập khí. Nếu bạn biết thì có thể buông bỏ toàn bộ, như vậy bạn mới có thể đắc được A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Dụng ý của kinh Kim Cang nằm ở đây, kinh Kim Cang chính là cắt đứt! Cắt đứt tất cả, hủy diệt tất cả, cắt! Tôi nói kinh Kim Cang là bất hoại, phá hủy tất cả, bạn nói xem có phải là phá hủy toàn bộ không? Bởi vì vô sở đắc mà, không ai có thể có được cái gì.

Sư Tôn cho rằng người ta mua cho tôi xe Rolls-Royce, xe Maserati, tốt, hai chiếc xe đó cũng chẳng phải của tôi, tạm thời dùng một chút thôi, cũng là không thể có. Như vậy mọi người nghe hiểu rồi chứ? Vì thế đừng cho rằng bạn dài hay là ngắn, thật ra dài ngắn đều như nhau, đều là như nhau. Trên thế giới này, Phật biết chúng sinh thế giới Ta Bà nhiều người như vậy, bảy tỉ chúng sinh toàn bộ đều vô sở đắc. Trong con mắt của Phật, chúng sinh chẳng qua chỉ là những con dòi ở trong hố xí ngày xưa, ở đó lăn lộn, có lúc thì tôi ngoi lên, có lúc thì đè anh xuống, có lúc thì lộn xuống dưới, có lúc thì lộn lên trên, lộn xuống dưới, đến cuối cùng cũng không còn. 

Nhìn khí sắc người bạn thân không được tốt lắm, tôi hỏi: “Nhìn sắc mặt cậu không tốt, trong người không thoải mái à?” Cô ấy nói: “Không phải, chồng tớ nhập viện, tớ phải ngày đêm trông nom.” Tôi lại hỏi: “Vậy là cậu không thuê y tá chăm sóc anh ta à?” Bạn thân nói: “Chính vì có thuê một cô y tá xinh đẹp cho nên tớ mới phải ngày đêm để mắt đến anh ta.” Bạn xem, đây chính là phiền não của con người. Om mani padme hum.

*(Ngày 06/03/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 64.)*


### 65. Phần thứ 19: Pháp giới thông suốt không ngăn trở


*(Bài giảng 65) *Pháp giới thông suốt không ngăn trở

Hôm nay chúng ta giảng kinh Kim Cang - Phần thứ 19: Pháp giới thông suốt không ngăn trở. Tôi đọc một lần cả đoạn của phần thứ 19 này, bởi vì nó không dài lắm.

*"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Nếu có người dùng thất bảo tràn đầy khắp tam thiên đại thiên thế giới để bố thí, người ấy vì nhân duyên này có được phúc nhiều không?"
"Đúng thế, thưa Thế Tôn! Người này do nhân duyên ấy mà có phúc rất nhiều."
"Tu Bồ Đề! Nếu phúc đức có thật, Như Lai không nói có được phúc đức nhiều, vì phúc đức là không, nên Như Lai nói có được phúc đức nhiều."*

Chỉ có mấy câu ngắn ngắn này thôi là kết thúc phẩm này.

Phần thứ 19: Pháp giới thông suốt không ngăn trở, bạn xem, đoạn văn này và phẩm thứ 8 của kinh Kim Cang chẳng phải là có chỗ tương đồng sao? Phẩm thứ 8 là nói như thế này: *“Có người dùng thất bảo đầy cả tam thiên đại thiên thế giới để bố thí”*, cũng là nói đến vấn đề phúc đức. Nhưng điều nói đến trong phẩm thứ 8 là lấy việc này để so sánh với việc thọ trì đọc tụng kinh Kim Cang xem cái nào phúc đức nhiều, cái nào phúc đức ít. *“Có người dùng thất bảo đầy cả tam thiên đại thiên thế giới để bố thí”*, công đức của người này đương nhiên là rất nhiều, nhưng vẫn thua người thọ trì đọc tụng kinh Kim Cang, đây là so sánh của phẩm thứ 8. 

Thế còn phẩm thứ 19 là dùng việc này để so sánh: *"Tu Bồ Đề! Nếu phúc đức có thật, Như Lai không nói có được phúc đức nhiều, vì phúc đức là không, nên Như Lai nói có được phúc đức nhiều." *Đây là câu trả lời của Phật Đà, nếu phúc đức là có thật, thực tế là có, Như Lai không nói là có được phúc đức nhiều. Thực tế là có phúc đức, vì sao Như Lai nói là không có phúc đức nhiều? *“Vì phúc đức là không”*, phúc đức là không có, cho nên Như Lai nói là có được phúc đức nhiều. Nói chung, người đọc kinh các bạn có thể hiểu được Phật Đà rốt cục đang nói cái gì không? Đây chính là vấn đề mà Phật Đà trả lời. 

Tu Bồ Đề đã nói: “Có được phúc rất nhiều.” Nhưng Phật Thích Ca Mâu Ni nói với Tu Bồ Đề rằng: *“Nếu phúc đức có thật, Như Lai không nói là có được phúc đức nhiều, vì phúc đức là không, Như Lai nói là có được phúc đức nhiều.” *Ở đây đang nói cái gì? Ý nghĩa gì? Ai có thể giải đáp, lần này có thưởng! Chà! Là Dzambhala Tài Thần đó! Lại còn có thêm hai đồng tiền cổ nữa. Chà, sợi dây này rất quý, tôi hà một hơi khí! Ai có thể trả lời được câu này sẽ tặng cho người đó sợi dây này. Vâng, mời đại sứ.

(Đại sứ: đảnh lễ Sư Tôn. Kinh Kim Cang là Phật Đà nói cho người phát tâm Đại thừa, người phát tâm Đại thừa muốn đạt đến A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, nói cho người đạt chính đẳng chính giác cao nhất. Cho nên pháp của vũ trụ là không sinh không diệt, không đoạn không thường, là giống như hư không, thậm chí ngay cả tro bụi bạn cũng đều không thấy. Vậy bạn tu hành bạn muốn độ chúng sinh vô lượng, căn bản không có thời gian để nghĩ là tôi đang độ chúng sinh, căn bản không có thời gian để đi tính toán. Cũng giống như một vị hoàng đế kia nói ông ta đã xây bao nhiêu chùa, có phúc đức không? Đạt Ma nói ông không có phúc đức.

Vì thế phúc đức có thể tính đếm đo lường được thì không xem là nhiều, phúc đức thật sự, tôi xây chùa, tôi quyên tặng nhà cửa, tôi quyên tặng cái gì có thể tính đếm được, đó không nói là có nhiều phúc đức. Cho nên phúc đức tức là nói rằng bạn làm mà không nói, phúc đức vô lượng, cái đó mới gọi là nhiều, cái đó mới là phúc đức thật, cái này chính là chân nghĩa của kinh Kim Cang, chính là bố thí vô tướng, sống vô trụ, tu hành vô đức. Khi bạn làm theo cách như vậy, những công đức này không nhìn thấy, chính mình cũng không nói, thì sẽ nhiều như hư không, đó mới gọi là phúc đức. Cảm tạ Sư Tôn!)

Nói rất chính xác, tặng cho ông sợi dây này. Phật Thích Ca Mâu Ni nói câu này, bạn đừng dựa theo kinh văn để giải thích. Vừa rồi ngài đại sứ đã nói rồi, người có phúc đức chân chính không bao giờ đi nói về phúc đức, cái này chính là vô trụ. Bạn vô trụ mà đi bố thí, tôi không phải vì cái gì mới bố thí, không vì phúc đức mới đi bố thí, như thế thì phúc đức nhiều. Nếu bạn vì cái gì đó mới đi bố thí thì phúc đức ấy sẽ ít đi, thậm chí không có phúc đức. Cho nên cả đoạn câu này chính là vô trụ, Phật Thích Ca Mâu Ni dạy mọi người vô trụ tướng bố thí.

Phẩm thứ 8 dùng so sánh, *“Nếu có người dùng thất bảo đầy cả tam thiên đại thiên thế giới để bố thí, công đức rất nhiều.”* Tu Bồ Đề nói không sai, công đức rất nhiều, nhưng vẫn còn thua người đọc tụng kinh Kim Cang, thọ trì kinh Kim Cang, đó là hai so sánh. Ý nghĩa của phẩm thứ 8 chính là hai người so sánh với nhau, chính là hai so sánh. Phẩm này nói đến vô trụ tướng bố thí thì là phúc đức nhiều, có trụ tướng bố thí thì *“Như Lai không nói có được phúc đức nhiều”*, bởi vì phúc đức ấy có hạn.

Vì thế, chúng ta bất kể làm việc gì, không phải vì phúc đức mới làm, chúng ta làm theo bổn phận tu hành của mình, cũng không mong cầu báo đáp gì, cái đó mới gọi là phúc đức nhiều. Bạn vì cái gì đó mới làm thì cái đó chính là *“Như Lai không nói có được phúc đức nhiều, vì phúc đức là không”,* căn bản là bạn không có phúc đức. Giống như Lương Vũ Đế thời Nam Triều, ông ấy đã xây dựng nhiều chùa như vậy, nuôi dưỡng nhiều người xuất gia như vậy, kết quả ông ấy hỏi Tổ sư Đạt Ma rằng: “Công đức của ta thế nào?” Tổ sư Đạt Ma nói một chút công đức cũng không có. Bạn vì công đức mà làm thì đó còn có công đức gì? Căn bản chính là không có công đức.

Cho nên chúng ta không vì cái gì mà làm, là vô trụ tướng bố thí, bạn không phải vì cái mà đi bố thí thì cái đó là phúc đức nhiều. Bạn vì cái gì mà đi làm thì đó là không có phúc đức. Cái này hết sức đơn giản, đoạn văn này vô cùng đơn giản, vì sao tiêu đề là Phần thứ 19: Pháp giới thông suốt không ngăn trở? Thế nào là Pháp giới thông suốt không ngăn trở? Nếu dựa theo ý nghĩa thì đề mục của phần này nên là Phần thứ 19: Phúc đức có hay không, vì sao tiêu đề lại là Pháp giới thông suốt không ngăn trở? Pháp giới thông suốt không ngăn trở và phúc đức có hay không có liên quan gì? Đương nhiên là có liên quan rồi!

Nếu dựa theo Pháp giới thông suốt không ngăn trở mà nói thì làm gì có phúc đức gì. Toàn bộ pháp giới, chúng ta nói gom về một cái cho tiện lợi là được rồi, mặt trăng, trái đất, còn có chín hành tinh trong hệ mặt trời, tinh cầu nào có phúc đức? Tôi hỏi bạn, là sao Hải Vương à? Sao Diêm Vương à? Sao Hỏa à? Mặt trăng à? Trái đất à? Trái đất có công đức gì? Trái đất chẳng qua cũng chỉ là một hành tinh trong số chín hành tinh thôi. Pháp giới thông suốt không ngăn trở, chúng ta nói về hệ mặt trời là được rồi, không cần phải nói về toàn bộ pháp giới đều tương thông, đều là như vậy. Bạn biết có bao nhiêu pháp giới không? Nghe nói có một trăm hệ mặt trời.

Hệ mặt trời của chúng ta chỉ là một hệ mặt trời trong số đó, ngoài ra còn có bao giới hạn, bạn không vượt qua được, thế giới bên ngoài thái dương hệ này bạn căn bản là không vượt qua được. Đi tới nơi đó chính là điểm đầu cùng, bạn không vào được, bởi vì đó là có lớp khí quyển lớn, dày hơn cả lớp khí quyển bao quanh trái đất, lại còn chìm xuống, không có thứ gì có thể xuyên qua được. Cả hệ mặt trời bạn đã không có phúc đức gì rồi, một hạt cát nhỏ bé như bạn xem là phúc đức gì chứ?

Chúng ta biết rằng trên mặt trăng đến một con người cũng không có, người ta cũng chưa từng phát hiện ra có sinh vật trên mặt trăng. Tôi hỏi bạn, trên mặt trăng có phúc đức gì? Bạn nói cho tôi nghe xem, trên mặt trăng có phúc đức gì? Lại quay lại nói, trên trái đất có phúc đức gì? Bạn nhìn xem Nga và Ukraine đang đánh nhau, đó chẳng qua là hai con dòi ở trong hố phân, chúng đang ở đó đánh nhau thôi, nhìn từ trên vũ trụ thì căn bản là không có việc này. Cho nên nếu bạn có nhãn quang rộng lớn, bạn biết Phật pháp, Phật pháp thật sự là quảng đại vô biên, chúng ta thường nói Phật pháp vô biên, không có biên giới. Phật pháp vô biên chính là pháp giới thông suốt không ngăn trở. 

Lúc nhỏ tôi có xem kiến đỏ và kiến đen, hai bên kiến đánh nhau. Khi còn nhỏ, tôi sống ở kí túc xá của Công ty Điện Lực Đài Loan ở ngã tư đường Lâm Sâm ở Cao Hùng (khu phố thị Đại Cảng). Khi ấy tôi thường xuyên nhìn thấy kiến bò tới bò lui. Bạn làm rơi ra một viên đường, rất nhiều kiến lập tức bu tới, ở Đài Loan cũng có hiện tượng này, bạn làm rơi một viên đường là sẽ có kiến bu tới. Cho nên ở trong sân nhà tôi, kiến đỏ và kiến đen hai bên đánh nhau, đánh rất kịch liệt, thật sự là máu chảy thành sông, những xác chết, những con kiến chết đầy rẫy.

Hai bên đánh nhau, kiến đỏ và kiến đen cắn lẫn nhau, chà! Hai bên kiến đánh nhau. Khi ấy tôi là trẻ con rất nghịch ngợm, muốn kết thúc cuộc chiến của chúng, tôi lấy mấy tờ giấy để ở đó, sau đó tôi châm lửa ở bên này, châm lửa ở bên kia, chà! Toàn bộ kiến đều chết sạch, hại tôi bây giờ siêu độ mệt nghỉ. Khi xưa tôi không hiểu, nhìn thấy kiến bò bò thế này… chà! Kiến từ bên kia bò tới, kiến từ bên này bò qua, bên cạnh bức tường tôi đặt một ít giấy, sau đó đốt bên này, đốt bên kia, cứ thế đốt lửa, chà! Xác chết đầy đồng.

Các bạn có biết chuyện này không? Ai lúc nhỏ từng dùng giấy đốt kiến giơ tay? Cũng không ít người từng giết kiến nhỉ! Thật đó, khi ấy tôi còn là trẻ con rất nghịch ngợm, nhìn thấy kiến bò theo bức tường bao, liền dùng giấy đốt bên này đốt bên kia, để cho chúng không có đường chạy thoát, sau đó chúng chết thành một đống. (Hội trường có người nói: Còn có phương pháp khác.) Bạn xịt thuốc DDT à? (Hội trường có người nói: dùng nước sôi.) Bạn dùng nước sôi để dội vào tổ kiến à? Chà, cái này càng dã man hơn.

Tôi hỏi mọi người, có liên hệ gì với trời đất thần linh chứ? Thật sự là những sinh mạng rất nhỏ mà! Từ sinh mạng của kiến, bạn lại nhìn xem sinh mạng của con người, kì thực sinh mạng của con người cũng là những sinh mạng rất nhỏ bé thôi! Ngày nay mạng người cũng chẳng đáng tiền gì, bạn xem chiến tranh kia xảy ra, rất tàn ác. Chúng ta đều cảm thấy, ôi chao! Thật sự không muốn có chiến tranh như vậy, những người chết đều là đồng loại, đồng loại đều là loài người hà tất phải tương tàn, tôi có cách nghĩ như vậy. Nhưng mà con người, đôi khi cũng tự mình gây tội lỗi, làm cái gì mà bom hạt nhân, làm cái gì mà vũ khí hóa học, làm những vũ khí hạt nhân này, bạn tự mình chịu diệt vong, đó là tự tạo ác nghiệt đó! Tự gây tội lỗi, không thể sống được!

Bạn xem Covid-19 đã làm cho toàn thể nhân loại khốn đốn lắm rồi! Học sinh không còn giống với học sinh, người đi làm không còn giống như đi làm, còn như người hoằng pháp chúng ta đều không đi ra ngoài được, trước đây đều đi đến các nước trên thế giới hoằng pháp, bạn xem bây giờ nước nào phong tỏa đã phong tỏa, muốn đi ra ngoài cũng khó! Bởi vì Covid-19 mà mọi thứ đã đóng cửa hai năm rồi, đóng đến cuối cùng thì học sinh bây giờ thật sự phải nói một câu là: trơ ra như phỗng. Những người đi làm thì đóng cửa làm việc trong nhà mình, giống như Microsoft vẫn chưa hoàn toàn đến công ty làm việc, có người vẫn ở nhà làm việc, hai năm rồi không có gặp mặt đồng nghiệp, tôi thấy tinh thần người ta đều sắp suy sụp rồi. Con người không thể thăm hỏi lẫn nhau, sự héo mòn tinh thần ấy thật sự là rất tàn nhẫn.

Cho nên bạn xem, tiêu đề này chính là Pháp giới thông suốt không ngăn trở, Phật pháp vô biên, pháp giới thông suốt rộng lớn vô biên, đều là đạo lí này. Vì thế chúng ta bây giờ hiểu được cái gì? Tâm lượng đừng nhỏ hẹp như vậy! Tâm lượng rộng lớn một chút, không có việc gì là không thể linh hoạt châm chước, không có việc gì là không thể khoan dung. Tâm lượng của bạn nhỏ như con kiến, nhất định muốn đánh nhau sao? Tâm lượng phải mở rộng, đừng có con mắt bé tin hin như mắt đậu xanh. Con mắt Sư Tôn vốn dĩ rất to, bây giờ già rồi thì da mắt trùng xuống, da mắt trùng xuống thành một đường, lại càng giống Phật Bồ Tát. Rất ít Phật Bồ Tát có con mắt mở ra rất to, đều là mắt he hé nhìn xuống như thế này.

Tôi cũng không phải là mắt đậu xanh, mắt của tôi rất to. Mắt của con người đừng có nhỏ giống như hạt đậu xanh, nhãn giới nhỏ như vậy, pháp giới vô cùng tận, Pháp giới thông suốt không ngăn trở, Phật pháp quảng đại vô biên, rất rộng lớn. Tuyệt đối đừng học loài kiến, tuyệt đối đừng học loài rùa, hai con mắt của loài rùa chỉ nhìn thấy phía trước mình. Tâm lượng này, mọi người phải học khoan dung, Phật pháp chính là khoan dung, là quảng đại vô biên, tâm lượng quảng đại vô biên đều có thể bao dung. Chính vì con người không thể khoan dung nên giữa nước này với nước kia mới có chiến tranh, không thể khoan dung nên mới có cách mạng gia đình, không thể khoan dung nên giữa người với người mới có thù hận, mới có oán thù.

Điều Sư Tôn học tập là như vậy, đều đối tốt với mỗi con người, bao gồm cả người rất xấu, ta vẫn phải đối tốt với họ. Cho nên Sư Tôn từng ở Đài Loan Lôi Tạng Tự nói một câu là: “Lư Sư Tôn tuyệt đối sẽ không đi kiện người ta.” Khi ấy Thượng sư Liên Cực ở bên cạnh, tôi đi xuống pháp tọa, ông ấy liền nói với tôi: ”Thầy sai rồi! Người ta sẽ kiện thầy, thầy không kiện người ta thì người ta sẽ kiện thầy.” Vậy thì coi như tôi xui xẻo, không sao cả, để cho người ta kiện đi! Tôi nói với bạn nhé, kiện người khác sẽ khiến người khác đau khổ. Bạn kiện người đó, người đó nhất định sẽ rất đau khổ, họ phải nghĩ cách giải quyết vụ kiện này, họ chắc chắn sẽ đau khổ.

Cho nên bản thân tôi cũng sám hối rồi! Trước kia tôi viết văn cũng từng phê bình người ta, khi tôi phê bình người ta, người ta chắc chắn rất đau khổ. Vì thế sau này tôi không còn giễu Quỷ Bà “đồ rê mi” nữa, tôi không cần phải mỗi năm đều chế giễu bà ấy “đồ rê mi” nữa, đâu cần chứ? Tôi đã viết năm cuốn sách phải không? Có sai không? Thật sự chẳng có cách nào phân biệt. Còn nữa, trước đây tôi từng viết “Con mắt kim cang phẫn nộ”, tôi đã phê bình rất nhiều người, cũng phê bình cả Lâm Vân, cũng phê bình cả Tinh Vân của Phật Quang Sơn, không nên thế, không nên thế. Cho nên khi muốn phê bình phải ghi nhớ không thể khiến đối phương đau khổ, đừng làm cho người ta đau khổ. 

Ở trên pháp tọa tôi nói tôi tuyệt đối không kiện người ta, bởi vì bị kiện thật sự rất đau khổ. Vì thế tôi không kiện người ta, đây chính là điều tôi nói khi ngồi trên pháp tọa ở Đài Loan Lôi Tạng Tự. Tôi bất kể mình phải chịu ấm ức thế nào cũng không thể đi kiện người khác. Giống như điều mà Jesus nói đó, Guru Jesus của tôi cũng nói như vậy, “phải yêu kẻ thù của bạn”, đó là Phật pháp, điều Jesus nói là Phật pháp, yêu kẻ thù của bạn cũng là Phật pháp, tôi giảng về Pháp giới thông suốt không ngăn trở một cách đơn giản như vậy.

Có người hỏi thi nhân Ấn Độ Tagore ba câu hỏi: “Cái gì dễ nhất? Cái gì khó nhất? Cái gì vĩ đại nhất?” Tagore đáp: “Chỉ trích người khác là dễ nhất, nhận thức chính mình là khó nhất, tình yêu không mong cầu được đáp lại là vĩ đại nhất.” Bạn xem thi nhân Tagore nói mấy câu này chính là điều mà hôm nay Sư Tôn giảng về Pháp giới thông suốt không ngăn trở. Phê bình người khác, chỉ trích người khác là việc dễ nhất, nhận thức chính mình, là suy nghĩ trong đầu bạn đó, bạn có hiểu được chính mình không? Cái này là khó nhất. Tình yêu không mong cầu báo đáp là vĩ đại nhất, chính là điều vô sở trụ bố thí mà kinh Kim Cang nói đến hôm nay. Tôi không vì điều gì cả mà đi bố thí, bố thí mà không bám trụ vào việc bố thí. Câu trả lời của Tagore. Trước kia tôi viết thơ mới, thơ mới của Tagore, ông ấy có tập thơ của ông ấy, Tagore thật sự rất vĩ đại. Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 12/03/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu A Di Đà Phật Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 65.)*


### 66. Phần thứ 20: Lìa sắc lìa tướng


*(Bài giảng 66) *Sắc, tướng

Hôm nay chúng ta giảng Phần thứ 20: Lìa sắc lìa tướng. Đoạn này cũng rất ngắn, tôi đọc toàn bộ đoạn này:

*"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Có thể dựa vào sắc thân đầy đủ mà thấy Phật không?"
"Không được, thưa Thế Tôn! Không nên dựa vào sắc thân đầy đủ mà thấy Như Lai. Là vì sao? Như Lai nói: mọi tướng đầy đủ tức chẳng đầy đủ, thì gọi là mọi tướng đầy đủ."*

Phần thứ 20: Lìa sắc lìa tướng, cũng tức là bạn nói về Phật thì không thể nói sắc của ngài, cũng không thể nói tướng của ngài, bạn phải thấy được Như Lai không phải nhờ nhìn tướng của ngài, cũng không phải nhờ nhìn sắc của ngài. Sắc này kì thực là sẽ biến hóa; tướng, chúng ta biết rằng Như Lai có 32 tướng, bản thân Phật có 32 tướng, 80 vẻ đẹp. Nhưng trong kinh Kim Cang nói, mặc dù Như Lai có đầy đủ mọi tướng, nhưng không thể dựa vào tướng để thấy Như Lai, cũng không thể dựa vào sắc để thấy Như Lai. Vậy cái gì là sắc? Sắc nói đến ở đây không phải là sắc trong háo sắc mà chúng ta nói, mà là nói về sự biến hóa của Như Lai.

Tôi lấy một ví dụ, giống như Tôn Ngộ Không có 72 phép biến hóa, Tôn Ngộ Không cùng với Nhị Lang Thần của Đô Giang Yển ở Thành Đô, Tứ Xuyên, miếu Nhị Lang Thần có phải ở Thành Đô, Tứ Xuyên không? Nhị Lang Thần là cháu của Ngọc Hoàng Đại Đế, tên là Dương Tiễn. Nhị Lang Thần có 73 phép biến hóa, Tôn Ngộ Không có 72 phép. Tôi nhớ tôi đã từng đọc là khi Nhị Lang Thần đuổi theo Tôn Ngộ Không, Tôn Ngộ Không liền biến thành một ngôi miếu, biến thành một tòa Lôi Tạng Tự, bên cạnh có một cột cờ, bởi vì cái đuôi của hắn chưa biến mất được, chính là cái cột cờ. Nhị Lang Thần nhìn quanh, Tôn Ngộ Không đã chạy đi đâu rồi? Nhìn thấy cái cột cờ, đây chắc chắn là cái đuôi của hắn rồi, Nhị Lang Thần nhận ra đây là Tôn Ngộ Không biến ra. Tôn Ngộ Không có biến hóa thế nào thì cái đuôi của hắn cũng vẫn lộ ra, cho nên trong khi Tôn Ngộ Không và Nhị Lang Thần đấu pháp, bởi vì Tôn Ngộ Không có 72 phép biến hóa, Nhị Lang Thần có 73 phép biến hóa, cho nên Tôn Ngộ Không luôn thất bại.

Sắc ở đây chính là nói về biến hóa, bạn không thể thấy một vị đang bay trong không trung, bạn liền nói đó là ai đang bay, cho rằng người đó chính là Phật. Người đang bay trong không trung chính là Phật, không thể cho rằng như vậy, bay trong không trung còn có chim mà, lẽ nào chim là Phật sao? Lẽ nào máy bay là Phật sao? Đều không phải, cái này chính là sắc. Mấy hôm trước tôi mới vừa bay trong không trung, ở trong không trung lượn đi lượn lại quay vòng như thế này, tôi có thể phi hành, muốn đến nơi nào là có thể bay đến nơi đó. Vậy bạn không thể nói rằng: “Ngài có thể bay trong không trung, vậy ngài chính là Phật!” Không phải. Cho nên không thể dựa vào sắc thân để mà thấy. Hoặc bạn có thể ẩn thân, bạn có thể biến hóa, giống như Tôn Ngộ Không, Tôn Ngộ Không có thể biến thành một ngôi chùa, có một cột cờ, bạn liền nói: “Chà! Tôn Ngộ Không rất lợi hại, chắc chắn là Phật!” Đây là biến hóa, là nói về sắc, chính là nói về biến hóa.

Cái gọi là tướng, Như Lai đương nhiên có rất nhiều tướng mạo, ví dụ như hai tai rủ xuống vai, mọi người đều làm được, vai co lên thế này thế là rủ xuống vai rồi, hai tai liền rủ xuống vai. Con mắt, mắt của Phật đều là mắt khép hờ. Chẳng phải chúng ta nói là thèm khát sao? Mắt khép hờ thật ra không phải là con mắt thèm khát, Kim Cang tức là con mắt phẫn nộ, Kim Cang tức là mở to con mắt, bạn không thể nói người nào mở to con mắt là Kim Cang Thần, không thể nói như vậy. Bạn không thể nói mắt khép hờ chính là thèm khát, con mắt của Phật là con mắt hiền từ, đôi lông mày rất hiền từ thiện lành, con mắt rất hiền hòa, tướng mạo của ngài hết sức viên mãn, trên đỉnh đầu có nhục kế rất trang nghiêm, thân tướng của mỗi vị Phật đều vô cùng viên mãn.

Còn có cánh tay dài quá đầu gối, cánh tay của ngài vươn ra dài quá đầu gối. 32 tướng của Phật có cánh tay dài quá đầu gối, cánh tay của ai có thể vượt quá đầu gối? Bạn ngồi thì đương nhiên có thể tay dài quá đầu gối rồi, phải đứng lên mà cánh tay vẫn dài quá đầu gối cơ. Cho nên bạn xem, 32 tướng tốt của Phật là tuyệt đỉnh. Hơn nữa lưỡi của ngài thè ra có thể che kín cả khuôn mặt, bạn đọc trong kinh A Di Đà nói Phật vươn ra tướng lưỡi dài rộng, tức là lưỡi vươn ra cả một mảng lớn, rất dài, hơn nữa còn có thể che kín khuôn mặt của mình, đó cũng là một trong 32 tướng.

Phật có 32 tướng, bạn đừng nhìn thấy có 32 tướng, nhìn thấy người có thân tướng viên mãn là bảo đó là Phật. Không thể dựa vào thấy 32 tướng, bởi vì Chuyển Luân Thánh Vương cũng có tướng như vậy, sau này kinh Kim Cang cũng sẽ nhắc đến, Chuyển Luân Thánh Vương cũng có 32 tướng. Cho nên ở đây, phần lìa sắc lìa tướng chủ yếu là nói bạn phải rời xa đủ loại biến hóa, người có đủ loại biến hóa không nhất định là Phật. Bạn phải rời xa tướng, có 32 tướng, 80 vẻ đẹp cũng chưa chắc là Phật.

Bạn biết Phật có 32 tướng, Đề Bà Đạt Đa có 30 tướng, rất gần với Phật Thích Ca Mâu Ni, cho nên tướng mạo của Đề Bà Đạt Đa vô cùng trang nghiêm. Nhưng ở trong tăng đoàn, ông ta nói Phật Thích Ca Mâu Ni đã già rồi, nên tới phiên ông ta làm lãnh đạo tăng đoàn rồi, tức là muốn cưỡng bức Phật Thích Ca Mâu Ni thoái vị, dùng ngôn ngữ hiện đại thì chính là cưỡng bức, đẩy Phật Thích Ca Mâu Ni khỏi ngôi vị: “Ông nghỉ hưu đi, bây giờ để tôi làm lãnh đạo tăng đoàn.” Đề Bà Đạt Đa chính là có ý như vậy, tăng đoàn lớn như thế, Phật Thích Ca Mâu Ni đã già rồi mà còn chưa chết, tuổi tác đã cao như thế rồi, thân thể cũng không khỏe mạnh, thế mà ông ta cũng chưa đi, cũng không nghỉ hưu, tiếp tục chiếm giữ vị trí này. Đề Bà Đạt Đa thật sự không chịu được nữa liền cưỡng bức, muốn Phật Thích Ca Mâu Ni phải thoái vị, ông ta muốn bản thân làm lãnh đạo tăng đoàn. Đề Bà Đạt Đa có 30 tướng, chỉ thiếu có 2 tướng mà thôi, cho nên không thể dùng tướng mạo để nói người đó chính là Phật, cũng không thể dùng biến hóa để nói đó là Phật.

Biến hóa, cái này Tân Đầu Lư rất lợi hại. Các chúng sinh nói rằng một số vị A La Hán đều có thần thông. Chúng sinh thì sao, họ trèo lên cây, ở nơi rất cao treo một gói đồ, sau đó nói với A La Hán rằng: “Các vị ai có năng lực bay lên lấy cái gói kia xuống thì gói đồ đó sẽ thuộc về người đó.” Tân Đầu Lư liền hiển hóa thần thông, nhẹ nhàng nhún một cái là bay lên, giống như chim bay lên chỗ cao nhất của cây, lấy cái gói đó xuống. Bởi vì Tân Đầu Lư hiển hiện thần thông này, Phật Thích Ca Mâu Ni liền quở mắng rằng: “Sau này ông sẽ ở lại thế giới Ta Bà, làm A La Hán trụ thế.” Chính vì thế mà Tân Đầu Lư đã trở thành A La Hán trụ thế. 

Cho nên rất nhiều Phật Bồ Tát đều có thần thông. Kì thực giống như chiếc chuông kim cang này ở đây, cầm lên thì rất nhẹ, nếu như đè chiếc chuông này xuống, tăng thêm một chút sức mạnh, rồi lại cầm lên thì đã khác rồi, nó đã bịt hút chặt vào mặt bàn rồi. Có thể di chuyển qua lại, nhưng trên thực tế nó đã bị hút xuống bàn rồi, thật sự bị hút rất chặt, bạn dùng nhiều sức hơn thì đương nhiên có thể nhấc nó lên, nhưng nhấc một cách nhẹ nhàng thì không nhấc lên được. Chỉ là như thế này thôi, đây là ma thuật, thật sự tôi chỉ đè nhẹ một chút, thêm vào một chút sức mạnh mà thôi, bên trong có một lực hút đã hút chặt nó xuống rồi.

Tôi từng biểu diễn qua trò này ở tại bàn ăn, hình như là ở nhà hàng Kiều Viên ở Đài Trung. Khi mọi người đi ăn, khi ấy món ăn còn chưa được đưa lên, tôi cầm bát lên rồi úp xuống, rồi liền đè lên nó một lúc, tôi kêu mọi người nhấc cái bát này lên. “Ấy!” Mọi người đều nói: “Sao cái bát này lại có lực hút?” Nó đã bị hút lên mặt bàn. Bình thường không như vậy, bình thường đặt bát như thế, nhấc lên là nhấc được ngay, tôi đè lên nó, thêm vào một chút linh lực, thật sự là chiếc bát đó đã có lực hút hút nó lại, không nhấc lên được. Cho nên bạn ngẫu nhiên lấy một chiếc đĩa đưa cho tôi, tôi chỉ cần gia trì cho chiếc đĩa này, các bạn dùng chiếc đĩa này thì nó sẽ chạy được, sẽ trở thành điệp tiên. [Đĩa tiên dùng cho hình thức bói toán bằng chén đĩa.]

Vì thế cái này không phải là ma thuật, cái này vốn dĩ chính là linh, vốn dĩ chính là khí. Cho nên lìa sắc lìa tướng, các bạn đừng vì tôi có thể làm như vậy mà các bạn liền cho rằng tôi là Phật, đây là biến hóa; các bạn đừng cho rằng người nào đó tướng mạo rất trang nghiêm mà liền cho rằng đó là Phật, phải rời tướng, đó gọi là lìa tướng. Ý nghĩa của đoạn kinh văn này là Phần thứ 20: Lìa sắc lìa tướng. *"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Có thể dựa vào sắc thân đầy đủ mà thấy Phật không?" "Không được, thưa Thế Tôn! Không nên dựa vào sắc thân đầy đủ mà thấy Như Lai. Là vì sao? Như Lai nói: mọi tướng đầy đủ tức chẳng đầy đủ, thì gọi là mọi tướng đầy đủ."*

Có biến hóa, không sai, có đầy đủ sắc thân, Phật đương nhiên có thần thông, nhưng người có thần thông không nhất định là Phật, nói với mọi người như vậy là mọi người hiểu rồi, không chắc đã là Phật, ở đây có thể giải thích “Như Lai nói có đầy đủ sắc thân tức không đầy đủ sắc thân”. Như Lai cũng có thể biến hóa, nhưng người biết biến hóa không nhất định chính là Phật, ý ở đây chính là như vậy. Tôi đã giải thích với mọi người ý này, không giống người khác giảng lắm. Phật có thần thông, nhưng người có thần thông không nhất định là Phật.

Ma có sức mạnh nhỏ, Phật có sức mạnh lớn, có sức mạnh lớn thì gọi là Thần, có sức mạnh nhỏ thì gọi là ma. Ma cũng có sức mạnh đó, sao ma lại không có sức mạnh được chứ? Có đó, họ cũng có thể biến hóa, tôi từng gặp rất nhiều ma, còn có Sư Mẫu cũng nhìn thấy rất nhiều ma, họ đều biết biến hóa. Họ có thể biến hóa thành xinh đẹp nhất để cho bạn thấy, cũng biết biến thành xấu xí cho bạn nhìn thấy, biến thành tóc tai rũ rượi, bảy lỗ chảy máu cho bạn nhìn, dọa bạn sợ chạy tóe khói. Đợi một lát sau ngoảnh đầu lại, chà! Họ lại biến thành một cô gái vô cùng yêu kiều cho bạn nhìn. Lúc thì họ là cô gái duyên dáng yêu kiều, lúc thì họ tóc tai rũ rượi, bảy lỗ chảy máu, lưỡi thè ra rất dài.

Không thể vì họ có thể biến hóa mà cho rằng họ chính là Phật, đây là lìa sắc. Không thể vì tướng mạo của họ rất trang nghiêm mà cho rằng họ là Phật. Ma cũng có thể biến ra vô cùng trang nghiêm, giống như Đề Bà Đạt Đa cũng có được 30 tướng, bạn nhìn không ra. Cho nên ở đây nói: *"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Có thể dựa vào sắc thân đầy đủ mà thấy Phật không?" "Không được, thưa Thế Tôn! Không nên dựa vào sắc thân đầy đủ mà thấy Như Lai. Là vì sao? Như Lai nói: mọi tướng đầy đủ tức chẳng đầy đủ, thì gọi là mọi tướng đầy đủ." *Như Lai có đầy đủ 32 tướng, không sai, nhưng người có đầy đủ 32 tướng không nhất định chính là Như Lai. Cho nên không thể dựa vào tướng mà thấy, không thể dựa vào sắc mà thấy. Phần thứ 20: Lìa sắc lìa tướng mà Phật nói, cho dù ngài biết biến hóa, bạn cũng không nhất định phải tin, vậy ngài xuất hiện 32 tướng, bạn cũng không thể cho rằng đây chính là Như Lai, vậy phải thấy Như Lai như thế nào? Trong Mật giáo chúng ta nói, cho dù hiển hiện Phật tính của bạn, chính bạn đã hiển hiện Phật tính của mình rồi, lúc này cái bạn nhìn thấy chính là Phật rồi. Phật tính, chúng ta nói là minh tâm kiến tính, bạn đã nhìn thấy Phật tính chân chính, cái đó mới là chân thực kiến chân chính. Nếu không thấy được Phật tính chân thực, mọi sắc, tướng đều không phải, chỉ có chính bạn hiển phát được Phật tính quang minh của chính mình thì đó mới gọi là thấy.

Muốn nhìn thấy Phật tính phải tiêu trừ sạch nghiệp chướng của bạn, tiêu trừ sạch nghiệp thân khẩu ý của bạn, tức là trong khi tu pháp Mật giáo, bạn thanh trừ nghiệp thân khẩu ý của mình, trở thành thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý niệm thanh tịnh, đến khi hoàn toàn thanh tịnh, bạn nhận thức được tính Không rồi, bạn tiến vào tính Không, lúc này mới có thể gọi là kiến tính. Vâng, hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 13/03/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Bất Không Quyến Sách Quan Âm tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 66.)*


### 67. Phần thứ 21: Không nói điều đã nói


*(Bài giảng 67) *Bất khả thuyết

Hôm nay chúng ta giảng kinh Kim Cang. Đoạn này rất ngắn, giảng một lúc là xong rồi. 

Phần thứ 21: Không nói điều đã nói. Tiêu đề này nói rất hay. Pháp không thể nói, tức là không nói. Cái gì là điều đã nói? Điều đã nói chính là không phải pháp. Tiêu đề này, Phần thứ 21: Không nói điều đã nói, thế nào là không nói? Chính là pháp không thể nói. Thế nào là điều đã nói đây? Điều đã nói chính là không phải pháp. Tiêu đề này giải thích điều đã nói đều không phải là pháp, pháp là không thể nói, điều đã nói đều không phải là pháp. Tiêu đề này viết như vậy, được rồi, chúng ta đọc nội dung.

*"Tu Bồ Đề! Ông đừng bảo rằng Như Lai có ý nói: "Ta đang thuyết pháp ở mức độ nào đó." Đừng nghĩ như thế, là vì sao? Nếu có người nói Như Lai có thuyết pháp ở mức độ nào đó thì tức là phỉ báng Phật, không thể hiểu được điều ta nói. Tu Bồ Đề! Thuyết pháp đó, không có pháp nào có thể thuyết, thì gọi là thuyết pháp.”*

Người thuyết pháp không có pháp nào có thể nói, vậy vì sao bạn vẫn phải nói? Đoạn này cũng rất quan trọng, có thể nói rằng ở đây chính là nói yếu nghĩa quan trọng số một, ở trong đây nói về một yếu nghĩa rất quan trọng. *"Tu Bồ Đề! Ông đừng bảo rằng Như Lai có ý nói: "Ta đang thuyết pháp ở mức độ nào đó." *Bạn không được nghĩ như vậy, bạn không được nghĩ Như Lai này có thuyết pháp. 

“*Đừng nghĩ như thế, là vì sao?” *Vì sao vậy? Nếu có người nói Như Lai có thuyết pháp tức là phỉ báng Phật đó! “*Không thể hiểu được điều ta nói.”* Người này không thể hiểu được điều ta đã nói. Tu Bồ Đề! Người thuyết pháp này là không có pháp nào có thể nói, bởi vì không có pháp nào có thể nói mới gọi là thuyết pháp. Đoạn này, mọi người nghe như vậy có rõ không? Đọc thì thấy rất rõ ràng, ngẫm nghĩ thì hình như chỉ hiểu lơ tơ mơ, lơ tơ mơ là tiếng gì nhỉ? Tiếng Quảng Đông. 

Thật sự, Phật Thích Ca Mâu Ni giảng kinh là giảng như vậy, bạn nghe xong thì không hiểu gì cả, cái này có gì để mà nói? Nói thẳng tưng là không cần giảng là xong, không giảng thì còn rõ ràng một chút, giảng rồi lại khiến cho mọi người không hiểu gì cả, nhưng điều Phật Đà nói có đạo lí ở trong đó. Cái nói đến ở đây là “vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng”. Nếu lấy điều này ra để giảng thì sẽ giảng được thông, nếu không lấy điều này ra để giảng thì những gì Phật Đà đã nói toàn bộ đều không thông.

Phật Đà nói ngài không có thuyết pháp, bạn không thể nói Phật Đà có thuyết pháp, vì sao vậy? Nếu có người nói “Như Lai có thuyết pháp”, tức là phỉ báng Phật, *“không thể hiểu được điều ta nói”, *người đó không có cách nào hiểu được ý nghĩa chân chính của ta nằm ở đâu. “*Tu Bồ Đề! Thuyết pháp đó, không có pháp nào có thể thuyết.” *Không có pháp nào có thể thuyết này mới gọi là thuyết pháp. Tôi nói lại lần thứ hai, lần thứ ba, các bạn vẫn lơ tơ mơ đúng không? Kì thực tôi cũng lơ tơ mơ, rất khó nói được rõ ràng, giảng thế nào đây, điều này không thể giảng.

Tôi thường dùng mặt trăng để làm so sánh. Trên mặt trăng không có con người, vậy có ai thuyết pháp? Không có. Có ai nghe pháp? Cũng không có. Có pháp không? Cũng không có! Cái gì cũng không có, không có người, không có người thuyết pháp, không có người nghe pháp, cũng không có pháp có thể thuyết, đó là mặt trăng đó! Nhưng chúng ta bây giờ đang ở trên trái đất, trên trái đất có người, khi ấy Phật Thích Ca Mâu Ni ở Ấn Độ cũng là ở trên trái đất, núi Linh Thứu, cũng là núi đó! Tại pháp hội Linh Sơn ngài không hề thuyết pháp, là ý gì? Cái nói đến ở đây chính là Phật tính đó!

Phật tính chân chính là không có cách nào giảng được, nói ra đều là bã mía, tức là lơ tơ mơ, cái mà nói ra, cái mà có thể nói ra đều không phải là pháp, cái mà có thể nói ra thì không phải là Phật tính, Phật tính là không giảng được, Phật tính là bất khả thuyết. Vậy cái mà bạn đang giảng bây giờ đương nhiên không phải là pháp rồi, đều không phải là Phật tính mà! Cho nên Phật Đà nói, nếu bạn nói Phật có thuyết pháp thì đó là đang phỉ báng Phật.

Người này căn bản là không hiểu, bởi vì Phật tính là bất khả thuyết. Ở đây có nói “*thuyết pháp đó, không có pháp nào có thể thuyết”, *Phật tính là thật sự không thể giảng, bởi vì là Phật tính không thể giảng, lúc này mới gọi là thuyết pháp. Bởi vì bạn không thể giảng, không thể thuyết, cho nên mới là thuyết pháp, nói đến thuyết pháp này là bất khả thuyết, đó mới là thuyết pháp, như vậy có hiểu hơn một chút không?

Việc thuyết pháp đó, phải nói là người thuyết pháp không có pháp nào có thể thuyết, bởi vì muốn nói về Phật tính là bất khả thuyết, Phật tính là không thể thuyết. Bởi vì nói rằng Phật tính là bất khả thuyết thì đây mới là thuyết pháp. Như thế đoạn sau mới nói một câu là: *“Không thể hiểu được điều ta nói.”* Bởi vì Phật tính tuyệt đối là bất khả thuyết. Tôi hỏi bạn: “Phật tính là cái gì?” Không thứ gì có thể nói, bởi vì tôi giảng rằng không thứ gì có thể nói cho nên mới là thuyết pháp, đây là điều Phật Đà nói.

Phật Đà nói kinh này, càng nói người ta càng hồ đồ. Nếu như ai không hiểu, người không thể minh tâm kiến tính đọc bản kinh này, thật sự là đọc cũng như không! Tụng bản kinh này cũng là uổng công! Bạn phải biết rằng ý chủ yếu của Như Lai là cái gì. Đây chính là đệ nhất nghĩa, phải hiểu được đệ nhất nghĩa này. Tiếp tục từ đây trở đi tương đối dễ giảng, nhưng nếu bạn không hiểu thì cũng vẫn là không dễ giảng.

*Khi ấy, Huệ Mệnh Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: "Thế Tôn! Sẽ lại có chúng sinh ở đời vị lai nghe pháp này mà sinh tín tâm sao?" Phật nói: "Tu Bồ Đề! Đó chẳng phải chúng sinh, chẳng phải không phải chúng sinh. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Chúng sinh đó, Như Lai nói không phải chúng sinh, thì gọi là chúng sinh."*

“*Khi ấy, Huệ Mệnh Tu Bồ Đề bạch Phật rằng”, *vào lúc ấy, Tu Bồ Đề nói với Phật Đà rằng: *"Thế Tôn! Sẽ lại có chúng sinh ở đời vị lai nghe pháp này mà sinh tín tâm sao?" *Ngài hỏi Phật Thích Ca Mâu Ni, nếu có rất nhiều chúng sinh, vào đời tương lai nghe được pháp này, họ có sinh tín tâm không? Phật Thích Ca Mâu Ni nói: “Tu Bồ Đề! *Đó chẳng phải chúng sinh, chẳng phải không phải chúng sinh. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Chúng sinh đó, Như Lai nói không phải chúng sinh, thì gọi là chúng sinh."*

Câu này như vậy, các bạn có hiểu không? Điều nói đến ở đây là gì? Tiếng Đài Loan sẽ nói là ông nói về cái con cóc khô gì đó! Phật Thích Ca Mâu Ni nói: “Tu Bồ Đề, ông nghe rõ đây, họ không phải là chúng sinh đâu!” “Chẳng phải không phải chúng sinh”, không phải là chúng sinh, vì sao không phải là chúng sinh? “Tu Bồ Đề! Chúng sinh, chúng sinh đó, Như Lai nói không phải là chúng sinh đâu! Vì không phải là chúng sinh mới gọi là chúng sinh.”

Nói cái con cóc khô gì vậy, nói cái con khỉ gió gì vậy chứ? Nói rất hay mà, Phật Thích Ca Mâu Ni nói: “Tu Bồ Đề, họ không phải là chúng sinh, là Phật tính. Trong con mắt ta thấy mọi người đều là Phật tính, trong con mắt Phật Đà ta nhìn là Phật tính, không phải chúng sinh.” Vì sao *“chẳng phải không phải chúng sinh”* đây? “Tu Bồ Đề, ông hãy nghe kĩ, chúng sinh đó, Như Lai nói không phải chúng sinh, là Phật tính.” Nhưng mà chúng sinh chính là nói chúng sinh đó, là vì họ chưa minh tâm kiến tính, cho nên mới gọi chính họ là chúng sinh. Như vậy đã hiểu chưa?

Cái nói đến ở đây là Phật tính, Phật tính là không thể thuyết, cái mà có thể thuyết thì không phải là Phật tính, Phật tính là bất khả thuyết, cái mà được thuyết ra thì không phải là Phật tính. Trong con mắt của Phật Đà căn bản không có chúng sinh, chỉ có Phật tính, bởi vì chúng sinh đều có Phật tính. Cái Phật Đà nhìn thấy là Phật tính, không phải là chúng sinh, cho nên Phật Đà nói đó không phải chúng sinh, nhưng những người này tự cho rằng họ là chúng sinh, bởi vì họ không nhìn được Phật tính, vì thế mới cho rằng họ là chúng sinh. Đoạn này như vậy là mọi người hiểu rồi.

Vì sao nói là Huệ Mệnh Tu Bồ Đề? Tu Bồ Đề là Tu Bồ Đề, thêm hai chữ Huệ Mệnh làm cái gì? Là Phật Đà ca ngợi ông ấy. Huệ chính là tính, mệnh là thân thể, tính, tức là tính Không, mệnh tức là thân thể. Huệ Mệnh Tu Bồ Đề tức là nói rằng Tu Bồ Đề có thân thể lại có trí huệ, trí huệ này là trí huệ của Như Lai, không phải là trí huệ bình thường, là trí huệ của Như Lai, cho nên Phật nói, trí huệ của Như Lai thật sự là vĩ đại nhất. 

Tôi còn nhớ trong “Ngũ Đăng Hội Nguyên” có một chuyện, khi Phật Thích Ca Mâu Ni sắp tạ thế, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát hạ giáng nói với Phật Thích Ca Mâu Ni: “Thỉnh Phật trụ thế, thỉnh chuyển pháp luân, thỉnh tiếp tục lại chuyển pháp luân.” Phật Thích Ca Mâu Ni hỏi ngược lại Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát: “Ta có chuyển pháp luân sao?” Lúc này Văn Thù Bồ Tát nghe xong thì lập tức biết Phật đang nói cái gì, ngài không nói một câu nào liền rời đi, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát liền bỏ đi.

Một câu nói quan trọng nhất của Phật là: “Ta có thuyết pháp sao? Ta có chuyển pháp luân sao?” Ta có thuyết pháp sao? Phật không hề có thuyết pháp, bởi vì chúng sinh đều là Phật tính. Nhưng vì sao có chúng sinh? Bởi vì họ vẫn chưa hiểu Phật tính của chính mình, họ chưa minh tâm kiến tính, cho nên họ chính là chúng sinh. Nếu minh tâm kiến tính rồi, bạn hiểu Phật tính của mình rồi, bạn đã là Phật tính rồi, Phật còn cần thuyết pháp gì? Không cần thuyết pháp. Pháp đã thuyết cũng không phải là pháp, bởi vì pháp là chỉ Phật tính, Phật tính là không thể thuyết. Toàn bộ ý nghĩa của đoạn này nằm ở đây. 

Vì vậy các bạn đã hiểu rồi, chúng sinh là không có ý nghĩa gì. Sống trên thế giới này cũng chẳng có ý nghĩa. Bạn đã làm rất nhiều công đức, cũng là không có công đức, làm gì có công đức gì? Cho nên kiếm tiền cũng không có ý nghĩa gì cả, bạn kiếm tiền vì cái gì? Muốn mua biệt thự à, mua nhà cửa à, mua nhà cửa cũng chẳng có ý nghĩa gì, nhà là nhà, bạn là bạn, không có ý nghĩa. Muốn mua chiếc xe này à, mua xe cũng không có ý nghĩa, xe là xe, bạn là bạn. Muốn kết hôn sinh con à, vợ là vợ, con là con, bạn là bạn, không có ý nghĩa gì cả, làm gì có ý nghĩa gì?

Người ở thiên đàng, tiền ở ngân hàng, vợ nằm trong vòng tay người khác, anh em đang tranh nhau tài sản của bạn, có ý nghĩa gì chứ? Tạm thời, là bạn có thể dùng một lúc, hơi có một chút thú vị, tạm thời bạn có thể dùng được, sau này đều chẳng có gì nữa. Cho nên tình yêu, biến mẹ mày đi! Toàn bộ đều là huyễn, trên thế giới Ta Bà này toàn bộ đều là huyễn, nằm mơ đó, mộng huyễn mà thôi! Điều kinh Kim Cang nói tôi đã chỉ rõ rồi, thế giới Ta Bà này chẳng qua là mộng huyễn bào ảnh, sau này sẽ nói đến mộng huyễn bào ảnh, chẳng qua là mộng huyễn bào ảnh. Đương nhiên bạn thuyết pháp là không có ý nghĩa, bởi vì cái có ý nghĩa nhất vẫn là Phật tính của bạn, lậu tận thông, công đức thiên, công đức thiên chú ý đến Thứ tự sinh khởi và Thứ tự viên mãn.

Mật giáo chúng ta có cái gọi là Thứ tự sinh khởi và Thứ tự viên mãn. Theo lí mà nói Phật Đà nói bộ kinh này toàn là Thứ tự viên mãn, không có Thứ tự sinh khởi, nhưng Thứ tự sinh khởi của chúng ta có quan trọng không? Kì thực cũng quan trọng. Cái gọi là Trung quán chính là Thứ tự sinh khởi và Thứ tự viên mãn kết hợp với nhau, vì sao? Bởi vì Thứ tự sinh khởi chính là Thứ tự viên mãn, Thứ tự viên mãn chính là Thứ tự sinh khởi. Để tôi nói rõ hơn một chút, chúng sinh chính là Phật, Phật chính là chúng sinh, bạn nói Không, tôi nói Có, Không và Có đều phải coi trọng.

Kinh Kim Cang là nói về cái Không, nhưng Không chính là Có, Có chính là Không. Thế giới vật chất chính là thế giới tinh thần, thế giới tinh thần chính là thế giới vật chất. Chính là điều mà Tâm Kinh nói đến “sắc tức thị không, không tức thị sắc, sắc bất dị không, không bất dị sắc”. Trong Tâm Kinh có sắc tức thị không, không tức thị sắc, sắc bất dị không, không bất dị sắc. Có chính là Không, Không cũng chính là Có, cái này chính là Trung quán.

Vì thế chúng ta học Mật giáo, Thứ tự sinh khởi cũng quan trọng, bởi vì bạn tu viên mãn Thứ tự sinh khởi rồi thì chính là Thứ tự viên mãn đó. Bạn không tu Thứ tự sinh khởi thì làm sao mà viên mãn được? Vậy trong viên mãn chính là từ Thứ tự sinh khởi mà tu xuất ra. Thứ tự sinh khởi chính là nhân, Thứ tự viên mãn chính là quả. Kinh Kim Cang là nói về quả nên mới nói như vậy, cho nên chúng ta bình thường không chỉ mỗi coi trọng những gì đã nói trong kinh Kim Cang này.

Nếu bạn hoàn toàn chấp vào Không thì sẽ thế nào? Tốt thôi, vậy tôi không phải là chúng sinh, tôi là Phật tính, tôi có thể làm thế nào cũng đều là Phật tính đó, vậy thì không đúng rồi, như vậy thì bạn không có nhân quả rồi. Nếu như bạn quá mê vào Không sẽ biến thành “ngoan không”, nếu mà ngoan không thì sẽ không có nhân quả rồi. Như vậy đã hiểu chưa? Mật giáo chúng ta gần như đều thuộc về Trung quán, Có cũng coi trọng, Không cũng coi trọng, cho nên không thể nói vì bạn hoàn toàn Không rồi cho nên có thể làm loạn.

Bởi vì chúng sinh quá coi trọng cái Có cho nên mới giảng cho bạn về cái Không. Bạn thật sự tiến vào cảnh giới của Không, thật sự hoàn toàn trống rỗng, vậy thì sẽ biến thành ngoan không rồi, hoàn toàn chấp vào Không, vậy cũng là bám chấp. Lúc ấy gọi là ngoan không, tức là không có nhân quả, bạn cho rằng không có nhân quả, bạn sẽ làm loạn lung tung cả. Đây là đạo lí mà Phật nói.

Hôm nay tôi giảng đoạn này, bất khả thuyết, vậy cái có thể thuyết thì chính là không nói điều đã nói, cái đã nói chính là không phải pháp, pháp là không thể thuyết, cái đã nói chính là không phải pháp, tiêu đề này chính là như vậy. Nếu tôi không giảng, không ai biết ý nghĩa của đoạn này là gì, đoạn này cũng rất khó giảng, thật may Sư Tôn có thể giảng. Hôm nay giảng đến đây. Om mani padme hum.

*(Ngày 19/03/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Quan Thế Âm Bồ Tát Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 67.)*


### 68. Phần thứ 22: Không pháp nào có thể đắc


*(Bài giảng 68) *Số 0 là lợi hại nhất

Hôm nay chúng ta giảng kinh Kim Cang là giảng đoạn này. Phẩm này là phẩm thứ 22, rất ngắn. 

Phần thứ 22: Không pháp nào có thể đắc.

*Tu Bồ Đề bạch Phật rằng:
"Thế Tôn! Phật đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề là không phải có được sao?"
Phật nói:
"Đúng thế, đúng thế. Tu Bồ Đề! Ta đối với A nậu đa la tam miệu tam bồ đề thậm chí không có một chút pháp nào có thể có được, nên gọi là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề."*

Phẩm này chỉ có mấy câu ngắn này thôi. Phần thứ 22: Không pháp nào có thể đắc. Bạn xem, kinh Kim Cang Phật Thích Ca Mâu Ni giảng thành như thế này, có mệt mỏi không chứ? Mệt mỏi chết mất thôi! Tôi thẳng thừng không giảng cho xong. Phật Thích Ca giảng kinh mà giảng như thế này: Phần thứ 22: Không pháp nào có thể đắc, cũng tức là nói rằng không pháp nào có thể đắc, không có pháp có thể có được.

Kì lạ không, vậy chúng ta học pháp gì? Không học là xong! Hôm nay giảng đến đây thôi. Vì đã không pháp nào có thể đắc, tôi thuyết pháp gì đây? Thuyết cũng như không thuyết, có nói cũng như không nói pháp, có thuyết pháp cũng không thể đắc, vậy thì tôi còn thuyết pháp gì đây? Mọi người trở về nhà, những người đầu trọc chúng tôi trở về nhà, nam thì về nhà kết hôn, nữ thì về nhà lấy chồng, Chân Phật Tông chúng ta, True Buddha School thế là giải tán.

Sau khi đọc kinh Kim Cang, không pháp nào có thể đắc, thật sự giải tán cho xong! Không pháp nào có thể đắc, còn giảng nhiều pháp như vậy, còn học nhiều Mật pháp như vậy để làm gì? Đây là Tu Bồ Đề hỏi Phật: “Thế Tôn, Phật đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề…” Trong kinh Kim Cang thường xuyên nhắc đến câu nói này, kì thực câu nói này căn bản chính là Phật tính. Phật đắc A nậu a la tam miệu tam bồ đề vẫn là không đắc được cái gì cả, bạn đắc được Phật tính vẫn là không đắc được gì cả. 

Đương nhiên là vô sở đắc rồi, tôi cũng nói được. Vốn dĩ Phật tính chính là của bạn rồi, vì sao phải đi đắc nó? Đắc là lấy một thứ từ bên ngoài vào mới gọi là đắc. Phật tính là thứ vốn có của bạn, bạn còn phải đắc cái gì? Phật tính vốn dĩ chính là của bạn, còn có cái gì để mà đắc đây? Vốn dĩ bạn chính là Phật tính, Phật tính chính là bạn đó! Bạn còn muốn cầu pháp gì, cầu đắc cái gì? Đương nhiên là không đắc được gì cả. Tôi đã giải thích rồi đó!

Phật Thích Ca Mâu Ni nói: “Đúng thế, đúng thế, Tu Bồ Đề. Ta đối với A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, Phật tính của ta, thậm chí không có một chút pháp nào có thể có được, thì gọi là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.” “Phật tính của ta, một chút pháp đều không có được, bởi vì không có được mới gọi là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.” Vốn dĩ chính là của ta, ta còn muốn đắc cái gì? Giảng xong rồi, chúng ta kể chuyện cười thôi.

Đây hình như là chuyện cười về Vi Tiểu Bảo, có hình ảnh. Vi Tiểu Bảo thường cảm thấy võ công mà có con số mới là lợi hại nhất. Anh ta nói: “Ví dụ như Cửu âm bạch cốt trảo là của Mai Siêu Phong.” Cửu âm bạch cốt trảo là của Mai Siêu Phong, bạn xem có một số 9 ở đây. Võ công của Mai Siêu Phong là rất mạnh, trong cuốn tiểu thuyết nào của Kim Dung nhỉ? Anh Hùng Xạ Điêu. Lợi hại lợi hại, bái phục bái phục! Cửu âm bạch cốt trảo của Mai Siêu Phong. Còn nữa bạn xem đây, Hàng long thập bát chưởng cũng có con số, là bộ nào nhỉ? Thần Điêu Đại Hiệp à, cũng là Anh Hùng Xạ Điêu à, Thiên Long Bát Bộ cũng có. Tóm lại, Hàng long thập bát chưởng cũng rất lợi hại, là của tiểu thuyết Kim Dung. Chà! Lợi hại quá, Cửu âm bạch cốt trảo, Hàng long thập bát chưởng. Vi Tiểu Bảo nói: “Còn có một khóc, hai gào, ba thắt cổ của bà vợ ta nữa.” Bạn xem, con số này vẫn là lợi hại.

Tôi nói với bạn, lợi hại nhất là Phật Thích Ca Mâu Ni! Bạn xem đây cũng là con số đó: Phần thứ 22: Không pháp nào có thể đắc, 22 cũng là con số, cũng là một phẩm. Một chiêu lợi hại nhất của Phật Thích Ca Mâu Ni chính là… tôi nói để bạn biết, *zero*, số 0 chính là lợi hại nhất. Làm sao số 0 là lợi hại nhất chứ? Bởi vì 0 chính là khởi đầu của tất cả con số. Phật Thích Ca Mâu Ni nói: “Không pháp nào có thể đắc, vô sở đắc.” Vô sở đắc là cái gì? *Zero*, số 0 là lợi hại nhất.

Phật Thích Ca Mâu Ni nói ra con số lợi hại nhất là số 0, A nậu đa la tam miệu tam bồ đề là cái gì? Là số 0, là Phật tính, là tính Không. Không là cái gì? Hôm nay chúng ta giảng Không, mọi người biết Phật Thích Ca Mâu Ni giảng Không, giảng cái Không này chính là số 0. Không là bao hàm tất cả, mọi con số đều nằm trong đó, số 0 là lợi hại nhất, còn có cái gì lợi hại hơn số 0 sao? Không có! Bởi vì số 0 bao hàm tất cả mọi con số, cho nên tất cả mọi con số bắt nguồn từ số 0.

Số 0 là gì? Chính là không pháp nào có thể đắc, ngay cả một chút cũng không dính, hoàn toàn thanh tịnh. Hoàn toàn thanh tịnh chính là *zero*, chính là số 0. Bạn có thể tu đến khi hoàn toàn thanh tịnh thì bạn thành Phật rồi, không còn một chút nghiệp nào nữa. Nghiệp, vào lần giảng kinh trước, chúng ta thường nhắc đến “tịnh phần”, thế nào gọi là tịnh phần? Tôi nói với bạn một cách rất đơn giản, tức là bạn đã thanh tịnh được mấy phần. 

Ví dụ như Bồ Tát thập địa, khi bạn mới bắt đầu thanh tịnh được một phần thì là Hoan hỉ địa. Tiếp theo thanh tịnh được hai phần, thanh tịnh ba phần, thanh tịnh bốn phần, thanh tịnh năm phần, thanh tịnh sáu phần, thanh tịnh bảy phần thì gọi là Viễn hành địa. Thanh tịnh được tám phần gọi là Bất động địa, thanh tịnh chín phần, thanh tịnh mười phần gọi là Pháp vân địa. Sau đó, trong Mật giáo nói rằng đến địa mười một chính là Ngũ luân, bao gồm đỉnh luân, đều mở ra. Đến địa mười hai, địa mười hai rưỡi, địa mười hai rưỡi chính là ngay cả nhục kế của Như Lai cũng đều mở ra, toàn bộ đều mở ra hết thì chính là Phật. 

Thập địa Bồ Tát là mở một phần thanh tịnh thì là Bồ Tát sơ địa, đến địa thứ tám là Bất động địa, đến địa thứ mười gọi là Pháp vân địa, sau đó lại tiến một bước nữa, Hiển giáo thì địa mười một là Phật rồi. Cho nên Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát có mười một đầu, thể hiện rằng Ngài đã đến địa mười một rồi, một đầu đại diện cho một địa, Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát tương đương là Phật, trong Hiển giáo là như vậy. Thế còn đến như A Di Đà Phật thì gọi là địa mười ba, thanh tịnh mười ba phần gọi là địa mười ba. Bản Sơ Phật là thanh tịnh địa mười sáu. Kì thực trên địa thứ mười thì đều là số 0.

Bạn xem hệ chữ số Ả Rập của chúng ra bắt đầu từ số 0. 0, 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, đếm như vậy. Cho nên Phật nói về Phần thứ 22: Không pháp nào có thể đắc, giải thích của Sư Tôn khác với giải thích của người ta, số 0 không pháp nào có thể đắc, không có được một ít, dù một chút xíu cũng đều không có được, tức là hoàn toàn thanh tịnh, tức là tịnh phần hoàn toàn thanh tịnh. Cái mà Phật Thích Ca Mâu Ni đắc được là hoàn toàn thanh tịnh, cũng chính là số 0, tiến nhập Không, cái này chính là Thứ tự viên mãn.

Sao lại chỉ có một người vỗ tay nhỉ? Một người vỗ tay, người này chính là số 1, người thứ nhất, không có ai vỗ tay thì là số 0. Tôi nói như vậy thì các bạn đã hiểu rõ rồi. Tôi đọc lại một lần: *Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: "Thế Tôn! Phật đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề là không phải có được sao?" Phật nói: "Đúng thế, đúng thế. Tu Bồ Đề! Ta đối với A nậu đa la tam miệu tam bồ đề thậm chí không có một chút pháp nào có thể có được, nên gọi là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề."*

Đương nhiên rồi, tính Không, số 0, tôi không có được cái gì, nhưng cái tôi có được là Không, Không chính là số 0, cái gì cũng không có, nó là thứ mà bạn vốn đã có. Chúng ta thường nói “thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn”, trong kinh điển viết “trên trời dưới trời chỉ có mình ta”, cái “ngã” ở đây là cái gì? Chính là số 0, cái ta này chính là Phật tính, cũng chính là số 0, chính là Không, đó là độc tôn, chỉ có số 0 mới có thể nói là độc tôn, số 1 thì đều không thể nói, số 1 thì vẫn còn có 1, bất kể bạn thanh tịnh đến trình độ nào. Vậy thì ý nghĩa của việc hôm nay chúng ta tu hành chính là nói rằng chúng ta đang làm thanh tịnh chính mình, từ sơ địa cho đến thập địa, tịnh phần như vậy.

Chúng ta đang thanh tịnh bản thân, bạn thanh tịnh được một phần, thanh tịnh hai phần, thanh tịnh ba phần, thanh tịnh bốn phần, thanh tịnh năm phần, thanh tịnh sáu phần, thanh tịnh đến khi hoàn toàn thanh tịnh là con số 0 thì đó là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, cái này chính là điều mà hành giả chúng ta nói rằng chúng ta đang tu hành. Vì sao không đắc được cái gì? Bởi vì số 0 vốn dĩ chính là của chính bạn, Phật đã nói rồi, chúng sinh đều có Phật tính, chỉ là bạn không biết mà thôi, bạn không khai phát nó, không minh tâm kiến tính, bạn vẫn là chúng sinh. 

Cho nên cái tên chúng sinh là vì cái gì? Vì bạn vẫn không nhìn thấy được Phật tính thì gọi là chúng sinh. Bạn đã giác ngộ rồi, bạn đã nhìn thấy Phật tính rồi, vậy thì bạn chính là Phật. Phật tính không phải là lấy từ chỗ của sư phụ, cũng không phải là lấy từ chỗ của người khác, càng không phải là ai cho bạn. Phật Nhiên Đăng khi thọ kí cho Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật cũng nói: “Ta không có được pháp gì, ta không đắc được cái gì, Phật thọ kí cho ta là thọ kí cho ta, nhưng ta không đắc được cái gì.” Bởi vì Phật tính vốn dĩ chính là chính bạn, bạn được nhiên là không đắc được cái gì.

Vì thế, Phần 22: Không pháp nào có thể đắc này, chủ yếu là nói rằng không phải là ai cho bạn, không phải là sư phụ cho bạn, cũng không phải là người khác cho bạn, cũng không phải là đàn ông cho bạn, không phải là đàn bà cho bạn, cũng không phải là Phật Thích Ca Mâu Ni cho bạn, cũng không phải là A Di Đà Phật cho bạn, không phải là người nào cho bạn. Chỉ có chính bạn tìm kiếm ở bên trong, để khi tập khí, bám chấp, phiền não của bạn hoàn toàn tịnh trừ sạch sẽ, cuối cùng sẽ hiển phát Phật tính của bạn, chính là số 0, cái đó chính là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Mọi người có ý kiến gì về Phần 22: Không pháp nào có thể đắc này không? Không có ý kiến à! Om mani padme hum.

*(Ngày 20/03/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma A Di Đà Phật tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 68.)*


### 69. Phần thứ 23: Tịnh tâm hành thiện (1)


*(Bài giảng 69) *Tâm thanh tịnh

Tiêu đề của chúng ta hôm nay là Phần thứ 23: Tịnh tâm hành thiện. Phật Đà nói: *"Tiếp nữa, Tu Bồ Đề! Pháp này bình đẳng, không có cao thấp, thì gọi là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Nhờ vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả, tu tất cả pháp thiện, tức là đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Tu Bồ Đề! Pháp thiện đã nói đó, Như Lai nói tức chẳng phải pháp thiện, thì gọi là pháp thiện.”*

Tôi giảng cho mọi người về đoạn này một chút. Phần thứ 23: Tịnh tâm hành thiện, giải thích tiêu đề này thế nào? Chính là dùng tâm thanh tịnh để làm tất cả pháp thiện. Dùng tâm thanh tịnh để làm tất cả các pháp thiện, kì thực là vô cùng khó, chủ yếu nằm ở ba chữ “tâm thanh tịnh”. Khi chúng ta giảng Đạo Quả có nói đến một phần thanh tịnh thì vẫn là chưa viên mãn. Cho nên tâm thanh tịnh làm tất cả pháp thiện, kì thực tiêu đề này là dùng tâm thanh tịnh để làm tất cả pháp thiện là rất khó. 

Tâm thanh tịnh nói đến ở đây là tương đương với Phật đang làm tất cả các pháp thiện. Ai có thể mười phần thanh tịnh chứ? Đại bộ phận con người chúng ta, khi còn nhỏ, chúng ta đã phân chia con người thành người này tốt, người này xấu, khi còn nhỏ chúng ta nói muốn làm một người tốt, không muốn làm người xấu, phân làm hai, phân con người thành bên này tốt, bên kia xấu. Điều đó là không đúng. Người có học vấn chân chính biết rằng trong tốt có xấu, trong xấu có tốt. Cho nên trước kia, giáo viên ở trường tôi từng kể một câu chuyện: có một tên đạo tặc đi cướp một ngôi làng kia, nhìn thấy một em bé đang trèo lên thành giếng, trèo lên trên miệng giếng và sắp rơi xuống rồi. Tên đạo tặc đó vẫn còn có thể đột ngột khởi lương tâm, ôm lấy em bé đó đi, bế em bé đến một chỗ tương đối an toàn, sau đó lại đi vào cướp. Đó là giáo viên kể cho chúng tôi nghe! Trên thế giới không có người tốt tuyệt đối, cũng không có người xấu tuyệt đối, không cần dùng cách phân đôi để phân con người thành “đây là người tốt, đây là người xấu”, không thể làm như vậy.

Muốn xem bạn thanh tịnh được mấy phần, trong Đạo Quả đã nói bạn thanh tịnh được mấy phần. Cho nên tôi giảng tiêu đề này không giống với người khác giảng. Người ta giảng là dùng tâm thanh tịnh để làm tất cả pháp thiện, thế là kết thúc tiêu đề này rồi. Tôi thì khác, thế nào là tâm thanh tịnh? Dưới bầu trời này có người nào là tâm thanh tịnh? Không có đâu, thật sự! Sư Tôn đã rất thiện lương rồi, thế mà lúc nhỏ tôi đến nhà sách Đại Bàng xem sách, bởi vì nhà tôi ở Cao Hùng, lúc nhỏ tôi lớn lên tại Cao Hùng, từ tiểu học đến trung học đều ở Cao Hùng Đài Loan cho đến tận khi 19 tuổi.

Ở nơi tôi sống, khi đó gọi là ngã tư Lâm Sâm, bên cạnh là đường Sân Bóng, ở đó có một nhà sách Đại Bàng. Từ nhỏ tôi đã thích đọc sách, thích đọc sách đương nhiên là tốt rồi, là hiện tượng tốt, tôi đã đọc rất nhiều sách. Tôi đến nhà sách để thuê sách, đọc xong mà thấy thích thì cũng nghĩ cách lấy trộm một cuốn về. Tôi cũng ăn trộm đó! Đọc sách là tốt, trộm sách là không tốt, cái tốt và cái xấu đó triệt tiêu lẫn nhau, chính là số 0. Tôi thích đọc sách là tốt, nhưng ăn trộm sách của người ta thì là không tốt.

Đương nhiên tôi có cách trộm sách… Tôi rất lợi hại đó. Tôi trộm sách chưa bao giờ bị phát hiện. Đến cuối cùng vì đã trộm nhiều quá nên bị bố tôi phát hiện ra, sau đó bố tôi đem số sách đó và tôi, túm tất cả đến nhà sách Đại Bàng, kêu tôi xin lỗi ông chủ, trả lại sách cho người ta, nói xin lỗi ông chủ rằng tôi đã sai rồi. Trộm sách đương nhiên là không tốt rồi, nhưng đọc sách là tốt, thích sách là tốt, cho nên chúng tôi khi ấy còn có một câu nói là: ăn trộm sách là nhã tặc, là tên trộm nho nhã. Nho nhã là tốt, trộm thì không tốt, bạn nói xem có đúng không? 

Vì thế con người không hoàn toàn là tốt! Phải trải qua từng phần, từng phần thanh tịnh. Ví dụ như Phật pháp mà nói, trong Đạo Quả có nói, bạn đã thanh tịnh được một phần thì gọi là Hoan hỉ địa, thanh tịnh được tám phần, thật sự thanh tịnh đến tám phần, chỉ còn lại hai phần không tốt thì gọi là Bất động địa, khi ấy đã gần như là đăng địa Bồ Tát rồi. Thanh tịnh một phần gọi là Hoan Hỉ Bồ Tát, thanh tịnh được tám phần gọi là Bất động địa, khi ấy mới là Bồ Tát chân chính. Thanh tịnh được chín phần, thanh tịnh được mười phần, mười phần gọi là Pháp vân địa, khi ấy mới thật sự gần đến Phật, Hậu Bổ Phật, thanh tịnh mười phần gọi là Hậu Bổ Phật.

Bây giờ tôi hỏi mọi người: “Bạn đã thanh tịnh được mấy phần?” Bạn thật sự luôn không có ác niệm sao? Bạn không hề có một chút suy nghĩ xấu nào sao? Ai thật sự một chút suy nghĩ không tốt đều không có hãy giơ tay? Bạn có bảo đảm suy nghĩ của chính bạn đều là tốt không? Nếu suy nghĩ của bạn hoàn toàn là tốt, ngay cả một chút tà niệm, ác niệm, hoặc đố kị, ghen tuông, tất cả đều không có, hoàn toàn sạch trơn rồi, giống như tôi đang ngồi trên pháp tọa này hoàn toàn sạch trơn rồi, suy nghĩ gì cũng đều không có, mời giơ tay? Có ai mười phần thanh tịnh? Vì thế tôi nói tiêu đề này rất quan trọng, chính là ở chỗ này đây!

Tâm thanh tịnh làm tất cả pháp thiện, người khác sẽ không giảng như thế này đâu! Người khác chỉ nói dùng tâm thanh tịnh để làm tất cả pháp thiện, xong, tiêu đề này thế là kết thúc rồi. Tôi nói với bạn, có một phần thanh tịnh, có hai phần thanh tịnh, có ba phần thanh tịnh, có bốn phần thanh tịnh, có năm phần thanh tịnh, có sáu phần thanh tịnh, có bảy phần thanh tịnh, có tám phần thanh tịnh. Đến được chín phần thanh tịnh thì Phật mới nhận định tám phần thanh tịnh này là Bất động địa, tức là khi ấy tâm thanh tịnh của bạn đã hoàn toàn bất động rồi, nhưng vẫn còn có hai phần chưa thanh tịnh. Khi ấy mới là mang tên gọi Bồ Tát chân chính, gọi là Bồ Tát chân chính. Đến được tám phần thanh tịnh thì gọi là Bồ Tát bất động, đã bất động rồi thì mới bảo đảm sẽ không còn đi lệch về nơi xấu nữa.

Tâm thanh tịnh là cái gì? Người khác giảng thì nói là tâm thanh tịnh thôi, không phải! Sư Tôn nói tâm thanh tịnh là cần phải xem bạn có bao nhiêu phần thanh tịnh, giống như chúng ta ăn món *steak* (bò bít tết), bạn muốn chín mấy phần? *Well-done* tức là chín mười phần, *medium *(tái)* *hay là *medium-well*, *almost well-done *(gần chín hẳn), hoặc là nói *well-done* hoàn toàn, tức là chín mười phần. Hay là bạn muốn ăn sống, đương nhiên không có ai ăn sống rồi. Cũng có người ăn năm phần, cũng có người ăn mấy phần, đều có *medium, medium-well, almost well-done, well-done,* là như vậy đó. Như vậy các bạn đã hiểu tâm thanh tịnh chưa?

Vì thế hôm nay Phần thứ 23: Tịnh tâm hành thiện, nếu như tôi không giảng thì không có ai giảng như vậy đâu, tôi tin rằng không có ai. Giảng kinh Kim Cang không có ai giảng như vậy đâu! Người ta giảng tâm thanh tịnh rất dễ thôi, tôi chính là người tốt! Bạn là người tốt chỗ nào? Tự bạn nghĩ thử đi, bạn có phải là người tốt không? Bạn hoàn toàn thanh tịnh không? Bạn còn có sự phân biệt tốt xấu đó! Lại còn phân biệt trên dưới nữa, không được! Phật tính là hoàn toàn bình đẳng!

Bạn còn có ưa thích, nhìn thấy người này, tôi thích làm bạn với họ, *my good friend *(bạn tốt của tôi), người kia nhìn thì cảm thấy rất *dirty* (bẩn), *yuck* (kinh tởm), họ nói chuyện tôi không thích, nhìn thấy họ là tôi buồn nôn rồi, nhìn thấy họ, ngay đến nhà xí cũng không muốn vào cùng nhà, nhà xí họ đã vào thì tôi không vào. Có tâm tốt xấu thì không phải là hoàn toàn thanh tịnh, chúng ta nhìn chúng sinh là bình đẳng, không có tâm tốt xấu.

Vì thế người với người có bất hòa đều vì cái tâm thiện ác, không được có tâm này! Nếu bạn có tâm thanh tịnh, vậy thì căn bản sẽ không có những điều này! Ghen tuông cũng vậy, đố kị cũng vậy. Bạn làm tốt, bạn là số một, tôi liền ghen tị với bạn, đây không phải là thanh tịnh. Ghen tuông cũng không phải là thanh tịnh, đó là có tâm tốt xấu. Hôm nay tôi giảng như vậy mọi người nghe có hiểu không?

Các bạn đã đọc chú giải của kinh Kim Cang chưa? Người khác giảng kinh Kim Cang có giảng như vậy không? Có ai từng đọc giơ tay? (Mọi người có mặt ở hội trường giơ tay.) Có ai giảng như vậy về tâm thanh tịnh không? (Có người nói: Không nhớ nữa.) Hả? Anh không nhớ à, vậy anh đọc rồi cũng như chưa đọc. Còn ai không? Nhưng mà như vậy cũng rất tốt, bạn biết không? Đọc rồi đã là rất tốt rồi.

Hình như tôi từng đọc một câu chuyện như thế này. Có ông nội và cháu, hai người đang ở bên bờ sông. Ông nội thích đọc sách, ông ham học không biết mệt mỏi, cháu liền hỏi ông: “Ông đọc nhiều sách như vậy đều nhớ hết sao?” Ông nội nói: “Thật sự là ông đọc xong là quên luôn.” Cháu cười ông: “Vậy ông nội còn đọc sách làm gì nữa? Ông đọc xong là quên, chi bằng không đọc!” Ông nội liền lấy một cái giỏ đưa cho cậu bé, là một cái giỏ đựng than củi, bên trong rất đen. Ông bảo cháu: “Cháu cầm cái giỏ này đi đến bờ sông đựng nước đem về cho ông.” 

Cháu liền đi lấy nước, kết quả là hễ nhấc lên là nước đều chảy ra ngoài hết. Cháu cầm về cho ông nội xem, nói không có cách nào đựng được nước. Ông nội liền nói: “Vậy cháu lại đi lấy lần nữa.” Cháu nghe lời ông nội, lại đi lấy nước. Trở về thì vẫn như vậy, chiếc giỏ chẳng có một chút nước nào. Cháu nói: “Đựng nước cách này thì cũng vô dụng.” Ông nội nói: “Không sai, ông đọc sách cũng chẳng có tác dụng gì, bởi vì đều không lưu giữ được, hôm nay đọc rồi, ngày mai lại quên. Nhưng mà, cháu hãy chú ý nhìn xem, cái giỏ đó ban đầu đựng than củi, là màu đen, bây giờ nó đã trở nên sạch sẽ rồi. Đọc thêm nhiều lần thì ta sẽ sạch sẽ, sẽ thanh tịnh.”

Vì thế đọc thêm nhiều lần kinh Kim Cang, bạn sẽ thanh tịnh. Bạn đọc một lần đương nhiên sẽ quên mất, bạn đọc thêm nhiều lần, cũng đọc thêm cả phần chú giải nữa, bạn sẽ trở nên thanh tịnh. Cho nên vì sao phải trì, phải tụng, phải chép kinh Kim Cang chính là vì ý nghĩa này, để bạn mỗi lần lại gia tăng, mỗi lần lại thanh tịnh thêm, ý nghĩa chính là ở đây. 

Hôm nay chúng ta giảng tiêu đề này là tâm thanh tịnh làm tất cả pháp thiện, dùng tâm thanh tịnh làm tất cả pháp thiện. Tâm thanh tịnh này, không có ai giảng giống như Sư Tôn phân nó thành một phần thanh tịnh, hai phần thanh tịnh, ba phần thanh tịnh, liên tục đến mười phần thanh tịnh, đến khi thanh tịnh mười ba phần thì chính là Ngũ Phương Phật, đến được thanh tịnh mười sáu phần thì chính là Bản Sơ Phật, A Đạt Nhĩ Mã Phật, Đạo Quả đã viết như vậy.

A Hoa đi khám bác sĩ, nói với bác sĩ rằng: “Bác sĩ, không biết vì nguyên nhân gì, mỗi lần khi tôi đánh răng đều cảm thấy kinh tởm bồn nôn?” Bác sĩ chú ý nhìn A Hoa, nói: “Chắc là không có chuyện gì đâu, lần sau đánh răng hãy nhớ đừng đeo kính là được rồi.” Nhìn chính mình cũng sẽ cảm thấy rất kinh tởm đó. Đúng vậy, có đôi nhi nhìn chính mình cũng sẽ thấy rất kinh tởm. Om mani padme hum.

*(Ngày 26/03/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Địa Tạng Vương Bồ Tát Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 69.)*


### 70. Phần thứ 23: Tịnh tâm hành thiện (2)


*(Bài giảng 70) *Pháp này bình đẳng, không có cao thấp

Hôm nay chúng ta giảng Phần thứ 23: Tịnh tâm hành thiện. Đoạn này nói đến:* "Tiếp nữa, Tu Bồ Đề! Pháp này bình đẳng, không có cao thấp, thì gọi là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Nhờ vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả, tu tất cả pháp thiện, tức là đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Tu Bồ Đề! Pháp thiện đã nói đó, Như Lai nói tức chẳng phải pháp thiện, thì gọi là pháp thiện.”*

Câu này nói rằng: Pháp thiện đó, Như Lai nói đó không phải là pháp thiện, bởi vì không phải là pháp thiện cho nên là pháp thiện. Điều này chắc là mọi người đều hiểu rõ rồi, Phật Thích Ca Mâu Ni nói những câu kiểu này quá nhiều rồi, chúng ta cũng nghe quá nhiều rồi, mọi người đều hiểu điều ngài nói là ý gì. Thế nhưng ở đây tôi lại giải thích với mọi người một chút, cái gọi là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề (Sư Tôn nói tiếng Đài), nói cách này là mẹ tôi dạy, câu này nói theo tiếng Đài. Bởi vì tôi phát âm theo tiếng Quốc ngữ A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, mẹ tôi khi niệm kinh, tôi nghe thấy là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề (tiếng Đài), nên tôi đã bị thành thói quen, mỗi lần niệm đến câu này tôi liền nói A nậu đa la tam miệu tam bồ đề (tiếng Đài), là như vậy đó.

*“Pháp này bình đẳng, không có cao thấp.” *Mọi người nghĩ xem, Phật tính là bình đẳng không có cao thấp, không có phân đẳng cấp. Chúng ta giảng đơn giản một chút là được rồi. Chúng ta nói đến cả vũ trụ rộng lớn này, ở đâu là cao, ở đâu là thấp đây? Cao, thấp vốn dĩ là con người phân biệt, bạn sống ở nơi nào trên trái đất? Bạn có sống ở nơi cao của trái đất không? Hay là nơi thấp? Kì thực mỗi con người chúng ta chân đều dẫm trên trái đất, trái đất ở bên dưới bàn chân ta, nhưng nếu như lật ngược lại, trái đất đang tự chuyển động, trái đất ở phía trên chúng ta, con người chúng ta ở bên dưới trái đất, bởi vì nó là thứ hình tròn mà!

Vì thế chúng ta nói một cách rất đơn giản, bạn là một hạt cát sông Hằng nhỏ bé, trái đất chỉ là một hạt cát nhỏ bé trong vũ trụ. Các nhà khoa học chỉ ra chín đại hành tinh xếp hàng, hệ mặt trời từ sao Thiên Vương, sao Diêm Vương, sao Hải Vương, sau đó là sao Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ (sao Kim, sao Mộc, sao Thủy, sao Thổ, sao Hỏa), sau đó mới đến lượt Trái Đất, chín đại hành tinh xếp hàng như vậy. (Chú thích: thứ tự cách mặt trời từ gần đến xa là sao Thủy, sao Kim, Trái Đất, sao Hỏa, sao Mộc, sao Thổ, sao Thiên Vương, sao Hải Vương, sao Diêm Vương.)

Trong đó còn có rất nhiều vệ tinh, ngoài ra trong hư không còn có rất nhiều sao băng. Còn bây giờ? Đã có quá nhiều vệ tinh nhân tạo đếm không xuể, rốt cục bạn ở đâu? Bây giờ khoa học nói, bên ngoài chín đại hành tinh có bao giới hạn, hệ mặt trời với chín đại hành tinh này có kết giới, bạn không ra ngoài được. Thế rồi còn nói có một trăm mặt trời, vì sao bạn không cảm thấy là có một trăm mặt trời? Bởi vì ánh sáng của những mặt trời đó chiếu không tới chỗ của bạn, cho nên bạn mới không cảm thấy có mặt trời. Nói có một trăm hệ mặt trời, đó chỉ là dự đoán.

Trước kia Sư Tôn học trắc lượng, cũng từng học quan trắc khi mặt trăng che các hành tinh. Giờ Greenwich, tức là ở nước Anh có một ngôi làng nhỏ tên là Greenwich, lấy thời gian ở đó làm chuẩn, trong thời gian này, ngôi sao nào sẽ bay qua bầu trời của bạn, chúng ta hãy nhìn vào đáy của khay thủy ngân. Dựa vào mặt trăng che các vì sao để thăm dò khí hậu, tôi học quan trắc, giờ Greenwich mấy giờ mấy phút mấy giây, sẽ có một ngôi sao bay vào vùng trời của bạn, độ sáng của nó là sao cấp một, sao cấp hai, sao cấp ba, sao cấp bốn, sao siêu sáng là sao cấp một, sao càng tối mờ thì là sao cấp bốn, nó sẽ đi qua đây, nó cũng có tên, đều được đăng kí trong sổ thiên văn học, mỗi ngôi sao, từng ngôi sao đều có.

Bạn biết vũ trụ lớn thế nào không? Rất lớn, những ngôi sao mà nhân loại đã phát hiện, mỗi ngôi sao đều có tên. Khi bạn phát hiện được một ngôi sao, chưa có ai viết tên ngôi sao đó, ngôi sao đó là vô danh, là do bạn quan trắc mà thấy, bạn nhìn thấy ngôi sao đó, ngôi sao đó sẽ dùng tên của bạn làm tên ngôi sao. Mỗi một ngôi sao đều có tên, đây là những ngôi sao mà người ta quan trắc thiên văn đã nhìn ra. Sư Tôn cũng nhìn, hi vọng có một ngôi sao Lư Thắng Ngạn, nhìn cả nửa ngày đều là những ngôi sao đã có tên rồi, không có nhìn thấy ngôi sao nào chưa có tên. Vì thế trong một khoảng thời gian nào đó, có một ngôi sao nào đó đi qua đài thiên văn này, bạn đều có thể biết, đó chính là khoa học. Thiết bị đó của chúng tôi gọi là nghi cụ nguyệt yểm tinh, Sư Tôn từng học qua.

Vũ trụ lớn vô cùng, Phật Thích Ca Mâu Ni vào thời đại của Ngài, hơn 2600 năm trước, thật kì lạ, Phật Thích Ca Mâu Ni đã biết có ba nghìn đại thiên thế giới! Ba nghìn tiểu thiên thế giới mới thành một trung thiên thế giới, ba nghìn trung thiên thế giới mới thành một đại thiên thế giới, vậy ba nghìn đại thiên thế giới sẽ rộng lớn cỡ nào? Phật Thích Ca Mâu Ni vào thời đại ấy, ngài đã chẳng phải là con người rồi, ngài thật sự là ông Phật rồi! Ngài nói số cát sông Hằng, một hạt cát sông Hằng tương đương với một thế giới, một hạt hạt cát sông Hằng tương đương với một con sông Hằng, bạn nói xem có bao nhiêu cát sông Hằng? Ba nghìn đại thiên thế giới tương đương như vậy, vũ trụ này to lớn đến mức nào? Làm sao có thể phân rõ, chẳng có cách nào phân được!

Mọi người nghĩ xem, có phải là không có cách nào phân rõ không? A nậu đa la tam miệu tam bồ đề phân thế nào? Đó là toàn bộ hư không, toàn bộ hư không đều bao hàm rồi, ba nghìn đại thiên thế giới đều bao hàm toàn bộ rồi, làm gì có cao thấp? Không có, đều là bình đẳng. Cho nên Phật Thích Ca Mâu Ni thật sự là không đơn giản, não của con người chúng ta không có cách nào nghĩ giống như vậy được, Phật Thích Ca Mâu Ni căn bản không phải là con người! Ngài nói ba nghìn đại thiên thế giới, ai có thể nghĩ đến chứ? Chỉ có Phật thôi, trí huệ của Phật mới có thể biết, cho nên lời Phật nói là chân lí.

Pháp là bình đẳng, không có cao thấp, cái này mới gọi là Phật tính. Bởi vì là vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả, lấy điều này để tu tất cả pháp thiện, đều là không vì cái gì cả! Không vì cái gì mà làm, tôi chưa bao giờ vì cái gì đó mà làm. Tôi làm vì tiền sao? Không phải làm vì tiền. Làm vì danh sao? Cũng không phải làm vì danh. Vậy làm vì cái gì? Tôi chẳng làm vì cái gì cả, chính là vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả, sau đó tu hành tất cả pháp thiện. Hãy nhớ, A nậu đa la tam miệu tam bồ đề chính là giúp đỡ chúng sinh, bạn đi giúp đỡ chúng sinh.

“Tu Bồ Đề! Pháp thiện đã nói đó…” Bây giờ sẽ nói về pháp thiện. “Tu Bồ Đề! Pháp thiện đã nói đó, Như Lai nói tức chẳng phải pháp thiện.” Pháp thiện kì thực cũng không phải pháp thiện thì gọi là pháp thiện, chính là vì đặt cho nó một cái danh từ thì gọi là pháp thiện. Vì sao không phải là pháp thiện? Chúng ta đang làm việc tốt, sao lại không phải là pháp thiện chứ? Rất nhiều bác sĩ nói: “Tôi làm nghề y cứu đời, tôi đang làm việc thiện, tôi đang cứu độ chúng sinh.” Tôi đang cứu độ chúng sinh, tôi đang làm việc thiện, tôi là bác sĩ, tôi loại bỏ đau khổ cho bạn, chữa khỏi bệnh cho bạn, loại bỏ ung thư của bạn, loại bỏ rất nhiều bệnh tật khó chữa của bạn.

Rất nhiều bác sĩ ở trong bệnh viện lớn đều đang làm việc thiện. Bác sĩ đúng là đang làm việc thiện, trước kia chúng ta nói là nghề y cứu đời, nghề y cứu đời tức là đang giúp đỡ chúng sinh, giải trừ đau khổ của con người thế gian, cái đó chính là việc thiện. Nghề y cứu đời, tôi không tính công lao, tôi đi khám bệnh miễn phí, tôi đi ra ngoài làm việc thiện, tôi đến châu Phi khám bệnh từ thiện, tôi là một bác sĩ rất nổi tiếng, tôi không cần tiền, tôi đến châu Phi khám bệnh từ thiện. Đó chính là làm việc thiện, đúng không? Bố thí cho chúng sinh, cứu độ chúng sinh, đây chính là việc thiện.

Được rồi, là việc thiện phải không? Bạn lại nghĩ sâu thêm một chút, mọi người có chút đầu óc thì hãy nghĩ sâu thêm một chút, bệnh nhân nào bạn có thể cứu họ không chết? Cứu, chỉ là tạm thời, nhất thời giải trừ cái đau khổ này. Cái đau nhất thời, tôi loại bỏ nó cho bạn, bạn sẽ không chết sao? Đến cuối cùng thì bạn vẫn sẽ chết mà! Tôi nói với bạn, người cứu cũng chết, người được cứu cũng chết, bệnh nhân của mọi bệnh viện toàn bộ đều chết, và bác sĩ chữa cho bệnh nhân trong bệnh viện cũng đều chết cả. Hôm nay ở đây Lư Thắng Ngạn thuyết pháp, nói rằng ông ấy đang thuyết pháp độ chúng sinh, Lư Thắng Ngạn cũng sẽ chết, người thuyết pháp cũng sẽ chết, người nghe pháp cuối cùng thì cũng sẽ phải chết.

Tôi thường hỏi Tenzin Gyatso trẻ tuổi nhất, cậu bao nhiêu tuổi? *How old are you? Nineteen* (mười chín). Mời ngồi! *Kindergarten baby* (em bé mẫu giáo). 19 tuổi, vào tuổi ấy tôi vẫn còn chưa hiểu chuyện đâu. Sau 100 năm nữa, cậu có còn không? (Tenzin Gyatso: Không còn.) Phải dũng cảm một chút, cậu phải sống tới 120 tuổi chứ! Thật sự, sống đến 120 tuổi đúng là rất khó, lão hòa thượng Hư Vân sống đến 120 tuổi, sống 120 tuổi thật sự là rất khó! Bạn xem, 100 năm sau, người thuyết pháp cũng không còn, người nghe pháp cũng không còn, ngay cả người trẻ tuổi nhất của chúng ta… đúng, vẫn còn có mấy *baby *(em bé). 120 năm sau còn có ai sống không? Đều không có! Người thuyết pháp không còn, người nghe pháp cũng không còn, vậy bạn cứu chúng sinh nào?

“Bây giờ tôi đang thuyết pháp độ chúng sinh.” Bạn độ chúng sinh nào? Bác sĩ ở bệnh viện cứu chúng sinh nào? Trên nguyên tắc mà nói, cái gì là thiện? Không có, đều là nhất thời thôi! Đau khổ, nhất thời thôi! Giải trừ đau khổ của bạn cũng là nhất thời! Có tiền, nhất thời thôi! Bạn đừng ngưỡng mộ người có tiền, họ cũng là nhất thời thôi. Bạn không cần ngưỡng mộ người xinh đẹp, nhất thời thôi. Rất nhanh chóng bạn sẽ trở thành bà lão, mặt đầy nếp nhăn, chẳng mấy chốc mà răng cũng rụng hết, nhanh chóng bạn sẽ bị loãng xương. Vì thế bạn xem, cái đó gọi là việc thiện gì? Đều là nhất thời thôi. Cuối cùng cái gì cũng đều không còn, cái gì cũng không có.

Khi ấy, Phật tính chân chính có thể hiển hiện ra, chính là vô ngã, vô nhân, không có ta cũng không có người, cũng không có chúng sinh, cũng không có thời gian, tất cả đều không có. Cho nên, nói bạn đang làm việc thiện, Như Lai nói đó không phải là làm việc thiện, bởi vì không phải là việc thiện nên mới gọi là việc thiện. Bởi vì bạn không vì cái gì cả mà làm, đó chính là việc thiện, bạn vì cái gì mà làm thì không phải là việc thiện. Điều Như Lai nói đến là cái “nhất thời” này. 

Lúc này tôi đang làm việc thiện, nhưng việc thiện này nếu là vì cái gì đó mà làm, đó không phải là việc thiện. Bạn vì cái danh mà làm, bạn muốn thành danh, đó là vì cái danh của bạn mà làm, vậy đó được coi là việc thiện gì chứ? Bác sĩ vì kiếm tiền thôi, bác sĩ có khi họ đeo vàng đeo ngọc. Tôi đã thấy một số bác sĩ, bác sĩ đó nói rằng: “Chiếc nhẫn kim cương này là do tôi phẫu thuật mà có được đó.” “Cái khóa của cái thắt lưng da của tôi làm bằng vàng đó.”

Ở Đài Loan người có tiền, đàn ông thì dùng thắt lưng da, cái khóa thắt lưng làm bằng vàng. “Cái này của tôi làm bằng vàng, là do tôi mổ ruột thừa của người ta mà có đó.” “Cái đồng hồ Rolex của tôi là do giúp người ta mổ não mà có đó.” “Cái vòng tay làm bằng vàng, kim cương và châu báu này của tôi là do tôi giúp người ta cắt trĩ mà có đó.” Bạn vì cái gì mà làm? Bạn vì những thứ này mà làm, đó không gọi là thiện, đó không phải là pháp thiện, bạn không vì cái gì mà làm thì tức là pháp thiện, không vì cái gì mà làm thì đó chính là pháp thiện trong một khoảnh khắc thật sự. 

Như Lai nói không có pháp thiện vĩnh viễn, đó chính là tính Không. Bạn thật sự tu được ánh sáng tính Không trong tâm bạn, dung nhập vào trong ánh sáng của vũ trụ, cái đó mới là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Cho nên giữ được ánh sáng trong tâm bạn, cái đó mới là pháp thiện vĩnh viễn, Phật tính đó mới là pháp thiện chân chính. Những cái khác, bạn vì cái gì đó mà làm thì đều không phải. Hơn nữa nghiêm túc mà nói, Lục Tổ Huệ Năng nói: “Không có thiện cũng không có ác, chính vào cái lúc đó.” (Chú thích: Không nghĩ thiện không nghĩ ác, chính vào lúc ấy.) Cái ngài nói đến chính là Phật tính. 

Bạn xem trên trái đất, một hạt cát nhỏ bé của sông Hằng Ấn Độ tượng trưng cho một trái đất, bạn nói xem bạn hành được cái thiện gì? Bạn có hiểu không? Con kiến tha hạt gạo, chúng tha hạt gạo để đi cứu tế cho loài kiến gặp nạn, chúng cũng đang hành thiện. Nhân loại chúng ta mang đồ cứu tế đi cứu những người dân gặp nạn của Ukraine, chúng ta cho rằng đó là thiện hạnh, là thiện hạnh không sai, nhưng trong vũ trụ này, việc ấy chỉ giống như một con kiến gánh một hạt gạo đi đến nhà của con kiến không có gì để ăn, bên trong tổ kiến, để chúng được ăn no, đây chính là thiện.

Mọi người thử nghĩ xem, bạn nhìn thấy kiến tha những hạt cơm mà con người ăn thừa đến nhà của một con kiến khác để đi cứu tế chúng, sự việc này bạn có nhìn thấy không? Giống như chúng ta đang làm việc thiện, Quỹ từ thiện Lư Thắng Ngạn mang những đồ cứu tế tặng cho dân ở vùng gặp nạn ở Ukraine để cứu giúp họ, Hội công đức Hoa Quang mang rất nhiều đồ cứu tế gửi đến Ba Lan để cho những dân tị nạn của Ukraine. Bởi vì họ không sản xuất được, hơn nữa đã biến thành dân tị nạn rồi, bạn không cứu tế họ, họ làm sao mà sống đây? Cái này gọi là làm việc thiện.

Hội công đức Hoa Quang không vì cái gì cả, Quỹ từ thiện Lư Thắng Ngạn cũng không vì cái gì cả, thường xuyên đi giúp đỡ người ta, những đoàn thể từ thiện khác cũng không vì cái gì cả, đây chính là cái thiện trong khoảnh khắc, còn việc thiện vĩnh hằng chính là Phật tính, ánh sáng trong tâm của bạn tỏa sáng lấp lánh, sau đó dung nhập vào trong ánh sáng lớn của cả vũ trụ, trong tính Không bao la, cái này mới gọi là thành tựu. Điều Phật Thích Ca Mâu Ni nói là cái này.

Tôi có một nữ đồng nghiệp cái gì cũng tốt, mỗi tội lười. Lười đến mức nào? Bà ngoại yêu thương cô ấy nhất bị ốm, nằm trên giường bệnh đã hai tháng, cô ấy đi chăm sóc bà, chưa tới vài ngày bà ngoại đã khỏe rồi, ngồi dậy được và cũng có thể ăn cơm, cái gì cũng có thể làm được, mọi người đều khen nữ đồng nghiệp này chăm sóc bà thật tốt. Hỏi bà cụ: “Cô ấy chăm sóc bà thế nào?” Bà cụ thở dài một hơi: “Tôi mà không gượng dậy thì e là con bé nó chết đói rồi.” Rốt cục là cô chăm sóc bà ngoại hay là bà ngoại chăm sóc cô đây? Hành giả chúng ta không thể lười biếng, tu hành không thể lười biếng.

Ngoài ra còn có một người là Audrey Hepburn, trước đây các nữ sinh rất chuộng kiểu tóc của Hepburn. Đây là lời Audrey Hepburn nói: nếu muốn có đôi môi xinh đẹp, thì hãy nói những lời tử tế; nếu muốn có đôi mắt khả ái, thì hãy nhìn vào những điểm tốt của người khác; nếu muốn có thân hình mảnh mai thì hãy đem thức ăn của bạn phân phát cho người đói khát. Có hiểu không Huệ Quân? Đừng quá ích kỉ nhé!

Tiểu Minh 5 tuổi giở cuốn album và hỏi: “Bố ơi, cái cô xinh đẹp bên cạnh bố là ai vậy?” Bố nhìn người con gái trong tấm ảnh, thân hình mảnh mai, tướng mạo xinh đẹp, tự nhiên và phóng khoáng, nghĩ đến dung nhan từng có của vợ mình, không khỏi tự hào nói: “Đó chính là mẹ con đó.” Tiểu Minh liền nhếch mép về phía nhà bếp, thấp giọng nói: “Bà béo ở trong bếp kia quả nhiên không phải là mẹ ruột của con rồi.” Bạn xem, xinh đẹp cũng là nhất thời, sắc đẹp cũng là nhất thời, bạn thấy họ bây giờ xinh đẹp, cảm thấy rất đẹp. Vì sao bạn không dùng cách quán Bạch cốt? Bởi vì quán không ra xương trắng, chỉ quán thấy một thân thể trắng nõn nà thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 27/03/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Diêu Trì Kim Mẫu tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 70.)*


### 71. Phần thứ 24: Phúc trí không gì sánh bằng


*(Bài giảng 71) *So sánh với vô hạn

*"Tu Bồ Đề! Nếu tất cả các núi Tu Di chứa trong tam thiên đại thiên thế giới, có người dùng thất bảo tích tụ nhiều như số núi ấy mà bố thí, hoặc có người thọ trì đọc tụng kinh Bát Nhã Ba La Mật này cho dù chỉ bốn câu kệ, vì người khác mà giảng thuyết, thì phúc đức của người bố thí so với người trì kinh trăm phần không bằng một phần, trăm nghìn vạn ức phần, thậm chí tính toán tỉ dụ thì cũng không thể so bì được.”*

Phần thứ 24: Phúc trí không gì sánh bằng, phúc phần và trí huệ không cách nào có thể so bì. Phật Thích Ca Mâu Ni rất thích dùng so sánh để nói. Đoạn trước ngài dùng sông Hằng của Ấn Độ, lấy cát sông Hằng để so sánh, mỗi một hạt cát của sông Hằng lại tương đương với một con sông Hằng, cát của nhiều sông Hằng như vậy, bạn có thể đếm được không? Không đếm được. So sánh phúc phần và trí huệ, phúc trí chính là dùng so sánh.

Và phần thứ 24 này cũng là đang so sánh, trước tiên tôi nói với mọi người về so sánh, sau đó mới giảng vào nội dung kinh văn. Lần này Phật dùng cái gì để so sánh? Phật nói *"Tu Bồ Đề! Nếu tất cả các núi Tu Di chứa trong tam thiên đại thiên thế giới”, *đây chính là so sánh đó. Nhưng bạn đọc xong không cảm thấy rất kì quái sao? Phật nói câu này là ý gì? Nếu “*tất cả các núi Tu Di chứa trong tam thiên đại thiên thế giới”, *so sánh này trong não của chúng ta, bạn có nghĩ ra lối suy nghĩ đó không? Bởi vì trong Phật giáo dùng so sánh là như vậy. 

Trên thế giới này của chúng ta, núi cao nhất chính là núi Tu Di, đó là ngọn núi cao nhất. Trung tâm của toàn bộ thế giới quan của Phật giáo chính là núi Tu Di, bên cạnh có bốn đại châu, cách xa bốn đại châu một chút là tám tiểu châu. Bốn châu này là châu gì? Trước đây chúng ta nói phương đông là Đông Thắng Thần Châu, phương nam là Nam Thiệm Bộ Châu, phương tây là Tây Ngưu Hạ Châu, phương bắc là Bắc Câu Lư Châu, có bốn châu. Đông Thắng Thần Châu, Tây Ngưu Hạ Châu, Bắc Câu Lư Châu, Nam Thiệm Bộ Châu, phân thành bốn đại châu, có biển nước thơm ngăn cách, rồi có tám tiểu châu như vậy.

Núi Tu Di chỉ có một, đó là ngọn núi cao nhất, cho nên gọi là Tu Di Sơn Vương. Vậy thì vì sao Phật lại nói là “tất cả các núi Tu Di” chứ? Đây là điều khiến mọi người bối rối. Các núi Tu Di, lẽ nào núi Tu Di có rất nhiều sao? Không phải! Núi Tu Di chỉ có một, trong quan niệm của Phật giáo thì đó là Núi Vua, ngọn núi cao nhất thì chỉ có một, không có các núi Tu Di. Vì sao nói là “tất cả các núi Tu Di”? Đây là tỉ dụ của Phật Thích Ca Mâu Ni.

Núi Tu Di, nếu như núi Tu Di nhiều như tam thiên đại thiên thế giới cộng lại, bạn xem nhiều thế nào! Ý của Phật nói rằng rất lớn, lớn tới mức không gì sánh bằng. Một núi Tu Di đã là rất lớn rồi, cao vô cùng rồi, còn dùng tới tất cả các núi Tu Di của tam thiên đại thiên thế giới, như vậy thì cao thế nào? Bởi vì núi Tu Di chỉ là một ngọn núi Tu Di trong một tiểu thiên thế giới mà thôi, vậy thì ba nghìn đại thiên thế giới nhân với ba nghìn đại thiên thế giới, có bao nhiêu núi Tu Di chồng lên nhau cao đến mức như thế. 

So sánh của Phật Thích Ca Mâu Ni đều dùng cách này, cho nên khi bạn đọc kinh, tất cả các núi Tu Di, núi Tu Di chỉ có một thôi, vì sao là các núi Tu Di? Tức là Phật đang dùng so sánh. Núi Tu Di giống như là rất nhiều núi Tu Di của ba nghìn đại thiên thế giới cộng lại, chính là các núi Tu Di. Nếu núi cao như vậy tương đương với toàn bộ thất bảo chồng chất lên cao như vậy, có người dùng thất bảo nhiều như so sánh này để mà bố thí, nếu người đó dùng cái này làm bố thí. Đây chính là so sánh của Phật Thích Ca Mâu Ni.

Nếu có một người khác dùng kinh Bát Nhã Ba La Mật, dùng một cuốn kinh Kim Cang, cho dù chỉ bốn câu kệ, chỉ niệm bốn câu kệ: “Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng.” Thọ trì đọc tụng, tôi đã giải thích thế nào là thọ trì đọc tụng rồi, ở đây không giải thích lại nữa. Được, giảng cho người khác, “*vì người khác mà giảng thuyết, thì phúc đức của người bố thí so với người trì kinh trăm phần không bằng một phần, trăm nghìn vạn ức phần, thậm chí tính toán tỉ dụ thì cũng không thể so bì được.” *Đoạn này đã kết thúc rồi.* *Nói cách khác là, bố thí nhiều như thế đều không sánh bằng bốn câu kệ của kinh Kim Cang.

Có nghĩa là phúc đức của thọ trì đọc tụng kinh Kim Cang lớn hơn cả phúc đức của việc đem thất bảo cao như tất cả núi Tu Di của tam thiên đại thiên thế giới đi bố thí. Việc này không có gì sánh bằng, ở đây chủ yếu nói rằng, hễ là những việc bố thí của thế gian thì đều là hữu hạn. Bạn ở thế giới Ta Bà làm việc thiện đều là hữu hạn, đó là phúc nhỏ trí nhỏ. Muốn vô hạn thì phải là hư không, phải là Phật tính, mới là vô hạn. Phúc đức của nhập thế đều là rất có hạn, phúc đức của xuất thế là vô hạn, ý nghĩa chủ yếu nhất của đoạn này là nói như vậy.

Phật Thích Ca Mâu Ni dùng so sánh, ngài thường dùng số cát sông Hằng để so sánh, lại dùng độ cao của núi Tu Di để so sánh với công đức này, công đức của ai lớn, công đức của ai nhỏ, nhưng mà công đức lớn hay công đức nhỏ đều là có hạn, bất kể công đức của bạn nhiều bao nhiêu đều là có hạn. Vậy cái vô hạn là cái gì? Chính là kinh Kim Cang mà Phật Thích Ca Mâu Ni giảng, còn có bốn câu kệ, đó chính là vô hạn, “vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng”, đó là vô hạn. 

Chúng ta có thể so sánh một cách đơn giản, bạn nhìn xem thế giới Ta Bà chẳng qua là một quả bóng. Chúng lấy tạm một chuỗi hạt là được rồi, một hạt ở đây là thế giới Ta Bà, còn những hạt khác thì sao, là chín đại hành tinh và tất cả vệ tinh xâu lại thành chuỗi nhiều thế này. Vậy bạn ở trên quả bóng này làm một vài việc thiện, bạn nói công đức của bạn lớn bao nhiêu? Rất nhỏ mà, đúng không? Công đức vô cùng nhỏ, bạn xem chuỗi hạt này có bao nhiêu địa cầu? Một hạt coi như là một địa cầu đi, việc thiện bạn làm có tính là gì chứ?

Trên địa cầu, một quốc gia nhỏ bé, bạn ở đây làm việc thiện, công đức của bạn lớn bao nhiêu? Cả hệ mặt trời nhiều tinh cầu như vậy, bạn làm việc thiện quá nhỏ bé, việc thiện trên thế giới Ta Bà thật sự là quá nhỏ, quá nhỏ nhưng không phải là bảo bạn đừng làm, vẫn phải làm, nhưng mà so với công đức chân chính thì đó đúng là quá nhỏ. Phật Thích Ca Mâu Ni so sánh như vậy.

Một ngọn núi Tu Di đã là rất lớn rồi, nhiều núi Tu Di như vậy toàn bộ cộng lại, cũng chẳng qua là một chuỗi hạt, bạn so sánh với hư không thì làm sao mà so chứ? Không so nổi. Cho nên ở trên Phật đã nói: Phần thứ 24: Phúc trí không gì sánh bằng. Phúc trí không gì sánh bằng, tiêu đề này chính là như vậy, lấy cái hữu hạn để so sánh với cái vô hạn, đương nhiên là chẳng có cách nào sánh bằng. Cái gì là cái vô hạn? Kinh Kim Cang chính là vô hạn, “vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng” chính là cái vô hạn. Như vậy mọi người đã hiểu phần thứ 24 chưa? Hẳn là có thể hiểu được rồi!

Vì thế chúng ta học Phật, căn cứ theo điều Phật đã giảng, thật sự là vô hạn, điều Phật đã thuyết là vô hạn. Có người học Phật, càng học tâm lượng càng hẹp hòi, như vậy là đã đi sai đường rồi. Học Phật cái cần học chính là tâm đó, tâm lượng của bạn phải rộng lớn như hư không vô hạn, cái gì cũng đều dung chứa được, đó mới là Phật pháp. Học Phật, chỉ là vì bản thân ích kỉ thì là có hạn. Bạn học Phật là vì chúng sinh thì đó là vô hạn. Lại so sánh thêm nữa thì lấy chúng sinh tướng so sánh với hư không, hư không càng rộng lớn hơn. 

Vì thế, nhân gian thế giới Ta Bà này của chúng ta, theo như Phật nói thì không có thứ chân thực, “vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng”, nghĩa là không có thứ chân thực. Bạn nói xem thứ nào là chân thực? Không có cái gì là chân thực. Những gì mắt bạn nhìn thấy, tai bạn nghe thấy, thứ mà bạn chạm vào được, bạn cho rằng là thật, kì thực đều là huyễn tướng. Bạn cho rằng tiền của bạn rất nhiều, đều không phải của bạn. Bạn cho rằng chiếc xe hào nhoáng kia là của bạn, cũng không phải là của bạn. Bạn cho rằng biệt thự này là của bạn, cũng chẳng phải là của bạn.

Thứ gì là của bạn? Không có một thứ nào là của bạn, bao gồm cả chính thân thể bạn cũng không phải là của bạn. Phật Thích Ca Mâu Ni nói như vậy, tất cả những thứ bạn nhìn thấy, thứ bạn nghe thấy, thứ bạn sờ chạm được, không có thứ gì là của bạn. Chỉ là để cho bạn có được một lúc, đến cuối cùng thì đều không có. Tôi thường nói, người ở thiên đàng, tiền ở ngân hàng, vợ thì ở trong vòng tay người khác, anh em đang tranh giành tài sản của bạn. Trên đời không có một thứ nào là của bạn, vô hạn mà Phật nói chính là đạo lí này. 

Vô hạn, bạn hiểu vô hạn rồi, tâm lượng của bạn sẽ lớn lên, tâm lượng sẽ rộng rãi. Kẻ trộm vào nhà bạn để lấy đồ của bạn, dù sao bạn cũng không dùng thì để cho người khác dùng đi, người khác dùng cũng như bạn dùng, tâm lượng chính là phải như vậy. Jesus nói rồi, người ta lấy áo ngoài của bạn, bạn cũng cho họ luôn áo trong, ngay cả đồ lót cũng cởi ra đưa cho họ. Jesus nói vậy, không phải tôi nói. 

Đúng thế, Jesus người ta cũng hiểu được đạo lí này, cho nên Jesus cũng nói phải yêu kẻ thù của bạn. Làm gì có kẻ thù gì, dưới bầu trời này làm gì có kẻ thù nào? Chỉ có lợi hại, không có kẻ thù, người nào đối với tôi có lợi thì là bạn của tôi, người nào đối với tôi không có lợi thì là kẻ thù của tôi, đó là tâm lí ích kỉ, làm gì có kẻ thù nào? Tâm lượng mở rộng ra như vũ trụ vô hạn thì bạn mới có thể thành tựu, tâm lượng bạn hẹp hòi thì làm gì có thành tựu.

Thẩm phán hỏi phạm nhân tại tòa, thẩm phán hỏi: “Vì sao anh muốn làm tiền giả?” Phạm nhân trả lời: “Bởi vì tôi trên còn cha mẹ già, dưới còn con nhỏ, người già mắc bệnh phải vào viện, trẻ con đi học cần học phí, vợ phải mua đồ trang điểm, còn phải thỉnh thoảng đánh bài, vay nợ bên ngoài vẫn còn phải trả lãi, mỗi tháng còn trả tiền vay mua xe, mua nhà.” Thẩm phán nói: “Đủ rồi, nói vào điểm chính.” Phạm nhân nói: “Tôi không biết in tiền thật.”

Tôi nói để bạn biết, bạn cho rằng bạn có tiền, đó đều là giấy thôi! Làm gì có tiền? Tiền đó chỉ có ở tại đất nước của bạn mới có thể dùng, ở trên trái đất này có thể dùng, rời khỏi trái đất này thì chẳng cái gì còn dùng được. Có một ngày, có một đất nước tiêu tùng rồi, bạn nói xem tiền đó là tiền gì? Chỉ là giấy thôi, làm gì còn là tiền? Đều là giả.

Ở đây hỏi đến vấn đề tiền thật và tiền giả, câu chuyện cười này là như sau. Vào tiết thanh minh tảo mộ, Tiểu Minh rất cảm thán: “Tiền vàng mã bây giờ làm giống y như thật, khi đốt đi còn có cảm giác hơi tiếc.” Anh ta cười khổ xong thì vợ gọi điện tới: “Chẳng phải anh đang đi tảo mộ sao? Sao anh không mang theo tiền vàng mã?” Vợ nói tiếp: “Còn cả 60.000 tệ em vừa lĩnh đi đâu mất rồi? Em để ở bên cạnh tiền vàng đó.” Tiểu Minh nghe xong thì khóc ngất đi ở trước ngôi mộ. Có rất nhiều người đang tảo mộ ở bên cạnh đều hết sức tán thưởng anh: “Đúng là hiếu thuận, tảo mộ mà cũng khóc như thế này, ngày nay không còn thấy nhiều người như thế.” Buổi tối anh còn gặp ác mộng, tổ tiên nói: “Con à, hại chúng ta ở âm phủ bị cảnh sát bắt, bởi vì cảnh sát âm phủ nói tiền chúng ta dùng là tiền giả.”

Tôi hỏi bạn, cái gì là tiền thật, cái gì là tiền giả? Mọi người công nhận là tiền thì đó là tiền, mọi người không công nhận là tiền thì đó không phải là tiền, chỉ là vì công nhận mà thôi! Bởi vì đất nước công nhận đây là tiền thì mới là tiền, cho nên tiền cũng là giả. Và vì tiền là giả, vậy cái gì là thật? Không có, không có thứ gì thật, vốn dĩ chính là một cảnh hư huyễn mà thôi! Vì thế Phật Đà nói, nhân gian này vốn dĩ chính là một huyễn cảnh. Cho nên bạn muốn tìm đến một thứ chân thực, thứ chân thực này chính là Phật pháp.

Nhưng Phật pháp cũng không phải là thật, Phật pháp chỉ là dạy bạn thanh tịnh, khi bạn thật sự hoàn toàn thanh tịnh rồi bạn mới tìm thấy Phật tính chân chính, Phật pháp chỉ là một công cụ mà thôi. Trong kinh Kim Cang có nói, Phật pháp cũng chỉ là một công cụ mà thôi, từ bờ bên này đến bờ bên kia, trong đó mọi con thuyền chính là công cụ, thuyền đó chính là Phật pháp.

Bạn đến được bờ bên kia rồi, công cụ này có thể bỏ đi, con thuyền này không dùng đến nữa, bởi vì bạn đã thành tựu rồi. Phật pháp cũng chính là một công cụ mà thôi, chính là một công cụ đưa bạn đến bờ bên kia. Vì thế điều Phật Thích Ca Mâu Ni nói khá thực tế, tương đối có tính chân thực. Kì thực trên thế giới này không có cái gì có tính chân thực. Om mani padme hum.

*(Ngày 02/04/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Chuẩn Đề Phật Mẫu Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 71.)*


### 72. Phần thứ 25: Hóa vô sở hóa


*(Bài giảng 72) *Chúng sinh ai độ?

*"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Các ông đừng bảo rằng Như Lai có ý nói: "Ta đang độ chúng sinh". Tu Bồ Đề! Đừng nghĩ như thế. Là vì sao? Thật không có chúng sinh nào được Như Lai độ. Nếu có chúng sinh nào được Như Lai độ thì Như Lai ắt có ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả. Tu Bồ Đề! Như Lai nói: "Có ngã, tức chẳng phải có ngã, nhưng kẻ phàm phu cho là có ngã." Tu Bồ Đề! Phàm phu đó Như Lai nói tức chẳng phải phàm phu, thì gọi là phàm phu.”*

Cái này tôi đã nói rồi: “Tu Bồ Đề à! Ông có biết không? Tất cả đệ tử các ông đừng cho rằng Phật có suy nghĩ thế này: “Ta đang độ chúng sinh.” Kì thực không có suy nghĩ ấy. Tu Bồ Đề, đừng có suy nghĩ này, vì sao vậy? Thực sự không có chúng sinh nào là ta độ, nếu có chúng sinh là do ta độ, Như Lai tức là có ngã, có nhân, có chúng sinh, có thọ giả. Tu Bồ Đề à! Như Lai nói có ngã tức không có ngã, có ngã tức là không có ngã, nhưng phàm phu cho rằng có ngã, người bình thường đều cho rằng có ngã. Tu Bồ Đề! Người bình thường, Như Lai nói tức không phải phàm phu, họ không phải là người bình thường mới gọi là người bình thường.” Đoạn này nói như vậy.

Trọng điểm nằm ở đâu? Chúng sinh vốn dĩ đều có Phật tính. Phật thuyết pháp, bạn nghe pháp, bạn biết pháp rồi, dùng pháp này rồi, bạn sẽ tự độ. Phật không độ bạn, là chính bạn làm thanh tịnh chính mình, Phật tính của bạn hiển hiện, Phật tính vốn dĩ đã có rồi, vốn dĩ trên người bạn đã có Phật tính rồi, ai cũng không thể độ bạn, chỉ có tự độ, chỉ có tự mình độ chính mình.

Như Lai không thể độ bạn, Phật Đà cũng không thể độ bạn, bởi vì Phật tính là của chính bạn mà! “Là thứ của tôi, vậy tôi còn cần anh đến độ tôi làm cái gì? Anh dạy tôi phương pháp, tôi thanh tịnh chính mình rồi, là tôi tự mình độ chính mình.” Sau khi độ chính mình xong, Phật tính của mình hiển hiện rồi, là bạn tự mình thành Phật, không phải là Phật độ bạn. Phật Đà nói như vậy, không phải ta đi độ chúng sinh, là chúng sinh tự độ.

Là chúng sinh tự độ chính mình, tôi chỉ nói với bạn phải làm thế nào mới có thể thanh tịnh, rồi bạn chiếu theo phương pháp của tôi mà làm, tự mình độ chính mình, tự mình thành tựu, thành Phật. Ý nghĩa chính là như vậy. Cho nên Phật Đà không thể nghĩ thế này: “Ta độ chúng sinh.” *No*, chúng sinh không phải là bạn độ, mỗi một chúng sinh đều là tự mình độ chính mình. Như vậy mọi người nghe đã hiểu chưa? Không có ai có thể độ bạn, chỉ có chính bạn độ chính mình, bởi vì Phật tính nằm ở trên người bạn, bạn làm thanh tịnh chính mình rồi, bạn thành tựu rồi, bạn chính là thành tựu giả.

Bản thân bạn không thanh tịnh, Phật nào có thể độ bạn? Cho nên Phật không nghĩ như thế này: “Ta đang độ chúng sinh”. Cũng tức là không có người thuyết, không có người nghe, Phật nói như vậy đó. Ý của tôi là như thế này, bạn chẳng qua chỉ là dùng Phật pháp để thanh tịnh chính mình, Phật pháp chỉ là một công cụ, là một cái tua-vít, xoay, xoay, xoay, xoay như thế này để vặn bạn chặt lại, là một cái tua-vít để vặn bạn chặt lại, chỉ là một công cụ, bạn bị lỏng thì vặn bạn chặt lại, bạn sẽ tinh tấn, khi tinh tấn rồi thì cuối cùng sẽ thanh tịnh chính mình, tự mình độ mình là thành tựu rồi.

Cho nên Phật không nói bạn quy y ai. Đương nhiên, chúng ta khi đang sống ta nói, bạn quy y Lư Sư Tôn, bạn quy y Phật pháp tăng, kì thực là quy y tự tính, tự quy y, tự mình quy y Phật tính của chính mình, đó gọi là tự quy y, tự mình độ mình. Tôi nói điểm này mọi người đều biết rồi. Phật nói “thật không có chúng sinh nào là Như Lai độ”, căn bản không có một chúng sinh nào là Như Lai độ, vì sao? Bởi vì tự mình độ chính mình mà! Phật tính của bạn làm gì có phải do Như Lai độ, không có chuyện này, là tự mình độ mình.

“Thật không có chúng sinh nào được Như Lai độ”, nếu có chúng sinh được Như Lai độ, thì Phật đó không phải là Phật rồi, đó là vì có nguyên nhân mới thuyết pháp, không phải là vì không vì nguyên nhân gì mà thuyết pháp. Phật Đà thuyết pháp là “vô nhân thuyết pháp”, nếu Như Lai thuyết pháp vì điều gì đó thì tức là có ngã rồi. “Chúng sinh đều là do ta độ, vui quá đi!” Đừng vui mừng, người ta đều là tự mình độ mình, không phải là bạn độ, “vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng”, căn bản không có, ai là do bạn độ chứ? Không có! Cho nên Phật nói nếu như có ngã, tức không có ngã, thì không phải là ngã, ngã cũng không phải là ngã.

Nhưng người bình thường đều cho rằng có ngã, bởi vì có ngã nên mới ích kỉ đó! Nếu bạn nghĩ đến cái tôi, tâm ích kỉ của bạn sẽ xuất hiện, cho nên người học Phật không thể có tâm ích kỉ, cho nên không thể có cái ngã này! Người phàm phu, người bình thường đều cho rằng “Tôi chính là ai, chính là tôi”, đều cho rằng có cái tôi. Cho nên Phật nói với Tu Bồ Đề, cái gọi là *“phàm phu đó Như Lai nói tức chẳng phải phàm phu”, *người bình thường không phải là người bình thường, bởi vì trong con mắt của Phật là nhìn thấy Phật tính, người bình thường chính là Phật. 

Cái gọi là* “phàm phu đó Như Lai nói tức chẳng phải phàm phu”, *bởi vì trong con mắt của Phật đều là Phật tính, không có kẻ phàm phu, tức không phải phàm phu. Vì người phàm phu cho rằng có ngã, cho nên “gọi là phàm phu”, cho nên gọi là làm một phàm phu, tức là người bình thường. Người bình thường đều cho rằng có cái ngã, con người đều cho rằng có cái tôi, bởi vì có cái tôi nên bạn ích kỉ, không thể có cái tôi, cho nên Phật Đà nói là vô ngã tướng, phải vô ngã.

Từ sáng đến tối nói vô ngã, vô ngã, tức là bảo bạn không được ích kỉ. Bởi vì một khi đã xuất hiện cái tôi thì bắt đầu ích kỉ rồi: “Đây là của tôi, đó là của anh, kia là của họ, đều có cái tôi cả.” Đây chính là đều có cái tâm ích kỉ. “Tôi muốn cái tốt, tôi cho anh cái xấu” chính là ích kỉ đó! Nếu mọi người bình đẳng như nhau thì mới đúng, mới là tâm bình đẳng. Cho nên Phật tính chính là tâm bình đẳng, chính là cái đạo lí này. Chương này tôi vừa giảng đã hiểu chưa?

Mấy năm nay mọi người hãy học một chút thiền định, bởi vì ở trong nhà tức là sống yên, kiết hạ an cư, đừng đi lung tung, ở nhà cho khỏe, không sợ thời gian, chăm sóc bản thân, người nhà yên lòng. Trong thời kì dịch bệnh, không đến không đi không hề gì. Đương nhiên, không đến không đi thì sẽ không bị lây nhiễm. Mọi người yên tâm, mấy năm nay thời kì dịch bệnh ở trong nhà chăm chỉ tu thiền định đi. Om mani padme hum.

*(Ngày 03/04/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Địa Tạng Vương Bồ Tát tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 72.)*


### 73. Phần thứ 26: Pháp thân phi tướng


*(Bài giảng 73) *Pháp thân thanh tịnh

*"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Có thể dựa vào ba mươi hai tướng mà quán đó là Như Lai không?"
Tu Bồ Đề nói:
"Đúng thế! Đúng thế! Dựa vào ba mươi hai tướng mà quán Như Lai."
Phật nói:
"Tu Bồ Đề! Nếu dùng ba mươi hai tướng mà quán Như Lai thì Chuyển Luân Thánh Vương tức là Như Lai."
Tu Bồ Đề bạch Phật rằng:
"Thưa Thế Tôn! Theo con hiểu nghĩa Phật nói, không nên dựa vào ba mươi hai tướng mà quán Như Lai."
Khi ấy, Thế Tôn bèn nói bài kệ:
Nếu do sắc thấy ta
Do âm thanh cầu ta
Người ấy hành tà đạo
Không thể thấy Như Lai.*

“Pháp thân phi tướng” là ý gì đây? Tức là pháp thân thanh tịnh là hoàn toàn vô tướng, không phải là dùng tướng để biểu thị, pháp thân thanh tịnh là không có tướng. Pháp thân thanh tịnh là không có tướng, tiêu đề này là như vậy, nội dung bản văn là thế nào đây? *"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào?” *Ý của ông là như thế nào đây? “*Có thể dựa vào ba mươi hai tướng mà quán đó là Như Lai không?" *Nếu như có đủ 32 tướng thì chính là Như Lai sao?

*Tu Bồ Đề nói: "Đúng thế! Đúng thế! Dựa vào ba mươi hai tướng mà quán Như Lai." *Tu Bồ Đề không trả lời, “Đúng thế, đúng thế”, thưa vâng, thưa vâng, dùng 32 tướng mà quán Như Lai, có 32 tướng thì dường như là Như Lai rồi! Như Lai có 32 tướng thì không sai, nhưng Phật Đà nói với ông ấy rằng: “*Nếu dùng ba mươi hai tướng mà quán Như Lai”, *nếu mà có 32 tướng thì là Như Lai, thì *“Chuyển Luân Thánh Vương tức là Như Lai”. *Chuyển Luân Thánh Vương chính là Như Lai, bởi vì Chuyển Luân Thánh Vương cũng có 32 tướng.

Mọi người đối với vấn đề này đều xét đến Chuyển Luân Thánh Vương, mọi người đều biết ngài có 32 tướng. Phật Thích Ca Mâu Ni hiển hóa thân tướng của ngài, ngài có 32 tướng, 80 vẻ đẹp. Vậy người kia có 32 tướng thì là Như Lai sao? Tu Bồ Đề không dám nói, ông ấy không nói đúng, cũng không nói sai. Nhưng Phật Đà đã trả lời ông ấy, nếu dùng 32 tướng để thấy Như Lai thì Chuyển Luân Thánh Vương cũng là Như Lai.

Thế nào là Chuyển Luân Thánh Vương? Mọi người thử tìm trên điện thoại xem câu trả lời thế nào. Thế nào là Chuyển Luân Thánh Vương? Bởi vì giới Phật giáo cũng vì điều này mà có tranh luận. Mọi người xem từ điển Phật giáo xem họ viết Chuyển Luân Thánh Vương là ai, là cái gì? Giới Phật giáo vì vấn đề này cũng có tranh luận, thế nào là Chuyển Luân Thánh Vương?

(Thượng sư Liên Truyền: Báo cáo Sư Tôn, trong từ điển Phật học nói như thế này: Chuyển Luân Thánh Vương ý nghĩa là nói về vua chuyển bánh xe, Chuyển Luân Thánh Đế, Luân Vương, Phi Hành Chuyển Luân Đế, Phi Hành Hoàng Đế, ý tức là vua chuyển bánh xe quý. Thuyết về sự xuất hiện của Chuyển Luân Thánh Vương thịnh hành vào thời đại Thế Tôn, đoạn sau còn rất dài, về cơ bản là như vậy.)

Vâng, cảm ơn! Từ điển Phật giáo này nói như vậy, hình như là vua của nhân gian, đúng không? Mọi người đều cho rằng vua của nhân gian, ở Ấn Độ họ nói rằng Chuyển Luân Thánh Vương chính là vua ở nhân gian, tức là vua của thế giới Ta Bà. Vậy thì có rất nhiều đệ tử Phật đưa ra nghi vấn, bây giờ có Chuyển Luân Thánh Vương không? Chắc là không có, theo như từ điển Phật giáo nói thì bây giờ ở đâu có Chuyển Luân Thánh Vương chứ? Cũng không có bánh xe bay xuất hiện, cũng không có thất bảo. Đương nhiên bánh xe bay đó, hoặc thất bảo đó, những thứ này đều thuộc về vô hình.

Vậy chúng ta xem những nhân vương hiện nay xem, bạn nói xem hiện tại trên thế giới, nước lớn nhất có thể ảnh hưởng đến toàn thế giới, bạn xem Biden đó, ông ấy cũng có đầy sức ảnh hưởng, đúng không? Tổng thống Mĩ Biden, ông ấy làm gì có 32 tướng? Cho dù một tướng ông ấy cũng không có. Đây là nhân tướng, làm gì có tướng gì? Bạn nói xem Tổng tống của đất nước nào có 32 tướng? Theo như 32 tướng mà Phật Thích Ca Mâu Ni nói, căn bản là ngay cả một tướng cũng không có, làm gì có Chuyển Luân Thánh Vương? Vì thế, giới Phật giáo vì chuyện này mà cứ chỉ trích lẫn nhau mãi.

Cho nên bạn nói xem, thế nào là Chuyển Luân Thánh Vương? Chúng ta ở thế giới Ta Bà thì không nhìn thấy. Bạn nói Thánh Vương xuất hiện, chúng ta lấy Trung Quốc để nói đi… hoặc là chúng ta nói về Ấn Độ cũng được. Vua Ashoka chuyển pháp luân của Phật giáo là người nổi tiếng nhất, vua Ashoka của vương triều Maurya, ông ấy chuyển pháp luân của Phật giáo. Mọi người có biết vua Ashoka trông như thế nào không? Vua Ashoka có 32 tướng không? Vì thế rất nhiều người vì Chuyển Luân Thánh Vương mà vẫn đang tranh luận. Cá nhân tôi nghĩ thế này, cái gọi là Chuyển Luân Thánh Vương cũng là vô hình thôi, Chuyển Luân Thánh Vương mà Phật Đà nói cũng là vô hình.

Dưới bầu trời này, có người nào mà tai dài rủ xuống vai không? Tai rất dài, dái tai rủ xuống đến tận vai, đây là một trong 32 tướng. Đương nhiên bạn làm như thế này (co vai lên) thì có thể được, tai chạm vào vai, tức là rất dài. Tôi đã kéo tai rất lâu rồi mới được dài như thế này đó, kéo bao lâu rồi mới được dài thế này, Sư Tôn cũng được xem là có một chút tướng tai rồi! Trước đây tai của tôi rất nhỏ, chính vì tai tôi rất nhỏ, khi còn nhỏ tôi có biệt hiệu là “con chuột”, tai của con chuột rất nhỏ mà. Bây giờ tôi đã kéo nó tương đối dài một chút rồi, tai là phải như vậy.

Lưỡi thì phải có tướng lưỡi rộng dài, tôi từng nói lưỡi thè ra là có thể che kín cả mặt, có kiểu tướng này không? Tìm thấy ở đâu? Cho nên trong kinh A Di Đà nói, lộ ra tướng lưỡi rộng dài che khắp cả ba nghìn đại thiên thế giới, che hết cả ba nghìn đại thiên thế giới lại, đó gọi là tướng lưỡi rộng dài. Không chỉ là che kín mặt mình thôi, mà có thể che kín cả ba nghìn đại thiên thế giới. Thành thật mà nói, 32 tướng đó, bây giờ làm gì có kiểu người ấy? Lưỡi thè ra có thể che kín mặt mình, thật là…

Các bạn ở đây có người nào cánh tay dài quá đầu gối, đứng dậy mà cánh tay dài quá đầu gối, có ai không? Đó cũng là một trong 32 tướng, cánh tay dài quá đầu gối. Bạn đứng lên, nếu bây giờ cánh tay dài quá đầu gối, thì tôi sẽ tặng bạn cái túi này, lập tức tặng cho bạn. Làm gì có chứ? Ngay cả tôi cũng không có, cho nên Phật Đà nói điều này tôi cho rằng là vô hình.

Bạn có biết Thập Điện Diêm Vương không? Thập Điện Diêm La Vương, điện thứ nhất là Tần Quảng Vương, điện thứ năm là Diêm La Vương, điện thứ mười gọi là gì? Chính là Chuyển Luân Vương. Diêm La Vương ở điện thứ mười chính là Chuyển Luân Vương, đúng không? Diêm La Vương có tướng này không? Các bạn đã từng nhìn thấy Diêm La Vương chưa? Có Thập Điện Diêm Vương, mười điện đó! Thập Điện Diêm La Vương, chúng ta gọi chung là Diêm La Vương, kì thực là điện thứ năm mới là Diêm La, điện thứ nhất là Tần Quảng Vương, điện thứ năm là Diêm La Vương, điện thứ mười là Chuyển Luân Vương.

Tôi cho rằng trước nay chưa có người nào từng nhìn thấy Chuyển Luân Vương, Chuyển Luân Thánh Vương chưa từng có ai nhìn thấy, cũng chưa từng có ai sau khi nhìn thấy Thập Điện Diêm Vương lại trở về thế giới Ta Bà để kể Diêm La Vương trông như thế nào cả. Những người đã đi tới âm gian, đã đi đến Thập Điện Diêm Vương, sau đó lại trở về thì có! Nhưng cũng không nói họ trông như thế nào, đều là dựa vào tưởng tượng. Cá nhân tôi cho rằng 32 tướng, 80 vẻ đẹp này có vẻ như là vô hình, cho nên trước mắt nói rằng Chuyển Luân Thánh Vương là vô hình.

Thượng Nguyên Thiên Quan ở trên trời chuyển luân, Thượng Nguyên Thiên Quan ở trên trời chuyển bánh xe, chuyển luân tại thế giới Ta Bà thì là Trung Nguyên Địa Quan, chuyển luân ở dưới nước là Hạ Nguyên Thủy Quan, trong kinh điển Đạo gia có điều này. Tam Nguyên Tam Phẩm Tam Quan Đại Đế chính là Thiên Quan, Địa Quan và Thủy Quan. Thiên Quan là chưởng quản chuyển luân ở trời, Địa Quan là chưởng quản chuyển luân ở trên mặt đất, Thủy Quan Đại Đế là chưởng quản chuyển luân ở dưới nước.

Ở Trung Quốc mà nói thì chúng ta gọi Nghiêu, Thuấn, Vũ là Tam Quan Đại Đế. Thiên Quan là Nghiêu, Địa Quan là Thuấn, Thủy Quan là Đại Vũ, Đại Vũ trị thủy đó, Tam Nguyên Tam Phẩm Tam Quan Đại Đế. Kì thực bây giờ Nghiêu, Thuấn, Vũ cũng không có người nào từng nhìn thấy, mọi người đã từng thấy chưa? Cũng chưa từng thấy. Tam Nguyên Tam Phẩm Tam Quan Đại Đế, các bạn cũng chưa từng nhìn thấy, Thập Điện Diêm Vương cũng chưa từng nhìn thấy, họ đều là vô hình mà. Ngoài ra còn một số vị nữa các bạn cũng chưa từng nhìn thấy.

Nếu dựa vào tín ngưỡng mà nói, người ở dưới nước chưởng quản nước, chúng ta gọi là Thần Bảo Hộ là được rồi, Thần Bảo Hộ. Đài Loan chúng ta có rất nhiều người đến từ Phúc Kiến, những người thời kì đầu di dân đến Đài Loan có Tuyền Châu, Thần của Tuyền Châu là Quảng Trạch Tôn Vương, là Thần Bảo Hộ của Tuyền Châu. Thần Bảo Hộ của Chương Châu là Khai Chương Thánh Vương, đây là Thần Bảo Hộ. Ngoài ra còn có một vị, Thần Bảo Hộ của mỗi gia đình là gì? Tam Sơn Quốc Vương. Các bạn đã từng nhìn thấy các vị này chưa? Mọi người chúng ta cũng không biết, bởi vì họ cũng là vô hình. Nhưng các bạn đã từng nhìn thấy tướng của họ được điêu khắc ra chưa? Mỗi một vị đều có 32 tướng giống như Phật. 

Vì thế, Chuyển Luân Thánh Vương này, cá nhân tôi cho rằng thế này, ngài là vô hình. Ở đây chúng ta có một vị là Thiên Thượng Thánh Mẫu, tướng của ngài như thế nào? Đúng vậy, bạn thấy tướng mạo của ngài, tai rất dài đó! Kì thực Thiên Thượng Thánh Mẫu cũng thuộc về Thủy Thần. Giống như tượng điêu khắc của Quan Thế Âm Bồ Tát, ngài cũng có 32 tướng. Địa Tạng Bồ Tát chưởng quản địa ngục, ngài cũng có đầy đủ 32 tướng, tranh vẽ của Địa Tạng Vương Bồ Tát, tranh vẽ của Quan Thế Âm Bồ Tát cũng có 32 tướng. 

Cho nên chuyển pháp luân từ bi là Quan Thế Âm Bồ Tát, chuyển pháp luân của địa ngục là Địa Tạng Vương Bồ Tát, chuyển pháp luân của cõi trời là Ngọc Hoàng Đại Đế, tại Đao Lợi Thiên chuyển pháp luân của cõi trời. Ngọc Hoàng Đại Đế chuyển pháp luân của cõi trời, ngài cũng có đủ 32 tướng. Tôi cho rằng những cái gọi là 32 tướng 80 vẻ đẹp này, trong Phật giáo nói đến các vị chuyển pháp luân trên trời, chuyển pháp luân dưới nước, chuyển pháp luân trong địa ngục, chuyển pháp luân từ bi, chuyển pháp luân trí huệ, các vị đều có đủ 32 tướng, nhưng các vị ấy không nhất định là Phật.

Phật chắc chắn có 32 tướng, 80 vẻ đẹp. Cho nên đoạn này Phật nói thế nào là Chuyển Luân Thánh Vương, các bạn phải chú ý đó, thế giới Ta Bà căn bản không tìm được một vị Chuyển Luân Thánh Vương như vậy, cho nên trong thế giới vô hình mới có. Tôi nhớ rằng vì Chuyển Luân Thánh Vương này mà trong giáo giới từng có những cuộc tranh luận, tôi cho rằng họ vẫn là vô hình.

Thế rồi Tu Bồ Đề lại bạch Phật rằng, *"Thưa Thế Tôn! Theo con hiểu nghĩa Phật nói, không nên dựa vào ba mươi hai tướng mà quán Như Lai.”* Không sai. Lúc này Tu Bồ Đề mới hiểu là không thể dùng 32 tướng để thấy Như Lai, bởi vì Như Lai không có tướng. Nói cách khác là, pháp thân thanh tịnh căn bản là vô tướng, 32 tướng căn bản chính là vô tướng, cho nên pháp thân thanh tịnh càng là vô tướng. 

Lúc này, Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói một bài kệ: 

*Nếu do sắc thấy ta
Do âm thanh cầu ta
Người ấy hành tà đạo
Không thể thấy Như Lai.*

Hiểu bài kệ này thế nào? Sắc chính là 32 tướng. Nếu dựa vào tướng, nếu như cho rằng tướng chính là Như Lai, lại còn cho rằng âm thanh phát ra chính là Như Lai, thì người này đang làm tà đạo, không thể thấy Như Lai.

*“Do âm thanh cầu ta”*, tôi cho rằng câu này nên nói thế này, bạn đi tìm cầu Như Lai có tướng thì không thể thấy được Như Lai. Tìm cầu Như Lai có tướng thì không tìm được. Bạn dùng âm thanh để đi tìm Như Lai này cũng không tìm được, vì sao không tìm được? Tâm thanh tịnh, Phật tính thanh tịnh, pháp thân thanh tịnh hoàn toàn không phải là có tướng. Bạn không thể dùng âm thanh để đi tìm pháp thân thanh tịnh. Nếu bạn dùng âm thanh để đi tìm cầu, hoặc bạn nhìn thấy cái tướng kia cho rằng đó chính là Như Lai thì người này đang làm tà đạo, không thể thấy Như Lai.

Ngày xưa khi tôi đọc kinh Kim Cang, tôi vẫn chưa hiểu những điều này, tôi cho rằng *“do âm thanh cầu ta”*, cái này không tốt, không đúng. Thế thì tôi thường xuyên niệm Phật, Nam Mô A Di Đà Phật, đó là tôi dùng âm thanh, lẽ nào dùng âm thanh là không đúng sao? Niệm Nam Mô A Di Đà Phật không đúng sao? Chúng ta thường thấy chính là A Di Đà Phật mà! Ngày ngày niệm Nam Mô A Di Đà Phật, đó không phải là dùng âm thanh sao? Sao lại là *“người ấy hành tà đạo”*? Tôi ngày xưa đã nghi hoặc điểm này. Tôi niệm Phật hoặc là cầu nguyện Phật, thỉnh cầu Phật tức là đang hành tà đạo ư? Điều này không đúng rồi! Vậy thế nào mới đúng đây?

Không phải là giải thích như vậy. Ở đây Phật nói đến tâm thanh tịnh, pháp thân thanh tịnh, không phải là có tướng. Pháp thân thanh tịnh cũng không phải là cầu mà có, nếu bạn đi cầu pháp thân thanh tịnh, dùng cách cầu xin đó thì sẽ không có được, cũng không phải là tu mà ra. Là bạn làm cho mình thanh tịnh rồi thì tự nhiên Phật sẽ hiển hiện, nói như vậy mọi người đã hiểu chưa? Cho nên câu nói này, “nếu do sắc thấy ta”, cũng là biểu thị pháp thân thanh tịnh, vô tướng, không thể dùng 32 tướng để thấy, cũng không thể dùng 80 vẻ đẹp để thấy.

Pháp thân thanh tịnh cũng không phải là bạn dùng âm thanh đi tìm cầu là có thể cầu được, là buộc phải dùng pháp thanh tịnh để thanh tịnh chính bạn, thanh tịnh đến cuối cùng Phật tính của bạn sẽ hiển hiện, không cần phải cầu. Hai câu này “Người đó hành tà đạo, không thể thấy Như Lai”, nếu bạn làm như vậy thì người này đang làm tà đạo, không thể nhìn thấy Như Lai, không thể nhìn thấy pháp thân thanh tịnh, bản thân bạn không thể biến thành pháp thân thanh tịnh. Nói thế này đã hiểu chưa?

Vì thế, theo âm thanh này mà nói, trước kia tôi nói rằng chúng ta thường xuyên niệm Phật, vậy Phật ở trong kinh Kim Cang lại nói rằng *“Do âm thanh cầu ta, người đó hành tà đạo”*, vậy thì mỗi ngày chúng ta niệm Phật chẳng phải là đang hành tà đạo sao? Không phải! Chúng ta niệm Phật là khẩu thanh tịnh, niệm chú là khẩu thanh tịnh, đó là dùng âm thanh, không sai. Bạn không dùng âm thanh cũng được, bạn niệm thầm trong tâm cũng được, nhưng bạn niệm ra tiếng rồi in vào trong tâm. Khi bạn niệm Phật thì sẽ không nói lời tục tĩu, đó không phải là vọng ngữ.

Nếu không vọng ngữ, khẩu của bạn sẽ thanh tịnh, còn cả thanh tịnh ý niệm, còn cả thanh tịnh thân thể, đây chính là pháp thanh tịnh, thanh tịnh đến tận cùng thì cuối cùng bạn đạt được pháp thân thanh tịnh. Cho nên không phải là dùng âm thanh niệm Phật của bạn, không phải là dùng pháp thân thanh tịnh mà bạn đi thỉnh cầu về, không phải là dùng âm thanh để đi cầu pháp thân thanh tịnh, mà là dùng thân khẩu ý thanh tịnh rồi, khi đã đạt 12, 13, 16 phần thanh tịnh rồi thì bạn chính là Như Lai. Ý của Phật là như vậy.

Phần pháp thân phi tướng này tôi giải thích như vậy. Vì thế Chuyển Luân Thánh Vương, tôi cho rằng cũng là vô hình, giống như Thập Điện Diêm Vương đều rất trang nghiêm, giống như Địa Tạng Vương Bồ Tát cũng rất trang nghiêm, giống như Quan Thế Âm Bồ Tát cũng rất trang nghiêm, ngài cũng có 32 tướng. Địa Tạng Vương Bồ Tát cũng có 32 tướng, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát cũng có 32 tướng, rất nhiều Bồ Tát đều có 32 tướng, nhưng Bồ Tát thì không nhất định đã là Phật!

Phật có 32 tướng, 80 vẻ đẹp, Bồ Tát cũng có 32 tướng, nhưng Bồ Tát không nhất định đã là Phật, không chắc mỗi một vị đều là Phật. Cho nên bạn xem, Ngọc Hoàng Đại Đế, Thiên Đế kia ở Đao Lợi Thiên chuyển thiên thượng giới, ngài cũng có 32 tướng. Chuyển địa giới như Thiên Quan, Địa Quan, Thủy Quan cũng đều có 32 tướng, Thập Điện Diêm Vương cũng có 32 tướng, nhưng họ không phải là Phật. Đây là giải thích của tôi.

Khi giới thiệu bản thân, nhất định phải nói là bản thân rất xấu. Nếu bạn đúng là mĩ nữ soái ca, mọi người sẽ cảm thấy bạn rất khiêm tốn, nếu bạn thật sự rất xấu thì chí ít người ta vẫn có thể phát hiện ra ưu điểm khác của bạn. Ưu điểm ấy chính là bạn đúng là rất thật thà.

Cái này cũng là thân tướng, có người trông rất đẹp, có người trông rất xấu. Nhưng bạn không thể nói người nào xinh đẹp thì là người tốt, người nào xấu xí thì là người xấu, đúng không? Soái ca mĩ nữ trông rất đẹp, ít nhất kiếp trước của họ đều có nhân duyên, bạn trông rất xấu, kiếp trước của bạn cũng có nhân duyên. Tuy nhiên có người trông xấu xí nhưng tâm địa lại rất tốt.

Tôi thích xem múa rối của Đài Loan, bạn có biết múa rối không? Trước kia thịnh hành trò múa rối, Cáp Mạch hai răng trông rất xấu, nhưng tâm địa anh ta rất tốt, anh ta hình dạng xấu xí, hai răng chìa ra, Cáp Mạch, Cáp Mạch. Ngoài ra còn có Bí Điêu, Bí Điêu trông rất xấu xí lại còn gù lưng, nhưng tâm địa cũng rất tốt. Quái Lão Tử cũng rất xấu, nhưng anh ta cũng là người tốt, cũng rất kì lạ, múa rối rất thích diễn cái này. Nhân vật có tạo hình đẹp, Sử Diễm Văn là đại nho hiệp ở Vân Châu, anh ta hình dáng rất đẹp, đương nhiên anh ta là nhân vật nam chính.

Tướng không nhất định là như vậy, nhưng chúng ta nói “tướng do tâm sinh”, khuôn mặt của con người là do tâm bạn sinh ra, bạn phải có trách nhiệm với tướng mạo của mình. “Tướng do tâm sinh”, cho nên nếu bạn đã nhiều tuổi, già rồi, đại bộ phận đều rất xấu, bởi vì có nhiều nếp nhăn nên càng ngày càng xấu, người xấu thật sự khiến người ta sợ. Phụ nữ xấu lại còn để tóc dài, nửa đêm xuất hiện dọa người ta sợ khiếp, bạn nhìn thấy mái tóc rất dài của họ, đột nhiên quay ra phía sau nhìn thấy, bạn sẽ bị dọa cho sợ gần chết. Tuổi tác đã cao thì để tóc dài không đẹp, nên cắt tóc ngắn đi một chút.

Nếu bạn có tu hành, tuổi tác càng ngày càng cao thì trông bạn sẽ càng hiền hậu. Người cao tuổi, bất kể là nam hay nữ đều rất hiền hậu, đây đều là người có tu hành. Nếu càng già càng trông đáng sợ thì nhất định là phàm phu, càng già càng ghê, bạn hung hăng cái gì chứ! Mọi người đều nhất luật bình đẳng, đều có Phật tính, bạn hung cái gì mà hung! Bạn xem Bí Điêu đó, mặc dù lưng gù nhưng anh ta không hề đáng sợ!

Bạn hãy xem ai kia ở Lôi Tạng Tự của chúng ta… Vì thế phải hiền hậu một chút, rất quan trọng đó, phải hiền hậu một chút, đừng hung dữ, ăn nói phải rất khách khí. Thấy người đến thì phải: “Hoan nghênh đến thăm!” Nhìn thấy người ta đi thì phải nói “Xin phép không tiễn!” Người đến sắp rời đi thì phải nói “Cảm ơn!” đều phải cảm ơn, phải rất lễ phép, càng hung thì càng xấu! Đừng có hung dữ quá, bệnh của Seattle Lôi Tạng Tự của chúng ta chính là mọi người đều rất hung dữ. Cầu Vồng Lôi Tạng Tự có hung dữ không? Tôi nói với bạn, người hung dữ đều là người không có tu hành! Om mani padme hum.

*(Ngày 09/04/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Hoàng Tài Thần Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 73.)*


### 74. Phần thứ 27: Không đoạn không diệt


*(Bài giảng 74) *Ngoan không

Bây giờ giảng Phần thứ 27: Không đoạn không diệt. Chà! Tiêu đề này, tôi nói để bạn biết, đây là điều khó giảng nhất, đoạn này là khó giảng nhất trong kinh Kim Cang, Phần thứ 27: Không đoạn không diệt. 

Phần thứ 27: Không có đoạn cũng không có diệt có ý nghĩa là gì? Chúng ta đọc nội dung:

*"Tu Bồ Đề! Nếu ông nghĩ rằng: Vì Như Lai chẳng dựa vào các tướng đầy đủ mà đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Tu Bồ Đề! Chớ nghĩ rằng: Như Lai chẳng dựa vào các tướng đầy đủ mà đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề."
"Tu Bồ Đề! Nếu ông nghĩ rằng, người phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề nói mọi pháp đoạn diệt. Đừng nghĩ như vậy! Là vì sao? Người phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề đối với pháp không nói tướng đoạn diệt."*

Đoạn này tôi cho là khó giảng nhất trong kinh Kim Cang. Vốn dĩ trong kinh Kim Cang nói về cái Không, vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, tôi đã nói cũng giống như mặt trăng, cái gì cũng không có, tức là không. Mặt trăng có cái gì? Cái gì cũng không có, không có mặn, không có chay, không có pháp thiện, không có pháp ác, cái gì cũng không có. Chúng ta biết mặt trăng cũng không có con người, vô ngã tướng, không có cái tôi ở đó; vô nhân tướng, cũng không có người mà; vô chúng sinh tướng, căn bản không có con người cũng không có chúng sinh; vô thọ giả tướng, cũng không có ai thọ mạng dài, ai thọ mạng ngắn. Thời gian và không gian trên mặt trăng đều không có ý nghĩa, thời gian qua bao lâu rồi không có ý nghĩa gì, không gian lớn thế nào cũng không có ý nghĩa. 

Bây giờ Sư Tôn bán đất trên mặt trăng, các bạn có muốn mua không? Muốn à? Rất đắt đó, bởi vì tôi có thể cắt ra một mảnh lớn cho bạn, sau này bạn vãng sinh rồi thì có thể đến đó sống. Tôi viết cho bạn tờ giấy, tôi còn đóng dấu nữa, Sư Tôn bảo đảm cho bạn, đúng thế không? Bán được rồi thì tôi cầm tiền đi đổ xăng. Chẳng có ý nghĩa gì hết! Ở đó tiền không có ý nghĩa gì hết! Bạn nói trên mặt trăng kiếm tiền gì, tiền kiếm được bạn có thể tiêu không? Không thể tiêu thì có ý nghĩa gì? Đất trên mặt trăng cũng không có ý nghĩa! Bạn xem bây giờ một mảnh đất bất kì, một căn nhà cần bao nhiêu tiền? Đất trên mặt trăng rộng như vậy đều không cần tiền, không có quan niệm về tiền, đó là đoạn!

Kinh Kim Cang vốn là nói về đoạn, bây giờ lại nói “không đoạn không diệt”, không đoạn cũng không diệt, cũng không phải là hoàn toàn cái gì cũng không có, cho nên đoạn này là khó giảng nhất. Phật nói với Tu Bồ Đề: Tu Bồ Đề, ông không thể nghĩ như vậy đâu! “Như Lai chẳng dựa vào các tướng đầy đủ”, Như Lai không hề dựa vào 32 tướng 80 vẻ đẹp mà đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Bạn không được nghĩ như vậy, không được nói: “Như Lai vì vô tướng mới đắc được A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.” Tu Bồ Đề, ông không được nghĩ như thế này: “Như Lai chẳng dựa vào các tướng đầy đủ mà đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.” Lại nhắc lại một lần nữa, không phải là dựa vào các tướng đầy đủ mà đi đắc được A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.

"Tu Bồ Đề! Nếu ông nghĩ rằng, người phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề nói mọi pháp đoạn diệt.” Nếu như bạn đã phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề rồi, phát tâm bồ đề rồi, khi thuyết pháp nói “mọi pháp là đoạn diệt, là không có. Phật pháp là không có, là đoạn, là diệt”, cũng không thể có suy nghĩ này. Vì sao? “Người phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề đối với pháp không nói tướng đoạn diệt.” Vì bạn đã có phát tâm bồ đề rồi, đối với pháp này bạn không nói về tướng đoạn và diệt.

Giảng xong rồi, mọi người nghe thấy thế nào, có đã hay không? Đã lắm! Bởi vì không biết rốt cục đang giảng cái gì, Phật Thích Ca Mâu Ni đang giảng cái cóc khô gì vậy? Ngài chẳng phải nói về không sao? Đừng chấp vào tướng sao? Không thể chấp vào có ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả sao? Chính vì không thể chấp mà phát tâm bồ đề, phát tâm bồ đề cũng không thể nói tất cả đều là không, đều là đoạn, đều là diệt. Đoạn này chính là như vậy, giảng thế nào đây?

Giống như hôm qua giảng về 32 tướng, khi tôi trở về Phật Bồ Tát có chỉ điểm. Quá khứ Phật từng nói, có cái gọi là Kim Luân Vương, Ngân Luân Vương, đều là Thánh Vương chuyển pháp luân, Thiết Luân Vương cũng là Thánh Vương chuyển pháp luân. Trong đời quá khứ khi có Kim Luân Vương xuất hiện để quản lí thiên hạ đều có 32 tướng, Kim Luân Vương, Ngân Luân Vương, Đồng Luân Vương và Thiết Luân Vương, Sư Tôn đã từng làm một trong bốn vị vua này.

Còn như Địa Tạng Vương Bồ Tát, ngài chuyển pháp luân của đất, ngài cũng có 32 tướng. Quan Thế Âm Bồ Tát, Chuẩn Đề Phật Mẫu đều có 32 tướng, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát chuyển bánh xe trí huệ có 32 tướng, Quan Thế Âm Bồ Tát chuyển pháp môn từ bi có 32 tướng, các vị đều là Chuyển Luân Thánh Vương. Giống như trong Phật Quốc Shambhala, vị Quốc vương đời thứ nhất có đầy đủ mọi tướng là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, vị Quốc vương đời thứ hai có đầy đủ mọi tướng là Bạch Liên Hoa Vương, cũng đều là Chuyển Luân Thánh Vương, đều có 32 tướng. Tối hôm qua Phật Đà chỉ thị tôi như vậy, có Kim Luân Vương, Ngân Luân Vương, Đồng Luân Vương, Thiết Luân Vương, khi ấy những vị vua xuất hiện đều quản lí thiên hạ, đều có 32 tướng.

Phần 27: Không đoạn không diệt này, Trung quán mà chúng ta nói chính là từ đây ra, Long Thọ Bồ Tát hiểu đạo lí của Trung quán. Có, là “không phải là không có”, giống như chúng ta bây giờ tức là có, ngồi ở đây đều là có, nhưng đều là huyễn thân, huyễn hóa mà ra, có cũng như không có, cho nên nói là không. Nhưng không thể nói đoạn diệt, nếu đoạn diệt tức là ngoan không [ngoan cố chấp vào cái không]. Không đoạn không diệt tức là nói rằng bạn không thể nói đoạn nói diệt, bởi vì đoạn diệt tức là ngoan không, ngoan không thì cái gì cũng đều không cần phải làm, chúng ta cũng không cần phải tu hành, vì sao? Vì đã đoạn diệt rồi thì đều là không có mà!

Giống như trước kia bố tôi biện luận với tôi, khi tôi đang học Phật, ông ấy tranh luận với tôi. Bố tôi chủ trương chết rồi thì cái gì cũng không còn. “Linh hồn là cái gì? Tôi không nhìn thấy, thiên đường gì, địa ngục gì, Phật quốc tịnh thổ gì, cái gì cũng không có!” Bố tôi kiên trì với chủ trương này. Tôi thì bảo có, khi ấy tôi bảo bố tôi: “Có chứ, có thiên đường, có địa ngục, có linh hồn đó!” Tôi nói là có. Bố tôi cãi tôi, ông ấy nói không có, thế nên không có gì cần làm cả. Ngày hôm đó là đêm giao thừa, hai chúng tôi cãi nhau, tranh luận đến cùng thì ông ấy nổi giận, đập bàn một cái rồi không ăn nữa! Ông ấy từ Đài Trung đi Cao Hùng chơi, bố tôi đi Cao Hùng gặp bạn.

Tôi nói tôi cũng muốn đi Cao Hùng tìm bạn, Cao Hùng có bạn học của tôi, tôi cũng muốn đi Cao Hùng. Mẹ tôi nói: “Hai người cãi nhau xong rồi hai người đều đi Cao Hùng, thế tôi đi đâu?” Khi ấy chúng tôi tranh luận về có và không. Kì thực bố tôi là ngoan không, cái gì cũng không có. “Anh bảo có, lấy ra cho tôi xem! Anh nói có linh hồn, lấy ra cho tôi xem! Tôi nhìn thấy thì mới tính.” Bố tôi cứ kiên trì như vậy, tôi thì nói với ông ấy, tranh luận với ông ấy. Thật ra tôi cũng không đúng, nói có cũng không đúng, bởi vì cái có này là huyễn.

Nhưng chúng ta phải hiểu một câu, chúng ta phải mượn cái huyễn này để rời xa huyễn. Trong cõi vô hình tự nhiên có vật, không thể nói là đoạn, không thể nói là diệt, không đoạn không diệt chính là ở đây. Bản thân bạn có một Phật tính, bạn tu được rồi, thanh tịnh rồi, Phật tính của bạn tự nhiên hiển hiện. Phật tính vốn dĩ chính là của chính bạn, bạn tự mình độ mình, cũng không phải là ai đến độ bạn, chính là bạn tự mình độ mình. Sau khi bạn học Phật pháp, dùng phương pháp của Phật pháp này để hiển hiện Phật tính của bạn, thanh tịnh rồi hiển hiện ra, cái này chính là thành tựu.

Phát bồ đề tâm không thể nói tướng đoạn diệt, bạn nói tướng đoạn diệt thì phát bồ đề tâm có tác dụng gì? Không có chúng sinh có thể độ mà! Vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả, vậy bạn phát bồ đề tâm làm cái gì? Nhưng vì sự thanh tịnh của bạn, bạn phải phát bồ đề tâm, phải phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Bạn phát bồ đề tâm rồi bạn mới có thể thanh tịnh chính mình. Thanh tịnh chính mình rồi mới có thể thành tựu Phật tính, Không tính, dung nhập, bạn mới có thể đắc được quả vị, bạn mới có quả vị được!

Làm như vậy, nhưng đừng ghi nhớ tôi đã thuyết pháp gì, độ bao nhiêu chúng sinh, không cần ghi nhớ, đó là vô hạn. Viết sách cũng đừng ghi nhớ bao nhiêu cuốn, cứ viết viết viết thôi… Bất kể là thế nào thì tôi cứ viết. Vẽ tranh cũng thế, phát bồ đề tâm cũng thế. Bạn giúp đỡ người ta đừng nghĩ việc giúp đỡ, tôi cứ phát bồ đề tâm, tôi muốn làm thôi, đừng nghĩ sau đó sẽ thế nào, tôi làm mà không vì gì cả. Điều kinh Kim Cang nói là như vậy, cho nên Trung quán của Long Thọ Bồ Tát là từ đây ra. Ngài cho rằng Thứ tự sinh khởi chính là Có, Thứ tự viên mãn chính là Không, Có và Không phải song vận, tư tưởng của Long Thọ Bồ Tát chính là Trung quán. 

Bạn phải có Thứ tự sinh khởi mới có thể có Thứ tự viên mãn được! Bạn chưa gì đã nói Không, nói Thứ tự viên mãn, vậy Thứ tự sinh khởi không cần làm sao? Không cần Thứ tự sinh khởi nữa, vậy chúng ta đều không cần Phật pháp, không dùng Phật pháp, không cần thuyết pháp, không cần nghe pháp, không cần tu pháp, dù sao cũng là đoạn diệt mà! Chết rồi tất cả đều không có, giống như lí luận của bố tôi, lí luận của bố tôi chính là đoạn diệt. Cho nên phải ở trong cả hai, cũng không phải Có, cũng không phải Không, cũng không phải là ở giữa Có và Không, chỉ là dùng cả hai. 

Giống như Tâm Kinh nói: “Sắc bất dị không, không bất dị sắc. Sắc tức thị không, không tức thị sắc.” Điều này đã nói rất rõ ràng rồi. Sắc chính là Có, vốn dĩ toàn bộ thế giới Ta Bà đủ loại hình tượng chính là sắc, nó căn bản chính là Không, nhưng cái Không cũng chính là sắc! Sắc tức là Không, Không tức là sắc. Bạn phải có Có, phát bồ đề tâm sau đó thanh tịnh tất cả thì bạn mới có thể tiến nhập tính Không, đắc được quả vị, chính là như vậy. Cũng không phải là đắc được quả vị gì, dù sao bạn cũng đã hiển phát Phật tính của mình rồi.

Phật Thích Ca Mâu Ni nói về không đoạn không diệt như vậy, không thể có suy nghĩ đoạn diệt, bởi vì có đoạn, có diệt tức là ngoan không. Cho nên hôm nay chúng ta làm bất kì việc gì, thanh tịnh chính mình là quan trọng nhất, bạn thanh tịnh chính mình rồi thì vô cùng tốt, giống như Chuyển Luân Thánh Vương vẫn đang ở các cõi trời, Đại Phạm Thiên Vương chính là Chuyển Luân Thánh Vương, Tha Hóa Tự Tại Thiên Thiên Vương, thiên chủ của Dục Giới Thiên, Đại Tự Tại Thiên cũng là Chuyển Luân Thánh Vương, đều có 32 tướng. Thiên chủ của Sắc Giới Thiên có 32 tướng, thiên chủ của Dục Giới Thiên có 32 tướng, rất nhiều Phật Bồ Tát đang chuyển pháp luân đều là 32 tướng, ở đây là căn cứ theo điều đã giảng tối hôm qua và hôm nay phối hợp lại.

Bạn đã làm rồi, chuyển pháp luân, sau đó thanh tịnh chính mình rồi, tự nhiên thành tựu. Không có nhân sinh, không có nhân tử, không sinh không tử, bạn sẽ niết bàn thành tựu. Phải tẩy trừ bản thân không thanh tịnh, biến nó thành thanh tịnh rồi thì Phật tính hiển hiện, chính là như vậy. Đây là yếu nghĩa của Phật pháp, yếu nghĩa này cũng chính là Trung quán, Sắc Không song vận, Có và Không là song vận, quan niệm Trung quán của Long Thọ Bồ Tát, Thứ tự sinh khởi và Thứ tự viên mãn song vận. (Đệ tử dâng lên cúng dường cảm ơn Pháp Vương đã truyền thụ kinh Kim Cang.) Vâng, việc cúng dường này vẫn có giá trị. Om mani padme hum.

*(Ngày 10/04/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Chuẩn Đề Phật Mẫu tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 74.)*


### 75. Phần thứ 28: Không thọ không tham


*(Bài giảng 75) *Pháp vô ngã 

*"Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát đem thất bảo đầy trong thế giới nhiều như số cát sông Hằng để bố thí, nếu lại có người biết tất cả pháp là vô ngã nên thành tựu pháp nhẫn, thì công đức của Bồ Tát này có được còn hơn cả công đức của Bồ Tát trước. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Là vì các Bồ Tát không nhận phúc đức."
Tu Bồ Đề bạch Phật rằng:
"Thế Tôn! Vì sao nói Bồ Tát không nhận phúc đức?"
"Tu Bồ Đề! Bồ Tát không nên tham chấp vào phúc đức có được nên mới nói là không nhận phúc đức."*

Cái này đã giảng bao lâu rồi vẫn là hai chữ phúc đức, lại dùng cát sông Hằng để so sánh. Phật Thích Ca Mâu Ni dùng cát sông Hằng để so sánh, còn dùng cả núi Tu Di để so sánh rất là nhiều. Phần thứ 28: Không thọ không tham ở đây là nói về Bồ Tát không thọ, không tiếp nhận bất kì thứ gì, ví dụ tiền bạc, ví dụ danh vị, ví dụ lợi ích, ví dụ đủ mọi thứ hữu hình, không vì cái này mà làm tức là không thọ. Không tham có ý nghĩa là bản thân Bồ Tát làm mọi việc bố thí không hề vì muốn nhận được cái gì, hay là muốn tham danh, tham lợi, tham sắc, đều không có! Nhưng ngài vẫn đi làm, đây mới là Bồ Tát chân chính. Bồ Tát không vì cái gì cả mà làm.

Bây giờ chúng ta giảng nội dung. Phật Thích Ca Mâu Ni hỏi Tu Bồ Đề: *“Nếu Bồ Tát đem thất bảo đầy trong thế giới nhiều như số cát sông Hằng để bố thí”. *Nếu Bồ Tát dùng thất bảo trong thế giới nhiều như số cát sông Hằng, đem ra để làm bố thí, cũng tức là làm việc thiện, bố thí tương đương với làm việc tốt, làm việc thiện. *“Nếu lại có người biết tất cả pháp là vô ngã nên thành tựu pháp nhẫn, thì công đức của Bồ Tát này có được còn hơn cả công đức của Bồ Tát trước.” *Ý nghĩa là Bồ Tát sau biết mọi pháp vô ngã nên đắc thanh tựu pháp nhẫn, nói cách khác là cũng đi bố thí, Bồ Tát sau biết tất cả pháp là vô ngã nên đắc thành tựu pháp nhẫn, cũng đi làm việc thiện, làm đủ mọi việc thiện, thì công đức của Bồ Tát sau thắng công đức mà Bồ Tát trước có được.

Thế nào gọi là tất cả pháp là vô ngã? Tức là pháp vô ngã, Bồ Tát không có chữ “ngã” này tồn tại. Vì thế khi mọi người thọ Bồ Tát giới, tôi đã nói một câu, bạn nhận Bồ Tát giới rồi thì hãy nghĩ cho người khác, không nghĩ cho chính mình. Điều kiện cơ bản nhất khi thọ Bồ Tát giới là nghĩ cho người khác không nghĩ cho chính mình, cái này chính là pháp vô ngã. Khi người ta thọ Bồ Tát giới tôi thường phải nói câu này, bạn thọ Bồ Tát giới rồi tức là nghĩ vì chúng sinh chứ không nghĩ cho chính mình. Nếu nghĩ cho chính mình thì không có công đức. Nếu bạn không nghĩ cho mình, cái đó mới là công đức chân chính.

Cho nên ở đây nói rốt cục có bao nhiêu phúc đức? Bạn xem thất bảo đầy trong thế giới bằng với số cát sông Hằng, đem ra làm việc thiện, người này có công đức không? Đương nhiên là có, đương nhiên là có công đức. Nhưng nếu dựa vào pháp vô vi mà làm việc thiện, thì mọi công đức của Bồ Tát này còn hơn cả công đức mà Bồ Tát trước đã làm. Vì sao? *“Tu Bồ Đề! Là vì các Bồ Tát không nhận phúc đức.”* Có nghĩa là Bồ Tát là không thọ, không tham. Vì các Bồ Tát không nhận phúc đức, Bồ Tát là không tiếp nhận phúc đức, cũng không tham, căn bản chính là không có nghĩ về phúc đức.

Tu Bồ Đề bạch Phật rằng, Tu Bồ Đề hỏi:* "Thế Tôn! Vì sao nói Bồ Tát không nhận phúc đức?”* Vì sao Bồ Tát này không nhận phúc đức? Phật Thích Ca Mâu Ni trả lời: *"Tu Bồ Đề! Bồ Tát không nên tham chấp vào phúc đức có được nên mới nói là không nhận phúc đức.” *Mặc dù là Bồ Tát làm các việc phúc đức, nhưng các vị không có tham chấp vào phúc đức đó, cho nên nói là không nhận phúc đức. Đoạn này thật sự là quá đơn giản, nhưng Phật không nói cái gọi là phúc đức chính là không phải phúc đức, vì không phải là phúc đức nên mới là phúc đức, Phật không nói câu này. Bình thường Phật Thích Ca Mâu Ni sẽ nói, nhưng đoạn này ngài không nói câu này.

Cái gọi là phúc đức chính là không có phúc đức, bởi vì phúc đức giống như mộng huyễn, phúc và đức đều là một dạng giấc mộng, là một dạng huyễn, là một dạng huyễn giác, như mộng như huyễn, căn bản là không có phúc đức. Bởi vì không có phúc đức cho nên mới là phúc đức. Tức là nói rằng bạn đã hiểu rõ ràng rành mạch rồi, phúc đức này cũng là mộng huyễn, không nhận phúc đức, không tham phúc đức, đây mới là phúc đức chân chính đó! Phúc đức này khiến bạn có thể rời xa như mộng như huyễn, nghe rõ rồi chứ!

Nói về Lư Sư Tôn làm ví dụ, mọi thứ của thế gian thật sự tôi không tham chấp, không hề tham chấp. Bạn xem, bây giờ Sư Tôn lái xe Rolls-Royce, xe cao cấp nhất. Vậy sao lại bảo là không tham? Lẽ nào không phải là tham lái chiếc xe Rolls-Royce cao cấp đó ư? Mặc dù tôi lái xe Rolls-Royce, nhưng tôi biết chiếc xe này không hề thuộc về tôi. Đây là thứ của thế gian, chỉ là để cho tôi dùng tạm một lúc mà thôi, tạm thời có thể dùng thay cho đi bộ, Sư Tôn cũng có một chiếc xe Maserati, tổng cộng có hai chiếc xe. Ngoài ra còn có một đồng môn muốn tặng tôi xe Bentley, xe đã lái tới rồi, xe Bentley đều đã đưa đến cho tôi xem rồi! Họ mua xe đó là muốn tặng cho tôi. 

Tôi nói tôi chẳng biết làm thế nào, tôi không chống đỡ được! Có một số đồng môn nghe thấy thì nói: “Sao cơ? Người ta muốn tặng thầy một chiếc Bentley, thầy nhận đi! Thầy biết sao không? Thầy nhận nó rồi có thể bán lại.” Khi ấy tôi chỉ muốn nói rằng tôi đã có hai chiếc xe rồi, chiếc Rolls-Royce này là đi lại giữa nhà và chùa, tôi chưa từng đỗ lại ở bên ngoài, chỉ đỗ ở trong bãi đậu xe của Chân Phật Mật Uyển, đậu ở trong sân đậu xe ở Nam Sơn Nhã Xá, tức là chỉ chạy qua chạy lại giữa nhà và chùa thôi. Khi tôi đi tới những nơi khác thì tôi lái chiếc Maserati sẽ không bị chú ý lắm, nhưng lái xe Rolls-Royce đi khắp nơi đậu ở đó, một lát sau thì xe sẽ biến mất đó.

Nhưng tôi biết, đây chẳng qua chỉ là trong mơ thôi! Trong mơ cho bạn lái chiếc xe này, tôi không hề tham chấp, tôi không hề nói chiếc xe đó là của Lư Sư Tôn, tôi không nói vậy! Trên người tôi có rất nhiều món đồ tốt, Sư Tôn có viên kim cương bao nhiêu carat đó, viên kim cương Marilyn Monroe đã đeo bao nhiêu carat nhỉ? Gần ba mươi carat nhỉ! Tôi cũng không tham viên kim cương này, tôi cũng không đeo ra ngoài, khi vui thì đeo một chút. Tôi đã ngừng đeo tất cả những chiếc nhẫn này trong một thời gian, vàng, bạch kim đều không đeo. Gần đây tôi vui thì đeo một chút.

Bạn xem, tôi có một chiếc đồng hồ rất tốt, chiếc đồng hồ này là loại Rolex đầy sao. Lần trước tôi đeo một chiếc Piaget bằng bạch kim, đồng hồ Piaget này là vàng trắng, lần trước tôi đeo ra ngoài, cũng đầy sao đó. Người ta tặng tôi bao nhiêu đồng hồ bạn có biết không? Đồng hồ Piaget do người ta tặng, đệ tử tặng có mười chiếc, tôi đem đi bán. Đã bán bao nhiêu chiếc Rolex rồi? Không đếm nổi, khoảng bảy, tám cái đồng hồ vàng Rolex rồi! Bán từ thiện cho Phật đường đó, bán từ thiện xong đều cho Phật đường kia. Sau này cũng là bán từ thiện, đem những thứ kia đi bán hết, rồi tặng cho Chân Phật Tông, tặng cho Quỹ từ thiện Lư Thắng Ngạn, tất cả đều bán hết.

Hai chiếc xe bây giờ đều là sư tỉ Hanifa tặng, đều là người ta tặng, không phải tôi mua đâu! Tất cả đồng hồ đều là đệ tử tặng, cũng không có một chiếc nào là tôi mua. Nhưng tôi có tham không? Không! Vì sao không tham những thứ đó? Chỉ là để bạn đeo chơi một lúc thôi! Mấy carat mấy carat đều là chơi thôi, bạn không thể có được chúng vĩnh viễn, bao gồm cả chính thân thể bạn cũng đều không phải là của bạn vĩnh viễn, không có thứ nào là của bạn, bạn hiểu điều này thì sẽ không thọ không tham. Bạn không có lòng tham với những thứ này, bạn cũng nhìn thấu chúng đều là những thứ giả.

Tôi nói với bạn nhé, Long Thọ Bồ Tát Thiên Thai Tông “nhất tâm tam quán” là ai? Pháp sư Huệ Văn truyền cho pháp sư Huệ Tư, pháp sư Huệ Tư truyền cho đại sư Trí Giả. Sơ tổ Huệ Văn của Thiên Thai Tông, nhị tổ Huệ Tư, tam tổ chính là đại sư Trí Giả, trong đó có một cái là nhất tâm tam quán, vì sao gọi là nhất tâm tam quán? Không, Giả, Trung. Cái gì gọi là Không, Giả, Trung? Không, điều kinh Kim Cang nói đến chính là Không. Kinh Kim Cang cũng nói đến Giả. Trung là Trung quán của Long Thọ Bồ Tát. 

Mọi người thử nghĩ xem, trên thế giới này là giả, là huyễn, thế giới này tương lai cũng sẽ biến thành không. Bạn nghĩ xa một chút, trái đất cũng là thành trụ hoại không, thân thể chúng ta cũng là thành trụ hoại không. Bạn nghĩ kĩ mà xem, thân thể của bạn có phải là thành trụ hoại không không? Vì đã là thành trụ hoại không, sau này cũng là không thôi. Vì đã là không, vậy bạn còn bám chấp gì vào những thứ vật chất? Nên không thọ, không tham. Nói như vậy mọi người đã rõ chưa? Người sau họ đã biết, không có cái gì gọi là làm phúc đức. Không có phúc đức cái thứ này, bởi vì hiểu rõ rồi, căn bản là không có phúc đức mới là phúc đức, phúc đức đó là để cho bạn rời xa Không và Giả của thế giới Ta Bà này.

Đồ vật đều sẽ hoại, chiếc Rolls-Royce đầu tiên của tôi là bố của Thượng sư Liên Truyền - Thượng sư Liên Tín tặng cho tôi, chiếc xe đó đã hỏng rồi, cho nên đã bán rồi. Chiếc xe thứ hai là Bentley, là sư tỉ Hanifa tặng, bởi vì tôi đã lái nó rất lâu rồi, lái đến bây giờ công ty Bentley đó không còn sản xuất linh kiện cho xe đó nữa, chẳng biết làm sao, hễ nó hỏng là không có chỗ nào sửa. Bạn hỏi cô phiên dịch Hanifa đó, bây giờ chiếc xe Bentley đó vẫn còn để ở chỗ cô ấy, xe rất dài rất to, rất đẹp, vỏ ngoài rất tốt, bên trong toàn bộ đều rất cũ rồi, cho nên tôi liền trả lại cho cô ấy. 

Còn chiếc Rolls-Royce kia có sẽ cũ không, có sẽ hỏng không? Cũng thế thôi! Vì thế sao bạn lại bám chấp rằng thứ này là của tôi, vĩnh viễn đều là của tôi, chuyện này là không thể nào, chiếc xe này rồi sẽ hỏng. Kim cương hình như sẽ không hỏng nhỉ! Nghe nói kim cương ở một góc độ nào đó cũng sẽ hỏng. Vì sao tôi đeo những thứ này trên người? Ví dụ đồng hồ này, bởi vì khi người ta tặng cho tôi thì có khắc hai chữ Thắng Ngạn, dùng một lá vàng để khắc lên hai chữ Thắng Ngạn, úp cái đồng hồ Rolex này xuống cũng là hai chữ Thắng Ngạn, thế nên tôi đeo trên người.

Bởi vì đây cũng có một sự tượng trưng, có hai chữ Thắng Ngạn cho nên tôi mới đeo, nếu không có hai chữ Thắng Ngạn này thì tôi không đeo. Nhưng mà Thắng Ngạn cũng là không có, đó cũng là cái tên giả thôi! Gần đây có lẽ là tôi vui vẻ phấn khởi quá cho nên tôi mới đeo một chút, bình thường tôi cũng không đeo, hai tay đều không đeo, ngay cả nhẫn tôi cũng không đeo. Cái này bằng vàng, cái này là vàng trắng, bên cạnh là kim cương, cũng không biết là đồng môn nào tặng tôi, cái này cũng là đồng môn tặng. Đồng hồ Rolex này là lúc trước Tông Ủy Hội tặng, cái này là một đại gia ở Trung Quốc Đại Lục tặng, đều là người ta tặng, không phải tôi đi mua đâu, tôi không tham.

Sư Tôn không tham, chỉ là bạn tặng cho tôi thì tôi đeo cho bạn thấy. Tôi cũng biết cái này là đồ giả, bởi vì bạn tặng tôi, tôi không đeo cho bạn thấy, bạn sẽ hỏi tôi: “Có phải là thầy tặng cho người ta rồi không? Hay là thầy không thích?” Bởi vì tôi không thường xuyên đeo, cho nên gần đây họ lại muốn tặng tôi một cái, đúng vậy! Lại muốn tặng tôi một cái đồng hồ Piaget, lại có khắc tên, bên trong chiếc đồng hồ lại khắc lên hai chữ Thắng Ngạn, đúng là cái tên rất to đó. Họ cho rằng tôi không thích đeo cái đồng hồ Piaget bạch kim kia. Thật ra tôi rất thích đeo, chỉ là hơi nặng một chút, khi làm đại lễ bái thường đè lên cái tay này, tay sẽ bị đau. 

Mọi người hãy nhớ, cái này là để bạn dùng tạm thời thôi, không phải là chính bạn có được thật sự, tạm thời để bạn nhìn một chút, không phải là bạn thật sự có được. Mọi người đã hiểu chưa? Vì thế điều mà kinh Kim Cang nói rất rõ ràng, Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát dùng thất bảo trong thế giới nhiều bằng số cát sông Hằng để làm việc thiện, nếu có người biết tất cả pháp là vô ngã, căn bản tức là tư tưởng vô ngã, pháp vô ngã, để làm mọi việc thiện, thì công đức mà Bồ Tát này có được còn hơn cả công đức mà Bồ Tát trước có được. Vì sao? Tu Bồ Đề! Vì các Bồ Tát không nhận phúc đức. 

Đương nhiên là không nhận phúc đức rồi, bởi vì căn bản không có phúc đức. Phúc đức cũng là không, là giả, chỉ là tạm thời cho bạn hưởng thụ một chút, cảm thấy dường như thoải mái một chút, thấy hay một chút, đó chỉ là tạm thời. Tu Bồ Đề hỏi Phật Thích Ca Mâu Ni vì sao Bồ Tát không nhận phúc đức? Phật Thích Ca Mâu Ni trả lời, Tu Bồ Đề à, Bồ Tát sẽ không tham vào phúc đức đã làm, cho nên nói là không nhận phúc đức, sẽ không tham thứ này.

Thế giới Ta Bà này của chúng ta có rất nhiều tỉ phú, ví dụ Bill Gates đang sống ở ngay đây thôi, phía trên của chúng ta chính là Microsoft, ở đó có một khu đất đai rất rộng, rất tốt. Ngày xưa khi đi qua nơi đó, tôi liền bảo khu đất này là của người giàu có nhất thế giới, khi ấy còn chưa có Microsoft đâu, toàn bộ đều là rừng cây, khi chúng ta mới chuyển tới đây. Bạn thử hỏi bậc cha ông mà xem, khi chúng ta mua mảnh đất này còn chưa có Microsoft, khi ấy ngồi trên xe tôi đã nói với họ rằng, mảnh đất ở phía trên là của người giàu có số một thế giới. Đúng đó, thế rồi Microsoft đã mua nó, Bill Gates chính là người giàu nhất thế giới. Thật sự là có chuyện ấy! Không tin bạn hãy hỏi họ, khi ấy ai ngồi trong xe nhỉ? Chúng tôi từ quận Ballard đi qua đây, đúng không! Tôi nói mảnh đất phía trên là của người giàu nhất thế giới. Khi ấy tôi vừa nhìn đã biết đó là của người giàu nhất thế giới rồi, chính là Bill Gates. 

Thế nhưng người giàu nhất thế giới thì có tác dụng gì không? Không có tác dụng gì, chẳng có tác dụng quái gì cả! Có một ngày ông ta sẽ… bây giờ ông ta dường như đã biết rồi, có tiền thật sự cũng vô dụng. Có mảnh đất đó, làm càng ngày càng to, bạn xem tòa nhà công ty đó càng xây càng rộng, càng ngày càng to, họ đã mua hết toàn bộ đất phía trên rồi. Là của ông ấy sao? Không phải! Tạm thời để ông dùng thôi, tạm thời để ông nhìn thấy thôi, có một ngày cũng sẽ là của người khác. Người giàu số một thế giới cũng không phải là người giàu số một thế giới, bởi vì không phải là người giàu số một thế giới mới là người giàu số một thế giới. Bây giờ họ đều hiểu, cho nên họ đem hết mấy tỉ mấy tỉ ra để làm từ thiện, bạn xem ông ấy cũng đem mấy tỉ cho ai, mấy tỉ này cho ai, ông ấy cũng đang làm phúc đức, sau này ông ấy có thể lên cõi trời. Bởi vì ông ấy có làm phúc đức, ông ấy sẽ có thể lên trời.

Ông ấy biết rằng tiền đó chỉ dùng ở thế giới Ta Bà thôi, không có ý nghĩa gì! Cho nên tôi thường xuyên nói một so sánh, nói rằng là bạn đến mặt trăng, cái gì là phúc đức? Cái gì là việc thiện? Cái gì là việc ác? Thứ gì quý giá nhất? Tôi lấy ví dụ đó! Bạn đến mặt trăng, thứ gì là đắt nhất? Thứ gì là rẻ nhất? Không có. Cái gì là thiện, cái gì là ác? Không có. Cái gì là Phật pháp, cái gì là chính pháp, cái gì là tà pháp? Không có. Trên mặt trăng người nào thắng người nào bại? Không có. Trên mặt trăng, người nào được người nào thua? Không có.

Nhân gian vốn dĩ cũng không có! Chỉ là khiến cho con mắt của chính mình bị mê lú mới cho là có. Đoạn sau sẽ nói đến, chỉ là con mắt của con người cho là có, kì thực là không có. Con người phải tu hành thế nào mới có thể thoát khỏi thế giới mê huyễn, thoát khỏi cái không huyễn này của nhân gian? Long Thọ Bồ Tát nói với chúng ta về Trung quán, dùng Thứ tự sinh khởi và Thứ tự viên mãn song vận mới có thể rời xa thế giới Ta Bà này, mới có thể có được thành tựu. 

Ở chương trước Phật Thích Ca Mâu Ni cũng nói không đoạn không diệt. Vì thế không thể chấp vào Có, cũng không thể chấp vào Không, tức là phải Trung quán. Điều Long Thọ Bồ Tát nói chính là phải Có - Không song vận, Không và Có song vận, sau đó bạn thanh tịnh chính mình rồi bạn mới có thể rời xa huyễn cảnh này. Đạo lí chỉ là như vậy mà thôi, nhưng nếu bạn lười biếng, không nghiêm túc, không nỗ lực học tập chăm chỉ, chăm chỉ thanh tịnh bản thân thì kiếp sau bạn vẫn ở trong lục đạo trong huyễn cảnh mà luân hồi. 

Không rời xa được lục đạo luân hồi này, vĩnh viễn lưu chuyển trong lục đạo, bạn không rời xa được huyễn cảnh này, đây chính là nhân quả. Cho nên Phật pháp nói như thế này, mặc dù bạn biết, nhưng bạn buộc phải dùng cái huyễn cảnh này, thân thể này của mình, sau khi rời xa thân thể này của mình, bạn có thể rời xa huyễn cảnh mới xem là thành tựu. Phật pháp dạy như vậy. Tôi giảng như vậy mọi người có hiểu không?

(Có đệ tử hỏi: Thành tựu pháp nhẫn.)

Chữ nhẫn ở đây là việc tốt, việc thiện, không phải là bảo bạn nhịn không được đi tiểu tiện, không phải là cái nhẫn đó. Cũng không phải là nói người ta đánh bạn, chửi bạn, bắt nạt bạn, bạn nhẫn nhục, ở đây không phải nói về nhẫn nhục. Chữ nhẫn này là chỉ thiện, việc thiện, làm việc thiện, thật ra vừa nãy tôi đã giảng nhẫn này chính là việc thiện. Tôi không bảo bạn rằng đó là nhẫn nhục, là nhẫn nhục đại diện cho mọi việc thiện, không phải! Trong kinh Kim Cang, Phật không nói việc thiện, Phật nói bố thí, bố thí đại diện cho tất cả việc thiện. Kì thực sáu ba la mật đương nhiên có nhẫn nhục, bố thí, trì giới, tinh tấn, trí huệ, thiền định, đó là sáu ba la mật. Thành tựu pháp nhẫn, lúc này là dùng chữ nhẫn, một chữ để đại diện cho mọi pháp thiện, ý nghĩa là việc thiện, sự đại diện ấy tương đối rộng lớn, không chỉ có mỗi nhẫn nhục. Om mani padme hum.

*(Ngày 16/04/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Hoàng Tài Thần Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 75.)*


### 76. Phần thứ 29: Uy nghi tịch tĩnh


*(Bài giảng 76) *Uy nghi

*"Tu Bồ Đề! Nếu có người nói: Như Lai hoặc đến hoặc đi, hoặc ngồi hoặc nằm, thì người đó không hiểu nghĩa ta nói. Là vì sao? Vì Như Lai đó chẳng từ đâu đến, chẳng đi về đâu, nên gọi là Như Lai.”*

Đoạn này rất nhiều người đã đọc rồi nhưng cũng không hiểu là Phật đang nói cái gì. Phật Thích Ca Mâu Ni nói: *"Tu Bồ Đề! Nếu có người nói: Như Lai hoặc đến hoặc đi, hoặc ngồi hoặc nằm, thì người đó không hiểu nghĩa ta nói. Là vì sao? Vì Như Lai đó chẳng từ đâu đến, chẳng đi về đâu, nên gọi là Như Lai.”* Rất nhiều người đọc đoạn này đều không thể giải thích. Thế nào là Phần thứ 29: Uy nghi tịch tĩnh, uy nghi tức là thế nào? Chúng ta thường xuyên nói uy nghi, người xuất gia phải có sự uy nghi, uy nghi cái gì? “Đi như gió, ngồi như đồng, đứng như tùng, nằm như cung.” Đây chính là uy nghi, uy nghi bề ngoài, đây là uy nghi biểu hiện ra bên ngoài. Người xuất gia là như vậy.

Ví dụ bạn đi đường thì không bao giờ được đung đưa lắc lư đâu! Người ta trông thấy sẽ bảo cái người xuất gia này làm gì có cái uy nghi gì để mà nói? Chẳng có uy nghi gì! Muốn có uy nghi, ngồi phải có tướng ngồi, đứng phải có tướng đứng, nằm phải có tướng nằm. Khi đi bộ nhanh còn có quy định là hai người phải đi cạnh nhau, phải có cùng nhịp bước. Tôi đã từng sống trong một thiền viện ở Nhật một thời gian, tôi đã đến chùa Yukawa ở Hakodate, Hokkaido, ngoài ra còn có mấy ngôi chùa nữa tôi cũng từng ở một thời gian.

Lối đi của họ đều dùng sỏi để rải, hai người đi bộ thì âm thanh phải cùng vang lên “rạo, rạo, rạo”. Những lối đi nhỏ họ thích rải sỏi, hai người đi phải cùng nhịp bước và đi cạnh nhau, không thể một người đi trước một người đi sau, là hai người cùng bước, quy định là như vậy, đó gọi là uy nghi. Ngồi có tướng ngồi, đứng có tướng đứng, không thể bảo là cúi xuống, khom lưng, xì mũi, khạc nhổ, ngoáy tai, gãi đầu, tất cả những điều này đều không đúng. Đều phải có quy tắc, đây chính là uy nghi, sự uy nghi của tướng bên ngoài. 

Uy nghi tịch tĩnh ở đây, uy nghi mà Phật Đà nói là cái gì? Bất động chính là uy nghi, tịch tĩnh chính là uy nghi. Bạn đi vào trong chùa của người ta thấy họ đang ăn cơm, bạn sẽ bị người ta dọa chết khiếp đó! Vì sao? Một cái kim rơi xuống đất cũng nghe thấy được, nghĩa là sao? Không có ai nói chuyện. Chân Phật Tông chúng ta ăn cơm, bất kể là ở Seattle Lôi Tạng Tự hay Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, khi chúng ta ăn thì nói chuyện oang oang, chỉ là không co chân lên thôi, còn đâu mọi người đều nói chuyện oang oang, kỉ luật của chúng ta khá lỏng lẻo. Bạn nhìn xem phòng ăn của người ta, một cây kim rơi xuống cũng đều nghe thấy, không nói chuyện, không nói thì thầm.

Khi ăn cơm, ăn cơm có tướng ăn, từ bát tới miệng, cầm bát lên là đưa lên miệng, không phải là cúi xuống rồi xì xà xì xụp, không phải là như vậy. Từ bát tới miệng, đưa bát lên, rồi ăn từ tốn như thế này, ăn từ tốn, vì thế đều là quy tắc. Hơn nữa, ăn cơm không bao giờ nói thì thầm. Nếu bạn muốn ăn thêm cơm, đũa bạn phải bày ở tư thế nào đó tức là làm dấu hiệu muốn người phục vụ giúp bạn đi lấy thêm một bát cơm nữa. Bạn muốn gắp thêm món gì, đũa của bạn sẽ bày ở tư thế đó, đều không nói chuyện, đó chính là uy nghi. Tuy vậy đó là biểu hiện bên ngoài thôi. Chân Phật Tông chúng ta chú trọng nội tâm. Cái bên ngoài cũng không ích gì, đúng không? Cái bề ngoài không ích gì, chúng ta chú trọng tới bên trong.

Uy nghi chân chính nói đến ở đây là sự tịch tĩnh trong tâm, sự tịch tĩnh của tâm, không có niệm tưởng. Vừa mới nói rồi, Lục Tổ Huệ Năng nói “không nghĩ thiện không nghĩ ác”, không có niệm tưởng gì, trong tâm bạn tịch tĩnh tức là uy nghi, trong tâm bạn rất tịch tĩnh, rất bình lặng, chính là uy nghi. Nếu bạn tức giận, tức là mất kiểm soát. Giận dữ, tức giận hoặc nói với giọng to hơn đều là mất kiểm soát, điều này là không đúng. Tịch tĩnh mới là uy nghi chân chính, bất động, tịch tĩnh là uy nghi chân chính, tâm bất động, tâm tịch tĩnh, đó mới là uy nghi. Tiêu đề này là viết như vậy.

Nội dung đoạn văn là:* “Như Lai hoặc đến hoặc đi, hoặc ngồi hoặc nằm”*, đây là biểu hiện cái uy nghi ra ngoài, đây chính là uy nghi. *“Thì người đó không hiểu nghĩa ta nói. Là vì sao? Vì Như Lai đó chẳng từ đâu đến, chẳng đi về đâu, nên gọi là Như Lai.” *Tôi thường nói về hai chữ Như Lai này, vì sao dùng hai chữ Như Lai? Như tức là hình như, dường như có đến, dường như có đi. Như Lai và Như Khứ cùng là tên gọi của Phật, Như Khứ cũng là tên của Phật. 

Hình như có đến, hình như có đi, cũng là tịch tĩnh, kì thực Phật căn bản là đầy ắp cả vũ trụ, bạn thành Phật rồi thì cũng như đầy ắp cả vũ trụ, bạn chính là hư không. Bạn nghĩ đến Phật, Phật sẽ tiến vào trong tâm bạn, bạn thành tựu rồi, chỉ cần suy nghĩ nhớ đến Phật, Phật liền xuất hiện, Phật sẽ ở trước mặt bạn. Ý này nói rằng, Như Lai căn bản là như như bất động, không có đến cũng không có đi, không có đến cũng không có đi thì mới gọi là Như Lai, là Như Lai chân chính. Chữ Như này tức là giống như, hình như có đến, hình như lại không đến.

Phật nói với Tu Bồ Đề là nếu có người nói Như Lai *“hoặc đến hoặc đi”,* hình như Phật đã sinh ra tại thế giới Ta Bà rồi lại đi rồi, *“hoặc ngồi hoặc nằm”*, hình như có ngồi hoặc có đi ngủ, nói Như Lai có đến có đi, có ngồi có nằm, thì người này *“không hiểu nghĩa ta nói”*, là người này không hiểu ta. Vì sao? Bởi vì là Như Lai thì từ trước tới nay đều không từng đến cũng không từng đi mới gọi là Như Lai. Như vậy mọi người nghe đã hiểu chưa?

Ý tôi muốn nói rằng, bản thân Như Lai là bất động, là tịch tĩnh, đây là sự uy nghi tốt nhất. Bất động và tịch tĩnh là sự uy nghi tốt nhất, là tướng tốt nhất của Như Lai. Bởi vì Phật không phải là ở trong tâm bạn, chỉ là khi trong suy nghĩ của bạn có Phật thì ngài sẽ hiển hiện, bạn cầu ngài thì không nhất định phải đến trước mặt ngài cầu ngài, bạn chỉ cần một suy nghĩ, tôi nhớ đến vị Như Lai này thì Như Lai sẽ xuất hiện.

Tôi thường nghĩ đến bài hát kia: *“Nhớ đến em, em ở nơi chân trời; nhớ đến em, em ở ngay trước mắt; nhớ đến em, em ở trong tâm trí; nhớ đến em, em ở trong tim tôi.”* Là như thế đó! Phật hình như ở chân trời, không phải, Phật ở ngay trước mắt bạn, cũng không phải, Phật ở ngay trong tâm trí bạn, Phật ở ngay trong tim bạn. Khắp nơi đều có Phật, bạn chỉ cần trong tâm tịch tĩnh, tâm bạn bất động thì chính là sự uy nghi của bạn. Lúc này tâm bạn tịch tĩnh, tâm bất động, bản thân bạn chính là Phật rồi! Đây là sự uy nghi lớn nhất chứ không phải là cái biểu hiện bề ngoài.

Cho nên Phần thứ 29: Uy nghi tịch tĩnh nói đến ở đây, uy nghi lớn nhất chính là tịch tĩnh, chính là bất động, bạn bất động thì Phật sẽ ở ngay trong tâm bạn. Bạn tịch tĩnh thì Phật cũng chính là bạn. Nếu nói là phải động mới là Phật thì đó là hiểu sai điều Phật nói rồi, ý nghĩa của đoạn này đã hiện rõ rồi. Phật có đến có đi, Phật có ngồi có nằm, vậy đó không phải là Phật, Phật Thích Ca Mâu Ni nói như vậy, Phật chân chính là đầy ắp hư không, ngài không đến cũng không đi, cho nên mới gọi là Như Lai. Như vậy nghe đã hiểu chưa?

Nói chung đoạn này nếu không giải thích thì rất ít người hiểu, tôi giải thích như vậy thì các bạn đã hiểu rõ ràng rồi. Mọi người hiểu được đoạn này, sau đó khi bạn đọc kinh, đọc đoạn này sẽ hiểu, tịch tĩnh chính là uy nghi, bất động chính là uy nghi. Phật chính là hư không, bạn nhớ đến ngài, ngài sẽ tiến vào trong tâm bạn, bạn nhớ đến ngài, chính bạn sẽ là Phật, đó chính là Như Lai. Phật là như vậy, ngài không có hình tướng gì, không có đến đi, không có ngồi nằm. Om mani padme hum.

*(Ngày 17/04/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Kurukulle  Phật Mẫu tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 76.)*


### 77. Phần thứ 30: Lí lẽ về một hợp tướng


*(Bài giảng 77) *Một hợp tướng

*"Tu Bồ Đề! Nếu thiện nam, thiện nữ nghiền nát tam thiên đại thiên thế giới thành vi trần, ý ông thế nào? Vi trần ấy có nhiều không?"
Tu Bồ Đề nói:
"Rất nhiều, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Nếu những vi trần là thật có thì Phật ắt không nói là vi trần. Vì sao như thế? Phật nói: vi trần tức chẳng phải vi trần, thì gọi là vi trần. Thế Tôn! Như Lai nói tam thiên đại thiên thế giới tức chẳng phải thế giới, thì gọi là thế giới. Là vì sao? Nếu thế giới thật có thì ắt là một hợp tướng. Như Lai nói: một hợp tướng, tức chẳng phải một hợp tướng, thì gọi là một hợp tướng."
"Tu Bồ Đề! Một hợp tướng đó ắt không thể nói, chỉ có người phàm phu tham chấp vào việc đó."*

Phật Đà hỏi: *"Tu Bồ Đề! Nếu thiện nam, thiện nữ nghiền nát tam thiên đại thiên thế giới thành vi trần, ý ông thế nào? Vi trần ấy có nhiều không?" *Cái này mọi người đều có thể thấy rõ rồi, Phật hỏi Tu Bồ Đề dùng ba nghìn đại thiên thế giới nghiền nát thành bụi. Trước đây tôi đã từng giảng về tam thiên đại thiên thế giới rồi. Bây giờ chúng ta ở thế giới này gọi là tiểu thiên thế giới, ba nghìn tiểu thiên thế giới sẽ thành một trung thiên thế giới, ba nghìn trung thiên thế giới mới biến thành một đại thiên thế giới, ba nghìn đại thiên thế giới thì gọi là tam thiên đại thiên thế giới. 

Bạn thấy tam thiên đại thiên thế giới đã rất lớn rồi, đếm không xuể rồi, lại còn nghiền nát thành vi trần, tam thiên đại thiên thế giới để biến thành bụi mịn PM2.5, ngay cả nhìn cũng không thấy bụi đó. Bụi xám còn có thể nhìn thấy được, còn bụi mịn PM2.5 thì có nhìn cũng không thấy. “Vi trần nhỏ như vậy có nhiều không?” Phật Đà hỏi Tu Bồ Đề.

Tu Bồ Đề đáp rằng rất nhiều. *"Rất nhiều, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Nếu những vi trần là thật có thì Phật ắt không nói là vi trần. Vì sao như thế? Phật nói: vi trần tức chẳng phải vi trần, thì gọi là vi trần.”* Câu này Tu Bồ Đề trả lời là rất nhiều thưa Thế Tôn. Vì sao vậy? *“Nếu vi trần là thực có thì Phật sẽ không nói là vi trần.”* Nếu như có nhiều vi trần như vậy, Phật nói đó không phải là vi trần. Vì sao lại nói như vậy? Phật nói những vi trần này đều không phải là vi trần, vì muốn có thể nói như thế cho nên gọi là vi trần.

Thế này chắc là nghe không hiểu rõ lắm. Có người giảng nói rằng nhiều như vậy nhưng trong con mắt của Phật thì không có những vi trần ấy. Vì muốn nói là có nhiều vi trần như vậy nên đặt cho nó một cái tên, cái tên ấy chính là vi trần, ý nghĩa chính là như vậy. Phật nói đó không phải là vi trần, vì sao? Bởi vì Phật nói rất nhiều vi trần đều không phải là vi trần, vì để gọi cái thứ này cho nên Thế Tôn đặt cho nó cái tên gọi là vi trần.  

*“Thế Tôn! Như Lai nói tam thiên đại thiên thế giới tức chẳng phải thế giới, thì gọi là thế giới. Là vì sao?” *Tam thiên đại thiên thế giới đều không phải là thế giới, cho nên mới gọi là thế giới. Vì sao vậy? *“Nếu thế giới thật có thì ắt là một hợp tướng.”* Trọng điểm nằm ở một hợp tướng. *“Như Lai nói: một hợp tướng, tức chẳng phải một hợp tướng, thì gọi là một hợp tướng.”* Một hợp tướng, cũng không phải là một hợp tướng, cho nên gọi là một hợp tướng. *"Tu Bồ Đề! Một hợp tướng đó ắt không thể nói, chỉ có người phàm phu tham chấp vào việc đó.”*

Cho nên bây giờ phải giải thích với mọi người thế nào gọi là một hợp tướng, cái gọi là một hợp tướng chính là tổ hợp. Bạn nói xem thế giới Ta Bà có bao nhiêu người? Rất nhiều rất nhiều, người của mỗi chủng tộc đều nhiều cực kì, có rất nhiều chủng tộc. Ví dụ Trung Quốc Đại Lục, tức là người Hán, Mãn là người đông bắc, Mông là người Mông Cổ, Hồi là người Tân Cương, Tạng là người Tây Tạng, Miêu là người dân tộc Miêu, Hán Mãn Mông Hồi Tạng Miêu, Trung Quốc có tồn tại những chủng tộc này, mỗi một chủng tộc đều có rất nhiều người. Như vậy có nhiều không? Nhiều chứ!

Bạn xem một thành phố Thượng Hải đã có 26 triệu người, một thành phố Trùng Khánh gần bằng dân số của cả Đài Loan, một thành phố mà dân số bằng một quốc gia, nhiều người như thế, rất là khủng! Dân số của Trung Quốc Đại Lục rất đông, dân số của Ấn Độ cũng rất nhiều, còn có rất nhiều quốc gia nữa dân số đều rất nhiều, không biết là có bao nhiêu người, thật sự! Có người da đen, có người da trắng, có người da vàng, chủ yếu còn có người da nâu, còn có người da xám, người chủng tộc màu sắc gì cũng có, rất nhiều!

Nhưng trong con mắt của Phật đều không phải là người, vì sao vậy? Bởi vì cái này đều là tổ hợp, một hợp tướng chính là tổ hợp. Thế nào là tổ hợp? Mỗi con người đều là đất nước lửa gió tổ hợp lại mà thành, đất nước lửa gió cộng thêm một chút linh khí tổ hợp lại, hoặc là biến chủng. Nói một cách rất đơn giản về biến chủng, bạn xem Covid-19 đều là biến chủng, vì sao? Cái này và cái kia tổ hợp lại sẽ thành biến chủng… Những virus này đều đã học Mật giáo. Rất nhiều Phật Bồ Tát của Mật giáo đều là biến chủng đó. Bạn xem Đại Uy Đức Kim Cang là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát và Diễm Ma Pháp Vương kết hợp lại mà thành, biến thành Đại Uy Đức Kim Cang, đó không phải là biến chủng sao?

Nói đơn cử con người chúng ta là được rồi. Bạn cũng là biến chủng đó, có người nào không phải là biến chủng? Đều là tổ hợp mà, bố bạn và mẹ bạn kết hợp lại, biến thành một con trùng có hình sợi và một con trùng có hình tròn, hai con kết hợp lại biến thành bạn. Phần tử cấu tạo ra bạn là cái gì? Cũng là một hợp tướng. Thế nào là một hợp tướng? Đất nước lửa gió chính là một hợp tướng. Ở đây duyên tập hợp lại, rồi nó cũng sẽ tan. Bạn đừng nói chỉ có con người là biến chủng, tất cả chúng sinh bao gồm loài bay trên trời, loài bò dưới đất, loài bơi trong nước, toàn bộ đều là biến chủng, đất nước lửa gió toàn bộ địa cầu cũng là biến chủng.

Mọi ngôi sao đều là biến chủng, mọi tiểu thiên thế giới, trung thiên thế giới, đại thiên thế giới, toàn bộ đều là biến chủng, đều là một hợp tướng. Toàn bộ đều là tổ hợp, đó gọi là một hợp tướng. Như vậy mọi người đã hiểu một hợp tướng chưa? Vì thế đừng nói rằng sinh vật chúng ta là một hợp tướng, mọi cái bàn cũng là một hợp tướng, cái *table* (bàn), *chair* (ghế) mà bạn nhìn thấy là một hợp tướng. Bàn này là từ đâu biến chủng ra? Đó là được làm từ gỗ, tạo khúc gỗ thành một hình dạng, sau đó thì ngăn kéo đi với ngăn kéo, mặt bàn đi với mặt bàn, thế rồi còn phải thêm mấy cái đinh hoặc bên trong còn có vài miếng thép nữa, kết hợp chúng lại thành một cái bàn, đó là một hợp tướng.

Cái bàn là một hợp tướng, cái ghế cũng là một hợp tướng, cái gì cũng đều là một hợp tướng. Đó là những khoáng chất lấy từ lòng đất, khi kết hợp lại sẽ trở thành một chiếc lư hương, đều là một hợp tướng. Lư Sư Tôn có thứ này rất đắt (mặt dây chuyền), bằng vàng, có đá quý ngọc bích hồng ngọc, còn có rất nhiều viên kim cương nhỏ ở bên trong nữa, được nhà thiết kế tổ hợp lại, đây là cái gì? Một hợp tướng. Cái này giống như một mandala, ở chính giữa viên ngọc bích hồng ngọc này có một vị Bổn tôn ở đây, còn những cái khác là quyến thuộc của ngài, đây chính là phạm vi của ngài, là một thế giới của ngài, đây chính là một hợp tướng.

Nói ngẫu nhiên bất kì một thứ gì đều là một hợp tướng. Giống như cái gương này là pha lê, bên trong phủ lên một lớp ánh sáng bạc thì sẽ trở thành cái gương, có thể soi thấy con người. Pha lê không soi được con người, nhưng nếu quét lên nó một lớp sơn phản xạ, thêm vào cái khung này để có thể xoay tròn, thêm một cái giá đỡ, cái gương này là một hợp tướng, bất kì thứ gì cũng đều là một hợp tướng, bao gồm cả máy ghi hình, toàn bộ đều là như nhau, là nhựa, sắt thép hoặc sắt thanh, công nghiệp khai khoáng, nhựa, giấy dán, thứ gì kết hợp lại, còn có chiếc gương pha lê trước mặt nữa, những sợi dây điện bằng nhựa ở bên trong, toàn bộ đều là một hợp tướng, không có thứ gì không phải là một hợp tướng.

Trong con mắt của Phật, một hợp tướng là Không, một hợp tướng không phải là một hợp tướng, miễn cưỡng gọi nó là một hợp tướng. Con người chúng ta một hợp tướng mới là nhiều đó! Bạn xem con người chúng ta có tóc, có mắt, có mũi, có miệng, có răng, có tai, toàn bộ đều là tổ hợp, ngũ quan toàn bộ đều là tổ hợp, đây chính là một hợp tướng. Tách ra thì không phải đâu! Tôi nói với mọi người, chỉ cần bạn tách cái đầu ra thì không còn con người nữa, mắt trả về với mắt, không nhìn thấy; tai trả về với tai, không nghe thấy; mũi trả về với mũi, không hít được không khí. Bạn nói xem, lấy răng ra thì còn có thể ăn được không? Không thể ăn, bạn cần có một hợp tướng mới có thể có tác dụng, tách ra thì đều không còn tác dụng nữa.

Vì thế Phật Thích Ca Mâu Ni nói lí lẽ về một hợp tướng, toàn bộ đều là một hợp tướng, tách ra là hết. Con người chết đi, tức là tách ra rồi. Tôi nói với mọi người, khi còn sống cũng không phải là bạn. Mọi người cho rằng tôi là tôi, Phật nói bạn không phải là bạn, tôi không phải là tôi, họ không phải là họ. Vì sao? Bạn cho rằng bạn ở đây có thể kiểm soát chính mình à? *Wrong!* (Sai!) Tôi nói cho bạn biết, không thể kiểm soát! Mắt tôi muốn nhìn, nhưng tuổi cao rồi, mắt bạn nhìn cũng không rõ ràng. Mắt mờ, tóc bạc, răng long, là của bạn sao?

Răng bạn muốn nhai vật cứng thì không nhai được, răng cũng chưa chắc là của bạn, nó rụng đi thì không phải là của bạn nữa, phải lắp răng giả. Mắt cũng không phải của bạn, bạn có thể kiểm soát không? Bạn muốn nhìn xa, nhưng nhìn gần bạn còn không nhìn được. Lư Sư Tôn đọc chữ trên báo đều nhìn được, chữ trên tờ báo rất nhỏ nhưng Lư Sư Tôn vẫn nhìn được. Người có đeo kính, bỏ kính ra xem xem bạn có nhìn được không? Mắt là của bạn sao? Không phải của bạn. Tai cũng không phải của bạn, miệng cũng không phải của bạn, răng cũng không phải của bạn.

Mấy hôm trước, Lư Sư Tôn bị đau lưng, bây giờ cái miếng đỡ ở đây đã bỏ ra rồi. Bạn bảo lưng không đau thì nó sẽ không đau sao? Nó vẫn đau. “Lưng là của tôi, tôi có thể ra lệnh cho nó không đau!” Làm gì có chuyện bạn ra mệnh lệnh chứ! Mệnh lệnh của bạn vô tác dụng, cái lưng cũng không phải của bạn. Khi bạn già đi thì sẽ bắt đầu hỏng từ chân, đầu gối bạn đau, nếu đã là của bạn thì bạn hãy bảo nó không đau đi, nhưng nó vẫn đau, bạn phải đi chữa, đi xử lí. “Om suri suri mahasuri…” Cái dụng cụ này của bạn hỏng rồi thì phải đi xử lí sửa chữa. Bạn chẳng qua là một thứ tổ hợp mà thôi, đừng cho rằng đều là của bạn.

Chính là Phần thứ 30: Lí lẽ về một hợp tướng mà Phật Thích Ca Mâu Ni nói. Một thứ tổ hợp khi phân tán rồi thì không còn gì nữa. Trái đất cũng như thế, hễ phân tán ra thì trái đất không còn nữa. Ba nghìn đại thiên thế giới hễ phân tán ra thì đều không còn. Cho nên Phật Thích Ca Mâu Ni nói: “Tu Bồ Đề! Một hợp tướng đó, kì thực không thể nói, vốn dĩ là một việc không thể nói, nhưng con người phàm phu tham chấp vào việc này.” Con người là có tham niệm. Ý của Phật Đà là nói rằng con người đừng có tham niệm, bởi vì thân thể đều không phải là của bạn, bạn tham cái gì mà tham?

Tôi thấy ở đây “Quyên góp 750.000 đô”, trong lòng có chút không nỡ, nhưng không thể tham 750.000 đô này là của tôi, kì thực cũng không phải là của tôi. Bởi vì tôi không dùng đến 750.000 đô này. *You just buy the gas, just buy a water, no use the money. *(Ông chỉ mua xăng, mua nước, không cần nhiều tiền.) Vậy thì bố thí cho người khác có sao đâu! Cho nên bạn nghĩ một chút sẽ nghĩ thông thôi. Cái gì là của bạn? Bạn cho rằng những thứ mà Sư Tôn đeo đi ra ngoài, đây đương nhiên là của Lư Sư Tôn rồi. Cái này là của Lư Sư Tôn, cũng không phải của Sư Mẫu, bởi vì cái này là một đệ tử tặng cho tôi. Người ta tặng cho tôi đồ tốt như vậy, đó là của tôi sao? Đây là cho bạn mượn để ngây ra nhìn mấy chục năm thôi!

Bạn xem, cuối cùng tôi đã nghĩ thông rồi, để vào trong két an toàn của ngân hàng, hoàn toàn không lấy ra, có một ngày bạn tứ đại phân tán, thì đó còn là của bạn không? Không có! Ở trong két an toàn của ngân hàng, nó là của ai? Ai lấy được chứ cũng không phải của bạn, chỉ là tạm thời. Nghĩ thông rồi thì lấy ra đeo, nghĩ thông rồi thì để cho mình sướng một chút, đúng không? Để cho bạn sướng một lúc, sau đó thì không phải là của bạn nữa. Bạn cho rằng vợ là của bạn sao? Tôi nói cho bạn biết, không phải của bạn. Mọi người cho rằng cô vợ xinh đẹp kia là của tôi, không phải của bạn. Có một ngày bạn chết đi, cô ấy vẫn còn trẻ, cô ấy còn muốn lấy người khác nữa, trên đời này không có gì vĩnh viễn. 

Hãy nhớ điều Phật Thích Ca Mâu Ni nói *“chỉ có người phàm phu tham chấp vào việc đó”*. Người chưa hiểu đạo lí của kinh Kim Cang đều cho rằng là của mình. Tôi mới không cho rằng cái mặt dây chuyện này là của tôi, cũng không cho rằng cái đồng hồ có khắc tên tôi ở trên tay là của tôi. Đồng hồ khắc tên chắc chắn là của tôi, cái đồng hồ Rolex này cũng có khắc tên Thắng Ngạn của tôi, bỏ cái tên Rolex đi, dùng vàng dán lên, trên đó khắc chữ kí của tôi, đây là đồng hồ Rolex nhãn hiệu Thắng Ngạn, hai chữ Thắng Ngạn này to như vậy, Thắng Ngạn đây là cái dây đeo của tôi.

Hãy nhớ, đợi đến khi tôi bị đưa đi thiêu, những thứ này cũng thiêu luôn, thiêu không được, chúng vẫn còn đó. Bạn đều biến thành tro rồi, còn thứ này (đồng hồ) thì không thiêu được, dù có khắc tên của bạn lên thì cũng không phải là của bạn, cho bạn mượn để nhìn mấy chục năm thôi! Chỉ là ngây ra nhìn mà thôi. Tiền cũng không phải của bạn, nhà cũng không phải của bạn, xe cũng không phải của bạn, đều là một hợp tướng. Nhà cửa là một hợp tướng, xe cộ là một hợp tướng, bạn là một hợp tướng. Cả địa cầu là một hợp tướng, toàn bộ tam thiên đại thiên thế giới đều là một hợp tướng! Chỉ là con người phàm phu không hiểu đạo lí một hợp tướng, cho rằng đều là của họ, không có chuyện này!

Cho nên bạn xem cuộc chiến tranh Nga-Ukraine, họ đều cho rằng “Tôi chiếm lĩnh thành phố của anh”, họ cho rằng chiếm lĩnh được thì là của họ, trong con mắt của chúng ta thấy thì đúng là trò chơi, trong cái nhìn của chúng ta thì căn bản là họ đang chơi trò chơi, *play game*, những người này đang chơi trò chơi. “Tham chấp việc ấy”, phàm phu đó! Đều là những kẻ đần độn! Toàn là những kẻ đần độn ngu si, không có trí tuệ, không có trí huệ của Như Lai. Trí huệ của Như Lai rõ ràng nói với bạn rằng toàn bộ đều là một hợp tướng, nhưng bạn vẫn cứ không tin. Bạn vẫn cứ tin cái hợp tướng này, còn tin cái gì là của bạn nữa? Thế nên mới ngu!

Bạn xem Hán Vũ Đế, Tần Thủy Hoàng, làm hoàng đế rất thoải mái thế là muốn trường sinh bất lão. Hán Vũ Đế còn luyện đơn, Tần Thủy Hoàng cũng kêu Từ Phúc đi ra ngoài biển tìm tiên đơn, mang theo ba nghìn đồng nam, ba nghìn đồng nữ, kết quả là họ đi ra biển kết đôi với nhau. Tần Thủy Hoàng muốn làm hoàng đế vĩnh viễn, Hán Vũ Đế cũng muốn giành nhiều công lao hiển hách, sau khi đã chiếm lĩnh rất nhiều đất đai, trở thành hoàng đế vĩ đại nhất của triều Hán là Hán Vũ Đế, ông ấy còn muốn làm thần tiên, vĩnh viễn không chết, kết quả là không biết đã chết bao nhiêu năm rồi. Ông ta cũng đã uống đơn do đạo sĩ luyện, muốn trường sinh bất lão. Chết rồi! Phật Thích Ca Mâu Ni nói đều là hợp tướng! “Tham chấp việc ấy”, đều là tham.

Cho nên người tu hành dục vọng càng ít càng tốt, tốt nhất là con người cần sống đạm bạc, đừng tranh giành chiếm đoạt, phải hiểu đạo lí này. Bởi vì Phật Đà nói: “Chỉ có người phàm phu tham chấp vào việc đó.” Tham, vẫn là tham cái thứ một hợp tướng này. Vì sao người tu hành có thể tâm bình khí hòa, có thể thờ ơ với mọi thứ, có thể dễ dàng tịnh tâm lại? Là vì vô niệm! Bởi vì bạn không tham, đương nhiên có thể vô niệm.

Bạn còn nảy sinh tham niệm thì làm sao có thể vô niệm? Vô niệm, Chân Phật Kinh nói: “Lấy vô niệm làm chính giác Phật bảo.” Bạn không còn nảy sinh những suy nghĩ không tốt nữa, suy nghĩ của bạn đã hoàn toàn trống rỗng, lúc này bạn thành tựu rồi, Phật tính chân chính hiển phát. Phật Đà bảo chúng ta tu hành là như vậy, đầu tiên bạn hiểu đạo lí này, sau đó đi thực tiễn “không tham chấp”. 

Vì sao Quỷ Bà phải nói là kiếp trước anh nợ tôi bao nhiêu tiền? Tiền của bạn phải đưa cho Quỷ Bà. Khi xưa bà ấy thấy Seattle của chúng ta rất nhiều người trúng xổ số, bà ấy còn kêu đồng môn mau đi mua xổ số, kết quả là dù một người cũng không trúng. Bà ấy thậm chí còn mua xổ số phân phát cho mọi người, hi vọng có thể trúng, kết quả là đều không trúng, tham chấp vào việc ấy đó! Đến một ngày bạn sẽ biết, thân thể còn không phải là của bạn thì bạn tham cái gì mà tham? Cho nên tôi nói với mọi người, hôm nay phải nghe cho rõ ràng đạo lí này của kinh Kim Cang, không được tham chấp vào một hợp tướng! 

Phàm phu là tham một hợp tướng. Tham cái gì? Nhà cửa, xe cộ. Tham cái gì? Tham cái mặt dây chuyền này, vàng, kim cương, đá quý. Tham cái gì? Tham vẻ ngoài của bạn trông phải rất đẹp, muốn nó đẹp nhưng nó đẹp không nổi, và cứ thế càng ngày càng già, rồi đến lúc cũng tan tành vỡ vụn, lửa thiêu một cái rồi chẳng còn gì cả, hết sạch rồi! Khi ấy không thể tham được nữa… vẫn có thể, linh hồn kia vẫn tham, trung ấm vẫn còn tham. Vì thế con người phàm phu, nếu hiểu được đạo lí này, bạn sẽ không tham chấp, có thể hiển phát Phật tính của chính mình, ánh sáng tự mình tỏa sáng, ánh sáng vô cùng xán lạn tỏa sáng một mình. Om mani padme hum.

*(Ngày 23/04/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Liên Hoa Đồng Tử Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 77.)*


### 78. Phần thứ 31: Tri kiến chẳng sinh


*(Bài giảng 78)* Tri kiến chẳng sinh

Tôi đọc đoạn kinh văn một lượt.

*"Tu Bồ Đề! Nếu có người nói: Phật nói ngã kiến, nhân kiến, chúng sinh kiến, thọ giả kiến. Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Người đó có hiểu nghĩa ta nói không?"
"Không hiểu, thưa Thế Tôn! Là người ấy không hiểu nghĩa Như Lai nói. Là vì sao? Thế Tôn nói: ngã kiến, nhân kiến, chúng sinh kiến, thọ giả kiến, tức chẳng phải ngã kiến, nhân kiến, chúng sinh kiến, thọ giả kiến, thì gọi là ngã kiến, nhân kiến, chúng sinh kiến, thọ giả kiến."
"Tu Bồ Đề! Người phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, đối với tất cả các pháp, nên biết như vậy, nên thấy như vậy, nên tin hiểu như vậy, không sinh pháp tướng. Tu Bồ Đề! Pháp tướng đã nói đó, Như Lai nói tức chẳng phải pháp tướng, thì gọi là pháp tướng."*

“Phần thứ 31: Tri kiến chẳng sinh”, kinh văn nói như vậy. Hôm qua chúng ta giảng toàn bộ vũ trụ đều là một hợp tướng, những gì nhìn thấy đều là một hợp tướng, phân tách ra thì không còn gì cả, cho nên câu này nói rằng, tất cả mọi tướng thật sự đều không phải là thực tướng. Tất cả mọi tướng đều không phải là thực tướng. “Tri kiến chẳng sinh”, tất cả mọi tướng mà bạn nhìn thấy đều không phải là thực tướng, mọi tướng không có tính chân thực, không có tự tính.

Như vậy mọi người gần như có thể lí giải được toàn bộ đoạn kinh văn. “Tri kiến chẳng sinh”, cái gì bạn nhìn thấy, cái gì bạn biết hoàn toàn là vô sinh, không có tính chân thực. Bạn biết cái gì, bạn nhìn thấy cái gì, đều không có tính chân thực, bởi vì toàn bộ vũ trụ đều là một hợp tướng, tiếp theo, những gì bạn nghe thấy đều không có tính chân thực.

Tôi hỏi mọi người một vấn đề, mỗi lần tôi làm Hộ Ma, chẳng phải là tôi cầm cái chổi lông chim công sao? Cầm cái này rồi tôi sẽ đưa qua đưa lại ba lần, đúng không? Bạn có thể đoán trúng Sư Tôn viết gì trên cái chổi này không? Miệng tôi đang niệm cái gì không? Nếu có thể đoán trúng, tôi sẽ tặng cho bạn cái nhẫn vàng này, đây là nhẫn vàng, có đá quý, bên cạnh còn có kim cương lóng lánh nữa, tôi sẽ lập tức tặng bạn, tôi tuyệt đối không hối hận! Bạn có biết tôi cầm cái chổi này rồi niệm cái gì không? Tôi đang niệm cái gì? Nói sai một chữ cũng không được.

(Đệ tử sôi nổi trả lời.) Niệm 3 biến “Om ah hum” à, còn gì nữa không? Hum hum hum à, ram yam kham à, thôi không bán nữa, cái này tôi giữ lại đeo, bởi vì tôi đảm bảo các bạn không biết. (Đệ tử lại trả lời). Bốn chữ “trả về hư không” à? Tôi lắc một lần, hai lần, ba lần đều tăng thêm chữ đó. Được rồi! Tôi thấy mọi người không đoán được nên tôi mới dám nói như vậy, bởi vì thật sự cái mặt dây đeo này thật sự quá đắt, đưa cái này ra thì ai cũng đều giơ tay. Cái nhẫn này thì còn được một chút, nhưng cũng rất đắt, bạn xem xung quanh toàn là kim cương thật đó, ở giữa là đá quý thật, được làm bằng vàng, đây là nhẫn vàng, rất đẹp, đương nhiên không thể cho các bạn được. [Đùa]

Tôi nói thật đó, tôi không lừa người ta đâu. Cái chổi lông chim công này cầm lên, câu đầu tiên tôi niệm là “thanh tịnh”, câu tứ hai là “tự tính thanh tịnh”, câu thứ ba là “tất cả tự tính thanh tịnh”, thanh tịnh, tự tính thanh tịnh, tất cả tự tính thanh tịnh, chính là ba câu đó. Tôi làm Hộ Ma là để thanh tịnh, đó không chỉ là Hộ Ma thanh tịnh mà còn phải khiến cho tự tính của mình, Phật tính của mình thanh tịnh, biến tất cả ô uế thành Phật tính của chính mình thanh tịnh. Câu thứ ba “tất cả tự tính thanh tịnh” bao gồm tất cả chúng sinh các bạn, tất cả Phật tính đều thanh tịnh. Tôi nói ba câu đó.

Tôi nói để mọi người biết, tất cả mọi thứ đều là một hợp tướng, phân tách ra thì căn bản không có tự tính, tất cả đều không có, đều là vô tự tính, trên thực tế không có cái gì chân thực, đều không có. Tối hôm qua tôi nói, con mắt tách khỏi thân thể bạn thì nó không nhìn được nữa. Tai tách khỏi thân thể bạn thì nó không nghe được nữa. Răng tách khỏi thân thể bạn thì nó không thể ăn được nữa, tổ hợp lại thì mới có tác dụng, phân tách ra thì đều không có. Thế thì khi toàn bộ đều phân tách ra, còn lại cái gì? Cái còn lại chính là Phật tính. Loại bỏ hết, phân tách ra, bạn có thể nghĩ như vậy thì bạn sẽ thanh tịnh, nghĩ như vậy thì sẽ thanh tịnh, phải phân tách ra để nghĩ. 

Cho nên Phật Thích Ca Mâu Ni nói:* “Phật nói ngã kiến, nhân kiến, chúng sinh kiến, thọ giả kiến. Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Người đó có hiểu nghĩa ta nói không?”* Không, không phải là nói như vậy thưa Thế Tôn. Người này không hiểu nghĩa Như Lai nói. Phật không nói như vậy, ý nghĩa không nằm ở đây, vì sao? *“Thế Tôn nói: ngã kiến, nhân kiến, chúng sinh kiến, thọ giả kiến”*, đều không phải. Nhưng con người phàm phu lại xác thực là có ngã kiến, nhân kiến, chúng sinh kiến, thọ giả kiến, cho nên mới nói là ngã kiến, nhân kiến, chúng sinh kiến, thọ giả kiến. 

*"Tu Bồ Đề! Người phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, đối với tất cả các pháp…”* Nếu bạn là người hiểu phát tâm bồ đề, trong tất cả các pháp, trong tất cả mọi thứ, *“nên biết như vậy, nên thấy như vậy, nên tin hiểu như vậy”*, bạn có thể biết, bạn cũng có thể thấy, phải tin theo như vậy và giải thích như vậy. “Không sinh pháp tướng”, thật sự là không có, cái gì cũng đều là không. *“Tu Bồ Đề! Pháp tướng đã nói đó, Như Lai nói tức chẳng phải pháp tướng, thì gọi là pháp tướng.” *Pháp tướng đã nói đó, cái gì là pháp tướng đây? Tất cả những gì nhìn thấy trong vũ trụ, những gì biết được, kì thực Như Lai nói *“chẳng phải pháp tướng”*, đều không phải là tính chân thực. *“Thì gọi là pháp tướng”* con người phàm phu cho rằng là có, cho nên mới gọi là pháp tướng.

Cả đoạn kinh văn này tôi đều giảng với mọi người rồi. Nói cách khác là, bất kì thứ gì trong vũ trụ cũng đều là một hợp tướng, những gì phàm phu nhìn thấy toàn bộ đều là một hợp tướng, những gì Phật Đà nhìn thấy kì thực là cái gì cũng không có, bởi vì cái chân thực duy nhất chính là Phật tính. Tôi đã nói về “thanh tịnh”, bạn thanh tịnh rồi thì chính là Phật tính, cho nên trong Cao Vương Kinh có Thanh Tịnh Phật. Khi thầy Thubten Daerji qua đời đã niệm hai chữ “thanh tịnh”. 

Thượng sư Thubten Daerji chỉ niệm hai chữ “thanh tịnh”; “tự tính thanh tịnh” - bạn thanh tịnh rồi, Phật tính của chính bạn sẽ hiển hiện, thì gọi là tự tính thanh tịnh. Bạn thanh tịnh rồi, Phật tính của chính bạn đã hiển hiện rồi thì gọi là tự tính thanh tịnh; “Tất cả tự tính thanh tịnh” - tất cả mọi chúng sinh, tự tính của họ toàn bộ đều thanh tịnh. Vì thế mọi pháp mà chúng ta tu bây giờ, pháp cũng là giả, nhưng bạn tu pháp rồi thì bạn mới có thể thanh tịnh. Trong Đạo Quả nói, bạn có thể thanh tịnh được mấy phần? Thanh tịnh đến mười ba phần thì là Phật ở địa thứ mười ba, thanh tịnh đến mười sáu phần thì là Bản Sơ Phật (A Đạt Nhĩ Mã Phật), đó là dùng sự thanh tịnh để đại diện.

Bồ Tát cũng là thanh tịnh, thanh tịnh một phần thì là Hoan hỉ địa, thanh tịnh bảy phần thì là Tốc hành địa, thanh tịnh tám phần thì là Bất động địa. Thanh tịnh được mười địa thì gọi là Pháp vân địa, chính là Pháp vân địa. Thanh tịnh được mười một địa thì chính là Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát, Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát ở địa thứ mười một. Vì thế dùng sự thanh tịnh để phân biệt, bây giờ chúng ta đang tu pháp chính là thanh tịnh bản thân, bạn thanh tịnh mấy phần, thanh tịnh bao nhiêu? Trong Đạo Quả phân biệt như vậy, chính là nói về thanh tịnh.

Cho nên, vì bạn đã là Bồ Tát, phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, tất cả pháp nên biết như vậy, thấy như vậy, tin theo như vậy, giải thích như vậy, là pháp tướng chẳng sinh. Những gì bạn nhìn thấy đều không có, đều không phải là thực tướng. Duy có Phật tính, duy có bạn thanh tịnh rồi, đến cuối cùng Phật tính của bạn hiển hiện rồi, cái đó mới là chân thực, những cái khác không có thứ gì là chân thực. Đoạn kinh văn này nói như vậy, đoạn này người khác có lẽ không giảng như thế này, Sư Tôn mới giảng như thế này.

Tiếp theo là giảng đoạn cuối cùng của kinh Kim Cang, Phần thứ 32: Ứng hóa không phải thật, tất cả mọi ứng hóa đều không phải là thật. Tôi nói với mọi người, Tây phương Cực Lạc thế giới cũng là ứng hóa, mọi Phật quốc tịnh thổ toàn bộ đều là ứng hóa mà ra, nhưng đã đến nơi đó rồi thì là cõi bất thối chuyển. Cõi bất thối chuyển tức là bạn đã đến Tây phương Cực Lạc thế giới rồi thì bạn sẽ không thối chuyển nữa, sẽ không trở lại lục đạo chúng sinh để mà luân hồi nữa, cho nên tôi hi vọng mọi người đều có thể đến được Tây phương Cực Lạc thế giới, bởi vì đó là cõi bất thối chuyển, sẽ không thối chuyển nữa.

Ở nơi đó có pháp thanh tịnh, ba mươi bảy đạo phẩm chính là pháp thanh tịnh. Ba mươi bảy đạo phẩm đều là pháp thanh tịnh, tu A La Hán là giới định huệ, bạn tu Bồ Tát chính là bát chính đạo, lục độ, bạn đạt thành tựu Phật chính là thập địa viên mãn, thập địa Bồ Tát viên mãn chính là Hậu Bổ Phật, đến địa mười một bạn thành Phật rồi, đó đều dùng sự thanh tịnh để phân biệt. Ba mươi bảy đạo phẩm, cái này rất nhiều người đều biết. Tứ thánh đế, bát chính đạo… bắt đầu từ tứ niệm xứ, như vậy tổng cộng có ba mươi bảy đạo phẩm, thuộc về Phật giáo đại thừa. Tiểu thừa là giới định huệ, Đại thừa là ba mươi bảy đạo phẩm. Đến Tây phương Cực Lạc thế giới rồi, bạn lại tu ba mươi bảy đạo phẩm này thì rất dễ dàng.

Sau này đến Tây phương Cực Lạc thế giới rồi, bạn chỉ cần tu ba mươi bảy đạo phẩm, ai nấy thành Phật, đó là thế giới mà A Di Đà Phật ứng hóa ra. Quan Thế Âm Bồ Tát cũng có Viên Thông Thế Giới, Địa Tạng Vương Bồ Tát có Thúy Vi Thế Giới, Đại Bồ Tát đều có Phật quốc tịnh thổ của riêng mình, ví dụ như Dược Sư Lưu Li Quang Phật có Lưu Li Thế Giới, Chân Phật Tông chúng ta có Chân Phật Thế Giới, chính là như vậy, đều là ứng hóa mà ra. Nhưng đến nơi đó rồi, bạn lại tu ba mươi bảy đạo phẩm, thành tựu rồi, bạn người người thành Phật, cho nên duy nhất là phải thành tựu Phật pháp, có thể thành tựu Phật tính quang minh thì nhất định phải thanh tịnh, dùng sự thanh tịnh để phân biệt xem bạn đã đến được Bồ Tát địa nào, là như vậy đó. Om mani padme hum.

*(Ngày 24/04/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Tôn Thắng  Phật Mẫu tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 78.)*


### 79. Phần thứ 32: Ứng hóa không phải thật 


*(Bài giảng 79) *Ứng hóa không phải thật

Chúng ta giảng kinh Kim Cang đoạn cuối cùng.

Phần thứ 32: Ứng hóa không phải thật. Hôm nay kinh Kim Cang phần thứ 32 này, mọi người đều đọc hiểu được, kì thực không cần phải giảng đã kết thúc rồi. Đã xuất hiện hai dải cầu vồng, vừa đúng lúc Chân Phật Bát Nhã Tạng lại tuyên truyền cuốn sách *“Như mộng như huyễn”*, đó chính là phẩm thứ 32 rồi. “Ứng hóa không phải thật”! Thế nào gọi là ứng hóa không phải thật? Tất cả những gì ứng hóa ra đều không phải là chân thực, cho nên trong kinh Kim Cang có nhắc đến, mọi người có nghĩ ra không, Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp, ngài nói ngài không có thuyết pháp. Bởi vì Phật Thích Ca Mâu Ni là ứng hóa thân, không phải là thật, ngài là ứng thân Phật, Phật Thích Ca Mâu Ni ở tại thế giới Ta Bà là ứng thân Phật, không phải là thật, cho nên đương nhiên là ngài không có thuyết pháp.

Hôm nay nếu bạn nói “Lư Sư Tôn có thuyết pháp”, xem ra hình như là thật sự có thuyết pháp, kì thực cũng không có thuyết pháp, bởi vì tôi là ứng hóa thân, bạn cũng là ứng hóa thân, bởi vì ứng hóa thân đều là giả, căn bản chính là không có thuyết pháp. Pháp vốn dĩ cũng là giả, giống như pháp của Mật giáo đó là người ta soạn ra, mọi pháp nào là tiền hành, chính hành, hậu hành, toàn bộ đều là con người soạn ra, Mật pháp đều là con người soạn ra, đó chỉ là một công cụ. 

Giống như chúng ta tu Tứ gia hành, tu Bổn tôn, tu Nội pháp, tu Vô thượng mật, cái này là thứ tự, một thứ tự của Mật pháp. Ví dụ Sự bộ, Hành bộ, Du già bộ, Vô thượng bộ của Mật pháp cũng là một thứ tự, cái này là ai làm ra? Là con người soạn ra, đó chỉ là một công cụ, một công cụ tu hành, pháp cũng là giả. Cho nên trong kinh Kim Cang có nói rằng pháp này cũng không phải là thật, huống hồ không phải là pháp, đó càng không phải là thật.

Phật nói rằng “ứng hóa không phải thật”, tôi nói với bạn nhé, trái đất cũng là giả, hệ mặt trời cũng là giả, ba nghìn đại thiên thế giới toàn bộ đều là giả, không có thứ chân thực, đây gọi là Phần thứ 32: Ứng hóa không phải thật. Bạn cho rằng là thật, giống như hôm nay hiển hiện hai dải cầu vồng, chúng ta biết rằng cầu vồng đương nhiên là giả rồi, nhìn trông có vẻ giống như thật, không sai, trông thì đúng là thật, kì thực là giả. Con người chúng ta cũng như vậy, trông thì là thật, kì thực cũng là giả.

Toàn bộ trái đất trông thì là thật, kì thực nó là một hợp tướng (đất nước lửa gió, có một ngày trái đất nổ tung, vỡ ra, còn có trái đất không? Không có! Toàn bộ hệ mặt trời đều nổ tung, còn có hệ mặt trời không? Không có! Con người thì sao, càng không có! Chúng ta học địa lí, hoặc là học lịch sử đều biết, Trung Quốc có năm nghìn năm lịch sử, chúng ta nói về Trung Quốc là được rồi, có năm nghìn năm lịch sử, vậy sáu nghìn năm trước, một vạn năm trước, hai vạn năm trước thì sao? Không có Trung Quốc ư? Đương nhiên không có rồi!

Trong thế giới khủng long, chúng ta nói về thế giới khủng long là được rồi, khủng long cũng là ứng hóa, chúng ta biết có khủng long, bởi vì có dấu tích xương của khủng long, chúng ta nghiên cứu biết rằng có cái thứ gọi là khủng long. Nhưng mà khủng long cũng không còn, bây giờ bạn đi tìm khủng long ở đâu? Có rồi, Seattle Lôi Tạng Tự chúng ta có khủng long. Trước đây có Khủng Long sư huynh, ông ta mặc bộ đồ khủng long lên người, kịch trường khủng long, chúng ta còn có kịch trường khủng long đúng không? Chúng ta biết đó là giả, đó là con người cải trang mà thành. Cho nên trước đây có, bây giờ không có. Bạn có biết không? Nhân loại chúng ta bây giờ có, sau này còn có không? Nói không chừng tương lai cũng không có nhân loại nữa, cũng là giả.

Trong lịch sử có rất nhiều ví dụ, trước kia có khủng long, bây giờ không có; trước kia có nhân loại, sau này còn có không? Không có! Tôi nói với bạn một khi bom hạt nhân kia ném ra, nếu nói tương lai thật sự đánh nhau bằng bom hạt nhân, đánh tới cuối cùng thì trái đất cũng đều nứt vỡ ra, trái đất vỡ ra, con người sống ở đâu chứ? Toàn bộ nhân loại đều không còn, về sau con cháu đời sau chúng sẽ nói trong quá khứ có một trái đất, trên trái đất có con người, con người trông hình dáng thế nào, bây giờ đã không còn rồi. Đó không phải là ứng hóa sao?

Tôi đọc toàn bộ kinh văn, phần “Ứng hóa không phải thật”, mọi thứ ứng hóa ra đều không phải là thật, không chỉ có mỗi cầu vồng không phải là thật.

*"Tu Bồ Đề! Nếu có người dùng thất bảo đầy khắp vô lượng a-tăng-kỳ thế giới để bố thí, nếu có thiện nam, thiện nữ phát tâm bồ đề, trì bản kinh này cho dù chỉ bốn câu kệ, thọ trì đọc tụng, vì người khác mà giảng thuyết rộng rãi, thì phúc của người này còn hơn cả người cúng dường kia. Thế nào gọi là người diễn thuyết? Không giữ vào tướng, như như bất động. Là vì sao? Tất cả pháp hữu vi. Như mộng huyễn bào ảnh. Như sương cũng như điện. Nên quán thấy như vậy. Phật nói kinh đã xong, trưởng lão Tu Bồ Đề và các tì kheo, tì kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di, tất cả thế giới, Trời, Người, Atula nghe điều Phật nói đều vô cùng hoan hỉ, tín thọ phụng hành.”*

Giảng xong rồi, tín thọ phụng hành. 

Ở đây nói “*thất bảo đầy khắp vô lượng a-tăng-kỳ thế giới”, *ở đây nói về thời gian, nếu có người dùng thất bảo đầy khắp vô lượng a-tăng-kỳ thế giới, cái gọi là a-tăng-kỳ chữ này đọc là “kỳ” nhỉ, a-tăng-kỳ thế giới, tôi thường viết chữ này thành chữ “chỉ” trong từ “chỉ có”, vì thế tôi đọc là “chỉ”, các bạn đọc là “kỳ”. Cái này đại diện cho thời gian. Ý của nó là nói rằng vô lượng a-tăng-kỳ, nghĩa là thời gian rất dài rất dài, chúng ta gọi là ba đại a-tăng-kỳ. Chữ “chỉ” cũng được, ông ấy đi tra điện thoại, nói là chữ “chỉ” cũng được. Khi tôi viết sách tôi dùng chữ này, lấy chữ “chỉ” để dùng, “chỉ” trong từ “chỉ là”. 

Ba đại a-tăng-kỳ chính là vô cùng tận, thời gian rất dài rất dài. Sau đó lại thêm một cái “thế giới”, không gian rất dài rất dài, thế giới tương đương với không gian. Thời gian và không gian đều vô cùng dài, dùng thất bảo để bố thí, thứ quý giá nhất ở nhân gian là thất bảo, nói chung là kim cương, vàng, những thứ kiểu vậy, xà cừ, những thất bảo đó, mang những kim loại quý này đi làm từ thiện, dùng để bố thí, đương nhiên phúc đức này là rất lớn.

Nhưng “*nếu có thiện nam, thiện nữ phát tâm bồ đề”, *có một số thiện nam thiện nữ, người phát tâm bồ đề chính là thiện nam thiện nữ đó! *“Trì bản kinh này”, *họ chỉ cần trì kinh điển này, “*cho dù chỉ bốn câu kệ”, *vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, có thể “*thọ trì đọc tụng, vì người khác mà giảng thuyết rộng rãi, thì phúc của người này còn hơn cả người cúng dường kia”. *Bạn có thể giảng kinh Kim Cang, bạn có thể trì vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, vì người khác mà giải thích, cũng tự mình thọ trì đọc tụng, thì phúc phần của người đó, phúc đức hơn cả người lấy thất bảo của vô lượng không gian, vô lượng  thời gian ra để bố thí, thắng hơn!

Đây là pháp thí thắng tài thí. Pháp thí, không phải là nói các pháp sư đầu trọc của chúng ta ở đây đâu, là dùng pháp để bố thí, thì hơn cả dùng tài vật để bố thí, ý nghĩa chính là ở đây. Dùng Phật pháp này để bố thí thì hơn cả bố thí tài vật. Bạn lấy bốn câu kệ của kinh Kim Cang, thậm chí bạn trì tụng kinh Kim Cang, rồi bạn còn có thể thọ trì kinh Kim Cang, bạn tin tưởng vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, rồi còn đi thực tiễn điều này, thì phúc đức của bạn còn thắng hơn cả cái người bố thí trong vô lượng thời gian và không gian, ý nghĩa chính là ở đây. Vì sao lại như thế? Bởi vì bạn *“không giữ vào tướng” *nên có thể “*như như bất động”.*

Trên thế giới này cái thứ gì cũng động, chỉ có một thứ bất động, thứ gì bất động? Hư không bất động! Các bạn đi mua bất động sản, bất động sản tức là bất động, nhưng mà động đất thì làm sao mà bất động? Bất động sản mới là động sản, động sản mới là bất động sản. Động động, bất động, bất động, động động. Tôi nói với mọi người, trên thế giới làm gì có bất động sản gì, động đất một cái là không còn, dời núi lấp biển. Pháp thuật đôi khi có thể dời núi lấp biển, núi đều có thể chuyển dịch, khi có động đất thật sự, núi này sẽ chạy tới chỗ khác, vốn dĩ là văn phòng địa chính kia sẽ giúp tôi đo lường [đúng vị trí bất động sản], ngọn núi đó của tôi đã dịch chuyển đến chỗ khác, núi của tôi không còn nữa. Cả ngọn núi đều dịch chuyển rồi, làm gì có cái gì là bất động sản? Cái gì là như như bất động? Hư không chính là như như bất động. Mây cũng sẽ chạy tới chạy lui, gió cũng động, lửa cũng động, nước cũng chảy, cũng chuyển động, đất cũng động. Chỉ có hư không bất động, cho nên dùng tính Không để ví với Phật tính. Trong kinh Phật nói đến tính Không chính là Phật tính, Phật tính chính là tính Không. *“Như như bất động. Là vì sao?”* Thế nào gọi là như như bất động? Nguyên nhân gì đây? “*Tất cả pháp hữu vi. Như mộng huyễn bào ảnh. Như sương cũng như điện. Nên quán thấy như vậy.”*

Trong sách của tôi đã viết “như mộng như huyễn” đó, ở đây lại xuất hiện rồi. “*Tất cả pháp hữu vi. Như mộng huyễn bào ảnh.” *Thế nào là pháp hữu vi? Có pháp vô vi, pháp hữu vi. Pháp hữu vi tức là có hành vi, tất cả những gì bạn làm vì tiền, vì danh, vì sắc đều gọi là pháp hữu vi, nó sẽ trở thành không có. Bạn đừng thấy ở tỉ phú Bill Gates ở chỗ chúng tôi đây, bây giờ ở Mĩ có tỉ phú phát minh ra xe điện, ngoài ra còn có rất nhiều người có tiền, ví dụ tỉ phú Amazon, rất nhiều tỉ phú của Microsoft, những người này đều rất có tiền, những tỉ tỉ tỉ… kia, hết tỉ này tới tỉ nọ!

Nhưng tôi biết đó không phải là của họ, có một ngày họ sẽ già, họ biết tiền đó tuyệt đối không phải là của họ, tiền! Tiền tỉ của bạn có tác dụng gì? Thân thể bạn có bệnh, thế rồi bạn sẽ chôn ở đâu? Ví dụ như chúng ta thì sẽ rúc vào trong cái hộp vuông vuông đó ở trong Song Liên Cảnh Giới, cái hộp vuông vuông đó cũng không phải là của bạn, bạn hãy trốn ở trong cái hộp đó, buổi tối đi ra ngoài dọa người ta, chẳng dọa được ai đâu! Sư Tôn sẽ thu về, nếu bạn bị hồn ma đó dọa thì hãy tìm Lư Sư Tôn.

Bố vợ của con trai tôi sau khi chết, ông ấy theo Phật Kì và Sunny về Mĩ, buổi tối đi ra dọa người ta! Phật Kì và Sunny ngủ trên giường, ở giữa đột nhiên có thêm một người xuất hiện, Phật Kì nhìn thấy, trời ơi! Là bố của Sunny đó, ông ấy đang nằm ngủ giữa Sunny và Phật Kì, sau đó lại bay tới bay lui ở trong nhà, Phật Kì vội vàng chạy tới gọi tôi qua xem. Tôi đã nhìn thấy rồi: “Lại đây, ngoan đi nào, ông sống ở trong cái bình này.” Tôi kêu ông ấy ở trong cái bình, đậy ông ấy lại, từ đó ông ấy không ra ngoài nữa. Khi bố Sunny qua đời, bọn chúng mang một ít tro cốt từ Indonesia trở về, nên cố nhiên là ông ấy cũng đến nhà Phật Kì, đến nhà Phật Kì và Sunny rồi thì thường xuyên xuất hiện, dọa chúng sợ tới mức vội vàng chạy đi tìm tôi. Bị dọa như vậy thì bọn chúng mới đến tìm tôi, tìm tôi xem làm thế nào. Rất đơn giản thôi, đóng các cửa lại là ông ấy không chạy đi được. Tôi niệm chú triệu thỉnh thế là ông ấy đến, đưa tay tóm lấy rồi bỏ vào trong này không ra được nữa. Không thể ra ngoài dọa người, bảo chúng nó mỗi ngày chắp tay chào ông là được rồi.

Nói đến “tất cả pháp hữu vi”, tôi nói đến những tỉ phú đúng không? Ai vì tiền thì cuối cùng cũng là không, không có. Ai vì sắc thì tuổi già sức yếu, sắc cái gì mà sắc? Chẳng phải tôi đã nói rồi sao, cái cần cứng thì không cứng, đúng không? Vì thế sắc cũng là không, tiền cũng là không. Còn danh lại càng là không, danh cái gì? Có cái danh gì đáng lưu lại? Rất đơn giản, tôi nói với bạn, bạn đến châu Phi đi, tìm ngẫu nhiên một người của quốc gia nào đó mà hỏi: “Anh biết Khổng Tử là ai không?” Họ sẽ chẳng biết Khổng Tử là ai. Khổng Tử rất nổi tiếng đó, là Thánh nhân Khổng Tử của Trung Quốc. 

Bạn đến châu Phi xa xôi hỏi xem Sư Tôn có nổi tiếng không? Ở một số quốc gia thì Lư Sư Tôn có một chút tiếng tăm, không chỉ là một vài quốc gia thôi đâu, đệ tử của tôi trên khắp thế giới đều có, đúng không? Nhưng bạn đến tháp Tokyo, bạn đứng ở dưới hỏi một người Nhật: “Anh có biết Lư Thắng Ngạn không?” Người Nhật sẽ nói với bạn: *“Wakaranai”*, tôi không biết người này. Bạn hỏi mười người xem, mười người này cho bạn hỏi, bạn hỏi mười người Nhật xem ai biết Lư Thắng Ngạn? Không có ai biết. Hỏi một trăm người cũng được, không có ai biết. Danh, căn bản là cứt chó! Bạn dẫm vào cứt chó còn biết kêu lên: “Đây là cứt chó!” Cứt chó còn có danh hơn bạn, bạn mang cái danh gì chứ, đúng không? Mọi người cho rằng mình rất nổi tiếng, Sư Tôn còn không có cái danh gì, bạn còn nói bạn có cái danh gì chứ?

Cho nên, *“tất cả pháp hữu vi, như mộng huyễn bào ảnh”*, chẳng qua chỉ là hiển hiện một lúc, trong một khoảng thời gian này nó hiện ra, sau đó thì không còn nữa. Tôi biết bố tôi tên là Lư Nhĩ Thuận, còn ông nội tôi là Lư Xương, ông cố tôi là Lư Đức Tiệp, hay, thế trên Lư Đức Tiệp thì sao, còn nhớ được không? Không nhớ được, bố tôi không nói với tôi, tôi chỉ biết từ Lư Đức Tiệp trở đi là không biết nữa. Sau này cháu tôi cũng như thế, có một ngày cháu chắt chút chít chụt chịt của bạn sẽ quên hết toàn bộ tổ tiên, bạn có cái danh gì? Không có danh.

Như Tổng thống của các nước, tôi hỏi mọi người, Tổng thống của châu Phi bạn biết được mấy người? Tôi hỏi bạn, ví dụ Tổng thống của nước Bờ Biển Ngà là ai? Có người nào biết? Tổng thống của đất nước Sư Tử là ai? Các bạn có biết không? Ai biết giơ tay, lập tức có thưởng! Tổng thống của nước Cộng Hòa Sierra Leone ở châu Phi là ai? Ai nói được lập tức có thưởng. Những thứ ở đây đều tặng cho người đó hết. Tổng thống của đất nước Sư Tử là ai? Mọi người không được xem điện thoại đâu đấy! Không có ai biết à! Tên gì? Đó là Tổng thống đó, Tổng thống là người nổi tiếng nhất một đất nước đúng không?

Đương nhiên bây giờ chúng ta biết Tổng thống của Ukraine là ai rồi, tin tức ngày nào cũng đưa, ngày xưa khi còn chưa có cuộc chiến tranh này, tôi hỏi bạn Tổng thống của Ukraine là ai, các bạn cũng không biết đâu, đúng không? Tổng thống à, những con người chúng ta ở đây đều không biết tên ông ấy là gì, trừ đất nước của ông ta ra, hoặc là những nước khác ở vùng phụ cận thì biết. Cộng Hòa Sierra Leone là tên của một quốc gia, cho nên bạn nghĩ thử xem cái danh có tác dụng gì?

*“Như mộng huyễn bào ảnh”*, thật sự là mộng huyễn, bong bóng, một lát sau là không còn nữa. *“Như sương cũng như điện”*, sương là những giọt sương của buổi sáng, mặt trời chiếu vào là không còn nữa. Điện, tức là tia chớp, lóe lên một cái rồi thôi. Mộng, tỉnh dậy là không còn nữa. Những bong bóng nước kia, vỡ rồi thì không còn nữa. Nên nghĩ như vậy, đối với toàn bộ thế giới vũ trụ nhân gian, *“nên quán thấy như vậy”*, cần suy nghĩ như vậy. Vào lúc đó bạn suy nghĩ như vậy thì tâm bạn mới dừng lại được, mới như như bất động. Thế nào là như như bất động? Nếu bạn suy nghĩ như vậy, *“như mộng huyễn bào ảnh, như sương cũng như điện”*, bạn nghĩ như vậy thì bạn có thể như như bất động. Đây là điều mà kinh Kim Cang dạy bạn.

Cuối cùng, sau khi Phật nói kinh này, “*Phật nói kinh đã xong, trưởng lão Tu Bồ Đề và các tì kheo, tì kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di”, *trưởng lão Tu Bồ Đề mọi người đều biết. Tì kheo và tì kheo ni mọi người đều biết, nam xuất gia gọi là tì kheo, nữ xuất gia gọi là tì kheo ni. Ưu bà tắc là nam chưa xuất gia, ưu bà di là nữ chưa xuất gia, đây chính là tứ chúng, trong Phật giáo gọi là tứ chúng.

*“Tất cả thế giới”, *tất cả con người thế gian, còn có Thiên nhân ở trên trời, chính là Thiên nhân của các cõi Dục giới thiên, Sắc giới thiên, Vô sắc giới thiên và Atula. Atula là một đạo khác, đạo Trời và đạo Atula. Đạo Atula thuộc hạng quỷ thần, họ tương đối thích đố kị và ghen tuông, những người này đều sẽ đến đạo Atula. Đạo Atula có một chút thần thông, nhưng vì họ còn có tập tính ghen tuông, còn có tập tính đố kị, còn có tập tính hiếu thắng ganh đua tồn tại, cho nên mới đến đạo Atula. Nghe được điều Phật giảng đều rất hoan hỉ, “tín thọ phụng hành”. Tiếp theo là kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật. 

Mười rưỡi rồi, thời gian cũng trôi qua rất nhanh, giảng xong rồi, giảng xong rồi thì nên làm thế nào? Giảng xong rồi thì không còn việc nữa, hát một bài hát để kết thúc nhé! Thật ra tôi hát điệu này không giống lắm, không giống với A Thủy ở Malaysia làm, ca từ là do tôi viết, anh ta viết nhạc, nhưng từ đầu tới cuối tôi đều không học được, thôi hát hai câu vậy: “Phật tính là biển, nhân gian là những con sóng, chúng ta trôi nổi ở trong đó, cuối cùng vẫn trở về với biển. Phật tính là biển, nhân gian là những con sóng, chúng ta trôi nổi ở trong đó, cuối cùng vẫn trở về với biển.” Om mani padme hum.

*(Ngày 30/04/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Dược Sư Phật Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 79.)*


### 80. Lời kết


Hôm nay tại đây, tôi đã giảng xong kinh Kim Cang. Tôi cũng vừa nói, kinh Kim Cang là kinh điển trí huệ, có thể nói là trí huệ cao nhất, bởi vì nó trực tiếp dùng Phật tính để nói. Ngày xưa Thiền tông đến đời Ngũ tổ Hoằng Nhẫn thì đã dùng kinh Kim Cang để *check *(kiểm tra) xem bạn đã khai ngộ hay chưa. Cho nên khi Ngũ tổ Hoằng Nhẫn gọi Lục tổ đến phòng mình thì đã nói mấy điểm chính yếu quan trọng nhất trong kinh Kim Cang, ngài nói: “Đắc được cái này thì anh sẽ là vị tổ thứ sáu.”

Ngũ tổ truyền cho Lục tổ là dùng kinh Kim Cang, giải thích kinh Kim Cang, truyền bí mật cho Lục tổ. Hôm nay Sư Tôn đem những khẩu quyết trọng yếu nhất của kinh Kim Cang… bạn chú ý nghe điều Sư Tôn giảng, khẩu quyết quan trọng nhất đều đã giảng rồi. Người bình thường giảng kinh Kim Cang có khi không giảng như vậy đâu. Cho nên, Thượng sư Liên Từ, bà giảng có giống Sư Tôn giảng không? (Thượng sư Liên Từ: ban đầu Sư Tôn để cho đệ tử đọc bài giảng nghĩa của lão pháp sư Quả Hiền.) Không phải là Quả Hiền, là lão pháp sư Lạc Quả. Ở Đài Loan, Phổ Lí có một ngôi chùa là Phật Quang Tự, tôi ở đó nghe ông ấy giảng kinh Kim Cang. Nhưng ông ấy giảng có cách giảng nghĩa của ông ấy, tôi đã đưa cho Thượng sư Liên Từ xem để bà ấy giảng.

Nhưng lão pháp sư Lạc Quả giảng không giống tôi giảng. Tôi dựa vào trí huệ của tôi để giảng, dựa vào lí giải của tôi để giảng. Chúng ta không thể nói sư phụ của mình… Tôi đã quy y ba sư phụ Hiển giáo: người thứ nhất là Ấn Thuận đạo sư, người thứ hai là pháp sư Đạo An, người thứ ba là pháp sư Lạc Quả, tôi quy y ba sư phụ Hiển giáo. Nhưng chúng ta không thể nói rằng sư phụ không nói ra toàn bộ những yếu chỉ của kinh Kim Cang.

Thiền tông “một hoa nở năm cánh”, lão pháp sư Lạc Quả là truyền thừa của Tào Động tông, pháp sư Quả Hiền cạo đầu cho tôi là truyền thừa của Lâm Tế tông. Vì thế sau này thì Thiền tông là một hoa nở năm cánh, đến sau đời Lục tổ thì phân thành năm tông phái: một là Pháp Nhãn tông, một là Tào Động tông, một là Vi Ngưỡng tông, một là Lâm Tế tông, một là Vân Môn tông, một hoa nở năm cánh. Cho nên lão pháp sư Lạc Quả là truyền thừa của Tào Động tông của Thiền tông. Lão pháp sư Quả Hiền là Lâm Tế tông, tên của ông ấy là Lâm Tế Nghĩa Huyền.

Cho nên Sư Tôn truyền thừa nào cũng có, cũng có truyền thừa của Tịnh Độ tông, có truyền thừa của Tam Luân tông, có truyền thừa của Thiên Thai tông, có truyền thừa của Pháp Tướng tông, có truyền thừa của Luật tông, có truyền thừa của Mật tông, bạn muốn học cái gì bạn học tôi là có rồi! Hơn nữa bản thân Sư Tôn dùng lí giải của chính mình và những điều mà chính mình biết, những điều mà mình lĩnh ngộ được để giảng giải kinh Kim Cang, đó là điều người khác không bằng.

Nhưng chúng ta không thể nói: “Lão pháp sư Lạc Quả không giảng được, ông ấy chỉ giảng một cái có tính thông thường thôi.” Chúng ta không thể nói như vậy. Bởi vì chúng ta nhận định rằng sư phụ của chúng ta chỉ truyền những khẩu quyết quan trọng cho một vài người, bình thường ông ấy không công khai giảng cái này. Cho nên các bạn lĩnh ngộ được rồi, các bạn cũng không muốn nói ra, tôi thì đã nói ra rồi. Đúng thế! Ngũ tổ Hoằng Nhẫn đã giảng rất rõ ràng cho Lục tổ Huệ Năng, chính là như vậy.

Giảng thì giảng luôn ra, nhưng chúng ta không thể nói sư phụ của mình chỉ hiểu cái bề ngoài. *No*! Không thể nói như vậy. Mặc dù tôi từng nghe pháp sư Lạc Quả giảng kinh Kim Cang, nhưng điều mà lão pháp sư Lạc Quả đã nói về kinh Kim Cang, ông ấy chỉ nói với người bình thường. Ông ấy gọi mấy đệ tử bí mật lại, vào buổi tối giảng cho họ nghe, đó mới là khẩu quyết trọng yếu chân chính, ông ấy không truyền rộng rãi.

Tôi nói để mọi người biết, có hai nhân vật rất vĩ đại, trong lòng tôi vô cùng ngưỡng mộ. Họ không phải là tín đồ Phật giáo. Một người là Thánh Phương Tế ở thế kỉ 13 (không phải là Phương Tế Danh của bây giờ, Phương Tế Danh là giáo tông hiện tại). Đó là Thánh Phương Tế của Thiên Chúa giáo vào thế kỉ 13, cũng là được phong Thánh. Văn cầu thỉnh ngài có câu cuối cùng là: “Chỉ có hi sinh chính mình mới có thể đạt được cuộc sống vĩnh hằng.”

Ngoài ra, người thứ hai mà tôi kính phục là Thánh Teresa cũng của Thiên Chúa giáo. Tôi thường nói ngài nói một câu là: “Có thiên đường tôi không đi, tôi sẽ không đến thiên đường.” Vậy ngài đi đâu? “Tôi muốn ở cùng chỗ với những con người đau khổ nhất.” Đó là lời mà Thánh Teresa nói: “Có thiên đường tôi không đi, tôi muốn ở cùng chỗ với những con người đau khổ nhất, tôi muốn giúp đỡ những người đau khổ nhất.” Đó là lời của Thánh Teresa.

Tôi nói với mọi người, hai người này chính là vô ngã! Vô ngã chính là hi sinh bản thân, thành tựu chúng sinh. Vô ngã chính là bản thân không hưởng lạc mà ở cùng với những người đau khổ. Vô ngã tức là dành cho chúng sinh, không có chính mình. Om mani padme hum.

*(Ngày 01/05/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, và nói lời kết thúc khai thị Kinh Kim Cang.)*

(**Hết)**

---

---
# File: kinh-luat-luan/hong-quang-dai-thanh-tuu-tap-1.md
# Title: Hồng quang đại thành tựu - Tập 1
---

![image](/img/img_01d0d6093efa9742206f211851f84a18.jpg)



## Hồng quang đại thành tựu - Tập 1


(Liên Sinh Hoạt Phật giảng Hồng quang đại thành tựu)

🪷 Pháp thoại tại Chân Phật Mật Uyển vào năm 1996

Cuốn số: 622
Xuất bản năm: N/A
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu: Tôi giảng Hồng quang đại thành tựu


Hôm nay, tôi sẽ nói với mọi người một chút về Hồng quang đại thành tựu. Hồng quang đại thành tựu ở đây cũng là một dạng thành tựu vô thượng cao nhất trong tu hành Mật giáo. Hồng quang đại thành tựu là gì ư? Hồng quang đại thành tựu chính là đại thành tựu thân cầu vồng.

Thật ra cũng không có gì để nói cả, nhưng nếu muốn nói ra thì cũng rất dài. Vốn dĩ cầu vồng ở đây chỉ mang tính trượng trưng về mặt văn tự. Còn về mặt hữu hình mà nói thì là ánh sáng của cầu vồng. Về mặt vô hình mà nói thì là ý thức của vũ trụ, là ý thức ở nơi sâu nhất bên trong vũ trụ. Nếu trong quá trình tu hành bạn có thể thành tựu hợp nhất với ý thức vũ trụ thì đó chính là đại thành tựu thân cầu vồng. 

Chúng ta tu hành ở trong nhân thế này đã được xem là một chuyện đại sự rồi. Người tu hành biết rằng, tất cả mọi sự tình trong vũ trụ này, hầu hết đều là trống rỗng, là hư không, và là một huyễn mộng. Vậy bản thân bạn trong quá trình tu hành, giả sử bạn có thể đi trên con đường tu hành này cũng có nghĩa là bạn đang thực hiện sự nghiệp lớn nhất trong cuộc đời của mình. Thành quả tu hành cao nhất chính là đại thành tựu thân cầu vồng. Từ một phàm phu, bạn tiến nhập vào bên trong ý thức của vũ trụ, hợp nhất với toàn bộ vũ trụ, chính là đại thành tựu thân cầu vồng mà chúng ta nói đến. 

Về sự khác biệt giữa Mật giáo và Hiển giáo tôi có thể nói với mọi người theo cách đơn giản như thế này. Hiển giáo chính là lớp học, ở bên trong lớp học này chúng ta học tập về phương pháp lí luận. Thế còn bản thân Mật giáo nếu nói ra thì chính là phòng thực nghiệm. Bạn từ trong lớp học bước ra, đi vào phòng thực nghiệm để thực hành. Vì vậy khác biệt lớn nhất giữa Hiển – Mật là: Hiển là nằm ở lí luận, Mật là nằm ở thực tiễn, là thực hành. Một cái là lớp học, một cái là phòng thực nghiệm, nói như vậy mọi người sẽ biết rõ, sẽ hiểu được thế nào là Hiển giáo, thế nào là Mật giáo.

Thành tựu cao nhất trong Mật giáo chính là đại thành tựu thân cầu vồng. Sau khi bạn thành tựu pháp này rồi thì cũng sẽ được trời ban hiện tượng kì lạ. Trên người bạn sẽ sản sinh ra ánh sáng, đó là tịnh quang. Bất cứ lúc nào bạn đi đến đâu cũng có ánh sáng đi theo đến đó. Bất cứ lúc nào, như khi bạn muốn gọi tới ý thức vũ trụ, nó sẽ tương ứng trả lời bạn. Vì vậy có rất nhiều đại thành tựu giả ở trong cuộc đời của họ, khi mà họ nhập diệt, cũng tức là lúc họ viên tịch, ở trên không trung đều xuất hiện cầu vồng. Đây là trời giáng dị tượng. Trời giáng dị tượng cầu vồng này là trên thân họ cũng có ánh sáng cầu vồng.

Trong Chân Phật Mật Pháp của Chân Phật Tông chúng ta, cầu vồng bất cứ lúc nào cũng có. Giả sử nếu bạn là một thành tựu giả, bạn có thể gọi được cầu vồng thì cũng sẽ có trời giáng dị tượng. Và tương lai bạn cũng có thể hợp nhất với ý thức của vũ trụ.

Hôm nay giảng về đại thành tựu thân cầu vồng này, khi mới bắt đầu giảng, bản thân tôi đã nhìn thấy Kim Cang Tát Đỏa. Kim Cang Tát Đỏa của hôm nay và Kim Cang Tát Đỏa của trước đây không giống nhau lắm. Ngài ấy tay phải cầm chày kim cang, tay trái cầm chuông kim cang. Ngài ấy cầm chày kim cang thảy lên trên không trung như thế này, thậm chí chày kim cang cũng hóa thành ánh sáng cầu vồng rất lớn. Tôi hi vọng rằng có thể giảng pháp tu hành đại thành tựu thân cầu vồng này để cho tất cả những người tu hành đều biết, tất cả mọi người đều hiểu. Cũng để cho mọi người biết được thế nào là sự tu hành thanh tịnh. 

Trong nhân thế gian, tu hành là điều vô cùng quan trọng, vì vậy bạn có được một phương pháp tu hành thực sự cũng không phải dễ dàng. Vì vậy tôi hi vọng, mọi người đều sẽ trân trọng pháp thành tựu thân cầu vồng - một đại pháp vô thượng của tu hành Mật giáo. 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

01/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì. 


### 001. Sự khác biệt giữa Hiển giáo và Mật giáo


Sự khác biệt giữa Hiển giáo và Mật giáo, thông thường mà nói thì ngoài sự khác biệt giữa lớp học và phòng thực nghiệm ra, vẫn còn có rất nhiều điểm khác nhau nữa. Hiển giáo chủ yếu là tu tâm, là tu cái “tâm”. Mật giáo thì còn phải tu thân nữa, “thân” của thân thể, cũng tức là thân – tâm đều phải hợp nhất để mà tu. Đây cũng là một trong những khác biệt giữa Hiển và Mật.

Mật giáo cực kì xem trọng phương diện tu thân. Chúng ta biết rằng, thứ tạo thành toàn bộ vũ trụ này là địa-thủy-hỏa-không, là đất, nước, lửa và không khí. Vậy thì cơ thể người chúng ta cũng như vậy, cũng là đất nước lửa không. Nếu cơ thể người có đất nước lửa không thì chúng ta có thể xem cơ thể người giống như là vũ trụ. Bạn từ sự tu hành của cơ thể người có thể tương ứng với đất nước lửa không của toàn bộ vũ trụ.

Đó là tại sao Mật giáo phải xem trọng sự tu hành của thân thể người. Vậy nên đại thành tựu thân cầu vồng chính là đem năng lượng bên trong cơ thể mình, dùng các phương pháp tu tập để thúc đẩy nó ra ngoài, và điều này có thể cảm nhận được thật sự, không giống như rất nhiều người, phần lớn khi nói đến cảm ứng thì họ đều không có. Trong sự tu hành của Mật giáo, bản thân nó là có cảm ứng, vì vậy sẽ sản sinh ra một loại năng lượng rất lớn, chúng ta gọi đó là một loại pháp lực. Mật giáo nói đến pháp lực. Pháp lực này là một điều rất thật. Từ bên trong cơ thể bạn có thể cảm ứng được, từ bên trong tâm cũng có thể cảm ứng được. Bản thân Mật giáo vì có quan hệ thực nghiệm nên cần phải tìm kiếm sự chứng thực chứ không phải là lí luận. Đây chính là một trong những khác biệt giữa Hiển và Mật. 

Vậy đại thành tựu thân cầu vồng mà Mật giáo nói đến là đánh thức năng lượng bên trong cơ thể con người, chúng ta gọi là “nội hỏa”, lửa này có thể sinh ra ánh sáng, từ lửa sinh ra ánh sáng khiến cho toàn thân bạn hóa thành lửa, toàn thân hóa thành ánh sáng. Khi toàn thân bạn đều là lửa, toàn thân đều là ánh sáng, bạn có thể kết nối với một loại năng lượng của ý thức bên trong vũ trụ. Đây là một khái niệm cơ bản về đại thành tựu thân cầu vồng. Cũng chính là chúng ta chú trọng sự tu hành của thân thể, và đương nhiên cũng có tâm pháp nữa. Có cả chú trọng tâm, không phải là hoàn toàn không chú trọng tâm. Sự tu hành thân tâm hợp nhất chính là Mật giáo.

Chúng ta cho rằng tách rời khỏi thân thì không có tâm, thế còn tách rời khỏi tâm thì cái thân này cũng là vô dụng. Tách rời khỏi thân thì không có tâm, vậy tách rời khỏi tâm thì thân này cũng vô dụng, cho nên cần phải thân-tâm hợp nhất. Vì vậy tôi cho rằng, bản thân Mật giáo là tương đối viên mãn. Vì nó không chỉ là nghe giảng ở trong lớp học, mà thậm chí còn làm thực nghiệm trong phòng thực nghiệm. Không chỉ nói những thứ vô hình mà còn nói những thứ hữu hình, cũng tức là vật chất và tinh thần hoàn toàn là một trạng thái hợp nhất chứ không tách rời, không phân li. Đây là sự tu hành của Mật giáo. Vậy nếu như bạn đem khí, mạch của toàn bộ cơ thể mình, cùng với năng lượng của mình đả thông hợp nhất với nhau thì có thể phát ra ánh sáng cầu vồng. Đương nhiên nếu bạn muốn tu đến trình độ này thì đòi hỏi có rất nhiều phương pháp. Và còn phải được bản thân Thượng sư truyền dạy cho bạn nữa.

Vậy bạn dựa theo cách này, tu từng bước một thì mới có thể đạt được đại thành tựu thân cầu vồng. Liên quan đến sự tu hành về khí-mạch-minh điểm trong Mật giáo là thuộc về phương diện bí mật, cho nên mới gọi là Mật giáo. Do vậy Mật giáo cũng nói rằng, bạn phải có khẩu quyết tu hành về phương diện Nội mật chứ không phải chỉ là lí thuyết suông, Mật giáo rất rõ ràng. Về mặt lí luận hiển bày lộ rõ ràng, gọi là Hiển. Còn sự tu hành liên quan đến Nội mật khí-mạch-minh điểm thì gọi là Mật.

Hiển chính là những gì mà Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói. Mật là những gì mà Đại Nhật Như Lai (Phật Tỳ Lô Giá Na) đã nói. Ứng dụng vào thân thể này và các loại kĩ xảo về khẩu và ý để khai phá phương pháp Nội mật, đạt được đại thành tựu thân cầu vồng. Đây chính là điều chủ yếu nhất, khi tôi cùng mọi người bắt đầu nói về đại thành tựu thân cầu vồng thì phải giải thích với mọi người về điều này. 

Đây cũng là một pháp thành tựu cao nhất trong Chân Phật Mật Pháp của chúng ta. Mỗi một người trong chúng ta, những người tu hành, có thể bước đi trên con đường này, cho đến lúc có thể hợp nhất với ý thức của vũ trụ, hiển hiện đại quang minh, tôi cho rằng đây là một điều có ý nghĩa nhất trong cuộc đời này. Một chuyện có ý nghĩa nhất. Chúng ta có thể suy nghĩ một chút xem, giá trị cuộc đời là cái gì? Ý nghĩa cuộc đời là cái gì? Sinh tử là cái gì? Thử nghĩ xem, mọi người sẽ biết ngay. Đi trên con đường tu hành này đích thực là sự nghiệp lớn nhất của đời người. 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

01/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì.


### 002. Quán đảnh của Mật giáo (1)


Ngày hôm nay tôi sẽ nói với mọi người về quán đảnh của Mật giáo. Bản thân việc quán đảnh là một nghi thức rất quan trọng trong Mật giáo. Bởi vì bạn muốn tu Mật pháp, một pháp vĩ đại như vậy, cho nên muốn bắt đầu thì phải có một nghi thức, nghi thức đó chính là quy y, nhận quán đảnh. 

Nghi thức quán đảnh trong Mật giáo thông thường mà nói rất long trọng và cũng rất tôn quý. Nó có rất nhiều ý nghĩa ở bên trong. Ý nghĩa đầu tiên cũng chính là thanh tịnh. Khi thượng sư cho bạn nhận quán đảnh, điều này mang ý nghĩa là từ giờ phút này trở đi bạn sẽ trở nên hoàn toàn thanh tịnh, bạn là một con người mới. Quán đảnh mang ý nghĩa là thanh tịnh, tức là giúp bạn tiêu trừ hết toàn bộ nghiệp chướng trong quá khứ của mình.

Ý nghĩa thứ hai cũng có thể nói đến là sự gia trì mà thượng sư dành cho bạn, chính là dùng pháp lực mà bản thân thượng sư tu hành được trút lên toàn thân của bạn. Đây là pháp lưu, có thể hiểu là một dạng dòng chảy pháp của ý thức vũ trụ truyền thừa cộng với pháp lực tu hành của bản thân thượng sư tập trung trút lên thân thể của bạn. Cái này hơi giống trong tiểu thuyết võ hiệp, giống với việc truyền công lực cho người khác, chính là đem công lực của bản thân truyền vào cơ thể người khác. Loáng một cái, bạn sẽ có ngay công lực 500 năm. Sức mạnh này đương nhiên rất là lớn. Pháp lực của thượng sư càng mạnh thì sức mạnh của bản thân thượng sư càng lớn. 

Quán đảnh cũng là một dạng thọ kí. Sự tu hành trong Mật giáo là từ quả đến nhân. Thông thường tu hành Hiển giáo là từ nhân đến quả, từ nhân đến quả có nghĩa là bạn bắt đầu tu hành từ phàm phu cho đến Thánh hiền, đây là từ nhân đến quả. Còn tu hành trong Mật giáo là từ quả đến nhân nhưng không phải là bắt đầu từ Thánh hiền tu đến phàm phu, không phải như vậy đâu. Mà có nghĩa là khi bạn nhận quán đảnh là bạn đã có được một quả vị rồi, đây chính là thọ kí. Phật Thích Ca Mâu Ni năm xưa, khi Phật Nhiên Đăng thọ kí cho ngài ấy, thọ kí rằng tương lai con sẽ thành Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Trong việc quán đảnh có một ý nghĩa là cho bạn nhận quán đảnh, đăng kí các Phật vị, Phật vị là bạn "sẽ" có vị trí giống như các vị Phật, chính là bạn lập tức có được quả vị đó, nhưng mà bạn vẫn phải tiếp tục tu cho quả vị đó thành thật. Có quả vị trước, sau đó mới tu quả này. Chính là ý nghĩa này.

Quán đảnh cũng giống như một sự trao quyền. Sự trao quyền là gì? Nói cách khác là sau khi thượng sư quán đảnh cho bạn xong rồi, bạn sẽ được tu pháp mà bạn đã nhận quán đảnh, truyền thụ cho bạn một loại pháp, bạn hãy tu hành pháp này cho tốt. Đây chính là một dạng trao quyền cho bạn cái quyền được tu pháp này. Không nhận được quán đảnh thì không được tu pháp. Đương nhiên là muốn tu vô thượng đại pháp, vô thượng Mật pháp nhất định phải có quy y, có quán đảnh. Tại sao nhất định phải có quy y? Bởi vì trong Mật giáo rất chú trọng sự truyền thừa. Nếu như không có thượng sư làm quán đảnh cho bạn, bạn không được tu pháp này. Vậy bản thân bạn muốn tu pháp, vì trong Mật pháp là phải triệu thỉnh Bổn tôn của mình, thượng sư của mình đến để gia trì cho mình, thỉnh các vị đến gia trì cho mình, vậy nếu bản thân bạn không quy y sư phụ vậy thì bạn làm sao có Căn bản Thượng sư của mình chứ? Vì vậy nhất định phải quy y có quy y rồi mới có sư phụ truyền pháp cho bạn. Và có quy y rồi, bạn mới có Căn bản Thượng sư trụ trên đỉnh đầu của mình, mới có tổ sư các đời trụ ở đỉnh đầu. 

Mật giáo là như thế đó. Từ vị tổ sư đầu tiên đến các vị tổ sư phía dưới, rồi đến sư phụ của bạn, xếp thành một hàng thẳng đứng như vậy tạo thành một loại sức mạnh gia trì quán đảnh. Ý nghĩa của việc quán đảnh là nằm ở đây. Điều quan trọng nhất là quán đảnh chính là cần đem ý thức, chủng tử của chính Phật đặt vào thân thể của bản thân người tu hành là bạn. Điều này không phải là tùy tiện đâu. Không thể nói là nhìn vào rất là hình thức hóa, chỉ là một nghi quỹ. Mà là thượng sư có pháp lực thật sự là có thể đem chủng tử của Bổn tôn hoàn toàn chuyển vào thân thể của người tu hành, để người đó có thể ở trong ruộng bát thức ở bên trong người đó trồng được chủng tử Phật vào đó, tương lai chủng tử này sẽ nảy mầm, sẽ mọc rễ, sẽ trưởng thành, sẽ trở thành một pháp khí tu hành thực sự, cuối cùng biến thành Bổn tôn. 

Giữa pháp với pháp có một khái niệm. Bản thân của việc quán đảnh chính là hiện tượng ý thức của vũ trụ, cùng với thượng sư, và đệ tử thọ nhận quán đảnh, ba thứ này hợp nhất với nhau, đó chính là quán đảnh. Vậy thì, sức mạnh của quán đảnh sau khi được sinh ra trong cơ thể sẽ sản sinh ra quán tượng (hiện tượng quán đảnh).

Không giống với những quy y thông thường, đôi khi bạn đi quy y Hiển giáo thông thường thì sẽ không sinh ra hiện tượng quy y. Nhưng nếu như bạn thật sự được nhận một quán đảnh thì sẽ sản sinh ra quán tượng, đây là hiện tượng của quán đảnh, sẽ rất nhanh cảm nhận được *power **[sức mạnh]** *đó, loại năng lượng đó đi vào trong cơ thể bạn. Bạn sẽ lập tức cảm thấy rất có sức mạnh. Giống như thủy thủ Popeye ăn rau chân vịt vậy đó. Vốn dĩ thủy thủ Popeye bị đánh đến gần chết rồi đột nhiên anh ta có rau chân vịt, ăn vào một cái liền biến thành có *muscle **[cơ bắp]*, sức mạnh liền được sản sinh ra. Quán tượng sinh ra từ quán đảnh giống như là thủy thủ Popeye ăn rau chân vịt, khi bạn ăn được rau chân vịt bạn sẽ có sức mạnh. 

Mật giáo là nói đến có *power*, nói đến có pháp lực, nếu bạn thọ nhận quán đảnh thực sự từ thượng sư, bạn lập tức sẽ được gia tăng công lực, đây chính là quán tượng.

Hôm nay chúng ta nói đến đây thôi. Om mami padme hum!

01/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì.


### 003. Quán đảnh của Mật giáo (2)


Chúng ta sẽ tiếp tục nói về quán đảnh trong Mật giáo. Ở trong Chân Phật Tông của chúng ta, quán đảnh rốt cục có thứ tự thế nào? 

Có bốn thứ tự quán đảnh. Thông thường mà nói thì quán đảnh là từ nông đến sâu, cũng có nghĩa là giống như chúng ta đi học vậy, bắt đầu từ *kindergarten* *[mẫu giáo]*, sau đó đến tiểu học, trung học cơ cở, trung học phổ thông, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ, theo một thứ tự từ thấp đến cao. Ở trong Mật giáo, trong Chân Phật Mật Pháp của chúng ta cũng phân ra bốn trình tự rất lớn rất quan trọng.

Thông thường mà nói, đầu tiên là quán đảnh Ngoại mật, tiếp theo là quán đảnh Nội mật, sau đó là quán đảnh Mật, cuối cùng là quán đảnh Mật mật. Mật giáo phân ra quán đảnh theo bốn trình tự này. Quán đảnh Ngoại mật đều là quán đảnh bình. Mọi người nhìn thấy thượng sư dùng cái bình quán đảnh, rồi rẩy nước cho mọi người, đây chính là sơ quán khi mới bắt đầu, là quán đảnh bình lần đầu tiên, cũng tức là Ngoại quán đảnh. 

Sau khi bạn tu thành rồi mới đi vào quán đảnh Nội mật, là quán đảnh ở tầng thứ hai, chính là quán đảnh tu khí-mạch-minh điểm. Lúc này khi quán đảnh là sẽ dùng hoa trắng và hoa đỏ làm quán đảnh. Chúng đều có tính tượng trưng, đỏ tượng trưng cho hồng bồ đề, trắng tượng trưng cho bạch bồ đề. Quán đảnh thứ nhất là quán đảnh bình tượng trưng cho sự thanh tịnh nên phải dùng nước. Quán đảnh thứ hai là hoa trắng và đỏ.

Tiếp tục đi sâu vào quán đảnh Vô thượng mật bộ thì gọi là quán đảnh Mật. Khi quán đảnh Mật, cái này trong Chân Phật Mật Pháp gọi là Xúc quán đảnh, xúc tức là dùng sự tiếp xúc, dùng bút để tiếp xúc, điểm vào luân xa của bạn, đây gọi là quán đảnh Mật. Đây là quán đảnh rất cao thâm.

Quán đảnh Mật mật cuối cùng chính là quán đảnh Đại viên mãn, đó chính là một quán đảnh rất lớn, là quán đảnh thọ kí thành Phật cuối cùng. Trong Mật giáo chia làm bốn loại, đó là Ngoại quán đảnh, Nội quán đảnh, quán đảnh Mật, và quán đảnh Mật mật. Đây là bốn loại được phân ra trong Chân Phật Mật giáo của chúng ta.

Vậy bản thân chúng ta mà nói, muốn tu chứng Ngoại quán đảnh, điều đầu tiên, nền tảng đầu tiên bạn đã tu chứng được và đã có được cái gọi là ấn chứng, có được ấn chứng rồi mới bước vào tầng tiếp theo để tiếp nhận sự quán đảnh của tầng thứ hai. Quán đảnh ở tầng thứ hai xong, có được ấn chứng lần nữa, mới bước vào quán đảnh của tầng thứ ba. Rồi có được ấn chứng trong quán đảnh của tầng thứ ba thì mới đi vào quán đảnh của tầng thứ tư. 

Quán đảnh cuối cùng này có thể nói là không có nghi thức gì cả. Giống như câu chuyện cầm hoa của Phật Thích Ca Mâu Ni năm xưa, Phật cầm một bông hoa, rồi ngài ấy mỉm cười một cái, Đại Ca Diếp ngồi ở phía dưới đã biết rõ, Đại Ca Diếp đã lĩnh hội rồi, mỉm cười rồi, điều này có nghĩa là gì? Đây chính là đã quán đảnh rồi. Quán đảnh này không câu nệ hình thức. Thế nên với một Kim cương Thượng sư thực sự, thì giống như một cái nhíu mắt, nhíu mắt lại một cái, hoặc là “hư” một tiếng, “ha” một tiếng... đều là một loại quán đảnh. Uống một ngụm trà, cũng là một loại quán đảnh. Quán đảnh thứ tư này không quan trọng hình thức, giống như nói một câu nói là bạn lĩnh hội được rồi. 

Cái này ở trong Thiền tông cũng có, gõ "bang" một cái, hét "hơ" một tiếng đều là một loại quán đảnh, trong Mật giáo mà nói đây là một loại quán đảnh không quan trọng hình thức để bạn có thể ngay lập tức có cái "tức tâm tức Phật". Lúc này thì tâm của bạn chính là Phật, có thể chuyển hóa thành Phật đại viên mãn, toàn bộ hiện tượng đều không còn chướng ngại. Đây chính là quán đảnh Đại viên mãn. Quán đảnh Đại viên mãn hoàn toàn không có kĩ thuật gì, cũng không có cái gì gọi là nghi quỹ. 

Kì thực Thiền tông là một cảnh giới rất cao. Nói chung, Mật giáo là từ hữu hình tu đến vô hình, nhưng mà Thiền tông thì là "trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật". Cái này là hoàn toàn trực tiếp đi tu "không", tu "vô". Có thể nói Thiền tông chính là Đại viên mãn trong Mật giáo.

Mật giáo trước tiên là bắt đầu từ nghi quỹ hữu hình tu đến Đại viên mãn vô hình. Thiền tông là "trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật, giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự". Đây là một giáo pháp rất đặc thù, phải là người đại căn khí mới tu được. Tuy Mật giáo cũng xưng là Đại thừa, nhưng mà trên thực tế cảnh giới cao nhất của Mật giáo là hợp nhất với Thiền tông. Cảnh giới cao nhất của Thiền tông đến cuối cùng cũng là không có hình thái nào để mà nói.

Có người nói Phật Thích Ca Mâu Ni cần gì phải cầm bông hoa chứ? Cần gì chứ, vì cầm hoa đã là hành động dư thừa rồi. Vậy Đại Ca Diếp hà tất phải mỉm cười chứ? Vì mỉm cười cũng là hành động dư thừa rồi. Chỉ cần trong tâm phát quang, tâm Phật Đà một khi đã phát quang thì trong tâm của Đại Ca Diếp cũng phóng quang. Quang quang tương chiếu, toàn bộ đều không lộ biểu hiện hành động, đây chính là Thiền tông. Phật Thích Ca Mâu Ni cầm hoa là đã để lộ biểu hiện hành động, cũng tức là lộ cái đuôi ra rồi. Vậy Đại Ca Diếp mỉm cười chính là bắt được cái đuôi đó, cái này chính là để lộ biểu hiện hành động rồi. Trên thực tế không cần biểu lộ hành động chính là Thiền. Lộ ra biểu hiện hành động đã là hàng nhị đẳng rồi. Vì vậy quán đảnh Đại viên mãn hoàn toàn là không lộ biểu hiện hành động, là một loại ấn chứng giữa Phật với Phật. Đây là cảnh giới rất cao. Tuy nhiên hành giả Mật tông chúng ta khi vừa mới bắt đầu vẫn nên tu từ Ngoại pháp trước, giống Hiển giáo thông thường cần tu thân khẩu ý thanh tịnh sau đó mới đi vào nhị quán. Nhị quán khí-mạch-minh điểm tương ứng rồi mới đi vào tam quán Vô thượng mật bộ, có thể đi vào Vô thượng mật bộ đồng nghĩa là đã tương ứng với hư không. Trong sự tương ứng hư không phát triển lên chính là Đại viên mãn, chính là thành Phật. 

Quán đảnh cũng giống như là một thứ tự từ nông đi đến sâu. Muốn tu Mật giáo nhất định phải quy y, nhận quán đảnh, đây cũng là điều cực kì quan trọng. Ý nghĩa của nó nằm ở đây. Mật giáo vô cùng phi phàm, là đại pháp xuất thế, chúng sinh nên biết trân trọng. 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

02/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì.


### 004. Thiền tông - Tịnh độ tông - Mật giáo


Hôm nay chúng ta sẽ nói về Thiền tông, Mật giáo và Tịnh độ tông.

Lần trước chúng ta có nhắc đến Thiền tông. Bản thân tôi đối với Thiền tông vô cùng tôn sùng. Bởi vì Thiền tông ở Trung Quốc của chúng ta đã từng phát triển rực rỡ. Có thể nói Thiền tông chính là Phật giáo duy nhất được Trung Quốc sáng lập. Là Phật giáo duy nhất ở Trung Quốc được hoằng dương, phát triển rực rỡ, vô cùng lộng lẫy hoành tráng. Thiền có thể nói là rất trực tiếp đi thẳng vào tính Không. Điểm đặc biệt nhất của nó là rất trực tiếp. 

Đã từng có người đi hỏi Thiền sư: "Cái gì là Phật?" Câu trả lời của thiền sư như thế này: "Phật!" "Vậy cái gì là pháp?" Anh ta lại hỏi cái gì là pháp? Thiền sư cũng trả lời là: "Pháp!" Người này không hiểu gì cả, tôi hỏi ông về Phật, cái gì là Phật, ông ấy lại trả lời là Phật. Hỏi pháp, ông ấy trả lời là pháp. Nên anh ta lại hỏi thiền sư: "Thiền sư, thầy đang nói cái gì vậy?" Thiền sư liền trả lời: "Cái gì!" Ông ấy trả lời như vậy đó. 

Ông ấy lặp lại câu nói đó, hoàn toàn là một cách trực tiếp. Nhấn mạnh trực tiếp. Bởi vì Phật và pháp, đều không thể dùng ngôn từ để nói cho người khác hiểu, không phải dùng miệng để nói. Người đó không hiểu liền bỏ đi. Lúc sắp đi khỏi, thiền sư gọi lớn tiếng: "Đại đức!" Hai tiếng "Đại đức".  Anh ta liền dừng bước, là ai đang gọi mình vậy? Quay đầu lại, anh ta liền suy nghĩ. Thiền sư trực tiếp chỉ dạy anh ta khai ngộ như vậy đó. 

Vì vậy bản thân Thiền tông mà nói là rất trực tiếp, trực tiếp đi vào bên trong tính Không chính là Thiền. Thật ra Thiền không nhất định là bảo bạn mỗi ngày đều ở đó ngồi thiền, không phải đâu. Thiền tông có nhiều lúc không phải là bảo bạn trực tiếp ngồi ở đó, tôi ở đó ngày ngày ngồi thiền chính là thiền, không phải vậy đâu. Mà là trực tiếp đi sâu vào ngộ cảnh. Có thể nói là bảo bạn có thể siêu việt chính là một loại Thiền.

Vì vậy có người chủ trương mình chỉ được ngồi, không được ngủ. Nên có người viết một câu: "Lúc sống ngồi không nằm, chết rồi nằm không ngồi". Khi bạn chết rồi đương nhiên là chỉ có thể nằm, không thể ngồi. Giả sử như cái này cũng là một loại pháp thì pháp này cũng huyễn, không phải chân thực cho lắm. Có thể nói một câu nói thôi, thiền là "trực tiếp thâm nhập, kiến tính thành Phật", đó là Thiền tông, nhưng đây là người căn khí rất cao. Tôi rất tán dương Thiền tông này. 

Chúng ta sẽ tiếp tục nói về Tịnh độ tông, Tịnh độ tông đương nhiên là rất thịnh hành rồi. Mọi người tập hợp cùng nhau niệm bốn âm Phật, sáu âm Phật, A Di Đà Phật. Nam Mô A Di Đà Phật, sáu âm Phật, đều rất tốt. Tịnh độ tông là một phương tiện. Khi Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế đã giảng kinh A Di Đà, giảng Tam Kinh Nhất Luận. Như trong kinh Địa Tạng cũng có dạy mọi người niệm Phật. Tịnh độ tông chủ trương niệm Phật, chủ yếu nhất là phải niệm Phật. Niệm Phật trong Tịnh độ tông có thể nói là phương tiện của con người hiện đại thời nay. Tịnh độ tông nhấn mạnh hai chữ, chính là "phương tiện". Bạn ở trong xã hội hiện đại này, bảo bạn niệm Phật, có người đã cảm thấy rất khó, vì vậy bạn có thể niệm Phật đã là rất có cơ duyên với Phật rồi. Đặc biệt là Phật Đà khi xưa trong kinh điển thường hay nhấn mạnh rằng bạn chỉ cần niệm một câu kinh, một bài kệ, một câu một ý, bạn chỉ cần hiểu một câu nói thôi là có thể rất dễ dàng vãng sinh rồi. 

Lời dạy của Phật Đà là dùng kết hợp cả "quyền" và "thực", "quyền" trong từ quyền lực và "thực" sử dụng kết hợp, hai đế Thánh - Tục đều phải có. Thánh đế và Tục đế đều phải có. Một phương pháp độ chúng sinh như vậy, và Tịnh độ tông có thể nói là tiện lợi nhất, bạn chỉ cần niệm Phật, vậy thì niệm đến khi trong tâm của bạn có thể hợp nhất với Phật, có thể nhất tâm bất loạn thì sẽ vãng sinh. Vì vậy Tịnh độ tông thật ra cũng là rất tốt đó. 

Chúng ta đối với các tông phái đều có cùng một sự tôn sùng, có cùng một sự tôn kính. Vậy thì nói tiếp về Mật giáo. Bản thân Mật giáo chú trọng pháp thực tu, dạy các pháp thực tế để bạn tu hành. Còn tôi cho rằng bản thân Mật giáo nếu nói ra thì nó thuộc về tiệm tiến, cũng theo từng cái từng cái một, từ từ dẫn dắt bạn đi vào cánh cửa chứng ngộ. Thật ra khi chứng ngộ, có thể nói như thế này, bản thân Mật giáo là sự tổng hợp các phương pháp tu hành khác nhau của Hiển và Mật. Vậy nên có một nghi quỹ tu hành để bạn từng bước từng bước đi vào, cho đến khi chứng minh được tính Không cuối cùng. 

Vì vậy tôi nhận định như thế này, bản chất của Mật giáo là tương đối thực tế, tương đối thực tu. Điểm quan trọng là Mật giáo là một pháp môn thực tu. Giả sử bạn có thể bước vào cánh cửa Mật giáo là bạn đã có được Phật pháp một cách tương đối thực tế rồi. Tịnh độ tông niệm Phật, Thiền tông thì trực tiếp đi vào tính Không, những điều này đương nhiên đều rất tốt. Nhưng bản thân Mật giáo là bạn nắm giữ được Phật pháp thực tế. Bạn nắm giữ được Phật pháp thực tế là bạn có thể có được cảm nhận, cảm giác chân thực. Đây là cách nhìn nhận của tôi về ba tông phái này.

Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum!

05/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì.


### 005. Nhìn nhận về Hiển giáo và các tông phái khác


Có người hỏi tôi đối với Hiển-Mật và tất cả các tông phái khác có cách nhìn nhận ra sao. Tôi cho rằng như thế này. Hiển giáo và Mật giáo là một cái vòng tròn, cũng có nghĩa là viên dung, hoàn toàn là một vòng tròn tròn đầy. Vậy thì đối với mỗi một tông phái, tôi cho rằng "tông tông bình đẳng". Mỗi một tông phái đều bình đẳng, mỗi tông phái đều có cái đặc sắc riêng. Tông tông bình đẳng, chúng ta đối với tất cả tông phái trong Phật giáo cũng đều nên tôn sùng, phải tôn trọng. Tông tông bình đẳng, mỗi tông mỗi đặc sắc. Bởi vì đều là những lời Phật thuyết, đều là những lời Như Lai thuyết, bởi vì mỗi tông phái đều là từ trong kinh điển của Phật Thích Ca Mâu Ni lấy ra một phần yếu nghĩa ở trong đó để phát dương. Vì vậy tính ra, nếu đã là cùng một truyền thừa của Phật Đà, của Phật Thích Ca Mâu Ni, vậy thì đều là bình đẳng cả, không có gì khác biệt. 

Phật Thích Ca Mâu Ni giảng pháp nhiều năm như vậy thì kinh điển của ngài mỗi loại cũng có mỗi đặc sắc riêng. Chúng ta từ trong điểm đặc sắc này để thể hội yếu nghĩa của Phật pháp. Đây là một điểm quan trọng, vì vậy đều phải tôn kính, đều phải tôn trọng, đều phải tôn sùng. Còn Hiển giáo và Mật giáo thì tôi cũng đã nói rồi, Hiển giống như đang học ở trong lớp học, nó là lí thuyết, thiên về lí. Còn Mật giáo thì giống như ở trong phòng thực nghiệm, thiên về thực nghiệm, thực tế. Như vậy nó chính là lí thuyết và thực hành, một bên là về mặt lí luận, một bên là tu hành về mặt thực tế. 

Bản thân chúng ta nói là một đệ tử Phật nhất định phải Hiển Mật viên dung vì chúng ta cũng phải hiểu lí luận, vì hiểu lí luận rồi thì bạn mới có thể làm thực tế được. Và từ trong lúc thực hành sẽ sinh ra lí luận mới, từ trong lí luận lại có được một hiệu quả thực nghiệm. Hai cái này không thể nào tách rời được vì vậy Hiển và Mật cần phải hoàn toàn viên dung. Trên thực tế, tu hành trong Chân Phật Mật Pháp của chúng ta phần nhiều đều là trong Mật có Hiển, vậy thì trong Hiển cũng có Mật. Hiển-Mật chính là một sự tròn đầy.

Cũng có người hỏi tôi, vậy thì tu Hiển giáo, Mật giáo thì nên tu như thế nào? Tổ sư Tsongkhapa của Mật giáo đã từng nói rằng, thông thường muốn thành tựu là một thượng sư thực sự, ngài ấy tu Hiển giáo, học Phật lí mất 12 năm, tu Mật mất 8 năm, phải có đủ 20 năm công sức. Chúng ta cũng có thể tu Hiển giáo trước, tu Hiển pháp trước, để cho một số lí luận của Phật giáo thấu hiểu thông suốt hoàn toàn, sau này mới thực tu Mật giáo, thực tu Mật pháp sau, những cái này đều rất quan trọng. 

Lúc nãy chúng ta nói đến Thiền tông, Mật giáo, và Tịnh độ tông. Trong mắt tôi thấy thì Thiền tông là khó nhất. Tịnh độ tông là dễ dàng nhất. Vậy thì có thể nói Mật giáo là ở chính giữa. Vì vậy hôm nay chúng ta lựa chọn dùng Chân Phật Mật Pháp để tu là lựa chọn trung đạo. Chúng ta không chọn cái khó nhất, cũng không chọn cái dễ nhất. Chúng ta đi ở chính giữa, rất phù hợp với tư tưởng trung đạo của Phật Thích Ca Mâu Ni. Bất cứ một tông giáo nào, trong mắt tôi đánh giá thì đều là một một vấn đề thứ tự, cũng có nghĩa là cấp độ của bạn đến đâu, hoàn toàn là vấn đề về cấp độ. Vì vậy giữa các tông giáo với nhau đương nhiên là sẽ có một số công kích lẫn nhau, nảy sinh một số phỉ báng. Nhưng mà, nếu giả sử bạn là một người tu hành tới cảnh giới rất cao, thì trong mắt bạn thì thật ra chỉ là vấn đề cấp độ, cái này đều không thành vấn đề. Nên nếu bạn chỉ nghiên cứu lí luận của tông giáo, và phương pháp tu hành của tông giáo, bạn có đề xuất ra, làm một nghiên cứu sâu hơn về lí luận và phương pháp thực hành thì tốt, nhưng không nên phỉ báng. Trong hàng nghìn văn tự của Phật giáo là không nên có phỉ báng. Và giữa các tông giáo với nhau, cũng không nên có phỉ báng vì tất cả đều là vấn đề cấp độ mà thôi. 

Vì vậy chúng ta dùng học vấn, dùng tâm học hỏi để nghiên cứu tông giáo, chắc là bạn sẽ hiểu điều này. Khi học đại học, bạn học vi tích phân, phân tích hình học, phân tích hình học không gian. Những gì bạn học được bạn nói với trẻ con mẫu giáo thì chúng tuyệt đối chẳng hiểu, nhưng trẻ con học mẫu giáo cũng không thể phỉ báng vi tích phân, phân tích hình học. Trẻ mẫu giáo đương nhiên là không hiểu rồi. Nhưng giả sử bạn nói bạn học qua vi tích phân, phân tích hình học rồi, bạn cũng không thể phê bình hình tam giác, cũng không thể phê bình phương trình toán học, vì đây là một vấn đề về cấp độ. 

Khi bạn tu hành đến cảnh giới rất cao bạn nhìn những tông giáo khác, bạn sẽ hiểu ra nó là một dạng cấp độ. Vì vậy chúng ta vẫn nói một câu, đối với những người không biết về Chân Phật Mật giáo của chúng ta, những người không biết thì không nên tùy tiện phê bình, vì cấp độ của bạn vẫn chưa đạt đến đó, vì vậy không thể phê bình. Giả sử như bạn đã hiểu rõ rồi, hiểu rõ về Chân Phật Mật giáo rồi bạn có thể thực tu, hoặc là đề xuất những nghiên cứu của bạn về mặt lí luận, về phương pháp tu hành thực tu, điều này thì được. 

Vì vậy tôi cho rằng những người tu hành như chúng ta nhất định phải viên dung Hiển-Mật, tông tông bình đẳng, không có phân biệt. Đối với tất cả các tông phái như nhau, tất cả đều phải tôn kính, đều phải tôn sùng. 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

05/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì.


### 006. Nói về “niệm” (1)


Hôm nay tôi sẽ nói với mọi người về “niệm”, “niệm” trong từ “ý niệm”. 

Bản thân tôi nghiên cứu Phật pháp hơn 20 năm, đối với việc Phật Thích Ca Mâu Ni tại sao lại thành đạo, tôi cũng có sự thể hội tương đối sâu. Tôi hỏi mọi người một chút, Phật Thích Ca Mâu Ni dựa vào cái gì để thành đạo? Nhìn chung mà nói, có rất nhiều người học Phật rất nhiều, rất lâu rồi, khi hỏi anh ta về câu hỏi vô cùng trực tiếp này, anh ta sẽ rất khó để trả lời được. Phật Thích Ca Mâu Ni tại sao lại thành đạo? Vậy thì câu hỏi này rất khó trả lời. Có người nói đông, nói tây, nói nam, nói bắc. Thật ra chỉ có hai chữ thôi: Bát Nhã. Tư tưởng trung tâm của Phật Thích Ca Mâu Ni có thể nói là vô thượng Phật huệ - trí huệ Phật vô thượng, chính là bát nhã. Mọi người đọc các kinh điển truyền thừa của ngài đi, kinh Đại Bát Nhã, kinh Kim Cang, cho đến Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh, đây chính là một hệ thống tư tưởng trung tâm về bát nhã của ngài. Phật Thích Ca Mâu Ni vì có vô thượng Phật huệ nên ngài đắc được bát nhã, vì vậy ngài trở thành Phật Thích Ca Mâu Ni. Nếu bạn đắc được bát nhã thì bạn cũng có thể thành Phật giống như vậy. 

Nhưng làm sao đắc được bát nhã? Vô thượng Phật huệ nhất định phải do tự bạn đi “định” thì mới có được “huệ”. Vì vậy trong Phật giáo chúng ta có tam học Giới-Định-Huệ, phải giữ giới, rồi từ trong giới có được định, rồi từ trong định có được vô thượng Phật huệ. Phật Thích Ca Mâu Ni chính là nhờ bát nhã mà đạt được vô thượng chính đẳng chính giác. Nhất định phải có được định. 

Di Lặc Bồ Tát học về duy thức. Thế nào là duy thức? Chữ thức này là ý thức sâu nhất, một ý thức sâu nhất trong cơ thể. Bản thân ý thức sâu nhất này khi chuyển hóa ra lại biến thành ý thức, biểu hiện hóa thành mắt-tai-mũi-lưỡi-thân-ý. Biểu hiện bên ngoài là mắt-tai-mũi-lưỡi-thân-ý, nhưng thật ra nó có ý thức sâu nhất, đây là hệ thống duy thức của Di Lặc Bồ Tát, là tư tưởng trung tâm của ngài. 

Nhưng nếu kết hợp duy thức và bát nhã, tôi nói để mọi người biết, đây chính là “tâm” mà bình thường chúng ta hay nói đến. “Tâm” chính là “thức”, “thức” chính là “tâm”. Những cái này đều là vô hình. Bạn nói bát nhã, bạn lấy bát nhã ra cho tôi xem nào. Không có, nó là vô hình. Bạn lấy thức ra cho tôi xem nào, nó cũng là vô hình. 

Làm sao để tu hai cái này? Có thể nói là hôm nay tôi sẽ nghiên cứu duy thức, nghiên cứu bát nhã. Nó là do “niệm” đi tìm cầu, do bên trong ý niệm của con người đi tìm kiếm bát nhã và tìm kiếm duy thức. Bạn muốn thành Phật là phải như vậy đó. Từ ý niệm mà đi tìm kiếm, bởi vì nhờ ý niệm của người mới có được định mà, từ ý niệm đi tìm bát nhã, đi tìm duy thức của bạn. 

Nói về các vị tổ sư của chúng ta thì, các vị thành Phật tại thế giới Ta Bà này, Phật quá khứ chính là Phật Thích Ca Mâu Ni. Phật tương lai chính là Di Lặc Bồ Tát, bạn biết được tư tưởng trung tâm của các vị ấy là bạn có thể nắm được chiếc chìa khóa để thành Phật. 

Hôm nay Lư Thắng Ngạn dám nói mình là Hoa Quang Tự Tại Phật, dám nói là bởi vì đã nắm được chiếc chìa khóa để thành Phật. Bạn có thể mở được cánh cửa để thành Phật này, có thể mở ra cánh cửa tiến vào Tì Lô Tính Hải. Tại sao bạn có thể vào được? Bởi vì bạn có chìa khóa của bát nhã, bạn có chìa khóa của duy thức. 

Hôm nay ở trong thế giới Ta Bà này, tôi là người truyền đại pháp. Tôi có thể nói như thế này, ở trên thế giới này, đương nhiên người có công phu cao thì rất nhiều, cao thủ nhiều như mây, không sai. Nhưng bạn nhắc đến Lư Thắng Ngạn, đương nhiên cũng là một cao thủ trong số các cao thủ, trong số người giỏi còn có người giỏi hơn, bên ngoài trời còn có trời, người này giỏi có người khác giỏi hơn, cũng được xem là cao thủ rồi. Người có thể thâm nhập vào trong để nghiên cứu Phật pháp như vậy, biết được bát nhã và duy thức, hai thứ này cộng lại chính là tâm, không tìm được nữa đâu. 

Nhưng nếu như muốn tìm, nhất định phải bắt đầu từ niệm của bạn. Tam học Giới-Định-Huệ, phần lớn những người học Phật chúng ta đều biết phải giữ giới, bởi vì giữ giới có thể sản sinh ra định, có thể kiến bạn trở thành “nhất”, trở thành “chuyên nhất”, phải giữ giới mới có thể trở nên chuyên nhất, “chuyên nhất” sẽ sản sinh ra một cảnh giới định. Và rồi từ bên trong định, bạn có thể đắc được bát nhã, mới có thể bước vào cánh cửa duy thức. Cánh cửa của duy tâm, duy thức là vào bằng cách như vậy đó. Bạn muốn thành Phật, thành Phật Thích Ca Mâu Ni, không phải là cứ tùy tiện ngồi ở đó, không phải là cứ ngồi ở dưới gốc cây Bồ Đề là đạt được. 

Vì vậy hôm nay bạn có thể có được Chân Phật Mật Pháp… Chân Phật Mật Pháp là gì ư? Là bát nhã, cũng là duy thức, nó có phương pháp, có trọn bộ phương pháp dạy cho bạn cách đi vào cánh cửa bát nhã, dạy bạn cách đi vào cánh cửa duy thức, dạy bạn cách đi lĩnh hội pháp vị. Ngày hôm nay bạn bắt đầu học từ đây, bạn sẽ có thể đạt được vô thượng chính đẳng chính giác, chân lí của vũ trụ nằm trong lòng bàn tay của bạn, bạn có thể nắm bắt được, điều này là rất đáng quý, đáng để trân trọng. 

Hôm nay tạm nói đến đây. Om mani padme hum!

08/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì.


### 007. Nói về “niệm” (2)


Có lẽ mọi người sẽ lấy làm lạ, bản thân Lư Thắng Ngạn nói rất to tát về bản thân, giống như câu “bên ngoài trời còn có trời”, ý là ông ấy chính là bầu trời đó, người này giỏi có người khác giỏi hơn, ý là ông ấy chính là cái người khác đó. Thật ra, điều này không kì lạ chút nào. Đây là Phật Thích Ca Mâu Ni nói, nếu người nào thực sự hợp nhất với Đạo thì người đó là lớn, không chỉ là lớn nhất, mà còn là vô thượng. Phật Thích Ca Mâu Ni nói “Thiên thượng địa hạ, duy ngã độc tôn”, nếu dám nói câu nói này, cho thấy rằng ngài và vũ trụ đã hợp nhất. 

Bạn là một người thành Phật rồi, đã khai ngộ rồi thì bạn có thể được nói như vậy, “Thiên thượng địa hạ, duy ngã độc tôn”, có thể được nói. Vì vậy điều này không xem là to tát, chỉ là một hiện tượng khi bạn và vũ trụ, bạn và Đạo hoàn toàn hợp lại làm một mà thôi, bởi vì bạn có được trí huệ vô thượng rồi, bạn có được chân lí rồi, chân lí chính là bạn, bạn chính là chân lí. Nếu như hiểu được điều này rồi thì sẽ không cảm thấy bản thân con người này là vô cùng cao ngạo, tự cao tự đại, sẽ không cảm thấy như vậy nữa. 

Vậy tôi sẽ nói ý niệm quan trọng như thế nào. Có rất nhiều người tu hành nói rằng chúng ta tu hành chính là tu sửa hành vi, vậy tu sửa hành vi là phải sửa từ chỗ nào? Là tu sửa từ ý niệm của bạn, tu sửa từ tâm của bạn. Vậy tại sao phải tu tâm? Bởi vì tâm điều khiển hành vi của bạn. Vậy tại sao phải tu niệm? Bởi vì tâm không có hình tướng, chủ yếu là niệm của bạn sản sinh ra, niệm chính là một hình tướng bên ngoài của tâm, vì vậy phải tu niệm này. Tu niệm này là vô cùng quan trọng. 

Ở trong Thiền tông có thể nói như thế này. Thiền Tông chủ yếu dạy bạn “chỉ”, là dừng lại, nghĩa là khi có một niệm không tốt khởi lên lập tức chặt đứt nó, đó là “chỉ”, chặt đứt nó chính là “chỉ”. Người bình thường muốn dừng mà không thể dừng được, vì vậy có một câu nói là “rút dao chém nước nước càng chảy mạnh, nâng chén tiêu sầu càng sầu thêm”. Có thể chặt đứt được ý niệm thì mọi người ai cũng có thể thành Phật. 

Tôi đã từng nói rồi, ý niệm rất khó chặt đứt, tại sao ý niệm lại khó chặt đứt? Tôi cũng không thể chặt đứt. Bạn nhìn cái cây kia đi, cây đứng ở đó rất im lặng, nhưng cây cũng không thể dừng được, tại sao cây lại không thể dừng? Vì nó vẫn đang hút nước hút phân, vẫn đang nở hoa ở trên cây, lá đang mọc ra, nước vẫn đang lưu thông bên trong thân cây. Bạn lấy đại một cây kim nào đó đi đâm vào thân cây, thân cây vẫn chảy nhựa, nó vẫn còn ý niệm, nó lập tức cảm thấy đau, sẽ lập tức chảy máu. Cây cũng có cảm giác, cây không phải là không có cảm giác. Bạn hái đại một cái lá xuống, cái lá đó vẫn còn chảy nhựa ra, đó chính là có cảm giác, nếu nó không có cảm giác thì không chảy nhựa rồi. 

Vì vậy ý niệm rất khó dừng. Thiền tông chủ trương chặt đứt ý niệm chính là pháp “chỉ”, là cao minh bậc nhất, người đại căn khí mới làm được. Cũng có nói đến pháp túng niệm, pháp túng niệm tức là để mặc nó, để mặc ý niệm, để nó cứ thế mà trôi đi, không quản đến nó. Nhưng mà cái này cũng rất khó tu. Cái mà trong Chân Phật Mật Pháp của chúng ta nói đến chính là “lấy niệm dừng niệm”, cũng tức là dùng chính niệm để dừng lại tà niệm, nghĩa là dùng niệm để dừng niệm. Cách này theo cá nhân tôi nhận thấy, bản thân tôi cho rằng dùng phương pháp này là tốt nhất. Ý niệm rất khó chặt đứt, không thể chặt đứt thì phải làm sao? Bản thân bạn tự nghĩ ra một ý niệm tốt để ngăn chặn ý niệm không tốt, đây chính là tu hành, đây chính là quán tưởng trong Mật giáo chúng ta, là một trong ba yếu tố lớn của Mật giáo.

Tại sao trong Mật giáo phải dùng pháp quán tưởng? Bản thân việc quán tưởng chính là dùng chính niệm để thay thế tà niệm, chính là pháp quán tưởng. Đây chính là một phương pháp “lấy niệm dừng niệm” được sử dụng trong Mật giáo.

Mọi người thử nghĩ xem tại sao Tịnh độ tông lại niệm Phật? Niệm Phật chính là tập trung về mặt tinh thần, một lòng hướng về Phật, thật ra cũng là "lấy niệm dừng niệm”, dùng ý niệm của việc niệm Phật để ngăn chặn những ý niệm không tốt. Mật giáo dùng quán tưởng để ngăn chặn những ý niệm không tốt. Thiền tông trực tiếp dùng phương pháp tính Không để hóa giải những ý niệm không tốt, để cắt đứt những ý niệm không tốt, để cầu chữ “định” của sự chuyên nhất. 

Lúc nãy có nói rồi, chỉ có ở trong định mới có thể sinh ra trí huệ. Mọi người thử nghĩ đi, bạn từ sáng đến tối đều bận rộn lo toan, trong đầu nghĩ nhiều chuyện linh tinh, khi nào bạn mới có trí huệ chứ? Khó lắm đúng không? Bạn đi học, như thế nào mới có được kiến thức? Chính là bạn phải tập trung đó, khi tập trung bạn mới đi sâu vào trong kiến thức và có được hiểu biết về phương diện nào đó. Bạn nghiên cứu bất cứ một loại tư tưởng học thuật nào, quan trọng nhất là bạn phải chuyên chú, tìm hiểu rất sâu thì mới có thể đạt được nó. 

Hôm nay mọi người học Phật pháp cũng giống như vậy, trong đầu bạn suy nghĩ linh tinh, bận rộn lo toan, bạn làm sao có được chân lí của vũ trụ? Bạn vẫn phải thâm nhập một cách chuyên nhất giống như vậy mới có thể đạt được kết quả cốt tủy của Phật pháp, mới có thể đắc được bát nhã, mới có thể đắc được duy thức. Bạn có hai chiếc chìa khóa này rồi, kết hợp lại là bạn sẽ có thể mở được tâm của vũ trụ, bước vào bên trong chân tâm của vũ trụ bạn mới lấy được chân lí, đạt được vô thượng chính đẳng chính giác. 

Phật Thích Ca Mâu Ni làm thế nào để đạt được chân lí? Là từ kinh Đại Bát Nhã, kinh Kim Cang, kinh Tâm mà có được. Di Lặc Bồ Tát đạt được từ bên trong duy thức, tương lai Di Lặc Bồ Tát sẽ thành Phật. Sư Tôn làm thế nào để đạt được? Chính là vì tôi lấy được chìa khóa của bát nhã và duy thức. Vậy xin nói cho mọi người biết, tu hành của ngày hôm nay là phải tu niệm, tu chữ “niệm”. Bạn tu sửa được cái “niệm” này, bạn chuyên nhất rồi, bạn đắc được bát nhã, đắc được duy thức là bạn có thể thành Phật.

Hôm nay bạn không thể chuyên nhất, vậy thì bạn cứ bận rộn lo toan sống hết cuộc đời này đi. Vì vậy rất nhiều người học thiền định, tại sao nhất định phải học thiền định? Chính là vì bạn muốn đạt được những điều này đó. 

Hôm nay chúng ta nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

08/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì.


### 008. Làm sao nhập định (1)


Hôm nay tôi sẽ nói với mọi người đôi chút về phương pháp nhập định. 

Thông thường, định ở trong tiếng Phạn gọi là Samādhi (tam ma địa). Tôi cảm thấy là, muốn học Phật thành tựu, thật ra nói khó thì không khó, nhưng mà nói là dễ dàng thì thực sự là một chuyện không dễ dàng. Bởi vì bạn học Phật giả sử không có sư phụ chỉ dẫn bạn, dẫn dắt bạn, bạn phải tự mình đi tìm hiểu các kinh điển Phật giáo thì sẽ phải tiêu tốn rất nhiều năm thời gian. Hơn nữa bỏ ra nhiều thời gian như vậy cũng chưa chắc đã đạt được. Vì vậy nếu nói ra thì việc học Phật vẫn là rất khó khăn. 

Chúng ta nói đến Phật Thích Ca Mâu Ni sở dĩ có thể thành Phật là vì ngài đắc được bát nhã. Còn Di Lặc Bồ Tát tương lai thành Phật là vì ngài có được một loại đại thần biến của duy thức. Vậy thì bây giờ bạn đọc kinh điển Phật pháp, bạn có thể đọc thật kĩ kinh điển đó, bạn có thể biết được lí luận của nó. Từ trong Phật lí có thể đắc được bát nhã, bạn có thể biết được những lí luận này. Giống như chúng ta từ trong Tâm Kinh có thể lĩnh hội được tính Không, mối liên hệ giữa bát nhã và tính Không, từ trong Duy Thức Luận bạn có thể lĩnh hội được làm sao để diệt trừ các loại chấp trước, còn lại một ý thức sau cùng của Phật thức trí, bạn có thể hiểu rõ. 

Tuy rằng bạn hiểu hết những lí luận này, nhưng mà bạn vẫn không có cách để đi vào cánh cửa của bát nhã và duy thức. Tại sao vậy? Tại vì trong kinh điển không có ghi phương pháp của nó. Bạn biết được lí luận rồi, làm sao để đi vào tính Không bạn cũng biết rồi, làm sao có thể nắm lấy được duy thức bạn cũng hiểu luôn rồi, bạn cũng biết cách làm sao loại bỏ chấp trước, nhưng mà, bạn tu bằng cách nào đây? Thì kinh điển lại không nói đến. 

Rất nhiều người xem Phật pháp như một loại học thuật để nghiên cứu, giáo sư Phật học nói rất hay. Hỏi ông ấy có thực tu hay không, ông ấy nói: “Tôi là người nghiên cứu học thuật, tôi không có tu.” Điều này có nghĩa là ông ấy căn bản không có phương pháp thao tác. 

Bạn làm sao để sinh ra bát nhã, làm sao đắc được duy thức thực sự? Bạn không có phương pháp. Vì thế bạn đọc xong nghìn kinh vạn điển, bạn đều đọc đủ hết nhưng bạn chẳng khác gì một con số 0. Hôm nay, Lư Thắng Ngạn này thực sự có phương pháp hữu dụng một cách thực tế, không chỉ là biết về mặt lí luận, mà về mặt thực tu, bản thân tôi cũng có nhập môn, cũng có một phương pháp để bước vào cánh cửa lớn thâm thúy. 

Vì vậy không chỉ là biết về mặt lí luận, mà còn phải hiểu rõ về phương pháp. Ngoài ra thì sao? Bạn vẫn phải từ trong thực tu mà thật sự minh tâm kiến tính. Vậy là chúng ta hiểu rồi đó. Bạn muốn nghiên cứu mọi loại học vấn, vẫn cần phải định. Tại sao lại phải định? Bởi vì khi nước tĩnh lặng mới có thể hiển lộ vạn vật, khi nước chảy, không tĩnh lặng thì bất cứ thứ gì cũng không rõ ràng. 

Trong Phật pháp nói, trí huệ vô thượng được sinh ra từ trong định. Phật Thích Ca Mâu Ni từ trong định mới có thể lĩnh hội được chân lí của vũ trụ, thực sự thể hội được bát nhã và duy thức, mới có thể minh tâm kiến tính và khai ngộ. Sau khi khai ngộ rồi, toàn bộ hành vi cử chỉ và thần thông của ngài, tất cả mọi thứ đều hiển lộ ra hết. Sau khi đã khai ngộ rồi, ngài có thể dung nhập vào Tì Lô Tính Hải, biển đại quang minh, bình đẳng với Phật, có thể biết hết toàn bộ đạo lí của thế gian. Sau khi khai ngộ rồi, ngài có thể vận dụng những thần lực và đạo lực của Như Lai, sau đó đi độ hóa chúng sinh, tự mình giải thoát và có thể giúp chúng sinh giải thoát. 

Vậy thì phương pháp này vẫn phải bắt đầu từ trong định. Có rất nhiều loại định. Con đường mà bản thân tôi đi chính là đi từ trong Chân Phật Mật Pháp. Vì vậy trong “Hồng quang đại thành tựu” này, tôi chính là muốn dạy mọi người làm thế nào để thực tu Chân Phật Mật Pháp, làm thế nào để biết được các loại phương pháp thao tác của tu hành từ trong Chân Phật Mật Pháp. Giống như trong Chân Phật Mật Pháp chúng ta làm Hộ Ma vậy đó, toàn bộ nghi quỹ và phương pháp của Hộ Ma, bạn đều có thể được biết. 

Hôm nay nếu bạn muốn có được pháp môn của bát nhã và duy thức thì vẫn phải có phương pháp thao tác, vẫn phải có nghi quỹ. Bạn phải hiểu rõ nghi quỹ này bạn mới có thể nhập môn, và mới có thể thực tu. Bạn mới có thể thực sự nói "Được, tôi cũng giống như Phật, đi tìm một cái cây bồ đề, ngồi dưới cây, rồi vài ngày sau đó, bạn đứng lên nói “Tôi khai ngộ rồi!”. Bạn cần phải hiểu được một phương pháp thiền mà Đức Phật thực hành khi ngồi dưới gốc cây bồ đề, và quá trình của nó, bạn cũng phải biết, bạn mới có thể khai ngộ. Nếu không bạn thử đi ngồi đi, cho dù bạn ngồi cả đời bạn cũng không thể khai ngộ. 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

09/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì.


### 009. Làm sao nhập định (2)


Nói đến định, chúng ta đều hiểu là phải dừng ý niệm. Pháp môn dừng ý niệm này ở trong Mật giáo gọi là *trekcho, trekcho *chính là dừng ý niệm. Nghĩa là bạn ngăn chặn những ý nghĩ không tốt. Dừng ý niệm thì có rất nhiều phương pháp, tôi đã có nói rồi, chính là dùng niệm để dừng niệm, dùng ý niệm này để dừng lại ý niệm kia. Cách này ở trong Mật giáo chúng ta gọi là quán tưởng. 

Bạn có thể dừng ý niệm là đã có thành tích rất lớn rồi, đây chính là định, có thể định tại một điểm thì gọi là tam ma địa. Từ bên trong định, bạn mới tiến thêm một bước để tu thân cầu vồng, pháp này, chính là *togal *được tu trong pháp Đại viên mãn của Mật giáo, chính là ở trong định mà tu ánh sáng, từ trong thiền định có thể tu ra được ánh sáng. 

Trước đây ở trong các tấm ảnh pháp của tôi, có rất nhiều người chụp ảnh của Sư Tôn, chụp ra là nhìn thấy ánh sáng, ánh sáng hình tròn. Ánh sáng khi vừa mới xuất hiện đó, chúng ta có thể gọi là minh điểm. Một người có thể tu ánh sáng trong định, hễ định là có thể nhìn thấy được cơ thể của mình thật ra có rất nhiều điểm ánh sáng nhỏ, ở bên trong cơ thể đang xoay vòng ở bên trong, chính là đang luân hồi ở trong đó. Đây chính là nhìn thấy “minh thể” [thể ánh sáng] của chính mình. 

Minh thể này của bạn càng tu càng lớn dần, xâu thành một chuỗi, bạn có thể nhìn thấy chuỗi hạt kim cương, đó chính là chuỗi hạt kim cương của Mật giáo. Ở bên trong chuỗi hạt kim cương, mọi minh thể còn hiển hiện ra toàn bộ Bổn tôn nữa, tất cả Phật và Bồ tát đều ở trong minh thể của bạn. Khi cao minh hơn nữa, toàn bộ pháp giới đều ở bên trong minh thể của bạn, đây chính là tu *togal*, chính là tu ánh sáng từ trong định, tu pháp quang minh. Đại thành tựu thân cầu vồng về sau chính là phải nói đến cái này. 

Vậy bây giờ chúng ta quay lại, quay lại nói về *trekcho*. Bản thân *trekcho *là phải dừng niệm, dừng niệm là nhập định như thế nào? Trước đây tôi từng nói rồi. Nhập định không thể quá căng, bạn quá căng thì không thể nhập được định, vì bạn quá dùng lực, nếu dùng lực bạn sẽ luôn nghĩ là “tôi phải nhập định, tôi phải nhập định”, thì bạn sẽ không định được, bởi vì quá căng. 

Nhưng cũng không thể quá lỏng, bạn thả lỏng không suy nghĩ gì cả, vô niệm là sẽ ngủ mất, thì thật sự sẽ nhập “tứ ma địa”, chúng ta nói nhập “tứ ma địa” tức là ngủ say, nghĩa là quá lỏng. Vì vậy nhập định là ở chính giữa căng và lỏng, chính giữa tỉnh táo và ngủ say. Chính giữa tỉnh táo và ngủ say, căng và lỏng, ở đây có đạo lí cân bằng. Bạn chỉ cần hiểu được sự cân bằng, hiểu được trung quán, hiểu được sự cân bằng, chính là ở trong đó. Khi có ý niệm không tốt sinh ra, bạn cần phải quán tưởng, dùng quán tưởng để ngăn chặn ý niệm đó, đây gọi là “dùng niệm dừng niệm”. 

Về mặt lí mà nói, từ bên trong não của bạn, bạn ứng dụng ý thức của mình, tạo ra một suy nghĩ đẹp đẽ nhất. Trong Mật giáo có quán tưởng “nhập ngã ngã nhập”, tức là trong hư không xuất hiện một vị Phật, di chuyển đến trên đỉnh đầu của bạn biến thành viên ngọc ánh sáng đi vào trung mạch của bạn, đi vào hoa sen nở trong tim bạn và ngồi ngay trong tim bạn. Sau đó vị Phật này biến to ra, to bằng thân thể của bạn, trong một sát-na bạn biến thành Phật, cách quán này gọi là quán tưởng “nhập ngã ngã nhập”.

Tôi cho rằng cách quán này là vô cùng tốt, cũng tức là quán tưởng Phật đi vào bên trong cơ thể tôi, rồi lại biến to ra hoàn toàn giống hệt với tôi, nghĩ tưởng chính mình trở thành một vị Phật trang nghiêm. Quá trình của cách nghĩ tưởng này là tuyệt hảo nhất, trang nghiêm nhất, và thần thánh nhất. Dùng cách nghĩ tưởng này có thể khắc chế tạp niệm của bản thân bạn, chính là lấy niệm để dừng niệm. 

Bản thân Mật giáo vốn dĩ có quán tưởng, có thủ ấn, có chú ngữ. Chú ngữ thì có liên quan đến hơi thở và tần số. Bạn thông qua phương pháp hít thở, tạo ra cách hít thở vi tế nhất, sử dụng tần số của chú ngữ, một loại tần số của âm thanh, để dung hòa với âm thanh vũ trụ, sử dụng thêm quán tưởng về mặt tư tưởng, dùng ba phương pháp thân-khẩu-ý thanh tịnh này, thâm nhập vào bên trong ý thức của vũ trụ, rồi để ý thức của vũ trụ đi vào bên trong cơ thể của bạn, hòa hợp với nhau làm một, là có thể tiến nhập vào định trong tam ma địa.

Hôm nay tôi cũng xem như là tóm lược một loại kinh nghiệm về tu tập trong nhiều năm qua của tôi để nói với mọi người. Sự vi tế của hơi thở và tần số của chú ngữ hòa nhập vào trong vũ trụ, dùng một sự quán tưởng về mặt tư tưởng của mình làm công phu vi tế nhất để nhập vào một loại định bên trong cảnh giới vi diệu nhất, tôi cho rằng đây là phương pháp nhập tam ma địa, nhập định tốt nhất.

Đương nhiên là tay cũng phải kết ấn, cũng phải trì chú, tần số của chú ngữ sẽ được sản sinh ra, loại tần số bí mật này tương thông với tần số của vũ trụ. Rồi dùng một loại quán tưởng tuyệt nhất, đẹp nhất, trang nghiêm nhất để thực hành một loại định, để tu hành *trekcho*, một công phu của định. 

Thế rồi ở trong định, bạn có thể bắt đầu tu ánh sáng, biến thành tu *togal*. Nhưng trong công phu *trekcho *này, bạn cần phải trải qua thời gian rất dài mới có thể thấy được ánh sáng từ trong định. Thấy được ánh sáng từ trong định giống như là xem tivi đen trắng vậy, khi tivi vừa mới bật lên, nó vẫn chưa được rõ ràng, toàn bộ màn hình đều là các chấm nhỏ, các chấm nhỏ lốm đốm hiện ra, từng chấm ánh sáng trắng, sau đó hình ảnh sẽ hiện ra, khi bạn chỉnh tiêu cự đến mức hợp lí nhất, đàn thành sẽ xuất hiện, Bổn tôn cũng xuất hiện, chuỗi hạt kim cương cũng xuất hiện, lúc này bạn có thể tu đạt đến toàn thân đều là ánh sáng, trong một sát-na bạn hóa thành ánh sáng, đây chính là đại thành tựu ánh sáng cầu vồng.

Từ sự tu hành của Mật giáo có thể đắc được bát nhã, và cũng có thể đắc được duy thức. Bản thân sự tu hành trong Mật giáo chính là một phương pháp thao tác bát nhã và duy thức. Đây chính công phu của biển ánh sáng của Tì Lô Giá Na trong kinh Hoa Nghiêm. 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

09/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì


### 010. **Thực tướng của bát nhã và duy thức (1)**


Hôm nay tôi sẽ nói với mọi người về một bí mật tu hành. Tu hành cũng có bí mật, vì vậy gọi là “mật hành”. Công khai bí mật này nhìn chung mà nói là rất hiếm có, là rất thù thắng. Trước đây có người hỏi tôi, anh ta nói: “Bát nhã và duy thức của Sư Tôn đã tu đến cảnh giới rất cao rồi, nhưng ngài làm sao lấy một thứ thực tế để tượng trưng cho bát nhã và duy thức?” Tức là dùng một hình ảnh trực tiếp thể hiện cái gì là bát nhã, cái gì là duy thức.

Chúng ta thường nhìn thấy biểu tượng của Phật giáo có một chữ “Vạn”. Chúng ta đọc là Vạn, nó giống hình chữ S, rất giống lá cờ của Đảng Nazi, giống kí hiệu của Nazi. Cái đó có thể tượng trưng cho bát nhã và duy thức không? Dựa theo nghiên cứu và tu trì trên thực tế của cá nhân tôi thì tôi dựa theo ba phương pháp để tu. Bát nhã có ba loại, một cái gọi là bát nhã văn tự, một cái gọi là bát nhã quán chiếu, một cái là bát nhã thực tướng, dựa theo ba loại này để tu trì. 

Biểu tượng của hình ảnh mà Sư Tôn nói ra không phải là cái chữ Vạn đó. Hình tướng thực sự là chữ Vạn xoay chuyển. Bạn phải biết là chữ Vạn vừa xoay chuyển là thực tướng của bát nhã liền được sinh ra ngay. Nó là một hình tròn, một cái đĩa tròn, chính giữa có một trung tâm, có một chấm.

Đây là điều mà chỉ có người thực sự có thể lĩnh hội được tinh hoa của bát nhã và duy thức mới có thể nói ra được. Cái vòng tròn đó là cái gì? Cái vòng tròn đó chính là bát nhã. Một chấm ở chính giữa là gì? Chính là “duy thức duy tâm”. 

Bạn phải biết chữ Vạn là cái biểu hiện bề ngoài thôi, nó đại diện cho pháp lực của Phật. Nhưng một khi đã xoay chuyển thì vô thượng chính đẳng chính giác đích thực sẽ sản sinh ra. Một cái vòng tròn, chính giữa có một chấm. 

Thế nào là “vô dư niết bàn”? Điểm chính giữa đó chính là “vô dư niết bàn”. Trong phạm vi của cái vòng tròn chính là “hữu dư niết bàn”. Một chấm ở giữa chính là Pháp thân Phật, toàn bộ xung quanh đều là Báo thân Phật và Ứng thân Phật.

Chúng ta thử nhìn biểu tượng của Đạo gia đi, biểu tượng của Đạo gia chẳng phải là một hình tròn sao? Chính giữa vẽ một chữ S, bên này một chấm, bên kia một chấm. Cái vòng tròn này là đại diện cho vũ trụ, chữ S ở chính giữa đại diện cho một cái đen một cái trắng. Cái chấm này là một âm một dương. Bản thân người Trung Quốc lấy thái cực của Đạo giáo để tượng trưng cho vũ trụ vạn vật, điều này thật không đơn giản chút nào.

Tư tưởng vốn có của người Trung Quốc là, “nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp đạo, đạo pháp tự nhiên”. Huyễn tượng của vũ trụ chính là thái cực, lưỡng nghi, một âm một dương chính là Đạo, đây là một điều tự nhiên, cũng là một hiện tượng của vũ trụ tự nhiên. Thái cực mà đạo gia Trung Quốc sử dụng chính là tự nhiên, bốn chữ “vũ trụ tự nhiên”, một âm một dương là Đạo, đen và trắng đối xứng. Nói một câu đơn giản dễ hiểu thì đây chính là “tương đối luận” của Đạo gia Trung Quốc. Đen-trắng, thiện-ác, âm-dương, Phật-ma, đều nằm trong đó, đây là đạo tự nhiên. 

Phật của ngày hôm nay mà Sư Tôn nghiên cứu ra là “tuyệt đối luận”. Một cái vòng tròn đại diện cho ý thức của vũ trụ, điểm chính giữa là Phật và ma nhất như, là tuyệt đối. Chỉ có một chấm thôi, không có hai cái chấm, hai cái chấm thì là “tương đối luận”, còn nếu có một chấm thì là “tuyệt đối luận”. Vì vậy một vị Phật thực sự sẽ nói về “tuyệt đối luận”, Phật và ma tập hợp tại một điểm, vậy bên trong đó chính là “vô dư niết bàn”, chính là “duy thức duy tâm”. Một chấm ở giữa chính là “duy thức luận”, một vòng tròn, một chấm chính là “tuyệt đối luận”. Đạo gia của Trung Quốc thì là “tương đối luận”. Trong này gồm có đạo lí của khoa học và triết học. 

Hôm nay tôi đem bí mật tu hành của bản thân mình nói ra, chữ Vạn xoay chuyển chính là bát nhã. Khi công lực tu hành của bạn đạt đến rất cao rồi, thân biến thành hiện tượng bát nhã, bản thân bạn chính là một bát nhã. Bạn dùng bát nhã của tự thân bạn hiển hiện thì sẽ hóa thành cầu vồng, hóa thành ánh sáng. Bạn sẽ đi vào được trong vô dư niết bàn, hữu dư niết bàn, bạn hóa thân làm Pháp thân Phật, Báo thân Phật, Ứng thân Phật. 

Một loại chính đẳng chính giác đích thực mà Phật Thích Ca Mâu Ni đạt được chính là Đạo của niết bàn tại cái chấm chính giữa đó, những cái khác đều là phương tiện. Phương tiện chính là quyền thuyết [tùy cơ mà nói], cái chấm chính giữa chính là thực thuyết [nói điều chân thực]. Điểm chính giữa là Thánh đế, những phạm vi khác ở bên trong chính là tục đế. Vì vậy trong Phật pháp có cái gọi là Thánh đế, có cái gọi là tục đế. 

Khi bạn tu hành chứng minh mình nhìn thấy thực tướng bát nhã là một vòng tròn ánh sáng, mà chính giữa có một chấm, ở trong đó, chư Phật đều ở bên trong, tất cả Phật Bồ tát đều nằm trong cái vòng tròn đó, cái vòng tròn đó to lớn vô cùng. Và những gì có ở trong đó đều không có sự phân biệt về thời gian và không gian. Đây là một bí mật mà bản thân tôi tu hành lâu như vậy rồi, hôm nay mới dám công khai. Đây là tôi nói bí mật về thực tướng của bát nhã và thực tướng của duy thức. 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

10/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì.


### 011. **Thực tướng của bát nhã và duy thức (2)**


Cũng có người hỏi tôi:* *“Ngài đắc thành tựu cầu vồng rồi, kết quả thế nào?” Xin nói với mọi người rằng, sau khi đắc đại thành tựu cầu vồng rồi, thật ra mỗi một người đến cuối cùng đều như nhau cả. Bạn có đắc đại thành tựu cầu vồng hay không, đến cuối cùng tất cả đều đi trên cùng một con đường, con đường này trong Phật giáo gọi là viên tịch, chính là Niết bàn, mọi người đều như nhau. Nhưng người có đại thành tựu cầu vồng thì bản thân anh ta có thể thị hiện ánh sáng cầu vồng, đây chính là điểm khác nhau. Có thể tự chủ, quan trọng nhất là tự chủ. 

Thế nào gọi là tự chủ? Tương lai tôi sẽ đi về đâu, tôi biết rõ, hơn nữa tôi còn biết đi bằng cách nào, cái này chính là tự chủ. Có rất nhiều người khi lâm chung, khi sắp viên tịch, họ không biết phải đi về đâu, không biết phải đi bằng cách nào, đây chính là điểm khác biệt giữa có tu và không tu. Bạn kiếm tiền từ sáng đến tối, phiền não những chuyện thế gian, mỗi ngày đều bận rộn lo toan đến hết đời, vậy thì tương lai bạn sẽ không biết đi bằng cách nào đâu. Hôm nay dạy cho bạn đại thành tựu cầu vồng này chính là giúp bạn trong tương lai sẽ biết đi bằng cách nào. 

Người đắc đại thành tựu cầu vồng, khi anh ta thành tựu, khi anh ta sắp ra đi, trên đỉnh đầu sẽ hiện ra ánh sáng cầu vồng, trong hư không cũng có ánh sáng cầu vồng. Khi anh ta vừa xuất hiện ánh sáng, cơ thể anh ta sẽ thu nhỏ lại, rồi lại hiện ra ánh sáng, tiếp tục sản sinh ánh sáng, cơ thể thu nhỏ đến cuối cùng chỉ còn lại da và lông, rồi chỉ còn móng tay và lông, ngay đến da cũng không còn, toàn bộ biến thành ánh sáng, chỉ còn lại một vệt ánh sáng. Trong hư không cũng có cầu vồng, vệt ánh sáng này sẽ đi vào cầu vồng trong hư không, vô cùng thù thắng trang nghiêm, đây là thành tựu vĩ đại nhất, đây gọi là “thân cầu vồng bất tử”. Cái gì cũng không còn nữa, chỉ còn lại lông tóc móng tay. Dạng này là đẳng cấp thứ nhất. 

Vậy còn đẳng cấp thứ hai thì sao? Cơ thể anh ta xuất hiện ánh sáng cầu vồng, đi vào trong hư không, thân thể thu nhỏ lại, nhưng mà cơ thể này biến thành xá lợi toàn thân. Toàn thân đều là hạt xá lợi, rất kiên cố, rất cứng chắc, giống như kim cương, giống như chày kim cang, đây cũng là đại thành tựu cầu vồng, nhưng đây là đẳng cấp thứ hai. Đẳng cấp thứ nhất là toàn thân đều biến mất, đẳng cấp thứ hai thì vẫn còn. 

Đẳng cấp thứ ba, chính là cơ thể không hiện cầu vồng, nhưng một khi hỏa táng cơ thể anh ta, toàn bộ đều là hạt xá lợi rất sáng, đây là đại thành tựu cầu vồng giai đoạn đầu. Hạt xá lợi này có hình tròn, chính là hạt kim cương có hình tròn, là như vậy đó. Cho nên đại thành tựu cầu vồng cũng có phân ra mấy đẳng cấp. 

Tu hành quan trọng nhất chính là có thể “tự chủ sinh tử”. Bạn phát nguyện tương lai bạn muốn chuyển thế thì bạn phải biết tương lai mình sẽ chuyển thế đến chỗ nào. Tôi có thể viết ra trước tương lai tôi sẽ chuyển thế đến chỗ nào, tu hành như vậy mới là có thành tựu. Hôm nay bạn không biết mình sẽ đi như thế nào, không biết sau khi chết mình sẽ đi về đâu. Đây chính là hiện tượng của phàm phu, hoàn toàn chính là người phàm.

Bạn tu hành có sự trưởng thành, vật chất sinh mạng của cơ thể bạn cũng sẽ có sự trưởng thành. Bạn nhìn tôi hôm nay xem, Lư Sư Tôn đã cạo sạch hết tóc. Sợi tóc này không còn chất dinh dưỡng nữa, không còn biến đổi nữa, cũng tức là sợi tóc này của bạn tự nó không còn dinh dưỡng nữa, sẽ không còn chất dinh dưỡng đi vào nó nữa, nói đơn giản là sẽ không mọc ra được nữa. Nhưng chỉ cần bạn lưu trữ được đúng cách, để ở đó, bạn niệm chú cho nó, thì những sợi tóc này của tôi vẫn sẽ mọc dài ra, mọc liên tục, mọc ra rất nhiều. Ban đầu chỉ có vài sợi, sẽ biến thành mấy nghìn, mấy trăm nghìn, mấy triệu sợi tóc, hơn nữa còn dài ra. Đây vốn dĩ là bản thân sự tu hành đang tăng trưởng. 

Duy thức và bát nhã mà bản thân tôi đang tu hành, bản thân nó đã dung nhập vào trong toàn bộ vũ trụ rồi. Tuy rằng chỉ là vài sợi tóc, nhưng nó vẫn đang tăng trưởng pháp lực của bản thân nó. Có rất nhiều đệ tử sưu tầm mấy sợi tóc của Sư Tôn, để tóc ở đó, bởi vì pháp lực của Sư Tôn vẫn đang tăng trưởng đầy ắp toàn bộ vũ trụ này, cho nên những sợi tóc đó vẫn đang mọc dài, vẫn đang gia tăng. Vì vậy đây chính là tượng trưng cho sự tăng trưởng pháp lực tu hành, một loại sức mạnh, một loại pháp lực. 

Tu đại thành tựu cầu vồng sẽ có rất nhiều lợi ích. Ngoài việc bản thân bạn có thể tự chủ sinh tử ra, bạn còn có thể hiểu rõ chân lí của vũ trụ, đây là một điểm quan trọng. Bạn hiểu được chân lí của vũ trụ, bạn sẽ hiểu được ý nghĩa con người sống ở trên đời này, bạn hiểu được triết học xuất thế. Có cái gọi là vũ trụ luận không nhỉ? Cái gọi là tương đối luận, cái gọi là duy thức luận, cái gọi là tuyệt đối luận, bạn đều có thể siêu việt, và có thể hiểu rõ. 

Nhìn chung, lấy điều này làm giá trị cao nhất của cuộc đời, những cái khác đều là giá trị về mặt vật chất, đều là dưới một bậc. Vì vậy hôm nay tôi hiểu được cái gì là thái cực, thái cực chính là vũ trụ tự nhiên. Vậy cái gì là bát quái, thiên, địa, lôi, phong, trạch, thủy, hỏa, sơn? Từ thái cực phân lưỡng nghi, lưỡng nghi biến thành tứ tượng, tứ tượng có thể biến ngũ hành, ngũ hành biến lục hợp, lục hợp biến thất chính, thất chính biến bát quái. 

Dạng biến hóa này của Đạo gia Trung Quốc: thiên, địa, lôi, phong, trạch, thủy, hỏa, sơn, bao gồm cả địa, thủy, hỏa, phong, không, đây không chỉ là một loại khoa học mà còn là một loại triết học, cũng là một loại huyền học. Vậy bạn nghiên cứu bát nhã và duy thức, bạn có thể hóa ra sự tượng trưng của bát nhã và duy thức. Đây cũng là bản thân bạn sau khi thâm nhập vào nghiên cứu và thực tu, bạn có thể hiểu được vô thượng chính đẳng chính giác là gì. Bản thân nó có một vật tượng trưng, bạn ở trong thực tướng của bát nhã bạn cũng có thể quán chiếu ra được, đây mới gọi là đắc chứng. 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

10/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì.


### 012. **Phương pháp ngăn chặn vọng niệm (1)**


Hôm nay chúng ta sẽ nói về năm xưa Phật Thích Ca Mâu Ni đã giảng dạy phương pháp ngăn chặn vọng niệm thế nào, điều này cũng vô cùng quan trọng. Khi Phật Thích Ca Mâu Ni dạy đệ tử, Ngài đã dùng rất nhiều cách. 

Đối với việc ngăn chặn vọng niệm, Ngài đã từng dạy cách đếm hơi thở. Phương pháp đếm hơi thở chính là bạn tập trung tinh thần của mình hoàn toàn vào giữa hít vào thở ra. Thật ra cách đếm hơi thở này chúng ta cũng có thể nói một cách rất đơn giản. Khi bạn đếm hơi thở, bạn sẽ không có vọng niệm lung tung. 

Bạn đếm một hít vào một thở ra là một, rồi lại một hít vào một thở ra là hai, bạn rất chuyên chú làm quán tưởng đếm hơi thở này, bạn sẽ không sản sinh ra những ý nghĩ khác, vì ý nghĩ của bạn đã đầy rồi, cho nên những ý nghĩ khác sẽ không sản sinh ra nữa. Đây là lời dạy của Phật Thích Ca Mâu Ni, là một phương pháp tốt nhất để chấm dứt vọng niệm.

Bản thân tôi trước đây cũng từng tu cách đếm hơi thở trong một khoảng thời gian rất dài, đây là phương pháp dùng để ngăn chặn vọng niệm mà Phật Đà đã dạy. Ngoài ra, Phật Đà nói với rất nhiều chúng sinh rằng, muốn dừng sắc tướng của bạn, phải dùng phương pháp bạch cốt quán, phương pháp quán xương trắng. Bạch cốt quán là như thế nào? Chính là xem một loại sắc tướng mà bạn bám chấp vào nó nhất là một bộ xương trắng.

Mọi người cũng biết là hình tướng bên ngoài, có một số là rất đẹp, nhưng khi bạn xem nó là một bộ xương trắng thì không còn đẹp nữa. Thật ra, khi chúng ta xem *televison*, khi xem ti vi, trong các bộ phim của Tây, thường có cảnh *kiss **[hôn]*. Khi chúng tôi mới đến Mĩ, nhìn thấy những cảnh như vậy thì cảm thấy rất y*uck* *[kinh]*! Cảm thấy là eo ôi *yuck* quá. Trẻ con học tiếng Anh rất nhanh, câu đầu tiên sẽ nói là *yuck* quá… *yuck* quá…! 

Trên thực tế, mặc dù bạn cảm thấy rất đẹp, cảm nhận rất hay, cảm thấy là cảm giác hôn đó rất thích, nhưng giả sử đổi thành một bộ xương trắng thì sao? Răng của bạn chạm vào răng của nó, vừa nhìn đã thấy hai lỗ mắt, lại không có mũi, chỉ có một hình tam giác, cảm giác của bạn sẽ khác ngay. 

Vì vậy ý nghĩa của việc Phật Đà dạy chúng ta tu bạch cốt quán chính là để phá sắc tướng, phải phá sắc tướng. Tu bạch cốt quán, khi bạn thực hành quán tưởng, rất dễ dàng loại bỏ được sự bám chấp vào sắc tướng trong tâm của bạn. 

Trước đây tôi thường giảng kinh Viên Giác. Ở trong kinh Viên Giác, Phật Thích Ca Mâu Ni cũng có nhắc đến phương pháp thực tu, chính là “chỉ quán song vận”.

Thiền tông nói về “chỉ”, chính là muốn bạn đoạn trừ vọng niệm, vọng niệm phải diệt trừ. Trong Mật giáo muốn diệt trừ vọng niệm thì hô một tiếng chú ngữ là “Pei”, âm “Pei” này là một âm thanh phá hoại. Thật ra nó cũng không chỉ là một âm thanh phá hoại, mà nó còn tiêu diệt toàn bộ vọng niệm, vọng nghiệp của bản thân bạn. “Pei”! Thế là dừng yên lại, vậy là nhập định, ở bên trong định.

Bất luận là quán đếm hơi thở, quán bạch cốt, hay là chỉ quán song vận, bạn muốn dừng nhưng không có cách nào dừng được thì bạn phải dùng quán tưởng để dừng. Đợi đến khi bạn quán tưởng đến một mức độ nào đó, thì lúc này bạn mới tiến nhập vào trạng thái dừng. Chỉ rồi quán, quán rồi chỉ, cứ tuần hoàn qua lại như vậy, chính là chỉ quán song vận, đây cũng là một phương pháp rất tốt. 

Thật ra tóm lại thì chỉ có một câu, chính là bạn phải tu đến cảnh giới có thể chuyên nhất, vô niệm. Trên thực tế là như vậy đó. Chúng sinh vọng niệm lung tung, nhưng khi bạn có thể chuyên chú vào một thứ, thì có thể biến tất cả vọng niệm thành một niệm, rồi từ một niệm biến thành thanh tịnh, chính là biến thành vô niệm. Khi thanh tịnh cũng là một trạng thái vô niệm, là lúc thanh tịnh nhất. 

Vào thời Phật Đà, rất nhiều A La Hán, đại tu hành giả, mười đại đệ tử, mỗi ngày họ đều thực hành công phu chuyên nhất. Sau đó đi vào trong vô niệm tam muội. Loại tu định này chủ yếu là thanh tịnh. Trong Mật giáo, trong “Đại thành tựu cầu vồng” của chúng ta nói đến thân-khẩu-ý thanh tịnh, chính là thân thể của bạn thanh tịnh giống như Phật, khẩu của bạn thanh tịnh giống như Phật, ý niệm của bạn thanh tịnh giống như Phật. 

Lúc này, từ tam nghiệp thân-khẩu-ý của bạn chuyển thành tam mật thân-khẩu-ý. Có sự chuyển đổi này, bạn sẽ có thể dễ dàng đi vào trong cảnh giới thanh tịnh. Đây chính là tu hành. Bản thân việc tu hành chính là phải thanh tịnh. Mà thanh tịnh chính là biến tất cả vọng niệm thành nhất niệm, rồi từ nhất niệm biến thành vô niệm thanh tịnh. Thân-khẩu-ý thanh tịnh chính là tam mật, thân-khẩu-ý không thanh tịnh thì sẽ biến thành nghiệp chướng của bạn, gọi là tam nghiệp. Vì vậy, tu hành chính là biến những vọng nghiệp của nghiệp chướng thành vô niệm thanh tịnh của Phật, đây chính là một loại công phu tu hành.

Vậy thì hôm nay, tôi muốn giảng cho mọi người biết, vào thời của Đức Phật, Phật Thích Ca Mâu Ni thường xuyên dạy chúng ta đếm hơi thở, quán bạch cốt và cả chỉ quán song vận mà trong kinh Viên Giác có nói đến. Những cái này đều là phương pháp rất tốt. Tất nhiên là còn có rất nhiều rất nhiều phương pháp giúp bạn có thể tập trung tinh thần vào một thứ, có thể dừng niệm và có thể chuyên nhất.

Rất nhiều người tu hành hỏi tôi, họ nói: “Lư Sư Tôn! Xin ngài dạy tôi làm sao để tu hành.” Tôi nói: “Yếu tố thứ nhất, phải tinh thần thống nhất.”* *Tinh thần thống nhất là một yếu tố đầu tiên, chính là biến toàn bộ vọng niệm của bạn thành nhất niệm. Khi bạn chuyên chú vào một thứ thì bạn có thể tiến nhập tam ma địa. 

Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum!

11/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì.


### 013. **Phương pháp ngăn chặn vọng niệm (2)**


Chúng ta sẽ nói tiếp về phương pháp dừng vọng niệm có liên quan đến “Đại thành tựu cầu vồng”.

Cũng có người hỏi tôi, anh ta nói: “Sao ngài lại biết rõ những phương pháp mà Thích Ca Mâu Ni đã giảng dạy như vậy?”

Tôi thành thật nói với mọi người như thế này, tôi là một người “siêu thời không” - vượt qua thời gian và không gian. Người ta sẽ hỏi: “Này, Lư Thắng Ngạn siêu thời không là sao vậy hả?”

Tôi nói: “Tôi là một cổ nhân”, người của thời cổ đại. “Ngài là người hiện đại, sao lại nói ngài là người của cổ đại chứ?” Đó là vì tôi biết được đời trước và đời sau của chính mình, tôi có thể biết được rất nhiều kiếp quá khứ, vì vậy tôi vừa là một cổ nhân, vừa là một người hiện đại. 

Vào thời của Phật Thích Ca Mâu Ni tôi cũng có mặt ở đó. Phật Thích Ca Mâu Ni giảng nhiều kinh như vậy, tôi cũng được nghe. Nếu đã như vậy thì sao tôi lại không biết rõ những gì Phật nói chứ? Thật ra bản thân Phật Đà, vẻ bề ngoài thì giống như là không tu Mật pháp, mấy đại đệ tử của Ngài, mấy vị A La Hán đó đều không tu Mật pháp, bề ngoài thì là như vậy, trên thực tế thì là có tu. Sự thật là các vị có tu Mật giáo, chỉ là vào lúc đó Mật giáo không được đem ra bàn luận, không được phơi bày ra. 

Phật Thích Ca Mâu Ni có truyền Mật pháp hay không? Giả sử Phật Thích Ca Mâu Ni không truyền Mật pháp, thì các A La Hán thành tựu trong thời đó sẽ không có hỏa quang tam muội. Do đó, vào thời của Phật Thích Ca Mâu Ni vì đã có hỏa quang tam muội, cho nên có sự tồn tại của Mật pháp. 

Vì vậy phải nói là Phật Thích Ca Mâu Ni có truyền các pháp “Đại thủ ấn cầu vồng”, “Đại thành tựu cầu vồng”. Chứ không thể nói Phật Thích Ca Mâu Ni không truyền Mật pháp, Mật pháp toàn bộ đều là do Đại Nhật Như Lai thuyết, không hẳn là như vậy đâu. Vì vào thời Phật Thích Ca Mâu Ni, lúc đó rất nhiều đại đệ tử đều đắc thành tựu về hỏa quang tam muội, đó chính là Mật pháp. 

Trong tu hành, trong vô hình đều luôn đi vào một loại thành tựu bí mật. Việc dạy pháp của Phật Đà thời đó là sau khi giảng pháp xong, mỗi một người sẽ đi về chỗ của mình để “an thiền”, ngồi thiền một cách yên tĩnh, đó chính là mỗi người đều tu phương pháp an thiền của mình. Thế rồi Phật Thích Ca Mâu Ni thỉnh thoảng lại đến dạy cho họ một chút, Ngài sẽ viết vài câu tặng cho đệ tử, những câu nói này sau này chính là kinh Pháp Cú. Kinh Pháp Cú chính là Phật viết vài chữ cho đệ tử, kêu đệ tử thả lỏng một chút, Ngài sẽ viết hai chữ “thả lỏng”, có nghĩa là  anh quá căng thẳng rồi, có thể thả lỏng một chút. Và có một số người quá buông lỏng, Ngài sẽ dạy đệ tử đó phải căng một chút. Giống như có một số đệ tử thường ngủ gục thì phải căng một chút, phải uy nghi một chút. Ngài thường xuyên viết những câu nói ngắn như vậy đưa cho đệ tử, tức là Ngài đang dạy đệ tử phương pháp tu hành.

Thế còn bản thân “Đại thành tựu cầu vồng” rất chú trọng đến phương pháp nội tu. Pháp nội tu là gì?Pháp nội tu là luyện cho khí của toàn thân, khí của toàn bộ cơ thể của bạn được sung túc, yếu quyết thứ nhất là khí phải vô cùng sung túc. Bạn không thể nhìn vào giống như là có khí mà không có lực. Đầu tiên là khí của cơ thể bạn phải thật sung túc. Vậy thì pháp này trước đây tôi cũng có nói qua rồi, nó gọi là Bảo bình khí. Pháp Bảo bình khí, mọi người có thể xem băng video, tại Lôi Tạng Tự Seattle có chia sẻ băng video về pháp Bảo bình khí.

Ngoài ra pháp nội tu chính là pháp Linh nhiệt, cũng tức là pháp Chuyết hỏa, tại  Seattle Lôi Tạng Tự cũng có chia sẻ băng video về pháp Chuyết hỏa, những giảng giải ở trong đó đều rất rõ ràng. Những gì tôi nói hôm nay là lời lặp lại, không những lặp lại mà còn phải nói rất lâu.

Vì vậy hôm nay tôi muốn nói với mọi người, bạn phải biết pháp Bảo bình khí, phải luyện Bảo bình khí trước để khí của bạn được sung túc, để khí ở bên trong cơ thể bạn tuần hoàn vô cùng thông thoáng, bạn sẽ là một người rất khỏe mạnh, rất kiên cố. Vì vậy phương pháp của Mật giáo không giống các phương pháp thông thường. Sau khi bạn tu Mật giáo rồi, có thể nói là bạn đã có hết toàn bộ khí công rồi, những pháp khí công được truyền ở bên ngoài bạn đều có hết, bởi vì Bảo bình khí chính là khí công hình cái bình, chính là cái bình hình hồ lô, khí công hình cái bình, không phải là cái ấm, tóm lại là khí công có hình dạng hồ lô. Bạn thật sự tu được khí sung túc rồi, khí vô cùng thông thoáng, đây là cơ sở đầu tiên.

Cái thứ hai mới tu linh nhiệt dẫn hỏa. Bên trong cơ thể của bạn vốn dĩ đã có đất nước lửa gió, lấy thủy hỏa để tu. Thủy ở thiên tâm chỗ này, hỏa ở dưới đan điền bốn lóng tay. Đầu tiên là dẫn hỏa lên, sau đó mới đưa thủy xuống, thủy hỏa hòa lẫn với nhau, ở bên trong cơ thể của bạn sẽ sản sinh ra một loại linh nhiệt, đây chính là pháp Chuyết hỏa.

Vào thời Phật Đà, các A La Hán thành tựu đều có hỏa quang tam muội. Phía trên xuất thủy, phía dưới xuất hỏa, đây chính là hỏa quang tam muội, ở trong Phật điển đều có hết, có thủy hỏa định, có thủy định, có hỏa định, đây chính là pháp trong Mật giáo.

Loại hiện tượng này, tôi nói với mọi người một cách đơn giản, chính là khí ở bên trong cơ thể bạn vô cùng sung túc, mạch ở bên trong cơ thể toàn bộ mở ra hết, toàn bộ tinh thần ở bên trong cơ thể đều tập trung, phát ra nhiệt, phát ra lửa, phát ra ánh sáng, loại ánh sáng này đốt cháy toàn thân bạn, trở thành một hiện tượng kim cang vô cùng kiên cố.

Tôi nói với mọi người một cách rất đơn giản, rất đại khái như vậy. Bản thân việc tu Mật giáo có hiệu ứng về mặt thực tế, thế nào gọi là hiệu ứng về mặt thực tế? Chính là nói bạn có thể cảm nhận được, bạn có thể cảm giác được, bạn có thể sản sinh pháp lực, bạn có thần thông, ít nhất thì cơ thể của bạn cũng vô cùng kiên cố. Chí ít có thể nói, sau khi bạn tu thành rồi thì trăm bệnh chẳng thể xâm phạm, bạn vô cùng kiên cố, cơ thể vô cùng cường tráng, vô cùng vững chắc, thân thể của bạn cũng giống như là *superman **[siêu nhân]*. Nói một câu đơn giản là *superman.* Bạn có pháp lực, có thần thông, việc tu pháp này là việc tu pháp có cảm giác chân thực, không phải là nói ngoài miệng, không phải là hão huyền. 

Hôm nay tôi tạm nói với mọi người đến đây. Om mani padme hum!

11/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì.


### 014. Tam căn bản của Mật giáo


Hôm nay tôi sẽ nói với mọi người về tam căn bản, cũng tức là ba căn bản của Mật giáo. Chúng ta tu hành Mật pháp, trước tiên nhất định phải quy y Thượng sư, cũng có nghĩa là có Thượng sư rồi mới có người chỉ dẫn bạn học Phật, mới có người quán đảnh cho bạn, và giảng dạy đạo lí Phật pháp cho bạn. 

Về căn bản mà nói, bản thân một vị Thượng sư cần phải chỉ dẫn được bạn một cách rất vi tế về khẩu quyết. Vậy thì, khi làm công việc truyền thụ cho đệ tử, làm một người đệ tử thì có thể nương dựa vào vị Thượng sư đó. Một vị Thượng sư, về bản chất mà nói, chính là sự gia trì căn bản rất quan trọng trong ba căn bản của Mật giáo. 

Thượng sư quán đảnh cho bạn, lần trước tôi đã nói rồi, giống như là Thượng sư đem một pháp truyền thụ cho bạn. Khi quán đảnh cho bạn giống như là truyền thụ hạt giống của pháp vào bên trong cơ thể thân thể bạn, điều này về cơ bản là rất quan trọng. Vì vậy, bản thân Thượng sư mà nói, chính là một căn bản của gia trì, đây là căn bản thứ nhất.

Còn căn bản thứ hai chính là Bổn tôn. Mỗi một hành giả tu tập ở trong Mật giáo đều cần phải có một Bổn tôn căn bản. Thế nào là Bổn tôn? Chính là sau này khi bạn tu hành, bạn phải đạt được thành tựu giống Bổn tôn của mình. Lấy một ví dụ để nói, ví dụ Bổn tôn của bạn là Quan Thế Âm Bồ Tát, vậy tương lai sau khi bạn tu hành thành tựu rồi, bạn chính là Quan Thế Âm Bồ Tát, đây chính là thành tựu căn bản. Giả sử bản thân bạn đã tu đến tương ứng với Bổn tôn rồi, vậy thì bạn chính là Quan Thế Âm Bồ Tát, giống nhau. 

Vì vậy trong Mật giáo nói đến Phật và chúng ta, tức là các hành giả chúng ta, vốn dĩ không có sự khác biệt quá lớn. Cũng có nghĩa là, tương lai bạn thành tựu rồi, bạn chính là Phật, bạn chính là Bồ tát, chứ không phải là khoảng cách quá xa. Sự tu hành thực sự trong Mật giáo chính là kéo khoảng cách giữa Phật và bạn lại với nhau, chứ không phải là ở khoảng cách xa.

Vì vậy đây không phải là một loại tín ngưỡng bình thường. Một số tín ngưỡng thông thường cho rằng Phật ở trên trời, bạn ở dưới mặt đất, khoảng cách vô cùng xa xôi. Và bạn có việc gì đều phải cầu thỉnh Phật. Tu hành trong Mật giáo không phải như vậy. Phật và bạn là hợp nhất, khi bạn thành tựu rồi, bạn chính là thành tựu Phật. Vì vậy Bổn tôn là rất quan trọng, có thể nói Bổn tôn chính là căn bản của thành tựu, đây là căn bản thứ hai. 

Thượng sư là gia trì căn bản, Bổn tôn là thành tựu căn bản. Vậy bạn muốn tìm kiếm Bổn tôn này, bạn phải tìm kiếm vị có duyên nhất, bạn cảm thấy đó là vị mà bạn có duyên nhất. Ví dụ như là bạn nói Quan Thế Âm Bồ Tát rất có duyên với tôi, vậy tương lai bạn sẽ tu hành đến cảnh địa của Quan Thế Âm Bồ Tát, chính là Bổn tôn có duyên với mình nhất. Mỗi người đều có một vị Bổn tôn, hành giả Mật giáo chính là như vậy.

Ngoài ra còn có vị thứ ba, chính là Hộ pháp. Hộ pháp chính là sự nghiệp căn bản. Vậy làm sao để nhận định Hộ pháp? Hiện nay có rất nhiều đệ tử viết thư đến cho Sư Tôn nói: “Thỉnh Lư Sư Tôn nói cho con biết Hộ pháp của con là ai?”

Cái này là do chính bản thân bạn tu thành. Bạn muốn xác nhận được Hộ pháp của bạn là vị nào, nói cách khác là bạn cảm ứng được Hộ pháp đến hộ trì cho bạn, bạn nhìn thấy được ở trong thiền định, bạn nhìn thấy ở trong giấc mơ, hoặc là bản thân bạn vào ban ngày cũng nhìn thấy được, mở mắt ra là nhìn thấy, đó chính là căn bản Hộ pháp của bạn. 

Đừng có hỏi tôi, bởi vì tôi đã bị hỏi đến nhức đầu chóng mặt luôn rồi. Hiện nay có bốn triệu đệ tử, cứ nhắc đến căn bản Hộ pháp là mỗi một người đều gửi thư đến hỏi tôi, tôi xác nhận cho từng người một như vậy thực sự là quá bận rộn, vì Hộ pháp có quá nhiều. Vì vậy, Hộ pháp đòi hỏi bạn phải như thế nào? Khi bạn tu hành đến một trình độ nào đó, từ trong hư không phái một vị Kim cang Hộ pháp đến, Không hành, chư Thiên, thậm chí là thiên long bát bộ gì đó, một trong các vị đó có duyên với bạn nhất, thích đến hộ trì bạn thì chính là căn bản Hộ pháp của bạn. Điều này cũng rất là quan trọng. 

Vậy thì Hộ pháp là gì? Hộ pháp là sự nghiệp căn bản. Bởi vì có rất nhiều việc trong quá trình bạn tu hành trở thành sự nghiệp lớn của bạn. Trong lúc tu hành có rất nhiều chuyện cần phải làm, có rất nhiều pháp vụ cần phải làm. Có rất nhiều chuyện đều cần Hộ pháp đến giúp bạn thành tựu, cái đó gọi là sự nghiệp căn bản.

Chúng ta tu hành Mật giáo có ba căn bản như vậy đó. Thượng sư là gia trì căn bản, Bổn tôn là thành tựu căn bản, Hộ pháp là sự nghiệp căn bản. Giữa ba thứ này chính là một samaya. Samaya chính là một lời thề. Một người tu hành không được xa rời căn bản Thượng sư của mình, không được xa rời căn bản Bổn tôn của mình, cũng không được xa rời căn bản Hộ pháp của mình. Một hành giả phải luôn luôn nghĩ tưởng đến Thượng sư, Bổn tôn và Hộ pháp.

Bởi vì Thượng sư đang làm quán đảnh, gia trì cho bạn mọi lúc. Còn Bổn tôn, tương lai bạn phải thành tựu Bổn tôn, bất cứ lúc nào bạn cũng phải ở cùng với Bổn tôn. Hộ pháp cũng như vậy, bất cứ lúc nào cũng hộ trì bạn, làm các loại pháp vụ như tiêu tai, tăng ích, kính ái, hàng phục đều phải thỉnh Hộ pháp giúp bạn hoàn thành những sự nghiệp và pháp vụ.

Vì vậy ba điều này, giữa một hành giả và ba căn bản này là không thể tách rời. Cho nên tôi mới nói bạn muốn tu hành “Đại thành tựu cầu vồng” nhất định phải quy y. Quy y rồi bạn mới xuất hiện Thượng sư chỉ dẫn cho bạn, quán đảnh cho bạn, giảng dạy cho bạn, gia trì cho bạn. Sau đó mới theo nghi quỹ lựa chọn một vị Bổn tôn. Sau khi chọn lựa Bổn tôn của bạn rồi, bạn sẽ dựa theo Bổn tôn mà tu pháp, đi theo Bổn tôn, hợp nhất với Bổn tôn. Sau này bạn nhìn thấy ánh sáng trong thiền định, biết được Hộ pháp của mình là ai, biết được Hộ pháp của mình rồi thì ngài sẽ hiển hiện ra. Sau khi bạn tu hành có tương ứng rồi, Hộ pháp sẽ tự động hiển hiện. Mọi người phải hiểu rõ, đây chính là ba căn bản của Mật giáo. 

Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum!

12/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì.


### 015. Nói về "tu mộng” (1)


Chúng ta vừa mới nói về ba căn bản, vậy bây giờ chúng ta nói đôi chút về “tu mộng”. Giấc mơ cũng cần phải tu ư, có rất nhiều người cảm thấy rất kì lạ. Trong Mật giáo đặc biệt là như vậy đó. Ban ngày cũng tu, ban ngày thì tu pháp, và buổi tối khi bạn đi ngủ bạn cũng phải tu pháp, cái này chính là tu mộng. 

Thông thường mà nói, Hiển giáo rất ít nghe nói đến tu mộng, bản thân họ cũng có tu nhưng tương đối ít. Nhưng Mật giáo thì có. Ba căn bản mà chúng ta vừa mới nói đến đó, bản thân Thượng sư có pháp lực gia trì, gia trì cho bạn một cái là bạn có ngay mấy trăm năm công lực. 

Bổn tôn cũng có pháp lực, pháp lực của Bổn tôn cũng rất mạnh, giống như Quan Thế Âm Bồ Tát mọi người đều biết bản thân Ngài có pháp lực rất lớn. Như Hộ pháp, thiên long bát bộ, Tứ Đại Thiên Vương, Ngũ Đại Kim Cang, tất cả Không hành mẫu, chư Thiên đều có pháp lực. Sức mạnh của những Hộ pháp này cũng rất lớn. Vì vậy tu hành trong Mật giáo chúng ta là tổng hợp rất nhiều sức mạnh lại với nhau để bản thân hành giả cũng sản sinh ra sức mạnh rất lớn. Còn có tự lực và tha lực kết hợp lại với nhau. 

Mật giáo có nói đến tự lực, tự lực chính là sức mạnh mà tự mình tu được. Tha lực chính là bao gồm sức mạnh của Thượng sư, Bổn tôn và tất cả Hộ pháp. Toàn bộ sức mạnh cộng lại với nhau chính là một loại samaya, một loại sức mạnh rất lớn, có thể chấn động toàn bộ vũ trụ. Vì vậy bản thân Mật giáo là nói đến pháp lực, thông thường Hiển giáo rất ít khi nói đến pháp lực, còn Mật giáo là luôn nói đến pháp lực.

Vậy thì trong tu hành, không chỉ ban ngày bạn tu pháp, ban đêm khi ngủ, khi nằm mơ, bạn cũng có thể tu pháp. Liên quan đến giấc mơ, trước đây tôi có nói đến pháp Miên quang. Pháp Miên quang có nghĩa là mỗi ngày trước khi bạn đi ngủ phải cầu nguyện Thượng sư, Bổn tôn và Hộ pháp gia trì cho bạn, phải cầu nguyện để khi bạn nằm mơ sẽ vô cùng bình an. 

Vậy thì phải trì chú, bạn có thể trì Thượng sư tâm chú, hoặc trì chú ngữ của Bổn tôn cho đến khi đi vào giấc ngủ, cho đến khi ngủ say. Và lúc này bạn cũng phải quán tưởng. Về quán tưởng, bản thân chúng ta phải quán tưởng, trong hư không có một chữ “Hum” màu đỏ, sau đó từ cổ họng phát ra ánh sáng màu đỏ, chiếu vào trong hư không, sau đó chữ “Hum” phát ra ánh sáng màu đỏ chiếu vào bạn, ánh sáng biến thành một dạng bảo vệ, giống như một cái lọng chụp lấy bạn, để bạn trong khi ngủ giống như ngủ ở bên trong ánh sáng màu đỏ. Điểm này rất là quan trọng. Cổ họng phóng ánh sáng màu đỏ vào trong hư không, trong hư không có chú tự, sau khi nhận lấy ánh sáng của bạn rồi lại phóng ra ánh sáng màu đỏ chiếu vào bạn, biến thành một cái lọng, bạn ngủ ở bên trong cái lọng đó, bất cứ loại ma chướng nào cũng không thể xâm phạm bạn.

Chúng ta hiểu được pháp Miên quang chính là như vậy. Bạn tu pháp Miên quang đạt được thành tựu rồi, bạn là người chân tu, cũng tức bạn là một người tu hành chân chính, giấc mơ mà bạn có được đều là chính mộng, là giấc mơ tốt đẹp, chính xác, có linh nghiệm. Còn giấc mơ của người phàm bình thường chính là một loại mộng huyễn điên đảo, không thực tế, nhưng giấc mơ do một người chân tu sản sinh ra thì là một loại chính mộng. Vậy khi mơ chính mộng thì đều luôn ứng nghiệm. 

Giống như trước đây tôi tu hành, ngày hôm sau phải ra ngoài giúp người ta xem phong thủy, đêm hôm trước ở trong giấc mơ, Ngài nói với tôi là: “Ngày mai, lúc 3 giờ chiều sẽ có mưa, ra đường nhớ mang ô.” Ngài sẽ chỉ thị cho bạn rất rõ ràng. Nói xong câu nói đó sẽ hiển hiện một ánh sáng cho bạn thấy. Chiều hôm sau, khi tôi đi xem phong thủy cho người ta, tôi liền mang theo ô che mưa. Mọi người đều cười: “Trời nắng, mặt trời nóng như vậy, anh mang ô che mưa làm gì?” Nhưng tôi nói với mọi người là: “3 giờ chiều nay sẽ có mưa.” Mọi người đều cười ngặt nghẽo, một hạt mưa cũng không có. Nhưng khi đi lên đỉnh núi xem phong thủy, đến lúc 3 giờ, quả nhiên mưa to, chỉ có một mình tôi cầm ô che mưa. 

Điều này rất linh nghiệm, Hộ pháp rất linh nghiệm, ở trong mơ của bạn ngài chỉ thị cho bạn đều sẽ ứng nghiệm. Vì vậy bạn tu hành, tu đến lúc đạt chứng nghiệm này, tất cả mộng cảnh đều là chính mộng, cũng tức là giấc mơ linh nghiệm. Hộ pháp chỉ thị cho bạn, nói cho bạn biết, đều sẽ linh nghiệm.

Người tu hành bình thường nằm mơ, tôi không biết là họ mơ giấc mơ gì kì lạ cổ quái lắm, thần tiên đánh nhau, một đống các loại mơ linh tinh lộn xộn. Nhưng giấc mơ của một hành giả là vô cùng rõ ràng, vô cùng chính xác, vô cùng linh nghiệm, rất rõ ràng khiến bản thân bạn biết đây là một giấc mơ chứng nghiệm.

Hộ pháp luôn ở trong mơ chỉ điểm cho bạn, Thượng sư, Bổn tôn đều ở trong mơ gia trì cho bạn, bạn sẽ không mơ giấc mơ linh tinh lộn xộn. Một người tu hành khi tu đến cảnh giới này rồi là có thể tự mình đi con đường của mình, sẽ không sinh ra điên đảo hoang tưởng. Vì vậy tu mộng rất quan trọng. 

Tu “Đại thành tựu cầu vồng”, bạn muốn tu Mật giáo, tu mộng là vô cùng quan trọng. Bởi vì đời người có một nửa là ở trong mơ rồi. Bạn không tu trong mơ thì khi nào mới tu? Vì vậy “Đại thành tựu cầu vồng” có tu mộng, phải cầu nguyện Bổn tôn, Thượng sư, Hộ pháp, phải nằm tư thế cát tường. Thế nằm cát tường là một tư thế nằm nghiêng, tim ở phía trên. Chính là tư thế nằm nghiêng của Phật Thích Ca Mâu Ni khi niết bàn. Sau đó phải trì chú ngữ của Bổn tôn và Thượng sư, phải kết thủ ấn, phải quán tưởng Hộ pháp đến bảo hộ bạn.

Hôm nay nói với mọi người đến đây thôi. Tu mộng là vô cùng quan trọng. Chính mộng là giấc mơ rõ ràng, linh nghiệm.

Om mani padme hum!

12/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì.


### 016. Nói về "tu mộng” (2)


Tuần trước, chúng ta đã nói đến tu mộng, bởi vì tu mộng vô cùng quan trọng cho nên hôm nay tôi sẽ nói tiếp với mọi người về tu mộng. 

Tại sao phải tu mộng? Bởi vì cuộc đời chúng ta hầu hết có một nửa là thuộc về thế giới của giấc mơ. Vì vậy nếu có thể tu mộng tức là bạn có thể làm ít được nhiều. Bạn không biết tu mộng thì có nhiều khi là công lao đổ biển, điều này là rất quan trọng.

Đặc biệt, trước đây sư phụ của tôi từng nói với tôi, sự khác biệt giữa người sống và người chết, giữa giấc mơ và cái chết có liên quan. Sư phụ tôi từng nói, khi con người chết đi rốt cuộc là cảnh giới như thế nào? Nó cực kì giống với giấc mơ, là một loại giấc mơ khác, con người chết đi chính là một loại giấc mơ khác. Vì vậy Mật giáo chủ trương tu mộng, nguyên nhân chủ yếu là vì nếu bạn có thể tu mộng tốt, bạn có thể tự chủ cái chết của mình.

Nếu như tu mộng không tốt, bạn không cần phải nói đến tự chủ sinh tử nữa, bạn sẽ không cách nào tự chủ được cái chết. Cho nên điểm chính yếu của nó là như vậy. Khi bạn đang mơ, bạn biết là mình đang mơ, đây là mơ, điểm này cho thấy bạn đã có được thành quả rồi. Hơn nữa, mỗi lần nằm mơ đều là chính mộng. Giấc mơ của bạn vô cùng thanh tịnh, là một loại giấc mơ của chính trí huệ, không phải giấc mơ điên đảo hoang tưởng, sự khác biệt này rất lớn. 

Ngoài ra, còn có một điều nữa, giấc mơ của bạn chắc chắn sẽ linh nghiệm, đó là nghiệm mộng. Một điều cuối cùng rất quan trọng, là một người tu hành bạn phải tự chủ được giấc mơ của mình. Cũng có nghĩa là ở trong giấc mơ, bạn giữ được tâm thanh tịnh, không bị ô nhiễm bởi giấc mơ. Bạn có thể siêu việt giấc mơ này, bạn có thể chuyển đổi giấc mơ này thành thế giới Phật thanh tịnh, bạn có năng lực này không hả? Nếu bạn có thể làm được, bạn có thể tự chủ giấc mơ thì có thể tự chủ được cái chết.

Trước đây sư phụ tôi có dạy: nếu giả sử nằm mơ mà không thể tự chủ, tương lai khi bạn chết, bạn cũng không thể tự chủ được cái chết của mình. Người tu hành chúng ta đương nhiên cũng có nằm mơ, chúng sinh người nào cũng đều nằm mơ hết. Nhưng mà, giấc mơ của chúng sinh, giấc mơ của mọi người, các bạn đều biết đó, đang trong mơ không biết là mơ, giấc mơ mà họ mơ là điên đảo hoang tưởng, linh tinh lộn xộn, không phải giấc mơ thanh tịnh, giấc mơ của họ cũng sẽ không linh nghiệm.

Giống như có người trong giấc mơ biết bay, bay lên trời, chui xuống đất, khi tỉnh dậy thì anh ta không làm được nữa, anh ta không có cách nào linh nghiệm cả. Đồng thời, anh ta đi theo giấc mơ, anh ta không cách nào giữ được tâm thanh tịnh để siêu việt, để tự chủ giấc mơ.

Mọi người thử nghĩ xem, người như vậy có thể nói là bản thân mình khai ngộ rồi không? Bạn là một người khai ngộ mà ngay đến giấc mơ của mình cũng không thể kiểm soát, vậy thì bạn không phải là người khai ngộ. Bạn nói bạn có thể vãng sinh Phật quốc, nhưng nếu để cho bạn mơ một giấc mơ nho nhỏ thôi, bạn cũng không thể vãng sinh. Bạn ở trong mơ đã bị ô nhiễm rồi, bạn làm sao vãng sinh Phật quốc chứ? 

Vì vậy Mật giáo xem trọng tu mộng, điều này là vô cùng quan trọng. Đồng thời tôi muốn bổ sung một câu. Chính là muốn nói, mỗi một hành giả chúng ta, khi nằm ngủ trên giường, phải niệm “Lang Yang Khang” (Ram Yam Kham), “Lang Yang Khang”, sau đó quán tưởng thân mình biến thành chày kim cang kiên cố nhất, chày kim cang bất hoại nằm ở trên giường, điều này rất có ích. 

Bởi vì cho thấy rằng lúc này ở trong mơ bản thân bạn vô cùng kiên cố, trăm thứ tà không thể xâm hại, bất cứ một nghiệp chướng, ma chướng nào cũng không thể gây trở ngại cho bạn trong mơ. Và ở không trung có cái lọng bảo vệ bạn, có ánh sáng màu đỏ chiếu trọn lấy bạn, lại có Bổn tôn, Hộ pháp và Thượng sư của bạn gia trì cho bạn, vì vậy pháp này gọi là pháp Miên quang, nghĩa là phương pháp ngủ trong ánh sáng, pháp này cũng vô cùng quan trọng.

Bản thân tôi ở Seattle Lôi Tạng Tự đã từng truyền thụ pháp Miên quang này rồi. Vậy hôm nay chúng ta đều biết rằng tu mộng là vô cùng quan trọng, vậy thì không được để giấc mơ lôi kéo mình đi. Chúng ta có thể tự chủ giấc mơ, đang ở trong mơ biết là mơ. Và cũng có thể mơ giấc mơ thanh tịnh, giấc mơ của bạn sẽ linh nghiệm. Còn nữa, bạn tự chủ giấc mơ của mình, như vậy là bạn có thể tự chủ sinh tử của mình rồi. Bởi vì lời của sư phụ tôi nói là vô cùng vô cùng vô cùng chính xác. “Cái chết của con người là một loại giấc mơ khác.”

Tôi hỏi mọi người nhé, cái chết của con người có giống một giấc mơ khác hay không? Mọi người đều rất mơ hồ, bởi vì đều chưa từng chết mà, mọi người đều không biết. Bởi vì đích thực là mọi người không biết cảnh giới của cái chết. Nhưng hành giả Mật giáo cho rằng cái chết của con người là đi vào một loại giấc mơ khác. Mọi người động não nghĩ thử xem, con người khi chết có phải là đi vào một giấc mơ khác không? Trong pháp dịch chuyển thần thức của Mật giáo đã từng nói đến cái này, vì vậy đây hoàn toàn là sự thật. 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

15/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì.


### 017. Thiền tông và Mật giáo


Từng có đệ tử viết thư đến hỏi tôi: “Thiền tông là trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật, vậy Thiền tông cũng có thể tức thân thành Phật. Nhưng tại sao Thiền tông không cần tu khí-mạch-minh điểm mà lại có thể trực tiếp thành Phật? Tại sao Mật giáo phải tu khí-mạch-minh điểm, phải tu thân cầu vồng mới có thể tức thân thành Phật?”

Vậy tôi sẽ trả lời câu hỏi này của anh ấy ở đây. Là như thế này: Trên thực tế là do căn cơ của mỗi người, có một số người tu hành rất có căn cơ, có một số người căn cơ tu hành tương đối kém, nhìn chung thì đều là trung bình, hầu hết đều là căn cơ hạng trung. Người có căn cơ rất tốt, bạn có thể trực tiếp đi tu Thiền tông, thật ra bản thân Thiền tông còn gọi là “Mật tông vô tướng”.

Tại sao lại nói như vậy? Bởi vì Thiền tông có hai yếu tố, yếu tố thứ nhất, Thiền tông là trực tiếp đi nhận biết Phật tính, rất trực tiếp chỉ ra Phật tính của bạn. Tiếp theo, bạn cần phải thực nghiệm. Sau khi biết được Phật tính rồi, phải đi thực thi Phật tính đó. Thông qua việc thức tỉnh, bạn biết được Phật tính rồi, phải đi thực thi Phật tính để ấn chứng lẫn nhau. Có được ấn chứng rồi, bạn sẽ có thể thành Phật. Đây chính là Thiền tông. 

Nhưng cái này nhất định phải là người có đại căn cơ mới có thể tu. Người bình thường là hữu tướng, Thiền tông là vô tướng. Bản thân Mật giáo là hữu tướng, sau đó mới từ từ đi vào vô tướng, cuối cùng sẽ giống với Thiền tông. Nhưng bản thân Mật giáo tiếp dẫn chúng sinh thì rất rộng, trước tiên là từ hữu tướng rồi đi vào vô tướng. Thật ra là giống nhau. 

Tại sao Thiền tông không cần tu khí-mạch-minh điểm, không cần tu pháp thân cầu vồng mà có thể trực tiếp thành Phật? Vì Thiền tông sử dụng một phương pháp, chính là trước tiên để bạn ấn chứng thời không, thời gian và không gian. Về mặt thời gian, trong Thiền tông có nói một câu: “Tâm quá khứ bất khả đắc, tâm hiện tại bất khả đắc, tâm vị lai bất khả đắc.” Quá khứ đã là cái đi qua rồi, đương nhiên là bất khả đắc, hiện tại đang dần dần biến thành quá khứ, cũng bất khả đắc. Tương lai thì không biết, vẫn chưa đến, ba cái tâm này đều bất khả đắc.

Cũng có nghĩa là về mặt thời gian, căn bản là bất khả đắc. Vậy thì đi ấn chứng cái Không về mặt thời gian, từ cái Không của thời gian chứng minh ngược lại cái Không của thế giới vật chất. Thời không đều bất khả đắc. Từ lí luận này đi thực nghiệm, tiến nhập tính Không. Thiền tông là rất khó tu.

Từng có một người đi hỏi thiền sư, anh ta đi gặp thiền sư nói rằng: “Tôi đã khai ngộ rồi!” “Khai ngộ thế nào?” “Quá khứ bất khả đắc, hiện tại bất khả đắc, tương lai cũng bất khả đắc. Tâm quá khứ, tâm hiện tại, tâm tương lai, tất cả đều bất khả đắc, tất cả đều là tính Không, đều là trống không.”

Thiền sư liền cầm một đồ vật gõ vào đầu anh ta “cốc” một cái. “Thiền sư, sao ngài lại đánh tôi? Ôi đau! Đau quá! Sao ngài lại đánh tôi?”

Thiền sư nói: “Anh nói cái gì cũng là không mà, sao tôi đánh anh thì anh lại chẳng thể “không” được?”

Ý nghĩa này rất rõ ràng, “không” về mặt lí luận không phải là “không” về mặt thực tế. Vì vậy về mặt lí luận sau khi bạn hiểu rõ tính không rồi, bạn còn phải đi thực hiện, phải thực nghiệm. Không phải là người đại căn khí thì rất khó mà hiểu được, một số người căn khí nhỏ thì không dễ gì hiểu được. Người tu Mật giáo đã được xem là người có căn khí lớn rồi mà cũng chưa chắc có thể tu chứng thành tựu.

Sau khi bạn thực sự lĩnh hội được tính Không rồi, nếu đem thân tâm của mình hoàn toàn hòa nhập với tính Không, bạn cũng vẫn có thể chứng đắc đại thành tựu cầu vồng. Đây chính là lí luận và thực tế hoàn toàn nhất trí. Bạn có thể để thân tâm của mình tương ứng với hư không, tự nhiên bạn cũng có thể chứng đắc.

Tôi từng nói về một sự thật, Thiền tông thực sự đi vào tọa vong, thân tâm đều quên, hòa nhập hư không, ”năng lượng” của vũ trụ tự nhiên sẽ đi vào bên trong cơ thể của bạn để hợp nhất với bạn. Trong Mật giáo có nói, khi bạn thực sự đi vào tam ma địa, nguyên tố sinh mạng của bạn toàn bộ chảy về chỗ thiên tâm. Khi thiền, bạn thực sự có thể tọa vong, khí mạch bên trong toàn thân bạn tự nhiên sẽ thông, bởi vì bạn đều đã “không” rồi, vật chất bên trong cơ thể của bạn khí-mạch-minh điểm đều hiện ra một trạng thái trống không và trong suốt, thì khí mạch của toàn thân bạn lúc này đều đã được thông. 

Cái này có thể nói là không thầy mà tự thông, không tu Mật nhưng thực tế đã chứng minh được Mật. Mật giáo trên thực tế là tu Mật, Thiền tông không tu Mật, nhưng lại chứng minh được Mật, bởi vì khí-mạch-minh điểm của bạn đều biến thành “không”. Vì vậy Thiền tông trực tiếp chứng minh một loại tính Không của Mật, tính Không của khí-mạch-minh điểm. Mật giáo là dùng cái có của khí-mạch-minh điểm đi chứng minh tính Không của khí-mạch-minh điểm trong tương lai. Đến cuối cùng cả hai đều là tương thông.

Sau khi mọi người hiểu được điểm này rồi sẽ biết được vì sao Thiền tông không cần tu khí-mạch-minh điểm mà vẫn có thể trực tiếp chứng được tức thân thành Phật, chứng được đại thành tựu cầu vồng. Mật giáo dựa vào ba thứ khí-mạch-minh điểm làm căn cứ để tu xuất cầu vồng, để chứng minh tính Không. Là trước tiên từ có thứ để thực nghiệm, để chứng minh, từ đó mà đắc được. Còn Thiền tông thì lại rất trực tiếp, ngay đến khí-mạch-minh điểm cũng biến thành “không”. Điều này là rất quan trọng.

Quá khứ bất khả đắc, tâm quá khứ thực sự là bất khả đắc, đã đi qua rồi. Hiện tại đang từ từ chuyển hướng đến quá khứ, cũng là bất khả đắc, mọi người đều biết. Chuyện tương lai thì vẫn chưa biết được, vì vậy cũng là bất khả đắc. Trên thực tế có thứ gì là có thể đắc đây? Vốn dĩ là không thể đắc. Bạn đi chứng minh rồi, đi thực nghiệm, bạn sẽ vô cùng siêu việt. Vì vậy, Thiền tông là một tông phái vô cùng siêu việt. Mật giáo đến cuối cùng cũng chứng minh Thiền tông. 

Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum!

15/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì.


### 018. Quan niệm của Mật giáo


Hôm nay sẽ nói với mọi người về quan niệm của Mật giáo. Thông thường mà nói, nghiên cứu Phật pháp đều luôn có một sự khó khăn, bởi vì nó vô cùng rộng. Về Mật giáo mà nói, quan niệm của nó cũng không phải là dễ dàng để thấu hiểu. Nhưng mà tôi sẽ đem quan niệm của Mật giáo, nói một cách rất đơn giản, cũng tức là dùng nguyên lí và nguyên tắc đơn giản để biểu thị, để mọi người trong chốc lát có thể hiểu được bản thân Mật giáo là phải tu như thế nào.

Đầu tiên, thông thường mà nói, nghiên cứu về Phật giáo là dùng ba chữ để diễn đạt. Một là “thể”, thể chính là “bản thể”. Một cái nữa là “tướng”, là tướng biểu hiện ra bên ngoài. Một cái là “dụng”, làm sao để “ứng dụng”. Chúng ta cũng dựa theo phương diện thể, tướng, dụng để nói. 

Về mặt thể, thể ở trong Mật giáo là như thế này. Toàn bộ vũ trụ được cấu thành bởi sáu đại, đó chính là đất, nước, lửa, gió, không và thức. Chúng ta thường nói cơ thể người là một vũ trụ nhỏ. Toàn bộ vũ trụ là một vũ trụ lớn, nhưng con người chúng ta là một vũ trụ nhỏ, cơ thể của chúng ta cũng như vậy, có đất, nước, lửa, gió, không, thức. Về mặt bản thể là như vậy.

Về mặt bản thể thì đất là kiên cố, nó có đặc tính của nó chính là kiên cố. Nước thì ẩm ướt, đặc tính của nó là ẩm ướt. Đặc tính của lửa là nóng, nhiệt độ. Đặc tính của gió là chuyển động, nó là động. Vậy còn không, toàn bộ vũ trụ đều vô ngại, không có chướng ngại gì cả, đặc tính của không là không có chướng ngại. Đặc tính của thức là chân trí, cái trí chân chính, một trí huệ chân chính, đó là thức. Chúng đều có đặc tính. 

Trong cơ thể người của chúng ta cũng như vậy. Đất, nước, lửa, gió, không, thức. Đất chính là xương, thịt của bạn. Nước chính là máu, mồ hôi của bạn, đều là ẩm ướt. Lửa chính là nhiệt độ. Vậy còn gió? Gió chính là sự hô hấp. Không cũng chính là tâm của bạn, tâm là vô ngại. Còn thức của bạn chính là chân trí của bạn, linh thức của bạn, linh mệnh đích thực của bạn, đó là chân trí, trí huệ chân chính, là thức. Vì vậy tóm lại, đây chính là bản thể luận của Mật giáo.

Tướng của Mật giáo thì dùng cái gì để biểu thị? Chính là Mạn Đà La (mandala). Mọi người đều biết Mạn Đà La rồi, khi tôi giảng giải “Mật Tông đạo thứ đệ quảng luận” đã từng nhắc về Mạn Đà La. Thật ra toàn bộ “Mật Tông đạo thứ đệ quảng luận” chính là dùng tướng của Mạn Đà La để giải thích. Dùng tướng của Mạn Đà La để giải thích từ đầu đến cuối. Mật giáo là dùng tướng, tu Mạn Đà La để làm một cái tướng của Mật giáo.

Ngoài ra, nói về mặt tác dụng, tu hành của Mật giáo là ngoại tu thân-khẩu-ý, nội tu khí-mạch-minh điểm. Đây thuộc về phương diện tu pháp thân-khẩu-ý và khí-mạch-minh điểm. Tức là tu cho thân-khẩu-ý tức đạt đến thanh tịnh. Tu để chuyển hóa khí-mạch-minh điểm, chuyển hóa các bộ phận của cơ thể thành ánh sáng để ấn chứng sáu đại: đất, nước, lửa, gió, không, thức của ý thức vũ trụ. Như vậy trong Mật giáo, mọi tác dụng của việc tu hành là để vũ trụ nhỏ của cơ thể bạn và ý thức của vũ trụ lớn nhất cùng tương ứng và hợp nhất. 

Chúng ta đều biết bản thân Phật chính là tam mật. Tam mật của Phật chính là thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý niệm thanh tịnh, một trạng thái hoàn toàn thanh tịnh. Vậy bản thân tu hành Mật giáo chính là chuyển hóa tam nghiệp thân-khẩu-ý vốn có của con người chúng ta thành tam mật thanh tịnh của Phật. Nhờ tam nghiệp chuyển hóa thành tam mật mà tức thân thành Phật. Rồi lại ứng dụng khí-mạch-minh điểm của thân thể, từ các loại vận hành của cơ thể và nội tâm mà đi ấn chứng sự hợp nhất của vũ trụ lớn. Cái này có thể được xem là dụng của Mật giáo.

Như vậy thì mọi người sẽ hiểu rõ, toàn bộ quan niệm của Mật giáo sẽ hiện ra trước mắt mọi người. Bản thể luận chính là sáu đại, còn biểu hiện ra tức là tướng của Mạn Đà La, và phương pháp ứng dụng chính là sự tu luyện thân-khẩu-ý và khí-mạch-minh điểm. Kết quả cuối cùng chính là dùng vũ trụ nhỏ của cơ thể người, cùng vũ trụ lớn của ý thức vũ trụ hợp nhất với nhau. Đây chính là quan niệm của Mật giáo.

Tôi cảm thấy bản thân sự tu hành của Mật giáo giống như có một cầu thang. Bạn có thể đi trên con đường này, bạn có thể nhìn thấy đường, rồi bạn sẽ đi ra sao, tức là có một phương hướng, có phương pháp, có pháp để tu, có cầu thang có thể đi. Có nền móng vững chắc để bạn có thể bước lên để tu, hơn nữa còn có thể đi vào tính Không. Có tu tâm, cũng có tu thân, cả hai cái đều có. Tương đối thực tế, có cảm giác tương đối thực tại, thì chính là Mật giáo.

Thông thường mà nói, tu hành mà Phật giáo nói đến hầu hết là tu tâm, rất ít tu thân. Vì vậy tôi cho rằng, quan niệm của Mật giáo có thể nói là một loại tu hành hợp nhất, hơn nữa còn có cảm giác rất thực tại, rất vững chắc, là một tông phái tu hành có cảm giác khá vững chắc. 

Hôm nay nói với mọi người đến đây thôi. Om mani padme hum!

16/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì.


### 019. Phương pháp chuyển tam nghiệp thành tam mật


Sau đây tôi sẽ nói với mọi người về phương pháp tam nghiệp chuyển tam mật. Tu hành Mật giáo là dùng ba nguyên tố. Bạn tu pháp nhất định phải cần có nguyên tố này. Ba nguyên tố được sử dụng này hầu hết mọi người đều nghe quá quen rồi. Đó chính là dùng thủ ấn, Mật giáo tu hành là phải kết thủ ấn, rồi phải niệm chú ngữ, và dùng ý niệm để quán tưởng. Cái này chính là pháp.

Chú ngữ chính là sự thanh tịnh của khẩu. Còn thủ ấn đại diện cho sự thanh tịnh của thân thể bạn, thân thanh tịnh. Còn quán tưởng chính là sự thanh tịnh của ý niệm. Trong mỗi một pháp của Mật giáo đều là sử dụng ba nguyên liệu này để tiến hành. Ba nguyên liệu này chính là thân-khẩu-ý thanh tịnh. Dùng thủ ấn, quán tưởng, niệm chú, dùng ba nguyên liệu này để tiến hành tu luyện.

Tôi cảm thấy việc niệm chú, đương nhiên đối với  chúng ta mà nói niệm chú là một việc bí mật. Bản thân việc niệm chú vốn dĩ thuộc về tâm chân ngôn của Như Lai, cũng tức là âm thanh rất bí mật của nội tại, đây gọi là chú luân. Không thể nào phiên dịch được, cũng chính tâm chân ngôn rất bí mật. Nó là một loại âm thanh, dùng loại âm thanh này để cùng cộng hưởng với tâm của Như Lai, đây chính là chú ngữ.

Khi bạn đang niệm chú, tôi cảm thấy điều này thực sự là khẩu thanh tịnh, bởi vì khi bạn đang niệm chú, miệng của bạn sẽ không thể vọng ngữ, sẽ không hai lưỡi, sẽ không ác khẩu, sẽ không nói lời ong bướm, bạn sẽ không như vậy nữa. Khi bạn đang niệm chú đương nhiên là khẩu thanh tịnh rồi, vì khi bạn phát ra một âm thanh, bạn không thể đồng thời phát ra hai âm thanh, không thể đồng thời sản sinh ra khẩu nghiệp không tốt, vì vậy đương nhiên là khẩu thanh tịnh rồi. Vả lại cái bạn niệm là một loại ngôn ngữ tốt nhất, thiện lành nhất, đây chính là khẩu thanh tịnh.

Vậy còn thủ ấn, khi bạn kết thủ ấn là đại diện cho sự thanh tịnh của thân, cũng rất là có ý nghĩa. Khi bạn kết thủ ấn, tay của bạn hoàn toàn kết thành một loại kí hiệu, chính là một tư thế của Như Lai, đại diện cho sự thanh tịnh nhất, cũng chính là lời thệ nguyện của Như Lai, lời thệ nguyện mà bản thân Như Lai đưa ra, một loại kí hiệu. Lúc này, vì tay của bạn kết  thủ ấn, bạn không có* three hands **[ba cái tay]*, không có cánh tay thứ ba. Bạn có hai tay thôi, đều kết thủ ấn hết, đại diện thân thanh tịnh. Lúc này, thân của bạn thực sự là thanh tịnh.

Còn cái quan trọng nhất chính là sự thanh tịnh của ý niệm. Mật giáo dạy bạn cách quán tưởng. Khi bạn đang quán tưởng, quán tưởng này thay thế cho vọng tưởng của bạn. Con người vốn dĩ khi không thực hành quán tưởng, vọng tưởng của họ đôi lúc là rất nhiều. Có người từng nói ý nghĩ của con người giống như sóng biển vậy, từng cơn từng cơn, không bao giờ dừng lại. Bạn để tâm mình yên tĩnh lại một chút, sau đó nghĩ về ý niệm của mình sẽ thấy vọng niệm của bạn thực sự là vô cùng tận, giống như sóng biển, từng cơn từng cơn.

Giả sử bạn có thể ứng dụng được phương pháp quán tưởng của Mật giáo thì khi đang quán tưởng, vọng niệm của bạn sẽ không sinh ra, vọng niệm đã được thay bằng quán tưởng, khi vọng niệm không sinh, ý niệm của bạn đương nhiên là thanh tịnh. 

Vì vậy tu hành Mật giáo có ba yếu tố: một cái là niệm chú ngữ, một cái là kết thủ ấn, một cái dùng quán tưởng. Sử dụng ba yếu tố này khiến bạn trong một sát-na, chính là vào khoảng thời gian tam mật, ba bí mật hợp nhất với nhau, là bạn được thân-khẩu-ý thanh tịnh. Trong một sát-na thân-khẩu-ý thanh tịnh, trong khoảnh khắc đó bạn cũng giống như Phật. 

Vậy kéo dài thời khắc đó ra, kéo dài trong cuộc sống ngày thường của bạn, đều ở trong sự tu hành thân-khẩu-ý thanh tịnh, vậy thì ngày hôm đó bạn sẽ biến thành Phật. Tiếp theo, cả một tháng đều làm như vậy thì cả một tháng đều là Phật, cả một năm bạn đều thân-khẩu-ý thanh tịnh thì một năm đó bạn đều là Phật. Năm nào bạn cũng như vậy thì năm nào bạn cũng là Phật. Bạn mãi mãi như vậy, bạn mãi mãi là Phật. Đây chính là đạo lí của tam mật.

Ngoại tướng là Phật, thế còn nội tâm thì sao? Ý niệm của bạn thanh tịnh, ý là vô hình, là thuộc về nội tâm. Trong các yếu tố của vũ trụ, đất, nước, lửa, gió là có tướng, không và thức là vô tướng. Bạn tu đất, nước, lửa, gió là tu thân thể của bạn. Bạn tu không và thức là tu tâm và thức của bạn, tâm và thức là vô tướng.

Vì vậy tu hành của Mật giáo là rất vững chắc, có cảm giác rất chắc chắn, là vì bạn tu cái thân của hữu hình, cũng tu tâm và thức của vô hình. Vì vậy cảm nhận mà bạn có được cũng không giống nhau. 

Trong đó chúng ta cần phải hiểu, thân-khẩu-ý tuy chia ra làm ba, nhưng thật ra cũng là một. Thân thể có nhiều lúc là đi theo ý thức. Ý thức của bạn muốn như thế nào, thân thể sẽ đi theo ý thức. Có nhiều lúc khẩu cũng là đi theo ý thức, ý niệm của bạn như thế nào thì miệng mới nói ra những lời như thế đó. Vì vậy ý tổng hợp thân, và cũng tổng hợp khẩu, phân ra là ba nghiệp, hợp lại thật ra là một nghiệp. Trên thực tế, thân nghiệp và khẩu nghiệp hữu hình thật ra là đến từ ý nghiệp vô hình. Cho nên trước đây chúng ta thường hay nói “vạn pháp duy tâm”, tất cả các pháp đều đến từ tâm, sản sinh ra từ tâm. Mà tâm vốn dĩ là vô hình. 

Sau khi mọi người đã hiểu rõ phương pháp tu hành của Mật giáo rồi, từ tam nghiệp chuyển thành tam mật, mọi người sẽ có thể từ từ hiểu rõ chỗ vĩ đại của Mật giáo. Giống như Kim Cang Tát Đỏa, Long Thụ Bồ Tát, liên tục truyền thừa xuống tất cả pháp mà Phật, Bồ tát đã dạy đều vô cùng cao thượng vĩ đại. Các Ngài cũng là dạy chúng ta từ trong nghiệp chướng tu ra được quả vị thanh tịnh, từ nghiệp chuyển thành mật, từ đời người ô uế biến thành hoa sen thanh tịnh. Đây là một phương pháp tu hành rất tốt.

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

16/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì.


### 020. Mật giáo và niệm lực 


Hôm nay tôi sẽ nói với mọi người về niệm lực. Bản thân Mật giáo còn được gọi là Niệm lực tông, tại sao được gọi là Niệm lực tông? Tôi đã có nói về nguyên liệu tu Mật giáo là chân ngôn, là thủ ấn, ngoài ra còn có quán tưởng, ứng dụng quán tưởng về mặt ý niệm sẽ sản sinh ra một loại sức mạnh, sức mạnh này gọi là niệm lực.

Sau khi bạn tu hành niệm lực trong Mật giáo rồi sẽ có một loại sóng rất đặc thù được sản sinh ra, *power* *[sức mạnh] *này được sản sinh ra từ bên trong ý niệm của bạn. Trong Mật giáo có rất nhiều loại ấn, vì ấn là dùng để phối hợp với niệm lực của bạn. Sau khi bạn kết ấn rồi, nó sẽ thể hiện ra sức mạnh ý niệm của bạn là đang làm cái gì.

Mật giáo tại sao còn gọi là Niệm lực tông? Bởi vì nó từ niệm lực, từ quán tưởng sản sinh ra một loại sức mạnh để có được một kết quả, vì vậy mới gọi là Niệm lực tông.

Ví dụ, lấy chính bản thân tôi để nói, tôi từng nghĩ đến muốn đội một số mũ của Pháp Vương, ý nghĩ này vừa mới được sinh ra thì trong một pháp hội, tất cả đệ tử cúng dường, không có cúng dường gì khác, không hẹn mà giống nhau, đồng loạt cùng cúng dường 10 chiếc mũ Pháp Vương. Tôi cũng từng có một niệm lực, tôi nói là: “À, long bào của mình đã đem bán từ thiện gần hết rồi.” Niệm lực này vừa mới sinh ra, trong buổi pháp hội lần trước, họ làm một 100 cái long bào, các đệ tử không hẹn trước mà đều giống nhau, tặng 100 cái long bào cho tôi, tôi mặc không hết, bây giờ còn rất nhiều, vẫn còn dư, để ở bên trong phòng làm việc. Mũ cũng rất nhiều, mũ Pháp Vương cũng rất nhiều, nhiều đến không đếm hết.

Khi một hành giả Mật giáo sinh ra niệm lực, sức mạnh mà niệm lực này sản sinh ra là vô cùng hùng vĩ, rất vĩ đại. Tôi đã từng nghĩ như thế này, có một lần đệ tử mang một cái đồng hồ rất đẹp đến, tôi liền nghĩ: “Ồ, thì ra trên đời này có 10 loại đồng hồ cao cấp.” Tôi nghĩ về 10 cái đồng hồ cao cấp đó, không nghĩ thì thôi, vừa nghĩ 10 cái đồng hồ cao cấp, 10 đồng hồ cao cấp đều có đủ, bây giờ tôi đã có đủ 10 cái đồng hồ cao cấp. Nào là Vacheron Constantin, rồi đồng hồ Piaget, A.P gì đó, tất cả đều có hết, Parte Fer gì đó, 10 đồng hồ cao cấp của thế giới, bây giờ tất cả đều có. 

Vì vậy niệm lực của một thành tựu giả khi sản sinh ra, niệm lực ấy sẽ sản sinh ra một sức mạnh rất lớn, vì vậy không được nghĩ linh tinh, sau khi bạn thành tựu niệm lực rồi, niệm lực của bạn sẽ biến thành một cái móc câu, bạn nghĩ cái gì là nó sẽ móc được cái đó. Vì vậy là một hành giả, bạn chỉ có thể có ý nghĩ thanh tịnh, tu hành đến ý nghĩ thanh tịnh. Tuyệt đối không được có những ý nghĩ khác không tốt. Bởi vì vốn dĩ các hiện tượng tự nhiên trên đời này, chẳng phải tôi từng nói rồi sao? Là thái cực của Đạo gia, hai mặt trắng đen đều có. Khi bạn nghĩ về Phật, Phật sẽ bị bạn gọi đến, Bồ tát sẽ bị bạn gọi đến, khi bạn nghĩ đến Hộ pháp, Hộ pháp sẽ đi theo bạn. Nhưng nếu ý nghĩ không chân chính thì sẽ biến thành ma giới. Giả sử bạn có ý nghĩ về ma giới thì ma vẫn bị bạn dụ đến. Vì vậy mới nói tu thành Phật và tu thành ma vốn dĩ chỉ ở trong một niệm. Cho nên thường xuyên nghe người ta nói, thiện ác chỉ trong một niệm mà thôi. Thiện ác vốn dĩ chỉ trong một niệm, ma và Phật cũng là ở trong một niệm mà thành.

Mật giáo được gọi là Niệm lực tông là vì nó có làm pháp, pháp của nó là mượn niệm lực để phóng chiếu ra bên ngoài. Niệm lực này có thể xuyên thấu tam giới, dục giới, sắc giới, vô sắc giới, cho đến tận Phật giới. Bản thân niệm lực sau khi bạn tu thành rồi, nó sẽ rất mạnh. Và sẽ có nhiều sức mạnh đi theo bạn, sức mạnh của Thượng sư đi theo bạn, Bổn tôn đi theo bạn, sức mạnh của Hộ pháp đi theo bạn, ba loại sức mạnh này sẽ mãi đi theo bạn. Ba loại sức mạnh này và một hành giả Mật giáo vốn dĩ là không tách rời. Lúc này, niệm lực của bạn cần phải vô cùng thanh tịnh, nếu không bạn nghĩ cái gì là đến cái đó, đây là Niệm lực tông mà. 

Giống như bản thân Lư Sư Tôn nghĩ 10 cái đồng hồ cao cấp, một niệm lực bất chợt, không phải bản thân tôi tự đi mua, mà là đệ tử đem đến tặng. Cũng giống như mũ Pháp Vương là do đệ tử không hẹn trước mà lại rất trùng hợp, tặng cùng một lúc. Giống như long bào, hơn 100 cái đều là tặng cùng một lúc. Vì vậy, bây giờ tôi không thể có những ý nghĩ gì khác nữa. 

Tôi cũng từng nghĩ đến những tờ tiền 100 tệ, một xấp, biến thành một mặt phẳng, biến thành tờ 100 đô-la xếp thành hàng dài, toàn bộ đều là Franklin. Sư Tôn cũng có thể có được, tôi cũng có thể có được, vì niệm lực đó đã được sản sinh ra rồi, là bạn sẽ có thể đạt được.

Vì vậy Mật giáo là Niệm lực tông. Niệm lực chính là mượn sức mạnh của quán tưởng để thành tựu. Hôm nay khi bạn sản sinh ra niệm lực, niệm lực đó cũng có thể tạo thành một sức mạnh rất lớn ở trong hư không. Bởi vì hư không, thái cực giữa toàn bộ vũ trụ này, một cái là Phật giới, một cái là ma giới. Khi bạn có ý niệm thanh tịnh, Phật giới của bạn sẽ được tăng cường. Bạn có ý niệm tà ác, ma giới của bạn sẽ tăng cường. Thật ra ở bên trong tâm của bạn vẫn có Phật và ma đang đấu pháp. Trong hư không có hiện tượng như vậy, bên trong nội tâm của bạn cũng có như vậy. Sức mạnh nguyên thủy của bạn, cùng với sức mạnh của pháp lực mà bạn học được, cả hai cũng đang đấu pháp với nhau. Vì vậy hôm nay tôi giải thích niệm lực cũng là để cho mọi người biết, Mật giáo mượn sức mạnh của quán tưởng để sản sinh ra niệm lực, sức mạnh của nó to lớn vô cùng. Hi vọng mọi người cẩn trọng sử dụng niệm lực.

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

16/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì.


### 021. Mật giáo và thần thông


Mật giáo ngoài tên gọi là Niệm lực tông ra còn có một tông danh khác gọi là Thần thông tông. Niệm lực và thần thông là vô cùng giống nhau, rất gần gũi. Vậy thì tôi cũng giải thích với mọi người một chút tại sao Mật giáo lại được gọi là Thần thông tông. 

Tôi từng nói rồi, Mật giáo có mấy loại sức mạnh: niệm lực do bản thân hành giả tu luyện mà thành, còn có Thượng sư lực, còn có Bổn tôn lực, còn có Hộ pháp lực. Ba sức mạnh vô hình trong hư không này đều đang giúp đỡ hành giả. Sức mạnh của Hộ pháp rất lớn, ngài có sức mạnh hộ trì hành giả. Còn sức mạnh của Bổn tôn, khi bạn và Bổn tôn tương ứng, pháp lực mà bạn sản sinh ra đều giống với Bổn tôn, là bất khả tư nghì. Sức mạnh mà Thượng sư và Bổn tôn gia trì vào trong người bạn cũng sẽ khiến pháp lực bên trong cơ thể bạn được tăng cường. Bổn tôn luôn luôn đi theo bạn, khi Bổn tôn và bạn hợp nhất, bạn sẽ sản sinh ra thần thông.

Mọi người cũng biết rồi, Phật có mười đại thần thông. Bản thân Bồ tát cũng có thần thông rất lớn. Kim cang Hộ pháp đều có thần thông, thậm chí quỷ thần cũng có thần thông. Khi bạn tu được niệm lực, bạn vừa nghĩ tưởng là Phật, Bồ tát, Bổn tôn, Hộ pháp đều đến giúp bạn, điều này sẽ tạo thành một hiện tượng thần thông. Có rất nhiều chuyện bạn vừa nghĩ là nó thành hiện thực ngay. Đây chính là thần thông. Bạn vừa nghĩ một cái là thành ngay. Vì vậy, tôi không thể tùy tiện nghĩ tưởng. 

Sư Tôn nghĩ đến người nào đó là người đó sẽ đến ngay. Khi bạn nghĩ đến người nào, người đó sẽ xuất hiện, vì vậy cũng không thể tùy tiện nghĩ tưởng. Bởi vì niệm lực của bạn có thể đi triệu gọi người đó, móc người đó đến với mình. Trong Mật giáo có một ấn móc câu, ấn móc kim cang. Móc một cái là đến ngay, vì là cái móc câu mà, nên sẽ móc bạn đến ngay.

Thần thông là sau khi bạn tu thành niệm lực rồi, khi niệm lực của bạn sản sinh, bạn dùng niệm lực của mình đi quan sát niệm lực của người khác, cái này sẽ biến thành tha tâm thông. Khi bạn tập trung niệm lực của bạn vào thiên nhãn sẽ biến thành thiên nhãn thông, tập trung niệm lực vào thiên nhĩ thì biến thành thiên nhĩ thông. Bạn có thể biết được túc mệnh của mình, cũng có thể biết về túc mệnh của người khác, chính là túc mệnh thông. Thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, thần túc thông, túc mệnh thông, lậu tận thông. Thần túc thông cũng vậy, bạn có thể biết được sự việc ở rất xa, đi đến chỗ đó rất nhanh chóng. Bạn có thể tu chứng vô lậu, bao gồm trí huệ, bạn đều có thể biết hết tất cả, đây chính là lậu tận.

Vì vậy, những thần thông này trở thành nguyên nhân khiến Mật giáo được gọi là Thần thông tông, chính là vì bản thân bạn ở trong thiền định, tập trung sự quán tưởng, niệm lực của chính mình để tạo ra một loại pháp lực bất khả tư nghì, có thể có hiện tượng thần biến thì gọi là thần thông. Vậy thì khi thần thông sản sinh ra, người tu chứng một khi có thần thông, bản thân anh ta có thể ứng dụng thần thông của mình đi làm các pháp vụ. Pháp vụ chính là làm mấy nhiệm vụ hoằng pháp. Vì vậy Mật giáo mới được gọi là Thần thông tông.

Giống như Hộ pháp, chẳng phải tôi đã nói rồi sao? Trong hư không vốn dĩ có Phật giới, có ma giới. Ma này vốn dĩ muốn đến đối phó với bạn, khi gây chướng ngại cho bạn, Hộ pháp của bạn sẽ xuất hiện bảo vệ bạn. Trong hư không cũng có chiến tranh, là cuộc chiến tranh vô hình. Thật ra toàn bộ thế giới này, bạn nhìn lại lịch sử của Trung Quốc chúng ta xem, có lúc xuất hiện một quân vương nhân đức, có lúc xuất hiện một bạo quân, toàn bộ diễn biến trong lịch sử thật ra là trắng và đen, trắng đen trong hình đồ thái cực, phần trắng tăng trưởng thì xuất hiện một vị vua nhân đức, phần đen tăng trưởng thì xuất hiện một vị bạo quân. Một cái là sức mạnh sáng tạo, một cái là sức mạnh phá hoại. Vốn dĩ là sức mạnh của hai bên triệt tiêu và tăng trưởng lẫn nhau, không ngừng hình thành lịch sử, chúng luôn diễn biến. Toàn bộ thái cực, đương nhiên khi trắng đen cân bằng thì là trạng thái trung hòa, nếu không sẽ là triệt tiêu và tăng trưởng lẫn nhau.

Là một hành giả Mật giáo, bạn muốn đi vào Phật giới, ma giới đều là như vậy hết. Sau khi bạn tu chứng rồi, ý niệm của bạn thanh tịnh, tất cả Phật, Bồ tát đều đang ở phía sau gia trì cho bạn, hộ trì bạn. Khi bạn tu thành niệm lực của tà ác, toàn bộ quỷ thần của ma giới, a tu la, ma vương, thiên ma, địa ma, nhân ma, tất cả đều ở phía sau ủng hộ bạn, là như vậy đó.

Trong vũ trụ vốn dĩ cũng có chiến tranh. Khi ý niệm sinh ra, có nhiều lúc liền hình thành một trận chiến. Đây là điều mà người bình thường không thể hiểu được. Bạn xem, khi người tu hành vừa sinh ra niệm lực, ánh sáng tập trung sẽ rất mạnh, trong mắt của người thiên nhãn thông nhìn thấy người tu hành kia rất sáng, rất chói. Còn người bình thường nhìn đều có ánh sáng nhòe nhoẹt, loại ánh sáng mờ mờ, đó là ánh sáng của phàm phu.

Khi bạn có ánh sáng của nghiệp đen, có ánh sáng nghiệp chướng thì khí đen ngập tràn trong toàn thân của bạn. Chúng ta có thể nhìn thấy ánh sáng, vừa nhìn là biết ngay người này là chính, người kia là tà. Một người chính hoặc tà, nhìn ánh sáng là biết ngay. Khi nhìn ánh sáng của người mắc bệnh thần kinh, ánh sáng toàn thân của anh ta đều hỗn loạn, không có quy tắc.

Một hành giả Mật giáo tại sao có thể tu hành chứng được thần thông? Là vì niệm lực, định lực, cộng thêm các loại sức mạnh của vũ trụ được tổng hợp lại thì sẽ sản sinh ra thần thông. Mật giáo được gọi là Thần thông tông cũng là có nguyên nhân, vì bản thân Mật giáo tu niệm lực, tu định lực, và còn có tu Hộ pháp, tu Bổn tôn, còn phải tu Thượng sư tương ứng. Sau khi có được rất nhiều pháp lực, tự nhiên anh ta sẽ sản sinh ra thần thông, một cách rất tự nhiên, bất khả tư nghì. 

Hôm nay nói với mọi người đến đây thôi. Om mani padme hum!

17/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 022. Tam đoạn pháp sinh


Hôm nay sẽ giới thiệu với mọi người về tam đoạn pháp sinh. Trong “Mật Tông đạo thứ đệ quảng luận” thường xuyên có nhắc đến quán tưởng có tam đoạn pháp sinh, đây là một quán tưởng rất quan trọng. Ngoài ra còn rất nhiều quán tưởng cũng đều rất quan trọng. Giống như quán chữ Ah rất nổi tiếng, còn có quán nguyệt luân, ngoài ra còn quán nhập ngã ngã nhập, còn có quán ngũ tướng thành thân, những quán tưởng này trong Mật giáo đều cần phải hiểu rõ hết toàn bộ, hơn nữa còn phải thường xuyên luyện tập quán tưởng đi quán tưởng lại.

Quán tưởng có nhiều lúc khá là thô tưởng, thô tưởng có nghĩa là không nhất định là rất rõ ràng, tương đối thô. Quán tưởng quan trọng nhất là bạn phải luyện tập cho đến khi biến thành một loại quán tưởng rất kĩ lưỡng, rất vi tế, rất vi diệu. Cũng tức là huấn luyện ý niệm của bạn thành một loại nghĩ tưởng chi tiết nhất, như vậy mới có thể phát ra một loại sức mạnh. Đương nhiên là lúc chúng ta đang quán tưởng cũng cần phải chuyên nhất, tinh thần phải tập trung. Quán tưởng trong Mật giáo có thể sản sinh ra pháp lực và ý niệm.

Tam đoạn pháp sinh là như thế này. Có nghĩa là quán không trước, quan trọng nhất khi bắt đầu một loại quán tưởng nhất định phải quán tưởng hư không, mà hư không thì không có cái gì cả. Cũng có nghĩa là dừng lại hết toàn bộ ý niệm của bạn, điều này đồng nghĩa với hư không. Có một câu chú quán không là: “Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng.” Đây là một chú ngữ quán không.

Vậy trước khi quán tưởng, có nhiều lúc bạn phải kết thủ ấn, kết thủ ấn có nghĩa là bạn muốn quán tưởng vị nào thì kết thủ ấn của vị đó. Bổn tôn của bạn là vị nào? Ví dụ Bổn tôn của bạn là A Di Đà Phật thì bạn kết định ấn của Di Đà. Là Quan Thế Âm Bồ Tát thì bạn kết thủ ấn của Quan Thế Âm Bồ Tát. Là Chuẩn Đề Phật Mẫu thì bạn kết thủ ấn của Chuẩn Đề Phật Mẫu.

Sau khi niệm chú quán không xong rồi, bạn sẽ quán tưởng một miền hư không, làm biến mất hết một số tạp niệm của bạn. Tay bạn kết thủ ấn, rồi làm ý niệm quán tưởng, quán tưởng hư không. Từ hư không biến thành một nguyệt luân. Bản thân nguyệt luân này cũng chính là sự biến hóa của đoạn thứ nhất. Ban đầu không có gì cả, một miền hư không, sau đó sản sinh ra một nguyệt luân, một mặt trăng. Trong Mật giáo dùng mặt trăng để quán tưởng là bởi vì mặt trăng khá rõ ràng, khá trong trẻo, lại đại diện cho tính Không. Một miền hư không, sản sinh ra tính Không. Đây là quán tưởng của đoạn thứ nhất.

Rồi từ bên trong nguyệt luân sản sinh ra chú tự. Cái gọi là chú tự chính là chữ Phạn của chú ngữ, được sinh ra từ trung tâm của nguyệt luân. Chú tự này có liên quan đến Bổn tôn của bạn, chính là chủng tử tự của Bổn tôn, chủng tử tự của Bổn tôn được sinh ra từ trung tâm của nguyệt luân. Ví dụ chủng tử tự của Phật A Di Đà, chúng ta đọc là Seh (sê), chính là như vậy. Đây là quán tưởng đoạn thứ hai. 

Tại sao phải quán tưởng như vậy ư? Bởi vì chú tự, chủng tử tự đại diện cho sự sinh ra của Phật. Sự ra đời của một vị Phật là từ trong hư không sản sinh ra tính Không, từ trong tính Không sản sinh ra chủng tử của Phật, sau đó từ chủng tử mới sinh ra Bổn tôn. Mới từ chủng tự ở trước mặt, từ trong chủng tự hóa sinh ra Bổn tôn, từ trong trung tâm nguyệt luân sản sinh ra Bổn tôn.

Trong Chân Phật Mật Pháp của chúng ta, khi Bổn tôn được sinh ra, ví dụ Phật A Di Đà, bạn sẽ quán tưởng đầu, thân thể của Phật A Di Đà, thủ ấn mà Ngài kết, bao gồm liên hoa tọa của Ngài, tất cả đều sinh ra từ bên trong chủng tự. Đây chính là quán tưởng đoạn thứ ba.

Trong “Mật Tông đạo thứ đệ quảng luận” có nói đến, quán tưởng như vậy chính là tam đoạn pháp sinh. Vì vậy mọi người có một khái niệm rồi, bạn phải quán tưởng ra sao? Trước tiên quán không, rồi quán nguyệt luân, bên trong nguyệt luân có chủng tử tự, chủng tử tự của chú tự, bên trong chủng tử tự tiếp tục sinh ra Bổn tôn. Trong Chân Phật Mật Pháp của chúng ta đều dạy mọi người như vậy.

Lúc này, bạn phải quán tưởng tam quang bao trùm. Tam quang bao trùm chính là từ vị trí thiên tâm của Phật A Di Đà phóng ánh sáng trắng chiếu vào thiên tâm của hành giả, từ Hầu luân của Phật A Di Đà phóng ánh sáng màu đỏ chiếu vào Hầu luân của hành giả, từ Tâm luân của Phật A Di Đà phóng ánh sáng màu xanh lam chiếu vào Tâm luân của hành giả. Tôi cũng từng giảng rồi, ánh sáng màu trắng, màu đỏ, màu xanh lam đại diện cho Phật Bồ tát phóng quang gia trì hành giả, khiến tam độc tham-sân-si của hành giả tu hành chúng ta, vì được ba ánh sáng chiếu vào mình, nên tham-sân-si đều bị tiêu diệt.

Cái này trong Chân Phật Mật Pháp cũng từng nói đến, Chân Phật Mật Pháp có một bộ nghi quỹ tu hành. Cái này tôi cũng từng nói qua rồi, cũng chính là một loại khẩu quyết tu hành Mật pháp rất chi tiết, cũng đã in thành một cuốn sách, cũng có bản video. Ở đây, tam đoạn pháp sinh đã nói vô cùng rõ ràng rồi, mọi người nếu muốn biết tường tận hơn, có thể xem sách, cũng có thể xem video. 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

18/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 023. Quán nhập ngã ngã nhập


Giảng xong tam đoạn pháp sinh, tôi muốn nói tiếp với mọi người về quán nhập ngã ngã nhập. Kinh nghiệm của cá nhân tôi, giống như mỗi lần tôi tu Mật pháp, mỗi một đàn pháp đều bắt đầu từ tam đoạn pháp sinh, tiếp theo là nhập ngã ngã nhập. 

Tam đoạn pháp sinh là đầu tiên quán hư không, tiếp đến là tính Không, rồi đến chú tự, tiếp theo là Bổn tôn xuất hiện, tam quang gia hộ cho bạn. Vậy thì, khi bạn muốn nhập tam ma địa, bạn cần phải quán tưởng nhập ngã ngã nhập. Thực hành quán nhập ngã ngã nhập có lợi ích gì? Chính là khoảng cách giữa mình và Phật đã gần sát rồi, đã hợp nhất rồi, đây chính là quán nhập ngã ngã nhập. Nghĩa của nhập ngã tức là Phật đi vào bên trong ta. Nghĩa của ngã nhập tức là ta đi vào bên trong Phật.

Về pháp quán tưởng này, hình như trước đây tôi từng giới thiệu rồi. Hôm nay tôi tiếp tục nói chi tiết hơn với mọi người. Khi Bổn tôn của bạn, ví dụ khi Phật A Di Đà ở ngay trước mặt của bạn, bạn có thể quán tưởng Ngài thu nhỏ lại, sau khi tam quang bao trùm rồi thì thu nhỏ, thu nhỏ bằng một hạt gạo là được, một hạt gạo là rất nhỏ rồi, phóng ánh sáng nhỏ bằng một hạt gạo. 

Lúc này Phật A Di Đà sẽ di chuyển đến trên đỉnh đầu của bạn, di chuyển đến phía trên đỉnh huyệt của bạn. Lúc này bạn phải nghĩ là tâm mình, toàn thân của mình trong suốt như lưu ly. Có một đường trung mạch từ trên đỉnh huyệt xuyên qua tâm của bạn cho đến tận bên dưới. Ở vị trí luân xa tim tại trung mạch có bản tâm của bạn ở đó. Lúc này bạn phải quán tưởng bao bọc xung quanh trung mạch có một hoa sen đang nở, hoa sen tám cánh đang nở rộ. Ở chính giữa hoa sen vẫn có một nguyệt luân. Tại điểm trung tâm nguyệt luân vẫn có một chú tự, chính là chú tự Seh. Chú tự này phóng ánh sáng màu trắng đi theo trung mạch chạy thẳng lên trời. Điều này có ý nghĩa triệu thỉnh. Ánh sáng trắng chạy lên trên ba lần, đây là triệu thỉnh Bổn tôn của bạn. 

Lúc này Bổn tôn của bạn đã ở trên đỉnh đầu, thuận theo trung mạch đi xuống, đến hoa sen tại luân xa tim của bạn, sau khi Ngài đi xuống sẽ ngồi lên trên nguyệt luân trong hoa sen, đó giống như là vị trí vốn có của Ngài, Ngài vốn dĩ là ngồi tại chỗ đó, bây giờ bạn triệu thỉnh Ngài quay về  ngồi vào vị trí của Ngài. 

Sau khi ngồi vào rồi, vị Bổn tôn Phật A Di Đà nhỏ như hạt đậu, nhỏ như hạt gạo sẽ từ từ to trở lại. Đầu của Ngài cứ lớn dần, lớn đến khi hoàn toàn bằng với cái đầu của bạn, tay của Ngài lớn đến hoàn toàn bằng tay của bạn, chân to ra đến hoàn toàn bằng chân của bạn, lớn bằng toàn thân của bạn. Lúc này, chỉ trong một sát-na, chỉ trong một cái búng tay, bạn liền biến thành Phật A Di Đà. Đây gọi là nhập ngã, quán tưởng nhập ngã. Nhập ngã tức là Bổn tôn đi vào bên trong cơ thể bạn.

Còn về ngã nhập, chính là bản thân mình thu nhỏ, đi vào trong tim của Phật A Di Đà, thì chính là ngã nhập. Vậy nhập ngã là Phật A Di Đà thu nhỏ đi vào trong thân của bạn, sau đó biến to ra, hoàn toàn giống hệt bạn, như một không phải hai, cũng tức là một trạng thái hoàn toàn là một với bạn. Lúc này, bạn phải nghĩ bản thân mình đã là Phật A Di Đà rồi. 

Quán tưởng của lúc này là khuôn mặt của bạn chính là khuôn mặt của Phật A Di Đà. Có nhục kế, có Phật nhãn, có Phật nhĩ, tướng mạo của bạn vô cùng viên mãn, bạn cũng mặc y phục bách bảo, bạn cũng ngồi trên tòa hoa sen, vô cùng trang nghiêm. Đương nhiên cách nghĩ tưởng này, quán nhập ngã ngã nhập cũng là bắt đầu từ nghĩ tưởng thô nhất cho đến khi tinh tế nhất, cho đến nghĩ tưởng vi tế nhất. 

Mọi người cũng biết là thân phàm phu chúng ta trong Mật giáo gọi thân thô, thân thể rất thô. Bạn tu hành đến cuối cùng sẽ biến thành thân vi tế nhất. Tâm vốn dĩ là rất thô, đến cuối cùng biến thành tâm vi tế nhất. Ý niệm của bạn cũng là ý niệm thô, đến cuối cùng sẽ biến thành ý niệm vi tế nhất. Khi bạn tu hành đến tinh tế nhất, chuyên nhất nhất, bạn sẽ sản sinh niệm lực.

Mật giáo dạy bạn tu quán tưởng chính là như vậy đó. Phật vốn dĩ ban đầu là ở nơi rất xa, rồi sau đó tiếp cận bạn, sau đó là rất gần, cuối cùng, Ngài và bạn hoàn toàn gần gũi với nhau, đến trụ ở đỉnh đầu. Cuối cùng, ý niệm cuối cùng là bạn và Ngài hoàn toàn hợp nhất. Đây chính là Du già mà. Hai chữ Du già là gì ư? Du già? Yoga? Ý nghĩa của Du già chính là muốn nói đến tương ứng. Bạn và Ngài hợp nhất rồi, tương ứng rồi. 

Bản thân Mật giáo còn gọi là Du già, Du già có nghĩa là tương ứng. Thật ra, kiểu trạng thái Phật đi vào trong bạn, bạn đi vào trong Phật, giữa hai bên không có sự phân biệt thì gọi là Du già. Đây chính là quán nhập ngã ngã nhập, là hoàn toàn hợp nhất.

Vậy thì học Mật giáo tức là muốn bắt đầu học từ phàm phu cho đến khi hợp nhất với Phật, đây chính là Mật giáo. Ở trong trạng thái bạn có thể mãi mãi hợp nhất với Phật thì toàn bộ công đức của bạn hoàn toàn giống hệt với Phật, không có gì khác biệt cả. Vì vậy là “nhất như” chứ không phải “nhị như”. Mọi người cần hiểu rõ quan niệm này. Cho nên bạn thường xuyên quán tưởng vi tế như vậy, bạn sẽ sản sinh niệm lực. 

Kiểu quán tưởng này có rất nhiều trong Mật giáo, vả lại cũng rất quan trọng. Bạn chỉ cần biết đến quán chữ Ah, quán nguyệt luân, quán nhập ngã ngã nhập, ngoài ra còn quán ngũ tướng thành thân. Và còn quán từ chú tự cũng như vậy. Cái này trong Kim cương giới chính là quán ngũ tướng thành thân, trong Thai tạng giới chính là quán ngũ tự thành thân, quán năm chú tự hình thành thân thể. Những quán tưởng này đều vô cùng quan trọng. Vả lại phải thực hành thiền một cách kĩ lưỡng, là bạn có thể từ từ huấn luyện được. 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

18/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 024. Tiền hành, chính hành và hậu hành


Hôm nay, tôi sẽ giải thích với mọi người về tu pháp trong Chân Phật Mật Pháp. Trước đây tôi thường xuyên nhắc đến “tu một đàn pháp” với mọi người. Trong Mật giáo thường xuyên nói đến tu pháp tu pháp. Vậy tu pháp rốt cuộc là như thế nào? Hôm nay tôi sẽ giảng giải với mọi người đôi chút thế nào là tu pháp.

Về mặt nguyên tắc mà nói, khi một hành giả đi vào trong mật đàn, từ đầu đến cuối bạn phải rất yên tĩnh dựa theo toàn bộ nghi quỹ để tiến hành, từ đầu đến cuối cứ như vậy cho đến lúc kết thúc thì được tính là tu một đàn pháp. Nội dung của pháp trong Mật giáo, trong Chân Phật Mật Pháp của chúng ta, chia thành tu ngoại pháp và tu nội pháp. Ngoại pháp và nội pháp là hoàn toàn không giống nhau. Mật pháp cũng có rất nhiều, rất nhiều loại Mật pháp, nhưng tổng quy lại thì có ngoại pháp và nội pháp, và còn có rất nhiều thứ tự của tu pháp.

Về ngoại pháp mà nói, tôi đã từng liên tiếp mấy ngày giảng về nghi quỹ tu pháp hoàn chỉnh của Mật giáo rất chi tiết. Cũng đã xuất bản cuốn sách đó, và còn có cả video, vậy thì cũng đồng nghĩa là đã hoàn toàn giảng qua rồi. Ở đây tôi giải thích thêm với mọi người một cách đơn giản. Bởi vì, trong một pháp tu hoàn chỉnh, có pháp Tiền hành, rồi đến Chính hành, sau cùng còn có Hậu hành. Tiền hành là làm ở phần đầu, Chính hành chính là sự tinh mật của tu pháp, cùng với Hậu hành, ba cái hợp lại với nhau chính là nghi quỹ hoàn chỉnh của tu pháp.

Trong Tiền hành bao gồm đại lễ bái. Thông thường, chúng ta nhìn thấy hành giả Tạng mật thực hành đại lễ bái là kiểu lễ bái toàn thân nằm sụp xuống, đó là một kiểu đại lễ bái. Ngoài ra, còn có làm đại cúng dường, chính là cúng dường Mandala. Rồi thực hành pháp tứ quy y, tức là phải niệm chú tứ quy y. Ngoài ra, phải mặc bia giáp hộ thân, mỗi một đàn pháp đều có mặc giáp hộ thân, cái này chính là bảo vệ cho bạn trong quá trình tu pháp không bị hữu hình và vô hình quấy nhiễu.

Thông thường mà nói, Tiền hành là bạn cần phải triệu thỉnh, niệm chú thanh tịnh, sau đó làm đại lễ bái, đại cúng dường, tứ quy y, thậm chí tứ vô lượng tâm, mặc giáp hộ thân, còn phải tụng kinh. Đây đều là nằm trong phạm vi Tiền hành, đều là làm như vậy.

Vậy bên trong Chính hành, thế nào gọi là Chính hành? Có thể nói ý nghĩa của tu pháp nằm trong Chính hành, trọng điểm của nó nằm ở Chính hành. Khi làm Chính hành tức là phải thực hiện quán tưởng. Quán tưởng thì dùng ba nguyên liệu để tiến hành, khi quán tưởng phải kết thủ ấn, quán tưởng xong thì phải trì chú, trì chú xong rồi thì phải nhập tam ma địa. Đây chính là phạm vi của Chính hành trong tu Mật pháp. 

Quán tưởng thì tôi đã giảng rồi, khi quán tưởng phải kết ấn, sau đó để ý thanh tịnh, kết ấn làm thân thanh tịnh, trì chú là để khẩu thanh tịnh, cuối cùng là đi vào tam ma địa. Tam ma địa là gì ư? Chính là nhập tam muội, đi vào chính định. Bạn muốn đi vào trong thiền định, đi vào bên trong ý thức vi tế nhất, sâu nhất. Sau đó thủ nhất, giữ lấy định cảnh, ở trong trạng thái chuyên nhất bất loạn, chính là nhập tam ma địa. Thời gian để học tập cái này thì rất dài. Đây chính là phạm vi của Chính hành.

Cuối cùng bạn xuất định rồi thì phải làm Hậu hành. Vậy phạm vi của Hậu hành là gì? Hậu hành chính là hồi hướng và tán kệ. Tán chính là đọc lời tán thán hoặc đọc kệ, đều là một cách cảm tạ. Hồi hướng chính là đem lời phát nguyện hoặc nguyện vọng của bạn, hoặc là lời cầu nguyện của bản thân bạn, để tương lai bạn đạt đến cảnh giới nào đó, đều là nằm trong phạm vi hồi hướng.

Đây có thể nói là một quá trình của tu pháp. Có Tiền hành, Chính hành, và Hậu hành. Bạn thực hiện như vậy chính là toàn bộ nghi quỹ tu pháp Mật giáo, tất cả đều ở trong đó hết. Nhưng đây thuộc về phạm vi tu ngoại pháp. Nghi quỹ này phần lớn là thông qua sự điều chỉnh của tôi, Lư Sư Tôn đã điều chỉnh nó, rồi tiến hành giảng giải một cách rất chi tiết. 

Vậy thì về phương diện tu một đàn pháp có yếu quyết, hoặc khẩu quyết bí mật hay không? Có đó, bên trong có rất nhiều khẩu quyết bí mật, những khẩu quyết bí mật đó tôi đều đã giảng qua, trong cuốn sách “Chi tiết về nghi quỹ tu pháp hoàn chỉnh của Mật giáo” [cuốn “Mật giáo đại quang hoa”], tôi đã giảng giải hết toàn bộ vô cùng rõ ràng rồi. Có thể nói những khẩu quyết đó cũng chính là khẩu quyết trong quá trình tu pháp của cá nhân tôi, tôi cảm thấy đó là tâm yếu của bản thân tôi. Tôi đem tất cả tâm yếu hoàn chỉnh trong cuốn sách đó và video, đều đã giảng giải rất rõ ràng. Nếu mọi người muốn tu một đàn pháp hoàn chỉnh thì nhất định phải quy y, nhất định phải nhận quán đảnh.

Vậy thì người được gọi là pháp sư chính là người sư phụ thực sự có pháp thì gọi là pháp sư. Chân Phật Tông chúng ta thực sự có trình tự tu pháp. Bạn muốn hiểu được sự truyền thụ của những khẩu quyết này thì cần phải có Thượng sư khẩu truyền, chính là nói bằng miệng, truyền thụ cho bạn, Thượng sư hoàn toàn không giữ lại những khẩu quyết tâm yếu của tu pháp mà truyền dạy để bạn có thể tiếp nhận. Vậy thì trong lúc bạn tu pháp, vì có khẩu quyết của người đi trước, bạn sẽ rất dễ dàng lĩnh hội, bạn sẽ nhanh chóng tu được tương ứng với Phật Bồ tát. Đây chính là sự quan trọng của khẩu quyết tâm yếu, điểm chính yếu nằm ở đây. 

Lần này chúng ta nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

19/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 025. Thứ tự tu tập Chân Phật Mật Pháp


Liên quan đến sách và video “Chi tiết nghi quỹ hoàn chỉnh của Mật giáo”, Seattle Lôi Tạng Tự vốn dĩ là có* share **[chia sẻ]*, có chia sẻ rồi. Cái này là rất quan trọng, hy vọng mọi người có thể lĩnh hội được tâm yếu và khẩu quyết của tu pháp trong video và sách. Đây đều là tâm yếu, khẩu quyết mà những người đi trước và tôi trong quá trình tu pháp lĩnh hội được một cách rất chi tiết. Nếu bạn có thể biết những khẩu quyết tâm yếu đó, bạn sẽ nhanh chóng tiến đến trạng thái đó. Bằng không, chỉ tự mày mò quá trình tu pháp thực sự thì bạn sẽ phải mất thời gian rất nhiều năm.

Còn bây giờ chúng ta sẽ nói về thứ tự tu pháp trong Chân Phật Mật Pháp. Tu một đàn pháp mà chúng ta vừa nói lúc nãy là thuộc về ngoại pháp. Ngoại pháp cũng chia ra làm rất nhiều thứ tự. Nội pháp cũng chia ra làm nhiều thứ tự, và bên trong còn có những điều sâu hơn.

Trong thứ tự thực tế, có pháp Tứ gia hành. Có pháp Thượng sư tương ứng, pháp Bổn tôn, có pháp Bảo bình khí, có pháp Chuyết hỏa, có pháp Minh điểm, và pháp Vô lậu, ngoài ra còn có pháp Kim cang quyền. Cao hơn nữa có pháp Kim cang, có Vô thượng mật, cuối cùng là pháp Đại viên mãn. Đây là một thứ tự của tu pháp bắt đầu từ cơ bản cho đến viên mãn, đây là thứ tự tu tập Chân Phật Mật pháp.

Vậy trong phạm vi ngoại pháp, cái gì là pháp Tứ gia hành? Pháp Tứ gia hành có thể nói là cơ bản sau khi bạn bước vào Mật giáo. Cũng tức là làm đại lễ bái, làm đại cúng dường, niệm chú tứ quy y, tu pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát, bốn pháp này gọi là pháp Tứ gia hành. Có thể nói là cơ bản của Mật giáo. Ví dụ bạn làm đại lễ bái, bạn phải làm 100.000 lần đại lễ bái, mỗi ngày đều làm như vậy, 10.000 lần, 20.000 lần, cứ như vậy cộng lại với nhau, đến khi đạt 100.000 lần đại lễ bái. Làm đại lễ bái cũng có thể rèn luyện thân thể của mình.

Làm đại cúng dường biểu thị sự lòng tôn kính của bạn đối với Phật Bồ tát, tôn kính Kim cang Hộ pháp, làm đại cúng dường phải làm bao nhiêu đàn? 100.000 đàn đại cúng dường.

Cũng như vậy, niệm chú tứ quy y là để kiên cố tín tâm của bạn đối với Thượng sư, Phật, pháp, tăng.
“Nam mô gu-ru pây.
Nam mô bút-đa yê.
Nam mô đa-ma yê.
Nam mô sang-ga yê.”

Ý nghĩa của việc niệm chú Tứ quy y này là muốn nói bản thân bạn và Thượng sư, Phật, pháp, tăng là hợp nhất với nhau. Bạn thường xuyên làm một loại quy y, niệm chú tứ quy y, đây cũng là một phương pháp giúp tín tâm vững chắc.

Niệm pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát là làm sám hối, ý nghĩa của nó rất sâu xa. Những cái này là pháp Tứ gia hành, pháp Tứ gia hành là cơ sở của Mật giáo.

Tiếp theo bạn tu pháp Thượng sư tương ứng, chính là bạn và Thượng sư hợp nhất, là Thượng sư Du già (Guru yoga), phương pháp hợp nhất với Căn bản Thượng sư của bạn. Tiếp theo là tu pháp Bổn tôn, phương pháp hợp nhất với Bổn tôn của mình.

Những cái vừa nói trên đều là ngoại pháp. Vì vậy chúng ta nói về nghi quỹ tu hành Mật giáo chính là đang nói đến tu Tứ gia hành, Thượng sư tương ứng, Bổn tôn.

Nếu đi sâu hơn nữa thì thuộc về phạm vi nội pháp. Tu Bảo bình khí chính là nằm trong phạm vi nội pháp. Tu Chuyết hỏa ở bên trong cơ thể của bạn, đánh thức nguyên tố sinh mệnh ở bên trong cơ thể, chính là chuyết hỏa. Từ pháp Chuyết hỏa bạn có thể tu ra kim cang vô lậu, tu ra minh điểm của chính bản thân bạn. Vì vậy pháp Minh điểm, pháp Chuyết hỏa, và pháp Vô lậu, ba pháp này là hợp nhất.

Ở bên ngoài thì bạn phải tu Kim cang quyền. Kim cang quyền thuộc về phương pháp thân thể bạn phối hợp với chuyết hỏa bên trong cơ thể bạn. Nội là Chuyết hỏa, ngoại là Kim cang quyền, cái này có thể nói là phương pháp hợp tu dùng sự chỉ dẫn của thân thể, cộng với nguyên tố sinh mệnh bên trong bạn. Đây chính là nội pháp.

Tiếp theo là tu pháp Kim cang, có pháp của năm Đại Kim Cang, có pháp của tám Đại Minh Vương. Vào sâu hơn tu Vô thượng mật, Vô thượng mật là một phương pháp có thể song vận tu Không và Lạc, đây thuộc về Vô thượng mật bộ. Vô thượng mật bộ tiếp tục kéo dài thì chính là pháp Đại viên mãn. Pháp Đại viên mãn có thể nói là bạn đã tu đến quả vị của Phật, Như Lai.

Vì vậy trình tự tu pháp là: Tứ gia hành, Thượng sư tương ứng, Bổn tôn, Bảo bình khí, Chuyết hỏa, Vô lậu, Minh điểm, Kim cang quyền, Kim cang pháp, Vô thượng mật, Đại viên mãn.
Đây là một trình tự tu pháp hoàn chỉnh trong Chân Phật Mật Pháp, là như vậy, xếp hàng thành một trình tự tu pháp từ cơ bản cho đến Đại viên mãn.

Vậy bạn có thể biết rõ nghi quỹ tu pháp, lại biết trình tự tu pháp, lại hiểu được quán đảnh, hiểu về sơ quán, nhị quán, tam quán, tứ quán. Sơ quán chính là ngoại pháp. Nhị quán chính là nội pháp. Tam quán chính là Vô thượng mật. Tứ quán chính là Đại viên mãn. Trình tự của Mật giáo, bạn hầu như đều hiểu rõ toàn bộ.

Vậy bạn muốn thâm nhập vào bên trong thì bạn phải thực sự tu một cách thực tế, đây chính là một thứ tự tu hành rất hoàn chỉnh của Mật giáo.

Ngày nay trên thế giới này, có thể nói người có thể giảng dạy Mật giáo vô cùng chi tiết thì đều là Kim cương Thượng sư chân chính. Hôm nay, Lư Sư Tôn đối với việc tu pháp mà nói, nghi quỹ hoàn chỉnh của Mật giáo và thứ tự tu pháp tôi đều đã hoàn toàn trải qua hết rồi. Vì vậy tôi hiểu rõ thứ tự tu pháp này. Tôi hiểu rõ từ cơ bản cho đến Đại viên mãn. Vì vậy có thể nói tôi là pháp sư thực sự có pháp, là Thượng sư thực sự có thể đạt được chính đẳng chính giác, là Đại trì minh Kim cương Thượng sư đích thực. Người có thể biết pháp, tu pháp, nhờ thực tu mà khai ngộ, trên thực tế cũng là hiếm có và đáng quý.

Hôm nay chỉ nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

19/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 026. Cửu tiết Phật phong (1)


Hôm nay, tôi sẽ nói với mọi người về Cửu tiết Phật phong.

Thông thường mà nói, trước khi chúng ta nhập tam ma địa đều phải làm Cửu tiết Phật phong. Cửu tiết Phật phong thật ra chính là một công phu thổ-nạp. Thổ chính là thổ khí. Nạp chính là nạp khí. Tức là khí được hít vào (nạp) và khí được thở ra (thổ).

Trước khi tu Bảo bình khí, bạn phải thực hiện tốt phần cơ bản Cửu tiết Phật phong này. Cửu tiết Phật phong chính là phương pháp thổ nạp trong Mật giáo.

Trước đây sư phụ tôi từng nói không nên xem thường Cửu tiết Phật phong này. Bởi vì ý niệm của con người chúng ta có liên quan rất lớn đến sự hít thở của chúng ta, có mối liên quan rất lớn bên trong. Chúng ta thường nói một câu “tâm bình khí hòa”. Tâm của bạn có thể bình cho thấy khí của bạn rất thuận, rất dài, rất nhỏ thì tâm của bạn mới có thể bình được. Vì vậy điều khí cũng đồng nghĩa là điều tâm.

Trong “Áo Nghĩa Thư” của Ấn Độ có nói rất rõ ràng, bạn muốn điều tâm của mình thì phải điều khí của mình trước. Khí của bạn không bình thì tâm của bạn sẽ không cách nào bình được. Vì vậy tâm và khí của bạn có thể nói là rất gần gũi. Khi bạn điều khí của cơ thể mình đến độ vi tế nhất thì tâm của bạn cũng có thể bình nhất, yên tĩnh nhất, là lúc có thể định được nhất. Muốn nhập tam ma địa, bạn nhất định phải điều khí. Bạn điều khí không tốt thì không có cách nào nhập tam ma địa được. Vì vậy bạn điều khí được tốt thì sẽ có thể nhập vào trong định cảnh rất nhanh chóng.

Cửu tiết Phật phong của Mật giáo chính là nói đến điều khí. Mà điều khí cũng chính là điều tâm của bạn, có liên quan đến nhau. Cửu tiết Phật phong rất quan trọng. Nó chia làm chín tiết, cửu tiết, vậy làm ba lần thì 3 nhân 9 là 27. Bạn phải làm 27 lần trong trạng thái này thì bạn mới có thể định được bên trong cảnh giới này.

Đặc biệt là khí của bạn, bạn ở đó nghĩ tưởng về khí của mình đang vận động, thì lúc này bạn không có vọng niệm nữa, có thể nói là bạn đang tiêu trừ vọng niệm của mình. Trong lúc điều khí, bạn cũng tiêu trừ được vọng niệm của mình. Trong khi làm tiết này đến tiết khác, trong lúc đổi khí, đột nhiên bạn sẽ đoạn tuyệt được ý niệm của mình, đoạn tuyệt được tâm niệm của mình. Trong một sát-na đoạn tuyệt đó, bạn có thể nhập định, đây là một bí quyết.

Trước đây sư phụ tôi nói với tôi: “Con phải làm Cửu tiết Phật phong, điều khí là vô cùng quan trọng.”

Chúng ta trong lúc luyện tập Cửu tiết Phật phong, bạn luyện đến cuối cùng có thể khiến ý niệm của bạn và sự hô hấp của bạn tách rời ra. Con người trên thế giới này, phần lớn mà nói thì sự hô hấp của cơ thể bạn và ý niệm của bạn là có liên quan đến nhau. Vậy bạn điều khí đến cuối cùng, điều khí tốt rồi thì ý niệm và sự hô hấp của bạn có thể tách rời nhau. Có nghĩa là ý của bạn không bị can thiệp bởi hô hấp của bạn, điểm này vô cùng quan trọng. Bởi vì bạn muốn nhập định, con người luôn luôn có sự hít thở. Bạn điều khí đến hơi thở vi tế nhất thì vẫn có ý niệm vi tế nhất ở bên trong.

Ý niệm bên trong Cửu tiết Phật phong là trước tiên dùng ý để điều hơi thở của bạn. Vậy tương lai ý niệm của bạn cũng phải siêu việt khí này của bạn. Dùng ý, ý niệm của bạn phải vượt qua khí này. Điểm này vô cùng quan trọng. Hôm nay tôi giảng với mọi người về Cửu tiết Phật phong cũng là một khẩu quyết rất quan trọng, tuyệt đối không được bỏ sót.

Vậy trong chín tiết, sẽ nói về ba tiết trước, sau đó lặp lại cũng như vậy, tổng cộng có ba lần, đảo ngược lẫn nhau, chính là để luyện tập ý niệm của bản thân bạn, luyện tập sức tập trung của bạn. Sức tập trung này phối hợp với ý niệm của bạn, cùng sự hít thở của bạn, tuần hoàn vòng lặp, tổng cộng có 27 lần. Khi bạn làm tốt 27 lần rồi, khi bạn nhập định sẽ cảm thấy toàn bộ khí của mình bị chặt đứt, rất trống rỗng. Sau đó sẽ có dòng chảy pháp của vũ trụ đi vào trong cơ thể của bạn, lúc này cơ thể của bạn sẽ ngưng kết lại, sẽ cảm thấy có một loại sức mạnh đi vào trong cơ thể của bạn. 

Nếu như bạn làm tốt, bạn sẽ nhanh chóng chứng ngộ được một loại cảm giác gọi là ngưng kết. Thế nào gọi là ngưng kết? Có thể nói là bất động, thân thể cảm thấy bất động. Thứ hai là cảm thấy toàn bộ khí tràn đầy toàn thân bạn, một loại cảm giác rất sung túc. Tiếp theo sẽ sinh ra một loại cảm giác của ngưng kết kim cang.

Vì vậy bạn chỉ cần luyện Cửu tiết Phật phong đồng nghĩa là đang luyện khí, đang điều khí. Luyện khí công cũng là bắt đầu luyện từ Cửu tiết Phật phong. Ngày nay rất nhiều người thịnh hành luyện khí công. Bạn luyện Cửu tiết Phật phong, luyện lâu ngày, khí của bạn sẽ sung túc, bạn sẽ sản sinh ra sức mạnh của khí công đủ để có thể phát công. Vì vậy cái này là cái đơn giản nhất trong Mật giáo, cũng là một phương pháp bí mật rất quan trọng.

Tuyệt đối không được bỏ qua Cửu tiết Phật phong, không được lơ là. Còn về động tác của Cửu tiết Phật phong, tôi chỉ có thể nói vào lần sau, hôm nay chỉ nói đến đây thôi.

Om mani padme hum!

22/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 027. Cửu tiết Phật phong (2)


Bây giờ tôi sẽ làm mẫu động tác của Cửu tiết Phật phong. Mọi người kết thủ ấn như vậy trước, để một ngón út ra bên ngoài. Tay có thể đặt lên trên đùi. Làm động tác thứ nhất trước, ngón tay út ấn vào lỗ mũi bên phải, sau đó hít một hơi bằng lỗ mũi bên trái, đi theo kinh mạch bên trái xuống đến đan điền thì quay đầu, đi thẳng đến lỗ mũi bên phải. Rồi ấn vào lỗ mũi bên trái, lỗ mũi bên phải thổ khí (thở ra). Đây là một tiết.

Tiếp theo hít một hơi từ lỗ mũi bên phải, hít vào, quay lên, đến đan điền thì quay lên một vòng, tiếp theo, thổ khí từ lỗ mũi bên trái. Đây là tiết thứ hai.

Tiết thứ ba là hai lỗ mũi hít khí vào bên trong, đi qua đan điền, đi lên đỉnh đầu, sau đó mới đi xuống, rồi từ kinh mạch trái và kinh mạch phải thổ khí ra. Đây là tiết thứ ba.

Vậy thì mọi người thử nghĩ xem, lúc nãy là từ lỗ mũi bên trái hít khí vào trước, sau đây cũng giống vậy, hít khí vào từ lỗ mũi bên phải trước, đi vào, xoay một vòng rồi mới thổ khí ra ngoài. Làm liên tục động tác này, có thể nói là chín tiết. Chín tiết xong rồi, còn phải lặp lại lần thứ hai, lặp lại lần thứ ba.

Tôi làm lại động tác một lần nữa. Như vậy chính là ba tiết rồi. Nhưng trong khi bạn đang hít thở có một điểm quan trọng. Khí được hít vào, bạn phải quán tưởng là màu trắng. Khí thở ra, bạn phải quán tưởng là màu đen. Khí ở bên trong là màu đỏ. Ở đây lại có ba chi tiết, tức là ý niệm của bạn phải quán tưởng khí hít vào là ánh sáng trắng, ánh sáng trắng của toàn bộ vũ trụ đều bị bạn hít hết vào trong lỗ mũi, cho đến tận đan điền. Sau đó khí thở ra thì là màu đen. Khí ở bên trong thì là màu đỏ. Về mặt ý niệm là bạn phải quán tưởng như vậy.

Còn một điều quan trọng hơn, 9 tiết đầu tiên, hít vào nhẹ nhàng, thở ra nhẹ nhàng. 9 tiết tiếp theo, tức là từ tiết thứ 10 đến tiết thứ 18, bạn phải hít thật sâu, thở ra thật sâu. Từ sau tiết thứ 18 đến tiết thứ 27, ở khoảng thời gian này, còn cần phải hít khí vào đầy trong cơ thể, còn phải vặn vẹo người, vặn nhẹ người một cái, để khí chứa đầy trong toàn thân. Hít thở đoạn này tương đối nặng một chút, tức là hít thở từ nhẹ, sau đó là ở mức trung bình, cuối cùng là nặng.

Sau khi bạn hoàn thành Cửu tiết Phật phong rồi, bạn ngồi yên tĩnh một lúc. Cái này chính là một cách đổi khí, có nghĩa là bạn đã dừng làm Cửu tiết Phật phong, đổi khí trong khoảng thời gian đó. Đột nhiên có toàn bộ khí trong hư không đổ vào toàn thân của bạn. Đột nhiên bạn cảm thấy thân thể mình kiên cố như là kim cương. Khí tràn đầy rồi, sau đó bạn cảm thấy mình bất động, giống như một ngọn núi, không động lay, ngưng kết lại, ngập tràn khí rồi, chính là loại cảm giác này. Bạn sẽ có được cảm nhận này, sẽ ngay lập tức có được cảm giác này, là cảm giác mà cả đời này bạn chưa từng có.

Tôi nói như vậy là hy vọng bạn vận dụng ý niệm của mình, sự hô hấp đó đang chạy, bạn cũng phải đi theo ý niệm đó, dùng ý niệm đến đan điền. Khí được hít vào không chỉ đơn giản là đi đến phổi thôi. Sau khi hít vào nó sẽ từ kinh mạch của bạn đi qua đan điền, xoay một vòng. Vào từ kinh mạch phải thì ra từ kinh mạch trái. Vào từ kinh mạch trái thì ra từ kinh mạch phải. Vào từ hai kinh mạch, lên đỉnh đầu, sau đó đi ra từ hai kinh mạch trái phải, đây là ba tiết.

Thế rồi làm ngược lại. Lúc nãy khí đi vào từ kinh mạch phải, bây giờ đi vào từ kinh mạch trái. Cuối cùng tiết thứ ba cũng làm ngược, trước tiên vào từ hai kinh mạch trái phải, làm như vậy, 3 nhân 3 là 9, 3 nhân 9 là 27. Tổng cộng phải làm 27 lần. Sau khi bạn làm xong 27 lần này, đột nhiên khi bạn đổi thành hít thở bình thường, hít thở rất nhẹ nhàng, trong hư không sẽ có rất nhiều ánh sáng và khí đi vào bên trong cơ thể của bạn. Bạn sẽ có được ba loại cảm nhận: bất động, ngưng kết, kim cương. Ba loại cảm nhận này sẽ được sinh ra. Đây là khẩu quyết rất bí mật. 

Bạn luyện tập pháp thổ nạp này, luyện lâu ngày là bạn sẽ có khí công. Khí công của bạn sẽ được sinh ra. Khí trong cơ thể bạn rất sung mãn, bạn có thể phát khí, hơn nữa khí này của bạn sẽ ngập tràn. Trong việc hành thiền ngày thường của bạn, hành giả Mật giáo muốn nhập tam ma địa, bạn phải làm tốt Cửu tiết Phật phong. Luyện tập Cửu tiết Phật phong vô cùng trôi chảy, khí của bạn sẽ sung mãn, sau này mới từ Cửu tiết Phật phong đi vào Bảo bình khí.

Sau này tôi sẽ giới thiệu với mọi người về Bảo bình khí, nhưng mọi người cần phải luyện tập tốt Cửu tiết Phật phong. Bất cứ một loại khí công nào, giả sử bạn biết Cửu tiết Phật phong thì tức là đang luyện khí công. Vả lại Cửu tiết Phật phong vốn dĩ là huấn luyện ý niệm của bạn và đoạn diệt vọng niệm của bạn, tiếp theo là luyện tập hơi thở của bạn, điều khí của bạn, điều hòa hơi thở của bạn. Mục đích thực sự cuối cùng là điều tâm của bạn. Tâm của bạn được điều đến vô cùng tĩnh lặng, tâm không trồi lên, tâm niệm không bay lung tung, hoàn toàn tập trung vào một điểm, nhập vào bên trong tam ma địa.

Đây là một phương pháp rất tốt. Trong Mật giáo mà nói, dùng phương pháp này để nhập tam ma địa, chính là một phương pháp tốt nhất để điều khí, điều tâm, nhập định.

Hôm nay tôi đã đem khẩu quyết rất quan trọng nói ra luôn rồi, đặc biệt là dùng ý niệm của mình để ánh sáng trắng đi vào, ánh sáng đen đi ra, chính là đang tiêu trừ nghiệp chướng của bạn. Ánh sáng tốt đi vào, nghiệp đen đi ra.

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

22/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 028. Cửu tiết Phật phong (3)


Hôm nay tôi sẽ giảng với mọi người về Cửu tiết Phật phong và pháp Bảo bình khí. Hai pháp này trong Mật giáo có thể nói là “Yoga gió”, chính là tu gió. Điểm quan trọng của pháp về khí nằm ở chỗ khí, mạch của chính cơ thể hành giả đều có thể thông suốt, điểm này rất quan trọng. Chỉ cần là người luyện khí công thì đều biết, nếu khí mạch của toàn bộ cơ thể bạn đều có thể thông suốt, thì khí của bạn sẽ rất đầy đủ.

Tu pháp này cũng cần có lòng kiên trì. Giống như Cửu tiết Phật phong, tổng cộng có 27 tiết, hàng ngày bạn đều phải tập luyện. Giống như pháp Bảo bình khí, hàng ngày bạn đều phải luyện, không có lòng kiên trì thì không làm được. Vì vậy lòng kiên trì có thể được xem là yếu tố đầu tiên trong tu hành.

Giống như bản thân Lư Sư Tôn cũng vậy, tôi từ năm 25 tuổi bắt đầu thông linh, đến hôm nay vừa hay đảo ngược lại, 52 tuổi. 25 và 52, khoảng cách trong đó là 27 năm dài. Công phu tu hành của tôi không gián đoạn một ngày nào, không có ngày nào là dừng lại. Nếu bạn muốn thành tựu thì nhất định phải như vậy. Chứ không phải là, à hôm nay luyện một chút, tôi vui tôi luyện một chút, rồi dừng lại, sau đó cách một tháng sau mới luyện một lần, để xem công phu có tốt hơn chút nào không. Tôi nghĩ là công phu kém đi một chút chứ không phải tốt hơn một chút. 

Việc tu hành nhất định cần phải lâu dài. Vì vậy trên người bạn sản sinh ra công lực cao thâm thì chắc chắc là bạn đã bỏ ra một công phu khổ cực. Nếu bạn có thể luyện tốt Cửu tiết Phật phong và pháp Bảo bình khí, chắc chắn bạn sẽ thông khí. Thông khí rất quan trọng, khí là phải thông. Khí ở trong cơ thể bạn, khí đi đến đâu là bạn đều phải biết. Bạn hít một hơi, sau đó dồn nó xuống, đi xuống, vận chuyển đến chân, sau đó thì quay đầu, đến chân trái, rồi đến tay trái, rồi đến tay phải, rồi quay lên đỉnh đầu. Thậm chí khí cũng có thể xông lên đỉnh đầu. Trong Mật giáo, khí xông đỉnh thì biến thành pháp Phowa, chính là phá ngói, khai đỉnh, đó là dùng khí để xông đỉnh. Vì vậy tương lai bạn tu khí thành công rồi, khai đỉnh rồi, sau này quay về (lúc vãng sinh) là quay về từ trên đỉnh đầu, sẽ không đọa vào ba ác đạo.

Giống như chúng ta nói về Cửu tiết Phật phong, tuy bạn dùng ý niệm của bạn để dẫn khí xuống đến đan điền, quay đầu, sau đó đi ra từ lỗ mũi trái, quay đầu, đi ra từ lỗ mũi phải. Đi vào từ hai lỗ mũi, xông đỉnh, đi ra từ hai lỗ mũi. Ý niệm đơn giản này thật ra là để cắt đứt suy nghĩ của bạn, trong quá trình ý niệm vận chuyển sẽ dừng dứt suy nghĩ của bạn. 

Ngoài ra là để luyện khí của bạn, bạn phải biết là khí của bạn đi đến đâu, điều này là rất quan trọng. Giống như bạn muốn vận khí lên bàn tay, khí lập tức ở trên bàn tay, nén xuống dưới, chìm xuống dưới, đưa lên trên, nâng lên đến đỉnh đầu, khí đều đang vận chuyển. Tay trái tay phải, chân trước chân sau, toàn thân đều đầy khí hết rồi, thân thể sẽ rất cường tráng. Bất kể là gì, bạn tu Cửu tiết Phật phong, tu pháp Bảo bình khí, bạn sẽ có cảm giác khí ngập tràn, có thể vận khí ra ngoài.

Vì vậy trong khí công có nói đến “cách sơn đả ngưu”, cách một ngọn núi vẫn đánh chết một con trâu. Đương nhiên câu này thì có hơi nói quá một chút, nhưng mà cũng có thể là “phách không chưởng” [chưởng pháp đánh cách không từ xa trong Anh Hùng Xạ Điêu], không phải là không có khả năng đó. Bạn vận khí mà vận thành công, khí và thần của bạn tập hợp với nhau là có thể bay được. Thần và khí tập hợp với nhau, thần là nguyên tố sinh mệnh của bản thân bạn, có thể cưỡi trên luồng khí đó đi bất cứ đâu, là biến thành Thần túc thông, có thể bay lượn.

Vì vậy pháp tu khí này ở trong Mật giáo chúng ta là vô cùng quan trọng. Vì vậy không nên nghĩ là tôi giảng mấy chi tiết về Cửu tiết Phật phong, mọi người liền nghĩ: lỗ mũi trái vào, lỗ mũi phải ra, lỗ mũi phải vào, lỗ mũi trái ra, hai lỗ mũi vào, hai lỗ mũi ra, rồi đảo ngược lại, vận dụng 27 tiết như vậy, 3 lần 3 là 9, 3 lần 9 là 27, rồi quán tưởng ánh sáng trắng vào, ánh sáng đen ra, vận chuyển ở bên trong là ánh sáng màu đỏ… Thế là bạn cho rằng, ồ đơn giản quá.

Trên thực tế bạn tu đến cuối cùng, kinh mạch bên trái, kinh mạch bên phải, trung mạch của bạn đều biến thành trong suốt. Bạn nhìn vào là có thể nhìn thấy khí của mình đang đi, đây đều là công phu. Khí ở trên đỉnh, ở trên thượng đan điền, sau đó dùng ý niệm đè nén nó xuống, đi qua luân xa cổ họng, đi qua luân xa tim, đến luân xa rốn, đi qua trung đan điền đến hạ đan điền, bạn đều có thể vận chuyển vô cùng trôi chảy toàn bộ. Hơn nữa khí đi đến đâu là chỗ đó của bạn ngập tràn khí, bản thân bạn cũng có cảm nhận, cũng có cảm giác. Cái này không phải là rất đơn giản, không phải là bạn nói “Ôi chẳng có cảm giác gì cả!”, không phải như vậy đâu.

Vì vậy mọi người cần phải có tâm bền bỉ, nếu có lòng kiên trì để tu hành, khí của cơ thể bạn được sung túc, bạn tu luồng khí này, tương lai dùng để làm đề minh điểm, giáng minh điểm, đề minh điểm, trì minh điểm, tán minh điểm. Tất cả đều nằm ở công phu giáng-đề-trì-tán. Khí là công phu đầu tiên. 

Khởi động chuyết hỏa đi lên cũng cần có Yoga gió. Không có Yoga gió sẽ không có luồng khí nào có thể thổi được chuyết hỏa. Nếu không có chuyết hỏa, bạn cũng không thể làm tan chảy minh điểm ở Thiên đình. Ba thứ này phân ra thì thành ba, hợp lại thì là một. Khí, mạch, minh điểm hợp lại mới có thể vận chuyển được. Kinh mạch toàn thân của bạn muốn thông, bạn nhất định phải tu Yoga gió. 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

23/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 029. Khẩu quyết về Bảo bình khí


Giới thiệu một chút với mọi người về Bảo bình khí. Mọi người hãy chú ý một chút về Bảo bình khí này. 

Thật ra Bảo bình khí rất đơn giản. Chỉ là thở khí ra, hít khí vào, giữ khí lại, sau đó thở khí ra. Tu pháp Bảo bình khí, trước tiên, phải thở ra uế khí bên trong cơ thể, đem khí ô uế trong cơ thể bạn thở ra ba hơi, sau đó hít vào một hơi khí thanh tịnh, hít vào trong, đưa khí này xuống đến vị trí đan điền. Sau đó nín thở, không hô hấp. 

Vậy phải nín thở khoảng bao lâu? Thể chất của mỗi người không giống nhau, nín thở đến lúc bạn không thể nín được nữa thì mới thở ra một hơi, mới thở ra ngoài, đây chính là Bảo bình khí. Có thể giữ khí đó ở bên trong cơ thể bạn càng lâu thì càng tốt. Nhớ là khí nhất định phải xuống đan điền, vị trí dưới rốn bốn lóng tay. Phải thở uế khí ra trước rồi mới hít một khí thanh tịnh vào, đóng khí lại. Sau đó quán tưởng khí và cơ thể của bạn đều là một bảo bình, hình dạng của một bảo bình, vì vậy mới gọi là Bảo bình khí.

Ở trong đây có một khẩu quyết quan trọng, luồng khí này không được thoát ra từ bên dưới, thoát ra ngoài thì sẽ biến thành “xì hơi thành gió”. Phải hơi thu người lại, thu người lại một chút, tức là nâng khí lên, khí dưới nâng lên trên, khí trên hạ xuống dưới, tập trung ở vị trí đan điền, đây chính là Bảo bình khí, rất đơn giản.

Ở đây có ba khẩu quyết: nhập-trụ-dung. Nhập là khí đi vào, trụ ở bên trong cơ thể hành giả, dung giải, làm nó tan ra.
Thật ra bạn nói thổ khí là đến cuối cùng, kém nhất mới phải thổ khí. Bảo bình khí thực sự là đem luồng khí này đẩy vào bên trong trung mạch. Đem khí ở vị trí đan điền, sau đó lợi dụng sự lắc lư của cơ thể để nó đi vào trung mạch, thông trung mạch.

Khi muốn tán khí thì đem luồng khí này tiêu tán ra các lỗ chân lông ở khắp các bộ phận trên cơ thể. Một luồng khí cuối cùng, thực sự không thể nhịn được nữa, mới từ lỗ mũi hoặc miệng của bạn thở hắt ra ngoài, phun ra ngoài, vì lúc đó đã không thể nín thở được nữa, nên nhất định phải phun ra, hoặc thở hắt ra ngoài, là vậy đó.

Hít vào thì là nhập, ở bên trong thì là trụ, rồi mới dung, mới thổ khí, đây là mấy khẩu quyết quan trọng. Bạn tu thành công Bảo bình khí rồi, bạn tu đến khi có thể nín thở hai phút xem như thành công rồi. Lúc này bạn phải luyện tập nâng luồng khí này, dùng ý niệm của bạn để nâng luồng khí này, có rất nhiều tác dụng. Tương lai bạn có thể nâng minh điểm, có thể hạ minh điểm, có thể trì giữ, có thể tán minh điểm, đều nằm ở đây. Nếu bạn có thể vận dụng luồng khí này để tu luyện thì chính là Yoga gió thực sự.

Ngoài ra luồng khí này cũng có thể chữa bệnh. Nếu trên người bạn có luồng khí này, cơ thể bạn thường xuyên vận chuyển, khí thường xuyên chuyển động ở bên trong cơ thể bạn, tràn ngập, thì bạn sẽ không dễ dàng mắc bệnh. 

Không chỉ là bản thân bạn không dễ dàng mắc bệnh, bạn còn có thể tuần hoàn chu thiên, sẽ sản sinh ra bốn thứ: một cái là âm thanh, âm thanh mà bạn phát ra là do khí công của bạn phát ra. Cơ thể bạn sẽ sinh ra ánh sáng, có luồng khí này bạn sẽ tu thành ánh sáng, thần thái của bạn sáng bừng, nhìn bạn không giống như một người bệnh. Thần thái của bạn sáng bừng, sắc mặt của bạn rất tốt, trên người bạn có ánh sáng, có vô lượng quang, có khí quang vô hình sinh ra từ các lỗ chân của bạn. Trên người bạn có từ tính, bạn có nhân điện. 

Từ khí tu thành nhân điện, có luồng nhân điện này, bạn có thể chữa bệnh cho người khác. Trên người bạn có khí mà, luồng khí này có thể giúp đỡ người khác, có thể bổ sung khí của người khác. Khí của bạn rất đầy đủ, vậy nên loại từ lực mà cơ thể bạn sản sinh ra sẽ rất mạnh.

Ngày nay có rất nhiều y học nghiên cứu về từ, khi ngủ thì ngủ giường từ, đeo vòng tay từ, trên người mặc quần áo từ, đeo chuỗi hạt có từ tính, để điều chỉnh từ tính của cơ thể mình. Thật ra bạn luyện Cửu tiết Phật phong, luyện Bảo bình khí là từ lực trên cơ thể bạn sẽ rất mạnh, có thể giúp đỡ người khác. Những người bệnh chữa không khỏi, đến gần người bạn, đến bên cạnh bạn, nếu bạn gia trì cho người ta, bệnh của người ta, từ lực của họ sẽ tăng trưởng, trên người họ sẽ có điện. 

Bản thân bạn chính là điện, cơ thể bạn chính là nguồn điện. Âm thanh, ánh sáng, điện đều có hết, cơ thể bạn sẽ trở nên rất có năng lượng. Âm thanh đến từ khí, khí lại hóa thành ánh sáng trên cơ thể bạn, khí sắc của bạn sẽ khác biệt. Tiếp theo, nhân điện mà cơ thể bạn phát ra, bạn có thể đi giúp đỡ người khác. Cuối cùng, còn nữa, khí này còn có thể hợp nhất với thần, khí và thần, hợp nhất với nguyên tố sinh mệnh của bạn là bạn có thể tu thành tiên. Tuy là ở trong nhân gian, nhưng bạn không khác gì cảnh giới của thần tiên.

Cái mà trong Mật giáo nói đến là Yoga gió, Yoga gió có thể tu đến như vậy thì bạn có thể nhìn thấy khí trong cơ thể mình đang di chuyển, di chuyển đi đâu, di chuyển đến chỗ nào. Ở đây có bệnh, chỗ này nhức mỏi, có nghĩa là khí mạch ở chỗ này không thông. Bạn vận luồng khí đó qua, di chuyển vài vòng ở chỗ có bệnh này, tuần hoàn vài vòng là khí mạch ở đó sẽ thông, khí của toàn thân đều có thể thông.

Vì vậy sư phụ chân chính có nhiều lúc ngồi trên pháp tọa, cơ thể lắc lư một cái là ngài ấy đang luyện khí. Hít một hơi, hạ xuống, nâng lên, xoay vòng, phát công, đều làm được, rất như ý. Vậy bạn tu hành đến lúc có thành tựu rồi thì bạn đều có thể làm được.

Nhớ kĩ, nhất định phải bền lòng, bền lòng để tu Cửu tiết Phật phong và pháp Bảo bình khí. Phải nhớ khẩu quyết của Bảo bình khí: nhập, trụ, dung, thổ. 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

23/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 030. Vì sao cần tu pháp? (1)


Tôi sẽ giảng với mọi người tại sao phải tu pháp. Có rất nhiều người có cùng một câu hỏi, đó là con người chúng ta sống ở trên đời tại sao phải tu hành? Tại sao phải tu pháp chứ? 

Một câu rất đơn giản thôi, tu hành và tu pháp có thể tăng cường trí huệ của bản thân, cũng có thể gia tăng phúc phần của mình. Năm xưa Phật Thích Ca Mâu Ni tại sao muốn xuất gia tu hành? Đương nhiên Ngài có nguyên nhân của Ngài. Phật Thích Ca Mâu Ni là một vị vương tử rất tôn quý. Nói về tiền tài, Ngài là một vương tử, có cả một vương quốc. Nói về gia đình, Ngài có người vợ xinh đẹp, bản thân Ngài cũng có con nhỏ. Nói về thân thể, thân thể của Ngài cũng vô cùng khỏe mạnh, lại còn rất trẻ. Nói về sự nghiệp, cả một đất nước đều là sự nghiệp của Ngài. Tại sao Ngài muốn xuất gia, muốn bước vào con đường tu hành?

Ngài hiểu rõ được cái khổ, không và vô thường của đời người. Khổ, đời người rất khổ. Không, là vì tất cả những cái có đều biến thành không có, chính là không. Vô thường, sinh lão bệnh tử đều là vô thường. Hiện tượng của toàn bộ vũ trụ đều đang biến đổi, vì vậy địa vị vương tử đó của Ngài không chắc có thể mãi mãi giữ được, quốc gia không thể mãi mãi tồn tại, gia đình sẽ không giữ được sự viên mãn mãi mãi, thậm chí là con cái cũng sẽ thay đổi. Sinh tử đều đang biến đổi vô thường, mọi thứ đều đang thay đổi, đây là lý do vì sao năm xưa Phật Đà lại xuất gia.

Ngài cho rằng đời người đều là một loại huyễn hóa, là một giấc mơ, chi bằng Ngài đi theo đuổi chân lý của vũ trụ, có được một loại trí huệ vĩnh hằng. Vì vậy rất nhiều người xuất gia tu hành là vì đã nhìn thấu rồi, nhìn thấu cuộc đời, nhìn thấu các loại cảnh tượng, vô thường, biến hóa nhanh chóng của cuộc đời, nhìn thấu cảnh khổ của cuộc đời, vì vậy mới đi vào con đường xuất gia.

Hôm nay tôi ở đây nói như vậy, không phải là hy vọng tất cả mọi người đều đi xuất gia, không phải như vậy. “Hồng quang đại thành tựu” không nói là mỗi một người đều phải đi xuất gia mới có thể đắc được. Chỉ là xuất gia tương đối chuyên nhất hơn, còn cư sĩ tại gia vẫn có thể tu đại thành tựu cầu vồng. Bản thân Mật giáo mà nói, ví dụ Chân Phật Tông của chúng ta có tỳ kheo, tỳ kheo ni xuất gia, nhưng cũng có ưu bà tắc, ưu bà di tại gia, cư sĩ tại gia. Chân Phật Tông vẫn có đầy đủ tứ chúng. Tứ chúng tức là tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di, tất cả đều có đủ.

Mọi người hiểu được tại sao phải tu hành? Chính là phải theo đuổi sự tăng trưởng của trí huệ, sự tăng trưởng của phúc phần, theo đuổi chân lý vĩnh hằng. Bạn muốn theo đuổi cuộc đời, được thôi, vậy bạn muốn theo đuổi cái gì của cuộc đời? Đời người thì mọi người biết rồi đó, đời người có rất nhiều đau khổ, rất nhiều vô thường. Bất kể là bạn theo đuổi được hay là không theo đuổi được, cuối cùng đều chuyển thành hư không, toàn bộ hóa thành hư không. Sau khi bạn nhận ra rõ ràng rồi, bạn mới nghĩ đến là mình phải đi con đường tu hành.

Tu hành có lợi ích gì ư? Cũng có rất nhiều người hỏi tôi: “Ngài tu Hồng quang đại thành tựu, rốt cuộc có lợi ích gì?” Bởi vì trí huệ của bạn sẽ được tăng trưởng, sức mạnh của trí huệ giúp bạn có được rất nhiều. Hơn nữa cái này thuộc về không biến hoại, thuộc về mãi mãi. Sau khi trí huệ tăng trưởng có thể giúp bạn giải thoát khỏi phiền não, có thể khiến bản thân bạn có được quang minh vĩnh hằng, ngoài ra còn có phúc phần lớn nhất, phúc phần lớn nhất đều dành cho bạn.

Ở trên đời này, chỉ có một thứ là không biến đổi. Các hành giả chúng ta, những người tu hành đều biết chỉ có một thứ là không biến đổi, đó chính là hư không bất biến, những cái khác đều là đang biến huyễn, đều đang biến đổi. Chúng ta có thể đạt được sức mạnh của trí huệ trong tu hành để siêu việt cuộc đời này. Trong cuộc đời có rất nhiều phiền não, không đếm hết được. Rất nhiều… rất nhiều phiền não khiến bạn buồn rầu, lo lắng, sợ hãi. Nhưng từ trong tu hành, trong tu pháp, bạn có thể đạt được một loại sức mạnh trí huệ. Loại sức mạnh trí huệ này vượt lên trên phiền não, và vượt lên trên mọi loại đau khổ.

Lúc này bạn chỉ cần vượt qua được phiền não, vượt qua mọi loại đau khổ thì bạn giống như thần tiên vậy, giống như thiên nhân ở trên thiên giới. Thiên nhân trên thiên giới được nhắc đến trong kinh Phật, những gì họ có, bạn là một người tu hành bạn cũng có thể có. Bạn không chỉ có sức mạnh trí huệ của thiên nhân trên thiên giới, bạn còn có thể siêu việt thiên nhân trên thiên giới cho đến tận Vô sắc giới, sau khi đi vào Vô sắc giới mới ra khỏi Vô sắc giới, đi đến tứ Thánh giới. Trí huệ của tứ Thánh giả là Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác, và cảnh giới viên mãn của tứ Thánh giả, bạn đều có thể đạt được hết.

Vậy thì, theo như Chân Phật Mật Pháp của chúng ta thì có thứ tự để tu hành. Bạn có thể có được chân lý vĩnh hằng, có thể có được sức mạnh của trí huệ, có thể giải thoát khỏi phiền não, có thể vượt lên trên đau khổ, đến cuối cùng có thể tự chủ sinh tử. Điều này so với tiên nhân ở trên trời thì còn siêu việt hơn. Vì vậy tôi cho rằng đây là điều có giá trị và ý nghĩa nhất của cuộc đời. Bản thân tôi nhận định như vậy, bản thân tôi cũng có thể cảm nhận được loại hỷ lạc đó, sự hỷ lạc đó là tồn tại vĩnh hằng. 

Hôm nay nói với mọi người đến đây thôi.

24/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 031. Vì sao cần tu pháp? (2)


Cũng có người hỏi tôi, ngài tu đại thành tựu cầu vồng, giảng về sự tăng trưởng của trí huệ, vượt lên trên phiền não, đau khổ, có được tất cả phúc phần, có phải chỉ có lý luận không? Chỉ là ở mặt lý luận, hay là ngài thực sự chứng được, ngài chứng minh được những điều này?

Hôm nay tôi thậc sự phải nói với mọi người, đây là một thực chứng. Cũng tức là về mặt thực tế, bạn có thể chứng minh được, có thể chứng đắc được.

Trong Phật giáo có Tứ thiền, bạn có thể đi chứng minh. Thứ nhất, khi bạn tu pháp đi vào Sơ thiền, bạn sẽ có được niềm hỷ lạc, hỷ lạc cũng có nghĩa là sự hoan hỷ, niềm hỷ lạc mãi mãi. Khi bạn bước vào Nhị thiền, bạn sẽ đạt được minh tịnh. Minh tịnh nghĩa là sao? Là quang minh và thanh tịnh. Đây là cảnh giới của Nhị thiền, là đặc tính của Nhị thiền. Khi bạn đạt đến Tam thiền, khi bước vào cảnh giới của Tam thiền, bạn sẽ đạt được tịch định, tịch là rất tịch diệt, định là an định. Khi bạn đi vào Tứ thiền, trong Tứ thiền có một đặc tính chính là bình đẳng, mọi thứ đều rất bình đẳng. Đây là đặc tính của Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền trong Phật giáo.

Riêng nói về sự hỷ lạc thôi, bạn ở trong tĩnh tọa, trong lúc ngồi thiền, khi khí của bạn vận chuyển khắp toàn thân, khi khí được nâng lên đi qua kinh mạch một cách nhẹ nhàng, cho dù bạn thông kinh mạch, khi khí ở toàn thân di chuyển vào kinh mạch, bạn sẽ sản sinh ra một niềm khoái lạc vô thượng. Trong Phật học thường được gọi là "khinh an”, bạn sẽ có pháp hỷ, có khinh an. 

Tôi thường xuyên hỏi rất nhiều người về pháp hỷ và khinh an. Anh nói anh có pháp hỷ, có khinh an. Là gì? Anh làm sao đạt được? Anh ta nói “không biết nữa”. Họ đều không biết, không cách nào giải thích, không cách nào diễn đạt, chỉ cảm thấy rất khoái lạc. Ở trong Mật giáo, trạng thái gọi là khinh an chính là khí của bạn đi vào trung mạch, ở bên trong trung mạch sản sinh ra một hiện tượng dễ chịu của ma sát, đây chính là cảm giác hỷ lạc. Niềm hỷ lạc này là vô cùng sung sướng. Sự sung sướng này phàm phu bình thường không thể nào có được. 

Loại khoái lạc mà phàm phu không có được thực sự là đại hỷ lạc, bạn có thể tìm thấy ở trên người của hành giả, có thể thấy ở hành giả tu pháp đại thành tựu cầu vồng. Bạn tu Chân Phật Tông, Chân Phật Mật Pháp là có thể đạt được loại đại hỷ lạc sung mãn. Cơ thể của chính mình có thể cảm nhận được, đây chính là khinh an đích thực, là pháp hỷ đích thực. 

Tôi có thể chứng minh, bởi vì tôi đã đi qua Sơ thiền rồi. Hôm nay bạn muốn có được hỷ lạc thì phải đi qua con đường của chúng tôi. Còn minh tịnh, quang minh thanh tịnh thì sao? Tương lai tôi sẽ giảng về tu pháp. Đi vào Nhị thiền, khi từ minh điểm chuyển thành chuyết hỏa, bạn sẽ đạt được quang minh, thân thể bạn sẽ ngập tràn ánh sáng. Bạn sẽ cảm nhận được toàn bộ ô uế đi ra khỏi người bạn, toàn bộ nghiệp chướng ra khỏi người bạn, bạn trở nên vô cùng thanh tịnh. 

Đây là quang minh và thanh tịnh, đi vào cảnh giới Nhị thiền, bạn có thân tâm quang minh thanh tịnh. Thân thể và tâm của bạn đều là quang minh thanh tịnh. Cái này đều là ở trên trời mới có. Bạn không thể tìm thấy ở thế giới Ta Bà. Ở thế giới Ta Bà bạn tu hành nhập vào Nhị thiền, bạn không khác nào nhập vào thiên giới. Quang minh và thanh tịnh hiển hiện ra ở trên người của bạn. Cơ thể của bạn phóng ánh sáng giống như thân lưu ly, mọi hành vi của bạn đều là thanh tịnh. Đây là cảm giác thật sự khi đi vào Nhị thiền, thật sự cảm nhận được thân tâm của mình đều là quang minh thanh tịnh. Đây chính là tiên nhân ở trên trời.

Tiếp theo là tịch định. Bạn đi vào cảnh giới bất động. Có thể thực sự định được tại một chỗ, hơn nữa còn có thể dung hợp với hư không. Bạn thể hội được hư không, bạn sẽ thể hội được chân lý “không” của vũ trụ. Người có tịch định, anh ta sẽ có tâm bất động. Bất cứ một trí huệ nào của anh ta trong tịch định đều tăng trưởng, rất nhanh chóng. Vốn dĩ là một loại siêu việt mà. Phiền não sẽ không đi vào cơ thể, thân tâm của bạn. Bạn đã đi vào cảnh giới bất động rồi. Tịch định, tịch diệt để có thể định tâm, nhất tâm bất loạn, lúc này bạn đã đắc đạo rồi, đây là sự tiến nhập cảnh giới của Tam thiền.

Mọi người suy nghĩ một chút xem, Sơ thiền là niềm hỷ lạc, Nhị thiền là minh tịnh, Tam thiền là tịch định, bạn có thể đạt được hết những cảnh giới này, như vậy đã là vượt lên trên phàm phu rồi, đã vượt qua một số người thế tục rồi. Có phải không? Ví dụ bạn trêu ghẹo phàm phu tục tử, anh ta liền nổi giận ngay. Nếu bạn là người có thể tịch định thì bạn như như bất động.

Tiếp theo, đi vào Tứ thiền thì là bình đẳng, trí huệ tăng trưởng. Đến cảnh giới của Tứ thiền, bạn nhìn chúng sinh trong thiên hạ, bạn sẽ cười phá lên. Tại sao vậy? Thì ra tất cả đều là bình đẳng. Bên trong cảnh giới này, không có ái hận tình thù gì cả, đều biến mất hết, đều bình đẳng. Hận, thật ra tại sao phải hận? Bởi vì không bình đẳng mà, nên bạn sinh ra hận. Bạn ở trong một tâm cảnh bình đẳng, siêu việt rồi thì bạn đâu còn có phiền não chứ? 

Trong cảnh giới bình đẳng là không có phiền não, thực sự là vượt lên trên phiền não. Chúng sinh nhất loạt bình đẳng, tất cả người, việc, vật chất, tất cả đều bình đẳng hết. Đây chính là một loại tâm cảnh rất đặc biệt, là một loại siêu việt. Vì vậy bạn đi vào Tứ thiền rồi, bạn sẽ biết được bình đẳng. Chúng sinh đều có Phật tính. Cái gọi là ái hận tình thù chỉ là bong bóng huyễn ảnh nhất thời mà thôi. Ở bên trong cảnh giới bình đẳng, bạn siêu việt mọi loại phiền não. Thật sự bạn sẽ sinh ra tâm cảnh này, huệ lực tăng trưởng, sức mạnh trí huệ của bạn tăng trưởng rất nhanh. Phải nói là bạn giống như đang đứng trong hư không nhìn chúng sinh vậy đó. Cảnh giới của Tứ thiền, bạn đều có thể đạt được.

Hồng quang đại thành tựu là một pháp rất vĩ đại, ở trong Mật giáo mà nói, thực sự là một loại siêu việt. Tương lai sẽ còn nói đến siêu việt bốn cảnh giới này để đến cảnh giới cao hơn, đều sẽ có. 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

24/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì.


### 032. Vì sao Phật Đà muốn xuất gia?


Mấy hôm trước, chúng ta có nói đến vì sao Phật Thích Ca Mâu Ni lại xuất gia? Hôm nay chúng ta sẽ bổ sung thêm một chút. Cá nhân tôi nghiên cứu như thế này, tôi cho rằng Phật Thích Ca Mâu Ni sở dĩ xuất gia là vì liên quan đến một triết học của phương Tây thời xưa, chính là chủ nghĩa tồn tại. Chủ nghĩa tồn tại này và việc Phật Đà xuất gia là có liên quan.

Chủ nghĩa tồn tại là do Descartes và Frank, mấy vị triết gia này đề xuất ra. Đây là một hiện tượng tâm lý. Phật Thích Ca Mâu Ni bản thân là vương tử, tương lai phải kế thừa vương vị, đương nhiên Ngài có rất nhiều tiền của. Hôn nhân của Ngài cũng vô cùng mỹ mãn, có người vợ rất xinh đẹp, có con trai. Vậy tại sao Ngài muốn xuất gia? 

Điều này liên quan đến một vấn đề gọi là chủ nghĩa tồn tại, nói về cảm giác trống rỗng trong sự tồn tại, cái này là vô hình. Có nghĩa là khi bạn có danh, cũng có lợi, khi mọi thứ của bạn đều rất viên mãn, bạn sẽ cảm thấy bên trong sự tồn tại của bạn có một hiện tượng trống rỗng. Sự trống rỗng này khiến bản thân người đó cứ chìm vào mãi, rơi mãi vào trong một vực thẳm rất sâu, không có cách nào đi ra khỏi vực thẳm đó, ở trong cái hố sâu thẳm đó, cái này gọi là tồn tại trống rỗng.

Có rất nhiều người, danh cũng có rồi, lợi cũng có rồi, khi mọi thứ đều viên mãn thì anh ta lại đi vào con đường tự sát. Ví dụ một số văn học gia đạt giải thưởng Nobel như Hemingway, Kawabata Yasunari, thậm chí là Tam Mao của Đài Loan chúng ta, tại sao họ phải tự sát? Bởi vì khi tất cả mọi thứ của họ đều viên mãn rồi, áp lực gì cũng không có nữa, ngược lại họ lại cảm thấy vô cùng trống rỗng, đây chính là tồn tại trống rỗng.

Trong giai đoạn này, có một điều rất quan trọng, có nghĩa là giả sử bạn có thể dùng sức mạnh của tôn giáo để làm giá trị tồn tại của bạn thăng hoa, nâng cao sự thăng hoa của tâm hồn trong con người bạn, thì bạn sẽ được cứu. Nếu không, sự trống rỗng này giống như một con vật khổng lồ nuốt chửng người đó.

Đây là một dạng tâm lý học, giữa sự sống và cái chết sẽ sản sinh ra một hiện tượng của tồn tại trống rỗng. Về phương diện giải cứu tâm linh là dùng sức mạnh của tôn giáo để giải cứu họ. Trong Mật giáo chúng ta mà nói chính là dùng sức mạnh của tu pháp để làm thăng hoa tâm linh của họ, sau đó bước vào thiên thượng giới.

Mọi thứ của Phật Thích Ca Mâu Ni đều viên mãn, vậy tại sao Ngài muốn xuất gia? Chính là có một vấn đề tồn tại trống rỗng, điều này mọi người cần phải hiểu. Người Trung Quốc chúng ta hay nói một câu là “cao xứ bất thắng hàn” [cô đơn ở trên cao]. Khi bạn đã lên đến tuyệt đỉnh rồi, không thể lên tiếp được nữa, bạn sẽ có một cảm giác thất vọng. Khi tồn tại trống rỗng lớn hơn cả giá trị tồn tại của bạn, lúc này tất cả tinh thần của bạn đều rơi rụng hết. Lúc này, phương pháp tốt nhất vẫn là dùng sức mạnh của tôn giáo để nâng cao tâm linh của bạn.

Chúng tôi ở Hồng Kông gặp được một người, cậu ấy còn rất trẻ, cậu ấy cũng kiếm được rất nhiều tiền. Mỗi ngày cậu ấy đều ra ngoài, đi mua món đồ đắt tiền nhất, sau khi mua xong, cậu ấy cũng tự cảm nhận được là mình không vui. Cho dù là bỏ ra rất nhiều tiền để mua về rất nhiều món đồ, bản thân cậu ấy cũng cảm thấy không vui. Thật ra đây là một vướng mắc về mặt tinh thần, cậu ấy đã bị mắc phải một căn bệnh hiện đại, chính là tồn tại trống rỗng. Vì vậy lúc này phải nâng cao giá trị tồn tại của cậu ấy. Khi bạn không tìm được giá trị của mình, bạn sẽ biến thành một loại trống rỗng, tâm hồn sẽ rơi xuống vực thẳm, không thể vùng vẫy để bò lên nữa.

Chủ nghĩa tồn tại là một hiện tượng thuộc về tâm lý. Các bác sĩ tâm lý hiện đại cũng phải nghiên cứu về phương diện này. Giống như một nhà văn của Nhật Bản năm xưa, tên là Kuriyagawa Hakuson, ông có một câu nói: “Văn học là tượng trưng của sự buồn khổ.” Văn học là tượng trưng của sự buồn khổ.

Tại sao bạn lại có sức mạnh để viết văn chương? Người viết văn chương chủ yếu vì bản thân cảm thấy rất khổ, rất buồn, bạn đang trút bỏ nỗi buồn khổ của mình, cho nên bạn tiếp tục bước đi trên văn học, rồi phát triển nó. Đây là một hình thức lấp đầy, bạn không viết không được, vì bạn đang tiếp tục ở trong buồn khổ, bạn cần phải trút bỏ buồn khổ ra ngoài. Khi bạn đạt đến đỉnh điểm, bạn sẽ biến thành một loại hiện tượng trống rỗng.

Vì vậy vào thời Phật Thích Ca Mâu Ni, có rất nhiều vương tử theo Ngài xuất gia, tôi nghĩ chắc đều là bị ảnh hưởng bởi tồn tại trống rỗng, có liên quan đôi chút đến chủ nghĩa tồn tại. Họ đều là vương tử. Vào thời của Đức Phật, Ngài đã độ cho tám vị vương tử cùng nhau xuất gia, họ đều rất viên mãn, đều là vương tử tương lai phải kế thừa ngai vàng, tại sao phải xuất gia? Có danh có lợi, có gia đình viên mãn, đều là vì liên quan đến tồn tại trống rỗng, vì vậy họ theo đuổi một loại giá trị tồn tại, sau đó lợi dụng giá trị này để làm thăng hoa tâm linh của mình, như vậy đời người mới có ý nghĩa.

Hôm nay có rất nhiều đệ tử xuất gia, tôi nghĩ chắc là họ muốn theo đuổi giá trị tồn tại, có giá trị tồn tại rồi, tâm linh mới có thể thăng hoa. 

Nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

25/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 033. Nói về cõi Tứ thiền 


Chúng ta đã từng nói đến cõi Tứ thiền, và cũng có đệ tử hỏi, tại sao lại không nói về cõi Dục giới? Ở đây có sự khác biệt. Bởi vì cõi Tứ thiền, Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền đều phải dựa vào thiền định để tu, sau đó mới dần dần, bạn ở trong số các cõi trời, mỗi một tầng cấp, từ tầng trời nào đi vào tầng trời nào, là như vậy. Cõi Tứ thiền đều phải dựa vào thiền định.

Còn cõi Dục giới không cần dùng thiền định cũng có thể đến cõi Dục giới. Dựa theo nghiên cứu Phật học của chúng ta, bạn chỉ cần giữ năm giới, làm mười điều thiện là bạn có thể đến cõi trời Dục giới rồi, vì vậy sáu tầng trời Dục giới bạn chỉ cần giữ năm giới, làm mười điều thiện là bạn có thể đến đó. Còn tầng trời của thiền, bạn cần phải thiền định thì bạn mới đến được.

Ngoài ra còn có điều này tôi chưa nói, Vô sắc giới có bốn tầng trời, Lư Sư Tôn cũng chưa giảng đến. Đúng là như vậy, vì cái này cũng cần dựa vào thiền định. Khi bạn ở trong 18 tầng trời Sắc giới đi vào cõi Vô sắc giới, bạn chỉ còn lại một cái thức, chính là thức của duy thức. Cái gì cũng không còn nữa, thân thể cũng không còn nữa, tâm cũng không còn nữa, chỉ còn lại một cái thức, sau đó mới có thể đi vào Vô sắc giới. Ở đó cũng không có dục vọng, cũng không có sắc giới, cho nên mới gọi là Vô sắc giới. Đó là thiền định sâu nhất, rất sâu, rất sâu. Đến tầng trời cao nhất chính là tầng trời Phi tưởng phi phi tưởng xứ.

Cho nên ba cõi giới được phân biệt như vậy. Có dục vọng thì là cõi Dục giới, không khác thế giới con người là mấy. Ở trong cõi Dục giới vẫn có kết hôn, có ăn uống, có dục lạc giữa nam nữ. Cõi Sắc giới thì vẫn còn có hình tướng vô cùng trang nghiêm. Đến cõi Vô sắc giới thì những cái đó đều không còn nữa, chỉ còn lại thức.

Tại sao tôi không giảng về cõi Dục giới? Bởi vì bạn chỉ cần giữ năm giới, làm mười điều thiện là có thể đến cõi Dục giới. Dục giới tổng cộng có sáu tầng trời. Con người hiện đại, rất nhiều người đã có thành tựu về danh lợi, cũng có rất nhiều tiền, họ thích làm việc thiện, đây cũng là một sức mạnh rất lớn, đây là bố thí mà. Trong Phật giáo cũng có nhắc đến bố thí trong lục độ, bố thí này cũng vậy, bạn cũng có thể lên được cõi Dục giới.

Ngày nay bố thí cũng rất phổ biến. Mọi người đều rất thích bố thí, làm một chút công đức, đây đều là chuyện tốt. Nhưng mà ở đây cũng có vấn đề của chủ nghĩa tồn tại, vì khi họ có tiền rồi, danh vọng của họ cũng rất lớn, họ cũng cảm thấy tâm linh rất trống rỗng, phải làm sao đây? Vậy được rồi, lúc này đột nhiên có người đến kêu gọi: “Này, hành thiện bố thí, phải làm công đức.” Anh ta nghĩ: “Ờ, cái này hay đó.” Điều này có thể nâng cao tâm linh. Bởi vì hành thiện là vui nhất, làm việc thiện là điều vui vẻ nhất. Lúc này bạn không vui vẻ thì lấy cái gì để bổ khuyết đây? Lấy hành thiện, bố thí để tăng cường niềm vui cho bạn, việc bổ khuyết lúc này là rất tốt, là làm việc thiện, là bố thí.

Khi bạn làm việc thiện, bạn sẽ tìm được một niềm vui, dùng niềm vui này để bổ sung sự trống rỗng về tâm linh của bạn. Bố thí vừa hay có thể bổ sung sự trống rỗng tâm linh của bạn. Vì vậy con người hiện đại rất thích hành thiện bố thí. Điều này là rất tốt để nâng cao tâm linh của bản thân mình, vô cùng phù hợp với giữ năm giới và làm mười điều thiện trong Phật giáo, rất phù hợp. Nhưng loại công lực này của bạn, có thể nói là công lực bạn hành thiện, bố thí chỉ có thể đến được cõi Dục giới, vẫn chưa có thành tựu của thiền định. 

Bạn bắt đầu từ Sơ thiền, khi thiền định có thành tựu, hoàn toàn là một loại ánh sáng. Chỉ có định mới có thể sản sinh ánh sáng. Không có định, bạn chỉ là có được một loại công đức. Vì vậy thiền định nhất định phải dựa vào sức mạnh trí huệ và định lực của bạn mới sinh ra được ánh sáng.

Vậy làm sao để phân biệt được bản thân bạn đã từ Sơ thiền đi vào Nhị thiền, Nhị thiền đi vào Tam thiền, Tam thiền đi vào Tứ thiền đây? Bởi vì có thể nói trong 18 cõi trời, mỗi cõi mỗi đặc tính. Tôi có nói rồi, khi nhập vào Sơ thiền, bạn ngập tràn niềm hỷ lạc. Khi vào Nhị thiền thì là quang minh thanh tịnh. Tam thiền là tịch diệt và định lực, tịch diệt rồi là định lực được sinh ra. Khi vào Tứ thiền, mọi thứ đều là cảnh giới bình đẳng. Lúc này Tứ thiền đã sinh ra bình đẳng tính trí. Bình đẳng tính trí là một trong năm đại trí huệ của Phật, trí huệ này ở trong Tứ thiền là đã được sinh ra rồi.

Bạn muốn phân biệt người nào đã tu đến cảnh giới nào thì nhìn ánh sáng trên người họ là biết. Khi bạn tu hành có định lực rồi, bạn có thể nhìn thấy ánh sáng trên người mình, nhưng ánh sáng trên người bạn vẫn giống như kim cương giả thôi, không sáng lấp lánh. Độ sáng ở đây cũng giống như giám định kim cương, công lực cao bao nhiêu thì độ sáng mạnh bấy nhiêu. Người thực sự có thể thiền định sâu xa, đạt đến cảnh giới bình đẳng thì ánh sáng đó sẽ vô cùng chói lọi, vô cùng đỉnh cao, loại ánh sáng đó sẽ được sản sinh ra.

Khi mới bắt đầu, bạn có chút ít định lực, bạn nhìn thấy tâm quang của mình, bạn thử nhìn vào ánh sáng trong tâm mình, dường như vẫn còn có một chút rối loạn, chỉ là một loại ánh sáng trắng sữa mà thôi chứ không phát ra độ sáng rất mãnh liệt. Chúng ta dựa vào độ sáng mà người kia phát ra để xác định tầng thiền của họ đã đến tầng thiền bao nhiêu.

Trên người chúng ta đều có độ sáng, có một số người tư tưởng hỗn loạn, ngày ngày đều nghĩ đến ân oán hận thù, người khác đang hại mình ra sao. Anh ta không những không có ánh sáng mà còn là một vũng nước đục. Thật đó, bên trong não anh ta vốn dĩ là vũng nước đục hỗn loạn, mỗi ngày đều nghĩ những chuyện rối loạn, quang khí của anh ta rối tung rối bời, lung tung lộn xộn, thực sự là hỗn tạp linh tinh. Thật vậy, thực sự là một vũng nước đục. Nếu bạn thực sự có thể sản sinh định lực, trên người chắc chắn có ánh sáng. Hơn nữa định lực của bạn càng sâu thì độ sáng càng mạnh, càng chói lọi. Có thể dùng độ sáng để phân biệt tầng thiền mà bạn đạt được. 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum.

25/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 034. Ý nghĩa của trì chú


Tôi sẽ giảng với mọi người về trì chú. Mật giáo dùng trì chú, quán tưởng và thủ ấn để làm nguyên liệu tu hành. Trì chú còn gọi là trì minh. Trì minh có nghĩa là trì quang minh, càng trì thì nó càng sáng. Vậy tại sao gọi là chú? Chúng ta biết rằng chú này gọi là “ngữ bí mật”, ngôn ngữ bí mật, là âm thanh bí mật được phát ra từ bản thân Phật, Bồ tát sau khi tu hành rất lâu, gọi là ngữ bí mật.

Dựa vào những gì mà Phật Thích Ca Mâu Ni từng nói, trong 49 năm thuyết pháp, ngài thường xuyên nhắc đến, chỉ cần bạn trì một kinh, một kệ, hoặc một câu nói, một bộ kinh, một mẩu một chữ, thì đều có công đức.

Vì vậy giới Phật giáo hiện nay, chủ trương pháp môn niệm Phật, pháp môn niệm Phật cũng là một chủ trương của Tịnh Độ tông. Cũng có pháp môn trì chú, pháp môn trì chú chính là pháp môn mà Mật giáo sử dụng. Ngoài ra còn có pháp môn trì tên kinh, chỉ niệm tên của một bộ kinh, ví dụ niệm “Nam mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh”. Nhật Liên tông chủ trương niệm “Nam mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh”. Tịnh Độ tông chủ trương niệm Phật, niệm Nam mô A Di Đà Phật. Mật giáo chủ trương niệm chú. 

Giữa những cái này không thể nói là cái nào tốt, cái nào không tốt, bởi vì Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng nói rồi, một kinh, một kệ, một mẩu, một chữ đều là công đức. Phật Thích Ca Mâu Ni tùy thuận khéo léo độ chúng sinh. Ngài nói bất kể bạn ra sao, nếu bạn dựa theo Phật pháp mà làm, bạn làm rất thành tâm thì đều là công đức.

Theo “Mật Tông đạo thứ đệ quảng luận”, tổ sư Tsongkhapa có nói, pháp môn niệm Phật là niệm ngoại tướng của Phật, cũng tức là hình của Ngài, hình của Phật. Giống như chúng ta niệm “Nam mô A Di Đà Phật”, chúng ta biết đây là danh hiệu của Phật A Di Đà ở thế giới Tây phương Cực Lạc, niệm một danh xưng bên ngoài của Ngài. Vì vậy Tsongkhapa nói là niệm ngoại tướng, sắc tướng bên ngoài của Ngài.

Vậy niệm chú thì sao? Theo như tổ sư Tsongkhapa nói thì chính là niệm tâm của Phật. Vì là ngữ bí mật, là tâm chú, là âm thanh tuôn chảy ra từ bên trong tâm, cho nên niệm chú là niệm tâm của Phật. Cho nên, niệm Phật là niệm danh, sắc bên ngoài. Niệm chú là trực tiếp niệm vào tâm của Như Lai. Tổ sư Tsongkhapa nói như vậy.

Hiện nay Nhật Liên tông cũng chủ trương niệm “Nam mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh”, niệm tên kinh cũng vẫn có công đức, nhưng niệm “Nam mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh” là niệm pháp, chính là niệm pháp do Phật Thích Ca Mâu Ni truyền lại. Một kinh một câu đều là có công đức, đây là Đức Phật nói.

Vậy đương nhiên là sau khi bạn niệm thuần thục rồi, bạn niệm ra được sức mạnh của Phật thì vẫn có pháp lực. Niệm Phật sẽ sinh ra Phật lực, niệm pháp sẽ sinh ra pháp lực, niệm chú cũng sinh ra chú lực. Những cái này đều có công đức, vì vậy chúng ta không thể nói chúng ta niệm chú, người niệm chú phê bình người niệm Phật, người niệm Phật phê bình người niệm tên kinh, người niệm tên kinh thì phê bình người niệm chú, điều này là không được. Đều có công đức như nhau.

Trong Mật giáo mà nói, trì chú được liệt vào trong Gia hành. Tứ gia hành của chúng ta là: đại lễ bái, đại cúng dường, tứ quy y, Kim Cang Tâm. Khi bạn muốn tu pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát, bạn phải trì chú, phải trì đủ 100.000 biến. Phải trì chú gì ư? Bất cứ chú gì đều có thể trì. Bất cứ một loại chú nào cũng đều rất tốt, nhưng trong số các chú ngữ có vài bài chú là bạn cần phải trì tụng, ví dụ chú Kim Cang Tâm chính là Bách tự minh chú. 

Bách tự minh chú bạn phải trì đủ 100.000 biến. Tâm chú của Căn bản Thượng sư, bạn phải trì đủ 100.000 biến. Bạn dựa vào Bổn tôn nào để tu hành thì bạn cũng phải trì đủ 100.000 biến chú của Bổn tôn. Quyến thuộc bên cạnh Bổn tôn, bạn cũng phải trì đủ 100.000 biến. Ví dụ Bổn tôn của bạn là Phật A Di Đà, vậy tâm chú của Quan Thế Âm Bồ Tát, vì Quan Thế Âm Bồ Tát là quyến thuộc của Phật A Di Đà, bạn cũng phải trì đủ 100.000 biến. Tâm chú của  Đại Thế Chí Bồ Tát cũng phải trì đủ 100.000 biến, quyến thuộc có quan hệ với Phật A Di Đà đều phải trì đủ 100.000 biến.
Trong phái Hồng giáo của Mật giáo, tức Nyingma của Tạng mật, tâm chú của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ - tổ sư của phái Nyingma, bạn phải trì đủ 100.000 biến. Liên quan đến Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, tâm chú của Lục Độ Mẫu cũng phải trì đủ 100.000 biến. 

Ở đây đều lấy 100.000 làm nền tảng, cũng có người trì đủ 500.000 biến, trì đủ 1 triệu biến, càng nhiều càng tốt. Trì chú vốn dĩ là giống như niệm Phật. Niệm Phật là niệm ngoại tướng của Phật, niệm sắc thân của Phật. Pháp môn niệm Phật cũng như vậy, niệm Phật càng nhiều càng tốt. Niệm chú cũng giống như vậy, phải càng nhiều càng tốt. Trì đủ 1 triệu biến, 10 triệu biến, cái đó là tùy bạn, bạn có thể trì càng nhiều càng tốt. Trì đến cuối cùng sẽ trở nên rất có sức mạnh, điều này sẽ sinh ra một loại chú lực. 

Tôi cảm thấy điểm tốt của trì chú là nó có thể trực tiếp đi vào tâm của Như Lai, bởi vì chú vốn dĩ là ngữ bí mật của Như Lai, là âm thanh tuôn chảy ra từ tâm của Như Lai, nếu bạn niệm chú tức là bạn làm xúc động đến tâm Như Lai, vì vậy có thể triệu thỉnh Như Lai giáng xuống.

Người niệm Phật nói bạn niệm tên của Phật cũng giống như là đang kêu gọi Phật vậy đó. Bạn trì chú trực tiếp đi vào tâm của Như Lai, điều này càng trực tiếp đi vào bên trong tâm của Như Lai hơn. Vì vậy nếu như bạn có thể niệm chú thật tốt, tự nhiên tất cả chư thiên đều cảm ứng được, toàn bộ đều cảm động, đều cảm ứng. Phật, Bồ tát, Kim cang, Hộ pháp, tất cả đều cảm ứng được. Ý nghĩa chủ yếu của việc trì chú là nằm ở đây.
Nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

26/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 035. Phương pháp trì chú


Tiếp theo nói về phương pháp trì chú. Nói chung, người hiện đại chúng ta muốn tu một đàn pháp, thời gian đều rất ít. Bạn vừa mới bước vào cánh cửa của Mật giáo mà bảo bạn phải lập tức học cách tu một đàn pháp, hoặc là mỗi ngày đều tu mấy đàn pháp là điều rất khó khăn. Vì vậy tất cả thượng sư phần lớn đều là dạy mọi người trước tiên phải niệm chú, làm Tứ gia hành trước, niệm đủ 100.000 biến chú ngữ thì là một gia hành trong số đó.

Con người thời nay tu hành rất khó khăn, thời gian cũng rất ít, nên mới dạy bạn là trước tiên niệm 100.000 biến Thượng sư tâm chú, niệm 100.000 biến Bách tự minh chú trước, niệm 100.000 biến chú Bổn tôn trước, đều dạy bạn như vậy hết.

Niệm chú cũng có phương pháp của niệm chú, chúng ta niệm chú có rất nhiều kiểu, lấy đơn cử có cách niệm phát ra âm thanh, gọi là âm thanh niệm chú. Giống như tôi đang niệm “Ôm a-mi đê-wa sê” là tâm chú của Phật A Di Đà, đây là niệm ra thành tiếng. “Ôm ma-ni pê-mi hùm”, đây là niệm tâm chú của Quan Thế Âm Bồ Tát, khi niệm phát ra âm thanh thì là âm thanh niệm chú, thông thường đều là niệm âm thanh niệm chú.

Tiến sâu hơn là kim cang niệm chú, kim cang niệm chú là ngậm miệng lại, để đầu lưỡi động đậy ở bên trong, chỉ có lưỡi động đậy còn miệng thì ngậm lại, đây là kim cang niệm chú.

Sâu hơn một chút là tam ma địa niệm chú. Thế nào là tam ma địa niệm chú? Lưỡi cũng không động đậy nữa, miệng cũng không động đậy nữa, chỉ có bên trong tâm phát ra âm thanh thôi, bên trong tâm bạn cũng có thể phát ra âm thanh đó. Bạn nhắm mắt lại, thật ra bạn cũng không nhất định phải nhắm mắt, tóm lại bạn ngậm miệng lại, lưỡi không động đậy, nhưng bạn có một loại âm thanh phát ra từ trong tâm, cũng tức là phương pháp trì chú tam ma địa.

Ngoài ra, loại thứ tư, loại thâm sâu hơn, là chân thực niệm tụng. Phương pháp của chân thực niệm tụng là như thế này, bạn quán tưởng chú tự đều hiện ra trong hư không, những chú tự đều tưởng tượng ra hết, hơn nữa bạn còn hiểu được ý nghĩa của chú tự, đây chính là chân thực niệm tụng. Thậm chí còn tập hợp lại thành một chú luân, câu chú biến thành bánh xe pháp đang xoay vòng, đây gọi là chân thực niệm tụng.

Vì vậy niệm tụng cũng có âm thanh niệm tụng, kim cang niệm tụng, tam ma địa niệm tụng và chân thực niệm tụng.

Giả sử như bạn đang ngồi trên máy bay, đương nhiên là không thể làm âm thanh niệm tụng rồi, bạn ngồi ở đó liên tục “Om mani padme hum… Om mani padme hum..”, những người xung quanh sẽ nhìn bạn, vì vậy tốt nhất bạn nên dùng kim cang niệm tụng. Kim cang niệm tụng tức là bạn ngậm miệng lại, động đậy lưỡi là được. Nếu bạn thực sự có thể nhập định, bạn có thể dùng chân thực niệm tụng, tức là quán ra từng chú tự một, hiểu rõ ý nghĩa của nó, quán tưởng toàn bộ ý nghĩa của chú tự một cách rõ ràng, thậm chí có màu sắc, quán tưởng luôn cả màu sắc, đây chính là chân thực niệm tụng. Niệm tụng có cách của niệm tụng.

Vậy ở trong Mật giáo của chúng ta, khi niệm chú là phải dùng chuỗi hạt, phải có chuỗi hạt. Trong pháp khí của Mật giáo chúng ta có ba loại pháp khí quan trọng, một cái là chày kim cang, một cái là chuông kim cang, một cái là chuỗi hạt. Chuỗi hạt được dùng khi tụng niệm. Chuỗi hạt có 108 hạt, cần dùng chuỗi hạt này.

Chuỗi hạt cũng có chia nhiều loại. Bạn muốn niệm Phật thì dùng hạt bồ đề. Muốn niệm chú của Bồ tát thì dùng hạt sen, chuỗi hạt làm bằng hạt của hoa sen thì tốt hơn. Bạn muốn niệm các vị phẫn nộ thuộc Kim Cang bộ thì dùng hạt kim cương. Bạn muốn dùng để làm pháp, bạn tu một đàn pháp thì dùng tạp bảo, thông thường ví dụ như hổ phách, chuỗi hạt hổ phách, ví dụ mã não, chuỗi hạt mã não, ví dụ ngọc, chuỗi hạt bằng ngọc, những cái đó đều gọi là tạp bảo, tức là dùng tạp bảo, dùng làm pháp trong Yết Ma bộ.

Chuỗi hạt cũng có phân biệt. Chuỗi hạt bồ đề là tổng nhiếp tất cả, bạn niệm bất cứ loại nào cũng có thể dùng hạt bồ đề. Có thể nói là rất nhiều bộ như là: Kim Cang bộ, Liên Hoa bộ, Phật bộ, Yết Ma bộ, tổng nhiếp bốn bộ pháp, bạn đều có thể dùng hạt bồ đề. Những chuỗi hạt khác thì bạn phải phân biệt: Phật bộ là dùng hạt bồ đề, Liên Hoa bộ là dùng hạt sen, Kim Cang bộ là dùng hạt kim cương, Yết Ma bộ là dùng tạp bảo, bạn phải phân biệt ra như vậy. 

Tại sao phải phân ra như vậy? Vì để có được tương ứng. Hạt kim cương rất gần gũi với Kim Cang bộ, hạt sen gần gũi với Liên Hoa bộ, hạt bồ đề rất gần gũi với Phật bộ. Yoga Mật giáo nghĩa là phải có được tương ứng. Bạn càng gần gũi thì càng dễ dàng tương ứng, chính là đạo lý này.

Tay của bạn lần chuỗi hạt cũng cần phải có quán tưởng, không phải lần tùy tiện đâu. Khi niệm chú, bạn vừa lấy chuỗi hạt ra, bạn lập tức quán tưởng, tay phải của bạn cầm chày kim cang, tay trái cầm chuông kim cang, toàn bộ chuỗi hạt phát ra ánh sáng trắng, chính là ánh sáng của Kim Cang Tát Đỏa. Trong 108 hạt có bốn hạt giới, bốn hạt giới này bay ra ngoài biến thành Tứ Đại Thiên Vương ở bên cạnh canh giữ cho bạn niệm chú. Hạt Phật đầu biến thành tay Phật. Vừa cầm chuỗi hạt lên là bạn phải quán tưởng ngay, không phải tùy tiện cầm lên là niệm đâu. Lập tức quán tưởng chày kim cang, chuông kim cang, Tứ Đại Thiên Vương bay ra, chính giữa có ánh sáng của Kim Cang Tát Đỏa biến thành một chuỗi, sau đó quán tưởng tay Phật, như vậy bạn mới bắt đầu niệm chú.

Vì vậy trong Mật pháp có ba nguyên liệu quan trọng: chú, quán tưởng và thủ ấn. Bạn cầm lên như vậy tức là thủ ấn rồi, tuy động tác này không là gì cả, nhưng đây là thủ ấn lần chuỗi hạt mà bạn kết trước khi bạn muốn niệm chú, chính là như vậy.

Làm sao để tu Mật giáo? Chính là dùng ba nguyên liệu này để tu, chính là chú, thủ ấn và quán tưởng. Trong mỗi một bộ pháp đều có thủ ấn, đều có chú, và quán tưởng. Đây chính là Mật giáo.

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum.

26/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 036. Pháp khí của Mật giáo


Hôm nay tôi sẽ tiếp tục giới thiệu với mọi người về pháp khí của Mật giáo. Lần trước chúng ta đã giới thiệu về chuỗi hạt. Pháp khí quan trọng nhất của Mật giáo gồm có chày kim cang và chuông kim cang. Chày kim cang và chuông kim cang, hành giả của Mật giáo đều phải sử dụng đến.

Cái chày này có một chấu, cũng có loại ba chấu và năm chấu, đều có khác biệt. Chày kim cang này có thể nói là một loại binh khí của Ấn Độ thời cổ đại. Mật giáo lấy cái này dùng làm pháp khí, nó có tính tượng trưng, bản thân nó tượng trưng cho hàng phục ma chướng và hàng phục phiền não của chính mình. Bản chất của chày kim cang là rất kiên cố, rất chắc chắn, tượng trưng cho kim cang bất hoại, dùng loại kim cang bất hoại này để hàng phục ma chướng và hàng phục phiền não của chính mình. Chày này cũng đại diện lòng từ bi.

Chuông kim cang tượng trưng cho một loại trí huệ. Lắc chuông này thể hiện trí huệ lan truyền. Âm thanh của trí huệ cũng giống như tiếng chuông, lan truyền đi rất xa. Có thể thực sự hoằng dương Phật pháp. Nghe được tiếng chuông này sẽ cảm thấy vô cùng vui tai, cảm thấy là một cảm ứng vô cùng tốt lành, giống như là một sự quán đảnh của trí huệ, trí huệ đó đi vào bên trong cơ thể mình, chuông kim cang cũng như vậy.

Chúng ta thấy một số Hoạt Phật ở Tây Tạng, tay cầm chày kim cang, lắc chuông kim cang, phần lớn họ đều chỉ cầm và lắc lắc như thế này mà thôi. Cầm chày kim cang và lắc chuông kim cang là biểu thị Kim Cang Tát Đỏa. Mọi người nhìn Kim Cang Tát Đỏa, tay phải của Ngài luôn cầm chày kim cang, tay trái của Ngài luôn cầm chuông kim cang. Còn cách cầm đặt chéo nhau thì gọi là bi-trí song vận.

Thông thường mà nói, trong Mật giáo, mọi người thấy Hoạt Phật Tây Tạng tay cầm chày kim cang, lắc chuông kim cang chỉ có như vậy thôi, ít rất khi thay đổi. Nhưng Chân Phật Tông chúng ta thì khác, bởi vì bản thân tôi đã từng được Kim Cang Tát Đỏa đưa vào trong hư không để truyền thụ đại pháp lắc chuông kim cang và chày kim cang. Sau khi học được rồi thì tôi quay trở về, vì vậy cách lắc chuông kim cang và chày kim cang trong Chân Phật Mật Pháp của chúng ta không giống với mọi người, khác với một số Mật giáo. Cho nên cách lắc chuông kim cang và chày kim cang của Chân Phật Tông chúng ta là thù thắng nhất. Cách lắc chuông kim cang và chày kim cang của Chân Phật Tông là vô cùng khác biệt, và còn là thù thắng nhất.

Có rất nhiều cách lắc khác nhau. (Sư Tôn thị phạm một loạt động tác lắc chuông chày.) Bạn xem cách lắc chuông chày kim cang này không phải là để chơi đùa, trong đây có rất nhiều tượng trưng. Khi chày và chuông rung chuyển tượng trưng pháp lực lan tỏa, pháp lực bi-trí song vận đang phát huy pháp lực ra bên ngoài, rồi chảy xuống giống như nước, lắc như thế này thì giống như nước đang chảy xuống. Nghĩa là sao ư? Đó chính là nước có thể rửa sạch mọi nghiệp chướng, chính là tiêu tai. Cách lắc như lúc nãy chính là tiêu tai. 

Còn chày và chuông tiếp xúc với nhau rồi xoay vòng là sao? Đây tượng trưng cho kính ái, hai cái này hợp lại với nhau, xoay vòng chính là kính ái. Vậy đưa lên thì nghĩa là gì? Chính là phẫn nộ, thủ ấn này gọi là phẫn nộ ấn, hai tay kết ấn phẫn nộ đại diện cho hàng phục, cái này chính là hàng phục. Ngoài ra, lắc trái phải, lắc trước lắc sau như vậy, đại diện cho tăng ích, gia tăng tất cả lợi ích. Khi hai tay bắt chéo chính là bi-trí song vận.

Vì vậy một hành giả Chân Phật Tông nhất định phải biết lắc chuông kim cang và chày kim cang. Lắc một cái thế này là hoằng dương Phật pháp ra bên ngoài, trí huệ vươn xa. Giơ chày kim cang lên, tất cả mọi thứ đều định. Chày kim cang này có cách cầm bằng ấn phẫn nộ để hàng phục. Cầm chày thế này là pháp của Kim Cang Tát Đỏa, cầm chày như thế này thì là Kim cang Yết Ma ấn, là pháp Yết Ma, pháp Yết Ma thì phải dùng Kim cang Yết Ma ấn. 

Ứng dụng của chày kim cang và chuông kim cang, mỗi một hành giả của Chân Phật Tông đều phải dùng đến. Bản thân hai pháp khí này tượng trưng cho pháp lực. Bản thân mỗi một vị Kim cương Thượng sư chính là tượng trưng cho Kim Cang Tát Đỏa. 

Hôm nay chỉ nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

29/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 037. Nói về thủ ấn


Tôi sẽ nói tiếp với mọi người về thủ ấn. Thủ ấn ở trong Mật giáo là rất quan trọng bởi vì nó đại diện cho bí mật của thân và sự thanh tịnh của thân - thân thanh tịnh. Đây là một trong ba nguyên liệu tu pháp của Mật giáo.

Thủ ấn có bí mật gì? Thủ ấn giống như là sự nhận diện của Phật, Bồ tát. Một sự nhận diện, một kí hiệu vô cùng quan trọng. Bạn kết thủ ấn của vị nào thì tượng trưng bạn chính là vị đó.

Năm đầu ngón tay của chúng ta đại diện đất, nước, lửa, gió, không. Vậy khi mở hai bàn tay ra thì là thập pháp giới, mười đầu ngón tay đại diện cho mười pháp giới, lại tượng trưng cho mười ba-la-mật. Bạn thấy đấy, một bàn tay có rất nhiều sự tượng trưng. Đất, nước, gió, lửa, không, mười pháp giới, mười ba-la-mật đều có ở trong đó.

Vì vậy mười đầu ngón tay là đại diện vũ trụ, vũ trụ chính là được cấu thành bởi đất, nước, lửa, gió, không mà. Vậy năm đầu ngón tay là đại diện cho vũ trụ, vì chính là đất, nước, lửa, gió, không mà. Mười pháp giới cũng là vũ trụ. Mười ba-la-mật là phương pháp đi đến bờ bên kia. Rất đơn giản, mọi người đã hiểu về thủ ấn rồi.

Thủ ấn chính là bí mật của thân Như Lai, có vô số, vô số ý nghĩa ở bên trong, vì vậy trong Mật giáo kết thủ ấn đại diện cho rất nhiều ý nghĩa, rất nhiều hàm nghĩa, cũng tượng trưng cho một vị nào đó. Khi kết ấn bạn chính là vị đó. Khi chuyển động thủ ấn là biểu thị pháp lực vẫn đang được tiến hành, chính là kí hiệu đại diện cho các vị. Các vị đang làm gì, Như Lai đang làm gì, Bồ tát đang làm gì. Đây là bí mật rất uyên thâm ở bên trong. Bạn tu hành tu đến lúc đạt pháp lực rồi, thủ ấn mà bạn kết sẽ vô cùng huyền diệu, đều có ý nghĩa của nó hết.

Vậy tôi sẽ kết vài thủ ấn đơn giản cho mọi người xem. Ngày thường khi chúng ta làm cúng dường, ngũ cúng chính là hoa, hoa nở rộ. Hương. Đèn, chính là cây nến. Trà, chính là nước. Quả, tức là các loại quả. Hoa, hương, đèn, trà, quả. Sau đó kết thủ ấn cúng dường, có nghĩa là bạn đã cúng dường rồi. Ở đây đều có rất nhiều ý nghĩa ở bên trong.

Ví dụ tám đại Bổn tôn của chúng ta đều có các thủ ấn khác nhau. Khi bạn kết thủ ấn đó rồi cầu nguyện, tượng trưng bản thân bạn dựa vào kí hiệu này, cộng với chú ngữ của bạn và ý niệm của bạn, trong trạng thái ba thứ hợp nhất với nhau, bạn mới tu pháp của Mật giáo.

Vì vậy thủ ấn là một trong ba nguyên liệu tu hành. Khi bạn kết thủ ấn phải triệu thỉnh Phật, Bồ tát. Chúng ta còn có ấn triệu thỉnh. Đây là cái móc, biểu thị dùng cái móc này để móc Bồ tát, móc có nghĩa là thỉnh Ngài đến, đây là cái móc, là móc kim cang, kim cang câu. Bình thường chúng ta thỉnh Phật, Bồ tát, thỉnh Phật đến thì kết thủ ấn Phật kham. Thỉnh Bồ tát đến là thủ ấn Liên hoa. Thỉnh Kim cang Hộ pháp đến là thủ ấn Kim cang. Thỉnh cầu các Ngài giáng xuống, các Ngài sẽ giáng xuống, sau khi giáng xuống, Phật, Bồ tát, Kim cang Hộ pháp đều phóng đại quang minh, đây là thủ ấn phóng đại quang minh. 

Có rất nhiều thứ khác mà bạn cần làm, ví dụ có rất nhiều kết giới mà bạn phải làm nữa. Kết giới là gì ư? Chính là phòng hộ. Vậy khi phòng hộ thì bạn phải biết kết giới. Đây là thủ ấn cọc kim cang, mở thủ ấn cọc kim cang ra, bốn cái cọc kim cang đều ở xung quanh bạn. Buông võng kim cang xuống, dựng lên tường kim cang, thắp lửa lên làm ngọn lửa. Cọc kim cang, võng kim cang, tường kim cang, thắp lửa lên làm ngọn lửa. Bản thân làm kết giới có rất nhiều thủ ấn khác nhau, thủ ấn của các vị Bổn tôn cũng nhiều vô kể.

Thủ ấn của hành giả Chân Phật Tông chúng ta không giống với thủ ấn của một số pháp sư ở bên ngoài mà bản thân họ học được. Xin nói với mọi người, thủ ấn của Lư Sư Tôn là do ý thức vũ trụ trong hư không trực tiếp truyền dạy. Năm xưa khi tôi kết thủ ấn là Phật, Bồ tát giáng xuống trực tiếp dạy tôi. 

Hai tay chắp lại với nhau, Ngài sẽ từ từ mở nó ra, di chuyển ra bên ngoài, sau đó hóa thành vô số thủ ấn rất mỹ miều. Vô số thủ ấn rất mỹ miều từ từ sinh ra. Sau khi hóa thành thủ ấn rồi, tôi ghi nhớ lại hết, rồi tự mình diễn biến, rồi thỉnh giáo Phật, Bồ tát, các thủ ấn này là dùng để làm gì. Sau đó tôi đem những thủ ấn này truyền lại cho đệ tử Chân Phật Tông. Đệ tử Chân Phật Tông có được thủ ấn này rồi cũng có nghĩa là có truyền thừa căn bản của ý thức vũ trụ trong hư không, không giống với các thủ ấn khác.

Vì vậy chuông kim cang, chày kim cang của Chân Phật Tông diễn hóa trong hư không, thủ ấn của Chân Phật Tông diễn hóa trong hư không, điều này rất phi phàm. Đích thực là ý thức vũ trụ giáng xuống dạy chúng ta, điều này là bất phàm, cũng có thể nói là không hề tầm thường.

Người hiểu về thủ ấn thì sẽ hiểu thủ ấn “tâm trong tâm”. Khi bạn không thỉnh được Phật, Bồ tát, bạn kết thủ ấn của Phật, Bồ tát, ví dụ kết ấn Chuẩn Đề, ok, kết xong ấn Chuẩn Đề. Ủa, thỉnh Chuẩn Đề Bồ Tát mà không thỉnh được Ngài đến thì phải làm sao? Thật ra là có điều huyền diệu, điều huyền diệu ở đây là gì ư? Chỉ cần trong ấn Chuẩn Đề Phật Mẫu, có một đầu ngón tay trong thủ ấn đó móc một cái, động đậy một cái, là sẽ làm xúc động được tâm của Chuẩn Đề Bồ Tát, khiến trong tâm Ngài rất cảm động, không phải là trong lòng rất cảm mạo đâu nhé. Là trong lòng rất cảm động, trong lòng Ngài cảm động rồi thì Ngài không đến không được, không giáng xuống không được. Tại sao vậy? Bởi vì bạn hiểu được ấn “tâm trong tâm” ở bên trong thủ ấn của Chuẩn Đề Bồ Tát. Ấn tâm trong tâm chính là một thủ ấn bí mật nhất. Bạn kết thủ ấn của Chuẩn Đề Bồ Tát, rồi làm xúc động tâm trong tâm của Ngài, Ngài nhất định sẽ giáng xuống.

Mỗi một vị Phật, Bồ tát đều có thủ ấn tâm trong tâm của riêng mình. Cái này phải truyền bí mật. Thủ ấn là vô cùng bí mật. Phải mật truyền, cho nên mọi người phải quy y.
Hôm nay nói đến đây. Om mani padme hum!

29/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 038. Bốn trọng điểm tu Kim cương thừa (1)


Hôm nay tôi sẽ nói với mọi người về bốn trọng điểm tu Kim cương thừa. Bây giờ mọi người đều biết Kim cương thừa là rất thù thắng. Tu pháp phải có phương pháp tu hành thực tế. Dòng chảy của toàn bộ Kim cương thừa là vô cùng sâu xa, thành tựu của các vị tổ sư Kim cương thừa đều rất vĩ đại. 

Lấy Chân Phật Tông để nói, Chân Phật Tông tuy là do bản thân tôi sáng lập, nhưng bản thân tôi lại là thực tu Mật pháp, thực sự đi vào bên trong tam muội của Kim cương thừa, cũng đã hòa nhập vào Tỳ Lô Tính Hải, vào bên trong Hoa Nghiêm Đại Quang Minh Hải, có thể nói tôi cũng là “tức thân thành tựu”, lúc này bản thân tôi đã được “tức thân thành tựu” rồi.

Tổ sư các đời của Chân Phật Tông chúng ta, ví dụ tổ sư của Bạch giáo Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16. Tổ sư Hoàng giáo Thượng sư Thubten Dhargye. Tổ sư Hồng giáo Liễu Minh Hòa Thượng. Tổ sư Hoa giáo Thượng sư Sakya Chứng Không. Các vị đều là các đại thành tựu giả.

Bản thân tôi cũng từng trực tiếp học pháp từ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ ở trong định. Tôi từng kể rồi, tôi được Kim Cang Tát Đỏa đưa vào trong hư không, dạy cách lắc chuông chày. Tại thời điểm rất sớm, khi tôi vừa mới có thiên nhãn, cũng có Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh trực tiếp đến truyền thụ thủ ấn cho tôi. Vì vậy truyền thừa này cũng có thể nói là một truyền thừa đại viên mãn, có truyền thừa của hư không giới, cũng có truyền thừa của nhân gian.

Vì vậy trong Kim cương thừa của Mật giáo có nói đến, điểm trọng yếu thứ nhất chính là “bất động”. Bất động này không phải là nói về Bất Động Minh Vương, mà là dạy bạn có tín tâm bất động. Về căn bản, khi bạn bước vào Kim cương thừa, bước vào Chân Phật Tông, tín tâm của bản thân bạn phải vô cùng kiên cố, chính là phải bất động. Tại sao vậy? Vì Chân Phật Tông thực sự có nguyên liệu thực tu, thực sự có rất nhiều thành tựu giả.

Lấy Bạch giáo làm ví dụ, từ Kim Cương Trì truyền thụ cho Tilopa, Tilopa truyền cho Naropa, bản thân Naropa lại truyền cho Marpa, Marpa truyền cho Milarepa, Milarepa truyền cho Gampopa. Mọi người đã đọc “Truyền kỳ Milarepa” rồi, thành tựu của Milarepa là rất vĩ đại, ngài thực sự là đại thành tựu giả.

Trong Chân Phật Mật Pháp của Chân Phật Tông chúng ta, thực tế nếu tính ra chính là tinh hoa của toàn bộ Mật giáo. Tương lai bạn cũng có thể tu thành Milarepa, cũng có thể tu thành đại thành tựu, toàn bộ thần thông nhậm vận, toàn bộ kim cang tam muội, toàn bộ ánh sáng cầu vồng bạn đều có thể tu thành, đều có thể trở thành Bồ tát, trở thành Phật, trở thành Kim cang Hộ pháp, đây là một loại thành tựu rất lớn về mặt thực tế.

Một yếu quyết quan trọng của tu hành chính là phải định tâm, bất động có nghĩa là định tâm lại, bạn khéo léo đi trên con đường này, đây là một đại đạo đại thủ ấn quang minh. Một đại đạo đại thủ ấn quang minh vô cùng. Bước về trước là không sai, cần phải có lòng tin. Nhiều vị tổ sư như vậy đã chứng minh cho bạn thấy, Phật Bồ tát chứng minh cho bạn thấy, Đại Nhật Như Lai chứng minh cho bạn thấy.

Lấy Lư Sư Tôn làm ví dụ, truyền thừa trong hư không thực sự của Sư Tôn là Đại Nhật Như Lai, Phật Nhãn Phật Mẫu, Liên Hoa Đồng Tử, rồi truyền thừa đến tôi, truyền thừa hư không này là vô cùng trân quý. Tôi vừa có truyền thừa nhân gian, vừa có truyền thừa hư không. Đây là truyền thừa đại viên mãn. Chân Phật Tông chúng ta có truyền thừa lớn, truyền thừa đại viên mãn. Mọi người cần phải có tín tâm, bạn có niềm tin này rồi, sau khi bạn có được pháp rồi, bạn tinh tấn bước về phía trước thì chắc chắn sẽ thành tựu, tu hành chắc chắn sẽ viên mãn, tương lai bạn có thể có được rất nhiều chứng nghiệm, có được cảm nhận vô cùng tuyệt hảo.

Vì Mật pháp là vô cùng trân quý, và do thành tựu của các vị tổ sư đã chứng minh cho chúng ta thấy, cho nên mọi người càng phải có tín tâm bất động và tín niệm bất động.

Tiếp theo chúng ta nói về điểm quan trọng thứ hai, trọng điểm thứ hai là kinh nghiệm. Trong quá trình tu hành, bạn sẽ sinh ra một kinh nghiệm. Vì Mật giáo là phòng thí nghiệm, Mật giáo là nói về thực nghiệm chứ không phải nghe giảng bài. Nghe giảng bài thì phần lớn là Hiển giáo, ở trong phòng học nghe giảng bài, giáo viên giảng và bạn nghe, nhưng khi bạn thực sự thực hành thì sẽ sinh ra một kinh nghiệm, bởi vì tu hành sản sinh ra một loại kinh nghiệm là rất quan trọng.

Rất nhiều khẩu quyết tâm yếu của tổ sư truyền lại cho mọi người, nếu bạn lấy được khẩu quyết tâm yếu này đi tu hành sẽ sinh ra kinh nghiệm của bản thân bạn. Điều này rất quan trọng, bạn sẽ sản sinh khẩu quyết tâm yếu của chính mình. Bản thân bạn phải như thế nào mới có thể nhập định? Sau khi bản thân bạn trải qua rèn luyện, sau khi trải qua thực tu về mặt thực tế, bạn sẽ sinh ra kinh nghiệm của chính bản thân mình. Đây chính là khẩu quyết tâm yếu của riêng bạn.

Chúng ta có được khẩu quyết của Lư Sư Tôn, Lư Sư Tôn làm sao để nhập tam ma địa? Ông ấy đem kinh nghiệm của mình nói cho bạn nghe, sau khi bạn thực hành theo, vậy thì bạn cũng có thể từ trong đó hấp thụ kinh nghiệm của các tổ sư nhiều đời, sau đó sinh ra kinh nghiệm của mình, sau khi kế thừa sẽ biến thành kinh nghiệm của mình, đó là khẩu quyết tâm yếu của bạn. Điều này rất quan trọng, trọng điểm thứ hai chính là kinh nghiệm.

Kinh nghiệm khẩu quyết tâm yếu của một số người chưa chắc thích hợp với bạn. Vì vậy những gì mà giáo viên giảng trước đây, bạn ghi chép, học thuộc lòng, nhưng khi bạn về nhà tự thực hành thì phát hiện phương pháp của mình tốt hơn, vậy thì cái này biến thành khẩu quyết tâm yếu của bạn, chính là kinh nghiệm của bản thân bạn. Đây là điểm thứ hai, cái này rất quan trọng.

Điểm thứ nhất là tín tâm bất động, điểm thứ hai là bạn phải tự sản sinh khẩu quyết tâm yếu của mình. Từ khẩu quyết tâm yếu của tổ sư các đời, bạn cảm thấy bộ nào hợp với mình thì cái đó sẽ biến thành khẩu quyết tâm yếu của bạn. Đây là điểm thứ hai.
Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum.

30/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì.


### 039. Bốn trọng điểm tu Kim cương thừa (2)


Điểm trọng yếu thứ ba trong bốn trọng điểm tu Kim cương thừa chính là quả vị. Quả vị không phải là nói bây giờ bạn đã đạt Phật gì đó, Bồ tát gì đó. Quả vị Phật, Bồ tát đúng là quả vị, không sai. Nhưng quả vị ở đây là dạy bạn nhận định rõ mình đã tu hành đến cảnh giới nào rồi. Điểm thứ ba này bạn phải luôn luôn chú ý.

Bạn là một hành giả tu hành, trong quá trình tu Kim cương thừa sẽ sản sinh ra nhiều cảm nhận. Những cảm nhận này khi sản sinh ra, bạn cần phải nhận định rõ ràng, cảm nhận này của bạn là ở cấp độ nào. Vì vậy phải chú ý, mọi người cần phải luôn luôn chú ý mình đã tu đến cảnh giới nào rồi. Hoặc là bạn vốn dĩ không có cảnh giới nào cả, nếu bạn đã không có cảnh giới nào cả thì bạn phải làm tốt Tứ gia hành của mình, trì chú cho thật tốt, công phu tu tập cao thâm rồi, cái gọi là du già chính là tương ứng, bạn có tương ứng rồi thì bạn sẽ biết cảnh giới của mình.

Có rất nhiều người hỏi Lư Sư Tôn là: “Bổn tôn của con là ai?” Khi bạn tu Bổn tôn của mình, bạn tu đến lúc tương ứng rồi, bạn sẽ biết ngay Bổn tôn của bạn là ai. Thậm chí là Phật, Bồ tát có duyên với bạn sẽ hiện ra trước mặt bạn, bạn sẽ biết Bổn tôn của mình là ai.

Có rất nhiều người viết thư hỏi tôi: “Hộ pháp của con là ai?”
Đây là chuyện vô cùng kỳ lạ đó, bởi vì nếu Hộ pháp của bạn mà phải nhờ Sư Tôn tìm, cho thấy là bạn vẫn chưa tương ứng với Hộ pháp. Trong quá trình tu hành của bạn, Hộ pháp đột nhiên xuất hiện trước mặt bạn, bạn nhìn thấy Hộ pháp rồi, bạn sẽ biết Hộ pháp là ai.

Sư Tôn từng kể trong lúc Sư Tôn đang tu pháp, đột nhiên giống như đáy biển vậy, sóng to gió lớn, toàn bộ vũ trụ, toàn bộ nước đều đang xoay chuyển, chính giữa hiện ra một đại Hộ pháp, thì ra là Hộ pháp đang làm pháp. Tôi vừa nhìn, chà! Thì ra là Đại Uy Đức Kim Cang. Sau đó tôi coi Đại Uy Đức Kim Cang làm Hộ pháp của mình, sau đó cùng Ngài lập ra lời thề ước, tức là có thể phụng thỉnh Ngài bất cứ lúc nào, đây chính là nguồn gốc của Hộ pháp.

Trong quá trình tu pháp, tôi cảm nhận được Đại Uy Đức Kim Cang hiển hiện, ở dưới đáy biển nổi lên cơn sóng to gió lớn, một loại pháp lực, một loại sức mạnh được sinh ra, năng lượng đó gần như là làm chấn động cả trời đất. Đây chính là một cảnh giới. Đây chính là quả vị của bạn. Trong quá trình tu pháp, bạn đạt được cảnh giới nào đó, nghĩa là bạn đã đi vào quả vị nào đó. Điều này là trọng điểm thứ ba của Kim cương thừa. Bạn sẽ luôn luôn lĩnh hội được trọng điểm thứ ba này, phải thường xuyên nghĩ như vậy. Ví dụ, mấy hôm trước chúng ta có nói, bạn ở Sơ thiền. Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, tôi đều đã giảng rồi, tất cả đều có đặc trưng riêng. Khi bạn ở Sơ thiền, trải nghiệm đặc trưng của bạn là cái gì? Nhị thiền, điểm trọng yếu của nó là gì? Điểm trọng yếu của Tam thiền là gì? Điểm trọng yếu của Tứ thiền là gì?

Bạn thường xuyên cảm thấy niềm hỷ lạc ngập tràn, khi khí của bạn lưu thông sẽ xuất hiện niềm hỷ lạc, bạn sẽ biết mình đã đạt đến cảnh giới của Sơ thiền.

Bạn có thể nhìn thấy tịnh quang rồi, nhìn thấy ánh sáng rồi. Thanh tịnh, quang minh, bạn đều có thể nhìn thấy, bản thân bạn đã thanh tịnh rồi, thân thể có ánh sáng, là bạn đã đạt đến cảnh giới Nhị thiền.

Bạn đã không động tâm nữa, bất cứ chuyện gì xảy đến, bạn cũng đều bất động. Khi đạt đến cảnh giới bất động, có bất cứ hỷ, nộ, ái, lạc đến xâm phạm bạn, rất nhiều lo buồn, phiền não đến xâm phạm bạn, bạn đều bất động. Bạn đi vào bên trong bất động tam muội là bạn đã đạt cảnh giới của Tam thiền rồi, cõi Tam thiền. Thật là lợi hại đó, khi đắc Tam thiền là đã rất xuất sắc rồi!

Khi bạn đến Tứ thiền, bạn sẽ sản sinh “bình đẳng tính trí”. Bạn xem chúng sinh tất cả đều bình đẳng, không có tâm phân biệt tốt xấu. Người đời thường phân biệt con người, người này là người tốt, người kia là người xấu. Người này xấu muốn bỏ bùa tôi, người này tốt, khá có duyên với tôi, vậy thì bạn vẫn chưa đạt Tứ thiền. Người thực sự đến được cõi Tứ thiền sẽ bình đẳng tính trí, xem tất cả chúng sinh đều bình đẳng. Bạn nhìn thấy người xấu chỉ có tội nghiệp và cảm thương họ, và bạn sẽ nghĩ cho họ, giúp đỡ họ. Bạn gặp được người tốt, bạn cũng sẽ mời họ tu pháp, tiếp tục làm việc thiện. Khi bạn dùng tâm bình đẳng để đối đãi chúng sinh nghĩa là bạn đã đến cõi Tứ thiền, đây là bình đẳng tính trí.

Bạn phải tự mình cảm nhận tâm của mình, phải là tâm bất thoái. Chứ không phải hôm nay vui vẻ, ngày mai u sầu, đây không phải niềm hỷ lạc. Ngày thường trong tâm bạn cảm thấy niềm hỷ lạc ngập tràn, bất thoái chuyển, đó chính là Sơ thiền.

Tôi nói cho mọi người biết, bạn muốn tu đến Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền đã là không dễ dàng rồi. Rất ít người có thể tu được cảnh giới đó, đã rất ít rồi. Tu hành có thể tu đến cõi Tứ thiền, mười tám tầng trời Tứ thiền, đến cõi Sắc cứu cánh cao nhất của Sắc giới, vào tiếp nữa là Vô sắc giới rồi. Người có thể tu đến cõi Tứ thiền, trên đời không còn mấy ai nữa. Nói cho mọi người biết, không còn mấy ai nữa đâu.

Chỉ riêng về Sơ thiền, bạn cần phải để khí lưu chuyển trong cơ thể, khiến ma sát giữa khí và kinh mạch của bạn sinh ra niềm hỷ lạc, niềm hỷ lạc này siêu việt tất cả, có thể giữ được niềm hỷ lạc này mãi mãi, chính là Sơ thiền thực sự. Loại pháp hỷ này rất tuyệt vời, có mấy ai làm được? Ngay đến Sơ thiền cũng không vào được thì cõi Sắc giới cũng không vào được, rất khó đó. Vì vậy trải nghiệm chi tiết trong cảnh giới tu hành của bạn chính là quả vị

Điểm thứ tư. Bạn thường xuyên phải nghĩ đến ba điểm nêu trên. Bất động, tâm bất động, khẩu quyết tâm yếu trong tu hành của bạn, cảnh giới tu hành hiện tại của bạn, quả vị là gì? Đến chỗ nào rồi? Thường xuyên nghĩ về ba điểm trên, chính là điểm thứ tư. Vì vậy nói là có bốn yếu điểm, thật ra là có ba điểm, nhưng điểm cuối cùng là bạn phải thường xuyên nghĩ đến ba điểm trên.

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum.

30/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 040. Hàng phục và kết giới


Hôm nay chúng ta sẽ nói về ma. Trong Mật giáo rất chú trọng đến ma chướng. Ma là gì ư? Chúng ta phải biết rằng trong Phật giáo, nói đến ma là có bốn loại rất quan trọng: Một là phiền não ma, hai là tử ma, ba là âm ma, cuối cùng là thiên ma, là bốn ma này. 

Có một số ma là do nội tâm của mình sinh ra. Giống như âm ma, âm ma và phiền não ma đều là do bản thân mình tự sinh ra. Ở đây phải hàng phục tham, sân, si của chính mình. Có một số ma đến từ bên ngoài, giống như tử ma, thiên ma, đều là đến từ bên ngoài. Bản thân Mật giáo rất xem trọng pháp phòng ma, bởi vì xem trọng nên có rất nhiều pháp. Phương pháp phòng hộ, phương pháp kết giới đều là pháp phòng ma. Ví dụ kết giới, trong lúc chúng ta tu pháp, chúng ta thường xuyên phải kết giới, phải mặc giáp hộ thân, mặc giáp hộ thân và kết giới đều là phương pháp phòng hộ.

Ngoài ra trong Mật pháp còn có pháp trói, chính là trói ma lại, trói chặt lại. Cũng có pháp đóng đinh, pháp đóng đinh là rất lợi hại, tức là đóng chặt chúng lại, đóng chết chúng, cũng có pháp đóng đinh như vậy.

Nói đến chướng ngại của ma, bản thân ma sẽ gây chướng ngại cho người tu hành, cũng cắt đứt huệ mệnh của con người, cũng sẽ quấy nhiễu, cũng sẽ phá hoại, đây đều thuộc về ma.

Trước đây, một câu chuyện nổi tiếng về Lư Sư Tôn và ma là như thế này. Trước đây tôi gia trì cho người ta, cho người bệnh, kết quả ma bỏ chạy, bệnh nhân khỏi bệnh, nhưng mà ma đó ngược lại chạy đến tìm tôi. Cũng may là bản thân tôi biết cách phòng hộ. Khi tôi đi ngủ, nó đến tìm tôi là như thế này. Ví dụ khi tôi sắp ngủ say, nó sẽ đánh mấy cái vào ngực, hoặc là động mấy cái thế là bạn không thể ngủ được nữa. 

Bản thân tôi biết pháp phòng hộ, tôi đã biến chiếc giường của mình thành một đóa hoa sen từ trước rồi, biến hóa xung quanh chiếc giường thành nước, nước rất nhiều, trong đó có hoa sen, và tôi ngủ ở chính giữa hoa sen. Ma đó không có cách nào đến gần, nhưng con ma này rất lợi hại, nó biến thành một con rắn nước, rồi bơi bơi bơi, bơi đến bên cạnh hoa sen thì cắn vào chân của tôi. Vậy phải làm sao? Cũng may tôi có thể làm hỏa diễm. Hỏa diễm có nghĩa là có thể làm pháp nổi lửa, biến thành lửa kim cang giáng xuống, lửa kim cang xoay quanh đóa hoa sen. Đêm đó tôi ngủ rất ngon. 

Tôi thường hay nhắc đến chuyện này là muốn nói, vì sự việc vô cùng rõ ràng, lửa kim cang, hoa sen, kim cang hỏa diễm, xung quanh lại là nước, cho nên con rắn đó bị lửa thiêu xèo xèo, bị lửa đốt kêu xèo xèo. Vì vậy mà tôi ngủ rất ngon, giấc ngủ rất tốt.

Cho nên hành giả của Chân Phật Tông nhất định phải biết phòng hộ, mặc giáp hộ thân cơ bản nhất bạn đều phải biết, cái đó là cơ bản nhất, mỗi lần chúng ta tu pháp đều có mặc giáp hộ thân.

Chúng ta còn có rất nhiều phương pháp phòng hộ, như là pháp kết giới, như là pháp Quan Âm Thân Đàn Thành là pháp kết giới rất tốt. Ví dụ kết giới cọc kim cang, vậy thì xây tường kim cang trước, rồi làm ngọn lửa kim cang, trong hư không có võng kim cang, ở dưới đất còn có nền móng kim cang. Bốn tầng kết giới, có nền móng kim cang, võng kim cang, cọc kim cang xây tường kim cang, ngọn lửa kim cang, đây chính là pháp Tứ trùng kết giới.

Vì vậy trong Mật giáo rất xem trọng những pháp này. Ma vốn dĩ là rất lợi hại, nó có sức phá hoại, có thể làm đứt huệ mệnh của người khác, sẽ mang đến phiền não cho bạn, sẽ quấy nhiều bạn, cho nên cần phải làm kết giới và phòng hộ.

Còn có một pháp nữa, đó là của Đạo gia, trước đây tôi cũng từng nói đến, gọi là pháp Giếng vàng. Pháp Giếng vàng giống như giơ kiếm chỉ. “Nhất họa thành giang, nhị họa thành hà, tam họa tứ họa thành kim tỉnh, thử chỉ phi phàm, nãi thị Lư Sơn tú tài chỉ, chỉ thiên thiên thanh, chỉ địa địa linh, chỉ nhân trường sinh, chỉ quỷ diệt vong.” Đây chính là pháp Giếng vàng. 

Vẽ một nét thành sông, vẽ hai nét thành hồ, vẽ ba, bốn nét thành giếng vàng. Ngón tay này phi phàm, đó là ngón tay của tú tài Lư Sơn, chỉ trời trời xanh, chỉ đất đất linh, chỉ người trường sinh, chỉ quỷ diệt vong. Quỷ, ma mà gặp phải chỉ tay của bạn là chúng sẽ tiêu đời ngay, vì chỉ quỷ diệt vong mà. Đây là pháp của Đạo gia mà năm xưa sư phụ tôi truyền cho tôi.

Chúng ta biết là trong Mật giáo còn có pháp Cửu tự chân ngôn, là pháp trói. Ấn Tứ tung ngũ hoành: lâm, binh, đấu, giả, giai, trận, liệt, tại, tiền, đẩy ra một cái là cái lưới này sẽ đi về phía trước, ma ở trước mặt sẽ lập tức bị ấn Tứ tung ngũ hoành của Cửu tự chân ngôn nhốt lại, liền bị trói lại. Sau đó dùng chày kim cang đóng một cái vào ma ở bên trong Cửu tự chân ngôn, đóng một cái là nó chết ngay.

Pháp Cửu tự chân ngôn trong Mật giáo: lâm, binh, đấu, giả, giai, trần, liệt, tại, tiền, đẩy một cái, cái này rất lợi hại, cái lưới sẽ bay ra. Cửu tự chân ngôn cộng thêm ấn Tứ tung ngũ hoành, sẽ trói con ma đó lại, rồi dùng đinh pháp để đóng chết con ma đó.

Vì vậy ở trong Mật giáo, Đạo giáo đều có phương pháp phòng hộ và đóng đinh ma, cái này đều là rất quan trọng. Giả sử nếu muốn học, nhất định phải quy y, phải được quán đảnh, cái này không thể bỗng dưng truyền dạy được, bên trong nó còn có rất nhiều khẩu quyết quan trọng. Giả sử như mọi người lo sợ thì sau khi quy y rồi sẽ không còn sợ nữa. Vì bạn có pháp phòng ma, có pháp phòng hộ, kết giới, vậy bạn không có gì phải sợ nữa.
Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

31/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 041. Phương pháp khắc phục ma


Chúng ta sẽ nói tiếp quan niệm về ma. Trong “Truyền kỳ Milarepa” có viết như thế này. Khi Milarepa quay trở về hang động của mình, ngài tự cảm ứng được là bên trong hang động của mình có ma. Milarepa cũng biết rất nhiều phương pháp, ngài liền dùng phương pháp trị ma để trị con ma đó.

Thật ra con ma này có lai lịch rất lớn, giống như thiên ma của Đại Tự Tại Thiên, thiên ma của Ma Ê Thủ La Thiên, đều là thiên ma rất mạnh. Chính là thiên ma ở tầng trời thứ sáu của Dục giới, đều rất mạnh. Dùng phương pháp trị ma không thể nào trị được nó, vậy phải làm sao? Milarepa nhìn thấy là không thể trị được nó, ngài đổi thành phương pháp ca tụng, tán dương nó, hy vọng nó có thể vểnh đuôi lên và bỏ đi. Tán dương nhưng thiên ma cũng không chịu, nó nói: “Ngươi trị ta trị không được, đuổi ta đuổi không đi, bây giờ ngươi dùng lời tán dương để tán dương ta, ta cũng không đi.”

Chà, thiên ma này rất lợi hại. Milarepa dùng cách cứng rắn nó cũng không đi, dùng cách mềm mỏng nó cũng không đi, vậy đành phải để mặc nó. Không để ý đến nó nhưng nó vẫn ở trong hang động. Bạn xem, khi Milarepa gặp phải thiên ma, ngài dùng cách cứng rắn, dùng cách mềm mỏng, không để ý nó, nó vẫn vậy. Không để ý đến nó là như thế nào? Tạm thời không về hang động vậy, đi ra bên ngoài dạo chơi tản bộ, rồi quay về xem nó còn ở đó không. Kết quả thiên ma vẫn ở trong đó, vậy phải làm sao? 

Trong lúc không còn cách nào nữa, Milarepa nghĩ đến một quan niệm. Bản thân ma cũng là huyễn. Bạn phải biết là chân lý của vũ trụ suy diễn đến tận cùng thì toàn bộ thế giới cũng chỉ là một huyễn thân, bản thân bạn, bản thân Milarepa cũng là một huyễn thân, không hề có thực tính, không hề có thực thể. Bản thân ma cũng là huyễn hóa ra, cũng là không có thực thể.

Vừa nghĩ đến như vậy, Milarepa liền hóa mình thành vô ngã, trong trạng thái không có cái tôi để đi vào trong hang động, vừa bước vào thì ma cũng không còn nữa.

Đây là đạo lý gì? Ở đây có một quan niệm rất sâu xa ở bên trong, thật ra bản thân ma cũng là chúng sinh, bản thân ma cũng là huyễn, chữ huyễn trong huyễn giác, không có thực thể, không có cơ thể thật sự. Nếu ma muốn hại bạn, bạn nhất định phải có thực thể nó mới có thể hại bạn. Khi bạn biết được mình là huyễn hóa, ma cũng huyễn hóa thì sẽ hóa thành hư vô, sẽ hóa thành không có gì cả. Đây là một vấn đề về mặt quan niệm, nhìn chung rất khó để người bình thường có thể lĩnh hội được quan niệm này, rất ít người lĩnh hội được quan niệm này. 

Nhưng mà, một người tu hành cần phải biết, bản thân ma cũng là một trong những chúng sinh. Bạn là chúng sinh, ma cũng là chúng sinh. Ngoài ra, ma còn như thế nào nữa? Ma còn là một sự hóa hiện thâm mật của Bồ tát. Tại sao lại là sự hóa hiện thâm mật của Bồ tát? Một người tu hành phải trải qua mọi loại thử thách của ma thì mới có thể thành Phật. Bạn xem Phật Thích Ca Mâu Ni, ngài ngồi dưới gốc cây bồ đề, trước khi ngài thành đạo, thiên ma cũng giáng xuống để thử thách ngài. Bởi vì con người có tham, sân, si, vậy nên thiên ma mới lợi dụng tham, sân, si của con người để thử thách bạn, bạn cần phải vượt qua được ma này thì bạn mới đạt được thành tựu.

Vì vậy ma cũng không phải chỉ có mặt xấu, nó còn có mặt tốt, nó đến là để thử thách người tu hành chúng ta, bạn phải có quan niệm này. Vì vậy không cần phải sợ ma, cũng tức là bạn cần phải tiếp nhận thử thách của ma, bạn phải chiến thắng ma và vượt qua ma chướng thì bạn mới có được thành tựu.

Vì vậy trong quan niệm của chúng ta đôi khi cần phải nhận thức rằng ma chính là sự hóa hiện thâm mật của Bồ tát. Ngài biến thành ma để đến thử thách đạo tâm của bạn, thử thách cảnh giới của bạn. Phương pháp phá ma công hiệu nhất của Milarepa chính là xem ma thành không và vô, là cảnh giới cao nhất. Ở cảnh giới cao nhất, bản thân ma cũng là huyễn, huyễn trong huyễn giác. Vì vậy bản thân nó không có thực tính ở bên trong. Khi bản thân bạn biến hóa mình thành vô ngã thì ma cũng không tồn tại nữa. Vì bạn đã không tồn tại nữa rồi thì ma còn tồn tại sao? Ma vì bạn mà khởi, nếu bạn không tồn tại thì ma cũng không tồn tại. Vì vậy khi Milarepa bước vào hang động, ma cũng không tồn tại nữa.

Đây là một phương pháp phá ma. Hành giả Mật giáo chúng ta cần phải biết kết giới, biết phòng hộ, và phải có quan niệm về ma. Nếu bạn có thể như vậy, bạn sẽ có thể siêu việt, bạn có thể vượt qua ma, bạn có thể nhảy khỏi những ma chướng này. Lấy tôi làm ví dụ, tôi xem ma như là “vô”, giống như không có, tất cả mọi ma chướng, tất cả chướng ngại, toàn bộ hóa thành hư vô. Vì tôi không xem phiền não là phiền não, tôi không xem chướng ngại là chướng ngại, tôi không xem ma là ma. Khi bạn không xem ma là ma thì ma sẽ không còn nữa. Nếu bạn không xem phiền não là phiền não thì phiền não cũng không còn nữa. Bạn không xem chướng ngại là chướng ngại thì chướng ngại cũng sẽ không còn nữa. Đây là một phương pháp tu hành, chính là một sự siêu việt, một phương pháp vượt qua phiền não, vượt qua chướng ngại, vượt qua ma. Vì vậy Milarepa xem ma thành huyễn, ma liền biến mất.

Có lẽ nói như vậy, các vị vẫn không thể hiểu rõ cho lắm, vậy sau này sẽ giảng giải rõ ràng hơn một chút. 
Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

31/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 042. Cảm nhận về phong mạch ánh sáng


Hôm nay tôi sẽ nói tiếp với mọi người về phương diện cảm nhận. Chúng ta tu Kim cương thừa là có cảm ứng, có cảm nhận, cảm nhận có thể nói là bạn cảm thấy một loại cảm giác. Trước đây tôi từng nói về phương diện cảm nhận này rồi, có niềm hỷ lạc, có bình đẳng, có bất động, có thể nhìn thấy được ánh sáng thanh tịnh, có những cảm nhận như vậy.

Cũng có đệ tử hỏi: “Cảm nhận này, đến một trạng thái nào mới có thể cảm nhận được?”

Tôi đã nói qua rồi, ví dụ như về mặt hỷ lạc, có thể nói rất nhiều người đều nói cảm nhận về mặt lý luận, ví dụ cảm thấy cơ thể rất nhẹ nhàng, như thế gọi là khinh an, cảm giác rất khinh an. Có người cảm thấy rất mát mẻ, nói là học Phật cảm giác rất mát mẻ, rất thoải mái. Không khí rất mát mẻ, thật ra không phải là không khí mát mẻ mà là tâm mình cảm thấy rất mát mẻ. Có người về mặt lý luận cảm nhận được pháp hỷ. Sau khi tu hành, cảm thấy pháp hỷ ngập tràn, pháp hỷ cũng là một dạng của niềm hỷ lạc. Là bởi vì bạn tu pháp, bạn hợp với Phật pháp, về mặt tâm lý cảm thấy vô cùng vui thích, loại hiện tượng này thuộc về mặt lý luận.

Còn niềm hỷ lạc mà Lư Sư Tôn nói thì khác, nó được phát ra từ bên trong, hôm trước tôi có nói rồi, tức là khí ở bên trong cơ thể bạn thông qua kinh mạch, bạn tự nhiên ở trong thiền định, do khí thông kinh mạch sản sinh ra một cảm giác vi diệu, loại cảm giác này là khởi nguồn của niềm hỷ lạc thực sự.

Tôi cho rằng thế này, không phải về mặt lý luận mà là về phương diện nội tu một cách thực tế sẽ sản sinh ra một cảm giác vi diệu của niềm hỷ lạc. Đây chính là cảm nhận về mặt thực tế, không phải là về mặt lý luận. Về mặt lý luận bạn nói là tôi cảm thấy pháp hỷ ngập tràn, nhưng cảm giác này của bạn là nói suông, pháp hỷ ngập tràn một cách nói suông. Pháp hỷ ngập tràn thực sự là từ khí ở bên trong cơ thể bạn khi thông qua trung mạch sản sinh ra một niềm hỷ lạc. Ở đây tôi nói khi ở trong thiền định, bạn cần phải làm được, đây là một điểm.

Ngoài ra, bạn nói bạn nhìn thấy ánh sáng, nhắm mắt lại tôi cũng nhìn thấy ánh sáng đỏ, cái này không phải là thực sự nhìn thấy ánh sáng, đây là một cảm giác của mắt về mặt thị giác của bạn thôi. Ánh sáng ở đây là ánh sáng nội tại, chứ không phải là bạn nhắm mắt lại rồi đột nhiên có chớp sáng, ơ đột nhiên tôi nhìn thấy một tia chớp sáng này, không phải là loại ánh sáng ngộ nhận nhìn bằng mắt này đâu, mà là ánh sáng chiếu ở bên trong, đây mới là tịnh quang thực sự. 

Đó là khí của cơ thể bạn đã thông đến luân xa tim, bên trong luân xa tim có một mạch ánh sáng, đây gọi là phong mạch ánh sáng. Bên trong luân xa tim của bạn có phong mạch ánh sáng. Khi mở luân xa tim ra bạn nhìn thấy ánh sáng nội tại, vô cùng sáng, loại ánh sáng chói lọi như một viên kim cương. Một loại ánh sáng lấp lánh ánh vàng, lấp lánh ánh trắng, đây mới là tịnh quang thực sự. Bạn thực sự có thể nhìn thấy, đây gọi là thanh tịnh. Thanh tịnh một thứ thì mọi thứ đều thanh tịnh, toàn thân đều phát ra ánh sáng, đó là ánh sáng nội tại. Đó là khi khí của bạn thông qua luân xa tim, mở luân xa tim ra sẽ nhìn thấy ánh sáng nội tại chứ không phải là mắt của bạn nhìn thấy, đừng nhầm lẫn nhé!

Có nhiều người cho rằng nhìn thấy ánh sáng, mắt tôi ti hí nhìn thấy một chút, không phải cái đó, mà là ánh sáng nội tại, tịnh quang ở bên trong. Là chứng nghiệm thực tế, là khí của bạn đi qua luân xa tim, mở luân xa tim ra mới hiển hiện ánh sáng này.

Bạn cũng có thể cho rằng mình đã bất động rồi, bao nhiêu phiền não đến, tám ngọn gió thế gian thổi bất động, bạn đã thiền định rồi, có thể vào được cảnh giới tịch tĩnh rồi, tham, sân, si gì đó, toàn bộ phiền não đều được quét sạch, bạn cho rằng, à đây là cảm nhận rất tốt, bạn đã tu đến bất động, nhưng đây là về mặt lý luận thôi.

Về mặt thực tế, tu hành thực tế trong Kim cương thừa Mật giáo của chúng ta là bạn đã thực sự đi vào, thời điểm mở luân xa bí mật của mình, thực sự mở Mật luân rồi bạn mới có thể hóa giải hết toàn bộ phiền não. Cái này rất khác biệt. Thật ra chúng ta mở Tâm luân, mở Mật luân, tại Mật luân có thể quét sạch hết toàn bộ phiền não, mọi tham sân si. Luân xa tim cũng có các mạch tham sân si, rất nhiều mạch phiền não ở xung quanh bám giữ bạn. Nếu thực sự có thể mở được năm luân xa, có thể nói là năm đại trí huệ của Như Lai bạn cũng có thể chứng được. Vì vậy Mật luân liên quan đến bất động và tịch tĩnh. Bạn mở ra Mật luân mới có thể thực sự đạt đến địa bất động. Đây là một khẩu quyết quan trọng.

Ngoài ra, khí của bạn thực sự có thể đi vào Tề luân, mở toàn bộ luân xa rốn ra, bạn mới có thể có được loại cảm giác bình đẳng nhất vị, vì khi bạn mở được luân xa rốn mới có thể đạt đến bình đẳng tính trí. Về mặt lý luận mà nói, bạn cũng có thể bình đẳng, bạn nói: “Chúng sinh đều có Phật tính mà, mọi người bình đẳng như nhau.” Đây là mặt về mặt lý luận. Về thực tế là bạn phải ở trong thiền định, ứng dụng khí và nội hỏa của bạn để mở luân xa rốn, khi mở ra rồi mới thực sự là lĩnh hội được bình đẳng tính trí.

Lý luận của bình đẳng tính trí rất hay. Tôi thường hay nói 50 năm sau bình đẳng như nhau. Nhưng cũng không chắc, có một số người vừa mới sinh ra thôi nên 50 năm sau họ vẫn còn sống. Là tôi đang nói đến cái tuổi tác của mình, 50 năm sau, tất cả bình đẳng, ân oán tình thù tất cả tiêu diệt. Tôi thường xuyên nghĩ về 50 năm sau, thực sự là 50 năm sau, 50 năm sau không còn sống nữa, bạn còn có gì mà không bình đẳng chứ? Tất cả bình đẳng, nhất loạt bình đẳng, đây là mặt lý luận thôi. Sự bình đẳng thực sự về mặt thực tế là mở luân xa rốn, lúc đó sẽ có cảm nhận bình đẳng nhất vị. 

Được rồi, hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum!

01/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 043. Tu pháp cần tương ứng ra sao?


Chúng ta biết là Kim cương thừa còn gọi là du già, du già tức là yoga. Ý nghĩa của yoga phiên dịch thành tiếng Trung của chúng ta tức là tương ứng. Tương ứng thật ra chính là muốn nói cá nhân bạn hợp nhất với đại ngã của vũ trụ, chính là tương ứng. Trong Kim cương thừa mà nói, giống như bạn tu Bổn tôn nào đó, bạn và Bổn tôn đó đã hợp nhất rồi, đó chính là tương ứng.

Vốn dĩ Phật và tôi là tách biệt, hôm nay Phật A Di Đà là Phật A Di Đà, Lư Thắng Ngạn là Lư Thắng Ngạn, là hai. Nhưng hôm nay bạn tu Kim cương thừa, có nghĩa là Phật A Di Đà và Lư Thắng Ngạn là hợp nhất, là một. Khi bạn hợp nhất tức là tương ứng.

Cái này rất đơn giản, tôi là người, Bồ tát chính là Bồ tát, hôm nay Bồ tát và tôi hợp nhất với nhau rồi, cái này chính là tương ứng. Vì vậy bạn tu hành chính là biến mình thành Bồ tát, rất đơn giản, là biến mình thành Phật. Đây chính là đạo lý của Kim cương thừa, nên du già chính là tương ứng.

Vậy thì muốn tương ứng đương nhiên phải trải qua một quá trình cố gắng, chứ không phải nói là hôm nay tôi tương ứng rồi, vâng, tôi chính là Bồ tát, chính là Phật, đó là chuyện không thể nào. Nhất định phải trải qua một quá trình tu hành rất dài.

Theo như những gì các vị tổ sư nói, bạn muốn nhanh chóng tương ứng với Phật, Bồ tát là phải có vài điều kiện. Điều kiện thứ nhất, ngài nói rằng pháp phải chính, pháp chính có nghĩa là hôm nay bạn học Mật pháp, ví dụ chính pháp của Chân Phật Mật Pháp, chính pháp tức là Mật pháp chân chính. Mật pháp chân chính tức là nói đến phương pháp mà hôm nay bạn có được là chính xác, chính là chính pháp. Đây là điều kiện đầu tiên.

Còn điều kiện thứ hai chính là phương pháp tu hành của bạn nghi quỹ phải viên mãn, không có khuyết điểm. Giống như chúng ta làm pháp, trong Mật giáo rất chú trọng nghi quỹ và thứ tự. Những chỗ không thể bỏ sót bạn không được bỏ sót. Bạn phải làm được hết tất cả các trọng điểm, mỗi một trọng điểm đều phải làm được. Bạn làm được tất cả trọng điểm, vậy thì nghi quỹ của bạn sẽ vô cùng viên mãn, phương pháp tu pháp của bạn sẽ vô cùng viên mãn. Vì vậy nghi quỹ phải viên mãn, không được có thiếu sót.

Vậy điều kiện thứ ba thì sao? Bạn phải giữ giới. Như Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói với chúng ta phải kính sư, phải trọng pháp, phải thực tu, Sự sư pháp ngũ thập tụng, tức là bạn phải giữ 50 quy tắc ứng xử đối với Căn bản Thượng sư của mình, phải giữ 14 đại giới của Mật giáo, bạn không giữ giới, làm loạn lung tung, vậy bạn làm sao tương ứng được? 

Nhất định phải giữ giới luật của Mật tông. Sự sư pháp ngũ thập tụng, 14 đại giới cơ bản, những giới luật này bạn đều phải giữ. Nếu bạn không giữ giới, làm sao có thể tương ứng chứ, vì bạn đã mất đi lực gia trì rồi, mất đi lực gia trì của Thượng sư, mất đi sức mạnh của Bổn tôn, mất đi sức mạnh của Hộ pháp, bạn làm sao tương ứng được, không thể nào tương ứng, đây là đạo lý cơ bản.

Ngoài ra, trong quá trình bạn tu pháp, đều sẽ có rất nhiều Hộ pháp đi theo bạn, thần Hộ pháp luôn luôn bảo vệ bạn. Bạn là một người giữ giới thì thần Hộ pháp sẽ đi theo bạn, thiên long bát bộ đều đi theo bạn, bảo vệ bạn. Quyến thuộc bên cạnh Bổn tôn của bạn, Hộ pháp quyến thuộc đều sẽ đi theo bạn. Quyến thuộc của Bổn tôn và Hộ pháp chính là các vị thần ở bên cạnh bảo vệ Bổn tôn, các vị thiện thần đó đều đi theo bạn.

Có Hộ pháp đi theo bạn, bạn sẽ không sợ ma, bạn tu pháp sẽ rất thuận lợi, rất nhiều chướng ngại, rất nhiều ma nạn ở bên trong đều được giảm thiểu. Vì vậy Hộ pháp rất quan trọng. Có thiên long bát bộ luôn đi theo bạn, ở cùng với bạn, bảo vệ sự tu hành của bạn. Vậy bản thân bạn phải thành tâm. Thành tâm là thành ý, bạn vô cùng có thành ý đến quy y, vô cùng thành ý tiếp nhận quán đảnh, vô cùng thành ý tu Chân Phật Mật Pháp. Vô cùng thành ý phục vụ Căn bản Thượng sư của mình. Vô cùng thành ý kính sư, trọng pháp, thực tu. Đây là thành tâm của bạn, bạn không được đánh mất thành tâm, bạn mất đi thành tâm rồi, bạn tu pháp sẽ không thành nữa. 

Vì vậy đối với Căn bản Thượng sư của mình là phải hoàn toàn, một trăm phần trăm, hoàn toàn là một sự tôn kính. Tôn kính không phải là chỉ nói miệng. Tôn kính cần phải có thực tế, bản thân bạn phải thể hiện ra điều đó. Cho nên về phương diện tu pháp, hay là lòng cung kính của bạn đối với sư phụ, đều không phải nói bằng miệng là xong. Thân thể, lời nói và ý niệm của bạn, ba thứ này phải hoàn toàn tôn kính sư phụ của mình.

Ngoài ra còn phải phát bồ đề tâm. Sau khi bản thân bạn đã tương ứng với Phật Bồ tát rồi, bạn còn phải phát bồ đề tâm. Phát bồ đề tâm là gì? Chính là đi giúp đỡ người khác, bạn vẫn phải phát tâm nguyện rất lớn, phát tâm quảng đại giống như tứ vô lượng tâm từ, bi, hỷ, xả. Từ là mang đến niềm vui cho người khác. Bi là giải quyết đau khổ của người khác. Hỷ là mãi mãi hoan hỷ để làm. Xả là có thể đem tính mạng và thời gian của mình xả bỏ hết, đều có thể xả bỏ tất cả mọi thứ của mình. Đây chính là phát bồ đề tâm.

Bạn phải từ, bi, hỷ, xả. Tứ vô lượng tâm chính là bốn loại tâm hoàn toàn loại bỏ. Hoàn toàn có thể làm từ bi hỷ xả, một khi đã phát ra bồ đề tâm này thì bạn chính là Bồ tát. Bồ tát chính là từ bi hỷ xả. Bản thân Bồ tát chính là vị có lòng yêu thương, một lòng yêu thương vô lượng vô hạn để cứu độ chúng sinh, giúp đỡ chúng sinh, mang niềm vui cho chúng sinh, để không những là bản thân mình được độ mà chúng sinh cũng có thể được độ.

Vì vậy Bồ tát có lúc hy sinh cái ngã nhỏ, ngài hy sinh tính mạng của mình, hy sinh thời gian của mình để làm công việc cứu độ chúng sinh từ bi hỷ xả. Vì vậy khi bạn có tâm quảng đại như vậy, người có lòng thành, Phật ắt cảm ứng, đây chính là nói về cảm ứng. Bản thân bạn có thể phát tâm từ bi quảng đại như vậy, Phật, Bồ tát đều biết hết. Các ngài sẽ cảm ứng với bạn. Bạn có thành tâm, có bồ đề tâm, có từ bi tâm, bạn lại giữ các loại giới luật của Mật giáo, có Kim cang Hộ pháp hộ trì bạn, pháp của bạn lại là chính pháp, nghi quỹ của bạn lại viên mãn, vậy chắc chắn sẽ có cảm ứng.

Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum!

01/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 044. Bốn thứ tự của Đại thủ ấn (1)


Hôm nay tôi sẽ giới thiệu với mọi người về bốn thứ tự của Đại thủ ấn. Vậy Đại thủ ấn là gì? Cái này theo mặt chữ mà nói rất dễ khiến người khác hiểu lầm nó là một thủ ấn, kết tay lại như vậy là đại thủ ấn, thật ra không phải. Đại thủ ấn mà Mật giáo nói đến chính là quá trình tu hành từ một phàm phu đến thành Phật gọi là Đại thủ ấn.

Đại có nghĩa là viên mãn. Thủ chính là quá trình tu hành. Ấn có thể nói là một loại ấn chứng. Đây là quá trình từ phàm phu tu thành Phật quả thì gọi là Đại thủ ấn, chứ không phải kết thủ ấn.

Đại thủ ấn có bốn thứ tự, bốn cấp độ. Cấp độ thứ nhất chính là chuyên nhất. Có rất nhiều đệ tử thường xuyên hỏi tôi tu hành là phải tu như thế nào. Câu đầu tiên tôi trả lời họ luôn là: “Bạn phải chuyên nhất.” Tu hành tu như thế nào? Tôi đều trả lời hai chữ “chuyên nhất”.

Trên thực tế chuyên nhất là cơ sở đầu tiên của tu hành, cũng có thể nói là cấp độ thứ nhất. Tại sao vậy? Nếu bạn không chuyên nhất, bạn sẽ không tu được gì cả. Điều này là chắc chắn.

Trong Mật giáo mà nói, giống như chúng ta đang thu dọn suy nghĩ, vốn dĩ chúng ta có rất nhiều suy nghĩ, ý nghĩ đếm không hết. Nhưng gom hết toàn bộ ý nghĩ lại thành một, đây là điều đầu tiên phải làm được.

Tâm niệm của người tu hành không được càng lúc càng nhiều, càng lúc càng phức tạp. Ngoài mặt bạn nói tôi là một hành giả tu hành, nhưng trên thực tế, bạn càng tu càng phức tạp, càng tu càng phức tạp là không đúng rồi. Cũng giống như tâm trạng của bạn, tâm của bạn càng tu càng trong veo thì mới là đúng. Giả sử bạn nói càng tu càng đục, đục tức là rất nhơ, càng tu càng nhơ bẩn, vậy thì không đúng. Tính nóng của bạn phải càng tu càng không còn nóng tính nữa, càng dịu êm. Giả sử bạn là một hành giả mà càng tu càng nóng nảy, vậy thì là không đúng.

Vì vậy giữa đúng và không đúng là rất dễ nhận biết. Bạn càng tu càng phức tạp, tâm sự càng lúc càng loạn, vậy về cơ bản là không đúng. Cho nên tu hành là phải tu quy về một, bạn quy tất cả về một. Rất nhiều suy nghĩ biến thành một ý nghĩ, rất phức tạp biến thành rất đơn thuần, rất nóng nảy biến thành rất điềm tĩnh. Cái không rõ ràng biến thành cái rõ ràng. Đây chính là chuyên nhất. Mọi người cần phải làm được điều này trước rồi biến nó thành Chuyên nhất du già, cái này có thể nói là Chuyên nhất du già.

Cảm nhận của Chuyên nhất du già rất rõ ràng, rất minh bạch. Đối với bất cứ chuyện gì bạn đều hiểu rõ, không phải là mơ hồ không rõ ràng. Rất đơn thuần, rất thuần tịnh, rất kiên cố, đây đều là chuyên nhất. Bạn tu Chuyên nhất du già có thành tựu rồi, bạn sẽ cảm nhận được tâm mình rất bình lặng. Bạn cũng trở nên đơn thuần hơn, bạn cũng cảm thấy tương đối sáng trong. Tín tâm cũng rất kiên cố, đây là chuyên nhất, bạn chuyên nhất tu hành thì là như vậy. 

Như vậy đã được xem là sự thăng hoa về mặt nhân cách rồi. Bạn vốn dĩ là người tính khí nóng nảy, bạn trở nên vô cùng bình tĩnh. Suy nghĩ của bạn vô cùng rõ ràng, tín tâm vô cùng kiên cố, cách nhìn của bạn về mọi sự việc vô cùng rõ ràng. Đây là một cảm nhận và thành quả sau khi bạn tập Chuyên nhất du già.

Cấp độ thứ hai của Đại thủ ấn gọi là ly hí, Ly hí du già. Ly hí nghĩa là rời xa tất cả mọi hí luận. Những người thông thường như chúng ta, sau khi tu hành chuyên nhất, bạn có ý nghĩ xuất thế. Trong Mật giáo gọi là thứ tự viên mãn, thứ tự viên mãn chính là ly hí. Thứ tự sinh khởi vẫn không phải là ly hí, thứ tự viên mãn chính là Ly hí du già, rời xa tất cả hí luận. 

Vậy thì rời xa tất cả hí luận để làm gì? Để hoàn toàn làm công phu xuất thế, bạn chính là vì muốn bản thân mình đắc được quả, vì vậy bạn rời xa tất cả hí luận. Thế nào là rời xa tất cả hí luận? Ví dụ như là một số pháp phương tiện, tất cả bạn đều không có nữa. Có người nói cái này tiện lợi đó. Cái này thuộc về pháp phương tiện, không phải là pháp thật sự có thể chấm dứt sinh tử. Ở đây đã đi vào xuất thế rồi, mọi chuyện của nhập thế đều không làm nữa, như là tiêu tai, tăng ích, hàng phục, kính ái, những cái này bạn không làm nữa, như vậy là đã đạt đến ly hí.

Vậy khi Ly hí du già, thứ duy nhất của nó chính là tâm, nghĩa là tâm linh của bạn hoàn toàn thanh tịnh rồi. Bạn chỉ là tu minh tâm này mà thôi, những cái khác đều không có. Thoát ly tất cả lý luận, thoát ly mọi loại pháp nhập thế, pháp phương tiện, hoàn toàn trở thành một loại tu hành xuất thế thành rất minh tịnh về mặt tâm linh, chính là Ly hí du già.

Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum!

02/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 045. Bốn thứ tự của Đại thủ ấn (2)


Chúng ta sẽ tiếp tục nói về bốn thứ tự của Đại thủ ấn. Nói về Ly hí du già, Ly hí du già có thể nói là bạn xuất gia rồi thì xem như là Ly hí du già. Người xuất gia không còn quan tâm chuyện của thế tục, chuyện của thế gian bạn không quan tâm nữa. Bạn hoàn toàn quan tâm chuyện xuất thế, đây chính là xuất gia. Chính là ra khỏi căn nhà của thế tục, đi vào căn nhà của Phật, đây mới là xuất gia.

Sau khi bạn xuất gia rồi, nếu tâm của bạn vẫn còn ở thế tục, vậy cái đó không được xem là xuất gia, vì bạn vẫn còn tục duyên thì không phải là xuất gia. Xuất gia là bạn sẽ ly hí, rời xa tất cả mọi hí luận, rời xa tất cả thế tục, hoàn toàn chuyên tâm vào chuyện giải thoát khỏi sinh tử.

Đại thủ ấn đi vào giai đoạn thứ ba chính là Nhất vị, Nhất vị du già. Thế nào là Nhất vị? Chính là hoàn toàn chỉ có một mùi vị. Nhất vị dựa vào mặt chữ mà nói là hoàn toàn chỉ có một mùi vị, không có mùi vị thứ hai. Ở đây bạn có thể nghĩ như thế này, bất luận là về mặt vật chất hay là về mặt tâm linh của bạn, tâm-vật hoàn toàn bình đẳng. Tâm và vật hoàn toàn bình đẳng. Bất luận là bạn làm sự việc gì đều là nhất vị, một mùi vị. Có lẽ tôi nói như vậy, nói hết nửa ngày trời, mọi người sẽ cảm thấy một mùi vị thì có gì tốt chứ?

Thật ra khi đi vào nhất vị, có thể nói như thế này, chính là bình đẳng, mọi thứ đều là bình đẳng. Ở đây một chính là nhiều, nhiều chính là một. Vậy mọi người thử nghĩ xem, nhiều làm sao lại là một, một làm sao lại là nhiều? Mọi người nhìn thế giới này chắc chắn là thấy rất nhiều. Nào là núi sông, mặt đất, rừng cây, cỏ cây, hoa trái… phải là thế giới có rất nhiều thứ. Có rất nhiều động vật, rất nhiều loài dưới nước, rất nhiều chim chóc thú rừng, phải là thế giới có rất nhiều thứ. Nhưng ở trong mắt của Phật, Bồ tát thì là nhất vị. Ở trong mắt của Phật một hạt gạo chứa đại thiên thế giới, bên trong một hạt gạo chính là một thế giới. Gạo này có phải là một hạt gạo hay không? Chính là một hạt, tức là nhất vị. Tuy rằng rất nhiều, rất nhiều, nhưng thật ra chứa trong một. Cho nên một cũng là nhiều, nhiều chính là một. Một và nhiều là trạng thái bình đẳng nhất vị, gọi là Nhất vị du già. 

Sau khi bạn đạt đến cảnh giới này rồi, bạn sẽ cảm thấy tất cả mọi chuyện của thế giới này ở trong mắt bạn đều là bình đẳng nhất vị. Lúc này tất cả mọi yêu, hận, tình, thù của bạn đều là bình đẳng nhất vị cả. Yêu cũng là nhất vị, hận cũng là nhất vị, trong trạng thái mọi thứ đều là nhất vị. Vì vậy ở trong trạng thái này, bạn sẽ bình tĩnh nhất, an định nhất, đã thâm nhập vào trong đại định, trong trạng thái trí huệ hoàn toàn hiển lộ. Cái này cũng là rất khó để lĩnh hội, rất khó để hiểu trạng thái nhất vị này.

Lúc này, cuộc sống của bạn hoàn toàn trong trạng thái dừng nghĩ, có thể nói là trạng thái vô niệm đã xuất hiện. Nói đúng ra là bạn vẫn còn có rất nhiều niệm, nhưng tất cả niệm đều là nhất vị, loại cảm nhận này không đơn giản chút nào.

Cuối cùng bước vào giai đoạn thứ tư của Đại thủ ấn chính là Vô tu du già. Mọi người sẽ cho rằng, chà, Vô tu du già, rất hay đó. Vì trước đây tôi gặp được một người, anh ta nói với tôi: “Tôi không cần phải tu cái gì nữa, vì tôi đã tu qua hết toàn bộ rồi, tôi đã ở trạng thái vô tu.” 

Tôi nói: “Woa... chúc mừng chúc mừng! Anh đã không cần tu nữa rồi.”

Thật ra không phải là thực sự không tu đâu. Mà không tu chính là tu. Đây chính là Vô tu du già. Không tu chính là tu nghĩa là sao? Bạn làm bất cứ chuyện gì cũng đều là đang tu. Chà cái này rất vĩ đại đó, đến cảnh giới này rồi thì tất cả mọi chấp trước đều hoàn toàn bị phá bỏ, căn bản là bạn không còn chấp trước.

Lúc này bạn có thể xuống núi, sống trong thành phố, đến thế giới phồn hoa. Bạn đến thế giới phồn hoa làm gì ư? Vì bạn đang ở trong vô tu, tất cả đều là đang tu hành. Bạn làm bất cứ chuyện gì cũng là đang tu hành. Bởi vì bất cứ chuyện gì, bất cứ thế giới phồn hoa nào cũng không thể ảnh hưởng đến bạn. Đây chính là tu hành ở trạng thái không tu. Đây là cảnh giới cao nhất. Làm bất cứ chuyện gì cũng đều là thanh tịnh, đây là không tu mà tu.

Nếu bạn làm bất cứ chuyện gì mà vẫn còn ô nhiễm thì đó không phải là cảnh giới cao nhất của Đại thủ ấn. Cảnh giới cao nhất của Đại thủ ấn tức là bạn làm bất cứ chuyện gì cũng đều là thanh tịnh, làm bất cứ chuyện gì cũng đều là đang tu hành. Tất cả mọi thứ không bám chấp. Chà! Điều này thật tuyệt vời! Đây là cảnh giới Đại thủ ấn thực sự đắc được Phật quả. Cái này mới gọi là không tu mà tu.

Bạn nói một câu nói, đó chính là chú ngữ, bạn tùy tiện vẫy tay một cái chính là thủ ấn. Ý niệm của bạn vừa khởi lên tức là pháp. Đây là trạng thái không tu mà tu. Loại cảnh giới này rất khó giải thích với mọi người. Làm bất cứ chuyện gì cũng đều là thanh tịnh, một chút ô nhiễm cũng không có. Đương nhiên, họ còn cần tu gì chứ? Nhưng họ làm bất cứ chuyện gì cũng chính là đang tu, cái này chính là không tu mà tu.

Nói về triết học thì triết học này phải là triết học cao nhất, cảnh giới cao nhất của đời người, Phật quả cao nhất chính là không tu mà tu. Điều này rất vĩ đại.

Trong Mật giáo thì Đại thủ ấn là một pháp rất viên mãn, là cao nhất, là cấp độ thứ tư. Lúc này, người đó không tu mà tu, người đó Vô tu du già, chúng ta không nên dựa vào hành vi của họ mà phán đoán công phu tu hành của họ. Bởi vì hành vi của họ nhìn vào thì rất điên loạn, trên thực tế họ đang ở cảnh giới cao nhất, một ý niệm chính là pháp, vẫy tay một cái chính là thủ ấn. Đọc một cái, tùy tiện nói một câu, chính là chú ngữ. Trong tâm họ hoàn toàn là ở trạng thái thanh tịnh vô vi. Mãi mãi tất cả mọi sự việc được làm từ tay, đi từ chân của họ toàn bộ đều là thanh tịnh. Đây là trạng thái không tu mà tu. Cấp độ thứ tư của Đại thủ ấn giới thiệu đến đây thôi.

Om mani padme hum!

02/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

**(Hết quyển 1)**

---

---
# File: kinh-luat-luan/hong-quang-dai-thanh-tuu-tap-2.md
# Title: Hồng quang đại thành tựu - Tập 2
---

![image](/img/img_796aa3d06229454ded37d2bc306fd100.jpg)



## Hồng quang đại thành tựu - Tập 2


Địa điểm: Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ. 
Thời gian: Năm 1996
Quyển số: 623
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### 046. Phương pháp truyền pháp (1)


Hôm nay, chúng ta sẽ nói về phương pháp truyền pháp. Trong phương pháp truyền pháp thời xưa, đại khái được chia làm hai loại, một loại là “khẩu truyền”, loại còn lại là “không truyền”.

Khẩu truyền chính là nói bằng miệng, đối phương lắng nghe. Quan trọng là nói về trọng điểm, nói ra khẩu quyết quan trọng.

Ở trong Mật giáo, rất nhiều pháp đều cần phải được khẩu truyền, bởi vì bên trong có rất nhiều kỹ xảo, không phải là cứ nhìn chữ là có thể hiểu được, không phải như vậy. Vì vậy, bạn thực sự đọc sách để tìm hiểu cũng chưa chắc có thể hiểu hết được ý nghĩa của tác giả. Thực sự phải được nói ra từ miệng của sư phụ, và bạn thọ nhận khẩu quyết tâm yếu đó, đây chính là khẩu truyền. Nói một cách đơn giản, giống như Ngũ tổ Hoằng Nhẫn của Thiền tông gọi Lục tổ buổi tối đến chỗ của ngài, ngài giảng giải vài câu nói với Lục tổ, sau đó liền giao phó pháp, tức là giao phó vị trí của Lục tổ cho Huệ Năng, Ngũ tổ Hoằng Nhẫn giao lại cho Lục tổ Huệ Năng. Sự truyền pháp này diễn ra trong thời gian rất ngắn, không phải quá lâu, chỉ là trong một đêm, rồi bảo Lục tổ rời đi. Vậy thì cách truyền pháp này gọi là khẩu truyền. Đem yếu điểm quan trọng giao lại cho Lục tổ.

Cách truyền pháp này cũng rất đơn giản, chính là mấy câu nói quan trọng ở trong kinh Kim Cang: “Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng.”

Không chừng Ngũ tổ Hoằng Nhẫn cũng nói với Lục tổ như vậy, rất đơn giản. "Anh vào đây, tôi nói với anh cái này! Anh biết không? Không có tôi, không có anh, không có những người khác, không có thời gian. Được rồi, thuyết pháp xong rồi. Được rồi, anh chính là Lục tổ rồi, có thể đi được rồi.”

Cái này đòi hỏi khả năng lĩnh ngộ của đệ tử. Ngũ tổ nói với Lục tổ: “Anh hãy đi thực tiễn mấy câu nói mà tôi đã nói, anh chính là Lục tổ.” Nói xong là đi, đây chính là giao phó pháp, đem pháp phó thác cho Lục tổ. Lục tổ lĩnh ngộ mấy câu nói này thì liền rời khỏi, đi thực tiễn, tu mấy câu nói này cho thật tốt.

Mọi người có biết là trong mấy câu nói này rất là thâm sâu không? Bốn câu nói trong kinh Kim Cang này: “Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng.” Nếu bạn có thể từ trong mấy câu nói này mà lĩnh ngộ, thực hành, thì bạn chính là thánh hiền. Vài câu nói rất đơn giản mà thôi.

Lục tổ Huệ Năng sau này hiểu được rồi, người ta đến cầu pháp ở ngài, đến cầu pháp từ Lục tổ. Lục tổ chỉ nói hai câu, bốn câu nói biến thành hai câu, hoặc là đơn giản hơn. Bạn mà lĩnh hội được thì bạn chính là Thất tổ, Thất tổ của Thiền tông. Vì sau Lục tổ không có truyền nhân nữa, vì vậy bạn sẽ trở thành Thất tổ.

Lục tổ nói điều gì? “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác.” “Xong rồi, anh đã đắc pháp rồi, anh đi đi.”

Bạn lĩnh hội được “không nghĩ thiện, không nghĩ ác” là chuyện không đơn giản.

Vì vậy Phật pháp không cần nói nhiều, thiên kinh vạn điển, có nhiều lúc bạn đọc… đọc… đọc… đọc đến cuối cùng, não của bạn cũng nổ tung luôn. Chỉ vài chữ thôi, nếu bạn có thể thực tiễn được, bạn chính là Thánh giả.

Chỉ riêng hai chữ “vô ngã” thôi, rồi “vô ngã tướng”, bạn có làm được không? Rất khó. Nếu bạn thực sự đạt được vô ngã tướng rồi, thế thì bạn đã là A La Hán, đã siêu xuất tam giới rồi, bạn đã là một A La Hán. Cái đó là tính Không mà.

“Vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả” chính là tính Không. “Không nghĩ thiện không nghĩ ác” chính là nhập Tam ma địa, đắc được tính Không. Không đi nghĩ tưởng cái tốt, không đi nghĩ tưởng cái xấu, không nghĩ tốt, không nghĩ xấu. Tất cả mọi thứ bạn đều không nghĩ tốt, không nghĩ xấu. Khi bạn đạt đến trạng thái này tức là vô niệm. Trong trạng thái vô niệm, tính Không sẽ hiển hiện, Phật tính tự nhiên hiển lộ. Bạn thực tiễn nó, rất khó đó. Chấp trước cũng không còn, mấy câu nói trên chính là “khử chấp”, diệt trừ toàn bộ bám chấp của bạn. Hai chữ “khử chấp”, diệt trừ chấp trước của mình.

Bạn tu hành mà đạt được tới cảnh giới “khử chấp”, không nghĩ thiện không nghĩ ác, thực sự mà nói là bạn ở trong trạng thái viên mãn, tâm quang phát lộ, ấn chứng tính Không. Bạn cần đi thực tiễn điều này.

Tổ sư của Mật giáo, rất nhiều vị cũng là khẩu truyền. Đem khẩu quyết nói cho anh nghe, anh phải làm sao để tu ra được chuyết hỏa, làm sao để phát quang, hóa thành ánh sáng, làm sao hợp nhất với ánh sáng này để lĩnh hội tính Không, sinh bồ đề tâm. Những cái này đều vô cùng quan trọng, đều có khẩu quyết ở bên trong. Bạn làm sao để thực tiễn mọi thứ đều là thanh tịnh? Đây là một loại thực tiễn mà, không phải lý luận. Nếu hôm nay chỉ nói về lý luận thôi thì mọi người ở trong Phật giáo, tất cả đều là người khai ngộ.

Mọi người đều biết Lục tổ nói “không nghĩ thiện, không nghĩ ác”. Bạn có thể chứng minh thì bạn chính là Thất tổ. Thiền tông vốn dĩ không có Thất tổ, nếu hôm nay bạn có thể lĩnh ngộ được lời của Lục tổ Huệ Năng thì bạn sẽ trở thành Thất tổ, hãy đi làm đi. Tiếp theo nữa sẽ là Bát tổ.

Bạn phát minh thêm một câu nói, Sư Tôn phát minh thêm một câu thì Sư Tôn chính là Thất tổ. Tôi nói hai chữ “khử chấp”, khử chấp là diệt trừ chấp trước.

Bạn đều cầu pháp, tôi nói với bạn là “khử chấp”. Rồi bạn đi về nghĩ “khử chấp”, cái gì là khử chấp vậy? Diệt trừ cái chấp của chấp trước. Hai chữ này bạn thực tiễn được rồi, vậy bạn chính là Bát tổ, bạn chính là Thiền tông Bát tổ. Tất nhiên là Lục tổ nói ngài không truyền nữa, vì ngài truyền mệt mỏi quá rồi. Bởi vì vấn đề truyền thừa này cũng có rất nhiều thị phi và phiền toái.

Đây chính là khẩu truyền. Đương nhiên khẩu truyền của Mật giáo thì có vô số các khẩu quyết tâm yếu ở bên trong. Có rất nhiều kỹ xảo cần phải được sư phụ truyền thụ cho bạn, đây là khẩu nhĩ tương truyền, đây là phương pháp truyền pháp, chính là khẩu truyền. 

Hôm nay nói đến đây. Om mani padme hum!

05/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 047. Phương pháp truyền pháp (2)


Tôi sẽ giảng tiếp với mọi người về phương pháp truyền pháp. Vậy phương pháp của truyền pháp, thứ nhất chính là “khẩu truyền”, tiếp theo chính là “không truyền” - truyền thừa từ hư không.

Có một lần tôi về Đài Loan hoằng pháp, tại sân vân động Đào Viên, tôi hỏi tất cả mọi người: “Truyền thừa của Chân Phật Tông từ đâu mà có?”

Trong đó có một đệ tử nói rất to: ”Là Đại Nhật Như Lai… Là Đại Nhật Như Lai.” Anh ta hét rất to. Bởi vì Đại Nhật Như Lai là lớn nhất, là lớn nhất thì nhất định là đến từ đó rồi.

Lúc đó, tôi nói đến hai chữ, tôi nói: “Truyền thừa thực sự của Chân Phật Tông là hư không.”

Tôi không nói danh hiệu, thật ra nói Đại Nhật Như Lai cũng không sai, bởi vì Ngài đại diện cho Ngũ Phật, là Phật Tỳ Lô Giá Na đại diện cho Ngũ Phật. Nhưng tôi không xưng danh hiệu, tôi nói “hư không”. Hư không này như thế nào? Nó đã bao gồm toàn bộ vũ trụ, thập phương Phật, thập phương pháp, thập phương tăng, tất cả đều được bao gồm ở bên trong, chính là hư không, mọi người nghe thấy là "hư không”, thế là cảm thấy tâm cũng trống rỗng luôn rồi, thật ra đúng thật là hư không.

Mọi người có thể suy nghĩ một chút, rất đơn giản, tôi lấy một ví dụ cho mọi người nghĩ thử. Trái đất diễn biến, có người nói là mấy trăm triệu năm, một tỷ năm hoặc vài trăm triệu năm, thậm chí xa hơn nữa cũng có. Vậy thì mấy trăm triệu năm trước có trái đất hay không? Không có. Con người đương nhiên là cũng không có. Vì con người là dựa vào đất mà sinh ra, mới có con người, nếu đã không có con người, không có Phật pháp, lúc đó đương nhiên là cái gì cũng không có, đó không phải hư không thì là cái gì? Nguồn gốc đầu tiên nhất đều là hư không. Tất cả nguồn gốc đều là hư không mà. Bạn bảo còn có thứ gì đây? Ngay đến trái đất cũng không có, bạn nói xem còn có thứ gì có thể dựa vào? Vì vậy nói hai chữ “hư không” tuyệt đối không sai, đây là “không truyền”.

Phật pháp của Mật giáo là do Long Thụ Bồ Tát mở tháp sắt tại Nam Thiên Trúc, đích thân đến gặp Kim Cang Tát Đỏa, do Kim Cang Tát Đỏa truyền pháp cho Long Thụ Bồ Tát nên mới có Mật giáo. Vì vậy, hư không là Sơ tổ, Kim Cang Tát Đỏa là Nhị tổ, Long Thụ Bồ Tát là Tam tổ. Vậy Long Thụ Bồ Tát gặp Kim Cang Tát Đỏa là gặp như thế nào? Nói cho mọi người biết, không phải là tôi nhìn thấy anh, anh nhìn thấy tôi, anh thuyết pháp cho tôi nghe, không phải vậy. Là gặp ở trong thiền định. Kim Cang Tát Đỏa không phải là người, Ngài là một Bồ Tát, Long Thụ cảm ứng được Kim Cang Tát Đỏa truyền pháp, giao phó pháp cho mình, từ đó Long Thụ Bồ Tát chính là vị tổ đầu tiên của nhân gian, vị tổ đầu tiên của Mật giáo, chính là như vậy đó, cái này gọi là “không truyền”.

“Không truyền” của Phật pháp rất vĩ đại. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đem rất nhiều mật pháp, những mật pháp mà trước khi Ngài viên tịch, có một số để ở trong hư không, có một số giấu ở trong nước, có một số giấu ở trong lửa, có một số giấu ở trong đất. Ở trong đất, nước, lửa, gió, không, đều có mật pháp. Ở đây đều có thể nói là “không truyền”.

Bạn nói xem truyền thừa của Chân Phật Tông có phải là hư không không? Năm tôi 25 tuổi, tôi nhận truyền thừa trong hư không. Thủ ấn của tôi, bạn sẽ không thể tìm thấy ở trong tuyển tập thủ ấn của Mật giáo đâu. Tại sao vậy? Bởi vì là truyền thừa trong hư không, căn bản là vẫn chưa đưa ra thì tôi đã có rồi.

Tôi nói cho mọi người nghe, thủ ấn của tôi chính là lúc tôi đang ở trong thiền định tự động kết thành. Hôm nay có rất nhiều đệ tử Chân Phật Tông cũng có trải nghiệm này, không phải chỉ có một mình tôi có trải nghiệm này đâu.

Sau khi bạn quy y Chân Phật Tông, bạn ở trong thiền định, tự động kết thủ ấn là nhiều vô kể, không phải chỉ có một mình tôi, rất nhiều người đều như vậy, cái này đều là từ trong hư không truyền cho bạn.

Truyền thụ pháp của ngày nay có “không truyền”. Kim Cang Tát Đỏa đưa tôi đến hư không giới, dạy tôi lắc chuông kim cang, chày kim cang, truyền ở trong hư không. Thế nào gọi là tiêu tai? Thế nào gọi là tăng ích? Thế nào gọi là hàng phục? Thế nào gọi là kính ái? Ngài dạy tôi nhiều cách lắc chuông để tượng trưng cho các pháp trên.

Loại truyền thừa này ở trong Tạng mật và trong Đông mật đều không có. Chỉ có Chân Phật Tông mới có. Đó là Kim Cang Tát Đỏa đích thân truyền cho tôi, cho nên cái này là “không truyền”.

Nguyên nhân mà Chân Phật Tông hiện nay vô cùng thù thắng, chính là vì có “không truyền” và “khẩu truyền”. Có truyền thừa của nhân gian, cũng có truyền thừa trong hư không. Vì vậy tôi dạy pháp cũng như vậy, bạn cũng có thể nhận được sự không truyền của Sư Tôn trong vô hình.

Bản thân Sư Tôn biết “không truyền”, cách không gian quán đảnh từ xa không phải là “không truyền” sao? Cái đó cũng là “không truyền”. Bản thân bạn không đến đây, nhưng tôi truyền cho bạn một chú ngữ, tôi ở trong hư không truyền cho bạn một chú ngữ là bạn sẽ biết đọc. Tôi ở trong hư không truyền cho bạn một thủ ấn. Bạn liền viết thư đến hỏi, vẽ một cái thủ ấn, hỏi tôi: “Sư Tôn trong giấc mơ, Ngài ở trong hư không truyền cho con một thủ ấn như vậy, là thủ ấn gì vậy?” Tôi còn phải giải đáp cho bạn biết đó là thủ ấn gì. Có nhiều lúc cái thủ ấn đó ngay đến tôi cũng không biết. Nhưng không phải là thật sự tôi không biết đâu, tôi suy nghĩ một chút là biết ngay đó là thủ ấn gì.

Tôi biết rất nhiều pháp, vì tôi được truyền trong hư không mà, pháp được truyền trong hư không thì bất cứ pháp nào bạn đều có thể biết, tại sao vậy? Vì khi tâm của bạn hoàn toàn dung hòa với hư không, thập phương Phật, thập phương pháp, thập phương tăng đều có thể đi vào trong tâm của bạn. Bạn cũng có thể đi vào trong tâm của thập phương Phật. Bất cứ Phật pháp nào, bạn vừa tiếp xúc, lập tức sẽ thông suốt tất cả. 

Máy tính, *computer* ngày nay có thể ấn chứng được. Bạn có một cái máy tính, bạn có thể giao lưu với mọi người trên toàn thế giới. Mạng máy tính, trong tâm tôi có mạng máy tính, tôi mở ra một cái là có thể nhận được thông tin của thập phương Phật, thập phương pháp, thập phương tăng ở trong tâm tôi. “Vạn pháp duy tâm”, pháp gì tôi cũng đều biết, bạn hỏi tôi pháp gì, pháp gì tôi cũng biết hết. Vạn pháp duy tâm mà. Trong tâm tôi chính là mạng máy tính, bạn nhấn nút một cái, toàn bộ đều hiện ra. 

Cái này truyền thế nào? Cái này là “không truyền”, vô cùng phù hợp với khoa học hiện đại. Những người hiểu được điều này, tương lai đều có thể ngộ đạo, đều có thể thành Phật. Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

05/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 048. Pháp Linh nhiệt (1)


Tôi sẽ giới thiệu với mọi người về sáu pháp đại thành tựu của Naropa Mật tông Tây Tạng. Vậy thì trước tiên phải bắt đầu từ pháp Linh nhiệt. Sau khi tôi nghiên cứu và thực tu Tạng mật, tôi biết được phương pháp tu hành của Mật giáo không những cần tu tâm mà còn cần tu thân nữa. Vậy tại sao phải tu cái thân này? Thật ra tu thân cũng chính là tu tâm, đều giống nhau. Tại sao vậy? Chúng ta lấy tâm để nói, tâm của toàn bộ vũ trụ này được cấu thành bởi đất, nước, lửa, gió, không. Và cơ thể của chúng ta cũng được cấu thành bởi đất, nước, lửa, gió, không. Bản thân vũ trụ và thân ta không có sự phân biệt.

Bạn tu thân nghĩa là đang tu tâm. Bạn muốn hợp nhất với ý thức vũ trụ thì vẫn phải tu từ cái thân này, nếu không thì tâm ở đâu chứ? Bạn nói tu tâm, vậy tâm ở đâu? Bạn từ con đường duy thức để đi vào. Về duy thức mà nói, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, mạt-na, a-lại-da, am-ma-la, những thức này, rất khó, rất khó để nắm bắt được.

Tạng mật có điểm tốt, đó chính là tu từ thân thể của bạn. Vì vậy tôi biết cái này cần phải hợp với tâm của trời đất, là tu từ bên trong cơ thể của bạn mà thành.

Chúng ta biết là bên trong pháp Linh nhiệt có nước. Chỗ mi tâm này là nguồn nước, chỗ đan điền này là lửa, vị trí đan điền dưới rốn bốn lóng tay chính là lửa - nguồn lửa, chỗ mi tâm là nguồn nước.

Dựa vào khí của bạn tức là dựa vào gió. Kinh mạch bên trong cơ thể của bạn chính là đất. Ở trong thân thể này đã có đất, nước, lửa, gió. Nước ở mi tâm, lửa ở đan điền, hô hấp chính là gió, kinh mạch chính là đất. Từ đất, nước, lửa, gió đi chứng minh “không”, cái này chính là pháp tu thực sự của Tạng mật.

Về mặt lý luận mà nói, thân thể và vũ trụ đều tương thông với nhau. Phải hiểu được lý luận này để mà đi nghiên cứu tại sao phải tu pháp Linh nhiệt. Lý luận của nó nằm ở đâu? Chính là từ đất, nước, lửa, gió đi chứng minh tính Không. Đây là sự thật.

Ngày nay có rất nhiều đại sư, rất nhiều thượng sư, Lama đều không nói rõ ràng tại sao phải tu pháp Linh nhiệt. Thật ra chính là ứng dụng nguyên tố bên trong cơ thể của mình để ấn chứng tính Không. Đạo lý chính là nằm ở đây. Vì vậy hôm nay trước khi muốn giảng với mọi người về pháp Linh nhiệt thì phải giảng trước với mọi người tại sao cần phải tu pháp Linh nhiệt.

Ở trong đây, tại sao phải làm Tỳ Lô thất chi tọa? Bạn tu pháp Linh nhiệt nhất định phải làm Tỳ Lô thất chi tọa. Hai chân ngồi tư thế hoa sen, hai tay kết định ấn. Thu cằm lại, đè vào yết hầu, đầu lưỡi đặt lên hàm trên, phải nâng hậu môn lên, cột sống phía sau phải thẳng, hai vai phải bằng, tại sao vậy? Thật ra làm Tỳ Lô thất chi tọa là có lý do của nó.

Mọi người điêu khắc tượng Phật đều khắc… khắc…. khắc… khắc thành Tỳ Lô thất chi tọa, tại sao vậy? Vì có đạo lý của nó. Hai chân của bạn khoanh lại, bạn khoanh hai chân lại là vô tình bạn đã nâng hậu môn lên rồi. Giả sử bạn ngồi tùy tiện sẽ cảm thấy hình như không có gì cả. Khi bạn ngồi khoanh chân lại, liền cảm thấy, ồ, khí ở phía dưới đã tụ hợp lại.

Ngồi khoanh chân, nâng hậu môn, chính là muốn hạ hành khí [khí đi từ dưới lên] vào trung mạch. Hạ hành khí vào trung mạch tương đối đơn giản. Khi thu cằm lại, thượng hành khí [khí đi từ trên xuống] vào trung mạch. Đầu lưỡi chạm vào hàm trên, mệnh khí vào trung mạch. Hai vai để bằng, cột sống phía sau lưng thẳng tắp, chính là biến hành khí [khí xung quanh] vào trung mạch. Hai tay kết định ấn đặt ở dưới rốn chính là bình trụ khí [khí ở khu vực đan điền] vào trung mạch.

[Năm khí căn bản là hạ hành khí, bình trụ khí, biến hành khí, thượng hành khí, mệnh căn khí.]

Trong Mật tạng, trung mạch rất quan trọng. Một khi khí này đi vào trung mạch sẽ sản sinh ra pháp hỷ và khinh an, đây là một điểm quan trọng. Khí của bạn chạy khắp nơi tức là tán khí. Bạn phải làm cho khí này đi vào trung mạch thì mới sinh ra được tác dụng, mới có thể sản sinh linh nhiệt. Khí đi vào trung mạch chính là phương pháp sản sinh linh nhiệt. Vì vậy đây là một điểm quan trọng.

Hôm nay bạn làm Tỳ Lô thất chi tọa chủ yếu là đầu lưỡi chạm hàm trên, tức là mệnh khí. Cằm ấn xuống dưới là thượng hành khí. Khoanh chân lại là hạ hành khí. Hai vai bằng nhau, cột sống thẳng, ngồi ngay ngắn thì là biến hành khí. Và định ấn chính là bình trụ khí. Năm loại khí đều có hết, vì bạn ngồi tư thế Tỳ Lô thất chi tọa mới có thể khiến toàn bộ những khí này đi vào trung mạch. 

Còn có phương pháp lắc người mà tôi đã dạy mọi người nữa. Vì nếu bạn lắc thân thể, do trung mạch lắc lư khiến khí đổ vào trong trung mạch. Ngoài ra, khí vào trung mạch còn gì nữa? Trước đây khi tôi dạy mọi người, ví dụ dạy pháp Chuyết hỏa, dạy pháp Bảo bình khí, bạn muốn trung mạch thẳng, chẳng phải tôi đã dạy mọi người một kiểu vận động sao? Khoanh chân lại, thân thể lắc lư như thế này có thể khiến cột sống của bạn trở nên rất thẳng, toàn bộ trung mạch đều thẳng tắp.

Tỳ Lô thất chi tọa không phải là tùy tiện ngồi đại, cách ngồi này đều có ý nghĩa của nó ở bên trong. Nghĩa là bản thân nó có tác dụng khiến toàn bộ khí có thể đi vào trung mạch, sản sinh linh nhiệt.
Nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

06/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 049. Tỳ Lô thất chi tọa


Cá nhân tôi nghiên cứu những tình huống của tọa thiền. Trong Phật giáo cũng dạy mọi người làm sao để ngồi thiền. Rất nhiều người hỏi tôi rằng, ngài dạy người ta Tỳ Lô thất chi tọa, vậy hai chân không cách nào khoanh tư thế hoa sen thì phải làm sao? Hai chân không cách nào ngồi kiết già thì phải làm sao? Vậy thì ngồi bán già cũng được, bạn khoanh một chân cũng được. Nếu khoanh một chân cũng không được thì ngồi tùy ý cũng được. 

Vậy ngồi tùy ý thì hạ hành khí làm sao đi vào trung mạch được? Vậy thì hết cách rồi, bạn phải nghĩ cách lót mông cao một chút, thậm chí là nhô lên một chút, để hậu môn nâng lên, có tác dụng nâng hậu môn lên là được.

Về tư thế ngồi, mọi người đều biết là có tư thế Bồ Tát, có khóa hạc tọa [ngồi kiểu Nhật, mông ngồi trên hai chân], có như ý tọa, có bán già, có kiết già, tốt nhất vẫn là ngồi kiết già. Vì khi bạn ngồi kiết già sẽ có cảm giác rất vững chắc, hơn nữa khí sẽ được đưa lên, hậu môn sẽ được nâng lên, chính là nâng hậu môn, hậu môn được nâng lên tự nhiên, hạ hành khí sẽ tự động đi vào trung mạch.

Tại sao phải làm Tỳ Lô thất chi tọa? Nó có đạo lý của nó. Tôi chính là nghiên cứu cái này, tôi nghiên cứu tại sao phải ngồi Tỳ Lô thất chi tọa. Tôi ngồi nghiêng là được, ngồi xiêu vẹo, ngồi dựa lưng, ngồi lỏng lẻo không phải là rất tốt hay sao? Tại sao nhất định phải ngồi ngay ngắn như vậy? Ngồi ngay ngắn rất khó chịu. Ngồi kiểu dựa lưng, cách ngồi của người lười, chẳng phải càng thoải mái càng dễ nhập định hay sao? Thật ra là không được, vì chủ yếu là trung mạch, trung mạch nhất định phải thẳng. Khi bạn quán tưởng cũng phải quán tưởng trung mạch.

Khi giới thiệu về pháp Linh nhiệt, bạn nhất định phải biết về Cửu tiết Phật phong. Cửu tiết Phật phong và Bảo bình khí đã tu rất tốt rồi, bạn mới có thể tu linh nhiệt. Bởi vì Cửu tiết Phật phong chủ yếu là sự tuần hoàn của khí, hoàn toàn là sự tuần hoàn của hô hấp và khí.

Bảo bình khí chủ yếu là khí của bạn đã sinh ra năng lượng rồi, đã có khí công rồi. Bạn tu thành Bảo bình khí rồi là bạn sẽ có khí công.

Bạn chưa tu thành Bảo bình khí mà đã tu pháp Linh nhiệt thì gió từ hít thở của bạn không đủ sức mạnh thì bạn làm sao có thể quạt ra được lửa chứ? Không quạt ra lửa thì không thể nào thành tựu linh nhiệt.

Vì vậy Bảo bình khí và Cửu tiết Phật phong là cơ sở của Linh nhiệt. Nhất định phải tu được Bảo bình khí đã. Cửu tiết Phật phong là dẫn khí tuần hoàn, Bảo bình khí khiến cho khí của bạn sản sinh ra một loại sức mạnh. Loại sức mạnh rất lớn đó được sinh ra, có thể làm chấn động, có thể thổi bùng lửa đan điền của bạn. Sức mạnh đó được sinh ra thì bạn mới thành tựu được linh nhiệt.

Vì vậy bên trong có liên quan đến phương pháp hô hấp, bạn làm sao biến khí này trở nên có sức mạnh chính là nhờ vào phương pháp hô hấp. Cho nên có hơi thở chậm, có dẫn hơi thở, có hơi thở đầy, có hơi thở đều, có hơi thở hắt ra, chính là ở trong đây. Cái này liên quan đến phương pháp hô hấp. Vì phương pháp hô hấp có thể khiến khí của bạn có sức mạnh, có thể thổi bùng linh nhiệt.

Chúng ta biết là hành giả Tạng mật trong lúc tu bình khí, chỉ cần khí đi vào trung mạch, khí di chuyển trong trung mạch thì sẽ rất tuyệt vời. Lúc đó sẽ có cảm nhận về lạc của niềm hỷ lạc sẽ xuất hiện. Khi khí di chuyển trong trung mạch, cảm giác nhẹ nhõm đó, đạp gió cưỡi mây đó, giống như tiên bay trên trời vậy, loại cảm giác đạp gió cưỡi mây trên bầu trời, chính là vào lúc khí di chuyển bên trong trung mạch thì bạn đã cảm nhận được rồi.

Chúng ta hiểu là cảnh giới đó chính là tầng trời Dục giới, chính là loại cảnh giới đó. Tầng trời Dục giới, dục chính là dục của tham dục, bạn giống như là một thần tiên hưởng lạc, chính là ở trong trạng thái đó. Vì vậy, có rất nhiều người hỏi tôi: “Lư Sư Tôn, pháp vị là cái gì?”

Pháp vị à, pháp cũng có mùi vị, bạn uống một miếng nước, quân tử chi giao đạm nhược thủy [mối kết giao của quân tử nhạt như nước lã]. Uống một miếng nước, rất nhạt, không có mùi vị gì. Bạn ăn đường thì ngọt, ăn muối thì mặn. Nếu pha chế vị tốt thì vị rất ngon. Ở trong pháp có mùi vị chính là pháp vị.

Cá nhân tôi cho rằng, khí ở bên trong kinh mạch di chuyển như vậy, khi chuyển động sẽ sản sinh ra cảm giác khoái lạc đó, tôi cho rằng cái đó chính là pháp vị. Đã có pháp vị của sơ giác rồi, loại pháp vị của cảm giác ban đầu khi vừa mới bắt đầu đã có rồi.

Rất nhiều đại sư, hòa thượng, tỳ kheo, tỳ kheo ni xuất gia. Bạn hỏi họ có pháp vị gì? Họ nói là tâm hoan hỷ. Một lúc sau thì biến thành tâm đau khổ, là sẽ rơi nước mắt, cái đó không phải là pháp vị. Hoặc bạn cho rằng mình đã lĩnh ngộ, ồ! Thì ra tôi đọc kinh sách, ôi chao! Kinh điển này, ồ! Tôi nghĩ ra rồi, Đức Phật đang nói đến ý nghĩa gì, ồ! Tôi lĩnh ngộ rồi, ôi hoan hỷ quá! Cái này chính là pháp vị rồi. Thông thường mọi người đều là như vậy, cho rằng pháp vị chính là khi lĩnh ngộ những lời Phật Thích Ca Mâu Ni nói trong kinh điển, thì chính là pháp vị. Tôi cho rằng những cái đó đều là pháp vị về mặt lý luận.

Giống như hôm nay, ôi tâm trạng rất nhẹ nhõm, ngắm phong cảnh, choa! Phong cảnh đẹp quá, sinh ra tâm hoan hỷ, ôi cái này tuyệt quá, vị ngon vô cùng. Ăn được món ăn ngon, choa… cái này tuyệt, mỹ vị vô cùng. Cảm thấy gió mát mơn man, sóng nước lăn tăn, cảm thấy phong cảnh vô cùng tuyệt đẹp, trong tâm niềm nở, hít thở sâu một cái, bản thân anh ta cho rằng đây là pháp vị. Không phải vậy. Cái này là vô hình rồi.

Pháp vị thực sự hữu hình là khí đang di chuyển trong trung mạch. Vì vậy tương lai khi tôi nói đến Vô thượng mật bộ, tôi sẽ giảng cho mọi người là khí trực tiếp đi vào trung mạch. Bạn đạt được cái đó liền cho rằng giá trị của đời người cũng gần như là thế này rồi, giá trị của cuộc đời là như vậy.

Thật ra theo như hành giả Mật giáo mà nói, tuy bạn đạt được cái này, bạn vẫn phải diệt trừ loại chấp trước này. Phải đi vào một tầng sâu hơn, còn có rất nhiều tầng khác. Vì vậy loại cảm nhận này, tuy là pháp vị, bạn biết được là được, còn phải đi vào một tầng sâu hơn nữa. Điều này là rất có lý, bởi vì giả sử nếu bạn cứ bám chấp vào loại cảm nhận hỷ lạc này thì không thể thực sự khai ngộ.

Hôm nay nói đến đây. Om mani padme hum!

06/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 050. Pháp Linh nhiệt (2)


Tôi sẽ giảng tiếp với mọi người về pháp Linh nhiệt. Pháp Linh nhiệt chính là pháp Chuyết hỏa. Chúng ta đã giảng về Tỳ Lô thất chi tọa. Trọng điểm của pháp Linh nhiệt nằm ở hô hấp hoàn toàn. Bản thân hô hấp chính là khí. Khí này tuần hoàn ở bên trong cơ thể, khí đến được đan điền thì chúng ta gọi là hô hấp hoàn toàn. Chỉ cần bạn dùng ý niệm quán tưởng khí đi đến đan điền, sau đó thở ra, loại khí này gọi là hô hấp hoàn toàn.

Dùng khí để khiến chuyết hỏa của chính cơ thể mình được sản sinh ra. Loại quán tưởng này rất quan trọng, cũng có nghĩa là cần phải quán tưởng trung mạch, quán tưởng mạch trái mạch phải. Vì khí của bạn cần đi từ mạch trái mạch phải đến đan điền, thổi vào điểm này, thổi vào điểm của chuyết hỏa. Điểm của chuyết hỏa chính là hình ㄎ ở bên cạnh chữ Ah, là một góc được cắt ra từ chữ Ah giống hình số 5, đặt ở cung sinh pháp.

Thế nào gọi là cung sinh pháp? Chính là vị trí dưới rốn bốn lóng tay, là cung sinh pháp có hình tam giác, đây là điểm bắt đầu của chuyết hỏa, điểm này vô cùng quan trọng. Buổi thuyết pháp ngày hôm nay cũng vô cùng quan trọng. Bởi vì bạn muốn tu khí-mạch-minh điểm, lấy pháp Chuyết hỏa - pháp Linh nhiệt làm nền tảng, nhất định phải làm bùng cháy được chuyết hỏa.

Hành giả Mật giáo quán tưởng trung mạch, mạch trái và phải, dùng hô hấp hoàn toàn, quán tưởng điểm của chuyết hỏa ở bên trong cung sinh pháp. Chữ này có vài hiện tượng:
Thứ nhất, là rất quang minh, nó rất sáng chói.
Thứ hai, bản thân nó rất nóng, có màu đỏ, rất nóng, nóng như là miếng thép nung đỏ.
Thứ ba, nó rất mảnh, mảnh như cây kim.
Chính là có ba đặc điểm này.


![image](/img/img_e04618839e280d81260b1e011b875fec.png)


Cách quán tưởng trung mạch thì mọi người đều đã biết rồi, có màu xanh lam, trung mạch to bằng ống hút.
Chính giữa cung sinh pháp hình tam giác có điểm của chuyết hỏa, là một nửa của chữ Ah.
Hô hấp hoàn toàn là lợi dụng khí hít vào thở ra của bạn đi vào đến vị trí đan điền, đây là hô hấp hoàn toàn. Sau đó thổi bùng điểm này, dùng phương pháp hít thở, phương pháp hô hấp hoàn toàn để thổi bùng điểm này, để điểm này càng sáng, càng nóng. Sau đó nó sẽ từ từ nổi lên.

Ở trong Mật pháp, cái này là trước kia sư phụ tôi dạy, cứ mười hơi thở thì thăng lên một điểm. Từ Mật luân đi lên Tề luân, khiến toàn bộ mạch xung quanh rốn biến thành ánh sáng, biến thành nhiệt, đây là điểm quan trọng. Sau đó tiếp tục đi lên đến Tâm luân, đến Hầu luân, đến Mi tâm luân, là như vậy đó.

Ở đây có nâng có hạ, có đi lên có đi xuống. Khi sản sinh ra hiện tượng ấm áp, đây là một điểm quan trọng, có sự ấm áp, toàn thân sẽ ấm áp. Và lửa này còn lan tỏa khắp cơ thể, còn chiếu ánh sáng ra ngoài. Vì nó có ánh sáng mà, có nhiệt mà. Đây là một điểm quan trọng. Ánh sáng và nhiệt ở khắp cơ thể.

Ngày xưa Lama của Tây Tạng tu chuyết hỏa này, đến ban đêm cũng quán tưởng chuyết hỏa. Họ tu được chuyết hỏa ở vị trí dưới rốn bốn lóng tay được dài khoảng ba lóng tay, tại đó phóng quang, phóng nhiệt. Ban đêm khi ngủ cũng quán tưởng chuyết hỏa như vậy. Như vậy rất ấm áp, toàn thân đều rất ấm áp. Cho dù bên cạnh có tuyết rơi, tuyết đó cũng bị tan chảy, cũng sẽ bị sự ấm áp trên cơ thể bạn làm cho tan chảy.

Pháp Chuyết hỏa, chỉ cần khi toàn thân bạn có sự ấm áp, có ánh sáng, thì đó là một loại định, chính là một trạng thái “hỏa quang đại định”. Trong trạng thái này, lửa này có thể thiêu đốt toàn thân bạn, thậm chí thiêu đốt đến tận hư không, toàn bộ thế giới hữu tình đều đang ở trong lửa. Những gì bạn chạm đến đều hóa thành thanh tịnh, những gì tiếp xúc với lửa của bạn toàn bộ hóa thành thanh tịnh. Bản thân bạn thanh tịnh, những gì tiếp xúc lửa đó cũng đều thanh tịnh.

Vào thời của Phật Thích Ca Mâu Ni, có rất nhiều đại đệ tử đều nhập hỏa quang tam muội này. Pháp này vô cùng quan trọng. Nhớ kĩ:
Điểm của chuyết hỏa, phải sáng chói, phải nóng, phải mảnh như kim.
Quán tưởng ba kinh mạch: quán tưởng trung mạch, mạch trái và phải.
Ứng dụng hô hấp hoàn toàn để nó thổi bùng nhiệt, thổi bùng độ nóng, thổi bùng lửa, thổi bùng ánh sáng.
Mười hơi thở, bạn có thể quán tưởng nó đi đến Tề luân, xung quanh rốn đều nóng lên. Đến Tâm luân, xung quanh tim đều nóng. Đến Hầu luân, xung quanh họng đều nóng. Đến Mi tâm luân, xung quanh trán đều nóng. Cái này là tứ Không. Vì khi nó nổi lên, sẽ có một loại “không” và “hỷ” được sinh ra, gọi là “tứ Hỷ tứ Không”. 

Tại sao là tứ Hỷ tứ Không? Hỷ và Không là như nhau, bình đẳng nhau, Hỷ tức là Không, Không tức là Hỷ. Trong Mật giáo, Không và Hỷ là như nhau. Chuyết hỏa nổi lên, chính là tứ Không, toàn thân đều là lửa, đều là thanh tịnh. Định ở trong lửa chính là hỏa quang tam muội đại định. Loại định này vô cùng tuyệt vời, tuyệt vời hơn bất cứ một loại thiền định nào.

Tại sao là tứ Hỷ tứ Không? Hỷ và Không là như nhau, bình đẳng nhau, Hỷ tức là Không, Không tức là Hỷ. Trong Mật giáo, Không và Hỷ là như nhau. Chuyết hỏa nổi lên, chính là tứ Không, toàn thân đều là lửa, đều là thanh tịnh. Định ở trong lửa chính là hỏa quang tam muội đại định. Loại định này vô cùng tuyệt vời, tuyệt vời hơn bất cứ một loại thiền định nào.

Bạn muốn chứng minh tính Không, thì tu từ chuyết hỏa sẽ có thể chứng minh tính Không, nhưng nhất định phải có sự bền lòng, tập pháp này cần phải có sự kiên trì thực tu một cách thực tế, lấy Bảo bình khí và Cửu tiết Phật phong làm cơ sở.
Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

06/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 051. Bồ đề tâm nguyệt dịch


Lúc nãy vừa giảng xong chuyết hỏa, vậy bây giờ chúng ta nói về bồ đề tâm nguyệt dịch. Bồ đề tâm nguyệt dịch nằm ở Mi tâm luân. Chữ này là chữ Hang (V), chữ Hang là một góc khác của chữ Ah.

Chữ Hang đó nằm ở đây. Một khi chuyết hỏa của bạn đi lên, tự nhiên nó sẽ làm tan chảy minh điểm. Minh điểm này giống như là dầu vậy. Tuy không phải là dầu, nhưng tôi ví nó như là dầu. Hễ tan chảy là chất lỏng sẽ rơi xuống phía dưới, rơi xuống một cái, rơi lên trên chuyết hỏa thì tiếp xúc lẫn nhau, ánh sáng và nhiệt được sinh ra sẽ càng thanh tịnh hơn, càng sáng chói hơn, càng nóng hơn. Có thể nói là đủ để làm các lỗ chân lông trên người mở ra, chiếu ra ánh sáng, toàn thân đều là ánh sáng.

Vậy thì bồ đề tâm nguyệt dịch rơi xuống phía dưới, chuyết hỏa bốc lên trên. Bồ đề tâm nguyệt dịch rời khỏi Mi tâm luân, đến Hầu luân, cái này cũng gọi là sơ hỷ. Sơ hỷ, thắng hỷ, ly hỷ, cuối cùng là cụ sinh hỷ, bốn hỷ cơ bản này gọi là tứ Hỷ. Tối thắng hỷ. Cái này gọi là tứ Hỷ và tứ Không, đều được sinh ra như vậy, sản sinh rất nhiều hiện tượng hỷ lạc, vui thích.
Khi chuyết hỏa nổi lên và bồ đề tâm nguyệt dịch chảy xuống đều sản sinh hỷ lạc, cũng sinh ra ánh sáng rất lớn, chỉ cần quang minh phong mạch được sản sinh ra là tịnh quang liền được sinh ra.

Vậy thì bồ đề tâm nguyệt dịch rơi xuống phía dưới, chuyết hỏa bốc lên trên. Bồ đề tâm nguyệt dịch rời khỏi Mi tâm luân, đến Hầu luân, cái này cũng gọi là sơ hỷ. Sơ hỷ, thắng hỷ, ly hỷ, cuối cùng là cụ sinh hỷ, bốn hỷ cơ bản này gọi là tứ Hỷ. Tối thắng hỷ. Cái này gọi là tứ Hỷ và tứ Không, đều được sinh ra như vậy, sản sinh rất nhiều hiện tượng hỷ lạc, vui thích.
Khi chuyết hỏa nổi lên và bồ đề tâm nguyệt dịch chảy xuống đều sản sinh hỷ lạc, cũng sinh ra ánh sáng rất lớn, chỉ cần quang minh phong mạch được sản sinh ra là tịnh quang liền được sinh ra.

Bồ đề tâm nguyệt dịch cũng tan chảy xuống phía dưới, đến Tâm luân kết hợp cùng với chuyết hỏa, từ chỗ này sinh ra ánh sáng và nhiệt, sản sinh tịnh quang phóng chiếu bốn phía. Đây là một sự tu hành rất vĩ đại. Đây là trạng thái thủy và hỏa dung hòa. Cái này là minh điểm. Thủy ở Mi tâm luân, hỏa ở Tề luân. Hỏa nổi lên, thủy chảy xuống, hai thứ dung hòa tại Tâm luân, khiến hoa sen trong tâm của bạn nở rộ, chủng tử thức ban đầu của bạn có thể tự phát lộ, Phật tính có thể hiển hiện ra. Từ chỗ này thông qua toàn thân đều là ánh sáng, nhiệt, thanh tịnh.

Bản thân dung hòa vào bên trong loại thiền định này, có thể nói là một đại định thủy hỏa đại an chỉ. Loại thiền định này rất lợi hại, là vĩ đại nhất. Loại thiền định này thực sự đi vào trong thủy hỏa đại định. Đây là một loại thiền định lớn nhất của hiện tượng vật chất bên trong cơ thể bạn cùng với nguyên tố sinh mệnh nâng lên hạ xuống, dung hòa với nhau. Một hành giả, một người tu đạo sau khi trải qua loại thiền định này, bạn có thể lĩnh hội được cái gì là niềm hỷ lạc, cái gì là tịnh quang, cái gì là tam muội ở bên trong thiền định này.

Bên trong còn có một pháp nâng minh điểm, tôi sẽ giảng giải đôi chút ở đây. Giả sử minh điểm liên tục rơi xuống dưới, rơi, rơi, rơi… mãi cho đến Mật luân, hành giả phải nắm chặt nắm đấm đặt trước ngực, phải hít mạnh một hơi, quán tưởng ở luân xa bí mật của bạn có một chữ Hum, chữ Hum rất thanh mát. Sau đó, bạn hít một hơi, lúc này phần bụng và phần lưng của bạn giống như dính vào nhau. Hít vào một hơi, từ từ thở ra, chữ Hum từ từ đi lên phía trên, trong miệng bạn cũng phải niệm “Hummmm…” . Tức là chữ Hum được nâng lên trên, nâng lên đến Mi tâm luân. “Hummmm!”, hai nhãn cầu nhìn lên trên. 

Nắm chặt nắm đấm, hít mạnh một hơi, phải quán tưởng và phải niệm chú, lại phải có thủ ấn, đây chính là Mật pháp. Làm như vậy đó. “Hummmm!” Khi bạn niệm Hum, chữ Hum ở Mật luân của bạn sẽ đi lên trên, nâng lên đến mi tâm. À, không được nâng ra ngoài nhé. Bạn nâng minh điểm ra bên ngoài là sẽ chết đó. Vì vậy lúc này lập tức quán tưởng chày kim cang chữ thập ấn giữ đỉnh đầu của bạn. Kết chày yết ma chữ thập, chính là chày kim cang chữ thập, ấn giữ đỉnh đầu của bạn, phong tỏa đỉnh đầu của bạn, không để minh điểm từ đầu trung mạch, từ đỉnh huyệt chạy ra ngoài, nếu chạy ra ngoài là bạn sẽ chết. Không chạy ra ngoài thì bạn vẫn sống, hơn nữa còn nâng lên rất tốt là nâng lên đến Mi tâm luân.

Bạn học được pháp này của tôi, hôm nay tôi dạy chữ Hum ở Mật luân nâng lên trên, có thủ ấn, có quán tưởng, có chú tự-chữ Hum dài, bạn chỉ cần học thành thạo rồi, rất quen thuộc rồi, trị giá một triệu đô la Mỹ. Hai mắt nhìn lên trên, nâng, hai tay nắm chặt, chữ Hum ở Mật luân đi lên trên, miệng bạn thở ra chữ Hum, hít mạnh một hơi, khi thở ra thì Hum… nâng lên trên. Chính là pháp này, đáng giá một triệu đô la Mỹ.

Một triệu đô la Mỹ, mọi người thấy thế một cái thì ô! Mau học thôi. Thật ra pháp này rất đơn giản nhưng nhất định phải thành thạo, bạn phải biết pháp nâng. Bên trong có pháp giáng xuống, pháp nâng lên, pháp giữ đều, pháp tán ra. Giáng, đề, trì, tán đều ở trong đây.

Pháp nâng vô cùng quan trọng, bạn học được pháp nâng thì bạn có thể cưới 108 người vợ, đây là cơ sở của pháp Vô lậu. Chữ Hum dài nâng lên trên, chày kim cang chữ thập chặn lại, nắm chặt tay, hít mạnh một hơi, từ từ thở ra, chữ Hum đi lên trên.
Khẩu quyết này vô cùng quan trọng, đáng giá một triệu đô la. Om mani padme hum.

07/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 052. Pháp Chuyết hỏa


Mấy ngày hôm nay chúng ta có giới thiệu đến pháp Chuyết hỏa. Thật ra pháp Chuyết hỏa nhìn có vẻ đơn giản, nhưng mà lúc làm cũng tương đối khó khăn. Trong đó vấn đề về khí và vấn đề minh điểm rơi xuống, vấn đề chuyết hỏa nổi lên, vấn đề nâng, và còn vấn đề làm sao giữ được khí, vấn đề tán khí, đâu đâu cũng đều là vấn đề. Những cái này đều là khẩu quyết, bên trong cũng có tâm yếu rất quan trọng.

Giống hôm qua tôi có nói đến pháp nâng, cái này có thể nói là giá trị liên thành. Tôi nói là đáng giá một triệu đô la Mỹ. Nam nữ đều có thể tu. Nắm chặt nắm đấm, đặt ở trước ngực, hít mạnh một hơi, khi thở ra thì chữ Hum màu xanh lam được nâng lên trên đến mi tâm, hai mắt phải nhìn lên trên, miệng phải niệm “Hummmm!”, nâng chữ Hum này lên trên. Mấy khẩu quyết chủ yếu ở đây là: Nắm chặt tay đặt trước ngực, chữ Hum màu xanh lam ở Mật luân, trong miệng niệm Hummmm, chữ Hum dài. Từ từ nâng chữ Hum lên trên. Hai mắt nhìn lên trời. Toàn bộ thần đều nâng lên trên.

Nam giới nâng thì nam giới sẽ không bị chảy bạch bồ đề, nữ giới nâng thì không chảy hồng bồ đề. Đây là nền tảng của pháp Vô lậu. Từ lúc còn trẻ bạn đã tu rồi, giống như Đạo gia nói, tinh-khí-thần đều đầy đủ, không bị mất đi. Đây là khẩu quyết của pháp nâng. Tất cả đều có khẩu quyết. Giáng xuống, minh điểm rơi xuống dưới cũng có khẩu quyết. Minh điểm không dễ gì mà rơi xuống dưới, nguyên tố sinh mệnh thực sự của bạn không dễ gì rơi xuống dưới.

Cái gọi là minh điểm, loại minh điểm bị chảy đi mất là minh điểm vật chất, không phải là minh điểm sinh mệnh thực sự. Minh điểm sinh mệnh thực sự cố thủ ở chỗ này. Nó muốn giáng xuống không phải đơn giản, bởi vì nó ngưng kết rất chặt, làm sao hạ xuống chứ? Cái này có khẩu quyết. Khẩu quyết này không thể nói ra. Nói ra là tôi bị mất 1 triệu đô la. Vì vậy khẩu quyết của pháp giáng, tôi phải giữ lại, bạn phải quy y, phải nhận quán đảnh, rồi xem biểu hiện của bạn ra sao thì mới giảng giải, mới nói cho bạn nghe, cần phải khẩu truyền, phải nói bằng miệng, phải có động tác, lúc nãy tôi nói về pháp nâng đã có động tác rồi, nó có phương pháp.

Vậy pháp giáng đương nhiên cũng có khẩu quyết, bạn thử nghĩ xem, thủy muốn giáng xuống dưới, vốn dĩ nó ngưng kết rất chắc chắn, rất kiên cố, làm sao rơi xuống? Ngày thường chúng ta nhìn thấy món ăn ngon, oa! Đây là món ăn mà tôi thích ăn nhất đây, vừa nhìn… bạn liền chảy nước miếng, cái này chính là pháp giáng. Bạn nuốt nước miếng, nước miếng chảy ra. Bình thường bạn không chảy nước miếng, tại sao vậy? Vì bạn không nhìn thấy món ăn ngon thì làm sao chảy nước miếng? Chính là vì bạn nhìn thấy món ăn thích ăn nhất thì bạn mới liên tục chảy nước miếng. Cái này chính là pháp giáng. 

Tôi nói cho mọi người biết, tôi đã tiết lộ gần như là một nửa khẩu quyết rồi. Hôm nay minh điểm ở mi tâm của bạn muốn rơi xuống, hoàn toàn giống với đạo lý này, có cùng đạo lý giống với chảy nước miếng. Nhưng vẫn là không nên nói ra, vì tổn thất quá nhiều, việc kinh doanh này của tôi sẽ không làm được nữa. Đây là pháp giáng. 

Pháp trì giữ cũng có khẩu quyết, muốn bảo lưu khí ở bên trong cơ thể của bạn đều có khẩu quyết hết. Vậy pháp trì có khẩu quyết gì? Thượng áp và hạ đề [trên ép xuống, dưới nâng lên] là có thể giữ cân bằng, là có thể giữ được toàn bộ khí của Bảo bình khí. Cái gì là Bảo bình khí? Bạn phải biết pháp trì giữ, trì bình khí, chữ “trì” này vô cùng quan trọng. Thượng áp, bạn ép yết hầu xuống, chính là thượng áp. Đẩy lưỡi lên hàm trên, đè khí xuống dưới.
Còn hạ đề, cái này chính là hạ đề rồi, thu bụng lại, dính vào phần lưng, nâng hậu môn lên, chính là hạ đề.

Thượng áp hạ đề là có thể giữ được khí, cái này gọi là trì bình khí. Bạn có thể giữ được khí, cái này cũng là phương pháp, đây chính là khẩu quyết. Khẩu quyết chính là giống như bạn luyện bảo bình khí, người ta hỏi bạn, anh có biết cách giữ không? Cái này chính là cách trì giữ, tôi đã giảng cho mọi người nghe rồi. Bảo bình khí là khi bạn hít một hơi vào giữ lại, thượng áp hạ đề, là có thể duy trì được bình khí này, duy trì càng lâu càng tốt.

Sau khi giữ xong rồi phải tán đi, bạn không biết cách tán khí đi thì phải làm sao? Thật ra tán có nội tán và ngoại tán.
Tán từ bên trong trước, chính là đem toàn bộ khí này phân tán ra, di chuyển đến các lỗ chân lông, từ các lỗ chân lông thoát ra ngoài. Nếu di chuyển không thoát ra được thì xông lên đỉnh đầu, thoát ra từ đỉnh huyệt, bạn sẽ khai đỉnh, đỉnh môn của bạn sẽ mở ra. Cái này gọi là xạ khí.

Thông thường mà nói, một ngày bạn không nên xạ khí quá hai lần đến ba lần, vì rất dễ bị tổn thương, chỉ được xạ khí một lần. Tức là luồng khí này, không được thoát ra bằng lỗ mũi, phải phụt lên đỉnh đầu, lên trên, dùng ý niệm, từ trung mạch bắn thẳng lên đến đỉnh môn -đỉnh huyệt. Khí thoát ra từ đỉnh huyệt và các lỗ chân lông, gọi là nội tán. Còn thoát ra từ lỗ mũi chính là ngoại tán. Cuối cùng không còn cách nào mới thoát ra từ lỗ mũi. Đây là khẩu quyết của pháp tán khí.

Giáng, đề, trì, tán. Khẩu quyết của khí ở bên trong cơ thể bạn làm sao giáng, đề, trì, tán, trước đây tôi không nói đâu, bây giờ đã nói ba khẩu quyết rồi. Làm sao tán? Làm sao trì? Làm sao đề? Làm sao giáng? Chỉ có giáng là không nói. Vì phải giữ lại một chút, nếu không sẽ không kinh doanh được nữa. 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

08/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 053. Thiền định


Vốn dĩ tôi định giới thiệu với mọi người về pháp Huyễn quán, pháp Linh nhiệt. Mở đầu của sáu pháp đại thành tựu là pháp Linh nhiệt, pháp thứ hai phải giới thiệu với mọi người là pháp Huyễn quán. Tuy nhiên ở đây phải giảng cho mọi người trước, bên trong pháp Huyễn quán cần phải thực hành thiền định chuyên chú. Thật ra tâm muốn định vốn dĩ là rất khó khăn, thực sự là không dễ dàng. Bạn muốn tâm của mình có thể yên định thực sự là rất khó.

Trước đây bạn chưa từng chú ý đến tâm của mình. Khi bạn chú ý được ý niệm, tâm niệm của mình, bạn mới biết thì ra tâm niệm của chính bản thân mình chạy loạn như vậy, không bắt giữ được nó.

Cả đời tôi có một cảm giác, giống như tôi đi đến một chỗ nào đó. Khi đi thì cảm thấy rất xa, trên đường đi luôn thấy rất xa. Nhưng khi từ chỗ đó muốn quay về nhà, liền cảm thấy sao mới một lúc đã về đến rồi, có cảm giác như vậy. Lúc đi cảm thấy rất xa, lúc về hình như nhanh hơn một chút. Thật ra không phải vậy đâu, khoảng cách bằng nhau, nhưng khi đi, bạn chú ý khoảng cách, chú ý đến cảnh sắc bên đường, luôn chú ý, đi như thế nào? Đến nơi chưa? Oa! Lâu như vậy. Nhưng khi quay về bạn không chú ý nữa, bạn thả lỏng, không chú ý nữa, thì sẽ cảm thấy rất nhanh.

Ý của tôi muốn nói là tâm cũng là như vậy. Bạn không chú ý đến nó thì sẽ không biết tâm mình chạy lung tung. Chú ý đến nó, bạn mới phát hiện bạn không nắm bắt được tâm mình.

Vì vậy phải tu pháp Huyễn quán. Trước tiên tâm phải định. Bạn có thể bắt đầu chú ý đến tâm mình, lúc này là “sơ trụ”, đúng lúc tâm vừa bắt đầu muốn trụ, muốn định, một lúc sau bạn liền không định được nữa. Sau khi không định nữa, bạn sẽ cảm thấy, ôi chao! Tâm mình chạy mất rồi, phải kéo nó quay trở lại, phải tập trung vào chỗ này, cái này gọi là “tục trụ”, để tâm tiếp tục trụ lại.

Nhưng mà tiếp tục không được lâu, tâm lại chạy, bạn lại kéo nó về, rồi từ từ đi vào trạng thái thứ ba, gọi là “hồi trụ”, kéo về lần nữa. Sơ trụ, tục trụ, hồi trụ. Sau đó sẽ vững bền hơn, có thể gọi là “ổn trụ”, có một chút ổn định, sự ổn định này cũng không giữ được quá lâu, nhiều nhất là 10 phút. Nếu bạn có thể chuyên chú vào một thứ gì đó 10 phút đã rất lợi hại rồi. 10 phút rất nhanh rồi không còn như vậy nữa.

Tôi nói thật với mọi người, bạn niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, bạn niệm một lúc là xong, khi nào bạn mới có thể coi là niệm hoàn chỉnh một biến Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh? Có nghĩa là mỗi một chữ bạn đều niệm rất rõ ràng, ý nghĩ đều đặt lên trên chữ, đều ở trong Phật hiệu. Tôi hỏi bạn, bạn đang niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, trong kinh văn ngắn như vậy, khi nào tâm của bạn hoàn toàn chuyên chú? Có phải là bạn thỉnh thoảng niệm đến chỗ này, tâm đột nhiên lại nghĩ về cái khác không? Bạn tự mình nghĩ xem, khi nào bạn niệm được một biến Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh hoàn chỉnh?

Bạn tưởng rằng chúng ta bái Đại Bi Sám, mọi người đều chuyên tâm giống nhau lễ bái sao? Nói cho mọi người biết, bạn có thể bái một trang đã là rất giỏi rồi, tuy bạn đang bái, nhưng tâm không biết đã đi đâu rồi. Khi bạn niệm kinh văn, rõ ràng là đã niệm qua rồi. Ủa? Bạn cũng quên mất là mình đã niệm hay là chưa, bởi vì tâm của bạn không ở đó.
Vì vậy trụ tâm là vô cùng quan trọng. 

Đến cuối cùng còn phải đến trình độ nào? Bạn đạt đến cuối cùng gọi là “tịch trụ”. Có thể trụ một cách rất tịch tĩnh, khiến tâm của bạn trở nên rất tịch tĩnh và trụ lại, và không thể để nó có hiện tượng hôn trầm. Có rất nhiều người đạt đến tịch trụ, cho rằng chà! Tôi đã trụ rồi. Tại sao vậy? Bởi vì bạn đã ngủ say rồi, bạn đã đi vào trạng thái giấc ngủ rồi, nhưng mà bạn cho rằng đó là một loại thiền định.

Có rất nhiều người cho rằng như vậy. Ồ, tôi định lại một cái, tôi liền quên cả thời không, thời gian cũng quên rồi, không gian cũng quên rồi. Chà! Tôi đã đạt thiền định rồi, sau khi xuất định anh ta rất vui mừng, tôi đã thật sự đạt thiền định rồi. Thật ra bạn đã đánh mất tâm tỉnh giác, ngay đến tâm tỉnh giác cũng không còn nữa. Thật ra lúc nãy bạn đang ở trong thiền định cũng không sai, nhưng mà ngủ quên mất, không phải thiền định. Thế nhưng thời gian bạn ngủ say rất kỳ lạ, rõ ràng bạn chỉ ngủ có 5 phút, rõ ràng cảm thấy… 5 phút. Rõ ràng chỉ cảm thấy có 5 phút, nhưng bạn cảm thấy rất dài. Khi vừa tỉnh dậy, ủa, sao mới có 5 phút thôi? Tôi tưởng là ngủ nửa tiếng hoặc một tiếng rồi chứ. Đúng là có cảm giác này, nhưng đây không gọi là tịch trụ.

Cái gọi là tịch trụ thực sự là bạn giữ được tâm tỉnh giác của mình, không phải hôn trầm, cũng không phải trạo cử. Thực sự là loại trạng thái mà tâm định được thì rất khó để chộp lấy. Vì vậy hành giả tu hành như chúng ta, đối với vấn đề thiền định cần phải rất chú ý. Trạng thái của tâm tổng cộng có 9 thứ, 9 thứ tự trạng thái của tâm, tương đối khó. Bạn muốn thực sự đi vào bên trong đại định sâu nhất, lại có thể giữ được ý thức rõ ràng, không hôn trầm, cũng không trạo cử, hơn nữa tâm có thể chuyên chú vào một thứ, nhập tam ma địa như vậy thực sự không đơn giản.

Phàm phu thông thường không chú ý đến tâm của mình, ngay đến trụ cũng không có, tâm vốn dĩ là trôi nổi bồng bềnh, nhìn thấy cái này nghĩ đến cái nọ, vốn dĩ tâm chưa bao giờ dừng lại. Bạn có thể thực sự nghiên cứu tâm của mình, có thể an định, đã là sơ trụ rồi, xem như là bắt đầu rồi. Sơ trụ, tục trụ, hồi trụ, ổn trụ, cuối cùng đến tịch trụ, cuối cùng là vào bên trong ý thức sâu nhất.

Về sau sẽ phải giới thiệu pháp Huyễn quán, phải cần đến một loại thiền định chuyên nhất. Bạn tu pháp rất chú ý, rất chuyên nhất, chuyên nhất trong thiền định, sẽ sinh ra một loại sức mạnh.

Hôm nay chúng ta, bất kể là giảng về pháp gì, sáu pháp đại thành tựu của Naropa, chúng ta nói về pháp Chuyết hỏa, pháp Linh nhiệt, cũng phải nói về thiền định. Tiếp theo sẽ nói về pháp Huyễn quán, thiền định đó càng thâm sâu hơn. Được rồi, ngày mai tiếp tục giới thiệu. Om mani padme hum!

08/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 054. Pháp Huyễn quán


Hôm nay tôi sẽ giới thiệu về pháp Huyễn quán trong sáu pháp đại thành tựu của Naropa. Huyễn tức là mê huyễn. Quán tức là quán tưởng. Pháp là phương pháp, nên gọi là pháp Huyễn quán. Trong sáu pháp của Naropa, thông thường mà nói, pháp tu của nó tương đối rõ ràng, cũng có nghĩa là bạn sẽ rất dễ dàng làm được.

Nói về bày đàn tràng, bạn đặt lên bức tường của nhà mình một cái gương thật lớn. Bản thân bạn thì ngồi ở trước gương. Ở phía sau của bạn, trên đỉnh đầu của bạn, nếu có thể, dùng một hình ảnh, tức là hình ảnh vị Bổn tôn mà bạn đang tu, Bổn tôn ngồi ở trên đỉnh đầu của bạn. Bạn nhìn thẳng vào gương, bạn sẽ nhìn thấy bản thân mình, và Bổn tôn đang ngồi trên đỉnh đầu của mình. Đàn tràng chính là như vậy, rất đơn giản.

Cách tu pháp tức là bạn soi gương mỗi ngày. Mỗi ngày đều nhìn chính bản thân mình ở trong gương và Bổn tôn của mình. Bạn có thể nhìn thấy Bổn tôn của mình đang ngồi trên đầu mình. Phương pháp tu hành này gọi là pháp Huyễn quán.

Đương nhiên là mỗi ngày bạn đều phải nhìn, đều phải ngồi ở trước gương, quan sát bản thân mình và quan sát Bổn tôn. Mọi người sẽ nghĩ như vậy có gì đáng để tu chứ? Mỗi ngày nhìn mình và nhìn Bổn tôn của mình có gì đáng tu chứ? Thật ra cách tu pháp này rất vi diệu, rất huyền diệu.

Bạn xem tổ sư của Thiền tông, tổ sư Đạt Ma, ngài đi đến Trung Quốc, tại Thiếu Lâm Tự ngồi quay mặt vào tường, khi ngài ngồi mặt đối diện với vách tường ở trong hang động, quay mặt vào tường chính là ngồi đối diện với bức tường. Ngồi xuống một cái là ngài ngồi suốt 9 năm luôn. Mọi người thử nghĩ xem, đối diện với vách tường thì có gì đáng xem, quay mặt vào tường, đối diện bức tường có gì đáng xem chứ? Cái này chính là muốn dạy cho bạn từ thứ đơn giản nhất nhìn ra được chữ “huyễn” này.

Đầu tiên chúng ta hãy nghĩ đến cơ thể của chúng ta, cơ thể của bạn được cấu thành từ đất, nước, lửa, gió. Sau khi tứ đại tan rã thì cái gì cũng không còn nữa, máy móc trên cơ thể bạn có bộ phận nào đó gặp sự cố, máy móc đã hỏng rồi. Bây giờ có thể đổi cơ quan rồi, cơ quan trong cơ thể của bạn bị hư hỏng ở bộ phận nào thì có thể thay bộ phận mới.

Vậy khi hỏng đến không thể thay được nữa, không thể sử dụng thì sao? Vậy tức là tứ đại tan rã, tan rã một cái là không còn nữa. Cơ thể này là vỏ huyễn, cái vỏ huyễn ảo. Nghĩ xem toàn bộ sự vật của vũ trụ này đều là mộng huyễn, đều là huyễn ảo.

Ngày nay các báo cáo tin tức nói rằng sao Hỏa cũng có sinh vật. Sao Hỏa cách chúng ta quá xa, giống như nằm mơ vậy, bạn không thể tưởng tượng được ở đó có sinh vật gì. Ở đó cũng sẽ không thể tưởng tượng được trái đất xa xôi như vậy, lại có nhiều sinh vật đang sinh sống, giống như một giấc mơ.

Tôi thường hay nói với mọi người một câu. Giả sử bạn có kẻ thù, có những người mà bạn rất ghét, rất ghét, rất ghét. Tôi bảo mọi người phải thường xuyên nghĩ đến 50 năm sau sẽ ra sao đây?

Lấy tôi làm ví dụ, tôi 52 tuổi, 50 năm sau, chà 102 tuổi, 102 tuổi là rất thọ rồi, e là không sống được lâu như vậy. Còn có thù hận gì chứ? Đâu còn có thù hận gì nữa. 50 năm sau, đối phương không còn nữa, bạn cũng không còn nữa, thế giới này không biết đã thay đổi thành thế nào rồi. Phải suy nghĩ như vậy, bạn sẽ cảm thấy đời người giống như mộng huyễn vậy. Cho nên đừng suốt ngày để thù hận ở trong lòng. Nghĩ xem 50 năm sau, mối thù đó còn ở chỗ nào? Không còn nữa. Mọi thứ đều là “huyễn không” hết, giống như sương khói, đều tan biến hết. Vì vậy đừng đi chấp vào yêu, chấp vào hận, chấp vào thù, chấp vào tình. Bạn có chấp cũng vô ích. Những chuyện đã qua sẽ không quay lại nữa. Hiện tại cũng sẽ biến thành quá khứ. Tương lai cũng chưa biết là ở đâu nữa. Vì vậy gọi là ba tâm không thể đắc.

Hôm nay tôi dạy cho mọi người về quan niệm của huyễn, quan niệm của mộng huyễn. Bạn ngồi ở trước gương chính là dạy cho bạn quan niệm này. Cơ thể của con người chúng ta, yếu tố đất (địa) chính là cơ thể của bạn. Da, thịt, xương đều là đất. Yếu tố nước (thủy) là gì? Chính là huyết dịch của bạn. Còn yếu tố lửa (hỏa) chính là nhiệt độ cơ thể của bạn. Yếu tố gió (phong) tức là hô hấp của bạn, khí ở bên trong cơ thể bạn. Bốn cái này tan rã thì cái gì cũng không còn nữa. Nên cái thân thể này là vỏ huyễn.

Bạn ngồi ở trước gương chính là để bạn thấy cơ thể của mình là huyễn không. Không chỉ có cơ thể của bạn là huyễn không, mà bạn ở trong gương lại càng là huyễn không, cái hình ảnh đó vốn dĩ không có thực thể, là phản ánh bản thân bạn mà thôi, phản ánh bạn ở trong gương. Bổn tôn của bạn ngồi ở trên đầu bạn, cũng là ở trong gương, cũng là huyễn không. Pháp Huyễn quán chính là phải tu Bổn tôn của bạn và bạn ở trong gương, và bạn ở bên ngoài gương, ba người hợp nhất, hòa nhập làm một.

Bạn phải thường xuyên nghĩ: “Người ngoài gương là mình sao? Người ở bên trong gương là mình sao? Bổn tôn ngồi trên đỉnh đầu là mình sao?” Thường xuyên nghĩ như vậy, sau đó nhập vào tam ma địa của huyễn quán. Đây là một phương pháp tu hành.

Trước khi bạn muốn nhập vào, bạn có quan niệm về mộng huyễn, nhìn vào mình ở trong gương, nghĩ đến mình ở ngoài gương, rồi nghĩ đến Bổn tôn ở trên đỉnh đầu. Bạn liên tục quan sát như vậy, trong lúc nghĩ như vậy, chỉ trong một sát-na nhập Tam ma địa, hiện tượng ba người hợp nhất sẽ được sinh ra, chính là một phương pháp như vậy.

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

09/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 055. Nói rõ về thành tựu pháp Huyễn quán


Chúng ta nói về pháp Huyễn quán, có lẽ mọi người vẫn chưa biết làm sao để tu. Vậy thì tiếp tục nói chi tiết về huyễn quán, nói kĩ hơn nữa.

Chúng ta mỗi ngày, mỗi người đều phải soi gương, ngày nào cũng soi. Vậy khi bạn nhìn vào bạn ở trong gương, bạn sẽ có một loại cảm giác, sẽ sinh ra một cảm giác. Hôm nay tâm trạng rất tốt, bạn ở trong gương là bộ mặt tươi cười, phản ánh ra một cảm giác rất hân hoan. Hôm nay tâm trạng không tốt, bộ mặt ấy sẽ dàu dàu, bản thân mình nhìn thấy cũng không thích. Cảm xúc của con người không phải mỗi ngày đều giữ được như nhau. Trong một ngày cũng biến đổi rất nhiều lần, giống như ông trời vậy, trời có lúc nắng, có lúc âm u, mây đen kéo đến, có lúc thì mưa xuống, có lúc thì nổi gió. Thời tiết mỗi ngày đều biến hóa, khuôn mặt của con người cũng như vậy.

Hôm nay tôi nói với mọi người, vườn hoa bên ngoài của chúng ta đang nở rộ, hoa cúc, hoa thược dược, nở rất đẹp, hoa thơm, hoa rất đẹp. Còn nữa, bữa trưa ở phòng ăn của chúng ta, cơm canh thơm ngon, đúng là ngon miệng, thực sự rất ngon. Các cô gái để tóc tu hành ở đây, họ xịt nước hoa, đánh son, đánh phấn má, mùi thơm của nước hoa ngửi cũng rất thích, rất thơm tho dịu nhẹ. Bạn xem, hương hoa, mùi thức ăn, mùi hương của con người, đều rất thơm, rất tốt đẹp.

Nhưng mà, sau khi bạn nghe được một tin tức xong, mặt của bạn liền nặng trĩu. Bạn nghe được một tin xấu, hôm nay vốn dĩ cho rằng mọi thứ đều tốt đẹp, đột nhiên có một cuộc điện thoại báo cho bạn một tin rất xấu. Đột nhiên có một tin rất xấu ở nơi khác được truyền đến cho bạn, mặt của bạn liền nặng trĩu xuống, ngay lập tức, rất nhanh chóng. Lúc này hoa cũng không thấy thơm, cơm canh cũng không thấy thơm, cho dù mỹ nữ đứng trước mặt bạn, bạn cũng cảm thấy rất chán ghét. Đây chính là một sự thay đổi. Cái này bạn cần phải ở trong pháp Huyễn quán để quan sát. Khuôn mặt hôm nay của bạn là khuôn mặt ra sao thì ở trong gương có thể biểu hiện ra hết. Nhìn kĩ mắt, lông mày, mũi, miệng, tai của bạn, toàn bộ khuôn mặt và thân thể của bạn, thậm chí là ánh sáng trên người bạn, sau đó đối chiếu với Bổn tôn trang nghiêm.

Mỗi ngày đều quan sát thật kĩ, bạn biến đôi mắt của mình thành đôi mắt của Bổn tôn, biến lông mày của mình thành lông mày của Bổn tôn, biến tai của mình thành tai của Bổn tôn, biến miệng của mình thành miệng của Bổn tôn, biến khuôn mặt của mình thành khuôn mặt của Bổn tôn. Vậy bạn sẽ nhìn như thế này, nhìn trên nhìn dưới, nhìn trên nhìn dưới, nhìn trên nhìn dưới, nhìn trên nhìn dưới, nhìn trên nhìn dưới… Phải đối chiếu. Sau đó biến đổi bản thân, tự mình nhìn mặt của mình, tự mình biến đổi. Biến khuôn mặt của mình, thân hình của mình, ánh sáng trên cơ thể mình thành ánh sáng của Bổn tôn. Sau đó bạn nhìn vào bản thân mình, trong một sát-na, bạn liền biến mình thành Bổn tôn. Điều này bạn nhất định phải học được. 

Cái gọi là pháp Huyễn quán chính là thay đổi hình tướng thế tục của bản thân, ở bên trong gương nhìn vào Bổn tôn, đối chiếu với nhau, từ từ cải chính, cải chính hình tướng của chính mình hoàn toàn biến thành hình tướng của Bổn tôn, giống hệt nhau. Sẽ biến ra như vậy. Chỉ búng tay một cái, trong lúc tinh thần của bạn vô cùng tập trung, chuyên chú quan sát, bạn đột nhiên phát hiện mình chính là Bổn tôn. Bạn và Bổn tôn hoàn toàn hợp nhất, Bổn tôn từ trên đỉnh đầu của bạn giáng xuống cơ thể của bạn, bạn và Bổn tôn hoàn toàn giống hệt nhau, phải quan sát được như vậy. Lúc này chính là hiện tượng Bổn tôn và bạn ở trong gương, với bạn ở ngoài gương, cả ba hợp nhất với nhau. Phương pháp này gọi là pháp Chú kính. Đây là pháp Chú kính của Đạo gia, cũng chính là pháp Huyễn quán trong sáu pháp của Naropa của Mật giáo.

Vốn dĩ cái này là hư huyễn, phương pháp tu hành này là hư huyễn, không phải chân thực. Nhưng ở trong hư huyễn, bạn có thể tìm được một loại hiện tượng cả ba hợp nhất với nhau. Lúc này trong sự quán chiếu của bạn từ trong gương mà đi vào Tam ma địa. Bạn sẽ nhìn thấy khói, nhìn thấy sương mù, sẽ thực sự hiển hiện ra Bổn tôn cho bạn thấy. Bạn còn có thể nghe thấy âm thanh nữa, nghe thấy Bổn tôn từ bên trong gương đi ra, sau đó dạy pháp cho bạn, tương ứng với bạn. Đây chính là thành tựu huyễn quán.

Phương pháp tu hành này gọi là pháp Huyễn quán. Tổ sư Đạt Ma quay mặt vào tường chín năm, tôi cho rằng pháp mà ngài tu chính là pháp Huyễn quán này. Nhị tổ Huệ Khả của Thiền tông cũng tu pháp Huyễn quán này, ngài cũng ngồi quay mặt vào tường như vậy.

Chúng ta cũng có thể thực hành bế quan, quay mặt vào tường, không phải là quay mặt vào tường suy ngẫm lỗi lầm, là ngồi quay mặt vào tường để soi gương, quan sát bản thân mình, quan sát Bổn tôn, cho đến khi cả ba hợp nhất, đây chính là thành tựu huyễn quán.

Trong lúc bạn đang quan sát, vì tinh thần của bạn rất tập trung, quan sát mắt, quan sát lông mày, quan sát mũi, quan sát miệng, quan sát tai, sau đó mới nhìn Bổn tôn, biến cái miệng của Bổn tôn thành cái miệng của bạn, mắt Bổn tôn biến thành mắt của bạn, lông mày Bổn tôn biến thành lông mày của bạn, tai Bổn tôn biến thành tai của bạn, quan sát rõ ràng từng cái một, di chuyển Bổn tôn xuống phía dưới, cả ba hợp nhất. Xoẹt một cái, là lập tức hợp nhất. Hợp nhất rồi, sinh ra sương mù, khói, sản sinh ra Bổn tôn xuất hiện, đây chính là tương ứng.

Phương pháp này cũng rất hay đó, rất dễ bày đàn tràng, vả lại, tôi nói cho bạn biết, phương pháp này có rất nhiều điều huyền diệu, bạn nhìn đến cuối cùng, ở bên trong gương sẽ có thế giới Cực Lạc. Bạn nhìn đến cuối cùng, ở bên trong gương sẽ xuất hiện tiên cảnh. Bạn nhìn đến cuối cùng, bản thân bạn sẽ đi vào bên trong gương. Bạn nhìn đến cuối cùng, bạn có thể ăn được bàn đào của Vương Mẫu Nương Nương, những điều đó sẽ hiện ra ở trong gương. Bạn nhìn đến cuối cùng, bên trong có rất nhiều mật pháp, bên trong gương sẽ xuất hiện rất nhiều chữ, rất nhiều mật pháp. Đây chính là thành tựu pháp Huyễn quán.

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

09/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 056. Nói rõ về pháp thành tựu Mộng quán (1)


Tại đây, tôi sẽ tiếp tục giới thiệu với mọi người về pháp thành tựu Mộng quán trong sáu pháp của Naropa. Trong “Hồng quang đại thành tựu” tôi đã từng nhắc đến tu mộng, vậy ở đây giống như là nhắc lại thôi, pháp tu mộng này tương đương với pháp thành tựu Mộng quán trong sáu pháp của Naropa. Pháp thành tựu Mộng quán và tu mộng có sự trùng lặp. Vậy thì cũng không sao, tại đây tôi nhắc lại với mọi người một lần nữa.

Trạng thái của đời người chúng ta rất đặc biệt. Thật ra, nếu nói là đặc biệt thì cũng là rất bình thường, phi thường cũng giống như bình thường mà. Giống như trạng thái tỉnh táo của những người đang sống như chúng ta là một trạng thái. Khi ngủ cũng là một trạng thái, khi nằm mơ lại là một trạng thái. Người bình thường đều chỉ có ba trạng thái này. 

Nhưng người tu hành thì lại khác. Ngoài ba trạng thái trên, họ còn có một trạng thái siêu giác siêu nhiên không giống với thế tục. Có thể nói đó là trạng thái của Phật, Bồ Tát. Chính là trạng thái siêu giác.

Hôm nay chúng ta đừng sống trong cuộc sống của người bình thường nữa. Bạn muốn sống trong cuộc sống của người thường, vậy thì chỉ có ba trạng thái tỉnh táo, ngủ, và nằm mơ mà thôi.

Còn siêu giác thì cần phải tu pháp. Lúc tỉnh bạn cũng phải tu pháp. Vậy lúc bạn nằm mơ thì phải làm sao? Cũng nhất định phải tu pháp. Nằm mơ tu pháp là rất khó. Lúc bạn tỉnh, đi vào đàn thành tu một đàn pháp, ngồi xuống thật yên tĩnh, làm yên tĩnh tâm linh của mình, bạn có thể làm được. Trong mơ bạn làm sao làm được?

Vì vậy trong Mật giáo có tu mộng, chính là pháp thành tựu Mộng quán. Khi nằm mơ bạn cũng phải tu pháp. Bạn nằm mơ không tu pháp thì vọng tưởng điên đảo, vậy là không đúng rồi. Cho nên trong Mật giáo có dạy bạn khi nằm mơ cũng phải tu pháp.

Cái này đương nhiên là có trình tự của nó.

Điều đầu tiên bạn phải hiểu được “minh mộng”, hiểu rõ là mình đang nằm mơ. Người bình thường khi nằm mơ thì không biết nữa là mình đang nằm mơ. Rất đơn giản, không còn biết rõ là sẽ rối tung loạn xạ ngay thôi. Vì vậy bạn cần phải hiểu là đang nằm mơ. Đầu tiên phải biết là lúc này bạn đang nằm mơ.

Điều thứ hai là cần phải “nhận mộng”, bạn phải nhận ra giấc mơ này, phải ghi nhớ rất rõ ràng, biết được mình ở trong mơ làm những gì, không được vừa ngủ dậy là cái gì cũng quên hết, ngủ dậy là cái gì cũng không còn nữa. Phải nhận thức về giấc mơ này, hơn nữa phải biết giấc mơ này là hư huyễn.

Điều thứ ba là phải “chuyển mộng”, xoay chuyển. Con người trong giấc mơ thường hay có hành vi phạm vào ngũ giới. Bạn nhìn thấy có một món đồ quý trong giấc mơ, lúc bạn tỉnh bạn sẽ không lấy cắp, nhưng khi bạn nằm mơ bạn sẽ rất lợi hại, bạn sẽ đi lấy cắp. Lấy cắp cái này vẫn chưa là gì, còn đi lấy cắp cái khác nữa, lấy cắp cái khác càng nghiêm trọng hơn. Khi nằm mơ bạn mất đi năng lực tự chủ, bạn không có cách nào chuyển đổi. Phương pháp của Mật giáo dạy bạn chuyển mộng, chuyển đổi nó thành một loại chính mộng, giấc mộng có chính niệm. 

Tiếp theo, ở trong mơ bạn vẫn phải tu pháp. Tôi nói với mọi người: “Bạn ở trong mơ có thiền định không?”

Nói đùa à, nằm mơ mà còn thiền định? Ban ngày tôi còn không thể thiền định được, nằm mơ còn có thể ở đó tu pháp, ở đó thiền định, vậy chẳng phải là lừa người ta sao?

Sai rồi. Pháp của Mật giáo nói cho chúng ta biết thế này, khi bạn nằm mơ vẫn có thể biết tu pháp, vẫn còn thể thiền định ở trong mơ. Đây chính là chỗ vĩ đại của nó. Chỗ vĩ đại của Mật giáo chính là dạy bạn trong mơ cũng phải tu.

Trước đây tôi có nói rồi, lần trước khi tôi giảng về thành tựu mộng quán, tôi có nói, sư phụ từng nói: Khi nằm mơ, và khi chết đi không khác biệt là mấy. Khi con người chết và lúc nằm mơ cũng gần giống nhau.

Giả sử nếu bạn ở trong giấc mơ mà không thể chuyển mộng, không thể thiền định, vậy bạn thảm rồi. Bạn làm sao có thể vãng sinh Tây phương Cực Lạc thế giới? Bạn làm sao có thể tu hành thành tựu chứ? Vì giấc mơ cũng có thể chuyển đổi bạn mà. Lúc đó bạn không thể giữ được sự tỉnh táo, khi bạn chết đi, người ta kéo bạn xuống địa ngục, bạn liền đi theo, chẳng phải bạn liền đi theo sao? Bạn ở trong mơ chẳng phải rối tung loạn xạ phạm vào ngũ giới sao? Giới gì bạn cũng phạm nói gì đến năm giới chứ, có mà 108 giới. Bát giới, Trư Bát Giới mà chúng ta hay nói, bạn cũng đều phạm phải. Rất đơn giản thôi. 

Vì vậy giấc mơ nhất định phải rõ ràng, quan trọng là “rõ ràng”. Phải biết đó là giấc mơ, phải chuyển giấc mơ này, ở trong mơ có thể thiền định, tu pháp. Hơn nữa bạn ở trong mơ biết rõ đây là giấc mơ. Khi bạn chết đi, bạn cũng có thể biết là bây giờ mình chết rồi. Sau đó bạn có thể vãng sinh. Bạn có thể cầu nguyện Phật, đi theo Phật vãng sinh.

Vì vậy bất kể bạn là Hiển giáo hay Mật giáo, chỉ cần nếu ban đêm nằm mơ mà bạn rối tung loạn xạ, bạn sẽ không có thành tựu đâu, bất kể bạn thuộc tông giáo nào. Rất đơn giản mà có phải không? Ban đêm khi ngủ bạn rối tung loạn xạ, sau khi bạn chết chẳng phải vẫn rối tung loạn xạ sao? Vậy bạn cho rằng mình tu hành cao đến đâu chứ? Đến giấc mơ mà bạn cũng không thể tự chủ thì bạn tu hành cao đến đâu chứ?

Vì vậy bản thân Mật giáo có tu pháp trong giấc mơ. Những người tu Hiển giáo nhiều lúc nói: “Này, tôi có thể niệm Phật ở trong mơ.” Đây là hiện tượng tốt. Nhiều lúc trong mơ bạn vẫn giữ được ý thức: “À, tôi phải niệm Phật.” Gặp phải chuyện gì cũng: “Tôi phải niệm Phật, tôi không thể phạm giới.” Cái này chính là ở trong giấc mơ bạn cũng có thể tu.

Ngày nay muốn giữ được tâm cảnh giác là tương đối khó. Trong Mật giáo dựa vào vài phương pháp, lần trước có nói rồi. Nếu như người nào chưa nghe thì phải mua băng ghi hình, băng thu âm, đến Seattle Lôi Tạng Tự mua là có. Phải mua băng thu âm, băng ghi hình, vì tôi có giảng về pháp Miên quang, cái đó phải dựa vào lực gia trì của Thượng sư và Bổn tôn. Thượng sư và Bổn tôn đến gia trì cho bạn, sau đó trước khi ngủ bạn cũng phải tu pháp. Sau khi ngủ rồi cũng phải tu pháp. Sau đó phải kết giới, phải biết làm sao kết giới. Về kết giới thì phải dựa vào sức mạnh của Hộ pháp để bảo hộ cho bạn ngủ. Vừa phải kết giới, vừa phải tu pháp, vừa phải cầu nguyện Bổn tôn và Thượng sư gia trì cho bạn, phải dựa vào hạnh nguyện lực rất lớn thì mới có thể tu hành trong giấc mơ.

Đây là pháp rất vĩ đại trong Mật giáo, loại pháp này gọi là pháp thành tựu Mộng quán, là pháp thứ ba trong sáu pháp Naropa.

Hy vọng mọi người có thể thật tỉnh giác, ở trong giấc mơ cũng có thể tu hành.

Hôm nay nói đến đây. Om mani padme hum!

12/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 057. Nói rõ về pháp thành tựu Mộng quán (2)


Tôi sẽ nói với mọi người về ví dụ thực tế của pháp thành tựu Mộng quán.

Có một lần tôi đi Malaysia. Tại Malaysia có rất nhiều người dân tộc, người dân tộc ở đó - người Mã Lai, họ biết làm bùa ngải, biết nuôi quỷ, rất nhiều bùa ngải, Đông Nam Á nổi tiếng về bùa ngải, nuôi quỷ.

Khi tôi qua bên đó, mỗi đêm tôi đều tu pháp thành tựu Mộng quán. Trong đó có một thầy bùa ngải nuôi quỷ, ông ta sai phái những tiểu quỷ của ông ta đến.

Thông thường mà nói, người như Lư Sư Tôn, khi vừa bước vào một nơi nào đó, tôi chỉ cần hít thở không khí một cái, nhận ra mùi vị của không khí có chút khác lạ, đây chính là một loại siêu giác của người tu hành, loại cảm giác siêu nhiên đó gọi là siêu giác. Tôi liền biết ngay có thứ gì đó.

Đương nhiên là đêm hôm đó, tôi vẫn như thường lệ, nhất định phải tu pháp thành tựu Mộng quán, vậy là tu pháp thôi. Tôi tu như thế nào? Chính là tôi niệm tam tự minh chú ngữ là “Lang Yang Khang” [Ram Yam Kham] “Lang Yang Khang”, “Lang Yang Khang”, biến hóa bản thân thành một cái chày kim cang. Bên này là đầu Phật, đầu của Kim cang, ba mặt đều là đầu Phật. Chày kim cang này rất kiên cố nằm lên trên giường, sau đó dùng tam tự minh gia trì “Lang Yang Khang”, niệm đến chữ “Khang” thì biến, biến một cái thành ngay chày kim cang nằm ở trên giường.

Thầy bùa ngải nuôi quỷ đó sai khiến đám quỷ nhỏ của ông ta đến. Sau khi đi vào mấy con tiểu quỷ đó liền cắn vào cổ của tôi. Vừa cắn vào thì “rắc” một cái, oa! Mọi người sẽ cho rằng cổ của Lư Sư Tôn chắc là gãy rồi, hóa ra không phải. Thì ra là răng của tiểu quỷ đó bị gãy. Mọi người thử nghĩ xem, bản thân chày kim cang vốn dĩ là rất cứng. Răng của tiểu quỷ làm sao cứng bằng chày kim cang chứ? Vì vậy răng của tiểu quỷ này cần phải đi khám nha khoa rồi, tiểu quỷ đi khám nha sĩ để trám răng, vì bị gãy răng rồi, gãy rồi trám không được thì phải lắp răng giả. Đám tiểu quỷ mà thầy bùa ngải đó nuôi còn phải đi khám nha sĩ để lắp răng giả.

Vì vậy bạn tu pháp thành tựu Mộng quán sẽ có lợi ích to lớn, có thể biến hóa. Cơ thể bạn biến mất, biến thành một cái chày kim cang nằm thẳng ở trên giường. Trong hư không có ánh sáng màu đỏ chiếu vào bạn giống như một cái lọng. Trong hư không có Không hành Hộ pháp. Bạn phải hiểu rõ mộng. Bạn phải quán giữa hai chân mày của mình có một chấm màu trắng, giấc mơ của bạn sẽ vô cùng rõ ràng.

Mỗi ngày bạn có giấc ngủ ngon, tinh thần tràn trề, trước khi bước xuống giường thì làm Bảo bình khí 7 lần, cầu nguyện 11 lần, cảm tạ Căn bản Thượng sư, Bổn tôn của bạn đã gia trì cho bạn. Đây đều là khẩu quyết quan trọng.

Rất đơn giản, chỉ cần khi lên gường bạn niệm “Lang Yang Khang” rồi biến, niệm “Lang Yang Khang” 7 lần, biến bản thân thành chày kim cang. Bất kì loại quỷ quái nào đến trong giấc mơ của bạn để trộm khí của bạn cũng trộm không được, bạn sẽ trở nên vô cùng kiên cố.

Đây là pháp của Mật giáo, pháp này vô cùng tuyệt hảo. Nếu bạn dùng pháp này, thân tâm sẽ vô cùng kiên cố, sẽ có một giấc ngủ rất sâu. Tiếp theo, bạn nằm mơ đều là đang thiền định, đều là đang tu hành. Đây chính là khẩu quyết quan trọng của pháp thành tựu Mộng quán.

Ngoài ra, mọi người cần phải biết, bản thân giấc mơ ở trong Mật giáo cũng là một pháp giới, là một pháp giới được phản ánh ra trong bát thức điền.

Đương nhiên là bạn hiểu rồi, chúng ta nằm mơ, những người thường hay nằm mơ nói, ôi giấc mơ là giả mà, là huyễn mà, là huyễn giác, là mộng huyễn. Đúng thật là mộng huyễn, nhưng trong bát thức điền của bạn, giả sử bạn không điều chỉnh tốt giấc mơ, có phải là sẽ ảnh hưởng lúc bạn tỉnh táo không? Pháp giới này liệu có ảnh hưởng đến một pháp giới lúc tỉnh táo của bạn không? Vẫn sẽ ảnh hưởng.

Rất nhiều người ban đêm ngủ không được là sẽ ảnh hưởng đến ban ngày, nó sẽ gây ảnh hưởng đến tu hành của ban ngày. Ban ngày bạn tu hành rất tốt, ban đêm thì thần hồn điên đảo, vậy cũng không được. Đến một thế giới khác là bạn thần hồn điên đảo ngay. Vì vậy pháp thành tựu Mộng quán chính là liên kết sự tu hành giữa ban ngày và ban đêm lại với nhau, biến thành nhất quán. Giả sử hôm nay ban ngày bạn tu hành rất tốt, ban đêm là bạn rối tung loạn xạ, như vậy là bạn đã mất đi chính niệm. Vì vậy tu hành của ban ngày và giấc ngủ của ban đêm phải liên kết nhất quán với nhau. Đây là pháp thành tựu Mộng quán - pháp thứ ba trong sáu pháp của Naropa. Bạn chỉ cần liên kết nhất quán giữa tu hành của ban ngày và giấc ngủ của ban đêm, đều là đang tu hành, tu pháp trong chính niệm, thành tựu này rất vĩ đại.

Vì vậy phải làm sao để đảm bảo bạn có thể vãng sinh Tây phương Cực Lạc thế giới? Nói cho bạn biết, ban đêm bạn cũng có chính mộng, bạn biết được mộng là huyễn, bạn ở trong giấc mơ có thể thiền định tu hành, như vậy tôi sẽ tán dương bạn, bạn đã thành tựu. Có thể nói là bạn đã có được thành tựu bước đầu rồi, đảm bảo bạn có thể vãng sinh.

Giả sử nói tối hôm nay bạn nằm mơ mà cũng không biết là mơ, bạn khờ dại loạn mộng, mơ linh tinh lộn xộn, có nhiều lúc nó còn kéo bạn đi lung tung, kéo bạn đi khắp nơi, làm chuyện điên loạn. Vậy thì bạn tu hành vẫn chưa có thành tựu.

Mọi người có thể động não suy nghĩ một chút xem những lời như Lư Sư Tôn vừa nói có đúng hay không? Vì ban ngày bạn tu rất tốt, nhưng ban đêm thì thần hồn điên đảo, như vậy làm sao có thể nói là có thành tựu? Nhất định phải là nhất quán, tu hành nhất định phải là nhất quán. Bởi vì bạn đừng cho rằng ban đêm nằm mơ là huyễn, thật ra thật sự ở trong mắt Phật, trong cái nhìn Như Lai, bạn đang ngủ là huyễn, vậy lúc bạn tỉnh táo chẳng lẽ không phải là huyễn sao? Vẫn là một cái huyễn thôi. Đời người chẳng qua là một giấc mộng trăm năm mà thôi, đều là huyễn. Phải nhận rõ cái huyễn này. Trong huyễn tu huyễn, tu hành trong mộng huyễn, sau đó đắc chính giác chân chính, chính là trạng thái siêu giác trong bốn loại trạng thái. Cái này là vĩ đại nhất.

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

12/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 058. Pháp thành tựu Tịnh quang (1)


Hôm nay, tôi sẽ nói với mọi người về pháp thứ tư trong sáu pháp của Naropa, cũng chính là pháp thành tựu Tịnh quang.

Pháp thành tựu Tịnh quang này vô cùng đặc biệt. Trước đây tôi đã từng nói, tu hành có nhiều giai đoạn. Tu hành của Mật giáo có thể ấn chứng chư thiên, từ trong trung mạch bạn có thể ấn chứng được đại hỷ lạc, khi đi vào cõi Sắc giới, bạn có thể ấn chứng tịnh quang.

Ở cõi Dục giới, bạn sinh ra đại hỷ lạc. Ở cõi Sắc giới có tịnh quang được sinh ra. Pháp thành tựu Tịnh quang cũng gần như là ở trong giai đoạn của cõi Sắc giới, lúc sản sinh ra tịnh quang.

Còn cõi Vô sắc giới thì rất khó để vào. Tôi từng loanh quanh ở xung quanh trong cõi Vô sắc giới. Cõi Vô sắc giới cái gì cũng không có. Bạn nói xem, không có thang, không có bậc thang, bạn làm sao lên được cõi trời này? Sau này tôi sẽ nói với mọi người về cõi Vô sắc giới, làm sao đi lên cõi Vô sắc giới.

Liên quan đến pháp thành tựu Tịnh quang, có rất nhiều cách nói khác nhau. Tổ sư các đời, lão tổ sư của nhiều đời có các cách nói cũng không giống nhau. Có người nói như thế này, ở trong Mật giáo, ở trong Tạng mật có nhắc đến, nói là: Bạn muốn sinh ra tịnh quang, bạn phải dừng được ý niệm của bạn. Vậy thì, ý niệm trước đã đi qua rồi, ý niệm ở phía sau vẫn chưa sinh ra, khoảng trống ở chính giữa sẽ sinh ra tịnh quang. Điều này không phải là tổ tiên nói, mà là tổ sư, là các lão tổ sư nói đó.

Ở đây nói là ý niệm ở phía trước của bạn đã đi qua rồi, ý niệm ở phía sau vẫn chưa sinh ra, khoảng trống ở giữa sẽ sinh ra tịnh quang. Các vị rất lợi hại, nghiên cứu vô cùng thấu triệt. Ở giữa niệm và niệm sinh ra tịnh quang. Nhưng tôi cho rằng cái này thuộc về mặt lý luận, về mặt lý luận thì nói như vậy, dù sao bạn cũng không biết khi nào tịnh quang được sinh ra mà.

Có một cách nói khác là như thế này. Bạn chỉ cần tu chứng được chuyết hỏa, chuyết hỏa đã xuất ra rồi, chuyết hỏa là nội hỏa của bạn, nó sẽ di chuyển bên trong cơ thể. Khi bạn tập trung chuyết hỏa lại với nhau, giống như ánh sáng mặt trời chiếu vào kính lúp, sau khi đi qua kính lúp, nó sẽ hội tụ thành một điểm, từ trong điểm này sinh ra lửa, lửa thì chắc chắn sẽ sinh ra ánh sáng, cái này cũng là do tổ sư nói, tổ sư nói như vậy đó.

Ngài nói, chuyết hỏa của bạn, trong lúc vận hành ở bên trong cơ thể, tự nhiên sẽ sinh ra ánh sáng. Nhưng mà, cái này đương nhiên cũng tồn tại đạo lý của nó, vì bạn biết đó, lửa sẽ sinh ra khói mà, cũng sinh ra ánh sáng, từ trong lửa sinh ra ánh sáng, cái này giống như một suy luận, rất phù hợp logic.

Nhưng mà tu hành, phải làm sao để hiển hiện ra ánh sáng thanh tịnh này? Chắc chắn là có cách tu của nó, vẫn nên để nó tự hiện ra. Giống như chuyết hỏa của bạn đã sinh ra rồi, chuyết hỏa thông trên dưới, thông trái phải, đi nghiêng, đi thẳng, đi lên, đi xuống, đi khắp nơi, đi đến cuối cùng, tự nhiên nó sinh ra lửa, nó sẽ sinh ra ánh sáng một cách tự nhiên. Có phải tịnh quang được sinh ra như vậy không? Tôi cũng từng nghĩ đến vấn đề này, và cũng từng nghiên cứu về vấn đề này.

Nhưng mà cuối cùng, bản thân tôi sau khi đi sâu vào nghiên cứu và thực tu, bản thân tôi mới phát hiện ra, khi bạn sinh ra chuyết hỏa, không sai, chuyết hỏa vận hành ở bên trong trung mạch. Khi bồ đề tâm nguyệt dịch rơi xuống, hòa tan ở luân xa tim, sẽ làm thả lỏng toàn bộ mạch ở xung quanh luân xa tim. Chủ yếu nhất là, luân xa tim của bạn sẽ biến thành hoa sen tám cánh, nở ra một đóa hoa sen.

Ngoài ra, vẫn còn một điểm quan trọng, khi hoa sen này nở ra, tại nhụy sen của hoa sen này, ở bên trong nhụy hoa có một sợi tơ. Tôi phát hiện sợi tơ đó có thể phát sáng, tôi đặt tên cho nó gọi là “ngũ thái tâm mạch” - tâm mạch ngũ sắc. Khi hoa sen tám cánh ở trong luân xa tim nở ra, ở chính giữa hoa có một sợi tâm mạch ngũ sắc, đây là nguồn sáng thực sự, nguồn sáng phát ra ánh sáng nằm ở đó.

Bởi vì bạn nâng chuyết hỏa lên, làm bồ đề tâm nguyệt dịch chảy xuống, hợp nhất tại luân xa tim, quả tim thịt sau khi sau tan chảy rồi sẽ nở ra, biến thành hoa sen tám cánh. Ở chính giữa hoa sen tám cánh có ngũ thái tâm mạch, ngũ thái tâm mạch này sẽ phát ra tịnh quang.

Ánh sáng đầu tiên nó phát ra là ánh sáng trắng mềm mại, màu trắng có hào quang hơi mềm. Sau này từ ngũ thái tâm mạch này mới biến thành “ngũ trí quang”, ánh sáng của năm loại trí huệ, sau cùng biến thành cầu vồng ngũ sắc, đây là một khẩu quyết quan trọng.

Cái này do bản thân tôi phát hiện ra, khi hoa sen tám cánh của bạn nở ra, có tâm mạch ngũ sắc, nó sẽ hóa ra ánh sáng cầu vồng ngũ sắc. Vì vậy phóng quang có rất nhiều loại, là ánh sáng đầu tiên trong luân xa tim của bạn phát ra, là ánh sáng thực sự trong luân xa tim của bạn, gọi là ánh sáng tâm mạch ngũ sắc, điều này do bản thân tôi phát hiện ra.

Vì vậy, có một số tổ sư nói, ở giữa ý niệm trước và ý niệm sau sẽ phát ra tịnh quang, đây là về mặt lý luận. Ngoài ra tổ sư khác nói, chuyết hỏa bốc lên, lửa bốc lên thì đương nhiên là có ánh sáng, nó phát ra một cách tự nhiên. Nhưng hôm nay, Lư Thắng Ngạn đang nói đến ánh sáng của tâm mạch ngũ sắc ở bên trong khi Tâm luân mở ra.

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

13/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 059. Pháp thành tựu Tịnh quang (2)


Chúng ta sẽ nói tiếp về pháp thành tựu Tịnh quang. Ở trong các cõi trời của tam giới - Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới, tôi cho rằng cần phân biệt như thế này: Ở Dục giới, người có phúc báo lớn có thể lên cõi Dục giới, cho nên người này thuộc về “phúc đại”, phúc khí rất lớn. Tại sao phúc khí rất lớn? Vì anh ta bố thí mà, anh ta làm công đức, cho nên phúc khí rất lớn, vì vậy anh ta đến cõi Dục giới để hưởng phúc.

Cõi Sắc giới, tôi cho rằng là “huệ đại”, không phải là hỏa đại [nổi khùng] đâu, là huệ, huệ của trí huệ. Bởi vì anh ta thiền định, dựa vào sức mạnh của thiền định mà đi vào bên trong sản sinh trí huệ, dựa vào gia tăng trí huệ lực mà từng bước từng bước đi lên cõi này, vì vậy nên thuộc về “huệ đại”.

Vậy cõi Vô sắc giới, tôi cho rằng là “không đại”. Không đại là gì? Bởi vì bản thân anh ta tu hư không, tu duy thức, tu vô tưởng, vô tưởng chính là không có suy tưởng, ngay cả không có suy tưởng cũng vứt bỏ thì tức là phi tưởng phi phi tưởng. Loại bỏ cả thức thì biến thành vô sở hữu. Vì vậy cái mà anh ta ấn chứng, tôi cho rằng ở trong cõi Vô sắc là thuộc “không đại”.

Vậy thì pháp thành tựu Tịnh quang, tôi cho rằng là ở cõi Vô sắc, ở cõi Vô sắc sẽ sinh ra tịnh quang. Vậy tịnh quang của tôi làm sao sinh ra được vậy? Thật ra tôi đã vận hành thủy hỏa dung hòa từ lâu rồi. Thủy chảy xuống dưới, hỏa bốc lên trên, mở luân xa tim ra. Vừa mở luân xa tim ra, tôi phát hiện có một điểm tuyệt diệu.

Ngày thường Chân Phật Tông chúng ta niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, giả sử bạn rất thận trọng, rất chuyên nhất để niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, bạn sẽ phát hiện ra trong kinh này toàn bộ là Phật hiệu và Bồ Tát hiệu của mười phương.

Về phương diện niệm Phật, niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh cũng như là niệm Phật mười phương, Bồ Tát mười phương. Bạn không tin, bạn đọc Đại Tạng Kinh, bên trong có giải thích Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, toàn bộ đều là Phật hiệu của Phật mười phương và Bồ Tát mười phương. Phật hiệu và Bồ Tát hiệu. Nếu bạn niệm một cách chuyên nhất, tương đương với niệm danh hiệu của Phật và Bồ Tát mười triệu, mười tỷ, vô số biến. Nếu bạn thực sự tập trung tinh thần mà niệm, Phật mười phương, Bồ Tát mười phương sẽ quán đảnh cho bạn. 

Tôi nói cho bạn biết về hiện tượng này, bạn niệm một biến cũng đồng nghĩa là đã tẩy sạch nghiệp chướng của bạn. Rất giống cái gì? Giống như giúp bạn lột bỏ nghiệp chướng, từng mảnh từng mảnh nghiệp chướng, giúp bạn lột bỏ. Luân xa tim mở ra, có nhiều lúc là dựa vào việc lột bỏ nghiệp chướng này, từng mảnh từng mảnh nghiệp chướng được lột bỏ như vậy. Sau đó kinh mạch của toàn thân, bạn biết là xung quanh luân xa tim có rất nhiều mạch phiền não, mạch phiền não rất đau khổ, bám giữ lấy nhau tại một chỗ. Cho nên người Đài Loan chúng ta nói là “tâm thắt nút”, tim bị thắt nút.

Hôm nay bạn tu khí mạch chính là nới lỏng nút thắt phiền não của bạn. Còn có thủy hỏa dung hòa, chính là để nới lỏng những nút thắt phiền não của tâm mạch. Sau khi mở ra rồi, hoa sen ở luân xa tim của bạn mới nở ra, mới gọi là hoa sen ở tâm nở ra.

Bạn niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, Phật và Bồ Tát ở hư không quán đảnh gia trì cho bạn. Phật, Bồ Tát mười phương quán đảnh gia trì cho bạn, lột sạch nghiệp chướng cho bạn, lột… lột.. lột... lột đến cuối cùng, hoa sen ở tim của bạn sẽ xuất hiện, sẽ nở rộ. Hoa sen ở luân xa tim sẽ nở ra, bên trong sẽ có ánh sáng, ánh sáng của tâm mạch ngũ sắc mới hiện ra, đây gọi là tâm quang phát lộ. Nguyên nhân của tâm quang phát lộ chính là ở đây. Thế nào gọi là tâm quang phát lộ? Cái này chính là tâm quang phát lộ.

Chúng ta nói ánh sáng mà chúng ta tự phát ra chính là Tử quang. Tử quang chính là ánh sáng của chính mình. Ánh sáng của ý thức vũ trụ cao nhất gọi là Mẫu quang, Mẫu tịnh quang. Tử tịnh quang và Mẫu tịnh quang. Bạn đưa ánh sáng lên để kết hợp với Mẫu tịnh quang, gọi là Quả tịnh quang, đây gọi là tam quang.

Tử tịnh quang là ánh sáng thanh tịnh do bản thân phát ra, ý thức của vũ trụ gọi là Mẫu tịnh quang, ánh sáng vốn có của ý thức vũ trụ. Hai loại ánh sáng Mẫu-Tử này tiếp xúc, gọi là Quả tịnh quang. Lúc này bạn sẽ có thể ấn chứng được Tỳ Lô tính hải.

Bạn sẽ bơi trong kho tàng ánh sáng rộng lớn của Tỳ Lô tính hải, bạn bắt đầu bơi lội trong biển ánh sáng, đảm bảo khi bơi sẽ không bị hụt hơi, sẽ không bị chìm xuống. Tắm ánh sáng đó là vô cùng thanh tịnh, khiến bạn cảm thấy ở đây cũng có niềm hỷ lạc lớn lao. Niềm hỷ lạc này gọi là đại hỷ lạc, vô thượng lạc, vô thượng đại lạc, thắng lạc diệu hỷ.

Trong kinh Phật thường xuyên nhắc đến một câu, gọi là “thường lạc ngã tịnh”, “thường lạc ngã tịnh” có thể nói là Tịnh Quang thế giới. Bạn đã đạt thành tựu tịnh quang rồi, đi vào Tỳ Lô tính hải, bơi lội trong biển ánh sáng, lúc này gọi là “thường lạc ngã tịnh”, một niềm khoái lạc vĩnh hằng mãi mãi, cái ngã là thanh tịnh mãi mãi. “Thường lạc ngã tịnh”, bốn chữ này chính là cảnh giới tổng hợp giữa cõi Dục giới và cõi Sắc giới, cảnh giới tổng hợp chính là “thường lạc ngã tịnh”.

Đạt đến “thường lạc ngã tịnh” đã là rất lợi hại rồi. Muốn thường lạc, làm gì có cách nào thường lạc? Bạn xem đạo địa ngục, đạo ngạ quỷ, đạo súc sinh, nơi nào có thường lạc? Đạo súc sinh vẫn có niềm vui ngắn ngủi, vẫn còn một chút, nếu không thì là tranh đấu, đạo a tu la chính là tranh đấu. Đạo địa ngục, đạo ngạ quỷ, mãi mãi đều là khổ. Đạo súc sinh mãi mãi đều là khổ, đây là thường khổ, không phải là thường lạc mà là thường khổ, “thường khổ ngã tạng” [đau khổ thường hằng, cái ngã dơ bẩn], chính là như vậy.

Cảnh giới của “thường lạc ngã tịnh”, có thể nói chính là thành tựu tịnh quang. Bạn đến cõi Dục giới và cõi Sắc giới đều đạt thành tựu rồi, đã leo lên được tầng trời thứ hai. Bạn chỉ cần tu thành công pháp thành tựu Tịnh quang, phát ra tịnh quang, trong trạng thái Tử quang và Mẫu quang kết hợp biến thành Quả quang, bạn sẽ đạt “thường lạc ngã tịnh”, chính là thành tựu tịnh quang.

Phương pháp tu hành này vô cùng đặc biệt. Nhớ là nhất định phải niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, lột sạch hết toàn bộ nghiệp chướng của bạn, để toàn bộ phiền não xung quanh luân xa tim của bạn được tiêu trừ.
Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum.

13/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 060. Pháp thành tựu Trung ấm (1)


Hôm nay tôi sẽ nói với mọi người về pháp thứ năm trong sáu pháp của Naropa - pháp thành tựu Trung ấm. Đầu tiên là giải thích về trung ấm. Thật ra trung ấm chính là “linh hồn” theo cách gọi của người bình người. Trong Phật giáo gọi là “thức”, thức trong từ kiến thức. Ba cách gọi: thức, trung ấm, linh hồn, pháp thành tựu này cũng chính là pháp thành tựu linh hồn.

Linh hồn là sau khi con người chết đi mới xuất hiện. Cái xuất hiện trong lúc bạn còn nhục thể và chuyển thế thì gọi là trung ấm.

Pháp thành tựu này chính là muốn nói cho bạn biết làm sao để vãng sinh Phật giới thanh tịnh, không còn phải tiếp tục luân hồi trong lục đạo, cái này rất quan trọng.

Nhưng thông thường mà nói, nếu như bạn tu pháp cầu vồng có thành tựu, hoặc giả bạn đã tu hành đạt được công lực rồi, thì đều không cần phải đi qua trung ấm. Cũng có nghĩa là không còn giai đoạn linh hồn nữa. Vậy chỉ cần bạn còn xuất hiện linh hồn thì có thể nói là chưa đủ công lực. Vì công lực không đủ ở trong giai đoạn này cho nên vẫn cần phải có một phương pháp cứu độ khác để giải cứu bạn.

Thông thường mà nói, con người khi chết đi, có một yogi thực sự, một hành giả Mật giáo, giả sử đúng lúc gặp thời cơ khi trung ấm của bạn vừa mới xuất hiện, người đó lập tức sẽ chỉ dẫn trung ấm của bạn đi như thế nào, tức là linh hồn của bạn cần phải đi như thế nào, cái này gọi là cứu độ trung ấm.

Vậy thì có vài điểm quan trọng nhất tôi nói với mọi người trước. Hành giả du già của Mật giáo phải nói với người vừa mới chết: “Anh phải buông bỏ tất cả, xả bỏ tất cả.” Điểm này rất quan trọng.* *Bạn phải buông bỏ tất cả, xả bỏ tất cả.

Bạn phải để tâm mình được an định, tâm của bạn phải rất chuyên chú, rất yên tĩnh và an định. Điểm thứ hai này cũng rất quan trọng. Xả bỏ tất cả thì bạn mới có thể định tâm, tâm của bạn có thể dừng lại. Lúc này là bạn phải chú ý đó.

Chú ý điểm thứ ba, tâm được an định rồi, bạn phải để ánh sáng của tự thân xuất hiện, chính là loại tịnh quang mà ngày thường bạn tu hành phải biểu hiện ra. Tâm của bạn không định, bạn không thể xả bỏ tất cả, tịnh quang của bạn sẽ không xuất hiện, vì vậy pháp này có liên quan đến pháp thành tựu Tịnh quang.

Ngày thường bạn tu ra được tịnh quang, lúc này, tâm bạn vừa an định, tịnh quang sẽ xuất hiện. Khi tịnh quang vừa xuất hiện, bạn lập tức cầu nguyện Mẫu tịnh quang của ý thức vũ trụ mau chóng hiện ra. Bởi vì một khi Tử tịnh quang của bạn xuất hiện, Mẫu tịnh quang sẽ theo đó mà hiện ra. Lúc này bạn chỉ cần đem Tử tịnh quang của bạn đi vào trong Mẫu tịnh quang để an định, trụ vào trong Mẫu tịnh quang, bạn vẫn có thể vãng sinh.

Và linh hồn đi ra nhất định phải từ đỉnh huyệt, đi ra từ đỉnh đầu, ra bên ngoài là vãng sinh. Vãng sinh Tây phương Cực Lạc thế giới, Đông phương Lưu Ly thế giới, bất cứ một Phật giới nào bạn cũng có thể đi. Bạn có nguyện lực ra sao, lúc này bạn phát huy nguyện lực của mình, tôi nguyện đi đến đâu, ngày thường bạn hồi hướng đến chỗ nào, lúc này Mẫu tịnh quang sẽ xuất hiện. Đây là khẩu quyết quan trọng nhất trong cứu độ trung ấm của Mật giáo.

Vị yogi sẽ phải nhanh chóng dạy cho bạn, ở bên tai nói với bạn là: “Anh phải xả bỏ tất cả.” Lúc này bạn không được nghĩ tiền riêng của mình cất giấu ở đâu, không được nghĩ như vậy. “Tôi còn có rất nhiều trân bảo, châu báu, tôi còn có rất nhiều nhà vẫn chưa bán, tôi còn có đất đai, còn phải giao phó hậu sự.” Bạn nghĩ như vậy là tiêu đời.

Vì bạn có thể xả bỏ tất cả thì tâm mới có thể an, mới có thể định. Tử tịnh quang mà bản thân bạn tu hành được mới xuất hiện. Tử tịnh quang kéo theo Mẫu tịnh quang cùng xuất hiện.

Mật giáo chính là như vậy. Mật giáo chính là nói thành tựu tịnh quang và thành tựu trung ấm ở tại lúc này, trong chốc lát từ trên đỉnh đầu, Mẫu tịnh quang từ trên đỉnh huyệt đi xuống, đón Tử tịnh quang đi. Có rất nhiều tình huống không cần phải đi qua trung ấm, không cần đi qua linh hồn, đi qua linh hồn quá phiền phức. Ngày thường chúng ta tu hành có tịnh quang, chết đi, tịnh quang xuất hiện, trực tiếp đi vào Mẫu tịnh quang là đi luôn.

Ngày thường bạn đã tu hành rất có thành tựu rồi, Bổn tôn sẽ đến đón bạn. Khi tu pháp Bổn tôn có thành tựu, Bổn tôn và bạn tương ứng, khi bạn chết đi, Bổn tôn đương nhiên sẽ biết, Ngài đến đón bạn, đi ngay lập tức.

Tịnh Thổ tông niệm Phật, niệm Nam Mô A Di Đà Phật. Bạn niệm đến thành tựu chuyên nhất rồi, Phật hiện ra trước mặt, lập tức đón bạn đi, cái này cũng không cần đi qua trung ấm, không cần đi qua linh hồn, chỉ là đón ánh sáng của bạn đi mà thôi. Vì vậy tu Mật giáo pháp Bổn tôn có thành tựu, Bổn tôn sẽ đón bạn đi. Tịnh Thổ tông niệm Phật có thành tựu, lập tức sẽ có Phật đón bạn đi, Phật A Di Đà sẽ đón bạn đi. Bạn tu Thiền tông đạt thành tựu, bạn lập tức nhập vào tính Không.

Hành giả chúng ta ngày thường tu hành, đặt Bổn tôn lên trên đỉnh đầu, ánh sáng trên người bạn trực tiếp đi qua trung mạch, từ đỉnh đầu thông với trung mạch của Bổn tôn, thế là bạn đi vào Bổn tôn, bạn liền “tức thân thành Phật”. Đây là công lực tu hành, loại công lực này phát ra vào lúc lâm chung là vô cùng quan trọng, vào lúc sắp chết, giai đoạn này là vô cùng quan trọng.

Vì vậy trong “Lâm Chung Chỉ Yếu” dạy chúng ta là nhất định phải an tâm, phải chuyên nhất, nhất định phải định. Bạn an tâm rồi, ánh sáng sẽ xuất hiện, tâm không an, ánh sáng sẽ không xuất hiện.

Vì vậy trung ấm, linh hồn của bạn, trong giai đoạn vãng sinh, thật ra chỉ có vài khẩu quyết quan trọng mà thôi. Xả tất cả, định tâm, ánh sáng xuất hiện, đi ra từ đỉnh đầu, cái này chính là khẩu quyết quan trọng của thành tựu linh hồn. Bạn không thông qua cái này thì chắc chắn vào lục đạo luân hồi. Nếu trung ấm mà bạn cũng không thể thành tựu thì chắc chắn là lục đạo luân hồi.

Vì vậy hôm nay giả sử có một vị yogi ở bên cạnh bạn, người đó có thể chỉ điểm cho bạn, điểm này rất quan trọng. 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

14/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 061. Pháp thành tựu Trung ấm (2)


Trong pháp thành tựu Trung ấm cũng cho chúng ta biết, khi con người chết đi, không chắc là sẽ biết mình đã chết. Vì tôi đã từng nói, con người khi chết cũng gần giống như là nằm mơ. Khi bạn nằm mơ cũng không biết là mình đang nằm mơ, vậy bạn làm sao biết là mình đã chết? Vì vậy vấn đề ở đây muốn nói là, giấc mơ này của bạn rất dài, cảnh giới linh hồn của bạn rất dài.

Thông thường mà nói, có thể tỉnh dậy từ trong giấc mơ này, biết là mình đã chết, hầu hết là phải trên ba ngày bạn mới biết là mình đã chết.

Linh hồn của người bình thường không có năng lực tự chủ, không có công lực của tu hành, không có định lực, vậy họ sẽ xuất hiện rất nhiều cảnh giới. Những cảnh giới này đều gọi là huyễn, huyễn trong từ mộng huyễn. Vì vậy khi loại cảnh giới này xuất hiện, hành giả yogi, các hành giả của Mật giáo, sẽ nói với họ: “Tất cả cảnh giới xuất hiện đều là huyễn, quan trọng là anh phải nhận ra cái huyễn đó, khéo léo định tâm.”

Bởi vì khi chết, bạn sẽ rất hoảng sợ, tất cả oan thân trái chủ lúc này đều sẽ xuất hiện. Họ muốn đòi mạng đó! Bạn sát sinh mà, phải đòi mạng thôi. Bạn mắc nợ, chủ nợ đều đến hết, đều đòi nợ bạn. Nhưng bạn phải thấy những cái này đều là huyễn, đều là ảo giác. Bạn chỉ cần định tâm, những ảo huyễn đó đều biến mất. Rất quan trọng. 

Vì vậy mật pháp cứu độ trung ấm dạy cho bạn nhìn tất cả ác ma, ác quỷ sinh ra từ trong trung ấm đều thành huyễn cảnh. Phải phá cái huyễn cảnh này, tâm của bạn phải định được, và đi theo nguyện lực của bạn. Vì vậy bạn sẽ rơi vào vài cái vực sâu, rất khủng khiếp, vực sâu màu đen, vực sâu màu trắng, vực sâu màu đỏ, bạn sẽ rơi xuống đó. Sẽ có rất nhiều ác quỷ xuất hiện, bạn sẽ nghe thấy rất nhiều âm thanh khủng khiếp, lửa thiêu đốt bạn, nước thành sóng thần, núi đổ đất lở. Mặt đất thì là núi đổ đất lở, nước thì là sóng thần, lửa thì thành lửa thiêu đốt bạn, gió thì cứ gào thét như là gió bão. Những âm thanh rất khủng khiếp đều có, rất nhiều ác quỷ xuất hiện. Vì đây là một loại biến hóa khi đất, nước, lửa, gió của cơ thể bạn bị tan rã. Bạn phải xem đó là một loại huyễn cảnh. Nhớ là nhất định phải an định tâm, dựa vào nguyện lực của mình chú ý nhìn ánh sáng. Có sáu luồng ánh sáng màu nhạt không được đi vào. Ánh sáng trắng là ánh sáng của thiên đạo, là đi lên trời. Những ánh sáng khác là ánh sáng của lục đạo luân hồi, đều không được đi vào. Nhất định phải là ánh sáng tịnh quang cực kì thanh tịnh, cực kì quang minh thì bạn mới có thể đi theo, hoặc là Phật A Di Đà đến tiếp dẫn bạn.

Vì vậy nói cho mọi người biết yếu nghĩa căn bản, yếu nghĩa quan trọng nhất về mặt căn bản, chính là những hành giả của Mật giáo ở bên tai bạn nói với bạn: “Anh phải chú ý, tất cả huyễn cảnh xuất hiện đều là giả hết.”

Bạn nhìn thấy ác quỷ xuất hiện, chà... ác quỷ ở trước mặt, bạn không dám đi về phía trước, bạn sợ rồi. Bên cạnh có một hang động, hoặc một hốc cây, bạn liền trốn vào đó. Ồ! Một con chó cái đang sinh nở, chó cái đang đẻ chó con, bạn chui vào bên trong cái hang động đó, thế là bạn liền sinh ra thành một con chó, không phải *hot dog** [xúc xích]**,* mà là chó.

Vì vậy có rất nhiều cảnh giới ép bạn đi vào bên trong cảnh giới của lục đạo luân hồi. Vào lúc này hoàn toàn dựa vào định lực. Vì vậy ngày thường những người tu thiền định như chúng ta sẽ sinh ra định lực, ở đây có liên quan rất lớn.  Giống mộng quán, thành tựu trung ấm là bạn phải biết đây là giấc mơ, vậy bạn cũng phải biết đây là huyễn cảnh. Giả sử bạn không tu mộng quán, bạn sẽ không biết đây là huyễn cảnh, bạn sẽ sợ hãi, sẽ chạy trốn, sẽ trốn đi khắp nơi. Bạn trốn vào trong bào thai của người phụ nữ, ồ! Bạn biến thành một trẻ sơ sinh, sinh ra khóc oa oa… Sinh ra nhìn một cái, ồ, một thế giới khác rồi, một gia đình khác rồi, bạn được sinh ra rồi.

Vì vậy có rất nhiều cảnh giới, chẳng phải tôi nói rồi sao? Khiêng kiệu đến đón bạn, chà! Bạn liền vui mừng, bước lên trên kiệu, bạn liền biến thành con cua. Bạn nhìn thấy một chiếc tàu hỏa đến đón bạn, chà! Tuyệt quá! Bạn vừa ngồi vào tàu hỏa, chà! Bạn liền biến thành một con rắn. Bạn nhìn thấy máy bay, chà! Cái này tốt nhất rồi, máy bay đến rồi, bạn bước lên ngay, ồ, bạn liền biến thành chuồn chuồn, là biến thành chuồn chuồn.

Bất cứ loại hình tướng nào hóa hiện thành thứ mà bạn thích đến đón bạn, bạn đều không được đi. Chỉ có Phật mang tòa sen đến đón bạn thì bạn mới có thể đi theo.

Trong Mật giáo là nhìn tịnh quang. Mẫu quang tiếp cận bạn, hút bạn đi. Chúng ta xem trong phim ảnh, giống như đĩa bay trong vũ trụ bay lên, con người đứng trên mặt đất, chà! Bị hút lên trên, bị hút bay lên trên, có chút giống với hiện tượng Tử quang và Mẫu quang gặp nhau, biến thành Quả quang. Chính là Mẫu quang đến đón bạn đó.

Ở trong lục đạo luân hồi, bạn chú ý là chỉ có đi ra từ trên đỉnh huyệt mới là vãng sinh Phật quốc thanh tịnh, và thiên đạo cũng là đi ra từ chỗ này, đi ra từ chỗ nào khác đều không phải là nơi tốt lành. Vì vậy đôi lúc có người sẽ biến thành cá, *fish*. Có người biến thành chim bay trên bầu trời, có người sinh làm người, có người sinh làm ngựa, có người sinh làm trâu, có người khi sinh ra, tùy tiện chui ra khỏi một cái hang, chà! Thật tồi tệ, biến thành lợn rồi.

Vì vậy bạn lúc này phải tu hành một loại định tâm, để tâm an định. Sự biến hóa của đất, nước, lửa, gió, bạn đều biết đây là huyễn cảnh của thân thể mình. Tất cả oan thân trái chủ xuất hiện gào thét, bạn đều biết đây chỉ là ảo giác, đây là do nghiệp chướng của bạn sinh ra. Nghiệp chướng sinh ra rồi, bạn phải nhanh chóng trì chú, niệm Phật để tiêu trừ chúng. Lúc này quan trọng nhất vẫn là phải trì chú, niệm Phật. Ngày thường bạn tu cái gì, bạn trì chú. Ngày thường bạn tu niệm Phật thì bạn cứ niệm Phật. Ngày thường bạn dùng định lực thì mau chóng dùng định lực để tiêu diệt hết những huyễn cảnh này. Đây chính là mật pháp cứu độ trung ấm.

Trong sáu pháp của Naropa, mật pháp cứu độ trung ấm cũng rất quan trọng. Cái này thuộc về mật pháp cứu độ trung cấp. Tại sao lại là trung cấp? Bởi vì bạn đọa vào linh hồn đã là thứ đẳng rồi. Bạn không thể trực tiếp thành Phật, trực tiếp lên Tây phương, bạn biến thành linh hồn cho nên chính là thứ đẳng rồi. Linh hồn cũng rất lợi hại, nó sử dụng ý niệm. Ý niệm có thể chuyển động, đi chỗ nào là đến chỗ đó, muốn đến chỗ nào là đến chỗ đó. Cảnh giới này có chút giống với thời khắc của hoàng hôn. “Trời chiều đẹp vô hạn, chỉ là sắp hoàng hôn.”

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

14/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 062. Pháp thành tựu Trung ấm (3)


Chúng ta sẽ nói tiếp về thành tựu trung ấm. Thành tựu trung ấm chính là nói con người khi chết đi, giả sử có một cao tăng đại đức biết pháp thành tựu trung ấm, vậy thì khi có người vừa mới viên tịch, ông ấy ở bên cạnh chỉ dẫn cho người chết, nghĩa là chỉ dẫn cho bạn phải đi con đường này. Vậy thì đây là một nhân duyên thiện lành vô cùng tốt.

Ngày thường bạn không thể nào tìm được cao tăng đại đức hoặc hành giả Mật giáo để chỉ dẫn bạn đi như thế nào, bạn cần phải có thường thức về phương diện này. Bạn phải biết rằng, tâm phải định được, không được nghĩ đến chuyện gì nữa.

Giống như khi bạn lâm chung, bạn đột nhiên nghĩ đến vợ của bạn có tái hôn hay không? Con trai của bạn vẫn chưa kết hôn, con gái của bạn phải làm sao? Nếu bạn nghĩ những điều này, thế thì tuyệt đối không có cách nào vãng sinh cả. Hoặc là nghĩ đến trong cuộc đời của bạn còn có rất nhiều người nợ bạn vẫn chưa trả, hoặc trong tâm vẫn có oán hận, những cái này đều không thể nghĩ đến.

Trong tâm bạn phải hoàn toàn tĩnh lặng, tâm có thể an, ánh sáng của bạn sẽ xuất hiện, bao gồm ánh sáng cao nhất ở vũ trụ đều xuất hiện. Điều này rất quan trọng, vì vậy, pháp môn an tâm, có thể nói toàn bộ Phật giáo đều cầu một cái “tâm an”. Bạn có thể an được tâm của mình, tất cả tự nhiên sẽ rất bình hòa, có thể vãng sinh. Đây là một điểm quan trọng.

Vậy thì yogi cao minh hoặc là hành giả của Mật giáo, họ còn có một pháp là Quang uẩn thiên thức. Quang uẩn thiên thức có nghĩa là yogi cao minh có thể dùng công lực của mình khiến người chết có thể vãng sinh tịnh thổ Phật quốc, pháp này gọi là pháp Quang uẩn thiên thức.

Nhưng mà bạn có thể gặp được người như vậy cũng là do nhân duyên thiện lành mà bạn tu mấy kiếp mới có thể gặp được, nếu không sẽ rất khó khăn. Vị yoyi có thể có thành tựu như vậy thì rất ít.

Cách làm pháp là như thế này. Bạn mời vị yogi như vậy đến nhà mình, ông ấy có thể dùng chữ Hum màu xanh lam mà ông ấy tu luyện được, hà một hơi vào chữ Hum màu xanh lam. Tức là ở trên đầu ngón tay này có chữ Hum màu xanh lam. Sau đó ông ấy dùng pháp bịt. Hum, Hum mắt lại, Hum hai lỗ mũi lại. Hum… Hum… Hum…Hum… Bao gồm cả luân xa rốn, Hum! Bao gồm hậu môn, cửa bài tiết của bạn. Bao gồm cả Mật luân, cửa bí mật, cửa tiểu tiện. Hai cửa đại tiện và tiểu tiện đều bịt lại hết, dùng chữ Hum. Hum! Chữ Hum màu xanh lam, nhưng cái này cần phải có công lực. Giả sử bạn không Hum ra được, Hum! Không có chữ Hum, bạn tùy tiện ấn loạn lên cũng không được. Cái này cần phải là hành giả du già, hành giả tu hành rất cao. Ông ấy lấy chữ Hum ở trong luân xa tim, nâng lên trên, đến đầu ngón tay, bịt hết toàn bộ cửa đi ra của bạn [trung ấm], chỉ chừa lại một thiên khiếu, chính là lỗ đỉnh đầu, chỉ còn lại đỉnh khiếu này. Ngay đến cái cổng ở Mi tâm này cũng phải đóng lại. Vậy chắc chắn sẽ vãng sinh.

Nhưng bạn muốn mời được hành giả Mật giáo biết Quang uẩn thiên thức pháp như vậy, bạn đi đâu tìm chứ? Rất khó tìm được.

Vì vậy Thượng sư Liên Hoa Tùng Hùng gặp đúng lúc cơ duyên rất trùng hợp, có Sư Tôn ở đó, Sư Tôn chính là dùng pháp Quang uẩn thiên thức giúp ông ấy.

Rất nhiều người cho rằng:* *“Ôi! Có Sư Tôn chữa trị như vậy, ông ấy nhất định sẽ khỏe lại thôi.”

Thật ra tôi đã nhận ra từ trước là ông ấy đã không thể khỏe lại nữa rồi. Vậy nên đã dùng Quang uẩn thiên thức pháp, dùng chữ Hum màu xanh, đặt lên trên đầu ngón tay, ấn vào từng cái cửa trên người ông ấy.

Lúc đó cũng có rất nhiều đệ tử Chân Phật Tông có mặt, nhìn thấy tôi đang làm, họ cho rằng: “Ôi! Sư Tôn trị bệnh cho ông ấy, ông ấy nhất định sẽ khỏe lại.”

Sau khi làm xong pháp Quang uẩn thiên thức cho ông ấy, ông ấy nói mình khỏe lại một nửa, ông ấy khỏe lại một nửa còn nhảy từ trên giường xuống. Ông ấy nói: “Ôi! Khỏe rồi”, liền nhảy xuống đảnh lễ Sư Tôn!

Lúc đó tôi nhìn thấy, đương nhiên là chữ Hum màu xanh lam vẫn có nhiều sức mạnh gia trì lên trên người ông ấy, khiến ông ấy vẫn còn có sức để bước xuống giường, nhưng không lâu, ông ấy đã vãng sinh. Thần thức của ông ấy chính là từ trên đỉnh đầu đi ra. Chỉ cần là từ đỉnh khiếu đi ra thì chắc chắn là vãng sinh Phật quốc.

Vì vậy điểm này rất quan trọng, công lực tu hành vô cùng quan trọng. Bạn biết pháp Quang uẩn thiên thức sẽ tốt hơn khi có người ở bên cạnh chỉ dẫn cho bạn phải đi như thế nào, gặp phải cảnh tượng gì phải đi như thế nào, gặp phải tình huống gì phải đi như thế nào, bạn phải nhanh chóng tâm an, bạn phải mau chóng không nghĩ gì hết, lúc này phải không nghĩ, bất kì ý nghĩ gì cũng không có, chuyên tâm nhất chí dựa theo nguyện lực của bạn đi vãng sinh.

Pháp thành tựu Trung ấm có thể giúp ích rất tốt, bất kể bạn là Hiển giáo hay Mật giáo đều là một loại chỉ dẫn quan trọng lúc lâm chung. Lúc lâm chung chỉ dẫn cho bạn một con đường chính quan trọng nhất. Cho dù bạn ở trong cảnh giới đó nhìn thấy cảnh sắc gì, bạn đều không được mê hoặc. Cảnh sắc có đẹp đến mấy bạn cũng không được mê hoặc, cảnh sắc có tuyệt đến mấy bạn cũng không được mê hoặc. Đặc biệt là người thân đến đón bạn, bạn cũng không được đi theo. Bạn cho rằng người thân rất thân, chà, tốt quá rồi, ông nội bạn đến tiếp dẫn bạn, bố bạn, mẹ bạn đến tiếp dẫn bạn đều không được đi theo. Chắc chắn sẽ rơi vào âm giới.

Vì vậy quan trọng nhất là an định ngay tại tâm, cầu nguyện tịnh quang của Phật, Bồ Tát xuất hiện tiếp dẫn cho bạn. Đây là mục đích quan trọng nhất. 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

15/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 063. Pháp Phowa (1)


Chúng ta sẽ nói về pháp cuối cùng trong sáu pháp của Naropa, chính là pháp thứ sáu gọi là pháp Phowa. Pháp Phowa cũng chính là pháp khai đỉnh.

Pháp này ở trong Hiển giáo không có. Mật giáo có pháp khai đỉnh, cũng chính là mở cái lỗ ở trên đỉnh đầu này, đả thông cái đỉnh này, để thần thức có thể trực tiếp từ cái đỉnh này đi ra ngoài, thế là có thể vãng sinh Phật quốc thanh tịnh. Pháp này chỉ có ở trong Mật giáo, Hiển giáo không có khai đỉnh hay không khai đỉnh gì cả.

Vậy Mật giáo có khai đỉnh, dựa theo những gì sư phụ tôi nói trước đây thì pháp này là phương pháp vãng sinh nhanh nhất. Nhưng cũng có một điều cấm kỵ, chính là người quá trẻ không nên tu, người già tu thì sẽ tốt hơn. Người trẻ tuổi tu pháp Phowa này sẽ nhanh chóng vãng sinh. Mọi người vừa nghe nói nhanh chóng vãng sinh thì “Ôi! Thôi đi, thôi đi, không tu nữa.” Tại sao vậy? Vì chẳng bao lâu sẽ chết ngay.

Nhưng trên thực tế nó cũng có phương pháp. Vì bạn tu không tốt cho nên mới thực sự là nhanh chóng vãng sinh. Nhưng thử nghĩ ngược lại xem, mọi người thử nghĩ xem, bạn có thể vãng sinh Phật quốc thì đâu có sợ sớm hay là muộn chứ? Có gì phải sợ sớm hay muộn chứ, thật ra nhân gian có gì tốt đâu?

Tôi nhớ là họa sĩ Van Gogh có nói một câu: “Đời người chính là đau khổ, đau khổ chính là đời người.” Vậy bạn sống lâu, sống lâu như con rùa vậy, bạn nói xem làm rùa mà sống lâu thì có gì tốt đẹp? Làm người thường xuyên đau khổ thì bạn sống lâu có gì tốt chứ? Sống lâu cần phải có ý nghĩa của sống lâu, cũng có nghĩa là bạn sống lâu mà sống rất có ý nghĩa thì mới là sống lâu thực sự. Bằng không, sống ngắn mà có tinh hoa, có giá trị thì thọ mạng này tuy ngắn nhưng cũng là trường thọ.

Tôi cho rằng ngắn mà có tinh hoa, có giá trị thì chính là trường thọ. Bạn sống lâu nhưng càng già lại càng tà môn, càng già càng biến thành lão yêu quái, càng già càng trở nên khó ưa, càng già càng không hiền từ, sống lâu như vậy thì thà không có. Đây là kiến giải của bản thân tôi, quan điểm của bản thân tôi là như vậy.

Vậy giới thiệu pháp Phowa, pháp khai đỉnh, pháp này ở trong Mật giáo cũng là vô cùng trân quý. Tu thì rất đơn giản, thành tựu cũng rất nhanh, chứ không phải chết rất nhanh đâu. Sau khi bạn thành tựu rồi thì không tu nữa. Nghĩa là bạn phá xong đỉnh, khai đỉnh xong thì bạn không nên tu nữa. Một tháng tu một lần là được để duy trì khai đỉnh.

Nhưng bạn cần phải tu pháp Trường Thọ Phật, dùng nước cam lộ của Phật Trường Thọ để quán đảnh cho bạn, để làm gia tăng thọ mạng của mình, bạn sẽ không vãng sinh quá sớm. Pháp Phowa còn phải kết hợp với pháp Trường Thọ Phật cùng tu.

Ở chỗ tôi cũng có truyền dạy pháp Trường Thọ Phật, nhưng những pháp này đều nhất định phải nhận quán đảnh, quy y, nhận quán đảnh xong rồi mới có thể truyền thụ.

Còn về pháp khai đỉnh, pháp Phowa này, nhất định phải là bản thân tu hành có một chút thành tựu rồi mới làm được. Ít nhất bạn phải có nền tảng của Tứ gia hành rồi, Tứ gia hành đã có tương ứng rồi, đã có quy y rồi, nhận quán đảnh rồi, có nền tảng của Tứ gia hành, bản thân cũng tương ứng với Thượng sư rồi, lúc này mới tu pháp Phowa. Tôi cho rằng như vậy đã là đầy đủ. Pháp duyên có thể được xem là đầy đủ rồi.

Bởi vì bạn muốn tu pháp Phowa, bạn phải quán tưởng Căn bản Thượng sư trên đỉnh đầu. Căn bản Thượng sư chính là Kim Cương Trì, Kim Cang Tát Đỏa của bạn. Khi bạn quán tưởng, tay trái cần phải cầm thứ gì đó, tay phải cũng phải cầm. Giống như chúng ta ở đây, tay trái cầm chuông kim cang, tay phải cầm chày kim cang, phải quán tưởng Căn bản Thượng sư an trụ trên đỉnh đầu, bản thân biến hóa thành Kim Cang Hợi Mẫu.

Vị này chính là Kim Cang Hợi Mẫu. Bức hình phía tay trái của tôi chính là Kim Cang Hợi Mẫu, tay này của Ngài cầm một con dao lưỡi cong ngắn, tay này cầm thiên linh cái, và cả tư thế đứng nữa, bạn cần phải biến bản thân mình thành Kim Cang Hợi Mẫu. Dùng trung mạch của Kim Cang Hợi Mẫu thông trung mạch của Căn bản Thượng sư. Trung mạch này thông với trung mạch của Căn bản Thượng sư.

Trong luân xa tim của Kim Cang Hợi Mẫu, hoa sen nở ra, bên trong có chữ Hum màu trắng. Căn bản Thượng sư cũng như vậy, luân xa tim của ngài mở ra, bên trong có chữ Hum màu trắng. Có hai chú tự. Khi bạn quán tưởng hoàn chỉnh, bạn cần phải cầu nguyện trước, cầu nguyện Căn bản Thượng sư gia trì cho bạn, bạn khẩn thiết muốn vãng sinh Phật quốc thanh tịnh, cầu nguyện rất khẩn thiết. Có người nói là cầu nguyện là phải vô cùng khao khát, rất mong muốn, tôi nhất định phải đi, tôi không đi không được. Tôi phải lập tức đi. À không được nói đi ngay lập tức, đi ngay lập tức là chết luôn. Tôi nhất định phải đi, tôi không đi không được, tôi nhất định phải vãng sinh, nhất định phải đến Phật quốc.

Vậy khi niệm thì có hai chú tự, một chữ là "Hơ", nói lớn tiếng, vang to, làm chấn động chữ Hum của bạn từ trung mạch đi thẳng đến chữ Hum ở luân xa tim của Căn bản Thượng sư, hai chữ hợp lại với nhau, sau đó mới đi xuống, một lúc sau mới đi xuống, đi xuống là “Ka”, chữ “Ka”, “Ka…” đi xuống, đi xuống đến chỗ này của bạn, mới “Hơ” đi lên. “Ka” đi xuống.

Nhưng mà luồng khí rung chuyển lên trên này, cần phải dùng Bảo bình khí. Vì vậy bạn tu Bảo bình khí có thành tựu rồi, lúc này bạn vận dụng Bảo bình khí của chính mình, đưa chữ Hum màu trắng này thông từ trung mạch cho đến trên đỉnh huyệt đi vào luân xa tim của Căn bản Thượng sư, hợp nhất với Căn bản Thượng sư, sau đó mới “Ka” đi xuống. Một lên một xuống 21 lần. Người có thượng căn thực sự thì chỗ đỉnh đầu này sẽ lập tức tan chảy, có máu chảy ra, mở ra một cái lỗ. Rất nhanh chóng, có người rất nhanh, chỉ một ngày đã thành tựu. Có người thì chậm hơn, chậm nhất là 49 ngày sẽ thành tựu. Vì vậy người căn cơ cao, anh ta chỉ mất một ngày. “Hơ” một cái, là đi lên trên, “Ka” là đi xuống dưới. Ở đây phải quán tưởng chữ Hum màu trắng khi chấn động, đi lên trên, sau đó đi xuống, 21 lần, như vậy là có thể thành tựu rồi, cực kì không đơn giản.

Hôm nay nói đến đây. Om mani padme hum.

15/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 064. Pháp Phowa (2)


Hôm nay tôi sẽ nói với mọi người chi tiết hơn về pháp Phowa - khai đỉnh. Quan trọng nhất là muốn nói đây là phương pháp để cho linh hồn của bạn trực tiếp đi ra từ trên lỗ đỉnh đầu. Cũng tức là lúc bạn còn đang sống đã mở lỗ đỉnh đầu này của bạn ra. Chỉ có con đường này mới có thể dễ dàng để cho linh hồn của bạn đi ra từ lỗ đỉnh đầu. Phương pháp mở lỗ đỉnh đầu ra chính là pháp Phowa.

Pháp này có khẩu quyết quan trọng ở bên trong. Trước tiên biến mình thành Kim Cang Hợi Mẫu. Ngồi trên đầu bạn chính là Căn bản Thượng sư của bạn. Kim Cương Tổng Trì chính là Thượng sư của bạn, ở phía trên nữa là tổ sư các đời, từng vòng tròn cao dần lên trên. Sau đó tổ sư các đời toàn bộ biến thành các điểm ánh sáng giáng xuống, đi vào Kim Cương Tổng Trì, đại diện Bổn tôn truyền thừa của bạn, chính là Căn bản Thượng sư của bạn - Kim Cương Tổng Trì.

Tiếp theo quán tưởng một đường trung mạch từ Kim Cang Hợi Mẫu đến Kim Cương Tổng Trì, ở trong luân xa tim có hoa sen nở ra, trên hoa sen có chữ Hum. Ở đây có một yếu quyết, chữ Hum này đứng thẳng chứ không phải nằm ngang, nếu nằm ngang, bạn hô một tiếng, chú tự của bạn đi lên, nó sẽ nằm ngang bay lên. Phải là thẳng đứng bay lên sẽ dễ hơn, nằm ngang sẽ gặp trở ngại hơn.

Điều thứ hai, có người hỏi tôi: “Cái chữ Hum mà ngài nói là màu trắng.” Nhưng trước đây tôi có nói chữ Hum màu xanh lam, vậy rốt cuộc là màu trắng đúng hay màu xanh lam đúng? Hôm nay tôi muốn nói là cả hai đều đúng. Tôi quen dùng màu trắng, vì tôi là Bạch Liên Hoa Đồng Tử, cho nên là màu trắng. Còn những người khác có thể dùng chữ Hum màu xanh lam. Tôi quen dùng màu trắng. 

Ở trong đây vẫn còn một yếu quyết. Khi bạn muốn đẩy chữ Hum này từ Kim Cang Hợi Mẫu lên Kim Cương Tổng Trì, một yếu quyết chính là chữ Hum của Kim Cương Tổng Trì - chữ Hum trên hoa sen trong Tâm luân, phần đuôi chữ Hum có một cái móc, cái móc ấy đi xuống dưới, móc vào cái vòng tròn của chữ Hum tại luân xa tim của Kim Cang Hợi Mẫu. Cái này cũng là một yếu quyết, một khẩu quyết rất quan trọng. Quán tưởng chữ Hum của Kim Cang Tát Đỏa, Kim Cương Tổng Trì, cái móc ở phía dưới chữ Hum từ trung mạch đi xuống móc vào cái vòng tròn của chữ Hum ở luân xa tim của Kim Cang Hợi Mẫu, vừa hay móc vào được. Mọi người có thể tượng tưởng ra được chữ Hum này có một cái móc đi xuống móc vào cái vòng tròn trên đầu chữ Hum kia.

Phải quán tưởng thật là rõ ràng, Hợi Mẫu, Kim Cương Tổng Trì, trung mạch, hoa sen luân xa tim, chữ Hum, sau đó chữ Hum đi xuống móc vào nhau, cầu nguyện vô cùng khẩn thiết, nhất định phải vãng sinh. “Hơ” lập tức móc lên trên, đưa luồng khí đó đi lên, lên đến luân xa tim của Kim Cương Tổng Trì, hợp lại với nhau một lúc, “Ka” lại đi xuống luân xa tim của chính mình. Nhớ kĩ, cái này là xông đỉnh, cũng tức là xạ đỉnh. Cái này từ trung mạch bắn lên đến đỉnh huyệt. Phải bắn 21 lần. Một lần tu pháp là 21 lần. Phải làm chỗ này bị sưng lên, có máu chảy ra, có một cái lỗ, có thể cắm cỏ cát tường vào đây để chứng nghiệm. Cái này chính là khai đỉnh.

Làm 21 lần. “Hơ”, “Ka”, “Hơ”, “Ka”, “Hơ”, “Ka”. Cứ như vậy vừa quán tưởng vừa hô hai chú tự này. Bạn sẽ cảm thấy chỗ này rất khác, bắt đầu ở trung mạch có một luồng khí xông lên đỉnh đầu, đi lên trên, cho đến khi xông ra ngoài, phải mở cái đỉnh huyệt này ra. Chỉ cần bạn khai đỉnh là được rồi. Sau này một tháng tu một lần là được. Còn phải niệm chú Trường Thọ Phật, tu pháp Trường Thọ Phật để bảo vệ bạn, nếu không chữ Hum của bạn đi ra ngoài không về được nữa, vậy là vãng sinh luôn. Ở thế giới Ta Bà này sẽ không nhìn thấy bạn nữa, người ta muốn tìm bạn cũng rất khó, vì bạn đã vãng sinh Tây phương Cực Lạc thế giới, đi vào tịnh thổ của Kim Cang Tát Đỏa.

Vì vậy thật sự mà nói, một hành giả tu xong pháp khai đỉnh pháp, pháp Phowa, bất kì lúc nào cũng có thể vãng sinh. Một cao nhân nói: “Bất kì khi nào tôi muốn đi là đi.” Ngày mai tôi muốn đi, rất đơn giản, ngày mai sẽ rất vui mừng, tắm rửa trước, mặc quần áo mới, gọi hết toàn bộ đệ tử của mình đến trước mặt, sau đó *say goodbye* *[tạm biệt]* với mọi người: “Ta phải đi rồi, ta phải đi đến tịnh thổ rồi, từ nay về sau sẽ không quay lại nữa.”

Tạm biệt mọi người một cách rất nhẹ nhàng, giao phó một số hậu sự. Sau đó “Hơ” một tiếng, chấn động một cái, thế là để thần thức ra ngoài, từ trên đỉnh này cho thần thức đi ra ngoài, không được quay về nữa. Sau đó không được thu về nữa, không “Ka” nữa. Bạn “Ka” nửa ngày trời là bạn không đi được nữa đâu. Lúc đó đám đệ tử nhìn bạn biểu diễn, bạn đang biểu diễn trò tử vong, làm nửa ngày trời mà sao sư phụ của mình vẫn chưa chết vậy? Cái lão già câng này tại sao vẫn chưa chết?

Cái này chính là để thần thức ra ngoài, rung chuyển một cái, đem thần thức của mình xông lên đỉnh đầu đi ra ngoài, không quay trở lại nữa, lập tức vãng sinh. Một luồng khí đẩy thần thức của mình lên đỉnh, bắn lên đỉnh, bắn ra ngoài, đi thẳng đến tịnh thổ, sẽ không quay về nữa.

Rất nhiều cao tăng có thể ăn mặc chỉnh tề, tắm rửa tịnh thân, sau đó ở trước mặt Phật mỉm cười rồi ra đi, sau đó, chính là vận hành thần thức của mình bay ra ngoài, thế rồi mỉm cười ra đi.

Năm xưa đệ tử Xá Lợi Phất của Phật chính là như vậy đó. Khi Xá Lợi Phất muốn chết, quay trở về quê hương của mình, *say goodbye* với mọi người, tinh thần rất vui vẻ, nhắm mắt ra đi, ở trong phòng cấm của mình, nhắm mắt một cái là ngài ra đi.

Cái này là công lực giỏi bậc nhất, nói khi nào chết là khi đó chết. Không giống như một số người cứ ở đó kéo dài tuổi già, kéo dài tuổi già đâu có ý nghĩa gì.

Vì vậy cao tăng đại đức thực sự, tu xong pháp này rồi là quyết định được vãng sinh. 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

16/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 065. Truyền pháp chọn chính pháp khí (đúng người)


Có thể nói tôi đã giảng xong toàn bộ cả sáu pháp của Naropa, bắt đầu từ pháp Linh nhiệt cho đến pháp Phowa, tổng cộng là sáu pháp. Đây là đại pháp vô cùng trân quý do tổ sư truyền lại.

Thực tế mà nói, muốn tu thành toàn bộ sáu pháp này cũng rất là khó khăn, vì phải tốn rất nhiều thời gian, tu xong toàn bộ là vô cùng khó khăn. Hành giả chúng ta có thể lựa chọn pháp mà mình thích để tu.

Trong sáu pháp này, có một pháp khá quan trọng chính là pháp Linh nhiệt. Pháp Linh nhiệt tương đối quan trọng hơn, bởi vì bạn muốn học đại thành tựu cầu vồng thì nhất định phải học pháp Linh nhiệt. Có nhiệt trước, sau đó có nhiệt độ, có khói, có lửa, có ánh sáng. Nền tảng của sáu pháp này nếu tính ra cũng chính là pháp Linh nhiệt. Vì vậy nên tu pháp Linh nhiệt. Sau khi tu thành pháp Linh nhiệt rồi, năm pháp còn lại có thể nói là sẽ tu dễ dàng hơn.

Trong Mật giáo của chúng ta, về phương diện pháp Bổn tôn, chủ yếu là tu thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh, cái này cũng gần giống với Hiển giáo thông thường. Nhưng trong Tạng mật có tu pháp về khí-mạch-minh điểm. Trong khí-mạch-minh điểm, khí chủ yếu nhất là Bảo bình khí, và Cửu tiết Phật phong làm cơ sở. Tiếp theo, bạn cần phải tu pháp Linh nhiệt, nhất định phải tu thành. Bạn có pháp Linh nhiệt mới có thể tu pháp Minh điểm, pháp Vô lậu, tiếp theo tu sáu pháp thành tựu, chính là sáu pháp thành tựu của Naropa.

Theo như trình tự mà tôi nói, bạn cần phải làm như vậy, tu như vậy mới được. Có nhiều pháp như thế, có sáu loại pháp, chẳng lẽ phải tu hết toàn bộ sao? Không nhất định phải vậy, không cần tu hết toàn bộ. Bạn chỉ cần thành tựu một pháp, rất có thể bạn thành một pháp là sẽ thông rất nhiều pháp. Bởi vì Huyễn quán, Tịnh quang, pháp Phowa, và pháp tu mộng, bên trong đều là có liên quan. Vì vậy bạn thông một pháp, rất dễ thông những pháp khác. 

Quan trọng nhất là phải tu được pháp Linh nhiệt. Bạn tu thành pháp Linh nhiệt rồi, luồng khí này của bạn có thể đi đến trung đan điền, đến thượng đan điền, có thể đi xuống đến trung đan điền, cũng có thể xuống đến hạ đan điền. Bạn có thể vận hành nhiệt đến khắp các bộ phận trong cơ thể của bạn. Bạn càng tu càng tinh thuần, tinh thần của bạn sẽ càng tốt, nền tảng tu pháp của bạn sẽ càng vững chắc. Cơ thể bạn sẽ không có tật bệnh, khí rất đầy đủ, hơn nữa có thể vận dụng khí này của bạn. Ở đây có thể nói, con người thời nay thường xuyên nói đến khí công, thật ra trong Mật giáo, Bảo bình khí và Cửu tiết Phật phong đều là khí công. Dùng khí này để tu hành, chúng ta chính là dùng khí công để tu Phật pháp.

Điều này để cho bạn hiểu, bạn thực sự có thể thành tựu vẫn phải dựa vào pháp Linh nhiệt, sau đó thông năm pháp còn lại. Sau đó bạn mới chọn một trong các pháp để tu, nhất định thành Phật, nhất định thành tựu. Tu hành nhất định phải có quyết tâm, bạn phải ghi nhớ trong lòng những gì sư phụ nói.

Vì vậy pháp khí có rất nhiều loại, có chính pháp khí, có phá pháp khí, còn có táng pháp khí.

Thế nào là chính pháp khí? Những lời Thượng sư nói, bạn nhớ hết toàn bộ. Bạn có thể nắm được ý quan trọng, có thể thực tu mỗi ngày, bạn phải tạo ra tâm đắc của chính mình, bản thân bạn thực sự có thành tựu, đó là chính pháp khí. Hơn nữa phải bền lòng, ghi nhớ khẩu quyết tâm yếu mà sư phụ nói, cái này là chính pháp khí.

Vậy thế nào là phá pháp khí? Bạn vốn dĩ không bền lòng, hôm nay nghe xong, chà! Hay quá! Pháp hay! Ngày mai ngủ dậy, bạn không làm, vốn dĩ pháp rất hay nhưng mà bạn không tu. Thậm chí hôm nay bạn nghe rất có tâm đắc lĩnh ngộ. Một tuần sau, bạn quên sạch toàn bộ, đây là phá pháp khí.

Thế nào là phá pháp khí? Trước kia ví dụ như thế này. Bạn cầm một cái bát, sư phụ đem pháp nhũ, sữa bò đổ vào trong cái bát của bạn. Nhưng mà cái bát này của bạn bị vỡ, làm sao đổ được đây? Vì sữa sẽ chảy hết ra ngoài. Cho nên gọi là phá pháp khí là như vậy. Không phải sư phụ không dạy bạn, sư phụ đem khẩu quyết tâm yếu của mình để dạy lại cho bạn rồi. Kết quả bạn cho rằng không quan trọng, vốn dĩ không có duyên để tu, hoặc là hôm nay tu rồi, dừng lại ba ngày không tu, tuần sau mới tu tiếp, tháng sau tu tiếp. Đây là phá pháp khí. Sữa đã rót vào trong bát cho bạn, kết quả toàn bộ bị chảy ra ngoài, đây là phá pháp khí, không còn cách nào khác. Vì vậy phá pháp khí rất khó thành tựu, chính pháp khí rất dễ thành tựu.

Còn có một loại là táng pháp khí. Đó là bạn đưa cái bát ra, tâm của bạn dơ bẩn, *it’s dirty, you are dirty people*, là người dơ bẩn, người dơ bẩn còn có tập đoàn của người dơ bẩn. Pháp nhũ của sư phụ là sữa bò, là rất tươi ngon, rất tinh khiết, hơn nữa rất nhiều dinh dưỡng, rất tốt, rót xuống cho bạn. Chà! Vì cái bát của bạn là bát bẩn, toàn bộ sữa bò đều biến thành dơ bẩn. 

Ở đây là tâm thuật của bạn bất chính, bạn học Phật pháp chỉ nghĩ đi kiếm tiền, đi lừa tiền. Học xong Phật pháp, đi lừa gạt, vì danh vì lợi, bất chấp thủ đoạn. Vì danh, nghĩ cho danh vọng của chính mình, nghĩ cho lợi ích của chính mình, không phải là thực sự đang tu tâm thanh tịnh. Đây là táng pháp khí. Sữa bò rất sạch, rất trắng sạch rót xuống, kết quả tâm của bạn là dơ bẩn, tạo nên một mớ lộn xộn, vậy thì thảm rồi. Đây chính là táng pháp khí.

Vì vậy Thượng sư truyền pháp phải chọn pháp khí để truyền thụ, lựa chọn pháp khí chân chính. Tâm của bạn đích thực là vô cùng thanh tịnh, bạn không phải vì danh vì lợi, không phải lừa người khác. Sư phụ sẽ xem, sẽ quan sát, không thể tùy tiện truyền pháp. Nếu truyền thì Phật pháp vốn dĩ rất tuyệt hảo đều bị bạn làm dơ bẩn. Gặp phải táng pháp khí mà truyền thì toàn bộ đều thê thảm, Phật pháp cũng bị ô uế. Gặp phải phá pháp khí mà truyền cho anh ta, anh ta để mất hết toàn bộ. Giảng “Bồ đề đạo thứ đệ quảng luận”, giảng "Mật tông đạo thứ đệ quảng luận”, giảng muốn sống muốn chết, giảng đến khô cả miệng luôn rồi, đều đi tong. Giảng đến cạn kiệt sức lực, giảng hết lòng hết dạ, anh ta nghe từ tai này đi ra từ tai kia. Đây là phá pháp khí.

Vì vậy truyền pháp phải chọn chính pháp khí. Điều này cũng rất quan trọng. Om mani padme hum!

17/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 066. Nội dung quan trọng của tu hành (1)


Hôm nay tôi sẽ nói với mọi người về nội dung quan trọng của tu hành. 

Thế nào gọi là hành giả? Hành giả chính là người đang tu hành, người tu hành thì gọi là hành giả. Trước kia, trong truyện Tây Du Ký, Tôn Ngộ Không chính là Tôn hành giả, người tu hành họ Tôn thì gọi là Tôn hành giả.

Các bạn thường nói mình là hành giả, rốt cục các bạn có hiểu nội dung quan trọng mà các bạn tu hành là gì không? Có một số người nói mình là người học Phật, nhưng mà tất cả hành vi và tư tưởng của chính mình thì lại cách Phật rất xa, Phật ở tận chân trời, còn bạn học Phật mãi mãi chẳng thể lên được đến trời.

Ở đây tôi nói về nội dung quan trọng của tu hành, chủ yếu nhất là muốn nói với các bạn về ý nghĩa sâu nhất ở đây là gì. 

Trong Mật giáo của chúng ta có bốn pháp: một là tức tai, một là tăng ích, một là kính ái, một là hàng phục. Thật ra trong nội dung quan trọng của một hành giả, một điểm quan trọng nhất là hàng phục. Mọi người vừa nghe đến hàng phục là cho rằng là hàng phục người khác, hoặc là hàng phục một số sự việc, để cho bản thân có thể thuận lợi, thật ra nghĩ như thế là sai rồi.

Trước đây có một triết học gia nói: “Kẻ địch lớn nhất là chính mình.” Hàng phục này chính là phải hàng phục chính mình, tu hành chủ yếu là đang hàng phục, và đối tượng của hàng phục là chính mình.

Chúng ta có thể nói thế này, nghiệp chướng mà mỗi cá nhân tích lũy lại qua nhiều kiếp là vô cùng nặng, cho nên chúng ta thường hay nói “nghiệp chướng rất nặng”, chính là nghiệp mà bạn tích lũy qua nhiều kiếp rất nặng. Còn nữa, không chỉ như vậy, những thói xấu của bạn, những thói quen không tốt của bạn rất nặng, những cái này đều cần phải hàng phục.

Cho nên hành giả phải hàng phục chủ yếu là hàng phục tham, sân, si của chính mình. Phật Đà thường nói “tam độc lục tặc”, tam độc chính là tham, sân, si, lục tặc chính là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của bản thân bạn chính là sáu tên giặc.

Bởi vì tham niệm của con người đôi khi là từ mỗi một bộ phận này mà sinh ra, ví dụ như mắt có thể tham sắc. Tai thích nghe những điệu nhạc đồi trụy, mũi thích ngửi, lưỡi thích nếm vị ngon. Thân thể không thanh tịnh, sự tiếp xúc và ý niệm đều không thanh tịnh, những cái này đều phải hàng phục.

Chúng ta hàng phục lục tặc của bản thân, chính là hàng phục mắt tai mũi lưỡi thân ý của mình, sắc thanh hương vị xúc pháp của mình, đây có thể gọi là một loại công phu duy thức. Bạn muốn hàng phục lục tặc, hàng phục tham sân si, vậy thì phải thiền định, phải học thiền định. Bởi vì từ trong thiền định, bạn mới có thể sinh ra trí huệ, dùng trí huệ để phá trừ tham sân si và lục tặc của thân mình. Bạn muốn đạt được thiền định rất sâu thì nhất định phải thanh tịnh mắt tai mũi lưỡi thân ý, đây chính là bạn đang làm công phu hàng phục.

Ngoài ra, nội dung quan trọng của tu hành chính là phải quy y. Đó là quy y một sư phụ thật sự có thể hiểu biết Phật lý. Các bạn cảm thấy quy y quá đơn giản ư? Thật ra quy y không đơn giản, bởi vì quy y đến tận cùng, quy y sâu nặng nhất là quy y chính mình. Hàng phục là hàng phục chính mình, quy y cũng là quy y chính mình.

Bởi vì khi bạn đã đến được bên trong duy thức, tức là vào trong ý thức thiền định sâu nhất, bạn sẽ phát hiện ra ý thức sâu nhất - thức thứ chín Am-ma-la thức. Am-ma-la thức là gì? Chúng ta gọi là Như Lai tạng, chính là Phật thức. Phật tính này, đến ý thức sâu nhất, bạn mới có thể phát hiện ra thì ra bản thân bạn cũng là Phật tính.

Bạn quy y Phật, thì ra là quy y ý thức sâu nhất của chính mình, cho nên đến cuối cùng trở thành quy y chính mình. Hàng phục là phải hàng phục chính mình, quy y cũng là quy y Phật tính của chính mình. Bởi vì Phật tính ở trong ý thức sâu nhất của chính mình là tương thông với Phật tính của ý thức vũ trụ tối cao. Khi Phật Thích Ca Mâu Ni khai ngộ đã nói: “Thì ra chúng sinh đều có Phật tính.” Chúng sinh đều có Phật tính ở trong ý thức sâu nhất.

Vì thế bạn quy y đến cùng thì không phải là quy y sư phụ, mà là quy y Phật tính, cũng tương đương với quy y chính mình. Hai nội dung chủ yếu này rất quan trọng. Cho nên, Thiền tông thường nói “trực chỉ”, ý nghĩa của “trực chỉ” chính là muốn bạn tỉnh ngộ. Bạn phải thường nghĩ trong tâm mình có Phật tính, phải thắp lên ngọn đèn tâm của mình, chính là đánh thức Phật tính của mình.

Mật giáo cũng nói như vậy. Mật giáo cũng nói với bạn rất trực tiếp rằng bạn chính là Phật. Vì sao? Phật không phải nói đến hình tượng bên ngoài, mà là Phật tính ở bên trong ý thức sâu nhất của nội tại. 

Cho nên Lư Sư Tôn cũng có thể đảnh lễ chúng sinh. Tôi chẳng hề gì, tôi có thể đảnh lễ chúng sinh. Tôi đảnh lễ chính là đang đảnh lễ Phật tính của ý thức sâu nhất, cho nên việc hướng tới chúng sinh để đảnh lễ chẳng hề gì. Bởi vì ở đây là đảnh lễ Phật tính vốn có ở bên trong ý thức sâu nhất của bạn. 

Do vậy, mỗi người chúng ta đều phải tôn trọng bản thân, tôn trọng Phật tính ở bên trong ý thức sâu nhất của chính mình. Còn phải hàng phục chính mình, hàng phục tham sân si nhiều kiếp của mình, hàng phục lục tặc mắt tai mũi lưỡi thân ý của chính mình. Đây là nội dung quan trọng của hành giả, cũng chính là một nội dung quan trọng của tu hành. 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum. 

18/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 067. Nội dung quan trọng của tu hành (2)


Chúng ta lại nói về nội dung quan trọng của tu hành. Có rất nhiều người hỏi: “Biết nội dung quan trọng của tu hành là phải hàng phục chính mình, cũng phải quy y chính mình, vậy tu hành rốt cuộc có mục đích gì? Ý nghĩa của nó nằm ở đâu?”

Hiện tại rất nhiều chúng sinh thế giới Ta Bà, đại bộ phận đều không biết cần phải tu hành. Họ nói là: “Ngày nào tôi cũng sống rất vui vẻ, vì sao tôi phải tu hành chứ? Tâm địa của tôi tốt là được.” Thật ra muốn nói “tâm địa tốt là được” cũng khó lắm, cũng rất khó khăn. Cho nên tu hành có ý nghĩa của tu hành.

Nhưng nói “tâm địa tốt”, câu nói này cũng rất khó nói, vì sao đây? Bởi vì chúng sinh Ta Bà bình thường trên đời này, ở trong sự mê hoặc họ thường không giữ vững được tâm mình, cho nên làm sao nói “tâm địa tốt” chứ? Điều này là rất khó khăn.

Nội dung quan trọng của tu hành, ý nghĩa chủ yếu nhất là nằm ở “minh giác”, bạn phải duy trì một sự “minh giác”, tức là rất tinh tường và hiểu biết. Sau khi bạn đi con đường này, bạn có thể đạt được minh giác thì bạn sẽ càng hiểu biết, sẽ không mơ hồ nữa. Bạn nói xem một người muốn tâm địa tốt, bạn cũng cần phải biết làm sao để tâm địa tốt, như thế nào mới là tâm địa tốt. Bạn biết phương pháp rồi thì chính là tu hành, chính là minh giác, là một loại cảm nhận rất rõ ràng, cảm nhận rõ ràng và tinh tường sẽ sinh ra. 

Ngoài ra bạn còn đạt được một niềm vui chân chính, một người tu hành có thể đạt được niềm vui chân chính, vậy thì phiền não của bạn sẽ có thể giải thoát. Bởi vì bạn đạt được niềm vui, phiền não sẽ ít đi, cũng không còn nữa, căn bản là không có phiền não, đây là một hiện tượng đại lạc chân chính.

Mọi người biết rằng, Phật Đà Thích Ca Mâu Ni Phật nói: “Đời người chính là khổ.” Bạn có thể giải thoát đau khổ mới có thể đạt được một loại trạng thái đại lạc. Bạn thực hành rồi, bạn làm rồi, bạn đạt được đại lạc rồi, trạng thái này sinh ra rồi, đây mới gọi là tu hành. Bằng không nhìn chung mà nói, con người đều sẽ có phiền não, phiền não là thứ không mất đi, vĩnh viễn là gánh nặng trên người bạn. Bạn không tu hành, vĩnh viễn không có cách nào giải trừ phiền não.

Ngoài ra, bạn sẽ đạt đến một ngộ cảnh, ngộ cảnh này chính là trí huệ của bạn không giống với trí huệ thế gian thông thường, loại trí huệ này của bạn đến từ ý thức vũ trụ. Bạn là một người siêu giác, một Thánh giả giác ngộ siêu nhiên, cho nên sự lĩnh ngộ của bạn, sự khai ngộ của bạn không giống với tri thức của thế gian, đây là một loại trí huệ Phật cao thâm nhất.

Lại là một điều khác biệt, loại trí huệ này là trí huệ mà chúng sinh thế giới Ta Bà bình thường tìm không được, cái này cũng phải tu hành mới có thể đạt được. Bạn tiến nhập cảnh giới thiền định rất sâu, rất cao thâm, thì mới có thể khai phá ra loại trí huệ này. Bạn không tiến vào thiền định rất sâu thì chẳng có cách nào khai phá ra loại trí huệ này, bạn chỉ có được tri thức cuộc sống phổ thông mà thôi.

Ngoài ra còn cần có tịnh quang, ánh sáng thanh tịnh sản sinh ra. Nói chung, người có ác niệm, dưới cái nhìn của người có thiên nhãn, nhìn một cái là thấy ngay cái người có suy nghĩ bất hảo. Bạn phải loại bỏ suy nghĩ xấu, phải sản sinh ra một loại trí huệ quang minh, sản sinh ánh sáng thanh tịnh, vậy là khác biệt rồi, cho nên nhất định phải tu hành, đây chính là ý nghĩa của tu hành.

Bởi vì ở trong thiền định, sau khi bạn mở mang thân tâm chính mình, bạn sẽ đạt được một dạng năng lực ứng biến, cái này cũng phải tu hành mới có thể đắc được. Năng lực ứng biến là cái gì? Trong Phật giáo nói rằng, năng lực ứng biến gọi là thần thông. Bạn sẽ có thần thông, thần thông chính là năng lực ứng biến. Bất kì sự việc gì bạn đều có thể nhậm vận, thần thông nhậm vận, rất tự nhiên, rất tự tại tùy ý vận dụng thần thông của bạn, giải quyết phiền não của chúng sinh. 

Tôi thường hay nói thần thông chính là “tâm tưởng sự thành”, trong lòng bạn muốn gì thì sự việc đó sẽ làm được, sẽ tốt. Mỗi lần chúng ta viết thư cho bạn bè, sau cùng đều viết là “chúc vui”, điều này biểu thị muốn nói rằng rất tự tại, rất vui vẻ, tâm của bạn sẽ rất tự do, vui vẻ. Chúc “tâm tưởng sự thành”, bốn chữ này chính là thần thông, đây là nguyện lực của bạn, một khi nguyện lực của bạn muốn thì sự việc sẽ đạt thành.

Cái này không phải là ma thuật, mà là thần thông tự tại. Bạn muốn cái gì sẽ có cái đó, bạn muốn giải quyết thế nào thì sẽ giải quyết như thế. Khi bạn tu hành đến cảnh giới rất cao thì có thể nhậm vận. Giống như Phật, giống như Tiên trên trời, các vị đều có thể thần thông nhậm vận, các vị nghĩ đến cái gì thì cái đó sẽ đến. 

Ví dụ bạn muốn ăn một chút gì đó, thoáng một cái là có thể biến ra, lập tức ăn một cách rất vui vẻ. Bạn không muốn nữa thì sẽ biến mất. Bạn muốn sống trong cung điện hào hoa nhất, to lớn nhất, nó liền biến ra. Bạn muốn ngửi mùi thơm hoa sen, lập tức biến ra được hoa sen, ngửi thấy ngay mùi thơm hoa sen. Cho nên đây gọi là “tâm tưởng sự thành”, thần thông biến hóa chính là ở đây, có thể tự do tự tại mà nhậm vận thần thông.

Nếu bạn có thần túc thông, “Tôi muốn đến Đài Loan, đi thăm một người bạn cũ.”, chớp mắt một cái là đến. Nghĩ đến châu Âu, muốn đi xem tháp Eiffel ở Paris, chớp mắt một cái cũng đến luôn, đây chính là thần thông nhậm vận. Bạn đã đạt tới cảnh giới tu hành rồi thì những việc này đều có được một cách dễ dàng, tiện lợi như lấy quả quýt ở trên bàn vậy. Bạn nói xem như vậy có tốt không? Đương nhiên là tốt rồi, nhưng mà cái này phải tu hành mới có thể đạt được.

Cho nên bạn nói thần thông nhậm vận, tự do du hý, mọi người đều nói Phật sướng, Thần Tiên sướng, hành giả phải nỗ lực thực hành mới có thể giúp chính bạn chứng được thần thông tự tại, thanh tịnh quang minh, đại lạc, chứng được minh giác, phiền não tiêu trừ, sinh tử tự chủ, đây chính là mục đích của tu hành. 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum.

18/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 068. Cảnh giới của tương ứng (1)


Hôm nay tôi nói với mọi người về cảnh giới của tương ứng. Rất nhiều người hỏi: “Kim cương thừa du già đều nói về tương ứng, tương ứng sẽ sinh ra cảnh giới của tương ứng. Thế nào là một dạng cảnh giới của tương ứng?” Nhìn chung, có rất nhiều cảnh giới của tương ứng. Hôm nay tôi muốn nói về kiểu tương ứng tương đối chính xác, cũng tương đối chân thực mà bạn có thể ấn chứng. 

Lấy chính tôi làm một ví dụ. Ví dụ Bổn tôn của bạn là A Di Đà Phật, nhưng về mặt cảm giác, bạn luôn cảm thấy A Di Đà Phật cách bạn rất xa chứ không hề ở cùng với bạn, bạn không hề là A Di Đà Phật, điều này cho thấy bạn vẫn chưa đạt đến cảnh giới của tương ứng. Giả như bạn tương ứng rồi, trong lúc tu pháp bạn tương ứng với A Di Đà Phật rồi, bạn có thể nhìn thấy ngài. Bạn có thể kiến Phật, chính là nhìn thấy Phật.

Chúng ta đang tu thiền định, tu đại thành tựu cầu vồng, bạn ở trong mơ nhìn thấy A Di Đà Phật, tỉnh dậy rồi thấy rất vui! Bạn nói tôi thấy Phật trong mơ, cuối cùng ở trong mơ nhìn thấy Phật rồi, đây có thể nói là tương ứng sơ cấp, rất thô và nông. Bởi vì trong mơ bạn nhìn thấy không nhất định là thật, thỉnh thoảng ngài cho bạn có một giấc mơ, cho bạn vui mừng một chút mà thôi.

Thế giả dụ trong thiền định mà bạn nhìn thấy Phật thì sao? Cái này lại khác. Bạn ở trong thiền định không phải là ở trong mơ, Phật mà bạn nhìn thấy trong thiền định và Phật mà bạn thấy ở trong mơ là khác nhau. Ngài sẽ để bạn cảm giác thấy là bạn đích thực nhìn thấy Phật, ngài sẽ khiến bạn ấn tượng rất sâu sắc. Còn tốt hơn nữa đó là bạn không cần thiền định, bạn mở mắt ra cũng nhìn thấy Phật, mở mắt ra là thật sự nhìn thấy Phật, đây chính là tương ứng.

Thật ra kiểu hiện tượng của tương ứng này, bạn có thể có cảm nhận. Cảm nhận này rất đơn giản, bản thân bạn có thể phát ra ánh sáng, trên người có ánh sáng, có cầu vồng bảy sắc bao quanh bạn. Bạn sẽ cảm thấy A Di Đà Phật không phải ở chân trời, mà bạn chính là A Di Đà Phật.

“Phật mạn” sinh ra trong Mật giáo chính là hình tượng trang nghiêm của Như Lai, từng phút từng giây, hình tượng trang nghiêm của Phật và bạn hợp nhất chính là Phật mạn của Như Lai. Một khi đã sinh ra Phật mạn thì nhất ngôn nhất hành, nhất cử nhất động của bạn đều là Phật, cái này chính là cảnh giới tương ứng chân chính.

Có rất nhiều người nói: “Hây da! Tôi tương ứng rồi, tôi cảm thấy thân thể rất mát mẻ.” Thân thể anh ta mát mẻ giống như ăn kem vậy, như thế là tương ứng rồi. Có người nói: “Hây da! Hôm nay tôi tương ứng rồi.” Hỏi anh ta vì sao tương ứng, anh ta nói: “Tôi cảm thấy hôm nay tâm trạng rất tốt, rất dễ chịu, nhẹ nhõm, rất khinh an.” “Hây da! Cuối cùng tôi đã tương ứng rồi.” Ngày mai phiền não tới, thế là lại không tương ứng nữa, ngày mai lại không tương ứng rồi, lại thấy rất khổ. Đây không phải là tương ứng, tương ứng thật sự chính là một trạng thái hợp nhất sản sinh ra, một dạng Phật mạn. Thân thể cảm thấy xung quanh, không chỉ là cảm giác mà là thật sự phóng quang, cầu vồng bảy sắc quấn quanh bạn, mà còn có một điều rất quan trọng là Hộ pháp ở bên cạnh, không hề rời xa bạn, lúc nào cũng đều có Hộ pháp ở xung quanh bạn.

Giống như bản thân tôi, mỗi lần ăn cơm đều làm cúng dường, chắp tay cúng dường, niệm chú cúng dường, tôi đều biết Hộ pháp có đến hay không. Mỗi bữa cơm đều có Hộ pháp ở xung quanh bạn. Hộ pháp này còn rất thích bữa tối, thích bữa trưa, rất hoan hỷ tiếp nhận cúng dường. Đây không phải là cảm giác, đây là nhìn thấy thật, thật sự nhìn thấy Hộ pháp ở xung quanh bạn. Bạn có thể sai khiển Hộ pháp. Không hành, Hộ pháp đều ở quanh bạn.

Bạn nói: “Ôi chao! Tôi có một việc phiền não, xin Hộ pháp giúp tôi đi hoàn thành nó.” Cái này ở trong Đạo gia mà nói thì “xin ngài mau đi làm” chính là “cấp cấp như luật lệnh”. Ngài sẽ mau chóng nhấc chân lên, nhanh chóng đi giúp bạn làm việc. Bạn sẽ không cần lo lắng nữa, tất cả mọi việc tự nhiên có thể tâm tưởng sự thành.

Bạn thật sự là một Kim cương Thượng sư, là một yogi, thì lời bạn nói ra chính là cấp cấp như luật lệnh, chính là luật lệnh. Hộ pháp tiếp nhận luật lệnh rồi sẽ lập tức đi giúp bạn hoàn thành việc đó.

Bạn muốn một chiếc long bào, sao mà đệ tử vẫn chưa tặng nhỉ? Vừa nghĩ tới điều này thôi, Hộ pháp liền đi luôn, nói vào trong đầu của đệ tử rằng: “Này! Anh phải nhanh chóng làm một chiếc long bào tặng Sư Tôn đi!” Đệ tử lập tức đi đặt làm long bào. Lát sau đã làm hơn 200 chiếc tặng cho tôi, bây giờ tôi đều mặc không hết, hại tôi mỗi ngày đều phải mặc chiếc mới.

Có đôi khi “ý nghĩ” rất quan trọng, bởi vì một Kim cương Thượng sư chân chính, vừa nghĩ đến thôi là việc gì cũng đều làm xong. Hộ pháp có ở đó hay không, nhắm mắt lại, Hộ pháp liền ở trước mặt bạn. Bản thân bạn chính là Phật, là cảnh giới hợp nhất, tương ứng. Bạn thật sự đến được cảnh giới này rồi thì có thể nói là Bổn tôn và hành giả Mật giáo hoàn toàn là trạng thái hợp nhất, bạn sẽ sinh ra Phật mạn. Lúc này bạn đã không còn là phàm phu, từng phút từng giây bạn đều là Phật, hiện tượng này mới có thể gọi là tương ứng. 

Vậy thì có người sẽ nói, khi bạn đi vệ sinh thì phải làm sao?Lẽ nào Phật cũng làm việc đó sao? Đúng thế! Đây là nhất cử nhất động của đời sống thường ngày, bạn đang ăn cơm chính là Phật đang ăn cơm, bạn đi vệ sinh chính là Phật đang ngồi trên hoa sen, ngồi trên bệ xí chính là ngồi trên hoa sen, đều trang nghiêm như nhau. Như vậy cái này chính là tương ứng hợp nhất.

Bạn lúc nào cũng như vậy thì đây chính là Phật mạn phát khởi. Bạn đã phát khởi Phật mạn tương ứng với Bổn tôn của bạn, đây là một hiện tượng chính xác. Bạn không thể tách riêng ra khỏi ngài. Bạn không thể nào bây giờ là Phật, lát nữa thì không phải. Bất kể như thế nào, bạn ở trong Mật giáo, khi đến được Vô thượng mật bộ rồi thì mọi lúc bạn đều là Phật, đây mới là tương ứng thật sự. Đây chính là cảnh giới của tương ứng. 

Hôm nay nói đến đây. Om mani padme hum.

19/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 069. Cảnh giới của tương ứng (2)


Chúng ta lại nói về cảnh giới của tương ứng, tương ứng này chính là yoga, tức là du già, cũng tức là Kim cương thừa. Vì sao gọi là Kim cương thừa? Hai chữ “kim cương” này đại diện cho sự kiên cố, rất kiên cố, một dạng sức mạnh ngưng đọng lại, sức mạnh rất lớn ngưng tụ lại chính là kim cương. 

Cái này là sức mạnh vô địch, nói cách khác là nó có thể giống như kim cương, bất kì thứ gì, mọi ác nghiệp đều có thể bị nó phá vỡ. Cảnh giới của tương ứng cũng hoàn toàn giống với Kim cương thừa, do vậy mới gọi là Kim cương thừa. Chữ “kim” này chính là không biến sắc. Bạn nhìn vàng xem, vĩnh viễn đều là như thế, không đổi màu, luôn là màu sắc đẹp đẽ nhất, là màu sắc tôn quý nhất. Không biến thể, hình dạng sẽ không thay đổi, vĩnh viễn cố định là như vậy. Nếu bạn không tin, lấy một cục vàng để ở chỗ tôi đây. Đặt cục vàng ở đây, bạn nói cục vàng này nặng bao nhiêu, bạn đặt ở đây sau vài năm, nó cũng vẫn y như thế, sẽ không biến đổi. Vậy thì không biến sắc, không biến thể chính là kim cương. Bạn tương ứng rồi, bạn chính là như thế.

Người học Phật ngày nay thay đổi tới thay đổi lui, lòng người vô thường, rất dễ biến động. Có rất nhiều đệ tử nói với tôi: “Hây da! Tôi đã tương ứng rồi, tôi đã tương ứng với Bổn tôn rồi, đã tương ứng với Thượng sư rồi.” Đã tương ứng với Thượng sư ư? Với Thượng sư nào? “Tôi đã tương ứng với Sư Tôn rồi!” Rất tốt! Rất tốt! Anh đã tương ứng rồi, như thế rất tốt, cực kì tốt. 

Chẳng bao lâu sau thì sao? Anh ta rút lại chứng thư quy y. Ô hay! Anh đã tương ứng rồi, sao còn rút lại chứng thư quy y chứ? Thế thì không đúng rồi, bởi vì sự tương ứng của anh ta là không chính xác.

Thế nào là tương ứng? Hôm nay tôi nói với mọi người, tâm bạn đã không còn biến động nữa, sẽ không dao động bất định. Thế nào gọi là “Thượng sư tương ứng pháp”? Tâm bạn đã giống hệt với tâm của Thượng sư rồi thì gọi là Thượng sư tương ứng pháp. Hôm nay bạn tu Thượng sư tương ứng pháp thì tâm của bạn sẽ hoàn toàn giống hệt với tâm Sư Tôn! Tâm của bạn chính là tâm Sư Tôn! Sư Tôn đang hoằng dương Phật pháp, quảng độ chúng sinh, bạn cũng cần làm như thế. Bạn đã tương ứng với tâm của Sư Tôn rồi, sao vẫn có thể thay lòng chứ? Tâm tâm tương ấn, sao vẫn còn có thể ly hôn chứ? Cái việc ly hôn này, các nước phương Tây, rất nhiều người ly hôn. Vì sao vẫn còn ly hôn? Bởi vì vẫn chưa có được tâm tâm tương ấn mà! Tâm tâm tương ấn thật sự thì sẽ không ly hôn đâu. [Sư Tôn nói ly hôn ở đây nghĩa là rời bỏ nhau, đệ tử đã tương ứng với thầy rồi thì sẽ không có chuyện rời bỏ thầy nữa.]

Cho nên pháp Thượng sư tương ứng nói rằng, bạn đã tu được pháp Thượng sư tương ứng rồi, bạn sẽ không ly hôn với Sư Tôn. Tâm bạn đã hoàn toàn kiên cố, cứng chắc như sắt thép rồi, rất chắc chắn rồi, vậy thì sẽ không thối lùi, vĩnh viễn sẽ không rút lui. Sẽ không nói là: “Hây da! Sau khi tôi tương ứng rồi, tôi còn phải tương ứng với người khác nữa.” Như thế là bạn ngoại tình rồi! Bạn đã tâm tâm tương ấn với tôi rồi, bạn còn đi tương ứng với người khác, bạn có mấy trái tim đây? Như thế thì sẽ có vấn đề rồi! Bạn ngoại tình rồi.

Bạn xem, hiện nay có rất nhiều đệ tử ngoại tình. Đệ tử ngoại tình nhìn thấy đằng kia có cô gái xinh đẹp liền chạy qua bên đó. Thấy anh chàng nào bảnh trai là chạy theo. Như thế thì không có chuyện tâm tâm tương ấn với Căn bản Thượng sư đâu, sao có thể gọi là tương ứng?

Mật giáo đầu tiên là phải tu bốn loại gia hành - pháp Tứ gia hành, có được nền móng vững chắc rồi mới tu pháp Thượng sư tương ứng, sau khi tương ứng với Thượng sư rồi mới tu pháp Bổn tôn, đây là một trình tự. Bạn tương ứng với Thượng sư rồi thì bạn sẽ không rời xa Sư Tôn. Hôm nay bạn rời xa Sư Tôn thì căn bản là bạn không hề tương ứng. Nói một cách đơn giản là không hề tương ứng, đúng không? Giả sử bạn tương ứng với Thượng sư rồi thì căn bản là bạn sẽ không rời xa.

Cho nên bạn đang tu, bạn đã quy y bao nhiêu năm rồi? Quy y 10 năm, 20 năm cũng không có tác dụng gì. Bạn mới quy y một lúc thôi nhưng đã tương ứng với Căn bản Thượng sư rồi, vậy là tâm bình đẳng rồi, lúc này gọi là “nhất vị”, hiện tượng nhất vị đã sản sinh ra rồi. Nhất vị chính là một loại mùi vị. Sư Tôn là ngọt thì đương nhiên bạn cũng là ngọt. Tôi là mặn thì bạn sẽ là mặn. Pháp tính của tôi như thế nào thì pháp tính của bạn sẽ như thế đó. Đây là hiện tượng nhất vị.

Bạn chỉ cần tương ứng với Sư Tôn thì thành tựu của Sư Tôn sẽ rất nhanh chóng chảy vào trong người bạn. Sẽ có cam lộ, truyền thừa của vũ trụ, truyền thừa của hư không chảy vào trong người bạn. Cho nên cam lộ của tôi cũng sẽ chảy trong người bạn, đó là một loại hương vị, hiện tượng của nhất vị sẽ sản sinh ra. Tương ứng rồi thì không thối lùi, không thể rút lui. Hễ có rút lui thì vẫn là chưa tương ứng. Cho nên bạn và Bổn tôn tương ứng cũng như thế. Bạn sẽ không rời xa Bổn tôn. Bổn tôn cũng sẽ không rời xa bạn.

Vì thế Mật giáo thông thường mà nói, cái gọi là samaya chính là nói bạn đã cùng với Bổn tôn, Hộ pháp, Căn bản Thượng sư, có một dạng sức mạnh ràng buộc. Khi bạn quay lưng với Căn bản Thượng sư, Căn bản Hộ pháp, Căn bản Bổn tôn, thì gọi là phá vỡ samaya. Về điểm này ở trong Mật giáo có ràng buộc, chính là giới luật.

Vì sao gọi là phá vỡ samaya? Phá vỡ samaya tức là đã rời bỏ sự ràng buộc rồi, là bạn không giữ giới luật Kim cương thừa thì bạn sẽ phá vỡ samaya. Cho nên bạn giữ giới samaya thì bạn sẽ không rời xa Căn bản Thượng sư, sẽ không rời xa Căn bản Bổn tôn, sẽ không rời xa Căn bản Hộ pháp, bốn đối tượng này sẽ vĩnh viễn kết hợp với nhau.

Khi bạn tương ứng, bản thân bạn chính là Bổn tôn, Hộ pháp ở xung quanh bạn, trên đầu bạn chính là Căn bản Thượng sư, chính là Kim Cương Trì, điều này rất dễ hiểu được. Trên đầu đội Căn bản Thượng sư, xung quanh là Hộ pháp, bạn chính là Bổn tôn, đây chính là một hiện tượng bạn đã tu trì tương ứng rồi, là một hiện tượng tương ứng chân chính. Còn một số những cảm ứng khác, cảm nhận khác, đều là thứ yếu thôi. Tương ứng chủ yếu chân chính là ở cái này. Lúc này, đương nhiên bạn sẽ không thối lùi đạo tâm. Cho nên tôi nói thối lùi đạo tâm, không có đạo tâm thì thối lùi cái gì? 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum.

19/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 070. Chuyên chú (1)


Hôm nay chúng ta nói về hai chữ “chuyên chú”. Chuyên chú tức là tinh thần thống nhất mà quá khứ tôi thường nói đến. Một hành giả muốn tu thành tựu, điều đầu tiên phải bắt đầu là nhất định phải rèn tinh thần thống nhất, phải chuyên chú. Cái này không chỉ ở trên phương diện tu hành, mà bất kì sự việc gì, nếu bạn muốn làm thành công thì bạn phải luôn đặt tinh thần tập trung vào đó, chuyên chú vào đó thì mới có thể thành công.

Chúng ta tu pháp, học Phật, quan trọng nhất vẫn là phải chuyên chú. Có rất nhiều người xuất gia, vì sao họ muốn xuất gia? Tì kheo, tì kheo ni vì sao muốn xuất gia? Bởi vì khi xuất gia, cuộc sống của họ sẽ trở nên đơn thuần, nguyên nhân của việc đơn thuần hóa này chính là nằm ở sự chuyên chú, chính là mong cầu sự chuyên chú.
Bởi vì chúng ta biết rằng thế giới Ta Bà, chốn phồn hoa rất dễ mê hoặc người ta, vậy bạn muốn tu hành, xuất gia chính là muốn học một cuộc đời chuyên chú.

Thật ra Mật tông rất nghiêm, trước kia tôi nói vì sao Mật tông nghiêm khắc? Giới luật mà Phật Đà truyền xuống rất nghiêm ngặt, đối với việc tu hành của người xuất gia thì cực kì nghiêm ngặt. Mật tông thường xuyên nói về giới luật, bởi vì có giới luật ràng buộc cuộc sống của bạn, tâm bạn mới có thể không phân tán, như vậy mới có thể chuyên chú vào công phu tu hành, sinh ra một dạng sức mạnh. Xuất gia chính là vì mong cầu tinh thần thống nhất và chuyên chú, mọi người có thể ngẫm nghĩ rồi sẽ hiểu thôi.

Giới luật của người xuất gia rất nghiêm đó! Giới luật của Mật tông đặc biệt càng nghiêm hơn. Quy định tì kheo nam, người xuất gia nam, khi gặp phụ nữ phải giữ khoảng cách, khoảng cách là mấy bước, không được đứng quá gần, bởi vì đứng quá gần thì bạn sẽ ngửi thấy mùi thơm trên người của phụ nữ, tim bạn sẽ đập loạn, trái tim sẽ đập rộn ràng.

Đều có quy định cả. Nói chuyện không thể nói quá ba bốn câu. Người xuất gia không được nói chuyện với phụ nữ. Còn có một điểm rất quan trọng nữa, đó là người xuất gia giữ giới luật Mật tông khi nói chuyện với phụ nữ thì mắt của người xuất gia đều phải nhìn xuống đất trong khi nói chuyện, không được nhìn mặt. Bởi vì nếu nhìn mặt phụ nữ, một khi ánh mắt của người phụ nữ đó bắt gặp ánh mắt của bạn thì sẽ sinh ra điện đó. Nhìn như thế rất dễ có điện, phiền phức sẽ từ đây mà ra.

Bởi vì tình cảm của con người thường xuyên đặt ở trong ánh mắt, người kia đột nhiên phát ra một dạng sóng điện, bạn tiếp nhận lấy sóng điện này, giữa hai người mà có điện thì đó là chuyện rất phiền phức.

Cho nên Mật tông quy định nói chuyện với phụ nữ thì mắt nhất định phải nhìn xuống đất. Cho nên bạn đừng nghĩ là tì kheo này đang làm cái trò gì vậy nhỉ. Đôi mắt lúc nào cũng nhìn xuống đất nói chuyện với bạn, thật chẳng lịch sự gì cả. Nói chuyện với bạn mà cứ nhìn đất là bởi vì tì kheo đó đang giữ giới luật của Mật tông, không được nhìn mặt phụ nữ, nhất là không được nhìn vào mắt, nếu có điện là thôi xong, cho nên có rất nhiều quy định.

Ở đây chủ yếu nói rằng người xuất gia tu hành nhất định phải chuyên chú. Vì sao người xuất gia thường hay ở trong núi tu hành? Bởi vì ở trong núi sâu dễ chuyên chú. Vì sao người xuất gia, người tu hành muốn đóng cửa ở trong phòng để tu hành? Chúng ta biết rằng bế quan phải ở trong một căn phòng nhỏ, chỉ rộng có hai bình thôi [khoảng 6,5 mét vuông]. Ở trong căn phòng nhỏ đó và không được phép ra ngoài. Ở trong đó bạn không có việc gì để làm cả, chỉ có hai chữ chuyên chú, chuyên chú tu Phật pháp của bạn, đây gọi là bế quan, bế quan là để có thể chuyên chú.

Những thứ sẽ làm tâm bạn hỗn loạn, khiến tâm bạn dao động thì không được tiếp xúc, tuyệt đối không được tiếp xúc. “Biết rõ núi có hổ, thế mà vẫn đi vào”, đây là tự bạn muốn chuốc họa vào thân rồi. Bạn rõ ràng biết rằng trong núi có hổ, bạn cứ dấn thân vào, đi vào để cho hổ ăn thịt, đây là tự bạn thích thế, vậy thì đừng trách ai.

Có người nói định lực của tôi tốt. Vâng! Định lực của bạn tốt, định lực của bạn tốt tới mức nào? Sức mạnh của hổ lớn, hay là sức mạnh của bạn lớn? Trừ phi bạn là Võ Tòng trong truyện Thủy Hử, Võ Tòng đánh hổ cũng phải dựa vào “ba chai chưa say” đó, sau khi uống ba bát rượu rồi, dựa vào men rượu đó mà lên núi, cuối cùng đã đánh chết hổ. Thế giới Ta Bà của chúng ta có mấy người là Võ Tòng chứ?

Cho nên bạn tu hành, nhớ là phải cắt bỏ hết ngoại duyên, những thứ có thể khiến tâm bạn dao động thì bạn phải cắt bỏ hết, cái này chính là chuyên chú, đây chính là chuyên chú thật sự. Giống như người xuất gia chúng ta cạo trọc đầu, vì sao phải cạo trọc hết tóc chứ? Việc này tương đương với việc cắt bỏ hết tất cả việc thế tục, mọi việc thế tục của thế giới Ta Bà. Tiêu trừ hết phiền não rồi, diệt tận hết tục duyên rồi, tinh tấn đi trên con đường tu hành, đây là “đặt kì hạn chứng quả” đó!

“Đặt kì hạn chứng quả” tức là ở trong khoảng thời gian này, bạn phải đạt được ấn chứng, đạt được chứng nghiệm của khai ngộ. Điều này rất tích cực, không phải tiêu cực. Cho nên bạn nói người xuất gia rất tiêu cực, từ sáng tới tối chỉ có mỗi việc ăn cơm. Không phải đâu, họ rất tích cực. Người xuất gia rất tích cực, tinh thần thống nhất, đặt kì hạn tu hành chứng quả đó. Trong cuộc đời xuất gia ngắn ngủi này, nhất định phải đắc được một sự xác nhận, một ấn chứng.

Cho nên phải trân trọng cuộc đời xuất gia, trân trọng sự quý giá của thời gian, không thể lãng phí, không thể để cho ngoại duyên làm dao động mê hoặc tâm bạn, khiến tâm bạn ô nhiễm lại từ đầu, như vậy mới là người xuất gia chân chính. Đợi đến khi bạn tu hành có định lực đủ rồi, bạn mới có thể đi tiếp dẫn chúng sinh. Bằng không, bạn sẽ bị chúng sinh dẫn đi, đổi lại bạn xuất gia nhưng lại bị chúng sinh tiếp dẫn. Bởi vậy phải chuyên chú. 

Om mani padme hum.

20/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 071. Chuyên chú (2)


Chúng ta lại nói về chuyên chú. Mật giáo nói với chúng ta rằng, thứ mà chúng ta chuyên chú đó là chú ý đến khí, chú ý vào chữ “khí”. Hiển giáo thông thường chỉ chú trọng vào tu tâm, cho nên chuyên chú vào tâm. Còn Mật giáo chuyên chú vào khí. Nhưng mọi người thử nghĩ xem, chuyên chú vào tâm thì rất khó chuyên chú. Bạn nghĩ thử chữ tâm này, nghĩ đến cái tâm của bạn. Chúng ta thường hỏi tâm ở chỗ nào? Ôi! Bạn chẳng thể nào ngay lập tức tìm được cái tâm này. 

Tâm là một thứ vô hình, bản thân nó là một thứ vô hình. Muốn tìm tâm đều không tìm được, vậy bạn làm sao mà tu tâm chứ? Cho nên Mật giáo có một thứ rất hay, đó là chuyên chú vào khí. Mật giáo có một lý luận thế nào nhỉ? “Tâm khí nhất như”, điểm này rất đặc biệt.

Bạn biết bạn tu khí chính là đang tu tâm. Tôi lấy một ví dụ để nói, chúng ta thường nói tâm bình khí hòa, khi tâm bạn rất bình lặng thì cũng chính là khí của bạn đang rất ôn hòa. Tâm và khí là hợp lại, vốn dĩ chính là một. Người tu Mật giáo là biết rõ về “tâm khí nhất như” nhất. Bạn điều hòa khí chính là đang điều hòa tâm mình, thật ra khi bạn tu khí chính là đang tu tâm của bạn.

Lấy một ví dụ về mặt trời và ánh nắng mặt trời, mặt trời là mặt trời, ánh sáng là ánh sáng, hai thứ này nhìn có vẻ không phải là một thứ giống nhau. Nhưng thật ra không có mặt trời thì làm gì có ánh sáng? Sẽ chẳng thể có ánh sáng nữa. Không có ánh sáng mặt trời, vậy mặt trời có còn tồn tại không? Căn bản là không có mặt trời. Cho nên mặt trời và ánh nắng mặt trời vốn dĩ là một, là một thứ thôi. 

Bây giờ tâm và khí cũng giống như vậy, bởi vì tâm của bạn mà động thì khí sẽ động, khí mà động thì tâm sẽ động, cái này chính là tâm khí nhất như. Bạn biết đấy, tay của Sư Tôn đang cử động như thế này, đây là cái gì đang động? Đây là ý niệm của bạn, bộ não của bạn đang động,  

Vậy thì vì sao tay lại động? Đó là khí của bạn chạy đến tay thì tay mới động. Cho nên nói đúng ra thì khí là ngoại hình của tâm, chính là ánh nắng mặt trời. Tâm chính là ý niệm của bạn, ý niệm của bạn động thì ánh mặt trời của bạn, tức là khí của bạn sẽ động. 

Cho nên hành giả Mật giáo chúng ta khi điều hòa hô hấp, khi hoàn toàn chuyên chú vào khí thì chính là đang tu tâm của bạn đó. Vì thế bạn đang tu khí chính là đang tu ý, cũng tức là đang tu cái tâm của chính bạn.

Bạn xem bình thường chúng ta ngồi thiền hít thở, hơi thở cực kì mảnh, cực kì chậm, cực kì dài, tức là phải biến khí của thân thể bạn thành khí có trí huệ. Vậy thì loại khí trí huệ này sẽ biến thành tâm trí huệ. Khí của bạn có thể tu được định rồi thì tâm sẽ định.

Một khi cái tâm này chuyên chú rồi, khi tâm rất mảnh rồi, rất chuyên chú rồi, thì thể ánh sáng sẽ xuất hiện, Phật tính mới có thể xuất hiện, trọng điểm nằm ở đây. Tâm bạn rất thô thì khí sẽ thô. Khí rất nóng nảy thì tâm bạn chắc chắn sẽ nóng nảy. Tâm động rất ghê gớm thì khí sẽ động rất ghê gớm. Nếu khí chạy lung tung thì tâm cũng không tĩnh lại được.

Cho nên khi một người tức giận, tâm của họ ở đâu? Tâm của họ nhất định là đang nhảy tưng tưng, nhảy tưng tưng không dừng được, nhất định là anh ta sẽ giận như điên. Cho nên, bạn muốn gìn giữ tâm rất an tịnh, rất tĩnh lặng, thì khí của bạn cũng sẽ bình lặng và thư thái, bình lặng và thư thái nghĩa là tĩnh lặng xuống, lúc này thể ánh sáng, Phật tính của bạn mới có thể xuất hiện.

Sư Tôn tu hành làm quán tưởng, định tâm xuống để làm quán tưởng, quán tưởng chính mình thành không, quán tưởng trung mạch ra, quán tưởng nội hỏa của đan điền ra. Sau đó dùng hơi thở nhỏ, mảnh, chậm, dài để nuôi dưỡng lửa đan điền này. Việc bồi thêm lửa này chính là thủ đan. Dần dần, cái đan này vì liên hệ với hơi thở, cho nên nó cực kì ổn định, quán tưởng rất tĩnh, vận chuyển cái đan này lên lỗ đỉnh đầu, ở trong hư không cùng với ánh sáng của Phật Bồ Tát của hư không hợp lại cùng nhau.

Công phu này gọi là thổ nạp. Thổ nạp là cái gì? Chính là thổ khí, nạp khí, chính là giữ khí, sau đó dùng khối khí này để tu nội hỏa chân chính của bạn. Dùng khối khí này để giữ chắc cái tâm của bạn, chính là đang tu tâm đó! Công phu chuyên chú này, bạn có thể rất chuyên chú quán tưởng trung mạch, quán tưởng lửa của đan điền này, chuyên chú vào việc này, thì việc hít thở của bạn sẽ rất chuyên chú.

Vậy bạn chuyên chú vào hô hấp, chuyên chú vào lửa đan điền, có thể duy trì lâu dài mà tu như vậy thì chính là đang tu tâm. Đừng cho rằng bạn đang tu khí, bởi vì tâm khí là hợp nhất, trong Mật giáo nói rất rõ ràng, tâm khí là hợp nhất, lúc này bạn chính là đang tu tâm. Tâm của bạn hoàn toàn có thể định xuống, Phật tính mới có thể xuất hiện. Cho nên Hiển giáo nói tu tâm thật ra là tu tâm hướng khí, vô hình trung khí cũng được điều hòa tốt. Mật giáo nói tu khí, thật ra là tu khí hướng tâm đó. Vô hình trung, tâm cũng được điều hòa tốt.

Bởi vì tâm và khí là hợp nhất, không thể phân tách, giống như mặt trời và ánh nắng mặt trời vậy. Hôm nay Mật giáo chúng ta tu khí, mạch, minh điểm chính là công phu này, cũng là công phu tu tâm. 

Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.

21/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 072. Nhậm vận (1)


Hôm nay chúng ta thảo luận một chút về hai chữ “nhậm vận”. Trong Mật giáo thường xuyên nhắc tới hai chữ “nhậm vận”, hai chữ này có tác dụng về mặt lý luận và cả thực tế. Về mặt lý luận có thể nói đây cũng xem là một triết học của cuộc đời chúng ta. Bản thân tôi cảm thấy hai chữ này rất giống quan điểm triết học của tôi.

Xưa kia ở Tây Tạng, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ xây dựng ngôi chùa đầu tiên của Mật tông chính là chùa Nhậm Vận, tên tiếng Phạn là chùa Samye, có ý nghĩa là nhậm vận. Thế nào gọi là nhậm vận? Vì sao nó lại là triết học của cuộc đời? Tôi cho rằng nhậm vận là rất gần với tự nhiên, người học Phật chúng ta thường nói một câu là “mỗi ngày đều là ngày đẹp”, mỗi ngày đều là ngày tốt. Pháp sư trước kia cũng nói ngày nào cũng là ngày đẹp, bản thân tôi cũng cảm thấy như vậy, đây là quan điểm của chính tôi.

Ví dụ mùa xuân, bạn có thể thấy trăm hoa, trăm hoa đua nở đẹp vô cùng. Thế còn mùa hè thì có thể ra biển đi bơi, đều rất thích. Mùa thu thì sao? Bạn có thể đi xem lá phong, lá phong rất đẹp đó, hơn nữa, gió thu mưa thu tuy là khiến con người cảm thấy âu sầu, nhưng bạn có thể làm thơ mà! “Gió thu mưa thu buồn chết mất”, mùa thu tuy là rất thê lương, nhưng cũng có một mỹ cảm, cho nên cũng là rất hay.

Thế còn mùa đông thì sao? Tôi tự nói về chính mình, mùa đông có thể quây lò đốt lửa sưởi ấm, có thể làm *barbeque **[ăn món nướng ngoài trời]**, *có thể ăn lẩu, đốt lửa nói chuyện cả đêm, bạn có thể nói chuyện trên trời dưới đất. Bên ngoài tuy là gió lạnh thấu xương, tuyết rơi dày đặc, nhưng đốt lửa sưởi ấm tán gẫu chuyện thường ngày cũng là một sự hưởng thụ rất ấm áp, cái này chính là “mỗi ngày đều là ngày đẹp”. 

Tôi cho rằng bạn có thể dùng một góc độ khác để phù hợp với bất kì một ngày nào, như vậy chính là “nhậm vận”, về mặt lý luận thì là như vậy. Về việc người, rất nhiều người cho rằng những mối bất hòa về tình cảm thường sẽ gây ra phiền não. Việc người cũng thế, mà việc tình cảm cũng thế, sẽ đều có rất nhiều phiền não. Rất nhiều đệ tử đến hỏi việc đều là các vấn đề về mặt tình cảm, vấn đề về hôn nhân. Tôi cảm thấy tất cả đều tốt.

Quan điểm của tôi là thế nào? Thứ nhất, giả sử có bạn gái, chà! Rất tốt, thật ngọt ngào và ấm áp, cảm thấy sống trong tình cảm giữa hai người là một trạng thái vô cùng đẹp đẽ và mơn man như có gió thổi qua, vô cùng dễ chịu, rất tốt.

Giả sử là tạm xa nhau thì sao? Người bạn gái kia rời đi rồi, không hề gì! Tiểu biệt thắng tân hôn mà! [Tạm thời xa cách sẽ làm tình cảm thêm nồng thắm.] Xa nhau một thời gian sau đó quay trở lại, cảm thấy… chà! Lại có thêm hương vị mới mẻ, bạn biết là cảm giác mới mẻ đó rất khác. Cho nên là tiểu biệt thắng tân hôn, đây là cách so sánh của tôi thôi, không phải là tôi thật sự như vậy. Ở đây tôi nói về tình cảm giữa nam và nữ. 

Giả sử người bạn gái này chia tay rồi, cô ấy “đá” bạn rồi thì sao? Bạn cần phải nghĩ thế này, “người cũ không đi, người mới sẽ không đến”. Người ta thấy bên cạnh bạn lúc nào cũng có một người bạn gái thì ai muốn đến chứ? Chính là khi bạn không có ai thì người mới mới đến, cho nên đều tốt cả.

Bạn đừng cho rằng cái gì cũng sẽ có phiền não, đừng nghĩ như vậy. Cho nên gọi là nhậm vận, cái này chính là công phu nhậm vận. Bất kì sự việc gì, về mặt triết học của tu hành mà nói thì đều tốt cả.

Đôi khi Sư Tôn nghĩ: “Mật pháp của tôi tốt như vậy, vì sao bạn không theo tôi học chứ? Trước kia bạn theo tôi học, vì sao bây giờ bạn lại muốn bỏ tôi mà đi chứ?” Thế rồi tôi ngẫm nghĩ lại, tôi có thể nghĩ thế này: “Bởi vì khoản mà người ta nợ anh đã trả xong rồi, người ta cúng dường anh, cúng dường đã mấy năm rồi, đã đến lúc người ta rời khỏi Chân Phật Tông rồi.” Phúc báo của Sư Tôn với người ta có hạn, cúng dường của họ đến bây giờ đã kết thúc rồi. Thế nhưng tôi vẫn phải cảm tạ người ta đã cúng dường tôi mấy năm! Có điều cũng tương tự như trên, nếu người cũ không đi thì người mới cũng sẽ không đến!

Mỗi một đệ tử Chân Phật Tông chỉ cần một người rời đi thì sẽ có một trăm người khác đến, sẽ có một trăm đệ tử mới đến, cho nên thực tế là có tăng không giảm. Giả sử có một ngày Chân Phật Tông “sập tiệm”, là bởi vì việc làm ăn không phát đạt lắm, người đến nhiều mà không phục vụ nổi cho nên “sập tiệm”. Ví dụ trung tâm hồi đáp thư tín của chúng ta vì sao có thể sập tiệm? À! Hiện tại vẫn chưa sập tiệm, nhưng mà thư từ thật sự là quá nhiều, xử lý không kịp, đệ tử nhiều quá rồi.

Giống như hôm nay, chỉ riêng một phân đường đã quy y gần 200 người, bạn viết chứng thư quy y cũng không kịp viết, mà mới chỉ là một phân đường thôi đó! Cho nên cần như thế này, bạn phải luôn nghĩ về điều tốt, bất kì sự việc gì đều phải nghĩ về điều tốt.

Trước kia có một so sánh “Tái ông mất ngựa, chắc gì đã không phải là phúc”, mất đi con ngựa không nhất định không phải là cái phúc, nó lại đưa về một con ngựa khác. Đưa về một con ngựa khác không nhất định đã là cái phúc, bởi vì con ngựa đã làm gãy chân người ta. Người bị ngã gãy chân cũng không thể nói không phải là cái phúc, bởi vì không phải đi lính, chân bị gãy rồi thì không phải đi lính. Những người dân trong làng đi lính đều chết rồi, chỉ có một mình người này là không chết, cho nên cái phúc này cũng rất khó nói.

Công phu nhậm vận của hành giả chúng ta nói rằng, bạn có thể nghĩ về mặt tốt, thậm chí mở lòng rất thoáng, tâm bình thản, không vương vấn chút gì, lúc này ánh sáng mới có thể hiển hiện. Bạn không thể lúc nào cũng để phiền não ở trong lòng bạn được, mọi thứ đều tốt đẹp, đây chính là triết học cuộc sống của hành giả.

Om mani padme hum.

22/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 073. Nhậm vận (2)


Chúng ta lại nói về hai chữ “nhậm vận”. Tôi đã nói rằng nhậm vận tức là rất tự nhiên mà vậy, trong triết học của Lão Tử cũng từng nói về hai chữ “tự nhiên”. Vô vi mà làm chính là tự nhiên, làm không vì điều gì cả chính là nhậm vận. Khi một người tu hành đạt đến cảnh giới rất cao, có thể nói người đó hoàn toàn là một hóa thân ánh sáng, bất kì việc gì xảy đến đều như mây khói thoảng qua, chớp mắt một cái là trôi qua, giống như trăng thanh gió mát, giống như một cơn gió mát, trăng sáng chiếu rọi khắp nơi.

Tấm lòng bình thản thênh thang này chính là tấm lòng mà một hành giả nên có, không có phiền não gì, cũng không có việc gì, cũng không có suy nghĩ trù tính gì, không có bụng dạ gì, rất khoan khoái nhẹ nhàng như trăng thanh gió mát, rất trong sáng, rất khoáng đạt, cảnh giới này chính là một cảnh giới nhậm vận chân chính.

Người tu Mật pháp chúng ta cũng có thể tu nhậm vận, nhậm vận của Mật pháp cũng rất tự nhiên là thế. Chúng ta chỉ là tu một chút pháp, có rất nhiều sự việc chúng ta có thể chuyển biến, nhậm vận cũng có thể xem là một dạng biến hóa, một dạng biến hóa tự nhiên là thế. Bạn theo tôi học thì sẽ có rất nhiều Mật pháp có thể khiến cho bạn chuyển biến vận mệnh của chính mình, chính bạn có thể trở nên nhậm vận.

Ví dụ bạn muốn tiêu tai, loại bỏ những tai nạn, không cần phải đi thỉnh giáo người khác, tự mình có thể thỉnh Phật tới ngồi trên đỉnh đầu bạn, Phật thả xuống cam lộ giống như mưa, tất cả đều đi vào trong thân thể bạn làm cho bạn thanh tịnh, giống như nước rơi xuống rất mát mẻ. Nghiệp đen của toàn thân bạn sẽ từ các lỗ chân lông chảy ra, bạn chảy hết nghiệp chướng màu đen, những tai nạn của bạn sẽ đều bị loại bỏ. Cho nên, khi bạn loại bỏ được những tai nạn rồi, bạn có thể dùng Phật pháp để tu, rất đơn giản.

Bạn nói tôi làm kinh doanh không tốt, thiếu tiền, tôi hy vọng gia tăng của cải của tôi, gia tăng phúc báo của tôi. Bạn theo Sư Tôn học pháp, bạn có thể quán tưởng chuột nhả tài bảo há miệng ra, thế là có ngay một xấp tiền giấy loại 100 đô la Mỹ. Tiền giấy hiện nay được in cực kì đẹp, sẽ biến hóa thành những tờ tiền màu sắc đó, không chỉ là một xấp mà biến thành một hàng, một mặt, một khối luôn. Một điểm, một hàng, một mặt, một không gian đều có cả, biến thành thế giới ba chiều, thế giới bốn chiều, cả một đống. Két sắt của bạn sẽ không chứa được hết đâu.

Chuột nhả tài bảo há miệng ra! Mọi thứ đều có. Bạn trì thêm chú ngữ, bạn sẽ trở thành rất giàu có. Đây là pháp tu hành tăng ích. Cái này chính là nhậm vận, có thể chuyển biến. Bạn có tai nạn, bạn hãy dẹp yên tai nạn, bạn thiếu phúc báo thì hãy gia tăng phúc báo của bạn. Việc tu hành này có thể giúp bạn đạt được, bạn không tu thì đáng tiếc lắm. 100 đô la Mỹ đó! Chất cao như núi luôn, phúc báo này sẽ gia tăng, đây chính là pháp tăng ích. 

Đối với pháp kính ái, chúng ta cũng có phương pháp tu. Bạn bảo chuyện tình của bạn không thể viên mãn, bạn gái thì từ đầu tới cuối cứ lúc gần lúc xa, giống như là vừa muốn đến vừa muốn đi, cũng không thể mãi mãi cùng với bạn xây dựng một gia đình Phật tử. Không hề gì! Chúng ta có pháp kính ái, bạn có thể kéo dài cái mũi ra. Không phải là Kurama Tengu của Nhật Bản đâu, cái mũi của Kurama Tengu của Nhật rất dài. [Kurama Tengu là thần Thiên Cẩu trong văn hóa dân gian Nhật Bản với mặt đỏ, mày chau, mũi rất dài, là vị thần bảo hộ mang đến phước lành.] Kéo dài cái mũi ra xem cô ấy ở bao xa, bạn đều có thể đến đó. Sau đó dùng cái mũi dài này để quấn lấy bạn gái, rồi kéo cô ấy vào trong lòng bạn, không thể kéo về gần quá, kéo đến trước mặt là được rồi, thế là cô ấy mãi mãi ở bên bạn, người khác không cướp đi được, đây chính là tu hành pháp kính ái. 

Chúng ta dùng ánh sáng đỏ chiếu đến cô ấy, chiếu đến bạn gái của bạn. Rõ ràng trông bạn cũng rất xoàng thôi, nhưng cô ấy vừa nhìn thấy bạn thì mắt sáng lên. Đây là pháp kính ái. Giả sử trên người bạn có ánh sáng đỏ chiếu đến bạn, người khác nhìn bạn, mắt họ sẽ đều sáng lên, đây cũng là pháp kính ái. Bạn muốn học pháp này thì cũng phải quy y Chân Phật Tông, phải tu Chân Phật Mật Pháp, đều sẽ được gia đình viên mãn, hơn nữa các mối quan hệ bạn bè của bạn cũng sẽ rất thuận lợi. Cấp trên của bạn cũng sẽ tăng lương cho bạn, pháp này đều có lợi ích cả.

Trong Mật pháp có pháp hàng phục, pháp hàng phục là gì? Là hàng phục đối phương. Tôi từng nói pháp hàng phục cũng là hàng phục tham sân si của chính mình, điều này cũng rất quan trọng. Và hàng phục đối phương cũng rất quan trọng. Đối phương từ đầu tới cuối đều có ý xấu với bạn, có kẻ tiểu nhân có âm mưu với bạn, pháp hàng phục sẽ làm thế nào? Pháp hàng phục là trong lúc tu pháp dùng mãnh lợi túc, dùng cái chân dũng mãnh để làm gì? Dùng mãnh lợi túc để giẫm đạp là xong. Dù sao khí thế của bạn cũng rất mạnh, họ sẽ sợ bạn, bạn sẽ có thể sai khiến họ, đây chính là một loại pháp hàng phục.

Trong Mật pháp có cái gọi là “tức tăng hoài tru”, tức chính là tiêu tai, tăng tức là tăng ích, hoài tức là kính ái, tru tức là hàng phục. Cho nên trong Mật giáo, về mặt sự nghiệp [hành động] thì có các pháp tức tăng hoài tru này. Những pháp này bạn có thể nhậm vận, nhậm vận tức là chỉ cần bắt tay vào làm, đi tu pháp, là bạn có thể chuyển biến vận mệnh, chuyển biến tất cả thành lý tưởng hơn. Vốn dĩ về mặt lý luận mà nói, cái tâm nhậm vận này là tự nhiên, làm không vì điều gì cả, là trăng thanh gió mát, nhưng về mặt làm pháp thì có pháp Mật giáo như vậy. Người muốn học thì phải quy y. 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum.

22/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 074. Pháp Bổn tôn


Hôm nay tôi nói với mọi người một chút về pháp Bổn tôn. Thật ra pháp Bổn tôn trong Mật giáo là cực kì quan trọng, bởi vì có người hỏi có phải pháp Bổn tôn chỉ thuộc về phạm vi của Ngoại mật hay không, thật ra không chỉ là phạm vi của Ngoại mật. Trước đây tôi từng nói, pháp Bổn tôn là pháp mà mỗi một hành giả Mật giáo đều phải tu trì lâu dài, hơn nữa không thể từ bỏ Bổn tôn, điểm này vô cùng quan trọng.

Chúng ta biết rằng Ngoại mật tu pháp Bổn tôn là:
Thứ nhất, quán tưởng Bổn tôn ở trong hư không. (Cha)
Thứ hai, Bổn tôn di chuyển đến trên đỉnh đầu. (Hum)
Thứ ba, tiến nhập vào trong tâm bạn. (Ban)
Thứ tư, Bổn tôn phóng to lên, sau đó hoàn toàn hợp nhất với bạn. (Ho)

Và trạng thái hợp nhất chính là “bạn chính là Bổn tôn, Bổn tôn chính là bạn”. Giả sử trong quá trình tu pháp Bổn tôn, bạn và Bổn tôn hoàn toàn hợp nhất rồi, vậy thì công đức của Bổn tôn chính là công đức của bạn, pháp lực của Bổn tôn cũng chính là pháp lực của bạn. Thành tựu này là cực kì tuyệt vời.

Do đó, pháp Bổn tôn tuy là thành tựu của Mật giáo Ngoại pháp, nhưng cần phải nói rằng, tu pháp này tương ứng rồi thì chắc chắn có thể vãng sinh. Pháp này cao thâm hơn niệm Phật của Hiển giáo. Vì thế, bạn tương ứng với pháp Bổn tôn của Mật giáo rồi thì có thể vãng sinh. Tôi bảo đảm với bạn, và còn có cả Phật Bồ Tát mười phương đều có thể bảo đảm với bạn điều này. 

Bởi vì trong quá trình bạn tu trì pháp Bổn tôn của Mật giáo, bạn đã phải thâm nhập hơn pháp môn niệm Phật thông thường. Pháp môn niệm Phật đã có thể vãng sinh, cho nên pháp Bổn tôn của Mật giáo mà bạn tu tương ứng rồi thì cũng chắc chắn có thể vãng sinh, điều này có thể bảo đảm.

Trong Nội mật mà nói, cho rằng không cần pháp Bổn tôn, đó cũng là một sai lầm. Quá trình chủ yếu nhất của Nội mật là như thế này:
Giai đoạn thứ nhất, chủ yếu là khi mới bắt đầu thì dùng khí để thổi chuyết hỏa.
Giai đoạn thứ hai, dùng chuyết hỏa để luyện minh điểm.
Giai đoạn thứ ba, minh điểm chuyển hóa thành thần thức, cũng tức là minh điểm chuyển hóa thành thần thức ánh sáng.
Giai đoạn thứ tư, chính mình từ minh điểm biến hóa thành Bổn tôn, thần biến hóa thành Bổn tôn, hoặc là do minh điểm đưa đến tịnh thổ của Bổn tôn, trực tiếp đi qua trung mạch đưa đến tịnh thổ của Bổn tôn. 

Về mặt tu pháp sẽ có việc này. Cho nên, do khí thổi ra chuyết hỏa, sau khi chuyết hỏa đi lên thì luyện minh điểm, minh điểm chuyển hóa thành thần thức ánh sáng, sau đó do thần thức ánh sáng trực tiếp thần biến thành Bổn tôn hoặc đưa đến tịnh thổ của Bổn tôn.

Cho nên đừng thấy Mật giáo nói Ngoại mật, nói Nội mật, đều cần có Bổn tôn, vì thế trong tu hành Mật giáo, pháp Bổn tôn là vô cùng quan trọng, điều này trong kinh Đại Nhật đều có nói. Trong kinh Đại Nhật từng nói đến một vị hoặc hai vị, thậm chí vô số vị đều đi vào trong thân của hành giả, toàn bộ đều đi vào bên trong thân thể của bạn. Hành giả và các vị hợp thành một, không có phân biệt, đây chính là nguyên lý của pháp Bổn tôn, cũng chính là nguyên lý thần biến của pháp Bổn tôn.

Chúng ta biết rằng trong Mật giáo pháp Bổn tôn vô cùng quan trọng, bất kể bạn tu Ngoại mật hay Nội mật đều cần Bổn tôn. Mật giáo có ba căn bản, Bổn tôn chính là một căn bản, Thượng sư là một căn bản, Hộ pháp là một căn bản, đây là ba căn bản của Mật giáo, tuyệt đối không thể quên mất ba căn bản.

Và sau khi bạn thành tựu pháp Bổn tôn, công lực của Bổn tôn của chính bạn sẽ sản sinh ra, hơn nữa còn phải triệu thỉnh tất cả quyến thuộc của Bổn tôn. Giả sử bạn tu Bổn tôn A Di Đà Phật, vậy thì Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát cũng có nhân duyên rất sâu với bạn. Lấy A Di Đà Phật là Bổn tôn, bạn biết A Di Đà Phật chính là “tự tính luân”. Còn “chính pháp luân” chính là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, “giáo lệnh luân” chính là Đại Uy Đức Kim Cang.

Vì thế hôm nay Bổn tôn của tôi là A Di Đà Phật, trước kia tôi cho rằng Hộ pháp của tôi là Bất Động Minh Vương, kết quả là tôi tu Bất Động Minh Vương, Bất Động Minh Vương mãi không đến. Cuối cùng, Đại Uy Đức Kim Cang không thỉnh mà tự đến. Tôi chẳng qua chỉ treo bức thangka Đại Uy Đức Kim Cang lên thôi. Vừa treo thangka lên thì Đại Uy Đức Kim Cang liền đến. Có thể nói Đại Uy Đức Kim Cang là biến hóa thân của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, cũng chính là giáo lệnh luân của A Di Đà Phật. Vì lý do này, có những nhân duyên này mà Đại Uy Đức Kim Cang đã trở thành Hộ pháp của tôi.

Sau khi bạn tu trì tương ứng rồi, khi bạn lặng im tưởng niệm, Đại Uy Đức Kim Cang sẽ hiển hiện. Bạn lấy A Di Đà Phật làm Bổn tôn thì Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Uy Đức Kim Cang tương lai sẽ có nhân duyên cực kì sâu với bạn. Bạn tu hành pháp Bổn tôn có thành tựu rồi, lúc nào cũng có thể cảm thấy được sự tồn tại của ngài, ngài ở cùng bạn, hợp làm một với bạn. Lúc nào bạn cũng có thể dùng công đức của Di Đà, công đức của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, công đức của Đại Uy Đức Kim Cang để phát huy pháp lực độ chúng sinh của mình. Điểm này chính là tầm quan trọng của pháp Bổn tôn, có thể nói là cực kì rõ ràng. 

Hôm nay nói đến đây. Om mani padme hum.

23/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 075. Pháp Đoạt xá


Có người hỏi: “Hoạt Phật Tây Tạng chuyển thế rốt cục là thế nào?” Vấn đề Hoạt Phật chuyển thế này rất lớn. Rốt cục là trên người hành giả sẽ xảy ra chuyện gì? Đây là trọng điểm mà chúng ta nói đến ngày hôm nay. Bởi vì Hoạt Phật Tây Tạng nhận định rằng có một quy tắc, nhưng mà hôm nay chúng ta muốn nói đến phương pháp tu hành của Hoạt Phật chuyển thế.

Hoạt Phật nhất định phải có công lực, ông ấy biết bản thân muốn chuyển thế đến nơi nào, là “tự mình muốn” chứ không phải là “biết”, đây chính là tự chủ sinh tử. Khi tự chủ sinh tử, tôi muốn chuyển thế đến nơi nào, chuyển đến thân của người nào, đây là một trọng điểm, Hoạt Phật chuyển thế như vậy mới là Hoạt Phật Tây Tạng.

Khi ông ấy còn sống, ông ấy đã biết mình muốn chuyển thế đến nơi nào, chuyển thế đến thân của người nào. Vậy thì phương pháp này tu thế nào? Tôi nói để mọi người biết, bạn tu pháp Minh điểm là được rồi. Chẳng phải tôi đã nói với mọi người là dùng khí thổi chuyết hỏa, chuyết hỏa đi hòa tan minh điểm, minh điểm hóa thành ánh sáng, hóa thành thần thức, đem thần thức này đi, đem đi tới đâu? Đem tới trên người của người phụ nữ kia. Người phụ nữ đó mang thai, sau đó bạn trực tiếp đưa thần thức này vào trong bụng của cô ấy, đứa bé sinh ra chính là bạn, đây chính là chuyển thế. 

Vậy thì cái thần thức này chuyển thế nào? Ở đây rất huyền bí. Tôi nói để mọi người biết, phương pháp này gọi là pháp Đoạt xá, đoạt tức là đi vào, xá tức là ngôi nhà. Chúng ta gọi em bé trong bụng của người mẹ chính là cái nhà, chính là nhà của thần thức đó, thần thức đi vào trong cái nhà này ở trong đó gọi là pháp Đoạt xá.

Hoạt Phật Tây Tạng chân chính phải hiểu về pháp Đoạt xá. Trước tiên phải thu thần thức bên trong thân thể mình lại, nói cách khác là tập trung thần thức từ cốt nhục bên trong thân thể lại, biến thành một cái thần thức, tức là minh điểm tập trung lại. Sau đó phóng thần thức vào trong huyết dịch của chính mình, tức là tiến vào nước. Sau khi tuần hoàn thì thần thức sẽ đi vào bên trong lửa chuyển hóa thành nhiệt độ, biến thành lửa. Sau đó thần thức đi vào bên trong khí thì là gió, đi vào bên trong gió, tức là bên trong hơi thở của bạn. Sau đó thần thức đi ra từ trung mạch rồi tiến vào “không”.

Khi thần thức tiến vào “không”, phải ngắm chuẩn phương hướng, phải ngắm chuẩn vào em bé ở bên trong bụng người phụ nữ mà bạn sẽ đầu thai đó, sau khi tiến vào rồi thì bạn ở bên trong đó đợi đến lúc sinh ra. Trên di chúc mà bạn để lại ở kiếp trước sẽ viết là: Tôi sẽ sinh ra ở ngôi làng nào, ở trong gia đình họ tên là gì, khi sinh ra có đặc trưng gì, ngôi nhà đó có đặc trưng gì, gia đình có đặc trưng gì. Hoạt Phật Tây Tạng chuyển thế là đi chuyển thế như vậy.

Và họ phải vận dụng pháp mà tôi vừa mới nói, là tu pháp Minh điểm. Khí, chuyết hỏa, minh điểm, sau đó minh điểm hóa thành thần thức, thần thức quy về đất, sau đó lại tiến vào nước, rồi tiến vào lửa, rồi tiến vào gió, cuối cùng tiến vào hư không giới, từ hư không giới lại đầu thai, phương pháp đoạt xá này phải huấn luyện bí mật.

Tôi có pháp Đoạt xá. Pháp Đoạt xá đòi hỏi phải nhận ra màu sắc, chuyển thế như thế nào phải đi nhận ra được màu sắc đó, như vậy mới có thể thật sự đắc được chuyển thế. Đây là Hoạt Phật Tây Tạng mật truyền, bí mật truyền thụ, nếu bạn không có được pháp này, bạn không thể tự chủ sinh tử, bạn có pháp này mới có thể tự chủ sinh tử.

Cho nên người tu hành chúng ta khi đến một cảnh giới rất cao thì đã có thể tự chủ sinh tử. Cái gọi là tự chủ sinh tử là nói rằng tôi muốn sinh ra ở đâu thì có thể sinh ra ở đó. Hôm nay tôi muốn chuyển thế thành Hoạt Phật Tây Tạng thì tôi có thể chuyển thế. Hôm nay tôi muốn đến tịnh thổ của A Di Đà Phật thì tôi có thể đến tịnh thổ của A Di Đà Phật. Muốn đến tịnh thổ Đông phương Lưu Ly thì tôi sẽ đến được tịnh thổ Đông phương Lưu Ly. Muốn đến tịnh thổ Di Lặc thì tôi sẽ đến được tịnh thổ Di Lặc.

Bạn có thể tự mình quyết định cái chết của chính mình thì gọi là tự chủ sinh tử. Hôm nay bạn không thể tự chủ sinh tử thì hoàn toàn rơi vào trong tay của Diêm La Vương. Hôm nay khi bạn chết bạn rất sợ hãi, không biết sẽ đi về đâu, vậy thì làm gì có tự chủ sinh tử, ngay cả bạn cũng không biết mình sẽ đi về đâu, sao có thể tự chủ sinh tử chứ?

Con người khi chết sẽ sinh ra tâm lý sợ hãi, bởi vì họ không cách nào tự chủ sinh tử được. Hôm nay tôi không hề sợ chết, có gì đáng phải sợ chứ? Ai sợ gì ai, con rùa sợ cái búa, ai sợ ai chứ? Không cần phải sợ, vì sao? Bởi vì bản thân bạn biết phải đi đường thế nào, bạn muốn đi tới nơi nào bạn có thể tự mình làm chủ, vậy thì bạn không cần sợ hãi. Mỉm cười ra đi, cảm giác vô cùng tốt đẹp, rất thoải mái, một cái chết rất sảng khoái, rất vui vẻ, rất vi diệu, rất dễ chịu.

Đây cũng là một trong mười danh hiệu của Phật, gọi là Thiện Thệ. Con người phải tu hành được như vậy mới xem là thành tựu. Bạn không thể tự chủ sinh tử, khi đối mặt với cái chết còn sợ muốn chết, không biết sẽ đi về đâu, liệu có phải chịu hình phạt không, nghiệp chướng liệu có xuất hiện không, liệu có rất nhiều ma quỷ đến bắt bạn không? Bạn ở đó lo sợ muốn chết, lấy đâu ra tự chủ sinh tử?

Hoạt Phật Tây Tạng chuyển thế ngày nay chính là có thể tự chủ sinh tử. Hôm nay mọi người tu cho giỏi, sau này mỗi người, mỗi Thượng sư, pháp sư đều là các Rinpoche chuyển thế, đều là Hoạt Phật. Sư Tôn là Đại Hoạt Phật, các bạn là Tiểu Hoạt Phật, các bạn là *Little Rinpoche*, tôi là *Big Rinpoche*, tôi là *Big Light* *[ánh sáng lớn]*, các bạn là *Small Light* *[ánh sáng nhỏ]*. Đại quang và Tiểu quang, đây chính là tự chủ sinh tử. Tu hành nhất định là như vậy mới xem là thành tựu, nếu không thể tự chủ sinh tử thì đều không xem là Hoạt Phật. 

Hôm nay nói đến đây. Om mani padme hum.

23/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 076. Pháp Tứ gia hành (1)


Hôm nay tôi nói với mọi người về pháp Tứ gia hành. Rất nhiều đệ tử khi mới quy y thường xuyên hỏi Lư Sư Tôn: “Chúng tôi vừa mới quy y, vậy thì nên tu pháp gì đây?” Tôi liền trả lời rằng: “Cần tu pháp Tứ gia hành.”

Có rất nhiều đệ tử thường cho rằng pháp Tứ gia hành là pháp cơ sở nhất, họ không muốn tu pháp cơ sở. Họ nói: “Không thể bắt đầu một cái là tu pháp cao nhất được à?” Tốt nhất là ngay từ đầu Sư Tôn truyền cho họ pháp Đại viên mãn, hoặc là pháp Đại Nhật Như Lai. Họ cho rằng Đại Nhật Như Lai là cao nhất rồi, hoặc là họ muốn học pháp Đại viên mãn cơ! Chính là pháp cao nhất của Mật giáo, truyền cho họ ngay lần đầu tiên, tốt nhất là sau vài ngày đã thành tựu rồi, mọi người đều như vậy. Rất ít người nói rằng: “Tôi nên tu từ pháp cơ sở nhất rồi từ từ cứ thế đi tới thành tựu.”

Tôi cho rằng Mật giáo cũng giống như chúng ta đi học vậy, vẫn phải bắt đầu từ lớp mẫu giáo, sau đó là tiểu học, cấp hai, cấp ba, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ nghiên cứu sinh, cần phải như vậy. Không có ai bắt đầu học một cái đã làm nghiên cứu sinh được, vừa bắt đầu đã học tiến sĩ rồi, người như thế là rất đặc biệt. Muốn tìm được thần đồng đặc biệt như vậy đương nhiên là có, nhưng suy cho cùng cũng là thiểu số. 

Bây giờ tôi cũng đang tìm, ngày nào tôi cũng tìm, tôi hy vọng Chân Phật Tông chúng ta sẽ xuất hiện một thần đồng. Tôi cũng đang tìm, người đó buộc phải có phúc báo rất lớn mới có thể xuất hiện một cái là thu hút được rất nhiều chúng sinh. Trí huệ của người đó rất cao, nói một hiểu mười, nói mười hiểu nghìn, hiểu vạn! Chà, thế thì người này đúng là nhân tài.

Nhưng mà bạn biết đấy, đệ tử Chân Phật Tông chúng ta rất nhiều đều chỉ biết một mà không biết mười, điều này rất phiền phức. Khổng Tử từng nói một câu, có một loại người không thể dạy, “người chỉ biết một mà không biết mười, không thể dạy”. Có nghĩa là gì? Ví dụ Khổng Tử nói với đệ tử: “Này! Chỗ anh để cái chuông kim cang bị bẩn rồi, anh hãy lau đi!” Anh ta liền cầm miếng vải lau chỗ đó một lúc, anh ta không biết rằng bên này cũng phải lau, bên kia cũng phải lau, bởi vì cái bàn có bốn góc mà. 

Những người mà chỉ biết một góc và không biết những góc khác thì không thể dạy, đây là điều Khổng Tử nói. Cho nên phải học một biết mười, tức là bảo bạn lau chỗ bẩn đó thì bạn phải lau toàn bộ cái bàn, đây gọi là từ một mà suy ra ba. Bởi vậy Khổng Tử cũng hy vọng trong số các đệ tử của mình có nhân tài biết như vậy, đều phải biết cần làm như thế nào.

Nhân tài này phải có trí huệ rất cao, có phúc báo rất lớn, là nhân tài đốn ngộ chân chính. Nhưng mà rốt cục chúng sinh của thế giới Ta Bà này đều cần phải tiệm ngộ thì sẽ tốt hơn, bắt đầu dần dần từ cơ sở. Mật giáo cũng như thế, bắt đầu từ cơ sở cho đến đại pháp sâu nhất, cao nhất.

Tôi cảm thấy bản thân tôi cũng không phải là rất thông minh, mà là rất dốt, tôi tu pháp cũng là bắt đầu từ cơ sở. Pháp Tứ gia hành vô cùng quan trọng, mỗi một đệ tử quán đảnh quy y nhập môn trước tiên phải tu Tứ gia hành. Tứ gia hành này trong Mật giáo được gọi là Thứ tự sinh khởi.

Vậy thì Thứ tự sinh khởi làm cái gì? Ở đây có một so sánh. Ở trên đồng ruộng, chúng ta muốn cây sinh trưởng thì phải làm cái gì? Đầu tiên phải làm đất, phải xới lật đất lên, sau khi xới đất thì phải diệt cỏ, cỏ ở trên đất đều phải loại trừ hết, những loại cỏ rác không tốt đều phải loại trừ hết. Còn phải bón phân, phải lấy phân bón đem rải ra, như vậy tức là đã khiến cho thổ nhưỡng ban đầu không tốt trở thành thổ nhưỡng tốt rồi.

Vậy thì làm đất, xới đất, trừ cỏ, bón phân chính là công phu Tứ gia hành, so sánh này cực kì rõ ràng. Bạn không làm những việc này thì mảnh đất này không phải là đất tốt, sao có thể trồng được cây trái tốt chứ? Không thể nào. Vậy thì bạn xem pháp Tứ gia hành có quan trọng không?

Bởi thế lại nói rằng pháp Gia hành chính là nền móng của một tòa tháp. Bạn muốn xây một tòa tháp thì phải có cái móng tháp, bạn xây tháp không thể nào bắt đầu xây từ phía trên được, nhất định phải làm từ nền móng trước. Vì thế pháp Tứ gia hành là cơ sở của Mật giáo. Nhất định phải làm như vậy, phải làm vững chắc. Hiện nay Trung Quốc Đại Lục thường nói phải “đắp nền”, chính là phải rất vững chắc, rất chân thực, thiết thực, bạn làm tốt cái nền móng thì gọi là “đắp nền”. 

Pháp Tứ gia hành nói rằng khi bạn bắt đầu học Mật giáo, nhất định trước tiên phải luyện công phu này cho thật chắc chắn, sau đó cơ sở Mật giáo mà bạn xây dựng lên sẽ vô cùng vững chắc. Nếu bạn không làm vững chắc, cái tháp này sẽ nghiêng đổ, sẽ không kết được quả ngon, thổ nhưỡng xấu thì sẽ không thể trồng được quả ngon.

Rất nhiều đệ tử hỏi tôi nên tu cái gì trước? Tôi luôn nói là Tứ gia hành. Nhất định phải tu Tứ gia hành, bạn không thể một bước lên trời được. Mật giáo coi trọng thứ tự, đây chính là Thứ tự sinh khởi. Sau đó bạn tu đến Đại thủ ấn, Đại viên mãn, Đại viên thắng huệ, Đại uy đức, đây chính là Thứ tự viên mãn, đã viên mãn rồi.

Cái gọi là viên mãn tức là chấm dứt sinh tử, phương pháp mà bạn có thể chấm dứt sinh tử, phương pháp rất trực tiếp chấm dứt sinh tử gọi là Thứ tự viên mãn. Một so sánh chính là giống như bạn tốt nghiệp lấy bằng tiến sĩ, tiến sĩ này chính là Thứ tự viên mãn, việc học tập của bạn đã đạt đến cảnh giới viên mãn rồi. 

Hôm nay nói đến đây đã. Om mani padme hum.

26/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 077. Pháp Tứ gia hành (2)


Tôi lại nói với mọi người về pháp Tứ gia hành. Trong pháp Tứ gia hành của Mật giáo rốt cục là bao gồm cái gì? Nó bao gồm pháp Đại lễ bái, pháp Đại cúng dường, pháp Tứ quy y và pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát. Tu bốn pháp này tức là đang làm công phu Tứ gia hành.

Vì sao phải làm pháp Đại lễ bái? Quan trọng nhất của Đại lễ bái là muốn bạn kính lễ tất cả mười phương Phật, mười phương Pháp, mười phương Tăng, kính lễ Phật Bồ Tát trong hư không. Bạn phải thực tiễn thực hành đại lễ bái, có kiểu đại lễ bái toàn thân chạm đất, còn có kiểu lễ bái quỳ một nửa của Hiển giáo, còn có kiểu quán tưởng đại lễ bái của Chân Phật Tông chúng ta. Có rất nhiều phương pháp đại lễ bái.

Nhưng trên thực tế, pháp này có thể làm mềm dẻo thân thể bạn, khiến cho bạn trở nên vô cùng khỏe mạnh, khiến khí mạch của toàn thân bạn rung động. Còn có kiểu đại lễ bái toàn thân nằm hẳn xuống đất nữa. Chúng ta làm đại lễ bái này, mọi người cũng không được lười biếng, tốt nhất là bạn cũng đếm số lượng, tổng cộng cần phải làm mấy vạn biến, hoặc là mấy chục vạn biến, thậm chí là một trăm vạn biến đại lễ bái.

Việc này có thể bồi dưỡng thân thể bạn khỏe mạnh, rất có lợi đối với sự lưu thông của khí mạch, chẳng khác gì phương pháp vận động kiêm lạy Phật. Lạy Phật có thể bồi dưỡng tâm từ bi của bạn, khuất phục tâm ngạo mạn tự cao tự đại của bạn. Sau khi bạn lạy Phật, duyên của bạn và Phật sẽ tương đối gần gũi, đây cũng là một phương pháp rất tốt để kết duyên với Phật. Đó là pháp Đại lễ bái.

Pháp Đại cúng dường của Mật giáo chính là quán tưởng cúng dường, đem những thứ mà bạn yêu nhất, thích nhất ra để cúng dường Phật Bồ Tát. Dùng quán tưởng cúng dường chính là để huấn luyện sức quán tưởng của bạn, biến thứ này thành một hàng, biến thành một mặt phẳng, rồi lại biến thành một khối đầy ắp trong hư không. Làm quán tưởng cúng dường chính là đại cúng dường.

Cách cúng dường này trong Hiển giáo mà nói thì đương nhiên là hiếm, còn trong Mật giáo thì đều phải làm đại cúng dường, biểu thị cúng dường này là vô cùng vô tận, có thể khiến bạn có được phúc báo, phúc báo rất lớn. 

Chúng ta đem thứ mà mình thích nhất cúng dường Phật, cúng dường pháp, cúng dường tăng, cúng dường chúng sinh, chính là một dạng bố thí. Nhưng chúng ta làm đại cúng dường cũng phải đếm số lượng, bạn phải làm bao nhiêu biến đại cúng dường, mười vạn biến, trăm vạn biến, kiểu như vậy, tự bạn phải chăm chỉ tu tập. 

Tiếp theo là phải niệm chú Tứ quy y. Tứ quy y là làm gì? Chú Tứ quy y là biểu thị bạn và Phật, và pháp, và tăng, và Kim cương Thượng sư kết hợp chặt chẽ với nhau. Ý nghĩa của quy y là nương dựa, là nhờ cậy, là hợp nhất, cùng với Phật hợp nhất chính là ý nghĩa của quy y. Cho nên chúng ta thường xuyên cần niệm chú: “Na-mô gu-ru pây, na-mô pút-ta yê, na-mô ta-mô yê, na-mô sâng-kya yê.” Ý nghĩa chính là quy y Kim cương Thượng sư, quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng, đây gọi là chú Tứ quy y.

Khi bạn niệm chú Tứ quy y, tức là nói rằng bạn nương dựa vào Kim cương Thượng sư, Phật, pháp, tăng. Tăng ở đây là chỉ tăng Thánh hiền, quy y Thánh hiền. Bạn thường xuyên niệm chú này tức là biểu thị bạn và Phật pháp tăng kết duyên rất sâu sắc. Ngày ngày không quên, giờ giờ không quên đi nương dựa, đi nhờ cậy, đi hợp nhất chính là quy y. 

Cho nên bạn thường xuyên niệm chú quy y này cũng lấy cơ sở là làm mười vạn biến, trăm vạn biến. Tương lai bạn sẽ không rời xa Kim cương Thượng sư, rời xa Phật, rời xa pháp, rời xa tăng, vĩnh viễn ở cùng nhau, ý nghĩa chính là nằm ở đây. 

Bạn còn phải niệm rất nhiều chú ngữ khác nữa, chú ngữ của chúng ta đều rất có ý nghĩa, rất có pháp vị. Ví dụ Om Ah Hum cũng rất có ý nghĩa. Giả sử sau này bạn hiểu rõ ý nghĩa sâu nhất của chú ngữ này, bản thân bạn sẽ cảm thấy bạn đang niệm tâm của vũ trụ, tâm của toàn bộ ý thức vũ trụ. Nếu bạn niệm Om Ah Hum sẽ cảm thấy có một khối chân khí dội xuống đầu bạn, chú ngữ của Phật Bồ Tát đều là như vậy.

Vì thế phải niệm rất nhiều chú ngữ, phải niệm mười vạn biến, trăm vạn biến, chú ngữ của Bồ Tát có tương quan, chú ngữ của Thượng sư, chú ngữ của Bổn tôn bạn, tất cả đều phải niệm, điều này rất quan trọng, đều nằm trong phạm vi của gia hành.

Ngoài ra còn có Kim Cang Tâm Bồ Tát là làm gì? Bạn phải sám hối, những nghiệp chướng nhiều đời nhiều kiếp của bạn trong đời quá khứ, đời hiện tại, đều phải loại bỏ hết sạch sẽ giống như diệt cỏ dại vậy. Pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát chính là cảnh giới Không, tiêu trừ toàn bộ những ác nghiệp của quá khứ. Đây là một pháp sám hối rất tốt, tương đương với bạn đang làm sám hối. Bạn sám hối cái gì? Sám hối những nghiệp không tốt mà đời này bạn đã tạo ra, sám hối đời quá khứ, rất nhiều đời, mỗi đời đều sám hối hết, phải loại trừ sạch sẽ những cỏ dại không tốt này, biến thành một mảnh đất sạch sẽ. Pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát có tác dụng này, hơn nữa đây cũng là một pháp rất tốt.

Pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát tương đương với khởi đầu tu pháp Mật giáo, có nghi quỹ hoàn chỉnh, còn bạn tu pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát cũng tương đương với làm sám hối. Thỉnh cầu Phật Bồ Tát ban cam lộ quán đỉnh, nghiệp chướng thân thể bạn được tiêu trừ, thật tốt làm sao! Đây là một pháp sám hối rất tốt, tương đương với việc diệt cỏ để biến thành một thổ nhưỡng sạch sẽ, tương lai bạn sẽ bắt đầu gieo hạt, bắt đầu thành cây, thành mầm, thành cành, thành lá, có được quả ngon, đây chính là Tứ gia hành.

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum. 

26/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 078. Nói về thần thông (1)


Hôm nay chúng ta cần nói về thần thông. Chúng ta có thể nói về thần thông, chứ không phải là không được nói đến. Mật giáo còn được gọi là Thần thông tông, vì sao lại có hiện tượng thần thông? Bởi vì trong quá trình bạn tu Mật sẽ sinh ra một dạng sức mạnh, sự sinh ra pháp lực này chính là thần thông. 

Vì sao gọi là thần thông? Không thể nghĩ, không thể đoán, không thể dùng não của người bình thường để tưởng tượng được, không có cách nào đoán chừng được, sự biến hóa này, hiện tượng thần biến này đều có thể gọi là thần thông. Người học Mật đều biết, khi tinh thần tập trung lại sẽ sản sinh ra một loại sức mạnh, một loại pháp lực sẽ sản sinh ra, pháp lực này có thể có rất nhiều công dụng, thì gọi là sức mạnh của thần thông.

Chúng ta biết rằng có sáu thần thông. Với Phật mà nói thì Phật có sáu thần thông, vậy thì người bình thường vẫn chưa tu chứng thành Phật có thần thông không? Cũng có thể có thần thông. Từ đó kết luận rằng, chỉ cần bạn tu chứng, chứng minh rằng bạn là người khai ngộ, bạn nhất định sẽ có thần thông, nhưng người chưa khai ngộ trong quá trình tu pháp cũng có thể có thần thông. Điều này có thể nói rằng, người có thần thông không nhất định là người khai ngộ, nhưng người khai ngộ thì nhất định sẽ có thần thông. Đây là một kết luận về thần thông.

Vậy thì bản thân Lư Sư Tôn có thần thông không? Tạm thời là một dấu chấm hỏi. Thế nhưng trên thực tế, ở trong đại pháp hội tại sân bóng của chính phủ Hồng Kông, có một cháu bé đã ngồi xe lăn ba năm, khi ấy tôi nói rằng, buổi tối hôm nay sẽ làm cho người ngồi trên xe lăn đứng dậy được. Thế rồi cháu bé đã ba năm ngồi trên xe lăn đó không ngờ đã đứng dậy, khi ấy có rất nhiều phóng viên báo chí đều nhìn thấy.

Những phóng viên báo chí đó đều muốn phỏng vấn tôi, tôi nói với họ rằng pháp hội buổi tối ngày hôm nay có *power **[sức mạnh]*, có pháp lực. Phóng viên đó liền nói với tôi: “Tôi đã thấy rồi, tôi thật sự nhìn thấy rồi, đúng là có *power*.” Bởi vì phóng viên đó ngồi ngay bên cạnh cháu bé ngồi trên xe lăn, cho nên anh ta cứ muốn phỏng vấn tôi.

Buổi tối hôm đó, một cháu bé người thân của Thượng sư Liên Mãn trên đầu có một cái nhọt được bế đến để tham gia pháp hội. Trên đầu có mọc một cái nhọt, cái nhọt tròn vo đó rất rõ ràng, ngày hôm sau, chưa cần tới mấy ngày, nó liền biến mất rồi, cái nhọt đó không còn nữa, hoàn toàn phẳng phiu. Buổi tối hôm đó chính là một pháp hội có *power*.

Nói một cách thẳng thừng ra thì đó là pháp hội thần thông. Bạn có thể đi tham dự một lần pháp hội thần thông kiểu này thì cực kì đó. Có người ngồi ở đó, vốn dĩ xương của họ bị cong vẹo, khi tham gia pháp hội, anh ta ngồi ở đó đột nhiên cảm thấy có một khối sức mạnh ùa tới, thế rồi xương cứ kêu khục khặc khục khặc, sau khi trở về thì xương hình chữ S này đã thẳng lại, thật sự là đã thẳng ra.

Tuy nhiên tôi nói rất thẳng thắn, pháp hội thần thông chữa bệnh giống như thế này rất khó gặp, vì pháp hội này mà tôi cũng nhịn ăn. Không phải là bản thân tôi không ăn, mà là Phật Bồ Tát bảo tôi không được ăn, thế là không thể ăn được. Liên tục mấy ngày liền tôi đều không thể ăn được, chỉ có uống nước ép dưa hấu. Đại pháp hội ở sân bóng chính phủ Hồng Kông đích thực là như vậy.

Bản thân tôi ba ngày ba đêm đều tu pháp, hơn nữa cả người tôi gần như ở trong trạng thái nửa hôn mê, bởi vì muốn phát huy sức mạnh của chính mình thì trước tiên chính mình phải tu rất nhiều pháp, phải cấm đoán chính mình, nghĩ cách để tinh thần phải thống nhất, phải lấy hết tất cả sức mạnh ra, vì thế mà sản sinh ra hiện tượng này.

Cho nên đại pháp hội lần đó thật sự rất kì diệu, rất nhiều sự tích cảm ứng, rất nhiều rất nhiều, đây chính là pháp hội thần thông, đây chính là thần thông. Còn có rất nhiều thần thông, các sự việc tương lai bạn đều có thể biết được, đây là một dạng năng lực của diệu quan sát. Bất kì sự việc gì bạn đều có thể thành tựu, trong lòng bạn nghĩ gì đều thành tựu. Trong lòng người khác nghĩ gì, bạn nhìn một cái là thấy ngay, những việc rất xa bạn cũng có thể nhìn thấy, âm thanh trong vũ trụ bạn đều nghe thấy, trong lòng người khác nghĩ gì bạn đều biết.

Quá khứ của bạn đều hiểu rõ hết, thậm chí bản thân bạn có thể thay hình đổi dạng đến một nơi khác. Mấy ngày trước tôi vừa đi đến một nơi khác, mấy ngày đó tôi trở về nói, tối hôm qua tôi đã tới đó đấy. Thế thì hay quá rồi. Không cần phải mua vé máy bay, thần túc là có thể đi rồi. Nhìn mọi thứ rất rõ ràng giống như nhìn lúc ban ngày vậy, ngay cả âm thanh mà người bên cạnh nói, bạn cũng đều nghe được họ đang nói cái gì. Bạn nói xem như vậy có rõ ràng hay không. Tôi nhìn thấy rõ cả quầy bán báo. Họ nói chuyện với tôi, tôi mua tờ báo của họ, đều cực kì rõ ràng, đây chính là thần túc thông.

Còn có lậu tận thông, thế nào gọi là lậu tận thông? Tất cả phiền não đều giải trừ, bạn không có phiền não gì, tất cả đều vô lậu rồi, bao gồm cả trí huệ của bạn cũng viên mãn, đây là Phật trí của Như Lai. Vô lậu, không có một khuyết điểm nào thì gọi là lậu tận thông, một chút phiền não đều không có, đều đã loại bỏ hết, trí huệ vô cùng viên mãn, hiện tượng tất cả đều vô lậu, thành tựu tất cả Phật quả viên mãn thì gọi là lậu tận thông. Có đầy đủ sáu thần thông thì chính là Phật.

Hôm nay tôi nói với mọi người đến đây. Om mani padme hum.

27/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 079. Nói về thần thông (2)


Tôi lại nói với mọi người một chút về thần thông. Rất nhiều người nói Sư Tôn chuyên môn nói thần thông, thật ra không phải là chuyên môn, là thỉnh thoảng nói một chút mà thôi. Chẳng qua là muốn cho mọi người có một quan niệm về thần thông: mục đích chủ yếu nhất của người học Phật chúng ta là chấm dứt sinh tử, là phải đoạn trừ phiền não, phải thành tựu quả vị Phật Bồ Tát, đây là mục tiêu của chính bạn. Thế còn thần thông chỉ là một sản phẩm phụ, từ bên cạnh nó sẽ tự nhiên sinh ra. Vì thế, người học Phật chúng ta đừng chạy theo thần thông, tôi thật sự muốn nói với mọi người về quan niệm này.

Giả sử bạn theo đuổi thần thông, vậy thì bạn sẽ chạy theo rẽ nhánh rồi, mục tiêu của bạn là thành tựu quả vị Phật Bồ Tát, là chấm dứt sinh tử, là đoạn trừ phiền não, chứ không phải là mưu cầu thần thông. Thần thông tự nó sẽ tự nhiên xuất hiện thôi, bạn không cần phải tìm cầu nó, nó sẽ tự đến, đây là một quan niệm rất quan trọng.

Vì thế ban đầu, Phật Thích Ca Mâu Ni đối với những hiện tượng thần thông không có ý nghĩa này, ngài không hy vọng các đệ tử của mình sẽ theo đuổi, có nghĩa là bạn có theo đuổi thần thông cũng không có ý nghĩa gì. Giống như có một kẻ ngoại đạo treo cái túi ở trên cây, một cái cây rất cao, rồi bảo đệ tử của Phật lấy xuống, trong đó có một vị La Hán liền nhẹ nhàng nhún người lên, nhẹ nhàng bay lên trên ngọn cây, lấy cái túi đó xuống. Phật Thích Ca Mâu Ni liền quở trách vị La Hán này, ngài nói: “Việc này chẳng có chút ý nghĩa nào.” Vì thế bạn sử dụng thần thông, đôi khi không cần tự mình làm, mà là nó sẽ xảy ra rất tự nhiên, không cần cố ý làm cũng tự nhiên có thần thông.

Vì thế trong những câu chuyện Phật giáo, trước kia vào thời đại của Phật Đà có rất nhiều sự tích thần thông. Phật Thích Ca Mâu Ni cũng có rất nhiều sự tích thần thông, những điều này đều là tự nhiên bộc lộ, có ý nghĩa. Và thần thông cũng có mấy lợi ích, thứ nhất là nó có thể thu hút quần chúng, bởi vì bạn sản sinh ra hiện tượng thần thông sẽ khiến rất nhiều chúng sinh biết được mà đến. Thứ hai, nó có thể gia tăng lòng tin của đệ tử, lòng tin sẽ khá kiên cố. Phật lý đương nhiên có thể gia tăng lòng tin của chúng ta, nhưng trên thực tế thần thông cũng có thể gia tăng lòng tin của đệ tử. Bởi vậy tôi cho rằng thế này: bạn có thần thông có ý nghĩa tự tâm bộc lộ thì được, nhưng thần thông vô nghĩa thì không được nói bừa, không được nói về nó.

Chúng ta biết rằng thần thông có khi không nhất định là công lực của bản thân bạn, ví dụ chúng ta làm hỏa cúng, làm Hộ Ma, Bổn tôn của bạn sẽ trợ giúp bạn, Hộ pháp của bạn cũng sẽ đến, đều ở xung quanh bạn. Vậy khi bạn làm hỏa cúng, những Hộ pháp đều sẽ giúp đỡ bạn.

Có người này bị bệnh sỏi mật, bạn làm xong hỏa cúng, Hộ pháp sẽ đi đến chỗ của người bệnh đó, lấy sỏi ra khỏi mật của người bệnh đó, lấy hết ra. Tôi nói với người đó, một tháng sau hãy đi kiểm tra sức khỏe, chụp X-quang, xem xem trong mật có còn sỏi hay không. Kiểm tra xong, ấy, sỏi đã không còn nữa rồi.

Có người bị sỏi thận, bị sỏi bàng quang, sỏi cũng tiêu biến mất, khối u cũng không còn, ngay cả ung thư cũng không còn. Rất nhiều những căn bệnh kì quái một lúc sau đã biến mất tiêu. Chính là vì bạn làm hỏa cúng để tiêu tai, không phải là bạn đi lấy sỏi ra, khiến cho người ta khỏi bệnh. Mà là Bổn tôn và Hộ pháp xung quanh bạn đã đi làm việc này, trong Mật giáo có điều này.

Vì thế đôi khi chúng ta giúp người ta làm pháp tiêu tai đều là Hộ pháp đi giúp đỡ, Hộ pháp bay đi làm việc. Mỗi lần bạn nhìn thấy Sư Tôn làm cúng dường, thỉnh cầu mau mau đạt được nguyện vọng, sau đó đặt cúng phẩm này xuống, rồi Hộ pháp tiếp nhận cúng dường cũng giống như đã nhận pháp chỉ. Lập tức thỉnh cầu Hộ pháp nhanh chóng khiến cho nguyện vọng này đạt thành, và rồi Hộ pháp nghe xong, lập tức sẽ “cấp cấp như luật lệnh” mà rất nhanh chóng nhanh chân như thần, lập tức xuất phát để làm xong việc này.

Rất nhiều việc không thể nào đạt thành, có nghĩa là việc rất khó hoàn thành, bởi vì có Bổn tôn vô hình và Hộ pháp vô hình đi giúp bạn làm, thì tự nhiên sẽ thành, tự nhiên tất cả đều làm xong. Sự việc bất khả tư nghì kiểu này chính là thần thông.

Pháp lực mà bản thân bạn tu được chính là sức mạnh tự lực - sức mạnh của chính mình, thế còn pháp lực do Hộ pháp và Bổn tôn làm thì gọi là tha lực. Bởi vậy thần thông có tự lực, có tha lực.

Giống như những tấm ảnh phóng quang của Chân Phật Tông chúng ta, rất nhiều người nói những tấm ảnh phóng quang này là ngụy tạo. Nói thẳng ra, tôi chẳng có thời gian nhàn rỗi để mà đi làm giả những thứ đó để lừa người ta, mà cũng không cần. Nói thẳng ra, Sư Tôn cũng không cần phải làm giả những tấm ảnh phóng quang đó để lừa người, tôi cũng đã đủ bận rộn rồi, làm gì có thời gian để mà làm.

Việc đó đôi khi cũng không phải là tự lực phóng quang, mà là tự tâm bộc lộ, từ bên trong tâm bạn sản sinh ra một tia sáng, nó tự nhiên sẽ tỏa sáng, đây là tự lực tỏa sáng. Nhưng đôi khi cũng không nhất định là tôi tự lực phóng quang, khi chúng ta làm pháp hội, Phật Bồ Tát đến từ hư không, khi các vị gia trì cho bạn, khi các vị phóng một chút ánh sáng đến bạn, vừa hay máy chụp hình chụp được, đó cũng không phải là tôi phóng quang, đó là Phật Bồ Tát ở trong hư không phóng quang gia trì cho bạn. Rất nhiều Phật Bồ Tát, các vị đều tỏa ra rất nhiều ánh sáng, máy chụp ảnh sẽ chụp được những ánh sáng đó.

Bây giờ cũng không chỉ là Sư Tôn phóng quang, rất nhiều đệ tử cũng phóng quang, rất nhiều Thượng sư, pháp sư, họ cũng tỏa sáng. Không chỉ là con người chúng ta phóng quang, Quan Thế Âm Bồ Tát ở Biệt thự Cầu Vồng ngày ngày đều phóng quang, bạn đi chụp hình ngài, kì lạ thay, đều là hào quang, cho nên việc phóng quang này cũng là một kiểu thần thông.

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum.

27/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 080. Sự kế thừa của Mật giáo (1)


Hôm nay chúng ta lại nói một chút về sự kế thừa của Mật giáo. Học Mật giáo buộc phải có sự kế thừa, tức là có truyền thừa. Nói chung, quy y là có truyền thừa, nhưng cũng chỉ là một cơ sở. Sau khi bạn nhận được một quán đảnh nào đó mới có thể tu một pháp nào đó, quy tắc là như vậy. Có một trật tự, một thứ tự.

Truyền thừa của Mật giáo vô cùng quan trọng, vì sao Mật giáo đặc biệt coi trọng sự kế thừa, truyền thừa? Bởi vì trọng điểm của Mật giáo nằm ở sự bí mật. Bởi vì nó có rất nhiều pháp là cực kì bí mật, hơn nữa những bí mật này đều là những bí mật rất sâu, không phải là pháp có tính bình thường, cũng không phải là có thể truyền tùy tiện. Người làm sư phụ phải xem căn khí của bạn mới có thể truyền pháp cho bạn. Bạn có căn khí có thể truyền thì thầy mới truyền thụ cho bạn.

Cho nên nói chung, Mật giáo là có quy tắc. Đệ tử là phi khí, không phải là pháp khí, bạn truyền pháp cho họ thì cũng xem là phạm lỗi. Vậy bản thân đệ tử là pháp khí chân chính mà bạn không truyền pháp cho họ thì cũng là phạm lỗi. Cho nên vấn đề chính là nằm ở đây, rốt cục bạn có phải là pháp khí không? Có thể truyền pháp không? Tầm quan trọng của truyền thừa Mật giáo chính là nằm ở đây. Đệ tử là pháp khí mà không truyền thì là phạm lỗi, đệ tử là phi pháp khí mà truyền thì cũng là phạm lỗi. Pháp bí mật sâu nhất không thể truyền bừa, tôi giải thích với mọi người một chút là mọi người sẽ hiểu rõ thôi.

Ví dụ chúng ta kết thủ ấn, đương nhiên bạn rất dễ dàng nhìn thấy thủ ấn mà tôi kết, đây là một thủ ấn, đây cũng là một thủ ấn (Sư Tôn thị phạm). Bạn nhìn thấy tôi kết thủ ấn này, a, dễ học quá, bạn lập tức học được những thủ ấn này. Nhưng mà trong thủ ấn này có bí mật, trong đó có một cái gọi là “ấn tâm trong tâm”, ấn tâm trong tâm chính là loại thủ ấn mà có thể làm xúc động tâm của Như Lai. Sư phụ sẽ dạy cho bạn, rồi bạn làm động tác đặc biệt đó thì đó gọi là ấn tâm trong tâm. 

Một khi đã làm thủ ấn tâm trong tâm, Phật Bồ Tát nhất định sẽ hạ giáng. Ví dụ ấn tâm trong tâm này, hôm nay giả sử tôi tùy tiện công khai cho mọi người biết, nếu có cháu nhỏ trở về đem thủ ấn tâm trong tâm này ra nghịch chơi, kết quả là Phật Bồ Tát lại đến, nhìn thì thấy, “Hả, chẳng có việc gì mà lại triệu thỉnh ta đến!”, điều này là không thể được. Giả sử bạn truyền thủ ấn tâm trong tâm ra ngoài, tất cả mọi người đều kết ấn tâm trong tâm, việc này sẽ làm loạn mười pháp giới. Tất cả mọi vũ trụ, ý thức tối thượng của vũ trụ sẽ làm bạn loạn hết cả.

Bởi vì có rất nhiều người có huệ lực (sức mạnh của trí huệ) không cao lắm, phiền phức nằm ở đây. Giả sử nhà bạn bị bệnh gà toi, gà chết hai, ba con, họ cũng làm ấn tâm trong tâm, thỉnh cầu Quan Thế Âm Bồ Tát đến, Quan Thế Âm Bồ Tát đến trông thấy, ui chà, thì ra là bệnh gà toi. Một việc nhỏ như vậy mà họ cho rằng là việc rất lớn.

Có khi bạn gái chia tay anh ta, anh ta cũng làm một ấn tâm trong tâm, triệu thỉnh Tứ Đại Thiên Vương giáng xuống. Toàn bộ Tứ Đại Thiên Vương đều đến, rất căng thẳng, cầm pháp khí, có chuyện gì vậy? Thế rồi thấy chỉ là bạn gái đã chạy mất thôi mà! Hoặc là vợ bạn đánh bạn, bạn cũng thỉnh Tứ Đại Thiên Vương đến, đúng là kêu Phật Bồ Tát lo chuyện bao đồng. Đây chính là nguyên nhân của việc không thể truyền bừa ra ngoài, một đạo lý rất đơn giản.

Mọi người nghĩ xem, thứ này không thể truyền bừa. Cho nên ấn tâm trong tâm là phải chọn người mà truyền, bạn thật sự đang làm pháp vụ, là một hành giả chân chính thì mới có thể truyền.

Ví dụ còn có pháp Kim cang quyền, cũng có rất nhiều kĩ xảo ở trong đó. Nếu bạn muốn học một bộ quyền thuật, nhất định phải bái sư phụ, bạn không thể chỉ đọc sách là có thể học được. Cho nên quyền pháp nhất định phải có sư phụ trực tiếp đối diện với bạn, dạy cho bạn từng đường quyền một thì bạn mới có thể học được. Trong quyền thuật có khẩu quyết, có tâm yếu, cho nên cái này nhất định phải có thầy dạy. 

Chúng ta biết rằng Kim cang quyền là dẫn dắt khí của thân thể bạn, là công cụ dẫn dắt. Nó sẽ làm luân xa của bạn nới lỏng ra, mở ra, phải vận minh điểm. Kim cang quyền tuy là vận động bên ngoài, nhưng trên thực tế khí mạch và minh điểm bên trong đều thuận theo quyền pháp mà vận động.

Bạn có thể làm cho chất lỏng ở Mi tâm luân giáng xuống, đi qua Hầu luân, khiến Tâm luân của bạn mở ra, khiến Tề luân của bạn đều nới lỏng ra, khiến Mật luân của bạn biến thành cực kì có lực, đây đều là kĩ xảo bí mật. Kim cang quyền không phải là có thể tùy tiện, không phải là đánh mấy bộ quyền thuật, vuốt mấy cái, xoay mấy cái là xong, không phải như vậy. Nhất định phải có sư phụ dạy, đó là Nội pháp, cũng xem như là công phu của Mật pháp.

Vì thế Mật giáo coi trọng quyền pháp - Kim cang quyền phải phối hợp với Nội pháp mới có thể khiến thân tâm của bạn đều hóa thành cầu vồng, đạt được đại thành tựu thành Phật, đây đều là bí mật. Pháp Kim cang quyền trong Mật pháp là bí mật, Nội pháp cũng là bí mật, nó có những công phu hạ xuống, nâng lên, giữ vững, thả lỏng… Trong đó có rất nhiều khẩu quyết bí mật, trên thực tế cũng cần phải có từng pháp, từng pháp, từng khẩu quyết, từng khẩu quyết, từng động tác, từng động tác, từng kĩ xảo, từng kĩ xảo, phải dạy như vậy mới biết được. Cũng phải dựa vào thời gian nữa, phải theo thời gian mà làm, lúc nào thì làm động tác nào, cái này cũng không thể nào học từ trong sách được. Cho nên đây chính là tầm quan trọng của sự kế thừa, tầm quan trọng của truyền thừa. 

Hôm nay giảng đến đây. Om mani padme hum.

28/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 081. Sự kế thừa của Mật giáo (2)


Lần trước tôi đã nói về tính quan trọng của truyền thừa Mật giáo rồi, hôm nay tôi tiếp tục nói về truyền thừa. Các bạn biết về tam căn bản của Mật giáo rồi đó. Chính là Căn bản Thượng sư, Căn bản Bổn tôn, và Căn bản Hộ pháp.

Căn bản Thượng sư chính là gia trì cho cái gốc của bạn, sau khi bạn quy y Thượng sư Mật giáo rồi, bạn thường xuyên phải quán tưởng Căn bản Thượng sư gia trì cho bạn, Thượng sư trụ đỉnh và liên tục gia trì cho bạn, nhất định cần như vậy, cho nên tầm quan trọng của truyền thừa chính là ở đây.

Thông thường, bạn quy y sư phụ Hiển giáo xong thì bạn trở về nhà tự mình tu. Trở về nhà tự mình đọc kinh, xem kinh điển, niệm Phật, đại khái là như vậy, biết được một ít Phật lý rồi cứ thế niệm Phật.

Mật giáo thì khác, bạn từng giờ từng phút phải quán tưởng Căn bản Thượng sư trụ đỉnh gia trì cho bạn. Tính quan trọng của truyền thừa nằm ở đây. 

Hôm qua tôi nói về quyền pháp Kim cang quyền, đối với thân thể thật sự rất quan trọng. Bởi vì khí của bạn đi như thế nào? Thượng hành khí đi tới đâu? Hạ hành khí đi tới đâu? Bình trụ khí đi tới đâu? Mệnh khí ở đâu? Biến hành khí ở đâu? Nó có một con đường nhất định. Bạn dùng ý để dẫn dắt, không được có sai sót, việc này cũng cần sư phụ nói với bạn kĩ càng. Khi có tình huống gì, sư phụ phải nói với bạn cần xử lý ra sao.

Thế nào gọi là khí kết? Khí của bạn kết chặt lại rồi, vậy phải làm thế nào để làm lỏng nó ra? Muốn hạ, muốn nâng, muốn giữ, muốn tán, đều có quyền pháp, có công phu của ý niệm. 

Sự sắp đặt đàn thành Mật giáo chúng ta cũng cần có sư phụ chỉ điểm kĩ lưỡng. Đặc biệt là có những đàn pháp không công khai lại càng cần có sư phụ chỉ dẫn mới có thể sắp đặt. Đàn pháp có cái gọi là “ngoại đàn” - là công khai, có thể để cho mọi người nhìn thấy. Còn có “nội đàn” - là không công khai. 

Bạn nói: “Này, tôi muốn xem nội đàn của anh!” “Tôi không công khai, làm sao mà anh có thể xem được?” 
”Nội đàn của tôi ở bên trong đó, không thể để cho anh xem.”

Nội đàn dùng để làm gì? Rất nhiều pháp bí mật nhất định phải tu ở trong nội đàn. Ví dụ pháp hàng phục là pháp bí mật. Giả sử bạn công khai pháp hàng phục, vâng, hôm nay tôi muốn hàng phục ai, tôi thấy là bạn còn chưa hàng phục được họ thì họ đã hàng phục bạn mất rồi. Pháp hàng phục là không công khai, hơn nữa cách bày đàn pháp của pháp hàng phục là cực kì đặc thù.

Mật giáo còn có Vô thượng mật bộ cũng là không công khai. Vì sao không thể công khai Vô thượng mật bộ? Bởi vì tu pháp của nó vô cùng đặc thù, là một loại bí mật trong bí mật. Vì thế, bản thân Mật giáo có samaya, chính là một loại lời thề. Bạn thâm nhập vào trong Mật pháp, tiến vào bên trong samaya, có rất nhiều bí mật không thể công khai thì bạn không được công khai. Bởi vì nếu có một ngày công khai thì sẽ không còn là bí mật nữa, đã không còn là bí mật tức là bạn đã không thể giữ samaya rồi. Mà đã không thể giữ samaya tức là đã phá vỡ samaya, nếu phá vỡ samaya, rất nhiều Hộ pháp sẽ không sinh ra tâm hoan hỷ nữa.

Chúng ta biết rằng Vô thượng mật bộ có pháp Thích Ca lục thế biến, có cái gọi là Minh phi cửu thức, những cái này đều là kĩ xảo, toàn bộ đều là kĩ xảo. Tôi đã nói rồi, kĩ xảo tức là vào khoảng thời gian nào nên vận dụng kĩ xảo nào, vào khoảng thời gian nào phải làm loại Kim cang quyền nào. Vào khoảng thời gian nào phải nắm bắt cực kì chuẩn. 

Nắm bắt tức là giống như trước đây chúng ta xào lươn phải đảo ba lần rưỡi, đảo một cái, hai cái, ba cái, rồi lửa bốc lên, rồi phải đảo thêm nửa cái nữa. Vì sao vậy? Bởi vì làm như vậy thì lươn mới có thể vừa chín tới, đúng lúc giòn tan. Đảo bốn cái thì bị quá chín rồi, quá chín thì sẽ bị nát mất, đảo ba lần thì vẫn còn sống, cho nên phải đảo ba lần rưỡi, xào cái thứ này phải ba lần rưỡi thì tức là nắm bắt rất chuẩn.

Nếu không có Căn bản Thượng sư dạy bạn những kĩ xảo này (chính là phương pháp kĩ thuật), bạn nắm bắt không chuẩn thì sẽ xuống địa ngục kim cang đó. Cho nên phép tắc rất nghiêm ngặt.

Khí của bạn đi tới đâu mà không thông, khí đến Hầu luân mà không thông, phải xoay như thế nào thì bạn mới thông được. Phải nắn chỉnh như thế nào? Cái này đều có phương pháp, kĩ thuật. Khí đến đâu? Khí đến chỗ này, nhưng bồ đề tâm nguyệt dịch này vì sao không hạ xuống? Cái này cần phải có Thượng sư dạy bạn, dạy bạn mau chóng làm quán tưởng gì thì chất lỏng sẽ giáng xuống. Khi nào thì phải nâng lên? Khi nào phải dùng Thích Ca lục thế biến? Vào thời khắc nào thì bạn phải nâng? Nếu như vào thời khắc đó bạn có thể nắm bắt được đúng lúc, nâng nó lên thì sẽ thành công. Vào thời khắc đó bạn không nâng lên, “Bùm!”, thế là toi rồi, sẽ rơi xuống nước, bạn sẽ chết chìm.

Ở trên phim bạn xem máy bay trực thăng cứu người rồi, đưa tay ra một cái, cái thang dây đúng lúc di chuyển tới, tay bạn vừa tóm chắc vào là người liền được kéo lên, đây chính là pháp nâng. Chính là lúc bạn rơi xuống nước, đột nhiên cái thang di chuyển tới, bạn túm chặt lấy, chính vào thời khắc đó, nếu bạn nắm bắt được chuẩn thì bạn sẽ sống. Bằng không, bạn sẽ rơi xuống nước. Mật giáo có pháp này.

Cho nên Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói: “Bạn muốn tu Mật pháp của tôi cũng giống như lấy ngọc trong miệng rắn độc.” Vào thời khắc đó đúng lúc miệng con rắn mở ra, cái răng đúng lúc lệch qua một bên, bạn lập tức đưa tay vào lấy viên ngọc ra. Lúc nó sắp ngậm miệng lại mà bạn lại thò tay vào lấy ngọc thì bạn chết chắc rồi. Cho nên nắm bắt chuẩn xác là cực kì quan trọng.

Mật giáo chính là có loại pháp này, vào thời khắc nguy cấp giữa sống và chết, bạn được độ bằng Hồng quang đại thành tựu. Cái này nhất định phải có Thượng sư đích thân truyền, đích thân quán đảnh cho bạn, đích thân truyền cho bạn, đích thân dạy bạn, dạy bạn mọi nghi quỹ, kĩ xảo thì bạn mới biết được, không có Căn bản Thượng sư thì sẽ không thành. Tính quan trọng của truyền thừa Mật giáo chính là ở đây. 

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

28/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 082. Khẩu quyết quan trọng nhất của Mật giáo (1)


Hôm nay tôi nói với mọi người về một khẩu quyết quan trọng nhất của Mật giáo. Khẩu quyết này nói rằng: “Bạn chính là Phật, Phật cũng chính là bạn.” Bất kể nói như thế nào, bạn chính là Phật, Phật chính là bạn. Đây chính là một khẩu quyết quan trọng nhất của Mật giáo.

Bản thân tôi nghiên cứu Phật pháp, phát hiện ra khẩu quyết này không chỉ trong Mật giáo có, thậm chí là phái khác cũng dùng khẩu quyết này. Tôi không nói có lẽ mọi người không biết, nói rồi các bạn sẽ hiểu rõ, khẩu quyết này vô cùng quan trọng.

Thật ra học Phật phân thành mấy hệ phái. Có phái gọi là Chân Như, người nói đến phái Chân Như sớm nhất có lẽ là Phật Nhiên Đăng. Phái Chân Như có thể nói là trực tiếp ấn tâm. Tâm của Phật và tâm của đệ tử trực tiếp tương ứng thì thuộc về phái Chân Như. Phái Chân Như là một chủ trương quan trọng nhất của Phật Nhiên Đăng. Trực tiếp ấn tâm cũng chính là nói rằng bạn chính là Phật, tôi là Phật, tôi ấn chứng bạn, cho nên bạn cũng là Phật, đây chính là phái Chân Như.

Còn có phái Bát Nhã, người nói về Bát Nhã chính là Phật Thích Ca Mâu Ni. Phật Thích Ca Mâu Ni có thể nói là thuộc phái Bát Nhã. Phật Đà nói thế nào? Chúng ta biết về tứ Thánh đế, lục độ, lục ba la mật, bát chính đạo, thập nhị nhân duyên, đều là Phật Đà nói. Sau cùng thì Phật Đà nói một câu, ở dưới cây bồ đề khi ngài khai ngộ, ngài đã nói một câu: “Thì ra chúng sinh đều có Phật tính.” Chính là câu này, ý nói rằng: “Bạn chính là Phật, Phật chính là bạn.”

Ý nghĩa của Bát Nhã là từ những lý luận Phật huệ như tứ Thánh pháp, lục độ, bát chính đạo, thập nhị nhân duyên… (trí huệ của bản thân Phật) mà đi nhận ra “bản thân bạn chính là Phật”, đi khai phá, đi loại bỏ hết những chướng ngại đã che mờ trí huệ này, để hiển hiện Phật tính của mình. Như vậy là chứng minh được bạn chính là Phật, Phật chính là bạn. Phật Đà cũng nói chúng sinh đều có Phật tính, cái này thuộc về phái Bát Nhã.

Còn có phái Duy Thức, phái Duy Thức là chủ trương của Di Lặc Bồ Tát, từ sáu thức mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý đến thức thứ bảy, thức thứ tám, thức thứ chín am-ma-la thức đều phải đi khai phá. Am-ma-la thức là gì? Chính là Phật thức. Từ ý thức đi khai phá ý thức. Bên trong chính bản thân bạn có rất nhiều thức, mắt tai mũi lưỡi thân ý đều là thức, đến thức thứ chín của ý thức sâu nhất, khai mở ra thức thứ chín bên trong chủng tử thức của bạn, bên trong ý thức sâu nhất phát hiện ra bạn chính là Phật, Phật chính là bạn. Khai mở Phật tính ra, bạn sẽ thành Phật. Đây là phái Duy Thức.

Còn có Mật giáo mà chúng ta đang tu. Mật giáo là thuộc về hệ phái gì? Mật giáo chính là Du Già - Yoga. Du già chính là nói về tương ứng. Vì sao du già tương ứng nói rằng bạn chính là Phật, Phật chính là bạn? Cái gọi là đạo tương ứng chính là Phật và bạn hợp nhất. Tương ứng chính là Phật và tôi hợp nhất, Phật và bạn hợp nhất. Mật giáo nói về tự thân thành Phật, hợp nhất rồi thì bạn lập tức biến thành Phật, trực tiếp đi vào bên trong cảnh giới của Phật, lập tức biến thành Phật. Phật ta hợp nhất - yoga - du già - tương ứng, chính là tự thân thành Phật, biến chính bạn thành Phật, bạn chính là Phật, Phật chính là bạn, đây chính là du già. 

Ở đây đã nói về bốn hệ phái rồi, bốn hệ phái là như vậy đó. Rồi còn có phái Trung Quán. Phái Trung Quán là ai chủ trương? Vừa rồi tôi nói phái Du Già là ai chủ trương? Chúng ta nói đó là tổ sư của Mật giáo, có thể xem là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chủ trương. Vào thời kì cuối của Phật giáo tại Ấn Độ, ngài đã sáng lập ra một tông phái là Mật giáo, nên có thể xem là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chủ trương. Thật ra ở đây còn có mấy nguồn gốc nữa, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ cũng không phải là người sáng lập duy nhất, còn có mấy người nữa, ví dụ Long Thụ Bồ Tát, A Nan, các vị cũng truyền đi như vậy.

Phái Trung Quán chính là Long Thụ Bồ Tát đề xuất, nghiên cứu hữu và vô, hữu và không, không và hữu. Nghiên cứu không quán, nghiên cứu giả quán, sau cùng sẽ sản sinh ra một trung quán, đây chính là phái Trung Quán. Hệ phái Trung Quán trong Phật giáo không thiên về hữu, cũng không thiên về không. Không là nói về tính Không, hết thảy vũ trụ đều là không, đương nhiên ý nghĩa này rất sâu, không phải là tôi tùy tiện nói. Cuối cùng nói đến “chân không diệu hữu”, trong “chân không” có “diệu hữu”, chính là trung quán. Phái Trung Quán không thiên về không, cũng không thiên về hữu, cái thứ rút ra duy nhất ở giữa chính là Phật tính, chính là bồ đề tâm. Điều rút ra ở đây cũng chính là “tôi chính là Phật, bạn cũng là Phật”.

Tôi phân tích một cách đơn giản như thế này, tổng cộng có năm hệ phái: phái Chân Như, phái Bát Nhã, phái Duy Thức, phái Du Già, phái Trung Quán. Năm hệ phái học Phật này, khẩu quyết lớn nhất rút ra được chính là “tôi chính là Phật, bạn chính là Phật”. 

Cho nên nếu bạn có quan niệm này, bạn cần làm hiển hiện Phật tính của mình, khai mở nó, đó chính là thành Phật. Bất kể bạn dùng phương pháp nào, dùng Chân Như, dùng Duy Thức, dùng Bát Nhã, dùng Du Già, dùng Trung Quán, bạn có đi nghiên cứu thế nào cũng đều phải khai phá ra Phật tính của bạn. Cho nên đây là khẩu quyết lớn nhất và cũng là hay nhất.

Om mani padme hum.

29/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 083. Khẩu quyết quan trọng nhất của Mật giáo (2)


Chúng ta đã biết một khẩu quyết lớn nhất như vậy rồi thì phải nói thế này: “Biết được khẩu quyết rồi thì phải đi thực hiện nó.” Thực hiện phải dựa vào bạn thực tu, tu hành trên thực tế, đi ấn chứng được điều đó.

Chúng ta biết Phật Thích Ca Mâu Ni nói: “Chúng sinh đều có Phật tính.” Lúc Phật Đà tại thế cũng từng nói với một quốc vương: “Ngài hỏi tôi cái gì là Phật pháp? Tôi nói với ngài, ngài chính là Phật.” Phật trực tiếp nói như vậy, quốc vương kia nghe xong lập tức khai ngộ, lập tức biến thành Phật.

Lúc này, thật ra là Phật trực tiếp xuyên thẳng vào bên trong nội tâm, lấy Phật tính của ông ấy ra, lập tức chuyển biến, từ đó về sau ông ấy thật sự đã bộc lộ Phật tính rồi, đây là lập tức khai ngộ.

Người có đại trí huệ chân chính, bạn nói với họ “anh chính là Phật”, anh ta nghe xong lập tức sẽ tiêu trừ hết mọi nghiệp chướng, Phật tính sẽ bộc lộ ra, ánh sáng tự tính sẽ hiển hiện ra, đây là người có căn khí lớn nhất.

Có rất nhiều người, bạn nói với họ anh chính là Phật. “Hả! Làm gì có chuyện đó!” Anh ta nói vậy. ”Tôi rõ ràng là một phàm phu thôi, sao có thể là Phật chứ?” Anh ta không tin. Nhưng rõ ràng Phật Đà đã nói rồi, chúng sinh đều có Phật tính, chỉ cần bạn đi thực tu, đi thực hiện thôi.

Chúng ta biết phương pháp của phái Du Già - bốn chữ “Cha Hum Ban Ho”. “Cha” chính là Phật ở trong hư không hiển hiện. Phật ở trong hư không ư? Phật ở đâu? Xa quá! Ngài đến rồi, ngài ở trong hư không.
”Hum”, di chuyển ngài, dịch chuyển ngài đến trước mặt bạn. Chà! Thật rõ ràng. Phật ở trước mặt bạn rất rõ ràng.
”Ban”, di chuyển đến trên đỉnh đầu bạn, có thể gia trì cho bạn, Phật trụ tại đỉnh đầu bạn, gia trì quán đảnh cho bạn. 
”Ho”, Phật tiến vào bên trong thân thể bạn, ẩn bên trong người bạn. 
Đây là Sự pháp của du già. 

Giờ đây mỗi ngày chúng ta làm công khóa, khi tu pháp du già - pháp tương ứng, chữ thứ nhất chính là “Cha”. Bạn ở cách Phật rất xa, khoảng cách rất xa. Phật ở rất xa, lúc này bạn tu, tu pháp “Cha”, thì Phật ở rất xa. “Hum”, Phật đến rồi, ngài đã đến, đến trước mặt bạn. “Ban”, ngài đến trên đầu bạn, đây là pháp thứ ba, tức là càng ngày càng gần, càng đến càng gần. Cuối cùng, “Ho”, ngài đi vào bên trong thân thể bạn. Đúng không? Phật đi vào bên trong thân thể bạn rồi, bạn sẽ cùng ngài hợp nhất, đây chính là tương ứng, chính là du già.

Lúc này, chúng ta biết ngài đã đi vào bên trong thân thể bạn, biến thành y hệt như bạn. Thật ra không phải là ngài biến thành giống hệt bạn, mà là bạn biến thành giống hệt ngài. Lúc này gọi là hợp nhất, hai người biến thành một người rồi. Không phải là như hai mà là như một. Lúc này chính là nhất như, chính là tương ứng rồi. Câu này đã chứng minh “Phật chính là bạn, bạn chính là Phật”. Tức là hai người đã tương ứng rồi, đây chính là du già. Phương pháp của du già là làm như vậy.

Vì thế hôm nay chúng ta học Mật giáo chính là thuộc về hệ phái Du Già, phương pháp Phật từ nơi rất xa tương ứng với bạn, mỗi ngày chúng ta làm công khóa chính là như vậy. Cho nên, trong “Mật Tông Đạo Thứ Đệ Quảng Luận” có cái gọi là “Sự bộ pháp”, “Hành bộ pháp”, “Du già pháp”, và “Vô thượng mật bộ pháp”. “Sự bộ pháp” thì mọi người đã biết rồi, Sự bộ pháp này thật ra ở nơi xa tiến lại gần, ở trên đỉnh đầu hợp nhất với bạn, đây chính là Sự bộ pháp. Khi bạn thật sự hợp nhất rồi thì cũng đại diện cho pháp Vô thượng mật bộ.

Tôi đã giảng “Mật Tông Đạo Thứ Đệ Quảng Luận” rồi, giảng từ đầu tới cuối, chưa từng có ai giảng, chỉ có tôi giảng. Cho nên toàn bộ “Du già bộ pháp”, các bạn đều biết hết cả rồi.

Mọi người đều biết Phật Thích Ca Mâu Ni giảng pháp Bát Nhã, Di Lặc Bồ Tát giảng pháp Duy Thức, Phật Nhiên Đăng giảng pháp Chân Như, Long Thụ Bồ Tát giảng pháp Trung Quán. Bạn muốn học Phật ư? Những pháp này tôi đều biết cả! Xem bạn muốn học pháp gì, tôi đều hiểu, tôi đều biết. Muốn phân tích được tường tận như thế này, trên thế giới này đã rất hiếm có rồi, cái quan trọng nhất là bản thân bạn phải đi thực hiện. Pháp trong Mật giáo coi trọng thực tu, thực tu cũng không phải là trên lý luận, mà là đi chứng minh trên thực tế.

Giống như Phật Thích Ca Mâu Ni nói tứ Thánh đế, đến cuối cùng, trong “Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh” ngài giảng “vô khổ tập diệt đạo”, đây chính là tính Không, chính là nói về tính Không. Đến cuối cùng thì lấy tính Không đó ra, phối hợp với tính Không để đi tu khổ tập diệt đạo, bạn có thể chứng minh bạn chính là Phật.

Tu lục độ ba la mật, bạn lấy tính Không ra phối hợp với lục độ ba la mật, bạn mới có thể chứng minh thành Phật, bởi vì “Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh” nói đến chính là tính Không. Còn vô khổ tập diệt đạo? Rõ ràng Phật Đà nói có khổ tập diệt đạo, vì sao “Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh” lại nói không có khổ tập diệt đạo? Chính là tính Không cần phối hợp với khổ tập diệt đạo để tu thì mới có thể chứng minh. 

Tính Không cần phối hợp với sáu ba la mật để tu, tính Không không phối hợp với sáu ba la mật để tu, bạn chỉ tu mỗi bố thí ba la mật thì chỉ có thể đạt được phúc trời, đi đến các cõi trời, có được phúc báo lớn nhất. Nếu bạn không phối hợp với tính Không thì không thể có thành tựu, đây chính là pháp Bát Nhã.

Nói với mọi người như vậy là bạn hiểu rồi, ở đây đều đang chứng minh “bạn chính là Phật, Phật chính là bạn”. Hy vọng mọi người hiểu được rõ ràng. “Bạn chính là Phật”, tự bạn đi chứng minh. “Tôi chính là Phật”, tự tôi chứng minh. 

Vâng, hôm nay nói tới đây. Om mani padme hum.

29/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 084. Bảo bình khí


Hôm nay tôi lại nói với mọi người về Bảo bình khí, bởi vì có đệ tử hỏi: “Rốt cục tu Bảo bình khí vào lúc thì nào tốt?” Vấn đề này trước đây trong “Mật Tông Đạo Thứ Đệ Quảng Luận” tôi đã từng nhắc đến. Bởi vì khi nào tu pháp này cũng phân thành hai phe, một phe chủ trương sau khi tương ứng Ngoại pháp rồi, cũng tức là sau khi tương ứng Bổn tôn rồi, mới có thể tu Bảo bình khí. Một phe khác thì chủ trương khi tu Tứ gia hành đã có thể tu Bảo bình khí rồi, cũng tức là ngay khi bạn quy y và nhận quán đảnh xong là có thể tu Bảo bình khí.

Bản thân tôi nghĩ thế này, bởi vì Bảo bình khí có thể nói là một khởi đầu của Nội pháp, cũng là một nền tảng của Nội pháp, một điểm quan trọng nhất. Tôi thì tùy thuận mọi người, bạn muốn sau khi tương ứng pháp Bổn tôn xong mới tu cũng được, muốn sau khi quy y nhận quán đảnh xong thì bắt đầu tu Bảo bình khí luôn cũng được. Nhưng bạn nhất định phải nhận thức rõ ràng về pháp Bảo bình khí, bởi vì Bảo bình khí là cực kì quan trọng trong sự khởi đầu tu Nội pháp.

Trong khẩu quyết trọng yếu của Orgyen, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã nói: “Bình khí là quan trọng số một, tất cả công đức đến từ bình khí!” Điểm này cực kì quan trọng, cho nên nhất định phải tu bình khí.

Vì sao gọi là Bảo bình khí? Bởi vì phía bên dưới là nửa cái bình, bên trên lại có nửa cái bình đè xuống, cho nên gọi là bảo bình. 

Thật ra bảo bình khí có ba loại: một loại là bảo bình khí của Tề luân, một loại là bảo bình khí của Tâm luân, một loại là bảo bình khí của toàn thân.

Nhưng bảo bình khí ở Tâm luân rất dễ khiến cho tâm khí động, như thế sẽ sinh ra phiền phức. Còn bảo bình khí của toàn thân, trước khi tu bảo bình khí ở Tề luân thì cũng vẫn không được tu. Cho nên thứ chúng ta nói đến chỉ là nói đến bảo bình khí của Tề luân hạ đan điền.

Khẩu quyết quan trọng nhất của nó có bốn giai đoạn hơi thở: một là dẫn, chính là hít khí vào, hai là đầy, ba là tiêu, bốn là tán. 

Trước đây tôi từng dạy mọi người, hít một hơi khí, từ từ hít vào một hơi khí, cất giữ ở hạ đan điền. Sau khi khí đầy rồi, một ép chính là thượng khí ép xuống, một nâng chính là hạ khí nâng lên, chính là hai cái nắp. Ép xuống, giữ cho khí tồn tại ở chỗ đan điền, chính là pháp Bảo bình khí. Khẩu quyết quan trọng nhất là thượng khí nhất định phải ép xuống, hạ khí nhất định phải nâng lên, đan điền biến thành giống như một bảo bình, giữ khi ở đó, đây là yếu điểm quan trọng nhất.

Vì sao thượng khí ép xuống, hạ khí nâng lên? Bởi vì như thế thì khí mới có thể đi vào trung mạch, một khi khí đi vào trung mạch thì có thể sử dụng. Khí không đi vào trung mạch thì là khí bình thường, không phải là khí trí huệ mà còn là khí nghiệp chướng. Chúng ta tu pháp về khí, chủ yếu chính là phải biến khí nghiệp chướng thành khí trí huệ đi vào trung mạch. 

Khí không nhất định phải thở ra toàn bộ, nếu thở ra toàn bộ thì bạn không thể nào sử dụng, cho nên phải giữ lại một ít khí vẫn còn ở chỗ đan điền, bất kì lúc nào cũng có thể sử dụng, điểm này rất quan trọng.

Cách tu pháp Bảo bình khí cũng phân thành hai loại: có một loại là Bảo bình khí nhu hòa, một loại là Bảo bình khí cương mãnh. Bảo bình khí nhu hòa chủ yếu là khi hít vào thì rất chậm, rất mảnh, rất dài. Bảo bình khí cương mãnh chính là khí vào rất nhanh, rất ngắn, rất mạnh. Nhưng mà nhanh, ngắn, mạnh có hại, vì sao? Bởi vì dễ bị thương tổn. Trong lúc bạn thở nhanh, ngắn, mạnh còn có “xạ tức”, nếu mà phụt khí ra thì khí sẽ lập tức xung lên đỉnh đầu, mắt sẽ đỏ, răng sẽ đau, đầu cũng sẽ đau, còn bị chảy máu cam nữa, tuổi thọ cũng sẽ ngắn đi, tổn thương đến não, cho nên Bảo bình khí cương mãnh sau này chúng ta sẽ nói đến.

Còn chúng ta tu Bảo bình khí nhu hòa, khi nhu hòa, bạn giữ khí đầy rồi, sau khi giữ rồi thì từ từ tiêu tán. Phải tiêu như thế nào? Bạn phải dùng ý niệm để dẫn khí từ lỗ chân lông thoát ra, đây chính là cách tiêu khí thứ nhất. Cách thứ hai thì sao? Bạn dùng ý niệm để xung khí lên đỉnh, xung lên phía trên đỉnh đầu. Nếu không thành thì bạn lại thở khí ra từ mũi và miệng, thật sự là không nhịn thở được nữa rồi thì thở khí ra. Phần khí này rất quan trọng, cực kì quan trọng.

Khi khởi đầu tu luyện Nội pháp là phải luyện nín thở trước. Bạn phải giữ được khí ở bên trong hai phút. Khi mới bắt đầu thì đừng miễn cưỡng, khi mới bắt đầu bạn hãy luyện từ nửa phút, một phút, một phút rưỡi, đừng miễn cưỡng, từ từ luyện tập, luyện đến khi có thể nhịn thở được hai phút. Bạn có thể ứng dụng khối khí này để thực hiện sáu pháp thành tựu - Đại thành tựu cầu vồng. Chính là ứng dụng khối khí này để sinh ra chuyết hỏa, ứng dụng khối khí này và chuyển hóa để làm tan minh điểm. Cho nên khẩu quyết Orgyen quan trọng nhất của Liên Hoa Sinh Địa Sĩ là nói “Tất cả lấy bình khí làm công đức”, trọng điểm chính là nằm ở đây.

Vậy còn cách tiêu tán thì sao? Phải dẫn khí đi ra từ lỗ chân lông, phải dẫn khí ở đầy ắp trong thân từ lỗ chân lông đi ra. Dùng cách xạ khí xung đỉnh, phụt khí ra từ đỉnh đầu. Khi thật sự không nhịn thở được nữa thì mới thở mạnh ra từ mũi, miệng. Bảo bình khí nhu hòa vẫn cần phải chú ý một chút, đừng quá cương mãnh.

Khẩu quyết dùng khí, vận khí quan trọng nhất là “hạ đề”, khí bên dưới phải nâng lên, khí bên trên phải ép xuống, tạo nên một cái bảo bình. Biến cái khối khí này thành hình dạng như một cái bảo bình, làm rồi thì bạn sẽ biết, bởi vì bạn sẽ cảm giác thấy khí thật sự ở tại đan điền. Nếu có thể khiến cho nó đi vào trung mạch thì sẽ biến thành khí trí huệ, đây là một trọng điểm, rất quan trọng.

Bạn tu thành bảo bình khí rồi, chuyết hỏa mới có thể thành. Không tu thành bảo bình khí, chuyết hỏa của bạn sẽ rất khó tu thành, bởi vì bảo bình khí là cơ sở của tất cả Nội pháp, là nền tảng, là cực kì quan trọng.

Pháp Tứ gia hành là nền tảng của Ngoại pháp, Bảo bình khí là nền tảng của Nội pháp. Hôm nay giảng tới đây thôi. Om mani padme hum.

30/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 085. Pháp Bố đàn


Có người nói Lư Sư Tôn giảng Đại thành tựu cầu vồng, giảng nhiều như vậy, nhưng mà vì sao vẫn chưa nhắc tới pháp Bố đàn? Hôm nay đúng lúc phải nói đến pháp Bố đàn.

Pháp Bố đàn cũng chính là nơi mà bạn phải tu hành. Mật giáo có quy định công khóa, yêu cầu bạn làm “bài tập về nhà”. Học sinh đi học về làm bài tập về nhà. Mỗi khi chúng ta tu pháp đều phải ở tu trước đàn thành.

Pháp Bố đàn chính là phải bố trí một đàn thành Mật giáo rất đơn giản, rất trang nghiêm. Đàn thành là nơi vạn đức giao quy, là nơi rất thần thánh, để khi bạn bước vào trong đó thì sẽ sinh tâm hoan hỷ, nhìn thấy đàn thành là trong lòng bạn sẽ thấy vui sướng, vui thích với việc ngồi lâu. Rất vui sướng, rất thích thú ngồi ở trong đó, có thể yên tĩnh tu pháp của bạn, cho nên pháp Bố đàn của Mật giáo rất quan trọng.

Pháp Bố đàn đương nhiên là lấy Bổn tôn của bạn làm chủ, bạn tu Bổn tôn nào thì cần đặt Bổn tôn đó ở chính giữa. Ở lớp thứ hai xung quanh là quyến thuộc của Bổn tôn. Bổn tôn đều có quyến thuộc, ví dụ bên cạnh A Di Đà Phật chính là có Quan Âm, có Đại Thế Chí. Bạn tu Bổn tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, bên cạnh Dược Sư Phật chính là có Nhật Quang Bồ Tát, Nguyệt Quang Bồ Tát, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, còn có mười hai Dược Xoa. Có Bổn tôn rồi, có quyến thuộc rồi, sau đó bên dưới mới bày Hộ pháp. Hộ pháp ở tầng thứ ba, Kim cang Hộ pháp, v.v… Những Hộ pháp này có thể bày ở tầng thứ ba, đó là cách bố đàn thông thường.

Lại có người nói bên phải đàn thành có thể bày tháp xá lợi, bên trái thì đặt kinh điển mà thường ngày ta hay tụng. Dùng cái gì để làm trang nghiêm đàn thành đây? Dùng thangka, rất tốt. Thangka là rất trang nghiêm, bạn hãy bày một vài tấm thangka, những thangka có liên quan đến Bổn tôn. Cũng có thể dùng ô lọng để làm trang nghiêm, lại có thể dùng cờ Phật để làm trang nghiêm, dùng tấm màn hoa để làm trang nghiêm. Dùng đèn để làm trang nghiêm, nhất định phải dùng đèn. Dùng hoa làm trang nghiêm, dùng lông chim công để làm trang nghiêm. Những thứ để làm trang nghiêm đàn thành này bạn đều phải làm.

Ngoài ra quan trọng nhất là bạn phải bày bát cúng. Mật giáo chủ trương dùng tám món cúng, Chân Phật Tông chúng ta cũng dùng bát cúng. Bát cúng có khi dùng hai hàng, hai hàng thì có một hàng là đồ cúng thật sự, một hàng là quán tưởng biến hóa. Bạn có thể dùng những món đồ ở hàng đó cầm lên để làm quán tưởng biến hóa.

Bát cúng là những thứ gì? Bát cúng là hoa, hương, đèn, trà, quả, trong đó trà có hai loại, một loại là nước sạch, một loại là nước mộc dục - nước mộc dục chính là nước tắm gội. Nước tắm gội tức là cho một chút xà bông vào để cho Phật Bồ Tát tắm gội, rửa mặt. *Wash hand [rửa tay], wash face [rửa mặt], wash body*, là dùng để tắm gội. Đây là ý nghĩa tượng trưng, ý nghĩa chính là chúng ta cúng dường cho các vị. Cũng không nhất định là ý nghĩa này, nhưng đây là cúng dường của chúng ta, là tâm ý của chúng ta, cúng dường chính là biểu thị tâm ý của chúng ta.

Ở trong bát cúng còn có hai loại hương: một loại là hương đốt, có thể đốt lên tạo thành mùi thơm, một loại là phấn thơm, chính là loại phấn thơm xoa lên người, gọi đây là phấn thơm. 

Trong đó còn có một vỏ ốc như ý, vỏ ốc như ý rất đặc biệt, vì sao phải cúng vỏ ốc như ý? Biểu thị là để cho Phật Bồ Tát vui vẻ, tất cả mọi thứ trong tâm đều vô cùng hài lòng, cũng tức là khiến cho hành giả (người tu hành) thấy hài lòng, cho nên gọi là ốc như ý.

Như vậy tổng cộng là tám loại, hoa hương đèn trà quả, trà có hai loại, hương có hai loại, rồi cộng thêm một cái vỏ ốc như ý, vừa đúng tám loại.

Cần phải hiểu quy tắc bố đàn của Mật giáo. Khi bạn tu pháp có rất nhiều quy tắc Mật giáo. Khi chúng ta tu pháp, có khi tu tiêu tai, có khi tu tăng ích, có khi tu hàng phục, có khi tu kính ái, cho nên pháp đàn cũng phải thay đổi. Pháp đàn cũng có quy tắc, đàn hình vuông, đàn hình tam giác, đàn hình tròn, đàn hình bán nguyệt, đều có quy định riêng. Vì sao phải làm như vậy? Bởi vì để giữ được đạo lý về ý nghĩa và sự tương ứng.

Ngoài ra, bố đàn cũng có màu sắc, khi làm tiêu tai thì dùng đàn màu trắng, dùng màu trắng tượng trưng cho thanh tịnh. Kính ái dùng đàn màu đỏ, tượng trưng cho sự nhiệt tình. Màu đỏ tượng trưng cho sự nồng nhiệt, đúng không? Hàng phục thì dùng màu lam, màu đen, tượng trưng cho sức mạnh của nó sẽ sinh ra. Thế còn tăng ích? Dùng màu vàng là tốt, vì sao dùng màu vàng? Bởi vì là vàng mà! Vàng thì giống màu vàng nhất rồi. Màu sắc của vàng, chà, bày màu sắc quý giá nhất đó ra. Tất cả đều là để có được tương ứng. 

Tiêu tai dùng màu trắng là rất tốt, bởi vì màu trắng là màu sắc thanh tịnh nhất, tượng trưng cho sự sạch sẽ nhất, dùng màu trắng để những thứ đen sẽ chạy mất, những thứ trắng sẽ đi vào. Cho nên chúng ta tu Cửu tiết Phật phong chính là hít vào là màu trắng, thở ra là màu đen. Hít trắng thở đen, trắng vào đen ra, đều là biểu thị ý nghĩa tiêu nghiệp chướng.

Cho nên bạn nhìn xem, pháp đàn tiêu tai rất có ý nghĩa, màu trắng rất thanh tịnh. Đàn kính ái dùng màu đỏ biểu thị nhiệt tình, người người khao khát. Đàn tăng ích, chà, vàng! Dùng màu vàng. Đàn hàng phục dùng màu đen biểu thị sức mạnh, màu đen, màu lam biểu thị có sức mạnh rất lớn sản sinh ra.

Nó đều có ý nghĩa riêng, có phương vị riêng. Khi bố trí bạn phải xem, địa điểm tốt nhất là ở nơi tương đối yên tĩnh. Nơi có tàng phong tụ khí, tức là khí ở nơi đó sẽ không chảy mất, tụ lại ở nơi đó. Nơi tàng phong tụ khí là nơi tốt nhất.

Khi tôi nói về phong thủy, tôi sẽ nói với mọi người một chút về thế nào là tàng phong tụ khí. Trước tiên bạn phải chọn một căn phòng tàng phong tụ khí, căn phòng tốt nhất, tốt nhất là nơi tàng phong tụ khí thì bạn mới có thể bố đàn. Phật Bồ Tát rất hoan hỷ, có thể giáng lâm tới nơi đó. Nơi này đại diện cho báo thân của Phật Bồ Tát, báo thân Phật ở nơi đó. Pháp thân Phật ở tại hư không, báo thân Phật ở tại đàn thành, bản thân bạn chính là ứng thân Phật. Ba thân pháp-báo-ứng đều có rồi, tu hành chính là như vậy.

Bạn hiểu pháp Bố đàn rồi thì hãy bày pháp đàn cho tốt, tu cho tốt, có sự kiên trì, có tâm bền bỉ, nhất định sẽ có thành tựu. 

Hôm nay nói đến đây. Om mani padme hum.

30/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 086. Nói về quán tưởng (1)


Mạn đàm về quán tưởng, trong tu trì Mật giáo có chú, thủ ấn và quán tưởng, trong đó tương đối đặc thù chính là quán tưởng. Quán tưởng nói một cách đơn giản là dùng ý, cái này rất đặc thù. Đặc biệt là khi bạn đang dùng ý, bạn có thể ngăn chặn huyễn tưởng, ngăn chặn tạp niệm, rất nhiều huyễn tưởng, tạp niệm, vọng niệm thì trong lúc bạn dùng ý, bạn sẽ ngăn chặn được chúng sinh ra.

Trong pháp của Mật giáo, có rất nhiều loại phương pháp quán tưởng. Bày đàn thành rất quan trọng thì tôi đã giảng rồi. Bày đàn thành chính là một loại quán tưởng, đây gọi là quán đạo tràng. Khi nào thì có thể dùng quán đạo tràng? Khi bạn đi ra ngoài thì có thể dùng cách quán này. Bạn đi ra ngoài không ở trong nhà mình, không thể nào ở tại đàn thành trong nhà mình để tu pháp được, vậy bạn có thể dùng cách quán đạo tràng này. Đây là một phương pháp quán đạo tràng rất tốt.

Tôi thường nói hành giả Mật giáo chúng ta khi lên máy bay làm sao để cho bạn ở trên máy bay thấy yên tâm? Ở trên máy bay muốn có thể yên tâm thì bạn cần làm một loại quán tưởng. Sau khi bạn lên máy bay, bạn ngồi yên lặng, ngồi yên một chỗ, quán tưởng đàn thành và chư Phật ở trước mặt bạn, quán tưởng Bổn tôn ở trước mặt bạn, đây chính là quán đạo tràng.

Bạn đi ra ngoài tu pháp, bạn ở trong *hotel* khách sạn, bạn cũng có thể dùng quán đạo tràng. Bạn cảm thấy nơi này không thanh tịnh lắm, chúng ta nên làm thế nào? Bạn có thể quán tưởng khách sạn thành một đóa hoa sen lớn thanh tịnh. 

Giả sử bạn ngồi trên giường tu pháp, bạn hãy quán tưởng giường thành một đóa hoa sen lớn thanh tịnh, hành giả ngồi bên trên hoa sen, như vậy là cực kì trang nghiêm. Làm quán tưởng đạo tràng trước, sau đó quán tưởng giường mình - nơi không thanh tịnh, quán tưởng thành hoa sen thanh tịnh. Điều này rất quan trọng, quán tưởng xong rồi thì có thể tu pháp.

Ngồi trên máy bay bạn dùng cách quán đạo tràng, đàn thành của bạn sẽ xuất hiện. Sau đó bạn quán tưởng Bổn tôn từ nơi xa di chuyển đến trên đỉnh đầu bạn, ngồi trên đỉnh đầu bạn, lúc này bạn sẽ được yên tâm. Người ngồi trên máy bay nhưng trong lòng thì lại rất bình yên, bởi vì Bổn tôn ở cùng với bạn.

Vì thế khi tôi lên máy bay, tôi đều làm quán tưởng Bổn tôn, quán tưởng Bổn tôn trụ đỉnh, sau đó niệm chú Bổn tôn, trong lòng sẽ có được sự bình an. Không chỉ là như vậy, một khi Bổn tôn đã đến trên đỉnh đầu bạn, ngài sẽ bảo hộ bạn, toàn bộ máy bay đều nằm dưới sự bảo hộ của Bổn tôn, đây chính là một loại quán tưởng rất bình an. Tâm lý cực kì an tịnh, Bổn tôn ngồi trên đầu bạn, cùng bạn ngồi trên máy bay. Cho nên hành giả Mật giáo chúng ta đi tới đâu đều không tách rời Bổn tôn.

Ở trong đây có vài quán tưởng, trong Mật giáo rất quan trọng, quán đạo tràng rất quan trọng. Nếu bạn đi ra ngoài thì hãy dùng quán đạo tràng để tu hành. Ở trong nhà không có đàn thành cũng phải dùng quán đạo tràng để tu hành. Nếu không tiện bày đàn thành cũng có thể dùng quán đạo tràng để tu hành.

Tiếp theo còn có quán nguyệt luân, quán nguyệt luân là quán tưởng mặt trăng ngày mười lăm âm lịch rất tròn, trăng màu xanh rất tròn. Thông thường mà nói chúng ta quán tưởng như thế này là quán tưởng Thai tạng giới. Quán tưởng trong hư không vũ trụ mọc lên một vầng mặt trăng, mặt trăng này hình tròn, màu xanh, vô cùng trang nghiêm. 

Trên bầu trời chúng ta nhìn thấy mặt trời mặt trăng, vì sao lại chọn mặt trăng? Mặt trăng tương đối dịu mát, màu sắc thuần khiết, có một cảm giác của sự thanh tịnh. Bởi vì mặt trời không dễ để nhìn vào, bạn nhìn mặt trời thì mắt bạn sẽ chảy nước mắt, không dễ nhìn mặt trời. Mặt trăng ở trong hư không, mọc lên một mặt trăng, đây là một quán tưởng rất trang nghiêm, một tâm cảnh rất mát mẻ. 

Sau khi quán mặt trăng, cũng có quán chú tự. Chú tự là bình thường khi chư Phật sinh ra có một chữ, có một chữ là chủng tử tự của tất cả Phật Bồ Tát, chính là chữ Ah, là chủng tử tự của mọi vị Phật Bồ Tát, cho nên có một quán tưởng rất quan trọng chính là quán chữ Ah. 

Quán tưởng chữ Ah này là từ trong nguyệt luân có một chữ Ah xuất hiện. Vì sao quán chữ Ah lại tương đối quan trọng? Bởi vì Ah đại diện cho sự sinh ra của mọi vị Phật Bồ Tát, nguyệt luân đại diện cho Thai tạng.

Chúng ta thường niệm chú tam tự minh “Om ah hum”. Chữ Om này cũng rất vĩ đại. Om - duy nhất một chữ Om. Om đại diện cho vũ trụ, vô hình. Ah đại diện cho Phật sinh ra. Hum đại diện cho thành tựu. Ba chữ này cực kì có ý nghĩa.

Om chính là vũ trụ, Ah chính là Phật sinh ra, Hum chính là thành tựu. Ba chữ này gọi là chú tam tự minh, là một câu chú rất hay. Dùng chữ Ah đại diện cho sự sinh ra của chư Phật Bồ Tát, cho nên trong Mật giáo, chữ Ah vô cùng quan trọng. Có người quán tưởng chữ Ah này mà đã thành tựu. 

Hôm nay nói tới đây. Om mani padme hum.

02/09/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 087. Nói về quán tưởng (2)


Chúng ta lại mạn đàm về quán tưởng. Đầu tiên có nguyệt luân, sau đó có chú tự, từ bên trong chú tự có thể xuất hiện Bổn tôn, đây là một thứ tự quán tưởng. Mọi người thử nghĩ xem, vì sao phải như vậy? Bởi vì Mật giáo nói rằng tất cả đều đến từ hư không, trước tiên hư không có Thai tạng nguyệt luân, bên trong nguyệt luân có chủng tử chữ Ah. Bổn tôn từ trong chủng tử sinh ra, tức là từ bên trong chữ Ah xuất hiện Bổn tôn của bạn. Đây là một trình tự, một trình tự sinh ra.

Cho nên tiếp theo sẽ là quán Bổn tôn, từ bên trong chủng tử sinh ra Bổn tôn, Bổn tôn chính là ở trong hư không. Từ Bổn tôn lại sinh ra quán nhập ngã ngã nhập, Bổn tôn và ta hợp nhất, như thế này sẽ trở thành Du già, chính là Kim cương thừa, chính là Mật giáo.

Vì thế, sau khi quán tưởng rõ ràng chủng tử rồi, từ trung tâm của chủng tử sẽ xuất hiện Bổn tôn, bởi vì Phật Bồ Tát từ Thai tạng chủng tử tự sinh ra Bổn tôn, Bổn tôn xuất hiện trong hư không, bạn có thể niệm chú Tứ nhiếp “Cha Hum Ban Ho”. Đây chính là chú Tứ nhiếp, tức là thỉnh Bổn tôn ở trong hư không (Cha), di chuyển đến trước mặt bạn (Hum), rồi ngồi trên đỉnh đầu bạn (Ban), sau đó đi vào bên trong thân thể bạn, hợp nhất với bạn (Ho). Quán tưởng này gọi là quán nhập ngã ngã nhập.

Mấy loại quán tưởng này đều rất quan trọng, đầu tiên có quán nguyệt luân, quán chủng tử tự, sau đó là quán Bổn tôn, cuối cùng chính là quán nhập ngã ngã nhập, Bổn tôn đi vào bên trong thân thể bạn hợp nhất với bạn. 

Trong sát-na, bạn đã hợp nhất với Bổn tôn rồi. Mật giáo dựa vào mấy quán tưởng quan trọng này để tu hành, từ bên trong quán tưởng của bạn cuối cùng biến thành chân thực, chính là Yoga tương ứng, đây là thứ tự tu pháp. Mấy quán tưởng này cực kì quan trọng, đó là quán đạo tràng, quán nguyệt luân, quán chủng tử tự, quán Bổn tôn và quán nhập ngã ngã nhập.

Chi tiết về quán nhập ngã ngã nhập, trước đây tôi đã giảng rồi. Cha - Bổn tôn xuất hiện tại hư không, Hum - di chuyển đến trước mặt bạn, ở ngay trước mặt, Ban - ngồi trên đỉnh đầu bạn, Ho - đi vào bên trong thân thể bạn, đây là chú Tứ nhiếp. Hành giả mỗi lần làm quán tưởng phải niệm 108 biến chú Bổn tôn, dùng chú ngữ, dùng thủ ấn và tưởng niệm để Bổn tôn và bạn hợp thành một, đây chính là tu hành của Mật giáo.

Chúng ta ngồi trên máy bay cũng có thể làm như vậy, Cha Hum Ban Ho, Bổn tôn đi vào bên trong thân thể bạn, bạn và Phật cùng ngồi trên máy bay. Máy bay này sẽ bay rất bình yên, trong lúc bay sẽ rất bình yên, rất như ý, rất cát tường. Sẽ không có sự việc gì xảy ra, cho dù có việc gì xảy ra thì cả người bạn cũng sẽ bay lên. Bay đến đâu đây? Bình an là được rồi, bình an chính là phúc. Hành giả chúng ta không cần sợ hãi, bởi vì Bổn tôn, Phật và bạn ở cùng nhau mà. Bạn chính là Phật, bạn đã biến thành Phật rồi.

Quán tưởng chi tiết, bạn phải quán tưởng và niệm chú rất kĩ càng, rất rõ ràng, ở trên máy bay cũng có thể tu như vậy. Ở trong khách sạn bạn cũng có thể tu như vậy. Về cơ bản, tu pháp của chúng ta chính là quán tưởng, trì chú, nhập tam ma địa, đây là Chính hành. Tu Chính hành trong nghi quỹ Chân Phật Mật Pháp của chúng ta là quán tưởng, trì chú, nhập tam ma địa, nhập tam ma địa chính là ở trong định, biểu thị Phật và ta hợp nhất, định ở trong trạng thái là một đó chính là nhập tam ma địa.

Mọi người hãy suy nghĩ, sau khi trở về hãy luôn luôn ghi nhớ trong tâm năm pháp quán tưởng này, đối với cơ sở tu hành của Mật giáo, bạn có thể hiểu rõ tu pháp về mặt cơ bản, thì bạn sẽ hiểu được Mật giáo tu như thế nào.

Trong vũ trụ này có rất nhiều lực thần diệu, ví dụ lực của chân như, đó là một sự ấn tâm rất mạnh, ánh sáng xuất ra kết hợp với ánh sáng ở đối diện, chính là ấn tâm, chính là lực của chân như. 

Kiểu tương ứng giữa Thích Ca Như Lai và Đại Ca Diếp của Thiền tông gọi là “chân như tương ứng”, tương ứng chân như do ánh sáng và ánh sáng kết hợp với nhau. Bát nhã này là một vòng tròn, pháp Bát Nhã mà Phật Thích Ca Mâu Ni nói là một vòng tròn ánh sáng cực kì viên mãn, đầy ắp trong hư không. 

Duy Thức mà Di Lặc Bồ Tát nói chính là lột bỏ từng lớp từng lớp, tiến vào bên trong ý thức sâu nhất, sâu nhất, phát hiện ra chân như, trên thực tế điểm ánh sáng của Phật tính đó chính là duy thức, ánh sáng của duy thức.

Pháp Du Già, thứ mà bây giờ chúng ta đang tu là pháp Du Già Mật giáo, còn gọi là pháp tương ứng. Pháp tương ứng chính là vũ trụ có một ánh sáng rất lớn, chính là ý thức vũ trụ. Bên trong thân thể chúng ta có ánh sáng nhỏ, dùng ánh sáng nhỏ tiến vào trong ánh sáng lớn của vũ trụ, chính là pháp Du Già. Pháp Du Già tối thắng chính là Tử quang tiến nhập vào bên trong Mẫu quang.

Trung Quán là thế nào? Trung Quán chính là một loại sóng của ánh sáng, nhưng trong sóng của ánh sáng, bạn phải tìm được con đường đạo thuộc về chính mình, đó chính là pháp Trung Quán. 

Những pháp này đều ở trong ánh sáng, đều rất vĩ đại. Là Lư Sư Tôn dùng các phương pháp để nhận thức, để tìm hiểu, để hiểu rõ, để thâm nhập. Phật giáo hiện tại chính là năm loại pháp tu hành: pháp Chân Như, pháp Bát Nhã, pháp Duy Thức, pháp Du Già, pháp Trung Quán. Hiện tại, những hướng dẫn của Phật giáo không rời xa năm loại pháp này.

Hôm nay tôi nói đến đây thôi. Om mani padme hum.

02/09/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 088. Sự trân quý của truyền thừa


Hôm nay tôi sẽ nói một chút về sự trân quý của truyền thừa. Vào thời hiện đại này mà nói, truyền thừa Chân Phật Tông là vô cùng trân quý. Chúng ta có truyền thừa của Hồng giáo, có truyền thừa của Bạch giáo, cũng có truyền thừa của Hoàng giáo, còn có truyền thừa của Hoa giáo. Dòng chảy pháp của bốn truyền thừa lớn này tập hợp lại với nhau, đây là hiện tượng rất hiếm có.

Mật pháp của chúng ta cũng là cao nhất, ví dụ pháp Đại viên mãn, pháp Đại thủ ấn, pháp Đại viên thắng huệ, pháp Đại Uy Đức Kim Cang, pháp này cũng là cao nhất. Chân Phật Tông chúng ta không chỉ có truyền thừa rất trân quý mà pháp cũng rất trân quý, quang vinh mà chúng ta đạt được cũng rất thù thắng.

Giống như lần này chúng ta làm pháp hội, Pháp Vương tối cao trong số các Hoạt Phật Tây Tạng - Pháp Vương Ganden Tripa, ngài đã đến chỗ của chúng ta ở đây, ngài đã tặng cho Sư Tôn những pháp khí mà ngài đã dùng qua. Chuông này, chày này, trống này, ngoài ra còn có pháp bảo trân quý, ví dụ pháp bào của Pháp Vương ngài cũng tặng cho tôi. Tặng pháp bào của Pháp Vương cho tôi có ý nghĩa cực kì lớn, đây chính là một sự trân quý của truyền thừa.

Trong Mật giáo mà nói, có nói đến ấn chứng, cho nên việc tặng pháp bào của Pháp Vương cho bạn có thể nói cũng là một sự ấn chứng. Chúng ta không chỉ có như vậy mà thôi, địa vị của Rinpoche Hoạt Phật Tây Tạng vốn dĩ rất cao quý, giống như lần này Uy Quang Lôi Tạng Tự ở Los Angeles làm pháp hội, có hai vị Rinpoche, tôi nói với họ: “Các vị không cần đến để tôi quán đảnh.”, nhưng họ nói: “Nhất định phải nhận quán đảnh của Liên Sinh Hoạt Phật thì mới cam tâm tình nguyện.” Tôi nói với họ: “Các vị đã là Rinpoche rồi, không cần đến nhận quán đảnh.” Nhưng họ cứ kiên trì muốn nhận quán đảnh, đây cũng là một sự ấn chứng.

Nhìn chung mà nói, Rinpoche còn cần nhận quán đảnh gì chứ, họ đã là Hoạt Phật rồi. Nhưng họ cho rằng, Sư Tôn còn cao hơn cả Rinpoche, cho nên vẫn phải trân quý. Hai chữ “trân quý” này, họ gọi là H.H [His Holiness] có thể nói đấy là “high high”, rất cao, cao nhất đó. Pháp Vương Ganden Tripa, vị Pháp Vương cao nhất trong số Hoạt Phật Tây Tạng, đã tặng áo bào của Pháp Vương cho tôi. Cho nên những Rinpoche đó đến đều là đến để nhận quán đảnh. Rinpoche đến quy y Chân Phật Tông chúng ta rất nhiều đó! Sớm nhất thì có Dacheng Rinpoche, gần đây có Thubten Gyatso, họ đều đến quy y Chân Phật Tông chúng ta. 

Vì thế, pháp lưu của Chân Phật Tông đã tỏa ra một loại hào quang, giống như đại thành tựu cầu vồng vậy. Người ta chỉ nhìn thấy tôi là sẽ sản sinh ra một sự biểu cảm vô cùng kinh ngạc, hơn nữa còn phát hiện ra ánh sáng chói lọi trên người tôi, trên người tôi có ánh sáng. Bởi vì trên người có ánh sáng rồi, họ sẽ thật lòng khâm phục, họ sẽ đến để nhận quán đảnh, quy y. Nguyên nhân chủ yếu chính là một dạng sức mạnh thu hút triệu gọi, sau khi một dạng hào quang phát ra, họ nhìn thấy và tự nhiên đến nhận quán đảnh, tự nhiên đến quy y, tự nhiên đem pháp bào của Pháp Vương tặng cho tôi. 

Sự việc kiểu này cũng không thể tùy tiện nói ra, tôi bảo họ không cần đến nhận quán đảnh, họ nói tôi nhất định phải đến nhận quán đảnh. Bảo họ không cần quy y, bạn đã là Rinpoche rồi, đều là Hoạt Phật rồi mà, nhưng họ nhất định phải đến nhận quán đảnh và quy y từ Chân Phật Tông Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, đây là việc mà mọi người đã tận mắt nhìn thấy.

Đẳng cấp của họ được phân rất rõ ràng, người nào ngồi ở vị trí cao, người nào ngồi ở vị trí thấp, phân biệt rất rõ ràng. Người ở vị trí cao cũng đến nhận quán đảnh của Chân Phật Tông Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, sau đó để cho họ quy y, đây chính là sự thù thắng của pháp lưu Chân Phật Tông.

Cho nên sau này mỗi một vị Thượng sư, mỗi một vị pháp sư đi ra ngoài, trên mặt mọi người đều sẽ có ánh sáng, người ta hỏi về sư phụ của bạn, “A! Ông ấy là Hoạt Phật trong các Hoạt Phật, là Pháp Vương trong các Pháp Vương, là Thượng sư của Hoạt Phật, là sư phụ của Hoạt Phật.” Làm sao để tu được điều này? Có yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài. Bên ngoài thì phải uy nghi và tỏa sáng, bên trong sau khi bạn tu thành, tự nhiên sự uy nghi và tỏa sáng bên ngoài của bạn sẽ hiển hiện ra sự uy nghiêm, hơn nữa còn hiện ra ánh sáng hào quang đó, sức mạnh nhiếp triệu đó.

Pháp lực của Mật giáo là vô cùng phi phàm, tương lai sự siêu thắng của Chân Phật Tông chúng ta là cực kì, không chỉ dừng lại ở bốn triệu đệ tử mà càng có nhiều chúng sinh hơn sẽ vì sự nhiếp triệu của tôi mà sau đó sẽ đến nương dựa vào tôi. 

Hôm nay nói tới đây. Om mani padme hum.

17/09/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

**(Hết quyển 2)**

---

---
# File: kinh-luat-luan/hong-quang-dai-thanh-tuu-tap-3.md
# Title: Hồng quang đại thành tựu - Tập 3
---

![image](/img/img_55db17156aa0e0bde520d311e76c43c9.jpg)



## Hồng quang đại thành tựu - Tập 3


Địa điểm: Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ. 
Thời gian: Năm 1996
Quyển số: 624
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### 089. Hữu tướng và vô tướng của Mật giáo


Hôm nay tôi nói về hữu tướng và vô tướng của Mật giáo. Có rất nhiều người đến đạo tràng Hiển giáo để xem, thấy đạo tràng Hiển giáo vô cùng thanh nhã, bố trí rất đơn giản, có đạo tràng chỉ có một vị Quan Âm màu trắng, những thứ khác đều rất thuần, đều trắng trơn. Họ cho rằng như thế này là vô tướng. Thế rồi đến đạo tràng Mật giáo để xem, chà, màu sắc sặc sỡ, màu sắc gì cũng có, nào là cờ Phật, màn che, ô lọng, cách bố đàn cũng rất nhiều màu sắc, họ hiểu nhầm rằng Mật giáo là hữu tướng.

Thật ra, nói chung Mật giáo có hữu tướng và cũng có vô tướng. Thế nào là hữu tướng? Đàn thành là hữu tướng, quá trình chúng ta tu hành cũng là hữu tướng, pháp cũng là hữu tướng. Mật giáo có bốn bộ: Sự bộ, Hành bộ, Du già bộ, Vô thượng bộ, trong ba bộ đầu (Sự bộ, Hành bộ, Du già bộ) đều là phạm vi của hữu tướng.

Khi chúng ta mới khởi đầu tu hành cũng cần phải bắt đầu từ hữu tướng. Nói một cách rất đơn giản, trước khi bạn tu pháp, đầu tiên phải triệu thỉnh, vỗ tay, bắt chéo tay và búng ngón tay, đây là để đánh thức, biểu thị bắt đầu tu pháp. Sau đó bạn kết thủ ấn câu triệu, chính là triệu thỉnh Phật Bồ Tát hạ giáng, bạn kết ấn xa luân, chính là để mời Phật Bồ Tát ngồi trên xe, ngồi trên Mercedes Benz, ngồi trên xe Rolls-Royce, bởi vì bạn kết ấn xa luân mà. Ấn xa luân này biểu thị rằng tôi đã lái xe tới đón các ngài. Những pháp này đều là hữu tướng.

Cuối cùng bạn tu xong pháp rồi còn phải “giải tán”, thế nào là giải tán? Tức là nói rằng đã tu pháp xong rồi, xin mời các vị trở về nhà nghỉ ngơi, về nhà đi ngủ. Bạn vỗ tay, bắt chéo tay rồi búng ngón tay, đây cũng là một loại ấn giải tán, tức là mời các vị trở về, đây đều là pháp hữu tướng. Đi triệu thỉnh các vị đến, dùng xe đi đón các vị đến, cuối cùng là tiễn các vị trở về, đây đều là phạm vi của Sự bộ, Hành bộ, Du già bộ.

Đàn thành chính là hữu tướng, bạn quán tưởng làm một số pháp chính là hữu tướng. Nhưng đến Vô thượng mật bộ là lúc vô tướng, bạn thật sự tiến nhập vào trong cảnh giới cao nhất thì sẽ trở thành vô tướng. Lúc đó bạn chỉ cần có một ý niệm thì đó chính là đàn thành, căn bản không cần bày đàn thành. Một ý niệm chính là cúng dường, cho nên tôi nói bạn cầm một bông hoa, một ý niệm, bông hoa này chính là cúng dường mười phương Phật, mười phương pháp, mười phương tăng, cúng dường hết tất cả, chỉ dùng ý niệm để làm. Ở đây đã tiến vào vô tướng, cho nên đây gọi là Mật tông vô tướng.

Cảnh giới này đương nhiên là rất cao, mỗi người tu hành chúng ta trước tiên đều từ hữu tướng, sau đó tiến nhập vào cảnh giới vô tướng cao nhất. Cho nên chúng ta làm pháp, bạn xem ấn Cửu tự chân ngôn tứ tung ngũ hoành đó, tung ra thủ ấn này là thành một cái lưới, lưới tung ra tóm gọn lấy ma. Nhưng ở trong Mật tông vô tướng, một ý niệm của bạn đã có thể khiến hư không rơi xuống một cái lưới, căn bản là bạn không cần làm thủ ấn. 

Cho nên khi thật sự đến được cảnh giới cao nhất rồi, đàn thành cũng không còn nữa, thời gian tu pháp cũng ngắn, có khi thậm chí ngay cả thủ ấn cũng không cần kết, chỉ một ý niệm phát khởi là cả một tấm lưới buông xuống, thế là thiên la địa võng trói chặt lấy ma rồi.

Giống như chúng ta vẽ phù, vẽ phù của Đạo gia chính là hữu tướng, dùng bút, nước, mực, nghiên mực đều phải niệm chú, sau đó giấy cũng phải niệm chú, sau khi vẽ xong thì còn phải gia trì. Khi bạn thật sự đến được vô tướng rồi, im lặng cũng là một tiếng sấm, một sự trầm mặc, một ý niệm, một lá phù đã phóng đi rồi.

Cho nên, bạn không cần phải ở đó vẽ một tấm Ngũ Lôi phù, chà, phải vẽ năm hình sấm. Kim, mộc, thủy, hỏa, vẽ phù Vương Ngũ Lôi mất cả nửa ngày, rồi còn phải hà khí, phải hét một tiếng chấn động, còn phải áp ấn, sau đó còn phải đốt phù, như vậy mới có thể đẩy phù đi. Im lặng cũng là một tiếng sấm, chỉ cần ngồi yên là sấm sẽ nổi lên, đây chính là vô tướng.

Vì thế, khi Phật Bồ Tát đến cảnh giới cao nhất thì thuộc về vô tướng. Thật ra khi thế giới này mới khởi đầu thì đều là vô tướng, sau đó dần dần biến thành hữu tướng. Chúng ta tu hành đầu tiên từ hữu tướng sau đó tu vô tướng. Cho nên có người phê bình Mật tông, nói Mật giáo đều là hữu tướng, đây là một sai lầm. Bởi vì ba bộ đầu của Mật pháp - Sự bộ, Hành bộ, Du già bộ đều là hữu tướng, nhưng Vô thượng mật bộ thì là vô tướng.

Một khi tiến nhập vô tướng, cũng tức là tất cả đều thanh tịnh. Bởi vì đến cảnh giới đó ma cũng không thể sinh ra được tác dụng của ma, không có trò ma nữa. Bạn tiến vào cảnh giới vô tướng, làm gì còn ma chứ? Ma cũng là vô tướng mà. Đã không còn ma nữa rồi.

Bạn tiến nhập cảnh giới vô tướng, còn phải làm pháp gì chứ? Tất cả pháp đều là vô pháp, trống rỗng, quy về không! Bạn thật sự vận dụng được sức mạnh của tính Không thì sẽ có thể nhậm vận tất cả pháp hữu tướng, cảnh giới này đương nhiên là rất cao, rất cực kì, là thật sự vô thượng. Ý nghĩa của vô thượng cũng chính là không có pháp nào cao hơn. 

Vì thế, bạn thật sự hiểu được điều này mới là Pháp Vương, bạn là Pháp Vương thì bạn phải hiểu Mật tông vô tướng. Bạn ở trong phạm vi của hữu tướng thì bạn vẫn chịu sự hạn chế, chỉ có tiến nhập vào trong phạm vi của vô tướng mới là thần thông nhậm vận, mới là khai ngộ chân chính, mới là vượt lên ba cõi, trải khắp mười phương. Theo chiều thẳng đứng thì vượt quá ba giới, theo chiều ngang thì trải khắp mười phương, khi bạn có thể lĩnh ngộ được cảnh giới này rồi thì mới gọi là khai ngộ.

Bạn đã khai ngộ rồi cũng tức là bạn có thể tùy ý đi tới bất kì nơi nào, tùy ý đi tới bất kì pháp giới nào, bạn tiến vào trong cảnh giới này mới là Phật chân chính, mới là viên mãn chân chính. Tất cả Rinpoche thấy bạn tiến vào cảnh giới này, họ sẽ tôn xưng bạn, bạn là Pháp Vương chân chính.

Hôm nay giảng đến đây. Om mani padme hum.

17/09/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 090. Nghi quỹ tu pháp phải chu toàn


Chúng ta lại nói về sự chu toàn của nghi quỹ tu pháp. Mật giáo có rất nhiều nghi quỹ tu pháp, nhưng nói một cách đại khái thì nghi quỹ tu hành không nằm ngoài sự phân tách thành Tiền hành, Chính hành, Hậu hành, tức là phân làm ba giai đoạn.

Thế còn nghi quỹ chu toàn tức là biểu thị trong quá trình bạn tu pháp không được bỏ sót các chi tiết liên quan đến phương diện niệm chú, phương diện quán tưởng, phương diện kết ấn, đều không được bỏ sót, hơn nữa còn phải rất tỉ mỉ. Nhưng bỏ sót rồi thì phải làm sao? Bỏ sót thì vẫn có một cách để sửa chữa. Chúng ta biết rằng khi bỏ sót thì phải niệm Kim Cang Tát Đỏa chân ngôn, chính là phải niệm 3 biến Kim Cang Tát Đỏa bách tự minh chân ngôn. 

Vì sao chân ngôn Bách tự minh của Kim Cang Tát Đỏa này có thể bổ khuyết? Bởi vì nó hóa toàn bộ nghi quỹ thành tính Không, khi hóa tất cả thành tính Không thì bất kì một khiếm khuyết nào cũng đều có thể được sửa chữa. Cho nên có thể nói Bách tự minh chân ngôn chính là một tượng trưng của tính Không.

Chúng ta biết rằng Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh, thật ra kinh điển này cũng hoàn toàn là một chữ mà thôi, chữ này chính là “Không” - chữ Không. Cho nên trong số các kinh điển mà Phật đã giảng, cô đọng lại đến cuối cùng sẽ biến thành Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh. Tâm Kinh này nói về chữ Không. Thế còn Bách tự minh chân ngôn trong Mật giáo cũng nhấn mạnh vào chữ Không này, hóa tu hành của bạn thành Không, hóa pháp thành tính Không, trực tiếp dung nhập vào tính Không, thế là có thể sửa chữa cho bạn tất cả sai sót khi tu pháp, cho nên Bách tự minh rất quan trọng.

Chúng ta biết rằng phần Tiền hành trong Chân Phật Mật Pháp bao gồm đại lễ bái, đại cúng dường, tứ quy y, tứ vô lượng tâm. Chính hành thì nhấn mạnh vào ba mục: một là quán tưởng, một là trì chú, một là nhập tam ma địa. Mọi người biết, khi quán tưởng cũng phải kết thủ ấn, ở đây là tượng trưng cho sự thanh tịnh của ý niệm. Quán tưởng chính là sự thanh tịnh của ý niệm, kết thủ ấn đại diện cho sự thanh tịnh của thân, còn trì chú thì là sự thanh tịnh của khẩu. Nhập tam ma địa chính là sự thanh tịnh của tất cả hư không, cũng tức là tất cả thanh tịnh chính là tam ma địa, điều này rất ít người có thể nhận thấy được.

Khẩu thanh tịnh, thân thanh tịnh, ý thanh tịnh, còn phải tất cả thanh tịnh, tam ma địa chính là nói về nhập vào Không cảnh, có thể trụ trong trạng thái hư không hoàn toàn bất động thì tức là nhập tam ma địa.

Nghi quỹ tu hành phải chu toàn chính là như vậy, phải hiểu khẩu quyết thật sự của nó nằm ở đâu. Trong một pháp, bản thân nó có rất nhiều tâm yếu, hơn nữa có rất nhiều khẩu quyết. Bạn cho rằng tu hành rất đơn giản, cứ theo nghi quỹ mà làm một lần, trên thực tế bên trong có rất nhiều quán tưởng rất quan trọng, mỗi một phần đều phải quán tưởng.

Thế còn Hậu hành thì sao? Hậu hành chính là kệ tán thán, tán dương Bổn tôn trí huệ. Sau đó phải hồi hướng, hồi hướng tức là nói về hồi hướng công đức mà bản thân bạn có được khi tu pháp này. Còn có cầu nguyện, bạn tu pháp này, bạn có nguyện vọng gì, bạn đều phải nói ra. Phải cầu nguyện, phải hồi hướng, phải tụng kệ tán dương đó! Những mục này đều thuộc về phạm vi của Hậu hành.

Ví dụ trong Chân Phật Mật Pháp của chúng ta, mỗi ngày chúng ta đều tu pháp này, xấp xỉ nửa tiếng là tu xong một đàn pháp. Nhưng mà trong Tạng mật chân chính, tôi nghe nói phải mất hai tiếng, bởi vì kinh và chú mà họ niệm rất dài, hơn nữa nghi quỹ mà họ làm rất phức tạp, trùng lặp rất nhiều, cho nên họ tu một đàn pháp phải mất hai tiếng.

Chúng ta tu một đàn pháp, tôi đã tinh giản thành nửa tiếng, nhưng công hiệu thì cũng như thế. Vì sao tôi nói công hiệu vẫn như vậy? Bởi vì niệm chú, mọi người biết chú ngữ có chú dài, rất dài, có chú ngắn, tương đối ngắn hơn một chút, còn có cả tâm chú, tâm chú thì càng ngắn nữa. Vì dụ chú ngữ của chư Thiên, chú của 12 Thiên, chú ngữ của họ chỉ có một chữ. Bạn biết là chữ nào không? “Hum”, chú của tất cả các cõi trời chỉ có một chữ chính là chữ “Hum”. Nhưng chữ này có *power **[sức mạnh]* rất lớn. Chú có chú dài, chú vừa, chú ngắn, còn có tâm chú.

Hiện tại nghi quỹ mà Chân Phật Mật Pháp dùng, có thể nói tu một đàn pháp chính là một tâm pháp. Chúng ta đã cô đọng nó thành một pháp rất trọng yếu, một tâm pháp không thể sai sót. Chúng ta dựa theo đó mà tu thì nghi quỹ đó sẽ chu toàn, chúng ta đều đã loại bỏ một số kinh văn rườm rà và những chú ngữ trùng lặp, chúng ta tu tinh hoa.

Vì thế trong nghi quỹ tu hành, quan trọng nhất là phải chu toàn, không được sai sót. Về quán tưởng có sai sót, về thủ ấn có sai sót, về niệm chú có sai sót, trên các mục của nghi quỹ đều có sai sót, thì phải niệm Bách tự minh chú để bổ khuyết cho nó. 

Một khi bạn làm nghi quỹ chu toàn rồi, có thể nói là bạn sẽ sản sinh ra pháp lực, pháp lực của pháp này sẽ sản sinh ra. Nếu pháp lực xuất hiện, bạn tu hành tự nhiên sẽ có thành quả. Không có pháp lực này xuất hiện, pháp mà bạn tu cũng chẳng khác gì phí công vô ích. Cho nên mỗi lần bạn tu pháp đều có Bổn tôn trí huệ đến quán đảnh cho bạn, gia trì cho bạn, điều này vô cùng quan trọng. 

Hôm nay tôi giảng nghi quỹ chu toàn, giảng tới đây thôi.
Om mani padme hum.

18/09/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 091. Nội pháp của Mật giáo


Chúng ta lại nói một chút về Nội pháp của Mật giáo. Ngoại pháp chính là nói về thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh. Thế còn Nội pháp chính là tu khí, mạch và minh điểm.

Khí chủ yếu nhất là phải tu cho nó trở nên mạnh mẽ, tràn trề, thậm chí là khí của bạn và khí của vũ trụ chu thiên phải tương thông. Nói cách khác là, khí của bạn và khí của tiên thiên vũ trụ là thông với nhau. Ồ! Cái này rất cao sâu rồi, không chỉ là khí đủ mà thôi.

Còn nói về mạch của thân thể bạn, bản thân mạch phải thông, còn gì nữa? Chính là nguyên tố sinh mệnh của thân thể bạn, tức minh điểm, minh điểm này nhất định phải tu đến trình độ minh điểm vô lậu, những cái này chính là trọng điểm. Khí phải đủ, mạch phải thông, minh điểm phải không còn rò rỉ, đây chính là Tam Bảo mà trong Mật giáo phải quán tu. Ngoài thân khẩu ý thanh tịnh ra, quán tu khí, mạch, minh điểm của bạn nhất định phải tu thành. 

Thật ra mà nói Mật giáo chính là tu một Ngoại pháp, một Nội pháp, sau đó lại tiến lên Vô thượng mật bộ, đến Đại viên mãn, nói ra thì có vẻ rất đơn giản, nhưng những điểm mấu chốt trong đó thì rất phức tạp, sự ứng dụng của nó cực kì vi diệu. Bạn biết khí đủ rồi, khí có thể vô cùng tràn trề ở trong thân thể, thân thể bạn mới có thể khỏe mạnh.

Bạn phải có khí này, minh điểm của bạn không thể để rò rỉ mất, ba thứ khí, mạch, minh điểm đều là mấu chốt, chính là nguyên tố sinh mệnh của thân thể bạn, đều không được thất thoát ra ngoài.

Trong Mật giáo, muốn tu được minh điểm vô lậu cũng không phải đơn giản, đó đều là khẩu quyết rất bí mật. Có thể nói, bạn phải hiểu rằng đó là bí pháp tổ truyền của bạn: bạn có thể bán được nghìn vàng, vạn vàng.

Pháp này đương nhiên là đại pháp, bản thân pháp vô lậu này là đại pháp, có thể nuôi dưỡng tinh khí thần của bạn dồi dào. Trong Đạo gia gọi là tu tinh khí thần. Thực ra Đạo gia có rất nhiều pháp rất giống với pháp minh điểm, Đạo gia cũng nói về vô lậu. Tinh của bạn chạy đi đâu thì phải thu hồi về từ đó. Trong kinh điển Đạo giáo đã nói rất rõ ràng, thủy có thể không chảy ra bên ngoài, có thể thu hồi, đây chính là đại đạo đảo ngược. Đại đạo có thể đảo ngược, bạn có thể chứng minh được điều này thì bạn chính là Thần Tiên.

Đạo gia nói tinh khí thần không được rò rỉ ra ngoài, tự nhiên bạn sẽ có thể trường sinh, có thể đắc đạo tự nhiên, bạn còn có thể thu hồi. Bản thân Mật giáo mà nói là thu hồi, nó không những không chảy ra ngoài mà còn phải thu hồi về, sau khi thu hồi mới phải hóa thành thần, hóa thành quang, chính là tịnh quang đó.

Vì thế, Mật giáo nói về đại lạc, chỉ có vô lậu chân chính mới là đại lạc. Các pháp hữu lậu khác toàn bộ đều là tiểu lạc thôi. Bên trong thân thể của bạn, khi thủy và hỏa tan vào nhau, vận khí đầy khắp toàn thân, khi đả thông mọi mạch, thì cái khoái lạc đó là vĩnh hằng. Nói chung điều này chỉ có Mật giáo mới có, Hiển giáo bình thường sẽ không có thứ này. Hiển giáo không có thứ này cho nên bạn muốn học vô lậu thì rất khó. Bởi vì đây là khẩu quyết vô cùng bí mật trong Mật giáo, có rất nhiều pháp bí mật ở trong đó.

Nếu mạch của bạn có thể thông, toàn thân sẽ hóa thành thân thể ánh sáng trong suốt. Nếu mạch không thông, khắp nơi đều có chướng ngại. Phiền não, lo lắng, đau khổ của bạn toàn bộ đều vì mạch không thông mà sinh ra. Bên trong thân thể có bệnh, toàn bộ đều là vì mạch không thông. Nếu mạch đều thông thoáng toàn bộ, huyết dịch tuần hoàn, khí tuần hoàn đều thông thoáng, thì căn bản sẽ không có bệnh. Ở đâu có tắc nghẽn thì ở đó có bệnh.

Vì thế, khẩu quyết của Mật giáo là khí nhất định phải đủ, mạch nhất định phải thông, minh điểm nhất định phải không còn rò rỉ, đây là vệ sinh sinh lý. Nói chung, rất nhiều người bảo rằng: “Ôi chao! Liệu tu bên trong thân thể có phải là tu pháp ngoại đạo không?” Căn bản không hề là ngoại đạo, chính là sinh lý của bạn thôi. Bạn là người tu hành cần phải biết sức khỏe thân thể của bạn chứ, đây là sinh lý học đó. Sinh lý học làm sao lại là ngoại đạo chứ? Tôi thấy là nội đạo chứ chẳng phải ngoại đạo. Bạn có cái vốn rồi, có được thân thể khỏe mạnh thì mới có thể tu hành, thân thể không khỏe thì tu hành cái gì chứ? Bạn không có vốn thì bạn tu cái hành gì chứ?

Cho nên, tu khí mạch minh điểm có thể từ thân thể của bạn mà ấn chứng đại pháp thành Phật. Bản thân tôi cho rằng, thân thể và tâm đều quan trọng như nhau, không thể chỉ có tu tâm, thân thể cũng phải tu, thân, tâm cùng tu mới là chính đạo, thiên lệch về bên nào cũng là ngoại đạo. Bạn chỉ mỗi tu tâm, bạn không có thân thể thì lấy đâu ra tâm? Chỉ có tu thân mà không trọng tu tâm thì cũng không được, tâm này của bạn bất chính thì cũng không tu thành được. Vì thế, thân, tâm nhất định phải coi trọng.

Nội pháp của Mật giáo chính là tu khí, mạch, minh điểm, sau đó chuyển hóa nó thành tịnh quang. Không chỉ có đại lạc mà còn có ánh sáng thanh tịnh, kết hợp cái này lại, sau đó nếu tiến nhập vào tính Không thì bạn sẽ thành Phật, thành Bồ Tát rồi. Cho nên mới nói Dục thiên chính là Lạc thiên, Sắc giới thiên chính là Tịnh thiên (cõi trời thanh tịnh), Vô sắc giới thiên chính là Không thiên, ba cái kết hợp lại chính là Phật thiên, tức là thành tựu tứ Thánh giới. Đây chính là bí mật của Mật giáo.

Om mani padme hum.

18/09/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 092. Nội nghĩa của quán đảnh


Hôm nay chúng ta nói một chút về nội nghĩa của quán đảnh. Quán đảnh của Mật giáo có nội nghĩa rất sâu, có người cho rằng quán đảnh chỉ là một nghi thức, giống như quy y vậy, quy y cũng chỉ là một nghi thức mà thôi. Trên thực tế không phải vậy, nó có nội nghĩa rất sâu ở bên trong.

Mỗi một vị Kim cương Thượng sư quán đảnh, trước khi muốn làm quán đảnh, nhất định phải tu pháp quán đảnh. Bạn quán đảnh pháp gì thì buộc phải tu pháp đó, phối hợp với nhau. Vị thầy quán đảnh nhất định phải dùng ý niệm để triệu thỉnh Bổn tôn ở trong hư không, sau đó Bổn tôn còn phải đi vào bên trong vị thầy quán đảnh, vị thầy quán đảnh sẽ biến thành Bổn tôn trí huệ. 

Tiếp theo, pháp khí để quán đảnh nếu là bình kim cang thì vị thầy quán đảnh phải dùng ý niệm triệu thỉnh Bổn tôn trí huệ tiến vào bên trong bình, sau đó Bổn tôn trí huệ ở bên trong bình, từ các lỗ chân lông khắp toàn thân Bổn tôn chảy ra cam lộ. Sau khi chảy ra cam lộ thì biểu thị rằng thứ đựng bên trong bình này chính là cam lộ của Bổn tôn trí huệ, cái này mới có thể thực hành quán đảnh cho các đệ tử. Đây là nói về phía vị thầy quán đảnh.

Thế còn những đệ tử nhận quán đảnh cần phải biết là mình nhận quán đảnh gì. Trong miệng phải niệm chú của Bổn tôn trí huệ, tay phải kết thủ ấn của Bổn tôn trí huệ. Về phương diện quán tưởng tôi thường nói, phải quán tưởng Bổn tôn mà bạn muốn quán đảnh ngồi trên đỉnh đầu bạn, như vậy nhận quán đảnh sẽ rất có ý nghĩa, đây chính là nội nghĩa của quán đảnh.

Vị thầy quán đảnh phải làm đủ mọi triệu thỉnh bằng ý niệm, biến chính mình thành Bổn tôn, thậm chí dụng cụ quán đảnh cũng phải biến thành Bổn tôn. Đệ tử nhận quán đảnh phải biết niệm chú, phải quán tưởng Bổn tôn trụ đỉnh, còn phải kết thủ ấn nữa.

Rất nhiều đệ tử đến cầu Sư Tôn quán đảnh, họ nói muốn quán đảnh cái gì, tôi nói: “Được, vậy anh hãy niệm chú Bổn tôn đi!” Anh ta nói: “Con không biết niệm.” Thế thì không được rồi. Tôi nói anh kết thủ ấn đi! Anh ta nói muốn quán đảnh pháp Uy quang như ý, tôi nói: “Được, anh kết thủ ấn Uy quang như ý đi.” Anh ta nói: “Con không biết.” Tôi nói trước khi anh muốn nhận quán đảnh, anh phải thỉnh giáo chú ngữ này niệm thế nào, quán tưởng Bổn tôn ra sao, thủ ấn kết thế nào, tất cả đều phải rõ ràng, không phải là tùy tiện được.

Có một số đệ tử đến cầu quán đảnh, trên một tờ giấy viết ra mười quán đảnh cho một lần, tôi nói: “Toàn bộ mười quán đảnh này phải triệu thỉnh Bổn tôn trí huệ, anh dùng cái gì để triệu thỉnh?” Sư Tôn đương nhiên có thể dùng ý niệm để triệu thỉnh các vị đến, chẳng có vấn đề gì, bởi vì trước đó tôi đều cầu nguyện, trước đó tôi đều có cầu Phật Vương, Tiên Vương, Địa Vương - tam vương hộ trì. Sau đó ví dụ cầu Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát đến làm thân đàn thành, một khi triệu thỉnh thì rất nhanh chóng có thể triệu mời các vị đến. Nhưng là đệ tử thì phải có điều kiện nhận quán đảnh là: bạn có biết Bổn tôn, biết chú ngữ, biết thủ ấn không? Cái này chính là nội nghĩa của quán đảnh, rất quan trọng, nội nghĩa rất quan trọng của quán đảnh nằm ở đây.

Cho nên người nhận quán đảnh, vị thầy quán đảnh và pháp khí quán đảnh, ba thứ phải hợp nhất, bằng không quán đảnh này sẽ chẳng xuất hiện quán tướng gì. Nếu bạn có được ba thứ hợp nhất thì có thể sản sinh ra quán tướng của quán đảnh.

Nói đến quán tướng bên trong nội nghĩa của quán đảnh, rất nhiều người sau khi nhận quán đảnh, rất nhanh chóng nghiệp chướng của họ đã tiêu trừ. Vì thế, trước đây khi tôi làm quán đảnh rộng rãi cho cộng đồng, rất nhiều người xuất hiện kỳ tích. Vừa nhận quán đảnh xong là khối u trên đầu đã tiêu biến. Thân thể họ vốn dĩ có bệnh tật, vốn dĩ có bệnh lâu năm, vừa nhận quán đảnh xong thì những bệnh này không còn nữa, bệnh đã tiêu trừ rồi. Vừa nhận quán đảnh xong, nghiệp đen của người đó đã chảy đi, còn nghiệp thiện, nghiệp màu trắng liền tới. Dòng chảy pháp màu trắng, cam lộ màu trắng vừa tới thì nghiệp màu đen bị tiêu trừ hết, cho nên bệnh cũng không còn. 

Ví dụ có sỏi thận, sỏi mật, sỏi bàng quang, bỗng dưng khi đi chụp X-quang lại không thấy nữa. Thân thể lưng đau hông mỏi, hôm nay nhận quán đảnh xong, đột nhiên toàn bộ đều không còn đau nữa, đây chính là một loại quán tướng.

Ngoài ra vẫn còn nữa. Ngày hôm nay bạn nhận quán đảnh, buổi tối đó liền mơ thấy giấc mơ cực kì cát tường. Phật Bồ Tát phóng quang gia trì cho bạn, bạn nhìn thấy Phật Bồ Tát, nhìn thấy Bổn tôn, thế rồi bạn đi du lịch ở thiên thượng giới, bạn có thể cưỡi gió phi hành, ở trong hư không bay vút lên không, ở trên không đi tới đi lui như thế này. Chà! Bạn biết bay rồi.

Bạn ăn những thứ màu trắng, nôn ra những thứ màu đen, những nghiệp chướng bên trong thân thể bạn đều tiêu trừ hết. Còn có người sau khi quán đảnh, họ mơ thấy mình chải đầu thì thấy sâu rơi đầy mặt đất, đây chính là quán tướng. Vốn dĩ người đó có bệnh đau đầu đã ba mươi mấy năm rồi, sau khi được quán đảnh thì ngày hôm sau, căn bệnh đó từ nay trở về sau đã khỏi luôn rồi, hoàn toàn bình phục rồi, đây chính là quán tướng.

Cho nên quán đảnh có cảm nhận rất hay, điểm này bạn phải hiểu rõ ràng. Bởi vì quán đảnh của Mật giáo có nội nghĩa rất sâu, biểu thị một sự gia trì của pháp lực. Một loại dòng chảy pháp màu trắng tiến vào trong thân thể bạn, khiến cho những nghiệp đen của bạn có thể tiêu trừ, chứ không chỉ là một dạng nghi thức. Tôn giáo bình thường cử hành nghi thức này, cứ thế làm nghi thức, bề ngoài xem như là đã quy y quán đảnh rồi. Nhưng trên thực tế, nội nghĩa thậm thâm chân chính là phải có dòng chảy pháp màu trắng tiến vào thân thể bạn, tiêu trừ nghiệp đen của bạn.

Hôm nay giảng tới đây thôi. Om mani padme hum.

19/09/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 093. Nghĩa rộng của quán đảnh


Chúng ta lại nói một chút về nghĩa rộng của quán đảnh. Quán đảnh có ý nghĩa nội tại, đương nhiên cũng có ý nghĩa rộng khắp ở trong đó. Tôi từng nói, khi bạn quy y thì sẽ phải nhận quán đảnh, loại quán đảnh đó gọi là quán đảnh kết duyên, cũng tức là quán đảnh đầu tiên giữa sư phụ và đệ tử, chính là thuộc về quán đảnh kết duyên, biểu thị sư phụ và bạn có duyên với nhau.

Sau khi kết nhân duyên, lại tiến thêm một bước quán đảnh nữa, có thể nói là quán đảnh học pháp, bạn bắt đầu phải học pháp rồi. Rồi lại tiến thêm một bước nữa thì gọi là quán đảnh minh pháp, bạn đã hiểu rõ pháp rồi thì gọi là quán đảnh minh pháp. Và tầng thứ tự cao nhất gọi là quán đảnh truyền pháp, còn gọi là quán đảnh Thượng sư, tức là quán đảnh Acharya (giáo thọ sư). Khi bạn đã có tư cách có thể truyền pháp rồi thì gọi là quán đảnh Kim cương Thượng sư, tức là quán đảnh Acharya [A-xà-lê]. 

Cho nên dựa theo tác dụng mà nói, có quán đảnh kết duyên, có quán đảnh học pháp, thế rồi có quán đảnh minh pháp, cuối cùng là quán đảnh Kim cương Acharya. Quán đảnh có ý nghĩa rộng khắp, có thứ tự ở bên trong.

Trong Chân Phật Mật Pháp có phân thành bốn cấp quán đảnh. Bạn theo đuổi học tập Mật pháp thì có quán đảnh Ngoại pháp, có quán đảnh Nội pháp, còn có quán đảnh Vô thượng mật bộ, và quán đảnh Đại viên mãn, tổng cộng phân thành bốn cấp như vậy. Đến được quán đảnh Đại viên mãn rồi thì cảnh giới này đã rất cao rồi. 

Mật giáo thông thường gọi là Ngoại pháp, Nội pháp, Mật pháp, Bí mật pháp, cũng là phân thành bốn cấp. Rồi còn có rất nhiều quán đảnh chư tôn nữa. Quán đảnh chư tôn là gì? Chính là nói rằng bạn tu Bổn tôn nào thì bạn nhận quán đảnh Bổn tôn đó, đây chính là quán đảnh chư tôn. 

Còn có năm hạng mục quán đảnh, năm loại quán đảnh pháp khí quan trọng, chính là quán đảnh chuông kim cang, quán đảnh chày kim cang, quán đảnh bảo bình, quán đảnh mũ miện, còn có một cái nữa là quán đảnh tên. Năm quán đảnh này là Mật giáo thông thường thường dùng.

Ngoài ra, trong quán đảnh chư tôn, ví dụ bạn tu Bổn tôn Quan Âm, vậy thì dùng tượng của Quan Âm để làm quán đảnh cho bạn. Bạn tu Bổn tôn Di Đà thì dùng tượng A Di Đà Phật làm quán đảnh cho bạn. Xem xem bạn tu Bổn tôn nào thì dùng tượng của Bổn tôn đó để làm quán đảnh. 

Vì thế quán đảnh của Mật giáo có rất nhiều, nó có nội nghĩa, có nghĩa rộng, cho nên quán đảnh không phải là tùy tiện. Bạn thấy Kim cương Thượng sư đang làm quán đảnh, cảm thấy hình như ông ấy chẳng làm cái gì cả, thật ra ông ấy đang dùng ý niệm để làm, đó là cách dùng tâm lực - sức mạnh của tâm để biểu lộ. 

Biểu hiện bên ngoài của quán đảnh rất đơn giản, dường như chỉ là cầm một thứ lên rồi đặt lên đầu, chấm một cái là xong. Thế thì các bạn trở về có thể giúp người ta làm quán đảnh rồi, những ai nghe được pháp xong đều có thể giúp người khác làm quán đảnh. Bố nghe pháp xong thì có thể làm quán đảnh cho con, chị nghe pháp xong là giúp làm quán đảnh cho em gái, có vẻ rất đơn giản. Giả sử bạn không có cách nào triệu thỉnh Bổn tôn trí huệ đến làm quán đảnh thì đều chẳng có tác dụng gì, quán đảnh kiểu đó thì chẳng thể nào sinh ra được công hiệu.

Trong Chân Phật Tông chúng ta có cái gọi là quán đảnh từ xa. Thế nào là quán đảnh từ xa? Tức là bạn viết thư đến cầu quán đảnh, bất luận là thời gian nào, địa điểm nào, người bạn ở tại đâu, ở trước pháp đàn, trước đàn thành, tôi vẫn phải làm triệu thỉnh, tôi phải đọc tên của bạn lên, đọc địa chỉ của bạn lên, thỉnh cầu Hộ Pháp Không Hành, Không Hành Mẫu, Không Hành Dũng Phụ, cầm nước quán đảnh bay đến chỗ của bạn để làm quán đảnh cho bạn. Kiểu quán đảnh này gọi là quán đảnh từ xa. 

Tức là cự ly khoảng cách rất xa cũng có thể làm quán đảnh được. Ví dụ bạn sống ở châu Âu, còn bây giờ tôi ở châu Mỹ, ở Seattle nước Mỹ, tôi có thể làm quán đảnh cho bạn. Tôi chấm vào nước và búng ra, trong hư không có Hộ Pháp Không Hành lập tức nhận lấy nước này, sau đó bay đến nơi ở của bạn, vẩy nước lên đầu bạn. Cái này chính là quán đảnh từ xa, cũng sẽ sản sinh ra quán tướng.

Vậy người được làm quán đảnh từ xa, buổi sáng quay mặt về phía mặt trời mọc, niệm “namo guru bei, namo buddha ye, namo dharma ye, namo sangha ye”. Vừa niệm xong, anh ta nói: “Ôi! Vẫn còn sớm quá.” Thế là anh ta lại nằm xuống ngủ tiếp. Khi ngủ, anh ta liền nhìn thấy Không Hành Mẫu từ hư không trung đến thật sự vẩy nước lên đầu anh ta, anh ta cảm thấy toàn thân trở nên mát mẻ. Anh ta vốn dĩ thân thể có trăm bệnh phát tác, sau khi ngủ dậy thì cảm thấy vô cùng khỏe khoắn. Vốn dĩ là cụ già 70 tuổi, đột nhiên biến thành như người 30 tuổi, còn có thể nhảy xuống khỏi giường nữa. Việc này đều từng có.

Rất nhiều đệ tử gửi thư đến kể rằng đều sản sinh ra quán tướng, thậm chí là vào buổi sáng anh ta làm nghi thức quy y xong, nhận được quán đảnh từ xa, ngồi trên xe buýt đi làm, ngồi bên trong xe buýt, anh ta liền cảm thấy: “Ớ! Có gì đó khác khác!”, như có người ở trong không trung vẩy nước lên người anh ta, quần áo của anh ta đều bị ẩm rồi, “Trên xe buýt bị rò nước sao?” Đâu có, trời rất trong xanh. Trên người anh ta còn có giọt nước nữa, trên đầu cảm thấy rất mát mẻ. Đây là Không Hành Mẫu ở trong không trung vẩy nước quán đảnh cho anh ta, cái này chính là quán tướng.

Cho nên quán đảnh có nội nghĩa rất sâu, có thể nói quán đảnh chính là truyền bá dòng chảy pháp. Mỗi ngày chúng ta ngồi tại đàn thành tu pháp, giả sử bạn cho rằng không có cảm giác gì, vậy thì việc tu pháp của bạn cần phải cải tiến. Trong mỗi một đàn pháp, chỉ cần Bổn tôn trí huệ đến thì ngài đều sẽ gia trì cho bạn, quán đảnh cho bạn. Tu một đàn pháp tương đương với quán đảnh một lần. Bạn tu một đàn pháp thì tương đương Bổn tôn trí huệ, bản thân Thượng sư, Không Hành Hộ Pháp đều giáng lâm để quán đảnh cho bạn một lần.

Vì thế, trong Mật giáo nói rằng “dòng chảy pháp của quán đảnh vĩnh viễn không dứt”, ngày ngày nhận được quán đảnh, bạn đang tu pháp là đang nhận quán đảnh, nhận gia trì, tiêu trừ nghiệp đen của bạn, nghiệp trắng tăng trưởng, điều này rất quan trọng.

Bởi vậy, quán đảnh không phải là nghi thức biểu hiện bề ngoài mà thôi, bạn phải tu được dòng chảy pháp của Mật giáo ở trên người bạn, Bổn tôn và bạn hợp nhất, tiến hành quán đảnh sẽ có được *power** [sức mạnh]*. 

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

19/09/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 094. Nói kĩ về Hộ Ma (1)


Hôm nay tôi nói kĩ với mọi người một chút về Hộ Ma. Trong Mật giáo, Hộ Ma chiếm một vị trí rất quan trọng. Pháp Hộ Ma này xét trên phương diện thành tựu thì được xếp vào một trong ba thành tựu. Trong Mật giáo có ba thành tựu lớn: một là thành tựu Trì minh, là thành tựu trên phương diện trì chú. Một cái nữa là thành tựu Tam ma địa, tức là định lực - thành tựu một loại sức mạnh sinh ra do thiền định. Còn có một thành tựu nữa chính là thành tựu Hộ Ma.

Hộ Ma là nói theo âm tiếng Phạn, trên thực tế nó chính là hỏa cúng. Trong Mật giáo nó là một thành tựu rất quan trọng, thuộc về thành tựu cúng dường.

Thành tựu đó với cá nhân tôi mà nói, tôi cảm thấy Hộ Ma hỏa cúng có thể thay đổi vận mệnh của một con người, không chỉ là thay đổi vận mệnh của một cá nhân mà khi thật sự làm Hộ Ma lớn, thậm chí có thể thay đổi vận mệnh của một đất nước. Mọi người thử nghĩ xem, vận mệnh của một đất nước, nếu dùng pháp lực Hộ Ma của Mật giáo mà còn có thể thay đổi được thì thành tựu pháp Hộ Ma này đúng là vô cùng vĩ đại và siêu thắng. Cho nên không thể coi thường Hộ Ma, cho rằng đây chỉ là một kiểu cúng dường, không phải đâu, nó cũng có nguyên lý rất cao sâu ở bên trong.

Từng có người làm Hộ Ma, dùng pháp Hộ Ma để thay đổi vận mệnh. Mọi người biết đại sư Không Hải, khi ngài xây dựng đập nước để ngăn nước lũ lan tràn, đã từng liên tục làm Hộ Ma, liên tục trì chú, khiến đập nước đó có thể hoàn thành đúng kỳ hạn, đây chính là sức mạnh của Hộ Ma.

Hộ Ma có thể cải biến vận mệnh, thậm chí có thể cải biến vận mệnh của quốc gia. Hộ Ma trong Mật giáo thật sự là khác biệt rất lớn với cúng dường thông thường. Vì thế, Hộ Ma trong Mật giáo không chỉ là một nghi thức, nó có nguyên lý rất cao sâu ở trong đó.

Hộ Ma có cái gọi là “ngoại Hộ Ma” và “nội Hộ Ma”. Cái gọi là “ngoại Hộ Ma” chính là đốt lửa cúng trời. Đốt những cúng phẩm, thức ăn, hoặc rất nhiều thứ khác đều có thể cho vào lò đốt để cúng dường chư Thiên, Phật Bồ Tát, Kim Cang Hộ Pháp. Cũng có cái gọi là “nội Hộ Ma”, thế nào là “nội Hộ Ma”? Chính là mượn lửa này để đốt hết phiền não và nghiệp chướng bên trong thân thể mình. Dùng lửa để tiêu trừ hết sạch sẽ phiền não và nghiệp chướng bên trong thân thể mình, cái này gọi là “nội Hộ Ma”. 

“Nội Hộ Ma” thì rất cao sâu, nếu nghiệp chướng có thể tiêu trừ, phiền não có thể tiêu trừ, thì bạn chẳng khác gì thành Thánh, thành Bồ Tát, chẳng khác gì một hành giả vô cùng thanh tịnh, chẳng mấy chốc thân tâm bạn đều biến thành thanh tịnh rồi. Kiểu Hộ Ma này gọi là “nội Hộ Ma”.

“Ngoại Hộ Ma” chính là hỏa cúng, “nội Hộ Ma” chính là thanh tịnh nghiệp chướng của mình và phiền não của mình.

Tôi nhớ đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni đều có tu pháp Hỏa quang tam muội. Thật ra chính là phương pháp đốt lên ngọn lửa bên trong thân thể mình, để tiêu trừ phiền não và nghiệp chướng của mình. Kì thực nói ra nó chính là “nội Hộ Ma” của Mật giáo, gọi là Hỏa quang tam muội.

Bản thân Hộ Ma mà nói có “ngoại Hộ Ma”, đây là làm cúng dường. Có “nội Hộ Ma”, chính là Hỏa quang tam muội. Thời đại Phật Đà có rất nhiều hành giả tu thành tựu Hỏa quang tam muội, kiểu tu hành này thật sự là rất vĩ đại, cho nên không thể coi thường Hộ Ma, bởi vì nó thuộc về một trong ba thành tựu lớn. 

Nói chung, đàn thành Hộ Ma của Mật giáo, ở khu Biệt thự Cầu Vồng có đàn thành Hộ Ma của Mật giáo, rất trang nghiêm, đó là Mật tông Nhật Bản, thuộc về đàn hỏa cúng của Đông mật. Cũng có đàn hỏa cúng của Tạng mật, đàn hỏa cúng của Tạng mật thì làm tương đối thô ráp, là một đàn cúng được quây bằng gạch.

Phương thức hỏa cúng của Đông mật và phương thức hỏa cúng của Tạng mật không giống nhau lắm. Bên Đông mật bố trí tương đối trang nghiêm, còn cách làm pháp của Tạng mật thì chú trọng vào cách làm của nội tâm. Đông mật chú trọng sự trang nghiêm của đàn thành, đàn thành được sắp đặt cực kì trang nghiêm và đẹp đẽ.

Hỏa cúng của Chân Phật Tông chúng ta thì chọn kết hợp cả Tạng mật và Đông mật. Đàn thành cực kì trang nghiêm, nhưng cũng dùng cả tâm lực của mình - dùng sức mạnh của tâm để làm, kết hợp cả hai lại. Cho nên hỏa cúng Hộ Ma trong Chân Phật Tông chúng ta cực kì hay, cảm ứng cực kì thần tốc.

Làm hỏa cúng thường có rất nhiều ứng nghiệm kỳ lạ! Kỳ lạ ở chỗ chính là vận mệnh không thể thay đổi lại có thể xoay chuyển được. Bởi vậy Lư Sư Tôn tôi thường nói với đệ tử, có tai nạn gì xảy đến, bạn phải làm nhiều hỏa cúng. Bởi vì tôi cảm thấy, trên phương diện triệu thỉnh Phật Bồ Tát thì làm hỏa cúng các vị đều sẽ giáng lâm, bởi vì bạn đang làm cúng dường mà! Cúng dường này tốt hơn rất nhiều so với cúng dường của Hiển giáo. Hiển giáo cúng dường chẳng qua chỉ là đặt cúng phẩm lên bàn thờ Phật, lạy một cái, thắp hương một cái là kết thúc.

Cúng dường của Mật giáo chúng ta có nghi quỹ rất dài, phải niệm chú, phải quán tưởng, phải kết thủ ấn, làm như vậy rất dễ khiến Phật Bồ Tát, chư Thiên đều giáng xuống. Nếu bạn có thể dễ dàng triệu thỉnh Phật Bồ Tát, chư Thiên hạ giáng thì cúng dường này của bạn sẽ biến thành một dạng sức mạnh, có pháp lực.

Hôm nay tôi giới thiệu trước đến đây. Om mani padme hum.

20/09/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 095. Nói kĩ về Hộ Ma (2)


Chúng ta lại nói về hỏa cúng, cũng tức là lại nói về Hộ Ma. Cá nhân tôi làm Hộ Ma, mỗi lần làm Hộ Ma xong đều cảm thấy hộ pháp gia tăng mười lần. Bạn thử nghĩ xem, làm một đàn Hộ Ma, làm một đàn hỏa cúng, chư Thiên lập tức giáng xuống vây xung quanh bạn. Tôi thường nói, giả sử bình thường bên cạnh tôi có mười Hộ pháp, thế thì làm xong một đàn Hộ Ma hỏa cúng sẽ biến thành một trăm Hộ pháp ở bên cạnh tôi, tức là tăng lên mười lần, lập tức gia tăng mười lần sức mạnh. 

Tôi đều có thể cảm giác được, thân thể tôi đều có cảm ứng. Bởi vì bình thường khi tôi làm cúng dường, xung quanh có mười Hộ pháp đến tiếp nhận cúng dường. Hễ làm hỏa cúng xong, khi làm cúng dường, chà! Đã biến thành một trăm vị rồi, điều này biểu thị sức mạnh của Hộ pháp đã tăng lên mười lần. Vì thế, hỏa cúng có thể gia tăng pháp lực của bạn, sức mạnh của bạn sẽ sinh ra, lập tức tăng lên gấp mười lần, vì thế, hỏa cúng cực kì quan trọng.

Trong đó có ba nghi quỹ tương đối quan trọng. Khi làm hỏa cúng phải làm “chuyển châu minh”, thế nào là “chuyển châu minh”? Tức là thỉnh cầu Bổn tôn hỏa cúng phóng quang đến gia trì cho bạn. Gia trì là phải làm nghi thức, giống như chúng ta cầm chuỗi hạt lên để làm chuyển châu minh, đầu tiên tay phải cầm hạt Phật đầu, sau đó quấn một vòng vào tay trái, lại chuyển sang tay phải, sau đó xoay tròn, pháp luân thường chuyển. Sau đó thỉnh cầu Bổn tôn trí huệ gia trì cho chuỗi hạt. Tay nâng lên, mắt nhắm lại, nghĩ đến Bổn tôn trí huệ hiển hiện trong hư không, ngài phóng ánh sáng rực rỡ xoay tròn gia trì cho chuỗi hạt này, đây chính là thỉnh cầu gia trì chuỗi hạt.

Gia trì xong, cũng vẫn cầm chắc hạt Phật đầu, cũng quấn vào tay trái, sau đó chuyển sang tay phải, lại pháp luân thường chuyển, cái này để biểu thị điều gì? Chuỗi hạt này đã được Bổn tôn gia trì rồi, đã có tịnh quang ở trong đó rồi. Đầu tiên đặt vào tay trái, sau đó chuyển sang tay phải, biểu thị hai tay đều được tịnh quang gia trì rồi. Bởi vì làm Hộ Ma là phải dùng tay để làm mà! Sau đó lại chuyển sang tay trái, rồi lại xoay tròn, cũng là pháp luân thường chuyển. Tiếp theo là đeo lên người, đeo lên người có ý nghĩa gì? Chính là nói rằng, toàn thân bạn đều đã có được sự gia trì của Bổn tôn trí huệ. Hai tay đều được gia trì rồi, thân thể này cũng đã được gia trì rồi.

Khi bỏ những cúng phẩm vào lò, bạn cầm gỗ Hộ Ma lên, cọ một chút vào chuỗi hạt, biểu thị tịnh quang đã chuyển sang cúng phẩm, sau đó bỏ vào lò. Điều này đều rất có ý nghĩa, không phải là làm cho đẹp. Bạn nhìn Sư Tôn làm xong, cầm lên rồi niệm lầm rầm, không phải đâu, ở đây phải quán tưởng Bổn tôn trí huệ phóng ánh sáng mạnh mẽ gia trì cho chuỗi hạt. Thủ ấn này chính là thủ ấn gia trì chuỗi hạt (Sư Tôn thị phạm). Làm như thế này biểu thị Bổn tôn trí huệ có thể gia trì cho chuỗi hạt.

Giống như gậy kim cang kết giới, cái này rất quan trọng, gõ vào bốn phía, đông tây nam bắc đều phải gõ bảy lần. Gõ vào miệng lò bảy lần, tức là thỉnh Hỏa Thiên Thần khai khẩu [mở miệng]. Bốn phía đông tây nam bắc phải gõ bảy cái, âm thanh này vang lên, biểu thị rằng xung quanh đàn Hộ Ma đều đã được kết giới rồi. Tóm lại, gõ vào miệng lò bảy lần, biểu thị miệng của Hỏa Thiên Thần đã mở rồi, vì miệng của Hỏa Thiên Thần đại diện cho khẩu của Phật và khẩu của Bồ Tát, chư Thiên, bạn bỏ cúng phẩm vào cũng giống như bỏ vào trong miệng. Ở đây đều có ý nghĩa của nó.

Còn có gia trì bằng chuông chày nữa (Sư Tôn thị phạm dùng chuông chày gia trì). Chuông chày gia trì là như vậy. Khi lắc ở trên phải quán tưởng có cái ô ở phía trên, cái ô rất to che kín cả đàn hỏa cúng, cái này là kết giới. Gõ vào bốn góc chuông thế này cũng là kết giới, ở đây có sự gia trì tiêu tai, có sự gia trì tăng ích, có sự gia trì hàng phục, có sự gia trì kính ái. Đây là gia trì.

Vì thế làm Hộ Ma phải làm rất nhiều nghi thức, cách cúng dường này rất khác, không hề giống Hiển giáo. Hộ Ma của Mật giáo cực kì thù thắng, hơn nữa tất cả cùng niệm chú triệu thỉnh, sức mạnh sản sinh ra là cực kì lớn. Như cúng phẩm bỏ vào lò đều phải trải qua nghi thức, phải cọ một chút, phải chấm mật, vì sao phải chấm mật? Đó là một thứ đồ ngọt, biểu thị tăng ích, như vậy sẽ có thể thay đổi vận mệnh của bạn. Khúc gỗ này đại diện cho nghiệp chướng, chấm vào mật tức là tiêu trừ nghiệp chướng này, sau đó bỏ vào lò, biểu thị đã tiêu tai xong thì lại tăng ích, lại có được kính ái. Có các loại tác dụng ở trong đây, không phải là chỉ rất đơn giản, vì sao phải chấm mật? Không chấm mật cũng được, cứ thế bỏ vào hết. 

Nghi quỹ Hộ Ma của Mật giáo cực kì trang nghiêm, âm thanh niệm chú phải chỉnh tề và hùng tráng, chư Thiên và Phật Bồ Tát nghe được thì đều rất hoan hỷ. Bạn bày đàn thành rất đẹp đẽ, sạch sẽ, lửa bốc lên rất mạnh, cúng phẩm lại cực kì thanh tịnh. Giả sử tôi là Phật Bồ Tát thì tôi cũng thích, quá tốt rồi. Nghi quỹ như vậy là rất chu toàn, chú âm lại đẹp đẽ vi diệu, mọi người cùng phát tâm, cầu nguyện, cực kì tốt, cho nên có thể thay đổi vận mệnh. 

Hộ Ma không những có thể gia tăng pháp lực, thay đổi vận mệnh mà còn có thể tiêu trừ các nghiệp chướng, pháp này là cực kì tuyệt vời. Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum. 

20/09/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 096. Nói kĩ về Hộ Ma (3)


Chúng ta nói về Hộ Ma tiết thứ ba. Chúng ta hiểu rằng Hộ Ma hỏa cúng trong Mật giáo vô cùng quan trọng. Khẩu quyết của nó chính là phải quán tưởng Bổn tôn trí huệ trong hư không đến bên trong lửa, hơn nữa sau khi bản thân bạn đã biến thành Bổn tôn trí huệ thì chính bạn cũng phải đi vào trong lửa.

Lửa, Bổn tôn và hành giả hợp nhất với nhau cùng làm cúng dường lửa, đây là khẩu quyết rất quan trọng. Thật ra khẩu quyết trọng yếu này không tách rời sự tập trung tinh thần. Trong quá trình tu pháp Mật giáo, bất kì một pháp nào, bất kì một quán tưởng nào, bất kì một câu chú nào, bất kì một thủ ấn nào, toàn bộ đều phải tập trung tinh thần. Nếu tập trung tinh thần để làm Hộ Ma hỏa cúng thì bạn sẽ rất nhanh chóng có thể cảm ứng được, có thể giao tiếp với ý thức vũ trụ, giao tiếp với Bổn tôn.

Rất nhiều người hỏi tôi về bí quyết, khẩu quyết tu hành là gì? Tôi đều nói với người đó: “Bạn nhất định phải tập trung tinh thần để làm việc này.” Tu một đàn pháp, tu một đàn Hộ Ma đều phải cần tập trung tinh thần để làm. Cảm nhận, cảm giác và sự giao cảm lúc này đều khác, tuyệt đối không giống.

Bởi vậy mỗi lần tôi làm Hộ Ma hỏa cúng, hoặc tu pháp, đều phải tập trung tư tưởng, tập trung tinh thần lại để quán tưởng, kết thủ ấn, trì chú. Khi làm việc này, chỉ cần tinh thần tập trung lại thì rất nhanh chóng Bổn tôn trí huệ trong hư không sẽ giáng xuống người bạn.

Tôi từng có ba lần trong trạng thái nhập định, trong ba lần nhập định đó, trong thời gian rất ngắn đã cảm thấy Bổn tôn từ hư không giáng xuống bên trong thân thể tôi, hợp nhất với tôi. Trạng thái trời người hợp nhất này rất thù thắng, cảm nhận đó rất phi phàm, cực kì quang vinh, cực kì khoan khoái, cực kì đặc biệt. Cảm nhận đó thật sự không giống với tu hành thông thường, đó chính là một dạng du già, du già chính là trạng thái hợp nhất, bạn đã cùng với Bổn tôn hợp lại rồi.

Triết học Trung Quốc thường nhắc đến trời người hợp nhất, trời người hợp nhất không phải là một khẩu hiệu, cũng không phải là một lý luận, mà là trên thực tế bạn và ý thức vũ trụ toàn bộ hợp lại, biến thành một kiểu trạng thái của “một”. Tôi nhận thấy làm Hộ Ma là dễ đạt được điều này nhất, giả sử bạn làm rất cẩn thận, rất tỉ mỉ phân tích, rất tỉ mỉ quán tưởng Bổn tôn đi vào trong lửa, quán tưởng chính bạn đi vào trong lửa, lửa, Bổn tôn và bạn ở trong trạng thái kết hợp với nhau thì tức là trời người hợp nhất.

Từ Mật giáo thực tiễn trời người hợp nhất là rất dễ. Bạn xem Hiển giáo thông thường, ở trong chùa, mọi người làm cúng dường, hương, hoa, đèn, trà, quả cúng dường, châm hương, cầm hương lạy một cái rồi đem cắm hương, sau đó lạy một cái, lạy xong thì cũng đi luôn. Có khi chẳng đi đâu cả, mấy phút sau thì vội vàng thu dọn đĩa, hương, hoa, đèn, trà, quả về. Bởi vì nếu bạn không thu dọn về, lát sau người khác sẽ lấy nhầm, lấy hết cúng phẩm của bạn đi mất, thế thì bạn sẽ ở đó khóc luôn.

Mật giáo không như thế. Mật giáo là đốt hết những cúng dường của bạn, cúng dường lửa này chính là bỏ cúng phẩm vào trong lửa, tức là trực tiếp đốt hết. Điều này tương đương với Phật, Bồ Tát đã tiếp nhận cúng dường của bạn, và không có chuyện thu về, không phải là lấy về rồi sau đó ăn. Hơn nữa, bạn cần phải tập trung tinh thần đi làm cúng dường như vậy, đây chính là chỗ mà Mật giáo khác với Hiển giáo. Nói về Hiển giáo thì cúng dường xong là đi, là thu về, thế rồi chẳng có gì khác nữa. Đây chính là điểm khác biệt.

Mỗi lần khi tôi làm hỏa cúng, chắc chắn sẽ có cảm nhận, tức là chắc chắn có cảm ứng, cảm nhận về trời người hợp nhất, mỗi lần đều xuất hiện. Hơn nữa còn nhập định ba hồi, Bổn tôn và bạn hợp nhất chính là ba hồi. Vì thế, tôi cảm thấy chúng ta làm hỏa cúng là cực kì quan trọng, đệ tử Chân Phật Tông từ sau khi pháp Hộ Ma được truyền đi, mọi người đều rất nỗ lực học làm hỏa cúng. Tu pháp Hộ Ma nhận quán đảnh, toàn bộ nghi quỹ bạn đều hiểu rõ rồi, tập trung tinh thần để làm, bạn sẽ có được hiện tượng tương ứng rất tốt.

Đương nhiên hỏa cúng có ý nghĩa của nó, có thể đốt sạch những phiền não và nghiệp chướng của thân thể bạn. Ví dụ gỗ Hộ Ma chấm vào mật chính là biến đắng thành ngọt, từ đắng hóa thành ngọt, ý nghĩa của chấm mật là ở đây. Gia tăng lợi ích, gia tăng phúc phần, gia tăng trí huệ, đều có ý nghĩa ở trong đó. Ở trong đây có rất nhiều chi tiết và rất nhiều khẩu quyết, bạn phải lần lượt hiểu rõ. Mỗi đệ tử đều phải làm hỏa cúng cho tốt, đều sẽ có được cảm nhận tốt giống như Sư Tôn xuất hiện. Ánh sáng của lửa sẽ nâng cao bản thân bạn, khiến bạn có phúc phần hơn, có trí huệ hơn, nghiệp chướng tiêu trừ. Đây là phương pháp tu hành cực kì tốt.

Tôi cho rằng tổ sư Tsongkhapa nói: “Thành tựu Trì minh, thành tựu Tam ma địa, thành tựu Hộ Ma là ba thành tựu lớn của Mật giáo, và pháp Hộ Ma chính là một trong ba thành tựu lớn đó.

Hôm nay nói tới đây thôi. Om mani padme hum.

23/09/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 097. Nói kĩ về Hộ Ma (4)


Tôi lại nói thêm với mọi người về Hộ Ma. Đây là tiết thứ tư nói về Hộ Ma rồi. Lửa Hộ Ma này bập bùng ở bên trong lò đốt đều có tính tượng trưng và ý nghĩa ở trong đó. Lửa đại diện cho cái gì? Nó đại diện cho ánh sáng. Vì lửa có thể tỏa ra nhiệt và quang rất mạnh, cho nên nó đại diện cho ánh sáng.

Và lửa cũng tượng trưng cho thanh tịnh. Mọi người biết rằng tu hành Mật giáo chính là thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh. Khi lửa đang cháy sẽ hóa tất cả mọi thứ thành tro tàn, tương đương với hư không. Lửa đốt hết sạch nghiệp chướng, tức là thanh tịnh.

Lửa cũng có thể nói là trí huệ. Bạn xem khi lửa bập bùng cũng tương đương với trí huệ đang nhảy nhót. Lửa cũng là niệm lực, bạn tập trung suy nghĩ của mình vào ngọn lửa, các trạng thái mà ngọn lửa sản sinh ra lúc này chính là niệm lực của bạn tạo thành, khiến lửa nhảy nhót trong lò Hộ Ma. 

Lửa còn tượng trưng cho niết bàn. Bạn có biết thế nào gọi là niết bàn không? Niết bàn giống như là hỏa thiêu. Khi người xuất gia viên tịch, dùng lửa để thiêu, hóa thành không, quy về không. Họ đã tiến nhập tính Không, quy về ý thức vũ trụ, đến Tây phương Cực Lạc thế giới, họ đã bất động rồi. Hai chữ “bất động” này rất có ý nghĩa, họ đã bất động rồi. Quy về hư không chính là một trạng thái của niết bàn tịch tĩnh. Lửa cũng đại diện cho niết bàn, ý nghĩa của lửa có rất nhiều.

Nói đến phương diện thanh tịnh, tôi nói một chút về quán bạch cốt (xương trắng), quán bạch cốt chính là dùng lửa để tạo ra. Lợi dụng việc quán tưởng lửa để tu thành quán bạch cốt, tiến vào một trạng thái tịch diệt. Trước kia, Phật Đà dạy đệ tử, đối với người có dục vọng tương đối nặng, bảo họ phải tu quán bạch cốt. Tu pháp quán bạch cốt là như sau: đầu tiên quán tưởng ngón chân cái của mình thối rữa, chỉ còn lại một mẩu xương trắng. Thế rồi từng phân từng phân da thịt thối rữa ra. Tiếp theo là quán thân bất tịnh, quán tưởng thân thể mình chẳng hề sạch sẽ, bên trong toàn là phân niệu, tinh, huyết, thân thể của chính bạn không hề sạch sẽ.

Bạn xem xem, gỉ mắt, gỉ mũi, nước dãi, ráy tai, mồ hôi toát ra ở trên đầu. Nước tiểu, phân, máu dịch, máu tanh, các cơ quan, ngũ tạng, có thứ nào là sạch sẽ chứ? Sau đó, bạn quán khi thối rữa ra còn sinh dòi, toàn thân thối rữa sinh dòi, chẳng thể nào ưa thích nổi.

Bạn rất thích gái xinh, rất thích trai đẹp, một bộ xương người bày ra trước mặt bạn, bạn đi hôn nó, bạn chạy tới người đó và hôn. Thật ra thứ mà bạn hôn là lớp da thôi, bên trong là bộ xương rất đáng sợ. Nói ra chính là như vậy.

Bạn nói làn da này vừa trắng vừa mịn vừa mềm, thật ra bạn nên biết đó chỉ là một lớp da, lớp bề mặt này bạn phải quán tưởng nó không sạch sẽ, khi nó thành chảy mủ thì sẽ như thế nào, khi nó sinh ra dòi thì sẽ như thế nào.

Cho nên Phật Thích Ca Mâu Ni dạy quán bạch cốt là bắt đầu thối rữa từ ngón chân, sau đó toàn thân thối rữa, da thịt toàn thân thối rữa biến thành một bộ xương trắng. Sau đó lại quán tưởng tất cả chúng sinh toàn bộ đều thối rữa ra, rữa ra chỉ còn lại một bộ xương trắng. Sau đó dẫn nội hỏa của chính mình, đốm lửa vốn có để thiêu đốt chính mình. Thiêu cháy toàn bộ xương cốt thành tro tàn, sau đó ngọn lửa này lại dẫn tới chúng sinh, lại thiêu rụi toàn bộ chúng sinh, biến thành tro, toàn bộ đều quy về hư không. Đây chính là quán bạch cốt. 

Trước kia khi tôi thường xuyên xem phong thủy, giúp người ta “tiến kim”, tức là bày biện xương cốt của người rồi đặt vào trong đất. Bạn nhìn bộ xương trắng đó bạn có thích được không? Tôi nói với bạn chủ nhân của bộ xương trắng đó, khi còn sống là mỹ nữ tuyệt sắc, đôi khi trên tấm bia mộ còn có dán ảnh nữa. Chà! Xinh đẹp thế này, mái tóc dài đen óng ả, cặp mắt to long lanh. Bạn biết rằng khi những thứ này rơi rụng hết thì chỉ là một bộ xương trắng, rất đáng sợ.

Bạn thường xuyên quán tưởng mình thành một bộ xương trắng thì sẽ có thể dập tắt hết dục niệm, quán tưởng đối tượng của bạn thành xương trắng, bạn sẽ xuất gia đó. Quán tưởng tướng mạo tuyệt sắc của đối tượng mà bạn rất thích thành xương trắng, trong lòng sẽ cảm thấy đời người chẳng qua chỉ như thế này thôi, chính là một đống xương trắng.

Quán bạch cốt mà Phật Đà dạy là như thế này: quán tưởng chính mình thành xương trắng, quán tưởng chúng sinh thành xương trắng, nổi lửa lên là toàn bộ hóa thành tro tàn, cái gì cũng không còn.

Bởi vậy, đôi khi con người nghĩ về chính mình, đừng có luôn luôn nghĩ đến vẻ bề ngoài của mình, phải nghĩ đến tướng bên trong của mình, nghĩ đến tướng bên trong của chúng sinh, dập tắt dục vọng của chính mình. Người có dục vọng nặng phải tu quán bạch cốt. Thật ra chẳng hề có gì, thế giới này vốn dĩ chính là một hư không, bạn nghĩ như vậy thì dục vọng sẽ không còn nữa, tham niệm của bạn sẽ rơi rụng. Thường xuyên làm như vậy thì sẽ rất giúp ích cho việc tu hành của bạn.

Quán thân bất tịnh, quán tưởng thân thể mình không hề sạch sẽ, từ đó bạn sẽ biết ý nghĩa mà lửa Hộ Ma tượng trưng. Ánh sáng, trí huệ, thanh tịnh, niết bàn đều đại diện cho lửa.

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

23/09/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 098. Nói kĩ về Hộ Ma (5)


Hôm nay chúng ta nói tiết thứ năm về Hộ Ma. Đàn Hộ Ma của Đông mật cực kì trang nghiêm, khi họ làm Hộ Ma thì sẽ kết những dải lụa màu, dụng cụ cúng đều dùng vàng bạc, có một số thứ thì mạ vàng, khi nhìn vào khiến tâm lý người ta cảm thấy vô cùng thích thú. Nói chung, chính vì thứ bạn thích và thứ mà Phật Bồ Tát thích sẽ hô ứng lẫn nhau. Đàn thành phải khiến cho chính bạn thích thú, thế thì trong lòng Phật Bồ Tát cũng sẽ ưa thích, như vậy là hô ứng với nhau. Du già chính là nói về sự cảm ứng lẫn nhau, đàn thành phải rất trang nghiêm, rất nghiêm túc, rất nho nhã, khi nhìn vào sẽ khiến tâm lý bạn thích thú, Phật Bồ Tát tự nhiên cũng sẽ ưa thích.

Tôi từng xem Hộ Ma của chùa Narita Đông mật ở Nhật Bản. Lò Hộ Ma của Đông mật được xây bằng gạch, dùng dải lụa màu để trang trí rất trang nghiêm. Về phía Tây Tạng, trước kia có một vị viện trưởng viện Phật học Tây Tạng là Ba Mễ Cường Ba Rinpoche, hiện tại ông ấy cũng là sư phụ của Panchen thứ 11, là một vị Hoạt Phật có địa vị cao nhất ở Tây Tạng, tôi từng cùng với ông ấy làm Hộ Ma.

Đàn Hộ Ma có quy tắc của nó, phải dùng màu sắc để bố đàn, như là dùng màu vàng, dùng màu trắng, dùng màu đỏ, màu đen. Bốn màu sắc này cũng có tính tượng trưng: màu trắng đại diện cho tiêu tai, màu vàng đại diện cho tăng ích, màu đỏ đại diện cho kính ái, màu đen đại diện cho hàng phục.

Ngoài ra, theo quy tắc thì đàn thành cũng có hình dạng khác nhau. Bạn muốn làm pháp hàng phục thì dùng đàn hình tam giác. Pháp tăng ích thì dùng đàn hình vuông. Pháp kính ái thì dùng đàn hình bán nguyệt. Tiêu tai thì dùng đàn hình tròn. Vì thế, đàn Hộ Ma trong Mật giáo cũng có sự phân biệt, đây là vì tác dụng tương ứng.

Cũng có đệ tử hỏi tôi là làm Hộ Ma ở Mỹ, ở bên ngoài đốt lửa không dễ. Lửa vừa bốc lên là xe cứu hỏa đến luôn, rất phiền phức. Hàng xóm cũng sẽ sang nói.

Có đệ tử nói: thế thì dùng lò sưởi của mình, *fire place*, rồi đốt Hộ Ma thì có được không? Theo quy tắc mà nói thì không được. Bởi vì làm Hộ Ma ở trong lò sưởi thì đương nhiên là tiện lợi, rất đơn giản, nhưng lại mất đi sự trang nghiêm. Vốn dĩ bạn đang làm hỏa cúng, phải thỉnh rất nhiều Phật, Bồ Tát giáng xuống, lẽ nào Phật, Bồ Tát lại từ ống khói đi xuống sao? Bạn đốt lò sưởi, rồi đốt một ít cúng phẩm trong lò sưởi, lửa sẽ bốc lên trên ống khói, vậy bạn muốn kêu Phật, Bồ Tát từ trong ống khói giáng xuống, biến thành đen sì sao. Hơn nữa lò sưởi có trang trí thế nào cũng không trang nghiêm, rất khó khởi lên tâm hoan hỷ. Đó là một điểm.

Ngoài ra còn có người phát minh ra lò Hộ Ma rất nhỏ, nhỏ chỉ bằng cái bát. Mọi người nghĩ xem, có một vấn đề rất đơn giản, gỗ Hộ Ma căn bản là không thể bỏ vào được. Khi bạn tĩnh tọa, vì lò Hộ Ma nhỏ, chẳng thể nào duy trì được ngọn lửa. Khi bạn nhập Tam ma địa thì ngọn lửa này đã tắt rồi, không còn dư ra nhiều thời gian để cho bạn nhập Tam ma địa. Lò Hộ Ma nhỏ, cho nên các vật để đốt ít, lửa không thể duy trì được lâu, làm sao bạn nhập Tam ma địa được? Có khi kết một cái thủ ấn, còn chưa kết xong thì lửa đã sắp tắt rồi, lại phải vội vàng ném thêm đồ vào. Cho nên cái này cũng không được.

Vì thế kích cỡ của một cái lò thông thường phải có quy tắc, nếu không sẽ mất đi sự trang nghiêm. Kích thước lớn nhỏ của lò Hộ Ma vẫn phải có quy tắc, chí ít là phải rộng bảy tấc [khoảng 70cm] thì mới có thể ném gỗ Hộ Ma vào được. Gỗ Hộ Ma cũng có quy tắc, độ dài của nó cũng có quy định, bạn không thể làm nhỏ như thế này.

Bạn phải cúng dường như biển mà, nói chung, cúng phẩm ví dụ như sữa cũng không thể chỉ bỏ vào một giọt. Vì thế, kích thước của lò Hộ Ma còn phải phù hợp với thân thể của con người. Bạn không thể nói là người tôi cao to thế này, còn lò Hộ Ma thì nhỏ thế này, chiếc lò bé tí đặt ở trước mặt bạn, nhỏ quá, Phật Bồ Tát nhìn thấy đều nói: “Làm trò gì thế này? Đại Phật ta đây giáng xuống, kết quả là nhìn thấy cái lò Hộ Ma bé xíu này.”

Bởi vậy lò cũng rất quan trọng, Chân Phật Tông chúng ta lựa chọn trung đạo, lò Hộ Ma không làm quá to, không cần to như cái hồ bơi, nhưng cũng không được nhỏ như cái bát. Hãy lấy thân thể người chúng ta để làm tỉ lệ mà làm lò Hộ Ma. Bởi vì lò Hộ Ma to quá thì tay cũng không với tới, nhỏ quá thì đụng bàn tay một cái là lật đổ luôn cái lò, thế thì cũng không được.

Tôi từng làm Hộ Ma cùng với Ba Mễ Cường Ba Lạc Châu, cũng từng làm Hộ Ma cùng với giáo chủ Hoa giáo là Đạt Khâm Rinpoche. Rất nhiều đại Hoạt Phật đã tham gia cùng với chúng ta, cùng dùng tâm lực của chúng ta để làm một số pháp sự, pháp vụ, mọi người cùng dùng tâm lực để hoàn thành chúng. Cho nên cứu độ chúng sinh, làm Hộ Ma là rất tốt, Hộ Ma sẽ sản sinh ra một loại pháp lực, Phật Bồ Tát sẽ giáng xuống, sẽ có cảm ứng đạo giao [sự tương giao giữa cảm của chúng sinh và ứng của Phật]. 

Hôm nay nói đến đây. Om mani padme hum.

24/09/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 099. Nói kĩ về Hộ Ma (6)


Hôm nay là tiết thứ sáu nói về Hộ Ma. Bản thân Hộ Ma có cúng phẩm, rất nhiều đệ tử hỏi Sư Tôn: “Cúng phẩm gì là tốt nhất?” Tôi nói một câu rằng: “Thứ bạn thích là tốt!” Điều này rất vi diệu. Tôi nói, bạn thích thì Phật Bồ Tát cũng sẽ thích. Cho nên liên quan tới cúng phẩm, rất nhiều người nói là phải xem Phật Bồ Tát thích gì. Vậy thì Phật Bồ Tát thích cái gì? Cái đó thì không chắc. Nhìn chung mà nói, một câu rất đơn giản, bản thân Phật là vô tâm, cảnh giới của Phật rất cao rồi, ngài chẳng hề ưa thích hoa quả mà bạn cúng, cũng không ưa thích quần áo mà bạn mặc, cũng không chắc đã thích xe cộ, nhà cửa của bạn, cho nên dựa theo đạo lý của Mật giáo thì hãy dựa theo thứ mà bạn thích để cúng dường là đúng. 

Phật ở cảnh giới cao thật sự thì bản thân ngài chẳng có mong cầu gì, nhưng ngài muốn cảm ứng với bạn, tương ứng với bạn thì phải dựa vào thứ mà bạn thích nhất thì ngài sẽ sinh ra tâm hoan hỷ, đạo lý của Mật giáo là như vậy. Cho nên về phương diện cúng phẩm mà nói thì bạn hãy đem cúng dường thứ mà bạn thích nhất thì đó cũng sẽ là thứ mà Phật thích nhất.

Cúng phẩm của Hộ Ma, trong Mật giáo cũng có hai thứ rất đặc thù. Có người xem Chân Phật Tông chúng ta làm Hộ Ma có cúng rượu. Rượu không phải là một trong năm giới sao? Không được uống rượu là giới thứ năm, giới cấm thứ năm này là một giới tương đối nhẹ. Không sai! Bản thân Chân Phật Tông chúng ta mà nói thì cũng phải giữ năm giới, tốt nhất là bạn đừng uống rượu, nhưng giả sử bạn uống một chút xíu, uống một chút rượu thuốc, buổi tối trước khi đi ngủ uống một chút rượu thuốc, thì Sư Tôn cho rằng như vậy cũng có thể được.

Vì sao không được uống rượu? Bởi vì uống rượu có thể gây loạn tính, bạn sẽ đánh mất bản tính của mình, cho nên mới không được uống rượu. Giả sử bạn uống rượu là để thúc đẩy sự tuần hoàn máu và bạn không bị loạn tính thì bản thân điều này mà nói, bạn đã biến rượu thành cam lộ rồi. 

Những việc trên đời này không thể vơ đũa cả nắm, uống một chút rượu có lợi với thân tâm thì đó là cam lộ, uống rượu quá độ thì đó là thuốc độc. Cho nên ngày xưa Phật Thích Ca Mâu Ni chế định ra giới luật này, giới cấm cuối cùng trong năm giới là không được uống rượu, đó là vì rất nhiều người vì uống rượu mà đánh mất bản tính.

Chúng ta cúng Kim Cang Thần phải cúng rượu, bởi vì rượu là cam lộ, Kim Cang Thần uống cam lộ xong thì tinh thần của ngài sẽ sục sôi, ngài hành tẩu rất nhanh, ngài sẽ làm việc với tốc độ rất nhanh. Cho nên mỗi lần chúng ta cúng dường rượu cho Kim Cang Hộ Pháp, Không Hành, cúng dường rượu là ra lệnh cho Kim Cang Hộ Pháp, Không Hành có thể nhanh chóng hoàn thành việc mà chúng ta thỉnh cầu, và như thế thì các vị rất nhanh chóng sẽ hoàn thành những sự việc pháp vụ này. Bởi vậy nguyên nhân mà chúng ta làm Hộ Ma cũng cúng rượu là ở đây, là để cúng dường Kim Cang Hộ Pháp, bởi vì sau khi các vị có được cam lộ này rồi thì tinh thần trở nên hừng hực, và rồi sẽ chạy thật nhanh để hoàn thành công việc.

Hành giả Chân Phật Tông chúng ta tốt nhất là đừng uống rượu, bạn muốn uống thì uống chút chút, lượng sức mình mà uống, bạn uống quá lượng thì sẽ phạm giới, nếu không uống quá lượng thì không xem là phạm giới. Giới luật của Chân Phật Tông chúng ta là như vậy. Có cái gọi là sự “hỗ trợ”, bởi vì bạn uống một chút rượu thuốc thì được, rượu thuốc thúc đẩy sự tuần hoàn máu, để cho các vị thuốc chạy đến khắp nơi trong thân thể, điều này được cho phép. 

Rồi cúng nước hoa cũng vậy, rất nhiều người cảm thấy kỳ quái, sao chúng ta lại vẩy nước hoa? Mỗi lần Sư Tôn cúng nước hoa sẽ nói, dùng nước hoa này, lấy mùi thơm thanh tịnh này để cúng dường chư Thiên, Không Hành Mẫu, các thiên nữ, các vị sẽ sinh ra tâm hoan hỷ, vì nước hoa cũng khiến cho bạn sinh ra tâm hoan hỷ mà. Đôi khi nước hoa cũng khiến người ta cảm thấy vui thích, mà đã khiến cho con người cảm thấy vui thích thì cũng sẽ khiến cho chư Thiên cảm thấy vui thích, thế nên cũng cúng nước hoa.

Trong Chân Phật Mật Pháp của chúng ta có hai thứ rất đặc thù như vậy. Những thứ khác như cúng nước, cúng sữa, các sản phẩm từ sữa không trực tiếp bỏ vào lò, bởi vì đây là lửa, bạn bỏ quá nhiều sữa vào lò thì sẽ làm lửa tắt, cho nên sữa này đặt ở bên cạnh lò. Còn có cả đại mạch, tiểu mạch, hạt cải, hạt vừng, sữa bò, hương, hoa, đèn, trà, quả, đều có thể cúng dường, thậm chí là quần áo, vải bạn cũng có thể cúng dường, đó là thiên y, bạn thích những tấm vải này, bạn đem ra đốt, đây là cúng trời. Tuy là những thứ này có tính tượng trưng, nhưng bạn dùng tâm để cúng thì sẽ biến thành chân thực. 

Cúng dường Phật, Bồ Tát, bởi vì bản thân bạn thích, cho nên Phật Bồ Tát cũng thích, điều này sẽ dẫn đến tương ứng.
Cúng rượu — Kim Cang Hộ Pháp sẽ nhanh chóng đi hoàn thành pháp vụ.
Cúng nước hoa — tượng trưng cho thanh tịnh.
Cúng bột hương — đại diện cho trang nghiêm, có thể làm trang nghiêm Phật quốc.
Cúng trà — đại diện cho pháp vị.
Cúng bánh quy — đại diện cho tư lương, tư lương có thể khiến cho chúng sinh đều được no đủ.

Những thứ này đều có hai tầng ý nghĩa: cúng nước chính là để dập tai nạn, có thể thanh tịnh tâm chúng sinh; cúng gạo là để chúng sinh được no đủ; cúng trà là để chúng sinh có được pháp vị; cúng phấn thơm là để chúng sinh được thanh tịnh; cúng thiên y là để chúng sinh đều có quần áo mặc, chúng sinh đều được ăn mặc đủ đầy. 

Những cúng dường này đều rất tốt, có hai tầng ý nghĩa ở trong đó. Cúng dường như vậy, bạn dùng tâm cúng, tâm bạn và tâm Phật Bồ Tát tương thông. Xoạch! Búng tay một cái là tương ứng lẫn nhau rồi, giữa bạn và Phật Bồ Tát đã cảm ứng đạo giao rồi. 

Cho nên Hộ Ma là phương pháp tốt nhất để mời Phật, Bồ Tát giáng xuống. Hôm nay giảng tới đây thôi. Om mani padme hum.

24/09/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 100. Pháp môn an tâm


Lần này chúng ta nói về pháp môn an tâm. 

Có đệ tử hỏi tôi: “Tu hành Chân Phật Mật Pháp là pháp thế nào?” Tôi bèn trả lời người đó rằng: “An tâm.”

Phạm vi của pháp môn an tâm rất rộng, tuy nhiên tôi cần phải giải thích rõ một ý nghĩa chủ yếu nhất của nó. Thế nào là an tâm? Làm sao để đạt đến an tâm? Nói đến làm sao để đạt đến an tâm, cái này rất thâm sâu ảo diệu.

Trước kia vào thời đại Phật Thích Ca Mâu Ni, có một tì kheo ở trong rừng tĩnh tọa. Ông ấy đến nói với Phật Đà rằng tâm ông ấy không thể an, Phật Đà liền hỏi ông ấy: “Vì sao tâm ông không thể an?” Ông ấy nói khi ông ấy tĩnh tọa ở trong rừng, áo pháp của ông ấy bị rách, cho nên tâm không thể an được. Phật Đà lại hỏi ông ấy: “Trong rừng có lá cây rơi xuống không?” Ông ấy nói có. Phật Đà liền hỏi ông ấy: “Bây giờ tôi hỏi ông, lá cây này từ trên cây rơi xuống, tâm ông có an không?” Ông ấy nói có an. Phật Thích Ca Mâu Ni đã dùng cách đó để dạy tất cả các tì kheo, pháp môn an tâm chính là ở đây.

Vì sao áo pháp của mình bị rách thì tâm bạn không an? Vì sao khi bạn tĩnh tọa, ở bên cạnh lá cây rơi xuống thì tâm bạn có thể an? Điều này nằm ở một chữ “ngã”. Áo pháp khoác trên người ta thì có liên quan đến ta, có liên quan tới hình tượng của bạn, cho nên tâm bạn mới bất an. Lá cây rơi xuống chẳng hề liên quan gì đến bạn, cho nên tâm bạn có thể an, đây chính là vấn đề của ngã chấp. Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng vì sự việc như vậy mà dạy bảo các tì kheo.

Mọi người hãy dùng suy nghĩ của bạn mà ngẫm nghĩ một chút, bây giờ Sư Tôn đang mặc áo pháp này, chiếc áo pháp này chính là áo bào Pháp Vương, là áo mà Pháp Vương Ganden Tripa mặc, ngài ấy trao cho tôi để cho tôi mặc. Ồ, mặc chiếc áo này lên thì cảm giác khác hẳn, dường như chính mình đã biến thành Pháp Vương rồi, cảm giác chẳng hề giống bình thường. Chiếc áo này đích xác là của ngài ấy, pháp bào này đã rất cũ rồi, cũng có chỗ rách rồi, bên dưới cũng đã phải sửa rồi, tôi mặc vào cảm thấy kì kì, thế là nhờ pháp sư Bích Trân khâu lại, bên dưới đã phải khâu lại một chút. Tôi cũng nghĩ tới việc cầm đi giặt khô, bởi vì có khả năng nó đã được mặc mấy trăm năm rồi chưa giặt, đây là chiếc pháp bào Pháp Vương truyền thừa, đời này truyền cho đời khác, pháp bào truyền thừa từ đời này sang đời khác, nhưng tôi chưa giặt bao giờ. Chiếc áo bào này vẫn y nguyên là chiếc áo bào lấy từ chỗ của Ganden Tripa, cứ thế mặc trên người, đến bây giờ vẫn chưa từng giặt.

Phật Đà lấy ví dụ này nói với mọi người: “Việc không liên quan đến ta thì bỏ, việc liên quan đến ta thì loạn.” Người tu hành trước tiên đạt đến vô ngã, vô ngã là một điều kiện, là một trí huệ rất quan trọng, rất trọng yếu, rất cao thâm. Đó là pháp môn an tâm. Trên đời có phiền não chính là vì còn có cái chữ “ngã” này nên mới có phiền não. Khi cảnh giới tu hành của bạn cao rồi, thật sự có thể lĩnh hội được vô ngã, bạn sẽ không thể có phiền não nữa, đây gọi là an tâm, tâm bạn mới có thể an được.

Giống như Sư Tôn nhìn sinh lão bệnh tử của thế giới Ta Bà, đủ loại bệnh, đủ loại tai nạn, đủ kiểu ân ái tình thù, tôi chỉ cười xòa. Ngày hôm nay bạn để ở trong tâm thì chắc chắn sẽ có phiền não, hơn nữa chắc chắn không thoát được. Tôi nói một lời tương đối nghiêm trọng: hôm nay bạn tu hành, nếu bạn không loại bỏ được ngã chấp, bạn lúc cười lúc khóc, thì bạn sẽ dở khóc dở cười, bạn sẽ vĩnh viễn gánh chịu nghiệp chướng tích lũy nhiều kiếp, vĩnh viễn không có cách nào giải thoát được chính mình. Bởi vì bạn đều vì chính mình mà.

Mình được thì cười, mình mất thì khóc, hôm nay cười, ngày mai khóc, đúng là dở khóc dở cười. Trên thực tế chính là như vậy, đời người chẳng có gì đáng nói. Tiền, sắc, danh, ăn, ngủ, từ vợ chồng, hôn nhân, sự nghiệp, tình cảm, con cái, học hành, có được mấy thứ đâu, chỉ vài thứ này thôi, đã khiến tất cả mọi người đều mệt mỏi rồi.

Hôm nay bạn đi trên con đường tu hành Chân Phật Mật Pháp chính là vì an tâm. Vì sao bạn quan tâm đến tâm mình thì lại loạn, là việc của người khác thì tâm bạn có loạn không? Đương nhiên tâm bạn sẽ không loạn rồi, bởi vì không liên quan gì đến bạn mà. Đây vẫn là do một chữ “ngã” gây ra mà thôi.

Phật pháp rất thâm sâu ảo diệu. Hôm nay bạn muốn giải thoát phiền não, giải thoát đau khổ của bạn, phương pháp duy nhất là bạn phải có trí huệ vô ngã. Tôi nói với bạn nhé, bạn nói định lực của bạn rất cao, định lực rất mạnh, không sai, định lực chính là hòn đá đè cỏ, định lực của bạn giống như hòn đá, cỏ bị bạn đè bẹp, nhưng chẳng qua chỉ là miễn cưỡng đè phiền não xuống mà thôi. Hôm nay định lực của bạn mất đi thì cỏ lập tức sống lại, bạn lại có phiền não. Phải từ trong định lực đi thâm nhập trí huệ, sau khi có được trí huệ của vũ trụ đó, bạn mới có thể thật sự giải thoát phiền não, mới có thể thật sự an được tâm bạn. 

Bạn vì chuyện tình cảm mà phiền não, vì hôn nhân mà phiền não, vì tên tuổi mà phiền não, vì lợi ích mà phiền não, vì con cái mà phiền não, vì sự nghiệp mà phiền não, đủ thứ phiền não, chỉ vì liên quan tới mình mà thôi. Hôm nay bạn coi mình thành vô tướng giống như hư không thì phiền não làm sao còn.

Hôm nay giảng tới đây thôi. Om mani padme hum.

25/09/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 101. Pháp giới an lập


Chúng ta nói về pháp giới an lập. Có thể nói toàn bộ ý thức vũ trụ đều là pháp giới. Trong Phật giáo nói đến pháp giới chính là mười pháp giới, bốn Thánh giới và sáu đạo, cộng lại chính là mười pháp giới.

Pháp giới an lập, trong Mật giáo, có hai đồ hình: một là Mandala Kim cương giới, một là Mandala Thai tạng giới. Trước kia tôi từng giảng, Kim cương giới biểu thị Phật Bồ Tát quả địa, Thai tạng giới biểu thị Phật Bồ Tát nhân địa. Khi mới bắt đầu tu hành, đó là Phật Bồ Tát nhân địa, đến khi đắc thành Phật Bồ Tát quả địa thì là Kim cương giới, đây là sự phân biệt Kim cương giới và Thai tạng giới.

Rất nhiều người hỏi tôi: Lư Sư Tôn dạy người ta quán tưởng hít thở thì phải hít vào ánh sáng trắng, thở ra khí đen. Hít vào phải hít ánh sáng trắng, khí đen phải thở ra. Vậy thì ánh sáng trắng từ đâu tới? Thật ra ánh sáng trắng đến từ ý thức vũ trụ, đến từ hư không, nhưng bạn chẳng có cách nào quán tưởng được. Rất nhiều nggười đều như vậy, nhất định phải có vật gì đó để họ nhìn thấy thì họ mới có thể nghĩ được là ồ, thì ra ánh sáng trắng là từ nơi đó đi vào trong mũi ta, sau đó lại thở ra khí đen, khí đen của toàn thân tiêu tan theo cách đó.

Rất nhiều người hỏi: “Thứ gì có thể tượng trưng cho ánh sáng trắng đó?” Trong Mật giáo chính là dùng mandala để làm vật tượng trưng cho ánh sáng. Bản thân Tsongkhapa giảng “Mật tông đạo thứ đệ quảng luận”, hoàn toàn là đang xây dựng mandala — từ đầu đến cuối. Trong khi giảng bốn bộ pháp, hoàn toàn giảng bắt đầu từ kiến lập mandala, cũng chính là pháp giới an lập. Trước tiên là phân tích cực kì rõ ràng về pháp giới của toàn bộ ý thức vũ trụ.

Ý của ngài ấy là như thế này, mandala chính là đại diện cho sự an lập của pháp giới. Bên trong mỗi một mandala đều có chủ tôn, cũng tương đương là có Bổn tôn, bên cạnh Bổn tôn lại có quyến thuộc, bên cạnh quyến thuộc lại có Hộ pháp, pháp giới chính là an lập như vậy.

Tương lai mỗi hành giả Chân Phật khi tu hành có thể an lập một mandala, hoặc là một đàn thành, chính là tượng trưng ánh sáng trắng từ nơi đó đi vào. Khi bạn quán tưởng, nhắm mắt lại, ánh sáng trắng từ mandala đi vào lỗ mũi bạn, đi xuống xoay chuyển một vòng, bạn làm Cửu tiết Phật phong là thở ra khí màu đen, chính là nghiệp đen trên thân thể bạn, đẩy hết ra ngoài, hít vào ánh sáng của pháp giới - tịnh quang đi vào. Cho nên hít vào trắng thở ra đen chính là đang làm công việc tiêu trừ nghiệp chướng của bạn. Một khi nghiệp chướng tiêu trừ thì tâm bạn cũng sẽ có thể an. Nghiệp chướng chưa trừ thì tâm bạn vĩnh viễn bất an, tâm sẽ khó mà an được. 

Trên thực tế chúng ta tu hành pháp môn an tâm, sau khi pháp giới an lập, bạn hãy chăm chỉ tu pháp môn an tâm của bạn.

Mandala Kim cương giới và Mandala Thai tạng giới, trong Mật giáo chính là hai bộ đại mandala. Có rất nhiều truyền thuyết liên quan đến mandala, có thuyết thì nói rằng hai bộ đều là do chính Long Thụ Bồ Tát sáng tạo ra, cũng có thuyết nói rằng Mandala Thai tạng giới là do Thiện Vô Úy tạo ra, còn Kim cương giới là do Kim Cương Trí sáng tạo ra. Cách nói thông thường là như vậy.

Như trong Mật giáo Tây Tạng có rất nhiều thangka, cái gọi là thangka thật ra chính là mandala, cũng có một vị, cũng bao gồm quyến thuộc, Hộ pháp. Những mandala lớn lại càng nhiều hơn, rất nhiều vị đều tập trung lại, đều gọi là đại mandala. Lại có cả pháp mandala, tức là dùng ký hiệu, mandala dùng ký hiệu để biểu thị. Cũng có văn tự mandala, tức là trên mandala chỉ có Phạn văn. Có rất nhiều loại mandala, cũng có tam muội mandala, đủ loại mandala đều có thể gọi là pháp giới an lập.

Vậy chúng ta tu hành phải dựa vào bạn có duyên với vị nào nhất thì lấy vị đó làm Bổn tôn, rồi thờ cúng đàn thành đó và loại mandala đó. Bởi vì bạn là vị đó, cho nên bản địa của bạn là ở đó, Hộ pháp của bạn là ai, quyến thuộc của bạn là ai, tất cả đều sẽ hiển hiện trong pháp giới. 

Bởi vậy khi mới bắt đầu tu Mật giáo, phải lựa chọn Bổn tôn có duyên với mình nhất, có thể nói là tự mình lựa chọn pháp giới cho chính mình. Bạn cầm bông hoa, tung bông hoa, hoa rơi lên vị nào thì bạn hãy chọn vị đó làm Bổn tôn, tức là bạn có duyên với Bổn tôn đó, có duyên với quyến thuộc đó, có duyên với Hộ pháp đó, tất cả đều có rồi, lúc đó sẽ biến thành tam muội da của pháp giới, samaya được an lập sẽ sản sinh ra.

Pháp Vương Ganden Tripa đến Lôi Tạng Tự của chúng ta, ngài tung khăn khata dâng lên chư tôn. Khi tung ra, nói ra cũng lạ, mỗi chiếc khăn khata đều tung lên trên tay của mỗi vị. Ngài ấy nói rằng Phật Bồ Tát ở Seattle Lôi Tạng Tự và Cầu Vồng Lôi Tạng Tự đều rất linh, mỗi vị đều hiện ra dùng tay nhận lấy khăn khata của ngài ấy rồi móc lên cánh tay. Theo như họ kể thì trong số mười chiếc khăn khata tung lên, đại đa số trúng được ba chiếc khăn khata lên tay đã là cực kì rồi, không ngờ mười chiếc khăn tung lên, cả mười chiếc đều rơi trúng lên tay. 

Thế nên các vị ở Seattle Lôi Tạng Tự và Cầu Vồng Lôi Tạng Tự đều rất “sống”, là Phật Bồ Tát sống, thật sự là Phật sống, đều là Rinpoche, cho nên khi Ganden Tripa tung khăn lên rơi trúng tay thì biểu thị là có duyên, đúng lúc Phật Bồ Tát dùng tay để bắt lấy, cực kì có duyên. 

Bạn cũng phải lựa chọn Bổn tôn mà bạn có duyên nhất, bạn chăm chỉ tu là có thể an lập trong pháp giới, pháp giới tuy là hư không, nhưng cũng vẫn phải an lập. 

Hôm nay nói đến đây. Om mani padme hum.

25/09/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 102. Pháp giới định ấn (1)


Hôm nay chúng ta sẽ nói về một thủ ấn, thủ ấn này chính là pháp giới định ấn. Đây là một thủ ấn rất phổ biến, mỗi người chúng ta đi đến chùa Phật, nhìn thấy thủ ấn mà A Di Đà Phật kết, đó chính là pháp giới định ấn, cũng chính là Di Đà định ấn. Định ấn kết như thế này (Sư Tôn thị phạm).

Có người hỏi tôi: “Vì sao pháp giới định ấn lại là tay phải ở trên, tay trái ở dưới?” Thế rồi cũng có người nói là lẽ ra phải là tay trái ở trên, tay phải ở dưới. Vậy rốt cục là thế nào? Bởi vậy hôm nay tôi giải thích với mọi người một chút về pháp giới định ấn.

Mười ngón tay của con người chúng ta đại diện cho mười pháp giới, cũng đại diện cho ý thức vũ trụ. Chúng ta biết rằng đây gọi là đất, nước, lửa, gió, không (thị phạm thủ ấn). Trong Mật giáo, đất, nước, lửa, gió, không gọi là ngũ đại, ý thức vũ trụ cũng chính là do ngũ đại tổ hợp lại, không tách rời đất nước lửa gió không.

Đất là sao? Rất đơn giản! Chính là mặt đất. Nước - là biển, hồ, sông. Lửa - là nhiệt độ, địa nhiệt, mặt trời, nóng lạnh. Gió - là không khí. Không - toàn bộ hư không giới phân bố khắp trong vũ trụ đều gọi là không. Chúng ta biết rằng bản thân vũ trụ có đất nước lửa gió không. Bản thân con người mà nói cũng có đất nước lửa gió không, da thịt chính là đất; nước chính là máu, mồ hôi, nước tiểu; lửa chính là nhiệt độ; gió là khí vận hành của sự hô hấp; không chính là ý thức sâu nhất của bản thân bạn. Con người có đất nước lửa gió không, vũ trụ cũng là đất nước lửa gió không, pháp giới định ấn này là sự kết hợp như vậy.

Trong Mật giáo, pháp giới định ấn là tay phải đè lên tay trái, ngón cái chạm vào nhau, ngón trỏ cong lại thành vòng tròn, đây chính là pháp giới định ấn (thị phạm). Vì sao tay phải đè lên tay trái? Trong Mật giáo nói thế này, tay phải là đại diện cho Phật, tay trái là đại diện cho chúng sinh, không được lầm lẫn trái phải. 

Trước kia Sư Tôn thường nhầm lẫn trái phải, cho nên, trước đây có người dạy tôi là, khi người ta gọi anh, cái tay mà anh giơ lên chính là bên phải, cho nên người ta gọi tôi, “Có!”, cái tay này chính là tay phải, bây giờ nói chung tôi đã nhớ được rồi. Trước đây chúng tôi ở trong quân đội, mọi người xếp thành một hàng, người chỉ huy nói: "Bên phải, quay!” Mọi người quay sang bên phải, còn tôi thì quay sang bên trái, rồi bước đi, càng đi càng xa. Ở trong quân đội chúng tôi thường xuyên phải quay trái, quay phải, tôi thường xuyên nhầm lẫn không rõ là trái hay là phải, bây giờ cuối cùng tôi cũng đã làm rõ rồi, phải chính là cái tay này, quay bên phải chính là quay về bên này. Trước kia thì cứ quay về bên trái, rồi bước đi, thế là càng đi càng xa.

Mật giáo là tay phải đè lên tay trái, đặt Phật ở trên, chúng sinh ở dưới. Ngón cái này chạm vào nhau là ý nghĩa gì? Biểu thị Phật và chúng sinh tương thông. Cũng tức là Phật và chúng sinh liên kết lại với nhau, đó là tương thông. Ngũ đại của Phật và ngũ đại của chúng sinh chồng lên nhau và tương thông nhau, đây là định ấn, định tâm lại (thị phạm thủ ấn). 

Ý nghĩa của nó cực kì rõ ràng, thật ra có rất nhiều Phật đến thế giới Ta Bà độ chúng sinh, đây là từ quả hướng về nhân, từ quả địa đi đến nhân địa để độ chúng sinh, đây là Phật Bồ Tát từ bi quay ngược con thuyền từ bi, đến thế giới Ta Bà để độ chúng sinh. Phật cũng sẽ biến thành chúng sinh, vậy chúng sinh chúng ta tu hành là đi từ nhân địa hướng đến quả địa, chính là đi lên trên, vì muốn thành Phật đắc quả vị, chính là từ nhân địa đi về phía quả địa.

Vì thế giữa chúng sinh và Phật không có sự phân biệt lẫn nhau, một đằng là tu lên trên, một đằng là đi xuống độ chúng sinh, rất nhiều Hoạt Phật (Rinpoche) đều đang độ chúng sinh, có rất nhiều Phật Bồ Tát cũng hóa hiện ở trong chúng sinh.

Có một truyền thuyết như thế này: bạn trai tăng (trai tăng tức là cúng dường tăng nhân), trong số năm trăm người xuất gia hoặc một nghìn người xuất gia mà bạn trai tăng thì sẽ có một La Hán đến hóa hiện. Vì vậy mà công đức trai tăng rất lớn. Bởi vì trong đó chắc chắn có một chân thân La Hán đến hóa hiện tiếp nhận cúng dường của bạn, cho nên cúng tăng, trai tăng vô cùng quan trọng.

Bây giờ mọi người đã hiểu thế nào là pháp giới định ấn rồi. Phật, chúng sinh tương thông với nhau, ngũ đại của Phật nối liền với ngũ đại của chúng sinh, hai bên là như nhau. Có một câu nói rằng, “tâm, Phật, chúng sinh không khác biệt”. Khi bạn thật sự đạt đến khai ngộ rồi, bạn sẽ chẳng có khác biệt gì, cho nên chúng sinh đừng coi thường chính mình, đừng đánh giá thấp chính mình, bởi vì bản thân bạn cũng là Phật, chỉ là bạn có phiền não, bạn có nghiệp chướng mà thôi. Bạn chỉ cần loại bỏ hết phiền não và nghiệp chướng, bạn và Phật căn bản là không có khác biệt gì. Tâm, Phật, chúng sinh không khác biệt, căn bản không có phân biệt. Phật và chúng sinh hợp lại với nhau, hơn nữa còn liên kết lại, liên kết lại cùng nhau, không chỉ là tương thông, mà còn liên kết lại với nhau. 

Hôm nay giảng tới đây thôi. Om mani padme hum.

26/09/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 103. Pháp giới định ấn (2)


Chúng ta lại nói về pháp giới định ấn. Ở đây có một nghi vấn, có người hỏi: “Vì sao tay phải đè lên tay trái?” Cũng có người nói phải là tay trái đè lên tay phải. Rốt cục là thế nào?

Điều này lại có một cách giải thích khác như thế này. Chúng ta biết rằng trong cách so sánh nói tay phải biểu thị trí huệ, tay trái biểu thị thiền định, hai tay này mỗi tay đều có tính tượng trưng. Có hành giả chủ trương phải là tay trái đè lên tay phải, chủ trương này cho rằng thế này: bởi vì tay trái là thiền định, cho nên lấy thiền định đặt ở trên để đè những suy nghĩ vọng tưởng xuống, ý là như vậy, cho nên có người chủ trương tay trái đè tay phải. 

Tôi nghĩ rằng cả hai cách nói này đều đúng, đều có thể thông qua, nói theo Mật giáo thì tay phải đè lên tay trái, thế còn một số người lại chủ trương tay trái đè lên tay phải, bởi vì tay trái đại diện cho định, định thì phải là ở trên, bạn kết pháp giới định ấn thì định phải ở trên đè tay phải xuống, cách nói này cũng tương đối đặc biệt một chút.

Tôi từng nói về định lực, rất nhiều hành giả, người tu hành đại bộ phận đều sẽ sản sinh ra định lực, bởi vì bạn học định thì sẽ sản sinh định lực, nhưng cũng có người nói định lực không đáng tin cậy. Định lực giống như tảng đá lớn đè cỏ, bạn có đủ định lực không sai, chính là tảng đá đè những cỏ dại xuống, đè những vọng tưởng xuống. Nhưng khi có một ngày bạn bỏ định lực này ra, cỏ dại sẽ mọc lên, cỏ lại sống lại. Vì thế, lửa hoang vẫn cháy mãi, gió xuân thổi lại bùng. Bạn chẳng thể nhổ hết được cỏ dại. Vọng niệm cũng giống như cỏ dại, tuy rằng bạn có tảng đá định lực to như vậy, đè lên cỏ dại, nhưng có một ngày tảng đá này bị cần cẩu cẩu đi thì sao? Những cỏ dại đó vẫn sẽ lại sống lại.

Cách nói này rất hay, bởi vậy trí huệ rất quan trọng. Tay phải còn đại diện cho trí huệ, bởi vì duy có trí huệ mới có thể hoàn toàn nhìn thấu được phiền não và nghiệp chướng. Người tu định chúng ta đều có định lực, các bạn biết rằng người tu chính định có định lực, ví dụ học thiền định của Như Lai, bạn sẽ sản sinh ra định lực, bạn học thiền định của ngoại đạo, giống như Đạo gia cũng có thiền định. Không phải tôi chỉ ngoại đạo là Đạo gia, tuyệt đối đừng hiểu lầm. Nói cách khác là một dạng thiền định để thỉnh cầu cái khác, theo đuổi cái khác, không phải là dạng thiền định rốt ráo, cũng sẽ sản sinh ra định lực, hơn nữa định lực cũng rất sâu. Rất nhiều đại tu hành giả, bạn đừng thấy họ học tập thiền định khác, công phu thiền định đó cũng sẽ sản sinh ra, định lực rất cao rất sâu cũng sẽ sản sinh ra, nhưng định lực sản sinh ra không hề biểu thị rằng họ đã đạt đến thành quả cuối cùng.

Cho nên mới có tam học giới-định-huệ. Bạn cần phải giữ giới, giữ năm giới và làm mười điều thiện, sau đó lại học tập định lực, sau khi có định lực rồi thì bạn sẽ cảm giác phiền não, nghiệp chướng hình như đã giải thoát rồi. Trên thực tế đôi khi định lực của bạn mất đi, phiền não của bạn sẽ lại một lần nữa khởi lên. Cuối cùng, thứ thâm sâu nhất chính là bát nhã, bạn tiến vào bên trong bát nhã, dùng bát nhã để nhìn thấu phiền não và nghiệp chướng. Trên thực tế, định lực chỉ là đè nghiệp chướng và phiền não của bạn xuống, bạn vẫn còn có chúng. Chỉ có dùng trí huệ mới có thể hóa giải hoàn toàn nghiệp chướng và phiền não.

Bởi vậy có rất nhiều đệ tử đến chỗ tôi, họ nói với Lư Sư Tôn: “Seattle ở Mỹ thật tốt quá! Không khí tốt, cỏ cây tốt, hồ nước đẹp, cái gì cũng tốt, hoàn cảnh sống cũng tốt.” Nhưng họ sống ở Seattle Lôi Tạng Tự một khoảng thời gian thì bảo: “Tôi phải đi đây.” “Vì sao?” Anh ta nói: “Là vì việc người không tốt. Có người, có chuyện, rất nhiều người cứ “cạp cạp” nói chuyện thị phi, như vậy không tốt.”

Tôi nói với đệ tử đó: “Nơi nào có người thì sẽ có thị phi, trên thế giới này anh không tìm được cõi vui thanh tịnh đâu, không có đâu! Bất kì đoàn thể nào cũng đều có thị phi, tôi chưa từng thấy đoàn thể nào không có thị phi.”

Anh nói Seattle không tốt. Được thôi! Anh đi đi, anh đi tới Vancouver, cũng có người từ Vancouver đến, sau đó anh đến Los Angeles, Los Angeles cũng có phiền não! Anh đến New York, New York cũng có phiền não. Bạn đến Đài Loan, Đài Loan cũng có phiền não. Singapore có phiền não của Singapore. Indonesia có phiền não của Indonesia. Đến Philippines, đến châu Âu, đến Thụy Sĩ xem núi tuyết. Chà! Đây là núi tuyết, bạn ở đó thiền định, lạnh muốn chết, cũng có phiền não. Bạn đến Ấn Độ, đến Nepal, đến Tây Tạng, cũng thế thôi! Bạn đến Nhật Bản, cũng thế. Được rồi! Bây giờ bạn đến Điếu Ngư Đài vậy! [Điếu Ngư Đài là khu nhà khách chính phủ của Trung Quốc, nơi tiếp đãi các nguyên thủ quốc gia các nước.] Thế thì phiền phức càng lớn rồi, nơi không có người thì phiền phức càng nhiều. Tôi nói với bạn nhé. Chỗ an tâm thật sự nằm ở trí huệ của nội tâm, trí huệ của tâm bạn sinh ra thì bạn mới có thể an tâm, phiền não, nghiệp chướng mới có thể giải thoát, không có một nơi nào là không có thị phi.

Có đệ tử chạy khắp các đạo tràng các nơi, cho rằng Chân Phật Tông không tốt, tôi đi sang tông phái khác đây, ở trong tông phái khác anh ta lại lăn đi, bởi vì vẫn có thị phi. Anh ta đã chạy tới rất nhiều nơi, mỗi đạo tràng đều đã chạy tới, sau đó lại trở về, bởi vì đều như nhau cả. Thế giới này chỗ nào cũng thế.

Bạn thật sự tu được định lực, từ trong định có được bát nhã, bạn dựa vào phương pháp của bát nhã để nhìn thấu nghiệp chướng, phiền não vốn dĩ luôn có, nhưng bạn phải làm sao để chúng không động tới chân tâm của bạn, tâm của bạn mới là chỗ để bạn an tâm, đây mới là pháp môn an tâm chân chính.

Bạn chạy khắp các đạo tràng, chạy khắp thế giới, tu đủ loại pháp, đều không thể an được tâm bạn, chỉ có sau khi bạn thật sự có được bát nhã, bởi vì tất cả nghiệp chướng, phiền não vốn dĩ luôn có, nhưng nó không cách nào quấy rầy bát nhã của bạn, tâm của bạn được. Lúc này tâm của bạn, Phật tính mới thật sự hiển hiện. 

Bởi vậy tôi nói là nhìn thấu, tất cả nghiệp chướng, phiền não duy có dùng bát nhã để nhìn thấu, bạn phá được nghiệp chướng, phiền não thì cũng giống như là không còn nghiệp chướng, phiền não. Thật ra nghiệp chướng, phiền não này vẫn ở đó, chỉ là vì bạn đã nhìn thấu rồi, đây là pháp môn an tâm chân chính.

Om mani padme hum.

26/09/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 104. Bí quyết tu pháp (1)


Hôm nay nói về bí quyết tu pháp.

Pháp của Mật giáo có đủ loại bí quyết, bí quyết mà tôi sẽ nói đến ở đây chẳng qua chỉ là một trong số đó. Giải thích bí quyết như thế nào đây? Tôi đã nghĩ rất lâu rồi, có một so sánh, tôi so sánh như thế này: giống như là thân thể chúng ta ngứa ở chỗ nào thì bạn sẽ cảm thấy được, bạn đưa tay ra gãi, vừa khéo gãi vào đúng chỗ ngứa đó, đây chính là bí quyết.

Cái gọi là bí quyết chính là nói rằng bạn đưa tay ra là gãi được chỗ ngứa. Vậy giả sử bạn nói, đầu tôi đang ngứa, nhưng bạn đưa tay ra lại gãi cái chân, vậy thì chẳng thể nào hết ngứa được, như vậy tức là không nắm được bí quyết. Đây là so sánh mà cá nhân tôi nói ra. Chân bạn đang ngứa, bạn lại gãi vào mông, vậy thì về cơ bản là bạn đang tu pháp có vấn đề.

Cái gọi là bí quyết chính là vừa khéo, chính là bí quyết.

Trong Chân Phật Mật Pháp có rất nhiều khẩu quyết, khẩu quyết này chính là bạn túm được cái chỗ tài tình. Như thế thì bạn tu pháp sẽ rất dễ cảm ứng, rất dễ tương ứng với Phật Bồ Tát. Bí quyết này nhất định cần có sư phụ dạy, bởi vì bản thân sư phụ đã hiểu được một tâm yếu đặc biệt quan trọng trong tu hành, bạn có thể trực tiếp đi thẳng vào, lập tức có thể ấn chứng, đây chính là bí quyết.

Vì thế, tu hành đôi khi tự bạn đi mò mẫm. Ôi! Tôi chẳng cần bái sư phụ, tôi không cần bái thầy, tôi tự mình đi mò mẫm. Nói chung thì có sư phụ dạy, bạn sẽ nhanh chóng có thể nắm bắt được bí quyết. Thế không có sư phụ dạy thì sao? Có lẽ lần mò 20 năm, 50 năm bạn vẫn không biết được khẩu quyết nằm ở đâu. Vì thế chạm đúng chỗ ngứa, vừa khéo, chính là một bí quyết.

Trước đây khi tôi thuyết pháp thường nói, tại âm gian địa ngục tạo ra một “địa ngục ngứa ngáy”. Ý của tôi là thế này, ở âm gian, giả sử có một địa ngục khiến những chúng sinh u minh phạm tội phải đến âm gian toàn thân ngứa ngáy, không cần phải toàn thân ngứa, chỉ cần một chỗ ngứa là được rồi, nhưng tay họ lại không chạm tới được, tay chẳng có cách nào gãi được chỗ ngứa đó, như thế là cũng chịu đủ khổ rồi.

Tự bạn thử nghĩ xem: buổi tối bạn đi ngủ, nằm trên giường ngủ, lưng bạn ngứa, lưng rất ngứa rất ngứa, nhưng tay bạn không thể nào gãi được cái chỗ ngứa đó, tay không đủ dài, vậy phải làm sao? Lúc đó thì rất đau khổ. Tôi cảm thấy trong địa ngục nên phát minh ra một “địa ngục ngứa ngáy”, địa ngục này chuyên môn phạt phạm nhân khiến cho phạm nhân vào đó thì ngứa muốn chết, hình phạt này cũng đủ lợi hại rồi, so với chặt đầu, lột da thì cũng không thua kém gì! Tôi cảm thấy khi một người không gãi được chỗ ngứa thì cũng rất đau khổ. 

Vậy bí quyết tu pháp rốt cục nằm ở đâu? Nói chung thì có lẽ bạn cần chú ý một chút đến hoằng nguyện của Phật Bồ Tát Bổn tôn. Mỗi một vị Phật Bồ Tát đều có phát nguyện, đều đưa ra nguyện vọng. Vậy khi bạn tu Bổn tôn của mình, bạn tu vị Phật nào, vị Bồ Tát nào, bạn phải dựa theo lời nguyện của vị Phật, vị Bồ Tát đó để làm, để thực hành, sẽ trở thành hành nguyện. Làm được như vậy thì rất dễ tương ứng. Vì thế, bạn tu Bổn tôn Phổ Hiền Bồ Tát, Phổ Hiền có mười lời nguyện, mỗi ngày bạn đều phải niệm Phổ Hiền thập nguyện, dựa theo các nguyện vọng của mười lời nguyện Phổ Hiền này để mà làm thì tức là bạn đang tu Bổn tôn.

Hoằng nguyện rất quan trọng. Bạn xem A Di Đà Phật có 48 đại nguyện, bạn tu A Di Đà Phật thì bạn phải dựa theo 48 đại nguyện của A Di Đà Phật để mà tu, cho nên hoằng nguyện chính là như vậy.

Nói một cách rất đơn giản, bạn muốn vào Hoa Tạng thế giới, bạn dựa vào cái gì để vào được Hoa Tạng thế giới? Dựa theo kinh Hoa Nghiêm để tu thì bạn có thể vào được Hoa Tạng thế giới.

Thế còn bạn tu chư Thiên, bạn tu Dục giới thiên, Sắc giới thiên, Vô sắc giới thiên, bạn dựa vào cái gì để tu? Bạn dựa vào kinh A Hàm để tu thì bạn có thể tiến vào trong các cõi trời.

Cho nên bạn đọc các kinh điển mà bản thân Phật Đà đã giảng, có thể nói là nghìn kinh vạn điển, rất nhiều kinh điển, mỗi quyển trong đó đều có nguyện lực chân chính của nó, nguyện lực chân chính của nó nằm ở đâu? Cảnh giới của nó nằm ở đâu, bạn phải nắm bắt được, rồi bạn tu theo như thế, rất dễ tương ứng.

Nguyện vọng của mỗi vị Phật Bồ Tát Bổn tôn, chính bạn phải biết. Biết được nguyện vọng của Phật Bồ Tát Bổn tôn rồi, bạn đi theo nguyện vọng đó, đây chính là một bí quyết. Bạn tu Quan Thế Âm Bồ Tát, bạn phải biết Quan Thế Âm Bồ Tát rất từ bi, vậy bạn phải học tập lòng từ bi của Quan Thế Âm Bồ Tát! Bạn không thể lúc nào cũng rất hà khắc, rất hẹp hòi. Bạn vừa hẹp hòi, vừa hà khắc, vừa không từ bi, bạn tu Bổn tôn Quan Thế Âm Bồ Tát làm sao mà tương ứng được?

Vì thế, chỉ cần là bạn tu Quan Thế Âm Bồ Tát thì bạn cúng dường phải hào phóng. Vì ngài từ bi mà! Ngài cũng bố thí mà! Tâm lượng của bạn phải mở rộng ra. Tâm phải rộng rãi.

Quan Thế Âm Bồ Tát là từ bi nhất, tâm lượng của ngài cũng quảng đại nhất. Bạn là Quan Thế Âm Bồ Tát, nhưng tâm lượng của bạn rất nhỏ, làm sao có thể là Quan Thế Âm Bồ Tát được? Quan Thế Âm Bồ Tát làm gì có vị nào gọi là “tiểu lượng Quan Thế Âm” đâu? Quan Thế Âm Bồ Tát nhất định phải là đại lượng Quan Thế Âm, làm gì có tiểu lượng Quan Thế Âm chứ?

Vì thế phải hiểu hoằng nguyện của bản thân Phật Bồ Tát. Quan Thế Âm Bồ Tát xả tất cả, hỷ tất cả, từ tất cả, bi tất cả, từ bi hỷ xả đều vô lượng.

Bạn biết hoằng nguyện của bản thân mỗi vị Phật, Bồ Tát, Bổn tôn, bạn nắm chắc hoằng nguyện này thì nhất định có thể tương ứng với Bổn tôn, Phật, Bồ Tát. Điều này vô cùng quan trọng. 

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

27/09/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 105. Bí quyết tu pháp (2)


Chúng ta lại nói về bí quyết tu pháp. Trong Mật giáo, không chỉ là tu Phật, Bồ Tát, mà còn tất cả tứ Thánh giới, chư thiên giới, thiên long bát bộ đều tu, bởi vì chủ yếu là các vị phải hộ trì chúng sinh.

Mật giáo làm cúng dường, đó không chỉ là cúng Phật, cúng Bồ Tát, cúng Hộ Pháp, cúng thiên long bát bộ, không chỉ là như vậy mà thôi. Khi bạn tu đại pháp, tất cả thổ địa, thần núi, thần đất, thần nước, thần cây, thần mùa màng ở trong vùng, tất cả chư thiên, bạn đều phải cúng dường.

Không chỉ cúng dường có vậy, còn phải cúng dường tổ sư các đời, cúng dường các A La Hán trụ thế vẫn còn ở thế giới Ta Bà, cúng dường các hành giả thanh tịnh sống ở nơi núi sâu sông lớn, tất cả đều phải triệu thỉnh đến để cúng dường, còn phải cúng dường tổ sư các đời, còn phải cúng dường Căn bản Thượng sư của chính bạn.

Cúng dường này tổng cộng có tám loại, thứ nhất là đem cúng phẩm ra, liên tục cúng, cúng Phật, cúng Bồ Tát, cúng chư Thiên, cúng Hộ Pháp, cúng Không Hành Mẫu, cúng Không Hành Dũng Phụ, cúng thần núi, thần đất, thần nước, thần mùa màng, tất cả Hộ Pháp, toàn bộ đều phải cúng, cúng Thượng sư, cúng tổ sư các đời. Cúng dường của Mật giáo rất nhiều.

Trong khi chúng ta tu pháp, cũng có tu thiên long bát bộ, tu Hộ Pháp Thần. Vậy bạn tu Long Thần, trong thiên long bát bộ có Thiên Long, chư Thiên và Long Vương đều có trong số đó. Bạn tu pháp Long Vương bảo bình thì phải biết khẩu quyết của ngài. Long Vương một lòng muốn thành Phật, cho nên khi bạn tu pháp Long Vương bảo bình, bạn phải khuyên thỉnh Long Vương thành Phật, phải quán tưởng Long Vương được thăng lên trở thành Thượng tôn Long Vương Phật.

Quán tưởng ngài thành Phật thì tâm rồng của ngài sẽ rất vui mừng, tâm rồng sẽ rất hoan hỷ, vì bạn quán tưởng ngài thành Phật mà. Khuyên thỉnh ngài thành Phật, đây chính là điều mà trong lòng ngài muốn, là điều ngài thích nhất, ngài sẽ ban cho bạn tài phúc. Bởi vì bạn đã nói trúng tâm ngài, bạn nói đến điều mà ngài thích, cho nên đương nhiên ngài sẽ ban tặng tài phúc cho bạn, bí quyết quan trọng của tu pháp cũng nằm ở đây.

Bạn tu pháp Long Vương bảo bình, tu pháp Long Vương thì nhất định phải khuyên thỉnh Long Vương thành Phật. Thế còn bạn tu Đa Văn Thiên Vương Hoàng Tài Thần, mọi người biết ngón chân cái của ngài thường xuyên rất đau, tôi cũng không biết vì sao ngón chân cái của ngài lại thường xuyên đau. Thế nhưng đối với Đa Văn Thiên Vương thì điều khổ não duy nhất của ngài chính là đây. Vậy thì bạn cần thỉnh Ngũ Phật trụ tại đỉnh đầu của Hoàng Tài Thần, phóng ánh sáng ngũ sắc gia trì cho ngón chân cái của Hoàng Tài Thần, ngón chân cái này sẽ bớt sưng, tự nhiên tất cả phiền não của ngài được giải trừ, đương nhiên ngài sẽ ban tặng tài phúc cho bạn rồi. 

Tu Hoàng Tài Thần phải biết bí quyết của ngài - Ngũ Phật phóng quang gia trì, khiến ngón chân cái của Hoàng Tài Thần hết sưng, đây chính là bí quyết của ngài.

Mọi người biết Kỵ Long Bạch Tài Thần, trong Mật giáo, tiếng tăm của Bạch Tài Thần rất lớn. Ngài thích nhất thứ gì thì bạn hãy dùng thứ đó để cúng dường. Bạch Tài Thần vì sao gọi là Bạch Tài Thần? Khả năng là vì ngài thích tắm, tắm đến mức da dẻ rất trắng, cho nên mới gọi là Bạch Tài Thần. Bạn cúng dường Bạch Tài Thần thì nhất định phải dùng nước tắm, bởi vì ngài thích mà. Để cho ngài đi vào trong nước tắm đó, bạn chấm vào nước tắm, còn phải liếm một cái nữa, rồi phải búng tay, búng đi, quán tưởng tất cả tài bảo từ trong hư không rơi xuống. Đây chính là chỗ thần kỳ của pháp Mật giáo. 

Thần, chư Thiên đều có thứ mà họ thích. Bạn phải cúng dường thứ mà họ thích. Bạch Tài Thần thích tắm, bạn cúng dường nước tắm, bí quyết chính là nằm ở đây.

Thế còn Hồng Tài Thần (Thần Tài Đầu Voi), ngài có một lời thề, ngài cũng muốn ban tài bảo cho mọi người. Thần Tài Đầu Voi thì bạn phải quán tưởng chày kim cang hoặc trực tiếp cầm chày kim cang đè lên đầu ngài, ấn một cái, đừng ấn mạnh quá, dùng chày kim cang ấn lên đỉnh đầu ngài, ngài sẽ ban tài bảo.

Bởi vì Hồng Tài Thần từng nói rằng: “Chỉ cần chày kim cang của Kim Cang Tát Đỏa để lên đỉnh đầu tôi, nguyện vọng của tôi là sẽ ban phúc cho chúng sinh.” Ngài có lời thề như vậy đó! Cho nên khi bạn tu Hồng Tài Thần, tuyệt đối phải ghi nhớ, đặt chày kim cang lên đầu của Hồng Tài Thần, ngài sẽ ban tài bảo cho bạn. Có hiệu quả hay không chính là nằm ở đây, chày kim cang của bạn không đặt lên đầu ngài thì làm sao ngài ban tài bảo cho bạn được? Cái này chính là bí quyết tu pháp.

Hôm nay nói bí quyết này, có một số thứ là bản thân các vị Tài Thần ưa thích, có một số thứ cũng là nguyện vọng của bản thân các ngài.

Bạn nói tu pháp hàng phục, vậy thì rất bí mật. Đầu nhọn của hình tam giác trong pháp hàng phục nhất định phải chĩa về phía đối phương (dùng cách thức quán tưởng), hơn nữa hình tam giác này phải sinh ra lửa phẫn nộ, đây là một bí mật rất lớn của pháp hàng phục. (Ý nghĩa của hàng phục là hàng phục tham niệm, sân niệm, si niệm, chuyển thành ý niệm thanh tịnh). Bởi vậy đây cũng là khẩu quyết. Có một số người tu pháp hàng phục, dùng hình tam giác phẳng đè lên tim của đối phương, giống như đắp chăn bông vậy, chẳng có cảm giác gì, lấy đâu ra hiệu quả? Cái này phải biết khẩu quyết, khẩu quyết chính là ở đây.

Trong Chân Phật Mật Pháp có rất nhiều mật pháp, muốn tu trì tương ứng, bạn phải tu trì khẩu quyết tương ứng. Bạn tu tiêu tai, trừ bỏ hết tai nạn, chúng ta thỉnh Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát, bởi vì Quan Thế Âm Bồ Tát là từ bi nhất, ngài dùng cành dương liễu tịnh thủy sẽ chảy ra cam lộ, loại trừ hết mọi nghiệp chướng và tai nạn của bạn.

Pháp tiêu tai, chúng ta phụng thỉnh Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát. Thế còn siêu độ thì sao? Bạn muốn độ vong, chúng ta phụng thỉnh Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát trong số tám đại Bổn tôn, bởi vì chúng sinh u minh, thập điện Diêm Vương đều là Địa Tạng Bồ Tát quản. Vậy thì lấy Địa Tạng Vương Bồ Tát để độ chúng sinh u minh là rất tốt, chúng ta làm siêu độ thì phụng thỉnh Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát.

Quan hệ của bạn cần phải tìm đúng người chứ! Trực tiếp tìm Địa Tạng Vương Bồ Tát là được rồi, bạn tìm Quan Thế Âm Bồ Tát cũng được, nhưng Quan Thế Âm Bồ Tát lại phải đi tìm Địa Tạng Vương Bồ Tát đúng không? Như thế thì khá phiền toái, chúng ta trực tiếp tìm đúng người, bí quyết thật sự của tu pháp nằm ở đây.

Làm hàng phục thì thỉnh Đại Uy Đức Kim Cang, làm kính ái thì thỉnh Kurukulle Phật Mẫu, đúng không? Bí quyết tu pháp thật sự có thể tương ứng nằm ở đây. 

Om mani padme hum.

27/09/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 106. Làm pháp của Mật giáo


Hôm nay chúng ta nói một chút về làm pháp của Mật giáo. Nhìn chung mà nói, trong Phật giáo nếu có làm pháp thì chỉ có Mật giáo, Hiển giáo thông thường không nói làm pháp này pháp kia, tương đối ít nghe thấy, nhưng bản thân Mật giáo thì thật sự có làm pháp. 

Làm pháp cần có điều kiện, chúng ta làm pháp nhất định cần phải làm pháp sao cho viên mãn, pháp có thể có thành tựu, pháp làm ra phải có ứng nghiệm, điểm này rất quan trọng. Mọi người đều biết trong Mật giáo có làm rất nhiều pháp, giả sử làm pháp không có cảm ứng, không có ứng nghiệm, thế thì làm cũng như không, chi bằng không làm.

Cho nên làm pháp muốn ứng nghiệm, muốn có cảm ứng, chắc chắn có điều kiện ở trong đó. Trong Chân Phật Mật Pháp của chúng ta có làm pháp rất nhiều, mỗi người tu pháp khi làm pháp, điều kiện đầu tiên là đòi hỏi bản thân phải có công đức. Nói một cách rất đơn giản, nếu cơ bản là bạn không có một chút công đức nào, thế thì làm sao bạn làm pháp được? Bắt buộc chính mình phải có công đức.

Giống như là có rất nhiều đệ tử đến hỏi: “Tôi có thể giúp người ta làm Hộ Ma hỏa cúng không?” Vậy trước tiên đừng hỏi Sư Tôn, trước tiên phải hỏi chính các bạn, tự mình nghĩ xem bạn có đủ điều kiện không? Bạn cho rằng mình đã tu hành rất thanh tịnh rồi, tôi đã tương ứng với Phật Bồ Tát rồi, tôi cho rằng bản thân mình đã làm rất nhiều việc thiện rồi, rất có công đức rồi, bản thân đã rất từ bi rồi, vậy thì đương nhiên bạn có thể làm pháp. Giả sử nghiệp chướng của bạn rất nặng, tự mình còn chưa thể cứu được mình, bạn bán mạng đi làm pháp cho người ta, tự bạn nghĩ thử xem! Bản thân bạn còn chưa tương ứng, làm sao bạn giúp người ta làm pháp chứ?

Vì thế, muốn giúp người ta làm pháp, trước tiên tự hỏi chính mình, đừng hỏi Sư Tôn. Bạn hỏi chính mình xem liệu đã có công đức chưa, xem liệu nghiệp chướng của chính mình đã hết chưa, liệu bạn đã tu hành thanh tịnh chưa, đây chính là điều kiện. 

Thật ra, bản thân việc làm pháp phải có sự chuẩn bị đầy đủ, thứ nhất là bản thân hành giả đã có năng lực tương ứng; thứ hai, bởi vì có năng lực tương ứng, bạn có thể triệu thỉnh được Bổn tôn, Hộ pháp, Thượng sư đến, Bổn tôn đến phóng quang gia trì cho bạn, Hộ pháp đến phóng quang gia trì cho bạn, Thượng sư có thể đến gia trì cho bạn, lúc này bạn mới có thể sản sinh ra sức mạnh, mới có pháp lực. Nếu pháp lực của bạn sản sinh ra thì việc làm pháp này của bạn mới có thể ứng nghiệm. Đạo lý này nằm ở đây.

Không sai! Hành giả Mật giáo chúng ta khi làm pháp dựa vào hai loại sức mạnh: một là chú lực, niệm chú, bạn phải trì chú, trong lúc làm pháp liên tục trì chú; hai là cầu nguyện lực, bạn cầu khẩn, cầu nguyện là có sức mạnh. Bạn xem, những người theo Cơ Đốc giáo chính là dựa vào sức mạnh cầu nguyện. Họ phải cầu nguyện, tức là cầu khẩn thiên đường, cầu Thiên Chúa, Jehovah, và Jesus. Họ dựa vào một dạng sức mạnh cầu nguyện.

Trong Mật giáo, ngoài niệm chú ra, bạn cần dựa vào văn thỉnh cầu, chính là sức mạnh của cầu nguyện, là một nghi quỹ cầu khẩn. Ngoài ra, nghi quỹ đó phải chu toàn, mọi nghi quỹ làm pháp cần thiết phải chu toàn. Tất cả dụng cụ phải chu toàn, nghi quỹ từ khi bắt đầu cầu nguyện cho đến khi kết thúc, Tiền hành, Chính hành, Hậu hành, nghi quỹ phải chu toàn. Ngoài ra, chính là bản thân bạn phải có đầy đủ điều kiện, tức là bạn là một hành giả thanh tịnh, quan trọng nhất chính là sức mạnh tương ứng, sức mạnh tương ứng này chính là bạn cầu nguyện chư Thiên giúp đỡ bạn, rồi chư Thiên giáng xuống ban ánh sáng cho bạn, vậy thì pháp này sẽ có pháp lực. Khi bạn thỉnh cầu Phật hạ giáng, Phật đã đến rồi, ngài sẽ phóng quang cho bạn, thế thì pháp đó sẽ có sức mạnh. Khi bạn thỉnh Bồ Tát đến, vị Bồ Tát này hạ giáng phóng quang bao trùm, vậy thì pháp này sẽ có sức mạnh. Vậy thỉnh Hộ pháp tới, thiên long bát bộ đều đến, thiên long bát bộ dùng pháp lực rất lớn giúp bạn, vậy thì pháp này của bạn sẽ sinh ra sức mạnh, việc làm pháp đó sẽ có cảm ứng, sẽ ứng nghiệm.

Làm pháp Mật giáo, điều kiện duy nhất chính là Phật, Bồ Tát, chư Thiên, Hộ pháp giáng xuống để giúp bạn, thế là bạn thành công. Ngày hôm nay, ví dụ tôi làm pháp, tôi đã làm rồi, y theo nghi quỹ, cái gì cũng làm hết, điều kiện gì cũng đều có đủ, cúng phẩm cũng đủ, cái gì cũng tốt, tất cả đều bày ra toàn bộ, bạn cũng bắt đầu tu pháp, cũng niệm chú, cũng cầu nguyện, chỉ có một mình bạn làm. Thế nhưng mà Phật Bồ Tát chư Thiên, Hộ pháp, tất cả đều không đến, vậy thì pháp này đương nhiên không hề có hiệu quả. Vì sao các vị không đến? Bởi vì bản thân bạn rất bẩn, bạn không phát bồ đề tâm, bạn không phải là một hành giả thanh tịnh, bạn không có công đức, toàn thân bạn đều là nghiệp chướng, làm sao Phật Bồ Tát cảm ứng với bạn được chứ? Ngài không xuống, vì sao không xuống? Bởi vì bạn rất bẩn, *you are dirty too*, bạn là một người bẩn, vậy thì hết cách.

Bởi vậy làm một hành giả Mật giáo, đầu tiên phải thanh tịnh chính mình, cũng chính là trước tiên tự mình có thể loại bỏ hết nghiệp chướng của mình, tự mình đã sinh ra ánh sáng, tự nhiên có thể triệu thỉnh ánh sáng của vũ trụ giáng xuống. Cho nên khi bạn làm pháp, chà, nhất hô bách ứng [hô một tiếng là trăm người làm theo]. Bạn thỉnh vị nào thì vị đó đến. Thiên long bát bộ cũng đến, Không Hành Mẫu cũng đến, Bồ Tát cũng đến, thỉnh Phật Phật cũng đến, chư Thiên đều giáng xuống, các vị rất vui mừng đến phụ họa. Thế thì bạn thỉnh cầu cái gì, cầu khẩn điều gì sẽ đều ứng nghiệm. Đây chính là một điều kiện thật sự của việc làm pháp. Điều kiện quan trọng nhất chính là ở đây. 

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

30/09/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 107. Chịu thay khi làm pháp


Chịu thay khi làm pháp, vấn đề này rất nhiều người đến hỏi tôi. Chúng ta biết rằng Mật giáo làm pháp là để giúp chính mình tiêu tai, cũng giúp người khác tiêu tai. Chính mình tăng ích, cũng giúp người khác tăng ích, gia tăng lợi ích. Chính mình tu kính ái, cũng giúp người ta tu gia đình viên mãn. Chính mình hàng phục tham sân si của mình, cũng giúp người khác hàng phục tham sân si của người khác. Tu pháp hàng phục có thể giúp người khác giải quyết rất nhiều khó khăn. 

Thế nhưng ở đây lại phát sinh một vấn đề, chính là sau khi giúp người khác làm pháp xong, tai nạn của người ta đã được giải trừ rồi, kết quả là tai nạn của mình lại tăng lên, vấn đề này gặp rất nhiều. Rất nhiều hành giả giúp người ta chữa bệnh, kết quả là bệnh của người khác thì khỏi rồi, nhưng chính mình thì toàn thân lại có bệnh. Giúp người ta giải trừ được kiện cáo nhưng lại dẫn đến rất nhiều việc kiện cáo cho bản thân. Giúp người ta giải trừ rất nhiều tai nạn, nhưng bản thân lại phát sinh rất nhiều tai nạn. Chuyện này là thế nào? Cho nên rất nhiều đệ tử hỏi tôi điều này. Đó là chịu thay.

Chịu thay khổ của chúng sinh, chịu thay vẫn là tốt, vốn dĩ chẳng có gì, hành giả vốn dĩ là nên chịu thay mà! Chịu thay khổ của chúng sinh, có gì chứ? Nhưng tai nạn này, có đôi khi lại rất đau khổ, bản thân bạn cũng không thể chịu nổi. Nhất là những bệnh quỷ thần, có linh ám trên thân người bệnh, là một u linh sống trên người đó. Được thôi, bạn giúp người ta tiêu tai, mời cái linh đó đi, kết quả là cái linh đó chạy lên người bạn, nó không đi! Nó rời khỏi thân thể của người bệnh kia, người ta khỏi bệnh, nhưng kết quả là cái linh chạy lên người bạn, pháp lực của bạn không đủ mà! Ngày ngày vướng víu với cái linh đó, chính bạn sẽ có phiền phức, đây là chịu thay.

Vậy làm sao để giải quyết vấn đề chịu thay khi làm pháp? Theo như sư phụ dạy tôi trước đây thì có hai phương pháp. Một là phóng thích. Chúng ta có ấn phóng thích, ấn phóng thích tức là vỗ tay, búng ngón tay (Sư Tôn thị phạm: vỗ tay hai lần, sau đó búng ngón tay một lần). Đây là một kiểu phóng thích. Triệu thỉnh cũng như thế này, phóng thích cũng thế. Ngoài ra một cách nữa là độ hóa. Dùng cửu phẩm liên hoa hóa thành thuyền pháp để độ hóa u linh này. Hai phương pháp này là tốt nhất: một là phóng thích, một là độ hóa.

Nhưng đôi khi, năng lực phóng thích của bạn không đủ, tự mình phải tu hành, phải tu pháp, chính là nói rằng sau khi giúp người khác giải trừ nghiệp chướng xong, bạn phải đem công đức giải trừ trả về hư không, trong khi tu pháp, khi Bổn tôn giáng xuống bạn phải nói với Bổn tôn: “Thỉnh cầu Bổn tôn giúp tiếp dẫn nghiệp linh bám trên thân của người bệnh, trả về hư không.” Đây chính là phóng thích.

Vì thế nhất định phải tu pháp, bạn giúp người ta làm pháp xong, buổi tối khi bản thân bạn thiền định, thỉnh cầu Bổn tôn trụ đỉnh, đưa những nghiệp linh mà bạn đã thu nhận tiến nhập vào trong thân của Bổn tôn, trả về hư không, vậy thì bạn sẽ không phải chịu thay, trở thành Bổn tôn chịu thay. Nhưng Bổn tôn là hư không mà, cho nên hễ nhập vào hư không thì nghiệp chướng của bạn cũng không còn, nghiệp chướng của người khác cũng không còn. Cho nên điểm này rất quan trọng.

Hành giả Chân Phật chúng ta giúp người khác làm pháp, nhất định phải đem những nghiệp đen mà chúng ta đã thu nhận trả về cho Bổn tôn, tiến nhập vào trong hư không. Đây chính là trao trả. Nếu không thì bạn làm pháp siêu độ cho những linh hồn có nghiệp chướng này, tu pháp siêu độ cửu phẩm liên hoa sinh, cửu phẩm có thượng phẩm thượng sinh, trung phẩm trung sinh, hạ phẩm hạ sinh… Những cái này đều có thủ ấn, dùng thủ ấn cửu phẩm liên hoa hoặc dùng ấn đại hải siêu độ hóa thành thuyền pháp để đưa họ đi, siêu độ những nghiệp linh này, những linh hồn có nghiệp chướng này đều sẽ đi hết.

Rất nhiều người hỏi, nếu chịu thay rồi thì phải làm sao? Chịu thay rồi, vậy tôi sẽ dạy bạn một phương pháp, nếu bạn không muốn chịu thay, trong Mật giáo có tu pháp, dùng một chữ giếng, quán tưởng những nghiệp linh này đi vào trong giếng, sau đó bạn liên tục niệm chú, liên tục phóng quang gia trì cho những linh này, để những nghiệp linh này sản sinh tâm từ bi, cuối cùng bạn loại bỏ cái giếng này đi, những nghiệp linh đó sẽ tự bỏ đi. Bởi vì chỉ cần họ sinh ra tâm từ bi, họ sẽ không tìm đến bạn nữa, cũng sẽ không tìm đến người bệnh ban đầu, họ sẽ tự động rời đi, đây là tác dụng của giáo hóa.  

Bạn dạy dỗ những nghiệp linh này, bạn đi độ những nghiệp linh này, dùng chày kim cang vẽ thành chữ giếng [井], phải vẽ chữ giếng này trong hư không, sau đó bạn quán tưởng những nghiệp linh này toàn bộ đều tập trung ở trong giếng, không đi đâu cả, không bỏ đi. Sau đó, bạn trì chú cho họ, lệnh cho họ phát bồ đề tâm, sau đó hóa giải chữ giếng này, để họ đi. Đây cũng là một phương pháp, đây là một cách giáo hóa.

Ngoài trao trả và phải siêu độ ra, còn phải giáo hóa những nghiệp linh này, giống như trong lúc chúng ta làm pháp cũng có làm như vậy, tập trung những linh này lại, rồi niệm kinh cho họ nghe, rồi khai thị cho họ nghe, sau đó lại cho họ ăn một bữa cơm, tiếp đó là phóng thích, rồi mời họ rời đi, lệnh cho họ quy y, quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng, quy y Kim cương Thượng sư, họ cũng là đệ tử Phật thọ giới, đó là giới u minh, chúng ta cũng có cách làm như vậy.

Bởi vậy trong toàn bộ vũ trụ đều có rất nhiều pháp bí mật, những linh này có thể được dạy dỗ, bạn hãy dạy họ tứ quy y. Vậy giả sử những linh này không chịu sự dạy dỗ, bạn hãy trao trả cho Bổn tôn. Vẫn không được thì sao? Dùng pháp siêu độ của Mật giáo để siêu độ họ, để ánh sáng thanh tịnh chiếu đến họ, khiến nghiệp chướng của họ tiêu trừ.

Những pháp này đều rất tốt, vì thế trong Chân Phật Mật Pháp của chúng ta, bản thân bạn hiểu pháp thì sẽ không phải chịu thay, bạn không hiểu pháp thì sẽ bị chịu thay. Cho nên pháp của Mật giáo chúng ta vô cùng thù thắng, có thể không phải chịu thay. 

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

30/09/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 108. Tự tâm bộc lộ (1)


Hôm nay chúng ta nói một chút về tự tâm bộc lộ. 
Tự tâm bộc lộ có mối liên hệ hệ với thiên nhãn thông. Chúng ta học Phật vốn chính là đang tu tâm, bạn toàn tâm toàn ý học Phật, tâm quang của bạn sẽ phát lộ, khi tâm quang của bạn phát lộ thì cũng chính là khi tự tâm bộc lộ.

Trong Mật giáo, chúng ta tu hành không chỉ là tu cái tâm vô hình, từ mắt tai mũi lưỡi thân ý, sắc thanh hương vị xúc pháp, liên tục cho đến a-lại-da thức, am-ma-la thức sâu nhất, không chỉ tu cái tâm của ý thức vô hình này mà còn phải tu cái tâm hữu hình.

Tâm hữu hình là tâm thế nào? Có thể nói đó là quả tim thịt ở bên trong vùng tim trung mạch của bạn, tuy rằng quả tim này hữu hình, nhưng trên thực tế nó cũng là một cái tâm hoa sen vô hình. Ở trong cái tâm hoa sen này, có một phong mạch ánh sáng. Tâm mạch ngũ sắc này, nó sẽ phóng ra một dạng tịnh quang, điều này lúc trước tôi giảng “Hồng quang đại thành tựu” đã từng đề cập đến.

Mắt của bạn không nhất định là hướng ra ngoài nhìn ánh sáng, còn phải nhìn vào bên trong, đây gọi là pháp Nội thị, phải hướng vào bên trong thân thể bạn để nhìn tịnh quang. Khi tịnh thổ bên trong phong mạch ánh sáng (tâm mạch ngũ sắc) của bạn hiển hiện, bạn sẽ nhìn thấy thể ánh sáng, cái này chính là minh thể. Lúc này, mắt bạn nhắm lại, nhìn vào bên trong, nhìn thấy bên trong có những chấm sáng, chúng ta gọi là minh thể. 

Nhìn thấy những minh thể nhỏ này liên kết thành sợi, từng sợi từng sợi, nhìn xem có mấy sợi, có sợi ngang, có sợi dọc, sau đó sẽ biến thành một sợi xích ánh sáng, chính là xích kim cang. Xích kim cang màu trắng này sẽ hiển hiện bên trong thân thể bạn, xích không ở bên trong cũng không ở bên ngoài, nó là vô hình.

Từ trong sợi xích kim cang này, bạn có thể hiển hiện cảnh tượng, cái này chính là thiên nhãn thông. Rất nhiều người không biết thiên nhãn thông là gì, thiên nhãn thông tu thế nào. Rất nhiều người nói, tôi tập trung ý thức tinh thần đến con mắt nhìn ra ngoài là nhìn thấy. Căn bản là anh ta không biết đây là pháp Nội thị, là phải nhìn vào bên trong.

Tu hành Mật giáo chân chính là tìm cầu ở bên trong, cho nên Phật pháp không phải là tìm cầu ở bên ngoài, Phật pháp là tìm cầu ở bên trong, tìm cầu ở bên trong tự tâm bạn, không hướng ra ngoài để đi tìm cầu. Không phải là như các bà già đi tới chùa lạy lạy, đi cầu phúc cầu thọ, cầu con trai con gái, cầu cha cầu mẹ đâu. Mà là tìm cầu bên trong, Phật pháp chân chính là tìm cầu ở bên trong nội tâm của chính bạn.

Hoa sen trong tâm bạn chỉ cần nở ra thì sẽ có tịnh quang sản sinh, bạn sẽ nhìn thấy minh thể, từng chấm từng chấm minh điểm liên kết thành sợi, biến thành một mặt ánh sáng, ý niệm của bạn đặt ở trong đó sẽ hiển hiện ra ở trong ánh sáng, đây chính là thiên nhãn thông.

Cho nên ở bên ngoài nói luyện thiên nhãn thông cái gì đó, cái gì mà nhìn ra ngoài, hoặc là nhìn thế nào đó, những điều đó có thể nói đều là ngoại đạo. Chỉ có hướng vào bên trong nhìn ánh sáng, ánh sáng này không ở trong không ở ngoài, là vô hình, mới là chính đạo.

Cái này cũng rất có liên quan đến truyền hình của chúng ta. Bạn biết truyền hình là dùng điểm ánh sáng liên kết thành sợi, sau đó dùng sợi ánh sáng này dệt thành một mặt phẳng ánh sáng, vì thế ở đây rất hợp với khoa học. Truyền hình chẳng phải là do các điểm ánh sáng tổ hợp thành sao? Bạn mở ti vi lên, lúc hình ảnh chưa hiện lên, đầu tiên sẽ sản sinh ra từng điểm từng điểm ánh sáng, cái đó chính là điểm sáng. Còn gì nữa? Bản thân truyền hình là do huyễn ảnh tổ hợp thành, từ những sợi dọc, những sợi ngang tổ hợp thành, tạo nên một mặt phẳng ánh sáng, hoàn toàn là sự tổ hợp của bản thân điểm, sợi và mặt phẳng. 

Trong Mật giáo, bạn xem, cũng hợp với khoa học, đầu tiên có điểm minh thể, sau đó có chuỗi kim cang, sau đó có mặt phẳng ánh sáng, bạn sẽ có được thiên nhãn thông. Bạn muốn nhìn cái gì, nhìn vào bên trong, ý niệm hiển hiện ra thì trong ánh sáng sẽ hiện ảnh, bạn muốn đen trắng, có ảnh đen trắng, bạn muốn nhìn màu sắc, tiết mục tổng hợp, bên trong đều có cả, bên trong nội tâm của bạn sẽ có. Đây chính là tự tâm bộc lộ.

Thế nên, thiên nhãn thông luyện thế nào? Quan trọng nhất là hoa sen trong tâm của trung mạch nở ra, sản sinh tịnh quang thì bạn sẽ có thể luyện được thiên nhãn thông, bạn sẽ có thể tự tâm bộc lộ.

Chân Phật Kinh làm sao mà có? Chính là hoa sen trong tâm tôi nở ra, từ màn hình ti vi ở trong tâm tuôn chảy ra những con chữ, từng chữ từng chữ hiển hiện ở bên trong cái màn hình ti vi trong hoa sen tâm đó. Vì thế mà tôi liền viết ra Chân Phật Kinh. Chân Phật Kinh được viết ra như vậy thì gọi là Chân Phật Kinh tự tâm bộc lộ. Mọi người nghe xong thì hiểu ra ngay, ồ, hóa ra thiên nhãn thông là như thế này, tự tâm bộc lộ là như thế này.

Khi bạn tu hành cũng phải tập trung tinh thần. Bởi vì tập trung tinh thần, dồn toàn bộ tâm trí thì bạn mới có thể tu được tự tâm bộc lộ. Bạn không có sự tập trung tinh thần, bạn không dốc hết toàn bộ tâm lực của mình vào trong đó thì bạn không có cách nào có được thiên nhãn thông, bạn cũng không có cách nào Nội thị. Nội thị tức là nhìn vào bên trong, nhìn tâm của chính mình. Bạn nghĩ rằng nhìn vào bên trong, thế thì nhìn vào bên trong, chẳng nhìn thấy cái gì, tối tăm mù mịt. 

Vì thế Mật giáo tu khí, mạch, minh điểm, mạch của bạn thông rồi, hoa sen nở ra rồi, tịnh quang sản sinh ra thì nhất định đắc được tự tâm bộc lộ. 

Hôm nay nói tới đây thôi. Om mani padme hum.

01/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 109. Tự tâm bộc lộ (2)


Chúng ta lại nói tiếp về tự tâm bộc lộ. Tự tâm bộc lộ đúng là vô cùng vi diệu. Chúng ta tu hành hoàn toàn nằm ở dùng tâm và không dùng tâm. Trên thực tế, bạn tu pháp đếm hơi thở, đếm hít thở của chính mình, hít vào, sau đó thở ra, như vậy là một lần. Rồi lại hít vào, lại thở ra, như thế là hai lần. Bạn còn phải chú ý hơi thở của bạn lúc thở ra thì đi bao xa, lúc hít vào thì dài bao nhiêu. Bạn luyện pháp đếm hơi thở, tác dụng của nó chính là nằm ở sự tập trung tinh thần, phải dùng tâm. Tức là phải dùng tâm lực của chính bản thân bạn.

Nếu bình thường không chú ý việc hít thở, bạn không biết chính bạn đang hít thở. Bình thường bạn có rất nhiều vọng niệm, suy nghĩ lung tung rất nhiều, bạn không chú ý thấy vọng niệm của mình rất nhiều, nhưng khi bạn đếm hơi thở, bạn sẽ biết ngay. Có khi bạn đang đếm hơi thở, đếm một, hai, ba, bốn, đếm tới mười mấy thì đột nhiên có một ý nghĩ xen vào, thế là loạn hết cả việc đếm hơi thở này.

Cho nên bạn có thể đếm đến bao nhiêu đều không phải là rất đơn giản đâu. Thật sự nếu bạn có thể tĩnh lại và đếm hơi thở đến một trăm đã là rất không đơn giản rồi. Bởi vì khả năng khi bạn đếm tới bốn mươi chín thì bỗng dưng có một vọng niệm xen vào, bạn liền quên luôn, ơ, vừa nãy đếm tới đâu rồi nhỉ? Không đúng rồi. Con số này đã bị ngắt quãng rồi, ý nghĩ rất lợi hại đó, lập tức giống như là truyền hình bị ngắt quãng, có thứ khác đã chiếm mất đường truyền, không có cách nào truyền được xong hoàn toàn. Bởi vậy nói chung bản thân con người, dùng tâm và không dùng tâm rất quan trọng. Bạn phải tu đến khi hoàn toàn chuyên tâm nhất trí, tự tâm bộc lộ là cực kì không dễ dàng.

Tôi lấy một ví dụ để chứng minh cho việc dùng tâm và không dùng tâm khi tu hành. Giống như là bây giờ niệm Phật rất tiện, miệng niệm niệm “Nam mô A Di Đà Phật, nam mô A Di Đà Phật” rất hay, bạn có dùng tâm để niệm không? Dùng tâm, hai câu tôi vừa mới niệm là dùng tâm, “Nam mô A Di Đà Phật, nam mô A Di Đà Phật” là tôi dùng tâm để niệm, từng chữ từng chữ đi qua tai tôi vào bên trong, in vào trong tâm, tôi dùng tâm để niệm, niệm Phật như thế này thì có hiệu quả. Rất nhiều người ở trong nhà mở băng nhạc, bốn chữ Phật, sáu chữ Phật, chà, băng nhạc niệm rất hay. “A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật”, chà, niệm hay quá, nghe rất thoải mái, tinh thần dễ chịu. Nghe hồi lâu, bạn không dùng tâm, bạn không có tâm, cảm thấy có nghe hay không nghe đều giống như nhau. Bạn lắng nghe thì là có dùng tâm. Băng nhạc ở đằng kia mở lên, còn bạn đang ăn cơm, bạn không đặt tâm trên băng nhạc đó, băng nhạc đó niệm mấy trăm tiếng Phật, mấy vạn tiếng Phật nhưng đều chẳng có tâm. 

Chúng ta niệm Phật, dùng tâm của mình để niệm thì sẽ sinh ra tâm lực, sức mạnh của tâm sẽ sản sinh ra. Băng nhạc của bạn bật lên ở đó, niệm mấy nghìn tiếng Phật, mấy vạn tiếng Phật, vô ích, cái đó không xem là công đức. Vì thế khi hỏi: “Hôm nay anh có làm công khóa không?” “Có chứ! Tôi có niệm Phật đó!” “Anh niệm thế nào?” “Tôi mở một băng nhạc, nó niệm Phật từ sáng tới tối.” Mọi người đều biết cái này không có công đức, bởi vì không có tâm lực. 

Bởi vậy đặt tâm lực vào đó, bạn đi niệm Phật, niệm kinh thì sẽ có công đức. Bạn không đặt tâm lực vào đó thì không có công đức, không có sức mạnh, không có pháp lực có thể sản sinh ra. Hôm nay giả sử chỉ cần có âm thanh, không cần dùng tâm lực để niệm Phật, thế thì tôi mua một băng nhạc về mở mỗi ngày, thế là tôi đang tu hành rồi. Mọi người thử nghĩ xem là có thể hiểu được thôi.

Ngoài ra có một số người nói, kinh A Di Đà có công đức rất lớn, kinh Kim Cang có công đức rất lớn, kinh Bát Nhã có công đức rất lớn, Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh có công đức rất lớn, Cao Vương Kinh có công đức rất lớn, kinh Hoa Nghiêm có công đức rất lớn, kinh Lăng Nghiêm có công đức rất lớn, những bộ Đại Tạng Kinh của Phật giáo này bạn đều mua về hết, bày ở trên tủ sách, xem xem nó có công đức gì, mỗi ngày đều đi nhìn xem công đức của nó đã xuất hiện hay chưa. Sẽ chẳng có công đức đâu! Bạn đừng cho rằng mua một bộ Đại Tạng Kinh về đặt ở trên tủ sách là sẽ có công đức. 

Kinh Lăng Nghiêm có pháp lực, kinh Hoa Nghiêm có pháp lực, kinh Bát Nhã có pháp lực, Đại Trí Độ Luận có pháp lực, Cao Vương Kinh có pháp lực, bạn liền đặt chúng trên tủ sách, mỗi ngày đều đi tới xem nó khi nào mới hiển hiện pháp lực. Không có đâu, tất cả như nhau, hoàn toàn không có pháp lực. Có pháp lực là bạn dùng tâm để niệm, dùng tâm để niệm mới có pháp lực đó. Bạn cầm kinh điển đó lên, bạn đọc, bạn niệm kinh A Di Đà, khi bạn niệm thì tập trung tinh thần, dùng tâm của bạn để hiểu ý nghĩa của kinh, và đi làm ước nguyện đó, thực hành bốn mươi tám nguyện của Di Đà, dùng tâm lực đi làm những ý nguyện đó. Mỗi một bộ kinh bạn lấy ra để tụng niệm, bạn sao chép, sao chép cũng tốt, niệm cũng tốt, bạn dùng tâm lực để làm, như vậy mới sản sinh ra pháp lực.

Cho nên có khi bạn niệm kinh, không dùng tâm lực của bạn để niệm, niệm thế này… “Nam mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh”, “Quan Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm”… cứ thế niệm niệm niệm… cứ thế niệm từ đầu cho đến cuối. Niệm cái gì vậy? Tôi niệm xong rồi nhưng quên mất rồi. Đó là vì bạn không hề dùng tâm lực để niệm. Giống hệt như một cái máy photocopy, trong nhà bày một chiếc máy photocopy, bạn liền copy kinh điển này qua, nhưng bạn không hề thâm nhập kinh tạng, trọng điểm nằm ở thâm nhập. Bạn không hề thâm nhập để hiểu sức mạnh của bộ kinh, cho thấy bạn không hề dùng tâm lực. Mà nếu đã không dùng tâm lực thì sẽ không có tâm lực, không có tâm lực thì không có pháp lực, việc niệm này cũng như không. 

Hôm nay chúng ta tu Mật pháp, quan trọng nhất là dùng tâm lực của bạn, bạn bỏ tâm lực vào đó, tinh thần bạn thống nhất, bạn sẽ sản sinh ra pháp lực, bạn sẽ cảm ứng đạo giao đó! Cùng với các cao linh trong vũ trụ có cảm ứng đạo giao, có tương ứng rồi. Tôi nói tương ứng này là quan trọng nhất, chính là yoga (du già), tương ứng là quan trọng nhất, trong Mật giáo nói về tương ứng, bởi vì bạn dùng tâm lực của bạn, thế rồi tâm của vũ trụ và tâm của cá nhân bạn tương thông lẫn nhau. Bất kể bạn trì chú cũng được, niệm kinh cũng được, niệm danh hiệu Phật cũng được, một khi tương ứng rồi thì chính là tự tâm bộc lộ.

Bởi vậy tôi giải thích tự tâm bộc lộ là cực kì quan trọng. Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

01/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 110. Thuần mật và tạp mật (1)


Hôm nay chúng ta giảng về tạp mật. Từ tên đoán ý, ngược lại của tạp mật chính là thuần mật. Làm sao để phân biệt đây? Thuần mật có thể nói là Mật pháp tu hành thanh tịnh thì gọi là thuần mật, tức là Mật tông đơn thuần. Tạp mật tức là tương đối phức tạp, tương đối mang phương diện nhập thế thì gọi là tạp mật.

Tôi lấy một ví dụ để nói. Trong Mật giáo có rất nhiều pháp thuộc về pháp thế gian, phổ biến dùng tại thế gian, không có quan hệ gì với tu hành cả. Ví dụ niệm kinh Cầu Mưa để cầu mưa, bởi vì rất lâu rồi trời không mưa cho nên tập hợp tất cả các Lama lại cùng nhau niệm kinh Cầu Mưa, kết thủ ấn, quán tưởng, niệm chú cầu mưa thì trời sẽ đổ mưa. Chà! Thật sự là mưa rồi. Đây chính là tạp mật. Cái này không có quan hệ gì với tu hành. Không có liên quan gì đến bạn tu hành thanh tịnh cả, bởi vì kinh mà bạn niệm, chú mà bạn niệm, thủ ấn mà bạn kết là cho mục đích cầu mưa, kết quả là trời thật sự đã mưa. Đây chính là tạp mật.

Tuyết rơi rất dày. Chà! Rơi mãi không ngừng. Sắp sửa thành tai họa rồi. Vậy thì trong Mật giáo cũng có kinh Dừng Tuyết để khiến cho tuyết ngừng rơi, kết một thủ ấn, thế là tuyết dừng, hơn nữa còn phải niệm kinh, còn phải trì chú, đây cũng là tạp mật.

Tổ sư của Bạch giáo có Tilopa, Naropa, Marpa, truyền đến Milarepa, Milarepa lại truyền cho Gampopa. Tổ sư Milarepa rất nổi tiếng, trước khi ngài thật sự học thuần mật thì ngài cũng học tạp mật, cho nên tổ sư của ngài gọi ngài là Đại Lực, tức là ngài có sức mạnh rất lớn. Đại lực là làm cái gì vậy? Ngài có thể cầu mưa đá. Mưa đá ư? Quái lạ, mưa đá để làm gì? Cái này nhất định là không tốt rồi, mưa đá sẽ đánh trúng người ta, sẽ đánh trúng động vật, sẽ đánh chết thực vật.

Khi Milarepa còn chưa học thuần mật, ngài từng học tạp mật. Ví dụ như là người ở ngôi làng kia không thích ngài, đuổi ngài đi, Milarepa rất tức giận bèn tu thuật giáng mưa đá, vừa tu một cái thì trên trời đều trút mưa đá. Ôi chao, nào là lúa mạch, nào là cây nông nghiệp, tất cả đều bị phá nát, thế là người ta không thể nào thu hoạch được. Có loại pháp như thế, loại pháp này gọi là tạp mật.

Ngoài ra ở đây còn có pháp tương đối sai khác, pháp không tốt cũng có, đó thuộc về phạm vi của tạp mật. Milarepa cũng từng tu loại pháp này. Người thân thích của ngài chiếm mất tài sản của Milarepa, Milarepa liền ở trong hang động tu tạp mật, đây thuộc về một loại của pháp hàng phục. Người thân của ngài đang làm hôn lễ, Milarepa tu pháp, đương nhiên là thỉnh các quỷ thần có sức mạnh lớn đến, bọn họ liền đi. Người ta đang ở trong nhà cử hành hôn lễ, đột nhiên, các cột trụ trong nhà gãy luôn, ngôi nhà sụp xuống, đè chết mấy người. Mọi người đọc Truyện Milarepa là có thể đọc được thôi.

Thật ra ngài tu pháp hàng phục cũng sẽ làm bị thương người khác, Milarepa trước khi tu pháp thanh tịnh, ngài đã tạo ra không hề ít nghiệp đen, sau này tu mật pháp thanh tịnh thì biến thành nghiệp trắng. Nghiệp trắng đã bù đắp cho nghiệp đen. 

Trong khi chúng ta tu pháp, hành giả Mật giáo có phải là cần tu tạp mật không? Về phương diện nhập thế, chúng ta cũng có thể giúp người. Ví dụ cầu trời mưa, nếu bạn biết pháp đó có thể giúp người. Dừng tuyết rơi nhiều cũng có thể giúp người. Người ta gặp mưa đá, bạn có thể dừng mưa đá, khiến mưa đá ngừng lại. Mật giáo chính phái của chúng ta tuy rằng tu tạp mật, nhưng chúng ta tu là để giúp người thì nói chung là được, cái này thuộc về phạm vi của tạp mật. 

Tạp mật cũng có thể cầu gió, bạn có biết pháp cầu gió không? Trung Quốc chúng ta có bát quái, thiên, địa, lôi, phong, trạch, thủy, hỏa, sơn. Bạn ở phương vị của gió, bạn biết nơi nào là phương vị của gió, bạn hít vào một hơi khí, thổi về bên đó, thổi đi, sẽ có một trận gió lớn nổi lên. Nhưng mà bạn nhất định phải kết ấn, kết ấn thỉnh cầu Thần Gió đến. Hướng về phương vị của gió hít vào một hơi khí, sau đó phả khí ra thì sẽ nổi lên một trận gió lớn. Cái này trên phương diện tạp mật cũng có.

Trong tạp mật cũng có pháp chữa bệnh, cũng có pháp tử vi, cắt lành dữ của con người, có phong thủy, giúp người ta giải trừ tai nạn, những cái này đều là tạp mật. Cũng có pháp chuyên môn giải độc, có người bị rắn độc cắn thì phải làm sao? Mau chóng niệm kinh, niệm kinh giải độc. Có kinh Giải Độc, chú giải độc, còn có ấn giải độc, uống viên cam lộ. Ớ! Độc tố đó chẳng hề gì nữa. Chúng ta biết Khổng Tước Minh Vương có thể giải độc, cũng có kinh Giải Độc, chú giải độc. Cũng có pháp chuyên môn chữa bệnh. Những cái này đều là phạm vi của tạp mật.

Tôi cảm thấy pháp nhập thế tạp mật tương đối nhiều, chúng ta học pháp nhập thế chủ yếu là muốn giúp đỡ chúng sinh. Tôi cho rằng sự phân biệt giữa nhập thế và xuất thế là, xuất thế tức là tu hành thanh tịnh. Còn nhập thế có rất nhiều bộ phận thuộc về tạp mật. Vậy thì giữa nhập thế và xuất thế tuy rằng có sự phân biệt, nhưng tôi cho rằng nên bình đẳng. Muốn cứu độ chúng sinh thì nên dùng pháp nhập thế, đợi đến khi họ nhập thế thành thục rồi, họ lại tu Phạm hạnh xuất thế thanh tịnh. 

Bởi vậy trước tiên cần có thứ tự sinh khởi, sau đó mới có thứ tự viên mãn. Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

02/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 111. Thuần mật và tạp mật (2)


Chúng ta lại nói về tạp mật. Tạp mật có đôi khi cũng rất thú vị. Tuy rằng là pháp nhập thế, bạn học rồi cũng có lợi ích. 

Tôi nhớ có một câu chuyện như thế này. Có một Lama đạo hạnh rất cao, khi ông ấy đi qua Đường Cổ Lạt Sơn (Đường Cổ Lạt Sơn là một ngọn núi thần rất nổi tiếng ở vùng phụ cận Tây Tạng), đột nhiên mặt đất nổi cuồng phong. Chà! Cuồng phong thổi qua, ban đầu có đội mũ, mặc áo choàng, chà, cái áo choàng này bị thổi bay mất, mũ cũng bị thổi bay mất. Suy cho cùng, ông ấy cũng là một cao tăng có đạo hạnh, ông ấy lập tức nhắm mắt lại và quan sát thì biết Thần Núi cố ý đến trêu chọc ông ấy. Thần Núi thỉnh thoảng thổi một hơi khí, thổi một hơi khí thì mặt đất liền nổi cuồng phong, thổi cho Lama có đạo đó lảo đảo xiêu vẹo. Lama lập tức kết ấn dừng gió, niệm chú dừng gió, nhưng cũng không có hiệu quả, bởi vì đây là do Thần Núi làm. Ông ấy biết là Thần Núi đang trêu mình, thế là liền cầm một ít bánh tsamba mang theo mình, ấn một cái vào trán để lập tức làm cúng dường, cúng dường cho Thần Núi Đường Cổ Lạt Sơn. Vừa cúng dường một cái thì Thần Núi liền cười vang ha ha, gió lập tức dừng lại. Có đôi khi pháp nhập thế cũng rất hiệu quả. 

Hôm nay khi chúng ta đồng tu, tôi hỏi: “Hôm nay các bạn cúng dường cái gì?” “Cúng dường bánh bao.” Bánh bao rất giống bánh tsamba của họ, cũng dùng bột mì để làm. Kể ra cũng lạ. Hôm nay khi kết thủ ấn cúng dường để làm cúng dường, tôi biến hóa bánh bao thành một đống bánh bao giống như ngọn núi, xếp thành một hàng, biến thành một mặt phẳng, đầy ắp cả hư không. Biến hóa xong thì lập tức phát hiện ra trong hư không có rất nhiều cánh tay, tay vừa thò ra thì bánh bao đều bị tranh giành hết sạch. Không biết ai đã cúng bánh bao, hôm nay rất có phúc đấy. 

Tôi phát hiện ra việc cúng dường này khiến chư Thiên hoan hỷ, họ vô cùng hoan hỷ tiếp nhận cúng dường bánh bao, và cũng đã lấy hết toàn bộ. Cảm ứng hôm nay vô cùng thù thắng, rất khó gặp, bởi vì chư thiên đã lấy hết sạch bánh bao đi rồi.

Trong Mật giáo, cúng dường là cực kì quan trọng. Chư Thiên, Hộ pháp tiếp nhận cúng dường thì cảm ứng của bạn sẽ rất nhanh chóng. Giống như Lama có đạo kia, làm cúng dường một cái là gió lập tức ngừng thổi, đây chính là hiện tượng cảm ứng rất nhanh. Thần Núi của Đường Cổ Lạt Sơn tiếp nhận cúng dường của ông ấy, Thần Núi chẳng qua chỉ là thổi một trận gió để trêu đùa Lama có đạo kia mà thôi. 

Nói đến nhập thế và xuất thế, trong tạp mật, pháp nhập thế là tạp mật tương đối nhiều. Nhưng chúng ta vì độ chúng sinh, cho nên bạn cũng cần tu tạp mật, cũng cần hiểu, cũng cần biết, đây là một dạng phương tiện. Tu hành chân chính đến cảnh giới cao nhất hoàn toàn là tâm xuất ly. Có tâm xuất ly rồi bạn mới có thể thoát ly khỏi thế gian này, mới có thể phát hiện ra pháp nhập thế và thế giới Ta Bà chẳng qua chỉ là mộng huyễn bào ảnh, như sương cũng như điện, chỉ trong khoảng thời gian điện quang đá lửa, trong giây lát đã không còn gì nữa.

Cho nên đối với pháp nhập thế, bạn đừng quá bám chấp, bạn phải học, bạn phải biết, nhưng bạn không thể cả đời tu pháp nhập thế, bạn phải hiểu pháp xuất thế, tu thứ tự viên mãn, điểm này cũng rất quan trọng. Bởi vì linh mà pháp nhập thế thỉnh đến, thứ bậc của họ không chắc là rất cao. Khi bạn đến được pháp xuất thế, Phật Bồ Tát và cao linh chân chính sẽ giáng xuống để giúp bạn tu hành. Khi bạn ở trong giai đoạn của pháp nhập thế thì đều là một vài chư Thiên, chư Thiên giáng xuống để giúp bạn thì cũng là rất cao rồi, có một số chỉ là la sát, hoặc là thần núi, thần nước, thần cây, thần mầm mạ, thần cửa, bao gồm cả thần giường, tuy rằng là tiểu thần nhưng cũng có linh lực.

Vì thế trong khi chúng ta tu hành, nếu quá chấp mê vào pháp nhập thế, cấp độ linh giới của bạn sẽ không cao lắm, bạn tu hành sẽ không có được chứng quả gì. Có đôi khi bạn còn đi vào trong bàng môn rồi mà bản thân cũng không biết. Vì thế, Phật Thích Ca Mâu Ni từng nói rằng: tử vi, chiêm bốc đều thuộc ngoại pháp, đều thuộc bàng môn, không phải là chính đạo. Thật ra chính đạo chân chính là tu thứ tự viên mãn và có đủ tâm xuất ly. Ngày xưa Phật Đà xuất gia tu hành chính là sinh tâm xuất ly thế giới Ta Bà.

Thật ra thọ mạng của con người rất ngắn ngủi, hiện nay thọ mạng trung bình là bảy mươi, tám mươi tuổi thì xem là tốt rồi, chỉ trong khoảng thời gian điện quang đá lửa mà thôi, như “kính trung ảnh”, như bóng ảnh bên trong chiếc gương, như “thủy trung nguyệt”, giống như mặt trăng trong nước, đều là mộng huyễn bóng ảnh, rất nhanh chóng sẽ qua đi. Nhi đồng, thanh niên, tráng niên, tiếp sau đó là lão niên, sau đó là cái chết. Từ lúc nhỏ cho đến khi già, thời gian rất nhanh. Vì thế pháp nhập thế không được quá bám chấp, chúng ta vẫn phải tu pháp xuất thế làm trọng. 

Hiện nay có người chủ trương Phật giáo nhân gian, chủ trương xây dựng thế giới Cực Lạc tại nhân gian, truyền bá Phật pháp tại nhân gian. Thứ truyền tại nhân gian là Phật giáo Nhân thừa, cái này thì hơi đi chệch rồi. Bởi vì chúng ta biết rằng nhân gian như mộng, mộng huyễn bào ảnh, những công đức làm được chẳng qua là công đức trong mộng mà thôi. Thế giới Ta Bà giống như mộng huyễn, cho nên Phật Đà muốn chúng ta có tâm xuất ly.

Tuy rằng nhập thế và xuất thế, hai cái đều quan trọng như nhau, nhưng khi chúng ta thật sự đến được cảnh giới cao nhất, nhất định phải đi về hướng xuất thế, phải có tâm xuất ly. Nhất định phải thật sự rời xa thế gian, Phật giáo nhân gian chỉ là một cái tên đẹp đẽ thôi, công đức mộng huyễn mà thôi.

Tâm xuất ly đối với một người tu hành là rất quan trọng. Những người chúng ta hiện đang ngồi đây phần lớn là người xuất gia, mọi người đều có tâm xuất ly cho nên bản thân mới xuất gia. Vì thế đối với thứ tự sinh khởi, trên phương diện pháp nhập thế, tạp mật cần tu, nhưng quan trọng nhất, sau cùng, chung kết nhất, vẫn là phải tu pháp xuất thế - thứ tự viên mãn, phải tu thuần mật. 

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

02/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 112. Nói về đại sư Hoằng Pháp


Trong tương lai gần, chúng ta sẽ phải nói về “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp (Không Hải) của Nhật Bản. Vì sao phải giảng “Thập Trụ Tâm Luận”? Bởi vì tôi cho rằng mười loại tâm mà đại sư Hoằng Pháp nói có liên quan đến thứ tự tu hành của đại thành tựu cầu vồng của chúng ta. Cũng có thể nói là thứ tự của triệu thỉnh, và thứ tự của Bổn tôn, cho nên phải giảng “Thập Trụ Tâm Luận”.

Trước khi giảng về phần đó, chúng ta nói về đại sư Hoằng Pháp trước. Thật ra ngọn nguồn của Đông mật là do đại sư Hoằng Pháp khai mở. Nguồn gốc sớm nhất của Mật giáo là ở Ấn Độ - Thiên Trúc, nó lưu truyền đến Tây Tạng thì trở thành Tạng mật, truyền đến Trung Quốc thì biến thành Trung mật, truyền đến Nhật Bản thì thành Đông mật. Tổ sư cao nhất của Đông mật cũng chính là đại sư Hoằng Pháp - Không Hải. Ngài là tổ sư cao nhất của Mật tông Nhật Bản. Mật giáo Nhật Bản là từ bên Trung Quốc, Mật giáo của Trung Quốc lại là từ Ấn Độ (Thiên Trúc), Mật giáo Tây Tạng cũng là đến từ Ấn Độ Thiên Trúc. 

Đại sư Hoằng Pháp sáng lập Mật giáo Chân Ngôn Tông, hiện nay tại Nhật Bản vẫn rất thịnh hành. Tại Nhật Bản có rất nhiều dòng phái, ví dụ phái Narita, phái Joenji, phái Koyasan đều là dòng phái của Mật giáo Nhật Bản. Mọi người xem ảnh của đại sư Hoằng Pháp (Không Hải) đều biết ngài đã đến chùa Thanh Long ở Tây An, Trung Quốc để bái kiến hòa thượng Huệ Quả, ngài ở bên đó học tập Mật giáo. Bản thân Sư Tôn cũng đã đến chùa Thanh Long, cũng đã lên tháp Vọng Hải, đó chính là ngọn tháp nhìn ra biển mà hòa thượng Huệ Quả và các hòa thượng khác đã xây dựng để sau này tưởng nhớ Không Hải. Kì thực tại Tây An thì không thể nhìn ra biển được, cho nên tên gọi Vọng Hải là một nguồn gốc, ý nghĩa là nhìn “Không Hải”. 

Lão hòa thượng Huệ Quả truyền pháp cho đại sư Hoằng Pháp xong, Mật giáo Trung Quốc không còn nữa. Truyền thừa của lão hòa thượng Huệ Quả lẽ ra là thuộc về tăng nhân Thiên Trúc là Kim Cang Trí, Thiện Vô Úy, Bất Không, ba người họ truyền thừa xuống. 

Thế còn khi tôi đến chùa Thanh Long chính là nơi Không Hải học tập Mật giáo. Sau khi Không Hải trở về Nhật Bản, tại nơi lên bờ đầu tiên, ngài đã xây lên một ngôi chùa, tôi cũng đã đến đó, chính là Thiền Môn của tỉnh Yamaguchi. Chân Phật Tông của chúng ta có một phân đường ở đó, gọi là Đạt Kiến Đường - Darumi. Tôi từng đi tới đó thăm ngôi chùa đầu tiên mà Không Hải xây dựng. Tôi cũng đã đến Koyasan nơi mai táng Không Hải. Khi đến Koyasan, ở đó tôi cũng cảm ứng thấy giữa tôi và Không Hải có một cảm ứng rất sâu rất sâu, tôi đã từng viết trong sách.

Sau khi Không Hải qua đời, ngài có một đặc trưng, điều này được lưu truyền rộng rãi tại Nhật Bản, bạn chỉ cần có một chút xíu tóc (xá lợi tóc) của Không Hải, tóc đó sẽ dài ra, hơn nữa còn nhiều lên. 

Điều này rất ít người biết, tóc của Không Hải sau khi ngài viên tịch có thể sinh trưởng, còn có thể tăng thêm, đây là điểm mà tôi và ngài giống nhau. Hôm nay Lư Sư Tôn còn ngồi đây thuyết pháp, nhưng bạn thỉnh xá lợi tóc của tôi về, niệm chú xá lợi tóc, niệm chú xá lợi tử, tóc đó sẽ dài ra và sẽ nhiều thêm. Còn có rất nhiều đệ tử thỉnh xá lợi tóc của Sư Tôn về thờ cúng, ban đầu chỉ có mấy sợi bé xíu mà thôi, sau đó toàn bộ tháp xá lợi đều đầy. Đây là điểm giống nhau giữa đại sư Không Hải và Sư Tôn. Tóc của ngài sau khi chết có thể dài ra, có thể tăng thêm. Khi tôi còn sống, người ta lưu giữ tóc của tôi, tóc của tôi cũng mọc dài ra, có thể tăng thêm. 

Còn có người nhìn thấy đại sư Không Hải dẫn họ đến trong hư không, rất cao, ở trên tầng trời thứ chín, đột nhiên, bản thân Không Hải biến thành mặt của Sư Tôn, còn lấy cả trang phục Lama của Chân Phật Tông đưa cho họ mặc, có chuyện như vậy. 

Cho nên những tin lan truyền hiện tại, chúng chỉ là những tin đồn, tức là nói rằng giữa Sư Tôn và Không Hải có một mối quan hệ thân mật, mối quan hệ thân mật này không phải là mối quan hệ xấu xa mờ ám, tóm lại có quan hệ tức là có quan hệ.

Bởi vì kỳ lạ lắm! Tóc của Không Hải sau khi chết có thể dài ra. Có thể biến thành nhiều! Khi Sư Tôn tại thế, tức là ngay tại thời điểm hiện tại này, tóc của tôi có thể dài ra, cũng có thể biến thành nhiều, đây chính là điểm giống nhau.

Nhưng trên thực tế, rất nhiều người nhìn thấy mặt của Không Hải biến thành mặt của Sư Tôn. Trong ký ức của tôi, tôi từng có một kiếp chuyển sinh tại Nhật Bản, nhưng tôi có phải là đại sư Không Hải không? Tôi thật không dám nói, cũng không thể nói, cho nên dứt khoát là không nói. Chính là nhân duyên này. Hôm nay nói tới đây. Om mani padme hum. 

03/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 113. Thập Trụ Tâm Luận - Tâm của động vật (1)


Chúng ta lại nói về “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp. Trong quá khứ khi tôi ở trong rất nhiều đạo tràng Mật giáo của Chân Ngôn Tông Nhật Bản, tôi phát hiện ra có một hiện tượng rất đặc biệt. Bên cạnh mỗi ngôi chùa của họ đều có một đàn thành rất nhỏ rất nhỏ, bên trong đàn thành và xung quanh đàn thành đều có cúng rất nhiều con hồ ly nhỏ bằng sứ. Điều này sẽ khiến người ta sinh ra tâm tò mò. 

Vì sao bên trong rất nhiều đạo tràng Chân Ngôn Tông của Nhật Bản đều cúng hồ ly? Ở miền Bắc Trung Quốc Đại Lục, nghe nói cũng có hồ tiên, cũng thờ hồ ly, lẽ nào người Nhật Bản cũng thờ hồ tiên sao? Điều này rất kỳ lạ.

Lời đồn là như thế này. Đại sư Hoằng Pháp trong khi hoằng pháp từng đi vào trong núi sâu để tìm đạo tràng. Vào núi thì thường xuyên có thể lạc đường. Chúng ta biết rằng đi vào trong núi thì không có la bàn, bạn đi vào trong đó thì không ra được nữa, hơn nữa trời cũng đã tối rồi, vừa đói vừa rét. Lúc này, đột nhiên, trước mặt xuất hiện hai ánh sáng xanh lục, trong ánh sáng có hai con hồ ly, đại sư Hoằng Pháp nhìn thấy là hồ ly hiển hiện hai vầng ánh sáng xanh lục, thế rồi ánh sáng xanh lục đi ở phía trước, đại sư Hoằng Pháp đi theo ánh sáng xanh lục ở phía sau.

Kết quả là nhờ có hai ánh sáng hồ ly xanh này mà đại sư Hoằng Pháp được dẫn ra khỏi núi, đến một nơi có dân cư. Sau đó, đại sư Hoằng Pháp rất cảm kích hai con hồ ly này, vì thế trong đạo tràng Chân Ngôn Tông của ngài có thờ hồ ly. Lời đồn đại tôi nghe được là như vậy.

Rất nhiều đạo tràng ở Nhật Bản thờ hồ ly, bản thân hồ ly vì sao lại có năng lực? Vì sao lại có sức mạnh của linh? Trong con mắt của tôi, bản thân linh của tất cả động vật đã chết đều có năng lực. Mọi người đừng coi thường linh động vật, bởi vì tôi phát hiện ra trong vũ trụ này, linh động vật chiếm tỉ lệ tương đối cao.

Trong con mắt nhìn của Lư Sư Tôn, đừng cho rằng chỉ có linh của Phật Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, đừng chỉ có nhìn thấy linh của chư Thiên, của Thần, thật ra còn có rất nhiều linh động vật.

Cho nên trong “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp, nhắc đến đầu tiên chính là tâm của động vật. Chúng ta đừng cho rằng động vật thì toàn bộ đều xấu, đều là không tốt, đương nhiên có loài xấu, có loài trung tính, có loài lương thiện.  

Tôi lấy ba ví dụ. Loài xấu, lấy rắn làm đại diện, chúng ta nhìn thấy đều sợ, đây là loài động vật tương đối xấu, chúng có thể làm hại các động vật khác, lại còn có thể hại người. Loài trung tính, tương đối tốt một chút, lấy cái gì làm đại diện nhỉ? Lấy chim bồ câu làm đại diện đi. Động vật tốt thì sao? Lấy mèo, chó làm đại diện. Loài chó đôi khi rất có nghĩa khí, có chuyện chó trung thành cứu chủ, chúng giúp người, giúp bạn trông nhà, còn giúp tìm kiếm bọn buôn lậu… Giống như ở hải quan dùng cái mũi nhạy bén của chó để giúp nhân viên hải quan, nó có thể bảo vệ nữa. Có rất nhiều sự việc về những con chó trung thành. Trong số linh động vật, không nhất định tất cả đều là xấu. 

“Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp nhắc đến đầu tiên chính là tâm của động vật. Trong đó ngài nói rằng, bạn có thể chiêu cảm linh của động vật, bạn chỉ cần cúng dường thức ăn cho động vật, bạn chỉ cần học một cách cúng dường là bạn có thể triệu thỉnh được linh động vật. Bởi vì động vật chỉ có hai thứ gần như là cực kì đặc trưng của chúng: thứ nhất chính là thực - ăn, thứ hai chính là sắc - dâm, hai thứ này có thể rất nhanh chóng chiêu cảm linh động vật. Cho nên bạn chỉ cần học cách cúng dường, bạn không cần học gì khác, bạn vẫn có thể triệu thỉnh được linh động vật. 

Trên thế giới này, Khổng Phu Tử nói rồi: “Thực, sắc, tính.” Đó là chỉ con người, bản thân con người mà nói cũng thuộc một trong số động vật. Nhưng linh tính của bản thân con người chúng ta thì tương đối cao một chút, cho nên trong “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp nhắc đến tâm động vật đầu tiên, chứ không phải là nhắc tới con người. Ngài chỉ nhắc đến động vật.

Bạn chỉ cần học được cách cúng dường, bạn chắc chắn có thể triệu thỉnh được linh động vật. Giả sử linh động vật này đến nhà bạn, đàn thành trong nhà bạn toàn bộ đều là động vật. Vậy giả sử bạn không biết, rồi nếu cứ thế tu tiếp, vậy thì hai thứ kia của bạn cũng sẽ tăng trưởng, thứ nhất là ăn, thứ hai là sắc.

Điểm đặc thù của linh động vật là ăn và sắc, là hai thứ này. Ngoài ra còn có giết chóc nữa, có nghĩa là tâm địa của chúng không phải là rất tốt, bạn tu tâm của động vật thì sẽ không tốt đâu.

Bạn xem lũ động vật đó, thường xuyên tàn sát lẫn nhau, tàn sát tới tàn sát lui. Và động vật thì ưa thích ăn, dâm và giết mà thôi. Thế giới của linh động vật thuộc về ba đặc trưng này. Hôm nay tôi giảng tới đây. Om mani padme hum.

03/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 114. Thập Trụ Tâm Luận - Tâm của động vật (2)


Chúng ta lại tiếp tục nói về “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp. 

“Thập Trụ Tâm Luận” này nhìn chung là cũng đang nói về một dạng tương ứng, tức là nói bản thân bạn thuộc về cái trụ tâm nào thì bạn sẽ chiêu cảm cái dạng linh đó. Giả sử bạn thuộc về tâm của động vật, thế thì linh mà bạn triệu thỉnh đến chính là linh của động vật. 

“Thập Trụ Tâm Luận” này không chỉ là chỉ cái hữu hình. Về hữu hình, bản thân con người chúng ta có thể tu hành mười pháp giới, tâm của mười pháp giới con người đều có thể biến tới biến lui. Phật giáo nói “tất cả do tâm tạo”, đại sư Hoằng Pháp nói “Thập Trụ Tâm Luận”, chính là nói tâm của chính bạn có thể biến thành một loại tâm bất kì, sau đó nếu dùng cái loại tâm này của bạn để triệu thỉnh, để tu pháp tu luyện, thì rất có khả năng linh đến chính là cái linh tương ứng với bạn đó. Cái này dựa theo mười trụ tâm này để mà phân biệt. Đạo lý “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp là ở đây, đạo lý này cũng chính là vật họp theo loài.

Hôm qua chúng ta nói về tâm của động vật có hai đặc trưng, một cái là thực, một cái là sắc. Vì thế nói chung, chúng ta muốn triệu thỉnh linh của động vật thì cực kì đơn giản, mọi lúc mọi nơi đều có thể triệu thỉnh. Bạn xem, khi chúng ta còn nhỏ chơi trò triệu thỉnh thần ếch. Lúc nhỏ tôi cũng từng chơi, tức là mấy đứa trẻ con quây lại với nhau, sau đó thắp hương. Vào ngày nào là tốt nhất? Vào ngày 15, ví dụ ngày 15 tháng 8 là tốt nhất, bởi vì trăng tròn nhất, tất cả các linh đều đi ra để ngắm trăng.

Khi đó tất cả lũ trẻ con đều thắp hương, khi đó chưa hiểu chuyện, học theo người ta, bảo bạn niệm cái gì, dùng Đài ngữ để niệm, cầm hương lên rồi lắc lư: “Thần bốn chân, linh linh linh, thỉnh thần 15 tháng 8 đến đây!” Chính là như vậy, vừa hát vừa lắc, một đứa trẻ trong số đó nằm phục trên mặt đất giả vờ là ếch, đầu của nó chúi thấp xuống mặt đất, mông thì chổng lên cao cao, giả vờ bộ dạng của con ếch. Những đứa trẻ khác ở bên cạnh thì cùng nhau hát: “Thần bốn chân, linh linh linh, thỉnh thần 15 tháng 8 đến đây! Thần bốn chân,…”

Bạn đừng coi thường trò này nhé! Đây chính là triệu thỉnh linh động vật. Bạn cứ tiếp tục hát liên tục hát như thế, tinh thần sẽ chiêu cảm con ếch, linh của con ếch sẽ “chíuuu…”, thế là sẽ nhập vào người đứa bé kia. Lập tức đứa bé kia sẽ bị thần trí hôn mê, sẽ nhảy tưng tưng, sẽ bắt đầu nhảy kiểu ếch, còn kêu tiếng ếch nữa.

Ếch kêu âm thanh thế nào? Tóm lại là đứa bé sẽ kêu tiếng ếch, rồi còn biết nhảy kiểu ếch, nhảy không ngừng, rồi sẽ bị ốm. Đôi khi nếu linh nhập vào không đi thì thật sự sẽ sinh bệnh đó! Đây chính là triệu thỉnh linh của động vật.

Bạn đừng cho rằng trẻ con chúng tôi chơi như vậy thì mới có thể thỉnh được linh động vật, thật ra rất nhiều người lớn cũng thỉnh linh động vật. Ví dụ người thổ dân da đỏ, họ thích nhất là thỉnh linh động vật, thỉnh linh của một số loài rắn, chim ưng là họ thích thỉnh nhất. Bạn xem những vật tổ mà họ điêu khắc, khắc lên cái cột nhà, miệng diều hâu, mắt diều hâu, hình cáo, hình rắn, đều khắc trên các vật tổ. Vì sao vậy? Bởi vì họ chiêu cảm. 

Khi làm cúng dường, họ thỉnh đến rất nhiều linh của các động vật ở trong rừng sâu, vì thế, bạn xem họ điêu khắc, cứ khắc ra thì sẽ là chim ưng, rắn, cáo, những động vật như thế, khắc ở trên vật tổ. Bọn chúng không phải là không có pháp lực, linh động vật cũng có pháp lực, cho nên thầy phù thủy của thổ dân da đỏ, đừng cho là họ không có pháp lực, thật ra cũng có pháp lực đó, bởi vì linh mà họ chiêu cảm chính là linh động vật.

Rồi cả tượng nhân sư của Ai Cập, đạo Shaman của châu Phi nữa, những linh thỉnh đến phần nhiều đều là linh động vật. Giống như lúc nhỏ chúng ta chơi trò tiên đĩa, linh động vật cũng sẽ đến. Bạn xem cái đĩa kia ở đó tự nó chạy rồi chạy. Thật ra chẳng làm gì nó cả, chỉ có nói: “Xin mời đến!” “Thỉnh tiên đĩa đến!” Ba người vịn vào, im lặng thỉnh tiên đĩa đến. Đến rồi thì cũng không có mời gì, bảo họ uống một cốc nước, họ liền chạy đến nước để uống nước. Bảo họ ăn một viên đường, họ liền chạy đến chỗ viên đường ăn một viên. Đây cũng rất có khả năng là linh của động vật, cũng có khả năng không phải, cái này phải xem tâm tính của hành giả. Bạn là hành giả mà không có gì cả, lại còn ham ăn, háo sắc, thói xấu này không sửa, thế thì vĩnh viễn bạn chỉ thỉnh được linh động vật.

“Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp nói rằng con người sẽ đọa lạc vào trong tam ác đạo là bởi vì mười điều ác nên mới đọa lạc, mười ác cũng chính là giết, cướp, dâm, nói dối, ác khẩu, hai lưỡi, nói lời tục tĩu, tham, sân, si. Bạn phạm vào mười ác này thì bạn sẽ trụ tâm ở bên trong động vật. Kiếp sau chuyển thế, chẳng có gì để nói, bạn sẽ biến thành động vật.

Cho nên ở đây phải xem trụ tâm của bạn, mười trụ tâm của đại sư Hoằng Pháp cũng tương đương với mười pháp giới. Bạn đọa lạc đến tam ác đạo, đó là vì sao? Bởi vì bạn phạm vào mười điều ác này, thế thì đương nhiên bạn sẽ đọa lạc đến tam ác đạo. Bạn học pháp mà không tu tâm, đương nhiên bạn sẽ triệu thỉnh được linh động vật. 

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

03/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 115. Thập Trụ Tâm Luận - Tâm của con người


Chúng ta lại giảng “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp. 

Bây giờ đi vào loại tâm thứ hai - tâm của con người. Tâm của động vật đã giảng xong rồi, bây giờ nói về tâm của con người. Rời khỏi tâm động vật này, tâm của con người cao cấp hơn tâm động vật một chút. Bạn sinh ra làm một con người, bản thân bạn đã là không tệ rồi, xem ra cũng là tốt rồi.

Con người là linh của vạn vật, căn cứ theo điều nói đến trong kinh Phật, bạn muốn chuyển thế làm một con người cũng không đơn giản, cho nên chí ít, bạn cần hiểu về luân lý làm người. Luân lý làm người là cái gì? Chính là tam cương ngũ thường mà trước đây chúng ta vẫn nói. Tam cương là nói về mối quan hệ vua tôi, quan hệ cha con, quan hệ vợ chồng. Bạn xem trong các loài động vật, quan hệ vợ chồng của bản thân con người tương đối nghiêm một chút. Những động vật bình thường đương nhiên cũng có kiểu quan hệ vợ chồng này, nhưng quan hệ vợ chồng của chúng tương đối nông cạn, quan hệ giữa vợ chồng của con người thì tương đối chặt chẽ. Vua tôi, cha con là một loại quan niệm luân lý, cái này ở con người mới có. Cho nên bản thân con người là linh của vạn vật, nguyên nhân chính là ở đây.

Thế còn ngũ thường? Chính là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Có thể nói là con người hay nói đạo lý, còn biết nói một vài lý lẽ. Động vật thì chẳng có cái lý gì để mà nói, hoàn toàn mạnh hiếp yếu. Sư Tôn từng xem một bộ phim về đáy biển, tôi từng nghĩ là: “Hầy! Làm cá cũng không tệ nhỉ! Cá thật tự do, thật tiêu dao!” Nhưng mà sau khi xem xong bộ phim về đáy biển đó thì tôi: "Thôi, không muốn làm cá.”

Ở dưới biển, những con cá mập rất lợi hại, còn có rất nhiều loại cá đều tàn sát lẫn nhau. Ví dụ chúng ta nói cá ngừ đại dương, hình như gọi là *tuna*, tiếng Anh hình như nói là *tuna*, con *tuna *đó đang bơi dưới biển, cá mập xuất hiện, nó thích nhất là ăn *tuna*. Đột nhiên bơi đến, liền “oa” lên, cắn một cái, con *tuna l*ập tức biến thành hai nửa, máu chảy ra, cả đáy biển đều nhuộm màu đỏ. Vì thế, đây là thế giới mà cá lớn nuốt cá bé rất khủng bố.

Bởi vậy đó là thế giới của động vật, hầu hết với động vật mà nói thì chúng chẳng nói đạo lý, chúng chỉ nói về kẻ mạnh và kẻ yếu. Cho nên sinh tồn dưới đáy đại dương không dễ dàng. Trước kia tôi nghĩ: làm cá là tự do nhất! Tự do tự tại bơi lội dưới biển, tốt biết bao! Không ngờ thế giới dưới đáy biển cũng rất hung tàn, rất tàn nhẫn.

Lại xem thế giới không trung. “Í, làm chim thật tốt! Rất tự do, còn có thể bay nữa, có thể bay thật tốt!” Không ngờ thế giới không trung này cũng thế. Có con chim ưng, nó nhìn thấy kẻ yếu thì cũng như thế. Bạn nói xem, những động vật bò trên mặt đất chúng ta thì lại càng giống như thế.

Vì thế mới nói, con người mới là linh của vạn vật. Vì sao là linh của vạn vật? Bởi vì con người vẫn còn có lý tính nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Có thể nói bản thân con người vẫn còn nói đạo lý, vẫn còn muốn nói một chút đạo lý, cho nên có cái lý tính này. Bởi vì có lý tính, có giữ luân lý làm người, nên mới trở thành con người.

Chúng ta làm một con người, giả sử nói là bạn giữ tam cương ngũ thường, hơn nữa không phá hoại quy tắc của con người thì tương lai bạn chuyển thế vẫn có thể làm người. Bạn làm trái tam cương ngũ thường thì bạn sẽ tiến vào tâm động vật. Nếu bạn làm mười ác, giết, cướp, dâm, nói dối, ác khẩu, hai lưỡi, nói lời tục tĩu, tham, sân, si, thì sẽ đọa vào tâm động vật thấp kém. Vậy bạn giữ tam cương ngũ thường thì bạn có thể nói là chính nhân quân tử, đời sau bạn chuyển thế cũng sẽ không luân hồi đến nơi không tốt là tam ác đạo, chí ít bạn còn là một con người. 

Bởi vì bạn là một con người, cho nên nếu bạn dùng tâm của người để làm triệu thỉnh, bạn có thể triệu thỉnh được ma, cũng tức là triệu thỉnh được người đó. Nhưng mà người này là vô hình, đây gọi là “phi nhân”. Trong kinh Phật chúng ta thường nhắc đến phi nhân, nhân phi nhân, ý nghĩa chính là nói về người vô hình. Trong tâm bạn nghĩ, dùng tâm của con người để triệu thỉnh thì bạn sẽ cảm ứng được phi nhân.

Trước đây, trong cuốn sách “Pháp thuật của Mật giáo” tôi có viết rồi, có pháp gọi là Linh đồng nhĩ báo, pháp thuật này có thể triệu thỉnh được linh đồng nhĩ báo, năng lực của họ cũng rất lớn.

Bạn chỉ cần cúng tiểu đồng tử, dùng vật chất tinh thần trên thân của đứa bé đó, biết ngày mất của đứa bé đó, sau đó bạn niệm chú triệu thỉnh, cúng dường, chỉ cần linh của đứa bé đó đến, sau khi tiếp nhận cúng dường của bạn, bạn sẽ trở nên rất linh. Đứa bé đó là vô hình, sẽ thường xuyên nói chuyện với bạn ở bên tai bạn.

Người làm pháp sư thường xuyên làm pháp Linh đồng nhĩ báo hoặc tu pháp này, ở Đông Nam Á cũng rất nhiều, pháp này gọi là nuôi quỷ, tức là nuôi linh của trẻ con. Vậy nuôi linh trẻ con có lợi ích gì? Bởi vì chúng có thể giúp đỡ pháp sư, có thể dự đoán, có thể giúp người ta đoán mệnh, có thể dự đoán lành dữ, nhưng linh lực của chúng vẫn là có hạn.

Nếu dùng tâm của con người để tu pháp có thể triệu thỉnh được nhân phi nhân, đây chính là một đạo lý tương ứng. Vì thế, đại sư Hoằng Pháp giảng “Thập Trụ Tâm Luận”, thật ra chính là đang nói về yoga, cũng chính là nói về tương ứng, bởi vì bạn là một con người, cho nên bạn cũng sẽ triệu thỉnh được con người. 

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

04/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 116. Thập Trụ Tâm Luận - Tâm động vật và tâm người (1)


Hôm nay chúng ta tiếp tục giảng “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp. Chúng ta đã biết trụ tâm thứ nhất là tâm động vật, trụ tâm thứ hai là tâm con người. Hai trụ tâm này muốn triệu thỉnh linh động vật và phi nhân thì đều rất đơn giản. 

Mọi người biết rằng ở thế giới phương Tây có những “nhà ngoại cảm”, họ muốn triệu thỉnh người đã chết đến, rất đơn giản, họ duỗi tay ra như thế này, mấy người ở bên cạnh ngồi thành vòng tròn, nắm lấy tay nhau, cùng nghĩ về người này, miệng thì niệm tên của người này là được.

Vì sao phải nắm tay nhau? Ở đây có một mấu chốt, bản thân tôi phát hiện ra rằng, vì bản thân mỗi cá nhân đều có linh thể, vậy chỉ cần tập hợp linh thể của vài người tập hợp lại với nhau thì sẽ sản sinh ra một dạng sức mạnh. Nhờ vào dạng sức mạnh này, rất nhanh chóng có thể tiến vào linh giới, linh giới lập tức sẽ biết ngay là có mấy người đang triệu thỉnh một linh nào đó, linh đó nhanh chóng sẽ đến, đây là cách làm pháp của nhà ngoại cảm ở nhân gian.

Tay của họ như thế này, đặt chéo nhau và nắm lấy tay của người bên cạnh, tạo thành một vòng tròn, sau đó nghĩ đến một người, niệm tên của họ. Chà! Người đó rất nhanh chóng xuất hiện, trên thực tế là thật sự xuất hiện.

Trước kia ở Đài Loan rất thịnh hành trò bói đĩa, ba người vịn vào cái đĩa, thật ra chỉ cần tĩnh tâm lại, linh khí này sẽ thông qua ngón tay tiến vào bên trong cái đĩa, bản thân cái đĩa sẽ phát ra một dạng sức mạnh. Chỉ cần linh khí sinh ra trên cái đĩa này, linh giới xung quanh biết được thì sẽ nhập vào cái đĩa, nó sẽ có thể di động, đây chính là tiên đĩa.

Ví dụ như tôi mà nói, giả sử tôi muốn vịn vào thứ này, tôi không cần ba người, một mình tôi là có thể vịn được rồi. Một người sờ vào vành của đĩa, chuyên tâm nhất trí, đợi một lát nó sẽ tự chạy, sẽ chuyển động. Cũng có người chơi trò bói tiền, bói tiền tức là một đồng tiền mà thôi, tay chạm vào mặt trên của đồng tiền, tự nó sẽ di động, nhưng liệu có linh cảm không? Chính vì linh tại linh giới chỉ là linh động vật, phi nhân, chỉ là ma, cho nên linh lực của chúng không phải là rất lớn. Bạn hỏi họ sự việc, họ cũng có thể tùy tiện trả lời. Cho nên chuẩn hay không chuẩn, đó lại là một chuyện khác.

Nếu thỉnh linh động vật và phi nhân đến, thật sự là quá đơn giản, chỉ cần bạn dùng ý niệm để thỉnh, cúng dường một chút đồ, chuyên tâm nhất trí, tĩnh tâm lại là có thể thỉnh được.

Tôi nhớ lúc trước tôi học cấp ba cũng chơi trò bói đĩa, chúng tôi rất dễ dàng thỉnh được phi nhân đến. Ba người vừa chạm vào, tập trung tinh thần một cái là linh giới lập tức biết được. Họ đến rồi thì rất kỳ lạ. Hỏi họ: “Từ đâu đến?” Họ liền chạy chạy chạy, đáp án: “Hồ Nhật Nguyệt.” 

Sau đó lại hỏi: “Vì sao lại ở hồ Nhật Nguyệt?” Họ lại chạy chạy chạy, đáp án: “Tự sát.” Thì ra là nhảy hồ Nhật Nguyệt tự sát. “Thế vì sao mà tự sát?” Họ nói: “Khốn đốn vì tình.” Khốn đốn vì tình thì đúng là rất đau khổ rồi! Vì thế họ đi nhảy hồ Nhật Nguyệt tự sát. Họ đến thật đó! Chúng tôi không hề có ý đi thỉnh linh tự sát ở hồ Nhật Nguyệt đến, nhưng thật sự họ đã đến rồi! Sau đó chúng tôi hỏi họ: “Thế đến đây, có yêu cầu gì không?” Họ lại chạy chạy chạy, đáp án: “Tìm người kết hôn.” Họ muốn cưới! Bạn có biết không? Họ muốn kết hôn đó! Chúng tôi hỏi: “Tìm ai?” Họ nói: “Tìm cậu đó!” Úi! Chúng tôi đều không dám chơi nữa. Rất nhiều sự việc thật sự là như vậy.

Bạn có biết không, chơi trò bói đĩa cũng sẽ sinh bệnh đó. Trước kia, khi tôi ở Đài Loan giúp người ta hỏi chuyện, có một cô gái tinh thần rất hoảng hốt, một cánh tay thì như thế này (Sư Tôn làm bộ dạng chơi bói đĩa). Bố mẹ cô đưa cô đến hỏi: “Vì sao lại như vậy?” Chính là do cô ấy chơi bói đĩa, linh mà cô ấy triệu thỉnh tới đã kết hôn với cô gái rồi, kết quả là biến thành hiện tượng này.

Cho nên bản thân linh có thể quấy nhiễu, có thể chiếm nhà. Cái gọi là chiếm nhà tức là đi vào bên trong thân thể của một người. Nếu linh đi vào bên trong thân thể của người đó thì sẽ biến thành “vật trung gian của linh”. Ở Đài Loan gọi là kê đồng. Đôi khi bạn sẽ bị phi nhân chiếm nhà, nghiêm trọng một chút là bạn sẽ biến thành *crazy **[điên]*, sẽ phải vào bệnh viện tâm thần. 

Cho nên nếu linh động vật và linh của phi nhân quấy nhiễu, thân thể con người bị chiếm đoạt, người đó sẽ biến thành hai dạng nhân cách. Đàn ông khi nói chuyện đột nhiên biến thành giọng nữ, phụ nữ khi nói chuyện đột nhiên biến thành giọng nam. Cô gái còn rất trẻ đột nhiên biến thành giọng của người già, đó chính là bị phi nhân chiếm nhà. Hiện tượng này rất nhiều. Vì thế nói chung, tu hành trong linh giới phải tránh linh động vật và linh của phi nhân đi vào quấy rối bạn.

Bản thân Sư Tôn mà nói, trên phương diện triệu thỉnh linh, tôi có năng lực rất cao. Chỉ cần một ý niệm là tôi đã có thể triệu thỉnh đến, chỉ cần một ý niệm là tôi làm xong rồi. Còn nữa, tôi còn có một năng lực, hôm nay tôi muốn mơ thấy ai, buổi tối hôm đó tôi liền có thể mơ thấy người đó. Bạn cũng không chắc có thể làm được là ban ngày nghĩ gì thì tối mơ thấy cái đó. 

Hay! Nói hay lắm! Hôm nay tôi nghĩ, nghĩ, nghĩ đến người đó, nhưng khi bạn đi ngủ, bạn chưa chắc đã mơ thấy người đó đâu. Nhưng hôm nay tôi có năng lực này, Sư Tôn thật sự có bản lĩnh này! Muốn mơ thấy người đó là liền mơ thấy người đó.

Tôi cũng có thuật cầu nguyện của tôi, tôi có phương pháp của tôi để nhiếp triệu người này đi vào trong giấc mơ của tôi, thế là buổi tối tôi có thể mơ thấy. Đây cũng là một dạng công lực tu hành. Giả sử ý niệm của bạn rất mạnh, bạn sẽ có thể nhiếp triệu được phi nhân. Thậm chí người còn sống ở dương thế cũng có thể đi vào trong giấc mơ của bạn.

Vì thế tu hành, bạn phải tu đến một cảnh giới nào đó, khi năng lực của bạn rất cao, chỉ cần nghĩ đến là tất cả mọi việc đều có thể làm được. Ví dụ tôi nghĩ đến một người ở nơi rất xa cũng được. Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

07/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 117. Thập Trụ Tâm Luận - Tâm động vật và tâm người (2)


Chúng ta lại nói về “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp, trong đó nói đến triệu thỉnh chư Thiên, Phật, Bồ Tát. Quan trọng nhất tức là nói rằng cảnh giới tu hành của chính bạn càng cao thì cao linh mà bạn triệu thỉnh càng cao, cảnh giới của bạn càng thấp thì linh triệu thỉnh đến càng thấp. Cho nên mới nói linh động vật và phi nhân đều cực kì dễ triệu thỉnh.

Có một số đứa trẻ tùy tiện nặn mấy hình người bằng đất, học người lớn bái thần, trẻ con chơi trò gia đình, dùng những người đất này làm người, thế rồi mấy đứa bé cũng bái lạy. Học theo mẹ của chúng, học theo dì của chúng lạy thần. Bạn đừng coi thường trò này nhé. Lạy một cái là lập tức có linh nhập vào thân. Mấy đứa bé này nhìn thấy thì cảm thấy rất lạ lùng kì quái: “Sao lại thế? Làm sao mà nhập vào thân được?”

Thật ra muốn nhập vào thân rất đơn giản, bạn gõ trống: “Tùng, tùng tùng! Tùng, tùng tùng!” Bạn thử liên tục gõ trống mà xem, tiếng gõ trống này vang lên, nhịp trống đều nhau sẽ đi vào trong linh giới, linh giới lập tức biết được có người gõ trống triệu linh, linh thật sự sẽ đến. Cả một đám, cả một bầy, tất cả kê đồng đều nhảy nhót, đều đứng dậy hết.

Sư Tôn khi triệu thỉnh thì rất nhanh, tôi mà biểu diễn thì nhanh lắm. Tôi cầm một cây gậy lên, hát một bài kệ triệu thỉnh, trước đây tôi từng hát rồi: “Các nội cảnh trong người, ba vạn sáu nghìn thần, nguyện thân ta tự tại, thường trụ trong Tam Bảo.” Thần lập tức có thể viết chữ trên bàn, lập tức linh động. Việc triệu thỉnh này của tôi rất nhanh, một ý niệm xuất hiện, vừa nãy ngài viết gì thế? Tôi không nhìn rõ.

Nhưng ở trên bàn cát có thể hiển chữ: Tôi là người nào, hoặc tôi là thần nào, lập tức sẽ đến. Đây không phải là tôi dọa bạn đâu, không phải là tôi đang ở đây kể chuyện cười, không phải là mở miệng ra nói bừa, mà là nói căn cứ theo những gì được nói trong sách, nói trong kinh điển. Hát một bài hát triệu thỉnh, thần lập tức giáng xuống. Thế là xuống rồi, không phải là nói đùa đâu, linh cũng như thế. Linh giới và bản thân con người chúng ta là tương thông.

Giống như tôi và linh giới căn bản là thông. Tôi chỉ cần một suy nghĩ, linh đó sẽ đến. Cho nên mọi người xem Sư Tôn hỏi việc, làm thế nào vậy? Tôi còn chưa hỏi, họ đã nói rồi. Còn chưa hỏi đã trả lời rồi. Nhanh lắm. Rất nhanh, rất nguy hiểm! Căn bản là có đôi khi, tôi không cần hát bài hát triệu thỉnh đó, ví dụ vừa nãy cái bài hát triệu thỉnh đó mới hát được một nửa thì linh đã đến rồi, linh đã biết tôi muốn biểu diễn rồi! Trên thực tế chính là như vậy, linh luôn ở xung quanh.

Bởi vậy, bạn là một người thông linh chân chính thì linh giới của bản thân bạn sẽ ở xung quanh bạn, rất nhanh chóng có thể mở ra cánh cửa tâm linh, có thể giao tiếp với nhau. Vừa rồi tôi làm như thế chính là lên đồng viết chữ, hát một bài, triệu thỉnh, nhanh chóng cầm bút lên, lập tức sẽ viết chữ trên cát. Đương nhiên, tôi cũng sẽ bị nhập. Tôi cũng có thể bị nhập lên người. Tôi chắp tay một cái là linh cũng giáng xuống, lập tức sẽ biến thành một âm thanh, lập tức tạo thành một tư thế, nói: “Tôi là cái gì đến đây.” Sau đó lập tức kết thủ ấn, thế là đến.

Là một người thông linh thì bạn sẽ có được năng lực này để đi làm các việc. Vì thế, cảnh giới bạn tu mà càng cao thì linh đến sẽ càng cao, cảnh giới của bạn thấp, gần như về cơ bản bạn không có tu hành gì, thì ma bình thường sẽ đến nhập vào người bạn. Ma cũng có ngũ thông mà. Họ cũng có thần thông, không phải là không có, họ là vô hình, hơn nữa họ đến đi rất nhanh. Linh động vật cũng rất lợi hại, bạn xem những người thổ dân da đỏ đó, một đám người quây quanh đám lửa và nhảy, nhảy một cái là mỗi người đều bị nhập. Đạo Shaman ở châu Phi, mọi người nhảy múa, đánh một loại trống, thế là có thể tiến vào linh giới. Nhịp trống đó vang lên là linh giới sẽ biết, toàn bộ đều đến, toàn bộ đều nhập vào thân.

Kê đồng của Đài Loan, gõ trống, liên tục “tùng tùng, keng… tùng tùng, keng.” Liên tục gõ liên tục gõ, linh lập tức sẽ đến. Vì thế, hành giả chúng ta phải chú ý, linh bạn triệu thỉnh nhất định phải là thế giới thượng tầng (thiên thượng giới), đừng để bị phi nhân và linh động vật lợi dụng.

Hôm nay giảng “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp, quan trọng nhất chính là nói rằng, bạn tu hành phải hiểu cách tránh được linh động vật và linh của phi nhân. Nói chung, trong bệnh viện tâm thần có rất nhiều người có hai loại nhân cách, những người này thật sự là bị phi nhân và linh động vật chiếm thân rồi. Họ cứ một lúc thì tỉnh táo, con người rất tốt, đối với người khác rất lịch sự, một lát sau nếu linh nhập tỉnh dậy thì, vốn là một cô gái thôi, nhưng mà năm, sáu người đàn ông cũng không bắt được cô ấy, cô ấy cực kì khỏe. Cơ bản là cô ấy đã bị linh nhập, linh đó là linh gì? Là *crazy cow*, con bò điên đó. Chà, thảm rồi, linh của bò điên nhập lên người đó.

Bởi vậy hôm nay giảng “Thập Trụ Tâm Luận”, quan trọng nhất là chúng ta tuy thông linh, nhưng phải biết phân biệt mười loại trụ tâm. Bản thân bạn phải giữ năm giới, làm mười thiện, tự mình phải biết tu tâm, tâm mình biến thành tâm của cõi trên, thế thì bạn sẽ triệu thỉnh được linh của cõi trên. Tâm của bạn chảy xuống tầng thấp thì sẽ giống tâm của động vật, tức là có hai đặc trưng thực, sắc.

Giống tâm con người chính là tam cương ngũ thường, đó là tâm con người. Giả sử bạn không tu hành, thế thì bạn chẳng qua là ở giữa hai cảnh giới mà thôi. Bạn có tu hành, sắp tới tôi sẽ nói về tâm cao hơn, sâu hơn một chút, bạn sẽ có thể triệu thỉnh được Phật Bồ Tát.

Vì thế tâm của Phật Bồ Tát là quảng đại vô biên, không phải là keo kiệt hẹp hòi. Quan Thế Âm Bồ Tát đó, không có Quan Thế Âm nhỏ mọn, làm gì có Nam mô nhỏ mọn Quan Thế Âm chứ? Tâm lượng rất nhỏ hẹp thì làm sao làm Quan Thế Âm Bồ Tát được? Quan Thế Âm Bồ Tát là đại từ đại bi mà.

Cho nên chúng ta làm một con người, tuyệt đối không thể hẹp hòi, cũng không thể nhỏ mọn. Tấm lòng phải rộng lớn, bạn sẽ có thể triệu thỉnh được thiên thượng giới. Tâm lượng bạn hẹp hòi, thôi xong! Bạn tuyệt đối không triệu thỉnh được thiên thượng giới đâu, bởi vì linh động vật chính là nhỏ hẹp. Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum. 

07/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 118. Thập Trụ Tâm Luận - Tâm Atula (1)


Chúng ta lại giảng “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp. Hôm nay chúng ta giảng tâm thứ ba là tâm của Atula. Trong Phật giáo có nhắc đến Atula, bản thân Atula mà nói, so với lực của con người thì cao hơn (lực ở đây là chỉ một dạng pháp lực).

Ở bên trong cảnh giới của Atula, họ đã biết tu hành, trong cảnh giới của con người thì vẫn chưa biết tu hành, chỉ giữ luân lý làm người bình thường mà thôi. Bản thân Atula có tu hành, nhưng vì sao lại biến thành Atula?

Chính là vì cảnh giới tu hành của bản thân họ vẫn chưa thể mở cái tâm ra, vẫn chưa thể hoàn toàn biến tâm thành rất quảng đại, chỉ là một dạng tu hành rất nhỏ hẹp, rất hẹp hòi. Chúng ta biết rằng, Atula từng cùng với Đế Thích Thiên thường xuyên có chiến tranh. Trong linh giới, chư Thiên cùng Atula Vương từng có chiến tranh, có hai truyền thuyết:

Truyền thuyết thứ nhất là nói rằng, Thiên Đế chính là Đế Thích Thiên (Nhân Đà La, Thích Đề Hoàn Nhân), ngài lấy công chúa của Atula làm vợ, ở trong cõi Dục giới vẫn có quan hệ vợ chồng. Vì thế, Nhân Đà La Thiên Đế đã lấy công chúa của Atula.

Công chúa Atula của Thiên Đế rất xinh đẹp, nhưng xinh đẹp cũng không phải là mãi mãi, bất kì thứ gì nhìn lâu thì cũng giống như gặm cây mía vậy, ban đầu thì ngọt, sau cùng chỉ còn lại bã mía thôi! Vì thế, xinh đẹp cũng không phải là vĩnh viễn. Giống như ăn kẹo cao su vậy, ban đầu thì ngọt, sau cùng thì chỉ còn lại bã kẹo cao su, tương tự chỉ muốn nhổ đi.

Cho nên Thiên Đế đó, đại khái là Dục giới thiên cũng có kiểu tâm lý này, công chúa của Atula Vương tuy rằng rất xinh đẹp, nhưng lâu ngày thì cũng không còn cảm giác nữa. Thiên Đế ở trong vườn hoa lại để mắt đến người khác, Atula Vương liền rất tức giận, xuất binh đánh nhau với Đế Thích Thiên. Đây là truyền thuyết thứ nhất.

Truyền thuyết thứ hai là nói rằng, Thiên Đế đi chơi, Đế Thích Thiên dẫn đầu tất cả quyến thuộc đi trong hư không. Atula Vương đang ở dưới đáy biển mở* party **[tiệc]**,* chắc là *birthday **[sinh nhật]* của Atula Vương, ông ta đang ở đó mở tiệc. Đột nhiên ngẩng đầu lên nhìn, chà! Đế Thích Thiên dẫn đầu quyến thuộc, xe ngựa như vậy đi qua trên đầu ông ấy. Ông ấy nhìn thấy thế thì nghĩ… Ta đang mở *party*, ông lại bay qua trên đầu ta, đúng là bất kính với lão già ta, vì thế xuất binh tấn công Đế Thích Thiên.

Đây là một truyền thuyết nữa giữa Atula Vương và Thích Đề Hoàn Nhân. Vì sao giữa hai người Atula Vương và Đế Thích Thiên lại sứt mẻ tình cảm, tấn công lẫn nhau? Muốn tu thành Atula, không phải là tôi dạy mọi người tu thành Atula đâu, ý tôi muốn nói là rất nhiều người tu hành đều tu thành Atula. Là nguyên nhân gì mà lại tu thành Atula? Chính là vì tâm lượng của bản thân bạn không rộng mở.

Tâm lượng của một hành giả không rộng mở, thì cho dù pháp lực của anh ta có mạnh, cũng chẳng qua chỉ là Atula thôi. Bởi vì tâm lượng của anh ta rất hẹp hòi. Atula có hai đặc trưng: một là đố kỵ, hai là tranh đấu. Đố kỵ và tranh đấu sẽ khiến bản thân bạn biến thành Atula. Ngoài ra, Atula Vương còn có một biểu hiện bề ngoài nữa, chính là tự cao ngạo mạn. Hiện nay rất nhiều người tu hành đều như vậy. 

Trước kia nhóm múa rối Hoàng Tuấn Hùng, trong vở múa rối của họ có lão hòa thượng Lục Nguyên, cuộc nói chuyện của họ đầy ý vị thiền. Có người nói ông ấy: “Ôi chao! Võ công của ông là số một!” Lão hòa thượng Lục Nguyên liền nói: “Đến giờ mới biết à!” Thế rồi một người khác lại nói: “Chẳng ai bằng được ông!” Hòa thượng Lục Nguyên nói thế này: “Đúng là chẳng ai bì được với tôi.”

Tôi nói với bạn nhé, người tu hành ngày nay chính là như vậy. Không ai bì nổi với họ, võ công của họ là cao cường số một. Gần như mỗi người đều như vậy, bạn nói: “Ai đọ ai? Ai sợ ai chứ? Rùa sợ dùi sắt, gián sợ giầy rơm.” Ai cũng đều đang so bì cao thấp. Giống như tiểu thuyết võ hiệp, cũng đều là so bì cao thấp.

Làm một người tu hành, không nên giống những nhân vật trong tiểu thuyết võ hiệp, toàn là so bì cao thấp. So bì cao thấp sẽ tu thành Atula, bạn là người võ công cao nhất sẽ biến thành Atula Vương, còn phổ thông thì sẽ biến thành Atula quyến thuộc. Rất đơn giản, bạn đi vào trong cái tâm hẹp hòi này thì sẽ biến thành Atula. Tâm lượng đó rất nhỏ, cho nên khi cái tâm tranh đấu này sinh ra, bản thân hành giả phải tự mình cảnh giác, không được có cái tâm này.

Một khi cái tâm tranh đấu này sinh ra, hành giả cũng phải cảnh giác, không thể có tâm tranh đấu, phải có tâm rộng lượng. Người có tâm lượng hẹp hòi thì đừng nói tu hành! Có những người đôi khi tâm lượng thật sự là quá nhỏ hẹp, quá “tiểu lượng”, tính toán chi li, cho dù một cái kim cũng không bỏ qua. Thậm chí một câu nói, thế là không ra gì! Một cái nhìn, thế là không ra gì! Vì thế, đôi khi giống như những sự việc gây thị phi kia, chỉ một cái nhìn thôi thế là be bét!

Tôi thường đọc trên báo thấy nói, ví dụ ở trong nhà hàng ăn cơm, một người vô ý ngẩng đầu lên nhìn người khác một cái, người kia liền cảm thấy không thoải mái, gây ra họa giết người. Chỉ vì một cái nhìn, thế là thôi, giống như thế thì chính là Atula.

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

08/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 119. Thập Trụ Tâm Luận - Tâm Atula (2)


Một người tu hành, không thể tu thành cái tâm Atula trong “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp. Nhưng vẫn cứ có rất nhiều hành giả đi vào con đường này, trong con mắt của người thông linh thì rất dễ có thể nhìn ra.

Chúng ta rất dễ nhìn ra bản thân người này có phải là Atula không, bởi vì ở xung quanh người này, Hộ pháp mà họ thu hút tới nhất định là Atula ở xung quanh họ. Bạn nhìn một cái, nhìn thấy những Atula này là biết ngay, a, người này đã tu vào đạo Atula rồi, cũng tức là đã đi vào bên trong con đường tự cao ngạo mạn, đố kỵ, tranh đấu rồi.

Điều này là phải tránh, mỗi một hành giả chúng ta đều phải tránh, bạn nhìn một người tu hành, một người tu hành chân chính đều mang theo một sự biết ơn, vì thế chúng ta thường nói “trên báo bốn ơn sâu, dưới cứu ba đường khổ”. “Trên báo bốn ơn sâu” tức là phải báo ơn, bất kì một hành giả nào đều phải báo ơn, đều phải có cái tâm biết ơn. Ơn chúng sinh cũng là một trong số đó. Vì thế không thể tự cao ngạo mạn.

Ví dụ lấy Sư Tôn để nói, trước kia tôi… bây giờ cũng như thế, tôi cho rằng người lớn tuổi hơn tôi, người tu hành lâu hơn tôi, hoặc là chúng sinh, tôi đều có thể đảnh lễ họ. Tôi cũng có thể đảnh lễ trước mọi người, có thể đảnh lễ tất cả chúng sinh, bởi vì đều có ơn.

Nếu nói về ơn thì gần như mỗi một đệ tử đều là tư lương chủ của bản thân Sư Tôn. Sao lại nói như vậy? Tư lương chủ tức là nói rằng, tư lương của bản thân Sư Tôn đều đến từ đệ tử, bình thường họ cúng dường Sư Tôn, bất kể là hai đồng tiền Malay cũng tốt, hai đồng tiền Canada cũng tốt, một đồng đô-la Mỹ cũng tốt, nhiều và ít là như nhau, không có phân biệt, đều là tư lương chủ. Vì thế đối với chúng sinh cũng cần cảm ơn, đối với bản thân đệ tử cũng cần cảm ơn. 

Trước đây tôi đi gặp một số đại hòa thượng, hoặc gặp sư phụ của mình, tôi đều đảnh lễ các vị. Tôi nhìn thấy sư phụ của mình tôi cũng đảnh lễ, nhìn thấy trưởng bối cũng đảnh lễ, không hề vì bản thân mình đã tu trì, đã thông linh rồi, đã có tư cách của Phật rồi, có tư cách của Bồ Tát rồi, đã đều có thể xuất nhập mười phương pháp giới rồi mà có thể vứt đi cái tâm biết ơn này.

Nhưng bây giờ mọi người hãy mở mắt ra nhìn xem, người kia đã tự cho rằng mình là đại sư rồi, mà đã là đại sư thì anh ta có còn đảnh lễ chúng sinh không? Thế thì có vấn đề mất, bởi vì anh ta đã rất to rồi, cho nên không thể nào đảnh lễ được. Bạn nói xem, có khi anh ta tự xưng là thượng nhân, thượng nhân thì tức là đã ở trên người khác rồi, có thể nào anh ta lại biến thành “hạ nhân” sao? Không thể nào. Vì thế, anh ta sẽ không đảnh lễ chúng sinh. Bạn nói xem, là đại sư thì anh ta đã rất to rồi, anh ta có thể biến thành “tiểu sư” sao? Không thể nào có chuyện đó, anh ta cũng sẽ không đảnh lễ chúng sinh.

Hành giả ngày nay phải biết, tâm phải mềm mại, phải có tâm từ bi, phải tự hạ mình xuống mới là một hành giả chân chính. Vì thế, tự cao ngạo mạn rất dễ đi vào đạo Atula, vậy thì sẽ không tốt.

Đạo Atula cũng sẽ thường xuyên đấu tranh với người ta, chúng ta là một người thông linh chân chính, khi ta nhìn thấy xung quanh hành giả này, Hộ pháp của người đó đều là Atula, chúng ta liền biết ngay, không cần nói gì cả, cũng không cần thảo luận gì với người đó, chắc chắn họ tự coi mình là trung tâm, không thể chấp nhận người nào khác, ngôn luận của bất kì người nào cũng không có cách nào đi vào trong họ, họ cũng không thể thay đổi được hành vi của mình, loại người này đã đi vào bên trong thế giới của đạo Atula.

Bản thân Atula mà nói, đương nhiên họ cao hơn linh động vật, cao hơn linh của phi nhân, bởi vì bản thân họ mà nói, họ cũng biết hành thiện, họ cũng giữ năm giới, làm mười thiện, họ cũng tu pháp, chỉ là tâm lượng của họ không rộng mở mà thôi, bởi vì tâm lượng không rộng mở cho nên mới đi vào đạo Atula.

Hôm nay không chỉ là con người đi vào đạo Atula, không chỉ là hành giả đi vào đạo Atula, rất nhiều tôn giáo cũng có hành vi của Atula. Bạn xem các tôn giáo trên thế giới hiện tại bây giờ, tôn giáo nào không nói họ là tốt nhất, trừ tôi là chính ra thì các phái khác đều là tà. Trừ họ là chính giáo ra thì các giáo phái khác đều là tà. Tôi không dám nói là tôn giáo nào, dù sao trừ thần của tôi ra, các thần khác đều là ma quỷ. Tương tự thế, những người khác cũng thế, ngoài tôi ra, những người khác đều là ma quỷ, vậy rốt cục ai là ma quỷ đây?

Ở đây đại sư Hoằng Pháp chỉ là đang luận bàn về tâm, nếu bạn có cái tâm đố kỵ, tranh đấu và tự cao ngạo mạn, đó chính là Atula, người có tâm lượng nhỏ hẹp chính là Atula. Phật chân chính, tâm lượng rất quảng đại, có thể dung nạp tất cả tôn giáo, có thể dung nạp tất cả chúng sinh, toàn bộ đều có thể bao dung hết, vậy mới gọi là Phật. Giả sử dùng quan niệm hẹp hòi, nhỏ mọn mà nói thì rất nhiều tông phái đều nằm bên trong thế giới Atula, không hề thoát ra khỏi tâm của Atula. Cho nên sau này mọi người phải nhớ, nhất định phải bồi dưỡng tấm lòng rộng lượng.

Cái “ngã” này tuyệt đối không phải là cái “tiểu ngã” ngạo mạn, mà là cái “đại ngã” của không gian vũ trụ. Tuy rằng bạn làm đại sư, hoặc là thượng nhân, bạn phải có thể đặt mình xuống thấp, cũng không phải bảo bạn làm tiểu nhân, mà là làm tiểu sư, bạn cũng có thể làm tiểu sư, cũng có thể làm đại sư. Đại sư chân chính là người hợp với đạo là lớn, nếu bạn hợp với chân lý vũ trụ, bạn mới là lớn, những cái khác không thể xem là lớn. 

Hôm nay giảng đến đây. Om mani padme hum.

08/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 120. Thập Trụ Tâm Luận - Tâm duy uẩn vô ngã (1)


Chúng ta lại nói về “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp - tâm thứ tư: tâm duy uẩn vô ngã.

Có thể nói loại tâm này đã dần dần tiến vào cửa Phật rồi, đã mở cánh cửa Phật rồi, tiến vào trong tâm này thì tương đối có mùi vị triết học và Phật học ở trong đó rồi.

Tâm Atula chưa có cái này, bản thân tâm Atula là tâm lượng nhỏ, đố kỵ, tranh đấu, cái này thuộc về tính cách của động vật thông thường. 

Tiến vào tâm duy uẩn vô ngã có thể nói là mở cánh cửa Phật, đây là loại tâm thứ tư. “Uẩn” là chỉ ngũ uẩn, là như trong Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh của Quan Thế Âm Bồ Tát đã viết: “Quán tự tại Bồ Tát hành thâm bát nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không”. Ngũ uẩn này chính là tâm duy uẩn vô ngã ở đây.

Ngũ uẩn là cái gì? Sắc, thọ, tưởng, hành, thức chính là ngũ uẩn. Mọi người đừng coi thường Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh, đó là một chân ngôn khai ngộ, là pháp khai ngộ, là một bản kinh khai ngộ thật sự. Trước kia tôi nói: kinh Đại Bát Nhã rút gọn lại một chút là biến thành kinh Kim Cang, kinh Kim Cang lại rút gọn một chút chính là Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh, kinh Tâm thật ra là tâm chân ngôn, cũng có thể nói là chân ngôn khai ngộ.

Điều đầu tiên nói đến là năm uẩn đều không: sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều là không. Tôi nói với mọi người về sắc, sắc được nói đến ở đây, mọi người nghe xong đừng cho rằng là sắc trong từ háo sắc, sắc nói đến ở đây là chỉ vật chất, tất cả vật chất có hình tướng đều gọi là sắc. Bởi vì có cái sắc đó nên mắt bạn có thể nhìn thấy được, cho nên mới gọi là sắc. Vật chất hữu hình đều gọi là sắc.

Sắc là cái gì? Chính là giống như bong bóng, thật ra thế giới vật chất đều sẽ hư hoại. Bạn nói xây một ngôi nhà rất kiên cố. Tôi từng đi xem một ngôi nhà rất kiên cố, rất đẹp đẽ, khi người ta giới thiệu ngôi nhà đó nói, vật liệu xây dựng ngôi nhà này có thể trụ được hai trăm năm. Chà! Thật vững chắc, có thể trụ được hai trăm năm. Người mua nhà nghe xong, chà! Hai trăm năm là rất dài, nhưng sau hai trăm năm thì sao? Vẫn sẽ hư hoại.

Giữa trời đất này, những thứ vật chất đều sẽ hư hoại, cho nên gọi là bong bóng, là những bọt xà phòng tụ lại mà thôi. Chỉ cần là những thứ có hình tượng, những thứ vật chất, có thứ nào sẽ không hư hoại chứ? Đều sẽ hư hoại cả.

Chúng ta biết rằng đậu phụ là dễ hỏng nhất, đậu phụ không bỏ vào trong tủ lạnh để giữ lạnh mà để ở ngoài, một lát sau sẽ hỏng, hỏng rất nhanh. Con người chúng ta cũng có hình tượng, cũng sẽ hư hoại. Tất cả động vật đều có tuổi thọ, đều sẽ hoại diệt, vật sống đều sẽ hoại diệt, vật không sống đều sẽ hoại diệt, như nhau. Cây cũng thế, sẽ có một ngày nó già, sẽ chết. Những thứ có sinh mệnh đều sẽ hoại diệt, kể cả những thứ không có sinh mệnh cũng sẽ hoại diệt, ngay cả đá cũng sẽ bị gió bào mòn, cũng hoại diệt. Sắc là chỉ sự dài ngắn của thọ mệnh, giống như bong bóng, sẽ hoại diệt bất kì lúc nào.

Lại nói về giác thọ, cảm giác chính là giác thọ, tôi hỏi bạn: “Hôm nay *are you happy*?” [Bạn có vui không?] Bạn nói: “*Happy!*” Tốt. Bạn *happy*, thế *happy* ra sao? Vui như thế nào? Bạn nói với tôi xem bạn vui như thế nào? Không nói được! Đó chính là một loại cảm giác: về mặt cảm giác thì tôi thấy rất tốt, nhưng anh bảo tôi nói ra, tôi không nói được, đây chính là một loại cảm nhận. Cảm nhận cũng giống như bong bóng, giống như bóng nước ở trên mặt nước, nổi lên trên bề mặt, chính là cảm nhận.

Đôi khi người ta nói: “Ui chao! Tôi thật sự vui quá!” “Tốt rồi! Anh vui thế nào?” Không nói ra được, bạn thật sự không nói ra được, không phải là bạn nói dối, mà bởi vì cái thứ “vui vẻ” này không thể lấy ra được như một thứ trên thực tế, chỉ là một loại cảm giác được biểu hiện ra bề ngoài, đây chính là “thọ”. 

Tiếp theo là “tưởng” đầy mùi vị triết học, tưởng trong ngũ uẩn chính là ý nghĩ của bạn, ý nghĩ của con người giống như con ngựa hoang nhảy tưng tưng. Bạn đọc kinh, bạn nói tôi đọc kinh Kim Cang, đọc từ đầu đến cuối. Phật Bồ Tát kiểm tra bạn, bạn chỉ đọc được một phần ba, bởi vì hai phần ba khi bạn đọc, ý nghĩ của bạn không đặt vào trong kinh Kim Cang.

Tôi tuyệt đối không lừa bạn đâu. Bạn đọc một bộ kinh Kim Cang, nói rằng ý nghĩ của bạn liên tục đặt vào trong việc niệm kinh Kim Cang, đây là chuyện không thể nào, bởi vì sẽ rất nhanh chóng có ý nghĩ khác xen vào, rất nhanh chóng chiếm chỗ ý nghĩ đang đọc kinh Kim Cang của bạn. Ý nghĩ giống như con ngựa hoang, trong nháy mắt sinh ra, trong nháy mắt biến mất. Đọc một bộ kinh điển ngắn ngủn bạn đã không thể đọc nổi rồi, cái uẩn thứ ba trong số năm uẩn, đó là ý nghĩ một chốc sinh ra, một chốc lại mất đi. 

Tiếp theo nói về hành vi, hành vi giống cái gì? Giống quả chuối hột. Trong kinh Phật nói, hành vi giống quả chuối hột, chuối hột là cái gì? Ở giữa quả chuối hột là rỗng. Thấy cảnh là khởi lên hành vi tham sân si, tất cả đều là những hành vi rỗng.

Cuối cùng trong số năm uẩn là nói đến thức, thức trong từ ý thức. Thức trong từ ý thức là cái gì? Là huyễn. Ý thức sâu nhất nằm ở đâu? Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, mạt-na thức, a-lại-da thức (chú thích: mạt-na có nghĩa là ngã chấp, chấp vào cái tôi; còn a-lại-da tức là cái mà mạt-na chấp vào cho rằng là tôi, ý nghĩa của nó là tạng, có thể ẩn giấu tất cả pháp), còn có am-ma-la thức (chú thích: am-ma-la thức còn gọi là thức thanh tịnh, thức vô cấu, thức chân như, Kinh Kim Cang Tam Muội nói: “Chư Phật Như Lai thường lấy một giác mà chuyển thành các thức, nhập vào am-ma-la thức. Bạn có thể lấy ra được ý thức sâu nhất không? Đó chỉ là một dạng huyễn, biến huyễn rất nhanh chóng, là không, chỉ là một dạng huyễn cảnh.

Chúng ta nói về ngũ uẩn, nói tới đây thôi. Om mani padme hum.

09/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 121. Thập Trụ Tâm Luận - Tâm duy uẩn vô ngã (2)


Chúng ta lại nói về tâm duy uẩn vô ngã. Đây là loại tâm thứ tư trong “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp. Loại tâm thứ tư này đã có mùi vị Phật pháp ở trong đó rồi.

Bạn tu hành nhìn từ ngũ uẩn, bạn sẽ phát hiện ra sắc, thọ, tưởng, hành, thức, hiện tượng sinh khởi và tịch diệt của chúng là cực kì rõ ràng hiển nhiên. Từ đây bạn sẽ hiểu được làm sao để vận dụng, làm sao để thích ứng, làm sao để từ ngũ uẩn này mà tu, từ trong ngũ uẩn này mà lĩnh hội tính Không.

Chúng ta tu trì đại thành tựu cầu vồng cũng có thể dùng các phương pháp để tu. 

Ở đây nói đến vô ngã, đây là một lập luận của bản thân Phật, là một trong ba pháp ấn. Bây giờ nói về vô ngã, lấy một người làm đại diện, người này là “tôi”. Ok! Được rồi! “Tôi” ở đâu? Bạn phải nghĩ cái “tôi” này ở đâu? “Tôi” đương nhiên là ở đây rồi, nhưng “tôi” có phải là ở đầu không? Không phải ở đầu. Bởi vì còn có sự tồn tại của cái thân. ”Tôi” ở trong thân sao? Cũng không đúng. Ở tay à? Ở chân à? Phân tách đầu, tay, chân, thân thể của bạn ra, hỏi bạn, “tôi” ở đâu? Rốt cục ở đầu, ở thân, ở chân, hay ở tay? So sánh như vậy mọi người đều có thể biết được rằng bản thân cái “tôi” này mà nói, căn bản chính là một dạng không huyễn, khi bạn phân tách đầu, tay, thân, chân ra, rốt cục “tôi” ở đâu? Không có.

Trước kia Thiền tông nói, một con giun, chặt ra, biến nó thành hai nửa, nửa bên này cũng ngọ nguậy, nửa bên này cũng ngọ nguậy, sư phụ liền hỏi: “Sinh mạng của con giun này ở đâu? Ở bên nào?” Đây chính là một triết học rất vi diệu, để bạn suy nghĩ sinh mệnh ở đâu.

Vốn dĩ sau khi phân tách cái “tôi” này ra thì cái gì cũng không có, bản thân cái “tôi” này không còn nữa, đây chính là “vô ngã” mà Phật Đà đã đưa ra, đây chính là pháp ấn thứ nhất. Mà nếu đã vô ngã rồi thì ngay cả bạn cũng không có, không có người ta, sau đó phát triển đến cuối cùng thì không có chúng sinh, chúng sinh làm gì có chứ? Đều là một hiện tượng sinh diệt mà thôi. Khi bạn đến được bước này rồi thì hoàn toàn giải thoát khỏi phiền não, đây chính là tâm duy uẩn vô ngã. Tiến vào bên trong tâm này, phiền não giải thoát, bạn chính là đang trụ tâm vào tâm duy uẩn vô ngã.

Vì sao phiền não của bạn có thể giải thoát? Bởi vì phiền não của chúng sinh đều là do cái “tôi” sinh ra, do cái “tôi” so sánh với người khác thì sẽ sản sinh ra phiền não, do cái “tôi” đi tranh đấu, đi đố kỵ, do cái “tôi” mà sản sinh ra đủ loại tâm, như vậy sẽ sinh ra đủ loại phiền não. Bạn không có cái “tôi” này, thế thì tất cả tâm đều không có, lấy đâu ra phiền não? Vì thế lúc này sẽ sinh ra tâm quảng đại vô lượng, lúc này bạn có thể buông bỏ, có thể bố thí. 

Chúng ta muốn bố thí, muốn buông bỏ, trước tiên đều phải mở cái “tôi” ra, nghĩ cái này là của tôi thì sẽ sinh ra phiền não. Hôm nay giả sử nói cái này không phải của tôi, là của chúng sinh, thế thì không có phiền não. Bạn còn có “của tôi” thì chắc chắn còn có phiền não, bởi vì bạn cứ giữ chặt lấy cái “tôi” này. Giả sử bạn vì chúng sinh, không vì cái tôi này, vậy phiền não ở đâu? Bởi vậy muốn loại trừ phiền não thì phải loại trừ ngã chấp, nhất định phải loại bỏ chấp vào cái tôi, thế thì phiền não tuyệt đối không còn nữa. Vì thế có thể tiến vào cái tâm thứ tư này, tôi cảm thấy đã là rất vĩ đại rồi. Ngày nay muốn làm được điều này đã là rất khó rồi.

Bạn có tình yêu, vì cái tình yêu này thì đã có phiền não rồi, bạn có thể buông bỏ cái tình yêu này thì căn bản sẽ không có phiền não, không có sự tồn tại của ngã chấp thì làm gì còn phiền não gì!

Vì thế, tông phái Chân Phật Tông rất lớn, phân đường rất nhiều, Lôi Tạng Tự rất nhiều, phân đường này có vấn đề, ngôi chùa này có vấn đề, bất kể là vấn đề gì thì đều là vấn đề của “ngã chấp”, bạn vì chúng sinh thì bạn tuyệt đối sẽ không có cái phiền não này, bạn vì chính mình thì chắc chắn sẽ có phiền não.

Sau khi tiến vào cái tâm này, bạn sẽ biến thành một cái tâm quảng đại, hoàn toàn tương phản với cái tâm của Atula. Mỗi một người đều cần loại bỏ ngã chấp.

Bạn đừng cho rằng Sư Tôn vĩnh viễn trông như thế này, khi tôi già đi có khả năng vừa xấu vừa khó coi. Bạn đừng cho rằng chồng bạn mãi mãi trẻ trung như vậy, cũng đừng cho rằng vợ bạn mãi mãi xinh đẹp trẻ trung như vậy, trải qua một cơn bệnh, tất cả đều biến thành bong bóng, giống như bong bóng xà phòng nổi lên, chỉ là thứ bề ngoài mà thôi.

Sắc, thọ, tưởng, hành, thức, thật ra đều là không huyễn, đều là bóng ảnh, cái “tôi” này cũng là một bóng ảnh. Rất nhiều người muốn lấy ảnh của Sư Tôn, đều bảo là lúc này trông tuyệt nhất. Tôi nói: “Làm gì có chuyện lúc này là tuyệt nhất? Khi tôi còn trẻ mới phong độ nhất đó!” Đúng thế không?

Khi tôi còn trẻ hai mươi mấy ba mươi tuổi, chính là lúc trông đẹp trai nhất, khi ấy trông hơi ngốc một chút. Khi còn trẻ tôi chụp một bức ảnh rất đẹp trai, giống như minh tinh điện ảnh vậy, tiếc là bức ảnh đó mất rồi, bức ảnh không còn nữa, tấm phim cũng không còn nữa, bởi vì bức ảnh đó có người ở bên cạnh, cho nên bức ảnh đó không còn nữa. Tôi cho rằng bức ảnh đó là đẹp nhất. Các bạn chụp ảnh Sư Tôn, sao không lấy bức ảnh lúc tôi còn trẻ đó, hoặc là bức ảnh khi tôi mới ra đời không mặc quần đó? Bức ảnh đó cũng không tệ đâu! Trông mũm mĩm.

Con người sẽ biến đổi, càng già chắc chắn là càng xấu. Tôi hy vọng càng già càng từ bi, nhìn trông hiền từ là được, khi già không thể nói là đẹp trai ngời ngời được, không thể nói như vậy, nhất định phải là hiền từ.

Bởi vậy thân thể của con người giống như bong bóng, đều là bề ngoài. Sắc, thọ, tưởng, hành, thức, cũng toàn là bề ngoài, là hư huyễn, cái “tôi” này của bạn cũng sẽ biến đổi, đến khi phân tách ra thì đều là vô ngã, không có tôi, không có anh, không có người khác, không có chúng sinh, phiền não tự nhiên sẽ giải thoát.

Hành giả chúng ta tu từ ngũ uẩn, tiến vào tâm duy uẩn vô ngã, đây là một cái tâm rất quảng đại vô lượng, lúc này có thể rộng rãi làm việc bố thí, có thể xả bỏ tất cả. 

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum. 

09/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 122. Thập Trụ Tâm Luận - Tâm nhổ bỏ hạt giống nghiệp (1)


Hôm nay chúng ta giảng tâm thứ năm trong “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp - tâm nhổ bỏ hạt giống nghiệp.

Trước kia có người nói “nhân chi sơ, tính bản thiện”, con người khi mới sinh ra là tính thiện. Cũng có người nói “nhân chi sơ, tính bản ác”, khi con người sinh ra, bản tính của họ là ác. Thế là có người đến hỏi Sư Tôn: “Rốt cuộc người nào nói đúng?” Câu trả lời của tôi là như thế này: “Nhân chi sơ, sau đó là một dấu chấm hỏi.” Nói cách khác là, căn bản không có câu trả lời. Vì sao? Bởi vì mỗi người đều khác nhau, không thể dùng một kiểu chung để nói được.

Đạo lý này rất đơn giản. Khi bạn sinh ra, ngũ quan của bạn trông như thế nào, có phải là mỗi người đều giống nhau không? Trên thực tế là mỗi người đều khác nhau. Khi sinh ra, bạn sẽ nặng mấy cân, nặng bao nhiêu, mỗi người đều khác nhau.

Dựa theo đạo lý này mà suy ra, có nghĩa là khi sinh ra, bạn thuộc về bản tính thiện hay là bản tính ác thì cũng là mỗi người đều khác nhau. Con người tuy là nói tổng quát về một người, trên thực tế, người người đều khác nhau. Tương tự, bề ngoài khác nhau, bản thân nội tại cũng khác nhau. Nội tại là con người này sinh ra khá thông minh hay là khá ngu độn, xinh đẹp hay là xấu xí, cá tính đều khác nhau, không có người nào giống nhau. 

Bởi vậy không thể nói “nhân chi sơ tính bản thiện”, cũng không thể nói “nhân chi sơ tính bản ác”, thiện ác hoàn toàn dựa vào nghiệp duyên mà ra. Tâm nhổ bỏ hạt giống nghiệp mà đại sư Hoằng Pháp nói chính là dựa theo điều mà tôi vừa mới nói.

Dựa theo nhân nghiệp của chính bạn, sau đó tạo thành quả của đời này, ở đây nói về nhân quả, nói về nhân duyên. Nói cách khác là nhân kiếp trước của bạn chính là quả của kiếp này, quả của kiếp này lại là nhân của kiếp sau, nhân quả ba đời như vậy. Đây chính là bản thân Phật Thích Ca Mâu Ni ở dưới cây bồ đề đã thiền định, suy ngẫm về mười hai nhân duyên, từ mười hai nhân duyên này mà đạt đến ngộ cảnh gọi là “duyên giác”. Trước đây gọi đó là cảnh giới của Bích Chi Phật, chính là nhờ thiền định về mười hai nhân duyên mà đạt đến khai ngộ Duyên Giác. 

Ở dưới cây bồ đề, Phật Thích Ca Mâu Ni liên tục nghĩ về đạo lý của nhân duyên, cho nên khi con người sinh ra, nghiệp chướng mà bạn mang theo bao nhiêu, phúc báo mang theo bao nhiêu, trí huệ mang theo bao nhiêu, có thể nói là từ kiếp trước mà có, Phật giáo mới có thể giải thích rõ ràng, người bình thường không có cách nào hiểu được. Người bình thường cho rằng lúc ban đầu mọi người đều có xuất phát điểm bình đẳng, nhưng bạn không biết rằng trong con mắt của Phật, đây căn bản chính là do nghiệp chướng mà chuyển kiếp.

Bởi vậy thấy là, có người là ma quỷ đến chuyển thế, có người là thiên ma chuyển thế, có người là Atula chuyển thế. Người đó mang theo nghiệp chướng kiếp trước đến. Phải hiểu đạo lý này, muốn nhổ bỏ nghiệp này, nhổ bỏ nhân này, nhổ bỏ hạt giống này, loại tâm này gọi là trụ tâm trong cái tâm nhổ bỏ hạt giống nghiệp. 

Cái này là đã tiến vào tương đối cao sâu rồi, nói đến kiếp trước, hiện tại, vị lai, đã có ba đời, đã luận bàn về thời gian rồi. Phật Thích Ca Mâu Ni ở dưới cây bồ đề nghĩ đến vô minh, chúng ta nói đến vô thủy vô minh, cái gọi là vô thủy vô minh chính là tổng hợp của tất cả nghiệp chướng kiếp trước, khiến bạn về cơ bản không cách nào hiểu được đủ loại nghiệp chướng rất sâu.

Tiếp theo, cái thứ hai chính là hành, hành là cái gì? Dựa theo nghiệp thiện ác của quá khứ, tương lai con đường mà bạn đi ra sao đều do bạn tự trải. Nghiệp thiện ác của quá khứ tạo thành hành động của bản thân bạn. 

Cái thứ ba là thức, cũng chính là chủng tử của đủ loại sự việc mà bạn làm trong đời quá khứ, các hạt giống của bạn, bản thân bạn mang hạt giống gì. Cho nên đôi khi Sư Tôn nhìn thấy người này phúc báo rất lớn, phúc báo mà họ hiện ra rất lớn, người này trí huệ rất cao, họ hiện ra trí huệ rất cao. Đôi khi nhìn một đứa trẻ, ôi là nghiệp chướng đến, thảm rồi. Chính là những nhân quả này, đây chính là thức (hạt giống), trên người bạn vốn dĩ đã có những hạt giống này rồi.

Sắc chính là hình tượng, bạn dựa theo hạt giống của đời quá khứ mà biến thành hình tượng của bạn, bạn nói xem, có người nào khuôn mặt giống nhau? Bây giờ người nào có khuôn mặt giống nhau? Khuôn mặt mỗi người đều khác nhau. Cùng là con người, cùng có ngũ quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân), đều có lông mày, đôi mắt, cái mũi, miệng, tai, do những thứ này tổ hợp lại mà thành, chỉ có mấy thứ này thôi. Thế mà trên đời này làm gì có người nào giống nhau hoàn toàn. Bạn thấy con người đều khác nhau, đây là cái gì? Chính là sắc, cũng tức là hình tượng. Sắc là do cái gì tạo thành? Là do đời quá khứ tạo thành.

Tiếp theo là lục xúc, tức là lục căn, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Khi mới sinh ra, bạn chưa hiểu mọi thứ là thế nào, chỉ có thể dùng cách sờ để cảm nhận, đây chính là xúc. Bởi vậy Phật Thích Ca Mâu Ni cho rằng lúc hai tuổi, ba tuổi là dùng tay để sờ, để cảm nhận.

Thọ, lúc 6 đến 7 tuổi thì đã có cảm nhận rồi, đây là điều Phật Đà nói, không phải tôi nói. Điều mà Phật Thích Ca Mâu Ni đã thiền định là: khi còn nhỏ thì dùng cách tiếp xúc để cảm nhận, được mẹ ôm ấp trong lòng thì cảm giác rất ấm áp, người khác mà ôm thì lại không được, bởi vì cảm nhận về sự tiếp xúc đó khác nhau. Khi bạn 6, 7 tuổi thì bạn có cảm giác về sự cảm nhận.

Ở Ấn Độ, 14 đến 15 tuổi là đã bắt đầu có cảm giác yêu, bởi vì người Ấn Độ trưởng thành sớm, có những cô gái 14 tuổi đã gả cho người ta rồi, đã kết hôn rồi. Đây là nói đến ở Ấn Độ, bởi vì Phật Đà sống ở Ấn Độ mà! Cho nên ngài cũng có cảm giác thấy, 14 tuổi, 15 tuổi là đã có dục vọng rồi. 

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

10/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 123. Thập Trụ Tâm Luận - Tâm nhổ bỏ hạt giống nghiệp (2)


Chúng ta lại nói về tâm nhổ bỏ hạt giống nghiệp, đây là loại tâm thứ năm trong “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp.

Chúng ta lại nói đến “thủ” trong số mười hai nhân duyên, thủ này tức là sau khi con người thành niên, lớn lên rồi, 14 tuổi, 15 tuổi thì đã có dục vọng. Sau đó lớn lên thêm chút nữa thì bắt đầu có cái tâm ham muốn đối với danh phận, địa vị, tiền bạc, gia đình. Hy vọng có danh, hy vọng có lợi, hy vọng có gia đình tốt, hy vọng có được cái gì đó, đây chính là “thủ”. 

Sau khi sinh ra cái tâm “thủ” này thì tiếp theo là “hữu”. Hữu là cái gì? Hữu là vì bạn đã sinh ra cái tâm “thủ” này rồi, đã có hành vi muốn có được đó rồi, cho nên mới có cái “hữu” này xuất hiện. 

Khi bạn đi giành lấy những thứ này, các loại tâm mà bạn dùng có phải là thuộc về những cái tâm tham, sân, si để mà giành được không? Bạn lại có được cái gì? Là lại có được nghiệp chướng, lại tạo nghiệp.

Cái “hữu” này đại diện rằng bạn lại tạo nghiệp rồi, sau đó sẽ như thế nào đây? Sẽ lại “thọ sinh”, tiếp theo lại là một sự sinh ra, sau khi bạn có cái nghiệp chướng này rồi, tập hợp lại thì lại thọ sinh, lại sinh ra, nghiệp chướng này đã lại hiện ra rồi.

Cái cuối cùng trong mười hai nhân duyên là “lão tử”, lão tử tức là già rồi, là chết rồi, rồi lại biến thành kiếp sau, khi đến kiếp sau thì lại phải già, phải chết, mười hai nhân duyên chính là cứ liên tục luân hồi như thế. 

Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi dưới cây bồ đề thiền định chính là nghĩ về kiếp trước, kiếp này, rồi già và chết, rồi lại sinh ra.

Chính vì bạn muốn yêu, muốn giành được, bạn lại sinh ra rất nhiều nghiệp chướng. Nghiệp chướng lại một lần nữa đi vào thức thứ hai, lại có sinh ra lại có già chết. Phật Thích Ca Mâu Ni ở dưới cây bồ đề cứ liên tục suy tưởng như vậy, nghĩ làm sao để giải thoát mười hai nhân duyên này đây? Những nhân duyên này phải làm sao đây? Vô thủy vô minh phải làm sao đây? Thế rồi Phật Đà liền nghĩ ra bốn chữ, cũng chính là bốn chân đế, tứ Thánh đế cũng là do ngài nghĩ ra, đó tức là khổ-tập-diệt-đạo, bốn Thánh đế.

Trên nguyên tắc mà nói, mười hai nhân duyên đều là khổ. Bạn xem thế giới hữu hình, đủ loại phiền não của chúng sinh đều là khổ, cho nên ngài cho rằng chúng sinh đều là khổ, tất cả hành vi đều là không, tất cả hiện tượng đều là vô thường, rồi biến thành khổ, không, vô thường.

Bởi vì bạn tập hợp lại nguyên nhân của khổ, nghiệp của khổ, tập hợp mọi khổ, những nghiệp này tập hợp lại tạo thành mọi khổ, vậy phải làm thế nào? Phải nghĩ cách để “diệt”. Diệt cái gì? Chính là diệt mọi nghiệp, khiến cho những nhân nghiệp không còn nữa, đi trên con đường giải thoát. Dùng phương pháp giải thoát phiền não chân chính chính là “đạo”, để mà diệt hết các loại nghiệp. Đây chính là hàm nghĩa quan trọng của bốn chữ khổ-tập-diệt-đạo này. Có thể nói, bốn chữ này đều là chân lý.

Khổ chính là chân lý, bởi vì chúng sinh đều là khổ.
Tập, vì sao có khổ? Chính là tập hợp các nghiệp lại mới có khổ, cho nên tập cũng là một chân lý.
Diệt, bạn phải diệt toàn bộ mọi nghiệp thì bạn mới có thể đạt đến đạo của sự giải thoát.
Cái này cũng là chân lý, cái này chính là điều mà Phật Thích Ca Mâu Ni nói, đạo lý của khổ-tập-diệt-đạo chính là ở đây.

Trong quá trình bạn tu hành, bạn có thể hiểu được cách nhổ bỏ hạt giống nghiệp, nhổ bỏ nghiệp chướng, nhổ bỏ nhân, nhổ bỏ cái hạt giống này, cái thức này, trụ tâm ở đây thì gọi là tâm nhổ bỏ hạt giống nghiệp. Như vậy mọi người đại khái có thể hiểu được trụ tâm thứ năm, chính là phải loại trừ sạch sẽ tất cả nhân, thức và nghiệp. 

Giống như Mật giáo chúng ta tu thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh, có thể nói là đang nhổ bỏ nghiệp, nhổ bỏ nhân, nhổ bỏ thức, tiêu trừ hết các hạt giống của nghiệp chướng. Chúng ta mỗi ngày tu một đàn pháp là làm cái gì? Không phải là cứ ngồi không ở đó, làm công khóa xong là xong, không phải đâu! Là bạn đang nhổ bỏ nghiệp chướng của bạn, đang tiêu trừ hết nghiệp chướng của bạn đó.

Chúng ta làm Hộ Ma để đốt tâm phiền não, chính là phải tiêu trừ hết phiền não. Khi bạn thật sự đến được cảnh giới rất cao, nghiệp chướng của bạn càng nhẹ, quả phẩm của bạn, phẩm vị của bạn sẽ càng cao. Nghiệp chướng tiêu trừ thì bạn sẽ càng lên tầng cao, tâm linh sẽ thăng hoa, bay lên trên cao. Nghiệp của bạn càng nặng thì bạn sẽ rơi vào tam ác đạo, đến đạo súc sinh, đạo ác quỷ, đạo địa ngục. Càng không có nghiệp, nghiệp hoàn toàn thanh tịnh rồi thì tức là thành tựu rồi.

Bởi vậy hôm nay chúng ta tu hành, chủ yếu nhất chính là tiêu trừ nghiệp chướng, tiêu trừ phiền não, tiêu trừ chủng tử thức, bởi vì bạn vô thủy vô minh để lại rất nhiều chủng tử thức, bạn đừng cho rằng không có, vừa sinh ra là đã có rồi, ở ngay trên người bạn đó. Trên thực tế mỗi người đều khác nhau, có một số người khi  vừa sinh ra nghiệp chướng đã hiển hiện ngay trên thân họ rồi. Cho nên điếc, tàn tật, câm, có người sinh ra tai đã không nghe được, có người sinh ra mắt đã không nhìn thấy được, đã bị tàn tật rồi. Vì thế sinh ra cũng không thể xem là bình đẳng.

Bởi vì dựa theo Phật giáo mà nói, đó chính là nhân của kiếp trước, quả của kiếp này lại là nhân của kiếp sau, lại là quả của kiếp sau, cứ như vậy mà nhân quả ba đời luân hồi.

Phật Đà ở dưới cây bồ đề sau khi ngộ được những chân lý này, ngài liền mở thiên nhãn, nhìn thấy những ngôi sao trên trời, thật ra những ngôi sao mà ngài nhìn thấy chính là thể ánh sáng, lúc này ngài đã giác ngộ rồi.

Cho nên chúng ta cũng có thể tu từ mười hai nhân duyên. Om mani padme hum.

10/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 124. Thập Trụ Tâm Luận - Tâm tha duyên Đại thừa (1)


Hôm nay chúng ta nói về cái tâm thứ sáu - tâm tha duyên Đại thừa trong “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp.

Tâm tha duyên Đại thừa, thật ra hai chữ “tha duyên” này có thể nói là “vô duyên”. Vô duyên theo cách giải thích thông thường khác với cách giải thích trong kinh Phật. Ở trong kinh Phật thì giải thích vô duyên tức là những chúng sinh không có quan hệ gì với bạn.

Trong kinh Phật có một câu là “vô duyên đại từ, đồng thể đại bi”. Ý nghĩa của “vô duyên đại từ, đồng thể đại bi” là nói rằng, tuy những chúng sinh này không có quan hệ gì với bạn, nhưng bạn vẫn từ bi những chúng sinh này, đây gọi là vô duyên đại từ. Cảnh giới này đã là một cảnh giới rất cao rồi, vì thế gọi là tâm Đại thừa. Lập tâm ở đây đã là phát tâm bồ đề rồi.

Những tâm đã nói ở trước là thuộc về tâm Tiểu thừa, còn tâm nói đến bây giờ là tiến vào Đại thừa rồi.

Trong Phật giáo phân thành Tiểu thừa, Đại thừa, còn có Kim cương thừa. Mọi người biết rằng trước đây tôi từng nói về Tiểu thừa, ý nghĩa của chữ “thừa” chính là cỗ xe, cho nên ở đây là cỗ xe nhỏ, cỗ xe lớn, cỗ xe kim cương. Ý nghĩa của cỗ xe nhỏ là nói rằng người mà bản thân họ độ được là tương đối ít. Người mà Đại thừa độ là tương đối nhiều, còn người mà Kim cương thừa độ được thì tương đối nhanh chóng thành Phật rồi, vì thế mà gọi là Kim cương thừa. Ba thừa nói đến trong Phật giáo là như vậy.

Đại bộ phận Tiểu thừa đều là chỉ lo thân mình, tự mình tu cho mình. Đại thừa không những tu cho mình mà còn độ rất nhiều người tu.

Tâm tha duyên Đại thừa nói đến ở đây chính là phát bồ đề tâm, muốn đi độ chúng sinh rộng lớn. Lập tâm tại đây thì tâm địa đã rất quảng đại vô lượng rồi.

Thật ra tăng nhân Tiểu thừa trong Phật giáo tuy là chú trọng tự mình tu hành, nhưng họ vẫn có tâm độ chúng sinh, không phải là hoàn toàn không có, chỉ là họ thiên về tự độ và độ người khác thì tương đối ít. Trên thực tế cũng có, có một số người là như vậy, trước tiên tự độ có thể thoát sinh tử, sau đó lại độ người khác.

Trước kia Phật giáo trong thời đại của Phật Đà, đại bộ phận chú trọng vào Thanh Văn thừa, tức là Tiểu thừa. Các quốc gia Đông Nam Á hiện nay cũng thịnh hành Tiểu thừa, ví dụ Thái Lan, Myanmar, Việt Nam, Cambodia, Lào, những quốc gia này đại bộ phận đều là Tiểu thừa, tăng nhân tương đối nhiều, còn Đại thừa thì tương đối ít.

Trước đây vào thời đại Phật Đà có Tân Đầu Lư Phả La Đọa (Pindolabharadvaja) rất nổi tiếng, ngài ấy cũng là Thanh Văn, nhưng cũng phát tâm bồ đề quảng đại muốn độ chúng sinh. Đại thừa độ chúng sinh có thể nói là lấy Tiểu thừa làm cơ sở, sau đó phát bồ đề tâm quảng độ chúng sinh, cho nên chúng ta học Phật không phải là chỉ chú trọng vào Đại thừa, bản thân chúng ta cũng phải tự độ, tự mình không tu hành thì bạn làm sao mà đi độ hóa người khác được chứ? Cho nên Tiểu thừa là một cơ sở, sau đó phát bồ đề tâm đi quảng độ chúng sinh.

Chúng ta đối với Tiểu thừa, Đại thừa, Kim cương thừa không khởi tâm phân biệt. Tâm tha duyên Đại thừa có thể nói là phát tâm bồ đề, loại tâm này, về phương diện triệu thỉnh Phật Bồ Tát mà nói, Phật Bồ Tát của tứ Thánh giới đều sẽ hạ giáng, bởi vì loại tâm này là bình đẳng nhất, có thể nói bạn và tôi là những người không có duyên, nhưng tôi vẫn từ bi bạn, chính là không có tâm phân biệt, phát loại tâm bồ đề này là quảng đại vô biên, là vĩ đại nhất. Giống như Địa Tạng Bồ Tát, “địa ngục chưa trống thề không thành Phật”, ngài lập tâm ở trong địa ngục, đây chính là tâm tha duyên Đại thừa. 

Địa Tạng Bồ Tát và chúng sinh địa ngục có quan hệ thân thích gì không? Không có! Phần lớn chúng ta, tâm cứu người của mỗi người đều là cứu người thân của mình trước, cha mẹ, vợ con là cứu trước, sau đó là cứu người thân, sau đó mới là cứu hàng xóm, sau đó nữa mới là cứu ông chủ của mình, sau đó là cứu đất nước của mình. Ở trong tâm tha duyên Đại thừa thì không như thế, nhất luật bình đẳng, gặp ai trước thì cứu người đó trước. Địa Tạng Bồ Tát phát tâm chính là tâm tha duyên Đại thừa này, chúng sinh trong địa ngục và Địa Tạng Bồ Tát chẳng hề có một chút quan hệ nào, một số về cơ bản là chẳng hề có liên quan gì, nhưng ngài đều muốn độ hóa họ thành Phật hết, sau đó chính mình mới thành Phật.

Giống như bản thân tôi phát nguyện cũng là tâm tha duyên Đại thừa, “không bỏ rơi một chúng sinh nào” chính là tâm tha duyên Đại thừa, tôi đã lập tâm tại đây. Thật ra chúng sinh này và bạn có quan hệ gì, họ cũng chẳng phải là chú của bạn, chẳng phải là bác của bạn, cũng chẳng phải là mẹ nuôi của bạn, cũng chẳng phải là bố nuôi của bạn, chẳng là gì cả. Không bỏ rơi một chúng sinh nào tức là đối với người phỉ báng bạn, người rất căm thù bạn, người ghét bạn đến tận xương tủy, thì vẫn đều cần độ hóa họ.

Lập tâm tại đây chính là vĩ đại nhất. Đối với chúng sinh không ghét, chỉ có từ bi, không thể sinh ra một chút gì ý không ưa, chỉ có tâm từ bi bộc lộ ra. Người hoàn toàn không có duyên gì với bạn, bạn cũng vẫn từ bi họ, cũng đi độ hóa họ. Thậm chí họ phỉ báng bạn, căm thù bạn, muốn làm hại bạn, chúng ta đều cần từ bi họ, đây mới là không bỏ rơi một chúng sinh nào. Lập tâm như thế này thì gọi là tâm tha duyên Đại thừa.

Om mani padme hum.

Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 125. Thập Trụ Tâm Luận - Tâm tha duyên Đại thừa (2)


Trước kia tôi từng nói về một câu nói của Mạnh Tử: “Lão ngô lão dĩ cập nhân chi lão, ấu ngô ấu dĩ cập nhân chi ấu.” Ý nghĩa của câu nói này tức là trước tiên chăm sóc tốt cho người thân của mình, sau đó mở rộng ra chăm sóc người thân của người khác, trước tiên chăm sóc tốt cho con cái của mình, sau đó mở rộng ra chăm sóc con cái của người khác. Nhưng cái này không phải là tâm tha duyên Đại thừa, đây có thể nói là tâm “hữu duyên Đại thừa”, trước tiên chăm sóc tốt người có duyên với ta, sau đó là giúp đỡ những người không có duyên.

Tôi nói về tâm tha duyên Đại thừa là: “Tôn kính người thân của ta, không phân biệt người thân của ta, không phân biệt người thân của người khác. Nuôi dưỡng con trẻ, không phân biệt con trẻ của ta, không phân biệt con trẻ của người khác.” Cái tâm không phân biệt này mới là tâm tha duyên Đại thừa, sự khác biệt nằm ở đây, khác với “hữu duyên Đại thừa”, không giống nhau.

Ví dụ rất đơn giản, trẻ A đánh trẻ B, trẻ B chắc chắn sẽ tức giận. Nhưng cha mẹ của trẻ C nói chẳng có liên quan gì tới tôi, bởi vì người ta không hề đánh con của mình, đây chính là một vấn đề giữa duyên và duyên. Giả sử trẻ A đánh trẻ C, thế thì cha mẹ của C chắc chắn sẽ đứng ra, cái duyên là như vậy. 

Nhưng trong tâm Đại thừa của Phật giáo thì không phân biệt như vậy, đều yêu thương như nhau, trẻ A đánh trẻ B, cha mẹ của C vẫn đứng ra, vẫn phải giảng giải cho trẻ A, vì sao? Bởi vì thật sự là trẻ đó đã sai rồi, cái tâm này là không phân biệt.

Thông thường mà nói, ai đánh con ta, ta nhất định sẽ tức giận. Nhưng không phải vậy, ở đây dùng lý lẽ để phân tích, sau khi phân tích xong còn phải thấy là trẻ A làm như vậy là tốt. Trẻ A đánh con mình mà vẫn cảm thấy như vậy là tốt. Cha mẹ bình thường không như vậy. Vì thế, mọi người hãy suy nghĩ một chút, cái gọi là tâm tha duyên Đại thừa làm sao để tu được? Tôi thường nói bạn muốn tu tâm quảng đại vô lượng, bạn hãy đi ngắm sông núi nhiều hơn. Con người đứng trước ngọn núi sẽ cảm giác thấy ngọn núi vô cùng rộng lớn, có thể bồi dưỡng tâm linh của bạn trở nên rộng mở. Hãy ngắm biển nhiều hơn, con người ở trước biển sẽ cảm thấy con người vô cùng nhỏ bé, biển thì vô cùng rộng lớn, đây cũng có thể bồi dưỡng tâm linh bạn trở nên phóng khoáng.

Bạn có thể nghĩ thử: “Chúng sinh vô lượng, tính cho đến hôm nay có bao nhiêu chúng sinh? Vô số vô lượng, quảng đại vô lượng chúng sinh, chúng ta tính toán cái gì chứ?” “Không cần đi so đo!” Trung Quốc có văn hóa năm nghìn năm, có người nào có được cái gì, có người nào mất đi cái gì? “Vạn lý trường thành nay còn đó, Tần Thủy Hoàng xưa có thấy chăng?” Tần Thủy Hoàng có được cái gì? Mất đi cái gì? Các thời đại vương triều có được cái gì? Và cũng mất đi cái gì chứ?

Chúng ta có thể lấy ví dụ về con người thời cận đại. Bạn nói xem Mao Trạch Đông có được cái gì? Ông ấy mất đi cái gì? Tưởng Giới Thạch có được cái gì? Ông ấy mất đi cái gì? Từ đó khi nghĩ về chính mình, bạn có được cái gì? Bạn từng mất đi cái gì? Suy nghĩ như vậy có thể bồi dưỡng tâm quảng đại vô biên của bạn, tấm lòng bạn sẽ rộng mở, quảng đại.

Trung Quốc đã trải qua năm nghìn năm lịch sử lưu truyền tới nay, người nào có được cái gì? Người nào mất đi cái gì? Thời gian vô lượng, còn có vô lượng lớn hơn nữa, bạn biết thời gian dài bao lâu không? Dựa theo nghiên cứu của các nhà khoa học mà nói thì sự hình thành của toàn bộ vũ trụ đã có mấy trăm triệu năm rồi, trái đất không biết đã thành trụ hoại không mấy lần rồi, bao nhiêu lần diệt xong rồi lại sinh, sinh xong rồi lại diệt. Có người nào có được cái gì chứ? Nghĩ đến đây, tấm lòng bạn tự nhiên sẽ rộng mở, cho nên phải thường xuyên nghĩ như vậy.

Bạn tranh giành một bức tường với hàng xóm, bức tường nhà anh chiếm đất nhà tôi một thước, tôi sẽ tranh, tranh đến cùng. Đưa ra tòa, kiện kiện kiện, kiện đến tòa án cao nhất, bởi vì bức tường của anh ta đã lấn chiếm một thước vào đất nhà tôi, tranh tranh tranh, sao bạn không đến mặt trăng mà tranh? Bạn có thể dựa vào trí tưởng tượng của bạn mà nói, mặt trăng là của tôi, tôi nói sao Hỏa là của tôi, cho anh sao Diêm Vương, cho người kia sao Hải Vương, bạn tranh cái gì mà tranh?

Vũ trụ rộng lớn như vậy, không gian rộng lớn như vậy, ấy thế mà bạn lại đi tranh bức tường của nhà bạn! Không cần phải tranh! Đều không phải là của ai, trái đất chính là của trái đất, sao Hỏa chính là của sao Hỏa, mặt trăng chính là của mặt trăng, bạn nghĩ được như vậy thì tấm lòng bạn sẽ rộng mở, bạn tranh cái gì đây, bởi vì chẳng ai có được cái gì, cũng không ai mất đi cái gì.

Hôm nay mọi người vẫn đang tranh nhau, bạn xem tin tức, ngày nào cũng tranh nhau, tôi không dám nói tranh cái gì, nhưng tóm lại là ngày ngày đang tranh giành cái này cái kia. Cái gì là của nhà họ chứ, là của trái đất đó! Trái đất khi chưa có nhân loại, rốt cục nó là của ai? Bởi vậy tấm lòng phải rộng mở, trên thế giới ngày nay, giữa quốc gia và quốc gia tấm lòng rất nhỏ hẹp, còn con người thì càng hẹp hòi hơn.

Cho nên lập trường của bạn khi tu hành là tâm tha duyên Đại thừa, bạn đứng trên lập trường này thì bạn đã là Bồ Tát rồi, đã rất vĩ đại rồi, trụ tâm thứ sáu đã là rất vĩ đại rồi. 

Phật Bồ Tát độ chúng sinh là đứng trên lập trường của tâm tha duyên Đại thừa. Miệng nói ra thì rất dễ, tôi không từ bỏ một chúng sinh nào, tôi phải phát bồ đề tâm. Nhưng đến khi tranh chấp, bạn lại là “Tiểu lượng Quan Thế Âm”, bạn làm gì có đại lượng, lòng từ bi của bạn đã chạy đi đâu mất rồi?

Bình thường chúng ta phải nghĩ như vậy, tôi nói với mọi người một phương pháp suy nghĩ, chính là nghĩ như thế này, thời gian vô lượng, không gian vô lượng, chúng sinh vô lượng, không được không mất, bạn nghĩ như vậy thì tấm lòng bạn tự nhiên sẽ rộng mở, và cũng sẽ đứng trên lập trường của tâm tha duyên Đại thừa. 

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

11/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

(**Hết quyển 3)**

---

---
# File: kinh-luat-luan/hong-quang-dai-thanh-tuu-tap-4.md
# Title: Hồng quang đại thành tựu - Tập 4
---

![image](/img/img_ad6047bb4177529921f98c295814c85a.jpg)



## Hồng quang đại thành tựu


Địa điểm: Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ. 
Thời gian: Năm 1993
Quyển số: 625
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### 126. Thập Trụ Tâm Luận - Giác tâm không sinh (1)


Hôm nay chúng ta lại giảng “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp - tâm thứ bảy: tâm giác tâm không sinh. Chữ “giác” này là cảm giác, cũng tức là cái tâm của cảm giác hoàn toàn không sinh ra. 

Lập trường này rất kỳ quái, rất nhiều người không có cách nào hiểu được loại trụ tâm thứ bảy mà đại sư Hoằng Pháp nói đến. Giống như A La Hán, có một kiểu A La Hán gọi là “vô sinh”. Ý nghĩa của “vô sinh” là nói rằng trong thiền định có một cảnh giới rất cao, trong cảnh giới này, tất cả cảm giác đều không có, mọi cảm nhận đều không có, kiểu cảnh giới này gọi là “tâm giác tâm không sinh”, tức là cái loại tâm của cảm giác hoàn toàn không sinh ra. 

Trước đây tôi từng kể lão hòa thượng Hư Vân thiền định, ngài đã đến cảnh giới này. Ngài có một lần đang luộc khoai sọ thì thiền định một chút, không ngờ lần thiền định này, đến khi mở mắt ra xuất định thì nhìn nồi khoai sọ trước mặt, lửa đã tắt, không chỉ không có lửa, mà ngay cả khoai sọ cũng lên mốc cả rồi.

Bạn thử nghĩ xem: ngài đã thiền định bao lâu? Ngài nhập định một cái, cho rằng chỉ nhập định một chút thôi, không ngờ nhập định một cái thì ôi chao, khoai sọ của ngài không ngờ mốc meo cả. Như vậy là phải mấy ngày đó! Ngài nhập vào trong định, tuyết rơi mấy ngày, bên ngoài gian nhà cỏ của ngài đã ngập tuyết, không thể nào đi ra được. Ở trong định cảnh này hoàn toàn không còn cảm giác gì cả, có thể nói là tâm cảm giác hoàn toàn không sinh ra, đây là cảnh giới thiền định rất cao thâm.

Nói chung, thiền định này là tiến nhập vào trong một dạng “không tướng”, bất kì một loại cảm giác nào cũng đều không có, điều này rất giống với cái gì? Rất giống với trạng thái của niết bàn. Giả sử khi bạn tu thiền định có trạng thái này, có thể nói với bếp ăn là tôi không cần ăn cơm, tôi đã có thể thiền định rất lâu, có thể thiền định mấy ngày liền. Chà! Thế thì chúng ta có thể tiết kiệm được rất nhiều tiền thức ăn. Hy vọng mọi người có thể tinh tấn tiến nhập kiểu thiền định này, nhà bếp của chúng ta sẽ không cần phải nấu nữa, tổ nấu ăn cũng không cần nấu cơm, mọi người đều tiến vào trong thiền định này, chà, rất tốt, có thể tiết kiệm được rất nhiều tiền.

Vì sao Phật Thích Ca Mâu Ni được gọi là Không Vương Phật? Chính là vì bản thân ngài có thể nhìn thấu tất cả. Vì sao Phật Đà xuất gia? Xuất gia đòi hỏi phải nhìn thấu tất cả, nhìn thấu rất nhiều thứ. Xuất gia được gọi là sa môn, còn gọi là không môn, cho nên Phật Đà được gọi là Không Vương Phật chính là vì ngài đã nhận ra tất cả đều là không.

Còn như phụ thân của Phật Đà (vua Tịnh Phạn) muốn truyền ngôi vua cho Phật Thích Ca Mâu Ni. Phật Đà không muốn ngồi trên ngôi vua đó, giả sử Phật Đà ngồi lên ngôi vua mà vua Tịnh Phạn truyền lại cho mình thì sẽ đến lúc bị vua Lưu Ly diệt. 

Bởi vậy đó là một sự vô thường, ngài đã nhìn thấu cái ngôi vua này, vương vị không phải là vĩnh viễn. Nghĩ mà xem Ấn Độ hiện nay, vương quốc mà vua Tịnh Phạn xưa kia để lại nay ở đâu? Không có, trống không, bao gồm cả nước Xá Vệ, nước Xá Vệ cũng không có, bây giờ cái gì cũng không còn, tất cả thành đống hoang tàn rồi.

Vương vị vốn dĩ là không, chỉ có người không biết mới đi tranh giành cái ngôi vua đó.

Và bạn cần phải làm một Không Vương, tiến vào không môn phải xuất gia, phải nhìn thấu vợ con. Phật Thích Ca Mâu Ni cũng nhìn thấu, Yasodara là thê tử của ngài, ngài cũng nhìn thấu, ngài cũng nhìn thấu con cái, nhìn thấu đứa con trai La Hầu La của mình. Ngài rời bỏ vương vị, rời bỏ mọi hưởng thụ vật chất, rời bỏ thê tử, con trai, rời bỏ mọi tài sản của vương thất, không cần danh, cũng không cần tiền, vợ cũng không cần, con cái cũng không cần, hôn nhân cũng không cần, thế rồi tiến vào không môn, cũng tức là xuất gia. Phật Thích Ca Mâu Ni đã đi tìm hiểu đại đạo như vậy.

Giả sử bạn vẫn còn quyến luyến những điều này thì tức là bạn đã sinh tâm, nếu có thể nhìn thấu những điều này thì tức là bạn không sinh tâm, cái tâm này không hề phát ra.

Những điều trên đều mang nhiều ý vị, đến được trụ tâm thứ bảy rồi - tâm giác tâm không sinh, là rất khó đạt đến. Chúng ta nhìn mỗi một thứ đều muốn sinh tâm, sưu tầm những tác phẩm nghệ thuật đều vẫn nằm trong phạm vi sinh tâm. Bạn nhìn tác phẩm nghệ thuật, a, cái này là đồ cổ, thế là bạn đã sinh tâm rồi. Cho đến khi với tất cả mọi thứ, bạn hoàn toàn không có trạng thái cảm giác gì, đây mới là tâm giác tâm không sinh.

Cảnh giới này là định vào một, không chỉ là định vào một mà ngay cả một cũng không có, thì sẽ tiến vào cảnh giới tính Không hoàn toàn. Đạt đến được cảnh giới này rồi, bạn có thể triệu thỉnh được rất nhiều Phật Bồ Tát, trong cảnh giới này có thể nói một cách rất đơn giản là tính Không của bạn đã bộc lộ, là hiện tượng một vùng không gian vũ trụ rộng lớn hoàn toàn. Phật Thích Ca Mâu Ni được gọi là Không Vương Phật, có thể tiến vào cảnh giới này mới xem là giải thoát tột cùng. 

Nếu với bất kì việc gì bạn đều sinh tâm thì bạn sẽ có vấn vương, nếu không sinh tâm thì sẽ không có vấn vương. Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

14/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 127. Thập Trụ Tâm Luận - Giác tâm không sinh (2)


Chúng ta lại nói về tâm giác tâm không sinh, loại trụ tâm thứ bảy của đại sư Hoằng Pháp. 

Bên trong cảnh giới rất sâu này, phải đạt đến ngũ uẩn đều không. Chúng ta từng nói về ngũ uẩn đều không, sắc, thọ, tưởng, hành, thức, những thứ này đều đã không còn gì, không còn một chút cảm giác nào. Không những sắc, thọ, tưởng, hành, thức đã không còn, mà phải cả mười hai nhân duyên cũng không còn. Ngay cả mười hai nhân duyên cũng không còn thì mới có thể tiến vào cảnh giới này.

Mọi người biết rằng, một khi sinh tâm thì sẽ có nhân, loại bỏ rồi, không sinh tâm nữa thì ngay cả nhân cũng không còn. Còn nói về nhân duyên thì chắc chắn là bạn đã sinh tâm rồi thì mới sinh ra duyên, mới có thể kết quả. Bởi vậy nhân quả nhất định là vì đã sinh tâm, tâm ở trong đó mới sinh ra kết quả, mới sinh ra nhân quả. Giả sử bạn không sinh tâm, thì về phương diện nhân quả mà nói, sẽ là trạng thái vô sinh, trạng thái trống rỗng hoàn toàn.

Chúng ta hãy thử nhìn hư không vũ trụ, cho đến nay, các nhà khoa học vẫn không thể chứng minh được biên giới của vũ trụ ở đâu. Nhân loại chúng ta nghiên cứu hư không rộng bao nhiêu, xa bao nhiêu, sâu bao nhiêu, tàu vũ trụ bay đi rồi lại bay về, còn những nhà nghiên cứu thì đều đã chết hết cả rồi, bởi vì vũ trụ này quá rộng lớn, vô biên mà! Đúng là đại không!

Tàu vũ trụ bay đi, có lẽ là hàng năm, hàng tháng tiến hành tìm tòi vũ trụ, rốt cục vũ trụ lớn tới mức nào? Bay đi, mới bay được một vòng mà thôi, bay trở về, ôi, những nhà nghiên cứu đều đã chết cả, cho nên bạn nói xem làm sao để biết vũ trụ rộng lớn vô biên đến thế nào?

Cho đến tận bây giờ, nhân loại cũng không có cách nào hiểu được trong hệ mặt trời có mấy hành tinh là thật sự có thể đổ bộ lên bề mặt của chúng. Bạn nói mặt trăng là gần nhất, đổ bộ lên rồi, còn những hành tinh khác, làm sao bạn đổ bộ lên đây? Ngay cả tình hình của chúng cũng không biết. Huống hồ các nhà khoa học thường nói rằng, trong toàn bộ vũ trụ có năm trăm hệ mặt trời, một hệ mặt trời bạn còn chưa hiểu được, huống hồ có năm trăm hệ mặt trời, đúng là đại không, vô biên vô hạn. Nghĩ mà xem, nhân loại đúng là nhỏ bé.

Các thế giới được nói đến trong kinh Phật, Phật thường nói rằng: không thể nghĩ, không thể bàn, những nơi có khoảng cách xa phải đi qua mấy trăm triệu Phật quốc thì mới đến được một Phật quốc khác, điều này chỉ có trong kinh Phật mới nhắc đến.

Ấn Độ có sông Hằng, cát sông Hằng là vô số, lấy số cát đó tượng trưng cho toàn bộ vũ trụ thật sự là đúng.

Bạn đọc Kinh Thánh của Cơ Đốc giáo, Kinh Koran của Hồi giáo, Kinh Hoa Hồng của Thiên Chúa giáo, đều chẳng thể viết được những điều như trong kinh Phật, có vô lượng Phật quốc nhiều như số cát sông Hằng.

Những điều ngày xưa Phật Thích Ca Mâu Ni nói, ghi chép lại, những ấn chứng của ngài tương đối gần với khoa học, căn bản là không thể nào đếm được các thế giới.

Phật Đà biết rằng phải thành tựu Không Vương Phật, tiến vào cảnh giới của đại không hoàn toàn, phải nhìn thấu tất cả, giống như năm uẩn đều không, mười hai nhân duyên đều không, còn phải hiểu sinh không tức là chúng sinh không. 

Trong cái gọi là ba không, không thứ nhất chính là sinh không, bởi vì tôi không, bạn không, người khác không, cho nên chúng sinh là không, trong logic này có thể nói chúng sinh đều là không. Còn có pháp không, tất cả hiện tượng vật chất cuối cùng sẽ quy về không, đây chính là pháp không. Còn có một cái nữa là ngã pháp đều không, bao gồm ngã không còn, bao gồm hiện tượng vật chất không còn, tức là ngã pháp đều không, đây gọi là ba không.

Có thể đạt đến cảnh giới ba không tức là có thể tiến vào ba giải thoát (ba loại cảnh giới giải thoát), cái này trong Phật điển gọi là tam tam muội.

Trong Mật giáo cũng có tam tam muội, cảnh giới này rất cao, cảnh giới này chính là:
Vô tướng — tất cả đều không có hình tướng.
Vô tác — không có hành vi gì, căn bản là một chút hành động cũng không có.
Vô nguyện — vì bạn đã vô tướng vô tác, vậy thì còn có mong muốn gì chứ, cho nên ngay cả nguyện vọng cũng không có.

Thật ra vô nguyện chính là không sinh tâm, không sinh tâm tức là vô nguyện, bạn sinh tâm rồi thì sẽ sinh nguyện, có nguyện vọng thì sẽ sinh ra sức mạnh. Tôi nhận thấy có người chủ trương đừng có mong muốn, đừng sinh ra nguyện vọng, người ta nói điều này không sai. Nhưng tôi cho rằng, mỗi hành giả đều phải trải qua một sự nỗ lực mới có thể đạt đến ba giải thoát, không phải là vừa bắt đầu một cái là bạn đã vô tướng, vô tác, vô nguyện, đây là việc không thể nào. Bạn phải trải qua một sự rèn luyện, từ có rồi đi đến không, bạn không thể nói: tôi bắt đầu học Phật, tôi thiền định một cái thì đã có tâm giác tâm không sinh rồi, thế thì “khủng” quá, cảnh giới này của bạn, việc tu hành này của bạn đúng là quá xuất sắc, người nào có thể đạt đến tâm giác tâm không sinh chứ?

Lập trường thứ bảy của đại sư Hoằng Pháp là tâm giác tâm không sinh, tâm này rất cao thâm, nghĩa đế rất thâm sâu. Nói về chúng sinh, mọi người biết rằng tôi có tồn tại không? Bây giờ tôi đang giảng kinh thuyết pháp, cho nên hẳn là tôi tồn tại, nhưng đây cũng là hiện tượng nhất thời. 52 năm trước đây của tôi, vốn dĩ chẳng có Lư Thắng Ngạn cái con người này. 50 năm sau, tôi viết giấy cam đoan với bạn rằng 50 năm sau sẽ không có Lư Thắng Ngạn cái con người này, khả năng là chẳng đến 50 năm đã không còn Lư Thắng Ngạn rồi, sự tồn tại của tôi chỉ là hiện tượng nhất thời, cái này gọi là ngã không.

Chúng sinh cũng như thế, chúng sinh của 5.000 năm nay ở đâu, đây chẳng phải là chúng sinh không sao?
Pháp không, tất cả hiện tượng vật chất cũng sẽ quy về không.
Ngã pháp đều không, như vậy mới có thể tiến vào không định chân chính.
Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

14/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 128. Thập Trụ Tâm Luận - Đạo vô vi tâm (1)


Hôm nay chúng ta giảng trụ tâm thứ tám trong “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp - tâm đạo vô vi.

Nói đến cảnh giới trụ tâm lúc này đã là vô cùng cao rồi, thật sự đến được cảnh giới rất cao này có thể nói là đã hô ứng với tính Không rồi, hơn nữa đều thuộc về pháp môn giải thoát chân chính, đã tiến vào Thánh giới rồi.

Cái gọi là tam tam muội “tam giải thoát môn” là nói về vô tướng, vô tác, vô nguyện. Ý nghĩa chân chính của tâm vô vi này, sự khác biệt giữa hữu vi và vô vi phải phân tách rất tỉ mỉ mới có thể phân biệt được.

Rất tỉ mỉ tiến vào bên trong cảnh giới rất vi diệu mới có thể lĩnh hội được rằng chúng sinh thế giới Ta Bà chúng ta đều là hữu vi, không có người nào là vô vi, chỉ có Thánh nhân mới vô vi. Nhìn chung mà nói, mọi người tự mình có thể ngẫm nghĩ xem bạn có phải là hữu vi không. Tất cả chúng sinh của thế giới Ta Bà chúng ta hiện nay, mọi người đều là hữu vi. Ví dụ hôm nay bạn đi học là hữu vi, vì sao? Sau này muốn lấy được học vị cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ, như vậy là bản thân bạn đã hữu vi rồi, phải lấy được cái danh phận này tức là hữu vi rồi.

Bây giờ bạn làm việc là vì cái gì? Rất đơn giản, *money*, là vì tiền. Bạn kiếm tiền đương nhiên cũng là hy vọng làm việc chăm chỉ, có được công trạng tốt, có thể nâng lương, đây là hữu vi. Giả sử nói về sự nghiệp của bạn, đương nhiên bạn hy vọng mỗi năm đều cứ thế phát triển trở thành một sự nghiệp rất to lớn, đây là hữu vi.

Tâm vô vi đối với thế nhân mà nói thì rất khó, rất khó để thấy là bạn thật sự có tâm vô vi. Nhưng cảnh giới trụ tâm của tâm vô vi như thế này chính là điều được nhắc đến trong kinh Kim Cang: “Nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy.” Đây chính là tâm vô vi.

Hôm nay chúng ta học Phật muốn đạt đến tâm vô vi, đương nhiên đây là đi vào một dạng cảnh giới trụ tâm rất vi diệu rồi, rất vi diệu rất vi diệu, rất khó rất khó, đây là cảnh giới của Thánh nhân, có thể nói là cảnh giới hoàn toàn bất động, hoàn toàn giải thoát. 

“Nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy” của kinh Kim Cang là nói về tam luân thể không, ví dụ như là bây giờ chúng ta làm một việc thiện, tôi không hề nghĩ làm việc thiện này là vì nêu cao tên tuổi, cũng không phải nghĩ làm việc thiện này để có được một vài lợi ích nào đó, hoặc là giành được sự tín phục của người ta, sự tôn kính của người ta nên mới làm việc thiện này.

Không có người làm tức là bạn không hề cảm thấy bạn đang làm việc thiện, không có người nhận tức là bạn không cảm thấy vì bạn làm việc thiện nên gia tăng phúc lợi cho người khác, bạn không cảm thấy bạn ban ơn cho người khác, không cảm thấy chính bạn đang làm việc thiện, không có quá trình làm việc thiện này, đây gọi là tam luân thể không. 

Không có người làm, không có người nhận, không có vật việc được làm, đây gọi là tam luân thể không. Bạn không vì điều gì mà làm việc thiện này, tức là “nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy”, đây là tâm vô vi - làm mà không vì gì cả.

Trước kia tôi thường nghĩ đạo lý “không làm mà lại là làm” là thế nào? Bạn không làm mà lại là có làm. Hôm nay tôi đã giảng rất rõ ràng: Tôi không vì cái gì cả mà làm, nhưng tôi đã làm, đây gọi là vô vi mà làm. Trên thế giới này rất ít người có thể đạt đến cảnh giới này, đã rất ít rất ít rồi. Bạn chỉ cần vô vi mà làm thì bạn đã là Thánh nhân rồi.

Cho nên cảnh giới của tâm đạo vô vi căn bản chính là làm không vì gì cả, bạn phát tâm bồ đề, nhưng không vì cái gì, không vì muốn thành Phật, cũng không vì muốn thành Bồ Tát. Không vì cái gì mà bạn vẫn phát tâm bồ đề, đây là rất cao cấp, cao hơn một cấp so với tâm giác tâm không sinh.

Tâm giác tâm không sinh tức là ba giải thoát, hoàn toàn giải thoát rồi. Vô tướng, trên thế giới này cái gì cũng đều không có! Vô vi, tôi cũng không làm tất cả mọi việc. Vô nguyện, không có chút nguyện vọng nào cả. Đây chính là ba cửa giải thoát.

Bạn có thể đạt đến hoàn toàn thanh tịnh, cảnh giới hoàn toàn không có gì cả thì là tâm giác tâm không sinh, nhưng vì sao lại sinh tâm chứ? Là tâm đạo vô vi, làm không vì gì cả, chúng ta phát tâm bồ đề, nhưng không gì cái gì cả mà phát tâm bồ đề, cảnh giới này là tuyệt vời!

Bạn tu hành có thể đạt đến cảnh giới này, căn bản là hoàn toàn giải thoát, không có phiền não, không có lo âu, không có một chút tạp chất nào lẫn trong tư duy của bạn, ý niệm của bạn là một dạng minh thể sáng chói hoàn toàn thanh tịnh. 

“Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp càng giảng thì càng cao thâm, tiến vào cảnh giới vô vi mà làm, tâm đạo vô vi, tam luân thể không, tam luân thể không căn bản chính là trụ mà không trụ. Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

16/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 129. Thập Trụ Tâm Luận - Đạo vô vi tâm (2)


Người học Phật chúng ta khi thật sự tiến vào tâm đạo vô vi, có thể nói là trăng thanh gió mát rồi. Vì sao là trăng thanh gió mát? Tức là gió thổi đến đâu, ý của bạn sẽ đi đến đó. Rất khó để giải thích, gió mát có ý nghĩa là rất nhậm vận, gió mát nhậm vận, thổi thế nào thì có thể tùy ý đi đến nơi đó, thổi tới thổi lui, sang trái sang phải, tiến trước lùi sau, lên trên xuống dưới, gió mát tùy ý chuyển động. Trăng thanh là ý gì? Nó có biến hóa, nhưng lại là nhất như, bất kể là biến thế nào thì vẫn là biến trở về như ban đầu. Khi có thể đến được tâm cảnh trăng thanh gió mát này rồi thì có thể được gọi là tâm vô vi.

Đôi khi con người phải học tập tự nhiên, tự nhiên cũng là một dạng nhậm vận. Bạn đạt đến được tâm cảnh trăng thanh gió mát cũng có thể gọi là tự tại, hoặc gọi là “trụ mà không trụ”. Mặt trăng thì không phải lúc nào cũng tròn, có khi nó bị khuyết, nhưng sau đó nó lại tròn, tròn rồi lại khuyết, gió mát thì thổi khắp nơi, đây gọi là một cảnh giới của sự tự tại nhậm vận, tâm đạo vô vi chính là như vậy.

Bản thân tôi lĩnh hội được một tư tưởng, Lư Thắng Ngạn có một tư tưởng, rất nhiều người biết, tư tưởng của Lư Thắng Ngạn chính là tư tưởng “không hề gì”. Thế nào là tư tưởng “không hề gì”? Cũng tức là bất kì sự việc gì, bất kể là việc lớn hay việc nhỏ, việc thô hay việc tinh, bất kì sự việc gì đều là vô sự. 

Giả sử như thế này, tôi lấy một so sánh, có một ngày Chân Phật Tông không tồn tại trên đời nữa, thì với tôi cũng không hề gì. Bởi vì vốn dĩ là không có, ban đầu không có Chân Phật Tông, sau này lại biến thành không có, lại trở về nguyên bản, không hề gì! Cho nên có người cho rằng, ồ, nếu Chân Phật Tông không còn nữa, Lư Thắng Ngạn nhất định là sẽ rất đau lòng, rất u sầu. Thật ra không phải, bởi vì tôi có tư tưởng không hề gì, cái này chính là tâm đạo vô vi.

Tôi không phải là chúng sinh thế tục bình thường, hôm nay có một chúng sinh thế tục, anh ta nói một câu: anh ta kỳ vọng tổ chức của mình trở thành tổ chức lớn số một thế giới. Đây là câu nói của ai? Mọi người đều biết đây tức là tâm hữu vi. Anh ta muốn làm cho tổ chức của mình thành tổ chức số một trên toàn thế giới, nhưng hôm nay Chân Phật Tông không làm như vậy, có hay không đều như nhau, chúng ta thuận theo tự nhiên. Đây chính là tâm đạo vô vi của bản thân Lư Thắng Ngạn, chính là tâm không hề gì. Hôm nay không trở thành tổ chức lớn số một thế giới, mà là trở thành tổ chức biến mất trên thế giới, Chân Phật Tông biến mất khỏi thế giới này rồi, không có nữa, Lư Thắng Ngạn cũng không tồn tại, Chân Phật Tông cũng không có, thì tôi vẫn là ba chữ: không hề gì. Đây chính là tâm vô vi.

Tôi dốc hết sức làm, tôi không hề nói rằng không muốn Chân Phật Tông tốt, đương nhiên tôi hy vọng Chân Phật Tông tốt, đối với việc hoằng dương Chân Phật Mật Pháp tôi đã tận lực rồi, dốc hết sức làm rồi, tôi cũng không tính toán thành bại gì cả. Đây là tâm gì? Tam luân thể không.

Hôm nay Chân Phật Tông không phải muốn xây dựng tòa thánh giống như Thiên Chúa giáo, Lư Thắng Ngạn phải làm Giáo Hoàng, bên dưới có các giáo chủ, hồng y giáo chủ, giáo chủ gì gì đó, mỗi nước đều có. Không hề như vậy, tôi chỉ là trong sự hoàn toàn tự nhiên làm mà không vì gì cả, đây gọi là tâm đạo vô vi. Hôm nay Lư Thắng Ngạn giả sử có tai nạn gì, có tai nạn rất lớn xảy đến. Thật khủng khiếp, xảy ra sự việc rất lớn, đại tai nạn đến rồi, cũng không hề gì! Bất kì nơi nào tôi đều có thể đi, bất kì nơi nào cũng đều là đạo tràng của tôi. Ví dụ mắc bệnh nặng, hoặc là gặp phải tai nạn lớn, các kiểu cảnh ngộ, chỉ ba chữ thôi: không hề gì.

Bạn có thể tu đến cảnh giới này thì bạn có thể lĩnh hội được đạo lý của sự giải thoát, lúc này chính là thật sự giải thoát rồi. Hôm nay giả sử có một sự việc khiến bạn lo lắng, khiến bạn phiền não, khiến tâm bạn bất an, trong lòng bạn không yên, trong lòng bạn vướng mắc, trong lòng rất nặng  nề, giống như đá đè lên tâm bạn vậy, thế thì nói chung, căn bản là bạn chưa đạt đến cảnh giới không hề gì.

Còn tư tưởng của Sư Tôn là tư tưởng không hề gì, đã là tư tưởng không hề gì rồi thì tức là tâm vô vi mà làm, đây cũng là tâm đạo vô vi giải thoát rất hay. Bởi vì tôi đã lĩnh ngộ được trên thế giới này, cuối cùng là quy về không, Phật Đà nói “thành trụ hoại không”, sau này đều quy về không. Tất cả những gì tôi làm cũng là vô vi, tuy rằng tôi có nguyện vọng rất lớn, nguyện vọng của Sư Tôn là phân thân xả cốt độ chúng sinh, thậm chí không bỏ rơi một chúng sinh nào, nhưng trên thực tế đến cuối cùng thì cũng là vô nguyện, không có nguyện vọng gì, bởi vì tôi là vô vi mà làm. Vô vi mà làm là cái gì? Là tâm đạo vô vi. 

Đây là trụ tâm thứ tám, đã là cảnh giới rất cao rồi, triết học này gọi là triết học vô ngại, chính là triết học vô ngại mà lúc còn trẻ khi viết văn chương tôi đã từng nói đến, cũng tức là triết học không có chướng ngại. Đến cảnh giới này, có thể nói là đã hợp lại biến thành một, một lại tiến vào không.

Trong lòng Sư Tôn coi chúng sinh là bình đẳng, cảnh giới này chính là sự giải thích hay nhất về tâm đạo vô vi. Om mani padme hum.

16/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 130. Thập Trụ Tâm Luận - Cực vô tự tính tâm (1)


Hôm nay chúng ta giảng tâm thứ chín trong “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp - tâm cực vô tự tính. Đến được cảnh giới như vậy có thể nói là “bất khả thuyết”. Vừa rồi tự tôi cảm thấy: giả sử nói thì sẽ không trúng, không nói thì trúng. Cho nên muốn giảng tâm cực vô tự tính là vô cùng khó, bởi vì chỉ có người đã đến được cảnh giới này thì bản thân họ mới có thể lĩnh hội được, mới có thể hiểu được, cũng mới có thể thâm nhập được nghĩa đế của nó.

Thế nào là không có tự tính? Thật ra trên thế giới có rất nhiều thứ đều không có tự tính. Tâm cực vô tự tính giống cái gì nhỉ? Giống nước. Chúng ta nói về nước, bản thân nước là không có tự tính, nó theo duyên mà biến đổi, dựa theo nhân duyên mà sinh ra rất nhiều biến hóa, nó không hề có hình dạng cố định, hơn nữa cũng không có một thể cố định, thậm chí không có tính chất cố định. Chúng ta thường nói “thủy tính dương hoa” [thành ngữ này có ý  nghĩa dễ dàng thay đổi như dòng nước, lả lướt nhẹ nhàng như hoa dương], cũng tức là chỉ không có tự tính. Bạn biết rằng nước này, nếu bạn đun nóng quá mức nó sẽ biến thành hơi nước, hơi nước và nước là hai thứ hoàn toàn khác nhau. Hơi nước và nước có quan hệ gì đây? Thật ra nó là theo nhân duyên mà biến hóa, khi hơi nước bốc lên cao thì biến thành mây. Mây, hơi nước, nước, cái gì cũng thay đổi, đây chính là không có tự tính!

Bạn biết rằng mây trong không trung khi nhiều và nặng rồi, theo nhân duyên sẽ rơi xuống và lại biến thành nước, đôi khi sẽ là tuyết rơi, dựa theo nhân duyên, khi có nhân duyên thành tuyết thì nó sẽ biến thành tuyết, tổ chức của nó hoàn toàn thay đổi hết, không giống nhau một chút nào. Rồi nước còn biến thành băng nữa, bạn để nước dưới 0 độ nước sẽ đóng băng, băng và nước cũng lại khác nhau. Nước cũng có thể biến thành mưa đá, đây chính là những ví dụ thực tế về việc bản thân nước không có tự tính.

Mọi người hiểu vô tự tính là dựa theo nhân duyên mà biến hóa, bạn xem giới tự nhiên rất nhiều thứ là vô tự tính. Lửa cũng thế, bản thân lửa có sinh mệnh không? Mọi người biết một tia lửa nhỏ có thể lan ra thành một đám cháy rừng, chỉ một đốm lửa mà thôi có thể biến thành đám cháy rất to. Sự sinh diệt của lửa nằm ở đâu? Thật ra sinh diệt cũng là dựa theo nhân duyên, chúng ta làm Hộ Ma thì biết, lửa một chốc thì cháy bên này, một chốc lại cháy bên kia, lúc thì ở trên, lúc thì ở dưới, nó luôn dựa theo nhân duyên mà biến hóa, bởi vậy nói rằng lửa cũng không có tự tính.

Lại nói về gió, gió có tự tính không? Bất luận là gió thổi thế nào, bạn đều không bắt được nó. Gió thổi qua rừng trúc thưa, bạn luôn nghe thấy tiếng gió vang lên, nhưng trúc cũng không bắt được gió, không có thứ gì có thể chặn được gió. Bản thân gió chính là không có tự tính, Đông Tây Nam Bắc trên trên dưới dưới chỗ nào cũng có, đây chính là vô tự tính.

Lại nói về đất, mọi người nhất định cho rằng đất có tự tính, bạn xem bản thân đất chính là một cục to, nó bất động, nhưng bạn đừng cho rằng đất có tự tính, thật ra đất cũng là vô tự tính. Mọi người chưa từng nghĩ rằng Sư Tôn từng học địa chất học, địa lý học, tôi biết vỏ trái đất có thể biến đổi. Ví dụ như trước kia hòn đảo Đài Loan này nối liền với tỉnh Phúc Kiến, là vì vỏ trái đất biến động nên phân tách ra, sau đó mới biến thành một hòn đảo biệt lập. Châu Phi và châu Âu ban đầu là liền với nhau, cũng là vì vỏ trái đất biến đổi nên mới phân thành châu Phi và châu Âu. Còn có những vận động tạo núi, bên này sụt một cái, bên kia lại trồi lên mấy cái, thế là biến thành mấy ngọn núi, đây là vận động tạo núi. Bởi vậy nói rằng, bản thân đất cũng là không có tự tính, hoàn toàn dựa vào nhân duyên mà biến hóa.

Bạn xem đất thay đổi nhiều thế nào. Vàng là từ đất biến thành, kim cương cũng là từ đất biến thành, bạch kim, đá quý, thạch anh tím, thạch anh xanh, thạnh anh đỏ, ngọc bích, ngọc lục bảo, hồng ngọc, đá topaz (hoàng ngọc), bất kì loại đá quý nào, toàn bộ đều là do bản thân đất biến hóa ra. Cho nên đất không có tự tính, và vì nó không có tự tính cho nên đây gọi là cực vô tự tính. Sau khi tôi giải thích, dần dần bạn sẽ hiểu thế nào gọi là vô tự tính.

Bởi vậy Phật Đà quan sát rất sâu, ngài phát hiện ra pháp không có tự tính, tất cả pháp nhân duyên là tùy theo nhân duyên mà sinh diệt, căn bản không có tự tính. Tất cả pháp nhân duyên đều không có tự tính, vạn vật trong thiên hạ đều dựa theo nhân duyên mà biến hóa, đây là một chân lý giữa vũ trụ, là điều mà bản thân Phật Đà quan sát thấy.

Khi bạn đã hiểu được tất cả pháp nhân duyên là cực vô tự tính, khi pháp vô tự tính, bạn đã lĩnh ngộ được rồi, hơn nữa chính bạn cũng thực tiễn làm được rồi, thì điểm đặt chân của bạn là tâm cực vô tự tính. Lúc này, sự lĩnh ngộ của bạn là không sinh không diệt, không sinh không tử. Tiến vào trong nhận thức này tức là như đến như đi, không đến không đi tức là Như Lai. Ở đây là bản thân bạn đã lĩnh ngộ được tâm cực vô tự tính, sau đó bạn đi ấn chứng, bạn sẽ đắc được tâm này.

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

17/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 131. Thập Trụ Tâm Luận - Cực vô tự tính tâm (2)


Chúng ta lại nói về tâm cực vô tự tính.

Đây là cảnh giới rất cao, tại cảnh giới này quan sát thấy vốn dĩ tất cả pháp vô tự tính, điều này đòi hỏi bạn phải đi thực tiễn, sau khi bạn thực tiễn tất cả pháp vô tự tính rồi, tiến vào cảnh giới này, bạn mới có thể đạt đến khai ngộ. Bạn sẽ có được cái gì? “Không sinh không diệt, như đến như đi, không đến không đi”, bạn đến được cảnh giới này rồi thì căn bản là vô trụ.

Trong cảnh giới này có thể nói là không có một điểm cố định, vì không có điểm cố định như vậy mới là đại viên mãn. Nhưng cái này đòi hỏi phải đi thực tiễn, không thể chỉ nói miệng, cái này ai cũng biết, bạn phải thực tiễn được nó thì mới là xuất sắc! Có thể nói là bạn không vương dù chỉ một sợi tơ, căn bản trên người bạn không có phiền não. Tôi nói rồi, tất cả phiền não về cơ bản là vô trụ, sẽ không để trong tâm bạn, đều giống như nước chảy, một chốc là chảy đi mất rồi.

Có một ví dụ rất hay nói về tâm của Thánh nhân giống như mặt hồ thanh tịnh, giống như một tấm gương khi có con chim nhạn bay qua mặt hồ đó. Khi chim nhạn đến, mặt hồ sẽ hiện bóng của con chim nhạn, nhưng khi nó bay qua rồi, chim nhạn không còn nữa, “nhạn đi không lưu ảnh”, ngay cả cái bóng ảnh cũng không lưu lại, đây là theo duyên mà sinh ra, theo duyên mà diệt, nhưng bản tính của nó, thứ ban đầu là không biến hóa. 

Phật Thích Ca Mâu Ni từng nói ngài không hề thuyết pháp. Phật Đà nói, ta thuyết pháp 49 năm, nhưng không hề có thuyết pháp. Mọi người sẽ cảm thấy rất kỳ quái, rõ ràng ngài nói rằng thuyết pháp 49 năm, đột nhiên lại nói căn bản không có thuyết pháp. Phật Đà nói, giả như có ai nói ta thuyết pháp thì tức là phỉ báng ta. Lời này rất kỳ lạ.

Thật ra Phật Đà thật sự biết tâm cực vô tự tính, thật sự đã tiến vào cảnh giới này, thuyết pháp là theo duyên mà thuyết, pháp vốn là không, không có, có thuyết cũng như không thuyết, có nói cũng như không nói, cho nên không xem là thuyết pháp. Giống tôi Lư Thắng Ngạn hôm nay ở đây thuyết pháp khai thị, hôm nay giả như có người nói tôi đang thuyết pháp khai thị thì tức là phỉ báng tôi. Bởi vì vốn dĩ sự tồn tại của pháp này cũng là không vô, nói cũng như không nói, cho nên không xem là nói. Triết học chính là kỳ quái như vậy, có đạo lý rất thâm sâu ảo diệu ở trong đó, bạn không ở trong cảnh giới ấy thì không có cách nào hiểu được.

Cho nên tôi nói quá khứ làm gì có Lư Thắng Ngạn. 52 năm trước ai là Lư Thắng Ngạn? 50 năm sau ai là Lư Thắng Ngạn? Lư Thắng Ngạn chẳng qua chỉ là một hình ảnh ngẫu nhiên bay qua trong vũ trụ mà thôi, giống như hình ảnh của con chim nhạn ngẫu nhiên bay qua mà thôi, bay qua rồi thì không có nữa. Cảnh giới này tức là căn bản không có đến, căn bản cũng không có đi, đến được cảnh giới này mới gọi là quảng đại viên mãn.

Bạn có thể lĩnh ngộ được cảnh giới này thì bạn còn phiền não cái gì? Có gì đáng phiền não? Bạn còn chưa khai ngộ, sau khi bạn khai ngộ rồi mới gọi là tâm cực vô tự tính. Sau khi bạn khai ngộ giải thoát rồi, bạn còn có gì có thể sợ hãi chứ? Không có gì đáng sợ cả, bởi vì tất cả pháp đều vô tự tính, tâm bạn cũng là vô trụ. Tâm hoàn toàn là vô trụ, đó là tâm rất quảng đại. Tương lai bạn muốn thành Phật, thành Phật thế nào? Chính là một giọt nước rơi vào trong biển lớn, chính là thành Phật.

Thật sự tôi rất muốn nói rõ ràng với mọi người, nhưng mọi người phải hiểu, vạn vật trên đời toàn bộ đều không có tự tính, tất cả con người, tất cả chúng sinh cũng đều không có tự tính. Trong con mắt của Phật chân chính thì không nhìn thấy có chúng sinh, lấy đâu ra chúng sinh? Không có chúng sinh, bởi vì chúng sinh chẳng qua chỉ là một hình ảnh nhất thời mà thôi.

Bạn có thể hiểu được điều này thì bạn còn tranh cái gì? Tranh danh à? Tranh lợi à? Bạn còn muốn đi kết hôn, đi viên mãn gia đình à? Tranh đất đai à? Hay là muốn tranh cái gì đó, có cái gì đáng để tranh chứ?

Đến khi lĩnh ngộ được cực vô tự tính rồi thì cảnh giới hoàn toàn tuyệt đối như như bất động sẽ sản sinh. Tuy nhiên, đòi hỏi tự mình sau khi hiểu lý luận rồi phải đi thực tiễn nó.

Bản thân Lục Tổ Huệ Năng cũng đi thực tiễn, sau khi ngài được Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn truyền pháp, Ngũ Tổ nói với Lục Tổ: “Anh đi thực tiễn điều đó, anh sẽ là Lục Tổ.” Hôm nay giảng đạo lý này cho mọi người, bạn đi thực tiễn nó, bạn sẽ khai ngộ, sẽ đắc đạo. Bạn không đi thực tiễn nó, bạn chỉ hiểu lý luận suông thì bạn vẫn là phàm phu. Bởi vì trong tâm bạn vẫn có vướng mắc, trong tâm của Thánh nhân chân chính thì căn bản không có vướng mắc, không vương một sợi tơ, cho dù phiền não có to bằng trời, “Thái Sơn phía trước sụp, mặt cũng không biến sắc”, cho dù núi Thái Sơn ở trước mặt có đổ sụp xuống thì mặt bạn cũng sẽ không đổi sắc. Đây chính là bất động, như như bất động, một cảnh giới không vướng dù một sợi tơ.

Những Bồ Tát ở trên địa thứ tám, tức địa thứ chín, địa thứ mười không cần dụng công, bởi vì chỉ cần các vị dựa theo duyên mà làm thì đều khế hợp với chân như, hợp nhất với chân như. Đó chính là một trạng thái vô tu vô trụ, không cần tu đã ở trong chân như rồi. Vô trụ, không cần trụ cũng đã ở trong chân như rồi. Cảnh giới này có thể nói hoàn toàn tuyệt đối là một cảnh giới của Như Lai chân như. Cảnh giới này chỉ có Phật Thích Ca Mâu Ni lĩnh hội được, đây là cách giải thích hay nhất về tâm cực vô tự tính. Om mani padme hum. 

17/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 132. Thập Trụ Tâm Luận - Bí mật trang nghiêm tâm


Hôm nay giảng tâm thứ mười trong “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp - tâm bí mật trang nghiêm.

Tâm bí mật trang nghiêm là dựa theo một điểm đứng mà bản thân ta lập tâm trong Mật giáo. Thật ra tâm thứ tám, tâm thứ chín, tâm thứ mười, ba tâm này là bình đẳng, cũng tức là tâm thứ tám thuộc về cứu cánh của Thiên Thai tông, tâm thứ chín là cứu cánh của Hoa Nghiêm tông, tâm thứ mười là cứu cánh của Mật tông. Có thể nói điểm đứng của tâm thứ tám, thứ chín, thứ mười là bình đẳng.

Thế nào là tâm bí mật trang nghiêm? Hai chữ “bí mật” này có liên quan đến Mật giáo. Bí mật mà bản thân Mật giáo nói đến nằm ở thân khẩu ý của Đại Nhật Như Lai, cũng tức là bí mật của thân, bí mật của khẩu, bí mật của ý, được gọi là tam mật. Đây là tam mật của Đại Nhật Như Lai, vậy tam mật này là cái gì? Là thân, khẩu, ý thanh tịnh. Mật giáo dựa vào điều này mà tu tức là tâm của mỗi người chúng ta, giả sử thân khẩu ý của bạn cũng thanh tịnh như thế thì bạn chính là Đại Nhật Như Lai rồi. Tâm của chúng sinh với tâm của Đại Nhật Như Lai, nếu có thân khẩu ý hoàn toàn như nhau, tương đương bản thân bạn chính là đã biến thành Đại Nhật Như Lai.

Mọi người hiểu rằng, Đại Nhật Như Lai rất trang nghiêm, có thể nói ngài là Trung ương Tỳ Lô Giá Na Phật (Đại Nhật Như Lai) trong số Ngũ Phương Phật, cũng có thể nói ngài là giáo chủ của bản thân Mật giáo. Giáo chủ của bản thân Mật giáo, tướng trang nghiêm của ngài là vô cùng thù thắng. Khi bạn ấn chứng được thân khẩu ý thanh tịnh, tức là bạn đã biến thân thành Đại Nhật Như Lai trang nghiêm như vậy. Bạn có năm đại trí huệ, hơn nữa thân khẩu ý đều là thanh tịnh. Vào lúc này, sự lập tâm của bạn chính là Đại Nhật Như Lai, cũng tức là tâm bí mật trang nghiêm. 

Hành giả Mật giáo có thể nói là dùng một phương pháp của yoga, đi theo phương pháp tương ứng, tu từng bước từng bước, nếu bạn muốn tu khẩu thanh tịnh thì bạn liên tục trì chú, liên tục trì niệm chú ngữ; nếu bạn muốn tu thân thanh tịnh thì phải giữ giới, dùng thân thể của bạn để làm đại thủ ấn, thân đại thủ ấn, khiến thân bạn thanh tịnh; thế còn ý niệm của bạn muốn thanh tịnh, bạn phải tu thế nào? Phải tu quán tưởng, phải tu quán, sau đó từ quán tiến nhập vào tu khí mạch điểm. Bản thân việc tu hành khí mạch điểm cũng tương đương với tu hành thân khẩu ý, hoàn toàn là như nhau. Bản thân tu hành thân khẩu ý và khí mạch điểm là tương thông.

Sau khi tu hành khí mạch điểm thì dùng khí mạch điểm của chính bạn đi chứng minh tính Không của vũ trụ này, khi đạt đến thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh, thì giữa bạn và vũ trụ chính là yoga (tương ứng) lẫn nhau. Hễ tương ứng là sẽ biến thân. Biến thân là gì? Là “tức thân thành Phật”. Đây chính là lập luận của tâm bí mật trang nghiêm, lý luận của nó chính là ở đây. Thực tu tức là phải dựa vào chúng ta tu thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh, tu khí mạch điểm để chứng minh tính Không, đạt đến cảnh giới của tính Không.

Trong Mật giáo có cái gọi là Ngoại pháp — thân khẩu ý thanh tịnh, Nội pháp — tu hành khí mạch minh điểm. Sau đó có Vô thượng mật, Vô thượng mật chính là một dạng tu hành cao cấp hơn để tiêu trừ dục vọng của nhục thân của bạn. Sau cùng đạt đến Đại viên mãn, chứng minh được tính Không.

Trong Mật giáo, chúng ta thường nói “lập đoạn” và “nhậm vận”, đây là cảnh giới của Đại viên mãn. Thế nào gọi là lập đoạn? Lập tức đoạn trừ thân khẩu ý phàm phu của bạn, thân khẩu ý của phàm phu lập tức cắt bỏ. Còn nhậm vận tức là bạn lập tức đầy ắp toàn bộ vũ trụ.

Thật ra phương pháp của Thiền tông cũng có thể nói là lập đoạn, có suy nghĩ không tốt, hoặc có tạp niệm kéo đến, lập tức cắt đứt nó, tức là lập đoạn. Còn nhậm vận? Bản thân nhậm vận tức là đầy ắp cả vũ trụ, bạn chính là Phật, Thiền tông cũng chỉ thẳng như vậy. Đại viên mãn trong Mật giáo gọi là Togal và Trekcho, tức là lập đoạn và nhậm vận. Đương nhiên muốn đến được cảnh giới như vậy là rất khó, nhưng mọi người có thể từ từ mà tu.

Bản thân chúng ta khi tu pháp của Mật giáo, yêu cầu bạn phải quán Không, quán Không tức là khiến thân tâm của bạn đều hóa thành không, toàn bộ thế giới hữu sắc, toàn bộ thế giới vật chất, đều biến thành không.

“Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng” - Đây là chú quán Không. Bạn phải niệm chú quán Không, niệm xong sau đó hóa thân thể của mình thành không, tâm của bạn hóa thành không, biến tất cả thế giới hữu hình, tất cả thế giới vật chất có hình tượng đều biến thành không, lúc này, bạn và vũ trụ đã tan nhập vào nhau.

Tôi luôn luôn hình dung dòng chảy pháp của vũ trụ đi vào, hoàn hoàn dung hợp với mình, nước và sữa hòa vào nhau, bạn phải chứng minh bạn chính là Phật, tức là phải đạt đến cảnh giới của tâm bí mật trang nghiêm. 

Bạn muốn tiến vào bên trong tâm của vũ trụ thì phải hóa chính mình thành không. Dòng chảy pháp của vũ trụ phải đi vào thân thể của bạn. Bạn phải hóa thành không, giống như bạn là một cốc nước, dòng chảy pháp đổ vào một cái là đầy ắp, đây chính là một cảnh giới tương ứng. 

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

18/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 133. Ý nghĩa của Thập Trụ Tâm Luận


Hôm nay chúng ta giảng ý nghĩa của “Thập Trụ Tâm Luận”. 

Đại sư Hoằng Pháp (Không Hải) đã phân tâm thành mười loại, từ loại thứ nhất là tâm của động vật cho đến tâm bí mật trang nghiêm, điều này tương đương với pháp giới được phân thành mười pháp giới. Ngài cũng phân tâm thành mười loại, thật ra tâm có bao nhiêu loại? Rất nhiều rất nhiều loại, chỉ là chủ yếu phân thành mười loại, xấp xỉ thuộc về mười loại này. Trên thực tế, chúng ta dùng con mắt để nhìn thế giới Ta Bà này, Phật pháp nói một câu “tất cả do tâm tạo”, rất có mùi vị triết học, rất sâu rất sâu, hơn nữa rất vi diệu, tất cả do tâm tạo.

Trên thực tế mỗi một người chúng ta hoặc tất cả động vật, khi làm bất kì một hành vi nào, hoàn toàn do ý niệm chi phối, do ý thức của họ chi phối hành vi của họ, sau đó trong ý thức này không chỉ là ý thức ở bề ngoài mà thôi, còn có ý thức rất sâu tiềm ẩn bên trong. Thậm chí còn có ý thức rất sâu không thể nào đo lường được, sâu đến mức độ nào? Tôi cũng không biết. Tóm lại, bạn nghiên cứu ý thức đến bên trong cảnh giới sâu nhất, bạn phát hiện ra bên trong vô cùng sâu rộng, cực kì sâu. Cái này chính là chủng tử, chủng tử nguyên thủy nhất sâu nhất của tâm. Đây là một triết học vô cùng tuyệt vời ở trong Phật pháp. 

Thông thường nghiên cứu và thảo luận Phật pháp, tuy rằng bạn biết tâm, nhưng tâm thật sự là cái gì? Chính là một dạng biến hóa của đủ loại chủng tử nguyên thủy của bạn, cái này thuộc về phạm vi của duy thức học. Trong Phật pháp, duy thức học được nói như vậy, lập luận ở trong chủng tử của bản thân duy thức sản sinh ra ý thức bề ngoài, từ ý thức bề ngoài mà khống chế hành vi của bản thân con người. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý là ý thức bề ngoài, thật ra cái mà phát ra từ chủng tử thức bên trong nguyên thủy mới là tâm thật sự.

Bản thân “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp tuy phân thành mười, chúng ta biết, bạn tu hành chính là bắt đầu từ tâm của động vật, liên tục cho đến khi thăng hoa cao nhất trở thành tâm bí mật trang nghiêm, đây chính là tu hành.

Giả sử bạn từ tâm bí mật trang nghiêm cao nhất mà rơi xuống thì tức là đọa lạc. Một đằng là thăng hoa, một đằng là đọa lạc. Một đằng là tứ Thánh giới, bốn Thánh giới cao nhất, một đằng là giới địa ngục, tam ác đạo. 

Hôm nay chúng ta tu hành chính là phải kéo lên, khiến tâm mình thăng hoa đến tứ Thánh giới, trực tiếp thành Phật, đi lĩnh ngộ toàn bộ đạo lý của vũ trụ. Cho nên “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp rất hữu ích đối với chúng ta. Bây giờ bạn đã hiểu bạn tu hành là làm cái gì rồi. Bản thân bạn cũng hiểu cảnh giới của các loại tâm, bạn cũng biết thì ra đủ thứ trong đời quá khứ của bạn đều đã biến thành chủng tử trong ý thức của bạn. Bạn phải tiêu trừ mọi vô minh từ vô thủy, phải tiêu trừ những chủng tử của thói quen xấu trong quá khứ trước đây, tịnh hóa chúng, biến thành Phật thức (chủng thức của Như Lai) thanh tịnh, phải hiển hiện được nó ra, phải hiển hiện Phật tính ra, đây chính là mục đích của tu hành thành Phật.

Phật tính của bạn hiển hiện ra tức là khai ngộ. Bạn bị che mờ thì bạn chính là động vật, bạn chính là con người, bạn chính là atula, bạn chính là địa ngục, là ngạ quỷ. Tập tính của bạn vẫn còn, Phật tính bị che lấp, toàn bộ đều ở trong tam ác đạo. Nhưng sau khi bạn thanh tịnh rồi, sau khi hiển lộ Phật thức của bạn rồi, thì tức là bạn thành tựu rồi.

Trong kinh Phật chúng ta thường xuyên đọc thấy tâm có thể tạo ra thiên đường, tâm cũng có thể tạo ra địa ngục. Thật ra “tất cả do tâm tạo”, thiên đường không phải là làm ra một cái thiên đường có sẵn rồi mọi người cùng đến đó, mọi người cùng đi lên thiên đường, có thiên đường là vì tâm bạn thanh tịnh bạn mới có thể đi vào cảnh giới đó. Tâm của bạn không thanh tịnh thì làm sao bạn đi vào thiên đường chứ? Cho nên địa ngục cũng là cho chính bạn tạo ra, là vì cái tâm của bạn cho nên bạn mới xuống địa ngục, không phải là bất kì ai cũng có thể cứu bạn được đâu.

Vì thế, bản thân giảng pháp của Phật giáo, giáo hóa của Như Lai, ngài nói như thế nào? Ngài nói: “Tự mình cứu chính mình.” Nói rằng phải tự cứu, không ai có thể kéo bạn ra được, không ai có thể cứu bạn được, tất cả do tâm tạo, cái tâm này là tự tâm, tâm của chính mình tạo ra.

Bởi vậy, thiên đường địa ngục đều là do tâm của bạn tạo ra. Muốn đi vào thiên đường, không phải là nói Sư Tôn đến độ hóa bạn, bạn quy y tôi, gửi Sư Tôn một chút cúng dường là bạn có thể vào thiên đường, không có chuyện đó đâu! Bản thân bạn không tu tâm của mình, tu hạnh của chính mình thì bạn vĩnh viễn không đến được thiên đường. Cảnh giới đó là tự mình tạo ra.

Địa ngục cũng như thế, bạn phải xuống địa ngục, bạn nói ôi ai cứu tôi với. Bạn không dựa vào Phật pháp mà tu hành, tu cái tâm của bạn, làm sao bạn có thể thoát khỏi địa ngục? Đây là lập luận của Phật giáo, có một chút khác với tôn giáo khác. Không thể ỷ lại, không có chuyện nhờ vả, hoàn toàn dựa vào tâm của chính bạn tạo ra. Ý nghĩa của bản thân “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp chính là ở đây. 

Tiếp đó, bạn phải hiểu tâm của động vật và tâm của con người chúng ta, và tâm của Như Lai là “nhất như”. Thế nào là nhất như? Tâm của Như Lai cũng có thể biến thành tâm của động vật, tâm của động vật cũng có thể biến thành tâm của Như Lai, nói cách khác là, chỉ cần bạn tu hành thì nhất định có thể thành Phật. Bởi vậy mới nói “tức tâm thành Phật”, tâm của bạn chính là Phật. Cũng có thể nói “tâm tức là Phật”, bạn đã đến được cảnh giới rồi, tâm bạn thanh tịnh rồi thì tâm bạn chính là Phật rồi đó!

Đây hoàn toàn là đạo lý thanh tịnh và bất tịnh, tịnh và ô nhiễm. Và trong con mắt của Phật (Như Lai) thì “vô tịnh vô cấu”, chuyện này là thế nào? Đây chính là cảnh giới của đại viên mãn, thật sự là bí mật trang nghiêm.

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

18/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 134. Nói về chú tạng


Hôm nay chúng ta nói một chút về chú tạng và phù tạng. Chúng ta biết rằng, bản thân Phật giáo mà nói có Tam Tạng Thập Nhị Bộ. Tam Tạng Thập Nhị Bộ tức là: kinh tạng, luật tạng, luận tạng. 

Kinh — chính là lời Phật Đà (Phật Thích Ca Mâu Ni) đã nói, sau khi tập hợp lại thì gọi là kinh.
Luật — chính là những giới luật đã được đặt ra vào thời đại của Phật Đà, gọi là luật tạng.
Luận — chính là ngoài Phật Đà ra, còn có rất nhiều tổ sư khác, là tổ sư các đời của Phật giáo giải thích chi tiết đạo lý của Phật Đà thì được gọi là luận tạng. 
Ba cái này hợp lại chính là Kinh-Luật-Luận Tam Tạng Thập Nhị Bộ. 

Những điều này đều được ghi chép trong sách cổ, tức là trong Đại Tạng Kinh có ghi, mọi người giở ra đọc sẽ thấy rất rõ ràng, cái này thuộc về bộ phận của Hiển giáo. Chú tạng trong đó thì thuộc về bộ phận của Mật giáo, chú tạng thì không nằm trong Tam Tạng.

Chúng ta đọc Phật điển, trong kinh Phật, thường đọc thấy ở phần cuối của kinh có đưa ra chú ngữ, liệt kê ra rất nhiều chú ngữ. Phần sau của kinh điển có chú ngữ, tập hợp toàn bộ những chú ngữ này lại, giải thích chi tiết về chúng, sắp xếp chúng, thì sẽ hình thành nên một bộ tạng khác, chính là chú tạng.

Chúng ta biết rằng chú có nghĩa bí mật, tức là khá bí mật. Bởi vì trước kia tôi từng nói, khi chúng ta niệm chú tức là đang niệm tâm của Phật Bồ Tát. Bạn xưng niệm “Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”, đây là niệm tên của Phật Bồ Tát, hoặc là niệm “Nam mô A Di Đà Phật”, “Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát”, đây đều là niệm tên của Phật Bồ Tát.

Thế còn chú là niệm tâm của ngài, ví dụ niệm “Ôm a-mi-đê-wa sê” chính là niệm tâm của A Di Đà Phật, niệm “Ôm ma-ni pát-mi hùm” chính là niệm tâm của Quan Thế Âm Bồ Tát. 

Hai cái này không giống nhau, một cái là niệm bên trong, một cái là niệm bên ngoài, cho nên trong “Mật Tông Đạo Thứ Đệ Quảng Luận”, Tổ sư Tsongkhapa nói, bạn niệm tên Phật tức là đang niệm sắc thân của Phật, sắc thân tức là hình tướng của ngài; thế còn niệm chú của ngài tức là làm xúc động tâm của Như Lai. Hai cái này là khác nhau.

Bản thân chú mà nói, tâm là vô hình, cho nên có nghĩa bí mật của nó ở trong đó. Trong Mật giáo dùng trì minh (trì chú) làm cơ sở, trì minh (trì chú) chính là nghĩa bí mật, nghĩa bí mật thì gọi là Mật tông.

Mọi người có hiểu vì sao Mật giáo được gọi là Mật giáo không? Bởi vì cái mà Mật giáo niệm là vô hình, có nghĩa bí mật vô hình. Dùng chú để hoằng dương chính là Mật giáo. Chúng ta biết chú có rất nhiều, nếu mà sắp xếp lại thì thật sự là cực kì đó. Ví dụ mỗi vị Phật đều có chú của vị Phật đó, mỗi một Bồ Tát lại có chú của Bồ Tát đó. Theo như tôi biết, không chỉ là Phật Bồ Tát có chú, tất cả Kim Cang Thần cũng có chú của Kim Cang Thần, tất cả Hộ Pháp đều có chú, bao gồm tất cả chư Thiên đều có chú. Cho nên có 20 thiên, 12 thiên, 8 thiên, 28 thiên, tất cả chư Thiên đều có chú ngữ của chính họ, thậm chí rất nhiều thần cũng có chú ngữ của riêng mình.

Cho nên nếu chỉnh lý chú tạng, thật sự sắp xếp toàn bộ chú ngữ lại thì cũng cần rất nhiều sách. Muốn nói rõ nghĩa bí mật của chúng cũng cần rất nhiều sách, tập hợp lại thành một kho tàng, gọi là chú tạng. 

Chúng ta biết Mật giáo tu hành có thành tựu trì minh. Thành tựu trì minh thật ra giống với đạo lý niệm Phật. Tịnh Thổ tông niệm Phật đến khi nhất tâm bất loạn, Phật đến tiếp dẫn; trì danh niệm Phật đã có sức mạnh lớn như vậy rồi, chỉ mỗi niệm tên của ngài mà đã có sức mạnh lớn đến vậy rồi, thậm chí có vị cổ đức nói, niệm tên Phật đã có thể tiêu trừ rất nhiều nghiệp chướng nhiều kiếp rồi. 

Bạn trì tâm chú của ngài, cũng như thế, khi bạn thành tựu trì minh rồi, bạn liên tục trì chú ngữ của Phật Bồ Tát, trì đến khi nhất tâm bất loạn, đương nhiên bạn sẽ xúc động tâm của Như Lai, xúc động tâm của Bồ Tát, ngài nhất định sẽ đến tiếp dẫn bạn. Bạn không chỉ niệm tên bề ngoài của ngài mà thôi, bạn còn xúc động tâm ngài, ngài sẽ cảm động, ngài nhất định sẽ đến tiếp dẫn bạn.

Bởi vậy khi thành tựu trì minh rồi, cảm ứng (tương ứng) khi ấy là cực kì tốt. Niệm Phật đã có thể cảm ứng, cho nên bạn niệm chú thì càng có cảm ứng, ví dụ người học Phật chúng ta, tuy rằng rất nhiều người học Hiển giáo, nhưng họ cũng niệm chú, ví dụ chú Đại Bi, chúng ta biết rằng trưởng lão Ngộ Minh cả đời đều trì chú Đại Bi. Mặc dù ông ấy học Hiển, học Thiền, nhưng bản thân ông ấy cũng niệm chú, không hề nói rằng tôi học Hiển giáo thì tôi sẽ không niệm chú ngữ. Giống như là trong các cuốn khóa tụng của khóa tu buổi sáng, khóa tu buổi tối thì vẫn phải trì mười chú nhỏ, niệm biến thực chân ngôn. 

Thứ mà họ học đều là của Hiển giáo, nhưng thật sự lúc làm pháp lại có dùng chú ngữ, khi làm lễ cúng lớn trước Phật thì phải niệm chú, niệm kinh, niệm Quan Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm, niệm đến sau cùng thì phải niệm chú Đại Bi, bạn niệm Cao Vương Kinh thì sẽ phải niệm Thất Phật diệt tội chân ngôn, phía sau đều có thêm chú ngữ bạn sẽ cần niệm. Khi bạn làm cúng dường cũng không phải là niệm chú ngữ theo tiếng Quốc ngữ, không phải Quốc ngữ, mà là một vài chú ngữ tiếng Phạn, bạn vẫn phải niệm. 

Vì thế thật ra nói chung, Phật giáo cho đến hiện tại thì cũng giống như là “trong Hiển có Mật”, tuy bạn học Hiển nhưng bên trong có Mật, “trong Mật có Hiển”, trong Mật cũng có đạo lý của Hiển giáo, thật ra Hiển - Mật nên viên dung. Ví dụ nói về du già diễm khẩu, trong du già diễm khẩu toàn bộ đều là các thứ của Mật giáo. 

Hôm nay nói tới đây. Om mani padme hum. 

19/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 135. Nói về phù tạng


Chúng ta lại nói về phù tạng. Phù tức là chữ phù trong vẽ phù. Khi tôi nói đến cái này, nhất định có rất nhiều người nói, trong Phật giáo có vẽ phù sao? Nhưng trong Mật giáo thì có phù, bạn xem trong pháp bản của Uế Tích Kim Cang Đại Quyền Thần Vương Phật, có rất nhiều phù ở trong đó, không phải là không có phù, chỉ là người bình thường không thật sự biết rằng trong Phật giáo cũng có phù.

Bạn xem những chữ Phạn kia, chữ Phạn chính là văn tự của Thiên Trúc, căn bản đó chính là phù, họ nói rằng vốn dĩ chữ Phạn này là do Đại Phạm Thiên Vương sáng tạo ra, là từ cõi trời xuống, nó có một biểu tượng, lấy ví dụ đơn giản một chữ “Hàn” - “Na-mô san-man-tô wa-zư-la hàn”, chữ “Hàn” này khi vẽ ra giống như một con người, giống một vị Bất Động Minh Vương cầm kiếm. Bản thân chữ Phạn chính là một loại phù thức. Người khác không nghĩ thế, nhưng tôi cho rằng đây là phù.

Trong pháp Uế Tích Kim Cang Đại Quyền Thần Vương Phật có rất nhiều phù thức, bởi vậy trong Mật giáo nói không có phù, thật ra là vẫn có phù, tôi cho rằng tập hợp toàn bộ phù lại thì sẽ thành phù tạng. 

Phù này là cái thứ gì? Thật ra so với chú ngữ chỉ là dị thức đồng công [hình thức khác nhau nhưng công hiệu như nhau], chú là dùng âm thanh để biểu hiện, phù là dùng kiểu chữ để biểu hiện; phù phải dùng cách viết, còn chú phải dùng cách phát ra thanh âm; một cái là âm, một cái là hình, cho nên phù và chú vốn dĩ là không tách nhau.

Trước kia tôi vẽ phù, bản thân nó có trên, giữa, dưới, phía trên gọi là tam dương khai thái, danh hiệu của Phật, ở giữa là sắc lệnh việc gì đó, ở dưới là ấn của Phật Bồ Tát, chữ “Cang” đó là ấn của Phật Bồ Tát, in ở đó, có người gọi là ruột phù.

Vẽ phù cũng phân ra trên, giữa, dưới, Phật nào đó sắc lệnh việc gì đó thành công, áp ấn cang sẽ thành phù. Hình thức phù thông thường là như vậy. Phù và chú đều có thể sản sinh ra một dạng sức mạnh, vì sao có thể sản sinh ra một dạng sức mạnh? Bởi vì trong kiểu chữ của bản thân phù có danh hiệu của Phật Bồ Tát ở trong đó, có ấn bí mật của ngài ở trong đó, vì thế có thể sinh ra một dạng sức mạnh.

Chúng ta niệm chú ngữ là có thể sinh ra sức mạnh, ví dụ bạn chỉ mỗi niệm Phật cũng có thể sản sinh ra một dạng sức mạnh, trì chú cũng có thể sản sinh ra một dạng sức mạnh. Bản thân phù có danh hiệu Phật Bồ Tát, có nghĩa bí mật của Phật Bồ Tát, ấn bí mật ở bên trong, cho nên nó cũng có thể sinh ra sức mạnh.

Còn có một điểm quan trọng nhất chính là, bạn là người học Mật pháp, bạn phải biết thỉnh cầu Bổn tôn của chính mình hạ giáng để bố quang, tức là tập trung ánh sáng trên lá phù đó, tập trung ở trên lá phù thì có thể sản sinh ra một dạng sức mạnh. Nói cách khác là một tờ giấy rất bình thường, sau khi vẽ chữ lên, sau khi viết vài chữ lên đó, nhờ thỉnh Phật Bồ Tát đến phóng quang gia trì lên tờ giấy này, một khi có phóng quang gia trì lên tờ giấy thì sẽ sản sinh ra sức mạnh, sản sinh pháp lực, cái này chính là công hiệu của phù. Giả sử không có Phật Bồ Tát phóng quang gia trì lên tờ giấy đó thì tờ giấy này vẫn chỉ là giấy. Cho nên sự khác biệt giữa giấy và phù nằm ở đây.

Tôi nói với mọi người, cầu pháp nước chú Đại Bi, trước đây tôi luôn luôn nói rằng, nước chú Đại Bi là chúng ta lấy một cốc nước, chính là một cốc nước bình thường, dựa theo cách làm pháp của Mật giáo, đầu tiên thỉnh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát đến, thỉnh cầu Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát hạ giáng, từ trong hư không giáng xuống. Bạn thỉnh cầu ngài thì phải quán tưởng thế nào? Kết thủ ấn Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát, niệm tâm chú của Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát, đây là ba yếu tố của Mật giáo.

Phải tưởng tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát đến, niệm chú của Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát, kết thủ ấn của Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát, quán tưởng ngài ở trong hư không hiển hiện, sau đó Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát phóng quang vào trong cốc nước, điểm này rất quan trọng, đây chính là đang bố quang!

Chỉ cần ánh sáng đi vào trong nước, vốn dĩ chỉ là một cốc nước bình thường mà thôi, nhưng Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát cầm cành dương liễu, vẩy cam lộ một cái, chà! Cam lộ sẽ rơi vào trong nước. Bạn đều phải quán tưởng rất rõ ràng, sau đó bạn chắp tay trì chú Đại Bi, bạn niệm 49 biến chú Đại Bi, hoặc là 21 biến chú Đại Bi đều được. Tóm lại, bạn niệm đến khi cảm ứng, niệm đến khi cảm thấy Quan Thế Âm Bồ Tát thật sự cầm cành dương liễu vẩy tịnh thủy vào trong cốc nước bình thường, 21 biến, 49 biến chú Đại Bi, hoặc bạn muốn niệm nhiều hơn cũng được, càng nhiều càng tốt, niệm 108 biến chú Đại Bi, liên tục niệm, niệm đến khi chính mình cảm ứng.

Rất nhiều người có cảm ứng, không phải là chỉ có vài người, rất nhiều người có thể cảm ứng được Phật Bồ Tát giáng lâm, Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát đích thực giáng lâm, ánh sáng của ngài chiếu khắp và đi vào trong nước, lúc này cốc nước này chính là nước chú Đại Bi.

Cho nên rất nhiều người đến hỏi tôi, cầu nước chú Đại Bi như thế nào. Tôi dạy cho bạn biết, nước bình thường đặt tại Phật đàn, bạn quán tưởng Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát đến, kết thủ ấn Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát, trì chú Đại Bi, liên tục trì, trì đến khi bạn có cảm ứng, trì đến khi bạn cảm ứng thấy Quan Thế Âm Bồ Tát Đến, phóng quang vào trong nước, cốc nước này chính là nước chú Đại Bi. Bởi vậy trì chú có công lực như vậy.

Thế còn phù, bạn vẽ xong phù của nước chú Đại Bi, làm pháp tương tự, nước và phù thật ra cách làm pháp như nhau, quán tưởng như nhau, trì chú như nhau, kết thủ ấn như nhau, Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát phóng quang gia trì lên phù, lá phù này đốt thành tro rồi bỏ vào trong nước, nước này sẽ thành nước chú Đại Bi, giống nhau. Vì thế phù chú như nhau, nó có pháp lực và tác dụng của bản thân nó. 

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

19/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 136. Ba yếu tố của Mật giáo Yết ma pháp (1)


Hôm nay chúng ta nói một chút về ba yếu tố của pháp Yết ma. 

Nhìn chung mà nói, trong Mật giáo cũng có pháp xuất thế và pháp nhập thế, pháp xuất thế chính là tu pháp bình thường của chúng ta, tu pháp là vì chấm dứt sinh tử, minh tâm kiến tính, pháp như vậy gọi là pháp xuất thế. Thế còn pháp nhập thế gọi là pháp Yết ma, tức là tác pháp, ví dụ như giúp người ta tiêu tai, làm tăng ích, kính ái, làm hàng phục, đây gọi là pháp Yết ma.

Trong Mật pháp phân ra pháp xuất thế và pháp nhập thế, pháp Yết ma có ba yếu tố quan trọng, chúng ta gọi là Bổn tôn, người làm pháp, người cầu pháp, có thể nói đây chính là ba yếu tố. 

Ba yếu tố này, bản thân chúng có ý nghĩa quan trọng ở bên trong. Ví dụ như mấy hôm trước tôi nói, nếu bạn muốn một pháp thành công thì nhất định phải có Bổn tôn giáng lâm, Bổn tôn giáng lâm để bố quang, thế thì pháp này sẽ có thể thành. Bổn tôn không giáng lâm để bố quang thì giống như bạn đang diễn trò thôi, thế nào là diễn trò? Tức là diễn một trò chơi của pháp, nhưng trên thực tế chẳng có hiệu quả gì. Chỉ có Bổn tôn vô hình giáng lâm phóng quang gia trì thì pháp này mới là pháp thành công.

Trong Mật giáo có nói rất kĩ càng, chỉ có Phật Bồ Tát vô hình phóng quang gia trì cho bạn, tu pháp như vậy mới xem là pháp có thành tựu. Thiếu điều này thì chỉ là đang diễn trò múa rối, lắc lắc mấy cái rồi đi vào, thế là kết thúc, nhưng trên thực tế không có hiệu quả gì. Người cầu pháp kia cũng không có được cảm ứng gì, bản thân người làm pháp là bạn mà nói thì bạn cũng chưa chắc cảm ứng được để mà nói pháp này là pháp thành công.

Điểm này rất quan trọng, trong ba yếu tố cũng vẫn là có Bổn tôn. Vậy muốn thỉnh Bổn tôn đến thì có rất nhiều kỹ xảo, trước kia sư phụ Mật giáo từng nói, quán tưởng của bạn phải cực kì rõ ràng, nhất định phải có sức mạnh. Sư phụ cũng từng nói với tôi, anh nghĩ đến cái gì, ví dụ anh muốn thỉnh Quan Thế Âm Bồ Tát đến, quán tưởng Quan Thế Âm Bồ Tát ở trong hư không. Sau đó, anh phải quán tưởng Quan Thế Âm Bồ Tát mặc thiên y bay bay, ngài liên tục di động tiến về phía trước, quán tưởng váy thiên y của ngài tung bay, quán tưởng ngài đeo khuyên tai, hoặc trên tay đeo vòng, tất cả đều lay động. Phải quán tưởng rất rõ ràng, biểu thị tinh thần của bạn rất tập trung, ý niệm vô cùng rõ ràng, một lòng phụng thỉnh ngài đến. Ngay cả váy thiên y của ngài cũng lay động. Sư phụ tôi nói đây là một khẩu quyết. 

Sư phụ Mật giáo nói rằng bản thân cái này chính là khẩu quyết, hơn nữa chân của ngài còn phải cử động nữa, liên tục bước đi về phía trước, còn phải quán tưởng chân ngài chuyển động chứ không phải là đứng trơ trơ ra trong hư không. 

Tôi nói với mọi người một bí mật, mỗi một lần tôi làm nước cam lộ để sái tịnh, hoặc làm cam lộ hóa thực, tôi đều quán tưởng tịnh bình có cành liễu của Quan Thế Âm Bồ Tát, Quan Thế Âm Bồ Tát hơi lay động tịnh bình, tức là hơi nghiêng một chút, thế rồi cành dương liễu có nước nhỏ xuống, trên tay tôi cầm một tịnh bình, nước đó sẽ rơi vào trong tịnh bình của tôi, đây chính là khẩu quyết của bản thân tôi. 

Bản thân tôi mỗi buổi sáng đều làm sái tịnh, khi làm cam lộ thí thực, quán tưởng Quan Thế Âm Bồ Tát ở tại hư không, trên tay ngài cầm tịnh bình, dương liễu tịnh thủy, nghiêng một cái là cành liễu vẩy tịnh thủy sẽ nhỏ cam lộ vào trong tịnh bình của tôi, sau đó tôi lại chấm vào tịnh bình này để vẩy nước đi.

Đây là một khẩu quyết rất quan trọng, quán tưởng phải vô cùng rõ ràng, trên thực tế cũng cảm ứng được Quan Thế Âm Bồ Tát đến, đây chính là một khẩu quyết rất quan trọng. Vì thế, khi chúng ta làm quán tưởng, nhất định phải tưởng tượng rất rõ ràng, biểu thị tinh thần của bạn rất thống nhất, có thể thỉnh được Quan Thế Âm Bồ Tát. 

Rồi còn gì nữa? Bạn muốn thỉnh Bổn tôn đến thì còn phải biết làm thủ ấn câu triệu. Bạn quán tưởng Quan Thế Âm Bồ Tát hiển hiện trong hư không, quán tưởng chân ngài dẫm lên mây, sau đó cái móc này biến to ra, biến thành rất dài, rất lớn, một cái móc kéo dài đến tận hư không, và cái móc phải móc vào đám mây của ngài để cho ngài không thể bay đi nơi khác, mây đã bị bạn móc chặt lại rồi, thế thì Quan Thế Âm Bồ Tát nhất định phải đến.

Trước kia còn có đệ tử nói như thế thì sẽ làm cho ngài ngã nhào mất, ngã nhào tức là khi bạn móc vào đám mây thì Quan Thế Âm Bồ Tát sẽ đứng không vững, ngài nhất định phải hạ xuống, như thế này thì cũng là nghĩ hơi quá mức rồi. Quan Thế Âm Bồ Tát từ trên mây rơi xuống, không cẩn thận một cái là ngài ngã trẹo chân luôn. Đây là nghĩ thái quá rồi, thật ra chỉ cần móc vào đám mây của ngài là được rồi. Thế rồi quán tưởng ngài phóng quang gia trì, là như vậy.

Còn gì nữa? Bạn biết ấn “tâm trong tâm”, khi bạn muốn quán tưởng vị Phật Bồ Tát nào thì bạn kết thủ ấn của vị Phật Bồ Tát đó. Hơn nữa ấn tâm trong tâm động một cái, một khi đã động, vừa nghĩ đến ngài, rồi cử động ấn tâm trong tâm, thì sẽ làm xúc động tâm của Phật Bồ Tát, hễ xúc động tâm của Phật Bồ Tát thì ngài nhất định phải đến, cho nên ấn tâm trong tâm là mật truyền, không thể nói ra được.

Trong Mật giáo có rất nhiều bí mật kiểu này, rất nhiều khẩu quyết, nếu tùy tiện nói ra ấn tâm trong tâm, mọi người biết được rồi thì sẽ tùy tiện kết ấn tâm trong tâm, thế thì hại Phật Bồ Tát trong hư không phải chạy loạn lên khắp nơi. Phật Bồ Tát chạy loạn khắp nơi, đành chịu thôi vì bạn đã cử động ấn tâm trong tâm rồi, ngài không đến không được. Nhưng đến một cái thì phát hiện ra, việc nhỏ như hạt vừng! “Vì sao con mèo của tôi không chịu ăn cơm?…” Bạn cũng dùng ấn tâm trong tâm, thế thì quá đáng rồi. 

Đối với rất nhiều sự việc, chúng ta thật sự phải giữ đạo trung quán, trung quán tức là với bất kì sự việc gì thì bạn đều phải phù hợp với trung quán, đây là yếu quyết về Bổn tôn, yếu tố thứ nhất. Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

19/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 137. Ba yếu tố của Mật giáo Yết ma pháp (2)


Hôm qua chúng ta đề cập đến Bổn tôn giáng lâm là rất quan trọng, nhưng điều kiện chủ yếu để Bổn tôn giáng lâm nằm ở đâu? Thật ra nằm ở người làm pháp, tức là người tu pháp, điều này rất quan trọng. Bổn tôn đến hay không đến, trọng điểm nằm ở chính người đó.

Vậy người làm pháp phải làm sao? Tức là tất cả đồ cúng dường của bạn phải chu toàn, phải viên mãn, những thứ trong khi bạn tu pháp phải cực kì thanh tịnh viên mãn. Bạn là người làm pháp, bản thân bạn mà nói phải nhất tâm, nhất tâm đi làm pháp đó, không có nhị tâm, không thể nói vừa làm pháp, vừa bóc trái cây, vừa ăn chuối, như thế thì không được rồi, như thế là đã nhị tâm rồi! Bạn vừa làm pháp, vừa lấy bánh quy để ăn, như thế là không được!

Vì thế khi tu pháp phải hoàn toàn nhất tâm, đồ cúng phải đầy đủ, tất cả đồ cúng phải thanh tịnh, phải chu toàn, giả sử bạn cẩn thận hơn thì bạn còn phải mộc dục, mộc dục tức là nói rằng bạn bạn phải đi tắm trước. Thế rồi cẩn thận hơn nữa là bạn phải trai giới, khi tôi muốn làm một pháp này, tôi thanh tịnh chính mình, trước tiên là trai giới, rồi tắm gội, rồi đánh răng, dùng chỉ nha khoa, kem đánh răng, súc miệng…, tất cả đều làm cho sạch, bằng không khi bạn niệm chú, khí mà bạn thở ra đều bẩn.

Tịnh khẩu, tịnh thân, còn cả ý niệm cũng phải thanh tịnh, còn gì nữa? Tất cả nghi quỹ bạn đều phải hiểu rõ ràng, hoàn toàn không được bỏ sót, tức là bạn làm đại cúng dường, cũng phải làm đại lễ bái, cũng phải niệm chú tứ quy y, bạn cũng phải làm mặc giáp hộ thân. Rồi trong quá trình bạn làm pháp, thỉnh cầu, bạn đều không được bỏ sót. Tất cả tu hành - phát tâm thế nào, hồi hướng ra sao, trì chú thế nào, niệm kinh ra sao, tất cả đều phải rất đầy đủ. Nếu làm pháp như vậy thì Bổn tôn sẽ giáng lâm.

Vì thế người làm pháp, bản thân người đang tu, cũng rất quan trọng. Nếu người tu mà sơ suất thì sẽ phạm vào tội xem thường, tội xem thường tức là không hề coi trọng pháp này mà lại xem nhẹ. Vậy giả sử bạn nói, sợ rằng trong lúc làm pháp bạn có khuyết điểm, vậy thì bạn phải niệm Bách tự minh chú, sau cùng còn phải niệm chân ngôn, niệm Bách tự minh chú để bù đắp lại.

Ý ở đây nói rằng, trong quá trình tôi tu pháp, có suy nghĩ không cung kính với Phật Bồ Tát, hoặc là đối với bản thân Phật Bồ Tát không đầy đủ lễ phép, hoặc là trong nghi quỹ bạn làm có khuyết điểm, vậy thì niệm ba biến Bách tự minh chú để sửa chữa khuyết điểm. Cái này giống như bổ sung, bù đắp. Bổ khuyết xong thì sẽ tốt, sẽ không nghiêm trọng nữa, nói cách khác là pháp này của bạn đã rất chu toàn rồi. Người làm pháp rất quan trọng, phải nhất tâm đi làm pháp này. 

Ngoài ra, ba yếu tố tu hành pháp Yết ma thì cái thứ ba là người cầu pháp. Bổn tôn cũng giáng lâm rồi, bản thân bạn cũng làm pháp rất chu toàn rồi, nhưng người cầu pháp thì qua loa đại khái, cái này cũng không được. Ngày nay cũng có rất nhiều người cầu pháp như vậy, tình huống này cũng có.

Ví dụ có người cầu Sư Tôn làm một đàn Hộ Ma, người ta hỏi: “Vì sao anh muốn làm Hộ Ma?”
”Nghe nói Hộ Ma rất hữu hiệu, cho nên muốn thử xem.” Bạn không thể nói câu “thử xem” này, trong lòng cũng không được nghĩ thế. Phật Bồ Tát đến đây phóng quang gia trì cho bạn mà còn phải để cho bạn thử ư? Phật thần thánh như vậy, Bồ Tát thần thánh như vậy xuống đàn để phóng quang gia trì cho bạn, kết quả là người cầu pháp lại nói: “Tôi thử xem thế nào.” Thế này thì sai quá rồi!

Người cầu pháp nhất định phải kiền kính, kiền kính tức là kiền thành và cung kính, tốt nhất là nhất định phải đến. Bản thân người cầu một đàn pháp phải đến, như vậy mới tốt, mới được tính. Trước kia có người như thế này, “Ồ! Sư Tôn đang làm Hộ Ma à, hầy tốt quá, tôi cũng muốn báo danh tham gia, giúp tôi báo danh thỉnh cầu, cứ ứng trước cho tôi một khoản tiền đi!” Tùy ý thôi, không hề quy định bạn phải đưa bao nhiêu tiền.

Tùy ý là được, nhưng mà khẩu khí của bạn là nói rằng, cứ tùy ý giúp tôi đi, tùy ý giúp tôi một chút đi, tôi cũng tham gia một phần. “Thế anh cầu cái gì?” “Để tôi nghĩ thử xem tôi muốn cầu cái gì!” Như thế là đã mất sự kiền kính rồi.

Bạn phải rất kiền kính, phải có tâm rất cung kính, cầu Phật Bồ Tát giáng quang, cầu Thượng sư làm cho bạn một đàn pháp, ba tâm này phải hợp nhất, tức là tâm của Bổn tôn, tâm của người làm pháp, tâm của người cầu pháp phải hợp nhất, điểm này rất quan trọng.

Vì thế trước đây có người cầu Sư Tôn vẽ phù cho họ, tôi nói: “Anh muốn vẽ mấy lá?” Anh ta nói: “Càng nhiều càng tốt!” Tôi nói: “Cái gì mà càng nhiều càng tốt chứ?” Anh ta nói: “Để dành khi cần đến. Có khi hàng xóm xung quanh cần, hoặc có bệnh thì tôi sẽ cho họ, hoặc là thế nào đó…” Thế chẳng phải là đã biến thành công ty phù lục sao? Điều này không được! Cầu cũng không thể nói là tôi cầu 100 lá, tôi muốn cầu 200 lá, tốt nhất là vẽ toàn bộ phù trong cuốn sách đó cho tôi đi, mỗi loại phù cho tôi năm lá. Không phải là kiểu cầu pháp này!

Người cầu phù đó phải thật sự viết sớ văn, biểu thị sự kiền thành và cung kính của anh ta. Phải khởi bẩm để trời nghe, phải để cho thứ này của anh ta lên đến thiên đình, để Phật Bồ Tát biết bạn rất kiền thành cung kính đến cầu, chứ không phải là rất tùy tiện.

Bởi vậy người cầu pháp bây giờ rất tùy tiện! Đúng kiểu như vậy! “Giúp tôi cầu đi, được không, tôi không biết đâu, thôi thì cứ tùy ý mà giúp tôi cầu đi!” Người như thế thì không được. Nhất định là người có việc cũng phải có mặt, hơn nữa phải rất kiền thành, rất cung kính, phải cùng trì chú, như vậy mới tốt. Đó chính là một đàn pháp Yết ma rất hoàn mỹ. Yêu cầu người cầu pháp, người làm pháp, Bổn tôn giáng lâm, cả ba hợp nhất, đây chính là ba yếu tố tu hành pháp Yết ma. 

Mọi người đã hiểu rồi nhỉ, cho nên cầu pháp không thể cầu thay, cũng không thể tùy tiện cầu, cũng không thể đánh mất sự cung kính. Sư Tôn thì đang ở bên này làm pháp mà anh ta ở bên kia liên tục gãi chân, như thế cũng không được. Vì thế phải chú ý, bản thân người cầu pháp tốt nhất cũng phải tịnh thân, tịnh khẩu, tịnh ý. 

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

20/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 138. Đại viên kính trí (1)


Hôm nay chúng ta nói về Đại viên kính trí. 
Trong Mật giáo, có thể nói tổ sư là Kim Cang Tổng Trì, Ngũ Phương Phật chính là Đại Nhật Như Lai, A Súc Phật, A Di Đà Phật, Bảo Sinh Phật, Bất Không Thành Tựu Phật, đều được gọi là bậc Kim Cang Tổng Trì, tất cả đều được gọi là Kim Cang Tổng Trì. Vị cao nhất chính là Kim Cang Tổng Trì, sau đó ở dưới chính là Ngũ Phương Phật, Ngũ Phương Phật lại hóa sinh ra Pháp Vương Tử của Ngũ Phật, gọi là Kim Cang Tát Đỏa. 

Thật ra, Kim Cang Tát Đỏa cũng có thể gọi là Kim Cang Trì Tôn Giả. Kim Cang Tát Đỏa lại có ba thân — như là Kim Cang Tát Đỏa, Kim Cang Thủ Bồ Tát, Kim Cang Tâm Bồ Tát, tức là một vị là Pháp thân, một vị là Báo thân, một vị là Ứng thân. Kim Cang Tâm, Kim Cang Thủ, Kim Cang Tát Đỏa là cùng một vị Bồ Tát. 

Ngũ Phương Phật đại diện cho năm trí huệ của bản thân Phật (Kim Cang Tổng Trì), năm trí huệ rất lớn. Trong đó, Đông Phương A Súc Như Lai, trí huệ mà ngài tượng trưng là Đại viên kính trí - trí huệ giống như chiếc gương tròn lớn. Còn như trong “Duy Thức Luận” có nói thì đây là trí huệ thuộc về thức thứ tám khai phá ra, gọi là Đại viên kính trí.

Từ cách đây rất lâu đã có người hỏi tôi thế nào gọi là Đại viên kính trí. Gần đây, cũng có pháp sư Liên Kiêm hỏi tôi thế nào là Đại viên kính trí. Bây giờ tôi sẽ nói với mọi người thế nào là Đại viên kính trí. Thật ra, bản thức của Đại viên kính trí, ý nghĩa của vốn có chính là nói về bản thức thanh tịnh, tức là biểu thị một sự thanh tịnh rất viên mãn, cái thức này là sự thanh tịnh rất viên mãn, hoàn toàn không bị ô nhiễm, cái này chính là Đại viên kính trí. Bản thức hoàn toàn thanh tịnh không có ô nhiễm chính là Đại viên kính trí. 

Cũng có cách nói như thế này, các loại hình thái thiện ác của phàm phu, bạn đều có thể hiểu cực kì rõ ràng minh bạch. Phàm là đủ kiểu sự tình thiện ác trên thế giới này, nghìn thứ vạn thứ, muôn hình muôn vẻ, các loại thế giới hữu sắc, các loại hình tượng của thế giới vật chất, nếu bạn đều có thể hiểu được rõ ràng, thì có thể nói đây cũng là Đại viên kính trí. 

Người tu hành chúng ta muốn tu đến cảnh giới này thì cũng rất khó khăn. Bởi vì thiện ác thị phi đôi khi là chồng chéo lên nhau, khiến cho bạn không phân biệt được. Thế nào là hợp pháp? Thế nào là không hợp pháp? Cái gì là thuộc về thiện? Cái gì là thuộc về ác? Đôi khi, giữa hai suy nghĩ này, đột nhiên đan xen vào nhau, trong chốc lát bạn trở nên mơ hồ, thế thì bạn sẽ không phân biệt rõ được nữa.

Đôi khi bạn hỏi người ta, được, anh nói là thiện, vậy định nghĩa của thiện là gì? Trong chốc lát bạn mơ hồ luôn, định nghĩa của thiện là gì? Bạn không có cách nào đưa ra một định nghĩa, bởi vậy đạo lý, chữ lý này, chúng ta thường xuyên nói, ông nói ông có lý, bà nói bà có lý, rốt cuộc cái lý nào mới là đúng đây?

Đôi khi, nhân gian chúng ta có rất nhiều thị phi, ví dụ có một số người, đứng trên lập trường của Chân Phật Tông chúng ta mà nói, có một số đệ tử Chân Phật Tông, họ cho rằng, ôi chao, Sư Tôn nói về sự việc này vô cùng công chính, rất hay. Nhưng đứng trên góc độ khác để nhìn nhận, xem cách Sư Tôn xử lý sự việc này, cũng có rất nhiều người sẽ phê bình, sự việc này không nhất định là hoàn toàn mười phân vẹn mười. Giống như trong tông phái chúng ta, đôi khi thông báo một sự việc ra ngoài, sự việc này phải làm như thế nào, cũng có người có ý kiến, đúng không?

Ví dụ Kurukulle Phật Mẫu. Chúng ta tu pháp kính ái, chà, kết quả là đệ tử lợi dụng pháp của Kurukulle Phật Mẫu đi làm thành một loại bột kính ái, mọi người có biết không? Nói cách khác là, loại bột kính ái này có thể tăng cường sự kính yêu lẫn nhau. Kurukulle Phật Mẫu là Bổn tôn kính ái, pháp này vốn dĩ là rất hay, nhưng bây giờ đã có bán cả bột kính ái rồi, có người muốn bán bột kính ái, nói rằng mua về sử dụng cho gia đình mình, có thể khiến gia đình viên mãn. Cái này rất hay, đưa cho người yêu mình, khiến cho người yêu của mình càng yêu mình hơn, đeo một gói ở trên người, ai ai cũng yêu kính, đây đều là việc tốt.

Nhưng đứng từ một góc độ khác mà nói, người ta nói rằng giả sử để cho lưu manh mua được bột kính ái của Chân Phật Tông chúng ta, hắn cho mỗi cô gái ăn một chút, họ đều sẽ nảy sinh tình yêu với hắn. Ơ, bạn không nghĩ đến phương diện này à, bạn nói xem, vấn đề này đã phát sinh rồi. Tên lưu manh kia bôi đầy bột kính ái lên người, các cô gái nhìn thấy hắn đều nói rằng hắn tốt, thật ra hắn là kẻ đồi bại đó. Các cô gái đều yêu thích hắn, đều bị bột kính ái của hắn dẫn dụ. Đây là vì pháp lực của Kurukulle Phật Mẫu, vì thế, ở đây sẽ nảy sinh một vấn đề.

Bởi vậy mới nói, nếu bạn có thể dùng gương sáng trong tim mình đi chiếu hiện đủ loại thiện ác thị phi trên thế gian, hơn nữa còn có thể phân biệt được rõ ràng, loại trí huệ này gọi là Đại viên kính trí. Như vậy là bạn đại khái có thể hiểu được rồi, Đại viên kính trí nói rằng, bạn phân biệt rõ ràng cảnh giới của phàm phu, đồng thời, ý thức của bản thân bạn cũng là bản thức vô cùng thanh tịnh, bản thân bạn đã khai phát thức thứ tám, trong tim giống như gương sáng chiếu hiện, lúc này, bạn chính là Bao Thanh Thiên.

Bởi vì bạn nhìn tất cả mọi thứ trên đời, bạn đều rõ ràng, bạn xử án vô cùng chính xác, tỉ mỉ kĩ lưỡng, bạn chính là Bao Thanh Thiên, tuyệt đối không phải là Bao Hắc Thiên. Bầu trời này là trong veo, Đại viên kính trí chính là chiếc gương trong veo, bản thức thanh tịnh một chút ô nhiễm cũng không có, đây chính là Đại viên kính trí.

Cho nên hàng ngày tôi viết văn, mỗi lần đều phải quan sát rất rõ ràng, ví dụ tôi viết “Chân Phật Luận Kiếm” là phải quan sát rõ ràng, ở đây chính là dùng Đại viên kính trí để quán chiếu.

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

21/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 139. Đại viên kính trí (2)


Chúng ta lại nói về Đại viên kính trí.
Đại viên kính trí là khai phát thức thứ tám trong “Duy Thức Luận” sẽ sản sinh ra một dạng trí huệ vô cùng thanh tịnh viên mãn. Vậy thì cũng có người hỏi tôi, ngài biết Đại viên kính trí, vậy Đại viên kính trí tu như thế nào? Đây là một câu hỏi rất lớn, Đại viên kính trí có liên quan đến kính đàn huyễn quán, huyễn này là huyễn trong huyễn giác, quán là quán trong quán sát, cũng chính là pháp Huyễn quán.

Khi bạn tu Đại viên kính trí, trong Ấn Độ cổ đại và Tạng mật đều có dạy người ta cách tu ra sao. Họ dùng kính đàn, tức là dùng gương soi để bố đàn, ở trong phòng mình bố trí một đàn pháp bằng gương, những chiếc gương phải sắp đặt chiếu lẫn nhau. Hiệu ứng sinh ra sẽ như thế nào? Khi bạn ngồi trong kính đàn, nhìn về phía trước, có vô số bạn xuất hiện. Bên phải cũng có vô số bạn, bên trái cũng có vô số bạn, phía trước cũng có vô số bạn, phía sau cũng có vô số bạn. Nếu một mình bạn ngồi đó, chà, sẽ hiện ra nghìn nghìn vạn vạn bạn, đây là kính đàn.

Bạn có thể mời thợ kính đến để thiết kế kính đàn cho bạn. Bạn ngồi ở giữa, vừa nhìn thì thấy, chà, nghìn nghìn vạn vạn bạn ngồi trước mặt bạn, bên trái cũng có, bên phải cũng có, trước mặt cũng có, sau lưng cũng có, đây gọi là kính đàn.

Thế rồi cũng đặt Bổn tôn ở bên trong kính đàn, tương tự cũng sẽ hiển hiện nghìn nghìn vạn vạn Bổn tôn ở trên đỉnh đầu bạn. Trước kia trong khi tu hành, có sư phụ, tổ sư nói thế này: ở trong đàn thành này, bạn chỉ cần tu một đàn pháp thì tương đương với tu nghìn nghìn vạn vạn đàn pháp. Bởi vậy, pháp Thiên chuyển luân chính là từ trong pháp kính đàn này mà diễn biến ra.

Bạn thử nghĩ mà xem! Một mình bạn ngồi trong đó tu một đàn pháp, vốn dĩ bạn chỉ có một người đang tu, bạn ngồi trong kính đàn có nghìn nghìn vạn vạn bạn, lúc này bạn tu một đàn pháp chẳng phải là chuyển thành một nghìn đàn pháp sao? Một nghìn bạn tức là một nghìn đàn pháp, một vạn bạn chính là một vạn đàn pháp. Chà! Đây là pháp môn tiện lợi, các bạn ngồi bên trong làm một đàn Hộ Ma, tức là một nghìn đàn, chỉ cần tu một đàn tức là đã tu một nghìn đàn rồi! Chà! Lời quá rồi! Cái này chính là pháp Thiên chuyển luân, bằng cách này mà huyễn hóa ra.

Mọi người biết pháp Thiên chuyển luân, vậy thì bạn quán tưởng một nghìn bạn ở trong hư không, cùng niệm một tiếng Phật hiệu, một chú ngữ, tức là niệm một nghìn tiếng Phật hiệu, một nghìn tiếng chú ngữ, đây gọi là pháp Thiên chuyển luân. Điều này trong Mật pháp mới có, Hiển giáo bình thường không hề nói rằng, này, bạn niệm một biến tương đương với một nghìn biến, niệm một biến tương đương với một vạn biến, hoặc vô số vạn biến. Dùng pháp kính đàn để tu trì có lợi ích như vậy. Tổ sư nói rồi, bạn ở trong kính đàn tu hành có công đức rất lớn, công đức vô lượng vô số sản sinh ra từ trong kính đàn.

Đại viên kính trí tu như thế nào? Tức là bạn ngồi trước kính đàn, nhìn vào Bổn tôn, nhìn vào chính mình, giữa hai người đối chiếu lẫn nhau, giữa sự trang nghiêm của Bổn tôn và bạn đối chiếu lẫn nhau, cứ thế quan sát. Từ trong sự quán chiếu này, đột nhiên, Bổn tôn đi vào bên trong thân thể bạn, trong sát-na, Bổn tôn tiến vào bên trong thân thể bạn, bạn nhìn lâu là sẽ mơ hồ ngay! Nhìn rồi lại nhìn, quan sát rồi lại quan sát, liên tục quan sát Bổn tôn, nhìn lâu rồi sẽ trở nên mơ hồ… Ơ, làm sao thế nhỉ? Mình biến thành Bổn tôn rồi! Đây chính là Bổn tôn đi vào bên trong bạn, trong sát-na sản sinh ra một dạng biến hóa, hai bên hợp nhất, cũng tức là Bổn tôn, bạn, bạn trong gương, trong sát-na, khi có một dạng tương ứng của sự hợp nhất chính là lúc bản thân Đại viên kính trí hiển hiện, cũng tức là hợp nhất rồi. Bổn tôn, bạn, còn có cả bạn ở trong gương, ba người đột nhiên hợp lại. Phương pháp tu hành này chính là Đại viên kính trí kính đàn tu trì pháp, thật ra là có liên quan đến pháp Huyễn quán.

Có người có thể mượn phương pháp này để tu hành, thứ nhất đây vừa là pháp Thiên chuyển luân, thứ hai đây cũng là pháp kính đàn của Đại viên kính trí, hai điều này đều cực kì tốt. Bởi vậy phương pháp tu hành này tôi cảm thấy rất hay. Chúng ta thường xuyên quan sát chính mình, từ trong gương quan sát chính mình, quan sát nghìn nghìn vạn vạn mình, sau đó khiến cho thân khẩu ý của chính mình và thân khẩu ý của Bổn tôn hoàn toàn thanh tịnh giống hệt nhau. Chỉ cần sự thanh tịnh của Bổn tôn và sự thanh tịnh của hành giả có thể hợp nhất thì gọi là Đại viên kính trí, chính là hợp nhất rồi.

Trước kia tôi cũng từng nói, cách tu hành này, đôi khi bạn soi gương, trong gương sẽ xuất hiện khói, trong gương sẽ xuất hiện Bổn tôn, thậm chí sẽ xuất hiện ánh sáng, sau đó Phật quốc xuất hiện, Phật quốc ở ngay trong gương, sau đó chính bạn cũng tiến vào Phật quốc.

Trước kia tôi từng nói, khi bạn tu pháp huyễn quán này, khi tu pháp kính đàn này, đến Tây phương Cực Lạc thế giới, đến chỗ của Vương Mẫu Nương Nương, bạn còn có thể ăn được đào tiên. Khi xuất hiện khói, còn có thể nhìn thấy cảnh tượng của khói. Nhìn thấy ánh sáng, nhìn thấy lửa, thế rồi tự mình có cảm ứng, Phật quốc xuất hiện, Bổn tôn ở trong gương, những cái này đều là hiện tượng của sự cảm ứng.

Nhưng cần chú ý một chút, bạn không thể đi tìm kiếm cái gì đó. Có người ở trong tình huống này muốn tìm kiếm đại thần thông hoặc là thế nào đó, vậy thì cũng có người sẽ đi vào bàng môn.

Đây là một phương pháp tu hành rất hay, nhưng tâm tu hành nhất định phải rất định, phải rất tĩnh, phải hoàn toàn có thể giữ được sự tự chủ đối với tâm cảnh chính mình, điểm này rất quan trọng. Không thể để cho chính mình đi vào bàng môn, đi vào bàng môn cũng sẽ sản sinh ra hiện tượng không tốt. Đây chính là tu hành pháp kính đàn của Đại viên kính trí.

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

21/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 140. Tính Không (1)


Hôm nay chúng ta nói về tính Không. 

Hai chữ tính Không này rất khó giảng, rất khó nói. Nó chính là tên gọi khác của chân như. Bản thân tính Không mà nói chính là chân như. Còn chân như cũng chính là tính Không.

Rất nhiều người khi nói về tính Không, họ đều sẽ nói như thế này, họ nói: “Tính Không chẳng có gì để mà nói, bởi vì tất cả đều là không.” Bản thân câu nói này không phải là rất chính xác. Nói tất cả đều không tức là tính Không, thế thì câu nói này không đúng rồi.

Cái gọi là tính Không tức là dựa vào trong cái Không mà hiện ra thực tính của nó. Đây mới là chính xác. Dựa vào trong cái Không mà hiện ra thực tính của nó mới gọi là tính Không.

Thế còn muốn tu tính Không này, tu cho chân như này hiển hiện ra là như thế này, có một phương pháp tu hành, ở trong trí huệ bát nhã, có một phương pháp là lìa bỏ ngã chấp, lìa bỏ pháp chấp, thì sẽ có thể dung nhập tính Không và tiến vào tính Không. 

Trước kia tôi từng giảng rồi, Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp lâu như vậy, thật ra là ngài đều đang nói về chân như này, cũng là đều đi xung quanh tính Không này, nói về điều đó. Thế nhưng, nếu bạn muốn thật sự đi vào trong tính Không thì đó thật sự là cực kì khó khăn. Lìa bỏ ngã chấp, mọi người biết rồi, lìa bỏ ngã chấp chính là tất cả mọi sự bám chấp vào cái tôi này đều không còn. Ta vốn dĩ chính là không, tôi từng nói thân thể một con người là từ đất nước lửa gió tổ hợp lại mà thành. Vậy thì sau khi phân tách thân thể con người ra thì cái tôi này không còn tồn tại nữa.

Mọi người cho rằng Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn này, Lư Thắng Ngạn chính là Lư Thắng Ngạn, Lư Thắng Ngạn chính là tôi, trên thực tế Lư Thắng Ngạn chỉ là một mã hiệu mà thôi. Bản thân Liên Sinh Hoạt Phật mà nói cũng là một mã hiệu, có tính tượng trưng. Vậy Lư Thắng Ngạn chân chính là ai? Mọi người sẽ chỉ ra, chính là cái người đang ở đây thuyết pháp này. OK! Vậy bạn chỉ chỗ nào là tôi? Đầu là tôi sao? Không đúng! Hẳn là toàn thân đều là tôi, nhưng trên thực tế, toàn thân đều là tôi, là bốn thứ đất nước lửa gió tổ hợp lại mà thành.

Chúng ta biết rằng lửa ở đây chính là nhiệt độ; gió chính là không khí hô hấp; nước chính là máu và những dịch thể trong người bạn, tất cả đều thuộc về nước; đất chính là xương, thịt, da, lông, đều thuộc về đất. Khi tứ đại phân tách ra, cái tôi này sẽ không tồn tại nữa. Bốn thứ này tổ hợp lại thì sẽ hình thành một cái tôi, phân tách ra rồi thì không còn nữa.

Đây chính là một phương pháp loại bỏ ngã chấp. Muốn loại bỏ ngã chấp, bạn phải thường xuyên nghĩ như vậy. Bạn nhìn một cái bàn, chúng ta biết rằng đây là một cái bàn, cái bàn này có thể phân tách ra, biến thành mặt bàn, biến thành như vậy. Một khi tách ra thì không còn là một cái bàn nữa. Đạo lý tương tự. Bạn nói cái này tuy rằng không phải là cái bàn, nhưng nói chung là một tấm gỗ. Được thôi, là một tấm gỗ, bạn phân tách nó ra, cưa nó ra thì sẽ biến thành mùn rồi. Dùng phương pháp khoa học để phân tách nó ra, đốt nó thì sẽ không còn nữa, sẽ hóa thành khí, không còn gì cả, trên thực tế cũng là không. Đây chính là phương pháp loại bỏ ngã chấp.

Còn nữa, phải làm sao để loại bỏ pháp chấp? Pháp chấp được nói đến ở đây là, thế giới có hình sắc đều là pháp chấp. Thế giới có hình sắc, thế thì quá rộng lớn. Chúng ta nói về hành tinh là được rồi. Bạn có biết không, hành tinh này, trong kinh Phật có nói - Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Niệm vô biên xứ, ngoài ra còn có Tưởng vô biên xứ, tất cả đều là vô tận vô biên. Bạn nhìn xem hành tinh của vũ trụ này, thật sự là không có biên giới. Đến bây giờ, các nhà khoa học đều vẫn không thể nói cái biên của thế giới này nằm ở đâu, đều không có cách nào nói được.

Vì thế, Phật Thích Ca Mâu Ni từng nói một câu, bạn nói đến chữ Không này, dùng đầu óc của phàm phu bình thường để mà nghĩ về chữ Không này thì sẽ phát điên. Thế nào là phát điên? Tức là về cơ bản không có cách nào suy lường được. Đối với Không, không có cách nào để đo lường. Phật Đà từng nói, lấy phàm phu để mà đo lường cảnh giới của Phật, cảnh giới của Không, thì sẽ phát điên. Căn bản là không cách nào đo lường được! Cũng chẳng có cách nào đi suy nghĩ cảnh giới đó ở chỗ nào! Vì thế, loại bỏ pháp chấp là vô cùng khó. Vô cùng khó, cực kì khó.

Nghĩ mà xem, có bao nhiêu ngôi sao? Có bao nhiêu thế giới của những ngôi sao này? Có bao nhiêu thế giới to hơn trái đất? Ngoài hệ mặt trời thì sao? Bạn không cách nào dùng não của mình để nghĩ về thế giới, quá rộng lớn, quá trống rỗng! Suy nghĩ như vậy cũng có thể khiến bạn dung nhập vào cảnh giới này.

Ngoài ra, chúng ta cũng có thể nghĩ như thế này: kiến có thế giới của kiến, mức độ nhỏ thì là thế giới của loài kiến. Nhỏ đến mức như ốc sên, trước kia tôi thường nói về ốc sên, hai cái vòi của ốc sên, ở trên đó cũng có thế giới của chúng, nghe nói có mấy nghìn triệu vi trùng ở trên cái vòi của ốc sên, đó cũng là một địa cầu đó! Ở trên cái vòi của nó có hai địa cầu, đôi khi nó sẽ cuộn lại để đánh nhau. Nó cũng có chiến tranh giữa các vì sao đó, bởi vì hai cái vòi của nó sẽ đánh lẫn nhau, nó cũng có chiến tranh giữa các vì sao.

Nhỏ thì có thể nhỏ đến mức như vậy, to thì có thể to đến mức vô biên. Nếu nghĩ như vậy, bạn có thể loại bỏ được pháp chấp này. Đối với tất cả thế giới hữu hình sẽ loại bỏ hết. Như vậy thì rất dễ tiến nhập tính Không, loại bỏ ngã chấp, sau đó loại bỏ pháp chấp, rất dễ tiến vào trong thế giới của tính Không, đi ngộ nhập thế giới chân như. 

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

21/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 141. Tính Không (2)


Chúng ta lại nói về tính Không.

Mọi người biết rằng, tính Không rất khó dùng suy nghĩ của bạn để mà đo lường, bởi vì rất khó đo lường sự vô biên vô tế của nó, cho nên rất dễ khiến cho người ta phát điên. Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp 49 năm, nói về chân như, là dùng trí huệ bát nhã để đi đo lường duy thức. Duy thức là nhỏ nhất, tính Không là lớn nhất, còn chân như lại bao gồm toàn bộ. Thật sự là để cho bạn đi suy ngẫm về điều này thì đều chẳng có cách nào nghĩ được. Vì thế, có người nói, tất cả đều không là cũng không đúng. Bởi vì cái gọi là tính Không là từ trong hư không hiện ra thực tính của nó.

Thiên Thai tông có “Thiên Thai tam quán” như thế này. Phương pháp của nó nói rằng, tất cả thứ hữu tướng, tất cả mọi thứ có hình tướng đều là Không, đây là quán Không thứ nhất. Thế giới của vô tướng chính là Không, thế giới của hữu tướng cũng là Không. Tất cả những thứ có hình tượng đều là giả.

Gần đây tôi đọc sách, chúng ta biết vườn Cấp Cô Độc, trước kia có trưởng giả Cấp Cô Độc xây cho Phật Thích Ca Mâu Ni một khu vườn Cấp Cô Độc. Bên trong vườn Cấp Cô Độc có một tinh xá, tinh xá đó tên là gì? Là tinh xá Kỳ Viên đúng không? (Đệ tử trả lời.) Sao mọi người lại nói nhỏ như vậy, là tinh xá gì? (Đệ tử trả lời.) Phải nói to như vậy thì tôi mới nghe được, tôi mới có thể nói ra được chứ!

Thật ra là tôi biết, nhưng mà cái chữ đầu tiên tôi luôn phát âm sai, trước kia tôi luôn nói là tinh xá Kỵ Viên, thật ra là Kỳ Viên đó!
Tinh xá Kỳ Viên đó là nhà lầu bảy tầng, khi xưa rất đẹp đẽ, mọi người biết trưởng giả Cấp Cô Độc mua cho Phật Đà khu vườn Cấp Cô Độc đó là dùng vàng để phủ lên mặt đất. Vị Vương Tử kia nói rằng vốn dĩ anh ta không bán, sau cùng trưởng giả Cấp Cô Độc nhất định muốn mua, anh ta nói vậy thì như thế này, ông dùng vàng để phủ đầy vườn Cấp Cô Độc thì tôi sẽ bán cho ông. Kết quả là ông ấy thật sự đã dùng vàng để phủ đầy khu vườn Cấp Cô Độc. Đó là người rất giàu có thì mới có cách, vì thế, khi phủ vàng xong thì ông ấy xây lên tinh xá Kỳ Viên.

Tinh xá này cao bảy tầng, vào thời đó mà nói thì là nơi hào hoa nhất. Bây giờ bạn đi tới đó xem, nhà lầu bảy tầng - một đống tro tàn! Chẳng còn gì cả! Đã trải qua hơn 2.500 năm rồi, thứ này không còn nữa, cho nên nhà lầu cũng không còn.

Bạn nói nước Xá Vệ, khi xưa thành Xá Vệ là một *big city* đó, là một thành phố lớn, ở trong kinh điển nói rằng thành Xá Vệ này có bản nghìn vạn nhân khẩu, bạn nói xem bảy nghìn vạn nhân khẩu có lớn không? Trong thành Xá Vệ có bảy nghìn vạn nhân khẩu, bây giờ Tokyo mới có mấy nghìn vạn, hai nghìn vạn nhân khẩu [20 triệu người], thành Xá Vệ có bảy nghìn vạn nhân khẩu. Bây giờ thì sao? Thành Xá Vệ chẳng còn cái gì cả! À vẫn còn! Một ít gạch! Một ít ngói! Còn có một số người sống ở đó, không còn nhiều người như xưa nữa.

Điều này đã chứng minh cái gì? Chứng minh rằng thế giới hữu hình đều rất giả, nó sẽ tiêu biến, nó sẽ hóa thành không, nó sẽ giải tán, nó sẽ phân tách, nó sẽ thành, trụ, hoại, không.

Đây chính là một dạng giả quán. Giống như con người chúng ta, tôi nói rồi, đất, nước, lửa, gió, không phân tách ra, con người bạn sẽ ở đâu? Lư Thắng Ngạn ở đâu? Trước khi chưa sinh ra ở đâu? Sau khi chết đi rồi ở đâu? Lư Thắng Ngạn trước khi sinh ra ở đâu? Sau khi chết rồi ở đâu? Còn không phải là giả ư, phân tách ra rồi thì sẽ là giả, tất cả quy về không, không có nữa. Cho nên cái này gọi là không quán, giả quán.

Ngoài ra, từ trong không và giả sinh ra một loại quán gọi là trung quán. Đây là một phái nhánh trong Phật giáo gọi là phái Trung Quán, đây là Thiên Thai tam quán — không, giả, trung. Tức là từ trong không và giả hiển hiện ra thực tính, gọi là trung quán thì gọi là phái Trung Quán, thuộc về một phái nhánh trong Phật giáo. Cho nên, các bạn đi nghiên cứu về Thiên Thai tam quán này là có thể biết được.

Sau này chúng ta sẽ đi Ấn Độ, sau đó đi thăm thành Xá Vệ, vườn Lâm Tỳ Ni, xem cây bồ đề, xem sông Hằng, xem Đại học Nalanda, xem Linh Sơn. Bây giờ người ta đi xem về xong nói rằng chỉ còn lại một ít đá, đá đen, đá trắng, đá xám, sau đó họ liền nhặt một hòn đá lên, bỏ vào trong túi rồi mang về lưu niệm. Họ nói đi lấy cát sông Hằng về để làm kỷ niệm. Toàn bộ đều đã biến thành những bức tường đổ, biến thành một bãi đất hoang. Có thể nói, thế giới hữu hình sau cùng đều quy về không!

Thế giới hữu hình đều là giả, nhưng cái chân lý vẫn còn tồn tại của nó, chân như còn tồn tại của nó chính là thực tính của nó thì vẫn có. Bản thân Phật tính vẫn có. Nếu bạn lấy được thực tính và Phật tính của nó ra thì đây gọi là phái Trung Quán.

Ví dụ: Chúng ta ở trong thiền định tất cả đều không, tiến vào Không định bên trong thiền định. Tâm vô lượng, quảng đại vô biên, cảnh giới này chính là cảnh giới của Không định. Tất cả chẳng có gì, tất cả không có biên giới, ngay cả suy tưởng cũng không có, đây gọi là Phi tưởng thiên, ngay cả suy tưởng cũng không có, ngay cả thức cũng không có, tiến vào cảnh giới này thì là Không định rồi. Nhưng bạn ở trong đây nhất định phải hiển hiện ra Phật tính của nó, một khi hiện ra Phật tính của nó thì sẽ là thế giới chân như. Vì thế chúng ta nói, muốn phát bồ đề tâm, bạn muốn hiển hiện bồ đề tâm này, muốn hiển hiện Phật tính, chính là tính Không. Phật tính, tính Không, chân như, bát nhã, duy thức, du già, là từ bên trong bồ đề tâm, bên trong Phật tính hiển hiện ra, cái này chính là phái Trung Quán.

Chúng ta nói về tính Không này đương nhiên là rất khó nói, rất khó để thể hội, nhưng giáo pháp của Phật Đà và giáo pháp của Thiền tông, Thiền tông dạy bạn “cắt đứt”, đưa mọi suy nghĩ dung nhập vào trong tính Không, hiển hiện Phật tính, chỉ thẳng Phật tính, Thiền tông dạy như vậy.

Hôm nay giảng đến đây. Om mani padme hum.

23/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 142. Nói về bệnh lý (1)


Hôm nay tôi nói với mọi người một chút về bệnh lý. 

Bản thân tôi không phải là bác sĩ, nhưng mà sao? Bởi vì có rất nhiều đệ tử đến hỏi tôi về bệnh lý, cho nên về phương diện bệnh lý, tôi cũng có một chút hiểu biết. Trong nhận thức của bản thân tôi, tôi cảm thấy bệnh tật là việc rất đau khổ. Có thể nói, điều khổ nhất của đời người cũng chính là bệnh, tôi cho rằng như vậy.

Rất nhiều người cái gì cũng không sợ, nhưng hễ nghe đến bệnh tật là họ sợ. Trước kia chẳng phải là có Khổng Minh sao? Trương Phi kia rất uy vũ, ông ta cưỡi ngựa nói: “Ta đây chẳng sợ việc gì hết!” Anh hùng hảo hán việc gì cũng không sợ. Khổng Minh nói: “Nói một chữ sẽ khiến ngươi sợ ngay!” Trương Phi nói: “Là cái gì?” Ông ta vẫn rất uy vũ! Khổng Minh chỉ nhẹ nhàng nói một chữ “bệnh”, Trương Phi liền từ trên ngựa rơi xuống. Thật sự là sợ rồi!

Vì thế khi chúng sinh khỏe mạnh, bạn là một con rồng, khi có bệnh thì bạn là một con sâu, trong chốc lát bạn đã biến thành một con sâu. Bất kể bạn là anh hùng hào kiệt, vĩ nhân, thánh nhân gì, nếu bị bệnh thì sẽ rất thảm. Bởi vậy nói đến bệnh là biến sắc.

Nói đến bệnh lý, thật ra bệnh của chúng sinh có rất nhiều nhân tố. Chúng ta biết rằng tứ đại không điều hòa thì người ta sẽ sinh bệnh. Địa, thủy, hỏa, phong mà điều hòa không tốt tức là có bệnh! Hỏa quá nhiều, dương khí của họ quá vượng, đây là bị bệnh quá nóng. Thủy quá nhiều thì là âm thịnh, bệnh của âm khí. Còn bản thân thổ mà phân liệt thì xương thịt của bạn đều có bệnh. Còn hô hấp, là phong, nếu điều hòa không tốt cũng là bệnh. Vì thế, đây gọi là tứ đại không điều hòa.

Nói chung, đây thuộc về bệnh của phàm phu, tức là một loại bệnh mà chúng sinh bình thường biểu hiện ra. Bệnh thông thường, bạn vẫn có thể đi khám bác sĩ, vẫn chữa được, còn có thuốc để chữa. Giả sử là bệnh nhân quả thì bạn không có thuốc nào chữa được! Có một số bệnh thuộc về bệnh nhân quả, có một số người sinh ra đã bị mắc bệnh viêm não rồi. Có những người vừa sinh ra đã bị bệnh bại liệt trẻ em rồi. Vừa sinh ra đã yếu ớt, bị câm, điếc, tàn tật, nói cách khác là những bệnh trên người họ ngay khi sinh ra đã có rồi, là bệnh bẩm sinh. Còn có rất nhiều bệnh hiểm nghèo.

Đây không phải là nói rằng bạn đã phạm vào tội lỗi gì mà bạn mới bị bệnh này. Hoặc là trong cuộc đời của bạn, căn bản là bạn không hề phạm lỗi gì, căn bản là bạn chỉ vừa sinh ra thôi, vì sao đã có bệnh rồi? Ở đây phải nói đến nhân quả, về nhân quả mà nói thì đó là do bạn mang từ kiếp trước đến. Vì thế những loại bệnh này chúng ta gọi là bệnh nhân quả.

Còn có một loại là bệnh quỷ thần, quỷ thần vô hình đó đến gây chướng ngại, bạn xung phạm đến quỷ, xung phạm đến thần, bạn dính phải sát khí, vô hình trung những quấy nhiễu đó khiến bạn có bệnh, chúng ta gọi là bệnh quỷ thần. 

Vì thế nói về bệnh thì bệnh mà bác sĩ nhìn ra chỉ là bệnh thông thường. Bệnh lý mà người học Phật tu hành chúng ta biết đến chính là bao gồm bệnh thông thường, còn có bệnh nhân quả, sâu hơn nữa còn có bệnh quỷ thần. Bệnh quỷ thần và bệnh nhân quả này phải dùng Phật pháp để chữa trị, để xử lý.

Bệnh bình thường bạn phải đi tìm bác sĩ, đi khám bác sĩ của bạn. Chúng tôi ở Mỹ đại bộ phận mà nói đều có bác sĩ gia đình, bạn đi khám bác sĩ gia đình trước, sau khi bác sĩ gia đình khám cho bạn xong, nhận thấy bệnh của bạn bác sĩ gia đình không thể chữa trị được thì sau đó sẽ phân loại, giới thiệu bạn đi gặp bác sĩ chuyên môn cao hơn. Bệnh thông thường, bạn đi khám bác sĩ của mình, sau đó lại đi khám bác sĩ chuyên khoa giỏi hơn được bác sĩ gia đình của bạn giới thiệu. Bệnh thông thường còn có thể chữa được, nhưng trong số những bệnh thông thường cũng có những bệnh hiểm nghèo, bệnh hiểm nghèo thì cũng hết cách!

Còn như bệnh nhân quả, rất nhiều đều là bệnh hiểm nghèo. Với bệnh quỷ thần, bệnh nhân quả, chúng ta đều dùng Phật pháp để xử lý. Vì sao lại có bệnh nhân quả và bệnh quỷ thần? Nguyên nhân bệnh, nguồn gốc bắt đầu nằm ở bản thân con người, bệnh của họ đều đến từ chính bản thân người đó mà ra.

Nói chung, người bình thường sẽ có ba thứ độc, ba thứ độc này là tham, sân, si. Vì thế chúng ta nói, một người tu hành, bạn sẽ tương đối không bị bệnh tật làm rầy rà. Thế khi bạn không là người tu hành, bạn là người bình thường, thì bạn sẽ dễ mắc các bệnh nhân quả và bệnh quỷ thần, bởi vì liên quan đến tham, sân, si của bạn sẽ sản sinh ra đủ loại quấy nhiễu của quỷ thần, và sự tồn tại của nhân quả mà sản sinh ra những bệnh tật này.

Chính bạn phải làm thế nào để trị tham sân si này? Tham sân si là cái thứ gì?

Tham — chính là tham niệm của chính bản thân bạn, suy nghĩ rất tham lam, thể hiện ra ở hành vi.
Sân — là không cách nào kiểm soát được tâm trạng của chính mình.
Si — là vô minh, là vô tri.

Trọng điểm đều nằm trên chữ tham. Giả sử một người có thể tâm như nước lặng, không có tham niệm, tu dưỡng lâu dài thân tâm chính mình, có thể điều dưỡng rất tốt tứ đại của mình, tâm bình khí hòa, đối với sự tình gì cũng đều giữ đạo trung hòa và không tham, như vậy là bạn đã hiểu được đạo dưỡng sinh rồi. Người hiểu được đạo dưỡng sinh, người đó sẽ tương đối ít bệnh, ít phiền não. Bệnh tương đối ít, phiền não cũng tương đối ít, tất cả đều rất thanh tịnh, điềm đạm và bình thản sống cuộc đời của chính mình. 

Bởi vậy, hành giả của chúng ta hôm nay đều tu hành thanh tịnh tức là phải sống cuộc đời của bạn một cách thanh tịnh, không ưu phiền, không bệnh tật, phải điều dưỡng thân tâm của bạn. Khi điều hòa được tâm rồi, thân thể của chính bạn cũng sẽ tốt thôi. 

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

24/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 143. Nói về bệnh lý (2)


Hôm nay chúng ta cùng nói tiếp về về bệnh lý. 

Rất nhiều người hỏi: “Tham sân si làm sao lại mắc bệnh chứ?” Đương nhiên sẽ mắc bệnh rồi! Mọi người dùng não mà nghĩ thử một chút xem, tôi nói một việc rất đơn giản thôi. Tham sắc, đạo lý rất đơn giản, buông thả quá độ, bạn sẽ biến thành gấu trúc, đôi mắt thâm đen. Chức năng thận của bạn sẽ không tốt, bởi vì bạn đã tham hoa đẹp tới mức quá nhiều rồi.

Trước kia, tôi từng đọc một cuốn sách, tham sắc rồi thì cái gì cũng không kiềm chế được, nếu bạn quá tham, mắt sẽ chảy nước mắt, mũi cũng chảy nước mũi không dừng được, chỗ nào cũng sẽ chảy nước, bạn sẽ không nhịn được. Đến lúc đó thì thân thể của bạn chỗ này bệnh, chỗ kia bệnh, hông nhức, lưng đau, mọi bệnh đều kéo đến. 

Bạn tham tiền, tham tiền sẽ phát điên! Tâm quá tham lam thì trong lòng bạn cũng không bình tịnh, cũng sẽ bị cao huyết áp, cũng sẽ có bệnh. Ngoài ra, bạn tham danh, quá lao lực thì cũng sẽ mất ngủ. Quá trọng sự nghiệp, quá tham danh, quá tham lợi, quá tham bất kì cái gì, đều sẽ sinh ra bệnh mất ngủ. Quá tham ăn, bây giờ bạn biết rồi, cholesterol quá cao, đường huyết quá cao, tim sẽ không khỏe, cơ tim tắc nghẽn, trúng phong, những bệnh này đều sẽ đến. 

Nói chung, bản thân cái tham sẽ dẫn đến rất nhiều bệnh, sân cũng như thế, si tức là vô minh, vô tri, thứ không nên ăn bạn đều ăn. Đây chính là một loại bệnh. 

Phương pháp để chúng ta đối trị tham, sân, si chính là giới, định, huệ trong Phật pháp. Chúng ta biết rằng giới, định, huệ chính là để dừng tham, sân, si.

Giới — tức là giữ năm giới, làm mười thiện.
Định — tức là phải nhất tâm bất loạn, dừng lại vọng niệm của bạn, đừng có ngông cuồng với những suy nghĩ vọng tưởng hão huyền, nhất tâm bất loạn chính là định.
Huệ — chính là đối với mọi đạo lý, bạn phải nhìn ra một cách cực kì rõ ràng, đối với với mọi lý lẽ, bạn phải quan sát vô cùng rõ ràng minh bạch, bạn biết dùng phương pháp để đối trị, đây chính là trí huệ.

Giữ năm giới, làm mười thiện thì sẽ không tham lam. Bạn có thể định thì bạn sẽ không sân hận. Bạn có trí huệ thì sẽ không ngu si, sẽ không vô minh, sẽ không vô tri. Vì thế, giới định huệ của Phật pháp rất tốt để đối trị tham sân si.

Trong Phật pháp cũng nói, giới định huệ, bạn muốn làm được vừa đủ tốt thì cũng không đơn giản. Bạn giữ giới thái quá thì sẽ biến thành chấp vào giới, bị giới giữ chặt, sẽ không còn là giữ giới mà là bị “giới giữ”. Điều này nói thế nào nhỉ? Tức là khi bạn giữ giới mà quá cố chấp, cuộc sống sẽ biến thành hà khắc, quá máy móc, thông thái rởm, không hiểu sự linh hoạt, thì sẽ biến thành bị giới giữ. 

Cho nên bản thân giữ giới mà nói cũng có cái gọi là khai giải, khai giải nói rằng, mặc dù có giới này, nhưng trong một trường hợp nào đó, bạn có thể thay đổi linh hoạt một chút, đây gọi là khai giải. Vì thế, người giữ giới chúng ta không thể biến thành kiểu người thông thái rởm, cố chấp không thông, không biết linh hoạt. 

Người ta kể một câu chuyện cười, “thân trần truồng ngồi trên ghế dài”, ý nghĩa là gì? Đoán một câu thành ngữ, chính là “cứng nhắc máy móc”, nghĩa là con người bạn quá thông thái rởm, cứng nhắc máy móc không biết linh hoạt. Tuy rằng bạn giữ giới, nhưng giữ giới theo kiểu như vậy cũng không tốt. Giữ giới mà thành ra như vậy thì cũng không được.

Vì thế, người giữ giới chúng ta, tuy phải giữ năm giới làm mười thiện, nhưng tuyệt đối không được cứng nhắc máy móc! Phải linh hoạt ứng dụng, bằng không giữ giới cũng sẽ biến thành bệnh đó! Gọi là giới bệnh.

Được rồi, bảo bạn định, bạn định một cái là định đến Không cảnh, bạn cho rằng, ôi chao, tất cả đều không, thế là rơi vào ngoan không [ngoan cố chấp vào cái không]. Thế rồi sau khi rơi vào ngoan không, có khả năng sẽ sinh ra tình hình thế nào? Vì tất cả đều không rồi, thế thì tôi không cần làm gì cả, sự nghiệp cũng không làm, cái gì cũng không làm, tắm cũng không tắm, sẽ biến thành *hippie *[người theo văn hóa phản kháng, có lối sống và văn hóa trái ngược với xã hội, lập dị nổi loạn], sau cùng sẽ biến thành vô lại, cái này gọi là thiền bệnh! Bệnh sinh ra sau khi thiền định này chính là thiền bệnh, ngồi thiền cũng sẽ sinh ra bệnh. Bởi vì sau khi định vào ngoan không thì đột nhiên tư tưởng bạn thay đổi rồi, sẽ biến thành lười nhác, buông thả. Cho nên, thế nào là đạo trung quán của định, đi con đường trung đạo của nó cũng rất quan trọng.

Vì thế, thiền định cũng sẽ sinh ra bệnh. Chúng ta biết rằng đây gọi là thiền bệnh. Sau khi rơi vào thiền bệnh thì cũng rất thảm. Đôi khi ngồi thiền cũng sẽ sinh ra bệnh quỷ thần. Bởi vì bạn sinh ra vọng niệm, bạn cũng sẽ đi đến bàng môn, khi có những vọng niệm khác, có những bám chấp khác, cũng sẽ sinh ra bệnh.

Vừa nãy nói đến huệ — trí huệ. Trí huệ cũng sẽ sinh ra bệnh, bệnh này gọi là gì? Gọi là “trí cuồng”. Bởi vì sau khi bạn quan sát lý sự vô cùng rõ ràng, bạn cảm thấy: mình là thiên hạ đệ nhất, không ai bì được với mình. Khi bạn có được rất nhiều trí huệ, bạn nhìn đời bằng nửa con mắt, trên thế giới chỉ có một mình bạn, người khác đều không phải là người. Cho rằng người khác đều không phải là người, bạn sẽ sinh ra tâm tự cao ngạo mạn, một khi tâm tự cao ngạo mạn sinh ra thì sẽ biến thành trí cuồng. Điên cuồng, khinh người, ngạo mạn, tất cả đều xuất hiện. Thiên hạ đệ nhất cao thủ, có ai có thể thắng được người đó chứ? Họ hiểu về “quỳ hoa bảo điển”, “hấp tinh đại pháp” [tên các môn võ công thượng thừa trong tiểu thuyết Kim Dung]. Chà! Quá khủng! Thiên hạ đệ nhất cao thủ, mỗi người đều tranh bí kíp võ lâm đệ nhất thiên hạ, nếu lấy được thì chính là thiên hạ đệ nhất cao thủ, sẽ sinh ra tự cao ngạo mạn.

Với người biết rất nhiều trí huệ, có một việc rất quan trọng, đó sẽ là sinh ra một dạng điên, đây cũng là một loại bệnh. Vì thế, giới có bệnh, thiền định cũng có bệnh, bản thân hiểu biết quá nhiều cũng sẽ sinh ra một loại bệnh cuồng ngạo, đều là bệnh.

Vì thế người tu hành chúng ta hôm nay phải rất chú ý, trong Phật pháp có nói, Phật pháp giống như đánh đàn, quá căng thì sẽ đứt, quá lỏng thì sẽ không có âm thanh. Vì thế, tinh thần trung đạo chính là tinh thần chủ yếu nhất mà Phật Đà nói. 

Hôm nay giảng đến đây. Om mani padme hum. 

25/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 144. Khẩu quyết trọng yếu của thiền định - Vô sự, vô tâm (1)


Hôm nay chúng ta sẽ giảng về hai khẩu quyết quan trọng khi thiền định, chúng ta đều biết đây là vô sự và vô tâm.

Có một câu nói rằng: “No news is good news.” Không có tin gì tức là tin tốt. Thật ra cái này chính là vô sự.

Chúng ta học thiền định, giả sử bạn có chuyện vướng ở trong đầu, bạn sẽ không thể nào nhập định, vì thế ở đây có một khẩu quyết rất quan trọng — khi tâm cảnh của bạn vô cùng bình lặng, khi không có việc gì quấy nhiễu bạn thì dễ nhập định nhất. Vào lúc thư thái nhất (chính là rất thoải mái, rất nhẹ nhõm, rất bình thản) là lúc dễ nhập định nhất. Ngược lại, khi bạn có rất nhiều việc đang quẫy nhiễu bạn, đó là lúc khó nhập thiền định nhất. 

Lần này, Pháp Vương Ganden Tripa - vị Pháp Vương cao nhất của Hoàng giáo, đến Seattle Lôi Tạng Tự, ngài tặng cho tôi một thứ, thứ này không phải là viên thuốc trường thọ, cũng không phải là viên đại bổ, ngài nói với tôi rằng thứ này chính là viên thuốc thiền định. Viên thuốc thiền định cũng có màu đen.

Ngài nói không được nhìn thấy ánh sáng, khi bạn uống viên thuốc này thì phải đóng chặt cửa sổ, cửa đi cũng phải đóng lại, đèn đóm gì, ánh sáng gì cũng không được có. Ở trong bóng tối mở cái thuốc đó ra, sau đó nuốt viên thuốc thiền định đó xuống. Ngài nói, lúc đó thiền định sẽ rất tốt. Ngài nói, viên thuốc này của họ rất trân quý, viên thuốc thiền định rất quý giá, cho đến bây giờ tôi vẫn chưa uống!

Tôi nghĩ: vì sao lại có kiểu thuốc viên thiền định này chứ? Vì sao phải uống viên thuốc thiền định này chứ? Thật ra chỉ có một đạo lý, đó là khi bạn uống viên thuốc đó xong, vào lúc đó bạn sẽ chuyển toàn bộ những ưu tư, lo âu của thế tục thành không, tức là quên hết.

Bởi vậy Đạo gia có một câu nói rằng, khi bạn tu định, quan trọng nhất là phải tọa vong. Ngồi xuống, quên hết. Hai chữ tọa vong này rất có ý nghĩa ở trong đó. Thật ra tọa vong, quên hết rồi thì tức là vô sự.

Thiền định, bạn muốn tiến vào bên trong định cảnh, nhất định phải vô sự. Không có vô sự này thì bạn không nhập định được. Tôi tin rằng Pháp Vương Ganden Tripa, viên thuốc mà vị Rinpoche này tặng cho tôi, chắc chắn là sau khi uống vào, toàn bộ cả người đều trống rỗng. Ngài nói, cái này nhập định rất tốt, cái này rất quý giá! Cái này rất hiếm có! Đến bây giờ tôi vẫn chưa uống, chính là vì bản thân tôi về mặt định lực mà nói, tôi muốn nhập định thì rất dễ. Về mặt thu tâm, thu cái tâm về, quên hết tất cả mọi việc, bản thân tôi làm việc này rất dễ, cho nên không cần mượn loại thuốc kia để nhập vào thiền định. Tôi cất viên thuốc thiền định của ngài ấy rất cẩn thận, giữ lại làm kỷ niệm.

Khẩu quyết của thiền định nhất định phải vô sự vô tâm. Vô sự này trong tiếng Đài Loan là “không việc gì”. “Có việc gì đâu.” “Không có việc gì cả.” Vì thế, khi lão hòa thượng Quảng Khâm sắp viên tịch, ngài đã nói một câu: “Không đến không đi, có việc gì đâu.” Câu nói này bình thường nói lên rất bình thường, không có đến, không có đi, không có việc gì hết. Thật ra, câu nói này của ngài ấy là một câu nói chứng ngộ đó! Điều này cho thấy ngài ấy không hề đến thế giới Ta Bà này, cũng không hề rời khỏi thế giới Ta Bà, đây chính là lời nói đầy ắp cả vũ trụ. Không có đến, không có đi chính là Như Lai, “Không đến không đi, có việc gì đâu.” — Vô lai vô khứ vô sự.

Ngài ấy chứng ngộ nói ra lời này, “không đến không đi” là Như Lai, cũng biểu thị bản thân ngài ấy đầy ắp cả trong vũ trụ. Căn bản không có đến, cũng không có đi, vô sự. Vô sự — căn bản không có việc gì xảy ra cả! Vì thế, với ngài ấy mà nói, sinh tử đều phá bỏ rồi, chết cũng không phải là chết, sống cũng không phải là sống, không sống cũng không chết, đây là lời khai ngộ.

Khi bạn thiền định cũng có thể không đến không đi, không việc gì, vô sự, thì bạn thành Phật rồi. Sau này mọi người khi sắp viên tịch cũng có thể nói một câu: “Không đến không đi không việc gì.” Mọi người đều không có việc gì. Bạn có thể nói ra, hơn nữa còn có thể làm được trên thực tế thì bạn chính là Như Lai, chính là Phật.

Cho nên khi Phật độ chúng sinh, có đôi khi về mặt thánh đế mà nói thì không phải là độ chúng sinh, về mặt tục đế mà nói thì là đang độ chúng sinh. Thật sự đã đến được cảnh giới rất cao thì căn bản không có chúng sinh nào có thể độ. Bởi vì tất cả chúng sinh đều là do bản thân Như Lai hóa ra, hóa ra ở thế giới Ta Bà để làm cái gì? Ở tại thế giới Ta Bà để chơi. Chỉ là một cảnh tướng, vậy thì làm gì có chúng sinh có thể độ, chúng sinh trở về nơi ban đầu rồi thì mọi người đều là Như Lai mà, đều là Phật mà, chỉ là lúc này hiển hiện ra, nhận lấy ánh sáng chiếu trên thân thể một người thì sẽ hiển hiện ra.

Bây giờ vì sao tôi lại dễ nhập định như vậy? Tôi có một khẩu quyết: “Đều sẽ qua đi.” Mọi người ghi nhớ câu này rồi thì rất dễ nhập định. Giả sử trong lòng bạn có việc gì, bạn hãy nghĩ: “Đều sẽ qua đi.”

Giống như trước đây trong tông phái chúng ta phát sinh một sự việc rất lớn, vì sao Sư Tôn lại không phiền não? Bởi vì tôi nghĩ: “Đều sẽ qua đi.” Một năm sau cũng không còn nữa, năm năm sau cũng không còn nữa, mười năm thì sao? Vẫn còn lưu lại đến mười năm sao? Đều sẽ qua đi, đây chính là khẩu quyết trọng yếu của thiền định.

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

26/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 145. Khẩu quyết trọng yếu của thiền định - Vô sự, vô tâm (2)


Chúng ta lại nói về hai khẩu quyết trọng yếu của thiền định, chính là vô sự và vô tâm.

Bạn tu thiền định nhất định phải vô sự, cũng phải vô tâm. Và có thể nói rằng vô sự và vô tâm là tương thông. Tâm hoàn toàn giống như gương sáng, không vướng víu một chút sự tình, không một việc nào bận lòng thì là vô sự và vô tâm.

Ở trong cảnh giới không vương một sợi tơ, bởi vì bạn đã trống rỗng tất cả, thì hễ bạn định xuống, giữa thân thể của bạn và vũ trụ, có thể nói là trạng thái trời người hợp nhất. Bởi vì thân thể bạn chính là vũ trụ rồi, và vũ trụ cũng chính là thân thể của bạn. 

Chỉ có hai khẩu quyết rất quan trọng là vô sự và vô tâm mới có thể tiến vào bên trong thiền định sâu nhất, khai phá ý thức sâu nhất của chính bản thân bạn. 

Vì thế trong nghi quỹ của Mật giáo, khi học đến lúc phải nhập Tam ma địa, đều sẽ phải học vô sự vô tâm, sau đó mới nhập Tam ma địa. Nhưng mọi người biết rằng, muốn vô sự là rất khó. Bởi vì mỗi người đều có rất nhiều chuyện phiền não, khi bạn muốn nhập định, mọi việc sẽ nổi lên trên bề mặt, toàn bộ đều trồi lên trên bề mặt. Chỉ trong một suy nghĩ mà thay đổi trong nháy mắt, tất cả mọi việc đều nổi lên, khiến bạn lăn lộn trong suy nghĩ đủ kiểu phiền não giữa cõi đời này, căn bản là bạn chẳng thể nào nhập định được.

Vì thế, trong Mật giáo đầu tiên dạy bạn pháp Nhất duyên thiền định. Pháp Nhất duyên thiền định tức là yêu cầu bạn chuyên chú, hoàn toàn tập trung vào một thứ, khiến cho tâm bạn định vào một, đây chính là pháp Nhất duyên thiền định. Sau đó từ một hóa thành vô sự vô tâm. Một này chính là quán tưởng mà bình thường trong Mật giáo nói đến, đây là một phương pháp, một pháp môn thuận tiện.

Không có việc gì tức là vô sự. Mọi người cũng biết khẩu quyết của Sư Tôn rồi, khẩu quyết của tôi chính là: “Việc gì cũng đều qua đi.” Trước kia phiền não của tôi nhiều lắm, trước kia khi còn là học sinh, phiền não của tôi chính là thi cử - *test*. Mỗi lần thi cử, ôi, rất đau khổ, rất khổ sở. Làm học sinh đương nhiên rất tốt, học sinh không cần phải lo lắng cái gì cả, sợ nhất chính là thi cử. Sau khi học Phật rồi, rất nhiều sự việc tôi đều nhìn được thông suốt, nghĩ thoáng rồi. Bởi vì tôi biết mọi thứ đều sẽ qua đi, thời học sinh cho đến bây giờ đã cách tôi rất xa rồi. Đôi khi bây giờ nghĩ lại, nhận thấy phiền não khi đó căn bản là quá thừa, cũng không cần phải đi phiền não về những chuyện thi cử đó.

Thế còn tương lai cũng không cần phải phiền não, cảnh ngộ đã gặp phải hiện tại cũng sẽ qua đi thôi! Cho nên, khẩu quyết của tôi, nguyên nhân mà những điều này biến thành vô sự là: “Đều sẽ qua đi.”

Tông phái chúng ta - Chân Phật Tông, cũng có rất nhiều xung đột, phê phán, đôi khi là đến từ bên ngoài, những phê bình đến từ bên ngoài, xung đột đến từ bên trong, đều sẽ có. Bên trong cũng có thể xung kích bạn. Bản thân một số đệ tử mà nói, giống như thời đại Phật Thích Ca Mâu Ni, rất nhiều đệ tử lén lút chạy đến chỗ của đệ tử phản nghịch Đề Bà Đạt Đa. Tương tự, đệ tử của tông phái chúng ta cũng lăn qua lộn lại, nhưng vì sao tôi không phiền não, nguyên nhân tôi có thể nhập định là tôi nghĩ đến câu nói: “Đều sẽ qua đi.”

“Đều sẽ qua đi”, phiền não này sẽ không tồn tại mãi mãi, chỉ là hiện lên trên bề mặt cho bạn nhìn thấy, khiến trong lòng bạn ưu phiền. Thật ra nó sẽ rất nhanh, trong vòng nửa năm là không còn nữa rồi, hoặc là một năm là không còn nữa, năm năm còn không? Mười năm còn không? Chẳng tiếp tục lâu như vậy đâu, tất cả đều sẽ qua đi.

Vì thế, khi các bạn gặp phải rất nhiều phiền não, khi rất nhiều sự việc quấy rầy bạn, hãy nhớ một câu nói của Lư Sư Tôn: “Đều sẽ qua đi.” Cũng sẽ không tồn tại nữa. Cho nên mọi người thử nghĩ đi, tôi thì nghĩ như thế này, giống như bệnh trên thân thể bạn, thân thể có bệnh, tôi cũng nghĩ như vậy, cũng sẽ qua đi. Thậm chí bao gồm chính thân thể của bạn cũng sẽ qua đi, qua đi cái gì? “Không đến không đi, không có việc gì cả.”

Tôi thường nghĩ đến phiền não phải chuyển nhà, ôi chao, sách của tôi quá nhiều! Gay to! Chuyển thế nào đây? Cả một nhà sách! Chuyển nhà là một việc rất khổ sở, tôi nghĩ: “Ôi chao, phiền não quá! Không muốn chuyển nhà nữa. Bây giờ đồ đạc trong nhà nhiều như thế này, phải chuyển thế nào? Gọi ai đến chuyển đây, tự mình chuyển ư? Tự mình chuyển thì phải chuyển rất lâu. Mời các pháp sư đến giúp chuyển, thế thì bí mật của mình đều sẽ bị họ biết hết.” (Sư Tôn cười) Đúng không? Đôi khi có một số thứ chỉ có chính tôi chuyển thôi, không thể cái gì cũng để cho pháp sư chuyển được, đều chuyển về nhà hết cho tôi, tôi phải làm sao? Ôi! Trong lòng rất ưu phiền.

Đôi khi tôi nghĩ đến việc chuyển nhà, trong lòng rất phiền não. Nhưng bạn phải nghĩ thế này, cuối cùng tôi đã khai ngộ rồi. Chuyển nhà chân chính, lần chuyển nhà chân chính sau cùng, không có ai giúp bạn chuyển, chỉ có mình bạn chuyển thôi, hơn nữa cũng không cần chuyển thứ gì cả, đều không mang theo được. 

Mọi người nghĩ xem: “Lần chuyển nhà cuối cùng là một mình bạn tự chuyển, nhưng không có thứ gì để bạn chuyển cả, chỉ có bạn chuyển thôi.” Cho nên có cái gì đáng để bận tâm? Lần chuyển nhà cuối cùng là “*only you*” [chỉ bạn thôi], hơn nữa không cần chuyển. 

Tất cả sự việc trên đời, nói chung, bạn đều không đem đi được, bạn còn phiền não cái gì chứ? Vô sự vô tâm chính là ở đây đó! Bạn thật sự có thể vô sự vô tâm thì hễ ngồi thiền là cực kì đó! Tiến nhập bên trong ý thức rất sâu, khai mở Phật tính, Phật tính của bạn hiển lộ, bạn đã khai ngộ rồi.

Giống như bản thân Milarepa không xây chùa, chỉ là sống ở trong hang đá, ngài nói: “Tôi thiền định cũng có thể độ chúng sinh, thiền định cũng là đang độ chúng sinh.” Tôi lĩnh ngộ được câu nói này, bởi vì sau khi bạn thiền định, tinh thần của bạn đầy ắp cả vũ trụ như dòng chảy ánh sáng, đương nhiên bạn có thể độ chúng sinh rồi. Tất cả chúng sinh đều được ánh sáng của bạn chiếu tới, ánh sáng của bạn chiếu tới tức là bạn đang độ chúng sinh. Không nhất định phải xây chùa, không nhất định phải xây miếu, ở trong hang động thiền định cũng là độ chúng sinh. Chỉ cần bạn hiển hiện ánh sáng Phật tính của bạn, bạn tu chứng rồi tức là đang độ chúng sinh, trọng điểm vẫn nằm ở vô sự vô tâm. 

Om mani padme hum.

27/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 146. Trọng yếu của thực tu (1)


Hôm nay chúng ta giảng về hai chữ “thực tu”. Trong Mật giáo mà nói, Mật giáo rất coi trọng thực tu, ví dụ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, lời di chúc của ngài, khi ngài rời khỏi thế giới Ta Bà, ngài liền nói sáu chữ “kính sư, trọng pháp, thực tu”. 

Nói chung Mật giáo là phái thực tu, cũng có thể nói bản thân nó chú trọng vào sự hành trì trên thực tế, thực hành trên thực tế là thuộc về Mật giáo. Chúng ta biết rằng trong Phật pháp có nói lý thuyết, có lý pháp và sự pháp, cái gọi là lý pháp chính là nói về Phật lý — đạo lý của Phật; sự pháp chính là thực tu. 

Cái này phân biệt như thế nào? Thật ra chúng ta cũng có thể nói một ví dụ rất đơn giản, tôi nói với mọi người một chút, ví dụ các nhà dinh dưỡng của chúng ta, họ nghiên cứu mỗi một thứ, ví dụ trong nước gồm có thứ gì. Chúng ta biết nước là H₂O, hai cái H và một cái O. Đôi khi, chúng ta không nhất định phải biết trong nước có thứ gì, dù sao chúng ta khát nước thì uống nước thôi. Nói nước là H₂O tức là nói về lý, nói khát nước thì uống nước tức là thực tu.

Các nhà dinh dưỡng, họ có thể phối hợp thức ăn, họ nói cái này có bao nhiêu tinh bột, cái này có bao nhiêu protein, có bao nhiêu chất béo, có bao nhiêu năng lượng, có bao nhiêu đường, có bao nhiêu carbohydrate, đây là nói về lý. Thế còn thực tu thì sao? Ăn các thứ vào, thế là tất cả đều đi xuống. Căn bản là không biết bên trong có carbohydrate gì, protein gì, chất béo, năng lượng, đường, đều không biết.

Mật giáo căn bản nói về thực tu, đôi khi là trực tiếp xuyên thẳng vào, về mặt lý luận có rất nhiều người có thể nói, nhưng trên thực tế nếu không có thực tu thì không được. Nói cho đúng là, lý luận phải biết, và thực tu cũng phải biết, cả hai cùng tiến hành, như vậy là tốt nhất. 

Vì sao Mật giáo lại thiên về thực tu? Tôi biết gần đây giới Phật giáo có cái gọi là *test* - kỳ thi, Phật học hội khảo. Phật học hội khảo là thuộc về cái gì? Có phải là thực tu không? Không phải thực tu. Đó là lý luận. Sao lại nói vậy? Ví dụ, họ sẽ đưa ra một đề mục để hỏi bạn: Phật Thích Ca Mâu Ni sinh ngày mấy tháng mấy? Được! Chúng ta trả lời: Phật giáo Nam truyền thì ngày Vesak là 8/2, Phật giáo Bắc truyền thì đại bộ phận lấy ngày sinh là 8/4. Bởi vì ngày sinh không biết chắc, ngày sinh không biết đã trải qua bao lâu rồi, mọi người làm sinh nhật thì cứ làm một ngày 8/2 là Vesak, một ngày là 8/4. 

Lại hỏi tiếp: *Mother *của Phật Thích Ca Mâu Ni là ai? Mẹ của ngài là ai? Chúng ta liền trả lời: Phu nhân Maya. *Father *của ngài là ai? Là vua Tịnh Phạn. Dì của ngài là ai? Bạn phải trả lời dì của ngài là ai. Chính là người dì xuất gia sau cùng, là phu nhân Mahaprajapati. Đây đều là bài thi Phật học.

Bài thi Phật học sẽ hỏi bạn cái này, Phật Thích Ca Mâu Ni có mấy đệ tử, đại đệ tử của ngài là ai? Tên của mười đại đệ tử là gì? Phật Thích Ca Mâu Ni sinh ra ở đâu? Vườn Lâm Tỳ Ni. Lần chuyển pháp luân đầu tiên là ở đâu? Ở vườn Lộc Dã. Hỏi những câu như vậy. Xong rồi lại hỏi tiếp: Phật Thích Ca Mâu Ni lần đầu tiên chuyển pháp luân là chuyển cái gì? Là tứ Thánh đế. Lần chuyển pháp luân sau cùng là chuyển cái gì? Cũng là tứ Thánh đế. Bát nhã của ngài là bao hàm cái gì? Tứ Thánh đế, lục độ, bát chính đạo, thập nhị nhân duyên. Lý luận về bát nhã của ngài đều phải nói ra được hết.

Lý luận về phương diện này, tôi từng nói, giáo sư đại học, tiến sĩ Phật học đều biết, nhưng còn thiền định của họ, bây giờ bạn hỏi xem, ông thiền định khai mở duy thức đến cái thứ mấy rồi? Hả cái gì cơ? Thiền định khai phá duy thức đến cái thứ mấy à? Ông ấy không biết gì cả. Ông ấy chẳng thể nào trả lời, bởi vì phương diện này là thuộc về phương diện thực tu. Bản thân ông đã chứng nghiệm được cái gì, ông chứng nghiệm được lạc chưa? Ông chứng thực được tịnh quang chưa? Ông chứng nghiệm được Không chưa? Ông chứng nghiệm đến địa thứ mấy của Bồ Tát rồi? Phương diện này không còn là lý luận nữa. Phương diện này thuộc về bộ phận thực tu. Cho nên Phật pháp phân thành lý luận và thực tu. Bản thân Mật giáo mà nói là coi trọng thực tu.

Nhưng lý luận cũng phải hiểu, bạn phải biết đạo lý. Bạn phải có lý luận trước, sau khi bạn nói được lý luận rồi thì chính bạn phải đi thực tu. Giống như chúng ta mỗi ngày tu một đàn pháp. Mỗi một người xuất gia, buổi sáng họ cũng phải tu pháp, buổi trưa cũng phải tu pháp, buổi tối cũng phải tu pháp, trước khi đi ngủ cũng phải tu pháp. 

Trong “Mật Tông Đạo Thứ Đệ Quảng Luận” có nói, một ngày phải tu bốn đàn pháp, phải tu bốn tọa. Mọi người sẽ nói: “Ôi chao! Tu bốn tọa cơ à?” Thật ghê gớm, thật sự là… Tôi quy định như thế này: bạn là đệ tử Chân Phật Tông, mỗi ngày tối thiểu phải mỗi ngày một tu, bận thế nào cũng phải mỗi ngày một tu. Bạn tu một đàn pháp, tu Bổn tôn, như vậy là bạn đang làm bộ phận thực tu.

Không chỉ pháp Bổn tôn là bộ phận thực tu, Nội pháp cũng là bộ phận thực tu. Bốn quán đảnh của Mật giáo là: Ngoại pháp - Bổn tôn, Nội pháp - khí mạch minh điểm, Tam quán - Vô thượng mật, Tứ quán - Đại viên mãn. Bốn loại quán đảnh này, từng tầng từng tầng, đều là chiếu theo thực tu. Nhưng bạn cũng phải hiểu một số lý luận, thế nào là Tứ gia hành? Thế nào là Thượng sư tương ứng? Thế nào là Bổn tôn? Và cả lý luận về khí mạch minh điểm, bạn đều phải biết hết. Làm sao để chuyển ngũ luân? Làm sao để khai phát ngũ luân? Làm sao khiến tịnh quang xuất hiện? Làm sao để dung nhập? Làm sao để vận hành khí mạch minh điểm của bạn, đến sau cùng biến thành đại viên mãn? Cái này đều cần sự phối hợp giữa lý luận và thực tu. 

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

29/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 147. Trọng yếu của thực tu (2)


Hôm nay chúng ta cũng nói về thực tu. 

Cá nhân tôi là người thực tu. Đương nhiên về phương diện Phật lý, bản thân tôi cũng rất chăm chỉ đi tìm tòi nghiên cứu. Nhưng tôi thuộc về phái thực nghiệm. Tôi từng nói rồi, phái lý luận là ở trong lớp học, thầy giáo giảng, học sinh ghi chép, đây là lý luận. Nhưng sự pháp — bộ phận thực tu là phòng thực nghiệm. Sau khi bạn biết lý luận rồi, bạn phải đi thực nghiệm. Bản thân tôi đã hiểu lý luận rồi, tôi cũng phải đi thực nghiệm. Cho nên tôi thật sự là đã tự mình đi qua con đường này.

Giống như tu pháp Bổn tôn, tôi đích thực là mỗi ngày đều tu, tức là tôi y theo nghi quỹ của pháp Bổn tôn để mà tu pháp lần này tới lần khác, không phải chỉ nói miệng không. Không phải nói rằng, tôi dạy mọi người tu hành, còn bản thân lại không tu, như vậy thì không đúng. Tôi dạy mọi người tu hành, còn bản thân trên thực tế cũng phải nỗ lực thực hiện, bản thân phải làm trên thực tế, đây chính là thực tu.

Thế tôi tu khí mạch minh điểm thì sao? Mọi người cũng tu khí mạch minh điểm giống như tôi. Tôi cũng dạy mọi người tu Bảo bình khí ra sao, tôi biết khẩu quyết của Bảo bình khí là nâng lên ép xuống, nâng khí lên tạo thành cái nắp ở bên dưới bình, ở trên ép khí hít vào xuống dưới, lại tạo thành một cái nắp nữa. Hai cái nắp hợp lại thế là thành một cái bảo bình. 

Trên thực tế tôi cũng làm, tôi cũng thực tu Bảo bình khí, sau khi khí của bạn đủ rồi, bạn tu chuyết hỏa, tôi cũng thực tu chuyết hỏa. Thực tu chuyết hỏa, thắp lửa lên, phải quán tưởng minh điểm, phải quán tưởng Không, phải quán tưởng nhiệt, phải quán tưởng ánh sáng, chuyết hỏa đó sinh ra như thế nào, vận chuyển như thế nào đều phải thực hiện trên thực tế, không phải là biết lý luận là xong.

Bạn tu được chuyết hỏa rồi, khí cũng tu được rồi, bạn phải hiểu cách thông mạch, hiểu cách mở năm luân xa, khí và hỏa của bạn khi vận hành trong trung mạch, bạn sản sinh ra một cảm giác vui sướng, cảm giác vui sướng này, cái đại lạc này không phải là thứ mà phàm phu thế tục có thể biết được. Cho nên nói chung, sau khi bạn tu thành công rồi, bạn đã chứng minh được Dục giới thiên này là như thế nào.

Sau đó nhờ thông mạch mà sản sinh tịnh quang, khai phá năm luân xa, sau khi sản sinh tịnh quang, bạn sẽ có thể nhìn thấy minh điểm, bạn có thể nhìn thấy được minh điểm của tịnh quang, sẽ sản sinh ra. Đây cũng không phải là tùy miệng nói khơi khơi. 

Với người bình thường thì: “Chà! Lần này tôi đi tham gia pháp hội, pháp hỷ tràn đầy, tôi đã có được pháp vị rồi.” Nhưng khi tâm trạng bạn không tốt, khi đi tham gia pháp hội, không có pháp hỷ, ngay cả pháp vị cũng không có, đây chỉ là một loại cảm giác hư huyễn. Nhưng người thực tu Mật giáo, cảm nhận về cái lạc chân chính, cái pháp vị đó, bạn sẽ có một sự trải nghiệm đích thực, một sự lĩnh hội thật sự, tuyệt đối không phải hư giả, không phải hư huyễn.

Nói một cách đơn giản, trong Nội pháp có pháp chuyết hỏa, có pháp vô lậu, có pháp minh điểm. Nói về pháp minh điểm là được rồi, pháp minh điểm vận hành như thế nào? Cơ sở của pháp minh điểm là vô lậu, vô lậu cũng không phải là tùy miệng mà nói khơi khơi, bạn phải có được sự thể nghiệm của chính mình, phải đi thực hiện đi chứng minh, cái này không thể nào nói dối. Bạn nói: “Tôi đã chứng minh vô lậu rồi.” Đây chỉ là nói mồm, nói ngoài miệng, nhưng trên thực tế là bạn ngày ngày đều lậu, đây chính là vọng ngữ. Cái này ở trong ngũ giới là bạn đã phạm vào giới vọng ngữ. Bạn nói tôi đã tu chứng vô lậu rồi, được, đã nói ra câu này rồi. Nhưng trên thực tế thì sao? Không phải như vậy, thế thì đã phạm vào ngũ giới rồi.

Hôm nay bạn là người tu chứng vô lậu, bạn phải đưa ra được sự thật để chứng minh. Đây là kết tinh, là thành quả do bạn thực tu mà có được. Bạn phải có được bằng chứng, có được chứng nghiệm. Bởi vậy phải thực tu mới có chứng nghiệm, giả sử bạn chỉ dựa vào lý luận thì không có tác dụng gì.

Chúng ta tu pháp vô lậu chuyển thành pháp minh điểm, bạn tu pháp vô lậu như thế nào? Đó là một khẩu quyết rất bí mật. Rất bí mật đó, trước kia sư phụ truyền xuống khẩu quyết, sau khi bạn có được rồi, bạn mới có thể ứng dụng pháp nâng trong thân thể mình. Có quán tưởng, có chú ngữ, có các loại kim cang quyền để phối hợp. Cái này nhất định phải đi chứng nghiệm trên thực tế, chứ không phải là lý luận Phật học mà thôi!

Nghiên cứu lý luận Phật học, những người có được học vị tiến sĩ thông thường gần như đều có bệnh, bởi vì Đại Tạng Kinh quá nhiều, họ đọc xong thì cũng hoa cả mắt. Sau đó thì sao? Ít nhất là họ cũng đã đọc rồi, nghiên cứu xong thì đã mắc chứng khí hư rồi, khí đã rất hư, thân thể đã vô cùng hư nhược rồi. Ôi… những người như vậy, phần lớn đều đã bị kiểu như vậy rồi. Bạn bảo họ thực tu. Ôi! Đời này tôi chẳng có cách nào thực tu được, đời này tôi nghiên cứu Phật lý thôi, ôi… là như thế này. Họ nghiên cứu Phật lý là như vậy đó.

Đòi hỏi bạn phải đi chứng minh Phật lý trên thực tế đó! Cho nên Mật giáo là giáo phái thực hiện Phật lý, không phải là chỉ ở đó mà nghiên cứu. Chao! Họ viết văn chương rất hay, Phật lý đúng là rất kĩ càng tỉ mỉ, nhưng thân thể thì yếu sắp chết rồi. Thật đó, lại còn viêm phổi, còn viêm gan, còn viêm dạ dày, còn viêm ruột, rồi viêm thận, rồi viêm não, bệnh viêm gì cũng có. Phật lý của họ rất tinh xảo, không hề sai, nhưng chỉ là trên lý luận, còn khí mạch minh điểm thực tế của bạn, thân thể của bạn không tu cho tốt, bạn có thể chứng minh tinh thần của bạn và vũ trụ là trời người hợp nhất không, khí trên thân thể bạn có cách nào dung hợp với pháp lưu ánh sáng vũ trụ không? Bạn có thể là kim cương bất hoại không?

Mật giáo là nói về kim cương bất hoại, khí nhất định phải đủ, mạch nhất định phải thông, minh điểm nhất định phải vận chuyển, phải nhìn thấy minh điểm tịnh quang của chính mình, dung nhập vào trong đại quang minh trong vũ trụ, cái này nhất định phải thực tu. Vì thế, phái Chân Phật Tông chúng ta là tông phái thực tu. Chân Phật Mật Pháp là Mật pháp thực tu, không phải là chỉ nói mỗi Phật lý. 

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

29/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 148. Nói về điều tâm


Hôm nay chúng ta nói một chút về điều tâm. 

Nhìn chung mà nói, mỗi một hành giả chúng ta, trong quá trình tu hành đều phải thanh tịnh tâm của chính mình. Hơn nữa, muốn để cho tâm mình vô cùng cân bằng, có nghĩa là tâm bạn vô cùng tĩnh, thì đây chính là công phu điều tâm. Bạn muốn nhập Tam ma địa thì cũng phải điều tâm của bạn. 

Khi chúng ta muốn nhập định, nhất định phải điều chỉnh hơi thở của mình. Khi bạn ngồi thiền nhất định phải rất an tịnh, sau đó bạn hít thở phải vô cùng cân bằng, tức là thời gian một hít vào và một thở ra phải bằng nhau. Không phải là hít vào thì dài mà thở ra thì lại ngắn hoặc là thở ra thì dài mà hít vào thì ngắn, đều không phải. Nghĩa là khi hít thở đã cực kì đều đặn rồi, tâm bạn sẽ có thể vô cùng cân bằng. Vì thế, chúng ta thường hay nói, tâm và hơi thở ở cùng nhau, việc hít thở và tâm bạn là thường xuyên ở cùng nhau. Vì thế, chúng ta điều hòa hơi thở chính là đang điều hòa tâm của chúng ta, là như nhau.

Điều tâm nói đến ở đây là như vậy. Một người muốn có thể thật sự điều tâm là rất khó. Bởi vì mỗi người đều có phiền não nhỏ, đau khổ lớn, đau khổ nhỏ, phiền não lớn, khi nào bạn mới có thể thật sự điều hòa được cái tâm này đến mức độ vô cùng đều đặn đây? Bây giờ tôi hỏi mọi người: “Khi nào bạn có thể thật sự điều hòa tâm mình đến mức vô cùng bình tịnh không nổi sóng, giống như trạng thái mặt nước hồ hoàn toàn không có gió thổi qua, giống như gương sáng không gợn sóng, đến khi nào đây?”

Nói thật là rất khó. Bởi vì những hình sắc mà bạn tiếp xúc mỗi ngày đều là phiền não nhỏ đau khổ lớn. Có một câu mà tôi thường nói, phải đi nhìn núi nhìn sông, bạn có đau khổ gì, có phiền não gì, hãy đi vào trong núi sâu, nói cho núi nghe. Đó là một kiểu công phu điều tâm, nói cho núi nghe, nói cho sông nước nghe, bởi vì bạn gửi tình vào trong núi sông, tâm linh của bạn sẽ có thể điều hòa, có thể chữa lành những vết thương của bạn.

Cho nên tôi hy vọng mỗi hành giả phải đi nhìn núi nhìn sông nhiều hơn, phải đi sâu vào đại tự nhiên, hòa mình với tự nhiên. Bạn từ từ đi thể hội tâm của tự nhiên, bạn có thể điều hòa tâm chính mình, điều hòa tâm mình đến mức rất bình, rất mềm, rất tĩnh. 

Xã hội hiện đại hình hình sắc sắc, thị thị phi phi, phiền phiền não não, ưu ưu sầu sầu liên tục không dừng, bạn thật sự muốn tìm được một phút tĩnh tâm như nước cũng rất khó. Người ta nói bừa một câu là bạn đã đau lòng ghê gớm rồi, bạn đã đau lòng tới mấy ngày rồi, không phải là một ngày là có thể lắng xuống được. Người ta nói bừa một câu là bạn đã đau lòng mất mấy ngày, đến khi tâm bạn từ từ bình phục rồi thì lại có một câu nói khác, phát sinh một số sự việc, tâm trạng bạn lúc cao lúc thấp, ngày ngày buồn bực.

Thật ra tâm của con người, có một câu nói rất hay: “Tâm con người giống như sóng thủy triều.” Những con sóng trên biển căn bản là không có lúc nào dừng lại, mỗi ngày đều ầm ào, một cơn sóng qua đi lại nổi lên một cơn sóng khác, không dừng lại, vĩnh viễn không dừng dứt. Vì thế, hôm nay chúng ta tu hành là đang điều tâm, điều hòa cái tâm của chính mình. Bạn thể hội được đại tự nhiên, tan vào đại tự nhiên, bạn điều chỉnh tâm chính mình, rất quan trọng. Cho nên có lúc người tu hành chúng ta, cư sĩ tại gia, đột ngột bị thất tình, oa, thảm rồi, sẽ trở nên vô cùng trầm cảm. Oa, thất tình rồi, muốn bù đắp tâm linh của họ là không dễ dàng.

Trong quân đội chúng tôi thường lưu truyền một câu nói: “Chân trời cỏ thơm đâu chẳng có, hà tất lưu luyến một nhành hoa.” Đây là một dạng chuyển biến về tâm linh, câu nói này cũng có một tác dụng điều tâm. Điều hòa tâm mình được rồi, sau đó bạn thay đổi tâm mình, có thể chuyển hướng tâm mình sang mặt tốt. 

Ngày nay hành giả chúng ta cũng phải như vậy, bất kì sự việc gì ngăn trở hãy coi như một sự khảo nghiệm, là đang *test* bạn, đang kiểm tra bạn. Bất kì một phiền não nào đều xem như không có việc gì. Bất kì một tin vịt phỉ báng nào cộng với những sự hãm hại lên bản thân bạn, đều dùng vô tâm để hóa giải nó, thế là bạn có thể tự tại sống giữa trời đất, vĩnh viễn có thể an tâm. Giả sử bạn không như vậy, thế thì bạn chính là ngày ngày tâm trạng lúc cao lúc thấp, lúc trồi lúc sụt, vĩnh viễn chẳng có cách nào, giống như sóng biển vậy. Như vậy thì bạn chính là một phàm phu.

Điều tâm mà Phật Đà nói, tâm chúng ta không được quá căng, không được tính toán chi li bất kì sự việc nào, như thế là quá căng. Nhưng cũng không được quá lỏng, cái gì cũng chẳng sao cả, như thế thì quá buông thả rồi. Cho nên khi quá lỏng bạn phải điều chỉnh căng lên một chút, khi quá căng phải điều chỉnh cho lỏng ra một chút. Đây là điều Phật Thích Ca Mâu Ni nói, giữa căng và lỏng bạn phải điều hòa cho vừa khéo, đó chính là điều tâm.

Có thể sống một cách vô cùng đẹp đẽ, giữ được tâm linh hết sức bình hòa, đây là tâm thái của một hành giả. Bạn tính toán mọi thứ thì sẽ là quá căng, nhưng phàm chuyện gì cũng không hề gì thì là quá lỏng. Phải điều chỉnh giữa hai cái này sao cho vừa khéo, dùng tâm pháp không hề gì để đi làm những việc tu hành của bạn, đây chính là công phu điều tâm.

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum. 

30/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 149. Nói về từ bi hỷ xả - Tứ vô lượng tâm


Hôm nay chúng ta nói về vô lượng tâm. Tứ vô lượng tâm được nói đến trong Chân Phật Mật Pháp, trong mỗi nghi quỹ Mật pháp của chúng ta có nhắc đến, mỗi hành giả phải phát tứ vô lượng tâm. Tứ vô lượng tâm chính là từ bi hỷ xả.

Từ — tức là cho người khác sự vui vẻ.
Bi — tức là giải trừ đau khổ của người khác.
Hỷ — hoan hỷ vui vẻ tận lực đi làm.
Xả — có thể đem thời gian của mình, sinh mạng của mình, tiền bạc của mình, tất cả đều có thể thí xả toàn bộ.

Đây là tứ vô lượng tâm, chính là bốn tâm vô lượng của Bồ Tát — từ bi hỷ xả.

Mỗi hành giả chúng ta nếu muốn bồi dưỡng tứ vô lượng tâm, nghĩa là biến thân mình thành quảng đại vô lượng, tâm tiểu ngã là tâm tính toán so đo. Tâm đắc tu hành của bản thân tôi, tôi nói như thế này, giả sử mỗi người vì một cái tôi thì khắp nơi đều có phiền não, giả như bạn không vì cái tôi thì trong lòng của bạn sẽ không có đau khổ. Bạn vì chúng sinh thiên hạ, nếu bạn có thể hoàn toàn thí xả thì bạn sẽ không có phiền não. 

Người người có phiền não là do người người vì cái tôi nên mới có phiền não. Nếu người người vì người khác, Nếu người người vì người khác thì lấy đâu ra phiền não. Chỉ cần người khác tốt, còn chính mình thì không hề gì, thế thì bạn sẽ không có đau khổ, sẽ không có phiền não. Cho nên người tu hành chúng ta là bồi dưỡng tâm vô lượng, tâm quảng đại vô lượng, cho nên phải từ bi hỷ xả.

Chúng ta biết điều Phật Đà nói, quá căng tức là nói rằng nếu bạn lúc nào cũng tính toán so đo việc rất nhỏ, như thế là quá căng. Nếu nghe được một câu nói bạn đã khởi phiền não rồi tức là quá căng. Cho nên Phật Đà dạy bạn lỏng ra một chút, thư giãn ra, không có việc gì cả, cứ để nó qua đi, tức là thả lỏng. Thế nhưng quá lỏng thì phải điều chỉnh căng lên một chút, giống như tu hành Chân Phật Mật Pháp của chúng ta hôm nay, giả sử có đệ tử tu hành là, thức dậy tu một đàn, ăn sáng lại tu một đàn, giữa bữa sáng và bữa trưa lại tu một đàn, bữa trưa lại cũng tu một đàn, sau đó ở giữa lại tu lại tu, tức là từ sáng đến tối đều tu hành, như thế thì quá căng rồi. Một ngày từ sáng đến tối đều tu một cách rất căng trong Mật pháp thì đôi khi cũng sẽ sinh bệnh đó.

Bạn biết đấy, có người làm công khóa, lần nào cũng phải giành được vị trí số một, anh ta rất chăm chỉ làm công khóa, nhưng nếu có một lần giành được vị trí số hai thì sẽ suy sụp ngay, tinh thần sẽ thất thường. Đây là nguyên nhân gì? Là quá căng. Vì thế, bạn làm sao để điều hòa chính mình, điều hòa cho tốt thước đo cuộc sống của chính mình, điều này là vô cùng quan trọng. Bạn không chỉ cần làm tốt công khóa mà bạn còn phải hiểu cách thả lỏng. Bởi vậy nói thật lòng, khi bạn đi học thì phải chuyên tâm nhất chí đi học, khi chơi thì cũng phải thả lỏng hết mình mà chơi. Sau đó khi học hành, bạn lại thu tâm về. Khi đi ra ngoài chơi, tâm lại thoải mái ra để đi chơi, để cho nó chạy băng băng trên thảo nguyên rộng lớn, đừng căng thẳng. Đây chính là một tác dụng điều tâm. Bạn phải điều chỉnh tâm mình trở nên quảng đại vô lượng, tâm từ bi hỷ xả thì sẽ không có phiền não.

Có một số người tu hành nghe đến tu hành Mật giáo thì, chà, cực kì tốt, thế là từ buổi sáng cho đến buổi trưa, cho đến buổi tối, đến đêm khuya, thậm chí không ngủ không nghỉ để tu hành, như thế cũng sẽ sinh bệnh, đây là quá căng, cho nên sẽ sinh bệnh. Thế còn lỏng thì sao? Bạn lại nói: Ái chà, Sư Tôn bảo chúng ta đừng quá căng, vậy thì dứt khoát là tốt, chúng ta ăn ba bữa, còn ngủ giấc buổi trưa, rồi nghỉ ngơi sớm, buổi sáng ngủ dậy muộn, buổi tối lại đi ngủ sớm, sau đó lại ăn vặt, rồi đọc báo, còn có thời gian đi cafe, lại uống cafe, lại ăn bánh. Khi vẽ phù lại còn ăn bánh quy, lúc này lại còn có thời gian để vận động, buổi sáng cũng phải vận động, Sư Tôn của chúng ta nói mỗi ngày phải vận động, tối thiểu phải nửa tiếng đồng hồ, buổi sáng phải vận động nửa tiếng, buổi trưa phải vận động nửa tiếng, buổi tối cũng vận động nửa tiếng. Ối, bạn nói xem, có tu một đàn pháp nào đâu, không hề có! Như thế là quá lỏng rồi. Bởi vậy, bạn phân phối thời gian như thế nào là rất quan trọng. 

Bồi dưỡng tâm vô lượng cũng rất quan trọng, vì chúng sinh, không vì chính mình, thế thì sẽ biến thành đại ngã. Tâm đại ngã — là vì chúng sinh, không vì chính mình; tâm tiểu ngã — là vì chính mình, chúng sinh kệ họ! Mặc kệ người khác, người khác cho dù thế nào thì cũng mặc kệ hết, chỉ cần chính mình tốt là được, đó là tâm tiểu ngã. Bạn bồi dưỡng chính mình thành tâm đại ngã, bạn và ý thức vũ trụ có thể dung hợp, bởi vì bản thân ý thức vũ trụ mà nói chính là tâm đại ngã.

Giống như Nhật Quang Biến Chiếu Bồ Tát, Nguyệt Quang Biến Chiếu Bồ Tát, giống như Đại Nhật Như Lai trong hư không, cái gọi là biến chiếu của các vị tức là không chỗ nào không chiếu đến, ý nghĩa này nói rằng: Đối với tất cả chúng sinh đều nhất loạt bình đẳng cứu tế. Cái này thuộc về tâm đại ngã.

Chúng ta muốn dung nhập vào trong ý thức vũ trụ, nhất định phải học tâm đại ngã. Bạn muốn độ chúng sinh cũng phải học tâm đại ngã. Bạn muốn chính mình không có phiền não cũng cần tâm đại ngã. Bạn muốn vô vi mà làm thì cũng phải có tâm đại ngã. Điều này vô cùng quan trọng. Vì thế tứ vô lượng tâm chính là tâm đại ngã. Bốn loại tâm vô lượng từ bi hỷ xả, toàn bộ đều là tâm đại ngã.

Học Phật, bạn có tâm đại ngã rồi mới có thể tự độ mình và cũng có thể đi độ người khác, không có tâm đại ngã thì không phải là tu hành.

Hôm nay giảng đến đây. Om mani padme hum.

30/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 150. Đối trị (1)


Hôm nay chúng ta nói về đối trị. Trước kia từng có một người phụ nữ đến Seattle Lôi Tạng Tự tham gia đồng tu với chúng ta ở Mật Uyển. Sau khi xem vài lần, bà ấy nói: “8 giờ tối thứ bảy hàng tuần mọi người đồng tu, ở trong Mật Uyển vào lúc 4 giờ hàng ngày cũng đồng tu, trong khi đồng tu, mọi người niệm chú ngữ, kết thủ ấn, làm xong cái này lẽ nào có thể thành Phật sao?” Bà ấy đã có một thắc mắc là lẽ nào đồng tu xong thì bạn rất dễ thành Phật sao?

Thật ra muốn thành Phật không hề dễ, nhưng trong tu pháp Chân Phật Mật Pháp của chúng ta, trên thực tế là đang làm một công phu đối trị. Bản thân việc thành Phật mà nói không dễ dàng, nhưng bạn theo cách này mà tu thì tối thiểu nó sẽ sinh ra một sự đối trị. Điều nói đến ở đây chính là đối trị. 

Nói chung, phần lớn mọi người đều sẽ có thắc mắc. “Anh ngồi đó thiền định thì có thể thành Phật sao?” “Anh niệm niệm Phật là có thể thành Phật sao?” “Anh trì chú là có thể thành Phật sao?” “Anh kết thủ ấn là có thể thành Phật sao?” “Anh tiêu tốn nhiều thời gian vào việc tu pháp, như vậy có thể thành Phật sao?”

Đương nhiên thành Phật không dễ, nhưng trên thực tế là bạn đang làm công phu đối trị, từng bước từng bước đi trên con đường đạo để thành Phật. 

Chúng ta nói trong Chân Phật Mật Pháp có cái gọi là triệu thỉnh, triệu thỉnh tức là chúng ta kết một thủ ấn để triệu mời Phật đến. Kết ấn cái móc để triệu thỉnh, có hàm ý bên trong, cái gọi là triệu thỉnh chính là đang đối trị khoảng cách quá xa giữa bạn và Phật. Ý nghĩa của triệu thỉnh là hy vọng Phật có thể đến gần bạn, bạn có thể đến gần Phật, thậm chí hợp nhất với Phật, triệu thỉnh này là đối trị việc bạn và Phật không thân thiết, cho nên mới phải làm triệu thỉnh. Giả sử bạn ngày ngày đều ở cùng Phật, hợp nhất với Phật, thế thì căn bản là không cần triệu thỉnh, điều này rất đơn giản. Hôm nay chúng ta tu pháp chính là vì bạn và Phật không thân cận, cho nên mới phải dùng cách triệu thỉnh, đây là một cách đối trị. Từ đây chúng ta có thể biết tu pháp là đang mang dụng ý gì, nghĩa là hy vọng bạn và Phật hợp nhất nên mới làm triệu thỉnh.

Trong việc học Phật có một câu nói: “Học Phật một năm Phật ở trước mặt, học Phật ba năm Phật ở chân trời, học Phật mười năm Phật không thấy nữa.” Vì sao lại như vậy? Bởi vì ban đầu bạn sẽ cảm thấy học Phật rất dễ, cho nên ngày ngày có cảm ứng, rất dễ có cảm ứng. Nhưng trên thực tế, bạn thâm nhập kinh tạng rồi thì sẽ phát hiện ra không hề có chuyện dễ dàng như thế, Phật lý ở trong đó vô cùng tỉ mỉ, đạo lý cực kì sâu, học đến cuối cùng, sau 10 năm bạn học sẽ nhận ra, chà, thì ra Phật pháp sâu xa như vậy, ngược lại, bạn cảm thấy mình cách xa Phật, sẽ không còn thấy Phật nữa.

Người bình thường mới phát tâm thì rất nhiệt tình, khi mới bắt đầu, mới phát tâm thì rất tốt, sau đó chưa tới vài năm sau, bạn sẽ dần dần “mất hút”, đầu hổ đuôi chuột, cái đầu con hổ rất to, đuôi chuột thì rất nhỏ, tức là mất hút luôn. Có thể duy trì được tâm lâu dài đúng là rất ít người. Trong khi tu pháp chúng ta thường làm triệu thỉnh, hy vọng Phật và bạn rất gần nhau. Tứ tự minh “Cha Hum Ban Ho”, Cha — là Phật xuất hiện, Hum — là Phật di chuyển đến trước mặt bạn, Ban — là Phật trụ trên đầu, Ho — là Phật đi vào bên trong bạn, hợp nhất với bạn rồi, tứ tự minh chú này chính là như vậy. Triệu thỉnh là để đối trị bạn và Phật không thân cận.

Vì sao chúng ta phải có đàn thành? Tu hành vì sao phải có đàn thành? Đàn thành vô cùng trang nghiêm, đàn thành vô cùng thanh tịnh, tức là để sau khi bạn nhìn thấy đàn thành, bạn cảm thấy bản thân bạn không thanh tịnh, đàn thành là để đối trị sự không thanh tịnh của bạn. Bạn nhìn thấy đàn thành thì sinh tâm hoan hỷ, tức là để đối trị sự không thanh tịnh của bản thân bạn. Đàn thành rất trang nghiêm, đôi khi bạn nhìn thấy sự trang nghiêm của đàn thành, cảm thấy bản thân mình cần phải trang nghiêm giống như Phật Bồ Tát. Đây là để đối trị chính bạn, cũng là một sự đối trị.

Chúng ta thường phải quán Không, trong tu pháp có yêu cầu bạn quán Không, trước khi bạn muốn nhập Tam ma địa cũng phải quán Không. Vì sao phải quán Không? Bởi vì bản thân bạn chưa Không mà! Quán Không tức là bạn đã hoàn toàn hóa tâm mình thành vô tâm, tiêu trừ hết tất cả vọng niệm, buông bỏ hết tất cả phiền não, đây mới gọi là quán Không đó! Đạo lý của quán Không là như vậy. Bởi vì trong khi tu pháp mà bạn có phiền não, có rất nhiều việc linh tinh, có rất nhiều vọng niệm ở trong lòng, như thế mà tu thì không tốt, không thể nhập Tam ma địa được. Cho nên trong tu pháp trước khi nhập Tam ma địa, bạn phải quán Không trước, nghĩa là để đối trị cái sự chưa Không của bản thân bạn. Bạn có quá nhiều thứ, bên trong thân bạn có quá nhiều thứ quá phức tạp, không hoàn toàn thanh tịnh. Cho nên quán Không là muốn bạn hoàn toàn biến thành trạng thái Không thì bạn mới có thể dẫn Phật Bồ Tát vào trong tâm của bạn. Bên trong thân thể bạn quá bẩn, trong nhà kho của bạn có quá nhiều mạng nhện, bẩn muốn chết, Phật Bồ Tát có muốn đi vào trong thân thể bạn không? Bạn là người bẩn mà! Bên trong thân thể bạn có mạng nhện mà còn muốn mời Phật Bồ Tát đi vào bên trong thân thể bạn. Vì thế, ý nghĩa của quán Không là chuẩn bị vị trí để Phật Bồ Tát có thể đi vào, gọi là quán Không, để đối trị sự chưa Không.

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

31/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 151. Đối trị (2)


Chúng ta lại nói một chút về đối trị. Trong Chân Phật Mật Pháp có rất nhiều nghi quỹ, mỗi nghi quỹ đều là đối trị, nghĩa là giúp bạn điều chỉnh tâm của chính mình, điều chỉnh khẩu của chính mình, điều chỉnh ý niệm của chính mình, đều là đang làm công phu này. Vì thế đừng nói: “Trong khi đồng tu, kết thủ ấn này, niệm chú này, rồi quán tưởng này, thế là bạn có thể thành Phật rồi!” Nhanh như thế ư? Lấy đâu ra mà nhanh như vậy? Trên thực tế không hề nhanh, nhưng trên thực tế là bạn đang điều chỉnh, điều chỉnh khẩu của bạn, điều chỉnh ý niệm của bạn, điều chỉnh thân thể của bạn, đều là đang điều chỉnh.

Giống như giới định huệ, giới định huệ là để đối trị tham sân si. Chúng ta từng nói giới định huệ là đối trị tham sân si, hôm nay trong đồng tu của chúng ta cũng là đang đối trị, trong đồng tu của chúng ta có một nghi quỹ, gọi là tam quang bao trùm, thỉnh cầu Bổn tôn hiển hiện trong hư không, sau đó ngài phóng một đường ánh sáng trắng chiếu đến thiên tâm của bạn, một đường ánh sáng đỏ chiếu đến họng của bạn, một đường ánh sáng lam chiếu đến tim của bạn, ba ánh sáng bao trùm. Vì sao cần có ba ánh sáng bao trùm? Đây là biểu thị thân khẩu ý của bạn không thanh tịnh, không thanh tịnh nên mới cần ba ánh sáng gia trì.

Thỉnh cầu Phật Bồ Tát xuất hiện, ba đường ánh sáng chiếu đến bạn, bạn phải quán tưởng ba đường ánh sáng chiếu đến bạn, vì sao phải chiếu đến bạn? Bởi vì trong đầu bạn toàn là nòng nọc, cho nên ngài phải dùng ánh sáng màu trắng để cho ý niệm của bạn, những suy nghĩ của bạn biến thành ánh sáng màu trắng. Bởi vì miệng của bạn toàn những lời nói dối, thường xuyên khoác lác, cho nên ánh sáng đỏ chiếu đến họng bạn là để thanh tịnh những lời nói dối này của bạn. Nói dối, nói khoác, nói lời tục tĩu, nói hai lưỡi, ác khẩu, chửi tam tự kinh. Không phải là tam tự kinh “Nhân chi sơ, tính bản thiện”, là tam tự kinh kiểu kia cơ [ý nói chửi thề]. Ánh sáng đỏ này chiếu đến bạn, khiến cho khẩu của bạn thanh tịnh. Ánh sáng lam chiếu đến tim bạn, chính là khiến cho thân thể bạn, toàn thân tay chân, bao gồm cả thân thể, toàn thân đều thanh tịnh, thân thể thanh tịnh. Chúng ta cầu nguyện ba ánh sáng bao trùm chính là vì thân thể bạn vốn bất tịnh, khẩu bất tịnh, ý niệm bất tịnh, nên mới cầu ba ánh sáng gia trì, đây là đối trị đó! Đều là đang đối trị sự không thanh tịnh của thân thể bạn, thân khẩu ý không thanh tịnh. Chính là một sự đối trị đó!

Khi chúng ta tu pháp, tu đến đây mọi người đều tùy miệng nói: Bây giờ bắt đầu nhé, tam quang gia trì! Nào thì tam quang gia trì, ánh sáng trắng, ánh sáng đỏ, ánh sáng lam, chẳng có cảm giác gì cả. Đây là đối trị thân thể bạn không có ánh sáng đó! Thân thể bạn căn bản không có ánh sáng, thân thể bạn không thanh tịnh, làm gì có ánh sáng chứ? Cho nên cầu Phật Bồ Tát phóng ba ánh sáng gia trì cho bạn, đây đều có ý nghĩa cả, có công phu đối trị, không phải là tùy tiện.

Còn nữa, chúng ta phải quán tưởng chủng tử tự, có không? Khi Bổn tôn của bạn còn chưa xuất hiện, chúng ta phải quán tưởng chủng tử chữ Seh, chủng tử tự của A Di Đà Phật xuất hiện. Chữ Ah - phải quán tưởng chữ Ah này, đều phải quán tưởng chủng tử tự để làm gì? Chủng tử này chính là một cái nhân, chúng ta nói đây là nhân, chữ nhân trong nhân quả. Chúng ta quán tưởng chủng tử tự biểu thị cái nguyên thủy nhất, bạn học cái ý thức nguyên thủy nhất của Phật ở trong đó, bạn muốn học Phật thì trước tiên phải quán tưởng chủng tử tự, đây gọi là nhân địa chân thực - nhân địa rất thật. Ý nghĩa của quán tưởng chủng tử tự này là đối trị nhân địa của bạn không thật, chính từ trong ý thức chân thực nhất đối trị sự không chân thực của chính bản thân bạn.

Giống như lúc nhỏ Sư Tôn đi nhà thờ, nhà thờ của đạo Cơ Đốc, việc đi nhà thờ của tôi là nhân địa không thật, vì sao lại là nhân địa không thật? Bởi vì tôi đi nhà thờ Cơ Đốc không hề vì thật sự tin Chúa Jesus, mà là vì bạn gái tôi ở đó. Đi tới đó thì sẽ gần bạn gái hơn một chút, dễ nói chuyện, nhìn thấy thôi cũng tốt rồi, giống như là nói thêm vài câu để liên kết tình cảm. Đây chính là nhân địa không thật.

Hôm nay bạn học Phật bạn đi đến chùa của chúng tôi, bạn nhìn ngó quan sát, nhìn để tìm bạn, tìm đối tượng, người Đại Lục nói là “tăm tia đối tượng”. Bạn đến để tăm tia đối tượng, không phải là thật sự đến để tu pháp. Bạn không phải thật sự đến để thực tu, đến để học Phật, như vậy tức là nhân địa không thật. Xuất phát điểm của bạn không đúng.

Bởi vậy Mật giáo bảo bạn quán tưởng chủng tử tự, quán tưởng chữ Seh chủng tử tự của A Di Đà Phật. Quán tưởng chủng tử tự chung của chư Phật Bồ Tát - chữ Ah, ý nghĩa là ở đây, chính là muốn bạn nhân địa phải chân thực, bạn thật sự đến để học Phật. Không thể nói làm một pháp sư mà tu pháp thì qua loa đại khái, hỏi vì sao xuất gia, lại bảo: “Bởi vì tôi thất nghiệp rồi. Tôi không nghề nghiệp, cho nên tôi xuất gia.” Ôi, đùa à? Bạn như thế là nhân địa không thật. Muốn học Phật cho nên mới xuất gia, nhân địa như thế là thật. Giả sử vì bạn chẳng còn đường nào, cho nên mới xuất gia cho xong, dù sao cũng có cơm ăn, có chốn ngủ, có nơi để ngồi xổm, đây tức là nhân địa không thật. Vì thế phải yêu cầu bạn quán tưởng chủng tử tự, thâm nhập bên trong ý thức của Phật, đều có ý nghĩa.

Chúng ta tu pháp có làm hồi hướng, hồi hướng là đối trị cái gì? Hồi hướng có thể nói là đối trị tâm lỏng lẻo của bạn, sự tán loạn của bạn, hồi hướng là một sự tổng kết việc bạn tu pháp là làm cái gì. Chính là một sự tổng kết, một sự hướng về. Hôm nay trong khi tu pháp, giả sử bạn tùy tiện qua loa, nhưng khi bạn nói đến hồi hướng, bạn cũng sẽ cảnh tỉnh chính mình. Ôi chà, vừa rồi mình tu pháp tán loạn quá, bây giờ hồi hướng thì cảm thấy rất hổ thẹn, bởi vì bạn tu pháp là muốn vãng sinh Tây phương Cực Lạc thế giới, bạn muốn thành Phật cơ, nhưng bạn dùng cái tâm tán loạn như vậy để tu, chẳng phải là quá hời hợt sao? Cho nên hồi hướng tương đương một sự tổng kết, là đối trị sự tán loạn của chính bạn.

Giống như chúng ta làm tứ quy y, phải niệm “Namo guru bei, namo buddha ye, namo dharma ye, namo sangha ye.” là để đối trị tâm bạn không nằm ở Kim cương Thượng sư, không nằm ở Phật pháp tăng, đây đều là một sự đối trị. Vì thế nghi quỹ tu pháp hoàn toàn là bỏ công sức để làm việc đối trị, lâu ngày thành thục thì có thể thành Phật.

Om mani padme hum.

31/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 152. Thể tướng dụng (1)


Hôm nay tôi giới thiệu với mọi người ba chữ “thể tướng dụng”. Người nghiên cứu Phật pháp thông thường biết dùng ba chữ thể, tướng, dụng. Giả sử nếu coi Phật pháp thành triết học để nghiên cứu thì ba chữ này cũng rất quan trọng, đây là một phương pháp nghiên cứu về phương diện triết học.
Thể — có thể nói là bản thể.
Tướng — chính là tượng trưng bên ngoài.
Dụng — chính là tác dụng.

Lấy một ví dụ để nói, giống như cái chuông trong chùa, chuông dùng đồng để làm cái thể của nó, nó được đúc bằng đồng, nhưng cái tướng bên ngoài của nó giống một cái chuông, một cái chuông rất to, tác dụng của nó là cái gì? Gõ vào nó thì sẽ “boong”, nó sẽ kêu, có thể phát ra âm thanh “boong” chính là tác dụng của nó.

Người nghiên cứu Phật pháp thường xuyên dùng ba chữ này để phân tích Phật pháp. Chúng ta đánh trống cũng thế, bản thân trống là: thể là da, tướng của nó là cái trống, có hình tròn tròn, gõ lên thì “tùng, tùng, tùng”… đây chính là tác dụng của nó. 

Có rất nhiều ví dụ về thể tướng dụng, rất nhiều thứ đều có thể dùng để làm ví dụ. Giống như xây nhà, rất nhiều ngôi nhà ở Mỹ đều làm bằng gỗ, nhà ở Đài Loan đa phần đều làm bằng xi-măng. Xi-măng dùng để xây nhà, thể của nó chính là đất, tướng bên ngoài giống như cát, tác dụng của xi-măng là ở đâu? Nó sẽ đông cứng lại, đây chính là tác dụng của nó.

Cho nên chúng ta nghiên cứu một thứ, bạn đưa thể tướng dụng vào để phân tích thì sẽ rất dễ hiểu. Ví dụ cái bàn này, thể của nó chúng ta nhìn một cái là biết nó là gỗ, tướng của nó là một cái bàn, tác dụng của nó thì mọi người đều biết, có thể ngồi viết trên bàn, còn có ngăn kéo để dùng, đây chính là tác dụng của nó.

Tôi giới thiệu đơn giản về thể tướng dụng, mọi người đã tương đối hiểu được thế nào là thể, thế nào là tướng, thế nào là dụng rồi.

Thật ra ba chữ này dùng trong Phật pháp rất hữu ích. Chúng ta thường nói Phật có ba thân - Pháp thân, Báo thân, Ứng thân. Pháp thân chính là thể, Báo thân chính là tướng, Ứng thân chính là dụng. Bây giờ mọi người đã hiểu rồi, Pháp thân là nguyên tố của Phật, Như Lai, Chân Như. Khi ngài muốn hiển hiện thành một vị Phật, ví dụ A Di Đà Phật của Tây phương Cực Lạc thế giới thì đó chính là Báo thân, ngài hiển hiện ra hình tượng của A Di Đà Phật, vậy thì đây chính là Báo thân Phật. A Di Đà Phật lại chuyển thế đến nhân gian, đây chính là tác dụng, tức là ngài bắt đầu thuyết pháp, đây chính là Ứng thân Phật.

Pháp thân Phật, Báo thân Phật, Ứng thân Phật nói theo cách này thì rất dễ hiểu rõ ràng. Vì thế, tôi thường nói, Đại Nhật Như Lai ở thiên thượng giới chính là Pháp thân Phật, ngài hóa thành Liên Hoa Đồng Tử chính là Báo thân Phật, thế rồi Liên Hoa Đồng Tử hạ sinh thành Lư Thắng Ngạn chính là Ứng thân Phật, hiện tại ở thế giới Ta Bà đang sản sinh ra một tác dụng, tác dụng của ngài đã xuất hiện rồi, đây chính là Ứng thân Phật.

Chúng ta lại lấy một ví dụ, cái thể của đèn huỳnh quang là gì? Điện chính là thể của nó, không có điện thì tất cả đều miễn bàn, đèn điện thì nhất định phải có điện, không có điện thì bóng đèn điện đó chẳng có tác dụng gì, cho nên điện chính là thể của nó. Bây giờ đèn huỳnh quang này ở đây, cái này chính là tướng của nó, ánh sáng phát ra chính là tác dụng của nó, đây là thể tướng dụng.

Bởi vậy chúng ta làm Hộ Ma, cần nói về thể tướng dụng của Hộ Ma nằm ở đâu? Thể chính là Bổn tôn, bạn phải thỉnh mời Bổn tôn đến, bạn làm Hộ Ma tức là cúng dường Bổn tôn. Lò Hộ Ma, cúng phẩm của Hộ Ma chính là tướng, sau khi bạn làm xong một đàn Hộ Ma, tác dụng tiêu tai, tăng ích, kính ái, hàng phục sinh ra sau khi hỏa cúng chính là dụng.

Dùng thể tướng dụng của triết học để phân tích Phật pháp đều có tồn tại đạo lý của nó. Chúng ta triệu thỉnh Bổn tôn đến, Bổn tôn là thể, ngài là cái thể vô hình. Bạn ở đây đốt Hộ Ma, đây chính là tướng. Tác dụng tiêu tai, tăng ích, kính ái, hàng phục sản sinh ra chính là dụng của nó.

Bạn nghiên cứu mỗi kinh điển Phật nói, bạn phải dùng ba chữ này để nghiên cứu, cái gì là thể của bản kinh này, cái gì là tướng của bản kinh này, tác dụng của bản kinh này là gì. Cho nên nghiên cứu Phật pháp thì chắc chắn dùng đến thể tướng dụng.

Bây giờ mọi người đã có một chút khái niệm về nghiên cứu rồi, thế nào là bản thể, thế nào là ngoại tướng, thế nào là tác dụng. Bạn dùng phương pháp này để đi nghiên cứu Phật pháp, nó vô cùng hữu dụng.

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

01/11/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 153. Thể tướng dụng (2)


Hôm nay tiếp tục giới thiệu về thể tướng dụng. Bạn biết ứng dụng của thể tướng dụng rồi thì bạn có thể sẽ biết Phật Bồ Tát là gì. Đôi khi có người hỏi: "Phật là gì?” Thiền tông chỉ nói “Phật chính là Phật”. “Pháp là gì?” “Pháp chính là pháp.” Chẳng hề giải thích, chỉ lặp lại một câu, là để nhấn mạnh thêm, cũng là rất hay.

Trên thực tế, bạn muốn giải thích chữ Phật này cũng vô cùng khó. Đôi khi bạn nói Bồ Tát là gì, trong chốc lát không thể nghĩ được gì. Thật ra có thể nói như thế này, bồ đề tâm là thể của ngài, bản thân Bồ Tát có bồ đề tâm, người phát bồ đề tâm chính là Bồ Tát. Vậy tướng của Bồ Tát là gì? Người có bồ đề tâm hiển hiện ra chính là Bồ Tát, cho nên đừng nghĩ Bồ Tát nhất định phải thành như thế nào đó.

Ví dụ trong kinh điển nói Thanh Văn đều là đầu trọc, Bồ Tát đều có tóc, có búi tóc, đội mũ, tướng mạo rất trang nghiêm, hai tai hai mắt rất hiền từ, cái mũi, cái miệng đều rất đẹp, ngũ quan rất thanh tú, đó chính là Bồ Tát. Không phải như vậy đâu, chỉ cần là người phát bồ đề tâm thì đều là Bồ Tát hết, có thể nói người đã thọ Bồ Tát giới thì đều là Bồ Tát hết, cái này chính là tướng của Bồ Tát.

Tác dụng của ngài là gì? Từ bi hỷ xả cứu độ chúng sinh, dùng lục độ vạn hành để đi cứu độ chúng sinh, đây chính là tác dụng. Vì thế, chúng ta nghiên cứu danh từ của Phật học cũng có thể dùng thể tướng dụng.

Mọi người thử nghĩ xem, tam tự minh chú Om Ah Hum, ba chữ này trong Mật giáo rất quan trọng. Om — vũ trụ, Ah — Phật, Hùm — thành tựu, đây chính là thể tướng dụng. Om chính là bản thể, bản thể của vũ trụ, Ah chính là Phật Bồ Tát xuất hiện, Hum chính là thành tựu tất cả. Thể tướng dụng đều có ở đây. Om — bản thể, Ah — tướng, Hum — tác dụng, thành tựu tất cả chính là tác dụng. Vì thế, dùng thể tướng dụng để giải thích đều rất rõ ràng.

Bây giờ tôi dạy mọi người một pháp thanh tịnh, chúng ta dùng chữ Hum màu xanh lam đứng thẳng ở trong hoa sen Tâm luân. Hum một tiếng, lỗ mũi bên phải có một chữ Hum đi ra, ở trước mặt bạn. Hum hum hum…, từ chữ Hum mẹ này sinh ra một vài chữ Hum con, rồi biến thành một đống chữ Hum bao bọc lấy bạn, bao vây toàn bộ ngôi nhà, đầy ắp cả ba nghìn đại thiên thế giới, toàn bộ đều là chữ Hum màu lam.

Lúc này, bạn phải niệm chú Hum hum hum… liên tục niệm thành tiếng, chữ Hum đó từ lỗ mũi của bạn giống như một tấm màn chú, nghĩa là chữ nọ móc vào chữ kia, đầy ắp cả đại thiên thế giới, trở thành một chữ Hum lớn màu lam. Lúc này bạn có thể quán tưởng toàn bộ vũ trụ đều bị chữ Hum này lấp đầy.

Sau đó bạn dùng lỗ mũi trái để hít những chữ Hum này vào, hít vào chữ Hum màu lam, Hum hum hum…, đi vào thân thể bạn, bao gồm cả ngón tay, ngón chân, cả những nơi vi tế nhất, toàn bộ đều đầy ắp chữ Hum màu lam. Sau cùng bản thân biến thành một chữ Hum lớn màu lam. 

Trì chú và quán tưởng như vậy, đây là một pháp thanh tịnh rất vi diệu. Nói cách khác là lúc này toàn bộ thân tâm bạn đã hoàn toàn thanh tịnh, bản thân biến thành chữ Hum, toàn bộ vũ trụ biến thành Hum, một trạng thái Hum và Hum hợp nhất.

Chữ Hum này có tác dụng lớn, nó có thể thanh trừ tất cả nghiệp chướng. Bạn chỉ mỗi niệm chữ Hum này cũng chính là một chú ngữ, một chú ngữ rất vĩ đại. Bạn biết không? Hai mươi cõi trời trong các cõi trời, chú ngữ của họ chính là một chữ Hum này mà thôi, chính là chữ Hum này, đây gọi là pháp thanh tịnh vi diệu nhất. Chỉ tu mỗi chữ này, nếu bạn tu thành rồi thì cực kì đó, tu thành rồi tức là hợp nhất rồi, Phật Bồ Tát đều có thể hợp nhất với bạn.

Pháp của Mật giáo rất vi diệu, chỉ tu mỗi chữ Hum này đã có tác dụng cực kì rồi, tác dụng mà nó sản sinh ra đã có thể tiêu trừ rất nhiều nghiệp chướng, tất cả nghiệp chướng đều tiêu trừ hết. Bản thân bạn hóa thành chữ Hum màu lam thanh tịnh. Chữ Hum màu lam của vũ trụ và bạn hoàn toàn hợp nhất. Pháp này cũng có thể trị bệnh, cũng có thể tiêu nghiệp chướng, tăng gia phúc phần, cũng có thể thành Phật, đến lúc đó bạn “Hum” một cái, toàn bộ vũ trụ vỡ vụn, bạn thành Phật rồi — Hum!

Đây chính là Nhất tự thanh tịnh pháp.

Om mani padme hum.

01/11/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 154. Cảm nhận của thiền định (1)


Hôm nay sẽ nói với mọi người về cảm nhận của thiền định. Cảm nhận của thiền định không nhất định là mỗi người đều giống nhau, đây là kinh nghiệm của chính tôi. Tôi đã có một quãng thời gian rất dài rất dài tu hành thiền định rồi, ở đây bản thân tôi có một vài cảm nhận.

Thiền định trong Mật giáo mà nói cũng chính là thành tựu Tam ma địa. Chúng ta tu định đại bộ phận đều bắt đầu tu từ thiền định, bởi vì cho đến thời điểm này vẫn chưa có phương pháp nào tốt hơn ngồi thiền. Vì thế, ba đại thành tựu của Mật giáo là thành tựu trì chú, thành tựu Hộ Ma, thành tựu thiền định, cũng chỉ có từ trong thiền định mới có thể thâm nhập thân tâm của bạn, đi khai phá ý thức của bạn, tiến vào trong cảnh giới sâu nhất. Đây là khai phá tự ngã, tương đương với khai phá vũ trụ.

Đừng coi thường thân thể nhỏ bé của chúng ta, thật ra bên trong có bí ẩn vô cùng sâu xa. Không chỉ là thân thể mà thôi, gồm cả tâm của bạn, ý thức sâu nhất của bạn, đều có thể khai phá ra từ trong định.

Cảm nhận của thiền định không nhất định mỗi người đều giống nhau. Một cảm nhận sớm nhất của tôi chính là nhận ra toàn bộ người mình đông cứng lại. Trước kia tôi có làm một so sánh, giống như chúng ta xây nhà. Nền móng phải trải xi-măng trước, cát, xi-măng kết hợp lại với nhau sau đó trải xong thì nó sẽ từ từ đông cứng lại.

Cảm giác đầu tiên của tôi chính là, ồ, sao trong hư không lại có một khối khí rất đặc biệt - *special air *từ trong hư không đi xuống, sau đó đi vào trong đầu tôi, lúc này toàn bộ đầu tôi đông cứng lại, khí đó từ từ đi vào sau đó liền đông cứng lại. Sau đó đến họng, rồi đến nửa thân trên đều đông cứng lại. Đến nửa thân dưới cũng đông cứng lại, ngay cả tay chân cũng đều đông cứng lại, toàn thân bất động. Cảm giác đó giống như chính mình đã biến thành tảng đá rất kiên cố rồi, chính mình đã biến thành kiểu tảng đá mà búa đập cũng không vỡ rồi. Đó là cảm giác đầu tiên của tôi, tuy vậy thời gian của cảm giác này cũng tương đối dài.

Cảm giác của lần đầu tiên là vị trí thiên tâm và đầu đông cứng lại mà thôi, sau đó tôi hỏi sư phụ thế này thì phải làm sao. Ngài nói: “Con phải di chuyển khối khí đông cứng này xuống phía dưới, di chuyển đến Hầu luân, đến Tâm luân, đến Tề luân, đến Hải để luân, lúc này toàn thân sẽ hoàn toàn đông cứng.”

Sư phụ còn dạy tôi quán tưởng chính mình thành núi Tu Di, nghĩa là một ngọn núi cao lớn nhất, trong Phật điển thường nói núi Tu Di chính là một ngọn núi cao chạm tới trời, lúc này quán tưởng chính mình thành một ngọn núi. Chà! Đúng là bất động như sơn.

Ngồi tư thế Tỳ Lô thất chi tọa rất vững chắc, chính mình biến thành giống như ngọn núi, vững chắc bất động như núi. Cảm nhận này đến như thế nào? Có thể nói như thế này, tôi có một so sánh, khi bạn thả lỏng chính mình, bạn khiến thân tâm mình hoàn toàn trống rỗng, rất nhanh chóng, khối khí của dòng chảy pháp của vũ trụ sẽ “ào” một cái, đi vào bên trong thân thể bạn. Thân tâm bạn đều đầy ắp dòng chảy pháp của vũ trụ, sự kiên cố đó là tột bậc!

Bởi vậy tôi từng nói, trước kia khi tôi ngồi thiền, quán tưởng chính mình trống rỗng, sau đó đột nhiên dòng chảy pháp của vũ trụ sẽ đi vào, toàn bộ thân thể đầy ắp khí. Lúc này lại quán tưởng chính mình trở thành núi Tu Di cao lớn như vậy. Trong cảm ứng của tôi có hai con ma đi đến bên cạnh ngọn núi, chúng nói: “Ơ! Sao ở đây đột nhiên lại xuất hiện một ngọn núi lớn nhỉ? Trước kia chúng ta đi qua đâu có nhìn thấy.” Kết quả là chúng phải đi vòng qua ngọn núi này mất vài năm mới có thể đi qua được ngọn núi.

Đây cũng là một cảm nhận rất vi diệu. Bạn xem, hai con ma đó khi gặp phải ngọn núi là bạn thì cũng chẳng có cách nào, chúng chỉ có cách đi vòng quanh núi, kết quả là phải đi thời gian rất lâu rất lâu mới có thể đi qua được, cảnh giới tu hành này đích thực là bất khả tư nghì.

Đây là cảm nhận đầu tiên của tôi, cho nên đôi khi đối với người tinh thần không ổn định lắm, tôi thường nói với họ thế này: Hãy quán tưởng chính mình là một ngọn núi lớn, sau đó niệm chú gia trì cho nó biến thành một ngọn núi lớn, lúc này vạn linh không thể xâm nhập, vạn tà không thể xâm nhập. Bất kì một tà ma, tà linh, yêu ma quỷ quái nào cũng đều không dám bắt nạt bạn, bởi vì bạn bất động như núi. Điểm này cũng vô cùng quan trọng.

Tôi thường dạy người ta, thường xuyên bị trộm khí hoặc bị linh bắt nạt, người bị tinh thần không ổn định, tôi đều bảo họ quán tưởng bản thân là một ngọn núi, sau đó niệm tâm chú kim cang: “Ôm mu-ti sô-ha.” Ngoài ra còn một câu nữa là: "Ôm u-luân-ni sô-ha.” Tôi bảo họ niệm chú này, sau đó dùng chú này để gia trì chính mình biến thành một ngọn núi Tu Di.

Cảm nhận đầu tiên khi thiền định của tôi có được là như thế, bản thân phải trống rỗng thì mới có thể có dòng chảy pháp của vũ trụ đi vào bên trong thân thể bạn, sau đó khí đầy ắp toàn thân, sau đó hóa khí này thành núi Tu Di trang nghiêm.

Hôm nay nói tới đây. Om mani padme hum.

04/11/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 155. Cảm nhận của thiền định (2)


Chúng ta lại nói về cảm nhận của thiền định. Mọi người nghe tôi nói cảm nhận đầu tiên của thiền định là đông cứng bất động như núi, cái này phải tu như thế nào? Làm sao để thân tâm của mình trống rỗng là một vấn đề. Trong Mật giáo, tôi từng dạy phải tu Kim cang tụng và Bảo bình khí, đây là một phương pháp dưỡng khí, dưỡng chính khí của trời đất.

Bảo bình khí và Kim cang tụng có thể cùng tu, chúng ta biết rằng trong Mật giáo có tam tự minh chú “Om Ah Hum”. Bảo bình khí chính là đưa khí hít vào giữ ở hạ đan điền, trên ép dưới nâng, biến thành một cái bảo bình, bế khí ở bên trong, nhịn thở đến khi thật sự không thể nhịn được nữa thì mới thở khí ra. 

Kim cang tụng là cái gì? Khi bạn hít khí vào, đầu tiên quán tưởng hít chữ Om màu trắng vào, đi vào hạ đan điền biến thành chữ Ah màu đỏ, sau đó hòa tan, biến khối khí này thành bảo bình đè lên hạ đan điền của bạn, sau một khoảng thời gian thì thở ra, biến thành chữ Hum màu lam. Đây chính là hợp tu Kim cang tụng và Bảo bình khí, cái này rất đơn giản.

Chữ Om màu trắng đi vào, biến thành chữ Ah màu đỏ ở hạ đan điền, sau đó lại thở ra biến thành chữ Hum màu lam đi ra, cứ tuần hoàn như vậy, đây chính là Bảo bình khí và Kim cang tụng. Sau đó bạn dùng phương pháp này để tu đi tu lại, tu Bảo bình khí một ngày đừng tu quá 21 lần, làm xong sau một khoảng thời gian, bạn hãy làm trống rỗng thân tâm mình.

Có một diệu pháp trong Mật giáo thường xuyên nhắc đến, bất kể là luyện Kim cang quyền hay tu Bảo bình khí, Kim cang tụng, đều có một câu nói là “tâm khế bản nhiên”, đưa tâm của bạn quy về tính Không nguyên thủy thì gọi là tâm khế bản nhiên, có nghĩa là thả lỏng thân tâm của bạn. Bạn không nghĩ gì cả, không làm gì cả, trong trạng thái hợp với tự nhiên này thì gọi là tâm khế bản nhiên.

Bạn luyện Kim cang quyền sau một khoảng thời gian cũng phải tâm khế bản nhiên, đây là một tác dụng điều hòa. Tôi nói với mọi người, khi tâm bạn khế hợp với bản nhiên, thân tâm thả lỏng, làm trống rỗng tất cả, vọng niệm không khởi, dưới trạng thái thân tâm đều không tồn tại, “ào” một tiếng, dòng chảy pháp vũ trụ lập tức đi vào bên trong thân thể bạn, hoàn toàn hợp nhất với bạn. Đây chính là trạng thái hợp nhất.

Vì thế, “đông cứng thành núi Tu Di” mà tôi nói xảy đến bằng cách nào? Bạn phải luyện khí, sau khi luyện xong khí, trong sát-na thân tâm trống rỗng, đột nhiên cảm nhận được trạng thái dòng chảy pháp của vũ trụ tiến vào thân thể bạn hoàn toàn hợp nhất với bạn. 

Người khác sẽ không nói điều này, rất nhiều pháp sư không trải nghiệm được điều này. Trước kia có người hỏi pháp sư: “Ông thiền định có cảm nhận gì?” Pháp sư kia nói: “Tôi ngồi rất lâu, có ngồi hay không ngồi cũng đều như nhau, đều không có cảm giác gì cả, lấy đâu ra cảm nhận gì?”

Có rất nhiều người ngồi rất lâu, đều không có cảm nhận gì cả, có một lần họ hỏi một pháp sư: “Ông thiền định có cảm nhận gì?” Ông ấy nói: “Đầu óc tôi rất thanh.” Đầu óc ông ấy trở nên rất thanh, nghĩa là khá minh mẫn, như thế đã là không tệ rồi.

Vẫn có người hỏi: “Ông thiền định có cảm nhận gì?” Ông ấy nói: “Cuối cùng tôi đã nhớ ra tôi đã giấu tiền ở đâu.” Cuối cùng ông ấy đã nhớ ra rồi, khi đầu óc rất thanh, có rất nhiều sự việc ông ấy đều có thể nhớ ra.

Nhưng thiền định không phải là mục đích như thế này. Trong Mật giáo nói du già tức là tương ứng, tức là hợp nhất. Tương ứng là có cảm nhận chứ không phải hoàn toàn không có cảm giác gì cả. Khi thân tâm của bạn trống rỗng, tâm khế bản nhiên, thân tâm thả lỏng, hoàn toàn không nghĩ, khi không có vọng niệm, bạn sẽ cảm thấy thân thể mình đã tràn đầy khí, giống như một ngọn núi sẽ như như bất động, đây là điều chắc chắn sẽ có.

Trong cảm nhận khi thiền định của tôi, cảm giác đầu tiên chính là đông cứng, phương pháp đông cứng không phải là nói rằng ngồi một lúc, được, thân tâm thả lỏng thế là đông cứng rồi, không phải, mà là phải lâu dài, bạn luyện Bảo bình khí, luyện Kim cang tụng, sau đó tâm khế bản nhiên thì mới có cảm nhận đó.

Giống như khi nãy chúng ta tu pháp, tôi đã làm Bảo bình khí và Kim cang tụng, tôi chỉ làm hai lần Bảo bình khí và Kim cang tụng, sau khi làm xong tôi liền thả lỏng thân tâm, không nghĩ gì cả, thân thể lập tức đông cứng giống như một ngọn núi.

Tôi tuyệt đối không khoác lác và nói dối, chính là như vậy. Hôm nay giả sử Lư Thắng Ngạn không có cảm giác gì mà tôi lại nói rằng tôi bất động như núi, như thế tức là tôi nói dối, đó là tôi khoác lác, tôi chính là tên đại bịp số một trong trời đất này. 

Ở trong thiền định tôi đích thực chính xác là bất động như núi, đích thực chính xác là có cảm nhận, đích thực chính xác là dòng chảy pháp vũ trụ trút xuống đầu tôi, thân tâm của tôi toàn bộ đều đầy ắp. Tôi tin rằng trong các đệ tử của tôi, có rất nhiều người đều đã có cảm nhận này, không phải là hoàn toàn không có. Đây là cảm nhận đầu tiên của tôi — đông cứng, bất động như núi. 

Om mani padme hum.

04/11/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 156. Cảm nhận của thiền định (3)


Chúng ta lại nói một chút về cảm nhận của thiền định.

Thiền cũng có khía cạnh lý luận, về mặt lý luận thì dạy bạn rằng thân thể phải ngồi thế Tỳ Lô thất chi tọa, điều này chúng ta đã biết. Thế còn tâm phải như thế nào? Tâm phải vô sự vô tâm.

Vô tâm là trạng thái thế nào? Đừng nghĩ về quá khứ, đừng nghĩ về tương lai, đừng chấp vào hiện tại, tức là vô tâm, tâm không biết ở đâu tức là vô tâm. Vô tâm thì không còn suy nghĩ gì cả, trống rỗng tất cả, tâm phải như vậy, đây là về mặt lý luận, rất khó làm được như vậy, rất khó!

Thế còn mắt phải như thế nào? Mắt phải đặt vào đâu? Mắt nhìn mũi, mũi nhìn tim, tim lại phải vô tâm. Trong Mật giáo nói “như mặt biển phẳng lặng”, tâm không có quá khứ, không có tương lai, không chấp vào hiện tại, để làm trống rỗng cái tâm này. Thân phải ngồi thế Tỳ Lô thất chi tọa, giống như núi Tu Di vậy. 

Thế còn hành động rốt cục phải làm thế nào? Đừng sửa sang, đừng chỉnh sửa, tức là nhậm vận, cái này tương đối thâm sâu ảo diệu, là một lý luận về thiền định tương đối khó.

Tôi lại nói với mọi người, ngoài cảm nhận đông cứng đầu tiên ra, cảm nhận thứ hai của tôi là tôi có được pháp hỷ chưa từng có trước đây. Mọi người đều biết nói rằng “pháp hỷ tràn đầy”, tham gia một buổi pháp hội, chà, pháp hỷ đầy ắp tâm hồn, nhẹ lâng lâng, cảm thấy vô cùng dễ chịu, rất vui sướng giống như gió xuân thổi lướt trên mặt, gió xuân thổi nhẹ trên mặt bạn, cảm thấy tham gia pháp hội trở về, đi trên đường cũng rất nhẹ, thế là gọi đây là pháp hỷ đầy ắp.

Pháp hỷ mà tôi nói đến không phải là pháp hỷ này. Pháp hỷ mà tôi có được khác với người bình thường. Với người bình thường là cảm giác đến từ bên ngoài, cảm thấy pháp hỷ tràn đầy, còn tôi là dạng pháp hỷ từ bên trong phát ra, từ bên trong thân thể tỏa ra.

Tôi tu Bảo bình khí, sau đó lợi dụng bảo bình khí để sinh ra chuyết hỏa. Pháp của Nhị quán trong Mật giáo phải tu chuyết hỏa, khí mạch, minh điểm, khi lửa ở đan điền sinh ra, hạ đan điền sẽ nóng, rất ấm, xuất hiện rất nhiều trạng thái, sẽ xuất hiện rất nhiều cảm nhận.

Chúng ta biết trong pháp Chuyết hỏa phải đưa lửa ở đan điền đi lên, khiến cho bồ đề tâm nguyệt dịch ở Mi tâm luân này rơi xuống. Đây là trạng thái gì? Tôi nói thẳng với mọi người, đây chính là giọt dầu rơi vào trong lửa đó. Bùm! Lửa và nước, bồ đề tâm nguyệt dịch và chuyết hỏa giống như dầu và lửa cùng cháy, hiện tượng này sẽ sinh ra một loại lực rất lớn.

Khi cháy lên, mạch trong toàn thân chúng ta vì có chuyết hỏa đi qua mà sản sinh ra một khoái cảm vô cùng dễ chịu. Chúng ta biết rằng ở vị trí Mi tâm luân, Hầu luân, Tâm luân, Tề luân, Mật luân, Hải để luân đều có rất nhiều mạch tập trung, khi nước rơi vào trong lửa, sau đó đốt cháy lên, ánh sáng và nhiệt đó, minh điểm đó xuyên qua mạch, khi tất cả mạch đều thông thì bạn sẽ có được pháp hỷ đó, chỉ có thân thể bạn mới có thể cảm giác được.

Khi hòa tan điểm đó (minh điểm trắng), điểm đó nhỏ ra rơi vào trong lửa sẽ đốt cháy, khi cháy thì sẽ có một sự vận động đi vào bên trong các mạch, sự ma sát này sẽ khiến bạn có được thiên hạ đệ nhất đại lạc, cảm nhận đó sẽ xuất hiện.

Cảm nhận đó người tu hành bình thường rất ít người có được, rất ít, rất ít. Trong cuốn “Giải thích về thiền định” tôi có viết, pháp vị mà tôi có được chính là thứ này. Điều mà tôi đã viết ở trong sách là muốn nói rằng, khi khí đi qua mạch, sự ma sát sinh ra đó chính là pháp vị. Khi chuyết hỏa đi qua mạch, đại lạc sản sinh ra do ma sát chính là pháp vị. 

Đây là chú thích mà tôi viết ra, tôi cho rằng cảm nhận thứ hai trong thiền định của tôi chính là cảm nhận về đại lạc, pháp hỷ tràn đầy là chỉ chính là cái này, chứ không phải là cái sự vui vẻ bề ngoài, mà là một sự vui vẻ của nội tại.

Vì thế tôi tu hành không phải là chỉ nói mà không làm, không phải là tùy tiện nói ra. Không phải nói rằng tôi đọc xong kinh này, ồ, tôi đọc xong thấy rất thoải mái, khi đọc kinh rất dễ chịu, ồ, cuối cùng tôi đã hiểu rồi, cảm thấy hình như tâm trạng rất nhẹ nhõm, rất vui vẻ. Cái này đương nhiên cũng là pháp hỷ, nhưng đây là biểu hiện bề ngoài, không phải là sinh ra từ nội tại.

Pháp hỷ và pháp vị mà hôm nay chúng ta nói đến là vì khi khí của bạn và chuyết hỏa của bạn thông mạch bên trong thân thể bạn sẽ sản sinh ra một loại cảm giác vô cùng dễ chịu. Tôi đã trải nghiệm được nó, vì thế tôi tu chứng pháp Vô lậu, tu chứng pháp Minh điểm, tu chứng pháp Chuyết hỏa không phải là chém gió. Gió không phải là để chém, bão không phải là để chém, bạn phải nói ra được trải nghiệm này của chính mình thì mới cho thấy đích thực là bạn có công lực.

Bảo bình khí, Kim cang tụng bạn học được rồi thì sẽ đông cứng, làm trống rỗng thân tâm thì bạn tuyệt đối sẽ đông cứng. Khí của bạn đầy đủ, khi lợi dụng khối khí này để thông mạch thì bạn sẽ có được pháp hỷ, đây là tu bên trong chứ không phải là đến từ bên ngoài, hoàn toàn là cảm nhận chân thực mà bạn có được trong thiền định, cảm nhận về đại lạc là ở đây.

Bạn làm được điều này rồi thì bạn sẽ hiểu cách hòa tan điểm, làm cho điểm tan ra và rơi xuống, rơi vào trong chuyết hỏa, như thế chuyết hỏa của bạn có thể càng ngày càng vượng, càng ngày càng lên cao, bạn lợi dụng chuyết hỏa thì có thể mở ra năm luân xa của thân thể bạn.

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

04/11/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 157. Cảm nhận của thiền định (4)


Chúng ta lại nói về cảm nhận của thiền định. Tôi nói đến có được pháp vị, vậy pháp vị đến bằng cách nào? Bản thân tôi nhận thấy có hai kiểu:

1. Khi bạn vận dụng khí của thân thể bạn đang thông mạch là đã có được pháp vị rồi, đã có được cảm nhận thích thú sản sinh ra rồi, hơn nữa càng lâu càng rõ ràng.

2. Đặc biệt là khi chuyết hỏa đang thông mạch thì càng rõ ràng hơn. Khí thông mạch sẽ có pháp lạc sinh ra, khi chuyết hỏa đang thông mạch thì có pháp lạc lớn hơn.

Trong Mật giáo có nhắc đến tứ Hỷ tứ Không, chữ Hỷ này là sơ hỷ, nhị hỷ, tam hỷ, tứ hỷ, tứ Hỷ chuyển thành Không thì chính là tứ Không. Hỷ tức là hỷ lạc, thật ra tôi cho rằng đây là bốn loại pháp vị rất đặc biệt.

Tôi từng nói giữa trời đất này cái lạc chân chính là cái gì. Tôi cho rằng cái lạc tu ra được từ bên trong con người mới là đại lạc chân chính, mới là trường cửu. Phàm phu thế tục cũng có lạc chứ không phải không có. Phàm phu thế tục cũng hòa tan điểm, giữa nam nữ thế tục khi làm “chuyện vui” cũng sẽ hòa tan điểm, nhưng đó là điểm thô tục, tức là minh điểm tầm thường.

Bất kể thế nào, khi minh điểm thô tục đi qua mạch cũng sẽ sản sinh ra một cảm giác sướng, đây chính là cái ham muốn lớn giữa nam và nữ, dục vọng chính là từ trong cái sướng của thế tục này mà sinh ra. 

Họ cũng có cảm nhận sướng, nhưng minh điểm của họ là minh điểm thế tục. Họ cũng có hòa tan điểm, không sai, nhưng đây là cái lạc giữa nam nữ thế tục, nam nữ thế gian đều mê đắm vào cái sướng của nam nữ thế tục.

Nhưng đại lạc mà người tu hành có được và cái này hoàn toàn khác nhau, hoàn toàn là cảm nhận sung sướng sinh ra khi khí thông minh điểm trong thân thể chính mình, và chuyết hỏa đốt cháy minh điểm, cái lạc sinh ra khi minh điểm rơi xuống hòa tan vào cùng thông mạch, kiểu này thuộc về đại lạc của hành giả. Thời gian này còn dài, hơn nữa cảm nhận sung sướng còn lớn hơn, cảm nhận còn thích hơn, rõ ràng hơn, rõ rệt hơn, dài hơn, vì thế mới gọi là đại lạc.

Cái lạc của nam nữ thế tục chẳng qua chỉ là mấy giây, mấy phút là kết thúc rồi, nhất là đàn ông, cái sung sướng của đàn ông trong chốc lát từ điểm cao nhất rơi xuống điểm thấp nhất, loáng một cái đã hết rồi, một lúc đã kết thúc rồi. Phụ nữ thì đỡ hơn một chút, nghe nói phụ nữ có thể sướng vài lần, vài lần liên tục như thế, hơn nữa thời gian dài hơn một chút, nhưng đây chỉ là cái sướng thế tục mà thôi.

Cái sướng của hành giả hoàn toàn khác, hoàn toàn là khí thông mạch, cảm giác này tương đối khác một chút, sự thông mạch của chuyết hỏa và minh điểm càng tuyệt vời hơn. Thứ mà tôi tu chính là công lực chuyết hỏa đi thông minh điểm, thông mạch. Tôi đã tu chứng pháp Vô lậu, tu chứng pháp Vô lậu thì sẽ không còn cái lạc của thế tục nữa, cái lạc mà tôi có là một dạng pháp vị do thân tâm hoạt động bên trong thân thể chính mình, đây chính là đại lạc chân chính.

Vì thế, khi hành giả Mật giáo đã chứng minh được rồi thì họ sẽ giữ được mãi đại lạc đó, vĩnh viễn có thể bảo trì được đại lạc này, sẽ không mất đi. Cái lạc của thế tục chỉ vài giây, vài phút là chết luôn, giống như tôi nói “khi lên là một con rồng, khi xuống là một con giun”. Chi bằng bạn theo tôi tu hành, tôi sẽ dạy cho bạn bí quyết. 

Bởi pháp này không thể tùy tiện dạy, tôi dạy cho bạn bí quyết, bạn có thể tu chứng vô lậu. Tôi dạy bạn bí quyết, bạn có thể tự thân có âm dương, có thể sản sinh đại lạc. Trong thân thể bạn có mạch, tự mình có chuyết hỏa, có thủy hỏa âm dương, thủy hỏa âm dương của bạn có thể tan vào nhau, bạn không cần đi tìm khoái lạc của thế tục, bản thân bạn có thể sản sinh đại lạc thì bạn còn phải đi tìm khoái lạc thế tục làm cái gì chứ?

Khi người tu hành đến được cảnh giới này, cảm nhận về lạc của họ chính là pháp vị của họ. Tôi dám nói ra điều này, tôi viết trong sách, tôi cứ thế viết ra, người khác không làm được điều đó. Tôi nói với bạn, bạn tìm pháp sư khác, không có đâu! Không tìm được pháp này đâu! Đây là bí mật nghìn vàng vạn vàng cũng không truyền. Tát già lục thế biến, kim cang quyền, giáng đề trì tán, kim cang quyền 16 kỹ xảo, 16 loại phương pháp tu hành, bạn tu thế nào? Làm sao để nâng bạch bồ đề lên? Không chỉ nâng lên mà còn phải bay qua núi Tu Di, pháp này là cực kì đó, đây là sư phụ dạy tôi, tôi cho rằng pháp này có vạn vàng cũng không mua được, trừ phi bạn thật sự thực tu, là đệ tử kính sư, trọng pháp, thực tu thì tôi có thể truyền cho bạn.

Pháp này phải truyền thụ mặt đối mặt, pháp này không thể truyền qua sáu tai, tức là truyền qua bốn tai mà thôi, tức là chỉ hai người. Tương lai tôi nhất định sẽ dạy, nhất định phải dạy cho mọi người. Nếu bạn thật sự đích thực là đệ tử thực tu, tôi chắc chắn sẽ truyền. Tôi sẽ dạy bạn làm sao để nâng, nó có phương pháp. 

Ở chỗ này của Phật sẽ có nhục kế, Mật luân của Phật vì sao lại khác? Ngài có bí mật của ngài, cái này đều có đạo lý, không phải là nói một cách tùy tiện. Sau này tôi dạy bạn, bạn sẽ biết thôi, bây giờ không thể nói.

Cái lạc này vô cùng tuyệt vời, là thiên hạ đệ nhất, là thứ hay nhất. Bạn tu đạo có thể tu được cái này đã là rất tốt rồi, bản thân tôi cho rằng là rất tốt. 
Sau này tôi lại nói về cảm nhận cho mọi người nghe. Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

04/11/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 158. Cảm nhận của thiền định (5)


Hôm nay chúng ta vẫn nói về cảm nhận của thiền định, mấy ngày qua đều nói về cảm nhận của thiền định. Cũng có người hỏi, ở trong thiền định, đôi khi thân thể sẽ đột ngột rung lắc, tay sẽ cử động, thân thể sẽ lắc lư về phía trước phía sau, đầu sẽ gật tới gật lui, anh ta hỏi cảm nhận này của thiền định là thế nào. Tôi nói với mọi người, đây là khí động, tức là khi khí trong thân thể bạn lưu động thì sẽ sản sinh ra sự chuyển động này.

Hiện tượng linh động này thật ra cũng là một trong những cảm nhận của thiền định. Ngoại đan công, khởi linh, tự phát động công rất phổ biến ngày nay đều là một kiểu trong cảm nhận của thiền định, chính là trạng thái khí đang động.

Giả sử có linh bên ngoài đi vào thì sẽ khiến cho khí bạn động, cũng tức là linh động. Còn có rất nhiều kiểu, cũng có khi thiền định dường như có kiến đang bò trên đầu, hoặc là toàn thân đều cảm thấy ngứa, đó cũng là một kiểu khí động. Tức là khí đó đặc biệt đang di chuyển ở bộ phận nào đó, hoặc là một hiện tượng di động ở trên mặt, đó cũng là cảm nhận của thiền định.

Cảm nhận của thiền định có rất nhiều kiểu, cảm giác của mỗi người là không giống nhau. Có người cảm thấy lạnh, trong lúc thiền định cảm thấy toàn thân giống như đang ở trong kho lạnh, đó là do thủy đại trong thân thể sản sinh ra tác dụng thì sẽ cảm thấy lạnh. Ngược lại, cũng có người cảm thấy nóng, cái nóng này là tác dụng của hỏa đại.

Ngoài ra còn có người cảm thấy rất nặng. Chẳng phải tôi từng nói rằng đông cứng lại giống như một ngọn núi Tu Di rất nặng, đây là một cảm nhận về nặng, cảm nhận đầu tiên của tôi chính là cái cảm giác nặng giống như núi Tu Di vậy.

Xuất hiện trong thiền định cũng sẽ có cảm giác trơn và ráp, cảm thấy da dẻ rất trơn, rất thô, thô và trơn là như nhau, đều là cảm giác ở trên da. Ngoài ra còn có tự mình cảm thấy thân thể rất nhẹ, bay lên, cứ thế bay đi, ở trong thiền định liên tục bay đi, bay lên không trung, đây cũng là một trong những cảm nhận của thiền định.

Những cái này đều không quan trọng lắm, đừng cảm thấy rằng, ôi chao, có chuyện gì thế này, có phải là sắp xảy ra chuyện gì không, thật ra không phải. Cảm giác của địa đại chính là như núi Tu Di, rất nặng, cảm giác của phong đại chính là linh động, ngứa, còn có thân thể nhẹ, đều thuộc về cảm giác của phong đại. Cảm thấy lạnh là cảm giác của thủy đại. Cảm thấy nóng chính là cảm giác của hỏa đại. Vì thế, bản thể do tứ đại địa thủy hỏa phong tổ hợp thành sẽ khiến cho bạn ở trong thiền định sinh ra nhiều kiểu cảm nhận, cho nên những cái này đều sẽ có. Đôi khi sẽ biến thành rất to, bạn cảm thấy thân thể sẽ biến thành rất lớn, lớn giống như núi Tu Di, đôi khi lại biến thành rất nhỏ, thu nhỏ lại giống như một hạt đậu.

Kinh nghiệm của cá nhân tôi là, trước tiên tôi đông cứng, đầu tiên có khí đi vào, dòng chảy pháp của vũ trụ đi vào, thân thể liền đông cứng lại giống như núi Tu Di. Cảm giác đó vô cùng rõ rệt, không phải là huyễn giác, hoàn toàn là một kiểu cảm giác khí ở trong thân thể đang lưu thông, cực kì rõ nét.

Sau khi có cảm giác đông cứng rồi lại có khí động, nhờ sự dồi dào của khí mà lại tu chuyết hỏa. Trong chuyết hỏa sẽ sinh ra một cảm nhận về lạc, đó là một cảm nhận cao siêu hơn dục lạc định thông thường. Chuyết hỏa đi lên làm tan chảy minh điểm, khi chuyết hỏa và minh điểm hòa tan vận động ở trong mạch sẽ sản sinh tứ Hỷ tứ Không, tứ Hỷ tứ Không này chính là một cảm nhận của đại lạc.

Chuyết hỏa và minh điểm tan ra thì sẽ giống cái gì? Sẽ giống như dầu rơi vào trong lửa. Bùng! Hiện tượng bốc cháy sẽ sinh ra, hiện tượng bốc cháy này làm thông mạch của toàn thân, cái này gọi là “đại lạc vĩnh trì”, cảnh giới đại lạc duy trì mãi mãi này sẽ sinh ra. Sau đó lợi dụng hiện tượng chuyết hỏa và minh điểm tan ra để mà tháo lỏng năm luân xa Mi tâm luân, Hầu luân, Tâm luân, Tề luân và Mật luân ở bên trong thân thể, tức là mở toàn bộ ngũ luân ra, một khi ngũ luân này mở ra thì minh điểm sẽ hiển hiện, sẽ sản sinh ánh sáng.

Đặc biệt trong Mật giáo của chúng ta nhắc đến, trong Tâm luân có tâm mạch ngũ sắc, có một ống dẫn đặc biệt, giống như đèn huỳnh quang, có tâm mạch năm màu sắc ở trong Tâm luân của bạn. Khi quả tim thịt của bạn mở ra, tâm mạch ngũ sắc sẽ phóng quang, sẽ sản sinh ra cảm nhận của ánh sáng. Bạn phải dùng pháp nội thị, mắt không phải là nhìn ra ngoài, mà là nhìn vào bên trong, dùng pháp nội thị để nhìn tâm bạn, nhìn quả tim thịt của bạn mở ra sinh ra tâm mạch ngũ sắc.

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

05/11/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 159. Cảm nhận của thiền định (6)


Chúng ta lại nói về cảm nhận của thiền định. 

Kinh nghiệm của cá nhân tôi là đầu tiên đông cứng bất động như núi, sau đó sản sinh ra một cảm nhận về lạc, do minh điểm tan ra và rơi vào chuyết hỏa, chuyết hỏa bùng cháy mở ra năm luân xa, khi năm luân xa mở ra thì nhờ pháp nội thị, bạn có thể nhìn thấy ánh sáng nội tại, nhìn thấy minh điểm của chính bạn. Điểm ánh sáng này, một điểm, một điểm, tức là nhìn thấy ánh sáng.

Từ các điểm này, ánh sáng của từng điểm tập trung lại, trong Mật giáo gọi là nhìn thấy dây xích kim cang, ánh sáng giống như sợi dây xích. Khi bạn nhìn thấy xích kim cang thì đây là cấp độ thứ hai. Nhìn thấy ánh sáng ở cấp độ thứ ba tức là có thể từ bên trong xích kim cang nhìn thấy cõi Phật, cảnh giới của Phật quốc sẽ hiển hiện ra. Tiến vào giai đoạn thứ tư, bạn sẽ có thể nhìn thấy Phật.

Vì thế nhìn thấy ánh sáng có bốn giai đoạn:
Thứ nhất — nhìn thấy ánh sáng của minh điểm.
Thứ hai — nhìn thấy ánh sáng của xích kim cang.
Thứ ba — nhìn thấy ánh sáng của Phật quốc.
Thứ tư — nhìn thấy Phật, nhìn thấy Bổn tôn của mình.

Nhưng lúc này, nếu bạn lại tiến thêm một bước nữa, nếu từ thiền định nhìn thấy cảnh giới của tịnh quang rồi tiến thêm một bước nữa, tiến vào ý thức sâu nhất, bạn sẽ biết những cảnh giới này có đôi khi là từ bên trong thân thể bạn mà nhìn thấy, có nghĩa là do thân thể bạn biến hóa ra. 

Sau khi bạn hiểu rồi, bạn sẽ tiến vào Không cảnh, ví dụ Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Tưởng vô biên xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ thiên, bốn cõi trời này bạn đều biết hết. Khi tiến vào cảnh giới này, bạn đã vượt qua cảnh giới của tịnh quang để tiến vào Không cảnh.

Ở trong Không cảnh, chính bạn có thể nhậm vận. Thế rồi bạn phát bồ đề tâm, ánh sáng của bồ đề tâm phát ra, bạn sẽ tiến vào tứ Thánh giới. Đây là kinh nghiệm thiền định của tôi, ở trong đây rất vi diệu.

Bạn xem, nhìn ánh sáng đó, pháp nội thị là nhìn vào bên trong, không phải nhìn ra bên ngoài. Bởi vì chuyết hỏa của bạn đang cháy, minh điểm đang tan ra, minh điểm là vật liệu, hễ đi vào trong lửa thì sẽ sản sinh ra ánh sáng lớn hơn, giống như bùng nổ, sản sinh ra ánh sáng càng lớn. 

Bạn biết đổ dầu vào trong lửa rồi, bùng, hiện tượng đó sẽ xảy ra. Bởi vì chuyết hỏa cháy lên, minh điểm tan ra thì sẽ rơi vào trong lửa, bùng, thế là bốc cháy. Sau đó bạn chỉ dẫn cho chuyết hỏa của mình đi mở Mi tâm luân, mở Hầu luân, mở Tâm luân, mở Tề luân, mở Mật luân, mở ra xong thì tức là năm đại trí huệ, năm đại trí của Như Lai đều sản sinh ánh sáng.

Bạn nhìn vào bên trong sẽ nhìn thấy tịnh quang, ánh sáng đó là ánh sáng của minh điểm. Tôi nói rõ với mọi người đó là ánh sáng của minh điểm, ánh sáng của minh điểm tập hợp lại thì là xích kim cang. Xích kim cang giống như màn hình tivi, hình ảnh chiếu trên màn hình đó chính là Phật quốc tịnh thổ. Thậm chí bạn muốn nhìn thấy Phật, rất đơn giản chỉ cần vận dụng ý niệm của bạn là bạn có thể nhìn thấy Phật, điều này hợp với khoa học.

Tôi nói rằng màn hình tivi cũng là từng điểm từng điểm tập hợp lại, điểm biến thành sợi, sợi biến thành mặt phẳng, mặt phẳng đó chính là xích kim cang, điểm đó chính là minh điểm, từ đó mà nhìn. Thiên nhãn thông tu như thế nào? Chính là tu như thế này.

Ngoài ra còn có một pháp tu thiên nhãn thông nữa, đó là thu nhật quang, nguyệt quang, tinh quang của vũ trụ vào trong hai mắt bạn. Nhắm mắt lại, thu nhật quang, nguyệt quang, tinh quang vào trong hai mắt, tan vào trong hai mắt bạn, mở mắt ra là có ánh sáng, đây là một phương pháp khác để tu luyện thiên nhãn thông. 

Nhưng trên thực tế, phương pháp tu luyện thiên nhãn thông mà tôi biết là chỉ dẫn chuyết hỏa mở năm luân xa thì sẽ sản sinh tịnh quang, dùng pháp nội thị để nhìn tịnh quang này thì sẽ nhìn thấy bên trong xích kim cang hiện ra thứ mà bạn muốn nhìn thấy. Bạn muốn nhìn thấy cái gì thì đều có thể từ bên trong chuỗi kim cang nhìn ra được, đó chính là thiên nhãn chân chính.

Cảnh giới của tịnh quang thật ra cũng là từ thế giới của chính bạn mà hiển hiện ra. Sau khi bạn hiểu được điều này rồi, bạn sẽ tiến vào Không cảnh, rồi từ bên trong Không cảnh mà phát bồ đề tâm, bạn sẽ vượt ra khỏi tứ Thánh giới, tức là Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn.

Trong quá trình bạn tu chuyết hỏa có một cái gọi là dục lạc định, tức là một kiểu thiền định dùng dục vọng của chính mình để sản sinh khoái lạc. Nhưng cái này đòi hỏi nhờ sự tu hành của chính mình để vượt qua, vượt qua cái dục niệm này. Bạn vượt qua được dục niệm rồi, từ trong dục niệm sản sinh ra thiền định, pháp định này gọi là dục lạc định, cái này trong Mật giáo là có. Nhưng pháp này chỉ có hành giả Mật giáo có đạo hạnh rất cao mới có thể tu. 

Vậy dục lạc định có tác dụng gì? Nó có thể khiến cho minh điểm tan chảy, tan ra xong thì rơi vào trong chuyết hỏa, có thể biến tục khí trên người mình thành khí trí huệ. Dùng phương pháp này có thể mở trung mạch, mở ngũ luân, sản sinh trí huệ rất cao, một loại trí huệ mà chính bạn siêu việt, đây cũng là một phương pháp.

Bất luận thế nào, hành giả chúng ta phải tu Bảo bình khí, Kim cang tụng trước, sau đó tu Chuyết hỏa, sau đó tan minh điểm, rồi mở năm luân xa, đây chính là một cảm nhận tối thượng thừa chân chính tốt nhất trong thiền định của chúng ta. 

Om mani padme hum.

05/11/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 160. Tương ứng cầu vồng (1)


Hôm nay tôi nói với mọi người về tương ứng cầu vồng.

Gần đây tôi đã đi Ấn Độ và Nepal. Đến Ấn Độ thì cũng đến Dharamshala, tức là chỗ của Dalai Lama. Lúc gặp mặt có nói đến vấn đề tương ứng cầu vồng. Dalai Lama hỏi bốn cảnh giới của Đại thủ ấn, cũng hỏi phương pháp tu trì của Đại viên mãn. Đây đều là những thứ bình thường tôi vẫn nói, cho nên đương nhiên tôi trả lời trôi chảy.

Trong Đại thủ ấn của Bạch giáo có bốn cấp độ tu trì: từ Chuyên nhất du già, Ly hý du già, Nhất vị du già đến Vô tu du già. Đây là bốn cấp độ tu trì, nhưng cũng có kiến địa của nó. Kiến địa của nó đầu tiên phải nhìn thấy ánh sáng của minh điểm, thứ hai phải nhìn thấy xích kim cang, thứ ba phải nhìn thấy Bổn tôn, thứ tư là hiện ra cõi Phật. Nếu một tu hành giả ở trong cảnh giới của Đại thủ ấn lúc nào cũng ở trong cõi Phật, nhất định có thể chuyển hóa. Nếu bảo trì được mãi mãi cảnh giới của Bổn tôn và cõi Phật thì chắc chắn là vãng sinh. Vì thế cảnh giới của Đại thủ ấn, Dalai Lama nghe tôi nói thì liên tục gật đầu.

Ngoài ra, ngài ấy còn hỏi về Đại viên mãn. Cảnh giới của Đại viên mãn là tâm tủy của Hồng giáo, chính là tâm trong tâm. Hai phương pháp tu trì, một là Trekcho, một là Togal. Trekcho tức là đốn siêu. Tu trì của bạn ở trong cảnh giới đó chính là đốn siêu, mỗi sự việc bạn đều có thể vượt lên trên. Togal chính là nhậm vận.

Khi ấy, Dalai Lama liền hỏi tôi về pháp Togal, tôi nói là vô tu, ở trong trạng thái của nhậm vận tức là vô tu. Dalai Lama bổ sung một câu, đó là tự nhiên. Thật ra nhậm vận chính là tự nhiên, sau khi đốn siêu rồi thì biến thành tự nhiên. Cảnh giới của vô tu là cao nhất, đây không phải là cái mà người phổ thông tu. 

Có thể thấy trong màn đối đáp của tôi và Dalai Lama giống như tương ứng cầu vồng, trong sự đối đáp lẫn nhau này chính là một sự ấn chứng cảnh giới. Người phiên dịch của Dalai Lama không biết xích kim cang là cái gì. Trong Đại thủ ấn phải nhìn thấy ánh sáng của minh điểm, ánh sáng của minh điểm tụ tập lại thành xích kim cang. Xích kim cang hiển hiện Bổn tôn, Bổn tôn xuất hiện xong thì lại hiện lên cõi Phật, tịnh thổ của Phật. Vừa nói ra cảnh giới này, Dalai Lama liền biết hành giả đến đây đã đạt đến cảnh giới thế nào. Bởi vì Đại thủ ấn và Đại viên mãn đều là cảnh giới cao nhất. Pháp cao nhất của Bạch giáo chính là Đại thủ ấn, pháp cao nhất của Hồng giáo chính là Đại viên mãn. Cái này phải ấn chứng, phải nói ra với nhau. 

Ví dụ nói về Đại viên mãn, đốn siêu thế nào? Bạn chỉ nói đốn siêu không thì chẳng có tác dụng gì. Đốn siêu tức là một dạng thăng hoa, bất kì một việc gì, bất kì một tình huống nào, bạn đều có thể thăng hoa. Sau khi thăng hoa, phiền não mới có thể giải thoát, tịnh quang mới có thể xuất hiện.

Hơn nữa phải dừng lại, khi suy nghĩ, vọng niệm rất nhiều thì bạn phải dừng lại được. Phương pháp dừng lại chính là một dạng đốn siêu.

Phải siêu việt, phải thăng hoa thì bạn mới có thể dừng vọng niệm, chuyển hóa vọng niệm thành cầu vồng. Đây là tu hành của Trekcho, rất cao thâm, không phải là pháp mà người bình thường có thể tu.

Tu Đại thủ ấn phải từng bước từng bước, Đại viên mãn lập tức dừng lại, tức là phải đốn siêu, sau đó tiến vào trạng thái vô tu của nhậm vận. Trạng thái vô tu có thể nói là không đi sửa sang, không đi chỉnh đốn, hoàn toàn là một kiểu trạng thái tự nhiên nhậm vận. Đây là pháp Đại viên mãn cao nhất.

Trong khi tôi trả lời, Dalai Lama liên tục gật đầu, tôi ứng đối như nước chảy, đây là ấn chứng cầu vồng, tương ứng cầu vồng. Hôm nay giả sử tôi không thâm nhập kinh tạng, không thực tu Mật pháp thì sẽ không thể trả lời tỉ mỉ như vậy, không thể tóm gọn để lập tức giải đáp vấn đề đó được.

Chúng tôi còn nói với nhau rất nhiều, nói đến Tam Luận của Long Thụ Bồ Tát, còn có một vài luận tác của các tổ sư, ví dụ “Bách Pháp Danh Môn Luận”, “Trung Luận”, “Thập Nhị Môn Luận”. Còn nói đến rất nhiều nghi quỹ Mật giáo, đây đều có thể nói là tương ứng cầu vồng.

Hôm nay nói tới đây. Om mani padme hum.

02/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 161. Tương ứng cầu vồng (2)


Lần này đến Ấn Độ, Nepal có bốn điểm quan trọng:
Điểm thứ nhất chính là đến Dharamshala gặp mặt Dalai Lama.
Điểm thứ hai chính là ở tu viện Drepung tại Ấn Độ, tôi đã lên pháp tọa, đối diện với hai nghìn vị Lama để khai thị thuyết pháp. Mọi người biết ba ngôi chùa lớn của Tây Tạng là tu viện Ganden, tu viện Drepung và tu viện Sera. Tôi đã đến tu viện Ganden, cũng đã đến tu viện Drepung.
Còn có một điểm quan trọng nữa chính là tôi đã đi đến tám đại thánh địa của Phật Đà. 
Điểm quan trọng thứ tư chính là tôi đã tọa sàng tại tu viện Karma Lekshey Ling của Bạch giáo. Tọa sàng là một nghi thức, ngồi trên giường của Pháp Vương. Kachen Rinpoche đã giúp tôi trải chỗ ngồi trên giường, mời tôi ngồi lên giường của Pháp Vương. Đó là ngôi chùa ở Nepal. Có mấy điểm quan trọng này. 

Tôi đi ra ngoài đều thỉnh cầu Hộ pháp theo bên mình, vì thế đến mỗi một địa phương, Hộ pháp sẽ nói cho tôi biết những việc sắp xảy ra, đây chính là tương ứng cầu vồng. 

Khi bạn tu hành đến một cảnh giới nào đó sẽ đều có Hộ pháp theo thân, Hộ pháp sẽ nói cho bạn biết những việc sắp xảy ra. Tôi còn chưa đến Ấn Độ, Nepal thì Hộ pháp đã nói trước việc với tôi, tôi sẽ lần lượt gặp những việc gì, lần lượt đều ứng nghiệm. Trước khi xảy ra tôi đều đã biết sẽ xảy ra chuyện gì, vì thế đều có sự chuẩn bị từ trước, cho nên mọi việc đều có thể cát tường viên mãn. Tashi delek (Tạng ngữ - cát tường viên mãn). 

Khi đến vườn Lộc Dã, Phật nhãn của Phật Đà liền hiển hiện trên tháp Phật (stupa), tròng mắt ở giữa còn di động nữa, biểu thị Phật Đà vẫn đang quan tâm đến những chúng sinh trên mặt đất, chúng sinh của thế giới Ta Bà, lúc nào cũng quan tâm chúng ta.

Chúng tôi đã đến Bodh Gaya, tức là dưới cây bồ đề, ở nơi đó Phật Đà còn đưa tay ra cầm bình cam lộ làm quán đảnh cho mỗi đệ tử chúng tôi.

Đến vườn Lâm Tỳ Ni ở Nepal, linh khí ở nơi đó rất mạnh, kim quang tỏa bốn phía, đúng là ánh sáng màu vàng kim sáng chói lọi, khắp trời khắp đất đều là ánh sáng vàng kim, ở đó linh khí mạnh nhất. 

Có người sẽ hỏi chúng tôi sao đi ra ngoài thì cảm ứng lại nhiều như vậy? Thật ra là Hộ pháp đã thông báo trước. Bởi vì người tu hành có chứng nghiệm rồi thì Hộ pháp mọi lúc đều sẽ chỉ thị. Bạn đi đến đâu Hộ pháp sẽ chuẩn bị trước mọi thứ, bạn đến đó một cái là lập tức cảm ứng sẽ đến, lập tức tương ứng, đây là tương ứng cầu vồng.

Hôm nay người tu hành là bạn giả sử đã tu đến cảnh giới này rồi, việc ngày mai sắp xảy ra, việc sẽ xảy ra về sau, đời quá khứ, túc mệnh thông đều sẽ có. Những nút thắt bạn không cởi được thì đều có thể giúp bạn tháo gỡ. Vì sao bạn gặp phải nhân quả này? Vì sao lại có nhân quả như vậy? Thì ra trong đời quá khứ có nguyên nhân, Hộ pháp lập tức nói cho bạn biết.

Giống như tôi đến Dharamshala, chỗ của Dalai Lama, buổi tối hôm đó Hộ pháp còn đến giải thích với tôi về địa lý của Dharamshala. Tôi không khoác lác, cũng không giấu giếm, tôi chưa từng nghe nói đến huyệt ở Dharamshala là huyệt gì, ngài nói với tôi đó là huyệt Lão Công Khanh, còn giải thích với tôi về địa lý nữa! Bạn xem, Hộ pháp cũng hiểu địa lý, ngài giải thích rất rõ ràng.

Đến chỗ của Dalai Lama, Hộ pháp cũng ở đó, ngài nói cho tôi biết sẽ xảy ra chuyện gì, cần phải làm thế nào, tôi làm theo y như thế. Vì thế, chúng tôi thật sự đã thắng lợi khải hoàn, đã đánh một trận biết mình biết người. Bạn không biết mình không biết người thì không thể đánh trận. Binh Pháp Tôn Tử nói biết mình biết người mới có thể đánh thắng. Không hiểu gì về đối phương thì bạn đánh trận kiểu gì?

Trước khi xảy ra sự việc Hộ pháp đã nói cho tôi biết sẽ phát sinh chuyện gì, tôi phải làm thế nào, không tổn thất một chút nào, bảo đảm còn kiếm lời. Đó chính là Hộ pháp, bằng không Hộ pháp để làm cái gì chứ? Sau khi sự việc xong rồi, bạn cảm thấy bạn chịu thiệt, chà, thế thì Hộ pháp của bạn còn làm Hộ pháp cái gì chứ? Hộ pháp tức là phải hộ trì hành giả, đây chính là tương ứng cầu vồng, cầu vồng luôn luôn đi cùng Sư Tôn.

Bạn xem Phật nhãn ở vườn Lộc Dã, bình cam lộ và tay của Phật Đà ở Bodh Gaya, kim quang ở vườn Lâm Tỳ Ni, những cảm ứng này vô cùng thù thắng, hơn nữa đều hết sức chân thực. Lần này ở tu viện Drepung lên ghế thuyết pháp cũng là một sự kiện đáng kỷ niệm trong lịch sử Chân Phật Tông. Tu viện Drepung là một trong ba ngôi đại tự đó! Có mấy vị Rinpoche có thể đăng tọa thuyết pháp tại tu viện Drepung chứ? Sau này tấm ảnh đó phóng to một chút rồi treo nó lên, treo ở Lôi Tạng Tự. Còn có tọa sàng nữa, làm một tấm ảnh to rồi treo lên. Tấm ảnh ấn chứng cùng Dalai Lama cũng phóng to lên rồi treo nó lên.

Đây là cái gì? Đây là sau khi bạn tu hành chứng minh được cầu vồng rồi, tự nhiên bạn sẽ có cảm ứng thôi, cái này chính là đại thành tựu cầu vồng.

Om mani padme hum.

02/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 162. Tương ứng cầu vồng (3)


Hôm nay chúng ta lại nói về tương ứng cầu vồng phần 3. Hai lần trước tôi có nhắc đến ở Ấn Độ và Nepal đều có Hộ pháp đi theo, đến chỗ của Dalai Lama mới được cát tường viên mãn như vậy. Đến tu viện Drepung đăng tọa thuyết pháp, cảnh tượng ở đó cũng vô cùng long trọng, cũng rất trang nghiêm. Đến tu viện Karma Lekshey Ling, ngôi chùa của Bạch giáo, cũng tọa sàng.

Cái gọi là tọa sàng là một nghi thức, biểu thị bạn ngồi lên tòa Pháp Vương. Nghi thức tọa sàng đều là Rinpoche, Hoạt Phật, Pháp Vương mới có. Tại Nepal tọa sàng, tại tu viện Drepung lên ghế nói pháp, gặp mặt Dalai Lama, tất cả đều vô cùng viên mãn cát tường. Đây chính là sự tương ứng của Hộ pháp.

Sau khi bạn tu được thành tựu cầu vồng, bất kì sự việc gì cũng đều cát tường mọi thứ. Còn nữa, tôi cũng có cảm ứng với các đệ tử của mình. Vốn dĩ lần này chúng tôi đi Ấn Độ, Nepal, là “mật hành tôn giả”, tức là bí mật hành động. Cái gọi là “mật hành” tức là khi xuất phát không thông báo với bất kì người nào. Tại Hồng Kông không thông báo với ai, Ấn Độ cũng không, Nepal cũng không, đệ tử tự nhiên không biết để mà đi đón tại sân bay.

Kết quả là, ở Hồng Kông tự nhiên có đệ tử xuất hiện, đệ tử đột ngột xuất hiện này là nhân viên cao cấp của hãng Hàng Không Ấn Độ [Air India], là một đệ tử nữ, không hẹn mà tình cờ gặp mặt. Không hề hẹn mà cô ấy lại xuất hiện, nhưng mà cô ấy đã xuất hiện để gặp mặt Sư Tôn. Bất ngờ cô ấy nhìn thấy Sư Tôn, cô ấy cũng rất kinh ngạc.

Chúng tôi từ Hồng Kông đến Delhi Ấn Độ là đi máy bay của hãng Hàng Không Ấn Độ, đệ tử đến đó chính là nhân viên cao cấp của Hàng Không Ấn Độ. Bạn nói xem trên thế giới này có sự việc trùng hợp như thế không? Tôi cũng không biết là ở hãng Hàng Không Ấn Độ có một đệ tử của mình nữa. Gặp mặt ở cửa khách sạn, cô ấy liền sắp xếp gửi hành lý với Hàng Không Ấn Độ, thậm chí khi chúng tôi lên máy bay, cô ấy cũng sắp xếp chỗ ngồi, cô ấy thậm chí đi vào bên trong khoang máy bay để phục vụ tôi.

Đây cũng là một dạng tương ứng, bởi vì chúng tôi muốn ngồi máy bay của hàng Hàng Không Ấn Độ. Giả sử Hộ pháp tìm một người của Hàng Không Thái Lan đến thì không đúng rồi. Hoặc là tìm một người của Hàng Không Trung Quốc đến thì cũng không đúng. Bởi vì chúng tôi đi máy bay của hãng Hàng Không Ấn Độ, cho nên Hộ pháp liền tìm một đệ tử của Hàng Không Ấn Độ đến.

Khi ấy, mỗi Thượng sư, pháp sư tham gia chuyến du lịch đều vô cùng kinh ngạc. Chúng tôi ngồi máy bay của hãng Hàng Không Ấn Độ, Hộ pháp liền phái một người phục vụ của Hàng Không Ấn Độ đến giúp chúng tôi. Chúng tôi trở về thì đi máy bay hãng Hàng Không Tây Bắc [Northwest Airlines], tại Hồng Kông, Hộ pháp liền phái một nhân viên của Hàng Không Tây Bắc đến giúp đỡ, để “nâng hạng” cho chúng tôi, ban đầu là hạng Business thì biến thành First Class. Ban đầu là ngồi khoang thương gia, thế rồi biến thành khoang hạng nhất, đệ tử đó đã sắp xếp ổn thỏa cho chúng tôi.

Có Hộ pháp ở bên giống như được ăn cơm miễn phí vậy, rất nhiều sự việc ngài đều sẽ giúp đỡ. Vì thế, bạn tu được cầu vồng, tu được Hộ pháp thì cũng sẽ như thế, mọi việc đều sẽ giúp bạn sắp xếp một cách cát tường viên mãn.

Đến Dharamshala, đó là một nơi rất hoang vu hẻo lánh. Ở Bắc Ấn Độ mà, ở nơi đó lấy đâu ra đệ tử chứ? Núi cao, đường cụt, chỉ có hai con đường. Kết quả là không ngờ có người Tạng sinh ra ở Thanh Hải Trung Quốc sống ở đó, là đệ tử Chân Phật Tông. Đúng lúc tối hôm đó anh ta đi loanh quanh bên ngoài, ở Dharamshala trên núi chỉ có hai con đường, anh ta nhìn thấy trên túi hương đeo sau lưng của Thượng sư Thường Nhân có in logo Chân Phật Tông, giật mình sửng sốt, lập tức đuổi theo hỏi.

Khi Thượng sư Thường Nhân nói với anh ta là Sư Tôn đang ở Dharamshala, suýt chút nữa thì anh ta ngất xỉu. Anh ta cho rằng đang nằm mơ. Anh ta nói sao Sư Tôn lại có thể ở Dharamshala chứ? Đó là sự việc chúng tôi gặp ở Ấn Độ. Hộ pháp nói với đệ tử đó: “Đi ra ngoài đi!” Ở trên núi cao hoang vu đó, trên đỉnh núi còn có đệ tử Chân Phật Tông, hơn nữa còn là người Tây Tạng, người Tây Tạng sinh ra ở Thanh Hải.

Tại đó, Sư Tôn đã gặp mặt đệ tử, giống như một trò đùa vậy. Anh ta đã đến tiệm ăn từ rất sớm để đợi cuộc gặp mặt đầu tiên, việc này rất vi diệu. 

Đến Nepal cũng gặp một đệ tử ở Pháp, anh ta còn đến sân bay đón máy bay nữa. Anh ta rảnh rỗi đi dạo trong tiệm bán thangka, ông chủ tiệm bán thangka nói: “Ơ, sư phụ của anh sẽ đến Nepal đó.” Đệ tử nghe xong liền vội vàng đến sân bay đón máy bay. Vì thế bất kì nơi nào cũng đều có Hộ pháp.

Ngoài ra, đệ tử đó còn nói, không chỉ có ông chủ của tiệm thangka nói với anh ta, ở trong mơ Sư Tôn cũng nói với anh ta là sắp đến Nepal, thế là anh liền đi tìm. Khi người chủ tiệm thangka nói với anh rằng Sư Tôn sắp đến Nepal, anh liền vội vàng đi đón máy bay. Vì thế, Hộ pháp Không hành đầy ắp hư không, các vị đều sẽ đi thông báo cho đệ tử của tôi biết để đến gặp mặt tôi.

Khi tôi đi trên đường ở Nepal, còn có ông chủ của tiệm thangka vội vàng cầm một bức tượng Phật tặng tôi, đây là một việc vô cùng ảo diệu. Gặp được người cũng rất vi diệu, cái duyên rất vi diệu, hữu duyên thiên lý năng tương ngộ. Đây đều là Hộ pháp an bài. Sức mạnh của Hộ pháp lớn như vậy, mọi người phải tu pháp cho tốt, tu được cầu vồng, tự nhiên tất cả đều sẽ cát tường viên mãn.

Om mani padme hum.

03/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 163. Tương ứng cầu vồng (4)


Chúng ta lại nói về tương ứng cầu vồng phần 4. Đến Ấn Độ và Nepal, mọi người đều biết, thức ăn và nước uống ở đó đều có vấn đề. Tôi từng lấy một ví dụ, người Seattle đến Ấn Độ, lỗ mũi ban đầu rất sạch sẽ, đến Ấn Độ một ngày, lỗ mũi liền đen như mực, chảy nước mũi đều là nước đen. Không khí thì như vậy, nước thì càng nghiêm trọng hơn, chạm cũng không muốn chạm vào, đồ ăn cũng như vậy.

Khi chúng tôi đi thì mang theo rất nhiều nước suối, cả vali gần như đều là nước suối để đảm bảo nước dùng trong một tháng. Ngay cả đánh răng cũng phải dùng nước suối của mình, chỉ có rửa mặt là dùng nước của người ta, còn những việc khác đều dùng nước của mình.

Vậy Hộ pháp giúp như thế nào? Nói ra thì cũng rất kỳ diệu. Đến đó chúng tôi ăn các thứ, Sư Tôn không sợ thứ gì cả, người khác thì cái gì cũng sợ. Người khác thì tiêm chỗ này, tiêm chỗ kia, tiêm vào mông, giống như nhảy Macarena vậy, chỗ nào cũng tiêm. Tôi không tiêm, chỉ có mỗi mình tôi không tiêm, tôi thỉnh Hộ pháp hộ trì.

Khi đi ra ngoài, mỗi lần ăn đồ ăn, tôi đều cúng dường Hộ pháp trước, Hộ pháp đến thì yên tâm mà ăn. Mọi người đều nhìn tôi, mọi người thấy tôi ăn thì mới liều mạng mà ăn. Giả sử Sư Tôn do dự một lúc thì mọi người đều không dám ăn.

Bạn biết ở Ấn Độ, rất nhiều thứ đều có vấn đề. Nói một ví dụ về trứng thôi, tôi lấy một quả trứng luộc, vừa bóc ra, ôi mẹ ơi, bên trong có lông gà, còn có cả mắt nữa, nó đã sắp nở thành gà con rồi mà họ còn làm thành trứng luộc chứ! Nước ở đó không thể uống được, vừa mở nước máy ra thì bên trong đều là các chấm trắng, đều là vi khuẩn.

Có một lần ở trong tiệm ăn, ở cái nơi mà “vào xong là đi”, tức là thành phố Varanaxi ở bên bờ sông Hằng [chơi chữ, biến đổi tên gọi Varanaxi thành “vào xong là đi”, tức là ăn vào là sẽ bị tiêu chảy], rất dễ nhớ. “Vào xong là đi”, thành phố đó ở bên bờ sông Hằng, chúng tôi ở đó ăn cơm. Họ đem ra món cá tẩm bột chiên, tôi làm cúng dường, khi cúng dường lần đầu Hộ pháp không đến, tôi dừng lại một lúc. Tôi lại cúng dường lần thứ hai, ngài đến rồi, tôi cho rằng Hộ pháp đến để tiếp nhận cúng dường, nhất định là có thể ăn được, tôi liền ăn. 

Sau khi ăn một đĩa lớn, bản thân tôi có một cảm giác khi nãy Hộ pháp đến chậm một lúc là có ý gì. Thì ra món cá đó bị hỏng rồi, đã hỏng chảy nước rồi, hơn nữa còn có mùi nữa. 

Thượng sư Thường Trí lấy rất nhiều cá cho tôi, nhưng ông ấy không ăn. Ông ấy biết là hỏng rồi, ông ấy không ăn, ông ấy ngửi thấy mùi bị hỏng rồi, cuối cùng khi ông ấy quay đầu lại định nói với tôi thì nhìn thấy tôi đã ăn hết sạch rồi, vì thế ông ấy không nói gì. Rất nhiều người đã ăn rồi, rất nhiều người nhìn Sư Tôn cúng dường xong thì họ cũng đã ăn hết rồi. Tốt rồi, “vào xong là đi”. Kể từ ngày hôm đó liên tiếp mấy người đều “vào xong là đi”. 

Thế Sư Tôn có “vào xong là đi” không? Không có, Hộ pháp hộ trì. Tôi còn có một mẹo, chính là sau khi ăn phải những thứ không tốt thì uống một chút rượu cồn, rượu cồn uống vào sẽ giết vi khuẩn, chính là như vậy.

Tôi đến Ấn Độ và Nepal, mỗi lần cúng dường đều mời Hộ pháp. Hộ pháp hễ đến muộn hoặc không đến là tôi không dám ăn. Không dám ăn thì phải làm sao? Sẽ bị đói bụng. Nếu Hộ pháp chậm đến nhận cúng dường thì tức là thức ăn có vấn đề, đây chính là sự tương ứng của Hộ pháp, cũng là tương ứng cầu vồng.

Chúng ta biết Hộ pháp nhận cúng dường, khi ngài rất vui mừng nhận cúng dường thì thứ này nhất định là tốt, ngài đến chậm một lúc tức là biểu thị đồ ăn có vấn đề. Nước cũng thế, chúng tôi ở Ấn Độ uống nước đều là nước suối, nước uống, nước súc miệng, nước rửa mặt, toàn bộ đều dùng nước suối. Hộ pháp hộ trì, bạn lĩnh hội ý tứ của Hộ pháp, như thế sẽ hiểu được thức ăn này có thể dùng hay không.

Lần này chúng tôi đi có 18 người, chỉ có một mình Sư Tôn là từ đầu tới cuối không gặp chuyện gì cả. 17 người khác đều tiêm phòng hết, không bảo họ đi tiêm họ cũng đi tiêm, thế nhưng hầu hết đều gặp vấn đề, chỉ là lớn hay nhỏ mà thôi. Còn có người miệng nôn trôn tháo, người bị rất nặng cũng có. Hộ pháp hiển hiện hộ trì, khiến cho tôi đi và về đều không có một chút bệnh tình nào, hơn nữa tôi luôn ăn hết đồ ăn, không bữa nào để thừa lại một hạt cơm nào, đây chính là sức mạnh của Hộ pháp.

Bạn nghĩ mà xem, đi ra ngoài muốn bình an thì phải có Hộ pháp. Hễ đi trên đường thì xe xóc lên xóc xuống, xe chạy trên đường nhựa mà lắc lư giống như đang ngồi trên thuyền vậy, lắc lư cả bảy, tám tiếng đồng hồ, mỗi lần tôi thấy lắc dữ dội quá thì tôi cật lực niệm chú. Mọi người đều ngủ hết, chỉ có mình tôi tỉnh táo trì chú, mọi người đều ngủ chỉ mình tôi tỉnh. Lắc ghê gớm như vậy mà họ vẫn có thể ngủ được sao? Họ cho rằng lắc là để ru ngủ đó! Chỉ có một mình tôi là bán mạng niệm chú, thỉnh cầu Hộ pháp hộ trì cho xe không lật.

Mọi người thử nghĩ xem, chúng tôi thật sự đã nhìn thấy xe khách bị lật đổ trên đường, có mấy chiếc xe khách đã bị lật đổ xuống núi, rơi xuống ruộng, rơi xuống hào nước đều có. Nhưng có thể bình an đi, bình an trở về, đều là công lao của Hộ pháp. Kể cả sự bình an của thân thể bạn cũng là Hộ pháp đang trợ giúp. 

Cảm ứng kiểu này vô cùng sâu sắc, chính là tương ứng cầu vồng. Chúng tôi chắp tay lại, cầu nguyện Hộ pháp đến nhận cúng dường, ngài đến muộn là bạn biết ngay. Cảm ứng nhanh chóng như vậy, sâu sắc như vậy. Ngài hoan hỷ tiếp nhận cúng dường cho thấy đồ ăn đều không có vấn đề gì, chậm trễ tức là có vấn đề, đừng ngửi mùi hoặc ăn, tất cả đều cát tường viên mãn. 

Om mani padme hum. 

03/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 164. Tương ứng cầu vồng (5)


Chúng ta lại nói về tương ứng cầu vồng phần 5. Lần này đến Ấn Độ và Nepal, chúng tôi cũng đến hang động tu hành của tổ sư Mật giáo, tức là hang động của tổ sư Naropa. Sau khi tham quan hang động tu hành của tổ sư thì có một cảm giác: linh khí của nó rất dày, là một nhân tố về địa linh.

Lần này chúng tôi đến Ấn Độ đi xem hang động tu hành của Naropa, tại Nepal chúng tôi đi xem hang núi tu hành của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, đây đều là nơi có địa lý.

Hang động của tổ sư Naropa ở bên đường, rất gần đường, sát với suối, có tiếng nước chảy rất lớn, hang động nằm ngay bên cạnh suối, cái này tức là “giới thủy chỉ lai long”, tức là nơi mà dòng nước đã chặn ngay long khí lại ở đó, thì gọi là “giới thủy chỉ lai long”. 

Hang động đó còn có thạch nhũ, nước nhỏ xuống biến thành thạch nhũ. Bên trong vô cùng mát mẻ, nếu bạn tu hành ở bên trong thì đông ấm hè mát. Đi vào bên trong cảm thấy không khí rất trong lành, hơn nữa linh khí rất dày.

Chúng ta biết rằng lựa chọn địa lý rất quan trọng đối với tu hành. Nơi có khí phối hợp với khí của thân thể bạn, tu hành sẽ tương đối có thể có thành tựu. Người tu khí phải phối hợp với địa khí, cái gọi là thiên thời, địa lợi, nhân hòa, ba thứ thiên-địa-nhân hợp nhất, tu hành sẽ tương đối có thể nhanh chóng thành tựu. Vì thế, các tổ sư khi bế quan tu hành vẫn sẽ chọn nơi có địa lý. 

Tôi quan sát một lúc, hang núi mà Naropa tu hành là huyệt Mao Giải, cũng tức là huyệt “con cua”. Hai cái càng giơ ra, có một cái đầu, nơi có cái miệng nhả ra nước, nhả nước trên núi ra. Nước ở đó rất trong, rất khó thấy được nước trong như vậy. Hang động đó ở một nơi không xa dưới chân núi Dharamshala, ở ngay bên đường. 

Địa lý phải nhìn lai long [long mạch], có lai long, có kết huyệt, có sa thủ, có thủy, dòng nước này còn phải bao quanh, phương hướng phải chính xác, đây là năm yếu tố rất quan trọng. 

Chúng ta biết rằng tổ sư Naropa là tổ sư của sáu pháp Naropa. Truyền thừa là Tilopa truyền cho Naropa, Naropa truyền cho Marpa, Marpa truyền cho Milarepa, Milarepa truyền cho Gampopa, đây chính là truyền thừa của tổ sư Bạch giáo.

Tổ sư Naropa nổi tiếng nhất với sáu pháp Naropa, trong đó pháp rất quan trọng là pháp Chuyết hỏa. Sáu pháp Naropa trong “Hồng Quang Đại Thành Tựu” tôi đều đã giảng rồi, tu thành tựu bất kì một pháp nào thì chính là A La Hán. Đặc biệt là tu hành pháp Chuyết hỏa, dẫn nội hỏa, phối hợp vừa vặn với địa linh ở nơi đó, cực kì tốt. Tôi vừa đi vào đã cảm thấy vô cùng mát mẻ, lúc đó đốt cháy chuyết hỏa lên, phối hợp với khí mát mẻ, toàn bộ dung hợp với nhau chính là “thủy hỏa ký tế”. 

Bên ngoài hang động của Naropa còn có một chỗ vuông vắn nhỏ nhắn để Thượng sư đốt lửa. Tôi nghĩ nhất định là ngài ấy làm hỏa cúng. Ở phía trước chỗ ngồi của ngài ấy có một chỗ để đốt lửa, là để làm hỏa cúng. Thời tiết lạnh thì có thể chống rét, lại có thể làm hỏa cúng, thậm chí có thể đun nước, còn có thể nấu cơm, có thể xào rau, một cái bếp lò có rất nhiều công dụng.

Mỗi người chúng tôi đều ngồi vào chỗ mà tổ sư Naropa đã từng ngồi, mọi người đều ngồi ở đó. Tôi cũng hy vọng mỗi đệ tử từng ngồi vào đó đều tu thành tựu giống như tổ sư Naropa, như vậy thì tốt.

Nghe được tiếng nước chảy cũng tốt, vì sao? Âm thanh niệm chú của bạn giống như tiếng nước chảy, không gián đoạn. Không chỉ như vậy, chú âm còn phải thắng cả tiếng nước, bạn phải nghe được chú âm của chính mình. Cho dù lúc bạn không trì chú, bạn nghe thấy tiếng nước chảy đó cũng là chú âm, đó là sự miên man không dừng. Nước này còn có thể cổ vũ bạn tu trì, bạn nghe tiếng nước chảy không bao giờ ngừng, biểu thị tinh thần phi phàm của nó, chú âm miên man không dứt.

Một hành giả bình thường trì chú, ổn thôi, nhưng khi không trì chú, đừng cho rằng là không trì chú. Bình thường miệng đang trì chú, tâm cũng đang trì chú, lúc sau miệng không trì chú nữa, tâm vẫn phải chuyển chú, đây là sự xoay chuyển không ngừng, sự tinh tấn này là xoay chuyển không ngừng.

Vì thế, tôi tin rằng khi tổ sư Naropa ở trong hang động tu hành, ngài đã hòa hợp vào nước. Thường ngày ngài niệm chú, âm thanh lớn hơn cả tiếng nước suối, sau đó lại in chú âm vào trong nước suối, nghe âm thanh nước suối giống như chính mình đang niệm chú. Đây chính là tu hành hợp nhất ba thứ thiên-địa-nhân. Bạn chỉ cần tu được công phu này, nghe được bất kì âm thanh gì đều là đang trì chú.

Vừa nãy khi chúng ta tu xong pháp, đột nhiên nổi lên một cơn gió mạnh, tiếng rất vang, cửa cũng động, cửa sổ cũng động, cây bên ngoài đều lay động, phát ra âm thanh. Mọi người thắc mắc cái gì đến thế nhỉ? Là Hộ pháp đến đó. Vừa tu pháp xong thì Hộ pháp liền giáng lâm, âm thanh đó hòa nhập vào trong người bạn, tự thân bạn biến thành Hộ pháp.

Vì thế tâm hành giả phải hòa hợp cùng với tự nhiên. Bạn hòa tan vào cùng tiếng nước, tiếng nước chảy chính là chú âm. Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

04/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 165. Tương ứng cầu vồng (6)


Chúng ta lại nói về tương ứng cầu vồng phần 6. Tại Ấn Độ chúng tôi đã đi xem hang động tu hành của Naropa, bạn sẽ có thể hiểu được con người và địa khí là tương thông. Tại Nepal, chúng tôi đã tới thăm hang núi mà tổ sư Liên Hoa Sinh Đại Sĩ bế quan tu hành. Hang núi tu hành của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ tương đối cao, nhưng cũng là nơi “giới thủy chỉ lai long”. 

Bởi vì long khí đến hang động thì dừng lại, tuy rằng không có nước, trên thực tế nó cũng là “giới thủy chỉ lai long”. Vì về địa lý mà nói, “cao một tấc chính là núi, thấp một tấc chính là nước”. Cho nên đây cũng là “giới thủy chỉ lai long”, long mạch vừa hay đến chỗ đó thì dừng lại, dừng ở ngay đó.

Khi tôi đi lên núi, ở bên cạnh núi nhìn lên, long mạch ở ngay bên cạnh hang động, bên dưới thì không còn nữa. Như thế là khí không chảy đi. Ở dưới chân núi không nhìn được địa thế, đi vào trong hang núi, từ cửa hang nhìn ra ngoài, đúng là có một vòng tròn bao quanh, một viên ngọc hình tròn ở nơi rất xa đối diện với cửa hang, hai bên có hai vòng cát vây quanh, chính là “rồng xanh cướp ngọc”. 

Pháp sư Liên Liêm hỏi tôi hang động của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là địa thế gì, là huyệt gì? Tôi còn chưa lên tới nơi để xem thì ông ấy đã hỏi tôi rồi. Tôi nói tôi không biết. Đợi đến lúc đi lên nhìn thì biết là “rồng xanh cướp ngọc”. Một con rồng xanh bay xuống vừa hay chạm mặt với một viên ngọc, ngọn đồi tròn đó chính là viên ngọc, hai bên còn có vòng cát ôm vào, cực kì đẹp đẽ.

Đi vào bên trong cũng cảm thấy rất mát mẻ. Tổ sư Liên Hoa Sinh Đại Sĩ rất phi phàm, hang động mà ngài tu hành cũng rất phi thường. Tổ sư khi tu hành sau khi có được pháp thì đều nhanh chóng bế quan. Thời gian bế quan rất dài, có người thì một năm, hai năm, ba năm, bốn năm, năm năm, tu pháp đến khi tương ứng mới dừng.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là người xứ Orgyen, bản thân ngài là tổ sư Hồng giáo, tức tổ sư phái Nyingma. Ngài cũng từng ở trong thiền định tiếp dẫn tôi đến Nepal tu hành. Vì thế, ở Ấn Độ và Nepal rất nhiều người nhìn thấy tôi đều nói với tôi: “Này, sao bây giờ ngài mới đến?” Ba năm trước họ đã nhìn thấy tôi, có người thì một năm trước nhìn thấy tôi, có người thì mấy năm trước đã nhìn thấy tôi. Tại Bodh Gaya, tại Nepal, ở rất nhiều nơi đều có người gặp tôi thì nói “Tôi từng thấy ông rồi”. Tôi cũng nói thẳng với mọi người, Nepal mà tôi nhìn thấy trong hư không hoàn toàn giống với Nepal mà tôi tận mắt nhìn thấy.

Hang động tu hành của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ mà chúng tôi đi xem có hai nơi, một nơi là hang động ở trên đỉnh núi, một nơi là dưới núi. Khi tôi đến hang động dưới núi thì phát hiện ra đây cũng là “giới thủy chỉ lai long”. Bạn xem, có một dòng suối rất trong chảy ra, hơn nữa còn có một hồ nước, nước rất trong. Còn có rất nhiều cá bơi ở dưới, hơn nữa không ai biết nước suối này từ đâu chảy tới.

Nghe nói hang trên núi và hang dưới núi là thông nhau, đều là nơi có địa khí. Khi ở trên núi nóng thì ngài xuống hang động ở dưới núi tu, dưới núi quá lạnh thì ngài lại đến hang động trên núi tu. Hoán đổi giữa hai hang động.

Đến nơi đó tôi đã nhìn thấy hang động của hai vị tổ sư đều có địa khí cực kì dày đặc, long, huyệt, sa, thủy, hướng, đều có đủ cả.

Bởi vậy, sau này các bạn tu hành cũng cần như vậy, đi tìm nơi bế quan, địa khí của nơi bế quan cũng phải dày như vậy thì mới có thể thành tựu. Bạn không thể tìm đến nơi tan hoang, nơi không có địa khí, vì như thế sẽ làm nhiều được ít. Giả sử bạn tìm được nơi có địa khí thì sẽ làm ít được nhiều. Vì thế, địa lý rất quan trọng, tôi cảm thấy đây cũng là tương ứng cầu vồng. Hang động mà tổ sư tìm đều có địa lý, tuyệt đối không phải là nơi không có địa lý tốt, địa lý không tốt thì tương đương với người này sẽ không có thành tựu.

Giống như Cầu Vồng Sơn Trang của Chân Phật Tông, cũng là nơi thất tinh lạc địa (bảy ngọn núi lớn), đều có địa khí rất hùng hậu. Bạn ở trong phòng bế quan ở Cầu Vồng Sơn Trang để thiền định, linh khí đó cũng rất khác, bạn sẽ cảm thấy giống như đang ở thiên thượng giới. Tu hành phải ở nơi có địa linh, bạn xem Liên Sư ở hang động dưới núi cũng có tiếng nước chảy, có tiếng suối.

Có thể nói thế này, nước và lửa của thân thể phối hợp, tan hợp vào nhau là thủy hỏa ký tế. Trong Mật giáo nói chuyết hỏa đi lên, bồ đề tâm nguyệt dịch rơi xuống, hoàn toàn chính là thủy hỏa ký tế, dùng thủy hỏa để luyện. Dùng phong để gia trì, dùng nguyên liệu thủy hỏa để luyện, sau đó thân thể của chính bạn chính là địa. Như thế là tổng hợp địa thủy hỏa phong, đây đều là yếu tố của tu hành. 

Mọi người đã hiểu tầm quan trọng của đất rồi. Các bạn cũng có thể quan sát mảnh đất nào có địa khí, mảnh đất nào không có địa khí, thế rồi các bạn có thể bế quan tu hành cho tốt, sau này người người đều biến thành tổ sư Naropa và Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Hôm nay giảng đến đây. Om mani padme hum.

04/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 166. Ứng dụng Phật pháp vào đạo xử thế (1)


Hôm nay nói về ứng dụng Phật pháp vào đạo xử thế. 

Chúng ta nghiên cứu Phật pháp thường xuyên dùng ba chữ thể-tướng-dụng để giảng giải Phật pháp. Trước kia tôi đã nói cái “thể” này chính là bản thể, “tướng” chính là ngoại tướng, còn “dụng” có thể nói là ứng dụng.

Ví dụ chúng ta gõ chuông, bản thể của chuông chính là đồng, dùng đồng để đúc. Tướng bên ngoài của nó chính là hình cái chuông, tác dụng của nó là gõ vào thì sẽ phát ra âm thanh. Vì thế, rất nhiều người nghiên cứu Phật học dùng ba chữ thể-tướng-dụng để giải thích Phật học. 

Rất đơn giản, bất kì thứ gì bạn đều có thể dùng thể tướng dụng để phân tích. Ví dụ nói về cái bàn, bản thể của nó là gỗ, ngoại tướng của nó là một cái bàn, còn ứng dụng của nó chính là đặt các thứ lên trên, viết, làm việc. Vì thế, nghiên cứu rất nhiều kinh Phật, bạn chỉ cần nghĩ đến thể tướng dụng của chúng là có thể xem qua là hiểu ngay. Đây là một phương pháp nghiên cứu Phật học.

Giống như chúng ta thường nói ba thân Phật: Pháp thân chính là bản thể của Phật, Báo thân chính là tướng của Phật, Ứng thân chính là ứng dụng của Phật, mọi người nghĩ như thế thì sẽ rất rõ ràng. Vậy thì bạn sẽ biết tượng ở đàn thành là gì. Tượng mà bạn đặt trên đàn thành chính là Báo thân. Ứng thân là gì đây? Những người đang ngồi đây đều là Ứng thân. Những người có thể hoạt động, có thể đi hoằng dương Phật pháp đều là Ứng thân của Phật. Giống như A Di Đà Phật của thế giới Cực Lạc vẫn là Báo thân Phật. Bản thể là gì? Chính là hư không, ý thức vũ trụ, Đại Nhật Như Lai (Tỳ Lô Giá Na). Bên dưới Ngũ Phật lại ứng hóa ra chính là Ứng thân. Pháp-Báo-Ứng cần phải như vậy, phân tích như vậy, bạn sẽ rất rõ ràng.

Vì thế, về mặt ứng dụng, Phật pháp đều dùng thể tướng dụng. Ở đây tôi cần nhắc đến vấn đề xử thế của Phật pháp. Phật pháp ứng dụng tại thế giới Ta Bà, phải dùng phương pháp gì đây? Chúng ta thường nghe pháp sư nói rằng phải tiêu trừ ba thứ độc tham, sân, si. Bạn loại bỏ hết tham sân si, bạn sẽ thành Phật thành Thánh, thế giới Ta Bà sẽ biến thành nhân gian tịnh thổ. Nhưng muốn loại bỏ rất khó, vì thế về mặt ứng dụng lại có ba cách: một là dừng, chính là cách mà cha của Đại Vũ dùng để trị thủy, chính là cách chặn. Khi tham đến thì chặn nó lại, sân đến thì chặn nó lại, đây chính là cách dừng. Hệ tiêu hóa của bạn không tốt, dùng cái nút của chai rượu vang bịt nó lại, cái nút làm sao mà bịt chặt được? Rất khó đó. Vì thế, cha của Đại Vũ trị thủy thất bại chính là vì đã dùng cách chặn.

Sau đó thì sao? Đại Vũ trị thủy đã dùng cách khơi thông. Cách khơi thông là thế nào? Là cách chuyển. Chính là chuyển hóa tham sân si.

Tu hành Phật pháp ứng dụng vào xử thế có cách dừng, có cách chuyển, ngoài ra cách cao siêu nhất chúng ta gọi là cách đi theo, đi theo nó, đi theo nó là cách cao minh nhất. Thật ra pháp Đại viên mãn trong Mật giáo chính là nói về cách đi theo. Ở đây có cách dừng, có cách chuyển, có cách đi theo, là ba cách.

Thiền tông cũng có ý vị của cách đi theo, tức là đi theo tham sân si. Đi theo tham sân si rất khó, pháp vị ở đây cực kì sâu, không phải là người có căn khí thượng đẳng thì không cách nào học được. Đại Vũ trị thủy dùng cách khơi thông, chính là cách chuyển. Khơi thông tham sân si để cho nó đi, đây là cách chuyển.

Bởi vậy tôi cho rằng giống như chúng ta tu hành, bạn phải hiểu thế nào là cách dừng. Pháp sư thông thường đều nói “Không được tham nhé! Không được sân nhé! Không được si nhé!” Nhưng lại cứ tham sân si, bạn có cách gì đây? Bạn dùng cái nút bịt chúng lại sao? Đương nhiên là bịt không được. Đôi khi còn đột ngột nổ “bụp”. Chà, tung tóe đầy trên đất, rất khủng khiếp. Đây chính là nát bét không thể cứu vãn, ngược lại càng nghiêm trọng. Đôi khi, không dừng được, ngược lại còn nát bét không thể cứu vãn.

Đại sư Phật pháp trước kia từng nói, tham sân si giống như cỏ, bạn dùng tảng đá to đè nó, đương nhiên nó không mọc. Có một ngày bạn nhấc tảng đá lên, cỏ sẽ lại mọc như cũ. Đây không phải là biện pháp cơ bản, biện pháp cơ bản thật sự vẫn là phải chuyển hóa, chuyển hóa tham sân si, đây chính là một kiểu khơi thông.

Còn cách đi theo thì càng cao siêu hơn, nó vượt lên trên tham sân si. Trong pháp Đại viên mãn của Mật giáo là Trekcho, vượt lên tham sân si. Sau đó đi nhậm vận, đi theo tham sân si mà nhậm vận. Đây là Mật giáo Đại viên mãn, là đại pháp tối cao của phái Nyingma.

Pháp Đại thủ ấn của Kagyu thì vẫn là có thứ tự dần dần. Đại viên mãn tâm trong tâm, cốt tủy của Đại viên mãn chính là nói về đốn siêu và nhậm vận, cái này chính là cách đi theo.

Ba phương pháp này cũng rất vi diệu. Trong xử thế, bạn ứng dụng ba phương pháp này, cách dừng, dừng không được thì dùng cách khơi thông, khơi thông không được thì dùng cách đi theo. Ba phương pháp này cũng phải vận dụng một cách linh hoạt.

Hôm nay nói đến đây. Om mani padme hum.

05/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 167. Ứng dụng Phật pháp vào đạo xử thế (2)


Hôm nay chúng ta nói về ứng dụng Phật pháp vào đạo xử thế. 

Phật Đà giảng tinh thần trung đạo vô cùng hay, vô cùng vi diệu. Sau khi bạn thâm nhập nghiên cứu Phật pháp, bạn sẽ hiểu mỗi một thứ đều có thể vận dụng được một cách hợp lý. Lấy ví dụ tham sân si để nói, vô thủy vô minh là nói về bản tính của nhân loại, nghiệp cơ bản mà họ mang theo khi đầu thai qua các đời là rất nặng, bạn rất khó để xoay chuyển nó, rất khó để thay đổi. Nhưng khi bạn phải thay đổi nó, dùng cách chuyển thì tương đối dễ, dùng cách dừng thì tương đối khó. Cách đi theo đương nhiên là rất dễ, nhưng trí huệ của bạn phải rất cao thì mới có thể vượt lên trên tham sân si, mới có thể ứng dụng hiệu quả.

Những điều này đều thuộc về triết học trong Phật pháp. Lấy tham để nói, bạn bảo mọi người không được tham, như thế là không đúng, nhưng bảo mọi người hãy tham đi thì cũng không đúng. Vậy phải tham như thế nào? Phải tham một cách thỏa đáng. Bạn bảo người làm kinh doanh lẽ nào không được tham sao? Nhưng cái gì thuộc về mình đáng có thì bạn có thể có được, cái mình không đáng có được thì không cần phải đi chiếm lấy, như thế tức là thỏa đáng. Bạn đem những gì bạn có được vận dụng trên phương diện từ bi, đem đi vận dụng trên phương diện Phật pháp, đem đi vận dụng trên phương diện cứu người, thì đó là xác đáng.

Bởi vậy, rất nhiều sự việc bạn phải đi trên trung đạo, cái này rất vi diệu. Vượt qua trung đạo, vượt quá hoặc chưa tới đều không tốt. Phật Đà từng giảng rất rõ ràng rồi, dây đàn căng quá thì sẽ đứt, dây đàn chùng quá thì không có được âm thanh đẹp đẽ, vì thế, vừa đúng mức chính là trung đạo. Ngày nay Phật pháp ứng dụng trên thế gian này chính là phải đi trên trung đạo rất vi diệu.

Sân không nhất định là không tốt, bạn tranh luận chính đáng vì công lý thì đó là tốt. Bạn rất nghiêm túc tranh luận vì chính nghĩa thì cái sự sân này lại là tốt. Bạn là Hộ pháp, khi hộ trì Phật pháp, bạn phải dùng thanh kiếm của chính nghĩa để đi hộ trì Phật pháp. Vì thế bạn xem Phật Thích Ca Mâu Ni và các vị Phật đều có Hộ pháp ở bên cạnh, những Hộ pháp này chính là chuyển hóa sân thành việc bảo hộ Phật pháp.

Tham chuyển hóa thành từ bi, sân chuyển hóa thành kim cang, si cũng có thể chuyển hóa. Đối với rất nhiều việc vô lý áp bức lên bạn, bạn không nói gì, thể hiện ra bộ dạng rất ngu si để tránh khỏi những tranh chấp, đây là lúc bạn biểu hiện cái si. Không muốn đi tạo ra những tranh chấp không cần thiết, bạn giả vờ cực kì ngu si, cái này là “đại trí giả ngu”, có rất nhiều điều bạn không muốn nói.

Vì thế Phật Đà và Jesus Christ, khi những đệ tử vô lý chất vấn các ngài, các ngài liền nói: “Ta chẳng có gì để nói.” Phật Đà nói “bất khả thuyết”, Jesus thì cơ bản chẳng nói một câu nào. Các ngài đều là đại trí giả ngu, tránh được rất nhiều tranh chấp.

Đề Bà Đạt Đa phản bội, khi thăm dò Phật Đà, Phật Đà ngồi ở đó chẳng nói một câu nào. Khi có rất nhiều người chất vấn Jesus Christ, Jesus Christ cũng không nói một câu nào. Vì sao vậy? Bởi vì nói ra thì ngược lại, sẽ dẫn đến rất nhiều tranh chấp. Lúc này chính là lúc phải biểu hiện cái si của tham sân si. Cứ là đại trí giả ngu, chẳng nói gì cả. Vì thế, xử thế cũng có rất nhiều cách.

Tham không nhất định là không tốt, bạn tham một cách thỏa đáng, dùng vào việc từ thiện, thì tức là đại từ đại bi. Bạn sân một cách thỏa đáng, dùng vào việc hộ pháp, tức là Kim cang. Bạn si một cách thỏa đáng, nỗ lực làm việc nhưng không nói, chính là sự chuyển hóa của si. Trong việc đối nhân xử thế, bạn phải làm cho vừa phải hợp lý thì tức là đang đi trên trung đạo của Phật Đà.

Hôm nay có người nói trang phục của chúng ta nhìn chẳng giống trang phục xuất gia của Hiển giáo, cũng chẳng giống trang phục xuất gia của Mật giáo. Vì sao? Bởi vì chúng ta đi trên trung đạo, chúng ta gồm cả Hiển và Mật. Về Hiển, chúng ta có tượng trưng của Hiển giáo, đó là tay áo dài, màu sắc đậm, vì thế Chân Phật Tông chúng ta là Hiển Mật cùng nhau. Trang phục là con người thiết kế ra, chỉ cần trang nghiêm là được.

Vì thế con đường chúng ta đi là trung đạo, lệch về Hiển, lệch về Mật đều không tốt. Bạn chỉ học Mật thì không được, bởi vì bạn không có cơ sở của Hiển giáo. Bạn hoàn toàn học Hiển cũng không được, bởi vì trong Mật giáo rốt cục có “tâm trong tâm”, có rất nhiều bí mật trong đó. 

Hôm nay Chân Phật Tông chúng ta chủ trương Hiển Mật phải viên dung, học Hiển trước sau đó học Mật, tiến vào “tâm trong tâm” của Phật pháp. Bạn học Phật thì dùng cách dừng trước, cách dừng nhưng không dừng được thì dùng cách chuyển, chuyển xong thì tiến vào cách đi theo, càng đốn siêu hơn, đây chính là xử thế của Phật pháp.

Om mani padme hum.

05/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

**(Hết quyển 4)**

---

---
# File: kinh-luat-luan/hong-quang-dai-thanh-tuu-tap-5-het.md
# Title: Hồng quang đại thành tựu - Tập 5 (Hết)
---

![image](/img/img_52a489bc2edac95b66de6afb4ec56f67.jpg)



## Hồng quang đại thành tựu


Địa điểm: Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ. 
Thời gian: Năm 1996
Quyển số: 626
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### 168. Thường lạc ngã tịnh (1)


Hôm nay chúng ta nói về “thường lạc ngã tịnh”. Mỗi lần chúng ta tu Chân Phật Mật Pháp, trong mỗi pháp Bổn tôn, chúng ta đều niệm thêm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, trong kinh văn có bốn chữ, bốn chữ này chính là “thường lạc ngã tịnh”, lần nào cũng đọc bốn chữ này.
”Thường lạc ngã tịnh” có ý nghĩa gì? Có thể nói đó là một cảnh giới rất cao siêu, cảnh giới này đòi hỏi phải tu đến một trình độ nhất định mới có thể thật sự tiến vào “thường lạc ngã tịnh”. 

Trong Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh có bốn chữ này, có thể thấy bộ kinh này đã đạt đến cảnh giới “thường lạc ngã tịnh” rồi. Chúng ta đọc kinh điển thì phải thâm nhập kinh tạng, biết ý nghĩa của bản thân từng chữ.

Tiếp theo chúng ta nói đến ba phương pháp của “thường lạc ngã tịnh”. Thật ra trong Mật giáo cũng dạy ba phương pháp này, hôm qua chúng ta cũng nói đến ba phương pháp. 
Thứ nhất là dừng — ý nghĩa của dừng chính là dừng dứt những suy nghĩ không tốt, thậm chí cũng đều phải dừng dứt tất cả những hành vi không thỏa đáng của bạn. Đây là một phương pháp tu hành.

Thứ hai là chuyển — tức là chuyển hóa hết những suy nghĩ không tốt.

Thứ ba là đi theo — thế nào gọi là đi theo? Có một ví dụ rất hay, chính là trẻ em xem tranh. Trẻ em đi đến thư viện hoặc viện bảo tàng để xem tranh, rất nhiều bức tranh, chúng chỉ đi qua nhìn những bức tranh đó, trong lòng không có suy nghĩ gì khác, vì thế nói trẻ em xem tranh tức là đi theo.

Giống như chúng ta nhìn dòng sông đang chảy, dòng chảy của nước sông đang chảy đó đại diện cho đủ thứ vọng niệm, bản thân bạn ở bên ngoài dòng chảy, bạn nhìn nó, còn vọng niệm thì đang chảy ở phía trước, đây cũng là đi theo. Cách đi theo này rất cao siêu, tôi đã nói rồi, pháp Đại viên mãn chính là pháp đi theo, Thiền tông chính là pháp đi theo.

Bạn có thể nhìn rõ ràng vọng niệm đang chảy ở trước mặt mà không đi sâu vào trong đó, đây chính là đốn siêu, vượt qua mọi vọng niệm và phiền não. Muốn đạt đến cảnh giới “thường lạc ngã tịnh”, có thể dùng cách dừng, khi bạn biết dừng hết vọng niệm và phiền não thì sẽ sinh ra cảnh giới như thế nào? Cảnh giới này gọi là Không — cảnh giới trống rỗng, hễ dừng lại là không còn. Vọng niệm dừng lại chẳng phải biến thành không sao? Từ trong hư không này mới có thể sản sinh ra một dạng khoái lạc, đây là một phương pháp tu hành.

Ngoài ra còn có một phương pháp chuyển, trong Mật giáo dạy bạn dùng quán tưởng, chính là chuyển hóa, trước kia tôi từng nói lấy niệm để dừng niệm, lấy chính niệm thay thế cho vọng niệm của bạn, đây chính là chuyển. 

Vì thế hành giả chúng ta đôi khi phải đi ngắm núi, ngắm sông, đưa các bạn đi ra ngoại ô chơi, không phải bảo các bạn đi *barbecue*, đi dã ngoại, đi chơi, là muốn chuyển hóa tâm hồn bị giam cầm của bạn. Ngắm núi non hùng vĩ, ngắm rừng cây xanh thẳm, ngắm dòng nước sông xanh biếc, ngắm gió thổi tung tay áo, non xanh nước biếc có thể gột rửa tâm linh của con người, đây chính là một dạng chuyển hóa, có tác dụng thay đổi một cách vô thức. Bạn đi ngắm biển sẽ nhìn thấy tấm lòng của trái đất, tấm lòng của bạn cũng sẽ rộng mở; ngắm núi, đi học tập chí lớn của núi, đó là một ý chí vĩ đại; bạn nhìn hư không, tự nhiên sẽ tiến vào Không cảnh.

Vì thế, tu Đại viên mãn, đôi khi phải đi vào nơi núi sâu đỉnh cao, ngồi dưới một bầu trời xanh ngắt, bạn sẽ biến thành một cái chấm. Lúc này, bạn chú ý đến hư không, hòa nhập vào hư không, dừng hết mọi vọng niệm, tất cả phiền não đều sẽ tiêu trừ, đây là một phương pháp tu hành.

Vì sao chúng ta phải đi đến nơi núi sâu đỉnh cao để tu Đại viên mãn? Bởi vì ở trong hoàn cảnh đó, bạn có thể biết thế nào là đại viên mãn, bên dưới cả bầu trời xanh chỉ còn lại bạn là một cái chấm, mọi lo lắng thế tục đều ở dưới núi, rặng núi mênh mông bát ngát, bầu trời mênh mông bát ngát, lúc này bạn muốn dừng mọi lo âu thế tục thì tương đối đơn giản, đây là một phương pháp.
Bởi vậy tu pháp Đại viên mãn là phải ở nơi núi sâu đỉnh cao, tách biệt khỏi mọi lo lắng thế tục, ý nghĩa của nó chính là ở đây.

Quán tức là chuyển hóa, bình thường chúng ta ở trong nhà tu, chỉ có thể dùng phương pháp quán tưởng để làm. Vậy thì dừng và quán tưởng có lợi ích gì? Phiền não trên thế giới đều đến từ sự tương đối, còn trong sự tuyệt đối thì chỉ có bốn chữ “thường lạc ngã tịnh”. Thanh tịnh nhất là cái gì? Không. Hư không là thanh tịnh nhất, từ trong sự thanh tịnh bạn mới có thể trải nghiệm được niềm vui vĩnh viễn, muốn đạt đến cảnh giới này thì phải hiểu chân lý là tuyệt đối chứ không phải tương đối.

Vì thế, ở trong cảnh giới “thường lạc ngã tịnh”, không có đúng sai, không có tốt xấu. Nếu bạn có quan niệm tốt xấu, có quan niệm đúng sai, có quan niệm thiện ác sinh ra thì bạn chắc chắn sẽ có phiền não. Khi bạn tiến vào hư không tuyệt đối, khi lĩnh hội được trí huệ đại viên mãn của Phật Bồ Tát, khi ấy mới là “thường lạc ngã tịnh” đại viên mãn.

“Thường lạc ngã tịnh” khiến bạn cảm giác giống như là một lý luận, nhưng bạn cũng có thể tu đạt đến như vậy, mỗi người đều có thể tu đến cảnh giới “thường lạc ngã tịnh” này, cảnh giới này vô cùng vi diệu. Hôm nay nói đến đây. Om mani padme hum. 

06/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 169. Thường lạc ngã tịnh (2)


Chúng ta lại nói về “thường lạc ngã tịnh”. 
”Thường lạc ngã tịnh” cũng có thể có phương pháp thực tu, không chỉ là lý luận mà thôi.

Tôi sẽ nói về chính bản thân tôi làm sao để dừng, làm sao để chuyển, làm sao để đi theo. Ví dụ tôi nghe thấy một tin tức nói rằng đệ tử của tôi tự lập phái riêng, tự lập phái riêng là ý gì? Tức là anh ta muốn độc lập, anh ta muốn rời khỏi đất nước của chúng ta, anh ta muốn thành lập một đất nước nhỏ, anh ta muốn đứng riêng một mình. 

Độc lập ư? Độc lập ư? Chúng ta liền nghĩ, chà, sao cơ? Đệ tử lại muốn rời bỏ, muốn sáng lập đất nước của riêng mình, vì sao muốn làm như vậy nhỉ? Chúng ta chẳng phải rất tốt sao? Tu hành như vậy không phải rất tốt sao? Mọi người phải biết, thương trường cạnh tranh luôn luôn là như vậy, người làm thuê học được kỹ thuật của chủ rồi sẽ mở một cửa hàng ở đối diện, sau đó kéo tất cả khách hàng của ông chủ về chỗ mình, đây là việc thường thấy. Chúng ta cứ nghĩ đây là việc rất bình thường, anh ta muốn độc lập thì cũng là việc bình thường thôi.

Sau đó, ngẫm nghĩ lại, trước kia khi tôi xuất đạo, ngay cả một đệ tử cũng không có, bây giờ có nhiều đệ tử như vậy, cũng nên hài lòng thỏa mãn rồi, mấy người bỏ đi cũng chẳng sao cả, nghĩ đến “Tái Ông mất ngựa, sao biết chẳng phải là phúc”, thế là tâm lý yên ổn.

Khi bạn còn chưa yên ổn, bạn có thể nghĩ lại, quán lại. Tôi lại nghe thấy một đệ tử ngày mai phải mổ tim, nghe nói ngày mai phải mổ, hôm nay tôi liền cảm thấy phiền não, tôi lại nghĩ, tôi sẽ dùng phương pháp quán, quán tưởng đệ tử đó thành chính mình, ngày mai tôi phải mổ tim, vậy thì bạn có còn phiền não chuyện đệ tử muốn độc lập không? Sẽ chẳng còn phiền não, việc của ngày mai quan trọng hơn, ngày mai phải mổ tim quan trọng hơn.

Tôi vừa nghĩ đến đệ tử ngày mai phải mổ tim, tôi cầu nguyện cho anh ta, cũng nghĩ đến đặt mình vào hoàn cảnh của người khác, tôi biến thành anh ta, ngày mai tôi phải mổ tim rồi, thế thì có còn phiền muộn chuyện đệ tử muốn độc lập không? Đương nhiên là không rồi. Vì thế, tôi liền yên tâm thoải mái cảm thấy: “Ôi dào, có gì đâu!”

Thật ra khi bạn nghĩ về chuyện trước đây, bạn có thể trở về trước đây, cái lúc về cơ bản ngay cả một đệ tử cũng không có, bạn sẽ không có tâm được mất, tâm được mất này sẽ không có nữa. Một khi không còn tâm được mất thì sẽ “thường lạc ngã tịnh”. Muốn như vậy, tôi nói với bạn đây chính là phương pháp thực tu, phương pháp chuyển hóa, rất vi diệu.

Bạn có thể thường xuyên đặt mình vào hoàn cảnh của người khác như vậy mà nghĩ cho họ, luôn luôn đặt mình vào hoàn cảnh của người khác mà chuyển hóa, bạn có thể đạt đến “thường lạc ngã tịnh”. “Thường lạc ngã tịnh” có thể căn cứ vào lý luận để đi làm nó, có thể dùng phương pháp quán tưởng để chuyển hóa, không có được mất gì cả, không có tốt xấu gì cả, tuyệt đối “thường lạc ngã tịnh”.

Nói đến Mục Liên Thượng Nhân - người sáng lập Mục Liên tông, trong cuốn “Ngự Bổn Tôn” của ông ấy có viết về Phật Thích Ca Mâu Ni, viết về Đề Bà Đạt Đa, có người cho rằng: “Ôi, sao lại đặt Phật Thích Ca Mâu Ni ngang hàng với Đề Bà Đạt Đa chứ?” Tôi cho rằng quan niệm của ông ấy chính là không có tốt và xấu.

Bạn có biết bên trong cuốn “Ngự Bổn Tôn” còn viết cái gì không? Ngoài Phật ra, ông ấy còn viết về Thiên Vương thứ sáu - Tha Hóa Tự Tại Thiên Vương, tức là Ma. Trong “Ngự Bổn Tôn” sao lại có ma chứ? Sao lại có Đề Bà Đạt Đa? Tôi cho rằng đây chính là cảnh giới của Mục Liên Thượng Nhân.

Người bình thường chúng ta cho rằng đây là không phân biệt tốt xấu, Phật và Đề Bà Đạt Đa sao có thể ở cùng nhau? Nhưng bạn có biết không, Phật Thích Ca Mâu Ni cũng đạt đến cảnh giới này. Bản thân Phật Thích Ca Mâu Ni cũng thọ ký Đề Bà Đạt Đa thành Phật, nói sau này ông ta sẽ thành Phật, Phật hiệu của ông ta là Thiên Vương Như Lai, cho ông ta một tên hiệu, gọi là Thiên Vương Phật, Thiên Vương Như Lai, là Đề Bà Đạt Đa đó!

Hôm nay viết tên của Đề Bà Đạt Đa, mặc dù ông ta là đệ tử hãm hại Phật, nhưng tương lai ông ta thành Phật, gọi là Thiên Vương Như Lai, đây chính là cảnh giới “thường lạc ngã tịnh” của Phật Thích Ca Mâu Ni.

Mục Liên Thượng Nhân viết tên của Thiên Ma trong cuốn “Ngự Bổn Tôn”, đây chính là cảnh giới “không nghĩ thiện, không nghĩ ác”, ma là đến khảo nghiệm bạn, là giáo viên kiểm tra việc bạn thành Phật. Điều này nói một cách đơn giản, trong cảnh giới nhất như, hoàn toàn là đại viên mãn, Lục Tổ nói: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác thì bạn có thể thành Phật.” Đây là Lục Tổ của Thiền tông nói, đạo lý chính là ở đây, là cảnh giới nhất như, tuyệt đối không phải nhị như.

Cho nên trước kia có người nói, Lư Thắng Ngạn không được, người này là xấu, người này là ma đó, vậy thì bản thân họ chính là nhị như rồi, người này đã rơi vào nhị như rồi! Nhất như chân chính là đại viên mãn. Đây là cảnh giới rất cao, vì thế hôm nay dạy mọi người “thường lạc ngã tịnh”, bạn phải chăm chỉ đi thực tu, đi trải nghiệm, đi rèn luyện. Chăm chỉ trải nghiệm lời tôi nói, sau đó đi rèn luyện, tự bạn tôi luyện chính mình trở thành đại viên mãn, biến thành nhất như. 

Bạn đọc trong cuốn “Ngự Bổn Tôn”, Đại Tự Tại Thiên Ma đặt cùng với tất cả Phật hiệu, Phật Thích Ca Mâu Ni đặt cùng với Đề Bà Đạt Đa, đây chính là cảnh giới “thường lạc ngã tịnh” của Mục Liên Thượng Nhân. Phật Thích Ca Mâu Ni thọ ký cho Đề Bà Đạt Đa là Thiên Vương Như Lai, đây chính là “thường lạc ngã tịnh”.

Hôm nay tôi xem tất cả chúng sinh là chính mình, cho dù bạn rời khỏi Chân Phật Tông, rời khỏi Sư Tôn, cũng là chính mình, đệ tử không hiểu tâm của Sư Tôn, nhưng Sư Tôn hiểu tâm của chúng sinh, đây chính là nhất như, bởi vì đệ tử không biết, cho nên bạn là nhị như, còn bản thân Sư Tôn là nhất như.
Lời giảng ngày hôm nay, mọi người phải nhận thức cho cẩn thận. Om mani padme hum.

06/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 170. Pháp giới nhất như (1)


Hôm nay chúng ta nói về pháp giới nhất như. 
Người học Phật đều biết danh từ: pháp giới nhất như, mặc dù mọi người đều biết pháp giới nhất như nhưng chưa chắc đã thâm nhập cảnh giới này, cũng không có cách nào thâm nhập vào trong ý nghĩa của bản thân nó.

Lần này tôi đến Ấn Độ và Nepal, tại Dharamshala ở Ấn Độ, trong cuộc đối đáp giữa tôi và Dalai Lama, Dalai Lama có nhắc đến vấn đề “sắc” và “không”. 

Chúng ta biết rằng vấn đề sắc, không, trong kinh Đại Bát Nhã, kinh Kim Cang và kinh Tâm đều nhắc đến. Rất nhiều người đều biết đọc “sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc”, đây chính là “sắc không bất nhị”, cũng tức là “sắc không nhất như”, sắc chính là không, không chính là sắc, sắc không khác không, không không khác sắc, mọi người đều biết.

Nhưng điều mà Dalai Lama hỏi, ngoài kinh Kim Cang, kinh Tâm có giải thích sắc, không ra, trong “Thời Luân Kim Cang Bản Tục” đã nói sắc và không như thế nào? Có cách giải thích khác nhau, cách giảng giải khác nhau. Geshe Thiên Thanh thì nói, quán tưởng Bổn tôn trí huệ ở trong hư không, do Bổn tôn trí huệ Thời Luân Kim Cang tiến vào trong tâm hành giả, hóa nghiệp chướng của hành giả thành nước đen chảy ra, tự thân hành giả biến hóa thành Thời Luân Kim Cang, đây chính là sắc không bất nhị, đây là câu trả lời của Geshe Thiên Thanh.

Nhưng tôi cảm thấy câu trả lời này không đủ thấu triệt, tôi trả lời Dalai Lama, tôi chỉ nói hai chữ “song vận”. Ý nghĩa song vận mà tôi nói nằm ở đâu? Ý nghĩa tôi nói song vận chính là nói rằng “sắc và không là song vận, song vận tức là trở thành nhất như”. Bạn phải biết rằng bồ đề tâm nguyệt dịch trong thân thể người khi rơi xuống sẽ đi qua năm luân xa, trong “Thời Luân Kim Cang Bản Tục” có nói, đi qua năm luân xa sẽ có hiện tượng Tứ hỷ sinh ra. Sơ hỷ, thắng hỷ, ly hỷ, câu sinh hỷ, hiện tượng Tứ hỷ sinh ra, Tứ hỷ này chuyển hóa thành Tứ không. Bồ đề tâm nguyệt dịch rơi xuống, đi qua năm luân xa sẽ sản sinh ra Tứ hỷ, Tứ hỷ ban đầu chính là Tứ không, chuyển hóa thành Không cảnh. 

Mỗi cá nhân chúng ta đều là thân thể vật chất, sau khi tu song vận dần dần sẽ hóa hết vật chất, hóa đến sau cùng, ngay cả bạch bồ đề và hồng bồ đề cũng không còn, đều hóa thành không. Sau khi hóa thành không thì hiện tượng vật chất đều không còn, biến thành một dải cầu vồng, chính là đại thành tựu cầu vồng.

Tôi nói cái này có trong “Thời Luân Kim Cang Bản Tục”, là một cách giải thích hóa sắc thành không, một cách giảng giải, không phải là Bổn tôn trí huệ đi vào bên trong thân thể bạn, nghiệp chướng của bản thân con người tiêu trừ, chính mình biến thành Bổn tôn trí huệ, như vậy chính là sắc không bất nhị, chính là sắc không.

Sắc, không chân chính, thật ra là trong pháp tướng của Thời Luân Kim Cang, cái hiển hiện ra chính là sắc và không, chính là song vận. Vậy thì vì sao song vận gọi là sắc không? Giải thích thế nào đây? Chính là điều tôi vừa mới nói, bởi vì sẽ sản sinh Tứ hỷ, rồi Tứ hỷ đó chuyển hóa thành Tứ không.

Tứ hỷ chính là sắc, còn Tứ không thì sao? Chính là không đó! Kết quả cuối cùng là vật chất đều hóa hết, bạch bồ đề, hồng bồ đề toàn bộ hóa hết, biến thành một dải cầu vồng, chính là đại thành tựu cầu vồng, đây chính là cách giải thích về sắc và không được nói đến trong “Thời Luân Kim Cang Bản Tục”. 

Câu hỏi của Dalai Lama, chúng ta ở đây trong chốc lát đã giải quyết được nó rồi, đây là một giải thích đúng đắn. Bổn tôn trí huệ đi vào trong tâm, nghiệp chướng của hành giả tiêu trừ, chính mình biến thành Thời Luân Kim Cang, đây là sắc không bất nhị. Điều này trong “Thời Luân Kim Cang Bản Tục” tuy rằng có nói, nhưng pháp Bổn tôn thông thường cũng tu như vậy, đây chính là một dạng quán tưởng Nhập ngã - Ngã nhập, rất quan trọng.

Nhưng quán Nhập ngã - Ngã nhập không thể thay thế cho sắc, không trong “Thời Luân Kim Cang Bản Tục”, mà phải dựa vào điều mà bản thân Sư Tôn đã nói. Sắc, không trong “Thời Luân Kim Cang Bản Tục” cần phải là chuyển hóa toàn bộ sắc vật chất thành một dạng sắc không rỗng hết thì mới là sắc không của “Thời Luân Kim Cang Bản Tục”. Nói như vậy là mọi người hiểu được rồi.

Từ đây có thể ấn chứng pháp giới nhất như, pháp giới nhất như là gì? Sắc không nhất như cũng chính là pháp giới nhất như. Từ sắc, không có thể ấn chứng pháp giới, sắc chính là không, không chính là sắc, sắc không khác không, không không khác sắc, thật ra điều này chính là nói đến nhất như.

Hình tượng của tất cả vật chất thật ra toàn bộ đều quy về không, hiện tượng của tất cả vật chất cũng từ trong không mà sinh ra, cái này gọi là pháp giới nhất như. Vì thế tất cả hiện tượng vốn dĩ không có hiện tượng, tất cả hiện tượng là từ ban đầu không có đến hiện tượng sinh ra, cho nên Tây phương Cực Lạc thế giới có bốn cõi, cõi tịnh thổ cao nhất gọi là Thường Tịch Quang, đó chính là cảnh giới của cầu vồng.

Cõi Phàm Thánh Đồng Cư vẫn còn có hiện tượng vật chất, cái đó là hóa sinh, còn tịnh thổ chân chính vẫn là ở cõi Thường Tịch Quang, Thường Tịch Quang cũng chính là đại thành tựu cầu vồng.
Hôm nay giảng đến đây. Om mani padme hum. 

09/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 171. Pháp giới nhất như (2)


Chúng ta lại nói về pháp giới nhất như. Tôi thường nhắc đến chúng ta học Phật là đang phá trừ phiền não, trên thực tế, tại thế giới Ta Bà của chúng ta có rất nhiều phiền não, đếm cũng không đếm xuể, mỗi chúng sinh đều có phiền não. Rồi tôi cũng từng nói một câu, muốn phá trừ phiền não, bạn phải tu đến vô ngã, vô ngã mới có thể phá trừ phiền não.

Giả sử đã đến cảnh giới vô ngã rồi, vậy đó là cảnh giới như thế nào? Thật ra chính là lúc pháp giới nhất như mới có thể thật sự phá trừ phiền não, không đến được cảnh giới pháp giới nhất như thì không cách nào phá trừ được phiền não.

Bởi vậy có rất nhiều hành giả nói, tôi đã không còn phiền não, trên thực tế là vẫn còn hay là không còn? Có lẽ là vẫn còn, vẫn có một chút chút, một xíu xíu, so với người khác thì bạn đã vô tư rồi, nhưng vẫn có những lúc chưa hoàn toàn vô tư, vì thế vẫn còn một chút chút. 

Phiền não giống như nước chảy, cứ chảy đi như vậy. Trong dòng nước chảy vẫn còn vài thứ không chảy, ví dụ như bị tảng đá chặn lại, hoặc là chảy đến nơi dòng chảy không được nhanh lắm, nước sẽ hơi đọng lại ở đó một chút, vẫn là bị dừng lại. Thật sự khi đạt đến pháp giới nhất như thì mới có thể hoàn toàn không có phiền não.

Đây là điều tôi đặc biệt chỉ rõ, thật sự muốn phá trừ phiền não thì chỉ có đạt đến cảnh giới nhất như mới có thể phá trừ phiền não. Bạn thật sự có thể trải nghiệm được “sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc” không? Giả sử khi hiện tượng sắc không là như nhau sản sinh ra, phiền não của bạn tự nhiên sẽ không còn nữa, đây chính là nhất như được nói đến trong kinh Kim Cang. Chỉ có nhất như mới có thể thật sự phá trừ phiền não, cái này thuộc về một dạng trí huệ Phật cao nhất.

Chúng ta biết rằng ma là đến để quấy nhiễu người tu hành, ma đem đến cho bạn rất nhiều đau khổ, ví dụ như đau khổ vì bệnh tật, đau khổ vì tiền bạc, đau khổ vì địa vị, đau khổ vì tình cảm, đau khổ vì gia đình, đau khổ vì con cái, đau khổ vì việc người, đủ loại đau khổ đều đổ lên đầu bạn, dùng đủ mọi cách thức để phá hoại việc tu hành của hành giả. Nhưng bạn phải nhìn thấu những điều này, bạn phải dùng phương pháp vô ngã để nhìn thấu, sau đó nếu đạt đến nhất như thì đó mới có thể phá trừ phiền não thật sự.

Vậy thì ma là cái gì? Ma chân chính là ở trong cảnh giới của Bồ Tát địa rất sâu. Bạn nói nhất như đúng không, pháp giới nhất như, ma cũng ở trong nhất như, bạn muốn có thể đạt đến Không cảnh, khi hiểu rõ được tính Không, bạn mới có thể nhận thức được ma.

Một khi đạt đến cảnh giới này rồi thì bạn mới có thể tháo gỡ toàn bộ, bằng không bạn vẫn có một loại tâm đối địch nhau. Cái tâm đối địch lẫn nhau đó vẫn còn, cho thấy rằng phiền não của bạn vẫn chưa giải trừ. Còn có quan niệm kẻ thù và ta thì phiền não vẫn chưa được giải trừ, còn có quan niệm yêu và ghét thì phiền não vẫn chưa được giải trừ, còn có quan niệm nhiều và ít thì phiền não cũng vẫn chưa được giải trừ, còn có quan niệm giàu và nghèo thì phiền não vẫn chưa được giải trừ, nếu còn có quan niệm về cao và thấp thì phiền não cũng chưa được giải trừ. Điều này rất đơn giản.

Vì thế, phải phá trừ những quan niệm tương quan tốt, xấu, đúng, sai, thiện, ác, phải, trái,… biến thành hiện tượng nhất như thì phiền não mới có thể thật sự lắng xuống. Đương nhiên đây là trí huệ Như Lai tương đối cao sâu, nhưng giả sử bạn có thể tu từ từ, phá trừ các loại vô minh, thật sự có thể sắc không bất nhị thì bạn có thể tự tại nhậm vận.

Tự tại chính là ở trong một tâm trạng rất cân bằng, có thể sâu sắc hiểu rõ tính Không, nếu từ đầu tới cuối bạn đều sống trong tính Không, bạn có thể tự tại nhậm vận, bạn có thể đạt đến trí huệ của Như Lai, cảnh giới này chính là cảnh giới được gọi là pháp giới nhất như.

Đương nhiên nếu có thể ở trong tu pháp tiến vào bên trong cảnh giới pháp giới nhất như thì bạn có thể thật sự ở trong Tam ma địa sâu nhất, rất sâu mà đắc được định. Pháp này là ý thức rất sâu, chúng ta nói các cấp địa của Bồ Tát, những cảnh giới này có thể phân thành mười địa, thậm chí là mười ba địa, mười sáu địa. Khi bạn có thể tiến vào pháp giới nhất như, có thể nói bạn chính là địa thứ mười sáu, thật sự có thể hiểu rõ trí huệ của Như Lai, thế thì bạn chính là Phật rồi.

Tất cả những thứ khác đều thuộc về nhánh bên, những thứ bên cạnh. Tất cả việc tu pháp đến được đây thì chính là đại viên mãn chân chính, vậy thì đã là một dạng siêu việt rồi, vì thế gọi là đốn siêu. Trong chốc lát bạn đã siêu việt rồi, đạt đến cảnh giới cao nhất viên mãn nhất, chính là cảnh giới như một. Cái này rất sâu, cũng rất vi diệu, rất khó tưởng tượng, cũng là không thể tưởng tượng được. Phật chính là ở bên trong cảnh giới này.

Như Lai chính là ở bên trong cảnh giới này, tất cả các cấp địa Bồ Tát còn chưa đến được đây, muốn thành Phật thì nhất định phải đến được bên trong cảnh giới nhất như, vì thế đây cũng là một xưng hiệu khác của Phật, xưng hiệu khác này chính là Chân Như.

Chân Như chính là tính Không, tính Không cũng chính là Phật, đều là một biệt danh của Phật. Thế còn nhất như thì sao? Cũng chính là Chân Như. Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum. 

09/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 172. Nói về “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác” (1)


Hôm nay chúng ta nói về “không nghĩ thiện, không nghĩ ác”. Hình như trước kia tôi cũng đã từng nói về “không nghĩ thiện, không nghĩ ác” rồi, đây là câu nói của Thiền tông Lục Tổ. Muốn thành Phật, ngài ấy có một khẩu quyết, khẩu quyết này chính là “không nghĩ thiện, không nghĩ ác”. 

Hồi đầu khi tôi đọc được khẩu quyết này thì rất ngạc nhiên, “không nghĩ thiện” ư? Bảo chúng ta đừng nghĩ về điều thiện, vậy thì nói ngược lại tức là bảo chúng ta nghĩ về điều ác rồi! Nhưng vế sau ngài ấy lại bổ sung một câu nữa là “không nghĩ ác”, tức là ngay cả điều ác cũng không nghĩ về nó, đây chính là một triết lý rất vi diệu, rất cao sâu: “không nghĩ thiện, không nghĩ ác”.

Chúng ta nói một chút về Thiền tông Ngũ Tổ, ngài nói một bài kệ trong kinh Kim Cang, chính là không có bốn tướng, bỏ hết bốn tướng: vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, không có tôi, không có bạn, không có chúng sinh, không có thọ giả (tức là phá bỏ quan niệm về thời gian). 

Thế thì tới lượt tôi, Ngũ Tổ cũng nói, Lục Tổ cũng nói, bây giờ tới lượt Thất Tổ, thật ra Thiền tông không có Thất Tổ, bởi vì sau Lục Tổ thì Thiền tông đã phân thành mấy tông khác nhau, một hoa nở năm cánh, tức là đã phân nhánh rồi, phân thành rất nhiều tông phái, nên không còn có Thất Tổ nữa. Chỉ là tôi cũng nói hai chữ “bỏ chấp”, loại bỏ bám chấp, là hai chữ “bỏ chấp”.

Muốn thành Phật, phải bỏ chấp. Lục Tổ nói “không nghĩ thiện, không nghĩ ác”, bài kệ trong kinh Kim Cang, Ngũ Tổ nói: “Vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả.” Những cái này đều là một dạng triết lý rất thâm sâu, rất ảo diệu.

Mật giáo dạy chúng ta cảnh giới huyền diệu bất khả tư nghì cao nhất sâu nhất chân chính là cảnh giới gì? Chân Phật Tông chúng ta có các quyền pháp như là pháp Kim cang quyền, Hợi Mẫu quyền, kỹ xảo Đại lạc,… Bạn luyện Kim cang quyền, sau cùng đều có một mục đó là “tâm khế bản nhiên”, tức là tâm phải trụ trong cái ban đầu, ở trong trạng thái tự nhiên vốn có thì chính là tâm khế bản nhiên.

Cảnh giới này là cảnh giới gì? Lúc này, thân thể của bạn giải thích thế nào đây? Tổ sư Mật giáo nói, con người vốn dĩ bị trói buộc, bị dây thừng trói chặt, khi bạn thật sự tâm khế bản nhiên thì những sợi dây thừng này không thấy nữa, đây là một công phu, thân thể của bạn không còn thứ gì trói buộc bạn nữa.

Khẩu thì sao? Miệng của bạn thì sao? Thì giống như dây đàn đứt, dây đàn đã đứt rồi, không còn âm thanh. Miệng không có âm thanh, đây là ngôn ngữ đạo đoạn của Thiền tông. Thân thể không có dây thừng trói buộc bạn, dây đàn của miệng đã đứt rồi, giống như dây đàn đứt, không phát ra âm thanh, ngôn ngữ đạo đoạn.

Thế còn ý thì sao? Ý ở đâu? Vô niệm, vô tâm, không còn tâm, tâm không ở ngoài, cũng không ở trong, không ở bất kì nơi nào, ở trong trạng thái hoàn toàn vô niệm gọi là tâm khế bản nhiên.

Giả sử bạn đã học được thân khẩu ý như vậy, thân thể không có thứ gì trói buộc bạn, khẩu cũng giống như dây đàn đã đứt, ý niệm cũng là vô niệm vô tâm, đây gọi là tâm khế bản nhiên, hoàn toàn tâm trụ trong một trạng thái tự nhiên vốn có. Giả sử bạn học được trạng thái này tức là đã khế hợp với điều mà Ngũ Tổ, Lục Tổ và Sư Tôn nói đến - bỏ chấp, không còn bám chấp.

Bản thân con người chúng ta rất bám chấp, nói rằng tôi hoàn toàn không còn bám chấp, sau cùng lại bổ sung thêm một điểm, tôi chính là chấp vào cái này, rất nhiều người đều nói như vậy. Tôi đã tu cũng ổn rồi, chỉ còn lại cái này, cái này chính là bám chấp. Vì thế trước kia có người thường xuyên nói “người tranh một hơi thở, Phật tranh một que hương”, đây chính là bám chấp, thật ra là bạn đang tranh hơi thở này. Rất nhiều người nói, mọi thứ tôi đều nhìn thấu rồi, nhưng tôi lại tranh một hơi thở này, thật ra chính là một hơi thở này vẫn còn chưa nhìn thấu, bạn tranh một hơi thở chính là bám chấp. 

Vì thế chúng ta nghĩ, lão tổ sư viết một chữ “tử” ở đầu giường, đây là để nhắc nhở chính mình, cảnh giác chính mình, chữ “tử” ở phía trước, phải bỏ chấp đi! Bỏ hết mọi bám chấp, bạn còn chấp cái gì chứ?

Đôi khi, chính tôi cũng nghĩ, đệ tử này có bệnh, lấy bệnh đó ra để cho sư phụ đảm đương, vậy thì sự bám chấp của tôi sẽ rất dễ loại bỏ, vì sao? Đây là cách rất hay để bỏ chấp. Khi bạn bỏ được chấp rồi, hoàn toàn không còn bám chấp nữa, tâm khế bản nhiên sẽ xuất hiện, một cách tự nhiên bạn có thể nhập định, nhập Tam ma địa, bạn có thể trở về hư không.

Điều này thật sự là số một, không phải số hai, là số một, cảnh giới cao nhất là như vậy. Vì thế tôi lĩnh hội được lời của Lục Tổ nói: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác”. Cuối cùng đã hiểu rồi, thế nào là không nghĩ thiện, thế nào là không nghĩ ác.
Om mani padme hum. 

10/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 173. Nói về “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác” (2)


Chúng ta lại nói về “không nghĩ thiện, không nghĩ ác”, đây là lời Lục Tổ nói. Khi tôi học Phật đã có người tặng tôi một cuốn kinh Lục Tổ Đàn, tôi đọc xong không hiểu lắm, đặc biệt là đối với câu “không nghĩ thiện, không nghĩ ác” này thì càng không hiểu. 

Tôi nói, ác thì đương nhiên không nghĩ đến rồi, bởi vì là ác mà, thế nhưng thiện thì sao? Sao lại có thể không nghĩ chứ? Điều này chẳng có lý, như thế là bảo chúng ta làm gì? “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác”? Bảo chúng ta nghĩ cái gì đây?

Ngày xưa khi tôi đọc xong kinh Lục Tổ Đàn, tôi cảm thấy điều này có vấn đề, nhất định phải nói rõ ràng với sư phụ của mình, vì sao cần có câu này, bảo chúng ta không nghĩ thiện, thế thì không đúng rồi, phải là cần nghĩ thiện. Chính vì vấn đề này mà hôm nay tôi sẽ nói về “không nghĩ thiện, không nghĩ ác”. 

Ý của nó là như thế này, giả sử bạn còn chấp vào mỗi sự việc thì bạn sẽ không có cách nào nhập định, không có cách nào thâm nhập vào trong đó, cũng không có cách nào đạt đến chân lý tối cao, bạn sẽ chỉ rơi vào một bên.

Vì thế Phật pháp là không rơi vào hai bên, là tự nhiên nhậm vận. Không nghĩ thiện, không nghĩ ác chính là tự nhiên nhậm vận. Trong sách tôi đã viết, giống như con người sống trong không khí, không khí vốn dĩ luôn tồn tại, nhưng bạn sẽ không cảm thấy không khí tồn tại. Bạn không sai đâu! Ngày ngày bạn làm việc thiện, mỗi ngày đều làm việc thiện, nhưng bạn đừng chấp rằng những việc tôi làm đều là việc thiện, tôi rất có công đức, đừng chấp vào đó. Nếu bạn không chấp thì sẽ rất dễ định lại, ý của Lục Tổ nói chính là như vậy.

Giống như cá và nước, nước đối với cá mà nói thì là thiện, không khí đối với chúng ta mà nói thì là thiện. Nhưng bạn đừng đi cảm giác về sự tồn tại của thiện, đừng đi nghĩ về nó, đừng đi tóm lấy nó. Nếu coi nó như một sự tự nhiên mà vậy thì bạn có thể thâm nhập vào trong đó.

Thiền tông cũng nói ngôn ngữ đạo đoạn, đó là khẩu mật, trong Mật giáo gọi là bí mật của khẩu. Phật Thích Ca Mâu Ni cũng thường nói “bất khả thuyết, không thể nói”, vì sao lại không thể nói đây? Bởi vì nói ra thì sẽ rơi vào một bên, bạn chỉ cần nói ra thì sẽ rơi vào một bên. Bất khả thuyết! Chính là ở giữa, chính là trung đạo, đây là sâu không thể đo lường.

Hôm nay rất nhiều hành giả, giả sử để lộ dấu vết, để lộ ra dấu vết hành động, hoặc nếu chấp vào việc phải xây một ngôi chùa rất to, thì đây cũng là bám chấp! Bạn chấp rằng tôi phải đi cứu bao nhiêu người, đi cứu độ bao nhiêu chúng sinh, cái này là chấp. Bạn chấp rằng tôi phải làm ba nghìn việc thiện (ba nghìn công hành), đây là chấp. Bạn đi làm các thứ thì không sao cả, nhưng đừng nghĩ bao nhiêu nghìn công hành, bao nhiêu vạn công đức, đừng nghĩ về nó, tất cả đều không được nghĩ.

Khi bạn không bám chấp thì sẽ không để lộ dấu tích, thật ra cái này chính là cảnh giới bất khả thuyết. Phật Thích Ca Mâu Ni nói bất khả thuyết chính là cái này.

Thật ra vẫn không thể bao hàm toàn bộ, tôi nói hai chữ “bỏ chấp”, đừng bám chấp thì có thể lập tức giải thoát, lập tức thành Phật, giải thoát tức thì, thành Phật tức thì. Tôi nói chữ “tử”, trên thực tế là như thế này, tử thì không chấp vào cái gì, chữ “tử” đó là để bảo bạn đừng chấp đó! Bạn xem, lão tổ sư viết một chữ “tử” dán trên đầu giường mình là để dạy mình hai chữ “không chấp”. 

Đừng bám chấp, người ta phê bình bạn cái gì, bạn nói ngày mai tôi chết rồi, mặc kệ anh phê bình tôi! Người ta chửi bạn cái gì, người ta cướp đi của bạn cái gì, lấy trộm của bạn cái gì, làm hại bạn cái gì, ngày mai đều phải chết rồi, bạn còn quan tâm đến họ ư, đừng chấp! Người ta lấy trộm đồ của bạn, cướp đồ của bạn, vốn dĩ rất xúc phạm bạn, danh dự cũng chịu tổn thất, nhưng bạn nghĩ đến ngày mai là chết rồi, bạn còn chấp không?

Chết là rất tốt, thật ra chết chính là muốn dạy bạn hai chữ “không chấp”, chính là “không nghĩ thiện, không nghĩ ác” mà Lục Tổ nói, chính là không chấp, chính là “vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả” mà Ngũ Tổ nói.

Hôm nay tôi có thể nói, cảnh giới tu hành của Lư Thắng Ngạn có cần nói ra không? Vẫn là không cần nói ra, bất khả thuyết! Vẫn là không thể nói. Không thể nói tức là sâu không thể đo lường, bạn nói tôi đã tu đến tầng trời thứ mấy rồi, hay là Vô sắc giới thiên, hay là tu đến đâu rồi, như thế vẫn là còn thấp, đều vẫn còn chấp vào cõi trời đó, vẫn chưa đến điểm tận cùng đâu!

Bạn nói ra thì bạn đã để lộ dấu vết, bạn nói một câu bất khả thuyết, tức là sâu không thể đo lường, không ai có thể biết được lý lịch của bạn, bạn cũng là vô tận. Kho tàng vô tận là kho tàng hư không, kho tàng hư không là cái gì? Chính là kho tàng vô tận. Đảo qua đảo lại thì vẫn đều không thể nói, kho tàng hư không là bất khả thuyết, kho tàng vô tận cũng là bất khả thuyết, ý vô tận cũng là bất khả thuyết, toàn bộ đều là bất khả thuyết. 

Vì thế, Phật Đà đã khai ngộ điều gì? “Bất khả thuyết!” Ngày nay điều Lục Tổ nói, Ngũ Tổ nói, tôi nói, tôi không phải là Thất Tổ, bởi vì sau Lục Tổ thì không có ai nữa. Phải chú ý, thân thể giống như không có dây thừng trói buộc bạn, miệng phải giống như dây đàn đứt, tâm quy về bản nhiên, ý niệm phải ở trong trạng thái vô niệm vô trụ, đây chính là thiền định. Một khẩu quyết hay nhất khiến bạn có thể định được, phương pháp của nó chính là như thế này.

Bạn có thể định, trí huệ Phật tự nhiên sẽ sinh ra, bạn sẽ có thể khai ngộ, một khi bạn khai ngộ thì: phiền não giải thoát, sinh tử thành tựu rồi. Hôm nay nói đến đây. Om mani padme hum. 

10/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 174. Phương pháp tu hành hợp với tự nhiên (1)


Hôm nay chúng ta nói về phương pháp tu hành hợp với tự nhiên.

Cá nhân tôi tương đối chủ trương phương pháp tu hành tự nhiên, tôi cảm thấy người tu hành chúng ta càng hợp với tự nhiên càng tốt. Toàn bộ quá trình tu hành và đời sống thường ngày phối hợp lại, hoàn toàn dung hợp với nhau.

Rất nhiều người cho rằng tu hành là trái với tự nhiên, trên thực tế, những hành giả này trước kia cũng có rất nhiều người tu hành trái với tự nhiên. Về phương diện này, rất nhiều người có kiến giải khác nhau, phái Chân Phật Tông chúng ta tương đối gần với tự nhiên, không trái tự nhiên, hợp với tự nhiên, thuận theo tự nhiên.

Tôi nhớ trước đây khi chúng ta đọc kinh Phật, thấy việc tu hành của bản thân Đức Phật, ngài có một khoảng thời gian cũng tu khổ hạnh. Chúng tôi đến Ấn Độ đã nhìn thấy tượng điêu khắc Phật Đà đói đến mức chỉ còn trơ mấy cái xương sườn, căn bản không hề có bụng, chỉ còn da bọc xương mà thôi. Phật từng có sắc tướng ấy, đó là bản thân Phật Đà đã thực hành bỏ đói mình, tức là phương pháp tu hành tự bỏ đói mình.

Ở Ấn Độ còn có rất nhiều người đang dùng phương pháp này để tu hành, ví dụ ngày ăn một bữa, một ngày họ chỉ ăn một bữa cơm. Nhưng phương pháp ngày ăn một bữa này với chúng ta mà nói thì không phải là không được, mà là bạn cần phải duy trì thể lực của bản thân mình, nếu dinh dưỡng của một bữa cơm bạn ăn đủ để duy trì cho nhu cầu sống một ngày đêm thì tôi cho rằng như thế này có thể được.

Nhưng nếu dinh dưỡng không đủ, hoặc thể lực của bạn không chịu được, thì đều không thể được, đó là phản tự nhiên. Phật Thích Ca Mâu Ni từng đói đến mức chỉ còn lại da bọc xương, sau cùng thể lực không chịu đựng được, lúc ấy có một thiếu nữ có sữa dê đã cúng dường cho ngài sữa dê. Sau khi ngài ăn uống một chút thì thể lực dần dần hồi phục, như thế thân thể mới có thể tiếp tục tu hành.

Tu hành theo cách nhịn đói nói đúng ra là phản tự nhiên, chí ít những thứ bạn ăn phải vừa đủ để có thể phù hợp với thể lực trên người bạn, tôi cho rằng như vậy mới là đúng. Điều này cũng tương đối hợp với khoa học hiện đại. Hôm nay chúng ta nói về tu hành hợp với tự nhiên, tông phái chúng ta đều hợp với tự nhiên, không phản tự nhiên, với người hiện đại mà nói, về mặt sinh lý, về mặt y học, bạn phải chú trọng sinh lý và y học phối hợp với tu hành, bởi vì cuộc sống hiện đại và cổ đại khác nhau.

Ở Ấn Độ cũng có một kiểu tu hành của ngoại đạo, gọi là ngoại đạo lõa thể, bất kể là thời tiết rất nóng hay là thời tiết rất lạnh thì cũng đều lõa thể hết, thậm chí lúc có tuyết rơi cũng vẫn lõa thể, đây cũng là phản tự nhiên. Nhất là nếu có người tu ngoại đạo lõa thể, tu hành là lõa thể, liền chạy ra đường, như thế thì làm hại thuần phong mỹ tục, vào thời nay căn bản là không thể được, ngày nay là không thể được.

Chân Phật Tông chúng ta cũng không lưu hành ngoại đạo lõa thể, cũng không đề xướng, bạn muốn lõa thể thì bạn ở trong phòng mình lõa thể thì được. Thế rồi có một số ngoại đạo lõa thể chủ trương như thế này, họ nói con người khi sinh ra là lõa thể, chỉ có con người mới mặc quần áo, những động vật khác trên thế giới đâu có mặc quần áo, muốn hợp với tự nhiên thì phải là lõa thể mới đúng.

Nghe thì thấy họ nói cũng có lý, họ nói họ lễ Phật Bồ Tát cũng lõa thể, biểu thị bản thân mình là thanh bạch, không vương một sợi tơ, không có gì có thể khiến người ta phải che đậy, không cần phải che đậy. Bản thân họ tu ngoại đạo lõa thể, tu cho bản thân rất có khả năng thích ứng với hoàn cảnh của đại tự nhiên, ngày tuyết rơi họ cũng vẫn lõa thể, không sợ lạnh, họ cũng có đạo lý của họ.

Nhưng lý luận theo kiểu này thì vẫn không hợp với thời hiện đại, và cũng không nhất định là chúng ta mặc quần áo là cho thấy đang che đậy chính mình, hoặc mặc quần áo là biểu thị sự giả dối, mặc quần áo là biểu thị bản thân mình có ô uế nên buộc phải che đậy, hoàn toàn không phải thế. Mặc quần áo là hợp với hiện đại, mà thời cổ đại cũng mặc quần áo đó thôi, chỉ là bạn là người tu hành đột nhiên chế ra kiểu lý luận này, đó là phản tự nhiên. Bởi vì con người trên toàn thế giới bây giờ đều mặc quần áo mà. Giả sử con người trên toàn thế giới đều không mặc quần áo thì tôi cũng có thể không cần mặc quần áo, giống nhau mà! Đó chính là một dạng tự nhiên.

Ngày nay thì cần nói rằng bạn không mặc quần áo mà tu hành thì đó là phản tự nhiên, Chân Phật Tông chúng ta không lưu hành cái này, phải nhớ kĩ đó! Không thể nói Chân Phật Tông chúng ta có lưu hành, đó là sai rồi! Vì thế phải hợp với hiện đại, hợp với tự nhiên. 

Thiền tông có một câu nói “đói thì ăn”, bụng bạn đói rồi thì bạn hãy ăn; “lạnh thì mặc”, thời tiết lạnh rồi thì bạn hãy mặc quần áo, đây mới là tự nhiên. Bạn cảm thấy lạnh thì bạn mặc quần áo, bụng bạn đói rồi thì bạn ăn. “Buồn ngủ thì ngủ”, thân thể bạn mệt rồi, rất muốn ngủ, vậy thì bạn đi ngủ, cái này tương đối hợp với tu hành tự nhiên. 

Hôm nay chúng ta nói đến đây. Om mani padme hum. 

11/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 175. Phương pháp tu hành hợp với tự nhiên (2)


Chúng ta lại nói đến phương pháp tu hành hợp với tự nhiên.

Vào thời cổ đại, những hành giả (người tu hành) này thích sống trong khu mồ mả, sống trong khu mồ mả tức là ở nơi có những ngôi mộ để tu hành, hoặc là ngồi dưới rừng cây, ngủ ở trong khu mộ, hành giả thời cổ đại là như vậy.

Vào thời đại Phật Đà, ví dụ tôn giả Đại Ca Diếp cũng từng thích tu hành kiểu đầu đà. Ở Ấn Độ chúng ta nhìn thấy rất nhiều hành giả rất tùy ý, họ rất thích ngồi bên cạnh đống rác, ngồi bên cạnh rãnh nước hôi thối, họ đều như vậy, buổi tối thì đi đến khu mộ để ngủ. 

Tu hành thời hiện đại đương nhiên không đòi hỏi bạn phải sống một cách bần hàn như vậy, không hề yêu cầu phải ngồi dưới cây, phải đi đến mồ mả để ngủ. Người tu hành chúng ta chỉ cần có túp lều tranh, một chỗ rất đơn giản để ở, có thể tránh gió, tránh mưa, không nhất định phải ngủ trên giường tốt, chỉ cần bạn có thể ngủ một cách quang minh, ngủ một cách rất thanh tịnh, có thể ngăn gió, ngăn mưa là được rồi, bởi vì nếu bạn không ngăn gió ngăn mưa, bị ốm thì sẽ là một sự tổn hại đến nhục thể của chính mình, cũng là một sự tổn hại đến việc tu hành của chính mình, không nhất định là có lợi.”!

Vì thế chúng ta phải hợp với tu hành của chính mình, tu hành rất tự nhiên, nơi bạn ở phải che gió, che mưa, phải hợp vệ sinh. Ví dụ như ở trong đống rác, ở khu mồ mả, ở trên cây đôi khi sẽ có sâu róm rơi xuống, ở khu mồ mả không chắc đã hợp vệ sinh, cái này đều ảnh hưởng đến tu hành, cho nên vẫn là hợp với hiện đại, tu hành tự nhiên thì sẽ tốt hơn. 

Nói đến giới sẹo, đó chỉ có hòa thượng Trung Quốc mới có, trên thế giới bất kì một tín đồ Phật giáo nào, bất kì một người xuất gia tu hành nào cũng không có điểm giới sẹo, chỉ có Trung Quốc mới có, là người Trung Quốc phát minh ra, đốt giới sẹo, cái này có hơi tàn bạo với chính mình, tức là bạn phải tự đốt mình cho thật đau để làm một ký hiệu.

Có người chỉ đốt ba cái, có người thì đốt nhiều hơn, cũng có người đốt toàn thân, họ cởi hết áo ra, ôi trời, toàn thân đều là sẹo, trên lưng cũng có, trên tay cũng có, trên chân cũng có. Đây cũng là một phương pháp để tự mình biết giới luật, hễ phạm giới một lần thì lập tức chấm một cái, phạm một lần giới thì lập tức chấm một cái. Cho nên, tôi nghe nói có một pháp sư toàn thân đều là giới sẹo, đây vẫn còn là chuyện nhỏ, còn có dùng lửa đốt toàn thân nữa cơ.

Còn có đốt ngón tay cúng Phật, cái này thì lợi hại hơn một chút, họ nói đốt ngón tay cúng Phật là như thế này. Ngón tay duỗi ra, dùng vải buộc lên, tẩm xăng vào vải, đốt xăng, vừa châm lửa là đốt ngón tay, nói rằng ngón tay này là để cúng Phật, sau đó dùng cái kẹp cắt bỏ thịt, chỉ còn lại xương. Oa! Ngay cả xương cũng cắt đứt, thế này thì rất đau, rất đau đấy!

Đốt ngón tay cúng Phật không thịnh hành trong Mật giáo chúng ta. Trước kia trong Hiển giáo, ở Trung Quốc Đại Lục cũng có đốt ngón tay cúng Phật. Thế còn trong Mật giáo, nếu bạn đốt ngón tay, oa, nếu cắt đứt rồi thì bạn làm sao mà kết thủ ấn? Sẽ không thể kết thủ ấn được nữa!

Trước kia Trung Quốc Đại Lục có đốt ngón tay cúng Phật, đây là tàn bạo với chính mình, cũng là phản tự nhiên. Bạn biết rằng cắt đứt một ngón tay, sau này cầm đồ vật cũng không tiện, làm việc gì cũng bất tiện, cho nên việc này không được.

Càng nghiêm trọng hơn, làm theo kiểu của ngoại đạo thì còn có đốt cháy toàn thân cúng Phật, tự thiêu.

Với một hành giả, sinh mệnh cũng rất quan trọng. Chúng ta biết rằng sinh mệnh có hai loại, một loại là sinh mệnh của thân thể, một loại là huệ mệnh của trí huệ, hai loại sinh mệnh. Sinh mệnh của trí huệ đến từ sinh mệnh của thân thể, sinh mệnh của thân thể là cái gốc của tu hành, bạn không có thân thể này thì lấy đâu ra trí huệ?

Vì thế chúng ta coi trọng tu hành thân thể, trong Mật giáo coi trọng tu hành thân thể, thân thể rất quý giá, điều dưỡng thân thể cũng rất quan trọng, bởi vì chúng ta tu khí nhất định phải dựa vào thân thể, tu khí chính là tu tâm, tâm khí không hai.

Bạn phải điều hòa khí cho tốt, bạn phải chú ý thân thể của chính mình, cho nên Chân Phật Tông chúng ta là “tâm vật hợp nhất luận”, tâm vật là hàm nhất, thân tâm là hợp nhất, thân thể rất quan trọng, sao có thể tùy tiện cắt đứt ngón tay chứ! Cắt đứt ngón tay rồi nói là cúng Phật. Lại còn đốt cháy ngón tay để cúng Phật, cái này cũng không được.

Đến cuối cùng thì diễn biến thành thiêu thân cúng Phật, đốt hết toàn bộ thân thể mình để cúng Phật, cái này đã đi theo hướng tương đối cực đoan rồi. Về phương diện này, chúng ta là tu hành hợp với tự nhiên, đừng đi theo kiểu con đường cực đoan này.

Ngoài ra còn có phương pháp tu hành ném mình xuống vực, thế nào gọi là ném mình xuống vực? Trước kia ở Trung Quốc Đại Lục chẳng phải còn cắm một tấm bảng gọi là “Vực Xả Thân” sao? Vì sao gọi là Vực Xả Thân? Tức là bảo bạn nhảy xuống là thân thể này đã cúng dường Phật Bồ Tát. Vì thế, hễ bạn nhảy xuống vách núi cao và dốc là có thể đi thành Phật, thành Tiên rồi. Cái này cũng là phản khoa học.

Không có một kiểu tu hành nào bảo bạn vứt bỏ sinh mệnh của mình. Tuy nhiên trong thời đại Phật Đà có điển cố Phật xả thân làm thức ăn cho hổ, con hổ đói quá, Phật liền khởi lên tâm bồ đề, liền để mình làm thức ăn cho hổ, nhưng đó là thời cổ đại! Tinh thần ấy đương nhiên có thể xem là rất tốt, nhưng khi bạn còn chưa tu thành chính quả mà đã vứt bỏ đi sinh mạng của mình như vậy thì có đúng không? Bởi thế không thể làm những việc ngu ngốc, bạn không thể nói tôi muốn xả thân, xả thân cho hổ ăn, hoặc xả thân nhảy xuống vách núi, như vậy bạn có thể thành Phật sao?

Cái này là ngay trong tư tưởng đã đi về hướng cực đoan rồi, về phương diện này mà nói là phản tự nhiên, bởi vì chúng ta cho rằng sinh mệnh là cái gốc của tu hành, sinh mệnh vô cùng quý giá, bạn phải giữ được sinh mệnh này thì bạn mới có thể tu hành, không phải là nói bạn vứt bỏ sinh mệnh là có thể thành Phật. Giả sử bạn vì chúng sinh mà xả thân, vì một đất nước, một dân tộc, vì chúng sinh mà xả thân thì còn có ý nghĩa một chút, những cái khác thì không thể được.

Hôm nay nói tới đây. Om mani padme hum. 

11/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 176. Phương pháp tu hành hợp với tự nhiên (3)


Chúng ta lại nói về phương pháp tu hành hợp với tự nhiên.

Lần trước chúng ta đã nói, tu hành không nhất định phải dùng phương pháp nhịn đói, Phật Đà từng nhịn đói đến mức chỉ còn lại da bọc xương, suýt chút nữa chưa tu thành cái gì, còn phải ăn sau đó mới có sức mạnh tiếp tục tu hành.

Cũng không nhất định phải lõa thể đi tu, Ấn Độ có ngoại đạo lõa thể, họ chủ trương lõa thể, cho rằng như thế mới là thanh tịnh, nhưng thời hiện đại thì không được làm thế, bạn muốn lõa thể cũng được thôi, vào lúc đi tắm hãy lõa thể.

Tối hôm qua chúng ta cũng nói rồi, không nhất thiết phải ngủ ở mồ mả. Trước kia ở Ấn Độ, hành giả xưa nay đều chủ trương ngồi dưới cây, ngủ ở mồ mả, cũng không chắc đã hợp vệ sinh. 

Giống như cúng Phật, không nhất định phải đốt ngón tay cúng Phật. Bạn cúng Phật những thứ quý báu đều có thể được, nhưng không nhất định phải lấy thân thể mình ra để cúng Phật. Ví dụ có người thiêu thân, tự đốt thân thể mình để cúng Phật, đạo hạnh của bạn còn chưa tới, thành quả tu hành còn chưa đạt đến tột cùng, kết quả là không còn sinh mạng nữa, những việc này đều không đúng.

Còn có chích máu viết kinh, cái này rất nhiều người làm. Trước kia ở Trung Quốc, có rất nhiều người cho rằng tín tâm của bản thân họ rất kiên cố, cho nên họ phát nguyện chích máu viết kinh. Ngoài ra, dùng cách phát nguyện chích máu viết kinh còn hy vọng có thể giúp người nhà báo hiếu, hoặc dùng công đức này để làm việc gì đó. Chích máu viết kinh là có, ở Đài Loan trước kia có pháp sư Chấn Quang ở chùa Từ Thiện, ông ấy chính là người đã cắt ngón tay út, máu chảy ra là ông ấy chấm vào để viết kinh. Tôi đã nhìn thấy ngón tay của ông ấy thật sự đã bị cắt. Có rất nhiều người chích máu viết kinh, nhưng tôi cho rằng, nếu bạn làm tổn thương thân thể của chính mình, hoặc không cẩn thận để cho ngón tay bị hỏng, sau này sẽ rất bất tiện, nhất là trong Mật giáo có kết thủ ấn thì lại càng bất tiện. Hơn nữa máu cũng là một loại minh điểm, trong tu hành Mật giáo, bạn không thể mất máu quá nhiều, cũng sẽ rất nguy hiểm, cho nên vẫn là không làm thì tốt hơn.

Ngoài ra trên phương diện tu hành còn có thực hành không nói. Không nói tức là không nói chuyện, một câu cũng không nói, cả năm đều không nói, cả đời đều không nói, đây cũng là một pháp phi thường, không phải là một phương pháp tu hành bình thường, đều tương đối phản tự nhiên. Bởi vì bản thân con người vẫn cần phải nói chuyện, nếu so với người thế tục bình thường thì hành giả chúng ta nên nói ít một chút, ngoài ra thì giữ không vọng ngữ, không ác khẩu, không hai lưỡi, không nói tục là được rồi, điều gì nên nói thì bạn vẫn cần nói. Hoàn toàn không nói gì hết thì cũng là cách không bình thường.

Còn có một phương pháp tu hành thời Ấn Độ cổ là học theo động vật, không những chịu giới luật của trâu bò và giới luật của chó, mà hành vi của họ còn hoàn toàn giống với trâu bò và chó. Không làm việc, thích chạy long nhong ngoài đường, không tắm rửa giống như trâu chó, bởi vì trâu không tắm, chó cũng không tắm, đều không tắm hết, cái này không hợp vệ sinh.

Ở Ấn Độ chúng tôi còn nhìn thấy có một người ngồi xổm ở một chỗ để đi “ấy”, chúng tôi ngồi trên xe du lịch đi qua, nhìn thấy “vàng thoi” đang tuôn ra, có một con chó ở phía sau dùng lưỡi liếm “vàng thoi”, ông ta xả ra còn con chó thì ở phía sau ăn. 

Người chịu giới kiểu này không đi xin ăn, tức là ở trên mặt đất có cái gì thì ăn cái đó, người tu hành chịu giới trâu giới chó sẽ giống như trâu chó, tức là học theo cách sinh hoạt của chúng. Không tắm gội, trên mặt đất có gì thì ăn cái đó, hoặc nhặt những thứ từ trong đống rác ra ăn. Trong thời hiện đại mà nói thì đây cũng xem là một pháp khổ hạnh phi thường, nhưng mà không hợp vệ sinh, trong Chân Phật Tông chúng ta không yêu cầu điều này.

Ngoài ra còn có người thực hành ngồi chứ không nằm, ngồi chứ không nằm chính là bất đảo đan [không rời chỗ ngồi], hàng ngày đi ngủ thì cứ ngồi chứ không nằm, đây cũng là pháp phi thường, không phải phương pháp bình thường. Nếu bạn cảm thấy mình thích hợp thì bạn có thể thực hành, nhưng có một số người không thích hợp, người không thích hợp thì không cần thực hành. 

Ở đây có mấy trọng điểm:
Chích máu viết kinh nếu không ảnh hưởng đến tình hình sức khỏe của bạn, bạn biết cách chăm sóc thân thể mình, chỉ là dùng một cây kim để chích ra một ít máu, sau đó bạn chấm để viết kinh, tôi cho rằng như thế này cũng được, bởi vì không làm tổn hại đến thân thể bạn. Nhưng bạn phải chú ý đến bệnh uốn ván, sau khi bạn chích máu, bạn phải dùng cồn để lau, đừng để cho nó bị uốn ván, đừng để vi khuẩn đi vào, chú ý vệ sinh sinh lý một chút.

Trong phạm vi không ảnh hưởng đến sức khỏe của bạn, phát nguyện chích máu viết kinh cũng có thể được, nhưng giả sử bạn cắt đứt ngón tay, để cho máu chảy ra, dùng ngón tay để viết, thế thì không được, như thế thì không tốt, bởi vì cái này có khả năng bị uốn ván, theo y học hiện đại mà nói thì không hợp vệ sinh sinh lý.

Tôi cảm thấy pháp có thường pháp và phi thường pháp. Thường pháp tức là tu hành hợp với tự nhiên, bản thân Chân Phật Tông đề xướng thường pháp, là tu hành hợp với tự nhiên, đừng có phi thường pháp.

Nhưng mà giả sử bản thân bạn nghĩ rằng bạn muốn thực hiện phi thường pháp, bạn buộc phải suy ngẫm đến sức khỏe của chính mình có thể chịu được không, suy ngẫm ý nghĩa của việc mà thân thể bạn đang làm nằm ở đâu. Phải suy nghĩ đến hiệu quả, hiệu ứng của chính bản thân bạn, làm như vậy có giúp ích gì cho bạn không. 

Đây là sự phân biệt giữa thường pháp và phi thường pháp. Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum. 

12/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 177. Phương pháp tu hành hợp với tự nhiên (4)


Chúng ta lại nói về phương pháp tu hành hợp với tự nhiên.

Nhắc đến thường pháp là nói đến phương pháp tu hành bình thường. Còn phi thường pháp là phương pháp tu hành tương đối phản tự nhiên.

Phương pháp tu hành bao gồm cả phi thường pháp, đương nhiên là có, nhưng cần phải xem giá trị và ý nghĩa của nó, và xem khả năng chịu đựng của thân thể chúng ta. Có một số người muốn dùng phi thường pháp để tu hành thì cũng được, nhưng phải chú ý một chút, đừng làm tổn hại đến thân thể của chính mình, phải có người chăm sóc bạn. 

Ví dụ bạn tu chỉ ngồi không nằm, bạn cảm thấy tu bất đảo đan thì tinh thần tốt hơn, hơn nữa không ảnh hưởng đến làm việc và nghỉ ngơi ban ngày, thể lực của bạn vẫn rất tốt, tinh thần rất dồi dào, vậy thì bạn có thể làm, đây là sự khác biệt về thể chất của mỗi người. 

Thể chất của mỗi người không giống nhau, có một số người ngày ăn một bữa là được, nhưng có một số người một bữa ăn phải ăn năm, sáu bát cơm, bạn lại bảo họ ngày ăn một bữa, vậy chẳng phải muốn anh ta chết đói sao? Thể chất của mỗi người không nhất định là giống nhau, có một số người ăn rất ít, họ nói buổi trưa ăn một bữa cơm là có thể cả ngày đều ổn, vậy thì bạn có thể thực hành không ăn sau giờ Ngọ. Ngày ăn một bữa thuộc về phi thường pháp, phải xem thể chất của cá nhân để mà thích ứng, ở đây có liên quan đến vấn đề thích ứng. 

Đương nhiên, giống như đốt ngón tay cúng Phật, cái này thì đừng làm, thiêu thân cúng Phật cũng đừng làm. Bạn ném mình xuống vực xả thân, bạn quăng mình xuống vách núi cao dốc, nói rằng như thế là có thể vãng sinh, việc này tuyệt đối đừng làm. Xả thân cho hổ ăn cũng đừng làm. Thượng sư Liên Bảo nói: “Người hiện đại thì có chỗ nào mà xả thân cho hổ ăn, là xả thân cho “hổ cái” ăn thôi.” Việc này cũng đừng làm, người xuất gia chúng ta đương nhiên không thể xả thân cho “hổ cái” ăn rồi, còn người tại gia có xả thân hay không thì tôi không biết. 

Cũng có một phi thường pháp nữa gọi là “ban chu tam muội”, pháp ban chu tam muội xuất phát từ Ban Chu Tam Muội Kinh. Trong kinh nói như thế này, chỉ đứng không ngồi, cũng không nằm, đây cũng là pháp phi thường, tức là nói rằng một hành giả ở trong một căn phòng, anh ta chỉ đứng, hoàn toàn không nằm, cũng không ngồi xuống, đứng và đi bộ, cứ liên tục đi, một, hai, một, hai, cứ như thế liên tục đi về phía trước, khi đi thì niệm Phật.

Theo trong kinh điển có viết, đi như thế này thì phải đi bao lâu? Ở trong một căn phòng, phải đi 90 ngày. Oa! 90 ngày là quá lâu đó, nhưng cũng có thời gian 7 ngày, cũng có thời gian 9 ngày, cũng có thời gian 10 ngày, tức là đứng và đi, không ngừng niệm Phật. Thế có ngủ không? Nói đúng ra là không ngủ, pháp này gọi là làm pháp ban chu tam muội. 

Đại bộ phận người thực hành pháp này là nhốt mình không ra ngoài, chỉ ở bên trong đi lại, cứ thế đi, niệm A Di Đà Phật, cứ thế niệm, vừa đi vừa niệm, chỉ ở trong phòng thôi, cũng không đi ra ngoài, trong thời gian 7 ngày, không hề ngồi xuống, cũng không nằm xuống. Tôi nghĩ cần phải ăn các thứ, ăn một chút đồ ăn là việc cần thiết, nhưng ăn thì làm sao có thể không ngồi xuống chứ? Đây cũng là một vấn đề, nhưng trong kinh điển viết như thế, tôi chỉ là chiếu theo kinh điển mà nói thôi. 

Hiệu quả của việc làm thế này ra sao? Trong quá khứ, người đã thực hành ban chu tam muội, chỉ đứng và đi, tinh tấn không dừng, bạn có thể nhìn thấy tất cả Phật xuất hiện, giống như sao trên trời vậy. Đứng dậy bước đi niệm Phật chính là ban chu tam muội, thời gian là 7 ngày, bạn có thể nhìn thấy cảnh tượng khác lạ, nhưng cũng không dễ dàng duy trì, không dễ dàng làm được điều này, vì sao? Bởi vì giả sử một người cứ liên tục đi không dừng, nếu không ngủ thì một ngày còn có thể duy trì được, hai ngày cũng có thể duy trì được, ba ngày cũng miễn cưỡng duy trì được, nhưng đến ngày thứ tư khả năng sẽ xuất hiện huyễn giác, tức là sẽ có hiện tượng ảo giác xuất hiện. 

Vì thế cũng có người nghiên cứu pháp ban chu tam muội này, cho rằng pháp ban chu tam muội vào ngày thứ ba, thứ tư có thể nhìn thấy Phật, có khả năng bản thân Phật đó là Phật huyễn, bởi vì trong tâm bạn nghĩ đến Phật, miệng niệm Phật, liên tục không ngủ thì chắc chắn sẽ sinh ra ảo giác. Hiện tượng sinh ra ảo giác tức là tất cả Phật Bồ Tát sẽ trôi trong hư không, giả sử định lực của bạn đủ, bạn có thể nhìn thấy Phật, có thể có thành tựu, đây là chứng đắc có kỳ hạn, nhưng giả sử bản thân bạn định lực không đủ, nói không chừng khi ảo giác sinh ra, sau này bạn sẽ bị huyễn thị và huyễn thính. 

Là huyễn thính chứ không phải là nhà ăn để ăn cơm đâu, là nghe thấy rất nhiều âm thanh khó hiểu; huyễn thị là nhìn thấy rất nhiều thứ kỳ quặc, hai thứ này đều do ảo giác của bạn sinh ra. Huyễn thị và huyễn thính chính là bệnh tâm thần, sẽ bị tâm thần phân liệt, cho nên thực hành phi thường pháp đôi khi sẽ liên quan đến tâm thần, sinh ra chứng tâm thần phân liệt chính là ở chỗ này. Vì thế, chúng ta dùng thường pháp để tu hành, mặc dù tương đối chậm, thời gian tương đối dài một chút, nhưng sẽ không sinh bệnh, còn phi thường pháp rất dễ sinh bệnh.

Cho nên hôm nay chúng ta học Phật, tôi cho rằng chúng ta vẫn nên tu một cách tự nhiên, như thế tương đối tốt hơn, ví dụ bạn trì Bảo bình khí, bạn đừng khăng khăng là phải giữ được bao lâu, bạn nhịn thở không được nữa thì bạn nhanh chóng hít thở, bởi vì chỉ cần bạn miễn cưỡng là chắc chắn sẽ sinh bệnh, khí sẽ đi sang đường rẽ, khí sẽ chạy tới đường rẽ, khí này sẽ chạy lung tung thì thân thể sẽ sản sinh ra các bệnh liên quan đến tu khí. Vì thế, tu Bảo bình khí cũng phải tự nhiên mà làm, bạn có thể giữ được bao lâu thì giữ bấy lâu, đừng miễn cưỡng, đến lúc cần phải thở ra thì bạn hãy thở ra, cần hít vào thì bạn hãy hít vào. Hôm nay giảng tới đây thôi. Om mani padme hum. 

12/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 178. Nói về vô ngại (1)


Hôm nay tôi nói với mọi người về vô ngại.

Vô ngại - chữ ngại này là ngại trong từ chướng ngại. Từ hồi đầu rất lâu trước đây tôi có viết một cuốn sách, chính là nói về “triết học vô ngại”. Ý của tôi là thế này, một người giả sử có thể hoàn toàn không có trói buộc tức là đã đạt đến cảnh giới vô ngại, viết về triết học vô ngại tức là đang giải thích về một cuộc sống không có chướng ngại.

Trong Phật pháp cũng nhắc đến vô ngại, ý là không có chướng ngại. Phật pháp khi đạt đến cảnh giới rất cao rồi thì cũng là vô ngại, không còn chướng ngại gì cả.

Tôi lấy vài ví dụ đơn giản để nói với mọi người. Ví dụ lần này chúng tôi đến Ấn Độ, Nepal, trước khi đi Ấn Độ, mọi người đều có tìm hiểu trước, bởi vì chất lượng cuộc sống và điều kiện sống của Ấn Độ khác với nước Mỹ. Nước ở đó cũng không thể dùng để uống, không giống Seattle, nước máy ở Seattle chỉ cần mở ra là có thể uống được, ở Ấn Độ thì nước đó không thể uống được, cho nên mọi người đều mang theo nước suối. 

Điều kiện sinh hoạt ở đó rất bẩn, nghe nói có bệnh sốt rét, thổ tả, đủ loại bệnh kinh dị. Những người muốn đi không ai bảo ai mà 17 trong số 18 người đều đi tìm bác sĩ để tiêm phòng, tiêm sáu mũi, bao gồm uốn ván, bạch hầu, dịch hạch, nói chung cái gì cũng tiêm hết, mỗi người đều tiêm sáu mũi, chỉ có một người không tiêm, người đó chính là Sư Tôn.

Sư Tôn không tiêm, vì sao tôi không tiêm nhỉ? Có phải là vô ngại không? Có phải là không có chướng ngại gì, ngay cả bệnh cũng không thể gây chướng ngại cho tôi, có phải là như vậy không?

Thật ra trong lòng tôi cũng cảm thấy lo lắng, rất muốn đi tiêm. Tôi rất muốn đi tiêm, nhưng tôi bình sinh có một căn bệnh, đó là tôi không thích tiêm, trong đời tôi tôi từng phải tiêm chính là lúc làm lính, kiểm tra sức khỏe thì phải tiêm. Mỗi khi tôi ốm thì hầu hết là đều không tiêm. Khi có bệnh gì đang phổ biến tôi cũng không tiêm. 

Có phải là vì có cách nghĩ này cho nên mới không tiêm không? Không phải, mà là tôi có cách nghĩ về vô ngại, cộng thêm tôi không thích tiêm, cho nên tôi mới không đi tiêm. Trong số tất cả mọi người chỉ có một người không tiêm, chính là tôi. Và cũng chỉ có một người không bị ốm, cũng là tôi. Những người khác hầu hết đều gặp sự cố lớn nhỏ, chỉ có một mình tôi là không sao cả, đây có phải là vô ngại không? Thật lòng mà nói thì cũng không phải là vì vô ngại.

Tôi có một cách nghĩ: giả sử bị ốm ở Ấn Độ, ở Nepal, thật sự mắc phải bệnh gì đó, cách nghĩ của tôi khác với mọi người, thật sự bệnh đến thì tôi cho rằng đây cũng là tu hành, bởi vì khi có bệnh trên người, bạn có thể từ bệnh này mà quan sát, cho thấy thân thể bạn vẫn còn có nghiệp chướng, là nghiệp chướng của bản thân bạn.

Hơn nữa trong quan niệm của tôi, bệnh cũng có điểm tốt, bệnh không hoàn toàn là xấu. Bệnh có điểm tốt gì? Khi một người mắc bệnh, tâm trí của họ sẽ tương đối định. Khi một người không có bệnh, khi thân thể khỏe mạnh, tâm trí của họ giống như ngựa chạy, tối nay tôi muốn đi đâu, ngày mai tôi có kế hoạch làm việc gì, sau đó là muốn đạt được lợi gì, danh gì, ham muốn rất cao. Khi bạn bị bệnh rồi, những ham muốn của bạn sẽ hoàn toàn lắng xuống, bởi vì bạn còn không thể cử động được, bạn còn có thể có ham muốn gì đây?

Khi ham muốn lắng xuống, trong lòng bạn sẽ định, bạn sẽ suy ngẫm cái gì mới là thứ bạn cần làm, cái gì mới là việc thật sự có ý nghĩa lúc này mới hiển hiện ra. Khi một người mắc bệnh nặng, ham muốn của người đó cũng bằng 0, chẳng còn ham muốn gì, sống như một Thánh hiền. Bởi vì bạn mắc bệnh nặng, rơi vào hoàn cảnh không thể bước nổi một bước, không thể đi làm việc xấu, thân thể thật sự là thanh tịnh, khẩu cũng thanh tịnh, những điều nói ra cũng là lời hay ý đẹp.

Bởi vậy nói rằng, khi thân thật sự thanh tịnh là khi nào? Là khi bạn nằm viện, lúc này khẩu đương nhiên cũng thanh tịnh, hơn nữa ý niệm của bạn có thể rất định, lúc này chú ngữ mà bạn niệm, kinh Phật mà bạn niệm thật sự có thể đi vào nội tâm bạn, chính là vào lúc này. 

Vì thế, bệnh đến không chỉ là tiêu nghiệp chướng, mà còn là để cho bạn thật sự nhận thức được về tu hành. Tôi nghĩ như vậy cho nên mới vô úy, vô ngại, có bệnh cũng không sao cả, bệnh đến tức là muốn tôi tu hành, tức là tiêu nghiệp chướng của tôi, là để cho tôi tiến vào trong cảnh giới càng “định” hơn. Sự giày vò của nhục thể có đôi khi là như vậy, để tâm bạn càng thêm kiên định, thật sự thân khẩu ý thanh tịnh, đây chính là triết học vô ngại của tôi. 

Om mani padme hum. 

13/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 179. Nói về vô ngại (2)


Chúng ta lại nói về vô ngại. 

Ngay từ sớm tôi đã viết ra “triết học vô ngại”, đây là một kiểu tư tưởng của bản thân cuộc đời con người, cũng là tư tưởng của tôi. 
Chúng ta lại lấy ví dụ: khi chúng tôi đến Ấn Độ, Nepal, bầu trời Ấn Độ có hai chiếc máy bay, một cái thì muốn cất cánh, một cái thì muốn hạ cánh. Bầu trời rộng lớn như vậy, nhưng đúng là oan gia ngõ hẹp, chúng lại đâm vào nhau. Bạn nói xem, xe chạy trên đường bằng đâm vào nhau, chẳng qua xe sẽ bị hỏng, người có khi vẫn ổn cả, còn máy bay trên bầu trời hễ đâm vào nhau thì người rơi xuống, trừ phi trên người bạn có đeo sẵn dù, bằng không thì sẽ nát bét hết cả, thịt nát xương tan, toàn bộ đều chết hết.

Người ta hỏi tôi: “Có sợ không?” Khi ấy chúng tôi cũng rất căng thẳng, chúng tôi ở New Delhi, trong khi trên đường từ Jammu trở về Delhi, Thượng sư Liên Ninh đọc báo thì giật thót mình, suýt chút nữa là nhảy dựng lên, đúng lúc máy bay của chúng tôi phải bay trở về New Delhi. Oa! Rất nhiều người rất căng thẳng, người nhà của Thượng sư Cao ở Malaysia vừa đọc báo xong thì lập tức gọi điện thoại để kiểm tra, điện thoại từ Malaysia gọi đến để kiểm tra danh sách hành khách, rất căng thẳng. Khi ấy mỗi người chúng tôi đều đang ở trên máy bay. 

Triết học vô ngại là như thế này: cuộc đời có rất nhiều tai nạn lớn nhỏ, đếm không xuể, những tai nạn đều là đột ngột, chớp mắt một cái đã xảy ra rồi, như là máy bay đâm nhau, bạn có cách gì không? Cho dù có sức mạnh lớn đến đâu bạn cũng đều chẳng có cách. Vận mệnh của máy bay và những nhân viên phục vụ, bạn ngồi trong đó bạn chịu theo vận mệnh của máy bay, bạn chẳng có cách nào kiểm soát được.

Đối với những việc bất ngờ, trong triết học vô ngại nói rằng cũng không cần căng thẳng. Ví dụ lấy Sư Tôn để nói, người học Phật, tự mình đã nắm chắc việc vãng sinh rồi, trong chớp mắt là vãng sinh, rất nhanh đúng không! Quá thoải mái phải không? Đều sẽ không trải qua bệnh khổ, cũng không phải trải qua thế nào đó, chớp mắt một cái là hết rồi, là vãng sinh rồi, quá tốt. *Good! Problem is ok.* Như thế này là tốt nhất, là nhanh nhất. Có đau khổ không? Vài giây là xong hết! Chớp mắt một cái, giống như tiêm, thế là xong, thế là kết thúc rồi. Thế này là tốt mà! Kiểu tai nạn này, tôi cho rằng trong triết học vô ngại của chúng ta nói, Phật Bồ Tát Bổn tôn luôn luôn trụ đỉnh, trong chớp mắt, việc ngoài ý muốn xảy ra, lập tức tiếp nhận, lập tức vãng sinh, tôi không sợ, không căng thẳng.

Trong cách nghĩ của tôi, tôi không lo lắng hay sợ hãi, có người hễ lên máy bay là bị chứng sợ máy bay, nhìn xung quanh xem những người kia có bộ mặt nguy hiểm không, xem những hành khách khác có xui xẻo giống mình không, nhìn một hồi lâu, dường như họ cũng có vẻ may mắn, mới yên tâm ngồi xuống, còn hễ nhìn thấy khuôn mặt nào tái xanh là bắt đầu giống như họ, đây là chứng sợ máy bay. 

Tôi nói với kiểu người này rằng “ngày ngày đi máy bay”, đi cho đến khi không sợ nữa, việc gì càng sợ thì bạn càng phải làm, sau cùng bạn sẽ không sợ nữa. Có một cách ngược lại, đi máy bay mãi thì bạn sẽ không sợ nữa, giống như ngồi trong chiếc nôi vậy, sẽ chẳng sao cả.

Triết học vô ngại là thế này, xảy ra tai nạn bất ngờ, mau chóng vãng sinh. Tôi vừa lên máy bay là lập tức niệm Phật, quán tưởng Phật trụ đỉnh, trì chú, biểu thị Phật và tôi hợp nhất, làm quán tưởng như vậy xong thì tôi trì chú, đã kiên cố rồi thì bạn còn sợ cái gì nữa? Đi thì đi thôi. Số đã định rồi thì có sao đâu, đây chính là vô ngại, không có chướng ngại gì cả.

Ấy, có người muốn hại tôi, trên thế giới này chuyện hại tới hại lui rất nhiều, có người nói: “Có người muốn hại Sư Tôn, nói không chừng Sư Tôn sẽ gặp họa tù tội, phải trừ khử hắn ta đi.” Ngại gì! Chúng ta xem nơi đó là phòng bế quan, đây cũng là triết học vô ngại. Giả sử bạn có chướng ngại, rất nhiều nơi bạn không thể đi, còn hôm nay bạn đã vô ngại rồi thì bất kì nơi nào bạn đều có thể đi.

Bế quan, đóng cửa ở trong phạm vi nhỏ, đây là một kiểu tu hành rất tốt, có thể khiến cho thân, khẩu, ý thanh tịnh. Ở trong nhà lao, thân thể không thể đi làm việc xấu, chân không thể bước ra cửa, giữ được mồm miệng tránh khẩu nghiệp, ý niệm thanh tịnh, không có những thứ hình sắc bên ngoài lôi kéo bạn, coi như bế quan luôn, đây cũng là tu hành.

Bạn có được cách suy nghĩ này thì chính là vô ngại, không có chướng ngại gì cả, bạn sẽ quan sát được mọi thứ vô cùng rõ ràng, minh bạch, cuộc sống của bạn có thể tự chủ nhậm vận, đây chính là vô ngại. Học Phật học đến cảnh giới rất cao rồi, tự nhiên bạn sẽ đạt đến cảnh giới vô ngại.

Đến được cảnh giới vô ngại rồi, bạn sẽ có thể tự chủ, có thể nhậm vận, tất cả đều không hề gì, tất cả đều là tùy bạn làm, bất kể như thế nào bạn cứ đi là sẽ đúng, hơn nữa, đối với tất cả sự vật trên thế gian, bạn nhìn rất rõ ràng minh bạch, bạn có thể tự chủ, nhậm vận hành vi của mình, đây chính là triết học vô ngại.

Đây chính là một thành tựu trên con đường tu hành của bạn, lúc này bạn đã siêu việt thế tục thông thường, hoàn toàn siêu việt, mọi người hãy lĩnh hội điều này cho thật tốt.

Om mani padme hum. 

13/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 180. Nói về tu pháp (1)


Hôm nay nói về tu pháp. 
Tu pháp Mật giáo có một bộ nghi quỹ thực tu, thời gian thì có nghi quỹ dài, có nghi quỹ ngắn, nếu bạn làm từ tốn thì thời gian sẽ dài, giả sử bạn làm một cách tinh giản thì thời gian mất khoảng nửa tiếng. Cho nên lấy Chân Phật Mật Pháp của chúng ta để nói, ví dụ lần này chúng tôi đi đến Thượng Mật Viện ở Dharamshala Ấn Độ xem người ta tu pháp, họ tu một đàn pháp, chúng tôi hỏi họ thời gian bao lâu, họ nói bảy tiếng đồng hồ, *seven hours*, còn một đàn pháp của chúng ta chỉ có nửa tiếng. 

Bạn xem họ làm triệu thỉnh, hoặc phát bồ đề tâm, họ làm rất kĩ rất chi tiết, chỉ riêng triệu thỉnh thì niệm văn triệu thỉnh bảy lần, không chỉ niệm văn triệu thỉnh mà còn phải đứng dậy, trì chú kết thủ ấn, làm quán tưởng, rất nghiêm chỉnh thỉnh Phật Bồ Tát đến, chỉ riêng triệu thỉnh thôi họ đã làm hết cả nửa tiếng rồi, tương đương với Chân Phật Mật Pháp của chúng ta tu một đàn pháp.

Phát bồ đề tâm, không phải là niệm xong văn phát bồ đề tâm là phát bồ đề tâm xong, không những phải niệm văn phát bồ đề tâm mà còn có chú ngữ, có văn, phải niệm, cứ thế niệm, niệm, tốn thời gian rất dài, còn có rất nhiều nghi quỹ, bất kì bước nào cũng đều rất dài, niệm kinh văn lại càng dài hơn.

Lúc này chúng tôi cũng rất hiếu kỳ hỏi họ: “Tu pháp bảy tiếng đồng hồ, giả sử có một số người không nhịn được thì phải làm sao?” Trong khi làm pháp hội bảy tiếng đồng hồ, có người chưa đến nửa tiếng đã đứng dậy đi *restroom* [nhà vệ sinh], ngồi xuống chưa được bao lâu lại bắt đầu thấy “mót”, lại đi *restroom*, vậy họ phải làm sao?

Geshe Thiên Thanh nói thế nào, ông ấy nói: “Gạch bỏ tên, không có tư cách tham gia pháp hội tu pháp thì gạch bỏ tên. Nói chung, Lama hòa thượng trong khi làm pháp hội không có chuyện đi vệ sinh, tinh thần tập trung vào việc tu pháp thì bạn sẽ quên hết tất cả, căn bản là không nghĩ đến việc đi tới nơi đó, sẽ không nghĩ đến nó.”

Nghe ông ấy nói vậy, bạn có thể thử nghĩ một chút: nhìn chung mà nói, người trẻ tuổi tương đối không có sự phiền toái này, người cao tuổi có khi một đêm phải dậy một lần là điều rất bình thường, cũng có khi hai lần, ba lần. Bình thường vì sao buổi tối không cần phải đi tiểu? Chủ yếu cũng là vì sự tập trung vào giấc ngủ, chỉ một chốc là sáu, bảy tiếng đồng hồ đã trôi qua, cho nên không cần đi tiểu.

Giả sử bạn học được cách tập trung tinh thần, bạn cũng có thể tập trung vào kinh điển nên sẽ quên mất nhu cầu đi tiểu, vì thế trong Mật giáo, các Lama hòa thượng làm pháp hội bảy tiếng đồng hồ, mỗi người đều học công phu nhịn tiểu. Trên thực tế chúng ta cũng có thể làm như vậy, đây là một cách luyện tinh thần rất chuyên nhất, đừng nghĩ đến cái gì khác, bạn sẽ quên hết tất cả. Giả sử bạn không thể tập trung tinh thần, bạn sẽ nghĩ đến một số chuyện gì đó thì bạn sẽ gặp phải hiện tượng “mót”, vậy thì bạn nhất định phải đi.

Bởi vậy giả sử mọi người học Tạng mật, đến Dharamshala, đến Nam Ấn Độ, đến Tây Tạng, đầu tiên phải học được công phu nhịn tiểu, một khi đã vào pháp hội bạn không thể tùy tiện đứng lên. Chúng ta bây giờ chỉ có nửa tiếng là rất *easy*, rất đơn giản, tương đối hợp với thời đại hóa. Tu pháp đương nhiên pháp ở mỗi địa phương là khác nhau, nhưng cũng không tách rời mấy thứ, ví dụ làm cúng dường, vì sao phải làm cúng dường? Cúng dường chính là cung kính, biểu thị tâm ý của bạn. Có đôi khi bạn sẽ mất đi tâm cung kính, bạn làm cúng dường chính là vì không để cho tâm cung kính của mình bị mất đi.

Trong Mật giáo làm cúng dường, ví dụ chúng ta niệm chú thì tương đối đơn giản, tương đối ngắn, chúng ta kết ấn cúng dường, niệm chú cúng dường, dùng quán tưởng biến hóa. Họ ở Thượng Mật Viện làm cúng dường, tôi tin rằng cũng mất một tiếng đồng hồ, làm một phần cúng dường đã mất một tiếng đồng hồ rồi, mỗi loại cúng dường đều rất kĩ, ví dụ bát cúng, làm đại cúng dường ba mươi bảy món cúng, mỗi một loại cúng dường đều chậm rãi quán tưởng, chậm rãi niệm chú, chậm rãi kết ấn, cho nên thời gian của nó sẽ kéo ra rất dài. Ba mươi bảy món cúng đều phải quán tưởng, đều phải niệm chú.

Hôm nay chúng ta tu Chân Phật Mật Pháp là may mắn cho mọi người. Trong Tạng mật, mỗi thủ ấn đều phải quán tưởng ra, mỗi chú ngữ đều phải biến hóa thành. Đây cũng là chỗ hợp với thời hiện đại của Chân Phật Mật Pháp.

Hôm nay giảng tới đây.

16/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 181.  Nói về tu pháp (2)


Chúng ta lại nói về tu pháp.

Trong nghi quỹ tu pháp, không chỉ có cúng dường mà còn có lễ bái, triệu thỉnh chư Phật Bồ Tát đến để lễ bái. Lễ bái thể hiện sự vô cùng cung kính đối với chư Phật Bồ Tát, đồng thời thể hiện sự khiêm nhường cung kính của bản thân, biểu hiện một sự cầu nguyện vô cùng thành kính, một sự phát bồ đề tâm.

Chân Phật Mật Pháp đại lễ bái dùng quán tưởng đại lễ bái, dùng phương pháp quán tưởng để thực hiện, bởi vì mọi người cùng tu nên dùng quán tưởng; ở Thượng Mật Viện Dharamsala làm đại lễ bái, không chỉ có ba lạy. Thỉnh một vị đến, bạn niệm: "Ôm a-ra-pa-cha-na-đi" thỉnh Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát đến, rồi quán tưởng ngài tiến vào, lên pháp tọa, sau đó bắt đầu làm đại lễ bái đối với Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, làm xong lại xếp hàng, lại triệu thỉnh.

Thỉnh Quan Thế Âm Bồ Tát, "Ôm ma-ni pê-mi hùm" tụng tụng tụng... tụng xong, tốt! Quan Thế Âm Bồ Tát được thỉnh lên pháp tọa, lại làm đại lễ bái... Thỉnh Đại Thế Chí Bồ Tát, thỉnh Vô Tận Ý Bồ Tát, mỗi lần thỉnh một vị đều làm đại lễ bái, cho nên một loại đại lễ bái cũng mất một tiếng đồng hồ, thời gian cũng rất dài như vậy, hơn nữa tỉ mỉ cẩn thận, không bỏ sót điều gì, các vị Phật Bồ Tát liên quan đều được thỉnh, một lần thỉnh là rất nhiều vị, bạn lạy đến choáng váng hoa mắt, vì vậy một đại lễ bái mất một tiếng đồng hồ, đây cũng là một biểu hiện của sự cung kính, ngưỡng mộ, tự đặt mình ở vị trí thấp kém, trong nghi quỹ đều có.

Khi tất cả chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành đều đã được thỉnh đến, đã triệu thỉnh xong, cũng đã làm đại lễ bái và cúng dường xong, lúc này phải niệm chú tứ quy y: "Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê." Ý nghĩa của việc niệm chú này là gì? Chính là quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng, quy y Kim cương Thượng sư, quy y tất cả.

Trong tu pháp cần phải niệm chú tứ quy y, bởi vì chúng ta thường hay quên mất việc quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng, quy y Kim cương Thượng sư. Bình thường khi không tu hành tức là đã vi phạm ý chỉ của Phật, vi phạm Phật pháp, vi phạm thân phận của người xuất gia, vi phạm sự cung kính Kim cương Thượng sư. Vì vậy niệm chú tứ quy y chính là để thường xuyên nhắc nhở bạn rằng bạn là người quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng, quy y Kim cương Thượng sư. Điều này nhất định phải làm.

Khi tôi cùng làm pháp hội với Ba Mễ Cường Ba [Bomi Rinpoche], Thố Như Thứ Lãng [Khro-ru Tshe-rnam] Rinpoche và các vị khác, trong mỗi đàn pháp họ đều thực hiện pháp mặc giáp hộ thân và pháp phòng ma. Họ dùng đầu lâu người, tay cầm chày kim cang, việc kết giới cũng đều phải làm.

Có người nói rằng: "Tôi không cần làm mặc giáp hộ thân, tôi chính là Phật." Họ cho rằng mình đã thành Phật rồi, tôi chính là Phật tính. Đương nhiên ý nghĩa sâu xa nhất của điều này không sai, khi Phật tính vốn có của bạn hiển lộ, bạn chính là Phật. Nhưng khi Phật tính của bạn chưa hiển lộ, khi bạn chưa khai ngộ, bạn vẫn còn là phàm phu! Bạn nhất định phải làm pháp phòng ma và mặc giáp hộ thân.

Mặc giáp hộ thân không chỉ làm lúc tu pháp, ngay cả khi đi vệ sinh cũng phải búng tay, tại sao phải búng tay? Để biểu thị rằng tôi muốn đi vệ sinh, bên trong có những thứ xin mời ra ngoài, hành giả sắp vào nhà vệ sinh rồi, búng một cái tay là có ý nghĩa như vậy, cho nên đi vệ sinh có chú ngữ nhà vệ sinh, đi đâu cũng có chú ngữ.

Khi hành giả đi ngủ cũng phải kết giới, khi tu pháp phải mặc giáp hộ thân, khi đi xa phải cầu xin Hộ pháp đi theo bên mình, khi đến bệnh viện thăm bệnh nhân, khi đi giúp người tụng kinh làm công đức, đều phải mặc giáp hộ thân, không thể nói không cần mặc giáp hộ thân, bạn tưởng rằng mình đã cao siêu lắm rồi, kiêu ngạo tự mãn, không được đâu, bởi vì Phật tính của bạn vẫn chưa hiển lộ. Nếu Phật tính của bạn đã hiển lộ, xung quanh bạn đều là Hộ pháp, tự nhiên sẽ phòng ma rồi. Vì vậy, vẫn phải mặc giáp hộ thân.

Chúng ta biết rằng, khi tu pháp cần phải trì tụng chú ngữ, phải quán tưởng, và cũng phải nhập Tam ma địa. Nhập Tam ma địa chính là thống nhất tinh thần, chính là định, từ định mới có thể đạt được trí tuệ Như Lai, Phật huệ mới hiển hiện ánh sáng nơi thân bạn, sẽ khai mở chủng tử thức của chính bạn, khai mở Phật thức của bạn, vì vậy, nhập Tam ma địa là rất quan trọng, đây thuộc về phần chính hành. Những phần trước đều thuộc về tiền hành; trì chú, quán tưởng, nhập Tam ma địa đều là chính hành.

Vừa rồi chúng ta cũng đã tu một đàn pháp, trong quá trình tu pháp, nếu bạn có quên mất nghi quỹ nào, hoặc tinh thần không được thống nhất, vọng niệm phiền phức, nghĩ đến nơi khác, đây chính là có sự thiếu sót. Lúc này bạn cần niệm chân ngôn Kim Cang Tát Đỏa, tất cả những sai sót của bạn, bởi vì bạn đã niệm Bách tự minh chân ngôn của Kim Cang Tát Đỏa, tất cả đều được bù đắp lại, tất cả công đức tu hành quy về tính Không, vì vậy chân ngôn của Kim Cang Tát Đỏa chính là một loại chân ngôn bổ khuyết, nó có thể bù đắp những thiếu sót của bạn.

Chúng ta tu tập như vậy mỗi ngày, tất cả đều có ý nghĩa, phải phát tâm bồ đề, phải cung kính, phải cúng dường, phải làm đại lễ bái, phải niệm tứ quy y, phải làm pháp mặc giáp hộ thân, phải đầy đủ tứ vô lượng tâm, tất cả đều có ý nghĩa của nó.

Còn Tam ma địa chính là thống nhất tinh thần, từ định mà cầu được trí huệ Như Lai, đó chính là mục đích tu pháp của chúng ta. Hôm nay nói đến đây.

Om mani padme hum. 

16/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 182. Quán tự tại (1)


Hôm nay chúng ta nói về quán tự tại. Đây là ba chữ đầu tiên trong Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh: "Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không".

Ba chữ "quán tự tại" này có cả phần lý thuyết và phần thực hành. Quán tự tại nói ra chính là diệu quan sát, diệu quan sát thuộc về phần lý thuyết.

Hai chữ "tự tại" rất dễ hiểu nhưng lại rất khó thực hiện, rất dễ nắm bắt nhưng rất khó thực hành. Tự tại mà tôi đề cập đến nên thuộc về hai loại tự tại:

Một loại là "Không tính tự tại", khi cảnh giới của bạn đạt đến một mức độ nào đó, bước vào Không tính, trong đó không có sự phân biệt, không có sự khác biệt, cảnh giới không có thứ bậc, tất cả đều bình đẳng. Lúc này chính là Không tính tự tại, cũng chính là không có khổ lạc, khổ tức là lạc, lạc tức là khổ, trong cảnh giới khổ lạc đều bình đẳng như nhau thì gọi là Không tính tự tại.

Một loại là "Pháp tính tự tại", Phật có ba thân: Pháp thân, Báo thân, Ứng thân; trong đó Pháp thân có thể tự tại, Báo thân không nhất định được tự tại, Ứng thân càng không thể tự tại. Tại sao Pháp thân có thể tự tại? Bởi vì Pháp thân và Không tính là một, cho nên bình đẳng không có sự phân biệt, vì vậy có thể tự tại.

Trong Mật giáo khi nhìn vào Báo thân Phật, tất cả chư Phật trong đàn thành đều là Báo thân Phật. Khi đến Ấn Độ, Nepal xem nhiều tượng Phật, đều thấy đứt tay, đứt chân, không có mũi, đó là Báo thân Phật đấy! Tại sao lại đứt tay, đứt chân, không có mũi? Bởi vì sau khi người ngoại đạo vào Ấn Độ, họ đã phá hủy tượng Phật, tượng thờ, ngay cả tượng điêu khắc cũng không thoát khỏi.

Trong Mật giáo khi nhìn vào mandala, cũng được xem là đàn thành Báo thân. Tại Thượng Mật Viện Dharamsala, chúng tôi đã được thấy mandala cát Mật Tích Kim Cang. Đức Dalai Lama đã truyền pháp tại đó, truyền Mật Tích Kim Cang, mandala cát được tạo nên từ cát nhiều màu sắc.

Mật Tích Kim Cang mandala là thứ không cho người khác xem, rất thiêng liêng, được đặt trong tủ kính bốn mặt, xung quanh được phủ kín bằng nhiều lớp vải. Chúng tôi vì là khách đặc biệt nên được mở ra cho xem mandala cát Mật Tích Kim Cang.

Phương pháp của họ là như thế này: triệu thỉnh Pháp thân của tính Không vũ trụ vào mandala cát Mật Tích Kim Cang, Kim cương Thượng sư dùng pháp của chính mandala để quán đảnh cho tất cả mọi người. Khi Ứng thân Phật, Báo thân Phật, Pháp thân Phật hợp nhất thì mới làm quán đảnh, Pháp thân nhập vào Báo thân, Báo thân và Pháp thân nhập vào Ứng thân, từ Ứng thân để làm quán đảnh cho mọi người.

Mandala cát chính là Báo thân, sau khi làm quán đảnh xong, mandala cát được cúng dường cho Long thần, tức là đổ mandala cát xuống biển, thỉnh mời vào biển dâng cho Long tộc.

Cho nên vì sao mandala cát không được tự tại? Bởi vì có thành, có trụ, có hoại, có không, nên sẽ không tự tại. Báo thân không tự tại, Ứng thân càng không tự tại, Ứng thân nếu bị cảm cúm, nghẹt mũi thì làm Bảo bình khí không tự tại; Ứng thân Phật nếu bị trẹo chân thì đi đứng cũng không tự tại; họng bị khàn thì không thể thuyết pháp.

Ứng thân cũng không tự tại, cho nên có cái "thân" đều không tự tại, duy nhất tự tại chính là thuộc về tự tại của "Không tính" và tự tại của "Pháp tính", những thân khác rất khó đạt được tự tại, điều này nói ra thuộc về phần lý thuyết.

Quán Tự Tại Bồ Tát nên bao gồm một cái là "quán" - diệu quan sát, một cái là "chiếu" - chính là thực tu, thực hành.

Hai chữ "quán chiếu" thường thấy trong kinh điển Phật giáo, quán chính là diệu quan sát, chiếu chính là thực hành, cũng có thể nói là phóng quang.

Rất nhiều người nói về Quán Tự Tại Bồ Tát trong Tâm Kinh, phần lớn mọi người đều dịch thành Quán Thế Âm Bồ Tát, cũng có người nói là Quán Tự Tại Bồ Tát, tôi cho rằng đây nên là danh xưng chung cho tất cả các vị Bồ Tát có thể tự mình quán chiếu tự tại, các ngài đều đã chứng ngộ năm uẩn đều không.

Sắc, thọ, tưởng, hành, thức chính là "ngũ uẩn"; "giai không" chỉ tất cả đều biến hóa quy về Không tính, thân người có ngũ uẩn - sắc, thọ, tưởng, hành, thức, trong sự diệu quan sát chân chính và phóng quang, ngũ uẩn đều là không.

Đây đều là về mặt lý thuyết, trong kinh điển Phật giáo đều nói rất rõ ràng về mặt lý thuyết: Không tính là gì, Pháp thân là gì, tự tại là gì, đều rất rõ ràng, hôm nay nói đến đây.

Om mani padme hum.

17/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 183. Quán tự tại (2)


Chúng ta hãy nói thêm về quán tự tại.

Quán tự tại có cả phần lý thuyết và phần thực hành. Về mặt lý thuyết chính là diệu quan sát. Nhiều người đều có thể giảng về lý thuyết, chỉ cần là những vị Tiến sĩ Phật học, Giáo sư Phật học nghiên cứu Phật pháp, họ đều có thể giảng về lý thuyết, nhiều vị đại pháp sư đều giảng giải Tâm Kinh rất hay.

Bởi vì Tâm Kinh là một bộ kinh điển khai ngộ, về mặt lý thuyết, mọi người chỉ cần hiểu được Tâm Kinh là đã khai ngộ, trên lý thuyết là đã khai ngộ.

Nhưng trong sự quán chiếu thực tế, "chiếu" phải là phóng quang, nếu không thể phóng "quang", chỉ có lý thuyết về quang thì vô dụng, chỉ khi nào bạn có thể phóng quang mới có thể chiếu kiến ngũ uẩn giai không.

Cho nên, dù bạn có thể quan sát tự tại, nhưng nếu không thể chiếu kiến ngũ uẩn giai không thì cũng vô dụng, vì vậy chữ "chiếu" phải là thực tiễn và thực tu, tức là phải thực hành.

Trước đây sư phụ dạy tôi một pháp gọi là “tương ứng hư không”, muốn vào được tính Không thì phải hiểu phương pháp tu hành. Đây là phương pháp thực tu, tôi thường nói, khi tu pháp bạn hãy lên đỉnh núi cao, nhìn vào hư không màu xanh, trong thời tiết không một gợn mây, ngồi trên đỉnh núi cô đơn, hư không như một vòng tròn màu xanh. Trong trạng thái bầu trời quang đãng không mây, hãy đưa tâm về với hư không, đừng nghĩ ngợi gì cả, cảnh bên ngoài chính là hư không, tâm không còn ý niệm gì, sau đó hai mắt nhìn vào bầu trời trong xanh không mây, tâm tự nhiên hòa vào bầu trời không mây, đây là một phương pháp tu hành quán ngoại cảnh.

Còn bên trong thì sao? Bên trong do ảnh hưởng của ngoại cảnh, khi đưa tâm về với không, rất dễ khiến nội tâm của bạn phát sinh quang minh, điều này có ghi chép trong kinh điển. Trong “Quảng Bản Mật Tục” có đề cập, khi ngoại cảnh hoàn toàn hóa thành hư không, tâm bạn về với hư không, lúc đó ánh sáng nội tâm của bạn sẽ phát sinh.

Kinh điển Mật giáo có đề cập điểm này: bên trong phóng quang ở đâu? Chính là bạch mạch tâm quang, tức là ánh sáng Tâm luân.

Tâm quang sẽ phát sinh, bình thường chúng ta tu pháp, trong ngũ luân, nâng lửa lên, đưa bồ đề tâm nguyệt dịch xuống Tâm luân, cùng chuyết hỏa dung hợp với nhau, khi tâm của bạn khai mở, bạch mạch tâm quang sẽ hiện ra, đây là một trọng điểm.

Bình thường bạn có tu tập, kết hợp với việc lên đỉnh núi cao, đưa tâm về với hư không, tâm quang lại hiển lộ, chính là chuyết hỏa thăng lên, bồ đề tâm nguyệt dịch giáng xuống, dung hợp khai mở Tâm luân, khiến ánh sáng màu trắng hiện ra, điểm này rất quan trọng.

Thường ngày có tu tập, sự kết hợp của ánh sáng bên ngoài và bên trong chính là Mật, vậy Mật là gì? Có bốn hiện tượng:

Một hiện tượng là "định" - khi tu pháp trên đỉnh núi phải ngưng thần, tâm phải định, định vào hư không, tinh thần tập trung chính là định.

Tiếp theo là "rộng" - bạn phải cảm nhận được vũ trụ rộng lớn vô tận vô biên, không bị thân thể của mình ràng buộc, thân thể không thể trói buộc bạn, như thể bạn đã hòa vào hư không.

Tâm ở trong hư không, thân thể cũng ở trong hư không, không có bất kỳ chướng ngại ràng buộc nào, vừa phải rộng, lại phải lỏng.

“Lỏng” là gì? Lúc này đừng vì tập trung tinh thần và ngưng thần mà cảm thấy căng thẳng, phải rất thư thái, thản nhiên thả lỏng, cần đạt được trạng thái vừa ngưng thần vừa thả lỏng, điều này cần phải điều chỉnh cho vừa phải, vừa rộng, vừa lỏng, lại vừa rất định.

Bí quyết cuối cùng là "hiển" - hiển lộ ánh sáng của bạn, khi tâm quang của bạn phát lộ, chính là phải tương ứng với hư không, ở bên ngoài, ở tâm, ở hư không, ở bên trong, ánh sáng ở Tâm luân của bạn tự nhiên hiển lộ ra.

Trong Mật giáo có thể nói bốn chữ là: "định", "rộng", "lỏng", "hiển". Pháp tu này, nhìn bề ngoài thì không có gì, chỉ là ngồi trên đỉnh núi thôi! Vận chuyển chuyết hỏa và bồ đề tâm nguyệt dịch giáng xuống, rồi khế hợp với bốn bí quyết này, chỉ đơn giản vậy thôi.

Nhưng bạn không biết rằng việc chuyết hỏa thăng lên, bồ đề tâm nguyệt dịch giáng xuống đã phải tốn rất nhiều công phu rồi, việc đưa tâm lên đặt vào hư không cũng phải tốn rất nhiều công phu.

Khi kết hợp phần một và phần hai lại với nhau cũng là một công phu, nhìn bề ngoài thì có vẻ rất dễ dàng, rất đơn giản, nhưng thực ra đây là một pháp Đại Viên Mãn.

Phương pháp tu hành Đại Viên Mãn là như thế này - tâm ở trong hư không, ánh sáng nội tâm hiển lộ, hai phần này kết hợp chặt chẽ với nhau, ngay lập tức bạn hiển hiện ra cảnh giới đốn siêu, đó chính là Đại Viên Mãn.

Lúc đó, sự lĩnh ngộ của bạn là vô biên vô tận, sự thực tu quán tự tại chính là như vậy.

Hôm nay nói đến đây. Om mani padme hum.

17/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 184. Phẩm vị của hành giả (1)


Hôm nay tôi sẽ nói chuyện với mọi người về "phẩm vị của người tu hành".

Hai chữ "phẩm vị" hiện nay rất thịnh hành, ai cũng đề cao phẩm vị, và những người tu hành chúng ta cũng có phẩm vị của người tu hành. Theo kinh nghiệm cá nhân của tôi, mặc dù một hành giả sống cuộc sống thanh tịnh, nhưng trong việc tu hành hàng ngày của họ thì nhìn có vẻ rất khô khan.

Ví dụ như ở tu viện Drepung ở Nam Ấn Độ, khi quan sát cuộc sống tu hành của các vị Lama, họ đều có thời khóa biểu cụ thể: ăn sáng lúc 6 giờ 30, ăn trưa lúc 11 giờ 30, ăn tối lúc 5 giờ 30. Thức ăn rất đơn giản, bữa sáng chỉ có bánh mì Ấn Độ và trà Ấn Độ, hoặc trà bơ và bánh mì Ấn Độ. Bữa tối chỉ có một bát cơm một món ăn, thức ăn vô cùng đạm bạc.

Cuộc sống tu hành, như đọc kinh điển, bàn luận kinh điển và tụng kinh trong giảng đường, ngày nào cũng như vậy, nhìn có vẻ rất khô khan vô vị. Vậy phẩm vị của các vị Lama như thế nào? Tôi không rõ lắm, bởi vì phẩm vị của mỗi người mỗi khác.

Còn bản thân tôi thì sao? Buổi sáng đến Mật Uyển viết một bài văn, trọng tâm là viết một bài văn. Buổi chiều thì sao? Đọc thư và trả lời những câu hỏi trong thư. Bốn giờ chiều cùng mọi người tu tập, khai thị, trong thời gian đó tôi cũng tụng kinh, mỗi ngày tôi đều phải tụng kinh. Tối về nhà trọng tâm là vẽ một bức tranh, đề thơ lên tranh, sau đó là đi ngủ (sleep on bed) ngủ trên giường, đó là một ngày của tôi.

Mỗi ngày đều sống cùng một cuộc sống như vậy, cứ thế đã trải qua mười bốn năm ở Mỹ, bạn nói hương vị nằm ở đâu? Viết văn, trả lời thư, tu pháp, khai thị, vẽ tranh, (everyday is the same) giống nhau như vậy, nhưng bạn phải tìm ra phẩm vị từ trong đó.

Phẩm vị của người tu hành, trong việc đọc kinh, xem kinh, tụng kinh đều có phẩm vị của nó. Ví dụ như việc viết văn, khi mỗi ngày viết một bài văn, những câu văn trong đó sẽ sinh ra hương vị, khi bạn viết một bài văn, sẽ có một sự cảm nhận, một cảm giác. Văn chương cần phải tín, đạt, nhã, phải có hương vị, có ý nghĩa của nó, phải có tác dụng giáo dục và khai phát, đó chính là hương vị.

Văn chương có khi rất đẹp, khi bạn cảm thấy đẹp, cảm nhận trong tâm là khác biệt, cho nên khi tôi viết được một bài văn hay, tôi rất hoan hỷ, trong lòng rất vui mừng.

Như hôm nay tôi viết "Mây trắng xứ Thiên Trúc", viết về phần kết thúc của Nam Ấn Độ, bài viết hôm nay là về thiền định trên tàu hỏa, từ Munger ngồi tàu đến một thành phố lớn, trong suốt quá trình đó tôi cứ suy nghĩ, và bài văn này cũng có hương vị riêng, đó chính là một loại phẩm vị!

Những liên tưởng trong toa tàu, thiền định trên tàu, đó là một loại hương vị, viết bài văn hôm nay chính là đang thưởng thức lại hương vị, hồi tưởng lại tình huống khi lên tàu ở Munger, từ những suy nghĩ lúc đó để cảm ngộ nhân sinh.

Nói về hội họa, bạn biết đấy, đôi khi bức tranh rất đẹp, và trong tranh cũng sẽ sinh ra hương vị của tranh, màu sắc của nó, ý cảnh của nó, cách thể hiện của nó, tất cả đều có hương vị riêng.

Khi chúng ta là người tu hành vẽ tranh, cũng có những điều sẽ hiển lộ ra, trong tranh còn có tranh, gọi là "họa trung hữu họa"; không phải là trong lời nói của tôi lại có ý khác. Tất nhiên khi khai thị thuyết pháp, đôi khi cũng có "thoại trung hữu thoại", nhưng ở đây là tranh vẽ. Trong tranh lại có tranh, đó chính là hương vị.

Viết thơ, đề từ: "Rêu trơn không vì mưa, thông reo chẳng cần gió". Bậc thềm trơn trượt không liên quan đến mưa, âm thanh của cây thông phát ra không liên quan đến gió, vậy liên quan đến cái gì? Lục Tổ nói rằng liên quan đến tâm, đó là do tâm bạn cảm nhận được.

Con người làm mọi việc đều dùng tâm, vậy tâm ở đâu? Ở trong văn chương, trong hội họa, tâm cảm nhận được bậc thềm trơn, tâm cảm nhận được tiếng thông reo, đó chính là phẩm vị của hành giả.

Nếu hành giả có thể hiểu được cách thưởng thức hương vị của vạn vật trong thế gian, bạn sẽ đạt được pháp vị trùng trùng, chứ không phải cuộc sống khô khan. Bạn thấy đấy, cuộc sống của tôi tuy đều đặn như vậy, nhưng bên trong đều có pháp vị.

Hôm nay nói đến đây.

18/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 185. Phẩm vị của hành giả (2)


Hôm nay chúng ta sẽ tiếp tục nói về phẩm vị của hành giả.

Cuộc sống của người tu hành rất có quy củ, sống một cuộc sống thanh tịnh, trọng tâm là: tụng kinh, đọc kinh, nghiên cứu kinh điển, tu pháp. Còn về Mật giáo thì có tu Chân Phật Mật Pháp, mọi người thấy tu Chân Phật Mật Pháp chỉ là kết ấn, trì chú, tụng kinh văn giống nhau, trì chú cũng vậy, chẳng có gì mới mẻ, quán tưởng cũng thế, sau khi học xong, ngày nào cũng làm công việc giống nhau thấy rất khô khan, làm lâu rồi, mệt mỏi rồi, đổi Bổn tôn đi! Có người còn muốn đổi cái khác! Đổi một kiểu mới đi! Cái này có hương vị gì? Trong pháp tu có hương vị gì?

Có người nói rằng, cứ kết ấn như vậy, trì chú như vậy, quán tưởng như vậy là có thể thành Phật, như vậy không phải là đùa sao? Nhiều người nói như vậy, nhưng họ không biết rằng, trong đó có hương vị, đó chính là phẩm vị của hành giả, bạn không biết rằng khi cảnh giới của bạn được nâng cao, bạn và vũ trụ thực sự là một, bạn sẽ cảm nhận được pháp vị trong tu pháp.

Nếu bạn ngồi không yên, đó chính là vì pháp vị của bạn chưa sinh khởi, bạn không thể cảm nhận được hương vị trong tu pháp. Như tôi chẳng hạn, ở Seattle Hoa Kỳ mười bốn năm, ngày nào cũng tu pháp, ngày nào cũng tĩnh tọa, ngày nào cũng trì chú, quán tưởng, nhập Tam ma địa, ngày nào cũng thiền định.

Bạn không biết rằng khi ở trong thiền định, khi dòng chảy pháp vũ trụ chảy vào thân thể bạn, bạn sẽ cảm thấy vô cùng nhẹ nhàng, an lạc. Khi bạn phá vỡ ranh giới trong ngoài, bên trong và bên ngoài hoàn toàn hòa hợp làm một, lúc này cảm thọ là tối thượng, là niềm hoan hỷ, hạnh phúc không thể diễn tả được bằng lời. Điều này giống như uống nước, nóng lạnh tự biết.

Khi tu pháp mà sinh ra được pháp vị, dòng chảy pháp vũ trụ sẽ quán đảnh cho bạn, nghĩa là mỗi ngày trong lúc tu pháp, nó đều quán đảnh cho bạn, cho bạn thưởng thức một tách trà ấm áp nhất, một tách cà phê đậm đà, thơm ngon nhất.

Khi tu pháp mà sinh ra được hương vị, đó chính là một bữa ăn ngon, một bữa tiệc thịnh soạn! Một bữa tiệc thực sự! Bữa tiệc ở đây chính là bữa tiệc của pháp vị, chính là ở đây, vậy thì làm sao có thể khô khan? Làm sao có thể là phiền toái? Làm sao có thể là gánh nặng?

Vậy nên khi chúng ta tu pháp mỗi ngày, vừa ngồi xuống thân như núi, thân liền biến thành núi, rất kiên cố. "Bất động như núi, pháp lưu như nước", dòng chảy pháp quán đảnh của vũ trụ như nước chảy vào, thanh tịnh thân tâm của bạn, toàn thân bạn tràn đầy cam lộ, toàn thân đều là mỹ vị, đều là cam lộ, thân tâm bạn nhẹ nhàng như đang ở trong hư không.

Vào lúc này không khổ không vui, không có gì đau khổ, không có gì vui sướng, hoàn toàn không có ràng buộc, không có chấp trước, ngay lúc này đây bạn đang ở trong trạng thái ý thức nguyên sơ của vũ trụ. Cảnh giới nhập định ấy, sự thông đạt rộng lớn ấy, không phải người thế tục bình thường có thể cảm nhận được.

Vì vậy pháp tu của Mật giáo, tự thân nó có pháp vị trùng trùng, khi bạn nhất tâm tu pháp, bạn tự cảm nhận thân tâm mình hoàn toàn hòa nhập vào trong vũ trụ, đây là phẩm vị tối thượng.

Mỗi hành giả có hương vị riêng của mình, mỗi ngôi nhà có hương vị riêng của nó, kể cả trong vũ trụ, bạn đi đến đâu, hít thở một chút, mỗi nơi đều có hương vị không khí riêng của nơi đó.

Núi có hương vị của núi, hồ có hương vị của hồ (nước hồ có hương vị của nước hồ), gió có hương vị của gió, mưa có hương vị của mưa, vẽ tranh có hương vị của hội họa, tu pháp lại càng có pháp vị, đó chính là phẩm vị của người tu hành.

Khi bạn hiểu được phẩm vị của người tu hành, cuộc sống của bạn sẽ không còn khô khan. Chúng ta là hành giả tu hành ở đây, sống cuộc sống thanh tịnh, sống cuộc sống có quy củ, tất cả đều có hương vị, bạn sẽ cảm thấy cuộc sống này vô cùng tuyệt diệu, rất phong phú, rất cao thượng, rất thanh tịnh.

Chúng ta cũng là người giữ giới, giữ giới luật thanh tịnh, giữ ngũ giới, bát quan trai giới, cũng có thể giữ Bồ Tát giới, có thể giữ xuất gia giới, tì kheo tì kheo ni giới, từ trong việc giữ giới cũng biết được trong giới cũng có hương vị. Khi bạn đạt được thanh tịnh, suối ngọt, cam lộ thực sự tuôn chảy ra từ sự thanh tịnh, đó chính là pháp vị.

Việc học Phật pháp không phải là khô khan, cũng không phải là phiền não. Khi đọc kinh, hãy đi vào trong kinh để thưởng thức ý nghĩa của kinh điển, bạn sẽ biết được trong kinh điển có hương vị của Phật kinh, rất thiêng liêng.

Đối với người tu hành, làm bất cứ việc gì cũng đều thanh tịnh, đều có hương vị, làm việc có quy củ, vừa có giác ngộ vừa có hương vị, đó chính là phẩm vị của người tu hành chúng ta.

Hôm nay nói đến đây.

Om mani padme hum.

18/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 186. Điều kiện để làm Kim cương Thượng sư (1)


Hôm nay tôi sẽ nói chuyện với mọi người về "những điều kiện để trở thành một vị Thượng sư giỏi".

Mọi người đều biết, Mật giáo rất sâu rộng, để trở thành một Kim cương Thượng sư cần phải có rất nhiều điều kiện ưu tú. Ở đây tôi chỉ đề cập đến ba điều kiện, những điều kiện này không bao gồm tất cả, nhưng lại là những điều kiện cơ bản cần thiết. Mỗi vị Kim cương Thượng sư giỏi đều phải có đủ ba điều này, có thể nói ba điều này là nền tảng của một Kim cương Thượng sư.

Điều đầu tiên là phải uyên bác, làm một vị Thượng sư nhất định phải uyên bác, phải có kiến thức rộng rãi, cũng có nghĩa là bác học. Bởi vì một vị Kim cương Thượng sư phải dạy dỗ rất nhiều đệ tử, tùy theo căn cơ mà giáo hóa. Mỗi đệ tử có những đặc điểm riêng, bạn phải dùng phương pháp phù hợp để dạy họ, chứ không phải chỉ dạy một kiểu, vì vậy Kim cương Thượng sư nhất định phải rất uyên bác.

Ví dụ: Lần này tôi đến Ấn Độ và Nepal, đi thăm các vị tăng Lama tăng, tại Tu viện Drepung và nhiều tu viện khác, họ đều biểu diễn cho Sư Tôn xem việc biện kinh (tranh luận kinh điển), một người đứng, một người ngồi, người đứng hỏi, người ngồi trả lời.

Các vị tăng Lama học kinh bắt đầu từ Hiển giáo, không nhất thiết ngay từ đầu đã tu Mật pháp, muốn tu Mật pháp phải đến Thượng Mật Viện, Hạ Mật Viện mới học được Mật giáo, ở các tu viện thông thường học kinh là học kinh điển Hiển giáo.

Họ dùng phương pháp biện kinh để ghi nhớ và học rộng, trước tiên họ học năm bộ đại luận: “Nhập Trung Luận”, “Hiện Quán Trang Nghiêm Luận” ..., và các bộ luận khác, tất cả đều phải thuộc lòng, bởi vì biện kinh là phải khiến bạn nhớ được, nhất định phải ghi nhớ thật kĩ. Một người hỏi, cách hỏi của họ là làm một tư thế, vừa hỏi xong, người ngồi phải trả lời ngay lập tức, trả lời sai cũng không được, đó gọi là biện kinh.

Ồ! Khi họ biện kinh thì thật là hoành tráng, hàng trăm, hàng nghìn người hỏi đáp qua lại, âm thanh rất lớn. Có một thời gian, tôi nghe nói Đức Dalai Lama muốn bãi bỏ viện biện kinh, nhưng cho đến nay vẫn còn biện kinh, chưa bị bãi bỏ.

Tại sao lại muốn bãi bỏ viện biện kinh? Bởi vì biện luận đến cuối cùng hai người đánh nhau. Khi thua cuộc, nổi nóng, đứng dậy túm lấy nhau đánh nhau, biện kinh cuối cùng biến thành "đánh kinh". Người này nói mình đúng, người kia nói người đó sai, thậm chí biện luận đến nỗi nổi giận đùng đùng, điều này cũng là chuyện khó tránh khỏi.

Giống như khi tôi đến gặp Đức Dalai Lama tại Dharamsala, những câu hỏi ngài đặt ra đều là những vấn đề cao siêu và thâm sâu nhất, ngài hỏi về đại pháp Thời Luân Kim Cang. Đại pháp Thời Luân Kim Cang là sở trường của Đức Dalai Lama, vì vậy ngài thường xuyên truyền đại pháp hội Thời Luân Kim Cang, do đó đại pháp Thời Luân Kim Cang sở học của ngài. Nếu hôm nay Sư Tôn chưa từng nghiên cứu "Thời Luân Kim Cang Bản Tục", thì khi đến đó, khi ngài hỏi về đại pháp Thời Luân Kim Cang, tôi coi như "tắt điện".

Năm bộ Kim Cang đại pháp, tôi đều đã đọc qua, có "Thời Luân Kim Cang đại pháp", "Mật Tích Kim Cang đại pháp", "Hỷ Kim Cang đại pháp", "Thắng Lạc Kim Cang đại pháp", "Đại Uy Đức Kim Cang đại pháp".

May mà tôi đã nghiên cứu năm bộ Kim Cang Mật Tục, nên khi ngài hỏi về Thời Luân Kim Cang đại pháp, ngài có thể hỏi thì tôi đều có thể trả lời. Đây chính là ý nghĩa của chữ "uyên bác".

Đại pháp của bốn truyền thống Hoàng giáo, Hồng giáo, Bạch giáo và Hoa giáo, Đại Viên Mãn, Đại Thủ Ấn, Đại Viên Thắng Huệ, Đại Uy Đức, may mắn thay tôi đều đã nghiên cứu và đi sâu vào.

Vì vậy khi được hỏi về Đại Viên Mãn, hai phương pháp tu trì "trekcho" và "togal"; khi được hỏi về bốn loại cảnh giới, tôi đều có thể trả lời một cách viên mãn. Đây đều là những mật pháp cao nhất, thâm sâu nhất. Khi được hỏi về Thập Nhị Môn Luận, Trung Luận của Long Thụ và Bách Luận của Đề Bà, tôi cũng đều có thể trả lời một cách viên mãn.

Nếu bạn không học những điều này thì làm sao trả lời được? Và ngài còn hỏi tôi học Đại Thủ Ấn từ ai? Tôi chỉ trả lời hai chữ là ngài gật đầu, tôi nói: "Wentz".

Wentz là ai? Tôi xin nói cho bạn biết, Wentz là một Tiến sĩ, là người Mỹ, sau khi học Đại Thủ Ấn xong, ông ấy trở về Mỹ và viết ra Đại Thủ Ấn, ở Trung Quốc có người đã dịch tác phẩm của Wentz. Sau khi được dịch ra, tôi nhận được truyền thừa Đại Thủ Ấn, rồi dựa vào tác phẩm Đại Thủ Ấn của Tiến sĩ Wentz để học tập và tham khảo.

Tất cả những điều này đều phải "uyên bác", nếu bạn không uyên bác, nếu một Kim cương Thượng sư mà không uyên bác, khi ra ngoài người ta hỏi, bạn sẽ lập tức "bay màu", lập tức bị lộ tẩy.

Nếu hôm nay bạn không hiểu Phật học, không hiểu biết tất cả về Đức Phật, không hiểu về Phật giáo Nguyên thủy và các bộ phái, không hiểu kinh điển của Hiển giáo và Mật giáo, Kinh - Luật - Luận, cũng như tất cả các Mật tục, mà hôm nay làm một Kim cương Thượng sư, thì thật là xấu hổ.

Một vị Kim cương Thượng sư cần ít nhất tám năm đến mười hai năm để nắm vững nền tảng Hiển giáo, và ít nhất tám năm cho nền tảng Mật giáo, tổng cộng phải mất hai mươi năm. Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn nghiên cứu kinh điển mỗi ngày, thâm nhập kinh tạng, chưa có ngày nào lãng phí, chưa có ngày nào không đọc kinh.

Vì vậy Kinh - Luật - Luận đều phải đọc, sách nào cũng phải xem, có thể thấy chữ "bác" (uyên bác) vô cùng quan trọng, đây cũng là điều kiện đầu tiên của một Kim cương Thượng sư. Hôm nay nói đến đây.

Om mani padme hum.

19/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 187. Điều kiện để làm Kim cương Thượng sư (2)


Chúng ta lại nói về điều kiện để làm Kim cương Thượng sư. Chúng ta đã nói rằng một Kim cương Thượng sư phải uyên bác, không được để bị đánh trượt khi bị kiểm tra, dù người ta kiểm tra bạn như thế nào, bạn cũng không được ngã.

Giống như khi Đức Dalai Lama hỏi tôi về những điều trong "Thời Luân Kim Cang Bản Tục", nếu bạn chưa từng đọc qua, chắc chắn sẽ trượt khi được hỏi; khi người ta hỏi bạn về "Hỷ Kim Cang Bản Tục", nếu chưa đọc qua cũng sẽ trượt; khi được hỏi về "truyền thừa Đại Thủ Ấn", bạn phải trả lời được; khi được hỏi về "truyền thừa Đại Viên Mãn", bạn cũng phải trả lời được. Tất cả những điều này đều là học vấn.

Vì vậy sau này bạn phải đọc nhiều kinh điển, học hỏi nhiều, nghiên cứu nhiều, thâm nhập nhiều. Nếu muốn làm một pháp sư, không nói đến Kim cương Thượng sư, chỉ nói đến việc làm một pháp sư thôi, vậy pháp sư là gì? "Có pháp mới là thầy", vị thầy có pháp mới gọi là pháp sư. Hôm nay nếu bạn không phải là vị thầy có pháp, trong người không có Phật học, Phật pháp mà tự xưng là pháp sư thì rất mất mặt.

Nếu trong lòng bạn không có Phật pháp, làm sao có thể gọi là pháp sư được? Pháp sư là người có pháp, có Phật pháp trong tâm mới được gọi là pháp sư. Không phải cứ xuất gia, cạo đầu là trông giống pháp sư, nhận giới xuất gia là thành pháp sư, danh xưng pháp sư đó quá dễ dãi, không thể gọi là pháp sư được. Không có Phật pháp chân chính thì không đủ tư cách để được gọi là pháp sư.

Kim cương Thượng sư lại càng khác biệt, Kim cương Thượng sư là Guru, chính là một vị giáo thọ sư, chính là Acharya, sau khi có được những pháp đó rồi, thực tu phải thâm nhập.

Điều thứ hai gọi là "thâm". Sau khi có được tất cả Phật pháp rồi, còn phải thâm nhập vào trong đó, phải nói ra lý luận tinh tế, còn phải sáng tạo phương pháp tu hành của riêng mình. Bạn phải tự mình sáng tạo pháp khai ngộ thuộc về chính mình, đây chính là phải thâm. Phải uyên bác, còn phải thâm sâu, khi người ta hỏi bạn, chỉ cần nghe lý luận của bạn là biết bạn có sâu hay không, chỉ cần nghe là biết.

Khi người ta hỏi bạn rằng nhậm vận là gì? Nhậm vận nghĩa là gì? Có thể nói đó là gần gũi với tự nhiên, là tự tại, là thần thông, là một loại trò chơi thần thông, đó chính là nhậm vận. Phải giải thích được nhậm vận là gì: còn phải nói sâu hơn nữa, đó là những đạo lý cốt yếu được thể nghiệm từ bản thân mình, cũng có thể nói đó là những yếu nghĩa thâm sâu.

Có thể tuôn trào từ trong tâm, từ miệng nói ra, khiến người nghe một lần là thu phục được đại chúng, không giống như nhiều pháp sư lên đài thuyết pháp: "Chúng ta làm người, mọi người phải làm việc thiện nhé, phải làm người tốt nhé, mỗi ngày phải làm một việc thiện." Xong rồi! Hết.

Họ ngày nào cũng lên đài truyền hình, ngày nào cũng giảng điều này, họ chẳng biết gì cả, chỉ bảo mọi người làm việc thiện. Điều này rất tốt không sai, nhưng đó là chuyện tăng ni thường nói, ai mà không biết? Ai cũng biết, nhưng làm không được.

Vì vậy bạn phải giảng những đạo lý sâu sắc hơn, phải có khả năng thu phục đại chúng, khiến chúng sinh vừa nghe đã biết đây là tâm yếu của bản thân mình, điểm này là quan trọng nhất.

Cho nên, điều thứ hai là trong vô số Phật pháp, bạn phải có khả năng tự mình thể hội tâm yếu của nó, nắm bắt được tâm yếu của nó.

Vì thế, trong cuộc đối thoại với Đức Dalai Lama, điều ngài muốn, ngài đã nói một câu rằng, ngài muốn những điều "tinh hoa". Tinh hoa rất quan trọng, bạn phải tìm ra những điều tinh hoa, hấp thụ để trở thành của chính mình.

Hôm nay bạn nghiên cứu Phật học, nếu chỉ uyên bác thôi thì cũng vô dụng, nhất định phải thâm nhập nắm bắt tâm yếu, làm thành khẩu quyết tâm yếu tu hành của chính mình. Đây mới là điểm trọng yếu.

Vì vậy một Kim cương Thượng sư phải thâm nhập vào trong đó, phải thực tu, phải khai ngộ, nhất định phải có tinh yếu.

Vậy tiếp theo thì sao? Để làm một Kim cương Thượng sư, như vừa nói, phải dùng tư duy của mình để suy nghĩ sâu sắc. Tiếp đến cuối cùng là "tinh hoa", tinh hoa là gì? Chính là sau khi suy nghĩ sâu sắc, bạn nắm bắt tâm yếu làm căn bản cho việc tu hành khai ngộ.

Khi nghiên cứu Phật học, tôi luôn dùng trí óc để suy nghĩ, để tư duy, rồi phát triển ý thức của mình để thực tu, tìm ra trọng điểm để thực sự tu tập. Tuy nhiên việc tu hành cũng phải tự nhiên, không nên miễn cưỡng bản thân, phải phù hợp với thân tâm của mình, không cần gượng ép, mà hãy rất tự nhiên tu học, sau đó bạn sẽ đạt được tinh hoa.

Vì vậy tu hành có ba điều cần thiết - cần uyên bác, cần tư duy thấu đáo, cần đạt được tinh hoa.

Tinh hoa này từ đâu mà có? Có thể nói rằng bạn phải thực nghiệm, phải thực hành, thì mới có thể đạt được.

Vì vậy tôi biết cách đi vào cánh cửa của Thời Luân Kim Cang như thế nào, khi vào được cánh cửa này còn có nhiều cánh cửa khác, vậy cảnh giới của Thời Luân Kim Cang là gì? Hiện tượng sắc-không của nó là gì? Thực ra chỉ cần bạn bước vào cánh cửa này, hiện tượng sắc-không sẽ tự nhiên hiển hiện.

Chúng ta thường nói "sắc tức là không, không tức là sắc, sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc", sắc và không là cùng một thứ, nhưng trong bánh xe thời gian nó sẽ tự nhiên hiển hiện, tự nhiên thành tựu, vô tu mà tu chính là từ trạng thái này mà ra, căn bản không cần phải tu.

Tất cả thế giới vật chất, bạn cho rằng nó không tồn tại, sau khi tu hành thành tựu, bạn cho rằng nó không tồn tại, nhưng thực ra nó vẫn tồn tại. Sơn hà đại địa vẫn là sơn hà đại địa, dù bản thân bạn chứng được quả A La Hán, tu đến mức thân đã diệt, tâm cũng diệt, nhưng sơn hà đại địa vẫn còn đó. Đây chính là tự nhiên, sắc-không bất nhị, điều này được đề cập trong “Thời Luân Kim Cang Bản Tục”.

Hôm nay nói đến đây.

Om mani padme hum.

19/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 188. Nói về Phật Đà (1)


Hôm nay tôi sẽ nói chuyện với mọi người về Phật Đà. Phật Đà chính là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, cũng chính là giáo chủ của Phật giáo. Trước đây tôi đã từng xuất nguyên thần đến Nepal, và cũng đã thực sự đến tận nơi.

Trong sách của tôi trước đây có ghi lại, bay đến Nepal, đó là linh thể đi. Lần này thực sự cũng đến Nepal, và tại ngôi chùa Karma Lekshey, có tổ chức một nghi lễ, đó là nghi lễ tọa sàng.

Cử hành nghi lễ tọa sàng này là, trụ trì ôm một tượng Phật Thích Ca Mâu Ni cùng khăn khata buộc lại, dâng tặng cho bạn, trụ trì Gyaltsen Rinpoche cầm một tượng Phật Thích Ca Mâu Ni cùng khăn khata buộc lại, trao cho Sư Tôn.

Tôi ngồi ở đó, ngài trao tượng Phật cho tôi, đây cũng là một nghi thức, nghi thức này chính là trao truyền thừa của Phật Đà vào tay của bạn.

Thông thường trong nghi thức tọa sàng của các vị Hoạt Phật Tây Tạng, điều này biểu thị rằng bạn là một vị Rinpoche tái sinh, tức là một vị Hoạt Phật tái sinh, bạn là một người lại đến, lúc này chính là sự truy nhận, công nhận và xác định rằng bạn là một vị Rinpoche, là một vị Hoạt Phật.

Tượng Phật được bọc trong khăn khata, do trụ trì Gyaltsen Rinpoche trao tận tay cho bạn, có thể nói rằng sau khi trao vào tay, điều này biểu thị rằng bạn đã có truyền thừa của Phật trong thân. Khi bạn đã có truyền thừa của Phật trong thân, lúc này phải làm sao? Có thể nói rằng, tất cả các vị Lama, Rinpoche đều phải đến chúc phúc cho bạn.

Nghi thức tọa sàng gồm có: chúc phúc, dâng cúng dường, và còn phải tụng một số bài tán thán, đây chính là nghi thức tọa sàng. Nói chung nghi thức của các vị Hoạt Phật Tây Tạng không thể thiếu điều này. Vị Hoạt Phật chuyển thế ngồi trên tòa, tiếp nhận nhiều vị Rinpoche, Lama đến chúc mừng, tụng tán, dâng cúng dường, dâng quả như vậy.

Nghi thức này chính là xác nhận rằng bạn là một vị Hoạt Phật chuyển thế, có truyền thừa của Phật, bạn phải đi hoằng dương Phật pháp, quan trọng nhất là trao tượng Phật vào tay vị Rinpoche.

Hôm nay chúng ta vừa hay nói về Phật Đà, nên tôi sẽ giảng về nghi thức tọa sàng của các vị Hoạt Phật Tây Tạng. Trong tương lai, khi Chân Phật Tông nhận ra các vị Rinpoche, nhận ra nhiều vị Rinpoche xuất hiện, chúng ta cũng sẽ tổ chức nghi thức tọa sàng cho họ, cũng sẽ làm như vậy.

Trong tương lai, đệ tử Chân Phật Tông ngày càng nhiều, người xuất gia cũng nhiều, trách nhiệm hoằng dương Phật pháp nằm trên vai chúng ta. Nhiều vị chuyển thế, những người tái lai, đều xuất hiện trong tông phái chúng ta. Chúng ta cần nhận ra từng vị một, họ đều có dấu hiệu như: dấu hiệu trên lòng bàn tay, dấu hiệu trên chân, dấu hiệu trên tai, dấu hiệu trên mắt, dấu hiệu trên mặt, đều có những dấu hiệu này tồn tại.

Trên thân có pháp loa, tức là người đã từng hoằng dương Phật pháp, sẽ xuất hiện pháp loa. Trên thân có vằn da hổ chính là Dorje, là Kim Cang. Vằn da hổ tức là váy da hổ, bên trong có một số dấu hiệu. Trên lòng bàn tay có..., điều này không thể nói quá rõ, nếu không mọi người sẽ bắt đầu nhận diện.

Bản thân Rinpoche có đôi tai cũng khác biệt, đôi mắt, phước báu, trí tuệ của ngài, tất cả đều khác biệt. Ngài có rất nhiều dấu hiệu, trên mắt, tai, tướng mạo, vân tay, chân đều có dấu hiệu. Điều này cần được nhận diện, phải ghi chép rõ ràng những dấu hiệu nào, đó chính là người tái sinh trở lại, mới có thể nhận ra đây chính là vị Hoạt Phật chuyển thế.

Sau khi nhận diện và xác định là Hoạt Phật, trong tương lai phải học pháp và tiếp nhận giáo dục thật tốt. Trong tương lai khi đi hoằng pháp, vị Rinpoche này chưa chắc đã hữu dụng, người tái sinh trở lại vẫn phải học tập thật tốt và phải thi cử.

Đôi khi Rinpoche, như chúng ta biết những vị Rinpoche ở tu viện Drepung ở Nam Ấn Độ, sau đó đến những vị Rinpoche ở tu viện Ganden, chúng ta đều rất quen thuộc với họ, họ nói rằng Rinpoche vẫn phải tiếp tục học tập, hơn nữa còn phải học nhiều hơn người khác, họ còn phải thi Geshe, chỉ khi thi đỗ Geshe mới là một Rinpoche hữu dụng; nếu Rinpoche không thi đỗ Geshe, làm sao có thể đại diện cho truyền thừa của Phật Đà? Làm sao có thể đi hoằng pháp?

Vì vậy ngài phải nghiên cứu rất nhiều kinh điển, chỉ khi thi đỗ học vị mới thực sự là một Rinpoche kiêm Geshe, như vậy mới hữu dụng, mới có thể hoằng dương Phật pháp.

Hôm nay chúng ta nói về Phật Đà, điều quan trọng nhất là nói về sự cống hiến cả đời của Ngài, có thể nói Ngài đã dành cả cuộc đời để hoằng dương Phật pháp. Vì vậy nếu bạn là một vị Hoạt Phật tái sinh, bạn cũng phải học tập Phật pháp thật tốt, nhất định phải có học vị Geshe.

Rinpoche cộng với Geshe mới thực sự là một Rinpoche tái sinh chân chính; những vị Hoạt Phật tái sinh chỉ có danh xưng Rinpoche mà không có học vị Geshe, người ta sẽ coi thường loại Rinpoche (Hoạt Phật) đó.

Những vị Rinpoche trẻ vừa được công nhận, mỗi vị đều học tập rất nghiêm túc, rất chăm chỉ học kinh điển, rất chuyên tâm học Phật pháp, và tất cả họ đều đang chuẩn bị thi học vị Geshe.

Tôi nói với họ rằng các vị có thể đến Seattle, họ trả lời bây giờ không thể được, tôi vẫn chưa thi đỗ học vị, đợi khi tôi đạt được học vị rồi, tôi sẽ đến Lôi Tạng Tự ở Seattle.

Nhất định phải thi đỗ học vị, họ nói rằng nếu không có học vị sẽ bị người khác coi thường, dù bạn là một Rinpoche, nhưng nếu không có học vị thì không được, vì vậy để đảm nhận truyền thừa của Như Lai, nhất định phải có học vị Geshe.

Hôm nay chúng ta nói đến đây.

Om mani padme hum.

20/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 189. Nói về Phật Đà (2)


Chúng ta hãy nói thêm về Phật Đà.

Phật Đà chính là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, cũng là giáo chủ của Phật giáo. Cả cuộc đời của Đức Phật hoàn toàn dành cho việc hoằng dương Phật pháp, Ngài đã giảng kinh thuyết pháp, truyền đạt lại toàn bộ những điều chứng ngộ, những điều thấu hiểu trong tâm và quá trình tu tập của mình, Ngài đã sống trọn cuộc đời như vậy.

Nơi chuyển Pháp luân đầu tiên chính là vườn Lộc Dã, một địa điểm gần thành Varanasi. Trong tất cả tám đại thánh địa, tôi cảm thấy môi trường của vườn Lộc Dã được bảo quản rất tốt, nhìn rất xanh tươi. Đức Phật đã chuyển pháp luân lần đầu tiên tại đây, chính là nơi độ năm vị tì kheo, nơi giảng về Tứ Diệu Đế, từ đó bắt đầu hoằng dương Phật pháp. Suốt cuộc đời của Đức Phật, Ngài đều thuyết pháp tại tám đại thánh địa.

Hôm nay tất cả mọi người đều là Kim cương Thượng sư hoặc là pháp sư, thực ra bản thân mỗi người đều đang gánh vác sự nghiệp giáo hóa của Như Lai, trên vai mang trọng trách hoằng dương Phật pháp. Chúng ta học tập tinh thần của Đức Phật, chính là học tập việc Ngài suốt cả cuộc đời gánh vác sự nghiệp giáo hóa của Như Lai. Chúng ta đã nhận được truyền thừa của Ngài (Phật), cũng phải có tinh thần giống như Phật vậy, làm sự nghiệp cứu độ chúng sinh, đây chính là tự giác giác tha, cũng là tự lợi lợi tha.

Khi tôi ở vườn Lộc Dã, trong lúc chúng tôi làm lễ, rất cung kính đảnh lễ tháp Phật, vào lúc đó, khi đi vào trạng thái thiền định rất sâu, Sư Tôn đã nhìn thấy Phật nhãn (mắt của Đức Phật), thực sự nhìn thấy Phật nhãn, và còn thấy được nhãn cầu di chuyển qua lại.

Lúc đó tôi nhìn thấy rất rõ ràng, tôi nói Phật nhãn ở đây, thường ngày quán chiếu chúng sinh, đang quan sát, đang phóng quang, đang phổ chiếu tâm chúng sinh, chí nguyện để lại của Đức Phật phải do chúng ta gánh vác, tất cả Kim cương Thượng sư, pháp sư đều phải gánh vác nguyện vọng của Đức Phật, phải luôn ghi nhớ từng giờ từng khắc không được quên.

Sau khi nhìn thấy Phật nhãn trở về, tôi đọc "Đại Đường Tây Vực Ký", trong sách có nói về vườn Lộc Dã, hóa ra ngôi tháp đó có tên là Pháp Nhãn Tháp. Khi tôi ở vườn Lộc Dã, tôi không biết tháp đó chính là Pháp Nhãn Tháp, tôi không biết điều đó, tôi cũng là người rất thẳng thắn, biết thì nói biết, không biết thì nói không biết.

Tôi không biết tháp ở vườn Lộc Dã gọi là gì, chỉ biết tháp đó gọi là Stupa, Stupa chính là tháp xá lợi, chúng tôi không biết! Chúng tôi đặt một nghìn ngọn nến ở đó, thắp lên một nghìn ngọn nến, còn mua rất nhiều phẩm vật cúng dường, có hương hoa đèn trà quả và rất nhiều bánh quy để cúng dường.

Chúng tôi niệm kinh, tụng tán, cung kính đảnh lễ và thiền định ở đó, bất ngờ Phật nhãn hiện ra cho chúng tôi thấy, rất rõ ràng, và nhãn cầu còn chuyển động, tất cả đều thấy rất rõ ràng. Cho đến hôm nay khi đọc "Đại Đường Tây Vực Ký", thấy trong sách ghi chép về vườn Lộc Dã, mới phát hiện ra ngôi Stupa đó được gọi là Pháp Nhãn Tháp. Mà Pháp nhãn chẳng phải là Phật nhãn sao? Pháp nhãn chính là Phật nhãn! Đây chính là sự tương ứng.

Theo ghi chép trong lịch sử và văn hiến, ngôi tháp xá lợi đó được gọi là Pháp Nhãn Tháp, và tôi đã thực sự nhìn thấy Phật nhãn tại ngôi tháp đó. Trước đó tôi không biết đó là Pháp Nhãn Tháp, mãi đến sau này tôi mới biết. Ôi chao! Đúng là Pháp Nhãn Tháp, vậy thì con mắt mà tôi nhìn thấy là hoàn toàn chân thật, rất thật sự, đây chính là sự tương ứng.

Đó thực sự là Phật nhãn của chính Đức Phật, luôn luôn nhìn chúng ta, quan tâm chăm sóc chúng ta, vì vậy tôi nói Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Phật Đà) luôn luôn quan tâm đến chúng sinh, Ngài đã phái rất nhiều bậc thánh đến thế giới Ta Bà để độ chúng sinh. Ngài không hề nhập Niết Bàn! Phật nhãn vẫn còn đây! Làm sao có thể nhập Niết Bàn? Cho nên nói Đức Phật Thích Ca Mâu Ni không nhập Niết Bàn, Phật nhãn của Ngài vẫn đang quan tâm chăm sóc chúng sinh, Ngài không hề nhập Niết Bàn!

Vì vậy rất nhiều pháp sư, Rinpoche cho rằng, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã nhập Niết Bàn từ hơn hai nghìn năm trăm năm trước, sẽ không còn xuất hiện nữa, nhưng Phật nhãn vẫn còn đây, điều này chứng minh bản thân Đức Phật không nhập Niết Bàn, Ngài vẫn đang độ chúng sinh, Ngài đã trao gánh nặng độ chúng sinh vào tay chúng ta, không thể nói Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã nhập Niết Bàn. Bởi vì tôi đã thực sự nhìn thấy Phật nhãn! Tôi chính là một người chứng minh.

Không những thế, bên cạnh Pháp nhãn còn thấy rất nhiều vị mặc áo trắng, áo đỏ, rất nhiều vị tăng (người xuất gia) mặc nhiều màu sắc khác nhau, các vị tăng Thanh Văn, có rất nhiều thánh chúng xuất gia cùng giáng xuống, họ đến cùng với nhau. Điều này cho thấy những vị thánh chúng này cũng chính là ước nguyện của Đức Phật, mong muốn họ độ thêm nhiều chúng sinh ở thế giới Ta Bà, có thể truyền bá Phật pháp khắp toàn thế giới, đây có thể nói chính là sự nghiệp của tất cả các vị Kim cương Thượng sư và pháp sư chúng ta.

Chúng ta không cầu mong điều gì ở thế giới Ta Bà, điều quan trọng nhất là hoằng dương Phật pháp, giống như Đức Phật vậy, rồi giải thoát phiền não, không chỉ bản thân giải thoát phiền não, mà còn giúp chúng sinh giải thoát phiền não, biến nhân gian thành cõi lạc. Nếu có thể làm được như vậy thì toàn thế giới mới được thanh tịnh, mới là cõi lạc, mới là cực lạc, mới đúng với ý nghĩa chân chính của Đức Phật, và Phật giáo mới có thể hưng thịnh mãi mãi.

Om mani padme hum.

20/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 190. Nói về Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát


Hôm nay chúng ta nói về Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi. Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi là một vị Bồ Tát rất cao quý, vì vậy đôi khi chúng ta gọi Ngài là Pháp Vương Tử Văn Thù Sư Lợi, thể hiện rằng trong các vị Bồ Tát, Ngài là trưởng tử của Đức Phật. Trong tất cả các kinh điển, có thể nói Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi còn là thầy của Đức Phật, hơn nữa Ngài cũng là một vị cổ Phật chuyển thế hóa thân thành Bồ Tát, bản thân Ngài vốn có lai lịch là Phật.

Trong Mật giáo chúng ta rất coi trọng nghi quỹ tu trì của Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi. Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi có rất nhiều pháp tu, như: pháp Văn Thù Sư Lợi khiếp kiếm quán, pháp Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi vãng sinh, pháp Bổn tôn Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, và cả pháp Ngũ Kế Đồng Tử Văn Thù Sư Lợi..., có rất nhiều nghi quỹ tu trì.

Trong Mật giáo rất coi trọng Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, bởi vì bản thân những hóa thân của Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi cũng rất vĩ đại, thậm chí Đại Uy Đức Kim Cang cũng là hóa thân của chính Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi. Trong việc hộ giáo hộ pháp, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi đã phát huy sức mạnh rất lớn.

Lần này chúng tôi đến Nepal và Ấn Độ, có một truyền thuyết như sau: Thủ đô Kathmandu của Nepal nguyên là một hồ nước, một cái hồ rất lớn, chứa rất nhiều nước. Theo truyền thuyết, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi từ hư không giáng xuống, dùng bảo kiếm của Ngài chém một nhát vào giữa ngọn núi, tạo thành một khe nứt rất rõ ràng, như thể dùng kiếm chém xuống vậy, chém thành một đường nứt, nước hồ theo đó chảy đi, sau đó mới xuất hiện một thung lũng. Vậy thung lũng đó là gì? Chính là thủ đô Kathmandu của Nepal. Đó chính là nguồn gốc của truyền thuyết về Kathmandu.

Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi giáng xuống, chém thành một khe núi, sau khi nước chảy đi, mới hình thành một thủ đô. Truyền thuyết này tất nhiên hơi thần kỳ một chút, nhưng qua đó có thể thấy rằng rất nhiều Phật tử đều rất cung kính Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi.

Bản thân tôi cũng đã từng đến núi Ngũ Đài ở Sơn Tây, đó thực sự là đạo tràng của Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi. Mỗi ngôi chùa đều thờ Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, có rất nhiều hình tượng Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi khác nhau, thậm chí còn có điện Vạn Phật (Vạn Phật Bảo Điện) của Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, tất cả đều thờ phụng Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, đạo tràng đó cũng rất thù thắng, rất trang nghiêm.

Khi chúng tôi đến núi Ngũ Đài ở Sơn Tây, tôi cũng nhớ đến Hòa thượng Hư Vân, từ núi Phổ Đà đã đi lễ lạy suốt đường đến núi Ngũ Đài ở Sơn Tây. Khi tôi đến núi Ngũ Đài, tôi nhận ra từ chùa Thái Nguyên đến núi Ngũ Đài phải mất năm đến sáu tiếng đi xe. Vậy mà Hòa thượng Hư Vân đã đi từ núi Phổ Đà ở Chiết Giang đến tận núi Ngũ Đài ở Sơn Tây, nơi có những ngọn núi cao và hùng vĩ, mùa đông nào cũng phủ đầy tuyết. Nghĩ đến tấm lòng thành kính lễ Phật như vậy, thật khiến người ta cảm phục.

Khi lễ núi, tôi lạy từ chân núi Ngũ Đài lên đỉnh, tôi đã thấy rất khó, huống chi là lạy từ núi Phổ Đà đến núi Ngũ Đài. Trong quá trình đó còn xảy ra một câu chuyện rất kỳ diệu, Hòa thượng Hư Vân bị bệnh ở chân núi Ngũ Đài, rất vất vả, thân thể vô cùng suy yếu, có một cụ già ăn xin đến giúp đỡ Hòa thượng Hư Vân, cho ngài uống thuốc và chăm sóc ngài. Hòa thượng Hư Vân rất cảm kích, bèn hỏi tên của ông, ông nói người ở núi Ngũ Đài ai cũng biết tôi, tôi tên là Văn Cát.

Vị hòa thượng già lên núi Ngũ Đài tìm khắp nơi, hỏi mọi người có ai tên Văn Cát không, kết quả không ai biết cả. Văn Cát nói rằng ai cũng biết ông, nhưng cuối cùng chẳng ai biết người tên Văn Cát này.

Cuối cùng, Hòa thượng Hư Vân mới chợt nghĩ ra, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi chẳng phải là Văn Thù Bồ Tát Diệu Cát Tường sao? Văn Thù Bồ Tát Diệu Cát Tường chẳng phải chính là Văn Cát sao? Vì vậy có thể thấy, Bồ Tát độ hóa chúng sinh thật vi diệu. Ông ấy nói mình là Văn Cát, hóa ra chính là Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi Diệu Cát Tường.

Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi là một vị Bồ Tát vĩ đại, Ngài tượng trưng cho trí tuệ, là biểu tượng của trí tuệ. Bồ Tát Văn Thù độ hóa chúng sinh, trong Mật giáo Ngài còn hóa hiện thành Tổ sư Tsongkhapa, Tổ sư Tsongkhapa chính là hóa thân của Văn Thù. Bồ Tát Văn Thù có rất nhiều hóa thân, trong số nhiều vị Hoạt Phật Tây Tạng, mọi người đều rất thích nói rằng họ là hóa thân của Bồ Tát Văn Thù.

Về phần trí tuệ của bản thân Tổ sư Tsongkhapa, Ngài đã học tập và tập trung được trí tuệ của nhiều tông phái Mật giáo, có thể nói, Ngài đã hội tụ tất cả kiến thức, sáng lập ra Hoàng giáo, cũng có thể nói là nhà cải cách của Mật tông Tây Tạng. Vì vậy, mọi người cũng thích nói rằng bản thân Ngài là hóa thân của Bồ Tát Văn Thù.

Khi tôi giảng "Mật Tông Đạo Thứ Đệ Quảng Luận", Tổ sư Tsongkhapa cũng hiện pháp tướng, hiện tướng gia trì, thấy rất rõ ràng. Phía trên Tổ sư Tsongkhapa lại có Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, và phía trên vị Hộ pháp Đại Uy Đức Kim Cang mà tôi tu cũng là Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, vì vậy Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi thật sự có duyên với chúng ta.

Nếu mọi người muốn đi sâu vào kinh tạng, hãy cầu xin Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi gia hộ. Bản thân tôi cũng thường quán tưởng Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi rất dễ quán tưởng, Ngài luôn cầm bảo kiếm ở tay phải. Hôm nay xin nói đến đây.

Om mani padme hum.

23/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 191. Nói về trí huệ


Vì vừa nói về Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, và Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi là biểu tượng của trí huệ, nên hôm nay chúng ta sẽ bàn về "trí huệ".

Hai chữ "trí huệ" có rất nhiều cách giải thích, và cũng rất khó có thể diễn đạt đầy đủ về trí huệ chỉ trong một câu. Đôi khi người ta hỏi thẳng bạn trí huệ là gì? Nếu suy nghĩ kỹ về hai chữ trí huệ, không nhất định có thể trả lời ngay được.

Khi người ta hỏi bạn trí huệ là gì? Câu trả lời hay nhất là trí huệ chính là trí huệ, câu trả lời này chắc chắn là đúng. Trí huệ chính là trí huệ thôi, bởi vì rất khó để phân định ranh giới của trí huệ. Trí huệ cũng là thứ sâu không lường được, không có cách nào đo lường được. Bởi vì nó vô biên vô tận, nên bạn muốn nói ngay trí huệ là gì, thì không có cách nào nói được. Cách trực tiếp nhất là trí huệ chính là trí huệ, đó là cách trực tiếp nhất.

Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi được xem là biểu tượng của trí huệ, vì vậy bản thân Ngài là một vị Bồ Tát vĩ đại. Trong Lục độ, trí huệ và thiền định là vô cùng quan trọng. Thiền định cần dựa vào trí huệ, và từ thiền định lại sinh ra trí huệ. Từ định có thể cầu huệ, nhưng chính từ huệ mới sinh ra định, giống như đôi cánh của chim vậy, thiếu một bên đều không được.

Trí huệ có thể sinh định, chúng ta đều biết về giới, định, huệ mà, từ định có thể sinh huệ, nhưng từ huệ cũng có thể sinh ra định, nếu không có trí huệ thì rất khó đạt được thiền định.

Cho nên chúng ta là những người học Phật thông thường, học hỏi Phật huệ, trí huệ của Như Lai. Trong Mật giáo, hoặc trong pháp môn Chân Phật Mật Pháp của chúng ta, chúng ta thường nói đến năm loại trí huệ lớn, đây đều là Phật huệ.

Năm đại trí huệ chính là "Chân như", "Bát nhã", "Duy thức", "Trung quán", "Du già", đây là năm loại Phật huệ mà tôi thường giảng. Năm loại Phật huệ này có thể nói là tri kiến chân thật của Phật (Như Lai), đây đều là trí huệ chân chính.
"Chân như" - hai chữ này cũng là vô cùng vô tận.
"Bát nhã" - tất cả giáo lý của Đức Phật đều là Bát nhã.
"Duy thức" - là pháp thần biến của Bồ Tát Di Lặc, đi vào khai phát chủng tử thức, ý thức sâu thẳm nhất trong tâm con người, đây chính là Duy thức.

Trong tương lai Bồ Tát Di Lặc sẽ độ chúng sinh như thế nào? Bồ Tát Di Lặc sẽ giáng xuống trong Long Hoa Tam Hội để thành Phật độ chúng sinh, độ bằng cách nào? Ngài sử dụng phương pháp thần biến Duy thức để độ chúng sinh, chỉ có phương pháp này mới có thể độ hết thảy chúng sinh. Việc hoằng pháp độ chúng sinh thông thường, tai phải vào tai trái ra, làm sao độ được? Có người còn hoàn toàn không tin, tôi không tin Phật pháp thì làm sao độ được?

Phật không thể độ người vô duyên, vậy làm sao Bồ Tát Di Lặc độ hết tất cả chúng sinh trong Long Hoa Tam Hội? Phương pháp duy nhất là "Duy thức", dùng ý thức của chính Ngài lan tỏa khắp thế giới, dùng Duy thức của Bồ Tát Di Lặc đi vào tâm chúng sinh, khai mở tất cả Duy thức trong tâm của mọi chúng sinh.

Nói một điều kỳ diệu hơn, đó là Bồ Tát Di Lặc phóng quang, phóng ra ánh sáng Duy thức, ánh sáng này chiếu vào tâm từng chúng sinh một, khai mở hoàn toàn tâm họ, khiến họ thấy được Phật tính của chính mình, trong một sát-na, tất cả chúng sinh đều thành Phật. Chỉ có phương pháp này mới có thể độ tận chúng sinh, đây chính là đại thần biến Duy thức.

"Trung quán" là pháp trung quán của trí huệ, chính là điều Phật Đà dạy về không chấp trước, không chấp vào hai bên để đi vào trung đạo, đây là một phương pháp thành Phật.

"Du già" là điều mà Mật giáo giảng dạy, là phương pháp tương ứng giữa Phật và chính bạn, đó chính là Du già; cũng là "pháp quả" của thành Phật.

Năm loại trí huệ lớn này đều là tri thức chân thật, đều là tri kiến chân chính, tất cả đều là trí huệ chân thật. Cũng có trí huệ giả, vậy trí huệ giả là gì? Đó là chấp vào hai bên, lấy phần nhỏ che lấp toàn thể, giống như người mù sờ voi, đây chính là trí huệ giả. Khi sờ vào thân voi thì nói: "Ôi! Con voi này giống như bức tường", sờ vào đuôi voi thì nói voi giống như con rắn, sờ vào tai voi thì nói voi giống như cái quạt, cho nên câu chuyện người mù sờ voi nói lên rằng, bản thân nó là lấy một phần để khái quát toàn thể, chấp chặt vào một bên, đây đều là trí huệ giả.

Trí huệ chân chính được gọi là "thông suốt", nghĩa là khi mắt bạn nhìn thấy mọi thứ đều rõ ràng, minh bạch, đó mới là trí huệ chân chính. Chỉ khi nào có thể chiếu sáng hoàn toàn, hiển hiện trọn vẹn, mới là trí huệ chân chính. Nếu bạn chỉ sáng một bên tối một bên, đó không phải là trí huệ chân chính, mà là trí huệ giả.

Ngoài ra còn có trí huệ hỗn loạn, thế nào gọi là trí huệ hỗn loạn? Những thứ bạn tạo ra khiến thế giới này càng thêm rối loạn, loại trí huệ này không tốt. Tôi từng thấy một quyển sách dạy người ta đủ loại phương pháp tự tử, bạn nói đó là trí huệ gì chứ! Dạy người ta tự tử, trăm phương pháp tự tử, trong một trăm cách tự tử đó cách nào là tốt nhất, đó là trí huệ gì chứ!

Tôi cũng từng thấy một quyển sách dạy người ta làm sao để trở thành "ba tay" - kẻ móc túi, họ cũng có trí huệ của họ, họ luyện tập mỗi sáng thức dậy, hai người đi đối diện nhau, thân thể chạm nhau một cái, cái ví của người này chạy qua bên kia, cái ví của người kia chạy qua bên này, mỗi ngày luyện tập, rất giỏi, loại trí huệ này chính là trí huệ hỗn loạn, thuộc về trí huệ không chính đáng.

Vì vậy, người học Phật chúng ta cần phải nhận biết: thế nào là trí huệ chân thật? Thế nào là trí huệ giả? Thế nào là trí huệ hỗn loạn? Thế nào là trí huệ chấp trước? Không thể học tập loại trí huệ chấp trước, mà phải học tập trí huệ chân chính.

Muốn thành Phật, bạn phải từ Bát nhã mà học trí huệ của Phật Đà, học Duy thức của Bồ Tát Di Lặc, học Du già tương ứng của Mật giáo, học Trung quán của Phật Đà, học Chân như - trí huệ viên mãn, có như vậy mới có thể thành tựu. Nếu bạn học được trí huệ giả, sẽ không thể thành tựu, còn trí huệ hỗn loạn thì thật là rối loạn. Hôm nay giảng đến đây.

Om mani padme hum.

23/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 192. Nói về cây bồ đề (1)


Hôm nay chúng ta nói về cây bồ đề. Khi chúng tôi đến Ấn Độ, có một địa danh gọi là Bodh Gaya, mục đích chính là để chiêm ngưỡng cây bồ đề này. Tại sao cây bồ đề lại nổi tiếng như vậy? Bởi vì Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng thành tựu Chính Đẳng Chính Giác dưới gốc cây bồ đề.

Trong tám đại thánh địa, cá nhân tôi nghĩ như thế này: Bodh Gaya là thánh địa quan trọng nhất trong tám đại thánh địa, nếu không có Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chứng đắc Chính Giác dưới cội bồ đề, thì tất cả các thánh địa khác đều trở nên vô nghĩa. Dù là vườn Lâm Tỳ Ni nơi Đức Phật đản sinh, vườn Lộc Dã nơi chuyển Pháp luân đầu tiên, núi Linh Thứu nơi thuyết pháp, tinh xá Kỳ Viên, vườn Cấp Cô Độc, tất cả đều không còn ý nghĩa gì.

Tất cả những điều này trở nên có ý nghĩa là bởi vì Đức Phật đã đắc chính giác dưới cội bồ đề, do đó tất cả dấu tích của Đức Phật đều trở nên rất có ý nghĩa và trở thành thánh địa. Vì vậy, khi hành hương Ấn Độ, Bồ Đề Đạo Tràng là thánh địa quan trọng nhất.

Cá nhân tôi nghĩ như vậy, dĩ nhiên khi chúng ta đi xem cây bồ đề đó, nó không còn là cây bồ đề nguyên thủy thời Đức Phật ngồi thiền nơi đó nữa. Có nhiều truyền thuyết cho rằng cây bồ đề hiện tại được di thực từ Sri Lanka sang, nhưng tất cả chúng ta vẫn đảnh lễ, tụng kinh và lễ bái trước cây bồ đề này.

Tại Bodh Gaya, chúng tôi đầu tiên đến chùa Đại Bồ Đề, đây là một *temple*, ở tầng hai, nơi thường không cho phép người vào, nhưng vì mối quan hệ đặc biệt của chúng tôi nên họ đã cho phép chúng tôi vào. Ở đó có Báo thân Phật của Đức Phật, chúng tôi đã thực hiện công khóa, làm đại lễ bái, tụng chú Tứ quy y, làm đại cúng dường, tụng kinh Cao Vương, kết giới bằng chuông chày kim cang, và nhập định. Chúng tôi cũng tụng niệm Thanh Tịnh Pháp Thân Phật và văn cầu gia trì.

Trong sự tĩnh lặng, rất nhanh chóng, tôi nhìn thấy bàn tay của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni duỗi dài ra, cánh tay vươn rất dài, tay cầm bình cam lộ để làm lễ quán đảnh cam lộ cho tất cả đệ tử đi cùng.

Lúc đó tôi đã nói ngay tại hiện trường rằng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đang duỗi tay làm lễ quán đảnh cam lộ cho tất cả các Thượng sư, pháp sư đi cùng. Cảnh tượng này hiện ra rất rõ ràng. Thượng sư Liên Từ cảm nhận được những mưa hoa mát lạnh từ trên rơi xuống, cảm thấy toàn thân mát mẻ, bà ấy cảm ứng được sự quán đảnh cam lộ này, và còn nhiều Thượng sư, pháp sư khác cũng có cùng cảm ứng như vậy, đều cảm nhận được sự quán đảnh cam lộ, có những giọt nước mát lạnh từ trên trời rơi xuống. Ôi! Phía trên không hề có mưa, phía trên là mái nhà, không thể nào có nước mưa được, vì vậy có thể nói cảm ứng này thật là thù thắng!

Sau khi lễ Phật xong, chúng tôi đi đảnh lễ cây bồ đề, rồi đi thăm các đạo tràng gần Bồ Đề Đạo Tràng. Xung quanh đạo tràng có rất nhiều điểm tham quan, còn có cả hồ sen. Sau khi trở về, tôi tra cứu sách "Đại Đường Tây Vực Ký" - Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã chứng đắc Chính Giác dưới cội bồ đề, vậy cây bồ đề là loại cây như thế nào?

Hóa ra, việc Đức Phật đạt được Chính Giác dưới cội bồ đề không phải là một phương pháp tu hành đặc biệt của riêng Ngài. Từ xưa đã có rất nhiều hành giả Ấn Độ (các yogi), mỗi người đều ngồi thiền dưới gốc cây, và họ chọn cây vả (cây sung) làm nơi tu tập, mà cây vả chính là cây bồ đề. Cây này được gọi là cây bồ đề là vì sau khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chứng đắc bồ đề, người ta mới đổi tên cây vả thành cây bồ đề, và từ đó mọi người mới gọi nó là cây bồ đề.

Ở Ấn Độ, loại cây này chính là cây vả. Rất nhiều hành giả rất thích, thậm chí theo phong tục của họ đều ngồi thiền dưới gốc cây vả, không phải chỉ có Đức Phật mới ngồi thiền dưới cội bồ đề đâu, không phải vậy! Cho nên, đây là một phong tục của Ấn Độ, họ rất thích ngồi thiền dưới gốc cây.

Thế rồi, tôi lại tra cứu trong "Đại Đường Tây Vực Ký", cây vả này, các hành giả gọi nó là gì? Họ gọi là "cây cam lộ bất tử"! Cây cam lộ bất tử! Cho nên khi tôi nhìn thấy, ôi, cam lộ bất tử! Vậy thì tại Bodh Gaya, việc Đức Phật Thích Ca Mâu Ni quán đảnh cho chúng tôi cũng là quán đảnh cam lộ, Đức Phật dùng bình cam lộ để quán đảnh cho chúng ta, chẳng phải đó chính là "nước cam lộ bất tử" sao?

Vừa hay đó là cây bồ đề, tại Bồ Đề Đạo Tràng, vừa hay những gì hiển hiện cho chúng ta cũng là quán đảnh cam lộ, và cây đó lại chính là cây cam lộ bất tử! Vì vậy khi tôi nhìn thấy, ôi! Thật là tương ứng!

Tại Vườn Lộc Dã tôi nhìn thấy Phật nhãn, sau khi tra cứu sách mới biết đó là tháp Pháp Nhãn; tại Bodh Gaya, làm lễ quán đảnh cam lộ, tra cứu sách mới biết cây bồ đề còn được gọi là cây cam lộ bất tử, thật là tương ứng! Tôi thực sự không biết cây bồ đề được gọi là cây vả, cũng không biết trong mắt các hành giả, cây vả chính là cây cam lộ bất tử, vậy đây có phải là sự trùng hợp? Nếu bạn nói đó là trùng hợp thì đó là trùng hợp; nếu bạn nói đó là tương ứng thì đó chính là tương ứng. Sau khi về, tôi tra cứu sách mới biết, ôi! Đó là cây bồ đề, cây vả, cây cam lộ bất tử, tôi giật mình! Ôi! Quán đảnh cam lộ, đây chính là thánh tích cây bồ đề ở Ấn Độ.

Om mani padme hum.

24/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 193. Nói về cây bồ đề (2)


Hôm nay chúng ta tiếp tục nói về "cây bồ đề". Vì sau khi đọc "Đại Đường Tây Vực Ký", tôi phát hiện bản thân cây bồ đề này có rất nhiều truyền thuyết.

Lần này khi chúng tôi đến Bodh Gaya ở Ấn Độ, cây bồ đề mà chúng tôi nhìn thấy đã không còn là cây mà Đức Phật ngồi thiền chứng ngộ ngày xưa nữa rồi! Cây bồ đề này là như thế này, là vì cây bồ đề nguyên thủy đã được chiết nhánh đem đến Sri Lanka, sau đó lại được chiết nhánh từ Sri Lanka và ghép trở lại Bodh Gaya.

Trong "Đại Đường Tây Vực Ký" có ghi chép nhiều truyền thuyết về cây bồ đề. Vào thời vua A Dục, lúc ban đầu, ông vốn là người diệt Phật, ông tin theo ngoại đạo, tức là tin theo các tôn giáo khác.

Khi ông bắt đầu diệt Phật, ông đã chặt hết tất cả các cây bồ đề, kể cả cây bồ đề ở Bồ Đề Đạo Tràng - nơi Đức Phật đã từng ngồi thiền. Ông cho chặt hết lá, cành, thân cây, sau khi chặt xong, ông giao cho các đạo sĩ thờ lửa để làm Hộ Ma, lấy cây đó để làm Hộ Ma, đốt nó đi, chỉ một ngọn lửa là cháy hết!

Ban đầu vua A Dục cũng là người diệt Phật, khi cây vừa bị đốt, thật kỳ lạ, các cành cây tách ra và từ bên trong mọc lên hai cây bồ đề xanh tươi, mọc ra hai gốc. Ngay khi lửa đang cháy, cành cây bỗng tách ra và từ bên trong lại mọc ra cây mới.

Vì vậy, vua A Dục nhìn thấy vậy rất xúc động, cảm thấy thật không thể nghĩ bàn! Từ đó về sau, ông rất cung kính cây bồ đề.

Mặc dù ông đã tin Phật, nhưng hoàng hậu của ông không tin, hoàng hậu không tin, bà cũng theo ngoại đạo, cũng là người dị giáo, bà đã lén ra lệnh chặt cây bồ đề, cây tuy bị chặt, vua A Dục đã dùng sữa bò để tưới nó, chỉ trong một ngày nó đã mọc lại. Đây đều là truyền thuyết!

Rồi hoàng hậu lại sai người lén lút chặt cây vào nửa đêm, hôm sau vua A Dục đến xem, ôi, cây lại đổ rồi! Kết quả là từ chỗ cây đổ lại mọc ra những chồi non, vua A Dục vẫn dùng sữa từ một nghìn con bò để tưới nó. Chẳng bao lâu sau, nó lại mọc thành một cây lớn.

Cây bồ đề đó đã trải qua nhiều tai nạn. Sau khi vua A Dục qua đời, một vị vua ngoại đạo khác lại chặt cây này xuống. Sau khi cây bị chặt, một vị vua khác là hậu duệ của vua A Dục nhìn thấy vậy, cũng dùng nhiều phương pháp để phục hồi nó, và cây bồ đề lại mọc lên. Sau đó người ta dùng dây leo và đá để xây tường bao quanh cây bồ đề này, xây rất cao.

Mọi người hãy nghĩ xem, sau khi đọc những ghi chép này, tôi cảm thấy Đức Phật Thích Ca Mâu Ni độ sinh thật vất vả! Thật vậy, độ chúng sinh quá vất vả! Cái cây này có liên quan gì đến những người ngoại đạo đâu? Chỉ vì Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi dưới cây bồ đề này một lần, kết quả là cây bồ đề này trở nên nổi tiếng. Nhưng nổi tiếng cũng không tốt! Cây càng cao gió càng mạnh, mỗi người ngoại đạo đều muốn chặt cây này, không biết đã bị chặt bao nhiêu lần rồi!

Cuối cùng vẫn có một vị đầu đà, một bậc tu hành cao thâm, ngài đã đến Sri Lanka để hoằng pháp và truyền giới. Theo thông lệ, khi truyền giới phải có sự hiện diện của Giáo chủ - Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, phải có một vật để tượng trưng cho giới pháp từ Đức Phật, vậy thì lấy gì làm biểu tượng tốt nhất? Cây bồ đề là tốt nhất. Vị ấy đã trực tiếp thỉnh mạch nguồn, đem cành cây bồ đề trồng tại Sri Lanka. Sau đó dùng làm pháp khí truyền giới, và cây bồ đề đã phát triển tại Sri Lanka như vậy.

Cây bồ đề hiện nay ở Bodh Gaya là được chiết nhánh từ Sri Lanka và trồng lại, trong quá trình đó, theo ghi chép trong "Đại Đường Tây Vực Ký", cây bồ đề này thực sự đã trải qua muôn vàn gian khổ. Đức Phật đã làm cho nó nổi tiếng, trở thành cây giác ngộ nổi tiếng nhất - cây bồ đề. Nhưng nó đã bị những người ngoại đạo và dị giáo chặt phá không biết bao nhiêu lần! Đốt thì đốt, chặt thì chặt! Những lần được ghi chép lại đã có ba lần rồi. Vua A Dục một lần, hoàng hậu của vua A Dục một lần, một vị vua khác một lần, ngoài ra còn có những người ngoại đạo leo tường vào chặt trộm, không biết bao nhiêu lần nữa?

Lý do Phật pháp không thể tồn tại ở Ấn Độ là vì thế lực của các ngoại đạo quá mạnh. Hồi giáo, Ấn Độ giáo, Bà La Môn giáo, họ có thế lực bám rễ sâu xa quá mạnh mẽ, Phật pháp được hoằng dương vào thời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni bị xem là tôn giáo mới nổi, vừa mới xuất hiện. Vừa mới xuất hiện thì chắc chắn sẽ bị văn hóa truyền thống và tôn giáo vốn có chặt phá.

Vì vậy từ việc quan sát một cây bồ đề, chúng ta có thể thấy được, một tôn giáo mới muốn đứng vững ở một nơi nào đó thì thật là khó khăn.

Cho nên nói về Phật pháp, việc Phật giáo rút lui khỏi Ấn Độ và bị tiêu diệt ở Ấn Độ không phải là không có lý do. Bạn thấy đó, Đức Phật đã không còn nữa, chỉ còn lại một cây bồ đề, vậy mà ngay cả cây bồ đề cũng có nhiều người muốn chặt nó! Bạn nói xem cây bồ đề có tội tình gì? Cây bồ đề có tội gì chứ?

Một cái cây thì có tội tình gì? Nhưng mà cái cây đó, vẫn có nhiều người muốn chặt đầu nó! Hãy nghĩ xem, đây chính là một tính xấu vốn có của con người, một thói quen xấu vốn có của con người!

Phật pháp do Đức Phật sáng tạo và hoằng dương, Đức Phật chỉ thành tựu dưới gốc cây mà thôi, có liên quan gì đến cây này đâu? Vậy mà có nhiều người ngoại đạo như vậy căm ghét cái cây đó, ngày nào cũng chặt phá nó, điều này nói theo tâm lý học gọi là "giận cá chém thớt", họ đã trút cơn giận của mình lên cái cây đó.

Hôm nay nói đến đây.

Om mani padme hum.

24/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 194. Nói về Quan Thế Âm Bồ Tát


Hôm nay chúng ta nói về Bồ Tát Quan Thế Âm. Mọi người đều biết, Quan Thế Âm Bồ Tát là một vị đại Bồ Tát, nói về người Trung Quốc chúng ta, có thể nói là "nhà nhà có Di Đà, nhà nhà có Quan Âm". Cho nên có thể nói Bồ Tát Quan Thế Âm và chúng sinh trong thế giới Ta Bà chúng ta có duyên sâu đậm nhất!

Khi tôi bắt đầu lễ Phật, vị đầu tiên tôi thờ phụng chính là Bồ Tát Quan Thế Âm. Tôi đã đến tòa nhà Tổng Hợp ở Đài Trung mua một tượng Quan Thế Âm bằng sứ, đó là pho tượng đầu tiên tôi thờ phụng. Lúc đó, nơi tôi thờ phụng là trên cửa sổ phòng ký túc của mình, đặt thờ trên cửa sổ, vì lúc đó không biết gì cả nên cứ thờ ở cửa sổ.

Ôi! Thật kỳ lạ, vừa thờ phụng xong, ngay tối hôm đó Ngài đã hiển linh, tôi đã từng viết điều này trong sách. Đêm đó Ngài thực sự hiển hiện, tôi thấy Ngài ngồi trên một đóa sen nổi trên mặt biển, Bồ Tát Quan Thế Âm ngồi trên đóa sen trên mặt biển, hình ảnh rất rõ ràng.

Cảm ứng của Quan Âm thật không thể nghĩ bàn! Khi tôi bắt đầu học Phật, tôi tụng bất cứ thứ gì tôi tìm thấy. Thần chú đầu tiên tôi tụng là thần chú Bạch Y Đại Sĩ. Lúc đó tôi chưa biết tụng chú Đại Bi, tôi chỉ tụng thần chú Bạch Y Đại Sĩ thôi. Khi tụng thần chú Bạch Y Đại Sĩ này, Bạch Y Quan Thế Âm Bồ Tát đã hiển hiện để chữa bệnh cho tôi (chú thích: bệnh viêm mắt đỏ).

Vì vậy rất nhiều người hỏi tôi, trì chú nào là tốt nhất? Tôi không có cách nào trả lời, không phải là không có cách trả lời, mà tôi cho rằng, chú nào phù hợp với chính mình, đó chính là chú tốt nhất. Bạn tự cảm thấy khi tụng chú đó, có cảm ứng, có tương ứng thì đó chính là tốt nhất.

Tôi không cho rằng chú nào là tốt nhất, như tôi tụng thần chú Bạch Y Đại Sĩ, đã rất tốt rồi. Sau này tôi cũng tự tụng thất Phật diệt tội chân ngôn, cũng tụng chú Đại Bi, cũng tụng mười chú nhỏ, cũng tụng chú Lăng Nghiêm. Về sau tụng nhiều chú, nhưng ban đầu nhất, vẫn là thần chú Bạch Y Đại Sĩ, tụng đến khi có cảm ứng.

Sự linh ứng của Bồ Tát Quan Thế Âm, nói về bản thân tôi, có thể nói là rất sâu sắc trong những lần cảm ứng, vì thế Bồ Tát Quan Thế Âm đã từng cứu tôi khỏi tai nạn, cũng đã từng chữa bệnh cho tôi.

Sự hiển hiện của Bồ Tát Quan Thế Âm với tôi, vị Bồ Tát đầu tiên đến cảm ứng cũng chính là Bồ Tát Quan Thế Âm. Bởi vì trước đây tôi sống ở hợp tác Thôn Mới, đối diện hợp tác Thôn Mới có người thờ Bạch Y Quan Thế Âm Bồ Tát, từ khi tôi học được cách thông linh, rồi khi cầu nguyện tại nhà mình, vị đầu tiên đến cảm ứng chính là Bạch Y Quan Thế Âm Bồ Tát từ nhà người ta đến nhà tôi, rất rõ ràng.

Thế là tôi nói với chị dâu Vạn Cát ở nhà trước mặt rằng Bồ Tát Quan Thế Âm nhà chị thường xuyên đến nhà tôi. Chị ấy rất không vui, nói rằng đó là Bồ Tát nhà chị, sao lại thường xuyên đến nhà tôi được? Cuối cùng, thật kỳ lạ, Bồ Tát Quan Thế Âm nhà chị ấy thực sự thường xuyên đến nhà tôi.

Có một lần chị ấy rất không vui, đến nhà tôi, tôi nói với chị rằng Bồ Tát Quan Thế Âm nhà chị thường xuyên đến nhà tôi, chị ấy liền nổi giận, nói làm gì có chuyện đó! Câu nói chưa dứt lời, Bồ Tát Quan Thế Âm liền nhập vào người chị ấy, chị ấy lập tức quỳ xuống và bò, cứ bò mãi đến bàn thờ nhà tôi để lạy, lạy không ngừng, Ngài nói chị ấy đã nói sai, lập tức miệng chị ấy bị méo, miệng bị méo ngay lập tức!

Lúc đó cảm ứng thật là mạnh mẽ! Có một người không tin, vào đến đàn thành nhà tôi, nhìn đàn thành và hỏi, tượng này là gì? Tượng kia là gì? Rồi chỉ trỏ lung tung! (Sư Tôn giơ tay minh họa) Tôi nói đây là Bồ Tát đó! Phải cung kính, phải chắp tay! Vậy mà người đó dám dùng tay chỉ trỏ như thế, chỉ đến cuối cùng bàn tay đó...! Ôi! Tay anh ta bắt đầu run rẩy dữ dội, hai tay tự động chắp lại lạy không ngừng, mức độ cảm ứng thuở ban đầu đó, ngay cả ngón tay cũng không thể tùy tiện chỉ trỏ.

Bồ Tát rất linh thiêng. Chị dâu Vạn Cát đến nhà tôi, vừa nghe nói Bồ Tát Quan Thế Âm đến nhà tôi, chị ấy cảm thấy rất không vui, lập tức bị nhập và quỳ xuống. Cũng có một người không tin, đó là vợ của Nhan Vân Bằng, tùy tiện dùng ngón tay chỉ vào Bồ Tát Quan Thế Âm, lập tức hai tay chắp lại, lạy không ngừng.

Sự hiển linh lúc ban đầu thật là phi thường! Bây giờ ít hơn, tại sao bây giờ lại ít hơn? Bởi vì tín tâm đã vững chắc rồi. Khi lòng tin của bạn chưa vững chắc, Ngài liên tục hiển linh cho bạn thấy. Sự linh ứng của Bồ Tát Quan Thế Âm thật sự là phi thường!

Tôi cho rằng hai chữ "Quan Âm", chữ "Âm" chính là chú, nhìn vào chú, Quan Âm nghĩa là quán chiếu chú ngữ. Bạn thấy đó, toàn bộ Tây Tạng đều là đạo tràng của Tứ Thủ Quan Âm. Bạn thấy thần chú "Om mani padme hum", tâm chú của Bồ Tát Quan Thế Âm, toàn bộ Tây Tạng đều tụng! Toàn bộ Tạng mật đều tụng "Om mani padme hum", đó là đạo tràng của Tứ Thủ Quan Âm. Những chữ "Om mani padme hum" này, chỉ cần bạn có thể quán chiếu được, Bồ Tát Quan Thế Âm sẽ có thể duỗi bàn tay từ bi của Ngài ra để hộ trì cho bạn! Có thể thấy sức mạnh của thần chú này là rất lớn.

Lòng từ bi của Bồ Tát Quan Thế Âm, ngoài việc dùng âm thanh của Ngài để cứu độ chúng sinh, Ngài còn tìm đến tiếng kêu để cứu khổ, hơn nữa Ngài còn dùng đủ loại phương pháp để thị hiện độ hóa chúng sinh. Vì vậy vị Bồ Tát này thật là vĩ đại!

Vị Bồ Tát này thật phi thường! Ngài trước đây cũng là Phật, Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật chính là tiền thân của Bồ Tát Quan Thế Âm, Chính Pháp Minh Như Lai cũng là đời trước của Bồ Tát Quan Thế Âm, danh hiệu của Ngài rất nhiều. Ngài đời trước là Phật, quay ngược con thuyền từ bi hóa thành Bồ Tát, thậm chí ứng thân trong chúng sinh để độ hóa chúng sinh!

Vì vậy Bồ Tát Quan Thế Âm cũng là một trong Bát Đại Bổn Tôn của Chân Phật Tông chúng ta, chúng ta đặc biệt tôn sùng Bồ Tát Quan Thế Âm. Trước đây ở mật đàn tại nhà tôi, Bồ Tát Quan Thế Âm nhiều nhất, toàn là Bồ Tát Quan Thế Âm! Bất kể là Quan Âm nào, hễ tôi nhìn thấy Quan Âm là tôi thỉnh về, thậm chí ngay cả tượng Quan Âm nhà chị dâu Vạn Cát, dù chị ấy không thể tặng cho tôi, tôi cũng đi tìm, tìm được một tượng Bồ Tát Quan Thế Âm giống hệt như ở nhà chị ấy, hiện vẫn còn thờ ở mật đàn của tôi tại Đài Loan, y hệt như vậy. Cho nên nói rằng, sự linh cảm của Bồ Tát, thật sự là bất khả tư nghì!

Om mani padme hum.

26/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 195. Làm sao độ chúng sinh


Chúng ta đã nói về cây bồ đề, từ cây bồ đề có thể liên tưởng đến việc làm thế nào để độ chúng sinh, đây là một vấn đề rất lớn.

Pháp môn bát nhã của chính Phật Đà là một pháp môn Hiển giáo, tùy thuận tất cả chúng sinh, có duyên thì độ, không duyên thì Phật cũng không thể độ! Vì thế Phật có ba điều không thể! Trong đó, nếu bạn không có duyên, Phật cũng không có cách nào độ hóa bạn được. Đây chính là tùy thuận độ chúng sinh.

Vì vậy Phật pháp do Phật Thích Ca Mâu Ni truyền lại cho đến nay đã lan truyền đến Thái Lan, Tây Tạng, Trung Quốc, bán đảo Đông Nam Á, Nhật Bản, Hàn Quốc, chỉ giới hạn trong phạm vi này, còn các quốc gia khác chỉ có rất ít người có thể nghe được Phật pháp.

Chúng sinh bao giờ mới độ hết được đây? Tôi thật sự lo lắng cho Địa Tạng Vương Bồ Tát, địa ngục chưa trống, thề không thành Phật, Ngài mãi mãi “bất không”, thật sự đã thành Bất Không Thành Tựu Phật rồi! Không thể làm trống được! Địa ngục vẫn mãi tồn tại!

Tập khí của chúng sinh không hề được cải thiện hoàn toàn dù có sự tịnh hóa của Phật pháp, hơn nữa còn có xu hướng ngày càng đi xuống, vì vậy việc độ chúng sinh, tôi cảm thấy thật là vất vả!

Mặc dù chúng ta tu học Phật pháp với lòng tin rất kiên cố, nhưng những người có đạo tâm không vững vàng thì nhiều vô kể! Chỉ cần một câu nói không đúng, họ liền thoái lui đạo tâm, chỉ một chút khó khăn trắc trở, họ liền thoái lui đạo tâm, nhân sự không hòa hợp, họ cũng thoái lui đạo tâm. Đây đều là những nghịch cảnh trong việc độ chúng sinh.

Khi nào chúng sinh mới có thể độ hết được? Tôi cũng lo lắng thay cho Bồ Tát Di Lặc, Ngài phải độ rộng khắp chúng sinh trong ba hội Long Hoa, mỗi lần phải độ đến vài ức chúng sinh. Chỉ trong ba hội Long Hoa, phải độ hết tất cả chúng sinh trên địa cầu, độ hết tất cả chúng sinh trong cõi Ta Bà. Kinh điển Phật ghi chép như vậy, nhưng làm sao độ? Làm thế nào để độ đây?

Tôi sẽ nói với Bồ Tát Di Lặc rằng, không dùng pháp đặc biệt thì không thể được, Ngài không thể tùy thuận chúng sinh, Ngài thành đạo dưới cội Long Hoa, không phải dưới cội bồ đề, cần phải hóa toàn thân thành ánh sáng, biến hóa thành hàng nghìn tỷ tia sáng, chiếu thẳng vào tâm chúng sinh, dùng phương pháp duy thức đại thần biến, hóa thành đại quang minh, đi vào tâm của hàng nghìn tỷ chúng sinh, lấy ra toàn bộ Phật thức của họ, dùng Phật thức của Như Lai để khai mở Phật thức của chúng sinh.

Dùng duy thức để chuyển hóa duy thức, để chúng sinh hiển lộ Phật tính từ tầng thức sâu nhất của họ, rồi tự thành quang minh, toàn thân họ đều biến mất, hóa thành Phật quang, trong một khoảnh khắc tất cả chúng sinh đều được thăng hoa lên thế giới Hoa Nghiêm.

Bồ Tát Di Lặc cần ba hội Long Hoa để làm gì? Ba hội ư? Không cần đâu! Một hội là đủ rồi. Dùng phương pháp duy thức đại thần biến này, một hội là được, nghĩa là, Bồ Tát Di Lặc phóng quang, hóa thành hàng nghìn tỷ tia sáng, đi vào tâm chúng sinh, khai mở Phật thức từ tầng thức sâu nhất của chúng sinh, khiến Phật tính hoàn toàn hiển lộ.

Tất cả chúng sinh trên địa cầu, Phật tính hoàn toàn hiển lộ, không một ai thoát khỏi! Tiếp dẫn toàn bộ địa cầu về thế giới Hoa Nghiêm! Đây thật sự gọi là "gà chó lên trời", gà và chó đều được khai mở hoàn toàn, trong chớp mắt nó nhận ra mình không phải là chó, mà là Phật! Trong chớp mắt nó phát hiện mình không phải là gà, mà là Phật! Chỉ cần khai mở Phật tính của chúng sinh, thì tất cả gà chó đều có thể lên trời.

Phương pháp độ chúng sinh này chính là duy thức đại thần biến của Bồ Tát Di Lặc, đây là phương pháp độ chúng sinh duy nhất của Ngài. Nếu Ngài vẫn dùng pháp môn bát nhã, được thôi! Chúng ta đều đến tin Phật, tín ngưỡng Phật, đến học Phật, bắt đầu đọc kinh, xem kinh điển, nhưng bạn chưa xem xong thì đã chết mất rồi.

Bạn có biết Bồ Tát Long Thụ đến long cung để xem Kinh Hoa Nghiêm và mang Kinh Hoa Nghiêm ra, riêng bản thân Kinh Hoa Nghiêm đã rất nhiều rồi, nhiều đến không đếm xuể, theo lời Bồ Tát Long Thụ nói, Kinh Hoa Nghiêm mà Ngài mang ra chỉ là một phần vạn của Kinh Hoa Nghiêm trong long cung mà thôi! Một phần vạn đó, Kinh Hoa Nghiêm đã khiến bạn xem không hết rồi, còn muốn đợi bạn đọc xong kinh Phật thì nhiều đời cũng đọc không hết! Cho nên pháp môn bát nhã độ chúng sinh, người có duyên thì được độ, đối với người vô duyên thì rất khó!

Bồ Tát Di Lặc độ chúng sinh, tôi bảo Ngài rằng, một hội Long Hoa là đủ, không cần đến ba hội Long Hoa, bởi vì ba hội Long Hoa có thể quá phiền phức. Tại sao phải cần đến ba hội Long Hoa? Điều này tôi không thể hiểu được, hội Long Hoa thứ nhất độ bao nhiêu người, hội Long Hoa thứ hai độ bao nhiêu người, hội Long Hoa thứ ba độ hết tất cả.

Tại sao phải chia làm ba lần? Chẳng lẽ còn phải chia thành bữa sáng, bữa trưa, bữa tối, chia ra ba lần để ăn sao? Phóng quang một lần độ hết là đủ rồi, chẳng lẽ một lần triệu tập không thể tập hợp tất cả mọi người lại với nhau, ánh sáng đó không thể đạt đến bảy vòng rưỡi trái đất sao? Nếu có thể đạt đến bảy vòng rưỡi, ồ, không còn nữa, không còn một người nào nữa, tất cả chúng sinh đều đã thành Phật cả rồi.

Vì vậy tôi cảm thấy, từ việc nói về cây bồ đề đến độ chúng sinh, thật quá khó khăn, ngay cả cái cây mà Phật Đà ngồi dưới gốc để khai ngộ, chúng sinh cũng muốn đốn nó đi. Cho nên Bồ Tát Di Lặc sau này độ chúng sinh, tuyệt đối không thể học theo cách độ chúng sinh của Phật Đà nữa, phải trực tiếp khai mở Phật thức, trực tiếp khiến chúng sinh thành Phật!

Tôi nghĩ như vậy đó, lúc đó! Địa Tạng Vương Bồ Tát sẽ được giải thoát rồi. Không còn địa ngục nữa, địa ngục đều trống không, chúng sinh trong địa ngục nhìn thấy, ồ, ta cũng là Phật! Tất cả đều thành Phật. Tôi nghĩ nên như vậy, nếu không, không còn cách nào tốt hơn nữa.

Hôm nay nói đến đây thôi.

Om mani padme hum.

26/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 196. Những điều thấy nghe ở Bodh Gaya (1)


Hôm nay tôi vẫn tiếp tục chia sẻ với mọi người về những điều thấy nghe ở Bodh Gaya.

Điểm quan trọng nhất ở Bodh Gaya là có một cây bồ đề, chính là cây bồ đề nơi Đức Phật đã giác ngộ trên tòa kim cang. Phía trước cây bồ đề có một ngôi tháp rất lớn, được chia thành hai tầng, được chạm khắc nhiều tượng Phật. Xung quanh đạo tràng bồ đề có tường bao quanh, và chung quanh có rất nhiều chùa chiền.

Theo quan điểm của tôi, nơi Đức Phật thành đạo dưới cội bồ đề này là địa điểm quan trọng nhất trong số tám thánh địa. Nếu không có sự thành đạo của Đức Phật, có thể nói rằng các thánh địa khác sẽ không tồn tại. Vì vậy, nơi đây quy tụ các ngôi chùa từ nhiều quốc gia, có chùa Hàn Quốc, chùa Trung Quốc, chùa Myanmar, và còn có chùa Bhutan, chùa Nepal, rất nhiều ngôi chùa đều tập trung xung quanh đạo tràng bồ đề này.

Trong tám thánh địa, nơi có nhiều chùa chiền nhất, theo tôi thấy chính là Bodh Gaya này. Không chỉ vậy, có rất nhiều hành giả tu học Phật pháp cũng tập trung tại Bodh Gaya. Khi chúng tôi đến đó, thấy rất nhiều vị Lama Tây Tạng đang đảnh lễ trước tháp bồ đề, đại bồ đề tự và cây bồ đề. Một số người trong họ phát nguyện đảnh lễ trước cây bồ đề, mỗi lần lễ là vài vạn lạy, vài trăm vạn lạy, ngày nào cũng đến lễ.

Chúng tôi cũng thấy các vị xuất gia Hiển giáo đang thiền định ở đó. Họ có mặt ở khắp nơi, dưới mỗi gốc cây đều có, dưới cây bồ đề cũng có, dưới các cây khác cũng có.

Ngoài ra còn có rất nhiều bia đá, tháp, và nhiều người vội vã đến đó như thể để giành chỗ. Có người làm đại lễ, có người tụng kinh, có người trì chú, có người thiền định, có người làm cúng dường.

Chúng tôi đã đến thăm các vị xuất gia, không phân biệt Hiển giáo hay Mật giáo, có cả các vị tăng từ Thái Lan, từ Trung Quốc, từ Đài Loan và nhiều nơi khác đến. Có thể nói đây là nơi quy tụ cuối cùng của các Phật tử. Khi bạn đến đây, bạn sẽ thấy rất nhiều hành giả tu học Phật pháp ở nơi này. Trong số đó có một vị đến từ Vụ Xã, Đài Loan, hình như Vụ Xã nằm ở Nam Đầu phải không? Chúng tôi hỏi thăm mới biết vị ấy đến từ Vụ Xã.

Tôi cũng quan sát các hành giả ở đó, thấy họ đang tụng niệm và đọc kinh điển. Khi tôi đi ngang qua, họ nhìn tôi (Sư Tôn minh họa ánh mắt) một cái, rồi nhìn nhau, chỉ cần nhìn ánh mắt đó, chúng ta đã biết họ đang nghĩ gì.

Trong ánh mắt đó không thể nhìn thấy cảm xúc, không còn tình cảm như ngày xưa nữa, rất lạnh lùng. Bạn không thể thấy được tình cảm ngày xưa của họ, không thấy được cảm xúc, hoàn toàn là một loại ánh mắt rất lạnh nhạt! Bên ngoài không thể quấy nhiễu họ được, họ không còn thuộc về trần thế, không thuộc về hồng trần phồn hoa nữa, mà thuộc về một thế giới khác.

Những hành giả ở đó đều như vậy. Khi chúng ta nhìn vào tâm họ, thực ra họ đều đang chờ đợi, họ ở đó làm đại lễ, cúng dường, tụng kinh, trì chú, có người đi nhiễu tháp, các ni cô tụ thành từng nhóm đi nhiễu tháp và niệm Phật không ngừng, có các hành giả Mật giáo vừa đi vừa lần tràng hạt và trì chú, có người thì ngồi thiền. Nhìn vào ánh mắt của họ, dường như tất cả đều đang mong chờ được thấy "viên ngọc phương Đông".

Thực ra, mọi người đến đó đều muốn học Phật và mong được thành Phật. Trong tâm họ đều mong được giống như Phật Đà, được giác ngộ và chứng đắc Chính Giác dưới cội bồ đề. Ai mà chẳng muốn đạt được Chính Giác? Ai cũng muốn cả! Mọi người đến đó đều mong mỏi, hy vọng có được cơ duyên, cũng được thấy viên ngọc phương Đông! Khi nhìn thấy ngôi sao phương Đông lấp lánh, cuối cùng họ đã giác ngộ! Họ chính là Phật.

Có thể nói rằng, thật ra Phật Đà là một danh xưng phổ biến, chỉ cần bạn đạt được Chính Giác, bạn chính là Phật Đà. Chỉ cần thành tựu Chính Đẳng Giác, bản thân bạn chính là Phật Đà. Vì vậy, mọi người ở đó tu hành, tôi thấy ai cũng rất thành kính, ngồi như thế này (Sư Tôn minh họa), tuy họ liếc nhìn chúng tôi một cái, nhưng thực ra, trong lòng họ đang nghĩ: "Những người này đang làm gì vậy? Đi tới đi lui, làm phiền việc tu hành của tôi."

Mặc dù cây bồ đề có hàng rào bao quanh, nhưng chúng tôi có thể vào trong, tại sao? Bởi vì chúng tôi có mối quan hệ đặc biệt, nên được phép vào. Khi vào bên trong, cũng có rất nhiều người ngồi ở đó, dưới cội bồ đề ai cũng chiếm một chỗ, mọi người chen chúc dưới gốc cây, hy vọng được giống như Đức Phật.

Thực ra, chúng ta có thể nhận thấy rõ sự mong đợi đó, nó hoàn toàn là sự bộc lộ từ nội tâm, họ muốn đạt được Chính Đẳng Chính Giác.

Đối với mỗi hành giả, kỳ vọng cao nhất chính là đạt được Chính Đẳng Giác, trần thế chẳng là gì cả, họ một lòng một dạ chỉ đi theo con đường tu hành, mong muốn đạt được Chính Đẳng Chính Giác. Họ muốn học Phật, muốn tu hành, muốn sống cuộc đời của một hành giả thanh tịnh.

Tại nơi đây, những gì chúng tôi nhìn thấy thực sự là một bầu không khí tu hành thanh tịnh lan tỏa khắp nơi. Mỗi người đều tinh tấn, thực hiện đại lễ, mỗi lần lễ là vài trăm vạn lạy, ngày nào cũng làm như vậy để tiêu trừ nghiệp chướng.

Cảnh tượng chúng tôi thấy ở Bodh Gaya thật sự rất cảm động.

Hôm nay nói đến đây.

Om mani padme hum.

27/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 197. Những điều thấy nghe ở Bodh Gaya (2)


Hôm nay chúng ta sẽ tiếp tục nói về những điều thấy nghe ở Bodh Gaya.

Mọi người đều biết, ngoài cây bồ đề và đại bồ đề tự ra, sông Ni Liên Thiền [Phalgu]- nơi Phật Đà từng tắm gội - cũng ở gần đó. Nhìn thẳng từ sông Ni Liên Thiền về phía trước là núi Chính Giác. Tại sao gọi là núi Chính Giác? Ở một nơi rất xa có một ngọn núi, vào thời Đức Phật, có lẽ được gọi là Tuyết Sơn, đó chính là khu rừng khổ hạnh.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã tu khổ hạnh trong rừng suốt sáu năm, sau sáu năm khổ hạnh, Ngài mới từ núi Chính Giác đi xuống, đến sông Ni Liên Thiền để tắm. Khi tu khổ hạnh đến mức không chịu nổi, Ngài thậm chí không thể đến sông Ni Liên Thiền để tắm rửa, muốn đến bờ sông uống nước cũng không được.

Vì vậy có thể nói rằng ở Bodh Gaya có cây bồ đề, có sông Ni Liên Thiền, lại có núi Chính Giác, mọi người đều có thể nhìn thấy.

Vì vậy, ở đó chúng ta có thể thấy rất nhiều hành giả từ khắp nơi trên thế giới tập trung về tu hành. Trong lòng tôi cũng nghĩ rằng: ai cũng muốn "ăn theo" Đức Phật, bởi vì Ngài đã chứng đắc Chính Đẳng Chính Giác ở đây! Mọi người nghĩ rằng, vì Đức Phật đã giác ngộ ở nơi này, chắc chắn vẫn còn luồng khí giác ngộ lưu chuyển, đến đây hít thở vài hơi, có lẽ sẽ đắc Chính Giác sớm hơn một chút.

Cách đây 2500 năm, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã đắc Chính Giác tại nơi đây. Có lẽ bạn đến ngồi một lát, ôi! Chỉ vài phút là bạn cũng đắc Chính Giác! Hít vài hơi là đủ rồi. Mọi người đều có suy nghĩ như vậy, vì thế các Phật tử phần lớn đều tập trung ở đó. Các thánh địa khác thì ít người hơn một chút, nhưng ở Bodh Gaya thì đông nhất.

Mọi người đều tu tập rất nghiêm túc ở Bodh Gaya, có thể bình thường họ không nghiêm túc đến vậy, nhưng khi đến đó thì trở nên rất tinh tấn. Khi đến nơi, họ nghĩ: "Đây là nơi Đức Phật đã chứng đắc Chính Giác, đến đây nhất định phải nghiêm túc." Nếu bạn đến đó mà vẫn còn lơ là, thì không còn cách nào cứu được! Phải không? Đã đến Bodh Gaya, dưới cội bồ đề, nơi Đức Phật chứng đắc Chính Giác mà vẫn còn qua loa đại khái, thì thực sự là vô phương cứu chữa.

Vì vậy chúng tôi đã thấy và cũng suy nghĩ làm thế nào để đạt được Chính Giác? Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã đạt được Chính Giác như thế nào? Ngài thiền định về: "Cái này có thì cái kia có, cái này sinh thì cái kia sinh". Ngài suy nghĩ về vấn đề này. Sau đó, Ngài lại nghĩ: "Cái này không thì cái kia không, cái này diệt thì cái kia diệt". Cuối cùng Ngài nghĩ: "Sinh và diệt là bình đẳng, Phật và chúng sinh không có sự khác biệt". Ngài giác ngộ rằng Phật và chúng sinh không có sự khác biệt, sinh và diệt cũng bình đẳng, từ đó Ngài nương theo Thập Nhị Nhân Duyên mà khai ngộ, ngôi sao trong tâm hiển hiện, và Ngài đã nhìn thấy ngôi sao phương Đông.

Để khiến ánh sáng trong tâm hiển hiện, để Phật tính tự hiển lộ, đều có phương pháp.

Mật giáo của chúng ta cũng có phương pháp tu hành, có một số khẩu quyết quan trọng cần chia sẻ với mọi người. Trong tu hành Mật giáo, tư thế thân phải ngay thẳng; khi thân ngay thẳng thì mạch mới thẳng; khi mạch thẳng thì khí mới chính; khi khí chính thì tâm mới chính.

Vì vậy khi tu hành cũng phải chú ý đến thân thể, tư thế thân phải ngay thẳng, tư thế ngồi là Tỳ Lô thất chi, bạn phải hiểu rõ các tư thế ngồi khác nhau như tọa pháp sư tử, tọa pháp voi, tọa pháp tiên nhân, ba phương pháp này đều rất quan trọng. Tư thế ngồi phải ngay thẳng, tọa pháp Tỳ Lô thất chi, khi bạn đã điều chỉnh tư thế thân thể đúng, trong Mật giáo nói về trung mạch, khí mạch, minh điểm, lúc đó mạch của bạn mới thẳng. Nếu thân thể nghiêng lệch, mạch sẽ không thẳng; thân ngay thì mạch thẳng; mạch thẳng thì khí ra vào mới chính. Nói cho bạn biết, khi khí ra vào được thuận, được chính, thì ý niệm của bạn mới chính, tức là tâm của bạn mới chính.

Mật giáo nói về sự hợp nhất của tâm và khí, tâm và khí của bạn là một, không phải hai, cho nên nếu nói rằng, khi khí dao động thì tâm cũng sẽ dao động; khi khí của bạn bình ổn thì tâm cũng sẽ định. Điều này rất quan trọng.

Thân ngay thì mạch mới thẳng, mạch thẳng thì khí mới chính, khí chính thì tâm mới chính. Đây là phương pháp tu hành của Mật giáo, bởi vì Mật giáo tu về khí mạch minh điểm.

Vậy thì, làm sao để thân khẩu ý được thanh tịnh?

Về sự thanh tịnh của thân, chỉ cần thân ngay thẳng thì thân thể sẽ thanh tịnh.

Về sự thanh tịnh của khẩu - chỉ cần giữ miệng đóng lại, im lặng như người câm, giống như người câm vậy, thì khẩu của bạn sẽ thanh tịnh, bởi vì bạn không nói chuyện, không nói lung tung, không nói dối, không nói thêu dệt, không nói đâm thọc, không nói lời ác độc, không xúi giục thị phi.

Nói nhiều quá cũng không tốt, với những người hay nói nhiều, tôi xin nói cho bạn biết, tốt nhất là tìm một nơi hoang vu trên núi sâu để nói lung tung, đến bên sông cứ nói mãi nói mãi theo dòng nước chảy, nói đến cuối cùng bạn sẽ thấy mệt mỏi, bạn sẽ không muốn nói nữa. Vì vậy, tốt nhất là bạn hãy đi vào núi sâu hoang vu để nói.

Còn về ý niệm, làm thế nào để được thanh tịnh? Hãy an trụ tâm trong hư không, khi tâm của bạn an trụ trong hư không, thân thể bạn sẽ tự phóng quang, Phật tính sẽ dần dần hiển lộ.

Bạn có biết không? Khi tâm bạn gửi gắm vào hư không, ánh sáng bên trong bạn sẽ tự nhiên hiển hiện. Có một bộ kinh gọi là "Phổ Minh Kinh", trong đó có viết rằng, khi tâm bạn an trụ trong đại không bên ngoài, ánh sáng bên trong bạn sẽ hiển hiện.

Trên đây là phương pháp thanh tịnh thân khẩu ý.

Hôm nay nói đến đây.

Om mani padme hum.

30/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 198. Nói về Phổ Hiền Vương Như Lai


Hôm nay chúng ta nói về Phổ Hiền Vương Như Lai.

Nói về Phổ Hiền Vương Như Lai, Ngài là một vị cổ Phật, cũng có thể nói là một vị Phật nguyên thủy, là một vị Phật từ rất rất xa xưa.

Chúng ta biết rằng, Bồ Tát Long Thụ đã tìm được kinh điển trong long cung, bởi vì rất nhiều kinh điển cuối cùng đều được cất giữ trong cung điện của rồng, và theo như truyền thuyết, kinh điển ở cõi Ta Bà này chưa đến một phần vạn của số kinh điển đó.

Trước đây, khi Bồ Tát Long Thụ học Phật, sau vài năm tu học, Ngài bắt đầu cảm thấy kiêu mạn. Sự kiêu mạn này thể hiện qua ý nghĩ: "Ôi! Tôi mới học có vài năm mà đã hiểu hết tất cả kinh điển của Đức Phật chỉ sau một lần đọc, và điều này khiến tâm tôi trở nên rất kiêu ngạo." Ngài nghĩ rằng học Phật chỉ đơn giản có vậy thôi, và Ngài đã học hết tất cả rồi.

Khi vào long cung rồi Ngài mới nhận ra rằng kinh điển ở cõi Ta Bà này chưa đến một phần vạn kho tàng của rồng. Vì vậy Ngài đến long cung để tìm kiếm kho tàng, tức là đến long cung để lấy ra kinh tạng, trong đó có một bộ là Kinh Hoa Nghiêm.

Bồ Tát Long Thụ ở trong long cung một đêm, đọc Kinh Hoa Nghiêm, tuy nhiên theo như truyền thuyết, Kinh Hoa Nghiêm mà Bồ Tát Long Thụ đã đọc và mang ra, cũng chỉ là một phần vạn mà thôi, có thể thấy Phật pháp thật sự như biển cả mênh mông vậy.

Trong Kinh Hoa Nghiêm có đề cập đến "một vị Bồ Tát", chính là Phổ Hiền Vương Như Lai. Vậy thì Phổ Hiền Vương Như Lai cũng chính là "có một Bồ Tát" mà chúng ta thường nhắc đến trong mỗi lần sám hối, mỗi lần đều nhắc đến có một vị Bồ Tát, đó chính là Phổ Hiền Vương Như Lai.

Tôi đã từng suy nghĩ về một vấn đề: Trong Kinh Hoa Nghiêm có đề cập đến một cõi tịnh thổ, đó là Hoa Tạng thế giới; vậy thì Hoa Tạng thế giới và Cực Lạc thế giới có gì khác nhau? Tôi đã từng nghĩ về vấn đề này.

Hoa Tạng thế giới và Cực Lạc thế giới có gì khác nhau? Câu hỏi này rất khó trả lời, mọi người có thể suy nghĩ về điều này, bây giờ tôi chưa nói đáp án cho mọi người. Các bạn có thể tra cứu một số kinh điển, nghiên cứu xem tại sao cõi tịnh thổ này được gọi là Hoa Tạng thế giới? Tại sao tịnh thổ của Đức Phật A Di Đà được gọi là Cực Lạc thế giới? Có gì khác nhau?

Phổ Hiền Vương Như Lai có một phương pháp tu trì vĩ đại nhất, gọi là "tịch diệt thần biến Tam ma địa". Nếu bạn có thể nhập vào Tam ma địa này, bạn sẽ có thể đến được Hoa Tạng thế giới, và khi vào được Hoa Tạng thế giới, bạn sẽ đạt được bốn đại thành tựu.

Bốn thành tựu vĩ đại này là gì?

Thành tựu thứ nhất là "tất cả nghiệp chướng đều được tiêu trừ", nghĩa là đoạn trừ hết tất cả nhân của luân hồi. Khi nhân của lục đạo luân hồi hoàn toàn bị đoạn trừ, thì không còn phải luân hồi nữa, không còn luân hồi nữa! Khi không còn luân hồi, tất cả nghiệp đều tiêu diệt, hoàn toàn không còn nghiệp chướng. Đây là điều tốt nhất.

Thành tựu thứ hai là "thành tựu tất cả pháp", tất cả Phật pháp đều được thành tựu. Tịch diệt thần biến Tam ma địa có năng lực này, bạn có thể thành tựu tất cả Phật pháp, thành tựu quả vị Phật, tức là đầy đủ trí tuệ đại viên mãn, tất cả đều viên mãn.

Thành tựu thứ ba là "thành tựu tất cả chư Phật". Ồ! Không chỉ là một vị Phật mà thôi, mà là thành tựu tất cả chư Phật! Tất cả chư Phật đều thành tựu. Có thể thấy Phật nguyên thủy Phổ Hiền Vương Như Lai thật sự là một vị Phật nguyên thủy, là vị Phật sớm nhất. Trong Mật giáo Hồng giáo, A Nhĩ Đạt Ma Phật chính là Phật nguyên thủy, chính là Bà Tiên Như Lai, chính là Phổ Hiền Vương Như Lai. Điều này thật vĩ đại, có thể thành tựu tất cả chư Phật.

Thành tựu thứ tư là "độ hết tất cả chúng sinh". Khi bạn có thể thành tựu Tịch diệt thần biến Tam ma địa, bạn sẽ có thể độ hết tất cả chúng sinh.

Như tôi đã nói lần trước, trong tương lai khi Bồ Tát Di Lặc độ chúng sinh, Ngài chỉ cần dùng duy thức đại thần biến của mình, phóng ánh sáng đi va chạm với chủng tử thức của chúng sinh, khai mở chủng tử thức của chúng sinh, hiển lộ Phật tính, cùng nhau thành Phật! Chỉ có độ chúng sinh theo cách này mới có thể độ hết tất cả chúng sinh, nếu không việc độ tận chúng sinh sẽ rất khó khăn.

Trong tương lai, khi Bồ Tát Di Lặc độ chúng sinh tại ba hội Long Hoa, tôi đề xuất như thế này, chỉ có thể dùng duy thức đại thần biến, giống như nguyên tử học vậy, tức là sử dụng một loại ánh sáng phát ra từ bản thân nguyên tử, sau đó đi vào trong tâm của mỗi chúng sinh, va chạm với Phật tính vốn có của họ, khiến nó hiển hiện, từng va chạm một, giống như sự phân tách của bom nguyên tử vậy, đến một lúc nào đó, tất cả đều hoàn toàn phân tách.

Nghĩa là bản thân duy thức của Bồ Tát Di Lặc trước tiên sẽ phân tách, sau đó dùng phương pháp ánh sáng chiếu rọi lẫn nhau, giống như lưới ngọc của vua Đế Thích, lần lượt phân tách Phật tính của chúng sinh, rồi tất cả đều phân tách thành ánh sáng, cùng nhau thành tựu.

Tôi nghĩ rằng tịch diệt thần biến Tam ma địa của Phổ Hiền Vương Như Lai cũng có hai chữ "thần biến", chắc chắn có thể biến hóa thành rất nhiều ánh sáng, chỉ cần chiếu một lần là tất cả chúng sinh đều thành tựu. Trong mắt Phật, trái đất giống như một hạt cát vậy, chỉ cần nhìn một cái, tất cả đều thành tựu, đúng là như vậy đó.

Trong tương lai chỉ có thể độ chúng sinh theo cách này, không thể lần lượt xuất hiện để truyền pháp, tôi lại giảng cho bạn nghe, rồi bạn lại tu, tu đến bao lâu cũng không biết tu được như thế nào, trải qua mấy đại kiếp cũng không thể độ hết chúng sinh. Phương pháp duy nhất chính là dùng phương pháp phân tách hạt nhân, mới có thể độ tận chúng sinh.

Hôm nay giảng đến đây.

Om mani padme hum.

30/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 199. Nói về Không Hành Mẫu


Hãy nói về ba chữ "Không Hành Mẫu". Trong Mật giáo, chúng ta thường nhắc đến Không Hành Mẫu. Không Hành Mẫu là những vị Hộ pháp nữ trong không gian giúp đỡ hành giả tu tập, thuộc về hệ mẫu hệ, hiển hiện thành dạng nữ tính, đều gọi là Không Hành Mẫu. Bản chất chính của các vị là hộ trì hành giả tu tập, có thể nói là Không Hành Hộ Pháp, tất cả các vị Hộ pháp nữ trong không gian đều được gọi là Không Hành Mẫu.

Trong Mật giáo có nói đến sáu loại Không Hành Mẫu, loại thứ nhất gọi là Thắng Nghĩa Quang Minh Không Hành Mẫu.

Chúng ta biết Mật giáo có ba căn bản: một là Căn bản Thượng sư là sự gia trì gốc; một là Căn bản Bổn tôn, chính là thành tựu gốc; một là Căn bản Hộ pháp, chính là sự nghiệp gốc.

Trong quá trình tu hành, bạn có thể cảm ứng được Bổn tôn, cũng có thể cảm ứng được Hộ pháp, Hộ pháp luôn ở xung quanh hành giả để hộ trì bạn. Không Hành Mẫu và Không Hành Dũng Phụ, Hộ pháp của nam giới là Không Hành Dũng Phụ, Hộ pháp của nữ giới là Không Hành Mẫu. Còn Thắng Nghĩa Quang Minh Không Hành Mẫu xuất hiện là do bạn tu hành đạt đến một cảnh giới, cảnh giới này là khi thân bạn đã sinh ra tịnh quang, lúc đó Thắng Nghĩa Quang Minh Không Hành Mẫu sẽ đến bảo vệ bạn.

Chúng ta biết Pháp Vương Karmapa thứ 16, trong mỗi bức ảnh của Ngài Karmapa, khi đội mũ miện đen, Ngài luôn phải dùng một tay giữ chiếc mũ miện đen đó, chiếc mũ miện này khá nhỏ, dường như chỉ đội đến đây thôi (Sư Tôn thị phạm), vì đầu Ngài khá to nên khi đội mũ miện trông có vẻ rất nhỏ.

Bản thân chiếc mũ miện này có một truyền thuyết, tại sao phải dùng tay giữ mũ miện đen? Truyền thuyết kể rằng: Chiếc mũ miện này được dệt từ tóc của mười vạn Không Hành Mẫu, vì bản thân các vị Hộ Pháp Không Hành có thể bay trong hư không, nên mỗi lần đội mũ miện đều phải dùng tay giữ lại.

Chiếc mũ miện này được dệt bởi Không Hành Mẫu, tóc của các vị tự thân có thể bay được, nếu không dùng tay giữ chiếc mũ miện này, nó sẽ bay vào hư không và không bao giờ quay lại nữa, nghĩa là một khi mũ miện bay đi, nó sẽ bay mất luôn, không quay về. Vì vậy bạn thấy Đại Bảo Pháp Vương luôn phải dùng tay giữ chiếc mũ miện đen. Chúng ta hy vọng có một lần Ngài thả tay ra xem thử, liệu nó có bay đi không? Liệu nó có bay về hư không không?

Bởi vì theo truyền thuyết, tất cả sợi chỉ của chiếc mũ miện đen này đều được dệt từ tóc của chính Không Hành Mẫu, nên Ngài phải giữ chặt mũ miện đen, còn những chiếc mũ miện khác thì không cần phải giữ. Các bạn đội mũ Ngũ Phật không cần phải bắt chước giữ chặt như vậy đâu.

Nói về bản thân Thắng Nghĩa Quang Minh Không Hành Mẫu, vì sau khi bạn tu tập sinh ra tịnh quang, bạn sẽ tự cảm ứng được Ngài. Khi bạn vừa sinh ra tịnh quang, thực ra sẽ có một hiện tượng rất đặc biệt, khi một người thiền định thành tựu, sẽ có mười vạn Không Hành Mẫu trong hư không gọi tên bạn.

Ví như khi bạn thành tựu, trong lúc thiền định, đột nhiên tâm quang hiển lộ, trong hư không gió nổi mây vần, tất cả Không Hành Mẫu, Không Hành Dũng Phụ tụ họp, gọi tên bạn. Hiện tượng thành tựu này, có thể nói giống như gió nổi mây vần vậy, là cố ý cho bạn biết, biểu thị ý nghĩa chúc mừng, ăn mừng.

Vì vậy, một hành giả chân chính sẽ có được sự cảm ứng này, có một trạng thái như cánh cửa được mở hoàn toàn, thấu suốt rõ ràng tất cả mọi việc. Do đó, việc có khai ngộ hay không, bản thân phải tự biết, không phải là kiểu dường như có, dường như không. "Có khai ngộ không?" "Hình như có." Hỏi lại lần nữa, "Có khai ngộ không?" "Hình như không." Không phải là hình như đâu! Mà là cánh cửa đã được mở ra, tất cả Hộ pháp trong hư không đều hoan hô! Đều sẽ gọi tên bạn.

Giống như trước đây khi tôi thần du đến Tây phương Cực Lạc, các vị Hộ Pháp Không Hành đều gọi tên tôi, họ gọi: "Liên Hoa Đồng Tử!" Gọi rất to, bạn sẽ nhớ rất rõ ràng, khi âm thanh đó vào tai bạn, in vào tâm bạn, sẽ không bao giờ mất đi.

Hiện tượng lúc đó của tôi rất rõ ràng, không phải là đang nằm mơ đâu! Trước đây chưa từng có bốn chữ "Liên Hoa Đồng Tử" in trong tâm tôi, hoàn toàn không có, tôi chưa từng nghĩ đến, nhưng họ sẽ gọi tên bạn, sẽ gọi danh hiệu của bạn, để bạn mãi mãi ghi nhớ.

Vì vậy, khi bạn khai ngộ, trong hư không sẽ gió nổi mây vần, tất cả Hộ pháp đều đến, cùng nhau gọi tên bạn, lúc đó, bạn cũng đột nhiên biết được danh hiệu của mình là gì, lúc này bạn đã được ấn chứng.

Được ấn chứng rồi, trong Đạo giáo gọi là "thụ lục", nghĩa là đã có vị trí rồi. Khi đến đó, họ sẽ thụ lục cho bạn, bạn được gọi là gì, bạn được gọi là gì, bạn được gọi là Hoa Quang Như Lai, bạn được gọi là Như Lai gì đó, lúc đó chính là một danh hiệu, một ấn kí, ban cho bạn thọ ký, trong Đạo gia gọi là "thụ lục".

Hiện tượng này là có thật, hoàn toàn có thật, khi tâm quang vừa phát lộ, tịnh quang vừa hiển hiện, Thắng Nghĩa Quang Minh Không Hành Mẫu sẽ gọi tên bạn trong hư không, đó chính là lúc tất cả Hộ pháp đều hiển hiện.

Trong Mật giáo, dù là Không Hành Mẫu hay Không Hành Dũng Phụ đều là những vị hộ trì hành giả, khi bạn có được Không Hành Mẫu và Không Hành Dũng Phụ, bất cứ việc gì, chỉ cần giao cho Hộ pháp làm là được, không cần bạn phải tự mình làm. Hộ pháp sẽ giống như trong lễ quán đảnh từ xa vậy, Kim Cương Thượng sư gọi Hộ pháp, Hộ pháp cầm bình quán đảnh, đến quốc gia của bạn, đến đỉnh đầu của người quy y đó, rắc cam lộ quán đảnh cho họ.

Hôm nay giảng đến đây.

Om mani padme hum.

30/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 200. Nói về Thắng Nghĩa Quang Minh Không Hành Mẫu


Chúng ta hãy nói thêm về Thắng Nghĩa Quang Minh Không Hành Mẫu. Đối với mỗi hành giả Mật giáo, trong quá trình tu pháp, nếu có hiện tượng tương ứng, chắc chắn sẽ có Hộ pháp đến giúp đỡ. Trong các vị Hộ pháp có Không Hành Mẫu và Không Hành Dũng Phụ, việc chiêu cảm được Hộ pháp giáng lâm là do bản thân bạn tu hành đạt được tương ứng hoặc chứng ngộ, lúc đó các Ngài mới đến hộ trì bạn, giống như bản thân bạn đã tu thành một khối nam châm, có từ tính, những miếng sắt xung quanh tự nhiên sẽ vì từ tính bạn tạo ra mà đến gần bạn, hộ trì bạn, đây chỉ là một ví dụ để giải thích đạo lý.

Thắng Nghĩa Quang Minh Không Hành Mẫu là một vị Không Hành Mẫu rất vĩ đại, bạn nhất định phải ấn chứng được tịnh quang, nghĩa là bản thân bạn phải phát quang, sinh ra ánh sáng, Ngài mới đến hộ trì bạn, Ngài mới đến bảo hộ bạn. Nếu bản thân bạn chưa sinh ra tịnh quang, Thắng Nghĩa Quang Minh Không Hành Mẫu sẽ không giáng lâm, đây là một đạo lý tương ứng qua lại.

Bây giờ tôi sẽ dạy mọi người về một yếu nghĩa và khẩu quyết của pháp minh điểm và phương pháp hòa tan điểm. Có rất nhiều phương pháp để sinh ra tịnh quang. Thông thường, về phương diện nội tu chuyết hỏa, tôi đã giảng qua rồi, đó là đưa chuyết hỏa lên, khi lên đến đỉnh, vì lửa tự nó làm tan chảy minh điểm này, minh điểm nhỏ giọt xuống, lửa và nước hòa hợp với nhau ở Tâm luân, dung hợp với nhau, dần dần mở Tâm luân ra, mới có thể sinh ra tịnh quang. Đây là một phương pháp nội tu, tức là chuyết hỏa dâng lên chạm vào minh điểm của chữ "Han", từ chữ "Han" hòa tan điểm đến Tâm luân, Tâm luân dần dần mở ra sinh ra tịnh quang.

Ngoài ra còn có một phương pháp, đó là Đại Viên Mãn khán quang, Đại Viên Mãn khán quang phải được thực hiện vào lúc mặt trời mới mọc, phương pháp tu hành này được gọi là khán hỏa kính, "nhật" đại diện cho tấm gương lửa.

Khi mặt trời mới mọc thì khán hỏa kính, đó là dẫn ánh sáng mặt trời vào trong cơ thể, đặt ở Tâm luân, giữ ở Tâm luân, tức là dẫn ánh sáng vào trong cơ thể bạn đặt ở Tâm luân, biến thành một mặt trời ở Tâm luân, dùng năng lượng này để mở Tâm luân của bạn.

Cũng có cách nhìn "thủy kính", ban ngày nhìn kính lửa, ban đêm nhìn trăng, ánh sáng trăng được gọi là thủy kính. Khi nhìn thủy kính, cũng giữ ánh trăng ở Tâm luân, dùng năng lượng ánh trăng này để mở Tâm luân. Lúc bình thường thì nhìn ánh sáng gì? Thông thường là nhìn ánh đèn, khi không có mặt trời, cũng không có trăng thì nhìn gì? Có thể dẫn ánh sáng đèn vào trong cơ thể bạn.

Tuy nhiên, việc nhìn ánh sáng có khẩu quyết riêng, bản thân việc nhìn ánh sáng có khẩu quyết rất quan trọng, không được nhìn trực tiếp vào mặt trời, cũng không được nhìn trực tiếp vào mặt trăng, cũng không được nhìn trực tiếp vào ánh đèn, phải nhìn vào hào quang của nó, tức là ánh sáng xung quanh, ánh sáng xung quanh mặt trời, ánh sáng xung quanh mặt trăng, ánh sáng xung quanh đèn, không phải nhìn trực tiếp mà là nhìn "ánh sáng viền".

Vì vậy, trong Mật pháp Đại Viên Mãn có dạy mọi người: có cách nhìn lên, cách nhìn xuống, cách nhìn trái, cách nhìn phải, mắt nhìn lên, nhìn xuống, nhìn trái, nhìn phải đều có phương pháp riêng, chứ không phải là bạn nhìn thẳng vào mặt trời, nhìn thẳng vào mặt trăng, nhìn thẳng vào ánh đèn: không phải vậy!

Khi bạn thường xuyên thực hành như vậy, nhìn lên, nhìn xuống, nhìn trái, nhìn phải vào ánh sáng viền, hãy đưa ánh sáng viền vào trong cơ thể, hít một hơi, quán tưởng ánh sáng đi vào trong cơ thể, sau đó đặt tất cả ánh sáng mặt trời, ánh sáng mặt trăng, ánh sáng đèn vào Tâm luân, dần dần để Tâm luân mở ra, sinh ra tịnh quang.

Lúc này không chỉ khi mở mắt mới có thể thấy ánh sáng, mà sau cùng không cần mở mắt cũng có thể thấy được ánh sáng mặt trời, ánh sáng mặt trăng, ánh sáng kính lửa, ánh sáng kính nước, không phải mở mắt để nhìn, mà là quán chiếu bản thân, nhìn vào bên trong, thấy được Tâm luân của mình phát ra ánh sáng mặt trời, thấy được màu sắc của ánh sáng.

Ở đây sẽ có năm loại màu sắc. Nếu thấy ánh sáng trắng, điều đó có nghĩa là nghiệp chướng của bản thân đã được thanh tịnh, không còn ô uế. Nếu thấy ánh sáng màu vàng thì đại diện cho sự viên mãn, tu pháp đã rất viên mãn. Thấy ánh sáng màu xanh lục là bảo quang. Thấy ánh sáng màu đỏ là phúc đức quang. Thấy ánh sáng màu xanh lam là bất động quang. Khi nhìn ánh sáng tốt nhất là không nên di chuyển, và tốt nhất là cả năm loại ánh sáng đều xuất hiện đồng đều, rất đồng đều, không phải chỉ thấy một loại.

Trong "Hồng Quang Đại Thành Tựu" dạy bạn cách nhìn ánh sáng, nhìn kính lửa, nhìn kính nước, nhìn đèn, có thể nhìn phía trên, nhìn phía dưới, nhìn bên trái, nhìn bên phải, nhìn ánh sáng xung quanh, sau đó quán tưởng vào Tâm luân, hít một hơi quán tưởng tịnh quang vào Tâm luân. Khi bạn có thể nhìn vào bên trong thấy được ánh sáng, đó là đã nắm chắc sự khai ngộ, thực sự nhìn vào bên trong thấy được ánh sáng, nhìn thấy được năm màu sắc này, điều chỉnh cho đều, điều chỉnh năm màu sắc đều như ánh sáng cầu vồng, thì có thể đạt được thành tựu. Hôm nay giảng đến đây.

Om mani padme hum.

31/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 201. Khẩu quyết nhìn ánh sáng


Hôm nay tôi sẽ dạy mọi người khẩu quyết nhìn ánh sáng. Từ nội tu, tu chuyết hỏa, rồi chuyết hỏa lại bùng lên để hòa tan minh điểm, đây là một khẩu quyết rất quan trọng. Trong Mật giáo, chúng ta biết khí, mạch, minh điểm là những yếu tố rất quan trọng trong tu hành, chuyết hỏa dâng lên, hòa tan minh điểm chữ "Han" của hoa sen nghìn cánh, khẩu quyết này rất quan trọng.

Tiếp theo, bản thân sẽ sinh ra tịnh quang minh điểm, cũng chính là điểm hòa tan. Thường ngày sử dụng cách nhìn ánh sáng, nhìn ánh sáng kính lửa (ánh sáng mặt trời), ánh sáng kính nước (ánh sáng mặt trăng), ánh sáng đèn, khi quán tưởng ánh sáng đi vào cơ thể mình, cũng cần phải hòa tan điểm.

"Điểm hòa tan" là gì? Bởi vì khi điểm hòa tan nhỏ xuống Tâm luân, nhờ vào năng lượng của ánh sáng mặt trời, mặt trăng và ánh đèn, khi minh điểm tan chảy, ánh sáng minh điểm sẽ hiện ra.

Khẩu quyết nhìn ánh sáng không phải là nhìn trực tiếp vào ánh sáng mặt trời, ánh sáng mặt trăng, mà là nhìn ánh sáng xung quanh, cần nhìn lên, nhìn xuống, nhìn trái, nhìn phải; trong quá trình nhìn, mắt sẽ tự nhiên chuyển động.

Khi quán chiếu nội tại, nhắm mắt lại, do đã quen với việc nhìn ánh sáng thường ngày, khi nhắm mắt nhìn vào bên trong, bạn có thể thấy được mặt trời sinh ra ánh sáng trong tâm mình, năm loại màu sắc sẽ hiện ra, có màu trắng, màu vàng, màu đỏ, màu xanh lục, màu xanh lam.

Tốt nhất là những ánh sáng đó không nên chớp động, nghĩa là ánh sáng phải đứng yên, không chớp nháy. Loại ánh sáng này rất đặc biệt, không phải là màu sắc ánh sáng được tưởng tượng ra bằng ý niệm ép buộc, mà là cực kỳ đặc biệt, có thể khiến bạn cảm nhận được loại ánh sáng thanh tịnh quang minh đó, đây mới chính là tịnh quang chân thật.

Khi nội quán có thể thấy được ánh sáng, có thể nói là đã nắm chắc được sự ấn chứng thành công. Khi năm loại ánh sáng hiện ra đầy đủ, một quầng ánh sáng tròn hiện ra như cầu vồng, lúc này ánh sáng được gọi là "viên không quang".

Khi bạn thấy năm màu ánh sáng ổn định bất động ở đó, đây gọi là viên không quang. Khi một viên không quang xuất hiện, sẽ tiếp tục hiện ra hai, ba, bốn, năm, sáu viên không quang, cứ thế hiện ra liên tục.

Nếu ánh sáng hiện ra được nối liền như đuôi ngựa, ở giữa có một viên không quang kết nối lại, thứ này được gọi là "kim cang luyện". Viên không quang được nối liền như đuôi ngựa chính là chuỗi kim cang. Lúc này, chỉ cần nhắm mắt lại là có thể thấy được tịnh quang chuỗi kim cang ổn định sinh ra.

Khi viên không quang sinh ra, tịnh quang đã được sinh ra. Khi nhìn thấy kim cang luyện là bước vào giai đoạn thứ hai, lúc này bản thân sẽ hòa nhập vào tính Không, và sẽ sinh ra trí huệ, lúc này huệ lực (sức mạnh của trí huệ) sẽ tự nhiên tăng trưởng không ngừng, hoàn toàn khác với bình thường trước đây, đối với mọi việc đều "thông suốt".

"Thông suốt" nghĩa là gì? Đó là khi bạn nhìn thấy mọi thứ đều rất rõ ràng, đối với mọi sự việc của chúng sinh trong thế giới Ta Bà, đều có thể hiểu biết tường tận, tức là trí huệ tăng trưởng, không còn mơ mơ hồ hồ nữa, không còn phân vân giữa đúng sai, cũng không bị người khác chi phối, không bị một câu nói nào đó tác động, bởi vì trí huệ của bạn đã trở nên siêu việt, đã trở nên xuất chúng, đã trở nên vô thượng.

Khi bạn nhìn thấy lúc này, ánh sáng trí huệ sẽ hiển hiện, chuỗi kim cang của viên không quang còn được gọi là trí huệ quang. Lúc này, không chỉ có Thắng Nghĩa Quang Minh Không Hành Mẫu giáng xuống hộ trì, mà còn có một vị Không Hành Mẫu khác xuất hiện, đó là Trí Huệ Không Hành Mẫu, bởi vì bạn đã sinh ra trí huệ lực rồi!

Giống như trước đây khi tôi đọc kinh sách, tôi vừa nhìn vào, ồ, sao sâu sắc quá! Khó quá! Trước đây khi tôi đọc sách cổ điển Trung Quốc, như khi cầm quyển "Liêu Trai Chí Dị" lên xem, trời ơi! Người xưa viết những thứ này thật khó đọc quá, nhìn mà chẳng hiểu gì cả.

Trước đây khi tôi cầm những sách cổ văn lên, tôi cũng không hiểu gì cả. Than ôi! Sao lại thế này! Những thứ này tôi đều không hiểu! Tại sao không viết bằng ngôn ngữ nói? Tại sao lại cố tình viết văn cổ để hành hạ chúng ta? Thực ra không phải hành hạ bạn đâu, thời xưa viết văn chương đều viết bằng văn cổ, thứ văn chương viết ngắn gọn nhưng hàm nghĩa sâu sắc. Tuy nhiên nội dung của nó trong thời hiện đại rất khó hiểu, những chữ đó không phải là chữ thông thường, mà đều là những chữ rất thâm thúy, rất khó hiểu.

Những chữ như vậy không hiểu thì cứ để đó đừng đọc. Gần đây thì tôi khác rồi, bởi vì trí huệ lực đã tăng trưởng, sau này cầm những sách văn cổ này lên, cầm Đại Tạng Kinh lên, vừa mở ra, rất đơn giản! Tất cả đều có thể hiểu ngay lập tức, đọc hết tất cả sách cổ. Những câu văn ngôn, cầm lên vừa lật, đều hiểu hết.

Khi bạn sinh ra loại ánh sáng trí huệ của chuỗi kim cang này, tất cả những việc trước đây không thể lý giải được, giờ đều sẽ lý giải được hết. Loại trí huệ đó sinh ra rất kỳ lạ, rất tự nhiên, chứ không phải là bạn cố gắng tìm cầu rằng, tôi nhất định phải hiểu kinh điển này, không phải vậy, dù sao cứ cầm kinh điển lên là hiểu được.

Những gì trước đây không hiểu, bây giờ chỉ cần cầm lên xem qua, những sách triết học đó, có rất nhiều điều thâm sâu, dù là triết học Tây phương, hay triết học Đông phương, triết học Trung Quốc, trước đây không hiểu được; nội dung đều rất khó khăn, bây giờ cầm lên vừa xem, lập tức hiểu ngay, đang nói những gì, lập tức rõ ràng.

Bởi vì trí huệ lực tăng trưởng, khi tâm quang vừa sinh ra, Thắng Nghĩa Tịnh Quang Không Hành Mẫu giáng xuống: Trí Huệ Không Hành Mẫu giáng xuống, hộ trì cho trí huệ lực của bạn tăng trưởng, rất nhanh chóng, những điều trước đây bạn không hiểu, tất cả đều có thể giải quyết dễ dàng, không còn chút mơ hồ nào, mà còn rõ ràng minh bạch, sự lý phân minh, khả năng phán đoán tăng cường, khả năng lý giải cũng tăng cường, tất cả trí huệ lực đều cùng nhau tăng trưởng.

Vì vậy tu hành có thể tu đến cảnh giới này.

Hôm nay nói đến đây.

Om mani padme hum.

31/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 202. Từ Không Hành Mẫu nói đến viên không quang (1)


Từ Không Hành Mẫu, chúng ta nói đến viên không quang. Về sự sinh khởi của viên không quang, với người bình thường mà nói, người ta nghĩ rằng họ nhìn thấy viên không quang bên ngoài, nhưng thực tế nó có liên quan đến kinh mạch bên trong của chính mình. Chỉ khi kinh mạch của mình sinh ra ánh sáng thì mới có thể nhìn thấy viên không quang bên ngoài.

Trên thực tế, có thể nói bên trong và bên ngoài là một. Có người cho rằng đó là bên ngoài, nhưng thực tế là nhìn thấy bên trong, cũng đừng hoàn toàn cho rằng đó là bên trong của mình, bởi vì trong ngoài là như nhau.

Khi nhìn thấy viên không quang, điểm sáng ban đầu rất nhỏ, giống như một hạt đậu, chỉ là một điểm nhỏ, nhưng khi ánh sáng tăng trưởng, nó sẽ trở nên rất lớn. Tôi nói giống như chuỗi kim cang, đó là do nhiều viên không quang nhỏ kết nối lại với nhau thành chuỗi kim cang. Sau đó khi chuỗi kim cang trở nên lớn hơn, kết hợp lại thành viên không quang lớn, nói chung đó chính là mandala, và mandala sẽ xuất hiện.

Khi chuỗi kim cang kết hợp lại, sẽ biến thành năm viên không quang lớn, có thể nói đây chính là mandala Ngũ Phật xuất hiện. Mọi người đều biết, khi viên không quang xuất hiện, nhất định phải do chính bản thân dùng chuyết hỏa để đốt cháy minh điểm thì mới có thể xuất hiện được.

Tôi đã từng nói, hãy nhìn kính lửa (mặt trời), nhìn kính nước (mặt trăng), nhìn đèn, đem tất cả ánh sáng này đặt vào luân xa tim, hấp thu nó vào luân xa tim, cộng thêm chuyết hỏa của bản thân để đốt cháy minh điểm, khai mở luân xa tim, kinh mạch sẽ sinh ra ánh sáng, lúc này nhìn ánh sáng, sẽ thấy được viên không quang.

Không những có thể nhìn thấy viên không quang, mà khi kinh mạch đã sáng rõ, tự nhiên sẽ có Thắng Nghĩa Quang Minh Không Hành Mẫu giáng xuống, lúc này sẽ sinh ra một số hiện tượng. Nói chung, nhất định là định lực sẽ tăng trưởng, định lực tức là thời gian ngồi thiền của bạn sẽ dài, lúc nào cũng có thể nhập định, không bị mất định, và trí huệ cũng sẽ tăng trưởng.

Tại sao trí huệ lại tăng trưởng? Bởi vì kinh mạch trong cơ thể bắt đầu có ánh sáng, sẽ có một loại lực giống như thấu kính, tạo ra một sức mạnh thấu suốt đối với mọi sự vật, vì vậy trí huệ sẽ tăng trưởng, và phiền não sẽ giảm bớt. Thông thường, phiền não nhiều là do nghiệp đen của bạn nhiều, nghiệp chướng nhiều thì phiền não sẽ nhiều, khi kinh mạch của bạn sinh ra ánh sáng, toàn thân đều trở nên trong suốt, đã trong suốt rồi thì tất cả nghiệp đen sẽ được tiêu trừ, tự nhiên phiền não sẽ ít đi. Lúc này, dục vọng sẽ không sinh khởi, những ý niệm như dục niệm, vọng niệm, tạp niệm sẽ rất ít.

Thông thường, các vị Thượng sư, những vị Kim cương Thượng sư chân chính khi giúp đệ tử nhìn thấy viên không quang, họ sẽ chỉ dạy cho đệ tử, vậy họ sẽ dạy như thế nào?

Đó là dùng định lực của chính mình, an trụ bản thân trong viên không quang bất động, đem tất cả ý niệm, thân tâm an trụ trong viên không quang bất động, đây là khẩu quyết vô cùng quan trọng.

Khi an trụ trong viên không quang, sẽ sinh ra ba hiện tượng: một là đạt được đại lạc, đạt được quang minh, và đạt được vô niệm, cả ba đều xuất hiện. Lúc này Không Hành Mẫu giáng xuống, không chỉ có Thắng Nghĩa Quang Minh Không Hành Mẫu, vì trí huệ tăng trưởng nên Trí Huệ Không Hành Mẫu cũng đến giúp bạn.

Còn nữa, vì phiền não đã giảm bớt, phiền não không còn, đã đoạn trừ được nhân của lục đạo luân hồi, lúc này, Giải Thoát Không Hành Mẫu sẽ đến, và bạn sẽ cảm nhận được trạng thái đại lạc trong vô niệm.

Trong sáu vị Không Hành Mẫu thì bốn vị Không Hành Mẫu đã đến. Bốn vị Không Hành Mẫu đó là ai? Đại Lạc Không Hành Mẫu, Giải Thoát Không Hành Mẫu, Thắng Nghĩa Quang Minh Không Hành Mẫu, Trí Huệ Không Hành Mẫu, cả bốn vị Không Hành Mẫu đều đến.

Mọi người có thể suy nghĩ một chút, điều quan trọng là phải sinh khởi chuyết hỏa, làm tan chảy minh điểm nguyên tố sinh mệnh trong cơ thể: sau đó khai mở Tâm luân, vận dụng ánh sáng từ bên ngoài như ánh mặt trời, ánh trăng, ánh đèn, an trụ trong tâm mình, khiến cho kinh mạch của mình sinh ra ánh sáng, khi kinh mạch vừa sinh ra ánh sáng, lập tức Không Hành Mẫu sẽ giáng xuống, trong khi nhìn ánh sáng sẽ sinh ra ánh sáng minh điểm, từng điểm từng điểm sáng xuất hiện.

Trong ánh sáng, đôi khi có những thứ xuất hiện cho bạn thấy, những người tu học Phật pháp như chúng ta đều có thể nhìn thấy những ánh sáng này, nhìn thấy trong ánh sáng có tháp, đôi khi xuất hiện tháp, xuất hiện chuỗi vòng của chư Phật Bồ Tát, đôi khi còn thấy trong viên không quang có cung điện.

Lúc này khi nhìn thấy viên không quang, có thể nói là thiên nhãn đã bắt đầu khai mở, lúc này thiên nhãn dần dần được khai mở. Người thường không hiểu được hiện tượng này, họ hoàn toàn không thể hiểu được, nhưng khi bạn đã khai mở thiên nhãn thì bạn sẽ biết, cái gọi là khai mở thiên nhãn chính là nhìn thấy được cảnh tượng bên trong viên không quang. Hôm nay nói đến đây.

Om mani padme hum.

02/01/1997 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 203. Từ Không Hành Mẫu nói đến viên không quang (2)


Hôm nay chúng ta lại từ Không Hành Mẫu nói về viên không quang. Trước đây tôi đã giảng, nhưng chưa giảng chi tiết như vậy, bây giờ sẽ giảng rất chi tiết, đây đều là những khẩu quyết rất quan trọng.

Trước đây tôi đã giảng về bốn cảnh giới khi nhìn ánh sáng:
Thứ nhất là nhìn thấy ánh sáng minh điểm.
Thứ hai là nhìn thấy chuỗi kim cang.
Thứ ba là nhìn thấy Phật trong ánh sáng.
Thứ tư là nhìn thấy Phật và cõi Phật.

Tôi đã từng nhìn thấy tất cả những điều này. Tôi giảng về bốn giai đoạn này, bây giờ sẽ giảng chi tiết hơn. Ánh sáng minh điểm chính là viên không quang. Trong viên không quang có thể nhìn thấy tháp, nhìn thấy chuỗi vòng, nhìn thấy cung điện. Khi nối các viên không quang nhỏ lại với nhau, nối thành hình giống như đuôi ngựa, đó chính là chuỗi kim cang. Chuỗi kim cang này sau đó chuyển hóa thành viên không quang lớn, biến thành viên không quang lớn, lúc đó có thể nhìn thấy được mandala. Việc nhìn thấy mandala trong hư không, thực ra chính là do kinh mạch bên trong sinh ra ánh sáng, và có thể nhìn thấy được.

Trong mandala xuất hiện tượng Phật, lúc này đã bước vào giai đoạn thứ ba. Nói chung, khi chúng ta nhìn thấy chuỗi kim cang là giai đoạn thứ hai, khi nhìn thấy trong mandala có Ngũ phương Ngũ Phật, đó là giai đoạn thứ ba. Những vị Phật được nhìn thấy không nhất thiết phải là đơn thân, đôi khi có song thân, cả Phật song thân và cõi Phật đều được nhìn thấy cùng lúc.

Đến lúc này có thể nói, trí huệ của bạn tăng trưởng rất nhanh, không những trí huệ tăng trưởng, mà định lực cũng đủ, có thể thiền định trong thời gian rất lâu.

Trí huệ tăng trưởng rất nhanh chóng, trí huệ trước đây giống như đi xe đạp, bây giờ trí huệ giống như đi máy bay, đi tàu vũ trụ vậy, đó chính là trí huệ tăng trưởng rất nhanh. Những kinh văn trước đây không hiểu, bây giờ vừa mở ra, vừa nhìn là hiểu hết, bởi vì ánh sáng trong bản thân bạn đã hiển hiện, tất cả nghiệp đã tiêu tận, hoàn toàn an trụ trong quang minh.

Vì vậy tôi nói rằng, lúc này Kim Cang Thượng sư sẽ nói với bạn, bạn chỉ cần an trụ trong viên không quang, đi đến đâu toàn thân đều tỏa sáng, tuy rằng mắt thường không thể nhìn thấy ánh sáng của bạn, nhưng các bậc thánh hiền có thể nhìn thấy ánh sáng trên thân bạn, tất cả chư Phật Bồ Tát đều có thể nhìn thấy ánh sáng trên thân bạn. Mặc dù phàm phu tục tử không thể nhìn thấy bằng mắt thường, nhưng thực tế, bạn đi đến đâu, nơi đó đều tỏa sáng.

Lúc này, bạn an trụ trong viên không quang, thực sự có thể tăng trưởng trí huệ, tăng trưởng định lực, ánh sáng trong suốt, thanh tịnh vô song. Lúc này còn phiền não gì nữa? Tất cả phiền não đều không còn.

Vì vậy Giải Thoát Không Hành Mẫu hiện diện, Đại Lạc Không Hành Mẫu hiện diện, Trí Huệ Quang Minh Không Hành Mẫu hiện diện, hầu như tất cả các vị Không Hành Mẫu đều sẽ đến, đều sẽ đến giúp bạn.

Tôi đã từng nói với mọi người, khi nhìn ánh sáng, tuyệt đối không được nhìn thẳng vào mặt trời, cũng không được nhìn thẳng vào mặt trăng, chỉ nhìn vào ánh sáng quanh viền của nó, nhìn lên nhìn xuống, nhìn trái nhìn phải. Trước đây tôi cũng đã nói với mọi người, phải xoay nhãn cầu, đó chính là để khai mở thiên nhãn.

Có một khẩu quyết để khai mở thiên nhãn, đó là xoay nhãn cầu, nhãn cầu phải chuyển động, nghĩa là khi nhắm mắt lại, nhãn cầu xoay trái phải, nhìn lên xuống, rồi còn xoay tròn, khi bạn vừa xoay, lập tức sẽ có ánh sáng sinh ra, đây là một bí quyết.

Khi bạn vừa xoay, ánh sáng sẽ sinh ra, bên trong sẽ có ánh sáng, ánh sáng bên trong này không phải là ánh sáng đen, không phải là ánh sáng của nghiệp đen, mà là ánh sáng được quán tưởng vào bên trong, quán tưởng trong tâm bạn, ánh sáng mặt trời, ánh sáng mặt trăng, ánh sáng đèn đều ở trong tâm mạch của bạn.

Định rất quan trọng, chuyết hỏa cũng rất quan trọng, việc hòa tan minh điểm này, tất cả những điều này đều rất quan trọng, kết hợp chuyết hỏa với minh điểm ở Tâm luân, khai mở Tâm luân, đây đều là những khẩu quyết rất quan trọng.

Về việc khai mở thiên nhãn, có một đệ tử viết thư cho tôi, anh ấy nói có người giúp anh khai mở thiên nhãn, sau khi thiên nhãn được khai mở, không biết tại sao, nhìn thấy toàn một màu đen. Tôi nói thiên nhãn phải tu như thế nào? Hôm nay tôi giảng về viên không quang này, chính là pháp tu thiên nhãn.

Cuối cùng, giai đoạn thứ tư, giai đoạn cao nhất là như thế nào? Thân tâm bạn hoàn toàn tỏa sáng, vĩnh viễn an trụ trong ánh sáng thanh tịnh, tay vừa đưa ra đã là ánh sáng, toàn thân đều là ánh sáng, bởi vì bạn đang an trụ trong viên không quang! Ở giai đoạn đó, bạn và thể đại minh chân chính của vũ trụ, đại quang minh đều hợp nhất, có thể hoàn toàn giải thoát sinh tử phiền não. Điều này vô cùng quan trọng.

Ngày nay chúng ta học Phật chính là để học điều này. Trong trạng thái đó, vĩnh viễn là đại lạc, vĩnh viễn là quang minh, vĩnh viễn là giải thoát, tất cả hình thức đều trang nghiêm. Lúc này Trang Nghiêm Không Hành Mẫu sẽ đến, làm gì còn tạp niệm nào nữa?

Tạp niệm đã không còn, dục vọng cũng không sinh khởi, những dục niệm thường sinh ra trong thân thể chúng sinh ở cõi Ta Bà đều không còn, hoàn toàn an trụ trong quang minh, đại lạc vĩnh tồn, quang minh vĩnh tại, vô niệm - không còn tạp niệm nào, không còn dục vọng nào, giải thoát tất cả phiền não, sinh tử đã đoạn. Phương pháp tu hành như vậy mà bạn không muốn, vậy bạn còn muốn gì nữa?

Lúc này, bạn còn muốn gì nữa? Muốn danh tiếng, lợi lộc, tiền bạc, dục vọng, còn muốn thứ gì khác? Lúc này, bạn đã sở hữu tất cả rồi, tất cả đều không có, cũng chính là tất cả đều có, dù là bậc cao tăng đại đức tu hành cao thâm đến đâu, khi đạt đến cảnh giới này, cũng đều có tất cả.

Yếu nghĩa chân chính của tu hành "Hồng quang đại thành tựu" chính là ở đây. Lúc này bạn có thể tùy ý độ chúng sinh, có Trang Nghiêm Không Hành Mẫu hộ trì bạn, Độ Sinh Không Hành Mẫu cũng hiện diện, đây chính là sáu Không Hành Mẫu. Hôm nay giảng đến đây.

Om mani padme hum.

02/01/1997 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 204. Bài kệ về thiền định (1)


Hôm nay chúng ta sẽ nói đến "Lời kệ về thiền định".

Kệ về thiền định được nói như sau: "Một người tu, nhiều người đạt; nhiều người tu, một người đạt; tu tập ở thấp đạt nơi cao, tu tập từ từ đạt nhanh chóng." Đây là một bài kệ.

Tôi cũng đã từng giải thích về bài kệ này, nói chung, khi mọi người đọc bài kệ này, đôi khi có thể không hiểu rõ lắm, nhưng khi được giải thích, bạn sẽ có thể hiểu được.

Mặc dù đây là một bài kệ về thiền định, nhưng cũng có thể nói rằng, đây là điều mà mỗi hành giả đều sẽ trải qua. Tôi đã từng nói, một người tu hành thì khí trên thân họ sẽ khác, đồng thời, nếu họ tu hành có thành tựu thì khí thể hiện trên thân họ càng khác biệt hơn nữa, khác hẳn với người thường.

Rất nhiều người đến chỗ tôi để hỏi chuyện, vừa nhìn là tôi biết ngay người này là một hành giả, vừa nhìn là có thể thấy được ngay, còn người này vốn là một phàm phu, cũng có thể nhìn ra được; nếu có khí của bậc thánh hiền trên thân người đó, hoặc là khí tức của phàm phu trên thân họ, đều có thể biết được.

Giống như khi chúng ta nhìn tướng chúng sinh, người này nặng mùi tiền bạc, người làm kinh doanh nặng mùi tiền bạc, vừa nhìn là biết ngay, rõ như ban ngày. Nói chung những người biết xem tướng đều nhìn ra được, người có tu dưỡng, vừa nhìn là biết họ có tu dưỡng; người thô tục, vừa nhìn là thấy rõ.

Vì vậy, khi người ta nhìn vào hành giả chúng ta, họ sẽ thấy một luồng khí trong sạch, một loại khí rất thanh khiết và tinh khôi trên thân. Bạn cần phải trải qua một thời gian dài sống trong cô tịch, một mình sống đời tu hành, thì mới có thể thu phục được đại chúng, mới có thể thu hút được nhiều chúng sinh theo mình. Vì thế câu đầu tiên mới nói rằng "Một người tu, nhiều người đạt".

Khi tu hành, bạn sống một cuộc đời thanh tịnh một mình, nhưng khi đến lúc hoằng pháp độ sinh, bạn có thể độ được rất nhiều chúng sinh, rất nhiều chúng sinh sẽ nương tựa vào bạn. Giống như Phật Thích Ca Mâu Ni ở Bodh Gaya, một mình tĩnh tọa thiền định dưới cội bồ đề, đây là tu hành đơn độc; nhưng sau khi Ngài thành tựu, đi đến đâu, Ngài cũng có một sức thu hút mạnh mẽ, hàng trăm, hàng nghìn, hàng vạn người theo Ngài.

Cho đến hiện nay, theo ước tính, có hơn 200 triệu Phật tử, trên báo chí đăng tin có 200 triệu người là Phật tử, điều này chưa chắc đã chính xác. Ban đầu khi Ngài chứng ngộ chỉ có một mình tu hành đơn độc, nhưng sau khi Ngài thành tựu, có rất nhiều người nương tựa vào Ngài, đây chính là "nhiều người đạt".

Điều này rất đơn giản, bài kệ này là như vậy, tu hành đơn độc sống cuộc đời thanh tịnh, lúc này trên gương mặt tự nhiên toát ra ánh sáng của người tu hành, nhiều người sẽ đến nương tựa vào bạn. "Một người tu, nhiều người đạt", có thể giải thích như vậy.

Tại chùa Hầu Vương [Swayambhunath] ở Nepal, có một vị Lama gặp tôi, hôm nay ông ấy vừa gửi thư đến, nói rằng tôi là hóa thân của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Vị Lama này là Lama Uông, Lama họ Uông, một vị Lama có râu, hôm nay ông ấy gửi thư đến nói rằng tôi là hóa thân của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Tôi không dám nói mình là hóa thân của ai, tóm lại đó là lời ông ấy nói, không phải tôi nói.

Đây chính là một loại quang khí, khiến người khác nhìn vào bạn sẽ cảm thấy khác biệt, ánh sáng của một hành giả tự nhiên tỏa ra. Đừng xem thường người tu hành, như tôi đã từng nói, rất nhiều vị vua và tổng thống đều là những hành giả chuyển thế. Ban đầu họ thanh tịnh khổ hạnh, thanh tịnh tu hành trong núi sâu, sau đó họ chuyển hóa thành người được nhiều người đến với, mọi người tin phục họ, bầu họ làm tổng thống, vì vậy bây giờ tôi cũng không tiện nói vị tổng thống nào của quốc gia nào là  Phật sống Tây Tạng chuyển thế.

Xưa kia họ cũng tu hành như vậy, nhưng họ thực hiện cúng dường rộng lớn, trong tương lai tất cả chúng sinh đều quy phục quang khí của họ, họ tự nhiên sinh làm vua và tổng thống, họ có thể nhiếp phục đại chúng, thu phục tất cả chúng sinh. Đây chính là điều mà câu đầu tiên muốn nói, hãy tu hành thanh tịnh thật tốt, khi có quang khí trên thân, bạn sẽ có thể nhiếp phục đại chúng, rất nhiều người sẽ nương tựa vào bạn.

Lần này tôi ra ngoài, đi đến Ấn Độ, Nepal một chuyến, khi gặp gỡ mọi người, họ đều ca ngợi, khen ngợi, tán dương, bạn sẽ không nói những điều như vậy với một người vô duyên vô cớ.

Quang khí tỏa ra từ người tu hành tự nhiên có thể giống như một nam châm, thu hút rất nhiều người đến theo bạn, đây chính là ý nghĩa của câu đầu tiên "Một người tu, nhiều người đạt".

Ngoài ra còn có một lời giải thích khác là khi một người tu hành, tất cả các vị Hộ pháp đều đến, các vị Hộ pháp kết giới, tất cả các vị thần Hộ pháp, thậm chí Bổn tôn của bạn cũng đến, dù là vô hình, đây cũng chính là "Một người tu, nhiều người đạt". Đừng nghĩ rằng chỉ có một mình bạn đang ngồi thiền ở đó, không phải vậy, trong hư không còn có rất nhiều vị Hộ pháp đang theo bạn.

Khi xưa Phật Đà giác ngộ dưới cội bồ đề, không phải chỉ có một mình Ngài, mà vẫn có rất nhiều chư thiên Hộ pháp, vô lượng chư thiên Hộ pháp đang vây quanh bảo hộ Ngài. Đây cũng là một cách giải thích cho câu "Một người tu, nhiều người đạt". Hôm nay nói đến đây.

Om mani padme hum.

03/01/1997 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 205. Bài kệ về thiền định (2)


Chúng ta lại nói tiếp về bài kệ thiền định.

Câu thứ hai nói rằng: "Nhiều người tu, một người đạt", điều này có người khó hiểu. Câu "Một người tu, nhiều người đạt" thì tôi đã nói rồi, các vị Hộ pháp đều đến, khi bạn tu thành tựu, họ sẽ nương tựa vào bạn.

"Nhiều người tu, một người đạt", đối với tôi rất dễ giải thích, ví dụ tăng đoàn của chùa Lôi Tạng Seattle chúng ta là nhiều người tu hành, trong Chân Phật Tông có bốn triệu đệ tử, cũng có thể nói là nhiều người tu hành, nhưng người thực sự thành tựu là "một người đạt". Không phải nói trong bốn triệu đệ tử chỉ có một người có thể thành tựu, không phải vậy, mà là chỉ sự thành tựu thực sự, chính là bản thân người đó, không liên quan đến người khác.

Có nghĩa là, khi nhiều người cùng tu tập, sự thành tựu thực sự là ở cá nhân, đây gọi là một người đạt, không liên quan gì đến người khác.

Cho nên có câu nói rằng, "ông tu ông đắc, bà tu bà đắc", việc tu hành giống như uống nước, nóng lạnh tự biết, bạn thành tựu đến mức độ nào, bạn thực sự có thành tựu không đều là tự hỏi chính mình, đây chính là một người đạt; không thể hai người đạt, ông tu ông đắc, bà tu bà đắc, chồng tu chồng đắc, vợ tu vợ đắc, không có liên quan gì. "Nhiều người tu một người đạt" chính là ý nghĩa này.

Giống như ở đạo tràng Bodh Gaya, tôi đã từng nói, mọi người đều muốn đến đó hít thở vài hơi linh khí, vì Đức Phật đã thành đạo ở đó, không khí nơi ấy chắc chắn là linh khí, mặt đất ấn xuống còn có thể bật lên, có lẽ có linh tính, cát ở đó có lẽ đặc biệt thơm, lá cây ở đó đặc biệt đẹp, cỏ mọc xanh tươi hơn, nếu đi bộ, có thể sẽ mọc lên một đóa sen, bởi vì có linh khí.

Phật Đà đã giác ngộ ở nơi đó, thu hút rất nhiều hành giả, tất cả đều đổ về đó, họ làm lễ cúng dường, lễ bái, tu pháp, nghiêm túc trì chú, niệm Phật, đi nhiễu Phật không ngừng nghỉ, rất nhiều người tu tập ở đó, nhưng sự giác ngộ lại nằm ở chính bản thân mỗi người, chỉ có một mình mà thôi! Sự giác ngộ cũng nằm ở chính bạn, không liên quan đến người khác, không phải cứ đến Bodh Gaya đi dạo một vòng, hít vài hơi thở là ai cũng giác ngộ được, không phải vậy đâu, vẫn phải xem tâm của chính mình.

Khi tu tập ở đó, bạn không nên nhìn người khác, nghĩ rằng: "Ồ, người ta tu tập thế nào nhỉ, mình phải theo kịp họ, được rồi! Mình phải vượt qua họ!" Việc có thành tựu hay không không liên quan gì đến người khác, dù nhiều người cùng tu tập với nhau, thực tế, tất cả đều phụ thuộc vào sự chuyển hóa trong tâm của chính mình.

Thiền định cũng vậy, khi bạn tu tập pháp thiền định nhất duyên, hãy đặt một hạt gạo trước mặt, nhìn vào hạt gạo đó và định tâm vào hạt gạo. Còn có một phương pháp khác như thế này: trong phòng, tắt hết đèn, sau đó thắp một nén nhang, bạn nhìn vào điểm lửa đỏ trên đầu nhang, đặt tâm vào ngọn lửa, tập trung tinh thần. Bởi vì bạn chưa hiểu cách buông bỏ nên phải dùng phương pháp "một thứ" này để dạy bạn. Nếu bạn có thể hiểu được cách buông bỏ, vừa ngồi xuống là thân tâm đều trống rỗng, tâm an trú trong hư không, đó chính là thiền định bậc nhất.

Nếu bạn thực sự không thể buông bỏ thân tâm, tôi đành phải dạy bạn phương pháp thiền định nhất duyên: thắp một nén nhang và đặt tâm vào điểm đỏ trên đầu nhang. Khi tu tập thiền định nhất duyên, nếu vẫn còn bị quấy nhiễu, vọng niệm vẫn còn sinh khởi, Mật giáo sẽ dạy bạn dùng quán tưởng (niệm lực), sử dụng phương pháp tưởng nhớ, quán tưởng mắt Phật, đây gọi là "tồn tưởng".

Tồn tưởng nghĩa là tâm bạn tồn tại trong suy nghĩ, giống như tôi dạy mọi người nhìn kính lửa, kính nước, nhìn đèn, tất cả đều là tồn tưởng, đều là dùng phương pháp quán tưởng, đem khí tồn tưởng vào trong tâm, những điều này đều là thiền định nhất duyên.

Thiền định cao nhất thực sự chính là "thân tâm buông bỏ, nhập vào hư không", đây là giai đoạn thứ tư, thân tâm hoàn toàn có thể buông bỏ, hoàn toàn đi vào trong hư không, ánh sáng bên trong cơ thể tự nhiên hiển hiện, Phật quang tự nhiên hiển hiện, chân như bản tính của Như Lai tự nhiên sẽ hiển hiện, tất cả những điều này đều là việc rất tự nhiên.

Nhưng thiền định nhất duyên cũng khó, đừng nghĩ rằng thiền định nhất duyên rất dễ dàng. Khi thắp một nén nhang và đặt nó ở đó, mắt nhìn vào nén nhang, chỉ trong chốc lát, tâm đã không còn ở trên nén nhang nữa, thoáng cái đã chạy đến nơi khác rồi - nghĩ về người này, việc kia, chuyện nhân tình thế thái, tranh chấp, phiền não - không biết đã chạy đi đâu xa. Đến khi cảm thấy không đúng, nhắc nhở bản thân rằng tâm không còn ở trên nén nhang nữa, mới kéo nó quay về, lại nhìn vào nén nhang, rồi chỉ trong chốc lát, lại không biết nó đã chạy đi đâu mất. Thực tế là như vậy đó. Vì thế phải học, học cho đến khi tinh thần có thể tập trung vào "một điểm", tiếp theo có thể buông bỏ, đặt tâm vào hư không.

Thần thông ở đâu? Có người thường xuyên nói về thần thông, khi tinh thần của bạn được thống nhất, sóng não sẽ tự hạ xuống và một loại năng lực sẽ phát sinh. Khi tinh thần thống nhất, trong não sẽ có một màn hình huỳnh quang, bạn có biết không? Ngón tay có thể đọc chữ, ngón tay có thể hiểu chữ, chỉ cần chạm tay vào vật này, không cần nhìn, đã biết bên trong viết gì, bởi vì trong não có màn hình huỳnh quang, nên khi dùng tay chạm vào vật, trong não lập tức hiện ra hình ảnh của nó, đây gọi là công năng đặc biệt.

Công năng đặc biệt chính là thần thông, loại từ trường và sóng từ đó có thể di chuyển vật thể, đây đều là cảnh giới "nhiều người tu một người đạt", hoàn toàn dựa vào tâm lực. Hôm nay nói đến đây.

Om mani padme hum.

03/01/1997 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 206. Bài kệ về thiền định (3)


Hôm nay chúng ta sẽ nói tiếp về một bài kệ thiền định. Bài kệ này là "Một người tu tập nhiều người đạt, nhiều người tu tập một người đạt, tu tập ở thấp đạt nơi cao, tu tập từ từ đạt nhanh chóng." Hai câu đầu đã được giảng, bây giờ chúng ta sẽ nói về "tu tập ở thấp đạt nơi cao".

Thực ra, việc tu hành của chúng ta là "ông tu ông đắc, bà tu bà đắc", không có sự thay thế, không thể nào tôi tu tập mà người khác đạt được chính quả, họ đạt được chính quả còn tôi không đạt được chính quả, ngược lại là họ đạt được chính quả; hoặc là họ tu tập mà tôi đạt được chính quả, đó hoàn toàn là điều không thể. Vì vậy đây chính là ý nghĩa của câu "nhiều người tu tập một người đạt".

Trước đây có đệ tử nói với tôi rằng: "Thưa Sư Tôn! Con chỉ cần nương tựa vào thầy, quy y với thầy, dựa vào thầy, xin Sư Tôn nhớ kỹ, đến lúc đó kéo con một tay nhé!" Đến lúc đó kéo anh ta một tay, rồi tu hành bay lên, giống như tôi tu hành ngồi trên đỉnh núi, tu, tu, tu, tu thành chính quả, khi bay vào hư không, vẫn còn phải nhớ đến anh ta!

Trước đây có đệ tử nói với tôi như vậy, khi bay lên thì kéo anh ta một tay, tôi còn phải đến nhà anh ta nữa, rồi dù anh ta đang làm gì, tôi vẫn phải kéo anh ta lên, điều này là không thể được!

Chúng ta đừng nghĩ có thể tiện lợi như vậy. Thưa Sư Tôn! Con sẽ mãi mãi nương tựa vào thầy, mãi mãi tin tưởng thầy, khi thầy đạt được thành tựu, đừng quên con nhé, khi bay lên, dù thế nào cũng thuận tay kéo con một cái, điều này thật sự không dễ dàng chút nào!

Giống như khi tôi đi thuyền ở Mexico, ngồi trên loại thuyền chuối, kết quả là thuyền bị lật, rất nhiều người ngồi trên thuyền, tất cả đều rơi xuống nước, từng người một trèo lên, tôi là người cuối cùng, không, là người áp chót lên thuyền, leo lên thuyền và bám chặt, còn một người nữa muốn lên, chỉ còn lại một mình bà ấy, tôi đưa tay kéo bà ấy lên, không ngờ tên của bà ấy không được hay lắm, tên bà ấy là Trần Truyền Phương: đọc ngược lại thành "thuyền lật chìm", đọc hai chữ thành "chìm thuyền", ba chữ thành "chìm thuyền lật". [Ở đây đều là đồng âm khác nghĩa.]

Họ của bà ấy là "Trần", chữ "Truyền" là chữ "Truyền" trong "tuyên truyền", chữ "Phương" là chữ "Phương" trong "thơm phức", tức là Trần Truyền Phương. Tôi đưa tay kéo bà ấy một cái, không ngờ vừa kéo, thuyền nghiêng hẳn và lại hỏng chuyện. Cuối cùng không còn cách nào khác, mọi người đều đã kiệt sức, đành phải bơi vào bờ, bơi khoảng hai trăm mét.

Nghĩ lại khi ở ngoài biển, dù có đưa tay kéo bà ấy cũng không thể cứu được. Mọi người thử nghĩ xem, nhân quả tự mình gánh! Tên của bà ấy đọc là "chìm thuyền lật", đọc hai chữ thành "chìm thuyền", đọc từ sau lên thành "lật thuyền", cho nên kéo cũng vô ích, cũng không có chuyện thay thế được. Đây thực sự là một ví dụ điển hình nhất cho câu "nhiều người tu tập một người đạt".

"Tu tập ở thấp đạt nơi cao", trong quá trình tu hành, để đạt được quả vị, cảnh giới của chư Phật Bồ Tát rất cao, cao đến không thể nghĩ bàn, nhưng bất kể cảnh giới cao đến đâu, bạn vẫn có thể đạt đến điểm cao nhất.

Mặc dù xét về bản chất con người, chúng ta không khác mấy so với động vật, chỉ là có linh trí, linh lực và trí tuệ cao hơn động vật thông thường. Thực tế, con người có rất nhiều hành vi không thoát khỏi bản năng động vật.

Mặc dù con người chúng ta vốn cũng ở trong tầng lớp rất thấp, trong mười pháp giới, không phải là cao lắm - Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác là bốn Thánh giới; chư thiên, rồi mới đến con người, atula, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh - con người được xem là ở vị trí thấp. Tuy ở vị trí thấp, nhưng chỉ cần bạn tu tập, chỉ cần hiểu được cách tu hành, bạn vẫn có thể đạt đến nơi cao, đó chính là ý nghĩa của câu "tu tập ở thấp đạt nơi cao". Cảnh giới đạt được qua tu tập có thể rất cao, đừng bao giờ xem thường bản thân.

Mặc dù con người có tham, sân, si, mạn, nghi và đủ loại nghiệp, chỉ cần thực sự giữ thân khẩu ý thanh tịnh, có thể thực tu Chân Phật Mật Pháp, có thể đối trị tham sân si mạn nghi, chuyển hóa bản thân thành ánh sáng, trở thành một loại ánh sáng thanh tịnh, hành vi của bạn ở đâu cũng có ánh sáng thanh tịnh đi theo, đó chính là "hạnh".

"Hạnh" có thể nói rằng, trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, ăn, mặc, ở, đi lại, tất cả đều thuộc về hạnh. Trong hạnh có ánh sáng thanh tịnh đi cùng; về mặt tu tập, có thể đối trị tham sân si, thậm chí bản thân đã chuyển hóa, căn bản không cần phải đối trị tham sân si nữa, mà có thể tự nhiên chuyển hóa tham sân si, và có thể nhậm vận.

Mặc dù đang ở trong cõi người thấp nhất, nhưng đó cũng là cảnh giới cao nhất trong tứ Thánh giới. Giống như đang ở trong tứ Thánh giới vậy, đây là một niềm hạnh phúc phi thường! Không phải người phàm tục bình thường có thể so sánh được.

Cho nên nói về bản thân một người, nếu họ hiểu được phương pháp tu hành, có thể thực tu, nghiêm túc hành trì, cảnh giới của họ tự nhiên sẽ càng ngày càng cao, tâm cảnh cũng sẽ càng ngày càng khác biệt, đây chính là ý nghĩa của "tu tập ở thấp đạt nơi cao".

Hôm nay nói đến đây.


### 207. Bài kệ về thiền định (4)


Chúng ta tiếp tục nói về bài kệ thiền định, cuối cùng bàn về câu "Tu tập từ từ đạt nhanh chóng". Ý nghĩa của câu này rất sâu sắc, "tu tập từ từ" nghĩa là phải tu tập một cách tỉ mỉ, thực tế và thiết thực; "đạt nhanh chóng" có nghĩa là, nếu bạn làm theo cách này, bạn sẽ nhanh chóng đạt đến cảnh giới.

Nói chung, người hiện đại thường sao nhãng điều này, họ mong muốn nhanh chóng đạt được kết quả, ai cũng muốn nhanh, nhưng nếu không tu tập từ từ thì càng vội vàng càng không đạt được. Muốn nhanh chóng đạt đến cảnh giới, thực tế phải thực hiện nghiêm túc việc tu trì.

Phương pháp tu trì trong Mật giáo, thiền định nhập Tam ma địa, có rất nhiều khẩu quyết, cần phải lĩnh hội một cách tỉ mỉ, như việc hít thở chẳng hạn, nhất định phải rất mảnh, rất chậm, rất dài. Tại sao thiền định cần phải "mảnh, chậm, dài"? Bởi vì tâm phải bất động, nếu tâm bất động thì ánh sáng mới định, ánh sáng hiển hiện ra là định; tâm hễ động thì ánh sáng nhất định sẽ chớp động.

Ví dụ như khi chúng ta nhìn ánh sáng: khi nhắm mắt lại để nhìn ánh sáng, nếu tâm động thì ánh sáng chắc chắn sẽ động, chỉ khi tâm bất động thì ánh sáng mới bất động. Vì vậy, khẩu quyết của thiền định là phải giữ cho thân thể bất động, giống như thế nào? Giống như tử thi, giống như xác chết vậy, hoàn toàn bất động. Miệng cũng không động, giống như thế nào? Giống như "người câm" vậy, trong Mật giáo gọi là "dây đứt", dây đứt tức là không phát ra âm thanh, chính là câm. Tiếp đến, ý không động, tức là tâm không động, giống như thế nào? Giống như bầu trời không mây, giống như bầu trời quang đãng không một gợn mây vậy, đó chính là tâm bất động.

Dưới ba trạng thái bất động này, khi thiền định, ánh sáng mới hiển hiện, khi ánh sáng vừa hiển hiện, ánh sáng cũng bất động, nhưng chỉ cần tâm hơi động một chút, ánh sáng đó sẽ động theo, khẩu quyết này rất khó thực hiện được, nhưng cần phải thường xuyên luyện tập.

Khi chúng ta ngồi thiền, thường có hiện tượng hôn trầm. Khi chúng ta nhập Tam ma địa tu pháp, tôi thường thấy có người khi nhập Tam ma địa, có người nghiêng đầu bên này, có người nghiêng đầu bên kia, tôi rất lo thiết bị quay phim bị đổ. Một người ngã đầu bên này, một người ngã đầu bên kia, suýt va vào máy quay phim, máy quay video gần bị đụng trúng, rất nguy hiểm! Nếu làm hỏng thì phải đền!

Khi hôn trầm thì phải làm sao? Khi cứ buồn ngủ thì phải làm sao? Cần phải giữ cho cơ thể không cử động, đồng thời phải ngồi thẳng lưng, ấn vào yết hầu, tinh thần phấn chấn một chút, có thể chống lại cơn buồn ngủ, hai mắt nhìn lên trên, cũng có thể chống lại buồn ngủ, mặc dù hai mắt nửa nhắm nửa mở, nhưng hai mắt nhìn lên trên, điều này có thể chống lại buồn ngủ. Không được buồn ngủ! Ngồi một lúc mà đều ngủ gục hết thì làm sao nhập Tam ma địa? Họ nói là nhập tứ ma địa, ai cũng ngủ gục cả.

Vì vậy, khi thiền định không được hôn trầm, nhưng cũng không được trạo cử. Trạo cử là gì? Trong sách tôi có viết, không được có hôn trầm và trạo cử. Trạo cử là khi tinh thần quá phấn chấn. Lúc nhập định, tinh thần rất tốt, nhập định với tinh thần quá tốt, vọng niệm dấy khởi, lúc nghĩ cái này, lúc nghĩ cái kia, cứ liên tục nghĩ, tôi phải nhập định, tôi phải nhập định, tôi phải nhập định, tinh thần tôi rất tốt, muốn nhập định, kết quả ngược lại không thể nhập định được, đây gọi là trạo cử.

Làm thế nào để đối phó với trạo cử? Chính là phải hơi hôn trầm một chút, đây chính là cách đối trị! Hai mắt nhìn xuống dưới, cơ thể thả lỏng một chút, toàn thân để nó thả lỏng, hai mắt nhìn xuống dưới, nhìn về phía dưới, cố gắng thả lỏng, dùng cách này để đối trị trạo cử.

Có rất nhiều khẩu quyết về việc này, khi vọng niệm sinh khởi thì phải làm sao? Lập tức dùng một vọng niệm khác để đuổi theo vọng niệm đó, niệm này đuổi theo niệm kia, tại sao lại có vọng niệm này? Từ đâu sinh ra? Từ đâu diệt đi? Vốn không sinh, vốn không diệt, khi thông suốt rồi thì có thể điều chỉnh lại, trở thành vô niệm.

Vọng niệm giống như sóng vậy, lúc đầu cần phải đối trị vọng niệm, sau này không cần đối trị nữa, sau này chỉ cần quan sát vọng niệm. Quan sát vọng niệm, khi đã hiểu được bản chất của vọng niệm rồi, sẽ có thể sinh ra hiện tượng vô niệm, bản thân không phải là đối trị vọng niệm nữa, mà là ở trong vọng niệm, rất nhanh chóng, khi tạp niệm vừa sinh khởi, có thể nhanh chóng dập tắt, rồi dần dần luyện tập ý niệm bất động, luyện tập tâm bất động, cách luyện tập rất tỉ mỉ, rất chậm, rất lâu dài như vậy, sẽ có thể nhanh chóng đạt đến cảnh giới cao nhất, đây chính là ý nghĩa thực sự của "tu tập từ từ đạt nhanh chóng".

Nhất định phải thực hiện nghiêm túc việc tu tập thiền định nhập Tam ma địa này, cảnh giới của bạn sẽ tự nhiên nhanh chóng đạt đến cảnh giới cao. Không thể nói rằng, hôm nay tôi ngồi thiền, hôm nay sẽ đắc quả, không có chuyện đó đâu! Ba tháng tu tập tinh tấn, bảo đảm đắc quả, điều này cũng không thể nào! Vì vậy nhất định phải tu tập từ từ, mới có thể nhanh chóng đạt được. Tu pháp phải nghiêm túc đầy đủ mới có thể thành tựu.

Om mani padme hum.

06/01/1997 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 209. Nghịch tăng thượng duyên (1)


Hôm nay chúng ta nói về nghịch tăng thượng duyên. Trong chuyến đi Ấn Độ và Nepal vừa rồi, tại Bodh Gaya, chúng ta đã thấy cây bồ đề - biểu tượng cho sự giác ngộ của Phật Đà. Phật Thích Ca Mâu Ni đã giác ngộ dưới cây bồ đề, và có một câu chuyện rất huyền thoại, rất đặc biệt, đó là lúc bấy giờ Thiên Ma đã giáng xuống để thử thách Phật Thích Ca Mâu Ni.

Khi chúng tôi nhìn thấy cây bồ đề, chúng tôi cũng nghĩ đến câu chuyện về Thiên Ma giáng xuống thử thách Phật Đà. Thiên Ma không chỉ có một vị, theo kinh điển ghi chép: có rất nhiều ma, nên gọi là ma quân, giống như một đội quân ma đông đảo, dùng đủ mọi phương cách để thử thách Đức Phật. Ví như ba ma nữ đến thử thách Phật Thích Ca Mâu Ni, đây là sự thử thách về sắc dục, thử thách về danh vị, thử thách về lợi lộc, và nhiều sự thử thách khác.

Trong Thiên Ma có thể phân thành tử ma, phiền não ma, danh lợi ma, và các loại ma cảnh khác nhau, giống như những biến hóa của tâm ma. Khi phương pháp dụ dỗ một cách hòa bình không hiệu quả, họ dùng phương pháp bạo lực để thử thách Ngài. Nhưng vì Đức Phật đã giác ngộ, đương nhiên Ngài không hề dao động, nên có thể chiến thắng Thiên Ma, và từ đó Ngài đã giác ngộ.

Nói đến nghịch tăng thượng duyên, nhiều người tu hành cũng có kinh nghiệm này. Có người khi mới bắt đầu tin Phật, được Phật lực gia trì, bản thân nghiệp chướng ít, những việc gặp phải đều rất như ý, lòng tin rất kiên định.

Tuy nhiên trên thực tế, cũng có một số người do nghiệp chướng nặng nề hơn, nghiệp lực lớn hơn, khi mới bắt đầu tin Phật, nghiệp chướng liền bắt đầu hiển hiện, vì vậy ngược lại làm chướng ngại con đường tu hành của họ. Đôi khi là tu hành nhưng tính khí lại trở nên nóng nảy hơn. Điều này là do sự nâng cao tu hành, khiến tham, sân, si và toàn bộ nghiệp chướng đều hiển hiện ra. Trong số những người tu hành mà chúng ta thường thấy, hoặc những hành giả tu Mật tông, cũng thường xuyên xuất hiện hiện tượng này.

Khi nghịch duyên đến với mỗi người, tất cả đều phải vượt qua khó khăn này, phải có khả năng tiến bộ ngay trong nghịch cảnh, tức là phải vượt qua được nghịch cảnh. Tu hành như vậy mới có thể chứng quả giống như Đức Phật, nếu không việc tu hành của bạn sẽ bị bỏ dở giữa chừng, đạo tâm của bạn sẽ không vững chắc.

Khi nghiệp lực này đến, tự nhiên sẽ sinh ra nghịch tăng thượng duyên, sẽ có những việc không như ý xảy ra. Vậy tại sao khi nghịch duyên đến lại có thể tăng tiến? Điều này giống như lướt sóng vậy, như tôi đã từng nói, ở Hawaii có rất nhiều người chơi lướt sóng, sóng càng lớn càng tốt, ván lướt sóng càng bay cao. Lướt sóng rất kích thích, sóng đến từng đợt từng đợt, cứ thế vươn lên cao hơn, đây gọi là tăng tiến. Nghĩa là bạn vượt qua tất cả nghiệp chướng, rồi tự mình có thể tiến lên. Phật Đà cũng vậy, khi Thiên Ma giáng xuống thử thách Ngài, Ngài vẫn có thể bất động, vượt qua nghiệp chướng này, và đạt được tăng thượng duyên.

Vì vậy tại Bodh Gaya, khi nhìn thấy cây bồ đề, tôi nghĩ đến những thử thách mà Phật Thích Ca Mâu Ni đã trải qua thuở ban đầu. Mỗi hành giả chúng ta đều phải trải qua những thử thách như vậy. Cho dù bạn tu hành rất tốt trên núi cao, mắt không nhìn thấy sắc, nhưng khi vừa xuống núi, mắt vừa chạm sắc, ngay lập tức thử thách sẽ đến.

Hơn nữa, rất đơn giản thôi, bạn sẽ gặp những thử thách này bất cứ lúc nào. Hành giả Mật tông vốn có năng lực rất cao, họ luôn hợp nhất với Bổn tôn của mình, hợp nhất ngay trong thân thể, lúc nào cũng là Bổn tôn, là bậc thánh, tâm họ bất động trong mọi hoàn cảnh, đó chính là sự siêu việt.

Vì vậy, hành giả trong bất kì hoàn cảnh nào, nếu bạn có thể giữ được tâm thanh tịnh, đó mới thực sự là bậc hành giả vĩ đại, chứ không phải nói rằng trong môi trường tốt thì bạn rất thanh tịnh; còn trong môi trường xấu thì bạn lại bị ô nhiễm. Trong môi trường xấu, gọi là nghịch tăng thượng duyên, ở trong nghịch cảnh thì gọi là tăng thượng duyên.

Vì vậy, một hành giả phải làm được "đi qua rừng hoa mà không dính một cánh hoa". Nghĩa là khi bạn đi qua trước mặt nhiều mỹ nữ, phải học cách không để thân tâm bị ô nhiễm, đó mới thực sự là công phu. Khi bạn đi qua bụi cây khô héo mà không dính một cành, đó không phải là công phu, bởi vì tất cả đều xấu xí, đương nhiên bạn không bị dính mắc. Nhưng khi đi qua trước mỹ nữ mà không bị dính mắc, đó mới thực sự là bậc cao thủ.

Khi tu hành, chắc chắn phải chấp nhận thử thách. Khi nghịch tăng thượng duyên đến, nếu bạn vẫn giữ được sự thanh tịnh, đó mới thực sự là bậc nhất, là người có công lực. Trong thuận cảnh, bạn nói đạo tâm của mình kiên cố, điều đó không có gì đáng kể; trong nghịch cảnh, nếu bạn có thể thực sự giữ vững đạo tâm, đó mới là bậc cao thủ hạng nhất, có thể phá trừ mọi sắc tướng hiển hiện, đó mới thực sự là tăng thượng duyên. Hôm nay nói đến đây.

Om mani padme hum.

07/01/1997 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 209. Nghịch tăng thượng duyên (2)


Hôm nay chúng ta tiếp tục nói về nghịch tăng thượng duyên. Nhiều đệ tử mới quy y, khi học trì chú, học quán tưởng, học nhập Tam ma địa (thiền định), cũng có trải nghiệm như thế này: khi họ đang trì chú "Om mani padme hum", "Om mani padme hum", vừa niệm được một lúc, trong vô thức bỗng nhiên lại thốt ra những lời thô tục. Họ nói rằng mình đang muốn trì chú, muốn niệm Phật, vậy mà tại sao trong tâm lại tuôn ra toàn những lời thô tục như vậy, đó chính là nghiệp chướng hiện tiền.

Thật sự có đệ tử viết thư cho tôi nói như vậy, khi họ đi lễ Phật, rõ ràng Phật rất trang nghiêm, tượng Phật được đặt rất trang nghiêm phía trước, họ cung kính chắp tay lễ lạy, nhưng trong tâm lại trào dâng những lời thô tục. Họ hỏi phải làm sao, vì trong lòng cảm thấy mình đã bị ô nhiễm.

Chúng ta thấy trong những lá thư, có rất nhiều hiện tượng như vậy, khi vào mật đàn để tu pháp, bỗng nhiên lại trào dâng những lời thô tục chửi tất cả chư Phật Bồ Tát, đây chính là tâm ma hiển hiện.

Có rất nhiều chướng ngại như vậy, khi những chướng ngại này xuất hiện thì phải làm sao? Bạn đừng xem những lời thô tục đó là sự xúc phạm, là sự phỉ báng hay là sự ô nhiễm. Hãy xem những lời thô tục đó là thiêng liêng, là siêu việt, hãy vượt qua nó, đừng để ý đến nó, bạn cứ tiếp tục trì chú, đại lễ bái, làm công khóa của mình, đừng quan tâm đến nó; không quan tâm đến nó, không bị nó quấy nhiễu, phải vượt qua nó, đó mới chính là nghịch tăng thượng duyên.

Nếu trong lòng bạn cảm thấy sợ hãi, nghĩ rằng sao mình lại có thể khởi lên những ý niệm thô tục đối với chư Phật Bồ Tát, nếu bạn để tâm đến nó, càng vướng mắc càng chặt, đến mức bạn không dám tu pháp, không dám vào điện Phật, đây chính là một loại chướng ngại.

Khi nghiệp chướng phát sinh, lúc này phương pháp duy nhất chính là "bất động", không để ý đến nó, tiếp tục tu trì, sau đó đừng xem những ác niệm đó là xấu, ngược lại hãy nghĩ rằng như vậy cũng tốt, cũng là thiện, hoàn toàn không để ý đến nó, lâu dần, nó sẽ trở nên bình thường.

Đây là phương pháp mà Thượng sư của tôi đã dạy trước đây. Bởi vì những ý niệm này khi sinh khởi rất mạnh mẽ, thường xuyên sẽ chướng ngại thánh đạo, khiến bạn không thể tiếp tục tu hành. Thậm chí có người còn khởi ác niệm, những lời chửi thề ba chữ chỉ là chuyện nhỏ, có người vào điện Phật vừa chắp tay, nhìn thấy Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật A Di Đà, liền khởi lên ý niệm muốn giết các ngài.

Thực sự có chuyện như vậy, có đệ tử viết thư kể rằng: Quan Thế Âm Bồ Tát vốn rất trang nghiêm, vậy mà khi nhìn thấy Quan Thế Âm Bồ Tát, họ lại sinh khởi ác niệm, muốn chém một nhát vào Bồ Tát, đây chính là một loại chướng ngại trong tu hành.

Khi những ý niệm này vừa sinh khởi, thật là không hay chút nào, nhưng phương pháp duy nhất là "bất động", cũng đừng để tâm đến nó, cứ tiếp tục công phu tu hành, nếu bạn không để ý đến nó, tự nhiên nó sẽ dần dần rời xa; còn nếu bạn để ý đến nó, nó sẽ trói buộc bạn, khiến bạn không còn dám tu pháp nữa, mãi mãi không dám làm như vậy nữa.

Trong thư của đệ tử có đề cập đến việc sinh khởi những hiện tượng như vậy, đây đều là những hiện tượng nghiệp chướng hiện tiền, những việc không như ý cũng sẽ phát sinh, cũng là nghiệp chướng hiện tiền, bởi vì nghiệp lực của bạn tương đối nặng. Vì vậy, lúc này phải dùng "tịnh tưởng", "tịnh tưởng" có nghĩa là bất kì một ý niệm nào cũng đều thanh tịnh, đều là hư vô, tất cả mọi ý niệm đều là "thanh tịnh" và "hư vô".

Niệm cũng chính là vô niệm, đừng có cảm giác tội lỗi, bạn sẽ có thể tiếp tục trì chú niệm Phật, thanh tịnh chính mình, trải qua một thời gian dài, nó sẽ tự động biến mất, đó chính là nghịch tăng thượng duyên của bạn.

Bất kì nghịch tăng thượng duyên nào đến, vẫn phải tiếp tục tiến lên, có một ngày ác niệm sẽ tiêu mất, chuyển thành thiện niệm hiện tiền.

Có đệ tử khi quán tưởng cũng sinh khởi nghịch duyên, khi tu pháp Quan Âm, quán tưởng Quan Thế Âm Bồ Tát hiện ra trước mặt, nhưng kết quả là Quan Thế Âm Bồ Tát hiện ra đều không phải chính diện, mà toàn là mặt sau, hơn nữa là phần mông. Dù cố gắng quán tưởng thế nào, vừa nhắm mắt lại, vừa nghĩ đến Quan Thế Âm Bồ Tát, ngài liền xoay lưng lại, phần mông hướng về phía họ, bất kể thế nào cũng đều là ý niệm như vậy.

Ban đầu tôi cũng nghĩ như vậy, đừng có ý niệm xấu, nhưng khi bạn sinh khởi ý niệm xấu, không sao cả, cũng đừng nghĩ đó là ý niệm xấu, đây chính là nghịch tăng thượng duyên của bạn, hãy xem cái mông đó là tốt, nghĩ nó là tốt cũng được, đó cũng là một phần của Quan Thế Âm Bồ Tát, có gì không tốt đâu?

Họ phải quán tưởng như vậy, không còn cách nào khác, lúc này bạn chỉ có thể thay thế bằng quán tưởng tốt đẹp, không sao cả, dần dần sẽ sinh khởi tịnh tưởng, sinh khởi thánh tưởng, vượt qua được thì sẽ trở thành nghịch tăng thượng duyên.

Đây chính là tâm ma, bạn muốn tu hành tốt, nhưng nó lại không để yên, khiến quán tưởng của bạn sinh ra cảnh tượng không tốt, khiến ý nghĩ của bạn sinh ra ác niệm, khiến trong lòng bạn thốt ra những lời thô tục để phá hoại bạn. Thiên ma đến phá hoại bạn, tâm ma đến hại bạn, nhưng không sao cả, đừng nghĩ đó là ma, đừng cho rằng đó là ma, hãy xem nó như là nghịch tăng thượng duyên.

Nếu bạn xem nó như là nghịch tăng thượng duyên, không để ý đến nó, trong tâm bất động, tiếp tục tu hành, bạn sẽ đạt được thành tựu; nếu bạn để ý đến nó, cho rằng nghiệp này là không thanh tịnh, sau này bạn dần dần không dám tu pháp, không dám đụng đến pháp tướng của Mật giáo, thậm chí niệm Phật cũng không dám niệm, trì chú cũng không dám trì, đại lễ bái cũng không dám làm, không dám làm gì cả, lui về vị trí phàm phu, như vậy chính là ma thắng, ma đã chiến thắng rồi.

Vì vậy, một bậc thánh thực sự vĩ đại chắc chắn sẽ có nghịch tăng thượng duyên, khi ở trong nghịch cảnh, bất kì thử thách nào cũng phải bất động, thanh tịnh, vượt qua được điều này thì sẽ thành tựu. Như bản thân tôi mà nói, đã xuất đạo hai mươi bảy năm, có thể nói là từ trên núi xuống, dấn thân vào giang hồ hai mươi bảy năm, nơi nào mà chẳng có thử thách, nhiều vô kể! Đủ loại thử thách nhiều vô kể, tất cả đều vượt qua hết, nội tâm như như bất động, nghĩ rằng trong thế giới này tất cả đều yên bình, đều thanh tịnh. Phải suy nghĩ như vậy.

Om mani padme hum.

07/01/1997 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 210. Sinh về thiên đường và sinh về Tây phương tịnh thổ (1)


Hôm nay chúng ta nói về sinh về thiên đường và sinh về Tây phương tịnh thổ. Nói chung, người học Phật đối với nhiều cảnh giới còn chưa chắc hiểu rõ hoàn toàn, huống chi là người ngoài càng không hiểu. Đặc biệt khi bạn sống ở Mỹ - một quốc gia phương Tây, nơi có rất nhiều người phương Tây, họ cũng hoàn toàn không rõ thiên đường và Tây phương Cực Lạc thế giới có gì khác biệt, họ cứ nghĩ rằng Tây phương Cực Lạc thế giới chính là thiên đường của người phương Tây, lẫn lộn với nhau không phân biệt được.

Đặc biệt là người phương Tây không thể hiểu được ý nghĩa sâu xa hơn của Phật giáo. "Phật giáo là gì?" Đôi khi người phương Tây hỏi bạn như vậy, bạn không thể trả lời ngay được. Nếu bạn nói với họ rằng Phật giáo là giáo lý của Phật Thích Ca Mâu Ni, nếu bạn trả lời như vậy, họ vẫn không hiểu rõ, và nếu bạn muốn giảng giải tất cả kinh Phật cho họ nghe, họ sẽ càng bối rối hơn, vì vậy cần phải phân biệt rõ một số điểm chính.

Sinh về thiên đường được đề cập trong nhiều tôn giáo, như Hồi giáo, Cơ đốc giáo, Thiên chúa giáo, nhiều tông phái đều nói về việc sinh về thiên đường. Trong Phật giáo, sinh về thiên đường chỉ là một thiên thừa, thiên thừa cũng có thể nói là một cảnh giới, một cảnh giới của cõi trời.

Trong Phật pháp, giáo lý được phân chia rất rõ ràng, giáo hóa của Như Lai (Phật Đà) được chia thành năm cảnh giới: một là cảnh giới của người, gọi là nhân thừa, việc làm người cũng không đơn giản, cần phải tu trì mới có thể trở thành một con người; cao hơn một chút gọi là thiên thừa, thiên thừa chính là thiên đường mà người ta thường nói; cao hơn nữa chúng ta gọi là La Hán thừa; trên La Hán thừa, chúng ta gọi là Bồ Tát thừa; cao nhất chính là Phật thừa. Nói như vậy thì giáo hóa của Phật có năm cảnh giới, từ Phật thừa đến nhân thừa.

Mỗi phương pháp tu hành đều khác nhau, về việc vãng sinh Tây phương cũng có nhiều điểm khác biệt, đây là một cảnh giới đặc biệt được đề cập trong Kinh A Di Đà. Khi Phật Thích Ca Mâu Ni giảng Kinh A Di Đà, Ngài đã nói đây là một cảnh giới đặc biệt, được hình thành bởi nguyện lực. Nguyện lực là gì? Chính là Phật A Di Đà đã phát đại nguyện, chỉ cần trì danh hiệu của Ngài, trì danh trong bảy ngày nhất tâm bất loạn thì có thể vãng sinh về Tây phương Tịnh thổ - một cõi được thành tựu bởi nguyện lực, điều này cần phải phân biệt rõ.

Nếu một người phương Tây hỏi bạn rằng: "Cảnh giới mà người học Phật hướng đến là cảnh giới nào?", bạn có thể giải thích cho họ về năm cảnh giới (ngũ thừa). Nếu họ hỏi: "Tu hành như thế nào?", bạn có thể trả lời rằng: "Muốn làm người, cần phải giữ năm giới. Nếu bạn giữ năm giới, trong tương lai khi luân hồi trong sáu nẻo, bạn sẽ ở trong cảnh giới của người. Bạn có thể giảng cho người phương Tây về năm giới: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu - đó chính là năm giới. Nếu bạn giữ năm giới không phạm, bạn sẽ được tái sinh làm người."

Nói chung các tôn giáo đều dạy bạn giữ một số giới luật, như Cơ Đốc giáo có một số giới luật, Hồi giáo cũng có một số giới luật, họ cũng phải giữ một số giới luật như vậy, sau đó họ nói về việc sinh lên thiên đường, tiếp đến là họ thực hành mười thiện, không chỉ giữ giới mà còn phải thực hành mười thiện, mười thiện chính là làm việc thiện, tạo nghiệp lành.

Trong Phật giáo, việc tạo nghiệp lành được gọi là nghiệp trắng, tức là nghiệp thanh tịnh, khi bạn thực hành mười thiện thì sẽ được sinh lên cõi trời. Tất cả các tôn giáo đều giống nhau ở giai đoạn này, trong Phật giáo cũng có thiên thừa, nếu bạn giữ năm giới và thực hành mười thiện thì sẽ được sinh lên cõi trời. Đây chính là thiên thừa.

Trong Phật giáo có một bài kệ, khi người ta hỏi bạn Phật giáo là gì? Bạn có thể đọc: "Mọi ác không làm, hãy làm mọi thiện, tự tịnh ý mình, là điều Phật dạy", Phật giáo có thể giảng như vậy.

"Mọi ác không làm" chính là giữ năm giới, "hãy làm mọi thiện" chính là thực hành mười thiện, vậy còn "tự tịnh ý mình" thì sao? Điều này sâu xa hơn một chút, tự tịnh ý mình có thể nói là ý thanh tịnh, ý thanh tịnh cũng có nghĩa là thân khẩu ý thanh tịnh, đây chính là tam mật của Mật giáo. Nếu hiểu được tự tịnh ý mình, bạn sẽ bước vào La Hán thừa. Tôi nghĩ như vậy, tự tịnh ý mình chính là thân khẩu ý thanh tịnh, đây là điều rất quan trọng nếu muốn bước vào La Hán thừa.

Vì vậy bạn cần giữ năm giới, thực hành mười thiện, tự tịnh ý mình. Tự tịnh ý mình chính là thân khẩu ý thanh tịnh. Nếu ý có thể thanh tịnh thì thân và khẩu cũng sẽ thanh tịnh. Phạm vi của ý thức tương đối rộng lớn hơn. Nếu tự tịnh ý mình rồi thì sẽ bước vào La Hán thừa. La Hán là gì? Có thể nói đó là tự tịnh ý mình, ý niệm thanh tịnh, hiểu rõ về vô sinh và sinh tử hoàn toàn chấm dứt rồi, đó chính là La Hán thừa.

Hiểu rõ về vô sinh và chấm dứt sinh tử, cảnh giới này cao hơn việc thực hành mười thiện. Trong Phật giáo còn đề cập đến cảnh giới cao hơn nữa, trên La Hán gọi là Bồ Tát thừa. Bồ Tát thừa là gì? Chính là phát tâm bồ đề, thực hành lục độ vạn hành. Ngoài việc tự tịnh ý mình, bạn còn phát tâm bồ đề để độ chúng sinh rộng khắp, thực hành lục độ vạn hành, đó chính là Bồ Tát, đây là giai đoạn thứ tư.

Trong Phật giáo ngoài nhân thừa, thiên thừa, La Hán thừa, còn có Bồ Tát thừa. Hôm nay nói đến đây.

Om mani padme hum.

08/01/1997 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.


### 211. Sinh về thiên đường và sinh về Tây phương tịnh thổ (2)


Chúng ta tiếp tục bàn về sinh về thiên đường và sinh về Tây phương tịnh thổ. Bởi vì trong các tôn giáo phương Tây, họ chỉ biết đến cõi trời mà thôi, họ không hiểu về các cảnh giới khác. Tất nhiên cũng có một số ít người nghiên cứu sâu về tôn giáo, họ hiểu rõ, nhưng thực tế thì số người không hiểu nhiều hơn.

Khi chúng ta nói về ngũ thừa trong Phật giáo, nhân thừa là giữ năm giới; thiên thừa là thực hành mười thiện; La Hán thừa là tự tịnh ý mình và chấm dứt sinh tử; Bồ Tát thừa thì thêm vào đó là phát tâm bồ đề và thực hành lục độ vạn hành.

Cao nhất là Phật thừa, đó là giác hành viên mãn, trí huệ vô lậu, trí huệ không có một chút thiếu sót nào, đó chính là thành Phật, là một bậc Đại Giác Kim Tiên đã giác ngộ. Khi đạt đến Phật thừa như vậy thì hoàn toàn viên mãn, không có một chút thiếu sót nào, đó chính là cái gọi là Phật thừa.

Trong Phật giáo, khi bạn hiểu rõ điều này, nếu có người phương Tây hỏi bạn, bạn có thể giảng cho họ nghe, Phật giáo chia thành năm thừa, có năm cảnh giới, họ mới có thể hiểu rõ. Bởi vì tôi nhận thấy, Phật pháp ở phương Tây, việc độ người phương Tây thật sự rất khó khăn, vì trong đầu họ chỉ có thiên đường mà thôi, những điều khác, họ đều không có khái niệm.

Ngoài việc tin vào sự cứu độ của Thượng đế, những điều khác rất khó thâm nhập vào tâm trí của họ. Với những định kiến có sẵn, họ thường từ chối tất cả các tôn giáo khác.

Do đó, họ không thể chấp nhận các tôn giáo khác. Hễ là tôn giáo khác, họ đều cho là ma quỷ. Họ hoàn toàn không thể tiếp nhận những giáo lý sâu sắc hơn, vì thế cảnh giới của họ chỉ dừng lại ở cõi trời mà thôi.

Vì vậy, để truyền bá Phật pháp đến phương Tây, thực sự còn một chặng đường rất dài phía trước. Hiện nay, Phật giáo chỉ có thể lan truyền từ Ấn Độ đến Tây Tạng, đến Thái Lan, đến Đông Nam Á, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, chỉ trong phạm vi đó thôi, những nơi khác rất ít. Đối với phương Tây mà nói, đây là một thiếu sót rất lớn, bởi vì nhận thức của họ chỉ dừng lại ở mức độ như vậy.

Như chúng ta đã nói, Tây phương Cực Lạc thế giới là một cõi giới do nguyện lực của chính Phật A Di Đà tạo thành. Tây phương Cực Lạc thế giới này khác với việc sinh lên cõi trời, không giống nhau, vì sinh lên cõi trời chỉ cần thực hành mười thiện mà thôi. Vậy sinh về Tây phương thì sao? Bạn phải nương vào nguyện lực của mình, bởi vì Phật A Di Đà đã phát nguyện, chỉ cần bạn trì niệm danh hiệu của Ngài, bạn sẽ được vãng sinh về cõi Tịnh thổ của Ngài.

Vì vậy, bản thân Ngài có nguyện lực này, tương đương với việc có lực gia trì trên tất cả chúng sinh trong cõi Ta Bà, tất cả chúng sinh nương vào lực gia trì của chính Phật A Di Đà, chỉ cần bạn có nguyện vọng trì danh hiệu của Ngài, bạn sẽ được vãng sinh, điều này khác với việc sinh lên cõi trời.

Khi bạn đến được Tây phương Cực Lạc thế giới rồi, bạn vẫn có thể tiếp tục tu hành, lúc đó bạn cần tự tịnh ý mình, bạn cũng có thể phát huy Phật tính của chính mình, dưới ánh sáng chiếu soi của chư Phật Bồ Tát, bạn có thể lĩnh hội được chân ý của Phật.

Nếu thân khẩu ý của bạn thanh tịnh, bạn có thể nhanh chóng thành tựu quả Phật, vì vậy đây là một pháp môn rất thuận tiện. Do đó, vãng sinh về Tây phương tương đối dễ dàng, nhưng trong đó còn có một yếu nghĩa quan trọng là phải "nhất tâm bất loạn", bởi vì sau khi bạn có nguyện vọng này rồi, bạn vẫn phải giữ nhất tâm bất loạn, nếu bạn có nhiều tâm thì không được, đây cũng là một điểm trọng yếu.

Phải nhất tâm cầu vãng sinh về Tây phương Cực Lạc thế giới, nếu bạn nhất tâm bất loạn trì danh hiệu, có nguyện lực như vậy thì sẽ được Phật A Di Đà tiếp dẫn, đây là một khẩu quyết rất quan trọng.

Trong Kinh A Di Đà có đề cập từ một đến bảy ngày, nếu bạn nhất tâm bất loạn thì có thể vãng sinh, đây chính là đại nguyện lực của Phật A Di Đà.

Vì vậy trong Phật giáo, người tin theo Phật A Di Đà rất nhiều, bởi vì nguyện lực của Ngài là lớn nhất.

Bây giờ chúng ta đã hiểu rõ thế nào là sinh lên cõi trời, thế nào là sinh về Tây phương, và bạn cũng đã hiểu rõ về năm cảnh giới trong Phật giáo, cần phải tu trì như thế nào để đạt được năm cảnh giới đó.

Bạn thấy đó, những người phương Tây mà chúng ta gặp ở Mỹ, bản thân họ chỉ dừng lại ở cảnh giới sinh lên cõi trời mà thôi. Cuộc sống thường ngày của họ là đi nhà thờ vào chủ nhật, nghe giảng đạo, hát thánh ca, cầu nguyện, họ cũng làm việc thiện, cúng dường cho nhà thờ, đóng góp cho xã hội, cũng là thực hành mười thiện, chỉ có vậy thôi. Nói đến tự tịnh ý của La Hán thừa, họ hoàn toàn không biết thế nào là tự tịnh ý, thế nào là thân khẩu ý thanh tịnh, họ cũng không hiểu.

Họ cho rằng tham sân si của thân khẩu ý là điều đương nhiên, vì vậy họ không thể tự tịnh ý được, họ chỉ có thể đạt đến thiên thừa là cùng.

Vì vậy ngày nay Phật pháp cần phải được truyền bá ở phương Tây, đây là trách nhiệm của chúng ta những người đang sống ở phương Tây, chúng ta phải giảng giải thật rõ ràng để họ có thể hiểu rõ, nếu không họ sẽ hiểu lầm chúng ta, khi nhìn thấy TEMPLE (chùa) của chúng ta họ liền bài xích, hễ thấy hình tượng Phật là họ vội vàng mang thập tự giá đến chùa đi một vòng.

Không có cách nào khác, bởi vì quan niệm của họ là như vậy. Khi bạn thấy họ làm như thế, bạn sẽ cảm thấy họ rất ngây thơ, vì vậy chúng ta cần phải giáo hóa họ, đây là trách nhiệm của chúng ta. Hôm nay chúng ta nói đến đây.

Om mani padme hum.

08/01/1997 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

**(Hết quyển 5) - Trọn bộ**

---

---
# File: kinh-luat-luan/index.md
# Title: Kinh Luật Luận
---

# Kinh - Luật - Luận


> Kinh điển, luật và giảng luận


---



### Mới hoàn thành


[Liên Hoa Sinh Đại Sĩ Ứng Hóa Nhân Duyên Kinh](/kinh-luat-luan/lien-hoa-sinh-dai-si-ung-hoa-nhan-duyen-kinh) 

[Phật Học Tổng Thuyết](/kinh-luat-luan/phat-hoc-tong-thuyet) 

[Giảng thuyết Kinh A Di Đà - Cửu phẩm liên hoa sinh](/kinh-luat-luan/giang-thuyet-kinh-a-di-da-cuu-pham-lien-hoa-sinh) 

[Hồng quang đại thành tựu - Tập 5 (Hết)](/kinh-luat-luan/hong-quang-dai-thanh-tuu-tap-5-het) 

[Phật Thuyết A Di Đà Kinh (kinh văn)](/kinh-luat-luan/phat-thuyet-a-di-da-kinh-kinh-van) 


---



### Kinh điển



---



### Mật luật



---



### Giảng luận

---
# File: kinh-luat-luan/kim-cang-kinh.md
# Title: Kim Cang Kinh
---

## Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật


Xuất bản năm: N/A
Xuất xứ: Đời Hậu Tần, Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập dịch ra Hán văn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

*Đời Hậu Tần, Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập dịch*


### **Phần 01. Nguyên do của pháp hội**


Tôi nghe như vầy. Một thời, Đức Phật ở thành Xá Vệ trong vườn Kì Thụ Cấp Cô Độc cùng với một nghìn hai trăm năm mươi vị đại tì kheo. Hôm ấy, gần đến giờ thọ trai, Thế Tôn đắp y cầm bát, đi vào thành Xá Vệ để khất thực. Ở trong thành, ngài lần lượt khất thực rồi trở về nơi ở của mình. Ăn xong, ngài thu dọn y bát, rửa chân rồi bày chỗ để ngồi.


### **Phần 02. Thiện Hiện thưa hỏi**


Khi ấy, trưởng lão Tu Bồ Đề ở trong đại chúng từ chỗ ngồi đứng dậy, để lộ vai phải, đầu gối phải chạm đất, chắp tay cung kính bạch Phật rằng: "Thật hiếm có! Thế Tôn! Như Lai khéo hộ niệm chư Bồ Tát, khéo dặn dò chư Bồ Tát. Thế Tôn! Thiện nam, thiện nữ phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề thì nên sống ra sao? Nên hàng phục tâm ra sao?"
Phật nói: "Lành thay, lành thay. Tu Bồ Đề! Đúng như ông vừa nói. Như Lai khéo hộ niệm các vị Bồ Tát, khéo dặn dò các vị Bồ Tát. Nay hãy lắng nghe, ta sẽ vì các ông mà nói thiện nam, thiện nữ phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề nên sống thế nào, nên hàng phục tâm ra sao."
"Vâng thưa Thế Tôn! Con nguyện được lắng nghe."


### **Phần 03. Đại thừa chính tông**


Phật bảo Tu Bồ Đề: "Chư Bồ Tát Ma Ha Tát nên hàng phục tâm như thế này! Cần nghĩ tất cả các loài chúng sinh hoặc sinh từ trứng, hoặc sinh từ bào thai, hoặc sinh nơi ẩm thấp, hoặc biến hóa mà sinh ra, hoặc có sắc, hoặc không sắc, hoặc hữu tưởng, hoặc vô tưởng, hoặc không phải hữu tưởng không phải vô tưởng, ta đều cho vào Vô dư niết bàn mà diệt độ. Như vậy, diệt độ vô lượng vô số vô biên chúng sinh, nhưng thật ra không có chúng sinh nào được diệt độ. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, thì không phải là Bồ Tát.


### **Phần 04. Diệu hạnh vô trụ**


"Tiếp nữa, Tu Bồ Đề! Trong pháp, Bồ Tát nên vô sở trụ mà làm việc bố thí, gọi là không bám vào sắc tướng mà bố thí, không bám vào thanh, hương, vị, xúc, pháp mà bố thí. Tu Bồ Đề, Bồ Tát nên bố thí như vậy, đừng trụ vào tướng. Vì sao như vậy? Nếu Bồ Tát không trụ vào tướng mà bố thí thì phúc đức ấy bất khả tư lượng."
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Hư không phương đông có thể đoán chừng được không?"
"Không thể, thưa Thế Tôn!"
"Tu Bồ Đề! Hư không phương nam, tây, bắc, bốn phương phụ, phương trên phương dưới có thể đoán chừng được không?"
"Không thể, thưa Thế Tôn!"
"Tu Bồ Đề! Bồ Tát bố thí mà không bám trụ vào tướng thì phúc đức cũng bất khả tư lượng như vậy. Tu Bồ Đề! Bồ Tát chỉ nên trụ tâm theo như điều đã dạy."


### **Phần 05. Thấy lẽ thật đúng lí**


"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Có thể dựa vào thân tướng mà thấy Như Lai không?"
"Không thể, thưa Thế Tôn! Không thể dựa vào thân tướng mà thấy được Như Lai. Là vì sao? Thân tướng mà Như Lai nói đến cũng tức không phải thân tướng." 
Phật nói với Tu Bồ Đề:
"Phàm tất cả mọi tướng đều là hư vọng. Nếu thấy mọi tướng không phải tướng tức là thấy Như Lai."


### **Phần 06. Hiếm người có được chính tín**


Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: "Thưa Thế Tôn, liệu có chúng sinh nào nghe được những lời dạy này mà sinh lòng tin thật sự không?"
Phật bảo Tu Bồ Đề: "Đừng nói như vậy. Sau khi Như Lai diệt độ, năm trăm năm sau, có người giữ giới tu phúc, với những lời dạy này có thể sinh tín tâm, coi những lời này là chân thật, nên biết là người ấy không chỉ gieo thiện căn ở một vị Phật, hai vị Phật, ba bốn năm vị Phật, mà là đã gieo thiện căn ở vô lượng nghìn vạn vị Phật. Thậm chí là người nghe được những lời này chỉ một niệm cũng sinh niềm tin thanh tịnh thì Tu Bồ Đề, Như Lai đều biết đều thấy rằng những chúng sinh ấy có được vô lượng phúc đức. Vì sao vậy? Vì các chúng sinh ấy không còn ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng."
"Không còn pháp tướng, cũng không còn phi pháp tướng, là cớ vì sao? Vì các chúng sinh nếu tâm bám vào tướng thì tức là mắc vào ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả."
"Nếu còn bám vào pháp tướng, tức là chấp vào ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả. Là vì sao? Nếu còn bám vào phi pháp tướng, tức là chấp vào ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả. Vì thế, đừng nên chấp pháp, đừng nên chấp phi pháp. Vì ý nghĩa này, Như Lai thường nói: tì kheo các ông nên biết pháp mà ta thuyết giảng như cái bè trên sông, pháp còn nên bỏ, huống hồ không phải là pháp."


### **Phần 07. Vô đắc vô thuyết**


"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như Lai có đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề chăng? Như Lai có thuyết pháp chăng?"
Tu Bồ Đề nói:
"Như con hiểu ý nghĩa mà Phật nói, không có pháp nhất định gọi là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, cũng không có pháp nhất định mà Như Lai có thể nói. Là vì sao? Là vì pháp mà Như Lai nói đều không thể lấy, không thể nói, chẳng phải pháp, chẳng phải phi pháp. Vì sao như thế? Vì tất cả Thánh Hiền đều dựa vào pháp vô vi mà có sự khác biệt."


### **Phần 08. Y pháp xuất sinh**


"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Nếu có người dùng thất bảo đầy cả tam thiên đại thiên thế giới để bố thí, thì phúc đức người đó được nhiều không?"
Tu Bồ Đề nói:
"Thưa Thế Tôn, rất nhiều! Là vì sao? Vì phúc đức ấy cũng tức không phải tính phúc đức, do đó Như Lai nói là phúc đức nhiều."
"Nếu lại có người, nếu thọ trì kinh này, cho dù chỉ bốn câu kệ, vì người khác mà thuyết giảng, thì phúc của người này còn hơn cả bố thí. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Hết thảy chư Phật và pháp A nậu đa la tam miệu tam bồ đề của chư Phật đều từ kinh này mà ra. Tu Bồ Đề! Cái gọi là Phật, pháp, cũng tức không phải Phật, pháp."


### **Phần 09. Nhất tướng vô tướng**


"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Một vị Tu Đà Hoàn có thể có suy nghĩ "Ta đã đắc quả Tu Đà Hoàn" không?"
Tu Bồ Đề nói: 
"Không thể, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Tu Đà Hoàn còn được gọi là Nhập Lưu, nhưng không có chỗ nào mà nhập vào, không nhập vào sắc - thanh - hương - vị - xúc - pháp thì gọi là Tu Đà Hoàn."
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Một vị Tư Đà Hàm có thể có suy nghĩ "Ta đã đắc quả Tư Đà Hàm" không?"
Tu Bồ Đề nói:
"Không thể, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Tư Đà Hàm còn gọi là Nhất Vãng Lai, nhưng thật ra không hề có sự đến đi, thì gọi là Tư Đà Hàm."
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Một vị A Na Hàm có thể có suy nghĩ "Ta đã đắc quả A Na Hàm" không?"
Tu Bồ Đề nói:
"Không thể, thưa Thế Tôn! Là vì sao? A Na Hàm còn gọi là Bất Lai, mà thật sự không có không đến thì gọi là A Na Hàm."
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Một vị A La Hán có thể có suy nghĩ "Ta đã đắc đạo A La Hán" không?"
Tu Bồ Đề nói:
"Không thể, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Thật ra không có pháp danh là A La Hán. Thưa Thế Tôn! Nếu A La Hán có suy nghĩ: "Ta đã đắc đạo A La Hán", tức là đã chấp vào ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả. Thế Tôn! Phật nói con đã đắc Vô Tránh Tam Muội, là đệ nhất trong số con người, là A La Hán bậc nhất đã lìa bỏ tham dục. Thưa Thế Tôn! Con không khởi suy nghĩ "Ta đã đắc đạo A La Hán". Thế Tôn! Nếu con khởi suy nghĩ "Ta đã đắc đạo A La Hán" thì Thế Tôn đã chẳng nói rằng Tu Bồ Đề là hành giả ưa thích hạnh A Lan Na. Do Tu Bồ Đề thật sự vô sở hạnh, nên nói là Tu Bồ Đề ưa thích hạnh A Lan Na."
[ND: A Lan Na chỉ nơi yên tĩnh, thanh tịnh cho tì kheo sống để chuyên tâm tu tập.]


### **Phần 10. Tịnh thổ trang nghiêm**


Phật hỏi Tu Bồ Đề:
"Ý ông thế nào? Xưa kia Như Lai ở chỗ của Phật Nhiên Đăng, có đạt được điều gì về pháp không?"
"Không có, thưa Thế Tôn! Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng thật không đạt được điều gì về pháp."
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Bồ Tát có làm trang nghiêm Phật thổ không?"
"Không có, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Người làm trang nghiêm cõi Phật tức không trang nghiêm, thì gọi là trang nghiêm."
"Vì thế Tu Bồ Đề, các Bồ Tát Ma Ha Tát nên như thế mà sinh tâm thanh tịnh, không nên trụ vào sắc mà sinh tâm, không nên trụ vào thanh - hương - vị - xúc - pháp mà sinh tâm, nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy."
"Tu Bồ Đề! Ví như có người, thân to như núi Tu Di, ý ông thế nào, là thân ấy rất to lớn chăng?"
Tu Bồ Đề nói: 
"Rất lớn, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Phật nói không phải thân, thì gọi là thân lớn."


### **Phần 11. Phúc vô vi là hơn hết**


"Tu Bồ Đề! Giống như tất cả số cát có trong sông Hằng, bao nhiêu hạt cát là bấy nhiêu sông Hằng, ý ông thế nào, số cát trong tất cả số sông Hằng ấy có nhiều không?"
Tu Bồ Đề nói: 
"Rất nhiều, thưa Thế Tôn! Chỉ riêng số sông Hằng đã nhiều vô số huống chi là cát!"
"Tu Bồ Đề! Nay ta nói lời thật cho ông nghe: nếu có thiện nam, thiện nữ, dùng thất bảo nhiều bằng tất cả số cát sông Hằng trong tam thiên đại thiên thế giới để bố thí thì phúc ấy có nhiều không?"
Tu Bồ Đề nói:
"Rất nhiều, thưa Thế Tôn!"
Phật bảo Tu Bồ Đề: 
"Nếu có thiện nam, thiện nữ, cho dù chỉ niệm bốn câu kệ trong kinh này, vì người khác mà thuyết giảng, thì phúc đức ấy còn hơn cả phúc đức nói ở trên."


### **Phần 12. Tôn trọng chính giáo**


"Lại nữa, Tu Bồ Đề, nói theo kinh này, cho dù chỉ bốn câu kệ, nên biết nơi này, tất cả thế gian, Trời, Người, Atula, đều nên cúng dường, ví như chùa tháp Phật, huống hồ có người hết sức thọ trì đọc tụng. Tu Bồ Đề! Nên biết rằng người này thành tựu pháp tối thượng đệ nhất hi hữu. Những nơi nào có kinh điển này thì xem như có Phật hoặc đệ tử đáng tôn trọng."


### **Phần 13. Thọ trì đúng như pháp**


Lúc này, Tu Bồ Đề bạch Phật rằng:
"Thế Tôn! Kinh này tên gọi là gì? Chúng con phụng trì ra sao?"
Phật bảo Tu Bồ Đề:
"Kinh này tên gọi là "Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật", các ông nên dựa vào tên này mà phụng trì. Vì sao như vậy? Tu Bồ Đề! Phật nói Bát Nhã Ba La Mật, tức chẳng phải Bát Nhã Ba La Mật, nên gọi là Bát Nhã Ba La Mật. Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như Lai có từng thuyết pháp không?"
Tu Bồ Đề bạch Phật rằng:
"Thế Tôn! Như Lai không thuyết pháp."
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Tất cả vi trần trong tam thiên đại thiên thế giới có nhiều không?"
Tu Bồ Đề nói:
"Rất nhiều, thưa Thế Tôn!"
"Tu Bồ Đề! Các vi trần ấy, Như Lai nói rằng chẳng phải vi trần, thì gọi là vi trần. Như Lai nói thế giới chẳng phải là thế giới thì gọi là thế giới."
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Có thể dựa vào ba mươi hai tướng mà thấy Như Lai không?"
"Không thể, thưa Thế Tôn! Không thể dựa vào ba mươi hai tướng mà thấy Như Lai. Là vì sao? Như Lai nói: ba mươi hai tướng tức chẳng phải tướng, do vậy gọi là ba mươi hai tướng."
"Tu Bồ Đề! Nếu có thiện nam, thiện nữ, dùng thân mạng nhiều như cát sông Hằng mà bố thí, nếu lại có người cho dù chỉ thọ trì bốn câu kệ trong kinh này, vì người khác mà giảng thuyết, thì phúc ấy rất nhiều!"


### **Phần 14. Lìa tướng tịch diệt**


Khi ấy, Tu Bồ Đề đã nghe giảng kinh này, hiểu sâu ý nghĩa, rớt nước mắt mà bạch Phật rằng: 
"Thật hiếm có, thưa Thế Tôn! Phật nói kinh điển thâm sâu như vậy, huệ nhãn của con từ xưa tới nay chưa từng thấy kinh điển như vậy. Thế Tôn! Nếu lại có người nghe được kinh này, tín tâm thanh tịnh, liền sinh thực tướng, nên biết người này thành tựu công đức hi hữu đệ nhất. Thế Tôn! Thực tướng ấy tức chẳng phải tướng, vì thế Như Lai nói là thực tướng. Thưa Thế Tôn! Nay con nghe được kinh điển này, tin hiểu thọ trì cũng không khó gì. Nhưng nếu đời sau, năm trăm năm sau, có chúng sinh nghe được kinh này mà tin hiểu thọ trì, thì người ấy cũng là bậc nhất hiếm có. Là vì sao? Vì người này vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Thế rồi thì sao? Ngã tướng tức chẳng phải tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng tức chẳng phải tướng. Là vì sao? Lìa bỏ tất cả mọi tướng thì gọi là chư Phật."

Phật bảo Tu Bồ Đề:
"Đúng vậy! Đúng vậy! Nếu lại có người, nghe được kinh này, không kinh, không hãi, không sợ, nên biết rằng người này rất hiếm có. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Như Lai nói: đệ nhất Ba la mật, tức chẳng phải đệ nhất Ba la mật, thì gọi là đệ nhất Ba la mật. Tu Bồ Đề! Nhẫn nhục Ba la mật, Như Lai nói chẳng phải là nhẫn nhục Ba la mật, thì gọi là nhẫn nhục Ba la mật. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Như khi xưa ta bị vua Ca Lợi cắt đứt thân thể, ta khi ấy vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Là vì sao? Ngày xưa khi ta bị cắt ra từng phần, nếu có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, thì ắt sinh lòng sân hận. Tu Bồ Đề! Lại nhớ năm trăm kiếp quá khứ ta làm tiên nhân nhẫn nhục, vào thời ấy, không có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng. Thế nên, Tu Bồ Đề! Bồ Tát nên lìa bỏ tất cả mọi tướng, phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, không nên trụ trong sắc mà sinh tâm, không nên trụ trong thanh hương vị xúc pháp mà sinh tâm, nên sinh tâm vô sở trụ. Nếu tâm có nơi trụ cũng tức là không phải trụ."
"Thế nên Phật nói: tâm Bồ Tát không nên trụ trong sắc mà bố thí. Tu Bồ Đề! Bồ Tát nên vì lợi ích của tất cả chúng sinh mà bố thí như vậy. Như Lai nói: tất cả mọi tướng tức chẳng phải tướng. Lại nói: tất cả chúng sinh tức chẳng phải chúng sinh. Tu Bồ Đề! Như Lai nói lời chân chính, đúng thật, như nghĩa, không nói dối, không nói lời sai khác."
"Tu Bồ Đề! Pháp mà Như Lai có được, pháp này không thực không hư. Tu Bồ Đề! Nếu tâm Bồ Tát trụ vào pháp mà làm việc bố thí, thì giống như người đi vào chỗ tối, cũng chẳng thấy gì. Nếu tâm Bồ Tát không trụ vào pháp mà làm việc bố thí thì giống như người có mắt, nhờ ánh sáng chiếu soi mà thấy đủ mọi sắc tướng."
"Tu Bồ Đề! Vào các đời sau, nếu có thiện nam, thiện nữ có thể thọ trì đọc tụng kinh này thì xem như Như Lai dùng trí huệ Phật mà đều biết người ấy, đều thấy người ấy đều đạt thành tựu công đức vô lượng vô biên."


### **Phần 15. Công đức trì kinh**


"Tu Bồ Đề! Nếu có thiện nam, thiện nữ vào đầu ngày mới dùng thân nhiều như số cát sông Hằng mà bố thí, vào giữa ngày dùng thân nhiều như số cát sông Hằng mà bố thí, vào cuối ngày dùng thân nhiều như số cát sông Hằng mà bố thí, cứ như thế trong vô lượng trăm nghìn vạn ức kiếp dùng thân mà bố thí; nếu lại có người nghe kinh điển này, tín tâm thuận theo, thì phúc còn hơn cả công đức bố thí kia, huống chi là chép viết, thọ trì, đọc tụng, vì người khác mà giảng thuyết."
"Tu Bồ Đề! Lời quan trọng nhất là kinh này có công đức vô biên bất khả tư nghì, không thể đo lường. Như Lai vì những người phát tâm Đại thừa mà nói, vì những người phát tâm Tối thượng thừa mà nói. Nếu có người có thể thọ trì đọc tụng, vì người khác mà rộng rãi giảng thuyết, thì Như Lai đều biết người này, đều thấy người này đạt thành tựu công đức không thể đo lường, không thể cân tính, không có biên giới, không thể nghĩ bàn. Những người như thế tức là gánh vác A nậu đa la tam miệu tam bồ đề của Như Lai. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Nếu người nào yêu thích pháp nhỏ, chấp vào ngã kiến, nhân kiến, chúng sinh kiến, thọ giả kiến, thì đối với kinh này không thể nghe, thọ trì, đọc tụng, vì người khác mà giảng thuyết."
"Tu Bồ Đề! Bất kì nơi nào có kinh này, thì tất cả thế gian, Trời, Người, Atula, đều nên cúng dường, nên biết nơi này tức là tháp, đều nên cung kính, làm lễ nhiễu quanh, dùng mọi hoa thơm mà rải khắp nơi ấy."


### **Phần 16. Có thể làm sạch nghiệp chướng**


"Tiếp nữa, Tu Bồ Đề! Thiện nam, thiện nữ thọ trì đọc tụng kinh này, nếu bị người khác khinh chê, thì người này do nghiệp kiếp trước đáng lẽ phải đọa ác đạo, thì đời này do bị người khinh chê mà nghiệp tội kiếp trước bị tiêu diệt, sẽ đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề."
"Tu Bồ Đề! Ta nhớ quá khứ vô lượng a-tăng-kì kiếp trước thời Đức Phật Nhiên Đăng, ta được gặp tám trăm bốn nghìn vạn ức na-do-tha chư Phật, ta đều cúng dường cung kính phụng sự không bỏ sót vị nào. Nếu lại có người, vào thời mạt pháp sau này, có thể thọ trì đọc tụng kinh này, thì công đức người ấy có được so với công đức cúng dường chư Phật của ta nhiều hơn bội phần, trăm phần ta không bằng một phần họ, nghìn vạn ức phần, thậm chí tính toán tỉ dụ thì cũng không thể so bì được."
"Tu Bồ Đề! Nếu thiện nam, thiện nữ vào thời mạt pháp, có thọ trì đọc tụng kinh này thì công đức người đó có được, dù ta nói ra đầy đủ thì có lẽ có người nghe thấy tâm sẽ cuồng loạn, nghi ngờ không tin. Tu Bồ Đề! Nên biết nghĩa kinh này bất khả tư nghì, quả báo cũng bất khả tư nghì."


### **Phần 17. Vô ngã tột cùng**


Khi ấy, Tu Bồ Đề bạch Phật rằng:
"Thưa Thế Tôn! Thiện nam, thiện nữ phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề nên trụ tâm thế nào? Làm sao hàng phục tâm ấy?"
Phật bảo Tu Bồ Đề:
"Thiện nam, thiện nữ phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề nên sinh tâm thế này: ta nên diệt độ tất cả chúng sinh, diệt độ hết thảy chúng sinh rồi nhưng không có một chúng sinh nào thật sự diệt độ. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, tức chẳng phải Bồ Tát. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Vì thật không có pháp phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề."
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng có được pháp phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề không?"
"Không có, thưa Thế Tôn! Như con hiểu nghĩa Phật nói, Phật ở chỗ Phật Nhiên Đăng không có được pháp A nậu đa la tam miệu tam bồ đề."
Phật nói:
"Đúng thế, đúng thế. Tu Bồ Đề! Thật không có pháp Như Lai đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Tu Bồ Đề! Nếu có pháp Như Lai đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề thì Phật Nhiên Đăng ắt không thọ kí cho ta rằng: "Vào đời sau sẽ thành Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni." Vì thật không có pháp A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, nên Phật Nhiên Đăng mới thọ kí cho ta mà nói rằng: "Vào đời sau sẽ thành Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni." Là vì sao? Vì Như Lai tức là mọi pháp đều như nghĩa."
"Nếu có người nói: Như Lai đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Tu Bồ Đề! Thật không có pháp Phật đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Tu Bồ Đề! A nậu đa la tam miệu tam bồ đề mà Như Lai có được trong ấy không thật không hư. Vì thế Như Lai nói: tất cả mọi pháp đều là Phật pháp. Tu Bồ Đề! Nói là tất cả mọi pháp tức chẳng phải tất cả mọi pháp, thế nên gọi là tất cả mọi pháp."
"Tu Bồ Đề! Ví dụ như nói thân người cao lớn."
Tu Bồ Đề nói:
"Thế Tôn! Như Lai nói: thân người cao lớn tức chẳng phải thân lớn, thì gọi là thân lớn."
"Tu Bồ Đề! Bồ Tát cũng như thế. Nếu nói rằng "Ta đang diệt độ vô lượng chúng sinh" thì không gọi là Bồ Tát. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Thật không có pháp gọi là Bồ Tát. Thế nên Phật nói: mọi pháp vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả. Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát nói rằng "Ta đang làm trang nghiêm cõi Phật" thì không gọi là Bồ Tát. Là vì sao? Như Lai nói: trang nghiêm cõi Phật tức chẳng phải trang nghiêm, thì gọi là trang nghiêm. Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát thông đạt pháp vô ngã thì Như Lai nói đó đúng là Bồ Tát."


### **Phần 18. Nhất thể đồng quán**


"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như Lai có nhục nhãn không?"
"Thưa Thế Tôn, đúng vậy! Như Lai có nhục nhãn."
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như Lai có thiên nhãn không?"
"Thưa Thế Tôn, đúng vậy! Như Lai có thiên nhãn."
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như Lai có huệ nhãn không?"
"Thưa Thế Tôn, đúng vậy! Như Lai có huệ nhãn."
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như Lai có pháp nhãn không?"
"Thưa Thế Tôn, đúng vậy! Như Lai có pháp nhãn."
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như Lai có Phật nhãn không?"
"Thưa Thế Tôn, đúng vậy! Như Lai có Phật nhãn."
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như cát có trong sông Hằng, Phật nói đó là cát chăng?"
"Thưa Thế Tôn, đúng vậy! Như Lai nói là cát."
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như trong một con sông Hằng có bao nhiêu cát lại có bấy nhiêu sông Hằng nhiều bằng số cát ấy, lại có số cõi Phật nhiều bằng tất cả cát của tất cả sông Hằng ấy, như thế có nhiều không?"
"Rất nhiều, thưa Thế Tôn!"
Phật bảo Tu Bồ Đề:
"Trong tất cả quốc thổ ấy, tất cả chúng sinh có bao nhiêu loại tâm, Như Lai đều biết. Là vì sao? Như Lai nói: mọi tâm đều chẳng phải tâm, thì gọi là tâm. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Tâm quá khứ không thể đắc, tâm hiện tại không thể đắc, tâm vị lai không thể đắc."


### **Phần 19. Pháp giới thông suốt không ngăn trở**


"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Nếu có người dùng thất bảo tràn đầy khắp tam thiên đại thiên thế giới để bố thí, người ấy vì nhân duyên này có được phúc nhiều không?"
"Đúng thế, thưa Thế Tôn! Người này do nhân duyên ấy mà có phúc rất nhiều."
"Tu Bồ Đề! Nếu phúc đức có thật, Như Lai không nói có được phúc đức nhiều, vì phúc đức là không, nên Như Lai nói có được phúc đức nhiều."


### **Phần 20. Lìa sắc lìa tướng**


"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Có thể dựa vào sắc thân đầy đủ mà thấy Phật không?"
"Không được, thưa Thế Tôn! Không nên dựa vào sắc thân đầy đủ mà thấy Như Lai. Là vì sao? Như Lai nói: mọi tướng đầy đủ tức chẳng đầy đủ, thì gọi là mọi tướng đầy đủ."


### **Phần 21. Không nói điều đã nói**


"Tu Bồ Đề! Ông đừng bảo rằng Như Lai có ý nói "Ta đang thuyết pháp ở mức độ nào đó". Đừng nghĩ như thế, là vì sao? Nếu có người nói Như Lai có thuyết pháp ở mức độ nào đó thì tức là phỉ báng Phật, không thể hiểu được điều ta nói. Tu Bồ Đề! Thuyết pháp đó, không có pháp nào có thể thuyết, thì gọi là thuyết pháp."
Khi ấy, Huệ Mệnh Tu Bồ Đề bạch Phật rằng:
"Thế Tôn! Sẽ lại có chúng sinh ở đời vị lai nghe pháp này mà sinh tín tâm sao?"
Phật nói: 
"Tu Bồ Đề! Đó chẳng phải chúng sinh, chẳng phải không phải chúng sinh. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Chúng sinh đó, Như Lai nói không phải chúng sinh, thì gọi là chúng sinh."


### **Phần 22. Không pháp nào có thể đắc**


Tu Bồ Đề bạch Phật rằng:
"Thế Tôn! Phật đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề là không phải có được sao?"
Phật nói: 
"Đúng thế, đúng thế. Tu Bồ Đề! Ta đối với A nậu đa la tam miệu tam bồ đề thậm chí không có một chút pháp nào có thể có được, nên gọi là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề."


### **Phần 23. Tịnh tâm hành thiện**


"Tiếp nữa, Tu Bồ Đề! Pháp này bình đẳng, không có cao thấp, thì gọi là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Nhờ vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả, tu tất cả pháp thiện, tức là đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Tu Bồ Đề! Pháp thiện đã nói đó, Như Lai nói tức chẳng phải pháp thiện, thì gọi là pháp thiện."


### **Phần 24. Phúc trí không gì sánh bằng**


"Tu Bồ Đề! Nếu tất cả các núi Tu Di chứa trong tam thiên đại thiên thế giới, có người dùng thất bảo tích tụ nhiều như số núi ấy mà bố thí, hoặc có người thọ trì đọc tụng kinh Bát Nhã Ba La Mật này cho dù chỉ bốn câu kệ, vì người khác mà giảng thuyết, thì phúc đức của người bố thí so với người trì kinh trăm phần không bằng một phần, trăm nghìn vạn ức phần, thậm chí tính toán tỉ dụ thì cũng không thể so bì được."


### **Phần 25. Hóa vô sở hóa**


"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Các ông đừng bảo rằng Như Lai có ý nói: "Ta đang độ chúng sinh". Tu Bồ Đề! Đừng nghĩ như thế. Là vì sao? Thật không có chúng sinh nào được Như Lai độ. Nếu có chúng sinh nào được Như Lai độ thì Như Lai ắt có ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả. Tu Bồ Đề! Như Lai nói: "Có ngã, tức chẳng phải có ngã, nhưng kẻ phàm phu cho là có ngã." Tu Bồ Đề! Phàm phu đó Như Lai nói tức chẳng phải phàm phu, thì gọi là phàm phu."


### **Phần 26. Pháp thân phi tướng**


"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Có thể dựa vào ba mươi hai tướng mà quán đó là Như Lai không?"
Tu Bồ Đề nói:
"Đúng thế! Đúng thế! Dựa vào ba mươi hai tướng mà quán Như Lai."
Phật nói:
"Tu Bồ Đề! Nếu dùng ba mươi hai tướng mà quán Như Lai thì Chuyển Luân Thánh Vương tức là Như Lai."
Tu Bồ Đề bạch Phật rằng:
"Thưa Thế Tôn! Theo con hiểu nghĩa Phật nói, không nên dựa vào ba mươi hai tướng mà quán Như Lai."
Khi ấy, Thế Tôn bèn nói bài kệ:
Nếu do sắc thấy ta
Do âm thanh cầu ta
Người ấy hành tà đạo
Không thể thấy Như Lai. 


### **Phần 27. Không đoạn không diệt**


"Tu Bồ Đề! Nếu ông nghĩ rằng: vì Như Lai chẳng dựa vào các tướng đầy đủ mà đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Tu Bồ Đề! Chớ nghĩ rằng: Như Lai chẳng dựa vào các tướng đầy đủ mà đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề." 
"Tu Bồ Đề! Nếu ông nghĩ rằng, người phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề nói mọi pháp đoạn diệt. Đừng nghĩ như vậy! Là vì sao? Người phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề đối với pháp không nói tướng đoạn diệt."


### **Phần 28. Không thọ không tham**


"Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát đem thất bảo đầy trong thế giới nhiều như số cát sông Hằng để bố thí, nếu lại có người biết tất cả pháp là vô ngã nên thành tựu pháp nhẫn, thì công đức của Bồ Tát này có được còn hơn cả công đức của Bồ Tát trước. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Là vì các Bồ Tát không nhận phúc đức."
Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: 
"Thế Tôn! Vì sao nói Bồ Tát không nhận phúc đức?"
"Tu Bồ Đề! Bồ Tát không nên tham chấp vào phúc đức có được nên mới nói là không nhận phúc đức."


### **Phần 29. Uy nghi tịch tĩnh**


"Tu Bồ Đề! Nếu có người nói: Như Lai hoặc đến hoặc đi, hoặc ngồi hoặc nằm, thì người đó không hiểu nghĩa ta nói. Là vì sao? Vì Như Lai đó chẳng từ đâu đến, chẳng đi về đâu, nên gọi là Như Lai."


### **Phần 30. Lí lẽ về một hợp tướng**


"Tu Bồ Đề! Nếu thiện nam, thiện nữ nghiền nát tam thiên đại thiên thế giới thành vi trần, ý ông thế nào? Vi trần ấy có nhiều không?"
Tu Bồ Đề nói:
"Rất nhiều, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Nếu những vi trần là thật có thì Phật ắt không nói là vi trần. Vì sao như thế? Phật nói: vi trần tức chẳng phải vi trần, thì gọi là vi trần. Thế Tôn! Như Lai nói tam thiên đại thiên thế giới tức chẳng phải thế giới, thì gọi là thế giới. Là vì sao? Nếu thế giới thật có thì ắt là một hợp tướng. Như Lai nói: một hợp tướng, tức chẳng phải một hợp tướng, thì gọi là một hợp tướng."
"Tu Bồ Đề! Một hợp tướng đó ắt không thể nói, chỉ có người phàm phu tham chấp vào việc đó."


### **Phần 31. Tri kiến chẳng sinh**


"Tu Bồ Đề! Nếu có người nói: Phật nói ngã kiến, nhân kiến, chúng sinh kiến, thọ giả kiến. Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Người đó có hiểu nghĩa ta nói không?"
"Không hiểu, thưa Thế Tôn! Là người ấy không hiểu nghĩa Như Lai nói. Là vì sao? Thế Tôn nói: ngã kiến, nhân kiến, chúng sinh kiến, thọ giả kiến, tức chẳng phải ngã kiến, nhân kiến, chúng sinh kiến, thọ giả kiến, thì gọi là ngã kiến, nhân kiến, chúng sinh kiến, thọ giả kiến."
"Tu Bồ Đề! Người phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, đối với tất cả các pháp, nên biết như vậy, nên thấy như vậy, nên tin hiểu như vậy, không sinh pháp tướng. Tu Bồ Đề! Pháp tướng đã nói đó, Như Lai nói tức chẳng phải pháp tướng, thì gọi là pháp tướng."


### **Phần 32. Ứng hóa không phải thật**


"Tu Bồ Đề! Nếu có người dùng thất bảo đầy khắp vô lượng a-tăng-kỳ thế giới để bố thí, nếu có thiện nam, thiện nữ phát tâm bồ đề, trì bản kinh này cho dù chỉ bốn câu kệ, thọ trì đọc tụng, vì người khác mà giảng thuyết rộng rãi, thì phúc của người này còn hơn cả người cúng dường kia. Thế nào gọi là người diễn thuyết? Không giữ vào tướng, như như bất động. Là vì sao?"

"Tất cả pháp hữu vi
Như mộng huyễn bào ảnh
Như sương cũng như điện
Nên quán thấy như vậy."

Phật nói kinh đã xong, trưởng lão Tu Bồ Đề và các tì kheo, tì kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di, tất cả thế giới, Trời, Người, Atula nghe điều Phật nói đều vô cùng hoan hỉ, tín thọ phụng hành.

(Hết.)

---
# File: kinh-luat-luan/kinh-dai-thong-phuong-quang-sam-hoi-diet-toi-trang-nghiem-thanh-phat.md
# Title: Kinh Đại Thông Phương Quảng Sám Hối Diệt Tội Trang Nghiêm Thành Phật
---

![image](/img/img_b1c0ebe1b5784a6c3164b03de0605202.jpg)



## **Kinh Đại Thông Phương Quảng Sám Hối Diệt Tội Trang Nghiêm Thành Phật**


Đây là bản kinh được sử dụng và lưu truyền trong Chân Phật Tông. 

Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

(Dịch từ nguyên bản tiếng Trung trong Phật Đệ Tử Văn Khố - Đài Loan)

---

### **Quyển Thượng**


Tôi nghe như vầy. Một thời, Đức Phật ở thành Vương Xá, cùng với tám vạn đại tì kheo, các Bồ Tát ba vạn sáu nghìn người. Trong một đời đã rời xa tất cả cái chướng. Ở trước Như Lai. Khuyên thỉnh tuyên thuyết. Phương tiện mật ý. Làm thành Phật địa. Đều được thanh tịnh. Sự nghiệp Như Lai. Nhậm vận thành tựu. Nhờ uy đức của chư Phật mà kiến lập. Để bảo hộ pháp khí. Thọ trì Đại thừa. Như sư tử gầm. Chấn đại pháp lôi. Mười phương nghe tiếng. Đức ấy cao lớn. Như núi Tu Di. Trí năng sâu rộng. Tựa như biển lớn. Hàng phục chúng ma. Hút các ngoại đạo. Khiến họ thanh tịnh. Có đủ mọi lực. Vô ngại giải thoát. An trụ bất động. Niệm định tổng trì. Vui thuyết biện tài. Tứ đẳng lục độ. Vô lượng phương tiện. Tất cả pháp nghĩa. Đều có đầy đủ. Tùy thuận chúng sinh. Chuyển bất thối luân. Chỉ trí hữu-vô. Khéo giải pháp tướng. Hiện vào ba cõi. Năm mắt thấy biết. Căn của chúng sinh. Uy đức vô lượng. Chở che đại chúng. Thiền định trí năng. Để tu tâm ấy. Tướng đẹp nghiêm thân. Mọi tướng đệ nhất. Tâm như hư không. Xả mọi sắc đẹp ở trong thế gian. Đạt mọi pháp tính. Trí năng vô ngại. Khéo biết chúng sinh. Vãng lai các cõi. Đủ mọi tam muội. Gần vô đẳng đẳng. Trồng căn lành lâu. Đắc được trí năng tự tại của Phật. Có đủ mười lực. Bốn không sợ hãi. Mười tám bất cộng pháp. Thông đạt các cõi lành. Đóng mọi cửa ác đạo. Xem chúng sinh bình đẳng. Coi như con của mình. Thị hiện sinh thân. Ở trong năm cõi. Muốn độ chúng sinh. Làm đại y vương. Sống trong sinh tử. Khéo biết các bệnh. Cho thuốc đúng bệnh. Bảo họ uống vào. Mãi lìa sinh tử. Có ai nghe được. Đều được giải thoát. Có được đầy đủ công đức vô lượng. Đã từng cúng dường, trong kiếp quá khứ, vô lượng chư Phật. Thấy rõ Phật tính. Như các Như Lai. Thường nói chúng sinh. Đều có Phật tính.

Các vị ấy là: 
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Ma Ha Tát.
Định Quang Bồ Tát Ma Ha Tát.
Long Thụ Bồ Tát Ma Ha Tát.
Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Đại Thế Chí Bồ Tát Ma Ha Tát.
Dược Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
Dược Thượng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.
Pháp Tự Tại Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
Sư Tử Hống Bồ Tát Ma Ha Tát.
Đà La Ni Bồ Tát Ma Ha Tát.
Bảo Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Thường Tinh Tấn Bồ Tát Ma Ha Tát.
Bất Hưu Tức Bồ Tát Ma Ha Tát.
Tín Tướng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Vô Thắng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát.
Các vị Bồ Tát Ma Ha Tát như thế có ba vạn sáu nghìn người.

Lại có tám mươi vạn ức chư thiên uy lực. Và các tì kheo, tì kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di, trời, rồng, dạ xoa, người, loài không phải người... Vua Thích Đề Hoàn Nhân và vô lượng thiên nhân. Ở tại không trung. Mưa báu hoa trời. Vô lượng thiên nhạc. Tự nhiên tạo ra. Phạm Ma Tam Bát Thiên. Đốt hương trời vi diệu. Cung dường các Như Lai. Hương khói khắp thập phương, trải vô lượng thế giới. Nguyện đều cúng dường khắp, tất cả Phật mười phương. Cúng dường mười phương tất cả mọi pháp. Cúng dường mười phương tất cả các đại Bồ Tát. Các chư thiên này. Vì lợi như thế. Cúng dường chư Phật. Để cầu Đại thừa. Tức đạo vô thượng.

Bấy giờ Thế Tôn. Cùng vô lượng vô biên đại chúng như vậy vây quanh trước sau. Đi về phía rừng cây sa la. Vào ngày 15 tháng 2. Lúc sắp nhập niết bàn. Dùng thần lực Phật. Đại bi che chở. Thu nhận chúng sinh. Phát âm thanh lớn. Âm thanh đầy ắp. Tất cả mười phương. Tùy tiếng mỗi loài. Để bảo chúng sinh. Hôm nay Như Lai Ứng Chính Biến Tri. Thương xót chúng sinh, che chở chúng sinh, thu nhận chúng sinh. Đều coi bình đẳng. Như con của mình. Người không nơi nương dựa, ta làm nơi nương dựa. Người chưa thấy Phật tính, ta cho thấy Phật tính. Người chưa rời phiền não, ta cho rời phiền não. Người chưa được yên ổn, ta cho được yên ổn. Người chưa được giải thoát, ta cho được giải thoát. Người chưa được an lạc, ta cho được an lạc. Người chưa lìa nghi hoặc, ta cho lìa nghi hoặc. Người chưa được sám hối, ta cho được sám hối. Người chưa được niết bàn, ta cho được niết bàn.

Khi ấy bên đường. Sạch sẽ bằng phẳng. Đất lành may mắn. Ngang dọc ngay ngắn. Mười nghìn do tuần. Phật thấy đất này. Sạch sẽ bằng phẳng. Liền dừng chân nghỉ. Bảo các tì kheo. Nay ở tại đây. Có thể thuyết pháp. 

Khi ấy. Tì kheo A Nan bạch Phật rằng. Thế Tôn! Như Lai Thế Tôn, xưa thường thích núi. Có suối thanh tịnh. Vườn cây hoa trái. Nay ở chỗ này. Không có suối chảy. Cũng chẳng có cây. Cũng không làng mạc, quốc thổ nhân dân. Hôm nay Như Lai. An cư thuyết pháp. Người từ xa đến. Đói lả mệt nhoài. Tính mạng không ổn. Có ăn có mạng. Có mạng có thân. Có thân có đạo. Không ăn không mạng. Không mạng không thân. Không thân không đạo. Nay ở nơi này. Không có những việc phù hợp như vậy. Làm sao Thế Tôn, ở đây thuyết pháp?

Khi ấy, bậc đại trí Xá Lợi Phất. Dùng trí lực Phật. Bảo A Nan rằng. Trước nên vì pháp. Không cần nghĩ nhiều. Như Lai Thế Tôn. Không chỉ mười lực. Bốn không sợ hãi. Như Lai Thế Tôn. Có sức mạnh vô lượng. Tất cả không lo ngại. Trí năng vô lượng. Uy thần vô lượng. Người không nơi nương dựa, cho có nơi nương dựa. Người chưa thấy Phật tính, lệnh cho thấy Phật tính. Người chưa rời phiền não, lệnh cho rời phiền não. Người chưa được yên ổn, lệnh cho được yên ổn. Người chưa được giải thoát, lệnh cho được giải thoát. Người chưa được an lạc, lệnh cho được an lạc. Người chưa lìa nghi hoặc, lệnh cho lìa nghi hoặc. Người chưa được sám hối, lệnh cho được sám hối. Người chưa được niết bàn, lệnh cho được niết bàn. Như Lai Thế Tôn. Có thần lực vô lượng như vậy. Lo gì Như Lai. Mà không tự nhiên. Tôi nhớ ngày xưa. Duy Ma Đại Sĩ. Vì chúng sinh thuyết pháp. Bồ Tát phương khác. Thanh Văn Duyên Giác. Chư Thiên uy lực. Long Thần đại chúng. Tụ tập trong nhà. Chưa từng có ăn. Khi ấy tôi nghĩ. Các thiên chúng này. Lấy gì mà ăn. Đại Sĩ Duy Ma. Liền bảo tôi rằng. Thanh Văn thiếu trí. Nên nhớ chính pháp. Nói phải thấy rằng. Cơm áo ghế giường. Là làm hại mạng. Duy Ma Đại Sĩ. Khi nói lời ấy. Thiên nhân đắc đạo. Còn tôi hổ thẹn. Nay điều ông nghĩ. Cũng lại như thế.

Khi ấy Như Lai. Liền bảo A Nan. Thật đúng như lời đại trí Xá Lợi Phất nói. Nên nghĩ Đại thừa. Chớ nghĩ an thân. Nói xong lời ấy. Liền nhập tam muội. Dùng uy thần lực. Ngay trên mặt đất. Có bông hoa vàng. Từ đất mọc lên. Hoa ấy vươn cao. Bốn mươi vạn do tuần. Phủ khắp ba nghìn đại thiên thế giới. Lưới võng lưu ly, phủ trên hoa vàng. Bên dưới hoa vàng, có hồ bơi quý, ngang hàng với hoa, tên là nước tám loại công đức. Nước thơm tràn đầy. Xung quanh hồ nước có đủ loại hoa. Có hoa upala. Có hoa kumuda. Có hoa paduma. Có hoa pundari. Các loài hoa như thế. Vô lượng đủ loại danh hoa. Trang nghiêm hồ quý. Nếu nhìn hoa vàng hồ quý như vậy. Đắc pháp nhãn tịnh. Huống chi xuống nước, tắm ở trong hồ. Nếu được tắm gội, sẽ đắc thanh tịnh vô sinh pháp nhẫn. Bên dưới hoa vàng. Có bảo tọa sư tử. Sư tử tọa này. Cao trăm do tuần.

Khi ấy Như Lai. Ngồi trên bảo tọa. Các lỗ chân lông. Toàn thân trên dưới. Phóng đại quang minh. Ánh vàng của Như Lai. Cùng sắc với hoa vàng. Xung quanh hoa quý. Ánh vàng tuôn ra. Chiếu khắp mười phương, tất cả Phật thổ. Hoa vàng ánh Phật. Chiếu đến nơi nào. Sơn cốc lãnh thổ. Cao thấp bằng phẳng. Đều thành kim sắc. Không còn nhơ bẩn. Địa ngục ngừng lại. Ngạ quỷ giải thoát. Trừ Nhất-xiển-đề [Icchantika - hạng người không có lòng tin]. Báng kinh Phương Đẳng. Với thần lực Phật. Các quốc thổ khác. Và cả cõi này. Đều là ngang hàng. Không có khác biệt. Thập phương chư Phật. Thấy ánh sáng ấy. Đồng loạt cất lời. Tán thán Thích Ca. Lành thay lành thay. Thế Tôn đại từ. Nay phóng quang minh. Khác ánh sáng thường. Ngày xưa phóng quang. Chiếu phương đông trước. Ngày nay phóng quang. Cùng lúc bốn phương. Chiếu khắp mười phương. Nên biết ánh sáng này, muốn độ tất cả chúng sinh khổ não. Ra ngoài ba cõi. Đến đại niết bàn. 

Khi ấy. Chư Phật mười phương. Dị khẩu đồng thanh. Bảo các thị giả. Các đại Bồ Tát. Các thiện nam tử. Các người nên biết. Hôm nay trong nước thế giới Ta Bà. Thích Ca Mâu Ni Như Lai. Phóng đại quang minh. Tất nói diệu pháp. Độ chúng sinh khổ. Giờ đây các người. Nên sang nước đó. Cúng dường Phật ấy. Xin giải mối nghi. Nghe kinh nhận pháp. Chúng sinh nước ấy. Trước nay cương ác. Giả dối không thật. Không tin một thừa. Thích Ca đại từ. Vạn phương tiện khéo. Để mở ba thừa. Độ thoát ba cõi. Tuy nói ba thừa. Thượng ngữ cũng khéo. Trung ngữ cũng khéo. Hạ ngữ cũng khéo. Nghĩa vị thậm thâm. Đầy đủ thuần khiết. Phật Thế Tôn ấy. Trăm nghìn vạn kiếp. Cũng chẳng gặp được. Kinh pháp nói ra. Chẳng dễ được nghe. Đại chúng nước ấy. Chẳng dễ gặp thời. Nơi Thích Ca sinh. Kim hoa kỳ diệu. Chẳng dễ được thấy. Vì thế các người. Nay qua nước ấy. Gặp được Phật ấy. Thỉnh hỏi điều nghi. Mình được lợi ích. Lợi cả chúng sinh. 

Lời ấy nói xong. Mười phương cõi Phật. Mỗi cõi đều có. Mười ức Bồ Tát. Lập tức đứng dậy. Để làm lễ Phật. Rồi cùng đi đến. Mỗi một Bồ Tát. Đều có trăm nghìn âm nhạc. Mưa báu diệu hoa. Đi đến chốn Phật. Khi tới nơi rồi. Nhiễu Phật bảy vòng. Lễ dưới chân Phật. Lui ngồi một bên. Cùng nhau nói ra. Dị khẩu đồng thanh. Mà bạch Phật rằng. Thế Tôn. Chúng con hôm nay. Có điều nghi vấn. Cúi mong Thế Tôn. Vì chúng con nói. Lợi ích chúng sinh.

Khi ấy. Phật bảo các Bồ Tát Ma Ha Tát đến đó rằng. Các thiện nam tử. Nếu có điều nghi. Nay đều hỏi được. Ta sẽ vì ngươi. Quyết định nói rõ. 

Khi ấy. Các Bồ Tát bạch Phật rằng. Thế Tôn. Như Lai nước con. Chỉ nói một thừa. Cớ sao Như Lai. Lại nói ba thừa. 

Khi ấy Thế Tôn. Dùng trí vô ngại. Bảo các Bồ Tát. Hôm nay các người. Vì lợi chúng sinh. Hỏi ta nghĩa đó. Vậy hãy lắng nghe. Các thiện nam tử. Ví dụ một người. Lại có ba tên. Khi nhỏ gọi thiếu niên. Hai mươi gọi trung niên. Quá tám mươi gọi lão niên. Nay ta nói ba thừa. Cũng là vì như thế. Với người Thanh Văn, tâm còn sơ bé, ta nói Tiểu thừa. Với người Duyên Giác, tâm ở mức trung, ta nói Trung thừa. Với người Bồ Tát, có đạo tâm lớn, ta nói Đại thừa. Các thiện nam tử. Hãy nghe cho kĩ. Lý vô nhị biên. Đồng quy một chốn. Tách ra khác luật. Chung quy nhất quán. Lý là một thừa. Phân thành ba thừa. Thanh Văn Duyên Giác thừa. Đều nhập Đại Thừa. Như Đại thừa đó. Tức là Phật thừa. Cho nên ba thừa. Tức là một thừa.

Khi thuyết pháp này. Trong hội tất cả. Mười nghìn Bồ Tát. Đắc vô sinh nhẫn. Tám trăm tì kheo. Đắc quả La Hán. Hai vạn thiên nhân. Đắc pháp nhãn tịnh. Tám trăm vạn người. Phát tâm bồ đề.

Khi đó Bồ Tát. Đến từ mười phương. Cùng nhau chắp tay. Mà bạch Phật rằng. Chúng con hôm nay. Nhờ lực Phật kia. Mà đến nước này. Được thấy Thế Tôn. Được nghe Đại thừa. Mong cho chúng con. Thọ trì kinh này. Sau khi Phật diệt. Ở quốc độ này. Và những nơi khác. Dưới cây núi rừng. Nơi thần tiên ngụ. Thành thị làng mạc. Đồng hoang mộ địa. Dưới cây đất trống. Tháp chùa tăng phường. Các hội giảng pháp. Nơi người tục ở. Nhà nhà người người. Lan truyền rộng rãi. Khiến kinh còn mãi. Là vì cớ sao. Kinh này tồn tại. Khiến cho đường ác. Cắt đứt lâu dài. Sở dĩ như thế. Từng nghe Phật nói. Địa ngục chẳng nhàn. Nếu tụng một câu. Chư Thiên hoan hỷ. Thường đến thân cận. Tự nhiên tu thiện. Nếu có người nào. Nghe kinh Phương Quảng. Vui mừng kính tín. Viết chép đọc tụng. Thọ trì lễ bái. Xưng niệm trong kinh. Một danh hiệu Phật. Một tên Bồ Tát. Người ấy đời này. Được sống yên ổn. Không thấy cái ác. Đến khi mệnh hết. Bồ Tát chúng tôi. Đến trước người đó. Dẫn về nước tôi. Cùng sinh một nơi. Là duyên cớ gì. Là vì người đó. Thọ trì kinh này. Người thọ trì kinh. Tức giữ thân Phật. Người giữ thân Phật. Nên biết người ấy. Tức là Bồ Tát. Vì thế người này. Bạn học cùng tôi. Ấy là nhân duyên. Thọ trì kinh này. Nguyện sinh một chốn. Không lìa bỏ nhau. 

Khi ấy lại có. Các quỷ thần vương. Đại Phạm Thiên Vương. Ba mươi ba thiên. Hộ thế Tứ Thiên Vương. Kim Cang Mật Tích. Các quỷ thần vương. Tán Chỉ Đại Tướng. Na La Long Vương. Nan Đà Long Vương. Bà Nan Đà Long Vương. A Tu La Vương. Ca Lâu La Vương. Đại Biện Thiên Vương. Quỷ Tử Mẫu Thiên Vương. Quỷ thần thần vương các núi. Thụ Thần Vương. Hà Thần Vương. Hải Thần Vương. Địa Thần Vương. Thủy Thần Vương. Hỏa Thần Vương. Phong Thần Vương. Thế rồi vô lượng vô biên các thần vương. Và đại chư Thiên. Đứng dậy khỏi chỗ. Cúi dưới chân Phật. Chắp tay cung kính. Mà bạch Phật rằng. Thế Tôn. Từ nay chúng con. Thường thường hộ trì. Lời Thế Tôn nói. Kinh Phương Quảng này. Nơi nào có kinh. Thần vương chúng con. Thường ở trước kinh. Mà làm thanh tịnh. Nếu ở trong tháp. Hoặc ở trong đền. Tại nhà cư sĩ. Hoặc nơi trống trải. Nếu có người nào. Dùng tay bất tịnh. Cầm lấy kinh này. Hoặc chẳng cung kính. Đọc tụng kinh này. Con khiến kẻ đó. Đi đứng ngồi nằm. Thân tâm bất an. Khắp nơi sợ hãi. Vướng mắc việc ác. Thân này không yên. Chết vào địa ngục. Nếu người cung kính. Thân tâm thanh tịnh. Cầm vào kinh này. Tắm gội thắp hương. Thọ trì đọc tụng. Hoặc là viết chép. Ghi nhớ không quên. Nhớ kinh điển này. Không làm việc ác. Nếu được như thế. Thần vương chúng con. Vì kinh điển này. Bảo hộ người ấy. Người ấy nếu nằm. Thì đứng phía trước. Không cho thấy ác. Và cũng không cho. Ác nhân ác quỷ. Làm hại người ấy. Hoặc nơi họ sống. Bảo vệ nhà ở. Nếu muốn đi lại. Thần vương chúng con. Đi trước người đó. Để mà mở đường. Muốn gì cho nấy. Đi lại bốn phương. Chẳng hề chướng ngại. Thường thấy việc lành. Tới khi mệnh chung. Sinh lên cõi trời. Nhờ đó gặp Phật. Không mất Đại thừa.

Khi đó Thế Tôn. Bảo các Bồ Tát. Và thần vương rằng. Đúng vậy đúng vậy. Điều các người nói. Như kinh điển này. Không thể được nghe. Huống hồ nhìn thấy. Nếu muốn thọ trì. Đọc tụng kinh này. Thường tắm gội sạch. Mặc quần áo mới. Quét sạch nhà cửa. Treo lên cờ lọng. Trang nghiêm trong nhà. Thắp mọi hương thơm. Chiên đàn hương. Bột hương. Các loại phấn thơm. Lễ bái. Sáu thời như thế. Ban đầu một ngày. Cho đến bảy ngày. Trong thời gian đó. Đọc tụng kinh này. Chính tâm chính ý. Chính niệm chính quán. Chính tư duy. Chính tư nghì. Chính thọ trì. Chính dụng hành. Chính giáo hóa. Ngày đêm sáu thời. Lễ bái trong kinh. Chư Phật Bồ Tát. Mười hai bộ kinh. Nếu mà có thể. Lễ bái đọc tụng. Cung kính tin theo. Tội nặng được nói. Ở trong kinh này. Đều diệt trừ hết. Chẳng có nghi ngờ. Là cớ vì sao. Kinh Đại Phương Quảng. Mười phương chư Phật. Theo đó tu hành. Theo đó hộ trì. Là mẹ chư Phật. Là vua các kinh. Kho tàng diệu nghĩa. Là đạo Bồ Tát. Kinh điển Đại thừa. Rộng sâu vi diệu. Cũng như thế gian. Có đủ sáu đại. Không thể nghĩ bàn. Sáu đại là gì. Một là đại địa. Hai là đại thủy. Ba là đại hỏa. Bốn là đại phong. Năm là đại nhật. Sáu là đại không. Kinh như đại địa. Chứa đựng tất cả. Sạch bẩn tốt xấu. Kinh như đại thủy. Tẩy trừ uế ác. Mọi thứ bất tịnh. Kinh như đại hỏa. Đốt cháy tất cả. Phiền não uế ác. Mọi thứ bất tịnh. Kinh như đại phong. Thổi bay tất cả. Bất tịnh uế ác. Kinh như đại nhật. Phổ chiếu tất cả. Những chỗ tối tăm. Kinh như đại không. Có thể dung nạp. Tất cả tốt xấu. Kinh Phương Quảng này. Là kinh Đại thừa. Quảng đại vô đối. Cao đến Bồ Tát. Vừa đến Thanh Văn. Thấp đến hữu tình. Đều dung nạp hết. Vì thế các người. Thọ trì kinh này. Lưu truyền kinh  này. Tín kính kinh này. Sẽ khiến các người. Và các Bồ Tát. Nhập trí huệ Phật. Thấy rõ Phật tính. Sẽ khiến các người. Chư thiên thần vương. Và người thọ trì. Thường được thấy ta. Và thấy tất cả. Chư Phật vị lai. Chuyển đại pháp luân. Ngồi tại đạo tràng. 

Đại chúng khi ấy. Có một Bồ Tát. Tên là Tín Tướng. Từ trong đại chúng. Đứng khỏi chỗ mình. Sửa sang y phục. Lễ dưới chân Phật. Và bạch Phật rằng. Thế Tôn. Nay chúng con đây. Có điều muốn hỏi. Kính mong Thế Tôn. Vì con mà nói. Lời Thế Tôn nói. Có lợi ích lớn. Vô lượng chúng sinh.

Khi ấy. Phật bảo Tín Tướng Bồ Tát. Lành thay lành thay. Thiện nam tử. Nếu có điều hỏi. Tùy ý hỏi đi. Ta sẽ vì ngươi. Mà giải thích rõ. Điều ngươi muốn hỏi. Cũng lợi ích lớn. Vô lượng chúng sinh.

Tín Tướng Bồ Tát. Bèn bạch Phật rằng. Thế Tôn! Con nhớ ngày xưa. Quá khứ xa lắm. Vô lượng đời trước. Có Phật Thế Tôn. Tên là Bảo Thắng. Người nghe tên Phật. Đều sinh về trời. Sau đó không lâu. Ở tại vương quốc Thiên Tự Tại Quang. Trong đồng cỏ hoang. Có một hồ lớn. Nước đã cạn khô. Ở trong hồ có. Mười nghìn cá lớn. Bị phơi dưới nắng. Sắp vào cửa tử. Có một đại sĩ. Tên là Lưu Thủy. Nhìn thấy cá lớn. Sinh lòng từ bi. Cho nước thức ăn. Sống thêm ít ngày. Biết mạng cá ngắn. Nên xưng ba lần. Tên Phật Bảo Thắng. Cá nghe thấy được. Lập tức chết cả. Sinh về Đao Lợi. Vì nhân duyên này. Nay mong Thế Tôn. Vì đại chúng đây. Và các chúng sinh. Ở đời tương lai. Nói tên chư Phật. Và nghe danh hiệu. Thích Ca Thế Tôn. Cũng được lợi ích. Vô lượng vô biên. Vô biên công đức. Thường sống ở nơi. Giàu có vui vẻ. Đã thấy Phật tính. Nhờ nhân duyên này. Nên xin thỉnh cầu. Mong nguyện nói rõ. Độ thoát trọng tội. Do những giới cấm. Mê hoặc chúng sinh. 

Khi ấy Phật bảo Tín Tướng Bồ Tát Ma Ha Tát. Thiện nam tử. Nếu ta quảng thuyết tất cả danh hiệu chư Phật mười phương. Trăm nghìn vạn kiếp. Cũng chẳng nói hết. Tất cả thứ nước. Đếm được số giọt. Cũng không biết hết. Danh hiệu chư Phật. Các núi Tu Di. Biết được cân lạng. Cũng không biết hết. Danh hiệu chư Phật. Tất cả mặt đất. Đếm được hạt bụi. Cũng không biết hết. Danh hiệu chư Phật. Thế giới hư không. Biết được ranh giới. Cũng không biết hết. Danh hiệu chư Phật. Ta vì các người. Lược nói ba đời. Danh hiệu chư Phật. Nếu ai nghe được. Qua tai một lần. Tới lúc mạng hết. Cũng sinh về trời. Nghe rồi tín kính. Lại còn cố gắng. Ra sức chép viết. Xưng tên lễ bái. Diệt được vô lượng. Trọng tội sinh tử. Được phúc vô lượng. Người ấy mệnh chung. Mười phương thế giới. Tùy ý vãng sinh. Cũng được thấy ta. Và thấy vị lai. Hiền kiếp chư Phật. 

Thế Tôn khi ấy. Nói với đại chúng. Các người phải nên. Sửa sang y phục. Chính tâm chính thân. Chính ý chính niệm chính quán. Người muốn nghe pháp. Một lòng phải kính lễ Tu Di Đăng Vương Phật. Kính lễ Bảo Vương Phật. Kính lễ Bảo Thắng Phật. Kính lễ A Di Đà Phật. Kính lễ Tỳ Bà Thi Phật. Kính lễ Đa Bảo Phật. Kính lễ Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính lễ tất cả pháp nhiếp trì. Kính lễ quá số lượng. Kính lễ vô lượng loại. Kính lễ vô biên pháp. Kính lễ nan tư nghì. Kính lễ trụ lực, lực trung lực. Kính lễ mười lực không kinh sợ. Kính lễ tam giới tôn. Kính lễ tất cả đại đạo sư. Kính lễ các vị có thể cắt đứt trói buộc. Kính lễ các vị đã đến được bỉ ngạn. Kính lễ các vị đã vượt qua mọi thế gian. Kính lễ các vị đã vĩnh viễn rời khỏi đạo sinh tử. Kính lễ tam muội đắc giải thoát. Kính lễ hư không không nương dựa. Kính lễ đại pháp vương trong đại chúng. Kính lễ các vị phá hoại bốn ma. Kính lễ các bậc đại từ phụ. Chỉ mong đời đời gặp chư Phật. Thấy rõ Phật tính. Đến đại niết bàn. Là vì sao? Tất cả hữu hình. Đều có Phật tính. Thế là đại chúng. Chắp tay mười ngón. Một lòng lắng nghe. Một lòng cúng dường.

Nghe ta nói ba đời. Tên chư Phật mười phương. Cho đến năm vô gián. 
Phải sinh tướng giải thoát, nếu người không căn lành, ta cũng sẽ nói cho.
Tự họ không thể hiểu, hạt cháy tự mất đi, chỉ còn lại chân thực. 
Trừ bỏ tướng Tiểu thừa, chỉ còn lại Đại thừa, trừ bỏ hai thừa ấy.
Chỉ còn lại một thừa, nếu người không căn lành, không nghe được tiếng đó.
Từng cúng vô lượng Phật, nay được nghe tên Phật, nên biết cần thọ trì.
Người thiếu phần giải thoát, an trụ đất thanh tịnh, nay ở trong pháp ta
Kinh hành làm Phật sự, thọ trì và đọc tụng, lễ bái danh hiệu Phật
Rời bỏ các việc ma, diệt trừ bốn trọng cấm, vô gián Nhất-xiển-đề.
Người ấy đời vị lai, chắc chắn thành Phật đạo. 
Người không sinh lòng tin, tam ác đạo đọa chắc. 
Tin rồi chăm lễ bái, sẽ thấy vô lượng Phật.
Phải nên nhất tâm lễ, nguyện trừ vô lượng tội, cho nên nay kính lễ.

Tất cả đại chúng, chắp tay lắng nghe, thu về thân tâm, không cho động chuyển. Cúi rạp xuống đất. Một lòng lắng nghe.

Khi ấy Thế Tôn. Xưng danh xướng rằng. 
Nam mô quá khứ vô lượng chư Phật. 
Nam mô Nhị vạn Nhật Nguyệt Đăng Minh Phật,
Nam mô Tam vạn Nhiên Đăng Phật.
Nam mô Đại Thông Trí Thắng Phật.
Nam mô Thập lục Tử Phật.
Nam mô Không Vương Phật.
Nam mô Đa Bảo Phật.
Nam mô Vân Tự Tại Đăng Vương Phật.
Nam mô Uy Âm Vương Phật.
Nam mô Vô Số Quang Phật.
Nam mô Tư Thiện Phật.
Nam mô Phân Thân Chư Phật.
Nam mô Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức Phật.
Nam mô Tịnh Hoa Túc Vương Phật.
Nam mô Tịnh Trang Nghiêm Vương Phật.
Nam mô Long Tôn Vương Phật.
Nam mô Vân Lôi Âm Vương Phật.
Nam mô Vân Lôi Túc Chủ Hoa Trí Phật.
Nam mô Bảo Vương Phật.
Nam mô Sa La Thụ Vương Phật.
Nam mô Thượng Uy Đức Bảo Vương Phật.
Nam mô Quang Minh Vương Phật.
Nam mô Bách Ức Định Quang Phật.
Nam mô Quang Viễn Phật.
Nam mô Nguyệt Quang Phật.
Nam mô Chiên Đàn Hương Phật.
Nam mô Thiện Sơn Vương Phật.
Nam mô Tu Di Thiên Quan Phật.
Nam mô Tu Di Đẳng Diệu Phật.
Nam mô Nguyệt Sắc Phật.
Nam mô Chính Niệm Phật.
Nam mô Ly Cấu Phật.
Nam mô Vô Trược Phật.
Nam mô Long Thiên Phật.
Nam mô Bất Động Địa Phật.
Nam mô Lưu Ly Diệu Hoa Phật.
Nam mô Lưu Ly Kim Sắc Phật.
Nam mô Kim Tạng Phật.
Nam mô Viêm Quang Phật
Nam mô Viêm Căn Phật.
Nam mô Địa Chưởng Phật.
Nam mô Nguyệt Tượng Phật.
Nam mô Nhật Âm Phật.
Nam mô Giải Thoát Hoa Phật.
Nam mô Trang Nghiêm Quang Minh Phật.
Nam mô Hải Giác Thần Thông Phật.
Nam mô Thủy Quang Phật.
Nam mô Đại Hương Phật.
Nam mô Ly Hư Cấu Phật.
Nam mô Xả Yếm Ý Phật.
Nam mô Bảo Viêm Phật.
Nam mô Diệu Đính Phật.
Nam mô Dũng Lập Phật.
Nam mô Công Đức Trí Tuệ Phật.
Nam mô Tế Nhật Nguyệt Phật.
Nam mô Nhật Nguyệt Lưu Ly Quang Phật.
Nam mô Vô Thượng Lưu Ly Quang Phật.
Nam mô Tối Thượng Thủ Phật.
Nam mô Bồ Đề Hoa Phật.
Nam mô Nguyệt Minh Phật.
Nam mô Nhật Quang Phật.
Nam mô Hoa Sắc Vương Phật.
Nam mô Thủy Nguyệt Quang Phật.
Nam mô Trừ Nghi Minh Phật.
Nam mô Độ Khổ Hạnh Phật.
Nam mô Tịnh Tín Phật.
Nam mô Thiện Túc Phật.
Nam mô Uy Thần Phật.
Nam mô Pháp Tuệ Phật.
Nam mô Loan Âm Phật.
Nam mô Sư Tử Âm Phật.
Nam mô Long Âm Phật.
Nam mô Xứ Thế Phật.
Nam mô Tự Tại Phật.
Nam mô Vô Lượng Thọ Phật.
Nam mô Vô Lượng Quang Phật.
Nam mô Vô Biên Quang Phật.
Nam mô Vô Ngại Quang Phật.
Nam mô Vô Đối Quang Phật.
Nam mô Quang Viêm Vương Phật.
Nam mô Thanh Tịnh Quang Phật.
Nam mô Hoan Hỷ Quang Phật.
Nam mô Trí Tuệ Quang Phật.
Nam mô Bất Đoạn Quang Phật.
Nam mô Nan Tư Quang Phật.
Nam mô Vô Xưng Quang Phật.
Nam mô Siêu Nhật Nguyệt Quang Phật.
Nam mô Tướng Hảo Tử Quang Phật.
Nam mô Viễn Chiếu Phật.
Nam mô Bảo Tạng Phật.
Nam mô Vô Lượng Âm Phật.
Nam mô Cam Lộ Vị Phật.
Nam mô Long Thắng Phật.
Nam mô Thắng Lực Phật.
Nam mô Sư Tử Âm Phật.
Nam mô Ly Cấu Quang Phật.
Nam mô Đức Thủ Phật.
Nam mô Diệu Đức Sơn Phật.
Nam mô Nhân Vương Phật.
Nam mô Vô Thượng Hoa Phật.
Nam mô Úy Lực Vương Phật.
Nam mô Long Tự Tại Vương Phật.
Nam mô Sư Tử Y Vương Phật.
Nam mô Tự Tại Vương Phật.
Nam mô Phổ Quang Phật.
Nam mô Phổ Minh Phật.
Nam mô Chiên Đàn Hương Quang Phật.
Nam mô Đa La Ma Bạt Chiên Đàn Hương Phật.
Nam mô Hoan Hỷ Tạng Bảo Tích Phật.
Nam mô Thượng Đại Tinh Tiến Phật.
Nam mô Phổ Tịnh Phật.
Nam mô Ma Ni Tràng Phật.
Nam mô Ma Ni Tràng Đăng Quang Phật.
Nam mô Huệ Cự Chiếu Phật.
Nam mô Hải Đức Quang Minh Phật.
Nam mô Kim Cương Lao Cường Phật.
Nam mô Phổ Tán Kim Quang Phật.
Nam mô Đại Cường Tinh Tiến Dũng Mãnh Phật.
Nam mô Dũng Mãnh Phật.
Nam mô Bi Quang Phật.
Nam mô Từ Lực Vương Phật.
Nam mô Từ Tạng Phật.
Nam mô Chiên Đàn Hốt Trang Nghiêm Thắng Phật.
Nam mô Hiền Thiện Thủ Phật.
Nam mô Thiện Giác Phật.
Nam mô Trang Nghiêm Vương Phật.
Nam mô Kim Sơn Bảo Cái Phật.
Nam mô Kim Hoa Viêm Quang Tướng Phật.
Nam mô Đại Cự Quang Minh Phật.
Nam mô Bảo Cái Chiếu Không Tự Tại Lực Vương Phật.
Nam mô Kim Hoa Quang Phật.
Nam mô Hư Không Bảo Hoa Quang Phật.
Nam mô Lưu Ly Trang Nghiêm Vương Phật.
Nam mô Phổ Hiện Sắc Thân Quang Phật.
Nam mô Bất Động Quang Phật.
Nam mô Hàng Phục Chúng Ma Vương Phật.
Nam mô Thiên Quang Minh Phật.
Nam mô Từ Huệ Thắng Phật.
Nam mô Di Lặc Tiên Quang Phật.
Nam mô Thế Tịnh Quang Phật.
Nam mô Thiện Tịch Nguyệt Âm Phật.
Nam mô Diệu Tôn Trí Vương Phật.
Nam mô Bảo Cái Đăng Vương Phật.
Nam mô Long Chủng Thượng Trí Tôn Vương Phật.
Nam mô Nhật Nguyệt Quang Phật.
Nam mô Nhật Nguyệt Châu Quang Phật.
Nam mô Huệ Phan Thắng Trang Nghiêm Vương Phật.
Nam mô Vô Cấu Tạng Phật.
Nam mô Quang Minh Tướng Phật.
Nam mô Kim Viêm Quang Minh Phật.
Nam mô Kim Diệm Quang Minh Tạng Phật.
Nam mô Sư Tử Hống Tự Tại Lực Vương Phật.
Nam mô Diệu Âm Thắng Phật.
Nam mô Thường Quang Tràng Phật.
Nam mô Quan Thế Đăng Vương Phật.
Nam mô Huệ Y Đăng Vương Phật.
Nam mô Pháp Thường Thắng Vương Phật.
Nam mô Tu Di Quang Phật.
Nam mô Tu Ma Na Hoa Quang Phật.
Nam mô Ưu Bát La Hoa Quang Phật.
Nam mô Cường Thắng Lực Vương Phật.
Nam mô Huệ Lực Vương Phật.
Nam mô A Sơ Tỳ Hoan Hỷ Quang Phật.
Nam mô Vô Lượng Âm Thanh Vương Phật.
Nam mô Tài Quang Phật.
Nam mô Kim Hải Quang Phật.
Nam mô Sơn Hải Tuệ Tự Tại Thông Vương Phật.
Nam mô Đại Thông Quang Phật.
Nam mô Nhất Thiết Pháp Thường Mãn Vương Phật.
Nam mô Hiện Vô Ngu Phật.
Nam mô quá khứ vô lượng phân thân chư Phật.
Nam mô quá khứ nhất Phật, thập Phật, bách Phật, thiên Phật, vạn Phật. Có thể trừ trọng tội sinh tử từ vô lượng kiếp đến nay.
Nam mô nhất ức, thập ức, bách ức, thiên ức, vạn ức, na do tha, hằng hà sa, vô lượng a tăng kỳ Phật.
Nếu người nào được nghe vô lượng a tăng kỳ danh hiệu chư Phật đời quá khứ, người đó được tám mươi vạn kiếp không phải đọa địa ngục khổ, vì thế nay kính lễ.

Có người vì lễ bái
Chư Phật đời quá khứ
Diệt tội đắc bản tâm
Lại không tạo mười ác
Và cả năm nghịch tội
Thường được nghe chính pháp
Đầy đủ đạo Đại thừa
Cho nên nay kính lễ.
Chỉ trừ hai hạng người
Một, báng kinh Phương Đẳng
Hai là Nhất-xiển-đề
Nếu người tâm thanh tịnh
Không phải Nhất-xiển-đề,
Thường thấy vô lượng Phật
Cho nên nay kính lễ.
Nếu có phạm trọng tội
Và năm tội vô gián
Mà lòng tin thanh tịnh
Cũng được như pháp trụ
Đều vì do kính lễ
Diệt trừ mười ác nghiệp
Đều đắc giới Đại thừa
Cho nên nay kính lễ.

Khi Phật nói danh hiệu chư Phật đời quá khứ, có mười nghìn Bồ Tát đắc vô sinh nhẫn. Tám trăm Thanh Văn phát thiếu phân tâm. Năm nghìn tì kheo đắc đạo A La Hán. Một ức thiên nhân đắc pháp nhãn tịnh.

Nam mô hiện tại vô lượng chư Phật.
Nam mô Thập ức Vương Minh Chư Phật.
Nam mô Ly Cấu Tử Kim Sa Phật.
Nam mô Vô Lượng Minh Phật.
Nam mô Nhật Chuyển Quang Minh Vương Phật.
Nam mô Hương Tích Phật.
Nam mô Sư Tử Ức Tượng Phật.
Nam mô Sư Tử Du Hý Phật.
Nam mô Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật.
Nam mô Thiên Trụ Công Đức Bảo Vương Phật.
Nam mô Bảo Trang Nghiêm Vương Phật.
Nam mô Nan Thắng Phật.
Nam mô Tu Di Tướng Phật.
Nam mô Tu Di Đăng Vương Phật.
Nam mô Bảo Đức Phật.
Nam mô Bảo Nguyệt Phật.
Nam mô Bảo Viêm Phật.
Nam mô Bảo Nghiêm Phật.
Nam mô Nan Thắng Sư Tử Vương Phật.
Nam mô Đại Quang Vương Phật.
Nam mô Bất Động Phật.
Nam mô Dược Vương Phật.
Nam mô Trang Nghiêm Phật.
Nam mô Lâu Chí Phật.
Nam mô Nguyệt Cái Phật.
Nam mô Phổ Quang Phật.
Nam mô Bảo Vương Phật.
Nam mô Duy Vệ Phật.
Nam mô Thức Vương Phật.
Nam mô Tùy Diếp Phật.
Nam mô Câu Lâu Tần Phật.
Nam mô Câu Na Hàm Mâu Ni Phật.
Nam mô Ca Diếp Phật.
Nam mô Lôi Âm Vương Phật.
Nam mô Ký Pháp Tạng Phật.
Nam mô Chiên Đàn Hoa Phật.
Nam mô Chiên Đàn Diếp Phật.
Nam mô Diệu Ý Phật.
Nam mô Vô Thượng Thắng Phật.
Nam mô Cam Lộ Cổ Phật.
Nam mô Tỳ Bà Thi Phật.
Nam mô Nhật Nguyệt Quang Minh Phật.
Nam mô Vô Thắng Phật.
Nam mô Cụ Túc Trang Nghiêm Vương Phật.
Nam mô Quang Minh Biến Chiếu Công Đức Vương Phật.
Nam mô Phá Hoại Tứ Ma Sư Tử Hống Vương Phật.
Nam mô Kim Cương Bất Hoại Phật.
Nam mô Lưu Ly Quang Phật.
Nam mô Tu Di Sơn Vương Phật.
Nam mô Tịnh Quang Minh Vương Phật.
Nam mô Thiện Đức Phật.
Nam mô Vô Lượng Quang Minh Phật.
Nam mô Đà La Ni Du Hý Phật.
Nam mô Thủ Lăng Nghiêm Định Tam Muội Lực Vương Phật.
Nam mô Thiện Kiến Định Tự Tại Vương Phật.
Nam mô Vô Thượng Công Đức Phật.
Nam mô Thần Thông Tự Tại Phật.
Nam mô Vô Sắc Tướng Phật.
Nam mô Vô Thanh Tướng Phật.
Nam mô Vô Hương Tướng Phật.
Nam mô Vô Vị Tướng Phật.
Nam mô Vô Súc Tướng Phật.
Nam mô Tam Muội Định Tự Tại Phật.
Nam mô Tuệ Định Tự Tại Phật.
Nam mô Tướng Giác Tự Tại Phật.
Nam mô Phổ Nhiếp Phật.
Nam mô Báo Đức Phổ Quang Phật.
Nam mô Thi Khí Phật.
Nam mô Tỳ Xá Phù Phật.
Nam mô Ca La Cưu Tôn Đại Phật.
Nam mô Câu Na Hàm Mâu Ni Phật.
Nam mô Ca Diếp Phật.
Nam mô Ý Lạc Mỹ Âm Phật.
Nam mô Hoan Hỷ Phật.
Nam mô A Súc Phật.
Nam mô Tu Di Tướng Phật.
Nam mô Tu Di Đỉnh Phật.
Nam mô Sư Tử Âm Phật.
Nam mô Sư Tử Tướng Phật.
Nam mô Hư Không Trụ Phật.
Nam mô Vân Lôi Tự Tại Phật.
Nam mô Thường Diệt Phật.
Nam mô Đế Tướng Phật.
Nam mô Bất Phạm Tướng Phật.
Nam mô A Di Đà Phật.
Nam mô Phạm Tướng Phật.
Nam mô Độ Nhất Thiết Thế Gian Khổ Não Phật.
Nam mô Đa La Ma Bạt Chiên Đàn Hương Phật.
Nam mô Tu Di Tướng Phật.
Nam mô Vân Tự Tại Vương Phật.
Nam mô Hoại Nhất Thiết Thế Gian Bố Úy Phật,
Nam mô bách ức ngã Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam mô hiện tại nhất Phật, thập Phật, bách Phật, thiên Phật, vạn Phật. Có thể trừ trọng tội sinh tử từ vô lượng kiếp tới nay.
Nam mô nhất ức, thập ức, bách ức, thiên ức, vạn ức, na do tha hằng hà sa đẳng vô lượng a tăng kỳ Phật.

Nếu người nào được nghe vô lượng a tăng kỳ danh hiệu Phật đời hiện tại, người ấy sáu mươi vạn kiếp chẳng phải đọa vào địa ngục khổ, vì thế nay kính lễ.

Có người vì lễ bái
Chư Phật đời hiện tại
Độ thoát các ác nghiệp
Diệt trừ năm nghịch tội
Thường ở đất thanh tịnh
An trú pháp Thích Ca
Mãi rời tam ác đạo
Được thấy Phật Di Lặc
Và cả nghìn vị Phật
Vì thế nay kính lễ
Lại thấy Phật mười phương
Thường sinh cõi thanh tịnh
Được nghe đệ nhất nghĩa
Biết rõ Như Lai thường.

Khi Phật nói danh hiệu chư Phật đời hiện tại, hai hằng hà sa số Bồ Tát được nhập môn đà-la-ni. Bốn mươi hai ức chư Thiên và người đều phát tâm bồ đề vô thượng.

Nam mô vị lai hiền kiếp vô lượng chư Phật.
Nam mô Di lặc Phật.
Nam mô Tịnh Thân Phật.
Nam mô Hoa Quang Phật.
Nam mô Quang Minh Phật.
Nam mô Hoa Túc Phật.
Nam mô Danh Tướng Phật.
Nam mô Diêm Phù Na Đề Kim Quang Phật.
Nam mô Pháp Minh Phật.
Nam mô Bảo Minh Phật.
Nam mô Phổ Minh Phật.
Nam mô Phổ Tướng Phật.
Nam mô Phổ Quang Phật.
Nam mô Sơn Hải Huệ Phật.
Nam mô Mục Tại Thông Vương Phật.
Nam mô Bảo Trang Nghiêm Phật.
Nam mô Phất Sa Phật.
Nam mô bách ức Tự Tại Đăng Vương Phật.
Nam mô Bảo Tướng Phật.
Nam mô Hỷ Kiến Phật.
Nam mô nhị vạn quang tướng trang nghiêm Phật.
Nam mô tam vạn đồng hiệu Phổ Đức Phật.
Nam mô Vân Lôi Âm Vương Phật.
Nam mô tứ vạn bát thiên Định Quang Phật.
Nam mô Bảo Nguyệt Vương Phật.
Nam mô Ly Cấu Quang Phật.
Nam mô Diệu Sắc Phật.
Nam mô Diệu Sắc Quang Minh Phật.
Nam mô Phá Nhất Thiết Chúng Nan Phật.
Nam mô chúng Hương Phật.
Nam mô chúng Thanh Phật.
Nam mô thập thiên quang minh trang nghiêm Phật.
Nam mô bát thiên ức trang nghiêm quang minh Phật.
Nam mô Bảo Hoa Trang Nghiêm Phật.
Nam mô Thượng Thủ Đức Vương Phật.
Nam mô Tử Kim Quang Minh Phật.
Nam mô Ngũ Bách Thụ Ký Hoa Quang Phật.
Nam mô Na La Duyên Bất Hoại Phật.
Nam mô Hảo Hoa Trang Nghiêm Phật,
Nam mô Kim Cương Định Tự Tại Phật.
Nam mô vị lai nhất Phật, thập Phật, bách Phật, thiên Phật, vạn Phật. Có thể trừ trọng tội sinh tử từ vô lượng kiếp tới nay.
Nam mô nhất ức, thập ức, bách ức, thiên ức, vạn ức na do tha hằng hà sa vô lượng a tăng kỳ Phật.

Nếu người nào được nghe vô lượng a tăng kỳ danh hiệu Phật đời vị lai, người ấy sáu mươi vạn kiếp chẳng phải đọa vào địa ngục khổ, vì thế nay kính lễ.

Có người vì lễ bái
Chư Phật đời vị lai
Ba chướng và năm nghịch
Trừ hạng Nhất-xiển-đề
Đều sẽ được trừ diệt
An trú trong pháp Phật
Được thấy vô lượng
Thường được nghe chính pháp
Vì thế nay kính lễ.

Có người vì lễ bái
Tam thế thập phương Phật
Diệt trừ tội quá khứ
Vị lai và hiện tại
Mười nghiệp ác đã tạo
Giờ đây được trừ diệt
Tương lai thấy Phật tính
Vì thế nên tin tưởng
Viết chép đọc tụng kinh
Đời đời chốn sinh ra
Không sinh ác tà kiến
Thường chính đắc giải thoát
Không sinh nơi biên địa
Không sinh vào ác quốc
Không gặp ác quốc vương
Trong bốn ức vạn kiếp
Không đọa địa ngục khổ
Vì thế nay kính lễ.
Diệt trừ mười ác nghiệp
Đắc đại đà-la-ni.

Khi Phật nói danh hiệu chư Phật đời vị lai, năm vạn Bồ Tát trụ bất thối địa. Bảy trăm tì kheo ni đắc đạo A La Hán. Sáu mươi hai ức chư Thiên và người dân đắc pháp nhãn tịnh.

Nam mô tổng trì đại đà-la-ni. Thập nhị bộ kinh: tu đa la, kỳ dạ, thọ ký, già đà na, ưu đà na, ni đà na, a ba đà na, y đế viết đa già, sà đà già, tỳ phật lược, a phù đà đạt ma, ưu ba đề xá. Tất cả đại tạng. Các ba la mật. Có người nghe được. Mười hai bộ kinh. Các Ba la mật. Đọc tụng lễ bái. Tin vui thọ trì. Thế thì người đó. Hai mươi vạn kiếp. Không đọa địa ngục khổ. Đắc túc mạng trí. Vì thế nay kính lễ.

Khi Phật nói tên mười hai bộ kinh, tám vạn năm nghìn Bồ Tát đắc kim cương tam muội. Mười ức Thanh Văn phát tâm Đại thừa. Mười nghìn tì kheo, tì kheo ni đắc đạo A La Hán, vô lượng trời người đắc pháp nhãn tịnh.

Nam mô thập phương vô lượng chư đại Bồ Tát.
Nam mô Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát.
Nam mô Thường Tinh Tấn Bồ Tát.
Nam mô Bất Hưu Tức Bồ Tát.
Nam mô Bảo Chưởng Bồ Tát.
Nam mô Dược Vương Bồ Tát.
Nam mô Dược Thượng Bồ Tát.
Nam mô Dũng Thí Bồ Tát.
Nam mô Bảo Nguyệt Bồ Tát.
Nam mô Nguyệt Quang Bồ Tát.
Nam mô Mãn Nguyệt Bồ Tát.
Nam mô Đại Lực Bồ Tát.
Nam mô Vô Lượng Lực Bồ Tát.
Nam mô Việt Tam Giới Bồ Tát.
Nam mô Bạt Đà Bà La Bồ Tát.
Nam mô Di Lặc Bồ Tát.
Nam mô Bảo Tích Bồ Tát.
Nam mô Đạo Sư Bồ Tát.
Nam mô Đức Tạng Bồ Tát.
Nam mô Lạc Thuyết Bồ Tát.
Nam mô Long Thụ Bồ Tát.
Nam mô Bảo Đàn Hoa Bồ Tát.
Nam mô Thượng Hạnh Bồ Tát.
Nam mô Vô Biên Hạnh Bồ Tát.
Nam mô An Lập Hạnh Bồ Tát.
Nam mô Tịnh Hạnh Bồ Tát.
Nam mô Đà La Ni Bồ Tát.
Nam mô Kim Cương Na La Diên Bồ Tát.
Nam mô Thường Bất Khinh Bồ Tát.
Nam mô Túc Vương Hoa Bồ Tát.
Nam mô Hỷ Kiến Bồ Tát.
Nam mô Diệu Âm Bồ Tát.
Nam mô Đức Cần Tinh Tấn Lực Bồ Tát.
Nam mô Vô Tận Ý Bồ Tát.
Nam mô Tịnh Tạng Bồ Tát.
Nam mô Tịnh Nhãn Bồ Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát.
Nam mô Diệu Đức Bồ Tát.
Nam mô Từ Thị Bồ Tát.
Nam mô Thiện Tư Nghị Bồ Tát.
Nam mô Không Vô Bồ Tát.
Nam mô Thần Thông Hoa Bồ Tát.
Nam mô Quang Anh Bồ Tát.
Nam mô Quang Minh Bồ Tát.
Nam mô Huệ Thượng Bồ Tát.
Nam mô Huệ Quang Minh Bồ Tát.
Nam mô Trí Tràng Bồ Tát.
Nam mô Tịch Căn Bồ Tát.
Nam mô Nguyện Huệ Bồ Tát.
Nam mô Hương Tượng Bồ Tát.
Nam mô Bảo Anh Bồ Tát.
Nam mô Bảo Minh Bồ Tát.
Nam mô Trung Trụ Bồ Tát.
Nam mô Chế Hạnh Bồ Tát.
Nam mô Giải Thoát Bồ Tát.
Nam mô Pháp Tạng Bồ Tát.
Nam mô Đẳng Quán Bồ Tát.
Nam mô Bất Đẳng Quán Bồ Tát.
Nam mô Đẳng Bất Đẳng Quán Bồ Tát.
Nam mô Định Tự Tại Vương Bồ Tát.
Nam mô Pháp Tự Tại Vương Bồ Tát.
Nam mô Pháp Tướng Bồ Tát.
Nam mô Quang Tướng Bồ Tát.
Nam mô Quang Nghiêm Bồ Tát.
Nam mô Đại Nghiêm Bồ Tát.
Nam mô Bảo Tích Bồ Tát.
Nam mô Biện Tích Bồ Tát.
Nam mô Bảo Thủ Bồ Tát.
Nam mô Bảo Chưởng Bồ Tát.
Nam mô Bảo Ấn Thủ Bồ Tát.
Nam mô Thường Cử Thủ Bồ Tát.
Nam mô Thường Hạ Thủ Bồ Tát.
Nam mô Thường Thảm Bồ Tát.
Nam mô Hỷ Căn Bồ Tát.
Nam mô Hỷ Vương Bồ Tát.
Nam mô Biện Âm Bồ Tát.
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát.
Nam mô Nhiếp Bảo Cự Bồ Tát.
Nam mô Bảo Dũng Bồ Tát.
Nam mô Bảo Kiến Bồ Tát.
Nam mô Đế Võng Bồ Tát.
Nam mô Minh Võng Bồ Tát.
Nam mô Vô Duyên Quán Bồ Tát.
Nam mô Huệ Tích Bồ Tát.
Nam mô Bảo Thắng Bồ Tát.
Nam mô Thiên Vương Bồ Tát.
Nam mô Hoại Ma Bồ Tát.
Nam mô Điện Đức Bồ Tát.
Nam mô Tự Tại Vương Bồ Tát.
Nam mô Công Đức Tướng Nghiêm Bồ Tát.
Nam mô Sư Tử Hống Bồ Tát.
Nam mô Lôi Âm Bồ Tát.
Nam mô Sơn Tướng Kích Âm Bồ Tát.
Nam mô Hương Tượng Bồ Tát.
Nam mô Bạch Hương Tượng Bồ Tát.
Nam mô Diệu Sinh Bồ Tát.
Nam mô Hoa Nghiêm Bồ Tát.
Nam mô Phạm Võng Bồ Tát.
Nam mô Bảo Trượng Bồ Tát.
Nam mô Vô Thắng Bồ Tát.
Nam mô Nghiêm Thổ Bồ Tát.
Nam mô Kim Kế Bồ Tát.
Nam mô Châu Kế Bồ Tát.
Nam mô Quang Nghiêm Đồng Tử Bồ Tát.
Nam mô Trì Thế Bồ Tát.
Nam mô Thiện Đức Bồ Tát.
Nam mô Nan Thắng Bồ Tát.
Nam mô Chiếu Minh Bồ Tát.
Nam mô Hoa Quang Bồ Tát.
Nam mô Bảo Đàn Hoa Bồ Tát.
Nam mô Tát Đà Ba Luân Bồ Tát.
Nam mô Đàm Vô Kiệt Bồ Tát.
Nam mô Pháp Tự Tại Bồ Tát.
Nam mô Đức Thủ Bồ Tát.
Nam mô Bất Thuấn Bồ Tát.
Nam mô Đức Đính Bồ Tát.
Nam mô Thiện Tú Bồ Tát.
Nam mô Thiện Nhãn Bồ Tát.
Nam mô Diệu Tý Bồ Tát.
Nam mô Phất Sa Bồ Tát.
Nam mô Sư Tử Bồ Tát.
Nam mô Sư Tử Ý Bồ Tát.
Nam mô Phù Giải Bồ Tát.
Nam mô Na La Diên Bồ Tát.
Nam mô Thiện Ý Bồ Tát.
Nam mô Hiện Kiến Bồ Tát.
Nam mô Phổ Thủ Bồ Tát.
Nam mô Điện Quang Bồ Tát.
Nam mô Hỷ Kiến Bồ Tát.
Nam mô Minh Tướng Bồ Tát.
Nam mô Diệu Ý Bồ Tát.
Nam mô Vô Tận Ý Bồ Tát.
Nam mô Thâm Huệ Bồ Tát.
Nam mô Tịnh Căn Bồ Tát.
Nam mô Vô Ngại Bồ Tát.
Nam mô Thượng Thiện Bồ Tát.
Nam mô Phúc Điền Bồ Tát.
Nam mô Hoa Nghiêm Bồ Tát.
Nam mô Đức Tạng Bồ Tát.
Nam mô Nguyệt Thượng Bồ Tát.
Nam mô Bảo Ấn Thủ Bồ Tát.
Nam mô Châu Đính Vương Bồ Tát.
Nam mô Lạc Thực Bồ Tát.
Nam mô Lạc Đế Bồ Tát.
Nam mô Huệ Kiến Bồ Tát.
Nam mô Đăng Vương Bồ Tát.
Nam mô Thâm Vương Bồ Tát.
Nam mô Hoa Vương Bồ Tát.
Nam mô Diệu Sắc Bồ Tát.
Nam mô Thiện Vấn Bồ Tát.
Nam mô Thiện Đáp Bồ Tát.
Nam mô Liễu Tướng Bồ Tát.
Nam mô Định Tướng Bồ Tát.
Nam mô Phát Hỷ Bồ Tát.
Nam mô An Trụ Bồ Tát.
Nam mô Bố Ma Bồ Tát.
Nam mô Huệ Thí Bồ Tát.
Nam mô Cứu Thoát Bồ Tát.
Nam mô Huệ Đăng Bồ Tát.
Nam mô Dũng Thí Bồ Tát.
Nam mô Trí Đạo Bồ Tát.
Nam mô Nguyện Huệ Bồ Tát.
Nam mô Tứ Nhiếp Bồ Tát.
Nam mô Giáo Âm Bồ Tát.
Nam mô Hải Diệu Bồ Tát.
Nam mô Pháp Hỷ Bồ Tát.
Nam mô Đạo Phẩm Bồ Tát.
Nam mô Tổng Trì Bồ Tát.
Nam mô Từ Vương Bồ Tát.
Nam mô Đại Tự Tại Bồ Tát.
Nam mô Phạm Âm Bồ Tát.
Nam mô Diệu Sắc Bồ Tát.
Nam mô Bảo Đàn Lâm Bồ Tát.
Nam mô Sư Tử Âm Bồ Tát.
Nam mô Diệu Thanh Bồ Tát.
Nam mô Diệu Sắc Hình Bồ Tát.
Nam mô Chủng Chủng Trang Nghiêm Bồ Tát.
Nam mô Thích Tràng Bồ Tát.
Nam mô Đính Sinh Bồ Tát.
Nam mô Minh Vương Bồ Tát.
Nam mô Đại Quang Bồ Tát.
Nam mô Xa Đề Bồ Tát.
Nam mô Vô Úy Bồ Tát.
Nam mô Mật Tích Bồ Tát.
Nam mô Hoa Thiểm Bồ Tát.
Nam mô Thượng Thủ Bồ Tát.
Nam mô Phổ Hiện Sắc Thân Bồ Tát.
Nam mô Thần Thông Bồ Tát.
Nam mô Hải Đức Bồ Tát.
Nam mô Vô Biên Thân Bồ Tát.
Nam mô Y Vương Tự Tại Bồ Tát.
Nam mô Ca Diếp Bồ Tát.
Nam mô Vô Cấu Tạng Vương Bồ Tát.
Nam mô Trì Nhất Thiết Bồ Tát.
Nam mô Cao Quý Đức Vương Bồ Tát.
Nam mô Lưu Ly Quang Bồ Tát.
Nam mô Vô Úy Bồ Tát.
Nam mô Hải Vương Bồ Tát.
Nam mô Sư Tử Hống Bồ Tát.
Nam mô Đà La Ni Bồ Tát.
Nam mô Na La Diên Bồ Tát.
Nam mô Tín Tướng Bồ Tát.
Nam mô Trì Địa Bồ Tát.
Nam mô Quang Nghiêm Bồ Tát.
Nam mô Quang Minh Bồ Tát.
Nam mô Đại Biện Bồ Tát.
Nam mô Từ Lực Bồ Tát.
Nam mô Đại Bi Bồ Tát.
Nam mô Y Vương Bồ Tát.
Nam mô Y Lực Bồ Tát.
Nam mô Y Đức Bồ Tát.
Nam mô Phổ Tế Bồ Tát.
Nam mô Phổ Nhiếp Bồ Tát.
Nam mô Định Quang Bồ Tát.
Nam mô Phổ Quang Bồ Tát.
Nam mô Chân Quang Bồ Tát.
Nam mô Câu Lâu Bồ Tát.
Nam mô Thiên Quang Bồ Tát.
Nam mô Bảo Vương Bồ Tát.
Nam mô Di Quang Bồ Tát.
Nam mô Giáo Đạo Bồ Tát.
Nam mô Đạo Sư Bồ Tát.
Nam mô Đại Nhẫn Bồ Tát.
Nam mô Hoa Vương Bồ Tát.
Nam mô Hoa Tích Bồ Tát.
Nam mô Tuệ Quang Bồ Tát.
Nam mô Hải Tuệ Bồ Tát.
Nam mô Kiên Ý Bồ Tát.
Nam mô Thích Ma Nam Bồ Tát.
Nam mô Kim Quang Minh Bồ Tát.
Nam mô Kim Tạng Bồ Tát.
Nam mô Thường Bi Bồ Tát.
Nam mô Pháp Thượng Bồ Tát.
Nam mô Tài Thủ Bồ Tát.
Nam mô Sơn Quang Bồ Tát.
Nam mô Sơn Huệ Bồ Tát.
Nam mô Đại Minh Bồ Tát.
Nam mô Tổng Trì Bồ Tát.
Nam mô Sơn Vương Bồ Tát.
Nam mô Đăng Vương Bồ Tát.
Nam mô Sơn Đính Bồ Tát.
Nam mô Sơn Tràng Bồ Tát.
Nam mô Sơn Vương Bồ Tát.
Nam mô Phục Ma Bồ Tát.
Nam mô Lôi Âm Bồ Tát.
Nam mô Vũ Vương Bồ Tát.
Nam mô Lôi Vương Bồ Tát.
Nam mô Bảo Luân Bồ Tát.
Nam mô Bảo Anh Bồ Tát.
Nam mô Bảo Thủ Bồ Tát.
Nam mô Bảo Tạng Bồ Tát.
Nam mô Bảo Minh Bồ Tát.
Nam mô Bảo Định Bồ Tát.
Nam mô Bảo Ấn Bồ Tát.
Nam mô Bảo Tràng Bồ Tát.
Nam mô Bảo Nghiêm Bồ Tát.
Nam mô Bảo Thủy Bồ Tát.
Nam mô Bảo Quang Bồ Tát.
Nam mô Bảo Đăng Bồ Tát.
Nam mô Bảo Hiện Bồ Tát.
Nam mô Bảo Tạo Bồ Tát.
Nam mô Bảo Tác Bồ Tát.
Nam mô Lạc Pháp Bồ Tát.
Nam mô Tịnh Vương Bồ Tát.
Nam mô Đính Tướng Bồ Tát.
Nam mô Kim Quang Bồ Tát.
Nam mô Bảo Kế Bồ Tát.
Nam mô Thiên Quang Bồ Tát.
Nam mô Nguyên Hiểm Bồ Tát,
Nam mô Thanh Tịnh Bồ Tát.
Nam mô Chiếu Vị Bồ Tát.
Nam mô Trí Năng Bồ Tát.
Nam mô Nguyệt Biện Bồ Tát.
Nam mô Nguyệt Quang Bồ Tát.
Nam mô Pháp Luân Bồ Tát.
Nam mô Quang Tịnh Bồ Tát.
Nam mô Thường Thí Bồ Tát.
Nam mô Phổ Đức Bồ Tát.
Nam mô Phổ Minh Bồ Tát.
Nam mô Thắng Tràng Bồ Tát.
Nam mô Nhu Âm Bồ Tát.
Nam mô Đức Viêm Bồ Tát.
Nam mô Tướng Quang Bồ Tát.
Nam mô Hải Nguyệt Bồ Tát.
Nam mô Hải Tạng Bồ Tát.
Nam mô Thắng Nguyệt Bồ Tát.
Nam mô Tịnh Huệ Bồ Tát.
Nam mô Siêu Quang Bồ Tát.
Nam mô Nguyệt Đức Bồ Tát.
Nam mô Nhật Quang Bồ Tát.
Nam mô Kim Cương Bồ Tát.
Nam mô Viêm Tràng Bồ Tát.
Nam mô Tôn Đức Bồ Tát.
Nam mô Hải Minh Bồ Tát.
Nam mô Hải Quảng Bồ Tát.
Nam mô Chiếu Cảnh Bồ Tát.
Nam mô Huệ Minh Bồ Tát.
Nam mô Công Đức Bồ Tát.
Nam mô Minh Đạt Bồ Tát.
Nam mô Mật Giáo Bồ Tát.
Nam mô Tu Na Bồ Tát.
Nam mô Bố Thí Bồ Tát.
Nam mô Sắc Lực Bồ Tát.
Nam mô Điều Phục Bồ Tát.
Nam mô Ẩn Thân Bồ Tát.
Nam mô nhất Bồ Tát. Nam mô thập Bồ Tát. Nam mô bách Bồ Tát. Nam mô thiên Bồ Tát. Nam mô vạn Bồ Tát. Nam mô nhất bách vạn Bồ Tát. Nhị bách vạn, tam bách vạn, tứ bách vạn, ngũ bách vạn, lục bách vạn, thất bách vạn, bát bách vạn, cửu bách vạn, thiên thiên vạn chư đại Bồ Tát Ma Ha Tát. Có thể trừ trọng tội sinh tử từ vô lượng kiếp đến nay.
Nam mô nhất ức, thập ức, bách ức, thiên ức, vạn ức. Nam mô vạn vạn ức chư đại Bồ Tát Ma Ha Tát. Có thể trừ trọng tội sinh tử từ vô lượng kiếp đến nay.
Nam mô nhất na do tha, thập na do tha, bách na do tha, thiên na do tha, vạn na do tha. Nam mô vạn vạn na do tha chư đại Bồ Tát Ma Ha Tát. Có thể trừ trọng tội sinh tử từ vô lượng kiếp đến nay.

Nam mô nhất hằng hà sa. Nam mô nhị hằng hà sa. Nam mô tam hằng hà sa. Nam mô tứ hằng hà sa. Nam mô ngũ hằng hà sa. Nam mô lục hằng hà sa. Nam mô thất hằng hà sa. Nam mô bát hằng hà sa. Nam mô cửu hằng hà sa. Nam mô thập hằng hà sa. Nam mô bách hằng hà sa. Nam mô bách ức vô lượng hằng hà sa chư đại Bồ Tát Ma Ha Tát. Có thể trừ trọng tội sinh tử từ vô lượng kiếp đến nay.

Nếu người nào được nghe tên Đại Sĩ, các vị đại Bồ Tát Ma Ha Tát, thì người đó trong bốn mươi nghìn kiếp không đọa địa ngục khổ. Không thuộc ngục tam giới. Thường thuộc giải thoát vương.

Không sinh biên địa
Không sinh ác quốc
Không chịu ác thân
Không sinh tà kiến
Không sinh hạ tính
Không sinh ngoại đạo
Thân căn đầy đủ
Thường nghe chính pháp
Không chịu cấm giới
Thường được đầy đủ
Đại thừa oai nghi
Thường thấy Phật tính
Cho nên nay kính lễ
An trú trong Phật pháp
Đời sau thành Phật đạo.

Khi nói xong tên các đại Bồ Tát, có tám mươi tám ức tín nam nữ thanh tịnh ngộ quả A Na Hàm. Chín mươi tư ức chư Thiên đắc quả Tư Đà Hàm. Bảy nghìn tám ức tì kheo đánh mất tâm lại có được bản tâm, và ngộ quả A La Hán. Mười ức Bồ Tát đắc đại đà-la-ni. Đời vị lai thành Phật đạo.

Kinh Đại Thông Phương Quảng Sám Hối Diệt Tội Trang Nghiêm Thành Phật

**Quyển Thượng hết.**


### Quyển Trung


Khi ấy, Phật bảo Tín Tướng Bồ Tát Ma Ha Tát rằng. Thiện nam tử. Như ngươi tự nói. Quá khứ có Phật. Tên là Bảo Thắng. Chúng sinh khổ não. Nghe được tên Phật. Chết sinh về trời. Nay lại thỉnh ta. Nói tên chư Phật. Để các chúng sinh. Lìa khổ xuất thế. Nay ta vì người. Và cả đại chúng. Nói đủ tam bảo. Lý là một bảo. Tùy thuận nói ba. Nếu người nào nghe. Chí tâm nhớ nghĩ. Vào lúc lâm chung. Được thiện tri thức. Dạy cho xưng tên. Tam Bảo ba lần. Nói như thế này.
Nam mô Phật. Nam mô pháp. Nam mô tăng. Xướng lên như thế. Người ấy mệnh chung. Không đến tam đồ. Tùy ý mà vui. Mười phương thế giới. Đều được vãng sinh. Nên phụng chư Phật. Thấy chư Bồ Tát. Văn Thù Phổ Hiền. Tuyên thuyết Đại thừa Đại Thông Phương Quảng. Khi nghe pháp xong. Lập tức đạt được. Vô sinh pháp nhẫn. Thiện nam tử. Nếu có người trong muôn kiếp. Rộng rãi tu các hành. Trồng xuống thiện căn. Nay được nghe thấy. Tên của Tam Bảo.

Khi ấy. Tín Tướng Bồ Tát bạch Phật rằng. Thế Tôn. Vì sao gọi là Tam Bảo? Một tướng ư. Hai tướng ư. Ba tướng ư. Nếu là một tướng. Tức là một quy. Nếu là ba tướng. Tức là ba quy. Nếu là ba quy. Phật pháp khác biệt. Tăng cũng như thế. Nếu là ba quy. Chúng sinh thấy ba ức kiếp hành đạo. Không thể một thừa. Chỉ mong Thế Tôn. Lợi ích chúng sinh. Vì con mà nói. Con nghe xong rồi. Cũng vì chúng sinh. Mà giải thích rõ. Sau khi Phật diệt. Nếu có người nghe. Cũng được an trú. Ba bồ đề đạo.

Khi ấy. Phật ca ngợi Tín Tướng Bồ Tát. Lành thay lành thay. Thiện nam tử. Tất cả chúng sinh. Muôn kiếp đến nay. Vô minh che mờ. Lao tù tam giới. Lưu chuyển sinh tử. Cùng bao sợ hãi. Lục đạo vãng lai. Không nơi nương dựa. Bởi vậy quy mệnh thiên thần. Dấn thân ngoại đạo. Tự trói chân tay. Hại sinh cầu mệnh. Tránh sao khỏi hoạn. Tránh lửa gặp vực. Hoạn không thể né. Vì thế Đại Thánh Như Lai. Xót thương chúng mê. Mà rời khỏi định. Khai diễn Tam Bảo. Làm nơi nương dựa. Ban đầu vì người mới học mà nói hai thừa. Nói Tam Bảo ba thể phân biệt theo cấp. Sau vì Đại Sĩ phạm hạnh tu hành lâu ngày. Nói Tam Bảo một thể rốt ráo. Trong một Phật bảo. Đã có pháp tăng. Thiện nam tử. Vì sao gọi là bảo? Giống như thất bảo của thế gian. Có thể cứu mạng. Cho nên Tam Bảo tại thế. Đạo dưỡng pháp thân. Hành giả có thể kế thừa. Có đủ trí năng thân mệnh. Cũng gọi là bảo. Tam Bảo ba tướng khác biệt. Phật hiện vương cung. Hai thân ứng-pháp. Gọi là Bồ Tát. Vì độ chúng sinh. Tu hành khổ hạnh. Đạo tràng dưới cây. Hiện thành chính giác. Tự giác giác tha. Nên gọi là Phật. Phật là Giác Giả. Tăng là thụ hóa. Đệ tử nhờ được dạy mà đắc được lý. Vì thế gọi là tăng.  Tăng có hai loại. Một là hòa hợp. Được gọi là tăng. Hai là vô vi. Cũng gọi là tăng. Người đắc vô vi. Nhờ chân không giải huệ. Tính Không vô vi. Mê hoặc tương tục. Chứng kết vô tận. Vì đã diệt mọi kết. Thánh chúng cùng trụ. Hòa hợp không tranh. Vì hai nghĩa này. Mà gọi là tăng. Thiện nam tử. Pháp là tất cả pháp thiện ác. Hữu vi vô vi. Đạo lý chư Phật. Ác pháp thì lìa. Thiện pháp thì kính. Vì tâm mẫu mực. Đều là pháp bảo. Vì thế có Nhị Bảo Phật - tăng. Con người dị thể. Pháp và tăng Phật. Đồng thể khó tách. Vì sao khó tách? Nếu có người nói. Phật - tăng Nhị Bảo. Nhưng chỉ là người tu hành lấy tên giả. Năm phần pháp thân mà người tu hành có được. Các thiện công đức. Chia thành pháp bảo. Không phải nghĩa này. Là cớ vì sao. Nay vì lấy những thiện công đức này. Được làm con người. Không ai lìa pháp. Mà thành người khác. Nên là Nhị Bảo. Nay giải thích người và pháp. Có giống có khác. Nhờ pháp thành người. Pháp thuộc về người. Nên nói như thế. Năm phần pháp thân. Mười lực vô úy. Ba mươi hai tướng. Tám mươi vẻ đẹp. Các ba la mật. Vô lượng tam muội. Lấy làm Phật bảo. Tiểu thừa năm phần. Nói là tăng bảo. Các công đức này. Hữu vi vô vi. Pháp tướng đạo lý. Làm thành quy củ. Gọi là pháp dụng. Điều này đồng thể. Tuy nói hai nghĩa. Cũng có pháp thể. Khác Phật pháp tăng. Vì thế pháp bảo. Đã nói ba điều. Chúng sinh quy y. Tránh khỏi tam giới. Sợ hãi sinh tử. Tất cả hành nhân. Tuy tránh phần thô. Nhưng khổ vi tế. Vẫn chưa diệt hết. Vì thế nói rằng. Tột cùng Tam Bảo. Cần hiểu rõ rằng. Ngày xưa Tam Bảo. Nói Phật có khổ. Pháp là vô thường. Tăng cũng vô thường. Khổ này. Không phải nơi nương dựa chân thực. Nay nói hành giả thường trụ. Nhận ra pháp tính lý không. Vĩnh viễn rời bỏ tám điên đảo. Không có sinh diệt. Không khổ mong cầu. Làm nơi nương dựa chân thực. Gọi là Phật bảo. Pháp thường có được. Quy củ tột cùng. Gọi là pháp bảo chân thực. Hành giả thường trụ. Biết pháp tính chân thực. Chứng thường trụ vô vi. Vì thế gọi là tăng. Cũng nhờ vĩnh viễn diệt tận tám điên đảo. Cùng với chín Thánh chúng. Tất cả hòa hợp. Mãi không tranh tụng. Vì thế gọi là tăng bảo. Ngày xưa Tam Bảo. Người khác pháp khác. Tam Bảo giờ đây. Tại một Phật một thể. Phân làm pháp tăng. Chính vì nghĩa này. Ta vì pháp nói. Một tướng Tam Bảo. Nay các chúng sinh. Hướng về một thừa. 

Tín Tướng Bồ Tát bạch Phật rằng. Thế Tôn. Nên quán việc gì. Để cầu Đại thừa. Phật nói. Thiện nam tử. Nên quán tam giới vô thường. Để cầu Đại thừa. 

Tín Tướng Bồ Tát bạch Phật rằng. Vì sao gọi là. Quán tại vô thường. Phật nói. Muốn quán vô thường. Loại trừ phiền não. Nên hành chính niệm. Từ bi đứng đầu. Thuyết pháp độ người. Mà không cần chứng. Gọi là Bồ Tát. Không bỏ chúng sinh. Vì cầu Đại thừa. Thiện nam tử. Ví như một thành. Rộng một do tuần. Có rất nhiều cửa. Đường hiểm hắc ám. Cực kì đáng sợ. Vào được thành này. Nhận được sướng vui. Lại có một người. Chỉ có một con. Yêu thương hết mực. Nghe tiếng thành này. Được sướng vô cùng. Lập tức bỏ con. Muốn vào thành ấy. Người này khéo léo. Qua được đường hiểm. Đến cửa thành kia. Một chân đã vào. Chưa nhấc chân kia. Liền nhớ đến con. Thế là nghĩ đến. Đứa con duy nhất. Sau này ra sao. Nếu ta không đến. Ai sẽ chăm nom. Để lìa mọi khổ. Bỏ ngay lạc thành. Trở về chỗ con. Thiện nam tử. Bồ Tát từ bi. Cũng làm như thế. Vì nỗi thương xót. Tu tập ngũ thông. Đã tu tập xong. Rủ lòng ban hết. Mà không cần chứng. Là cớ vì sao. Vì xót chúng sinh. Xả hết ngũ thông. Thậm chí sống ở. Trong đất phàm phu. Thiện nam tử. Thành kia. Được ví như niềm vui đại giải thoát. Nhiều cửa đi vào. Được ví như tám vạn bốn nghìn tam muội. Đường hiểm gian nan. Ví như ma đạo. Đến được cửa thành. Ví như ngũ thông. Một chân bước vào. Ví như trí năng. Một chân chưa vào. Ví như đại Bồ Tát chưa chứng giải thoát. Nói một đứa con. Ví như tất cả chúng sinh năm đạo. Thương nhớ đứa con. Ví như tâm đại từ. Trở về chỗ con. Ví như điều chuyển chúng sinh. Thật đắc giải thoát. Không giành chứng đắc. Tức là phương tiện. Thiện nam tử. Vì thế Bồ Tát Ma Ha Tát. Đại từ đại bi. Cứu hộ không bỏ. Không thể nghĩ bàn. Một lần nữa. Thiện nam tử. Bồ Tát Đại Sĩ. Từ mới phát tâm. Tất đến bồ đề. Thường vì chúng sinh. Dạy mười pháp thiện. Thế nào là mười. Một không sát sinh. Hai không trộm cắp. Ba không tà dâm. Bốn không vọng ngữ. Năm không hai lưỡi. Sáu không ác khẩu. Bảy không nói lời vô nghĩa. Tám không tham lam đố kỵ. Chín không sân hận buồn bực. Mười không tà kiến. Bồ Tát như vậy. Có đủ từ bi. Từ năng dạy thiện. Nhìn đời mà vui. Bi năng cứu khổ. Độ thoát địa ngục. Thấy các chúng sinh. Cầu cửa niết bàn. Lại không biết chỗ. Bồ Tát cần phải. Ở nơi chúng sinh. Tu tập bi tâm. Chính vì bi tâm. Mà vì chúng sinh. Mở cửa niết bàn. Hiển thị chốn yên ổn. Cho đắc quả Đại thừa. Nên gọi là hạnh Bồ Tát Ma Ha Tát.

Tín Tướng Bồ Tát lại bạch Phật rằng. Thế Tôn. Thế nào là chính niệm. Nên làm pháp bất sinh bất diệt. Thế Tôn. Pháp nào bất sinh. Pháp nào bất diệt.

Thiện nam tử. Khiến ác pháp không sinh. Còn thiện pháp không diệt. Nếu tu hạnh này. Đi trong tam giới. Thanh tập ngũ dục. Không thể làm bẩn. Thiện nam tử. Muốn hành tam giới. Cứu độ chúng sinh. Nên dùng mười pháp. Đi trong tam giới. Theo văn tự thế tục. Nói là có ba đời. Vô thượng bồ đề. Không ở ba đời. Cứu cánh bồ đề. Không đọa số đông. Huống hồ trong chúng sinh ba cõi ba đời. Cái gì là mười. Một là dù được khen ngợi hay phỉ báng, tâm không tăng giảm. Hai là nếu nghe thấy thiện ác, tâm không phân biệt. Ba là ở trong ngu dốt hay trí huệ, tâm từ bi bình đẳng. Bốn là nhìn chúng sinh cao thấp, ý luôn bình đẳng. Năm là với sự khinh thường hay cúng dường, tâm cũng không đổi. Sáu là trước khiếm khuyết của người khác, đừng thấy cái lỗi của họ. Bảy là thấy mọi thừa là một thừa. Tám là nếu nghe ba điều ác, cũng đừng kinh sợ. Chín là ở trước các Bồ Tát, hãy nghĩ đến Như Lai. Mười là Phật thoát khỏi ngũ trọc, hãy nghĩ đó là rất hiếm có. Bồ Tát như thế. Có đủ mười pháp. Đoạn trừ ngu si. Phiền não kết tập. Không gì cản trở. Bồ Tát Đại Sĩ. Đi trong tam giới. Lấy đại bi làm gốc. Sống ở nơi phàm tục. Như ánh sáng không bụi. Gọi là khó nghĩ bàn. Nếu người ở tịnh quốc. Trì giới đủ một kiếp. Hễ gặp lúc nhàn rỗi. Hành từ và đại bi. Thân ngữ và ý nghiệp. Đều đạt được thanh tịnh. Đời này đã loại trừ. Nghiệp đọa tam ác đạo. Bồ Tát sinh cõi ấy. Không nên lo sợ hoài. Có tội ở ác đạo. Đau đầu sẽ được trừ. Bởi vậy nên thế nào. Nếu muốn cắt trói buộc. Diệt trừ các phiền não. Tuy sinh vào cõi ác. Hộ pháp tăng trí năng. Ức kiếp ở tịnh thổ. Thường thọ tịnh giới hành. Không bằng sinh cõi này. Từ sớm đến hôm sau. Ta thấy cõi của A Súc Phật. Cõi Tây phương Cực Lạc. Hai cõi nước ấy rất thanh tịnh. Cũng không có khổ não. Tại đây làm công đức. Cũng không có gì lạ. Nếu người ở cõi này. Nhẫn nhịn việc không thể. Cũng dạy người khác nhẫn. Thì phúc ấy tối thắng. Vì thế các Bồ Tát. Hành động tại cõi ác. Cứu độ các chúng sinh. Đừng lo âu phiền não. Kiên cố bồ đề tâm. Ắt đắc đạo vô thượng. 

Khi ấy. Hư Không Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng. Nay chúng con đây. Muốn hỏi nhân duyên bồ đề của Bồ Tát. Nếu Phật bằng lòng nghe. Con sẽ xin được hỏi. Phật nói. Lành thay lành thay. Thiện nam tử. Ngươi tại vô lượng kiếp. Có trăm nghìn Phật. Trồng mọi thiện căn. Lâu thành Bồ Tát. Phương tiện đã làm. Thành các Bồ Tát. Hỏi về đạo bồ đề kiên cố. Tùy ý mà hỏi. Ta sẽ vì ngươi. Phân biệt giải thích. 

Khi Hư Không Tạng Bồ Tát nhận được sự cho phép thì bạch  Phật rằng. Thế Tôn. Sao gọi là Bồ Tát. Tâm họ kiên cố. Và không mệt mỏi. Sao gọi là Bồ Tát. Lời đã quyết định. Thì không hối hận. Sao gọi là Bồ Tát. Tăng trưởng thiện căn. Sao gọi là Bồ Tát. Không có sợ hãi. Uy nghi không chuyển. Sao gọi là Bồ Tát. Thành tựu pháp thiện. Sao gọi là Bồ Tát. Khéo biết từ một địa. Cho đến địa thứ mười. Sao gọi là Bồ Tát. Khéo biết mọi phương tiện. Sao gọi là Bồ Tát. Khéo giáo hóa chúng sinh. Sao gọi là Bồ Tát. Đời đời không mất. Cái tâm bồ đề. Sao gọi là Bồ Tát. Có thể một lòng, không chạy lung tung. Sao gọi là Bồ Tát. Khéo cầu pháp bảo. Sao gọi là Bồ Tát. Khéo thoát khỏi tội phá giới phạm cấm. Sao gọi là Bồ Tát. Có thể ngăn chặn phiền não. Sao gọi là Bồ Tát. Khéo có thể tùy thuận. Đi vào trong đại chúng. Sao gọi là Bồ Tát. Khéo mở ra pháp môn. Sao gọi là Bồ Tát. Có được sức mạnh nhân duyên đầu tiên, không để mất thiện căn. Sao gọi là Bồ Tát. Không do người khác dạy, mà có thể tự thực hành sáu ba la mật. Sao gọi là Bồ Tát. Có thể xả thiền định. Hiện sinh cõi Dục giới. Sao gọi là Bồ Tát. Ở trước các pháp Phật. Đắc tâm bất thối chuyển. Sao gọi là Bồ Tát. Đi trong tam giới. Giáo hóa chúng sinh. Khiến tăng thiện căn. Không đứt Phật tính.

Khi ấy Thế Tôn ca ngợi Hư Không Tạng Bồ Tát. Lành thay lành thay. Có thể hỏi Như Lai. Về việc của Bồ Tát. Nay người hãy lắng nghe. Rồi khéo mà suy nghĩ. Thưa Thế Tôn. Con nguyện lắng nghe. Xin nhận lời chỉ dạy. 

Phật bảo Hư Không Tạng Bồ Tát. Lại có bốn pháp. Kiên cố tâm ấy. Mà không mệt mỏi. Thế nào là bốn. Một là, ở trước chúng sinh khởi tâm đại bi. Hai là tinh tấn không lơ là. Ba là sinh tử như mộng. Bốn là chính ý tư duy về trí năng của Phật. Bồ Tát có bốn pháp này. Kiên cố tâm ấy. Mà không mệt mỏi. 

Lại có bốn pháp. Lời đã quyết định. Thì không hối hận. Thế nào là bốn. Một là quyết định thuyết pháp. Hiểu rõ vô ngã. Hai là quyết định nói các nơi sinh. Không thể có tướng vui. Ba là quyết định thường ca ngợi Đại thừa. Bốn là quyết định nói nghiệp tội nghiệp phúc. Không đánh mất quả báo. Đây gọi là bốn pháp.

Lại có bốn pháp. Tăng trưởng thiện căn. Thế nào là bốn. Một là giữ giới. Hai là nghe nhiều. Ba là bố thí. Bốn là xuất gia. Thì gọi là bốn.

Bồ Tát lại có bốn pháp. Để không lo sợ. Uy nghi không chuyển. Thế nào là bốn. Một là thất bại. Hai là tiếng xấu. Ba là phỉ báng. Bốn là khổ não. Thì gọi là bốn.

Bồ Tát lại có bốn pháp. Thành tựu pháp trắng. Thế nào là bốn. Một là dạy người để họ tin vào tội phúc. Hai là bố thí không cầu quả báo. Ba là bảo hộ chính pháp. Bốn là dùng đại trí năng dạy các Bồ Tát. Thì gọi là bốn.

Thiện nam tử. Lại có bốn pháp. Khéo hiểu biết một địa. Cho đến cả mười địa. Một là trồng thiện căn lâu ngày. Hai là lìa bỏ các sai lầm. Ba là khéo biết phương tiện. Bốn là siêng làm tinh tấn. Hồi hướng bồ đề. Thì gọi là bốn.

Thiện nam tử. Lại có bốn pháp. Khéo biết phương tiện. Thế nào là bốn. Một là thuận theo ý chúng sinh. Hai là trước công đức của họ thì khởi tâm tùy hỷ. Ba là có tội thì sám hối tội. Bốn là khuyên thỉnh chư Phật chuyển đại pháp luân. Thì gọi là bốn.

Thiện nam tử. Lại có bốn pháp. Khéo giáo hóa chúng sinh. Thế nào là bốn. Một là thường cầu lợi làm yên chúng sinh. Hai là tự hy sinh niềm vui của mình. Ba là mềm mỏng nhẫn nhục. Bốn là có thể loại bỏ tính cao ngạo. Thì gọi là bốn.

Thiện nam tử. Lại có bốn pháp. Có thể đời đời không mất đi tâm bồ đề. Thế nào là bốn. Một là thường nghĩ nhớ về tất cả chư Phật mười phương. Hai là những công đức làm được thì bố thí cho tất cả chúng sinh, thường làm bồ đề. Ba là gần gũi thiện tri thức. Bốn là tán dương Đại thừa. Thì gọi là bốn.

Thiện nam tử. Lại có bốn pháp. Có thể nhất tâm. Không chạy lung tung. Thế nào là bốn. Một là lìa tâm Thanh Văn. Hai là lìa tâm Bích Chi Phật. Ba là cầu pháp không biết chán. Bốn là những pháp nghe được thì rộng rãi nói cho người khác. Thì gọi là bốn.

Thiện nam tử. Lại có bốn pháp. Khéo cầu pháp bảo. Thế nào là bốn. Một là ở trong đại pháp sinh bảo tưởng, vì khó có được. Hai là ở trong đại pháp, sinh cứu dược tưởng, vì trị bệnh của chúng sinh. Ba là ở trong đại pháp, sinh tài lợi tưởng, vì để không mất. Bốn là ở trong đại pháp, sinh diệt khổ tưởng, vì đến niết bàn. Thì gọi là bốn.

Thiện nam tử. Lại có bốn pháp. Khéo thoát khỏi tội phá giới phạm cấm. Thế nào là bốn. Một là đắc vô sinh pháp nhẫn, vì chư pháp vô lai. Hai là đắc vô diệt nhẫn, vì chư pháp vô khứ. Ba là đắc nhân duyên nhẫn, biết mọi pháp do nhân duyên sinh. Bốn là đắc trụ nhẫn, vì không có dị tâm tương tục. Thì gọi là bốn.

Thiện nam tử. Lại có bốn pháp. Khéo ngăn phiền não. Thế nào là bốn. Một là bốn hồi tưởng. Hai là ngăn mọi căn. Ba là nhờ khả năng đắc thiện pháp lực. Bốn là nhờ sống một mình tách biệt. Thì gọi là bốn.

Thiện nam tử. Lại có bốn pháp. Khéo có thể tùy thuận. Đi vào trong đại chúng. Thế nào là bốn. Một là do cầu pháp không cầu thắng. Hai là thường sinh cung kính, tâm không ngạo mạn. Ba là duy cầu pháp lợi, không tự hiển hiện. Bốn là dạy người khác về pháp thiện, không cầu danh lợi. Thì gọi là bốn. 

Thiện nam tử. Lại có bốn pháp. Khéo mở ra pháp thí. Thế nào là bốn. Một là thủ hộ chính pháp. Hai là tự ích trí năng và cũng ích lợi cho tiền nhân. Ba là thường hành pháp thiện nhân. Bốn là không chỉ cho người ta pháp phân biệt sạch bẩn. Thì gọi là bốn.

Thiện nam tử. Lại có bốn pháp. Có được sức mạnh nhân duyên đầu tiên, không để mất thiện căn. Thế nào là bốn. Một là thấy người ta sai thì không cho là ngu. Hai là ở trước người sân hận tức giận phải thường tu từ tâm. Ba là thường nói các pháp nhân duyên. Bốn là thường niệm vô thượng bồ đề. Thì gọi là bốn.

Thiện nam tử. Lại có bốn pháp. Không do người khác dạy, mà có thể tự thực hành sáu ba la mật. Thế nào là bốn. Một là thường bố thí pháp, cho người ta những lời hướng dẫn. Hai là không nói tội phá giới cấm của người ta. Ba là khéo biết pháp thu nhận, giáo hóa chúng sinh. Bốn là thông đạt pháp sâu sắc. Thì gọi là bốn.

Thiện nam tử. Lại có bốn pháp. Có thể xả thiền định. Hiện sinh cõi Dục giới. Thế nào là bốn. Một là tâm ấy mềm mại. Hai là khả năng có được sức của các căn lành. Ba là không bỏ tất cả chúng sinh. Bốn là thường có thể khéo tu sức mạnh trí năng phương tiện. Thì gọi là bốn. 

Thiện nam tử. Lại có bốn pháp. Ở trong pháp Phật đắc tâm bất thối chuyển. Một là ở trong vô số sinh tử không sinh lòng chán ghét và rời bỏ pháp. Hai là thường siêng cúng dường vô lượng chư Phật. Ba là tu hành từ tâm vô lượng. Bốn là tín giải vô lượng Phật huệ. Thì gọi là bốn.

Thiện nam tử. Lại có bốn pháp. Không đoạn Phật tính. Thế nào là bốn. Một là vì các chúng sinh, không thối lui bản nguyện. Hai là tin tưởng thọ trì, thực hành bố thí. Ba là ham muốn tinh tấn. Bốn là thường siêng làm Phật đạo với tâm sâu sắc. Thì gọi là bốn. Bồ Tát Ma Ha Tát. Du hành tam giới. Làm đủ mọi hạnh. Lợi ích chúng sinh. Thường tu xuất thế. Không đoạn Phật tính. 

Khi Phật nói bốn pháp Đại thừa. Bốn vạn Thiên nhân đều phát ba bồ đề tâm. Hai vạn năm nghìn người đắc vô sinh pháp nhẫn. Bốn vạn tám nghìn Bồ Tát được đạt đến pháp giới nhẫn. Khéo nhập Phật huệ.

Bấy giờ Phật bảo Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát. Nay ngươi hãy nên. Thọ trì kinh này. Hư Không Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng. Thế Tôn! Tên gọi là gì? Phụng trì ra sao?

Phật nói. Kinh này tên là. Đại Thông Phương Quảng. Năng phá ma cảnh. Hoại quân ngoại đạo. Tiêu trừ phiền não. Năng giải ngũ dục tà kiến trói buộc. Phá ngục ba cõi. Tháo mọi sinh tử. Hướng về niết bàn. Hạt giống chân chính. Khô héo lâu ngày. Thấm nhuần lợi ích. Mưa nhân duyên lớn. Mưa pháp lục độ. Tăng trưởng chúng sinh mầm hoa Tam thừa. Thành tựu Nhất thừa bồ đề cực quả. Thiện nam tử. Ngươi hỏi tên kinh. Ta nói như thế. Người nên thọ trì.

Khi ấy. Hư Không Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng. Thế Tôn! Con từ quá khứ. Nơi vô lượng Phật. Nơi vô lượng hội. Trong vô lượng chúng. Nghe các loại pháp. Các loại việc. Các loại tướng. Các loại thừa. Chưa từng nghe thấy. Pháp hy hữu này. Việc hy hữu này. Tướng hy hữu này. Đại thừa hiếm có. Con thường thọ trì. Khiến không đoạn tuyệt. Thế Tôn. Như Lai thường trụ. Pháp tăng không diệt. Chúng sinh ba cõi. Tự sinh tự diệt. Không thấy Như Lai. Và theo pháp tăng. Xướng lời diệt độ. Chúng con giờ đây. Nhờ uy thần Phật. Du hành ba cõi. Thuận theo thời nghi. Giả nói diệt độ. Thế Tôn. Chúng con giờ đây. Sau khi Phật diệt. Cùng với tám vạn pháp thân Đại Sĩ thông đạt Phật huệ đã lâu. Lưu thông kinh này. Khiến chúng sinh trong pháp giới. Thọ trì đọc tụng. Tu hành đúng thuyết. Nhất thời thành Phật. Không dám buông xả. Thế Tôn. Nếu thiện nam tử. Thiện nữ nhân. Sau khi Phật diệt. Trong đời trọc ác. Nếu có thọ trì đọc tụng. Viết chép quyển kinh. Đắc bao nhiêu phúc.

Phật nói. Thiện nam tử. Nếu người nào đem trân bảo đầy ba nghìn đại thiên thế giới. Dùng để bố thí. Không bằng nghe được tên kinh này. Phúc còn hơn cả phúc bố thí kia. Cũng việc như thế. Nếu người nào đem trân bảo đầy ba nghìn đại thiên thế giới. Dùng để bố thí. Không bằng có người. Nhiếp trì kinh này. Phúc nhiều hơn thế. Cũng việc như thế. Nếu người nào đem trân bảo đầy ba nghìn đại thiên thế giới. Dùng để bố thí. Không bằng có người. Viết chép kinh điển Đại thừa Phương Quảng. Cho dù một chữ một câu. Hoặc một bài kệ. Phúc nhiều hơn thế. Cũng việc như thế. Tuy rằng bố thí trân bảo của vô lượng cõi nước. Không bằng chí tâm đọc tụng một bài kệ. Cũng việc như thế. Tuy rằng bố thí mạng chúng sinh đầy cả mười nghìn thế giới. Không bằng chí tâm giải nghĩa một câu. Vì người khác mà nói nghĩa của một bài kệ. Phúc này còn hơn cả phúc kia. Ấy là vì sao? Bố thí tài thực. Là thế gian bố thí. Nuôi dưỡng tính mạng. Không xuất thế gian. Thí pháp Đại thừa. Nuôi dưỡng chúng sinh. Đạo căn bồ đề. Tiếp nối tam thừa. Trí năng thường mệnh. Thiện nam tử. Người đọc trì kinh này. Vốn là người ác. Nay là người lành. Vốn là người khổ. Nay là người vui. Vốn bị trói buộc. Nay được giải thoát. Vốn chưa được độ. Nay đã được độ. Vốn là vô trí. Nay là luận sư. Vốn là hữu lậu. Nay là vô lậu. Vốn là phàm hạnh. Nay là Thánh hạnh. Vốn là mất đạo. Nay nhập Thánh đạo. Đọc trì kinh này. Trí như Thánh huệ. Cùng Phật Như Lai. Cùng có niết bàn.

Hư Không Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng. Thế Tôn. Như Phật đã nói. Vốn là phàm hạnh. Nay là Thánh hạnh. Vốn là phiền não. Đọc trì kinh này. Cùng Phật Như Lai. Cùng có niết bàn. Phá giới ngũ nghịch. Phỉ báng chính pháp. Đọc trì kinh này. Đoạn trừ phiền não. Cùng đắc niết bàn. Nghĩa này khó hiểu. Cúi mong Thế Tôn. Vì con nói rõ. 

Phật nói. Lành thay lành thay. Thiện nam tử. Ngươi đã hỏi hay. Ta sẽ đáp hay. Vì các chúng sinh. Không được gặp Phật. Tà kiến phạm giới. Phỉ báng chính pháp. Nếu Phật tại thế. Chung quy không phạm giới. Không phỉ báng chính pháp. Là vì sao? Ví như trưởng giả. Chỉ có một con. Yêu thương rất nhiều. Nếu cha còn sống. Ngày đêm dạy bảo. Mọi việc đều theo. Đứa con hiếu thuận. Nghe lời cha dạy. Nên không phạm lỗi. Nếu cha đi xa. Không hẹn ngày về. Đứa con quên mất. Phạm nhiều lỗi lầm. Không rõ ngày về. Tưởng rằng đã chết. Bi thương kêu khóc. Lại khởi tâm hư. Sầu não hồ đồ. Quên lời cha dạy. Ví dụ không theo. Và phỉ báng pháp. Một thời gian lâu. Cha trở về nhà. Đứa con vui mừng. Nhớ lời cha dạy. Thọ trì không phạm. Nhờ được thấy cha. Tin rằng chưa chết. Không gọi đọa nghịch. Giữ lời cha dạy. Thuận theo mà làm. Không gọi phỉ báng. Thiện nam tử. Trưởng giả tức là Như Lai. Đứa con tức là tất cả chúng sinh. Lệnh cha tức là giáo giới. Đi xa tức là đi nơi khác giáo hóa. Vì không thấy cha nên nói là đã diệt. Vì sầu não nên đã bị che chắn. Vì không giữ nên là phạm giới. Vì nói đã diệt nên là nghịch tội. Vì mê lầm nên là phỉ báng. Như Lai Thế Tôn. Giáo hóa nơi khác trở về. Chúng sinh thấy vậy. Liền sinh tín tâm. Biết Phật không diệt. Phật vì thuyết pháp. Trả lại bản tâm. Không gọi phạm giới. Vì biết không diệt. Không gọi đọa nghịch. Thuận theo lời dạy mà làm. Làm đúng lý sẽ đắc giải ngộ. Không gọi là phỉ báng pháp.

Thiện nam tử. Người đọc trì kinh này. Tức có thể tiêu trừ tội phiền não trọng ác trong vô lượng sinh tử. Nghe tên kinh này. Tức được nghe Phật. Người thấy kinh này. Tức được thấy Phật. Người giữ kinh này. Tức giữ thân Phật. Người làm kinh này. Tức làm Phật sự. Người nói kinh này. Tức nói việc Phật. Người giải kinh này. Tức giải nghĩa Phật. Nếu làm việc Phật. Khéo giải nghĩa Phật. Con người như thế. Mãi không phiền não. Cớ là vì sao. Có được kinh này. Đoạn trừ phiền não. 

Thiện nam tử. Nếu tám vạn kiếp, xem là một ngày. Lấy ba mươi ngày, làm thành một tháng. Lấy mười hai tháng, làm thành một năm. Lấy số năm ấy. Qua trăm nghìn vạn ức kiếp. Gặp được một vị Phật. Lại qua từng ấy số năm. Gặp được một vị Phật. Kinh này khó gặp. Lại qua số năm nói trên. Gặp được kinh này. Tức là gặp được thập phương tam thế chư Phật. Vì thế người trí. Thọ trì đọc tụng. Viết chép giảng nói. Có thể trừ được trọng tội tà kiến vô minh phiền não kết lậu. Sống trong ruộng phúc. Có thể trừ được vô lượng cúng dường của thế gian.

Hư Không Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng. Thế Tôn. Bích Chi Phật còn không thể tiêu trừ hết cúng dường thế gian. Huống hồ phàm phu lại tiêu trừ được cúng dường.

Phật nói. Thiện nam tử. Bích Chi Phật không tiêu trừ được cúng dường. Không có lẽ ấy. Tuy không thể thuyết pháp độ người. Nhập định tam muội. Từ tam muội khởi. Hiện đại thần thông. 

Hư Không Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng. Thế Tôn. Trong kinh có nói. Tà kiến phá giới. Không được sống trong cùng một cõi nước. Uống nước chung một dòng sông. Nói giới Bồ Tát. Sám hối buông thả. Người này gọi là. Đánh mất Thánh đạo. Không nhập số đông. Cớ sao lại nói. Tiêu được cúng dường. Nếu tiêu cúng dường. Tức cùng chư Phật. Cùng nhận ứng cúng. Hơn cả La Hán. Và Bích Chi Phật. Chỉ mong Thế Tôn. Phân biệt nói rõ. Con nghe xong rồi. Cũng vì chúng sinh. Giải thích như Phật. Khiến cho chúng sinh. Cũng được độ thoát.

Phật bảo Hư Không Tạng Bồ Tát. Lành thay lành thay. Thiện nam tử. Nay như các người. Từ bi có đủ. Thương xót chúng sinh. Mà hỏi việc này. Lắng nghe cho kĩ. Khéo mà nghĩ nhớ. Ta sẽ vì ngươi. Phân biệt giải thích. Thiện nam tử. Cảnh giới kinh này. Chẳng phải Thanh Văn Duyên Giác đều biết được. Cũng chẳng phải cảnh giới mà các ma ngoại đạo hay phàm phu hiểu được. Duy Phật hay biết. Ngươi cũng được biết. Thiện nam tử. Ta thường vì người hành đạo Bồ Tát mà giảng thuyết, bố thí và tán thán. Không quán tốt xấu. Thành tựu phúc điền. 

Và nói lời này. Bố thí súc sinh. Được trăm phúc báo. Bố thí xiển-đề. Được nghìn phúc báo. Thiện nam tử. Người đoạn thiện căn. Chết thành xiển-đề. Người không hổ thẹn. Chết làm súc sinh. Súc sinh xiền-đề. Quả báo chín muồi. Được nhận cúng dường. Trồng ruộng phúc của người. Huống chi người ấy. Vì lấy nghĩa này. Từ kinh Đại thừa. Đại Thông Phương Quảng. Lực uy đức lớn. Không thể nghĩ bàn. Có thể khiến người. Phá giới ngũ nghịch. Phỉ báng chính pháp. Tà kiến phiền não. Đều được trừ diệt. Được nhận cúng dường.

Hư Không Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng. Thế Tôn. Chư Phật Như Lai. Bất khả tư nghì. Đại Thông Phương Quảng. Sức mạnh uy thần. Cũng bất khả tư nghì. Người thọ trì kinh. Công đức người ấy. Cũng bất khả tư nghì. Phật nói. Đúng vậy đúng vậy. Như ngươi đã nói. Đắc công đức vô biên không thể nghĩ bàn.

Khi ấy Thế Tôn bảo Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát. Thiện nam tử. Ta nhớ thuở xưa. Quá khứ có kiếp. Gọi là Thanh Tịnh. Ta ở kiếp ấy. Cúng dường chín mươi hai ức na do tha chư Phật Như Lai. Do hành Tiểu thừa. Mắc nhiều tội lỗi. Phạm giới vô lượng. Nên không thấy được. Các Như Lai ấy. Thọ ký cho ta. Lại qua kiếp này. Đến kiếp Lạc Kiến. Ta ở kiếp này. Cúng dường bốn mươi hai ức chư Phật Như Lai. Cũng không thấy được. Các Như Lai này. Thọ ký cho ta. Lại qua kiếp này. Đến kiếp Phạm Âm. Ta ở kiếp này. Cúng dường hai mươi hai ức chư Phật Như Lai. Cũng không thấy được. Các Như Lai này. Thọ ký cho ta. Lại qua kiếp này. Đến kiếp Tâm Hỷ. Ta ở kiếp này. Cúng dường tám vạn bốn nghìn chư Phật Như Lai. Cũng không thấy được. Các Như Lai này. Thọ ký cho ta. Lại qua kiếp này. Đến kiếp Cứu Khổ. Cõi nước Trang Nghiêm. Phật hiệu Đại Thí Như Lai Ứng Cúng Chính Biến Tri. Mười hiệu đủ cả. Ta ở kiếp ấy. Cúng dường bốn mươi ức chư Phật Như Lai. Được nghe kinh này. Trừ hết phiền não. Vẫn chưa tự thấy. Ta vào lúc ấy. Đều đem tất cả. Món đồ cúng dường. Bất khả tư nghì. Mà đem dâng cúng. Các Như Lai ấy. Cũng không thấy thọ ký cho ta. Thiện nam tử. Thuở xưa ta ở trong ngần ấy kiếp. Cúng dường ngần ấy chư Phật Như Lai. Tôn trọng tán thán. Được trừ phiền não. Có đủ cấm giới uy nghi của Thanh Văn. Tịnh tu phạm hạnh. Học làm bố thí. Tất cả giữ giới và hạnh đầu đà. Lìa bỏ kiêu ngạo sân hận ngu si. Từ tâm nhẫn nhục. Năng nói điều đã được nghe. Chăm làm tinh tấn. Mọi điều được nghe. Thọ trì không quên. Độc cư nơi xa. Nhập các thiền định. Khi xuất định rồi. Theo điều đã nghe. Đọc tụng suy ngẫm. Các Như Lai ấy. Cũng không thấy thọ ký cho ta. Là cớ vì sao. Là vì vi phạm phá hỏng nhiều cấm giới đã nhận. Vì chấp sâu vào Thanh Văn hạnh nhị thừa. Vì không nghe kinh Đại thừa Phương Quảng. Bởi vì nghĩa đó. Nếu là hàng các Bồ Tát Ma Ha Tát. Nên rời xa hạnh nhị thừa. Tu tập kinh điển Đại thừa Phương Quảng. Thì được thọ ký. Nếu ta từ một kiếp này đến một kiếp khác. Nói danh hiệu Phật. Không thể nói hết. Thiện nam tử. Qua thời đó về sau. Ta được gặp Định Quang Phật. Vì vô lượng đại chúng. Thuyết kinh Đại thừa Đại Thông Phương Quảng này. Ta vào  lúc ấy. Được nghe được thấy điều Phật đó nói. Thọ trì đọc tụng. Tư duy ý nghĩa. Liền đắc vô sinh pháp nhẫn. Định Quang Như Lai. Liền thọ ký ta. Ngươi vào đời sau. Sẽ được làm Phật. Hiệu là Thích Ca Mâu Ni Như Lai Ứng Cúng Chính Biến Tri. Vì thế. Thiện nam tử. Thọ trì kinh này. Chóng đến Phật địa. Huống chi tiêu trừ. Cúng dường thế gian. Của hạng trời người. Thiện nam tử. Vì thế. Sức mạnh của kinh điển Đại thừa thí kho báu không thể nghĩ bàn. Thí ân huệ cho kẻ phá giới bần cùng nương dựa pháp này như có bảo châu. 

Thiện nam tử. Đại thừa như biển lớn. Tiểu thừa như nước đọng trong vết chân trâu. Đại thừa như Tu Di. Tiểu thừa như tổ kiến. Đại thừa như nhật nguyệt. Tiểu thừa như đánh mất sao. Thừa này gọi Đại thừa. Thừa không thể nghĩ bàn. Dung nạp các chúng sinh. Giống như trong hư không. Trong tất cả các thừa. Thừa này là hạng nhất. Đại thừa này như vậy. Vượt qua mọi thừa khác. Tiểu thừa có hạn lượng. Không thể độ tất cả. Duy thừa vô thượng này. Độ hết thảy chúng sinh. Nếu làm vô lượng này. Đại thừa của hư không. Hư không không có lượng. Cũng không có hình sắc. Đại thừa cũng như thế. Không lượng không chướng ngại. Tất cả các chúng sinh. Đi trên Đại thừa này. Nên quán tướng thừa này. Mà dung nạp rộng rãi. Nếu tại vô lượng kiếp. Nói công đức Đại thừa. Và đi theo thừa này. Không thể đạt cùng tận. Trong tất cả các thừa. Đại thừa là tối thắng. Chí tâm nhận Đại thừa. Được tới cây bồ đề. Không chướng ngại trói buộc. Nay thừa vô thượng này. Thắng mọi thừa thấp kém. Ngồi bên dưới cây đạo. Quán mười hai nhân duyên. Vì thương xót chúng sinh. Mà nói kinh Đại thừa. Các chúng sinh mười phương. Nếu đi theo Đại thừa. Cũng lại không tăng giảm. Dung nạp như hư không. Đại thừa chẳng nghĩ bàn. Thần thông đại trí năng. Vì thế các chúng sinh. Nên chăm chỉ tu tập. Tất cả các thiên chúng. Thiên ma và ngoại đạo. Muốn trừ phiền não trói. Quy y nơi Đại thừa. Có đủ sáu thần thông. Cửa tam minh tam đạt. Phá được ma ngoại đạo. Và các loại tà kiến. Đại thừa tối quan trọng. Phá được các phiền não. Có đầy đủ căn lành. Vì thế sức Đại thừa. Thật sự khó nghĩ bàn. Tất cả pháp thế gian. Và cả pháp xuất thế. Pháp hữu học vô học. Thu vào trong Đại thừa. Nếu có chúng sinh hành ác đạo. Thân cận thiện tri thức tà kiến. Tránh xa và quy về Đại thừa. Nếu ai không thích cầu Đại thừa. Không thể phá hoại phiền não kết. Muốn cầu giải thoát học Đại thừa. Nếu có người lớn giải việc lớn. Nghe nói Đại thừa tâm hoan hỷ. Cần biết tức là người Đại thừa. Đắc tâm tịch tĩnh có thần thông. Đều nhờ Đại thừa tự trang nghiêm. Nếu người có thể hành đại hạnh. Hạt giống Tam Bảo sẽ không đứt. Nếu ai thích thú theo Đại thừa. Người này tức được vô lượng phúc. Đến được mười phương các thế giới. Cúng dường mười phương vô lượng Phật. Như thế Đại thừa kinh Phương Quảng. Các thừa thế gian không thể thắng. Đầy đủ uy đức phá sinh tử. Vì thế Đại thừa khó nghĩ bàn. Được ở trong sắc đắc tự tại. Đầy đủ thành tựu pháp thân thường. 

Nếu có người theo Đại thừa này. Người ấy nhận được vô thượng lạc. Xả thân tự thí tu từ bi. Vì thế đắc thừa vô thượng này. Giữ giới tinh tấn tu phạm hạnh. Năng dùng thần thông che nhật nguyệt. Đều vì tu lâu hạnh Đại thừa. Tự tâm siêng tu thường tinh tấn. Người này liền đắc trong Đại thừa. Phải nhận vô lượng khổ não báo. Tu tập Đại thừa được trừ diệt. Nếu năng an trụ kinh Đại thừa. Hưởng lạc dài lâu như chư Phật. Đầy đủ chính niệm siêng tinh tấn. Được bốn như ý thần thông lực. Nương dựa chính pháp và chân nghĩa. Đều nhờ tu lâu kinh Đại thừa. Đầy đủ mười lực không sợ hãi. Ba mươi hai tướng đẹp trang nghiêm. Kim cương tam muội tất cả trí. Đều nhờ từ lâu tu Đại thừa.

Thiện nam tử. Nếu có trì kinh điển Đại thừa này. Một chữ một câu cho đến một bài kệ. Mãi thoát các khổ nạn. Sau không đọa ác đạo. Được đến chốn an lạc. Sau này thời ác thế. Người có được kinh này. Ta đều sẽ thọ ký. Sau cùng thành Phật đạo. Người trì giữ kinh này. Phật thường gần người ấy. Người ấy thường gần Phật. Người ấy được Phật pháp. Chư Phật hộ người đó. Được đại thần thông huệ. Năng chuyển đại pháp luân. Độ các cõi sinh tử. Năng phá hoại ma quân. Ở chỗ Định Quang Phật. Ta nghe kinh phương tiện. Trụ nhẫn được thọ ký. Hiệu Thích Ca Mâu Ni. Sau khi ta diệt độ. Nếu ai học kinh này. Ta cũng ban thọ ký. Nếu đời sau có người. Giải được nghĩa kinh này. Vì người ngu mà nói. Tuy Phật không tại thế. Không đoạn nơi Tam Bảo. Cũng như Phật hiện tại. Bởi thế cho nên. Ta từ vô lượng Phật. Thọ trì kinh điển này. Ở trong thời mạt kiếp. Vì người mà quảng thuyết. Nhờ đó mà có được. Ba mươi hai tướng tốt. 

Hư Không Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng. Thế Tôn. Tất cả chư Phật đều cùng nói ba mươi hai tướng này. Nay Phật cũng lại nói ba mươi hai tướng. Là do nghiệp duyên gì mà được thành tựu. Chỉ mong Thế Tôn. Vì con mà nói. 

Phật bảo Hư Không Tạng Bồ Tát rằng. Thiện nam tử. Như Lai thành tựu vô lượng công đức. Nhờ đó đắc ba mươi hai tướng. Nếu ta quảng thuyết. Hết kiếp chẳng hết. Nay ta vì ngươi. Mà nói sơ lược. Thiện nam tử. Như Lai chí tâm hộ trì tịnh giới nên được tướng lòng bàn chân bằng. Vì tu hết thảy bố thí ân huệ nên được tướng tay chân có nghìn vòng xoáy. Không lừa tất cả chúng sinh nên được tướng gót chân đầy đặn. Vì hộ chính pháp nên được tướng ngón tay thon dài. Không phá hoại người nên được tướng giữa các ngón tay có lớp màng lụa. Vì đem y phục tuyệt diệu dâng cúng và bố thí nên được tướng tay chân mềm mại. Vì lấy đồ ăn thanh tịnh bố thí nên được tướng bảy chỗ đầy đặn. Vì tu mười pháp thiện nên được tướng thân trên như vua sư tử. Vì thường lấy thiện pháp giáo hóa chúng sinh nên được tướng đầy đặn tròn trịa. Vì thường cứu giúp người khỏi sợ hãi nên được tướng cánh tay khuỷu tay tròn trịa. Vì thấy người khác tạo nghiệp Tam Bảo thì vui vẻ trợ giúp nên được tướng tay dài chấm gối. Vì thường tu vạn pháp thiện nên được tướng thân thanh tịnh. Vì thường thí thuốc cho người bệnh nên được tướng những thứ ăn vào đều hiện lên vị ngon. Vì thường đúng hẹn nói pháp thiện nên được tướng gò má sư tử. Vì ở trước chúng sinh có tâm bình đẳng nên được tướng bốn mươi hai răng. Vì thích hòa hợp không tranh tụng nên được tướng răng khít. Vì lấy trân bảo bố thí nên được tướng răng thẳng đều. Vì thân khẩu ý thanh tịnh nên được tướng hai răng trắng. Vì bảo vệ được bốn họa miệng nên được tướng lưỡi rộng dài. Vì thành tựu vô lượng công đức nên được tướng thượng vị trong các vị. Vì thường nói lời dịu dàng với chúng sinh nên được tướng Phạm âm. Vì tu tập từ tâm nên được tướng mắt mỏng dài. Vì chí tâm cầu vô thượng bồ đề nên được tướng lông mi như vua trâu. Vì tán thán mọi công đức của người khác nên được tướng bạch hào. Vì cung kính cúng dường cha mẹ, hòa thượng, a-xà-lê nên được tướng nhục kế. Vì vui thích nói pháp Đại thừa nên được tướng thân mềm mại. Vì thích bố thí đồ bôi trét nên được tướng ánh sáng vàng kim. Vì xa lìa tụ tập nói chuyện thế gian nên được tướng từng lỗ chân lông đều xoay về bên phải. Vì thích nhận lời dạy của sư trưởng bạn tốt nên được tướng tất cả lông tơ trên tay chân đều xoáy lên trên. Vì không lấy việc xấu gán cho chúng sinh nên được tướng tóc khỏe mượt. Vì thường khuyên chúng sinh tu tam muội nên được viên mãn như Ni Câu Đà. Vì ở nơi sinh sống thích làm tượng Phật nên được tướng sức lực như Na La Diên. Thiện nam tử. Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu công đức vô lượng như vậy. Sẽ có được ba mươi hai tướng như thế. 

Hư Không Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng. Thế Tôn. Con quán các pháp. Đều không tướng mạo. Lại quán Như Lai. Không có hạnh đó. Vì sao Phật nói. Quảng tu mọi hạnh. Con quán chư Phật pháp tăng. Khổ tập diệt đạo. Ngũ ấm lục nhập thập pháp giới. Thập nhị nhân duyên. Các ba la mật. Nhân quả trong ngoài. Không, vô, tướng, nguyện. Không thấy sinh ra. Không thấy diệt mất. Như huyễn như hóa. Như bóng ảnh tiếng vang. Như trăng trong nước. Lông rùa sừng thỏ. Như hoa trong hư không. Như con của người đá. Như mặc áo bóng. Cưỡi voi tưởng tượng. Như có như không. Và lấy có không. Chẳng có chẳng không. Chẳng thường chẳng đoạn. Chẳng sinh chẳng diệt. Chẳng trong chẳng ngoài. Chẳng thấy chẳng biết. Cũng như hư không. Cớ sao lại nói. Con tu các pháp. Con quán Như Lai. Cũng không phải chúng sinh, thọ mạng, sĩ phu. Cũng không phải mắt, không phải sắc, không phải sắc tướng hành mà mắt thấy. Cũng không phải tai, không phải âm thanh, không phải thanh tướng hành mà tai nghe thấy. Không phải mũi, không phải mùi, không phải hương tướng hành mà mũi ngửi thấy. Không phải thân, không phải xúc chạm, không phải xúc tướng hành mà thân chạm thấy. Không phải ý, không phải pháp, không phải pháp tướng hành mà ý nghĩ thấy. Không phải thức, không phải sắc, không phải sắc tướng hành mà thức nhận thấy. Không phải sắc, không phải khổ, không phải khổ tướng hành mà sắc biểu lộ. Chẳng ngã chẳng nguyện. Chẳng hành chẳng uẩn. Chẳng thực chẳng hư. Chẳng tụ chẳng tán. Chẳng xuất chẳng nhập. Thọ tưởng hành thức. Cũng lại như thế. Chẳng đến chẳng đi. Không có nơi trụ. Không có tâm ý ý thức. Không có thân khẩu ý nghiệp. Chẳng một chẳng hai. Chẳng quá khứ vị lai hiện tại. Chẳng sạch chẳng bẩn. Chẳng ta, chúng sinh, thọ mạng, sĩ phu. Chẳng thường chẳng đoạn. Không sinh không diệt. Không tu không hành. Không xả không nhận. Rốt ráo thường trụ. Cớ sao lại nói. Quảng tu các hạnh.

Khi ấy. Phật ca ngợi Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát rằng. Lành thay lành thay. Thiện nam tử. Ngươi trong đời quá khứ. Đã từng cúng dường. Vô lượng chư Phật. Đã thấu đạt lâu. Không nghĩa vô thượng. Của đạo Đại thừa. Hiểu rõ vạn pháp. Đều là không tịch. Cũng biết Như Lai. Rốt ráo thường trụ. Thiện nam tử. Ví như bảo châu lưu ly thanh tịnh. Tuy ở trong bùn. Trải qua nghìn năm. Tính nó thường sạch. Thoát bùn vẫn thế. Nay như các người. Cũng giống như thế. Thấu hiểu pháp tướng. Bản tính thanh tịnh. Nay như các người. Dù tại ba cõi. Trong bùn ngũ trọc. Giúp Phật hoằng dương giáo hóa. Cũng không bị bùn làm bẩn. Vì không nhiễm bẩn. Mới hỏi nghĩa này. Thiện nam tử. Nay ngươi nghe kĩ. Ta sẽ nói cho. Tất cả vạn pháp. Thật không tướng mạo. Vì có văn tự. Nên có nói pháp. Trong pháp không chữ. Trong chữ không pháp. Vì do lưu truyền. Nói có văn tự. Ở trong văn tự. Không có bồ đề. Ở trong bồ đề. Không có văn tự. Đệ nhất nghĩa đế. Tuy không văn tự. Trong đạo thế tục. Nói có văn tự. Chúng sinh Phật tính. Vô thượng bồ đề. Không lìa văn tự. Thiện nam tử. Đúng như đã nói. Như Lai vô tận vô sinh. Không tu không hành. Lìa mọi tu hành. Không nhập chính vị. Cũng không thối chuyển. Một đời không sinh vào Đâu Suất Đà Thiên. Không từ trời xuống. Không ở thai đời. Trong tất cả pháp. Tâm không trụ lại. Cũng không nói rằng. Ta đã đi qua sinh lão bệnh tử. Cũng không ở trong bốn phương, mỗi phương đi bảy bước. Cũng không tự nói. Ta là bậc vô thượng ở thế gian. Chẳng ở trong cung, chọn gái tiêu khiển. Không tập những việc kỹ nhạc thế gian. Cũng không học tranh tài cưỡi ngựa. Vì muốn độ chúng sinh nhập niết bàn. Thị hiện tướng già để hoại tham thân. Thị hiện tướng bệnh để hoại tham thọ. Thị hiện tướng chết để hoại tham dục, tham ngã vào thứ mà ta sở hữu. Thị hiện tướng sa môn vì khiến chúng sinh không cầu thân làm Phạm Thiên Đế Thích. Siêng cầu pháp xuất thế vô thượng. Bước ra khỏi hoàng cung thị hiện xuất ly ba cõi lao ngục. Và biểu lộ vì đây không phải quả cuối cùng nên thị hiện không yêu ghét. Vì thế được ba mươi hai tướng làm trang nghiêm thân ấy. Vì chỉ cho chúng sinh ruộng phúc tốt lành, cắt bỏ lưới vây, quẳng bỏ chuỗi ngọc. Phái ngựa lệnh trở về, hoàn trả phóng thả xiển-đà-la [xiển-đà-la, hay chiên-đà-la, hạng người bị coi là hạ tiện nhất ở thời Đức Phật], thị hiện xa rời tất cả phiền não. Hiện cạo nhẵn râu tóc thị hiện không tham tất cả pháp. Thọ trì thân phận thầy tu thị hiện điều phục chúng sinh. 

Ở bên Uất-đà-già-la [Uất-đà-già-la, còn gọi là Uất-đầu-lam-phất, là vị đại sư mà Đức Phật theo học], thăm hỏi nhận pháp, thị hiện phá hoại tâm tự cao. Sáu năm khổ hạnh để điều phục ngoại đạo. Hiện nhận ăn uống theo pháp thế tục. Hiện nhận cỏ khô cho thấy đã biết đủ. Ngồi trên đệm cỏ cho thấy phá bỏ kiêu ngạo. Chư thiên long thần tán thán cung kính cho thấy quả báo công đức trang nghiêm. Hàng phục ngoại đạo cho thấy sức mạnh dũng mãnh. Tay phải chỉ đất cho thấy sức mạnh làm phúc. Vì mặt đất chấn động biểu thị báo ơn. Nguyện tu vô tướng. Được đắc đạo vô thượng bồ đề. Thị hiện biết hết tất cả pháp tướng. Quán pháp bình đẳng. Tên gọi là Phật. Trí năng của Phật. Không ai thắng nổi. Pháp yếu nói ra. Biết Phật quá khứ, vị lai, hiện tại. Vì theo nghĩa ấy. Gọi là Như Lai. Thấy biết tất cả. Việc trong ba đời. Pháp thiện bất thiện. Gọi Tát Bà Nhã. Vì lời chân thật. Gọi thiên nhân sư. Nếu có người học. Quán được như vậy. Gọi là Bồ Tát. Nếu quán khác đi. Không gọi Bồ Tát. Mà là lừa gạt. Tất cả chư Phật. Thiện nam tử. Tất cả chư Phật. Không xuất không nhập. Không sinh không diệt. Vì độ chúng sinh. Xướng ngôn xuất thế. Vì độ chúng sinh. Xướng ngôn diệt độ. 

Hư Không Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng. Thế Tôn. Con thật biết lâu. Pháp tướng lý không. Chư Phật Như Lai. Không xuất không diệt. Không sinh vương cung. Không diệt dưới cây. Chung quy thường trụ. Vì độ chúng sinh. Tu mọi khổ hạnh. Mà nhập niết bàn. Thực không động chuyển. Chư Phật Như Lai. Chân thực thường tồn. Ứng thân ba cõi. Hiện năm loại pháp thân. Thế nào là năm. Một là pháp thân thực tướng. Hai là pháp thân công đức. Ba là pháp thân pháp tính. Bốn là pháp thân ứng hóa. Năm là pháp thân hư không. Sở dĩ gọi là pháp thân thực tướng. Siêu việt thắng quả thực tướng. Hằng trụ pháp giới. Vì thế gọi là pháp thân thực tướng. Sở dĩ gọi là pháp thân công đức. Vì độ chúng sinh. Thí công tích hành. Vạn thiện đầy đủ. Vì thế gọi là pháp thân công đức. Pháp thân pháp tính. Đạt ngộ tất cả pháp tướng. Cùng tận mọi lẽ. Từ cảnh giải tỏ nghĩa không. Giải nghĩa không đầy đủ. Từ cảnh được tên. Gọi là pháp thân pháp tính. Vì sao gọi là pháp thân ứng hóa. Như Lai xuất thế. Ứng đủ năm đạo. Thiện ác đều hiện. Cứu hết mọi vật. Từ hóa vật được tên. Nên gọi là pháp thân ứng hóa. Sở dĩ lại gọi là pháp thân hư không. Hư không vô biên. Pháp thân vô biên. Hư không không thể đo lường. Pháp thân cũng không thể đo lường. Thân của Như Lai. Cũng như thái hư. Vì độ chúng sinh. Ứng thân năm phần. Nên biết Như Lai. Vô sinh vô diệt. Các pháp cũng thế. Vì độ chúng sinh. Mà Phật hiện pháp. 

Khi ấy. Phật bảo Hư Không Tạng Bồ Tát rằng. Thiện nam tử. Ngươi và Như Lai. Cùng giải pháp tướng. Tất cả cảnh giới. Vô chướng vô ngại. Thiện nam tử. Tương lai có kiếp. Tên gọi Thanh Tịnh. Cõi nước Khoái Lạc. Nước ấy đều lấy các đại Bồ Tát luận nghĩa Đại thừa. Từ đầu không nghe tên nhị thừa. Huống chi ác đạo. Ngươi vào kiếp ấy. Sẽ được làm Phật. Hiệu là Thanh Tịnh Trang Nghiêm Như Lai Ứng Cúng Chính Biến Tri. Các phương lớn khác. Đều đến nước ấy. Nghe nhận kinh Đại thừa Đại Thông Phương Quảng. Vì thế tất cả chúng sinh. Nếu nghe tên Hư Không Tạng Bồ Tát. Lễ bái cúng dường. Đều được sinh về thế giới Khoái Lạc ấy. Nếu có chúng sinh. Cầu nơi Đại thừa. Chưa đắc vô sinh. Thọ trì kinh này. Cần biết người này. Không quá mười Phật. Khiến được thọ ký. 

Kinh Đại Thông Phương Quảng Sám Hối Diệt Tội Trang Nghiêm Thành Phật

**Quyển Trung hết.**


### Quyển Hạ


Khi ấy. Phật Thích Ca Mâu Ni vì Tín Tướng Bồ Tát. Vì tất cả chúng sinh và bản thân mình. Hỏi danh hiệu chư Phật. Phật nói thập phương tam thế chư Phật, mười hai bộ kinh, và đại Bồ Tát tăng đã xong. Lại muốn đại sư tử hống. Sư tử hống này. Là quyết định thuyết. Quyết định thuyết này. Vì biết rõ Như Lai. Thường trụ không diệt. Và nói chúng sinh. Đều có Phật tính. Các ma sợ hãi. Ngoại đạo quy phục. Nên gọi là sư tử hống. Hiển thuyết như vậy đã xong. Phật lộ tướng lưỡi rộng dài phủ khắp ba nghìn đại thiên thế giới. Tất cả thế giới. Sáu loại chấn động. Sáu loại chấn động này. Đông trồi tây sụt. Tây trồi đông sụt. Nam trồi bắc sụt. Bắc trồi nam sụt. Ở giữa trồi ngoài rìa sụt. Ngoài rìa trồi ở giữa sụt. Gọi là sáu loại chấn động trên mặt đất. Lưỡi phóng đại quang minh. Ánh sáng phổ chiếu. Ánh sáng phổ chiếu này. Chuyển vô thường thành thường. Chuyển bất tịnh thành tịnh. Chuyển khổ thành vui. Chuyển vô minh thành minh. Khi ấy, chỗ mà Phật quang chiếu đến. Núi rừng quốc thổ. Sông hồ biển lớn. Sông núi Thiết Vy. Tất cả địa ngục. Cao thấp ngay ngắn. Đều được thanh tịnh. Không còn dơ bẩn. Giống như Đông phương thanh tịnh trang nghiêm Mãn Nguyệt thế giới. 

Khi ấy. Thích Ca phân thân chư Phật. Từ trên không hóa xuống dưới. Giống như mưa hoa. Từ đất hóa ra. Giống như mây mọc. Đầy ắp hư không. Không một chỗ hở. Lúc này các vị hóa Phật. Dị khẩu đồng âm. Đều nói Như Lai. Thường tính bất diệt. Nói các chúng sinh. Đều có Phật tính. Còn nói các pháp. Đều quy về không. Nhân quả vạn hành. Đều quy một thừa. Chúng sinh nhìn thấy. Lời vừa nói xong. Bỗng nhiên biến mất. Chỉ thấy Thích Ca. Ở trên bản tọa. Đúng vào lúc ấy. Tất cả đại chúng. Đều thấy hóa Phật. Cho nên điều thấy. Đều là Thích Ca. Sức mạnh uy thần. Từ phụ Thích Ca. Khi hiện sức mạnh thần thông uy đức này. Trong đại chúng khi ấy. Bốn mươi hằng hà sa Bồ Tát đắc vô sinh pháp nhẫn. Tám vạn Thanh Văn phát tâm Đại thừa. Mười nghìn tì kheo đắc đạo A La Hán. Một vạn tám nghìn tì kheo ni đắc đạo A Na Hàm. Bốn ức ưu bà tắc đắc đạo Tư Đà Hàm. Mười ức ưu bà di đắc đạo Tu Đà Hoàn. Vô lượng trời người đắc pháp nhãn tịnh. Tự biết số mệnh. Biết pháp hữu vi. Đều là vô thường. 

Trong đại chúng ấy. Có Sư Tử Hống Bồ Tát Ma Ha Tát. Đứng dậy khỏi chỗ. Sửa sang y phục. Cúi dưới chân Phật. Và bạch Phật rằng. Thế Tôn. Như nói ở trên. Nghe danh hiệu Phật. Cũng diệt được tội. Nghe tên của pháp. Cũng diệt được tội. Nghe tên của tăng. Cũng diệt được tội. Vì sức mạnh Phật. Vì sức mạnh pháp. Vì sức mạnh tăng. Như Phật lực ấy nên cầu Phật. Như pháp lực ấy nên cầu pháp. Như tăng lực ấy nên cầu tăng. Sao phải cầu ba. Như nói ở trên. Duy có một thừa. Chúng sinh thấy ba. Phật tự nói ba. Huống chi chúng sinh. 

Phật bảo Sư Tử Hống Bồ Tát Ma Ha Tát rằng. Lành thay lành thay. Thiện nam tử. Mau hỏi nghĩa này. Lợi ích chúng sinh. Hãy nghe cho kĩ. Nay ta vì ngươi. Phân biệt giải thích. Không chỉ Phật lực. Không chỉ pháp lực. Không chỉ tăng lực.   Cũng là chúng lực. Phật là cha mẹ nơi chúng sinh trở về. Bồ Tát tăng là chứng minh tri thức. Đứa con mê là chúng sinh. Nếu có tỉnh ngộ. Tự sinh chán lìa. Vì niệm lực nhiều. Cầu xuất tam giới. Biển cả phiền não. Kinh điển Phương Quảng. Làm con thuyền lớn. Thiện nam tử. Phật tức là pháp. Pháp tức là tăng. Tăng tức vô vi. Vô vi là không. Vô vi không. Hữu vi không. Nội không ngoại không. Đại không tiểu không. Đều quy một không. Không chẳng khác biệt. Thiện nam tử. Điều mà ngươi hỏi. Cần nên cầu một. Đâu cần cầu ba. Thiện nam tử. Ví như có người. Sợ hãi hư không. Du hành khắp nơi. Tìm chỗ ẩn thân. Chẳng thoát hư không. Thiện nam tử. Thập phương Phật nói. Và điều ta nói. Vạn nhân duyên lành. Tam Bảo tam thừa. Chẳng qua có một. Vì để khéo hợp. Các sơ, trung, hậu. Tất cả chúng sinh. Phân biệt nói ba. Cho nên gọi là. Một tướng Tam Bảo. 

Sư Tử Hống Bồ Tát nói. Lành thay lành thay. Thật như Thánh giáo. Con biết từ lâu. Vì các chúng sinh. Hỏi việc như vậy.

Sư Tử Hống Bồ Tát Ma Ha Tát bạch Phật rằng. Thế Tôn. Như Phật đã nói. Chẳng hai chẳng ba. Vì kinh Phương Quảng. Là mẹ chư Phật. Bồ Tát đại đạo. Con mắt học giả. Thu về tà kiến. Cứu hộ tâm thất lạc. Đoạn trừ ba ác đạo. Mở cánh cửa vô thượng bồ đề. Đưa các Thanh Văn. Đi tới Đại thừa. Con sẽ lấy đại đà-la-ni chú. Để bảo vệ họ. Tịnh trì giới hạnh. Tu học kinh này. Cũng sẽ bảo vệ. Hoặc lại có người. Kính trọng kinh này. Tu hành bảy ngày. Hoặc có ác ma. Muốn đến quấy nhiễu. Khiến các ác ma. Không thể thừa cơ. Thế Tôn. Con sẽ bảo hộ. Cho kinh điển này. Ở đời thật lâu. Tận bồ đề tính. 

Phật nói. Thiện nam tử. Ngươi hộ kinh này. Tức hộ Tam Bảo. Cũng hộ người hành giáo. 

Khi ấy. Sư Tử Hống Bồ Tát. Ở tại trước Phật. Mà nói chú rằng:

Nam mô Phật. Nam mô pháp. Nam mô tăng. 
A-tan-ti. Thô-lô-ni. Tua-thua. Ha-a-ka-tu-ni. Pô-pi. 
Sa-pô-ta-mô-ni. Pô-pi. I-sưa-mô-thua. 
Pi-pô-sưa-na. Pi-mo-la-xiêu-pô-li. 
Ta-mô-ni. Chuy-na. Pô-lô-ni-cha-yê. 
Tô-mô-li-chưa-li. Hô-lô-hô-lô. Sư-pinh-ti. 
Man-thua-lua-man-thua-lua. Sô-ha. 

Mỗi lần trăm biến. Nhiễu phải bảy vòng. Bảy ngày như thế. Một ngày ba thời. Trong bảy ngày đó. Không niệm kinh khác. Tâm nghĩ Phương Quảng. Không cảnh gì khác. Thế Tôn. Chú đà-la-ni này. Tám trăm vạn ức chư Phật đã nói. Nay con nói ra. Nếu có người phỉ báng chú này. Tức là phỉ báng các Phật Như Lai ấy. Người đã phỉ báng chú này. Đời đời không thành đạo. Không thoát ba cõi. Là cớ vì sao? Chú này có thể khiến người đánh mất tâm có được tâm gốc. Là chú đà-la-ni. Một lần qua tai. Nghe rồi viết chép. Không uống rượu thịt. Tự giữ trai giới. Xa rời hý luận. Không vào quán chợ. Thường làm đại từ. Quý việc tọa thiền. Người đó hoặc từ vô lượng kiếp đến nay. Tam chướng trọng tội. Nghe chú này rồi. Chí tâm thọ trì. Ngày ngày đọc tụng. Thường niệm không quên. Người này cho đến khi đắc đạo bồ đề. Không đọa tam đồ.

Phật bảo Sư Tử Hống Bồ Tát rằng. Lành thay lành thay. Năng hộ Tam Bảo. Nghĩ thương chúng sinh. Lệnh xuất tam hữu. Nói chú như thế. Làm lợi ích lớn. Vô lượng người học. Mở mang đạo giáo. Cắt các tà kiến. Thiện nam tử. Tất cả chúng sinh. Nghe thấy tên ngươi. Và âm thanh chú. Tin kính không phỉ. Người ấy đời này an ổn. Và khi mệnh chung. Thường thấy chư Phật. Cũng được thấy ta. Cũng thấy thân ngươi. Và các Bồ Tát. Tự biết được làm Phật. Chắc chắn không nghi ngờ. Tất cả thấy Phật tính. Nhờ niềm tin thanh tịnh. Vạn thiện thành Phật đạo. Sẽ xả tất cả ác. Phật nói. Nếu có thiện nam tử. Thiện nữ nhân. Sau khi ta diệt độ. Hoặc một ngày. Hoặc một đêm. Hoặc một giờ. Hoặc một niệm. Lễ bái chư Phật mười phương ba đời. Mười hai bộ kinh. Các đại Bồ Tát. Tâm nhớ Đại thừa. Nghĩ đệ nhất nghĩa. Người đó một niệm. Trong cái búng tay. Thập ác ngũ nghịch. Phỉ báng Phương Đẳng. Tất cả ác nghiệp. Đều được diệt trừ. Không còn mảy may. Nếu có tì kheo. Tì kheo ni. Hoặc Bồ Tát. Hoặc sa di. Hoặc sa di ni. Hoặc người mất bản tâm. Thân phạm bốn tội nặng. Bát cấm lục trọng. Thập ác ngũ nghịch. Phỉ báng Phương Đẳng. Nay sinh lòng tin. Lễ bái danh hiệu chư Phật mười phương ba đời. Ác nghiệp như thế. Đều được diệt trừ. Không còn mảy may. 

Lời vừa nói xong. Khi ấy. Thiện Kiến Vương Tử và ba nghìn người. Ở thời Định Quang Phật. Bất ngờ phút chốc. Đến chỗ của Phật. Lễ dưới chân Phật. Đồng thanh bạch Phật rằng. Thế Tôn. Chúng con hoặc từ vô lượng kiếp đến nay. Ác nghiệp đã tạo. Không thể nói hết. Hoặc phạm mười ác. Hoặc phạm năm nghịch. Hoặc báng Phương Đẳng. Hoặc tạo vô lượng a tăng kỳ tội. Cầu dựa Như Lai. Mười hai bộ kinh. Các Bồ Tát chúng. Phát lộ sám hối. Mong nhận chúng con. Phật nói. Muốn sám mười ác. Muốn sám năm nghịch. Thậm chí Nhất-xiển-đề. Người muốn thấy Phật tính. Nên làm như vậy. Tùy ý mà nói.

Khi ấy ba nghìn người. Nghe từ âm của Phật. Chỉnh đốn lại y phục. Chắp tay và làm lễ. Trễ áo bên vai phải. Gối phải quỳ xuống đất. Rồi nói như thế này. Thế Tôn. Chúng con hôm nay. Quy mệnh mười phương Phật. Quy mệnh mười phương pháp. Quy mệnh mười phương tăng. Tiếp đó quy mệnh cúi lạy Đông phương A Súc Phật. Cũng quy mệnh Nam phương Bảo Tướng Phật. Cúi lạy Tây phương A Di Đà Phật. Cũng lại quy mệnh Bắc phương Thắng Diệu Phật. Cúi lạy Thượng phương Hương Tích Như Lai. Cũng quy mệnh Hạ phương Ức Tượng Như Lai. Cúi lạy Đông phương Phổ Hiền Đại Sĩ. Cũng quy mệnh Nam phương Trì Thế. Cúi lạy Tây phương Quan Âm Đại Sĩ. Cũng quy mệnh Bắc phương Mãn Nguyệt. Cúi lạy Thượng phương Hư Không Tạng Đại Sĩ. Cũng quy mệnh Hạ phương Kiên Đức Đại Sĩ. Cúi lạy Bổn Sư Định Quang Như Lai. Cũng quy mệnh Phật tính vị lai. Cúi lạy phân thân Hóa Phật các phương khác. Quy mệnh thầy Thích Ca của con ngày nay. Cúi lạy Đại Sĩ Duy Ma Văn Thù. Cũng quy mệnh A Nan Ca Diếp. Cúi lạy Thánh nhân xuất hiện ở bốn đạo. Cũng quy mệnh những vị mới phát tâm dạy dỗ. Cúi lạy Đại Tạng mười hai bộ kinh Phương Đẳng chính điển. Cũng quy mệnh các kinh pháp khác. Cúi lạy tám phần xá lợi hình tượng. Cũng quy mệnh chư Phật hiện tại. Tứ Vương bốn phương Sơ-Lợi-Thích-Phạn. Ba mươi ba Thiên. Hư không trên trời. Trên đất dưới đất. Rừng núi dưới cây. Tất cả thần tiên. Người có đại thần túc. Người có thiên nhãn. Người có thiên nhĩ. Mong đều nghe biết. Và chứng minh cho. Nguyện tất cả chúng sinh. Hoặc người chưa sám hối. Đều được diệt hết tội. Nói lời như thế này. Chúng con hoặc từ vô thủy thế giới cho đến thân ác ngày nay. Tâm loạn cuồng điên. Vô lượng đảo kiến. Phiền não ác nghiệp. Không thể kể hết. Các tội đã làm. Không tự nhận biết. Phát tâm mãnh liệt. Không thấy đời sau. Chỉ thấy đời này. Thích thói phiền não. Xa rời thiện căn. Ác nghiệp ngăn trở. Gần ác tri thức. Ở bên tì kheo, tì kheo ni làm việc phi pháp. Ở bên cha mẹ làm việc phi pháp. Hoặc tự do dùng đồ vật của tăng. Ở bên năm bộ tăng làm việc thị phi. Hoặc nói vô lượng ác nghiệp của thế gian. Hoặc giết chúng sinh có thiện căn bồ đề. Hoặc phỉ báng pháp sư. Nói pháp là phi pháp. Phi pháp nói là pháp. Nói Như Lai vô thường, chính pháp vô thường, tăng bảo vô thường. Không thích huệ thí. Tín thọ tà pháp. Vì thế ngày nay. Vô lượng sợ hãi. Vô lượng hổ thẹn. Quy y Tam Bảo. Chư Phật từ bi. Phương Đẳng phụ mẫu. Bồ Tát tri thức. Cho phép chúng con. Phát lộ sám hối. Mong trừ trọng tội sinh tử từ vô lượng kiếp đến nay. Nguyện sau không tạo tác. 

Lại nữa Thế Tôn. Chúng con hoặc từ vô lượng kiếp đến nay tạo tác ngũ nghịch. Hoặc phạm các giới cấm của chư Phật quá khứ vị lai hiện tại. Làm hạng Nhất-xiển-đề. Nói ra lời thô ác. Phỉ báng chính pháp. Tạo nghiệp nặng này. Chưa từng hối cải. Tâm không hổ thẹn. Hoặc phạm các tội thập ác ngũ nghịch. Tự biết chắc chắn đã phạm việc nặng như thế. Bản tâm ban đầu không sợ hãi hổ thẹn. Lén nhận cúng dường. Chưa từng để lộ. Đối với chính pháp. Không có tâm trân trọng hộ trì. Trong thời gian ấy. Phỉ báng khinh chê. Nói nhiều tội ác. Hoặc lại nói rằng. Không có Phật pháp tăng, không có thập ác ngũ nghịch, trọng tội vô gián đã tạo như thế. Vì thế hôm nay. Vô lượng sợ hãi. Vô lượng hổ thẹn. Quy y Tam Bảo. Chư Phật từ bi. Phương Đẳng phụ mẫu. Bồ Tát tri thức. Cho phép chúng con. Phát lộ sám hối. Mong trừ trọng tội sinh tử từ vô lượng kiếp tới nay. Nguyện sau không tạo tác. 

Lại nữa Thế Tôn. Chúng con hoặc từ vô lượng kiếp đến nay. Hoặc bốn đảo kiến. Hay bốn pháp trọng. Nói điều thô ác. Đại tội ô trọc. Nói là bốn trọng. Phạm nói không phạm. Không phạm nói phạm. Tội nhẹ nói nặng. Tội nặng nói nhẹ. Sạch nói không sạch. Không sạch nói sạch. Hoặc lại tà kiến. Ca ngợi sách đời. Bất kính kinh Phật. Các luận nghĩa xấu. Nuôi tám bất tịnh. Đúng là lời Phật. Lại bảo lời ma. Đúng là lời ma. Lại bảo lời Phật. Hoặc lại tín thọ. Thuyết của sáu thầy. Hoặc nói thế này. Như Lai hôm nay. Rốt cục niết bàn. Tam Bảo vô thường. Thân tâm nghi hoặc. Vô lượng đảo kiến. Vì thế hôm nay. Vô lượng sợ hãi. Vô lượng hổ thẹn. Quy y Tam Bảo. Chư Phật từ bi. Phương Đẳng phụ mẫu. Bồ Tát tri thức. Cho phép chúng con. Phát lộ sám hối. Mong trừ trọng tội sinh tử từ vô lượng kiếp tới nay. Nguyện sau không tạo tác.

Lại nữa Thế Tôn. Chúng con hoặc từ vô lượng kiếp đến nay. Đến thân hình này. Hoặc phạm tội lấy đồ của tăng. Hoặc phạm vào đồ của mười phương tăng. Hoặc phạm vào đồ của tăng hiện tại. Hoặc phạm vào đồ của ngũ bộ tăng. Thậm chí đồ của một tì kheo. Đồ của tất cả thí chủ. Hoặc lại tự xưng. Ta đắc chính pháp. Tứ thiền tứ quả. Bởi vì ác nghiệp. Nhân duyên bất thiện. Hoặc vốn xuất gia. Tạo bốn trọng tội. Tám cấm sáu trọng. Mười ba tội tăng. Hai pháp bất định. Ba mươi xả đọa. Chín mốt tội đọa. Bốn pháp sám hối. Rất nhiều học pháp. Bảy pháp diệt tránh. Hoặc phạm lần lượt. Các giới như thế. Từ đột-cát-la [những giới nhỏ nhặt nhất trong giới luật của vị tì kheo]. Đến bốn tội nặng. Hoặc năm nghịch tội. Phỉ báng chính pháp kinh điển thâm sâu. Tạo hạnh Nhất-xiển-đề. Lại giấu không hối. Ngày đêm tăng trưởng. Từng nghe Phật nói. Nếu phạm bốn trọng. Cho đến năm nghịch. Hoặc báng chính pháp. Nếu không phát lộ. Đọa chắc địa ngục. Chư Phật Bồ Tát. Thanh Văn Duyên Giác. Không thể cứu hộ. Sư tăng phụ mẫu. Chư thiên thế nhân. Cũng không thể cứu. Vì thế hôm nay. Vô lượng sợ hãi. Vô lượng hổ thẹn. Vì thế hôm nay. Quy y Tam Bảo. Quá khứ Đa Bảo. Vị lai Thiên Phật. Hiện tại phân thân chư Phật Thích Ca. Chư Phật từ bi. Phương Đẳng phụ mẫu.  Bồ Tát tri thức. Cho phép chúng con. Phát lộ sám hối. Mong trừ vô lượng kiếp tới nay. Phiền não chướng. Nghiệp chướng. Báo chướng. Bốn tội vô gián. Mười tội trọng ác. 

Lại nữa Thế Tôn. Chúng con hôm nay. Vì các chúng sinh. Và bản thân mình. Trước mười phương Phật. Nay xin sám hối. Tất cả chúng sinh. Từ vô lượng kiếp. Không biết chư Phật. Và ơn cha mẹ. Không hiểu pháp thiện. Tạo các pháp ác. Tự cậy tên tuổi. Và nhiều tài bảo. Tuổi trẻ phóng túng. Làm các nghiệp ác. Tùy ý làm bừa. Không nhìn thấy họa. Phàm phu vô tri. Làm hạnh ngu si. Gần gũi bạn xấu. Phiền não loạn tâm. Vì năm dục vọng. Tâm sinh oán hận. Không biết thỏa mãn. Làm bao điều ác. Gần kẻ bất chính. Ghen ghét bủn xỉn. Vì cảnh bần cùng. Mà làm việc ác. Và dùng nữ sắc. Làm trò gian ác. Lệ thuộc người khác. Nên thường sợ hãi. Không được tự do. Kết bao phiền não. Tham dục ngu si. Nhiễu động tâm trí. Khát tình dồn ép. Tạo tác ác nghiệp. Thân khẩu ý ác. Ba nghiệp tích tập. Các tội như thế. Nay đều sám hối. Hoặc không cung kính. Phật pháp thánh tăng. Các tội như vậy. Nay đều sám hối. Hoặc không cung kính. Bồ Tát Duyên Giác. Các tội như vậy. Nay đều sám hối. Bởi vì vô trí. Phỉ báng chính pháp. Không biết cung kính. Cha mẹ sư trưởng. Các tội như vậy. Nay đều sám hối. Mê muội che mờ. Kiêu mạn phóng túng. Vì tham sân si. Tạo bao điều ác. Các tội như vậy. Nay đều sám hối. Nay con cúng dường. Chư Phật mười phương. Mong các chúng sinh. Trụ nơi mười địa. Đều được đầy đủ. Như Lai chính giác.

Khi ấy. Phật bảo Thiện Kiến Vương Tử. Lành thay lành thay. Đại sĩ đại sĩ. Tự quan sát mình. Ác nghiệp bất thiện. Sinh lòng sợ hãi. Giãi bày ác tội. Lại vì chúng sinh. Sám hối các tội. Vì thế gọi ngươi. Là chân đại sĩ. Tự lìa mọi ác. Lại khiến chúng sinh. Rời xa mọi ác. Vì thế gọi ngươi. Là chân đại sĩ. Không mong cho mình. Lại mong chúng sinh. Đắc thành chính giác. Vì thế gọi ngươi. Là chân đại sĩ. 

Khi ấy, Thiện Kiến Vương tử cùng với ba nghìn người sám hối xong, đọc bài kệ tán thán Phật rằng:

Duy Phật một người bậc đệ nhất
Tam giới phụ mẫu nhất thiết trí
Hết thảy các hàng không sánh bằng
Cúi lạy Thế Tôn bậc hiếm có
Người phàm làm ơn vì lợi mình
Thí tiền vì mong nhận phúc báo
Phật đại nhân từ không như vậy
Oán thân ghét yêu lợi cho đều
Bậc đại tinh tấn con quy mệnh
Phật Nhị Túc tối thượng tôn kính [Nhị Túc là một tôn hiệu của Phật Đà, chỉ Phật là bậc viên mãn hai thứ phúc và trí, nên còn gọi là Nhị Túc Tôn.]
Trí năng nhìn người đều thấy biết
Chư Thiên không hiểu trí năng này
Quá khứ vị lai chư Phật nay
Tất cả con đều rập đầu lễ
Như vậy nay con quy mệnh Phật
Cũng như cung kính ba Thế Tôn.

Khi ấy. Chư Phật mười phương. Liền vì Thiện Kiến Vương Tử và ba nghìn người. Mà nói bài kệ dạy rằng:
Nếu muốn cầu Phật đạo
Thường theo người đa văn
Làm theo lời thầy tốt
Thành Phật cũng chẳng lâu
Nếu giữ giới thanh tịnh
Gọi là tì kheo thật
Nếu có thể quán không
Gọi là đắc tam muội
Nếu có thể tinh tấn
Gọi là người hành đạo
Nếu có đắc niết bàn
Gọi là vì thực lạc
Trì giới đại sa môn
Đại giới thanh tịnh ni
Nửa tháng thường bố tát [Bố tát: ngày tụng giới, nghi thức sám hối sớm nhất của Phật giáo.]
Kết tịnh hành khất thực
Thân khoác tăng già lê [Tăng già lê: một trong ba y phục của tăng.]
Y bát mang theo mình
Chư Thiên đều hoan hỷ
Cung kính chắp tay lễ
Ta khiến các thiên nhân
Làm người theo hầu hạ
Cũng như các tiểu thiên
Phụng sự Thiên Đế Thích
Ngày nay được hiện báo
Vị lai không thể lường
Xuất gia giữ giới cấm
Gọi là báo ơn Phật
Lại nữa Thiện Kiến Vương
Trừ ta và Bồ Tát
Tất cả người thế gian
Tâm sinh thanh tịnh tín
Biết hết mười phương Phật
Thường trụ không niết bàn
Pháp tăng cũng như vậy
Những hạng người như thế
Gọi là báo ơn Phật.
Lại nữa Thiện Kiến Vương
Tất cả người thế gian
Tâm không phân biệt tướng
Biết rõ đạo một thừa
Quá khứ và vị lai
Mười phương và hiện tại
Duy có một Phật thừa
Không hai cũng không ba
Nếu phát được ý này
Tâm không phân biệt tướng
Các hạng người như vậy
Gọi là báo ơn Phật.
Lại nữa Thiện Kiến Vương
Nếu lại có một người
Sau khi ta diệt độ
Tâm thường sinh tín giải
Đều nói các chúng sinh
Đều có Như Lai tính
Các hạng người như vậy
Cũng gọi báo ơn Phật
Nếu tu một niệm lành
Không cầu quả báo trời
Hướng thẳng đạo vô thượng
Cũng gọi báo ơn Phật
Lại nữa Thiện Kiến Vương
Sau khi ta diệt độ
Nếu lại có một người
Có lúc đọc kinh này
Kính trọng Phật pháp tăng
Hiếu thuận cúng dường thầy
Các hạng người như vậy
Cũng gọi báo ơn Phật
Nếu có người bỏ tiền
Thức ăn và quần áo
Phổ thí cho đại chúng
Cũng gọi báo ơn Phật
Lại nữa Thiện Kiến Vương
Trong thời mạt pháp ta
Nếu có hóa một người
Chốc lát nghe kinh này
Hơn mọi cúng dường khác
Trăm ức Bồ Tát chúng
Vì thế kinh Đại thừa
Mẹ chư Phật Bồ Tát
Niệm Phật kính kinh này
Và các Bồ Tát chúng
Tâm ngay không này nọ
Gọi là báo ơn Phật
Lại nữa Thiện Kiến Vương
Ai trong thời mạt pháp
Nếu muốn báo ơn Phật
Một niệm trong thiền định
Thắng tất cả con người
Sống trong ba nghìn cõi
Hạng phỉ báng thiền định
Như giết tất cả người
Và các loài chúng sinh
Đầy trong ba nghìn cõi
Hạng hủy hoại thiền định
Tội ấy cũng như thế
Nếu người thấy tu thiện
Phỉ báng không chịu tin
Đoạn diệt giống Tam Bảo
Không gọi báo ơn Phật.

Khi ấy. Thiện Kiến Vương Tử và ba nghìn người. Được Phật dạy như thế. Hoan hỷ đảnh lễ nhận. Lại nói bài kệ rằng. 

Chúng con ngày nay
Cúi lạy quá khứ
Vị lai hiện tại
Chư Phật ba đời
Cũng lại quy mệnh
Thích Ca Văn Phật
Cúi lạy tám vạn
Bốn nghìn pháp tạng
Cũng lại quy mệnh
Các kinh pháp khác
Cúi lạy quá khứ
Duy Ma Văn Thù
Cũng lại quy mệnh
Đa văn đại trí
A Nan Xá Lợi
Cúi lạy vô học
Năm phần pháp thân
Cũng lại quy mệnh
Thủy học sơ nhân
Cúi lạy vừa xong
Lại thuyết kệ rằng
Chư Phật nói gì thật
Cái gì là không thật
Thật và cả không thật
Hai việc không thể đắc
Vì thế tướng chân thật
Không đùa nơi các pháp
Vì thương xót chúng sinh
Phương tiện chuyển pháp luân
Các thánh trước đến giờ
Phật đã đến như vậy
Thực tướng và nơi đi
Phật cũng thế không khác
Các thánh nói sự thật
Phật cũng nói sự thật
Vì thế gọi là Phật
Là Ta Tha Ga Ta [Tathagata: Đấng Như Lai]
Tâm nhẫn chắc như giáp
Sức tinh tấn như cung
Trí sắc nhọn như tên
Phá các giặc ngạo mạn
Hợp nhận thiên thế nhân
Tất cả mọi cúng dường
Vì thế gọi là Phật
Lấy hiệu A La Hán
Biết đúng thực tướng khổ
Cũng thực biết nhân khổ
Biết thực tướng khổ tận
Cũng biết đạo khổ tận
Chân chính giải bốn đế
Định thực bất khả biến
Cho nên trong mười phương
Hiệu Tam Miểu Tam Phật
Đắc tam minh vi diệu
Hạnh thanh tịnh cũng đủ
Vì thế hiệu Thế Tôn
Bỉ Xà Già La Na
Hiểu biết tất cả pháp
Tự đắc diệu đạo pháp
Hoặc lúc thuận tiện nói
Vì thương xót tất cả
Diệt trừ lão bệnh tử
Cho đến nơi yên ổn
Vì thế gọi là Phật
Lấy hiệu Tu Già Đà
Biết đời trước tới nay
Cũng biết đời tận đạo
Vì thế gọi là Phật
Hiệu Lộ Già Bỉ Đà
Giới định huệ đẳng nhãn
Luôn xuất hiện đúng lúc
Vì thế gọi là Phật
Hiệu A Nậu Đa La
Đại bi độ chúng sinh
Khéo léo dạy điều chuyển
Vì thế gọi là Phật
Phú Lâu Sa Đàm Miểu
Trí năng không phiền não
Nói giải thoát tối thượng
Vì thế gọi là Phật
Đề Bà Ma Thiểu Xá
Tam thế động bất động
Tận và bất tận pháp
Dưới cây đạo đều biết
Vì thế gọi là Phật.

Khi ấy. Chư Phật mười phương nhập thần thông tam muội. Và tự nhấc mình. Ở tại không trung. Dị khẩu đồng thanh. Xướng lời như vậy. Thiện Kiến Đại Sĩ và ba nghìn người. Tội tính các người. Không ở ngoài. Không ở trong. Không ở giữa. Vì tâm thật nên thiện lực thật. Vì tâm giải nên tội tính giải. Vì không huệ nên tội tính không. Vì tín lực nên phúc lực nhiều. Nếu người có thể sám hối như vậy. Thì vì mình thấy ta. Cũng thấy Đa Bảo Phật và các phân thân. Sám hối diệt tội. Vì thường thấy ta ngày nay giáo hóa các Bồ Tát. Người sám hối như thế. Khiến ta và phân thân. Diệt độ Đa Bảo Phật. Tất thảy đều hoan hỷ. Mười phương hiện tại Phật. Và quá khứ vị lai. Cũng thấy cũng cúng dường. Cũng khiến được hoan hỷ. Theo kinh Đại thừa này. Được vào cửa bồ đề.

Phật bảo các đệ tử. Có tội muốn sám hối. Cần như Thiện Kiến Vương. Lễ chư Phật ba đời. Mười hai bộ kinh quý. Các đại Bồ Tát tăng. Lần lượt một lòng lễ. Cũng như gặp thân ta. Gặp tướng ta. Thấy tướng ta. Thấy một tướng Phật. Hai tướng Phật. Mười tướng Phật. Thấy trăm tướng Phật. Nghìn tướng Phật. Vạn tướng Phật. Cũng như thấy vô lượng tướng Phật. Lần lượt một lòng lễ như vậy. Người này phúc đức vô lượng. Diệt trừ trọng tội sinh tử. Trong a tăng kỳ kiếp. Không đọa ba ác đạo. An trú nơi Phật đạo. Chắc chắn không nghi ngờ. Vì thế hối các tội. Chí tâm tin đạo lý. Chắc chắn được diệt tội. 

Khi ấy. Thiện Kiến Vương Tử và ba nghìn người. Đều đồng thanh nói. Dùng kệ tán Phật. 

Thế Tôn đại từ bi
Đại Pháp Vương họ Thích
Tiếng như sư tử gầm
Thu nhận mọi chúng sinh
Coi như một người con
Cũng không hề này khác
Nhờ thấy bậc vô thượng
Cho nên nay kính lễ. 

Khi ấy. Phật bảo Thiện Kiến Vương Tử và ba nghìn người. Nếu hay phát lộ. Sám hối như thế. Không che giấu tội. Là Bồ Tát thật. Người vào đời sau. Ắt được làm Phật. Lại nữa thiện nam tử. Sau khi ta diệt. Nếu có người thành tâm lễ mười phương chư Phật. Mười hai bộ kinh. Các Bồ Tát tăng. Thì gọi là báo ơn Tam Bảo. Tức diệt ngay được tội thập ác ngũ nghịch và báng kinh Phương Đẳng. Diệt xong tội này. Người được độ hợp với Tu Đà Hoàn. Thì ban cho quả Tu Đà Hoàn. Người được độ hợp với Tư Đà Hàm. Thì ban cho quả Tư Đà Hàm. Người được độ hợp với A Na Hàm. Thì ban cho quả A Na Hàm. Người được độ hợp với A La Hán. Thì ban cho quả A La Hán. Người được độ hợp với Bích Chi Phật. Thì ban cho quả Bích Chi Phật. Người được độ hợp với Bồ Tát. Thì ban cho quả Bồ Tát. Nay trong kinh này các đại Bồ Tát Ma Ha Tát. Đắc nhất sinh thực tướng. Đều do lễ thập phương tam thế chư Phật. Hoặc có Bồ Tát đắc nhị sinh pháp giới. Đều do lễ tam thế chư Phật. Hoặc có Bồ Tát đắc trí tột cùng. Đều do lễ tam thế chư Phật. Hoặc có Bồ Tát đắc ngộ đệ nhất nghĩa đế. Đều do lễ tam thế chư Phật. Hoặc có Bồ Tát đắc thủ lăng nghiêm tam muội. Đều do lễ tam thế chư Phật. Hoặc có Bồ Tát đắc hư không tam muội. Trí ấn tam muội. Đều do lễ tam thế chư Phật. Hoặc có Bồ Tát đắc bất thối nhẫn. Như pháp nhẫn, như pháp giới nhẫn. Đều do lễ tam thế chư Phật. Hoặc có Bồ Tát đắc đà-la-ni. Đại niệm tâm vô vô ngại trí. Đều do lễ tam thế chư Phật. Hoặc có Bồ Tát đắc sư tử hống tam muội. Kim cương tam muội. Ngũ trí ấn tam muội. Đều do lễ tam thế chư Phật. Hoặc có Bồ Tát đắc bình đẳng tam muội. Đại từ đại bi A nậu đa la tam miểu tam bồ đề Phật hạnh. Đều do lễ tam thế chư Phật.

Khi ấy. Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử Bồ Tát Ma Ha Tát bạch Phật rằng. Thế Tôn. Tất cả chúng sinh. Tâm loạn cuồng mê. Tạo tác ác nghịch. Làm sao tự biết. Mà được diệt tội. 

Phật bảo Văn Thù Sư Lợi. Như trên đã nói. Nếu có người nghe kinh điển Phương Quảng này. Và nghe danh hiệu chư Phật mười phương ba đời. Mười hai bộ kinh. Các đại Bồ Tát. Tâm sinh hoan hỷ. Vô lượng tín kính. Viết chép thọ trì. Đọc tụng trôi chảy. Ở nơi thanh tịnh. Dọn dẹp một phòng. Phấn thơm phủ sàn. Lấy cờ phướn tốt. Trang nghiêm bên trong. Trước tiên thắp hương. Sau đó thỉnh Phật. Không kể nhiều ít. Xịt nước hoa trước. Mặc quần áo sạch. Hễ đi vệ sinh. Lại một lần tắm. Bố trí bảo tọa. Tu lâu kinh này. Biết rõ pháp tướng. Không nhân ngã kiến. Thỉnh mệnh lệnh trên. Phân biệt ca ngợi. Thắp lên hương quý. Nhất tâm bất loạn. Chính ý chính niệm. Nhất tâm niệm Phật. Thì những người này. Hòa hợp với trên. Nếu không hòa hợp. Sân hận tranh tụng. Không gọi là hối. Ôm lòng sân hận. Tức trái với đạo. Nhớ đến Đại thừa. Nghĩ đệ nhất nghĩa. Bảy ngày bảy đêm. Không được nằm ngủ. Một ngày ba thời. Đọc tụng kinh này. Ngày đêm sáu thời. Thắp hương cúng dường. Lễ bái sám hối. Xưng chư Phật Bồ Tát trong kinh này. Danh hiệu mười hai bộ kinh. Tâm tâm bất loạn. Tâm tâm không rối. Tâm tâm không khác. Giờ giờ tinh tấn. Ngày ngày tinh tấn. Tâm sinh tín niệm. Tâm sinh hoan hỷ. Tâm tâm thứ lớp. Tâm tâm tương tục. Tâm tâm thâm trọng. Tâm tâm không lìa. Tâm tâm nghĩ tội. Tâm tâm niệm Phật. Tâm tâm niệm pháp. Tâm tâm niệm tăng. Tâm tâm niệm giới. Tâm tâm niệm xả. Tâm tâm niệm thiên. Người này đọc tụng như thế. Lễ bái như thế. Chí tâm như thế. Sám hối như thế. Từ ngày thứ nhất. Đến ngày thứ sáu. Lại lấy phấn thơm phủ sàn. Lại dùng nước thơm tắm gội. Lại đốt các loại hương quý. Thâm tâm cúng dường. Với thành tâm này. Người ấy sám hối. Chấn động mười phương. Ta lúc bấy giờ. Cùng vô lượng vô biên hằng hà sa chư Phật. Vô lượng vô biên hằng hà sa Bồ Tát. Theo âm thanh đó. Đi vào trong phòng. Chứng nhận cho họ. Bảy ngày như thế. Nhất định diệt tội. Tịnh trừ nghiệp tội. Chắn chắn không ngờ. Cho nên biết rằng. Hạng kẻ phàm phu. Chưa hợp chân đế. Cần lấy tướng mộng. Nếu thấy một mộng. Tức diệt một tội. Thấy năm giấc mộng. Tức diệt năm tội. Người đó ban đêm. Mơ thấy thân mình. Muốn qua sông lớn. Đi trên cầu lớn. Cần biết người ấy. Nhất định độ thoát. Hoặc khi người ấy. Mơ thấy thân mình. Người được tắm gội. Trời mưa xuống mình. Cần biết người ấy. Sẽ được thanh tịnh. Hoặc khi người ấy. Mơ thấy thân mình. Đi vào trong đại hội của sa môn. Vào rồi ngồi xuống. Cần biết người ấy. Chân Phật đệ tử. Hoặc khi người ấy. Mơ thấy thân mình. Đi vào chùa tháp. Nhìn thấy tượng lớn. Và thấy Bồ Tát. Cần biết người ấy. Đã đắc chính môn. Hoặc khi người ấy. Mơ thấy thân mình. Tự có được quả. Rồi lại tự ăn. Cần biết người ấy. Còn được quả báo.

Phật bảo Văn Thù Sư Lợi. Nếu có tì kheo. Tì kheo ni. Bồ Tát. Nam nữ tịnh tín. Sa môn. Sa môn ni. Mất tâm tán loạn. Thân phạm giới cấm. Đã nói ở trên. Sám hối như thế. Sẽ chẳng có lý. Không được diệt tội. Trừ những kẻ không chí tâm sám hối. 

Văn Thù Sư Lợi hỏi Phật rằng. Thế Tôn. Khi hành pháp này. Nhiều người được không. Phật nói. Một người trở lên. Hai mươi người trở xuống. Khi hành pháp này. Cũng đừng niệm thêm kinh điển khác. Từ khi sám hối. Sau chớ tái phạm. Gọi là pháp hối. Nên nghĩ thế này. Chúng ta từ nay. Như chết sống lại. Ta nên giữ giới. Ta nên tinh tấn. Ta nên đọc tụng. Đại thừa Phương Đẳng. Khi ấy người này. Nên nghĩ như sau. Kể từ hôm nay. Kiên trì giới cấm. Nguyện như kim cương. Khi người đó nghĩ như thế. Duy Ma Đại Sĩ. Lại cùng vô lượng Bồ Tát. Đứng trước người đó. Để mà làm chứng. Đại Đức Phổ Hiền. Sẽ làm Yết ma. Đại Đức Ca Diếp. Cho họ nương dựa. Phật bảo Văn Thù. Đó là diệt tội. Đó là giải thoát. Đó là cụ giới. Đó là đắc trụ. 

Khi ấy Thế Tôn. Lại bảo Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Ma Ha Tát rằng. Nếu có phạm vào bốn trọng tám cấm. Sáu pháp mười giới. Ba quy năm giới. Tám cấm mười thiện. Từng điều giới luật. Cho đến ngũ nghịch. Phỉ báng Phương Đẳng. Trừ Nhất-xiển-đề. Nếu không sám hối. Giãi bày các tội. Người ấy mệnh chung. Chắc chắn bị đọa. Địa ngục A Tì. 

Văn Thù Sư Lợi bạch Phật rằng. Thế Tôn. Thế nào gọi là. Địa ngục A tì. Chỉ mong Như Lai. Vì các chúng sinh. Nói nhân duyên ấy. Hình trạng lớn nhỏ. Khổ vui thọ báo. Kiếp số bao nhiêu. 

Phật bảo Văn Thù. Vui thay vui thay. Mau hỏi nghĩa này. Hãy nghe cho kĩ. Và các đại chúng. Hãy khéo nghĩ suy. Ta sẽ vì ngươi. Mở mang phân biệt. Vì sao gọi là. Địa ngục A tì. A nghĩa là vô. Tì nghĩa là gián. Gián thì chẳng vui. Nên gọi vô gián. A tức là vô. Tì tức là che. A tức là vô. Tì tức là cứu. A tức là vô. Tì tức bất động. A là cực nóng. Tì là cực phiền. A là không nhàn. Tì là không trụ. Không trụ không nhàn. Gọi ngục A tì. A là đại hỏa. Tì là cực nóng. Mãnh hỏa nhập tâm. Gọi ngục A tì. 

Phật bảo Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Ma Ha Tát rằng. Thiện nam tử. A tì địa ngục. Ngang dọc bằng nhau. Tám vạn do tuần. Trên bảy lớp tường sắt. Có bảy lớp lưới sắt. Dưới có mười tám vạc. Vòng xung quanh bảy lớp. Đều là rừng dao. Trong bảy lớp tường thành. Lại có rừng kiếm. Dưới có mười tám vạc. Từng cái vạc ấy. Tám vạn bốn nghìn lớp. Ở bốn góc của nó. Lại có bốn con chó lớn bằng đồng. Thân nó cao lớn. Bốn mươi do tuần. Mắt như ánh điện. Nanh như cây kiếm. Răng như núi dao. Lưỡi như móc sắt. Vuốt như xiên sắt. Đuôi như rắn sắt. Tất cả chân lông. Đều phun ra lửa. Khói ấy hôi thối. Vật hôi ở đời. Chẳng thể sánh bằng. Ngục ấy bốn cửa. Mỗi một bên cửa. Lại có mười tám lính ngục. Đầu như đầu la sát. Miệng như miệng la sát. Trên đầu mười tám sừng. Tay chân như xiên sắt. Trong bảy lớp tường thành. Có vô số cờ sắt. Đỉnh cờ phun ra lửa. Như dòng suối sục sôi. Tuôn sắt chảy thành dòng. Đầy trong thành A tì. Bốn cửa thành A tì. Trên mỗi một cửa ấy. Lại có mười tám nồi đồng. Phun trào ra sắt. Chảy tràn bốn cửa. Đầy thành A tì. Giữa từng cái vạc. Lại có tám vạn bốn nghìn mãng xà lớn bằng sắt. Nhả độc phun lửa. Đầy khắp trong thành. Tiếng rắn gào thét. Như trời nổi sấm. Mưa trút sắt viên. Đầy thành A tì. Việc khổ trong thành. Tám vạn ức thiên. Cái khổ trong khổ. Cái phiền trong phiền. Đều tập hợp trong. Địa ngục A tì. Bốn hướng có cửa. Bên ngoài mỗi cửa. Lửa cháy hừng hực. Đông tây nam bắc. Giao nhau thông suốt. Tám vạn do tuần. Tường sắt vòng quanh. Lưới sắt che kín. Đất cũng bằng sắt. Lửa táp xuống dưới. Bốn bề trên dưới. Cùng lúc xung quanh. Cùng khởi việc khổ. Như trên đã nói. Bốn trọng tám cấm. Phạm giới ngũ nghịch. Phỉ báng Phương Đẳng. Nếu không sám hối như trong kinh này. Và không hổ thẹn. Người ấy mệnh chung. Như đại tráng sĩ. Gập mình ngoặt tay. Rơi vào trong ngục. Tràn đầy trong thân. Nhiệt não cấp bách. Miệng ngậm không nói. Chỉ có mở mắt ngậm miệng. Ngậm miệng mở mắt. Người ấy chịu tội. Vạn ức đao luân. Từ trên rơi xuống. Xuyên vào từ đầu. Bay ra từ chân. Tất cả việc khổ. Gấp trăm nghìn vạn. Điều nói ở trên. 

Nếu có người phạm bốn trọng. Chịu đại khổ não. Đủ năm đại kiếp. Tám cấm gấp bội. Năm nghịch gấp bội. Phỉ báng Phương Đẳng gấp bội. Phỉ báng Tam Bảo. Trộm đồ của tăng. Làm ô uế tịnh hạnh tì kheo. Làm ô uế tì kheo ni. Kẻ báng sư hại thầy. Gian dâm phụ nữ. Hạng người như thế. Tội tăng gấp bội. Trừ Nhất-xiển-đề. Đoạn tuyệt thiện căn. Không thoát A tì. Hạng tội nhân ấy. Trong khi chịu khổ. Mãnh hỏa nhập tâm. Nóng nực mà chết. Lính quỷ la sát. Cầm xiên sắt đập xuống đất. Quát cho sống dậy. Nghe tiếng liền sống. Một ngày một đêm. Chết đi sống lại. Vạn lần như thế. Chịu đại khổ não. Như nói ở trên. Người ấy ra khỏi địa ngục A tì. Vì nhân duyên phá giới. Ăn không của bố thí của tín chúng. Lại vào mười tám địa ngục nhỏ. Được gọi là địa ngục băng lạnh. Địa ngục hắc ám. Địa ngục nóng bỏng. Địa ngục bánh xe dao. Địa ngục bánh xe kiếm. Địa ngục xe lửa. Địa ngục phân sôi. Địa ngục nước sôi. Địa ngục sông vôi. Địa ngục rừng kiếm. Địa ngục giường sắt. Địa ngục cột đồng. Địa ngục máy sắt. Địa ngục bánh xe sắt. Địa ngục hầm sắt. Địa ngục viên sắt. Địa ngục đá nhọn. Địa ngục uống đồng. Cứ tám trăm vạn năm. Mới được thoát ra. Thường sinh nơi thấp. Trong năm trăm đời. Không biết Tam Bảo. Gặp thiện tri thức. Được phát bồ đề. Không gặp tri thức. Lại đọa địa ngục. Phạm tội đột-cát-la. Nếu không sám hối. Chịu khổ địa ngục. Tám trăm vạn năm theo ngày tháng của Tứ Thiên Vương. Phạm tội ba-dạ-đề thì lại chịu gấp hai lần. [Tội ba-dạ-đề, hoặc ba-dật-đề: tiếng Phạn là pāyattika, một trong các giới cụ túc của tì kheo, tì kheo ni, một trong các tội nhẹ.] Tội tăng tàn lại chịu gấp hai lần. [Tội tăng tàn: tiếng Phạn là sanghāvasesa là trọng tội ở mức độ thấp hơn bốn trọng tội giết-trộm-dâm-dối.] Các tội nhân này. Khi phải chịu khổ. Chẳng nói gì khác. Chỉ kêu lên rằng. A ba ba. A cha cha. A la la. A bà bà. Vì thế có tội. Cần mau sám hối. Quy về Tam Bảo. 

Lại nữa. Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Ma Ha Tát. Nếu có người muốn mau chóng diệt tội. Như trong kinh này. Phát lộ sám hối. Hành đạo bảy ngày. Ngày ăn một bữa. Tư duy chính quán. Nhớ đến khi Như Lai thành Phật. Đại nhân tướng. Giác nhân tướng. Bất động nhân tướng. Giải thoát nhân tướng. Quang minh nhân tướng. Mãn trí năng nhân tướng. Đầy đủ các tướng ba la mật. Các tam muội hải tướng như hàng thủ lăng nghiêm. Bồ Tát Ma Ha Tát. Từ thắng ý từ tam muội khởi nhập diệt ý định. Từ diệt ý định khởi hoàn nhập thủ lăng nghiêm định. Từ thủ lăng nghiêm định khởi nhập huệ cực tam muội. Từ huệ cực tam muội khởi nhập các pháp tướng tam muội. Từ các pháp tướng tam muội khởi nhập quang minh tướng tam muội. Từ quang minh tướng tam muội khởi nhập sử tử âm thanh tam muội. Từ sư tử âm thanh tam muội khởi nhập sư tử phấn tấn tam muội. Từ sư tử phấn tấn tam muội khởi nhập sư tử chấn động tam muội. Từ sư tử chấn động tam muội khởi nhập hải ý tam muội. Từ hải ý tam muội khởi nhập phổ trí tam muội. Từ phổ trí tam muội khởi nhập đà-la-ni ấn tam muội. Từ đà-la-ni ấn tam muội khởi nhập phổ hiện sắc thân tam muội. Từ phổ hiện sắc thân tam muội khởi nhập pháp giới tính tam muội. Từ pháp giới tính tam muội khởi nhập sư tử vương tam muội. Từ sư tử vương tam muội khởi nhập diệt các ma tướng tam muội. Từ diệt các ma tướng tam muội khởi nhập không huệ tam muội. Từ không huệ tam muội khởi nhập giải không tướng tam muội. Từ giải không tướng tam muội khởi nhập đại không trí tam muội. Từ đại không trí tam muội khởi nhập biến nhất thiết xứ sắc thân tam muội. Từ biến nhất thiết xứ sắc thân tam muội khởi nhập biến nhất thiết xứ sắc thân tam muội. Từ biến nhất thiết xứ sắc thân tam muội khởi nhập quán tâm tướng tam muội. Từ quán tâm tướng tam muội khởi nhập Bồ Tát Ma Ha Tát kim cương tướng tam muội. Từ Bồ Tát Ma Ha Tát kim cương tướng tam muội khởi nhập kim cương đỉnh tam muội. Từ kim cương đỉnh tam muội khởi nhập tất cả hải tam muội. Từ tất cả hải tam muội khởi nhập tất cả đà-la-ni hải tam muội. Từ tất cả đà-la-ni hải tam muội khởi nhập tất cả Phật cảnh giới hải tam muội. Từ tất cả Phật cảnh giới hải tam muội khởi nhập tất cả chư Phật giải thoát giải thoát tri kiến hải tam muội. Từ tất cả chư Phật giải thoát giải thoát tri kiến hải tam muội trở dậy, sau đó nhập vào vô lượng vô biên các tam muội hải môn. Từ các tam muội hải môn khởi nhập tịch ý diệt ý tam muội. Từ tịch ý diệt ý tam muội khởi nhập kim cương dụ định đại giải thoát tam muội môn. 

Phật bảo Văn Thù. Sau khi ta diệt. Nếu có thiện nam tử. Thiện nữ nhân. Sinh một niệm tín tâm. Nếu có thể viết chép đọc tụng một bài kệ. Niệm tướng này. Nhớ tướng này. Quán tướng này. Tín tâm thành tựu. Chỉ trong một niệm. Mãi lìa ám chướng. Biết rõ Như Lai. Thường trụ bất diệt.

Khi ấy Thế Tôn. Vì các đại chúng. Lại nói bài kệ. 

Các quỷ thần lực sĩ
Súc sinh Tượng Vương ác
Dâm nữ và ác long
Vô lượng các kẻ ác
Bà Tẩu, A Xà Thế
Đề Bà, Ương Quật Ma
Thân tâm khởi tội nghịch
Phải đọa ngục A tì
Ba đời sinh tín lễ
Mười phương vô lượng Phật
Thích Ca lâm niết bàn
Vì trụ vô lượng kiếp
Người nước Ma Già Đà,
Đều phát bồ đề tâm
Đều do cung kính lễ
Thập phương tam thế Phật,
A Nhã Kiều Trần Như
Năm trăm hàng Thanh Văn
Đời sau thành Phật đạo
Đều do cung kính lễ
Thập phương tam thế Phật
Ngoại đạo Bà la môn
Thập tiên Đại Phạm Chí
Nay đắc A La Hán
Vì xưa đời quá khứ
Đều do cung kính lễ
Thập phương tam thế Phật
Tự ngộ đệ nhất nghĩa
Trong mười phương Phật thổ
Tất cả Bồ Tát chúng
Vãng sinh vô lượng thọ
Đều do cung kính lễ
Thập phương tam thế Phật
Lại nữa Thiện Kiến Vương
Ta xưa làm quốc vương
Tên là Đại Tiên Dự
Ngày còn chưa thành Phật
Cúng dường người xuất gia
Năm trăm Bà la môn
Thực phẩm và y phục
Nhà ở và chỗ ngủ
Đầy đủ hai mươi năm
Khi đó ta nói rằng
Các thầy phát bồ đề
Là các Bà la môn
Tuy luôn nhận cúng dường
Lại không tin Tam Bảo
Các thầy đáp ta rằng
Thế gian không bồ đề
Và cũng không giải thoát
Chúng ta nghe lời ấy
Vì hộ kinh Phương Đẳng
Đoạn lìa Bà la môn
Mạng căn năm trăm người
Người đó mạng đã hết
Liền đọa ngục A tì
Vì đã đọa địa ngục
Khi ấy phát ba niệm
Kính lễ Phật ba đời
Kính tín kinh Phương Đẳng
Đại Sĩ Bồ Tát tăng
Khi phát ba niệm xong
Liền thoát khỏi địa ngục
Vãng sinh Cam Lộ Cổ
Thọ mạng mười tiểu kiếp
Đều do sinh tín tâm
Kính lễ mười phương Phật
Các vị Bà la môn
Ban đầu phỉ báng kinh
Nên đọa vào địa ngục
Sau tin liền được thoát
Huống chi ngươi Bồ Tát
Có đủ tâm hổ thẹn
Vốn mình thực không tội
Là vì các chúng sinh
Sám hối bốn cấm trọng
Và năm tội vô gián
Ngay cả Nhất-xiển-đề
Nếu có kẻ phàm phu
Thân phạm tội như thế
Nếu theo đây sám hối
Trừ diệt bốn cấm trọng
Ngũ nghịch Nhất-xiển-đề
Tất đắc thành Phật đạo
Chỉ trừ kẻ không tin
Nếu có tâm tín giải
Cung kính lễ chư Phật
Chẳng có lý không thành
Khi ấy Thiện Kiến Vương
Cùng cả ba nghìn người
Đồng thanh bạch Phật rằng
Nếu chúng con thành Phật
Nguyện vượt dòng sinh tử
Chỉ mong thiên nhân tôn
Vì con mà nói rõ
Nếu có người thọ trì
Viết chép và đọc tụng
Công đức được ra sao
Phật nói Thiện Kiến Vương
Các người nghe cho khéo
Ta vì ngươi mà nói
Nếu ai dùng thất bảo
Cúng dường nghìn thế giới
Thí cho tất cả chúng
Lại năng khéo thuyết pháp
Đắc được quả La Hán
Không bằng có một người
Nghe tên chư Phật này
Thậm chí một niệm tín
Hoặc lại lễ một thời
Phúc ấy hơn phúc kia
Huống hồ đọc tụng viết
Người kính tín lễ bái
Công đức không thể lường
Nếu người năng viết chép
Thọ trì và đọc tụng
Phát tâm thời lễ bái
Còn hơn xây chùa tháp
Trong khắp nghìn thế giới
Khi ấy Đại Ca Diếp
A Nan, Xá Lợi Phất
Hộ tháp Kim Cương sĩ
Các Phạm và Đế Thích
Chuyển Luân Tứ Thiên Vương
Cúi đầu lễ chân Phật
Đồng thanh bạch Phật rằng
Như Lai tạ thế rồi
Chúng con sẽ lưu truyền
Giáo hóa các chúng sinh
Hộ niệm người lễ bái
Được tâm thường an ổn
Hoặc phạm phá trọng cấm
Ngũ nghịch báng Phương Đẳng
Khiến được nghe tên Phật
An trú đất thanh tịnh
Cũng như Thiện Kiến Vương
Đời sau thấy Phật tính. 

Khi ấy. Phật Thích Ca Mâu Ni bảo các đại chúng. Các người nghe kĩ. Nay ta vì ngươi. Nói nhân duyên gốc. Ta ở thời xưa. Quá vô lượng kiếp. Nơi Diệu Quang Phật. Nghe danh thập phương tam thế Phật. Tâm sinh hoan hỷ. Chắp tay nghe nhận. Nơi nơi chốn chốn. Giáo hóa vô lượng vô biên chúng sinh. Nghe tên chư Phật. Khi ấy trong chúng. Duy có ba nghìn người. Cùng pháp nghĩa ta. Sinh vô lượng tín tâm. Theo ta lễ bái. Danh hiệu chư Phật. Nay thấy mười phương đều thành chính giác.

Phật bảo đại chúng. Các thiện nam tử. Muốn diệt bốn trọng. Trọng tội vô gián. Phỉ báng Phương Đẳng. Tội Nhất-xiển-đề. Đều do tín tâm. Lại nữa thiện nam tử. Nếu ai không tin. Khinh thường bất kính. Liền vì phỉ báng mười hai bộ kinh này. Và vì phỉ báng sắc thân kim cương. Và vì phỉ báng Đại Sĩ Văn Thù Sư Lợi. Và vì phỉ báng chư Phật mười phương. Người này chắc chắn đọa địa ngục là điều chẳng hề giả. Là vì sao. Là vì bất tín. Phỉ báng chính pháp. Phỉ báng thượng nhân. Phỉ báng tất cả thập phương tam thế Phật. Đọa chắc địa ngục. Tin danh hiệu Phật. Chí tâm lễ bái. Thì không có lý. Không trừ diệt được. Thập ác ngũ nghịch. Và báng Phương Đẳng. Chỉ trừ kẻ không tin. Đoạn thiện căn của người. Thành kẻ Nhất-xiển-đề. Các thiện nam tử. Trăm ức Thích Ca. Lần lượt phân thân. Phật quốc giáo hóa. Thích Ca sau cùng. Tức là thân ta. 

Ba nghìn người khi ấy. Nay đều thành Phật. Nghìn người đầu tiên. Hoa Quang đứng đầu. Nghìn người tiếp theo. Lâu Chí đứng đầu. Nghìn người sau cùng. Di Lặc đứng đầu. Vì thế các người. Cần nên kính lễ danh hiệu thập phương tam thế chư Phật. Ngươi vào đời sau. Nên vì đại chúng. Khai xiển đạo giáo. Rộng cứu người mù. Được rời tam giới. Yên lặng nhàn cư. Sống yên đạo tràng. Như ta không khác. 

Khi ấy Đà La Ni Bồ Tát. Lập tức đứng dậy. Sửa sang y phục. Chắp tay cung kính. Và bạch Phật rằng. Thế Tôn. Kinh này tên gọi là gì. Phụng trì ra sao. Tu hành thế nào.

Phật bảo Ngài Đà La Ni Bồ Tát rằng. Thiện nam tử. Tên kinh  này là Đại Thông Phương Quảng. Cũng gọi là sám hối trừ tội được phúc. Thọ trì như thế. Cũng gọi là kinh ba nghìn người trang nghiêm thành Phật. Thọ trì như thế. Quảng đại vô đối. Thọ trì như thế. Phổ nhiếp tất cả. Thọ trì như thế. Vô lượng tạng môn. Thọ trì như thế. Kim cương bảo tạng. Giúp các cấm trọng. Thọ trì như thế.

Đà La Ni Bồ Tát bạch Phật rằng. Thế Tôn. Theo như Phật nói. Kinh này như vậy. Duy đại lợi ích. Vô lượng chúng sinh. Diệt tội thành Phật. Kinh này tức là. Mẹ của chư Phật. Đạo của Bồ Tát. Mắt của Thanh Văn. Nhà của thiên nhân. Có những sự việc. Không thể nghĩ bàn. Con nên thọ trì. Thiên thượng nhân gian. Nơi nơi chốn chốn. Tuyên truyền quảng bá. Khiến cho không đoạn. Khiến trụ lâu dài.

Phật nói. Lành thay lành thay. Đại Sĩ như thế. Tổng trì vô lượng. Tất cả đại tạng. Ở đời mai sau. Ngồi chỗ ta ngồi. Đi chốn ta đi. 

Khi Phật nói kinh này. Vô lượng Bồ Tát trụ bất thối bất động địa. Tám vạn Thanh Văn phát tâm Đại thừa. Mười nghìn tì kheo đắc quả A La Hán. Tám vạn bốn nghìn thiên nhân đắc pháp nhãn tịnh. Trăm nghìn chúng sinh phát tâm A nậu đa la tam miểu tam bồ đề. 

Phật nói xong kinh này. Hoa vàng hồ quý. Bỗng nhiên biến mất. Phật thu ánh sáng. Thế giới Ta Bà. Cao thấp bất tịnh. Uế ác như cũ. Vì người làm ác. Địa ngục như cũ. Thuyết xong kinh này. Về rừng sa la. Tất cả đại chúng. Hoan hỷ phụng hành. 

Kinh Đại Thông Phương Quảng Sám Hối Diệt Tội Trang Nghiêm Thành Phật

**Quyển Hạ hết.**

---
# File: kinh-luat-luan/kinh-nhat-thiet-nhu-lai-tam-bi-mat-toan-than-xa-loi-bao-khiep-an-da-la-ni.md
# Title: Kinh Nhất Thiết Như Lai Tâm Bí Mật Toàn Thân Xá Lợi Bảo Khiếp Ấn Đà-la-ni
---

## **Kinh Nhất Thiết Như Lai Tâm Bí Mật Toàn Thân Xá Lợi Bảo Khiếp Ấn Đà-la-ni**


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Tôi nghe như vầy.

Một thời, Đức Phật ở tại nước Ma Già Đà, trong vườn Vô Cấu, hồ Bảo Quang Minh, cùng đại Bồ Tát và đại Thanh Văn, Thiên long, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, người và loài không phải người… vô lượng trăm nghìn đại chúng đi nhiễu xung quanh.

Lúc bấy giờ, trong chúng hội có một đại Bà la môn tên là Vô Cấu Diệu Quang, hiểu biết sâu rộng, thông minh, được mọi người yêu mến, thường làm mười điều thiện, tin theo và quy y Tam Bảo, thiện tâm sâu nặng, trí huệ tinh tế, thường muốn khiến tất cả chúng sinh được đầy đủ tốt lành, giàu có sung túc.

Bấy giờ Bà la môn Vô Cấu Diệu Quang rời chỗ ngồi đứng dậy đi đến trước Đức Phật, nhiễu quanh bảy vòng, dâng lên Thế Tôn các loại hoa thơm, diệu y vô giá, chuỗi vòng châu ngọc, đảnh lễ dưới hai chân Phật rồi lui về một bên mà thưa rằng:

“Chỉ mong Thế Tôn và chư đại chúng, buổi sáng ngày mai đến nhà con nhận cúng dường của con.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn im lặng bằng lòng.

Khi ấy, Bà la môn biết Đức Phật đã nhận lời, bèn trở về nhà, ngay trong đêm đó sửa soạn bày biện cơm canh thịt cá trăm vị món ăn, quét dọn điện đường, treo lên cờ phướn ô lọng, đến sáng sớm tự mình cùng với người nhà cầm hương hoa cùng ban nhạc đến chỗ Như Lai mà bạch rằng đã đến giờ, cúi mong Ngài giáng lâm.

Lúc bấy giờ Thế Tôn nhẹ nhàng an ủi Bà la môn Vô Cấu Diệu Quang, và tuyên bố với khắp đại chúng rằng:

“Mọi người đều nên đến nhà Bà la môn kia để nhận cúng dường để cho ông ấy nhận được lợi ích lớn.”

Sau đó Thế Tôn liền từ chỗ ngồi đứng dậy, vừa đứng dậy thì từ thân Phật phóng ra đủ loại ánh sáng, màu sắc tuyệt diệu đan xen nhau chiếu khắp mười phương, ai nấy đều kinh động, sau đó đầy hứng thú lên đường.

Lúc ấy Bà la môn với tâm cung kính cầm hoa thơm tuyệt diệu, cùng quyến thuộc và Thiên long bát bộ, Thích Phạm Tứ Vương đi trước sửa sang đường sá phụng dẫn Như Lai.

Bấy giờ Thế Tôn lên đường chưa được bao xa, đến một khu vườn tên là Phong Tài. Trong khu vườn có một ngôi tháp cũ đổ nát tơi tả, những bụi gai và cỏ dại mọc đầy, che khuất cửa đi, gạch ngói vụn chất đống như gò đất. Bấy giờ Thế Tôn đi về phía ngôi tháp. Trên tháp bỗng tỏa ánh sáng rực rỡ, trong gò đất phát ra tiếng khen rằng:

“Lành thay! Lành thay! Hôm nay Thích Ca Mâu Ni đã đi tới được cảnh giới cực thiện. Còn Bà la môn hôm nay cũng thu hoạch được lợi ích cực thiện.”

Bấy giờ Thế Tôn đảnh lễ ngôi tháp mục nát, nhiễu quanh ba vòng, cởi y áo trên người phủ lên tháp, nước mắt lã chã rơi xuống. Khóc xong Ngài mỉm cười. Mười phương chư Phật khi ấy đều thấy, cũng đều rơi nước mắt và phóng quang chiếu sáng tháp ấy. Thấy thế, đại chúng kinh ngạc biến sắc, cùng nhau cầu Phật giải thích điều này.

Bấy giờ, Kim Cương Thủ Bồ Tát cũng rơi lệ, ngọn lửa uy mãnh cháy hừng hực, cầm chày xoay tròn, đi đến chỗ đức Phật và bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn! Do nhân duyên nào mà hiện tướng hào quang này? Cớ sao Như Lai rơi lệ như vậy? Cớ sao mười phương chư Phật cũng hiện tướng ánh sáng tốt lành như vậy? Cúi mong Như Lai giải thích điều nghi hoặc cho đại chúng.”

Bấy giờ Phật bảo: 

“Này Kim Cương Thủ! Đại xá lợi toàn thân của Như Lai tích chứa trong bảo tháp này. Vô lượng câu-chi tâm đà-la-ni mật ấn pháp của tất cả Như Lai nay cũng ở trong ấy.

Này Kim Cương Thủ! Vì có pháp yếu này ở trong đó, cho nên tháp này biến thành trùng điệp ken dày như đống hạt vừng, câu-chi trăm nghìn thân Như Lai. Phải biết cũng như đống hạt vừng, trăm nghìn câu-chi xá lợi toàn thân của Như Lai tụ lại trong đó. Thậm chí tám vạn bốn nghìn kinh điển chính pháp cũng tích chứa trong đó. Chín mươi chín trăm nghìn vạn câu-chi Như Lai đỉnh tướng cũng ở trong đó. Do sự thần diệu ấy, tháp này có đại thần thông màu nhiệm thù thắng uy đức, có thể ban phát mọi sự tốt lành cho toàn cõi thế gian.”

Bấy giờ, đại chúng nghe điều Phật nói đều xa lìa được bụi trần, cắt đứt các phiền não, đắc pháp nhãn thanh tịnh, đồng thời lợi ích mà đại chúng có được cũng khác biệt. Có người chứng quả Tu Đà Hoàn, quả Tư Đà Hàm, quả A Na Hàm, quả A La Hán, quả Bích Chi Phật, có người nhập Bồ Tát đạo A-bệ-bạt-trí [bất thối chuyển], hoặc chứng đắc sơ địa, nhị địa, thậm chí thập địa hoặc có vị được đầy đủ sáu Ba-la-mật. Bà la môn kia cũng lìa cõi trần nhơ bẩn, đắc năm thần thông.

Bấy giờ Kim Cương Thủ thấy việc đặc biệt hiếm có này, bạch Thế Tôn rằng: 

“Thật là kỳ diệu lạ lùng thay! Chỉ nghe việc này mà đã thu hoạch được công đức thù thắng như thế, huống chi được nghe thâm nghĩa, chí tâm khởi lòng tin thì được biết bao là công đức!” 

Đức Phật nói Kim Cương Thủ hãy lắng nghe:

“Đời sau nếu có tín nam tín nữ cùng bốn nhóm đệ tử của ta phát tâm chép một cuốn kinh này, tức là bằng chép chín mươi chín trăm nghìn vạn câu-chi tất cả kinh điển của Như Lai đã nói, tức là vượt hơn thiện căn của chín mươi chín trăm nghìn vạn câu-chi mà Như Lai đã trồng, và cũng được tất cả các Như Lai gia trì, che chở, nhớ thương như yêu đôi mắt, cũng như mẹ hiền thương con thơ.

Nếu người đọc tụng một quyển kinh này, tức bằng đọc tụng tất cả kinh điển quá khứ, hiện tại, vị lai mà chư Phật đã thuyết. Vì lý do đó, chín mươi chín trăm nghìn vạn câu-chi tất cả Như Lai đáp ứng chính đẳng giác, đã đến trùng điệp dày kín không chỗ hổng như hạt vừng, ngày đêm hiện thân gia trì cho người đó. Như thế, tất cả Phật Như Lai như vô số cát sông Hằng, số trước tụ tập chưa đi, số sau đã trùng trùng lại đến, trong phút chốc đã quay trở lại giống như cát mịn trong dòng nước cuồn cuộn không lúc nào ngừng xoay chuyển.

Nếu có người đem hoa thơm, phấn thơm, tràng hoa hay y phục tuyệt diệu trang nghiêm đầy đủ cúng dường kinh này thì cũng như dâng hương hoa cõi trời, y phục trang nghiêm đầy đủ thất bảo, chất cao như núi Tu Di để cúng dường trước mười phương chín mươi chín trăm nghìn vạn câu-chi Như Lai, cũng trồng nên thiện căn giống như vậy.

Lúc bấy giờ Thiên long bát bộ, người và loài không phải người nghe nói như vậy, ai ai cũng đều cho là hiếm có lạ thường, cùng thốt lên rằng:

“Lạ thay uy đức lại là đống đất mục nát này, nhờ được thần lực Như Lai gia trì mà có thần biến.”

Kim Cương Thủ lại bạch Phật rằng:

“Bạch Thế Tôn! Vì nhân duyên gì mà tháp thất bảo nay lại thành đống đất?”

Phật bảo Kim Cương Thủ:

“Đây không phải là đống đất mà là đại bảo tháp rất vi diệu. Do nghiệp quả của các chúng sinh yếu kém cho nên ẩn khuất không hiện. Nhờ tháp che giấu nên toàn thân Như Lai không thể hủy hoại, làm gì có kim cương tạng thân của Như Lai lại có thể hoại chứ? Sau khi ta diệt độ, đời mạt pháp gặp lúc bức bách, ví như có chúng sinh làm chuyện phi pháp phải đọa địa ngục, không tin Tam Bảo, không trồng căn lành, vì nhân duyên đó Phật pháp nên ẩn đi. Tuy thế, tháp vẫn kiên cố không hoại diệt, được tất cả thần lực của Như Lai giữ vững. Chúng sinh không có trí tuệ bị chướng ngại mê hoặc che lấp, có trân bảo quý giá mà không biết sử dụng. Vì thế ta rơi lệ, các Như Lai kia cũng đều rơi lệ.”

Một lần nữa, Phật bảo Kim Cương Thủ:

“Nếu có chúng sinh chép kinh này để trong tháp, tháp đó chính là bảo tháp kim cương tạng thân của tất cả Như Lai, cũng là bảo tháp của tất cả Như Lai tâm đà-la-ni bí mật gia trì, cũng là bảo tháp của chín mươi chín trăm nghìn vạn câu-chi Như Lai, cũng là bảo tháp của tất cả Như Lai Phật đỉnh Phật nhãn. Tức là được tất cả thần lực của Như Lai bảo hộ.

Nếu trong tượng Phật, trong tháp có bố trí kinh này tức là tượng đó giống như do thất bảo làm thành, linh nghiệm ứng tâm, không có ước nguyện gì mà không viên mãn. Tháp ấy dùng ô che, hoặc lưới che, hoặc đặt trên vòng bánh xe, trên khay, hoặc treo như chuông dưới mái hiên, bày biện trên bậc thềm nhà, tùy khả năng mà làm bằng đất hoặc bằng gỗ đá hoặc gạch nung. Do uy lực của kinh này mà tượng hay tháp ấy tự trở thành thất bảo. Tất cả Như Lai lấy kinh này gia tăng uy lực cho tháp kia, dùng lời chân thật gia trì không ngừng nghỉ.

Nếu có hữu tình nào đối với tháp này dùng một hương một hoa lễ bái cúng dường, thì tám mươi ức kiếp sinh tử trọng tội trong chốc lát đều tiêu diệt, sống tránh khỏi tai ương, chết sinh về nhà Phật. 

Nếu có hữu tình nào đáng đọa địa ngục Vô gián, nếu một lần lễ bái hoặc một lần nhiễu quanh tháp này theo chiều bên phải, cửa địa ngục sẽ đóng lại, đường bồ đề mở ra. 

Nơi có tháp và hình tượng tháp, thần lực của tất cả Như Lai sẽ bảo hộ, nơi ấy sẽ không bị bão tố sấm chớp làm hại, không bị rắn độc, sâu bọ bò cạp, độc trùng độc thú làm tổn hại, không bị sư tử, voi điên, hổ sói hoang dã, ong nhện làm hại. Cũng không bị Da xoa, La sát, quỷ dữ đến nhà, tránh được nỗi lo sợ yêu ma quỷ quái. Cũng không bị nhiễm tất cả các bệnh nóng lạnh, ghẻ lở, u nhọt. 

Nếu có người thoáng thấy tháp này cũng có thể trừ tất cả tai nạn. Nơi đó cũng không có người ngựa, sáu loại gia súc, trẻ con trai gái bị nhiễm dịch bệnh. Không bị chết oan chết yểu. Không bị dao gậy nước lửa làm tổn thương. Không bị trộm cướp oán thù xâm hại. Cũng không bị nỗi lo đói kém mất mùa, nghèo túng. Trù ếm bùa ngải cũng không thể thừa cơ hãm hại. Tứ Đại Thiên Vương cùng các quyến thuộc ngày đêm bảo vệ. Hai mươi tám bộ đại Dược xoa tướng, nhật nguyệt ngũ tinh, cờ mây, sao chổi ngày đêm bảo vệ. Tất cả Long vương cho thêm tinh khí, thuận thời cho mưa. Tất cả chư Thiên cùng Đao Lợi Thiên ba thời giáng xuống để cúng dường.

Tất cả chư tiên ba thời đến tụ tập, ngâm vịnh tán dương đi nhiễu vòng quanh, chiêm ngưỡng lễ tạ. Thích đề hoàn nhân cùng các thiên nữ, ngày đêm ba thời giáng xuống cúng dường. Nơi đó được tất cả Như Lai hộ niệm gia trì. Vì trong tháp để kinh này nên được như thế.

Nếu có người xây tháp, lấy đất đá gỗ vàng bạc đồng chì, chép thần chú này bố trí trong tháp, vừa bố trí xong, tháp ấy lập tức biến thành thất bảo, trên dưới bậc thềm bày khay và ô lọng, chuông linh và vòng bánh xe thuần là thất bảo. Tháp đó chính là hình tướng của bốn phương Như Lai.

Do pháp yếu đó, tất cả Như Lai kiên cố trú ngụ, hộ trì ngày đêm không rời. Tháp thất bảo đó là kho tàng vi diệu của xá lợi toàn thân, dùng uy lực của thần chú mà cao vút lên, cao đến cung trời Sắc cứu cánh. Các cõi trời mà tháp xuyên qua ngày đêm chiêm ngưỡng, bảo vệ và cúng dường.”

Kim Cương Thủ bạch Phật rằng: 

“Vì nhân duyên gì mà tháp này có công đức thù thắng như thế?”

Phật nói:

“Phải biết là nhờ thần lực của Bảo khiếp ấn đà-la-ni này.”

Kim Cương Thủ bạch rằng:

“Cúi mong Như Lai thương xót chúng con mà nói đà-la-ni ấy.”

Phật nói hãy chăm chú lắng nghe, nghĩ nhớ đừng quên!

“Tất cả phân thân ánh sáng của tất cả Như Lai hiện tại vị lai, xá lợi toàn thân của chư Phật trong quá khứ, tất cả đều ở tại Bảo khiếp ấn đà-la-ni này. Ba thân của các Như Lai cũng ở trong ấy.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn liền tuyên thuyết thần chú:

Na-ma sờ-tri đờ-vi ka-nam, sa-va
Ta-tha-ga-ta-nam, ôm, bu-vi-ba va-đa-va-ri
Va-cha-ri va-cha-tai, su-ru su-ru đa-ra đa-ra, sa-va
Ta-tha-ga-ta đa-tu-đa-ri
Pat-ma-ba-va-ti ja-ya-va-ri, mu-đờ-ri sờ-ma-ra ta-tha-ga-ta
Đa-ma cha-kra, pờ-ra-vat-ta-na va-jri
Bô-đi pa-na, rum-ka-ra rum-kri-ti
Sa-va ta-tha-ga-ta dis-ti-tê, bô-đa-ya
Bô-đa-ya bô-đi bô-đi, bút-đa-ya bút-đa-ya, sam-bô-đa-ni
Sam-bô-đa-ya, cha-la cha-la cha-lam-tu
Sa-va va-ra-na-ni, sa-va pa-pa-vi-ga-tê, hu-ru hu-ru
Sa-va su-kha-vi-ga-ti, sa-va ta-tha-ga-ta ha-ri-da-ya va-jra-ni
Sam-ba-ra sam-ba-ra
Sa-va ta-tha-ga-ta su-ha-ya
Đà-ra-ni mu-đờ-ri, bút-đi su-bút-đi, sa-va ta-tha-ga-ta dis-ti-ta
Đa-tu ga-bê sa-va
Sa-ma-ya dis-ti-tê sa-va
Sa-va ta-tha-ga-ta ha-ri-đa-ya, đa-tu mu-đờ-ri sa-va
Su-pờ-ra ti-si-ta sờ-tu-bê
Ta-tha-ga-ta đis-ti-tê, hu-ru hu-ru hùm hùm sô-ha. 
Ôm sa-va ta-tha-ga-ta u-sờ-ni-sa
Đa-tu mu-đờ-ra-ni, sa-va ta-tha-ga-tam sa-đa
Tu-vi-bu-si-ta, dis-ti-tê hùm hùm sô-ha.

[Namah stryi dhvi kanam, sarva
Tathagatanam, om bhuvibha vadhavari
Vachari vachatai, suru suru dhara dhara, sarva
Tathagata dhatudhari
Padmabhavati jayavari, mudri smara tathagata
Dharma chakra, pravarttana vajri
Bodhi pana, rumkara rumkriti,
Sarva tathagata dhistite, bodhaya
Bodhaya bodhi bodhi, buddhaya buddhaya, sambodhani
Samboddhaya, chala chala chalamtu,
Sarva varanani, sarva papavigate, huru huru
Sarva sukhavigati, sarva tathagata haridaya vajrani,
Sambhara sambhra,
Sarva tathagata suhaya,
Dharani mudri, buddhi subuddhi, sarva tathagata dhistita,
Dhatu garbhe svaha,
Samaya dhistite svaha,
Sarva tathagata haridaya, dhatu mudri svaha,
Supra tishita stubhe
Tathagata dhistite, huru huru hum hum svaha.
Om sarva tathagata usnisa,
Dhatu mudrani, sarva tathagatam sadha
Tuvibhusita, dhistite hum hum svaha.]

Lúc bấy giờ Phật đã nói xong chú này. Chư Phật Như Lai từ trong đống đất phát lời khen rằng:

“Lành thay! Lành thay! Thích Ca Thế Tôn, vì lợi ích chúng sinh không nơi nương tựa mà đã xuất thế trong đời ác trọc này để diễn thuyết pháp thâm diệu, như thế pháp yếu sẽ trường tồn ở thế gian, lợi ích rộng lớn, an ổn vui vẻ.”

Bấy giờ Phật bảo Kim Cương Thủ rằng:

“Hãy chăm chú lắng nghe pháp yếu này, thần lực vô cùng, lợi ích vô biên, ví như trên cờ treo như ý bảo châu sẽ thường có mưa trân bảo thỏa mãn tất cả mong cầu. Nay ta mới chỉ nói sơ lược một phần trong vạn phần. Ông nên nhớ giữ gìn vì lợi ích tất cả.

Nếu có người ác chết đọa vào địa ngục, nhận lấy khổ vô gián không ngày thoát ra, nếu có con cháu của người ấy xưng tên của người chết, tụng thần chú nói trên, dù chỉ bảy biến, thì ở địa ngục nước đồng sôi sắt nóng bỗng biến thành ao nước tám công đức, hoa sen nâng chân, ô báu che đầu. Cửa địa ngục bị phá, đường bồ đề mở ra, hoa sen kia sẽ bay thẳng về cõi Cực Lạc. Tất cả các loại trí huệ tự nhiên hiện phát, có thể nói là vui sướng vô cùng, được ngôi vị Bổ Xứ.

Lại có chúng sinh tội báo sâu nặng, trăm bệnh tập trung trên người, đau khổ bức bách, tụng thần chú này hai mươi mốt biến, trăm bệnh vạn phiền trong chốc lát sẽ tiêu diệt, thọ mạng lâu dài, phúc đức vô tận. 

Hoặc lại có người vì nghiệp tham lam bủn xỉn mà sinh vào nhà nghèo khó, áo không đủ mặc cơm không đủ ăn, gầy gò thấp hèn. Người ấy tủi hổ vào núi hái hoa rừng vô chủ hoặc mài gỗ mục làm hương, mang đến tháp để kinh này lễ bái cúng dường, nhiễu quanh bảy vòng rơi lệ hối lỗi. Nhờ sức  mạnh của thần chú và uy đức của tháp này mà diệt được quả báo nghèo khó, phúc báo giàu sang bỗng chốc đến, thất bảo chắc chắn sẽ trút xuống như mưa. Khi ấy chỉ nên cúng dường Phật pháp, bố thí cho người nghèo, nếu còn tham lam hà tiện thì tài bảo sẽ lại nhanh chóng biến mất.

Nếu có người vì muốn trồng căn lành, tùy theo khả năng mà xây tháp hoặc xây bằng đất hoặc bằng gạch, kích thước to cao bằng bốn ngón tay cũng được. Ghi chép thần chú bố trí trong tháp, dâng hương hoa lễ bái cúng dường. Nhờ chú lực và tín tâm, từ trong tháp nhỏ tỏa ra khói hương ngào ngạt, hương thơm lan tỏa như mây khắp các pháp giới, lan tỏa rộng khắp làm việc Phật, sẽ thu được các công đức đã nói ở trên. Nói tóm lại, không có ước nguyện nào mà không thỏa mãn.

Nếu trong đời mạt pháp, bốn chúng đệ tử thiện nam thiện nữ, vì đạo vô thượng mà tận lực làm tháp bố trí thần chú, công đức tạo được là vô tận. Nếu có người cầu phúc đến trước tháp đó, đem một cành hoa một nén hương đến lễ bái cúng dường, nhiễu quanh theo chiều bên phải, do công đức ấy, địa vị vinh hiển không cầu mà tự đến, sống lâu giàu có không mong cầu mà sẽ tự gia tăng, oan gia trộm cướp không đánh mà tự tan, oán niệm trù ếm tự trở về nơi xuất phát. Bệnh dịch tà khí không lánh mà tự tránh, chồng hiền vợ thảo chẳng cầu mà tự được, trai hiền gái đẹp chẳng cầu mà tự sinh ra. Tất cả ước nguyện đều được thỏa mãn.

Nếu những loài chim quạ, công, cú, bồ câu, hưu lưu, chó sói, thú hoang, ruồi muỗi, kiến, dế, chạm đến bóng tháp hoặc dẫm lên nền cỏ của tháp, liền phá được các chướng ngại mê hoặc, giác ngộ vô minh, liền nhập vào gia đình Phật gia hưởng pháp tài. Huống chi những người hoặc thấy hình tháp hoặc nghe tiếng chuông khua, hoặc nghe danh tháp đó, tất cả tội chướng của người đó đều tiêu diệt cầu gì được nấy, đời này yên ổn, đời sau sinh về cõi Cực Lạc.

Hoặc có người tùy sức lấy một hòn đất đắp tường tháp bị hỏng, hoặc nhặt đá kê tháp bị nghiêng, do công đức này mà tăng phúc tăng thọ, khi kết thúc mạng này được tái sinh thành Chuyển Luân Vương.

Sau khi ta diệt độ, bốn nhóm đệ tử, nếu muốn cứu giúp cõi khổ này, thì nên ở trước tháp cúng dường hương hoa, thành tâm phát nguyện tụng niệm thần chú, từng chữ từng câu phóng tỏa ánh sáng, chiếu đến ba đường khổ, khổ não liền tan, chúng sinh thoát khổ, hạt giống Phật liền nảy mầm, tùy ý vãng sinh mười phương tịnh thổ. 

Nếu có người lên đỉnh núi cao chí tâm tụng chú, phóng tầm mắt nhìn ra thế giới xa gần, núi non thung lũng, rừng cây cánh đồng, sông ngòi hồ biển, tất cả những loài có lông, có cánh, có vảy, có mai trong đó đều được tiêu tan chướng ngại mê hoặc, giác ngộ vô minh, hiển hiện ba loại Phật tính vốn có, cuối cùng an trú trong đại niết bàn. Hoặc đi qua con đường mà người này đã đi, hoặc chạm vào gió tạo ra bởi quần áo người này, hoặc dẫm lên trên dấu chân người này, hoặc chỉ thấy mặt hoặc thăm hỏi chốc lát, tất cả những người như thế trọng tội được tiêu diệt, thành tựu viên mãn.”

Lúc bấy giờ Phật bảo Kim Cương Thủ rằng:

“Nay kinh điển thần chú bí mật này giao cho các ông. Hãy tôn trọng gìn giữ, truyền bá khắp thế gian, để việc truyền bá đến chúng sinh không bị gián đoạn.”

Kim Cương Thủ bạch rằng:

“Con nay may mắn được Thế Tôn giao phó, chúng con nguyện báo ân đức sâu nặng của Thế Tôn, ngày đêm hộ trì truyền bá, tuyên dương cho tất cả thế gian. Nếu có chúng sinh biên chép thọ trì, không ngừng nghĩ đến, chúng con sẽ chỉ huy Thích Phạm Tứ Vương, long thần bát bộ, ngày đêm bảo vệ không rời bỏ.”

Phật nói:
”Lành thay Kim Cương Thủ! Ông vì tất cả chúng sinh đời vị lai mà làm ích lợi lớn, hộ trì để pháp này không đứt đoạn.”

Bấy giờ Thế Tôn thuyết Bảo khiếp ấn đà-la-ni, làm Phật sự rộng khắp. Sau đó qua nhà Bà la môn nhận các món cúng dường, khiến trời người bấy giờ thu hoạch được phúc lợi lớn rồi trở về nơi ở.

Bấy giờ đại chúng tì kheo, tì kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di, Thiên long, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, người và loài không phải người v.v... đều rất hoan hỷ, tín thọ phụng hành.

Kinh nhất thiết Như Lai tâm bí mật toàn thân xá lợi bảo khiếp ấn đà-la-ni. (Hết.)

---
# File: kinh-luat-luan/lien-hoa-sinh-dai-si-ung-hoa-nhan-duyen-kinh.md
# Title: Liên Hoa Sinh Đại Sĩ Ứng Hóa Nhân Duyên Kinh
---

![image](/img/img_d2fb595683386aacd1e8061d8a14ceeb.png)


Kinh Nhân Duyên Ứng Hóa của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.
Do Kim cương Thượng sư Norlha Hutuktu Bất Không Hải khẩu truyền.
Samaya giới Kim cương A Xà Lê Liên Hoa Chính Giác ghi chép.

🪷🪷🪷

Nam mô Pháp thân thường trụ, tam thế nhất như, Liên Hoa Sinh Thượng sư.
Nam mô Báo thân thanh tịnh, tướng hảo vô luân, Liên Hoa Sinh Thượng sư.
Nam mô Hóa thân biến hiện, sự nghiệp vô lượng, Liên Hoa Sinh Thượng sư .

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là ứng hóa thân kim cang của ba mật thân, khẩu, ý của A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát và Thích Ca Mâu Ni Như Lai. Để độ cho những chúng sinh ác tính xiển đề và ngoại đạo, khiến họ sinh khởi chính tín, cũng như vì chúng sinh trong lục đạo, ngài hiện thân kim cang trong sáu cõi, giúp mỗi chúng sinh đạt được giải thoát ngay trong đời này, nên ngài đã xuất hiện trên thế gian. Theo lời tiên tri của Đức Phật, tám năm sau khi Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni nhập Niết Bàn, vào ngày mùng 10 tháng 7 theo Hạ lịch [một loại lịch âm dương kết hợp cả chu kỳ của Mặt Trăng (âm lịch) và chu kỳ của Mặt Trời (dương lịch), còn gọi là lịch Trung Quốc], ngài hóa sinh từ hoa sen năm màu giữa biển Đạt Lạt Quách Khiếu ở Tây Ấn Độ. Sinh ra đã thành Phật, được cam lộ từ trời tắm gội thân thể, ngài liền truyền pháp cho nữ thần biển. Vua Indrabhuti của Tây Ấn Độ đích thân đến bế ngài từ đóa sen giữa biển, lập ngài làm thái tử, chọn công chúa Văn Xương Lung làm phi tần. Sau đó, nhà vua nhường ngôi cho ngài.

Trong khi đương vị, Đại Sĩ được phúc báu bảy báu của một vị Chuyển Luân Vương. Sau đó, Kim Cang Tát Đỏa hiện thân trên không trung và nói: "Ngài là bậc Giáo chủ, thực không phải là vị vua trị vì." Vì vậy, ngài nhường ngôi và xuất gia, theo phụng sự tôn giả A Nan, thọ nhận giáo pháp mà Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni đã dự báo và truyền trao: nhiều kinh điển Hiển giáo và Mật giáo, thấu hiểu trọn vẹn ý nghĩa của giáo pháp, và thâm đắc tâm ấn khẩu quyết của Thích Ca Mâu Ni Như Lai. Khi tôn giả A Nan giảng giới luật cho ngài, Trì Địa Phật Mẫu đến cúng dường áo cà sa, chư Phật mười phương hiện thân gia trì, cùng tán thán lành thay. Ngài lại khiêm cung tu khổ hạnh, từng tham học với nhiều bậc thầy, tinh thông Ngũ Minh, thiên văn, địa lý và các học thuật khác. Tại Ấn Độ, Nepal, và những thánh địa cổ tịch của Tây Tạng cổ đại, ngài tinh cần tu thiền định, đạt được samyoga [sự hợp nhất, hội tụ]. 

Đại Sĩ thọ nhận từ Bí Mật Chủ Kim Cang Thủ, Kim Cang Phật Mẫu, các vị Phật A Đạt Nhĩ Mã, tâm truyền pháp môn Vô thượng mật của Năm bộ, cùng với ấn khế Già Ma, pháp môn tổng trì Đan Bồ Khiển tức thân thành Phật [ở đây có lẽ nói đến: Pháp môn Tổng trì giúp đạt được giác ngộ tự nhiên thông qua năng lực của Không Hành Nữ (Dakini)], đạt được thành tựu vô thượng của Vô Lượng Thọ Như Lai. Lúc bấy giờ, Đại Sĩ cầu xin Kim Cang Phật Mẫu truyền tất cả pháp yếu Nội-Ngoại mật. Phật Mẫu nói: "Pháp mật không có thầy truyền, không được học tràn lan, nên thọ quán đảnh trước." Đại Sĩ liền cầu tất cả chư Phật hiện thân quán đảnh. Phật Mẫu phát ra tiếng "ha ha" và nói: "Rất tốt." rồi quán đảnh cho ngài. Đại Sĩ tự thấy tất cả chư Phật nhập vào thân mình, toàn thân biến thành chữ Hum, thành tựu Hóa thân Quan Âm. Lại thọ quán đảnh Mahamudra [Đại Thủ Ấn], tất cả nghĩa lý đều hiển lộ, thành tựu Báo thân Quan Âm. Lại thọ quán đảnh Mã Vương Phật, tam nghiệp thanh tịnh, từ bi hiện tiền, phiền não vi tế hoàn toàn không thể có, thành tựu Pháp thân Quan Âm. Ngài lại thọ quán đảnh Kim Cang A Xà Lê từ Kim Cang Đại Tổng Trì Thế Tôn, thành tựu tám loại Ngoại mật của Hóa thân thuyết pháp, tám loại Nội mật của Báo thân thọ dụng, tám loại Mật mật của Pháp thân căn bản, tất cả đều viên mãn. Tuy nhiên, tất cả đều là sự thị hiện khéo léo, Đại Sĩ từ lâu đã chứng ngộ năm trí Phật, Pháp thân rốt ráo, không có gì khác biệt với A Đạt Nhĩ Mã Như Lai.

Để điều phục tất cả chúng sinh cứng cỏi và khó độ, Đại Sĩ đã hiện tướng oai mãnh, khiến tất cả thiên ma ngoại đạo nghe danh đều khiếp phục. Ngài truyền pháp độ sinh tại Ấn Độ và Nepal trong hơn 900 năm. Với trí tuệ và lòng từ bi song hành, uy đức vang khắp, vô lượng chúng sinh được thấm nhuần mưa pháp của ngài mà nhanh chóng đạt đến thập địa, trực tiếp chứng quả Phật. Sau đó, ngài đáp ứng lời mời của vua Tây Tạng Trisong Detsen, từ Ấn Độ đến Tây Tạng hoằng pháp, trở thành vị tổ đời thứ nhất của Mật tông Tây Tạng. Khi vua băng hà, thái tử còn nhỏ, Đại Sĩ đã nhiếp chính giúp đỡ triều đình hơn 10 năm, chính sách và giáo pháp trong nước rực rỡ như mặt trời giữa trưa, Phật giáo vùng Khang-Tạng đến nay vẫn không suy thoái, được thế gian tôn kính, thực sự nhờ vào sự hoằng dương gia trì của Đại Sĩ mà đặt nền tảng vĩ đại này. Sau đó, khi thái tử đã trưởng thành, và duyên với đất Tạng đã hết, ngài báo trước sẽ nhập diệt. Lúc bấy giờ, vua Tây Tạng, các bậc đại thần và tứ chúng trưởng lão tha thiết khẩn cầu ngài ở lại. Đại Sĩ nói: "Ta không có đến đi, chỉ cần người nào tin ta, ta sẽ hiện ra trước người đó mà thuyết pháp. Vào ngày mùng 10 mỗi tháng, ta sẽ tự đến thăm các đệ tử."

Khi kết thúc lời nói, miệng ngài tụng âm thanh "Hum Hum", Tứ Thiên Vương từ hư không đưa xuống một thiên mã, Đại Sĩ liền cưỡi lên, bay vút lên không trung và thị tịch. Quốc thổ của Đại Sĩ nằm ở phía Tây của thế giới này, gọi là Bối Ma Lạc Tra. Cõi nước trang nghiêm đó tương đương với Hoa Tạng. Đại Sĩ cư trú tại đó, mặt thường hướng về phía Đông, với tâm từ bi, nhiếp hóa chúng sinh. Nếu có ai lễ bái, tưởng nhớ đến ngài, ánh sáng sẽ lập tức đến, che chở thân họ. Những ai thâm tâm nương tựa, lĩnh hội được pháp yếu của ngài, không ai là không được giải thoát. Uy thần công đức và sự nghiệp độ sinh của ngài, dù tăng một kiếp hay giảm một kiếp cũng không thể nói hết được.

Lúc bấy giờ, Vương phi của vua Tây Tạng kính cẩn thỉnh cầu Đại Sĩ khai thị pháp môn thiết yếu để đạt được giác ngộ ngay trong đời này. Đại Sĩ bảo với Vương phi rằng: "Nhân quả nghiệp báo, phải tin không hư dối. Sinh tử là việc lớn, vô thường nhanh chóng, nên cầu giải thoát. Trước tiên phải tìm và chọn một vị Kim Cang Lạt Ma để nương tựa. Thành tâm tụng Tứ quy y, phát nguyện không thối chuyển. Phát tâm bồ đề lớn, quảng độ chúng sinh. Nghiêm trì giới luật thanh tịnh, để lập nền tảng. Thường quán mười hai nhân duyên, hiểu rõ gốc rễ của sinh tử. Kế đến tu tập thiền định, quán xét tâm mình, vốn tự thanh tịnh. Tu tập Bát Nhã Ba La Mật thâm sâu, biết rõ các pháp như mộng huyễn. Tâm không chấp trước, thân tùy sở an. Khi vọng niệm khởi lên, không theo không ngăn. Đối với cảnh duyên thuận nghịch, bóng trần đẹp xấu, không khởi yêu ghét. Chỉ thường giác chiếu, mà quên giác chiếu. Phật tâm tự tâm, vốn tự như như. Ngã kiến phá hết. Tâm nhất cảnh tính, chính là thành Phật."

Giáo pháp của Đại Sĩ dẫn dắt từng bước, đơn giản dễ hiểu, tùy theo căn cơ chúng sinh, tiếp nhận tất cả. Bất kể nghiệp chướng nặng nhẹ, duyên xưa sâu cạn, người gặp được giáo pháp này, chắc chắn sẽ thành Phật.

Trong Đại Liên Hoa Kinh, Đại Sĩ dự báo về sự thịnh suy, tồn vong của chính pháp, tóm tắt như sau: "Giáo pháp của Đức Phật Thích Ca tại Nam Diêm Phù Đề vốn có duyên tồn tại 5500 năm. Do độ người nữ nên giảm đi 500 năm. Khi Đức Phật Thích Ca xuất thế, tuổi thọ con người là 80 tuổi, sau đó cứ mỗi trăm năm, tuổi thọ giảm một tuổi, đến khi tuổi thọ con người còn 50 tuổi, chiến tranh liên tiếp nổi lên, phong tục suy đồi, kinh điển Phật dạy bị hủy hoại, tháp miếu, chùa chiền, thành quách, pháo đài cũng nhiều nơi bị phá hủy. Thiên ma ác thần, thế lực mạnh mẽ. Thiên vận vô thường, mưa nắng thất thường. Ngũ cốc thất thu, người chết đói khắp nơi. Dịch bệnh thường xuyên bùng phát, con người không tự chủ được. Anh em kiện tụng lẫn nhau, mẹ con nghi kỵ lẫn nhau. Phụ nữ phần nhiều không chung thủy, trẻ nhỏ không chịu kiềm chế. Lúc sống không theo đạo chính, sau khi chết phần nhiều đọa vào đường ác. Có nhiều Phật tử thân tuy xuất gia nhưng tâm không nhập đạo. Vào thời điểm đó, Mật thừa vô thượng mới thấy phát triển. Tiếp sau đó, năm tháng ngày giờ dần thay đổi, tinh hoa dần giảm, chỉ còn lại cặn bã, khi tuổi thọ con người còn 10 tuổi, pháp liền ẩn mất. Trải qua thời kiếp lâu dài, Đức Phật Di Lặc xuất hiện, Mật thừa mới lại hưng thịnh trên thế gian."

Hiện tại là thời mạt pháp, chúng sinh nghiệp nặng, ngoại ma mạnh mẽ, Mật thừa chính là pháp môn thích hợp. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là Pháp Vương của Mật thừa tại thế giới Ta Bà, trong mười phương cõi Phật, không nơi nào ngài không hiện thân. Vì chúng sinh phương Đông cơ duyên Mật thừa dần chín muồi, nên ngài đã ứng theo thời tiết nhân duyên mà đến. Các bậc tăng ni và cư sĩ nếu phát tâm tạo tượng cúng dường, tu trì pháp của ngài, có thể tiêu trừ tất cả tai nạn ma chướng, được tài sản tăng trưởng, quyền lực, không bệnh sống lâu. Lăng Nghiêm tam muội, trí tuệ thâm sâu, cho đến vô thượng bồ đề, đều nhanh chóng được thành tựu viên mãn. Đại Sĩ thương xót chúng sinh đời sau bám chấp tình cảm sâu nặng, vọng tưởng phân biệt, không thể hiển lộ được tự tính thanh tịnh vi diệu bồ đề. Cần phải dùng pháp môn Đà-la-ni tổng trì mà chư Phật đã chứng ngộ, chỉ dạy phụng trì, khiến ba nghiệp thân khẩu ý đồng với ba mật của Phật, không trải qua vô số kiếp, đoạn trừ vô số phiền não, chứng được pháp tính thân. Vì thế, ngài nói ra pháp tổng trì tự chứng, và truyền thụ các chân ngôn của Quan Thế Âm Bồ Tát, A Di Đà Phật, Lục Đạo Kim Cang, như các chân ngôn sau đây. Những chân ngôn này, những pháp tổng trì này có công đức và uy lực không thể nghĩ bàn. Trì tụng một chân ngôn tương đương với trì tụng tất cả kinh điển. Nếu phát nguyện rộng sâu, làm lợi ích chúng sinh, lấy đó làm sự niệm tụng, thì cảm ứng nhanh chóng, vi diệu khó nghĩ bàn. Các loại thành tựu thế gian và xuất thế gian, tùy theo nguyện vọng, đều được thành tựu.

Lúc bấy giờ, Đại Sĩ sắp nhập diệt, Phật Mẫu Mandarava hiện thân trong không trung, tán thán ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp phụ và nhiều công đức khác của Đại Sĩ. Bà lại bảo đại chúng rằng: "Người đời sau thọ trì kinh pháp của Đại Sĩ, tất cả bốn pháp Tức (bình an), Tăng (phát triển), Hoài (thu phục) và Tru (hàng phục), đều được thành tựu. Mọi tai nạn từ đất, nước, lửa, gió, không, đều được tiêu trừ. Như viên ngọc như ý, có thể mãn nguyện tất cả. Hành giả nên biết, danh hiệu của Đại Sĩ rất khó được nghe. Kinh này càng khó gặp hơn nữa. Nơi nào có kinh này, nơi đó chính là có Phật, tất cả trời người nên cúng dường. Nếu tự mình đọc tụng, biên chép, hoặc khuyên người khác đọc tụng, biên chép kinh này, thường được Đại Sĩ và tất cả chư Phật hộ niệm, nhanh chóng tiêu diệt tội chướng cực nặng, thành tựu các thần thông, đạt đến địa vị quán đảnh; đời hiện tại được phúc đức trí tuệ làm trang nghiêm; nếu phát nguyện vãng sinh thế giới Cực Lạc của Phật A Di Đà, hoặc cõi Phật của Đại Sĩ, khi mệnh chung, chắc chắn được vãng sinh; cũng được tùy nguyện vãng sinh các cõi Phật ở mười phương; nếu không có các nghi ngờ do dự, lập tức thấy Phật nghe pháp, chứng vô sinh nhẫn; các Ba-la-mật, tam muội, tổng trì, lần lượt đầy đủ, nhanh chóng thành tựu Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác."

---
# File: kinh-luat-luan/muoi-bon-dai-gioi-can-ban-cua-mat-giao.md
# Title: Mười bốn đại giới căn bản của Mật giáo
---

![image](/img/img_cd75c9cbc2aa9171364d663e6bfb325a.jpg)



## Mười bốn đại giới căn bản của Mật giáo


Văn tập: 698
Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: 2000
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Mở đầu: Thứ tự của giới luật và hỏi đáp


Bởi có người hỏi về vấn đề thứ tự của giới luật, cho nên hôm nay chúng ta sẽ nói một cách đơn giản về giới. Đương nhiên giới luật của Phật giáo lấy Ngũ giới làm cơ sở, chúng ta đều biết Ngũ giới chính là sát sinh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ, uống rượu. Ngũ giới chính là giới luật căn bản nhất của Phật giáo, thật ra giới luật của bản thân Tiểu thừa cũng lấy Ngũ giới làm chủ yếu nhất.

Sau khi có giới của Tiểu thừa rồi thì tiến vào giới Đại thừa. Thật ra giới Bồ Tát nên là cao nhất, trong đó bao gồm giới Lục độ. Cái gọi là giới Lục độ chính là Lục độ mà bình thường chúng ta vẫn nói, tức là phải làm công tác lục độ, liên tục cho đến khi đạt đến Lục độ vạn hành. Lục độ vạn hành tức tương đương với Bồ Tát Đại thừa. 

Tiến vào bên trong Mật giáo thì phải giữ “Sự sư pháp ngũ thập tụng” [50 quy tắc ứng xử giữa thầy trò]. Thật ra “Sự sư pháp ngũ thập tụng” trong Mật giáo gọi là Sự giới… tức là làm sao để thừa sự Thượng sư, làm sao để thừa sự Phật Bồ Tát, cái này thuộc về Sự pháp. Tiến thêm một bước nữa chính là 14 đại giới của Mật giáo, là thuộc về Hành bộ. Các giới này đặc biệt nói rằng ngoài phụng sự Phật, phụng sự thầy ra thì còn phải tu hành ra sao, làm thế nào đối diện với việc tu hành, vì thế gọi là Hành bộ. Cho nên 14 đại giới căn bản này cũng thuộc về giới luật của Hành bộ.

Đệ tử quy y của Chân Phật Tông nhất định phải giữ năm giới, đây là giới mà mọi hành giả Phật giáo đều phải giữ. Sau khi có được căn bản của năm giới rồi, tự mình muốn nhận thêm Bát quan trai giới hoặc Bồ Tát giới thì đó là chính bản thân bạn phát tâm Bồ Tát Đại thừa. Còn như tông phái chúng ta thuộc về Mật giáo, đầu tiên nên giữ hai giới, một là giới Sự bộ, tức là “Sự sư pháp ngũ thập tụng”, tức là làm thế nào để thừa sự thầy; tiếp đó là 14 đại giới Mật giáo, thuộc về giới Hành bộ, đây là giới thứ hai căn bản nhất của Mật giáo.

(Trích từ chương 012 - Thứ tự của giới luật, cuốn 667 “Chân Phật Tông Giới Luật Mật Thừa”.)

🌟

Hỏi: Cái gì là giới luật?
Đáp: 
“Đại Thừa Nghĩa Chương” có viết:
”Gọi là sila, cái tên gọi này rất thanh mát, cũng gọi là giới. Tam nghiệp như lửa cháy thiêu đốt con người, các sự việc giống như lửa cháy, giới có thể phòng ngừa và ngăn chặn, vì thế mới nói là thanh mát, cái tên thanh mát, cũng có nghĩa là che lại, có thể phòng và chặn, do vậy gọi là giới.”

Giới luật chính là phòng ngừa và ngăn chặn tín đồ Phật giáo đi vào con đường sai trái tà ác.

Hỏi: Công dụng của giới luật là gì?
Đáp:
Trước tiên chúng ta hãy hiểu bốn tướng của giới luật:
Giới pháp — Là luật pháp mà Như Lai đã chế định ra.
Giới thể — lĩnh nạp giới pháp vào tâm, sinh ra công đức phòng tránh cái sai và ngăn chặn cái ác.
Giới hành — cùng với giới thể mà hành động và làm việc như pháp gọi là giới hành.
Giới tướng — sự khác biệt giữa hành vi cử chỉ, giới có năm giới, mười giới, thậm chí hai trăm năm mươi giới. 

Từ đây, chúng ta có thể hiểu: công dụng của giới luật chính là công đức phòng tránh cái sai và ngăn chặn cái ác. 

Liên Sinh Thánh Tôn cho rằng có ba công dụng:
1. Tránh xa mọi phi pháp tà ác.
2. Thu hút và tích lũy thiện phúc, chứng ngộ Như Lai.
3. Lợi lạc tất cả hữu tình.

Hỏi: Ba thứ giới-định-huệ có liên hệ thế nào?
Đáp:
Phòng và chặn ác là giới, ngừng nghĩ tịnh duyên là định, phá ác chứng chân là huệ. 
Từ giới mới sản sinh định, từ định mới sản sinh huệ. Đây chính là nhất giới, nhị định, tam huệ, tứ giải thoát, ngũ giải thoát tri kiến, đây là năm phần pháp thân.

(Trích từ chương 06 - Nghi quỹ giới luật, cuốn số 81 “Chân Phật Nghi Quỹ Kinh”.)

🌟

Hỏi: Chân Phật Tông là Mật thừa, Mật thừa lại có giới luật gì?
Đáp: 
Mật thừa tổng cộng có 14 điều giới luật căn bản, bất kì điều nào cũng đều có thể phá hủy mối quan hệ thần thánh giữa hành giả Chân Phật và Liên Sinh Thánh Tôn, có nghĩa là khiến cho hành giả quy y quán đảnh chỉ có được hình thức quy y quán đảnh mà không có được lực gia trì của Thượng sư và Bổn tôn.

Hỏi: Giới luật học cũng là một môn học lớn, trong đó còn có quy tắc gì không?
Đáp:
Trong Phật môn có rất nhiều giới luật, đương nhiên cũng có rất nhiều quy tắc không nằm trong giới luật, đó là một dạng quy tắc được cùng quy ước khi tu học một tông phái, những quy tắc này được biến đổi từ đạo đức của giới mà ra. 

Đệ tử Chân Phật Tông chúng ta cùng giữ các quy tắc này, như vậy quy tắc mới có thể trở thành tiêu chuẩn, hình thành nên một tông phái hoàn mỹ, một đoàn thể hoàn mỹ.
Như vậy mới là:
Nghiêm túc.
Kính cẩn.
Như pháp.


### 01. Giới thiệu vắn tắt về Liên Sinh Hoạt Phật


Người sáng lập Chân Phật Tông - Giới thiệu vắn tắt về Liên Sinh Hoạt Phật.

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn thực tu dựa theo thứ tự Chân Phật Mật Pháp mà đạt được tức thân thành Phật. Bởi vì đã đích thân chứng thành tựu Phật quốc Tây phương Cực Lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì, do vậy ngài đã phát lời nguyện to lớn, thề nguyện phân thân xả cốt độ chúng sinh. Ngài là một trong những đại thành tựu giả của Mật giáo đương đại.

Trong hành trình tu hành hơn 30 năm của mình [tính đến thời điểm năm 2024 là hơn 50 năm], Liên Sinh Hoạt Phật đã chỉnh lý và dung hợp những Mật pháp tu hành rất sâu thành những nghi quỹ Chân Phật Mật Pháp thuận lợi đáp ứng thời đại, thích hợp với người tu hành hiện đại. 
Cho đến năm 2024, ngài đã xuất bản số lượng khổng lồ với 300 cuốn sách Phật học để hoằng dương Phật pháp, dẫn độ những người hữu duyên.

Hiện tại đã có hơn 5 triệu người quy y [tính đến năm 2024, số đệ tử quy y Chân Phật Tông đã vượt xa 5 triệu, nhưng trong các văn bản suốt vài chục năm vẫn luôn ghi con số 5 triệu, có tính tượng trưng, với ý nghĩa là rất nhiều], phân bố ở khắp nơi trên thế giới, đã thành lập hơn 400 trung tâm hoằng pháp ở nhiều nơi. Rất nhiều Hoạt Phật Tây Tạng và đại pháp sư Hiển giáo cũng đều quy y dưới Phật môn của Liên Sinh Hoạt Phật, tu trì Chân Phật Mật Pháp.

Chân Phật Tông lấy việc hoằng dương Chân Phật Mật Pháp, chỉ dẫn chúng sinh y pháp tu hành, thực tu theo thứ tự từ Tứ gia hành, Thượng sư tương ứng, Bổn tôn pháp, Bảo bình khí, chuyết hỏa, thông trung mạch, mở ngũ luân, ngũ kim cương pháp, Vô thượng mật, Đại viên mãn mà đạt đến tôn chỉ “minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử”. 


### 02. Ngũ giới


Ngũ giới:

1. Không sát sinh — từ tâm thương vật, không giết sinh vật. Càng tích cực phóng sinh.

2. Không uống rượu — không uống rượu ở đây là chỉ không say rượu, không vì rượu mà loạn nhân tính.

3. Không tà dâm — quan hệ tình dục ngoài vợ chồng chính là tà dâm.

4. Không hai lưỡi — không đâm bị thóc chọc bị gạo, phạm khẩu nghiệp, phỉ báng chính nhân chính pháp đều là phạm vào nghiệp này.

5. Không trộm cắp — không phải đồ của mình không được trộm cắp.


### 03. Giải thích Ngũ giới


Đệ tử Chân Phật Tông hiện tại đã có hơn một trăm nghìn người trên khắp thế giới, đệ tử quy y đến từ nhiều nước khác nhau, con số này tôi có được từ số lượng chứng thư quy y. [Con số 100.000 là tính tới thời điểm Sư Tôn thuyết giảng 14 giới luật này vài chục năm trước.] Mỗi ngày đều có người quy y, đích thân đến Mỹ nhận quán đảnh quy y, hoặc viết thư thỉnh cầu quán đảnh quy y từ xa. Tôi tin rằng trong vòng vài năm ngắn ngủi, con số này chắc chắn sẽ nhân lên gấp mười lần trăm lần. 

Rất nhiều đệ tử Chân Phật Tông sau khi quy y hỏi tôi rằng Chân Phật Tông phải giữ giới luật gì? Trên chứng thư quy giới chúng tôi viết như thế này: “Từ đây hãy theo ý chỉ của Phật. Nhất tâm quy y Phật môn. Nhận lễ minh sư. Quy y Liên Sinh Pháp Vương. Nguyện cho đến hết thọ mạng phụng sự ý chỉ của Phật và hành thiện. Nguyện cho đến hết thọ mạng phụng sự pháp và giữ giới. Nguyện cho đến hết thọ mạng tận hiến với đất nước. Hiếu thuận cha mẹ. Lễ kính sư trưởng đồng môn. Một đời một kiếp. Phụng hành không khác. Đặc biệt chuẩn bị sớ văn này dâng biểu. Thiên thượng địa hạ chư Phật Bồ Tát cùng soi xét.”

Đầu tiên phải nói đến là giới luật Chân Phật Tông, cái gọi là “nguyện cho đến hết thọ mạng” tức là sẵn sàng dành hết tất cả sức lực và tuổi thọ của mình để phụng trì chính pháp, giữ nghiêm giới luật. Giới luật này chính là Ngũ giới của Phật pháp, Chân Phật Tông chúng ta là chính tông, là chính pháp của Phật pháp, cho nên phải giữ Ngũ giới của chính pháp. Ngũ giới này là:

1. Không sát sinh — từ tâm thương vật, không giết sinh vật. Càng tích cực phóng sinh.

2. Không uống rượu — không uống rượu ở đây là chỉ không say rượu, không vì rượu mà loạn nhân tính.

3. Không tà dâm — quan hệ tình dục ngoài vợ chồng chính là tà dâm.

4. Không hai lưỡi — không đâm bị thóc chọc bị gạo, phạm khẩu nghiệp, phỉ báng chính nhân chính pháp đều là phạm vào nghiệp này.

5. Không trộm cắp — không phải đồ của mình không được trộm cắp.

Đây là giới luật căn bản nhất của Chân Phật Tông, cũng là giới luật căn bản nhất của Phật pháp. Đệ tử Chân Phật cũng là đệ tử Phật, đương nhiên phải giữ năm giới này. Ngoài ra, tu hành chính pháp Phật môn, hiếu dưỡng cha mẹ, lễ kính sư trưởng, tôn kính đồng môn, đây là căn bản làm người, vậy đương nhiên phải làm được, ngay đến điều này mà không làm được thì xin tự động gửi trả lại chứng thư quy y cho Thượng sư. Bởi vì đệ tử không giữ giới luật như vậy là không như pháp, cho dù có quy y Chân Phật Tông nhưng chưa phụng pháp trì giới thì cũng không khác gì vô dụng, giữ lại một tờ giấy chứng thư quy y cũng chỉ như giấy loại mà thôi.

Phàm là đệ tử Chân Phật giữ năm giới làm mười điều thiện, tôi chúc phúc các đệ tử này, một là không có kẻ thù, rời xa tất cả bệnh tật, tuổi thọ kéo dài và cát tường an lạc. Hai là, người trong gia đình hòa hợp vui vẻ không tranh giành, rời xa mọi sự nịnh nọt, ai ai cũng nhận được sự kính trọng của người đời. Ba là, mọi đệ tử có trì giới hành thiện không ai gặp tai nạn ngoài ý muốn, không có cái chết đột ngột. Bốn là, phàm là người trì giới hành thiện, chư Thiên thường xuyên che chở bảo vệ, khiến các đệ tử quy kính Tam Bảo, đều nguyện tu tập hạnh bồ đề. Năm là, ruộng phúc viên mãn.

Do bởi thế nhân chưa hẳn toàn là Thánh hiền, vì thế tất nhiên sẽ có người phạm giới, người phạm giới nếu có tâm sám hối thì phải tu pháp sám hối. Phát nguyện các nghiệp tội đã làm trước kia, ở trước mặt chư Phật và Thượng sư phải thành tâm phát lộ sám hối.

Tội lỗi trong đời người rất nhiều, muốn kể ra cũng không thể kể hết, ví dụ rất nhiều người về cơ bản là không tin nhân quả, cũng không tin báo ứng, mở miệng ra là “Tôi không tin cái gì hết!”, những người mà cái gì cũng không tin này chính là những kẻ tự kiêu cao ngạo, rất dễ phóng dật [Phóng dật là lối sống buông thả phóng túng theo dục vọng, không có tiết độ, không biết tự giới hạn và kiềm chế bản thân, sống xả láng không cần biết ngày mai.], sẽ càng tạo thêm nghiệp ác.

Người đời ít Thánh hiền, lắm kẻ ngu, tất cả hành vi thường chịu sự trói buộc của vô minh, một khi kết giao với bạn xấu thì rất dễ theo duyên đó mà đi xuống, vì thế người đời giao kết bạn bè phải đặc biệt cẩn thận, bạn bè có rất nhiều tập khí xấu thì ít qua lại với họ, bởi vì một lần theo họ thì sẽ trồng cái gốc cho những lần tiếp theo thuận theo họ, như vậy thì cũng rất dễ tạo mọi ác nghiệp.

Lòng tham cũng là một trong những tập tính của nhân loại, chủng tử tham lam là sự mê hoặc số một ảnh hưởng con người đi về hướng nghiệp tội, ví dụ tham sắc, sắc đẹp thì ai ai cũng yêu thích, người không nên tham lam cũng muốn đi thử chạm một chút, chủng tử tham này sẽ gây phiền phức rầy rà cho người ta, hành giả tu trì phải dùng phương pháp quán không và bất tịnh để chuyển dời suy nghĩ tham sắc. Nếu không tu tập như vậy thì ngay cả lão hòa thượng, lão đạo sĩ cũng vẫn đêm đêm mộng giấc xuân như thường, đêm đêm “đi tiểu trộm”. Không tham hai chữ mỹ sắc này mới xem là người tu chân tồn đức, nếu có hành vi tham sắc, vậy thì đúng là tạo nghiệp tội lớn. Tham tiền cũng như vậy, con người vì tiền mà chết, chim vì tham ăn mà chết, ngoài những gì mà mình đáng được có ra thì tham tiền chính là chủng tử của phiền não, hành giả tu trì phải học tập “tri túc thường lạc”, có tri túc thường lạc rồi mới không có dục vọng tham tiền, đây chính là không tham lam vật phẩm tự mình sẽ là người thanh cao.

Lại vì đố kỵ mà đi nịnh bợ hãm hại người khác, trong lòng cũng thường phiền não. 

Còn có nghiệp tội nghiêm trọng hơn là năm tội phản nghịch. Ví dụ phá hoại tháp Phật hoặc chùa Phật, đốt kinh điển sách thiện, phá hủy tượng Phật, lấy trộm tài vật của Tam Bảo. Phỉ báng Phật pháp, sỉ nhục Thánh giáo, bức hại người tu trì chính pháp. Giết hại cha mẹ, làm thân Phật chảy máu, phá hòa hợp tăng, giết A La Hán. Không màng đến nhân quả, thường làm mười nghiệp bất thiện, đây chính là năm tội phản nghịch rất nghiêm trọng.

Những người phạm vào nghiệp tội này phải nhanh chóng sám hối, quảng thuyết chính pháp, lợi ích thiên hạ quần sinh, dùng chính pháp để hàng phục tâm ma của chính mình, chuyển đại pháp luân, dùng pháp sáu ba-la-mật để loại bỏ mười nghiệp đại bất thiện, hàng phục tham dục, sân dục, si dục, phiền não và mọi khổ đau đều sẽ được đẩy lùi, khiến tự tính tỏa sáng và đạt viên mãn.

Đệ tử Chân Phật Tông khi có được đại trí huệ túc mệnh, có thể nhớ lại được trăm nghìn kiếp, có thể ngày ngày tu trì chính pháp chính giáo mà Như Lai đã truyền xuống, làm mọi thiện nghiệp tùy duyên, phụng sự vị Thượng sư thù thắng nhất, rời xa tất cả mọi điều bất thiện, cứu giúp bảo vệ chúng sinh mang tội khổ, cấp tốc chứng vô thượng đại bồ đề.

Muốn tu pháp sám hối, có năm mục quan trọng:

1. Thỉnh Phật làm chứng:

Phải phụng thỉnh Vô Lượng Thọ Phật, Thắng Quang Phật, Diệu Quang Phật, A Súc Phật, Công Đức Thiện Quang Phật, Sư Tử Quang Minh Phật, Nhật Quang Minh Phật, Võng Quang Minh Phật, Bảo Tướng Phật, Bảo Diễm Phật, Diễm Minh Phật, Diễm Thịnh Quang Minh Phật, Cát Tường Thượng Vương Phật, Vi Diệu Thanh Phật, Diệu Trang Nghiêm Phật, Pháp Tràng Phật, Thượng Thắng Thân Phật, Khả Ái Sắc Thân Phật, Quang Minh Biến Chiếu Phật, Phạn Tịnh Vương Phật, Thượng Tính Phật. Ở đây là thỉnh ba vị Phật ở phương Tây, năm vị Phật ở phương Đông, năm vị Phật ở phương Nam, tám vị Phật ở phương Bắc. 21 vị Phật này cùng phụng thỉnh và quán tưởng các vị đến và trụ trong không trung, trở thành những vị làm chứng cho việc sám hối của bạn.

2. Phóng quang tiêu chướng:

Uy lực của 21 vị Phật này có thể khiến người đã làm mọi ác nghiệp có thể diệt tội được phúc, đó là công đức chân thực của 21 vị Phật. Người tu trong lúc tĩnh lặng nhớ nghĩ đến 21 vị Phật đến trụ trong hư không, lần lượt từng vị Phật từ những lỗ chân lông trên người phóng ra vô lượng ánh sáng, có trăm nghìn loại màu sắc ánh sáng. Đầu tiên ánh sáng từ trong lỗ chân lông của các vị Phật phóng ra, sau đó tỏa sáng mạnh mẽ, sau đó đan xen thành vô lượng màu sắc. Khi ánh sáng chiếu ra thì các sát thổ của mười phương thế giới đều biến thành Phật quốc, còn bản thân cũng an trụ trong thế giới ánh sáng đó. Mọi ngũ trọc ác thế đều được Phật quang chiếu tới. 21 vị Phật này phóng ánh sáng chiếu khắp, hễ chiếu tới uế quốc thì sẽ hóa thành Phật quốc. Ánh sáng này chiếu tới mọi chúng sinh, khiến mười ác nghiệp của mọi chúng sinh, năm tội vô gián, người phỉ báng Tam Bảo, bất kính với thầy, bất hiếu với cha mẹ, lẽ ra phải đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, thì nay đều có được ánh sáng của 21 vị Phật mà được lộc giải thoát. Ánh sáng chiếu đến chính mình, khiến ác nghiệp của bản thân tiêu trừ, vì có được sức mạnh bao trùm của Phật quang mà đều được an lạc, đoan chính, đầy đủ mọi phúc huệ, trang nghiêm như Phật, được thấy tất cả chư Phật của thập phương tam thế.

3. Xưng danh trì chú:

Nếu người tu trì nhìn thấy ánh sáng thì phải thành tâm xưng niệm tên của 21 vị Phật hai lần, sau đó trì Thất Phật diệt tội chân ngôn: “Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-lô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-ki-a-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha.” Trì chú này tổng cộng 108 biến đến 1080 biến. 

4. Quán tưởng thủ ấn:

Tay trái nắm lại đặt tại eo. Tay phải mở ra, năm ngón tay đặt bằng nhau, giống như sáng sáng ngũ sắc đều tự nhiên phóng ra, bàn tay đặt ở giữa ngực. 

5. Hồi hướng sám hối:

Nghiệp chướng mà mình đã tạo ra trong nhiều kiếp lẽ ra phải đọa vào trong ác đạo địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, hoặc cảnh giới atula, hoặc thậm chí ở tám nơi khó sống, đều vì con tu tập chính pháp hồi hướng, nên mọi nghiệp chướng đều được tiêu diệt, mọi ác báo sau này sẽ không phải chịu. Cũng như ngày xưa các đại Bồ Tát tu hạnh bồ đề, mọi nghiệp chướng đều sám hối toàn bộ, nghiệp chướng của con cũng đều phát lộ sám hối tất cả, không dám có điều gì che giấu không kể. Hiện tại toàn bộ tội được tiêu trừ, sau này những việc ác không dám tái phạm. Đặc biệt phụng thỉnh 21 vị Phật làm chứng.

Tu trì pháp này chính là pháp Linh Tiên căn bản sám hối, người tu trì pháp này cũng có được sự gia trì của pháp Tứ gia hành và Thượng sư tương ứng, tất cả làm theo nghi quỹ, tự nhiên có thể giải thoát tội chướng, được phúc vô lượng.


### 04. 14 đại giới căn bản của Mật giáo


14 điều vi phạm căn bản:

Điều 1: Thân khẩu ý không cung kính đối với Thượng sư.

Điều 2: Không tuân thủ quy tắc và lễ nghi Hiển-Mật.

Điều 3: Khởi tâm oán hận và tranh giành đối với anh em huynh đệ kim cương đồng tu.

Điều 4: Đánh mất lòng từ bi, đố kỵ với niềm vui của chúng sinh.

Điều 5: Ngại khó mà không độ chúng sinh, đánh mất bồ đề tâm.

Điều 6: Phỉ báng kinh điển Hiển-Mật không phải do Phật thuyết.

Điều 7: Dạy Mật pháp khi bản thân chưa được quán đảnh làm Thượng sư và chưa có đủ uy tín.

Điều 8: Làm tổn hại người khác, tự làm khổ bản thân là không như Phật.

Điều 9: Thiên vị giữa Không và Hữu, không học tâm Không.

Điều 10: Làm bạn bè với kẻ phỉ Phật phá pháp và làm hại chúng sinh.

Điều 11: Khoe khoang pháp thù thắng mà quên mất ý nghĩa sâu xa.

Điều 12: Không nói những điều gây trở ngại và phá hoại thiện căn tu Mật pháp chân thật của người khác.

Điều 13: Pháp khí và tài liệu Mật pháp không hoàn thành.

Điều 14: Phỉ báng tự tính trí huệ của nữ giới.


### 05. Giải thích về 14 đại giới căn bản của Mật giáo


Điều 1: Thân khẩu ý không cung kính đối với Thượng sư.

Giải thích: Vì Thượng sư thay Phật truyền pháp, là một thể Tam Bảo, Mật giáo lấy thầy làm quy y đầu tiên, bình thường phải xem thầy như Phật. Cho nên đệ tử trước khi quy y phải tìm hiểu kĩ về vị thầy, để tránh sau khi quy y xong thì hối hận, trở thành có thân khẩu ý bất kính đối với thầy. Một khi đã quy y rồi thì phải kính trọng thầy, như vậy mới có công đức, mới có thành tựu Phật pháp. Nếu phỉ báng thì sẽ phạm vào điều thứ nhất của 14 đại giới căn bản của Mật giáo, đọa vào địa ngục kim cang.

Nếu sau khi quy y thầy mà thật sự biết rằng đây là một vị thầy giả, không có hành vi tu hành Phật pháp chân chính, có thể cách xa người thầy này, sau đó quy y vị thầy chân chính, nhưng đối với người thầy ban đầu tốt nhất cũng không được phê bình phỉ báng, như vậy mới vẫn có thể xem là đệ tử Kim cương thừa.

Điều 2: Không tuân thủ quy tắc và lễ nghi Hiển-Mật.

Giải thích: Giới luật của Hiển giáo Mật giáo có rất nhiều, đó là các quy tắc để phóng tránh và ngăn chặn các tín đồ Phật giáo làm những hành vi tà ác, ví dụ ngũ giới, thập thiện, thậm chí là 250 giới đều có cả. Sức mạnh có được từ việc giữ giới chính là uy lực, đệ tử Mật giáo Kim cương thừa thì các quy tắc và lễ nghi Hiển-Mật đều phải giữ mới được.

Điều 3: Khởi tâm oán hận và tranh giành đối với anh em kim cương.

Giải thích: Giữa đồng môn với đồng môn, hoặc giữa đồng môn với môn đồ phái khác, đều là Kim cương thừa, không được khởi tâm oán ghét hoặc tranh đấu. Vì thế Chân Phật Tông có lễ kính đồng môn, tôn kính thượng sư, đặc biệt quan trọng.

Điều 4: Đánh mất lòng từ bi, đố kỵ với niềm vui của chúng sinh.

Giải thích: Đệ tử Kim cương thừa phải có tâm từ bi, không được đố kỵ.

Điều 5: Ngại khó mà không độ chúng sinh, đánh mất bồ đề tâm.

Giải thích: Dùng tâm từ bi để độ chúng sinh, cho dù người đại ác cũng đều phải độ hóa họ, không sợ khó khăn, không được rút lui, vì chúng sinh đều có Phật tính, hãy đi cảm động họ, không thể sợ khó khăn mà đánh mất chính niệm bồ đề, và phát tâm bồ đề chính là đại phát tâm độ hết chúng sinh.

Điều 6: Phỉ báng kinh điển Hiển-Mật không phải do Phật thuyết.

Giải thích: Xã hội ngày nay, có rất nhiều người phỉ báng kinh điển, nói rằng quyển này là kinh giả, quyển kia cũng là kinh giả, khi còn chưa biết rõ thì tốt nhất đừng bình luận ngông cuồng, bởi vì bình luận ngông cuồng chính là phỉ báng, cũng là phạm giới.

Điều 7: Dạy Mật pháp khi bản thân chưa được quán đảnh làm Thượng sư và chưa có đủ uy tín.

Giải thích: Người truyền thụ Mật pháp, chỉ có người có đủ tư cách làm Thượng sư mới có thể truyền thụ Mật pháp, tư cách Thượng sư là phải do Căn bản Thượng sư (vị thầy gốc) cho phép, và nhập vào Tỳ Lô tính hải được Bổn tôn cho phép. Nếu không có hai sự cho phép này, tự xưng là Thượng sư để truyền dạy Mật pháp, gọi là không đủ năng lực quán đảnh và uy tín. Không có quán đảnh, không có uy tín, chưa có được danh hiệu Thượng sư thật, thì không được truyền thụ Mật pháp. 

Điều 8: Làm tổn hại người khác, tự làm khổ bản thân là không như Phật.

Giải thích: Kim cương Thượng sư giống như Phật, đệ tử Kim cương thừa chính là Phật tử, cũng là Pháp Vương tử, làm tổn hại người khác, gây đau khổ cho chính mình, tâm đầy ắp ngũ uẩn, đều không hợp với giới luật của Phật. 

Điều 9: Thiên vị giữa Không và Hữu, không học tâm Không.

Giải thích: Không và Hữu phải coi trọng như nhau, “không tâm” tức là “vô tâm”, pháp môn này cũng phải tu chứng, không được thiên vị.

Điều 10: Làm bạn bè với kẻ phỉ Phật phá pháp và làm hại chúng sinh.

Giải thích: Điều này có vẻ xung đột với điều thứ năm, thật ra không phải. Chúng ta có thể đi độ hóa kẻ phỉ Phật phá pháp, độ hóa kẻ làm thương hại chúng sinh, nhưng không được đứng trên cùng một chiến tuyến với những kẻ phỉ Phật phá pháp và làm hại chúng sinh, không được giao kết bạn bè và chơi với nhau.

Điều 11: Khoe khoang pháp thù thắng mà quên mất ý nghĩa sâu xa.

Giải thích: Tự mình thường xuyên nhấn mạnh pháp lực của mình là số một, dùng pháp lực để phô trương, đánh mất ý nghĩa vốn có của việc bản thân tu Mật tông là để thành Phật, cứu chúng sinh, phát bồ đề tâm.

Điều 12: Không nói những điều gây trở ngại và phá hoại thiện căn tu Mật pháp chân thật của người khác.

Giải thích: Thượng sư chân chính phải truyền thụ Mật pháp chân chính, nếu không truyền thụ Mật pháp chân chính và không độ tất cả chúng sinh hữu duyên tức là cản trở và phá hoại thiện duyên, là phạm giới. 

Điều 13: Pháp khí và tài liệu Mật pháp không hoàn thiện.

Giải thích: Tu mọi pháp, dùng mọi pháp khí, truyền mọi pháp, tài liệu phải đầy đủ, mới không phạm giới. 

Điều 14: Phỉ báng tự tính trí huệ của nữ giới.

Giải thích: Đối với nữ giới học đạo, không được phá hoại huệ tính của họ, tức là ý nghĩa bình đẳng quan.


### 06. Làm sao để quy y Liên Sinh Hoạt Phật


<u>**Viết thư xin quy y:**</u>

Bởi vì người muốn quy y phân bố ở mọi ngóc ngách trên khắp thế giới, do vậy đích thân đến quy y không dễ dàng. Vì thế, đệ tử muốn quy y chỉ cần vào ngày mồng 1 hoặc ngày 15 âm lịch hàng tháng, vào lúc 7 giờ sáng, quay mặt về phía mặt trời mọc và chắp tay lại, cung kính đọc chú Tứ quy y: “Namo guru bei, namo buddha ye, namo dharma ye, namo sangha ye. Liên Sinh Hoạt Phật chỉ dẫn, quy y Chân Phật Tông.” Đọc 3 lần. Vái lạy 3 lần. 

Đệ tử làm nghi thức tại nhà mình xong thì phải viết thư, ghi rõ họ tên, địa chỉ, tuổi thật của mình, tùy ý gửi kèm thêm một khoản phí cúng Phật, trong thư chú thích rõ là “Xin quán đảnh quy y”. Sau đó gửi đến Chân Phật Mật Uyển ở Mỹ.

Địa chỉ Chân Phật Mật Uyển - Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn:

Grand Master Sheng-yen Lu
17102 NE 40th Ct.
Redmond, WA 98052, USA.

Tel: 425-885-7573
Fax: 425-883-2173

Bên phía Liên Sinh Hoạt Phật vào mỗi ngày mồng 1 hoặc 15, đều cử hành nghi thức quán đảnh cách không tại Chân Phật Mật Uyển để quán đảnh từ xa cho những đệ tử không thể tự mình đến. Sau đó sẽ gửi chứng thư quy y và một tấm ảnh pháp tướng của Thượng sư đến cho mọi người, đồng thời chỉ dẫn bắt đầu tu từ pháp nào. Như vậy là đã có được truyền thừa của Liên Sinh Hoạt Phật.

<u>**Tự mình đến quy y:**</u>

Trước tiên cần liên lạc để hẹn thời gian, có thể đến Chân Phật Mật Uyển tại thành phố Redmond Seattle ở Mỹ, hoặc các đơn vị hoằng pháp sở tại của Liên Sinh Hoạt Phật, để do chính Liên Sinh Hoạt Phật quán đảnh quy y, hoặc thỉnh cầu trợ giúp quy y từ các phân đường Chân Phật Tông ở địa phương. (Các phân đường Chân Phật Tông phân bố trên toàn thế giới.)

Hết.

---

---
# File: kinh-luat-luan/phat-hoc-tong-thuyet.md
# Title: Phật Học Tổng Thuyết
---

![image](/img/img_0d164fb29d7e9dd91c877f4210949a63.png)



## Phật Học Tổng Thuyết


Địa điểm: Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ. 
Thời gian: NA
Quyển số: 675
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


Các vị Thượng sư, các vị đồng tu, chào mọi người!
Hôm nay là lần giảng dạy thứ hai ở Cầu Vồng Sơn Trang, chủ đề giảng dạy là Phật Học Tổng Thuyết. Phạm vi của chủ đề này cực kì rộng, có thể nói là rất dễ giảng, bởi vì phạm vi rộng cho nên giảng thế nào cũng đều đúng cả. Nhưng mà cũng có thể nói là rất khó giảng, bởi vì phải từ trong biển Phật học rộng mênh mông lấy ra mọi điều tinh yếu, chắt lọc ra những trọng điểm để thuyết pháp một cách rất có hệ thống, rất có thứ tự, cũng là điều vô cùng khó. Vừa rất dễ giảng, lại vừa rất khó giảng, bất kể là như thế nào thì cũng vẫn phải giảng thôi. (Sư Tôn cười)

Mọi người biết rằng Phật học giống như biển rộng, giống như đại dương, bản thân tôi học Phật tuy đã nhiều năm như vậy, cũng đã bái rất nhiều sư phụ, đồng thời cũng có thể nói là đã thâm nhập kinh tạng, nhưng trong khoảng thời gian rất ngắn mà phải giảng một cách vô cùng viên mãn thì trên thực tế cũng phải suy ngẫm rất kĩ càng, đòi hỏi định lực rất sâu. Rồi phải dùng một cách nói rất tinh túy vi diệu mới có thể giảng một cách trọn vẹn.

Hy vọng trong lần thuyết pháp này, mọi người có thể thấm nhuần mọi ý, hơn nữa còn đạt được những điều bổ ích, tương lai mọi người chăm chỉ tu hành, mọi người đều đắc được thành tựu, như vậy thì việc thuyết pháp lần này sẽ vô cùng có ý nghĩa.


### 01. Đại thừa, Tiểu thừa, Kim Cương thừa


Hôm nay bắt đầu ngày đầu tiên của Phật Học Tổng Thuyết tại Cầu Vồng Sơn Trang. Trước tiên chúng ta nói về "thừa" của Phật giáo. Trong Phật pháp có cái gọi là Đại thừa, cũng có cái gọi là Tiểu thừa, còn có cả Kim Cương thừa, chính là Mật giáo. Thật ra khi Phật Đà tại thế, ngài không nói Đại thừa gì cả, cũng không nói Tiểu thừa gì cả, cũng không nói Kim Cương thừa, đây đều là người đời sau phân ra. Phật không nói về thừa nào cả, ngài chính là Chân Phật — vị Phật chân chính, cho nên chỉ có hai chữ Chân Phật mới là thừa chân chính, không có thừa gì khác, thừa này là do người đời sau nói.

Hôm nay chúng ta thuyết pháp cũng cần nói về thừa, vì sao? Bởi vì đây là các bậc tiền nhân, các vị cổ đức đã truyền xuống, thật ra Chân Phật chân chính là một thừa, đã bao gồm cả Đại thừa, Tiểu thừa, Kim Cương thừa, tất cả đều bao gồm hết. Bạn chỉ nói một thừa thì không đúng, giống như một con người, nói về con người mà chỉ nói về cái đầu thì không thành một con người đâu! Nói về thân thể của họ cũng thì là một bộ phận, cũng không đúng. Thế còn nói về tứ chi, trên thực tế cũng không đúng. Cần phải nói về tất cả các bộ phận gồm đầu, thân và tứ chi mới xem là Phật pháp chân chính. Vì thế, Chân Phật là bao gồm Đại thừa, Tiểu thừa và Kim Cương thừa, toàn bộ đều bao gồm hết. Trên thực tế là nói về một thừa.

Trong Phật pháp, Đại thừa nói về cái gì? Có thể nói thế này, Đại thừa chính là nói về độ chúng sinh, nói về việc quảng độ chúng sinh chính là Đại thừa. Phát bồ đề tâm muốn cứu độ tất cả chúng sinh, đây là phát tâm Đại thừa.

Vậy thế nào là Tiểu thừa? Tiểu thừa chính là chỉ độ chính mình, chủ yếu nhất là nói về tu chính mình, tức là chú trọng vào tu chính mình, đó là Tiểu thừa.

Thế còn Kim Cương thừa? Chính là Mật thừa, là dùng phương pháp tu hành bí mật để tu trì chính mình, rất nhanh chóng sau khi bản thân mình đắc được khai ngộ, thì sau đó sẽ giống như Đại thừa là đi quảng độ chúng sinh. Pháp Kim Cương thừa gọi là phương pháp tức thân thành Phật, bởi vì nó dùng phương pháp nội chứng, đi từ tu hành thực tế, khiến cho thân khẩu ý của chính mình và thân khẩu ý của Như Lai hoàn toàn hợp nhất, phương pháp nội chứng này chính là Kim Cương thừa.

Phật pháp đã bao hàm nghĩa lớn của ba thừa ở trong đó. Nhưng trên thực tế, Đại thừa, Tiểu thừa, Kim cương thừa cũng có hiện tượng không thể dung hợp lẫn nhau. Tiểu thừa thích phê bình Đại thừa là không có công phu tu hành thực tế mà đã muốn đi ra ngoài độ chúng sinh, hoàn toàn là không hoa thủy nguyệt, không thực tế. Hơn nữa Tiểu thừa thích nói Đại thừa là tinh thần Đại thừa của Phật giáo không phải là điều Như Lai nói. Đại thừa cũng phê bình Tiểu thừa là chỉ mỗi tu hành cho chính mình, không độ chúng sinh, không phát bồ đề tâm, chỉ có tu riêng mình, hoàn toàn chính là một A La Hán, chỉ là A La Hán Tiểu thừa cứu độ thân tâm chính mình mà thôi, cho nên không thể thành Phật. Có cách nói như vậy.

Thế còn Mật giáo thì sao? Lại phân thành Tạng mật, Đông mật, lại có cả Trung mật, có cả Đài mật. Trong Mật giáo cũng có rất nhiều thuyết, đơn cử Vô thượng mật bộ của Tạng mật đã thường xuyên bị người ta phê bình rồi. Trong Đông mật cũng có phê bình, nói rằng Mật pháp của ba bộ sau không có pháp Vô thượng mật chân chính. Thế còn trong Trung mật, Đài mật thì sao? Cũng bị chỉ trích, cho rằng thuộc về chú trọng nghi thức, không có nội chứng chân chính.

Cho nên trong Mật giáo mà nói, cần phải dung hợp với tất cả Hiển giáo, cũng cần phải trải qua thời gian rất dài mới có thể thật sự làm được. Vì thế, Đại thừa, Tiểu thừa và Kim cương thừa, trên thực tế, trong ba bộ pháp này, đều không thể nào hoàn toàn dung hợp lại với nhau.


### 02. Tin


Vì sao chúng ta bắt đầu học Phật? Khi mới bắt đầu đều có một cơ duyên mới có thể bắt đầu học Phật. 

**Kiến chứng chân thực của Liên Sinh Hoạt Phật**

Nhân duyên khiến các vị bắt đầu học Phật có rất nhiều, còn bản thân tôi bắt đầu học Phật chính là vì một nhân duyên rất kỳ diệu, vì thế tôi mới bắt đầu học Phật.

Mọi người đều biết rồi, bởi vì tôi ở tại thế giới Ta Bà được đưa đến Ma Ha Song Liên Trì, khi đến được cảnh giới đó, tôi nhìn thấy tiền kiếp của chính mình, là một vị Liên Hoa Đồng Tử màu trắng rất quang minh, đây là tôi tận mắt nhìn thấy tận tai nghe thấy. Tận tai nghe thấy tức là nghe thấy nói rằng tôi là Liên Hoa Đồng Tử, còn tận mắt nhìn thấy là nhìn thấy Liên Hoa Đồng Tử màu trắng tỏa sáng rực rỡ. Đều hết sức chân thực! Nói cách khác là, trải nghiệm này của tôi là việc nhìn thấy và nghe thấy vô cùng chân thực, và chính bản thân tôi cũng đã đến nơi đó. 

Trải nghiệm này chính là cơ duyên đầu tiên trong quá trình học Phật của tôi. Các vị đang ngồi đây, đương nhiên đều đã đọc trong sách tôi miêu tả như vậy, và các vị cũng đã sản sinh ra lòng tin, cũng đã đi theo bước chân mà tôi đã đi qua.

Trên thực tế Liên Hoa Đồng Tử này, bản thân ngài là từ Đại Nhật Như Lai, đến Phật Nhãn Phật Mẫu, thế rồi ở trong hai hồ sen của Phật Nhãn Phật Mẫu mà hóa thân thành Liên Hoa Đồng Tử, tức là Báo thân Phật đang ở tại Ma Ha Song Liên Trì thuyết pháp chính là Liên Hoa Đồng Tử. Thế còn hôm nay tôi đang ở đây thuyết pháp chính là Ứng thân Phật thuyết pháp, ở tại Ma Ha Song Liên Trì là Báo thân Phật thuyết pháp, ở chỗ của Đại Nhật Như Lai là Pháp thân Phật đang thuyết pháp. Pháp thân chính là Đại Nhật Như Lai, Báo thân chính là Liên Hoa Đồng Tử, Ứng thân chính là tôi hiện tại.

**Liên Hoa Đồng Tử ở trong thành Hỷ Kiến diễn pháp yếu**

Tối hôm qua có một đệ tử ở trong giấc mơ đã được đưa đến thiên thượng giới. Anh ấy đã đến một nơi, nơi đó gọi là thành Hỷ Kiến, nghe thấy ở trong thành có rất nhiều rất nhiều thiên nhân nói phải đi nghe pháp. Anh ấy rất hiếu kỳ liền hỏi: "Mọi người đi nghe ai thuyết pháp thế?" Họ nói: "Đi nghe Liên Hoa Đồng Tử thuyết pháp." Anh ấy nói: "Ủa, Liên Hoa Đồng Tử chẳng phải là Lư Thắng Ngạn sao? Lư Thắng Ngạn chẳng phải ngày mai sẽ thuyết pháp ở Cầu Vồng Sơn Trang sao? Từ khi nào đã đến thành Hỷ Kiến thuyết pháp thế?" Họ nói: "Liên Hoa Đồng Tử ở thành Hỷ Kiến đã thuyết pháp ở thành Hỷ Kiến gần hai tháng rồi." Anh ấy nói: "Không đúng đâu! Bởi vì Sư Tôn Lư Thắng Ngạn của chúng tôi hôm nay mới khai giảng ngày đầu tiên, mới bắt đầu thuyết pháp ngày đầu tiên, sao mà ngài ấy đã ở thành Hỷ Kiến thuyết pháp hai tháng được chứ?"

Sau đó anh ấy đi nghe pháp, anh ấy vào trong phòng giảng pháp, ở bên dưới pháp tọa ngẩng đầu lên nhìn, vị Liên Hoa Đồng Tử đó chính là Sư Tôn. Nhưng anh ấy nghĩ: "Sao có thể chứ? Rõ ràng Sư Tôn Lư Thắng Ngạn hiện tại đang ở Seattle, chẳng hề ở thành Hỷ Kiến, làm sao có thể ở thành Hỷ Kiến chứ? Tất cả thiên nhân đang ở đó, thuyết pháp ở trước mặt nhiều người như vậy, hơn nữa còn đã thuyết pháp hai tháng rồi?" Sáng hôm nay anh ấy đến kể với tôi, anh ấy nói ở thành Hỷ Kiến đã nghe thấy Liên Hoa Đồng Tử Lư Thắng Ngạn đang thuyết pháp, chủ đề giảng là "Nhập Trung Luận".

**Liên Hoa Đồng Tử hóa thân vô cùng tận**

Thế là sáng hôm nay anh ấy hỏi tôi: "Sao lại có hai Lư Thắng Ngạn chứ? Sao mà ở thành Hỷ Kiến có một Lư Thắng Ngạn, ở Seattle lại có một Lư Thắng Ngạn chứ?" Tôi nói với anh ấy: "Nơi nào cũng đều có Lư Thắng Ngạn, không chỉ Seattle có Lư Thắng Ngạn, hiện tại cũng thế, tại rất nhiều thiên quốc ở thiên thượng giới, ở rất nhiều cõi Phật, đều có Liên Hoa Đồng Tử đang thuyết pháp." Cái này chính là phân thân, phân thân trăm nghìn vạn triệu, đủ loại phân thân, đủ loại hình tượng, điều này bất khả tư nghì không thể nào tưởng tượng, không có cách nào nói ra được.

Chúng ta biết rằng Pháp thân Phật phân bố khắp thế giới khắp vũ trụ; Báo thân Phật ở tại Phật quốc, bất kì Phật quốc nào cũng đều có thể biến hóa, diễn hóa; Ứng thân Phật giống như là từng vị Phật ở trên trong mỗi lỗ chân lông phân ra. Sự vĩ đại của Phật pháp chính là chỗ này, ba thân Pháp - Báo - Ứng vô cùng vô tận, vì thế thiên thượng giới vẫn có Liên Hoa Đồng Tử thuyết pháp, thế giới Ta Bà cũng có Liên Hoa Đồng Tử thuyết pháp. Cho nên mọi người không được có tâm nghi hoặc, nghe hiểu Phật pháp, Phật pháp bất khả tư nghì khó tưởng tượng, những thứ bạn không nhìn thấy, không nghe thấy là vô cùng vô cùng nhiều.

Phật pháp là bắt đầu từ tin, không phải bắt đầu từ nghi, vì thế trong kinh Phật có nói một câu: "Biển lớn Phật pháp, chỉ có tin mới có thể đi vào." Chỉ có tin mới có thể đi vào cánh cửa này.

**Quý trọng pháp bảo**

Giống như tôi giảng "Nghi quỹ tu trì Mật giáo hoàn chỉnh" (tức cuốn "Mật Giáo Đại Quang Hoa - Chi tiết về nghi quỹ tu pháp Mật giáo hoàn chỉnh"), đây là tôi đem toàn bộ tâm huyết tu trì của mình đều nói ra hết, các bạn rất dễ dàng có được. Máy ghi hình ở đây đang ghi lại, các bạn mua băng về, nghe nói có băng là 1500 tệ, có băng là 2000 tệ. Bạn nói cái băng hơn 2000 tệ kia: "Đắt quá, tôi muốn mua loại 1500 thôi." Bạn không biết là tâm huyết cả cuộc đời tôi mà chỉ đáng giá 2000 Đài tệ sao? Băng 1500 Đài tệ, rẻ hơn mấy trăm tệ.

Xưa nay tôi đều công khai băng ghi hình, các bạn muốn mua băng ghi hình của ai cũng là công khai. Các bạn mua được băng tốt nhất lại rẻ nhất thì đương nhiên các bạn sẽ thích rồi. Nhưng ý nghĩa mà tôi nói không nằm ở đây. Ý nghĩa mà hôm nay tôi thuyết pháp không phải là bảo bạn mua của ai, đi mua băng nào rẻ hơn, mua băng nào không tốt bằng. Không phải! Các bạn mua băng ghi hình là ý muốn tự do, ý thích của các bạn là tự do, các bạn thích mua cái nào thì mua cái đó, thích mua của ai thì mua của người đó.

Ý tôi muốn nói rằng, "Chi tiết về nghi quỹ tu pháp Mật giáo hoàn chỉnh" ("Mật giáo đại quang hoa") là tâm huyết của tôi hai mươi mấy năm nay. Ngày xưa khi tôi cầu pháp từ sư phụ là trăm cay nghìn đắng, cúng dường mà tôi cúng là tiền lương hàng tháng của bộ đội. Thế nhưng ở đây tôi thuyết pháp cả một tuần đều ghi băng lại hết. Tôi đã phải nghiên cứu rất lâu, cuối cùng đã tập trung hết những thứ này lại, có thể nói hết trong một tuần lễ. Thật ra những thứ này là vô giá!

Các bạn xem xong thì sao? Có rất nhiều người có thể tin điều Sư Tôn nói, những chi tiết trong này rất có đạo lý, rất có thể hợp với tâm của bạn, bạn có thể thật sự dùng ý niệm đi tu hành, điều này rất có giá trị, điều này là vô giá. Tín tâm này của các bạn, sự phát tâm này chính là tôi có được báu vật vô giá.

Thế còn các bạn xem xong băng ghi hình, thậm chí là đến đây nghe pháp xong, trở về nhà, giả sử các bạn nói với tôi một câu là: "Tôi không thích Chân Phật Tông, tôi muốn rời khỏi Chân Phật Tông." Bạn nói xem tôi có đau lòng không? Tôi đã đem toàn bộ tâm và huyết của tôi vẩy lên mặt đất rồi, để mặc cho chúng sinh giẫm lên.

Nhưng tôi đã dốc hết tâm huyết rồi, bạn theo đó mà chăm chỉ tu hành, bạn sẽ có thể thành Phật. Trong đó, giả sử có đệ tử nói với tôi: "Tôi không thích Chân Phật Tông, tôi muốn rời khỏi Chân Phật Tông, tôi muốn thoát ly khỏi Chân Phật Tông." Như thế là chân bạn đã giẫm đạp lên trái tim tôi, nghiền nát nó rồi! Bạn nói xem tôi có đau lòng đến chảy nước mắt không?

Tôi đã đem những thứ tốt nhất trên thế giới cho mọi người rồi, đã móc cả tim và gan của mình ra cho chúng sinh rồi. Vì thế, có hành giả nói, khi chưa khai ngộ, họ sống qua ngày một cách bi thảm. Khi khai ngộ rồi, vẫn sống qua ngày một cách bi thảm.

Cái bi thảm đầu tiên là vì vẫn chưa đạt được chân lý của vũ trụ. Cái bi thảm thứ hai là vì sau khi đạt được rồi, đem những thứ quý giá này cho người ta, người ta vẫn không muốn, đó là hai tầng bi thảm.

Vì thế, giả sử có đệ tử sau này muốn rời khỏi Chân Phật Tông, có thể nói với Sư Tôn, đến trước mặt tôi, tôi sẽ đảnh lễ người đó. Vì sao? Vì sao tôi lại đảnh lễ người đó?
Nguyên nhân đầu tiên mà tôi đảnh lễ người đó là vì tôi tôn trọng họ.
Nguyên nhân thứ hai mà tôi đảnh lễ người đó là tôi đã xả bỏ tất cả mọi thứ của tôi rồi. 
Chân Phật Tông không bỏ rơi một chúng sinh nào, vì bạn muốn bỏ đi, tôi nhất định phải đảnh lễ bạn, biểu thị tôi tôn trọng bạn, thứ hai là biểu thị tôi đã xả bỏ tất cả rồi.
Không biết mọi người có hiểu ý nghĩa việc tôi đảnh lễ này không?

**Rèn luyện lòng tin**

Học Phật chỉ có tin mới có thể vào, Phật pháp chỉ có tin mới có thể vào. Vì sao tôi có lòng tin kiên định như vậy? Thật ra bất kể là bạn ở trong Chân Phật Tông hay là rời khỏi Chân Phật Tông, thì bạn vẫn ở trong Chân Phật Tông. Bạn cần hiểu được câu nói này, tuy rằng rời khỏi Chân Phật Tông, bạn vẫn tin Phật, đúng không? Bạn vẫn tin Phật mà! Vì còn tin Phật thì vẫn là còn ở trong Chân Phật Tông, trừ phi bạn không tin Phật nữa. Bởi vì Chân Phật của chúng ta chính là Phật chân chính mà! Ở trong đây có công lực thiền định rất sâu đó! Có Phật pháp rất sâu xa, có trí huệ vô thượng, bạn có đi thế nào thì vẫn ở trong trí huệ vô thượng này mà! Làm gì có chuyện rời khỏi Chân Phật Tông chứ?

Năm xưa khi Phật Đà dạy chúng ta, ngài chẳng hề dạy nhiều như vậy. Bạn gia nhập, ngài dạy bạn phát bồ đề tâm, phải phát bồ đề tâm đó! Phải giữ giới, mọi người phải giữ giới, giữ phép tắc ở đây. Khi đến giờ, mọi người đi ra ngoài hóa duyên. Khi trở về, trong thời gian này các bạn phải chăm chỉ tĩnh tọa, đi tu định, đi tu định lực của bạn, Phật đã dạy chúng ta như vậy.

Ở đây dạy bạn ăn là đi hóa duyên, mặc là mặc quần áo, ở là nhập định tu hành, đi là dạy bạn đi theo mọi người, một tăng đoàn, mọi người thành một đoàn thể cùng đi, cùng trở về. Giữ giới chính là thực hành, phát bồ đề tâm chính là thực hành. Như Lai đã dạy chúng ta điều này, Phật Đà đã dạy chúng ta điều này. Làm cái gì? Hãy tu định đi! Bạn cần có định. Vì sao cần có định? Trong định sẽ sản sinh ra tín, nhất định sẽ sinh ra sức mạnh của niềm tin, một dạng tín tâm, một dạng sức mạnh.

Hôm nay mọi người đang cùng nhau tu định, tu được định lực, chắc chắn có lòng tin, tâm bạn sẽ không điên đảo. Bạn nói muốn thoát ly Chân Phật Tông, thế thì bạn không còn định nữa! Căn bản là hoàn toàn không có định lực! Như thế làm sao được? Cho nên ngày xưa Phật Đà muốn chúng ta có một chữ quan trọng nhất, chính là phải định.

Phật pháp, tóm lại, nói về một chữ, cũng là chữ định này, rất quan trọng, bởi vì định sẽ sinh ra tín tâm. Ngay từ đầu có được cơ duyên, sinh ra lòng tin rồi vẫn chưa đủ. Đó chỉ là một dạng lòng tin khi cơ duyên mới bắt đầu, phải trải qua muôn vàn thử thách trong thời gian rất dài cơ!

**Mê tín, chính tín và trí tín**

Chúng ta biết rằng chữ tín này phân ra rất nhiều loại, có cái gọi là mê tín, không có được chính kiến, là một dạng tín ngưỡng mù quáng, đây chính là mê tín. Bất kể thế nào, Phật học luôn bắt đầu từ chữ tín, và trong chữ tín này có phân thành mê tín.

Chúng ta học Phật thì không mê tín, học Phật chân chính là chính tín, là trí tín. Chính tín tức là chính tri, bạn đã nghĩ rằng việc học Phật là một dạng lý niệm đúng đắn, một dạng kiến giải chính xác, nhìn thấy được chân diện mục của Phật học rồi, tín ngưỡng này mới gọi là chính tín. Thế còn trí tín? Dùng trí tuệ để huấn luyện trí tuệ của bạn, đạt đến một dạng tín ngưỡng của trí huệ vô thượng, tín ngưỡng này gọi là trí tín. Là chính tín và trí tín, chứ không phải là mê tín.

Hôm nay mọi người ở đây nghe tôi thuyết Phật pháp này, có rất nhiều người nói đừng quá mê tín, người bên ngoài nói đừng quá mê tín, cũng đừng mê tín thần thông, cũng đừng mê tín những thứ hư vô như có như không, phải nhìn thấy mới tin, phải nghe thấy mới tin, phải thật sự có thể đạt đến chính kiến mới tin, vậy thì dạng tín này rất hiếm.

Người có thể thật sự đạt đến chính tín đối với Phật học có lẽ chẳng có được mấy người, người có thể đạt đến trí huệ vô thượng - trí tín, cũng chẳng có được mấy người. Tỉ lệ trong tâm bạn, bạn mê tín bao nhiêu? Chính tín bao nhiêu? Tín ngưỡng trí huệ được bao nhiêu? Các bạn có thể từ từ suy tính.

Bạn có cầu Phật Bồ Tát không? Hay là cầu phúc? Cầu thọ? Cầu con cái? Cầu hôn nhân? Có phải hy vọng Phật Bồ Tát có thể cho bạn phúc phần không? Có phải đang cầu thành Phật không? Hay là bạn không cầu thành Phật, mà muốn tự mình tu hành thành Phật, bạn không hề cầu nhưng bạn tu chính mình.

Học Phật là vì cái gì? Một mục tiêu lớn nhất chính là muốn giải thoát phiền não, phiền não giải thoát, sinh tử tự chủ. Có phải là bạn đang theo đuổi giải thoát phiền não và tự chủ sinh tử không? Có mấy người đang thật sự theo đuổi điều này? Giả sử bạn không theo đuổi điều này, không rèn luyện chính mình hướng về con đường giải thoát phiền não, tự chủ sinh tử này, vậy thì bạn có phải là thuộc về mê tín không, là người tin mù quáng vào một phía không? Vì thế, mọi người hãy suy nghĩ một chút, con đường mà bạn đi có đúng đắn không? Hay là không đúng?

Phật học và học Phật chính là muốn tự chủ sinh tử, muốn minh tâm kiến tính, muốn giải thoát phiền não. Hôm nay giả sử các bạn lệch hướng rồi, vậy thì sẽ có khả năng mê tín, có khả năng mù quáng, bản thân có chỗ không đúng. Vì thế có người như thế này, họ muốn học Phật, thế là nói hôm nay muốn đi quy y, họ muốn đến quy y, thế rồi có lẽ vừa nghe nói muốn quy y thì quá vui mừng, đi cầu thang ba bậc thành một bậc, thế là ngã cầu thang, ngã gãy chân, họ liền nói: "A! Điều này không may mắn, không đi quy y nữa."

Ngoài ra có rất nhiều đệ tử học Phật pháp rồi, cũng tu pháp rồi, muốn cầu Long Vương ban cho tiền, chuột nhả báu vật của Hoàng Tài Thần, miệng há ra, cho họ money [tiền].* *Còn có Hồng Tài Thần, vị Hồng Tài Thần này đúc nhiều tượng nhất, vì nhiều người thỉnh nhất, bởi vì ngài từng hiển hiện, cho nên mọi người ra sức cầu ngài, bởi vì ngài từng nói: "Có cầu tất ứng!" Mọi người không biết, "có cầu tất ứng" này là ngài nói với Sư Tôn, ngài nói với Sư Tôn: "Ngài cầu tôi, có cầu tất ứng!" Thế rồi tôi nói với mọi người, Hồng Tài Thần nói với tôi là có cầu tất ứng. Oa! Mọi người bán mạng đi cầu ngài, thế là thành ra cầu đến mức này. 

Mọi người không nghĩ kĩ một chút đi! Ngài nói với tôi, chứ không nói với bạn! Vì thế tôi cầu thì sẽ có cầu tất ứng, các bạn cầu thì không chắc sẽ có cầu tất ứng đâu. Nhưng tôi nghĩ chắc hẳn ngài cũng sẽ có một chút đồng cảm, bạn cầu ngài đến mức như vậy cơ mà! Ngài hẳn là sẽ có cầu tất ứng. Có người cầu thì không ứng, thế là trả lại chứng thư quy y, vậy tôi không biết phải nói gì nữa.

Vì thế, chúng ta học Phật có một thứ rất lớn, rất cao quý, rất lý tưởng, cũng là thứ mà trong cuộc đời bạn rất khó có được, chính là phải tự mình giải thoát phiền não, phải tự chủ sinh tử, phải minh tâm kiến tính, đây mới là chính tín.

**Một miếng ăn miếng uống đều là định trước**

Bây giờ tôi rất sợ! Tôi thường xuyên cầu mà! Hy vọng các bạn làm kinh doanh tốt, đừng sập tiệm, bởi vì nếu bạn sập tiệm hoặc thế nào đó, chịu tai ương thì chắc chắn là đổ lỗi do Phật Bồ Tát.

Trên thực tế, phúc phần của mỗi người, theo như tôi biết, một miếng ăn miếng uống đều có định số. Bạn ăn bao nhiêu gạo, uống bao nhiêu nước, thậm chí có thể ăn bao nhiêu đồ ăn vặt, đều có định số. Cái này là phúc phần của bạn, bạn kiếm được bao nhiêu tiền đều có định số. Tu pháp có thể cái thiện, không sai. Nhưng không hề nhanh như vậy. Cũng không thể nói lúc nào cũng như vậy, có khi cũng có thể rất nhanh đó. Nếu tôi nói với bạn là chẳng hề nhanh, các bạn sẽ không tu nữa. Vì thế phải nói rằng, đôi khi có cơ duyên tốt thì cũng sẽ rất nhanh.

Vì thế chính tín rất quan trọng, vận mệnh là có, Phật giáo không nói vận mệnh, nhưng vận mệnh thực tế là có, bởi vì Phật giáo nói về phá vận mệnh, tức là phá vỡ vận mệnh của bạn, dùng Phật pháp để hóa giải vận mệnh. Nhưng vận mệnh có hay không? Bởi vì có nên mới phải phá, không có vận mệnh thì không phải phá, đây đều là một dạng lý niệm, một dạng trí huệ, một dạng tín ngưỡng của trí huệ. Có vận mệnh, phá vận mệnh cũng là một dạng tín ngưỡng của trí huệ.

Lấy một ví dụ rất đơn giản, trước kia tôi từng nói rồi. Trước kia tôi ăn mọi thứ, chỉ có hai thứ không ăn, một là kim cương, hai là vàng. Vàng là bởi vì nó quá cứng, không ăn nổi, còn kim cương thì đắt quá, cũng không ăn nổi, những thứ khác tôi đều ăn. Nhưng một miếng ăn một miếng uống đều có định số, đến ngoài 40 tuổi, ngoài 50 tuổi, có một số thứ không thể ăn được nữa, vì thế tôi từ một người cái gì cũng ăn được đã biến thành chẳng thể ăn được cái gì. 

Rất đơn giản, đây chính là định số đó! Bạn không thể ăn nhiều đường, bởi vì ăn đường sẽ mắc bệnh tiểu đường; bạn không thể ăn muối, bởi vì ăn muối sẽ mắc bệnh cao huyết áp; bạn không thể ăn chất béo, bởi vì chất béo quá nhiều sẽ làm sao? (Đệ tử trả lời: Bệnh tim.) À, tim sẽ bị tắc nghẽn, sẽ có bệnh hẹp van tim, hoặc là quả tim này sẽ rất phiền phức, sẽ có bệnh tim. Ví dụ nói về mực, mẹ tôi nói: "Mực có cholesterol cao nhất." Nó có thể khiến mạch máu của bạn tắc nghẽn, cholesterol cao sẽ bị tắc mạch máu. Thế rồi bạn không thể ăn rất nhiều thứ, có những thứ sẽ gây bệnh ung thư, có thứ sẽ gây ra u, có thứ sẽ gây ra bài tiết không tốt, hoặc là thế nào đó. Thế là có vấn đề rồi.

**Sinh khởi chính tín và trí tín**

Vậy thì sao? Cái gọi là một miếng ăn miếng uống đều có định số cũng là tất nhiên, một định số trong vận mệnh, đây là một loại tín ngưỡng của trí huệ, gọi là trí tín.

Học Phật chính là phải hiểu có trí huệ, thế rồi học Phật phải hiểu chính tín, bạn học Phật có trí huệ rồi, có chính tín rồi mới có thể ở trên con đường thành Phật này mà tỏa sáng, đạt đến thành tựu, bằng không sẽ giống như phàm phu thế tục, không có gì khác biệt.

Bạn hoàn toàn giống một phàm phu thế tục, chẳng qua chỉ thờ thần, cầu phúc, cầu thọ, cầu con cái, cầu hôn nhân, cầu danh, cầu lợi. Nếu cầu không được, bạn không thờ nữa, thế chẳng phải là phàm phu thế tục sao? Vì thế, học Phật không giống với thờ thần thông thường, bởi vì thờ thần thuộc về cầu phúc, tương đối thiên về mê tín, là phạm vi thế tục. Hôm nay bạn học Phật là hướng về con đường của trí huệ, là muốn đạt đến trí huệ vô thượng, muốn giải thoát sinh tử của chính mình, hiểu rõ ý nghĩa của đời người, minh tâm kiến tính, giải thoát mọi phiền não.

Hôm nay mọi người đến nghe "Phật Học Tổng Thuyết", cần hiểu thế nào là chính tín, thế nào là trí tín, phải đi trên con đường của chính tín, đi trên con đường của tín ngưỡng trí huệ, thì sẽ không sai. Hôm nay giả sử tín ngưỡng mù quáng, hoặc là đi theo tín ngưỡng cầu phúc, cầu thọ, cầu con cái, cầu hôn nhân, cầu danh lợi, thì sẽ là một dạng mê tín của thế tục.

Điều mà tôi muốn nhấn mạnh với mọi người hôm nay là, một chữ "tin" là một sự bắt đầu, khởi niềm tin chính là vì muốn hiểu đạo lý của cuộc đời, muốn giải thoát, muốn đắc trí huệ vô thượng, thế rồi bạn bước vào cửa Phật, bắt đầu có tín ngưỡng, đây là khởi tín.

**Vô thường**

Bắt đầu từ khởi tín, chúng ta cần nói về vô thường. Hôm nay, bài giảng đầu tiên nên nói về tín, rồi sau đó nói về vô thường, tín và vô thường. Thế giới này là vô thường, không chỉ thế giới này là vô thường, mà toàn bộ con người chúng ta đều vô thường. Chúng ta đã nói rất nhiều về vô thường, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ muốn chúng ta thể nghiệm vô thường, và khi thể nghiệm vô thường bạn phải biết rằng, thời gian con người sống trên thế gian này rất ngắn ngủi. Hôm nay chúng ta tụ họp ở đây, thời gian rất ngắn ngủi, và nhân duyên cũng rất vi diệu; rất nhanh tụ họp lại với nhau, rồi cũng rất nhanh sẽ giải tán. Vì thế Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói rất rõ về vô thường này, có sinh ắt có tử. Sống ắt sẽ đi đến cái chết; khỏe mạnh ắt sẽ trở nên suy tàn.

Khi Phật Đà già đi, thân thể của Ngài rất không khỏe, thân thể vốn rất khỏe mạnh cũng trở nên suy yếu. Những người tụ họp với nhau rồi cũng sẽ chia ly, có sinh ắt có tử, có khỏe mạnh ắt có suy tàn, có tụ họp ắt có chia ly. Hôm nay chúng ta tụ họp với nhau, pháp duyên thù thắng, nhưng qua vài ngày nữa lại chia ly. Cơ hội tụ họp ở Cầu Vồng Sơn Trang này không nhiều, có lẽ một năm chỉ có một, hai lần. Vậy thì Cầu Vồng Sơn Trang sau này thì sao? Có thể chỉ giảng Nội pháp, nghĩa là chỉ có thể chứa 40 người, 50 người, nhiều nhất là 100 người.

Bài giảng lần này mang tính phổ biến hơn, nhưng lần giảng tới chỉ có 40 người, hoặc 50 người, 100 người mà thôi. Vậy thì, có thể nói đây là buổi giảng dạy phổ cập lần thứ hai, một kiểu khai giảng công khai, cũng là lần cuối cùng, sau này tất cả đều phải nộp luận văn.

Như vậy cơ duyên này cũng chỉ thoáng qua là không còn. Cho nên đây là có hợp có tan, đã có tụ họp thì ắt sẽ có phân tán, đó chính là vô thường.

Ví dụ mà tôi vừa nêu, trước đây tôi ăn được tất cả mọi thứ, tôi rất thích ăn đồ ngọt, như bánh mochi! Còn có bánh của Nhật nữa. Cái đó gọi là gì nhỉ? Bánh cuộn của Đài Loan (tiếng Đài), bánh "bị lừa" (chơi chữ âm tiếng Đài), bánh quy cuộn! Những loại bánh của Nhật đó, rồi còn bánh mochi, bánh đậu đỏ, và bánh cưới Đài Nam, bánh to, loại tròn tròn đó tôi thích nhất.

Trước đây, khi Sư Mẫu thấy tôi ăn uống ngấu nghiến, chỉ trong chốc lát đã ăn hết một miếng to, bà ấy nói: "Không được ăn nữa!" Mỗi khi bà nói "Không được ăn nữa", tôi lập tức ăn thêm hai miếng nữa. (Mọi người cười) Tôi là người không thích bị người khác sai bảo, tôi có tính cách tự chủ mà! Ai nói gì với tôi, tôi cố tình ăn nhiều hơn một chút.

Chúng ta biết khi được mời đi ăn bên ngoài, món cuối cùng luôn là chè ngọt, cũng có trái cây, bánh kem, đồ tráng miệng, khi chè ngọt được dọn ra, trước đây mỗi lần tôi ăn xong một bát, nhất định phải lấy thêm bát thứ hai... Khi Sư Mẫu đứng bên cạnh thấy vậy, bà nói: "Sao ông ăn tới hai bát?" Tôi nhất định phải lấy thêm một bát nữa! (Mọi người cười)

Nhưng mà này! Phải biết rằng, ăn nhiều đồ ngọt quá, vô thường sẽ đến! Này! Vô thường gọi bạn đến đấy. Bạn đến đây, khi vô thường gọi bạn một tiếng, bạn không thể ăn nữa, đường huyết cao mà! Không được ăn nữa, phải cấm hẳn rồi, không thể ăn món này nữa.

Tôi nói cho mọi người biết, đừng có "cứng đầu" nhé! Thật đấy. Khi bạn ăn đã đủ rồi, vô thường bảo bạn không được ăn nữa, thì phải ngoan ngoãn nghe lời. Không được! Tôi nghĩ không xong, có chuyện này, nhất định tôi phải bắt đầu luyện công, rồi tôi bắt đầu chống lại nó, tôi luyện công. May mắn thay, chư Phật Bồ Tát rất thương tôi, các Ngài bảo tôi luyện công là được rồi.

**Tâm từ bi lớn nhất là chịu thay**

Nói chung, nhiều người mắc bệnh, Sư Tôn cũng bị bệnh, Sư Tôn cũng có rất nhiều bệnh đấy! Các bạn cứ nói ra không sao cả, tôi không sợ người khác nói đâu, nhiều người tu hành bảo rằng không được có bệnh, có bệnh thì cứ như là không có công lực vậy. Thực ra tôi có rất nhiều bệnh, có tiểu đường, có bệnh tim, có cao huyết áp, còn có bệnh ngoài da, còn có cả ung thư nữa. (Cười) Ung thư xương đấy! Ghê lắm!

Còn gì nữa không? Tôi nhớ trước đây có nhiều thứ lắm, giờ kể hết ra luôn. Tôi bị nấm chân, cái đó là chuyện ngày xưa! Những gì tôi đang kể đều là chuyện ngày xưa cả! Bị nấm chân, bị đau thấp khớp. Nhớ hồi nhỏ có một thời gian tôi bị bại liệt. Thật đấy! Hồi học tiểu học, tôi phải đi học với dáng đi khập khiễng, tôi vẫn còn nhớ! Rồi còn bệnh ngoài da nữa, hai bàn chân giống như đá bào đậu đỏ vậy, nổi từng chấm một như hạt đậu đỏ trong đá bào vậy, đó là bệnh về da.

Ngoài ra tôi còn bị viêm khớp, đau khớp ở đây này. Còn bị đau lưng, suy thận, bàng quang yếu. Bàng quang yếu tức là "són tiểu" (tiếng Đài) đấy! (Mọi người cười) Chính là chứng tiểu không tự chủ đấy! (Cười) Ngoài ra còn có gai xương, đau lưng, đau dạ dày, bệnh về dạ dày cũng nhiều lắm.

Phổi thì hô hấp cũng không tốt, khí quản viêm, không phải là "vợ quản nghiêm" đâu [chơi chữ đồng âm], mà là thực sự bị viêm khí quản, mũi mẫn cảm, bây giờ gọi là allergy, viêm xoang.

Mắt đỏ, viêm mắt đỏ. Chứng viêm mắt đỏ là do Quan Thế Âm Bồ Tát chữa lành cho tôi, điều này tôi nhớ rất rõ.

Ráy tai, bây giờ cứ ba tháng tôi phải thông tai một lần, phải rửa tai. Đây là thật đấy! Cho nên tôi rất thích về Đài Loan, chính là vì ở Đài Loan có dịch vụ lấy ráy tai, lấy ráy tai ấy, cứ ba tháng phải về một lần, chính là vì về để lấy ráy tai, cái tai này thường xuyên phải làm.

Huyệt thái dương bên này sưng đau, phần não này! Tiểu não không phát triển lắm, sau này có thể bị chứng sa sút trí tuệ ở người già. (Mọi người cười) Chứng sa sút trí tuệ là do não bị teo lại.

Đôi khi chỗ này bị viêm, bên mép miệng, chỗ này bị viêm, miệng bị nứt nẻ, lưỡi thường xuyên bị lở loét, ăn uống rất khó khăn.

Chảy máu mũi, còn bị chảy máu mũi nữa! Khi tôi mới đến Mỹ, bị chảy máu mũi rất nặng, cũng phải dùng phương pháp điều trị. Da thì bị viêm và dị ứng.

Thượng sư Thường Nhân đâu rồi? Mọi người có nhận thấy gần đây thầy ấy béo ra rất nhiều không? Tại sao thầy ấy lại béo vậy? Là vì thầy ấy bị ngộ độc đấy. (Mọi người cười) Thầy ấy uống thuốc cảm, uống nhiều loại thuốc cùng lúc, khi các loại thuốc trộn lẫn vào nhau, ôi chao! Da của thầy ấy, từ đầu xuống tới chân; từ đầu này! Bên này đều đỏ ửng, toàn thân đều đỏ ửng. Nhưng bây giờ vết đỏ đã giảm bớt rồi, mặt vẫn còn sưng, toàn thân vẫn còn sưng, đó chính là bị ngộ độc.

Tại sao tôi lại béo như vậy? Trước đây tôi rất gầy, rất mảnh mai, vậy tại sao bây giờ lại hơi béo ra? Chính là vì tôi uống thuốc bổ Tam Hải hiệu Thần Ưng do em gái tôi bán, sau khi uống vào, tôi rất thích ăn cơm, nhưng mà cái thuốc đó cũng có tác dụng như một chất kích thích nội tiết, làm thay đổi toàn bộ cấu trúc cơ thể, bị ngộ độc luôn, sau khi bị ngộ độc thì béo ra.

Cho nên béo có mấy nguyên nhân! Một là phù nề, hai là ngộ độc, còn một nguyên nhân nữa là do bản thân họ ăn quá nhiều, giống như Tam Nguyên (Thượng sư Chân Tam Nguyên), tôi nghĩ thầy ấy không phải bị phù nề, cũng không phải bị ngộ độc, có lẽ là do ăn quá nhiều thôi. (Mọi người cười)

Tôi có bị u không? Cơ thể tôi có u không? Có! Nói cho mọi người biết, có đấy. Tôi chữa khỏi một cái u to cho người ta, thì trên người tôi lại mọc lên một cái u nhỏ. Đó là chịu thay mà! Tôi chữa khỏi u cho mấy người, thì trên người tôi lại mọc lên mấy cái u nhỏ, nhưng rồi tôi lại phải vận công để làm tiêu những cái u nhỏ đó đi.

Tôi chữa khỏi ung thư cho người ta thì bản thân tôi lại bị ung thư, cho nên trên người tôi có rất nhiều ung thư. Tôi bị ung thư xương! Điều này các đệ tử thân cận đều biết cả, rồi tôi lại vận công làm tiêu ung thư xương đi. Tôi chữa khỏi gai xương cho người ta, thì trên người tôi lại có gai xương, tôi bị đau, tôi lại phải tập công để mài mòn gai xương đi. Tôi bị ung thư dạ dày, ung thư xương, đủ loại ung thư, chỉ có mỗi ung thư tử cung là không có thôi. (Mọi người cười)

Khi tôi ở đại pháp hội Hồng Kông, trong vòng ba ngày, hàng trăm hàng nghìn căn bệnh đổ xuống người tôi, các bạn nói đó có phải là phép màu không? Mọi người đều tận mắt chứng kiến. Tôi mê man bất tỉnh suốt ba ngày ba đêm, không ăn được một miếng nào. Mọi người đều rất ngạc nhiên! Sư Tôn vốn rất thích ăn, vậy mà không ăn được một miếng nào, như vậy chẳng phải là tự bỏ đói mình sao? Không phải là đang biểu diễn thần thông đâu! Tôi không phải đang biểu diễn thần thông, mà là thực sự không thể ăn được gì.

Chỉ uống nước, ba ngày ba đêm làm "chịu thay", chỉ có như vậy mới có thể khiến người bị bại liệt, người bị teo cơ đứng dậy được từ xe lăn, mới có thể chữa lành cột sống cho người ta. Cột sống bị xốp, trong tiếng Đài chỉ có thể nói là "xốp giòn" thôi! Cột sống bị "xốp giòn". Rất nhiều bệnh, những khối u đó mới có thể biến mất, phải mất ba ngày ba đêm, chịu hàng trăm hàng nghìn căn bệnh nhập vào người để thay thế.

Cuộc đời này là vô thường, thực tế, vốn dĩ đã là vô thường rồi. Bạn nói có thường, thì cái gì là thường? Cái gì là cái gọi là trạng thái thường hằng? Đúng không? Tôi đã nói rồi, những người làm quan lớn, tại sao họ lại phải tin Phật? Những vị tướng quân, tại sao họ phải tin Phật? Tướng quân rất oai phong, nhưng đến lúc về già lại nhìn thấy bóng ma, những người bị họ giết đều hiện về, họ không thể không tin Phật.

**Kiến giải đúng đắn**

Phật Quang Tự, không phải là Phật Quang Sơn, mà là Phật Quang Tự, Phật Quang Tự ở Quan Âm Sơn, Phổ Lý, có ai từng đến chưa? Có mấy người Đài Loan đã từng đến. Đó là nơi ở của sư phụ truyền quy y cho tôi, pháp danh của tôi là Đạo Ngạn, Sư Mẫu có pháp danh là Đạo Hoa, trong tiếng Đài gọi là Đậu Hoa (mọi người cười), đó là đạo tràng của lão pháp sư Lạc Quả, là sư phụ Hiển giáo mà tôi quy y. Khi tôi đến đó, bên trong toàn là tướng quân, toàn là những vị tướng quân đã giải ngũ xuất gia ở đó, tập khí của họ cũng rất nặng, trước đây đều là quan chức lớn, đều là tướng quân, sau khi về hưu thì học Phật, xuất gia.

Tại sao vậy? Vô thường. Bởi vì con người, dù bạn có làm đến chức vị nào rồi cũng phải từ chức, làm tổng thống rồi cũng phải từ chức. Đó là chức vị cao nhất rồi! Người giữ chức vị cao nhất cũng phải rời đi, huống chi là những quan chức nhỏ như hạt mè. Người giàu có thể trở thành người nghèo, người nghèo cũng có thể trở thành người giàu, đó chính là vô thường.

Những quan chức lớn kia! Sau khi về hưu tập trung ở đó xuất gia tu hành, có người tập khí vẫn không thay đổi. Những vị tướng quân khi ăn cơm, đi chợ mua đồ ăn, không có ớt là mọi người đập bàn. "Cộp cộp cộp..." Tại sao vậy? Vì không có ớt. Những người lính của họ đều phải ăn ớt, không mua ớt thì họ không thoải mái, không lật bàn là may lắm rồi. Ông ấy trước đây là tướng quân mà!

Chùa Phật Quang này có phong thủy không tốt lắm, thường xảy ra cảnh chư tăng đánh nhau, thậm chí còn có tăng đánh chết ni cô. (Cười) Lão pháp sư Lạc Quả không biết về phong thủy, tôi đã đi xem, mảnh đất đó gọi là "long hỏa tinh", rất nóng! Bên trong có khí rất nóng, cho nên khó tránh khỏi hiện tượng tính khí rất nóng nảy, đó là vô thường.

Những người làm quan lớn, họ xuống chức; những người làm tướng quân, họ về hưu, họ muốn học Phật; rồi có rất nhiều người giàu có, khi về già cũng muốn học Phật; người có thân thể khỏe mạnh cũng muốn học Phật. Tại sao vậy? Bởi vì khi vô thường đến, họ cũng phải học Phật. Nhiều cặp vợ chồng cùng xuất gia, cũng phải học Phật.

Duyên phận này, bạn nghĩ rằng duyên phận là mãi mãi sao? Là thường hằng sao? Không chắc đâu. Lúc mới cưới thì đương nhiên rất yêu thương nhau, nhưng có những duyên còn ngắn hơn, chỉ một tuần họ đã đánh nhau; sáng còn gọi nhau "cục cưng ơi", tối đã ly hôn rồi, tất cả đều là hiện tượng vô thường.

**Thể nghiệm vô thường**

Vì vậy Liên Hoa Sinh Đại Sĩ dạy chúng ta "thể hội vô thường, thể niệm vô thường", khi bạn thường xuyên nghĩ đến vô thường, bạn sẽ sinh khởi tín tâm, có được niềm tin kiên cố. Tại sao hôm nay Lư Thắng Ngạn có thể giải thoát phiền não? Là bởi vì tôi thường xuyên thể niệm vô thường, trong cuộc đời này tôi đã trải qua rất nhiều thăng trầm; những thăng trầm đó, khó khăn chồng chất, lời phỉ báng từ bên ngoài cũng rất nhiều, nhưng tại sao tôi có thể giải thoát khỏi phiền não? Bởi vì tôi thể niệm vô thường.

Trước đây tôi rất khỏe mạnh, biết đâu một ngày nào đó thân thể tôi sẽ suy yếu; hiện giờ cuộc sống của tôi rất tốt, biết đâu một ngày nào đó cuộc sống sẽ rất bi thảm; Chân Phật Tông của chúng ta hiện nay rất hưng thịnh, biết đâu một ngày nào đó... Bạn thấy đó, chính Như Lai đã nói, Phật pháp tồn tại ở Ấn Độ chỉ có 500 năm, đây chính là vô thường. Phật pháp tốt đẹp như vậy, tại sao ở Ấn Độ chỉ hưng thịnh được 500 năm? Đây chính là vô thường.

Vô thường của thân thể, vô thường của địa vị, vô thường của tiền bạc, vô thường của bệnh tật, vô thường của giàu nghèo, vô thường của duyên phận, tất cả đều khiến con người thể hội được sự vô thường của thế gian. Chính vì tôi thường xuyên thể hội được vô thường, nên từ trong vô thường sinh khởi tín tâm. Sau khi thể hội sâu sắc về vô thường, mới nhận ra toàn bộ hiện tượng của vũ trụ này đều là cảnh giới không; nhờ vào việc bước vào cảnh giới không, bạn mới có thể cảm thấy tâm an. Vốn dĩ đã là vô thường rồi! Làm sao bạn còn phiền não được?

Một ngày nào đó, khi người vốn giàu có trở thành người nghèo, đương nhiên sẽ có phiền não, nhưng chỉ cần thể hội vô thường thì sẽ không còn phiền não; thân thể bạn vốn rất khỏe mạnh, đột nhiên mắc bệnh nặng, hãy thể hội vô thường, bạn sẽ không còn phiền não; vốn là chủ tịch hội đồng quản trị, nhưng bây giờ mất chức vị đó rồi, nếu bạn thể hội vô thường, bạn sẽ không quá đau buồn.

Phải biết rằng tất cả mọi sự vật trong thế gian đều nằm trong vô thường, khi thâm nhập vào vô thường để thể hội vô thường, bạn sẽ không còn vướng bận chuyện được mất, phải hiểu được đạo lý này thì mới có thể giải thoát phiền não; chính vì vô thường mà chúng ta phải tìm cầu trí tuệ vô thượng, đây chính là ý nghĩa cuộc đời của chúng ta.

Mọi người nghĩ Phật học này, tại sao phải học Phật? Chính là vì vô thường! Chính vì vô thường nên chúng ta phải tìm kiếm ý nghĩa của cuộc đời. Việc có ý nghĩa nhất trong đời người chính là học Phật, chính là tu hành; ngoài điều này ra, bạn và tôi đều ở trong vô thường, có gì đáng để so sánh, để kiêu ngạo? Có gì đáng để tự đại? Tất cả đều ở trong vô thường.

Người Đài Loan chúng ta thường nói: Không ai giàu ba đời! Không chỉ không thể vượt qua ba đời, có khi ngay cả một đời cũng không giữ được, có thể chỉ một hoặc hai đời là hết sạch, thậm chí có người chỉ một đời đã mất hết. Bạn tưởng tiền bạc mình kiếm được sao? Bạn tưởng mình xây cao ốc sao? Hôm trước chẳng phải tôi đã nói sao? Người phá tòa nhà đã đến rồi. Khi ông ta xây xong tòa cao ốc, tòa nhà hoàn thành rồi. Ồ! Xây được một tòa cao ốc, vui sướng biết bao! Kết quả là vợ ông sinh một đứa con trong đó, đứa trẻ này chính là người sẽ phá hủy tòa nhà, nó đã sẵn sàng để phá hủy tòa cao ốc của ông rồi. Đây chính là vô thường!

Vì thế, đừng quá vui mừng khi xây được tòa cao ốc, cũng đừng buồn phiền khi nó sụp đổ; đừng mừng vui khi Phật giáo của Đức Phật hưng thịnh, cũng đừng đau buồn khi nó suy tàn; tương lai Chân Phật Tông này, dù có hàng triệu, hàng chục triệu đệ tử quy y, cũng đừng vui mừng, và khi không còn một ai nữa, cũng đừng đau lòng.

Những gì tôi vừa nói có chút buồn bã, nhưng thực ra không cần phải buồn, tôi chỉ đang bày tỏ tâm ý của mình như vậy thôi. Như tôi đã nói lúc đầu, tôi đã bỏ ra nhiều tâm huyết, đem những điều tốt đẹp nhất cho người khác, nhưng người ta không cần, tôi chỉ đang miêu tả nỗi buồn đó. Thực ra, người thực sự giác ngộ sẽ không còn chấp trước được mất, trở nên tự tại và biết đủ.

**Chỉ nghĩ về vô thường**

Vì vậy Phật học giảng về vô thường, bạn thể nghiệm vô thường, vô thường, vô thường, liên tục dạy bạn thể nghiệm, chính là để bạn có thể giải thoát phiền não; nếu không thể nghiệm hai chữ này, bạn sẽ không sinh khởi tín tâm, không thể giải thoát phiền não. Vì thế Liên Hoa Sinh Đại Sĩ dạy tôi và tất cả các đệ tử Mật giáo phải thấu hiểu sâu sắc về vô thường, để sinh khởi niềm tin kiên định. Sinh khởi tín tâm, chỉ có suy nghĩ về vô thường mới có thể thực sự sinh khởi tín tâm, và chỉ khi thực sự thể nghiệm vô thường, bạn mới không còn vướng bận chuyện được mất.

Hôm nay có nhiều người phỉ báng bạn, sỉ nhục bạn, bắt nạt bạn, đó là vô thường! Phải không? Bạn không nghĩ như vậy sao? Thế giới này vốn dĩ là vô thường mà! Không có gì là thường hằng cả! Bạn phải giữ tâm bình khí hòa, đó chính là giác ngộ rồi, bạn thực sự có thể giải thoát phiền não rồi, nếu không làm sao bạn giải thoát phiền não được? Xin hỏi ngược lại: "Nếu bạn không thể nghiệm vô thường, làm sao giải thoát phiền não?" Bạn sẽ mãi mãi có phiền não, mãi mãi không thoát ra được, mãi mãi không hết khổ! "Khổ liên miên!" (tiếng Đài)

Vì vậy, tôi cảm thấy như hôm nay mình có thể tự chủ, tự tại, rất hài lòng với thế giới này, tương lai còn đời đời kiếp kiếp trong cõi Ta Bà, chính là vì tôi có tâm vô thường. Hôm nay bạn có tâm vô thường, sẽ không lo không sợ; hôm nay bạn không có tâm vô thường, sẽ mãi mãi có phiền não. Đây là dạy các bạn Phật pháp làm thế nào để giải thoát phiền não.

Hãy nhìn Đại sư Liên Trì, ở đầu giường ngài viết một chữ "Tử". Chết nghĩa là die/all die, tất cả đều chết. Tôi không phải đang nguyền rủa mọi người đều phải chết đâu, nhưng có một quy luật tuyệt đối không thể phá vỡ, đó là mọi người đều phải chết; tôi chết, bạn chết, họ chết, tất cả đều chết. Qua một trăm năm nữa, tất cả đều chết thôi! Bạn có thể sống lâu đến thế sao? Bạn có thể sống lâu hơn rùa không? Phải không? Bạn có thể giống như những cây tùng ở Cầu Vồng Sơn Trang này, đứng sừng sững ở đây hàng nghìn năm không? Tuổi thọ của một hòn đá bình thường, tuổi thọ của một cây, đều dài hơn chúng ta! Hãy thể hội vô thường ở đây.

Đại sư Liên Trì viết một chữ "Tử", mỗi ngày tự nhắc nhở mình ngày mai sẽ chết, để tinh tấn tu trì Phật pháp. Sinh khởi tín tâm, đó chính là "chỉ nghĩ về vô thường". Làm sao để tiến bộ trong Phật pháp? Bắt đầu từ "tín". Làm sao để có lòng tin? Chỉ nghĩ về vô thường! Phải không? Sinh lão bệnh tử khổ, tất cả đều là vô thường, đừng chỉ nghĩ đến kiếm tiền, hãy nghĩ đến chân lý nữa.

Tôi nói với mọi người, có rất nhiều người thoái đạo tâm đều là do tiền hại chết. Một chữ tiền, một chữ danh, danh và lợi đã khiến những người này thoái lui. Đừng chấp trước vào danh, đừng chấp trước vào lợi. Như Lai đã dạy, Đức Phật nói: "Tiền bạc là rắn độc." Ngày xưa Ngài dạy chúng ta: "Mắt đừng nhìn người đẹp, tay đừng chạm vào tiền." Người thời nay không phải là không chạm vào tiền đâu! Mà là ôm chầm lấy tiền đấy! Một khi bị tiền trói buộc thì thật là thảm.

Tôi đã từng nói, trên thế giới này có hai sức mạnh rất lớn, sức mạnh thứ nhất chính là đạo, chính là Phật, chính là chân như, chính là Phật tính; đây là điều vĩ đại nhất, bao trùm khắp vũ trụ, đó là điều thứ nhất. Sức mạnh thứ hai chính là tiền, nhưng bạn tuyệt đối đừng để địa vị của tiền vượt qua chân như, vượt qua đạo, vượt qua Phật, vượt qua Phật tính, nếu không bạn sẽ chấp trước, không thể giải thoát; muốn giải thoát, phải đặt chân như Phật tính lên hàng đầu.

Vậy nên quan niệm về tiền bạc của người hiện đại vẫn nên thanh đạm, hợp lý, như vậy sẽ tốt hơn một chút. Tuyệt đối đừng cưỡng đoạt chiếm hữu, cũng tuyệt đối đừng lừa gạt, đừng lừa dối. Bảo bạn thể nghiệm vô thường chính là để bạn thể nghiệm điều này. Bởi vì nhiều tiền không phải là phúc đâu! Không phải là phúc phần đâu! Nhiều tiền đôi khi sẽ mang đến gánh nặng, đồng thời nếu bạn không vận dụng tốt, sẽ mang đến tội ác, trở thành nghiệp chướng của chính mình. Không có tiền ngược lại không có nghiệp chướng, càng nhiều tiền, càng nhiều nghiệp chướng.

Phật Đà ngày xưa cũng từng dạy, tiền giống như rắn độc vậy, tai họa nó mang đến cũng giống như vậy. Không có tiền, sẽ chẳng ai động đến bạn đâu! Hôm nay bạn có tiền, sẽ tăng thêm nguy hiểm cho sinh mạng, người ta sẽ nhắm đến bạn, tiền này chính là con rắn bên cạnh bạn đấy! Bạn tự nghĩ xem, lời Phật dạy có đúng không? Bởi vì có tiền, người ta mới nhắm đến bạn! Hôm nay không có tiền, ai thèm nhắm đến bạn chứ? Họ chạy còn không kịp. Tôi nói cho bạn biết, ngay cả ma quỷ cũng sợ người nghèo. (cười, mọi người cười)

Khi chúng ta học Phật, phải thâm nhập kinh tạng, nhưng việc bảo bạn đọc Tam tạng kinh điển và Thập nhị bộ kinh là điều gần như không thể. Thời gian sống của mỗi người chúng ta trên thế gian này đều rất có hạn, trừ phi người đó chuyên tâm tu hành thì mới có thể đọc hết tất cả kinh Phật. Nhưng dù bạn đọc hết, chưa chắc đã hiểu, chưa chắc đã thấu triệt; cho dù bạn đọc một lượt "Tam tạng Thập nhị bộ kinh", đọc xong đầu óc vẫn trống rỗng, chẳng có ích gì. Vì vậy hôm nay tôi giảng "Phật Học Tổng Thuyết" cho các bạn, chính là để nêu ra những điểm chính yếu, trích ra những trọng điểm quan trọng.


### 03. Giải


"Tín" và "vô thường", một khi đã có "tín" rồi, bước tiếp theo cần làm là "giải". Sau khi có "tín" rồi thì phải làm gì? Phải "giải". Thực ra "giải" chính là suy nghĩ, phân tích, lĩnh ngộ, thấu hiểu, đó chính là "giải".

**Đọc kinh và chuyển kinh**

Bạn đi đọc kinh, người xuất gia thường nói: "Bạn hãy xem kinh đi! Bạn hãy đọc kinh đi! Bạn hãy chuyển kinh đi!" Có tác dụng không? Tất nhiên là có tác dụng. Nhiều người đọc kinh đến cuối cùng, ồ, mở kinh điển ra, đều thấy Phật Thích Ca Mâu Ni hiện ra trong kinh điển, mở kinh điển ra đều thấy Bồ Tát Quan Thế Âm hiện ra trong kinh điển, đó chính là đã thâm nhập rồi.

Kinh chính là Như Lai thuyết pháp cho bạn, chính là Phật Đà thuyết pháp cho bạn. Có rất nhiều người đọc kinh, qua loa đại khái! Đọc cho xong! Đọc thôi! Tụng Kinh Kim Cang, tụng Kinh A Di Đà, tụng Phẩm Phổ Môn, tụng Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện, kinh gì cũng đọc, cũng tụng; hỏi bạn, bạn có biết trọng điểm của kinh ở đâu không? Không biết!* I don't know!* (cười) Tôi chỉ đọc thôi! Đó giống như cái đĩa nhạc vậy! (cười) Đĩa nhạc là gì? Quay một vòng, chẳng có tâm gì cả, tâm bạn chẳng lĩnh hội được kinh.

Lĩnh hội kinh điển chính là giải, gọi là giác trí; chúng ta hôm nay đọc kinh chính là để hiểu kinh này. Thâm nhập kinh tạng không phải là đọc qua loa bề mặt, mà là giải, chính là giải kinh, thậm chí là chuyển kinh. Chuyển kinh là gì? Lấy kinh điển lên xoay một vòng là gọi là chuyển kinh sao? Hoặc là giống như các vị Lama Tạng truyền kia, lắc tay chuyển kinh như vậy, tay xoay, xoay, xoay, xoay một vòng, tụng một tụng, xoay một vòng, bên trong đặt kinh điển rồi tay xoay như vậy, gọi là chuyển kinh sao? Không phải vậy.

Ý nghĩa thực sự của chuyển kinh là vận dụng linh hoạt kinh điển, biến nó thành trạng thái hợp nhất với cuộc sống hàng ngày, đó gọi là chuyển kinh. Bạn biết không, có một số người tu hành có công lực rất lớn! Họ thực sự đi vào trong kinh điển, khi tuyết rơi bên ngoài, họ ngồi trên tuyết, bay lơ lửng theo những bông tuyết; khi khát nước, họ trốn trong nhụy hoa để uống nước từ trong đó. Bạn biết đấy, khi hoa đung đưa theo gió, họ trốn trong nhụy hoa để uống nước từ bên trong; họ có thể ngồi trên những bông tuyết, bay lơ lửng theo chúng như thế.

Khi đọc kinh, họ đọc đến mức có thể thân tâm hòa làm một với gió, cứ thế trôi theo gió, có thể bay lơ lửng lên xuống như gió vậy, đó là một cảnh giới vô cùng tự tại. Đọc kinh có thể đọc đến mức thâm nhập kinh tạng, giải kinh, thậm chí chuyển kinh, thân và kinh hợp nhất làm một, giống như kinh vậy, khơi gợi tầng ý thức sâu thẳm hơn trong bản thân mình, có thể tiêu dao tự tại như thiên nhiên vậy, đó mới gọi là "thâm nhập kinh tạng", đó mới gọi là "giải".

**Chân đế của "giải" - nghe, nghĩ**

Sau khi chúng ta đã có niềm tin vào Phật, vậy chúng ta tin vào ai? Chính là giáo pháp do Phật Thích Ca Mâu Ni truyền lại, rồi từ đó thâm nhập kinh tạng, đi sâu vào trong tạng kinh của Ngài để tiếp nhận sự giáo hóa của Như Lai. Sau khi được Như Lai giáo hóa thì sao? Thân thể và hành vi hợp nhất với Như Lai, có thần thông tự tại như Như Lai vậy, như thế chẳng phải đã thành Phật rồi sao? Khi bạn có thần thông tự tại như Như Lai, đó chính là Phật rồi, đây là một cách hiểu về việc học Phật.

Vậy chúng ta phải đi nghe pháp, các bạn đến đây nghe Sư Tôn thuyết pháp, thân cận thiện tri thức, đạt được Phật pháp chân chính, ý nghĩa của việc nghe pháp là ở đó. Khi bạn nghe và lĩnh hội được trong tâm, nó sẽ trở thành của bạn. Các bạn xem qua "Nghi quỹ tu pháp hoàn chỉnh của Mật giáo" ("Mật Giáo Đại Quang Hoa"), nó sẽ trở thành của chính các bạn.

Các bạn chỉ cần bỏ ra 1500, 2000 Đài tệ là có được rồi, sau đó các bạn thực sự đi tu tập, đó chính là "hành chứng", đi sâu vào bên trong gọi là "giải"; cho nên các bạn cần đi nghe pháp, đi đọc kinh, đi tư duy, đây chính là nghe - nghĩ - tu trong Phật pháp. Đi nghe, đi tư duy, cuối cùng là đi hành chứng, hành chứng chính là tu. Khi bạn có thể tư duy, lĩnh hội ý nghĩa trong đó, đạt được trí tuệ của nó, nói một cách đơn giản, đó chính là "giải".

Bài giảng đầu tiên của tôi trong "Phật Học Tổng Thuyết", và trong bài giảng đầu tiên này, tôi sẽ nói về "tín", về "vô thường", và về "giải". Về phần "giải", điều quan trọng là phải thường xuyên lắng nghe lời dạy của pháp sư và thiện tri thức. Chúng ta cần đọc kinh, xem kinh Phật, thâm nhập kinh tạng, phải đi sâu và tư duy; suy nghĩ thấu đáo, chiêm nghiệm, và khi đạt được sự lĩnh ngộ thần diệu, đó chính là "giải", trong đó bao hàm hai chữ "nghe nghĩ".

Trong những ngày này, tôi muốn trình bày tổng quan về toàn bộ tinh yếu của Phật học, giảng giải cho mọi người tại Cầu Vồng Sơn Trang trong những ngày này. Việc thuyết pháp trong những ngày này rất quan trọng, đây là những điều tôi thu nhận được từ kiến thức Phật học, là những gì tôi tự phân tích, và cũng là những điều tôi đã lĩnh ngộ được.

Trong quá trình thuyết pháp, các bạn hãy từ từ thể hội những lời pháp này, tự nhiên sẽ có thể tương ứng với Phật học; sau khi đã tương ứng rồi, hãy theo đúng phương pháp "hành chứng" này mà tu tập, sẽ nhận được nhiều gia trì của chư Phật Bồ Tát, nâng cao tâm linh của các bạn, ai ai cũng đạt được thành tựu lớn.

Đây là bài khai thị đơn giản ngày đầu tiên của tôi.

**Kiến giải chính xác**

Các vị Thượng sư, các vị đồng tu, chào buổi trưa mọi người!

Hôm nay là ngày thứ hai của "Phật Học Tổng Thuyết". Tôi xin nhắc lại một chút về những gì đã giảng hôm qua. Hôm qua chúng ta đã bàn về vấn đề "tín", vấn đề "giải", và vấn đề "vô thường". Về phần "tín" thì có người nói rằng "mê tín" còn tốt hơn "không tin", và "chính tín" thì tốt hơn "mê tín".

Điều đáng sợ nhất khi học Phật chính là không tin, tức là hoàn toàn không tin bất cứ điều gì, điều này rất phiền phức. Có mê tín ban đầu cũng là điều tốt, bởi vì sau khi dần dần hiểu được, sẽ hướng về chính tín. Vì vậy, về vấn đề "tín", mê tín vẫn tốt hơn không tin, chính tín lại tốt hơn mê tín, điều đáng sợ nhất chính là không tin.

Có người nói họ không tin bất cứ điều gì, nhưng nếu bạn hỏi họ: "Chắc chắn anh phải có một thứ để tin chứ." Họ sẽ hỏi lại: "Tôi phải tin vào cái gì?" Tôi nói: "Tiền." Họ chắc chắn sẽ đáp: "À! Anh nói đúng tâm lý của tôi rồi." Tiền bạc là thứ mà ai cũng tin tưởng, bởi vì chân như, chân lý thì không thể nhìn thấy được, còn tiền thì nhìn thấy được. Người đời đều mê đắm trong thế giới vật chất này; còn về mặt tâm linh, những điều vô hình và siêu hình, họ không hiểu được. Vì vậy khi học Phật, điều quan trọng nhất là phải có chính tín, có niềm tin từ trí tuệ, đây là điều quan trọng nhất.

Nói về việc "giải", bạn cần thân cận thiện tri thức, cần đi nghe pháp, cần thâm nhập kinh tạng, cần dựa vào tư duy của mình, cần nghe, cần suy nghĩ, đó chính là "giải". Điều quan trọng nhất của "giải" là phải có "chính giải", không thể hiểu sai lệch, hiểu sai lệch là không được. Vì vậy chúng ta phải dựa theo giáo pháp của Như Lai truyền lại để có sự hiểu biết đúng đắn, tích cực, điều này là rất tốt.

Nếu bạn hiểu sai về Phật pháp thì cũng rất phiền phức. Có nhiều người chỉ hiểu nửa vời về Phật pháp, vì vậy mọi người đến nghe tôi thuyết pháp là để có được chính kiến về Phật pháp; khi các bạn đã tiếp nhận được chính kiến Phật pháp từ thánh giáo của Như Lai, thì kiến giải của các bạn sẽ vô cùng chính xác.

Mặc dù tông phái của chúng ta bị nhiều người bên ngoài công kích, nhưng thực tế, những gì họ công kích chỉ là quần áo của tôi (mọi người cười), công kích xe của tôi, công kích nhà của tôi, họ không thể nào công kích được Chân Phật Mật Pháp. Đúng không? Chưa từng có ai dám chỉ ra Chân Phật Mật Pháp sai ở chỗ này, sai ở chỗ kia cả. Tại sao vậy? Bởi vì đó là chính giải! Đó chính là điều chân chính!

Pháp môn dạy bạn tu tập, chứ không dạy bạn mặc loại quần áo gì, mua xe gì, hay làm những việc gì khác, không hề dạy bạn những điều đó. Vì vậy những người bên ngoài công kích, chỉ là công kích bề ngoài thôi, còn về nội hàm thực sự của Chân Phật Mật Pháp, không ai dám bàn luận, bởi vì đây là giáo pháp do tổ sư truyền xuống, là Phật pháp do thánh giáo Như Lai truyền lại. Các bạn tu theo Chân Phật Mật Pháp sẽ đạt được chính quả.

Bạn việc gì phải quan tâm thầy của bạn làm gì, đi xe gì? Bạn việc gì phải quan tâm thầy mặc quần áo gì, phải không? Thầy ăn cơm gì? Ăn cơm thường! Ăn cơm Nhật! Ăn gạo Thái! Bạn quan tâm thầy ăn gì làm gì? Điều đó chẳng liên quan gì đến bạn! Dù sao khi bạn đã được pháp vị thì bạn đã no đủ rồi, bạn đã đạt được chính quả rồi.

Vì vậy khi mọi người có được niềm tin từ trí tuệ này, có được niềm tin từ lý trí này, có được chính tín, có được kiến giải chính xác thì sẽ rất dễ dàng lĩnh hội, các bạn sẽ hiểu được những pháp vị này.

**Một bước xoay mình nghiền nát hư không**

Có người vì mối quan hệ nhân sự không hòa hợp, thực ra đây chỉ là mối quan hệ giữa người với người, chẳng liên quan gì đến Phật pháp cả. Vốn dĩ con người với nhau đã không hợp rồi! Có mấy ai thực sự hợp nhau đâu? Nhưng chuyện này không cần bận tâm.

Trước đây, Liễu Minh Hòa Thượng đã bảo tôi: "Một bước xoay mình là nghiền nát hư không." Câu này giải thích thế nào? Nghĩa là, những thứ lộn xộn trong quá khứ của bạn, những lời đàm tiếu, những thứ này nọ, những lời đã nói, người ta đã đối xử với bạn thế nào, hợp với người này, không hợp với người kia, chỉ cần một bước xoay mình là quét sạch tất cả; ngủ một giấc, chuyện hôm qua thuộc về hôm qua, chuyện hôm nay thuộc về hôm nay, tất cả đều bắt đầu lại từ đầu. Người tu hành phải có khí phách như vậy!

Sư phụ Liễu Minh Hòa Thượng của tôi cũng từng mắng tôi, khiến tôi rất khó chịu. Sư Tôn cũng nổi giận, tôi nói: "Con sẽ không cúng dường thầy nữa!" (mọi người cười). Vài ngày sau, nghĩ lại lời thầy: "Một bước xoay mình, nghiền nát hư không." Thầy dạy rằng, chuyện hôm qua thuộc về hôm qua, hôm nay chúng ta vẫn là bạn tốt, vẫn là thầy trò; tôi vẫn học pháp của thầy, thầy vẫn dạy pháp cho tôi, mọi chuyện quá khứ đều quên hết.

Người tu hành phải có khí phách như vậy! Nhờ đó bạn mới có thể đạt được pháp vị. Ôi chao! Tuyệt quá! Bạn có thể quên được chuyện hôm qua không? Không chỉ chuyện hôm qua, mà tất cả quá khứ đều buông bỏ, hôm nay bạn chính là Phật, là vị Phật tự tại; nếu không quên được, bạn sẽ mãi bị ràng buộc, vướng bận. Mọi người hãy từ đây mà hiểu, mà tin.

**Suy ngẫm về vô thường và cầu giải thoát**

Vậy hãy suy ngẫm về vô thường, vô thường như đã nói hôm qua. Vốn dĩ đã là vô thường rồi! Mẹ tôi ngồi đây, trước đây tôi thấy mẹ rất trẻ, không biết bây giờ mẹ có còn thấy tôi như một đứa trẻ không. Bây giờ mẹ tôi đã thay đổi như thế này, nhưng thực ra vẫn rất đẹp! Thực sự vẫn rất đẹp. Tôi nghe nói mẹ mua quần áo, vẫn toàn mua những bộ dành cho người hai mươi mấy tuổi. (mọi người cười)

Đây chính là vô thường! Thời gian thật đáng sợ, từ lúc còn bé, còn là baby, rồi thiếu niên, thanh niên, trung niên, cao niên, rồi nằm xuống, già đi, và không còn nữa; đây là một quá trình, một quá trình của đời người. Thánh giáo Như Lai dạy chúng ta như vậy đó, thời gian rất ngắn ngủi, phải nhanh chóng suy ngẫm về vô thường, hướng tâm cầu giải thoát.

Ngày xưa khi Đức Phật còn tại thế, Ngài đã dạy chúng ta như vậy, hãy nhanh chóng suy ngẫm về vô thường, hướng tâm cầu giải thoát; như vậy rất nhanh, bạn sẽ đi được trên con đường này. Con đường đời người sẽ rất có giá trị, bạn đã nắm được những điều có giá trị nhất.

Bạn muốn học tiến sĩ ư, được thôi! Bạn muốn học tiến sĩ? Đã lãng phí hơn hai mươi năm rồi đấy. (cười) Bạn biết khi tốt nghiệp tiến sĩ thì bao nhiêu tuổi rồi không? Còn phải kết hôn, sinh con, nuôi con nữa, rồi bạn sẽ tốn rất nhiều thời gian cho sự nghiệp, hôn nhân, con cái, sắp không còn kịp nữa đâu! Vì vậy Như Lai dạy chúng ta phải suy ngẫm về vô thường, hướng tâm cầu giải thoát, điều này rất quan trọng. Đây chính là ý nghĩa bài thuyết pháp hôm qua của tôi.


### 04. Hành


Hôm nay, tôi sẽ nói với mọi người về hai chữ "hành" và "chứng" trong bốn chữ "tín, giải, hành, chứng".

Khi bạn đã có được chính tín, bạn cũng có thể có được kiến giải chính xác, có thể thâm nhập kinh tạng, nhưng tất cả những điều này chỉ là lý thuyết. Giống như có một bữa ăn ngon được bày ra trước mặt, đúng là rất ngon, nhưng nếu không ăn thì bạn sẽ không no. Dù bạn biết món ăn đó được mua và nấu như thế nào, hiểu rõ cách làm, b ỏ bao nhiêu muối, bao nhiêu đường, bao nhiêu bột ngọt, bao nhiêu nước tương để làm ra món ăn ngon như vậy, nhưng nếu bạn không ăn, thì đó chính là không có "hành". Vì vậy hôm nay chúng ta sẽ bàn về vấn đề "hành", "hành" này rất quan trọng, trong phương diện "hành" chia làm hai phần lớn, tức là trong phương diện thực tu chia làm hai phần lớn.

**Nội học và ngoại học**

Phật học còn được gọi là nội học. Vậy nội học là gì? Rất đơn giản, nội học chính là môn học về ý niệm của bạn, môn học về ý niệm bên trong thân thể được gọi là nội học. Trước đây, khi Phật học truyền vào Trung Quốc, người Trung Quốc đã gọi nó là nội học. Chúng ta biết đến Chi Na Nội Học Viện rất nổi tiếng; Âu Dương Cảnh Vô, Lữ Trừng đều là viện chủ của Chi Na Nội Học Viện. Vậy thì Chi Na Nội Học Viện, cái gọi là nội học chính là Phật học. Nội học là gì? Chính là môn học về ý niệm, không phải nói về ngoại học.

Tuy nhiên Phật pháp cũng có nói về ngoại học, vậy ngoại học là gì? Ngoại học chính là giới luật. Trong phương diện hành này cần phải giữ gìn hai phần, cả trong lẫn ngoài đều phải giữ, đều phải thực hành, phần hành về ngoài chính là giới, phần hành về trong chính là ý niệm. Phần "ngoại" này khá dễ, phần "nội" thì khó hơn, tuy nói như vậy nhưng thực ra cũng không dễ.

**Bàn về Ngũ Giới**

Chúng ta biết rằng đối với Phật tử, giới đầu tiên cần phải giữ chính là Ngũ Giới. Sát - không sát sinh, đạo - không trộm cắp, dâm - không tà dâm, vọng - không nói dối, tửu - không uống rượu. Đây chính là năm giới, mọi người sẽ nghĩ, Sư Tôn lại giảng về Ngũ Giới rồi, mỗi lần nói đến Ngũ Giới, mọi người trong lòng đều cười, vị Sư Tôn này vẫn uống rượu mà! (cười) Chữ "tửu" này ông ấy không giữ giới, nhưng tôi xin thưa với mọi người: "Đã giữ giới rồi!" (mọi người cười) Là thật sự giữ giới, không phải giả.

Nhiều người rất ngạc nhiên, như Sư Mẫu cũng rất ngạc nhiên: "Ông có thể nói bỏ là bỏ được luôn sao?" Trước đây tôi đã từng nói một câu: "Tôi học Phật bao nhiêu năm nay, tôi không có sở thích gì cả, bây giờ lại bắt tôi bỏ rượu nữa thì tôi sống còn có ý nghĩa gì? Mỗi ngày được nếm một chút, tối ngủ rất ngon, chỉ nhấp một ngụm thôi, tuyệt làm sao!" (mọi người cười) Nhưng, lạ thay! Tôi có thể giữ giới, nói bỏ là bỏ được. Đây chính là định lực, là nghị lực của một con người.

Đã rất lâu rồi tôi không uống rượu, kể từ lần pháp hội trước khi tôi uống rượu với các đệ tử ở Los Angeles, từ lần đó đến nay, một giọt rượu cũng không động đến! Ủa? Sao không ai vỗ tay? (mọi người cười, vỗ tay) Đây là điều rất vĩ đại! (mọi người cười) Thật sự rất vĩ đại. Bắt một người nghiện rượu cai rượu, thật sự là chuyện rất khó! (mọi người cười) Thật sự là một giọt rượu cũng không chạm đến, đã cai hoàn toàn rồi. Cho nên sau này các bạn cúng rượu thì cúng cho Hoàng Tài Thần, Hồng Tài Thần, không cần cúng cho Sư Tôn nữa. (mọi người cười) Những loại rượu này..., nào là X.O.! Những loại rượu bổ này! Tất cả đều không còn nữa.

Nói dối thì rất khó giữ giới, thật sự rất khó giữ, tôi cũng biết giới không nói dối rất khó giữ. Nói thật lòng, chạm vào lương tâm mà nói, hễ nhắc đến nói dối là tự mình cũng sợ. (mọi người cười) Chỉ cần không cẩn thận một chút là đã nói dối rồi. Nhưng người học Phật không được nói dối. Tôi nhớ hình như có báo chí và tạp chí đăng một đoạn văn ngắn như vậy, đọc ra e sẽ làm tổn thương lòng nhiều người. Tôi chỉ nói vài câu thôi. Trên đó viết chữ rất to: "Kẻ nói dối bẩm sinh..." Ừm! Không dám nói tiếp... (mọi người cười) Đây là nói về mặt trái của đàn ông, mặt trái của đàn ông... (mọi người cười) Tôi không nói đâu nhé! Tôi không nói đâu nhé! (mọi người cười)

Vì vậy, hãy nhớ không được nói dối, giữ giới không nói dối rất khó; không chỉ phụ nữ, đàn ông cũng vậy, họ cũng nói dối như nhau. Đặc biệt là người làm kinh doanh, rõ ràng món hàng sắp hỏng rồi mà lại nói là còn tươi mới, bởi vì nếu nói là sắp hỏng thì ai mua? Họ buộc phải nói dối. Rõ ràng là rất đắt, lại nói là rẻ.

Người làm kinh doanh càng dễ nói dối, không nói khuyết điểm gì cả, chỉ toàn nói ưu điểm. Căn nhà có rất nhiều khuyết điểm, nhưng không nói khuyết điểm nào, chỉ nói toàn ưu điểm của căn nhà, như mấy người bán hàng, mấy người môi giới ấy, phải không? Giống như Thượng sư Triệu làm bất động sản (mọi người cười), chưa bao giờ nói bất kì bất động sản nào là xấu cả, ông ấy toàn nói tốt không thôi, cho nên hễ Sư Tôn gặp ông ấy là mua liền. (mọi người cười)

Tôi không mua bất động sản gì cả, đừng hiểu lầm. (mọi người cười) Chỉ mua đất của Bồ Đề Lôi Tạng Tự và đất để xây tòa nhà Chân Phật Báo. Lần nào ông ấy cũng chỉ nói điều tốt, chưa bao giờ nói điều xấu, bởi vì cái xấu thì không ai mua.

Còn về chữ "dâm", khi chúng ta nói về chữ dâm này, đây cũng là một giới. Chúng ta biết rằng trong cuộc đời con người có hai loại dục vọng là "ăn" và "sắc", đây là lời Khổng Tử nói. Chữ "dâm" này khó tránh khỏi việc nhiều người sẽ sa ngã, còn tôi chỉ đi trên bờ vực thôi, tôi không rơi xuống. Tuy nhiên tôi có thò một chân xuống (mọi người cười), may mà kịp rút chân lên, không sao!

Trước đây có một đệ tử nói với tôi như thế này! Cô ấy nói cô ấy đi Trung Quốc Đại Lục, về kể với tôi rằng đã làm rất nhiều việc tốt. Tôi hỏi việc tốt gì vậy? Kể tôi nghe thử. Cô ấy nói cô ấy đi bố thí, tôi hỏi cô bố thí thế nào? Cô ấy kể rằng, cô ấy đã lên giường với một chàng trai họ Hà, rồi cũng lên giường với người họ Ngô, lên giường với em rể của cô ấy, và còn lên giường với một người mà thực sự không thể nói ra. Tôi hỏi sao cô lại làm như vậy? Cô ấy nói: "Thầy không phải bảo con đi bố thí sao?" (mọi người cười) Tôi nói: "Làm sao có thể gọi đây là bố thí được?" Cô ấy nói: "Tứ vô lượng tâm không phải có viết đó sao? Cho người khác niềm vui. (mọi người cười) Thứ nhất, trong từ bi hỷ xả, chữ 'từ' không phải là cho người khác niềm vui sao?" Tôi nhất thời nghẹn lời!

Các bạn biết không? Miệng không thể nói ra được, cái miệng mở ra mà không biết nói sao. Nói rằng cô ấy làm vậy là cho người khác niềm vui! Là bố thí! May mà tôi là người học Phật, hôm nay tôi giảng "Phật Học Tổng Thuyết" này, ít nhất phải hiểu rõ đạo lý Phật pháp mới có thể giảng được! Tôi nói: "Không đúng! Đức Phật đã từng dạy, những gì làm tăng thêm dục vọng của người khác, làm tổn hại người khác, giết chết huệ mệnh của người ta, thì không được bố thí. Cô làm như vậy là làm tăng thêm dục vọng của người khác."

Có một số thứ không được phép bố thí; những thứ làm tăng dục vọng của người khác, thuốc độc không được bố thí, hung khí cũng không được bố thí, dao không được bố thí, súng cũng không được bố thí. Đây là lời Đức Phật dạy, tôi đã nói lại cho cô ấy nghe. Tôi không biết cô ấy có nghe vào tai không. Cho nên việc này là phạm giới dâm, là không được phép. Bởi vì theo pháp luật hiện nay, là một vợ một chồng, người cư sĩ tại gia là một vợ một chồng; người xuất gia thì không còn loại dục vọng đó nữa, phải tu pháp để chuyển hóa nó, chuyển hóa loại dục vọng này, chuyển hóa tâm tham này.

Người phụ nữ đó rất giỏi nói lý lẽ quanh co, cô ta nói ra rất nhiều lý lẽ quanh co khiến bạn không chịu nổi. Sư Tôn nói, chân suýt chút nữa đã lún xuống! Rồi rút lên được! Tôi nói cho các bạn nghe chuyện này. Rất rõ ràng! Không phải tôi đến phòng cô ta! Mà là cô ta mặc đồ ngủ đến phòng tôi.

Tôi có thể giữ được "bình tĩnh tự tại" đã là rất giỏi rồi! "Bình tĩnh tự tại" nghĩa là tôi không bị sa ngã; chỉ ngồi đó nghe cô ấy kể chuyện, kể xong rồi tiễn cô ấy về, chỉ vậy thôi, đúng là như vậy. Tôi vẫn mặc nguyên quần áo chỉnh tề, một cái nút áo cũng không cởi! (mọi người cười)

Cuộc đời là như vậy đấy, cho nên thời Phật Đà, Phật Thích Ca Mâu Ni cũng bị tiếng xấu lan truyền. Thời Phật Đà, lúc thì người phụ nữ này gây rắc rối cho Phật, lúc thì mấy người phụ nữ kia gây rắc rối cho Phật. Tại sao vậy? Bởi vì họ thấy các nhà sư, người tu hành dễ bắt nạt. Cho nên trong đó mới có một giới "dâm", chính là vì vậy.

Một giới nữa là trộm cắp. Trong giáo dục ở nước ngoài hay phương Tây, việc rèn luyện nhân cách còn nhiều thiếu sót. Ở phương Đông, việc rèn luyện nhân cách cho trẻ em rất tốt; đặc biệt là ở Nhật Bản, về mặt trộm cắp, họ thực sự rất nghiêm khắc. Bởi vì từ nhỏ họ đã được dạy rằng: "Những gì không phải của mình thì không phải của mình, hễ lấy đi là đánh mất tư cách làm người." Trong giới luật của Như Lai, tội trộm cắp này được xem là một tội rất nặng trong ngũ giới.

Tiếp đến là sát sinh, chúng ta đều không sát sinh, Chân Phật Tông cũng dạy mọi người không sát sinh; không những không sát sinh mà còn phải phóng sinh. Còn về việc ăn chay hay ăn mặn, đó là một vấn đề khác; điều quan trọng nhất là bạn không đi sát sinh. Đây chính là hình tướng bên ngoài của ngũ giới.

**Sự thù thắng của Chân Phật Mật Pháp**

Về phương diện tu hành, trong Chân Phật Tông chúng ta có Chân Phật Mật Pháp, đây là phương pháp tu hành nội tâm, là phương pháp tu tập để thanh tịnh ý niệm; dạy bạn làm đại lễ bái, dạy bạn làm đại cúng dường, dạy bạn làm pháp mặc giáp hộ thân, dạy bạn làm pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát, dạy bạn niệm Tứ quy y, tụng kinh, trì chú, kết thủ ấn, nhập Tam ma địa, tất cả đều là để rèn luyện ý niệm thanh tịnh của bạn.

Sự thanh tịnh của ý niệm là vô cùng quan trọng, bởi vì Phật Đà đã dạy: "Mọi ác đừng làm, hãy làm mọi thiện, tự tịnh ý mình, là chư Phật dạy." Hai câu đầu là hình tướng bên ngoài, hai câu sau là nội học, là thực tu. Chân Phật Mật Pháp bạn đến đâu để tìm?

Ngày nay Hiển giáo tu hành, tôi thấy họ đồng tu, họ đăng tải ra nghi quỹ đồng tu, "niệm Phật, nhiễu Phật, lễ Phật, tọa thiền", chỉ có bốn việc này, họ không thoát ra khỏi bốn việc này. Dù bạn là Thiền tông cũng vậy, họ cũng làm y như thế, niệm Phật, nhiễu Phật, lễ bái, tọa thiền, chỉ có bốn việc này. Trong Chân Phật Mật Pháp của chúng ta, nội dung còn thâm sâu hơn, rộng lớn hơn, vi diệu hơn, và càng thêm nhiều pháp vị.

**Luận bàn về việc quy định giới**

Bạn nói Chân Phật Mật Pháp tìm ở đâu? Hiện nay các vị pháp sư bên ngoài đều là những vị pháp sư về "tín" và "giải", còn pháp sư về "hành" và "chứng" thì rất hiếm. Cho nên ngày nay Chân Phật Tông của chúng ta dạy mọi người tu tập công phu về "hành" này, là điều rất tuyệt vời. (mọi người vỗ tay)

Khi Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế, Ngài dạy chúng ta về A La Hán, ban đầu giới luật không có nhiều như vậy, nguyên nhân giới luật ngày càng nhiều là vì ngày càng nhiều người phạm giới, nên Ngài mới có thêm nhiều giới luật như vậy. Ban đầu, Ngài chỉ dạy bốn điều, mọi người hãy nghe cho rõ, các bạn học được bốn điều này cũng đã là rất giỏi rồi. Ngài dạy chúng ta, đừng đi ra ngoài, đừng đi tiếp xúc với người đời, hãy ở một mình trong một phạm vi nhỏ trên núi, giống như ở Cầu Vồng Sơn Trang vậy, bạn cứ ở đây, không ra khỏi tường rào bên ngoài, bạn cứ ở trong tường rào, mỗi ngày đều ở bên trong này, đây gọi là "trụ sơn".

Trước đây, pháp sư Huệ Viễn, người sáng lập Tịnh Độ tông, đã sống như vậy. Ngài không bao giờ đi qua con suối đó, chỉ tiễn khách đến bờ suối rồi quay về, không bước ra ngoài. Rất nhiều hành giả đều như vậy. "Trụ sơn" nghĩa là ở lại trên núi 30 năm, 40 năm, 50 năm; không xuống núi, như vậy dễ đạt được sự thanh tịnh. Vì thế Phật Đà dạy chúng ta trụ sơn, tự lập một tăng đoàn, cùng sống với nhau. Khi đi khất thực, phải đi cùng nhau, không được nhìn ngang nhìn dọc; phải rất nghiêm trang, xếp hàng một như đi quân sự vậy, không được nhìn trước nhìn sau, không được nhìn qua nhìn lại, vì nhìn náo nhiệt như vậy tâm sẽ tán loạn. Cho nên "trụ sơn", tâm của bạn sẽ ở trên núi, điều thứ nhất chính là sống trên núi.

Điều thứ hai là "không được nhìn", như Khổng Tử đã dạy "không nhìn khiếm nhã", nam không nhìn nữ, nữ không nhìn nam; không được nhìn, ngay cả liếc qua cũng không được. Vì thế ban đầu Đức Phật không cho phép phụ nữ xuất gia, chỉ toàn là nam giới, đều là tỳ kheo. A Nan này! Ngài vốn có thiện cảm với phụ nữ, Ngài cứ xin xin xin, ba vị phản đối Ngài mạnh mẽ nhất là Đại Ca Diếp, Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, đều cho rằng không thể được.

Nhưng không còn cách nào khác, phụ nữ đã được xuất gia, kết quả là Phật pháp ở thế gian, ở Thiên Trúc đã giảm mất 500 năm; chính pháp vốn ở Thiên Trúc, ban đầu Phật nói sẽ tồn tại 1000 năm, chính vì phụ nữ xuất gia mà giảm mất 500 năm. Bạn xem! "Có phải là hại chết không? Đúng là hại chết!" (tiếng Đài) (mọi người cười)

Còn có một điều Phật Đà dạy là "đừng động vào tiền"; Phật dạy chúng ta tuyệt đối không được chạm vào tiền, người tu hành một khi đụng vào tiền thì danh tiếng sẽ rất không tốt. Hiện nay cũng có nhiều người khổ hạnh, họ không chạm tiền; khi họ đi khất thực, người ta cho tiền, họ dùng đũa gắp. "Tay không chạm tiền, dùng đũa gắp thì được chứ?" (mọi người cười) Thực ra cũng không được.

Tay không chạm tiền thì lòng tham của bạn sẽ không còn; cuộc sống của bạn có người cúng dường là được rồi! Chỉ cần có người cúng dường thức ăn! Những thứ khác không có gì nhiều! Quần áo mặc rất đơn giản, chỗ ở cũng rất đơn giản. Thời đó ngài Đại Ca Diếp sống dưới gốc cây, ở dưới tán cây, sống ở mộ địa, tức là ở giữa các ngôi mộ, hoàn toàn không có nhà cửa đẹp đẽ gì để ở, đó đều là những lời dạy của chính Đức Phật.

Điều tiếp theo là "không uống rượu", vì rượu có thể làm rối loạn tâm tính, người bình thường nhút nhát, uống rượu vào lại trở nên táo bạo. Tóm lại không biết tại sao, rượu vừa vào là nói, cái gì cũng nói, từ Ngọc Hoàng Đại Đế trên trời cho đến tám đời tổ tiên đều được mời đến, cho nên rượu rất dễ tạo nghiệp, nó sẽ tạo ra rất nhiều nghiệp. Tôi thì rất tốt! Trước đây tôi uống rượu, chưa từng một lần mất kiểm soát, một lần cũng không có.

Tôi càng uống càng say thì càng im lặng (mọi người cười), thôi thì không nói luôn, càng uống nhiều càng không nói. Cả đời say có ba lần, lần đầu tiên là ở trường Trắc Lượng, trèo tường ra ngoài uống rượu cao lương, sáng hôm sau, lúc điểm danh, cả đơn vị vẫn còn... "Ôi! Mùi rượu nồng quá." Lần thứ hai là ở nhà La Ngọc Cầm ở Phong Nguyên, cũng say rượu. Lần thứ ba, là uống rượu thi với người ta; không phải tôi thi với họ, mà là hai người thi với nhau, thì tôi nói với họ: "Ai thắng hay thua, tôi đều uống hết." (mọi người cười) Thế thì đương nhiên là say rồi!

Đó là ba lần say rượu trong đời, sau đó không bao giờ say nữa. Tôi vẫn giữ được phong thái bình tĩnh khi uống rượu như vậy cho đến tận bây giờ. Và tất nhiên, Sư Tôn cũng đã cai rượu rồi.

**Hành giả Du Già và cô gái chăn cừu**

Ở Thiên Trúc, tức là Ấn Độ, có lưu truyền câu chuyện như thế này......

Một hành giả tu hành sống trong núi sâu, người dân trong làng đều biết trên núi có một người tu hành. Họ rất thích cúng dường cho hành giả, nên họ mang thức ăn, đồ dùng đến cúng dường, chủ động cúng dường cho vị hành giả này. Vị hành giả này là người trụ sơn, ông không muốn người dân trong làng đến quá gần mình, nên đã vẽ một ranh giới. Ông nói: "Những thứ các vị muốn cúng dường cho tôi, cứ đặt ở đây là được." Đặt trong một phạm vi, cách khoảng 50 thước, đặt ở đó không được đến gần người tu hành này. Có một cô gái, mỗi lần cúng dường sữa bò hoặc sữa dê, đều đặt ở chỗ cách 50 thước đó.

Đã cúng dường như vậy trong một thời gian dài, vị hành giả này cũng biết có một cô gái, mỗi lần đều cúng dường cho ông sữa bò, sữa dê rất tươi và ngon. Một ngày nọ, cô gái nói với hành giả rằng, cô hy vọng được chiêm ngưỡng người tu hành này; cô đã cúng dường rất lâu nhưng vẫn chỉ nhìn thấy hành giả từ xa, không rõ, cô hy vọng được nhìn thấy hành giả. Đó là sau một thời gian rất dài cúng dường, gần như cả năm rồi. Vị hành giả có chút động lòng, ông nói: "Được rồi! Cô có thể đến gần khoảng 10 thước để nhìn." Cô gái rất xinh đẹp, liền đến chiêm ngưỡng vị hành giả. Vị hành giả nhìn cô một cái không nói gì, rồi nhập định.

Từ đó về sau, mỗi khi cô gái mang sữa đến, trong khi những người khác đặt ở khoảng cách 50 thước, cô được đặc biệt đến gần 10 thước. Cứ thế, hai người nhìn nhau. Khi đang nhìn nhau, cô gái đứng ở khoảng cách 10 thước và nói: "Nghe nói những hành giả du già khi tu hành, lòng bàn tay của họ rất nóng, và còn bốc ra một thứ giống như khói vậy, chỉ cần vận khí thì lòng bàn tay sẽ trở nên rất nóng." Cô hỏi để xác nhận với hành giả: "Thầy có biết không, hành giả du già tu hành, lòng bàn tay không phải rất nóng sao? Vậy có thể cho tôi xem lòng bàn tay của thầy không?"

Vị hành giả này nghĩ rằng, đã cho cô ấy đến gần 10 thước thì cho cô ấy xem lòng bàn tay có gì đâu? Thế là ông đưa tay ra cho cô xem. Cô gái không chỉ dừng lại ở khoảng cách 10 thước nữa, mà bò đến gần hơn một chút, xem lòng bàn tay của ông, sờ thử xem có nóng không! Vừa chạm vào, ôi! Như có luồng điện chạy qua. (cười, mọi người cười) Điện giật rồi, mắt đã nhìn nhau, tay lại chạm tay. Rồi sau đó thì sao? Sau đó, vị hành giả này cuối cùng đã đi chăn bò và chăn cừu. (cười, mọi người cười) Ông không cần tu hành nữa, chỉ đi chăn bò và chăn cừu; còn cô gái chăn cừu ngày xưa, giờ đang cho con bú và bế con.

Cho nên Đức Phật dạy, giới luật ban đầu là như vậy đó, mắt không được nhìn; bởi vì khi mắt nhìn, sẽ có một loại điện vô hình; khi tay chạm nhau, sẽ có điện hữu hình, khi điện này và điện kia tiếp xúc với nhau, chính là âm dương hòa hợp. Đây là chuyện rất phiền phức, không có định lực, lập tức hoàn tục, cho nên nói đến "sát, đạo, dâm, vọng, tửu", năm giới này đều phải giữ, không thể qua loa được.

Phật Đà dạy chúng ta trụ sơn, mắt không được nhìn, không được chạm vào tiền, phải cai hết rượu, dĩ nhiên hôm nay tôi nói bốn điều này là nói về thời xưa. Người thời nay có lẽ định lực tốt hơn, mọi người đều có định lực đủ mạnh, cho nên người thời nay tu hành khác với người xưa tu hành. Tuy nhiên, năm giới, về mặt hình tướng bên ngoài vẫn phải giữ.

**Thực tu**

Cái gọi là "hành" - nội học, chính là thực tu Chân Phật Mật Pháp. Như tôi đã giảng về "Nghi quỹ tu pháp hoàn chỉnh chi tiết" (trong sách "Mật Giáo Đại Quang Hoa"), khi bạn tu tập đến tương ứng rồi, còn có Nội mật pháp, còn có Mật mật pháp, còn có Mật pháp, từ đó phân ra. Sơ quán là Bổn tôn, Nhị quán là Nội pháp, Tam quán là Vô thượng mật, Tứ quán là Đại viên mãn. Bốn quán đảnh này rất quan trọng. Vậy nên, bạn phải tu theo phương pháp tu hành của Mật giáo này, đó chính là hành nội học.

Vậy Hiển giáo tu như thế nào? Tôi cũng biết Hiển giáo tu ra sao, về phương diện niệm Phật, có vẻ như là "một câu Phật hiệu, một niệm thanh tịnh", khi bạn đang niệm Phật "Nam Mô A Di Đà Phật", tức là niệm một câu Phật hiệu một niệm thanh tịnh, khi bạn niệm câu này, trong tâm sẽ sinh ra một niệm thanh tịnh. Vậy còn đả thiền thất thì sao? [Đả thiền thất là hạn kỳ tu hành trong vòng bảy ngày để cầu chứng ngộ.] Thiền thất này chính là trong đó, bạn hoàn toàn dùng tư tưởng "không vô" để đi vào trạng thái thanh tịnh này, thiền hoàn toàn thanh tịnh. Đây đều thuộc phạm vi của "hành", trong Hiển giáo là làm như vậy.

Trong Mật giáo của chúng ta, trước tiên tu tập Tứ gia hành, Thượng sư tương ứng, Bổn tôn, đều thuộc về Sơ quán đảnh. Nhị quán đảnh Nội mật là tu Bảo bình khí, tu thông trung mạch, tu khai ngũ luân. Đến Tam quán đảnh, tức là Vô thượng mật bộ, tu Lạc-không đại định. Đến Tứ quán đảnh là Đại viên mãn, hoàn toàn đi vào tính Không, đó chính là thực tu. Tông phái của chúng ta ngày nay là một tông phái rất thực tu, dạy bạn cách tu hành. Hiển giáo rất đơn giản, "một câu Phật hiệu, một niệm thanh tịnh", tọa thiền quán "không", quán "vô", đi vào tính Không, đó chính là cách làm của Thiền tông.

**Kinh thật hòa thượng giả và kinh giả hòa thượng thật**

Về những điều được truyền ra bên ngoài, tức là về mặt danh tiếng của tôi, dĩ nhiên mọi người đều biết, Sư Tôn Lư Thắng Ngạn này, danh tiếng của ngài, "lời đồn", hiện nay mọi người đều nói rằng lời đồn này không tốt lắm. Rất nhiều đệ tử viết thư cho tôi, nói rằng: "Sao lại thế này? Lời đồn của Lư Thắng Ngạn rất không tốt!" Khi tôi nhìn thấy hai chữ "lời đồn", như thể là lời đánh giá theo chiều gió, những lời phê bình mà gió mang đến, thực ra đó chỉ là những lời đồn đại bên ngoài mà thôi!

Tôi không để tâm đâu! Nhưng vì có người đang nói, nên tôi đem ra nói một chút. Có người nói: "Sư Tôn là người không giữ giới." Nói tôi không giữ giới, lời đồn không tốt tức là không giữ giới. Thực ra tôi đang giữ giới đây! Giới mà tôi giữ còn nghiêm ngặt hơn cả những vị xuất gia khác.

Các vị có biết về các Lama Tây Tạng không? Trước đây Phật giáo Tây Tạng ở vùng đất Tạng được gọi là "kinh thật hòa thượng giả". "Kinh thật hòa thượng giả" nghĩa là gì? Những kinh điển Phật giáo từ Thiên Trúc truyền sang Tây Tạng đều là thật; tiếng Ấn Độ và tiếng Tây Tạng rất gần nhau, được dịch trực tiếp từ tiếng Ấn Độ sang tiếng Pali, rồi sang tiếng Tây Tạng; đây là kinh thật, nên tụng kinh này có hiệu quả. Tại sao nói là hòa thượng giả? Bởi vì họ ăn thịt, uống rượu, lại còn "song vận", cho nên những vị hòa thượng này là giả. Trước đây giới Phật giáo phê bình như vậy đó.

Còn ở Trung Quốc Đại Lục, vùng đất Trung Quốc Đại Lục và Đài Loan này là "kinh giả hòa thượng thật", tại sao vậy? Bởi vì khi dịch từ tiếng Pali của Thiên Trúc sang tiếng Hán, đã pha trộn tư tưởng của người Trung Quốc vào trong kinh điển, chẳng hạn như phải ăn chay, phải làm gì đó, đều đã được thêm vào rồi. Sau khi pha trộn như vậy, kinh điển này tụng lên không còn linh nghiệm nữa, nên gọi là "kinh giả".

Thế nào là hòa thượng thật? Hòa thượng Trung Quốc thì ăn chay, không uống rượu, giữ ngũ giới, giữ giới luật, không kết hôn. Nhiều Lama Tây Tạng thì lại kết hôn, cho nên những vị hòa thượng đó là "giả", còn hòa thượng của Chân Phật Tông chúng ta đều là thật. (cười) Cho nên mới có những lời đồn đại như vậy.

Bên ngoài có lời đồn rằng: "Lư Sư Tôn này không giữ giới luật." Tôi giữ giới rất nghiêm ngặt đấy! Tôi thực sự rất ngoan. Seattle có gì hay ho đâu chứ? Có người phê bình tôi khiêu vũ, nhưng đã lâu lắm rồi tôi không khiêu vũ, lâu lắm rồi, lâu lắm rồi. Thật sự không còn nữa! Các vị nói Lư Sư Tôn hát, đó là do các vị ép tôi đấy. Có khi nào tôi ở nhà một mình mà hát? Cũng chỉ vì đáp ứng yêu cầu của khán giả thôi, đúng không? Là đáp ứng yêu cầu của mọi người mà! Tôi mới miễn cưỡng làm vậy. Nghe nói hát có tính gần gũi hơn, có sự gần gũi mộc mạc, nên vì sự gần gũi đó mà tôi mới hát cho mọi người nghe. Có bao giờ tôi ở nhà mà hát đâu? Không ca, không múa, đó mới là lý do thật sự tôi xuất gia. (mọi người vỗ tay) Sao cái này cũng vỗ tay? (cười, mọi người cười)

Nhưng mà tôi nói thật, tuyệt đối không nói dối. Tôi giữ ngũ giới. Sát sinh, tôi chưa bao giờ dám; trộm cắp, không có; dâm, không có, tôi là người giữ giới đấy! Vọng, nói dối, các vị thấy đấy tôi toàn nói thật mà! Tôi nói hết mọi điều, tôi viết hết mọi chuyện lên sách, đó chính là không nói dối. Rượu, đã cai rồi. Các vị hỏi tôi có giữ ngũ giới không? Có giữ chứ! Tôi giữ cho các vị thấy đây! (cười, mọi người vỗ tay) Các vị cũng hãy giữ theo.

**Tất cả tùy ý**

Tin đồn bên ngoài rất không tốt, nào là lừa đảo tiền bạc, nói quy y với tôi phải tốn bao nhiêu tiền! Làm pháp sự gì cũng phải trả bao nhiêu tiền! Sau này mỗi người hàng tháng còn phải cúng dường hàng tháng nữa! Làm gì có chuyện đó! Tôi là người tất cả đều tùy ý, đã nói rõ từ lâu rồi! Tôi có bao giờ mở miệng đòi các vị bao nhiêu tiền đâu? Các vị cứ đến nói với tôi, tôi sẽ hoàn trả gấp trăm lần!

Sư phụ tôi đã từng nói với tôi: "Sau này con hành tẩu giang hồ, xuống núi đi hành tẩu giang hồ, tất cả đều tùy ý người ta." Tôi vẫn luôn tuân thủ lời dạy của sư phụ, cho đến tận hôm nay, vẫn luôn theo hai chữ "tùy ý".

Trừ phi là chuyện mua bán, ví dụ như bạn đi mua thứ gì đó với ai, món đồ này bao nhiêu tiền? Chuyện mua bán thì dĩ nhiên không có gì để bàn. Còn về mặt Phật pháp, những việc liên quan đến Phật pháp như tiêu tai, siêu độ, cúng dường, quy y, cầu phúc, an vị bài vị tổ tiên, đèn quang minh, cúng Thái Tuế, đều là tùy ý.

Là người ta đến lừa tiền của tôi, chứ không phải tôi đi lừa tiền của người ta. Phải nhớ rằng, chính Sư Tôn đang thực hành bố thí, ban tài cho người ta; những gì các bạn cho tôi chỉ như những giọt nhỏ, giống như một bệnh nhân đang truyền dịch vậy, từng giọt một nhỏ xuống như thế, còn tôi cho người ta cả một chai glucose. (mọi người vỗ tay) Làm gì có chuyện lừa đảo tiền bạc? Cho nên chữ "tài" này, hãy dẹp đi! Dù những tạp chí bên ngoài đăng thế nào đi nữa, chúng ta đều biết, tất cả đều là lời nói dối.

Nói về chuyện lừa tình, mọi người đều nghĩ, dù sao khi nhắc đến thầy tu giả mạo thì nhất định là "lừa tiền" và "lừa tình", hai thứ cộng lại, chỉ có tiền và tình mà thôi! Còn có thể là gì nữa chứ? Nói về chuyện lừa sắc! Nghĩ lại không biết có hay không... Chỉ có một lần, mà không phải tôi đi lừa cô ta, mà là cô ta đến lừa tôi. (mọi người cười) Là người ta đến lừa tình tôi nhưng không lừa được, rồi lại nói tôi lừa tình cô ta, làm gì có chuyện đó! Người tu hành như chúng tôi cũng có tiêu chuẩn rất cao đấy! (mọi người cười) Nói vậy thì hơi ngại quá... (cười, mọi người cười) Đúng không? Chỉ cần suy xét một chút là có thể biết được mà!

**Nội chứng tịnh quang và định lực**

Một hành giả tu tập, muốn có công phu, nhất định phải luyện khí. Chúng ta tu tập Nội pháp, tu "khí, mạch, điểm". Người thực sự có nội chứng, tự thân họ có năng lượng (power), có năng lực, và chứng lượng sẽ hiển lộ, họ không cần phải lừa tình ai cả. Nói đến chuyện lừa tình! Tuyệt đối không phải Sư Tôn đi lừa tình người khác, mà chắc chắn là người khác đến lừa tình Sư Tôn. (mọi người vỗ tay)

Sư Mẫu đã từng nói một câu: "Sư Tôn! Nếu một ngày nào đó thầy công khai tuyên bố là Sư Tôn bây giờ muốn có bạn gái, lập tức sẽ có người xếp hàng dài như đi vệ sinh vậy." Là Sư Mẫu nói đấy, không phải tôi nói. Tôi không dám nói những lời to tát như vậy. (mọi người cười) Bản thân tôi không dám nói những lời to tát như vậy, đó là Sư Mẫu nói mà! Bà ấy nói, nếu công khai tuyên bố: "Được rồi! Ném quả cầu thêu đây!" Cũng sẽ có người đến. Đây chính là công phu nội chứng của bạn, khi bạn đã chứng ngộ nội tâm, bạn sẽ tỏa ra ánh sáng, sẽ có hào quang, bạn sẽ có năng lượng (power) đó, vô hình trung bạn sẽ tạo ra năng lượng đó. Nhiều người sẽ ngưỡng mộ bạn, đến gần gũi với bạn, cả nam lẫn nữ đều có; và trong đó vì lòng tôn kính thầy, vì sự tôn kính với sư phụ, họ cũng sẽ nảy sinh một tâm lý ngưỡng mộ, điều này là khó tránh khỏi.

Vì vậy, người có nội chứng thường bị người khác đến quyến rũ. Khi hành giả tu tập đến giai đoạn quan trọng, giống như Phật Thích Ca Mâu Ni dưới cội bồ đề, như những gì Ngài đã trải qua; những người phụ nữ như Tôn Đà Lợi, Chiến Già, họ đều ngưỡng mộ Đức Phật, và tự nhiên sẽ tìm cách đến gần Ngài. Không phải Phật đi lừa họ, mà là họ đến lừa Phật. Do đó hiện tượng này sẽ xảy ra, nhưng hành giả phải có định lực.

Về phương diện tiền bạc, bạn nhất định phải có định lực; về phương diện nữ sắc, bạn phải có định lực. Có thì có! Không có thì không có! Sau khi đạt được định lực, bạn sẽ tỏa ra hào quang, đây chính là kết quả của việc thực tu, bạn sẽ chứng được tịnh quang như vậy.


### 05. Chứng


Nói về phương diện "hành", nói chung Hiển giáo là một niệm thanh tịnh, tức là tự tịnh ý mình. Còn trong Mật giáo, với những câu thần chú miên mật không ngừng, sự gia trì không ngừng của thần chú, việc thanh tịnh thân tâm không ngừng, công phu nhập Tam ma địa, đó chính là một loại "hành", tức là thực tu. Khi bạn thực tu rồi, sẽ tiến đến một chữ khác, đó là "chứng".

Chứng là gì? Có thể nói đó chính là khai ngộ. Chứng tức là khai ngộ, trong quá trình thực tu, bạn sẽ đi đến cảnh giới khai ngộ, đây là điều cuối cùng. "Tín", "Giải", "Hành", "Chứng", đó chính là chữ cuối cùng.

Có người tu hành rất lâu, thậm chí 30 năm, 50 năm, mà vẫn không chứng ngộ được. Không có gì cả, hoàn toàn không có gì. Khi họ giảng pháp cho người khác, chỉ dựa theo kinh điển mà giảng, mở kinh ra, Phật Đà nói gì thì họ giảng như vậy, họ đọc cho mọi người nghe, rồi thỉnh thoảng thêm vào lời giải thích của mình, đó chính là "giải". Họ dạy mọi người về "tín", "Các bạn phải tin Phật nhé! Các bạn phải hiểu nhé!" rồi giải thích kinh điển cho mọi người nghe, họ đọc kinh Phật, đọc cho mọi người nghe, rồi giải thích. Ồ! Các bạn nghe cũng thấy hiểu, nhưng có thực tu không? Không! Những vị pháp sư như vậy rất nhiều.

Như hôm kia và hôm nay, tôi thấy trên trời có rất nhiều mây, tất cả đều che khuất ánh sáng, không nhìn thấy gì cả, không thấy được mặt trời, vậy thì tôi đổi tên mới là Đại sư Hắc Vân. (mọi người cười) Cũng hay đấy! Mây đen này rất linh cảm, Đại sư Hắc Vân, mây đen to lắm. Mây đen có to không? Ôi! Cả Seattle, cả tiểu bang Washington đều bị phủ kín, mưa rơi, mây đen, rất hay! Đại sư Hắc Vân, sau này các bạn cứ gọi tôi là Đại sư Hắc Vân nhé. (cười, mọi người cười)

Hoặc là gọi tôi là... Tôi thấy chúng sinh đều ồn ào náo nhiệt, một mình tôi thanh tịnh cũng không hay, tôi cũng muốn ồn ào náo nhiệt, sau này tôi sẽ tên là Thượng nhân Huyên Náo. (cười, mọi người cười) (mọi người vỗ tay) Dù sao cũng hòa mình vào với mọi người mà! Đúng không? Hòa quang đồng trần, lúc thì là Đại sư Hắc Vân, lúc thì là Thượng nhân Huyên Náo.

Tôi còn nghĩ ra một cái tên hay hơn nữa. Mọi người đều biết, ở Los Angeles ai cũng biết, Đông Hải Vô Thượng Sư. Chúng ta đều biết vị Long Vương này! Đông Hải Long Vương là lớn nhất! Đúng không? Đông Hải Long Vương - Ngao Quảng, Tây Hải Long Vương, Nam Hải Long Vương, Bắc Hải Long Vương. Đông Hải Long Vương, còn Thanh Hải chỉ là một cái ao nhỏ nội địa thôi. (mọi người cười) Tôi là Đông Hải Vô Thượng Sư được rồi!

Sau này các bạn viết thư cho tôi có thể đề "Kính gửi Đại sư Hắc Vân", "Thượng nhân Huyên Náo", "Đông Hải Vô Thượng Sư", đều là biệt hiệu của tôi cả. (mọi người cười, mọi người vỗ tay)

**Giảm một phần ô nhiễm, được một phần quang minh**

Điều này cần phải có "chứng", có chứng ngộ! Chữ "chứng" này là một điều khác biệt đấy! Người không có chứng ngộ, họ không biết thuyết pháp, họ không có pháp vị; người có chứng ngộ, khi họ thuyết pháp sẽ có pháp vị. Người có chứng ngộ có khác biệt; khác biệt chính là khác biệt, không giống nhau chính là không giống nhau. Hôm nay nếu bạn gặp một người chưa chứng ngộ, họ giảng kinh, bên trong chẳng có pháp vị gì cả. Hôm nay nếu bạn gặp một người đã khai ngộ, họ chỉ cần thể hiện một chút chứng ngộ của mình, các bạn sẽ biết ngay pháp vị đó ở đâu, đây chính là ngôn ngữ Bát Nhã. Ngôn ngữ Bát Nhã, văn tự Bát Nhã, quán tướng Bát Nhã và thật tướng Bát Nhã, trí tuệ sẽ được sinh ra từ đó.

Thiền tông có rất nhiều công án thiền ngữ, đều là ngôn ngữ Bát Nhã. Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn gặp Lục Tổ hỏi: "Ngươi từ đâu đến?" "Con từ Đài Loan đến." Lục Tổ đáp: "Con từ Đài Loan đến." "Người Đài Loan làm sao thành Phật được? Người Đài Loan làm sao có tư cách thành Phật?" Lục Tổ đáp: "Có người Đài Loan, người Tây phương, người Đông phương, mọi người tuy khác nhau, nhưng Phật tính như nhau, Phật tính đều giống nhau." Ngũ Tổ nghe xong, ồ, ngươi đã chứng được Phật tính "bình đẳng không phân biệt". Cách nói này rất sắc bén, người có pháp vị, mở miệng nói ra đã khác.

"Ngươi từ đâu đến?" "Tôi từ Los Angeles đến." "Gà rơi nước" mãi mãi là "gà rơi nước"! [chơi chữ đồng âm] (mọi người cười) Những nơi khác đều phát triển hưng thịnh, "gà rơi nước" vẫn cứ là "gà rơi nước"; làm sao một kẻ "gà rơi nước" có thể thành Phật được? Các bạn trả lời rằng: "Ôi! Thưa Sư Tôn! Con người tuy có phân biệt Los Angeles, San Francisco, Seattle, chỗ ở tuy khác nhau, nhưng Phật tính đều như nhau." Đạo lý là như vậy, đây chính là có pháp vị trong đó. Cho nên Ngũ Tổ vừa nghe câu này, liền nhận định Lục Tổ là bậc đại căn khí sắc bén. Đây chính là sự chứng ngộ thể hiện qua lời thiền.

Tính Không của Lục Tổ hiển hiện, thật là vĩ đại, trong năm trí huệ của Phật có "bình đẳng tính trí", vừa mở miệng ra nói đã trúng rồi, làm sao Ngũ Tổ không nhìn ra? Ngài đương nhiên nhìn ra được. Trong năm đặc tính của Như Lai, Lục Tổ đã có được Bình đẳng tính trí rồi.

Chữ "chứng" này chính là giảm đi một phần ô nhiễm, đạt được một phần quang minh. Tu hành của chúng ta hiện nay chính là như vậy, mỗi lần tu pháp, trong lần tu pháp đó, bạn đạt được thanh tịnh, chính là giảm đi một phần ô nhiễm, đạt được một phần thanh tịnh. Gộp tất cả những thanh tịnh này lại, liên tục không ngừng, chính là Phật tính, đây chính là chứng ngộ.

Trí tuệ này có cái gọi là ngôn ngữ Bát Nhã, văn tự Bát Nhã, quán tướng Bát Nhã và thật tướng Bát Nhã. Trong Thiền tông nói rằng, chính là bất lập văn tự; không lập bất kì văn tự nào, không viết. "Bất lập văn tự, kiến tính thành Phật." Nói thẳng với bạn rằng, thấy được Phật tính vốn có của mình thì có thể thành Phật, không nói gì khác.

Trong Mật giáo thì đó chính là "gia trì thành Phật". Nhờ có sự gia trì quán đảnh của Thượng sư trên thân bạn, khiến bạn chuyển hóa thành Phật, đây chính là sự gia trì của Như Lai. Thượng sư có chứng lượng ban cho bạn gia trì quán đảnh, giúp bạn nhanh chóng tức thân thành Phật, đây là Mật giáo. Đây chính là một bí mật của thần chú, một bí mật của chú ngữ. Các bạn thấy Sư Tôn có khai ngộ không? (các đệ tử đáp: "Có!") (mọi người vỗ tay) Các bạn nói tôi khai ngộ, tôi đương nhiên rất vui! Đâu thể tỏ ra buồn bã được. (mọi người cười)

**Một câu chuyện thần kỳ**

Gần đây có một vài chuyện, tôi cũng xin kể sơ qua với mọi người. Một người đã khai ngộ, trong cuộc sống của họ có những điểm đặc biệt, nhưng cũng có những điểm hoàn toàn giống như người bình thường.

Gần đây tại Chân Phật Mật Uyển, vì có nhiều người đến giúp trả lời thư, nên số người ăn cơm cũng tăng lên; trưa và tối đều khoảng 20 người, nhiều nhất có khi lên đến 30 người ăn cơm. Hai sư phụ Bích Trân và Bích Yến phụ trách nấu nướng trong bếp, họ thường kêu lên với chúng tôi: "Hết đồ ăn rồi!" Hết đồ ăn ư? Vậy thì phải đi mua thôi! Với 20, 30 người như vậy mà bảo một mình Sư Mẫu đi mua đồ ăn thì quá vất vả, nên mấy tháng gần đây, tối nào tôi cũng đi mua đồ ăn. (cười, mọi người cười)

Uwajimaya, Safeway, QFC, Larry's Market, tôi đều đi mua. Đi mua đồ ăn chỉ cần một chỗ là được rồi, sao phải nhiều chỗ như vậy? Còn có nhiều cửa hàng khác nữa đấy! Thỉnh thoảng tôi chạy đến Safeway này, có khi lại chạy đến Safeway kia; bởi vì bên cạnh tôi có rất nhiều vị Bồ Tát nhỏ đi theo, đều là những vị rất nhỏ, rất nhỏ; ở trên đỉnh đầu, ở tai, khắp thân thể đều có rất nhiều vị Bồ Tát nhỏ đi theo. Khi tôi đến chợ, các ngài vui nhất. (cười, mọi người cười)

Khi tôi đến đó, chỉ cần vỗ tay một cái (âm thanh "bốp bốp" hai tiếng vỗ tay), "Các ngài hãy đến đây!" Ồ! Những vị Bồ Tát nhỏ này đều được ăn miễn phí! (cười, mọi người cười lớn)

Vậy hôm nay đã ăn miễn phí ở chỗ này rồi, ngày mai chắc chắn phải đổi chỗ khác thôi? Vì chỗ này đã ăn hết sạch rồi mà! (cười, mọi người cười lớn) Cho nên lúc thì chạy đến Safeway bên Redmond, lúc thì phải chạy đến Safeway bên Bellevue, lúc thì chạy đến Larry's Market, ngoài ra còn thường xuyên đến QFC kia, phía trước còn có mấy chỗ market nữa, mỗi ngày đều phải đổi một chỗ. Các ngài đều đi theo tôi cả.

Tôi nói với Sư Mẫu: "Đến rồi!" Cả một đám lớn, vù! Giống như một cơn gió thổi qua vậy, tất cả đều đến. Tôi không nên ví von như vậy nhỉ? (cười) Giống như những con châu chấu ở Trung Quốc đại lục ngày xưa, từ trên trời đen kịt một mảng bay xuống, đột nhiên bay xuống; chỉ trong vài phút thôi, chỉ cần vài phút thôi. Những cây ngô đó liền biến mất sạch sẽ. (cười, mọi người cười) Giống như một đám mây đen hạ xuống, chỉ trong vài phút, cả cánh đồng ngô đều bị quét sạch.

Khi tôi bước vào đó, tôi nói: "Các ngài đã đến." Cửa tự động "vù!" mở ra, rồi "vù!" đóng lại. Ừm! Những người nước ngoài đều nhìn ngơ ngác. Sao không thấy ai đi vào mà cửa tự động mở ra, rồi tự động đóng lại vậy? (mọi người cười) Tôi sống trong cảnh giới như thế đấy, có rất nhiều vị Bồ Tát đi theo Sư Tôn, điều này hoàn toàn không phải nói dối. (mọi người vỗ tay)

**Phương pháp đọc báo kỳ diệu**

Sáng nay, tôi đọc báo. Ủa? Các bạn nghe đến việc đọc báo đều cảm thấy rất lạ, thực ra khi xưa chúng tôi làm quân nhân, trong quân đội đều có đọc báo, ngoài ra ở trường Trắc Lượng cũng có đọc báo; tức là cử một đại diện trong số học sinh, viết ra những điểm chính trong báo hôm nay, đọc cho mọi người nghe. Bởi vì báo không phải ai cũng có một tờ, nên mới có chương trình đọc báo này; buổi sáng trước tiên đọc qua báo một chút, đọc qua thời sự và những điểm chính trong báo, đó gọi là "đọc báo".

Sáng nay tôi cũng đọc báo. Ai đọc báo cho Sư Tôn? Chư Phật Bồ Tát đọc báo cho tôi. Tôi đã thấy, có một mẩu tin tức, viết rằng "Chùa XX hóa thành tro bụi", tức là đã bị cháy rụi. Ngôi chùa này trước đây có chút liên quan với Chân Phật Tông chúng ta, bây giờ thì không. Tôi nói với mọi người, hy vọng sau này có thể kiểm chứng tin tức này.

Dĩ nhiên chuyện này vẫn chưa xảy ra, nhưng tôi đã đọc được trên báo rồi! (mọi người cười) Tôi đã đọc được báo, Ngài cho tôi xem; việc "hóa thành tro bụi" này, bị cháy rụi, một mẩu báo như vậy cho tôi xem, tôi đã biết được chuyện này.

Có rất nhiều chuyện tôi đều đọc báo trước. Như hồi trước khi tôi ở Đài Loan, tôi đọc báo, Ngài cho tôi xem báo. Ồ! Tờ XX Thời Báo! Trên đó viết "XX Thời Báo", tờ báo đó cho tôi xem, đột nhiên "XX Thời Báo" biến mất, trở thành "XX Nhật Báo". Chuyện gì vậy? XX Thời Báo sẽ biến mất sao? Thôi tôi không nói nữa. Chuyện này liên quan đến quốc gia, tôi không thể nói nữa, nói ra thì không hay lắm.

Khi chúng tôi đọc báo, tôi đều biết trước. Tôi có khả năng thần toán, Sư Tôn biết đoán trước đấy! Tờ báo tôi đọc là báo của mười năm sau, còn báo các bạn đọc là báo mới in từ nhà in hôm nay, về những chuyện xảy ra hôm nay. Đôi khi Ngài đưa cho tôi xem báo của mười năm sau. Báo mười năm sau còn chưa ra, tôi đã đọc trước rồi.

Thực ra khi có ai muốn phê bình Sư Tôn, các vị Phật Bồ Tát đều đưa cho tôi xem trước, Ngài đọc báo cho tôi nghe trước. Mấy chữ "Lư Thắng Ngạn" to đùng, "xấu quá đi"! (cười, mọi người cười lớn) Khi họ in sách, tôi đã thấy trước rồi, làm sao không biết được chứ? Thực ra khi nhà đệ tử bị hỏa hoạn, tôi cũng thấy trước, những gì xuất hiện trên báo, tôi đều thấy trước. Nhưng tôi biết nói sao đây? Có nhiều chuyện không thể nói. Nói ra biết rồi thì có ích gì?

Các bạn thử nghĩ xem, chuyện gì sắp xảy ra với tôi, làm sao tôi lại không biết chứ? Tôi đều biết cả. Nhưng tôi nói thế nào đây? Tôi nói với ai đây? Tôi đâu thể đăng lên báo được! Cho nên tôi nói với mấy người thân cận cũng chẳng có ích gì! Họ đều giữ kín như bưng, họ lại không lan truyền tin đồn. Nhưng những người đáng lẽ nên tạo tin đồn thì họ lại không tạo, còn những người không nên tạo tin đồn thì họ lại cứ tạo ra. (mọi người cười)

Có nhiều chuyện có thể biết trước, tôi thấy không hay. Nhưng chư Phật Bồ Tát cũng nói với tôi rằng: "Chỉ báo tin vui không báo tin buồn cũng không tốt." Mà chỉ báo tin buồn không báo tin vui cũng không tốt. Các Ngài cũng không biết phải làm sao. Tôi bèn nói: "Ôi! Kệ vậy!" Kệ vậy! Dù sao các Ngài vui lòng đưa cái gì cho tôi xem thì tôi xem cái đó. (cười) Cho nên tôi thấy được, thực ra, những lời người ta sẽ chửi tôi vài năm sau, Ngài đã đưa cho tôi xem trước rồi. Vừa xem xong, tôi lại phải buồn thêm mấy năm nữa. Chẳng có ý nghĩa gì! Đến lúc đó mới buồn cũng được mà! Phải không? Cần gì phải buồn sớm chứ! (mọi người cười)

Cho nên đôi khi biết trước vận mệnh chưa chắc đã tốt! Lo lắng sợ hãi. Đôi khi Ngài không muốn cho tôi biết, để tôi phải lo lắng sợ hãi trước. Vì vậy con người tôi cũng chỉ nói: "Ôi! Tùy duyên thôi!" Đó là tự tại! "Đi đến đâu tính đến đó." Vận mệnh là như vậy đó, đi đến đâu tính đến đó. Thế nào thì cũng phải tự tại.

**Giác hành viên mãn**

Sư Phật Thubten Dhargye ban cho tôi pháp hiệu là "Thổ Đăng Tự Như".

"Thổ lộ bài ca hộ Phạm giáo, Đăng lên Lư Sơn đạo quang minh, Tự trí chúng sinh đều chữ Hum, Như pháp chính tri tụng cát tường". (mọi người vỗ tay) Ngài dạy tôi phải "tự như"!

Ý nghĩa câu đầu tiên, "Thổ lộ bài ca hộ Phạm giáo", tức là truyền bá Phật pháp khắp nơi, hoằng dương chính pháp do Đức Phật Thiên Trúc truyền xuống, để hộ trì chính pháp của Đức Phật; "Đăng lên Lư Sơn đạo quang minh", tức là bảo tôi phải tu hành, bước lên thế giới Tịnh Quang cao nhất; "Tự trí chúng sinh đều chữ Hum", chúng sinh đều bình đẳng, đều từ chữ Hum mà sinh ra; "Như pháp chính tri tụng cát tường", trong Mật giáo cũng đều là trí huệ của Phật, dùng trí huệ của Phật để đạt được mục đích cát tường cho chúng sinh. Đây là điều Ngài ban cho tôi, "Thổ Đăng Tự Như", cho nên phải tự tự như như.

Cho nên tôi biết trước, nếu như tôi dạy phương pháp này cho mọi người, dạy cho các bạn pháp nhãn báo, pháp nhĩ báo, pháp này pháp kia, là làm cho các bạn khổ sở. Thật sự là khổ sở! Biết trước có ích gì? Chẳng phải là đau khổ sớm hơn thôi sao? Tuy có thể giúp đỡ người khác hay làm gì đó, nhưng bạn có thể giúp được bao nhiêu? Đôi khi vận mệnh đã định sẵn rồi, bạn có thể giúp được bao nhiêu? Chi bằng tu Phật pháp, thực tu Phật pháp; lấy "hành" làm trọng, "chứng" tự nhiên sẽ đến.

Người học Phật chúng ta, học đến cuối cùng, chính là tự mình giác ngộ, tự mình khai ngộ. Bạn đã hiểu được chân lý tối thượng của vũ trụ, đó chính là "tự giác"; bạn đã tự mình giác ngộ rồi, đem phương pháp giác ngộ truyền cho người khác là "giác tha"; tức là cũng đi giúp người khác giác ngộ, cho đến khi tự giác và giác tha đều viên mãn, đó chính là "giác hành viên mãn"! Như vậy "tự giác giác tha, giác hành viên mãn", chính là Phật.

Thực tu của chúng ta chính là để khai ngộ, khi đã khai ngộ rồi, thì có thể viên mãn giác hành của mình. Bạn có thể tự giác, có thể giác tha, như vậy mọi hành vi của bạn trong cõi nhân gian này đều rất có giá trị, bởi vì bạn là một vị Phật hoàn toàn viên mãn.

Vậy làm sao để chứng ngộ? Chính là phải thực tu, thể hội chân lý tối thượng của vũ trụ. Điều này tôi sẽ trình bày từng điểm một trong những buổi giảng những ngày tới, tức là nói về cách thể hội từng tầng từng lớp pháp vị này. 

**Thực chứng và thần thông**

Thế thì có người hỏi: "Sau khi chứng đắc rồi, ông có thần thông không?" Còn cần phải nói nữa sao? Chính bản thân bạn có thể tiếp xúc được, có thể chạm được, giống như sờ vào điện vậy, biết là có. Nếu bạn chưa chứng đắc, bạn hoàn toàn như một vật cách điện, không biết gì cả.

Khi bạn hiểu được nhân quả, hiểu được túc mệnh, thì túc mệnh thông sẽ xuất hiện. Như những chuyện đã xảy ra với tôi trước đây, tôi đã kể rồi, mọi người cũng đã nghe rồi! Kiếp trước tôi là một vị đại Lama ở cung điện Potala Tây Tạng, không phải tiểu Lama. Trước đây cũng có người phỉ báng tôi, người phỉ báng đó chính là bà chủ tiệm kim khí ở phố Bát Giác, Tây Tạng. Thì kiếp này, bà ấy cũng vậy, cũng làm những hành động tương tự. Đây chính là nhân quả, vốn dĩ phải như vậy, bạn có trốn cũng không thoát được. Ý chỉ của chư Phật Bồ Tát là như vậy: "Đã như vậy thì cứ như vậy, không có cách nào cả!" (mọi người cười) Cho nên đây là có quan hệ nhân quả.

Có một kiếp tôi làm trụ trì chùa Kim Sơn ở Trung Quốc Đại Lục, là một vị đại hòa thượng. Còn Thượng sư Thịnh Pháp, lúc đó ông ấy làm giám viện, lúc đó ông có pháp danh là Quảng Diệu - Pháp sư Quảng Diệu, bây giờ Ngài là Thượng sư Thịnh Pháp. Điều kỳ diệu chính là ở chỗ này, có duyên sẽ đến với nhau, tụ họp cùng nhau, có duyên thì sẽ ở bên nhau. Sau khi tôi đi rồi, thì ông ấy làm trụ trì. Ông ấy đá tôi đi rồi. (mọi người cười)

Không phải vậy! Đó là vô thường, là vô thường. Trên đời làm gì có trụ trì vĩnh viễn, phải không? Trên đời làm gì có chủ tịch vĩnh viễn? Trên đời không có cái gọi là hai chữ "vĩnh viễn", chỉ có A La Hán thành Phật, không sinh cũng không tử. A La Hán, không sinh không tử; Bồ Tát, không sinh không tử; Phật, không sinh không tử. Chỉ có điều này mới là vĩnh hằng.

Khi túc mệnh thông đã khai thông, mười phương rộng lớn vô biên - đây là chỉ không gian; ba đời lưu thông vô tận - đây là chỉ thời gian. Bạn đều hiểu hết! Túc mệnh của bạn, bạn đều thấu tỏ. Ồ! Thì ra là như vậy, rõ ràng minh bạch, tất cả đều có nhân quả, có luân hồi, không thể trốn tránh; cái gì phải đến thì sẽ đến, cái gì phải đi thì sẽ đi, nhân duyên tụ hợp, cứ thế luân hồi.

Có gì đáng để chấp trước? Học Phật đến mức này, bạn đã chứng ngộ rồi, đã viên mãn rồi, có gì đáng để chấp trước? Có gì đáng để vui sướng? Có gì đáng để bi thương? Học đến lúc này, bạn đã có thể tự như, đó là "tự như" mà Thượng sư Thubten Dhargye ban cho. Các bạn có muốn tự như không? Muốn tự như thì phải hành trì cho tốt, phải lĩnh hội được pháp vị, sẽ không còn phiền não; các bạn không muốn tự như, thì sẽ có phiền não, sẽ có sinh tử, có đoạn diệt. Đây là điều có giá trị nhất trong đời người đấy!

Bạn nói thứ có giá trị nhất trong cuộc đời là đồ cổ. Đồ cổ ư? Tôi cũng có, tôi cũng có đấy! (mọi người cười) Ai đã tặng cho tôi nhỉ, cô Điền đó, tôi đang tìm cô ấy, không biết cô ấy trốn ở đâu? Ồ! Ở đây này. Cô ấy có rất nhiều đồ cổ đấy! Đó là di vật của chồng cô ấy để lại. Vậy nên cô ấy tặng cho tôi, bây giờ cô ấy tặng cho tôi, sau này tôi cũng sẽ tặng cho người khác, phải không? Những món đồ cổ có giá trị này, không phải một người có thể giữ mãi! Sau này nó nhất định phải được truyền từ đời này sang đời khác, cứ thế mà tiếp tục! Bạn không thể sở hữu mãi mãi được.

Cho nên Đức Phật đã nói rất rõ ràng rồi, cái gì là của bạn? Không có thứ gì là của bạn cả, chỉ có nghiệp theo mình, nghiệp chướng đi theo bạn. Bạn tưởng đồ cổ là có giá trị sao? Bạn tưởng tiền là có giá trị sao? Kiếp này bạn cứ cố mà làm việc đi! Đi đi! Dù sao bạn cũng bận rộn không ngớt, ngày nào cũng bận, ngay cả Chủ nhật cũng bận. Có ngày thứ tám không? (tiếng cười) Không có đâu.

"Cho tôi ngày thứ tám thì tốt quá, tôi sẽ có thể bận rộn tám ngày: người ta bận bảy ngày, tôi bận tám ngày." Không có chuyện tốt đẹp như vậy đâu, một tuần là một tuần thôi, không có thêm ngày nào cả. Ngày nào cũng bận rộn, cuối cùng bận đến hai tay trắng, bận rộn vô ích! Cái gì là có giá trị? Tiền bạc ư? Đồ cổ ư? Nhà lầu ư? Xe hơi ư? Tất cả đều là bận rộn vô ích!

Cái gì là có giá trị nhất? "Tự như". Khi bạn đã chứng đắc, tín-giải-hành-chứng, bạn đã khai ngộ, bạn đã hiểu được chân lý tối thượng của vũ trụ, đây mới là điều có giá trị nhất. Hôm nay mọi người không đi con đường này, vậy đi con đường nào? Con đường bạn đang đi là... thôi không nói nữa... đường cụt! (mọi người cười) Phải không? Đó là điểm đến cuối cùng của đời người mà! Điểm đến cuối cùng của đời người chẳng phải là đường cụt sao?


### 06. Tứ Thánh đế


Vì vậy tôi cảm thấy kiếp này của mình rất có ý nghĩa, có thể tự tại như vậy, dù thế nào đi nữa, luôn có một trạng thái pháp hỷ tràn đầy giác ngộ, được chư Phật gia trì, tự thân tỏa sáng. (mọi người vỗ tay)

Thuở xưa Phật Thích Ca Mâu Ni, thực ra khi Ngài bắt đầu thuyết giảng, mọi người đều biết, chính là bốn Thánh đế, gọi là "Khổ Tập Diệt Đạo"; khi tôi giảng Tâm Kinh cũng đề cập đến "Khổ Tập Diệt Đạo" này, "Vô Khổ Tập Diệt Đạo". Thực ra, mấy chữ này đã bị sắp xếp sai, phải là "Tập Khổ Đạo Diệt", "Tập Khổ Đạo Diệt" mới đúng, "Khổ Tập Diệt Đạo" là sai. Có lẽ khi dịch, người ta hoa mắt nên đảo lộn các chữ. (mọi người cười) "Tập Khổ Đạo Diệt" mới đúng, không phải "Khổ Tập Diệt Đạo".

Phật Đà giảng bốn Thánh đế này, lúc đầu giảng là bốn Thánh đế, khi sắp viên tịch cũng là bốn Thánh đế. "Tập" là tích tụ tất cả "Khổ", nhanh chóng tu "Đạo", để nhập "Niết bàn", ý nghĩa của bốn chữ này là như vậy.

Đời người là khổ, rất khổ, bởi vì vô thường tự thân đã là khổ rồi, người thường không chịu nổi vô thường. Trong mắt người đã khai ngộ, họ có thể chấp nhận, bởi vì vốn dĩ đã như vậy; nhưng trong mắt người khác, "Sao lại thế nhỉ? Người này hôm qua còn ở bên cạnh mình, sao ngày mai đã không thấy nữa? Sao lại thế nhỉ?" Đó chính là vô thường. Trong đạo lý nhân quả luân hồi, trong Phật pháp, điều này là tồn tại, là có nhân quả đang luân hồi ở đó.

"Khổ" là tất cả mọi nỗi khổ, hết thảy khổ đau; "Tập" là nghĩ về khổ, "Diệt" là Niết bàn, "Đạo" chính là tu đạo, đây là bốn Thánh đế mà Như Lai Phật Đà đã thuyết giảng. Sau này, khi bốn Thánh đế này chuyển hóa, khi bạn khai ngộ, nó sẽ biến thành "Thường, Lạc, Ngã, Tịnh".

Thế nào là "Thường"? Đó là tự tại. Thế nào là "Lạc"? Đó là tự như. Thế nào là "Ngã"? Là quảng đại, cái "Ngã" này không phải tiểu ngã, mà là "Ngã" quảng đại. Thế nào là "Tịnh"? Đó là "thanh tịnh". Thường xuyên được tự tại, tự như an lạc, trong cõi quảng đại vô biên, thần thông du hý, thanh tịnh tự như, đây chính là "Thường, Lạc, Ngã, Tịnh", đây chính là bốn Thánh đế.

Trong Phật pháp, điều đầu tiên mà Như Lai, Đức Phật dạy chúng ta chính là bốn Thánh đế. Trong bốn Thánh đế bao hàm vô thường. Phật Thích Ca Mâu Ni dạy rằng "Thiên thượng địa hạ, duy ngã độc tôn", chữ "ngã" này có nghĩa là quảng đại, chính là ý thức vũ trụ bao la, cũng chính là nói về "chân như"; "Thiên thượng địa hạ, duy chân như độc tôn." Không phải chỉ nói về một người, điều này mọi người cần phải ghi nhớ.

Thật ra bốn Thánh đế "Khổ Tập Diệt Đạo" chuyển hóa thành "Thường Lạc Ngã Tịnh", đó chính là ý nghĩa quan trọng nhất của bốn Thánh đế. Từ đó nảy sinh vấn đề về chính kiến, cũng chính là Phật pháp chia thành ba thừa. Vậy Tiểu thừa lấy gì làm chính kiến? Chính là lấy "vô thường" và "xuất ly" làm chính kiến.

Vậy Đại thừa thì sao? Lấy gì làm chính kiến? Chính là lấy "vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả" làm chính kiến. Mặc dù Kinh Kim Cang đã giảng về tứ vô, tứ vô tướng, phi tứ tướng, nhưng kinh còn giảng thêm về sáu ba-la-mật. Tư tưởng Đại thừa vì có sáu ba-la-mật nên trở thành tư tưởng Đại thừa. Tiểu thừa chỉ có vô thường và xuất ly, còn Đại thừa thì có "vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả" cộng thêm sáu ba-la-mật.

Vậy Mật giáo thì sao? Lấy Phật và ta là một làm chính kiến, "bạn chính là Phật, tôi chính là Phật", đây là nhất như; "quang quang hợp nhất", tử quang và mẫu quang làm một, tương ứng, đây là chính kiến của Mật giáo. Vì vậy người tu Mật giáo có phương tiện gia trì, bạn chính là Phật, tôi chính là Phật, quang quang hợp nhất, đây chính là chính kiến của Mật giáo.

Chính kiến của Đại thừa là sáu ba-la-mật, chính kiến của Tiểu thừa là xuất ly và vô thường.

Thời gian đã gần hết, hôm nay chúng ta đã giảng về "Hành, Chứng" và "Tứ Thánh đế". Hôm qua chúng ta đã giảng về "Tín, Giải, Vô thường", hôm nay giảng về "Hành, Chứng" và "Tứ Thánh đế", mong rằng mọi người có thể lĩnh hội.

Om mani padme hum.

**Ngắm núi ngắm sông**

Các vị Thượng sư, các vị đồng tu, xin chào mọi người!

Hôm nay là ngày thứ ba giảng "Phật Học Tổng Thuyết", ngày đầu tiên chúng ta giảng về "Tín" và "Giải", ngày thứ hai giảng về "Hành" và "Chứng". Có thể nói hai ngày qua chúng ta đã trình bày toàn bộ thứ tự tu tập của Phật Học Tổng Thuyết, từ "Tín" cho đến "Chứng", bốn chữ này đã bao hàm tất cả, có thể nói bốn giai đoạn này đã giảng xong. Và khi đã giảng xong rồi, thời tiết đẹp thế này, chúng ta thực sự có thể đi dã ngoại, hoặc leo núi.

Tuy nhiên Phật Học Tổng Thuyết rất quan trọng, quả thật thời gian của đời người rất ngắn ngủi, chúng ta thường ngày phải chú ý đến những hoạt động có lợi cho thân tâm khỏe mạnh, nhưng đối với Phật pháp quý báu càng phải trân quý hơn. Thường ngày tôi mong mọi người hãy ngắm nhìn thiên nhiên, thế giới tự nhiên, "ngắm núi, ngắm sông, thấu hiểu cuộc đời". Từ trong sông núi, cũng có thể lĩnh hội được Phật pháp, không phải Phật pháp nhất định phải đọc kinh, niệm Phật, ăn chay, giữ giới.

**Lấy Phật pháp làm thể, lấy cuộc sống làm dụng**

Đôi khi, cần phải ứng dụng Phật pháp vào toàn bộ cuộc sống, có thể nói tất cả đều là Phật pháp. Tín, Giải, Hành, Chứng đều có thể xuất hiện trong cuộc sống của bạn. Điểm này cũng rất quan trọng, vì vậy khi học Phật chúng ta không thể càng học tâm càng hẹp hòi, mà phải càng học càng rộng mở, đem tất cả lời nói việc làm, mọi khía cạnh của cuộc sống hòa nhập vào trong Phật pháp, đây mới gọi là "thể" và "dụng". Thế nào là "thể"? Lấy Phật pháp làm thể. Thế nào là "dụng"? Chính là lấy cuộc sống làm dụng. Vì vậy học Phật nếu càng học tâm càng rộng mở, nó sẽ càng hiển lộ ánh sáng; nếu càng học tâm càng hẹp hòi, sẽ trở nên tăm tối. Cho nên rất dễ đi lệch, khi bạn học được cái lệch lạc, và học được những điều tà vạy, không phải chính kiến Phật pháp, sẽ dễ phạm sai lầm.

Vì vậy khi chúng ta học Phật, tôi nói theo cách thông thường, mỗi tối thứ Bảy lúc 8 giờ chúng ta đồng tu, còn Chủ nhật thì leo núi, leo núi Cầu Vồng. Ngọn núi Cầu Vồng phía sau này, đảm bảo sẽ khiến bạn thở hổn hển. (mọi người cười) Theo cách nói của người Đài Loan là "biết thổi gà mà không biết thổi lửa" (tiếng Đài), khi lên đến đỉnh núi chắc chắn sẽ thở không ra hơi, đây là một dạng rèn luyện, leo núi cũng là một cách rèn luyện sức khỏe. Khi bạn ngắm nhìn ngọn núi hùng vĩ, ngắm nhìn đất trời, ngắm nhìn dòng nước chảy, không chỉ có thi tình họa ý, mà trong đó còn chứa đựng hương vị Phật pháp.


### 07. Nhập Phật môn


Hai cửa Lý và Sự

Đã giảng về "Tín, Giải, Hành, Chứng" rồi, vậy làm sao để vào cửa Phật? Cửa ấy rốt cuộc ở đâu? Nhiều người có ý kiến không giống nhau, khác biệt nhau.

Có người nói nên từ "Lý" mà vào; "Lý" là Phật lý, cần phải hiểu Phật lý trước. Phật lý, mọi người đều biết Phật lý rất thâm sâu, từ "Lý" mà vào thì tốt hơn, bởi vì vào từ Lý chính là vào tri kiến Phật.

Có người cho rằng cần phải thực tu; khi bước vào học Phật nên thực tu trước, thực tu chính là "Sự pháp". Giống như chúng ta tu Chân Phật Mật Pháp, cần phải thực sự tu hành, giữ giới, giữ tâm ý thanh tịnh, như vậy mới được. Điều này được chia thành hai cửa, một là "cửa Lý", một là "cửa Sự". Vậy rốt cuộc nên học Phật Lý trước là đúng? Hay là nên từ Sự pháp mà tu trước là đúng? Mọi người có ý kiến gì không?

Người Trung Quốc rất giỏi nói đến chuyện "tiến hành đồng thời". Nhớ lại ngày xưa khi đi học chúng ta đã từng học: "Biết khó làm dễ, biết dễ làm khó, tri hành hợp nhất." Đúng không? Bây giờ ai cũng hiểu phải "tri hành hợp nhất". Nhưng thời Phật Đà, Ngài dạy chúng ta như thế này, có rất nhiều kinh điển đều đề cập đến; ý của Phật là Ngài muốn từ "Sự" mà vào, rất nhiều kinh điển đều đề cập đến điều này đấy!

"Nghe nhiều không bằng thực tu", rất nhiều kinh điển đều đề cập đến điều này; bạn đi nghe Phật lý, nghe rất nhiều, nhưng mà sao? Nếu không thực tu thì giống như tôi đã nói hôm qua, về căn bản bạn chưa ăn món đó! Bạn biết đấy, làm nhiều món ăn, bạn hiểu đạo lý đó, nhưng bạn không thể no bụng với nó, căn bản là không thể có được pháp vị. Vì vậy trong giáo huấn của Như Lai, Ngài dạy rằng, "thực tu là số một".

Nhưng tôi cho rằng, chúng ta cần để Lý và Sự song hành với nhau, phải cùng tiến. Tuy Phật Đà rất nhấn mạnh việc thực tu, nhưng thuở ban đầu khi Phật dạy chúng ta, Ngài chỉ nói, sau khi các con khất thực về, nghe pháp xong, được rồi! Mọi người giải tán. Có người chạy lên đỉnh núi, có người ở lưng chừng núi, có người ở chân núi, có người dưới gốc cây, đều ngồi thiền tĩnh tọa ở đó.

Mọi người đều đi tu tập. Đến giờ, một tiếng gọi vang lên, mọi người lại đi ra ngoài, tiếp tục đi khất thực, tiếp tục đi xin ăn, cuộc sống đều như thế. Điều Phật Đà dạy từ thuở ban đầu chính là bảo bạn đi tĩnh tọa, đi thiền định. Tĩnh tọa và thiền định là vô cùng quan trọng, trong toàn bộ quá trình Phật học của Như Lai, "định" chính là mắt xích quan trọng nhất.

"Lý nhập" chính là nhập tri kiến Phật, hiểu được ý thú, thấu hiểu ý nghĩa và lý thú trong kinh điển, lĩnh hội lý thú đó; từ trong Phật kinh Phật lý này, thể hội được pháp vị, và cuối cùng thì sao? Tâm địa của bạn sẽ đạt được quang minh, đây là phương diện "Lý nhập".

Có người đọc kinh, trì tụng kinh, thâm nhập kinh tạng, khi thực sự hợp nhất với kinh điển, mở kinh ra thậm chí còn thấy được Bồ Tát. Mở những lá kinh bối diệp ra đều có thể thấy Bồ Tát. Vì vậy trong kinh điển cũng chứa đựng vô tận diệu vị, khi bạn đọc kinh đến chỗ uyên thâm, lĩnh hội được sự uyên thâm đó, không chỉ gật đầu tán thưởng, mà thậm chí tâm thần của bạn cũng sẽ tỏa sáng. Đây mới là điểm then chốt của việc đọc kinh.

Ở Trung Quốc, sau thời nhà Tống, đã biên soạn rất nhiều sám bản. Sám bản là sau thời nhà Tống, nhiều vị pháp sư, đại đức, như Lương Vũ Đế chẳng hạn! Họ biên soạn ra những sám bản này. Sám bản đương nhiên cũng có điểm tốt, không phải là không có, dạy bạn sám hối, và sám hối chính là dạy bạn đọc kinh, trì tụng kinh. Xem kinh điển, rồi trì tụng, niệm tụng, sau đó lễ bái, lạy Phật.

Thực ra sám hối chính là "lễ bái" và "đọc kinh" kết hợp với nhau thành bái sám. Ý nghĩa lớn nhất của sám hối là ở chỗ bạn đang sám hối điều gì, bạn thật sự hiểu được việc sám hối, chứ không phải chỉ là lạy theo và tụng kinh theo mà thôi, mà phải hiểu được ý nghĩa bên trong sám bản, đây mới là điểm then chốt. Vì vậy mọi người cần hiểu rằng bái sám chỉ là bề mặt của Phật pháp. Pháp môn sám hối có thể nói là đơn giản nhất, chỉ là đọc kinh và lễ bái; đến cuối cùng, những pháp môn Phật pháp này đều trở nên rất đơn giản, chỉ còn là một pháp môn sám hối.

Còn với pháp môn niệm Phật, hiện nay việc niệm Phật chỉ còn là "trì danh niệm Phật"; một câu danh hiệu Phật đã bao hàm cả Tam tạng kinh điển, diễn biến đến nay đã trở nên ngày càng đơn giản. Bởi vì người thời nay thích nhàn ghét khó, cho rằng càng đơn giản càng tốt. Họ nghĩ chỉ cần niệm Phật là được, niệm "Nam mô A Di Đà Phật" là có thể thành Phật, diễn biến đến nay, ngay cả "Thập lục quán" trong Quán Vô Lượng Thọ Kinh cũng không còn; "Quán tướng niệm Phật" cũng không còn, chỉ còn lại "trì danh niệm Phật", một câu "Nam mô A Di Đà Phật" đã bao hàm cả Tam tạng kinh điển. Nếu nói như vậy thì chi bằng bỏ hết Tam tạng kinh điển đi, chỉ viết "Nam mô A Di Đà Phật" là đủ. Cho nên Phật pháp trong mắt người hiện đại đã biến đổi như thế.

Thiền tông ngày xưa là pháp môn viên đốn nhất, còn chứa đựng nhiều diệu lý thâm sâu, nhưng đến thời hiện đại, chỉ còn lại thiền ngôn thiền ngữ, toàn là nói suông, cứ lật đi lật lại những gì của các bậc đại đức Thiền tông thời xưa, chỉ bàn luận những điều đó. Cho nên không lạ gì mà thời nay có rất nhiều pháp sư, thiền sư, đại sư "tâm thiền chưa sáng", rất ít người thực sự có thể khai mở tâm thiền. Vì vậy Thiền tông không chỉ là thiền ngôn suông, còn có rất nhiều pháp thiền, rất nhiều diệu pháp tham thiền, nay đã thất truyền, chỉ còn lại thiền ngôn suông, chỉ là biểu diễn trên ti vi, trong khi thuyết pháp nói qua nói lại! Thiền chỉ còn lại có thế.

Cho nên Phật pháp đến nay, pháp môn chân chính ở đâu? Nhiều người học Phật, chạy nhiều đạo tràng, nhưng bản thân các vị, đã tìm được cửa chưa?

Chân Phật Mật Pháp mà chúng ta đang học ngày nay chính là cửa vào của Sự pháp. Những người đang đi nhiều đạo tràng như các vị, đến khắp các đạo tràng Phật giáo trên thế giới, chắc chắn không thể tìm thấy một giáo pháp tinh tế như Chân Phật Mật Pháp. Các vị thấy đó, bên trong bao gồm tất cả mọi thứ, dạy bạn nhập Tam ma địa, dạy bạn chú ngữ, dạy bạn thủ ấn, dạy bạn quán tưởng, đại lễ bái, đại cúng dường, tứ vô lượng tâm, mặc giáp hộ thân, Kim Cang Tâm Bồ Tát, Tứ quy y..., một bộ phương pháp hoàn chỉnh như vậy, hơn nữa còn giảng giải tỉ mỉ cho bạn, bạn đi khắp thế giới tìm ở đâu ra?

Đa phần các pháp sư Phật giáo, bạn hỏi họ về Phật lý, họ bảo bạn "đi đọc kinh Phật đi"; bạn hỏi họ làm sao tu tập, họ nói "đi niệm Phật đi"; bạn hỏi họ làm sao ngồi thiền, họ nói "từ từ". "Tại sao phải từ từ?" "Bởi vì cái này không thể nhanh được." "Làm sao để thiền định?" "Cái này không đơn giản đâu." Có khi vị lão pháp sư đó cả đời chỉ trì danh niệm Phật mà thôi, bạn hỏi ông về thiền định, ôi, ông chỉ còn cách nói: "Từ từ đã, sau này sẽ nói cho biết." Sau này... sau này thì ông viên tịch mất rồi, chưa kịp nói cho bạn biết thì đã đi đời rồi.

Ông ta không dạy cho bạn gì cả, ông ta không thể giảng được. Tại sao không nói được? Bởi vì ông ta chưa bao giờ nhập định! Tam ma địa không dễ đạt được đâu. Hôm nay các vị đến nghe tôi giảng, các vị đã tìm đúng người rồi. Tôi có kinh nghiệm này, tôi đã từng trải qua, cho nên nghe tôi giảng là đúng rồi.

Các vị đi hỏi các vị lão hòa thượng, có người tu "bất đảo đơn", các vị biết bất đảo đơn chứ. Chúng ta không tu bất đảo đơn, chúng ta tu "nhất tự thiền". Bất đảo đơn là gì? Bất đảo đơn là ban đêm ngồi ngủ, giống như bây giờ các vị ở đây đều ngồi ngủ cả, bây giờ không còn nhất tự thiền, các vị ngồi đây bây giờ đều như vậy, đều là bất đảo đơn. Ngồi thế này, nhưng đến nửa đêm thì cứ thế này (đầu gục xuống nghiêng một bên), nước miếng chảy ra. Cái đó không gọi là thiền định. Rất vất vả! Ngồi ngủ rất vất vả. Cưỡng ép bản thân như vậy là không đúng.

Thiền định của chúng ta không phải ở chỗ lâu hay mau, mà ở chỗ có định hay không. Các vị có biết ai ngồi thiền lâu nhất không? Lão hòa thượng Hư Vân ngồi lâu nhất, ngài ở trên núi của mình, nấu khoai sọ, trước khi nấu ngài ngồi thiền, đến khi tỉnh lại thì khoai đã mọc nấm hết rồi. Các vị xem ngài ngồi lâu không? Ngài là người ngồi lâu nhất. Cách ngồi này gọi là "tọa vong", quên hết tất cả, thời gian cũng không còn, vừa ngồi là không còn gì nữa; công lực thiền định này rất sâu.

Nhưng thiền định chân chính có phải như vậy không? Đúng ra là khi vào thiền thì không còn gì, nhưng tâm vẫn sáng suốt, tâm vẫn tỉnh táo, đây gọi là thiền tâm minh, tham thiền tâm minh. Bạn có định không? Cái "tâm minh" này mới gọi là "định".

Có lúc có người không mơ, có người ban đêm không nằm mơ, những người không nằm mơ, họ có phải đang thiền định không? Họ vừa nằm xuống, vừa mở mắt ra thì trời đã sáng. Tôi còn không biết mình có ngủ không nữa, sao lại thế? Loáng một cái là trời sáng. Họ lên giường lúc 11 giờ tối, nhắm mắt rồi mở mắt ra, trời đã sáng. Ôi! Công phu thiền định của tôi thâm sâu quá! (cười) Nhìn lịch thì thấy, tôi ngủ từ mùng 1, sao bây giờ đã 30 rồi? Tôi ngủ cả tháng rồi! (cười, mọi người cười) Đây gọi là công phu thiền định thâm sâu, nhưng mà cái này gọi là ngủ quên, quên mất thời gian, trong thời gian đó họ không hề nằm mơ.

Các bạn có biết trong Đạo giáo có một người tên Trần Hy Di - Trần Bá lão tổ, ông ta ngủ mấy năm liền, công phu ngủ này ghê thật! Nếu tôi mà ngủ được mấy năm liền thì cũng hay. Trần Hy Di, Trần Bá lão tổ. Thiền định của lão hòa thượng Hư Vân rất tốt, nhưng đó là tọa vong, quên mất thời gian, ngài ngồi ở Thái Lan, ngồi luôn hơn mười ngày, ngay cả vua Thái cũng đến đảnh lễ ngài.

Công lực của ngài rất tốt, nhưng đó là tọa vong, ngày nay chúng ta không nói về thời gian dài hay ngắn, chúng ta nói về việc bạn có định hay không? Thời gian ngắn không sao cả, thời gian ngồi thiền ngắn cũng không sao. Điều quan trọng nhất là bạn có định không? Nếu bạn có định, pháp vị sẽ xuất hiện, nếu bạn không định, sẽ không có pháp vị.


### 08. Cửa Lý


Chúng ta biết rằng trong Phật Học Tổng Thuyết này có "Lý nhập", Lý nhập là học từ kinh điển, học kinh. Rồi có "Sự nhập", tức là học tập Sự pháp, đây là phương pháp thực tu. Và Chân Phật Mật Pháp của chúng ta chính là phương pháp thực tu, hai cửa này đều có thể vào, không nên phân biệt. Tôi hy vọng mọi người, nếu các vị có duyên với việc học kinh, chuyển kinh, đọc kinh thì các vị đi cửa này, được! Các vị thích thực tu thì đi cửa Sự cũng được.

**"Đất dưới móng tay" và "Đất đại địa"**

Ở đây, tôi xin đưa ra một vài kiến giải như sau. Việc hiểu được Lý đôi khi rất khó, "Tam tạng thập nhị bộ kinh" rất rộng lớn. Phật Thích Ca Mâu Ni đã thuyết giảng, không phải tôi nói đâu, chính Phật Đà đã nói. Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp, pháp mà Ngài đã thuyết giống như "đất dưới móng tay". Đức Phật dạy: "Pháp ta đã thuyết giảng chỉ như đất dưới móng tay, pháp ta chưa thuyết giảng thì như đất đại địa." Các bạn có hiểu ý nghĩa này không? Ngài thường xuyên nói câu này, nghĩa là Phật lý, kinh Phật nhiều như đất đại địa, chân lý nhiều như đất đại địa; Phật thuyết pháp trong 49 năm, Ngài nói: "Chẳng qua chỉ như dùng tay vốc lên vài hạt cát mà thôi".

Hôm nay tôi thuyết pháp, chẳng lẽ tôi thổi một cái (Sư Tôn làm động tác thổi) là hết sao? (cười, mọi người cười) Còn Đức Phật thuyết pháp 49 năm, chỉ như Ngài dùng móng tay vốc lên một chút đất từ đại địa; vậy thì những gì chúng ta giảng bấy lâu nay chẳng phải chỉ bằng một hạt bụi thôi sao? Có khi còn chẳng bằng một hạt bụi, nhìn còn chẳng thấy; giống như một hạt cát trên đầu kim vậy.

Cho nên các vị biết không, Phật pháp là gì? Phật học là gì? Phật học như đất đại địa, Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp 49 năm, Tam tạng thập nhị bộ kinh chỉ như là "một móng tay đất", vậy làm sao mà học hết?

Cho nên Lý rất nhiều, cửa "Lý nhập" này rất khó, vào bằng "Sự pháp" dễ hơn, về mặt lý thuyết thì khó hơn.

**Giống như việc hiểu về cơ thể**

Giả sử bạn lập luận rằng "Lý thì đơn giản hơn mà! Phật lý đơn giản hơn." Không đơn giản đâu! Trước hết hãy tự hỏi bản thân, làm sao mắt bạn có thể nhìn thấy được vật? Tôi hỏi bạn: "Làm sao mắt bạn có thể nhìn thấy vật?" Bạn có thể trả lời một cách đơn giản: "Tôi chỉ cần mở mắt ra là nhìn thấy vật." Này! Đâu có đơn giản vậy! Tôi đang hỏi bạn về nguyên lý cơ đấy.

Vật ở đó, đi vào mắt bạn, bạn dùng cái gì để cảm nhận? Phải đi qua những dây thần kinh gì trong nhãn cầu của bạn, phản xạ, khúc xạ, đủ thứ xạ, vô số thứ, đi vào mắt bạn, đến thần kinh thị giác, rồi truyền đến não bộ, truyền đến đâu đó, đột nhiên ở đó dùng một hình ảnh cho bạn thấy, cho bạn cảm nhận, ồ, bạn mới biết vật này có hình dạng gì. Điều này bạn không hiểu đâu, đạo lý bên trong rất sâu xa.

Đạo lý về việc tay tôi đang vẫy ở đây rất sâu xa đấy. Ồ! Bạn thấy đó, tay của Sư Tôn đang vẫy, vẫy như thế nào? Phải hỏi bạn, tại sao lại vẫy như vậy? Có ý nghĩa gì? Tại sao tay lại có thể vẫy như thế? Đó là miệng bạn nói tay phải vẫy, thần kinh não của bạn không biết phần nào... Tôi hỏi bạn là phần nào? (mọi người cười) Y học phát triển đến thế, đến giờ vẫn chưa biết rõ đại não, tiểu não, não gì gì đó, dù sao thì "phiền não" có đủ cả! (cười, mọi người cười)

Phần nào tiếp nhận âm thanh từ tai nghe vào qua lời nói của bạn, từ ý thức đẩy lên não bộ, từ phần thần kinh nào của não bộ chỉ huy gân, xương, máu, thịt của bạn, tất cả phải chuyển động mới có thể vẫy được? Bạn có biết không? Tiếng Nhật gọi là: "Zenzen wakaranai." Tiếng phổ thông gọi là "hoàn toàn không biết". (cười, mọi người cười) Không đơn giản đâu! Chỉ là hỏi bạn về những thứ bên trong cơ thể mình thôi.

Chúng ta biết khi ăn cơm, miệng mở ra, hai đũa, xúc xúc xúc xúc xúc, cơm vào trong. Đừng có nhầm lẫn, vào khí quản thì khổ lắm! Nó tự động, một bên là khí quản, một bên là thực quản, xúc xúc, thức ăn đi qua thực quản vào trong, không vào khí quản. Nếu phản ứng không nhanh nhạy, vào khí quản một cái là bạn sặc ngay. (mọi người cười)

Được rồi, vào đến thực quản, đến dạ dày rồi, cái dạ dày đó! Dạ dày đang làm gì ở đó? Dạ dày ở đó "bùm chát chát, bùm chát chát, bùm chát chát". (mọi người cười) Nó không phải đang nhảy múa đâu! Nó thực sự đang nghiền nát những thứ bạn ăn vào đấy. Bạn có biết nó chuyển động thế nào không? Nó quay thuận chiều hay ngược chiều? Quay trái hay quay phải? Tại sao nó nghiền nát đồ ăn của bạn? Bạn chưa nghiên cứu đấy! Thực ra không biết đâu, cứ ăn vào là được rồi. Chẳng biết gì cả, đi qua tá tràng đến đại tràng... à không, đến tiểu tràng trước! Rồi mới đến đại tràng. Nếu đến đại tràng trước thì khổ rồi! Đến đại tràng trước thì ra luôn rồi! (cười, mọi người cười)

Điều này bạn không hiểu đâu. Thành dạ dày sẽ hấp thụ cho bạn, dạ dày đấy! Nó sẽ hấp thụ, sẽ giải phóng; ruột non cũng sẽ hấp thụ mọi thứ cho bạn, còn ruột già thì còn có nhu động nữa. Ruột già chuyển động thế nào? Bạn chỉ biết ăn lòng mà không biết ruột già chuyển động ra sao à? Nó sẽ co bóp, co bóp như thế này, liên tục đẩy, đẩy, đẩy, đẩy cái thứ đó xuống đến hậu môn. (mọi người cười)

Trong quá trình đó bạn không hề biết gì. Bạn chỉ việc xúc cơm vào miệng, nói về toàn bộ các cơ quan, những cơ quan tiếp nhận thức ăn như vậy, cho đến khi thải ra ngoài, quá trình này trải qua muôn vàn biến đổi, bạn không nghiên cứu đâu. Ai có thể hiểu rõ được? Chất dinh dưỡng vận chuyển thế nào? Nước phân chia ra sao? Nó còn phải phân tách ra nhiều loại khác nhau, phân đường, phân muối, phân nước, biến đổi thành chất dinh dưỡng, nó còn đưa thêm các thứ vào, rồi lại biến đổi những chất dinh dưỡng đó, trong đó còn có sự trao đổi chất, có vận chuyển, có lưu thông, có động mạch chủ, có tiểu động mạch, có tĩnh mạch, có mao mạch, còn có những tế bào vi tế nhất.

Bạn biết tế bào, tất cả chúng ta đều biết! Tế bào là thành phần cấu tạo nên cơ thể con người. Được rồi, tôi hỏi bạn: "Bên trong tế bào có gì?" Ai có thể trả lời được? Bên trong tế bào có những gì? Nó chứa những gì bên trong? (Có người trả lời: "Sự sống.") Tôi cũng biết là sự sống. Anh ấy biết là sự sống, tất nhiên trong tế bào có sự sống rồi. Có lẽ bác sĩ, y tá thì họ hiểu rõ hơn về mặt này. Thực ra, tôi nói cho bạn biết, đừng cảm thấy xấu hổ, thực ra tôi cũng không biết. (cười, mọi người cười)

Ý tôi muốn nói là: Lý đấy! Phật lý khó hiểu lắm. Chính bản thân mình mà bạn còn chẳng hiểu được, bạn chỉ biết đưa cơm vào miệng, những thứ khác bạn chẳng quan tâm. Nhưng thực ra, trong đó có rất nhiều quá trình vi diệu, đạo lý này bạn không hiểu rõ. Phật lý cũng vậy đó! Chân lý cũng vậy đó! Bạn rất khó hiểu được nó. Nhưng khi bạn thực tu, bạn sẽ hiểu được; khi bạn bắt đầu thực tu, bạn trải nghiệm rồi, dần dần bạn sẽ biết được hương vị của nó ở đâu, điểm vi diệu của nó ở đâu, những điểm vi diệu của Phật lý, bạn và Phật lý tương ứng với nhau, lúc đó bạn mới thực sự hiểu rõ.

**Đọc kinh không nếm được pháp vị**

Trong kinh Phật có rất nhiều người giảng lý lẽ, rất nhiều Phật lý, nhưng họ chưa chắc đã được nếm pháp vị; dù họ có hiểu pháp vị ở đâu, họ cũng không thể nếm được. Điều quan trọng nhất chính là "nếm". Khi bạn hiểu được "tại sao tay tôi lại cử động", "tại sao mắt tôi lại nhìn thấy", hiểu được quá trình vi diệu của "thức ăn từ lúc ăn vào cho đến lúc thải ra", mà bạn vẫn chưa nếm thì bạn đã chết đói rồi, bạn đã chết đói rồi.

Cho nên Tam tạng thập nhị bộ, khi bạn đã thông hết; tôi nói: "Tôi đã xem hết Tam tạng thập nhị bộ, hôm nay tôi đã thông suốt hết Phật lý rồi." Không biết là chuyện của bao nhiêu kiếp sau. Không phải kiếp này bạn đã có thể thông được. Kiếp này bạn có thể đọc hết Tam tạng thập nhị bộ một lần, được! Có thể! Đọc ba lần bạn cũng có thể; ngày nào cũng đọc kinh ở đó, được! Bạn đọc một trăm lần cũng được; ngày nào cũng đọc ở đó, từ nhỏ đọc đến lớn, đọc đến già, đọc đến chết. Bạn vẫn chưa nếm được pháp vị! Bạn vẫn chưa bắt đầu thực tu! Bạn vẫn chưa thông Lý mà! Đến khi bạn thông Phật lý rồi thì chết! Bạn vẫn chưa nếm được! Cho nên chúng ta phải nếm trước, không cần biết món ăn được nấu thế nào, chúng ta cứ nếm trước, làm trước.

**Một lần tu hơn nhiều lần nghe**

Như Lai Phật Đà cũng dạy như vậy, Phật Đà dạy chúng ta: "Một lần tu hơn nhiều lần nghe". "Đệ nhất đa văn" chính là Tôn giả A Nan đó, Ngài nghe nhiều nhất, nhưng mãi về sau mới thành tựu.

Đại Ca Diếp rất ghét Ngài, Đại Ca Diếp tính tình không tốt, trong tất cả đệ tử Phật, Ngài là người có tâm sân nặng nhất, gương mặt góc cạnh. Gầy, nhiều góc cạnh, tính tình không tốt, nóng nảy, tâm sân nặng nhất. Lời Phật dạy, trước mặt Phật thì Ngài vẫn tỏ vẻ rất cung kính, nhưng khi Phật đi rồi thì Ngài không nghe lời; có khi Phật dạy điều gì, Ngài cũng không nghe.

Phật Đà dạy: "Ông đừng đi xa quá! Thỉnh thoảng hãy về ở tại tinh xá Trúc Lâm một thời gian!" Nhưng Ngài không nghe, Ngài kiên quyết, kiên quyết giữ ý chí của mình; Ngài có ý chí rất mạnh mẽ, kiên trì khổ hạnh, tu hạnh đầu-đà. Như Lai bảo: "Này! Ông hãy ăn chút gì ngon bổ, bồi dưỡng sức khỏe đi!" Nhưng Ngài không chịu ăn.

Ngài thấy Tôn giả A Nan là nổi giận liền! Ngài giận lắm: "Người này tham lam nhất!" A Nan kìa! Tham quá! Trong số đệ tử Phật, A Nan là người tham lam nhất. Ngài tham cái gì? Thích ăn ngon, thích mặc đẹp. Y phục của Phật rất tốt, rất đẹp, Ngài vừa thấy là lén lấy mặc liền. Khi Phật vắng mặt, Ngài còn ngồi lên pháp tọa nữa ; mặc y phục đẹp đẽ như thế, rồi ngồi trên ghế của Phật răn dạy hàng hậu học. Ngài không chỉ thích thế thôi, Ngài còn thích phụ nữ nữa, cho nên tâm tham của Ngài nặng nhất.

Nhưng thật ra, Phật Thích Ca Mâu Ni cũng rất khen ngợi Đại Ca Diếp. Mặc dù Ngài là người có tâm sân nặng nhất, không thường xuyên ở bên cạnh Phật Đà, nhưng Phật Đà vẫn rất khen ngợi Ngài, cho rằng Ngài là đệ nhất về thực tu, thành tựu của Ngài cũng là đệ nhất, thành tựu của Đại Ca Diếp quả thật là đệ nhất.

Còn A Nan thì sao? Cuối cùng! A Nan không chỉ bị một người ghét, mà rất nhiều người đều ghét Ngài. Bởi vì Ngài làm thị giả cho Phật lâu như vậy, phải không? Ở bên cạnh Phật Đà, mọi người nhìn thấy đều rất khó chịu. Đây là tranh sủng, vẫn là tranh sủng. (cười)


### 09. Cửa Sự


Vậy khi bạn bước vào cửa Sự thì sao? Đó là để dạy bạn tu thân khẩu ý thanh tịnh, dạy bạn minh tâm kiến tính, dạy bạn tu tập thân thể, rồi chứng tính Không. Cuối cùng thì sao? Hóa thân cầu vồng.

Thật ra! Chỉ cần bạn thành Phật, đạt được tịnh quang, chứng được tính Không, thì bạn sẽ hiểu Phật lý. Sau khi bạn thực sự chứng được tính Không, Phật lý này, bạn không cần nghiên cứu, không cần đọc kinh, không cần nghiên cứu, bạn cũng đạt được, bạn đã hiểu được Phật lý rồi. Lục Tổ Huệ Năng không học nhiều, nhưng sau khi Ngài thực tu rồi thì sao? Ngài nói ra điều gì cũng là Phật lý, miệng Ngài nói thế nào cũng là Phật lý. Bạn nói đúng không?

Đó là bởi vì Ngài thực tu! Ngài thực tu ở đâu? Sau khi có được khẩu quyết của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, Ngài đã ở giữa những người thợ săn thực tu hơn 10 năm, để thể nghiệm khẩu quyết của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn. Sau khi Ngài đạt được rồi, những lời Ngài nói ra đều là Phật lý; cho nên không nhất định phải là người có học thức cao mới hiểu được Phật lý, không nhất định. Cho nên nếu bạn thực sự có thể thâm nhập một pháp, thì sẽ hiểu được.

**Thâm nhập một pháp**

Cho nên ở đây nói đến "pháp" này, trong Phật Học Tổng Thuyết này đề cập đến pháp này; rốt cuộc là học nhiều pháp tốt, hay là học một pháp tốt? Phải học một pháp tốt hơn, học nhiều pháp chẳng phải giống như đa văn sao! Học thâm nhập một pháp, tương lai bạn thông một pháp rồi thì mọi pháp đều thông, chỉ cần bạn thực tu khai ngộ rồi, bạn sẽ hiểu được Phật lý. Cho nên Lý, Sự, vào bằng cửa Lý hay là vào bằng cửa Sự? Đạo lý là ở chỗ này.

Ngày nay có rất nhiều bậc tiền bối trong giới Phật giáo rất thông Lý. Khi bạn nói về Lý với họ, họ có thể giảng giải cho bạn kinh này nói thế này, kinh kia nói thế kia, nói rất nhiều; nhưng khi nói đến thực tu, chứng nghiệm thì họ nói không có, đây chính là cái hại của "nghe nhiều". Việc học nhiều pháp cũng có rất nhiều điều bất lợi.

Giống như bài viết tôi mới đăng trên Chân Phật Báo gần đây. À! Hôm nay không có mây đen... (mọi người cười) Tóm lại ông ấy nói rằng "thiền tâm chưa sáng"; chúng ta biết ông ấy học thiền nhưng "thiền tâm chưa sáng". Rồi "tịnh thổ chưa hiện", "không tương ứng với tịnh thổ và Di Đà"! Không tương ứng với Phật A Di Đà; việc niệm Phật của ông ấy trong Tịnh Độ tông cũng không có thành tựu.

Rồi "Mật giáo cũng không tương ứng", ông ấy cũng học Mật; thực ra ông ấy không phải học Mật, mà chỉ đi theo người ta tụng chú Đại Bi, mười tiểu chú. Chú Đại Bi, mười tiểu chú có trong sách khóa tụng, đó là những thứ người học Phật ai cũng biết chú Đại Bi, mười tiểu chú, người học Phật ai cũng biết, điều đó cũng không đơn giản chút nào.

Bạn xem, Mật giáo kiểu như vậy, ông ấy cũng không tương ứng, điều này là không đúng rồi. Có người nói: "Này! Tông phái của chúng tôi là tông phái hợp nhất của tám đại tông phái." "Ồ! Tám đại tông phái hợp thành một tông, vậy chắc chắn là vĩ đại lắm!" Đừng nghĩ như vậy! Bạn vào đó là sẽ rối loạn ngay.

Lúc thì tông này, lúc thì tông kia; lúc thì bảo bạn niệm Phật, lúc thì bảo bạn học Thiền, lúc thì bảo bạn học Mật, lúc thì bảo bạn học Luật, Thiền, Tịnh, Mật, Luật; lúc thì bảo bạn học Tam Luận, Duy Thức; rồi lại Thiên Thai, rồi lại Pháp Hoa, rồi lại Hoa Nghiêm..., bạn sẽ rối tung lên thôi!

Thâm nhập một pháp mới tốt, nếu không đến 60, 70 tuổi rồi mà chẳng có gì cả. Nếu là tôi, tôi sẽ xấu hổ chết mất!

Thật đấy, tôi sẽ cảm thấy rất xấu hổ! Tịnh thổ chưa hiện, thiền tâm chưa sáng, Mật giáo chưa tương ứng, vậy thì bạn học pháp môn gì? Bạn học môn tiền bạc, môn quyền lực, môn thế lực, Phật giáo đâu có những môn này? Đây là những việc người đời trong thế giới Ta Bà làm, bạn là người tu hành mà làm những việc này, bạn sai rồi! Cho nên, học Phật điều quan trọng nhất là - thâm nhập một pháp. 

Như đã nói trước đây, khi còn trẻ, nghe nhiều cũng không sao, bạn đi nhiều đạo tràng cũng không sao; đến trung niên thì phải thâm nhập một pháp; đến tuổi già thì chỉ cầu vãng sinh. Không còn kịp nữa, nếu bạn không cầu vãng sinh thì còn làm gì nữa? Tuổi đã cao rồi, bạn phải nhanh lên! Có thể vãng sinh là tốt rồi. Những điều này đều rất quan trọng. Cho nên thâm nhập một pháp, thực tế là tốt hơn học nhiều pháp.

Ví như có một đệ tử gửi đến 100 đô la Mỹ, 1 đô la xin một lễ quán đảnh, 100 đô la tức là 100 lễ quán đảnh; dù sao những gì có trong sách của tôi, anh ấy đều muốn. Quán đảnh kiểu này cũng không đúng! Bạn muốn tu pháp nào thì quán đảnh pháp đó, trừ phi bạn là Thượng sư. Bạn nghĩ: "Tôi là Thượng sư, tôi nhận nhiều quán đảnh, sau khi được quán đảnh rồi, tôi mới có thể quán đảnh cho người khác." Điều này thì đúng. Nếu không thì đối với đệ tử bình thường chúng ta, thâm nhập một pháp là tốt rồi, chỉ cần bạn tương ứng với một pháp, tâm này vừa khai mở! Lập tức có thể thấy được ánh sáng, thấy được Phật lý, ánh sáng Phật lý này, tất cả bạn đều hiểu rõ.

Trước đây bạn đọc kinh không hiểu, tôi cũng thẳng thắn nói với mọi người rằng, trí tuệ của tôi không cao, trước đây khi đọc Kinh Kim Cang, tôi không hiểu được, toàn là mâu thuẫn, sao lại thế nhỉ? Toàn là mâu thuẫn. Cứ mâu thuẫn qua mâu thuẫn lại, lấy cái mâu công kích cái thuẫn, lấy cái thuẫn công kích cái mâu. (mọi người cười) Kinh Kim Cang này đang nói gì vậy? Tôi thực sự không hiểu. Nhưng hôm nay! Khi tôi mở Kinh Kim Cang ra, tôi có thể thâm nhập kinh tạng, hiểu được ý nghĩa của nó. Bây giờ bất kì quyển kinh nào tôi mở ra, tôi đều hiểu rõ.

Cho nên "tín, giải, hành, chứng", khi bạn đạt được chữ "chứng" này, ba chữ trước đó đều bao gồm trong đó cả rồi, bao gồm hết rồi. Vậy thì bạn từ "Lý nhập" hay từ "Sự nhập", cả hai cửa đều được; chỉ là cửa Sự tốt hơn cửa Lý, bạn thông Lý chưa chắc đã thông Sự, nhưng bạn thông Sự thì chắc chắn sẽ thông Lý. (mọi người vỗ tay)

**Phật pháp trong cuộc sống hàng ngày**

Có rất nhiều đệ tử đến học pháp với tôi, có người đã học được vài năm rồi. Có người hỏi họ: "Bạn học Phật với Lư Sư Tôn, ngài dạy bạn những gì?" Lư Sư Tôn dạy bạn những gì? Thế là họ trả lời: "Ngài chẳng dạy tôi gì cả." Nghĩa là tôi chẳng dạy gì cho họ. Khi nghe vậy, trong lòng tôi không thấy buồn sao?

Tôi xin lấy một ví dụ, ngày xưa có Thiền sư Điểu Sào, có một đệ tử theo học với ngài rất nhiều năm. Một ngày nọ, người đệ tử thu dọn hành lý, từ biệt sư phụ và nói: "Sư phụ! Con sẽ đi." "Con định đi đâu?" "Con sẽ đi tìm sư phụ khác." "Tại sao con lại muốn đi tìm sư phụ khác? Ở đây với ta không tốt sao?" Người đệ tử nói: "Sư phụ chưa từng dạy con Phật pháp, con ở đây bao nhiêu năm rồi mà sư phụ chẳng dạy con Phật pháp gì cả." Thiền sư Điểu Sào liền đưa chân ra và nhổ một sợi lông chân. (mọi người cười) Tôi không có lông chân! (mọi người cười) Ngài nhổ một sợi lông chân và nói: "Đây chính là Phật pháp! Sợi lông chân này chính là Phật pháp đây. Con hiểu chưa?" Ngay lúc đó, người đệ tử mới bừng tỉnh ngộ ra thế nào là Phật pháp.

Ví như có đệ tử theo tôi học Phật, học mãi học mãi, rồi người ta hỏi: "Lư Sư Tôn dạy anh pháp gì?" Anh ấy trả lời: "Ngài chẳng dạy tôi gì cả." Khi anh thu dọn hành lý định đi, tôi sẽ nhổ một sợi râu. (mọi người cười) Những sợi râu dưới cổ này, chỗ này có râu, nhổ một sợi râu: "Đây chính là Phật pháp, anh hiểu chưa?" Phật pháp nằm trong cuộc sống hàng ngày, phải khéo thể hội. Khi thật sự giảng pháp, bạn nghe xong về nhà là quên hết, bạn phải thực hiện trong cuộc sống của mình, đó mới là Phật pháp; cho nên bạn xem, mỗi cử chỉ hành động, mỗi lời nói việc làm của sư phụ đều là đang thuyết pháp. (mọi người vỗ tay)

Những câu đầu tiên trong Kinh Kim Cang của Đức Phật đều là Phật pháp. "Trải tọa cụ ngồi", cái ghế này, "trải tọa cụ ngồi". "Kinh hành", rồi đi khất thực, đây là nói về đi; đi, đứng, nằm, ngồi đều là Phật pháp, trong đó có rất nhiều nghi quỹ.

Nhiều người học Phật không biết rằng, học Phật chính là Phật pháp trong cuộc sống hàng ngày, không phải cố ý dạy cho bạn một pháp đặc biệt nào đó. Chỉ truyền cho một mình bạn, không cho người khác biết, đó chính là để nhận "phong bì" đấy. "Chỉ truyền cho một mình bạn thôi! Không ai khác có đâu!" Phải xem lễ vật của bạn hậu hĩnh không, phải xem nặng hay nhẹ mới truyền pháp đặc biệt, đúng không? (mọi người cười) Không phải như vậy.

Bên ngoài có rất nhiều người như vậy, có rất nhiều vị Thượng sư như vậy, rất nhiều. Không phải nói về các Thượng sư của chúng ta đâu, đừng hiểu lầm. "Tôi truyền cho bạn pháp này, không một ai biết đâu, tôi chỉ truyền cho một mình bạn thôi!" Vậy thì bạn phải thể hiện một chút! Chỉ truyền cho một mình bạn, đó không phải là quán đảnh bình thường. Ôi! Chỉ truyền cho một mình bạn, ghê gớm thật. Đây là cái mà chúng ta gọi là gì nhỉ? "Bình thường không buôn bán, một khi mở tiệm là ăn được ba năm", đây là pháp đặc biệt đấy. Cái này đôi khi là giả, không nhất định là thật đâu, đôi khi là giả.

Bên ngoài có rất nhiều người truyền Phật pháp cũng làm như vậy: "Tôi dạy cho bạn điều đặc biệt này, thế này thế kia, tóm lại là bạn phải đưa cho tôi bao nhiêu tiền thì tôi mới dạy." Họ đều lợi dụng phương thức bí mật này để truyền dạy kiếm tiền. Vào thời Như Lai, thời Phật Đà, việc này bị cấm, Ngài nghiêm cấm việc này.

**Thấy núi không phải là núi**

Chúng ta biết rằng, khi bạn bước vào cửa, bước vào cửa Phật pháp, vừa bước vào là bạn sẽ cảm thấy khác biệt. Trước đây có một thiền sư nói như thế này. Khi ông chưa nhập môn, "nhìn núi là núi, nhìn nước là nước"; khi vừa bước vào Phật pháp, "nhìn núi không phải là núi, nhìn nước không phải là nước"; đến khi trải qua một thời gian, ông khai ngộ rồi, "nhìn núi lại là núi, nhìn nước lại là nước". Điều này các bạn phải thật sự lĩnh hội được. Tại sao lại như vậy?

Gần đây tôi học vẽ tranh, tôi học vẽ với cô giáo Chu Mộ Lan. Cô Chu Mộ Lan ở San Francisco, trước đây cô ấy từng theo học Triệu Thiếu Ngang, là họa sĩ phái Lĩnh Nam, cô ấy đã theo học rất nhiều thầy và vẽ rất đẹp. Tôi học vẽ một chút với cô Chu Mộ Lan. Già rồi không có việc gì làm nên tôi đi học vẽ! (mọi người cười) Tôi chuẩn bị học hai thứ: một là âm nhạc, hai là hội họa. Âm nhạc thì chỉ để tự đàn tự vui thôi, không bán được tiền. Vẽ tranh thì tốt, tôi có thể mở triển lãm. Đúng không? Có thể xuất bản album tranh, mở triển lãm và xuất bản album tranh. Thế là cô ấy đến dạy một tuần, tôi bắt đầu học vẽ.

Học vẽ tranh, như chúng ta đã biết, thấy núi, thấy nước, nhìn núi là hình dáng của núi, nhìn nước là hình dáng của nước. Bây giờ tôi vẽ rồi, ồ, tôi phát hiện "núi không phải là núi, nước không phải là nước" đấy! (mọi người cười) Nước có thể vẽ thành núi, núi cũng có thể vẽ thành nước. Thế thì mọi người sẽ nói, trâu có thể vẽ thành ngựa, ngựa cũng có thể vẽ thành trâu. Trong đó có sự biến hóa đấy! Bên trong có sự biến hóa của tâm linh trong đó.

Khi bước vào cửa đã khác rồi, cho nên bây giờ tôi không học công bút, công bút là vẽ tỉ mỉ, vẽ từ từ. Tôi học ý bút, chữ "ý" trong ý niệm; khi ý niệm vừa xuất hiện, vẽ ra thứ gì đó, tuy không giống lắm, nhưng tinh thần của nó ở trong đó. Cái này trở thành gì? Đây gọi là dùng ý niệm để vẽ tranh, dùng ý niệm của bạn để vẽ.

Bạn nói phải vẽ cho giống chứ, vậy cần gì phải học vẽ? Học chụp ảnh là được rồi, chụp ra rất giống mà! Còn giống hơn vẽ nữa! Tại sao bạn phải vẽ cho giống như vậy? Cái giống đó không có tinh thần. Cho nên khi bạn vẽ một vật là để thể hiện tinh thần đặc biệt của vật đó, một hương vị vô hình bên trong, đó mới là bức tranh hay thật sự, bức tranh hay thật sự là như vậy đó. Tôi học vẽ của cô giáo Chu Mộ Lan là học cách vận bút của cô ấy, xem màu sắc đậm nhạt của cô ấy, xem cách cô ấy phác họa; như cách di chuyển bút, nét vẽ, toàn bộ cách vận dụng, và cả kỹ thuật của cô ấy nữa. Sau này, mong mọi người ủng hộ. (mọi người vỗ tay)

Tranh tâm linh, đôi khi chỉ một nét, vài nét, rất đơn giản, nhưng đã thể hiện được ý vị của nó, tất cả đều hiện ra. Học Phật cũng vậy, khi chúng ta chưa nhập môn, chúng ta thấy núi là núi, thấy nước là nước. Chúng ta biết rằng, núi là bất động, nước là động. Nhưng mà sao? Khi bạn vẽ ra, "núi là động, nước là tĩnh", điều này đã khác rồi. Học Phật cũng vậy, khi bạn đã nhập môn, có một thời gian, bạn thấy núi không còn là núi nữa, thấy nước cũng không còn là nước nữa. Tại sao? Bởi vì tinh thần của nó đã hiện ra, tinh thần vô hình của nó đã hiện ra.

Một ngày nọ, tôi xem một quyển album tranh của họa sĩ Dương Thiện Sâm. Tôi đã xem kĩ từng trang một rồi đưa cho Sư Mẫu xem. Sau khi xem xong, Sư Mẫu nói với tôi: "Tranh của ông ấy chẳng bằng ăn một miếng bánh mì nướng." Ý là nói, tôi đi mua một cái bánh sừng bò hay bánh mì gì đó, ăn vào còn có vị; còn xem tranh của ông ấy thì chẳng có vị gì cả. Đây là vì bà ấy không hiểu về hội họa, chúng ta không thể trách bà ấy được. Nếu Dương Thiện Sâm nghe được hay xem được đoạn video này, cũng đừng trách bà ấy, bởi vì bà ấy thực sự không hiểu. Tranh ông ấy có tinh thần của ông ấy trong đó, nhưng những thứ ông ấy vẽ ra, bên trong có cả "thấy núi không phải là núi, thấy nước không phải là nước"; nhưng cũng có "thấy núi là núi, thấy nước là nước".

Nhưng với một họa sĩ kỳ cựu công lực thâm hậu như vậy, sao lại thế này? Những gì ông ấy vẽ ra trông cũng giống như tranh tôi vẽ hồi mẫu giáo. (mọi người cười) Tôi có vài bức tập vẽ, vẽ rất xấu, vẽ... "Ôi! Phiền thật! Sao lại thế này? Sao tôi vẽ tệ thế nhỉ?" Rồi tôi lấy mực chấm vài nét, xóa đi, rồi bôi bậy vài cái. Nhìn album tranh của ông ấy, tôi phát hiện ra những nét bôi bậy của tôi giống y như của ông ấy! (mọi người cười)

Tôi nói: "Ô! Mấy bức vẽ bôi bậy này đừng vứt đi." (mọi người cười) Tôi phát hiện ra mấy bức này cũng rất quý giá, trong album của ông ấy cũng có những bức như vậy. (mọi người cười) Pháp sư Liên Đăng nói với tôi một câu. Tôi nói: "Lạ thật, Dương Thiện Sâm là một họa sĩ lớn, sao trong album của ông ấy lại có những thứ này, nhìn chỉ là vài nét phác thô sơ, hoặc là đổ mực xuống, để nó khô, chỉ có vậy thôi." (mọi người cười) Pháp sư Liên Đăng quả là có con mắt tinh đời! Ông ấy nói: "Đây chính là khi chứng ngộ đến tận cùng, thấy núi lại là núi, thấy nước lại là nước." (cười, mọi người cười) (mọi người vỗ tay)

Ở đây còn có Thượng sư Liên Nhuận đến từ Indonesia, cô ấy cũng là một họa sĩ vẽ tranh thủy mặc. Cô ấy vẽ tôm, vẽ cua, vẽ chim nhạn, vẽ tùng, và cả hạc đậu trên cành tùng, vẽ hoa, chim, nhà tôi có tất cả những bức tranh này của cô ấy; hoa, chim, tùng, hạc, chim én, tôm, cua, cô ấy đều vẽ được. Vẽ rất đẹp, và cũng đã từng đoạt giải.

Mỗi lần cô ấy muốn vẽ gì đều phải quan sát trước. Ví dụ như muốn vẽ tôm, vẽ cua, phải mua thật nhiều cua về, quan sát cách chúng bò, rồi mới vẽ như vậy. Có lần chồng cô ấy nói với cô: "May mà em không vẽ hổ (cười, mọi người cười), nếu mua một con hổ về nhà thì chúng ta khốn đốn rồi."

Dù bạn đi vào bằng lý luận hay bằng sự pháp, bạn đều sẽ đạt đến cảnh giới này; cảnh giới cuối cùng chính là tự nhiên. Khi nhập môn sẽ có biến hóa, sau đó diễn biến thành tự tại và tự nhiên; khi đạt đến trạng thái tính Không đó, bạn sẽ có một hiện tượng vẽ một cách tự nhiên, và bản lai diện mục sẽ hiển lộ ra; đây gọi là "chân tính diện mục" hiển hiện trong hội họa.

Phật lý này, việc học Phật và hội họa có mối liên hệ rất sâu sắc. Bạn có biết cái gọi là "thiền họa" không? Thiền sư vẽ tranh cũng như vậy, hoàn toàn cần đến tâm linh và ý niệm, hoàn toàn thanh tịnh, vô tâm mà vẽ, loại tranh vẽ ra với ý cảnh như vậy là cực kì siêu nhiên, hoàn toàn là tác phẩm thượng thừa của hội họa tâm linh.

Tu học Phật pháp cũng phải như vậy, khi thật sự đạt đến trạng thái ý niệm thanh tịnh, thật sự đạt đến trạng thái tự tại tự nhiên, mỗi lời nói việc làm của các bạn thể hiện ra đều là phong thái của Phật Tổ, là phong thái của Tổ sư; tất cả đều có thể hiển hiện nơi thân các bạn. Lúc này, ánh sáng đó là một loại hào quang rất tự nhiên, không phải thế tục; không phải chùa ai to nhất, ai có nhiều đệ tử nhất, không phải ai có nhiều tiền nhất, ai kiểm soát được nhiều người nhất, không phải như vậy, mà là cảnh giới của thần tiên và Phật Tổ hoàn toàn siêu thoát khỏi thế tục. (mọi người vỗ tay)

**Mật ngữ Chân Phật - Thấy núi không phải là núi**

"Thấy núi không phải là núi, thấy nước không phải là nước." Cuối cùng lại là "thấy núi là núi, thấy nước là nước". Có người nghe xong vẫn không hiểu, họ không biết nghĩa là gì. Bây giờ tôi sẽ giải thích cho mọi người bằng một cách khác, các bạn sẽ hiểu.

Điều này được chia thành ba giai đoạn: giai đoạn thứ nhất là khi còn phàm phu, giai đoạn thứ hai là trong quá trình tu hành, giai đoạn thứ ba là sau khi giác ngộ. Cứ nói núi với nói nước hoài! Chưa chắc đã rõ! Thực ra ví dụ hay nhất nên nói về người tu hành và phụ nữ, ví dụ này tôi rất thích nói, sẽ rất rõ ràng, các bạn sẽ hiểu ngay.

Thứ nhất, một người tu hành, khi chưa tu hành, anh ta nhìn thấy một cô gái xinh đẹp, lập tức cảm thấy, thấy cô gái xinh đẹp chính là cô gái xinh đẹp, anh ta lập tức bị mê hoặc. Đây chính là cảnh giới thứ nhất, "thấy núi là núi, thấy nước là nước". Thấy cô gái xinh đẹp, bạn lập tức bị mê hoặc. Vậy nên thấy cô gái xinh đẹp như thế, thì đúng là một cô gái xinh đẹp như thế.

Thứ hai, khi bạn đã tu hành rồi, bạn tu quán bạch cốt. Cảnh giới thứ hai là "thấy núi không phải là núi, thấy nước không phải là nước"; vị tu hành này vì đã tu quán bạch cốt, khi nhìn thấy cô gái xinh đẹp, "Ôi! Biến thành bộ xương trắng." Tất cả những cô gái xinh đẹp đều biến thành bộ xương trắng, người tu hành này sau khi vào cửa đạo, cảm nhận thứ hai của anh ta là, những cô gái này đều là bộ xương, từng người một đều là những bộ xương với khuôn mặt phấn son, đây là cảnh giới thứ hai, thể hiện rằng anh ta đã tách biệt với phụ nữ rồi. "Thấy núi không phải là núi, thấy nước không phải là nước", anh ta nhìn thấy núi này, nhìn thấy nước này, đều không cho rằng đó là núi, không cho rằng đó là nước, tất cả đều biến thành xương trắng.

Đến cảnh giới thứ ba, chính là khai ngộ rồi, anh ta đã khai ngộ rồi, khi khai ngộ, "thấy núi lại là núi, thấy nước lại là nước", nghĩa là gì? Lúc này khi bạn nhìn thấy cô gái xinh đẹp, vẫn là cô gái xinh đẹp. Nhưng tâm anh ta đã không còn xao động nữa, người tu hành này đã khai ngộ rồi. Nhìn thấy cô gái xinh đẹp, đúng là cô gái xinh đẹp không sai, nhưng tôi đã không còn bị mê hoặc bởi cô nữa. Đó chính là "thấy núi lại là núi, thấy nước lại là nước". (mọi người vỗ tay)

Bởi vì tôi nói núi! Nói nước! Người ta cứ nghe mãi không hiểu, không biết chuyện gì đang xảy ra, tại sao lúc đầu là "thấy núi là núi, thấy nước là nước", lần thứ hai lại "thấy núi không phải là núi, thấy nước không phải là nước", đến lần thứ ba thì sao? "Thấy núi lại là núi, thấy nước lại là nước"? Họ không thể hiểu được ý nghĩa của "sơn thủy" này nằm ở đâu, vậy nên tôi dùng ví dụ về một cô gái và một người tu hành, thì bạn sẽ "À!" hiểu ngay!

Thứ nhất khi bạn nhìn thấy cô ấy, ôi, bị mê hoặc luôn, đây là một cô gái xinh đẹp. Còn thứ hai, khi bạn đã tu quán bạch cốt, đã vào cửa đạo rồi, ôi! Tất cả đều là những bộ xương phấn son, nhìn cô gái không còn là cô gái nữa. Khi bạn khai ngộ, bạn không còn bị ảnh hưởng bởi cô gái này, bạn nhìn cô ấy vẫn là cô gái xinh đẹp, nhưng không còn bị ảnh hưởng. Ba cảnh giới này, các bạn chỉ cần qua ba ví dụ đơn giản này là có thể lĩnh hội được.

Thực ra ví dụ thứ nhất, trạng thái thứ nhất, chính là "môi trường giết tâm". Phàm phu đều bị ảnh hưởng bởi môi trường, đó là "cảnh giết tâm", bạn đều bị ảnh hưởng bởi môi trường mà! Hôm nay thời tiết hơi âm u, trời mưa, tâm trạng bạn liền không tốt, trời nắng thì tâm trạng lại rạng rỡ, điều này hoàn toàn bị ảnh hưởng bởi môi trường, chính là môi trường đã giết chết bạn.

Cảnh giới thứ hai, bạn đã vào cửa đạo rồi, bạn bắt đầu tách biệt với môi trường. Điều này có nghĩa là tâm bạn và môi trường đã tách rời, bạn cố gắng tránh để môi trường ảnh hưởng đến mình, bạn trốn vào trong núi sâu để tu hành, cố gắng không nhìn thấy, không nghe thấy, không bị ảnh hưởng. Đây chính là tâm đã tách biệt với môi trường, đây chính là cảnh giới thứ hai.

Cảnh giới thứ ba, chính là tâm giết chết môi trường, dù trời tốt hay xấu, dù trời mưa hay nắng đẹp, tâm cảnh của bạn luôn luôn sáng sủa. (mọi người vỗ tay)

Khi tu hành đến cảnh giới thứ ba, dù áp lực bên ngoài có lớn đến đâu, dù bên ngoài có nhiều tiếng hoan hô hay nhiều lời phỉ báng, dù có nhiều áp lực đè nặng lên người bạn, tâm cảnh của bạn vẫn luôn như một, đây chính là tâm cảnh khai ngộ thứ ba, đây chính là "tâm giết cảnh".

Thứ nhất là "cảnh giết tâm" của phàm phu, thứ hai là trong quá trình tu hành, tâm tách biệt với môi trường. Thứ ba là tâm tu hành của bạn đã có thể giết sạch mọi môi trường. Đây chính là "thấy núi là núi, thấy nước là nước", "thấy núi không phải là núi, thấy nước không phải là nước", "thấy núi lại là núi, thấy nước lại là nước".

Lời giải thích của tôi đã rất rõ ràng rồi. Nhiều người nghe xong nói với tôi rằng họ vẫn không hiểu, thế thì không còn cách nào khác! Tôi chỉ cần đưa ra ví dụ về nam và nữ, các bạn liền hiểu ngay, đây là cách đơn giản nhất, như vậy các bạn đã rõ chưa? (mọi người vỗ tay) Vậy hôm nay tôi khai thị với mọi người đến đây.

Om mani padme hum.


### 10. Hiểu rõ chúng sinh khổ, sinh ra tâm xuất ly


Sau khi chúng ta đã nhập môn, đương nhiên chúng ta phải hiểu về Phật pháp, cần phải hiểu rõ tứ Thánh, lục phàm, thập pháp giới; phải biết được nỗi khổ của chúng sinh trong lục đạo, hiểu rõ nỗi khổ của chúng sinh trong lục đạo. Cõi trời cũng là khổ; từ cõi địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, ba ác đạo đều rất khổ. Cõi người cũng là khổ, trời, người, atula, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, tất cả đều rất khổ. Những cảnh giới này các bạn đều phải hiểu rõ, sau đó tìm cầu xuất ly. Khi đã hiểu được vô thường, hiểu được xuất ly, thêm vào đó là vô ngã, lúc này, bạn chính là A La Hán. A La Hán là gì? Chính là khi bạn hiểu được vô thường, hiểu được xuất ly, tu chứng vô ngã, bạn chính là A La Hán.

Nỗi khổ của lục đạo luân hồi thực ra đang hiển hiện rất rõ ràng ngay tại đây, các bạn nhìn xem bệnh viện này, thấy người ta xây bệnh viện, xây to lớn, làm việc thiện lớn, thực ra nếu tôi đề tựa cho nó! Sau này tôi đề tựa cho nó, tôi sẽ đề như thế này: "Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát phân viện Đại học Đài Loan", nghĩa là gì? "Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát U Minh Giới Địa Ngục Đạo phân viện Tổng Y viện Vinh Dân", "Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát U Minh Giới Địa Ngục Đạo phân viện Từ Tế", tôi sẽ viết như vậy.

Bệnh viện chính là địa ngục, nói cho mọi người biết, đó là cách nhìn của tôi; các bạn nhìn thấy, bệnh viện chỉ là bệnh viện, trong đó có rất nhiều thiên thần, thiên thần áo trắng. Tất cả đều là ác quỷ, dạ xoa, ở đó hành hạ người ta! Toàn cầm dao kéo, mổ xẻ, cắt chém như thế. Địa ngục mổ não, địa ngục thay thận, địa ngục mổ gan, địa ngục móc mắt, đều ở đó cả! Thật sự bệnh viện là như vậy đấy.

Tôi đã từng xuống địa ngục, tôi nói thật với các bạn; tôi đã xuống địa ngục và nhìn thấy một đệ tử, hai chân của người đệ tử đó bị đóng đinh. Tôi đã rất lâu không có tin tức gì của người đệ tử này. Khi tôi nhìn thấy anh ấy, anh ấy thấy tôi đến liền khóc. Tôi hỏi: "Sao anh lại ở đây? Chẳng lẽ anh đã chết rồi sao?" Tôi hỏi anh ấy đấy! Tôi nói: "Anh đã chết rồi à?" phải không? Không phải nói tiếng Indonesia, tiếng Indonesia là "Selamat pagi". "Selamat pagi" là chào buổi sáng hay chào buổi trưa? Chào buổi sáng à? "Selamat pagi" Tôi nói: "Anh đã chết rồi à?" Selamat pagi!

Ôi! Người đệ tử đó lắc đầu với tôi, tôi hỏi: "Sao anh lại ở đây?" Anh ấy nói: "Con đang ở địa ngục." Anh ấy nói với tôi như vậy, anh ấy đang ở địa ngục, anh ấy lắc đầu với tôi. Cuối cùng tôi đi tìm hiểu về anh ấy, sau khi trở về tôi điều tra và phát hiện ra anh ấy đã nhập viện. Không biết hai chân bị làm sao, bị chuột rút! Cả hai chân đều bị chuột rút, đột nhiên bị teo cơ, co giật, không thể đi lại được, giống như bị đóng đinh vậy, đau đớn lắm! Anh ấy vẫn còn sống! Chỉ là hai chân bị teo cơ, như thể bị đóng đinh vậy, toàn bộ chân không thể cử động được, phải nhập viện, đột nhiên trở nên như vậy.

Khi tôi xuống cõi địa ngục, tôi thấy hai chân của anh ấy bị đóng đinh; người vẫn chưa chết, nhưng thực ra đã đang chịu hình phạt ở địa ngục rồi. Các bạn nói xem bệnh viện có phải là địa ngục không?

**Hiểu rõ nhân quả**

Chúng ta cần phải hiểu rõ nhân quả, hiểu rõ đạo lý luân hồi; nhân quả và luân hồi là một tư tưởng chủ đạo của Phật giáo. Chúng ta đã làm nhiều việc sai trái, đừng nghĩ rằng không có báo ứng, không phải đợi đến khi xuống địa ngục mới bị trừng phạt, mà ngay tại dương gian này, chúng ta đã đang chịu hình phạt của địa ngục rồi. Những căn bệnh trong cơ thể của bạn, thực ra chính là đang chịu hình phạt của địa ngục, đó là nghiệp chướng của bạn, nghiệp chướng hiện tiền. Đừng nghĩ rằng không có địa ngục, thực ra bạn đã đang chịu hình phạt rồi.

Vì vậy đừng nghĩ rằng địa ngục là không có thật, căn bản không có chuyện đó, là do người ta bịa ra để khuyên người ta làm việc thiện! Nhân quả ở đâu? Khi bạn phẫu thuật não, là bạn đã vào địa ngục phẫu thuật não rồi; khi bạn bị xơ gan, phải cắt bỏ một quả thận, khi cơ thể bạn có vấn đề gì đó, nghiệp chướng nhiều đời đã hiện ra trên thân thể bạn, điều này rất đáng sợ.

**Giới**

Vì vậy Phật Đà ban đầu dạy chúng ta điều đơn giản nhất, Phật pháp đơn giản nhất: "Đừng làm các điều ác, siêng làm các việc lành", đơn giản vậy thôi. "Đừng làm các điều ác" là tiêu cực, "siêng làm các việc lành" là tích cực. "Đừng làm các điều ác" chính là "giới" đấy! Chính là bảo bạn giữ giới, bạn phải giữ giới. Đúng không?

Ban đầu không có nhiều giới luật được quy định, chỉ có mấy câu này thôi. "Đừng làm các điều ác", đó chính là giới, bảo bạn không được làm việc xấu; "Siêng làm các việc lành", bảo bạn tích cực làm việc thiện; "Tự thanh tịnh ý", bảo bạn ngồi thiền dưới gốc cây, thanh tịnh tâm ý của mình; "Đó là lời Phật dạy". Giới luật ban đầu là như vậy đó. Phật Đà ban cho chúng ta giới luật, về sau có thêm rất nhiều giới, là vì nguyên nhân gì? Bởi vì đệ tử phạm một điều sai trái nào đó, Ngài lập ra một giới; đệ tử phạm một điều sai trái khác, Ngài lại lập thêm một giới, thế là giới luật càng ngày càng nhiều.

Tại sao phải giữ giới? Bởi vì khi giữ giới, bạn phải thu nhiếp tâm mình, có vậy tâm mới được thu nhiếp! Không có giới luật, tâm bạn sẽ buông lỏng. Để thu nhiếp tâm về một mối, để tâm thành một, để phát sinh định lực, nên mới cần giới luật. Nếu bạn có thể tự do thu phóng, hoàn toàn có thể định tâm, thì những giới luật này đối với bạn không còn cần thiết nữa, bởi vì trong cuộc sống của bạn, một cách tự nhiên bạn đã hoàn toàn giữ giới rồi.

Vì vậy "giới, định, huệ" tam học, là ba môn học vô lậu, khi chúng ta bước vào Phật pháp, bước vào Phật học, trước tiên chúng ta phải hiểu rõ tam học "giới, định, huệ". Chúng ta trước tiên phải giữ giới, như đã nói về "giới" hôm qua.


### 11. Định


Hôm nay chúng ta sẽ nói về định, làm thế nào để phát sinh định? Ngày mai tôi sẽ giảng cho mọi người một số kỹ thuật thiền định.

Như mọi người đã biết, từ giới sẽ sinh ra định, từ định mới có thể sinh ra huệ. Chỉ có định mà không có trí huệ, điều này gọi là ngu; ngu nghĩa là bạn chỉ biết học định mà không có trí huệ, như vậy chẳng phải là ngu sao? Còn nếu bạn chỉ học trí huệ, bạn biện tài vô ngại, trí huệ rất cao, nhưng bạn không có định, thì sẽ trở thành cuồng, chính là chữ cuồng trong ngông cuồng.

Trí huệ của bạn rất cao, nhưng không thể định được, thì bạn là cuồng; bạn học định, nhưng không có trí huệ thì là ngu, chữ ngu trong ngu độn. Vì vậy khi chúng ta học định, tiếp theo là phải sinh ra huệ, rồi từ trí huệ quay lại tham học định, vừa hay là định và huệ song tu, định huệ có thể song tu. Như vậy giới, định, huệ được gọi là tam vô lậu học.

Dù bạn học Hiển giáo, học Mật giáo hay học Phật học, chữ định là điều quan trọng nhất. Công phu thiền định công sâu thì có thể thành Phật, không học định thì học Phật cái gì? Cho nên việc học định theo chúng tôi, dù bạn học Hiển giáo hay Mật giáo, đều như nhau cả, đều phải học định. Không có chữ định này thì không thể sinh ra sức mạnh; không có chữ định này thì trí huệ chân lý, bạn không thể đạt được; không có chữ định này thì trong suốt cuộc đời của bạn, tuyệt đối không thể đạt được pháp vị.

Dù bạn từ Lý mà vào, cuối cùng cũng phải trở thành định hợp nhất với kinh; còn nếu bạn từ Sự mà vào, cũng phải giống như Phật vậy, Phật với bạn hợp nhất, cũng là một chữ định. Cho nên học định chính là một điểm then chốt vô cùng quan trọng trong Phật học của chúng ta. Tam học giới, định, huệ chính là một điểm then chốt của Phật học, mọi người chú ý nhé.

**Tính Không không phải là tất cả đều không**

Vậy tu định, muốn đi vào định thực sự, như tôi vừa nói về thiền định. Về việc học định, tôi đã từng đề cập trong sách này, trước hết phải thu nhiếp tất cả ý niệm về một, rồi chuyển một thành không, một lại phải biến thành không. Trước đây nhiều người hỏi về điều này, thu nhiếp về một, vậy một quy về đâu? Một chính là quy về không. Vậy không là gì? Không có phải là trống rỗng không? Nói về cái "không" này, không chưa hẳn là trống rỗng. Không có thể nói là một loại tính Không, là một trạng thái vận chuyển tự nhiên, tự tại, không phải là loại không - quét sạch tất cả, loại không đó là "ngoan không" [ngoan cố chấp vào không]! Mà là một trạng thái rất tự nhiên, tự tại, mới gọi là "không".

Phật giáo nói về "không", không phải là tất cả đều không, không phải là cái gì cũng không, cái gì cũng không thì sẽ trở thành ngoan không. Có thể nói là tự tính không, vậy tự tính không là một trạng thái tự như tự tại, điều này rất khó giải thích bằng ngôn ngữ, rất khó giải thích cho rõ ràng, rất khó! Nhưng theo tôi giải thích thì cái gọi là tính Không, chính là tự nhiên, tự tại, tự như, thần thông tự tại, một trạng thái như thế.

Về phương diện định, ngày mai tôi sẽ thảo luận chi tiết hơn với mọi người về phương pháp thiền định. Hôm nay chúng ta cần hiểu rằng: vào từ cửa Sự tốt hơn cửa Lý, thực hành một pháp tốt hơn nghe biết nhiều; nghĩa là đi sâu vào một pháp tốt hơn học nhiều pháp. Về vấn đề cảnh giới, cần phải rất siêu việt, Phật học cũng rất siêu việt; tuy siêu việt, nhưng lại nằm trong thể dụng, thể hiện trong cuộc sống hàng ngày của bạn, biểu hiện phong thái của nhà Phật. Khi bạn đạt được tự tại, tự như, bạn đã ấn chứng những điều được đề cập trong kinh Phật. Cái gọi là ấn chứng các pháp chính là tất cả đều được bao hàm trong Phật pháp.

**Vấn đề quy y**

Các bạn học Phật cũng đề cập đến vấn đề quy y này, có người hỏi tôi, nên quy y vào lúc nào? Có phải nên hiểu biết Phật pháp trước rồi mới quy y không?

Quy y đối với các bạn, có vẻ rất đơn giản, muốn quy y thì cứ quy y thôi! Thực ra không đơn giản đâu! Khi quy y, việc lựa chọn không hề đơn giản, bạn phải chọn một vị thầy! Nếu bạn chọn một vị thầy có tâm sân hận nặng, bạn có thể bị đánh chết đấy. (cười) Nếu bạn chọn một vị thầy tham lam, tiền bạc của bạn chẳng phải sẽ bị vơ vét sạch sao? Nếu bạn chọn một vị thầy si mê, một vị thầy ngu muội, vậy chẳng phải bạn sẽ không học được Phật pháp sao? Cho nên hai chữ "quy y" không hề đơn giản. Điều mà các bạn thấy đơn giản nhất là: "Vị thầy đó bảo chúng ta quy y! Được thôi!" Điền vào tờ đăng ký quy y, điền xong, bạn còn chưa hiểu gì về thầy mà đã quy y rồi. Đúng không?

Vậy khi nào bạn nên quy y? Có người nói: "Tôi là tín đồ Cơ Đốc giáo, tôi có thể quy y không?" Đây cũng là một vấn đề. Họ là tín đồ Cơ Đốc giáo, họ hoàn toàn không biết gì về Phật học. Có người nói: "Tôi vừa mới bắt đầu thờ cúng thần linh, tôi có thể quy y không?" Họ vừa mới bắt đầu mê tín thôi. Đây cũng là một vấn đề, họ nghĩ rằng đến đây quy y, tôi sẽ cho họ tiền, ban phúc cho họ, tai nạn gì cũng không có! Lái xe đảm bảo bình an, mọi việc đều được bình an. Cũng là một vấn đề. Vậy khi nào mới là lúc quy y? Cho nên điều này trở thành một vấn đề lớn.

Bạn quy y với ai? Chúng ta biết "quy y Phật" là quy y giáo pháp của Phật, giáo pháp của Phật Thích Ca Mâu Ni; "quy y pháp" là quy y kinh điển Tam tạng, tất cả những giáo pháp mà Đức Phật đã truyền dạy; "quy y tăng" là quy y tất cả các bậc thánh hiền tăng đại diện cho Đức Phật, các vị thầy đang truyền pháp hiện nay.

Còn về Kim Cương thừa thì có Tứ quy y, tức là "quy y Kim cương Thượng sư". Các bạn phải hiểu rõ điều này, Kim cương Thượng sư là tổng trì của Tam Bảo, Tam Bảo do ngài truyền dạy, nên gọi là tổng trì của Tam Bảo. Các bạn phải nhận rõ vị thầy này. Đến khi các bạn nhận rõ rồi, có khi các bạn lại muốn trả lại giấy chứng nhận quy y. Bởi vì vị Kim cương Thượng sư mà bạn quy y không phải như vậy, không nhất định là tốt. Đây là vấn đề "lấy" và "bỏ" của bạn, giữa việc lấy và bỏ, giữa quy y và không quy y, đều là một vấn đề.

Cánh cửa tông phái của chúng ta rộng mở đón nhận mười phương. Khi bạn khởi tâm quy y, tôi đều tiếp nhận, tôi là như vậy đó. Bất kì ai, dù bạn là tín đồ Cơ Đốc giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo hay bất kì tôn giáo nào, khi bạn khởi tâm quy y, đó chính là có duyên, bạn đều có thể quy y. Quy y chính là kết duyên, nhưng tôi phải nói cho các bạn biết, Lư Sư Tôn này bảo đảm rằng tôi là người thông hiểu Phật học, là người thực tu Phật học, là người thực sự "hành" và "chứng". Tôi bảo đảm với bạn như vậy. (mọi người vỗ tay)

Vậy bạn có thể quy y thêm với người khác được không? Sư Tôn nói: "Được." nhưng nói hơi nhỏ tiếng. (cười, mọi người cười) Các bạn muốn quy y Chân Phật Tông để học Phật pháp, tôi đã nói với các bạn rồi mà! Thông hiểu Phật học, thực tu Phật học, hành chứng Phật học, khai ngộ Phật học, tất cả những điều này đã được bày ra trước mắt rồi, để cho bạn thấy, để cho bạn biết, để cho bạn thể hội, để cho bạn lĩnh ngộ quy y như vậy là không sai!

Nếu bạn đi quy y với một vị thầy khác, một số vị thầy khác cũng rất tốt! Tôi không thể nói rằng các vị thầy khác là không được! Hoặc thế này thế kia! "Trên đời này chỉ có mình tôi là giỏi nhất, những người khác đều không tốt!" - điều này không thể nói được. Trong số đó cũng có rất nhiều bậc cao nhân, nhưng khi bạn đi quy y, trước hết phải nhận rõ vị thầy đó, phải hiểu rõ vị thầy đó, như vậy mới không có sai sót.

Tuy nhiên tôi nói cho bạn biết, tôi thường nói với mọi người như thế này: "Khi bạn đã quy y một vị thầy rồi, tốt nhất đừng phỉ báng vị thầy đó." Bạn đã quy y rồi, đã tôn người làm thầy rồi, bạn tôn kính người là một vị thầy là được rồi. Nếu Phật học của thầy không viên mãn, không đầy đủ, thầy chưa chứng ngộ, đó là việc của thầy, bạn vẫn phải tôn kính thầy. Ít nhất thầy cũng có vài ưu điểm, bạn học những ưu điểm của thầy, đừng nhìn vào khuyết điểm. Cho nên điều quan trọng nhất của đệ tử đối với thầy là phải nhìn vào ưu điểm của thầy, đừng nhìn vào khuyết điểm. Nếu bạn nhìn vào khuyết điểm của thầy, bạn tuyệt đối không thể nhận được lực gia trì của dòng truyền thừa, vĩnh viễn không có! Học pháp không thành. Bởi vì bạn nhìn vào khuyết điểm của thầy, sẽ không tôn trọng pháp mà thầy truyền dạy! Bạn chỉ nhìn vào khuyết điểm của thầy, bạn sẽ không tôn kính thầy! Bạn chỉ nhìn vào khuyết điểm của thầy, làm sao bạn có thể tôn trọng pháp của thầy? Đây là đạo lý rất đơn giản, rất đơn giản.

Cho nên khi bạn theo một vị thầy, tuyệt đối đừng nhìn vào khuyết điểm của thầy, chỉ nhìn vào ưu điểm của thầy, học những ưu điểm đó, như vậy là đủ rồi. Những gì có thể làm tư lương tu hành cho cả đời bạn chính là Phật học mà thầy truyền dạy cho bạn. Ngoài những Phật học này, tất cả những ưu điểm của thầy, tinh thần học tập của thầy, những biểu hiện xuất sắc của thầy, đều là những điểm tinh xảo mà bạn cần phải học hỏi.

Cho nên, việc các bạn quy y Chân Phật Tông là không sai. Thứ nhất, như tôi vừa nói rõ với mọi người, Phật học viên mãn, thực tu viên mãn, chứng ngộ viên mãn, các bạn đạt được ba điều này là đã quá đủ rồi. Còn nếu bạn muốn đi tìm kiếm thêm điều gì khác, đó là việc của bạn. "Tôi muốn đi tìm thầy khác để tu! Muốn đi con đường khác!" - đó là việc của bạn. Nếu bạn đi học rồi nói rằng bên đó tốt hơn, vui hơn, hay thú vị hơn, điều đó cũng được thôi, đó là duyên phận của mỗi người.

Cho nên khi quy y, phải quy y với một vị thầy có tâm rộng lớn vô lượng, có trí huệ vô biên, có định lực vô biên, có chứng ngộ vô biên, có pháp vô biên, có vô biên các loại, đây chính là "rộng lớn vô lượng". Các bạn phải nhận rõ thầy của mình, quy y với một vị Kim cương Thượng sư chân chính, như vậy lực truyền thừa mà các bạn nhận được sẽ rất thực tế, tu pháp tự nhiên thành tựu.


### 12. Định và huệ


Thưa các vị Thượng sư, các vị đồng tu, xin chào mọi người!

Hôm nay là ngày thứ tư của "Phật Học Tổng Thuyết". Ba ngày trước chúng ta đã nói về "tín, giải, hành, chứng", ngoài ra còn có "Lý nhập" và "Sự nhập", cũng chính là nói về "tam vô lậu học". "Vô lậu" có nghĩa là giải thoát phiền não; "hữu lậu" là có phiền não, "vô lậu" là không có phiền não. Vậy "lậu tận" là gì? Chính là đã giải thoát khỏi phiền não.

"Tam vô lậu học" có thể nói là một trọng điểm của Phật học, sau vô lậu học là gì? Chính là lục độ, tiếp đến là thất bồ đề phần, bát chính đạo, cuối cùng chứng đắc thập lực của Như Lai. Mười loại năng lực siêu việt của Như Lai, gọi là thập lực, đây là một thứ tự của Phật học; vậy tam vô lậu học, tứ diệu đế, ngũ căn ngũ lực, lục độ, thất bồ đề phần, bát chính đạo, cho đến thập lực, đây chính là một thứ tự của Phật học.

Nếu các bạn thường xuyên đọc kinh, sẽ hiểu được rằng trong rất nhiều thuật ngữ Phật học, trọng điểm chính là "định" và "huệ" mà chúng ta sẽ nói đến hôm nay.

Định, huệ - muốn thành Phật cần phải có định và huệ, đây là hai cánh của việc thành Phật, nên gọi là "định huệ song tu". Bởi vì có được đôi cánh này mới có thể thăng lên tứ Thánh giới, cho nên có thể nói thiền định và trí huệ là trọng điểm của toàn bộ Phật học.

Nhớ lại thời Phật Đà, có một đệ tử quy y Phật, tên là A Xà Bá Sĩ, khi dịch sang tiếng Trung thì trở thành tỳ kheo Mã Thắng. Người này học Phật và nghe pháp từ Phật Thích Ca Mâu Ni, ông chỉ nghe được hai câu, hai câu gì? Đó là "Các pháp do nhân duyên sinh, các pháp do nhân duyên diệt". Và thế là A Xà Bá Sĩ vừa đi trên đường vừa niệm hai câu này. Để hiểu được hai câu này thật sự rất sâu sắc.

**Gà có trước hay trứng có trước?**

Tôi nhớ lúc còn nhỏ, thầy giáo đưa ra một vấn đề cho chúng tôi tranh luận, mọi người tranh cãi như người ngã ngựa đổ. Tranh luận gì vậy? Tôi tin rằng khi tôi nói ra, các bạn đều biết, đó là "Gà có trước hay trứng có trước?" Chúng ta đều biết rằng, trứng nở ra thành gà, rồi gà lại đẻ trứng, đây là một vòng tuần hoàn.

Đây là một vòng tuần hoàn rất đơn giản, một điều rất đơn giản, vậy mà thầy giáo cũng hỏi chúng ta! Bạn nói gà có trước ư? Không có gà thì làm sao đẻ trứng? Chắc chắn là gà có trước rồi! Nhưng gà lại nở ra từ trứng! Vậy chắc chắn trứng có trước rồi! Bây giờ mọi người trả lời thế nào? (đệ tử đáp: "Luân hồi!") Luân hồi? Anh ấy nói luân hồi. Phật giáo vốn dĩ nói về luân hồi mà. (Lại có người đáp: "Cái nào nói trước thì đúng.") Ồ! Nói trước là đúng hả? (cười, mọi người cười)

**Các pháp do nhân duyên sinh, các pháp do nhân duyên diệt**

Trong số các đệ tử của Phật thuở xưa, có một vị là Xá Lợi Phất, chúng ta đều biết. Bản thân ngài Xá Lợi Phất đang suy nghĩ về một vấn đề, cũng tương tự như vấn đề này. Bản thân ngài đã học rất nhiều nghi quỹ tu hành, bởi vì cha của ngài là một học giả nổi tiếng của đạo Bà La Môn, từ nhỏ ngài đã học rất nhiều kinh điển và nghi quỹ của đạo Bà La Môn, ngài đều thông thuộc.

Chúng ta biết rằng theo lý thuyết của Bà La Môn Ấn Độ, vũ trụ được cai quản bởi Đại Phạm Thiên, và loài người được Đại Phạm Thiên tạo ra. Xá Lợi Phất biết về những luận thuyết được đề cập trong kinh điển này. Ngài không nghi ngờ điều đó, nhưng ngài đang thảo luận một vấn đề: "Đại Phạm Thiên đã tạo ra tất cả mọi người, vậy ai là người đã tạo ra Đại Phạm Thiên?" Ngài suy nghĩ mãi mà không tìm ra câu trả lời.

Chúng ta biết rằng trong Cơ Đốc giáo, con người được Chúa tạo ra, phải không? Chúa tạo ra con người! Tạo ra Adam! Tạo ra Eva! Ngài cũng có một thiên đường! Vậy thì ai đã tạo ra Chúa? Cho nên, mọi việc khi bạn tìm hiểu đến tận cùng đều không có câu trả lời. Xá Lợi Phất là người có trí tuệ rất cao, ngài thường xuyên suy ngẫm về vấn đề này nhưng không tìm được lời giải đáp.

"Gà có trước hay trứng có trước?" "Con người do Thượng đế tạo ra, vậy ai là người tạo ra Thượng đế?" Đại Phạm Thiên mà chúng ta đang nói đến, cũng chính là Allah của Hồi giáo, là Jehovah của Cơ Đốc giáo, là Ngọc Hoàng Đại Đế của Đạo giáo, là Đại Phạm Thiên của Bà La Môn giáo, tất cả đều là một, đều giống nhau. Câu đầu tiên trong Kinh Thánh viết "Ban đầu Thượng đế tạo ra trời đất", vậy thì "Ai là người tạo ra Thượng đế?" Xá Lợi Phất cứ suy nghĩ về vấn đề này.

Tỳ kheo Mã Thắng lắc đầu lắc tai đi ngang qua: "Các pháp do nhân duyên sinh, các pháp do nhân duyên diệt", cứ thế mà nói đi nói lại. Xá Lợi Phất vừa nghe thấy: "Ồ! Các pháp do nhân duyên sinh, các pháp do nhân duyên diệt!" Mọi người thử nghĩ xem, các bạn có khai ngộ không? Xá Lợi Phất vừa nghe xong, ngài đã khai ngộ!

Gà có trước hay trứng có trước? Không phải gà có trước, cũng không phải trứng có trước, mà là do nhân duyên sinh, nhân duyên diệt, hoàn toàn do nhân duyên mà sinh ra. Vậy thì Đại Phạm Thiên từ đâu mà có? Cũng là từ nhân duyên mà ra; con người từ đâu mà có? Cũng là từ nhân duyên mà ra, nhân duyên chính là một câu trả lời.

Thật ra nhân duyên chính là một câu trả lời rất lớn. Dù sao thì câu trả lời này một khi đưa ra thì tất cả đều đúng cả. Đúng vậy! Đây chính là câu trả lời! Đừng có cố chấp nữa! Dù sao cũng là do nhân duyên sinh mà! Gà cũng là do nhân duyên sinh! Trứng cũng là do nhân duyên sinh! Đại Phạm Thiên cũng là do nhân duyên sinh! Phải không? Con người cũng là do nhân duyên sinh! Vạn sự vạn vật đều do nhân duyên sinh. Do nhân duyên sinh ra, cho nên "các pháp do nhân duyên sinh, các pháp do nhân duyên diệt".

Sau khi có được câu trả lời này, Xá Lợi Phất lập tức đến tinh xá Trúc Lâm tìm Phật Thích Ca Mâu Ni. Ngài cùng với Mục Kiền Liên đi tìm Phật Thích Ca Mâu Ni, và cả hai cùng quy y. Phật Đà ghé vào tai Xá Lợi Phất nói một câu: "Chân lý vũ trụ mà ta đã chứng ngộ, hôm nay cuối cùng đã có người hiểu được." Các bạn chưa từng nghe câu này đâu nhỉ! (Sư Tôn cười, mọi người cười) Phật ghé vào tai Ngài nói: "Chân lý vũ trụ mà ta đã chứng ngộ, hôm nay cuối cùng đã có người hiểu được." Cho nên nói một cách đơn giản, trong mười đại đệ tử, Xá Lợi Phất được xếp vào vị trí đầu tiên, là vị đại đệ tử số một, chính là vì Ngài có thể hiểu được hai chữ "nhân duyên".

Từ thuở ban đầu, điều mà Phật Đà đã lĩnh ngộ dưới cội bồ đề cũng chính là hai chữ "nhân duyên". Phật Đà ngồi dưới cội bồ đề, chính là dựa vào mười hai nhân duyên để thiền định, quán chiếu về mười hai nhân duyên này, rồi sau đó đến khi khai ngộ. Vì vậy, người có thể hiểu được "các pháp do nhân duyên sinh, các pháp do nhân duyên diệt" chính là người đã hiểu được Đức Phật, đã ngộ được chân lý. Do đó, việc Xá Lợi Phất được tôn xưng là "trí huệ đệ nhất" cũng có đạo lý của nó.


### 13. Chỉ quán


Tu định, tu thiền định này có hai loại khác nhau, tu định trong Hiển giáo và tu định trong Mật giáo có sự khác biệt, nhưng đến cuối cùng đều giống nhau.

Trong Hiển giáo, tu định đều dùng "lục diệu môn". Vậy "lục diệu môn" là gì? Thứ nhất là đếm hơi thở, thứ hai là đi theo hơi thở, thứ ba là chỉ - dừng, thứ tư là quán, tiếp đến là hoàn, rồi đến tịnh, đây là sáu môn kỳ diệu, đây là điều phải học khi học định trong Hiển giáo.

Còn trong Mật giáo thì dùng quán, dùng quán tưởng để tu định. Có rất nhiều loại quán tưởng, tôi cũng đã từng giải thích rất chi tiết trong "Giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh" về các loại quán tưởng để nhập Tam ma địa của Mật giáo Chân Phật Tông chúng ta, giảng giải kỹ thuật quán tưởng một cách rất rõ ràng.

Thiền tông khi dạy người ta về "chỉ" và "quán", sư phụ đều xem căn cơ mà dạy. Có một lần, một vị lão thiền sư dẫn một vị thiền sư trẻ ra ngoài, ở nơi hoang vắng thấy một bầy nhạn bay qua bầu trời; vị lão thiền sư này, khi dạy đệ tử đều là tùy cơ, nghĩa là gặp thời cơ thì mới dạy. Ngài liền hỏi đệ tử: "Con thấy gì?" Người đệ tử ngẩng đầu nhìn "Ồ! Có con nhạn đang bay." Anh ta thấy con nhạn đang bay. Lão thiền sư liền nổi giận, "Con thấy con nhạn đang bay sao?" Ngài bóp mũi người đệ tử, bóp cho đau, rồi hỏi lại: "Con thấy gì?" Đệ tử đáp: "À! Bay qua mất rồi." "Ồ! Con nhạn bay qua mất rồi." Rồi ngài lại đánh anh ta, lão thiền sư giơ tay lên, "bốp"! Đánh một cái lên đầu anh ta.

Bạn biết đấy, họ rất nghiêm khắc, những vị thiền sư này có đánh có hét, cầm gậy gõ vào mặt như thế, vừa đánh bằng gậy, vừa hét lên, đánh một cái là hét một tiếng, tiếng rống sư tử, nếu không nghe lời thì lấy gậy ra, đánh ngay lên đầu, tất nhiên là khai ngộ thôi, ngất đi luôn rồi. Ngài đánh vào đầu đệ tử, hỏi: "Con lại thấy gì?" Đệ tử đáp: "Bây giờ chẳng có gì cả, không còn gì nữa, bây giờ chỉ thấy đau thôi!" (mọi người cười) Mũi đau quá! Đầu cũng bị đánh đau. Thiền sư bảo anh ta về suy nghĩ lại. Vị thiền sư này đang dạy pháp, ngài kích thích anh ta, dùng phương pháp kích thích để đánh, ép buộc, đá, mắng, cách này khiến tư tưởng của anh ta nhanh chóng tóe ra tia lửa.

Ý của ngài là, khi đánh bạn là để cho bạn nhìn, bạn thấy con nhạn bay, hiện tại chính là hiện tại, bạn đang thấy con nhạn đang bay. Tương lai sẽ là bay qua mất, trong đó bao hàm hai thứ, cho thấy bạn vẫn còn vọng niệm, người học thiền phải học "chỉ", phải dừng lại. Bảo bạn nhìn, thấy gì? Bạn phải trả lời thế nào, ồ! (Có đệ tử đáp, chẳng thấy gì cả.) Đó là thông minh đấy, nhưng lúc đó ngài cũng sẽ đánh bạn đấy! Bởi vì "Anh nói dối!", rõ ràng con chim đang bay mà anh lại nói dối! Cho nên trong cách dạy pháp của họ, phần nhiều là đánh tới đánh lui như thế đó (mọi người cười).

Vị lão sư phụ này! "Bốp"! Đánh đệ tử một cái, "Con thấy gì?" Anh ta nhìn thầy, rồi đánh lại thầy một cái. Nói cho các bạn biết, vị lão sư phụ này liền vui mừng. "Ừm! Tương ứng rồi!" (mọi người cười vỗ tay) Các bạn thấy hai vị thiền sư ở đó, tôi đá ông một cái, ông đá tôi một cái, tôi đấm ông một cái, ông đấm tôi một cái, thế là đúng rồi đấy. (mọi người cười)

Thực tế là như vậy đó, tôi đánh bạn một bạt tai, bạn đánh tôi một bạt tai, hai người ở đó lĩnh ngộ! Ở đó suy nghĩ, ở đó lĩnh ngộ, chẳng có gì để nói cả, đó chính là "chỉ". Bảo bạn dừng hết tất cả vọng niệm lại, công phu học định đầu tiên chính là "chỉ".

"Tại sao thầy đánh con một bạt tai?" Bởi vì đã lĩnh ngộ được "chẳng có gì để nói"; như vừa nói đó, chẳng có gì cả, nói không thấy gì là giả dối, chẳng có gì để nói, đừng có bất kì vọng niệm nào. Người học Phật chúng ta phải dừng vọng niệm này lại, không thể dừng ở hiện tại - chim đang bay, quá khứ - chim bay qua rồi; hiện tại - đau quá"!

Thiền trong các vị thiền sư! Lý do dùng gậy đánh và hét chính là ở đây. Trong đó có thiền cơ. Thiền cơ là gì? Thiền là "thèm ăn", cơ là "đói bụng", thế thì gọi là "thèm đói" rồi! (mọi người cười)

Tu tập định là để dạy mọi người, việc đầu tiên là phải dừng vọng niệm lại. Con người chúng ta vọng niệm không ngừng, không dứt, những ý niệm này cứ xoay vòng mỗi ngày, xoay mãi không dừng; khi bạn tĩnh lại một chút để suy nghĩ, ôi chao, thật là phiền não quá. Trong số quý vị đang ngồi đây, ai là người không có phiền não, hãy giơ tay lên? Ai cũng có phiền não cả. Vừa rồi chỉ có mình tôi giơ tay. (mọi người vỗ tay)

Thực ra không phải là không có chuyện gì, mà là có rất nhiều chuyện, không phải là không có việc gì, Sư Tôn có rất nhiều việc, có một bài hát tên là "Tâm sự ai biết được", "Tâm sự ai người biết" (tiếng Đài), rồi lại có câu "Trong lòng nghìn mối", trái tim này có nút thắt. Tối hôm qua thấy trời mưa, lại nhớ đến câu "đêm nay lại sắp mưa rồi". (tiếng Đài)

Đúng là có chuyện phiền não! Không phải là không có đâu, rất nhiều chuyện. Chúng sinh ai cũng có phiền não, bất kì ai cũng có phiền não. Dù làm tổng thống một nước cũng có phiền não, từ người bán hàng rong đến quan chức quyền quý, ai ai cũng có phiền não, chỉ là đem phiền não xem như không có gì, đó mới gọi là giải thoát phiền não.

Hôm nay bạn đem tất cả phiền não ra xem như có thật, cứ vướng mắc mãi, giải quyết xong chuyện này lại đến chuyện khác, xong chuyện kia lại đến chuyện nọ, phiền não cứ nối tiếp nhau không ngừng nghỉ. Bạn phải dừng lại, chặt đứt ngay lập tức, dùng thanh kiếm trí tuệ của mình, "đoạn" chính là dừng. Chặt đứt phiền não chính là đại trí huệ. Người có trí tuệ cao nhất, họ có thể dứt khoát, lập tức chặt đứt, phiền não đến đây là hết, vọng niệm từ đây không còn, như thế mới được tự tại. 

Vậy dạy bạn dừng vọng niệm, nếu vọng niệm không dừng thì sao? Bạn nói khi bạn tọa thiền, giống như chúng ta học thiền quán, tĩnh tọa này, "tôi phải đoạn trừ phiền não, tôi phải đoạn trừ phiền não", ngày nào cũng niệm như thế, "tôi phải đoạn trừ phiền não", cái "tôi phải đoạn trừ phiền não" này cũng chính là phiền não, phải làm sao đây?

Thực ra quán tưởng trong Mật giáo, có những cái thực sự quá phức tạp, quá phiền! Quán tưởng trong Chân Phật Mật Pháp của chúng ta sử dụng cách đơn giản nhất, càng đơn thuần càng tốt. Thực ra quán cũng vậy, càng đơn thuần càng tốt, đừng tưởng rằng quán rất dễ dàng. "Quán tưởng rất dễ mà! Dù quán tưởng phức tạp đến đâu, tôi cũng có thể quán ra được." Bạn thử quán mặt trăng xem, mặt trăng có thể tưởng tượng ra được mà! Mặt trăng rất đẹp, tròn tròn nhé! Nó màu xanh, bên cạnh có một chút mây, quán ra được, bạn muốn tưởng tượng màu xanh này, có người phải mất rất lâu, không tưởng tượng ra được màu xanh lam. Bạn có từng trải qua không, bạn muốn tưởng tượng ra màu đó, màu đó bạn đều không tưởng tượng ra được.

Có một đệ tử đến nói với tôi rằng anh ta thực sự không thể hình dung ra màu sắc, bởi vì trong đó tiêu tai là màu trắng, ban phúc là màu đỏ, hàng phục là màu xanh lam, tăng ích là màu vàng, anh ta không thể hình dung ra được. Tôi hỏi anh ta: "Sao anh không thể hình dung ra được? Anh hãy nhìn nhiều vào những màu sắc đó!" Anh ta nói anh ta bị mù màu.

Nói đến mù màu thì đương nhiên là không thể hình dung ra màu sắc rồi! Ah! Anh ta nhìn thấy đèn đỏ thì cứ thế mà chạy qua! Anh ta nhìn thành màu xanh, màu xanh lại thành màu đỏ, cho nên đôi khi màu sắc cũng rất khó quán tưởng.

Một vầng trăng, pháp quán tưởng Mật giáo của chúng ta ngày hôm nay, tôi dùng cách đơn giản nhất, trước tiên quán một nguyệt luân, sau đó quán chữ chú, rồi chữ chú xoay tròn, biến thành Bổn tôn, Bổn tôn di chuyển, thực hiện pháp quán tưởng "nhập ngã ngã nhập". Tại sao phải thực hiện pháp quán tưởng Mật giáo này? Chỉ vì một đạo lý, đó là "dùng niệm để dừng niệm", dùng cách quán tưởng đơn giản nhất để ngăn chặn vọng niệm của bạn, đây chính là một phương pháp, một kỹ thuật.

Nếu bạn không thể dừng, không có cách nào dừng vọng niệm, thì hãy dùng quán, khi quán đến mức rất rõ ràng, sẽ chuyển thành chỉ, tiến vào vô niệm. Khi đến trạng thái vô niệm, lại có tạp niệm sinh khởi, bạn lại quay về quán, hiện tượng này gọi là "trong chỉ có quán", "trong quán có chỉ". Đây chính là nhập định đó! Chỉ - quán là phương pháp tốt nhất.

Tôi đã từng giảng về quán đếm hơi thở, đếm "một hai ba bốn, một hai ba bốn", hoặc là dùng "Om Ah Hum", hít vào là Om, dừng lại một chút bên trong. Khi khí trụ trong cơ thể thì dùng Ah, thở ra là Hum. Om Ah Hum, Om vào, dừng lại là Ah, ra là Hum, đây chính là đếm hơi thở.

Như vậy chúng ta đếm "một hai ba bốn năm sáu" cứ tiếp tục như thế, cách đếm hơi thở này gọi là đếm hơi thở. Đếm hơi thở cũng rất dễ, bởi vì phương pháp của nó rất đơn giản, và có thể nhanh chóng dừng vọng niệm, vì thế có rất nhiều người dùng phương pháp đếm hơi thở, dùng phương pháp này để thiền định là rất tốt.

Còn Hiển giáo thì dùng lục diệu môn, đó là đếm hơi thở và đi theo hơi thở, để tâm niệm đi theo hơi thở chính là theo hơi thở; tiếp đến dùng "chỉ", chính là phương pháp Thiền tông vừa nói dùng cách dừng lại; dùng "quán", quán tưởng; dùng "hoàn", hoàn là gì? Hoàn và tịnh, điều này sau sẽ nói với mọi người, tịnh chính là thanh tịnh, hoàn chính là hoàn nguyên, đây là phương pháp của Hiển giáo. Trong đó, tôi cho rằng chỉ-quán là quan trọng nhất.

Chỉ-quán trong tu thiền định của chúng ta mà nói, rất là thú vị, hơn nữa Mật giáo của chúng ta, trong đó có rất nhiều phương pháp liên quan đến chỉ-quán. Thậm chí trong pháp chỉ-quán, có cái gọi là Đại chỉ-quán, Tiểu chỉ-quán. Đây là do ai nghĩ ra? Do Thiên Thai đại sư Trí Giả nghĩ ra phương pháp này. Đại chỉ-quán, Tiểu chỉ-quán, cho nên cũng có cách nói là Thiên Thai chỉ-quán. Chỉ chính là dừng vọng niệm, Quán chính là quán chiếu; đặc biệt là khi bạn đang quán chiếu, trí tuệ sẽ sinh khởi.

Trong Mật giáo có tu hỏa quang tam muội, ngoài ra còn có tu quán bạch cốt, quán bất tịnh, và còn có một loại "không-lạc định".

**Thiền Mật - dị lộ đồng quy **

Như tôi đã từng nói, trong khi tọa thiền, Thiền tông tuy không có phương pháp tu thân, tức là phương pháp tu mệnh; trong tu hành có một loại gọi là tu tính, chữ "tính" trong tu tính này, là hoàn toàn tu từ tâm linh, thuộc về Thiền tông. Còn Mật giáo thì sao? Tu tính, nhưng cũng tu mệnh. Mệnh là gì? Chính là thân thể của bạn. Nói đơn giản, dùng thân thể của bạn để tu, đây là của Mật giáo, nhưng cuối cùng sẽ dị lộ đồng quy, có nghĩa là, người tu Thiền tông và người tu Mật giáo, tuy là hai con đường khác nhau nhưng cuối cùng sẽ quy về cùng một con đường.

Dù thế nào đi nữa, khi Thiền tông tu về "không" (tính Không) và "vô", do họ hoàn toàn đưa tâm linh của mình vào trong tính Không, khi niệm dừng lại, khí trong toàn thân tự nhiên sẽ hoàn nguyên, sẽ trở về nơi ban đầu.

Chúng ta trước đây có một phương pháp như thế này, ở vị trí Thiên tâm có một điểm, khi bạn hoàn toàn tĩnh lặng, nước của toàn thân, nước và khí trong cơ thể bạn, tinh khí thần hoàn toàn tập trung, hoàn nguyên về nơi ban đầu; tự nhiên, không cần bạn vận hành, đây là một hiện tượng rất tự nhiên. Cho nên khi tinh khí thần trong toàn thân tập trung vào một điểm, lúc này sẽ tương ứng với bản chất của Mật giáo.

Bởi vì phương pháp tu của Mật giáo cũng theo cách như vậy, dùng chức năng này của cơ thể để tu hành, trước tiên tu khí, sau đó tu hỏa, rồi thông trung mạch, sau đó lại phải tập trung tất cả các điểm, chẳng phải giống hệt như khi Thiền tông thực sự tọa vong, sự vận hành của cơ thể họ hoàn toàn giống nhau sao? Tuy Thiền tông không nói về khí mạch điểm, nhưng khi họ hoàn toàn dừng lại, khí trong toàn thân của họ cũng hoàn nguyên như vậy, điều này trở thành Mật.

**Đại định hỏa quang tam muội và những pháp khác**

Phật Đà dạy chúng ta tọa thiền, trầm tư. Ngài dạy chúng ta phương pháp Hỏa quang tam muội, Bạch cốt quán, để nhập vào Hỏa quang tam muội; đốt lên ngọn lửa bên trong của mình, thiêu đốt chính mình, nhập vào Hỏa quang tam muội. Hỏa quang tam muội này là cảnh giới của tứ quả A La Hán.

Trong giáo pháp ban đầu của Đức Phật, Ngài truyền cho chúng ta rất nhiều pháp. Trong tất cả giáo pháp của Phật, hầu như tất cả đệ tử, tất cả các vị A La Hán đều lấy đại định Hỏa quang tam muội làm cao nhất. Vì vậy, đại định của bản thân A La Hán lấy Hỏa quang tam muội làm pháp tu chính yếu; đó là trước tiên dẫn khởi nội hỏa, sau đó nội hỏa sinh khởi thiêu đốt toàn thân, đốt sạch tất cả phiền não trong toàn thân, đốt sạch những khí xấu trong toàn thân, đốt sạch phiền não, cho đến khi đạt được cảnh giới hoàn toàn thanh tịnh. Từ việc nội hỏa thiêu đốt, dẫn mình vào tính Không, chứng ngộ tính Không, cảnh giới này gọi là đại định Hỏa quang tam muội, tứ quả A La Hán.

Chúng ta biết về "dừng tại một", lúc mới bắt đầu chúng ta không thể "dừng tại không", mà đều là "dừng tại một". Vậy "dừng tại một" là như thế nào? Đó chính là pháp "nhất duyên thiền định". "Nhất duyên thiền định" trong cuốn sách "Vô Thượng Mật và Đại Thủ Ấn" của tôi có viết về phương pháp "nhất duyên thiền định", phương pháp này càng đơn thuần càng tốt, tránh cho bạn không thể quán tưởng được. Cần phải rõ ràng, phải phân minh, phải trở thành một điểm, đừng quá phân tán, hãy trở thành một điểm.

Trong đó có cái gọi là phương pháp "nhất duyên thiền định", có phương pháp niệm chú, dùng phương pháp Kim cang niệm. Có Bảo bình khí, chúng ta tu Bảo bình khí, dùng Bảo bình khí để nhập định, đây cũng là một phương pháp. Dùng chỉ-quán là một phương pháp. Ngoài ra, dùng "bất tục duyên", "bất tục duyên" chính là tùy tán, giống như khi bạn vừa ngồi xuống, không nghĩ gì cả, cũng không nghĩ về một điểm nào, cứ để tâm tán đi, ngồi trong toàn thể địa cầu, trong đại địa, trong gió, trong vũ trụ, trong bầu khí quyển, đây là phương pháp mà chỉ những người có trí tuệ cao mới có thể làm được, vừa ngồi là ở trong hư không, những phương pháp này đều là cách để nhập thiền định.


### 14. Vô ngã mới có thể nhập định


Tại sao tôi lại nhắc đến hai câu kệ liễu ngộ của Xá Lợi Phất? "Chư pháp nhân duyên sinh, chư pháp nhân duyên diệt", thực ra điều cốt lõi nhất của hai câu kệ này chính là vô ngã.

A La Hán có thể đạt được giác ngộ là bởi vì các Ngài quán chiếu về vô thường, về xuất ly, rồi sau đó đến cảnh giới vô ngã, điều thứ ba chính là vô ngã. Trong câu "Chư pháp nhân duyên sinh, chư pháp nhân duyên diệt" này đều hàm chứa tư tưởng vô ngã.

Ngày nay ai cũng có phiền não, Sư Tôn cũng có, nhưng Sư Tôn xem tất cả những phiền não đó như không có gì, nguyên nhân là ở đâu? Chính là vì có tư tưởng vô ngã trong "Chư pháp nhân duyên sinh, chư pháp nhân duyên diệt" này.

Bây giờ tôi muốn nói với mọi người về tư tưởng vô ngã này. Khi học thiền định, bạn nhất định phải có tư tưởng vô ngã, không có vô ngã thì bạn không thể nào nhập định được. Mọi người hãy nghĩ xem, có phải vậy không? Khi bạn thiền định, vừa ngồi xuống, chưa nhập định, ý niệm đã bắt đầu khởi lên, một ý niệm khởi lên; ý niệm đó là "ai nợ tiền mình", bạn đã nghĩ đến tiền rồi.

**Phiền não suốt ngày có, nhìn thông suốt tự nhiên không**

Có những người không thể nhập định được, vừa nhập định đã nghĩ "hôm qua ai mắng mình, ai chửi mình" liền xuất hiện! Điều này rất đơn giản thôi. Chúng ta nói về hôm qua, mặt trời hôm qua và mặt trời hôm nay đều giống nhau, đều rất sáng, rất chói, phải không? Vậy hôm qua các bạn có gặp chuyện phiền não gì không?

Tôi có đấy! Hôm qua khi về nhà, lúc ra ngoài thì trời mưa. Xe của tôi đang sạch sẽ. Sao lại mưa vào lúc này chứ? Mưa thế này là xe bị ướt rồi. Ôi, xe bị mưa rồi. Khi xe chạy như thế này, nước bắn tung tóe. Xe người khác cán vào vũng nước, nước sẽ bắn lên xe mình. Anh ta lái xe phía trước tôi, lái rất chậm. Tôi thì lái nhanh hơn, nước từ bánh xe sau của anh ta bắn lên, văng vào cửa sổ xe tôi. Xe tôi bẩn hết rồi. Nghĩ đến việc phải rửa xe, thật là phiền phức.

Rồi hôm qua, khi tôi thuyết pháp, trong lúc thuyết pháp thì cũng không có gì! Cảm thấy mình thuyết pháp trong ba ngày cũng rất suôn sẻ. Nhưng khi viết bài cho hôm nay, nghĩ xem hôm nay sẽ giảng những gì? Hôm nay phải giảng về thiền định. Mà giảng về thiền định thì trước đây chẳng phải đã giảng rồi sao? Nhập Tam ma địa này, những điều này đều đã giảng qua rồi. Tôi lại không thể lặp lại. Vậy phải giảng cái mới. Nhưng cái mới thì lại không nghĩ ra được. Vậy đây cũng là phiền não. Tôi phải đối diện với mọi người. Đúng không? Tôi lại phiền não rồi.

Rồi tôi lại nghĩ: Hôm qua ấy! Mọi người biết đấy, hôm qua tôi có một mảnh giấy nhỏ cầm trên tay. Tôi ghi những điểm chính, tại sao vậy? Bởi vì hôm qua cửa sổ mở rất rộng. Gió thổi từ bên đó vào. Mảnh giấy này ở đây phất phơ, phất phơ bay qua bay lại. Đúng không? Mảnh giấy nhỏ cứ bay phất phơ, nên tôi phải cầm trên tay; khi cầm trên tay, có lúc tôi nói chuyện cần phải dùng tay diễn tả, thế là một tay tôi không thể cử động. Vừa cử động là người ta thấy ngay là mình cầm phao.

Tôi nghĩ, vậy ngày mai thuyết pháp thì sao? Tôi phải để ở đâu, mảnh giấy này phải để ở đâu? Hồi xưa khi tôi gian lận thi cử, tôi thường giấu sách dưới mông, còn phao thì chép vào thước kẻ tam giác. Bây giờ mảnh giấy này rất mỏng, nhưng lại không có thước tam giác, thì phải làm sao... May mà hôm nay không có gió thổi vào, nên hai tay đều có thể cử động. Tôi cũng nghĩ đến vấn đề này đấy!

Tôi cũng nghĩ, mấy tối liền, khi đi ngủ vào lúc 11 giờ, Sư Mẫu đều nấu mì, như là một tô mì trắng đơn giản; không phải loại mì gì khác, chỉ là mì trắng đơn giản, ăn xong rồi đi ngủ. Đã cho tôi ăn mì 4 ngày liền rồi, 4 ngày toàn mì trắng. Bà ấy cũng không làm gì mới mẻ cả. Đây là điều tôi đang phiền não đây. Sao tối nay ăn khuya lại là mì nữa? May mà lúc về, bà ấy biết mang theo canh thịt nấu ở nhà. Cho canh thịt vào mì thì cũng có chút vị. Chứ không thì toàn là mì trắng như tuyết, cứ một màu như vậy.

Thế nên tối hôm qua tôi nghĩ phải thay đổi thôi, ăn mì như vậy không tốt. Vào khoảng hơn 11 giờ, tôi đi với Sư Mẫu đến QFC. Tôi chỉ mua vài thứ thôi, rất đơn giản, ở Mỹ có loại hỗn hợp 10 loại đậu được đóng gói sẵn, mỗi gói có 10 loại đậu. Tôi mua 4 gói đậu, và còn mua nước dùng gà để hầm. Nước dùng gà, mua một gói nước dùng gà. Trước đó bà ấy thấy một gói nước dùng gà, cả gói thịt gà, cả gói thịt gà giá bao nhiêu? Gói đầu tiên là 4 đô, tôi đứng bên cạnh nhìn. Bà ấy cầm lên, Sư Mẫu nói: "4 đô Mỹ, con gà này 4 đô. Đắt quá!" Đắt quá, tiếc tiền không mua, lại để nó lại chỗ cũ.

Lúc đó tôi có một nỗi phiền não. Chẳng lẽ tôi không đáng giá tới 4 đô sao? Một gói thịt gà có 4 đô mà bà ấy chê đắt rồi bỏ lại. Còn gói thứ hai giá bao nhiêu, bà nói thật đi! Gói thứ hai là 3 đô, chỉ chênh nhau có 1 đô, bà ấy lấy gói thứ hai. Trong lòng tôi có một nỗi phiền não: "Tại sao bà ấy lại mua cái rẻ cho tôi? Chẳng phải tôi là 'Thượng sư tôn quý' sao?"

Sau đó chúng tôi đi mua bánh mì, ở nhà có ba quả chuối, vốn có ba quả chuối, nhưng cả ba quả đều đã chuyển sang màu đen, ba quả chuối đen. Tôi đi mua vài quả chuối xanh, chuối màu xanh. Vừa về đến nhà tôi bóc một quả chuối xanh, ăn một tô mì với một quả chuối, rồi bà ấy nói bên cạnh: "Chuối xanh thế kia sao lại ăn?" Bà ấy chỉ nói với tôi một câu như vậy, trong lòng tôi lại phiền não. Ở với tôi bao nhiêu năm rồi, chẳng lẽ không biết tôi thích ăn chuối xanh sao? Đúng không? Tôi ăn chuối không thích ăn loại chín mềm. Bà ấy nói: "Loại đó thơm hơn." Còn chuối xanh, tôi nói: "Chuối xanh ăn vào giòn hơn." Chữ "giòn" tôi không biết nói thế nào. Tóm lại là giòn. Tôi thích như vậy đấy, tôi không thích mùi chuối chín quá, tôi chỉ thích loại hơi xanh một chút, rồi còn nhiều thứ nữa.

Chỉ trong một buổi tối thôi mà đã có rất nhiều suy nghĩ phiền não như vậy cứ quẩn quanh trong đầu. Bạn thử nghĩ xem, làm sao mà không có phiền não được? Chúng ta, với tư cách là một hành giả, những điều vừa nói đều là những việc nhỏ nhặt. Nói ra thì toàn là chuyện vặt vãnh không đáng kể. Nhưng bạn có biết không? Những chuyện vặt vãnh này đôi khi lại gây ra những mâu thuẫn không thể hòa giải! Vợ chồng cứ vì những chuyện nhỏ nhặt này mà không buông bỏ được, không buông bỏ được thì hai người sẽ cãi nhau. Cãi nhau chỉ vì cái vỏ chuối.

Bạn nói xem, cãi nhau vì một cái vỏ chuối thì có gì hay? Có người lại cãi nhau vì một chút rác nhỏ. Vốn dĩ đều là những việc nhỏ, nhỏ đến không thể nhỏ hơn được nữa, những điều này đều phải buông bỏ hết, bạn phải học cách buông bỏ hết những việc nhỏ, những việc lớn cũng phải buông bỏ hết, thế giới này chẳng có gì là ghê gớm cả. "Các pháp do nhân duyên sinh, các pháp do nhân duyên diệt"! Tất cả đều là không, bạn phải hiểu điều đó, chẳng có gì đáng để bận tâm cả.

Các bạn có biết biển số xe của tôi không? Chiếc Mercedes-Benz mới này, tôi không dám mua loại 600, vì sợ phiền phức. Tôi mua loại 500. Người ta hỏi tôi: "Mercedes-Benz mà thầy đang lái là loại bao nhiêu vậy? Có phải 600 không?" Tôi nói "Không! Không phải 600." Không dám mua. Bởi vì lái chiếc Rolls-Royce đó đã bị người ta chê trách suốt 5 năm rồi, nguyên 5 năm. Mercedes-Benz 600 tất nhiên là rất tốt, nhưng không dám mua. Người ta hỏi: "Vậy thầy lái loại nào?" "Không phải 600, là 500." "Ừm! 500, tạm được." Vì còn có 600 tốt hơn 500 mà! Đúng không? Người ta sẽ không chê trách tôi nữa. Từ đó tôi được yên ổn. Điều này cũng có cái hay của nó.

Nhưng rồi phiền não lại đến. Bởi vì biển số xe cấp cho tôi, các bạn có biết số mấy không? "546 - Tôi chết rồi" [chơi chữ]. "Tôi chết rồi". Biển số cấp cho tôi là "546", khiến tôi nổi da gà. Như chúng ta thường nói "Lạnh run cả chân tay". Đúng vậy! Khi nhận được biển số này, bạn phải làm sao? Tôi nói cho bạn biết, hãy nghĩ theo cách khác "Không có chuyện gì đâu" [chơi chữ]. Nhiều việc, nếu bạn nghĩ là có vấn đề thì bạn đang tự chuốc lấy phiền phức, hôm nay bạn nghĩ rằng vô sự, thì sẽ yên ổn thôi!

**Vô sự, vô tâm, vô ngã**

Cho nên hôm nay khi học Phật chúng ta muốn nhập định, tôi đã giảng hai khẩu quyết rất quan trọng: vô sự - loại bỏ hết mọi việc thì bạn mới có thể nhập định được; hôm nay nếu trong lòng bạn còn vướng bận việc gì, làm sao bạn nhập định được? Chắc chắn là không thể nhập định được. Vô tâm - không những bạn phải vô sự, mà bạn còn phải để tâm mình hoàn toàn trống rỗng. Vô tâm - bạn mới có thể nếm được pháp vị, lúc này tinh thần sẽ trở về với bản tính thanh tịnh. Khẩu quyết thiền định quan trọng nhất là vô sự, vô tâm thì mới có thể nhập định được, nếu bạn còn việc, còn tâm thì tuyệt đối không thể nhập định được.

Thuở xưa, Phật Đà đã dạy chúng ta như vậy: muốn giải thoát phiền não, muốn thành A La Hán, mỗi người phải tu đến vô ngã. Ngã chính là cội nguồn của phiền não! Tất cả phiền não của chúng sinh đều do có ngã mới sinh ra phiền não, hôm nay Lư Thắng Ngạn không phải là Lư Thắng Ngạn, Liên Sinh không phải là Liên Sinh, thân thể ta đều không có, không thân cũng không tâm, thì phiền não ở đâu? Phiền não từ đâu mà sinh? Chính vì bạn cứ để ý đến cái thể diện của Lư Thắng Ngạn, cái thể diện của Liên Sinh, nên bạn mới có phiền não.

Nói một cách đơn giản, khi bạn đã nhìn thấu chính mình, trở nên trong suốt, cái ngã của bạn đã trống rỗng, tự tính đã không, thì phiền não từ đâu mà có? Hôm nay vì bạn chưa khai ngộ nên đương nhiên có phiền não, bạn muốn giành lại thể diện. "Thể diện của tôi ở đâu?" Bạn nhất định phải tranh giành, thì bạn sẽ có phiền não. Hôm nay, sự khai ngộ về lý chính là "không cần có cái tôi", cái tự ngã của bạn không cần nữa! Cái tôi không cần nữa! Tự tính của tôi đã trống rỗng rồi! Tôi vô sự rồi! Cũng vô tâm rồi! Đúng vậy, bạn có nhiều điều ấm ức, Sư Tôn cũng có nhiều điều ấm ức, ai cũng có những nỗi ấm ức của riêng mình.

Có rất nhiều người, như những người làm bảo vệ ở đây, những người làm việc ở đây, những người quét dọn nhà vệ sinh, mỗi ngày đều dọn dẹp nhà vệ sinh, sau khi các bạn về, có rất nhiều người ở lại để lau chùi nhà vệ sinh, nhặt rác, hút bụi sàn nhà, làm công việc dọn dẹp. Những người này, Sư Tôn không nhìn thấy, trong lòng họ nghĩ: "Thuyết pháp bốn ngày rồi! Mà vẫn chưa có một lời an ủi chúng tôi. Không làm nữa! Tôi không làm nữa! Tôi không làm nữa! Sư Tôn còn chưa từng đến nói với tôi: công việc của anh vất vả quá! Rất nhọc nhằn! Ít nhất cũng phải nói một câu, khen ngợi một chút chứ. Rằng đây là những người làm công âm thầm."

Thực ra khi chúng ta tổ chức một pháp hội, có rất nhiều người làm rất nhiều việc, chia thành đủ loại ban ngành, mỗi người đều rất vất vả, nếu không nói một lời an ủi, họ sẽ nghĩ: "Lần sau không làm nữa! Lần sau thôi không làm. Chẳng nói gì cả, Sư Tôn cũng không biết tôi làm!" Điều này rất đơn giản, khiến mọi người ấm ức. Trong Chân Phật Tông, có rất nhiều công việc, có rất nhiều anh hùng vô danh, mọi người đều đang làm việc; nhiều người chịu ấm ức, đã làm lại còn bị mắng, thậm chí còn bị hiểu lầm, bị phỉ báng! Đều có cả. Nhưng mà bạn phải vô ngã chứ! Vô ngã thì có thể giải thoát phiền não! Nếu không bạn sẽ ấm ức, sẽ khóc, sẽ rơi lệ, sẽ tự đánh mình, sẽ đập đầu vào tường!

Đôi khi tôi cũng nghĩ như vậy! Rất đơn giản, chúng ta làm người sẽ có lúc nghĩ như vậy. Cả đời tôi chẳng có hưởng thụ gì, chỉ viết văn, hoằng pháp, tu hành, thực sự chẳng có hưởng lạc gì, cứ sống qua ngày như vậy, rất nỗ lực giúp đỡ Phật Đà, tại sao phải chịu nhiều chỉ trích phỉ báng đến thế!

Tôi không thiết sống nữa! Tôi không muốn sống nữa! Tôi cũng không làm nữa! Tôi đi làm lính đây! Tôi làm quân nhân chuyên nghiệp, đi đo đạc, tôi còn về Đài Loan chuẩn bị phục chức! Tôi sẽ nộp đơn lên Bộ Quốc phòng xin được về làm Trung tá. Tôi không làm nữa! Những gì tôi làm trước đây, xóa sạch hết! Tôi làm việc vất vả như vậy mà người ta nói "Làm vã mồ hôi, bị chê đến chảy nước miếng!" Chỉ toàn bị người ta mắng, mắng rất nặng lời. Chuyện này rất bình thường thôi.

Tôi nghĩ về những chuyện này, tôi nghĩ: Ôi! Tất cả đều rất bình thường, chẳng có gì, đừng chấp chặt vào cái tôi! Đó là công lao của người khác mà! Dù là tôi làm, công lao thuộc về người khác cũng tốt thôi! Phải không? Rất tốt! Tuy là tôi làm, công lao bị người khác giành mất, tốt thôi! Cũng như nhau thôi! Bởi vì tôi tu vô ngã mà! Tôi không tranh danh phận của mình, chẳng có gì cả! Tất cả đều là của chung! Thành quả tốt đẹp mọi người cùng hưởng, công lao không cần thuộc về tôi, đó chính là vô ngã.

Học Phật chính là học điều này, nếu bạn nói tôi làm được việc và công lao là của tôi, đó là hữu ngã, đó không phải là học Phật, đó là học cách xử thế, học danh tiếng, học những điều thế tục thông thường, không phải học Phật, học Phật phải là vô ngã. Cho nên điều đầu tiên mà A La Hán chứng đắc chính là vô ngã, nếu muốn nhập thiền định, không có bí quyết gì cả, chỉ cần vô sự, vô tâm, vô ngã, bạn sẽ nhập thiền, không có những điều này thì không thể thiền được. Nếu bạn không có quyết tâm học vô ngã, thì không thể đạt đến tứ Thánh giới, tuyệt đối không thể đạt được.

Cho nên hôm nay tôi có thể nói một câu: "Tôi, Lư Thắng Ngạn, không bỏ một chúng sinh nào." Đó là tâm gì? Đó chính là tâm vô ngã! Chính là biến cái tiểu ngã này thành đại ngã, tất cả chúng sinh đều là "tôi"! Chúng sinh tốt thì tôi cũng tốt. Chúng sinh không tốt thì tôi có trách nhiệm. Mỗi một chúng sinh đều là tôi, những gì tôi làm, miễn là chúng sinh đạt được, thì cũng như tôi đạt được vậy, không có phân biệt. (Mọi người vỗ tay)

Đừng tranh đấu vì tiểu ngã, đừng tranh đấu vì cái ta nhỏ bé này, "các pháp do nhân duyên sinh, các pháp do nhân duyên diệt", tất cả rồi sẽ trở thành không. Đó chính là đạo lý về tính Không! Giáo lý tối thượng của Như Lai về Chính đẳng Chính giác, từ vô ngã, vô pháp, từ vô ngã bắt đầu tiến vào vô pháp, "vô nhân ngã, vô chúng sinh", "không bỏ một chúng sinh nào" chính là vì xem cái ta này là chúng sinh. Dù sao thì người khác có danh có vị cũng như ta có, bạn hoàn toàn hiến dâng cho người khác hưởng lạc, cũng như chúng ta cùng có, cái ngã này là đại ngã, tuyệt đối không phải là tiểu ngã của cá nhân, nghìn vạn người học Phật chính là để học điều này.

Tư tưởng Phật giáo của người phương Đông truyền bá rất rộng, khác với tư tưởng thần ngã của phương Tây, hoàn toàn không giống nhau. Cho nên tư tưởng của Đại Phạm Thiên và tư tưởng của Đức Phật là khác nhau. Cơ Đốc giáo, Hồi giáo, Đạo giáo, và nhiều tôn giáo khác đều là tư tưởng thần ngã của Đại Phạm Thiên. Còn tư tưởng của Phật Đà hoàn toàn là tư tưởng siêu việt về "vô nhân, vô ngã, vô pháp". Cho nên Phật ghé vào tai ngài Xá Lợi Phất nói: "Chân lý mà ta đã ngộ được, chỉ từ ông bắt đầu, ông hiểu được chân lý của vũ trụ." Chính là câu nói này.

Thiền định phải từ một trở về không, trở về Không tính. Lúc mới bắt đầu tu định, từ thô, dần dần tu đến tế, đến cực tế, đến trụ nơi cực tế, đến hóa thành vô, đó là một cảnh giới.

Trí tuệ tối cao của A La Hán, Chính đẳng Chính giác của ngài có thể nói chính là vô ngã, cũng chính là tam pháp ấn của Như Lai, thứ nhất là "chư hành vô thường", thứ hai là "chư pháp vô ngã", thứ ba là "niết bàn tịch tĩnh", hợp lại thành nhất thực tướng ấn.

Trong Mật giáo chúng ta quán tưởng nguyệt luân, quán tưởng chủng tự, quán tưởng chữ này từ dưới biến mất đi, dần dần không còn, không còn đến đỉnh thì nhập vào Không tính. Những chữ Phạn và chữ Tạng này từ dưới bắt đầu biến mất không còn, cho đến khi biến mất hoàn toàn ở trên đỉnh, hóa thành Không tính. Đây là một loại quán tưởng, là quán tưởng chủng tự vi tế nhất, là quán tưởng vi tế nhất.


### 15. Pháp linh nhiệt và Bảo bình khí


Trong Mật giáo chúng ta còn có pháp linh nhiệt, chính là pháp nội hỏa, phương pháp nội hỏa, cũng gọi là hỏa quang tam muội. Hỏa quang tam muội, phương pháp nội hỏa, tôi sẽ giảng sau. Về phương pháp nội hỏa, trong đó có bí quyết về thân thể, bởi vì trung mạch là một đường như vậy nằm ở giữa thân thể, khi đến đỉnh đầu, ở giữa đó, cổ họng và Thiên tâm, ở đây có một thứ cần phải nối lại, đây là một bí quyết, không nói cho người chưa tu luyện biết; còn từ Tề luân đến Hải để luân, ở giữa này lại có một đoạn bị đứt, cần phải nối nó lại, cho nên trên cũng nối, dưới cũng nối, mới thành một đường trung mạch hoàn chỉnh, mới là một đường trung mạch trọn vẹn, điều này tôi sẽ dạy sau.

Chúng ta nhớ pháp linh nhiệt có khẩu quyết về trung mạch, minh điểm phải tập trung, tập trung tất cả tinh hoa của cơ thể bạn vào hai điểm, đó chính là minh điểm phải tập trung; quán tưởng phải rõ ràng, trong khi quán tưởng bạn phải hết sức rõ ràng, phải minh bạch.

Khí trong cơ thể bạn phải có lực, phải tu luyện để khí này trở thành khí trí tuệ. Thực ra khí này, tất cả chúng ta đều có khí. Đánh bạn một cái, bạn sẽ tức khí, đó chính là có khí; khi nhìn thấy cô gái mặt đỏ lên, đó chính là khí của bạn chạy lên mặt, đó chính là khí; khi tức khí thì máu dồn lên não, cái đó cũng là khí phải không? Chúng ta ai cũng có trong người. Nhưng khí này chỉ là khí thế tục, không phải khí trí tuệ; trong Mật giáo chúng ta nói về khí trí tuệ, vậy khí trí tuệ là gì? Khí đó phải có lực, cái gọi là trí tuệ là có thể điều khiển theo ý niệm của bạn, phải luyện ra được luồng khí này.

Hơi thở của bạn cũng có khí! Khi tôi hít vào, toàn thân tràn đầy khí, thở ra, gọi là xì hơi, xẹp hơi (cười). Thực ra khí bạn có thể hít vào thở ra, bạn có thể cảm nhận được khí trong cơ thể đang vận hành. Khi chưa có nội hỏa, khí này của bạn có thể được điều khiển theo ý niệm, muốn đi đến đâu thì đến đó, khí này gọi là khí trí tuệ, cho nên phải bồi dưỡng khí.

Vì vậy dạy mọi người luyện Bảo bình khí là như thế này, phải quán tưởng bản thân trở thành một bảo bình, sau đó hít khí vào, rồi hòa tan nó vào từng bộ phận trong cơ thể, trong tất cả các mao mạch, bao gồm tất cả các tế bào, bề mặt da đều tràn đầy khí, toàn thân đều tràn đầy, giống như một bảo bình vậy, bảo bình khí bao phủ nó lại, để nó hòa tan, làm cho nó tan chảy trở thành nhiệt, tràn đầy toàn thân, đây gọi là Bảo bình khí.

**Minh điểm và ngũ luân**

Khi bạn có khí, dẫn khí vào tay này thì có thể vận khí, dẫn khí vào tay kia thì có thể vận khí ra, dẫn khí vào cả hai tay thì có thể vận khí ra, bạn đưa luồng khí trong người lên đỉnh, ép xuống dưới, có thể đến ngón tay, ngón chân, bất kì chỗ nào bạn đều có thể đến được, đây gọi là luyện khí. (Sư Tôn thị phạm, mọi người vỗ tay) Khí có thể đến Hầu luân, đến Mi tâm, đến đỉnh đầu, đến bất kì chỗ nào đều có.

Khí là gì? Khí trí tuệ này chính là biến thành chiếc truck của bạn, truck chính là xe container phải không! Đúng không? Đúng rồi! Tôi thường bị trẻ con cười là tiếng Anh không giỏi, tôi cứ tưởng mình lại nói sai rồi. (cười) Chính là chiếc xe container trong cơ thể bạn, là chiếc xe container để vận chuyển minh điểm. Vậy đường giao thông là gì? Freeway là gì? Chính là trung mạch. Khí chính là truck, trung mạch chính là freeway, tinh hoa sự sống trong cơ thể bạn được đặt trong chiếc truck đó để vận chuyển.

Mạch trong cơ thể chúng ta không chỉ có một trung mạch, còn có rất nhiều mạch khác, có ngũ luân, có năm con đường giao thông chính; ngũ luân này chính là các trạm dừng chân trên freeway trong cơ thể bạn, là những thành phố rất lớn.

Trong phương pháp tu hành Mật giáo này, trước tiên bạn phải bồi dưỡng khí, khi đã có freeway, trung mạch đã thông, điều đó có nghĩa là freeway của bạn thông suốt không ngăn trở, nhưng nếu không có truck, không có khí thì bạn không thể vận chuyển được gì cả. Vì vậy nhất định phải có khí, cho nên trước tiên hãy tu luyện khí!

Tu luyện khí, bạn dùng nội hỏa để sấy minh điểm của mình, vậy nội hỏa làm sao để sinh ra, nội hỏa chính là do thiền định sinh ra, sau khi thiền định sinh ra nội hỏa, bạn dùng nội hỏa để đốt minh điểm, khi đó tinh hoa sinh mệnh trong cơ thể bạn sẽ xuất hiện, bạn đem tinh hoa sinh mệnh này nâng cao lên, chính là thành Phật. Minh điểm vật chất của phàm phu được nâng cao lên đến cuối cùng thì sẽ thực sự biến thành bảo tính của Như Lai, đây chính là phương pháp tu hành khí mạch minh điểm của Mật giáo.

Khí hành này phải tỏa ra khắp nơi, khí này của bạn phải vận hành khắp toàn thân, sẽ không bệnh tật, thân thể bạn mới cường tráng. Nếu bạn dùng nội hỏa và khí cùng vận hành khắp toàn thân, tất cả phiền não và chướng ngại của bạn đều được tiêu trừ hoàn toàn. Trung mạch này của bạn sẽ trở nên quang minh, thành đại đạo quang minh, sẽ sinh ra tịnh quang, bạn sẽ thấy được tịnh quang. Bạn dùng truck, đưa tinh hoa sinh mệnh từ trung mạch thông qua đến Phật tính, bạn tu hành đạt được vô lậu, minh điểm vô lậu.

**Song thân và song vận**

Tôi nói cho các bạn biết, có rất nhiều đệ tử Mật giáo tu tập song vận, song thân. Trong tông phái chúng ta có hay không, tôi không dám nói, họ bảo họ có thể tu song vận, tu đến cuối cùng, đương nhiên song vận đã tu rồi, con cái cũng sinh ra luôn. My God! Đây là kiểu song vận gì chứ! Đây là vợ chồng mà! Làm gì có cái gọi là song vận? Đúng không? Cái này tính là tu hành gì chứ? Đây không phải là kết hôn sao? Cái họ gọi là song vận chính là kết hôn, là vào động phòng mà! Bạn hiểu sai rồi! Làm sao song vận lại có con nhỏ được? Đúng không? Đây chính là minh điểm hữu lậu của họ, là phạm giới đấy, phải đọa vào địa ngục Kim Cang.

Trong Kim Cương thừa quả thật có đề cập đến tu song vận, trước đây Tạng mật có Vô thượng mật bộ, có pháp song vận, chúng ta không thể phủ nhận rằng không có điều này, là có thật; nhưng vì tất cả các Lama đều làm bừa, ai cũng thích song vận, tất cả đều tu song vận, chả trách mà Lama lại nhiều như vậy. Ở đây chúng ta, tại bang Washington, cũng có một vị đại Lama, ông ta tu song vận với một cô gái ngoại quốc, sinh ra một tiểu Lama! Bây giờ tiểu Lama đã đến Nepal làm tiểu Lama rồi! Quả thật có, có chuyện này thật, nhưng điều này là sai lầm. Đây là phạm giới Kim Cương thừa, là điều rất nghiêm trọng.

**Nói kĩ về Không và Lạc**

Tối thiểu, điều đầu tiên là bạn phải luyện ra khí của mình, nghĩa là có được chiếc truck; đem minh điểm của bạn nâng lên, đặt vào trong truck, tập trung vào Tâm luân, tập trung vào tất cả ngũ luân, đều tập trung ở đó. Khi Hải để luân thực sự của bạn, Mật luân thực sự của bạn không còn minh điểm nữa, bạn có thể tu song vận, đó chính là một loại định, gọi là Không-Lạc đại định.

Thế nào gọi là Không-Lạc đại định? Đây là một phương pháp tu hành. Bản thân Liên Hoa Sinh Đại Sĩ có năm vị Phật Mẫu, Ngài dùng phương pháp Không-Lạc đại định để tu, cũng chính là song vận. Trong quá trình tu tập, Ngài hoàn toàn đặt mình vào trong hư không, trong toàn bộ hư không, biến thành một trạng thái không, ngay trong song vận đi vào Không định, điều này gọi là Lạc-Không đại định; Lạc cũng là Không, Không cũng là Lạc, loại định có thể chuyển Lạc thành Không này, gọi là Lạc-Không đại định. (Mọi người cười)

Điều này có lợi cho cả hai bên. Trong quá trình tu tập pháp này, hoàn toàn là khí đang vận chuyển, không có minh điểm, hoàn toàn là khí đang vận chuyển ở đó, dùng sự vận chuyển của khí để thăng hoa thành Không, biến Lạc thăng hoa thành Không; nhưng hoàn toàn Không cũng không được, dần dần hình thành một hiện tượng Lạc; khi Lạc đến cực điểm lại chuyển thành Không, rồi lại chuyển thành Lạc, chuyển thành Không, chuyển thành Lạc, cứ thế tuần hoàn; trong quá trình tuần hoàn Lạc-Không, đạt được một trạng thái định, gọi là Lạc-Không đại định, đó chính là song vận của Tạng mật. Người có thể hiểu được kỹ thuật trong đó, có thể nói là không có mấy ai, không có mấy ai có thể hiểu được kỹ thuật trong đó. Tất nhiên là có, nhưng rất rất ít, người đủ tư cách tu loại Lạc-Không đại định này của song vận cũng không có nhiều.

Vì vậy, những người mượn cớ tu song vận rồi sinh con, hãy nhớ, tuyệt đối không được tin. Hiện nay vẫn còn người mượn cớ nói là tu song vận kiểu này, những trường hợp giả mạo như vậy vẫn còn rất nhiều, nhưng tuyệt đối không được tin, bởi vì chẳng có mấy ai thực sự biết cách tu. Bản thân khí của họ! Chúng ta là người sáng mắt, chỉ nhìn một cái là biết ngay khí của họ đã không đủ rồi, họ còn chẳng biết vận khí! Trung mạch của họ cũng chưa thông, không có truck, minh điểm của họ đã rò rỉ hết, tu song vận gì nữa? Hoàn toàn không đủ tư cách.

Hôm nay tôi nói cho mọi người rất rõ ràng, trong Không-Lạc đại định, điều đầu tiên là khí của bạn phải đủ, bạn có thể vận khí, công phu khí của bạn tu luyện rất tốt, nói vận khí là có thể vận (thị phạm), có thể nâng lên, có thể hạ xuống, bạn đều hiểu rõ, bạn hiểu được những phương pháp này, trong người có truck rồi, bạn có thể nâng minh điểm lên.

Có rất nhiều kỹ thuật, phải xoay chuyển, thân thể phải xoay chuyển; đầu cũng phải xoay, chân cũng phải xoay, khi cần nâng thân thể lên thì phải như thế nào, tất cả đều có công pháp, do sư phụ đích thân chỉ dạy, sư phụ ở bên cạnh chỉ bảo. Không phải tự mình làm bừa đâu! Ồ! Tự mình làm bừa, chính là tự mình làm truck, làm truck không thành xe, thì lại tự mình làm con, sinh ra con luôn.

Cho nên Phật học và thế tục, chính là khác nhau ở chỗ này, bạn không hiểu được Không tính, không hiểu được vô ngã, làm sao bạn có thể chứng nhập Không tính? Bạn chỉ có Lạc thôi! Lấy đâu ra Không? Vấn đề là ở chỗ này. Cho nên người tu hành phải hiểu được Không, Không-Lạc phối hợp với nhau mới gọi là song vận, mới có thể đạt được định. Vì vậy Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói pháp này là "lấy ngọc từ miệng rắn độc".

Hiện nay có rất nhiều người nói thông trung mạch: "Đến đây, tôi sẽ giúp bạn thông trung mạch, đưa cho tôi bao nhiêu tiền, trung mạch của bạn sẽ được thông, và freeway này sẽ có thể chạy xe". Khắp nơi đều thông trung mạch! Ngày xưa Phật Đà có nói như vậy không? Trung mạch có thể để người khác giúp bạn thông được sao? Phải tự mình thông chứ! Trung mạch ở trong thân thể của chính bạn, không phải ở trong thân thể người khác! Người khác dựa vào đâu mà giúp bạn thông trung mạch? Sao mà ngốc thế? Giúp bạn một chút khí thì được, khí thì tôi có thể gia trì cho bạn, giúp bạn, nhưng bạn vẫn phải tự mình vận chuyển luồng khí này để biến thành khí trí tuệ của mình, đây mới là trọng điểm, vẫn phải tự mình tu.


### 16. Trí huệ vô thượng


Khi tu tập đến cảnh giới "vô ngã", tâm sẽ trở nên rộng mở, rất bao la, rất nhẹ nhàng, an nhiên, không còn cảm thấy bất kì trọng lượng nào, ý niệm sẽ dừng lại, thân và tâm có thể trở nên rộng lớn vô cùng, cũng có thể trở nên nhỏ bé. Như tôi đã nói hôm trước, có thể bay theo bông tuyết, theo gió ẩn mình trong nhụy hoa, đều có thể làm được. Bạn có thể đến những nơi rất xa, trong chớp mắt đã vượt nghìn dặm vạn dặm, rất tự tại, hoàn toàn vô sự vô tâm, điều này rất quan trọng.

Khi tu tập đến mức nhập định, bạn sẽ thể nghiệm được những điều này, có thể biến lớn biến nhỏ, bạn sẽ cảm nhận được bản thân rất khinh an, đạt được pháp vị. Bạn có thể trong chớp mắt đi nghìn dặm vạn dặm - Thần túc thông; bạn sẽ biết được nhiều đời nhiều kiếp - Túc mệnh thông; bạn có thể nhìn thấy rất xa - Thiên nhãn thông; bạn có thể nghe được rất xa - Thiên nhĩ thông; bạn có thể biết được mọi sự vật trong vũ trụ - Tha tâm thông; khi tu hành thực sự đạt đến minh điểm vô lậu, phiền não vô lậu - Lậu tận thông. Đầy đủ lục thông, nếu không phải là Phật thì là gì?

Vì vậy bây giờ mọi người hãy nâng cao và tu tập tốt nguồn khí quý báu trong cơ thể mình, bởi vì sau này khi tôi thuyết pháp sẽ dạy Nội pháp, nếu trong người không có nguồn khí này thì không được. Trước tiên phải cho các bạn luyện khí, luyện khí cho tốt, sấy nội hỏa cho tốt, dùng nội hỏa để đốt minh điểm thành kết tinh. Dùng truck chạy trên freeway, đưa đến ngũ luân, khiến cho ngũ luân của bạn đều mở ra thành Ngũ Kim Cang, lúc này bạn sẽ bước vào Vô thượng mật, Đại viên mãn.

Chúng ta nói về trí huệ, thiền định này là dạy mọi người có thể dùng đếm hơi thở, chỉ-quán, dùng các pháp quán tưởng của Mật giáo chúng ta, từ thô làm đến vi tế, cho đến khi bước vào vô niệm; trong quá trình này vì tinh thần tập trung, bạn có thể dẫn nội hỏa, đạt được hỏa quang tam muội, thậm chí quán bạch cốt, quán bất tịnh, các loại quán tưởng, quán nhập ngã ngã nhập, quán Không, đều có thể từ đây bước vào cửa thiền định.

Trí huệ là từ định mà ra, từ giới có thể sinh định, từ định có thể sinh huệ. Thế nào là trí? Chiếu kiến chính là trí, khi ánh sáng của bạn chiếu rọi đó chính là một loại trí. Thế nào là huệ? Huệ chính là hiểu biết. Khi bạn đã có thể hiểu rồi, thì sẽ sinh ra một loại huệ.

Trí huệ là một thứ vô hình, một thứ bạn không thể nhìn thấy, nhưng bạn có thể cảm nhận được. Nó có pháp vị của thiền định, trong trí huệ có pháp vị của thiền định. Nó có thể biến thành kiếm, có thể dứt khoát quyết đoán, dứt khoát quyết đoán sẽ không bị vướng mắc. Mỗi việc bạn làm, hãy dùng trí huệ của bạn như một thanh bảo kiếm để dứt khoát quyết đoán, đó chính là trí huệ của bạn.

Vì vậy trong chỉ-quán này, phần chỉ chính là dùng bảo kiếm trí huệ để chặt đứt tất cả phiền não. Bạn sẽ đạt được một loại diệu quả viên mãn. Diệu quả viên mãn, cảm thấy điều này rất vi diệu, khi bạn có thể xử lý mọi việc một cách vừa khéo, đó chính là một loại diệu quả.

Trong đó, trí huệ được nói đến trong Phật học là trí huệ vô thượng, không phải trí huệ thế tục. Trí huệ thế tục là trí huệ mưu sinh, tức là các bạn đi làm ăn kinh doanh kiếm tiền! Các bạn dùng trí óc để phát triển phần mềm máy tính! Đó là trí huệ thế tục. Trí huệ vô thượng của Phật học là chính đẳng chính giác, chính là ý nghĩa chân thật của sinh mệnh, là trí huệ về chân lý vũ trụ - đó mới là trí huệ vô thượng.

**Như Lai ngũ trí**

Chúng ta biết năm trí huệ lớn của Như Lai, năm trí của Phật là:
Thứ nhất là Pháp giới thể tính trí, chính là các thể tính của pháp giới, là cảnh giới của pháp vị, chúng ta gọi là Pháp giới thể tính trí.

Trí huệ thứ hai là Đại viên kính trí, biểu thị loại trí huệ này giống như một tấm gương tròn lớn, có thể quán chiếu, có thể viên mãn - đây là Đại viên kính trí, đây là trí huệ thứ hai của Như Lai.

Trí huệ thứ ba là Bình đẳng tính trí, như tôi đã nói, khi Đức Phật ngồi dưới cội bồ đề, câu đầu tiên Ngài nói khi giác ngộ chính là Bình đẳng tính trí, nghĩa là: "tất cả chúng sinh đều có Phật tính", tất cả đều có Phật tính, chỉ vì bị ô nhiễm, bị chướng ngại nên Phật tính mới không hiển lộ, thực ra tất cả chúng sinh đều có Phật tính, đây chính là Bình đẳng tính trí.

Trí huệ thứ tư là Diệu quan sát trí, bạn có biết trí huệ từ đâu mà có không? Trí huệ chính là từ quan sát mà có, bạn đi quan sát thì sẽ có được, điều này rất vi diệu, trí huệ sinh ra từ quan sát gọi là Diệu quan sát trí.

Trí huệ thứ năm của Như Lai là Thành sở tác trí, Thành sở tác trí chính là tất cả các pháp Yết ma, bạn có thể thành tựu, giống như sự nghiệp độ chúng sinh bạn có thể thành tựu, bạn có thể diễn pháp, bạn có thể phát huy pháp lực của mình, tất cả sự nghiệp độ chúng sinh đều có thể viên mãn.

Pháp giới thể tính trí, Đại viên kính trí, Bình đẳng tính trí, Diệu quan sát trí, Thành sở tác trí, đây là năm trí huệ lớn của Như Lai.

Trí huệ này không phải là thứ chúng ta có thể diễn tả bằng ngôn ngữ, cũng không phải là thứ chúng ta có thể diễn tả bằng ngôn ngữ cơ thể, cũng không phải là thứ chúng ta có thể thể hiện hoàn toàn trong cách làm người xử thế; nhưng thực tế, nó đã hòa nhập vào thân tâm của tất cả hành giả chúng ta, trong mỗi cử chỉ hành động, mỗi lời nói việc làm đều có trí huệ ẩn chứa bên trong, nó là vô hình.

Học định phải có trí huệ để phân biệt, trong khi tu định phải có trí huệ, và khi học huệ cũng phải có định, cho nên định huệ là song tu, tức là vừa phải tu định vừa phải tu huệ, hai điều này đi đôi với nhau, không thể tách rời.

Người xưa đã nói, định giống như bóng đèn điện phát sáng, trí huệ giống như dòng điện, không có trí huệ thì không thể định được; muốn phát sáng thì phải có trí huệ, nhưng khi bạn định, tạo thành ánh sáng này, tạo thành định này, không có bóng đèn cũng không được, không có định cũng không thể phát sáng; cho nên định và huệ là hai hợp làm một.

Trong lục độ có thiền định và trí huệ, thiền định và trí huệ là hai điều Như Lai coi trọng nhất. Trong lục độ, bốn độ còn lại có thể nói là thuộc về tướng bên ngoài, còn hai độ này thuộc về tướng bên trong, là tu tập nội tâm, đây chính là Tam vô lậu học.

Về phương diện pháp linh nhiệt, khẩu quyết của nó tất nhiên cũng nằm ở định, tức là ở tinh thần thống nhất; còn về kỹ thuật, bao gồm kỹ thuật tâm linh, kỹ thuật quán tưởng, ngoài ra còn có kỹ thuật thể vị. Thể vị không phải là mùi của thân thể mà là vị trí của thân thể, thể vị của bạn phải như thế nào mới có thể đốt được minh điểm, mới có thể thực sự đốt được nội hỏa, mới có thể thực sự thiêu đốt minh điểm, đó chính là thể vị.

Về thể vị trước đây sư phụ có dạy, ngài quy định rằng, khi Liễu Minh Hòa Thượng dạy tôi, ngài nói "Khi con truyền Nội pháp thì mới truyền thể vị này, mới dạy thể vị. Còn những người chưa được dạy Nội pháp, con chỉ dạy tất cả nghi quỹ tu hành của Mật giáo."

Vì Nội pháp chưa được truyền, nên tôi nói rằng, những người sau này muốn học Nội pháp, trước tiên phải tu khí. Còn phải dạy họ tu khí, sau đó tu thắp nội hỏa, sau khi thắp được nội hỏa, phải khai mở trung mạch, sau khi khai mở trung mạch thì khai mở ngũ luân, sau khi khai mở ngũ luân sẽ đạt đến Vô thượng mật bộ, đến Đại viên mãn, là thành Phật. Ngũ luân chính là Ngũ Kim Cang, đây đều là những điều rất quan trọng.

**Thiên nhãn chân thực**

Hôm nay tôi giảng giải rõ ràng cho mọi người, giống như freeway, truck, city này! Ngũ luân này giống như những thành phố lớn vậy, nói như vậy thì các bạn có thể hiểu rất rõ ràng. Như hôm nay có thể giảng Mật pháp và Phật pháp rõ ràng như vậy cũng rất hiếm có.

Các bạn thấy đó, hiện nay có rất nhiều đại pháp sư, đại hòa thượng, thực ra tôi có thể quan sát được họ, tôi chỉ cần nhập định là biết được họ từ đâu đến. Tại sao họ có được năng lực lớn như vậy? Tôi vừa nhập định: "Ồ! Thì ra là có Đại Phạm Thiên ở phía sau ủng hộ." Tại sao người đó lại có năng lực lớn như vậy? "Ồ! Thì ra trước đây họ từng làm thiên thần, không lạ gì mà có năng lực lớn như vậy." Tôi đều có thể nhìn thấy được.

Giống như nhiều người hỏi tôi: "Tổ tiên của họ đã đi đâu rồi?" Tôi nhập định, tôi đi xuống địa ngục tìm kiếm: "Ồ! Thì ra tổ tiên của anh đã làm những việc này việc kia, hiện giờ đang ở trong địa ngục." Điều này là có thật đấy! Trong Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện, Quang Mục nữ có hỏi một vị A La Hán, vị A La Hán nói với cô ấy rằng: "Mẹ cô đã làm những việc như thế, hiện giờ vẫn đang chịu khổ trong địa ngục." Quang Mục Nữ chính là tiền thân của Địa Tạng Vương Bồ Tát, những điều này đều có thật, phải không?

Nhìn xem, có vị Phật Bồ Tát nào phía sau là giả không, mỗi một vị đều hiện diện! Khi bạn khai mở Phật tính, mỗi một vị đều là thật. Khi bạn chưa khai mở Phật tính, bạn nhìn Ngài, Ngài nhìn bạn! Thật đấy.

Một đêm nọ, một mình tôi đến đây, tôi đánh trống mõ, thỉnh tất cả chư vị. Bắt đầu tụng từ Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, cứ tụng mãi, tụng từ bên đó sang Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát, Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, Nam mô A Di Đà Phật, Nam mô Già Lam Tôn Giả, Nam mô Dương Tiễn Tôn Giả, từ dưới cùng, Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn, Tứ Thủ Quan Âm, Lục Độ Mẫu, Văn Thù Sư Lợi, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, thỉnh tất cả mỗi một vị.

Tiếp xuống, ở giữa là Địa Tạng Vương Bồ Tát, từ bên Hoàng Tài Thần thỉnh qua, bên này Uế Tích Kim Cang, bên này Chuẩn Đề Phật Mẫu, Liên Hoa Đồng Tử, Bất Động Minh Vương, bên này Hồng Tài Thần, Tứ Thiên Vương, thỉnh tất cả, từ trên xuống dưới; ngoài ra còn có Đại Thế Chí Bồ Tát, còn có Địa Mẫu, còn có Cát Tường Thiên Nữ, thỉnh tất cả.

Sau khi thỉnh và tụng xong, tôi lên lầu đi ngủ. Ôi! Một vị Thổ Địa Công chạy đến. Ông ấy nói: "Ngài chưa niệm đến tôi." Ông ấy nói với tôi rằng tôi chưa niệm đến ông ấy! Được rồi, sáng hôm sau tôi thức dậy, đi xuống, tụng lại một lần nữa, thỉnh tất cả; tụng đến Thổ Địa Công, niệm đến ông ấy rồi, ông ấy cảm thấy rất vui vẻ trong lòng.

Không có vị nào là giả đâu! Mỗi một vị đều là sống động đấy! Tôi có thể thấy Phật không? Thấy Địa Tạng Vương Bồ Tát không? Có thể thấy Thích Ca Mâu Ni Phật không? Người hiểu rõ Thích Ca Mâu Ni Phật nhất chính là tôi đây! Đúng không? Tôi có thể đi vào một cảnh giới, là có thể gặp được Ngài rồi, làm sao mà không thể gặp được Thích Ca Mâu Ni Phật chứ?

Tôi có thể gặp được rất nhiều vị Phật Bồ Tát, tôi chỉ cần thiền định, vô ngã, đi vào Không tính, ý niệm của tôi triệu thỉnh là có thể gặp được. Tương lai các bạn cũng có thể, các bạn chỉ cần vận dụng trí huệ của mình, đi vào thiền định chân chính, công phu thiền định sâu, các bạn cũng chính là Phật, tương lai mọi người đều là Phật! 


### 17. Lục độ vạn hành


Các vị Thượng sư, các vị đồng tu, chào mọi người!

Hôm nay là ngày thứ năm giảng dạy Phật Học Tổng Thuyết, hôm nay sẽ giảng về Lục độ vạn hành. Mấy ngày trước, chúng ta đã nói về Tứ diệu đế, thực ra Đức Phật giảng Tứ diệu đế rất là sâu sắc vi diệu. Từ lúc bắt đầu giảng là giảng Tứ diệu đế, cho đến cuối cùng cũng là Tứ diệu đế.

Tứ diệu đế này là gì? Chúng ta nói đó là khổ tập diệt đạo, thực ra là tập khổ đạo diệt. Tập là gì? Ý nghĩa chủ yếu là tích tập tất cả nghiệp chướng và vô minh từ nhiều đời, đó gọi là tập, đây là nhân. Còn quả là gì? Chính là tất cả khổ của chúng ta, sau khi thể hội được tập nhân và khổ quả, thì phải tu đạo. Tu đạo thành công rồi thì đạt đến Niết bàn, chính là diệt, cũng tức là cái gọi là diệt tận; tận có nghĩa là diệt sạch tất cả phiền não khổ đau. Diệt chính là ý nghĩa của tận, đạo chính là tu đạo.

Đạo lý khổ tập diệt đạo này thoạt nhìn rất đơn giản, nhưng thực ra ý nghĩa của nó vô cùng sâu rộng, tuy cũng có thể giải thích một cách đơn giản dễ hiểu; khi Phật thuyết pháp, yếu chỉ chính của Ngài nằm ở bốn chữ "tập khổ đạo diệt". Ban đầu khi dạy pháp, Ngài dạy mọi người ngồi thiền tĩnh tọa; phải quán vô thường, phải hiểu được sự xuất ly, tiến tới đạt đến cảnh giới vô ngã, từ đó thành A La Hán, đắc quả A La Hán.

Hôm nay chúng ta nói về Lục độ vạn hành, Lục độ vạn hành chính là hành hạnh Bồ Tát, không chỉ dừng lại ở quả vị A La Hán, mà còn tiến thêm một bước nữa là cứu độ chúng sinh. Thực ra "Phật Học Tổng Thuyết" này có thứ tự, nó có một thứ tự tồn tại, tức là có một trình tự. Trong cuộc đời này, tôi đã sắp xếp nó thành "tín, giải, hành, chứng", đây chính là thứ tự thực hành.

Ban đầu nhắc đến số hai, hai là gì? Hai là "nhị nhập", làm sao để nhập môn? Từ Lý nhập hay từ Sự nhập, sự - thực tu. Ba là gì? Chính là tam vô lậu học - giới, định, huệ. Bốn là gì? Chính là tứ thánh đế tập, khổ, đạo, diệt. Vậy nói đến năm là gì? Chính là ngũ căn, ngũ lực. Nói đến sáu là gì? Chính là sáu ba-la-mật, tức là lục độ! Nói đến bảy là gì? Chính là thất bồ đề phần. Nói đến tám là gì? Chính là bát chính đạo. Nói đến mười là gì? Chính là mười loại lực của Như Lai - thập lực sau khi Như Lai chứng đắc. Nói đến mười hai là gì? Chính là thập nhị nhân duyên.

Như vậy thì trí óc của các bạn sẽ dễ nhớ hơn một chút, từ một đến mười hai, ngoại trừ chín và mười một không có, các bạn đều có thể nhớ như vậy. Có thể nói, "Phật Học Tổng Thuyết" đều bao hàm trong đó. Hôm nay chúng ta nói về lục độ. Độ là độ hóa, cũng có thể nói là phà độ [thuyền chở], ba-la-mật nghĩa là đến bờ bên kia, lục ba-la-mật, sáu phương pháp có thể đến bờ bên kia.

Thực ra trong thất bồ đề phần, lục độ, bát chính đạo, một số điều đã được bàn đến rồi, như lục độ đã bao gồm giới định huệ, trong đó có ba độ chính là tam vô lậu học, trì giới, thiền định, bát nhã, bát nhã chính là trí huệ. Lục độ này chỉ còn lại ba độ, hôm nay giảng ba điều là đủ sáu độ rồi, bởi vì trì giới, thiền định, bát nhã đã giảng qua rồi.

Trong thất bồ đề phần cũng có nhiều "giác chi", một loại giác ngộ, trong đó cũng hơi tương tự với lục độ. Như Lai thuyết pháp, một đời giáo hóa, Ngài có thể giảng như vậy, thời gian thuyết pháp của Ngài rất dài, riêng bộ "Đại Bát Nhã Kinh" Ngài đã giảng rất lâu rồi. Giảng suốt hơn hai mươi năm, cho nên có một bài kệ viết như sau: "Hoa Nghiêm hai mươi mốt ngày đầu tiên, A Hàm mười hai Phương Đẳng tám, hai mươi hai năm nói Bát Nhã, Pháp Hoa Niết Bàn nói sau cùng."

Bài kệ này nói rằng, khi Phật Thích Ca Mâu Ni bắt đầu thuyết pháp, Ngài giảng Kinh Hoa Nghiêm trước tiên, sau đó giảng Tiểu thừa - tức là Kinh A Hàm thuộc Phật giáo nguyên thủy, tiếp đến giảng Kinh Phương Đẳng, rồi đến Kinh Đại Bát Nhã, giảng trong hai mươi hai năm, trong đó có rất nhiều kinh điển; cuối cùng giảng Kinh Pháp Hoa và Kinh Niết Bàn. Đây là bài kệ tóm tắt cả cuộc đời thuyết pháp của Đức Phật.

Hôm nay chúng ta nói về lục độ vạn hành, ai cũng biết lục độ gồm có: thứ nhất là bố thí, thứ hai là trì giới, thứ ba là nhẫn nhục, thứ tư là tinh tấn, thứ năm là thiền định, thứ sáu là bát nhã.

Sáu độ này là để đối trị, hoàn toàn đối trị mỗi một người chúng ta. Thực ra kẻ thù lớn nhất trên thế gian này là ai, mọi người đều biết rồi! Không cần tôi phải nói. Thực ra kẻ thù lớn nhất trên thế gian này chính là bản thân mình, lục độ này hoàn toàn cũng là để độ chính mình, chúng ta học Phật đều là tự độ mà! Sau khi độ được mình rồi mới độ người khác. Đều là tự giác mà! Sau khi giác ngộ rồi mới giác tha.

Bố thí là để đối trị lòng tham của chính mình. Trì giới là để đối trị sự phá giới của chính mình. Nhẫn nhục là để đối trị sân hận, phẫn nộ của chính mình. Tinh tấn là để đối trị sự lười biếng, phóng túng của chính mình. Thiền định là để đối trị sự tán loạn của chính mình. Bát nhã là để đối trị sự ngu si của chính mình, đó chính là lục độ.


### 18. Bố thí


Trước tiên chúng ta hãy nói về bố thí. Bố thí ai cũng đều rõ, có tài thí, pháp thí, vô úy thí. Thực ra về bố thí, có một câu nói rất hay: "Cái gì là của bạn?" Nhiều thiền sư rất thích hỏi câu này: "Cái gì là của bạn?" Hả? Phải trả lời đi! "Cái gì là của bạn?" (đệ tử đáp: tất cả đều là của tôi) Tất cả đều là của bạn sao? Ồ! Câu trả lời rất chuẩn, bởi vì tất cả không phải của bạn, cũng chính là tất cả đều là của bạn. Đây là câu trả lời rất chuẩn, là đã có ngộ đạo rồi.

Bởi vì người thường, bạn biết người học Phật, khi được hỏi những điều này, bạn thử nghĩ xem: "Sư phụ thường dạy chúng ta, 'không có gì là của bạn cả', không có một thứ gì là của bạn." Nhưng ngược lại mà nói, mọi thứ đều là của tôi. Đây chính là ngộ đạo rồi, bởi vì bạn đắc đạo rồi mới cảm thấy vạn vật trong thiên hạ đều hoàn toàn giống như bạn. Đồ vật của người khác chính là đồ vật của bạn! Nhưng mà bạn không thể lấy đi được!

Đúng vậy, mọi thứ đều là của bạn, khi bạn ngộ đạo, sẽ có ý niệm này sinh ra, đây cũng được tính là chính niệm, người học Phật thông thường, sư phụ dạy các bạn: "Không có gì là của bạn cả, kể cả bản thân bạn." Trước đây tôi cũng chưa hiểu được đạo lý này.

Tôi có một người bạn bác sĩ tên là Châu Di Thọ, làm việc tại Bệnh viện Khánh Thọ ở Đài Trung. Ông ấy chính là vị bác sĩ đã chữa khỏi chứng viêm ruột cho Phật Kỳ. Mỗi lần gặp tôi, ông ấy đều nói cùng một câu, và cũng thích rủ tôi đi uống bia, rồi đến quán Sushi Bar Nhật Bản ở Đài Trung, ăn thật nhiều món và uống bia.

Mỗi lần như vậy! Vừa uống bia ông ấy vừa nói: "Những gì ăn được, dùng được, mới thực sự là của mình." Ông ấy luôn nói như thế, và bảo rằng: "Nếu bạn không ăn, món này tôi ăn thì là của tôi, bạn ăn thì là của bạn." Ừm! Ông ấy đang dạy chúng ta đấy. Tôi có một sự lĩnh hội, ông ấy nói rằng chỉ có những thứ bạn ăn vào mới là của bạn, những thứ bạn sử dụng mới là của bạn, còn lại những thứ khác đều không phải của bạn.

Tất nhiên quan niệm của ông ấy như vậy cũng đã rất tốt rồi, không giống như người học Phật chúng ta nói: "Không có gì là của bạn cả." Người học Phật chúng ta nói: "Không có gì là của bạn cả." Nhưng ông ấy lại nói: "Chỉ có những thứ ăn vào mới là của bạn, những thứ bạn sử dụng mới là của bạn." Lúc đầu tôi chưa hiểu được câu nói này của ông ấy, nhưng bây giờ nghĩ lại, đó là một câu nói rất chân thật, đối với người bình thường mà nói, như vậy đã là đủ rồi.

Có rất nhiều đại gia, rất nhiều người giàu có, họ tích lũy được rất nhiều của cải trong cuộc đời. Tôi đã gặp rất nhiều người giàu có. Sư Tôn xem phong thủy cho người ta, nên đã đến rất nhiều nơi, đến rất nhiều nhà giàu có, tôi đều đã từng đến. Nhưng mà sao? Họ chẳng dùng đến số tiền đó, cũng chẳng có những hưởng thụ gì đặc biệt, thậm chí có người còn sống mức sống thấp hơn chúng ta hiện nay, mức sống vật chất còn thấp hơn nữa.

Mặc dù họ rất giàu có, là người giàu, nhưng lại có "số ăn mày": "Đại gia giàu có nhưng lại có số ăn mày", có rất nhiều đại gia như vậy. Chúng ta biết rằng, tuy bề ngoài họ có tiền, nhưng thực chất họ là một kẻ ăn mày. Những đại gia như vậy rất nhiều, rất nhiều.

Tiền không dùng thì chỉ là tờ giấy. Đạo lý là như vậy đó. Tiền không dùng thì cũng chỉ như tờ giấy. Mỗi ngày bạn chỉ nhìn vào sổ tiết kiệm ngân hàng, nếu phía sau sổ tiết kiệm ngân hàng có thêm một số 0, tâm hồn họ sẽ phấn chấn lên một chút, bay bổng lên một chút, chỉ có vậy thôi. Thử nghĩ xem! Bạn không đi dùng tiền, mà là bị tiền lừa gạt.

Vì vậy lời nói của bác sĩ Châu Di Thọ rất có lý: "Những thứ ăn vào được, dùng được, mới thực sự là của bạn." Những thứ bạn không thể ăn được, không dùng được, đều không phải của bạn, dù bạn có nhiều tiền đến đâu cũng vô ích.

Người học Phật chúng ta ngày nay khác. Người học Phật chúng ta nói rằng: "Không có gì là của bạn cả." Từ đó mà sinh ra bố thí trong lục độ. Đã không có gì là của mình, sao không đem ra cho chúng sinh sử dụng. Đó chính là bố thí. Giống như các bạn bây giờ đem tất cả cho chúng sinh sử dụng, có một số người trong các bạn vẫn không nỡ.

Rất nhiều người không nỡ, cái gọi là bố thí chính là nói về xả bỏ, nói về hành thiện, nói về làm việc thiện. Nếu bạn có thể xả bỏ, cũng là bước vào vô ngã, đây là một biểu hiện của vô ngã.

**Sự khai sáng từ việc ăn vụng cơm hộp**

Tôi nhớ hồi nhỏ, tôi có một chuyện như thế này. Khi học tiểu học tôi chạy 100 mét, các bạn cũng đã từng chạy 100 mét. Các bạn chạy bao nhiêu giây? Tam Nguyên chạy bao nhiêu giây? Anh chạy hơn 12 giây à? Vậy bây giờ anh chạy trông chẳng khác nào quả bóng lăn sao? Cũng không tệ! Chạy hơn 12 giây. Ngày xưa tôi chạy 100 mét mất 12 giây, còn bây giờ chạy bao nhiêu giây thì tôi không biết nữa! Một ngày nào đó chúng ta cũng làm một cuộc chạy 100 mét, mọi người thi xem sao.

100 mét rất nhanh thôi! Ngày xưa tôi thật sự chạy 12 giây, lúc đó tôi là người nhỏ con nhất, thấp nhất trong lớp, tôi chạy đầu tiên, chạy xong là về lớp ngay. Lúc đó mọi người đều mang cơm hộp đi học, khi còn nhỏ, bụng rất dễ đói. Ngày xưa chúng tôi thích nhất là ăn vụng cơm hộp, thầy giáo đang giảng bài trên bảng, thầy vừa quay lưng đi, chúng tôi liền lấy cơm hộp ra bên dưới múc một miếng, bỏ một miếng vào miệng; thầy vừa quay lại, chúng tôi lập tức ngậm miệng nhai.

Ngay khi vừa về đến lớp, tôi đã muốn ăn vụng cơm. Các bạn biết đấy, tất cả chúng tôi đều thích như vậy, mới đến tiết học thứ hai mà đã ăn no rồi, thực ra phải đến tiết thứ tư mới được ra chơi, vậy mà đến tiết hai đã ăn gần hết cơm rồi. Sau khi chạy xong tôi về lớp đầu tiên, vừa về đến lớp đã muốn ăn cơm hộp của mình, nhưng lúc đó tôi nhìn thấy rất nhiều cơm hộp của bạn khác để trong ngăn bàn. Tôi có một bạn học, cậu ta rất cao, hay bắt nạt tôi, tên là Chu Quốc Cường. Tôi nhớ rõ tên cậu ta, đến bây giờ tôi vẫn nhớ rõ khuôn mặt cậu ta. Tôi nghĩ: "Ừm! Xem trong hộp cơm của cậu ta có gì?" rồi mở ra xem. "Ồ! Trong này có trứng kho!" - loại có nhiều cholesterol nhất đấy. Cậu ta có trứng kho.

Tôi tự nhủ thế này, cơm hộp của mình để đến 12 giờ, tức là sau tiết thứ tư mới ăn, bây giờ trong lớp không có ai, tôi tiếc không muốn ăn phần của mình, để dành ăn sau, ăn phần của cậu ta trước. Tôi liền bỏ một miếng trứng kho vào miệng, trong hộp cơm còn có rất nhiều món ăn khác, như dưa chua ngon lành gì đó, tôi ăn sạch tất cả, rồi và thêm vài đũa cơm nữa, sau đó đặt hộp cơm lại y nguyên chỗ cũ.

Đến khi mọi người đã quay về lớp học và ngồi yên vị, lúc đó tôi rất vui, tâm trạng rất phấn khởi, bởi vì cơm của mình có thể để dành đến tiết thứ tư mới ăn mà! Đúng không? Phần của cậu ta đã bị tôi ăn mất một nửa rồi! Đến tiết thứ ba, chỉ nghe thấy một tiếng kêu thất thanh, Chu Quốc Cường kêu lên một tiếng. Nói thật lòng, khi nghe thấy tiếng kêu đó, trong lòng tôi cảm thấy rất sướng, tiếng kêu thảm thiết của cậu ta, đến tận bây giờ tôi vẫn nhớ rất rõ.

Nói về chuyện này, thành thật mà nói, đây chính là tâm của người chưa tu tập, chưa có tu hành. Nói chung những người chưa tu hành, họ thường làm những việc như vậy đấy. Cái của mình thì tiếc không nỡ, còn cái của người khác thì chắc chắn là xả được! Đúng không? Ai cũng chỉ vì bản thân mình thôi! Trước tiên là nghĩ cho mình, sau đó mới nghĩ đến người khác, thậm chí có khi còn chẳng đếm xỉa gì đến người khác: xâm phạm đồ của người khác trước, còn đồ của mình thì giữ chặt, đây chính là không có tâm Bồ Tát! Bồ Tát thì khác, Bồ Tát biết cách bố thí như thế nào, chúng ta người thường đều là tư lợi, chỉ có Bồ Tát là chí công vô tư, hoàn toàn thực hành hạnh Bồ Tát.

Hạnh Bồ Tát không chỉ là đem cho người khác, Ngài có thể buông xả tất cả, đó chính là điểm khác biệt. Cho nên người học Phật chúng ta không thể có tư lợi, chữ "tư" này vô cùng quan trọng. Hôm nay sau khi học Phật rồi, khi nhìn chúng sinh sẽ khác hẳn! Bởi vì vừa nhìn là biết ngay, người nào là tư, người nào là công? Người nào vì bản thân? Họ có bao nhiêu phần vì công? Bao nhiêu phần vì bản thân? Bạn có thể rất nhanh chóng, bởi vì sau khi học về bố thí, lập tức nhận ra được; tất cả các tướng của chúng sinh, tất cả nghiệp của chúng sinh, bạn đều dễ dàng nhận ra, bạn sẽ không a dua theo.

Thông thường người chưa học Phật, tôi ăn cơm hộp của bạn, rất bình thường mà! Lại còn là một việc rất vui vẻ. Dĩ nhiên lúc đó tôi thật sự rất vui! Trước đây toàn thấy tôi kêu thảm thiết, đúng không? Bây giờ tôi nghe thấy tiếng kêu thảm thiết của cậu ta. Ôi! Tâm trạng đó khác hẳn.

Nhưng hôm nay khác rồi, hôm nay bạn đã học Phật, chỉ có thể có một tấm lòng vì chúng sinh, không thể có một chút xíu nào vì bản thân. Bạn có thể tự cân nhắc, chúng ta thường xuyên cân nhắc làm những việc này, cân nhắc bản thân giữ lại bao nhiêu, dành cho chúng sinh bao nhiêu, phải ngày ngày cân nhắc như vậy mới có thể sinh khởi tâm bố thí.

**Hạnh Bồ Tát của Xá Lợi Phất**

Mọi người biết rằng cách đây sáu mươi tiểu kiếp, Ngài Xá Lợi Phất vẫn chưa gặp Phật Thích Ca Mâu Ni; trong kiếp trước của Ngài, Ngài cũng đã tu tập hạnh Bồ Tát. Tuy đây chỉ là một câu chuyện truyền miệng, một câu chuyện về tiền kiếp của Ngài đã được hư cấu hóa, nhưng chúng ta vẫn có thể kể cho mọi người nghe để hiểu thêm, có lẽ mọi người cũng đã từng nghe qua câu chuyện này.

Ngài phát tâm làm một vị Bồ Tát, muốn độ chúng sinh, Ngài muốn xả bỏ tất cả, Ngài đã phát khởi tâm nguyện như vậy. Chư Thiên trên trời biết được tâm nguyện của Ngài, biết được rất nhanh, liền đến để thử thách Ngài, hóa thành một chàng trai trẻ, khóc lóc bên đường. Xá Lợi Phất đi ngang qua, vừa thấy anh ta đang khóc, liền hỏi: "Tại sao anh khóc vậy?" Anh ta đáp: "Mẹ tôi bệnh rất nặng!" "Bà bị bệnh gì vậy? Làm sao để chữa? Có cần tiền không?" Anh ta nói: "Không phải, nhất định phải có con mắt của một người tu hành, ăn vào mới khỏi được."

Ôi! Thử thách đến ngay lập tức; vừa mới phát tâm, thử thách đã đến ngay. Ngài vốn là một người tu hành, hơn nữa phải là người trẻ, chỉ có mắt của người tu hành trẻ tuổi ăn vào mới khỏi bệnh. Xá Lợi Phất lúc đó đã phát tâm như vậy, "Được! Ta cho ngươi một con mắt, ta còn giữ lại một con." Rất nhanh chóng, động tác rất nhanh, lập tức móc một con mắt ra, đưa cho chàng trai trẻ. Chàng trai trẻ vừa nhận được con mắt, liền dậm chân tại chỗ, anh ta nói: "Ngài móc nhầm rồi, tôi cần mắt phải, ngài móc mắt trái."

Ôi! Thử thách thứ hai, cho cả hai mắt thì chẳng phải sẽ bị mù sao? Nhưng Xá Lợi Phất nghĩ rằng, đã phát tâm Bồ Tát thì phải xả bỏ hoàn toàn. Được rồi! Cho nốt, lại móc con mắt phải ra, thế là bị mù. Nhưng chàng trai trẻ nhận được con mắt, còn đưa lên mũi ngửi ngửi, anh ta nói: "Con mắt của người tu hành, sao lại thế này? Mùi khó chịu quá, tôi nghĩ ngài không phải là một hành giả chân chính, không phải là một người tu hành chân chính." Rồi ném con mắt xuống đất, lấy chân giẫm lên. Xá Lợi Phất tuy hai mắt không thể nhìn thấy, nhưng Ngài vẫn nghe thấy tiếng chàng trai trẻ giẫm đạp lên mắt của mình, tiếng lép bép như vậy.

Lúc đó Xá Lợi Phất thở dài, Ngài nói: "Hạnh Bồ Tát thật khó thực hành, quá khó! Ta nghĩ thà làm một vị A La Hán chỉ lo tu thân mình còn hơn, không làm Bồ Tát nữa." Khi tâm niệm này vừa khởi lên, chư Thiên trên trời liền cất tiếng nói với Ngài: "Xá Lợi Phất, ông cứ tiếp tục hạnh Bồ Tát của mình đi! Đây chỉ là chư Thiên đang thử thách ông, thử thách đạo tâm của ông thôi."

Tuy đây chỉ là một câu chuyện đơn giản, nhưng đã nói lên rất rõ ràng rồi. Để trở thành một vị Bồ Tát, thật quá khó! Ngay từ việc bố thí đầu tiên đã rất khó rồi. Bạn có thể xả được không? Việc xả bỏ vừa rồi, bạn có làm được không? Cho nên đây chính là một bài thử thách dành cho chúng ta.

Bố thí không phải là chuyện dễ dàng đâu, điều này đã được thể hiện rõ qua câu chuyện nhỏ này rồi. Trong thế giới này, có rất nhiều chuyện như vậy. Nếu bạn muốn làm một vị Bồ Tát, những thử thách dành cho bạn còn cao hơn núi, sâu hơn biển, cho nên điều đầu tiên, chúng ta phải hiểu được cách xả bỏ.

Ở đây có một bức thangka của Mã Cát Lạp Tôn, Ngài là vị Tổ sư nữ của phái Giác Vũ Tây Tạng, pháp xả thân chính là pháp môn chủ yếu của Ngài. Mật tông Tây Tạng có cái gọi là pháp xả thân, pháp xả thân chính là để dạy mọi người bố thí.

**Bàn về từ thiện**

Hiện nay trong số đệ tử của chúng ta, cũng đều hy vọng Sư Tôn có thể thành lập một tổ chức từ thiện, tổ chức từ thiện là để làm việc bố thí. Thực ra hiện nay rất nhiều tổ chức từ thiện đều có vấn đề, người sáng suốt như chúng ta có thể nhìn ra được. Có người xin phép Sư Tôn để thành lập một tổ chức từ thiện, tôi nói: "Anh muốn làm từ thiện gì? Anh nói cho tôi nghe quy trình của anh xem." Việc đầu tiên của anh ta, bởi vì hiện giờ anh ta thất nghiệp, cho nên đối tượng từ thiện đầu tiên của anh ta chính là bản thân; bởi vì anh ta thất nghiệp mà! Không có việc làm, không có thu nhập, cho nên anh ta lập một cơ quan từ thiện, để từ thiện cho chính mình trước. Thế thì tôi cũng làm được! Quan niệm này đều là không đúng.

Có người nói với Sư Tôn: "Sư Tôn có thể lập một tổ chức từ thiện, rất lớn, không cần phải tốn một đồng nào cả, chỉ cần đệ tử phát tâm, chúng sinh phát tâm là được rồi." Điều này cũng không đúng! Tại sao bản thân không bỏ ra một đồng nào? Danh xưng này phải gọi là: "Công ty môi giới từ thiện." Mọi người nghĩ xem, có đúng không? Anh chỉ là môi giới thôi! Anh làm từ thiện ở chỗ nào? Anh bố thí ở đâu? Anh chẳng qua chỉ là làm mai mối thôi! Ai muốn làm việc thiện, được, anh đến đây, tôi giúp anh làm, công đức này là của ai? Công đức này là của người bỏ tiền. Còn anh, anh có công đức gì?

Anh là người mở công ty môi giới, công ty làm trung gian giới thiệu này, anh không cần bỏ ra gì cả, điều này không được, cái này không thể gọi là từ thiện; từ thiện thực sự là phải bỏ công sức, còn phải đem tất cả những gì mình có ra, đó mới gọi là từ thiện.

Hiện nay nhờ có Hội Từ Thiện Từ Tế, họ làm rất tốt, làm rất xuất sắc, làm rất hiệu quả. Thế nên trong xã hội có nhiều người học theo tấm gương của họ, mọi người đều muốn mở ra. Cái này cũng là từ thiện, cái kia cũng là từ thiện, ai cũng chỉ đợi người khác đến làm từ thiện, còn bản thân thì không chịu làm.

Từ thiện là lấy của công trả về cho công, làm trung gian như vậy thì còn được. Lấy của công mà đem về tư thì thật là thảm! Đó chính là tham lam, sẽ bị đọa địa ngục. Nhiều tổ chức từ thiện đã trở thành: "Được rồi! Tôi đứng ra kêu gọi, mọi người chuyển tiền đến đây, chuyển mười đồng, tôi giữ lại bảy đồng, ba đồng làm từ thiện." Vấn đề là ở chỗ đó. "Bạn đem mười đồng đến đây, tôi bù thêm hai đồng thành mười hai đồng, rồi đem đi làm công ích." Đây mới gọi là công ích, đây mới là bố thí; người ta đưa cho bạn mười đồng, bạn thêm hai đồng thành mười hai đồng, đem đi làm công ích, đây mới gọi là từ thiện, mới gọi là bố thí.

Hiện nay trong xã hội có rất nhiều tổ chức như vậy, người ta đem mười đồng đến, tôi giữ lại bảy đồng; đó là tâm khá xấu, giữ lại ba đồng thì tâm đã tốt hơn rồi. Vì vậy có rất nhiều việc từ thiện mang danh từ thiện nhưng thực chất là tham lam. Đây không phải là bố thí! Cho nên muốn thực sự bố thí, là khi có mười đồng vào thì bỏ thêm hai đồng, đem đi làm công ích.

Trong tông phái chúng ta cũng có thể làm như vậy, cũng có thể làm từ thiện, nhưng tôi hy vọng mọi người làm với tâm như thế này, đó là tâm hoàn toàn xả bỏ, đây mới là bố thí thực sự. Không phải nói tôi không cần bỏ ra một xu nào, dù sao cũng là tiền người khác đưa đến, tôi đem xây chùa cho riêng mình, như vậy là không đúng rồi! Đây không phải là sự nghiệp công ích. Có rất nhiều việc là sự nghiệp tư ích, không phải sự nghiệp công ích, điều này đã bị hiểu sai rồi. Nhiều người nói: "Anh đưa tiền đến đây, tôi xây chùa của riêng tôi." Sai rồi! Tình huống này có vấn đề rồi. Cho nên sự nghiệp công ích mới là từ thiện thực sự, sự nghiệp tư ích thì biến thành tham lam, chỉ cách nhau một đường mỏng manh.

Bố thí rất quan trọng, "Cái gì là của bạn?" Bí quyết của bố thí nằm ở chỗ này. Chúng ta hãy suy nghĩ xem, người học Phật đều biết, không có gì là của mình cả, vậy thì mọi thứ đều là của mình; khi bạn đạt đến trạng thái hoàn toàn vô ngã, không có gì là của bạn, nhưng cũng có nghĩa là mọi thứ đều là của bạn; khi bạn thực sự có thể vô ngã, bạn đi bố thí, đi làm việc thiện, đó mới chính là từ thiện thực sự.


### 19. Trì giới và nhẫn nhục


**Trì giới**

Thứ hai trong lục độ là trì giới, chúng ta đã nói qua rồi. Trì giới chính là thực hành bồ đề, hướng về phía Phật; trì giới chính là đi theo Phật, học theo giáo pháp của Như Lai, giữ gìn giới luật của Ngài, là hướng về phía Phật, hòa trong cõi trần nhưng không quay lưng với giác ngộ.

**Nhẫn nhục**

Thứ ba, chúng ta bàn về nhẫn nhục. Về nhẫn nhục, tôi có một câu nói: "Ai đang phỉ báng bạn? Lại có ai phỉ báng bạn chứ?" Đây là cảnh giới cao nhất, bạn thường phải suy nghĩ như vậy. "Có ai đang phỉ báng tôi chứ?" Bạn sẽ nói: "Hàng xóm mắng tôi, Sư Tôn mắng tôi, vợ mắng tôi, con cái mắng tôi." Trẻ con cũng phản kháng, chúng cũng biết mắng đấy; không chỉ người trên mắng bạn, người dưới cũng mắng bạn, trên đe dưới búa, bạn trở thành "bánh mì kẹp", tiếng Nhật gọi là "san-đô-it-chi", tiếng Anh gọi là "sandwich".

Trước đây tôi học tiếng Nhật khá lâu, có một lần tôi đến Pizza Hut, tôi nói: "Give me サンドイッチ (san-đô-it-chi)." "Give me サンドイッチ" anh ta không hiểu. Tiếng Anh của người Nhật rất cứng nhắc, "san-đô-it-chi" là bánh mì kẹp.

Nếu mỗi chúng ta không biết nhẫn nhục, thì hằng ngày bạn sẽ là bánh mì kẹp, bởi vì trên thế giới này, người nói lời hay rất ít. Hãy chú ý nghe này! Người nói lời hay rất ít, người nói lời xấu thì nhiều. "Chuyện phiếm đừng bàn lỗi người", thực ra là "chuyện phiếm thích bàn lỗi người". Không ai nói mình không tốt, chỉ toàn nói người khác không tốt.

Như người ta thường nói trong tiếng Đài Loan - "Mười miệng thì chín mông", "Mười cái miệng thì chín cái mông" nghĩa là sao? Bởi vì cái mông thối, chín trong mười cái miệng là miệng thối, không phải là hôi miệng đâu, không phải bệnh nướu răng đâu, mà là nói toàn những lời khó nghe, lời khen thì ít mà lời chê thì nhiều, toàn nói chuyện thị phi của người khác; nghĩa là cứ mười người thì có đến chín người chuyên đi nói xấu người khác. Khi có nhiều chuyện thị phi phỉ báng như vậy xuất hiện cùng lúc, bạn không phải là bánh mì kẹp thì là gì?

Vì vậy người học Phật phải biết nhẫn nhục, phải biết nhẫn nại! Phải biết chịu đựng những lời sỉ nhục, tất cả đều phải nhẫn. Học điều này rất khó, như Sư Tôn đã từng dạy, phải tự hỏi: "Có ai đang phỉ báng ta chăng? Có ai đang mắng ta chăng?" Đây chính là để học được hai chữ "vô ngã".

Tôi của quá khứ ở đâu? Không còn nữa, đã qua rồi. Tôi của hiện tại ở đâu? Đang thuyết pháp tại Cầu Vồng Sơn Trang. Tôi của hiện tại này, chẳng phải sẽ trở thành quá khứ sao? Câu trả lời chắc chắn là có! Vậy thì tôi của quá khứ đã không còn, tôi của hiện tại rồi cũng sẽ trở thành quá khứ và cũng sẽ không còn nữa. Còn tôi của tương lai thì sao? Vẫn chưa đến. Vậy thì ai đang phỉ báng bạn chứ? Phải thường xuyên suy nghĩ như vậy, những lời phỉ báng đó rồi sẽ qua đi.

Bạn có biết không? Những lời phỉ báng rồi sẽ không còn, rồi sẽ biến mất, bởi vì chính bạn cũng sẽ không còn mà! Lời phỉ báng làm sao tồn tại được? Người phỉ báng bạn cũng sẽ biến mất; qua năm mươi năm, một trăm năm sau đều không còn nữa, vậy thì ai phỉ báng bạn? Phải thường xuyên suy nghĩ như vậy, nghĩ như vậy thì sẽ không tự tử. Tôi thường xuyên suy nghĩ như vậy, nếu không thì tôi đã tự tử từ lâu rồi. Phải suy nghĩ như vậy đấy!

Tôi nghĩ rằng, trước khi Lư Thắng Ngạn chưa sinh ra, ông ấy ở đâu? Không tồn tại. Bây giờ Lư Thắng Ngạn đã được sinh ra, có người mắng Lư Thắng Ngạn, vậy liệu Lư Thắng Ngạn này có trở thành không còn nữa trong tương lai không? Có, bởi vì Tần Thủy Hoàng giờ cũng không còn nữa, Khổng Tử cũng không còn nữa, Trang Tử cũng không còn nữa, Lão Tử cũng không còn nữa, ngay cả Tôn Trung Sơn cũng không còn nữa, cả Tưởng Giới Thạch cũng không còn nữa, vậy thì Lư Thắng Ngạn sớm muộn gì cũng sẽ không còn nữa! Đúng không? Vậy những người mắng ông ấy có còn không? Cũng không còn nữa, tất cả đều cùng nhau không còn nữa. Đã như vậy thì ai là người phỉ báng bạn?

Quá khứ không còn nữa, hiện tại rồi sẽ trở thành quá khứ, tương lai thì vẫn chưa đến! Tôi thường xuyên suy nghĩ như vậy, đây chính là nhẫn nhục, sẽ trở thành "nhẫn sự vô nhẫn", không cần phải nhẫn, dù sao cũng đều như nhau. Đôi khi nghĩ lại, rất cảm ơn họ, rất cảm ơn đối phương, họ làm những việc này, tôi rất khâm phục tâm ý của họ, rất tôn trọng sự cần cù chịu khó của họ, rất khâm phục tinh thần cao cả của họ. Điều này ngược lại trở thành một sự biết ơn, một sự cảm tạ. Không cần phải nhẫn, cảnh giới cao nhất của nhẫn nhục là "không cần phải nhẫn, vốn dĩ không có gì cả".

Giống như người ta nói về những bức ảnh phóng quang, nhiều lần ảnh phóng quang của Sư Tôn được công bố, người ta nói là giả, vậy có cần phải đi tranh luận với họ làm gì? Thứ nhất là tôi không có máy ảnh, tôi chưa từng chụp ảnh, tôi có chụp ảnh nhưng là chụp cho người khác, tôi không có camera, tôi không có phòng tối, cũng không phải tôi rửa phim, tôi không tự rửa ảnh; tất cả đều là đệ tử, rất nhiều đệ tử gửi đến những bức ảnh phóng quang này. Rất nhiều người nói rằng, tất cả đệ tử của ông vì muốn làm ông vui lòng nên đã làm giả những hiện tượng phóng quang này, tôi nói muốn làm tôi vui lòng, không phải một hai người, mà là hàng nghìn người, hàng nghìn đệ tử đều gửi những bức ảnh phóng quang này, làm sao có thể là giả được?

Người khác muốn nói gì là việc của họ, chúng ta nghe những lời này cũng không cần phải tức giận, bởi vì thực tế không phải chúng ta cố tình làm giả; đặc biệt là với tôi, nếu bạn cố tình làm những thứ này cho tôi, tôi cảm thấy đó là điều rất đáng xấu hổ, bởi vì Chân Phật Tông nhấn mạnh chữ "Chân". Bạn làm giả, bản thân đó là một tâm lý lừa dối, đó là phạm giới; cho nên đừng làm giả, đưa những thứ giả cho Sư Tôn là một sự lừa dối, đó là phạm giới. Tôi cho rằng đó là điều đáng xấu hổ. Vì vậy hãy để nó tự nhiên, có phóng quang thì tốt. Không có cũng không sao. Nhưng khi chúng ta nghe những điều này cũng không cần tức giận, đó là nhẫn nhục.

**Ví dụ về sự cứng đầu**

Nói tiếp về Chân Phật Mật Pháp. Tôi nhớ trước đây có một đệ tử, trong khi chúng tôi đang tu tập Chân Phật Mật Pháp, anh ta đã nói một câu: "Trong mật đàn chỉ cần tùy tiện kết thủ ấn, niệm chú là có thể thành Phật sao?" Bạn nghĩ xem, đó là lời của chính đệ tử mình nói đấy! Anh ta nói: "Thầy chỉ cần ở đó tùy tiện kết thủ ấn một chút, niệm vài câu thần chú, như vậy là có thể thành Phật sao?" Nhưng đây là tâm huyết đấy! Đây là tâm huyết tu tập hơn 20 năm của tôi, vậy mà anh ta xem qua một chút rồi nói: "Hừ! Đơn giản thế này, tôi cũng biết làm!" Có những người đọc qua "Giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh", sau khi đọc một lượt liền nói: "Ồ! Tôi hiểu rồi." Tất nhiên là bạn hiểu rồi, bạn đọc qua thì bạn hiểu; nhưng khi chưa đọc bạn có hiểu không? Trong đó có rất nhiều tinh tế, nhiều điều huyền diệu, là những tâm đắc tôi đã tu tập hơn 20 năm mới có được. Vậy mà bạn đọc qua một lượt là bạn hiểu được, bạn biết tu rồi, đối với bạn thì rất đơn giản, nhưng nếu không chỉ dạy cho bạn như vậy, liệu bạn có hiểu không?

Vì vậy người giang hồ có một câu nói: "Một bí quyết giang hồ, nói ra chẳng đáng tiền, không nói ra thì phải nghĩ ba năm." Ảo thuật gia lấy một vật ra, anh ta nói bên này trống không, bạn thấy không có gì! Bên kia cũng không có gì! Đúng không? Bên này không có, bên kia cũng không có! Biến ra là có liền! Ảo thuật chỉ là một bí quyết thôi, một khẩu quyết.

Khi còn nhỏ, tôi bị ảo thuật gia lừa "ngờ nghệch cứ thế mà bị lừa", tôi chạy theo ảo thuật gia đó, "Làm ơn dạy cho em với!". Anh ta hỏi: "Em muốn học gì?" Tôi nói: "Anh chỉ cần dạy cho em một thứ thôi là em mãn nguyện rồi." Tôi van nài anh ấy! Anh ta hỏi: "Em rốt cuộc muốn học gì?" Tôi nói với anh ta: "Em chỉ cần học được cách biến ra tiền là được rồi." Nếu anh ta có thể biến ra tiền thì đã không phải đi lang thang giang hồ rồi, đó chỉ là một mẹo thôi.

Những điều tôi giảng trong "Giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Mật giáo hoàn chỉnh" chính là những khẩu quyết về quán tưởng, thủ ấn, trì chú, toàn bộ giảng thuyết tỉ mỉ đều nói về các khẩu quyết. Người mới tiếp xúc thì nghĩ chẳng có gì, nhưng đệ tử tu học nhiều năm vừa nhìn đã biết trong đó có nhiều điều tinh diệu. 20 năm tâm huyết, vậy mà bạn chỉ nói một câu: "Tùy tiện kết thủ ấn một chút, niệm vài câu chú là có thể thành Phật sao?" Đây là lời rất tổn thương lòng người, nghe được những lời này phải nhẫn nhục, chúng ta nghe xong chỉ có thể nhẫn.

Tôi vẫn phải giải thích cho anh ta, giải thích rất lâu, rất lâu. Anh ta nói với tôi một câu: "Thành Phật để làm gì?" Cuối cùng anh ta nói với tôi: "Thành Phật để làm gì?" Tôi nói: "Vậy anh quy y để làm gì?" Anh ta nói: "Tôi thấy người ta quy y nên tôi cũng quy y thôi!" "Ồ! Thì ra anh chỉ là tùy thuận tùy hỷ!" Tôi nói: "Quả vị Phật rất tốt đấy, đó là một trạng thái rất an tường, an nhiên, là một thế giới Cực Lạc rất tốt đẹp; tâm hồn rất bình an, mọi thứ đều vô cùng viên mãn." Anh ta nói: "Tôi không đi." Hả? Anh ta không đi. "Vậy anh muốn làm gì?" "Tôi muốn làm chó." Anh ta muốn làm chó. Ôi trời ơi! Tôi gặp phải đệ tử kiểu này, tôi thật là khổ quá.

Anh ta nói muốn làm chó, bảo rằng làm chó rất tốt. Bạn thấy đấy, ở Mỹ, các siêu thị như Safeway, QFC, Uwajimaya, Larry's Market đều có bán Dog Food, thức ăn cho chó; thức ăn cho chó bày bán rất nhiều. Khi du học sinh đến, những du học sinh nghèo đến, họ nói: "Ồ! Cái này rẻ quá." Lúc đó tiếng Anh của anh ta còn chưa giỏi lắm, anh ta vừa mới đến, bạn biết không? Ôm một đống đồ hộp thức ăn chó về nhà ăn.

Ở Mỹ, chó sống rất sung sướng, được lên giường ngủ cạnh chủ! Ngủ ngon lành, mỗi ngày được chủ bảo vệ, tắm rửa, sấy lông; trời đông lạnh còn may quần áo cho mặc, được bế đi dạo khắp nơi, đi công viên tản bộ. Con người còn không được sướng như vậy. Làm chó không phải đi làm, lại có cái ăn. Anh ta nói: "Thế này tốt quá." Tôi nói: "Anh chưa gặp người Quảng Đông đấy." Đây là sự thật đấy! Thực ra cái gì cũng có mặt tốt mặt xấu của nó.

**Giữ gìn giới samaya**

Cả cuộc đời tôi đều nghiên cứu Mật pháp. Trong đời này, tôi đã hoàn toàn dấn thân, hoàn toàn hòa mình vào Mật pháp. Vì vậy khi bạn đem những điều mình có ra mà người ta vẫn chê trách, nhất định phải nhẫn nhục, phải nhẫn. Trong số đệ tử có những người như vậy, đó cũng là một cách tu nhẫn.

Ngoài ra, các bạn đừng nhìn vào địa vị tôn quý của Thượng sư mà tôi có hiện nay. À! Người sáng lập Chân Phật Tông. Ồ! Thật to lớn, một triệu rưỡi đệ tử, ai gặp cũng đảnh lễ. Tôi vẫn còn có sư phụ đấy! Có mấy vị sư phụ, họ đều đã ra đi rồi. Có nhiều sư phụ đều đã say goodbye, đã đi rồi. Các bạn không biết đâu, ngày xưa tôi từng bị sư phụ mắng rất thậm tệ. Làm gì cũng sai.

Không nói về những vị sư phụ trước đây, vị sư phụ gần đây nhất, ở Hồng Kông, là Thượng sư Thubten Dhargye. Lần này tôi đến gặp ngài, trước mặt tất cả các vị Thượng sư, tôi cũng ngồi ở đó. Sư phụ ngồi phía trên, ngài ngồi ngang hàng với tôi, nhưng ngài lót hai cái đệm, còn tôi lót một cái đệm. Ngài là sư phụ mà! Dưới mông ngài phải lót hai lớp, làm đệ tử chỉ được lót một lớp, còn các vị Thượng sư khác thì xếp hàng phía dưới tôi, mọi người đều ngồi ngay ngắn. Ngài hỏi tôi một câu, ngài nói: "Ta sẽ mắng con đấy!" Ngài nói ngài sẽ mắng tôi. Cũng phải giữ chút thể diện cho tôi chứ, đúng không? Có nhiều đệ tử ở đó như vậy, tôi là người sáng lập Chân Phật Tông mà! Là Thượng sư tôn quý, là Liên Sinh Hoạt Phật, còn là Hoa Quang Tự Tại Phật. Ngài muốn mắng tôi.

Ngài hỏi tôi: "Chúng ta là quan hệ thầy trò hay là quan hệ bạn bè?" Tôi nói: "Là quan hệ thầy trò." Trời ơi! "Quan hệ thầy trò. Rất tốt! Lần trước ta dặn con làm việc, sao lại làm thành ra thế này?" Nói ra rồi! Tôi thực sự không biết chuyện gì, thầy dặn dò tôi, tôi lại dặn dò xuống dưới, tôi có dặn lại các Thượng sư, đường chủ bên dưới. Vì thầy gọi điện đến, tôi nhận được liền, lập tức dặn xuống dưới, việc này phải xử lý ngay.

Chuyện này là sau khi làm xong, các Thượng sư và đệ tử của chúng tôi không xử lý nhanh, còn ngài thì tính rất nóng vội, không nhanh chóng hoàn thành được, chậm mất hai tháng. Trong khi đó, người khác đã hoàn thành sớm hơn khoảng một tháng, ngài đã giao cho họ làm, họ đã hoàn thành và báo cáo lại cho ngài trong vòng một tháng, còn chúng ta phải đến hai tháng sau mới báo cáo, tức là chúng ta làm chậm hơn, người ta làm nhanh hơn.

Ngài nói ngài đã không vui trong suốt mười ngày, mười ngày, ban đầu ngài định phế bỏ tôi. Phế bỏ, các bạn biết không? Như trong tiểu thuyết kiếm hiệp ấy: "Phế bỏ võ công!" Phế bỏ tôi, ngài đã cân nhắc có nên phế bỏ tôi hay không. May mắn thay, may mắn là ngài đã nằm mơ. Ngài không kể giấc mơ gì, không nói, chỉ nói là đã nằm mơ. Sau đó thì sao? Ngài nói: "Thôi được, vẫn công nhận con là đệ tử của ta." Vẫn công nhận tôi là đệ tử của ngài, nếu không thì tôi đã sớm bị ngài phế bỏ rồi, mất hết võ công rồi!

Trong vòng mười ngày, ngài đã có một giấc mơ, sư phụ đã nằm mơ. Giấc mơ này ngài không kể cho tôi! Nhưng giấc mơ này đã thay đổi ý định muốn phế bỏ tôi của ngài. Ý ngài là như thế này, có một vị Bồ Tát đến nói với ngài: "Ngài không thể phế bỏ Lư Thắng Ngạn đâu! Trong lòng cậu ấy vẫn rất tôn kính ngài đấy!" Có lẽ vị Bồ Tát đó đã "đặc biệt chỉ điểm" cho ngài! Bảo ngài đừng làm vậy, mười ngày sau ngài mới thay đổi. Nhưng ngài nghĩ, khi tôi đến gặp ngài, ngài sẽ phải dạy dỗ tôi một trận cho ra trò.

Ngài đưa một vật cho tôi, tôi dùng hai tay đón nhận, ngài hỏi tôi: "Chỉ thế thôi sao?" Không phải là mặt cười đâu! Không phải nói nhỏ nhẹ đâu, không phải đâu! "Chỉ thế thôi sao?" Phải làm gì đây? "Quỳ xuống!" Thế là ngoan ngoãn quỳ xuống. Các bạn biết không, Thượng sư tôn quý đấy! Là Liên Sinh Hoạt Phật đấy! Là người sáng lập Chân Phật Tông đấy! Là Hoa Quang Tự Tại Phật đấy! Bảo quỳ là quỳ, tôi cứ thế mà quỳ xuống. Tôi vừa quỳ xuống, may mắn thay, tôi thấy các vị Thượng sư, đệ tử, mọi người đều đứng dậy cùng quỳ xuống.

Phải hoàn toàn tâm phục khẩu phục với sư phụ của mình, không cần lý do gì cả. Bạn muốn nói lý do gì với thầy? Không có lý do nào cả, tôi chẳng có lý do gì để nói. Tôi không thể nói với thầy rằng: "Con đã giao việc xuống cho người khác rồi, con có làm gì sai đâu! Con đã giao việc cho mọi người làm rồi, đó là chuyện không thể tránh khỏi." Thực ra chẳng có lý do nào cả, không thể nói lý do, đừng nói bất kì lý do gì, tôi chẳng có lý do nào để nói cả.

Ngày xưa khi sư phụ mắng tôi, tôi chỉ có một cách, đó là quỳ xuống, sám hối, tôi chưa bao giờ nói lý do; bởi vì dù có nói lý do gì thì sư phụ cũng không nghe đâu, bất kì lý do gì sư phụ cũng không nghe đâu, sư phụ nghĩ thế nào thì là như thế.

Ngày xưa khi theo học pháp với sư phụ, thật là khổ sở, sư phụ đánh rất mạnh, một tay đánh qua đây, bạn né sang bên kia, ngài lại đưa tay kia đánh tới, đánh còn mạnh hơn. Bây giờ thì sư phụ thích mắng tôi, ngài cứ mắng tôi, ngài đã mắng tôi suốt mười năm rồi mà vẫn chưa chán, phải ngoan ngoãn chịu mắng thôi. Chỉ một câu: "Ngài là sư phụ."

Lúc đó! Nói thật, tôi có thể nói gì đây? Tôi không thể nói bất cứ điều gì, tôi không thể nói: "Này! Nếu thầy cứ mắng con như vậy, con sẽ bỏ đi đấy!" Tôi không thể nói vậy, Mật giáo là mối quan hệ một thầy một trò, Mật giáo là nói về giới samaya, là giới samaya. Giới samaya là gì? Khi quy y bạn đã phát nguyện rồi, một khi rời bỏ là đã phạm giới samaya. Bình thường thì được, nhưng Mật giáo thì không được! Giới samaya là giới luật nghiêm trọng nhất, là giới luật nghiêm trọng nhất trong Phật giáo, là một loại giới luật hoàn toàn thẳng tắp trong định giữa bản thân với chư Phật Bồ Tát và với sư phụ.

Khi ở bên sư phụ, ngài bảo quỳ là quỳ, ngài bảo mắng là mắng, ngài muốn thế nào thì phải thế ấy, tôi phải một lòng, không thể hai lòng, đối với sư phụ phải như vậy đấy. Trong lòng bạn chỉ cần nảy sinh một chút phản cảm, cảm thấy hơi không hợp với sư phụ này, thì làm sao còn là "một đối một" nữa? Cái "một" của bạn đã không còn rồi! Đã trở thành "một đối không" rồi! Bạn sẽ không nhận được lực gia trì truyền thừa nữa!

Được rồi, tôi lại lên lầu, lên tiếp, ngài viết cho tôi một chú tự bằng tiếng Tạng, ngài muốn tôi làm người truyền thừa của ngài. Đây là thử thách dành cho tôi đấy! Ngài đang thử thách tôi, trước tiên đá tôi ra, làm tổn thương tôi, xem tôi còn chịu đựng được không; trước tiên giết chết tôi, xem tôi có thể nhẫn nhịn không. Anh vẫn quay về, thế là tốt. "Ta truyền thừa cho con." Mấy vị sư phụ của tôi đều như vậy cả, học Mật giáo là thế! Phải nhẫn nhịn. Đối với sư phụ của mình phải biết nhẫn nhịn, không có lý do nào để nói cả, còn nghiêm khắc hơn cả giáo dục quân đội, đừng có nói lý do với ngài.

**Câu chuyện của Milarepa**

Ngày xưa, Đại sư Marpa đánh đá Milarepa túi bụi, bảo ngài xây nhà hình nhọn, nhà hình tam giác nhọn, rồi lại bảo xây nhà hình tròn, nhà hình vuông, sau đó lại xây một ngôi nhà kỳ dị lung tung, nhà hình bán nguyệt, xây xong lại phá. Phải nhẫn nhục biết bao! Da thịt đã trầy trụa, chân cẳng đã mỏi nhừ, nhà xây xong ngài lại bảo phá đi; đó chính là đang dạy ngài pháp môn "tức, tăng, hoài, tru".

Nhà hình nhọn chính là pháp tru [hàng phục, trừ chướng]; nhà hình vuông chính là pháp tăng ích; nhà hình tròn là pháp tiêu tai; nhà hình bán nguyệt là kính ái. Ngài đã dạy pháp cho Milarepa rồi đấy, bảo xây nhà rồi phá nhà chính là đang dạy pháp cho ngài. Làm đệ tử không biết được dụng tâm khổ cực của sư phụ nằm ở đâu, sao lại bảo con xây nhà rồi lại phá nhà? Thật vô lý! Thực ra là đang dạy pháp cho ngài, đang tiêu nghiệp cho ngài.

**Kinh nghiệm cầu pháp của Liên Sinh Hoạt Phật**

Tôi đã gặp một vị sư phụ còn nghiêm khắc hơn, vị sư phụ này mắng tôi, bắt tôi quỳ, bắt tôi bò, sau đó mới dẫn tôi đi, rồi truyền pháp cho tôi.

Mật pháp là học như thế đấy, bạn đã quy y với thầy rồi, trong Mật giáo không có chuyện rút lui, trong Hiển giáo bạn muốn đi thế nào, muốn rút lui thế nào cũng được, nhưng Mật giáo là giới samaya, rút lui là vào địa ngục Kim Cang! Không có lựa chọn thứ hai. Làm sao tôi dám rút lui? Với bao nhiêu sư phụ như vậy. Ngài Sakya Chứng Không Thượng sư này! Ngài dạy tôi cũng rất nghiêm khắc. Hòa Thượng Liễu Minh, tôi đã từng bị đánh; hiện giờ ở Hong Kong, Thượng sư Thubten Dhargye đã mắng tôi suốt mười năm. Chữ "rút lui", một nửa, một chút thôi tôi cũng không dám nói. Giới samaya đấy! Không phải nói đùa đâu.

Cho nên Mật giáo là như vậy đấy, là để dạy bạn nhẫn nhục, thầy trị bạn trước, xem bạn có tâm nhẫn nhục không, khi bạn thực sự có được, đạo tâm rất kiên cố, thầy mới truyền cho bạn chân pháp.

Khi ở bên sư phụ, ở chỗ Lama Sakya Chứng Không, tôi đã nhận được rất nhiều quán đảnh, ngài đã cho tôi rất nhiều thử thách. Ở chỗ Hòa Thượng Liễu Minh, tôi nhận rất nhiều sự sỉ nhục, không, không nên nói là sỉ nhục! Nhận rất nhiều sự quở trách, nhưng ngài đã nói một câu: "Con càng nhận nhiều quở trách, tai nạn càng nhiều, thành tựu càng lớn."

Tôi không thể giữ thể diện này, tôi bị mắng trước mặt tất cả đệ tử, tôi còn thể diện gì nữa? Tôi không quan tâm đến thể diện này, người học Phật còn thể diện gì? Ngày hôm đó trước mặt Thượng sư Thubten Dhargye, tất cả đệ tử, hơn mười vị Thượng sư và pháp sư đều có mặt, phải không? Người có mặt giơ tay. Các vị thấy đó, có nhiều người như vậy, còn những người hiện không có đây, phải không? Có mấy người không ở đây. Phía sau cũng có, có bao nhiêu Thượng sư và pháp sư có mặt. Vì cái thể diện này, khi ngài mắng tôi, khi ngài quở trách tôi, nếu tôi đứng dậy nói tôi không làm nữa, tôi bỏ đi, sẽ là phạm giới đấy! Phạm giới đấy! Bạn chưa học được nhẫn nhục, bạn còn phạm giới samaya nữa.

Khi đã quy y với thầy, bạn phải giữ chặt giới samaya của sự quy y này, dù có bị thầy đánh chết cũng là đáng đời. Hôm nay tôi giữ tâm như vậy đấy! Nếu tôi bị thầy đánh chết, tôi đáng đời thôi, bị đánh chết là thầy đang siêu độ tôi, tôi được vãng sinh, thầy đang thành tựu cho tôi, cho nên đánh chết tôi, tôi sống ở thế giới này có ích gì? Đời sau tôi sẽ trở lại, trở lại độ chúng sinh. Thầy giúp tôi giải thoát sớm, cho tôi vãng sinh về Tây phương Cực Lạc!

Ngày nay chúng ta học Phật là học ưu điểm của thầy; thầy có ưu điểm, chúng ta học ưu điểm của thầy. Sau này khi các bạn trở thành thầy của người khác, khi các bạn thu nhận đệ tử, khi các bạn làm thầy của người khác, các bạn không thể nói những cái khác không học được, chỉ học được mỗi cái cách của thầy tôi thôi, như vậy thì đệ tử dưới trướng sẽ khổ lắm.

Tuy nhiên, tôi có lòng tin vào sư phụ của mình, một khi tôi đã quy y với ngài, tôi xem ngài như Phật, ngài chính là Phật, ngài có thể sửa chữa tôi, có thể mắng tôi, có thể thành tựu cho tôi, thậm chí có thể đánh chết tôi, đó mới chính là đệ tử Mật giáo. Nếu không thì đừng quy y. Nói cho các bạn biết, nếu bạn muốn quy y Mật giáo, khi đã quy y với thầy, bạn phải hoàn toàn tin phục, tin phục một trăm phần trăm, không được có tâm ý khác, như vậy bạn mới không phạm giới samaya, không phá giới nhẫn nhục, bạn đã tu được rồi.


### 20. Tinh tấn


Chúng ta hãy nói về tinh tấn. Tinh tấn nghĩa là "không tiến ắt lùi", nếu không tiến thì chắc chắn sẽ lùi; như thuyền ngược dòng, không tiến ắt lùi. Về tinh tấn, chúng ta cũng phải thường xuyên nghĩ đến câu hỏi "Có ai có thể giữ mãi được tâm ban đầu?" Có ai không? Vậy nên bạn phải nghĩ đến bản thân, tự mình phải giữ gìn tâm ban đầu của mình.

Khi đi đường, bạn phải tự hỏi: "Tại sao mình lại đi con đường này? Tại sao vậy?" Khi ở nhà, bạn phải tự hỏi: "Tại sao mình lại đang ở căn nhà này? Mình ở đây vì điều gì?" Khi ngồi, bạn phải tự hỏi: "Tại sao mình lại ngồi ở đây?" Khi nằm, bạn phải tự hỏi: "Tại sao mình lại nằm ở đây?" Ý nghĩa của việc bảo bạn phải suy nghĩ là vậy đó, trong mọi việc, đều phải nghĩ đến tu hành.

Giống như tối nay bạn nói: "Được rồi! Hôm nay thư giãn đi! Ngày mai là thứ Bảy, ngày mai là thứ Bảy, ngày kia là Chủ nhật, cuối tuần đi chơi, nướng BBQ và đi bất cứ đâu, xem phim, muốn đi đâu cũng được." Bạn sẽ tự nghĩ. Nhưng khi bạn đến rạp chiếu phim, bạn phải tự hỏi: "Tại sao mình lại đi con đường này?" Khi đang nướng thịt, bạn phải tự hỏi: "Tại sao mình lại đi nướng thịt?" Khi leo núi dã ngoại bạn cũng phải suy nghĩ như vậy, đây là sự quán chiếu trong hành động.

Đôi khi bạn đi sai đường, ôi, tối thứ Sáu, vui quá, chúng ta có thể đi xem. Đi xem gì? Topless. Hả! Bạn đi xem múa thoát y, topless chính là múa thoát y, tiếng Nhật gọi là "トップレス (toppuresu)". Mẹ tôi gật đầu. Tôi thường thích đùa giỡn.

Ở đây chúng ta có hai vị Hoạt Phật, tên của họ rất gần nhau, một vị là Topless Rinpoche, một vị là Chocolate Rinpoche, tôi thích nói đùa như vậy.

Cho nên khi bạn thư giãn, khi bạn đi trên con đường đó, bạn phải nghĩ: "Hôm nay tại sao mình lại đi con đường này?" "Tại sao mình lại đi xem múa thoát y?" Đây chính là để bạn tinh tấn. Khi bạn chợt nhận ra: "Ôi! Con đường này không đúng!" "Con đường này đi ngược với đạo, không phải chính đạo, không được đi!" Thông thường, bạn đi xem một bộ phim để thư giãn thì được; nhưng đi xem múa thoát y, làm tăng thêm dục vọng, là đi ngược với đạo, không được! Đây chính là tinh tấn trong hành động.

Khi bạn nghĩ đến tinh tấn, bạn sẽ nói: "Ồ! Con đường này không thể đi được." Rồi khi bạn đi, bạn cũng phải vừa đi vừa niệm Phật. Khi dừng lại cũng vậy, quá nhàn rỗi, hoặc bất kể bạn ở đâu, bạn đều phải suy nghĩ.

Vì vậy khi đi, đứng, nằm, ngồi, bạn đều phải nghĩ đến tinh tấn, khi nằm bạn cũng có thể niệm Phật, có thể cầu xin Bổn tôn, Thượng sư gia trì, để bạn ngủ ngon, đạt được ánh sáng trong giấc ngủ, trong lúc ngủ có quang minh; trong khi nằm mơ, bạn sẽ không đi vào những giấc mơ không tốt. Cầu xin Thượng sư, Bổn tôn gia trì cho bạn. Cho nên làm bất cứ việc gì, bạn đều phải nghĩ đến tinh tấn, đây là một phương pháp tinh tấn.

**Yếu lĩnh đọc kinh**

Tinh tấn đôi khi thực sự có thể tạo ra những điều tốt đẹp, viên mãn, giống như Chân Phật Mật Pháp chính là tâm đắc mà Sư Tôn đã đạt được nhờ tinh tấn học Mật pháp.

Đôi khi khi tôi đọc kinh, đọc những kinh Phật này, tôi luôn cầm bút để ghi chú bên lề; nghĩa là, khi đọc đến chỗ vi diệu, tôi lập tức đánh dấu lại, viết ra tâm đắc của mình, rồi gạch chân những điểm quan trọng nhiều lần, đánh dấu lại. Sách nào tôi đọc qua cũng đều như vậy. Khi đọc sách của các bậc cổ đức, kinh sách của chư Bồ Tát, tôi đều đánh dấu như thế. Tôi gạch chân, viết vào đó, vừa viết vừa nghĩ: Những người viết sách này, những người viết kinh này, nếu biết trong tương lai, có một người tên Lư Thắng Ngạn đọc sách theo cách này, họ sẽ từ trong kinh bước ra và nói với tôi: "Anh đúng là tri kỷ của tôi."

Sư phụ của các bạn là như vậy đó, tôi đọc kinh rất tỉ mỉ từng quyển một, đọc từ đầu đến cuối toàn bộ như thế, còn ghi chú bên lề, không phải đọc qua rồi thôi, đều gạch lại, còn ghi tâm đắc nữa, đọc kinh phải như vậy đó. Tôi tin rằng những người viết kinh, thậm chí người tạo kinh, tất cả những người giảng kinh, những bậc cổ đức, những vị Bồ Tát, họ sẽ hiện thân trước mặt tôi, nói một câu như thế này: "Cuối cùng cũng có một người rất tỉ mỉ, đọc tác phẩm của ta rất kĩ lưỡng và còn ghi chú bên lề." Tôi tinh tấn là như vậy đó.

Vì vậy nhiều người, người bên ngoài không biết, thực ra tôi rất tinh tấn; trong tu hành, trong tu pháp, mọi người đều biết, tôi rất tinh tấn. Tôi viết sách rất tinh tấn, đã hoàn thành 105 quyển sách, bây giờ đang viết quyển 106. Mọi người chê trách Lư Thắng Ngạn, họ không biết tôi rất tinh tấn, tôi làm việc ở bàn mỗi ngày, không có ngày nào nghỉ cả. Dù những ngày này tôi thuyết pháp, sáng nào tôi cũng viết bài, chưa từng dừng lại, cho nên một người muốn có thành tựu, nhất định phải tinh tấn, phải hoàn toàn hòa nhập vào!

Các bạn nghĩ "Lư Thắng Ngạn, người ta đồn là thầy phù thủy, là kẻ lừa đảo", nhưng làm kẻ lừa đảo có dễ không? Kẻ lừa đảo thông thường lừa xong là ôm tiền chạy mất, hôm nay lừa bạn, ngày mai đã biến mất rồi. Tôi là kẻ lừa đảo mà viết được 106 quyển sách, mỗi sáng đều ngồi đó mài công viết! Trên đời này có kẻ lừa đảo nào như vậy không? Đây là dồn hết tinh thần, cả cuộc đời, có thể nói là tâm huyết và toàn bộ sinh mệnh của một đời người dành cho Phật học, cho Phật pháp, là sự dấn thân toàn tâm toàn ý, đây chính là tinh tấn, đây chính là lục độ.

Mọi người rất tinh tấn, nhiều đệ tử rất tinh tấn, tôi biết họ mỗi ngày trì chú, ôi! Trì, trì, trì, trì, trì, Thượng sư Cao giao công khóa cho họ; Thượng sư Liên Cảnh, Cao An Dân giao công khóa cho họ, "Bạn phải trì chú mấy vạn biến." "Bạn phải đại lễ bái bao nhiêu lần." Đây là công khóa mà Thượng sư Cao đã giao.

Ngoài ra, Thượng sư Liên Hoa Lệ Huệ ở Tử Liên Đường, cô ấy cũng thường xuyên giao công khóa cho tất cả đệ tử, "Bạn phải làm bao nhiêu." "Cái gì phải làm bao nhiêu, việc thiện phải làm bao nhiêu, in kinh sách bao nhiêu, làm cái gì bao nhiêu." Ôi! Đau đầu quá! Phải, mọi người đều đang tinh tấn.

Nhưng trong số đó có nhiều đệ tử không làm được như vậy, sau khi quy y xong, thỉnh thoảng đến đồng tu, tu pháp một chút rồi về nhà lại quên hết, đây gọi là lười nhác. Họ không tu pháp, xem việc tu pháp như một công việc, không xem như một niềm vui, mà xem như một công việc, xem như một gánh nặng.

"Ôi! Lúc đầu không quy y thì tốt rồi, một khi quy y rồi khổ quá! Mỗi ngày còn phải tìm thời gian, phải vào mật đàn, đến đó tu pháp một lần." "Làm sao mà được?" "Thôi! Chi bằng đi uống rượu còn hơn." Có phải không? Suy nghĩ kiểu này! Như vậy sẽ không có thành tựu đâu, tu hành như vậy sẽ không có thành tựu đâu.

Tinh tấn, chính là toàn tâm toàn ý dấn thân. Có nhiều người phát tâm rất tốt, vừa mới phát tâm ban đầu! Trong Kinh Hoa Nghiêm có đề cập đến phát tâm ban đầu, "Chỉ cần giữ được tâm ban đầu, bạn sẽ thành Phật."

Có rất nhiều người khi mới bắt đầu bái Phật, nói rằng: "Con nhất định sẽ hộ trì Chân Phật Tông, phát nguyện với chư Phật Bồ Tát, con nhất định sẽ hộ trì Sư Tôn." "Con xin cúc cung tận tụy, đến chết mới thôi." Phát tâm ban đầu rất tốt, "Con nhất định sẽ học Phật pháp thật tốt, cho đến hết đời này." "Con xin đời đời kiếp kiếp theo Sư Tôn." Ôi! Mới được vài năm đã bỏ đi rồi. Chưa được mấy năm đã thôi. Phát tâm ban đầu đều rất tốt, cho nên nói rằng, nếu giữ được tâm ban đầu, nhất định sẽ thành Phật. Bởi vì bạn tinh tấn mà!

Tuy nhiên, phát tâm ban đầu còn phải đi kèm với tâm dài lâu, thời gian này, tinh thần tinh tấn của phát tâm ban đầu phải kéo dài, phải xa thẳm, mới có thể thành tựu được. Cho nên phát tâm ban đầu rất dũng mãnh, nhưng đầu voi đuôi chuột. Không phải chỉ đệ tử mới như vậy, nhiều Thượng sư cũng vậy; mới đầu, ôi, tinh thần sẵn sàng vứt bỏ đầu óc, đổ máu nóng. "Sư Tôn, con hộ trì thầy, một đời một kiếp, mãi mãi đời đời kiếp kiếp theo thầy." "Con đảnh lễ thầy, con hộ trì Chân Phật Mật Pháp. Con sẽ làm thế này, làm thế kia." Nói, nói, nói. Tôi bảo: "Từ từ đã nào, để tôi quan sát thêm một thời gian! Để tôi xem thêm một thời gian nữa." Quả bóng này đã xì hơi rồi.

Phát tâm ban đầu thì không sai! Nhưng không có tâm dài lâu, đây là tật xấu của con người, là tật xấu của chúng sinh. Tôi hỏi anh ta: "Tại sao bây giờ lại thế này?" Anh ta nói: "Con đã bị bệnh rồi." Tôi hỏi: "Bệnh gì vậy?" Anh ta nói: "Bệnh nan y." Ôi! Anh ta đã mắc bệnh nan y rồi, tâm đã chết rồi, tâm ban đầu không còn nữa. Cái tâm đó! Chỉ mới phát khởi, vừa phát thì "vù", đã mất tiêu rồi. Cho nên Kinh Hoa Nghiêm nói rất rõ ràng, giữ được tâm ban đầu, có tâm dài lâu, nhất định sẽ thành Phật. Đây chính là tinh tấn, tinh tấn này rất quan trọng, chúng ta hiểu rằng, mọi thành tựu đều phải dựa vào tinh tấn.

Vậy thứ năm là gì? Đó là thiền định, thiền định chúng ta đã nói qua hôm qua rồi. Thứ sáu là bát nhã, bát nhã chúng ta cũng đã nói qua hôm qua rồi.

Lục độ vạn hành, khi phát huy lục độ này ra, sẽ trở thành vạn hành.

Thứ nhất là bố thí, thứ hai là trì giới, thứ ba là nhẫn nhục, thứ tư là tinh tấn, thứ năm là thiền định, thứ sáu là bát nhã, đây chính là lục độ vạn hành.

Người học Phật chúng ta, khi đã hiểu được tứ diệu đế, đạt được quả vị A La Hán, rồi từ A La Hán chuyển thành Bồ Tát, đều phải dựa vào lục độ này; lục độ thuộc về việc làm của Bồ Tát Đại thừa, tư tưởng Đại thừa là điều mà chính Đức Phật đã giảng dạy trong giai đoạn giữa, nói về rất nhiều kinh điển Đại thừa. Lúc đầu và cuối cùng, đều giảng về tứ thánh đế, giai đoạn giữa Ngài có đề cập đến tư tưởng Bồ Tát Đại thừa này.

Theo sự chỉ dạy của Phật Đà mà chúng ta biết được, người học Phật, khi bạn học Phật, tuân thủ giới luật của Phật, dùng tâm Bồ Tát lục độ của Phật, hiểu được đạo lý vô thường, biết cách xuất ly, hoặc bạn làm một cư sĩ tại gia cũng có thể tu hành được.

Xuất gia và tại gia đều có diệu pháp tuyệt diệu của nó, đều có thể đạt được thành tựu như nhau. Sau khi học được lục độ, bạn sẽ trở thành Bồ Tát, từ quả vị A La Hán chuyển thành Bồ Tát, rồi tự giác giác tha, giác hành viên mãn, thành tựu Phật quả, đây là một trọng điểm của Phật pháp.

Tam vô lậu học, lục độ, hôm nay giảng đến đây.

Om mani padme hum.


### 21. Thất bồ đề phần


Hôm nay là ngày thứ sáu giảng dạy "Phật Học Tổng Thuyết" tại Cầu Vồng Sơn Trang.

Hôm nay chúng ta sẽ nói về thất bồ đề phần và bát chính đạo.

Thực ra, khi tôi giảng về bát chính đạo trong "Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh", lúc nói đến chữ "đạo" trong tập khổ đạo diệt, nếu các vị lắng nghe kĩ sẽ hiểu rằng chữ đạo đó chính là nói về bát chính đạo. "Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh" đã được giảng xong hoàn toàn cách đây hai tuần, thời gian giảng khoảng hơn một năm. Sau này khi các vị tìm hiểu kĩ về bát chính đạo, có thể xem bài giảng "Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh" của tôi, trong đó có giảng về bát chính đạo.

Hôm nay chúng ta sẽ nói về thất bồ đề phần. Thất bồ đề phần là gì? Đó chính là bảy loại giác, chúng ta gọi là giác chi, giống như một cột trụ vậy. Giác chính là một sự lĩnh hội, trụ cột hỗ trợ cho sự lĩnh hội, gọi là giác chi. Trong Phật pháp, thất giác chi, thất bồ đề phần nói về việc lĩnh hội bảy loại trí tuệ to lớn.

Thực ra thất bồ đề phần có ở đâu? Trong Kinh A Di Đà đã có đề cập, những người đến được Tây phương Cực Lạc vẫn đang thực hành công phu thất bồ đề phần, ở đó có hàng cây bảy báu, xung quanh có những cây báu, chim ca lăng tần già, chim cộng mạng, chúng giúp cho bạn có thể lĩnh hội thất bồ đề phần.

Thất bồ đề phần là gì? Nó bao gồm thứ nhất là trạch pháp giác chi, trạch pháp giác chi nghĩa là sự lĩnh hội về việc chọn lựa pháp. Một loại là tinh tấn giác chi, tinh tấn chúng ta đã nói qua trong lục độ rồi. Một loại là hỷ giác chi, một loại là niệm giác chi, một loại là khinh an giác chi. Rồi định giác chi chúng ta cũng đã nói qua rồi. Thứ bảy là xả giác chi, chữ "xả" trong từ "từ bi hỷ xả", nhưng mà chữ "xả" này có chút khác biệt so với chữ "xả" trong việc xả bỏ tất cả sinh mệnh để thực hành từ bi hỷ xả.


### 22. Trạch pháp giác chi


Hôm nay điều quan trọng nhất cần giảng thuộc về trạch pháp giác chi, trạch pháp giác chi vô cùng quan trọng; trạch pháp giác chi nghĩa là trong quá trình học Phật pháp, bạn không thể học hết tất cả Phật pháp, chúng ta biết rằng Phật học như biển cả mênh mông, bạn không thể nào học hết tất cả được, dù dành cả cuộc đời để học cũng không thể nào thông thạo hết Phật học, cho nên bạn cần phải trạch pháp, tức là chọn lựa Phật pháp. Do có trạch pháp giác chi, nên trong Phật pháp mới phân ra thành nhiều tông nhiều phái, điều này là bởi vì Phật pháp quá nhiều.

Có một số pháp sư chọn một bộ kinh điển, cho rằng bộ kinh điển này rất hay, bản thân học được tâm đắc, liền từ bộ kinh này sáng lập ra một tông phái, vì vậy mới diễn biến thành mười tông phái. Mười tông phái phổ biến nhất, mỗi tông phái đều có một hướng nhấn mạnh riêng, mười tông phái đó là:

Thứ nhất là Câu Xá Tông, Câu Xá Tông là giảng về vô ngã, đại nghĩa bên trong bàn luận về vô ngã.

Thứ hai là tông phái Thành Thật Tông, dựa theo Thành Thật Luận mà hình thành nên tông phái gọi là Thành Thật Tông, Thành Thật Tông giảng rằng ngã và pháp đều là không.

Trong đó có nhiều tông phái có những quan điểm lý luận trái ngược nhau. Theo như tôi được biết, như Câu Xá Tông giảng về "trung ấm thực có", nghĩa là trong Câu Xá Tông, họ cho rằng linh hồn là có thật, linh hồn này tồn tại, hiện hữu dưới dạng âm hình, có trung ấm; còn Thành Thật Tông đặc biệt nhấn mạnh không có trung ấm, không có linh hồn. Hai tông phái này rất mâu thuẫn với nhau, một bên nói có linh hồn, một bên nói không có linh hồn.

Vậy các tông phái Đại thừa giải thích về linh hồn như thế nào? Họ nói rằng "có cái có, có cái không có". Điều này rất khó để lĩnh hội, làm sao trong cùng một Phật pháp, trong Phật học, có người nói "có linh hồn", có người nói "không có linh hồn", có người nói "có cái có, có cái không có"? Làm sao mọi người có thể chấp nhận tông phái nào mới là đúng?

Ý nghĩa của Đại Thừa Tông, họ nói đối với những người đại thiện, những người tu trì thành tựu, căn bản không cần phải trải qua trung ấm, không cần qua trung ấm để thành Phật, có thể trực tiếp thành Phật. Như vậy không có trung ấm! Không có linh hồn nữa. Như tôi chẳng hạn, một ngày nào đó tôi sẽ viên tịch! Sau khi viên tịch thì sao? Trực tiếp hóa thành cầu vồng, thành Phật luôn! Không cần trải qua thủ tục linh hồn. Ý nghĩa của Đại Thừa Tông là không có linh hồn.

Còn những người làm điều đại ác cũng không có linh hồn, họ cũng không trải qua trung ấm, nghiệp chướng của họ rất nặng, thế nên một khi chết đi, cả con người họ không cần trải qua thủ tục linh hồn, trực tiếp biến thành ngạ quỷ; theo cách giảng này thì không có hiện tượng âm hình, đây là quan điểm của Đại Thừa Tông. Ba tông phái có quan điểm khác nhau, vì vậy điều này cần các bạn tự mình lĩnh hội và lựa chọn.

Vậy thì có Câu Xá Tông và Thành Thật Tông, cũng có Thiền Tông, Thiền Tông giảng về điều gì? Giảng về "kiến tính thành Phật", khi thấy được bản tính của mình thì bạn thành Phật; không giảng gì khác, hoàn toàn chỉ là khi thấy được Phật tính của mình, bạn liền thành Phật, chỉ là công phu tu tập để thấy được bản tính.

Còn Thiên Thai Tông thì sao? Tông này giảng về "nhất tâm tam quán". Tam quán là gì? Đó là "không quán, giả quán, trung quán", đó chính là tam quán; Thiên Thai Tông chuyên giảng về "nhất tâm tam quán".

Hoa Nghiêm Tông giảng về "thập huyền lục tướng", tức là mười loại huyền bí và sáu tướng. Thập huyền lục tướng này, chữ tướng ở đây là pháp tướng. Về thập huyền, sau này có cơ hội, tôi sẽ nói chuyện với mọi người về phương pháp tu trì của từng tông phái, để mọi người có thể lựa chọn.

Ngoài ra còn có Pháp Tướng Tông, Pháp Tướng Tông giảng về "vạn pháp duy thức", tức là giảng về duy thức, cũng chính là Duy Thức Tông.

Tiếp theo là Tịnh Độ Tông, hiện nay Tịnh Độ Tông là phổ biến nhất, bởi vì đây là pháp môn thuận tiện nhất, chỉ giảng về niệm Phật, nhất tâm bất loạn niệm Phật, khi niệm Phật đến mức thấy được Phật! Cũng như thấy được bản tính, cũng có thể thành Phật, đây là pháp môn giảng về niệm Phật. Cho nên Tịnh Độ Tông chuyên giảng về niệm Phật.

Ngoài ra còn có Luật Tông, Luật Tông là tông phái giảng về giới luật, lấy Tứ Phần Luật làm chủ đạo, giảng rằng trước tiên phải giữ giới, sau đó mới đạt được định, khi đã đạt được định thì sẽ có được trí huệ, đến khi công phu thiền định sâu dày, hành giả cũng sẽ thành Phật. Như vậy Luật Tông là tông phái chuyên giảng về giới luật.

Còn có Tam Luận Tông, Tam Luận Tông là tông phái giảng về ba bộ luận, đó là Trung Luận, Bách Luận và Thập Nhị Môn Luận, ba bộ luận này hợp lại gọi là Tam Luận Tông. Tam Luận Tông giảng về Không tính, giảng về tính Không, hoàn toàn giảng về tự tính vốn không.

Vừa rồi chúng ta nói về Tịnh Độ Tông, Tịnh Độ Tông có "tam kinh nhất luận", ba bộ kinh đó là Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh A Di Đà và Vãng Sinh Luận, dựa theo ba Kinh một Luận này mà diễn biến thành Tịnh Độ Tông.

Tiếp theo là Mật Tông, hiện nay chúng ta đang tu chính là Mật Tông, Mật Tông lấy Kinh Kim Cương Đỉnh và Kinh Đại Nhật làm chủ đạo. Mật Tông là bên ngoài tu thân khẩu ý thanh tịnh, bên trong tu khí, mạch, minh điểm, tam mật hợp nhất, kiến tính thành Phật. Đây là Mật Tông, như vậy đã nói đủ mười tông.

Vậy thì bạn phải lựa chọn thôi! Có mười tông phái, xem bạn chọn thế nào? Giống như có mười cửa hàng, một dãy toàn là tiệm bán mì; có mười cửa hàng, tiệm nào cũng nói mình tốt, không có tiệm nào nói mình không tốt cả, tôi chưa từng thấy tiệm nào nói mình không tốt, tiệm nào cũng nói hàng tốt giá rẻ, hàng thật giá thật, giá cả phải chăng.

Có người thì đi theo duyên may, nhìn xem tiệm nào, mười tiệm mì ở đây, tiệm nào cũng có thể no bụng, xem bạn có duyên với tiệm nào thì vào tiệm đó. Học Phật cũng có rất nhiều đường lối! Có rất nhiều tông phái, mỗi tông phái đều nhấn mạnh tông phái của mình là số một.

Như trong Kinh Lăng Nghiêm, có hai mươi lăm vị Bồ Tát. Phật Thích Ca Mâu Ni hỏi họ tu tập như thế nào? Các phương pháp họ sử dụng, có vị dùng lửa để tu chứng hỏa quang tam muội; có vị dùng nước, dùng phương pháp quán nước để chứng đắc thủy quán tam muội. Còn Bồ Tát Quan Thế Âm cuối cùng nói về nhĩ căn viên thông của Ngài, hiện nay cũng có người dùng phương pháp lắng nghe âm thanh nội tại, quán chiếu ánh sáng nội tại; đây chính là pháp nhĩ căn viên thông của Bồ Tát Quan Thế Âm trong Kinh Lăng Nghiêm, có rất nhiều phương pháp.

Thật ra khi Đức Phật còn tại thế, Ngài dạy chúng ta nhiều nhất chính là hỏa quang tam muội. Pháp tứ thánh đế, A La Hán, tứ quả A La Hán đều là hỏa quang tam muội. Còn rất nhiều vị Đại Bồ Tát khác, phương pháp tu chứng của các Ngài đều có thể thành Phật; các bạn muốn tìm đến tông phái nào thì cứ tìm đến, tông phái nào tốt, tông phái nào mình có duyên nhất, đó chính là cái gốc học Phật của chính mình, đây gọi là trạch pháp giác chi.

Các bạn phải lựa chọn! Hôm nay các bạn chọn tông phái nào? (Mọi người nói: Chân Phật Tông). Các bạn đã chọn đúng rồi. Đây chính là trạch pháp giác chi. Khi các bạn chọn Phật học Phật pháp, nhất định phải dùng con mắt của mình để nhìn để chọn lựa. Không phải là tùy tiện bịt một miếng vải lên mắt, như các bạn nói, giống như bệnh nhân bây giờ trông như gấu trúc vậy, giống gấu trúc ở Đại Lục vậy, hai mắt đều đen thui; bịt một miếng vải, giống như "Hiệp Sĩ Ong Xanh" hay hiệp sĩ gì đó, đều như vậy cả. Rồi cứ thế xông bừa, xông bừa, đụng phải tông phái nào thì vào tông phái đó, đó chính là số phận của mình. Số phận này chưa chắc đã tốt, bởi vì đó là lựa chọn mù quáng.

Cái gọi là trạch pháp giác chi là bạn dùng trí tuệ của chính mình để phán đoán, để lựa chọn pháp, đây gọi là sự lĩnh ngộ về chọn lựa pháp. Các bạn quy y sư phụ cũng vậy, các bạn phải dùng mắt mình để nhìn, dùng trí tuệ để phán đoán, đây mới chính là trạch pháp giác chi! Nếu không thì bạn chọn cái gì? Cứ xông bừa thôi. Bạn xông vào một tiệm đen, bạn sẽ biến thành bánh bao nhân thịt người.

Bạn có biết không! Trong Thủy Hử Truyện đó, họ bán cái gì? Bánh bao nhân thịt người. Bạn xông vào tiệm đen, bị giết mất, không biết đó là tiệm đen, bạn cứ tùy tiện đi vào, bạn muốn ăn chút gì đó, họ gói ra toàn bánh bao nhân thịt người. Rồi nhìn bạn béo béo, trắng trẻo mịn màng, mỡ nhiều thế này, vừa hay họ cũng đang thiếu nguyên liệu, thế là bạn bị giết mất.

Cho nên trong Phật pháp vẫn còn rất nhiều tiệm đen. Mọi người hãy chú ý một chút, đừng bước lên thuyền cướp, đừng đi vào tiệm đen. Bạn tưởng mình được ăn no, nhưng lại biến thành món ăn cho người khác. Đây chính là trạch pháp giác chi.

**Sự thù thắng của Chân Phật Tông**

Tại sao lại chọn Chân Phật Tông? Chân Phật Tông có điểm thù thắng nào? Nhất định phải nói ra. Các bạn đều chọn Chân Phật Tông, tôi nghĩ đầu óc các bạn rất tốt, trí tuệ của các bạn là vô thượng.

Có điểm thù thắng nào không? Bạn phải nói ra được! Là nước dùng ngon chăng? Là nguyên liệu thật chăng? Không phải bỏ bột ngọt, bây giờ tôi rất sợ bột ngọt. Nước dùng ngon, nguyên liệu thật, đã được tinh luyện. Nước dùng đó dùng xương gì để ninh? Là nước dùng hầm lửa nhỏ, từ từ hầm, hầm nhiều giờ, hầm ba ngày ba đêm, những thứ được hầm ra, nước dùng như vậy mới ngon.

Còn dùng những món sơn hào hải vị. Còn có màu sắc nữa! Trên còn bỏ thêm chút hành, tỏi! Còn thêm chút củ cải đỏ. Khiến bạn nhìn thấy, màu sắc đẹp, mùi vị thơm, lại ngon miệng; khiến bạn vừa no vừa đói, còn muốn ăn nữa, không để bạn ăn no ngay lập tức. No ngay lập tức thì bạn sẽ không quay lại nữa. Để bạn ăn nửa bát, rồi bạn quay lại mua tiếp, như vậy lại đãi bạn. Sắc, hương, vị đều đầy đủ cả, đó chính là điểm thù thắng.

**Căn bản Truyền thừa Thượng sư thù thắng**

Hôm nay chúng ta nói về sự thù thắng của Chân Phật Tông, đầu tiên là sự thù thắng của Căn bản Thượng sư. Đúng không? Đây là tự mình dán vàng lên mặt mình! Bây giờ tôi đã biến thành kim thân. Thực tế đúng là như vậy, quả thật là sự thật.

Bây giờ bạn đi hỏi tất cả các pháp sư, rất nhiều vị Thượng sư bên ngoài, các vị Hoạt Phật của Mật giáo! Bạn hỏi họ: "Thầy đã từng đến Tây phương Cực Lạc chưa? Thầy đã từng đi chưa?" Những vị pháp sư đó đã từng đến Tây phương Cực Lạc thế giới chưa? Họ đều không dám nói "có", rất ít người nói rằng họ đã từng đến thế giới Tây phương Cực Lạc.

Có lẽ rất ít, họ chưa từng đến đó, chỉ dựa vào những mô tả trong Kinh A Di Đà để tưởng tượng ra thế giới Tây phương Cực Lạc như thế nào. Con đường này họ vẫn chưa đi qua. À có, có nhiều pháp sư đã từng đến. Có chứ, nhưng không quay về. Họ là một đi không trở lại, họ không thể quay về nữa. Đúng không?

Họ không thể nói được! Họ không thể nói được thế giới Tây phương Cực Lạc như thế nào, có những địa danh nào? Có những xe cộ gì đang chạy? Đúng không? Có bao nhiêu người ở đó? Cõi Phật đó lớn đến mức nào? Họ không thể nói được! Phải là vị Thượng sư đã đến đó và có thể quay về, mới có thể nói về con đường tu hành này, bạn đã thực sự đi qua rồi, bạn đã thực sự trải nghiệm rồi, hôm nay quay về dẫn người khác đi, sẽ không bị lạc đường.

Đây là một đạo lý rất đơn giản, nơi bạn đã từng đến thì bạn biết đi như thế nào, thành phố đó ra sao, bạn đều biết. Hôm nay nếu bạn không biết, bạn chỉ xem "Cẩm nang Du lịch", tôi xem "Cẩm nang Du lịch" xem đi như thế nào. Tôi đã biết rồi! Ở đó có những gì, có những công trình kiến trúc gì, có những tác phẩm điêu khắc gì, có những bảo tàng gì, tất cả đều là bạn xem từ "Cẩm nang Du lịch". Đây là kém một bậc!

Cho nên vị Căn bản Thượng sư của Chân Phật Tông là "Ichiban" (tiếng Nhật: hạng nhất)! Các vị pháp sư khác cũng không tệ, nhưng các vị pháp sư khác là "Niban" (tiếng Nhật: hạng nhì). Họ chỉ dựa theo lời Phật Thích Ca Mâu Ni, những gì Phật đã giảng trong Kinh A Di Đà về thế giới Tây phương Cực Lạc như thế nào. "Hoa sen to như bánh xe". Ủa! To như bánh xe? Bạn phải động não một chút. Thời Phật Đà, bánh xe mà Ngài nói là bánh xe gì? Không phải bánh xe Jeep đâu, vậy là bánh xe gì? Bạn hãy suy nghĩ xem. Kinh A Di Đà nói như vậy, đúng không? Cho nên những vị pháp sư bên ngoài kia giảng "to như bánh xe", được! Bánh xe Jeep, bánh xe bò, bánh xe ngựa, đều là bánh xe cả! Rốt cuộc to đến mức nào? Điều này phải là người đã đến đó, đã xem qua và quay về mới nói được.

Bên trong hoa sen đó có thể ngồi được bao nhiêu người? Có người nói tôi biết rồi, "một người". "Mọi người đều thấy đó, Tam Bảo Phật, mỗi người đều ngồi một đóa sen mà! Chắc chắn là một người". Không đúng! Có đóa ngồi một người, cũng có đóa ngồi cả chục người, cho nên điểm này những vị pháp sư bên ngoài kia không thể nói được. Tôi hỏi họ tòa sen ngồi được mấy người? Một đóa sen ngồi được mấy người? Họ lập tức bảo "tôi chưa từng thấy". Đương nhiên họ không trả lời được rồi! Căn bản Thượng sư đã từng đến đó, đây chính là điểm thù thắng.

Tất cả chúng ta tu tập, chứng nghiệm và chứng minh một cách thực tế như vậy về tình hình của thế giới Tây phương Cực Lạc, bạn sẽ thấy rõ ràng tường tận, sự hiểu biết này không phải đến từ sách vở. Các vị pháp sư bên ngoài hoàn toàn dựa vào sách vở, bản thân họ chưa từng đến đó, cho nên họ không có sự chứng nghiệm. Đây chính là sự thù thắng của Căn bản Thượng sư, sự thù thắng của Chân Phật Tông, điều thù thắng thứ nhất. 

**Sự thù thắng của quả vị quán đảnh**

Điều thù thắng thứ hai chính là sự thù thắng của quán đảnh. 

Các tông phái khác không có cái gọi là quán đảnh! Có, bây giờ các pháp sư Hiển giáo cũng bắt đầu quán đảnh; mọi người đều biết, họ cũng làm nước cam lộ, rồi rảy một chút! Nước của họ từ đâu ra vậy? Bây giờ rất tiện, chỉ cần lấy một cái bình đến chỗ nước máy hứng một lúc là có rồi! Các bạn về nhà quán đảnh cho con trai, quán đảnh cho cháu, các bạn chỉ dùng nước máy, dùng một vật gì đó rảy một cái, rảy, rảy, rảy, thực ra cho tiện thì mua một cây súng nước, mua một cây súng nước dài một chút, loại chứa được nhiều nước ấy. Đến một người, xoẹt! Bắn một cái, ồ! Quán đảnh.

Quán đảnh không phải như vậy! Phải quán tưởng Bổn tôn trí huệ đi vào trong bình quán đảnh này, Phật trụ trong hư không, thỉnh Bổn tôn trí huệ từ hư không vào trong nước của bình này, rồi quán tưởng Bổn tôn trí huệ khác ngồi trên đỉnh đầu mình, rồi đi vào trong tâm mình, rồi tự mình biến thành Bổn tôn trí huệ, sau đó dùng nước pháp của Bổn tôn này để quán đảnh cho người khác, như vậy mới hợp với quán đảnh của Mật giáo.

Thực ra quán đảnh của Mật giáo, nhìn từ bên ngoài có vẻ rất đơn giản. Cầm nước lên rồi rảy! Thế là những vị pháp sư Hiển giáo kia vừa thấy thế liền bảo "Tốt quá! Cái này còn hay hơn tụng tam quy y của chúng ta nhiều". Rồi họ cũng làm theo, rảy, rảy như vậy, nhưng đó không phải là rảy tịnh! Quán đảnh không phải là rảy tịnh, không phải vậy. Phải quán tưởng, phải trì chú, phải hợp nhất với Bổn tôn trí huệ; phải làm tất cả cùng lúc mới hợp với nghi quỹ Mật giáo.

Nếu bạn muốn quán đảnh cho người khác, bản thân bạn trước hết phải được thọ quán đảnh, đây là một kiến thức căn bản nhất. Xin nói với mọi người, Thượng sư muốn quán đảnh cho người khác, trước khi quán đảnh pháp này, phải được Căn bản Thượng sư quán đảnh cho mình trước, sau khi được quán đảnh rồi mới có thể quán đảnh cho người khác.

Nói một cách đơn giản, vị pháp sư đó không hề có truyền thừa Mật giáo, ông ta chỉ là thỉnh thoảng trì một vài câu chú, chưa từng được ai quán đảnh cho. Vốn dĩ ông ta chỉ học Hiển giáo mà thôi! Ông ta chưa từng học Mật giáo! Ông ta cũng không có Căn bản Thượng sư Mật giáo! Việc ông ta quán đảnh cho người khác là sai lầm, bởi vì ông ta chưa từng được thọ nhận bất kì quán đảnh nào, không thể dùng thứ này để quán đảnh cho người khác.

Cho nên truyền thừa là như vậy đó, người này truyền cho người kia, rồi lại truyền tiếp cho người khác, đây gọi là "dòng pháp truyền thừa", nó phải có nguồn gốc; chứ không phải đột nhiên xuất hiện và nói "tôi quán đảnh cho bạn", nhưng chưa từng được bất kì Thượng sư nào quán đảnh cho mình mà đã đi quán đảnh cho người khác, điều này là sai lầm.

Quán đảnh này, như đã từng nói trước đây, trong Mật giáo một khi bạn được quán đảnh, bạn sẽ trở thành Pháp Vương Tử, bạn là vị Phật dự bị, nghĩa là tương lai bạn sẽ thành Phật, cho bạn quán đảnh trước, điều này biểu thị rằng hiện tại bạn là Pháp Vương Tử của Ngũ Phật, đây chính là phương tiện của quả vị, là điểm thù thắng của quán đảnh quả vị.

Có người đến hỏi thiền sư Bách Trượng: "Bách Trượng ơi! Phật là gì vậy?" Bách Trượng trả lời thế nào? Có ai đã đọc công án này chưa? "Phật là gì?" Có người đến hỏi Bách Trượng: "Phật là gì vậy?" Bách Trượng trả lời, câu trả lời của ngài rất hay, câu nói này là khai ngộ, ngài lập tức đáp: "Ông là gì vậy?" Người kia hỏi Ngài: "Phật là gì vậy?" Ngài hỏi ngược lại: "Ông là gì vậy?" "Ông là gì vậy?" Ông chính là Phật! Ông còn hỏi ta, ta còn phải hỏi ông đấy! Đúng không? Ông hỏi ta: "Phật là gì?" Ta hỏi ngược lại: "Ông là gì vậy?"

Trước đây có đệ tử hỏi tôi: "Sư Tôn ơi! Thầy có phải là Phật không?" Tôi nói: "Anh mới là Phật đó!" Đây là một câu hỏi rất đơn giản, nhưng đôi khi lại khiến con người không nghĩ ra. Mật giáo rất thẳng thắn, tôi quán đảnh cho bạn, bạn chính là Phật rồi, tuy hiện tại bạn chưa phải là Phật, nhưng bạn là Phật dự bị.

Ngày xưa chúng ta đi thi, thi đại học, đậu chưa? "Đậu mà không đậu". Chuyện gì vậy? Đậu là đậu, không đậu là không đậu, làm gì có "đậu mà không đậu"? Hỏi kĩ lại thì người đó nói: "Dự bị". Nghĩa là dự bị trúng tuyển. Kiểu như nếu có người không nhập học thì mình sẽ được chuyển thành chính thức. Cho nên các bạn đều là "dự bị", hiện tại là Phật dự bị.

"Các bạn là Phật gì vậy?" "Phật dự bị." Dự bị chính là dự phòng mà! Một khi được quán đảnh, bạn liền thành Phật dự bị. Quán đảnh thù thắng này có sự huyền diệu bên trong, nó chính là như vậy đó. Cho nên Mật giáo một khi quán đảnh cho bạn, bạn liền thành Phật dự bị, bạn không thể xem thường chính mình. Tương lai bạn nhất định sẽ thành Phật.

**Tịnh thổ thù thắng**

Những vị pháp sư thông thường này, "tịnh thổ chưa hiện", tịnh thổ của họ chưa xuất hiện, họ không biết tương lai sẽ đi về đâu. Họ chỉ nói: "Tôi niệm Phật là để về Tây phương Cực Lạc thế giới." Như vậy tương lai chắc chắn vãng sinh về Tây phương.

Trong tông phái của chúng ta, chúng ta đã chuẩn bị sẵn sàng, cung điện của các bạn, phòng ốc của các bạn đều đã được xây dựng xong. Đúng không? Thậm chí những thị giả của các bạn đều đang chờ đợi các bạn ở cõi trời. Đây chính là Ma Ha Song Liên Trì của chúng ta, tịnh thổ Song Liên Trì vĩ đại đã xuất hiện rồi. Tất cả đều đã được chuẩn bị sẵn sàng cho các bạn, cung điện ở cõi trời, tất cả đều đã viên mãn, đều đã xây dựng xong, chỉ đợi các bạn đến. Waiting for you! Đây chính là tịnh thổ của chúng ta. Tôi nói tịnh thổ đã hiện ra rồi, là tịnh thổ do Căn bản Thượng sư an bài, ở Ma Ha Song Liên Trì thuộc cõi Thường Tịch Quang tại Tây phương Cực Lạc thế giới; tương lai các đệ tử Chân Phật Tông đều có thể đến nơi đó, tất cả đều có sẵn, có ngay lập tức, tất cả đều đã được chuẩn bị sẵn sàng.

Thật ra các pháp sư hiện nay nói rằng: "Ôi! Các vị hãy đi đi! Các vị hãy về Tây phương Cực Lạc thế giới đi!" Vậy các vị đến đó tìm ai? Đúng không? Các bạn không có mục tiêu gì cả! Họ nói: "Tìm Phật A Di Đà." Ồ! Đúng là có Phật A Di Đà, về Tây phương Cực Lạc thế giới là không sai, nhưng các vị phải quen biết người ta chứ.

Hôm nay khi các bạn đến Tây phương Cực Lạc thế giới, tịnh thổ của các bạn ở đâu? Ở Ma Ha Song Liên Trì thuộc cõi Thường Tịch Quang. Phật A Di Đà sẽ lập tức phân phối cho các bạn, tốt! Các bạn có thể đi ngay bây giờ, Ngài biết các bạn là đệ tử Chân Phật Tông. Nếu các bạn không nói được là Ma Ha Song Liên Trì, Ngài sẽ hỏi các vị là tông phái nào? Còn phải hỏi nhiều lắm, còn phải "điều tra hộ khẩu" nữa! Hỏi các vị tu gì? Họ sẽ hỏi bạn cả ngày mà các bạn vẫn không trả lời được gì cả. "Thôi! Thôi! Các bạn hãy đến biên địa của Tây phương Cực Lạc thế giới này chờ vậy!" Cho nên tịnh thổ của Chân Phật Tông chúng ta đã hiện ra, là cảnh giới tịnh thổ hiện tiền, đây chính là điểm thù thắng của tịnh thổ.

**Mật pháp thù thắng**

Mật pháp của tông phái chúng ta, như tôi đã từng nói, Chân Phật Mật Pháp, các bạn đi tìm thử đi, không có đâu. Đã không còn nữa rồi. Trong những Phật pháp trên thế giới này, nếu các bạn muốn tìm tương tự Chân Phật Mật Pháp, các vị nói: "Ôi! Có một vị pháp sư, ông ấy cũng giảng Chân Phật Mật Pháp của chúng ta! Những gì ông ấy giảng, hoàn toàn giống với những gì Sư Tôn chúng ta giảng." Tôi nói: "Ồ! Lạ thật? Pháp sư này ở đâu nhỉ? Tôi đi tìm xem sao." Kết quả điều tra ra, thì ra ông ấy là đồ tôn của chúng ta.

Đồ tôn là gì? Chính là đệ tử của đệ tử chúng ta, lấy băng hình Chân Phật Mật Pháp của chúng ta đưa cho ông ấy xem, ông ấy lén lút học trong phòng, học rất nghiêm túc, sau này đi thuyết pháp, cũng giảng Chân Phật Mật Pháp của chúng ta. Vị pháp sư này không phải là đồ tôn thì là gì? Bây giờ ông ấy cũng kết ấn thuyết pháp nữa. Ông ấy nói: "Ôi! Tôi phải kết ấn này, ấn này hay quá." Tôi nhìn thấy, trời ơi! Sao lại thế này? Xuất hiện nhiều đồ tôn quá! Thật đấy! Hiện nay có rất nhiều pháp sư đang lén lút học Chân Phật Mật Pháp.

Bởi vì các pháp sư hiện nay khi thuyết pháp đều nhìn vào kinh điển, không phải là nhìn vào tài liệu tham khảo đâu! Họ hoàn toàn lấy kinh điển ra xem, rồi đọc xong thì cứ theo từng chữ trong kinh điển này mà giải thích, cứ giải thích rồi lại giải thích. Một ngày nọ, bạn lấy quyển sách chú giải của họ, đợi lúc họ không để ý, bạn dùng ba ngón tay nhấc lên như thế này, giả vờ không biết gì. Họ vừa lên bục sờ tìm, ôi chao, thảm rồi! Thảm quá! "Hôm nay phải giảng gì đây?" 

Nói cho bạn biết, vị pháp sư đó khi thuyết pháp, quyển sổ quý báu của ông ấy, các bạn để ý một chút, trước khi ông ấy lấy ra, bạn lấy trộm nó đi. Ông ấy vừa lên pháp tọa, mở túi ra, "Ôi trời! Tìm không thấy!" "Thảm rồi!" Không giảng được, ông ấy không thể giảng được, mặt ông ấy lập tức tái xanh. Không có quyển sổ cũ rích đó, món bảo bối mà ông ấy đã giảng hơn 40 năm rồi, không có quyển bảo bối đó thì ông ấy không thể giảng được, ông ấy không có kinh nghiệm mà! Ông ấy không thực sự thể nghiệm Phật pháp, ông ấy chỉ dựa vào sách vở mà! Cho nên khi bạn lấy đi, ông ấy chẳng còn gì, không còn gì hết.

Trước đây, tôi ngại không muốn nói, ở khoa Trắc Lượng của trường đại học chúng tôi có một giáo sư vật lý, ông ấy cũng là giáo sư của trường đại học Phùng Giáp, quyển sổ của ông ấy cầm lên toàn mùi quẩy. Quẩy, rất nhiều dầu! Có lẽ là khi ông ấy ăn sáng, ăn cháo quẩy, bánh bao, đậu nành, đã làm nhỏ giọt dầu mỡ đầy cả quyển sách. Có một lần chúng tôi lấy trộm quyển sổ đó của ông ấy, ông ấy đã không đến dạy học cả tuần, chúng tôi toàn được tự học. Tự học nghĩa là chơi đùa thôi, cuối cùng chúng tôi thấy ông ấy tội nghiệp quá, nên đã trả lại quyển sổ cho ông ấy; lúc đó tôi là trưởng khoa, tôi là trưởng khoa Địa Chất, chuyện này tôi biết rất rõ.

Tông phái của chúng ta có Thượng sư thù thắng, có quán đảnh thù thắng, có quả vị thù thắng, có tịnh thổ quang minh thù thắng, và điều quan trọng nhất là Chân Phật Mật Pháp thực sự thù thắng.

Khi học Phật, chúng ta phải học được chỗ khéo léo, chỗ vi diệu của nó. Phật học có những chỗ vi diệu, không phải học tất cả, học tất cả thì không thể nào học được. Cho nên chỉ cần chuyên tâm tu tập những chỗ vi diệu, thâm nhập kinh tạng, đi vào bên trong, không chỉ là học rộng; chúng ta biết học Phật có rộng, rộng là học nhiều, học sâu, đạt được chỗ khéo léo của nó thì sẽ thành tựu. Nói về điều này cũng giống như nói về tinh tấn vậy!

Trước đây khi học bắn súng, lúc tôi ở trong quân đội, tôi học súng trường bán tự động M1, tôi đã học qua súng tiểu liên làm mát bằng nước, học qua súng carbine, súng tiểu liên, còn có súng máy nhẹ, súng máy hạng nặng, súng cối, tôi được gọi là "xạ thủ thần kỳ". Thực ra học những thứ này chính là tinh tấn, khi bạn có thể tinh tấn, có thể tỉ mỉ nắm bắt được chỗ vi diệu của nó thì bạn sẽ thành công.

Giống như ngày xưa có một người học bắn cung, sư phụ của anh ta nói: "Con đến đây học, ta sẽ dạy con một phương pháp. Con hãy về bắt một con nhện, con nhện nhỏ nhất có thể, treo nó ở cửa sổ, mỗi ngày nhìn con nhện đó." Anh ta hỏi sư phụ phải nhìn bao lâu. Sư phụ nói: "Con nhìn ba năm." Cứ nhìn một con nhện suốt ba năm. Học bắn cung kiểu gì vậy? Bảo anh ta nhìn con nhện suốt ba năm? Nhưng anh ta thật sự rất tinh tấn nhìn con nhện đó suốt ba năm.

Bạn có biết sau ba năm thì thế nào không? Con nhện to như bánh xe, vừa nãy nói hoa sen to như bánh xe, bây giờ là nhện to như bánh xe, nhìn mãi thì cuối cùng thì con nhện to bằng bánh xe. Anh ta đến tìm sư phụ, sư phụ nói: "Con đã học được rồi." Đơn giản vậy thôi, học bắn cung là như vậy đó. Anh ta hỏi: "Vậy bước tiếp theo là gì?" "Bước tiếp theo con cầm tên bắn vào con nhện đó là được." Anh ta về nhà cầm tên nhìn con nhện, ồ! Con nhện to như bánh xe, anh ta bắn một phát, ôi! Thật sự trúng ngay bụng con nhện; mũi tên đôi khi còn to hơn cả con nhện, vậy mà lại có thể bắn trúng con nhện nhỏ xíu như vậy, đây chính là "tinh thần chuyên nhất" đấy! Khi bạn chuyên tâm vào một việc thì sẽ đi rất sâu, có thể nắm được chỗ vi diệu của nó.

Trước đây tôi học bắn súng như thế nào? Khi học bắn súng, trước tiên phải điều chỉnh đường ngắm, bởi vì mỗi người có tính cách khác nhau, khẩu súng cũng khác nhau, cách điều chỉnh súng cũng khác nhau. Đường ngắm và ống ngắm của bạn, mỗi người có thói quen khác nhau, vì vậy việc đầu tiên là ngắm một điểm, sau đó lần thứ hai ngắm lại điểm đó, bạn sẽ thấy có sự chênh lệch, lúc đó bạn điều chỉnh đường ngắm theo độ chênh lệch cho đến khi trùng khớp, đó chính là cách điều chỉnh đường ngắm.

Mỗi khẩu súng, vì mỗi người có cách nhìn khác nhau, nên đường ngắm và ống ngắm đều sẽ khác nhau, khi bạn đã quen với đường ngắm do chính mình điều chỉnh, bắn theo thói quen của mình thì mới chuẩn xác, đây là một điểm tinh tế. Dùng súng của người khác thì bạn sẽ bắn không chuẩn, dùng khẩu súng mà bạn đã quen thì bạn sẽ bắn chuẩn, bởi vì bạn đã điều chỉnh đường ngắm đó, đây là một bí quyết.

Bí quyết thứ hai, khi bắn súng, súng phải được giữ cố định, không được rung lắc. Còn về đường ngắm, phải ngắm hơi thấp dưới vòng tròn một chút, bởi vì khi bạn bóp cò, súng sẽ có một lực bật lên trên, khi bật lên sẽ vừa khớp trúng tâm. Khi tôi ngắm, tôi bắt đầu từ dưới, rồi từ từ nâng lên, nâng lên, đến khi ngắm được điểm phía dưới thì mới bóp cò, khi bóp cò, khẩu súng hơi bật lên một chút là vừa khớp bắn trúng điểm giữa.

Nó có bí quyết đấy, và bạn phải cầm súng thật chắc chắn, giống như tư thế cầm súng phải thật vững vàng. Ngoài ra còn một điểm nữa, tay phải duỗi thẳng, phải duỗi thẳng tay, nếu là súng M1 thông thường, phải điều chỉnh dây đeo, phải xoay vòng, siết chặt, và phải cân bằng, phải giữ cân bằng; bên này là cân bằng, bên kia là điểm tựa hình tam giác, làm như vậy đấy.

Khi bóp cò súng, nó cũng có cả một nghệ thuật, không phải kiểu "ồ, tôi sắp bắn đây"; nếu bạn nghĩ "tôi sắp bắn rồi" thì sẽ không chuẩn, bởi vì khi bạn sắp bóp cò, tim sẽ đập nhanh hơn, hơi thở sẽ gấp gáp, lúc này khẩu súng sẽ di chuyển, sẽ bật lên trên. Khi bóp cò, bạn phải bóp trong vô thức, nghĩa là khi bạn đang tập trung cao độ, bạn bóp cò trong vô thức; khi hơi thở của bạn ổn định nhất, lúc đó bóp cò mới chuẩn được. Tất cả những điều này đều có chỗ vi diệu của nó!

Giờ tôi nói mãi như thế này giống như biến thành huấn luyện viên quân sự rồi, không phải đang giảng Phật pháp, nhưng thực ra điều này có liên quan đến Phật pháp đấy! Các bạn đừng tưởng Sư Tôn đang dạy các bạn sát sinh, không phải vậy, tôi đang dạy các bạn rằng bất cứ việc gì cũng đều có chỗ vi diệu của nó, chỉ cần nắm được chỗ vi diệu đó, bạn sẽ trăm phát trăm trúng, trăm trận trăm thắng, bạn sẽ đạt được thành tựu.

Nó có nguyên lý về sự cân bằng, có quy luật về sự cân bằng, có quy luật về việc bật lên. Khi bóp cò, súng sẽ bật lên và bắn vào điểm giữa. Bạn phải đặt đường ngắm ở phía dưới, rồi trong vô thức, khi hơi thở đã ổn định, thậm chí bạn không cảm thấy mình đang bóp cò, bạn bóp cò trong tiềm thức chứ không phải cố ý bóp cò. Nếu bạn cố ý bóp cò thì sẽ không chuẩn, chính là trong vô thức bạn bóp cò thì mới bắn trúng.

Trong Chân Phật Mật Pháp có rất nhiều điều vi diệu bên trong, đó là kho báu! Là kho báu chân chính ở bên trong. Bạn hãy xem kĩ những đoạn video đó, những điều bên trong hoàn toàn là tinh hoa, đã được tinh luyện, đã được rèn giũa nghìn lần, đây là điều mà các pháp sư thông thường không có. Đây chính là trạch pháp giác chi đó!


### 23. Tinh tấn giác chi


Bây giờ chúng ta nói về tinh tấn giác chi, nó cũng giống như tập bắn cung vậy, đó là một dạng tinh tấn giác chi, tôi tập vẽ tranh cũng là một dạng tinh tấn giác chi.

Khi tôi tập vẽ tranh, tôi thường xuyên đi xem tranh, đứng trước bức tranh, cứ nhìn bức tranh đó, nhìn mãi, quan sát nét bút của nó, xem thần thái của nó ở đâu, chỗ nào có thần, điểm nhấn của nó ở đâu. Đôi khi chúng ta tùy ý lấy một vật, chấm một nét lên, cái chấm đó liền tạo ra hương vị của nó. Chỉ một nét bút tùy ý, một nét vẽ như thế, đã vẽ ra được hương vị đó, thần thái đã ở ngay đó.

Vì vậy khi bạn tinh tấn, bạn phải thường xuyên dụng tâm. Đã học vẽ thì phải đi xem tranh, xem những bức tranh đó, rồi bản thân phải động tay, tâm cũng phải đến; tâm đến, ý đến, tay đến, thì những gì bạn vẽ ra mới có thần. Học bất cứ điều gì, đừng làm qua loa, học Phật pháp cũng vậy, khi bạn đã đến được tất cả, bạn nhất định sẽ có thành tựu, đây chính là tinh tấn giác chi; tinh tấn giác chi tức là nỗ lực tinh tấn, rất chăm chỉ học tập.


### 24. Hỷ giác chi


Bây giờ nói về hỷ giác chi.

Nói chung, giải thích về hỷ giác chi chỉ đơn giản là khi trong tâm bạn đạt được Phật pháp tốt đẹp như vậy, tâm bạn sẽ sinh ra hoan hỷ, bạn duy trì sự hoan hỷ đó, đó chính là hỷ giác chi. Điều này nghe thì rất dễ nói, tất nhiên bạn sẽ cho rằng Phật pháp rất tốt. Thật vậy! Sau khi nhìn thấy Phật pháp, bạn sẽ cảm thấy: "Ôi! Trên thế gian này còn có gì quan trọng hơn Phật học không? Phật học đương nhiên là quan trọng nhất, tu hành đương nhiên là quan trọng nhất." Nhưng khi bạn chưa đạt được sự vi diệu của Phật pháp, bạn sẽ không sinh ra tâm hoan hỷ sâu sắc; chỉ khi bạn đạt được pháp vị vi diệu, bạn mới có tâm hoan hỷ, mới vui thích ngồi thiền.

Tôi biết có nhiều đệ tử đôi khi, Sư Tôn dạy về việc tu tập mỗi ngày một lần, họ thực sự không tìm ra được thời gian để tu trong ngày, ngay cả khi có thời gian thì cũng lười không muốn vào tu. "Phim truyền hình này đang hay quá!" Cứ đúng lúc phim hay thì cũng lười không muốn vào tu. Tu tập mỗi ngày một lần trở thành gánh nặng! "Ôi! Thật khổ quá, Sư Tôn bảo chúng ta phải tu tập mỗi ngày một lần, thật là khổ sở." Nhưng mới bắt đầu vài ngày đầu thì còn cố gắng được, vài ngày không sao, nhưng sau đó thì sao? Không còn nữa. Đó là vì bạn chưa đạt được pháp vị nên mới như vậy. Nếu bạn đã đạt được pháp vị rồi, bạn sẽ đạt được hỷ giác chi, cảm giác hoan hỷ thấu hiểu sẽ tự nhiên xuất hiện.

Như tôi chẳng hạn, nếu một ngày không tu pháp, thực ra tôi ngày nào cũng tu pháp, giờ giờ phút phút đều tu pháp, không phải nhất định phải cố định vào một thời điểm nào đó mới tu pháp, không phải vậy. Bạn sẽ có một cảm giác, cảm giác đó là pháp hỷ vô cùng, giống như bây giờ tôi đang thuyết pháp ở đây, tôi cảm thấy rất hoan hỷ, tôi không nghĩ rằng: "Ah! Đây là công việc của tôi, tôi mệt quá." Thực ra khi tôi đang thuyết pháp ở đây, tôi đã đang vận khí, luồng khí đó đang luân chuyển trong cơ thể, đang vận hành. Và trong quá trình vận khí đó, sẽ sinh ra một cảm giác rất thư thái, đó chính là pháp vị.

Khi bạn vào đàn thành tu pháp, bạn sẽ đạt được sự kiên cố, dòng pháp lưu đó sẽ quán đảnh cho bạn, toàn thân bạn tràn đầy pháp lưu thanh tịnh, rất kiên cố và vô cùng rõ ràng, vừa kiên cố vừa rõ ràng, có một loại lực lượng, một sức mạnh sinh ra, cảm giác đó vô cùng thư thái, cũng chính là vô cùng hỷ lạc; khi bạn đạt được loại hỷ giác này, bạn sẽ rất thích thú tu pháp.

Các bạn nhất định phải tu để đạt được điều này, khi pháp lưu quán đảnh cho bạn, bạn cảm thấy rất nhẹ nhàng, giống như đang... như thế nào nhỉ? Đung đưa trên xích đu vậy. Cách giải thích này không được hay lắm. Đung đưa trên xích đu... Có cách giải thích nào hay hơn không nhỉ? Mắt đang ăn kem, cũng không giống. Linh hồn ngồi ghế sofa, cũng không giống. Ôi! Không có cách nào giải thích được. Không thể diễn tả!

Dù sao thì khí của toàn thân bạn cứ luân chuyển, vận hành mà cảm thấy vô cùng thoải mái, đây chính là hỷ giác chi, chính là pháp vị.

Trong Mật giáo có cái gọi là "tứ hỷ", thực ra nói đến chính là pháp vị, thiên đình thủy của bạn, hoa sen nghìn cánh ở Mi tâm luân, Phật gia Mật giáo gọi là "bồ đề tâm nguyệt dịch", Đạo gia gọi là "thiên đình thủy", nước này nhỏ xuống, ồ, nhỏ xuống, khi đi qua khí mạch toàn thân, sinh ra một loại hỷ lạc, đây chính là pháp vị, cho nên "tứ hỷ" cũng có thể nói chính là pháp vị.

Thiền tông thông thường cũng có loại pháp vị này, trong công án Thiền tông có rất nhiều loại pháp vị như vậy. Như Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn nói với Lục Tổ: "Ngươi từ đâu đến?" "Con từ Lĩnh Nam đến." "Lĩnh Nam sao lại có người tài có tri thức cao có thể thành Phật như vậy?" "Người có phân Nam Bắc, Phật tính không có phân Nam Bắc." Đây chính là pháp vị. Sau khi Lục Tổ đạt được điều này, Ngài cũng rất thích hỏi người khác: "Ngươi từ đâu đến?" Mỗi lần đệ tử đến chỗ Ngài, "Ngươi từ đâu đến?", đệ tử phải trả lời, để xem ngươi có pháp vị hay không.

Bây giờ tôi hỏi mọi người: "Bạn từ đâu đến?" "Ồ! Từ Đài Loan đến." "Con không trả lời được câu hỏi của thầy." Phải trả lời: "Từ gần đây đến." Chữ "gần" này, pháp vị nằm ở chữ "gần" này. Rõ ràng bạn từ rất xa đến, từ Đài Loan đến, tại sao bạn lại nói "từ gần đây đến"? Tôi biết bạn từ Đài Loan đến, nhưng khi bạn trả lời tôi, lại nói "từ gần đây đến." Điều này không đúng! Nhưng nghĩ lại, ồ, đã lĩnh ngộ, điều này có pháp vị.

Bởi vì điều gì là gần gũi nhất với bạn? Phật tính gần gũi nhất với tôi, tôi chính là Phật mà! Phật tính và tôi là một, đương nhiên là từ nơi gần nhất đến! Điều này thể hiện bạn đã hiểu được Phật tính, Phật tính luôn ở cùng với bạn, "tôi từ gần đây đến" thể hiện tôi đã hiểu được tính. Tâm à, kiến tính, tôi từ trong tính mà đến, chính là từ trong tâm tôi mà đến, là gần nhất. Câu trả lời này được 90 điểm, có pháp vị, được rồi.

Rồi Ngài lại hỏi, hỏi vị đệ tử thứ hai: "Ngươi từ đâu đến?" (Có đệ tử đáp: "Từ hư không đến.") Từ hư không đến ư? Xa quá! Hư không rộng lớn vô biên! Ngươi bảo ta làm sao mà nghĩ được? Câu trả lời của ngươi quá rộng lớn vô biên, ta không thể lĩnh hội được. Vị đệ tử này trả lời: "Con không từ đâu đến." Câu này mới có pháp vị, Lục Tổ hỏi: "Ngươi từ đâu đến?" "Con không từ đâu đến." Câu này có pháp vị, thể hiện người ấy không còn phân biệt với Phật tính.

Cái "ngã" này! "Đại ngã" và "tiểu ngã" là một, ta là người kiến tính, ta đến đâu thì Phật tính đến đó! Ta vốn không từ đâu đến cả! Lục Tổ vừa nghe, "Hay! Người này được! Người này đã đạt được sự truyền thừa của ta." Rồi lại có người được hỏi, Lục Tổ thường hay hỏi câu này với nhiều đệ tử. "Ngươi từ đâu đến?" "Đến và đi với con đều như nhau." Ồ! Người này cũng kiến tính, đây chính là "không đến không đi"! Phải không? Không đến không đi, đây chẳng phải là Như Lai sao? Đây chính là Phật, đây chính là lời kiến tính.

Thiền tông của họ là như vậy đấy, trong vấn đáp đối đáp mà đạt được pháp vị, ta hỏi ngươi đáp. Ta nghĩ một chút, ồ! Có pháp vị, ngươi liền đạt được hỷ. Ôi! Hỷ giác chi, đạt được pháp hỷ, lập tức có thể lĩnh ngộ được Phật tính, kiến tính thành Phật. Trong những vấn đáp này, có pháp vị, có ngộ tính; họ từ trong đó đạt được pháp hỷ, đạt được lĩnh ngộ và khai ngộ, cho nên phương pháp của Thiền tông rất đặc biệt.

Cho nên hỷ giác chi này trong Mật giáo mà nói, là rất rõ ràng, không phải từ ngôn ngữ. Khai thông trung mạch, bạn đạt được tịnh quang; khai thông ngũ luân, bạn liền thông ngũ kim cang. Tâm luân vừa mở, lập tức đạt được Báo thân Phật; Hầu luân vừa mở, Ứng thân Phật liền đạt được; Mi tâm luân vừa mở, Pháp thân Phật bạn liền đạt được. Ít nhất là, khi bạn ở trong đàn thành tu pháp, bạn đạt được kiên cố rõ ràng, vô cùng kiên cố, vô cùng rõ ràng.

Ngày xưa có một vị Tổ sư Mật giáo, Ngài tu đến cảnh giới "vách Đông đánh vách Tây", thế nào gọi là "vách Đông đánh vách Tây"? Khi Ngài ngồi thiền, nhìn thấy cái này..., chúng ta biết, bên kia là phía Đông, bên này là phía Tây, Seattle này là phía Tây, Spokane này là phía Đông, vách Đông đánh vách Tây; chính là chư Phật Tổ ở đây đều đánh qua bên kia, đánh đến chỗ Liên Hoa Đồng Tử. Vốn dĩ là có khoảng cách, nhưng khi bạn ngồi thiền ở đây, phát hiện họ hòa hợp làm một. Đây là cảnh giới gì? Sự hòa hợp làm một này, chính là không còn không gian nữa; không gian không còn, thân thể của chính bạn cũng không còn. "Vách Đông đánh vách Tây", vách Đông và vách Tây hợp làm một, trở thành "nhất vị", một mùi vị, biểu thị hiện tượng bản thân bạn với Phật tính, hoàn toàn hòa hợp làm một, sẽ sinh ra như vậy.

Cho nên phải hiểu những điều này! Bạn phải biết cách hiểu thế nào, thế nào gọi là "vách Đông đánh vách Tây"? Vách tường phía Đông làm sao có thể đánh đến vách tường phía Tây? Đó chính là biểu thị "nhất vị", là tiểu ngã của bạn đã hòa hợp với Phật tính, không còn không gian nữa, đây đều là hỷ giác chi, là hiện tượng đạt được pháp hỷ.


### 25. Niệm giác chi và khinh an giác chi


Vậy niệm giác chi là gì? Chính là chỉ-quán.

Ngoài ra còn có khinh an giác chi, khinh an giác chi cần phải nói một chút, những người học Phật chúng ta, tâm sẽ trong sáng ý sẽ rõ ràng. Tâm giống như nước vậy, rất trong suốt, nhìn thấy rất rõ ràng, ý niệm rất thông thoáng. Khi học Phật, nghìn vạn lần đừng càng học càng đi vào ngõ cụt, ngày nào cũng buồn bã như vậy, tâm trạng rất u uất, không thể mở được nút thắt trong lòng.

Tâm trong ý sáng, tư duy phải thông suốt; dòng suy nghĩ của bạn phải rất thông suốt, rất rõ ràng và trong sáng. Ba mạch và bảy luân xa trong cơ thể bạn đều được khai thông, học Phật phải học đến mức độ này, đây mới chính là khinh an giác chi, bạn không thể lúc nào cũng u uất, u uất chính là đã trói buộc tâm bạn lại.

Ngày xưa có một người đi hỏi một vị pháp sư, anh ta nói rằng mình rất phiền não, rất không vui, cảm thấy bản thân rất u uất, vị pháp sư chỉ trả lời một câu: "Ai trói buộc ngươi vậy?" Hôm nay mọi người hãy nhớ câu nói này: "Ai trói buộc bạn vậy?" (Đệ tử đáp: "Chính mình"). Đúng rồi! Đều là tự mình trói buộc chính mình, thực ra chẳng có ai trói buộc bạn cả! Hai chân bạn vẫn tốt đấy thôi! Thân thể bạn vẫn rất tự do đấy thôi! Ai trói buộc bạn chứ?

Hôm nay tại sao bạn không vui, ai trói buộc bạn, chẳng có ai trói buộc bạn cả! Thực ra bạn có thể vui vẻ mà, bạn có thể không u uất mà. Tại sao bạn phải u uất chứ? Tại sao không vui vẻ đi? Bạn là tự do mà! Hôm nay chúng ta là người học Phật, học để làm người tự do, mọi người đều tự do cả, chẳng có ai đến trói buộc chúng ta, chúng ta đều đạt được khinh an, bạn phải luôn luôn học Phật trong trạng thái khinh an này.


### 26. Định giác chi và xả giác chi


Định giác chi chính là nhất tâm bất loạn, trong Hiển giáo gọi là nhất tâm bất loạn, trong Mật giáo gọi là thiền định, nhập Tam ma địa, thành Phật. Ồ! Dùng ý thức cao nhất để đạt được Phật tính, Không tính, rồi thành tựu, đây chính là định giác chi.

Xả giác chi là gì? Theo lời Phật dạy, xả giác chi là như thế này, trong "Kinh Kim Cang", Phật Đà từng dạy rằng: "Pháp ta nói ra, ví như chiếc bè, pháp còn phải bỏ, huống chi không phải là pháp." Ý nghĩa câu này là nói, Phật pháp cũng giống như một chiếc thuyền vậy, chỉ cần bạn đã đến được bờ bên kia thì có thể buông bỏ chiếc thuyền này, không cần nữa, đây chính là xả giác chi; nghĩa là trong quá trình tu hành của các bạn, có những pháp cần phải xả bỏ, có những pháp không thể xả bỏ, điều này cần phải dùng trí tuệ của chính mình để lựa chọn.

Vì vậy, để cầu được gia trì, pháp tương ứng Thượng sư là không thể xả bỏ. Để đạt được thành tựu một Bổn tôn này, pháp Bổn tôn là không thể xả bỏ. Để đạt được thành tựu Yết Ma do Không hành Hộ pháp ban cho bạn, nghĩa là, bạn cần đạt được thành tựu sự nghiệp thông thường, thì pháp Yết Ma là không thể xả bỏ. Vậy những pháp khác có thể xả bỏ hay không? Bạn phải dùng trí tuệ của chính mình, bởi vì sau khi bạn đạt được tương ứng trong một phần nào đó, cái nào cần tăng thêm, cái nào cần giảm bớt, pháp nào cần tăng thêm, pháp nào cần phải xả bỏ, bạn phải tự mình biết cách lựa chọn. Đây gọi là xả giác chi.

Cái gọi là xả giác chi có cách giảng sâu hơn một chút, nghĩa là trong quá trình tu hành của bạn, có lúc sau khi bạn đã tương ứng với một pháp, muốn tiến vào tầng thứ hai sâu hơn, nhưng lại không buông bỏ được pháp thứ nhất. Giống như khi bạn tu Tứ gia hành, bạn tu đến mức rất có pháp vị, thực sự tương ứng rồi, bạn vẫn cứ muốn tu Tứ gia hành, không muốn tu những pháp khác. Vậy thì phải dùng trí tuệ để lựa chọn, bạn có nên tiến thêm một bước nữa không? Còn những pháp khác phải thích ứng như thế nào? Trong những pháp mới tu của bạn, giữa pháp và pháp phải có giữ, phải có bỏ, phải có tăng thêm, phải có giảm bớt. Nhất thiết phải hoàn toàn dùng trí tuệ của bạn để lựa chọn. Cho nên Như Lai nói "Pháp ta nói ra, ví như chiếc bè, pháp còn phải bỏ, huống chi không phải là pháp."

**Giới là sống động**

Ở đây chúng ta nói về vấn đề giới, có rất nhiều giới luật, khi mới bắt đầu chúng ta đều phải tuân thủ những giới luật này, phải giữ tất cả; nhưng giới cũng là linh hoạt, giới không phải là chết cứng, việc bạn vận dụng những giới pháp này như thế nào, điểm này rất quan trọng. Cho nên những điều này đều là trí tuệ vô thượng, đều phải linh hoạt vận dụng, tuyệt đối không phải dạy bạn giữ giới một cách cứng nhắc.

Có người nói rằng: "Không sát sinh." Được rồi! Không sát sinh. Không sai! Bạn cứ giữ như vậy. "Tôi tuyệt đối không thể sát sinh, tôi ngay cả một con kiến cũng không giết." Hôm nay tôi thấy trong phòng mình có một con ong, tôi đang nghĩ: "Tôi có nên giết nó không?" Không giết nó, lát nữa tôi đang viết văn mà nó bay đến chích tôi một cái; hôm nay tôi đang thuyết pháp có quay phim đấy! Tôi sưng một bên mặt thế này. Ừm! Suy nghĩ rất lâu rồi mở cửa sổ, đuổi nó ra ngoài, tôi cũng dùng trí tuệ vô thượng của mình để phán đoán.

Giết nó ngay lập tức thì rất dễ! Nhưng không giết nó, nó sẽ gây phiền phức cho tôi, phải không? Nó sẽ chích tôi một cái, rồi đột nhiên vào ngày thuyết pháp thứ sáu lại sưng một cục, môi bị chích một cái, người ta sẽ nói: "Ủa? Sư Tôn có vấn đề gì vậy? Môi sưng một cục, không biết bị ai cắn vậy?" (mọi người cười) Những chuyện oan uổng như vậy sẽ xảy ra, phải không? Đôi khi cũng phải để ý, suy nghĩ rất lâu, cuối cùng vẫn mở cửa sổ ra, rồi đuổi nó ra ngoài. Việc gì cũng phải lựa chọn như vậy.

Về việc không sát sinh, Phật Thích Ca Mâu Ni cũng từng gặp phải! Trên một con thuyền, có tên cướp muốn giết người, muốn giết năm trăm thương nhân, Đức Phật vì cứu năm trăm thương nhân này, Ngài đã giết chết tên cướp; Ngài vì cứu năm trăm người mà giết tên cướp đó. Trong "Bản Sinh Kinh" của Phật có đoạn chuyện này, mọi người đều biết. Phật Đà có từng giết người không? Có! Ngài đã phạm giới sát sinh, Ngài vì cứu năm trăm người mà giết chết tên cướp.

Điều này cần phải dùng trí tuệ để phán đoán, giả sử bạn nói "Tôi không sát sinh", khi tên cướp đang giết người, bạn nói "Tôi không sát sinh, anh cứ giết đi." Như vậy là không đúng rồi. Bạn có khả năng ngăn cản tên cướp giết người, trong hoàn cảnh đó, bạn phải lập tức phán đoán "nên giết hay không nên giết". Vì cứu năm trăm người mà Phật Đà cũng phải sát sinh; cho nên giới sát sinh không phải là chết cứng, tuyệt đối không phải là chết cứng. Các bạn cho rằng nó là chết cứng, thực ra nó là sống động, điều này là sống động.

Giống như không uống rượu, bạn cứ khư khư giữ không uống rượu, người ta nấu một tô gà nấu dầu mè; gà nấu dầu mè có cho rượu vào, bạn nói: "Tôi không uống rượu, tôi không thể ăn gà nấu dầu mè." Mọi người đều ăn, chỉ mình bạn không ăn! "Kỳ quặc!" "Người lập dị!" Cái người lập dị này, bạn phải biết "đồng sự" chứ! Phật không từng nói sao? Trong tứ nhiếp pháp có một pháp là đồng sự, cùng làm một việc; người ta đang ăn gà nấu dầu mè, mọi người rất vui vẻ, một mình bạn không ăn, cũng đừng biểu lộ sự ghét bỏ khi người khác ăn chứ! Bạn giữ giới không uống rượu, bạn cũng không thể như vậy được! Còn khóc nữa chứ! 

Thực ra bạn phải đồng sự, vì muốn độ họ nên cùng ăn với họ, sau đó giảng một chút đạo lý nhà Phật cho họ nghe: "Vì giữ giới nên tôi chia gà nấu dầu mè này cho mọi người." Như vậy là được, bạn vui vẻ: "Mọi người có thể ăn mà! Không có vấn đề gì đâu." Bạn có thể nói với mọi người: "Vì các bạn chưa thọ giới này, còn tôi đã thọ giới rồi." Còn nếu là tôi thì sao? Tôi sẽ ăn luôn. Cần gì phải quan tâm nhiều thế! Phải không? Trong tứ nhiếp pháp có một pháp là đồng sự, mọi người cùng làm một việc.

Cho nên các bạn bảo Sư Tôn hát, thực ra tôi hát không hay lắm, nhưng cũng phải hát. Giống như trước đây có nhiều vũ nữ quy y Chân Phật Tông, chẳng phải do tôi đi độ họ sao? Đúng không? Bảo Sư Tôn lên trời thì tôi lên trời cho các bạn xem. Đúng không? Bảo xuống biển thì tôi bơi thôi! Đúng không?

Thật ra làm Sư Tôn cũng không dễ, tôi thấy người ta tập xà đôi, tôi cũng phải leo lên làm vài cái. Người ta nói: "Sư Tôn là người luyện khí công, xem thử ông ấy có khí không?" "Lần này ông ấy sẽ lộ tẩy!" Tôi leo lên đong đưa vài vòng, các bạn nói: "Ông ấy 50 tuổi rồi đấy! 50 tuổi rồi mà vẫn còn khá phết."

Bạn xem sư phụ Hoàng ở võ đường Anh Quốc, còn có đệ tử ở Alaska nữa, họ đều là người dạy võ công mà! Sư Tôn cũng phải hạ công phu một chút. Họ đánh quyền bọ ngựa, còn tôi đánh quyền cua. Đây chính là đồng sự. Thế nào gọi là đồng sự? Chính là cùng làm một việc.

Thực ra ở đây, về mặt giới luật là linh hoạt. Như hôm qua leo núi Cầu Vồng có nói "không được bước lên bóng của sư phụ" (có ghi trong "Sự Sư Pháp Ngũ Thập Tụng"), nếu chân bước lên bóng của Sư Tôn, giống như phá tháp, tội này rất nặng. Hôm qua lên núi có nhiều người như vậy, gần cả nghìn người, ai mà không bước phải? Bước phải là tiêu rồi! Cho nên tôi nói: "Lúc đó không có chuyện đó." Mọi người chen chúc nhau chết đi được. Việc lên núi xuống núi này, ở chỗ đó, nếu bạn không bước lên bóng của Sư Tôn thì không ai có thể, đây không phải là đồng sự nữa, điều này đã tạo ra khoảng cách rồi.

Đúng vậy, Sư Tôn là tôn quý, tất nhiên đừng mất lễ độ trong những chi tiết nhỏ. Có những chỗ thất lễ cần phải chú ý một chút, nhưng khi thực sự đông người, chân bạn nhất định sẽ bước lên bóng của Sư Tôn; vì người đông chen lấn qua lại, bạn không muốn bước nhưng bị người ta đẩy qua là bước phải rồi. Không phải bạn cố ý bước, không phải cố tình giẫm lên như thế này. (lấy chân giẫm) Cho nên tôi nói "giới luật là linh hoạt", đây là chữ "xả". Cho nên "không" trong Phật pháp là tất cả đều là không tướng, khi thực sự đạt đến cảnh giới viên mãn, bạn làm việc gì cũng đều hợp với giới luật; thực sự đạt đến cảnh giới viên mãn, bạn đều được tự tại tự nhiên, hoàn toàn là một trạng thái hoan hỷ khinh an, rất mỹ mãn, thần thông. Loại thần thông này cũng là tự nhiên, từ trong tâm tuôn ra, không phải cố ý tạo tác.

Nhiều người nói: "Chân Phật Tông các người chuyên nói về thần thông." Làm gì có chuyện đó? Có thông gì đâu? Ăn đậu thì tất nhiên là thông rồi! Ăn đậu thì nó sẽ phát ra tiếng thôi! Cái đó gọi là "khí thông", khí nó thông đấy. Thần thông gì chứ? Đó là chuyện tự nhiên thôi.

Khi chữa bệnh cho người ta, tôi quán tưởng dòng chảy pháp gia trì cho họ, bệnh của họ khỏi, pháp lưu tự nhiên chảy vào thân thể họ, tôi không hề cố ý tạo tác, cái gì tạo tác ra thì mất đi tự nhiên rồi. Cho nên bên ngoài đồn rằng: "Chân Phật Tông chuyên nói về thần thông, Lư Thắng Ngạn chuyên nói về thần thông." Không có chuyện đó đâu! Chỉ là sống một cách tự nhiên thôi, đi đến đâu, cần gì thì nó tự nhiên xuất hiện, muốn thông thế nào thì tự nhiên thông. Thần thông chẳng liên quan gì đến tôi cả.

Tính Không trong Phật pháp chính là trạng thái tự nhiên như vậy, đó là "vô trụ". Như vừa nói, "Từ đâu đến?" "Từ hư không đến." Câu trả lời này rất đúng. Hư không có mặt khắp nơi, nơi nào cũng là hư không, Phật tính vốn là hư không. Hỏi: "Ông ở đâu?" "Tôi ở trong hư không." Ồ! Cách nói này chỉ có bậc đã chứng ngộ, chỉ có Như Lai mới có cách nói như vậy.

Thành tựu vĩ đại nhất thực sự là "y không an trụ". Y không an trụ nghĩa là an nhiên cư trú trong hư không, một trạng thái tự tại như vậy, tâm của bạn cũng y không an trụ. Khi giới luật đạt đến trạng thái "y không an trụ", nó sẽ hóa thành vô hình, luôn luôn giữ giới, không có chút sai sót nào. Cũng không thể phạm giới.

**Sự thù thắng của truyền thừa**

Điểm thù thắng của tông phái chúng ta còn có truyền thừa, truyền thừa là thù thắng. Các bạn xem hôm qua chúng ta đi leo núi, khi xuống thấy được cầu vồng mặt trời. Thực ra khi khai quang Bồ Đề Lôi Tạng Tự cũng có cầu vồng mặt trời, đều giống nhau cả, hiển hiện điềm lành trên không trung. Tôi có nói với mặt trời "nhờ ông tạo một vòng hoa bên cạnh" đâu. Tôi có làm vậy đâu? Đúng không? Muốn gió thì có gió, muốn mưa thì có mưa; trời muốn tạo cầu vồng mặt trời, người khác nói với tôi, tôi mới ra xem, không phải tôi chỉ cho các bạn xem đâu, nó tự nhiên hiển hiện. Điềm lành trên bầu trời này chứng minh Chân Phật Tông chúng ta là vô cùng thù thắng.

Chúng ta vốn đều đến từ Đại Nhật Như Lai, Đại Nhật Như Lai ở trong hư không vô trụ, từ trong đó xuất hiện Phật Nhãn Phật Mẫu, từ Đại Nhật Như Lai xuất hiện Phật Nhãn Phật Mẫu, rồi đôi mắt của Phật Nhãn Phật Mẫu chính là cõi Thường Tịch Quang. Các bạn biết cõi Thường Tịch Quang chính là ở đây mà! Hai con mắt chẳng phải giống như Thường Tịch Quang Thổ sao! Đôi mắt ấy hóa thành Ma Ha Song Liên Trì. Rồi trong Song Liên Trì hóa sinh ra Liên Hoa Đồng Tử, Liên Hoa Đồng Tử giáng xuống nhân gian, trở thành Lư Thắng Ngạn.

Thực ra không phải chỉ một mình tôi đến, mà có rất nhiều Liên Hoa Đồng Tử đến, tất cả các bạn đều có duyên với Liên Hoa Đồng Tử, và cũng đều là Liên Hoa Đồng Tử. Trong tương lai, mọi người sẽ trở về Ma Ha Song Liên Trì, đến chỗ của Phật Nhãn Phật Mẫu, tương đương với việc trở về nơi của Đại Nhật Như Lai, tất cả đều là Liên Hoa Đồng Tử.

Vì vậy truyền thừa chân chính của Chân Phật Tông là:
Đại Nhật Như Lai — Phật Nhãn Phật Mẫu — Liên Hoa Đồng Tử.
Truyền thừa này là chính xác một trăm phần trăm. 


### 27. Bát chính đạo


Tiếp theo chúng ta nói về bát chính đạo. Bát chính đạo đã được rất nhiều pháp sư giảng dạy rồi, trong Kinh "Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh" tôi nói về "khổ tập diệt đạo", chữ "đạo" này chính là nói về bát chính đạo, sau này các bạn có thể tự mình thấu hiểu.

Hiện nay bát chính đạo bao gồm: Chính kiến - tri kiến chân chính; Chính tư duy - tư duy chân chính; Chính ngữ - lời nói chân chính; Chính nghiệp - nghề nghiệp chân chính; Chính mệnh - hành vi chân chính; Chính tinh tấn - nỗ lực chân chính; Chính niệm - quan niệm chân chính; Chính định - thiền định chân chính; đây là nói sơ lược về bát chính đạo.

Nhiều người học Phật đều biết về bát chính đạo, những người học Phật chúng ta đều phải đi theo con đường bát chính đạo này, bởi vì nếu bạn đi theo bát chính đạo thì sẽ không bị lệch lạc, không đi vào tà đạo, không rơi vào cạm bẫy. Bát chính đạo chính là tám phương pháp tu hành thành Phật đúng đắn do Như Lai chỉ dạy.

Những điều chúng ta đã bàn đến hôm nay, tôi xin nhắc lại một lần nữa. Thất bồ đề phần gồm có trạch pháp giác chi, tinh tấn giác chi, hỷ giác chi, niệm giác chi, khinh an giác chi, định giác chi, xả giác chi. Còn bát chính đạo là chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tấn, chính niệm, chính định. Chúng ta học Phật, những thứ tự chính yếu trong việc học Phật đã được giảng xong.

Trong Phật học có rất nhiều điều. Như mười tông phái, mỗi tông phái đều có rất nhiều luận thuyết và tác phẩm, sau khi các bạn đã chọn được, trạch pháp giác chi, các bạn đã chọn xong rồi thì hãy hướng về một mục tiêu mà tiến bước. Đối với những tông phái khác có liên quan, chỉ cần hiểu sơ qua là được. Giống như khi bạn học Mật, thì hãy chuyên sâu về Mật tông, còn chín tông phái lớn khác, bạn chỉ cần hiểu qua là được. Bởi vì khi bạn khai ngộ, bạn ngộ được Sự pháp thì Lý pháp cũng tự nhiên thông suốt. Giống như trước đây tôi đọc văn ngôn rất vất vả. Kinh Phật rất hay, không sâu như văn ngôn; văn ngôn thời xưa như "Liêu Trai", trong "Liêu Trai Chí Dị" câu văn tương đối sâu hơn.

Ngoài ra tôi đọc rất nhiều sách cổ văn cổ thư; những gì tôi không hiểu thì để sang một bên, tôi đọc những thứ khác trước, đọc xong những thứ khác, rất tinh tấn nỗ lực. Điều này cũng lạ, khi bạn đã học thông những thứ khác, hôm nay bạn cầm "Liêu Trai" lên đọc lại, ồ! tất cả đều thông suốt, không cần phải dùng văn viết hiện đại giải thích. Tôi có thể đọc văn ngôn, có thể đọc cổ văn, những cổ văn rất thâm sâu, chỉ một chữ tôi đã có thể hiểu được ý nghĩa rất sâu xa bên trong. Đây là chuyện gì vậy? Đây chính là: một pháp thông, pháp pháp thông.

Trước đây khi tôi cầm kinh Phật lên đọc, tôi không hiểu được, như Kinh Kim Cang, tôi không hiểu, trước đây tôi thực sự không hiểu, như câu vừa rồi: "Ví như chiếc bè, pháp còn phải xả bỏ, huống chi không phải pháp!" Câu này tôi không hiểu. Như Lai còn nói: "Nếu người nói Như Lai có thuyết pháp tức là phỉ báng Phật." Ngài thuyết pháp 49 năm, lại nói Ngài không thuyết pháp, nếu nói Ngài có thuyết pháp thì là phỉ báng Phật.

Sau này tôi cũng có thể nói với bạn: "Tôi chưa từng thuyết pháp ở Cầu Vồng Sơn Trang, các bạn nói tôi có thuyết pháp ở Cầu Vồng Sơn Trang là phỉ báng tôi." Có đơn giản như vậy không? Không đơn giản đâu! Sau khi bạn đọc những điều này bạn mới hiểu được, bạn sẽ lĩnh hội được, pháp vị sẽ xuất hiện, pháp vị nằm trong đó, chỗ vi diệu của nó nằm trong đó.

Vì vậy bây giờ khi tôi đọc kinh Phật, mỗi một bộ kinh, trước đây không hiểu lắm, nhưng bây giờ hiểu hết, bây giờ đọc là hiểu ngay. Khi cầm một bộ kinh điển lên, bộ kinh điển này trước đây rất thâm sâu, có thể tôi không hiểu được, không ngờ bây giờ mở ra đều hiểu hết, vừa đọc là thông suốt, tôi hiểu được Như Lai là gì. Tại sao vậy? Tại sao lại như thế? Bởi vì bây giờ tâm cảnh đã khác, bây giờ là một loại tâm cảnh khai ngộ, tôi từ Mật pháp đi sâu vào, thâm nhập một pháp là đã khai mở tâm này, tôi dùng tâm khai ngộ của mình để ấn chứng, tất cả kinh Phật, vừa ấn là tương ứng ngay.

Bạn muốn đọc hết tất cả kinh điển, đọc qua tất cả, nghiên cứu hết tất cả lý luận Phật học rồi mới đi sâu vào một pháp sao? Đến khi bạn đọc hết tất cả, bạn đã trải qua mấy kiếp rồi, mấy đời rồi, đã thành người của mấy kiếp rồi.

Trước đây, Hồ Thích nghiên cứu thiền học, nhưng không có tác dụng gì, bởi vì ông ấy không đi sâu, không đi sâu vào một pháp nào cả, ông ấy chỉ đạt được kiến thức về thiền, chứ không phải là sự khai ngộ thực sự; khi bạn đã đạt được khai ngộ, bất kì kinh điển nào trước mặt bạn đều tương ứng với bạn.

Cho nên "một pháp tương ứng, vạn pháp đều tương ứng", từ một môn đi sâu vào, bạn sẽ đạt được thành tựu lớn; Phật học không nằm ở chỗ "nhiều, rộng" mà nằm ở chỗ "sâu"; Như Lai cũng nói như vậy, thuở xưa Đức Phật cũng dạy: "Đa văn không bằng thực tu", "Thực tu không bằng một pháp", "Nhiều pháp không bằng một pháp".

Vừa rồi cũng có người nói: "Một chính là nhiều." Cho nên anh ta chỉ xà đơn một cái thôi, xà kép cũng chỉ một cái. Chúng ta hỏi anh ta: "Tại sao chỉ có một cái?" "Một chính là nhiều!" Bó tay với anh! Đúng là hết cách.

Mọi người hãy hiểu rõ đạo lý này, bởi vì một khi bạn đã khai ngộ, bất cứ điều gì ở trước mặt bạn, bạn đều có thể hiểu rõ ràng minh bạch. Nếu bạn chưa khai ngộ, dù cho học nhiều pháp đến mấy, vẫn chỉ là "số 0", cho nên chi bằng đi sâu vào một pháp. Đây chính là hương vị của Phật học, tinh túy nằm ở chỗ này.

Om mani padme hum.


### 28. Có ba loại khai ngộ


Các vị Thượng sư, các vị đồng tu, xin chào mọi người. Hôm nay là ngày thứ bảy giảng dạy "Phật Học Tổng Thuyết" tại Cầu Vồng Sơn Trang.

**Thế nào là khai ngộ?**

Hôm nay chúng ta sẽ bàn về thập lực của Như Lai, đó là mười loại lực của Như Lai, cũng có thể nói là những năng lực phát xuất từ trí huệ, đây chính là năng lực trí huệ của bậc giác ngộ.

Những ngày trước chúng ta cũng đã đề cập đến thế nào là khai ngộ. Khai ngộ chính là bậc giác giả, chính là người đã giác ngộ rồi; vậy bậc giác giả sẽ có những năng lực trí huệ như thế nào? Đó chính là điều chúng ta sẽ giảng hôm nay.

Thực ra việc khai ngộ không phải là chuyện dễ dàng, khi chúng ta nói đến khai ngộ, ai cũng cảm thấy đó là một chuyện rất thâm sâu, rất xa vời, không phải dễ dàng chút nào.

Cho nên nếu có người nói: "Đời này tôi có thể giải thoát, tôi sẽ khai ngộ ngay tức khắc." Lời tuyên bố như vậy thật là vĩ đại, và sức thu hút của lời tuyên bố như vậy quả thật rất mạnh mẽ.

Giả sử hôm nay tôi nói: "Tôi sẽ giúp các bạn khai ngộ trong một giây, giải thoát trong ba giây." Tôi tin chắc sẽ có nhiều người đến quy y hơn. "Ba giây giải thoát", "một giây khai ngộ", cái này không cần kiểm tra, cũng không cần thi cử gì cả. Tuy nhiên cũng có thể được, tôi chỉ cần chuẩn bị một cây gậy gỗ lớn là được rồi. Đánh bạn một cái là khai ngộ! Đánh ba cái là xong luôn! Là thực sự giải thoát rồi. Tôi thấy ngoài cách này có thể giúp bạn "một giây khai ngộ, ba giây giải thoát" ra thì những cách khác đều là chuyện rất khó khăn.

Thực ra đừng tưởng rằng những ngày qua tôi toàn nói về khai ngộ, mọi người nghe khai ngộ đã quen rồi, hỏi bạn: "Đã khai ngộ chưa?" "Khai ngộ rồi!" Đúng vậy! Các bạn đã khai ngộ về Lý, đã hiểu được đạo lý; tôi giảng như vậy bảy ngày, những đạo lý này các bạn đều đã biết cả. Vô thường mà! Xuất ly mà! Vô ngã mà! Thế là thành A La Hán rồi. A La Hán là sự khai ngộ của Tiểu thừa, đã là rất tốt rồi. Thuở xưa mười đại đệ tử năm trăm vị A La Hán, không biết bao nhiêu vị A La Hán tu trì thành tựu, chỉ dựa vào ba điều này mà khai ngộ. Sau này mọi người ra ngoài, người ta hỏi "Bạn học Phật, học được gì?" "Chư hành vô thường, chư pháp vô ngã, Niết bàn tịch tĩnh." Ồ! Khai ngộ rồi.

Bây giờ Phật tử có một câu cửa miệng, vừa ra ngoài người ta hỏi: "Bạn học Phật, học được thế nào?" "Vô ngã." Ồ! Tốt quá! Vô ngã. Tôi đánh bạn một cái, bạn lập tức biến thành "hữu ngã". Bởi vì bạn liền nổi giận ngay! "Vô ngã" của bạn đi đâu mất rồi? Cho nên có nhiều người nói khai ngộ, đôi khi có đệ tử gọi điện cho Sư Tôn, đệ tử nói: "Con đã khai ngộ rồi." Chà! Tôi vừa nghe hai chữ "khai ngộ" là vô cùng hoảng sợ.

Tại sao lại vô cùng hoảng sợ? Tôi sợ rằng họ khai ngộ đến mức có vấn đề, là sự khai ngộ có vấn đề. Vài ngày sau họ lại gọi điện đến: "Con lại không khai ngộ nữa rồi." Khai ngộ không phải là chuyện dễ dàng như vậy, cho nên tôi vẫn luôn chia khai ngộ thành ba loại.

Khai ngộ có ba loại sao? Mọi người sẽ cảm thấy kỳ lạ, khai ngộ chẳng phải chỉ có một loại thôi sao? Khai ngộ là khai ngộ, sao khai ngộ lại có đến ba loại? Để tôi nói cho mọi người nghe.

**Loại khai ngộ thứ nhất là kẻ lừa đảo**

Loại khai ngộ thứ nhất là kẻ lừa gạt người khác, là kẻ lừa gạt. Họ lợi dụng cái "khai ngộ" này với mục đích riêng, có âm mưu, có dương mưu, có âm dương mưu. Họ nói với mọi người như thế này: "Tôi đã khai ngộ rồi, tôi đã thành Phật rồi." Ồ! Thế là nhiều người đến lễ bái. "Đây là Phật mà! Phật là bậc siêu việt thế gian, cảnh giới của Phật rất cao, có pháp lực rất lớn, chúng ta đến lễ bái Ngài, cúng dường Ngài, có thể nhận được gia trì của Phật." Vậy là bạn nghĩ rằng sau khi nhận được gia trì của Phật này, mọi việc sẽ như ý cát tường, tiền tài cuồn cuộn. Nhưng khi bạn chưa kịp "cuồn cuộn" thì vị Phật "khai ngộ" này đã "cuốn gói" đi mất rồi. Vấn đề là ở chỗ này, bởi vì họ chỉ cần tự xưng là khai ngộ, thì đó chính là "Om money coming home". Cái này là lừa tiền.

Loại khai ngộ này cũng có kẻ lừa gạt tình, làm sao lừa tình? "Tôi là Phật mà! Trên người tôi có mùi hương của Phật, bạn phải tiếp nhận Phật khí của tôi. Bạn biết không, Phật khí của tôi truyền cho bạn, đúng là có phương pháp này, nhưng mà không phải kiểu như thế. Bạn sờ tôi một cái, ồ, thế là nhận được Phật khí rồi, huống chi là ôm tôi một cái! Nếu bạn ôm một cái thì khí sẽ hoàn toàn trở thành của bạn, bạn sẽ thành Phật, còn tôi sẽ trở thành người thường. Thế nên tôi phải tu luyện lại, tu xong rồi sẽ đến lần thứ hai." Những kẻ lừa tiền gạt sắc là như vậy đó.

Hắn rất gian xảo, hắn nói: "Tôi đã khai ngộ rồi." Hắn nói sẽ khai thông trung mạch cho bạn, khai thông kiểu gì? Hắn nói: "Đưa tiền đây, tôi lấy cây chổi khai thông cho." Khai thông kiểu gì chứ? Tôi học Phật bao lâu nay, còn chưa biết dùng cái gì để khai thông! Bạn nói tôi có khí, tôi gia trì cho bạn, dùng khí để gia trì cho bạn, để khí của bạn cũng có thể tuần hoàn, cái này thì được. Nhưng làm sao khai thông trung mạch trong người bạn? Dùng cái bơm xe đạp ấy, ấn vào mông, bơm khí vào cho bạn, tôi thấy chỉ có cách đó mới thông thôi! Đúng không? Cho nên cái kiểu "Lập tức khai thông trung mạch cho bạn!" Được rồi, thông xong rồi, bạn vui vẻ, bạn về nhà, một ngày nọ bạn sẽ nói: "Sao thế này, sau khi khai thông trung mạch xong, lúc đầu cảm thấy trong người có một luồng khí, sao bây giờ lại không còn nữa?" Vị thầy đó sẽ gọi bạn quay lại: "Mỗi tháng phải thông một lần, không thông thì ống cống sẽ tắc mất!" Một tháng phải thông ống cống một lần, bạn nghe hắn nói cũng có lý, đây chính là "Om money coming home", là ôm tiền về nhà.

Vì vậy tu hành là phải tự mình nỗ lực, tuyệt đối đừng nghĩ rằng người khác sẽ ban cho mình điều gì, ngay cả Sư Tôn cũng chỉ truyền pháp cho bạn thôi, bạn vẫn phải tự tu. Cho nên đối với những người "khai ngộ" đó, bạn có thể phân biệt được họ có thực sự khai ngộ hay không, rất đơn giản, bạn có thể nhận ra ngay, đây là một bài kiểm tra rất đơn giản. Chỉ cần người "khai ngộ" đó mở miệng xin tiền người khác, bạn phải cảnh giác ngay! Tại sao vậy? Bởi vì người khai ngộ thực sự họ hiểu rằng, toàn bộ vũ trụ hư không đều là của họ, họ không cần phải đòi hỏi gì từ bạn cả, không cần phải xin xỏ, không cần phải lấy tiền. Hôm nay nếu có người "khai ngộ" mở miệng nói với bạn "Tôi cần bao nhiêu tiền mới có thể gia trì cho bạn, mới có thể dạy bạn mật pháp gì đó." Những người này đều có vấn đề cả.

Cho nên trong số những người khai ngộ, có những kẻ là lừa đảo, mọi người phải cẩn thận một chút, nghĩa là phải thận trọng. Cần biết người đó có tham hay không, người có lòng tham chứng tỏ họ vẫn chưa thể buông xả. Người khai ngộ là từ bi hỷ xả, họ đã có lòng tham thì làm sao là người khai ngộ được? Người khai ngộ, tâm rộng lớn như hư không, vạn vật trong vũ trụ đều là của họ, họ không cần phải lấy tiền từ người khác nữa. Người ta tự động cúng dường họ như thế đã đủ rồi. Cho nên những kẻ mở miệng xin tiền người khác, cái "khai ngộ" này chắc chắn có vấn đề, họ vẫn chưa đoạn trừ được lòng tham.

Ngoài ra, đạo đức của họ, bạn hãy để ý đến đạo đức của họ, khi không nên nóng giận mà họ lại nóng giận, bạn nói: "Kim Cang Thần cũng nóng giận mà!" Đúng vậy, nhưng Ngài có lý do của Ngài, lý do mà Ngài dùng phải hợp lý, phải phù hợp với đạo lý, Ngài phải nói ra được một đạo lý; còn nóng giận vô lý và những hiện tượng thất thường như vậy là không được phép, không thể có.

Sư phụ đôi khi cũng sẽ thử thách bạn đấy, giống như có những vị sư phụ sẽ thử thách đệ tử của mình, khi gặp một đệ tử đến, đệ tử đó nói: "Con đã tu hành đến mức vô ngã rồi." "Tốt! Con đã tu hành đến mức vô ngã rồi, vậy con có muốn lấy thầy không?" Sư phụ nói đấy! "Con có muốn lấy thầy không?" Đệ tử đó nói: "Sao sư phụ có thể nói như vậy? Làm sao con có thể lấy thầy được?" Sư phụ tuổi đã cao như vậy, gương mặt nhăn nheo như vỏ quýt, vỏ quýt đấy! Nhăn nheo như thế, già như vậy. "Con mới chỉ mười mấy tuổi, làm sao con có thể lấy thầy được?" "Con không phải nói là đã tu hành đến mức vô ngã rồi sao?" Thực ra sư phụ chưa chắc đã thực sự muốn cưới bạn đâu, thầy chỉ muốn thử thách bạn thôi, bạn nói là "vô ngã" mà! "Vô ngã" nên thầy mới nói ra câu đó. Cho nên nếu vẫn còn ba chữ "tham sân si" này thì chưa phải là thực sự khai ngộ.

Chúng ta đều biết, người khai ngộ khi mở miệng nói năng đều có pháp vị, đều có trí tuệ của họ. Nếu một người ở đâu cũng thể hiện không có chút trí tuệ nào, hành xử điên đảo, sân hận rất nặng thì… Tuy nhiên, các bạn cũng phải phân biệt cẩn thận, giống như Sư Tôn đây, đôi khi cũng nói những lời ngớ ngẩn, đó là vì "đại trí giả ngu" đấy! Hoặc đôi khi cũng nói những lời ngược lại, nói trái ngược.

Rõ ràng không có tư tâm, nhưng lại nói những lời rất có tư tâm; rõ ràng tu dưỡng rất tốt, nhưng đôi khi lại nổi giận dữ dội. Đó là đôi khi đang giáo dục bạn, đang kiểm tra bạn, phải làm như vậy đấy. Lúc đó các bạn phải dùng con mắt trí tuệ để phân biệt, bởi vì các bạn biết đấy, bậc đại trí huệ, đôi khi biểu hiện của họ hoàn toàn giống như người bình thường, chỉ là thỉnh thoảng họ sẽ để lộ ra trí huệ và pháp vị của mình, điểm này, những người học Phật các bạn phải phân biệt thật cẩn thận mới có thể hiểu rõ được.

Giả sử người khai ngộ đó có lòng tham vô tận, sân hận vô tận, si mê vô tận thì sao? Nếu bạn đã quy y với họ rồi thì hãy lặng lẽ rút lui, cũng đừng phỉ báng họ, cho nên người học Phật chúng ta khi quy y một vị thầy phải hết sức thận trọng. Sau khi quy y thì bạn học những điều hay của thầy, không học những điểm yếu, và mọi hành vi của bạn phải phù hợp với sự tôn kính thầy. Nếu bạn có thể học được điều gì đó từ họ, học được Phật pháp thì tốt nhất. Không học được Phật pháp thì bạn có thể đến nơi khác học, đi cầu học. Sau đó chọn một pháp và đi sâu vào pháp đó. Cho nên trong lời nói của họ có phù hợp với Phật pháp không? Trong ngôn hành của họ có phù hợp với Phật pháp không? Những điều này đều phải dùng trí tuệ để phân biệt. Nếu không thì tiền mất tật mang, thời gian cũng lãng phí.

Giống như Sư Tôn giảng ra bộ "Giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh" này, nếu bạn không nghiên cứu sâu, nếu họ bảo bạn đến quy y một cách vô căn cứ, bảo bạn đến học mà chẳng có gì để cho bạn, thì bạn biết đó là kẻ lừa đảo rồi. Hôm nay có Phật pháp để cho các bạn, có pháp vị vi diệu, có những điều tốt đẹp bên trong, các bạn có thể cảm nhận được, thực ra đó chính là có trí tuệ.

**Loại khai ngộ thứ hai là kẻ điên**

Vậy loại khai ngộ thứ hai là gì? Bây giờ chúng ta nói về loại khai ngộ thứ hai. Loại khai ngộ thứ nhất là kẻ lừa đảo, loại khai ngộ thứ hai là kẻ điên, kẻ điên chính là người bệnh tâm thần.

Hành vi của kẻ điên các bạn có thể nhận ra được, có một loại điên là thực sự điên, thực sự điên đấy! Nhưng cũng có một loại điên là giả điên, điều này các bạn cũng phải nhận ra được. Giống như Tế Công Hoạt Phật, Ngài là kẻ giả điên, nhưng Ngài là bậc khai ngộ chân chính. Một số hành vi của Ngài cũng điên điên khùng khùng, nhưng trong sự điên khùng đó, Ngài vẫn thuyết giảng được Phật lý.

Ngài từng bắt con bọ chét, con rận! Sau khi bắt được con rận ở phía trước ngực, vì Ngài không sát sinh mà! Nên Ngài thả nó ra phía sau lưng, rồi khi bắt được con rận ở phía sau lưng, lại thả ra phía trước. Thế là có người hỏi Ngài: "Sao thầy cứ bắt con rận từ chỗ này sang chỗ kia mà không giết nó đi?" Ngài nói: "Đây là không sát sinh." Ngài giữ giới không sát sinh. Nhưng tại sao lại bắt con ở phía trước thả ra sau, bắt con ở phía sau thả ra trước vậy? Ngài nói: "Làm như vậy chúng sẽ không quen thổ nhưỡng." Nhưng mà các bạn phải nghe lời của Tế Công Hoạt Phật nói này! Thực ra trong đó có đạo lý của Ngài, Ngài đang dạy người ta phải giữ giới không sát sinh; nhưng mà, có thể dùng phương tiện thiện xảo, khiến cho chúng không quen thổ nhưỡng là được rồi.

Giống như ở Cầu Vồng Sơn Trang của chúng ta cũng phát hiện có chuột, có vài con chuột không biết từ đâu di cư đến, tôi không biết, sau đó chúng tôi dạy pháp sư Hiểu Quang dùng một cái thùng nhựa 5 gallon, vì nó rất trơn mà! Sau đó bỏ lạc vào trong, dựng sát vào tường để nó có thể trèo vào; nó ngửi thấy mùi lạc, leo lên, "tõm", rơi xuống, vào bên trong ăn lạc, ăn xong nhảy không ra được. Sau đó pháp sư Hiểu Quang lái xe chở nó đến một nơi rất xa, để cho nó không quen thổ nhưỡng.

Đây là điều mà Tế Công Hoạt Phật dạy chúng ta, trong đó có đạo lý của Ngài; bạn thấy Ngài điên điên khùng khùng, nhưng Ngài có lý do của mình. Ngài vác tượng Vi Đà ở chùa Linh Ẩn trên lưng rồi chạy đi. Người ta hỏi Ngài: "Ủa! Thầy ơi! Sao lại thế này? Sao lại vác tượng Vi Đà chạy khắp phố vậy?" Ngài nói: "À! Chùa chúng tôi đang chuyển nhà." Ừm! Ngài đang chuyển nhà! Mọi người nói: "Có lý đấy! Ngài vác Bồ Tát Vi Đà chạy khắp nơi." Thực ra Ngài vác tượng Vi Đà là để đi bắt yêu quái, Ngài đặt tượng ở nhà viên ngoại, Vi Đà sẽ hiển linh và bắt yêu quái. Ngài có lý do của mình. Chúng ta thấy Ngài có vẻ điên điên khùng khùng, nhưng thực ra đó là sự điên khùng có lý do.

Nhưng nếu là người khai ngộ mà nói năng không rõ ràng, tâm niệm không chân chính, hành vi lệch lạc, thì đó không phải là hành vi của người khai ngộ! Giống như hành vi của Tế Công Hoạt Phật, đôi khi Ngài không giống người bình thường; nhưng tất cả đều có lý do, đều có lý niệm của Ngài. Tâm niệm của Ngài đều là chính niệm, mọi hành vi đều vì chính niệm mà làm, chỉ là biểu hiện khác với người thường, đó mới là người khai ngộ. Nếu tâm niệm không chân chính, nói năng không rõ ràng, đó chính là kẻ điên.

Tôi nhớ có một vị đại hòa thượng, là một vị hòa thượng rất lớn, rất nổi tiếng! Ngài mắc phải chứng bệnh gì vậy? Tôi không biết Ngài mắc phải chứng bệnh gì, tóm lại là đầu óc không được tỉnh táo. Nghe nói là ở trong bệnh viện, tôi nghe người ta nói vậy thôi, không chắc là đúng. Lúc đó cũng có nhiều người nhìn thấy mà! Dù sao thì Ngài đang nằm trong bệnh viện, một y tá xinh đẹp đi vào, cô y tá này định tiêm thuốc cho Ngài thì bàn tay quái dị của Ngài liền xuất hiện. Bàn tay quái dị xuất hiện.

Sờ chỗ nào của người ta ư? Thật ngại không dám nói. Bàn tay quái dị của Ngài xuất hiện đấy!

Còn nữa? Khi y tá xinh đẹp đi vào, hoặc là đệ tử nữ vào thăm Ngài, Ngài liền kéo quần xuống. Thế là nhiều thị giả bên cạnh và các đệ tử theo Ngài đều nói: "Sư phụ khai ngộ rồi!" Nói rằng sư phụ khai ngộ rồi.

Cái khai ngộ mà họ nói là khai ngộ kiểu gì vậy? Họ nói: "Sư phụ đã không còn tâm phân biệt nữa." Ngài thể hiện một trạng thái khai ngộ. Thấy phụ nữ đến là kéo quần xuống, thấy y tá xinh đẹp đến tiêm thuốc là bàn tay quái dị liền xuất hiện. Hành vi như vậy sao gọi là khai ngộ được?

Vậy bây giờ thì sao? Hiện tại người ta đã nhốt Ngài lại rồi, không ai được gặp Ngài nữa, bởi vì đó không phải là khai ngộ. Ngài muốn biểu đạt điều gì vậy? Là tâm không phân biệt sao? Vậy thì tại sao khi bác sĩ nam vào, Ngài lại không xuất hiện bàn tay quái dị? Khi đệ tử nam vào, tại sao Ngài lại không kéo quần xuống? Phải gặp ai cũng kéo xuống chứ! Như vậy mới gọi là không phân biệt chứ! Ngài có phải bị chứng đãng trí không? Nếu bị chứng đãng trí thì sao Ngài còn phân biệt được nam nữ? Điều này quả thật có vấn đề.

Vì vậy tôi cho rằng đó không phải là khai ngộ, mà là vị đại hòa thượng này đã kìm nén bản thân quá lâu, Ngài đã kìm nén dục vọng của mình! Từ khi còn rất nhỏ Ngài đã kìm nén rồi, bên ngoài Ngài tỏ ra rất trang nghiêm. Ừm! Là đại hòa thượng, suốt ngày cứ làm ra vẻ rất thần thánh, một bộ dạng thần thánh không ai xâm phạm được, Ngài đã kìm nén dục vọng đó, kìm nén quá lâu rồi, đến một ngày kia, đầu óc Ngài đã bị trúng độc, Ngài không thể kiểm soát được hành vi của mình nữa, lúc đó Ngài đã để cho dục vọng của mình hoàn toàn bộc lộ ra hết, điều này không phải là khai ngộ, người khai ngộ không phải như vậy, cho nên đây là kẻ điên.

Cũng có rất nhiều người điên! Ở bệnh viện tâm thần đâu đâu cũng thấy! Bạn thử vào bệnh viện tâm thần mà xem, trong bệnh viện tâm thần, tất cả đều là người nhìn thấy thần thánh nhìn thấy ma quỷ. Mỗi người ở đó đều rất căng thẳng, ai đó đang đuổi theo họ, họ bỏ chạy. Họ nói: "Có người đuổi theo tôi." Chúng ta nhìn chẳng thấy ai cả. Người kia nói: "Đức Mẹ Maria đến rồi." Họ quỳ xuống trước mặt mọi người cầu nguyện, toàn thân run rẩy. Có người nói "Chúa Jesus đến rồi", có người nói "Đức Phật đến rồi", có người nói "Ma Tổ đến rồi", ai đó đến rồi, ngày nào cũng có nhiều khách đến tìm họ như vậy, khách thăm của họ đặc biệt nhiều, suốt ngày cứ ở đó nói chuyện với ai đó.

Tôi nói cho bạn biết, những người này đều là người khai ngộ đấy. Có nhiều người khai ngộ như vậy, bạn phải cẩn thận đấy! Nếu bạn khai ngộ kiểu như vậy, tôi thà không khai ngộ còn hơn. Ồ! Nếu tôi trở thành người khai ngộ kiểu này, tôi sẽ phải "bay qua tổ chim cúc cu" (ý nói: vào viện tâm thần). Họ đều có thiên nhãn, có nhĩ thông, có nhãn thông, thông cái gì cũng có, chỉ là không thể kiểm soát được bản thân, đây không phải là người khai ngộ.

**Loại thứ ba, người thực sự khai ngộ là Phật tử**

Người thực sự khai ngộ là như thế nào? Ngoài kẻ lừa đảo, kẻ điên ra, họ là người có đạo.

Người có đạo là điều tôi nói. Người khai ngộ này rất tự nhiên, tất cả hành vi của họ đều phù hợp với tự nhiên, tất cả ngôn hành của họ đều rất tự tại, rất thư thái, rất tự tại; họ sống trong tự nhiên và tự tại, họ rất tự nhiên, nghĩa là bất kì sự việc nào đến trước mặt họ, họ đều có thể không quá vui mừng cũng không quá bi thương. Trước mặt họ không có việc gì quá lớn lao, cũng như là không có việc gì; nghĩa là họ có thể vận dụng trí tuệ của mình một cách tự nhiên.

Họ có đức tính vi diệu, họ thể hiện ra một loại đức tính rất vi diệu, không phải tự mình tạo tác, không phải cố ý làm ra, một loại đức tính vi diệu hiển lộ trên thân họ, tâm linh của họ thanh tịnh, không ô nhiễm, trong suốt, không che giấu, điểm này rất quan trọng.

Tâm này là thanh tịnh, cảnh giới khai ngộ này có người nói là "vạn dặm trời trong", trạng thái trời quang; chính là thời tiết rất trong sáng, trong suốt, vô tận đến vạn dặm. Trạng thái hoàn toàn trong suốt đó là tâm cảnh của bậc khai ngộ, là diệu lạc vô cùng; không phải nói là rất u uất, mà là họ có niềm vui của họ, sống trong pháp vị là một loại niềm vui rất vi diệu. Không phải là loại dục lạc của người đời, đây là một yếu tố vốn có của bậc khai ngộ.

Đây là gì vậy? Chính là "thường, lạc, ngã, tịnh" trong Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh mà chúng ta tụng đọc. "Thường" này có thể nói chính là tự nhiên, tự nhiên, tự tại, tự như chính là "thường". "Lạc" là gì? Chính là diệu lạc vô cùng, pháp vị diệu lạc vô cùng, không có phiền não. Còn "Ngã" thì sao? Ngã này là đại ngã, diệu đức của vũ trụ, tất cả đức tính của vũ trụ, địa thủy hỏa phong không, tất cả đức chính là ngã này. Còn "Tịnh" thì sao? Chính là hoàn toàn thanh tịnh.

Lần thuyết pháp này tại Cầu Vồng Sơn Trang, về chữ "ngã" này, có người nói rằng "địa thủy hỏa phong" đều đã đến. Về "địa" này, các vị mỗi ngày phải chạy rất xa, đều là đi trên mặt đất! Các vị đâu phải bay mà đến, cho nên là "địa". Các vị ma sát với mặt đất, bánh xe ma sát với mặt đất, ma sát 40 phút đến đây, rồi lại ma sát 40 phút để về, đây là "địa".

Còn "thủy" thì sao? Trời mưa. Mây đen vừa kéo đến thì mưa liền xuống, cho nên có nước, trời liền mưa.

Còn "hỏa" thì sao? Chiều hôm qua bỗng nhiên rất nóng, rất ngột ngạt, thời tiết cũng rất nóng, nhiệt độ tăng cao, đó chính là "hỏa".

Còn "phong" thì sao? Sáng hôm qua gió rất to, đã thổi bay mất một cái lều. "Địa thủy hỏa phong" đều đã đến, nhưng không sao cả, vũ trụ này và thân thể chúng ta đều là sự kết hợp của "địa thủy hỏa phong", toàn bộ vũ trụ, toàn bộ con người chúng ta đều là sự kết hợp của "địa thủy hỏa phong", đó chính là "ngã".

Bạn sống giữa vũ trụ này, tùy thuận với địa thủy hỏa phong để điều phục địa thủy hỏa phong trong cơ thể mình, nếu bạn điều hòa tứ đại tốt thì sẽ không bị cảm cúm. 

Trước khi tôi thuyết pháp lần này, có rất nhiều đệ tử đến, trong đó cũng có người bị cảm. Tôi cũng rất sợ! Trong số các bạn có một người ho một tiếng về phía tôi, đúng lúc tôi hít vào, thế là có mấy nghìn con vi khuẩn vào cơ thể tôi. Tôi là người luyện khí, nếu không có sức đề kháng, thì bảy ngày, tám ngày, chín ngày, mười ngày, tôi sẽ ở đây ho.

Nếu cổ họng tôi có vấn đề thì làm sao tôi thuyết pháp? Thế thì không tự tại rồi! Cho nên trong mấy ngày này, khi các bạn ho về phía tôi, tôi liền mau mau mặc giáp hộ thân, luyện khí! Tôi không thể ho được! Nếu tôi ho, quay video lại, ôi, thảm rồi! Ho liên tục như vậy, trông giống người khai ngộ không? Người ta nhìn tôi: "Đúng là tên nghiện Đông Á!" "Đâu phải là người khai ngộ?" "Người luyện khí cái gì chứ?"

Ngày xưa chúng ta xem hát bội, "Người luyện khí ở lều bí đỏ", người luyện khí này thật ra cũng có đạo lý của nó, chúng ta học Phật, học Mật đều là luyện khí, cho nên gọi là người luyện khí, hành giả yoga. Hành giả yoga chính là đang luyện khí, khai thông kinh mạch, nâng cao minh điểm. Luyện khí này làm cho thể lực tốt hơn, sau đó có sức đề kháng, trăm bệnh không nhiễm, kim cương bất hoại.

Hôm nay tu chính là tu để trăm bệnh không nhiễm kim cương bất hoại, nhưng không thể nói khoác, bởi vì ở đây cũng có vận mệnh, có lúc bệnh ma tìm đến bạn, có lúc vận mệnh của bạn đã định sẵn phải mắc một trận bệnh nặng, tôi cũng không có cách nào. Tôi không dám nói to tát đâu, mỗi lần tôi vừa nói to tát là xong luôn.

Cái "thường lạc ngã tịnh" này, "thường" chính là tự nhiên, con người bạn rất tự nhiên, rất tùy duyên, tùy tục tùy hỷ, tự nhiên, nhìn không thấy có gì cả, nhưng trong tâm có diệu lạc vô cùng, đạt được pháp vị rất lớn. Còn "ngã" này thì sao? Là địa thủy hỏa phong không của vũ trụ tương hỗ điều ngự, tương hỗ qua lại, tương hỗ dung hợp dung nhập, còn "tịnh" này là một loại thanh tịnh hoàn toàn, đây mới là bậc khai ngộ.

Bậc khai ngộ là người có đạo, chính là Pháp Vương Tử, chính là Phật tử, không phải là kẻ điên, khác với kẻ điên, cũng khác với kẻ lừa đảo, các bạn phải phân biệt rõ ba loại này, tất cả đều rất giống nhau, có một số bậc khai ngộ thật sự có vẻ điên điên khùng khùng. Chẳng phải tôi đã viết một bài "Pháp Vương điên Lư Thắng Ngạn" sao? Tuy ông ấy điên điên khùng khùng, nhưng điên có đạo lý, điên tự tại, điên tự nhiên, điên tự như. Ngoài ra, phải cẩn thận, cũng có những kẻ dựa vào Phật pháp để lừa gạt chúng sinh, thường xuyên tự xưng là khai ngộ, rất nhiều.

Về mặt Lý, các bạn đều đã biết rồi, có thể nói về mặt lý thuyết các bạn đều đã hiểu, đều đã khai ngộ, nhưng về thực tu chưa chắc đã chứng ngộ đến cảnh giới khai ngộ. Có người cũng nói với tôi: "Con đã khai ngộ rồi, con có một việc rất quan trọng muốn thưa với Sư Tôn." Tôi nói: "Việc quan trọng gì vậy?" Vị khai ngộ này lại nói: "Muốn hỏi việc." Hỏi cả nửa ngày cũng chỉ là muốn hỏi tại sao gà nhà họ không chịu ăn gạo? "Gà nhà anh không ăn gạo thì liên quan gì đến tôi?" Tôi cũng không biết.

Cho nên người khai ngộ, lời nói của họ phải có trí tuệ, bản thân họ phải có trí tuệ, họ không thể để lộ ra ba độc tham sân si. Các bạn hãy chú ý điều này. Đối với bậc khai ngộ, các bạn phải có sự lựa chọn sáng suốt. Ví dụ như họ có thể giảng giải Phật lý, họ có Phật pháp hợp lý, như Chân Phật Mật Pháp, nếu không phải là người đã thâm nhập và nghiên cứu trong thời gian dài thì không thể giảng giải được.


### 29. Mười lực Như Lai


1. Biết trước tất cả sự vật

Hôm nay chúng ta bàn về mười lực Như Lai, Như Lai chính là bậc giác ngộ. Thứ nhất, Ngài biết tất cả sự vật, điều được đề cập ở đây là sự thấu hiểu tường tận, rõ ràng minh bạch, Như Lai Phật biết tất cả sự vật. Khi một người đến trước mặt Ngài, Ngài nhanh chóng biết được mọi ngọn ngành của tất cả sự việc, biết được lai lịch của người đó, điều này nói lên điều gì? Đối với đạo lý của toàn thể vũ trụ, tất cả những đạo lý giữa vũ trụ này, Ngài đều thấu tỏ, biết được tất cả sự vật, như tôi thường đề cập trong những lần trò chuyện, đối với mọi việc, tất cả mọi thứ Ngài đều thấu hiểu tường tận, rõ ràng minh bạch, hiện tượng này chính là một trong những lực trí huệ của Phật.

2. Hiểu rõ nhân quả ba đời của tất cả chúng sinh

Thứ hai, biết nhân quả ba đời của tất cả chúng sinh. Điều này có thể nói là sự tiếp nối của điều thứ nhất, biết được nhân quả ba đời của tất cả chúng sinh. Làm sao biết được? Bởi vì trên thân của bạn đều có dấu ấn, mỗi người đều mang dấu ấn, tiền kiếp của bạn là gì, vị lai sẽ ra sao? Chỉ cần đạt được trí huệ Như Lai, họ đều biết được, bởi vì trên thân bạn có dấu ấn.

Tôi đã từng nói, tôi thấy mọi người đều là đồ cổ, bạn ở thế gian này cùng lắm có người sống được bốn mươi mấy tuổi, có người năm mươi mấy tuổi, có người mới hai mươi mấy tuổi, ba mươi mấy tuổi, chưa tính là đồ cổ phải không! Nhưng mà tôi biết tiền kiếp của bạn, bạn đến gặp tôi, tôi sẽ nói, nhưng không thể nói bừa. Tiền kiếp bạn làm gì, kiếp này trên thân bạn đều mang dấu ấn của tiền kiếp.

Tại sao gọi các bạn là đồ cổ? Bởi vì bề ngoài các bạn chỉ sống được hai mươi mấy tuổi, ba mươi tuổi trong kiếp này, nhưng thực tế tiền kiếp các bạn đã sống đến chín mươi tuổi, cộng lại đã là một trăm hai mươi tuổi, thế thì đã là đồ cổ rồi. Nếu tính thêm kiếp trước, kiếp trước nữa thì sao? Không chừng các bạn đã sống được mấy nghìn tuổi rồi! Đúng không? Các bạn đã sống cả nghìn tuổi, vạn tuổi, không phải đồ cổ thì là gì?

Cho nên một bậc khai ngộ với trí huệ Như Lai, Ngài biết được nhân quả ba đời của tất cả chúng sinh, trên người các bạn đều mang dấu ấn; nhìn thấy dấu ấn đó, liền biết được tiền kiếp các bạn làm gì, có bao nhiêu nghiệp chướng, làm được bao nhiêu việc thiện, có bao nhiêu phúc báo, có bao nhiêu nghiệp báo, tất cả đều có dấu ấn trên thân các bạn.

3. Biết phương pháp giải thoát phiền não

Trong trí huệ Như Lai, Ngài biết về giải thoát, tri giải thoát. Tri giải thoát là gì? Như tôi đã nói, muốn giải thoát bản thân, các bạn phải quán chiếu thế gian vô thường, phải nhanh chóng cầu xuất ly, phải nhanh chóng tu thành vô ngã, giải thoát tất cả phiền não; quy trình này, thứ tự này được giảng giải rõ ràng, tường tận, đây chính là trí huệ của Như Lai, biết được phương pháp giải thoát. Vậy nên hiện giờ đang dạy mọi người cách giải thoát, đây chính là tri giải thoát.

4. Biết được ưu khuyết của chúng sinh

Tiếp theo là biết được ưu khuyết của chúng sinh. Điều này có thể nói như thế này, biết được ưu khuyết của chúng sinh; ưu là mặt tốt, khuyết là mặt xấu. Mặt tốt bạn có thể vận dụng sở trường của mình, mặt xấu thì phải loại bỏ nó đi, đây là tập tính của con người, là nói về tập tính vốn có của con người.

Trong Mật giáo, tiền kiếp của bạn, ồ, giả sử là chicken, là gà, thì đời này lòng tham của bạn rất nặng, đời này lòng tham sẽ rất nặng, bởi vì người ta thấy được tiền kiếp của bạn là một con gà mà! Gà thì tham dục rất nặng. Nếu thấy tiền kiếp của bạn là một con snake (rắn), thì đời này tâm sân của bạn sẽ rất nặng, gặp người là muốn cắn người, là một con rắn, tâm sân của nó rất nặng. Nếu tiền kiếp là một con pig, là một con lợn, thì đời này, tâm si của người đó sẽ đặc biệt nặng, ngu si. Cho nên ba con vật này đại diện cho tham, sân, si.

Chúng ta phân biệt chúng sinh như vậy, không phải là phân biệt đối xử với chúng sinh, mà chỉ là biết được tập tính vốn có của người đó, làm sư phụ thì dễ dàng dạy họ hơn, dạy theo tập tính của họ.

Thời Đức Phật, Ngài có hai đệ tử, vị tỳ kheo nam là Ca Lưu Đà Di, Ca Lưu Đà Di có tập tính khá nặng, tính xấu của ông là gì? Tính xấu của ông là hay phạm đào hoa.

Hoa đào rất đẹp, tại sao lại phạm đào hoa? Chuyện là như thế này, mỗi lần Phật Thích Ca Mâu Ni muốn độ các nữ chúng sinh, Ngài đều sai ông đi. Bởi vì ông hay phạm đào hoa, phụ nữ nhìn thấy ông đều sinh lòng hoan hỷ, nên ông nói gì họ cũng nghe, vì vậy Phật Đà đặc biệt sai ông đi làm công tác ngoại giao với nữ giới. Tập tính của ông rất nặng, lại thích phụ nữ; không giống như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Đại Ca Diếp, họ chẳng bao giờ đụng chạm đến phụ nữ.

Ca Lưu Đà Di này, ông có tập tính nặng về phụ nữ; cuối cùng ông cũng bị người ta sát hại, nguyên nhân chính là vì ông quá gần gũi với thế tục, quá gần gũi với các gia đình thế gian. Người tu hành đôi khi cần phải tránh quá gần gũi với gia tộc người khác, tránh quá nhập thế.

Trước đây thầy tôi có một giới luật dạy tôi: "Nếu không ai mời, con không được tự tiện đến nhà người khác." Hôm nay các vị mời tôi đến nhà, tôi mới đến, nếu không ai mời, tôi không được tự tiện đến nhà người khác chơi, không thể được, bởi vì sợ bị ô nhiễm bởi thế tục.

Ngày xưa Ca Lưu Đà Di thường xuyên tự tiện đến nhà người khác chơi, nên đã bị người ta sát hại, đó là do tập tính của ông ấy quá nặng.

Còn người thứ hai có tập tính nặng hơn, đó là Đa Lan Nan Đà, một vị tỳ kheo ni, bà là một "mụ phàm phu", bà rất ghét Đại Ca Diếp, bởi vì Đại Ca Diếp rất nghiêm túc, ngài không bao giờ nhìn phụ nữ. Đa Lan Nan Đà này sáng sớm vừa ra khỏi cửa đã gặp Đại Ca Diếp, liền mắng: "Xui xẻo quá! Vừa sáng sớm đã gặp gã ngoại đạo này." Rồi bà bắt đầu chửi.

Bà ấy rất ương ngạnh, trong giáo pháp của Phật Đà có "bát kính pháp", là tám phương pháp mà tỳ kheo ni phải tôn kính tỳ kheo, nhưng bà không tuân thủ điều nào cả; với thân phận một tỳ kheo ni, bà lại dám mắng một vị tỳ kheo nam, một đại đệ tử của Phật như vậy.

Tuy nhiên Phật Đà biết được tập tính của bà, nên đã dùng nhiều phương pháp để giáo hóa bà, chứ không đuổi bà ra khỏi tăng đoàn. Cho nên ngay từ đầu, Phật Đà dạy các đệ tử đều tùy theo căn cơ mà giáo hóa. Vì tính bà hung hăng mà, cho nên Ngài sai bà đi đối phó với những kẻ bên ngoài xúc phạm, những sự sỉ nhục từ bên ngoài, cứ phái bà ra đối phó.

Đôi khi một người đàn bà ương ngạnh như vậy cũng có điểm tốt, người ta chưa kịp mở miệng, bà đã như súng liên thanh, bắn liên tục quét ngã tất cả mọi người.

Nếu bạn phái một vị tỳ kheo ni hiền lành, hoặc một vị tỳ kheo ni nói năng nhã nhặn đi thì không được đâu! Cãi nhau được gì với người ta? Nhất định phải phái những người đàn bà ương ngạnh này, đội quân của những người đàn bà ương ngạnh.

5. Biết được cấp độ giải thoát của chúng sinh

Thứ năm là gì? Cần phải biết được cấp độ giải thoát của chúng sinh, phải có khả năng biết được trí huệ giải thoát của mỗi chúng sinh; đây cũng là tùy căn cơ mà giáo hóa.

Chúng ta biết rằng khi Như Lai mở miệng nói, trong hư không liền hóa thành pháp âm, pháp âm này phân thành vạn loại, vang đến tận nơi xa xôi. Ngài Mục Kiền Liên đã từng bay đến Phật quốc ở phương Đông để nghe Như Lai thuyết pháp, ở đó vẫn có thể nghe được Như Lai thuyết pháp, cho nên pháp âm này cũng rất vi diệu. Đôi khi Như Lai thuyết pháp, một âm diễn hóa vạn pháp, một loại âm thanh khi nói ra biến thành vạn loại âm thanh, độ vạn loại chúng sinh, đây là sức mạnh nhiếp triệu của Như Lai.

Phật Đà đã từng mất tích trong tăng đoàn, mất tích mất mấy tháng. Mất tích rồi, không thấy đâu. Phật Đà đi đâu rồi, không ai biết, hóa ra Ngài đã dùng thần túc mà đi. Thần túc đi đâu vậy? Đến cung trời Đao Lợi giảng "Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện" cho phu nhân Maya nghe.

Ngài thuyết pháp trên thiên giới ba tháng, ai là người phát hiện ra? Đó là A Na Luật. Tôn giả A Na Luật dùng thiên nhãn quan sát và nói rằng: "Đức Phật đã đến cung trời Đao Lợi, đến đó thuyết giảng "Kinh Địa Tạng Vương Bồ Tát Bản Nguyện" cho phu nhân Maya nghe; khoảng ba tháng sau Ngài mới trở về."

Đức Phật có thể biến mất như vậy, đó là thần thông gì? Đó chính là thần túc thông. Thần túc thông này không phải là xuất nguyên thần, mà là cả thân xác lẫn thần thức cùng bay lên.

Gần đây tôi đang luyện công, rất kỳ lạ, hai tay đều dang ra như thế này, ồ, cứ cố gắng bay! Giống như chim đang bay vậy. Tôi nghĩ sau này có một ngày, tôi cũng sẽ mang cả thân xác bay lên, bay lên thiên giới để thuyết pháp.

6. Biết tất cả các cảnh giới

Thần lực của Như Lai, trong mười loại lực của Ngài, bao gồm loại thứ sáu là tri cảnh giới, tức là biết các loại cảnh giới. Là người học Phật, cảnh giới của bạn đã đạt đến đâu, chứng lượng của bạn được bao nhiêu, chứng phần của bạn được bao nhiêu, khả năng của bạn được bao nhiêu, lực của bạn được bao nhiêu, trí tuệ của bạn cao đến đâu, đều phải được phân biệt rõ, tức là phải biết cảnh giới của bạn đã đến đâu rồi. Bạn đã đạt đến cảnh giới A La Hán? Đến cảnh giới Bồ Tát? Đến cảnh giới Phật? Cảnh giới Duyên Giác? Cảnh giới Thanh Văn? Cảnh giới Hậu Bổ Phật? Tất cả những điều này đều nằm trong thập lực của Như Lai, Ngài có thể dùng trí huệ của Như Lai để quan sát ra.

Phật Đà đã từng đến cung trời Đao Lợi thuyết pháp, cũng đã từng đến long cung thuyết pháp. Nếu như tôi cũng biểu diễn mất tích: "Sư Tôn mất tích rồi, không thấy đâu, không ai biết ngài đi đâu?" Rồi một ngày đột nhiên xuất hiện: "Đi đâu vậy?" "Tôi đi đánh cờ với Đại Ca Diếp." Sự mất tích này phải rất bí mật, nếu để lộ tung tích thì thật là tệ.

Những người tu luyện khí như chúng ta, muốn đạt được thần túc thông thì phải nhiều khí ít thịt; khi bạn tu luyện được khí này, có thể hòa nhập với vũ trụ, những phàm thịt trên thân thể bạn, những dục vọng, những thịt mang tính phàm tục này, những dục vọng này phải rất ít, thì mới có thể lên trời, xuống đất, muốn đi đâu, có được oai thần lực là có thể đi.

Nói về việc xuống địa ngục, Quang Mục Nữ hỏi Vô Độc Quỷ Vương: "Ai có thể xuống địa ngục?" Ngài đáp: "Chỉ có hai loại, một là nghiệp chướng hiện tiền, nghiệp lực dẫn dắt xuống địa ngục; hai là có oai thần lực thì có thể xuống địa ngục."

Hôm nay thập lực của Như Lai có thể xuống địa ngục, lực gì vậy? Oai thần lực! Tôi muốn xuống địa ngục! Tôi muốn đi thăm đệ tử! Đệ tử này ở trong địa ngục quá khổ sở, tôi dạy y Chân Phật Mật Pháp mà y không chịu tu, ngày nào cũng uống rượu, đúng không? Bề ngoài thì nói với Sư Tôn: "Con không có cách nào! Con phải đi giao tế xã giao." Giao tế xã giao mà bên ngoài nuôi hai bồ nhí? Toàn là những chuyện dơ bẩn đầy dục vọng trong đầu.

Ngày nào cũng chỉ nghĩ đến chuyện kiếm tiền, kiếm tiền cho ai? Cho chính mình à! Tôi thấy ngay cả bản thân ông cũng chẳng tiêu được, để lại cho con cháu ư? "Vì ai vất vả, vì ai bận rộn?" Con cháu chúng không biết ăn sao? Chúng không biết làm việc sao? Con cháu tự có phúc của con cháu, ông vất vả như vậy để làm gì? Cho nên, tu hành mới là quan trọng. Không còn kịp nữa rồi, có người nói: "Sang năm tôi sẽ tu!" Còn bao nhiêu cái sang năm nữa? Ông còn được bao nhiêu cái sang năm? Biết đâu nửa năm nữa ông đã ra đi rồi, còn sang năm tu nữa? Không còn kịp nữa! Cho nên có những đệ tử đến giờ vẫn chưa từng tu pháp, cũng chẳng tu tập gì, họ nói "Tôi đã quy y rồi!" "Tôi có trì chú mà!" "Những thứ tốt đẹp từ từ rồi sẽ tới!" Đây chính là rắc rối.

Cho nên bạn phải hiểu được cảnh giới, thần túc thông là "nhiều khí, ít thịt", khí nhiều thịt ít thì bay lên, khí ít thịt nhiều thì rơi xuống, rất đơn giản, tôi đã nói với mọi người rồi. Thịt của bạn quá nhiều, khí quá ít, thế thì xuống địa ngục. Bạn muốn lên thiên đường thì khí nhiều thịt ít, bạn sẽ có thể bay lên.

7. Biết nhân quả của tất cả đạo hạnh

Thứ bảy là biết nhân quả của đạo hạnh, tức là biết nhân quả, gieo nhân nào, gặt quả nấy. Tôi nhớ Thượng sư Liên Trí có kể, trong bệnh viện có một tấm biển: Ăn gì thì sẽ trở thành người như thế. Tấm biển trong bệnh viện là như vậy đấy! Ăn gì thì sẽ trở thành người như thế.

Đó là nhân quả! Câu nói này rất đơn giản, chính là nhân quả. Bạn ăn gì là nhân, bạn trở thành người như thế nào là quả, bạn không ăn gì thì làm sao có quả đó? Đúng không? Trong đó đều có nhân quả, cho nên mới nói trồng đậu được đậu, trồng dưa được dưa, gieo thiện gặt thiện, gieo ác gặt ác, điều này phải hiểu rõ nhân quả.

Trong thập lực của Như Lai có nói đến biết tất cả nhân quả của đạo hạnh, Ngài đều hiểu rõ ràng. Nhân quả của bạn là gì? Làm sao tránh những quả báo này? Bạn đã gieo những nhân này thì làm sao hóa giải? Làm sao để giải? Làm sao biết cách giải thoát? Đây chính là một trong mười lực của Như Lai. 

8. Thiên nhãn thông

Chúng ta vừa đề cập đến thứ tám là thiên nhãn. Trong số đệ tử của Phật Đà, có một vị được gọi là thiên nhãn đệ nhất, đó là A Na Luật. Tôn giả A Na Luật là bậc thiên nhãn đệ nhất, Ngài có thể dùng thiên nhãn nhìn thấy Phật Đà thuyết pháp ở cung trời Đao Lợi, đó chính là A Na Luật.

Tại sao A Na Luật lại trở thành thiên nhãn đệ nhất? Trong chúng ta có rất nhiều A Na Luật, ở đây có rất nhiều A Na Luật. Thiên nhãn đệ nhất, tốt lắm! Thực ra Ngài là người thích ngủ gật nhất, trước kia khi nghe Phật thuyết pháp, tinh thần của A Na Luật không thể nào tỉnh táo nổi, lần nào Ngài cũng như thế này (Sư Tôn làm động tác ngủ gật), cầm chuỗi hạt, lần chuỗi "Ôm a-mi-tê-wa sê, Ôm a-mi-tê-wa sê, Ôm… " (Sư Tôn làm động tác ngủ gật). Đức Phật ở trên nhìn xuống, "Đệ tử này, ôi! Thật là tệ." Phật biết nhân quả, Ngài nói với A Na Luật rằng "Nếu ông cứ tiếp tục như vậy, ông sẽ đọa xuống long cung đấy." "Long cung? Long cung cũng tốt mà! Theo hầu Long Vương!" "Không tốt đâu, làm con sò bên cạnh long cung ấy."

Con sò là gì? Vỏ sò, con sò đấy! Chính là con sò. Bởi vì ông cứ ngủ! Ông trốn trong vỏ sò đó, mãi mãi ở trong đó không thấy ánh mặt trời, cái vỏ sò đó che kín ông lại, ông mãi mãi ngủ trong đó. Đức Phật biết nhân quả đấy! Ngài nói với A Na Luật rằng: "Nếu ông cứ tiếp tục như vậy thì không xong đâu, ông sẽ đọa xuống long cung làm con sò, không phải để hưởng thụ đâu, mà là làm con sò dưới đáy biển. Con sò đó không thấy ánh mặt trời, dùng cái vỏ để che kín mình lại, thường xuyên ngủ trong đó, một giấc ngủ cả mấy nghìn năm."

Tôi đã từng nói rồi, nếu như khi chúng ta đang tu pháp, lúc nhập Tam ma địa mà các bạn lại nhập "tứ ma địa" [ngủ gật], phương pháp đối trị là trước tiên phải mở mắt ra, mắt phải mở ra; bởi vì nhắm mắt rất dễ bị hôn trầm, các bạn phải mở mắt ra. Nếu vẫn không được, hai tay đan vào nhau, dùng lực đẩy, tạo ra sức mạnh, tạo ra lực để làm cho tinh thần phấn chấn một chút. Nếu vẫn không được, ưỡn ngực, thu cằm, mắt nhìn thẳng, đây là kiểu bộ đội đấy! Các anh lính nói, thu cằm, ưỡn ngực, mắt nhìn thẳng, nhìn về phía trước, chính là để làm cho tinh thần phấn chấn lên một chút. Nếu vẫn không được thì đứng dậy trì chú, kinh hành. Kinh hành chính là trì chú, niệm Phật! Cứ thế đứng dậy đi động.

Thực ra, nếu bạn không được khỏe, bị cảm cúm, điều đó có thể tha thứ được, vì bạn đang bệnh; hoặc bạn từ nơi xa đến, từ Đài Loan đến, từ Đông Nam Á đến, có sự chênh lệch múi giờ, trong những ngày đầu tiên đó, chênh lệch múi giờ thật sự không thể tránh khỏi, đến giờ ngủ là phải ngủ, điều đó cũng có thể thông cảm được. Nhưng bình thường thì không thể 365 ngày, thậm chí 366 ngày, mỗi lần tu pháp nhập Tam ma địa đều ngủ gật được. Đức Phật đã nói rằng, thôi thì ông xuống long cung đi, ta không thể dạy ông được nữa, để Long Vương dạy ông pháp vậy.

Vì thế, sau khi Phật Đà nói những điều này với A Na Luật, từ đó A Na Luật không nhắm mắt nữa, nghĩa là hai mắt luôn mở to, Ngài phát nguyện với Phật vĩnh viễn không nhắm mắt lại, luôn nỗ lực, tinh tấn tu tập. Tu đến cuối cùng, vì Ngài không ngủ mà, không ngủ nên mắt hỏng mất, sau khi hỏng thì sao? Đức Phật dạy Ngài cách khai mở thiên nhãn, tuy hai mắt thịt của Ngài đã hỏng, nhưng Ngài đã đạt được thiên nhãn. Cho nên, Tôn giả A Na Luật đạt được thiên nhãn là như vậy đó. Con người phải có quyết tâm, có nghị lực, phải tinh tấn mới có thể đạt được thành tựu lớn.

Đặc biệt trong "Sự sư pháp ngũ thập tụng" có viết rằng, khi Sư Tôn thuyết pháp, khi đang thuyết pháp ở đây, mà bạn cứ lắc lư qua lại như thế, giống như khi Sư Tôn giảng pháp, bạn cứ lắc đầu "No, No". Bạn không phải đang trêu chọc tôi sao? Đúng không? Tôi giảng pháp thế nào bạn cũng lắc đầu. Bạn đang khinh thường tôi đấy! Điều này không được phép. Cho nên, hình ảnh của tông phái chúng ta cũng rất quan trọng. Chưa nói đến việc khi chúng ta làm pháp hội, mỗi vị Thượng sư đều đội mũ Ngũ Phật, kết quả là mũ sắp rơi xuống rồi.

Thực ra khi tôi đang thuyết pháp ở trên đó, giả sử tôi đang nhập Tam ma địa, tôi cũng gật gù như thế này, tôi còn có thể giải thích rằng tôi đang đàm đạo với Như Lai mà! "Ồ! Thế à! Phải! Phải! (gật đầu) OK, I know." Đây là Phật đang nói chuyện với tôi, tôi đang nói chuyện với Ngài, cứ nói qua nói lại; talk, speak, chính là đang đàm đạo với Phật, điều này tôi còn có thể giải thích được. Còn các ông ngồi ở bên cạnh, mũ Ngũ Phật sắp rơi xuống rồi! Ôi! Đây đúng là một vấn đề. Cho nên hy vọng những người thích ngủ gật, tinh thần không phấn chấn, phải luyện khí, khí đủ rồi thì tinh thần sẽ đủ.

Khi khí đủ đầy rồi thì giống như xe tải trên xa lộ freeway vậy, bạn mới có thể xuất phát như một đội "quyết tử thần phong". Chúng ta đều phải như vậy, người tu hành phải có tinh thần sung mãn, không thể ủ rũ không có sức sống, nếu ủ rũ thì không giống người tu hành.

9. Túc mệnh thông

Thứ chín là túc mệnh thông, nghĩa là bạn hiểu được tất cả túc mệnh. Túc mệnh cũng có nhân quả, bạn tạo nhân gì sẽ kết quả đó. Bạn biết được bao nhiêu đời kiếp, những điều này nằm trong băng ký ức trong não chúng ta, không cần phải lên kho trời để lấy. Người ta nói rằng trên trời có một kho báu, lưu giữ tất cả những đoạn phim về tiền kiếp của mọi người. Một ngày nào đó, nếu bạn lên đến kho trời và nói: "Tôi muốn tìm cuộn băng về tiền kiếp của mình." Khi đó thiên quan sẽ chiếu cho bạn xem, bạn sẽ: "Ồ! Thì ra tiền kiếp của tôi là như vậy." Bạn sẽ hiểu ra, đó chính là túc mệnh.

Thực ra cuộn băng này nằm trong tâm trí của bạn, chỉ cần bạn khai mở đến cảnh giới Pháp thân Phật của "bánh xe nghìn cánh", là có thể đạt được túc mệnh thông, toàn bộ túc mệnh bạn sẽ biết hết. Trong mười lực của Như Lai, Ngài đi vào trong hoa sen nghìn cánh của Pháp thân Phật của chính mình, biết được đủ loại quá khứ của mình, năm trăm đời trước, năm trăm đời sau đều rõ ràng minh bạch.

Cho nên trong mười lực của Như Lai có như vậy đó, Ngài không chỉ biết túc mệnh của chính mình, mà còn biết được túc mệnh của người khác nữa. Tôi còn biết túc mệnh của rất nhiều pháp sư đấy! Có nhiều pháp sư bây giờ làm kiểu gì mà đệ tử của họ đông đảo như vậy? Chùa chiền xây to như vậy, tại sao họ có thể hoằng dương được như thế? Tại sao tiếng tăm của họ lớn như vậy? Cánh tay của họ to lớn thế! "Cánh tay to!" Cánh tay to không phải là "Đại thủ ấn", tại sao họ có cánh tay to lớn như vậy? Chúng ta nhìn thử, ồ, thì ra phía sau họ là Đại Phạm Thiên Vương. À! Đại Phạm Thiên Vương đang ủng hộ họ từ phía sau. Chúng ta có thể từ lý niệm thuyết pháp của họ mà nhìn ra họ là ai. Chúng ta có thể qua cách thuyết pháp của họ, qua lý niệm của họ mà biết được vị thiên thần phía sau họ là ai.

Thực ra trên thế gian này, rất nhiều vị xuất gia có lai lịch đều có nguồn gốc của họ, vậy nên chúng ta biết được túc mệnh của những vị pháp sư này, chỉ cần bạn có được mười lực của Như Lai, bạn đều hiểu rõ. Sau này khi các bạn khai ngộ rồi, các bạn cũng sẽ hiểu ra. Ồ! Thì ra đằng sau vị đại pháp sư này là vị thiên thần nào đang ủng hộ. Ồ! Thì ra đằng sau vị đại sư phụ này là vị thiên vương nào đang ủng hộ. Bạn có thể hiểu rõ ràng tất cả, đó chính là đã có túc mệnh thông rồi, hiểu hết tất cả; không chỉ túc mệnh của chính mình, mà túc mệnh của người khác bạn cũng đều hiểu rõ.

1. Vĩnh viễn đoạn trừ vô sinh

Thứ mười là gì? Là vĩnh viễn đoạn trừ vô sinh. Vô sinh, vốn dĩ bản thân A La Hán đã là vô sinh rồi; "vĩnh viễn đoạn trừ vô sinh" có thể nói là Niết bàn tịch tĩnh, sau khi đạt được mười thần lực của Như Lai bạn sẽ biết được đời hiện tại của bạn cũng là vô sinh, đời quá khứ của bạn cũng là vô sinh, đời tương lai của bạn cũng là vô sinh, bạn hòa hợp trong ý thức vũ trụ này, bạn có thể Niết bàn. Khi bạn xuất hiện chính là Báo thân, Ứng thân, khi đi vào chính là Pháp thân của bạn, đi vào trong cảnh giới Pháp thân. Cảnh giới này, trạng thái này gọi là vô sinh, bạn hiểu được điều này thì không còn sợ hãi điên đảo nữa.

Hôm nay bỗng nhiên có người báo cho bạn một tin: "Thảm rồi, tờ báo lớn nhất của một quốc gia đăng tên bạn và chỉ trích bạn một trận." Không sợ hãi! "Thảm rồi, khắp thế giới đều có những cuốn sách nhỏ phỉ báng bạn." Không sợ hãi! "Thảm rồi, người ta sắp kiện bạn, nói bạn thế này thế kia..." Không sợ hãi! "Ôi! Bạn không biết đâu, có mấy người đang âm mưu hãm hại bạn, bạn phải cẩn thận khi ra ngoài đấy!" Không sợ hãi! Tại sao lại không sợ hãi? Bởi vì bạn đã chứng ngộ quá khứ vô sinh, hiện tại vô sinh, tương lai vô sinh, bạn là một vị thánh Niết bàn tịch tĩnh, một vị thánh hoàn toàn như như bất động, không có gì có thể lay động được bạn, đó gọi là không còn sợ hãi điên đảo. 

Cho nên một bậc đại tu hành, dù biết rõ phía trước có người muốn hãm hại mình, vẫn có thể thản nhiên tự tại chấp nhận cho họ hãm hại. Điều này chứng minh điều gì? "Không còn sợ hãi điên đảo". Trong mệnh số của bạn định sẵn là sẽ bị người hãm hại, giống như Tôn giả Mục Kiền Liên, Ngài không phải là không biết, Ngài đều biết cả, nhưng Ngài sẵn sàng trả những nghiệp báo này, bởi vì nghiệp báo hiện tiền, Ngài liền trả nghiệp báo đó. Đã có nghiệp báo này thì phải trả nghiệp báo này, có sao đâu! Tâm này chính là tâm vô sinh, quá khứ vô sinh, hiện tại vô sinh, tương lai vô sinh, là ý thức hòa nhập với toàn thể vũ trụ, đây chính là mười lực của Như Lai.

Vì vậy hôm nay tôi giảng về mười lực của Như Lai, thứ nhất là biết tất cả sự vật; thứ hai là biết nhân quả ba đời của tất cả chúng sinh; thứ ba là biết sự giải thoát; thứ tư là biết sự giỏi kém của chúng sinh; thứ năm là biết trí lực giải thoát của chúng sinh; thứ sáu là biết cảnh giới; thứ bảy là biết nhân quả hành đạo; thứ tám là thiên nhãn; thứ chín là túc mệnh; thứ mười chính là vĩnh viễn đoạn vô sinh.

Tôi đã từng giảng về biết tất cả sự vật, điểm thứ nhất là biết tất cả sự vật, mỗi người chúng ta đều có địa thủy hỏa phong, vũ trụ cũng có địa thủy hỏa phong, những nguyên tố trong thân thể con người và những nguyên tố của vũ trụ đều thông với nhau; nếu có thể hiểu được đạo lý này, bạn hãy để địa thủy hỏa phong trong cơ thể mình hòa hợp với địa thủy hỏa phong của vũ trụ, sau đó lại dùng địa thủy hỏa phong của vũ trụ để ấn chứng với tất cả vạn sự vạn vật trong thế gian, bạn sẽ hiểu rõ tất cả mọi sự vật, sẽ có thể thấu hiểu tường tận, điều này rất quan trọng.

Bởi vì trời và người, khí mạch đều thông với nhau, việc bạn có thể trăm bệnh không nhiễm, kim cương bất hoại, chính là nhờ để địa thủy hỏa phong trong cơ thể hòa hợp với địa thủy hỏa phong của vũ trụ, mới có thể trăm bệnh không nhiễm, kim cương bất hoại.


### 30. 10 xưng hiệu của Phật


Phật là gì? Phật có mười danh hiệu.

Thứ nhất là Như Lai, thật ra Như Lai là gì? Không từ đâu đến, cũng chẳng đi về đâu, đó chính là Như Lai. Như đến như không đến, những lời này đều khá thâm sâu. Như lai như bất lai, không từ đâu đến, cũng chẳng đi về đâu, đây là Phật, đây là danh hiệu, một trong mười danh hiệu của Phật.

Thứ hai là Ứng Cúng, Ứng Cúng là gì? Khi bạn thực sự gặp được một bậc giác ngộ, một vị Phật, bạn nên cúng dường Ngài, đó chính là Ứng Cúng, nên cúng dường; bởi vì dù bạn không muốn cúng dường Ngài, bạn cũng sẽ tự động cúng dường Ngài, tại sao? Bởi vì trong Ngài có ý thức vũ trụ, Ngài có một loại lực nhiếp thọ tỏa ra, trong tâm bạn sẽ tự nhiên sinh khởi lòng tôn kính, tự nhiên sẽ cúng dường. Nên cúng dường, đây là danh hiệu thứ hai của Như Lai.

Thứ ba là Chính Biến Tri. Chính Biến Tri là gì? Tức là biết tất cả sự vật, như vừa mới nói. Như Lai là quang minh, nhưng ánh sáng của Ngài cũng chiếu rọi vào bóng tối, đó gọi là Chính Biến Tri. Là chính tri, có sự hiểu biết chân chính, thấu tỏ tất cả mọi sự vật, đó là biết tất cả, đó gọi là Chính Biến Tri.

Danh hiệu thứ tư gọi là Minh Hạnh Túc, là thấu hiểu con đường tu hành phải đi. Minh Hạnh Túc chính là hiểu rõ phương pháp và thứ tự giải thoát, biết phải đi như thế nào. Đây là danh hiệu thứ tư của Phật.

Thứ năm, Thiện Thệ. Thiện Thệ, chính là Như Lai! Muốn đến thì đến, muốn đi thì đi, muốn sinh thế nào thì sinh thế ấy, muốn diệt thế nào thì diệt thế ấy, đó gọi là Thiện Thệ. Thiện là tốt đẹp, Thệ là biến mất và xuất hiện. Cho nên Phật, Như Lai đều là trò chơi thần thông. Ngài cao hứng lên đi thì Ngài đi; Ngài cao hứng lên muốn đến thì Ngài đến, hoàn toàn là một trò chơi, một thần thông.

"Hmm! Kiếp sau tôi muốn sinh ra ở đâu nhỉ?" Tôi thường suy nghĩ về vấn đề này, "Kiếp sau làm người gì thì tốt?" Kiếp sau tôi làm người phương Tây chăng? Tôi không thích lắm, thật đấy. Vậy kiếp sau làm người Trung Quốc chăng? Ồ! Ý tôi là Trung Quốc Đại Lục.

Như chúng ta đã biết, ngày xưa người Đài Loan bị người Hồng Kông bắt nạt, người Hồng Kông là kẻ lừa đảo; ngày xưa người Hồng Kông chuyên bắt nạt người Đài Loan, tôi nhận thấy người Đài Loan bị người Hồng Kông bắt nạt, nhưng người Hồng Kông lại bị người Đại Lục bắt nạt.

Người Đài Loan thì quê mùa hơn! Tính tình quê mùa nặng hơn, nên chúng ta gọi là "khoai lang". Người Đại Lục thông minh hơn, nên chúng ta gọi là "khoai môn". Khoai lang thì quê mùa hơn! Khoai môn thì có vẻ cao quý hơn một chút. Có sự phân biệt như vậy đấy.

Đây là vấn đề phong thủy! Như người Đài Loan, bạn biết đấy, các cô gái Đài Loan, gương mặt trông rất giống "khoai lang", khá quê mùa. Các cô gái từ Đại Lục đến, thực sự có một cái chất đặc biệt khác biệt đấy! Họ chính là "khoai môn", khí chất của họ khác; đó là do phong thủy, không có gì phải bàn cãi, mỗi nơi sinh ra đều khác nhau. Giống như người Tây Tạng, ví dụ người dân tộc miền núi ở Đài Loan, tộc A Mi, như người thổ dân da đỏ ở Mỹ, khí chất của họ khác với người bản địa, có thể nhìn thấy được.

"Vậy tôi sẽ sinh ra ở đâu đây?" Nếu tôi sinh ở Thái Lan, đó là một đất nước Phật giáo, nhưng đó là nước theo Tiểu thừa, tầm nhìn không rộng. Còn ở Sri Lanka, mặc dù họ dùng tiếng Pali, thời Đức Phật cũng dùng tiếng Pali, là nơi có Phật giáo nguyên thủy, nhưng tri thức của họ bị bế tắc. Nếu tôi sinh ở Ấn Độ thì lại có Bà La Môn giáo, có đạo Sikh, vừa nghèo nàn, vừa lạc hậu. Thôi vậy! Sinh ở Trung Quốc thì tôi lại sợ chủ nghĩa đó. Sinh ở Đài Loan thì lại là khoai lang. Sinh ở Hồng Kông, nói thật, tôi rất ghét tiếng Quảng Đông, cái giọng cứng ngắc ấy, trời ơi! Khó nghe quá!

Nói thật, tiếng Quảng Đông thực sự rất khó nghe! Thật đấy, đừng biến văn phòng của chúng ta thành "Tiểu Hồng Kông" chứ! Trung tâm hồi đáp thư tín của tôi bây giờ đã biến thành "Tiểu Hồng Kông" rồi, mở miệng ra là tiếng Quảng Đông, khó nghe quá, nghe như đang cãi nhau ấy!

Phương Tây thì không đến, phương Đông cũng không đi, vậy đi đâu đây? Đến giờ vẫn chưa có câu trả lời.

Cho nên cần phải Thiện Thệ, Thiện Thệ là đến tốt, đi tốt, đến tốt đi tốt. Như Lai là như vậy đó, Ngài thiện thệ, sự ứng hóa của Ngài rất vi diệu, rất tốt đẹp, Ngài là trò chơi thần thông, là tự tại, cho nên Ngài có thể tự chủ sinh tử. Hôm nay dạy mọi người tu hành, có thể tự chủ sinh tử chính là phải có được cái ý vị này, phải thiện thệ.

Còn có một xưng hiệu là Thế Gian Giải, thế gian giải là gì? Là hiểu biết tất cả kiến thức của thế gian. Trong Phật học cũng có môn học Ngũ Minh, môn Ngũ Minh chính là thế gian giải. Khi bạn đã hiểu rõ, bạn phải biết cách chữa bệnh cho người khác, đó chính là thế gian giải. Hiểu được công xảo minh, bạn biết quay phim, biết điêu khắc, biết vẽ tranh, biết làm thơ, trong đó có công xảo minh. Môn học Ngũ Minh này chính là những điều thuộc về thế gian giải, là hiểu biết tất cả kiến thức của thế gian. Như Lai là bậc thấu hiểu điều này, cho nên đây cũng là một trong những danh hiệu của Ngài.

Vô Thượng Sĩ, thế nào gọi là Vô Thượng Sĩ? Hiện nay có người gọi là Vô Thượng Sư, Vô Thượng Sư thực ra chính là Vô Thượng Sĩ! Cũng là một trong những danh hiệu của Phật. Có nghĩa là, trong thế giới này không có ai cao hơn ta nữa, Ngài là đệ nhất. Giống như Như Lai là đệ nhất, không có đệ nhị.

Vậy còn năm vị Phật thì sao? Trong năm vị Như Lai ai là đệ nhất? Đại Nhật Như Lai nói ta là đệ nhất, vậy A Di Đà Phật là đệ nhị rồi! Bất Không Thành Tựu Phật là đệ tam rồi! A Súc Phật là đệ tứ rồi! Bảo Sinh Phật là đệ ngũ rồi. Không phải như vậy đâu! Tất cả đều là đệ nhất! Chúng ta chỉ có thể nói Đại Nhật Như Lai là đệ nhất, A Di Đà Phật là đệ nhất thứ nhất, Bất Không Thành Tựu Phật là đệ nhất thứ hai, như vậy được, dù sao cũng đều là đệ nhất mà! Đó gọi là Vô Thượng Sĩ, không có ai cao hơn nữa, chỉ cần chứng đắc Như Lai thì là đệ nhất rồi, không có ai cao hơn nữa.

Điều Ngự Trượng Phu, thế nào gọi là Điều Ngự Trượng Phu? Đó là Ngài hoàn toàn làm công việc điều phục chúng sinh ở thế gian. Trượng phu là một vị đại nhân, không phải là tôi là chồng của bạn, bạn là vợ của tôi, không phải giải thích theo kiểu đó, không phải giải thích theo từng chữ. Thế nào là Trượng phu? Phật Thích Ca Mâu Ni là trượng phu của ai? Da Du Đà La ư? Đó là Điều Ngự Trượng Phu. Trượng phu chính là một vị đại nhân, là một bậc vĩ nhân. Còn điều ngự có nghĩa là: chỗ nào cần cao hơn một chút, chỗ nào cần thấp hơn một chút, cần phải cân bằng. Ngài làm công việc này ở thế gian; đối với tâm linh con người, chỗ nào lệch lạc, Ngài điều chỉnh lại, chỗ nào quá căng, Ngài làm cho nới lỏng, chỗ nào quá lỏng, Ngài làm cho chặt lại, Ngài là kỹ sư vĩ đại của tâm linh, đó là Điều Ngự Trượng Phu.

Nói về Phật, Phật cũng là một danh hiệu của Ngài, Phật chính là bậc giác ngộ, bậc giác ngộ chính là Phật.

Còn Thế Tôn, Thế Tôn là gì? Là bậc được thế gian tôn kính.

Mười danh hiệu của Phật, tôi đọc lại một lần nữa: Như Lai, Ứng Cúng, Chính Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Phật, Thế Tôn. Cũng có người đổi Phật thành Thiên Nhân Sư, Thiên Nhân Sư chính là đạo sư của trời và người, là đạo sư của tất cả chúng sinh và tất cả cõi trời, đó là cách nói như vậy. Đây là mười danh hiệu của Như Lai.

Mười lực của Như Lai chúng ta đã giảng rồi, mười danh hiệu của Như Lai chúng ta cũng đã giảng rồi, vậy giác ngộ là gì? Chúng ta cũng đã giảng rồi. Phật Học Tổng Thuyết này, thực ra hôm nay tôi giảng Phật Học Tổng Thuyết nên gọi là Phật Học Điểm Thuyết mới đúng, điểm thuyết chính là giảng giải các trọng điểm, không thể gọi là tổng thuyết, bởi vì tổng thuyết là rất rộng, giảng mãi cũng không hết, chỉ riêng việc Phật Đà thuyết pháp 49 năm, chúng ta ở đây giảng bảy ngày, tám ngày, chín ngày mà có thể giảng hết được sao? Đó là điều không thể.

Vậy nên hôm nay những gì chúng ta giảng là trích ra những trọng điểm Phật học, đem tất cả những điểm trọng yếu này chắt lọc ra để chia sẻ với mọi người, để mọi người có thể có được một nền tảng.

Một là gì? Tín giải hành chứng, bắt đầu theo thứ tự.

Hai chính là làm sao để nhập môn, vào hai cửa nào? Một là cửa Lý, một là cửa Sự, "Lý Sự nhị môn" bạn vào như thế nào, bạn chọn lựa ra sao.

Ba là gì? Tam vô lậu học- giới, định, huệ.

Bốn chính là tứ thánh đế. Là điều rất quan trọng trong giáo pháp của Như Lai, bốn thánh đế này - khổ, tập, diệt, đạo, tập là nhân, khổ là quả, đạo là nhân, diệt là quả. Tứ đế này, nếu bạn hiểu được thì rất tốt, bạn có thể từ đây mà bước vào cửa, đây chính là phương pháp tứ thánh đế mà Đức Phật đã ứng dụng sớm nhất khi dạy chúng ta lúc ban đầu.

Năm là gì? Chính là ngũ căn, ngũ lực, bạn dùng năm loại lực để tu hành thì có thể trừ bỏ được các khuyết điểm của ngũ căn, điều này rất quan trọng.

Sáu là gì? Chính là lục độ, lục độ là chính bản thân đại Bồ Tát dùng lục độ vạn hành để độ chúng sinh, Ngài phát bồ đề tâm, muốn độ chúng sinh. Bồ Tát phát tâm là vô cùng vĩ đại, dù bản thân chưa khai ngộ, nhưng Ngài có thể dạy và học cùng tiến; cho nên pháp sư hiện nay, chúng ta cũng phải tôn kính họ, không phải vì họ chưa khai ngộ mà không tôn kính. Thực ra họ cũng đang dạy, vừa dạy vừa học, đó chính là dạy và học cùng tiến. Đó là lục độ.

Bảy là gì? Chính là thất bồ đề phần.

Tám là gì? Chính là bát chính đạo.

Mười là gì? Chính là thập lực của Như Lai.

Hiện nay Phật giáo có mười tông phái, Hiện nay Phật giáo có mười tông phái.

Mười hai là gì? Chính là thập nhị nhân duyên. Mười hai nhân duyên lần này tôi không giảng, nhưng trước đây trong sách tôi đã bàn rất nhiều về thập nhị nhân duyên. Bát chính đạo này cũng không giải thích chi tiết. Nhưng thực ra, khi giảng về bát chính đạo trong "Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh", tôi đã giảng giải toàn bộ về chữ đạo. Vậy các bạn đã có một khái niệm như vậy, một trình tự học pháp.

Thực ra, nếu bạn thực sự có thể hiểu rõ Phật học từ một đến mười hai nhân duyên, bạn thông suốt được tất cả. Đây chính là Phật học điểm thuyết, đã chỉ ra những điểm cốt yếu rồi. Ngoài ra bạn cần hiểu các phương pháp tu hành của mười tông phái, như nhất tâm tam quán, không giả trung tam quán, như chỉ quán, đại chỉ quán, tiểu chỉ quán, maha chỉ quán, giáo lý của hòa thượng Đỗ Thuận, cảnh giới trong Hoa Nghiêm, Duy Thức, Tam Luận, Trung Luận, Bách Luận, Thập Nhị Môn Luận! Nếu bạn muốn hiểu rõ tất cả cũng được, các vị làm Thượng sư thì bắt buộc phải hiểu rõ tất cả những điều của mười tông phái này.

Trong tương lai khi người thuộc các tông phái khác đến hỏi, bạn có thể trình bày những gì mình biết và đã nghiên cứu, bạn sẽ không rơi vào tình trạng "hoàn toàn mù tịt", bạn sẽ hiểu rõ tất cả những điều của bất kì tông phái nào, chúng ta đều có kiến thức cơ bản, bạn đều có thể giảng, có thể nói, và còn có thể đi sâu vào. Nếu bạn ứng dụng được Chân Phật Mật Pháp, bạn sẽ hiểu rõ tất cả Phật pháp, như vậy "Phật học điểm thuyết" cũng sẽ trở thành "Phật học tổng thuyết", là như nhau vậy.

Được rồi! Chúng ta giảng "Phật Học Tổng Thuyết" đến đây là kết thúc. Vậy ngày mai thì sao? Sẽ là phần cho mọi người đặt câu hỏi, các bạn viết câu hỏi vào giấy rồi nộp lên, tôi sẽ giải đáp tại đây, đừng hỏi những vấn đề cá nhân, mà hãy hỏi về Phật pháp, đây mới là điều quan trọng.

Ngày mai sẽ giải đáp cho mọi người, những ai lần này đến nghe pháp, có điều gì thắc mắc, các bạn có thể viết ra để hỏi.

Còn ngày kia thì sao? Chính là quán đảnh. Các bạn muốn quán đảnh pháp nào, các bạn có thể thảo luận với nhau, sẽ chia ra từng phần một, giống như là quán đảnh pháp này, quán đảnh pháp kia, sẽ làm tất cả các quán đảnh, cả buổi chiều sẽ dành để quán đảnh cho các bạn, còn ngày mai thì cả buổi chiều sẽ dành để giải đáp câu hỏi cho các bạn.

Lần này "Phật Học Tổng Thuyết" của chúng ta cuối cùng đã viên mãn kết thúc, cảm ơn mọi người đã đến.

Om mani padme hum.


### 31. Giải đáp thắc mắc (108 câu)


Các vị Thượng sư, các vị đồng tu, chào mọi người! 

Hôm nay là ngày thứ tám thuyết giảng "Phật Học Tổng Thuyết" tại Cầu Vồng Sơn Trang, hôm nay là phần giải đáp thắc mắc, nghĩa là những ai có thắc mắc gì, các bạn viết vào giấy rồi đặt ở đây, Sư Tôn sẽ giải đáp những vấn đề này cho mọi người.

Vừa rồi tôi đã xem qua sơ bộ, mỗi người đều viết rất nhiều câu hỏi, tôi sợ không thể giảng hết được, đôi khi, sẽ giải đáp cho mỗi người một hai câu hỏi như vậy, nếu viết nhiều thì hy vọng có thể trả lời hết. Cảm ơn mọi người.

【Hỏi】

Khi Sư Tôn giảng dạy hôm đó có nói đến "Các pháp do nhân duyên sinh, các pháp do nhân duyên diệt", nhưng đệ tử ngu muội vẫn chưa hiểu rõ. Xin hỏi Sư Tôn nhân duyên từ đâu mà sinh ra? Khoảng thời gian luân hồi được phân biệt như thế nào? Tại sao có những linh hồn lưu lại ở nhân gian hơn 20 năm? Chẳng lẽ họ không cần đi luân hồi sao?

Con người là gì? Tại sao con người lại thực hiện một hành động nào đó? Tại sao con người lại có ý niệm? Và ý niệm đó lại từ cái gì mà sinh ra?

【Đáp】

Người này không viết tên, chỉ ghi là đệ tử. Điều này rất tốt, bởi vì nếu để tôi biết đó là ai, tôi sẽ đánh anh ta ba gậy. Bởi vì câu hỏi này là câu hỏi để thử thách người khác, là một bài kiểm tra, là test, là một dạng kiểm tra rất nghiêm khắc.

Khi Như Lai đề cập đến "các pháp do nhân duyên sinh" và "các pháp do nhân duyên diệt", tất cả đều nói về nhân duyên. Ngài không chỉ ra đó là loại nhân duyên nào. Nhưng Ngài có dạy rằng, trong thập nhị nhân duyên, nhân duyên đầu tiên chính là vô minh, vì có vô minh mới có sinh; nếu không có vô minh thì sẽ là vô sinh. Trong quan điểm Phật học, nhân duyên đầu tiên trong thập nhị nhân duyên, nhân duyên sớm nhất chính là vô minh, vậy nên tôi chỉ có thể nói như vậy.

Tại sao bạn sẽ sinh ra? Đó là vì có mây đen nên mới có mưa, không có mây đen thì tuyệt đối không thể có mưa. Vậy mây đen từ đâu mà có? Là từ hơi nước mà có. Vậy hơi nước từ đâu mà có? Là từ nước mà có. Vậy nước từ đâu mà có? Là từ mưa mà có. Đây chính là nhân duyên đang luân hồi. Vậy bạn lại hỏi, nhân duyên sinh ra từ đâu? Điều đầu tiên Đức Phật dạy chính là vô minh, cho nên chúng ta cần phải giải thoát khỏi vô minh này thì mới có thể chấm dứt cái sinh này, đây là câu trả lời thứ nhất.

Thời gian luân hồi được phân biệt như thế nào? Tại sao có những linh hồn lưu lại ở nhân gian hơn 20 năm? Tại sao họ không cần đi luân hồi? Không chỉ có linh hồn trung ấm lưu lại nhân gian hai mươi mấy năm, con người tồn tại trên thế giới này đã rất nhiều năm, còn lâu hơn họ nữa. Điều này chẳng có gì lạ cả. Chúng ta tồn tại trên thế giới này, có người không chỉ hai mươi mấy năm! Đúng không? Hiện nay tuổi thọ trung bình của con người là 70, 80 tuổi, bạn còn lưu lại lâu hơn cả linh hồn đó, tại sao họ không thể mà bạn lại có thể?

Con người là gì? Câu hỏi này rất nghiêm trọng. Tôi có thể giảng Phật là gì, nhưng lại không thể giảng con người là gì. Câu hỏi của bạn: "Tại sao con người lại thực hiện một hành động nào đó, tại sao con người lại có ý niệm? Và những ý niệm đó lại từ cái gì mà sinh ra?" Đây chính là những điều tôi đã giảng trong bảy, tám ngày qua. Đây chính là Lý, nếu muốn đi vào từ cửa Lý thì phải nghiên cứu những điều này.

May mà hiện nay chúng ta tu theo Chân Phật Tông là từ Sự pháp mà vào, tức là từ thực tu mà vào. Cái Lý này chúng ta tạm thời gác sang một bên nhé! Nếu tôi giảng hết cái Lý này cho bạn, chỉ riêng câu hỏi của bạn thôi, tôi có thể giảng cả ngày.

【Hỏi】

Khi tu pháp có nên chuyển đổi khuôn mặt tượng Liên Hoa Đồng Tử được thờ trên đàn thành bằng khuôn mặt của Sư Tôn không? Hay là trực tiếp quán tưởng theo khuôn mặt của tượng thì tốt hơn? Đây là câu hỏi thứ nhất.

【Đáp】

Vậy tôi xin trả lời câu hỏi này trước. Là theo tượng đó, bởi vì khuôn mặt của Sư Tôn sẽ thay đổi. Tôi đã nói rồi! Tôi cho các bạn xem khuôn mặt mới sinh của tôi, khuôn mặt búng ra sữa, chụp ảnh lúc đó, lúc khỏa thân chụp ảnh, không còn cách nào khác, là nằm sấp chụp, khuôn mặt hướng như thế này, gương mặt trẻ thơ. Còn khuôn mặt bây giờ là khuôn mặt trung niên, sắp bước vào tuổi già rồi. Vậy đến lúc khuôn mặt già của tôi lại khác nữa! Hoàn toàn khác! Vậy thì các bạn chẳng phải phải như thế này sao? Cho nên cứ theo khuôn mặt của tượng để quán tưởng là được rồi.

【Hỏi】

Sư Tôn đã từng nói rằng, mỗi đàn thành đều có chư Phật Bồ Tát thường trú, vậy khi tu pháp thỉnh mời chư Phật Bồ Tát, có cần phải áp dụng phương pháp móc kim cang để đảm bảo chư Phật Bồ Tát giáng xuống phóng quang không? Và như trong một đàn thành cùng tu có nhiều vị chủ tôn, có thể quán tưởng đồng thời nhiều móc kim cang bay lên, cùng lúc thỉnh mời xuống được không?

【Đáp】

Ồ! Các bạn biết biến hóa rồi đấy! Điều này là đúng. Chúng ta phải quán tưởng Bổn tôn trí huệ như vậy, khi chúng ta ở đàn thành thường ngày, Bổn tôn trí huệ ở trong hư không, cần phải quán tưởng trong hư không. Vì vậy móc kim cang đều hướng về hư không. Chúng ta biết rằng cái gọi là Pháp thân Phật chính là trụ trong hư không. Từ trong hư không hiện ra chính là Báo thân Phật, đến trong đàn thành này chính là Ứng thân Phật. Phải có quan niệm này. Pháp thân Phật vĩnh viễn trụ trong hư không, từ trong hư không hiện ra chính là Báo thân Phật, thường trú trong đàn thành của bạn chính là Ứng thân Phật. Khi bạn có quan niệm này rồi thì việc thỉnh mời sẽ rất tốt.

【Hỏi】

Làm thế nào để vận dụng kim cang? Khi tu pháp thỉnh mời chư Phật Bồ Tát giáng lâm, kim thân của chư Phật Bồ Tát trên đàn thành, chủng tử tự xoay chuyển hiện ra chủ tôn, có cần phải quán tưởng cả ba hợp nhất, rồi quán tưởng tam quang từ sự hợp nhất này phóng ra từ chủ tôn không? Hay chỉ cần quán tưởng chủng tử tự sinh ra là được, tức là quán tưởng tam quang từ Bổn tôn do chủng tử tự sinh ra chiếu đến hành giả?

【Đáp】

Điều này rất phức tạp, bạn viết cũng phức tạp, tôi nghĩ cũng phức tạp. Ý của bạn có lẽ là nói: "Có cần phải quán tưởng chủ tôn trong hư không và chủ tôn trên đàn thành của bạn hợp nhất, rồi tam quang chiếu đến bạn không?" Bạn có thể quán tưởng chủ tôn trong hư không, chủ tôn trong hư không từ chủ tôn ở dưới này bay lên, chủ tôn trên đàn thành bay lên hư không hợp nhất với chủ tôn trong hư không, sau đó phóng quang chiếu đến bạn, làm như vậy là được.

【Hỏi】

Sau khi đệ tử thông thường đã được quán đảnh pháp Hộ Ma và trở về, có thể giúp người khác làm Hộ Ma không? Sau khi trở về có thể làm pháp hội Hộ Ma không?

【Đáp】

Ồ! Đây là chủ trì pháp hội!.. Đây là tranh khách hàng!

Là như thế này, trong Mật giáo có một quy định, pháp Hộ Ma thuộc ba bộ sau, trong Mật giáo là rất quan trọng, mỗi đệ tử, đệ tử Mật giáo thông thường phải làm 200 đàn, có nghĩa là sau khi làm xong 200 đàn, có được sự thuần thục trong việc làm Hộ Ma, lửa - Bổn tôn - hành giả tam thể hợp nhất, khi tu Hộ Ma trong tình trạng hoàn toàn không sai sót thì mới có thể giúp người khác.

Nhưng nếu bạn muốn làm pháp hội Hộ Ma, tốt nhất là để Thượng sư làm, tốt nhất là do các vị Thượng sư làm. Đường chủ cũng có thể làm, nhưng phải đợi đến khi tu học pháp Hộ Ma đến mức không còn sai sót mới được làm. Trước tiên là tự giúp mình, giúp gia đình tiêu nghiệp chướng, tạm thời chưa nên làm pháp hội Hộ Ma; giúp người khác thì phải đợi đến khi bạn tu trì pháp Hộ Ma hoàn toàn không còn sai sót mới được.

【Hỏi】

Sau khi đường chủ phân đường được quán đảnh pháp Hộ Ma rồi, về có thể làm pháp hội Hộ Ma không? Có thể công khai cho mọi người đăng ký tham gia không?

【Đáp】

Câu hỏi này tôi vừa trả lời rồi.

【Hỏi】

Nếu đệ tử chưa được quán đảnh pháp Hộ Ma từ Căn bản Truyền thừa Thượng sư, có thể tự mình làm Hộ Ma được không?

【Đáp】

Điều này là không được. Bởi vì trong Mật giáo nói đến chính là truyền thừa, trong bảy, tám ngày qua tôi thuyết pháp đã đề cập đến rồi, bạn được quán đảnh pháp nào thì mới được tu pháp đó, chưa được quán đảnh Hộ Ma thì không được làm pháp Hộ Ma.

【Hỏi】

Quán đảnh pháp Hộ Ma, có thể xin quán đảnh từ xa không?

【Đáp】

Tốt nhất là quán đảnh trực tiếp, quán đảnh thực tế là tốt nhất, đích thân đến nhận quán đảnh từ Căn bản Thượng sư mới tốt.

【Hỏi】

Phật là bậc giác ngộ, là người vô niệm. Chúng sinh đều có Phật tính, cho nên cần mọi người không phân biệt, tất cả đều bình đẳng. Tu pháp là quán tưởng Tử quang và Mẫu quang hợp nhất, Tiểu ngã và Đại ngã hợp nhất; nói chung, tu Phật pháp là quay về bản tính, trở về bộ mặt vốn có ban đầu.

Nhưng vấn đề chính là ở chỗ này, nếu tất cả đều xuất phát từ cùng một nguồn gốc, vậy thì sự khởi đầu ban sơ chẳng lẽ là do Phật tạo ra nhân quả sao? Tại sao vậy? Chẳng phải là vô niệm sao? Cuối cùng đều là tự mình cứu mình. Ví dụ như Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử của Sư Tôn, từ trong tâm xoay chuyển biến hóa ra những Liên Hoa Đồng Tử khác - chính là chúng ta hiện nay, kết quả việc làm vẫn là để giải thoát chính mình, như vậy tại sao phải làm thêm điều thừa thãi này?

【Đáp】

Ồ! Rất hay, đây là một bài kiểm tra, đây chính là trò chơi thần thông của Như Lai, bởi vì quá nhàm chán, Như Lai một mình ở đó rất buồn chán, muốn chơi đùa một chút, thế nên tìm một số quân cờ để đánh cờ, Ngài biến ra rất nhiều quân cờ là con người để đánh, cuối cùng thu hết tất cả về. Tôi chỉ có thể nói như vậy thôi! Đây là câu trả lời đơn giản nhất! Bạn bảo tôi nói sâu hơn, tôi không nói được. 

【Hỏi】

Xin hỏi đã có bao nhiêu đóa sen từ Ma Ha Song Liên Trì xuống trần gian rồi? Nếu Liên Hoa Đồng Tử tạo nghiệp thì làm sao để giải nghiệp? Trong tương lai khi Sư Tôn nhập Niết bàn, ai sẽ là người công nhận các Thượng sư của Chân Phật Tông? Trong tương lai, đệ tử Chân Phật sẽ lấy gì làm giới luật? Lấy ai làm căn cứ? Trong tương lai khi Sư Tôn tái sinh xuống trần gian, có giống như Dalai Lama không, đời này sang đời khác tiếp tục truyền thừa, để cho đệ tử có chỗ nương tựa về tinh thần?

【Đáp】

Đây đều là những câu hỏi rất hay, trước đây khi Đức Phật nhập Niết bàn, A Nan đứng bên cạnh cũng hỏi Ngài những câu hỏi như vậy, tuy nhiên tôi vẫn chưa nhập Niết bàn. Liên Hoa Đồng Tử tạo nghiệp thì làm sao để giải nghiệp? Tự mình giải nghiệp.

Nếu Sư Tôn nhập Niết bàn, ai sẽ công nhận các Thượng sư Chân Phật Tông? Điều này do chúng sinh công nhận, do con mắt của mọi người công nhận.

Trong tương lai, đệ tử Chân Phật sẽ lấy gì làm giới luật? Dựa vào những sách của Sư Tôn cùng với giới luật xuất gia của chúng ta, thêm vào đó là "Mười bốn đại giới căn bản của Mật giáo" và "Sự sư pháp ngũ thập tụng", tất cả những điều này đều là giới luật. Lấy ai làm căn cứ? Cũng là lấy những giới luật này làm căn cứ.

Trong tương lai khi Sư Tôn tái sinh xuống trần gian, có giống như Dalai Lama không? Vấn đề này vẫn chưa quyết định.

【Hỏi】

Trong Chân Phật Báo số 32 có đăng tuyên bố của Sư Tôn rằng Chân Phật Tông không thiết lập tổng đường và tông chủ, vậy trong tương lai đệ tử Chân Phật sẽ lấy ai làm tư tưởng trung tâm?

【Đáp】

Như tôi vừa nói, chính là dựa vào dòng pháp vốn có này, dòng pháp chính là tư tưởng trung tâm, Chân Phật Mật Pháp này chính là tư tưởng trung tâm, nếu đi chệch thì không còn đúng nữa. Giống như một cái cây vậy, nó có thể phân nhánh, có thể sinh lá, một cây lớn, bạn nhìn một cây lớn, một thân cây, nó có thể đâm chồi nảy lộc, càng phân càng nhiều, càng lớn, Chân Phật Tông càng lớn, phân nhánh phân lá đều được, nhưng tất cả không được rời xa thân cây chính, một khi rời xa thân cây chính thì đứt đoạn, đứt đoạn truyền thừa rồi, chính là như vậy đó. Vậy lấy ai làm tư tưởng trung tâm? Chính là lấy thân cây chính đó - Chân Phật Mật Pháp làm tư tưởng trung tâm.

【Hỏi】

Điều kiện và nhân duyên Sư Tôn chọn Thượng sư phát sinh trong hoàn cảnh nào? Sư Tôn có phân cấp bậc Thượng sư của Chân Phật Tông không? Lama Tây Tạng có phân cấp, chúng ta có tuyên bố như vậy không? Như vậy đệ tử mới dễ chọn lựa và học tập, không bị sai lệch?

【Đáp】

Vấn đề này là như thế này, điều kiện chọn Thượng sư, tôi dựa theo sự giáo hóa của chính Như Lai: Thứ nhất, vị ấy phải có đạo tâm kiên cố, bản thân phải có đạo tâm kiên cố. Thứ hai, hộ trì Chân Phật Tông và hộ trì Căn bản Thượng sư. Thứ ba, phát bồ đề tâm. Thứ tư, có tâm từ bi. Thứ năm, có khả năng buông xả. Năm điều kiện này chính là điều kiện của một vị Thượng sư, ngoài ra không còn gì khác.

Được! Nếu mỗi vị Thượng sư đều phải phù hợp với năm điều kiện này, tôi thành thật nói với mọi người là "không có"! (Sư Tôn cười) Để có đủ cả năm điều kiện này đã là rất khó rồi, vậy thì các Thượng sư ngày nay phải làm sao? Họ cũng phải nỗ lực hoàn thành năm điều này.

Vậy có phân cấp không? Dĩ nhiên là có phân cấp, Thượng sư có A Xà Lê, Đại A Xà Lê, Kim Cương A Xà Lê, Đại Trì Minh A Xà Lê, chính là bốn cấp này. Trước đây trong sách cũng đã viết, đệ tử phải chọn vị Thượng sư tốt để học tập, tùy theo trí tuệ của đệ tử mà phân biệt và quan sát.

【Hỏi】

Pháp thí thực đại bàng Kim Sí Điểu có cần quán đảnh không? Tại sao có đồng môn sau khi thực hiện pháp thí thực này, trong nhà không được yên ổn, người nhà đều có vấn đề về sức khỏe, vận nhà sa sút thê thảm? Có phải do công lực không đủ, phương pháp không đúng, quán tưởng không rõ ràng?

【Đáp】

Là như thế này, thứ nhất, tôi nói cho bạn biết, muốn làm loại thí thực này, chỉ cần bạn là đệ tử thì đều có thể làm được, bạn phải theo nghi quỹ rõ ràng, minh bạch, không sai sót mà làm thì sẽ không có sai sót.

Giả như sau khi bạn làm xong, ngược lại vận nhà của bạn sa sút thê thảm, không tốt, là vì lúc đó bạn đang gặp thời vận xui xẻo, không phải do làm việc này. Không liên quan gì đến việc này cả.

【Hỏi】

"Quán đảnh là đưa hạt giống vào ruộng thức thứ tám", khi quán đảnh đệ tử nên quán tưởng như thế nào? Làm sao để đưa hạt giống vào ruộng thức thứ tám?

【Đáp】

Thức thứ tám là một tầng thức rất sâu, đó thực sự là thức chứa hạt giống. Nhưng mà, bạn chỉ cần quán tưởng Bổn tôn của mình ở trên đỉnh đầu, quán tưởng phải rõ ràng minh bạch, đặt vị Bổn tôn mà bạn muốn quán đảnh trên đỉnh đầu là được. Còn những quán tưởng khác, chỉ cần quán tưởng dòng pháp chảy vào tràn đầy khắp thân thể là được.

【Hỏi】

Cảnh giới được mô tả trong Chân Phật Kinh có phải là cõi Phàm Thánh Đồng Cư không? Sư Tôn khai thị là cõi Thường Tịch Quang, vì lý do gì vậy?

【Đáp】

Không phải mâu thuẫn đâu, nói cho mọi người biết là không mâu thuẫn. Bởi vì cõi Thường Tịch Quang, nếu như muốn viết ra Chân Phật Kinh, bạn mở ra, không có một chữ nào cả! Nếu muốn viết ra cõi Thường Tịch Quang thì không có một chữ nào cả, như vậy không biết mọi người có hiểu không? Chân Phật Kinh chân chính thì bạn mở ra không có một chữ nào cả.

【Hỏi】

Khai ngộ có phân biệt giữa khai ngộ về Lý pháp và khai ngộ về Sự pháp không, hay là chỉ cần khai ngộ thì Lý - Sự đều viên thành? Có thành tựu về ngoại pháp và chứng lượng về nội tu không? Kính xin Sư Tôn từ bi khai thị?

【Đáp】

Điều này đã giảng qua rồi, có sự phân biệt giữa khai ngộ về Lý pháp và khai ngộ về Sự pháp. Sau khi hành giả thành tựu về Sự pháp, họ sẽ có chứng lượng nội tu, cũng có thành tựu về ngoại pháp.

【Hỏi】

Đệ tử chợt nhận ra rằng chúng ta hiện đang ở trong Ma Ha Song Liên Trì, thế giới này vốn đã có Ma Ha Song Liên Trì, tất cả đều là vấn đề tâm cảnh, vì vậy mới có tức thân thành Phật. Tất cả các tướng như trời, người, giới địa ngục, cõi Phật, đều do một tâm biến hóa, nghĩa là cõi Phật không đến không đi, địa ngục thiên đường cũng như vậy, không trên không dưới, tất cả các tướng đều là sự hiển hiện và biến hóa của tâm. Tu pháp chính là chuyển hóa vọng tâm của con người thành tịnh độ tâm, từ đó có thể thể hội được rằng ngay trong nhân gian đã có tịnh độ Ma Ha Song Liên Trì, nếu như trong nhân gian không có tịnh độ Ma Ha Song Liên Trì, thì làm sao có cảnh địa ngục nhân gian ở bệnh viện Địa Tạng Vương mà Sư Tôn đã nói? Vì vậy đệ tử càng thêm thể hội được sự thù thắng của Chân Phật Mật Pháp, càng thêm trân quý việc tu trì Chân Phật Mật Pháp, nó sẽ chuyển hóa vọng tâm của chúng ta thành tịnh độ tâm của Ma Ha Song Liên Trì. Kính xin Sư Tôn khai thị thêm về tướng địa ngục nhân gian và tướng tịnh độ nhân gian, xin cảm ơn!

【Đáp】

Cái này, những gì bạn nói chính là sự khai thị rồi. Tôi không cần phải trả lời nữa. Bạn nói rất hay, quan niệm này của bạn rất chính xác, cái tâm này có thể diễn hóa được.

【Hỏi】

Kính xin Sư Tôn khai thị về "Số 0 quy về hư vô".

【Đáp】

"Số 0 quy về hư vô" ư? Tôi giảng "1 quy về 0" cơ mà. Sao lại "0 quy về hư vô"? Không chính là "hư vô" rồi.

Cái "0" này là về mặt số học, "0" là một ký hiệu đại diện trong số học. Nếu chúng ta đặt dấu bằng giữa "0" và "hư vô", thì "0" đại diện cho một đơn vị. Còn hư vô thì sao? Thậm chí không có đơn vị, chỉ có thể nói như vậy thôi - khi bạn đưa cái có đơn vị quy về cái không có đơn vị, đó chính là "số 0 quy về hư vô".

【Hỏi】

Tự tính có phải là không bị luân hồi hủy diệt không? Nó có điểm chung gì với thức thứ tám A-lại-da thức không?

【Đáp】

Câu trả lời của bạn là đúng.

【Hỏi】

Đệ tử phát hiện có một số Thượng sư trong tông phái chúng ta truyền pháp không phải là Chân Phật Mật Pháp của Sư Tôn, việc truyền pháp như vậy có phải là không như pháp không? Đệ tử nên làm thế nào? Ngoài Căn bản Truyền thừa Thượng sư ra, các Thượng sư khác trong bản tông có thể truyền quán đảnh từ xa Chân Phật Mật Pháp cho đồng môn không?

【Đáp】

Câu hỏi thứ nhất, bởi vì bản thân Chân Phật Mật Pháp, như tôi vừa nói, có thể có các nhánh phụ, nếu pháp do Thượng sư bản tông truyền là Phật pháp, là pháp do chính Như Lai giáo hóa, tuy Sư Tôn chưa từng nói đến nhưng có trong kinh Phật, thì có thể truyền được và cũng là như pháp. Tuy nhiên, nhất định phải lấy Chân Phật Mật Pháp làm chủ.

Thứ hai, ngoài Căn bản Truyền thừa Thượng sư ra, các Thượng sư khác trong bản tông có thể truyền quán đảnh từ xa Chân Phật Mật Pháp cho đồng môn không? Quán đảnh từ xa này là một phương tiện, nếu Thượng sư bản tông tự thấy mình đã có thể thực hiện quán đảnh từ xa, thì quán đảnh từ xa cần có hai điều kiện: Thứ nhất, bản thân phải có thần túc thông, có thể xuất nguyên thần đến bên đệ tử để quán đảnh. Thứ hai, có thể triệu thỉnh tất cả Không hành, mang theo nước quán đảnh đến bên đệ tử để quán đảnh; pháp này bạn đã thông thạo và phải thực sự có năng lực thì khi đó bạn mới có thể thực hiện quán đảnh từ xa. Ý nghĩa của quán đảnh từ xa chính là hai điều này.

【Hỏi】

Do tính tò mò, đệ tử muốn thỉnh giáo Sư Tôn, hôm qua trong lúc thuyết pháp, vì lý do gì mà Sư Tôn đã nhìn về phía cửa bên trái hai lần? Bởi vì đệ tử nhận thấy Sư Tôn thường không bị ảnh hưởng bởi môi trường xung quanh khi thuyết pháp, luôn như như bất động.

【Đáp】

Vị đệ tử này rất giỏi, rất tinh ý, đó chính là lý do tại sao tôi không thể ho được. Tôi đang cố nín ho đấy! Muốn ho ra ngoài, mọi người đều bị cảm, thực ra tôi không có, tôi không bị cảm, nhưng đôi khi có một số chi tiết nhỏ mà tôi cần phải để ý đến. Ví dụ như cái nút áo, có một cái nút tôi chưa cài! Đệ tử đều rất tinh ý: "Thầy không biết đã làm gì ở đâu mà quên cài nút áo?" Tôi nhìn qua bên nào hai lần họ cũng biết.

Đúng vậy, quả thật là như vậy, bởi vì khi chúng ta đang thuyết pháp, bên ngoài không có ai đi lại, nhưng lúc đó đột nhiên có người đi lại bên ngoài, có một nhóm người đi đến những cánh cửa này, rồi lại đi, lại rời khỏi, có lẽ bên ngoài có người làm bảo vệ không? Nhân viên an ninh không? Không có! Cửa chính bên ngoài có mở không? Hay là đóng? (Nhân viên bảo vệ trả lời: "Đóng một nửa.") Đóng một nửa, vậy là có người ngoài vào. Lúc đó có người ngoài vào, tôi đặc biệt chú ý một chút xem có phải là nhân viên cứu hỏa hay nhân viên gì không? Chỉ là có người ngoài vào nên tôi mới nhìn hai lần, không có ý nghĩa đặc biệt gì.

【Hỏi】

Chân Phật Báo cũng giống như kinh sách của chúng ta, xin hỏi Sư Phụ nên xử lý Chân Phật Báo như thế nào? Khi chúng con đọc xong rồi, đem đi tái chế hoặc đốt đi, bỏ vào thùng rác được không? Có nghi thức gì không?

【Đáp】

Ôi! Bạn rất quan tâm đến việc này, nhưng thực ra sau khi bạn đọc xong thì có thể đưa cho người khác đọc, đọc cho đến khi nó rách nát đi; báo này đã đọc đến rách nát rồi thì bạn cũng không cần xử lý, dù sao cũng đã rách nát rồi. Nên chuyển cho người khác, bởi vì trong đó có rất nhiều bài viết rất có ý nghĩa, vậy nên sau khi mọi người đọc xong, có thể lần lượt cho người khác đọc.

【Hỏi】

Sư Tôn từng dạy chúng con dùng âm chú rung động để mở luân xa họng và tim, xin hỏi Sư Tôn, luân xa họng và tim có hiện tượng hay cảm giác gì? Vài tháng trước con tụng chú Liên Hoa Đồng Tử, chú âm khiến ngực con rất đau, sau đó con rất thành tâm cầu xin chư Phật Bồ Tát gia trì, tiêu trừ nghiệp chướng của con, bây giờ cổ họng và tim không còn đau nữa, mỗi lần dùng phương pháp chú âm rung động để tụng chú Liên Hoa Đồng Tử đều rất thông suốt, có phải đây gọi là thông không?

【Đáp】

Phải nói là đúng vậy, đây chính là những hiện tượng tốt trong quá trình tu pháp của chúng ta. Nếu bạn tu bình khí, tu nội hỏa, đều sẽ có hiện tượng lửa bốc lên mạnh mẽ như vậy, có người sẽ bị đau đầu, thậm chí đau mắt, đau chân răng, những hiện tượng này sẽ xuất hiện. Khi bạn gặp những hiện tượng này, cần dừng lại một chút, quán tưởng một cái hồ, một cái hồ lạnh giá ở đỉnh đầu, nước hồ như dòng pháp lưu đang quán đảnh thân thể bạn, dập tắt ngọn lửa này. Sau đó đợi đến khi những cơn đau của bạn đã hết, tình trạng viêm nhiễm đã khỏi, bạn hãy tiếp tục tu trì.

【Hỏi】

"Tự trí chúng sinh giai Hum ཧཱུྃ tự" - có thể quán tưởng chư Phật, bản thân mình, chúng sinh trong lục đạo, và vạn vật có linh đều thành chữ ཧཱུྃ được không? Có phải là không chấp trước vào hình tướng và hành vi của tất cả chúng sinh, mà xem tất cả đều bình đẳng?

【Đáp】

Đây là một vấn đề. "Chúng sinh giai ཧཱུྃ tự" là dựa theo " Om Ah Hum ཨོཾ་ ཨཱཿ ཧཱུྃ " mà có. Om ཨོཾ་ chính là ý thức vũ trụ, Ah ཨཱཿ chính là Phật, Hum ཧཱུྃ chính là chúng sinh, ý nghĩa nằm ở trong đó. Vì vậy tất cả vạn vật có linh đều có thể quán tưởng thành chữ Hum ཧཱུྃ , đều được cả. 

"Có phải là không chấp trước vào hình tướng và hành vi của tất cả chúng sinh, mà xem tất cả đều bình đẳng?" Đúng vậy, chư Phật Bồ Tát đều như thế.

【Hỏi】

"Các pháp do nhân duyên sinh, các pháp do nhân duyên diệt", "pháp" ở đây là chỉ Phật pháp, phi Phật pháp, hay tất cả mọi sự việc?

【Đáp】

Cái gọi là "chư pháp", chữ "pháp" này không phải chỉ pháp trong Phật pháp, mà là chỉ hoàn cảnh, tất cả môi trường sự vật, gọi là các pháp. Trong kinh Phật thường nhắc đến chữ "pháp", nhưng không chỉ đơn thuần chỉ Phật pháp, hoặc như pháp Tứ quy y, pháp tương ứng Thượng sư mà chúng ta tu tập đâu. Các pháp chính là tất cả hình tướng trong sắc giới đều gọi là các pháp.

【Hỏi】

Kính thỉnh Sư Tôn từ bi, vì lợi ích chúng sinh, xin thị phạm lại thủ ấn và khẩu quyết lắc chuông chày kim cang. Lần quay phim này có thể làm hiệu ứng quay chậm, để dạy cho các đệ tử hoằng pháp độ chúng. Và khẩu quyết của thủ ấn đại hải siêu độ.

【Đáp】

Tôi sẽ làm một thủ ấn chuông chày kim cang. Đây là kết giới. (Sư Tôn thị phạm chuông chày) Đây là tiêu tai. Đây là kính ái. Đây là tăng ích. Đây là hàng phục. Bạn làm cho Yết Ma này thật viên mãn, thật đẹp, rồi quán tưởng những ánh sáng này, biến hóa trong thủ ấn của bạn, tinh thần, ánh sáng và chuông chày hợp làm một, đó chính là khẩu quyết.

【Hỏi】

Pháp giới là gì?

【Đáp】

Pháp giới, nói chung là tứ thánh, lục phàm, thập pháp giới; tức là Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác gọi là tứ thánh, còn lục phàm là: trời, người, atula, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Đây là tứ thánh, lục phàm, thập pháp giới.

Pháp giới còn được chia thành nhiều loại, nhiều tầng bậc, nói chung là chỉ tất cả các tầng bậc trong vũ trụ, tất cả đều gọi là pháp giới!

【Hỏi】

Đã nói "Phật biết tất cả sự vật", vậy tại sao Phật không biết nói tiếng Anh?

【Đáp】

Là Liên Hoa Ninh Thánh hỏi đấy, bây giờ tôi hỏi bạn, làm sao bạn biết Phật không biết nói tiếng Anh? Chỉ là Ngài chưa nói thôi, để tôi nói một đoạn tiếng Anh cho bạn nghe nhé! 

I can speak English. This morning I washed my car. Some people asked me, how come you change the car? Before, you drive the Rolls- Royce, now you drive the Mercedes, why? I say because the Rolls-Royce car is no good. In Washington state, just one person takes care Rolls-Royce, service no good. So, many many troubles. Sometimes, not sometimes, always, always oil leak. Yeah, always oil leak is true, no kidding. Now, I like my car, because I like the white color. Yeah, white color. White color same as my Iotus color. Yeah, I can speak English. But I speak English so slow, so slow. My first language is Chinese, English is my second language. 

[Tôi có thể nói tiếng Anh. Sáng nay tôi rửa xe. Có người hỏi tôi tại sao lại đổi xe? Trước đây anh lái Rolls-Royce, bây giờ lại lái Mercedes, tại sao vậy? Tôi nói bởi vì xe Rolls-Royce không tốt. Ở bang Washington, chỉ có một người phụ trách bảo dưỡng Rolls-Royce, dịch vụ không tốt. Thế nên có rất nhiều rắc rối. Thỉnh thoảng, không, không phải thỉnh thoảng, mà là luôn luôn, luôn luôn bị rò rỉ dầu. Đúng vậy, bị rò rỉ dầu là thật, không đùa đâu. Bây giờ, tôi thích chiếc xe của mình, bởi vì tôi thích màu trắng. Đúng vậy, màu trắng. Màu trắng giống như màu hoa sen của tôi. Vâng, tôi có thể nói tiếng Anh. Nhưng tôi nói tiếng Anh rất chậm, rất chậm. Ngôn ngữ thứ nhất của tôi là tiếng Trung, tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai của tôi.]

Giả sử Phật Đà sống ở thế giới Tây phương thì tiếng Anh của Ngài sẽ không chê vào đâu được! Tiếng Anh này cũng là bị ép mà nói được đấy.

My wife and my son, my daughter say Master Lu speaks English is very down. Because I just everyday stay in my home and watch the TV one hour. I study English just by watching TV one hour and sometimes go to the downtown and drink a little wine, and waiter and waitress talk and study, just…

[Vợ tôi và con trai, con gái tôi nói tiếng Anh của Sư Phụ Lư rất kém. Bởi vì tôi chỉ ở nhà mỗi ngày và xem TV một tiếng. Tôi học tiếng Anh chỉ bằng cách xem TV một tiếng và thỉnh thoảng đi trung tâm thành phố uống chút rượu, nói chuyện và học từ các anh chị phục vụ bàn, chỉ thế thôi...]

Vâng, là như thế đấy!

【Hỏi】

Thành tựu toàn thân xá lợi ở đâu? Toàn thân xá lợi và hóa thân cầu vồng có gì khác nhau về mặt thành tựu?

【Đáp】

Xá lợi tử là kết tinh các yếu tố sinh mệnh trong cơ thể, kết tinh đến khi toàn thân đều kết tinh thì gọi là xá lợi; khi các chất tiết trong cơ thể kết tinh khắp toàn thân thì gọi là thành tựu toàn thân xá lợi toàn thân. Toàn thân xá lợi là bản thân đã kết tinh, các chất tiết của yếu tố sinh mệnh kết tinh trong toàn thân. Hóa thân cầu vồng là chuyển hóa những thứ đã kết tinh thành ánh sáng, cho nên thành tựu hóa thân cầu vồng là cao nhất.

【Hỏi】

Tại sao xá lợi tử lại tự sinh ra những xá lợi tử nhỏ? Tại sao lại sinh ra được?

【Đáp】

Đây là vấn đề thuộc về cấp độ tinh thần, do chư Phật Bồ Tát gia trì xá lợi tử đó, khiến cho tinh thần của nó lại phân ra tinh thần, vật chất lại phân ra vật chất, trong đó có tác dụng thần hóa.

【Hỏi】

Thế nào gọi là "chỉ thường giác chiếu mà quên giác chiếu"?

【Đáp】

"Chỉ thường giác chiếu mà quên giác chiếu", câu hỏi này rất hay. Giống như bây giờ ánh đèn (đèn rọi) này chiếu vào tôi, tôi cảm thấy rất nóng. Nhưng mà, tôi đem toàn bộ tinh thần tập trung vào việc trả lời câu hỏi này, thì quên mất ánh sáng nóng đang chiếu vào mình, đây chính là "thường giác chiếu mà quên giác chiếu", đã quên rồi.

【Hỏi】

Dùng chủng tự nào để tu pháp Địa Tạng Vương Bồ Tát? Là dùng chữ " བྱི ", chữ "ཧ", hay chữ " སེ "?

【Đáp】

Dùng chữ " ཧ " được.

【Hỏi】

Khi A Di Đà Phật là chủ tôn, vậy thì ai là Hộ pháp của chủ tôn? Ai là Hộ pháp trí huệ của chủ tôn? Ai là minh phi của chủ tôn? Chân Phật Tông dùng bộ thủ ấn bát cúng nào làm thủ ấn truyền thừa?

【Đáp】

Ai là Hộ pháp của chủ tôn? Hộ pháp của bản thân A Di Đà Phật, chúng ta có thể nói như thế này, là Đại Uy Đức Kim Cang làm Hộ pháp chính của Ngài. Vậy ai là Hộ pháp trí huệ? Rất đơn giản, chính là Không hành mẫu trí huệ. Còn ai là minh phi của chủ tôn? Cái này bạn đã đề cập đến song thân rồi! Bởi vì là minh phi mà! Vấn đề về minh phi là nói đến vấn đề song thân của A Di Đà Phật, để sau này sẽ nói cho bạn biết.

Chân Phật Tông cũng có thủ ấn bát cúng làm truyền thừa, trước đây chúng ta dùng ngũ cúng, bởi vì hoa, hương, đèn, trà, quả, đều dùng ngũ cúng. Hoa, hương, đèn, trà, quả, các bạn thêm vào nước thơm, tức là thêm vào nước tắm, thêm vào vỏ ốc như ý, thêm vào một loại phấn thơm, đó chính là thủ ấn bát cúng.

【Hỏi】

Băng ghi hình thuyết pháp của Sư Tôn tại Cầu Vồng Sơn Trang có thể phát công khai trên truyền hình cáp không?

【Đáp】

Được, càng nhiều người xem càng tốt, điều này có thể thu hút rất nhiều người đến quy y.

【Hỏi】

Cơ thể có thương tổn bên trong, khi tu luyện khí công, có phương pháp đặc biệt nào có thể chữa lành thương tổn bên trong không?

【Đáp】

Có, trong phần Nội pháp này có phương pháp chuyên trị thương tổn bên trong, Kim cang quyền cũng có. Về phần thông khí, chúng ta có cách như thế này: Khi khí đang vận hành, hãy quán tưởng dòng khí đó đang di chuyển, ngón tay bạn cũng theo đó mà quán tưởng di chuyển, từ chân đi lên, quán tưởng dòng khí đi lên giống như ngón tay của bạn, đây là sự hợp nhất giữa xúc và khí, phương pháp chỉ dẫn này sau này sẽ giảng, sẽ được đề cập trong Nội pháp.

Thế nào là đề? Đề, tức là nâng lên, rất quan trọng, cho nên trong "giáng, đề, trì, tán", chữ "đề" là quan trọng nhất.

Tôi đã từng nói, "một đề có thể bay qua núi Tu Di". Trọng điểm của đề ở đâu? Ở tư thế, ở một bộ phận nào đó trên cơ thể bạn. Có nhiều người nói: "Có lẽ là bảo chúng ta đề hậu môn, nâng hậu môn lên." Nâng hậu môn, không phải! Bây giờ chưa thể nói được, phải giữ một chút bí mật, nếu cho các bạn học hết thì tôi còn gì để chơi nữa? 

【Hỏi】

Khí có mấy loại?

【Đáp】

Khí thượng hành, khí hạ hành, khí biến hành, khí mệnh, khí bình hành, còn có một loại nữa là đẳng khí, đẳng khí chính là khí bình hành.

【Hỏi】

Khí và lực khác nhau thế nào?

【Đáp】

Đây cũng là điều thuộc về Nội pháp, đây là Nội pháp, khí thượng hành, khí hạ hành, khí biến hành, khí mệnh, khí bình hành, những điều này đều thuộc về Nội pháp, sau này sẽ giảng.

【Hỏi】

Hỏa cúng, cúng Tứ Đại Thiên Vương, nên dùng cúng phẩm gì là tốt nhất? Ngày mai có thể cầu quán đảnh Hộ Ma hỏa cúng không? Nên quán tưởng quán đảnh như thế nào?

【Đáp】

Được, về cách quán tưởng quán đảnh, đây chính là điều sẽ giảng cho mọi người vào ngày mai. Bởi vì khi làm quán đảnh lửa Hộ Ma, thông thường, bạn phải nhóm lửa, phải đốt lửa lên, sau đó quán tưởng ngọn lửa này đi vào thiên tâm của bạn, rồi di chuyển xuống dưới, di chuyển đến Tâm luân, trước tiên đốt cháy nửa thân trên, sau đó đốt cháy nửa thân dưới, bản thân bạn hòa tan trong lửa, đây là cách quán tưởng quán đảnh lửa Hộ Ma.

Vậy ngày mai thì sao? Khi được quán đảnh chạm đỉnh đầu, bạn cũng có thể quán tưởng một khối lửa đi vào cơ thể bạn, đốt cháy toàn thân bạn, biến thành một khối lửa, đây là quán đảnh lửa Hộ Ma. Vậy khẩu quyết là gì? Chính là lửa, Bổn tôn và bạn, tất cả hợp nhất làm một, đó chính là khẩu quyết.

Cúng phẩm nào tốt nhất để cúng Tứ Đại Thiên Vương? Tứ Đại Thiên Vương là để cầu tài, cầu tăng ích, vì vậy bạn nên cúng trái cây màu vàng, cúng rượu nho, cũng có loại rượu nho màu vàng, tất cả cúng phẩm tốt nhất nên lấy màu vàng làm chủ đạo. Cúng gì cũng được, miễn là thứ gì có thể đốt được đều có thể cúng.

【Hỏi】

Nếu tổ tiên qua đời ở Nam Kinh, Thượng Hải, Trung Quốc và đã thăng thiên, hai năm sau an linh vị tại Lôi Tạng Tự thì có ích lợi gì không?

【Đáp】

An linh vị tại Lôi Tạng Tự, dù bạn đã thăng thiên hay chưa thăng thiên đều được, bất kể bạn qua đời ở đâu cũng được, đều có lợi ích cả.

【Hỏi】

Trong cuộc sống hàng ngày, hành giả Mật tông nên an trụ tâm như thế nào? Khi có nhiều vọng niệm thì phải đối trị ra sao?

【Đáp】

Hành giả Mật tông trong cuộc sống hàng ngày nên an trụ tâm như thế nào? "Nên vô sở trụ", nên không trụ vào đâu cả. Khi có nhiều vọng niệm thì phải đối trị ra sao? Nếu đã vô sở trụ thì không còn vọng niệm, khi vô sở trụ thì không còn vọng niệm, nếu không thì nên trụ vào "một".

【Hỏi】

"Cửu phụng phá uế tịnh thủy pháp", cửu phụng là gì? Phải quán tưởng thế nào?

【Đáp】

Cửu phụng là một tên gọi, tức là chim phượng hoàng, một loại chim thiêng thời cổ đại. Bản thân nó, theo truyền thuyết cổ xưa, cửu phụng này có thể trừ được nhiều độc, mọi thứ độc hại đều rất sợ nó, cho nên "cửu phụng phá uế", chữ "uế" này nghĩa là dơ bẩn. Vậy cửu phụng bạn có thể quán tưởng là một con phượng hoàng, quán tưởng phượng hoàng như thế nào? Mọi người có biết không? Phượng hoàng là hình dáng phượng hoàng, bạn quán tưởng hình dáng phượng hoàng, có chín con phượng hoàng là được.

【Hỏi】

Mật pháp khi học mỗi chú, mỗi thủ ấn, mỗi nghi quỹ, đều phải thọ nhận quán đảnh, nhận gia trì mới như pháp. Vậy thì thủ ấn của chú vãng sinh của Văn Thù Bồ Tát trước khi ăn cơm có cần phải được quán đảnh mới được sử dụng không? Nếu không thì có sao không?

【Đáp】

Về câu hỏi đầu tiên của bạn, phải nói rằng, mỗi chú, mỗi thủ ấn, mỗi nghi quỹ đều nên thọ nhận quán đảnh, thực tế là như vậy mới như pháp. Còn về thủ ấn của chú vãng sinh của Văn Thù Bồ Tát, nếu bạn muốn thọ nhận quán đảnh cũng được, có thể trực tiếp thọ nhận quán đảnh.

Giả sử bạn đã hiểu được ý nghĩa của nó, giống như có một vị Bồ Tát, tuy bạn chưa khai quang nhưng bạn rất thành tâm sử dụng, rất thành tâm trì tụng chú ngữ này, dù bạn chưa từng thọ nhận quán đảnh, tất nhiên là không có lực gia trì trong đó. Nhưng một ngày nào đó bạn cảm động được Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, vị Bồ Tát này từ trong hư không sẽ gia trì cho bạn, tương đương với việc quán đảnh cho bạn, điều này cũng có thể xảy ra, cho nên có thể nói, đó là do lòng thành của bạn cảm động được Bồ Tát.

Vậy nên tốt nhất là bạn hãy đến thọ nhận quán đảnh, nếu chưa thọ nhận quán đảnh, bạn phải dùng lòng thành của mình để cảm động Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát gia trì cho bạn, khi đó chú vãng sinh Văn Thù và thủ ấn của bạn mới có pháp lực.

【Hỏi】

Địa ngục kim cang và địa ngục được mô tả trong "Ngọc Lịch Bảo Sao" có gì khác nhau? Quán tưởng có phải là minh tưởng không?

【Đáp】

Quán tưởng và minh tưởng, đây chỉ là khác chữ mà thôi, thực ra ý nghĩa của chúng giống nhau.

Địa ngục kim cang và địa ngục được mô tả trong "Ngọc Lịch Bảo Sao" có gì khác nhau? Địa ngục được mô tả trong "Ngọc Lịch Bảo Sao" là "thập điện", tức là "Thập Điện Diêm Vương" hoặc là "18 địa ngục". Còn địa ngục kim cang thuộc về địa ngục của Mật giáo, hành giả tu Mật pháp nếu phạm giới kim cang, giới samaya, thậm chí các giới luật khác, họ sẽ đọa vào địa ngục kim cang, đó là địa ngục thuộc về Kim cương thừa.

【Hỏi】

Xin hỏi Sư Tôn, tại sao thực vật không được tính vào trong lục đạo luân hồi? Xin hỏi Sư Tôn, ý thức vũ trụ là gì? Để đạt được ý thức này có phải chỉ có thể đạt được từ Tam ma địa không? Hoa sen to như bánh xe mà Sư Tôn đã từng đề cập, có phải tượng trưng cho các đạo tràng chi nhánh của Chân Phật Tông (nhiều người ngồi trên hoa sen) và bàn thờ cá nhân (một người ngồi trên hoa sen) không?

【Đáp】

Thực vật cũng nằm trong luân hồi.

"Ý thức vũ trụ có phải chỉ có thể đạt được từ Tam ma địa không?" Thực ra ý thức vũ trụ chính là pháp giới, chúng ta gọi là pháp giới, pháp lưu, không phải chỉ có thể đạt được từ Tam ma địa. Miễn là bạn có thể tương ứng với ý thức vũ trụ, mọi phương pháp đều có thể giúp bạn đạt được nó; bất kì phương pháp nào cũng có thể giúp bạn đạt được nó. Như Lai dạy rằng "tám vạn bốn nghìn pháp môn, pháp pháp bình đẳng", mọi pháp đều có thể đạt được ý thức vũ trụ.

"Hoa sen to như bánh xe" không phải là hoa sen ở đạo tràng chi nhánh thì to hơn, còn hoa sen ở bàn thờ cá nhân thì nhỏ hơn, không phải như vậy.

【Hỏi】

Trong công án Thiền tông, khi sư phụ hỏi đệ tử "Con đã no chưa?", đệ tử nên trả lời thế nào? Nếu trả lời "Con đã no", ý nghĩa của nó là gì? Nếu trả lời "Chưa" thì có ý nghĩa gì?

【Đáp】

Nếu bạn trả lời "Đã no", nghĩa là no rồi! Có thể đi được rồi! Còn trả lời "Chưa no", thì chưa no thì tiếp tục ăn chứ sao! Thực ra điều này có ý nghĩa của nó, khi sư phụ hỏi bạn "Đã no chưa", nếu bạn nói "Đã no" tức là đã ấn chứng, đã có ấn chứng. Còn nói "Chưa" có nghĩa là bạn phải tiếp tục cố gắng, tiếp tục tinh tấn.

Điều tôi nói rất đơn giản, rất đơn giản thôi, còn có ý nghĩa sâu xa hơn nữa, không thể nói.

【Hỏi】

Người xuất gia hoặc người tu đạo có khi đánh vỡ ly, hoặc thấy lá cây rơi, hoặc ngón chân cái đá phải viên gạch, đều có thể khai ngộ, xin Sư Tôn chỉ dạy thiền cơ ở đâu?

【Đáp】

Ngón chân cái của bạn đá phải viên gạch, thiền cơ của nó chính là "sưng lên"! Đừng suy nghĩ nhiều quá, hãy nghĩ đơn giản thôi, mau đi mua thuốc mỡ về thoa.

Đánh vỡ ly, bị bỏng tay, đó là lão hòa thượng Hư Vân, ngài cho rằng vừa đánh vỡ ly, đột nhiên ngài khai ngộ. Về sự khai ngộ này, họ cho rằng đó là "phá sơ quan", bị rơi cái cửa đầu tiên; tức là cái ly vỡ, rơi mất cửa đầu tiên của ngài. Điều này nói lên rằng, trong ngoài đều phá; giống như bạn chính là cái ly đó, vậy thì bạn đã thu hẹp phạm vi của mình rồi, tại sao bạn không phá vỡ thân thể của mình? Như vậy tầm nhìn của bạn sẽ giống như ý thức vũ trụ, không phải tốt hơn sao? Đây chính là phá vỡ trong ngoài.

Lá cây rơi xuống, hãy quét nó đi.

Lá cây rơi xuống thật sự phải quét đấy! Vị sư phụ này đưa cho bạn một cây chổi, bảo bạn quét những chiếc lá rơi đó, thế là bạn đi quét, quét lá, thấy lá rơi xuống, nhìn kìa, ngày nào cũng rơi! Bạn nói với sư phụ: "Sư phụ, không cần quét đâu." "Tại sao không cần quét?" "Bởi vì hôm nay quét xong, ngày mai lại rơi! Ngày mai quét xong, ngày mốt lại rơi! Tại sao phải quét chứ?" Ồ! Sư phụ nghe xong: "Ôi chao, khai ngộ rồi!"

Lá rơi này cũng có thể khai ngộ đấy! Những chiếc lá này tượng trưng cho phiền não, mỗi ngày đều có phiền não rơi xuống, tại sao bạn phải quét nó? Cứ để gió thổi bay đi. Cầu Vồng Sơn Trang thường có gió núi, khi có nhiều lá cây, một cơn gió núi thổi qua là tất cả đều bay sang nhà người khác rồi. Có khi không cần quét, có khi phải quét, tùy bạn giải thích ra sao.

【Hỏi】

Con người và súc sinh đều có sự sống, tại sao khi cắt con giun đất làm hai nửa, cả hai phần đều còn cử động được? Vậy lúc này, làm sao xác định Phật tính của nó nằm ở phần nào?

【Đáp】

Câu hỏi này hay đấy! Trước đây cũng đã có người hỏi câu này rồi. Con giun đất cũng có Phật tính đấy! Vậy khi cắt làm hai, cả hai bên đều cử động! Thế Phật tính nằm ở bên nào?

Có người nói Phật tính ở cả hai bên, Phật tính ở hai bên, đa số mọi người đều cho rằng Phật tính ở cả hai bên. Nhưng thực ra câu trả lời đúng là "Phật tính ở khắp nơi", không phải chỉ ở hai bên, mà còn ở trong hư không, trong không gian, ở khắp mọi nơi.

Không phải chỉ những gì cử động được mới gọi là Phật tính đâu, không phải vậy; không phải có sự sống là có Phật tính, Phật tính và sự sống là hai chuyện khác nhau. Cho nên câu hỏi này hỏi thật là kỳ cục. Không phải là thứ có thể cử động mới gọi là Phật tính.

【Hỏi】

Tại sao thủ ấn phải giải ấn ở thiên tâm? Có bí quyết nhiệm mầu gì? Xin Sư Phật khai thị.

【Đáp】

Giải ấn ở thiên tâm bởi vì tư thế đó là đẹp đẽ nhất. Bạn giải ấn ở Hầu luân, giải ấn ở chỗ này, giải ấn ở chỗ kia, thì nên ở đây (chỉ Thiên tâm) là thành kính nhất, ở đỉnh đầu là thành kính nhất.

Trong tất cả Pháp thân của Như Lai có "Vô thượng đỉnh", Vô thượng đỉnh chính là "Phật đỉnh tôn thắng", thù thắng nhất phải là Phật đỉnh. Vậy nên chúng ta giải ấn ở đỉnh đầu, cũng biểu thị đó là tôn quý thù thắng nhất, tôn quý nhất, thù thắng nhất.

【Hỏi】

Hành giả Mật tông trước khi nghe Căn bản Truyền thừa Thượng sư thuyết pháp khai thị thì nên chuẩn bị những gì? Có cần quán tưởng hoặc trì chú không? Làm thế nào để có thể đạt được lợi ích của "khẩu nhĩ tương truyền"?

【Đáp】

Thông thường nói "khẩu nhĩ tương truyền" là một đối một, một người đối một người mới gọi là "khẩu nhĩ". Giống như miệng tôi nói, tai bạn nghe, đó chính là "khẩu nhĩ tương truyền". Hôm nay ở đây thì khác. Trước đây khẩu nhĩ tương truyền là nói một đối một, tương đối bí mật. Còn bây giờ giảng công khai, cũng gọi là khẩu nhĩ tương truyền; tôi giảng, các bạn dùng tai nghe.

"Khi nghe Căn bản Truyền thừa Thượng sư thuyết pháp khai thị thì nên chuẩn bị những gì?" Đi vệ sinh trước! Đi vệ sinh không cần quán tưởng, không cần trì chú, chuẩn bị như vậy là được rồi.

【Hỏi】

Tu pháp Thượng sư tương ứng và pháp Bổn tôn vốn phải tu tập riêng biệt, nhưng nếu vì lý do thời gian, có thể kết hợp tu tập cùng một lúc được không?

【Đáp】

Có thể tu tập như vậy được, có thể kết hợp tu. Vì thế Mật giáo có nhiều cách tu kết hợp, Tứ gia hành kết hợp với Thượng sư tương ứng, Tứ gia hành, Thượng sư tương ứng kết hợp với pháp Bổn tôn, đều được cả.

【Hỏi】

Năm 1991 có một cuốn băng ghi âm, là lời khai thị Chân Phật Mật Ngữ của Sư Tôn, từng giảng giải Bách tự minh chú nói rằng: "Chư-yô-mi-pa-wa, Chư-chô mê-pa-wa". Nguyên bản Bách tự minh chú không có câu "Chư-yô-mi-pa-wa", vậy bây giờ khi tụng, có cần thêm câu này vào không? Xin Sư Tôn khai thị.

【Đáp】

Bạn đang bắt lỗi tôi đấy! Chỉ có "Chư-chô-mê-pa-wa", không phải "Chư-yô-mi-pa-wa". "Chư-yô-mi-pa-wa" là vì lúc đó tôi phân biệt trái phải không rõ. 

Mọi người đều biết, thực ra rất nhiều đệ tử thân cận đều biết, Sư Tôn đôi khi người ta hô trái hô phải không phân biệt được, cuối cùng có người dạy tôi nói "Có" (Sư Tôn giơ tay), mỗi lần hô "Có" thì bạn giơ tay lên! Giơ tay phải lên! Lúc này bên này là bên phải, vậy bên kia mới là bên trái, từ đó về sau tôi nhớ được rồi, nói: "Có". (Sư Tôn giơ tay) Tôi biết rồi! Bên phải là bên này.

Trước đây tôi thường hay không phân biệt được, cho nên khi tôi đi lính, huấn luyện viên hô "Quay phải", tôi toàn quay trái. Mà tôi là người có thân hình nhỏ nhất, các bạn biết đấy, mọi người đều quay về bên này đi về bên này, chỉ có một mình tôi... một mình tôi…

Trước đây tôi thực sự không phân biệt được phải trái, tôi chỉ nhớ rõ lệnh quay về sau, "Quay sau" thì tôi biết quay, quay ngay lập tức, tôi làm được. Nhưng mà quay phải quay trái thì đôi khi tôi phải suy nghĩ một chút, khi nghĩ thì lại nghĩ không ra, nên tôi cứ quay đại. Thế là mỗi lần như vậy tôi lại đi ngược hướng với cả đơn vị, đến khi đi được nửa đường, quay đầu nhìn lại, thì mọi người đã đi xa rồi. Cho nên cái tật không phân biệt được phải trái này đã làm tôi khổ sở nhiều năm.

Sau này lái xe, mọi người lái xe ở Mỹ này, turn right turn left, turn right là rẽ phải, turn left là rẽ trái. Tôi cũng từng lúng túng một thời gian với cái turn right và turn left này, cũng từng lúng túng một thời gian. Cái tật không phân biệt được phải trái là khuyết điểm của tôi, tốt quá! Anh ấy đã nói hết ra rồi.

【Hỏi】

Chúng sinh vãng sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc có thọ mệnh vô tận, vậy chúng sinh vãng sinh về các cõi tịnh thổ khác của chư Phật, thọ mệnh có phải cũng vô tận không?

【Đáp】

Đúng vậy. Nhiều cõi tịnh thổ của chư Phật thọ mệnh đều rất dài, dài đến mức không thể tính đếm được, cho nên mới gọi là "vô tận", bởi vì thọ mệnh của họ đều rất dài.

【Hỏi】

Quán tưởng chủng tử tự biến thành Bổn tôn có quan trọng không? Nếu như nhầm lẫn chủng tử tự của chư Phật Bồ Tát, điều này có nghĩa là không thể tương ứng không?

【Đáp】

Chủng tử tự biến thành Bổn tôn, đây là vấn đề về trình độ, là vấn đề về thứ tự. Trước tiên quán tưởng nguyệt luân, sau đó chủng tử tự ở giữa, rồi xoay chuyển, Bổn tôn xuất hiện, lúc đó Bổn tôn tam quang gia trì cho bạn, thậm chí di chuyển đến đỉnh đầu của bạn hóa thành rất nhỏ, đi vào trung mạch của bạn, dừng lại ở Tâm luân, rồi hóa thành giống như bạn, đây gọi là quán Nhập ngã Ngã nhập.

Thực hiện quán tưởng như vậy là có trình độ. Chủng tử tự biến thành Bổn tôn đương nhiên rất quan trọng, nếu chủng tử tự sai, điều này có nghĩa là không thể tương ứng. Chủng tử tự sai, thực sự là không có cách nào, bạn không biết, coi như là một lỗi lầm; nhưng sau này khi bạn biết rồi, bạn có thể bổ sung lại, sửa đổi lại, điều này đều rất quan trọng.

Vì thế mới có cái gọi là "chân ngôn bổ khuyết", nghĩa là khi bạn biết mình có sai sót, trong khi tu pháp có điều gì sai? Bạn trì tụng chân ngôn này để bổ sung những lỗi lầm đó, chân ngôn bổ khuyết chính là để bổ sung lỗi lầm. Ví dụ như tụng Bách tự minh, dù trong nghi quỹ có điều gì sai sót, quán tưởng không rõ ràng, ý niệm không tốt, kết sai thủ ấn, hoặc trong khi trì chú, có chỗ sai sót nghi quỹ, bạn ngáp một cái, không nhịn được ho, những cái này đều là lỗi lầm, vậy làm sao bổ khuyết? Tụng chú Bách tự minh có thể bổ sung. Và cũng có chân ngôn bổ khuyết, cũng có thể bổ sung.

Trong những chủng tử tự này có một chữ là ấn chung của tất cả chư Phật Bồ Tát, đó là chữ Ah " ཨཿ ". Chữ " ཨཿ ", chữ " ཨཿ " này chính là ấn chung của tất cả chư Phật Bồ Tát, là chủng tử tự thông dụng. Bất kể đúng hay sai, hoặc vị Bổn tôn nào, bạn đều quán tưởng nguyệt luân chữ Ah. Quán nguyệt luân, quán chữ Ah, rồi biến hóa thành tất cả Bổn tôn, bạn đều có thể dùng chung. Vì thế bạn quán tưởng chữ " ཨཿ " xuất hiện trong nguyệt luân, biến hóa thành Bổn tôn thì sẽ không sai, bởi vì đó là chữ thông dụng của tất cả chư Phật Bồ Tát.

【Hỏi】

Chủng tử tự trong nguyệt luân, quay theo chiều kim đồng hồ, hay đứng thẳng và xoay trái phải?

【Đáp】

Ồ! Lại hỏi đến vấn đề trái phải của tôi rồi. Tôi thì dùng cách quay theo chiều kim đồng hồ. Cũng có thể quay thẳng đứng, cũng có thể quay ngang. Thông thường theo Mật tông Tây Tạng thì đều thẳng đứng, đều nói là thẳng đứng. Nhưng đôi khi, chủng tử tự này, cũng có thể để ngang. Giống như thói quen của tôi, bây giờ nói về thói quen của tôi. Trên nguyệt luân, đương nhiên là dùng thẳng đứng, ở rốn của tôi, tôi dùng quay ngang; ở Tâm luân của tôi, tôi dùng quay ngang. Tôi không dùng thẳng đứng, đây là thói quen của tôi.

【Hỏi】

Năm trí huệ lớn của Phật, Như Lai, thứ tự tiến triển như thế nào?

【Đáp】

Là như thế này. Nói về năm trí huệ lớn, đều xuất phát từ Đại Nhật Như Lai. Vậy làm sao tiến triển? Chúng ta dùng phương pháp của Trung Quốc để diễn giải. Trước đây có người hỏi tôi, nhưng trong kinh Phật tôi vẫn chưa từng thấy nó tiến triển như thế nào.

Tôi dùng Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ, Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ bắt đầu từ Thổ ở trung ương, vậy Thổ sinh ra cái gì? Thổ sinh Kim, chính là từ phương Tây, phương Tây là Phật A Di Đà, là từ phương Tây. Vậy Kim sinh ra cái gì? Sinh ra Thủy. Vậy Thủy là phương nào? Phương Bắc, Bất Không Thành Tựu Phật. Vậy Thủy lại sinh ra cái gì? Thủy sinh Mộc! Chính là phương Đông, phương Đông là A Súc Phật! Đúng không? Vậy Mộc lại sinh ra cái gì? Sinh ra Hỏa, Hỏa ở phương Nam, phương Nam là Bảo Sinh Phật! Được sinh ra như vậy đó. Thứ tự của năm trí tuệ, tôi giảng như vậy. Còn người khác giảng thế nào, tôi không biết.

【Hỏi】

Làm thế nào để kết nối điểm dưới của nội hỏa?

【Đáp】

Sau này tôi sẽ nói cho bạn biết, đây là về phương diện Nội pháp. Tôi nói về nội hỏa phải kết nối cả trên lẫn dưới, chính là nói về trung mạch này. Trung mạch này làm sao kết nối phía trên, làm sao kết nối phía dưới? Làm sao để nâng ngọn lửa này lên? Làm sao để đốt? Tại sao có thể đốt được? Là bởi vì vật để đốt lửa này, và tờ giấy này. Lửa cháy ở đây, giấy ở đây, ở giữa có một khoảng cách, lửa này không thể đốt được tờ giấy đó, nó không thể cháy được, vậy làm sao để nó cháy lên? Làm sao để cho nó gần lại? Làm sao để đốt cháy nó? Nội hỏa này sinh ra như thế nào? Đây chính là bí quyết.

Nếu hôm nay tôi dạy bí quyết này cho các bạn, tôi sẽ không cần phải dạy nữa, tôi sẽ không cần phải mở lớp nữa, các bạn đều đã biết rồi. Cho nên vẫn là đợi đến lúc mở lớp rồi giảng vậy!

【Hỏi】

Về mặt địa linh, cát hai bên không đều, ngoài việc dùng thần để chế ngự sát khí, có thể thỉnh cầu thập lực của Phật để điều ngự càn khôn được không?

【Đáp】

Thỉnh cầu thập lực của Phật để điều ngự càn khôn, thực ra việc này còn khó hơn cả dùng thần để chế ngự sát khí. Bạn xem thập lực của Phật, lẽ nào Phật lại phải lo chuyện nhà của bạn. Nhà bạn có địa thế không cân bằng, bạn liền thỉnh Phật đến, muốn thỉnh Ngài đến, thật sự rất khó đấy! Bạn phải tu hành đạt đến trình độ gần như Ngài thì mới có thể thỉnh được Ngài; nếu không, bạn tùy tiện gọi như gọi một đứa trẻ: "Này! Như Lai, ngài đến đây, đến đây." Làm sao Ngài đến được? Như Lai này thành ra "Như Bất Lai", đúng không? Không dễ thỉnh Ngài đến đâu. Bạn phải tu hành đạt đến cảnh giới như Ngài thì mới có thể thỉnh được Ngài đến. Khi bạn tu hành đạt đến cảnh giới như Ngài rồi thì cần gì phải dùng thần để chế ngự sát khí nữa? Dùng chính bạn là được rồi.

【Hỏi】

Hôm qua nghe Sư Tôn nói, ngày mai khi ban quán đảnh pháp cho đệ tử, pháp hỷ tràn đầy, đệ tử tha thiết thỉnh cầu Sư Tôn cho quán đảnh Bạch Độ Mẫu tiêu tai làm pháp quán đảnh đầu tiên. Pháp thân Độ Mẫu bao gồm Quan Âm, Bạch Độ Mẫu, Lục Độ Mẫu, 21 Độ Mẫu v.v…, là pháp môn thù thắng của Mật tông, nếu được Sư Tôn từ bi truyền thừa phổ độ, thì truyền thừa Độ Mẫu của Chân Phật sẽ càng rạng rỡ thiên hạ.

【Đáp】

Trước đây chúng ta có thần chú 21 Độ Mẫu, không biết ai còn giữ? (Nhiều vị Thượng sư giơ tay) Trong tông phái của chúng ta, tôi có ban thần chú 21 Độ Mẫu, họ đều có (chỉ vào một số Thượng sư), ngày mai sẽ làm quán đảnh này. (Mọi người vỗ tay) Thần chú 21 Độ Mẫu này, hãy gặp các Thượng sư để xin.

【Hỏi】

Đệ tử đã đọc một bài kinh "Nhất Thiết Như Lai Tâm Bí Mật Toàn Thân Xá Lợi Bảo Khiếp Ấn Đà-la-ni", có kèm theo hình vẽ, trong hình có ngọn tháp kim cang ngũ luân, trông rất giống hình dáng cơ thể người, có phải đây chính là kim thân Như Lai nguyên thủy không? Nếu không thì tại sao lại nói "trong tháp có xá lợi, xá lợi tích tụ, tất cả pháp yếu ấn mật đà-la-ni tâm vô lượng câu chi của chư Như Lai, nay đều ở trong đó"?

Trong kinh nói: "Lúc bấy giờ Thế Tôn thấy tháp mục nát, cởi y trên thân phủ lên trên đó, rơi lệ thảm thiết, nước mắt và máu hòa lẫn tuôn trào, khóc xong mỉm cười. Khi ấy chư Phật mười phương đều cùng quan sát, cũng đều rơi lệ, mỗi vị đều phóng hào quang chiếu sáng ngôi tháp này." Có phải việc đệ tử hậu thế cúng dường tháp xá lợi bắt nguồn từ đây không?

Bảo tháp được tạo thành từ năm hình chồng lên nhau: vuông, tròn, tam giác, bán nguyệt và tâm, nếu đệ tử muốn bày đàn một cách thuận tiện, có thể thiết lập tháp kim cang ngũ luân không?

Càng đọc kinh này càng thấy giống như đang nói về quá khứ, hiện tại, tương lai của Sư Phật, không biết cảm nhận của đệ tử có đúng không? Nếu đúng vậy, thì trong các hạng mục quán đảnh ngày mai, có thể quán đảnh "Nhất Thiết Như Lai Tâm Bí Mật Toàn Thân Xá Lợi" được không? Có cần căn khí hay điều kiện đặc biệt không? Và phải quán tưởng như thế nào? Nếu đúng vậy, pháp này có phải là pháp Liên Hoa Đồng Tử không?

【Đáp】

Đây là một bộ kinh điển Mật giáo. Tháp ngũ luân chính là hình tượng của Thai Tạng giới, Thai Tạng giới Đại Nhật Như Lai, tức "địa thủy hỏa phong không"; vì vậy năm chữ "địa thủy hỏa phong không" chính là tâm chú của Thai Tạng giới Đại Nhật Như Lai. Còn một chú khác là Kim Cương giới, "Ôm pê-cha ta-tu fan" là của Kim Cương giới. Thai Tạng giới chính là "địa thủy hỏa phong không".

Vậy thì tháp ngũ luân chính là biểu tượng của Đại Nhật Như Lai. Trước đây tôi đã từng vẽ tháp ngũ luân mà! Tôi đã giảng về điều này tại Chân Phật Mật Uyển rồi. Cảm nhận của bạn, trực giác của bạn không tệ đâu, nếu mọi người muốn quán đảnh thì ngày mai sẽ làm lễ quán đảnh, nếu không thì chỉ có một mình bạn quán đảnh thôi.

【Hỏi】

Quán đảnh một lần có thể duy trì được bao lâu? Kiếp sau còn tác dụng không?

【Đáp】

Thông thường chúng ta quán đảnh, đi cầu quán đảnh, quán đảnh nhiều lần cũng không sao cả, nhưng nếu bạn muốn tu pháp một cách chắc chắn, ví dụ như, bạn quán đảnh một lần, bạn muốn tu pháp này, bạn lại đi cầu quán đảnh pháp này, cũng được.

Vậy sau khi bạn đã quán đảnh nhiều lần rồi thì sao? Sau này muốn tu pháp này, điều đó có nghĩa là lực gia trì của truyền thừa đã xuất hiện trở lại. Bởi vì bạn đã được quán đảnh, nó có thể duy trì, giống như hạt giống của bạn đã được gieo xuống đất vậy, khi bạn tu pháp, giống như bạn tưới nước cho nó, cho nó ánh nắng, rồi cho nó không khí. Ngược lại, nếu bạn không tu pháp, nó vẫn chỉ là một hạt giống, mãi mãi chỉ là một hạt giống.

【Hỏi】

"Nam mô 36 vạn tỷ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật ở Tây phương Cực Lạc" có phải đại diện cho tất cả chư Phật và tất cả chúng sinh không? Hay chỉ đại diện cho cõi tịnh thổ Tây phương Cực Lạc? Chư Phật cùng chúng sinh ở các phương Đông Nam Bắc có tính vào không? Kính xin Thánh Tôn chỉ dạy.

【Đáp】

Khi chúng ta niệm "Nam mô 36 vạn tỷ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật" là chỉ A Di Đà Phật ở Tây phương Cực Lạc, không thể đại diện cho tất cả chư Phật và tất cả chúng sinh, mà chỉ đại diện cho cõi tịnh thổ Tây phương Cực Lạc mà thôi.

Chư Phật và chúng sinh ở các phương Đông Nam Bắc cũng có số lượng nhiều vô kể như vậy, trong mắt Như Lai, cảnh giới của chúng sinh là không thể đếm, không thể nói; cảnh giới của Phật cũng không thể đếm, không thể nói, đều nhiều vô số vô biên như nhau.

【Hỏi】

Xin hỏi Sư Phụ, tướng tương ứng có phân chia theo thứ bậc không, và làm sao để nhận biết được các thứ bậc tương ứng này?

【Đáp】

Về tướng tương ứng, hôm thứ Bảy tối rồi tôi đã khai thị cho mọi người rồi. Dĩ nhiên, có một loại là tu luyện nội hỏa, tôi chỉ nói về nội hỏa thôi.

Ban đầu sẽ có khói, xuất hiện cảnh tượng của khói, giống như có khói tỏa ra, cảnh tượng nội hỏa là như vậy. Thứ hai là xuất hiện tiểu hỏa, là một loại cảnh tượng lửa nhỏ xuất hiện. Thứ ba mới là đại hỏa, xuất hiện ngọn lửa mãnh liệt. Cuối cùng mới xuất hiện ánh sáng, cho nên tướng tương ứng là có thứ bậc. Ban đầu xuất hiện khói, rồi đến tiểu hỏa, tiếp theo là đại hỏa, cuối cùng mới là ánh sáng. Khi đạt đến ánh sáng, tức là trình độ tương ứng đã rất cao rồi.

Vì vậy chỉ riêng nội hỏa đã có bốn cấp độ: khói, tiểu hỏa, đại hỏa và ánh sáng. Những pháp khác cũng có các cấp độ tương ứng của chúng.

【Hỏi】

Liên quan đến vấn đề "vô lậu", làm sao để "đoạn huyết hà"? Làm sao để hàng long phục hổ? Liên quan đến phương diện linh hồn, ba hồn bảy vía an trú ở đâu? Liên quan đến chân ngôn chủng tử tự và màu sắc của Tứ Đại Thiên Vương.

【Đáp】

Về phần linh hồn, có thể tìm thấy trong cuốn sách "Biển pháp uyên thâm", chân ngôn của Tứ Đại Thiên Vương có thể tìm thấy ở trang 72 trong cuốn sách "Linh Tiên Kim Cang Đại Pháp" (nhà xuất bản Văn Hóa Đại Đăng, năm 2004).

Bây giờ tôi sẽ trả lời về vấn đề "vô lậu" và vấn đề "đoạn huyết hà".

Trong Đạo gia hay Mật giáo đều có một câu nói về vô lậu, đó là "lậu tận tắc vong", nghĩa là khi rò rỉ hết thì sẽ chết. Những yếu tố sinh mệnh trong cơ thể bạn, tốt nhất là có thể tu chứng đến trạng thái vô lậu.

Nói một cách đơn giản, đối với nam giới cần đoạn tuyệt không để rơi rớt minh điểm. Minh điểm bao gồm "minh điểm trí tuệ" vô hình và "tinh" hữu hình, đối với nữ giới cũng có "minh điểm trí tuệ" vô hình và "huyết" hữu hình.

Vậy làm sao để đoạn trừ? Đây là vấn đề của Nội pháp, tức là trước tiên dạy bạn tu Bảo bình khí, toàn thân tràn đầy khí, khí này sẽ sinh ra lực. Khi khí này vận hành, đôi khi chúng ta dùng tay để dẫn dắt, khi cọ xát sẽ có cảm giác. Khi khí đi lên, bạn phải quán tưởng khí cũng đi lên theo, cuối cùng không cần dùng tay chạm nữa, nó sẽ tự động có khí đi lên.

Dòng khí này yêu cầu bạn tu Bảo bình khí, để khí của bạn sung mãn, toàn thân tràn đầy khí, giống như một bảo bình vậy. Khí này sẽ đến tất cả các mao mạch.

Sau đó bạn tập trung khí lại, phải tập trung khí lại, rồi dùng dòng khí này hóa thành nội hỏa để đốt cháy những minh điểm vật chất, những minh điểm vật chất trong cơ thể bạn mà có thể bị rơi rớt; ban đầu nó là chất lỏng, sau khi đốt cháy, nó sẽ biến thành khí. Sau đó khí này sẽ bốc lên, nâng lên, khi lên đến ngũ luân, ở đó nó sẽ ngưng tụ, kết tinh, biến thành xá lợi tử.

Bạn có thể dùng khí trong cơ thể để vận chuyển những chất lỏng được đốt cháy bởi nội hỏa, phương pháp đưa minh điểm vật chất đến ngũ luân trong cơ thể, đó chính là nội pháp. Khi nó sắp rò rỉ, bạn phải nâng lên, phải dùng tư thế của cơ thể để nâng nó lên; dùng nội hỏa của bạn để nung nó, đốt nó, đốt thành khí; khí sẽ theo trung mạch đi lên đến ngũ luân, những thứ này sẽ ngưng kết tại ngũ luân và biến thành xá lợi tử.

Trong Đạo gia gọi đây là "hàng long phục hổ", đây chính là "đoạn huyết hà" và "minh điểm vô lậu". Nói thì đơn giản, nhưng thực tế muốn đạt được minh điểm vô lậu, bạn còn phải giảm bớt dục vọng; không được có nhiều dục niệm, bạn phải đóng kín lục giác - mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, tất cả đều phải đóng lại, trong tâm không còn dục vọng đó nữa, có thể giữ được tâm hồn bình an.

Bạn tiếp tục tu luyện "giáng đề, trì, tán", rồi sử dụng phép "đề" để nâng vật này lên, dùng nội hỏa để nung nó, khiến nó chuyển hóa thành khí. Vì vậy, Đạo gia nói về tinh, khí, thần, chính là luyện tinh hóa khí, từ khí chuyển thành thần, từ thần trở về hư không, đây chính là "phản bản hoàn nguyên", phương pháp tu luyện của Đạo gia.

Còn Mật tông thì sao? Cũng tương tự phải giữ cho minh điểm không rò rỉ. Trong Kim Cương thừa, khi tu song vận, nếu để rò rỉ tức là phạm giới, sẽ phải đọa vào địa ngục kim cang. Vì vậy Kim Cương thừa tu song vận, song vận là như thế này, rất dễ khiến thiên đình thủy, bồ đề tâm nguyệt dịch hạ giáng, rồi lợi dụng phương pháp song vận, chân khí quán chú, khiến khí này thông qua trung mạch của đối phương; dùng phương tiện khí chuyển thành trí tuệ khí, thông qua trung mạch của bản thân họ, giống như đang độ hóa họ vậy, sau đó dùng sự tuần hoàn của khí, dùng sự xoay chuyển của khí, khiến đối phương giống như mình, đạt đến cùng một cảnh giới.

Đây là phương pháp song vận rất bí mật của Mật giáo, nó có lý do tồn tại của nó. Tuy nhiên, nếu nữ giới chưa thể đoạn huyết hà, nam giới cũng chưa thể đạt được minh điểm vô lậu, thì khi tu tập phương pháp này, bạn sẽ phải đọa vào địa ngục kim cang. Vì vậy, điều tối thiểu là bạn phải tu đến trình độ minh điểm vô lậu, không còn phạm giới nữa mới có thể tu được. Giống như Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, Ngài cùng với năm vị Phật Mẫu, bản thân Ngài tu tập như vậy, Ngài tu song vận chính là đạo lý này.

【Hỏi】

Đệ tử mới bắt đầu học pháp, vẫn chưa thực sự hiểu rõ. Đệ tử tu tập theo pháp bản mỗi ngày một lần. Đệ tử xin hỏi, khi nào mới có thể tu thiền định?

【Đáp】

Thực ra, các đệ tử thông thường mỗi lần tu pháp đều phải tu thiền định, phải theo pháp đếm hơi thở, trước tiên giữ tâm yên tĩnh một chút cũng được, từ từ thực hành, dần dần thiền định sẽ ngày càng sâu, vì vậy thiền định là điều phải tu trong mỗi lần hành pháp. Tuy nhiên, vì bạn vừa quy y, bạn hãy tu Tứ gia hành trước, khi tu Tứ gia hành thì không cần thiền định, bạn cứ tu từng gia hành một, hoặc tu cả bốn gia hành cùng lúc, hãy làm như vậy.

【Hỏi】

Hồ sen chín phẩm ở thế giới Tây phương Cực Lạc và Ma Ha Song Liên Trì của Sư Tôn có liên quan với nhau không?

【Đáp】

Có liên quan.

【Hỏi】

Quy y và giới samaya, nhiều đệ tử khi quy y đều mơ mơ hồ hồ, không thực sự hiểu rõ về Sư Tôn và Chân Phật Tông. Nếu sau này vì nhân sự, vì sư huynh tỷ hoặc các vị Thượng sư khác mà rời khỏi Chân Phật Tông, có phải là phá giới samaya không?

【Đáp】

Thực ra, điều này được tính là phá giới samaya. Hôm nay tôi nói với mọi người, quy y và giới samaya đều rất quan trọng. Ban đầu bạn quy y một cách mơ hồ, thì sau này bạn phải tu pháp một cách rõ ràng, và nghe hiểu rõ ràng những giới luật và pháp do Sư Tôn truyền dạy, như vậy sẽ không còn mơ hồ mà rời đi nữa. 

【Hỏi】

Thường nói làm việc "hăng quá hóa dở", trong việc tu học Phật pháp và hành Bồ Tát đạo, có những ví dụ nào về việc quá mức không? Làm sao để cảnh tỉnh bản thân giữ mọi việc vừa phải? Khi thấy đồng môn hoặc đường chủ làm việc không đúng, có nên khuyên can không?

【Đáp】

"Quá" và "không đủ" đều không tốt, điều này giống như vấn đề của dây đàn vậy. Đức Phật ngày xưa cũng từng dùng ví dụ: dây đàn quá căng sẽ đứt, quá lỏng lại không thể phát ra âm thanh hay; cho nên khi đánh đàn guitar, dây đàn phải vừa đúng mức thì mới phát ra âm thanh hay nhất. Vì vậy, khi chúng ta tu học thiền định cũng phải như vậy, phải vừa đúng mức, không căng không chùng, đó là trạng thái tuyệt vời nhất.

Về việc có nên khuyên can không, cần phải dùng trí tuệ, vấn đề nhân sự là khó nhất, nếu bạn biết vận dụng trí tuệ của mình để làm công việc điều ngự, bạn có thể trở thành "điều ngự trượng phu".

【Hỏi】

Làm sao để phân biệt vòng hào quang ở thiên tâm là bồ đề tâm nguyệt dịch? Nó có màu trắng không? Nếu không phải màu trắng thì làm sao tu để nó chuyển thành màu trắng? Vòng hào quang ở thiên tâm có chuyển động có đúng không? Làm sao để biết mình không đi sai đường, không phải là đã trở thành người điên? Khi những ý nghĩ nghiệp chướng xuất hiện, có phương pháp đối trị đúng đắn không?

【Đáp】

Câu hỏi thứ nhất, về vòng hào quang ở thiên tâm và bồ đề tâm nguyệt dịch, về màu sắc của nó, thông thường chúng ta nói, màu trắng là biểu tượng của nó, màu trắng chính là biểu tượng cho bản chất của nó. "Có chuyển động có đúng không?" Nếu bạn thấy được nó đang chuyển động thì đúng rồi.

Về câu hỏi "Làm sao để biết mình không đi sai đường, không phải là đã trở thành người điên?", hãy dùng trí tuệ để phân biệt. Nghĩa là, với nhiều việc, bạn phải dùng lý trí của chính mình, khi đi sai đường, hãy suy nghĩ xem có hợp lý không? Có hợp tình không? Có phù hợp về mặt tình lý không? Có phù hợp với Phật pháp không? Bạn phải thường xuyên suy nghĩ như vậy.

Khi những ý nghĩ nghiệp chướng xuất hiện, có phương pháp đối trị đúng đắn, quán tưởng chính là phương pháp đúng đắn. Khi những ý nghĩ không tốt xuất hiện, bạn phải thường xuyên nghĩ đến khuôn mặt từ bi của chư Phật Bồ Tát, để thay thế những ý nghĩ không tốt đó, vì vậy quán tưởng chính là "dùng niệm để dừng niệm", Mật giáo dùng quán tưởng để thực hiện điều này.

【Hỏi】

Xin Sư Tôn giảng giải về cách ứng dụng quán "tùy tán" và những điều cần chú ý.

【Đáp】

Thế nào gọi là quán "tùy tán"? Có nghĩa là, đó là một trạng thái rất tự nhiên, một loại tùy tâm, một loại quán tưởng về hư không bao la theo tâm, gọi là quán "tùy tán". Ví dụ, bạn thường nghĩ, bạn đang trụ trong hư không, như vậy bạn vô sở trụ, trạng thái đó gọi là quán "tùy tán". Vô sở trụ, tâm bạn không đặt ở đó, không đặt ở đây, không đặt ở kia, không tập trung vào một điểm, cũng không phân tán đi nơi khác, như vậy, cứ để nó tự nhiên, để nó theo gió mà phiêu diêu, đó chính là quán tùy tán, cũng như trụ trong hư không, "vô sở trụ mà sinh tâm ấy", trạng thái này gọi là quán "tùy tán".

【Hỏi】

Đệ tử thực hành pháp thí thực cúng dường đã được một thời gian, Sư Tôn từng nói: "Cửa trước để đón, cửa sau để tiễn", nhưng đệ tử vẫn thường ở sân sau để thỉnh Sư Tôn và Thất Bảo Như Lai gia trì pháp thí thực cúng dường của đệ tử, như vậy có được không?

【Đáp】

Được, bởi vì bạn đã coi cửa sau như cửa trước, cửa trước như cửa sau.

【Hỏi】

Khi tụng biến thực chân ngôn và cam lộ thủy chân ngôn, có nên tụng ở Phật đường hay tụng ở sân sau?

【Đáp】

Đều được cả, được, bởi vì bạn đã coi cửa sau như cửa trước, cửa trước như cửa sau.

【Hỏi】

Sau khi tụng chú gia trì nước pháp, có nhất thiết phải rảy ra bên ngoài nhà không? Có thể rảy lên tường rào phía sau sân nhà không?

【Đáp】

Được.

【Hỏi】

Thời gian thực hành pháp thí thực tốt nhất là mấy giờ?

【Đáp】

Giờ nào cũng được. 

【Hỏi】

Trong quá trình tu tập Chân Phật Mật Pháp, dục vọng dần dần giảm bớt, đúng hay sai?

【Đáp】

Đương nhiên là đúng rồi!

【Hỏi】

Thêm nữa, người thân không tin mà lại tin giáo pháp khác, không tu tập Chân Phật Mật Pháp, khiến con sinh lòng chán ghét đối với người thân, phải đối trị như thế nào?

【Đáp】

Đừng ghét họ, bởi vì các tôn giáo khác cũng có những ưu điểm của họ.

【Hỏi】

Nếu không tùy thuận, liệu có khiến người thân phạm một trong năm giới không?

【Đáp】

Không phải họ phạm năm giới, mà là bạn phạm năm giới đấy, cho nên tùy thuận là được.

【Hỏi】

Khi gặp một số chúng sinh, lúc giải thích về Chân Phật Tông cho họ thì bị từ chối, khiến họ phỉ báng Chân Phật Tông, xin hỏi làm thế nào để cầu Phật tha thứ cho sự vô minh của họ?

【Đáp】

Hãy tụng chú giúp họ, trì chú giúp họ, tu pháp giúp họ.

【Hỏi】

Ở những nơi không có địa linh và chư Phật Bồ Tát, làm sao thỉnh chư Phật Bồ Tát gia trì tu pháp, liệu có linh nghiệm như nhau không?

【Đáp】

Làm sao bạn biết ở đó không có địa linh? Không có chư Phật Bồ Tát? Chư Phật Bồ Tát ở khắp mọi nơi, địa linh cũng ở khắp mọi nơi.

【Hỏi】

Trong lúc cầu cứu khẩn cấp, sau khi vỗ hai chân để thỉnh Hộ pháp trợ giúp, nên cảm tạ như thế nào?

【Đáp】

Cúng dường. Chỉ cần cúng dường là được.

【Hỏi】

Khi tâm sự quá nặng nề không thể tập trung tu pháp, nếu trì tâm chú Thượng sư thì có được không? Hoặc nên làm thế nào?

【Đáp】

Khi không thể tu pháp, bạn trì chú cũng được, đó cũng là một cách tu pháp.

【Hỏi】

Theo điều 37 trong "Sự Sư Pháp Ngũ Thập Tụng", nữ đệ tử nghe pháp phải trang nghiêm đứng đầu, chắp tay, tập trung tinh thần. Xin hỏi khi nữ đệ tử tham gia "Phật Học Tổng Thuyết", đồng tu, pháp hội nghe Sư Tôn thuyết pháp khai thị, có phải luôn chắp tay ngồi cung kính không?

【Đáp】

Chắp tay một chút là được rồi! Chứ không lẽ để tay mỏi sao!

【Hỏi】

Con vẫn luôn thắc mắc Đức Phật có độ Da Du Đà La không? Tại sao?

【Đáp】

Trong kinh Phật có ghi lại việc này. Cuối cùng, bản thân Da Du Đà La rất tức giận, vì ngay cả con trai bà cũng xuất gia, bà chẳng còn gì cả! Nhưng cuối cùng bà cũng nhận ra rằng vạn sự đều là khổ, không, vô thường.

【Hỏi】

Làm sao để đạt được trạng thái vô sự, vô tâm, vô ngã? Làm sao để thực hành điều này trong cuộc sống hàng ngày?

【Đáp】

Vô sự, vô tâm, vô ngã, hãy từ từ lĩnh hội.

【Hỏi】

Sư Tôn thích điều gì nhất? Sư Tôn sợ điều gì nhất?

【Đáp】

Không có gì đặc biệt thích, cũng không có gì đặc biệt sợ. Đương nhiên rồi! Phật cũng vậy! Phật không có gì đặc biệt thích, cũng không có gì đặc biệt sợ, đó chính là trạng thái vô sự, vô tâm, vô ngã thực sự.

【Hỏi】

Tại sao chúng con lại đến tham dự "Phật Học Tổng Thuyết"? Đó là nhân duyên gì? Mỗi người nên báo đáp Sư Tôn như thế nào? Cầu xin Sư Tôn thường trụ thế gian, thường chuyển pháp luân, đệ tử rất muốn được gần gũi Sư Tôn nhiều hơn, đệ tử cần sự chỉ dạy của Sư Tôn, đệ tử rất lo lắng, rất sợ Sư Tôn ẩn cư, đệ tử phải làm thế nào để giữ được Sư Tôn ở lại?

【Đáp】

Thỉnh Phật trụ thế là đại nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát, thỉnh Phật trụ thế chính là nguyện này. Vậy tham gia Phật Học Tổng Thuyết là nhân duyên gì? Là các bạn muốn đến mà! Báo đáp thì không cần đâu!

【Hỏi】

Vô niệm mới có thể vào định, nhưng Sư Tôn thường thành tựu nhiều sự nghiệp trong định, trong quá trình thành tựu sự nghiệp đó, có phải từ vô niệm lại trở về hữu niệm không? Đây có phải là cảnh giới "chân không diệu hữu" không?

【Đáp】

Đúng vậy, cái niệm từ vô niệm này, "niệm của vô niệm" chính là pháp lực. Khi bạn vào được vô niệm, lúc sinh khởi ý niệm đầu tiên, muốn làm bất kì sự nghiệp Yết Ma nào, đó gọi là "niệm của vô niệm", chính là pháp lực, chính là "chân không diệu hữu".

【Hỏi】

Sư Tôn có thể ban quán đảnh vào ngày mai cho tất cả những người chưa được nhận quán đảnh tại Cầu Vồng Sơn Trang hồi tháng 11 không, như quán đảnh chuông chày kim cang, quán bạch cốt, pháp xả thân, Kim Cang Tâm Bồ Tát, Thượng sư tương ưng pháp, Cát Tường Thiên Nữ và các quán đảnh khác?

【Đáp】

Hy vọng sẽ có thời gian.

【Hỏi】

Những người trước đây tu tập công pháp dưỡng sinh Đan đạo, nay quy y Sư Tôn, học Chân Phật Mật Pháp, cần chú ý điều gì?

【Đáp】

Thực ra Đan đạo cũng là một loại Nội pháp, nhưng là của Đạo gia. Cái gọi là "Cửu chuyển huyền công đan đỉnh pháp" của Đạo gia, "đan đỉnh" này chính là chín viên đan trong ruột, chín đan đỉnh; phương pháp ứng dụng là đưa minh điểm vào trong đan đỉnh, dùng nội hỏa để nung, đó là phương pháp này.

Như vậy Đan đạo dưỡng sinh, đan đỉnh pháp của Đạo gia và Nội pháp của Mật giáo có những điểm tương đồng, tuy có một số phương pháp khác nhau, như quán tưởng trung mạch là khác nhau; mạch giữa, mạch trái phải, mạch Nhâm Đốc, sự sắp xếp của chúng là khác nhau. Dù phương pháp Mật giáo có nhiều quán tưởng, phương pháp khác nhau, pháp tuy khác nhưng kết quả cuối cùng là giống nhau.

【Hỏi】

Xin giải thích ngắn gọn về thập nhị nhân duyên?

【Đáp】

Thập nhị nhân duyên, như vừa đề cập, chính là mười hai loại nhân duyên của vòng luân hồi sinh tử, mười hai loại sinh tử lưu chuyển này, bắt đầu từ vô minh, và cuối cùng là lão tử, tức là chết.

Từ vô minh, đến hành, đến thức, đến danh sắc, đến lục nhập, đến xúc, đến thọ, đến ái, đến thủ, rồi hữu, sinh, lão tử, mười hai yếu tố này là những danh từ mà Đức Phật đã suy ngẫm dưới cội bồ đề; đó là các hiện tượng của con người từ khi sinh ra từ vô minh cho đến già chết, được phân thành mười hai loại, mười hai chi. Đó chính là hiện tượng của mười hai chi từ vô minh sinh ra cho đến già chết, và khi suy ngẫm đến cuối cùng thì Ngài đã giác ngộ. Đây chính là thập nhị chi, tức là hiện tượng của vòng luân hồi sinh tử.

【Hỏi】

Làm thế nào để tăng cường ý chí và nghị lực của bản thân, nỗ lực tinh tấn tu tập?

【Đáp】

Đó chính là giữ gìn tâm ban đầu.

【Hỏi】

Khi làm theo Phật pháp mà gặp phải sự áp bức từ thế lực trong đời, nên ứng xử thế nào? Có nên cố gắng bày tỏ lập trường và quan điểm của mình không?

【Đáp】

"Uy vũ không thể khuất phục", có thể nói thì nói, không thể nói thì đừng nói; đó chính là giữ gìn tâm ban đầu.

【Hỏi】

Khi chưa tu tập thành tựu, nên dùng thái độ và phương pháp gì để giải quyết nỗi khổ của người khác?

【Đáp】

Bạn hãy cầu xin chư Phật Bồ Tát. Có tám phương pháp trì tụng kinh điển, đó chính là tám phương pháp giải trừ phiền não.

【Hỏi】

Trước khi tu tập, khi thắp hương, lông ở chân trái dựng đứng lên, chỉ trong chốc lát thôi ư? Khi tu tập, vừa định tụng Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh và chú Đại Bi, lưng cảm thấy như có côn trùng bò qua bò lại? Người tu hành mỗi ngày tu tập nhiều lần, hiểu nhiều Phật lý, cũng có cảm ứng, mỗi lần nói Phật lý một bộ, nhưng hành động lại một kiểu khác, vọng niệm còn nhiều (tham lam, tranh danh v.v...), như vậy có phải là một người tu hành, hiểu Phật lý không? Nhưng đôi khi họ tỉnh táo, biết vọng niệm là không tốt.

【Đáp】

Lông ở chân trái dựng lên, chỉ một chút thôi, đừng để ý là được. Đừng để ý, chỉ một chút thôi mà! Còn về việc có côn trùng bò qua bò lại, nếu không ảnh hưởng đến việc tụng kinh thì không sao cả, đừng quan tâm đến nó.

Về phương diện Phật lý, có nhiều vọng niệm, nói một đằng làm một nẻo! Đó là do việc tu hành chưa thực sự ổn định, bạn hãy từ từ tiếp tục tu tập, khi lý và sự phù hợp với nhau thì sẽ tốt thôi.

【Hỏi】

Có người nói chư Phật Bồ Tát cũng không phải là chính đẳng chính giác, đệ tử cảm thấy rất nghi ngờ, không biết họ có ý gì khác không?

【Đáp】

Tôi nghĩ thế này, Bồ Tát vẫn còn trần sa hoặc, tức là còn một chút mê hoặc nhỏ như hạt bụi, Bồ Tát vẫn còn, đến khi thành Phật mới viên mãn. Nếu Phật không phải là chính đẳng chính giác thì chẳng còn gì để học nữa! Chính đẳng chính giác là gì? Trong Phật pháp, Phật phải thuộc về chính đẳng chính giác, tức là "tam miệu tam bồ đề", đó chính là chính đẳng chính giác.

【Hỏi】

Đệ tử cảm thấy tông phái chúng ta đã có pháp môn tu luyện thù thắng thì cũng nên có sự hệ thống hóa về ngũ thuật "sơn y mệnh bốc tướng", cũng nên thù thắng, không biết Sư Phật có cho rằng đệ tử quá nhập thế không?

【Đáp】

Điều này là để giúp đỡ Phật pháp, dùng để giúp đỡ Phật pháp thì được.

【Hỏi】

Hiền thánh thời xưa Lý Thuần Phong có "kế đẩy lưng", Lưu Bá Ôn có "bài ca bánh nướng" (đều là những lời tiên tri về tương lai Trung Quốc), không biết Sư Tôn có bài thơ dài nào tiên tri về tương lai thế giới như "bài ca bánh nướng" hay những bài thơ tương tự để cảnh tỉnh thế nhân không?

【Đáp】

Để sau này viết, để sau này viết. 

【Hỏi】

Băng ghi hình "Chi Tiết Mật Pháp Hoàn Chỉnh" sẽ được truyền bá khắp thế giới và lưu truyền đến đời sau, xin hỏi: "Các đồng môn khắp thế giới và đệ tử Chân Phật trong tương lai không thể gặp trực tiếp Sư Tôn, học tập qua băng ghi hình, thần chú, ấn quyết, pháp khí vận dụng, làm sao có thể nhận được truyền thừa?"

【Đáp】

Có thể quán đảnh từ xa.

【Hỏi】
Khi Chân Phật Mật Pháp được truyền bá đến những nơi xa xôi trên thế giới và trong tương lai lâu dài, sẽ có đệ tử tự cho mình là đúng, tự ý thêm bớt và thay đổi Chân Phật Mật Pháp, rồi còn tự nói là được Sư Tôn cho phép, làm rối loạn Mật pháp. Xin Sư Tôn chỉ dạy, tất cả đệ tử Chân Phật nên bảo hộ Chân Phật Mật Pháp như thế nào để giữ gìn lâu dài và tránh sai lệch?

【Đáp】
Tôi nghĩ rằng, miễn là không tách rời khỏi cội cây lớn, bạn đừng đứt đoạn, thì việc phân nhánh phân lá là được.

【Hỏi】
Trước khi đệ tử Chân Phật cầu học pháp phowa, bản thân đệ tử cần phải có những điều kiện gì? Khi tu pháp phowa có cần Thượng sư ở bên cạnh không?

【Đáp】
Khi tu pháp phowa, không nhất thiết phải có Thượng sư ở bên cạnh, có thể tự mình tu tập; nhưng phải nói cho bạn biết, bản thân pháp phowa cũng có nguy hiểm của nó, cần phải tu pháp Trường Thọ Phật để bổ sung; bởi vì tu pháp phowa đến khi mở được lỗ đỉnh đầu rồi thì một tháng chỉ có thể tu một lần.

【Hỏi】

"Tĩnh là gốc; động là phụ, là biểu hiện" có đúng không? "Tìm tĩnh trong động" để đạt được sự cân bằng, thoải mái, có đúng không? Làm thế nào để điều chỉnh mối quan hệ động tĩnh cho thích hợp?

【Đáp】

Cũng giống như sự căng chùng vậy.

【Hỏi】

Tinh hoa của cơ thể là gì? Tinh hoa của cơ thể tập trung ở hai điểm nào?

【Đáp】

Một là Thiên tâm, một là dưới rốn bốn lóng tay, đó chính là vị trí đan điền.
Tinh hoa của cơ thể, một là huyết, một là tinh, đó là những nguyên tố của sinh mệnh.

【Hỏi】

Tịnh quang là gì? Có gì khác với ánh sáng thông thường? Tại sao ánh sáng của Đại Nhật Như Lai có thể chiếu đến mọi góc tối? Việc loại ánh sáng đặc biệt này có thể uốn cong có thể giải thích được không? Làm sao phân biệt được các loại ánh sáng màu sắc nhìn thấy trong quá trình tu tập là bình thường hay bất thường? Tu tứ gia hành pháp 100.000 lần, nếu tu toàn thời gian cũng phải mất 3 năm, có cần phải xuất ly mới tu tập tốt được không?

【Đáp】

Về vấn đề tịnh quang này, ánh sáng của Đại Nhật Như Lai không thể dùng ánh sáng của phàm phu chúng ta để tưởng tượng được; ánh sáng của Đại Nhật Như Lai khác với ánh sáng thông thường, đó là một loại ánh sáng của pháp giới. Khi chúng ta nói về ánh sáng của pháp giới, đó không phải là ánh sáng thông thường, nếu bạn dùng khoa học thông thường, hoặc dùng tầm nhìn giới hạn của tư duy con người để cảm nhận ánh sáng của Đại Nhật Như Lai thì đã là sai lệch rồi. Vì vậy tịnh quang của Đại Nhật Như Lai này là khác biệt, khác với những loại ánh sáng màu sắc mà chúng ta nhìn thấy; còn những ánh sáng mà chúng ta nhìn thấy hiện nay, đều là những ánh sáng sinh ra từ quan niệm của bản thân chúng ta.

Tu pháp Tứ gia hành 100.000 lần có phải mất 3 năm không? Hãy từ từ thể nghiệm, có người làm rất nhanh đã xong.

【Hỏi】

Thức thứ bảy có phải là tiềm thức trong giấc mơ không?

【Đáp】

Thức thứ bảy được gọi là mạt-na thức. Mạt-na thức chính là ý thức! Cũng có thể nói là tiềm thức, vậy nó có hiển hiện trong giấc mơ không? Cũng sẽ hiển hiện ra thôi.

【Hỏi】

Làm thế nào để tự chủ được giấc mơ?

【Đáp】

Điều này cần có Bổn tôn và Thượng sư gia trì cho bạn, giúp tâm bạn giữ được tỉnh táo, thì có thể tự chủ được giấc mơ. Có pháp tu Đại thủ ấn giấc mơ.

【Hỏi】

Không lâu nữa tôi sẽ về Bắc Kinh, dự định xây dựng một mật đàn tại nhà. Nhưng do nhiều điều kiện hạn chế, chỉ có thể xây một mật đàn rất đơn giản. Khi xây dựng cần chú ý điều gì? Sau khi xây xong thì khai quang như thế nào? Nội dung chính của ngũ căn ngũ lực là gì?

【Đáp】

Bạn cứ theo trong "Chân Phật Nghi Quỹ Kinh" để xây dựng mật đàn là được, trong đó viết rất rõ ràng.

Cái gọi là ngũ căn chính là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Ngũ lực chính là tín, tinh tấn, niệm, định, huệ.

【Hỏi】

Đối với đệ tử Hiển giáo hoặc người ngoài Phật môn, phương pháp nào đơn giản là tốt nhất để độ họ vào Chân Phật Tông? Và Chân Phật Tông có tài liệu nào để độ những người không biết tiếng Trung không, dành cho người châu Âu, Mỹ và con cháu người Hoa sinh ra ở Mỹ?

【Đáp】

Những điểm thù thắng của Chân Phật Tông chúng ta, hôm trước đã nói rồi, chúng ta phải nói cho họ biết Chân Phật Tông có những điểm thù thắng gì. Pháp bản tiếng Anh thì đã có, hiện đang làm thêm, hình như Tử Liên Đường có bản dịch tiếng Anh, ngoài ra còn nhiều công việc dịch tiếng Anh khác đang được thực hiện.

【Hỏi】

Khi vãng sinh niệm danh hiệu A Di Đà Phật, đồng thời phải quán tưởng pháp tướng của Phật A Di Đà. Con tin rằng đệ tử Chân Phật Tông đều có ấn tượng sâu sắc hơn về pháp tướng của Sư Tôn. Xin hỏi Sư Tôn, khi vãng sinh, đệ tử Chân Phật Tông có thể trì tâm chú Thượng sư để được chỉ dẫn thành Phật một cách thích hợp hơn không?

【Đáp】

Điều này được, các bạn có thể trì tâm chú Thượng sư hoặc quán tưởng Sư Tôn, việc vãng sinh như vậy là được. Quán tưởng A Di Đà Phật hoặc niệm danh hiệu A Di Đà Phật cũng được; bởi vì đều ở Tây phương Cực Lạc thế giới, A Di Đà Phật và Liên Hoa Đồng Tử có mối quan hệ mật thiết không thể tách rời, cho nên hai điều này là như nhau.

Cuối cùng cũng đã trả lời xong. Om mani padme hum.


### 32. Phật Học Tổng Thuyết - Tổng quán đảnh khai thị


Hôm nay là buổi quán đảnh tổng thể của chủ đề "Phật Học Tổng Thuyết" tại Cầu Vồng Sơn Trang. Vậy khi quán đảnh lát nữa thì sao? Mọi người hãy chú ý một chút, khi quán đảnh vị Phật nào thì trì chú của vị đó, rồi quán tưởng vị Bổn tôn đó an trụ trên đỉnh đầu của mình.

Vừa rồi tôi đã làm phép thỉnh chung, thỉnh chung nghĩa là thỉnh mời tất cả chư Phật trong mười phương ba đời, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, bao gồm tất cả chư thiên. Sau khi làm phép thỉnh chung xong, bất cứ khi nào các bạn quán tưởng vị Bổn tôn nào an trụ trên đỉnh đầu, vị ấy sẽ an trụ ngay, vừa rồi chính là thỉnh mời tất cả chư tôn từ hư không giáng xuống.

Vậy lát nữa khi quán đảnh, các bạn chỉ cần quán tưởng là vị ấy sẽ an trụ trên đỉnh đầu ngay. Còn bản thân tôi cũng sẽ hóa thành Bổn tôn để quán đảnh cho các bạn, như vậy chính là Bổn tôn đang quán đảnh cho các bạn vậy.

Đây chính là dòng pháp truyền thừa.

**Khai thị quán đảnh Hộ Ma**

Về quán đảnh lửa Hộ Ma này, khi quán đảnh Hộ Ma mọi người hãy chú ý, nghĩa là khi bình quán đảnh ở trên đỉnh đầu của bạn, bạn phải quán tưởng lửa giáng xuống toàn thân, thiêu đốt hoàn toàn bản thân mình, phải làm quán tưởng thiêu thân bằng lửa.

Tụng: "Ôm pê-cha ta-tu fan."

**Khai thị quán đảnh chuông chày kim cang**

Quán đảnh chuông chày kim cang là để sau này các bạn sử dụng chuông kim cang và chày kim cang. Sự vận chuyển "bi trí song vận" này có thể thực hiện tiêu tai, có thể làm các loại pháp Yết Ma, tiêu tai, tăng ích, hàng phục, kính ái đều có thể làm được.

Vậy lát nữa khi quán đảnh, mọi người hãy quán tưởng Kim Cang Tát Đỏa an trụ trên đỉnh đầu, bởi vì Kim Cang Tát Đỏa là vị nắm giữ chuông kim cang và chày kim cang, cũng có thể nói tất cả các pháp Mật giáo đều do Ngài truyền xuống.

Vậy mọi người hãy quán tưởng Kim Cang Tát Đỏa an trụ trên đỉnh đầu, các bạn cũng trì chú Kim Cang Tát Đỏa.

"Ôm pê-cha sat-tô ah hùm pây."

**Khai thị quán đảnh Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát**

Đây là quán đảnh Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát từng là thầy của rất nhiều Như Lai, bản thân Ngài là một vị Bồ Tát có trí huệ rất cao, vì vậy thông thường tu Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát có thể đạt được trí huệ rất cao. Đồng thời, uy lực của Ngài cũng vô cùng vô tận; rất nhiều vị tổ sư, như tổ sư Tsongkhapa, Bổn tôn của Ngài chính là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.

Trong Mật giáo, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát là một vị chủ tôn rất lớn, bao gồm tất cả các vị tổ sư đều là hóa thân của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.

Bây giờ quán đảnh Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, khi quán đảnh phải trì chú Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, quán tưởng Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát an trụ trên đỉnh đầu.

"Ôm a-ra-pa-cha-na ti."

**Khai thị quán đảnh 21 Độ Mẫu**

21 Độ Mẫu đều là hóa thân của Độ Mẫu, Độ Mẫu cũng giống như một vị Quan Âm; Bạch Độ Mẫu, Lục Độ Mẫu đều cùng một chủng tính từ bi.

Còn về 21 Độ Mẫu, phân chia rõ ràng hơn, tức là mỗi vị Độ Mẫu quản lý một Yết Ma, tức là một sự nghiệp. Nếu bạn hiểu được tất cả các thần chú của 21 vị Độ Mẫu và tổng chú của các Ngài, sự nghiệp Như Lai mà bản thân các Ngài thực hiện càng vi tế hơn, cũng chính là 21 Độ Mẫu, các Ngài có thể chủ trì tất cả sự nghiệp Như Lai trong cuộc đời.

Về việc tu 21 Độ Mẫu, trong Mật tông Tây Tạng, họ đều đạt được thành tựu rất lớn, vì vậy các bạn có thể học cách quán tưởng hình tượng 21 Độ Mẫu, cũng có thể học thần chú 21 Độ Mẫu; sau này tu 21 Độ Mẫu cũng giống như chủng tính của Quan Âm, Lục Độ Mẫu, Bạch Độ Mẫu vậy.

Chú âm: "Ôm ta-rê tu-ta-rê tu-rê sô-ha."

**Lời kết**

Đây là quán đảnh pháp thuyền báu, Ma Lợi Chi Thiên, Ngũ Lộ Tài Thần, Cát Tường Thiên Nữ, quán bạch cốt, pháp xả thân, ngoài ra còn có phần thủ ấn, phần thủ ấn siêu độ, và còn một vài vị Thượng sư cần được quán đảnh.

Hiện tại pháp thuyền báu, Ma Lợi Chi Thiên, Ngũ Lộ Tài Thần, Cát Tường Thiên Nữ, quán bạch cốt, pháp xả thân đều có thể thực hiện quán đảnh từ xa.

Vì vậy nếu lần này không được quán đảnh, các bạn có thể viết thư đến, hoặc khi có cơ hội cũng có thể trực tiếp quán đảnh, tức là sau này sẽ có quán đảnh, lần này vất vả cho mọi người rồi.

Om mani padme hum.

**(Hết.)**

---

---
# File: kinh-luat-luan/phat-thuyet-a-di-da-kinh-kinh-van.md
# Title: Phật Thuyết A Di Đà Kinh (kinh văn)
---

![image](/img/img_ef1057a20c3ffdc80a782fb013aa846f.png)



## **Phật Thuyết A Di Đà Kinh**


Xuất bản năm: N/A
Xuất xứ: Đời Hậu Tần, Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập dịch ra Hán văn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Kinh văn


Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ, trong vườn Kỳ Thụ Cấp Cô Độc, cùng với đại chúng tỳ kheo một nghìn hai trăm năm mươi vị, đều là bậc đại A La Hán, được mọi người biết đến: trưởng lão Xá Lợi Phất, Ma Ha Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp, Ma Ha Ca Chiên Diên, Ma Ha Câu Hy La, Ly Bà Đa, Chu Lợi Bàn Đà Già, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lư Phả La Đọa, Ca Lưu Đà Di, Ma Ha Kiếp Tân Na, Bạc Câu La, A Nậu Lâu Đà, cùng các vị đại đệ tử như thế; và các vị Bồ Tát Ma Ha Tát: Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử, A Dật Đa Bồ Tát, Càn Đà Ha Đề Bồ Tát, Thường Tinh Tấn Bồ Tát, cùng các vị đại Bồ Tát như thế, và Thích Đề Hoàn Nhân và vô lượng chư thiên đại chúng có đủ.

Bấy giờ, Đức Phật bảo trưởng lão Xá Lợi Phất: "Từ đây về phương Tây, cách xa mười vạn ức cõi Phật, có một thế giới tên là Cực Lạc. Ở cõi ấy có Đức Phật hiệu là A Di Đà, hiện đang thuyết pháp. Này Xá Lợi Phất! Vì sao cõi ấy gọi là Cực Lạc? Vì chúng sinh trong cõi nước đó không có các nỗi khổ, chỉ hưởng các điều vui, nên gọi là Cực Lạc.

Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc có bảy lớp lan can, bảy lớp lưới giăng, bảy lớp hàng cây, tất cả đều được bao quanh bởi bốn loại báu, vì thế nên cõi ấy gọi là Cực Lạc. Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc có ao bảy báu, nước tám công đức tràn đầy trong đó, đáy ao thuần dùng cát vàng trải đất. Bốn bên thềm bậc được làm bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê hợp thành. Phía trên có lầu gác, cũng được trang hoàng bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xà cừ, hồng ngọc, mã não. Trong ao có hoa sen to như bánh xe, màu xanh ánh sáng xanh, màu vàng ánh sáng vàng, màu đỏ ánh sáng đỏ, màu trắng ánh sáng trắng, hương thơm tinh khiết vi diệu. Này Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm như thế.

Lại nữa, Xá Lợi Phất! Cõi Phật ấy thường nổi thiên nhạc, mặt đất bằng vàng ròng. Ngày đêm sáu thời, mưa hoa mandala từ trên trời rơi xuống. Chúng sinh cõi ấy, thường vào mỗi sáng sớm, đều dùng y phục đựng các hoa đẹp vi diệu, đem cúng dường mười vạn ức Phật ở phương khác, đến giờ ăn liền trở về cõi nước của mình, thọ trai, kinh hành. Này Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm như thế. Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Cõi ấy thường có các loại chim kỳ diệu đủ màu sắc: bạch hạc, khổng tước, anh vũ, xá lợi, ca lăng tần già, và chim cộng mạng. Các loài chim ấy, ngày đêm sáu thời, hót lên âm thanh hòa nhã, diễn xướng các pháp như ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần, bát thánh đạo phần; chúng sinh trong cõi ấy nghe những âm thanh này rồi, hết thảy đều niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng.

Này Xá Lợi Phất! Ông chớ nghĩ rằng: "Những con chim này thực sự do tội báo mà sinh ra." Vì sao vậy? Vì cõi Phật ấy không có ba đường ác. Này Xá Lợi Phất! Cõi Phật ấy còn không có tên gọi của đường ác, huống chi là có thật. Những con chim ấy đều do Phật A Di Đà muốn cho âm thanh của pháp được lan truyền mà biến hóa ra. Này Xá Lợi Phất! Ở cõi Phật ấy, gió nhẹ thổi động các hàng cây báu và lưới báu, phát ra âm thanh vi diệu, ví như trăm nghìn loại nhạc cùng trỗi lên một lúc. Người nghe những âm thanh ấy tự nhiên sinh tâm niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng. Này Xá Lợi Phất! Cõi Phật ấy thành tựu công đức trang nghiêm như thế.

Này Xá Lợi Phất! Ý ông thế nào? Vì sao Đức Phật kia có hiệu là A Di Đà? Này Xá Lợi Phất! Ánh sáng của Đức Phật ấy vô lượng, chiếu khắp mười phương cõi nước, không bị chướng ngại, vì thế nên có hiệu là A Di Đà. Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Thọ mạng của Đức Phật ấy và nhân dân của Ngài là vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp, nên có hiệu là A Di Đà. Này Xá Lợi Phất! Đức Phật A Di Đà thành Phật đến nay đã được mười kiếp. Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Đức Phật ấy có vô lượng vô biên đệ tử Thanh Văn, đều là bậc A La Hán, không thể dùng toán số mà biết được, các Bồ Tát cũng như vậy. Này Xá Lợi Phất! Cõi Phật ấy thành tựu công đức trang nghiêm như thế.

Này Xá Lợi Phất! Chúng sinh nào sinh về cõi nước Cực Lạc đều là bậc bất thoái chuyển. Trong số đó có rất nhiều vị Nhất Sinh Bổ Xứ, số lượng nhiều không thể tính đếm được, chỉ có thể nói là vô lượng vô biên a-tăng-kỳ. Này Xá Lợi Phất! Chúng sinh nghe được điều này nên phát nguyện sinh về cõi ấy. Vì sao vậy? Vì sẽ được cùng hội họp một chỗ với các bậc thượng thiện nhân như thế. Này Xá Lợi Phất! Không thể dùng chút ít thiện căn, phước đức, nhân duyên mà được sinh về cõi ấy. Này Xá Lợi Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe nói đến Phật A Di Đà, chấp trì danh hiệu trong một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, bảy ngày, nhất tâm bất loạn, thì khi người ấy lâm chung, Phật A Di Đà cùng các thánh chúng sẽ hiện ra trước mặt. Người ấy khi mạng chung, tâm không điên đảo, liền được vãng sinh về cõi Cực Lạc của Phật A Di Đà. Này Xá Lợi Phất! Ta thấy lợi ích ấy nên nói những lời này. Nếu có chúng sinh nào nghe được điều này, nên phát nguyện sinh về cõi nước ấy.

Này Xá Lợi Phất! Như ta hôm nay, tán thán công đức lợi ích không thể nghĩ bàn của A Di Đà Phật: ở phương Đông có A Súc Bệ Phật, Tu Di Tướng Phật, Đại Tu Di Phật, Tu Di Quang Phật, Diệu Âm Phật, và vô số chư Phật nhiều như cát sông Hằng như thế. Mỗi vị đều ở tại cõi nước của mình, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời chân thật rằng: "Chúng sinh các ngươi nên tin kinh này, kinh được tất cả chư Phật hộ niệm, tán thán công đức không thể nghĩ bàn." Này Xá Lợi Phất! Ở thế giới phương Nam, có Nhật Nguyệt Đăng Phật, Danh Văn Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tu Di Đăng Phật, Vô Lượng Tinh Tấn Phật, và vô số chư Phật nhiều như cát sông Hằng như thế. Mỗi vị đều ở tại cõi nước của mình, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời chân thật rằng: "Chúng sinh các ngươi nên tin kinh này, kinh được tất cả chư Phật hộ niệm, tán thán công đức không thể nghĩ bàn."

Này Xá Lợi Phất! Ở thế giới phương Tây có Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Tướng Phật, Vô Lượng Tràng Phật, Đại Quang Phật, Đại Minh Phật, Bảo Tướng Phật, Tịnh Quang Phật, và vô số chư Phật nhiều như cát sông Hằng như thế. Mỗi vị đều ở tại cõi nước của mình, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời chân thật rằng: "Chúng sinh các ngươi nên tin kinh này, kinh được tất cả chư Phật hộ niệm, tán thán công đức không thể nghĩ bàn." Này Xá Lợi Phất! Ở thế giới phương Bắc có Diệm Kiên Phật, Tối Thắng Âm Phật, Nan Thư Phật, Nhật Sinh Phật, Võng Minh Phật, và vô số chư Phật nhiều như cát sông Hằng như thế. Mỗi vị đều ở tại cõi nước của mình, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời chân thật rằng: "Chúng sinh các ngươi nên tin kinh này, kinh được tất cả chư Phật hộ niệm, tán thán công đức không thể nghĩ bàn."

Này Xá Lợi Phất! Ở thế giới phương dưới có Sư Tử Phật, Danh Văn Phật, Danh Quang Phật, Đạt Ma Phật, Pháp Tràng Phật, Trì Pháp Phật, và vô số chư Phật nhiều như cát sông Hằng như thế. Mỗi vị đều ở tại cõi nước của mình, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời chân thật rằng: "Chúng sinh các ngươi nên tin kinh này, kinh được tất cả chư Phật hộ niệm, tán thán công đức không thể nghĩ bàn." Này Xá Lợi Phất! Ở thế giới phương trên có Phạm Âm Phật, Tú Vương Phật, Hương Thượng Phật, Hương Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân Phật, Sa La Thọ Vương Phật, Bảo Hoa Đức Phật, Kiến Nhất Thiết Nghĩa Phật, Như Tu Di Sơn Phật, và vô số chư Phật nhiều như cát sông Hằng như thế. Mỗi vị đều ở tại cõi nước của mình, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời chân thật rằng: "Chúng sinh các ngươi nên tin kinh này, kinh được tất cả chư Phật hộ niệm, tán thán công đức không thể nghĩ bàn."

Này Xá Lợi Phất! Ý ông nghĩ sao? Vì sao gọi là kinh được tất cả chư Phật hộ niệm? Này Xá Lợi Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe kinh này và thọ trì, cùng nghe danh hiệu chư Phật, thì những thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy đều được tất cả chư Phật hộ niệm, đều được bất thoái chuyển nơi đạo Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác. Vì vậy, này Xá Lợi Phất! Các ông đều nên tin nhận lời ta và lời chư Phật đã nói. Này Xá Lợi Phất! Nếu có người đã phát nguyện, đang phát nguyện, sẽ phát nguyện muốn sinh về cõi Phật A Di Đà, thì những người ấy đều được bất thoái chuyển nơi đạo Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác, ở cõi nước kia, hoặc đã sinh, hoặc đang sinh, hoặc sẽ sinh. Vì vậy, này Xá Lợi Phất! Các thiện nam tử, thiện nữ nhân, nếu có lòng tin, nên phát nguyện sinh về cõi nước ấy.

Này Xá Lợi Phất! Như ta hôm nay tán thán công đức không thể nghĩ bàn của chư Phật, các Đức Phật ấy cũng tán thán công đức không thể nghĩ bàn của ta mà nói rằng: "Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có thể làm được việc rất khó và hiếm có, có thể ở trong cõi Ta Bà, ngũ trược ác thế: kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sinh trược, mạng trược, mà chứng được đạo Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác. Vì các chúng sinh mà nói pháp khó tin này trong tất cả thế gian." Này Xá Lợi Phất! Nên biết ta ở trong ngũ trược ác thế làm việc khó này, chứng được đạo Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác, vì tất cả thế gian nói pháp khó tin này, thật là rất khó!" 

Khi Đức Phật nói kinh này xong, Xá Lợi Phất cùng các tỳ kheo, tất cả thế gian, trời, người, atula, nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ tin nhận, đảnh lễ rồi lui ra.

**(Hết.)**

---
# File: kinh-luat-luan/phat-thuyet-ma-loi-chi-thien-kinh-marici.md
# Title: Phật thuyết Ma Lợi Chi Thiên kinh (Marici)
---

![image](/img/img_a758a0dc288d3a5349f1c2c24773452e.png)



## Phật thuyết Ma Lợi Chi Thiên kinh (Marici)


Bản tiếng Trung theo Mạng Chân Phật Toàn Cầu TBSN
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Tôi nghe như vầy. 

Một thời. Bạc Già Phạm [một danh hiệu của Đức Phật] ở tại nước Xá Vệ trong vườn Kỳ Thụ Cấp Cô Độc cùng với một nghìn hai trăm năm mươi vị đại tì kheo có mặt đông đủ. 

Khi ấy, Phật nói với các tì kheo, có một vị Trời tên gọi Ma Lợi Chi Thiên, thường đi trước mặt trời. Không ai có thể nhìn thấy vị Ma Lợi Chi Thiên này, không ai có thể đuổi bắt, không bị người ta lừa gạt, không bị người ta ràng buộc, không bị người ta nợ nần của cải, không bị oan gia lợi dụng. 

Phật nói với các tì kheo, nếu có người biết tên của vị Ma Lợi Chi Thiên này thì người ấy cũng không thể bị nhìn thấy, cũng không thể bị bắt, không bị người ta lừa gạt, không bị người ta trói buộc, không bị người ta lừa của cải, không bị oan gia lợi dụng.

Phật nói với các tì kheo, nếu có thiện nam tử thiện nữ nhân nghe được tên của Ma Lợi Chi Thiên thì nên nói lời này: *“Đệ tử con là  ……. biết được danh của Ma Lợi Chi Thiên, vì thế không ai có thể nhìn thấy con, không ai có thể bắt con, không ai có thể lừa gạt con, không ai có thể trói buộc con, không ai có thể nợ nần con tiền của, oan gia không thể lợi dụng con.”*

Khi ấy, Thế Tôn liền nói chú rằng: “Ta-đi-a-tha, ác-ka-ma-si, mác-ka-ma-si, dờ-va-la-ma-si, dờ-va-la-ma-si, ma-ha-dờ-va-la-ma-si, an-tác-đa-na-y-a, ma-si, sô-ha”

[Tadyatha arka masi, marka masi, jvala masi, jvala masi, mahajvala masi, antardhanaya masi svaha]

*“Trong khi đi đường, bảo hộ con. Khi không đi đường, bảo hộ con. Ban ngày bảo hộ con. Ban đêm bảo hộ con. Trong oan gia hung ác bảo hộ con. Trong nạn vua chúa bảo hộ con. Trong nạn cướp bảo hộ con. Mọi nơi mọi lúc bảo hộ con. Đệ tử ……. soha.”*

Phật bảo các tì kheo, nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân, tì kheo, tì kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di, quốc vương, đại thần và nhân dân, nghe được Ma Lợi Chi Thiên đà-la-ni, nhất tâm thọ trì, sẽ không bị mọi điều xấu ác ở trên làm hại.

Phật bảo các tì kheo, nếu có người có thể chép lại, đọc tụng và thọ trì, nếu cài vào trong tóc, để ở trong quần áo, đi đâu cũng mang theo mình, thì mọi điều xấu ác đều bị đẩy lùi, không dám đối đầu. 

Khi ấy các tì kheo nghe Phật nói xong, hoan hỷ phụng hành. 

Phật thuyết Ma Lợi Chi Thiên kinh. Hết!

---

---
# File: kinh-luat-luan/phat-thuyet-that-cau-chi-phat-mau-tam-dai-chuan-de-da-la-ni-kinh.md
# Title: Phật Thuyết Thất Câu Chi Phật Mẫu Tâm Đại Chuẩn Đề Đà-la-ni Kinh
---

![image](/img/img_04fe10ef71789a740781a05e8870b862.png)


Xuất xứ: Đại Đường Thiên Trúc - Tam Tạng Địa Bà Ha La (Divākara) dịch Hán văn.
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

🌟

Bấy giờ, Đức Phật đang ở tinh xá Kỳ Viên, vườn Cấp Cô Độc tại nước Xá Vệ. Lúc bấy giờ, Thế Tôn tư duy quán sát, vì xót thương các chúng sinh trong đời vị lai, nên tuyên thuyết pháp "Thất Câu Chi Phật Mẫu Tâm Chuẩn Đề Đà La Ni". 
Ngài liền nói thần chú rằng: "Na-mô sa-tua-nan san-meo-san-pu-thua chuy-chư-nan ta-chư-tha ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha."

Nếu có tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di nào thọ trì đọc tụng đà-la-ni này đủ tám trăm nghìn biến, thì mọi tội lỗi từ vô lượng kiếp đến nay, cho đến năm tội vô gián đều được tiêu diệt hoàn toàn; sinh ra ở nơi nào cũng được gặp gỡ chư Phật, Bồ Tát; mọi của cải vật dụng đều được sung túc như ý; đời đời kiếp kiếp thường được xuất gia, thọ trì đầy đủ tịnh giới và luật nghi của Bồ Tát; luôn sinh vào cõi người, cõi trời, không đọa vào ác đạo, thường được chư thiên che chở bảo vệ.

Nếu có thiện nam tín nữ tại gia nào tụng trì thần chú này, thì gia đạo sẽ không bị tai ương, hoạn nạn hay bệnh khổ bức bách phiền não; mọi việc làm đều được hanh thông thuận lợi, lời nói ra ai nấy đều tin tưởng thọ nhận.

Nếu ai tụng thần chú đà-la-ni này đủ một trăm nghìn biến, trong giấc mộng sẽ thấy chư Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác, và tự thấy miệng mình nôn ra vật đen. Nếu người mang tội nặng, tụng đủ hai trăm nghìn biến, trong mộng cũng sẽ thấy chư Phật, Bồ Tát, và cũng tự thấy mình nôn ra vật đen.

Nếu người phạm tội ngũ nghịch, không có được những điềm mộng lành như vậy, thì nên tiếp tục tụng cho đủ bảy trăm nghìn biến, lúc ấy cũng sẽ có được những điềm tướng như trước. Cho đến khi nằm mộng thấy nôn ra vật màu trắng như sữa lạc hay cơm tẻ..., phải biết rằng người này đã đạt được điềm báo diệt trừ trọng tội, thân tâm trở nên thanh tịnh.

Lại nữa, nay Ta sẽ nói về những việc có thể làm nhờ vào đại đà-la-ni này. Nếu ở trước tượng Phật, hoặc trước tháp, hoặc tại một nơi thanh tịnh, dùng cù-ma-di [phiên âm tiếng Phạn g*omaya*, nghĩa là phân bò. Ở Ấn Độ cổ đại, phân của loài bò trắng (bò thần) được coi là vật liệu thanh tịnh, thường được trộn với đất sét và gỗ thơm để trát nền nhà hoặc lập mandala để ngăn chặn uế khí và côn trùng] bôi quét mặt đất để lập một đàn tràng hình vuông, to nhỏ tùy ý. Sau đó dùng hoa, hương, cờ phướn, lọng, đồ ăn thức uống, đèn, nến, tùy theo khả năng mà sắm sửa để cúng dường. Lại niệm chú vào nước thơm, rảy ra bốn phương và trên dưới để làm kết giới. Ở bốn góc đàn và chính giữa đàn, mỗi nơi đều đặt một bình nước thơm.

Người trì chú ngồi ở trong đàn tràng, mặt hướng về phía Đông, quỳ gối phải, tụng chú 1080 biến, các bình nước thơm đó liền tự động xoay chuyển. Chắp tay nâng hoa, tụng chú 1080 biến rồi rải lên mặt một tấm gương, rồi lại ngồi trước gương quán tưởng và tụng chú 1080 biến, sẽ được nhìn thấy hình tượng Phật và Bồ Tát. Lại niệm chú vào hoa 108 biến rồi rải ra cúng dường, bấy giờ tùy ý thỉnh vấn Phật pháp, không có điều gì là không được thấu suốt.

Nếu có người mắc bệnh do quỷ mị gây ra, hãy niệm chú vào cỏ tranh rồi phất lên người bệnh, bệnh liền được chữa khỏi. Nếu có trẻ nhỏ bị quỷ mị nhập, dùng sợi chỉ ngũ sắc, bảo một bé gái đồng trinh tết lại thành dây, cứ tụng chú một biến thì thắt một nút, làm cho đủ hai mươi mốt nút, rồi lấy dây đó đeo vào cổ đứa trẻ, sau đó niệm chú vào hạt cải đủ bảy biến rồi rắc lên mặt đứa trẻ, bệnh cũng liền được dứt trừ.

Lại có pháp, vẽ hình của loài quỷ mị bằng mực ở trước mặt người bệnh, tụng chú vào cành dương liễu rồi đánh vào hình vẽ đó, bệnh cũng liền thuyên giảm và được tiêu trừ.

Lại có pháp, nếu có người bệnh bị quỷ nhập mà thân đang ở nơi xa, nên tụng chú vào cành dương liễu cho đủ bảy biến, rồi gửi người khác mang đến đánh vào người bệnh, bệnh cũng liền tiêu trừ.

Lại có pháp, nếu đi trên đường mà tụng chú này, sẽ không còn phải sợ hãi giặc cướp hay ác thú.

Lại có pháp, thường trì tụng chú này, dẫu có vướng vào tranh chấp kiện tụng thì không lúc nào không giành phần thắng. 

Nếu muốn đi qua sông ngòi hay biển lớn, vừa tụng chú vừa sang sông, sẽ không gặp nạn ác thú dưới nước.

Lại có pháp, nếu bị giam cầm, gông cùm trói buộc thân thể, người tụng chú này liền được giải thoát.

Lại có pháp, nếu các quốc độ mưa nắng không điều hòa, dịch độc hoành hành, nên dùng bơ trộn với hạt vừng và gạo tẻ, dùng ba ngón tay bốc lấy một nhúm, tụng chú một biến rồi ném vào lửa mà đốt. Nếu làm liên tục không dứt như vậy trong bảy ngày bảy đêm, mỗi ngày sáu thời, thì tất cả mọi tai ương, dịch bệnh thảy đều bị tiêu diệt.

Lại có pháp, ở nơi bãi cát giữa sông ngòi, dùng ấn in lên cát thành hình tháp, cứ tụng chú một biến thì in thành một ngọn tháp, đủ sáu trăm nghìn biến, sẽ được thấy Quan Thế Âm Bồ Tát, hoặc Đa La Bồ Tát [Tara Bồ Tát], hoặc Kim Cang Chủ Bồ Tát [Kim Cang Thủ Bồ Tát]. Tùy theo sở cầu trong tâm, tất cả đều được viên mãn, hoặc được ban cho tiên dược, hoặc được thọ ký quả vị Bồ Đề.

Lại có pháp, đi nhiễu quanh tượng cội bồ đề theo chiều bên phải, tụng chú cho đủ mười triệu biến, liền được thấy Bồ Tát vì mình mà thuyết pháp, nếu muốn đi theo Bồ Tát, tức thì được đi theo.

Lại có pháp, nếu khi đi khất thực mà thường trì tụng chú này, sẽ không bị kẻ ác hay chó dữ làm tổn hại. Nếu ở trước tháp, hoặc trước tượng Phật, hoặc trước tháp Xá Lợi, tụng trì chú này ba trăm nghìn biến, lại vào ngày Rằm bạch nguyệt [lịch Ấn Độ cổ đại chia một tháng thành bạch nguyệt (từ mồng 1 đến 15) và hắc nguyệt (từ 16 đến 30)] thiết lập đại cúng dường, trong suốt một ngày một đêm không ăn uống, giữ chính niệm mà tụng chú, cho đến khi được diện kiến Kim Cang Thủ Bồ Tát, và vị Bồ Tát ấy liền dẫn người này về cung điện của Ngài.

Lại có pháp, nếu ở trước tháp Chuyển Pháp Luân, hoặc trước tháp nơi Phật đản sinh, hoặc trước tháp nơi Phật từ cõi trời Đao Lợi bước xuống thềm báu, hoặc trước tháp Xá Lợi, ở trước các tháp như vậy mà tụng chú và đi nhiễu quanh theo chiều bên phải, liền được thấy A Bát La Thị Đa Bồ Tát [Aparajita - Vô Năng Thắng Bồ Tát] và Ha Lợi Đế Bồ Tát [Hariti - Quỷ Tử Mẫu]. Tùy theo tâm nguyện đều được viên mãn, nếu cần tiên dược các Ngài liền ban cho, lại còn vì người đó mà thuyết pháp, chỉ dạy đạo Bồ Tát. Nếu có người tụng đà-la-ni này, cho đến khi chưa ngồi nơi đạo tràng [tức chưa thành Phật], thì tất cả các vị Bồ Tát vẫn luôn làm thiện hữu tri thức.

Lại nữa, pháp Đại Minh Chú Đại Đà-la-ni Chuẩn Đề này, chư Phật trong quá khứ đã tuyên thuyết, chư Phật trong tương lai sẽ tuyên thuyết, chư Phật trong hiện tại đang tuyên thuyết, và Ta nay cũng tuyên thuyết như vậy, là vì muốn lợi ích cho tất cả chúng sinh, khiến cho họ đạt được quả vị Vô Thượng Bồ Đề.

Nếu có chúng sinh nào bạc phước, không có chút thiện căn, không có căn khí tu hành, không có các pháp Bồ Đề phần, mà được nghe pháp đà-la-ni này, sẽ nhanh chóng chứng đắc quả vị A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề [Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác]. Nếu có người có thể thường tự ghi nhớ, trì tụng thần chú này, thì vô lượng thiện căn thảy đều được thành tựu.

Khi Đức Phật thuyết pháp Đại Chuẩn Đề Đà-la-ni này, vô lượng chúng sinh liền dứt bỏ được trần lao, xa lìa cấu uế, đạt được công đức của Đại Minh Chú Đại Chuẩn Đề Đà-la-ni, được diện kiến mười phương chư Phật, Bồ Tát cùng các bậc Thánh chúng, đảnh lễ rồi lui ra.

(Hết.)

---
# File: kinh-luat-luan/so-tay-nhap-mon-chan-phat-tong.md
# Title: Sổ tay nhập môn Chân Phật Tông
---

![image](/img/img_e05b0182f4eb6b11f0036bd280844fae.png)



## Sổ tay nhập môn Chân Phật Tông  


Xuất bản năm: 2019
Biên soạn: Tông ủy hội Chân Phật toàn cầu
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

## I. Hỏi đáp dành cho người mới quy y



### 1.1. Tầm quan trọng của tín ngưỡng


Cái gọi là tín ngưỡng chính là y chỉ và mục tiêu trên phương diện tinh thần của nhân loại, có thể sản sinh ra một sức mạnh vô hình. Tín ngưỡng lương thiện bằng việc tu sửa lời nói hành vi của chính mình cho đúng để có thể nâng cao phẩm chất, đức tính và linh tính của bản thân, nhằm đạt tới mục đích siêu phàm nhập Thánh.


### 1.2. Vì sao cần tín ngưỡng Phật giáo?


**1.2.1. Hiểu nhân quả và luân hồi**

Cái gọi là nhân quả cũng chính là nhân duyên và kết quả. Tất cả sự vật trên thế gian đều có nhân quả của nó, nhân và quả gắn với nhau như hình với bóng, một chút xíu cũng không tách rời. Có người tài cao bát đẩu nhưng vẫn hoài tài bất ngộ [con người có tài năng vượt trội hơn người khác nhưng sinh không đúng thời, do vậy rất khó để sử dụng hết tài năng của mình, không được thời thế hiểu đúng và trọng dụng]. Có người thì một chữ bẻ đôi cũng không biết nhưng lại ngồi cao chót vót làm bá chủ một vùng. Có thể thấy là nhân quả báo ứng thông suốt tam thế. 

Do vậy để hiểu được việc sinh ra trong phú quý hay hạ tiện, trong vinh hoa hay tủi nhục thì phải biết được rằng: "Nguyên nhân kiếp trước chính là cái ta nhận được ở kiếp này, quả của kiếp sau chính là do kiếp này tạo nên."

Phật giáo căn cứ theo định luật nhân quả trong vòng tròn tam thế của quá khứ, hiện tại, tương lai. Hiểu rằng tại kiếp này tạo nghiệp thiện hay ác sẽ thành báo ứng khổ hay vui sau này. Cái gọi là "họa phúc vô môn, duy nhân tự chiêu" [họa phúc không có cửa, do tự con người mời mà tới] là ý nói rằng con người tự làm tự chịu, do vậy mà thiện có thiện báo, ác có ác báo, không phải là không có báo ứng, chỉ là chưa tới lúc mà thôi.

Cái gọi là luân hồi là chỉ chúng sinh tùy theo nguyên nhân nghiệp thiện hay ác do chính mình tạo ra mà chiêu cảm các hình thức quả báo khác nhau, đời đời kiếp kiếp không dừng dứt phải chuyển thế trong lục đạo luân hồi. 

Có thể nói rằng: nhân quả và nghiệp lực là trục tâm của lục đạo luân hồi, cũng chính là nguyên nhân chính của sự tuần hoàn trong vòng sinh tử của chúng sinh. Bởi vậy Phật nói: "Thậm chí trăm nghìn kiếp, nghiệp tạo ra không bao giờ hết, khi nhân duyên đã hội tụ đủ thì quả báo sẽ tự trổ ra."
(Lục đạo, tức là trời, người, atula, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.)

**1.2.2. Nương dựa duy nhất chính pháp để tu hành, siêu thoát luân hồi**

Thế giới con người là sự luân chuyển giữa khổ và vui, đời người có tám nỗi khổ. Trên phương diện sinh lý thì chẳng thể tránh khỏi cái khổ của sinh lão bệnh tử. Trên phương diện tâm lý thì là khổ vì yêu, khổ vì ly biệt, khổ vì ân oán yêu ghét, khổ vì mong cầu mà không được, những cái khổ do ngũ uẩn thiêu đốt, và khổ vì tất cả những cái khổ trên. 

Mục đích tu hành là thông qua chính pháp để làm cho bản thân trong sạch và đúng đắn, để nghiệp tích lũy từ nhiều kiếp và chướng ngại của thân tâm trong đời này toàn bộ đều được tiêu trừ, đạt được sự thanh tịnh. Nói cách khác chính là khi vãng sinh có thể thuận lợi đi trên con đường hướng tới Phật quốc mà không có bất kì chướng ngại nào. 

Tìm kiếm nơi an thân sau khi chết: 
Ý nghĩa thực sự của đời người là nâng cao phẩm tính tâm linh của bản thân, vượt thoát khỏi lục đạo, giải thoát hết phiền não. Muốn tìm cho mình một nơi chốn để an thân sau khi chết thì một khi đã đến giới hạn của cái chết, phải hiểu rằng: mọi thứ chẳng thể đem đi cùng, duy nhất chỉ có nghiệp là còn theo thân. Do vậy, ngay tại kiếp này nên chọn sẵn cho mình một nơi để vãng sinh. Theo lời Phật giáo mà nói thì chính là cần có đủ điều kiện để siêu thoát khỏi luân hồi.

Siêu phàm nhập Thánh, đoạn trừ luân hồi: 
Cái gọi là thập pháp giới trong Phật giáo là do mức độ cao thấp của các cõi mà phân biệt thành: Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác, thiên, nhân, atula, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. 

Bốn cõi đầu tiên gọi là tứ Thánh, sáu cõi sau gọi là lục phàm. Từ cõi người trở lên thì mức độ phúc báo khác nhau, còn từ cõi người trở xuống thì là mức độ tai nạn và khổ ải khác nhau. Khi hiểu được đạo lý về nhân quả luân hồi ba kiếp thì chúng ta cần phải thông qua tu hành chính pháp mà tiêu trừ những ác nghiệp mà bản thân đã tạo ra trong các kiếp quá khứ, để ta được thanh tịnh. Nhờ nâng cao phẩm chất tâm linh đến cảnh giới cao hơn và thanh tịnh hơn mà ta mới có thể chấm dứt sinh tử, siêu thoát luân hồi, thoát khổ được vui.

Giải thoát linh hồn, vĩnh sinh cực lạc: 
Đời người ngắn ngủi cũng chỉ đếm được vài chục năm, chớp mắt một cái thì vợ con, tiền tài cũng thành "không" cả. Bao nhiêu nhà cửa tiền tài cũng chẳng thể đem theo khi chết được, chỉ có duy nhất nghiệp còn đi theo thân này. 

Nhân quả và nghiệp lực đời đời kiếp kiếp bện xoắn chằng chịt, hết vở kịch này đến vở kịch khác, nhưng rốt cục thì vẫn chỉ là một cảnh "không". Bởi vậy tu hành nếu muốn minh tâm kiến tính, giải thoát luân hồi, quay trở về tứ Thánh thì đừng có dừng lại mãi mãi trong lục đạo. 

Tu hành chính pháp có thể khiến cho linh hồn được giải thoát, không phải chịu luân hồi, vĩnh viễn được sinh tại pháp môn cứu cánh của thế giới quang minh Phật quốc, nói cách khác là có thể siêu việt tam giới. 

Ý nghĩa của Phật giáo là: 
Không làm các việc ác, thường làm các việc lành, tự làm sạch tâm ý, đó là điều Phật dạy. Không làm các việc ác, thường làm các việc lành chính là làm lợi ích cho quảng đại chúng sinh. Không chỉ độ cho chính mình mà càng cần phải làm nhiều việc thiện, từ bi độ cho người khác. (Các tôn giáo thông thường đại bộ phận đều chỉ dựa vào duy nhất điều này làm giáo nghĩa.)

Tự làm sạch tâm ý là thanh tịnh tâm của chính mình, tăng trưởng trí tuệ quang minh, chứng nhập vào tính Không, chứng ngộ chân lý vũ trụ, giải thoát phiền não, siêu xuất khỏi luân hồi. 

Nhờ thông qua nỗ lực thực tu có thể tiêu trừ được ác nghiệp trong vô số kiếp, tiêu trừ tất cả phiền não, khiến cho ánh sáng Phật tính vốn có trong tự tâm được tỏa sáng, bình đẳng với Phật. Ta chính là Bồ Tát, ta chính là Phật, thể hiện tính trí bình đẳng viên mãn của Phật. (Tôn giáo thông thường cho rằng con người vĩnh viễn là người, không thể nào thành Thần Tiên, con người cũng vĩnh viễn không thể trở thành Thượng Đế. Giáo nghĩa này so sánh với Phật giáo thì không thể viên mãn bằng.)
Do vậy, Phật giáo là một tôn giáo viên mãn và thần thánh nhất thế gian. Vì thế chúng ta nên tín ngưỡng, nên quy y.

**1.2.3. Tám pháp trực tiếp nhất để tiêu trừ nghiệp chướng**

- Trì tụng Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh 1000 biến trở lên. (sức mạnh của kinh)

- Trì tụng Căn bản Thượng sư tâm chú 10.000 biến trở lên. (sức mạnh của chú)

- Tu trừ pháp sám hối 100 đàn trở lên. (sức mạnh của pháp)

- Lễ bái cúng dường, xây chùa, xây tháp, làm tượng Phật, in ấn kinh thư sách thiện, làm việc thiện cứu đời. (sức mạnh của bố thí)

- Trì niệm danh hiệu của Phật, Bồ Tát, trực tiếp tương ứng. (sức mạnh của Phật)

- Thiền định để có được sức mạnh giới-định-huệ. (sức mạnh của định)

- Tu pháp Căn bản Truyền thừa Thượng sư để xin gia trì, được chịu thay và chuyển dời nghiệp chướng. (sức mạnh của Căn bản Thượng sư)

- Chân Không hóa vô. (sức mạnh của tính Không)


### 1.3. Sự khác nhau giữa Phật giáo truyền thống và Mật giáo


**1.3.1. Thế nào gọi là Hiển, Mật?**

Hiển giáo: 
Là đạo lý cơ bản của Phật pháp, là giáo pháp dễ hiểu rõ ràng, là giáo pháp tùy theo ý nguyện của người khác. Hễ là các pháp môn được nói đến trong Tam Tạng Thập Nhị Bộ Chính Pháp như tứ Thánh đế, thập nhị nhân duyên, lục độ vạn hành, ngoại trừ Mật giáo ra, thì các Phật giáo khác đều là Hiển giáo. 
Mật giáo:
• Giáo pháp Kim Thai Lưỡng Bộ của Đại Nhật Như Lai. [chỉ hai bộ Kim Cương Giới và Thai Tạng Giới của Mật giáo]
• Cảnh giới bí mật thâm sâu ảo diệu của nội chứng pháp thân Phật.
• Giáo pháp không được chỉ cho người chưa được quán đảnh thì chính là Mật giáo.
• Sự mật và Lý mật [bí mật của thực hành và bí mật của lý thuyết] - hai cái này hợp lại gọi là Mật giáo. 
• Trong Phật pháp, đây là chân bí mật ẩn tàng, không được hiển lộ.
• Ý Phật thâm sâu và bí mật, không phải ai cũng có thể cảm nhận được, thậm chí là tam Hiền thập Thánh cũng chưa chắc đã hiểu được. 

Giáo pháp khác nhau:
Hiển giáo: dựa trên những thuyết giảng của Phật Thích Ca Mâu Ni, giáo pháp có lớn nhỏ nông sâu, dựa vào lời giảng mà khởi lên hành động, ngôn từ được nói lên rất rõ ràng.
Mật giáo: dựa trên những thuyết giảng của Đại Nhật Như Lai, giáo pháp là tức thân thành Phật, biểu thị chân ngôn, bí mật truyền thụ cho các thế hệ sau.

Giáo nghĩa khác nhau: 
Hiển giáo có học thuyết của bốn giáo phái lớn và chủ yếu như sau:
• Thiên Thai tông: tên lấy từ tên núi Thiên Thai, dựa trên kinh Pháp Hoa, có pháp Đại Chỉ Quán. 
• Hoa Nghiêm tông: lý luận về sự vô ngại của mọi vật, dựa trên kinh Hoa Nghiêm.
• Thiền tông: chính pháp nhãn tạng, niết bàn diệu tâm, giáo ngoại biệt truyền, thực tham thiền ngộ. 
• Tịnh Độ tông: lấy tam kinh nhất luận làm chính, tức là kinh Vô Lượng Thọ, kinh Quán Vô Lượng Thọ, kinh A Di Đà, và Vãng Sinh Luận, lấy việc hoằng dương vãng sinh cõi tịnh độ Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật làm chính.

Học thuyết chủ yếu của Mật giáo: 
Lấy thân, khẩu, ý tam mật hợp nhất để tinh tấn tu trì, thực tu để đạt được đến bến bờ thành Phật. Dựa vào kinh Đại Nhật, kinh Kim Cương Đỉnh làm chủ. 

Quy y khác nhau:
Hiển giáo: quy y là Tam quy y, tức là quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. 
Mật giáo: quy y là Tứ quy y, tức là quy y Căn bản Truyền thừa Thượng sư, quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. 

Trong Mật giáo, nếu như không quy y Căn bản truyền thừa Thượng sư, không được Căn bản truyền thừa Thượng sư quán đảnh thì không thể tu Mật pháp, bởi vì không có sức mạnh gia trì của dòng truyền thừa thì có tu cũng như không tu, tất cả các chú pháp đều vô hiệu, không khác gì trộm pháp. Việc này là phạm vào giới samaya.

Phương pháp tu hành khác nhau:
Hiển giáo: tu hành phần lớn coi trọng việc hát tụng (niệm Phật, sám hối, hát tụng, nhiễu Phật) và thuyết giảng. Ngoài niệm Phật ra thì còn có tham thiền. 
Mật giáo: tu hành coi trọng thực tu Mật pháp, về cơ bản vẫn xem tất cả kinh luận là kim chỉ nam cho việc tu hành thành Phật, do vậy có thể phối hợp việc tu hành vào thực tế. Trên phương diện thực tu Mật pháp thì phải theo thứ tự mà tu, khởi đầu từ Thứ tự sinh khởi, tu đến Thứ tự viên mãn, từ đó đạt được mục đích tức thân thành Phật. 

Tu pháp vãng sinh khác nhau: 
Hiển giáo: phần lớn là tha lực cộng thêm phần nhỏ là tự lực bản thân, từ đó vãng sinh Phật quốc.
Mật giáo: phần lớn là tự lực cộng thêm phần nhỏ là tha lực mà có thể tức thân thành Phật. 

Vạn đức viên mãn khác nhau:
Hiển giáo: học Hiển giáo để thành Phật cần trải qua ba đại a-tăng-kì kiếp.
Mật giáo: học Mật giáo có thể viên đốn diệu giác, dựa vào niềm tin mạnh mẽ mà tu hành, đạt đến Tam mật tương ứng, có thể tức thân thành Phật.

Ăn mặn ăn chay khác nhau:
Vào thời Phật Thích Ca Mâu Ni có quy định tăng đoàn không thực hiện việc nấu nướng, bởi vậy tất cả đều đi ra ngoài cầm bình bát khất thực hóa duyên, thí chủ bố thí cho cái gì thì ăn cái đó, tùy duyên mà ăn, không phân biệt chay mặn. Do vậy Phật Thích Ca Mâu Ni không coi trọng việc ăn chay hay mặn. Hơn nữa Phật giáo cũng không phải là một tôn giáo ăn chay. Cho đến khi Phật giáo được truyền xuống phía nam (các quốc gia Đông Nam Á như Thái Lan, Myanmar) thì vẫn bảo lưu truyền thống này, do vậy không phân biệt việc ăn chay ăn mặn. 

Hiển giáo: ở Trung Quốc, kể từ khi Lương Vũ Đế hạ chiếu thư bắt đầu đưa ra quy định tăng nhân xuất gia buộc phải ăn chay. Quy định này kể từ đó đến nay không thay đổi. 
Mật giáo: tiếp tục lời dạy tùy duyên mà dùng đồ ăn của Đức Phật. Nhưng trong Mật giáo, trước khi dùng đồ ăn thì phải tuân thủ hai điều dưới đây:
(1) Trước khi ăn mặn cần trì chú, quán tưởng, làm siêu độ, siêu độ thần thức của các linh hồn trong các món ăn mặn được vãng sinh. Tiếp đó cần cúng dường đồ ăn tới chư Phật Bồ Tát và Kim Cang Hộ Pháp chư Tôn. Cuối cùng mới tới lượt mình ăn. Do vậy, siêu độ và cúng dường vô cùng quan trọng.
(2) Nguyên tắc khi ăn mặn của Chân Phật Tông là:
• Không sát sinh. (sát sinh là phạm giới)
• Ăn ba loại thịt thanh tịnh, mục đích là để bồi dưỡng tâm từ bi. (không tự mình giết, không nghe thấy âm thanh giết mổ, không vì ta mà bị giết)
• Siêu độ. (dùng chú Văn Thù Vãng Sinh và ấn Đại hải siêu độ)
• Cúng dường. (quán tưởng biến hóa thức ăn thành vô tận vô lượng, trên cúng Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật, Bồ Tát, giữa cúng Kim Cang Hộ Pháp, Không Hành chư Thiên, dưới cúng lục đạo chúng sinh)

Sự thù thắng của Chân Phật Mật Pháp, một trong số đó chính là việc có thể siêu độ thần thức của linh hồn trong thức ăn mặn được vãng sinh, khiến cho linh hồn của gia súc được thấm đẫm ánh sáng Phật mà kết Phật duyên, đây chính điều quan trọng nhất. 

Việc phân biệt Hiển - Mật vẫn còn thể hiện ở việc chế tác tượng Phật Bồ Tát khác nhau, đàn thành khác nhau, v.v…


### 1.4. Vì sao cần quy y?


(Ý nghĩa của quy y)
Hàm nghĩa của từ quy y chính là quay về và dựa vào để được cứu độ. Căn bản của quy y chính là một chữ "tín". "Tín" (lòng tin) là sự khởi đầu của tất cả, cũng chính là:
*”Công đức mẫu của Đạo là tín
Tăng trưởng hết thảy pháp thiện lành
Tiêu trừ hết thảy mọi nghi hoặc
Thị hiện mở ra đạo vô thượng.”*
"Tín, giải, hành, chứng" của Phật pháp chính là bắt đầu từ lòng tin. 
Quy y nhận quán đảnh giống như chứng nhận một học sinh chính thức nhập học. Sau khi quy y nhận quán đảnh xong thì lập tức có được dòng truyền thừa Chân Phật Tông, sẽ là đệ tử Chân Phật chân chính. Nghiệp xấu từ từ sẽ được tiêu trừ, có 36 thiện thần bảo hộ, có được tất cả mọi công đức, không dễ bị đọa vào tam ác đạo, rất mau chóng tăng trưởng thiện nghiệp, đạt đến sự khai ngộ vô thượng. 

Do vậy, ý nghĩa thực sự của việc quán đảnh quy y là một nghi thức vừa cao quý vừa thần thánh. Hễ nhận quán đảnh quy y thì thực sự đã nhập môn học Phật, là đệ tử Chân Phật chân chính. Và việc quy y không đồng nghĩa với việc xuất gia, bởi vì xuất gia phải có chữ ký đồng ý của cha mẹ hoặc vợ chồng, hơn nữa phải được tổ chức cao nhất của bản tông phái thẩm định và thông qua mới được. 

Hiển giáo là Tam quy y, Mật giáo là Tứ quy y. 
Tứ quy y của Mật giáo, trong tiếng Phạn, "nam mô" chính là quy y. 
Namo guru bei - quy y Căn bản Truyền thừa Thượng sư. 
Namo buddha ye - quy y Phật. 
Namo dharma ye - quy y pháp. 
Namo sangha ye - quy y tăng. 
(Phiên âm Việt là: Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê.)


### 1.5. Vì sao cần quy y Chân Phật Tông?


(Quy y Liên Sinh Hoạt Phật)

**1.5.1. Lợi ích của quy y**

Mật hiệu của Liên Sinh Hoạt Phật là Đại Phúc Kim Cang, là Căn bản Truyền thừa Thượng sư của Chân Phật Tông. Đệ tử Chân Phật tu trì pháp Căn bản Thượng sư tương ứng không những có thể cùng tương ứng với Căn bản Truyền thừa Thượng sư mà đồng thời còn có được phúc phần lớn nhất. Nếu nhập thế có thể thành tựu viên mãn mọi mong cầu của con người thế gian như sức khỏe, sống lâu, gia đình yêu kính, giàu có, trí tuệ. Nếu xuất thế sẽ thành tựu Liên Hoa Bồ Tát. (Về việc tu thành tựu xuất thế, xin tham khảo chương 3 trong cuốn sổ tay này, mục "Thứ tự tu hành Chân Phật Mật Pháp".)

Đệ tử được quy y nhận quán đảnh lập tức có 16 vị thiện thần bảo vệ cho đệ tử, 16 vị thiện thần này chính là: Trì Quốc Thiên Vương, Tăng Trưởng Thiên Vương, Tồi Phục Độc Hại Thiện Thần, Tăng Ích Thiên Vương, Sư Tử Uy Mãnh Thiện Thần, Dũng Mãnh Tâm Địa Thiện Thần, Nhiếp Phục Chư Ma Thiện Thần, Năng Cứu Chư Hữu Thiện Thần, Ly Nhất Thiết Phổ Úy Thiện Thần, Cứu Hộ Nhất Thiết Thiện Thần, Bì Sa Môn Thiên Vương, Quảng Mục Thiên Vương, Bạt Trừ Tội Khổ Thiện Thần, Năng Nhẫn Thiện Thần, Hoan Hỷ Thiện Thần, Trừ Nhất Thiết Chướng Nạn Thiện Thần. Chính là 16 vị thiện thần này. Thậm chí có 36 thiện thần và nhiều thiện thần hơn nữa cũng đến để bảo vệ đệ tử Chân Phật, đây đều là lợi ích bất khả tư nghì. 

Thậm chí khi nhận quán đảnh quy y sẽ có được Kim cang tam muội đà-la-ni, lập tức cảm ứng được Kim Cang Lực Sĩ, từ trong hư không sẽ hạ giáng xuống một vị Kim Cang, có thể là Chấp Kim Cang, hoặc Trì Kim Cang, hoặc Kim Cang Dạ Xoa. Các vị thần Kim Cang này thường theo bên cạnh để bảo vệ hành giả Chân Phật. Hễ là đệ tử đã quy y nhận quán đảnh, nếu dựa duy nhất vào pháp và duy trì trong thời gian dài thì có thể tự đem lại lợi ích cho bản thân và lợi ích cho người khác. 

Căn bản Thượng sư tương ứng pháp là đại pháp có công đức vô biên, có thể diệt tất cả mọi nghiệp tội, mọi điều ác đều được loại trừ. Ở thế giới hiện tại, khả năng có được tương ứng với Chân Phật Căn bản Thương sư là nhanh nhất, vì thế đệ tử nên tại thế gian mà lưu truyền rộng rãi Phật pháp này.

**1.5.2. Cách thức quy y**

(1) Viết thư xin quán đảnh quy y từ xa:
Vào lúc 7h sáng (thời gian địa phương của bạn) ngày mồng 1 hoặc 15 Âm Lịch, quay mặt về phía mặt trời mọc. Chắp hai tay lại, cung kính niệm chú Tứ quy y ba lần: 
*”Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.
Liên Sinh Hoạt Phật chỉ dẫn
Quy y Chân Phật."
*Đọc ba lần và lạy ba lần.

Gửi thư đến tổ chức Chân Phật Tông để thỉnh cầu quán đảnh quy y. Ghi rõ tên, địa chỉ, tuổi và kèm theo một khoản cúng dường tùy tâm. 

Địa chỉ của tổ chức Chân Phật Tông:
Tổ chức Chân Phật Tông
17102 NE 40th Ct., 
Redmond, WA 98052 USA.

Sau khi nhận được thư của bạn, tổ chức Chân Phật Tông sẽ gửi giấy chứng nhận, một tấm ảnh của Liên Sinh Hoạt Phật và một tờ ghi chú nói rõ cấp độ tu tập mà bạn nên bắt đầu. 

(2) Quy y tại địa phương, nơi có các vị Chân Phật Tông Kim cương Thượng sư thay mặt cho Sư Tôn hoằng pháp, đại diện cho Sư Tôn quán đảnh và tiến hành thủ tục quy y, và thay mặt Sư Tôn cấp chứng thư quy y.

(3) Đến gặp trực tiếp Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Thánh Tôn để được ban cho quán đảnh quy y và sau đó được phát chứng thư quy y.

**1.5.3. Sau khi quy y có thể nhận thêm quán đảnh quy y nơi khác không?**

Hễ là đệ tử đã quy y Chân Phật Tông, khi đã được tiếp nhận quán đảnh quy y thì đã có được pháp mạch truyền thừa của Chân Phật Tông. Sau này không nên tiếp tục nhận quán đảnh quy y của các tông phái khác nữa, nếu không sẽ làm hỗn loạn truyền thừa Chân Phật, cũng sẽ mất đi truyền thừa Chân Phật Tông trân quý.


### 1.6. Vì sao cần quán đảnh?


**1.6.1. Thế nào gọi là quán đảnh?**

Trong Phật giáo Mật tông, nhận quán đảnh có công đức rất lớn. Việc quán đảnh này sẽ khiến một phàm phu chỉ trong một chốc lát đã trở thành một Phật tử. Thân, khẩu, ý sau khi quán đảnh cũng tức là thân khẩu ý của Phật. Mặc dù vẫn chưa thành Phật nhưng trên phương diện lý luận thì đã có hạt giống Phật, đã là một vị Phật "dự bị". Quán đảnh là một hiện tượng “ba trong một”, là sự kết hợp giữa ý thức vũ trụ, Căn bản Truyền thừa Thượng sư và đệ tử thọ nhận quán đảnh. 
Quán đảnh có ba ý nghĩa:
• Thanh tịnh - tiêu trừ nghiệp chướng từ quá khứ của thân này.
• Gia trì - pháp lực tu hành của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phủ xuống toàn thân của bạn. 
• Thọ ký - ý nghĩa quan trọng nhất là đặt hạt giống và ý thức Phật lên thân của người tu hành.
Quán đảnh Mật giáo phân làm bốn loại:
• Ngoại quán đảnh.
• Nội quán đảnh.
• Mật quán đảnh.
• Mật mật quán đảnh.

**1.6.2. Nhận thức cơ bản về việc quán đảnh**

Muốn tu hành Mật giáo đều cần phải được quán đảnh. Quán đảnh cần phải nhận thức và hiểu rõ truyền thừa của chính mình. Nếu sau đó lại đi nhận thêm quán đảnh của Thượng sư không phải của Chân Phật Tông thì sẽ mất đi dòng chảy truyền thừa Chân Phật Tông, mất nhiều hơn được. Quán đảnh cũng có thứ tự của nó, không thể vượt cấp. Quy định của tổ sư là dựa theo Thứ tự sinh khởi rồi mới đến Thứ tự viên mãn. Thực sự có được cảm ứng rồi mới tiếp tục nhận quán đảnh cao cấp hơn. Hành giả sau khi nhận được quán đảnh của Căn bản Truyền thừa Thượng sư rồi thì không nên lại nhận quán đảnh cùng pháp đó do Kim cương Thượng sư thông thường ban cho. 

Từ quán đảnh Nội pháp trở lên (ngoại trừ pháp Bảo bình khí) thì tất cả đều phải do Căn bản truyền thừa Thượng sư đích thân quán đảnh cho, không thể quán đảnh từ xa. (Tham khảo "Phân loại quán đảnh của Chân Phật Mật Pháp" do Tông Ủy Hội biên tập.) 

Thượng sư thông thường nếu chưa nhận được quán đảnh một pháp nào đó từ Căn bản Truyền thừa Thượng sư, nghĩa là vẫn chưa có được dòng chảy truyền thừa của pháp đó, thì không thể đi quán đảnh cho hành giả Chân Phật. Còn hành giả tại thời điểm nhận quán đảnh Bổn tôn nào thì đều phải quán tưởng, trì chú, kết thủ ấn, thân khẩu ý đều phải đúng, tương hợp với Bổn tôn đó và phải quán đang thọ nhận ban quán đảnh gia trì từ Bổn tôn đó phía trên đỉnh đầu.


### 1.7. Thế nào gọi là truyền thừa?


Thế nào gọi là Căn bản Truyền thừa? Phật giáo thông thường có truyền thừa hay không?
Cái gọi là truyền thừa cũng giống như huyết mạch, người chưa được quán đảnh thì cũng chưa phải là đệ tử của tông phái, không thể được phép tu bất kì pháp nào của tông phái. Nhưng, là đệ tử của tông phái, nếu nhận quán đảnh của tông phái khác, tức làm làm hỗn loạn pháp mạch của truyền thừa, nói cách khác là làm hỗn loạn huyết mạch, sẽ mất đi truyền thừa, cũng mất đi sức mạnh gia trì của truyền thừa. 

Người tạo lập ra truyền thừa gốc được xem là Nguyên Thủy Phật, huyết mạch từ ngài mở ra, liên tiếp không dừng từ đời này qua đời khác. Hiển giáo thông thường chỉ dựa vào việc tụng bằng miệng Thánh hiệu A Di Đà Phật để cầu xin ngài tiếp dẫn đến Tây phương Cực Lạc thế giới. Bởi vì Hiển giáo thông thường không thuộc về Mật giáo, do vậy không được gọi là truyền thừa, cũng không được gọi là Bổn tôn.


### 1.8. Thế nào gọi là Hoạt Phật?


Vì sao gọi người sáng lập Chân Phật Tông là Liên Sinh Hoạt Phật?
Hotogtu trong tiếng Tây Tạng có nghĩa là Hoạt Phật - Phật sống, là để chỉ những thành tựu giả. Ý nghĩa gốc chính là minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử, hay còn được gọi là "người trở lại". Thông thường Hoạt Phật là để chỉ những bậc thành tựu giả. Trên nguyên tắc mà nói, nếu là Phật, Bồ Tát, La Hán, Thanh Văn của thiên thượng giới hạ sinh tại nhân gian để độ chúng sinh, thì sự hiện sinh của các vị này được gọi là "thành tựu giả", là người đã giải thoát khỏi mọi phiền não, tự chủ sinh tử, minh tâm kiến tính, nói cách khác là Phật sống không chệch một li.

Liên Sinh Hoạt Phật một cách tự nhiên cũng là một "người trở lại", bởi vì ngài chính là Liên Hoa Đồng Tử chuyển thế. Hơn thế nữa ngài còn được chính Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền dạy Mật pháp chân chỉ, được các Hoạt Phật ở Tây Tạng đến quy y học pháp. Các Hoạt Phật Tây Tạng và các đệ tử quy y đều công nhận ngài là đại Hoạt Phật trong số các Hoạt Phật.

Liên Sinh Hoạt Phật là vị thầy của các vị Hoạt Phật:
Tây Tạng Đạt Thừa Hoạt Phật, Khước Khắc Thoát Cát Hoạt Phật, Tát Già Cát Mã Hoạt Phật, Bổn Lạp Hoạt Phật, Hạ Khắc Đức Cách Hoạt Phật, Già Nhiếp Hoạt Phật, và các đại pháp sư Hiển giáo như pháp sư Thích Đại Hùng ở Singapore, pháp sư Thích Tuệ Tung ở Phật Quang Sơn, pháp sư Thích Hội Đạt của chùa Nguyên Hanh, pháp sư Thích Tịch Quang, v.v… đều quy y Liên Sinh Hoạt Phật.

5 triệu đệ tử tôn xưng Căn bản truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Thánh Tôn là Hoạt Phật:
Bởi vì Liên Sinh Hoạt Phật pháp lực vô biên, đại bộ phận các đệ tử đều từng được ngài dùng thần thông cứu độ. Có người nhiễm bệnh nặng, có người mắc những chứng bệnh nan y mà các bác sĩ đều phải bó tay, thì đều được đại pháp lực của ngài chữa trị mà khỏi bệnh.
Nguyện lực từ bi của Liên Sinh Hoạt Phật bao trùm toàn bộ chúng sinh. Những sự việc về ngài đã cứu giúp giải trừ tai nạn cho đệ tử ở khắp mọi nơi là không thể đếm được.

Kalu Rinpoche nói: 
“Trên thế giới, Liên Sinh Hoạt Phật là thành tựu giả cao nhất dùng tiếng Hoa để hoằng pháp độ chúng sinh bằng việc thực tu Mật pháp. Thế nhân cần biết tôn sư, trọng pháp, thực tu. Mật pháp của Liên Sinh Hoạt Phật nhất định có thể giúp thế nhân đạt được thành tựu lớn. Tôi (Kalu Rinpoche) dùng cả hai tay để nâng tấm ảnh pháp tướng của Liên Sinh Hoạt Phật là vì tôi tôn sùng Liên Sinh Hoạt Phật, giống như tôi dùng hai tay để nâng tượng Phật đầy tôn kính vậy.”

Tây Tạng Pháp Vương Hoạt Phật nói: 
“Tôi thấy trên thân Liên Sinh Hoạt Phật có thọ ký của Cát Tường Thiên Nữ. Tôi cũng thấy thọ ký của Phật Thích Ca Mâu Ni trên đỉnh đầu của Liên Sinh Hoạt Phật. Để là một vị Hoạt Phật thì chỉ cần có thọ ký của Cát Tường Thiên Nữ là đủ rồi, huống hồ ngài còn có cả thọ ký của Phật Thích Ca Mâu Ni, được Phật Thích Ca Mâu Ni thọ ký các danh hiệu Acharya [A xà lê], chính là biểu trưng của Pháp Vương, Liên Sinh Hoạt Phật chính là Pháp Vương.” 

Liên Sinh Hoạt Phật là Đại Trì Minh Kim Cương Acharya, là minh chứng cho sự thị hiện của Chân Phật.  Nay chứng minh sự thị hiện của Đại Trì Minh Kim Cương Acharya như sau:
• Hiện tướng viên mãn. 
[Hình tướng ngay tại thân này đẹp, viên mãn tròn đầy như kinh sách đã mô tả về một vị Phật.]
• Thành tựu cầu vồng.	
[Thành tựu năng lực chuyển hóa thân vật lý thành thân ánh sáng.]
• Có một phạm huyệt.	
[Khai thông được huyệt đạo đỉnh đầu, ngao du tự tại mọi cõi giới.]
• Công khai bát tự.	
[Công khai ngày giờ tháng năm sinh mà không bị tổn hại do tà pháp.]
• Thành tựu siêu độ.	
[Thành tựu khả năng siêu mọi chúng sinh lên cõi Tịnh độ.]
• Ban phúc chịu thay.
[Ban được phúc cũng như nhận nghiệp, chịu tội thay cho chúng sinh.]
• Thành tựu đại trí.
[Thành tựu trí huệ vô song, hiểu biết khắp thập phương pháp giới.]
• Nham truyền bảo tạng. 	
[Được trao truyền các kho tàng giáo lý ẩn giấu từ chư Phật, Bồ Tát.]
• Báo hóa nhị thổ. 	
[Hiện thân ở hai thế giới cùng lúc, cõi Ta Bà và cõi Tịnh thổ.]
• Bát phong bất động.	
[Không bị ảnh hưởng, thoát khỏi sự ràng buộc 8 ngọn gió thế gian là được – mất, khen – chê, tốt – xấu, khổ đau – hạnh phúc.]

Liên Sinh Hoạt Phật là một vị Kim Cương Thượng Sư với đầy đủ mười phẩm chất, bản thân ngài đã thành tựu như sau:
• Hiểu rõ Hiển-Mật pháp.
• Có đầy đủ ba trí tuệ.
• Đã đắc chứng đại thần thông.
• Luôn luôn kiên nhẫn.
• Không nhầm lẫn thứ tự của Mật pháp.
• Tất cả vì chúng sinh.
• Hoàn toàn phù hợp với đạo lý của Phật.
• Tinh thông tất cả kinh luận.
• Trí huệ vô thượng.
• Nội minh phát quang, thực tu đạt đến chứng ngộ.

Nguyện lực vĩ đại của Liên Sinh Hoạt Phật:
*Tôi (Liên Sinh Hoạt Phật) phát tâm, vì lòng từ bi đối với chúng sinh, tôi có thể đưa ra lời đại nguyện rằng, đời đời kiếp kiếp lưu lại thế gian, cho đến khi chúng sinh đều thành Phật thì tôi mới thành Phật. 
Tôi cũng phát tâm, thân này của tôi vào địa ngục chịu mọi khổ nạn, phân thân xả cốt, giống như đại nguyện của Địa Tạng Vương Bồ Tát: "Địa ngục chưa trống, thề không thành Phật." Tôi không bỏ lại một chúng sinh nào.*


### 1.9. Liên Sinh Hoạt Phật tại kiếp này đã thành tựu những gì?


Liên Sinh Hoạt Phật là Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử hạ sinh tại cõi Ta Bà, tại thế giới Ta Bà này ngài đã tu luyện và tự mình chứng ngộ thành Phật. Ngài được Phật Thích Ca Mâu Ni ban cho Phật hiệu là: Hoa Quang Tự Tại Phật.


### 1.10. Liên Sinh Hoạt Phật vẫn khỏe mạnh tại thế, vì sao đệ tử Chân Phật Tông lại cần dùng pháp tướng của ngài để thờ cúng tại đàn thành?


Chủ tôn tại đàn thành của đệ tử Chân Phật Tông phải là Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử (chính là Pháp thân của Liên Sinh Hoạt Phật), nhờ vào việc sắp đặt nổi bật nguồn gốc của truyền thừa gốc, bởi vì Mật giáo không có sự gia trì của dòng truyền thừa gốc thì không thể có được thành tựu. 

Con người thông thường nếu chưa chứng ngộ thành Phật mà dùng pháp tướng để cho người ta cúng bái lễ lạy thì sẽ bị giảm thọ, hơn nữa càng nhanh chóng chết sớm. Nhưng 5 triệu đệ tử có cư sĩ tại gia, có những người xuất gia, còn có cả các vị Hoạt Phật, Rinpoche,… đều thờ cúng và lễ lạy pháp tướng của Liên Sinh Hoạt Phật, có người đã thờ cúng tới hơn 20 năm. Thế mà Liên Sinh Hoạt Phật vẫn khỏe mạnh tại thế, điều này đã quá đủ để chứng minh Liên Sinh Hoạt Phật đã viên mãn mười phẩm chất như đã nói ở trên, ngài là sự thị hiện của một vị Phật thực sự.


### 1.11. Vì sao cần tu trì Chân Phật Mật Pháp?


Chân Phật Mật Pháp và các Mật pháp khác có gì khác nhau?
Tu hành là để theo đuổi chân lý vĩnh hằng, mong cầu tăng trưởng trí tuệ và phúc phận. Đời người có rất nhiều đau khổ, rất nhiều vô thường, bất kể bạn có tìm kiếm được hay không tìm kiếm được [danh lợi, tình ái… thế gian], cuối cùng thì cũng đều chớp mắt một cái là chẳng còn gì, tất cả đều hóa thành hư không. Bạn nhận rõ được chân tướng thì sẽ hiểu được vì sao cần tu hành.

**1.11.1. Chân Phật Mật Pháp phù hợp cho người tu hành thời hiện đại**

Chân Phật Mật Pháp duy trì chính tín chính niệm của Phật pháp nhưng lại có sự điều chỉnh cho phù hợp với trào lưu của thời đại, đặc điểm như sau:
(1) Chân Phật Mật Pháp của Chân Phật Tông là đại chúng hóa, phổ cập hóa và thực dụng hóa, thích hợp để tu trì tại gia.
(2) Chân Phật Mật Pháp dung hợp cả Đạo - Hiển - Mật. Liên Sinh Hoạt Phật không hề giữ và giấu những tâm yếu và bí mật ngữ mà hoàn toàn chia sẻ ra, dựa trên phương thức Mật tông để tu trì. Ngài cũng vận dụng Đạo pháp để giúp đời, và những lý luận về Phật giáo và giới luật của Hiển giáo để phù hợp với con người thuộc bất kì tôn giáo nào cũng có thể tu trì.
(3) Người sáng lập Chân Phật Tông Liên Sinh Hoạt Phật với tâm từ bi bình đẳng luôn đề xướng việc bố thí không phân biệt lớn nhỏ, giàu nghèo, địa vị cao thấp, do vậy mà tất cả pháp hội đều là các đệ tử tùy tâm cúng dường. 
(4) Bất luận là người xuất gia hay cư sĩ tại gia, ăn chay hay ăn mặn, mỗi người đều tùy theo nhân duyên mà tự nguyện phát tâm. Nhưng trước khi dùng cơm thì đều phải siêu độ và cúng dường.
(5) Chân Phật Mật Pháp tiêu trừ nghiệp chướng nhanh chóng, là tông phái thích hợp nhất với việc thực tu trong thời đại ngày nay. Chân Phật Mật Pháp là nền tảng thực tu Mật pháp mà nhiều năm qua Liên Sinh Thánh Tôn đã dựa theo. Đó là những tâm đắc mà ngài đã trải nghiệm qua từ phàm phu đến chứng ngộ Phật quả, loại bỏ đi những gánh nặng bám chấp truyền thống của Phật pháp, loại bỏ những cái rườm rà, chỉ giữ lại những gì tinh hoa nhất để phù hợp với xã hội hiện đại hóa ngày nay, kết tinh lại thành pháp tu luyện tối giản nhất, để mỗi ngày tu hành đều sản sinh ra sự chuyển hóa tạo ảnh hưởng một cách âm thầm. Do vậy mà tương ứng nhanh, đây chính là điểm thù thắng của Chân Phật Mật Pháp.

**1.11.2. Ý nghĩa trọng đại của Chân Phật Tông trong thời mạt pháp**

(1) Trên phương diện nhập thế, có thể thành tựu viên mãn những nguyện vọng của con người thế gian như sức khỏe, sống lâu, gia đình yêu quý, giàu có, trí tuệ. 
(2) Trên phương diện xuất thế, có thể đoạn trừ phiền não, liễu sinh thoát tử, đạt được chính đẳng chính giác trí huệ Phật quả. 
(3) Tinh thần của Chân Phật Tông là hướng dẫn con người đến cái thiện, dùng chân lý và thiện mỹ để chiếu sáng tâm chúng sinh, mọi người cùng tu hành, cùng đi trên con đường quang minh thành Phật. 
(4) Chân Phật Tông là toàn mỹ, là thù thắng nhất trong Phật pháp, có thể giúp con người tránh khỏi hiểm họa chiến tranh.
(5) Chân Phật Tông là tông phái tu hành Phật pháp chân chính thực sự dành cho con người thế gian, là phúc đức lớn nhất của hiện tại và tương lai. 
(6) Chân Phật Tông là tông phái hoàn hảo nhất để cứu huệ mệnh của toàn nhân loại. 
(7) Chân Phật Tông được rồng và trời hộ trì, chư Phật hoan hỷ, là phúc báo lớn nhất của nhân gian.
(8) Chân Phật Tông là một tông phái lớn giúp cứu khổ cứu nạn, cứu mệnh cứu đời.

**1.11.3. Dựa vào duy nhất Chân Phật Mật Pháp do Liên Sinh Hoạt Phật truyền thụ, tinh tấn tu trì có thể chứng ngộ chân lý**

Bởi vì Chân Phật Mật Pháp là do chính Liên Sinh Hoạt Phật chứng ngộ thành Phật, là nghi quỹ hoàn hảo nhất để thực tu, dựa vào pháp này để tu hành đến cuối cùng có thể chứng ngộ thành Phật, so với các tôn giáo khác thì trực tiếp hơn, chính xác hơn. 
Mặc dù chưa từng chủ trương Chân Phật Mật Pháp của mình là độc nhất vô nhị, nhưng chân lý chứng ngộ của Liên Sinh Hoạt Phật và chân lý chứng ngộ của Phật Thích Ca Mâu Ni là giống nhau. Ngài tôn trọng Đạo giáo, Hiển giáo, Mật giáo. Giáo nghĩa của Chân Phật Tông rộng lớn, hoàn toàn và phù hợp với chân lý, tổng hợp tất cả những tác dụng lớn nhất của giáo nghĩa từ xưa tới nay.


## II. Giới thiệu tóm tắt về Chân Phật Tông



### 2.1. Giới thiệu tóm tắt về người sáng lập Chân Phật Tông


Liên Sinh Hoạt Phật

**Phần 1**

Liên Sinh Hoạt Phật tên thật là Lư Thắng Ngạn, sinh ngày 18 tháng 5 năm 1945 Âm Lịch tại Hậu Hồ, tỉnh Gia Nghĩa, Đài Loan, tại một trại nuôi gà bên bờ suối Ngưu Trù. Ngài tốt nghiệp trường Trắc Lượng, chính là khoa Trắc Lượng thuộc học viện Khoa học Công nghệ Trung Chính (khóa 28), có bằng kỹ sư, sau đó ngài phục vụ 10 năm trong quân đội. Trong thời kỳ ở quân đội, ngài đã đạt được những giải thưởng Lạc Đà Vàng, Lạc Đà Bạc cho hoạt động văn học nghệ thuật quân đội quốc gia. Thời kỳ đầu các tác phẩm chủ yếu của ngài là tản văn, thơ ca và bình luận. Thời thanh niên, ngài là một thanh niên văn nghệ cực kì năng động. 

Một ngày vào năm 1969, Liên Sinh Hoạt Phật theo mẹ đến tham bái ngôi chùa Ngọc Hoàng Cung tại thành phố Đài Trung. Tại đây, ngài đã được Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn mở thiên nhãn, thiên nhĩ, hơn nữa ngài còn tận mắt nhìn thấy ba vị Bồ Tát hiện thân khai thị cho ngài rằng, ngài cần “nhất tâm học Phật, nhất tâm học Pháp, nhất tâm hướng thiện”. Trong hư không còn xuất hiện hai chữ "trung nghĩa", nhắc nhở ngài cần hoằng pháp để làm lợi ích cho chúng sinh, quảng độ chúng sinh hữu tình. Đêm đó, thần thức của Liên Sinh Hoạt Phật đã được Phật Bồ Tát đưa đến Tây phương Cực Lạc thế giới. Ngài tận mắt nhìn thấy tiền thân của chính mình (Pháp thân) chính là Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử - Bạch Y Thánh Tôn của mười tám đại Liên Hoa Đồng Tử tại Ma Ha Song Liên Trì ở Tây phương Cực Lạc. Vì độ chúng sinh mà ngài trở về Ma Ha Song Liên Trì, hơn thế nữa còn lên con thuyền từ bi hạ sinh tại nhân gian. 

Kể từ hôm đó, mỗi buổi tối, Liên Sinh Hoạt Phật đều cùng tu luyện Mật pháp với vị linh sư vô hình là Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh (cách gọi tôn kính của Liên Sinh Hoạt Phật đối với Pháp thân của Phật Bồ Tát), cứ như vậy mà trải qua ba năm. Dưới sự chỉ dẫn của Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, vào năm 1972, ngài đã đến vùng núi ở huyện Nam Đầu bái Liễu Minh Hòa Thượng - truyền nhân đời thứ 14 của phái Thanh Thành Đạo giáo làm thầy, học tập Đạo pháp, đan đỉnh phù lục, cửu tinh địa lý đại pháp, Trung mật và Tạng mật Hồng giáo đại pháp, ngũ minh, v.v… Ngài đã trở thành truyền nhân đời thứ 15 của Đạo giáo Thanh Thành phái, đạo hiệu là Huyền Hạc Đạo Trưởng. 

Do nhân duyên đã nói ở trên, vào năm 1972, Liên Sinh Hoạt Phật đã hoàn thành hoàn chỉnh việc tu trì Mật pháp. Đối với các khẩu quyết tâm yếu để chứng ngộ thành Phật, cũng như những đại pháp bí mật "nghìn năm bất truyền" của các giáo phái chủ yếu được trao truyền một cách bí mật thì ngài đều thông hiểu rõ, thành tựu Bí Mật Chủ (chi tiết xin đọc cuốn văn tập số 129 của Liên Sinh Hoạt Phật "Bước vào thế giới âm dương bí mật", trang 23), thành tựu quả vị Đại Phúc Kim Cang (chi tiết xin đọc cuốn văn tập số 157 của Liên Sinh Hoạt Phật "Thêm một chuyến ngao du", trang 116) (Quả vị tương đương với Thập Địa Bồ Tát.)

Bắt đầu từ năm 1970, Liên Sinh Hoạt Phật trước sau đã quy y đạo sư Ấn Thuận, pháp sư Lạc Quả, pháp sư Đạo An của Hiển giáo. Năm 1972 thì ngài thọ Bồ Tát giới tại chùa Bích Sơn Nham ở Nam Đầu, giới sư là pháp sư Hiền Đốn, pháp sư Huệ Tam, pháp sư Giác Quang, sư phụ dạy bài khóa và nghi thức là pháp sư Thượng Lâm và pháp sư Thiện Tứ. 

Vào năm 1972, ở chỗ của Liễu Minh Hòa Thượng, Liên Sinh Hoạt Phật đã nhận quán đảnh học Mật pháp. Từ năm 1981 trở đi, vì nhân duyên này mà ngài tiếp tục xin quán đảnh truyền thừa của các vị Thượng sư ở nhân gian. Họ là:

- Trong phái Nyingma (Hồng giáo), Trung mật, Liên Sinh Hoạt Phật sớm đã có được tâm ấn và quán đảnh truyền thừa của Liễu Minh Hòa Thượng, được nhận tín vật truyền thừa gồm có: chuông kim cang nhỏ mà Norlha Rinpoche sử dụng, bảo vật chiếc hộp Văn Thù, sách Pháp của cung điện Potala ở Tây Tạng, v.v…

- Trong phái Sakya (Hoa giáo), Liên Sinh Hoạt Phật có được quán đảnh Đại Nguyên Thắng Huệ, quán đảnh Acharya của Sakya Chứng Không Thượng Sư, được nhận tín vật truyền thừa gồm có: bức tượng Thánh của Phật Thích Ca Mâu Ni mà Sakya Chứng Không Thượng sư đem theo bên mình rất lâu, ngọc ấn của Tuyết Sơn Sư Tử, hoa sen, hũ ngọc, chìa khóa kim cang, v.v.

- Trong phái Kagyu (Bạch giáo), Liên Sinh Hoạt Phật đã nhận được quán đảnh Ngũ Phật từ Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ mười sáu, được nhận tín vật truyền thừa gồm có: chuỗi tràng hạt bằng thủy tinh trắng mà Pháp Vương thường cầm trong tay, bảo bình của tu viện Rumtek ở Sikkim, v.v…

- Trong phái Gelugpa (Hoàng giáo), Liên Sinh Hoạt Phật đã được nhận quán đảnh Vô Thượng Mật Bộ của Thubten Dhargye Rinpoche, được nhận tín vật truyền thừa gồm: bức tượng đất sét Kim Cang Thủ Bồ Tát, tượng đất sét Kim Cang Hợi Mẫu, tượng vàng Thời Luân Kim Cang của Cam Châu Hoạt Phật, pháp luân bằng kim cương, chuông chày kim cang bằng vàng, chày kim cang một cổ ba mặt, quần áo của Sư Tử Pháp Vương, chuỗi gồm 108 chày kim cang bằng vàng của Thubten Dhargye Rinpoche, v.v…

**Phần 2**

Ngày 16 tháng 6 năm 1982, toàn bộ gia đình Liên Sinh Hoạt Phật đã di cư đến Seattle nước Mỹ. Ngài ở tại Linh Tiên Các khổ tu tất cả các pháp bí mật. Thời gian này, ngài được Phật Thích Ca Mâu Ni sờ đầu thọ ký, đỉnh đầu hóa bàn tay Phật. (Điều này là xác nhận ngài đã đạt quả vị Thập Địa Bồ Tát.)

Ngày 27 tháng 8 năm 1982 (ngày 10 tháng 7 Âm Lịch), pháp thân của tổ sư Mật giáo - Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, đã xuất hiện trong thiền định của Liên Sinh Hoạt Phật, và trong suốt một năm ngài đã truyền thụ pháp Đại Viên Mãn đệ nhất (tổng cộng gồm 18 bộ), hơn nữa còn ban cho quán đảnh Đại Trì Minh Kim Cương Acharya, ban cho danh hiệu là Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả. Sau đó Liên Sinh Hoạt Phật lại nhận được quán đảnh và gia trì của Tam Tôn Phật ở ngọn tuyết sơn Rainier. 

Liên Sinh Hoạt Phật ở tại căn nhà của mình mà ngài gọi tên là Linh Tiên Các, ở quận Ballard, Seattle, đã đóng cửa ẩn tu ba năm. Trong thời gian này ngài đã nghiên cứu và học tập:
•  Đại Huyễn Hóa Võng Mật Tục.
• Mật Tập Kim Cang Mật.
• Thắng Lạc Kim Cang Mật Tục.
• Diễm Mạn Đức Già Mật Tục.
• Thời Luân Kim Cang tối bí mật.
• Tát Đan Già Du ca tương ứng hỏa diễm pháp.
• Kim Cương Man Đỉnh tối bí mật pháp.
• Pháp song thân Tịch Tĩnh Bổn Tôn và Phẫn Nộ Bổn Tôn.
• Vô thượng mật tục của Đại Viên Mãn địa thủy hỏa phong không.
• 6 pháp của Naropa: chuyết hỏa, huyễn thân, giấc mộng, quang minh, thiên thức, trung ấm.

Liên Sinh Hoạt Phật đã hoàn thành nghiên cứu và học tập toàn bộ những khẩu quyết trọng yếu của bốn thứ tự pháp tu: tác mật, tu mật, du già mật, vô thượng du già mật. Ngài đã du nhập đến Tỳ Lô Tính Hải, thực sự thành tựu tám ngoại pháp và tám nội pháp.

Xưng hiệu mà Liên Sinh Hoạt Phật được chư Phật chứng nhận là: Tây phương Liên Trì Hải Hội, Ma Ha Song Liên Trì, Thập Bát Đại Liên Hoa Đồng Tử, Bạch Y Thánh Tôn, Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư, Chủ Kim Cương Chân Ngôn Giới Bí Mật Chủ, Đại Trì Minh Đệ Nhất Thế Linh Tiên Chân Phật Tông, Lư Thắng Ngạn Mật Hành Tôn Giả.

Trong ba năm Liên Sinh Hoạt Phật đóng cửa ẩn tu, vô số các vị tổ sư Tạng Mật trong lúc Hoạt Phật thiền định đã hiển hiện pháp thân để chỉ dạy những "chí thâm tinh nghĩa" và "thậm thâm nội nghĩa". Trong quá trình học pháp, Liên Sinh Hoạt Phật đã được chư Phật Bồ Tát hiện pháp thân để ban gia trì:
• Phật Thích Ca Mâu Ni chạm đỉnh đầu thọ ký.
• A Di Đà Phật đích thân ủy thác.
• Bồ Tát Di Lặc ban cho mũ miện đỏ.
• Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đích thân truyền Mật pháp.

Liên Sinh Hoạt Phật bởi vì có nhân duyên đại sự mà đã đến nhân gian, khởi đầu với thân phàm phu, từng bước từng bước tu hành theo thứ tự, thực tu thực chứng, tu trì cho đến khi chứng ngộ "tức thân thành Phật". Thậm chí ngài còn từ bi phát nguyện cứu thế: "Phân thân xả cốt độ chúng sinh, đời đời kiếp kiếp tại nhân gian. Địa ngục chưa sạch, thề không thành Phật", và thề nguyện "không từ bỏ bất kì chúng sinh nào".

Ngày 28 tháng 6 năm 1983 (ngày 18 tháng 5 Âm Lịch), vừa hay trùng với sinh nhật của Liên Sinh Hoạt Phật, Liên Sinh Hoạt Phật đã chứng đắc thành tựu thân "cầu vồng bất tử". Lúc này có hàng triệu Không Hành Mẫu hoan hô tán thán! Thành tựu "cầu vồng bất tử" tức là Vô thượng chính đẳng chính giác (hoặc còn được gọi là Tức thân thành Phật).

Ngày 6 tháng 5 năm 1992, Liên Sinh Hoạt Phật đã được Phật Thích Ca Mâu Ni đặc biệt thọ ký là Hoa Quang Tự Tại Phật.

**Phần 3**

Năm 1975, tại Đài Loan, Liên Sinh Hoạt Phật đã thành lập Linh Tiên Tông, năm 1983 tại Seattle nước Mỹ, ngài chính thức thành lập Chân Phật Tông, ngoài ra vào năm 1985 thành lập Chùa Tổ của Chân Phật Tông là Seattle Lôi Tạng Tự, phục vụ cho việc hoằng dương Chân Phật Mật Pháp.

Ngày 19 tháng 3 năm 1986 (tức mồng 10 tháng 2 Âm Lịch), tại Chân Phật Mật Uyển ở Redmond nước Mỹ, Liên Sinh Hoạt Phật chính thức được pháp sư Thích Quả Hiền xuống tóc, trở thành người xuất gia để quảng độ chúng sinh.

Suốt 20 năm trở lại đây, Liên Sinh Hoạt Phật đã dành toàn bộ thời gian vào ba việc lớn sau:

I) Tinh tấn sáng tác
Có thể nói Liên Sinh Hoạt Phật là nhân vật số một trong việc viết văn độ chúng sinh. Những giáo lý của "tức thân thành Phật" và cảnh giới "minh tâm kiến tính" trong truyền thống Mật giáo đều là những vấn đề rất trừu tượng, sâu sắc khó hiểu. Liên Sinh Hoạt Phật đã dùng trí huệ vô thượng của con người siêu việt để diễn đạt và giải thích những lý thuyết Phật giáo và Phật pháp thâm sâu ảo diệu. Mỗi ngày ngài đều viết văn không hề gián đoạn. Tính đến tháng 4 năm 2024, ngài đã hoàn thành 300 cuốn văn tập có nội dung Phật học, hơn nữa ngài vẫn đang tiếp tục sáng tác. Không chỉ có vậy, các tác phẩm của ngài còn được dịch ra các ngôn ngữ khác nhau như tiếng Anh, Nhật, Bồ Đào Nha, Việt, Pháp, Hàn Quốc, Indonesia và Thái, sách được xuất bản và quảng bá rộng khắp trên toàn thế giới. Ngoài ra thư viện Quốc hội Mỹ đã lưu giữ toàn bộ các tác phẩm của ngài.

II) Tinh tấn tu pháp
Mỗi ngày Liên Sinh Hoạt Phật đều thiền định, mỗi ngày đều tu Chân Phật Mật Pháp, đặc biệt là tu Mật pháp, tụng kinh niệm chú, say mê đọc sách, nghiên cứu toàn bộ Kinh, Luật, Luận của Đại Tạng Kinh. Sự thiền định tinh tấn và thậm thâm của Liên Sinh Hoạt Phật chứa đầy sức mạnh thần thông, minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử. Hơn nữa, mỗi ngày ngài tu pháp để độ chúng sinh, hóa giải tai nạn, cứu thế cứu người.

III) Tinh tấn thuyết pháp
Bắt đầu từ năm 1990 đến nay, Hoạt Phật mỗi ngày đều không ngừng thuyết pháp. Ngài lấy những kinh nghiệm chứng ngộ của bản thân để làm lợi lạc cho chúng sinh hữu tình. Hiện nay, pháp ngữ khai thị của Hoạt Phật đã được tổng kết lại thành sách như sau:
Pháp ngữ khai thị:
• Đại thành tựu cầu vồng (7 tập)
• Lời lời thăng hoa (5 tập)
• Bộ Đại thành tựu cầu vồng mới (5 tập)
• Nói chuyện ngang dọc về Phật pháp (4 tập)
• Tâm sự cùng bạn (10 tập)
• Theo đuổi những thứ trên mặt đất, sẽ đánh mất những thứ trên thiên đường (1 tập)
• Bài ca của Hoạt Phật (10 tập)

Hạng mục giảng dạy Phật pháp
• Phật học tổng thuyết (1 tập)
• Mật giáo đại quang hoa - Giảng giải chi tiết nghi quỹ Mật pháp hoàn chỉnh (1 tập)

Giải thích kinh Phật
• Giải thích Chân Phật Kinh (1 tập)
• Cửu phẩm Liên Hoa Sinh - Phật giảng kinh A Di Đà và Di Đà pháp yếu (1 tập)
• Tịnh quang của vô thượng cứu cánh / Đại trí huệ đến paramita (Giải thích Tâm Kinh - 1 tập)
• Thấu kính thanh tịnh (Giải thích kinh Viên Giác - 4 tập)
• Địa Tạng Bồ Tát bản nguyện kinh (4 tập)
• Thanh kiếm trí huệ của Mật giáo (Giải thích Mật tông đạo thứ đệ quảng luận - 13 tập)
• Đại tâm ấn - Liên Sinh hoạt Phật giảng Lục Tổ Đàn Kinh (5 tập)
• Giảng nghĩa Hỷ Kim Cang / pháp Đại viên mãn / Đạo Quả
• Giảng thuyết kinh Kim Cang (4 tập)
• Giảng thuyết kinh Duy Ma Cật

Liên Sinh Hoạt Phật văn tập

Đến tháng 4 năm 2024, tổng cộng có 300 cuốn văn tập (vẫn tiếp tục được viết thêm).

Ngoài những pháp ngữ khai thị được nói đến ở trên ra còn có rất nhiều băng hình ghi lại những khai thị tại các pháp hội, được lưu truyền qua các phương tiện truyền thông để độ chúng sinh.

Liên Sinh Hoạt Phật nói rằng toàn bộ cuộc đời của ngài là học pháp, hoằng pháp, du ngoạn khắp nơi, và lui về ở ẩn.

Bắt đầu từ năm 1989, Hoạt Phật thường đáp ứng những lời mời của đệ tử ở khắp các quốc gia trên thế giới, ngài vân du khắp nơi để hoằng pháp, in dấu chân trên khắp năm châu lục, cử hành vô số hoạt động hoằng pháp quy mô rất lớn, từng chủ trì một pháp hội có tới bảy vạn người tham dự, cảnh tượng vạn người quy y thực sự khiến người ta cảm động.

**Phần 4**

Bởi Liên Sinh Hoạt Phật là một bậc giác ngộ chân chính, ngài đã kêu gọi được vô số người đến xin quy y, đến nay toàn cầu đã có hơn 5 triệu đệ tử, trong số đó không ít là các vị Lama Hoạt Phật của Mật tông Tây Tạng và các pháp sư Hiển giáo.

Các vị Hoạt Phật Tây Tạng đến quy y gồm có: Đạt Thừa Hoạt Phật, Kháp Khắc Thoát Khắc Hoạt Phật, Tát Già Cát Mã Hoạt Phật, Bổn Lạp Hoạt Phật, Hạ Khắc Đức Cách Hoạt Phật, Già Nhiếp Hoạt Phật, Thổ Đăng Gia Thố Hoạt Phật v.v…

Các đại pháp sư Hiển giáo đến quy y gồm có: pháp sư Thích Đại Hùng ở Singapore, pháp sư Thích Tuệ Tung ở chùa Phật Quang Sơn, pháp sư Thích Hội Đạt ở chùa Nguyên Hanh Đài Loan, pháp sư Thích Tiệp Viên ở chùa Ấn Tâm, Thích Tục Bách tức Đức Hải Đại Hòa Thượng ở Việt Nam, v.v…

• Năm 1988, Pháp chủ hội Phật giáo Đài Loan Trung Quốc Ngộ Minh Trường đã đích thân đến thăm Liên Sinh Hoạt Phật, ca ngợi Chân Phật Mật Pháp là Phật pháp chân thực, là chính pháp.
• Năm 1989, trưởng lão Kalu Rinpoche - bậc thực tu đạt thành tựu tối cao phái Bạch giáo của Phật Giáo Tây Tạng, đã tán thán và ca ngợi Liên Sinh Hoạt Phật là thành tựu giả thực tu Mật pháp cao nhất trong số những người dùng tiếng Hán để hoằng pháp độ chúng sinh trên thế giới. 
• Năm 1991, Ông Kháp Khắc Hoạt Phật của phái Gelugpa với hơn 1300 vị Hoạt Phật và Lama đã đích thân tặng "Pháp Vương bảo tọa" tôn quý nhất cho Liên Sinh Hoạt Phật. Cùng năm này, các vị trưởng lão của bốn đại giáo phái Tạng mật, Yoeser Rinpoche của phái Hồng giáo, Sang Sang Rinpoche của phái Hoàng giáo, Chiêm Dương Rinpoche của phái Sakya, đã đích thân đến hộ trì Liên Sinh Hoạt Phật tổ chức đại pháp hội Hộ Ma tại Hồng Kông.
• Năm 1995, tại nhà khách chính phủ Điếu Ngư Đài tại Bắc Kinh Trung Quốc, Liên Sinh Hoạt Phật đã gặp gỡ với sư phụ của Lama Panchen đời thứ mười là Hạ Lỗ Hoạt Phật. Hạ Lỗ Hoạt Phật nói: "Liên Sinh Hoạt Phật đã nội chứng Mật giáo tam muội, trên thân có quang khí cực mạnh, là một vị Hoạt Phật chân chính."
• Năm 1996, người đại diện đời thứ 100 của tổ sư Hoàng giáo - đại sư Tsongkhapa, trụ trì của tu viện Ganden - một trong ba ngôi đại tự của dòng Mũ Vàng Tây Tạng, Pháp Vương Ganden Tripa, vị Pháp Vương tối cao của phái Mũ Vàng toàn thế giới, đã đặc biệt từ miền Nam Ấn Độ đến Seattle thăm chính thức Liên Sinh Hoạt Phật, ngoài ra còn đem theo nhiều tặng phẩm đích thân tặng cho Liên Sinh Hoạt Phật, gồm: một bộ long bào Pháp Vương, một chiếc chuông kim cang của Pháp Vương, một chiếc chày kim cang của Pháp Vương, một chiếc trống của Pháp Vương, ba pháp bảo của tổ sư, một số thuốc trân quý nhất của Mật giáo.

Pháp Vương Ganden Tripa nói với Liên Sinh Hoạt Phật rằng: "Món quà long bào Pháp Vương chỉ mặc trong những pháp hội lớn nhất, long bào Pháp Vương này có pháp lực vô cùng, từng đường kim mũi chỉ đều được trì chú mà đan thành áo. Liên Sinh Hoạt Phật mặc long bào Pháp Vương này thì chính là Đại Pháp Vương." 

Chày, chuông, trống đều là những pháp khí được Pháp Vương sử dụng nhiều năm rồi, tượng trưng cho dòng chảy pháp tối cao của Hoàng giáo Tạng mật này chảy trong người Liên Sinh Hoạt Phật. Việc Pháp Vương Ganden Tripa ban tặng long bào Pháp Vương này là một ấn chứng trân quý vô thượng. Liên Sinh Hoạt Phật không chỉ có ấn chứng của Phật Bồ Tát mà còn có ấn chứng của Pháp Vương ở nhân gian. 
• Ngày 16 tháng 11 năm 1996, Liên Sinh Hoạt Phật đã lên đường đi thăm Ấn Độ, đi thăm các miếu tự của Phật giáo Tây Tạng. Ở tại tu viện Drepung, một trong ba ngôi đại tự của Tạng mật, ngài đã ngồi trên pháp tọa thuyết pháp cho hơn hai nghìn tăng chúng. Tại ngôi chùa Karma Lekshey Ling, ngài đã được tiếp nhận nghi thức "tọa sàng đại điển" của Bạch giáo được Kachen Rinpoche cử hành long trọng.

**Phần 5**

Tháng 7 năm 1996, Liên Sinh Hoạt Phật đã có được khởi thị của Thập phương Như Lai, ngài đặt bút viết cuốn văn tập số 120 "Cảnh giới mới của Phật Vương". Trong cuốn sách này, Hoạt Phật đã hé lộ những cơ mật lớn nhất của Thập phương Như Lai, hé lộ thân phận thực sự của Liên Hoa Đồng Tử chính là A Di Đà Phật.

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Kim Cương Thượng Sư chính là một trong những ứng hóa thân của Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật, trong kiếp này đã hóa danh là Liên Hoa Đồng Tử hạ giáng cõi Ta Bà, đem Chân Phật Mật Pháp để quảng độ chúng sinh.

Do vậy, truyền thừa chân chính của Liên Sinh Hoạt Phật là:
Đại Nhật Như Lai - Phật Nhãn Phật Mẫu - A Di Đà Phật - Liên Hoa Đồng Tử - Liên Sinh Hoạt Phật.

Liên Hoa Đồng Tử hạ sinh thế giới Ta Bà thuyết pháp độ chúng sinh, mười tám đại Liên Hoa Đồng Tử và các trung, tiểu Liên Hoa Đồng Tử ở tại Ma Ha Song Liên Trì đều hạ sinh tại nhân gian để hộ trì Phật pháp.

Lai lịch truyền thừa của Liên Hoa Đồng Tử là: Đại Nhật Như Lai là vị Phật ở địa thứ 13, ngài là vị Phật chính nhất của Thai Tạng Giới và Kim Cương Giới. Dưới Đại Nhật Như Lai có một phi tử quan trọng nhất là Phật Nhãn Phật Mẫu. Hai con mắt của Phật Nhãn Phật Mẫu chính là Ma Ha Song Liên Trì, cũng chính là Tây phương Cực Lạc thế giới của A Di Đà Phật. Trong Song Liên Trì có mười tám đại Liên Hoa Đồng Tử, Liên Hoa Đồng Tử hạ sinh ở nhân gian chính là Lư Sư Tôn, chính là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. 
Do vậy, truyền thừa Chân Phật Tông của chúng ta chính là: 
Đại Nhật Như Lai - Phật Nhãn Phật Mẫu - A Di Đà Phật - Liên Hoa Đồng Tử - Liên Sinh Hoạt Phật.

**Phần 6**

Toàn bộ quá trình tu hành của Liên Sinh Hoạt Phật như sau:
Đầu tiên ngài trải qua Cơ Đốc giáo, Đạo giáo, Phật môn Hiển giáo, cuối cùng là tu trì Mật pháp mà đạt thành tựu. Do vậy, trong toàn bộ hệ thống của Chân Phật Tông vẫn còn gìn giữ và dung hợp rất nhiều pháp thuật Đạo giáo, phù lục, linh cơ thần toán, địa lý phong thủy, các pháp môn nhập thế, nhằm giúp chúng sinh giải quyết khó khăn hoạn nạn, loại bỏ ưu phiền, đạt được mục đích quảng độ chúng sinh là: Tiên dĩ dục câu khiên, hậu linh nhập Phật trí. [Trước tiên dùng lòng tham để lôi kéo, sau đó dẫn nhập vào trí huệ Phật.]

Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn thành lập Chân Phật Tông, đem đến cho con người thế gian một pháp môn tu trì thực tu thực chứng. Liên Sinh Hoạt Phật đã có lời hứa như sau với đệ tử của mình:
"Chỉ cần bạn không quên Căn bản truyền thừa Thượng sư, mỗi ngày đều tu, lúc lâm chung, Liên Hoa Đồng Tử nhất định sẽ hiện thân tiếp dẫn bạn vãng sinh Ma Ha Song Liên Trì tịnh độ." 

Một đời hoằng pháp độ chúng sinh của Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, ngài luôn nghiêm khắc tuân thủ lời giáo huấn của Liễu Minh Hòa Thượng (Thanh Chân Đạo Trưởng): "Không được quy định giá tiền, tất cả đều phải tùy duyên.” Cả một đời Hoạt Phật đã phụng hành như vậy, điều này đã trở thành nhân cách vĩ đại của ngài.

Tính đến năm 2023, Chân Phật Tông đã có hơn 5 triệu đệ tử quy y trên toàn thế giới [5 triệu là con số tượng trưng đã được sử dụng qua rất nhiều năm, biểu thị số lượng rất nhiều], tổng cộng có hơn 400 phân đường và trung tâm hoằng pháp phân bố trên khắp thế giới, đã xây dựng được 62 tòa Lôi Tạng Tự, tất cả đều do các đệ tử tự nguyện đứng ra tiến hành và tổ chức.

Liên Sinh Hoạt Phật dùng nhãn quang và tư thái của một hành giả đã khai ngộ để ứng xử trước sự phát triển nhanh chóng của tông phái: Tất cả mọi nỗ lực tích cực đều không được vì ý đồ riêng, sự sống còn hay kết thúc của các tổ chức hoằng pháp tất cả đều phải tùy duyên. Trong hơn mười năm qua, Chân Phật Tông đã thành lập rất nhiều tổ chức hoằng pháp tương đối lớn ở khắp nơi trên thế giới:
• Tổng hội Mật giáo Chân Phật Tông Trung Quốc.
• Tổng hội Mật giáo Chân Phật Tông Malaysia.
• Tổng hội Mật giáo Chân Phật Tông Indonesia.
• Hội công đức Hoa Quang thế giới.
• Hiệp hội Phật giáo Nội Minh Quốc Tế.
• Chân Phật báo.
• Tạp chí Nhiên Đăng.
• Mạng thông tin Chân Phật.
• Truyền hình hoằng pháp.

Tháng 11 năm 1997, Liên Sinh Hoạt Phật đã đích thân thành lập "Tông vụ ủy viên hội Chân Phật Tông thế giới" (gọi tắt là Tông Ủy Hội), các sự vụ hành chính của tông phái đều giao cho Tông vụ ủy viên hội Chân Phật Tông thế giới phụ trách xử lý.

**Phần 7**

Với tấm lòng bi mẫn ôm trọn cả trời người, Liên Sinh Hoạt Phật đã quan tâm đến sự an dưỡng cho những người già, tích cực đẩy mạnh ba sự nghiệp:
• Viện dưỡng lão.
• Chăm sóc xoa dịu nỗi đau lúc lâm chung.
• Chân Phật mộ viện.

Liên Sinh Hoạt Phật khích lệ đệ tử giúp đỡ những nhóm người dễ bị thương tổn trong xã hội, đẩy mạnh ba sự nghiệp lớn, quan tâm chăm sóc người già, giúp cho họ vào lúc sinh mệnh sắp hết có thể được an tịnh bình yên mà bước vào thời điểm lớn lúc lìa xa cõi đời.


### 2.2. Nguồn gốc sâu xa và truyền thừa của Chân Phật Tông


Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn là một trong những ứng hóa thân của Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật. Hóa danh trong một kiếp là Liên Hoa Đồng Tử hạ giáng xuống cõi Ta Bà, dùng Chân Phật Mật Pháp để quảng độ chúng sinh. 

Nguồn gốc căn cơ của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn:
Đại Nhật Như Lai - Phật Nhãn Phật Mẫu - A Di Đà Phật - Liên Hoa Đồng Tử - Liên Sinh Hoạt Phật.

Truyền thừa trực tiếp vô thượng của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn: Thích Ca Mâu Ni Phật - A Di Đà Phật - Di Lặc Bồ Tát - Liên Hoa Sinh Đại Sĩ - Liên Sinh Hoạt Phật.

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đã được:
• Phật Thích Ca Mâu Ni thọ ký.
• Phật A Di Đà phó thác.
• Bồ Tát Di Lặc trao mũ miện đỏ.
• Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền thụ Mật pháp.

Tại thế gian này, Liên Sinh Hoạt Phật đã có được truyền thừa của bốn dòng phái lớn của Mật giáo gồm:
• Bạch giáo (phái Kagyupa) - Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16.
• Hoàng giáo (phái Gelugpa) - Thubten Dhargye Rinpoche.
• Hoa giáo (phái Sakya) - Sakya Chứng Không Rinpoche (Dezhung Rinpoche thứ ba).
• Hồng giáo (phái Nyingmapa) - Trung Mật - Liễu Minh Hòa Thượng (Thanh Chân Đạo Trưởng).


### 2.3. Nhân duyên và mục đích thành lập Chân Phật Tông


Nhân duyên sáng lập:
• Phật Thích Ca Mâu Ni thọ ký.
• Phật A Di Đà phó thác.
• Bồ Tát Di Lặc trao mũ miện đỏ.
• Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền thụ Mật pháp.

Do có được những ký thác chắc chắn như vậy mà ngài có được tất cả mọi nhân duyên với Mật pháp, vì thế trong thời đại suy thoái của Phật pháp này, vì cứu độ chúng sinh mà ngài sáng lập tông phái. 

Mục đích sáng lập:
Việc sáng lập tông phái hoàn toàn không phải là tạo lập một tông phái thù thắng độc lập mà là để phát triển đạo lý Phật giáo, dạy cho thế giới đại đồng, cứu chúng sinh khỏi khổ ách, không bài xích tôn giáo khác, cũng không ngăn cấm các giáo pháp khác, dùng phương tiện thiện xảo để xây dựng tất cả chính pháp.


### 2.4. Thành lập Chân Phật Tông dựa trên điều gì?


Chân Phật Tông là do Liên Hoa Đồng Tử tiếp tục lời thề nguyện mà lại đến, cũng chính là:
*"Đã được thọ ký
Trở lại Ta Bà
Phân thân vô số
Ở khắp muôn phương
Thần lực tự tại
Bất khả tư nghì
Mọi loại phương tiện
Độ hóa chúng sinh
Ai nấy miễn nhiễm
Còn được tịnh tâm
Đồng sinh Cực Lạc."*

Chân Phật Tông có Chân Phật Kinh, thuật lại nguồn gốc của Liên Hoa Đồng Tử.
Chính pháp tu hành của Chân Phật Tông là pháp nội chứng Pháp thân Như Lai, ảo diệu, bí mật mà sâu xa, dựa theo kinh Đại Nhật, kinh Kim Cương Đỉnh.
Bởi vì Liên Sinh Hoạt Phật là một vị sư phụ quy phạm Đại Trì Minh Kim Cương Acharya, nhờ pháp nội chứng này đã chứng minh Chân Phật Thế Giới là Chân Phật Tông.


### 2.5. Cơ cấu tổ chức của Chân Phật Tông


**2.5.1. Vì sao cần thành lập Tông vụ ủy viên hội Chân Phật Tông thế giới?**

(1) Ý nghĩa của việc thành lập Tông vụ ủy viên hội Chân Phật Tông thế giới:
Để Chân Phật Tông có bộ máy tổ chức kiện toàn hơn, để tất cả các nhân viên hoằng pháp của tông phái (Thượng sư, giáo thọ sư, pháp sư, giảng sư, trợ giảng, người phụ trách pháp vụ của các chùa và Phật đường) và các tổ chức được Chân Phật Tông chứng nhận trên khắp thế giới gồm Lôi Tạng Tự, phân đường, đồng tu hội hoạt động trong quỹ đạo một cách có tổ chức, có kỷ luật, có trật tự, từ đó càng hoằng dương Chân Phật Mật Pháp một cách sâu rộng hơn, để quảng đại chúng sinh có được nhận thức mới và niềm tin nương dựa vào bản tông. Vì sự phát triển của Chân Phật Tông trong tương lai mà xây dựng một dạng thức hoạt động kiện toàn hơn, để thuận lợi hơn cho việc cứu độ quảng đại chúng sinh. 

(2) Sự ra đời của Tông vụ ủy viên hội Chân Phật Tông thế giới:
Tông vụ ủy viên hội Chân Phật Tông thế giới ra đời do chính Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật đích thân thành lập, trình tự thành lập của tổ chức này như sau:
A. Toàn thể các Thượng sư hiện có của Chân Phật Tông công khai bỏ phiếu, lựa chọn ra 21 vị Thượng sư làm ủy viên cho Tông vụ ủy viên hội Chân Phật Tông thế giới (gọi tắt là Tông Ủy Hội).
B. Trong số 21 vị ủy viên, lại chọn ra 7 ủy viên có số phiếu lựa chọn cao nhất để làm thành Tổ nòng cốt Tông vụ ủy viên hội Chân Phật Tông thế giới (gọi tắt là Tổ nòng cốt Tông Ủy Hội), phụ trách lãnh đạo, xử lý tất cả mọi sự vụ của tông phái.

**2.5.2. Vì sao cần thành lập Tổng hội Mật giáo?**

Tôn chỉ thành lập Chân Phật Tông Mật giáo tổng hội tuân theo giáo thị của người sáng lập Chân Phật Tông - Liên Sinh Hoạt Phật: "Dùng Phật pháp để tịnh hóa nhân gian, lấy việc học Phật làm đẹp cuộc sống, lấy giáo lý đạo Phật để độ hóa nhân tâm."

Tập trung sức mạnh cảm hóa của tôn giáo để làm cho tâm con người xã hội hướng về sự lương thiện, thuần khiết và chân thật, hơn nữa là phát dương tư tưởng từ bi của tôn giáo, dựa vào niềm tin rằng "người đói ta đói, người nghèo ta nghèo" để quan tâm đến chúng sinh, báo đáp lại xã hội.


### 2.6. Lý luận cơ bản của Chân Phật Tông


(1) Lấy trọng tâm là lời dạy của tổ sư Mật giáo Liên Hoa Sinh Đại Sĩ "kính sư, trọng pháp, thực tu", dựa vào sự thực tu thực chứng để chứng minh Phật pháp là có cơ sở lý luận, không phải là mê tín, đồng thời yêu cầu đệ tử quy y tu hành mỗi ngày.

(2) Đối với hành vi, yêu cầu:
• Bên ngoài: mọi việc ác không làm, làm mọi điều thiện.
• Bên trong: tu luyện Mật pháp, đạt đến lý tưởng thành Phật là thân, khẩu, ý tam nghiệp thanh tịnh. Đồng thời yêu cầu đệ tử tuân thủ giới luật cơ bản của Hiển-Mật như 14 đại giới căn bản của Mật giáo, Sự sư pháp ngũ thập tụng, và giới luật Chân Phật Tông. 

(3) Lấy tâm thái bình đẳng và bao dung để đối đãi với các tông phái khác.

(4) Trong quá trình hoằng pháp làm lợi cho chúng sinh, vận dụng các pháp môn nhập thế tốt đẹp và tiện lợi để viên mãn nguyện vọng của chúng sinh, từ đó dẫn dắt con người đến với trí huệ Phật.

(5) Không phân biệt bất kì tôn giáo tín ngưỡng, bất kì chủng tộc nào, tại gia, xuất gia, ăn chay, ăn mặn, ai cũng có thể quy y để tu trì Chân Phật Mật Pháp.


### 2.7. Tôn chỉ của Chân Phật Tông


Lấy "kính sư, trọng pháp, thực tu" làm gốc.
Lấy "minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử" làm đích, từ đó nỗ lực tu tâm tu pháp.


### 2.8. Lý luận và vận hành của tăng đoàn Chân Phật Tông


(1) Dựa trên tinh thần của Chân Phật Tông Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật làm nền tảng. 

(2) Dựa trên tôn chỉ của Chân Phật Tông là "kính sư, trọng pháp, thực tu" làm gốc, lấy "minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử" làm mục đích, lấy sự giải thoát làm cứu cánh.

(3) Nghiêm khắc tuân thủ Mười bốn đại giới cơ bản của Mật giáo, Sự sư pháp ngũ thập tụng, Chân Phật Tông xuất gia giới, và Giới luật Chân Phật Tông. Nghiên cứu pháp nghĩa, nghiêm khắc giữ giới luật. Lấy lý luận chính tín chính kiến để cùng giúp đỡ, cổ vũ lẫn nhau, cùng tu cùng chứng, cứu đời độ người. 

(4) Coi việc phát triển lâu dài chính pháp Chân Phật của tông phái là thiên chức. 

(5) Lấy việc phát triển kiện toàn bền vững của tăng đoàn để tiếp tục pháp mạch chính pháp của Chân Phật.

(6) Dựa vào việc giảng dạy bằng lời nói và bằng ví dụ thực tế mà tự độ mình và độ người khác, hoằng dương Chân Phật Mật Pháp.


### 2.9. Sự thù thắng của Chân Phật Tông


(1) Có thể lấy thành tựu quả vị làm nguyên nhân để tạo lập phương tiện tu trì. 

(2) Có pháp Căn bản Thượng sư tương ứng, còn gọi là "Liên Hoa Đồng Tử Kim Cương tương ứng đại pháp", là pháp đem lại cảm ứng nhanh nhất giữa Căn bản truyền thừa Thượng sư và các đệ tử.

(3) Chân Phật Tông có một bộ hoàn chỉnh trình tự tu hành pháp nhập thế và pháp xuất thế, và Đại Bản Tôn Pháp thích hợp với con người với các căn khí Đạo - Hiển - Mật để tu trì. 

(4) Chân Phật Tông có một vị Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Đại Trì Minh Lư Thắng Ngạn tôn giả đã được thập phương tam thế tất thảy chư Phật Bồ Tát cùng minh chứng là một vị Kim Cương Thượng Sư với đầy đủ mười phẩm chất để là một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư. 

(5) Chân Phật Tông là một tông phái đã được nghiệm chứng. Chân Phật Mật Pháp ngoài khả năng hiển hiện thần thông nhập thế cứu độ đã được nghiệm chứng ra thì điều khiến cho thế nhân kinh ngạc còn là thành tựu xuất thế của nó tương đương với việc đạt được nghiệm chứng viên mãn. Nhìn chung những người tu tập Chân Phật Mật Pháp sau khi vãng sinh đều có được một dạng xá lợi nào đó từ tro, bao gồm cả nhiều người là tội phạm bị xử tử, nhưng sau khi quy y Liên Sinh Hoạt Phật rồi, tro của họ sau khi hỏa thiêu đều có hạt xá lợi. 
(Các đệ tử Chân Phật Tông sau khi vãng sinh có được những hiện tượng cát tường rất nhiều, không thể kể hết.)

Do vậy có thể thấy rằng: Chân Phật Tông là một tông phái đã được nghiệm chứng, Chân Phật Mật Pháp là Phật pháp chính tín thù thắng.


## III. Tiến trình tất yếu của tu tập Chân Phật Mật Pháp



### 3.1. Giới luật cần giữ để tu trì Chân Phật Mật Pháp


(Cho hành giả Chân Phật sau khi quy y)

**3.1.1. Giới luật hành giả Chân Phật nên giữ (10 giới luật lớn để tu pháp)**

Mọi đồng môn Chân Phật Tông phải học tập và tuân thủ những giới luật dưới đây:
1. Năm giới: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngữ, không uống rượu.
2. 14 đại giới căn bản của Mật giáo.
3. Sự sư pháp ngũ thập tụng.
4. Giới luật Chân Phật Tông.
5. Truyền thống về pháp của Chân Phật Tông.
6. Nghi quỹ giới luật.

Mười đại giới luật của tu pháp:
1. Phải kính sư.
2. Phải trung thực.
3. Đừng coi trọng tiền bạc.
4. Đừng chủ quan.
5. Đừng phỉ báng.
6. Đừng nghĩ xấu.
7. Đừng để mình ô uế.
8. Đừng hại người.
9. Đừng coi trọng sắc.
10. Đừng bất cẩn.

**3.1.2. Tầm quan trọng của giới samaya**

Giới samaya trong Mật giáo là để chỉ lời thề ước giữa bản thân ta với Căn bản Truyền thừa Thượng sư, với Bổn tôn, với Hộ pháp, nói cách khác chính là "lời thề liên minh". 

Nếu có sự phỉ báng Căn bản Truyền thừa Thượng sư thì chính là phá giới samaya, cũng chính là phá hoại lời thề liên minh. Việc này trong Mật giáo mà nói thì cực kì nghiêm trọng, sẽ bị đọa vào địa ngục kim cang.

**3.1.3. Muốn tu trì Mật pháp đạt thành tựu cần có ba loại bồ đề tâm**

- Hạnh nguyện bồ đề tâm.

- Thắng nghĩa bồ đề tâm.

- Tam ma địa bồ đề tâm.

Ba loại bồ đề tâm này cũng là tâm Bồ Tát của hành giả Mật giáo đích thực.


### 3.2. Khái niệm cơ bản về tu trì Chân Phật Mật Pháp


**3.2.1. Tại thế gian này hành giả Chân Phật nên tu trì thế nào?**

(1) Hành giả Chân Phật nên thực sự thẳng tiến trên con đường tu hành, đây chính là thực tu.

(2) Hành giả Chân Phật học tập tu pháp cần tuân thủ nghi quỹ, không thể coi thường xem nhẹ, không chừng dễ mắc phải tội bất cẩn.
Trừ khi gặp các hoàn cảnh dưới đây thì có thể tu phần trọng tâm của pháp, còn lại tất cả nên theo nghi quỹ hoàn chỉnh để tu pháp. 
• Khi đi ra khỏi nhà (ví dụ như ở trên máy bay, trên xe ô tô, trên tàu thuyền, v.v…), cúng phẩm không đủ, có thể quán tưởng để tu, đây là phương pháp tiện lợi. 
• Lúc lâm chung, vì thời gian không còn nhiều, có thể chỉ tu quán tưởng.
• Người đã khai ngộ có thể chỉ cần tu quán tưởng.

(3) Hành giả Chân Phật có thể tùy theo thời gian và địa điểm mà tu pháp, tâm thanh tịnh thì tất cả đều thanh tịnh.

**3.2.2. Vì sao người quy y cần thực tu?**

Hành giả Mật giáo cần coi trọng việc thực tu.
• Chỉ duy nhất thực tu mới có thể có được sức mạnh gia trì của dòng truyền thừa.
• Là một phương pháp sửa đổi những yếu kém của con người thế gian một cách từ từ.
• Thực tu có thể hiểu được sự thù thắng của Chân Phật Mật Pháp.
• Thực tu có thể tiêu trừ nghiệp chướng của bản thân.
• Có thể đạt được sự an lạc vĩnh hằng và lợi ích ngay tại hiện thực trước mắt.
• Có thể chấm dứt sinh tử, minh tâm kiến tính.
• Có thể hiểu được chân lý vũ trụ đích thực.

**3.2.3. Chuẩn bị tâm lý để tu trì Chân Phật Mật Pháp**

Đối với Căn bản Truyền thừa Thượng sư cần có nhận thức và niềm tin cơ bản, hơn nữa cần có tâm cung kính kiền thành.
• Xem Căn bản truyền thừa Thượng sư là tổng trì của Phật, pháp, tăng, Bổn tôn, Không hành, Hộ pháp.
• Cần có sự quyết tâm tu hành để giải thoát phiền não.


### 3.3. Tu trì Chân Phật Mật Pháp như thế nào?


**3.3.1. Thứ tự tu hành Chân Phật Mật Pháp**

(trình tự)

Thứ tự tu hành Chân Phật Mật Pháp là trước tiên tu Ngoại pháp, tiếp theo là Nội pháp, tiếp nữa là Mật pháp, cuối cùng là Mật mật pháp.
Nói cách khác là tu hành theo đúng thứ tự, trước tiên tu Thứ tự sinh khởi (tức là Ngoại pháp), tiếp đến là tu Thứ tự viên mãn (tức là Nội pháp, Mật pháp, Mật mật pháp). 

Thứ tự tu trì như sau:
1. Tứ gia hành pháp.
2. Thượng sư tương ứng pháp.
3. Bổn tôn pháp. 
4. Bảo bình khí.
5. Chuyết hỏa pháp.
6. Khai trung mạch.
7. Khai ngũ luân.
8. Kim cang pháp.
9. Vô thượng mật.
10.  Đại viên mãn.

**3.3.2. Chân Phật Mật Pháp phân thành thứ tự quán đảnh nào?**

(1) Sơ quán - Ngoại pháp.
(Bao gồm quán đảnh tứ gia hành pháp, quán đảnh Căn bản Thượng sư tương ứng pháp, quán đảnh chư tôn.)
(2) Nhị quán - Nội pháp.
(Bao gồm bảo bình khí, chuyết hỏa pháp, minh điểm pháp, vô lậu pháp, trong đó không truyền vô lậu pháp phi pháp khí.)
(3) Tam quán - Vô thượng mật (Mật pháp).
(4) Tứ quán - Đại viên mãn (Mật mật pháp).

**3.3.3. Vì sao khi bắt đầu tu Mật giáo cần tu Tứ gia hành trước tiên?**

Tu trì Tứ gia hành:
(1) Trì niệm "tứ quy y chú" sẽ sản sinh ra sức mạnh nương dựa hoàn toàn duy nhất, giúp cho tâm đệ tử hoàn toàn dựa vào Căn bản Truyền thừa Thượng sư, dựa duy nhất vào Phật, pháp, Thánh hiền tăng, có được niềm tin nương dựa hoàn toàn mới có thể đạt được đạo tâm kiên cố và thành tựu.
(2) Đại lễ bái pháp thể hiện lòng kiền thành cung kính đối với chư Phật Bồ Tát, Kim Cang Hộ pháp, Không hành chư Thiên, có thể điều phục tâm ngạo mạn của bản ngã, phá bỏ chấp ngã, thanh tịnh nghiệp thân khẩu ý, hơn nữa còn có thể khỏe mạnh thân này.
(3) Cúng dường mandala pháp là để tích lũy tư lương, tăng trưởng phúc huệ.
(4) Kim Cang Tâm Bồ Tát pháp có thể tiêu trừ tội chướng từ vô số kiếp.
Tứ gia hành là cơ sở của Mật giáo, tu trì đúng sẽ đạt được sự tương ứng hoàn toàn chân chính thì đã là đạt được quả vị Bồ Tát ở mức độ "đẳng giác". Nếu như không có tư lương này thì làm sao có thể học tập Mật pháp được.

**3.3.4. Vì sao cần tu Thượng sư tương ứng pháp?**

Thành tựu Mật giáo đến từ sự gia trì của Căn bản Truyền thừa Thượng sư, trong đó các bí quyết tuyệt chiêu cũng là do Căn bản Truyền thừa Thượng sư truyền dạy, đây chính là duyên khởi của truyền thừa, cũng chính là duyên khởi tính Không trong Đại thừa. Do vậy nhất định cần tu Thượng sư tương ứng pháp. Hơn nữa, Thượng sư tương ứng pháp là phương pháp nhanh nhất có được cảm ứng giữa Căn bản Truyền thừa Thượng sư và đệ tử. Do vậy, phàm là đệ tử Chân Phật Tông thì nhất định cần tu Căn bản Thượng sư tương ứng pháp. Tu Căn bản Thượng sư tương ứng pháp có thể đạt được sự tương ứng, rồi tiến thêm một bước nữa để tu Bổn tôn pháp thì mới không có sự sai sót.

**3.3.5. Thế nào gọi là ba căn bản của Mật giáo?**

Cái gọi là ba căn bản của Mật giáo là: Căn bản Truyền thừa Thượng sư, Căn bản Bổn tôn, Căn bản Hộ pháp, đây chính là ba cơ sở của tu hành Mật pháp. 
• Căn bản Truyền thừa Thượng sư là sự gia trì gốc. (gia trì thành tựu)
• Căn bản Bổn tôn là sự thành tựu gốc. (thành tựu siddhi)
• Căn bản Hộ pháp là sự nghiệp gốc. (bảo vệ người tu hành đạt đến chính niệm, giữ được chính kiến cho đến khi thành tựu)

Trong ba căn bản này thì Căn bản Truyền thừa Thượng sư vẫn là quan trọng nhất. Bởi vì Bổn tôn và Hộ pháp cần phải do Căn bản Truyền thừa Thượng sư ban quán đảnh cho thì mới tu trì một cách "như pháp" được. (Liên Sinh Hoạt Phật văn tập số 154, trang 94.) 

Hành giả Chân Phật Tông chúng ta gần nhớ rõ Căn bản Truyền thừa Thượng sư tâm chú, Căn bản Bổn tôn chú, Căn bản Hộ pháp chú, ba câu chú căn bản này cần phải trì tụng đủ.

**3.3.6. Vì sao có bát đại Bổn tôn pháp?**

Có một số hành giả Chân Phật thực sự có duyên đặc biệt với một Bổn tôn nào đó, cá tính tương hợp, nguyện lực tương đồng. Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng những hành giả này có thể lựa chọn tu trì pháp Bổn tôn, nhờ đó càng sớm có ngày thành tựu tương ứng, đây chính là tấm lòng từ bi của Liên Sinh Hoạt Phật đã mở rộng pháp môn tiện lợi cho hành giả. 

Mật giáo nhấn mạnh sức mạnh gia trì của Căn bản truyền thừa, do vậy tu trì bất kì một vị nào trong số bát đại Bổn tôn pháp (trừ Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử Bổn tôn pháp ra) thì trong phần chính hành của nghi quỹ tu trì đều cần phải quán tưởng ba ánh sáng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư bao trùm gia trì, và trì tụng Căn bản Thượng sư tâm chú 108 biến.


### 3.4. Thứ tự thành tựu khi tu trì Chân Phật Mật Pháp


**3.4.1. Ba đại thành tựu**

- Thành tựu trì minh: là những thành tựu đạt được khi trì chú ngữ.

- Thành tựu Tam ma địa: là những thành tựu đạt được khi thiền định.

- Thành tựu Hộ Ma: là thành tựu đạt được khi tu pháp Hỏa Cúng.

**3.4.2. Thành tựu cửu phẩm**

• Phẩm thứ nhất: tâm tưởng sự thành.
• Phẩm thứ hai: sai khiến được quỷ thần.
• Phẩm thứ ba: túc mệnh thông đạt.
• Phẩm thứ tư: Trì Minh Tiên Vương.
• Phẩm thứ năm: Chuyển Luân Thánh Vương.
• Phẩm thứ sáu: quả vị Thượng Bồ Tát sơ địa.
• Phẩm thứ bảy: quả vị Thượng Bồ Tát ngũ địa.
• Phẩm thứ tám: quả vị Thượng Bồ Tát bát địa.
• Phẩm thứ chín: chứng Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác, thầy của trời người, Phật.


## IV. Các vấn đề liên quan khác



### 4.1. Khả năng linh dị có thuộc về Chân Phật Mật Pháp không?


Chân Phật Mật Pháp là tu trì thông qua tam mật hợp nhất thân - khẩu - ý. Dưới sự gia trì của dòng truyền thừa gốc mà đạt tới mục đích giải thoát cuối cùng là "minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử". 

Tu trì khả năng linh dị không nhất định cần phải có sự gia trì của dòng truyền thừa gốc, cũng không nhất định là phải tu luyện đến khi tam mật hợp nhất, lại càng không phải là phương pháp tu trì để đạt đến "minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử".

Khả năng linh dị hoàn toàn không phù hợp với nguyên tắc mục tiêu của pháp tu trì Chân Phật Mật Pháp, bởi vì tất cả khả năng linh dị đều không thuộc về Chân Phật Mật Pháp chân chính, càng không thể đại diện cho Chân Phật Mật Pháp.


### 4.2. Sự khác biệt về danh từ Thượng sư


Thượng sư trong "Mười bốn đại giới căn bản của Mật giáo" và "Sự sư pháp ngũ thập tụng" có phải là chỉ tất cả các vị Kim cương Thượng sư không?

Cách gọi Thượng sư trong "Mười bốn đại giới căn bản của Mật giáo" và "Sự sư pháp ngũ thập tụng" không phải là để chỉ tất cả các vị Kim cương Thượng sư. Mà là chỉ một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư mà thôi. 
Trong văn tập của Liên Sinh Hoạt Phật, từ lâu trong các sáng tác đã thường nhắc đến cách gọi "Thượng sư", cũng chỉ là chỉ Căn bản Truyền thừa Thượng sư, hoàn toàn không phải là các Kim cương Thượng sư khác. Xin mọi người khi đọc cần phân biệt rõ, hiểu rõ trong đầu.

**(Hết)**

---

---
# File: kinh-luat-luan/su-su-phap-ngu-thap-tung.md
# Title: Sự sư pháp ngũ thập tụng
---

![image](/img/img_7810daafb6cdc18c431f6f82f7dc7aae.jpg)



## Sự sư pháp ngũ thập tụng


🪷 50 quy tắc ứng xử giữa thầy và trò

Cuốn số: 699
Xuất bản năm: N/A
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Mở đầu. Cấp độ giới luật và hỏi đáp


Do có người hỏi về vấn đề các cấp độ của giới luật cho nên hôm nay chúng ta sẽ nói về "Giới" một cách đơn giản. Đương nhiên giới luật của Phật giáo dựa vào Ngũ giới làm nền tảng cơ sở.
Chúng ta đều hiểu Ngũ giới là: sát sinh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ, uống rượu. Ngũ giới chính là giới luật cơ bản nhất của Phật giáo. Kì thực bản thân giới luật của Tiểu thừa cũng dựa vào Ngũ giới là chủ yếu nhất.
Có giới của Tiểu thừa rồi thì sau đó mới đi vào đến giới của Đại thừa. Trên thực tế, giới bồ đề nên là cao nhất, trong đó bao gồm giới lục độ. Bình thường chúng ta vẫn nói đến lục độ, đây chính là giới lục độ, cũng chính là cần phải làm các công tác lục độ liên tục cho đến khi đạt được lục độ vạn hành. Lục độ vạn hành chính là tương đương với Bồ Tát Đại thừa.

🌟

Đi vào tu tập Mật tông thì cần giữ Sự sư pháp ngũ thập tụng. Sự sư pháp ngũ thập tụng trong Mật giáo được gọi là Sự giới… tức là cần phụng sự Thượng sư như thế nào, cần phụng sự Phật Bồ Tát như thế nào, những cái này thuộc về sự pháp.
Lại tiến thêm một bước nữa thì chính là Mười bốn đại giới của Mật giáo, thuộc về Hành bộ, là đặc biệt nói về việc ngoài phụng sự Phật, phụng sự Thượng sư ra thì còn phải tu pháp như thế nào, làm sao để mặt đối mặt với việc tu hành, thì được gọi là Hành bộ. Thế nên Mười bốn đại giới cơ bản cũng chính là thuộc về giới luật của Hành bộ.

🌟

Đệ tử đã quy y Chân Phật Tông nhất định phải giữ giới, đây là điều mà tất cả mọi hành giả Phật giáo đều cần phải giữ. Sau khi có được Ngũ giới làm nền tảng rồi, nếu bản thân muốn nhận thêm bát quan trai giới hoặc Bồ Tát giới thì đó là chính tự bản thân bạn phát tâm Bồ Tát Đại thừa. Đối với tông phái thuộc về Mật giáo như chúng ta, trước tiên nên giữ hai giới, một là Sự bộ giới, còn gọi là Sự sư pháp ngũ thập tụng, tức là làm sao để phụng sự Thượng sư. Tiếp theo đó là Mười bốn đại giới của Mật giáo, thuộc về Hành bộ giới. Đây chính là hai bộ giới luật cơ bản nhất của Mật giáo.
(Trích từ cuốn 667 - “Giới luật Mật thừa Chân Phật Tông Mật”, chương 12 - Cấp độ của giới luật.)

🌟

❓ Hỏi: Giới luật là gì?
✳ Đáp: “Đại Thừa Nghĩa Chương” viết:
"Người nói lời giới hạnh, người này trong sáng, cũng được gọi là Giới. 
Tam nghiệp như lửa cháy thiêu đốt người tu hành. Các sự việc có tính chất thiêu đốt tương tự, nhờ có giới mà có thể ngăn chặn và bảo vệ, nếu người đó trong sáng, là người thanh lương. Do đó, người trong sáng, có tâm thanh lương, ngược lại sẽ được bảo vệ, ngăn chặn, bởi vậy cũng được gọi là giới."
Giới luật chính là những luật lệ quy định để tránh khỏi tà ác, bảo vệ các tín đồ Phật giáo.

❓ Hỏi: Công dụng của giới luật là gì?
✳ Đáp: Trước tiên chúng ta cần hiểu bốn phần của giới luật là:
Giới pháp — Là những điều luật mà Như Lai đã định ra.
Giới thể — Dẫn nạp giới pháp vào tâm, là công đức giúp ngăn chặn những điều sai ác phát sinh từ tâm hành giả. 
Giới hạnh — Cùng với giới thể và các hành động như pháp được gọi là giới hạnh. 
Giới tướng — Sự khác biệt của hành vi, giới có sự phân biệt năm giới, mười giới, thậm chí hai trăm năm mươi giới.

Do vậy chúng ta có thể hiểu được ngay rằng: công dụng của giới luật chính là công đức để giúp phòng tránh và ngăn chặn ta không làm điều ác.
Liên Sinh Thánh Tôn cho rằng công dụng của giới luật có ba điều:
- Tránh xa tất cả những điều xấu xa phi pháp.
- Làm thiện tích phúc chứng ngộ Như Lai.
- Lợi lạc cho tất cả chúng sinh hữu tình.

❓ Hỏi: Ba thứ giới - định - huệ có liên quan với nhau thế nào?
✳ Đáp: Để phòng tránh và ngăn chặn làm điều ác là "giới", đừng suy nghĩ để an tịnh lại là "định", phá bỏ cái ác chứng được cái thực là "huệ". 
Nhờ có "giới" mới sản sinh ra "định", nhờ có "định" mới sản sinh ra "huệ". Đây chính là nhất giới, nhì định, tam huệ, tứ giải thoát, ngũ giải thoát tri kiến, đây chính là năm phần pháp thân.
(Trích từ cuốn 081 - Chân Phật Nghi Quỹ kinh, chương 6 - Nghi quỹ giới luật.)

❓ Hỏi: Chân Phật Tông coi trọng lời thề giữa Thượng sư và hành giả Chân Phật. Giữa Thượng sư và hành giả Chân Phật cũng có giới luật, chính là "Sự sư pháp", xin hỏi, nội dung của "Sự sư pháp" như thế nào?
✳ Đáp: Giữa Thượng sư và hành giả của Chân Phật Tông có giới luật, giới luật ở đây nói về việc Thầy nhận ra đệ tử như thế nào, đệ tử cần cung kính lễ nghĩa với Thầy ra sao. Giới luật này có nguồn gốc từ Mã Minh Bồ Tát, là do Mã Minh Bồ Tát đã tiếp nhận chỉ thị từ chư Phật mà viết ra. “Sự sư pháp” gồm 50 đoạn tụng ngắn, do vậy gọi tên là “Sự sư pháp ngũ thập tụng”.

❓ Hỏi: Giới luật học cũng là một môn học trong trường đại học, trong đó còn có những quy tắc gì không?
✳ Đáp: Trong Phật giáo có rất nhiều giới luật, đương nhiên cũng có rất nhiều quy tắc không nằm trong giới luật. Đó chính là khi tu học tông phái nào thì đồng thời cần tuân thủ quy tắc của tông phái đó. Những quy tắc này là xuất phát từ giới đức mà diễn hóa ra.
Các đệ tử Chân Phật chúng ta đồng thời giữ các quy tắc này cũng chính là "quy tắc có thể làm thành chu vi", giúp hình thành nên một tông phái hoàn mỹ, một tổ chức hoàn mỹ.
Như vậy mới là:
Nghiêm túc.
Kính cẩn.
Như pháp.


### 01. Kệ tụng


(1)
Trong thập phương thế giới,
tam thế nhất thiết Phật,
ba thời năng lễ phụng,
vị thầy quán đảnh ta.

(2)
Dùng tâm cung kính nhất,
chắp tay cầm hoa sen,
cúng dường mạn-đà-la,
đầu chạm chân đảnh lễ.

(3)
Thầy có thể tại gia,
hoặc chỉ vừa thọ giới,
cũng giống trước kinh tượng,
phải bỏ hết nghi ngờ.

(4)
Là đệ tử xuất gia,
thường tịnh tâm phụng sự,
đang ngồi cần đứng dậy,
cung kính nghênh tiếp thầy.

(5)
Người thầy và đệ tử,
cần khảo sát lẫn nhau,
nếu không khảo sát trước,
cả hai cùng mắc tội.

(6)
Nếu thầy đầy sân hận,
tham ái ngày càng nhiều,
khoa trương và ngạo mạn,
chọn lựa chớ đi theo.

(7)
Một vị thầy tuyệt hảo,
nhẫn, bi, trí chẳng sai,
thông hiểu pháp bí mật,
thấu luận nghĩa dễ dàng.

(8)
Chân ngôn tướng tốt đẹp,
sự nghiệp mạn-đà-la,
mười Chân Như ghi khắc
gốc rễ đều thanh tịnh.

(9)
Nếu ta đi cầu pháp,
lại dám phỉ báng thầy,
tức coi thường Như Lai,
sẽ gặp đầy khổ não.

(10)
Do ngày càng ngu si,
mà nhận thêm quả báo,
bởi bám chặt điều ác,
bệnh tật đeo bám hoài.

(11)
Bị bắt tới vương pháp,
rắn độc cắn bị thương,
nạn nước lửa trộm cướp,
phi nhân thoải mái hành.

(12)
Còn làm điều khuất tất,
chướng ngại sẽ phát sinh,
tới giây phút mệnh chung,
đọa xuống làm ác thú.

(13)
Đừng khiến cho thầy ta,
phải sinh thêm phiền não,
ngu si mà vi phạm,
đọa địa ngục A Tì.

(14)
Thọ bao điều cực khổ,
đáng sợ chẳng kể xiết,
chỉ do phỉ báng thầy,
địa ngục này kẹt mãi.

(15)
Ai có được vị thầy,
nắm giữ nhiều chính pháp,
hãy nhất tâm một lòng,
chớ sinh tâm khinh mạn.

(16)
Luôn hướng đến thầy ta,
phụng sự và cúng dường,
giữ tấm lòng kính trọng,
chướng ngại ắt tiêu trừ.

(17)
Quay tâm dựa vào thầy,
Hỷ xả và lạc hạnh,
thân này còn đem cúng,
tiền tài lại màng chi.

(18)
Một mình tu vạn kiếp,
cũng khó chứng Như Lai,
nhưng trong cuộc đời này,
ta có thầy dẫn dắt.

(19)
Nên thề bảo vệ khắp,
cúng dường chư Như Lai,
cung kính đối với thầy,
như cung kính chư Phật.

(20)
Những gì yêu quý nhất,
đồ trân quý cực kì,
cầu bồ đề vô tận,
ta thành tâm cống hiến.

(21)
Phụng sự Phật và thầy,
ý niệm lành tăng trưởng,
thầy ruộng phúc tối thắng,
ta chóng chứng Bồ Đề.

(22)
Do vậy, người cầu pháp,
nhẫn nại tạo công đức,
không lừa dối trước thầy,
thường đắc trí kim cương.

(23)
Nếu dẫm lên bóng thầy,
phạm tội như phá tháp,
giường ghế và vật dụng,
ngồi lên cũng là tội.

(24)
Với mọi điều thầy dạy,
hoan hỷ mà lắng nghe,
nếu thân không làm được,
dùng thiện ngôn trình rõ.

(25)
Dựa duy nhất vào thầy,
mọi việc đều thành tựu,
hiện lạc và sinh thiên,
đâu dám làm trái lệnh.

(26)
Mọi tài sản của thầy,
gìn giữ như sinh mệnh,
cung kính như người thân,
không mảy may khinh suất.

(27)
Chẳng nên trước mặt thầy,
đội mũ và giơ chân,
cho tay vào túi áo,
hay thoải mái ngồi nằm.

(28)
Khi có việc cần ngồi,
đừng tùy ý dạng chân,
mọi uy nghi phải giữ,
thầy đứng ta đứng lên.

(29)
Nơi thầy cần đi qua,
không nên tùy ý bước,
cẩn thận tránh qua bên,
thầy hắt hơi vẫn kính.

(30)
Cũng như trước mặt thầy,
đừng thì thầm to nhỏ,
cười nói khắp xung quanh,
ca hát hay nhảy múa.

(31)
Thầy cho ngồi hay đứng,
cần kính cẩn trang nghiêm,
nếu đường đi nguy hiểm,
tự đi trước dẫn đường.

(32)
Khi ở trước mặt thầy
chớ tỏ ra uể oải,
bẻ tay kêu răng rắc,
hay dựa cột dựa tường.

(33)
Khi rửa chân, giặt giũ,
tắm rửa, những việc trên,
với thầy cần báo trước,
đừng để thầy phải nhìn.

(34)
Không nên thường xuyên nhắc,
đến tên gọi của thầy,
nếu có người cố hỏi,
nhắc đến một chữ thôi.

(35)
Khi được lệnh tập hợp,
hãy đợi thầy dặn dò.
tất cả việc được giao
trong lòng luôn ghi nhớ.

(36)
Cười ho hoặc ngáp dài,
phải dùng tay che miệng,
khi có việc muốn hỏi,
cúi người chắp tay thưa.

(37)
Là phụ nữ tại gia,
tịnh tâm đến nghe pháp,
cần chắp tay kính cẩn,
tập trung gương mặt thầy.

(38)
Nghe pháp rồi cần giữ,
xả bỏ tâm ngạo mạn,
giống như cô dâu mới,
cúi mặt khi thẹn thùng.

(39)
Giữ thân mình trang nghiêm,
đừng nhen lên ái lạc,
đối với việc bất thiện,
luôn nhớ phải tránh xa.

(40)
Ngưỡng mộ công đức thầy,
đừng săm soi lỗi nhỏ,
tùy thuận mà thành tựu,
soi mói chỉ hại mình.

(41)
Việc thuyết pháp độ người,
mạn-đà-la hộ ma,
khi sống cùng chỗ thầy,
không có lệnh đừng làm.

(42)
Tiền bạc khi thu nhận,
từ thuyết pháp, giảng kinh,
cần cúng hết lên thầy,
chỉ dùng khi được phép.

(43)
Đồng học và pháp duệ,
không nhận đệ tử nhau,
không ở trước mặt thầy,
nhận lễ cúng thừa sự.

(44)
Đồ muốn dâng lên thầy,
hai tay cầm dâng cúng,
với đồ thầy ban cho,
cung kính cúi đầu nhận.

(45)
Tự chuyên tu chính hành,
luôn nhớ chẳng được quên,
dù thầy chưa hoàn hảo,
vẫn giữ lòng yêu kính.

(46)
Nếu lời dạy của thầy,
do bệnh không làm được,
cần lễ phép thông báo,
mới chẳng mắc lỗi lầm.

(47)
Luôn khiến thầy vui vẻ,
chẳng phải bận tâm gì,
phụng hành thật chăm chỉ,
chuyện phiền phức đừng kêu.

(48)
Điều Kim Cang Như Lai,
chư Phật từng tuyên thuyết,
hãy vâng lời dạy bảo,
theo thầy, thành tựu lớn.

(49)
Đệ tử đã thanh tịnh,
quy y Tam Bảo xong,
cần học Sự sư pháp,
trước tiên cần thuộc lòng.

(50)
Sau thọ nhận bí mật,
giúp thành tựu chính pháp,
mười bốn giới căn bản,
phải trì tụng thường xuyên.


(Hết kệ tụng)


### 02. Giải thích


(Trích từ Văn tập số 46 của Liên Sinh Hoạt Phật - "Hành giả ở Seattle", chương "Các vấn đề quan trọng khi quy y một vị thầy".)

♦ Câu 1
"Trong thập phương thế giới, tam thế nhất thiết Phật, ba thời năng lễ phụng, vị thầy quán đảnh ta."
Đệ tử cần lễ bái Thượng sư, nhớ về Thượng sư một ngày ba thời (sáng sớm, buổi trưa, chiều tà), giống như cung kính lạy Phật mỗi ngày ba thời.

♦ Câu 2
"Dùng tâm cung kính nhất, chắp tay cầm hoa sen, cúng dường mạn-đà-la, đầu chạm chân đảnh lễ."
Dâng hoa trước đàn thành, trước Thượng sư cung kính đảnh lễ ngũ thể đầu địa.

♦ Câu 3
"Thầy có thể tại gia, hoặc chỉ vừa thọ giới, cũng giống trước kinh tượng, phải bỏ hết nghi ngờ."
Không quan trọng thầy là người tu hành tại gia hay xuất gia, hay là người mới thọ giới. Trước thầy cũng giống như ở trước tượng Phật và kinh sách vậy, đều phải cung kính, không được có những suy nghĩ ác, nghi ngờ hoặc phỉ báng.
♦ Câu 4
"Là đệ tử xuất gia, thường tịnh tâm phụng sự, đang ngồi cần đứng dậy, cung kính nghênh tiếp thầy."
Cần có tâm thanh tịnh để phụng sự thầy, cần hiểu được việc đứng dậy khỏi chỗ ngồi để kính lễ thầy.

♦ Câu 5
"Người thầy và đệ tử, cần khảo sát lẫn nhau, nếu không khảo sát trước, cả hai cùng mắc tội."
Trước khi bái một ai đó làm thầy, cần khảo sát vị thầy, xem vị này có thể đảm đương vai trò làm thầy hay không. Thầy cũng cần chú ý xem người đệ tử này có thể dạy dỗ được hay không, nếu không cả hai sẽ cùng phạm phải lỗi Bất như pháp, đều là tội bất cẩn.

♦ Câu 6
"Nếu thầy đầy sân hận, tham ái ngày càng nhiều, khoa trương và ngạo mạn, chọn lựa chớ đi theo."
Người thầy dễ nổi giận, không có lòng từ bi, có tâm tham ái vào những thứ phù phiếm, ngạo mạn tự đề cao mình, vậy thì không nên quy y người thầy như vậy. Do đó trước khi quy y cần phải thấy được rõ tập tính của thầy.

♦ Câu 7
"Một vị thầy tuyệt hảo, nhẫn bi trí chẳng sai, thông hiểu pháp bí mật, thấu luận nghĩa dễ dàng."
Người có lòng từ bi lớn, người có trí huệ lớn, người thủ giữ giới luật, tôn trọng bản thân, không nịnh nọt xuyên tạc, người đã thấu hiểu mọi pháp mới là một người thầy tốt. Do vậy khi chọn thầy cần chú ý.

♦ Câu 8
"Chân ngôn tướng tốt đẹp, sự nghiệp mạn-đà-la, mười Chân Như ghi khắc, gốc rễ đều thanh tịnh."
Tất cả các pháp đều thông đạt, tự chứng quả vị Thập Địa Bồ Tát, lục căn thanh tịnh, không còn phiền não, mới là người thầy tốt.

♦ Câu 9
"Nếu ta đi cầu pháp, lại dám phỉ báng thầy, tức coi thường Như Lai, sẽ gặp đầy khổ não."
Đệ tử cầu pháp không thể phỉ báng thầy, chửi thầy hoặc chửi Phật, chắc chắn sẽ phải chịu rất nhiều đau khổ.

♦ Câu 10
"Do ngày càng ngu si, mà nhận thêm quả báo, bởi bám chặt điều ác, bệnh tật đeo bám hoài."
Kẻ phỉ báng thầy là người rất ngu si, mau chóng sẽ bị quả báo. Các ác thần cõi trời sẽ đi vào tâm trí, chắc chắn mắc bệnh nặng, không thể giải thoát.


♦ Câu 11
"Bị bắt tới vương pháp, rắn độc cắn bị thương, nạn nước lửa trộm cướp, phi nhân thoải mái hành."
Phỉ báng thầy sẽ dễ mang nghiệp dính vào vương pháp (luật pháp, kiện tụng), sẽ bị các loài động vật có độc gây tổn thương, đều sẽ gặp nạn ngập lụt, hỏa hoạn, trộm cướp, mọi ác quỷ thần sẽ đều giáng xuống tai nạn.

♦ Câu 12
"Còn làm điều khuất tất, chướng ngại sẽ phát sinh, tới giây phút mệnh chung, đọa xuống làm ác thú.
Phỉ báng thầy sẽ tự có ác thần đem đến tai nạn, sau khi chết sẽ rơi vào tam ác đạo, tức địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.

♦ Câu 13
"Đừng khiến cho thầy mình, phải sinh thêm phiền não, ngu si mà vi phạm, đọa địa ngục A Tì."
Đệ tử phụng sự thầy, đừng khiến thầy có chút nào phiền não, nếu vi phạm ý chỉ của thầy, lừa phản thầy, sẽ phải vào địa ngục A Tì.

♦ Câu 14
"Thọ bao điều cực khổ, đáng sợ chẳng kể xiết, chỉ do phỉ báng thầy, địa ngục này kẹt mãi."
Địa ngục A Tì là địa ngục đau khổ nhất, bởi do phỉ báng thầy thì sẽ phải chịu cảnh bị khủng bố như vậy, đau khổ vô tận.


♦ Câu 15
"Ai có được vị thầy, nắm giữ nhiều chính pháp, hãy nhất tâm một lòng, đừng sinh tâm khinh mạn."
Vị thầy nắm giữ rộng rãi nhiều chính pháp, đệ tử cần nhất tâm phụng sự, nếu có tâm coi thường, sẽ phạm vào trọng tội như trên.

♦ Câu 16
"Luôn hướng đến thầy ta, phụng sự và cúng dường, giữ tấm lòng kính trọng, chướng ngại ắt tiêu trừ."
Tận tâm cúng dường thầy, tôn trọng thầy, nhờ vào sự gia trì của thầy, từ đó có thể diệt trừ chướng ngại, phiền não.

♦ Câu 17
"Quay tâm dựa vào thầy, hỷ xả và lạc hạnh, thân này còn đem cúng, tiền tài lại màng chi."
Sinh mệnh của mình còn có thể hy sinh, nói gì đến tiền tài, người thích bố thí hỷ xả sẽ có được phúc báo.

♦ Câu 18
"Một mình tu vạn kiếp, cũng khó chứng Như Lai, nhưng trong cuộc đời này, ta có thầy dẫn dắt."
Người tu hành nếu vẫn chưa gặp được đúng thầy thì chẳng có cách nào để tu trì thành Phật được. Chính là nhờ có thầy truyền pháp mà mình có thể tu trì thành Phật, mọi công đức là từ thầy ban cho.


♦ Câu 19
"Nên thề bảo vệ khắp, cúng dường chư Như Lai, cung kính đối với thầy, như cung kính chư Phật."
Phụng sự thầy là lời thề nguyện của bản thân khi mới nhập môn, việc đó cũng quan trọng giống như việc cúng dường Phật.

♦ Câu 20
"Những gì yêu quý nhất, đồ trân quý cực kì, cầu bồ đề vô tận, ta thành tâm cống hiến."
Thượng sư cũng chính là đại diện, bao gồm toàn thể Tam 
Bảo. Cần đem mọi thứ tốt nhất để phụng sự thầy, sẽ có được vô lượng vô biên công đức.

♦ Câu 21
"Phụng sự Phật và thầy, ý niệm lành tăng trưởng, thầy ruộng phúc tối thắng, ta chóng chứng Bồ Đề."
Cúng dường thầy, cúng dường Phật. Các ngài là ruộng phúc tốt đẹp nhất, từ đó sẽ nhanh chóng sẽ chứng được quả vị Bồ Đề.

♦ Câu 22
"Do vậy, người cầu pháp, nhẫn nại tạo công đức, không lừa dối trước thầy, thường đắc trí kim cương."
Đối với thầy phải rất thành ý phụng sự, nhẫn nại chịu đựng, không được lừa dối, chắc chắn sẽ có được trí huệ kim cương của Như Lai.


♦ Câu 23
"Nếu dẫm lên bóng thầy, phạm tội như phá tháp, giường ghế và vật dụng, ngồi lên cũng là tội."
Không được dẫm chân lên bóng thầy, không được ngồi lên giường của thầy, không được dùng những vật dụng thường dùng của thầy, đây đều là mắc tội.

♦ Câu 24
"Với mọi điều thầy dạy, hoan hỷ mà lắng nghe, nếu thân không làm được, dùng thiện ngôn trình rõ."
Hoan hỷ tiếp nhận những chỉ dạy của thầy, nếu không thể làm được, có thể khéo léo dùng tình cảm để biểu đạt.

♦ Câu 25
"Dựa duy nhất vào thầy, mọi việc đều thành tựu, hiện lạc và sinh thiên, đâu dám làm trái lệnh."
Nhờ thầy truyền pháp, đệ tử mới có thể thành tựu mọi pháp. Thầy là ruộng phúc vô thượng, đệ tử đừng vi phạm mệnh lệnh của thầy.

♦ Câu 26
"Mọi tài sản của thầy, gìn giữ như sinh mệnh, cung kính như người thân, không mảy may khinh suất."
Thay thầy gìn giữ tài sản giống như gìn giữ sinh mệnh của mình, không được lãng phí. Cung kính thầy như cung kính đối với tất cả những ai đáng kính nhất, cung kính thầy như đối với người thân trong gia đình, không được lơ là.

♦ Câu 27
"Chẳng nên trước mặt thầy, đội mũ và giơ chân, cho tay vào túi áo, hay thoải mái ngồi nằm."
Ở trước mặt thầy cần giữ sự đoan trang, những hành động mang hình dạng và trạng thái xấu, ví dụ như giơ chân, đút tay vào túi quần túi áo đều không được làm.

♦ Câu 28
"Khi có việc cần ngồi, đừng tùy ý dạng chân, mọi uy nghi phải giữ, thầy đứng ta đứng lên."
Đệ tử Phật nên giữ sự uy nghi, khi ngồi hai chân đừng dang rộng một cách thoải mái, khi thầy vừa đứng dậy thì cũng cần lập tức đứng dậy theo.

♦ Câu 29
"Nơi thầy cần đi qua, không nên tùy ý bước, cẩn thận tránh qua bên, thầy hắt hơi vẫn kính."
Trên đoạn đường thầy đi qua, nên cung kính đứng sang bên cạnh, cung kính đón tiễn. Nếu thầy hắt hơi, ho, chảy nước mũi, không được có tâm ghê sợ.


♦ Câu 30
"Cũng như trước mặt thầy, đừng thì thầm to nhỏ, cười nói khắp xung quanh, ca hát hay nhảy múa."
Trước mặt thầy cũng không thể bí mật thầm thì to nhỏ, tất cả mọi hành động không trang trọng đều cần loại bỏ.

♦ Câu 31
"Thầy cho ngồi hay đứng, cần kính cẩn trang nghiêm, nếu đường đi nguy hiểm, tự đi trước dẫn đường."
Đối với chỉ thị của thầy đều cần trang nghiêm kính lễ. Nếu thấy đi trên đường có phần nguy hiểm thì tự mình cần đi trước để dẫn đường cho thầy.

♦ Câu 32
"Khi ở trước mặt thầy, chớ tỏ ra uể oải, bẻ tay kêu răng rắc, hay dựa cột dựa tường."
Ở trước mặt thầy, tinh thần cần phấn khởi, không được có bộ dạng yếu ớt kiệt sức, dừng hết mọi hành vi xấu, người không được dựa cột hay dựa tường.

♦ Câu 33
"Khi rửa chân giặt giũ, tắm rửa, những việc trên, với thầy cần báo trước, đừng để thầy phải nhìn."
Khi giặt quần áo, rửa mặt, rửa chân, tắm gội, trước tiên cần báo cho thầy biết, đừng để thầy phải nhìn thấy.

♦ Câu 34
"Không nên thường xuyên nhắc, đến tên gọi của thầy, nếu có người cố hỏi, nhắc đến một chữ thôi."
Không được tùy ý gọi tên thầy, nếu có người hỏi thì nói cho họ pháp hiệu của thầy.

♦ Câu 35
"Khi được lệnh tập hợp, hãy đợi thầy giao phó, tất cả việc được giao, trong lòng luôn ghi nhớ."
Luôn luôn đợi thầy giao việc, luôn nhớ việc thầy đã giao cho, tận lực để hoàn thành.

♦ Câu 36
"Cười ho hoặc ngáp dài, phải dùng tay che miệng, khi có việc muốn hỏi, cúi người chắp tay thưa."
Hễ muốn cười, ngáp, ho, đều phải dùng tay che miệng lại. Có chuyện muốn nói đều phải cúi người cung kính.

♦ Câu 37
"Là phụ nữ tại gia, tịnh tâm đến nghe pháp, cần chắp tay kính cẩn, tập trung gương mặt thầy."
Phụ nữ đến nghe pháp cần hết sức đoan trang, hai tay chắp lại, tập trung tinh thần.

♦ Câu 38
"Nghe pháp rồi cần giữ, xả bỏ tâm ngạo mạn, giống như cô dâu mới, cúi mặt khi thẹn thùng."
Khi được thầy truyền pháp, phụ nữ cần giữ gìn và làm theo cẩn thận, không được tự cao tự đại, cần phải giống như cô dâu mới mà cúi đầu học pháp.

♦ Câu 39
"Giữ thân mình trang nghiêm, đừng nhen lên ái lạc, đối với việc bất thiện, luôn nhớ phải tránh xa."
Phụ nữ học pháp cần tránh xa những thứ phù phiếm, những đồ trang sức thế tục, tránh nảy sinh tâm yêu thích, đối với những việc bất thiện, cần phải nhớ để tránh xa.

♦ Câu 40
"Ngưỡng mộ công đức thầy, đừng săm soi lỗi nhỏ, tùy thuận mà thành tựu, soi mói chỉ hại mình."
Học theo những đức hạnh của thầy, nếu thầy có khuyết điểm nhỏ thì không được phóng đại thổi phồng lên. Cần phải biết tùy thuận theo thầy thì mới có được thành tựu, nếu phóng đại những khuyết điểm của thầy, khởi tâm khinh mạn thì không những bản thân học pháp sẽ chẳng đạt thành tựu gì mà còn tự làm tổn hại đến mình.

♦ Câu 41
"Việc thuyết pháp độ người, mạn-đà-la hộ ma, khi sống cùng chỗ thầy, không có lệnh đừng làm."
Hễ là các việc pháp sự thì đều cần theo ý kiến của thầy mà làm, không có chỉ thị của thầy thì không được làm.

♦ Câu 42
"Tiền bạc khi thu nhận, từ thuyết pháp giảng kinh, cần cúng hết lên thầy, chỉ dùng khi được phép."
Tư lương có được từ việc giảng kinh thuyết pháp và truyền pháp đều phải coi là tài sản của thầy, chờ thầy cho phép và phân phối ra sao thì sau đó mới được phép sử dụng.

♦ Câu 43
"Đồng học và pháp duệ, không nhận đệ tử nhau, không ở trước mặt thầy, nhận lễ cúng thừa sự."
Không được làm hỗn loạn sự thống nhất về pháp trong dòng truyền thừa. Những người cùng quy y một vị thầy không thể lại trở thành thầy-trò của nhau, đây là sự thống nhất trong pháp.


♦ Câu 44
"Đồ muốn dâng lên thầy, hai tay cầm dâng cúng, với đồ thầy ban cho, cung kính cúi đầu nhận."
Đồ vật muốn dâng lên thầy, hai tay nâng lên cung kính. Nếu thầy ban cho thì hai tay cũng phải dâng lên quá đỉnh đầu để lĩnh nhận.

♦ Câu 45
"Tự chuyên tu chính hành, luôn nhớ chẳng được quên, dù thầy chưa hoàn hảo, vẫn giữ lòng yêu kính."
Đệ tử Phật cần chuyên chú tu hành công khóa, thường xuyên không được gián đoạn, những việc không hợp với giới luật thì không được làm, không được cố ý tìm kiếm sai sót của thầy.

♦ Câu 46
"Nếu lời dạy của thầy, do bệnh không làm được, cần lễ phép thông báo, mới chẳng mắc lỗi lầm."
Những lời dạy của thầy cần nhất nhất tuân theo, nếu do bệnh tật mà làm không được cần khéo léo giải thích, như vậy mới không mắc phải lỗi.

♦ Câu 47
"Luôn khiến thầy vui vẻ, chẳng phải bận tâm gì, phụng hành thật chăm chỉ, chuyện phiền phức đừng kêu."
Tất cả mọi hành vi việc làm đều cần phải khiến thầy vui. Tất cả những việc gây ra phiền não thì thay thầy giải quyết, nỗ lực mà làm, cung kính cúng dường phụng sự thầy, không được lười biếng. Các việc phiền phức, các việc phát sinh xung quanh và liên quan đến pháp của thầy thường sẽ rất nhiều, do vậy tốt nhất là không nói, đừng kể ra hay làm thầy phải bận tâm không cần thiết.

♦ Câu 48
"Điều Kim Cang Như Lai, chư Phật từng tuyên thuyết, hãy vâng lời dạy bảo, theo thầy thành tựu lớn."
Phật đã nói rằng chỉ duy nhất dựa vào thầy thì sẽ có thể đạt được đại thành tựu.

♦ Câu 49
"Đệ tử đã thanh tịnh, quy y Tam Bảo xong, cần học Sự sư pháp, trước tiên cần thuộc lòng.”
Hễ có đệ tử đến quy y cần yêu cầu đệ tử đọc thuộc "Sự sư pháp" để không phạm lỗi lầm.

♦ Câu 50
"Sau thọ nhận bí mật, giúp thành tựu chính pháp, mười bốn giới căn bản, phải trì tụng thường xuyên."
Sau khi đệ tử đã quy y và nhận quán đảnh rồi thì sẽ được truyền dạy mật pháp để người đó có thể tu thành tựu chính pháp. Mười bốn giới luật cơ bản tránh bị đọa địa ngục của Mật tông cũng cần phải được dạy, sau khi đã thọ trì thì mới có thể trở thành người tu trì kim cương thiện lành.


### 03. Liên Sinh Hoạt Phật giảng giải Sự sư pháp ngũ thập tụng


Ngày 12 tháng 7 năm 1987
Bây giờ tôi sẽ bắt đầu giải thích về Sự sư pháp ngũ thập tụng.

**Câu 1: "Trong thập phương thế giới, tam thế nhất thiết Phật, ba thời năng lễ phụng, vị thầy quán đảnh ta."**
Với vai trò là một đệ tử Phật, trong một ngày có ba thời điểm, đó là lúc mặt trời mới mọc, lúc mặt trời lên đến điểm cao nhất (chính giữa ngày), và lúc mặt trời lặn, cần đảnh lễ Thượng sư, nhớ về Thượng sư, cung kính giống như lạy Phật ba thời.
Điều này rất nghiêm khắc. Nói cách khác, vào lúc ngủ dậy lạy Phật thì cần quán tưởng Thượng sư và Tam Bảo, buổi trưa cũng cần làm một lần như vậy, buổi tối cũng cần làm một lần như vậy.

Điều thứ nhất này mặc dù nghiêm khắc nhưng nếu so với Hồi giáo thì vẫn còn rất thoải mái. Nghe nói Hồi giáo một ngày cần phải lạy năm lần.

Tôi cảm thấy thực tế không cần phải nghiêm khắc như thế. Chúng ta một ngày chỉ cần tu pháp một lần, lúc đó nhớ về Thượng sư là có thể được rồi. Cùng lúc đó cũng lễ bái Tam Bảo và Thượng sư, như vậy là được rồi. Khi chúng ta thực hiện điều thứ nhất này có thể "chiết khấu" đi 2/3 (mọi người cười).
Hy vọng mọi người khi thực hiện điều thứ nhất này thì một ngày làm một lần là được rồi, nghĩ nhiều quá lại biến thành mắc bệnh "tương tư" mất. (mọi người cười)


**Câu 2: "Dùng tâm cung kính nhất, chắp tay cầm hoa sen, cúng dường mạn-đà-la, đầu chạm chân đảnh lễ."**
Câu này giải thích như sau. Dâng hoa trước đàn thành, đứng trước Thượng sư cung kính làm đại lễ bái ngũ thể đầu địa.
Điều này cũng rất nghiêm khắc, cần thực hiện giống như là hễ nhìn thấy Thượng sư hoặc Tam Bảo thì luôn luôn cần làm đại lễ bái.

Tôi nghĩ rằng nếu mà cứ hễ gặp mặt là cần phải làm đại lễ bái thì mọi người hiện đang sống ở đây sẽ đều muốn chuyển nhà đi hết (mọi người cười). Do vậy nếu gặp mặt thầy thường xuyên thì chỉ cần chắp tay là được rồi. Khi bạn rời đi xa, sau đó gặp mặt lại lần đầu, hoặc bạn đã rời xa Thượng sư rất lâu rồi, rất lâu rồi mới trở lại thì có thể làm đại lễ bái. Còn bình thường chúng ta chắp tay lại, chắp tay biểu hiện sự cung kính, nên chắp tay là được rồi. Nhưng đừng đợi Thầy chắp tay trước bạn rồi bạn mới chắp tay đấy nhé (mọi người cười).


**Câu 3: "Thầy có thể tại gia, hoặc chỉ vừa thọ giới, cũng giống trước kinh tượng, phải bỏ hết nghi ngờ."**
Câu này giải thích là, bất kể Thượng sư là người tại gia hay người xuất gia, hoặc là vừa mới thọ giới Cụ Túc, ở trước thầy cũng giống như ở trước tượng Phật, trước kinh sách, thì đều phải cung kính, không được có suy nghĩ xấu, có sự hoài nghi hoặc phỉ báng.

Điều này có nghĩa là, khi ở trước tượng Phật hoặc ở trước kinh sách, hoặc có Thượng sư đội mũ Phật, có Phật ở trên, thì tại lúc đó cũng giống như Phật đang ở trước mặt bạn, không thể sản sinh ra những suy nghĩ xấu xa, nói cách khác là sản sinh ra ác ý, ví dụ như có sự phỉ báng, có sự nghi ngờ Thượng sư.

Điều này thì hẳn là mọi người đều có thể làm, nhưng vẫn có một số người không làm được. Đôi khi, Thượng sư truyền pháp đang ngồi trên pháp tọa, chúng ta ngồi phía dưới khán đài nghĩ: "Ai chà, Thượng sư này trẻ tuổi quá, không biết ông ấy có đạo hạnh gì không?" Thế là ý niệm tà đã sản sinh ra rồi đó.

Hoặc là, vị Thượng sư này trông vẻ ngoài thật thanh tú, ông ấy ngồi trên sân khấu, cô gái ngồi ở phía dưới vừa trông thấy, ái chà, thế là nghĩ muốn "kiss" một cái (mọi người cười).
Việc này cũng từng xảy ra đó, mọi người đừng có coi thường rằng đây chỉ là một ý niệm nhỏ.

Có một đệ tử nữ rất quái lạ, cô ấy viết thư cho tôi kể rằng ở nhà cô có thờ tượng Thượng sư. Cô nói, bức tượng Thượng sư này nhìn rất đáng yêu, mỗi lần cô tu pháp đều nghĩ muốn hôn một cái rồi mới tu (mọi người cười). Việc này cũng không phải là không thể xảy ra, Thượng sư của chúng ta ở đây còn rất trẻ trung mà (mọi người cười). (Sư Tôn lấy tay xoa đầu, mọi người cười). Nhưng cái đầu trọc này của tôi thì không đáng yêu.


**Câu 4: "Là đệ tử xuất gia, thường tịnh tâm phụng sự, đang ngồi cần đứng dậy, cung kính nghênh tiếp thầy."**
Điều này có nghĩa là cần tận tâm phụng sự Thượng sư, cần hiểu phép nhường chỗ cho thầy. Với tôi việc nhường chỗ này thì rất đơn giản. Việc nhường chỗ à, chỗ ngồi này của (tôi) Thượng sư cho phép bạn ngồi đó. Ngoài ra, người làm thầy cũng sẽ thường không bất lịch sự đến như vậy. Ví dụ sẽ không có chuyện là đệ tử đứng dậy nói nhường cho thầy ngồi, thầy liền ngồi xuống luôn. Thầy chỉ là muốn cùng bạn nói chuyện thôi, còn bạn ngồi rồi thì bạn có thể ngồi.


**Câu 5: "Người thầy và đệ tử, cần khảo sát lẫn nhau, nếu không khảo sát trước, cả hai cùng mắc tội."**
Điều này giải thích rằng trước khi bái một người làm thầy, trước tiên nên quan sát thầy, nên quan sát kĩ một chút xem người thầy này có tư cách để làm Thượng sư của bạn hay không. Còn Thượng sư cũng cần chú ý xem người đệ tử này có thể dạy dỗ được không, nếu không thì cả hai sẽ cùng phạm vào lỗi bất như pháp. Việc này đều là phạm vào tội khinh suất.

Điều này thì tương đối khó. Bởi vì bạn biết rằng muốn biết một người chí ít cũng cần một thời gian khá dài, thế nên Mật giáo trước đây là người học trò cần phải quan sát Thượng sư ba năm, người làm thầy cũng cần phải xem xét đệ tử ba năm. Cứ xem xét tới lui như vậy rồi cũng chẳng có kết quả gì. (mọi người cười lớn)

Tuy vậy, tôi cho rằng làm một người đệ tử, trước khi muốn quy y một vị thầy, anh ta trước tiên cần phải hiểu một chút về vị thầy này, hoàn cảnh của thầy, sau đó là toàn bộ những kinh nghiệm của thầy, thậm chí là cả phẩm chất tư cách của người thầy đó như thế nào, từ đầu phải tìm hiểu một chút. Bạn cần phải thấy người này đáng để quy y thì bạn mới quy y. Bởi vì có nhiều bạn mỗi khi cứ gặp một người, hễ cứ gặp một vị thầy là lại "ôi chà bái làm thầy thôi, tôi chỉ muốn bái người đó làm thầy luôn thôi", cứ gặp một Thượng sư nào là lại bái Thượng sư đó. Thực tế việc có rất nhiều thầy cũng là một sai lầm.

Những Thượng sư ngày nay, các Thượng sư truyền pháp, có người là thật, đương nhiên cũng có người là giả. Do vậy lựa chọn thầy cũng giống như lựa chọn kim cương vậy, bạn cần phải nhìn ra được kim cương đó là thật hay là giả. Nếu thực sự là kim cương thật, bạn liền muốn đi mua lập tức, và bạn sẽ tiêu một khoản tiền lớn. Còn nếu mua phải kim cương giả thì là bạn đã bị lừa rồi. Do đó chọn lựa Thượng sư cũng giống như chọn lựa kim cương

Xem xét xem rốt cục tôi là Thượng sư thật hay là Thượng sư giả đây? Nhưng cũng cần xem xét xem con mắt của các bạn là mắt thật hay là mắt giả nữa (mọi người cười).
Bạn khảo sát tôi - người thầy này, rốt cục là thật hay giả, thế nhưng, các bạn cũng đã có thể nhìn thấy rất nhiều ảnh Thượng sư phóng quang, thực sự là ánh sáng thật, có đúng vậy không? (cười)


**Câu 6: "Nếu thầy đầy sân hận, tham ái ngày càng nhiều, tự khoa trương ngạo mạn, chọn lựa đừng đi theo."**
Câu này giải thích rằng, một Thượng sư chân chính thì sẽ không dễ dàng nổi giận. Hơn nữa, người đó có tâm từ bi, sẽ không có tâm tham, cũng sẽ không yêu thích những thứ phù phiếm, cũng sẽ không cực kì ngạo mạn, cũng sẽ không khoa trương về cái tôi của ông ta.

Nếu giả sử ông ta có ngược lại những điều trên, rất dễ nổi cáu, không có tâm từ bi, lại tham lam, lại yêu thích những thứ phù phiếm, lại ngạo mạn, lại khoa trương về bản thân, người như vậy thì các bạn đừng có đi quy y.

Thực ra trước đây khi còn trẻ, tôi cũng tương đối hăng máu, tôi viết văn chương kể lại, cứ chuyện bất bình là tôi sẽ xông ra cứu giúp (cười), ấy là "giữa đường thấy chuyện bất bình chẳng tha" (mọi người cười). Nhưng sau đó, tâm của tôi đã mở rộng ra như vũ trụ, tôi cảm thấy tâm này của mình vốn vô lượng, đã trở thành một cảnh giới vô lượng tâm, từ đó tôi có thể tương đối cảm thông và có thể từ bi với chúng sinh của toàn bộ thế giới vũ trụ này. Bây giờ tôi chẳng còn cảm giác tức giận nữa, do vậy bây giờ biến thành bị người ta đánh rồi (cười). Trước đây là khi người ta đánh bạn một cái, bạn liền muốn đánh trả một cái. Còn bây giờ thì mọi người muốn đánh ta thì ta chạy thôi (mọi người cười). Do vậy là chẳng còn nổi giận nữa.


**Câu 7: "Một vị thầy tuyệt hảo, nhẫn bi trí chẳng sai, thông hiểu pháp bí mật, thấu luận nghĩa dễ dàng."**
Câu này giải thích rằng, một người có tâm từ bi vĩ đại, một người có trí huệ vĩ đại, một người luôn trì giữ giới luật, một người có sự tự tôn, không nịnh bợ hay bẻ cong sự thật, lại thông thạo tất cả các pháp, người đó mới là một Thượng sư tốt. Vì vậy, một Thượng sư chân chính là phải hiểu tất cả Phật pháp, Mật pháp, bao gồm Hiển giáo và Mật giáo, tất cả các pháp hiện có. Từ pháp cơ sở nhất đến pháp cao sâu nhất, tất cả đều phải thông hiểu hết.

Ấy vậy mà bây giờ có người vừa mới quy y khoảng một, hai tháng đã muốn nói rằng: "Ai dô, pháp gì tôi cũng đều thông hiểu hết rồi! Tôi là Thượng sư." Phật pháp là vạn pháp, là vô cùng vô tận, cả đời này bạn cũng chẳng nghiên cứu hết được, vì pháp rộng như biển. Các đại thành tựu giả ở Ấn Độ, ví dụ như Milarepa, bản thân ngài cũng cần tới mười hai năm tu khổ hạnh, tu hành mười hai năm mới có thể thành tựu được như vậy, mới trở thành một đại thành tựu giả như vậy. Chúng ta hãy nói về thành tựu giả vĩ đại nhất trong Phật giáo của chúng ta, giáo chủ Thích Ca Mâu Ni Phật. Bản thân ngài cũng cần học qua mười mấy vị thầy, bao gồm sáu vị thầy ngoại đạo, ngài mới có thể trong vòng sáu năm tu khổ hạnh, đến cuối cùng ngài mới có thể tu hành đắc chứng.

Trên phương diện thời gian mà nói thì bản thân tôi đây không dám nói mình đã tu hành cao sâu đến mức nào, nhưng tôi cũng đã tu hành khổ cực gần hai mươi năm rồi. Nhờ hai mươi năm mới có thể hiểu được từ pháp cơ sở nhất cho đến pháp cao sâu nhất của Mật giáo.

Mặc dù ngày nay có tàu con thoi rồi nên có thể nhanh hơn được chút, nhưng cần cẩn thận không sẽ bị nổ tung (cười). Việc nổ tung này cũng tương đương với việc chúng ta tu hành quá nhanh, chúng ta mong cầu thành tựu quá nhanh, tâm quá nóng vội. Vậy thì rất dễ gặp ma do nền tảng tu tập vẫn chưa đạt được tới. Nếu chúng ta hiểu được mọi nghi quỹ tu hành và đọc hết tất cả kinh luận của Phật giáo thì chúng ta có thể thấy rằng cần phải cẩn thận nhiều hơn một chút, vì tu hành không thể được mắc sai lầm.


**Câu 8: "Chân ngôn tướng tốt đẹp, sự nghiệp mạn-đà-la, mười Chân Như ghi khắc, gốc rễ đều thanh tịnh."**
Câu này giải thích rằng, một người mà tất cả các pháp đều thông đạt và hiểu rõ, cũng tự mình chứng đắc được quả vị Thập Địa Bồ Tát, lục căn đã hoàn toàn thanh tịnh rồi, cũng chẳng còn phiền não nữa, thì mới là người thầy tốt nhất.
Nói cách khác là người thầy mà bạn quy y cần phải hiểu hết mọi vấn đề trong Phật pháp, hiểu hết toàn bộ nghi quỹ Hiển - Mật giáo. Người thầy cần phải thực sự đạt đến một trình độ tu hành nào đó, đã thâm nhập được vào cảnh giới nào đó rồi. Sau đó người thầy mới lại dạy lại phương pháp tu hành cho đệ tử, và đệ tử cũng có thể đạt được, như vậy mới được gọi là một người thầy chân chính.

Không sai khi nói rằng bản thân Thượng sư chân chính cũng có rất nhiều phiền não vây quanh, nhưng ông ấy đã hoàn toàn vượt qua được những phiền não này, xem chúng thật nhẹ nhàng rồi. Ngoài ra người thầy này chắc chắn phải là người đã loại bỏ được hết mọi phiền não. Giả sử có người thầy mà suốt cả ngày cứ nói mãi: "Ai chà, thật là phiền não quá, cái này thật là phiền, cái kia cũng thật là phiền! Ai chà, nhiều quá mức, phiền não nhiều đến thế cơ à!" Một Thượng sư như vậy chắc chắn là một Thượng sư giả, bởi vì tự ông ta phiền não nhiều như vậy thì làm sao có thể giúp người khác giải thoát được khỏi phiền não đây? Giả sử có một ngày nào đó, Thượng sư này bị ai đó chửi một câu rằng: "Ôi dào, ông mà là Thượng sư gì, ông là đồ ngốc thì có!” (mọi người cười)
Thượng sư này bắt đầu có phiền não rồi đây, ông ta cứ luôn nghĩ rằng cái người chửi ông ta đó mới là đồ ngốc. 

Thế rồi Thượng sư đó ban đêm chẳng thể ngủ được, tu pháp cũng không tu được, cứ hễ ngồi xuống muốn thiền định là trong tâm chỉ nghĩ đến bộ mặt của cái người kia. Trong đầu ông ta nghĩ đến cái người đã chửi ông ta là đồ ngốc đó, ông ta cầm lấy cái chày kim cang dùng hết sức để giáng cho kẻ đó một đòn trúng đầu (mọi người cười). Thượng sư này sau khi làm xong ác pháp hại người đó, buổi tối đi ngủ cũng chẳng thế nào ngủ ngon lành được, ông ta mất ngủ. Một Thượng sư như vậy là một người bị ô nhiễm, chúng ta gọi là bị nhiễm ô rồi.

Một Thượng sư mà đã bị phiền não làm cho ô nhiễm, Thượng sư như vậy, phiền não của chính mình ông ta cũng không có cách nào vượt qua và xem chúng nhẹ nhàng được, không cởi bỏ được phiền não, đương nhiên là một Thượng sư giả. Thượng sư chân chính thì trong tâm hoàn toàn vô cùng khoan khoái rộng mở, giống như mặt trời rực rỡ vậy. Tất cả những phỉ báng đi vào trong tâm ông đều sẽ bị đốt cháy rụi. Do vậy mọi người hãy ghi nhớ thật rõ, vị thầy để quy y cần phải giống như mặt trời, có thể thoát khỏi mọi phiền não lo lắng.


**Câu 9: "Nếu ta đi cầu pháp, lại đi phỉ báng thầy, tức coi thường Như Lai, sẽ gặp đầy khổ não."**
Câu này giải thích rằng, đệ tử cầu pháp không thể phỉ báng Thượng sư. Chửi bới Thượng sư cũng đồng nghĩa với chửi bới Phật, chắc chắn sẽ gặp nhiều khổ não.  

Việc này trên thực tế, có rất ít người giữ được mình hoàn toàn trong sáng, chưa từng phỉ báng chút nào. Có người khi thấy thầy của mình không sạch sẽ, hoặc thấy sai lầm của thầy, anh ta liền phỉ báng ngay. Trong trường hợp này, có lẽ Thượng sư thật sự có lỗi, có lẽ Thượng sư thật sự có sai lầm, nhưng bạn đã quy y ông ấy rồi thì bạn cần phải tôn trọng ông.
Ví dụ có những Thượng sư tuổi đã cao, ông ấy ho, ông ấy nhổ nước bọt "phụt". Bạn có thể sẽ nói rằng Thượng sư này thật mất vệ sinh, chắc chắn là Thượng sư giả (mọi người cười).
Có Thượng sư thì mỗi lần đi toilet là cả tiếng đồng hồ, đi vệ sinh cả một tiếng đồng hồ (mọi người cười). Trong lòng bạn sẽ nghĩ, Thượng sư này mỗi lần trốn trong toilet làm gì mà lâu như vậy! Đây đúng là một Thượng sư thích mùi hôi rồi! Chắc chắn là Thượng sư giả.

Cũng có lúc mọi người sẽ nghĩ, Thượng sư gì mà có cá tính kì quái như thế. Đôi khi có Thượng sư có cá tính kì quái thật, ông ta chẳng nói chẳng rằng, làm gì cũng đều rất bí mật. Trong lòng đệ tử có thể nghĩ, đây là Thượng sư đang độ cõi âm (cười). Thực tế thì mỗi vị Thượng sư đều có thói quen tính cách riêng, khác biệt với từng đệ tử. Nhưng chỉ cần pháp mà Thượng sư truyền từ bản thân họ là chính xác và bạn tu trì pháp đó có thể đạt được sự tương ứng (thành công) là được.
Làm đệ tử không nên chỉ quan tâm những lỗi lầm nhỏ của Thượng sư.

Có Thượng sư thích gãi cái chân ghẻ (mọi người cười), có Thượng sư thì lại thích ăn ớt cay, có Thượng sư thì thích ăn phao câu vịt. Không thể vì Thượng sư có chút điều nhỏ nhặt như thế mà bạn liền nói: "Ôi dào, như thế này thì không tốt, như vậy là không đúng."

Vì thế, nếu việc tu hành có thể giúp cho bạn được tương ứng, hơn nữa Thượng sư đó thực sự có pháp truyền cho bạn thì chắc chắn là Thượng sư thật. Nếu thấy những thói quen xấu của Thượng sư, bạn không cần phải học theo. Và bạn vẫn cần phải tôn trọng ông ấy, bởi vì nếu bạn chửi thầy thì cũng tương đương với việc bạn chửi các vị Phật vậy.


**Câu 10: "Bởi ngày càng ngu si, mà nhận thêm quả báo, bởi bám chặt điều ác, bệnh tật đeo bám hoài."**
Câu này giải thích như sau. Phỉ báng Thượng sư là một hành vi cực kì ngu ngốc, rất nhanh chóng sẽ gặp phải báo ứng. Các vị ác thần trên trời sẽ đi vào trong tâm của kẻ này, hơn nữa anh ta sẽ mắc bệnh nặng, không thể nào có được sự giải thoát.

Tình huống sẽ là như thế này. Một Thượng sư chân chính sẽ có thiên long hộ pháp bảo vệ luôn ở bên cạnh, còn một Thượng sư giả mạo chắc chắn có ác quỷ ở xung quanh.
Bất kể bạn có quy y đúng người hay không thì bạn cũng đều không được phép phỉ báng.

Giả sử bạn phỉ báng một Thượng sư chân chính, người đó là Thượng sư thực sự, thì thiên long hộ pháp sẽ lập tức thi hành nhiệm vụ của họ, đồng nghĩa với việc bạn sẽ gặp tai ương. Bởi vì bạn đã phỉ báng Thượng sư, hành động phỉ báng của bạn sẽ đeo bám trên thân thể chính bạn, bạn sẽ phải nhận nghiệp báo như thế.

Còn nếu bạn phỉ báng một Thượng sư giả, các ác quỷ xung quanh Thượng sư giả này sẽ càng trở nên hung ác hơn. Bạn chửi chủ nhân của họ, thì các ác quỷ này sẽ lập tức hành động, sẽ nuốt sạch người mà bạn chửi, ác quỷ này sẽ đi vào trong tâm bạn, ở trong tâm bạn, ở trong bụng bạn, sẽ kết lại thành một khối sẹo, rồi sẽ biến thành CANCER [ung thư]. Do đó dù đệ tử khi quy y bất kể vị Thượng sư thế nào đi nữa, nếu thấy Thượng sư là người tốt thì bạn nên gần gũi, còn nếu bạn biết là người không tốt thì bạn chỉ cần lặng lẽ rời xa. Không được chửi mắng, bởi vì bạn chửi là phạm vào khẩu nghiệp, chính bản thân bạn sẽ chuốc lấy tai ương.

Bản thân tôi đã quy y 21 vị thầy. Thầy của tôi mắng tôi, từ trước đến nay tôi rất hay bị thầy mắng, nhưng tôi chẳng khi nào dám mắng lại thầy. Đây chính là nguyên nhân khiến tôi còn sống được đến bây giờ.


**Câu 11: "Bị bắt tới vương pháp, rắn độc cắn bị thương, nạn nước lửa trộm cướp, phi nhân thoải mái hành."**
Câu này giải thích như sau. Người nào phỉ báng một Thượng sư chân chính thì chắc chắn sẽ dễ phạm phải vương pháp (luật pháp), sẽ bị những loài vật có độc làm bị thương, sẽ đều gặp phải tai nạn về nước, tai nạn về lửa, trộm cắp, tất cả các ác quỷ thần sẽ đều giáng tai nạn xuống.

Giống như điều trên, đối với chúng ta mà nói, là một tín đồ Phật giáo, bản thân ta không thể nào có hành động phỉ báng, không thể phỉ báng bất kì kiểu người nào, huống hồ đó lại là một Thượng sư chân chính. Đây cũng là vấn đề về tu dưỡng. Phỉ báng chẳng phải là một việc gì tốt đẹp, trong tâm ta cần phải hiểu rõ ràng.

Bạn biết được (việc) như vậy là tốt rồi, cũng không cần phải để trong tâm thêm làm gì nữa. Bạn cần phải tu dưỡng mình để trở nên không có thói quen tùy tiện phỉ báng, hoặc về cơ bản mà nói là không thể có hành động phỉ báng.

Với một vị Thượng sư chân chính, xung quanh ngài đều có thiên long hộ pháp. Cho dù bạn ở một nơi rất xa xôi thì bạn cứ thử chửi Thượng sư xem. Thượng sư có thể không biết, có thể sẽ không biết là vì ông ấy ở đây còn bạn thì ở chỗ khác lén lút chửi ông ấy. Ông ấy sẽ không biết nhưng thổ địa công ở chỗ bạn sẽ biết ngay đấy (mọi người cười). Thổ địa công sẽ chạy đến thì thầm với hộ pháp của Thượng sư để báo cáo sự việc (cười). Khi hộ pháp biết, hộ pháp sẽ phân định mức độ nghiêm trọng. Bạn phỉ báng nặng nề thì sẽ phân định bạn nặng. Bạn phỉ báng ít thì sẽ phân định bạn nhẹ, nặng nhẹ tùy mức độ tương ứng. Trên thực tế việc này là có thật.

Bản thân tôi cũng từng có vài kinh nghiệm, tôi đã gặp rất nhiều người, nhưng không phải họ phỉ báng tôi, họ phỉ báng Thượng sư khác, kết quả là những người đó gặp phải sự việc không tốt. Điều này Phật đã từng có lần giải thích rồi. Ngài nói, phỉ báng giống như nhổ nước bọt lên trời vậy. Bạn ngửa mặt lên trời nhổ nước bọt. Nhổ một miếng nước bọt lên trời ấy à, xem xem sức lực của bạn nhổ được bao xa, rốt cục thì nó vẫn sẽ rơi xuống trúng bạn mà thôi (cười).

Phật nói: Phỉ báng vào hư không, người nhận chính là mình.
Bạn xem xem, bạn nhổ nước bọt vào hư không, kết quả thì chỉ cần sau khi một cơn gió nhẹ lướt qua, cái "thứ" này của bạn liền rơi xuống, vẫn là rơi trúng vào mặt bạn mà thôi. Vẫn chính là bạn phải nhận lại, do thế không được phỉ báng.

Thực ra một vị Thượng sư chân chính thì sẽ không trừng phạt mọi người. Còn giả sử ông ấy không nghe thấy, hoặc cơ bản là ông ấy không hề biết, thì làm sao mà ông ấy trừng phạt bạn được chứ! Hình phạt chủ yếu đến từ chính bản thân bạn, bạn đã quăng đi sự phỉ báng thì khi nó dội trở lại, người phải chịu nhận vẫn là chính bản thân bạn.


**Câu 12: "Còn làm điều khuất tất, chướng ngại sẽ phát sinh, tới giây phút mệnh chung, đọa xuống làm ác thú."**
Câu này giải thích như sau. Người phỉ báng một Thượng sư chân chính thì sẽ tự có ác thần đến giáng tai nạn, và sau khi chết sẽ đọa vào tam ác đạo, tức là địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.
Ở đây có một danh xưng gọi là Tần Na Dạ Già. Tần Na Dạ Già là một loài quỷ mũi dài. Loài quỷ mũi dài này thích xuất hiện vào ban đêm, sau đó sẽ đến bên giường ngủ của bạn, dùng cái mũi dài của nó hút khí của bạn, khiến cho bạn sáng sớm ra đã cảm thấy không thể nào bò ra khỏi giường được, rất mệt mỏi (mọi người cười). Việc này giải thích vì sao rất nhiều người vẫn ngủ được, nhưng càng ngủ lại càng mệt mỏi, mỗi sáng tỉnh dậy, mặt mũi đều có chút biến dạng, đau đầu chóng mặt, vừa dậm chân đứng dậy đã cảm thấy rất mệt, thậm chí xém chút nữa là ngã lăn ra đất. (cười).

Ngủ càng lâu thì lại càng mệt mỏi. Đó chính là do bị quỷ Tần Na Dạ Già đến trộm hết sạch khí của bạn. Tần Na Dạ Già làm theo chỉ thị của ai mà lại đến trộm hết khí của bạn? Bởi vì suy nghĩ của bạn không tốt, bạn nghĩ đến việc muốn chửi người khác, muốn phỉ báng một Thượng sư chân chính, hay phỉ báng Phật, thì khi đó con quỷ này sẽ đến. Khi bạn có ác niệm như vậy, sản sinh ra loại ác niệm như thế, ác niệm tập trung lại trong đầu bạn, thì quỷ này sẽ đến.

Tóm lại khi một người có suy nghĩ muốn phỉ báng, thì quỷ này sẽ đến để hút hết khí của người đó. Do vậy buổi sáng dù bạn tu được rất tốt, nhưng buổi tối sẽ bị mất hết sạch. Như thế cũng chẳng khác gì không tu (cười). Còn theo như câu giải thích trên, nếu phỉ báng một Thượng sư chân chính thì sau khi chết đi sẽ rơi vào tam ác đạo, chính là địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.


**Câu 13: "Đừng khiến cho thầy mình, phải sinh thêm phiền não, ngu si mà vi phạm, đọa địa ngục A Tì."**
Câu này giải thích rằng, làm một đệ tử Mật giáo cần phải phụng sự Thượng sư, đừng khiến cho Thượng sư phải phiền não về mình. Nếu vi phạm ý chỉ của Thượng sư, hoặc nghiêm trọng hơn là lừa gạt Thượng sư thì sẽ phải đọa vào địa ngục A Tì.

Mấy điều này đều rất nghiêm trọng. Chủ yếu là vì một vị Thượng sư chân chính là người truyền thụ Phật pháp, ngài đại diện cho Phật, pháp, tăng tới để độ chúng sinh. Người nào chống đối lại cũng đồng nghĩa với việc hoàn toàn đi xuống tam ác đạo, đương nhiên sẽ có báo ứng của tam ác đạo. Do vậy tâm người tu hành cần phải hiểu rõ về quang minh, phân biệt được thiện ác.

Với vị Thượng sư mà bạn đã xác nhận đi theo, nếu là Thượng sư thật thì bạn cần phải làm theo những ý chỉ của ngài.
Còn nếu giả sử bạn cảm thấy đó là Thượng sư giả thì bạn cũng không nên phỉ báng. Bạn cứ âm thầm tạo khoảng cách xa dần là được rồi. Bởi đôi khi thật - giả rất khó phân biệt. Nếu bạn nghĩ đó là giả, cũng không nên phỉ báng thầy, bạn cứ âm thầm giữ khoảng cách xa với thầy. Tới sau này lỡ bạn phát hiện ra ông ấy lại là thật, bạn lại có thể trở về được gần thầy (mọi người cười). Việc này cũng giống như chọn kim cương thôi, kim cương thật và kim cương giả cuối cùng chắc chắn có thể phân biệt được.

Tôi nói với mọi người một điều rất thật lòng, là trên thế giới này đã có thật thì chắc chắn sẽ có giả. Do đó để chọn lựa một Thượng sư chân chính đòi hỏi phải dùng đến huệ nhãn của bạn, dùng trí huệ của bạn, dùng lý trí của bạn để phân biệt.


**Câu 14: "Thọ bao điều cực khổ, đáng sợ chẳng kể xiết, chỉ do phỉ báng thầy, địa ngục này kẹt mãi."**
Câu này giải thích rằng, địa ngục A Tì là địa ngục khổ nhất, do bởi phỉ báng Thượng sư chân chính nên sẽ phải chịu đựng sự khủng bố của địa ngục này, đau khổ vô tận.


**Câu 15: "Ai có được vị thầy, nắm giữ nhiều chính pháp, hãy nhất tâm một lòng, đừng sinh tâm khinh mạn."**
Câu này giải thích rằng, đối với vị Thượng sư hoằng trì chính pháp, đệ tử cần nhất tâm phụng sự, nếu có tâm khinh thường sẽ phạm vào trọng tội nói ở trên.

Ý của câu thứ 15 này cũng muốn nói rằng, giả sử bạn nhất tâm phụng sự Thượng sư thì một Thượng sư chân chính sẽ hiểu được tâm của bạn. Ngài nhất định sẽ dạy pháp cho bạn, khiến cho bạn thành tựu được. Đó là nhờ có Thượng sư dạy pháp.

Nhưng có người vẫn dùng tam tâm để phụng sự Thượng sư. Ví dụ như có người mặc dù đã quy y nhưng chẳng liên lạc gì. Thế rồi một ngày anh ta đến, anh ta nói rằng mình là đệ tử của Thượng sư. Thượng sư cũng không chắc đã nhận ra anh ta, liền hỏi rằng: "Anh bảo anh là đệ tử sao? Anh lấy chứng thư quy y ra đây cho tôi xem." Việc này thể hiện rằng giữa Thượng sư và đệ tử dường như sắp trở thành người lạ với nhau rồi. Đệ tử từ trước tới nay chẳng hề phụng sự Thượng sư nên Thượng sư cũng quên đệ tử này mất rồi. Việc quy y như thế cũng chẳng khác nào một cái danh xưng mà thôi, một cái danh xưng trống rỗng.

Đối với việc phụng sự Thượng sư cần có sự nhất tâm, không được có tâm nào khác. Bạn phụng sự Thượng sư, tự nhiên thầy sẽ truyền dạy tâm pháp chân chính cho bạn. Khi bạn nhất tâm phụng sự Thượng sư, thầy nhất định sẽ hiểu con người bạn. Do vậy trong kinh điển Mật giáo có một câu nói rằng, chỉ cần chuẩn bị tâm cho tốt, vị thầy chân chính của bạn sẽ xuất hiện.


**Câu 16: "Luôn hướng đến thầy ta, phụng sự và cúng dường, giữ tấm lòng kính trọng, chướng ngại ắt tiêu trừ."**
Giải thích điều này như sau. Tận tâm cúng dường Thượng sư, kính trọng Thượng sư, nhờ có sự gia trì của Thượng sư nên bạn có thể loại bỏ được các chướng ngại, diệt trừ phiền não.
Ý của việc cúng dường ở đây là một hình thức biểu thị, bên trong nó có ý nghĩa của sự dâng hiến.

Trước đây ở Ấn Độ, bản thân người xuất gia không tự sản xuất được gì, họ sẽ đi xin sự bố thí của chúng sinh, sau đó họ sẽ chúc phúc cho chúng sinh. Vậy thì ở đây cũng thế, chúng sinh cúng dường lên Thượng sư, Thượng sư sẽ chúc phúc cho chúng sinh đó. Việc chúc phúc này chính là một dạng sức mạnh gia trì.

Điều này làm tôi nhớ đến một lão hòa thượng trước đây, ông ấy có rất nhiều, rất nhiều đệ tử. Có một lần bế quan, ông đến một túp lều ở sâu trong núi, đóng cửa không gặp ai. Lúc này tất cả các đệ tử đều nghĩ, sư phụ có rất nhiều đệ tử, lẽ đương nhiên mỗi ngày sẽ đều có đệ tử đến cúng dường cho ông. Bởi vì ông có rất nhiều đệ tử cho nên trong lòng mỗi đệ tử đều nghĩ: "Ây dà, sư phụ có nhiều đệ tử như vậy, cho nên hôm nay nhất định sẽ có người đến cũng dường cho thầy rồi, nên chúng ta không cần phải đi nữa". Kết quả là vị sư phụ đó một tuần lễ không có gì để ăn (cười). Hơn nữa còn đóng cửa ở bên trong lều, cũng không thể gọi điện thoại, do vậy Thượng sư đói đến mức ruột xoắn cả lại (cười). Kể từ đó, hệ tiêu hóa của ông luôn luôn không tốt. Lão hòa thượng đó nói, nhiều đệ tử quá cũng không tốt. (cười)

Do vậy khi bạn nhớ đến sư phụ, bạn cần phải đến cúng dường, bạn không thể nói rằng: "Ôi chà, sự phụ này ngày nào cũng có nhiều đệ tử đến cúng dường rồi, chúng ta không cần phải đến nữa." Thế thì sẽ có ngày sư phụ chỉ còn da bọc xương thôi (cười).


**Câu 17: "Quay tâm dựa vào thầy, hỷ xả và lạc hạnh, thân này còn đem cúng, tiền tài lại màng chi."**
Câu này giải thích như sau. Sinh mệnh của bản thân đều có thể hy sinh, huống chi tài sản. Người yêu thích bố thí từ thiện sẽ có phúc báo.

Điều này nói ra thì có vẻ như rất nghiêm trọng nhưng thực ra cũng có đạo lý của nó. Điều này dạy con người không những cần bố thí tài sản mà còn cần phải bố thí tất cả những thứ khác. Tuy vậy tôi nghĩ rất nhiều người không thể thực hiện được điều này. Vì muốn từ bỏ cả sinh mệnh của mình thì không thể nào tiếp tục ăn cơm (cười). Trên thực tế, sinh mệnh của con người chúng ta, có sinh tất có tử. Sinh mệnh cũng chỉ là vấn đề ngắn hay dài mà thôi. Khổng Tử từng nói một câu: "Sáng nghe đạo, tối chết cũng cam lòng." Và cũng nói một câu khác rằng: "Già mà không có đức hạnh là phường giặc cướp." Chúng ta sống trên thế giới này, cuộc sống nên dùng vào những việc có lợi ích.

Bản thân tôi cũng chẳng hy vọng mình sống thật lâu. Bản thân tôi thấy mình truyền pháp được khá khá nhiều thì có thể lui về được rồi. Sống càng lâu thì lại càng "chín nẫu" ra thôi, nghiệp chướng càng nặng.

Vậy vì sao vẫn có thể có một số người sẵn sàng hy sinh sinh mạng của chính mình cho Phật hoặc cho Kim cương Thượng sư đây? Có người kể rằng một số đệ tử nói là muốn chết thì nên chết trước mặt của Thượng sư. Ý tôi không phải nói mọi người nên đến chết trước mặt tôi đâu nhé (mọi người cười). Mà là với ai "đi trước tôi một bước", (do một Kim cương Thượng sư chân chính thì sẽ có năng lực, để ngay thời khắc bạn chết, Thượng sư có thể nhanh chóng dùng sức mạnh siêu độ cho linh hồn của bạn đến cảnh giới tốt đẹp hơn), có lẽ tốt hơn là chết sớm một chút, sau đó để cho Kim cương Thượng sư chân chính đến siêu độ cho bạn.

Nói chung bất kể sớm hay muộn, một vị Kim cương Thượng sư chân chính sẽ đều có năng lực siêu độ cho đệ tử của chính mình. Bởi vì bản thân tâm của ngài đã rộng lớn như vũ trụ, ngài có năng lực của ngài, có thể kéo linh hồn của bạn đi theo, cùng đến nơi thanh tịnh.

Trong Mật pháp, chúng ta có thể tưởng tượng có một sức mạnh vô cùng to lớn. Hôm nay giả sử tôi không mang trên mình trách nhiệm truyền pháp thì tôi sớm đã không còn ở tại nhân gian này nữa rồi.

Chúng ta không nên tham bộ quần áo ta đang mặc đẹp này, màu sắc rất đẹp này, đừng tham cuộc sống đang tốt đẹp này, đồ ăn rất ngon này, cũng không phải vì trên thế giới này vẫn còn trách nhiệm chưa hoàn thành mà phải sống.

Về vấn đề trên, sáng sớm hôm nay tôi cũng đã nghĩ đến. Tôi thành lập tông phái, có phúc mọi người hưởng, có nạn thì tôi chịu (cười). Hãy nhớ nếu Thượng sư có gặp tai nạn, mọi người đừng chơi chiêu "bỏ chạy là thượng sách" nhé. Tôi thường nghĩ, hy vọng Phật Bồ Tát ban phúc cho chúng sinh, và chỉ cần chúng sinh đừng làm hại Thượng sư của họ là tốt lắm rồi. Ý của tôi muốn nói rằng, các bạn không thực sự cần thiết phải làm điều gì cho Thượng sư cả, chỉ cần không làm hại thầy là được rồi, không làm hại đã là việc thiện lành rồi. Thiện tai! A Di Đà Phật! (mọi người cười).

Câu thứ 17 này nói ra thì rất nghiêm túc, rằng cuộc sống của chính bản thân đều có thể hy sinh, huống hồ tài sản, người thích bố thí làm từ thiện thì sẽ có phúc báo. Cuối cùng Thượng sư chỉ có yêu cầu là, tất cả mọi thứ đều vô hại là được rồi! A Di Đà Phật.


**Câu 18: "Một mình tu vạn kiếp, cũng khó chứng Như Lai, nhưng trong cuộc đời này, ta có thầy dẫn dắt."**
Câu này giải thích như sau. Người tu hành nếu chưa gặp được Thượng sư, sẽ không có cách nào để tu trì thành Phật. Nhờ Thượng sư truyền pháp mới có thể tu được thành Phật, công đức này chính là do Thượng sư ban cho.

Đã có rất nhiều hành giả trải qua quá trình rất dài, rất nhiều trong việc học Phật, học Đạo. Họ cũng đã tìm rất nhiều cơ hội, đã bái rất nhiều sư phụ, nhưng trong quá trình tu tập đó, họ vẫn chưa gặp được một vị Thượng sư chân chính. Những sư phụ tu hành kia đều là giả, vì thế trải qua bao nhiêu kiếp tu hành rồi mà những gì tu được đều là giả, nên chẳng thể thành Phật được.

Chỉ tới khi gặp được Kim cương Thượng sư chân chính, họ mới có thể thành Phật, bởi vì lúc đó pháp mà Thượng sư chân chính truyền cho mới là Mật pháp chân chính. Trong Mật pháp chân chính mới có tâm pháp vô thượng thành Phật. Nên mới nói, công đức thành tựu Phật quả là nhờ Thượng sư, là Thượng sư chân chính đem tới cho bạn.


**Câu 19: "Nên thề bảo vệ khắp, cúng dường chư Như Lai, cung kính đối với thầy, như cung kính chư Phật."**
Câu này giải thích như sau. Phụng sự Thượng sư là lời thề nguyện khi bản thân ta mới nhập môn, việc này cũng quan trọng giống như cúng dường Phật. Việc gặp được một vị Thượng sư chân chính cũng tượng trưng cho việc bạn gặp Phật pháp tăng. Vậy nên trong nhập môn Mật giáo, việc cúng dường Thượng sư cũng quan trọng như cúng dường Phật vậy.


**Câu 20: "Những gì yêu quý nhất, đồ trân quý cực kì, cầu bồ đề vô tận, ta thành tâm cống hiến."**
Câu này giải thích rằng, Thượng sư là bao gồm tất cả Tam Bảo, nếu đem những thứ tốt đẹp nhất để phụng sự Thượng sư thì ta sẽ có được vô lượng vô biên công đức. Ý điều này muốn nói chúng ta hãy đem những thứ tốt nhất để dâng lên cho Thượng sư. Tuy nhiên Thượng sư không nhất định cần phải nhận. Nhận những đồ này của bạn chỉ cần dùng "tâm ý" là được rồi.

Ví dụ ở trước mặt Phật, bạn đem ra những bảo vật quý giá nhất của mình, kim cương mà mình thích nhất, bảo châu, đá quý, lấy ra đặt trước mặt Phật, quán tưởng chúng toàn bộ dâng lên cho Phật. Những thứ này Phật cũng chẳng lấy đi mất của bạn, vẫn là của bạn thôi. Nhưng bạn không thể nghĩ rằng tôi chỉ lấy ra dâng cho Phật như thế thì việc dâng cúng cho Phật này là giả. Nếu vậy bạn sẽ không nghiêm túc, không thể vì thế nghĩ rằng mình có thể tùy tiện lấy ra cúng lúc nào cũng được. Bạn cần phải thực sự có thành ý.

Ý nghĩa của kinh văn cũng chính là nói rằng, bạn hãy dùng những thứ tốt nhất quán tưởng dâng lên Thượng sư, dâng lên tất cả chư Phật Bồ Tát. Và chỉ cần bạn xuất phát từ tâm ý của mình cũng đã là điều rất tốt, như vậy là công đức cũng đã rất lớn rồi.

Trên thực tế, một vị Phật chân chính cũng không cần kim cương hay bảo châu của bạn. Ngài cũng sẽ chẳng ăn lạc rang hay chuối mà bạn cúng dường đâu (cười). Giả sử bạn đến vườn thú cho khỉ ăn lạc hay ăn chuối, chắc chắn là chúng sẽ rất thích. Và nếu bạn chỉ lấy lạc và chuối ra cúng cho Phật, Phật cũng vẫn rất vui, tuy vậy ngài không nhất định cần phải hưởng chúng.

Trước đây có một người cúng Thổ Địa Công, một người khác nói với anh ta: "Thổ Địa Công của anh thích ăn lạc và chuối." Tôi đi gặp Thổ Địa Công của anh ta, phát hiện ra Thổ Địa Công của anh là linh hồn của một con khỉ đến sống trong tượng Thổ Địa Công của nhà anh. Thảo nào mà Thổ Địa Công này lại thích ăn lạc và chuối (cười).

Ý của tôi muốn nói ở đây rằng, bạn dùng thứ gì để cúng Phật đều có thể được, đều có ý nghĩa. Giống như tôi đây, lần trước tôi tìm thứ gì đó để cúng Phật, tìm không được, tôi liền cúng một bình rượu. Bình rượu đó vừa hay lại là rượu bổ, rượu đại bổ, rượu đại bổ hoàn hảo. Nhưng do cúng bình rượu này rồi, tôi đã bị say mất cả tuần. Trên thực tế, Phật Bồ Tát không nhất định sẽ uống rượu bổ này của bạn, nhưng do tôi dùng tâm mình để cúng nên sau đó liền gặp phải một dạng phản ứng của rượu.

Việc trên cũng có ý nghĩa của nó. Nếu bạn thường xuyên quán tưởng dâng cúng kim cương cho Phật Bồ Tát, Phật Bồ Tát cũng sẽ hoàn trả lại kim cương cho bạn. Nếu bạn thường quán tưởng cúng tiền cho Phật Bồ Tát, Phật Bồ Tát cũng sẽ cho bạn tiền. Vì thế tại Bồ Đề Đường, tôi đã giảng về vấn đề quán tưởng cúng tiền, mọi người ở đó bây giờ, cỡ khoảng sang năm sẽ giàu có. Hy vọng Phật Bồ Tát ban phúc cho mọi người được thành tựu tất cả.


**Câu 21: "Phụng sự Phật và thầy, ý niệm lành tăng trưởng, thầy ruộng phúc tối thắng, ta chóng chứng Bồ Đề."**
Điều này giải thích rằng, cúng dường Thượng sư, cúng dường Phật là tạo ruộng phúc tối thắng, rất nhanh chóng sẽ gặt hái được quả bồ đề. Ý của điều này cũng muốn nói rằng việc cho đi sẽ đem lại nhiều phúc hơn việc nhận lấy.

Có một câu nói trong Kinh Thánh rằng, khi chúng ta cho đi, chúng ta còn có phúc nhiều hơn người nhận. Bởi vì khi bạn cho người khác, trong lòng bạn chắc chắn rất rộng mở, rất vui vẻ, tâm trạng rất thoải mái. Bởi vì tâm hồn bạn mở rộng, phúc báo của bạn sẽ đến.

Con người ích kỷ sẽ không có được phúc báo, còn người có tấm lòng rộng mở sẽ có phúc báo. Bởi vì một khi bạn mở rộng tâm mình thì sẽ có ánh sáng hiển hiện. Một khi đã có ánh sáng hiển hiện thì ông trời chắc chắn sẽ ban phúc. Chúng ta làm người hãy nhớ rằng cần có tâm rộng lớn như bầu trời, tấm lòng cần rộng mở, tấm lòng mở rộng rồi thì mới có phúc báo.

Khi bạn tặng đồ cho người nghèo, ngoài việc bạn đang làm một việc tốt, bạn còn đang tự huân luyện tấm lòng rộng mở, sau đó bạn sẽ có được tâm yêu thương. Lúc đó tự nhiên ông trời sẽ có cảm ứng, sẽ ban phúc cho bạn, bạn sẽ có được ruộng phúc tối thắng.

Việc này hoàn toàn không phải nói rằng Thượng sư, hay Phật nhất định muốn ăn đồ của bạn cúng, hay là luôn nhất định muốn lấy tiền của bạn, hoàn toàn không phải vậy. Việc này giống như một sự huân luyện, là một sự luyện tập, hoàn toàn không phải là Thượng sư nói này nói kia rằng các người hãy đưa hết tất cả cho ta, các người phải không được sở hữu cái gì mới là tốt. Không thể nào nói như vậy được (cười lớn), đúng không nào?

Ở đây các bạn chỉ cần dùng một số tiền nhỏ hoặc đưa ra một chút thành ý, một chút đồ gì đó để cúng dường. Bạn cúng dường Phật, Phật cũng sẽ chẳng ăn đồ của bạn, bản thân ngài ngồi ở đây cũng chẳng thế nào ăn đồ của bạn được. Cúng dường pháp, pháp cũng không thể ăn đồ của bạn. Phật pháp tăng, cuối cùng thì là mỗi tăng ăn hết thôi (cười). Do vậy cúng Phật, Phật sẽ không ăn được, cúng tăng thì tăng sẽ ăn hết. Tuy vậy việc cúng tăng cũng cần phải xem xét hoàn cảnh. Nếu bản thân trên người bạn chẳng có gì, bạn có thể giữ lại cho mình. Trên người bạn có hai phần, bạn có thể cúng Phật một phần. Trong Kinh Thánh có nói "một phần mười tiền lương của bạn", đó là một phần mười số tiền mà bạn có để dành cho Thượng Đế. Đây cũng là một kiểu cho đi, nhưng ở đây Chúa quy định là một phần mười, chúng ta thì chẳng có quy định như vậy, mà là tùy ý. Do bạn bố thí thì bạn mới có được phúc, tâm mới rộng mở, mới luyện tập được cho bản thân không còn ích kỷ nữa, ý nghĩa ở đây chính là như vậy.


**Câu 22: "Do vậy, người cầu pháp, nhẫn nại tạo công đức, không lừa dối trước thầy, thường đắc trí kim cương."**
Câu này giải thích rằng, đối với Thượng sư cần tôn kính phụng sự một cách đầy thành ý, cần có tính nhẫn nại, không được lừa dối hay giả vờ, thì chắc chắn sẽ đạt được trí huệ kim cương của Như Lai.

Việc này tương tự với quá trình cầu học pháp điển hình: khi chúng ta đi cầu học một pháp nào đó thì học pháp hay cầu pháp đều cần phải có sự nhẫn nại. Trước đây, Milarepa đến cầu pháp ở chỗ đại sư Marpa, thế là đại sư Marpa bảo Milarepa làm nhà cho ngài ở. Cứ xây gần xong một căn nhà thì ngài lại bảo Milarepa "xây rồi thì đập bỏ đi". Ngài nói rằng phong thủy không tốt, cần phải đập bỏ. Milarepa xây một căn nhà hình chữ nhật thì đại sư Marpa lại nói: "Ta muốn một căn nhà hình tam giác, do vậy căn này cần phải đập bỏ." Khi xây xong căn nhà hình tam giác, đại sư Marpa lại nói: "Căn nhà này xây cho ta hơi bị nghiêng, không được, cần đập bỏ." 
Sự giày vò đó khiến cho Milarepa chẳng còn biết làm cách nào, thực sự là chẳng thể chịu đựng nổi nữa, nhưng Milarepa vẫn muốn cầu pháp. Đại sư Marpa nói: "Ngươi mang đồ gì đến đây, xem xem ngươi dâng lên cho ta cái gì, sau đó ta mới quán đảnh cho ngươi." Milarepa không có tiền, nhưng Sư Mẫu bí mật lấy ra một viên đá quý, bà lén đưa đá quý cho Milarepa. Bà nói: "Con cầm lấy viên đá quý này của ta đem dâng lên cho sư phụ cầu xin ngài quán đảnh cho con." Milarepa không có tiền, đây là mượn tạm viên đá quý của Sư Mẫu để đi cúng thầy. (cười) Milarepa đã phải chịu rất nhiều khổ cực, đến cuối cùng mới được đại sư Marpa quán đảnh cho.

Hôm nay nếu tôi nói với mọi người rằng: "Anh xây cho tôi cái nhà, tôi mới quán đảnh cho anh", thì tôi nghĩ Lôi Tạng Tự chẳng còn tăm hơi một người nào cả (cười lớn), mọi người đều bỏ chạy hết sạch (cười). Xây cho tôi một căn nhà, tôi mới quán đảnh cho, mua cho tôi một chiếc xe Rolls Royce đến đây tôi mới quán đảnh cho (cười lớn). Nếu mà nói ra câu này thì chẳng có lấy "nửa con người" nào muốn quán đảnh nữa.
Tuy nhiên trong việc cầu pháp, pháp càng khó cầu bao nhiêu thì lại càng đáng quý bấy nhiêu. Càng dễ có được thì lại càng dễ đánh mất, bạn sẽ chẳng trân trọng, sẽ coi pháp như cái chổi cùn vậy. Con người là như thế, do vậy đôi khi cũng nên cho những người ở xa đến rèn luyện thêm một chút.


**Câu 23: "Nếu dẫm lên bóng thầy, phạm tội như phá tháp, giường ghế và vật dụng, ngồi lên cũng là tội."**
Quy định này rất nghiêm trọng, trước đây việc kiểu này cũng đã từng có. Đây là một loại giới điều thể hiện sự cung kính. Lấy ví dụ về bóng râm, khi Thượng sư ngồi ở đây, ánh mặt trời chiếu tới, bóng đổ về phía sau. Nếu bạn dẫm lên bóng của Thượng sư thì xem như thiếu lễ độ, biểu thị một hành vi không lễ độ. Bạn không thể dẫm chân lên bóng của Thượng sư được. Cũng không thể ngồi lên giường của Thượng sư, thậm chí những thứ thường ngày Thượng sư dùng, hoặc pháp khí, đều không thể dùng mà không có sự cho phép. Nếu phạm phải là mắc tội.

Việc này cũng biểu hiện ý nghĩa về sự cung kính. Ví dụ nói về chuyện những đồ thầy đã dùng qua thì không được phép dùng. Trước đây có một đệ tử, nói nôm na là đệ tử này lấy đôi giày của Thượng sư để đi vào chân mình, đi giày xong rồi cũng chạy biến mất luôn (cười lớn). Thượng sư gọi anh ta quay lại, nói rằng đó là giày của tôi, anh ta lại còn rất cao hứng. Anh ta nói vì đây là giày của Thượng sư nên mới tốt, vì tốt nên mới đi vào thử xem sao. Kì thực, theo quy định của điều luật này thì làm thế là không được (cười).

Có rất nhiều việc không thể làm. Chúng ta bình thường cũng đã cần như vậy, bình thường chúng ta làm người cũng cần có lễ phép đối với người lớn tuổi, lễ phép đối với sư trưởng. Rất nhiều tình huống là sự lễ phép thông thường, không hẳn phải cần tới quy định cứng nhắc thì mới lễ phép.


**Câu 24: "Với mọi điều thầy dạy, hoan hỷ mà lắng nghe, nếu thân không làm được, dùng thiện ngôn trình rõ."**
Điều này giải thích rằng, bạn cần vui vẻ tiếp nhận những giáo huấn của Thượng sư. Giả sử nếu không thể làm theo được thì có thể khéo léo trình bày hoàn cảnh. Điều luật này rất có đạo lý.

Có rất nhiều lý thuyết Phật giáo mà bản thân các Thượng sư đều đã biết, nhưng khi các bạn mới bắt đầu học Phật, các bạn không biết. Do đó khi các bạn phạm lỗi thì Thượng sư cần giải thích đôi chút, các bạn đừng nói rằng như vậy là không tốt.

Cá nhân tôi thì như thế này. Tôi thường rất ngại nói, ví dụ như nếu có người phạm lỗi, tôi đều ngại phải nói thẳng với họ, tôi thường nói loanh quanh, nói vòng vèo một lúc rồi mới nói tới chuyện đó. Cá tính của tôi là như thế. Tôi sẽ không trực tiếp mắng người ta theo kiểu khi tôi trông thấy ai đó làm điều không đúng thì liền mắng luôn, hoặc là lấy cái gậy cá gỗ gõ vào đầu một cái. Trước đây sư phụ của tôi sẽ làm như vậy, nghĩa là trực tiếp mắng luôn. Mỗi khi tôi đi thăm các vị để xin được tư vấn, tôi đều bị mắng. Trước đây tôi tìm đến lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam, hỏi ông một vài đạo lý, ông liền mắng cho một trận. Ông cứ trực tiếp mắng mỏ như thế. Ông nói: "Anh là cái đồ tà môn ngoại đạo, như thế là không đúng, như thế là sai lầm, ở chỗ anh như thế đó à!" Tôi nghe mà cảm thấy bị mắng chửi tới mức xấu hổ.

Trong lòng tôi thường nghĩ, sau này nếu mình làm thầy, mình sẽ không mắng học trò như vậy, bởi vì mắng chửi như vậy chẳng có gì hay cả, trong lòng học trò sẽ rất buồn. Tôi trông thấy những lúc lão cư sĩ lấy cái gậy cá gỗ, hễ nghe nói mắc tội là ngài liền chạy tới, cầm gậy cá gỗ gõ vào đầu học trò một cái. Là như vậy đó.

Còn pháp sư Lạc Quả khi ở trên bục thuyết pháp mà bên dưới có người nói chuyện, ông quát lên ngay tại chỗ: "Anh nói hay tôi nói, anh lên đây nói cũng tốt, tôi nghe anh nói.” (Sư Tôn cười) Thế là pháp sư đó liền đi xuống để cho đệ tử của ông nói, khiến cho đệ tử kia mặt đỏ tía tai. Nhưng tôi làm Thượng sư thì không như vậy. Khi tôi phát hiện ra ai đó có điều chưa đúng, tôi sẽ khéo léo nói quanh co tận… mấy vòng, sau đó nếu các bạn lắng nghe, nếu thực sự có được chút hiểu ý và nhận ra là được rồi.

Tôi sẽ không chửi mắng người ta, cũng không đánh người ta. Tôi làm Thượng sư chỉ có thể thị hiện được hình tướng Bồ Tát, không thể nào thể hiện được hình tướng Kim cang (Sư Tôn cười lớn). Tôi không thể nổi giận như Kim cang Hộ pháp với đôi mắt trừng trừng được, tôi chỉ có đôi mắt của Bồ Tát thôi, nhìn chúng sinh đầy từ bi.

Nếu Thượng sư có giáo huấn điều gì, đệ tử nên vui vẻ lắng nghe lời giáo huấn. Còn những việc mà Thượng sư dạy bạn làm, giả sử bảo bạn làm việc này việc kia, bạn nên hoan hỷ mà làm. Nhưng nếu làm không được việc đó, bạn cần nói việc này có thể làm chậm lại mấy ngày, hoặc nói bạn không thể làm được. Nguyên nhân là gì thì hãy nói ra. Nói ra rồi thì không còn lo lắng nữa. Nếu thực sự bạn làm không được thì cũng đừng miễn cưỡng. Bây giờ bảo bạn bơi từ bờ bên này qua bờ bên kia của hồ Sammamish, giả sử bạn hoàn toàn chẳng biết bơi tí gì mà cũng vẫn cứ đi vì cho rằng không thể nào làm trái lệnh của thầy được, thế là bạn bảo: "Được thôi, tôi sẽ đi bơi." Làm như thế cũng không được. Do đó, bạn cần nói rõ ràng: "Con không biết bơi, đợi con học cho biết bơi đã, rồi con sẽ lại bơi qua." Những việc thế này đều có thể thông cảm được. Việc không thể làm thì đừng làm, và bạn có thể giải thích một cách khéo léo.


**Câu 25: "Dựa duy nhất vào thầy, mọi việc đều thành tựu, hiện lạc và sinh thiên, đâu dám làm trái lệnh."**
Câu này giải thích như sau. Nhờ có Thượng sư truyền pháp mà đệ tử mới có thể thành tựu mọi pháp. Thượng sư là ruộng phúc vô thượng, đệ tử đừng vi phạm mệnh lệnh của thầy.
Đây chính là vấn đề của việc giảng pháp. Trên thực tế, câu thứ 25 này muốn nói rằng, thứ duy nhất mà Phật truyền xuống thế giới này chính là pháp, chính là Phật pháp. Bởi vì Thượng sư đã đạt được chứng ngộ rồi, ngài biết Phật pháp, biết rằng ý nghĩa quan trọng nhất của đời người chính là tu pháp, các thứ khác đều là thứ yếu. 

Điều quan trọng nhất là bản thân đời người nên tu tập Phật pháp, như vậy mới có thể đạt được thành tựu vĩnh hằng, đạt được sự siêu việt vĩnh hằng. Vậy thì ai hiểu được Phật pháp đây? Chính Thượng sư hiểu được Phật pháp. Thế rồi Thượng sư truyền pháp này cho bạn. Nhờ bạn đã có được pháp, bạn mới có thể thành tựu được pháp, việc này chính là uống nước nhớ nguồn.

Về căn bản, Thượng sư chính là ngọn nguồn của Phật pháp tăng, cũng chính là ngọn nguồn của Phật pháp. Thế nên đối với Căn bản Thượng sư mà nói thì đương nhiên đó là dựa trên mối quan hệ truyền pháp, nhất định bạn cần đạt được sự thành tựu về pháp, nhất định bạn cần phải hiểu được thế nào là cung kính với Thượng sư.

Đây là một đạo lý chắc chắn. Không có chuyện nói rằng tôi có được pháp rồi sau đó tôi tu pháp, tôi chẳng cần cung kính người đã truyền pháp cho tôi nữa. Nói như vậy là một sự mâu thuẫn. Tuy thế không có nhiều người trong khắp thiên hạ có thể giữ mình mà làm đúng theo được “Sự sư pháp ngũ thập tụng”. Giáo chủ của Phật giáo, Phật Thích Ca Mâu Ni năm đó truyền pháp cho Đề Bà Đạt Đa, ông ta thậm chí còn chẳng cung kính Thế Tôn mà còn phản nghịch, hơn nữa còn quay lại làm hại Đức Phật. May là mạng của Phật Thích Ca Mâu Ni còn dài nên không bị hại chết, do vậy nên mới có nhiều bộ Đại Tạng Kinh được truyền lại cho đến bây giờ.

Nhưng số mệnh của chúa Jesus thì lại rất thảm. Một trong số mười hai môn đồ của ngài đã phản bội ngài. Kẻ đó chính là Judas. Trong bữa tối cuối cùng, Jesus cùng với hai môn đồ đang ăn tối, Judas đã bí mật lẻn ra ngoài đi báo cáo với quân đội La Mã đến bắt Jesus. Trò làm hại thầy, hắn ta đi báo cáo với quân đội La Mã đến bắt thầy mình. Sự việc kiểu như vậy từ xưa đến nay cũng rất nhiều.

Trước đây có hai người rất giỏi bắn cung, bắn đều rất chính xác, một người trong đó là sư phụ, một người là đệ tử. Mọi phương pháp bắn cung, sư phụ đều dạy hết cho đệ tử. Trong lòng đệ tử này luôn nghĩ đến việc khi đi trên đường mọi người đều nói anh ta là thần xạ thủ số hai, còn thần xạ thủ số một chính là sư phụ của anh. Anh nói: "Dù có làm thế nào cũng chẳng thể thay đổi thành tôi là số một và thầy là số hai được."

Thế rồi một ngày nọ, anh đứng trên đỉnh núi, vừa hay sư phụ của anh cũng đứng ngọn núi bên kia ngắm mặt trời mọc. Đệ tử này từ phía sau đi tới, anh nghĩ cơ hội đến rồi, để cho xạ thủ số một chết thì anh ta sẽ trở thành số một, có đúng vậy không? Anh liền lấy cung tên ra để bắn sư phụ mình, anh đã nghĩ vậy.

Sư phụ của anh nghe tiếng gió do mũi tên bắn ra từ phía sau, trên người ông cũng có đeo cung tên, ông cũng lấy tên ra để bắn phản lại. Vừa khéo hai mũi trên chạm trúng vào nhau trong không trung, đệ tử của ông nhảy dựng lên vì sợ. Sao lại có thể có một chiêu hay đến vậy. Không cần nhìn, chỉ nghe tiếng tên bắn đến là có thể bắn trả lại rất lợi hại như vậy. Kết quả là anh ta đi sám hối với sư phụ. Sư phụ anh nói, việc này chẳng phải là vấn đề lớn. Lòng dạ con người ta là như vậy, ta giữ lại một chiêu, chiêu này chính là để phòng ngừa người như anh đó. (cười lớn)

Thế nên người trong thiên hạ cần ghi nhớ, ai làm sư phụ luôn cần giữ lại cho mình một chiêu (cười lớn). Ai cũng giữ lại, cho đến cuối cùng thì biến thành nửa chiêu cũng chẳng có nữa (cười lớn). Mỗi người đều giữ lại một chiêu, giữ lại cho đến bây giờ thì trở thành nửa chiêu cũng không có (cười lớn).
Do vậy, làm đệ tử trước tiên nên đọc "Sự sư pháp ngũ thập tụng", làm sư phụ cũng cần đọc "Sự sư pháp ngũ thập tụng". Như vậy mới là tương đối chính thống, mới là tương đối chính phái.

Ban đầu, Mã Minh Bồ Tát viết "Sự sư pháp ngũ thập tụng" là vì những lực lượng tâm linh vĩ đại của vũ trụ bảo ngài viết. Bởi vì lực lượng tâm linh vĩ đại của vũ trụ trong hư không đã thấy kẻ làm thầy cũng chẳng ra thầy, kẻ làm trò cũng chẳng ra trò, tất cả đều trở thành vô cùng hỗn loạn, do vậy các vị yêu cầu Mã Minh Bồ Tát viết ra "Sự sư pháp ngũ thập tụng" này để lưu truyền cho hậu thế. Mỗi người đều tuân thủ theo thì sẽ hợp với những quy tắc lễ nghĩa chính đáng giữa thầy và trò. Giả sử không có những quy tắc lễ nghĩa này thì Phật pháp còn trở thành Phật pháp cái gì nữa? Khi đó thì là vô pháp vô thiên, chẳng cần pháp nữa. Trật tự xã hội được giữ bởi pháp luật, còn pháp của Phật giáo thì được giữ bởi quy tắc trong "Sự sư pháp ngũ thập tụng" giữa thầy và trò.

Thế còn Đức Phật thì sao? Phật Thích Ca Mâu Ni từng bị hại sáu lần, Đề Bà Đạt Đa dùng thức ăn có bỏ thuốc độc, đốt lửa thiêu nhằm hãm hại Phật Thích Ca Mâu Ni. Còn Chúa Jesus thì thảm nhất, ngài bị đóng đinh cho đến chết trên thập tự giá cũng bởi vì một trong số mười hai môn đồ của ngài đã bán đứng ngài. Hắn ta cầm được tiền rồi cũng không còn mặt mũi nào mà dùng, cuối cùng thì cũng lại treo cổ tự vẫn. Hắn ta chẳng còn mặt mũi nào, biết rằng bản thân mình sai rồi, thế là treo cổ chết.

Do vậy giữa thầy và trò, cần có "Sự sư pháp ngũ thập tụng" để gìn giữ mối quan hệ thầy trò, hy vọng mọi người đừng học theo Judas, hoặc là học theo giống như Đề Bà Đạt Đa. Nếu giả sử bạn học theo những kẻ này thì nhớ nói trước với tôi một tiếng, để tôi còn kịp chạy trước (mọi người cười lớn).
Tôi nói đùa thế thôi. Ở đây, mọi người chúng ta đều rất tốt, mọi người đều rất phát tâm, rất có lòng từ bi, đều là những người tốt, dùng bồ đề tâm để truyền pháp, độ thế, cùng làm công tác cứu độ chúng sinh.

Chúng ta hiểu rằng không phải chỉ vì bản thân mình mà còn vì chúng sinh, tâm lượng mở rộng đến mức độ rộng lớn nhất. Đừng có hẹp hòi quá, tâm lượng cần mở rộng ra đến mức giống như một câu nói trong kinh Kim Cang: "Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng".
Trước tiên nói về yêu cầu đầu tiên "vô ngã tướng". Trong mọi việc, bạn đừng đặt cái tôi lên trước hết thì tâm của bạn sẽ rộng mở. Trong mỗi sự việc bạn đừng nghĩ đến cái "tôi", thì tâm bạn càng rộng mở. Điều kiện số một trong kinh Kim Cang là "vô ngã tướng", con người trên thế giới này trong bất kì việc gì đều nghĩ đến cái "tôi" trước tiên. Do đó kinh Kim Cang mới nói điều hoàn toàn ngược lại rằng trước tiên đừng nghĩ đến bản thân ta thì chính là "vô ngã tướng". Ở đâu và lúc nào cũng nghĩ cho người khác, ở đâu cũng nghĩ cho mọi người, ở đâu cũng nghĩ vì cái chung thì được gọi là "vô ngã tướng".

Nếu bạn muốn độ chúng sinh nhưng lại nói về chính "tôi" trước, tôi muốn tất cả đều có tiền, tôi muốn có thể làm sao đó, làm sao đó mới có thể độ chúng sinh. Thì đó chính là bạn đã có "ngã tướng" trước rồi. Đã có "ngã tướng" trước rồi thì còn độ chúng sinh cái gì nữa đây?

Do đó người làm đệ tử, người làm thầy đều cần phải "vô ngã tướng". Người "vô ngã tướng" thì sẽ không cần danh lợi. Rất nhiều người thích tranh danh đoạt lợi, chính là tranh giành một cái "tôi". Ví dụ nói, chi bằng tôi ra mặt, người khác đều ở dưới, đây đều là cái "tôi" ích kỷ. Hoặc nói rằng, chi bằng tôi có tiền, sẽ điều khiển được người khác làm thế nào, đó cũng là vì làm lợi cho cái "tôi". Bởi thế trước tiên cần học để có thể "vô ngã tướng". Trước tiên cần phá bỏ cái "tôi" này.


**Câu 26: "Mọi tài sản của thầy, gìn giữ như sinh mệnh, cung kính như người thân, không mảy may khinh suất."**
Câu này giải thích là, ta cần thay thầy bảo vệ tài sản giống như bảo vệ sinh mệnh của chính mình, không được lãng phí. Cần cung kính với thầy như đối với những người đáng cung kính nhất, xem thầy như người thân. Không được xem thường việc này.

Mấy ngày trước tôi nhận được một bức thư, bức thư này là của một đệ tử giúp nhận cúng dường cho thầy từ các đệ tử khác. Trong thư có viết đã nhận cúng dường cho thầy tổng cộng là bao nhiêu, nhưng bây giờ con nghèo quá, nên đã dùng hết sạch rồi (cười), xin thầy thứ lỗi, thực sự là do nghèo quá cho nên đã dùng hết rồi. Thế rồi cũng có viết giấy vay tiền, cũng có giấy vay nợ.

Đệ tử này tâm địa rất tốt, anh dùng tiền của thầy trước, sau đó viết giấy nợ gửi cho thầy, về sau cũng trả lại cùng với lời cảm ơn. Đây là một đệ tử có tâm địa vô cùng tốt. Tuy nhiên cũng có một số người thì tỏ ra lợi hại hơn một chút. Anh ta không nói gì, cũng không viết giấy vay nợ, như vậy đúng là lợi hại hơn rồi (cười).

Kì thực tiền của Phật Bồ Tát, hay tiền của Thượng sư, thì đều cần phải trân trọng. Muốn dùng thì không được lãng phí. Tiền của Phật Bồ Tát và tiền của Thượng sư thì đều là tiền của chúng sinh, cũng giống nhau cả. Do vậy cần nghĩ đến những chỗ khó của việc này! Muốn dùng số tiền này cần phải rất thận trọng, cần tiết giản, cần cực kì tiết giản.


**Câu 27: "Chẳng nên trước mặt thầy, đội mũ và giơ chân, cho tay vào túi áo, hay thoải mái ngồi nằm."**
Câu này giải thích rằng ở trước mặt Thượng sư, cách cư xử cần đoan trang, những động tác thể hiện hình ảnh hoặc thái độ xấu ví dụ như giơ cao chân, hoặc đút tay vào túi áo đều không được làm. Đây chính là phép lịch sự thông thường, như chúng ta thường nói "tôn sư trọng đạo" vậy. Ở trước mặt thầy đương nhiên cần phải lịch sự tôn trọng như thế. Bình thường ở trước mặt thầy cũng cần phải lễ độ. Mấy việc như vắt chân lên cao, gãi chân ngứa (cười), trung tiện, gãi rồi lắc người lung tung, đều là những biểu hiện không được hay lắm.


**Câu 28: "Khi có việc cần ngồi, đừng tùy ý dạng chân, mọi uy nghi phải giữ, thầy đứng ta đứng lên."**
Câu trên giải thích rằng đệ tử Phật nên có sự uy nghi, khi ngồi không được để hai chân dạng một cách thoải mái hoặc vươn dài ra. Nếu thầy đứng dậy thì lập tức cần đứng dậy theo. Nói cách khác là cách chúng ta ngồi cũng cần phải đoan chính, không được vươn dài chân ra, vươn dài chân ra nhìn cũng không đẹp mắt. Khi thầy đứng dậy mà bạn vẫn còn ngồi im thì như vậy xem ra thầy biến thành thị vệ của bạn mất rồi! (cười)


**Câu 29: "Nơi thầy cần đi qua, không nên tùy ý bước, cẩn thận tránh qua bên, thầy hắt hơi vẫn kính."**
Câu này giải thích rằng đoạn đường mà thầy cần phải đi qua, đệ tử nên đứng trang nghiêm ở bên cạnh để nghênh đón và tiễn chào. Nếu thầy có bị ho, sổ mũi thì cũng không được có tâm ghê sợ. Đây cũng là một vấn đề về mặt lễ nghĩa.

Các bạn đã từng thấy tôi hắt xì hơi chưa, có ai từng nghe thấy chưa, có ai không? Hơn bốn năm nay, tôi đã đến Mỹ xấp xỉ cũng hơn bốn năm rồi, mà vẫn chưa từng hắt xì hơi lần nào (cười), lý do rất đơn giản thôi! Giả sử tôi có hắt xì hơi thì chắc chắn là bị cảm. Vì hơn bốn năm nay tôi không hắt xì hơi nghĩa là hơn bốn năm qua cũng chẳng hề bị cảm. Giả sử có một ngày, các bạn nghe thấy tiếng tôi hắt xì hơi thì chắc chắn là "trúng" rồi (cười lớn). Không phải tôi nói là trúng số, mà là trúng cảm mạo (cười lớn).

Theo như chúng ta nói ở đây thì hắt xì hơi, ho, đều là những việc rất tự nhiên. Giả sử thầy của bạn có hiện tượng ho hoặc hắt xì hơi mà bạn lập tức cảm thấy: "Ai chà, như vậy thật là không được! Thầy mà như vậy là không được rồi! Cảm cúm hay bị ho là không tốt rồi." Thì nên nhớ đây là hiện tượng tự nhiên thôi, không nên vì thế mà tỏ ra ghê sợ thầy.


**Câu 30: "Cũng như trước mặt thầy, đừng thì thầm to nhỏ, cười nói khắp xung quanh, ca hát hay nhảy múa."**
Câu này giải thích, ở trước mặt thầy, không được nói chuyện riêng, tất cả mọi hành động thiếu tính trang trọng đều cần loại bỏ. Đây cũng chính là phép lịch sự thông thường thôi. Chúng ta nghiên cứu vấn đề này một chút.

Có người nói, người tu hành cần phải rất tích cực, cần nghiêm túc tu hành. Có người nói rằng có thể lười biếng một chút, một ngày chỉ cần tu một chút chút thôi. Tôi cho rằng, như chúng ta tu hành ở đây, về thời gian cũng không nên quá độ, nhưng cũng không phải là hoàn toàn không tu gì. Chúng ta giống như học sinh đi học, một ngày phải viết vài chữ Hán, một ngày phải làm mấy phép tính, một ngày cần đọc bao nhiêu trang sách. Chúng ta làm như vậy, không cần phải làm quá độ là được rồi.

Ngoài ra, trên phương diện tích cực hay trì trệ cũng cần có một vài quan điểm thế này. Có người nói, làm các việc Phật sự cần làm tới mức hoành tráng, tín chúng mấy nghìn vạn người, như vậy mới được xem là thành công. Lại có người nói, tốt nhất là hoàn toàn chẳng có việc gì cả, ngay cả một người cũng không có, như vậy mới tốt (cười).

Nhưng người tu hành cần có quan niệm như sau mới thực sự tốt, đó chính là "thuận theo tự nhiên thì sẽ tốt". Quan niệm tu hành trong Đạo giáo cũng có câu, "tùy tha vinh, tùy tha khô" [rực rỡ cũng được, khô héo cũng được]. Đây chính là tâm tự nhiên, tâm bình thản.


**Câu 31: "Thầy cho ngồi hay đứng, cần kính cẩn trang nghiêm, nếu đường đi nguy hiểm, tự đi trước dẫn đường."**
Giải thích: đối với chỉ thị của thầy, cần kính lễ trang nghiêm. Đi trên đoạn đường có khả năng nguy hiểm thì cần phải tiến lên trước để dẫn đường cho thầy.

Vì sao cần phải nghe theo chỉ thị của thầy? Bởi vì thầy truyền pháp, vậy nếu bạn muốn tu pháp cho thành tựu thì bạn nhất định phải nghe theo chỉ thị của thầy. Phật pháp là do chính thầy truyền xuống, giả sử bạn muốn tu pháp thành tựu, đương nhiên phải nghe theo lời của thầy dạy rồi. Còn khi gặp phải đoạn đường nguy hiểm, bạn cần phải đi trước dẫn đường. Không thể nào có chuyện có phúc thì mọi người hưởng, có nạn thì Thượng sư chịu (Sư Tôn cười, mọi người cười).

Thời nay mỗi khi mọi người cầu nguyện mà rốt cuộc đến cuối cùng vẫn chẳng có cách giải quyết, các bạn đều bảo đi tìm thầy là được rồi (cười). Như vậy thì tôi đây phiền phức lắm. Thường xuyên là như vậy đó (Sư Tôn cười, mọi người cười).
Tôi từng nghe có tin đồn thế này. Đồn rằng có một người Israel, là người thông minh nhất. Người Israel và một người Anh cùng trên đường lên núi. Người Israel phát hiện ra ở phía trước có một vụ cướp đang xảy ra, ngọn núi này chẳng hề yên tĩnh an toàn. Do vậy người Israel nói với người Anh rằng trên người tôi có rất nhiều tiền, tôi cho anh mượn tiền trước (mọi người cười).

Người Anh ngu ngốc nghĩ, sao mà tốt vậy nhỉ, vô duyên vô cớ lại cho tôi vay nhiều tiền như vậy (mọi người cười). Kết quả là ở tại ngọn núi đó, họ thực sự đã gặp phải toán cướp, chúng cướp hết sạch tiền trên người bọn họ. Thế rồi hai người rời đi, sau khi bị cướp hết sạch tiền thì rời đi. Lúc này người Israel nói với người Anh đòi trả tiền (mọi người cười). Người Anh nói số tiền đó đều đã bị cướp hết rồi! Nhưng người Israel nói, tiền đã bị cướp hết thì phải đánh để đòi lại, còn kia là tiền tôi cho anh mượn cơ mà (mọi người cười), do vậy bất kể là có bị cướp hay không thì vẫn cần phải trả lại.
Vậy nên khi gặp phải chuyện nguy hiểm, các bạn nhớ đừng cho tôi mượn tiền nhé (mọi người cười). Chuyện bị cướp này chẳng có liên quan gì đến mối quan hệ giữa hai người cả, khi gặp nạn thì giữa thầy và trò cũng bình đẳng như nhau thôi (mọi người cười).


**Câu 32: "Khi ở trước mặt thầy, chớ tỏ ra uể oải, bẻ tay kêu răng rắc, hay dựa cột dựa tường."**
Giải thích: Ở trước mặt thầy, tinh thần phải phấn chấn, không được có bộ dạng uể oải, các thói quen xấu cần phải loại bỏ, người không được dựa dẫm vào cột hay vào tường. Đây là một phép lịch sự, trước đây tôi từng nói rồi. Bạn ở trước mặt thầy, không thể cắn móng tay, rộp rộp rộp, không được tùy tiện cắn móng tay, cậy móng chân, gãi chân ngứa (cười). Chúng đều là việc không hay gì, đây là phép lịch sự.


**Câu 33: "Khi rửa chân giặt giũ, tắm rửa những việc trên, với thầy cần báo trước, đừng để thầy phải nhìn."**
Giải thích: Khi giặt quần áo, tắm rửa, rửa chân, trước đó cần thông báo với thầy, đừng để thầy trông thấy những việc này. Điều quy định này cũng là vấn đề về mặt lễ nghĩa. Bạn đi tắm, đương nhiên tắm mà bị người khác nhìn thấy thì không hay rồi (cười).

Trước đây phòng tắm của tôi làm bằng kính trong suốt, chưa được dán giấy mờ, không biết có bị người khác nhìn thấy nữa không, tôi không biết (cười), nhưng bây giờ thì đã có dán giấy mờ rồi. Trước đây tôi nghĩ rằng, bảo để cho người khác nhìn thấy là kiếm được món hời rồi (cười)! Để người khác nhìn thấy mình tắm là kiếm được món hời (cười)! Chẳng có vấn đề gì cả! Nhưng mà rốt cuộc có ai kiếm được món hời ở đây không thì tôi không rõ. Việc để người khác trông thấy mình tắm, hoặc nhìn thấy người khác tắm, rốt cuộc là ai đã kiếm được món hời, tôi vẫn chưa biết được rõ (cười). Tóm lại, đây là vấn đề về mặt lịch sự.


**Câu 34: "Không nên thường xuyên nhắc, đến tên gọi của thầy, nếu có người cố hỏi, nhắc đến một chữ thôi."**
Giải thích: Không được tùy tiện gọi tên của thầy, có người hỏi thì nói cho họ biết pháp hiệu của thầy. Đây cũng là một vấn đề về lễ nghĩa. Ví dụ như cha của tôi, tên của cha tôi là Lư Nhĩ Thuận. Giả sử tôi gặp cha tôi, tôi gọi, "Lư Nhĩ Thuận lại đây", như vậy thì chẳng lễ phép chút nào. Đối với bề trên của ta, làm sao mà có thể gọi Lư Nhĩ Thuận lại đây một chút được! Ví dụ, tên tôi là Lư Thắng Ngạn, mọi người gặp tôi liền gọi, "này Lư Thắng Ngạn" thì xem ra có vẻ không được đúng lắm! Đây là một vấn đề về phương diện lễ phép.

Giả sử là thầy, thầy gọi chúng ta, "này Lư Thắng Ngạn", vậy thì được, bề trên hoặc thầy gọi chúng ta như vậy thì được. Nhưng chúng ta là thế hệ sau, khi gọi các bậc cha chú thì không được gọi bằng đầy đủ tên họ như vậy. Có thể gọi là ngài Lư hoặc gọi là thầy Lư, có thể dùng họ để gọi như vậy.
Ý nghĩa của điều quy định này là như thế.



**Câu 35: "Khi được lệnh tập hợp, hãy đợi thầy giao phó, tất cả việc được giao, trong lòng luôn ghi nhớ."**
Giải thích: Khi thầy đã giao cho việc gì thì cần ghi nhớ kĩ việc mà thầy đã giao phó, tận lực cố gắng hoàn thành. Điều quy định này cũng rất quan trọng. Bởi vì khi thầy đã giao việc cho, mọi người cần làm cho tốt, nói cách khác là phải hết sức cố gắng hoàn thành. Nếu không thể hoàn thành được thì cần giải thích với thầy, đừng cưỡng ép mà làm khó cho bản thân.
Người làm thầy, khi giao việc cho đệ tử, cũng cần phải kiểm tra xem cấp độ năng lực của đệ tử. Ví dụ, ở trước chùa này có một lư hương lớn. Bây giờ kêu một đứa trẻ con dáng người thấp bé lại bảo hãy đem nhấc lư hương ra chỗ khác đi, việc này làm sao nó có thể làm được (cười).

Do đó trong phạm vi năng lực của bản thân, giả sử có việc được thầy giao cho, bản thân cần hết sức cố gắng để hoàn thành, không được quên. Hơn nữa, nếu bản thân làm không tốt, có thể giải thích việc này với thầy, nói rõ cái gì mình làm không được tốt. Có như vậy thì đôi bên có thể hiểu được, có sự thấu hiểu và cảm thông lẫn nhau.

➖➖➖➖➖➖➖➖➖➖➖➖➖➖➖➖
[ Ghi chú từ ND: có sự ghi nhận rằng chúng ta chỉ ghi chép được tới lời giảng của Tôn Sư tới hết câu số 35 trong tổng số 50 câu kệ tụng ]

**(Hết)**

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/3-mat-phap-cua-pho-ba-kim-cang.md
# Title: 3 mật pháp của Phổ Ba Kim Cang
---

![image](/img/img_1d76cc4e8a89be0894d71269ca0e8ff3.jpg)



## 3 mật pháp của Phổ Ba Kim Cang


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

‼️ Chú ý: Những pháp này phải được Liên Sinh Hoạt Phật quán đảnh trực tiếp mới có thể tu trì.

**Pháp tướng: **

Phổ Ba Kim Cang thân màu xanh đen, ba đầu, ba mắt, sáu cánh tay, bốn chân, hai cánh. Khuôn mặt chính màu xanh lam, đại diện cho Đại Thế Chí Bồ Tát, cũng chính là Kim Cang Thủ Bồ Tát, đại diện cho ý của chư Phật.

Mặt bên phải màu trắng, đại diện cho Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, cũng chính là Đại Uy Đức Kim Cang, đại diện cho thân của chư Phật.

Mặt bên trái màu đỏ, đại diện cho A Di Đà Phật (Quan Thế Âm Bồ Tát), cũng chính là Mã Đầu Minh Vương, đại diện cho ngữ của chư Phật.

Phổ Ba Kim Cang hai tay trước ngực cầm cọc kim cang, cánh tay phải thứ nhất cầm chày kim cang chín chấu, cánh tay phải thứ hai cầm chày kim cang năm chấu, cánh tay trái thứ nhất cầm ngọn lửa, cánh tay trái thứ hai cầm thiên trượng ba đinh. Sau lưng có đôi cánh, hai chân bên phải dẫm lên lưng của hai ma nam, hai chân trái dẫm lên ngực của hai ma nữ.

**Thủ ấn:** Hai tay đan ngoại phộc (hoặc nội phộc), hai ngón giữa giơ thẳng chạm vào nhau. 

**I. Pháp phòng bùa ngải**

1. Bố đàn: đàn thành Phổ Ba Kim Cang. Tại đàn thành cúng cọc Phổ Ba Kim Cang, cắm trên bát gạo và cúng dường cúng phẩm khác.
2. Niệm đủ 100.000 biến tâm chú Phổ Ba Kim Cang.
3. Đi ra nghĩa địa nhặt lấy một cành cây khô rơi từ trên cây xuống, dài khoảng 18cm (7 inches), lột bỏ lớp vỏ cây lộ ra màu trắng, viết lên đó tên của người làm bùa ngải, hoặc viết là người vô danh.
4. Vào hắc nguyệt (ngày 16 đến 30 âm lịch), sau giờ Ngọ ngày trực Trừ, tu một đàn Hộ Ma Phổ Ba Kim Cang, lấy cành cây khô và cúng phẩm cho vào lò là có thể giải trừ được tất cả bùa ngải ác pháp.
5. Ngoài ra, nếu gặp phải cấp trên không tốt, bạn có thể làm pháp này, viết tên của cấp trên lên cành cây khô, làm Hộ Ma xong là cấp trên sẽ mềm lòng hơn với bạn, bày tỏ thiện ý, cho rằng bạn cũng không tệ.
(Chú thích: Nếu Thượng sư giúp người ta giải trừ bùa ngải, người đó cũng phải niệm đủ 100.000 biến tâm chú Phổ Ba Kim Cang.)

**II. Pháp siêu độ**
1. Bố đàn: đàn thành Phổ Ba Kim Cang. Tại đàn thành cúng cọc Phổ Ba Kim Cang, cắm trên bát gạo và cúng dường cúng phẩm khác.
2. Lấy đất cát trên mộ của tổ tiên đặt trước đàn thành Phổ Ba Kim Cang.
3. Niệm đủ 100.000 biến tâm chú Phổ Ba Kim Cang gia trì cho đất cát này.
4. Vào bạch nguyệt (mồng 1 đến 15 âm lịch), vào ngày Thành, đem đất cát này rắc lên mộ của tổ tiên, tổ tiên sẽ có thể thăng thiên, vãng sinh Phật quốc tịnh thổ. Cũng có thể đem đất cát này rắc lên những ngôi mộ trong nghĩa địa, các vong linh ở đó đều có thể thăng thiên, vãng sinh Phật quốc tịnh thổ. Nếu muốn đem đất cát này rắc lên thân thể của người mới chết thì bất kì lúc nào cũng có thể rắc (tức là không nhất định phải chọn ngày Thành lúc bạch nguyệt), vong linh cũng đều có thể thăng thiên, vãng sinh Phật quốc tịnh thổ.

**III. Pháp đại phú đại quý**
1. Bố đàn: đàn thành Phổ Ba Kim Cang. Tại đàn thành cúng cọc Phổ Ba Kim Cang, cắm trên bát gạo và cúng dường cúng phẩm khác.
2. Niệm đủ 100.000 biến tâm chú Phổ Ba Kim Cang.
3. Vào sáng sớm ngày thường, đi đến nghĩa địa để lấy sương sớm, tích lũy lại.
4. Vào buổi tối ngày 15 âm lịch (bất kể trăng có xuất hiện hay không đều được), tại đàn tràng bố đàn, tu pháp.
a) Bố đàn: Đem bát gạo có cắm cọc Phổ Ba Kim Cang đặt trên đàn tràng. (Có thể là cọc Phổ Ba Kim Cang được thờ tại đàn thành, cũng có thể là cọc Phổ Ba Kim Cang khác.)
Xếp hương, hoa, đèn, trà, quả, bánh quy, bánh ngọt bày xung quanh cọc Phổ Ba Kim Cang thành từng vòng từng vòng, tổng cộng khoảng 5-6 vòng.
b) Tu pháp: 
- Thắp hương, đốt tiền giấy (tiền giấy Chân Phật Tông).
- Niệm 1080 biến tâm chú Phổ Ba Kim Cang.
- Lấy sương sớm đã thu thập ở nghĩa địa ra chấm vào hai mắt. 
- Nhìn thấy vong linh hiện thân thì ném cúng dường ra, tức là ném bánh quy, bánh ngọt ra cho vong linh, nói với họ: “Xin hãy phát nguyện giúp đỡ tôi có được đại phú quý.” Cứ mỗi vong linh hiện thân thì lại ném bánh ra cho họ, lần lượt thỉnh họ giúp mình có được đại phú quý. 
5. Bắt đầu từ ngày hôm sau, vận tốt sẽ đến. Làm cái gì sẽ kiếm lời được cái đó. 

Ngoài ra, chú ngữ của Mật giáo chính là luật lệnh. 
1. Bố đàn: đàn thành Phổ Ba Kim Cang. Tại đàn thành cúng cọc Phổ Ba Kim Cang, cắm trên bát gạo và cúng dường cúng phẩm khác.
2. Niệm đủ 100.000 biến tâm chú Phổ Ba Kim Cang.
3. Sau này bản thân mình hễ gặp phải người nào đó, muốn có được thứ gì đó từ họ thì có thể ở sau lưng và chỉ vào họ, niệm “Ôm pê-cha chi-li chi-la-ya sa-ơ-wa bi-ka-nê pang hùm-pây. Sắc lệnh ABC cho tôi…… “ . (ABC là tên của đối phương, …. là thứ mà mình muốn, ví dụ như thăng chức, tăng lương.)

---
# File: nghi-quy-tu-tap/6-ngay-the-cong-phap.md
# Title: 6 ngày thể công pháp
---

## 6 ngày thể công pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp! 

Trích từ Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn văn tập 607 “Hồng Quang Đại Thành Tựu” (quyển 7) và cuốn 644 “Tâm sự cùng bạn” (quyển 5)

**Khởi nguồn:**

Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật vào ngày 03.09.1994 tại Seattle Lôi Tạng Tự nước Mỹ công khai truyền thụ và quán đảnh Chuyết hỏa định. Trong đó ngài còn thị phạm giải thích về 6 ngày thể công pháp (tức kim cang quyền) làm công pháp bổ trợ quan trọng cho tu trì Chuyết hỏa định.

**Công hiệu:**

Làm mềm sức mạnh của tề luân, gia tăng sức mạnh của tề luân, để bổ trợ Chuyết hỏa định thông khí mạch. Về mặt vật chất có thể đốt cháy bệnh tật và tạp chất, về mặt tâm linh thì có thể giải thoát phiền não.

**Những điều cần chú ý: **

(1) Nơi luyện công nên chọn căn phòng sạch sẽ, khi luyện công không mặc quần áo hoặc đeo đồ vật, tránh quần áo và đồ vật cản trở khí lưu thông khắp toàn thân.

(2) Phải luyện mỗi ngày, không được lười biếng, mỗi ngày có thể làm vài lần.

(3) Nội dung hoàn chỉnh về pháp Bảo bình và Chuyết hỏa định, xin đọc thêm “Hồng Quang Đại Thành Tựu”. 

**Chiêu thức 6 ngày thể công pháp:**

(1) Chân co lại và đá ra

1. Ngồi thẳng, chân duỗi thẳng đặt sát nhau. Hai lòng bàn tay úp xuống đất, ngón tay duỗi thẳng.

1. Từ từ ngả lưng nằm xuống đất.

1. Gáy hơi nhấc. Chân trái co lên, hai tay ôm lấy đầu gối trái, chân trái đá mạnh ra, trở về tư thế nằm như 2.

1. Tương tự như trên, nhưng đổi là chân phải.

1. Hai chân cùng co lên, hai tay để hai bên người, đạp mạnh hai chân ra và trở về tư thế 1. 

(2) Ngồi khoanh chân, vặn trái phải

1. Chọn tư thế ngồi tùy ý: tức là bình thường gọi là ngồi khoanh chân, hai cẳng chân đặt lên nhau là được.

1. Dùng sức của eo để vặn nửa thân trên sang trái về phía sau, tay trái theo động tác mà đặt ở phía sau, tay phải đặt ở phía trước, sau đó thân thể lại trở về phía trước. 

1. Giống như trên, đổi lại là vặn mình sang phải về phía sau. 

(3) Hai chân thu về vận động ôm vào

1. Tư thế ngồi, hai chân co lại, hai tay ôm chặt lấy chân.

1. Thân thể từ từ ngả về phía sau, chuyển động lăn về phía trước ngồi dậy trở về tư thế 1. 

(4) Ngồi quỳ, vặn trái phải

1. Ngồi khóa trên hai chân (ngồi quỳ).

1. Dùng sức của eo để vặn mình về bên trái, hai tay thuận theo thân thể tự nhiên chuyển động chạm nhẹ lên mặt đất.

1. Vặn mình trở về vị trí thẳng, sau đó đổi qua bên phải.

(5) Hai chân bắt chéo xoay tròn

1. Hai tay mở ra về hai bên, song song với mặt đất. Chân phải vắt lên trước chân trái hơi cong, đứng vững.

1. Tiến lên trước hai bước, hai tay theo lực của eo xoay tròn. 

1. Lại lùi về sau hai bước và xoay tròn.

Liên tục lặp lại động tác này.

(6) Hai tay cầm mặt trời xoa đan điền

1. Tư thế đứng. Hai chân hơi tách ra. 

1. Quán tưởng mỗi bàn tay đều có một mặt trời rất nóng đỏ, hai bàn tay thái dương đó xoa vào nhau cho nóng lên, sau đó đặt ở vị trí dưới rốn bốn lóng tay, quán tưởng nhiệt đi vào đan điền, sau đó xoa bụng để bụng nóng lên, xoa 36 lần, quán tưởng lửa của mặt trời đi vào tề luân của bạn. 

Cái gọi là kim cang quyền hoàn toàn chính là trợ giúp cho huyết và khí trên thân thể hành giả được lưu thông, không bị tắc nghẽn. Cho nên trong Mật giáo, kim cang quyền thuộc về Ngoại pháp, chính là một động tác của thân thể. Động tác của thân thể không chỉ trợ giúp sự tuần hoàn của huyết và khí trên thân thể bạn, mà còn có thể khiến cho ba mạch bảy luân xa trong thân thể bạn được đả thông toàn bộ. Đây là công phu bên ngoài, trợ giúp khí, huyết, chuyết hỏa, minh điểm thông suốt, cho nên mỗi người đều phải luyện. 

Nói chung, bạn tu Hiển giáo thì làm công phu thanh tịnh về mặt ý niệm, tu Mật giáo thì làm công phu về khí, mạch, minh điểm trên thân thể. Bạn luyện quyền là để đả thông mạch và các luân xa, trong Mật giáo đây là kim cang quyền, tức là Mật quyền, nhưng trên thực tế nó không phải là quyền, mà là một phương thức khiến cho toàn bộ huyết, khí, chuyết hỏa, minh điểm trên thân thể bạn có thể thông suốt.

Vì sao cần phải như vậy? Bởi vì huyết, mạch và khí trên thân thể bạn có tắc nghẽn thì chắc chắn sẽ có bệnh, bạn có thể hoàn toàn giống như thể trong suốt thì sẽ không có bệnh. 

Vậy kim cang quyền phải luyện đến trình độ nào? Thật ra phải luyện đến khi bên trong bạn là rỗng, rỗng và sáng tức là thông suốt, để cho gió bên trong thân thể bạn có thể tuần hoàn, khí có thể tuần hoàn, huyết dịch có thể tuần hoàn. Chuyết hỏa của bạn ở bên trong, minh điểm và hỏa trong một chốc sẽ hòa vào nhau thành màu đỏ, thành một kiểu hiện tượng vừa rỗng vừa sáng, đây là điều chủ yếu nhất của tu pháp kim cang quyền.

Chúng ta làm vận động bảy luân xa, vận động bảy luân xa cũng chính là kim cang quyền. Thân thể vận động để làm lỏng các mạch luân của bạn: đỉnh luân, mi tâm luân, hầu luân, tâm luân, tề luân, sinh thực luân (mật luân), hải để luân, chính là bảy luân xa. Bảy luân xa có các vận động riêng, chính là 6 ngày thể công pháp. Thường xuyên luyện  tập 6 ngày thể công pháp sẽ giúp ích cho thành tựu Nội pháp chuyết hỏa định.

Trong Nội pháp Nhị quán, Căn bản Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật phân Nhị quán thành ba bộ phận: bộ phận thứ nhất chính là pháp Chuyết hỏa, thổi lên linh nhiệt trên thân thể bạn. Pháp thứ hai chính là pháp Vô lậu, tinh khí thần trên thân thể bạn không rò rỉ ra ngoài. Bộ phận thứ ba là pháp Minh điểm, tức là chuyển biến tinh hoa trên thân thể bạn thành thân Phật, ở mức độ sơ cấp thì là xá lợi. Ba bộ phận này có liên quan lẫn nhau, bởi vì thông mạch mới có thể mở năm luân xa, mới có thể dùng minh điểm để thành Phật. Đây là điểm rất đặc thù trong Mật giáo.

---
# File: nghi-quy-tu-tap/a-dat-nhi-ma-phat-adharma-buddha-niem-tung-phap.md
# Title: A Đạt Nhĩ Mã Phật Adharma Buddha niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_407b92accba6fbf900a19282b7bc4f97.png)



## A Đạt Nhĩ Mã Phật Adharma Buddha niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Thỉnh cầu Căn bản Truyền thừa gia trì. Tay kết thủ ấn Căn bản Thượng sư, quán tưởng Căn bản Thượng sư phóng ba ánh sáng trắng, đỏ, lam chiếu đến hành giả, gia trì hành giả tu pháp viên mãn. Niệm chú Căn bản Thượng sư 7 lần. Niệm văn cầu thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật gia trì 1 lần.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô chủ tôn tu pháp A Đạt Nhĩ Mã Phật. (x3)
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê. 

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Mặc giáp hộ thân


Kết thủ ấn chắp tay kim cang, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cang thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Phụng thỉnh bát đại Bồ Tát
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Kim Cang Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Diệu Cát Tường Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.

Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ thất Phật. Vị lai hiền kiếp thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Niệm danh hiệu Phật sáu phương
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyệt Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Hết thảy chúng sinh trung ương, chư vị trong Phật giới, trú ngụ trên mặt đất, cho đến tại không trung, thương lo cho tất cả chúng sinh. Ai cũng an ổn tốt lành. Ngày đêm tu trì. Tâm thường cầu tụng kinh này. Diệt được khổ sinh tử. Tiêu trừ hết độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Tụng bản kinh không ngừng. Thất Phật Thế Tôn. Liền nói chú sau:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-lô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-ki-a-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha” (7 lần)

Mười phương Quan Thế Âm. Hết thảy chư Bồ Tát.
Đã thề cứu chúng sinh. Xướng danh tất giải thoát.

Nếu gặp người trí tuệ. Ân cần mà giảng nói.
Lại có đủ nhân duyên. Đọc tụng không ngơi nghỉ.
Tụng kinh tròn nghìn biến. Niệm niệm tâm không dừng.
Gặp lửa cháy chẳng sao. Việc đao binh cũng thoát.
Nóng giận thành vui vẻ. Chết rồi hóa sống vui.
Đừng nghĩ rằng không đúng. Chư Phật chẳng nói chơi.
Cao Vương Quan Thế Âm. Cứu được hết khổ nạn.
Lúc khó khăn nguy cấp. Người chết còn thành sống.
Chư Phật chẳng nói đùa. Vì vậy nên đảnh lễ.
Niệm tụng trọn nghìn lần. Tội nặng đều tiêu diệt.
Người có phúc tín tâm. Hãy chuyên tâm đọc tụng.

Nguyện mang công đức này. Gửi tới hết chúng sinh.
Tụng tròn một nghìn biến. Tội nặng đều tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (Hết)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_5f150c0f435c0087b719b0cad50df33e.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn A Đạt Nhĩ Mã Phật **


![image](/img/img_37c22116baec4c367e181cf58b74a7ee.jpg)


Hai tay đan nội phộc, hai ngon cái giơ thẳng tựa vào nhau. Giữ thủ ấn trước ngực. 

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Quán tưởng hư không có một chữ Ah (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu trắng biến thành chữ Hum (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu lam. Ngay sau đó lập tức biến thành Bổn tôn A Đạt Nhĩ Mã Phật màu lam, một mặt hai tay, hai tay đều cầm chày kim cang, trang sức bằng các loại châu báu, hai chân ngồi tư thế kim cương kiết già. 

(2) Chữ “Uân” trong tâm của Phật Phụ:


![image](/img/img_906f6aaa28df41fad7a14e0e0a35ffd8.png)


Trong sát-na phóng tỏa ánh sáng mạnh mẽ. Ánh sáng phản hồi đến đùi đang ngồi tư thế kim cương, hóa thành Đại Tự Tại Phật Mẫu. Hai vị ôm lấy nhau. Cả hai vị đều đội vương miện ngọc, vòng tai, chuỗi hạt, vòng hoa bằng ngọc, có tám loại châu báu trang nghiêm. 

Hai vị hiện chín loại tướng tịch tĩnh vi diệu: thon thả, tứ chi mềm mại, đầy đặn, lưng thẳng và nhỏ, trẻ trung, nổi bật, rạng rỡ, trang nghiêm, hỉ lạc. 

(3) Trọng điểm của quán tưởng: ánh sáng mà Phật Phụ Phật Mẫu tỏa ra, đầu mút của ánh sáng đều có một vị Phật, vô lượng quang, có vô lượng Phật, nghìn loại ánh sáng, nghìn vị Phật. Đó là quán tưởng bên ngoài. 

Còn bên trong quán tưởng chính mình là chữ Uân, tự hóa thành A Đạt Nhĩ Mã Phật và Phật Mẫu.


### Phần 14: Trì tâm chú A Đạt Nhĩ Mã Phật 


Tâm chú: Ôm ben-za a-đa-ma ta-tu sô-ha. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Hum), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Đại Lực Kim Cang, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-tê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


![image](/img/img_3573d7aea912ec770781149a31fec964.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng A Đạt Nhĩ Mã Phật 


A Đạt Nhĩ Mã Phật có thân sắc màu lam, một mặt hai tay, hai tay đều cầm chày kim cang, các loại châu báu làm trang sức của ngài, hai chân ngồi tư thế kim cương kiết già, ôm lấy Đại Tự Tại Phật Mẫu. Cả hai vị đều đội vương miện ngọc, vòng tai, chuỗi hạt, vòng hoa bằng ngọc, có tám loại châu báu trang nghiêm. Hai vị đều hiện chín loại tướng tịch tĩnh vi diệu.

Đại Tự Tại Phật Mẫu có thân sắc màu trắng, là thiếu nữ thanh xuân 16 tuổi, thân hình thon thả, tứ chi mềm mại, đầy đặn, lưng thẳng và nhỏ, nổi bật, rạng rỡ, trang nghiêm, hỉ lạc. 

Ánh sáng tỏa ra từ Phật Phụ Phật Mẫu ở đầu mút ánh sáng đều có một vị Phật, trong vô lượng ánh sáng có vô lượng Phật, thù thắng trang nghiêm.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị về lai lịch và sự thù thắng của A Đạt Nhĩ Mã Phật


A Đạt Nhĩ Mã Phật là bậc chí cao chí thượng chí tôn chí thánh, là vị tổng pháp chủ trong số các vị Phật.

A Đạt Nhĩ Mã Phật là nguồn gốc của tất cả, Hiển giáo gọi ngài là Phổ Hiền Vương Như Lai, trong Mật tông ngài chính là Đa Kiệt Khương (Dorje Chang), trong Hồng giáo ngài được gọi là A Đạt Nhĩ Mã Phật, trong Bạch giáo ngài được gọi là Kim Cương Tổng Trì hoặc Kim Cương Trì.

Ngài là một vị Bản Sơ Phật, là vị Phật sớm nhất, là Phật ở địa thứ 16, có thể nói là Phật trong Phật.

Vừa ban sơ vừa nguyên thủy, trong giới Phật giáo, ngài là bậc chí cao, chí thượng, chí tôn, chí thánh, là vị thần thánh nhất, vị lớn nhất.

Ngài và Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang là cùng một vị, bởi vì Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang chính là thân kim cang phẫn nộ của A Đạt Nhĩ Mã Phật, hai vị là một. 

Bản thân A Đạt Nhĩ Mã Phật có rất nhiều hóa thân, từ một vị hóa ra Ngũ Phương Phật, vị Vương Tử tổng hợp của mọi pháp của Ngũ Phương Phật tập hợp lại chính là Kim Cang Tát Đỏa - giáo chủ của Mật giáo. Truyền thừa của A Đạt Nhĩ Mã Phật là vĩ đại nhất.

Cái gọi là pháp Đại Thủ Ấn, pháp Đại Viên Mãn, pháp Đại Viên Thắng Huệ, pháp Đại Uy Đức đều là do A Đạt Nhĩ Mã Phật - cũng chính là Kim Cương Tổng Trì truyền thụ.

A Đạt Nhĩ Mã Phật vốn dĩ không có hình tướng, nhưng nếu làm thành hình tướng của ngài thì ngài có hình tướng màu xanh lam, bởi vì bầu trời có màu xanh lam, cho nên lấy màu sắc của bầu trời tượng trưng cho thân tướng Kim Cương Tổng Trì A Đạt Nhĩ Mã Phật, sự trang nghiêm của mọi vị Phật đều có ở trên thân của Bản Sơ Phật.

A Đạt Nhĩ Mã Phật có điểm đặc biệt là mỗi tia sáng mà ngài phóng ra, ở đầu mút của ánh sáng đều xuất hiện một vị Phật, trong ánh sáng có Hóa Phật, nói cách khác là mỗi tia sáng trên thân ngài đều có một vị Hóa Phật ở trong đó. Tất cả Phật Bồ Tát, tất cả Chư Tôn, Không Hành, Hộ Pháp, toàn bộ đều là hóa thân của ngài. Tám vạn bốn nghìn tia sáng, trong mỗi tia sáng đều có một vị Phật, đây là quán tưởng vĩ đại nhất.

Chú tự của A Đạt Nhĩ Mã Phật cực kì quan trọng, rất ít người biết chú tự của A Đạt Nhĩ Mã Phật, chú tự này là quan trọng nhất. 

Ban đầu là từ chữ Ah hóa sinh, trong tâm của A Đạt Nhĩ Mã Phật có một chữ, chữ này đọc là “Uân”, chính là chữ “Uân” mà mỗi lần Sư Tôn làm pháp hội đều nói “Uân”, chính là đang niệm A Đạt Nhĩ Mã Phật. 

Chú ngữ của A Đạt Nhĩ Mã Phật là “Om benza adharma tatu soha”, trong đó benza chúng ta thường xuyên nghe thấy, biểu thị trí huệ lớn nhất. Adharma là tên của bản thân ngài, tatu là No.1, là số một, ngoài Đại Nhật Như Lai và A Đạt Nhĩ Mã Phật ra thì hầu như không có vị nào có hai chữ tatu. 

Thủ ấn của A Đạt Nhĩ Mã Phật, một cái đại diện cho dương, một cái đại diện cho âm, một cái đại diện cho trí huệ, một cái đại diện cho phương tiện, trí huệ và phương tiện kết hợp. Vì thế A Đạt Nhĩ Mã Phật mà chúng ta nhìn thấy đều là tướng song thân, tướng song thân biểu thị sự kết hợp của Phương tiện và Trí huệ, cũng biểu thị sự kết hợp của Không và Lạc, cũng biểu thị sự kết hợp của Trí huệ và Từ bi. 

Nghĩa gốc của A Đạt Nhĩ Mã Phật chính là vị Phật đầu tiên trong Cao Vương Kinh, chính là Tịnh Quang Bí Mật Phật, ngài chính là A Đạt Nhĩ Mã Phật. Tịnh Quang chính là ánh sáng, Bí Mật kì thực chính là tính Không, chính là Phật tính, ánh sáng và tính Không kết hợp lại thành Tatu - vị Phật số một, cũng chính là Tịnh Quang Bí Mật Phật.

Quang minh chính là tác dụng của Phật, bí mật và tính Không chính là bản thể của Phật, chính là Phật tính. Hiểu được điều này thì có thể hiểu được thế nào gọi là Tịnh Quang Bí Mật Phật. Tịnh Quang Bí Mật Phật, một điểm rất quan trọng là tu hành đến sau cùng phải thấy Phật tính, nhưng Phật tính rất khó thấy được, có người cả đời cũng chẳng thấy Phật tính, trong một đời này đều không thấy, thậm chí chúng sinh trong lục đạo luân hồi đều không thấy Phật tính, bởi vì bản thân họ có nghiệp tồn tại. Phải tiêu trừ hết các nghiệp này thì Phật tính mới có thể hiển hiện ra được.

Mỗi một thangka đều là trời tròn đất vuông: “Thiên viên địa phương, luật lệnh cửu chương, nay ta tu hành, hồi quy trung ương”. Cái gọi là thiên viên địa phương chính là phù hiệu của A Đạt Nhĩ Mã Phật, ở bên trong là một vòng tròn, bên ngoài là một hình vuông, ở giữa là một điểm, vòng tròn bên ngoài là trời tròn, tiếp theo hình vuông bên ngoài là đất vuông. Cái này chính là “Thiên viên địa phương, luật lệnh cửu chương, nay ta tu hành, hồi quy trung ương”. 

Chỉ cần được quán đảnh A Đạt Nhĩ Mã Phật, học niệm tụng pháp của A Đạt Nhĩ Mã Phật, tương ứng với ngài, thì không vào tam ác đạo, trong vòng bảy đời có thể thành Phật. A Đạt Nhĩ Mã Phật là vĩ đại nhất, không có vị nào to lớn hơn ngài.

A Đạt Nhĩ Mã Phật là Phật ở địa thứ 16, còn ý nghĩa của 16 địa chính là:

Hai địa Quán đảnh: lúc ban sơ, vũ trụ không có gì cả, Bản Sơ Phật đã tuôn chảy ra một điểm, sau khi tuôn chảy ra thì lại thu về. Sau đó lại tuôn chảy, lại thu về, cứ chảy ra thu về như thế, vòng tuần hoàn liên tục, cứ chảy ra lại thu về, chính là nhị địa. 

Trong sát-na, hành giả sẽ có được quán đảnh, cho nên chỉ cần bạn có thể nghiêm túc tu pháp, quán tưởng Bổn tôn, Bổn tôn sẽ quán đảnh gia trì cho bạn, bất luận là Bổn tôn bên ngoài gia trì hay là Bổn tôn bên trong xuất hiện đều là quán đảnh, cho nên đệ tử Mật giáo có dòng chảy pháp liên tục.

Hai địa Pháp Vương: A Đạt Nhĩ Mã Phật là tổng pháp chủ, được xem là số một trong vũ trụ. Còn “bản sơ” và “mạt thế” đều là ngang hàng, không có phân biệt. Toàn bộ vũ trụ chính là A Đạt Nhĩ Mã Phật. 

Hai địa Đồng chân: đồng tử chính là đồng chân, mười phương pháp giới hợp lại chính là A Đạt Nhĩ Mã Phật. Toàn bộ vũ trụ chỉ là sự diễn hóa, địa ngục ngạ quỷ súc sinh đều là A Đạt Nhĩ Mã Phật hóa ra. Tất cả tịch tĩnh tiến nhập thái hư, tất cả đều là bình đẳng.

Hai địa Bất thối: A Đạt Nhĩ Mã Phật vốn dĩ luôn tồn tại, hoàn toàn không thối chuyển, hoàn toàn bất biến. Thân thể và tâm của A Đạt Nhĩ Mã Phật là không hai, là không thối lùi, không tăng không giảm.

Hai địa Chính tâm: không hiển thì như không, hiển thì như tâm, hiển hay không hiển đều là A Đạt Nhĩ Mã Phật đại viên mãn. Sinh, tử đều tốt, đều là hai địa chính tâm.

Hai địa Phương tiện: nếu hiển hiện thì là phương tiện, nếu không hiển hiện ra thì cũng là phương tiện. Đây chính là hai địa phương tiện.

Hai địa Trí huệ: chính là trí, thiên cũng là trí, cho nên trí huệ thập phương đều có đủ, trí huệ chính hay thiên đều có đủ, cho nên Phật hay Ma là như nhau.

Hai địa Bí mật: bí mật hiển hiện ra và không hiển hiện ra đều là như nhau. 

Tổng cộng lại 16 địa trên chính là “giác”, chính là “khai ngộ”.


![image](/img/img_97574180f787be7eeca74dba2300fc0a.jpg)


Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/a-di-da-phat-niem-tung-phap.md
# Title: A Di Đà Phật niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_ce6f45a9ba889aa949597312a3068145.jpg)



## A Di Đà Phật niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Thỉnh cầu Căn bản Truyền thừa gia trì. Tay kết thủ ấn Căn bản Thượng sư, quán tưởng Căn bản Thượng sư phóng ba ánh sáng trắng, đỏ, lam chiếu đến hành giả, gia trì hành giả tu pháp viên mãn. Niệm chú Căn bản Thượng sư 7 lần. Niệm văn cầu thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật gia trì 1 lần. 

- Quán tứ vô lượng tâm.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô chủ tôn tu pháp A Di Đà Phật. (x3)
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tát cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê. 

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Mặc giáp hộ thân


Kết thủ ấn chắp tay kim cang, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li.(7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cang thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Phụng thỉnh bát đại Bồ Tát
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Kim Cang Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Diệu Cát Tường Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.

Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ thất Phật. Vị lai hiền kiếp thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Niệm danh hiệu Phật sáu phương
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyệt Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Hết thảy chúng sinh trung ương, chư vị trong Phật giới, trú ngụ trên mặt đất, cho đến tại không trung, thương lo cho tất cả chúng sinh. Ai cũng an ổn tốt lành. Ngày đêm tu trì. Tâm thường cầu tụng kinh này. Diệt được khổ sinh tử. Tiêu trừ hết độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Tụng bản kinh không ngừng. Thất Phật Thế Tôn. Liền nói chú sau:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-lô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-ki-a-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha” (7 lần)

Mười phương Quan Thế Âm. Hết thảy chư Bồ Tát.
Đã thề cứu chúng sinh. Xướng danh tất giải thoát.

Nếu gặp người trí tuệ. Ân cần mà giảng nói.
Lại có đủ nhân duyên. Đọc tụng không ngơi nghỉ.
Tụng kinh tròn nghìn biến. Niệm niệm tâm không dừng.
Gặp lửa cháy chẳng sao. Việc đao binh cũng thoát.
Nóng giận thành vui vẻ. Chết rồi hóa sống vui.
Đừng nghĩ rằng không đúng. Chư Phật chẳng nói chơi.
Cao Vương Quan Thế Âm. Cứu được hết khổ nạn.
Lúc khó khăn nguy cấp. Người chết còn thành sống.
Chư Phật chẳng nói đùa. Vì vậy nên đảnh lễ.
Niệm tụng trọn nghìn lần. Tội nặng đều tiêu diệt.
Người có phúc tín tâm. Hãy chuyên tâm đọc tụng.

Nguyện mang công đức này. Gửi tới hết chúng sinh.
Tụng tròn một nghìn biến. Tội nặng đều tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (Hết)!

**Niệm thêm chú vãng sinh:** (7 biến)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha.  


### Phần 8: Quán tưởng 



![image](/img/img_3ee6c4f385813581a1f97e9eea2a3a8e.jpg)


**Kết ấn: **

Hai tay kết định ấn: đặt hai tay ở vị trí dưới luân xa rốn, lòng bàn tay ngửa lên, bàn tay phải đặt lên bàn tay trái. Ngón trỏ và ngón cái của mỗi bàn tay chạm vào nhau tạo thành vòng tròn. 
Hoặc có thể kết ấn căn bản: hai bàn tay đan vào nhau tạo thành nắm đấm, hai ngón giữa dựng thẳng lên chạm vào nhau và cong lại thành vòng tròn, đặt trước ngực.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời trong vạn dặm không mây, một vầng mặt trăng từ dưới biển nhô lên không trung, ở chính giữa vầng mặt trăng có một chủng tự chữ Seh (tiếng Phạn) màu đỏ phóng ra ánh sáng đỏ.

(2) Chữ Seh ở giữa vầng mặt trăng quay tròn hóa thành A Di Đà Phật, hai tay ngài kết định ấn, nâng một cái bát đựng đầy cam lộ, ánh mắt từ bi nhìn chúng sinh.

(3) Quán tưởng cái bát trong tay A Di Đà Phật, cam lộ ở trong bát hóa thành một dòng ánh sáng trắng, dâng lên tạo thành vòng cung, từ đỉnh đầu của hành giả Mật tông dội xuống, thân thể của hành giả trở nên trong suốt, hoặc trắng trong như thủy tinh, nghiệp chướng đều tiêu trừ. (Hoặc quán tưởng hoa sen trên tay phóng ra ánh sáng trắng chiếu đến hành giả cũng được.)


### Phần 9: Trì tâm chú Bổn tôn A Di Đà Phật


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị A Di Đà Phật đến trước mặt mình.

**Chú ngữ:**

Ôm a-mi-tê-wa sê. (108 biến)


### Phần 10: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Seh), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Bổn tôn A Di Đà Phật, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 11: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 

Tụng tán: 

Tịnh nguyện trang nghiêm an lạc lợi
Phổ tế trọc thế chư hữu tình
Tây phương tiếp dẫn chứng vô sinh
A Di Đà Phật con kính lễ.


### Phần 12: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-tê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 13: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 14: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 15: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. xin đem công đức này hồi hướng. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 17: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


![image](/img/img_27e5cbd540c888a3e9df4f249a9d82ae.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng A Di Đà Phật


A Di Đà Phật thân màu đỏ, khoác áo cà sa, ngồi tư thế kiết già trên đài hoa sen nghìn cánh, hai tay kết định ấn, cầm bình bát đựng đầy cam lộ, ánh mắt từ bi nhìn chúng sinh.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị lai lịch vĩ đại của A Di Đà Phật và yếu quyết tu pháp


A Di Đà Phật là một trong tam căn bản của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Có 48 đại nguyện A Di Đà Phật độ sinh vô lượng, còn có một tên gọi rất đẹp đẽ là “Di Đà của mọi nhà”. 

Trong Mật giáo, A Di Đà Phật là một trong ngũ trí của hệ Đại Nhật Như Lai, sống tại Tây phương diệu quan sát tam muội. Trong Thai Tạng Giới, ngài ở vị trí phía tây của Viện Trung Đài Bát Diệp, trong Kim Cương Giới, ngài ở vị trí phía tây của Ngũ Giải Thoát Luân, là Như Lai phương tiện trí.

A Di Đà Phật có ba tên gọi: Hiển giáo gọi là Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Quang Phật, Mật giáo gọi là Cam Lộ Vương Như Lai. Ngoài ra còn có 13 Phật hiệu khác là: Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Quang Phật, Vô Biên Quang Phật, Vô Ngại Quang Phật, Vô Đối Quang Phật, Diễm Vương Quang Phật, Thanh Tịnh Quang Phật, Hoan Hỷ Quang Phật, Trí Huệ Quang Phật, Bất Đoạn Quang Phật, Nan Tư Quang Phật, Vô Xứng Quang Phật, Siêu Nhật Nguyệt Quang Phật.

A Di Đà Phật còn có thân Chính Pháp Luân và thân Giáo Lệnh Luân. Thân Chính Pháp Luân là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, thân Giáo Lệnh Luân là Đại Uy Đức Kim Cang. Tây phương Tam Thánh chính là A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát.

Phật thuyết Đại A Di Đà Kinh có hai quyển. Một quyển do tiến sĩ Vương Nhật Hưu triều Tống đính chính. Quyển kia là “A Di Đà Tam Gia Tam Phật Tát Lâu Phật Đàn Quá Độ Nhân Đạo Kinh” (còn gọi là Đại A Di Đà Kinh), nội dung của nó là: Phật thuyết Hóa Thân Đồng Tử, mà Hóa Thân Đồng Tử tức là Liên Hoa Đồng Tử.

Hành giả Chân Phật Tông thường niệm “Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật” cũng chính là Hóa Thân Đồng Tử, Liên Hoa Đồng Tử. Vì thế, Liên Hoa Đồng Tử chính là A Di Đà Phật. A Di Đà Phật dùng hoa sen làm ký hiệu.

Bản địa của Liên Hoa Đồng Tử chính là A Di Đà Phật, lấy hiệu là Liên Sinh Hoạt Phật, tức là ý nghĩa hóa sinh từ hoa sen, chính là A Di Đà Phật.

Về sự giáo độ của chư Phật tại thế giới Ta Bà thì A Di Đà Phật là số một. Tây phương Cực Lạc thế giới có cảnh giới tam phẩm cửu sinh. Hành giả chỉ cần nhất tâm bất loạn tin chắc vào bản nguyện của A Di Đà Phật là có thể thành tựu vãng sinh Tây phương Cực Lạc thế giới.

Tại tịnh thổ của A Di Đà Phật, trong cửu phẩm liên hoa sinh, ngay cả người có phá giới phạm mười điều ác và người phạm ngũ nghịch trọng tội cũng có thể vãng sinh được đến đây chỉ bởi vì lúc lâm chung họ một lòng niệm Phật, từ đó có thể thấy sự siêu nhiên của thế giới Cực Lạc. Bản nguyện của A Di Đà Phật thật sự vĩ đại, đây là vị Phật Vô Lượng Thọ độ sinh đệ nhất.

Sự thù thắng của Tây phương Cực Lạc thế giới của A Di Đà Phật là tại đây có bốn loại tịnh thổ: Phàm Thánh Đồng Cư, Phương Tiện Hữu Dư, Thực Báo Trang Nghiêm, và Thường Tịch Quang. Đặc biệt, cõi Phàm Thánh Đồng Cư lại có thể mang nghiệp vãng sinh, là một đại phương tiện, tại Liên Hoa Thắng Cảnh, tâm sinh diệt của phàm phu sẽ chuyển thành tâm bồ đề bất sinh bất diệt.

Vì sao Tây phương Cực Lạc thế giới lại nổi danh như vậy? Căn cứ theo nghiên cứu của Ấn Thuận Đạo Sư, người Ấn Độ khá tôn sùng mặt trời chiều, tương đối sùng bái cảm giác khi mặt trời sắp lặn sau núi. Họ yêu thích sự huy hoàng và thê lương lúc mặt trời lặn, vì vậy họ phát sinh cảm giác ấy, bởi vì một ngày sắp trôi qua rồi. Cho nên từ đầu tới cuối họ đều vô cùng sùng bái buổi tà dương. Tà dương chắc chắn là ở phía Tây, ở Ấn Độ, ý nghĩa của việc Phật ở Tây phương Cực Lạc chủ yếu là vì liên quan đến việc họ sùng bái tà dương. Vì thế mà Tây phương Cực Lạc thế giới cực kì nổi tiếng. “Tà dương đẹp vô hạn, chỉ vì sắp hoàng hôn.” Tà dương phô bày ánh sáng vô cùng huy hoàng, nhưng lại có một cảm giác thê lương, cái cảm giác ngày hôm nay sắp kết thúc rồi. Vì thế, Tây phương Cực Lạc thế giới vô cùng nổi danh.

Từng có người hỏi Norlha Rinpoche: “Pháp lớn nhất của Mật giáo là gì?”
Ngài ấy nói một câu: “Pháp lớn nhất của Mật giáo là Di Đà đại pháp.”
Từng có người hỏi tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn):
”Ngài cả đời tu hành, từng học Đạo, học Hiển, học Mật, vậy chí hướng nằm ở đâu?”
Tôi đáp: “Tây phương tịnh thổ.”
”Vì sao là Tây phương tịnh thổ?”
”Trong chư Phật, bi nguyện của A Di Đà Phật là lớn nhất, lời nguyện mà tôi đã đưa ra chính là hợp với lời nguyện của Phật che chở chúng sinh. Di Đà đại pháp giống pháp môn niệm Phật của Tịnh Độ Tông, hoàn toàn chỉ có niệm A Di Đà Phật, cũng tức là trì minh niệm Phật, rất nhiều người đều tu được pháp này, đây gọi là dị hành đạo (đạo dễ tu), đối với bản thân một tín đồ Phật giáo bình thường mà nói thì tương đối dễ làm. Mỗi ngày khi phải đi ra ngoài thì niệm “thập niệm pháp”, chính là hít vào một hơi, sau đó liên tục niệm, niệm đến khi hết một hơi khí đó. Rồi lại hít vào một hơi sau đó liên tục niệm đến khi hơi khí đó hết. Niệm 10 lần như vậy là có thể đi ra ngoài. 

Tiến thêm một bước nữa là quán tướng niệm Phật. Bình thường ở Seattle, Liên Sinh Hoạt Phật sẽ dẫn các đệ tử nhiễu Phật, khi nhiễu Phật thì quán tưởng hình tướng của A Di Đà Phật cao như cây thông, hoặc cao hơn cả cây thông, gần như là một vị A Di Đà Phật cao tới trời ở trước mặt mình, vừa đi vừa niệm, liên tục tưởng nhớ Phật. Đây gọi là quán tướng niệm Phật, nghĩ đến hình tướng của Phật mà niệm Phật.

Nếu ở trước đàn thành tu pháp thì lại biến A Di Đà Phật thành một vị rất nhỏ, có màu vàng kim và phóng quang, trên tay cũng cầm hoa sen, một tay kết ấn ban nguyện, một tay kết ấn cầm hoa sen, một vị A Di Đà Phật nhỏ ngự ở trước trán, ở vị trí thượng đan điền. Và cũng có thể quán tưởng ngài to lớn như hư không, vừa quán tưởng vừa niệm Phật.

A Di Đà Phật rất vĩ đại, trong số chư Phật, chúng sinh niệm nhiều nhất là A Di Đà Phật. Bởi vì sức mạnh độ chúng sinh của ngài là lớn nhất, lại còn là vô lượng quang, vô lượng thọ, duyên phận của ngài với chúng sinh là sâu nhất lớn nhất.

Trong “Long Thư Tịnh Thổ Văn”, A Di Đà Như Lai có một hiệu đặc biệt, là “Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật”, chúng ta niệm Phật, một lúc là đã niệm được “Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật” rồi.

Niệm Phật là phương tiện! Niệm xong A Di Đà Phật còn cần niệm Quan Thế Âm Bồ Tát, cần niệm Đại Thế Chí Bồ Tát. Với Quan Thế Âm Bồ Tát thì niệm “Ôm ma-ni pê-mi hùm”, còn Đại Thế Chí Bồ Tát thì niệm “Ôm xuy-xuy xua sô-ha”. Bình thường tôi niệm Phật như vậy.

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/ai-nhiem-minh-vuong-niem-tung-phap.md
# Title: Ái Nhiễm Minh Vương niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_78c95f94f1eea3ef0a12baffcde0a661.jpg)



## Ái Nhiễm Minh Vương niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Ái Nhiễm Minh Vương.

(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha.  


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_cbc6a8b0f252bc7396830815056d41f0.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn **Ái Nhiễm Minh Vương

Hai tay đan nội phộc, hai ngón giữa giơ lên bắt chéo nhau.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Quán tưởng trong hư không có một vầng mặt trời, trong mặt trăng có một chủng tử chữ Hum (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu đỏ, chữ Hum xoay tròn hóa thành một vị Ái Nhiễm Minh Vương từ trong ánh mặt trời giáng xuống.

(2) Ái Nhiễm Minh Vương có một mặt sáu tay, trên đỉnh đầu đội mũ có chày kim cang chữ thập, tóc màu đỏ dựng đứng, tướng kim cang trừng mắt uy mãnh. Mỗi cánh tay đều cầm pháp khí. Cặp cánh tay thứ nhất, tay phải cầm hoa sen, tay trái cầm chuỗi niệm hạt. Cặp cánh tay thứ hai, tay trái cầm cung, tay phải cầm tên. Cặp cánh tay thứ ba, tay trái cầm chuông để thấp dưới ngực, tay phải cầm chày giơ cao lên ngực. Toàn thân tỏa ra ánh sáng đỏ, ngồi trên bình cam lộ hoa sen nghìn cánh.

(3) Quán tưởng thiên tâm của Ái Nhiễm Minh Vương phóng ra một đường ánh sáng trắng chiếu đến thiên tâm của hành giả, họng của ngài phóng ra một đường ánh sáng đỏ chiếu đến họng của hành giả, tim của ngài phóng ra một đường ánh sáng lam chiếu đến tim của hành giả. Ba ánh sáng trắng, đỏ, lam hòa nhập vào thân tâm hành giả, gia trì cho hành giả.


### Phần 14: Trì tâm chú Ái Nhiễm Minh Vương


Ái Nhiễm Minh Vương chân ngôn: Om mahala furila suanisha furila satanfu reh hum hu. (108 biến)

Tâm chú: Hùm cha-chi-hùm rưa. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Hum), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Ái Nhiễm Minh Vương, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


![image](/img/img_815b646b1550f89ac12ce2cf0c9844f9.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Ái Nhiễm Minh Vương


Ái Nhiễm Minh Vương một mặt sáu tay, trên đỉnh đầu đội mũ có chày kim cang chữ thập, tóc màu đỏ dựng đứng, con mắt kim cang trợn trừng uy mãnh. Sáu tay đều cầm pháp khí. Cặp cánh tay thứ nhất, tay phải cầm hoa sen, tay trái cầm chuỗi niệm hạt. Cặp cánh tay thứ hai, tay trái cầm cung, tay phải cầm tên. Cặp cánh tay thứ ba, tay trái cầm chuông để thấp dưới ngực, tay phải cầm chày giơ cao lên ngực. Toàn thân tỏa ra ánh sáng đỏ, ngồi trên bình cam lộ hoa sen nghìn cánh.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị về lai lịch của Ái Nhiễm Minh Vương và pháp yếu tu trì


Ái Nhiễm Minh Vương là do Đại Nhật Như Lai Tì Lô Giá Na Phật tiến nhập vào trong tâm của Phổ Hiền Bồ Tát rồi hóa sinh ra, ngài cũng là một vị Bồ Tát rất vĩ đại.

Ái Nhiễm Minh Vương còn được gọi là một vị đại Minh Vương thù thắng nhất trong số tất cả yoga, Ái Nhiễm Minh Vương chính là hóa thân của Kim Cang Tát Đỏa. Ái Nhiễm Minh Vương là biến hóa thân của Kim Cang Tát Đỏa, nên cũng chính là biến hóa thân của Pháp Vương Tử.

Một cách nói khác là, Tì Lô Giá Na Phật tiến nhập Phổ Hiền Bồ Tát, tâm của Phổ Hiền Bồ Tát biến hóa thành Ái Nhiễm Minh Vương, cho nên uy lực của ngài rất lớn. 

Hiển giáo không có Kim Cang Tát Đỏa, bởi vì Kim Cang Tát Đỏa là Pháp Vương Tử của Mật giáo, Pháp Vương Tử của trí huệ là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Pháp Vương Tử của từ bi là Quan Thế Âm Bồ Tát. Pháp Vương Tử của Tiểu thừa là Xá Lợi Phất. Hiển giáo cũng coi Kim Cang Tát Đỏa là Phổ Hiền Bồ Tát, họ cho rằng Phổ Hiền Bồ Tát biến hóa thành Kim Cang Tát Đỏa, cũng có cách nói như vậy. Có pháp sư Hiển giáo nói rằng Kim Cang Tát Đỏa của Mật giáo chính là Phổ Hiền Bồ Tát.

Trong Đông mật, Ái Nhiễm Minh Vương cũng chính là Chân Ngôn Tông của Nhật Bản, ngài rất nổi tiếng, trong Tạng mật cũng vậy.

Ái Nhiễm Minh Vương có điểm rất đặc biệt. Bình cam lộ của Ái Nhiễm Minh Vương là từ chữ “Seh” biến hóa ra, dùng chữ “Pan” biến hóa ra hoa sen, dùng chữ “Hum” biến hóa ra Ái Nhiễm Minh Vương. Ái Nhiễm Minh Vương ngồi trên hoa sen, bên dưới hoa sen là một bảo bình, cũng chính là một cái tịnh bình, đây là một điểm đặc thù của ngài. Ngài có hình tướng là một đầu sáu tay. Ái Nhiễm Minh Vương ở Nhật Bản tay phải đặt trước ngực cầm chày kim cang, lòng bàn tay ngửa lên trên, một tay cầm hoa sen, một tay cầm chuỗi niệm hạt, hai cánh tay ở giữa thì cầm chày kim cang và chuông kim cang, một cánh tay khác thì cầm cung, một cánh tay khác thì cầm tên. Tổng cộng ngài có sáu cánh tay, là hình tướng một đầu sáu tay.

Chú ngữ của Ái Nhiễm Minh Vương là “Hum chachihum reh”. Đầu tiên niệm “Hum”, một chữ đơn thôi, sau đó niệm ba chữ “Cha chi hum”, cuối cùng niệm chữ “Reh”, đừng đọc chữ “Hum” thứ hai liền với chữ “Reh”. 

Pháp triệu thỉnh Ái Nhiễm Minh Vương phải kết thủ ấn Ái Nhiễm Minh Vương, niệm chú Ái Nhiễm Minh Vương “Hum chachihum reh”. Cách triệu thỉnh là hai tay đan nội phộc rồi hai ngón giữa giơ lên đặt chéo nhau, tức là ái nhiễm. Bạn triệu thỉnh ngài như vậy thì rất nhanh chóng ngài sẽ đến, rất nhanh chóng ngài sẽ hạ giáng lên người bạn, như thế là triệu thỉnh được ngài đến, tự nhiên ngài sẽ hạ giáng. Đây chính là khẩu quyết.

Ái Nhiễm Minh Vương là một vị Bổn tôn kính ái rất uy lực, ví dụ vợ chồng không hạnh phúc, muốn kết bạn trai bạn gái hoặc có được sự yêu mến lớn, muốn làm Tổng thống hoặc làm nghệ sĩ, muốn trở nên rất có duyên với mọi người, muốn có rất nhiều quý nhân xuất hiện, muốn tu hành thành công có bạn đạo, muốn tu hành có người trợ giúp, muốn đi học có rất nhiều người giúp đỡ bạn, muốn làm ruộng kêu gọi được rất nhiều công nhân đến phụ trách giúp đỡ bạn làm, muốn làm kinh doanh có tài nguyên dồi dào không bao giờ cạn, đều phải tu Ái Nhiễm Minh Vương. Ái Nhiễm Minh Vương và Kurukulle Phật Mẫu là hai vị Bổn tôn kính ái cực kì quan trọng của Chân Phật Tông.


### Các pháp có liên quan đến pháp Ái Nhiễm Minh Vương mà Liên Sinh Hoạt Phật từng truyền thụ


1. Pháp giúp tương ứng Bổn tôn

Tu hành Mật giáo, bạn niệm chân ngôn chú, tu các loại pháp mà đều không có cảm ứng gì, chỉ cần trì 300.000 biến chú Ái Nhiễm Minh Vương thì có thể rất nhanh có được cảm ứng.

Ái Nhiễm Minh Vương có pháp lực rất lớn, bạn hướng đến ngài cầu nguyện cho bạn tương ứng với Bổn tôn thì sẽ rất dễ dàng tương ứng. Cho nên mỗi người đều phải niệm chú của vị này, bởi vì ngài thuộc về ái nhiễm. 

Chỉ cần niệm đủ 300.000 biến, sau đó lại tu Bổn tôn thì rất nhanh chóng sẽ tương ứng! Bởi vì ngài là ái nhiễm, ý nghĩa của ái nhiễm chính là “để cho bạn bị nhiễm”. 

1. Pháp đoạn ác

Chỉ cần vẽ tranh Ái Nhiễm Minh Vương, vẽ xong thì treo ở hướng tây, mặt quay về hướng đông, niệm đủ 300.000 biến chú Ái Nhiễm Minh Vương xong, làm theo pháp cung tên của ngài. Một tay cầm cung, một tay cầm tên, mặt nhìn thẳng về phía trước, quán tưởng kẻ đối địch với bạn trong mắt bạn ở trước mặt bạn, bắn một cái, mũi tên bay đến người đó. Đây gọi là pháp đoạn ác. Như vậy người này từ đó về sau sẽ không đối đầu với bạn nữa.

Phương pháp thứ hai của pháp đoạn ác là chọn ngày Trừ nhật, sau giờ Ngọ để tu pháp. Hành giả đứng trước tượng/ảnh, mặt quay về hướng đông, hai tay tạo thế bắn tên, niệm 108 biến chú Ái Nhiễm Minh Vương, quán tưởng kẻ thù của mình ở trước mặt, bắn tên ra, kẻ thù này sẽ lập tức rút lui.

1. Pháp vẽ tranh

Trong Mật giáo rất coi trọng vẽ tranh, bởi vì khi vẽ tranh bạn sẽ rất chuyên tâm, cứ thế vẽ một mạch. Bạn dùng tâm treo bức họa tướng của Ái Nhiễm Minh Vương lên thì bức họa ấy sẽ có sức mạnh, bởi vì cái thần của ngài đã ở trên bức tranh rồi.

Pháp vẽ tranh, bạn vẽ tranh Ái Nhiễm Minh Vương một thời gian lâu, bạn ghi nhớ trong tâm, như thế rất dễ tương ứng với ngài.

1. Pháp kính ái

Thời gian làm Hộ Ma phải chọn trong khoảng ngày 16 đến 30 âm lịch để tu pháp Hộ Ma. Lập đàn thành Hỏa cúng hình hoa sen bán nguyệt. Hoa quả, thức ăn, quần áo dâng cúng đều phải là màu đỏ. Ném 108 hạt trong nhị hoa sen màu đỏ vào trong lò Hộ Ma để đốt. Khi niệm chú phải niệm: “Hum chachihum reh. Sắc lệnh cho A và B đại kính ái.” (Lưu ý: Pháp này chỉ ban cho người chân tâm thành ý, người có tà niệm dù tu cũng không được ban cho thành tựu.)

1. Pháp cam lộ thủy

Ái Nhiễm Minh Vương ngồi trên bình cam lộ, từ trong bình cam lộ mọc lên một thân hoa sen, thân hoa sen lại nở ra hoa sen nghìn cánh, trên hoa sen nghìn cánh lại biến hóa ra một vị Ái Nhiễm Minh Vương. Ái Nhiễm Minh Vương từ chữ “Hum” hóa ra. Hoa sen là từ chữ “Pan” hóa ra, còn bình cam lộ là từ chữ “Seh” hóa ra. Quán tưởng Ái Nhiễm Minh Vương di chuyển đến trên đầu bạn, từ bình cam lộ của ngài nhỏ cam lộ xuống, đi theo trung mạch của bạn mà cam lộ tràn đầy toàn thân bạn. Nghiệp chướng trên toàn thân bạn đều được tiêu trừ hết. Có thể quán tưởng cam lộ thành màu đỏ, bởi vì Ái Nhiễm Minh Vương là màu đỏ. Lúc này toàn thân bạn tràn đầy cam lộ màu đỏ rồi, như thế là bạn thanh tịnh rồi, sẽ rất dễ đến Phật quốc tịnh thổ.

1. Pháp khắc tượng

Đặt người ta khắc tượng Ái Nhiễm Minh Vương cao bằng ngón cái tay phải của bạn, với kích thước rộng, dài, cao bằng ngón tay cái, bởi vì ngài muốn ấn tâm với bạn, tức là in vào trong tâm bạn. Niệm đủ 300.000 biến chú Ái Nhiễm Minh Vương thì ngài sẽ tương ứng với bạn. Bạn đi đến đâu thì người ở đó cũng sẽ yêu kính bạn, tất cả mọi điều yêu mến đều hiển hiện trên người bạn.

Pháp khắc tượng này dùng khi bạn muốn bảo vệ bản thân, không trúng độc, không trúng bùa ngải, không trúng tà thuật của người khác, vậy thì bạn hãy khắc tượng Ái Nhiễm Minh Vương. Sau đó đeo ở trước ngực bạn.

Giả sử đeo tượng Ái Nhiễm Minh Vương rồi, bạn nảy sinh tình cảm với người nào đó, hi vọng Ái Nhiễm Minh Vương sẽ giúp đỡ bạn, để đối phương cũng có tình cảm với bạn, bạn chỉ cần trì chú 7 biến, đọc tên của đối phương, hoặc “sắc lệnh cho A và B yêu nhau” là sẽ thành.

Ngoài ra, trên người có đeo tượng của Ái Nhiễm Minh Vương, niệm đủ 300.000 biến chú, khi đi máy bay bạn niệm 7 biến, ngồi thuyền niệm 7 biến, đi tàu hỏa niệm 7 biến, ngồi xe ô tô niệm 7 biến, ngồi trên bất kì phương tiện giao thông nào, đi đường, đi bộ niệm 7 biến, đến bất kì nơi nào cũng niệm 7 biến, thì sẽ không xảy ra tai họa gì.

1. Pháp trừ ma

Trước tiên quán tưởng chính mình hóa thành Kim Cang Tát Đỏa. Người có bệnh tâm thần, bị ma nhập, thì quán tưởng trên hai bàn tay có một chữ “Hum” hóa thành Ái Nhiễm Minh Vương, chữ “Hum” trên đỉnh đầu hóa thành Ái Nhiễm Minh Vương, chữ “Hum” trên mặt hóa thành Ái Nhiễm Minh Vương. Biến thân của Kim Cang Tát Đỏa thành thân của Ái Nhiễm Minh Vương, sau đó vỗ vào lưng của người bị tâm thần hoặc bị ma nhập, hoặc bạn niệm “Hum chachihum reh”, vỗ một cái thì con ma ở trên người của người kia tự nhiên sẽ bỏ chạy.

1. Pháp giải độc (Pháp thanh tịnh)

Chỉ cần niệm đủ 300.000 biến chú Ái Nhiễm Minh Vương, gặp bất kì thức ăn nào, niệm 7 biến “Hum chachihum reh” thì sau đó bạn ăn thức ăn này vào sẽ không bị đau bụng, cái không sạch sẽ cũng biến thành sạch sẽ. Người ta làm bùa ngải lên bạn, bỏ vào trong thức ăn, hoặc bỏ thuốc an thần, hoặc thuốc mê, chỉ cần niệm 7 biến “Hum chachihum reh” vào trong nước ngọt (nước có ga) thì thuốc mê kia cũng sẽ mất tác dụng. Tất cả những thứ không tốt đều mất tác dụng và trở thành thanh tịnh. Phàm là những thứ không tốt đều biến thành bình thường. Tất cả những thứ có độc đều biến thành không có độc.

Cho nên nếu bạn trúng bùa ngải, hoặc là trúng độc, ở Tứ Xuyên, Vân Nam, Quảng Đông, Tương Tây, ở các vùng này có một loại cổ [cổ trùng, cổ độc - một dạng tà thuật], chỉ cần bạn tu Ái Nhiễm Minh Vương thì có thể giải trừ được cổ và bùa ngải.

Cho dù bạn đến địa ngục, nhìn thấy rắn độc, chỉ cần niệm 7 biến “Hum chachihum reh” thì con rắn độc ấy sẽ rút lui. Đến địa ngục ăn viên sắt nung đỏ, chỉ cần niệm 7 câu Ái Nhiễm Minh Vương “Hum chachihum reh” thì các viên sắt nung đỏ ấy sẽ biến thành *moon cake* bánh trung thu. Đến địa ngục hố phân, niệm 7 câu “Hum chachihum reh” thì tất cả phân đều biến thành lạp xưởng, những thứ không tốt đều sẽ biến thành tốt.

1. Pháp kính ái nước âm dương của Ái Nhiễm Minh Vương

Phương pháp này là như thế này. Bạn đi mua một chai nước suối, đổ ra một nửa nước để đun nóng, một nửa còn lại vẫn là nước suối. Một nửa nước suối đổ vào trong một cái bát lớn, nửa kia thì đun nóng rồi cũng bỏ vảo trong bát, như thế này gọi là nước âm dương. Đàn thành của bạn có đặt một vị Ái Nhiễm Minh Vương, sau đó bạn thắp hương triệu thỉnh Ái Nhiễm Minh Vương, và niệm chú của ngài. Đặt bát nước này trước Ái Nhiễm Minh Vương để cúng dường, niệm tứ quy y, tứ vô lượng tâm, sám hối, v.v… Sau khi làm xong, bạn ngồi tĩnh tọa, quán tưởng người tâm nghĩa của bạn, tức là người mà trong lòng bạn vô cùng ngưỡng mộ, nữ thì quán tưởng nam, nam thì quán tưởng nữ, không thể nam quán tưởng nam hay nữ quán tưởng nữ được.

Bạn quán tưởng người con gái mà bạn ngưỡng mộ xuất hiện tại hư không, lúc này bạn kết ấn móc câu, bạn dùng móc câu để móc vào váy của cô ấy, sau đó kéo cô ấy vào trong bát nước này, niệm chú là “cha, hum, ban, ho”. Cô ấy sẽ đi vào trong nước, sau đó hóa thành nước. Lúc này bạn lại quán tưởng chính bạn “cha, hum, ban, ho” cũng đi vào trong nước. Sau đó bạn bắt đầu kết thủ ấn Ái Nhiễm Minh Vương, bạn quán tưởng người yêu và bạn ở trong nước ôm lấy nhau như thế này, sau đó bạn bắt đầu trì chú. Khi bạn quán tưởng hai người xong rồi, hai người đều ở trong nước ôm lấy nhau, sau đó bạn kết thủ ấn và bắt đầu niệm chú Ái Nhiễm Minh Vương “Hum chachihum reh”, niệm 108 biến, đến câu thứ 108 thì bạn niệm “Hum chachihum A và B kính ái viên mãn reh”. 

Sau khi bạn niệm 108 biến, trong bát đã có sức mạnh của một lần tu pháp, bạn lại tu lần thứ hai, lần thứ ba, lần thứ tư, lần thứ năm, lần thứ sáu, lần thứ bảy, lấy bảy làm con số. Bạn tu bảy đàn là được rồi, bạn lại đổ nước này trở lại chai nước suối, khi bạn gặp cô gái kia thì đưa nước suối này cho cô ấy uống. Nếu bạn không hòa hợp với vợ bạn, bạn cũng có thể dùng phương pháp này. Ở trong nước canh, bạn có thể nhỏ một ít nước âm dương vào trong canh, không cần phải cho toàn bộ vào, ăn nhiều lần cũng được. Nói tóm lại, chỉ cần đối phương uống nước âm dương rồi thì sẽ có cảm giác, cảm giác sẽ sinh ra.

Ví dụ, người con trai kia bình thường không để mắt đến bạn, đột nhiên anh ta sẽ để ý bạn, cảm thấy bạn thật đẹp, thấy bạn trở nên xinh hơn, bỗng dưng anh ta cảm thấy “mình nên làm bạn với cô ấy”, “đây là người mình yêu nhất”, là như vậy đấy.

Nhưng tôi nói để bạn biết, người học Phật không được làm loạn, tì kheo ni xuất gia, tì kheo xuất gia, các Thượng sư của chúng ta, mặc dù biết phương pháp này, nhưng không được làm loạn. Ở đây đều đòi hỏi chính duyên, tôi nói đến chính duyên, tức là bạn và người đó có duyên phận, và làm pháp để cho duyên phận xảy ra nhanh hơn, hơn nữa bạn phải chân thành, không được nói dối, bạn phải thật sự yêu người đó thì bạn mới có thể làm. Nếu bạn chỉ có tâm chơi đùa thì không được, nếu bạn có làm thì ngược lại sẽ có tổn hại đến đức hạnh của bạn. Đây là một pháp tu tình yêu.

Uy lực của Ái Nhiễm Minh Vương là vô cùng, niệm đủ 300.000 biến chú Ái Nhiễm Minh Vương sẽ có đại tương ứng!


![image](/img/img_4d05d2966e5f42186c0af77b9ce1efc9.jpg)


Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/atisa-ton-gia-niem-tung-phap.md
# Title: Atisa Tôn giả niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_fe3ab3b89d4ed33f646cd1cea43a3175.jpg)



## Atisa Tôn giả niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Atisa Tôn giả.

(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha.  


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_c3795ede0f034529f9832d59340cf1d9.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn ****Atisa Tôn giả**

Hai tay: ngón cái và ngón trỏ tạo thành vòng tròn, ba ngón còn lại dựng thẳng, lòng bàn tay trái hướng vào trong, lòng bàn tay phải hướng ra ngoài.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trong hư không hiển hiện ngọn núi Tu Di cao lớn sừng sững, trên đỉnh núi Tu Di hóa hiện một tòa sư tử, trên tòa sư tử có nguyệt luân hoa sen. Trên nguyệt luân có chữ “Ah” (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu đỏ, từ chữ “Ah” chuyển hóa thành Atisa Tôn giả. 

(2) Atisa Tôn giả kết ấn chuyển pháp luân, mặc pháp y màu đỏ, đội mũ đỏ. Bên phải đặt tháp xá lợi (đựng hạt xá lợi), bên trái đặt bảo bình (chứa đầy cam lộ). Atisa Tôn giả ngồi tư thế kiết già, an trụ trong ánh sáng trí huệ, xung quanh thân hiển hiện ánh sáng cầu vồng mềm mại như bông. Trên đỉnh đầu có Phật Thích Ca Mâu Ni, tướng mạo ngài trang nghiêm.

(3) Quán tưởng thiên tâm của Atisa Tôn giả phóng ra một vệt ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả. Từ họng ngài phóng ra một vệt ánh sáng đỏ chiếu thẳng đến họng của hành giả. Tâm luân của ngài phóng ra một vệt ánh sáng xanh lam chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng trắng, đỏ, lam tan vào thân tâm của hành giả. 


### Phần 14: Trì tâm chú Atisa Tôn giả*** ***


Tâm chú: Ôm ben-za a-ti-sa ka-đam sô-ha. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Ah), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Atisa Tôn giả, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 

**Tụng tán:**

Kính lễ đốt hết mọi hí luận
Viên chứng sâu rộng hai loại thân
Sự nghiệp quang minh truyền mười phương
Pháp Vương mạt thế ngọn đèn sáng.


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.


### Giới thiệu pháp tướng Atisa Tôn giả


Atisa Tôn giả kết ấn chuyển pháp luân, mặc pháp y màu đỏ, đội mũ đỏ. Bên phải đặt tháp xá lợi (đựng hạt xá lợi), bên trái đặt bảo bình (chứa đầy cam lộ). Atisa Tôn giả ngồi tư thế kiết già, an trụ trong ánh sáng trí huệ, xung quanh thân hiển hiện ánh sáng cầu vồng mềm mại như bông. Trên đỉnh đầu có Phật Thích Ca Mâu Ni, tướng mạo ngài trang nghiêm.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị lai lịch vĩ đại của Atisa Tôn giả và yếu quyết tu pháp


Atisa Tôn giả có được đại truyền thừa của hệ thống Bát Nhã, trở thành người đại truyền thừa của Phật pháp, vì thế, ngài đã sáng lập ra phái Kadam. 

Atisa Tôn giả đã trước tác Đạo Cự Luận, có ảnh hưởng sâu rộng, là người gìn giữ truyền thừa Bạch giáo, trong đó đều có bóng dáng của “Thứ tự đạo bồ đề” của Gampopa đại sư và “Bồ đề đạo thứ đệ quảng luận” của Tsongkhapa.

Tại vùng Jambi ở Indonesia, Atisa Tôn giả đã nói: “Nếu có người niệm “Om guru liansheng siddhi hum” thì các bạn hãy đi quy y ông ấy, ông ấy chính là ta tái thế.”

Kim Châu Đại Sư đã quán đảnh cho Atisa Tôn giả: 

- Đại quán đảnh - 5 đại quán đảnh Thân, Ngữ, Ý, Công đức, Sự nghiệp.

- 9 thứ tự quán đảnh của Mahayoga, Anuyoga, Atiyoga.

Tư tưởng Trung quán chính kiến của Atisa Tôn giả là kế thừa trung quán của Nguyệt Xứng Luận Sư của phái Ứng Thành, tư tưởng của Duyên khởi tính Không (tư tưởng trung quán của Phật Hộ, Thanh Biện, Nguyệt Xứng, Tĩnh Mệnh).

Trên phương diện phát bồ đề tâm, ngài hoằng dương “bảy dạng nhân quả”, và “pháp hoán đổi ta và người khác”. Ngài nêu cao Thừa Hành Luận, Đạo Cự Luận, Phát Bồ Đề Tâm Luận. 

Còn nữa:
Hạ sĩ đạo — không tham lạc thế tục, nhớ sinh tử vô thường, lo sợ khổ ác thú, làm theo mười thiện nghiệp. 
Trung sĩ đạo — chán ghét tam hữu [dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu], phát tâm xuất li, ưa thích dựa theo bốn đế mười hai nhân duyên mà đắc tịch diệt.
Thượng sĩ đạo — phát bồ đề tâm, lợi ích hữu tình thành Phật, lục độ tứ nhiếp, đắc Phật quả Đại thừa. 
(Phái Kadam, phái Gelug, Atisa, Tsongkhapa, Lư Sư Tôn, là một chuỗi niệm hạt. Vì thế cần thuyết giới luật.)

Tam sĩ đạo của Atisa Tôn giả là: 
1. Hạ sĩ đạo — thăng lên Thiên giới.
2. Trung sĩ đạo — tự kết thúc thành A La Hán.
3. Thượng sĩ đạo — thành tựu Phật Bồ Tát.
Là phương pháp hay nhất để học Phật, giải thoát khỏi nhà cháy nhân gian.

Atisa Tôn giả có truyền thừa của Văn Thù Bồ Tát, Long Thọ Bồ Tát, Thích Ca Mâu Ni Phật (Mật Tập Kim Cang), Long Địa Bồ Tát (Thắng Lạc Kim Cang), Đại Uy Đức Kim Cang, Di Đà Bồ Tát, Kim Cang Thủ Bồ Tát, Kim Cang Tát Đỏa. 

Atisa Tôn giả còn có truyền thừa của Kim Châu Đại Sư, Xích Đồng Châu Đại Sư, Sâm Lâm Châu, Ô Kim Đại Sư.

Atisa Tôn giả có vô số truyền thừa, có truyền thừa hư không, có truyền thừa dài, truyền thừa ngắn, có truyền thừa tâm, có truyền thừa gia trì. Hữu hình, vô hình đều có.

Atisa Tôn giả đã đến chỗ của Giới Khải Luận Sư xuất gia, pháp danh là Thắng Nhiên Đăng Trí. 

Kim Châu Đại Sư dạy Atisa Tôn giả:
1. Hiện Quán Trang Nghiêm Luận.
2. Tập Bồ Tát Học Luận.
3. Nhập Bồ Tát Hành Luận.
4. Tu pháp hoán đổi ta và người khác.
5. Bảy bồ đề tâm.
Như vậy tổng cộng 12 năm, học hết tất cả mọi sự truyền dạy, đặc biệt là tam trí, tứ hành, nhất quả của Hiện Quán Trang Nghiêm Luận. Atisa Tôn giả phụng sự thầy 12 năm, học hết mọi thứ có thể học, hơn nữa còn phụng sự Kim Châu Đại Sư hết mực cung kính.

Atisa Tôn giả rất coi trọng tu trì từ bi bồ đề tâm. Đạo Cự Luận của Atisa Tôn giả và Thứ Tự Bồ Đề Đạo của truyền thừa của ngài đều giảng về bồ đề tâm. 

Thành tựu chân chính của Atisa Tôn giả là:
1. Từ bi tâm.
2. Bồ đề tâm.
3. Tăng thượng tâm.
4. Thanh tịnh kiên cố.
5. Lục độ tứ nhiếp.
Atisa Tôn giả từng nói: “Nếu không có bồ đề tâm từ bi thì làm tất cả việc ác hay việc thiện đều là nghiệp.”
Atisa Tôn giả thường khuyên người tu hành: “Nếu không có tâm từ bi, tâm bồ đề, tuy rằng bạn biết Mật pháp, cũng nỗ lực tu trì, thứ tự sinh khởi, thứ tự viên mãn, trung quán, đủ mọi pháp niệm tụng, v.v… cũng chẳng thể có tương ứng và thành tựu siddhi đâu.”
Ngài còn nói: “Tu Mật pháp, không có từ bi, không có bồ đề, đều thuộc về ma nghiệp.”

Atisa Tôn giả nói: “Nếu đem thân khẩu ý để phụng sự sư trưởng, không cần mong cầu tu gì khác.”
Vì thế Mật giáo: “Công đức phụng sự thầy là cực quan trọng, cực quan trọng.”

Chú thích:
Atisa Tôn giả là Bạch Liên Hoa chuyển thế, ra đời vào năm 982 ở Đông Ấn Độ, là con vua. Tổng cộng ngài đã quy y nương dựa 12 vị thầy, trong đó các vị Thượng sư căn bản là: La Hầu La Cực Đa Thượng sư, A Phược Đô Đế Thượng sư, Kim Châu Thượng sư. Vị thầy xuống tóc xuất gia cho ngài là Giới Khải Luận Sư (29 tuổi xuất gia), pháp danh là Cát Tường Nhiên Đăng Trí (Thắng Nhiên Đăng Trí). 
Những trước tác của ngài gồm: Bồ Đề Đăng Đạo, Bát Nhã Tâm Kinh Pháp, Nhập Nhị Đế, Nhất Niệm Yếu Quyết, Trung Quán Yếu Quyết, Tập Nhiếp Tâm Yếu, Hỷ Kim Cang, Mật Tập, Thánh Độ Mẫu…
Om guru liansheng siddhi hum

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/ba-thuc-kim-cang-quyen-phap.md
# Title: Ba thức kim cang quyền pháp
---

## Ba thức kim cang quyền pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Không cần quán đảnh, nhận gia trì là được.


### **Sư Tôn truyền thụ tâm yếu khẩu quyết**


Ba thức kim cang quyền để nâng minh điểm bay qua núi Tu Di.

A. Tư thế đứng: hai chân mở ra rộng bằng vai, gập bụng, mặt cúi xuống, lòng bàn tay phải úp vào đầu gối trái, lòng bàn tay trái úp vào đầu gối phải. Xoay đầu sang trái nói một tiếng “Hum” dài, sau đó quay đầu sang phải nói một tiếng “Hum” dài. Cuối cùng ngửa đầu lên cúi đầu xuống nói mười lần tiếng “Hum” ngắn, tức là mười tiếng “Hum”ngắn. Tổng cộng bên trái bên phải nói hai tiếng “Hum” dài, ngửa lên cúi xuống nói mười tiếng “Hum” ngắn.

B. Tư thế quỳ: gập bụng, mặt cúi xuống dưới, hai tay vươn ra trước, lòng bàn tay đặt trên mặt đất. Đầu quay sang trái nói một tiếng “Hum” dài, lại quay đầu sang phải nói một tiếng “Hum” dài, cuối cùng ngửa đầu lên trên nói tiếng “Hum” ngắn mười lần, tức là nói mười tiếng “Hum” ngắn. Tổng cộng bên trái bên phải nói hai tiếng “Hum” dài, ngửa lên cúi xuống nói mười tiếng “Hum” ngắn.

C. Tư thế ngồi: gập bụng, mặt cúi xuống, hai tay vươn ra phía trước, lòng bàn tay đặt trên mặt đất. Đầu quay sang trái nói một tiếng “Hum” dài, lại quay đầu sang phải nói một tiếng “Hum” dài, cuối cùng ngẩng đầu lên nói tiếng “Hum” ngắn mười lần, tức là mười tiếng “Hum” ngắn. Tổng cộng bên trái bên phải nói hai tiếng “Hum” dài, ngửa lên cúi xuống nói mười tiếng “Hum” ngắn.

---
# File: nghi-quy-tu-tap/bach-do-mau-kien-khang-phap.md
# Title: Bạch Độ Mẫu kiện khang pháp
---

# Bạch Độ Mẫu kiện khang pháp


Sau buổi Hộ Ma, Thánh Tôn đã truyền Bạch Độ Mẫu kiện khang pháp.

**Bạch Độ Mẫu tâm chú: **Ôm ben-za gu-ru ya sô-ha.

**Bạch Độ Mẫu thủ ấn: **

1. Hai tay đan nội phộc, ngón giữa dựng thẳng chạm vào nhau, ngón trỏ dựng thẳng mở ra hai bên, hai ngón cái khẽ đè lên hai ngón áp út. Giữ ấn trước ngực.

2. Thủ ấn này giống với thủ ấn của Kim Mẫu và các Không Hành Mẫu.

3. Khẩu quyết triệu thỉnh: hai ngón giữa phải xoa vào nhau ba lần thì có thể làm xúc động tâm của Bạch Độ Mẫu, khiến ngài giáng xuống.

**Quán tưởng:**

Bạch Độ Mẫu hạ giáng, trụ trên đỉnh đầu hành giả, ngồi trên hoa sen màu trắng. Cuống của hoa sen cắm vào lỗ đỉnh đầu và trung mạch của hành giả, đồng thời nhỏ xuống cam lộ màu trắng, tưới đẫm lục phủ ngũ tạng, sau đó chảy đến những chỗ đau bệnh, khiến cho nghiệp màu đen từ ngón tay ngón chân và các lỗ chân lông thoát ra, toàn thân biến thành cam lộ màu trắng. Như vậy có thể tiêu trừ mọi bệnh tật và nghiệp chướng, thân thể được khỏe mạnh, trường thọ, thanh tịnh, tự tại. 

**Sư Tôn truyền tâm yếu khẩu quyết tu pháp**

Tu Bạch Độ Mẫu kiện khang pháp, bạn phải quán tưởng Bạch Độ Mẫu trụ đỉnh đầu, chữ “Pang” biến thành hoa sen màu trắng, chữ “Tang” biến thành Bạch Độ Mẫu. “Cha. Hum. Ban”, ngài trụ trên đỉnh đầu của bạn, cuống của hoa sen cắm vào lỗ đỉnh đầu, từng giọt từng giọt cam lộ màu trắng, là thuốc pháp màu trắng, chỗ nào trong người bạn có bệnh thì thuốc sẽ nhỏ đến đó. Tim bạn có bệnh thì cam lộ nhỏ đến tim bạn, bạn quán tưởng cam lộ đi vào trong tim bạn, quán tưởng cam lộ tuần hoàn ở bên trong người bạn, quán tưởng nó ở trong tim, gan, lá lách, phổi, thận, ở chỗ nào có bệnh thì cam lộ màu trắng sẽ chảy đến chỗ đó. 

Mỗi lần làm quán tưởng của ngài thì niệm chú của ngài: “Ôm ta-rê tu-ta-rê tu-rê sô-ha. Ôm ben-za gu-ru ya sô-ha.” Trì chú của ngài, quán tưởng Bạch Độ Mẫu trụ đỉnh, cam lộ  màu trắng chảy đến các nơi có bệnh, pháp nhũ đầy ắp toàn thân bạn, trong một cái búng tay, thân thể bạn đã biến thành Bạch Độ Mẫu. Khi bạn ngồi thiền, bạn hãy biến thành Bạch Độ Mẫu. Bản thân Bạch Độ Mẫu vô cùng trẻ trung và tràn trề sức khỏe, ngài có thể ban cho bạn trường thọ, trường thọ đại diện cho sức khỏe, sống lâu khỏe mạnh.

---
# File: nghi-quy-tu-tap/bach-do-mau-niem-tung-phap.md
# Title: Bạch Độ Mẫu niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_eea4aa0ef8b789f9fae2da59bcf4bc15.jpg)



## Bạch Độ Mẫu niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Bạch Độ Mẫu.

(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha.  


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_5a8b625433460830e668f95ace9c632b.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn ****Bạch Độ Mẫu**

Hai tay đan nội phộc, ngón giữa dựng thẳng chạm vào nhau, ngón trỏ dựng thẳng mở ra hai bên, hai ngón cái khẽ đè lên hai ngón áp út. Giữ ấn trước ngực.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời xanh vạn dặm không mây, một nguyệt luân từ mặt biển nhô lên, trong nguyệt luân có một chủng tử chữ “Tang” màu trắng, tỏa ra ánh sáng trắng. Chữ “Tang” xoay tròn hóa thành Bạch Độ Mẫu.

(2) Quán tưởng Bạch Độ Mẫu thân màu trắng, một đầu hai tay, tay phải kết ấn ban nguyện, tay trái kết ấn cầm hoa và cầm cành hoa upala màu hồng có ba bông, một bông chưa nở, một bông hé nở, một bông nở to. Lòng bàn tay, lòng bàn chân, thiên tâm đều có một con mắt, tổng cộng có bảy con mắt. Tướng mạo ngài như thiếu nữ thanh xuân, tóc kết sau đầu và lọn tóc rủ xuống bên phải. Ngài mặc thiên ý váy lụa, có đủ loại chuỗi ngọc, ngồi tư thế kiết già, sau lưng có nguyệt luân, cực kì diễm lệ.

(3) Quán tưởng thiên tâm của Bạch Độ Mẫu phóng ra một vệt ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả. Từ họng ngài phóng ra một vệt ánh sáng đỏ chiếu thẳng đến họng của hành giả. Tâm luân của ngài phóng ra một vệt ánh sáng xanh lam chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng trắng, đỏ, lam tan vào thân tâm của hành giả. 


### Phần 14: Trì tâm chú Bạch Độ Mẫu


Chú ngắn: Ôm gu-ru ya sô-ha. (108 biến)
Hoặc: Ôm ben-za gu-ru ya sô-ha.
Chú dài: Ôm ta-rê tu-ta-rê tu-rê ma-ma a-yu pu-ni-ya cha-na pu-ching gu-ru sô-ha.


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Tang), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Bạch Độ Mẫu, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định.

**Tụng tán:**

Đảnh lễ nguyệt sắc Bạch Độ Mẫu
Mặt tựa trăng tròn bách thiên thu
Thành nghìn chòm sao cùng chiếu rọi
Tỏa mọi uy quang sáng chói ngời
Tam thế Phật Đà sinh Độ Mẫu
Bình đẳng ban thọ Cát Tường Mẫu
Hết thảy mong cầu đều đáp ứng
Thánh Cứu Độ Mẫu con kính lễ.


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.


![image](/img/img_42b696dcc8512b0f42a2bab83f91dabd.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Bạch Độ Mẫu


Bạch Độ Mẫu thân màu trắng, một đầu hai tay, tay phải kết ấn ban nguyện, tay trái kết ấn cầm hoa và cầm cành hoa upala màu hồng có ba bông, một bông chưa nở, một bông hé nở, một bông nở to. Lòng bàn tay, lòng bàn chân, thiên tâm đều có một con mắt, nên tổng cộng ngài có bảy con mắt. Tướng mạo ngài như thiếu nữ thanh xuân, tóc kết sau đầu và lọn tóc rủ xuống bên phải. Ngài mặc thiên y váy lụa, có đủ loại chuỗi ngọc, ngồi tư thế kiết già, sau lưng có nguyệt luân, cực kì diễm lệ.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị lai lịch vĩ đại của Bạch Độ Mẫu và khẩu quyết tu pháp


Bạch Độ Mẫu, còn gọi là Bạch Không Hành Mẫu, cũng chính là Thất Nhãn Phật Mẫu, ngoài hai con mắt ngài còn có thêm một mắt ở thiên tâm và bốn mắt ở lòng bàn tay bàn chân, vì thế ngài có biệt hiệu là Thất Nhãn Phật Mẫu.

Bạch Độ Mẫu là hóa thân từ giọt nước mắt bi mẫn của Quan Thế Âm Bồ Tát, ngài cũng là một trong số 21 vị Thánh Cứu Độ Mẫu, hay còn gọi là Tăng Thọ Cứu Độ Phật Mẫu, cùng với Trường Thọ Phật, Phật Đảnh Tôn Thắng Phật Mẫu được gọi là Trường Thọ Tam Tôn. Bạch Độ Mẫu là một trong các vị Bổn tôn chữa bệnh và kéo dài tuổi thọ trong Phật giáo. Thân tướng màu trắng của ngài có ý nghĩa là tiêu tai, toàn thân có bảy con mắt, con mắt thứ ba nằm ở chính giữa hai lông mày, có thể chiếu kiến tất cả duyên khởi của dịch bệnh, từ đó mà diệt trừ.

Bởi vì chúng sinh vô cùng khó độ, mà trái tim của Quan Thế Âm Bồ Tát lại vô cùng từ bi, cho nên Bồ Tát chảy nước mắt thương xót chúng sinh, từ mắt ngài chảy ra hai giọt nước mắt, một giọt hóa thành Lục Độ Mẫu, một giọt hóa thành Bạch Độ Mẫu. Bạch Độ Mẫu chính là vị Phật Mẫu do Quan Thế Âm Bồ Tát hóa sinh ra. Vì thế, lai lịch của Bạch Độ Mẫu giống với Quan Thế Âm Bồ Tát, ngài từ bi cứu độ chúng sinh. Màu trắng là gốc của tiêu tai, chính là tiêu diệt tai nạn, có thể tiêu diệt ác nghiệp của chúng sinh.

Công đức thề nguyện và tâm chú của Bạch Độ Mẫu chủ yếu là để tiêu diệt bệnh khổ của chúng sinh, tiêu trừ những bệnh truyền nhiễm, dịch bệnh và các chứng bệnh do oan nghiệp, si nghiệp, ma chướng gây ra. Ngài cũng có thể đối trị với các bệnh tật do cổ độc hay chú thuật gây ra, giúp tu hành giả trừ bỏ nghịch duyên, tăng trưởng thọ lượng, giải thoát sinh tử luân hồi.

Chú của Bạch Độ Mẫu nên phân tách âm ra để niệm như sau: “Om, guru, ye, soha”. “Guru” và “ye” đọc tách nhau ra.

Bạch Độ Mẫu có nhân duyên rất sâu dày với Lư Sư Tôn. Trong cuốn văn tập Lư Thắng Ngạn số 214 “Bảo kiếm của Yogi”, toàn bộ cuốn sách này đều nói về Bạch Độ Mẫu, chính là “giới luật của Mật giáo” do chính ngài dạy. Mọi người đọc cuốn sách “Bảo kiếm của Yogi” thì có thể làm kiên cố đạo tâm của mọi người.

Tu pháp kiện khang của Bạch Độ Mẫu, bạn phải quán tưởng Bạch Độ Mẫu trụ đỉnh, chữ “Pang” biến thành bông hoa sen trắng, chữ “Tang” trong hoa sen biến thành Bạch Độ Mẫu, thế rồi hô “Cha, Hum, Ban”,  ngài trụ trên đỉnh đầu bạn, cuống hoa sen trắng cắm trên đỉnh đầu bạn. Thế rồi từng giọt từng giọt cam lộ màu trắng, pháp lạc màu trắng sẽ chảy đến nơi nào trong thân thể bạn có bệnh. Ví dụ, tim bạn có bệnh thì giọt cam lộ sẽ chảy vào tim, bạn quán tưởng cam lộ đi vào tim bạn, quán tưởng cam lộ tuần hoàn trong người bạn, quán tưởng nó ở trong tim, gan, tì, phổi, thận, chỗ nào có bệnh thì cam lộ màu trắng sẽ chảy đến chỗ đó. Mỗi lần làm quán tưởng ngài, bạn niệm chú của ngài “Om tare tutare ture soha. Om benza guru ye soha”. Quán tưởng như vậy, toàn bộ da dẻ của bạn biến thành màu trắng, toàn thân bạn biến thành màu trắng, pháp nhũ đầy ắp toàn thân bạn. Trong một cái búng tay, thân thể bạn chính là Bạch Độ Mẫu. Khi bạn ngồi thiền, bạn biến thành Bạch Độ Mẫu. Bản thân Bạch Độ Mẫu vô cùng khỏe mạnh và tràn trề tuổi thanh xuân, ngài có thể ban cho bạn sống lâu, trường thọ cũng đại diện cho khỏe mạnh mà. 

Ngày xưa, Thượng sư Thubten Dhargye từng được Bạch Độ Mẫu hiện thân nói với ngài rằng phải đến Đài Loan tìm một người họ La, rồi truyền pháp cho người đó, kết quả là Thượng sư thật sự đã đến Đài Loan để tìm, nhưng không tìm được. Kết quả là Bạch Độ Mẫu** **lại giáng xuống và nói với Thubten Dhargye Thượng sư là đệ tử này đã ở bên cạnh ngài rồi đó, chính là Lư Thắng Ngạn, bởi vì ở Đài Loan, chữ “Lư” này phát âm thành “La”. Thubten Dhargye Thượng sư bỗng nhiên tỉnh ngộ, thế là ngài đã xem Lư Thắng Ngạn (Thubten Qimo) là đệ tử chủ yếu của mình, và truyền mọi khẩu quyết nội mật cho đệ tử này, ban những quán đảnh không gì sánh bằng, sức mạnh gia trì liên tục không dứt.

Trong cuốn văn tập Lư Thắng Ngạn số 202 “Nghìn dặm xa tôi thấy”, Sư Tôn đã ghi lại rằng vào buổi tối ngày 1/3/2008, Bạch Không Hành Mẫu đã hạ giáng và giáo thị rằng:
”Nếu đệ tử Chân Phật muốn sinh về cõi Tịnh thổ, hãy dùng chữ “Tang” màu trắng để triệu thỉnh ta. Ta ngồi trên đỉnh đầu của đệ tử Chân Phật, mạch và mạch tiếp nối, đệ tử Chân Phật đóng lại tám lỗ, chỉ để lại thiên khiếu, dùng chữ “Tang” của tự tâm từ đỉnh đầu đi vào trong mạch của ta. 

Bạch Độ Mẫu ta bay đến A Di Đà Phật tịnh thổ, đệ tử này tự nhiên sẽ được sinh ra ở tịnh thổ.”

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/bach-lien-hoa-vuong-niem-tung-phap.md
# Title: Bạch Liên Hoa Vương niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_aa8aadbe518f502be986b2df3190b5d1.jpg)



## Bạch Liên Hoa Vương niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Bạch Liên Hoa Vương.
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_0549014fc9fee5b8b6d6637c3462615d.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn **Bạch Liên Hoa Vương

Tay phải kết ấn thuyết pháp, tay trái kết ấn cầm hoa sen, như hình sau:


![image](/img/img_a3d01ff57e3087214b7e26ea025911b6.png)


**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trong hư không có một chữ “Bam” như hình:


![image](/img/img_1a545d56e962185ec9c2e64e7b17f2d7.png)


hiện lên hoa sen nghìn cánh có hình ngọn núi, xuất hiện tịnh thổ Shambhala. 

Ở trung ương là cung điện Bạch Liên Vương, chủ tôn chữ “Ah” (tiếng Phạn hoặc Tạng) biến hiện thành Bạch Liên Hoa Vương, xung quanh ngài có thập phương Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, Chư Thiên. 

(2) Bạch Liên Hoa Vương tướng mạo như đồng tử 16 tuổi, thân màu trắng tinh khiết trang nghiêm, có hai tay, tay phải kết ấn thuyết pháp, tay trái kết ấn cầm hoa sen có cầm bông hoa sen trắng, thân khoác thiên y lưới màu trắng vi diệu, ngồi tự tại trên bảo tọa, có đủ loại vòng ngọc trang nghiêm. Đầu đội mũ Phật Tì Lô Giá Na. 

(3) Thiên tâm của Bạch Liên Hoa Vương phóng ra một đường ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả, họng của ngài phóng ra một đường ánh sáng đỏ chiếu thẳng đến họng của hành giả, tâm luân của ngài phóng ra một đường ánh sáng lam chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng trắng đỏ lam đi vào hòa nhập vào thân tâm hành giả, gia trì cho hành giả.


### Phần 14: Trì tâm chú Bạch Liên Hoa Vương


Tâm chú: Ôm gu-ru lián-shâng sit-đi hùm. Ôm ben-za sham-ba-la gu-ru pê-ma hùm. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Ah), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Bạch Liên Hoa Vương, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 

**Tụng tán:**

Đầu đội mũ Tì Lô
Trang nghiêm và hiền từ
Ai thấy đều hoan hỉ
Ngu muội hóa quang minh
Hành thâm nơi bát nhã
Đảnh lễ Liên Hoa Vương.
Nhiều kiếp cha mẹ và quyến thuộc
Bấy lâu mờ mịt trong u tối
Mong cầu mỗi người được giải thoát
Mau chóng chứng đắc bát nhã trí
Chỉ có Bạch Liên pháp tối thắng
Thậm thâm nhập định ắt thành tựu.


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


![image](/img/img_9cbb1542ad895a1dee92b4b9f5b852b4.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Bạch Liên Hoa Vương


Bạch Liên Hoa Vương giống như đồng tử 16 tuổi, thanh tịnh trang nghiêm, tay phải kết ấn thuyết pháp, tay trái kết ấn cầm hoa sen trong tay có cầm một bông hoa sen trắng, thân khoác thiên y vi diệu bằng lụa màu trắng, tự tại ngồi trên bảo tọa. Có đủ loại chuỗi ngọc làm trang nghiêm thân ngài. Đầu đội mũ miện Tì Lô Giá Na Phật.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị về lai lịch và sự thù thắng của Bạch Liên Hoa Vương


Bạch Liên Hoa Vương là vị Quốc Vương đời thứ hai của tịnh thổ Shangri-La, mà Shangri-La là một tịnh thổ cực kì cơ mật, vị Quốc Vương đời thứ nhất là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. Bạch Liên Hoa Vương nổi tiếng có “Vô cấu quang minh luận”, Bạch Liên Hoa Vương cũng chính là Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử không hai không khác.

Vị vua đời thứ hai là Bạch Liên Hoa Vương, là con trai do Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát sinh ra. Liên Sinh Hoạt Phật đã khám phá ra tịnh thổ Shambhala hóa ra chính là núi Đảng Hạng của vương triều Tây Hạ, bên trong núi Đảng Hạng bí mật nhất có một hầm ngầm cực kì lớn có hình dạng bông hoa sen, Vương Quốc hoa sen này phân thành tám phương đông, tây, nam, bắc, đông nam, đông bắc, tây nam, tây bắc, cộng vào là tám phương. Ở giữa có một bông hoa sen, trong đó có cung điện hoa sen. Bạch Liên Hoa Vương chính là Quốc Vương đời thứ hai của tịnh thổ Shangri-La, trong vương quốc ấy toàn bộ đều là người tu hành.

Tại Ấn Độ, trong kinh điển cổ xưa nhất là Mahabharata có ghi chép rằng: Pháp Vương Nguyệt Hiền của nước Shambhala, tại tháp Cát Tường Mễ Tụ [Amaravati Stupa], đã được Thích Tôn hóa hiện khẩu truyền mà nhận được giáo pháp Thời Luân Kim Cang. Thế là lần lượt 25 vị vua tiếp theo đã truyền thừa giáo pháp của Thời Luân Kim Cang. 
Quốc Vương thứ nhất là Danh Xưng Vương, là hóa thân của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.
Quốc Vương thứ hai là Bạch Liên Hoa Vương, ngài có các cuốn danh tác “Vô cấu quang minh luận” (Thời Luân tục tâm yếu), “Cát tường thắng nghĩa nguyện văn”. 

Bạch Liên Hoa Vương ở nước Shambhala là một vị Quốc Vương có danh vọng nhất, uy danh của ngài lan tỏa khắp mười phương. Từ đó về sau, giáo pháp của Thời Luân Kim Cang đều không thể tách rời “Vô cấu quang minh luận”. 

Tu pháp này có đại thành tựu:

1. Tự thân thành Bổn tôn Liên Hoa Đồng Tử. Sau khi tu trì thành tựu Bạch Liên Hoa vương, một thân mình trở thành Bổn tôn Liên Hoa Đồng Tử, bạn chính là Liên Hoa Đồng Tử.

2. Đến Phật quốc tịnh thổ.
Tôi từng giảng “Phật tính bình đẳng luận”, giữa Phật và Phật với nhau là bình đẳng, mặc dù hiện tại chúng ta có sự khác biệt đẳng cấp, có sai khác, nhưng chúng ta đều là những người có phúc phần nhất, sau này mỗi người chúng ta thành Phật thì đều gọi là Hoa Quang Phật, toàn bộ đều là Hoa Quang Phật, Phật và Phật bình đẳng, không có khác biệt, tên gọi mặc dù khác nhau nhưng thật ra là bình đẳng, toàn bộ đều là Liên Hoa Đồng Tử. Sau khi tu thành tựu Bạch Liên Hoa Vương rồi thì sẽ đến Phật quốc tịnh thổ.

3. Cha mẹ và quyến thuộc nhiều đời đều được giải thoát, tiến nhập Phật quốc. 

4. Đắc trí huệ Như Lai.
Việc không liên quan đến mình, để liên quan đến mình thì sẽ loạn. Chúng ta làm Bồ Tát không được như vậy, tuy rằng sự việc không liên quan đến ta, nhưng người khác gặp khó khăn, chúng ta vẫn cần đi giúp đỡ họ, như thế mới là Bồ Tát. Phật và Bồ Tát đều như vậy, trí huệ của Như Lai đều là như vậy.

5. Nếu ở nhân gian sẽ là Pháp Vương đại bát nhã. 
Bạn tu Bạch Liên Hoa Vương, nếu bạn ở nhân gian thì bạn sẽ là Pháp Vương đại bát nhã, chính là Pháp Vương có đại trí huệ.

6. Thần thông nhậm vận, hàng phục bốn ma.
Sau khi chúng ta học Phật thì đều cực kì có trí huệ, đều là những người cực kì lương thiện, chúng ta cũng sẽ thần thông nhậm vận, cũng có thể hàng phục bốn ma, hàng phục tất cả ma chướng. Thật ra ma chướng cũng chính là phiền não trong tâm bạn. Ngoài ra còn có những chướng ngại mà chúng ta biết, những điều trong lòng bạn biết sẽ trở thành chướng ngại cho việc tu hành của bạn, ma thật ra chính là nội tâm của bạn, nói một cách chính xác là như vậy. Nếu bạn có thể thần thông nhậm vận, chỉ cần bạn hàng phục được tâm mình, bạn tu được pháp rồi, thông được mạch rồi, minh điểm có thể đi xuống, chuyết hỏa có thể đi lên, đương nhiên là bạn sẽ thần thông tự tại rồi.

7. Vô cấu quang minh tự tại.
Thế nào gọi là vô cấu? “Vô cấu quang minh luận” mà Bạch Liên Hoa Vương viết, tôi nói để mọi người biết, bánh xe khổng lồ của thời gian đều sẽ chuyển động, liên tục quay, những gì của quá khứ đều đã đi qua, sẽ không trở lại nữa, cũng không còn nữa. Những gì của hiện tại cũng sẽ biến thành quá khứ, những gì của tương lai sẽ biến thành hiện tại, hiện tại lại biến thành quá khứ. 

Tôi của hiện tại đang thuyết pháp, ngày mai sẽ thành quá khứ rồi, không còn nữa, không thể nào có những con người giống như cũ vào thời gian giống như cũ ở đây nghe Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn thuyết pháp nữa, việc này sẽ qua đi. Việc tương lai, việc chưa đến cũng sẽ biến thành hiện tại.

Cái của hiện tại lại biến thành quá khứ, cho nên vô cấu, chỉ có cái gì tồn tại? Duy có Phật tính tồn tại, chính là quang minh. Khi chúng ta tu hành thành Phật rồi thì chính là sự tồn tại vĩnh viễn. Sự tồn tại chân chính là sự tồn tại của Phật tính, tất cả thế giới vật chất toàn bộ không còn. 

Cái gì là vô cấu? Hư không chính là vô cấu, không có ô uế gì. Hư không rất rộng lớn, không phải là bầu trời màu xanh lam mà con mắt chúng ta nhìn thấy đâu, trên đầu chúng ta là trời xanh xanh, mây trắng trắng, hay thậm chí là mây đen giăng kín bầu trời, bất kể có biến hóa ra sao thì hư không vĩnh viễn là thanh tịnh, bởi vì hư không chân chính không bị ô nhiễm, ý nghĩa của vô cấu là ở đây. Thế còn quang minh thì sao? Bởi vì khi vô cấu, khi không có ô nhiễm thì luôn luôn là ánh sáng chiếu rọi. Cho nên ý nghĩa chủ yếu trong “Vô cấu quang minh luận” chính là như vậy.

Chúng ta phải học tập Bạch Liên Hoa Vương, cũng tức là đang học tập tinh thần của Bồ Tát, Bồ Tát muốn chúng ta làm lợi ích chúng sinh, nhưng bạn không khởi lên tâm muốn làm lợi ích chúng sinh thì một phương pháp tốt nhất chính là bạn tự mình đi trải nghiệm đau khổ, khi ấy bạn có thể phát khởi bồ đề tâm của bạn. Chúng ta phải hoán đổi mình với người khác, nếu tôi là bạn, thì tôi sẽ có thể khởi lên bồ đề tâm, đặt mình vào vị trí của người khác. Muốn đối trị phiền não, dùng tính Không để đối trị là tốt nhất, bởi vì phiền não cũng không quan trọng, ai nợ ai không quan trọng, ai ghét ai không quan trọng, ai yêu ai không quan trọng, tiền bạc không quan trọng, danh dự cũng không quan trọng. 

Mỗi một Liên Hoa Đồng Tử chúng ta, mỗi một Bạch Liên Hoa Vương đều phải quảng độ chúng sinh, đều phải cứu vớt chúng sinh, từ bi chúng sinh. Phải phát bồ đề tâm, bởi vì bồ đề tâm là trọng tâm của Phật pháp.

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/bach-y-dai-si-nhu-y-bao-chau-phap.md
# Title: Bạch Y Đại Sĩ Như Ý Bảo Châu pháp
---

![image](/img/img_7efbd24408fa31b217ebdcf0ce48e554.jpg)



## Bạch Y Đại Sĩ Như Ý Bảo Châu pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Om ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Bạch Y Đại Sĩ Như Ý Bảo Châu Quan Âm.
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_29931b39f8993e377d2aa12187731c88.jpg)


**Kết ấn: **

Thủ ấn hoa sen: đầu tiên hai tay chắp lại, sau đó mở ra như hoa sen nở, chỉ có hai ngón cái, hai ngón út là chạm vào nhau, giữ thủ ấn trước ngực.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Quán tưởng trên mặt biển lớn trời xanh vạn dặm không mây, nguyệt luân màu lam từ mặt biển nhô lên, trong nguyệt luân có chủng tử chữ “Seh” tiếng Phạn hoặc Tạng màu trắng phóng ra ánh sáng trắng.

(2) Tiếp theo quán tưởng trong nguyệt luân chữ “seh” xoay tròn, hóa thành Bạch Y Đại Sĩ Như Ý Bảo Châu Quan Âm, ngồi thẳng trên đài hoa sen, quán tưởng Bạch Y Đại Sĩ tay phải cầm bảo châu, tay trái kết ấn ban nguyện, hoặc ngồi trên tòa hoa sen, hai tay nâng bảo châu.

(3) Quán tưởng thiên tâm của Bạch Y Đại Sĩ phóng ra một đường ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả, hầu luân phóng ra một đường ánh sáng đỏ chiếu đến hầu luân của hành giả, tâm luân phóng ra một đường ánh sáng lam phóng đến tâm luân của hành giả, ba ánh sáng trắng đỏ lam bao trùm lấy hành giả, dung nhập vào thân tâm của hành giả.

Trọng điểm về khẩu quyết quán tưởng khi cầu pháp như ý: 

Hành giả ngồi trước Bạch Y Đại Sĩ, quán tưởng mọi tướng trang nghiêm của Bạch Y Đại Sĩ, hai tay nâng bảo châu. Hành giả kết ấn nâng bảo châu, tức là thủ ấn hoa sen hai tay mở ra. Dùng tâm lực quán tưởng bảo châu của Bạch Y Đại Sĩ phóng ra ánh sáng vàng chiếu đến thủ ấn hoa sen của hành giả, và thủ ấn hoa sen của hành giả tiếp nhận lấy ánh sáng vàng này, biến thành bảo châu màu vàng, rồi lại biến hóa ra đủ loại bảo vật. 


### Phần 14: Trì tâm chú Bạch Y Đại Sĩ Như Ý Bảo Châu


Tâm chú: (niệm 108 biến)

Tan-chi-tô, ôm, ka-la-fat-tô, ka-la-fat-tô, ka-huô-fat-tô, la-ka-fat-tô, la-ka fa-tô, ôm, chia-chự chia-chự chia-chự sô-ha.


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Seh), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Bạch Y Đại Sĩ Như Ý Bảo Châu Quan Âm, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 

Tụng tán:

Bạch Y Đại Sĩ người ca tụng
Nghe tiếng cứu khổ giúp thiện lương
Mật pháp như ý kì diệu nhất
Thần uy trang nghiêm khắp đàn tràng.


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


![image](/img/img_c0b87c4dadf08436a3265992c2259d4e.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Bạch Y Đại Sĩ


Bạch Y Đại Sĩ Như Ý Bảo Châu Quan Âm đầu búi tóc hoa sen, thân mặc thiên y màu trắng, tay phải cầm như ý bảo châu, tay trái kết ấn ban nguyện.


### Bạch Y Đại Sĩ thần chú


Nam mô đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn quảng đại linh cảm Quan Thế Âm Bồ Tát. Nam mô Phật. Nam mô pháp. Nam mô tăng. Nam mô cứu khổ cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát. Tan chi to. Om kala fato kala fato. kaha fato. laka fato. laka fato. Om jiezhu jiezhu jiezhu soha. Thiên La Thần. Địa La Thần. Nhân li nạn. Nạn li thân. Tất cả tai ương hóa vi trần. Nam mô Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị về lai lịch vĩ đại của Bạch Y Đại Sĩ Như Ý Bảo Châu Quan Âm và khẩu quyết tu pháp


Bạch Y Đại Sĩ là một trong nhiều hóa thân của Quan Thế Âm Bồ Tát, trong đó có một vị tay trái kết ấn ban nguyện, tay phải cầm bảo châu, chính là Liên Hoa Mẫu Tam Muội Thượng Thủ Minh Phi. Vị này có xuất xứ từ “bồ đề tràng nhất tự đỉnh luân ngũ kinh”. 

Liên Sinh Hoạt Phật từng tiến nhập vào tam ma địa của Đại thừa vô biên liên hoa biến hóa kim cang, từ đó biết đến Bạch Y Đại Sĩ tay cầm bảo châu có mật pháp như ý bảo châu này. Muốn thỉnh cầu pháp như ý có thể tu pháp Bảo Châu Bạch Y Đại Sĩ. Người tu trì pháp này chỉ cần một tháng là có thể đạt được đại phú quý. 

Yếu quyết tu trì pháp Bạch Y Đại Sĩ Như Ý Bảo Châu nằm ở việc phải quán tưởng Bạch Y Đại Sĩ đầu búi tóc hoa sen, thân mặc thiên y trân quý màu trắng, sau đó quán tưởng thật rõ ràng như ý bảo châu của ngài và ấn ban nguyện. Hoặc là quán tưởng Bạch Y Đại Sĩ ngồi trên hoa sen, hai tay nâng bảo châu, tức là nâng quả cầu thủy tinh.

Quán tưởng như ý bảo châu phóng ra ánh sáng màu vàng rất mạnh chiếu vào trong lòng bàn tay chắp lại theo thế hoa sen, phía trên thủ ấn của mình hóa ra một viên như ý bảo châu màu vàng, và tất cả những vàng bạc châu báu mà mình mong muốn có được toàn bộ đều từ trong bảo châu biến hiện ra. Bản thân mong muốn cái gì thì biến ra cái đó, vô cùng viên mãn, vô cùng giàu có, tất cả đều rõ ràng.

Khi bạn tu pháp, hành giả cũng có thể cầm như ý bảo châu, cũng có thể cầm quả cầu thủy tinh. Tất cả mọi hi vọng đều từ trong quả cầu thủy tinh này biến hiện ra. Bạn muốn mua một ngôi nhà, bạn hãy biến hiện ra một ngôi nhà ở trong quả cầu thủy tinh nằm trong thế chắp tay hoa sen của mình. Muốn nhà thì nghĩ nhà, muốn xe thì nghĩ xe, bạn trai, bạn gái… Hoặc là bạn muốn người này khỏi bệnh, bạn hãy quán tưởng người đó ngồi dậy khỏi giường bệnh, lại còn có thể múa thái cực quyền nữa, biểu thị rằng thân thể của người đó đã khỏe rồi, thân thể khỏe mạnh rồi. Nếu là người chết cầu siêu độ thì bạn hãy quán tưởng người này cưỡi hoa sen cứ thế tiến thẳng lên trời, đây chính là một pháp siêu độ. Có thể tiêu tai, tăng ích, cũng có thể hàng phục, kính ái.

Đối với hàng phục thì bạn phải quán tưởng kẻ thù của bạn ở trong hoa sen, nhờ Quan Thế Âm Bồ Tát phóng quang chiếu đến mà kẻ thù của bạn liền thu nhỏ lại, càng biến càng nhỏ, càng biến càng nhỏ, cuối cùng là biến mất luôn, như thế là kẻ thù của bạn đã rút lui rồi, bỏ đi rồi. Đây đều là phương pháp quán tưởng.

Khi quán tưởng kết thúc thì trì 108 biến thần chú Bạch Y Đại Sĩ, hoặc 21 biến, hoặc 49 biến cũng được.
Điểm quan trọng của pháp này nằm ở ánh sáng màu vàng phóng ra từ như ý bảo châu, rồi thủ ấn của mình tiếp nhận lấy ánh sáng vàng, biến thành viên bảo châu màu vàng, rồi lại biến hóa thành đủ mọi bảo vật. Đây là quán tưởng quan trọng nhất. Khẩu quyết quan trọng nhất chính là nằm ở nhất tâm, bạn phải nhất tâm, dùng toàn bộ tâm lực của chính mình để quán tưởng. Đây là quan trọng nhất. Niệm xong thì bạn hãy nhập tam ma địa. 

Khi xuất định phải tụng tán: “Bạch Y Đại Sĩ người ca tụng, nghe tiếng cứu khổ giúp thiện lương, mật pháp như ý kì diệu nhất, thần uy trang nghiêm khắp đàn tràng.”

Tôi nói pháp này rất dễ thực hành, cũng rất dễ tương ứng, tu tập lâu ngày sẽ được Bồ Tát gia trì, phóng ánh sáng trắng, vàng, có thể cải biến vận mệnh của chính mình, từ nghèo thành giàu, từ hèn thành sang, công danh phú quý đều xuất hiện. Nếu đại hạn đến thì có thể vãng sinh đến Phật quốc tịnh thổ.

Bởi vì Quan Thế Âm Bồ Tát dùng con mắt để nghe âm thanh, bạn xem, ba chữ Quan Thế Âm, ngài không phải là Thính Thế Âm Bồ Tát, mà là Quan Thế Âm Bồ Tát, chính là vì Quan Thế Âm Bồ Tát thần thông quảng đại, từ bi vô lượng cứu độ chúng sinh, không bỏ rơi một chúng sinh nào, nên sự vĩ đại của Bồ Tát là ở đây.

Pháp Bạch Y Đại Sĩ Như Ý Bảo Châu này là do tôi - Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư, nhập vào tam ma địa của Bạch Y Đại Sĩ mà biết được, cho nên pháp này vô cùng trân quý. Tu pháp có vẻ cực kì đơn giản, nhưng nếu tôi không viết ra thì ai có thể biết được bí mật vô thượng ở trong đó.

Bạch Y Đại Sĩ chính là một trong nhiều hóa thân của Quan Thế Âm Bồ Tát, sự thị hiện của ngài là trang nghiêm và từ bi nhất, khiến người ta hễ nhìn thấy đã khởi tâm cung kính. Thân ngài mặc áo dài trắng, trang điểm bằng châu báu. Ngày 19 tháng 2 âm lịch là ngày kỉ niệm ngài đản sinh, ngày 19 tháng 6 là ngày kỉ niệm ngài thành đạo, và ngày 19 tháng 9 là ngày kỉ niệm ngài xuất gia. Bồ Tát quan tâm nhất và vui thích nhất là trợ giúp tất cả chúng sinh đang phải chịu khổ nạn. Trong ba ngày này, tu Bạch Y Đại Sĩ Như Ý Bảo Châu nhất định sẽ cát tường viên mãn. 


![image](/img/img_6f460a4b0491c26da0b1587a337c8158.jpg)


Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/bao-nguyen-do-mau.md
# Title: Bảo Nguyên Độ Mẫu
---

![image](/img/img_a950b44a3437cab2691c297bd99ad2be.jpg)



## Bảo Nguyên Độ Mẫu


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Chú ngữ:


Ôm ta-rê tu-ta-rê tu-rê cha-mu-pê-ma-ha-yê ta-na-mia-tê-sưa sô-ha.


### Thủ ấn:


Hai tay đan nội phộc, ngón giữa giơ lên chạm vào nhau, ngón trỏ giơ lên mở ra hai bên, ngón cái đặt song song tựa vào nhau.


### Quán tưởng: 


Trên mặt biển lớn, trời xanh vạn dặm không mây, nguyệt luân từ trên mặt biển nhô lên, trong nguyệt luân có chủng tử chữ “Tang” màu vàng, phóng ánh sáng vàng.

Chữ Tang trong nguyệt luân xoay vòng, hóa thành Bảo Nguyên Độ Mẫu, một đầu hai tay, thân màu vàng, đầu đội mũ Ngũ Phật nhỏ, trên đỉnh mũ có một vị Hóa Phật, tay phải duỗi ra kết ấn thí vô úy, hoặc ấn ban nguyện, tay trái cầm hoa sen hoặc hoa upala, trên bông hoa có một bảo bình, bảo đình đựng đầy bảo vật, ngồi tùy ý trên tòa hoa sen tám cánh, toàn thân phóng quang, đeo chuỗi vòng trang nghiêm.


### Công đức của pháp:


Bảo Nguyên Độ Mẫu kì thực là Tài Nguyên Độ Mẫu, tên tiếng Tạng của ngài dịch âm ra là Nor Rgyun Ma, còn gọi là Tài Bảo Phật Mẫu. Bảo Nguyên Độ Mẫu chính là Phật Mẫu của Ngũ Lộ Tài Thần, bao quát Ngũ Lộ Tài Thần. Vì thế, chúng ta thỉnh cầu Phật Mẫu của Ngũ Lộ Tài Thần hoặc Ngũ Tính Tài Thần. Lai lịch chủ yếu của Bảo Nguyên Độ Mẫu, trong Mật giáo, nguồn gốc của tất cả Độ Mẫu là Phật Mẫu của Phổ Hiền Vương Như Lai, còn trong Hiển giáo, chính là một hóa thân của Bát Nhã Phật Mẫu. Một đằng là Hiển, một đằng là Mật, thật ra khả năng nguồn gốc của các vị là giống nhau.

Truyền thuyết kể lại Quan Thế Âm Bồ Tát độ chúng sinh, trải qua thời gian rất dài rất dài, sau đó, ngài lại quan sát tất cả chúng sinh, phát hiện ra chúng sinh mà ngài đã độ không tăng lên, cũng không giảm bớt, đau khổ của chúng sinh không tăng lên, nhưng cũng không giảm bớt. Vì thế, ngài liền chảy nước mắt từ bi, đôi mắt chảy nước mắt, một bên hóa thành Bạch Độ Mẫu, “Ôm gu-ru pu-ni-a sô-ha”, nước mắt bên kia hóa thành Lục Độ Mẫu, “Ôm ta-rê tu-ta-rê tu-rê sô-ha”. Thế rồi, tất cả Lục Độ Mẫu lại hóa thành 21 Độ Mẫu. Bảo Nguyên Độ Mẫu chính là một trong số 21 Độ Mẫu, ngài quản về tài bảo, ban cho chúng sinh tài bảo. Còn Ngũ Lộ Tài Thần hay Ngũ Tính Tài Thần đều lấy ngài làm Phật Mẫu. 

Thủ ấn của Bảo Nguyên Phật Mẫu cũng chính là thủ ấn của Lục Độ Mẫu, giống nhau. Hình tượng của ngài là tay phải kết ấn ban nguyện, tay trái cầm hoa upala, bông hoa trên cao nhất có một bảo bình, từ trong bảo bình sinh ra rất nhiều rất nhiều tài bảo và báu vật, đáp ứng cầu nguyện của chúng sinh. Ngài ban cho chúng sinh báu vật và tài bảo. Đây là nguồn gốc của Bảo Nguyên Độ Mẫu. 

Trong kinh Phật có ghi chép, trong kiếp quá khứ xa xưa, vào lúc Phật Ca Diếp trụ thế, Bảo Nguyên Độ Mẫu đã dùng sức mạnh công đức bố thí thù thắng để đến 33 cõi trời. Vào thời Phật Thích Ca trụ thế, Bảo Nguyên Độ Mẫu lại từ trong nước sinh ra, tên gọi là Cương Đông Lạp Mộ. Bảo Nguyên Độ Mẫu từng làm nữ thần sông Hằng của Ấn Độ. Trong lòng bạn hướng về ngài cầu nguyện, ngài có thể khiến bạn thỏa mãn tất cả tâm nguyện. Có chú ngữ, có thủ ấn, có pháp tướng của ngài, cho nên có thể quán tưởng, có thể trì chú, có thể kết thủ ấn, có thể làm thành pháp niệm tụng Bảo Nguyên Độ Mẫu. 


### Nghi quỹ tu trì:


Trước tiên, thỉnh cầu Căn bản Thượng sư gia trì: 

Đầu tiên quán không, sau đó quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật trụ ở đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì tâm chú Liên Hoa Đồng Tử 7 biến, cầu nguyện tu pháp viên mãn.

Tiếp theo, làm quán tưởng tứ vô lượng tâm. Làm thủ ấn đánh thức (vỗ tay hai lần, bắt chéo hay tai, búng ngón tay). 

1. Chú thanh tịnh.

1. Chú triệu thỉnh.

1. Đại lễ bái.

1. Đại cúng dường.

1. Tứ quy y.

1. Mặc bia giáp hộ thân.

1. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh.

1. Niệm chú Vãng sinh. (7 biến)

1. Tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư.
Ôm gu-ru lién-sâng sit-đi hùm. (108 biến)

1. Thủ ấn và quán tưởng.
Thủ ấn: Hai tay đan nội phộc, ngón giữa giơ lên chạm vào nhau, ngón trỏ giơ lên mở ra hai bên, ngón cái đặt song song tựa vào nhau.
Chủng tử tự: chữ “Tang” màu vàng.
Quán tưởng: Đầu tiên quán không, niệm chú quán không. 
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)
(1) Trên mặt biển lớn, trời xanh vạn dặm không mây, nguyệt luân từ trên mặt biển nhô lên, trong nguyệt luân có chủng tử chữ “Tang” màu vàng, phóng ánh sáng vàng.
(2) Chữ Tang trong nguyệt luân xoay vòng, hóa thành Bảo Nguyên Độ Mẫu, một đầu hai tay, thân màu vàng, đầu đội mũ Ngũ Phật nhỏ, trên đỉnh mũ có một vị Hóa Phật, tay phải duỗi ra kết ấn thí vô úy, hoặc ấn ban nguyện, tay trái cầm hoa sen hoặc hoa upala, trên bông hoa có một bảo bình, bảo đình đựng đầy bảo vật, ngồi tùy ý trên tòa hoa sen tám cánh, toàn thân phóng quang, đeo chuỗi vòng trang nghiêm.
(3) Thiên tâm của Bảo Nguyên Độ Mẫu phóng ra một đường ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả, họng phóng ra ánh sáng đỏ chiếu đến họng của hành giả, tâm luân phóng ra ánh sáng lam chiếu đên tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng trắng, đỏ, lam đi vào hòa tan vào thân tâm hành giả.
  1. Trì tâm chú Bảo Nguyên Độ Mẫu:
Ôm ta-rê tu-ta-rê tu-rê cha-mu-pê-ma-ha-yê ta-na-mia-tê-sưa sô-ha. (108 biến)
  1. Nhập Tam ma địa.
  1. Xuất định.
  1. Tụng tán:
Bảo Nguyên Độ Mẫu thỏa mọi nguyện
Bảo bình tuôn ra vô tận lượng
Ban cho tài phúc thoát mọi khổ
Con thuyền từ bi chở qua bờ.
  1. Trì thêm những tâm chú khác.
  1. Niệm Phật
Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)
  1. Hồi hướng.
  1. Bách tự minh chú. (3 biến)
  1. Đại lễ bái.
  1. Chú viên mãn.
Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.
Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.
**Chú thích:** Quán tưởng Bảo Nguyên Độ Mẫu nhập ngã hợp nhất: Bảo Nguyên Độ Mẫu hóa thành một điểm ánh sáng, từ lỗ đỉnh đầu của hành giả đi vào, ngồi trên đài hoa sen trong tim, sau đó phóng to lên đến khi bằng kích thước của  hành giả. Hai người hợp lại chặt chẽ, Bảo Nguyên Độ Mẫu tức là mình, mình tức là Bảo Nguyên Độ Mẫu, không hai không khác.

---
# File: nghi-quy-tu-tap/bat-dong-minh-vuong-hung-bien-phap.md
# Title: Bất Động Minh Vương hùng biện pháp
---

![image](/img/img_13546e2d41bda2defc436371c934e28f.jpg)



## Bất Động Minh Vương hùng biện pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

…

Ngoài ra còn một điểm nữa, nếu lưỡi không linh hoạt. Lưỡi của bạn nói chuyện không linh hoạt, thường xuyên biện luận thua người ta, vậy thì có cách.

Quán tưởng đuôi kiếm của Bất Động Minh Vương, “Nam-mô san-man-tô mô-thô-nam wa-zư-la lan hàn”, chữ “Han” này nằm ở đầu nhọn, chữ “Lan” thì ở chỗ thấp nhất của thanh kiếm, từng chữ từng chữ chồng lên nhau, quán tưởng từ lưỡi của bạn đến hải để luân, tức là kiếm của Bất Động Minh Vương, sau cùng cử động lưỡi vài cái, cuộn lưỡi lại, chuyển động mấy cái, “Lan. Han”. (Chữ Lan thì lưỡi cuộn xuống dưới, chữ Han thì lưỡi cuộn lên trên.) Lúc lắc cái lưỡi một lúc. Sau này bạn biện luận với người khác đều sẽ thắng, trở thành một nhà hùng biện. Đây cũng là một pháp. 

Các bạn là phụ nữ, nếu niệm pháp này, vậy thì sẽ cực kì đó, tất cả đàn ông sẽ đều phải nghe bạn. Nếu đàn ông niệm pháp này, thế thì ngang sức ngang tài rồi! Đây cũng là một pháp, gọi là pháp hùng biện. Lưỡi của bạn sẽ biến thành kiếm nhọn của Bất Động Minh Vương, mở miệng ra nói, người khác sẽ bị bạn khuất phục.

17/09/2011.

---
# File: nghi-quy-tu-tap/bat-dong-minh-vuong-niem-tung-phap.md
# Title: Bất Động Minh Vương niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_bf815a8874dd3e4fc1a1b1093adc424c.jpg)



## Bất Động Minh Vương niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Bất Động Minh Vương.
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-ki-a-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha.  


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_8621c676057ae5298aed49c9cf6e41bf.jpg)


**Kết ấn: bất động kiếm ấn**

Tay trái, tay phải đều kết kiếm chỉ, tay trái nắm lấy tay phải. Giữ ấn trước ngực.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán Không, niệm chú quán Không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời xanh vạn dặm không mây, có một nguyệt luân từ mặt biển nhô lên, trong nguyệt luân có một chữ Han (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu xanh lam, tỏa ánh sáng xanh lam. 

(2) Chữ Han xoay tròn hóa thành một vị Bất Động Minh Vương. Bất Động Minh Vương có một mắt trợn, một mắt hé, miệng ngậm chặt, lộ răng nanh (răng trên chúc xuống dưới, răng dưới chĩa lên trên), vẻ mặt phẫn nộ, quanh thân bốc lửa. Tay phải ngài cầm thanh kiếm rồng giữ trước ngực, phun ra lửa phượng hoàng, tay trái cầm chặt sợi dây thừng kim cang, có tướng đứng hoặc tướng ngồi trên tảng đá.

(3) Từ mi tâm luân của Bất Động Minh Vương phóng ra một đường ánh sáng trắng chiếu đến mi tâm của hành giả, từ hầu luân phóng ra một đường ánh sáng đỏ chiếu đến họng của hành giả, từ tâm luân phóng ra một đường ánh sáng lam chiếu đến tim của hành giả, ba ánh sáng trắng đỏ lam đi vào thân tâm, gia trì cho hành giả.


### Phần 14: Trì tâm chú Bất Động Minh Vương


**Tâm chú:**

“Nam-mô san-man-tô mô-thô-nam wa-zư-la lan hàn.” (108 biến)

**Cửu tự chân ngôn:**

“Lâm, binh, đấu, giả, giai, trận, liệt, tại, tiền.”


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Han), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Bất Động Minh Vương, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 

**Tụng tán:**

*Bát đại đồng tử là quyến thuộc
Uy lực kim cang mãi không ngừng
Hàng phục tứ ma tham sân si
Hộ trì Phật pháp cứu tam đồ.*


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


![image](/img/img_1e2ce471e293b5fbfde38b4b34e4a46f.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Bất Động Minh Vương


Bất Động Minh Vương có một mắt trợn, một mắt hé, miệng ngậm chặt, lộ răng nanh (răng trên chúc xuống dưới, răng dưới chĩa lên trên), vẻ mặt phẫn nộ, quanh thân bốc lửa. Tay phải ngài cầm thanh kiếm rồng giữ trước ngực, phun ra lửa phượng hoàng, tay trái cầm chặt sợi dây thừng kim cang, có tướng đứng hoặc tướng ngồi trên tảng đá.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị về lai lịch vĩ đại của Bất Động Minh Vương và khẩu quyết


Bất Động Minh Vương chiếm vị trí thủ tọa trong số tám đại Minh Vương, là biến hóa thân và giáo lệnh luân của bộ chủ của hai bộ Kim cương bộ và Thai tạng bộ là Đại Nhật Như Lai. 

Bất Động Minh Vương là vị phẫn nộ nhất trong số 18 vị phẫn nộ. Bất Động Minh Vương khá phổ biến trong Đông mật, Tạng mật thì ít gặp, là vị quan trọng nhất trong số các vị Kim Cang Minh Vương của Đông mật, là vị Đại Minh Vương chủ yếu nhất.

Ngũ Phật hóa thành Ngũ Kim Cang, Bát Đại Bồ Tát hóa thành Bát Đại Kim Cang, vị số một trong đó, hóa thân của trung ương Tỳ Lô Giá Na Phật chính là trung ương đại thánh Bất Động Minh Vương. Có thể nói, đây là vị lớn nhất trong số các vị Minh Vương, và uy lực của vị này là mạnh nhất, cho nên Ngũ Đại Minh Vương, Bát Đại Minh Vương đều lấy vị này đứng đầu.

Lời thề của Bất Động Minh Vương là: “Người nào thấy thân ta thì phát bồ đề tâm, người nào nghe tên ta thì bỏ ác tu thiện, người nào nghe ta nói thì đắc đại trí huệ, người nào biết tâm ta thì tức thân thành Phật.”

Chỉ cần bạn tương ứng với Bất Động Minh Vương thì có thể tức thân thành Phật. Chỉ cần hiểu tâm của Bất Động Minh Vương thì sẽ biết tâm mình, thì sẽ có thể nhìn thấy tâm mình, hiển hiện tâm mình, sau đó đầy ắp vũ trụ, trực tiếp tỉnh ngộ, thành tựu Phật quả.

Bất Động Minh Vương tổng cộng có tám đại đồng tử, cho nên trong bài kệ hồi hướng của pháp Bất Động Minh Vương có câu:

*Bát đại đồng tử là quyến thuộc
Uy lực kim cang mãi không ngừng
Hàng phục tứ ma tham sân si
Hộ trì Phật pháp cứu tam đồ.*

Bất Động Minh Vương là Phật Bồ Tát vì hàng phục tất cả ma và độ hóa những chúng sinh ngoan cố mà thị hiện thân phẫn nộ, nhìn bề ngoài thì rất uy mãnh, rất đáng sợ, đó là hình tượng Thánh bộc lộ từ trong tâm đại bi của Phật Bồ Tát, cũng tượng trưng cho ý nghĩa là dùng trí huệ quang minh để đối trị và hàng phục tất cả ác ma và chướng ngại. 

Nhờ Bất Động Minh Vương để hàng phục phiền não của chính mình, đây là chân đế quan trọng nhất của Bất Động Minh Vương. Không phải là hàng phục kẻ thù, thật ra kẻ thù chân chính là chính mình, bạn không thể hàng phục chính mình mà lúc nào cũng chỉ ra lỗi lầm của người khác thì bạn chính là đang bám chấp. Vì thế muốn tu hành chính là phải hàng phục chính mình trước, hàng phục bản thân mình rồi, diệt hết toàn bộ phiền não rồi, bạn mới có tư cách xưng mình là một yogi tu Mật giáo, điểm này vô cùng quan trọng, đây cũng là khẩu quyết rất quan trọng.

Bản thân Bất Động Minh Vương là thân kim cang của Tỳ Lô Giá Na Phật Đại Nhật Như Lai, vô cùng uy mãnh. Nói chung, Bất Động Minh Vương có mắt trái hé, mắt phải trợn rất to, môi dưới bặm lên môi trên, biểu thị tướng hết sức phẫn nộ. Toàn bộ thanh kiếm Bất Động Minh Vương của ngài đều có rồng quấn và tỏa ra lửa phượng hoàng, sự tỏa sáng chói lọi của phượng hoàng, vô cùng trang nghiêm, vô cùng uy vũ. Một tay ngài cầm kiếm, một tay cầm thừng kim cang, trên thừng kim cang có treo hai cái ấn, một cái là mandala Kim cương giới, một cái là mandala Thai tạng giới, biểu thị Bất Động Minh Vương cai quản tất cả Kim cương giới và Thai tạng giới, pháp ấn của Kim cương giới và Thai tạng giới đều nằm trong tay ngài.

Tu pháp Bất Động Minh Vương là bản thân phải hóa thành lửa kim cang (ngọn lửa thanh mát), toàn thân đều là lửa, dùng sợi thừng kim cang để trói chặt ma, khiến chúng không thể cử động. Dùng kiếm kim cang Bất Động Minh Vương để chém đứt ba đường ác tham, sân, si. Dùng lửa kim cang Bất Động Minh Vương để thiêu cháy tất cả ô uế, đốt hết nghiệp chướng của bản thân hành giả.

Nếu muốn làm việc uy mãnh, chỉ cần niệm chú uy mãnh, còn bình thường cầu thỉnh ngài thì dùng chú ôn hòa là được. 

Bản thân ngài là vị Kim cang hành động, nếu có bất kì sự nghiệp gì cần thỉnh cầu ngài làm thì cần dùng chú uy mãnh, sau đó phải thỉnh ngài lập tức đi làm. 

Tu pháp Bất Động Minh Vương để đốt cháy hết nghiệp chướng của mình, có thể hàng yêu phục ma, phá chướng trừ tai, tăng phúc tăng huệ, quý nhân tương trợ, gia đình viên mãn, sản sinh đại kính ái. Tinh tấn tu trì có thể tức thân thành Phật, là một đại pháp vô cùng thù thắng.

Chủng tử tự của Bất Động Minh Vương là “Fan”, tức là “Han”, Fan và Han đồng âm. Giống với chú ngữ của Tỳ Lô Giá Na Phật là “Ôm ben-za ta-tu fan”, mà cũng là: “Ôm ben-za ta-tu han”, hai âm tuy rằng không giống nhau, nhưng là cùng một chữ, chính là “Han”. Chữ cuối cùng trong tâm chú của Bất Động Minh Vương cũng là “Han”, “lan han”, “Han” chính là đại diện cho Tỳ Lô Giá Na Phật, đại diện cho Bất Động Minh Vương. 

Thủ ấn của Bất Động Minh Vương có mấy loại:

1. Kiếm sao ấn (ấn cơ bản)

1. Lâm, binh, đấu, giả, giai, trận, liệt, tại, tiền (Cửu tự chân ngôn)

1. Tứ tung ngũ hoành (thiết tự quyết)

Nếu cảm thấy buổi tối ngủ không ngon, ngủ rất khó chịu, ngủ không được lâu, khi tỉnh dậy lại mệt mỏi, bạn làm ấn Bất Động Minh Vương tức là để kết giới, dùng Cửu tự chân ngôn thiết tự quyết của Bất Động Minh Vương để cắt thành cái giường của mình, dùng lưới kim cang để chụp lấy cái giường của bạn, tất cả tà ma oai đạo, yêu mị quỷ quái đều không thể tiến vào, bản thân sẽ nằm trong Cửu tự chân ngôn của Bất Động Minh Vương, bạn sẽ có thể ngủ rất ngon. Bình thường cứ 15 ngày thì cần làm một lần kết giới Cửu tự chân ngôn - ấn tứ tung ngũ hoành.

Khi trẻ con khóc ban đêm, trong nhà có trẻ con buổi tối khóc không dừng, cũng có thể dựa theo phương pháp này, vẽ “lâm, binh, đấu, giả, giai, trận, liệt, tại, tiền” về phía đứa bé. Nếu đứa bé khóc do bị quấy nhiễu thì đứa bé sẽ không thể ngủ yên, đặc biệt là khi có linh khác đến quấy nhiễu, bạn vẽ ấn này xong thì linh đó lập tức rời đi, đứa bé sẽ không khóc nữa. Vì thế, chữa trẻ con khóc đêm là dùng phương pháp này.

Bình thường có người muốn tiêu tai, trừ chướng, hoặc trị bệnh, bạn vẽ ấn tứ tung ngũ hoành về phía họ, nếu phải vẽ năm cái ấn thì biểu thị rằng nghiệp chướng của họ rất nặng, một ấn thì biểu thị nghiệp chướng của họ rất nhẹ. Tuy nhiên, việc bạn khoa tay vẽ giống như nổi lửa Hộ Ma, sẽ tiêu trừ toàn bộ nghiệp chướng. 

Nếu là vẽ về phía vong linh, rất dễ cởi bỏ những trói buộc của họ, để họ vãng sinh đến Tây phương Cực Lạc thế giới.

Ấn tứ tung ngũ hoành, nhỏ thì có thể dừng trẻ con khóc đêm, lớn thì có thể làm cho vong linh vãng sinh Phật quốc thanh tịnh, có thể thấy là uy lực lớn đến mức nào.

Nếu thân thể có bệnh, hoặc dùng thiết tự quyết để giúp người khác, thân thể người khác chỗ nào có bệnh thì dùng Cửu tự chân ngôn “lâm, binh, đấu, giả, giai, trận, liệt, tại, tiền” thiết tự quyết, nếu bạn có pháp lực thì bệnh sẽ tiêu trừ hết, nếu không có pháp lực thì giống như trẻ con cầm bút vẽ lên giấy thôi, không có ích gì. 

Nói chung, “lâm, binh, đấu, giả, giai, trận, liệt, tại, tiền”, chữ “tiền” là dùng hai bàn tay đẩy ra, nếu là có ma, có quỷ, có mị, quỷ rất hung, ma rất hung, mị cũng rất hung, nhưng chỉ cần đụng phải Cửu tự chân ngôn thì cũng giống như có Đại Nhật Như Lai ở đó, và Bất Động Minh Vương hóa thân của Đại Nhật Như Lai thì càng hung hơn, có thể đuổi ma quỷ đi. Vì thế, có người bị chiếm thân, hay bị linh nhập gì đó, về mặt tinh thần thuộc loại bệnh cho quỷ thần quấy nhiễu, thì đều có thể dùng phương pháp này để trị.

Trong số các pháp của Sư Tôn, Cửu tự chân ngôn thiết pháp là loại pháp được dùng nhiều nhất, cũng là một pháp có sức mạnh lớn nhất.

Bởi vì Bất Động Minh Vương là giáo lệnh luân của Đại Nhật Như Lai Tỳ Lô Giá Na Phật, cho nên Cửu tự chân ngôn thiết tự quyết cũng có sức mạnh vô cùng lớn, có thể dùng làm kết giới, có thể tiêu trừ bệnh tật, có thể quăng lưới tóm gọn kẻ thù, yêu ma quỷ quái đều chạy không thoát thiết tự quyết của Cửu tự chân ngôn. 

(Khi khẩn cấp, bố đàn đảo ngược có thể đặt gương ở bên dưới tượng Phật hoặc đặt trên nước, hoặc dùng chỉ đỏ để buộc và treo ngược tượng Phật.)

(Bài khai thị của Liên Sinh Hoạt Phật ngày 20/09/2006.)


### Liên Sinh Hoạt Phật khai thị về Ấn minh


Trong quá trình tu trì Mật giáo, ấn minh này vô cùng quan trọng, cái gọi là ấn minh chính là thủ ấn. Đối với thủ ấn của mỗi Bổn tôn, chúng ta đều phải hiểu, bởi vì có rất nhiều loại ấn minh, gần như đều khác nhau. Thậm chí trong thủ ấn của một vị cũng phân thành rất nhiều loại. Ví dụ Bất Động Minh Vương, ngài có thủ ấn căn bản của Bất Động Minh Vương, ngoài ra còn có kiếm khiếp ấn, còn có Bất Động Minh Vương bát đại đồng tử ấn, mỗi một vị đều khác nhau. Cho nên, về phương diện ấn minh mà nói, phải kết thủ ấn rất rõ ràng. Chú ngữ cũng như vậy, chú ngữ cũng có chú lớn, chú nhỏ, tâm chú, thậm chí từ thời cổ đại truyền đến hiện tại, mấy chú âm được truyền cũng có rất nhiều chỗ khác nhau. Vì thế, trên phương diện này phải nghiên cứu rất cẩn thận mới biết được.

Trên phương diện ấn minh, ngón tay của chúng ta tách ra, nó có quy định của nó. Không gọi là ngón út, ngón áp út, ngón giữa, ngón trỏ và ngón cái, mà dùng đất, nước, lửa, gió, không. Đất là ngón út, nước là ngón áp út, lửa là ngón giữa, gió là ngón trỏ, không là ngón cái. Giả sử nói là nội giao thoa, ngoại giao thoa, nội giao thoa tức là nội phộc, ngoại giao thoa tức là ngoại phộc, đều có phân biệt. 

Ví dụ ấn căn bản của Bất Động Minh Vương, chỉ nói là nội phộc, rồi giơ thẳng, tức là giơ thẳng “phong chỉ” (ngón trỏ), ấn căn bản là giơ thẳng phong chỉ, đỉnh “tương xúc”, tương xúc tức là chạm vào nhau. Cho nên bạn đọc trên pháp bản miêu tả là đầu tiên nội phộc, giơ thẳng phong chỉ, đầu ngón tay tương xúc. Hai “không chỉ” tức là hai ngón cái này, không chỉ phải đè lên không chỉ trái, sau đó ấn vào “hỏa giáp”. Hỏa giáp là cái gì? Hỏa tức là ngón giữa, giáp tức là móng tay. Vì thế bạn phải hiểu rõ những thứ được viết trong pháp bản này. Trong Mật giáo có rất nhiều pháp bản. Đất, nước, lửa, gió, không, nó có giải thích là đầu tiên nội phộc, nội giao thoa, dựng phong chỉ, đỉnh tương xúc, không chỉ phải đè lên không chỉ trái, ấn vào hỏa giáp. Bình thường người nào không hiểu thì không cách nào làm theo được. Đây chính là ấn căn bản của Bất Động Minh Vương. 

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/bat-khong-quyen-sach-quan-am-niem-tung-phap.md
# Title: Bất Không Quyến Sách Quan Âm niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_ea1a7c2df2905a0db8aee27c379493c3.jpg)



## Bất Không Quyến Sách Quan Âm niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Bất Không Quyến Sách Quan Âm.
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_6dc5091e7e8b87e114898502ebef6ae8.jpg)


**Kết ấn: **

Đầu tiên hai tay chắp lại, sau đó ngón trỏ và ngón cái đan ngoại phộc, ngón cái tay phải đặt vươn ra đặt vào lỗ hổng ở tay trái. 

Hoặc đầu tiên hai tay chắp lại, hai ngón trỏ cong lại chồng lên nhau (ngón phải đè lên ngón trái), hai ngón cái bắt chéo nhau (ngón phải đè lên ngón trái) và vươn vào bên trong lòng bàn tay. 

Hoặc đầu tiên hai tay chắp lại, hai ngón trỏ cong lại chồng lên nhau (ngón phải đè lên ngón trái), hai ngón cái vẫn giơ thẳng và tựa vào ngón trỏ.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn trời xanh vạn dặm không mây, có một nguyệt luân từ dưới mặt biển nhô lên, trong nguyệt luân có chủng tử chữ Mo (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu trắng phóng ra ánh sáng trắng.

(2) Chữ Mo xoay tròn hóa thành một vị Bất Không Quyến Sách Quan Âm thân màu trắng, ba mặt bốn cánh tay, mỗi khuôn mặt có ba mắt, tay phải cầm chuỗi niệm hạt, tay phải tiếp theo cầm tịnh bình, tay trái cầm hoa sen, tay trái tiếp theo cầm sợi dây thừng.

(3) Thiên tâm của Bất Không Quyến Sách Quan Âm phóng ra một đường ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả, họng của ngài phóng ra một đường ánh sáng đỏ chiếu thẳng đến họng của hành giả, tâm luân của ngài phóng ra một đường ánh sáng lam chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng trắng đỏ lam đi vào hòa nhập vào thân tâm hành giả, gia trì cho hành giả.


### Phần 14: Trì tâm chú Bất Không Quyến Sách Quan Âm


Tâm chú: Ôm a-mô-ga pi-sê-ya hùm pan cha. (108 biến)

Bất Không Mani cúng dường chân ngôn: Ôm a-ma-ka pê-ka ma-ni pat-mê wa-zư-la ta-tha-ka-ta wê-nô-ka-ta sa-man-ta pô-la-sa-ra hom. 

(Khi tụng chú này có thể kết thủ ấn Bất Không Quyến Sách Quan Âm. Mỗi lần tu pháp hoặc mỗi ngày có thể niệm thêm câu chú này 3 biến, sẽ thành quảng đại cúng dường.)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Hum), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Đại Lực Kim Cang, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 

**Tụng tán:**

Bất Không Quyến Sách uy thần lực
Quan Âm Bồ Tát thề nguyện sâu
Từ bi hộ niệm giới hữu tình
Bình đẳng tiếp dẫn đến Phật quốc.


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


![image](/img/img_0f403fafe14a80bfc843fa77821e757b.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Bất Không Quyến Sách Quan Âm 


Bất Không Quyến Sách Quan Thế Âm Bồ Tát thân màu trắng, ba mặt bốn tay, mỗi khuôn mặt có ba mắt, tay phải cầm chuỗi niệm hạt, tay phải kia cầm tịnh bình, tay trái cầm hoa sen, tay trái kia cầm sợi dây thừng.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị về lai lịch của Bất Không Quyến Sách Quan Âm và khẩu quyết tu pháp


Bất Không Quyến Sách Quan Âm là một trong số bảy vị Quan Âm trong viện Quan Âm, là một hóa thân của Quan Thế Âm Bồ Tát. Trong mandala Thai Tạng Giới ngài là một vị Quan Âm vô cùng vĩ đại, ngài có pháp lực tương đương với Chuẩn Đề Phật Mẫu, cho nên vị Quan Âm này cực kì quan trọng.

Bất Không Quyến Sách Quan Âm có ba đầu bốn tay, mỗi khuôn mặt đều có ba con mắt. Bốn cánh tay, một tay cầm chuỗi hạt, niệm tên của ngài thì sẽ được tiếp dẫn; một tay cầm hoa sen, tu pháp của ngài được hóa sinh từ hoa sen, tai nạn đều diệt, nghiệp chướng tiêu trừ, gia tăng phúc phần; một tay cầm tịnh bình, phàm người có nghiệp chướng, dùng nước cam lộ trong tịnh bình, nghiệp chướng lập tức tiêu trừ, bất luận là địa ngục, ngạ quỷ hay súc sinh, nghiệp chướng đều tiêu trừ toàn bộ; một tay cầm sợi thừng, dùng sợi thừng để trói chặt thứ mình muốn, để cho mọi nguyện vọng đều có thể đạt thành, cũng có thể dùng sợi thừng để tiếp dẫn đến Tây phương Cực Lạc thế giới. Có một số chúng sinh cõi u minh u mê mơ hồ, có một số bị mù mắt, có một số chẳng biết suy nghĩ gì, họ không muốn đến Phật quốc tịnh thổ, chỉ cần bạn cầu Bất Không Quyến Sách Quan Âm, sợi thừng của ngài có thể tung ra, trói chặt lấy người này và đưa đến Phật quốc tịnh thổ.

Bất Không tức là mọi điều mong cầu đều sẽ không hỏng, dùng sợi dây thừng để trói chặt nguyện vọng, để hoàn toàn có thể đạt được nguyện vọng ấy. 
Bình đẳng tiếp dẫn chính là bất kể bạn là ai, không phân thiện ác tốt xấu, ngài nhất loạt đều tiếp dẫn, không có phân biệt, bất kì ai cầu đến ngài đều có thể có cảm ứng, đều có thể tương ứng.

Thề nguyện vĩ đại nhất của ngài chính là nằm ở sợi thừng, nằm ở “bất không”. Ngài có thể tiêu tai, tăng ích, kính ái, hàng phục, tất cả đều vô cùng viên mãn.

Bất Không Quyến Sách Quan Âm cũng có thể giúp ích cho người đang kiện cáo, bởi vì ngài là “bất không”, nếu bạn hướng về ngài cầu nguyện cho việc kiện cáo thì có thể thuận lợi, sợi thừng của ngài một khi được quăng ra sẽ trói chặt kẻ khốn kia, khiến hắn không thể cử động, còn bạn có thể hoạt động nên việc kiện tụng của bạn sẽ thắng, đây cũng là việc tốt.

Cúng dường Bất Không Quyến Sách Quan Âm, Quan Thế Âm Bồ Tát, Thiên nữ, Không hành mẫu là có bí quyết. Phải dùng phấn phủ, son môi, bút kẻ lông mày, gương, lông mi giả, phấn thơm, nước hoa để cúng dường. Và bạn cũng có thể gìn giữ được diện mạo thanh xuân xinh đẹp, cũng có thể sống lâu, Bất Không Quyến Sách Quan Âm có sức mạnh như vậy.

Cúng dường Phật Bồ Tát, chỉ cần bạn thích thì các vị sẽ thích; cúng dường chư Thiên, cúng dường Thần, thì là các vị thích cái gì thì bạn cúng dường các vị cái đó, đây là bí quyết của việc cúng dường, như vậy sẽ dễ tương ứng. 

“Om amoga pisheya hum pan cha” là câu chú ngắn của Bất Không Quyến Sách Quan Âm. Amoga (Amogha pāśa) là tên của Bất Không Quyến Sách Quan Âm. 

Bất Không Mani cúng dường chân ngôn, quang minh chân ngôn đều là do Bất Không Quyến Sách Quan Âm biến hóa ra, cũng chính là cúng dường quảng đại bất không.

Bất Không Mani cúng dường chân ngôn: Om amogha puja mani padma vajre tathagata vilokite samanta prasara hum. Câu chú cúng dường bí mật này chỉ cần niệm 3 biến là tương đương với quảng đại cúng dường, khi đi ra ngoài du lịch có thể niệm chú này 3 biến.

Quang minh chân ngôn (Tì Lô Giá Na Phật đại quán đảnh quang chân ngôn): Om amoga vairochana maha mudra mani padma jvala pravattaya hum. Quang minh chân ngôn này là Bất Không Đại Nhật Như Lai đại ấn, có ý nghĩa là ánh sáng của hoa sen quý báu, chuyển tội diệt họa, chứng đắc bồ đề tâm kim cương bất hoại. 


### Bất Không Mani cúng dường chân ngôn của Bất Không Quyến Sách Quan Âm Bồ Tát:


Om amogha puja mani padma vajre tathagata vilokite samanta prasara hum.

1. Trước khi tu pháp bất kì, trì tụng chú này, có thể khiến trong hư không pháp giới hiện lên thánh vật cúng dường vô lượng vô biên bất khả tư nghì. (Đây là lợi ích và công đức của chú này.)

1. Nếu lấy ví dụ về phúc đức chỉ tụng mỗi câu chú này thì dùng thất bảo đầy ắp cả tam thiên đại thiên thế giới, rải đầy hoa vàng bạc, mỗi ngày ba thời cúng dường Như Lai ở khắp tam thiên đại thiên thế giới cũng không bằng một phần mười sáu phúc đức chỉ tụng mỗi câu chú này. 

1. Sáng tối mỗi lần tụng 7 biến thì nghiệp tội vô gián cũng được giải thoát.

1. Hóa sinh hoa sen, vĩnh viễn không thai sinh, và có thể nhớ lại các kiếp trước. Về sau luôn luôn được hóa sinh từ hoa sen, vĩnh viễn không thai sinh, không còn chuyển thế nữa. Lại có thể nhớ được nhân duyên của kiếp trước, có thể nói là túc mệnh thông. Cái này chính là công đức. 

Sáng tối mỗi lần tụng 7 biến thì nghiệp tội vô gián cũng được giải thoát - đây chính là ứng dụng.

Có lợi ích lớn như vậy, hi vọng mỗi người đều có thể trì tụng, vẻn vẹn một câu chú này là được rồi, từ nay trở về sau sẽ vĩnh viễn được hóa sinh từ hoa sen, không phải sinh ra từ bào thai nữa. Ngoài ra, công đức lớn như vậy khiến cho nghiệp tội vô gián cũng có thể được giải thoát. 

Bản thân tôi bình thường quán tưởng ở bên dưới thangka có một món cúng phẩm (ở dưới thấp nhất), chính là mấy hũ tròn có nắp đậy bên trên (bình có nắp), có vài cái đặt liền cạnh nhau, đó chính là cúng phẩm, thất trân bát bảo, mọi vị thuốc, tất cả mọi thứ đều ở trong đó, cái đó gọi là bảo vật mani. Sau đó quán tưởng thành cúng dường nhiều như mây, rồi niệm 7 biến chú, đó chính là quảng đại cúng dường. Bạn hãy quán tưởng những thứ này biến thành cúng dường nhiều như mây, sau đó lại niệm 7 biến chân ngôn cúng dường của Bất Không Quyến Sách Quan Âm, tức là quán tưởng và trì chú, làm theo phương pháp như vậy. Mỗi lần làm quán tưởng như vậy, trì 7 biến chân ngôn chính là quảng đại cúng dường.


![image](/img/img_2e721b9193d389b83a807ad8def0ff9e.jpg)


Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/bat-khong-thanh-tuu-phat-niem-tung-phap.md
# Title: Bất Không Thành Tựu Phật niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_ddc4ee3b4bd18659e1108eb229e08c70.jpg)



## Bất Không Thành Tựu Phật niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

Bất Không Thành Tựu Phật là vị Phật của phương Bắc, là một trong năm vị Phật của Kim cương giới, tức là giữ vị trí trong Kim cương giới mandala thành thân hội đẳng ngũ giải giới luân, là vị Như Lai ở giữa nguyệt luân hướng chính Bắc. Trong Mật giáo Thai tạng giới được gọi là Bắc Phương Thiên Cổ Lôi Âm Phật, là bộ chủ của Yết ma bộ. 

Trong kinh điển Hiển giáo thì gọi ngài là Thiên Cổ Âm Phật hoặc Lôi Âm Vương Phật. Mật hiệu của ngài là Tất Địa Kim Cang và Thành Tựu Kim Cang.

Bởi vì tác pháp, giải trừ phiền não của chúng sinh, thành tựu tất cả đại nguyện, không bao giờ thất bại, cho nên mới gọi là Bất Không Thành Tựu Như Lai. Vị Như Lai này còn được gọi là Khai Phu Hoa Vương Như Lai, có thể là vì vạn hạnh đại bi của ngài, chúng sinh đều có thể đắc quả bồ đề. 


![image](/img/img_ba3fc7016879aad1d301c810c4a91b2e.jpg)



### Nghi quỹ


Trước tiên, thỉnh cầu Căn bản Thượng sư gia trì: 

Đầu tiên quán không, sau đó quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật trụ ở đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì tâm chú Liên Hoa Đồng Tử 7 biến, cầu nguyện tu pháp viên mãn. Niệm văn thỉnh cầu Liên Sinh Hoạt Phật gia trì 1 biến.

Tiếp theo, làm quán tưởng tứ vô lượng tâm. Làm thủ ấn đánh thức (vỗ tay hai lần, bắt chéo hay tai, búng ngón tay). 

1. Chú thanh tịnh và An thổ địa chân ngôn.

1. Chú triệu thỉnh.

1. Đại lễ bái.

1. Đại cúng dường.

1. Tứ quy y.

1. Mặc bia giáp hộ thân.

1. Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (1 biến)

1. Chú Vãng sinh (7 biến)

1. Căn bản Truyền thừa Thượng sư tâm chú
Om guru liansheng siddhi hum. (108 biến)

1. Kết ấn và quán tưởng:
Kết ấn: thủ ấn Bất Không Thành Tựu Phật. Tay trái ngửa lên, để trước rốn. Tay phải làm ấn thí vô úy, lòng bàn tay hướng ra phía trước, năm ngón tay giơ thẳng, để trước ngực.
Chủng tử tự: Chữ Ah màu xanh lục.
Quán tưởng: 
Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)
(1) Trên mặt biển lớn, trời xanh vạn dặm không mây, nguyệt luân từ mặt biển nhô lên hư không, trong nguyệt luân có chủng tử chữ Ah phóng quang. 
(2) Quán tưởng chữ Ah trong nguyệt luân xoay tròn, hóa thành Bất Không Thành Tựu Phật. 
Bất Không Thành Tựu Phật thân màu xanh lam, khoác áo cà sa, có 32 tướng tốt. Tay trái ngửa lên, để trước ngực. Tay phải làm ấn thí vô úy, lòng bàn tay hướng về phía trước, năm ngón tay giơ thẳng, để trước ngực. Ngồi trên đài hoa sen.
(3) Quán tưởng thiên tâm của Bất Không Thành Tựu Phật phóng ra một đường ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả. Từ họng ngài phóng ra một đường ánh sáng đỏ chiếu thẳng đến họng của hành giả. Tâm luân của ngài phóng ra một đường ánh sáng xanh lam chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng trắng, đỏ, lam tan vào thân tâm của hành giả.

1. Trì tâm chú Bất Không Thành Tựu Phật. Làm quán tưởng chuỗi hạt.
Ôm. A-mo-ga sit-đi. Ưa. (108 biến)

1. Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa.

1. Xuất định.

1. Trì thêm những tâm chú khác.
Ôm a-mi-tê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)

1. Niệm Phật.
Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)

1. Hồi hướng.

1. Niệm Bách tự minh chú 3 biến.

1. Đại lễ bái.

1. Chú viên mãn.
Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.

**Chú ý:** Về hình tượng của Bất Không Thành Tựu Phật, xin tham khảo văn tập Liên Sinh Hoạt Phật số 54 “Mật tông Yết ma pháp” - Thành tựu vô thượng của Ngũ Phật.


### Liên Sinh Hoạt Phật khai thị tâm yếu khẩu quyết


Bắc Phương Bất Không Thành Tựu Phật thuộc về bộ chủ của Yết ma bộ. 

Trên thân thể con người chúng ta, trung ương Tỳ Lô Giá Na Phật ở tại mi tâm luân (màu trắng), A Di Đà Phật ở tại hầu luân (màu đỏ), ở tâm luân là A Súc Phật (màu vàng), ở tề luân là Bảo Sinh Phật (màu lục), Bắc Phương Bất Không Thành Tựu Phật là Yết ma bộ ở tại mật luân (màu đen, màu lục). 

Trong Hiển giáo, Bất Không Thành Tựu Phật tương đối không được người ta quen thuộc, cũng rất ít khi được mọi người lễ bái và thờ cúng đơn độc một mình. Ngài hiển thị ý nghĩa chủ yếu trên phương diện quán tưởng và tu pháp trong Mật giáo.

Trong tranh ảnh Mật giáo, xung quanh Bất Không Thành Tựu Phật thông thường đều có bố trí bốn vị Bồ Tát. Phương vị và màu sắc của bốn vị Bồ Tát này là: phía trước là Kim Cang Nghiệp Bồ Tát, màu da; bên phải là Kim Cang Hộ Bồ Tát, màu xanh; bên trái là Kim Cang Nha Bồ Tát, màu vàng; sau lưng là Kim Cang Quyền Bồ Tát, màu xanh.

Thủ ấn của Bất Không Thành Tựu Như Lai là tay phải ấn vô úy, tay trái ấn ban nguyện. Ấn vô úy tức là tất cả mọi thứ đều không sợ hãi, việc gì cũng đều có thể giải quyết được. Vì thế, ngài là bộ chủ của Yết ma bộ, Yết ma tức là sự nghiệp, ngài là vị Phật mà bất kì sự nghiệp gì cũng đều có thể thành tựu. Trí huệ của ngài được gọi là “thành sở tác trí”, sự việc gì cũng đều có thể thành tựu.

Khi làm pháp phải kéo pháp y của bạn, tay kết ấn vô úy, tu pháp như thế là được. Hoặc là, tay phải kết ấn vô úy, tay trái kết ấn quyền, có thể quán tưởng thân tướng là thân tướng của Như Lai, thân tướng của Như Lai thì tất cả đều như nhau, chỉ là thủ ấn khác mà thôi, chú ngữ cũng khác. Có thể quán tưởng thân tướng màu đen, màu lam, màu lục, màu vàng, tất cả các tướng của Như Lai đều giống nhau.

Đặc thù quán đảnh của Bất Không Thành Tựu Như Lai là dùng bình quán đảnh, dùng bình hoa màu xanh lục. Thượng sư dùng bình hoa màu xanh lục chạm vào hai tay và hai chân của bạn. Vì sao lại chạm vào tay chân? Bởi vì tay và chân là thứ cơ bản của sự nghiệp, có thể làm rất nhiều việc, Yết ma chính là sự nghiệp. Tất cả tu pháp trong Mật giáo, những pháp mà bạn làm toàn bộ đều thành tựu, sẽ không thất bại, đây là ý nghĩa đặc biệt của vị này.

---
# File: nghi-quy-tu-tap/bat-nha-phat-mau-niem-tung-phap.md
# Title: Bát Nhã Phật Mẫu niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_787f64be23caa871c33074b03424f581.jpg)



## Bát Nhã Phật Mẫu niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


(1) Quán Không.

(2) Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (7 biến)

(3) Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

(4) Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô chủ tôn tu pháp Bát Nhã Phật Mẫu. (x3)

(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)

Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê. 

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Mặc giáp hộ thân


Kết thủ ấn chắp tay kim cang, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cang thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Phụng thỉnh bát đại Bồ Tát
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Kim Cang Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Diệu Cát Tường Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.

Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ thất Phật. Vị lai hiền kiếp thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Niệm danh hiệu Phật sáu phương
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyệt Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Hết thảy chúng sinh trung ương, chư vị trong Phật giới, trú ngụ trên mặt đất, cho đến tại không trung, thương lo cho tất cả chúng sinh. Ai cũng an ổn tốt lành. Ngày đêm tu trì. Tâm thường cầu tụng kinh này. Diệt được khổ sinh tử. Tiêu trừ hết độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Tụng bản kinh không ngừng. Thất Phật Thế Tôn. Liền nói chú sau:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-lô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-ki-a-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha” (7 lần)

Mười phương Quan Thế Âm. Hết thảy chư Bồ Tát.
Đã thề cứu chúng sinh. Xướng danh tất giải thoát.

Nếu gặp người trí tuệ. Ân cần mà giảng nói.
Lại có đủ nhân duyên. Đọc tụng không ngơi nghỉ.
Tụng kinh tròn nghìn biến. Niệm niệm tâm không dừng.
Gặp lửa cháy chẳng sao. Việc đao binh cũng thoát.
Nóng giận thành vui vẻ. Chết rồi hóa sống vui.
Đừng nghĩ rằng không đúng. Chư Phật chẳng nói chơi.
Cao Vương Quan Thế Âm. Cứu được hết khổ nạn.
Lúc khó khăn nguy cấp. Người chết còn thành sống.
Chư Phật chẳng nói đùa. Vì vậy nên đảnh lễ.
Niệm tụng trọn nghìn lần. Tội nặng đều tiêu diệt.
Người có phúc tín tâm. Hãy chuyên tâm đọc tụng.

Nguyện mang công đức này. Gửi tới hết chúng sinh.
Tụng tròn một nghìn biến. Tội nặng đều tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (Hết)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_acc2c13a2f5fa3872e1db2b55215ae9e.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn Bát Nhã**** Phật Mẫu**

Hai lòng bàn tay úp vào nhau giống như quyển kinh, tay phải úp tay trái ngửa, giữ thủ ấn trước rốn.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời xanh vạn dặm không mây, có một nguyệt luân từ dưới biển nhô lên, ở giữa nguyệt luân xuất hiện chủng tử tự chữ "Ah" (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu vàng phóng quang và xoay chuyển hóa thành Bát Nhã Phật Mẫu.

(2) Bát Nhã Phật Mẫu hiện thân sắc màu vàng, có một đầu bốn tay, đầu đội mũ thiên nữ, mặc thiên y váy xếp, đeo vòng tai vòng tay, chuỗi ngọc làm đồ trang sức, pháp tướng trang nghiêm. Hai tay ngài kết Di Đà định ấn ở phía trước, tay trái còn lại cầm quyển kinh bát nhã, tay phải còn lại cầm chày kim cang chín cổ màu vàng.

(3) Quán tưởng từ thiên tâm của Bát Nhã Phật Mẫu phóng ra một đường ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả, từ họng của ngài phóng ra một đường ánh sáng đỏ chiếu đến họng của hành giả, từ tâm luân của ngài phóng ra một đường ánh sáng màu xanh lam chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng đi vào thân tâm hành giả, gia trì cho hành giả thân tâm thanh tịnh.


### Phần 14: Trì tâm chú Bát Nhã Phật Mẫu


Tâm chú: 

(Tê-ya-tha) Ôm gê-tê gê-tê pô-lô-gê-tê pô-lô-sâng-gê-tê pu-thi sô-ha. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Ah), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Bát Nhã Phật Mẫu, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định.


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-tê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hum.


![image](/img/img_5083bf7bbc34844c97322f349bf18f74.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Bát Nhã Phật Mẫu


Bát Nhã Phật Mẫu hiện thân sắc màu vàng, có một đầu bốn tay, đầu đội mũ thiên nữ, mặc thiên y váy xếp, đeo vòng tai vòng tay, chuỗi ngọc làm đồ trang sức, pháp tướng trang nghiêm. Hai tay ngài kết Di Đà định ấn ở phía trước, tay trái còn lại cầm quyển kinh bát nhã, tay phải còn lại cầm chày kim cang chín cổ màu vàng.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị lai lịch vĩ đại của Bát Nhã Phật Mẫu và khẩu quyết tu pháp


Bát Nhã Phật Mẫu là một vị Phật Mẫu lớn nhất, là mẫu thân của mọi vị Phật. Bởi vì khi Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế đã thuyết kinh Đại Bát Nhã, bản cô đọng từ kinh Đại Bát Nhã chính là Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh mà chúng ta thường xuyên nhắc tới, tên thường gọi là kinh Kim Cang, và bản cô đọng từ kinh Kim Cang chính là kinh Tâm, vì thế kinh Đại Bát Nhã, kinh Kim Cang, kinh Tâm thật ra là thuộc một bộ. Lần chuyển pháp luân thứ hai của Phật Thích Ca Mâu Ni chính là thuyết pháp môn Bát Nhã. 

Tất cả chư Phật đều từ trong kinh Đại Bát Nhã ở lần chuyển pháp luân thứ hai mà sinh ra, vì thế, Phật Mẫu tối cao của pháp môn Bát Nhã được gọi là Bát Nhã Phật Mẫu, cũng tức là vị Phật Mẫu sinh ra tất cả chư Phật, vì thế, pháp lực của ngài là vô cùng lớn, trí huệ mà ngài ban cho là vô cùng vô tận.

Ba lần chuyển pháp luân của Phật Thích Ca Mâu Ni, lần chuyển pháp luân thứ nhất chính là cái “Không” của Hoa Nghiêm, lần chuyển pháp luân thứ hai chính là “tính Không” của Bát Nhã, lần chuyển pháp luân thứ ba là “phân biệt tính Không” của Duy Thức. 

Bát Nhã Phật Mẫu là vị đứng đầu của mọi Phật Mẫu, là Phật Mẫu tối cao, chính vì có trí huệ như vậy mới có thể đạt đến bỉ ngạn. Phật Thích Ca Mâu Ni là bậc trí huệ tối cao, mọi vị Phật đều là các bậc trí huệ tối cao, chỉ có đại trí huệ mới có thể đạt đến quả vị Phật giác ngộ.

Maha có nghĩa là lớn, bát nhã chính là tự như tự tại, ba la mật chính là đạt đến bỉ ngạn, trí huệ tự tính thanh tịnh chính là bát nhã, chính là đến đi tự như tự tại, trí huệ tự tính thanh tịnh này, ba la mật này chính là bến bờ bên kia.

Bát Nhã Phật Mẫu có thân tướng màu vàng, đội mũ của thiên nữ, tướng mạo giống như thiếu nữ 16 tuổi, ngài có bốn cánh tay, một tay cầm kinh Bát Nhã, một tay cầm chày  kim cang, hai tay còn lại thì kết định ấn, vô cùng trang nghiêm.

Trong Phật giáo có nói một câu: “Luân - niết bất nhị.” Luân tức là luân hồi, niết tức là niết bàn, vì sao lại “luân-niết bất nhị”? Đây chính là trí huệ của bát nhã, Bát Nhã Phật Mẫu chính là đến từ đây. Ngài cầm kinh Bát Nhã, cầm chày kim cang bất hoại, hai tay kết định ấn, ở trong định. Thủ ấn của ngài là ấn kinh điển, tay phải ở trên, tay trái ở dưới, úp lòng bàn tay vào nhau, đây chính là thủ ấn của Bát Nhã Phật Mẫu. 

Mật giáo gọi trí huệ là Phật Mẫu, thậm chí gọi kinh điển của bát nhã là kinh Phật Mẫu. 
Phật Mẫu cũng có ý nghĩa là người mẹ sinh ra tất cả trí huệ, thậm chí coi tất cả Phật đều là từ Phật Mẫu sinh ra.
Trí huệ ở đây tượng trưng cho: Đại lạc. Quang minh. Hư không. 

Nói tóm lại, Phật Mẫu tượng trưng cho trí huệ, trí huệ tượng trưng cho hư không, hư không sinh ra tất cả. Phật Mẫu của Mật giáo trợ giúp hành giả: đại lạc, quang minh, giải thoát, thành Phật bồ đề.
Vô số Phật đều từ vô số Phật Mẫu sinh ra. 
Địa vị của Bát Nhã Phật Mẫu là cao quý nhất, ngài là suối nguồn của trí huệ, tương đương với Phật. Ngài là bậc giác tri, là bậc giác ngộ, là Phật Mẫu vô thượng.

Vô Ngã Mẫu, Phẫn Nộ Mẫu, Kim Cang Mẫu, Kim Cang Hợi Mẫu, Tổng Trì Mẫu, Bát Nhã Mẫu đều cùng một hệ thống, chính là từ Bát Nhã Phật Mẫu cứ thế từng lớp từng lớp liên tục như vậy. Bản thân Phật Mẫu có sức mạnh rất vĩ đại, bởi vì Mẫu tức là sinh ra tất cả, sinh ra tất cả mới gọi là Mẫu. 

Tu hành Mật giáo có bốn trọng điểm, trọng điểm thứ nhất là quán tưởng, trọng điểm thứ hai là trì chú “(Tê-ya-tha) Ôm gê-tê gê-tê pô-lô-gê-tê pô-lô-sâng-gê-tê pu-thi sô-ha.” Trọng điểm thứ ba là kết ấn, khi bạn đã trì chú xong và nhập tam muội địa thì bạn phải kết ấn hộp kinh bát nhã này. Trọng điểm thứ tư là nhập tam muội địa.

Điểm quan trọng chính yếu là Bát Nhã Phật Mẫu giáng xuống, Ngũ Phật giáng xuống, toàn bộ các vị hóa thành ánh sáng tiến vào trong tâm của hành giả, toàn bộ thân tâm của hành giả đều tràn đầy cam lộ. Có nghĩa là từ đỉnh đầu cho đến bàn chân, cho đến tận ngón chân, toàn bộ các lỗ chân lông đều là cam lộ, khí mạch toàn thân, tất cả mọi nơi trên thân thể đều tràn đầy cam lộ, đây là một điểm quan trọng. Nhập ma muội địa xong thì xuất định. 


![image](/img/img_686b4098bd1b2b509e76711a289d9fdc.jpg)


Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/bi-mat-phap-dieu-tri-kim-mau-lap-tuc-co-tien.md
# Title: Bí mật pháp Diêu Trì Kim Mẫu lập-tức-có-tiền
---

![image](/img/img_4a36b1719e550a250e496ed2685ce718.png)



## Bí mật của pháp Diêu Trì Kim Mẫu lập-tức-có-tiền


Tác giả: Liên Từ Kim Cương Thượng Sư 
Thời gian: 2013
Địa điểm: Chân Phật Báo
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam


---


Pháp có tên gọi Hán Việt là Kim Mẫu Mã Thượng Hữu Tiền. "Mã Thượng" nghĩa đen là "trên lưng ngựa", nhưng trong khẩu ngữ nó cũng có nghĩa là "ngay lập tức". Vì thế tu tập pháp này là phải quán tưởng mời "Một con ngựa linh, trên lưng có tiền, được Kim Mẫu phái mang tới." Chi tiết về nghi quỹ các hành giả được quán đảnh tất sẽ có. Giờ kính mời quý huynh đệ đọc một bài viết rất thú vị về pháp này để tìm hiểu thêm.

Gần đây tôi nghe được tin tức rằng rất nhiều đồng môn và người nhà bị mắc bệnh ung thư, đều là đột nhiên phát bệnh, hơn thế nữa tuổi nào cũng đều có người mắc. Trong Chân Phật Báo số 928 trang 16 đã đăng một bài viết được kí tên bởi một đệ tử Chân Phật, kể về cảm ứng của bản thân khi tu trì Kim Mẫu Bát Đại Pháp.

Người đệ tử này liên tục mỗi ngày đều tu Kim Mẫu Bát Đại Pháp, không có một ngày nào gián đoạn. Không những độ cận thị và lão hóa của mắt đã giảm đi, cái mụn cơm ở phía sau eo từ lâu khiến cho bà đau không thể chịu đựng được cũng đã hoàn toàn khỏi sau vài tháng bà tu trì pháp Kim Mẫu. Còn nữa, ngón tay bị nhiễm trùng, vị trí đầu mắt từ lâu thường có polyp [những mô phát triển bất thường trông giống như những vết sẹo nhỏ, bằng phẳng hoặc giống như các thân nấm nhỏ], gân cánh tay bị sưng viêm, thường bị cảm (những bệnh trên uống thuốc đều không có hiệu quả), thì đều đã khỏi. Điều thần kì nhất là có một cái u cỡ hạt ngô dài 1cm bên trong dạ dày trong vòng một năm đã hoàn toàn biến mất. Các ví dụ về cảm ứng tương tự như vậy nhiều không kể hết.

🌟

Trong thời kì kinh tế khó khăn như hiện nay, nhập thế khó khăn, xuất thế lại càng khó khăn. Tất cả những chướng ngại một khi đã đến, thọ chướng, bệnh chướng, tai họa thiên nhiên và do con người gây ra không ngừng dứt. Do vậy, tôi nghiêm túc thay mặt mọi người gợi ý Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đích thân truyền pháp Kim Mẫu, bao gồm Kim Mẫu Bát Đại Pháp và pháp Kim Mẫu lập-tức-có-tiền để có thể hỗ trợ Phật tử nhập thế, xuất thế được bình an như ý.

Có đồng môn hỏi: "Vì sao tôi tu pháp Kim Mẫu lập-tức-có-tiền, tôi cũng có cảm ứng là nhìn thấy ngựa đến, nhưng tiền thì không thấy đến, là vì sao?"

Nguyên nhân là tại chính bản thân người tu pháp, không phải là do pháp không linh nghiệm, mà là do người tu pháp ngay từ đầu đã bị nhầm lẫn. Tôi tin rằng có nhiều đồng môn khi tu pháp lập-tức-có-tiền, đã tập trung vào ý trên người con ngựa, đây là đã bỏ qua điều cơ bản mà lại tập trung vào chi tiết.

Lấy một ví dụ, có một đồng môn tu pháp lập-tức-có-tiền, bà hỏi tôi, chỉ cần bà nghĩ đến con ngựa một cái thì toàn thân linh động, vì sao vậy? Tôi nói với bà rằng trong hư không có rất nhiều các linh ngựa, nghĩ đến ngựa, linh ngựa đến, do vậy mới bị linh động. Ý của tôi là quán tưởng ngựa đến, ngựa đến này không chắc đã là do Kim Mẫu phái đến mà bất kì con ngựa nào cũng đều có thể đến để nhận đồ cúng, nếu mà cứ tu mù quáng mà không biết thì ngựa bám theo người cũng không biết gì. Sau khi đồng môn này nghe xong nói: vậy thì sau này tôi tu pháp Kim Mẫu, quán tưởng Kim Mẫu là tốt rồi!

Đây chính là bí mật của tu pháp Kim Mẫu lập-tức-có-tiền. Tu pháp Kim Mẫu tương ứng thì pháp lập-tức-có-tiền mới linh nghiệm. Bằng không, nhìn thấy ngựa đến, thì ra chỉ là ngựa đến để ăn đồ cúng phẩm thôi, không phải ngựa đem tiền đến. Chỉ có ngựa có ý chỉ của Kim Mẫu đến mới là ngựa mà người tu pháp cần. Điều này rất quan trọng.

🌟

Pháp Kim Mẫu lập-tức-có-tiền là pháp đầu tiên được truyền sau khi Sư Tôn dừng ẩn cư vào năm 2006. Sau khi đệ tử tu trì, có người trúng giải xổ số hơn 100 triệu đô Mỹ, có người trúng hơn 5 triệu đô Mỹ, có người trúng hơn 4 triệu đô Mỹ, còn có cực kì nhiều đệ tử trúng giải mà không muốn công khai, những việc này là bằng chứng cho pháp Kim Mẫu lập-tức-có-tiền mà Sư Tôn trao truyền. Thực tế là sự thật không phải bịa đặt, thù thắng khó tưởng tượng nổi. Theo như Sư Tôn nói, những đệ tử trúng giải đều chăm chỉ tu pháp Kim Mẫu mỗi ngày, tu đến một ngày Kim Mẫu xuất hiện chiếu rọi ánh sáng ngũ sắc lên anh ta, kết quả là anh ta liền trúng vé xổ số hơn 5 triệu đô Mỹ.


![image](/img/img_3120b7f4eea5e22f96a78512c59fccf7.png)


Do vậy, tu pháp lập-tức-có-tiền quan trọng là quán tưởng chủ tôn Kim Mẫu, sau đó mới là ngựa, ngựa là phải theo Kim Mẫu đến. Hai tuần trước khi chúng ta tu pháp Kim Mẫu lập-tức-có-tiền, có rất nhiều đồng môn chỉ trúng xổ số được vài đô, vài chục đô, vài trăm đô, nguyên nhân là ở chỗ phải tu đến khi Kim Mẫu xuất hiện phóng quang thì mới có cảm ứng lớn.

Mùa Giáng Sinh đã sắp đến rồi, chúc phúc cho mọi người lập-tức-có-tiền.

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/bien-than-kim-mau-niem-tung-phap.md
# Title: Biến Thân Kim Mẫu niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_b56d86143da1c6cb10269224c05ca84e.jpg)



## Biến Thân Kim Mẫu niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Biến Thân Kim Mẫu.

(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha.  


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_6139fc46d13fbf31c9a766b45922c6f2.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn Biến Thân Kim Mẫu**

Đầu tiên hai tay chắp lại, sau đó mở ra như hoa sen nở, chỉ có hai ngón cái, ngón út và áp út chạm vào nhau. 

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời trong vạn dặm không mây, một vầng mặt trăng từ dưới biển nhô lên không trung, ở chính giữa vầng mặt trăng có một chủng tự chữ Hum (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu đỏ.

(2) Chữ Hum ở giữa vầng mặt trăng quay tròn hóa thành Biến Thân Kim Mẫu. Biến Thân Kim Mẫu một mặt hai tay, đầu đội mũ phượng, trên mặt có năm màu sắc, thủ ấn là hoa sen mới chớm nở. Tướng mạo ngài như Thiên Tiên, là một thiếu nữ thanh xuân, ngồi trên cỗ xe cửu phụng, khuôn mặt khẽ mỉm cười, pháp tướng trang nghiêm, ánh mắt hiền từ nhìn chúng sinh. 

(3) Quán tưởng thiên tâm của Kim Mẫu phóng ra một vệt ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả. Từ họng Kim Mẫu phóng ra một vệt ánh sáng đỏ chiếu thẳng đến họng của hành giả. Tâm luân của Kim Mẫu phóng ra một vệt ánh sáng xanh lam chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng trắng, đỏ, lam tan vào thân tâm của hành giả.


### Phần 14: Trì tâm chú Biến Thân Kim Mẫu


Tâm chú: Ôm ben-za chin-mủ mu-la-ti sô-ha. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Hum), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Biến Thân Kim Mẫu, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.


![image](/img/img_13822eb4d3f706b973bd919b8ecfeac8.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Biến Thân Kim Mẫu


Biến Thân Kim Mẫu một mặt hai tay, đầu đội mũ phượng, trên mặt có năm màu sắc, thủ ấn là hoa sen mới chớm nở. Tướng mạo ngài như Thiên Tiên, là một thiếu nữ thanh xuân, ngồi trên cỗ xe cửu phụng, khuôn mặt khẽ mỉm cười, pháp tướng trang nghiêm, ánh mắt hiền từ nhìn chúng sinh. 


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị về lai lịch thù thắng của Biến Thân Kim Mẫu và khẩu quyết tu pháp


💠 Biến Thân Kim Mẫu biến ra như thế nào?

Tên gọi Biến Thân Kim Mẫu cũng giống như Quan Thế Âm Bồ Tát từ một pháp thân thanh tịnh biến hóa thành 32 tướng, thậm chí nhiều hơn, Biến Thân Kim Mẫu cũng có thể biến hóa ngũ sắc, ngũ sắc tượng trưng cho kim mộc thủy hỏa thổ.

Trong Đạo giáo, chúng ta biết rằng:
Phía tây thuộc kim, chính là Diêu Trì Kim Mẫu.
Phía đông thuộc mộc, chính là Đông Hoa Đế Quân.
Ở giữa thuộc thổ, chính là Hoàng Lão.
Phía bắc thuộc thủy, chính là Thủy Tinh.
Phía nam thuộc hỏa, chính là Hỏa Đức.

Ngũ Lão của Đạo giáo cũng tương đương với Ngũ Phật của Phật giáo.
Trung ương Tì Lô Giá Na Phật, đông phương A Súc Phật, tây phương A Di Đà Phật, nam phương Bảo Sinh Phật, bắc phương Bất Không Thành Tựu Phật.

Ngũ Lão của Đạo giáo và Ngũ Phật của Phật giáo có địa vị cao quý như nhau, đều là Đại La Kim Tiên. Cho nên chúng ta tôn kính một vị Phật Vương chính là A Di Đà Phật, một vị Địa Vương là Địa Tạng Vương Bồ Tát, một vị Tiên Vương là Diêu Trì Kim Mẫu.

Bởi vì Diêu Trì Kim Mẫu cũng biến hóa giống như Quan Thế Âm Bồ Tát, cho nên bản thân ngài chính là Biến Thân Kim Mẫu.
Kim Mẫu của phía tây (thuộc kim): Kim Diện Kim Mẫu.
Kim Mẫu của phía đông (thuộc mộc): Kim Mẫu màu lam.
Kim Mẫu của phía bắc (thuộc thủy): Kim Mẫu màu đen.
Kim Mẫu của phía nam (thuộc hỏa): Kim Mẫu màu đỏ.
Kim Mẫu ở trung ương (thuộc thổ): Kim Mẫu màu vàng.

💠 Thờ phụng Biến Thân Kim Mẫu như thế nào thì mới có thể chuyển đổi thành năng lượng lớn và thay đổi vận mệnh?

Quán tưởng hình tượng của Biến Thân Kim Mẫu phóng ánh sáng ngũ sắc, năm màu sắc lần lượt chiếu đến chính mình. Kết thủ ấn Biến Thân Kim Mẫu, niệm chú “Om benza jinmu mulati soha”. Thủ ấn là hoa sen mới chớm nở. 

Vì sao thủ ấn là hoa sen mới nở? Bởi vì bạn không biết như vậy là ngài muốn mở ra hay là khép lại, cho nên ngài biến tới biến lui, vì thế thủ ấn của Biến Thân Kim Mẫu là như vậy.

Có hình tượng của Biến Thân Kim Mẫu phóng ánh sáng ngũ sắc chiếu đến bạn, Mật giáo bình thường là: trán là ánh sáng trắng, họng là ánh sáng đỏ, tâm luân là ánh sáng lam, ngoài ba ánh sáng này thì còn có thêm hai ánh sáng nữa chiếu đến bạn, như vậy chính là ánh sáng của Biến Thân Kim Mẫu chiếu đến bạn. Có hình tượng của ngài, thủ ấn của ngài, chú ngữ của ngài là bạn có thể tu pháp, tu pháp thì có thể thay đổi vận mệnh của chính mình.

💠 Thế nào là Biến Thân Kim Mẫu đại pháp?

Ở chính giữa sắp đặt một đàn thành hình tròn, Biến Thân Kim Mẫu ở chính giữa (hoặc có thể thờ phụng Kim Mẫu màu vàng ở chính giữa), phía đông đặt Kim Mẫu màu lam, phía tây đặt Kim Mẫu màu vàng kim, phía nam đặt Kim Mẫu màu đỏ, phía bắc đặt Kim Mẫu màu đen. Kết thủ ấn hoa sen hé nở. Tụng chú Biến Thân Kim Mẫu. Quán tưởng Biến Thân Kim Mẫu phóng năm ánh sáng chiếu đến mình thì có thể thay đổi vận mệnh.

Các màu sắc của Biến Thân Kim Mẫu đều có sức mạnh, ngài có sức mạnh rất vĩ đại, toàn bộ vũ trụ đều là hóa thân của Biến Thân Kim Mẫu. 

Sức mạnh của màu đỏ: kính ái nhỏ thì là nam nữ, gia đình, kính ái trung thì là công sở, đoàn thể, kính ái lớn thì là người lãnh đạo và nghệ sĩ sẽ có nhiều người hâm mộ.

Pháp lực của Biến Thân Kim Mẫu:
Ánh sáng kim: như ý.
Ánh sáng mộc: hàng phục kẻ ác.
Ánh sáng thủy: phá trừ vận rủi.
Ánh sáng hỏa: năng lực thu hút kính ái.
Ánh sáng thổ: tài vận hanh thông.
Màu đỏ: đào hoa, quý nhân.
Màu vàng: tài vận.
Màu kim: trúng số.
Màu đen: hàng phục kẻ địch.

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/bien-tinh-thien-vishnu-niem-tung-phap.md
# Title: Biến Tịnh Thiên Vishnu niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_a47bc641976a6d588bcfb8f4b7041d45.jpg)



## Biến Tịnh Thiên Vishnu niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Biến Tịnh Thiên Vishnu.

(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_2d0f35c6fcd7b9e35ffb7486a3ffc247.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn ****Biến Tịnh Thiên Vishnu**

Hai tay xòe ra giống như đôi cánh, lòng bàn tay hướng ra ngoài, hai ngón cái móc vào nhau, ngón phải đè lên ngón trái, hai ngón trỏ chạm đầu vào nhau.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời xanh vạn dặm không mây, một nguyệt luân từ mặt biển nhô lên, trong nguyệt luân có một chủng tử chữ “Ah” màu vàng, tỏa ra ánh sáng vàng. Chữ “Ah” xoay tròn hóa thành Biến Tịnh Thiên.

(2) Biến Tịnh Thiên đội mũ miện, thân màu vàng, bốn cánh tay lần lượt cầm pháp luân, chùy kim cang, ốc như ý, hoa sen trắng, cưỡi trên lưng đại bàng Kim Sí Điểu.

(3) Quán tưởng thiên tâm của Biến Tịnh Thiên phóng ra một vệt ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả. Từ họng ngài phóng ra một vệt ánh sáng đỏ chiếu thẳng đến họng của hành giả. Tâm luân của ngài phóng ra một vệt ánh sáng xanh lam chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng trắng, đỏ, lam tan vào thân tâm của hành giả. 


### Phần 14: Trì tâm chú Biến Tịnh Thiên


Tâm chú:  

Ôm ben-za wây-sư-ni-ya sô-ha. Ôm ben-za ka-ru-ta cha-lê cha-lê hùm pây. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Ah), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Biến Tịnh Thiên Vishnu, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định.

**Tụng tán:**

Cưỡi chim đại bàng cứu khổ nạn
Luân chùy loa hoa bồ đề hành
Quang minh tịnh lạc biến vô tận
Tịnh đức thành tựu con kính lễ.


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.


![image](/img/img_93ce6bd7fd41d964bae0d9781306fd65.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Biến Tịnh Thiên Vishnu


Biến Tịnh Thiên Vương đội mũ miện, thân màu vàng, bốn cánh tay lần lượt cầm pháp luân, chùy kim cang, vỏ ốc như ý, hoa sen trắng, cưỡi trên lưng đại bàng Kim Sí Điểu.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị về lai lịch của Biến Tịnh Thiên và khẩu quyết tu trì


Ở Ấn Độ có ba vị Đại Thần, một là Đại Phạm Thiên - Thần Sáng Tạo, một là Biến Tịnh Thiên - Thần Bảo Hộ, một là Đại Tự Tại Thiên - Thần Hủy Diệt. 

Phật Thích Ca Mâu Ni có một pháp loa rất đặc thù, ngài truyền pháp loa này cho Xá Lợi Phất, Xá Lợi Phất lại truyền cho Biến Tịnh Thiên, rồi Biến Tịnh Thiên giấu pháp loa này ở một nơi mà không ai biết đến. Tsongkhapa chính là người đã phát hiện ra pháp loa này và đào nó lên. Sau khi Tsongkhapa lấy được pháp loa này thì ngài lại giao cho một đệ tử và nói với đệ tử rằng: “Hãy cầm lấy pháp loa này đi thổi, thổi ở chỗ nào mà có tiếng vang thì hãy xây một ngôi chùa ở đó.” Kết quả là đệ tử này đã đi đến một nơi chính là Tu viện Drepung ở Tây Tạng ngày nay, đệ tử đó đem pháp loa ra thổi và loa đã kêu lên, đệ tử này liền xây chùa Drepung. Đây chính là nhân duyên mà chùa Drepung được xây dựng trước trong số ba ngôi chùa lớn nhất ở Tây Tạng.

Ba vị Đại Thần của Ấn Độ là Shiva, Maha Brahma, Vishnu, một vị là Thần Hủy Diệt, một vị là Thần Sáng Tạo, một vị là Thần Bảo Hộ. Thần Bảo Hộ bảo hộ như thế nào? Vốn dĩ Đại Phạm Thiên có năm cái đầu, bây giờ biến thành Thần bốn mặt có bốn cái đầu, các bạn có biết nguyên nhân là gì không? *I know you don’t know **[tôi biết là bạn không biết đâu]*. Khi ấy, Đại Phạm Thiên ở đó, Shiva Thần Hủy Diệt cũng ở đó, các thần cũng đều ở đó. Đại Phạm Thiên so kè pháp lực với Shiva. Đại Phạm Thiên nói: “Pháp lực của tôi mạnh.” Shiva Thần Hủy Diệt nói: “Pháp lực của tôi mạnh nhất, pháp lực của Thần Sáng Tạo nhà ông chẳng mạnh bằng Thần Hủy Diệt là tôi đây!” Đại Phạm Thiên khá nhân từ, ngài ấy là một quân tử. Cũng không thể nói Thần Hủy Diệt là kẻ tiểu nhân, nhưng có một số người nói rằng “kẻ nào hạ thủ trước là mạnh, kẻ nào hạ thủ sau sẽ gặp họa, kẻ không hạ thủ thì càng gặp họa hơn”. Đại Phạm Thiên chẳng hề xuống tay. Shiva rút kiếm ra chém một nhát rơi đầu Đại Phạm Thiên, vì thế Đại Phạm Thiên chỉ còn lại bốn cái đầu. Khi ấy, Shiva vẫn còn tiếp tục muốn chém nữa, Thần Bảo Hộ cảm thấy bắt nạt một người quân tử như Đại Phạm Thiên thì không hay, nên ngài bèn lấy pháp loa ra thổi, pháp loa vang lên thì Shiva không nghe được mọi âm thanh, nhưng vẫn có thể nhìn được. Ngài lại cầm kiếm lên muốn chém đầu Đại Phạm Thiên, lúc ấy Biến Tịnh Thiên lại tung ra hai cánh hoa sen từ bông hoa sen trên tay ngài, hai cánh hoa sen đã che lấy hai con mắt của Shiva. Nhưng Shiva vẫn còn một con mắt nữa, vì ngài có con mắt thứ ba, nhưng không nhìn thấy đầu của Đại Phạm Thiên, cho nên con mắt thứ ba này phóng ra lửa để thiêu cháy Đại Phạm Thiên.

Lúc này, Biến Tịnh Thiên liền quăng cái chùy kim cang ra đánh vào con mắt thứ ba của Shiva. Shiva chạy rất nhanh, chạy về đỉnh núi Chomolungma trên dãy Himalaya, chạy đến đỉnh núi cao nhất. Mọi người nói xem, trong ba người họ, pháp lực của ai mạnh? Pháp lực của Biến Tịnh Thiên rất mạnh. Đại Phạm Thiên vẫn là do Biến Tịnh Thiên sinh ra. Các cõi Thiên trong Phật giáo, Đại Phạm Thiên chính là ở Sắc giới thiên, cao hơn Sắc giới thiên, đến Tam thiền, chính là Biến Tịnh Thiên, tất cả đều là ánh sáng, chính là cảnh giới của Biến Tịnh Thiên, còn cao hơn cả Phạm Thiên. Mọi người đi Nepal mà xem, Thần Bảo Hộ của họ nằm trên mặt nước, để lộ ra cái rốn, thế rồi từ cái rốn này mọc ra một bông hoa sen, trên bông hoa sen sinh ra Đại Phạm Thiên. Vì thế, Đại Phạm Thiên vẫn là do Biến Tịnh Thiên sinh ra, nói cách khác là Thần Sáng Tạo vẫn là do Thần Bảo Hộ sinh ra.

**Pháp chuyển dịch khối u**

Đại bàng Kim Sí Điểu có pháp dịch chuyển khối u, bởi vì đại bàng đi cùng với Biến Tịnh Thiên, chỉ cần niệm chú ngữ của Biến Tịnh Thiên và chú ngữ của đại bàng Kim Sí Điểu đủ 200.000 biến. Khi bạn niệm 10.000 biến thì lấy một hạt gạo, niệm 20.000 biến thì lấy hạt gạo thứ hai, niệm 30.000 biến thì lấy hạt gạo thứ ba, niệm 40.000 biến thì lấy hạt gạo thứ tư, niệm 50.000 biến thì lấy hạt gạo thứ năm… cuối cùng tổng cộng có 20 hạt gạo, tức là đã đủ 200.000 biến, gồm cả chú Biến Tịnh Thiên và chú đại bàng Kim Sí Điểu thì mới có tác dụng. 

Lúc này, bạn quán tưởng trên người mình chỗ nào có u nhọt ung thư, cái mỏ của đại bàng Kim Sí Điểu sẽ đi vào trong đó, ngậm cái khối u đó, lấy ra và bỏ lên chỗ gạo mà bạn đã niệm 200.000 biến đó, sau đó bạn hà một hơi khí vào chỗ gạo này, hà khí chứ không phải là thổ khí ra, thổ khí tức là bạn thổi khí đi ra, còn hà khí là bạn phả khí, phả thuộc về nội khí, phải hà khí lên 20 hạt gạo. 

Bạn quán tưởng mỏ của đại bàng Kim Sí Điểu thò vào chỗ mà bạn có khối u, lần lượt gắp khối u ra bỏ lên gạo, trên người có bao nhiêu khối u thì làm bấy nhiêu lần, di chuyển toàn bộ khối u lên những hạt gạo, sau đó hà một hơi khí lên gạo. 

Khi niệm chú, cần kết thủ ấn Biến Tịnh Thiên mới được, cứ niệm liên tục, 10.000 biến, 20.000 biến, 30.000 biến, sau cùng, kết thủ ấn Biến Tịnh Thiên, cầm toàn bộ 20 hạt gạo và hà khí lên đó. Hà một hơi là được rồi. Sau đó, bạn đem 20 hạt gạo này đến một cái cây to, hoặc bạn làm pháp ở bên cạnh cây to đó cũng được. Hầu hết các cây to đều có lỗ, nếu cây to đó có lỗ là tốt nhất, còn nếu không có lỗ, bạn phải khoét một cái lỗ, sau đó bỏ 20 hạt gạo này vào, rồi lại hà một hơi khí nữa. Khi bạn làm thao tác này, bạn phải niệm chú Biến Tịnh Thiên 7 biến. Bởi vì bình thường bạn đã niệm đủ 200.000 biến chú rồi, nên khi bạn làm pháp, bạn chỉ cần kết thủ ấn và niệm 7 biến và hà một hơi khí lên gạo, bỏ gạo vào trong lỗ trên cây, rồi lại hà một hơi khí lên cây, cuối cùng bạn dùng đất sét để bịt và trét cho phẳng cái lỗ lại. Ung thư, u nhọt trên người bạn sẽ di chuyển từ trên người bạn sang cái cây, cái cây này sẽ mọc ra u nhọt thay bạn. 

Tôi nói như vậy mọi người đã hiểu chưa? Đó là cái cây đã chịu thay u nhọt trên người bạn, kể từ ngày hôm đó, khối u trong người bạn sẽ dần dần nhỏ đi, chỉ số ung thư cũng dần dần giảm bớt, liên tục giảm bớt, cuối cùng thì không còn nữa.

**Phương pháp sinh con trai hoặc con gái**

Rất nhiều người khi sinh đẻ hay gặp vấn đề, khi phụ nữ sinh đẻ có thể mắc bệnh. Vishnu đặc biệt có thể bảo vệ sản phụ, chỉ cần trước đó bạn đã tụng đủ 200.000 biến, vào ngày 15 âm lịch, tắm gội và ngồi yên, tụng chú 7 biến, kết ấn, đặt hoa trắng lên đỉnh đầu người phụ nữ. Chọn ngày 15 âm nào cũng được, chỉ cần một lần là được, hơn nữa người phụ nữ này cũng phải có thai rồi. Cô ấy cần phải tắm gội, ngồi yên, tụng chú 7 biến, và cũng kết ấn, đặt hoa trắng lên đỉnh đầu thì nhất định sẽ sinh con trai, nhưng phải biết chắc chắn là có thai rồi. 

Nhưng cũng có người muốn sinh con gái, phải làm sao? Vậy thì đặt hoa đỏ lên đầu người phụ nữ. Cô ấy phải tắm gội, mặc quần áo sạch sẽ, ngồi yên, tụng chú 7 biến, đương nhiên, trước đó cũng phải niệm đủ 200.000 biến chú rồi, khi làm pháp chỉ cần niệm 7 biến, đặt hoa màu đỏ lên đỉnh đầu người phụ nữ có thai này thì cô ấy sẽ sinh con gái. Vì thế cầu trai được trai, cầu gái được gái. Ai không đến nhận quán đảnh này thì cầu không được đâu.

**Giải trừ bùa ngải**

Có người nói: “Ôi, tôi bị người ta bỏ bùa.” Có người bị bỏ bùa mười mấy năm, có người mười năm, có người sáu năm. Bị bỏ bùa ngải thì phải làm sao? Tương tự, tụng chú 200.000 biến. Khi làm pháp, dùng sợi ngũ sắc kết ấn tụng chú, tụng một biến thì thắt một nút trên sợi ngũ sắc, tụng 7 biến thì thắt được 7 cái nút, tụng 14 biến thì thắt 14 cái nút. Đeo sợi ngũ sắc này trên người thì bùa ngải sẽ được giải.

Có rất nhiều người bị trúng bùa, một lát sau là thần trí mơ hồ mê muội, lúc thì ngất xỉu, lúc thì dường như là mơ thấy có ma, thường xuyên nói những lời lảm nhảm, có quỷ thần nhập vào người, thần và quỷ cũng không khác nhau là mấy đâu! Quỷ thì sức mạnh ít hơn một chút, thần thì sức mạnh nhiều hơn một chút, sức mạnh lớn thì gọi là thần, sức mạnh nhỏ thì biến thành ma quỷ, thần hay ma quỷ nhập vào người muốn đuổi cũng không đuổi được, có người bị mười năm. Dùng phương pháp này, tụng chú 200.000 biến, dùng sợi ngũ sắc thắt nút, thắt 14 cái nút, niệm 14 biến chú, đeo lên người là từ từ sẽ hết.

**Phương pháp cầu mưa và dừng mưa**

Bây giờ khi đến nơi bị lũ lụt, bạn muốn dừng mưa, tôi nói cho bạn biết, rất dễ, bảo trời không mưa nữa thì mưa sẽ dừng. Vì sao? Bởi vì đại bàng Kim Sí Điểu ăn rồng, rồng sợ nhất là đại bàng Kim Sí Điểu đó. Vậy thì làm sao để có pháp lực ấy? 

Tương tự. Bạn phải tụng đủ 200.000 biến làm nền tảng để làm pháp. Khi làm pháp, dùng bút viết một chữ “rồng” (龍), tức là ra sắc lệnh cho rồng đến làm mưa. Sau đó niệm 7 biến chú Biến Tịnh Thiên, rồng sẽ phun mưa. Trước kia, thức ăn của đại bàng Kim Sí Điểu chính là rồng, rồng được cho là có sức mạnh lớn, thế nhưng sức mạnh lớn ấy vẫn thua đại bàng Kim Sí Điểu, đại bàng Kim Sí Điểu còn mạnh hơn, ngài là vua của các loài chim. Cho nên, chỉ cần ngài xuất hiện, rồng cũng phải sợ hết. Muốn cầu mưa, bạn viết một chữ “rồng”, niệm vào chữ “rồng” này 7 biến chú Biến Tịnh Thiên và chú của đại bàng Kim Sí Điểu thì trời sẽ mưa, sắc lệnh cho rồng làm mưa thì trời sẽ mưa. 

Vấn đề là nếu mưa nhiều quá thì phải làm sao? Tương tự, niệm chú này thì rồng cũng sẽ sợ mà bỏ chạy. Có một phương pháp dừng mưa càng mạnh hơn. Có người chôn tổ tiên dưới đất, khi chôn, chẳng phải là đều mặc rất nhiều quần áo cho tổ tiên sao? Chính là cần lấy quần áo mặc cho tổ tiên đó, khi mở quan tài ra, quần áo vẫn còn chưa phân hủy, lấy ra một mảnh vải, mảnh vải quần áo đó rất hữu dụng. Hoặc là bạn mặc cho người đã chết thêm quần áo, đợi đến khi đóng quan tài thì bạn lại cởi quần áo ra, tức là cho họ mặc bớt một bộ quần áo đi, bởi vì đó là bộ quần áo mặc thêm vào, nên bạn có thể lấy ra. Khi bạn cần làm pháp, bạn hãy ngồi lên bộ quần áo đó, cũng niệm 7 biến chú, sắc lệnh cho rồng thần rời đi thì mưa sẽ lập tức dừng. Nhưng bạn nhất định phải ngồi trên quần áo hoặc vải bọc người chết đó.

Ở Ấn Độ có vải bọc tử thi, loại vải đó là tốt nhất. Nếu là người phương Đông chúng ta thì sau khi chôn, đợi đến khi chúng ta cải táng cho người chết, mở quan tài ra, nếu còn vải chưa phân hủy thì hãy nhặt lấy, cực kì hữu dụng. Khi nào muốn dừng mưa, ngồi trên mảnh vải đó niệm chú thì sẽ có sức mạnh nhất. Nguyên nhân nằm ở đâu? Tôi cũng không biết. Nhưng pháp này nói như vậy, mưa sẽ dừng lập tức. Nếu mưa không dừng, bạn hãy quán tưởng đại bàng Kim Sí Điểu mổ vào con rồng đó, rồng sẽ chết, sẽ bị đại bàng ăn sạch, điều này cực kì quan trọng.

**Kiết giới, hộ thân và trị bệnh**

Chúng ta dùng phương pháp của Kim Cang Thủ, kết ấn Kim Cang Thủ 5 lần, rồi ấn vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, trở về đỉnh đầu, đây chính là mặc bia giáp hộ thân. Chúng ta thường mặc giáp hộ thân. Nếu bạn làm thủ ấn Biến Tịnh Thiên và đại bàng Kim Sí Điểu, ở đây cũng có yêu cầu là bạn đã kết thủ ấn và niệm xong 200.000 biến rồi, thì bây giờ bạn lại kết thủ ấn, ấn lên người bạn 5 lần, như vậy tương đương là bạn đã kiết giới cho thân thể mình rồi. 

Ấn lên người khác thì là kiết giới cho người khác, ấn vào ngôi nhà thì là kiết giới cho ngôi nhà. Nếu ấn lên người bệnh, người bệnh này có bệnh ở chỗ nào, ví dụ tim có bệnh, mũi có bệnh, hoặc chỗ nào đó có bệnh, bạn kết thủ ấn này, ấn và cũng niệm 7 biến chú Biến Tịnh Thiên và đại bàng Kim Sí Điểu vào chỗ có bệnh đó, dùng chỗ hình tam giác của thủ ấn này, người đó đau đầu thì ấn vào đầu, đau họng thì ấn vào họng, đau tim thì ấn vào tim, đau dạ dày thì ấn vào bụng, đau đầu gối thì ấn vào đầu gối, đau chân thì ấn vào chân. Chỉ cần được ấn vào rồi thì bệnh sẽ từ từ hết. Pháp này không chỉ có thể hộ thân mà còn có thể chữa bệnh nữa. Bạn chỉ cần kết thủ ấn và ấn vào là được rồi.

**Tăng cường trí nhớ**

Biến Tịnh Thiên có vỏ ốc như ý, hoa sen, pháp luân và chùy kim cang. Ngài có bốn pháp khí, bốn pháp khí này đều có thể vận dụng. Chỉ cần bạn niệm đủ 200.000 biến, quán tưởng pháp luân phóng quang, đi vào lỗ đỉnh đầu của bạn, dừng lại ở thiên tâm và xoay tròn ở đó, thì khả năng ghi nhớ của bạn sẽ tăng cường. 

Mọi người sẽ hỏi vì sao trí nhớ của Sư Tôn không tăng cường, bởi vì tôi không muốn có khả năng ghi nhớ. Cái gì tôi cũng muốn quên hết, cái gì cũng không muốn biết, hễ ngồi xuống là nhanh chóng tiến nhập tính Không, rất dễ nhập thiền định. Nhớ quá nhiều sẽ lưu lại trong não, kí ức cứ lởn vởn ở trong đầu. Người bình thường thích có trí nhớ tốt, Sư Tôn thì mong muốn trí nhớ không tốt. Vì sao? Bởi vì trí nhớ không tốt thì quên hết mọi việc trước kia, tóm lại là tôi sẽ không phiền não. 

Tôi chẳng xem gì cả,* television** [truyền hình]*, tôi chỉ xem có ai tự sát không thôi, có người tự sát thì tôi sẽ giúp họ siêu độ, còn những cái khác tôi không xem. Tôi không đọc báo, không xem mạng, không có địa chỉ trang mạng, không có email, cái gì cũng không có, điện thoại di động cũng không có, trừ phi bạn lén bỏ điện thoại vào cho tôi. Cho dù có điện thoại thì tôi cũng không mở ra xem, bạn cũng không liên lạc được với tôi. 

Tôi cũng không nghe gì cả, cũng không xem, cái gì cũng không có, khi ấy thì cái gì tôi cũng quên hết, nhập định rất dễ, cực kì dễ. Lập tức buông lỏng, lập tức tiến nhập thiền định, lập tức từ sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, rồi lại vòng ngược về tam thiền, nhị thiền, sơ thiền, rồi xuất định, rất dễ dàng, thanh lọc sạch sẽ toàn bộ nghiệp chướng trong thân thể mình, bao gồm mọi chủng tử đều gột sạch sẽ. Vì thế không có trí nhớ là tốt nhất. 

Nhưng đối với những con người phải làm việc như các bạn thì nếu không có trí nhớ lại không tốt. Cho nên các bạn cần niệm 200.000 biến, rồi quán tưởng pháp luân đi vào thiên tâm của bạn và xoay tròn ở đó, thì khả năng ghi nhớ của bạn sẽ được tăng cường.

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/bon-dai-phap-thanh-tuu-cua-thuong-su-tuong-ung-phap.md
# Title: Bốn đại pháp thành tựu của Thượng sư tương ứng pháp
---

## Bốn đại pháp thành tựu của Thượng sư tương ứng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

🎯 Tiêu tai, tăng ích, kính ái, hàng phục


### Công đức của pháp


Tóm tắt quan niệm cơ bản về tu trì Căn bản Thượng sư tương ứng pháp.

Trong Căn bản Thượng sư tương ứng pháp của Chân Phật Tông, Thượng sư có bốn thân:

Thứ nhất, chân thân — như mẹ của hư không giới, chúng sinh khởi thỉnh thân thật của Thượng sư.

Thứ hai, pháp tính thân — như mẹ của hư không giới, chúng sinh khởi thỉnh thân pháp tính của Thượng sư.

Thứ ba, báo tính thân — như mẹ của hư không giới, chúng sinh khởi thỉnh báo thân viên mãn của Thượng sư.

Thứ tư, ứng tính thân — như mẹ của hư không giới, chúng sinh khởi thỉnh ứng hóa thân đại bi vô ngại của Thượng sư.

Cũng có thể nói như sau:

Chân thân — Ngũ Phương Phật.
Pháp tính thân — Phật Nhãn Phật Mẫu (Vô Tà Nhãn Như Lai).
Báo tính thân — Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Ứng tính thân — Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.
(Văn tập Liên Sinh Hoạt Phật số 063.)

Cần biết rằng, một Thượng sư linh tính chân chính có thể nói là người đã tu hành rất nhiều kiếp rất nhiều đời, có đầy đủ mọi đức hạnh, và tất cả đều tự tại, có thành tựu thù thắng, có đại trí huệ, có thể đắc chứng tất cả các pháp trên đời chứ không phải khi tạ thế mới đắc pháp, có sức mạnh thiền định của Đại thủ ấn, đã tự thân nhập vào Tỳ Lô tính hải, đắc chứng Mật pháp. Thành tựu vô thượng, có Phật thọ ký, gánh vác Phật sự, có đại pháp lực, tất cả rốt ráo, điều phục mọi tâm, bảo tướng trang nghiêm, nhập thế xuất thế, đều là tự như, thánh hiền vô song, hóa thân vô số, đầy ắp hư không, chúng sinh nương dựa, từ bi như một, kim cương bất hoại, công đức như biển, thuyết pháp độ chúng, che chở người mê, ban chúng sinh trí, hiển chân thực nghĩa, thuyết chân thực đế, ma không thể địch. 
(Văn tập Liên Sinh Hoạt Phật số 48.)

Quan niệm của Căn bản Thượng sư tương ứng pháp là: Thượng sư cùng chư Phật của tất cả pháp giới là một thể, Thượng sư là thể tính của thân khẩu ý hợp nhất của thập phương tam thế chư Phật, là ngọn nguồn của tám vạn bốn nghìn pháp môn. Đệ tử Chân Phật Tông quy y một truyền thừa đầy đủ, căn bản, một Thượng sư đủ đức. Quy y thập phương tam thế tất cả chư Phật Bổn tôn Thánh chúng. Quy y thập phương tam thế tất cả các Bồ Tát Bổn tôn Thánh chúng. Quy y tám vạn bốn nghìn pháp môn và pháp môn vô thượng. Quy y tất cả các Thánh hiền đắc chứng và Thánh hiền tăng già. Quy y tất cả Hộ pháp Thánh chúng có đủ bi trí. 
(Văn tập Liên Sinh Hoạt Phật số 48.)


### Ứng dụng Yết ma


Tóm tắt ứng dụng pháp Yết ma của Căn bản Thượng sư tương ứng pháp.

Pháp Yết ma, cũng tức là những ý vị của các pháp như tiêu tai, tăng ích, kính ái, hàng phục, nhiếp triệu của Mật tông. 
(Văn tập Liên Sinh Hoạt Phật số 54.)

Ứng dụng pháp Yết ma của Căn bản Thượng sư tương ứng pháp đều có thể dùng vào các mục đích tiêu tai, tăng ích, kính ái, hàng phục. Sự kỳ diệu khi tu pháp này đều dựa vào sự nhất tâm để sử dụng.

Tu trì pháp tiêu tai nên dùng tâm từ bi, nhân từ bảo vệ tất cả hữu tình, có Như Lai ẩn tàng, dùng thân khẩu ý kim cang, dùng sức mạnh công đức của tam mật gia trì để hóa giải tai kiếp của đối phương.

Tu trì pháp kính ái nên dùng tâm thương xót, để tự thân thanh tịnh trước, không khởi tâm phân biệt giữa mình và chúng sinh, dùng sức mạnh công đức của tam mật gia trì để mình và chúng sinh ngang hàng nhau như hư không. 

Tu trì pháp tăng ích nên dùng tâm thanh tịnh, nhập vào tự tâm hoa sen, mở ra tất cả kho báu cất giữ trong kho, đạt được tất cả của cải, sau đó bố thí pháp tài, lệnh cho sức mạnh công đức của sự gia trì khiến thành tựu tất cả. Dùng thành tựu tăng ích để tất cả chúng sinh đắc tất cả thành tựu.

Tu trì pháp hàng phục nên dùng tâm uy mãnh, nhìn chúng sinh bằng sự bình đẳng, lệnh cho tất cả hữu tình có thể lìa bỏ tướng tính, dùng sức mạnh công đức của tam mật gia trì để khiến họ bỏ tà quy chính, tất cả hữu tình đều đắc thành tựu và quy thuận.

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn thật lòng thật sự nói với mọi người, tâm yếu tu trì của tất cả Mật pháp nằm ở tâm tính thanh tịnh của chính mình, tự tâm trở thành một điểm, sau đó hóa thành ánh sáng phổ chiếu.

Tự biết có một khối sức mạnh chân thực vô hình tràn đầy không gian, tất cả bất kì phiền não và ma lực nào cũng đều không thể xâm phạm, đây chính là cảnh giới hiện lượng.

Suy nghĩ vô niệm, tức tất cả pháp Yết ma. 

Dùng tam mật để lo liệu tất cả, tức vô thượng du già. 
(Văn tập Liên Sinh Hoạt Phật số 66.)


### Chân Phật Tông Thượng sư tương ứng tiêu tai pháp - Nghi quỹ (1)


**Phạm vi ứng dụng: **chữa bệnh, trừ tai họa, chấm dứt kiện cáo tranh chấp, trừ nghiệp chướng của trọng tội và phiền não và các loại tai nạn. 

**Bố trí đàn cúng:** dùng bàn tròn nhỏ hoặc bàn uống trà hình tròn (không câu nệ kích thước), phủ một tấm vải trắng lên bàn, dùng để làm pháp đàn. Pháp đàn quay lưng về hướng bắc hướng về hướng nam, đặt tượng của Thượng sư cùng hướng của pháp đàn. Mặc pháp y màu trắng để tu pháp. Dùng ngũ cúng hoặc bát cúng, hoa, nến, trái cây, cố gắng hết sức để dùng màu trắng, khi tu pháp thì thắp nến. Khi tu pháp thì cắm ba que hương vào bát hương. Có thể chuẩn bị thêm cúng phẩm, món chay, điểm tâm có màu trắng.

**Thời gian tu pháp: **hàng ngày khi trời vừa chập tối, tức là ngay sau khi mặt trời lặn, khoảng 7 giờ. Mỗi tháng tốt nhất là tu từ ngày mồng 1 đến ngày mồng 8 âm lịch. (Làm 7 ngày là viên mãn, mỗi ngày tu 1 đàn.)

**Tư thế khi tu pháp:** tốt nhất là ngồi xếp bằng, hoặc ngồi tư thế phổ thông cũng được.

**Pháp y khi tu pháp: **sau khi tắm gội thì mặc pháp y màu trắng, mặt quay về hướng bắc, tức là đối diện với bức tượng của Thượng sư để tu pháp.

**Nghi quỹ:** (Phỏng theo pháp bản trong cuốn “Chân Phật - bí mật trong bí mật.)

(1) Niệm chú thanh tịnh.

(2) Niệm chú triệu thỉnh 3 biến.

(3) Đại lễ bái.

(4) Pháp cúng dường mandala.

(5) Niệm chú Tứ quy y.

(6) Tu pháp mặc bia giáp hộ thân.

(7) Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (1 biến, 3 biến hoặc nhiều hơn.)

(8) Thỉnh cầu Liên Hoa Đồng Tử giá lâm, niệm:

Tự tính liên hoa pháp tính thân
Tay phải thuyết pháp trái cầm hoa
Hóa thân biến khắp nghìn vạn cảnh
Thiên y bảo sức diệu trang nghiêm
Một thân đắc chứng Đạo Hiển Mật
Truyền thừa dung hợp trân quý nhất
Chân Phật Mật Pháp dạy chúng sinh
Phổ độ quần sinh không bỏ sót.

(9) Kết thủ ấn Liên Hoa Đồng Tử, quán tưởng: 

Liên Sinh Hoạt Phật như phần trước, phóng ánh sáng trắng chiếu đến chính mình. (Nếu làm tiêu tai cho người khác thì trước tiên phải quán tưởng người đó đến trước mặt mình, sau đó quán tưởng linh quang của Thượng sư phóng ánh sáng trắng chiếu đến người đó, khiến cho bệnh tật của họ tiêu trừ hoặc kiện cáo được hóa giải, hoặc tai nạn bị đẩy lùi.) Lệnh cho ác nghiệp tiêu tan, tai bệnh tiêu biến.

(10) Trì chú: (108 biến hoặc nhiều hơn)

Niệm: “Ôm a hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha. Liên Sinh sắc lệnh đệ tử …(tên)… khỏi hết bệnh tật (hoặc việc kiện cáo được hóa giải). Sit-đi hùm.” 

Đọc câu chú này khoan thai, không chậm không nhanh, thanh điệu đều đặn. Dùng tâm niệm từ bi, đồng thời quán tưởng như trên. 

(11) Nhập Tam ma địa. 

(Cửu tiết Phật phong, tâm cảnh thả lỏng trống rỗng, nhập ngã ngã nhập.)

(12) Hồi hướng: 

Cung trì Liên Sinh thượng sư pháp
Chân Phật một phái cứu chúng sinh.
Một chú tức sinh Song Liên Trì.
Thập bát Liên Hoa đến hóa sinh.
Vô thượng hy hữu đại bí mật.
Nay con tu trì cúng dường khắp.
Phát đại thâm tâm thề nguyện lực.
Để con sớm chứng Phật địa này.”

Niệm: “Tu pháp viên mãn. Mong đệ tử….(tên)…. tất cả tu trì thuận lợi, thành tựu viên mãn. Tất cả mong cầu đều thuận lợi như ý viên mãn. Nguyện… (tên)… tai họa bệnh tật đẩy lùi hoàn toàn.”

(13) Niệm chú viên mãn 3 biến.

(14) Đại lễ bái Phật. Rời khỏi đàn thành. Cát tường viên mãn. 


### Chân Phật Tông Thượng sư tương ứng kính ái pháp - Nghi quỹ (2)


**Phạm vi ứng dụng:** khiến chúng sinh yêu kính bạn, có thể giúp vợ chồng hòa hợp, viên mãn tất cả các mối quan hệ giữa người với người, ai nấy đều tôn kính yêu mến bạn, theo đuổi hôn nhân viên mãn.

**Bố trí đàn cúng: **dùng bàn tròn nhỏ hoặc bàn uống trà hình tròn (không câu nệ kích thước), phủ một tấm vải đỏ lên bàn, dùng để làm pháp đàn. Pháp đàn quay lưng về hướng tây hướng về hướng đông, đặt tượng của Thượng sư cùng hướng của pháp đàn, ở vị trí trung tâm của pháp đàn. Tốt nhất là mặc pháp y màu đỏ để tu pháp. Dùng ngũ cúng hoặc bát cúng với cúng phẩm màu đỏ, khi tu pháp thì thắp nến đỏ. Khi tu pháp thì cắm ba que hương vào bát hương. Có thể chuẩn bị thêm các loại cúng phẩm, món chay, điểm tâm có màu đỏ.

**Thời gian tu pháp:** ngày 16 đến 23 âm lịch hàng tháng, vào ban đêm (sau 12 giờ) thì tu pháp. Mỗi ngày một đàn, liên tục tu 7 ngày thì sẽ được viên mãn.

**Tư thế khi tu pháp: **đứng trên đầu gối, hai chân kề sát nhau, mông không chạm đất. Âm thanh niệm chú thì niệm từng chữ nhanh và đanh, niệm mỗi chữ đều có lực.

**Nghi quỹ:**

(1) Niệm chú thanh tịnh.

(2) Niệm chú triệu thỉnh 3 biến. (Có thể quán tưởng Liên Sinh Hoạt Phật đầu đội mũ Ngũ Phật, mặc pháp y màu đỏ, ngồi trên hoa sen đỏ, nét mặt tươi cười giáng xuống đàn thành, phóng ánh sáng đỏ chiếu đến hành giả. Chư Phật Bồ Tát ở xung quanh đều phóng tỏa ánh sáng đỏ.)

(3) Đại lễ bái.

(4) Pháp cúng dường mandala.

(5) Niệm chú Tứ quy y.

(6) Tu pháp mặc bia giáp hộ thân.

(7) Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (1 biến, 3 biến hoặc nhiều hơn.)

(8) Thỉnh cầu Liên Hoa Đồng Tử giá lâm, niệm:

Tự tính liên hoa pháp tính thân
Tay phải thuyết pháp trái cầm hoa
Hóa thân biến khắp nghìn vạn cảnh
Thiên y bảo sức diệu trang nghiêm
Một thân đắc chứng Đạo Hiển Mật
Truyền thừa dung hợp trân quý nhất
Chân Phật Mật Pháp dạy chúng sinh
Phổ độ quần sinh không bỏ sót.

(9) Kết thủ ấn Liên Hoa Đồng Tử, quán tưởng: 

Liên Sinh Hoạt Phật phóng ánh sáng đỏ chiếu đến hành giả, toàn thân hành giả trong ngoài là màu đỏ trong suốt,  hành giả được tất cả mọi người (hoặc một người nào đó) tôn kính yêu mến. Nếu cầu vợ chồng hòa hợp thì quán tưởng ánh sáng đỏ chiếu đến vợ chồng, vợ chồng tan vào nhau. Nếu cầu hôn nhân thì ánh sáng đỏ đồng thời chiếu đến đối tượng của mình, đều hiện lên tướng hoan hỷ vui mừng, cầu gì được nấy.

(10) Trì chú: (108 biến hoặc nhiều hơn)

Niệm: “Ôm a hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha. Liên Sinh sắc lệnh tất cả mọi người kính yêu …(tên)… (hoặc A và B gia đình viên mãn, hoặc A và B có thể nên chuyện hôn nhân). Sit-đi hùm.” 

Đọc câu chú này khoan thai, không chậm không nhanh, thanh điệu đều đặn. Dùng tâm niệm từ bi, đồng thời quán tưởng như trên. 

(11) Nhập Tam ma địa. 

(Cửu tiết Phật phong, tâm cảnh thả lỏng trống rỗng, nhập ngã ngã nhập.)

(12) Hồi hướng: 

Cung trì Liên Sinh thượng sư pháp
Chân Phật một phái cứu chúng sinh.
Một chú tức sinh Song Liên Trì.
Thập bát Liên Hoa đến hóa sinh.
Vô thượng hy hữu đại bí mật.
Nay con tu trì cúng dường khắp.
Phát đại thâm tâm thề nguyện lực.
Để con sớm chứng Phật địa này.”

Niệm: “Tu pháp viên mãn. Mong đệ tử….(tên)…. tất cả mong cầu đều thuận lợi, thành tựu viên mãn. Nguyện đệ tử … (tên)…. tất cả tu trì thuận lợi viên mãn thành tựu. (Hoặc ABC gia đình viên mãn.)”

(13) Niệm chú viên mãn 3 biến.

(14) Đại lễ bái Phật. Rời khỏi đàn thành. Cát tường viên mãn. 


### Chân Phật Tông Thượng sư tương ứng tăng ích pháp - Nghi quỹ (3)


**Phạm vi ứng dụng:** thỉnh cầu thăng quan tiến chức, tăng lương, sống lâu, cầu công danh, cầu phúc đức, cầu thông minh, cầu của cải, cầu kinh doanh thành tựu, cầu nhà lầu xe hơi, cầu châu báo, cầu thịnh vương may mắn, cầu đạt được chức vị tốt, cầu chuyển công tác thành tựu, cầu tài nguyên không cạn.

**Bố trí đàn cúng: **dùng bàn tròn nhỏ hoặc bàn uống trà hình tròn (không câu nệ kích thước), phủ một tấm vải vàng lên bàn, dùng để làm pháp đàn. Pháp đàn quay lưng về hướng đông hướng về hướng tây, đặt tượng của Thượng sư cùng hướng của pháp đàn, ở vị trí trung tâm của pháp đàn. Tốt nhất là mặc pháp y màu vàng để tu pháp. Dùng ngũ cúng hoặc bát cúng với cúng phẩm màu vàng, khi tu pháp thì thắp nến vàng. Khi tu pháp thì cắm ba que hương vào bát hương. Có thể chuẩn bị thêm các loại cúng phẩm, món chay, điểm tâm có màu vàng.

**Thời gian tu pháp:** buổi sáng hàng ngày khi mặt trời mọc (khoảng 6 rưỡi 7 giờ), tốt nhất là tu vào ngày 9 đến 15 âm lịch hàng tháng, vào ban đêm (sau 12 giờ) thì tu pháp. (Mỗi đợt tu trọn 7 ngày là viên mãn, mỗi ngày tu 1 đàn.)

**Tư thế khi tu pháp: **ngồi kiết già là tốt nhất, hoặc ngồi khoanh chân tùy ý cũng được.

**Nghi quỹ:**

(1) Niệm chú thanh tịnh.

(2) Niệm chú triệu thỉnh 3 biến. (Quán tưởng Liên Sinh Hoạt Phật đầu đội mũ Ngũ Phật, mặc pháp y màu vàng, ngồi trên hoa sen vàng giáng xuống đàn thành, nét mặt tươi cười, phóng ánh sáng vàng chiếu đến hành giả.)

(3) Đại lễ bái.

(4) Pháp cúng dường mandala.

(5) Niệm chú Tứ quy y.

(6) Tu pháp mặc bia giáp hộ thân.

(7) Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (1 biến, 3 biến hoặc nhiều hơn.)

(8) Thỉnh cầu Liên Hoa Đồng Tử giá lâm, niệm:

Tự tính liên hoa pháp tính thân
Tay phải thuyết pháp trái cầm hoa
Hóa thân biến khắp nghìn vạn cảnh
Thiên y bảo sức diệu trang nghiêm
Một thân đắc chứng Đạo Hiển Mật
Truyền thừa dung hợp trân quý nhất
Chân Phật Mật Pháp dạy chúng sinh
Phổ độ quần sinh không bỏ sót.

(9) Kết thủ ấn Liên Hoa Đồng Tử, quán tưởng: 

Liên Sinh Hoạt Phật phóng ánh sáng vàng chiếu đến hành giả. Quán tưởng việc kinh doanh của mình hưng thịnh, tài nguyên cuồn cuộn. Hoặc quán tưởng chính mình thăng quan tiến chức, đạt được công danh, tuổi thọ, có được nhà lầu xe hơi, có được châu báu, thông minh, kinh doanh thành tựu.

(10) Trì chú: (108 biến hoặc nhiều hơn)

Niệm: “Ôm a hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha. Liên Sinh sắc lệnh đệ tử …(tên)… kinh doanh hưng thịnh, tài nguyên dồi dào, sự nghiệp thành tựu, công danh thông minh, tất cả thành tựu. Sit-đi hùm.”

Đọc câu chú này rõ ràng và có lực, khi niệm chú tâm trạng phải vui vẻ hào hứng. 

(11) Nhập Tam ma địa. 

(Cửu tiết Phật phong, tâm cảnh thả lỏng trống rỗng, nhập ngã ngã nhập.)

(12) Hồi hướng: 

Cung trì Liên Sinh thượng sư pháp
Chân Phật một phái cứu chúng sinh.
Một chú tức sinh Song Liên Trì.
Thập bát Liên Hoa đến hóa sinh.
Vô thượng hy hữu đại bí mật.
Nay con tu trì cúng dường khắp.
Phát đại thâm tâm thề nguyện lực.
Để con sớm chứng Phật địa này.”

Niệm: “Tu pháp viên mãn. Nguyện đệ tử … (tên)…. tất cả tu trì thuận lợi viên mãn thành tựu, tất cả mong cầu đều thuận lợi như ý viên mãn.”

(13) Niệm chú viên mãn 3 biến.

(14) Đại lễ bái Phật. Rời khỏi đàn thành. Cát tường viên mãn. 


### Chân Phật Tông Thượng sư tương ứng hàng phục pháp - Nghi quỹ (4)


**Phạm vi ứng dụng: **đặc thù của pháp này nằm ở khuất phục đối phương (khuyên thỉnh người khác tin Phật), hoặc đòi lại các khoản nợ. Mục đích của nó không phải là bức hại đối phương hoặc nghiêm trị, quan niệm này cực kì quan trọng. Tuy pháp này có xu thế uy mãnh, nhưng xuất phát điểm vẫn là lấy từ bi làm gốc.

**Bố trí đàn cúng: **dùng bàn nhỏ hình tam giác hoặc bàn uống trà hình tam giác (không câu nệ kích thước), phủ một tấm vải màu xanh hoặc đen lên bàn, dùng để làm pháp đàn. Pháp đàn quay lưng về hướng nam hướng về hướng bắc, đặt tượng của Thượng sư cùng hướng của pháp đàn. Người tu pháp phải mặc pháp y màu đen để tu pháp. Dùng ngũ cúng hoặc bát cúng với cúng phẩm màu đen, khi tu pháp thì thắp nến xanh. Khi tu pháp thì cắm ba que hương màu đen vào bát hương. Có thể chuẩn bị thêm các loại cúng phẩm, món chay, điểm tâm có màu đen.

**Thời gian tu pháp: **hàng tháng từ ngày 24 đến 30 âm lịch, vào giờ Ngọ (buổi trưa), hoặc giờ Tý (nửa đêm), mỗi ngày tu 1 đàn, tu liên tục 7 ngày thì sẽ viên mãn.

**Tư thế khi tu pháp: **có hai loại thân ấn. Một là chân phải đứng thẳng, chân trái cong, chân phải biểu thị chính mình, chân trái biểu thị đối phương. Cách thứ hai là chân phải dẫm lên mu bàn chân trái, dùng cách ngồi xổm để tu pháp, mông không chạm đất, có cùng ý nghĩa là dẫm đè lên đối phương.

**Nghi quỹ:**

(1) Niệm chú thanh tịnh.

(2) Niệm chú triệu thỉnh 3 biến. (Quán tưởng Liên Sinh Hoạt Phật đầu đội mũ Ngũ Phật, mặc pháp y màu đen, ngồi trên hoa sen màu đen giáng xuống đàn thành, nét mặt lộ tướng phẫn nộ, chư Phật Bồ Tát ở xung quanh.)

(3) Đại lễ bái.

(4) Pháp cúng dường mandala.

(5) Niệm chú Tứ quy y.

(6) Tu pháp mặc bia giáp hộ thân.

(7) Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (1 biến, 3 biến.)

(8) Thỉnh cầu Liên Hoa Đồng Tử giá lâm, niệm:

Tự tính liên hoa pháp tính thân
Tay phải thuyết pháp trái cầm hoa
Hóa thân biến khắp nghìn vạn cảnh
Thiên y bảo sức diệu trang nghiêm
Một thân đắc chứng Đạo Hiển Mật
Truyền thừa dung hợp trân quý nhất
Chân Phật Mật Pháp dạy chúng sinh
Phổ độ quần sinh không bỏ sót.

(9) Kết thủ ấn Liên Hoa Đồng Tử, quán tưởng: 

Người thiếu nợ đến trước mặt mình, Liên Sinh Hoạt Phật hiện tướng phẫn nộ, phóng ánh sáng đen chiếu đến người thiếu nợ, khiến thân tâm họ bất an, người thiếu nợ sẽ phải lấy tiền ra, cầm hai tay giao cho chủ nợ.

Hoặc quán tưởng người không tin Phật đến trước mặt, Liên Sinh Hoạt Phật hiện tướng phẫn nộ, phóng ánh sáng đen chiếu đến người không tin Phật, khiến đối phương sản sinh tâm cung kính, đến trước Phật đảnh lễ.

(10) Trì chú: (108 biến hoặc nhiều hơn)

Niệm: “Ôm a hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha. Liên Sinh sắc lệnh …(tên)… mau quy y Chân Phật, cung kính Phật pháp. Sit-đi hùm.”

Đọc câu chú này rõ ràng và có lực, khi niệm chú tâm trạng phải vui vẻ hào hứng. 

(11) Nhập Tam ma địa. 

(Cửu tiết Phật phong, tâm cảnh thả lỏng trống rỗng, nhập ngã ngã nhập.)

(12) Hồi hướng: 

Cung trì Liên Sinh thượng sư pháp
Chân Phật một phái cứu chúng sinh.
Một chú tức sinh Song Liên Trì.
Thập bát Liên Hoa đến hóa sinh.
Vô thượng hy hữu đại bí mật.
Nay con tu trì cúng dường khắp.
Phát đại thâm tâm thề nguyện lực.
Để con sớm chứng Phật địa này.”

Niệm: “Tu pháp viên mãn. Nguyện đệ tử … (tên)…. tất cả tu trì thuận lợi viên mãn thành tựu. Nguyện đệ tử …(tên)… tất cả mong cầu đều thuận lợi viên mãn thành tựu.”

(13) Niệm chú viên mãn 3 biến.

(14) Đại lễ bái Phật. Rời khỏi đàn thành. Cát tường viên mãn. 


### Sư Tôn truyền thụ tâm yếu khẩu quyết


(Ngày 10/1/2009, tại Khai Minh Đường ở Đài Loan, Liên Sinh Hoạt Phật đã khai thị tinh yếu.)

Trên phương diện Mật pháp, xem xem bạn có muốn biết điều gì thì bạn nêu ra, Sư Tôn sẽ giúp bạn giải đáp cho toàn vẹn. 

(Đệ tử hỏi: “Xin Sư Tôn khai thị pháp bốn đại thành tựu của Liên Hoa Đồng Tử”.)

Pháp bốn đại thành tựu của Liên Hoa Đồng Tử chính là tức-tăng-hoài-tru. 

Pháp bốn đại thành tựu cũng là pháp nhập thế, chủ yếu là giúp chúng sinh có thể bước vào Phật pháp chân chính. Bản thân Liên Hoa Đồng Tử mà nói thì có nhiều pháp, bởi vì có rất nhiều Liên Hoa Đồng Tử mà. Không phải là chỉ có một Liên Hoa Đồng Tử.

Theo như tôi biết, mọi người đều là Liên Hoa Đồng Tử. (Mọi người vỗ tay.) Chúng ta học pháp tương ứng Liên Hoa Đồng Tử, bạn chỉ cần tương ứng với Liên Hoa Đồng Tử rồi thì bốn loại tức-tăng-hoài-tru đều có thể làm được.

Tức chính là tiêu tai, tăng tức là tăng ích, hoài tức là kính ái, tru tức là hàng phục. Tức-tăng-hoài-tru chính là tiêu tai, tăng ích, kính ái, hàng phục. Bốn phương pháp này, nếu mà nói lấy Liên Hoa Đồng Tử làm Bổn tôn làm Hộ Ma thì ngài cũng có thể làm tức-tăng-hoài-tru. Quy tắc là như thế này. Khi bạn làm tiêu tai thì lấy màu trắng làm chính, dùng màu trắng làm chủ thì gọi là “bạch chư tôn”. Nếu chúng ta làm Hộ Ma, muốn làm pháp tiêu tai, phải thỉnh bạch chư tôn. Bạch chư tôn ví dụ như cúng Liên Hoa Đồng Tử màu trắng, ngài là một trong các bạch chư tôn. Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử chuyên môn làm tiêu tai, độ chúng. Ngoài ra, Quan Thế Âm Bồ Tát, ví dụ Bạch Y Đại Sĩ, Bạch Y Quan Thế Âm Bồ Tát cũng là bạch chư tôn. Thỉnh các vị màu trắng đều là để làm pháp tiêu tai.

Thỉnh “hoàng chư tôn” - như là Hoàng Tài Thần Jambhala, Thần Tài, cúng phẩm phần lớn là dùng màu vàng. Làm tiêu tai phần lớn là dùng màu trắng. Bạn muốn cầu tăng ích, cầu kinh doanh, thì phải dùng màu vàng. Liên Hoa Đồng Tử màu vàng - Hoàng Liên Hoa Đồng Tử, ngài chính là một trong các hoàng chư tôn. Jambhala màu vàng - Hoàng Tài Thần, là vị màu vàng.

Bạn muốn làm kính ái, đây gọi là pháp “hoài”. Bạn triệu thỉnh một người nào đó, ví dụ như là người nào đó làm kinh doanh với bạn sẽ có thể thành công, vậy thì bạn đốt Hộ Ma kính ái, đó là thuộc về “hồng chư tôn”, thỉnh hồng chư tôn đến để làm, có hoa sen đỏ, cúng Hồng Liên Hoa Đồng Tử. 

Bạn làm pháp “tru”, tức là pháp hàng phục. Pháp hàng phục bạn phải thỉnh chư tôn màu lam, hoặc là chư tôn màu đen, chính là Hắc Liên Hoa Đồng Tử, ở đây thuộc về pháp hàng phục. Màu đen, màu lam đều thuộc về pháp hàng phục. Lam Liên Hoa Đồng Tử cũng là pháp hàng phục. Tất cả các Kim Cang Thần, đại bộ phận là hóa thành màu lam là chính, đều thuộc về pháp hàng phục. Đây chính là bốn loại pháp tức-tăng-hoài-tru. 

Lò đốt Hộ Ma cũng khác nhau. Có lò hình tròn, có lò hình bán nguyệt, có lò hình vuông, có lò hình tam giác. Khi làm Hộ Ma, lò đốt không giống nhau. Bạn che một nửa cái lò hình tròn lại thì bạn sẽ có cái lò hình bán nguyệt. Có lò hình vuông, còn có lò hình tam giác nữa, là để làm pháp hàng phục. Lò hình vuông là để làm pháp tăng ích. Lò hình bán nguyệt làm pháp kính ái. Lò hình tròn làm pháp tiêu tai. Bình thường, chúng ta làm Hộ Ma hỏa cúng, lò đốt của bạn cần chuẩn bị một cái giá sắt, làm nó thành hình tam giác là để làm pháp hàng phục. Còn lò hình tròn là để làm pháp tiêu tai. Che một nửa lò hình tròn lại thì sẽ thành pháp kính ái. Còn dùng giá sắt hình vuông bao quanh thì tức là làm pháp tăng ích. Mỗi lần làm pháp, căn cứ theo nghi quỹ, tất cả màu sắc cúng phẩm, làm tiêu tai thì nhất định phải là cúng phẩm có màu trắng nhiều hơn, làm tăng ích thì cúng phẩm có màu vàng nhiều hơn, làm kính ái thì màu đỏ phải nhiều hơn, làm hàng phục thì màu đen phải nhiều hơn, cần phải phân biệt như vậy. 

Còn về thời gian cũng phải phân biệt, hoặc là vào ngày có trăng sáng, hoặc là vào ngày không trăng. Ngoài ra, khi bạn làm pháp gì, từ ngày mồng 1 đến ngày 15 thì làm pháp gì, ngày 15 đến ngày 30 thì làm pháp gì. Thời gian cũng có quy định, nếu có thể hợp với nghi quỹ thì sẽ dễ tương ứng hơn.

Bình thường chúng ta tu hành, bạn cảm thấy bạn muốn tu tăng ích, bạn thỉnh Hoàng Liên Hoa Đồng Tử làm chủ, tu Bổn tôn, thỉnh Hoàng Liên Hoa Đồng Tử làm chủ. Bạn muốn tu tiêu tai, thỉnh Bạch Liên Hoa Đồng Tử làm chủ. Bạn muốn tu kính ái, thỉnh Hồng Liên Hoa Đồng Tử làm chủ. Bạn muốn tu hàng phục, thỉnh Hắc Liên Hoa Đồng Tử làm chủ. Như vậy thì sẽ tương đối dễ tương ứng hơn. Và Liên Hoa Đồng Tử cũng có rất nhiều màu sắc, bạn phải thỉnh như vậy.

---
# File: nghi-quy-tu-tap/ca-lau-la-thien-dai-bang-kim-si-dieu-niem-tung-phap.md
# Title: Ca Lâu La Thiên (Đại Bàng Kim Sí Điểu) niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_9371f2bfe4c213a6c85af2bcd0326046.jpg)



# Ca Lâu La Thiên (Đại Bàng Kim Sí Điểu) niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp! 


### Nghi quỹ


Trước tiên, thỉnh cầu căn bản truyền thừa gia trì: 

Đầu tiên quán Không, sau đó quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật trụ ở đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì tâm chú Liên Hoa Đồng Tử 7 biến, cầu nguyện tu pháp viên mãn.

Tiếp theo, làm quán tưởng tứ vô lượng tâm. Làm thủ ấn đánh thức (vỗ tay hai lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay). 

1. Chú thanh tịnh.

2. Chú triệu thỉnh.

3. Đại lễ bái.

4. Đại cúng dường.

5. Tứ quy y.

6. Mặc giáp hộ thân.

7. Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (1 biến)

8. Chú Vãng sinh. (7 biến)

9. Căn bản Truyền thừa Thượng sư tâm chú:

Ôm gu-ru lién-sâng sit-đi hùm. (108 biến)

10. Kết ấn và quán tưởng:

Kết ấn: Hai bàn tay hướng ra ngoài, ngón cái phải đè lên ngón cái trái, các ngón tay còn lại xòe ra như đôi cánh, quạt ba lần.
Chủng tử tự: Chữ Ga (tiếng Phạn) màu vàng kim

Quán tưởng:
Đầu tiên quán Không, niệm chú quán Không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời xanh vạn dặm không mây, nguyệt luân từ mặt biển nhô lên, trong nguyệt luân có một chủng tử chữ Ga phóng quang. Màu sắc của chủng tử tự phóng quang dựa theo nhu cầu của hành giả mà biến hóa: cầu tiêu tai thì quán tưởng chủng tử tự màu trắng phóng ánh sáng trắng, cầu tăng ích thì quán tưởng chủng tử tự màu vàng phóng ánh sáng vàng, cầu kính ái thì quán tưởng chủng tử tự màu đỏ phóng ánh sáng đỏ, cầu hàng phục thì quán tưởng chủng tử tự màu lam phóng ánh sáng lam. 

(2) Chữ Ga trong nguyệt luân xay tròn hóa thành Ca Lâu La Tôn Giả, có mỏ chim màu vàng kim, hai tay hai chân, tay chân đều có móng, hai cánh, hiện tướng phẫn nộ. Hoặc đầu có hai sừng, hoặc miệng kẹp con rồng, hai tay túm vào hai bên thân rồng. Hình tượng có hình chim, nửa người nửa chim. Cũng có hình tượng bốn tay: từ rốn trở lên có hình Thiên Vương, mũi miệng giống như mũi miệng chim ưng, có màu xanh lục, từ rốn trở xuống giống như chim ưng. Đội mũ miện, có búi tóc, cổ tay đều có vòng quý, mặc thiên y đeo chuỗi vòng, duỗi hai đuôi, mở hướng xuống dưới. Bốn tay, hai tay chính kết đại ấn, tức là hai ngón tay cái chéo nhau, trái dưới phải trên, hoặc thành tâm chắp tay lại. Hai tay còn lại buông xuống, duỗi năm ngón tay, làm hình thí nguyện.

(3) Quán tưởng thiên tâm của Ca Lâu La Tôn Giả phóng ra một vệt ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả. Từ họng ngài phóng ra một vệt ánh sáng đỏ chiếu thẳng đến họng của hành giả. Tâm luân của ngài phóng ra một vệt ánh sáng xanh lam chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng trắng, đỏ, lam tan vào thân tâm của hành giả.

11. Trì tâm chú Ca Lâu La Tôn Giả

Chú ngữ: Ôm ga-si-bô sô-ha. (108 biến)

12. Nhập Tam ma địa. 

13. Xuất định.

14. Tụng tán:
Kính lễ Đại Bàng Kim Sí Điểu
Thần thông trí huệ dũng mãnh lực
Trừ ma diệt oán ban phúc huệ
Bảo vệ chúng sinh đến Phật quốc.

15. Trì thêm những tâm chú khác.
Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)

16. Niệm Phật. (3 biến)

17. Hồi hướng.

18. Bách tự minh chú. (3 biến)

19.  Đại lễ bái.

20. Chú viên mãn.

Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.

Chú ý: Quán tưởng Ca Lâu La Tôn Giả nhập ngã hợp nhất: Ca Lâu La Tôn Giả hóa thành một điểm sáng, từ lỗ đỉnh đầu của hành giả đi vào, ngồi tại đài sen ở trong tim, sau đó thân biến to ra đến khi bằng với thân của hành giả. (Hai người kết hợp chặt chẽ, Ca Lâu La Tôn Giả tức là mình, mình tức là Ca Lâu La Tôn Giả, không hai không khác.)


### Giới thiệu pháp tướng Ca Lâu La Thiên



![image](/img/img_00647418a69be60550666e55d891d856.jpg)


Ca Lâu La Thiên có mỏ chim màu vàng kim, hai tay hai chân, tay chân đều có móng, hai cánh, hiện tướng phẫn nộ. Hoặc đầu có hai sừng, hoặc miệng kẹp con rồng, hai tay túm vào hai bên thân rồng. Hình tượng có hình chim, nửa người nửa chim. Cũng có hình tượng bốn tay: từ rốn trở lên có hình Thiên Vương, mũi miệng giống như mũi miệng chim ưng, có màu xanh lục, từ rốn trở xuống giống như chim ưng. Đội mũ miện, có búi tóc, cổ tay đều có vòng quý, mặc thiên y đeo chuỗi vòng, duỗi hai đuôi, mở hướng xuống dưới. Bốn tay, hai tay chính kết đại ấn, tức là hai ngón tay cái chéo nhau, trái dưới phải trên, hoặc thành tâm chắp tay lại. Hai tay còn lại buông xuống, duỗi năm ngón tay, làm hình thí nguyện.

Đại Bàng Kim Sí Điểu tiếng Phạn là Garuda, là Ca Lâu La trong Thiên Long Bát Bộ. Những truyền thuyết về đại bàng trong Trung Quốc cổ cũng có, Trang Tử của Đạo gia từng viết: “Tên là Bàng, lưng của Bàng không biết là dài mấy nghìn dặm, khi tức giận thì bay, những mong mỏi của ngài như mây thả trên rời trời… Bàng di chuyển ở biển Nam, vỗ xuống nước ba nghìn dặm, lượn vòng như cơn lốc lên trên chín vạn dặm.” Trong Phật giáo Tạng truyền cũng lưu truyền có chim đại bàng thế gian (tức là Kim Sí Điểu), hóa thân chim đại bàng (là chim đại bàng trên đỉnh đầu của Bổn tôn tướng phẫn nộ), chim đại bàng trí huệ (chư Phật Bồ Tát vì điều phục độc long), nhiều cách phân biệt khác nhau.

Điển cố về đôi cánh vàng bắt rồng thường gặp trong kinh Phật. Kinh thư có nói: “Kim Sí Điểu Vương tên gọi là Chính Âm, trong các loài lông vũ thì vui vẻ tự do, tại cõi Diêm Phù Đề, ngày ăn một long vương và năm trăm rồng nhỏ.” Thật ra, Rồng trong kinh Phật được dịch ra ở Trung Quốc thì nguyên văn trong kinh Phật Ấn Độ là chỉ một loài rắn độc, không giống với rồng mà người Trung Quốc biết đến, và Kim Sí Điểu ăn rắn để sống, là ngài làthiên địch của rắn.

Trong “Thời Luân Kim Cang Mật Tục” có ghi chép, thời kỳ mạt pháp có vô số ác long, địa thần, tà linh tinh quỷ sẽ làm hại chúng sinh. Kim Cang Thủ Bồ Tát từ bi hóa hiện thành Đại Bàng Kim Sí Điểu, hàng phục độ hóa tất cả ác long sẽ làm hại chúng sinh. Đặc biệt là thần ác long hung mãnh Bạt Tô Đạt La hóa hiện thành rắn đến làm hại chúng sinh, còn Kim Cang Thủ Bồ Tát hóa hiện ra chim đại bàng đến ăn và độ hóa chúng, để chúng không làm nguy hại chúng sinh, nhân duyên độ hóa này trong kinh điển mật tục “Thân Tựu Mã Ba” có ghi chép cụ thể.

Kim Sí Điểu vì ăn rắn độc nên phát hỏa tự thiêu, giống như phượng hoàng trang nghiêm niết bàn rồi sống lại, tim ngài hóa thành như ý bảo châu, sẽ rơi vào biển lớn, long tộc sẽ tranh giành như ý bảo châu, ai lấy được như ý bảo châu này thì có thể tránh được Đại Bàng Kim Sí Điểu làm hại. Cái này thuộc về Đại Bàng Kim Sí Điểu mắt vàng ở thế gian, có thể chặn thiên ma, ngài từng hóa thành cư sĩ, từng gặp đức Thế Tôn. Ngoài ra, trong mật tục có nhắc đến Đại Bàng Kim Sí Điểu là Bổn tôn huyễn hóa, chính là Thanh Văn, Độc Giác, Bồ Tát, Phật vì hàng phục rồng mà hóa thành Đại Bàng Kim Sí Điểu, gọi là huyễn hóa trí huệ tôn.

Cả Ấn Độ và Tây Tạng hiện còn có rất nhiều pháp tu chim đại bàng, đặc biệt những pháp tu trong phẩm Terma hoàn hảo của dòng truyền thừa Trì Minh (Vidyadhara) đã được dịch trước đây thậm chí còn phi thường và sâu sắc hơn. Tóm lại, bất luận là bộ đại bàng nào thì đều là bộ chủ của tất cả trí huệ và phẫn nộ, cũng là vũ khí sắc bén của sự nghiệp phục vụ. Trì tụng tâm chú của ngài với số lượng ít cũng sẽ có được uy lực vô ngại, có thể là kình địch của các thần thổ địa và các loài rồng, yêu ma, bệnh tật.

---
# File: nghi-quy-tu-tap/cach-thuc-xin-quy-y-va-y-nghia.md
# Title: Cách thức xin quy y và ý nghĩa
---

![image](/img/img_e51fda234b3155156b338d3480d4cca8.jpg)



# Cách thức xin quy y và ý nghĩa



## Ý nghĩa và lợi ích của việc quy y



### Thế nào gọi là quy y?


Quy y mang ý nghĩa là hướng quay về, là nương dựa, là cứu độ. Quy y Thượng sư, quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng được gọi là Tứ quy y.

Cần quy y Kim cương Thượng sư là bởi vì Thượng sư đã tự mình chứng minh tất cả những gì mà Phật nói, đã không còn nghi hoặc, phiền não, là một vị Phật sống đã vượt qua được sinh tử, đi theo sự dẫn dắt của ngài thì sẽ không gặp sai lầm.

Cần quy y Phật là bởi vì Phật là một vị giác ngộ Đại Giác Đại Ngộ với trí tuệ thấu triệt, do vậy học tập theo Phật thì không gặp sai lầm.

Cần quy y Pháp là vì pháp chính là mọi đạo lý mà Phật đã giác ngộ được. Chúng ta thâm nhập nghiên cứu Phật lý, thực tu Chân Phật Mật Pháp thì có thể đạt tới cảnh giới siêu phàm nhập Thánh.

Cần quy y Tăng là bởi vì tăng nhân như Thánh hiền, là những người hoằng dương Phật pháp, cũng là những vị thầy của chúng ta, chúng ta cần hướng về họ (Thánh hiền) để học tập và thỉnh giáo.

Muốn gia nhập Chân Phật Tông để học tập Chân Phật Mật Pháp thì nhất định cần quy y trước, nhận quán đảnh, như vậy mới xem như là chính thức nhập môn.


### Ý nghĩa của việc quy y


Quy y nhận quán đảnh giống như chứng nhận một học sinh chính thức nhập học, sau khi quy y nhận quán đảnh xong thì lập tức có được dòng truyền thừa Chân Phật Tông, sẽ là đệ tử Chân Phật chân chính, nghiệp xấu từ từ sẽ được tiêu trừ, có 36 thiện thần bảo hộ, có được tất cả mọi công đức, không dễ bị đọa vào tam ác đạo, rất mau chóng tăng trưởng thiện nghiệp, đạt đến sự khai ngộ vô thượng.

Quán đảnh quy y là bắt đầu thành Phật. (Phật tương lai)
Quán đảnh quy y là chuẩn bị tu được những chân lý mà các Thánh nhân đã chứng ngộ.
Quán đảnh quy y là để siêu phàm nhập Thánh. (giải thoát)
Quán đảnh quy y là tự giác giác tha, tự giác là tự mình khai ngộ, giác tha là độ hóa chúng sinh, lợi ích chúng sinh. (giác hành viên mãn)

Do vậy, ý nghĩa thực sự của quán đảnh quy y là một nghi thức vừa thần thánh vừa cao quý, một khi đã nhận quán đảnh quy y rồi thì đã thực sự nhập môn học Phật, là đệ tử Phật chân chính.


### Quy y nhận quán đảnh có lợi ích gì?


- Thánh Tôn có công đức tu hành, đệ tử quy y nhận quán đảnh xem như đã nhận được sức mạnh gia trì Tam mật, có thể gia trì thành Phật, đây là một trong ba cách thành Phật của Chân Phật Tông.

- Sức mạnh gia trì có thể trừ bệnh, trừ ưu phiền, trừ nguy nan, trừ kiện cáo. Sức mạnh gia trì có thể tăng trưởng phúc huệ, tăng tuổi thọ, tăng lợi ích, tăng thiện duyên, tăng con cháu, tăng hòa hợp, tăng kính ái.

- Đệ tử quy y xong lập tức có được sự bảo vệ của 16 vị thiện thần, thậm chí có 36 vị thiện thần và càng nhiều thiện thần hơn nữa đến bảo vệ cho hành giả Chân Phật, những việc này đều là bất khả tư nghì.

- Thậm chí sau khi nhận quán đảnh quy y sẽ trở thành một Kim cương thượng vị đà-la-ni, lập tức cảm ứng tới Kim Cang lực sĩ, từ trong hư không hạ giáng xuống một vị thần Kim Cang, có thể là Thế Chấp Kim Cang, hoặc Kim Cang Dạ Xoa, hoặc là Mật Tập Kim Cang, các vị thần Kim Cang này sẽ đi theo để bảo vệ cho hành giả Chân Phật.


## Cách thức xin quy y



### Cách 1. Gửi thư tay trực tiếp tới Tông Ủy Hội


Vào 7 giờ sáng (theo giờ địa phương của bạn), chọn ngày mồng 1 hoặc 15 âm lịch hàng tháng, quay mặt về hướng mặt trời mọc (hướng đông). Chắp tay lại, nghĩ tới Sư Tôn, kính cẩn niệm Tứ quy y chú ba lần:
Namo guru bei.
Namo buddha ye.
Namo dharma ye.
Namo sangha ye.

(Nam mô gu-ru pây.
Nam mô bút-đa yê.
Nam mô đa-ma yê.
Nam mô sang-ga yê)

Và niệm:
“Con xin nương nhờ vào sự dẫn dắt của Liên Sinh Hoạt Phật, xin được quy y Chân Phật Tông.” Sau đó đảnh lễ, lạy 3 lần.
Tiếp đó gửi thư theo đường bưu điện tới Tông Ủy Hội – Chân Phật Tông, nêu rõ mong muốn quy y của bạn để được ban quy y. Ghi rõ: tên, địa chỉ, tuổi và kèm theo một khoản cúng dường tùy hỷ (nếu bạn ở Việt Nam, vui lòng không gửi tiền kèm thư). Sau khi Tông Ủy Hội nhận được thư này sẽ thực hiện yêu cầu xin quy y của bạn.


Thư có thể gửi bằng tiếng Anh hoặc tiếng Trung. Nếu bạn không rành tiếng Anh hoặc Trung, có thể dùng Google Translate để phiên dịch tự động 
Dịch từ tiếng Việt sang tiếng Anh tại đây (khuyên dùng): 👉 [Trình phiên dịch trực tuyến Google Việt — Anh](https://translate.google.com/?sl=vi&tl=en&op=translate)
Dịch từ tiếng Việt sang tiếng Trung tại đây: 👉 [Trình phiên dịch trực tuyến Google Việt - Trung](https://translate.google.com/?sl=vi&tl=zh-TW&op=translate)


**Thư gửi về địa chỉ:**
Grand Master Sheng-yen Lu
17102 NE 40th Ct.
Redmond, WA 98052, USA.
Điện thoại (Tel): 425 - 885 - 7573. Fax: 425 - 883 - 2173

Sau khi nhận được thư xin quy y, Tông Ủy Hội sẽ gửi chứng nhận quy y đến cho bạn, kèm theo một tấm ảnh Liên Sinh Hoạt Phật và hướng dẫn cụ thể về cách thức bắt đầu tu Tứ Gia Hành. 

Lưu ý: 

1. Trong thời đại kỹ thuật số, cách gửi thư tay qua đường bưu điện này không còn được khuyến khích, nếu có thể, hãy dùng các cách thức đăng ký quy y trực tuyến.
2. Bạn không nên gửi tiền cúng dường kèm theo thư xin quy y (thư sẽ rất dễ bị “thất lạc”). Bạn có thể gửi riêng tiền cúng dường - tùy hỷ tới Sư Tôn qua các kênh trực tuyến ở dưới, hoặc nhờ người thân, đồng môn gửi trước hoặc sau khi gửi thư xin quy y, hoặc khi thuận tiện.


### Cách 2. Gặp mặt trực tiếp


Đến gặp mặt trực tiếp Sư Tôn hoặc Thượng sư.

Bạn có thể được ban quy y trực tiếp từ Lư Sư Tôn, hoặc từ một vị Thượng sư (được xác nhận chính thức bởi Tông Ủy Hội) của Chân Phật Tông, người có thể thay mặt Sư Tôn ban quán đảnh quy y. Để làm điều này bạn có thể đến các chùa Chân Phật Tông, các phân đường, hội nhóm đồng tu, hoặc tham gia các pháp hội của Chân Phật Tông gần nhất.


### Cách 3: Đăng ký quy y trực tuyến (online)


Tại địa chỉ website Cầu Vồng Lôi Tạng Tự (Seattle)

**Hướng dẫn chi tiết (bằng tiếng Anh và Trung):**

Nhấn vào đây: 👉 [Hướng dẫn](https://tbs-rainbow.org/%E6%B3%95%E6%9C%83%E5%A0%B1%E5%B0%8E/Rainbow%20Temple%20Online%20Registration%20System%20is%20Now%20Up%20and%20Running!#%E9%96%8B%E5%A7%8B%E7%9A%88%E4%BE%9D)

**Đăng kí quy y (bằng tiếng Anh và Trung):**

Nhấn vào đây: 👉 [Đăng kí](https://tbs-rainbow.org/Donate/Refuge)

Bạn có thể quy y cho bản thân, chủ nợ nghiệp, thổ địa, người đã khuất, thủy tử linh, vong tại nhà, tổ tiên, vong bám thân, thú nuôi…


![image](/img/img_c8a45cdfb37dda2cc745de4e57c3b8ab.png)



![image](/img/img_db0ea5d1623416fb3dbf2535a5435573.png)


Bạn có thể cúng dường bằng thẻ tín dụng hoặc bằng Paypal, rất nhanh và tiện lợi. 


![image](/img/img_01895ec041a7408ac4d069d6d493b637.png)


Tại Tông Ủy Hội
Vui lòng truy cập vào link sau: 👉 [Mẫu đơn xin quy y trực tuyến Tông Ủy Hội](https://truebuddhaschool.org/formrefuge?lg=vn)


![image](/img/img_7d01bfe3b729ae9a71bb4e5da14f6be6.png)



### Cách 4: Nhờ một đồng môn trợ giúp


Bạn cũng có thể nhờ cậy các huynh đệ tỉ muội đồng môn đã quen thuộc với các quy trình, trợ giúp bạn viết thư giấy hoặc đăng kí trực tuyến, gửi tiền cúng dường tùy hỉ giùm bạn. Đây là cách dễ dàng hơn cả.


### **Lưu ý sau khi quy y**


Những hành giả đã quy y Chân Phật Tông thì sẽ có được sự gia trì của dòng truyền thừa. Bởi vậy tốt nhất không nên quy y ở những tông phái khác thêm nữa. Nếu không dòng truyền thừa sẽ bị “méo mó” và đệ tử sẽ mất đi lực gia trì truyền thừa của Chân Phật Tông.

Một vài bạn đã gửi thư xin quy y nhưng không nhận được chứng thư quy y hoặc nhận được thư quy y nhưng bị điền sai tên - chính tả. Đây cũng là điều thi thoảng xảy ra, mong các bạn thông cảm cho các vị Pháp sư, Thượng sư cạnh Sư Tôn. Theo như chúng tôi biết, các vị mỗi ngày xử lí hàng trăm - hàng nghìn bức thư từ khắp nơi trên thế giới (xin quy y, xin gia trì, xin quán đảnh từ xa, thỉnh phù, hỏi chuyện đời, hỏi chuyện pháp, kể chuyện cá nhân, thỉnh phân xử xung đột… ), trong khi nhân lực cũng chỉ có hạn, do đó thư có thể có thất lạc hoặc sai sót. Lại cũng có thể có thất lạc (rất hiếm) trong quá trình gửi chuyển phát (trong những năm trước giữa Việt Nam - Mỹ - Đài Loan hay xảy ra, gần đây tình hình bưu chính đã tốt hơn). Bạn vui lòng gửi lại thư giấy hoặc gửi lại xin quy trực tuyến (online).

💖 Om guru liansheng siddhi hum 💖

---
# File: nghi-quy-tu-tap/cao-vuong-quan-the-am-bo-tat-niem-tung-phap.md
# Title: Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_3ede8b79b96c0ee1feaee0286a67b9ca.jpg)



## Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát.
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê. 

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha.  


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim Cang Tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_f2f1aa69e2d8548202ef7573cf0de6b8.jpg)


**Kết ấn: **

Ấn nội chuyển pháp luân: lòng bàn tay trái hướng ra ngoài, lòng bàn tay phải hướng vào trong, tay trái đè lên tay phải. Ngón cái và ngón trỏ của cả hai tay chạm vào nhau tạo thành khuyên tròn, móc vào nhau, các ngón tay khác giơ thẳng.

Ấn ngoại chuyển pháp luân: thủ ấn giống như ấn nội chuyển pháp luân, nhưng hai tay ngón trỏ và ngón cái chạm vào nhau tạo thành vòng khuyên và không móc vào nhau. 

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời xanh vạn dặm không mây, có nguyệt luân từ trên mặt biển nhô lên, trong nguyệt luân có chủng tử chữ “Ti” tiếng Phạn phóng quang. Màu sắc của chủng tử tự phóng quang thì tùy theo nhu cầu của hành giả mà biến hóa: cầu tiêu tai thì quán tưởng chủng tử tự màu trắng phóng ánh sáng trắng, cầu tăng ích thì quán tưởng chủng tử tự màu vàng phóng ánh sáng vàng, cầu kính ái thì quán tưởng chủng tử tự màu đỏ phóng ánh sáng đỏ, cầu hàng phục thì quán tưởng chủng tử tự màu xam phóng ánh sáng lam.

(2) Chữ “Ti” trong nguyệt luân xoay vòng hóa thành Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát, đầu đội mũ Thất Phật (bảy vị Phật quá khứ: Tì Bà Thi Phật, Thi Khí Phật, Tì Xá Phù Phật, Câu Lưu Tôn Phật, Câu Na Hàm Mâu Ni Phật, Ca Diếp Phật, Thích Ca Mâu Ni Phật), tay phải kết ấn thuyết pháp, tay trái kết ấn đẳng trì. 

(3) Thiên tâm của Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát phóng ra một đường ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả; họng ngài phóng ra một đường ánh sáng đỏ chiếu thẳng đến họng của hành giả; tâm luân ngài phóng ra một đường ánh sáng lam chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng trắng, đỏ, lam hòa nhập vào thân tâm của hành giả.


### Phần 14: Trì tâm chú Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát


Tâm chú: 

Li-pô li-pô-tê ki-ô ki-ô-tê tô-luô-ni-tê ni-a-la-tê pi-li-ni-tê mua-hưa-cha-tê chân-linh chiên-tê, sô-ha. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Ti), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 

Tụng tán:

Kính lễ Cao Vương Quan Thế Âm
Quá khứ thất Phật Pháp vương tử
Chân Phật phổ truyền Cao Vương kinh
Hộ quốc hựu dân lìa mọi khổ.


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


![image](/img/img_af755a27cd3ee1e41248310b6b8d00dc.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát


Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát đầu đội mũ Thất Phật, mặt như trăng tròn, diện mạo của ngài như Phật, đội mũ miện hoa rủ hai bên, tay phải kết ấn thuyết pháp, tay trái kết ấn đẳng trì, thân mặc thiên y váy xếp, trên thiên y có Thất Phật diệt tội chân ngôn, đeo chuỗi ngọc, hoa tai, vòng tay, vòng chân, chân dẫm trên hoa sen bảy sắc cầu vồng. Sau lưng ngài có chữ Phạn màu vàng, quanh thân tỏa ra hào quang chiếu đến thế giới của thập phương tam thế.


### Khai thị của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn 


Cao Vương Quan Thế Âm trên đầu đội mũ Thất Phật, là pháp vương tử của Thất Phật. 

Bảy vị Phật quá khứ chính là: Tì Bà Thi Phật (Vipasyin), Thi Khí Phật (Sikhin), Tì Xá Phù Phật (Visvabhu), Câu Lưu Tôn Phật (Krakucchanda), Câu Na Hàm Mâu Ni Phật (Kanakamuni), Ca Diếp Phật (Kasyapa), Thích Ca Mâu Ni Phật (Sakyamuni).

Hai bộ kinh điển mà Chân Phật Tông tôn sùng nhất là Chân Phật Kinh và Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. 

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn có duyên phận rất sâu với Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát. Ngày xưa, trụ trì của Ngọc Hoàng Cung là sư Thích Huệ Linh đã tặng cho Lư Sư Tôn một cuốn Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (gọi tắt là Cao Vương Kinh). Kể từ lúc đó, Lư Sư Tôn đã trì tụng kinh này mỗi ngày cho đến tận bây giờ.

Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát từng chỉ thị cho Thánh Tôn, Bồ Tát nói: “Ngài không nhất định phải niệm cả bài.” Thật ra, Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh vốn dĩ đã rất ngắn. “Nếu ngài rất khẩn cấp, ngài chỉ cần niệm tên kinh là được rồi.” Bồ Tát chỉ thị cho tôi như vậy, ngài nói: “Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh là được rồi.” Bồ Tát sẽ lập tức nghe thấy tiếng mà cứu khổ, bạn chỉ cần ở trước Phật đường và niệm “Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh” là bạn sẽ trở nên thanh tịnh rồi, quán tưởng trên đầu bạn hiện lên màu trắng tức là thanh tịnh rồi. Tiếp tục niệm “Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh”, cái cổ cũng trở nên thanh tịnh. Tiếp tục niệm “Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh”, thân trên của bạn thanh tịnh. Tiếp tục niệm “Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh”, thân dưới của bạn cũng thanh tịnh. Tiếp tục niệm “Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh”, phía trên đầu gối toàn bộ đều thanh tịnh. Tiếp tục niệm “Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh”, toàn thân bạn đều có thể thanh tịnh. Đây là pháp phương tiện, Bồ Tát nói: “Vào buổi sáng ngài cần niệm tên kinh này.” Bồ Tát nói như thế thì toàn thân sẽ thanh tịnh.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh là mộng thụ kinh, tức là kinh điển được truyền dạy trong mơ mà có. Từ Ngụy Tấn Nam Bắc Triều đến thời kì Đường Tống đã bắt đầu cực kì thịnh hành rồi, rất có cảm ứng, người người đều đọc thuộc. Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh có lịch sử lâu đời, còn lưu truyền đến Hàn Quốc và Nhật Bản. Tại 88 đạo tràng tâm linh của Nhật Bản cũng tìm thấy Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh bằng tiếng Nhật.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh vào thời nhà Đường vô cùng thịnh hành. Trong vương triều Tây Hạ, người dân trong cả nước đều niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, lưu truyền đến triều Đường, nhân dân cả nước vào triều Đường cũng đều niệm. Triều Đường là thời đại hưng thịnh nhất của dân tộc Trung Hoa, là thời đại huy hoàng nhất, bởi vì có Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát ở đó.

Phật giáo là từ Ấn Độ truyền đến Tây Tạng, truyền đến Trung Quốc, truyền đến Hàn Quốc, cuối cùng mới truyền đến Nhật Bản. Nhật Bản cũng có Cao Vương Kinh, có thể thấy Cao Vương Kinh từ rất sớm đã lưu truyền tại tất cả mọi nơi có Phật giáo rồi. Trong Cao Vương Kinh toàn là danh hiệu của Phật và danh hiệu của Bồ Tát, ví dụ trong đó có Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát, chính là hàng tỉ Bồ Tát của Ngũ Đài Sơn, còn có lục phương Lục Phật, danh hiệu của trăm triệu Kim Cang Tạng Phật và Đa Bảo Phật đều ở trong đó. Toàn văn Cao Vương Kinh còn có phụng thỉnh Bát Đại Bồ Tát: Quan Thế Âm, Văn Thù, Phổ Hiền, Địa Tạng, Di Lặc, Hư Không Tạng, Kim Cương Thủ, Trừ Cái Chướng, còn có Thất Phật diệt tội chân ngôn, kinh này “niệm đủ 1000 biến, trọng tội đều tiêu diệt, diệt được khổ sinh tử, tiêu trừ mọi độc hại”.

Trong kinh văn có một câu nói: “Diệt được khổ sinh tử, tiêu trừ mọi độc hại”, câu nói này có thể diệt hết sinh khổ và chết khổ của bạn, tương đương với khổ trong một đời đều có thể tiêu trừ. Tiêu trừ mọi độc hại, tất cả những gì hại đến bạn, những gì có độc đều có thể tiêu trừ hết. Trong cuộc đời của Liên Sinh Hoạt Phật, sự bảo hộ nhận được từ Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát là vô cùng vô tận.

Trọng điểm của Cao Vương Kinh nằm ở đâu? Vị Phật đầu tiên được nhắc đến trong Cao Vương Kinh cũng là A Đạt Nhĩ Mã Phật, Tịnh Quang Bí Mật Phật là vị Phật đầu tiên. Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật, tên đầy đủ phải là Tịnh Quang Liên Hoa Đồng Tử Bí Mật Phật, Tịnh Quang Bí Mật Phật cũng chính là Liên Hoa Đồng Tử.

Cho nên bất luận là thi cử, cầu con, cầu tư lương, cầu kính ái, trừ trọng tội, tiêu bệnh nghiệp, cầu vãng sinh… Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát đều có cầu tất ứng, thập phương Quan Thế Âm, tất cả chư Bồ Tát đều sẽ đến giúp đỡ bạn, bởi vì trong Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh có một bài kệ, “Thập phương Quan Thế Âm, tất cả chư Bồ Tát, thề nguyện cứu chúng sinh, xưng danh đều giải thoát (nghiệp chướng đều tiêu trừ).” 

Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát rất linh nghiệm, cho nên rất nhiều người niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, “tụng đủ 1000 biến, trọng tội đều tiêu diệt”. Khi xưa chúng ta đã thay đổi hai chỗ trong Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. Thay đổi như thế nào? Trong bài kệ hồi hướng của Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh có câu “Người phúc mỏng không tin, chuyên thọ trì kinh này”, bạn không có phúc phần, hoặc là bạn không tin, nhưng vẫn chuyên chú trì kinh điển này thì cũng vẫn có cảm ứng. Sau này chúng ta đổi thành: “Người có phúc tín tâm, hãy chuyên tâm đọc tụng.” (Ngoài ra còn có bản viết là “Người tín tâm phúc dày”.) Người có phúc phần, hoặc là bạn là người có lòng tin vững chắc vào Cao Vương Kinh, thì đều có thể niệm kinh điển này.

Cao Vương Kinh chính là kinh điển do một vị Như Lai rất vĩ đại nói ra, nói cho tù nhân nghe, tù nhân nghe xong thì đã niệm kinh này, cực kì có cảm ứng, do vậy kinh này mới được lưu truyền. Cao Vương Kinh gọi là Chân Kinh, là chân chính, là thập phương tam thế nhất thiết Phật, nhất thiết Bồ Tát Ma Ha Tát.

Sau khi Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đắc chứng, lúc mới chuyển pháp luân, biết Cao Vương Kinh có công đức bất khả tư nghì vô lượng vô biên, đây là Đại Sĩ vì tiện lợi độ chúng sinh nên đã thị hiện một bản kinh điển có đầy đủ tất cả pháp tướng, phổ độ tất cả chúng sinh hữu tình, Hiển-Mật viên thông, đắc đại trí huệ, thành tựu thân kim cương bất hoại. Người niệm Cao Vương Kinh, lại niệm thêm đại minh chú lục tự chân ngôn “Om mani padme hum” 108 biến, thì có thể tu quán tưởng pháp Quan Âm Tứ Thủ, sẽ có 36 thiên thần ngày đêm bảo vệ, tất cả quỷ thần không ai là không cung kính nghe lệnh, đúng là công đức vô lượng vô biên.

Cuốn kinh điển đầu tiên mà tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) tại Ngọc Hoàng Cung đã thỉnh được: Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. 

Cuốn kinh điển đầu tiên mà tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) đọc thuộc: Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh.

Cuốn kinh điển đầu tiên mà tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) đạt được cảm ứng linh nghiệm: Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh.

Cuốn kinh điển đầu tiên mà tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) truyền rộng rãi: Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. 

Cho nên tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) nói: “Chân Phật Tông tôn sùng Vương Quan Thế Âm Chân Kinh.”

Tôi tin tưởng câu nói trong kinh văn “diệt được khổ sinh tử, tiêu trừ mọi độc hại”, bởi vì tôi trì tụng lâu ngày, quả nhiên đạt được đại tương ứng. 

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh là lợi ích pháp thuần tịnh nhất.
Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh là tịnh thổ cao quý nhất.
Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh là cờ pháp cao nhất.

Đệ tử Chân Phật Tông tôn sùng Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, phàm là đệ tử Chân Phật thì phải người người trì tụng đủ nghìn biến, phải người người trì tụng cả đời cả kiếp, phải biến thành tịnh thổ mà bản thân mình hóa thân hợp nhất, phải lưu giữ trong tâm khảm như báu vật vĩnh hằng.

Dựa theo tư liệu lịch sử ghi chép, nhân dân cả nước thời vương triều Tây Hạ đều niệm Cao Vương Kinh, khi ấy ấn tỉ của hoàng đế vương triều Tây Hạ viết là Đại Bạch Cao Quốc. Cảnh Tông, Nhân Tông và Mạt Đế của vương triều Tây Hạ (Đại Bạch Cao Quốc) đều là hóa thân của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.

Có một người là ông Đinh Phúc Bảo là đại sư Phật học (người biên soạn “Phật học đại từ điển”), ông ấy cho rằng Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát là cao nhất, là bậc chí cao vô thượng, giống như vua vậy, không có ai cao hơn vua, cho nên, bản kinh điển này gọi là Cao Vương Quan Thế Âm Kinh, đây là chú giải của Đinh Phúc Bảo.

Thật ra Đại Bạch Cao Quốc chính là vương quốc của Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát mà Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử sáng tạo ra.

Tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) khuyên mọi người niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, không chỉ là niệm một nghìn biến mà càng nhiều càng tốt.

Bởi vì niệm kinh này là kết duyên phận lớn nhất với thập phương tam thế nhất thiết Phật, nhất thiết Bồ Tát, tương lai mọi người đều sẽ có thành tựu. Ngoài niệm Thất Phật diệt tội chân ngôn ra cũng cần phụng thỉnh Bát Đại Bồ Tát, phụng thỉnh Bát Đại Bồ Tát cũng rất quan trọng, cho nên cũng phải thêm vào. 

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/cat-tuong-thien-nu-niem-tung-phap.md
# Title: Cát Tường Thiên Nữ niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_57c11d4f560afbb5550702c80eae6052.jpg)



## Cát Tường Thiên Nữ niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Cát Tường Thiên Nữ*** ***.

(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha.  


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_e795c5e318c9e801575efe119beb1623.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn ****Cát Tường Thiên Nữ***** ***

Hai tay chắp lại như hoa sen nở, nhưng hai ngón cái và ngón út chạm vào nhau.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời trong vạn dặm không mây, có một nguyệt luân từ dưới biển nhô lên không trung, ở chính giữa nguyệt luân có một chủng tự chữ Celi (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu lam, tỏa ra ánh sáng lam.

(2) Chữ “Celi” ở giữa nguyệt luân xoay tròn hóa thành Cát Tường Thiên Nữ. Hình tượng Cát Tường Thiên Nữ trong Chân Phật Tông là thiếu nữ 16 tuổi, thân đoan chính, nước da trắng hồng, một mặt hai tay, tay trái cầm quả đào tiên hoặc ngọc như ý, tay phải kết ấn ban nguyện, mặc thiên y, đầu đội mũ miện, đeo vòng cổ vòng tay khuyên tai, hoặc ngồi hoặc đứng trên đài hoa sen.

(3) Quán tưởng thiên tâm của Cát Tường Thiên Nữ phóng ra một vệt ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả. Từ họng ngài phóng ra một vệt ánh sáng đỏ chiếu thẳng đến họng của hành giả. Tâm luân của ngài phóng ra một vệt ánh sáng xanh lam chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng trắng, đỏ, lam tan vào thân tâm của hành giả. 


### Phần 14: Trì tâm chú Cát Tường Thiên Nữ*** ***


Tâm chú: Ôm ma-ha sê-li-ya sô-ha. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Celi), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Cát Tường Thiên Nữ, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.


![image](/img/img_eda1b4097d8d2709dbfdbdffdd3b6f3f.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Cát Tường Thiên Nữ*** ***


Hình tượng Cát Tường Thiên Nữ trong Chân Phật Tông là thiếu nữ 16 tuổi, thân đoan chính, nước da trắng hồng, một mặt hai tay, tay trái cầm quả đào tiên hoặc ngọc như ý, tay phải kết ấn ban nguyện, mặc thiên y, đầu đội mũ miện, đeo vòng cổ vòng tay khuyên tai, hoặc ngồi hoặc đứng trên đài hoa sen.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị về Cát Tường Thiên Nữ*** ***


Trong Mật giáo, có một vị nữ thần nổi tiếng nhất về chiêm bốc tương lai. Nữ thần này ở trên thiên thượng giới có một vị trí hàng đầu, nữ thần vĩ đại này chính là Cát Tường Thiên. Cát Tường Thiên còn được gọi là Công Đức Thiên, cha của ngài là Đức Xoa Ca, mẹ ngài là Quỷ Tử Mẫu, em gái của Bì Sa Môn Thiên.

Kinh Kim Quang Minh ghi chép: Công Đức Thiên Phẩm.
Kinh Tối Thắng Vương ghi chép: Đại Cát Tường Thiên Nữ Phẩm.
Kinh Phật thuyết Cát Tường Thiên Nữ 12 danh hiệu, và kinh Đại Cát Tường Thiên Nữ 12 tiết 108 danh vô cấu Đại thừa, đều có ghi chép.

Thân ngài được miêu tả như sau: "Thân đoan chính, màu trắng hồng, vòng cổ vòng tay khuyên tai, đầu đội mũ miện quý. Đại Cát Tường Thiên Nữ tay trái cầm ngọc như ý, tay phải ban chú vô úy, đứng trên đài hoa sen.”

Thiên Nữ ở trong mandala Thai Tạng Giới, trong Viện Hư Không Tạng, phục vụ bên cạnh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát. Tôi ở Nam Sơn Nhã Xá thờ cúng ngài, mỗi ngày tôi trì chú Đại Cát Tường Thiên Nữ: "Om maha celiya soha.”

Đại Cát Tường Thiên Nữ vốn là nữ thần đắc đạo sớm nhất, từng theo Chiếu Minh Như Lai học Phật pháp, có công đức lớn, vì vậy ngài còn được gọi là Công Đức Thiên.

Theo những ghi chép của kinh Kim Quang Minh về các phẩm của Công Đức Thiên, Cát Tường Thiên trong kiếp quá khứ lúc còn ở Bảo Hoa Công Đức Hải Lưu Li Kim Sơn của Chiếu Minh Như Lai đã trồng rất nhiều các loại thiện căn. Kết quả là hiện tại, ngài có thể nghĩ tới bất kì chỗ nào, nhìn hướng nào, tới chỗ nào, cũng đều có thể khiến cho vô lượng chúng sinh nhận được lợi lạc. Nếu như các tín đồ có thể trì tụng kinh Kim Quang Minh, cúng dường chư Phật, lại dùng hoa thơm, hương thơm, đồ ăn ngon lành để cúng dường Cát Tường Thiên, ngoài ra trì niệm danh hiệu của ngài, sau khi cúng dường thì lập tức tín đồ này có thể đạt được phúc báo là tiền tài bảo vật.

Căn cứ theo kinh Đại Cát Tường Thiên Nữ danh hiệu thì: "Vị thiên nữ này có 12 danh hiệu là Cát Khánh, Cát Tường, Liên Hoa, Nghiêm Sức, Cụ Tài, Bạch Sắc, Đại Danh Xưng, Liên Hoa Nhãn, Đại Quang Diệu, Thí Thực Giả, Thí Ẩm Giả, Bảo Quang.”

Lai lịch của Đại Cát Tường Thiên được xếp vào một trong 8 vị Bát Đại Long Vương (Đức Xoa Ca Long Vương), là con gái do Ha Lê Đế Mẫu (Quỷ Tử Mẫu) sinh ra. Anh trai của ngài chính là Đa Văn Thiên Vương. 

Có một cuốn kinh điển đề cập đến Cát Tường Thiên Nữ hỏi Phật, Phật hỏi lại Cát Tường Thiên Nữ: "Con sống ở nơi nào?" Thiên Nữ nói: "Con sống ở phía bắc núi Tu Di, trong cung điện của Đa Văn Thiên Vương, có một điện gọi là Điện Cát Tường, con sống tại đó."

Đây là Thiên Nữ trả lời Phật Thích Ca Mâu Ni, trong kinh điển đã ghi chép lại. Thiên nữ sống tại một trong số các cung điện tại cung điện của người anh trai.

Hóa ra, Cát Tường Thiên Nữ từng phát lời thề nguyện, hễ là người có lòng cung kính thế tôn, bất kì lúc nào niệm tên ta, ta nay tùy niệm, cho phép tất cả chúng sinh đều nhận được mọi niềm vui, có được quần áo, tư lương, tiền bạc, thất bảo, trân châu, lưu li, san hô, hổ phách, ngọc bội, v.v. hoàn toàn không phải lo lắng bị thiếu thốn nữa.

Tại Nhật Bản, Cát Tường Thiên là một vị vô cùng may mắn và hiền hòa, mặt biểu hiện nét tươi cười, đội mũ phượng, cầm một quả cát tường. Cát Tường Thiên Nữ của Nhật Bản rất ôn hòa nho nhã. Trong Đông mật thì Cát Tường Thiên chuyên về ban phúc cho mọi người.

Trong Tạng mật thì Cát Tường Thiên Nữ lại không giống như vậy, trên trán của ngài có một con mắt, phía sau cũng có một con mắt, ngay cả con ngựa mà ngài cưỡi cũng có một con mắt nằm ở mông con ngựa, có thể nhìn được phía trước, nhìn được phía sau, nhìn trái nhìn phải. Ngài cũng có pháp lực, có thể trừ tà.

Cát Tường Thiên Nữ trong Mật giáo có thể ra chiến trận, có thể tiêu trừ tai nạn, có thể giải trừ ác vận, lại còn có thể đánh bại kẻ địch, vô cùng lợi hại. Ngài còn có thể xóa tan mọi hiểu lầm, nghiệp lực, đánh bật tất cả mọi kẻ địch. Cát Tường Thiên trong Tạng mật có diện mạo vô cùng hung ác, Cát Tường Thiên ở Nhật Bản thì lại rất ôn hòa nho nhã, tùy mọi người thích là được, quán tưởng vị nào cũng được.

Vì thế Cát Tường Thiên của Đông mật và Tạng mật khác nhau, cách tu pháp của hai nơi cũng không giống nhau lắm. Sức mạnh của Cát Tường Thiên cũng rất lớn, vô cùng tôn quý.

Chủng tử tự là "Celi", ý nghĩa chính là cát tường (may mắn). Chú ngữ là: "Om maha celiya soha." Maha có nghĩa là "đại", celiya chính là "cát tường", ý nghĩa câu chú chính là Đại Cát Tường Thiên, là Đại Cát Tường Thiên Nữ trong vũ trụ, trong hư không, ngài có thể thỏa mãn tất cả mọi việc của chúng sinh, đó chính là ý nghĩa của “soha”.

Vishnu (Biến Tịnh Thiên) chính là Thần Bảo Hộ, thê tử của ngài chính là Cát Tường Thiên.

Có một câu chú Đạo giáo:

*Thượng thanh Thượng đế.
Đông Hoa Đại Đế Quân.
Lệnh ngô Liên Sinh.
Thụ lục giáp thiên thư.
Tiện sử lục giáp lục đinh chi thần.
Thiên du Thập Nhị Khê Nữ.
Na Diên Thiên Nữ ngũ nhân.
Thống suất thần tinh tam viên Đại tướng.
Hỏa Quang Đại tướng.
Phù Hải Đại tướng.
Hống Phong Đại tướng.
Các lĩnh thần binh bách vạn.
Trợ ngô Liên Sinh.
Pháp lực, thần thông, biến hóa.
Dữ đạo hợp chân.*

Trong chú ngữ của Đạo gia này có 2 vị đại thần, một vị là Thập Nhị Khê Nữ, một vị là Na Diên Ngũ Thiên Nữ. Thập Nhị Khê Nữ chính là mười hai Cát Tường Thiên, còn Na Diên Ngũ Thiên Nữ chính là Trường Thọ Ngũ Thiên Nữ. Chú ngữ này và Mật giáo có liên quan với nhau. Thập Nhị Khê Nữ chính là 12 biến hóa thân của 12 Cát Tường Thiên. Ngũ Thiên Nữ của Na Diên Thiên là Trường Thọ Ngũ Thiên Nữ. Trong Mật giáo, hai vị Thiên Nữ này đều rất nổi tiếng, họ chuyên về trừ tà và bắt ma.

Trừ tà — chính là ngăn chặn ma quỷ.
Bắt ma — chính là trói chặt ma quỷ.

Có thể trừ tà, có thể bắt ma, đem lại may mắn, 12 Cát Tường Thiên Nữ có sức mạnh như vậy, do vậy ngài thuộc về pháp của Jambhala (Hoàng Tài Thần). Jambhala chính là Thần Tài, là "nạp phúc", lại cũng có thể dùng như pháp hàng phục.

Cát Tường Thiên Nữ dễ dàng ban phúc và may mắn, bởi vì Đại Cát Tường Thiên ở phía bắc của Bì Sa Môn Thiên, khoảng cách tới nhân gian rất gần, rất dễ có được cảm ứng.

Ngoài ra có một điều rất đặc biệt là, Đại Cát Tường Thiên Nữ rất thích sự sạch sẽ. Mật đường của ngài nhất định phải giữ khô ráo, ngăn nắp, sạch sẽ và thanh tịnh, một thứ bẩn cũng không được, pháp tướng, pháp khí không được để bị bẩn. Ngay cả đến vải của bức họa tướng cũng cần phải do con gái còn trinh trắng dệt nên, thì mới có thể ban trải ánh sáng, nghĩa là có như vậy thì ngài mới hạ giáng. Cát Tường Thiên Nữ lại càng thích hợp dành cho người nữ tu trì, đàn ông thì không thích hợp lắm. Bởi vì Thiên Nữ này hiện thân là nữ, tướng mạo phi phàm, có tâm thanh khiết, người nam tu pháp thì dễ xúc phạm.

Tôi đặc biệt giải thích như vậy là bởi vì với người tiếp nhận đạo pháp, mỗi người nên tùy vào căn cơ của chính mình mà tu pháp. Pháp Cát Tường Thiên Nữ thích hợp cho người nữ tu trì, tu trì pháp này thì dung mạo sẽ vượt trội nghìn vạn người, đây là pháp làm đẹp tuyệt vời. Không chỉ có được trân bảo mà còn có được dung mạo xinh đẹp, cả đời không gặp tai nạn, đây chẳng phải là lợi ích lớn của pháp này sao.

Trong các văn Tập số 54, 102, 108, 114, 204… của Liên Sinh Hoạt Phật đều có viết về Cát Tường Thiên Nữ. Trong đó Đại Cát Tường Thiên Nữ có phương pháp cầu nguyện "mộng thông". Bạn hướng về ngài cầu nguyện, ngài có thể đến trong giấc mơ để chỉ thị cho bạn. Ngài còn có thêm chiêm bốc, ở Tây Tạng gọi là bói quẻ, nghĩa là hỏi được chuyện lành dữ của tương lai. Đại Cát Tường Thiên Nữ có pháp như vậy.

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/cau-tai-thien-nu-niem-tung-phap.md
# Title: Câu Tài Thiên Nữ niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_719367fd24c4ad9b9dd96ebdb4cbfec6.png)



## Câu Tài Thiên Nữ niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì đồng tu.

- Quán tứ vô lượng tâm.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Câu Tài Thiên Nữ.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tát cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha.  


### Phần 9: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 10: Kết ấn và Quán tưởng tam quang bao trùm



![image](/img/img_226fc8fa43aff9672b23ad7d06f22c8a.jpg)


**Kết ấn: Thủ ấn **Câu Tài Thiên Nữ

Tay trái nắm lại, ngón cái đặt ở bên ngoài, ngón trỏ dựng thẳng. Tay phải nắm lấy ngón trỏ tay trái, ngón cái đặt ở bên ngoài, ngón trở làm thành hình cái móc.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời trong vạn dặm không mây, một vầng mặt trăng từ dưới biển nhô lên không trung, ở chính giữa vầng mặt trăng có một chủng tự chữ Chuli (tiếng Phạn) màu đỏ tỏa ánh sáng đỏ.

(2) Chữ Chuli ở giữa vầng mặt trăng quay tròn hóa thành Câu Tài Thiên Nữ. Thiên nữ có sắc thân màu đỏ, mặc thiên y bằng lụa và trang điểm bằng những chuỗi ngọc châu báu, thần thái hồng hào, phóng tỏa ánh sáng. Câu Tài Thiên Nữ tay phải cầm móc kim cang, tay trái cầm chuột nhả tài bảo, ngồi tư thế chân phải hơi duỗi ra, chân trái thì cong vào.

Khẩu quyết quán tưởng: móc kim cang của Câu Tài Thiên Nữ chuyển động, bạn làm thủ ấn cái móc cũng phải chuyển động như vậy. 

(3) Thiên tâm của Câu Tài Thiên Nữ phóng ánh sáng trắng chiếu đến thiên tâm của hành giả, họng của ngài phóng ra ánh sáng đỏ chiếu đến họng của hành giả, tâm luân của ngài phóng ra ánh sáng lam chiếu đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng trắng, đỏ, lam dung nhập vào thân tâm của hành giả.


### Phần 11: Trì tâm chú Câu Tài Thiên Nữ


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Câu Tài Thiên Nữ đến trước mặt mình.

**Chú ngữ:**

Ôm ma-rua ha-rư-ya ha-rư-ya ôm yin-ku-sa yin-ku-sa sê-sê-sê hùm-hùm-hùm pây sô-ha. (108 biến)


### Phần 12: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Chuli), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Bổn tôn Câu Tài Thiên Nữ, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 13: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định.

**Tụng tán**

Năm xưa hành thiện vô cùng tận
Chứng đắc tài thọ và uy đức
Mẫu thí tài bảo cho hành giả
Tăng Tài Phật Mẫu con kính lễ.


### Phần 14: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 15: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 16: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 17: Hồi hướng


Gia trì tu pháp đạt thành tựu
Trăm bệnh tiêu trừ phúc huệ tăng
Mong cùng Bổn tôn hợp làm một
Chúng sinh thế giới được an vui.

Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. xin đem công đức này hồi hướng. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 18: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 19: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


![image](/img/img_f209dcc2bea5feec92a663a6fa21b0a5.jpg)



![image](/img/img_4c26f0cb7602eb7737598c0a719acd33.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Câu Tài Thiên Nữ


Câu Tài Thiên Nữ có sắc thân màu đỏ, hiện tướng thiếu nữ 16 tuổi, mặc thiên y bằng lụa và trang sức bằng chuỗi ngọc châu báu, thần thái hồng hào, phóng tỏa ánh sáng. Tay phải cầm móc kim cang, tay trái ôm một con chuột nhả tài bảo, ngài ngồi tư thế chân phải hơi duỗi, chân trái cong lại. 


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị lai lịch vĩ đại của Câu Tài Thiên Nữ và khẩu quyết tu pháp


Câu Tài Thiên Nữ chính là Câu Nhiếp Tài Tục Mẫu của Mật giáo. Phạm vi của chữ “Mẫu” này rất rộng, đại diện cho tính nữ, cũng có ý nghĩa là nữ, cho nên Thiên Mẫu cũng có ý nghĩa là Thiên Nữ.

Khi A Di Đà Phật lập nên Tây phương Cực Lạc thế giới tịnh thổ, Câu Tài Thiên Nữ đã đi theo hầu hạ bên cạnh ngài đi khắp trăm nghìn vạn triệu Phật quốc tịnh thổ. Còn Câu Tài Thiên Nữ là từ trong tâm bất động của A Di Đà Phật xoay tròn hóa hiện ra, và dùng móc kim cang để câu nhiếp tinh hoa của mọi Phật quốc tịnh thổ, xây dựng nên toàn bộ Tây phương Cực Lạc thế giới.

Câu Tài Thiên Nữ đã đem mọi vàng bạc châu báu đến Tây phương tịnh thổ, làm nên mặt đất phủ vàng, đem đến hàng cây thất bảo ở Hoa Nghiêm tịnh thổ, đem cam lộ vào trong nước tám loại công đức, đem về đế võng minh châu xây dựng nên vô số cung điện. Cho nên Tây phương Cực Lạc thế giới trở thành đẹp đẽ nhất trong số các Phật quốc tịnh thổ, là tịnh thổ giàu có nhất. 

Câu Tài Thiên Nữ là Thần Tài lớn nhất ở Tây phương Cực Lạc thế giới, cũng là tổng quản của Thần Tài. Cho nên hành giả chỉ cần tương ứng với Câu Tài Thiên Nữ thì cũng tương đương tương ứng với A Di Đà Phật, và còn có thể đắc được trí huệ của Như Lai, hơn nữa còn có thế tương ứng với Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, và Ngũ Tính Tài Thần của Mật giáo, tương ứng với toàn bộ Thần Tài, đây chính là chỗ vĩ đại của ngài.

Sơn Thần là Thần Tài ở mặt đất, Long Vương là Thần Tài ở biển, còn ở cõi Thiên, Tứ Thiên Vương đều là Thần Tài rất giàu có. Ở tịnh thổ, Thần Tài ở cảnh giới cao nhất chính là Câu Tài Thiên Nữ. 

Tay phải của Câu Tài Thiên Nữ cầm móc kim cang, tay trái cầm chuột nhả tài bảo, thân ngài màu đỏ, đầu đội mũ miện rất đẹp. Ở Tây Tạng dùng hình tượng thiếu nữ 16 tuổi làm thành Câu Tài Thiên Nữ, chúng ta bây giờ thì 18 tuổi mới xem là tuổi thành niên, nhưng ở Tây Tạng và Ấn Độ, các thiếu nữ của họ trưởng thành tương đối sớm, 16 tuổi là lúc đã viên mãn nhất rồi. 

Chú ngữ của ngài là: Om marou haria haria om yinkusa yinkusa seh seh seh hum hum hum pei soha. “Marou haria” là tên của ngài, còn “yinkusa yinkusa seh seh seh hum hum hum pei soha” có nghĩa là ngài đem tài phúc tư lương trong thiên hạ ban cho người tu hành chúng ta, ý nghĩa của câu chú này là như vậy.

Tên của ngài là Haria, “yinkusa”, “seh seh seh”, và “hum hum hum” là âm thanh ngài đang vung tiền ra cho chúng sinh, còn tên của ngài thì là Haria.

Khi tu trì pháp Câu Tài Thiên Nữ, phải kết ấn móc câu, đại diện cho Câu Tài Thiên Nữ cầm móc kim cang. Quán tưởng móc kim cang chuyển động, biến to lên, vươn dài ra, bạn muốn thứ gì thì dùng móc kim cang để câu về trước mặt bạn, muốn câu cái gì thì quán tưởng cái đó rơi ra từ móc kim cang, giống như biển mây vô cùng vô tận. Quan trọng nhất là phải quán tưởng móc câu của Câu Tài Thiên Nữ chuyển động, thủ ấn móc câu cũng chuyển động, đây là khẩu quyết. Hành giả có thể quán tưởng lông mi của Câu Tài Thiên Nữ biến thành những móc câu, câu mọi tiền tài từ hư không xuống. Sau khi tu pháp xong thì phải nói bài kệ ca ngợi Câu Tài Thiên Nữ:
“Năm xưa hành thiện vô cùng tận
Chứng đắc tài thọ và uy đức
Mẫu thí tài bảo cho hành giả
Tăng Tài Phật Mẫu con kính lễ.”

Câu Tài Thiên Nữ có thể tiêu tai ban phúc, gia tăng tài phúc, gia trì thăng quan, có thể tiếp dẫn chúng sinh u minh đến Tây phương tịnh thổ, có thể gia tăng sức mạnh kính ái, có thể tiêu trừ bệnh tật, tiêu trừ nghiệp chướng, có thể câu những thứ mà trong lòng chúng ta mong muốn về cho chúng ta.

Hành giả cũng có thể dùng móc kim cang này để triệu mời các vị Phật Bồ Tát xuống, khi Phật Bồ Tát ở trong không trung cưỡi mây bay lượn, bạn dùng móc kim cang này để câu là có thể câu triệu Quan Thế Âm Bồ Tát, A Di Đà Phật xuống, câu Phật Bồ Tát hạ giáng đến chỗ chúng ta đây, thế là chúng ta sẽ có được sự gia trì của chư Phật Bồ Tát.

Nếu có những tai nạn không hay, hành giả cũng có thể dùng móc kim cang để câu chúng đi chỗ khác, quăng bỏ chúng đi. Có duyên phận không hay kéo đến thì dùng móc kim cang là có thể quăng bỏ đi, quăng đi rất xa. Câu Tài Thiên Nữ là một vị rất quan trọng, có điều tốt thì có thể câu về gần, có điều không tốt thì có thể quăng đi xa, chỉ cần bạn tương ứng rồi thì mọi thứ đều có thể tâm tưởng sự thành.

Ở Tây Tạng, rất ít người tu vị này, chỉ có Chân Phật Tông chúng ta tu Câu Tài Thiên Nữ, ngài vô cùng thù thắng, pháp lực rất lớn.

Bản thân ngài có thể giúp bạn muốn gì tùy ý. Không những ngài có thể chữ được bệnh của chính bạn, câu bệnh của bạn đi xa, và câu sức khỏe về, tự nhiên bạn có thể sống lâu. Vị này cũng chủ quản trường thọ, có thể sống lâu, không chỉ là mỗi câu về tiền tài đâu, mà tất cả mọi thứ thế gian đều có thể câu. Hôn nhân ngài cũng có thể câu. Cho nên sức mạnh của ngài cực kì lớn, kính ái viên mãn. Bạn câu tư lương, tư lương tăng trưởng; bạn câu kính ái sẽ được viên mãn; thân thể cũng khỏe mạnh, cũng có thể trường thọ; không sinh được con, bạn dùng móc kim cang câu Liên Hoa Đồng Tử ở trên trời về, câu vào trong bụng bạn, thế là đứa trẻ bạn sinh ra sẽ là Liên Hoa Đồng Tử. Ngài là một Bổn tôn có thể khiến cho tiền tài, con cái, tuổi thọ của bạn đều được viên mãn. 


![image](/img/img_5ea7b14dc17f6f64cc74934d66557d3a.jpg)


Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/cham-soc-luc-lam-chung.md
# Title: Chăm sóc lúc lâm chung
---

![image](/img/img_cf3c73b824dbd5b8ae82e28b6f8ed275.png)



## Chăm sóc lúc lâm chung


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Những điều cần biết


1. Đầu tiên cần điền vào bảng phục vụ tụng kinh vãng sinh. 
2. Thủ tục tang lễ đừng phô trương, đừng bận tâm việc mời các hình thức dân gian (như đội nữ hiếu thảo, đội nam khóc tang, v.v…) Nên thỉnh mời người xuất gia tụng kinh làm siêu độ.
3. Khi người bệnh đang hấp hối, phải cố gắng hết sức cho người bệnh thoải mái ấm áp, để tâm tình họ được an yên.
4. Tìm hiểu tôn giáo tín ngưỡng và tâm nguyện của người bệnh. (Ví dụ: Bổn tôn của người bệnh, tâm chú họ thường trì, mong muốn vãng sinh tịnh thổ nào, v.v…)
5. Thường nhắc nhở người bệnh một lòng kiền thành phát nguyện, niệm Phật trì chú, vãng sinh Phật quốc tịnh thổ.
6. Giải thích cho người bệnh nghe về Phật pháp và dạy họ ý nghĩa của vãng sinh tịnh thổ, để họ an tâm, không lưu luyến gia quyến và việc nhà.
7. Nếu được cho phép, cũng có thể nhẹ nhàng lau rửa cho người bệnh, để người bệnh lúc lâm chung được thanh tịnh tâm an.
8. Khuyên người thân đừng khóc lóc bên giường người bệnh, ảnh hưởng đến tâm tình của người bệnh, cản trở người bệnh vãng sinh tịnh thổ.
9. Ở trước giường người bệnh đặt một bức tượng Phật lớn, tượng Phật có thể chọn Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật, A Di Đà Phật hoặc Phật Bồ Tát Bổn tôn mà người bệnh ưa thích nhất, để sao cho người bệnh thường nhìn thấy, có thể trợ giúp người bệnh quán tưởng và nhớ đến việc vãng sinh tịnh thổ.
10. Giữ yên lặng bên giường người bệnh, có thể mở tâm chú Liên Hoa Đồng Tử hoặc Thánh hiệu A Di Đà Phật âm lượng nhỏ, để người bệnh một lòng một ý lắng nghe, giúp họ niệm Phật.


### Nghi quỹ trợ niệm lúc lâm chung:


1. Cầu thỉnh căn bản truyền thừa gia trì: nhân viên hoằng pháp phải quán tưởng rõ ràng Căn bản Thượng sư trụ đỉnh phóng quang gia trì, trì tâm chú Liên Hoa Đồng Tử (7 biến hoặc hơn). 
2. Kết giới: tứ trùng kết giới (không nên dùng chuông chày kim cang để tránh quấy rầy tâm niệm của người bệnh). 
3. Niệm chú thanh tịnh.
4. Niệm chú triệu thỉnh.
Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Thánh Tôn Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Vô Cực Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn.
Nam mô đại từ đại bi Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát. Thập phương tam thế tất cả Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát. 
Nam mô Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa.
5. Đại lễ bái.
6. Đại cúng dường.
7. Niệm chú tứ quy y.
8. Mặc giáp hộ thân.
9. Tụng Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh.
10. Niệm chú vãng sinh (7 biến). 
11. Trì tâm chú Liên Hoa Đồng Tử 108 biến.
Nhóm trợ niệm tiếp tục trì tâm chú Liên Hoa Đồng Tử hoặc niệm Thánh hiệu Nam mô A Di Đà Phật. (Không cần dùng các pháp khí hát tụng.)
Nhóm trợ niệm vừa trì chú, nhân viên hoằng pháp hoặc người nhà có thể ở bên tai người sắp chết dùng giọng nói ôn hòa nói lời hướng dẫn.
a. Nếu gặp bất kì cảnh tượng nào hoặc nghe thấy bất kì âm thanh nào, đừng sợ hãi, chuyên tâm trì chú hoặc niệm Phật hiệu.
b. Buông bỏ tất cả mọi việc thế tục.
c. Quán tưởng Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật phóng quang chiếu đến tiếp dẫn, tiến vào trong ánh sáng.
Chú ý: sau khi người chết vãng sinh, nhóm trợ niệm vẫn có thể tiếp tục trì chú hoặc niệm Phật ít nhất một tiếng để giúp cho người chết duy trì ý niệm vãng sinh tịnh thổ.
12. Hồi hướng: Nguyện đem công đức trì chú niệm Phật này hồi hướng cho người quá cố XXX, cầu nguyện Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật và Phật Bồ Tát, Phật quang chiếu đến người quá cố XXX, tiêu trừ nghiệp chướng, sớm vãng sinh tịnh thổ.” (Không cần lắc chuông chày kim cang.)
13. Niệm Bách tự minh chú (3 biến).
14. Đại lễ bái.
15. Niệm chú viên mãn.

**Chú ý:**
1. Nếu khẩn cấp, có thể làm bước 1-4 và 11-15. 
2. Cũng có thể trì tụng Phật hiệu hoặc tâm chú mà người chết thường quen trì tụng.

---
# File: nghi-quy-tu-tap/chan-phat-bao-sam.md
# Title: Chân Phật Bảo Sám
---

![image](/img/img_93e9d3e00fea3de80e52e45d3291d36e.jpg)



## **Nghi quỹ Chân Phật Bảo Sám**


Truyền pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam


---


Phàm người nào làm lễ sám, bên ngoài phải uy nghi, bên trong phải quán tưởng. Cần phải tập làm cho quen trước, để tránh lúc cần làm lại xảy ra sai sót. Có những chuẩn mực phải tuân theo. Nếu người nào chưa thể tu quán, cũng phải thanh tịnh ba nghiệp thân, khẩu, ý. Nhất tâm lễ tụng. Không được làm qua loa đại khái cho xong.


### **(1) **


**Mở đầu****
**Niệm chú dài của Căn bản Thượng sư: Ôm ah hùm gu-ru-pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-sâng sít-đi hùm. (7 biến)
Làm quán tưởng Tứ vô lượng tâm. 
Làm thủ ấn thức tỉnh: Vỗ tay hai lần, bắt chéo tay và búng ngón tay. 
Đại lễ bái. (Đảnh lễ Căn bản Truyền thừa Thượng sư và Tam Bảo ở đàn thành.)


### **(2) **


**Lư hương tán
**Lư hương sạ nhiệt
Pháp giới mông huân
Chư Phật hải hội tất diêu văn
Tùy xứ kết tường vân
Thành ý phương ân
Chư Phật hiện toàn thân.

Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần)


### **(3) **


**Cung thỉnh người chủ trì ngồi xuống.**


### **(4) **


**Cung kính đọc sớ văn và đơn báo danh gia trì.**


### **(5) **


**Đốt sớ văn, làm kết giới, thanh tịnh đạo tràng.**


### **(6) **


**Niệm chú thanh tịnh và An thổ địa chân ngôn:
**Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An thổ địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### **(7) **


**Niệm chú triệu thỉnh:
**Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

**Nhất tâm cung thỉnh:**
Nam mô Chân Phật Tông Căn bản Truyền thừa Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật. (3 lần)

**Cung thỉnh:**
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư.
Nam mô Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Phổ Hiền Vương Như Lai.
Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam mô Đông phương Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật.
Nam mô Tay phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật.
Nam mô Vô Cực Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát.
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Đại Chuẩn Đề Bồ Tát.
Nam mô Kim Cang Tát Đỏa.
Nam mô Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.
Nam mô Đa Văn Thiên Vương Hoàng Tài Thần.
Nam mô Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, chư thiên thần chúng. 
Thập phương tam thế nhất thiết Phật, nhất thiết Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa.


### **(8) **


**Quán tưởng Đại lễ bái.**


### **(9) **


**Đại cúng dường:** 
(Niệm kệ cúng dường và chú cúng dường.)

Đọc bài kệ cúng dường:
Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kỳ diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.

Niệm chú cúng dường: 
Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### **(10) **


**Tứ quy y: **(3 biến) 
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.


### **(11) **


**Mặc bia giáp hộ thân:
**Kết thủ ấn Tam xoa xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)

(Lúc này có thể niệm thêm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh.)


### **(12) **


**Nhập sám:
**Nam mô Chân Phật Hải Hội Phật Bồ Tát. (3 lần)
Nhất tâm đảnh lễ. Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (3 lần)
Nhất tâm đảnh lễ. Tỳ Lô Giá Na Phật. Phật Nhãn Phật Mẫu, Liên Hoa Đồng Tử. Liên Sinh Hoạt Phật. (3 lần)
Nhất tâm đảnh lễ. Phổ Hiền Vương Như Lai.
Nhất tâm đảnh lễ. Đông phương Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật.
Nhất tâm đảnh lễ. Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật.
Nhất tâm đảnh lễ. Thập phương tam thế nhất thiết Phật.
Nhất tâm đảnh lễ. Vô Cực Diêu Trì Đại Thánh Tây Vương Kim Mẫu Đại Thiên Tôn.
Nhất tâm đảnh lễ. Liên Sinh Hoạt Phật thuyết Chân Thực Phật Pháp Tức Tai Tứ Phúc Kinh. (3 lần)
Nhất tâm đảnh lễ. Liên Sinh Hoạt Phật thuyết chư Đà-la-ni và thập phương tam thế nhất thiết tôn pháp.
Nhất tâm đảnh lễ. Địa Tạng Vương Bồ Tát. Quan Thế Âm Bồ Tát. Đại Chuẩn Đề Bồ Tát. Ma Ha Tát.
Nhất tâm đảnh lễ. Kim Cang Tát Đỏa. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.
Nhất tâm đảnh lễ. Thập phương tam thế nhất thiết Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nhất tâm đảnh lễ. Đa Văn Thiên Vương Hoàng Tài Thần.
Nhất tâm đảnh lễ. Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, chư thiên thần chúng.

Tất cả mọi người đều quỳ xuống. **
***Quỳ trên đầu gối và chắp tay.*

Quán tưởng đảnh lễ các vị tối cao. 
*Sau đây phải chắp tay quán tưởng đảnh lễ.*


**Đảnh lễ truyền giáo giáo chủ Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật:**
Cung kính trước bậc Câu Tri Viên Mãn Diệu Thiện
Thỏa mãn mong nguyện của vô lượng chúng sinh
Với tâm chân thực và quan kiến đúng đắn
Thành kính đảnh lễ bậc tôn chủ Thích Ca Mâu Ni.

**Đảnh lễ Tướng tông bổn tục chư tôn:**
Di Lặc, Vô Trước, Thế Thân, Giải Thoát Quân [Maitreya, Asanga, Vasubhandu, Vimuktisena]
Những bậc thầy hùng biện đáng kính đanh thép và nhu hòa
Sư Hiền Nhị, Cô Tát Lý, Kim Châu tôn [Haribhadra, Kusali, Gserlinpa]
Thành kính đảnh lễ các tổ sư truyền thừa quảng hành vĩ đại.

**Đảnh lễ Tính tông bổn tục chư tôn:**
Văn Thù Sư Lợi và thánh Long Thụ vô song [Manjusri, Nagarjuna]
Chí tôn Nguyệt Xứng và Ma Ha Vô Ngại Cưu [Chandrakirti, Maha Kumarajiva]
Giác Tăng, Hộ Ý hai vị cha - con thần thánh
Thành kính đảnh lễ các vị tổ sư với quan kiến thâm sâu.

**Đảnh lễ Mật tông bổn tục chư tôn:**
Đại bi thiện thệ thắng giả Trì Kim Cương [Vajradhara]
Thượng quán Tuyển La Oát và Na Lão Oát
Thượng đức Nhung Bỉ Oát và Atisa
Thành kính đảnh lễ các vị tổ sư đã trực tiếp trao truyền.

**Đảnh lễ các Thượng sư trực tiếp truyền dạy pháp:**
Liên tục từ bi ban cho minh pháp
Kinh tục luận nghĩa giáo lệnh tuyên thị
Truyền thụ giới luật quán đảnh gia trì
Thành kính đảnh lễ các bậc Thượng sư chân thực.

**Đảnh lễ tất cả thiện tri thức:**
Có thể thấy tất cả sự thật của giáo lý
Thực hiện phương tiện giải thoát siêu việt nhờ thiện duyên
Vì từ bi mà dạy các phương tiện thiện xảo
Thành kính đảnh lễ các thiện tri thức đã khai sáng.

**Đảnh lễ Phật hội thánh tôn:**
Xem người tu hành như đứa con yêu
Như bóng theo hình không bao giờ lìa bỏ
Thề nguyện ban cho thành tựu tối thượng
Thành kính đảnh lễ trước các vị thánh đức Phật hội.

**Đảnh lễ ngũ bộ Thiện Thệ:**
Tuy pháp thân như hư không không phân biệt
Sắc thân như cầu vồng lần lượt hiển quang minh
Từ trong trí huệ vô thượng đắc tự tại
Thành kính đảnh lễ trước ngũ bộ Thiện Thệ tôn. [Sugatas]

**Đảnh lễ Thất Phật Thế Tôn:**
Duy Vệ, Thức Khí, Tất Bô Ba [Vipasyin, Sikhin, Visvabhu]
Lưu Tôn, Kim Tịch và Ẩn Quang [Krakucchandra, Kanakamuni, Kasyapa]
Thích Ca Mâu Ni vị trời trong các vị trời
Thành kính đảnh lễ bảy vị Phật dũng mãnh. 

**Đảnh lễ tám vị Thiện Thệ:**
Thiện Danh, Bảo Nguyệt, Kim Sắc tôn
Vô Ưu, Pháp Lôi, Thắng Huệ Phật
Dược Sư, Thích Ca nguyện viên mãn
Thành kính đảnh lễ tám vị Thiện Thệ.

**Đảnh lễ ba mươi lăm vị Phật:**
Ánh sáng đại bi như mặt trời phổ chiếu
Tiêu tan tội chướng, sa đọa khổ đau
Dạy và chỉ dẫn con đường đạo đức tốt lành,
Thành kính đảnh lễ ba mươi lăm Phật hội.

**Đảnh lễ hiền kiếp thiên Phật:**
Đồng tâm phát nguyện thật hy hữu
Hành đạo thời-không đều ngang nhau
Trong một hiền kiếp đạt thành quả
Viên mãn nghìn Phật xin đảnh lễ.

**Đảnh lễ thập phương Phật:**
Minh giám thập phương các chúng sinh
Thập phương truyền hết diệu pháp luân
Cứu tế thập phương mọi hữu tình
Thập phương chư Phật xin đảnh lễ.

**Đảnh lễ thập phương pháp:**
Diệt được tập đế các vô minh
Trừ hết khổ căn của cõi trần
Trí huệ Phật Mẫu đến bỉ ngạn
Diệu pháp tam thừa xin đảnh lễ.

**Đảnh lễ bát đại Bồ Tát:**
Ma Tồ Quách A, Kim Cương Thủ [Manjughosa (Manjusri), Vajrapani]
Quan Âm, Địa Tạng, Trừ Cái Chướng [Avalokitesvara, Ksitigarbha, Vishkambi]
Từ Thị, Phổ Hiền, Hư Không Tạng [Maitreya, Samantabhadra, Akasagarbha]
Bát đại Bồ Tát xin đảnh lễ.

**Đảnh lễ thập phương tăng:**
Diệu âm cứu độ bí mật chủ
Như Quan Thế Âm quảng đại hành
Vui với trách nhiệm độ chúng sinh
Đại thừa tăng chúng xin đảnh lễ.

**Đảnh lễ Duyên Giác:**
Tu quán thập nhị nhân duyên pháp
Xưa nay Duyên Giác phân trí quả [Pratyeka-Buddhas]
Không theo tri thức tự ngộ chứng
Các thánh Duyên Giác xin đảnh lễ. 

**Đảnh lễ A La Hán:**
Bao đời sống cùng diệu tri thức
Hòa hợp giáo pháp đã từ lâu
Lưu thông Phật pháp luôn ủng hộ
Thập phương La Hán xin đảnh lễ. [Arhats]

**Đảnh lễ Không Hành chư tôn:**
Sống nơi cao vời của Không Hành
Thần thông như ý đầy uy lực
Hiền từ coi hành giả như con
Đảnh lễ ba xứ Không Hành hội.

**Đảnh lễ Hộ pháp chư tôn:**
Đắc thần thông lực đại biến hóa
Thành tựu theo đúng ý chỉ Phật
Bảo vệ nghiêm cẩn kho tàng pháp
Hộ giáo Kim Cang xin đảnh lễ.

**Đảnh lễ chúng hội điền:**
Nghiêng về hư không Phật Bồ Tát
Tất cả chúng sinh chúng con đây
Phân thân trở thành muôn vi trần
Tất cả các thời xin đảnh lễ.

**Thân khẩu ý đảnh lễ:**
Trong tất cả thập phương thế giới
Tất cả tam thế người - thầy - con
Nay con xin lễ hết tất cả
Đều bằng thanh tịnh thân khẩu ý.

**Thân đảnh lễ:**
Thân như cõi Phật muôn vi trần
Tất cả Như Lai con đều lễ
Đều dùng tâm ý đối chư Phật
Làm theo đại nguyện của Phổ Hiền.

**Khẩu đảnh lễ:**
Trong biển công đức nhiều vô tận
Dùng mọi âm thanh biển công đức
Tuyên truyền Như Lai biển công đức
Con thường ca ngợi bậc Thiện Thệ. 

**Ý đảnh lễ:**
Mỗi hạt cát đều là cõi Phật
Chư Phật Phật tử ngồi trong đó
Như thế toàn bộ các pháp giới
Con tin chư Phật đều lấp đầy.

**Hồi hướng:**
Lễ bái cúng dường và sám hối
Tùy hỷ công đức và khuyên thỉnh
Hết thảy công đức con tích tập
Đều xin hồi hướng cho bồ đề.

Nam mô Liên Hoa Đồng Tử Bồ Tát.** **(3 lần)
Hát tụng tâm chú Liên Hoa Đồng Tử. (nhiều biến)

**Tụng Chân Thực Phật Pháp Tức Tai Tứ Phúc Kinh. 
**(Tụng toàn bộ từ văn cầu thỉnh cho đến hết kinh văn.)

**Thất Phật diệt tội chân ngôn:
**Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-lô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-ki-a-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha.


**Văn sám hối:
**Trong tất cả thế giới. 
Tất cả các Như Lai. 
Bồ Tát A La Hán. 
Nguyện đều chứng cho con. 
Trong tất cả các đời. 
Bao nghiệp chướng đã tạo. 
Trong biển khổ sinh tử. 
Kiếp trước và đời này. 
Vì tham dục ngu si. 
Oán giận mà căm phẫn. 
Nơi Phật pháp tăng già. 
Sư trưởng và cha mẹ. 
A La Hán Bồ Tát. 
Theo một nơi cúng dường. 
Loài hữu tình chúng con. 
Có đức hoặc không đức. 
Các nghiệp tội tự tạo. 
Và bảo người khác tạo. 
Hoặc thiếu mất tùy hỷ. 
Tội nhỏ như phóng túng. 
Thân ngữ ý tạo nên. 
Tổng hợp hết không thừa. 
Nay con ở tại đây. 
Trước chư Phật Bồ Tát. 
Chí thành cung kính lễ. 
Với tấm lòng lo sợ. 
Chắp tay nghĩ các tội. 
Đếm hết và sám hối. 
Các tội con đã tạo. 
Như Phật đã biết rồi. 
Nay con biết ăn năn. 
Sau này không tái phạm. 
Nguyện Liên Hoa Đồng Tử. 
Luôn từ bi thu nhận.

**Tụng tán Liên Hoa Đồng Tử:
**Chân Phật hải hội. Liên Hoa Đồng Tử. Thập bát Bồ Tát tọa liên đài. Sám hối tiêu nghiệp chướng. Đại huệ quang minh. Phổ nguyện ly trần ai.
Nam mô Chân Phật Bảo Sám Phật Bồ Tát. (3 lần)
Nam mô Chân Phật hải hội Phật Bồ Tát. (3 lần)

**Hồi hướng kéo dài sinh mệnh:****
**Nam mô Tăng Phúc Thọ Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần)
Nam mô Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư Phật. (3 lần)

**Dược Sư Phật quán đỉnh chân ngôn:
**Na-mô pô-kya-fa-ti. Pinh-sa-sưa. Chuy-lu pi-liêu-li. Pua-la-pua. Hưa-lua-tu-yê. Ta-tha-chiê-tô-yê. A-lua-hưa-ti. San-meo-san-pô-thô-yê. Tan-chi-tha. Pinh-sa-sư. Pinh-sa-sư. Pinh-sa-sưa. San-mây-chiê-ti-sa-ha. (7 biến)

**Biến thực chân ngôn: ****
**Na-mô sa-fu-ta-tha-yê-tua. Fu-lu-chư-ti-ôm. San-pa-luô. San-pa-luô. (3 biến)

**Cam lộ thủy chân ngôn: ****
**Na-mô su-lu-pô-yê. Ta-tha-yê-tô-yê. Tan-chi-tha. Ôm. Su-lu-su-lu. Pô-lua-su-lu. Pô-lua-su-lu. Sô-pô-hưa. (3 biến)

**Phổ cúng dường chân ngôn: ****
**Ôm. Yê-yê-nang. San-pô-fu. Fa-rưa-luô-hu. (3 biến)

**Nguyên Thần tán:****
**Phật quang chú chiếu. Bản mệnh Nguyên Thần. Tai tinh thối độ phúc tinh lâm. Cửu diệu bảo trường sinh. Vận hạn hòa bình. Thọ vĩnh khang ninh.

**Hồi hướng kệ:****
**Nguyện tiêu tam chướng chư phiền não.
Nguyện đắc trí huệ chân minh liễu.
Phổ nguyện tội chướng đều tiêu trừ.
Thế thế thường hành Bồ Tát đạo.

**Hồi hướng trước bài vị vãng sinh:****
**Nam mô Thanh Lương Địa Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần)
Nam mô Bát Nhã Hội Thượng Phật Bồ Tát. (3 lần)

**Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh:**

Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.

Xá Lợi Tử, sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng hành thức diệc phục như thị.

Xá Lợi Tử, thị chư pháp không tướng, bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm.

Thị cố không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức. Vô nhãn nhĩ tị thiệt thân ý, vô sắc thanh hương vị xúc pháp, vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới.

Vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận. 

Vô khổ, tập, diệt, đạo. Vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố.

Bồ Đề Tát Đỏa y Bát nhã Ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết bàn.

Tam thế chư Phật, y Bát nhã Ba la mật đa cố, đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.

Cố tri Bát nhã Ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư.

Cố thuyết Bát nhã Ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết:

Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.

**Vãng sinh tịnh thổ thần chú: 
**Na-mô a-mi-tô-pô-yê. Tua-tha-ka-tô-yê. Tua-tha-yê-tha. A-mi-li-tô-pô-pi. A-mi-li-tô. xi-tan-pô-pi. A-mi-li-tô. Pi-ka-lan-tô. Ka-mi-ni. Ka-ka-yê. Chi-tô-ka-li. Sô-pô-hưa. (7 biến)

**Biến thực chân ngôn: ****
**Na-mô sa-fu-ta-tha-yê-tua. Fu-lu-chư-ti-ôm. San-pa-luô. San-pa-luô. (3 biến)

**Cam lộ thủy chân ngôn: ****
**Na-mô su-lu-pô-yê. Ta-tha-yê-tô-yê. Tan-chi-tha. Ôm. Su-lu-su-lu. Pô-lua-su-lu. Pô-lua-su-lu. Sô-pô-hưa. (3 biến)

**Phổ cúng dường chân ngôn:****
**Ôm. Yê-yê-nang. San-pô-fu. Fa-rưa-luô-hu. (3 biến)

**Di Đà tán:****
**Liên Trì Hải Hội. Di Đà Như Lai. Quan Âm Thế Chí tọa liên đài. Tiếp dẫn thượng kim giai. Đại thệ hoằng khai. Phổ nguyện ly trần ai.

**Hồi hướng kệ:****
**Nguyện sinh về Tây phương tịnh thổ 
Cửu phẩm liên hoa làm phụ mẫu.
Hoa nở thấy Phật ngộ vô sinh.
Bồ Tát là bạn chẳng khước từ.

Xin mời xuống khỏi pháp tọa. 
(Lúc này có thể làm thêm là: tay kết thủ ấn Kim Cang Tát Đỏa. Quán tưởng ba ánh sáng bao trùm. Niệm Bách tự minh chú 7 biến. Cửu tiết Phật phong. Nhập Tam ma địa. Xuất định.)


### **(13) **


**Trì thêm tâm chú của bát đại Bổn tôn và niệm Phật:
**Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thế sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm ben-za gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lián-shâng sit-đi hùm (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-lê-ya sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)
Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### **(14) **


**Tổng hồi hướng:
**Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.


### **(15) **


**Niệm Bách tự minh chú:
**Ôm ben-za sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya ben-za sa-tô tê-nô-pa ti-cha
Chê-chô mê-pa-wa su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-ơ-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-ơ-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-ân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ pan-ga-guân
Sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta ben-za ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya sa-to ah hùm pây. (3 biến)


### **(16) **


**Đại lễ bái:
**Đảnh lễ Căn bản Truyền thừa Thượng sư và tất cả Phật Tam Bảo ở tại đàn thành.


### **(17) **


**Niệm chú viên mãn:
**Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Lễ sám viên mãn. Như ý cát tường.

**(Hết.)**

---
# File: nghi-quy-tu-tap/chan-phat-hoi-cung.md
# Title: Chân Phật Hội Cúng 
---

## Chân Phật Hội Cúng 


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Hành giả Mật tông có ba nền tảng căn bản là Thượng sư, Bổn tôn và Hộ pháp, do đó, dù là hội cúng, bố-sát hay cúng dường, đều phải cúng dường ba nền tảng này trước. Hội cúng còn là một pháp môn tu hành thuộc về "Hành" trong bốn phương diện lớn của Mật pháp là "Giáo, Lý, Hành, Quả", cần phải thực hành đúng kỳ.

Theo quy định của Mật tông Tây Tạng, ngày giờ và đối tượng hội cúng như sau: (các ngày dưới đây theo âm lịch)
Mồng một và mồng mười hàng tháng, hội cúng Thượng sư.
Ngày rằm hàng tháng, hội cúng Bổn tôn.
Ngày hai mươi lăm hàng tháng, hội cúng Không hành mẫu.
Ngày hai mươi chín hàng tháng, hội cúng Hộ pháp.

Mặc dù đây là những ngày cúng dường định kỳ, nhưng trong buổi hội cúng, tất cả chư Phật, Bồ Tát, Không Hành Mẫu, Hộ Pháp, chư thiên và các loài trung ấm, ngạ quỷ đều được thọ nhận phẩm vật cúng dường.

Hội cúng, đúng như tên gọi, là sự tụ hội của các hành giả trước Phật để bày biện lễ vật cúng dường, dâng lên các bậc tôn quý thọ nhận, cầu xin được gia hộ, cũng như cúng dường Bổn tôn của chính mình.

Nghi thức hội cúng giữa các tông phái có đôi chút khác biệt, nhưng chủ yếu đều tụng Bách tự minh chú, dâng lễ cúng dường, tâm chú hoặc chú dài của Thượng sư, tán tụng, cũng như tu pháp tương ứng với Thượng sư trong tông phái của mình.

**1. Tụng chú thanh tịnh.**

**2. Tụng chú triệu thỉnh.**

**3. Đảnh lễ Đại ân căn bản Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật và chư Thánh chúng đàn thành Tam Bảo. **(3 lạy)

**4. Kệ quy y phát tâm: **(3 lần)

Tam Bảo tối thượng con quy y. 
Tất cả nghiệp tội đều sám hối. 
Thiện căn chúng sinh đều tuỳ hỷ. 
Bồ đề chính giác luôn giữ gìn.
Chư Phật diệu pháp và tăng già. 
Cho đến bồ đề con quy y.
Vì lợi ích mình và người khác.
Nay con liền phát tâm bồ đề.
Tức phát tối thượng bồ đề tâm.
Lợi ích tất cả các hữu tình.
Bồ đề diệu hạnh đều tu tập.
Nguyện thành Phật đạo lợi chúng sinh. 

**5. Phát tâm hội cúng:**
Nguyện cùng tất cả chúng sinh trong pháp giới tiêu trừ tội chướng, viên mãn phúc huệ, cùng chứng vô thượng bồ đề. Thành tâm tu tập hội cúng, kính xin ban cho gia trì.

**6. Chú quán không tịnh nghiệp:** (3 lần) (Quán tất cả pháp tính không)
Ôm su-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma su-pa-wa su-tô hằng.

**7. Gia trì biến hiện cúng phẩm:**
Từ trong không tính biến hiện thiên linh bảo cái, bên trong chứa đầy ngũ nhục ngũ cam lộ. Hoặc quán bên trong chứa đầy vô lượng hương hoa, thực phẩm vi diệu, trái cây tươi. Hoặc quán tất cả phẩm vật trên bàn thờ đàn thành.

**8. Tam tự minh: **
Rang - Yang - Kang. (3 biến)
Quán tưởng rõ ràng mình trở thành Bổn tôn không khác biệt. Trong tâm phóng ra ba chữ Rang Yang Kang. Nhờ lửa lớn đốt cháy, gió lớn thổi, nước lớn rửa, các lực tịnh trì mọi ô nhiễm, biến thành biển cam lộ thanh tịnh vi diệu. 

**9. Tam tự kim cang: **Om Ah Hum (3 biến).

Tự thành Bổn tôn phóng ra tam luân chủng tử tự. Quang minh biến chiếu. 
(1) Chữ Om phóng quang, gia trì cúng phẩm biến đầy hư không. (biến thành nhiều)
(2) Chữ Ah phóng quang, gia trì cúng phẩm thanh tịnh. (biến thanh tịnh)
(3) Chữ Hum phóng quang, gia trì cúng phẩm biến đầy hư không, biến thành biển cam lộ. (biến thành cam lộ)

**10. Tán tụng.** 

Hum Hum Hum. 
Ba thân tự tính nơi cõi Phật
Thượng sư Bổn tôn Không hành mẫu
Hộ pháp phát lời thề bảo vệ
Cầu thỉnh giáng lâm nạp hội cúng
Liên Sinh Hoạt Phật Đại Thượng sư
Liên Hoa Đồng Tử ứng hóa tôn
Ngũ phương Ngũ Phật đại đàn thành
Bát đại Bồ Tát mãn tâm hỷ
Hộ pháp Không hành nhiễu như biển
Âm nhạc bảo sức xuất nhã âm
Lời ca điệu múa đầy tiêu dao
Biến khắp hư không và mặt đất
Cầu ban gia trì diệu hội cúng
Hành giả du già tâm kiền thành
Với cúng dường mây vi diệu này
Hoan hỷ tụ tập nội minh đường
Thành tâm sám hối mọi phá giới
Thanh tịnh viên mãn nội minh cung
Liên Sinh Hoạt Phật trường trụ thế
Chân Phật Mật thừa pháp luân chuyển
Nay con chí thành xin khởi thỉnh
Nguyện ban đại bi thường hộ niệm
Tiêu tai trừ chướng tăng giác thọ
Cúng hết mọi cõi ban viên mãn.

**11. Dâng mandala:**
Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hoá mọi trân bảo cúng dường Phật
Muôn vàn trang nghiêm công đức này
Nguyện cùng chúng sinh phát bồ đề.
Chú mandala:
Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru-la-na mên-tra-la khan ni-li-yê ta-yê-mi. 

**12. Dâng cúng dường:**
A-can sô-ha ôm ah hum. (nước)
Pa-tang sô-ha ôm ah hum. (nước)
Pu-pê sô-ha ôm ah hum. (hoa)
Tu-pê sô-ha ôm ah hum. (hương)
A-lô-cây sô-ha ôm ah hum. (đèn)
Can-tia sô-ha ôm ah hum. (phấn)
Ni-wây-tia sô-ha ôm ah hum. (quả)
Ka-ta sô-ha ôm ah hum. (nhạc)

**13. Niệm văn cầu thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật gia trì**

Ôm A Hùm [Om Ah Hum]
Kính đem thân khẩu ý thanh tịnh.
Cúng dường Tỳ Lô Giá Na Tôn.

Pháp thân Phật Nhãn Phật Mẫu Thánh.
Báo thân Liên Hoa Đồng Tử thân.
Ứng Thân giáo chủ Liên Sinh Phật.
Ba thân không khác, đại Phật ân.

Cung kính Chân Phật đại truyền thừa.
Thần thông ban trải đầy thế giới.
Phóng quang chiếu rọi khắp ba thời.
Hóa hiện không ngừng chứng nhất như.
Đệ tử tha thiết thường cầu tới.
Soi chiếu quang minh, phúc huệ tăng.

Xưa đến thọ ký, Phật Thích Ca.
Phó thác ân cần, A Di Đà.
Di Lặc Bồ Tát ban hồng quán.
Liên Hoa Đại Sĩ mật pháp truyền.
Thánh Tôn xin thỉnh đừng quên nguyện.
Cứu độ chúng sinh chúng con đây.
Hộ niệm như thế xin nhiếp thọ.
Thành tựu nhanh nhanh thỉnh gia trì.

Nam mô Tỳ Lô Giá Na Phật.
Nam mô Phật Nhãn Phật Mẫu.
Nam mô Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Chân Phật hải hội thập phương tam thế chư Phật Bồ Tát Ma Ha Tát.

**14. Cầu thỉnh Thượng sư tam quang gia trì:**

(1) Trước tiên quán Không: Ôm su-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma su-pa-wa su-tô hằng.
(2) Sau đó quán tưởng: Căn bản Thượng sư an trụ trong hư không trước mặt, phóng tam quang gia trì hành giả. Nghênh thỉnh Thượng sư nhập ngã: Cha, Hum, Ban, Ho. Hợp thành một thể. 
(3) Tâm chú Thượng sư: Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)
(4) Tĩnh toạ: minh tưởng thiền quán, Thượng sư nhập ngã, toàn thân phóng tịnh quang chiếu khắp mười phương. Nhập biển tự tính thanh tịnh vô niệm. 

**15. Trì thêm các tâm chú khác:**

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)
Nam mô Không hành Hộ pháp tôn.

**16. Kế tiếp ném phẩm vật cúng dường lên không trung và tụng văn sau: **(đại chúng kết ấn cúng dường)
Nhập vào thiền định thâm sâu.

Ôm Ah Hùm.
Kính thỉnh Thượng sư hải hội dùng hội cúng.
Kính thỉnh Bổn tôn hải hội dùng hội cúng.
Kính thỉnh Không hành hải hội dùng hội cúng.
Kính thỉnh Hộ pháp chư tôn dùng hội cúng.
Kính thỉnh Tài thần khố chủ dùng hội cúng.
Kính thỉnh Quỷ thần hiển linh dùng hội cúng.
Kính thỉnh Sơn thần địa chủ dùng hội cúng.
Kính thỉnh cha mẹ trong lục đạo dùng hội cúng.
Kính thỉnh oán thân chướng ngại dùng hội cúng.
Kính thỉnh tất cả thọ nhận ngoại cúng dường.
Kính thỉnh tất cả thọ nhận nội cúng dường.
Kính thỉnh tất cả thọ nhận mật cúng dường.
Kính thỉnh thọ nhận chân đại lạc cúng dường.

**17. Dâng cúng phẩm:**

Tay kết ấn, cúng dường Thượng sư đàn thành Tam Bảo Thánh chúng, và cúng khắp mười phương pháp giới chư Phật quốc thổ và vô lượng chúng sinh. 

Om Ah Hum. Quán tưởng cúng phẩm trước đàn thành biến thành đầy ắp hư không pháp giới. 
Chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru-la-na mên-cha-la khan ni-li-yê ta-yê-mi.

**18. Bài tụng sám tội**

Con thành tâm trước Thượng sư Tam Bảo
Bước lên kính lễ ánh sáng liên hoa
Kinh luận Như Lai và Thượng sư dạy
Con không như pháp phỉ A Xà Lê
Huynh đệ kim cương cùng nhận quán đảnh
Con khởi tà kiến phiền não ác ngữ
Bổn tôn đàn thành tâm chưa quán rõ
Tụng niệm không rõ chú âm sai lệch
Tiết lộ bí mật được giao bảo hộ
Tuyên thuyết mười điều bí mật lừa thầy
Con xin sám hối các tội căn bản
Nên hành sự nghiệp lại giữ năm giới
Con xin sám hối các tội liên quan
Không chăm tu trì định lực và giới
Một ngày sáu thời lười không tu cúng
Tham lam tích luỹ keo kiệt cúng phẩm
Con xin sám hối ba nghiệp phóng túng
Tất cả lỗi lầm vi phạm giới luật
Chí thành phát lộ sám hối cầu tịnh. 

**19. Bách tự minh chú:**

Khi trì tụng Bách Tự Minh Chú, trước tiên quán tưởng Kim Cang Tát Đỏa trên đỉnh đầu, sau đó bắt đầu trì chú. Trong lúc trì chú, quán tưởng bánh xe chú xoay chuyển trong tâm Kim Cang Tát Đỏa, sinh ra cam lộ, rót xuống thân mình, thanh tịnh nghiệp chướng, nghiệp chướng rơi xuống, để Diêm Vương thọ dụng. Tiếp tục trì chú, quán tưởng cam lộ tuôn xuống, dần dần tràn đầy toàn thân, toàn thân thanh tịnh. Khi sắp kết thúc pháp tu, dừng trì chú, quán tưởng lỗ trên mặt đất khép lại, tất cả hóa thành ánh sáng nhập vào Kim Cang Tát Đỏa, Kim Cang Tát Đỏa hóa quang nhập vào mình. Vì vậy, một lần ngồi tụng chia làm ba giai đoạn - đầu, giữa, cuối. Đầu và cuối chỉ quán tưởng, giữa vừa trì chú vừa quán tưởng. Giai đoạn giữa trì chú liên tục không ngừng, và quán tưởng cam lộ tuôn xuống cùng nghiệp chướng rời khỏi thân cũng liên tục không dứt.

Tụng Kim Cang Tâm bách tự minh chú 21 biến:

Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây.

Nguyện cho chúng con từ vô thủy luân hồi đến nay, tất cả nghiệp chướng tội lỗi tích tụ đều được tiêu trừ, thanh tịnh viên mãn.

**20. Dâng cúng:**

Sự nghiệp kim cang cầm những thứ như cam lộ, dùng ấn chày yết ma theo như nghi thức, dâng lên trước chủ toạ và hát tụng: “A la la hua”. 

Sau đó an trụ trong tam ma địa thọ nhận cúng phẩm, rồi phân phát cho các hành giả du già và những người có duyên tùy hỷ. Sau khi thọ dụng hội cúng, phần còn lại và dư thừa được dùng tam định chân ngôn gia trì để cúng cho bên ngoài.

**21. Thí tàn thực niệm tụng pháp:**

Om Ah Hum. (gia trì tàn thực cúng bên ngoài)
Hỡi quỷ thần chúng ưa thích tàn thực
Hãy như mây lớn tụ tập nơi này
Thọ nhận vật phẩm tươi đẹp vi diệu
Giống như xưa kia phát nguyện trước Phật
Mong tội phá giới hoại pháp tiêu trừ
Nhập thế xuất thế mong giúp hoàn thành.

Chú thí tàn thực: U-chi-cha pa-ling-ta ka-hây-i ka-xi ka-xi. 
(Sự nghiệp kim cang đem cúng phẩm đến nơi sạch sẽ bên ngoài đàn thành để cúng bên ngoài.)

**22. Tụng lời kết**

Liên Sinh Thượng sư nhiếp Tam Bảo
Đầy đủ chư Phật ba la mật
Đại lạc đại minh đại phương tiện
Pháp nhĩ kim cang đại tổng trì.
Vốn dĩ vô sinh Pháp thân tôn
Đại lạc viên mãn Báo thân tôn
Bi trí song vận Hoá thân tôn
Ba thân Thượng sư xin ca tụng.

**23. Chân ngôn bổ khuyết**

Ôm tu-ru tu-ru cha-ya-mu ka-hây sô-ha.

**24. Hồi hướng**

Thỉnh cầu Thượng sư gia trì lực. 
Ban cho quán đảnh liên hoa sinh.
Quảng đại viên mãn đắc tự tại.
Độ mình độ người đến Phật địa.

**25. Kệ cát tường**

Tuỳ tâm quán duyên đắc thành tựu.
Nguyện chứng Bổn tôn đắc cát tường.
Nghiệp thân khẩu ý quy pháp tính.
Nguyện đại viên mãn đại cát tường.

Cát tường viên mãn.

---
# File: nghi-quy-tu-tap/chan-phat-me-cung-phap-thi-quan-phap-cung-gao.md
# Title: Chân Phật mễ cúng pháp thí quán (pháp cúng gạo)
---

![image](/img/img_d9637ed98c5324f71bcd5ec0972f4a10.jpg)



## Chân Phật mễ cúng pháp thí quán (pháp cúng gạo)


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Nghi quỹ tu pháp:



Trước tiên, tốt nhất là dùng bát bằng đồng hoặc bạc đựng gạo cúng trước bàn thờ Phật. Không có bát đồng, bát bạc có thể dùng bát hoặc khay bình thường.

1. Nhập đàn niệm chú thanh tịnh.
2. Niệm chú triệu thỉnh.
3. Chân Phật đại lễ bái pháp
4. Chân Phật tứ quy y pháp.
5. Chân Phật đại cúng dường pháp.
6. Mặc bia giáp hộ thân pháp.
7. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (1~3 biến)
8. Tay kết thủ ấn Liên Hoa Đồng Tử (tay trái là ấn cầm hoa sen, tay phải là ấn thuyết pháp). 

Niệm 3 biến: Nam mô guru Liên Sinh Hoạt Phật.
Trong sát-na, Liên Sinh Hoạt Phật từ Phạn huyệt đi vào trong tim mình. Liên Sinh Hoạt Phật và bản thân không hai không khác.
Trì chú: “Ôm ah hùm gu-ru-pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-sâng sit-đi hùm.” (108 biến)
Quán tưởng từ tim mình ánh sáng trắng chiếu đến bát gạo.
Bát gạo biến thành báu vật to lớn vô biên. 
Gạo trong bát biến thành trong suốt, hóa thành biển cam lộ của trí huệ vô lậu.

9. Tụng kệ:

*Xa rời ô nhiễm, thân tinh trắng.
Mắt bi từ ái xót chúng sinh.
Chính giác Liên Sinh tới gia trì.
Nay ta, Hoạt Phật thân đồng thể.
Đặc biệt ở đây cúng các người.
Toàn bộ nợ nần từ vô thủy.
Hết thảy chủ nợ có oán thù.
Nhiếp triệu mau mau đến tại đây.*

10. Dùng ấn móc câu — hai tay đan ngoại phộc, ngón trỏ tay phải giơ ra thành hình cái móc.

Niệm chú: “Ôm ben-za-la a-mô-li-ta-yi ta-li ha-na-ha-na hùm.” (3 biến)
Nghĩ đến tất cả oan thân trái chủ đến trước mặt hành giả Mật tông. Lần lượt từng chủ nợ hóa thành những bóng đen đứng trước mặt hành giả.
Hành giả Mật tông niệm 3 biến “Ôm ah hùm” để gia trì cho bát gạo. Đưa tay ra nắm lấy một ít gạo rồi vẩy ra bốn xung quanh. 
Khi vẩy gạo xong thì niệm chú: “Na-mô sa-la-mô ta-tha-ga-ta-a mô-lô-chi-tưa sa-pa-la sa-pa-la hùm.” (3 biến)

11. Hồi hướng:
*Gạo đây biến cúng thuần cam lộ.
Dâng tới chủ nợ với oan thân.
Nhận xong cam lộ tâm vui vẻ.
Chướng ngại biến tiêu hết oán thù.*

Và:
*Đây là đại lực bố thí pháp.
Mong cho trái chủ cùng quyến thuộc
Chuyển hóa huệ quang tăng cát tường.
Mọi điều nói nghĩ đều thành tựu.
Oán phiền tất cả được tiêu tan.
Nguyện cho chúng sinh nhận thí pháp.
Phúc huệ tư lương được đủ đầy.
Cùng nhau bay tới cõi liên hoa.*

12. Vỗ tay, giải tán oan thân trái chủ.

13. Đại lễ bái Phật. Xuất đàn.

Cát tường viên mãn. 


### Khai thị của Liên Sinh Hoạt Phật:


Bí mật thành công của Chân Phật mễ cúng pháp thí quán đó là, đầu tiên thỉnh cầu Liên Sinh Hoạt Phật đại gia trì, tự thân biến hóa thành Liên Sinh Hoạt Phật.
Sau đó dùng ánh sáng của tâm luân gia trì cho bát gạo, hóa thành nước cam lộ. Dùng pháp nhiếp triệu để gọi oan thân trái chủ của kiếp trước đến. Bởi vì từ vô thủy tới nay nghiệp chướng rất nhiều, cho nên oan thân trái chủ cũng rất nhiều, lần lượt quán tưởng họ ở trước mặt.
Vẩy gạo để bố thí, giải trừ nghiệp chướng, kẻ thù, v.v…

Chân Phật mễ cúng pháp thí quán nhìn thì giống như chỉ là tiêu nghiệp chướng mà thôi, thật ra tu trì thành tựu pháp này thì tất cả oan thân trái chủ sẽ không đến làm hại, oan thân trái chủ sẽ biến thành bạn tốt trợ duyên, đây là pháp an yên cát tường, là pháp thanh tịnh. 

Chân Phật mễ cúng pháp thí quán là một đại pháp tiêu nghiệp, cũng có tính chất siêu độ, bao hàm tất cả tính chất đặc biệt, cho nên không thể coi thường pháp này, đây là pháp quảng đại siêu việt, là thực hiện lòng bác ái, có thể phá bỏ những trở ngại về tri kiến của người phàm, có tính khai mở. 

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng một khi trừ được nghiệp chướng thì ánh sáng trí huệ tự nhiên bừng sáng và bộc lộ, phúc phần tự nhiên giáng xuống, pháp quán đây có lợi ích lớn. Sở dĩ tôi liệt pháp này vào trong sách này mà không bỏ đi là vì đây là Đại Phúc Kim Cang pháp thí quán. 

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---
# File: nghi-quy-tu-tap/chuan-de-phat-mau-cuu-phan-tu-chan-ngon-bo-than-phap.md
# Title: Chuẩn Đề Phật Mẫu cửu Phạn tự chân ngôn bố thân pháp
---

![image](/img/img_0c8bb5b7949295a7a9b9d9e6092da905.jpg)


**"Phật Thuyết Trì Minh Tạng Du Già Đại Giáo Tôn Na Bồ Tát Đại Minh Thành Tựu Nghi Quỹ Kinh"** - Quyển 1.

Oṃ cale cule cunde svāhā

ॐ  च  ले  चु  ले  चु  न्दे  स्वा  हा

[Tôn Na Bồ Tát là một danh hiệu của Chuẩn Đề Phật Mẫu]

Phần thứ hai: Quán trí thành tựu - Phần 1

Lại nữa hành giả. Nếu muốn tu tập các pháp thành tựu, trước tiên phải tu tập quán trí, cùng các ấn tướng đều phải luyện cho tinh thục. Không để sai sót mới có thể cầu các thành tựu. Nếu ở trong pháp Tôn Na Bồ Tát mà cầu thành tựu, trước tiên quán vòng chữ vi diệu căn bản Tôn Na Bồ Tát an trên thân thể mình. Nghĩa là quán chữ "Om" an trên đầu. Quán chữ "Ca" an ở hai mắt. Quán chữ "Le" an ở cổ gáy. Quán chữ "Cu" an ở hai cánh tay. Lại quán chữ "Le" an trên tim. Quán chữ "Cun" an trong rốn. Quán chữ "De" an hai đùi. Quán chữ "Svaha" an hai bắp chân. 

Hành giả quán tướng chữ vi diệu căn bản Tôn Na này ở trên các phần thân thể mình rõ ràng từng chữ một rồi. Thì người này những gì đã tạo từ đời trước, tất cả tội nghiệp đều có thể diệt trừ. Thành tựu mong cầu chắc chắn được thành tựu. Hoặc làm các pháp tiêu tai, tăng ích, kính ái, hàng phục, v.v... Chú được tụng đều có sự khác biệt. Làm pháp tiêu tai thì tụng đại minh rằng:
Oṃ cale cule cunde svāhā. [Ôm chưa-li chu-li chuân-thi sô-ha.]

Bí mật tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu -- Chín chữ thánh quán:
"ॐ - Ôm": Tất cả các pháp vốn không sinh. 
"च - Chưa": Tất cả các pháp không sinh không diệt.
"ले - Li": Tất cả pháp tướng không thể đắc. 
"चु - Chu": Tất cả các pháp không khởi trụ.
"ले - Li": Tất cả các pháp không cấu bẩn. 
"चु - Chuân": Tất cả các pháp không có Đẳng giác.
"न्दे - Thi": Tất cả các pháp không giữ bỏ. 
"स्वा  हा - Sô-ha": Tất cả các pháp bình đẳng không nghĩ bàn.


![image](/img/img_638c534153880c4a1c3f8d86d67f37b9.png)

---
# File: nghi-quy-tu-tap/cong-dung-cua-an-tho-dia-chan-ngon.md
# Title: Công dụng của An Thổ Địa chân ngôn 
---

![image](/img/img_3815da769f469012bb348fd70d200975.jpg)



# Công dụng của An Thổ Địa chân ngôn 


(Tức thần chú Thổ Địa Công)

💠Thổ Địa Công là vị thần gần gũi nhất với chúng ta trong số các thần. Nếu bạn tôn kính Thổ Địa Công, Thổ Địa Công cũng sẽ giúp đỡ bạn, sẽ luôn khiến bạn gặp may mắn, không bệnh tật, nhiều phúc nhiều thọ. 

💠Nếu có chúng sinh bị quỷ thần quấy nhiễu, tụng chú này, quỷ thần sẽ rút lui, trái lại còn được quỷ thần tôn trọng.

💠Nếu có chúng sinh mắc các loại bệnh, tụng chú này, tất cả bệnh tật sẽ tan biến, thậm chí hoàn toàn không mắc bệnh, thân thể luôn luôn khỏe mạnh.

💠Nếu có người chuyên tâm tụng chú này, giữ ngũ giới thập thiện, tương lai cũng sẽ không đọa vào địa ngục và tam ác đạo, cũng có thể siêu sinh đến nhân thiên giới hưởng hạnh phúc thù thắng tuyệt diệu.

💠Nếu là một hành giả/pháp sư có đức, mỗi ngày đều tu hành, khi bạn đi ra ngoài thì Hộ Thế Tứ Vương, Thiên Long Bát Bộ, Đồng Mục Thiên Nữ, Hư Không Thần, Giang Hải Thần, Tuyền Nguyên Thần, Hà Chiểu Thần, Thảo Thụ Mộc Thần, Xá Trạch Thần, Thủy Thần, Hỏa Thần, Thổ Thần, Sơn Thần, Địa Thần, Cung Điện Thần, v.v… đều sẽ đi theo bạn. Và chỉ cần niệm An Thổ Địa chân ngôn là các thần này đều đến.

🌟 Giới thiệu ứng dụng của An Thổ Địa chân ngôn:

💠Tiêu tai

1. Chữa bệnh: câu chú này có hiệu nghiệm lớn đối với chữa bệnh ngoài da, ví dụ bệnh ghẻ chân, hắc lào, nấm ngoài da, mẩn ngứa do nóng, v.v… Rất nhiều người mắc bệnh ngoài da đều đã khỏi, vì câu chú này chiêu cảm Phúc Đức Chính Thần đến, các vị sẽ ăn sạch vi khuẩn trên da. (Trong Ngũ Hành thì da thuộc Thổ.)

1. Pháp tránh dịch bệnh: lấy một đoạn tre/trúc, dài khoảng gần 50cm gọt bỏ phần xanh, tổng cộng chuẩn bị 4 đoạn. Chọn ngày Thành nhật để chặt tre trúc. Trên đoạn tre trúc viết An Thổ Địa chân ngôn bằng tiếng Phạn hay Hán đều được. Sau giờ Ngọ ngày Trừ nhật thì làm khai quang, niệm chân ngôn 108 biến cho mỗi đoạn tre trúc, hoặc niệm càng nhiều càng tốt. Chọn ngày Định nhật để đóng 4 đoạn tre trúc này ở bốn góc xung quanh ngôi nhà/mảnh đất của mình, làm như vậy thì bệnh dịch sẽ không phạm vào được khu vực này được. 

💠Tăng ích

1. Cầu tài:

Pháp thuật của Mật giáo có dạy người ta tu pháp để giàu có, là bởi vì có một số hành giả Mật thừa bản thân rất nghèo, không có tư lương để yên tâm tu hành. Để giúp cho hành giả Mật giáo an tâm tu hành nên mới đặc biệt lập ra pháp môn phương tiện, để hành giả được giàu có và không phải lo lắng cho tương lai nữa.

Nếu có người muốn cầu tài phúc thì câu chú này là tốt nhất. Mọi Phúc Đức Chính Thần sẽ dẫn theo các quỷ thần lần lượt đến giúp đỡ người này, sẽ được rất nhiều quỷ thần thổ địa bảo vệ, gia tăng tài phúc vô cùng tận.

Tu pháp Tài Thần có được lợi ích lớn, cho nên cần phải phát nguyện sẽ dùng phần lớn tiền tài để làm sự nghiệp từ thiện bố thí, nhân quả tuần hoàn như vậy thì sẽ luôn có được tài phúc.

1. Pháp tăng ích bốn phương:

Mỗi người đều có linh tính của mình, linh tính này nếu tương hợp với linh tính của Thổ Địa Công ở hướng Đông thì thờ Thổ Địa Công của hướng Đông thì chắc chắc sẽ được giúp đỡ. Nếu linh tính tương hợp với Thổ Địa Công ở hướng Tây thì nên thờ Thổ Địa Công của hướng Tây, linh tính tương hợp với Thổ Địa Công ở hướng Nam thì nên thờ Thổ Địa Công của hướng Nam, tương hợp với Thổ Địa Công ở hướng Bắc thì nên thờ Thổ Địa Công của hướng Bắc. Đây gọi là pháp tăng ích bốn phương.

Người tuổi Tí, tuổi Sửu, nên thờ Thổ Địa Công hướng Đông Nam.
Người tuổi Dần, nên thờ Thổ Địa Công hướng chính Nam.
Người tuổi Mão, Thìn, nên thờ Thổ Địa Công hướng Tây Nam.
Người tuổi Tị, nên thờ Thổ Địa Công hướng chính Tây.
Người tuổi Ngọ, Mùi, nên thờ Thổ Địa Công hướng Tây Bắc.
Người tuổi Thân, nên thờ Thổ Địa Công hướng chính Bắc.
Người tuổi Dậu, Tuất, nên thờ Thổ Địa Công hướng Đông Bắc.
Người tuổi Hợi, nên thờ Thổ Địa Công hướng chính Đông.

Ngũ Lộ Phúc Thần thì ai ai cũng có thể thờ, không có cấm kị đặc biệt nào cả. Nhưng Thần Tài các phương hướng thì có công dụng chủ yếu của họ:
Đông phương Phúc Đức bảo an thái.
Tây phương Phúc Đức giải tai hình.
Nam phương Phúc Đức tăng trưởng thọ.
Bắc phương Phúc Đức trợ hanh thông.
Trung ương Phúc Đức trợ tài vượng.

Nếu không có bàn thờ thì chỉ cần hướng về phương hướng hợp với mình, và rất thành tâm chắp tay cúi lạy, hoặc dùng  hương, hoa, trái cây, bánh kẹo để cúng đều được. Nói chung, thần linh cấp thấp phần đông là ăn uống như bình thường, dùng cơm canh để cúng cũng được.

Nếu dùng giấy tiền Tứ phương kim, Như ý kim, Thất Phật kim cùng hóa đốt thì càng có hiệu quả. Niệm Đại bi đà-la-ni để gia trì cho Thất Phật kim và Như ý kim thì gọi là pháp Tăng ích đà-la-ni. 

💠Kiết giới

Thập tự kim cang yết ma địa

Mật giáo làm nghi thức động thổ, đầu tiên phải an thổ địa. Phương pháp làm là trước tiên niệm An Thổ Địa chân ngôn để triệu thỉnh Địa Thần, đồng thời khi trì chú thì quán tưởng mặt đất nứt ra, Địa Thần màu vàng từ dưới đất chui lên, ngồi trước mặt bạn. Hành giả cầm chày kim cang năm chấu ấn một cái lên đầu của Địa Thần để gia trì cho ngài. Địa Thần nhận gia trì xong thì sẽ rất vui mừng và trở về lòng đất. Đây chính là cách an thổ địa của Mật giáo.

Sau đó lại đặt chày kim cang vào chính giữa mảnh đất xây dựng, đầu tiên đặt ngang, sau đó đặt dọc, tạo thành một hình chày kim cang chữ thập, sau đó lại quán tưởng chày kim cang chữ thập biến to ra, che phủ phía trên mảnh đất xây dựng, mảnh đất này sẽ trở thành thập tự kim cang yết ma địa.

Mảnh đất xây dựng sau khi được kiết giới như vậy thì sẽ trở nên cực kì kiên cố, bất kì tà ma nào cũng không thể đi vào vùng thập tự kim cang yết ma địa này. Ngoài ra cũng có thể thỉnh phù phá đất để gia tăng hiệu quả.

➖➖➖➖➖➖➖➖➖➖➖➖

💖Om guru liansheng siddhi hum💖

---
# File: nghi-quy-tu-tap/cung-khoi-toan-tap.md
# Title: Cúng khói toàn tập
---

![image](/img/img_6fc2ff4ccb6f7c0e9c8bf166853f033d.jpg)



## Hướng dẫn hoàn chỉnh về pháp cúng khói


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: 2008
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu


**Bất kì** ai muốn tham gia vào bất kì sự thực hành nào trong cuốn sách này đều phải quy y Chân Phật Tông và nhận được sự cho phép từ Liên Sinh Hoạt Phật hoặc các Thượng sư Chân Phật Tông. Dưới sự ban phước và sự cho phép, các đệ tử có thể nhanh chóng nhận được các dấu hiệu phản hồi tâm linh từ các Bổn tôn.

Còn nếu không có sự cho phép, việc thực hành sẽ trở thành vô nghĩa. Nếu một người cương quyết thực hành mà không có sự cho phép đúng đắn, việc này được xem như là "trộm pháp" trong khía cạnh tu học Phật pháp.

Trong cuốn sách này, các câu thần chú được dịch sử dụng phiên âm tiếng Sankrit (Ấn Độ). Các bài kinh, bài kệ và được dịch sử dụng tiếng Hán Việt. Các đồng môn huynh đệ không nên kì vọng rằng các phiên âm này có thể chính xác như sự phát âm của Sư Tôn. Vì vậy chúng ta cực kì nên nghe câu chú chính xác từ các chùa và các phân đường Chân Phật Tông hoặc hỏi các Thượng sư được trao quyền.

Cuốn sách nhỏ này phục vụ mục đích là hướng dẫn đầy đủ về pháp cúng khói. Xin mời đối chiếu với sách của Liên Sinh Hoạt Phật hoặc các Thượng sư được trao quyền để được giải thích kĩ hơn. Nếu bạn có thắc mắc gì thêm, xin mời viết thư cho tổ chức Chân Phật Tông.

Cầu mong lòng từ bi của Liên Sinh Hoạt Phật, chư Phật, chư Bồ Tát và các vị Hộ Pháp sẽ ban phước cho bản dịch này. Cầu mong Mật pháp Chân Phật Tông giải thoát mọi chúng sinh khỏi lục đạo luân hồi.

Để có thêm thông tin và các tài liệu có liên quan khác về Chân Phật Tông, xin mời vào thăm trang web:

[www.tbsn.org
](http://www.tbsn.org/)[www.padmakumara.org](http://www.padmakumara.org/)

Được truyền bởi Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.
Được dịch bởi nhóm dịch thuật Upala Việt Nam.


### Bài giảng ngày 16/02/2008


**(Lời giảng của Sư Tôn)**

Với lòng tôn kính, chúng ta kính lễ đến Hòa Thượng Liễu Minh, Kim Cang Thượng Sư Sakya Chứng Không, thầy Karmapa thứ 16, thầy Thubten Dhargye và Tam Bảo, Kim Cang Thượng Sư, Sư Mẫu (Liên Hương Thượng Sư), các vị thầy tâm linh, pháp sư, giáo sư, các vị hoằng pháp và các đệ tử, và cả các đệ tử trên mạng Internet, tất cả các vị khách quý, gửi lời chào thiện lành đến tất cả mọi người.

Trước tiên để tôi nhắc đến một việc mới được đề cập đến bởi Mr. Sun, một vị khách mời. Thực sự là vị này không nói nhiều, nhưng ông ta đã gửi những lời chúc tốt đẹp nhất đến mọi người. Mặc dù hiện nay chúng ta đang sống ở Mỹ, nhưng những tâm tư của chúng ta mở rộng ra không chỉ ở Seattle này mà đến cả Đài Loan, và đến tất cả mọi người trên toàn thế giới. Ở Đài Loan, các ứng cử viên của đảng Lam và đảng Lục đang chạy đua cho vị trí tổng thống. Bây giờ Mr. Sun theo đảng Lam. Ở Seattle, cộng đồng người Hoa cũng như các đệ tử trong nhóm chúng ta ủng hộ cho cả hai đảng. Tôi có cả áo gilê màu lam và áo gilê màu lục, vì lý do này mà hôm nay tôi chẳng mặc một trong hai màu này. Thay vì đó thôi mặc cái áo gilê màu đen và trắng.

Dù sao, cho dù ở bất kì vị trí nào, một người nên quan tâm đến nguồn gốc nguyên quán sinh ra của mình cũng như nơi cư trú hiện tại. Trong tương lai, chúng ta nên làm những gì chúng ta có thể để đáp trả lại những cộng đồng đã nuôi dưỡng chúng ta. Gạt chính trị qua một bên, nếu một người có khả năng và có phẩm chất, chúng ta nên giúp người đó. Trong mắt của chư Phật, mỗi cá nhân đều bình đẳng. Bất kể là người đó thuộc về đảng nào, hy vọng của chúng ta là người đó có năng lực và có thể điều hành đất nước thật tốt. Hãy lấy Mr. Sun làm ví dụ, ông ta là giám đốc của một tổ chức thương mại và đang quản trị nó thực sự rất tốt.

Chúng ta vì thế nên bầu cho người nào có khả năng hành động vì lợi ích tốt nhất cho quốc gia. Năm nay nước Mỹ cũng có cuộc bầu cử tổng thống. Nguyên tắc này cũng được áp dụng ở đây. Chúng ta nên cố gắng hết sức để hoàn thành nghĩa vụ phục vụ chúng sinh. Đây là điều đầu tiên tôi muốn nói.

Thứ hai, tôi muốn nhắc đến việc mà Thượng sư Liên Bảo đã bàn luận lúc trước. Ông ấy đưa ra nhiều ví dụ về việc ông nghĩ "tình yêu" phụ thuộc vào cái gì. Tình yêu, thực sự, nên chẳng phụ thuộc vào cái gì cả. "Tình yêu" về cơ bản là không tồn tại. Ông ấy đã đúng khi nói rằng một người cần chuyển hóa "tình yêu vị kỉ" thành "tình yêu chan hòa". Nhưng trên thực tế, "tình yêu" không tồn tại thậm chí dưới trạng thái "chan hòa". Trong trạng thái đó, bạn đơn giản là làm mọi thứ với sự cố gắng tốt nhất của mình với lương tâm tốt. Đó là như thế đó. Có tình yêu nào ở đó để chúng ta nói về nó đây?

Tôi thích cái ý nghĩ sẽ nói chuyện với Thượng sư Liên Bảo và thông báo với ông ấy rằng tôi muốn hoán đổi vị trí với ông ấy. [ND: Sư Tôn đùa.]* *Tuy nhiên có những thứ mà ông ấy cho phép mình hưởng mà tôi thì không dám. "Tình yêu nhỏ", "tình yêu lớn", “tình yêu già" và "tình yêu trẻ" mà ông ấy nhắc đến sẽ dẫn dắt một người đi xa khỏi chư Phật. Nó chỉ dẫn người ta đến việc tạo ta một em bé. Chúng ta đều biết rằng Thượng sư Liên Bảo hơn 60 tuổi và người vợ mới của ông ấy mới ngoài 20 tuổi. Họ mới có một đứa con. Bạn sẽ cho rằng việc này đã đi quá xa khỏi chư Phật rồi? Mặc dù vậy, các đặc điểm khuôn mặt của đứa bé này rất đáng chú ý, và tôi hy vọng rằng trong tương lai cậu bé sẽ đưa ra lời nguyện hy sinh vì người khác.

Nếu đứa bé đến trước mặt tôi trong tương lai, tôi thậm chí không biết khi đó tôi đã bao nhiêu tuổi nữa. Tôi sẽ làm những gì tôi có thể để thực hành việc xuống tóc đi tu cho cậu bé. Như vậy thì sẽ rất gần với chư Phật rồi. *(Sư Tôn cười lớn).*

Bây giờ nói về Sư Mẫu. Lúc trước Sư Mẫu có chúc cho mọi người được may mắn trong năm con chuột. Từ "chuột" trong tiếng Trung (shủ) đồng âm với từ "đếm" (shù), Sư Mẫu chúc mọi người giàu có đến mức mọi người sẽ mệt mỏi gấp đôi vì việc đếm tiền. Sư Mẫu cũng chúc mọi người những giấc ngủ có điềm báo vận may và khả năng tỉnh dậy tự nhiên mà không mệt mỏi* *vào buổi sáng.

Hôm qua, Trần Truyền Phương, một đệ tử, đã đưa ra lời bình luận trêu đùa như sau:

"Mọi người trên thế giới này chẳng làm cái gì mà họ nói ra. Họ đều nói rằng họ biết tiền không thể được đem đến thế giới này và cũng không thể lấy đi khỏi thế giới này. Thế nhưng họ vẫn yêu tiền cho đến tận khi chết. Mọi người biết rằng đầu cơ vào chứng khoán là nguy hiểm. Thế nhưng họ vẫn liều và kết quả là tự buộc mình như những con cua lông Thượng Hải vậy. Đàn ông biết rằng bồ có thể là kẻ phá hoại gia đình. Thế nhưng họ vẫn tiếp tục lăng nhăng hết lần này đến lần khác. Chúng ta đều là những kẻ đạo đức giả! Và quan trọng nhất là, mọi người đều nói rằng Tây phương Cực Lạc là nơi tuyệt vời nhất để đến. Thế nhưng chẳng ai muốn đi đến đó cả."

Bởi vì bạn không thể đem tiền đến và lấy đi khỏi thế giới này, dường như chỉ cần có đủ cho một đời này thôi. Thế nhưng, con người yêu tiền hơn cả mạng sống của họ. Họ dành tất cả năng lượng để gom tiền nhiều và nhiều hơn nữa, và không bao giờ hài lòng. Điều này cũng đúng với tình dục. Mr. Sun đã ước gì bệnh gút của ông sẽ thuyên giảm, nhưng ông ấy cũng ước ông ấy gặp may mắn hơn với phụ nữ. *(Sư Tôn cười)*. Hẳn là vợ ông ấy không có ở đây hôm nay. Mr. Sun có nhắc đến Song Xian-zheng, một đệ tử, người mà tôi cũng có nghe nói về những vụ việc tình ái trong quá khứ của ông ta. Thành ngữ Trung Quốc có câu: "Mỹ nữ có thể dắt anh hùng đến mộ của mình.” Quả thực những việc như vậy sẽ dẫn dắt một người rời xa khỏi chư Phật.

**Hôm nay tôi truyền pháp cúng khói.** Một lời giải thích đơn giản về thực hành pháp này không mất nhiều thì giờ lắm. Tuy nhiên, nếu tôi đi vào chi tiết, thì có khi mất đến vài tiếng đồng hồ, và chúng ta sẽ không thể kết thúc chương trình hôm nay đúng giờ.

Những người tu tập có những chướng ngại giống như người bình thường. Lúc trước Mr. Sun đã chúc là những điều ước của chúng ta sẽ thành hiện thực. Pháp cúng khói này sẽ giúp bạn đạt được ước nguyện. Nếu như không tịnh hóa đúng, những nghiệp quá khứ sẽ hiển lộ và cản trở sự thành công của bạn. Một hợp đồng kinh doanh sắp kí có thể đột ngột bị hủy. Một đám cưới cũng đột ngột bị hủy. Bạn có thể gần như chắc chắn trở thành tổng thống tiếp theo, nhưng vì lý do nào đó, cơ hội này vuột qua bạn.

Chướng ngại tồn tại giữa bạn và mục tiêu của bạn đến từ con người cũng như thế giới vô hình. Cái lực lượng thứ hai càng kinh khủng hơn. Chúng ta chịu sự chi phối của các lực lượng vô hình trong vũ trụ. Các kiếp trước của bạn, các mối quan hệ và liên kết mà bạn gắn vào trong đời này, những người bạn, kẻ thù và chủ nợ nghiệp quả của bạn, các nhân tố hữu hình và vô hình tồn tại, tạo ra những trải nghiệm hiện tại của bạn.

**Thực hành pháp cúng khói này sẽ trợ giúp bạn tịnh hóa tất cả những chướng ngại hữu hình và vô hình này.**

Để thực hành nghi thức này, thứ đầu tiên bạn cần là một cái lư hương*. (Sư Tôn cầm cái lưu hương lên cho mọi người xem)*. Đây là cái lư hương nhỏ dùng cho cá nhân thực hiện. Để cho một nhóm người thực hiện thì dùng cái lư hương to hơn. Bạn có thể dùng lư hương hình chữ nhật cũng được, tùy vào bạn cúng cái gì. Thứ tôi có ở đây hôm nay là một cái lư hương dùng trong thực hành Kim Cương Thừa. Cái nắp sẽ được bỏ ra để bạn có thể để đồ cúng khói vào bên trong. Sau khi thắp hương, khói sẽ tỏa ra từ trên bề mặt. Khi khói bay lên, đọc các câu chú một cách chậm rãi, và thực hành quán tưởng cùng các bước còn lại của nghi thức.

Khói sẽ bay lên tới đâu? Đầu tiên, nếu bạn cúng cho chư Phật chư Bồ Tát, thực hành pháp này từ **5h - 9h sáng.**

Nếu bạn cúng cho các kẻ thù, chủ nợ nghiệp, thực hành pháp này từ **5h-9h tối.** Đây là thời gian bắt buộc.

🌟

**Các quy tắc Mật giáo chỉ rõ các món đồ cần thiết để cúng khói**

Đầu tiên là bột gỗ đàn hương.

Thứ hai là bột mì đã được rang trên chảo (không dùng dầu ăn). Đối với món này bạn có thể dùng bột sữa, bột gạo lứt, bột đậu phộng, bột đậu xanh, hoặc bột ngũ cốc.

Thứ ba là hỗn hợp đường nâu và đường trắng.

Thứ tư là các miếng vải nhỏ hình vuông đủ các màu đỏ, trắng, xanh lam, xanh lục và vàng. Thứ năm là một cái bật lửa hoặc que châm hương để đốt.

Lễ cúng đơn giản nhất có thể được thực hiện với bột mì, bột yến mạch, bột gạo lứt, kem sữa và sữa tươi. Bạn chỉ cần một chút xíu sữa tươi và kem sữa. Sau khi trộn những thứ này với nhau, để hỗn hợp khô, sau đó châm lửa và đốt nó.

Với cái lư hương chúng ta có ở đây, bạn có thể nặn đồ cúng thành miếng tròn. Đối với lư hương chữ nhật, bạn có thể nặn thành dạng que dài.

Trong quá trình làm các món đồ cúng này, chúng ta nên niệm "Om Ah Hum". "Om" để chuyển hóa đồ cúng thành kích cỡ lớn vô tận để lấp đầy vũ trụ; "Ah" để thanh tịnh đồ cúng; "Hum" để tăng cường pháp vị.

Bạn cũng nên niệm "Ram Yam Kham". "Ram" là lửa cháy; "Yam" là gió thổi bay đi khói được đốt ra; "Kham" phát tán khói đi khắp vũ trụ. Tôi nhắc lại, trong lúc chuẩn bị lễ cúng, hãy niệm "Om Ah Hum" và "Ram Yam Kham".

Khi bạn làm lễ cúng thực sự, hãy tạo thủ ấn Garuda. Thủ ấn này biểu tượng cho khói lan tỏa ra và bay lên tỏa khắp vào vũ trụ đang biến đổi. Nếu bạn cúng chư Phật chư Bồ Tát, đặt lư hương tại bàn thờ các vị Bổn tôn.

Nếu bạn cúng kẻ thù và chủ nợ tiền kiếp hoặc những ma quỷ và linh hồn gây chướng ngại, hãy đặt lư hương ở ban công nơi có không khí lưu thông. Bạn cần làm ở nơi có sự lưu thông khí tốt để khói có thể thoát ra ngoài. Ở nhà, bạn sẽ cần mở cửa sổ trong phòng thờ. Bạn cần khói bay lên và chiếm toàn bộ khoảng không.

Tương tự, như trong các thực hành thường xuyên của chúng ta, chúng ta sẽ thực hiện 7 bước nghi thức: Đại kính lễ, cúng dường Mandala, tứ quy y, chú 100 âm, tứ vô lượng tâm nguyện, và tương tự.

Tứ vô lượng tâm nguyện như sau:

*"Nguyện cầu hết thảy chúng sinh được trải nghiệm hạnh phúc và mọi điều đem đến hạnh phúc, đây là lòng yêu thương vô lượng.
Nguyện cầu hết thảy chúng sinh được giải thoát khỏi khổ đau và những nguyên nhân đem đến khổ đau, đây là lòng từ bi vô lượng.
Nguyện cầu hết thảy chúng sinh được giải phóng khỏi đau khổ và luôn luôn hạnh phúc, đây là niềm vui vô lượng.
Nguyện cầu hết thảy chúng sinh được giải thoát khỏi tham lam sân hận và thực hành bình đẳng, đây là sự bình an vô lượng."*

Sau khi hoàn thành 7 bước, quán tưởng bản thân biến thành vị Bổn tôn của pháp này. Bổn tôn của pháp cúng khói là Quan Thế Âm Bồ Tát Tứ Thủ. Câu chú của Quan Thế Âm Bồ Tát là "Om mani padme hum seh." "Seh" là chủng tự. Khi bạn kết thúc 7 bước mở đầu, khói đã tỏa lên cao rồi, bạn có thể thực hành cả quán tưởng và nghi thức. Nếu bạn ngồi trước bàn thờ, thực hiện quán tưởng khói ở trước chư Phật. Nếu bạn ở ban công, thực hành quay mặt ra ban công.

🌟

**Lúc bắt đầu cúng khói, quán tưởng sự hóa hiện của Bổn tôn**

Một vầng mặt trăng xuất hiện trong khoảng không ngay trước bạn, có chủng tự "Seh" trồi lên và nó chuyển hóa thành Quan Thế Âm Bồ Tát Tứ Thủ. Từ luân xa tim, chủng tự "Hum" màu xanh dương phóng ra và chuyển thành một cái móc bám vào Quan Thế Âm Bồ Tát Tứ Thủ (ở trên đỉnh đầu bạn) và kéo Ngài đi vào luân xa tim của bạn. Lúc này bạn chính là Quan Thế Âm Bồ Tát Tứ Thủ.

Tóm tắt lại, sau khi bạn làm xong 7 bước mở đầu, quán tưởng vầng mặt trăng cùng chủng tự "Seh" và sự biến hóa của nó thành Quan Thế Âm Bồ Tát Tứ Thủ ở trong không gian. Tiếp đó, quán tưởng chủng tự "Hum" từ trong tim bạn phóng ra một luồng sáng xanh dương để dẫn dắt và tiếp nhận Quan Thế Âm Bồ Tát Tứ Thủ ngự ở trên đỉnh đầu bạn rồi đi vào trong bông hoa sen ở trong tim bạn. Từ từ vị Quan Thế Âm Bồ Tát Tứ Thủ này phóng to ra thành cỡ người của bạn, trong chốc lát, bạn đã trở thành chính Quan Thế Âm Bồ Tát Tứ Thủ.

Sau khi trở thành Quan Thế Âm Bồ Tát Tứ Thủ bạn quán tưởng tính Không. Câu chú cho quán tưởng tính Không là: "Ôm sư-pa-wa, su-ta, sa-er-wa, ta-er-ma, sư-pa-wa, su-to-hằng." [Om sabhava suddha sarva dharma sabhava suddho ham]. Câu chú này biến đổi mọi thứ thành hư không. Bạn là Quan Thế Âm Bồ Tát Tứ Thủ ngồi trong hư không. Để làm mạnh mẽ thực thể này, niệm "Om mani padme hum" 108 lần.

Trong khi bạn đang trụ trong mênh mông của không gian hư không, quán tưởng khói bay lên từ lư hương và lấp đầy khoảng mênh mông của không gian này. Khói cũng biến thành những y áo tinh tế đẹp tuyệt vời, đồ ăn và thức uống, các công cụ, dụng cụ, nhà cửa, xe hơi, tủ lạnh và các đồ dùng điện khác. Tất cả các vật phẩm này xuất hiện trong quán tưởng của bạn: thức ăn, đồ dùng dụng cụ, quần áo lộng lẫy, và 5 loại cúng phẩm tinh tế. Bạn cũng có thể quán tưởng sự hiển thị của ngọc ngà châu báu lấp đầy hư không.

Lúc này, cúng những món đồ sinh ra từ khói này đến tất cả ma quỷ, linh hồn, kẻ thù và chủ nợ nghiệp, và các chúng sinh khác có sự lôi cuốn tiêu cực đối với bạn, để sau khi họ nhận những đồ cúng dường của bạn, bạn sẽ được để yên không bị chướng ngại cản trở nào. Việc làm của bạn như vậy là sẽ thành công. Tất cả các chủ nợ tiền kiếp của bạn, dù cho là hữu hình hay vô hình, sẽ được ảnh hưởng tích cực do việc cúng khói của bạn.

Vào lúc này, trong khi quán tưởng cúng dường, bật ngón tay 7 lần và niệm câu chú: "Ôm, ah-bu-la-ti, pu-ba-yê, sô-ha". Niệm câu chú này 7 lần đồng thời bật ngón tay. Niệm một lần thì bật ngón tay một lần. "Ôm, ah-bu-la-ti, pu-ba-yê, sô-ha". Bật ngón tay một lần. Lặp lại tổng cộng 7 lần.

Còn câu kệ hiến dâng thì sao? Nếu bạn cúng dường chư Phật và chư Bồ Tát thì bạn đọc:

*"5 vật phẩm cúng dường tuyệt diệu này, con xin thành tâm dâng lên tất cả Chư Phật, Bồ Tát, Hộ Pháp và Chư Thiên thông qua cúng khói này".*

Nếu bạn cúng cho kẻ thù và chủ nợ tiền kiếp thì bạn đọc:

*"5 vật phẩm cúng dường tuyệt diệu này, con xin thành tâm trả lại cho quỷ ăn hương, …. , .. .., Long Vương, Long Nữ, Thần Núi, Thần Sông, Thần Biển và tất cả các chúng sinh chưa siêu thoát và chúng sinh đang chịu đau khổ. Cầu nguyện cho những khao khát của họ được thỏa mãn. Cầu nguyện các chúng sinh chưa siêu thoát được giải phóng khỏi sợ hãi và đau khổ. Cầu nguyện chư Phật của hiện thân toàn hảo ban phước cho con nhanh chóng đạt được chứng ngộ. Thậm chí nếu sức mạnh này vẫn chưa có được, cầu xin chư Phật ban phước cho con được thọ nhận, bất kể mọi chướng ngại, bằng phần thưởng của việc tu hành. Con thành tâm thực hành pháp tối thượng."*

Cuối cùng, niệm Bách Tự Minh Chú (chú 100 âm) 3 lần. Thần chú này sẽ chữa mọi sai lầm trong quá trình thực hành. Tôi đã nói hết nghi thức cúng khói rất nhanh bởi vì nó là một thực hành ngắn.

🌟

Khi thực hành cúng lửa (Hỏa cúng) Homa, nhiều người tu tập bị xe cứu hỏa mời lên gặp. Hàng xóm có thể sợ cháy và thông báo với cục phòng cháy chữa cháy bởi vì cúng lửa sinh ra quá nhiều khói. Ngược lại, cúng khói là một giải pháp tốt hơn và phù hợp cho việc thực hành cá nhân cũng như thực hành nhóm.

Pháp cúng khói này xuất phát từ đâu? Trong chuyến đi Đài Loan lần cuối của tôi, tôi đến thăm phân đường địa phương là Hoa Liên và Đông Dương. Ở phân đường Đông Dương, tôi được yêu cầu dạy pháp này bởi vì nó có thể được thực hành bởi tất cả các đệ tử. Cúng lửa khó thực hành hơn nhiều bởi vì việc chuẩn bị đòi hỏi nhiều món đồ hơn cúng khói và có nguy cơ báo động tới phòng chữa cháy. Đây là lý do đằng sau pháp cúng khói.

Trong quá trình cúng khói, tạo thủ ấn Garuda. Vị Bổn tôn chính của pháp này là Quan Thế Âm Bồ Tát Tứ Thủ, nghi thức rất đơn giản, nhưng bạn cần chắc chắn rằng bạn có đầy đủ các món đồ được yêu cầu. Ví dụ 5 mảnh vải các màu sắc cho phép tất cả kẻ thù và chủ nợ nghiệp của bạn nhận được tất cả quần áo đẹp mà bạn cúng. Để cho những quần áo này đẹp và sang trọng, bạn phải có đủ 5 màu. Đừng quên hương làm từ gỗ đàn hương. Bao gồm trong lễ cúng khói là bột ngũ cốc (bột của 5 thứ hạt). Và vì sao đường trắng và đường nâu lại cần đến? Chúng cho phép các chủ nợ của bạn nếm được vị ngọt, từ đó sự oán hận và thù ghét của họ sẽ được hóa giải.

Tại sao bạn lại rơi vào sự nghiệp và hôn nhân? Tại sao danh tiếng của bạn lại bị tổn hại? Tại sao kinh doanh lại thất bại? Những việc này xảy ra bởi vì bạn có những chướng ngại cả ở thế giới hữu hình và vô hình.

Sau khi thực hành cúng khói, bạn sẽ làm hài lòng các kẻ thù nghiệp của mình bằng đồ ăn, quần áo, nhà cửa, phương tiện đi lại. Đối với phương tiện đi lại, để tôi dạy bạn điều này. Bạn có thể làm một cái xe Ferrari mini bằng giấy, đó là loại xe đắt tiền, và bạn để nó vào trong lư hương. Còn nhà cửa thì sao? Quán tưởng chúng càng rõ ràng càng tốt. Và quán tưởng vải ngũ sắc dệt vào nhau thành quần áo đẹp. Còn đồ ăn hãy quán tưởng vô số đồ ăn ngon lành xuất hiện trong khi cúng khói.

Thực hành cúng khói tới Chư Phật trong khoảng 5h-9h sáng và cho ma quỷ linh hồn trong khoảng 5h-9h tối. Trong trường hợp này, lư hương cũng phải đặt ở nơi không khí lưu thông để khói có thể từ từ tản ra trong khi bạn thực hành các bước của nghi thức gồm: đại kính lễ, cúng dường Mandala, tứ quy y, bốn lời nguyện vô lượng, Hộ Pháp bảo vệ, v.v...

Mục đích của việc niệm 4 lời nguyện vô lượng là để cho họ (ý nói đến ma quỷ và linh hồn) hạnh phúc và xoa dịu khổ đau, nhờ đó mà việc cúng của bạn sẽ được chấp nhận một cách hoan hỉ. Bạn cố gắng để cúng và đem đến cho họ sự thỏa mãn. Đó là "sự yêu thương, lòng từ bi, niềm vui và sự thanh thản". Bước quan trọng nhất là quán tưởng chính bạn là Quan Thế Âm Bồ Tát Tứ Thủ trước khi cúng. Mặc dù lư hương có thể nhỏ, hãy quán tưởng nó to bằng cả vũ trụ. Khi khói bốc lên, nó biến thành những đồ cúng dường tuyệt vời nhất, ngọc ngà châu báu kim cương lấp đầy tất cả không gian. Lúc này, kết ấn Garuda.

🌟

**Ở đây có 2 câu chú khác nhau. **Câu đầu tiên là câu chú theo tiếng Tây Tạng. Câu thứ hai là câu chú theo tiếng Hoa: "Ôm, ah-bu-la-ti, pu-ba-yê, sô-ha." Hai câu mantra xuất phát từ hai nguồn khác nhau. Tôi không thể nói rằng chỉ có một câu mới là đúng. Bạn niệm câu nào cũng được. Có phần búng ngón tay 7 lần. Số 7 tượng trưng cho sự hoàn thiện và viên mãn. Tất cả các kẻ thù và chủ nợ nghiệp đều hoàn toàn hài lòng.

Giờ để tôi kể về những việc đã xảy ra tại buổi quán đảnh pháp Kalachakra Vajrakilaya ở Malaysia. Tôi cảm thấy là tôi đã lỡ miệng nói một câu trong buổi lễ. Bởi vì chúng ta đang lo lắng về việc toàn cầu nóng lên, tôi đã giơ chày kim cang Kalachakra và nói, "Bởi vì toàn cầu nóng lên, chúng ta hãy yêu cầu Kalachakra kéo mặt trời và trái đất xa nhau ra một chút xíu."

Kết quả là bây giờ chúng ta đang gặp một vài vấn đề. Thầy Chang-ren ở Hội từ thiện Liên Quang Hồng Kông nói rằng Đại Lục vừa mới trải qua trận bão tuyết dữ dội nhất trong 50 năm qua. Nước Mỹ cũng đang có bão tuyết lớn ở rất nhiều khu vực.

Để tôi nói điều này, các lãnh đạo và đại biểu từ gần 100 quốc gia đã họp ở Bali để bàn về các giải pháp cho việc toàn cầu nóng lên. Họ tụ tập với nhau để tắm nắng, đọc sách, nhấm nháp chút cà phê, và vui đùa. Sau nhiều ngày họp và tiêu tốn rất nhiều tiền, kết quả cuối cùng là 5 từ này: "Không thể nhất trí được."

Còn tôi chỉ đơn giản là giơ cái chày kim cang lên và nói: "Mặt trời hãy đi ra xa trái đất một chút. Không quá xa nếu không các đại dương sẽ đóng băng!" Kết quả là, năm nay có quá nhiều tuyết như thế này.

🌟

Có rất nhiều lợi ích từ việc cúng khói. Bản thân tôi cũng thực hành cúng khói và mặc dù tôi gặp phải nhiều chướng ngại, chúng đều được giải quyết và mọi thứ đều tốt đẹp. Bạn không nghĩ là tôi cũng có rất nhiều trở ngại phải giải quyết sao? Nhiều lắm. Nhưng giờ thì mọi thứ đều ổn rồi. Tại sao? Chính là nhờ pháp cúng khói này.

Thông qua thực hành này, các vấn đề của bạn sẽ được giải quyết. Thêm nữa, giải pháp sẽ đến với bạn một cách rất khéo léo. Chướng ngại có thể ở ngay trước mắt bạn chặn đường đi của bạn, nhưng giống như xe hơi của điệp viên 007, bạn sẽ bay qua nó. Nếu xe của bạn rơi xuống biển, nó sẽ trở thành cái tàu ngầm. Khi bạn lo lắng, bạn sẽ biến thành một làn khói và biến mất. Không ai có thể tìm ra bạn. Pháp cúng khói có thể đem lại sức mạnh này.

Ngày nay mất bao nhiều thời gian để xin được cái thẻ xanh *(thẻ cư trú tại Mỹ)*? Tôi chỉ mất có 11 ngày! Nhiều năm trước, luật sư của tôi, ông Henry, nói với tôi rằng thời gian chờ đợi ngắn nhất là 3-4 tháng. Tôi có thẻ của mình trong 11 ngày.

Sau khi thực hành cúng khói, vị Garuda (Đại bàng Kim Sí Điểu - chim cánh vàng) đã đem hồ sơ của tôi đến Cục Nhập Cư. Hồ sơ của tôi vốn thực sự ở dưới cái chồng hồ sơ, nhưng nó đã *(tự) *bay lên và ở yên trên đầu chồng hồ sơ. Nhân viên nhập cư viết xuống một số mới trên cái đơn tiếp theo. Ok, thế là xong. Sau đó, một cách đầy bất ngờ, anh ta nhanh chóng gửi thư chấp thuận ngay trong đêm đó, vì tự cảm thấy rằng nó là việc tối quan trọng. Hồ sơ sau đó được gửi đến tôi bằng thư qua bưu điện thường. Tôi có được thẻ xanh trong vòng 11 ngày kể từ khi gửi đơn đăng kí. *(Khán giả vỗ tay).* Khi luật sư Henry nghe tin này, ông ta nói, "Tôi rất nghi ngờ việc này." Tôi đem thư chấp thuận và cái thẻ xanh cho ông ta xem. Khi nhìn thấy nó, ông ấy suýt thì ngã khỏi ghế. Điều này chưa từng xảy ra trước đây. Thật là có nhiều điều kì diệu.

Khi tôi đi đến buổi phỏng vấn quyền công dân, Thượng sư Lian-huo đi theo tôi. Những chúng sinh vô hình cũng giúp tôi. Nhân viên nhập cư hỏi tôi ai là Tổng thống Mĩ khi đó. Làm sao tôi lại không biết được chứ? Thậm chí đứa trẻ 3 tuổi cũng biết được đó là Bush. *(Sư Tôn cười).* Lúc đó là Bush cha, không phải Bush con. Bởi vì tôi không biết tiếng Anh, tôi đã trả lời là: "Bu Xi". Nhân viên này sửa lỗi của tôi và nói: "George Bush." Sau đó anh ta hỏi: "Thủ đô của nước Mĩ là gì?"

Tôi cũng biết câu trả lời là Washington D.C. Đúng không? Chúng ta có một phân đường ở thành phố đó. Tôi đã vật lộn một thời gian dài để xây Lôi Tạng Tự ở đó. Tôi không ngu đến mức nói đó là Philadelphia. Anh ta hỏi tôi một vài câu hỏi siêu dễ bởi vì anh ta biết là tôi không biết nhiều tiếng Anh. Cuối cùng anh ta bảo tôi viết một câu, và tôi viết "Tôi thích nước Mĩ." *(Sư Tôn cười lớn). *Tôi đã luyện mỗi câu này trong suốt 3 tháng. Sao tôi lại có thể bối rối được? Bạn thấy đấy, thế là tôi có thẻ công dân ngay.

Vấn đề rắc rối là, mỗi khi tôi trở về từ chuyến đi nước ngoài, tôi luôn gặp rắc rối trong việc hiểu tiếng Anh của nhân viên hải quan. Thông thường người ta sẽ nghĩ đến những câu trả lời cho câu hỏi của họ, ví dụ như "Tôi đi Đài Loan, Nhật Bản, Malaysia,…" Đôi khi họ có thể hỏi tôi là tôi có đem theo 10 nghìn đô la Mỹ không. Việc này tôi có thể hiểu được bởi nó là tiền mà. Tôi trả lời: "Không có! Không có !"

Họ hỏi: "Ông có hoa quả không?"
"Không có! Không có!"
"Ông có súng không?"
"Không có! Không có! Anh có chứ tôi không có." *(Sư Tôn cười lớn). 
*Tôi chỉ có thể giao tiếp với họ bằng những câu tiếng Anh đơn giản như thế. Kết quả là, mỗi lần như thế nhân viên hải quan sẽ nói với tôi "Chào mừng đã trở lại" và đóng cái dấu vào thẻ của tôi (thẻ đồng ý nhập cảnh vào Mỹ).

Đúng là tôi đã tốt nghiệp đại học, nhưng suốt những năm học đại học của tôi, tôi rất ghét nhớ từ vựng tiếng Anh. Tôi thích học toán bởi vì nó không có nhiều cái phải học thuộc lòng. Đó là tại sao tôi biết rất ít từ tiếng Anh. Sư Mẫu thì biết nhiều từ tiếng Anh. Sau khi đến Mĩ, tôi bắt đầu xem ti vi để học tiếng Anh và sau đó đi đến quán bar.

Một lần một bartender hỏi tôi: "Ông đã kết hôn chưa?"
"Tôi đã kết hôn rồi." - Tôi bảo anh ta.
"Không tốt." - Anh ta đáp. *(Sư Tôn cười to)*

Bây giờ mỗi khi xe hơi của tôi bị hỏng, tôi lái nó đến tiệm sửa xe và bảo họ: "Xe của tôi không tốt."
"Không tốt ở đâu?"
"Tôi không biết. Anh kiểm tra mọi thứ đi. Thay dầu và kiểm tra mọi thứ."
"Ông không biết ư?"
"Kiểm tra mọi thứ và thay dầu." 

Đó là tất cả những gì tôi có thể nói. Sau đó anh ta sẽ giúp tôi kiểm tra mọi thứ. Tôi biết lái xe. Tôi biết đặt phòng khách sạn. Khi tôi đi ra sân bay, tôi sẽ nói: "Tôi muốn biết số ghế và thời gian máy bay bay? Và cổng mấy? Mấy giờ? Và số ghế của tôi." Miễn là tôi biết cách làm sao để có được thông tin cho ba vấn đề này là tôi có thể bay đi nước ngoài đến bất kì đâu.

Khi tôi đi nhà hàng, mặc dù tôi không thể đọc tiếng Anh, tôi sẽ nói: "Cái này, cái này, cái này." Tôi có thể nói: "Xúp, loại xúp nào, loại xúp trong ngày là loại nào? Tôi muốn xúp này." Sau đó tôi sẽ gọi món chính, bò, cá hoặc vịt. Chỉ một vài lựa chọn này thôi. Nếu mà tôi đã gọi xúp thì tôi không gọi salad. Nếu tôi không gọi món xúp, tôi sẽ gọi món Caesar salad.

"Loại nước trộn gì?"
"Ranch." [Là loại nước trộn salad rất phổ biến tại Mĩ].
Mỗi khi người phục vụ hỏi tôi về trứng, tôi sẽ nói "over easy - (quá dễ)" *(Sư Tôn cười lớn.)
*"Thịt bò nấu thế nào?"
Tôi sẽ nói "medium-well" *(chín vừa tới).* Sư Mẫu nói rằng tôi cần phải mím môi hơn nữa để người khác có thể hiểu tôi. "Medium-well" *(Sư Tôn mím môi nói và cười lớn).
*"Bánh mì lát loại nào? Bánh mì trắng?"
"Wheat *(bánh mì nguyên cám)*." Sư Mẫu nói rằng bánh mì nguyên cám (wheat) thì nhiều dinh dưỡng hơn bánh mì trắng (white). Rồi còn món "hash brown” (khoai tây chiên đến chín nâu).

Đây là cách tôi nhớ từ trong tiếng Anh. Tôi chuyển các từ sang dạng tiếng Hoa tiện lợi để giúp tôi nhớ chúng. Vì thế "hash brown" trở thành "ba brown hai-si" *(hại chết brown)* trong tiếng Hoa, và sau đó tôi đảo ngược nó lại để thành Hai-si Brown (hash brown). *(Sư Tôn cười lớn)*. Khi bạn có thể nói những từ này đối với đồ ăn, quần áo, nhà ở, đi lại, bạn có thể sống sót tại Mỹ!

Cũng tương tự, mỗi tôi khi đến giờ đi ngủ, tôi sẽ nói: "Tôi muốn ngủ". Vì sao tôi nhớ cái từ "sleeping" này tốt đến thế được? Bởi vì đây là cách tôi chuyển nó sang tiếng Hoa, "si-zai-ping-ze-li" *(chết ở trong cái chai).* *(Sư Tôn cười lớn).* Đây là cuộc sống Mĩ của tôi. Đây là cách tôi dùng để giúp tôi học tiếng Anh.

Khi Sư Mẫu nói "banana (chuối)", Sư Mẫu nhìn thấy ghi chú của tôi bên cạnh cái từ này là "bai-nai-nai” *(bộ ngực màu trắng).* Tôi phải nghĩ đến "bộ ngực màu trắng" trước khi tôi có thể nhớ ra từ "banana".

Thế còn pineapple (quả dứa)? Pineapple sẽ trở thành "pa-lao-po *(sợ vợ)*". Thực lòng, tôi chưa từng bao giờ sợ Sư Mẫu cả. Tôi nói cho các đệ tử biết là Sư Tôn là người duy nhất trên thế giới không phải là "pineapple". Tôi luôn luôn nói điều này trước công chúng. Điều gì thực sự xảy ra ở nhà sau đó thì là vấn đề khác. *(Sư Tôn đùa.)*

Vì vậy, "tình yêu" mà Thượng sư Liên Bảo nói lúc trước không tồn tại. Về mặt ý thức tuyệt đối, tình yêu là thứ không tồn tại. Chúng ta chỉ có thể làm theo lương tâm. Đây là điều mà người tu hành làm. Tôn Trung Sơn nói về tình yêu quảng đại, Jesus nói về tình yêu quảng đại, nhưng tôi không nói về tình yêu quảng đại. Tôi đơn giản là nói về việc dùng lương tâm tốt nhất của chúng ta để đem lại lợi ích cho chúng sinh khác.

Hãy thực hành cúng khói và tất cả chướng ngại của bạn sẽ được giải quyết. Tôi đã có rất nhiều chướng ngại đã được giải quyết xong. Mỗi một kẻ thù hay chủ nợ nghiệp đều đến trước tôi chấp nhận đồ cúng của tôi và rời đi. Đây là một thực hành rất quan trọng.

Bằng cách cúng dường đến tất cả ma quỷ và linh hồn và kẻ thù chủ nợ nghiệp, tất cả chướng ngại trên còn đường của chúng ta sẽ lùi lại và biến mất. Bát Đại Bồ Tát, Chư Thiên và Long Vương sẽ xuống để bảo vệ và giúp đỡ bạn. Tôi hy vọng rằng sau khi tiến hành pháp này, mỗi người các bạn sẽ loại trừ tất cả chướng ngại và thành tựu trong tu tập. Cho dù bạn là một người tu hành tại gia, một nhà sư hay là ni, nếu bạn có bất kì lời khẩn cầu gì, hãy thực hành cúng khói.

Tôi cũng mời cộng đồng ở Seattle, nếu như có mong cầu gì ở chúng tôi, hãy nói cho chúng tôi biết, chúng tôi sẽ cố gắng hết sức để đáp ứng những mong muốn này. Và đối với cộng đồng Chinatown ở đây, miễn là họ nói cho chúng tôi biết mong muốn, chúng tôi sẽ cố hết sức để làm điều gì đó đối với việc đó. *(Khán giả vỗ tay).*

Điều quan trọng ở đây là, là một người thực hành tâm linh, đầu tiên là làm cho tất cả kẻ thù và chủ nợ nghiệp rút lui để bạn có thể đạt được thành công trong thực hành tâm linh. Đó là lời chúc phúc của tôi tới tất cả mọi người rằng mọi người đều được cát tường. Cầu mong mọi sự thịnh vượng ở bên bạn ngày và đêm, mọi lúc trong ngày. Cầu cho mọi lúc đều tốt lành.

Om mani padme hum. *(Khán giả vỗ tay).*


### Bài giảng ngày 17/02/2008


**(Lời giảng của Sư Tôn)**

Với lòng tôn kính, chúng ta kính lễ đến Hòa Thượng Liễu Minh, Kim Cang Thượng Sư Sakya Chứng Không, thầy Karmapa thứ 16, thầy Thubten Dargye. Kính lễ đến Bổn tôn Đại Uy Đức Minh Vương (Yamantaka), kính lễ Tam Bảo,... Thượng sư Liên Hương, các vị Thượng sư, hòa thượng, cựu hòa thượng, giáo sư, các vị hoằng pháp, các đệ tử cùng với tất cả các vị khách quý. Cầu chúc mọi sự cát tường đến với mọi người.

Quan Thế Âm Bồ Tát và Đại Uy Đức Minh Vương đã cùng xuống điện thờ tại Seattle Lôi Tạng Tự trong buổi lễ Quan Thế Âm Bồ Tát ngày hôm qua và buổi lễ Homa Yamantaka tại Biệt thự Cầu Vồng (Cầu Vồng Lôi Tạng Tự) ngày hôm nay. Vì vậy, cả hai buổi lễ đều cực kì đặc biệt. Hôm nay, nhiều vị khách quý từ buổi lễ Quan Thế Âm Bồ Tát ngày hôm qua đã đến tham dự cùng với các vị khách mời tại Biệt thự Cầu Vồng này. Chúng ta hãy hoan nghênh tất cả các vị khách quý. *(vỗ tay)*

Có lẽ tôi đã quá hưng phấn sau khi kết thúc buổi nói chuyện của mình hôm qua bởi vì vị công dân già này đã rất khó ngủ. Quay đi quay lại trên giường, tôi cứ nghĩ mãi vì sao mình không ngủ được nhỉ. Tôi nghĩ về điều này một lúc thì câu trả lời đến với tôi. Đó là bởi Kim Cương Thượng sư Liên Bảo nói với tôi: "Người già thì ngồi phía sau." Tôi cảm thấy rất khó chịu khi bị gọi là già. *(Sư Tôn đùa, cười).*

Tất nhiên, Sư Tôn được sinh ra với hai chân rất ngắn. Bởi vì suy dinh dưỡng, tôi chưa bao giờ cao lớn được. Không gì có thể thay đổi được điều này. Vì thế hôm nay tôi cố tình đội một cái mũ cao hơn và nó giúp tôi cảm thấy cao hơn khi tôi rời khỏi nơi ở của mình.

Tôi muốn nói với thầy Liên Bảo là "Đừng cảm thấy rằng ông rất trẻ chỉ vì bây giờ ông có một bé trai sơ sinh. Ông cũng gần gần bằng tuổi tôi đấy!" Tôi cảm thấy rằng gần đây thầy Liên Bảo có tâm trạng rất tốt, rất vui vẻ, và rất hạnh phúc. Tôi đang nghĩ, một người có thể được coi là trẻ chỉ bởi vì ông ta mới có một đứa con trai không? Kẻ kì cựu này thật không thể ngủ yên với suy nghĩ này. Tôi thực sự muốn cho ông ấy thấy. Nhưng, lăn qua lăn lại trên giường một lúc lâu, tôi nghĩ rằng Thượng sư Liên Hương vẫn còn ở quanh đây, thế nên hãy quên nó đi. Tôi sẽ để ông ấy thắng keo này vậy. Tất nhiên đây chỉ là nói đùa thôi. Nhưng tôi khẩn cầu thầy Liên Bảo, làm ơn đừng luôn luôn cười toe toét trước mặt chúng tôi nữa, và việc này khiến chúng tôi rất là bối rối đó.

Nói về những nụ cười vui nhộn, Trần Truyền Phương kể một câu chuyện cười. Ba người chết, khi họ được đưa đến nhà tang lễ, mọi người chú ý thấy biểu hiện hạnh phúc trên ba khuôn mặt người chết này. Họ đều đang mỉm cười. Những người ở nhà tang lễ nghĩ rằng điều này rất kì lạ, và hỏi điều gì đã xảy ra đối với người chết đầu tiên. Vì sao ông ta lại vui như thế lúc chết? Thì ra là khi người đàn ông đó già, ông ta đi đến Trung Quốc Đại Lục để bắt đầu một việc kinh doanh mới, và cưới được một cô vợ rất trẻ. Trong đêm tân hôn, ông ta đã hưng phấn đến mức ông ta chết, đó là lý do vì sao mà ông ta nở nụ cười toe toét trên mặt. Câu chuyện của người thứ hai thì sao? Té ra là ông ta mới trúng xổ số Jackpot. Ông ta cảm thấy mình như trôi trên không và ông ta mất hết ý thức về phương hướng. Ông ta vẫn vui sướng rộn ràng khi đi bộ ở giữa đường nơi ông ta bị một chiếc xe đâm trúng, đó là vì sao ông ta có nụ cười toe toét trên mặt. Điều gì đã xảy ra với người chết thứ ba? Người chết thứ ba bị sét đánh. Anh ta đang leo núi và đột nhiên có tia chớp lóe lên. Anh ta nghĩ là có ai đó đang chụp ảnh mình, vì thế anh ta cười khi anh ta bị sét đánh trúng. Đó là vì sao anh ta có nụ cười toe toét trên mặt. Trần Truyền Phương kể cho tôi nghe truyện cười này.

🌟

Thực hành Đại Uy Đức Minh Vương có 3 mức độ của thành tựu và 37 sự trợ giúp cho việc chứng ngộ

Hôm nay chúng ta tiến hành nghi lễ Homa Đại Uy Đức Minh Vương. Đại Uy Đức Minh Vương là một vị hộ pháp cực kì vĩ đại, và cũng là vị hộ pháp gốc của Sư Tôn. Đại Uy Đức Minh Vương có 9 đầu, biểu tượng cho 9 mức độ thành tựu kim cương thừa. Mặt trước màu đen và có dạng đầu trâu với hai sừng. Một sừng tượng trưng cho Giai đoạn phát triển, trong khi sừng kia tượng trưng cho Giai đoạn thành tựu. Ngài có 34 cánh tay và bàn tay, tất cả đều bắt thủ ấn Tarjani (Karana). Cộng thêm thân, khẩu, ý vào 34 cánh tay là 37. Tóm lại, những thứ này được gọi là 3 đại thành tựu và 37 sự trợ giúp cho kiến tính. Ngài cũng có 16 chân tượng trưng cho 16 trạng thái của tính Không.

Yamantaka là hiển thị phẫn nộ của Bồ Tát Văn Thù. Rất lâu trước đây ở Tây Tạng, một vị thần linh thiêng đã hóa thân thành Thần Chết, Yama, sau khi ngài bị sát hại. Để biểu lộ sự phẫn nộ của mình, Thần Chết đã lấy đi rất nhiều sinh mạng của vô số người Tây Tạng và đe dọa sẽ giết hết những người còn lại.

Để chế ngự Thần Chết, Bồ Tát Văn Thù đã tạo ra một chiết xuất trong hình tướng của Thần Chết với mức độ vô cùng đáng sợ và hùng mạnh hơn. Sự hóa hiện này chính là Yamantaka, người đã chế ngự được Thần Chết. Nếu bạn thực hành pháp Yamantaka, những lợi ích thu được là cực kì khủng khiếp, bởi vì Thần Chết cũng bị đánh bại bởi Yamantaka và trở thành người phục tùng ngài. Do vậy, nếu bạn thực hành nghi quỹ của ngài, bạn có thể đạt được khả năng cai trị cuộc sống cùng cái chết của bạn, và gia tăng tuổi thọ.

Thật là xấu hổ khi một số vị thầy kim cương đã qua đời khi còn khá trẻ. Lúc đầu, khi tôi quán đảnh pháp Kalachakra lần đầu tiên ở Hongkong, thôi đã nhìn thấy hào quang của một vị Kim cương Thượng sư tham dự khá là tệ bởi vị đó không có nhiều ánh sáng phát ra từ thân. Tôi hỏi ông ta: "Ông có biết câu chú của Yamantaka không?" và ông ta đã không thể trả lời. Ông ta chưa từng được nhận quán đảnh Yamantaka và cũng không hề biết câu thần chú của Yamantaka. Nếu ông ta hết lòng niệm chú Yamantaka, Thần Chết sẽ không thể đem ông ta đi, thậm chí cho đến tận hôm nay, vì vậy, việc này thật là một điều xấu hổ.

Đôi khi Sư Tôn sẽ nói với mọi người rằng mặc dù bạn không tu hành một pháp cụ thể nào, bạn vẫn nên niệm tâm chú của vị Bổn tôn đó. Vì vậy thậm chí bạn không tu pháp Yamantaka, bạn vẫn có thể niệm chú của ngài, và điều này vẫn có thể đem lại nhiều lợi ích và giá trị. Ví dụ, không phải tất cả người Tây Tạng đều thực hành Kim cương thừa, nhưng họ vẫn niệm Om Mani Padme Hum, hoặc là câu chú của Quan Thế Âm Bồ Tát Tứ Thủ.

Phật A Di Đà, Phật Vô Lượng Thọ, Bồ Tát Văn Thù, Đại Uy Đức Minh Vương, Bồ Tát Quan Thế Âm, và Bồ Tát Đại Thế Chí - tất cả đều có liên quan đến nhau. Phật A Di Đà hóa thân thành Phật Vô Lượng Thọ, người phụng sự của ngài là Bồ Tát Quan Âm và Bồ Tát Đại Thế Chí; Bồ Tát Quan Âm cũng hóa hiện ra Bạch Độ Mẫu (White Tara) và Lục Độ Mẫu (Green Tara). Mặt khác, Bồ Tát Đại Thế Chí có thể hóa hiện thành Hồng Độ Mẫu (Red Tara). Phật A Di Đà và Bồ Tát Văn Thù cũng có liên hệ. Bồ Tát Văn Thù hóa hiện ra Yamantaka. Vì thế nếu bạn đạt được sự hợp nhất tâm linh trong tu tập với bất kì nghi quỹ nào của các vị, bạn cũng sẽ chắc chắn đến được Tây phương Cực Lạc.

🌟

**Sư Tôn đạt điểm tuyệt đối trong kì thi sát hạch lái xe**

Hôm qua khi tôi đang giảng pháp Cúng khói, tôi đã lướt qua nó khá nhanh và đã kết thúc như vậy. Những điểm chính đã đều được nhắc đến. Chúng ta không biết liệu hôm nay các vị khách quý đến từ Đảng Lam hay Đảng Lục (hai phe đối lập trong chính trị Đài Loan - năm 2008 cuộc bầu cử tổng thống Đài Loan sẽ diễn ra trong khoảng 5 tuần kế tiếp tính tính từ thời điểm cuộc nói chuyện này). Tôi chuẩn bị kể câu chuyện cười mà tôi được nghe từ Trần Truyền Phương. Đó là một câu chuyện cười chính trị, và nó như thế này:

"Tổng thống của một nước tham gia vào lễ hội trong ngày Tết Thiếu Nhi. Một trong những sự kiện liên quan đến việc té nước, giống như lễ hội té nước ở Thái Lan vậy. Bạn hát một bài hát trong lúc té nước, và mọi người đều vui vẻ. Để gần gũi với người dân, tổng thống đã tham gia vào cuộc vui cùng với trẻ em té nước. Sau khi nước được té vào tổng thống, tổng thống vô cùng tức giận hét lên: "Sao cháu dám hắt nước vào ta?" Phe của tổng thống cố gắng làm dịu tình hình bằng cách nói với tổng thống rằng té nước là một phần của sự kiện này, và rằng đây là cách mà ngài sẽ tham gia vào cuộc vui với mọi người. Và vị tổng thống đã nói với họ rằng lũ trẻ con đã dùng nước rất nóng!"

Đây là câu chuyện cười mà Trần Truyền Phương đã kể cho tôi nghe. Tôi không biết tổng thống này là nam hay nữ, cũng như tổng thống của nước nào trong câu chuyện cười này, vì vậy nó chẳng có nghĩa gì với tôi cả. Nếu bạn có câu hỏi gì, hãy đi hỏi Trần Truyền Phương.

🌟

Pháp cúng khói giản lược này rất hữu ích. Trước buổi lễ hôm nay, tôi đã ở chùa Linh Tiên tịnh xá một tuần để tiên đoán và hướng dẫn cho mọi người. Trong lòng tôi rất buồn khi tôi nhìn thấy nhiều đệ tử đến cầu xin sự chỉ dạy của tôi đã ốm rất nặng. Tôi nghĩ thầm, vì sao nghiệp chúng sinh đối với bệnh tật lại nặng như vậy? Tại sao không có phương thuốc nào giải thoát họ khỏi bệnh tật? Một số người bị bệnh đến mức giống như câu nói "bạn chính là thứ bạn ăn vào".

Tôi biết tôi nói tiếng Anh không tốt. Về chủ đề nói tiếng Anh, tôi thường nghĩ về những ngày mới đến Mỹ. Bạn có biết tôi đậu kì thi sát hạch lái xe và lấy được bằng lái như thế nào không? Bạn có biết làm sao tôi tham gia vào kì thi không? Người giám thị bảo tôi điều mà ông ta muốn tôi làm vài lần trong kì thi, nhưng tôi không thể hiểu được ông ta nói gì. Tôi cố gắng tìm ra một giải pháp, vì thế tôi bảo ông ta, "Tên tôi là Lư Thắng Ngạn. Tôi chỉ mới đến đây thôi.", vì thế nên anh ta biết tôi mới đến đất nước này. "Tôi nói một ít tiếng Anh. Anh làm ơn nói chậm thôi." Từ từ nói rồi anh ta đã hiểu câu đó.

Nhưng dù anh ta cố gắng thế nào để bảo tôi cần phải làm gì, tôi vẫn không thể hiểu anh ta, vì vậy tôi nói, "Tôi sẽ vẽ ra mấy bức tranh." Bức vẽ đầu tiên là tôi vẽ "10 dặm dừng lại". Bức thứ hai là "Đổi làn". Bức thứ ba là "Đậu xe song song". Bức thứ tư là "Đậu xe ngược lại". Bức thứ năm là "Đậu xe trên dốc". Với bức tranh này, tôi vẽ một chiếc xe nghiêng và đó là tôi đang đậu xe ở trên dốc. Tôi vẽ tất cả ra. "Tôi vẽ những tranh này, anh thấy không? Anh muốn cái nào? Anh bảo tôi."

Người giám thị đã rất sung sướng và nói okay. Hẳn là anh ta tự nghĩ "Hôm nay ta đã thực sự gặp được một người mà cần mấy cái tranh vẽ để qua được kì sát hạch lái xe.” Sau đó tôi bắt đầu bài thi lái xe của mình. Anh ta chỉ vào bức tranh đầu tiên "10 dặm dừng lại", và sau đó tôi biết là phải dừng lại sau khi lái 10 dặm. Sau đó anh ta chỉ cho tôi bức tranh thứ hai, "Chuyển làn" và vì thế tôi bật tín hiệu chuyển làn và kiểm tra phía sau lưng. Anh ta nói tôi làm tốt lắm. Sau đó là đậu xe song song. Đậu xe song song chiếm của tôi khá nhiều thời gian để học. Tôi lái xe song song với chiếc xe đầu tiên, sau đó lùi lại nửa đường, xoay bánh lái cho đến khi tôi không thể nhìn thấy góc xa được nữa, rồi từ từ lùi vào. Đó là đậu xe song song. Anh ta nói: "Tốt". Sau đó, tôi phải thực hiện đậu xe ngược với vòng xoay 90 độ. Đối với dừng xe trên dốc, tôi cũng đậu xe với phương pháp tương tự. Sau đó, tôi phải chuyển bánh lái để giữ côn và kéo phanh tay ngăn cho xe không trượt xuống.

Tôi đã đạt điểm tuyệt đối. Chư Phật và Bồ Tát đã giúp tôi với ý tưởng là vẽ các bức tranh. Bằng cách làm này, tôi đã đậu kì thi lái xe. Sau đó, tôi cũng có được thẻ xanh và sau đó là kì kiểm tra lấy quyền công dân. Nó như vậy đấy, rất là dễ.

🌟

**Thực hành cúng khói để được thành công và khỏe mạnh**

Hãy cùng thảo luận về pháp cúng khói. Lợi ích của cúng khói là gì? Tôi đã khám phá ra rằng con người không chỉ có chướng ngại hữu hình mà họ cũng có những chướng ngại vô hình nữa. Tất cả các dạng đều là huyễn. Phật Thích Ca đã dạy rằng, "tất cả sự hiện diện đều là hư ảo". Những chướng ngại thực sự là những nghiệp chướng mà bạn đã tích lũy qua vô số kiếp tái sinh trong quá khứ. Họ là những chủ nợ tiền kiếp của bạn (tất cả con người và chúng sinh mà bạn đã xúc phạm, làm hại, quấy rối, làm bị thương hoặc giết trong vô số kiếp trước của bạn). Nếu bây giờ họ tái sinh thành thần hay ma quỷ, họ sẽ canh chừng bạn. Dù bạn có khỏe mạnh, bạn cần phải cẩn thận với đồ ăn và đồ uống, bạn phải luyện tập sức khỏe, đây là kiến thức phổ thông.

Tuy nhiên, nếu những chủ nợ tiền kiếp vô hình này tìm đến bạn, họ sẽ khiến bạn ốm hoặc bị ung thư. Đây không còn là việc bạn chú ý bạn ăn gì thì bạn sẽ không mắc ung thư nữa. Nếu bạn trầm cảm, bạn cũng có thể mắc ung thư. Nếu bạn có lau nhà cả ngày với những lo lắng và ưu phiền này, hệ miễn dịch của bạn cũng suy yếu và bạn có thể mắc ung thư. Do vậy, trạng thái tinh thần sẽ ảnh hưởng đến cơ thể bạn. Vô hình vẫn có thể ảnh hưởng đến hữu hình. Vì vậy, pháp cúng khói là một thực hành vô cùng quan trọng.

Cơ thể bạn sẽ bị bệnh. Khi bạn bị bệnh, bạn nên thực hành cúng khói, nhưng bạn cũng nên thực hành pháp này khi bạn không bệnh. Những ai có thể làm hỏa cúng (homa) nên làm hỏa cúng. Ai có thể làm cúng thực (còn được gọi là cúng Tsok ở bên Tây Tạng) nên làm cúng thực. Nếu bạn có thể làm thủy cúng, thì cứ làm thuỷ cúng. Đây là các dạng thực hành cúng dường.

Tuy vậy, pháp cúng khói đặc biệt dành cho cúng chủ nợ, thần quỷ tiền kiếp. Những món đồ cúng dường chỉ là một ít que hương, một ít bột ngũ cốc, vải 5 màu sắc, đường trắng và nâu và ít bột sữa. Trộn chúng cùng với nhau thành như bột làm bánh và để chúng khô tự nhiên. Khi những đồ này đã khô và sẵn sàng, bạn có thể dùng làm cúng khói.

Vì sao pháp cúng dường này lại khiến thần và quỷ vui sướng? Có hai lý do. Khi bạn niệm câu chú "Om Ah Hum", điều này có nghĩa là đầu tiên bạn biến đổi lượng cúng dường nhỏ này cúng dường khổng lồ. Chủng tự "Om" sẽ chuyển đổi cúng ít thành cúng vô cùng nhiều để lấp đầy toàn bộ vũ trụ. Chữ "Om" chính là vũ trụ. "Ah" là sự thanh tịnh. Chủng tự "Ah" sẽ tịnh hóa đồ cúng. "Hum" chuyển đổi chúng thành pháp vị. Những miếng vải trở thành quần áo đẹp, bột ngũ cốc trở thành thức ăn ngon, bột hương trở thành nước hoa thượng hạng, và đường biến những đắng cay trở thành hạnh phúc, chuyển vị đắng thành vị ngọt.

Ở Đài Loan, chúng ta có câu nói, ăn đồ ăn ngọt và năm sau sẽ sinh một bé trai. Đây là một cách trìu mến để chúc bạn đạt được mục tiêu thành công, chuyển từ tình huống xấu sang tình huống tốt. Sữa là để dẹp bỏ tất cả xui xẻo. Màu của sữa trắng và tinh khiết. Nó sẽ dẹp hết những điều không may. Vì vậy, khi bạn niệm "Om Ah Hum" và "Ram Yam Kham", mặc dù lượng của pháp cúng khói rất ít, những câu chú này chuyển đổi chúng thành cúng một lượng khổng lồ. Với việc thực hành pháp này, tất cả những bệnh tật, nghiệp xấu, ma quỷ và những linh hồn đến để hãm hại bạn, họ đều nhận được cúng dường của bạn và chấp nhận đồ cúng.

Thật khó để cắn vào tay người cho bạn ăn, điều này có ý nghĩa như vậy đó. Tất nhiên, đây không phải là đồ hối lộ, chúng ta thành tâm dâng cúng những đồ này. Mục đích của cúng dường là để yêu cầu chủ nợ tiền kiếp không làm hại bạn. Họ vốn tìm đến để đòi bồi thường, nhưng giờ đây họ sẽ rời khỏi bạn vì bạn đã cúng dường họ. Nhờ thế, công việc kinh doanh của bạn sẽ phát đạt, nhà hàng của bạn sẽ đông nghịt, cấp trên của bạn sẽ khen ngợi bạn, bạn sẽ khỏe mạnh, và bạn sẽ ở trong tâm trạng tích cực. Những ai ghét bạn sẽ ngưỡng mộ bạn, và bạn sẽ có được sự tôn trọng từ họ. Nếu bạn vốn ốm yếu, từ từ bạn sẽ khỏe dần lên. Nếu bạn không ốm, bạn sẽ càng khỏe mạnh hơn. Đây là lợi ích của việc thực hành cúng khói.

🌟

Thực hành cúng khói cũng có thể được dùng để cúng dường đến Chư Phật. Cúng khói cúng Chư Phật cần thực hiện trong khoảng 5h-9h sáng. Cúng cho ma quỷ cần được làm từ 5h-9h tối.

Tôi đã giải thích về cái lư hương. Đối với lư hương chữ nhật, hỗn hợp bột cúng dường nên được nặn thành hình que dài. Nếu bạn nặn chúng thành hình bánh tròn thì hãy dùng cái lư hương tròn mà tôi đã dùng cho buổi thực hành hôm qua. Khởi động việc cúng dường như thế này. Sau khi bạn mở đầu việc cúng dường rồi, bạn có thể bắt đầu thực hành cúng khói theo nhóm. Bạn thậm chí có thể dùng cái bình bát, loại bình bát của tăng và ni, để thay cho lư hương. Hoặc bạn có thể dùng cái chuông trống mõ trong đạo Phật để làm cái lư hương cũng được.

Như tôi đã giải thích lúc trước, những gì bạn phải chuẩn bị là một chút bột hương, một chút bột ngũ cốc, vải 5 màu sắc, một chút đường trắng và nâu, và một chút bột sữa, trộn chúng thành hỗn hợp như bột làm bánh, rồi phơi hoặc sấy khô. Khi những món đồ cúng này hoàn toàn khô và dễ bắt lửa, sử dụng một que đốt hương để nhóm lửa lên. Sau đó, bạn bắt đầu thực hành.

🌟

**Thủ** **ấn Kim Sí Điểu (Garuda) cánh vàng tượng trưng cho khói đang lan tỏa vào không khí**

Hôm qua, tôi đã giải thích rằng thực hành cúng khói này phải được thực hiện ở nơi không khí có thể lưu thông. Đệ tử từ Singapore đã nói rằng nhà ở của họ không có ban công. Khi đó, bạn nên mở cửa sổ và thực hành quay mặt về phía cửa sổ.

Tôi đã nhắc đến vị Bổn tôn của pháp này trong buổi quán đảnh hôm qua là Bồ Tát Quan Thế Âm Tứ Thủ. Câu chú của Bồ Tát Quan Thế Âm Tứ Thủ là "Om mani padme hum seh." Chủng tự "Seh" nghe không hay trong tiếng Anh. Nó nghe như là bạn đang chửi thề ai đó giống như "Shit". Cái này chẳng hay ho chút nào. Trên thực tế, "Seh" này là một chủng tự mantra trong Kim cương thừa.

"Seh" này có gì hay? Nó chính là một câu chú. Nó là chủng tự của Phật A Di Đà và Quan Thế Âm Bồ Tát. Bắt đầu từ một vầng mặt trăng, chữ "Seh" chuyển hóa thành Quan Thế Âm Bồ Tát Tứ Thủ. Bạn cần biết về sự hợp nhất giữa bản thân và Bổn tôn. Tất nhiên, trước đó, bạn nên thực hiện kính lễ, cúng dường, tứ quy y, Hộ pháp và đọc chú 100 âm. Bạn cũng có thể đọc Cao Vương Kinh. Sau khi bạn hoàn thành tất cả những nghi thức này, bạn có thể bắt đầu thực hiện pháp Quan Thế Âm Bồ Tát Tứ Thủ.

Tu tập cho đến khi bạn hòa nhập chính mình với Quan Thế Âm Bồ Tát (hợp nhất bản ngã và Bổn tôn với Quan Thế Âm Bồ Tát). Quan Thế Âm Bồ Tát có nhiều thủ ấn. Một thủ ấn có một ngón cái bên trong, một ngón cái bên ngoài. Đây là một thủ ấn khác của Quan Thế Âm Bồ Tát. Quan Thế Âm Bồ Tát cũng có thủ ấn hoa sen, một số thì nở hé, một số thì nở căng, và cũng có thủ ấn hoa sen chưa nở. Đây đều là thủ ấn của Quan Thế Âm Bồ Tát. Cũng có thủ ấn Quan Thế Âm Bồ Tát Thiên Thủ Thiên Nhãn. Tay của bạn đan vào thế này, hoặc mở ra thế này, cái này tượng trưng cho nhiều cánh tay. Đây là thủ ấn của Quan Thế Âm Bồ Tát Thiên Thủ Thiên Nhãn.

Quan Thế Âm Bồ Tát có nhiều thủ ấn, bạn có thể sử dụng bất kì một loại nào trong số đó. Khi bạn đã hòa nhập làm một với Quan Thế Âm Bồ Tát trong quá trình thực hành, khi đó bạn có thể bắt đầu lễ cúng khói. Vì vậy, bạn có thể thêm thực hành cúng khói vào thực hành Bổn tôn.

Bây giờ, bạn có thể bắt đầu cúng khói. Sau khi châm lửa và khói bắt đầu bay lên, bạn phải quán tưởng cái thùng chứa của bạn. Niệm chú quán tưởng tính Không: "Om sibawa suda saerwa daerma sibawa suduo hang." Đây là thần chú quán tưởng tính Không. Nó thể hiện toàn bộ không gian trống rỗng của vũ trụ. Bạn nên quán tưởng cúng khói trở thành đại cúng dường, vô cùng tận như khoảng không gian vô hạn. Sau đó, quán tưởng khói bay lên chuyển hóa thành 5 vật phẩm cúng dường tuyệt vời, tất cả những gì mà thần và quỷ sẽ thích ví dụ như 7 loại trang sức quý báu *(*vàng, bạc, ngọc trai, san hô, hổ phách, mã não, ngọc bích giúp trừ tà xua ma)* 8 loại biểu tượng cát tường *(*lọng quý, cặp cá vàng, bình báu, hoa sen, vỏ* *ốc biển màu trắng, nút thắt vô tận, cờ chiến thắng, bánh xe pháp luân).* Bạn cần phải quán tưởng chúng. Quán tưởng dinh thự mà các thần và quỷ thích ở. Bất kể nó phải lớn cỡ nào, bạn cũng cần quán thưởng chúng. Quán tưởng xe hơi ví dụ như rất nhiều xe thể thao Ferrari lấp đầy không gian bao la vô tận. Quán tưởng đồ ăn ngon nhất, rau xanh thì ít thôi vì những thứ này không đắt tiền. Bạn có thể quán tưởng bào ngư hoặc vi cá mập! Hãy quán tưởng những món ăn đắt tiền nhất, như tổ yến, tôm hùm, vv… Hãy để cho họ ăn những thức ăn tốt nhất.

Tôi nghe nói là có một vị Kim cương Thượng sư có những món này trên khuôn mặt của ông ấy vì ông ấy chỉ ăn bào ngư và vi cá mập. Dường như nơi nào ông ta đến, các đệ tử cũng cúng ông ta bào ngư và vi cá mập. Nó luôn luôn hiện trên mặt ông ấy, giống như đó là thứ duy nhất mà ông ta ăn vậy. Vì thế, mọi người gọi ông ấy là Kim cương Thượng sư Bào Ngư Vi Cá.

Đối với 5 loại vật phẩm cúng dường cao quý này, hãy cúng cho họ những gì tốt nhất. Lần tới, khi bạn cúng dường một vị thầy/Kim cương Thượngsư, bạn có thể chỉ dùng thực hành này để cúng dường cũng được! Dùng pháp cúng khói để chuyển hóa (khói) thành 5 thứ vật phẩm cao quý cúng dường bao gồm đồ ăn, quần áo, nhà cửa, phương tiện đi lại, và niềm vui. Pháp cúng này bao gồm tất cả, thậm chí bao gồm cả niềm vui.

Sau đó, kết ấn Kim Sí Điểu - chim cánh vàng vĩ đại. Thủ ấn Garuda tượng trưng cho khói bởi vì kim sí điểu có thể chao liệng trên trời cao. Thủ ấn này rất dễ nhớ vì nó có biểu tượng bay lên! Khói lan tỏa ra giống như Kim Sí Điểu bay đến tất cả các ngóc ngách của vũ trụ, bay đến với tất cả các thần và quỷ, những vị sẽ nhận đồ cúng dường của bạn.

Khi bạn hoàn thành việc cúng, bạn phải niệm một câu chú, đây là câu chú hoàn thành cúng dường. "Ôm, ah-bu-la-ti, pu-ba-yê, sô-ha" - niệm 1 lần và bật ngón tay một lần. Lặp lại như vậy 7 lần. Niệm chú và bật ngón tay 7 lần biểu tượng cho sự hoàn thiện viên mãn.

Vì sao bạn cần phải búng ngón tay? Nếu như có thần và quỷ đang ngủ khi bạn cúng dường, bạn sẽ đánh thức họ dậy khi bạn búng ngón tay. Việc búng ngón tay tượng trưng cho việc bạn muốn cúng dường tới họ.

🌟

**Lời khấn nguyện của pháp cúng khói rất đơn giản và dễ hiểu**

Liên quan tới lời khấn nguyện, nhiều người bày tỏ lo ngại rằng họ không thể nhớ được những lời khấn như Sư Tôn đã đọc thuộc lòng! Vì thế, tôi sẽ nói lại từ từ. Mọi người hãy nghe cẩn thận.

*"Lễ cúng khói năm dục lạc diệu kỳ này
Cho Thực Hương Thiên Vương Bất Đỗ Ca
Cho Khẩn Na La Vương cùng quyến thuộc
Cho Ngũ Kế Thực Hương Vương và đại chúng
Cho Long Vương Long Nữ và quyến thuộc
Cho Sơn Thần Thủy Thần và Hải Thần
Đặc biệt cho tất cả chúng sinh
Đã bỏ tiền thân chưa đầu thai
Đang ở trong trung ấm chuyển tiếp
Tất cả chúng sinh đang khổ não
Nguyện được cúng dường dục lạc viên mãn
Hãy nhận biết trung ấm như thế này
Được giải thoát khỏi sợ hãi và đau khổ
Nguyện Phật Báo Thân viên mãn
Nguyện nhanh chóng chứng đắc Chính Giác
Dù không có năng lực này, nương theo hành trì
Cũng xả bỏ không rảnh rỗi, sinh vào cõi thiện
Nguyện hành trì Chính Pháp vô thượng
Nguyện con dùng công đức lực này
Tiêu trừ tất cả chướng ngại
Bốn đại khổ nạn như sóng trào
Nguyện cứu độ tất cả chúng sinh cõi Ta Bà."*

Cố gắng đọc toàn bộ bài khấn nguyện này cũng hơi rắc rối. Chúng ta có thể nói lời khấn nguyện này bằng văn nói bình thường, và tôi thì giỏi nói bằng ngôn ngữ thường ngày. Bạn có thể nói thế này:

*"Lễ cúng khói này là lễ cúng dường đến tất cả thần và ma quỷ.
Cúng dường đến tất cả chủ nợ kẻ thù tiền kiếp của tôi
Cúng dường đến tất cả chủ nợ hữu hình và vô hình
Cho phép họ có được sự thỏa mãn và hạnh phúc
Hy vọng rằng các chủ nợ tiền kiếp sẽ để cho tôi được yên
Hãy đi xa
Tôi hy vọng việc tu hành của tất cả các chủ nợ tiền kiếp được thành tựu
Tôi hy vọng tất cả sự bất hạnh của họ trở thành hạnh phúc.
Khi đó tôi có thể được an bình và may mắn
Hưởng thụ sức khỏe tốt và tu hành tinh tấn.
Om Mani Padme Hum."*

Khấn nguyện này không cần phải phức tạp. Trên thực tế, bài khấn dài và bài khấn bằng ngôn ngữ thông thường này là cầu nguyện về cùng một thứ.

*"Cầu nguyện cho đồ cúng dường của tôi đến với tất cả thần và ma quỷ, cúng cho tất cả chủ nợ tiền kiếp và những đối tác quá khứ còn thù hận. Làm ơn đừng gom thêm những nợ nần cũ nữa. Bây giờ tôi trả lại cho các người tất cả đây, để tôi còn được sống trong an lành và khỏe mạnh, và chuyên tâm tu hành. Tôi mong các người hãy lấy tôi làm ví dụ và học Phật pháp, niệm tên Phật và đạt được thành tựu. Tôi sẽ có thể được tái sinh ở cõi tịnh độ. Các người cũng có thể được tái sinh ở cõi tịnh độ. Om mani padme hum."*

Đoạn trên là một ví dụ khả thi khác. Phiên bản này thậm chí còn đơn giản hơn. Bạn biết rằng đây là cúng dường tới tất cả chủ nợ tiền kiếp và tất cả thần, ma quỷ.

🌟

**Các sảnh đường thực hành pháp giữa trời và đất**

Hôm qua tôi đã nhắc đến Xian-Zheng Song. Ông ta là một thành tựu giả. Ông ta đang dự định xây Tam Xa Lôi Tạng Tự ở Dallas. Ông không cần tìm tài trợ. Ông có đất và dự định sử dụng các điều kiện của cá nhân để xây Lôi Tạng Tự của chính mình. Tôi đặt tên ngôi chùa này là Tam Xa (ba bánh xe) Lôi Tạng Tự.

Đừng coi "ba bánh xe" này giống như ba bánh xe của xe đạp ba bánh. Cụm từ "tam xa" biểu tượng cho ba lần chuyển pháp luân của Đức Phật, do vậy nó được đặt tên là Tam Xa. Ông ta là một nhà tài trợ (công đức chủ) lớn cho Phật giáo. Ban đầu ông ta tu hành ở Seattle. Ông ta rời đi và tiếp tục tu hành riêng biệt. Bạn có thể thấy sự thành tựu của ông ta rất tốt. Vì vậy, tôi hy vọng các đệ tử Chân Phật Tông đừng dồn hết năng lượng vào việc xây dựng chùa. Chúng ta nên xây chùa bởi vì nó cho phép các đồng môn tu tập cùng nhau theo nhóm đồng tu, và để có được phước lợi tốt. Tuy nhiên, những ngôi chùa này (các sảnh đường thực hành pháp) tồn tại giữa trời và đất, và không thuộc về riêng ai.

Sư Tôn đã nói rằng mặc dù Sư Tôn chính thức là trụ trì của Đài Loan Lôi Tạng Tự, đó thực sự là một danh hiệu cao quý. Kim cương Thượng sư Liên Triết là trụ trì thay quyền.

Tất cả các quyết định về điều hành, nhân sự, tài chính được thực hiện bởi các nhân viên quản trị ở Đài Loan Lôi Tạng Tự. Tôi không xử lý bất kì vấn đề nào. Về khía cạnh tài chính, các tài sản của Đài Loan Lôi Tạng Tự như đất chùa, các tòa kiến trúc có giá trị khoảng 100 triệu Đài Tệ (khoảng 3,13 triệu đô Mĩ).

Nếu tôi là một người tham lam, 100 triệu Tệ thật là tuyệt vời! Mọi người đều biết rằng Trần Truyền Phương đã nói: "Tiền, nó không thể đi theo bạn và bạn cũng không thể đem nó theo. Nhưng, mọi người vẫn thích tiền."

Nếu Sư Tôn thực sự yêu tiền, tôi nên quay về Đài Loan Lôi Tạng Tự tuyên bố rằng tôi là trụ trì của chùa, thế nên trụ trì được ủy quyền và các trợ lý trụ trì có thể nghỉ giải lao. Tất cả đây là của tôi! Tôi nên đi nhìn ngắm tất cả những cột chùa to lớn được mạ vàng, tôi nên sung sướng trong lòng đến mức tôi cần phải ôm hết chúng. Những cái cột đó quá lớn để ôm vừa một vòng tay. Chúng cao tới 7 tầng. Các tượng Bồ Tát cũng cao 7 tầng. Thật là sướng mê li. Tôi nên cực kì hạnh phúc. Hãy nhìn vào tượng Phật A Di Đà, bạn càng nhìn lâu càng thấy tượng trang nghiêm. Tôi thực sự nên đem tượng này về nhà với mình. Tuy vậy, tôi không thể làm nhúc nhích được nó và cũng không thể dịch chuyển nó.

Mặc dù mọi thứ đều hợp pháp dưới tên của tôi, nhưng nó thực sự thuộc về thế giới vĩ đại này. Một người có thể sống lâu hơn thời gian ngôi chùa này có thể tồn tại không? Nếu bạn có thể sống lâu hơn Lôi Tạng Tự, vậy thì hãy ăn nó như một cái bánh. Tuy nhiên, tuổi thọ của bạn sẽ không kéo dài hơn được Lôi Tạng Tự. Nó thực sự thuộc về trái đất rộng lớn, bạn phải có suy nghĩ phóng khoáng về sở hữu vật chất.

Trần Truyền Phương nói rằng giờ đây bà ấy thực sự tự do tự tại. Bà ấy chẳng ham muốn bất kì thứ gì. Bà ấy hỏi tôi, "Sư Tôn, theo quan sát của thầy, việc tu hành của tôi gần đây thế nào?" Tôi quan sát và nói, "Oh, khả năng kể chuyện cười của bà đang có tiến bộ đấy. Tôi khám phá thấy tất cả bốn bà bác có trình độ tu tập tốt và đang tiến bộ rất tốt. Một trong số họ đã tương ứng với Quan Thế Âm Bồ Tát. Một trong số họ có thể đến cõi tịnh độ. Một người khác có thể đến cõi trời. Còn một người nữa sẽ trở thành tổng thống. Tất cả việc tu hành của họ đều tiến bộ và thành tựu của họ đều rất tốt."

🌟

**Hiểu điều cốt yếu của thực hành Kim cương thừa, thực hành tu tập để đạt được thành tựu**

Tu tập pháp cúng khói có thể trợ giúp cho những nỗ lực trong hoạt động kinh doanh ở thế gian, hoặc từ bỏ những theo đuổi thế tục để trở nên giác ngộ. Bạn nên biết rằng thực hành này cơ bản là một thực hành tích lũy tài nguyên.

Cúng khói là một thực hành tích lũy tài nguyên và là một thực hành rất hay, đặc biệt là cho việc tu hành cá nhân. Bây giờ tôi sẽ đưa ra cái nhìn tổng quát về các thực hành Kim cương thừa.

Những ai trong các bạn hiểu thì sẽ hiểu. Nếu bạn không hiểu, thì khỏi cần hiểu. Thực hành Kim cương thừa - tại điểm giữa hai lông mày (luân xa con mắt thứ ba) có một chủng tự "Han" (ghi chú: đây là tiếng Sankrit được phát âm giống như từ "Han" trong tiếng Hoa) và phía dưới luân xa rốn khoảng 4 đốt ngón tay có một nửa chủng tự "Ah". Sau khi được thổi bùng lên bởi gió hoặc khí, nội hỏa (tiếng Tạng: tummo) sẽ được tạo ra. Có một chủng tự "Hum" ở trong tim. Chủng tự "Hum" này sẽ biến đổi bạn thành Bổn tôn của bạn. Sau khi Bổn tôn đã được tắm trong nội hỏa và các hạt bồ đề tâm liên tục, nó sẽ trở thành "thân ánh sáng" của bạn."

Nếu bạn tu tập trong giấc mơ, bạn có thể trở thành thông thạo Yoga giấc mộng. Bạn có thể tu tập trong những giấc mơ. Hãy hòa nhập với ánh sáng trong suốt và bạn sẽ trở thành Tịnh Quang. Sau đó, hãy đóng lại 8 điểm mở, chỉ để lại một điểm mở là không đóng. Cố gắng đẩy thần thức của bạn ra ngoài và……. Sử dụng gió. Đây là Phowa (chuyển dịch thần thức). Sau khi bạn đã ra khỏi thể xác, bạn sẽ nhìn thấy Bổn tôn của bạn. Nếu bạn hòa nhập với Bổn tôn làm một, đây là "parakaya pravesha (năng lực đi vào cơ thể của một người khác thông qua yoga). Tôi vừa nói đến, nội hỏa, thân ánh sáng, yoga giấc mộng, tịnh quang, phowa và thân trung ấm.

Nếu bạn hiểu những điều tôi vừa nói, nếu bạn có thân ánh sáng, bạn có thể dùng thân ánh sáng của mình và đi thẳng đến cõi tịnh độ của Đức Phật bằng năng lực của chính bạn. Trực tiếp trở thành Phật dùng thân ánh sáng của bạn. Đây được gọi là đạt đến Phật tính trong thân xác hiện tại.

Nếu bạn không đạt được thân ánh sáng, bạn phải quán tưởng Bổn tôn của bạn ngồi trên đầu bạn, kênh trung tâm của bạn liên kết với kênh trung tâm của Bổn tôn. Bạn di chuyển khí mà bạn đã tạo ra lên trên. Đẩy thần thức của bạn vào kênh trung tâm của Bổn tôn và trở thành một với Bổn tôn. Khi Bổn tôn đi tới cõi tịnh độ, bạn cũng tới cõi tịnh độ.

Nếu bạn không thể đạt được thân ánh sáng và không thể hòa nhập làm một với Bổn tôn, bạn sẽ chỉ có thân trung ấm. Khi đó bạn phải nhanh chóng học pháp Phowa (di chuyển thần thức). Bạn phải nhớ đọc câu chú, quán tưởng Bổn tôn xuất hiện, và nhập vào với Bổn tôn. Sau đó, bạn dùng Phowa.

Nếu bạn muốn làm tổng thống, tổng thống trong tương lai, bạn phải học quán tưởng. Sử dụng quán tưởng của bạn để tìm một người phụ nữ sẽ trở thành mẹ của tổng thống tương lai. Sau khi bạn đã tìm thấy bà ấy, thân trung ấm của bạn phải đi vào trong tử cung của người này. Đây được gọi là parakaya pravesha. Sau khi bạn đi vào tử cung của người này và đã xác lập ống mạch, bạn sẽ được sinh ra bởi người mẹ này, và bạn sẽ có số mệnh trở thành tổng thống tương lai. Đây được gọi là parakaya pravesha.

Phần lớn thân trung ấm của những người bình thường không có đủ năng lực, và vì vậy họ không thể quyết định số phận của họ. Họ chỉ có thể gắn mình vào một con bướm. Họ gắn thân trung ấm của mình vào con bướm bay tới bay lui trên vai những người họ hàng. Những người họ hàng không nên giết những con bướm này bởi vì có thể linh hồn của ông hoặc bà của họ đang bám vào cánh của những con bướm này. Thỉnh thoảng, thân trung ấm của người chết cũng bám vào các côn trùng khác. Khi bạn thực hiện nghi thức cúng tiễn, đôi khi có một con côn trùng mà bạn chưa từng trông thấy trước đây đột nhiên bò lên trên bàn cúng.

Một lần khi tôi đang thực hiện nghi thức cúng, một con bọ xuất hiện và đang bò trong phòng. Người thân của người chết nhìn thấy con bọ và định giết nó. Tôi bảo họ, "Khoan đã. Đó là anh của ông đó!". Thân trung ấm của người anh của họ đã nhập vào con bọ và quay lại để gặp họ. Đây là một dạng của parakaya pravesha. Nhưng cái kiểu bám nhờ vào dạng như thế này là dạng thấp nhất. Họ chỉ có thể gắn mình vào con bọ hoặc con bướm. Họ không thể gắn vào con chim và bay về để gặp gia đình. Họ sẽ rời đi sau khi gặp lại bạn. Đừng làm hại nó.

Những người tu hành Kim cương thừa cấp cao biết thực hành này. Một số người muốn sinh ra trong gia đình của Bill Gates. Khi đó, ngay khi bạn chết, thân trung ấm của bạn phải tìm thấy vợ ông ta và đi vào tử cung của bà ấy để trở thành con của họ. Khi bạn được tái sinh, bạn sẽ là con trai của Bill Gates và khi đó bạn được sinh ra trong giàu có. Để làm điều này, bạn phải tu hành đủ, và sau đó bạn có thể kiểm soát số phận của chính bạn. Nếu bạn muốn tái sinh ở cõi tịnh độ, bạn sẽ được tái sinh ở cõi tịnh độ. Nếu bạn muốn trở thành Phật, bạn sẽ trở thành Phật. Nếu bạn muốn thác sinh làm tổng thống, bạn sẽ hóa kiếp và trở thành tổng thống. Nếu bạn muốn thác sinh vào một gia đình giàu có, thì hãy tái sinh vào gia đình giàu có. Bạn có thể đi bất kì đâu bạn muốn đi. Đây là một thành tựu của tu tập Kim cương thừa.

Một lát nữa tôi sẽ quán đảnh Đại Uy Đức Minh Vương. Tôi sẽ yêu cầu một trong số những Kim cương Thượng sư của Chân Phật Tông viết lại nghi quỹ cho thực hành cúng khói. Sau khi tôi kiểm chứng, mọi người có thể theo nghi quỹ này để thực hành. Tôi nghĩ mọi người đã biết những cái cơ bản rồi. Đến giờ chúng ta đã thực hành Bổn tôn rất lâu rồi. Bạn chỉ cần thêm vào phần cúng khói. Còn về câu chú mà bạn sẽ tụng 7 lần trong thực hành này, chúng ta hãy cùng đọc: "Ôm, ah-bu-la-ti, pu-ba-yê, sô-ha", đừng đọc "Ôm ah-bu-la-ti, pu-ba-ya sô-ha". Chỉ đọc "Ôm, ah-bu-la-ti, pu-ba-yê, sô-ha" và viết ra trình tự cúng khói cơ bản. Như vậy mọi người sẽ cùng theo một thực hành chung. Bạn cũng có thể tiếp tục niệm Cao Vương Kinh.

Tôi sẽ quán đảnh Đại Uy Đức Minh Vương ngay đây. Mặc dù bạn có thể không tu pháp Đại Uy Đức Minh Vương, bạn vẫn có thể niệm chú Yamantaka. Chú này sẽ tăng tuổi thọ của bạn. Những ai trong các bạn có mặt ở đây hôm nay quả là may mắn. Một khi bạn đã biết chú Yamantaka và thường xuyên tụng niệm nó, bạn sẽ thoát khỏi nhiều bệnh tật và sống lâu hơn.

Om mani padme hum.


### Bài giảng ngày 15/03/2008


**(Lời giảng của Sư Tôn)**

Với lòng tôn kính, chúng ta kính lễ đến Hòa Thượng Liễu Minh, Kim Cang Thượng Sư Sakya Chứng Không, thầy Karmapa thứ 16, thầy Thubten Dhargye và Tam Bảo ở điện thờ này.

Thượng sư nghi lễ (Sư Liên Mãn), Sư Mẫu, các Thượng sư, giáo thọ sư, Lama, các đệ tử và các đệ tử trên mạng Internet, xin chào tất cả mọi người.

Lúc trước, thầy Liên Bạch đã hát hai bài hát cho chúng ta. Thượng sư Liên Mãn, ngoài bài giảng về việc hát, cũng nói về chuyến đi giảng pháp đầu tiên mà thầy thực hiện cùng với tôi. Trong chuyến đi tới châu Âu đó, ngay khi thầy được đón ở sân bay, thầy đã được đưa ngay tới địa điểm tổ chức bài thuyết giảng. Bởi vì thầy không có cơ hội nào để nghỉ, thầy đã rất mệt và sau đó không biết mình đã nói cái gì. Thêm nữa, Thượng sư Liên Mãn là người Quảng Đông, do vậy tiếng phổ thông của thầy cũng khó cho mọi người có thể hiểu được.

🌟

**Vô Niệm và Vô Trụ**

Thầy Liên Bạch đã hát hai bài hát. Bài hát đầu tiên là về sự hồi tưởng, và bài thứ hai là về giúp đỡ chúng sinh -- điều mà lời bài hát "Phật A Di Đà trên thế giới" nói đến.

Hãy nói về chủ đề hồi tưởng hoặc là "suy tư". Mỗi chúng ta đều có những suy nghĩ. Suy nghĩ về quá khứ, hiện tại và tương lai, cũng như những suy nghĩ mà một người có thể không muốn nghĩ về chúng, nổi lên bất thình lình. Mỗi con người sống giữa những suy nghĩ trừ phi não không còn hoạt động nữa và người đó không còn có thể suy nghĩ nữa.

Một bệnh nhân hôn mê với bất kì dấu hiệu nào của hoạt động não thì vẫn có suy nghĩ. Chỉ có người mà hoạt động của bộ não hoàn toàn không còn thì mới không có suy nghĩ. Tương tự, nếu bạn tình cờ đi bộ ở trong một ngõ tối và ai đó đến đằng sau bạn và đánh mạnh vào hộp sọ của bạn với cây gậy gỗ hoặc cái búa thép khiến bạn ngã lăn ra và mất ý thức, vào lúc đó, bạn cũng không có suy nghĩ nào.

Hãy hỏi vị thượng sư (ám chỉ Thượng Sư Lian-han) trước đây đã từng nói về ý tưởng "không có ý nghĩ" xin mời đứng dậy. Ông ấy đây rồi. *(khán giả vỗ tay).* Trong một lần trao đổi với tôi, ông ấy viết xuống hai chữ "Vô niệm" (không có ý nghĩ). Đó là tất cả những gì ông ấy viết. Tôi bảo ông ta rằng điều ông ấy viết là đúng. Nhưng sau đó tôi đuổi theo ông ta và nói: "Câu nói đó nên đi kèm với một từ hạn định. Đó là, một người có thể có nhiều ý nghĩ, nhưng khi không ý nghĩ nào ảnh hưởng đến bạn, đó là "vô niệm".

Khi Đức Phật nói về trạng thái vô niệm, ngài không nói về việc não người đó bị chết. Ngài cũng không nói về việc bị đánh đến mất đi ý thức. Vô niệm thực sự ám chỉ trạng thái khi mà hàng tỉ ý nghĩ nổi lên, nhưng những ý nghĩ này không có ảnh hưởng gì lên Phật tâm vốn dĩ thuần tịnh của bạn. Khi đó đây mới thực sự là Vô niệm.

Thượng sư Lian-han cũng viết hai từ này "Vô trú" (không ràng buộc ở bất kì nơi nào). Tôi lại đuổi theo thầy và nói: "Không ràng buộc ở nơi nào không có nghĩa là bạn đi lang thang trên đường phố." Ở Đài Loan chúng tôi gọi những người vô gia cư là những người coi đường phố như là bạn bè của họ. Ở đây không phải ý nghĩa "Vô trú" là như vậy. Vô trú nghĩa là cho dù bạn ở vào bất kì hoàn cảnh nào, nó cũng không có ảnh hưởng gì đến Phật tâm thuần tịnh của bạn.

Chúng ta đều nghe cụm từ Phật giáo "vô niệm, vô trú, vô tướng" (không có suy nghĩ, không trú ngụ, không hình tướng) và thường tham khảo đến cụm từ này. Nhưng cũng là vô nghĩa nếu nhắc đến cụm từ này nhưng không thực hiện chúng. Trong "vô niệm", không một ý nghĩ nào ảnh hưởng đến Phật tâm thuần tịnh của bạn. Trong "vô trú", không hoàn cảnh nào ảnh hưởng đến Phật tâm của bạn.

Khi một người gặp nhiều thất bại hoặc đối mặt với nhiều phiền toái, người đó sẽ trở nên chán nản mệt mỏi. Đây là một căn bệnh mà chúng sinh đều mắc phải. Thầy Liên Bạch đã hát bài hát về "ý niệm" và đây chính xác là điều tôi muốn đề cập đến ngày hôm nay - tu tập trạng thái "vô niệm". Có suy nghĩ là việc tự nhiên, và miễn là những suy nghĩ này không làm ô uế Phật tính thuần tịnh, bạn là người tự do.

🌟

**Những phản hồi thành công từ việc cúng khói**

Việc thứ hai, Thượng sư Lian-han nói về việc giúp chúng sinh trên thế giới này. Đây không phải là một nhiệm vụ dễ dàng. Đức Phật đã áp dụng nhiều phương pháp có lợi để giúp con người trên thế giới này. Nhiều phương pháp thiết thực cũng tồn tại trong Mật thừa, giống như pháp cúng khói mà tôi đã truyền dạy gần đây. Nhiều người có phản hồi tích cực từ việc thực hành này, từ đó tăng trưởng niềm tin của người đó. Với niềm tin mạnh mẽ hơn, bạn sẽ thâm nhập vào thực hành một cách nghiêm chỉnh hơn.

Khi cô Organic, người phiên dịch ở chùa của chúng ta, thực hành cúng khói lần đầu tiên để đem niềm vui đến với tất cả kẻ thù, chủ nợ và bạn bè tiền kiếp, cô ấy đã có linh ứng tốt. Cô ấy có thiên nhãn và đã nhìn thấy nhiều người xuống phòng khách nhà mình, mặc quần áo đẹp và thưởng thức đồ ăn ngon. Họ lái những chiếc xe đắt tiền và sau đó trở về những ngôi nhà sang trọng. Thật giống như là có một bữa đại tiệc vậy.

Ở Đài Loan, một đệ tử khác, Hsu Hung-chun, người mà thầy Lian-zhi đã rất quen thuộc, cũng có linh ứng tốt từ việc cúng khói. Khi tôi sống ẩn cư ở Đài Loan, nếu tôi có bất kì sự đau ốm nhẹ về thân thể nào, sư huynh Hsu Hung-chun, người sở hữu một tiệm thuốc tây và có hiểu biết về rất nhiều loại thuốc sẽ đem ít thuốc đến cho tôi. Lần này, Hsu Hung-chung, vợ ông ta, và con ông ta đến chùa Seattle Lôi Tạng Tự để nhận quán đảnh cúng khói trực tiếp từ tôi.

Khi ông ta về Đài Loan, ông ta ngay lập tức khởi động thực hành và vào ngày mà ông ta thực hành cúng khói lần đầu tiên, việc kinh doanh đã tăng lên gấp ba lần. Khi ông ta nghỉ không làm cúng khói một hôm, việc kinh doanh lại trở về bình thường. Những người chủ doanh nghiệp hẳn là vui mừng lắm khi nghe điều này và sẽ trông chờ việc thực hành cúng khói sẽ đem đến nhiều thương vụ hơn.

Trên thực tế, mỗi lần sư huynh Hsu làm cúng khói, rất nhiều chúng sinh vô hình đến giúp đỡ ông ta. Những chúng sinh này mong muốn đáp trả người dược sĩ đã dâng cho họ nhiều cúng phẩm tốt như vậy. Khi một người đi qua hiệu thuốc, dù cho người đó có bị bệnh hay không bị bệnh, người đó sẽ đột nhiên cảm thấy cổ họng bị rát và muốn đi vào mua một ít thuốc ho. Hoặc là một cơn gió bất chợt có thể khiến một người đi bộ cảm thấy anh ta sắp bị cảm lạnh và cảm thấy hình như anh ta bị bong gân, thế là anh ta sẽ đi vào trong và mua ít thuốc cảm lạnh, thuốc giảm đau, hoặc là dầu xoa bóp. Hoặc là, ai đó đi bộ ngang qua có thể đột ngột nhớ ra mình cần mua thuốc bổ sung cho tủ thuốc ở nhà.

Thế là, mỗi lần sư huynh Hsu thực hành cúng khói, việc buôn bán của ông ta sẽ tăng lên gấp ba lần. Vì vậy, mặc dù các bước làm có thể đơn giản, nhưng pháp cúng khói này thực sự không hề đơn giản chút nào! *(Sư Tôn cười). *Khi bạn có được linh ứng từ việc thực hành, niềm tin của bạn sẽ được tăng trưởng.

🌟

**Thêm nhiều linh ứng từ việc cúng khói - chữa lành và thoát khỏi kiện cáo**

Sư huynh Lianhua Wentao là một đệ tử ở Trung Quốc là người đã từng kinh doanh sản xuất pháo hoa. Phần lớn pháo hoa mà mọi người đốt trong dịp 4/7 (Quốc khánh Mỹ) được làm tại Trung Quốc, và ông ta từng có một công việc kinh doanh rất tốt khi xuất khẩu pháo hoa sang Mỹ. Hiện nay, vì có nhiều vụ tai nạn gây ra bởi pháo hoa, nhiều tiểu bang đã cấm bán pháo hoa. Bởi kinh doanh sụt giảm, ông ta chuyển sang bán thẻ gọi điện thoại. Gần đây ông ta cũng đến Redmond để nhận quán đảnh cúng khói trực tiếp từ tôi.

Sau khi về nhà, ông ta khởi đầu thực hành cúng khói và không lâu sau, ông ta đã nhìn thấy kẻ thù kiếp trước đứng cạnh ông ta, nhận cúng dường từ ông ta và rời đi* (khán giả vỗ tay).* Cùng lúc đó, ông ta đã nhìn thấy vài con nhện bò ra từ đầu ông ta và nhiều sinh vật trông lạ lùng đi ra từ người ông ta thông qua các lỗ chân lông. Đột nhiên, những bệnh tật và chỗ đau từng hành hạ ông ta hết luôn. Còn công việc kinh doanh thì sao? Vào thời điểm này, chúng ta vẫn chưa biết kết quả lâu dài của nó. Tuy vậy, ông ta cảm thấy là đã nhận được những linh ứng tốt từ việc thực hành này.

Một đệ tử khác từ Nam Thái Bình Dương, Lianhua Dongchu, cũng đã đến Redmond để nhận quán đảnh cúng khói. Ông ta đã vướng vào kiện tụng và mất doanh nghiệp. Bởi vì vi phạm hợp đồng với một tập đoàn tài chính lớn, ông ta đã bị kiện, phá sản và bị đi tù. Khi trở về nhà, ông ta lập tức tiến hành cúng khói.

Sau khi làm chỉ một lần cúng khói, tập đoàn tài chính lớn đó, chủ động theo ý họ, đã quyết định rút kiện tụng. Sau khi cúng khói lần thứ hai, bản án tù của ông ta được gỡ bỏ, và thay vào đó, ông ta chỉ phải trả một khoản phạt bồi thường nhỏ. Ông ta vốn đã phá một số thỏa thuận trong hợp đồng này và đã bị kiện cho từng điều khoản. Cuộc đời của ông ta vốn dĩ coi như xong.

Sau lần cúng thứ ba, một vài đối tác từ công ty cũ của ông ta đã họp lại và yêu cầu ông ta làm giám đốc. Mặc dù ông ta không có tiền, các đối tác sẵn sàng bỏ tiền ra vô điều kiện và trao cho ông ta vị trí này. Tất cả những việc này xảy ra sau ba lần làm cúng khói. Vì vậy, thực hành cúng khói này không phải là một thực hành giản đơn, chớ coi thường. Nói đơn giản là cực kì hiệu nghiệm!

🌟

**Cúng khói giúp tìm được công việc**

Chúng ta biết rằng nhiều người trải qua thời gian rất khó khăn để tìm việc làm ở Seattle và ở nước Mỹ. Mọi người lo lắng về quá trình phỏng vấn.

Đây là một chuyện cười tôi từng được nghe kể trước đây. Một người đàn ông muốn xin một công việc làm bảo vệ ở khách sạn. Khi người quản lý hỏi anh ta xem anh ta có kinh nghiệm gì không, anh ta trả lời rằng tất nhiên là anh ta có kinh nghiệm rồi. Sau đó anh ta nhìn bên trái rồi nhìn bên phải, nhìn thấy một tên say rượu đang đi loạng choạng về phía anh ta. Không nói không rằng, anh ta chạy đến bên gã nọ, nhấc bổng gã lên, ném xuống đất và với một cú đá, đá văng người đàn ông ra khỏi cửa. Người xin việc này quay lại và nói với người quản lý: "Hãy xem đó, với tất cả kinh nghiệm của tôi, ông chắc chắn là nên thuê tôi làm. Tôi muốn gặp giám đốc của ông." Người quản lý lúc này trả lời, "À, cũng hơi khó đấy, bởi vì giám đốc vừa mới bị đá ra ngoài cửa rồi." *(khán giả vỗ tay)*

Bài học trong câu chuyện này là gì? Nếu người xin việc này đã thực hành cúng khói trước khi đi phỏng vấn, anh ta sẽ không tình cờ gặp giám đốc và đá ông ta ra khỏi cửa như vậy! Thực hành này có thể chuyển biến một tình huống dường như không may xảy đến thành một chuỗi những sự kiện bất ngờ thú vị.

Vì vậy, ở đây tại Seattle, dù bạn đang tìm việc hay tìm kiếm nhân viên, thì cái đầu tiên có vẻ khó hơn, làm sao bạn giải quyết được điều này? Giờ bạn đã có giải pháp tốt rồi đó - thực hành cúng khói. Sau khi thực hiện pháp này, khi bạn đi phỏng vấn, nhiều chúng sinh vô hình sẽ theo bạn và giúp bạn.

Khi ông chủ nhìn thấy bạn, thậm chí nếu bạn đi khập khiễng, bạn sẽ gợi nhớ ông ta về người bạn gái cũ đang nhảy điệu Tango và ông ta sẽ thấy bạn thật hấp dẫn. Trên thực tế, nhiều quý cô ở chùa chúng ta đây đã quá tuổi thanh xuân, nhưng nếu bạn thực hành cúng khói trước cuộc phỏng vấn, khi người phỏng vấn nhìn thấy bạn, ông ta sẽ thấy rằng bạn gợi cho ông ta nhớ đến mẹ ông. Dù mặt bạn có thể bị béo múp với hai cằm đi nữa thì chẳng có lý gì ông ta sẽ không thuê bạn vào.

Do vậy, có rất nhiều lợi ích từ việc cúng khói, đây là một thực hành thiết thực. Với thực hành này, bạn sẽ tăng trưởng niềm tin và quyết tâm đạt được giác ngộ. Hãy nhớ rằng, mỗi người trong chúng ta khởi đầu con đường tu Phật pháp với phương pháp được cho là thiết thực đối với thế giới trần tục.

Ngày nay, nhiều ngôi chùa, tăng và ni đang giúp đỡ chúng sinh bằng cách áp dụng những phương tiện thiết thực hoặc khéo léo. Không thể nào khởi động ngay lập tức bằng phương pháp quá thần thánh. Dùng các thực hành thế gian trước để tăng niềm tin, sau đó mới dạy các cấp độ tiếp theo của Phật pháp linh thiêng.

🌟

**Từ tầm thường đến siêu phàm**

Ở Đài Loan có vài tổ chức Phật giáo lớn, và họ đều dùng các phương tiện thiết thực để giúp đỡ chúng sinh. Ban đầu, một số đã dùng du lịch để thu hút mọi người, xây dựng  những ngôi chùa lớn và hoành tráng với các tượng Phật đẹp đẽ, các địa điểm có phong cảnh đẹp. Các xe buýt du lịch lần lượt đến, đưa người đến tham quan du lịch và họ mua vé cho những bữa ăn chay và cũng bỏ tiền công đức. Những gì khởi đầu là hình thức du lịch đã trở thành một tổ chức Phật giáo lớn. Ngày nay, các ngôi chùa cũng phải áp dụng phương pháp thiết thực này để thu hút nhiều người đến với Phật giáo hơn.

Một phương pháp thiết thực khác là thông qua các phòng khám miễn phí. Một số các đệ tử của tôi là bác sĩ, và họ có thể thành lập một nhóm y khoa cung cấp dịch vụ y học miễn phí ở các vùng nông thôn. Từ đó họ cũng có thể chia sẻ một chút về Phật giáo và thu hút những người này đến các chùa để nghe giảng pháp. Những thứ khởi đầu là các phòng khám nhỏ có thể phát triển thành các bệnh viện lớn. Đây cũng là một phương pháp rất khéo léo. Biết cách quản lý một doanh nghiệp là một việc rất quan trọng khi quản lý một ngôi chùa để giữ cho tổ chức hoạt động tốt.

Do vậy, có cả khía cạnh cá nhân và tập thể đối với thực hành này. Vào thời của Đức Phật Thích Ca, một người tu hành tập trung trước tiên vào tu tập cá nhân. Sau khi nghe Phật giảng, mỗi người trở về hang riêng của mình để thiền định để đạt đến Phật tâm.

Ngày nay, khi bạn tu hành ở đây tại Seattle Lôi Tạng Tự, tôi cũng sẽ bảo bạn đi về nhà và đọc kinh Phật, làm một phòng thực hành tại nhà, và thiền định. Để thực hành con đường Mật thừa, bạn nên tiến hành các thực hành nghi quỹ hàng ngày và tụng chú cũng như tên của chư Phật. Nếu bạn thấy nhà mình quá ồn ào, bạn có thể tìm một ngôi chùa ở xa trên núi để làm nơi ẩn cư, hoặc đến Cầu Vồng Lôi Tạng Tự để ẩn tu. Lựa chọn này rơi vào nhóm những người theo đuổi thành tựu xuất thế gian.

Tuy nhiên, các ngôi chùa cần có các hình thức thương mại để truyền bá Phật pháp. Trong quá khứ tôi từng nhấn mạnh việc tu tập cá nhân. Còn đối với các hoạt động công cộng, tôi chỉ khuyên mọi người vào các ngày thứ Bảy đến Lôi Tạng Tự hoặc các phân đường ở địa phương để thực hành tu nhóm. Và tôi cũng nhận thấy rằng việc này cũng khá là khó để mở rộng các giáo đoàn và truyền bá Phật pháp đến những người khác. Chúng ta phải theo kịp xu thế thôi.

Chúng ta hãy cùng xem một trong những tổ chức lớn ở Đài Loan và xem họ đã xây dựng từ những ngày đầu thế nào. Một tổ chức thì bắt đầu bằng du lịch, một thì từ phòng khám y khoa, một thì bằng cung cấp giáo dục, một cái khác thì thông qua truyền thông, và một cái khác thì thông qua hoạt động từ thiện. Khi những người tham gia tăng lên theo số lượng và niềm tin của họ được củng cố mạnh mẽ rồi, lúc này bạn có thể dạy bước tiếp theo trong việc theo đuổi tâm linh Phật pháp của cá nhân. Tôi nghĩ cách tiếp cận này rất có ích đối với Chân Phật Tông của chúng ta. Vì thế hãy bắt đầu với giáo dục và xây một trường học. Bắt đầu với y học và lập ra một phòng khám bệnh miễn phí ở các cộng đồng nông thôn. Bắt đầu bằng từ thiện, và đầu tiên bạn phải phục vụ những ngôi làng và thị trấn quanh bạn. Bạn không thể tách biệt và cách ly khỏi cộng đồng của bạn. Bạn không thể làm như vậy.

🌟

**Tham gia vào cộng đồng của bạn**

Do vậy, bạn phải khiến cho các Lôi Tạng Tự tham gia với cộng đồng và thành phố của bạn và đưa ra các dịch vụ cho họ. Bằng cách này, mọi người sẽ đến chùa của bạn và bạn có thể giúp họ. Không đúng khi giữ thái độ rằng "tôi là người tu tập linh thiêng nên sẽ không giao tiếp với người phàm trần". Tất cả các tổ chức tôn giáo thành công đã khởi đầu bằng những sự cố gắng thế gian rồi sau đó phát triển đến cung cấp những thực hành tâm linh cho thành tựu cá nhân. Phật pháp chính là nên như vậy, sự kết hợp giữa các tổ chức kinh doanh thế gian với những người tu hành Phật giáo thần thánh. Ở đây tôi muốn kêu gọi mọi người - tất cả các chùa và phân đường địa phương phải tạo gốc rễ vững chắc trong cộng đồng của mình, hiểu những nhu cầu và khó khăn của địa phương và đề nghị giúp đỡ với các phương tiện thiết thực. Sau khi các cá nhân đã quy y Phật giáo, hãy dạy họ các thực hành tâm linh. Mọi người, các pháp sư, và tất cả các đồng môn, những gì tôi vừa nói có hợp lý không? *(khán giả vỗ tay).*

Tất nhiên chúng ta không chỉ giới hạn ở bệnh viện, trường đại học, đài truyền hình hay du lịch chùa chiền. Chúng ta đồng thời phải chú ý đến mục tiêu cao nhất cuối cùng là đạt được thành tựu tâm linh. Nếu bạn chỉ cố thuyết phục người khác theo đạo của mình thông qua truyền hình hay các phương tiện truyền thông khác, mở trường học, phòng khám hoặc tổ chức từ thiện với các phương pháp thiết thực mà quên mất việc dạy mọi người Phật pháp linh thiêng, điều này hoàn toàn là sai. Phải có sự hợp nhất giữa "phương tiện thiết thực" và "sự sáng suốt".

Lòng trắc ẩn và sự sáng suốt, sự tầm thường và sự siêu phàm, phải được hợp nhất. Phật pháp phải vừa tầm thường vừa siêu phàm và chúng ta phải giúp mọi người tăng trưởng niềm tin và đạt được thành tựu tâm linh của mình. Đây là sự hợp nhất của "Giai đoạn phát triển - tích lũy" và "Giai đoạn hoàn thiện". Không có sự tách biệt giữa Luân hồi và Niết bàn. Đây là "tinh chất của hợp nhất". Trong khi Bổn tôn của tôi ở Tây phương Cực Lạc, tôi ngồi ở đây hôm nay ở trên pháp tọa để giảng pháp, đây chính là một minh họa của "phương tiện thiết thực." Việc tôi đi khắp thế giới để giảng pháp thuần túy là biểu hiện của "phương tiện thiết thực." Thành tựu về sự hoàn thiện chân thực nằm ở trạng thái của Chư Phật và Chư Bồ Tát. Bạn có hiểu lời giải thích này không? *(khán giả vỗ tay).*

Thực sự, chúng ta vẫn làm chưa đủ đối với lĩnh vực nỗ lực thế gian. Từ bây giờ, chúng ta nên tạo ra sự cân bằng trong sự phát triển của cả thành tựu thế gian và xuất thế gian. Hãy nhớ, cả hai đều quan trọng.

Om mani padme hum.


### Cúng khói Hỏi và Đáp


❓**Câu hỏi 1: **Các đệ tử có thể nhận quán đảnh từ xa pháp cúng khói được không?
**Đáp:** Có thể được. Hãy viết thư đến Tổng hội Chân Phật Mật Pháp Seattle và cầu thỉnh Sư Tôn quán đảnh từ xa.

**Tổ chức Chân Phật Tông
**17102 NE 40th Ct.,
Redmond, WA 98052, USA

❓**Câu hỏi 2: **Đệ tử đã nhận quán đảnh Cúng lửa (homa) có thể làm cúng khói được không?
🌟 **Đáp:** Trong buổi lễ ban phước mùa xuân vào 16/2/2008, Sư Tôn đã đích thân quán đảnh cúng khói và giải thích rằng đây là một quán đảnh riêng khác biệt với quán đảnh homa.

❓**Câu hỏi 3: **Khi thực hành cúng khói đến Chư Phật và Bồ Tát, đệ tử có thể để lư hương ở ban công được không?
🌟 **Đáp:** Được, miễn là đó là nơi không khí lưu thông tốt.

❓**Câu hỏi 4: **Có thể dùng cùng một lư hương đó để cúng khói cho kẻ thù kiếp trước và cho Chư Phật Bồ Tát không?
🌟 **Đáp**: Được.

❓**Câu hỏi 5: **Tôi có phải "kiết giới" (Dharma Boundary) trong khi tu hành cúng khói không?
🌟 **Đáp:** Thực hiện Hộ thân cũng tương tự với tạo kiết giới.

❓**Câu hỏi 6: **Ngoài việc để lư hương ở gần cửa sổ hoặc ở ban công, cúng khói có thể được thực hành ở ngoài trời không? Tôi có cần phải "kiết giới" không?
🌟 **Đáp:** Cúng khói có thể làm ở ngoài trời được. Thực hiện hộ thân cũng tương tự với tạo kiết giới... (Bạn cũng có thể rắc một ít nước được trì chú đại bi để tịnh hóa khu vực xung quanh nơi bạn làm thực hành.)

❓**Câu hỏi 7: **Hỗn hợp bột cúng khói có bắt buộc phải làm thành dạng miếng bánh tròn dẹt hoặc que dài không?
🌟 **Đáp:** Không bắt buộc. Miễn là bạn trộn tất cả các nguyên liệu với nhau như hướng dẫn của Sư Tôn và đốt chúng để tạo ra khói là đủ rồi.

❓**Câu hỏi 8: **Tất cả vật phẩm cúng khói phải được dùng hết trong một lần không? Nó có thể được dùng lại lần thứ hai không? Tôi làm gì với tro sau khi cúng khói?
🌟 **Đáp:** Đúng, tất cả vật phấm cúng khói phải được dùng hết trong một lần. Nó không thể dùng lại được. Tro còn lại có thể được chôn xuống đất sạch như bãi cỏ.

❓**Câu hỏi 9: **Các đệ tử cần làm gì khi khói tắt trong khi đang làm cúng khói?
Đáp: Điều then chốt của cúng khói là tạo ra khói liên tục. Nếu khói tắt, hãy cho thêm hương vào để đốt lại.

❓**Câu hỏi 10: **Các đệ tử cần làm gì nếu có lỗi trong thực hành cúng khói, chẳng hạn như không đủ năng lực quán tưởng, quán tưởng không rõ ràng, hoặc có suy nghĩ phân tán?
🌟 **Đáp:** Tụng chú 100 âm để sửa cho những sai sót mắc phải.

❓**Câu hỏi 11: **Bước nhập định có bắt buộc trong cúng khói không?
🌟 **Đáp:** Cúng khói không yêu cầu bước nhập định. Đệ tử có thể nhập định vào Quan Thế Âm Bồ Tát Tứ Thủ nếu thích. Đây là tùy ý.


### Ghi chú về cúng khói


- Khi thực hành cúng khói đến chư Phật, đặt lư hương ở bàn thờ. Đệ tử nên hướng mặt về bàn thờ khi tu tập. Khu vực đó cần được thông thoáng để khí dễ dàng lưu thông.

- Khi thực hành cúng khói cho kẻ thù tiền kiếp, đặt lư hương ở ban công, cạnh cửa sổ hoặc ở ngoài trời. Đệ tử phải quay mặt vào lư hương khi tu tập.

- Khi thực hành cúng khói đến chư Phật theo nhóm, bạn cần dùng lư hương to hơn. Nếu bạn cúng khói cho kẻ thù tiền kiếp theo nhóm, mỗi cá nhân phải dùng lư hương riêng của mình và quán tưởng kẻ thù tiền kiếp của chính mình.

- Bạn không thể thực hành cúng khói thay cho người khác. Việc này chỉ được phép trong một số trường hợp như người đó là thành viên trong gia đình, sống cùng nhà với bạn, hoặc sống gần nơi bạn ở.


### Ghi chú riêng bởi người ghi chép


*Ghi chú này dựa trên sự quan sát và ghi chú của tác giả trong video giảng pháp của Sư Tôn ngày 16/2/2008. Đây không phải là bản dịch trực tiếp từ một nguồn tài liệu được viết ra bởi Chân Phật Tông. Ghi chú này đặc biệt được chuẩn bị cho những hành giả tu tập nói tiếng Anh bởi vì tại thời điểm bài viết này, chưa có bản văn tiếng Hoa nào.*

**Lịch sử**

Vào ngày 16/2/2008 khi Sư Tôn, Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, lần đầu tiên giới thiệu và truyền pháp Cúng Khói, ngài đã nói rằng có nhiều thủ tục phức tạp và ý nghĩa tượng trưng Mật giáo phía sau thực hành này. Do thời gian có giới hạn, ngài đã tóm tắt thực hành lại thành thực hành cơ bản nhất. Phần tiếp theo của cuốn sách này sẽ minh họa từng bước làm cụ thể. Để đảm bảo sự chính xác của bản văn thực hành, nhiều giải thích biểu tượng được đưa ra bởi Sư Tôn tại buổi pháp hội đã được lược bỏ.

Sư Tôn đã từ bi trao truyền giảng dạy pháp cúng khói để giúp các đệ tử thanh lọc bản thân, tăng trưởng phước lành và may mắn. **Đây là một thực hành thuận tiện hơn và ít cầu kì hơn so với cúng lửa (homa).** Các đệ tử phải được Sư Tôn quán đảnh pháp cúng khói trước khi thực hành.

🌟

**Lợi ích của pháp thực hành cúng khói của Chân Phật Mật Pháp như sau:**

- Trợ giúp các đệ tử giải quyết các chướng ngại nghiệp cá nhân đối với ma quỷ, linh hồn, chủ nợ và kẻ thù tiền kiếp bằng việc cúng dường 5 món đồ tốt lành dưới dạng khói. 

- Khích lệ đệ tử tăng trưởng phước nghiệp và giá trị tốt lành bằng cách thường xuyên cúng dường đến Chư Phật Chư Bồ Tát với 5 món đồ tốt lành dưới dạng khói.  

- Trợ giúp đệ tử đạt được thành tựu vật chất và tinh thần viên mãn trong cuộc sống, tu tập tâm linh bằng cách tích lũy nghiệp quả tốt lành và đẩy nhanh tốc độ giải quyết các chướng ngại nghiệp quả.

- Cung cấp cho đệ tử cơ hội thực hành một phương pháp cúng dường tuyệt vời mà lại dễ dàng thuận tiện, với yêu cầu vị trí đơn giản và làm với mật độ bao nhiêu là tùy vào ý muốn.

🌟

**Nguyên liệu cho pháp cúng**

- Lư hương: không cần thiết phải mua một cái lư hư riêng biệt cho thực hành này. Bất kì lư hương đã sử dụng nào cũng phù hợp miễn là có lỗ ở trên cho khói thoát ra ngoài. Một cái lư hương cũ trước tiên cần được tịnh hóa bằng hương ở bàn thờ. Kích thước của lư hương phụ thuộc vào số lượng nguyên liệu mà bạn muốn đốt và cúng dường. Thực hành này vốn được thiết kế cho cá nhân. Do vậy, một cái lư hương nhỏ là đủ cho cá nhân sử dụng. Tuy nhiên, bạn sẽ cần một cái lư hương to hơn khi định tiến hành thực hành với một nhóm người.

- Hình dạng của bột ngũ cốc: bột ngũ cốc phải bao gồm đủ 5 loại nguyên liệu dễ cháy trộn lẫn với nhau cùng vài giọt sữa và bơ. Nặn nó thành các hình tròn nhỏ cho vừa lư hương tròn. Hoặc nặn nó thành que dài để vừa lư hương dài. Tuy vậy, không nhất thiết phải nặn cúng phẩm này thành bất kì hình dạng nào cả.

🌟

**Các thủ tục cụ thể của thực hành**

- Chuẩn bị hỗn hợp bột ngũ cốc: liên tục niệm "Om Ah Hum" và "Ram Yam Kham" khi bạn làm và chuẩn bị bột ngũ cốc. 

- Lựa chọn vị trí cho thực hành: vị trí tùy theo bạn cúng khói cho ai. Nếu bạn thực hành cúng khói cho Chư Phật và Bồ Tát, bạn nên để lư hương ở bàn thờ với tất cả cửa sổ trong phòng được mở. Bạn sẽ thực thành hoàn toàn trong phòng thờ. Nếu bạn thực hành cúng khói cho ma quỷ linh hồn và kẻ thù tiền kiếp, bạn phải đặt lư hương ở bên ngoài ví dụ như ban công. Bạn sẽ tiến hành toàn bộ bài thực hành quay mặt ra ngoài ban công. Nhớ rằng phải có đủ không khí lưu thông để khói có thể thoát ra ngoài.           

- Tiến hành nghi lễ cúng khói: Quyết định xem bạn sẽ cúng dường cho Chư Phật Chư Bồ Tát hay cho ma quỷ linh hồn, kẻ thù và chủ nợ tiền kiếp. Nếu cúng dường tới Phật Bồ Tát, bạn sẽ thực hành vào buổi sáng trong khoảng 5h-9h sáng. Nếu cúng dường cho ma quỷ linh hồn và kẻ thù chủ nợ tiền kiếp, bạn sẽ thực hành vào buổi tối trong khoảng 5h-9h tối.  

- Bổn tôn của pháp cúng khói là Quan Thế Âm Bồ Tát Tứ Thủ.

🌟

**Ý nghĩa biểu tượng Mật giáo**

- Các nguyên liệu dễ cháy:
  - Vải 5 màu: giúp cho các kẻ thù và chủ nợ tiền kiếp có thể nhận được và mặc những quần áo đẹp đẽ nhiều màu sắc.
  - Đường trắng và đường nâu: giúp cho kẻ thù chủ nợ tiền kiếp nếm được vị ngọt ngào. Sau khi ăn được đồ ngọt, sự tức giận, hận thù và lòng báo thù hướng về người tu tập sẽ được giải quyết.     

- Việc tụng 4 lời thệ nguyện vô lượng: dành tình yêu từ bi và sự bình thản đến các kẻ thù và chủ nợ nghiệp. Ngay khi những vết thương và đau khổ của họ dịu xuống do nhận được bốn lời thệ nguyện vô lượng của bạn, họ sẽ vui vẻ chấp nhận 5 món cúng dường tốt lành, và kết quả sẽ để cho bạn được yên.  

- Quán tưởng khói: Khi khói đang tỏa ra từ lư hương, bạn quán tưởng nó biến thành 5 thứ cúng dường tốt lành. Quán tưởng Chư Phật và Bồ Tát, hoặc linh hồn và kẻ thù tiền kiếp vui vẻ nhận cúng dường. Việc quán tưởng biểu thị một cách biểu tượng mong muốn dâng tặng 5 món đồ tốt lành của bạn đến họ. Nếu bạn cúng dường Chư Phật và Bồ Tát, các vị sẽ hoan hỉ chấp nhận đồ cúng dường và ban phước cho bạn có nhiều may mắn và nghiệp quả tốt lành. Nếu bạn cúng dường cho ma quỷ, linh hồn, kẻ thù và chủ nợ tiền kiếp, họ sẽ hoan hỉ chấp nhận đồ cúng dường và gạt bỏ đi những mối hằn thù đối với bạn và để bạn được yên.       

- Niệm "Ôm, ah-bu-la-ti, pu-ba-yê, sô-ha" và bật ngón tay 7 lần: con số 7 có ý nghĩa tâm linh là hoàn thiện và viên mãn. Ý nghĩa biểu tượng của niệm mantra và bật ngón tay 7 lần là thể hiện sự hoàn thành viên mãn trong tâm linh. Bạn đã thỏa mãn tâm linh những ham muốn của tất cả ma, quỷ, linh hồn, kẻ thù và chủ nợ tiền kiếp để họ có thể hoan hỉ đạt được sự hoàn thiện tâm linh trên tinh thần của 4 lời thệ nguyện vô lượng.

- Niệm "Om Ah Hum. Ram Yam Kham": "Om" để biến số lượng những món đồ cúng dường thành (các nguyên liệu dễ cháy) thành số lượng khổng lồ. "Ah" để tịnh hóa số lượng nhiều vô cùng đó. "Hum" để cho phép toàn bộ số lượng khổng lồ đồ cúng tốt lành có được pháp vị. Thêm vào đó, bạn niệm Ram Yam Kham. "Ram" ám chỉ khói thoát ra từ lư hương. "Yam" là gió thổi vào. "Kham" ám chỉ gió phân tán số lượng khổng lồ vật phẩm cúng dường vào khoảng không gian bao la vô tận.

**(Hết)**

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/cuu-nguc-nan-do-mau.md
# Title: Cứu Ngục Nạn Độ Mẫu
---

![image](/img/img_eaa1fe9e10159ffbf5adb8df33fe79ad.jpg)



## Cứu Ngục Nạn Độ Mẫu


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Nghi quỹ làm Hộ Ma Cứu Ngục Nạn Độ Mẫu:


1. Nhập đàn niệm chú thanh tịnh (ngồi trước lò Hộ Ma)

1. Chú triệu thỉnh.

1. Đại lễ bái. (quán tưởng đại lễ bái)

1. Chân Phật tứ quy y pháp.

1. Mặc bia giáp hộ thân.

1. Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (1 -3 biến)

1. Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư.

Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-sâng sít-đi hùm. (21 biến)

Quán tưởng Liên Sinh Hoạt Phật và tổ sư các đời giáng lâm phóng quang.

1. Triệu thỉnh Thánh Độ Mẫu giáng lâm.

A. Thủ ấn triệu thỉnh: thủ ấn Lục Độ Mẫu. (như trên)

B. Niệm chú: Ôm ta-rê tu-ta-rê tu-rê sô-ha. (108 biến)

Độ Mẫu tổng chú: Ôm ta-rê tâng-mu sô-ha. (108 biến)

Cứu Ngục Nạn Độ Mẫu chú: Ôm ta-rê tu-ta-rê tu-rê ma-ma sa-ơ-wa lan-cha tu-chinh chua-ta xin-tâng-mu gu-ru sô-ha.

1. Quán tưởng Cứu Ngục Nạn Độ Mẫu hạ giáng, một đầu hai tay, thân màu đỏ, đầu đội mũ Ngũ Phật nhỏ, trên đỉnh có một vị Hóa Phật, tay phải kết ấn ban nguyện, tay trái cầm hoa sen, trên hoa sen có móc sắt. Cứu Ngục Nạn Độ Mẫu ngồi tùy ý trên hoa sen tam cánh, toàn thân trang điểm bằng chuỗi vòng ngọc, phóng quang giáng xuống.

1. Chân Phật đại cúng dường pháp.

1. Kết giới. Vẩy nước chú vào bốn xung quanh lò Hộ Ma.

1. Châm lửa.

1. Bỏ cúng phẩm vào lò đốt: đồ cúng và gỗ hỏa cúng, v.v…
(Chủ đàn Hộ Ma, vừa bỏ cúng phẩm vào lò đốt, vừa niệm chú Cứu Ngục Nạn Độ Mẫu, vừa quán tưởng Cứu Ngục Nạn Độ Mẫu đi vào trong lửa Hộ Ma, thụ hưởng đồ cúng. Người ngồi xung quanh kết ấn Lục Độ Mẫu, cùng niệm chú Cứu Ngục Nạn Độ Mẫu.)

1. Tĩnh tọa, nhập Tam ma địa: quán tưởng Cứu Ngục Nạn Độ Mẫu phóng quang chiếu đến đến người thỉnh cầu, tất cả mọi điều mong cầu đều được như ý nguyện, ví dụ giải trừ kiện cáo thì quán tưởng từ móc sắt phóng ra ánh sáng đỏ chiếu đến người cầu nguyện, khi ánh sáng đỏ chạm đến họ thì tất cả hình phạt lao tù hay kiện cáo đều tiêu trừ biến mất, bản thân hành giả Chân Phật tắm trong ánh sáng đỏ.

1. Xuất định. Hồi hướng:

Nguyện công đức lễ Hộ Ma này hồi hướng cho ABC, địa chỉ ở tại…, sinh vào giờ… ngày… tháng… năm… Thỉnh cầu Cứu Ngục Nạn Độ Mẫu uy đức từ bi, vì người này tiêu trừ nạn kiện cáo lao tù, xin nương nhờ Cứu Ngục Nạn Độ Mẫu từ bi, thành tâm cầu nguyện. (Nói 3 lần.)

1. Niệm:
Nguyện tất cả những ai tu trì đều mau chóng được thành tựu viên mãn.
Nguyện tất cả điều mong cầu mau chóng như ý nguyện.
Nguyện các tai nạn kiện cáo lao tù của ABC đều được đẩy lùi tiêu tan.

1. Chú viên mãn.(3 biến)

1. Đại lễ bái, rời khỏi đàn pháp.

Cát tường viên mãn.

---
# File: nghi-quy-tu-tap/cuu-phung-pha-ue-phap.md
# Title: Cửu phụng phá uế pháp
---

![image](/img/img_b8feae5e925b95b8c352c48a6c212af0.png)



## Cửu phụng phá uế pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Nghi quỹ


Trước tiên, thỉnh cầu Căn bản Thượng sư gia trì: 

Đầu tiên quán không, sau đó quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật trụ ở đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì tâm chú Liên Hoa Đồng Tử 7 biến, cầu nguyện tu pháp viên mãn.

Tiếp theo, làm quán tưởng tứ vô lượng tâm. Làm thủ ấn đánh thức (vỗ tay hai lần, bắt chéo hay tai, búng ngón tay). 

1. Chú thanh tịnh và An thổ địa chân ngôn.

1. Chú triệu thỉnh.

1. Đại lễ bái.

1. Đại cúng dường.

1. Tứ quy y.

1. Đại sám hối.

1. Tứ vô lượng tâm.

1. Mặc bia giáp hộ thân.

1. Phát bồ đề tâm.

1. Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (1 biến) và Chú vãng sinh. (7 biến)

1. Tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư.
Ôm gu-ru lién-sâng sit-đi hùm. (108 biến)

1. Kết ấn và quán tưởng.
Kết ấn: ấn Cửu phụng
Hai tay đan ngoại phộc, ngón út tay trái giấu vào trong lòng bàn tay, ngón út tay phải dựng thẳng.
Quán tưởng: Đầu tiên quán không, niệm chú quán không. 
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng.
(1) Quán tưởng trong hư không có chín con chim phượng hoàng đang bay. Hoặc quán tưởng chín con chim phượng hoàng kết hợp lại, đại diện cho Cửu Phụng Phá Uế Đại Tướng Quân. Cửu Phụng Phá Uế Đại Tướng Quân một thân có chín đầu hoặc một thân một đầu.
(2) Lấy một ly nước đun sôi để nguội, hơ ấm trên lư hương, sau đó đặt trước bàn thờ thần, chắp tay cung kính niệm chú Cửu phụng phá uế: 
*Cửu phụng ngao tường
Phá uế thập phương
Kim đồng tiếp dẫn
Ngọc nữ thị bàng
Bái yết Tôn Đế
Triều lễ Ngọc Hoàng
Bách tà đoạn tuyệt
Khước trừ bất tường.
Đệ tử…. cung kính thỉnh Cửu Phụng Phá Uế Đại Tướng Quân tốc giáng thiên cang, tinh tà vong hình. Thiên tướng thần sứ, kính hạ vân cang. Tinh di Đẩu chuyển, liễm diễm tam quang. Tôn ngô phù lệnh, thanh tịnh thập phương, cấp cấp như Kim Mẫu Thiên Tôn luật lệnh nhiếp!*
(3) Tay phải kết kiếm quyết, phân biệt trước sau trên cốc nước, vẽ vào hư không trên cốc nước 4 chữ sau:
  1. Chữ “vũ huyên” (雨晅), sau đó trong miệng niệm thầm chú ngữ: “Ôm wa-zư-la chuyn-cha-li sô-ha. Cẩn thỉnh Nhật Cung Thái Dương Uất Nghi Đế Quân. Giáng bố chân khí nhập thần thủy.”
  1. Chữ “vũ nguyệt nhục” (雨月肉), sau đó trong miệng niệm thầm chú ngữ: “Ôm wa-zư-la pô-la nu-li sô-ha. Cẩn thỉnh Nguyệt Phủ Thái Âm Kết Lân Tinh Quân. Giáng bố chân khí nhập thần thủy.”
  1. Chữ “vũ hỏa đẩu” (雨火斗), sau đó trong miệng niệm thầm chú ngữ: “Ôm hùm hùm chuyn-cha-li sô-ha. Cẩn thỉnh Thiên Cang Tử Vi Tinh Quân. Giáng bố chân khí nhập thần thủy.”
  1. Chữ “vũ sát” (雨煞), sau đó trong miệng niệm thầm chú ngữ: “Thiên sát. Địa sát. Niên sát. Nguyệt sát. Nhật sát. Thời sát. Dương sát. Âm sát. Nhất thiết yêu tà quỷ túy. Phùng sát tự sát.”
Chắp tay lại hát tụng rằng: 
*Cửu phụng ngao tường
Phá uế thập phương
Kim đồng tiếp dẫn
Ngọc nữ thị bàng
Bái yết Tôn Đế
Triều lễ Ngọc Hoàng
Bách tà đoạn tuyệt
Khước trừ bất tường.*

1. Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa.

1. Xuất định.

1. Trì thêm những tâm chú khác.

1. Niệm Phật
Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)

1. Hồi hướng.

1. Bách tự minh chú. (3 biến)

1. Đại lễ bái.

1. Chú viên mãn.
Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.

**Lưu ý:**

1. Đầu tiên vẽ phù, hòa vào trong cốc nước.

1. Khi gia trì, đặt cốc nước này trước mặt.

1. Muốn vẽ phù phải nhận quán đảnh vẽ phù.


### Tác dụng vi diệu của một cốc nước Cửu phụng phá uế


1. Tu xong pháp Cửu phụng phá uế, cầm cốc uống cạn, thân khẩu ý của người này sẽ biến thành thanh tịnh, có thể tiêu trừ nghiệp chướng tiền kiếp, tiêu trừ được tham sân si vọng tưởng, tăng tốc tu tập thành tựu. Tu Tiên thành Phật đều có thể được.

3. Người có bệnh thông thường uống vào, bệnh nhẹ sẽ khỏi hoàn toàn, bệnh nặng cũng có thể thuyên giảm, ngoại trừ những người có nghiệp chướng quá sâu nặng thì tất cả đều có thể biến dữ hóa lành.

4. Có thể tịnh hóa hung trạch, loại bỏ tà pháp.

Tác dụng của một cốc nước pháp này vô cùng đặc biệt. Ví dụ một miếu chùa Đạo giáo thông thường bị tà ma ác linh thông thường đến chiếm giữ, chỉ cần dùng nước pháp này dùng tay búng vẩy nước ra rồi niệm bốn câu yết cáo:

*"Tịnh thiên thiên thanh
Tịnh địa địa linh
Tịnh nhân trường sinh
Tịnh quỷ diệt vong."*

Thì lập tức miếu chùa này biến trở thành một nơi tu hành thực sự thanh tịnh.

Chùa, cung, quán, đường thường xuyên có pháp sư xấu tính đố kỵ, có pháp sư xấu tính xua quỷ quấy phá, thì Cửu phụng phá uế tịnh thủy là khắc tinh của tà ma ác linh, nước pháp này có hiệu ứng lớn, không thể xem thường.

Ngoài ra, có những ngôi nhà không bình an, ví dụ có một số ngôi nhà trước đây từng có người bị chết thảm, oan hồn cư ngụ trong nhà lâu không rời đi, ngôi nhà có hướng không hợp với người ở, phòng ốc tồi tàn… Thậm chí có kiến trúc sư tâm thuật xấu xa, cố tình yểm hại, thì dùng Cửu phụng phá uế tịnh thủy này. Lấy ngón tay vẩy nước khắp phòng, ác linh sẽ tự nhiên bỏ chạy, quang minh hiển hiện, ma thuật đen sẽ mất linh, phòng ốc không hợp hướng cũng sẽ trở thành bình an. Pháp này là đại pháp, nghìn vàng khó cầu, vạn tiền khó mua, chủ yếu nhờ có Thái Dương Tinh Quân, Thái Âm Tinh Quân, Tử Vi Tinh Quân, tam quang giáng xuống bao phủ mà thành.

Tiếp nữa, người bình thường tu trì pháp Cửu phụng phá uế, tu xong pháp này, cầm cốc uống cạn, thân khẩu ý của người này sẽ biến thành thanh tịnh, có thể tiêu trừ nghiệp chướng tiền kiếp, tiêu trừ được tham sân si vọng tưởng, tăng tốc tu tập thành tựu, có hy vọng tu Tiên thành Phật. Người có bệnh thông thường uống vào, bệnh nhẹ sẽ khỏi hoàn toàn, bệnh nặng cũng có thể thuyên giảm, ngoại trừ những người có nghiệp chướng quá sâu nặng thì tất cả đều có thể biến dữ hóa lành, giống với nước chú Đại bi của Phật môn. Hiệu ứng của nước thần này như hình theo bóng, thật sự có kỳ tích.

Tôi cảm thấy có rất nhiều người học Phật hoặc người tu Đạo, đều muốn tu trì diệu pháp tối cao tối thắng, tuy học nhiều pháp nhưng đến cuối cùng không biết tu pháp gì là tốt nhất, cũng sẽ trở thành không biết phải theo cái nào. Thật ra học pháp quan trọng nhất là bền lòng. Chỉ cần tu một pháp, nhưng duy trì lâu dài thì không có cái lý không thành công. Cho dù học nghìn kinh vạn điển mà không thể dùng được cho mình thì nghìn kinh vạn điển chỉ như khói mây bay qua mắt, cuối cùng chỉ là một đống rác mà thôi. Giả như có người tu trì theo pháp Cửu phụng phá uế tịnh thủy, ngày ngày tu tập, năm này qua năm khác, tu không gián đoạn, hành giả này nhất định sẽ thăng lên thiên giới. Nếu hành giả này có nguyện vọng tái thế làm người, người này kiếp sau sẽ tự nhiên trở thành quý nhân cực phẩm.


### Chú ngữ:


*Cửu phụng ngao tường
Phá uế thập phương
Kim đồng tiếp dẫn
Ngọc nữ thị bàng
Bái yết Tôn Đế
Triều lễ Ngọc Hoàng
Bách tà đoạn tuyệt
Khước trừ bất tường.*
Đệ tử…. cung kính thỉnh Cửu Phụng Phá Uế Đại Tướng Quân tốc giáng thiên cang, tinh tà vong hình. Thiên tướng thần sứ, kính hạ vân cang. Tinh di Đẩu chuyển, liễm diễm tam quang. Tôn ngô phù lệnh, thanh tịnh thập phương, cấp cấp như Kim Mẫu Thiên Tôn luật lệnh nhiếp!


### **Phù thức:**



![image](/img/img_7194e595754b3a601453fa58c262e784.png)



### **Thủ ấn: Ấn cửu phụng**



![image](/img/img_e4b78cb73797763a4cc0d062d987b871.jpg)


Hai tay đan ngoại phộc, mười ngón tay đan vào nhau tựa như đôi cánh phượng hoàng, duy có ngón út tay trái giấu vào trong lòng bàn tay, chín ngón tay tượng trưng cho chín đầu phượng hoàng. 


### **Công đức của pháp**


Sư Tôn giải thích chủ tôn của pháp Cửu phụng phá uế là Cửu Phụng Đại Tướng Quân, nguồn gốc của ngài là từ Diêu Trì Kim Mẫu, pháp tọa của Diêu Trì Kim Mẫu là cỗ xe cửu phụng, tức là hai bên mỗi bên có bốn con phượng hoàng, bản thân Kim Mẫu đội mũ phượng trên đầu, như vậy tổng cộng là chín con chim phượng hoàng. 

Nước Cửu phụng phá uế có công đức trừ uế, xua tà, khử độc, chữa bệnh ngoài da và kết giới thanh tịnh. Trên pháp tọa, Sư Tôn từng tụng chú Cửu phụng phá uế là: 

*Cửu phụng ngao tường
Phá uế thập phương
Kim đồng tiếp dẫn
Ngọc nữ thị bàng
Bái yết Tôn Đế
Triều lễ Ngọc Hoàng
Bách tà đoạn tuyệt
Khước trừ bất tường.
Đệ tử…. cung kính thỉnh Cửu Phụng Phá Uế Đại Tướng Quân tốc giáng thiên cang, tinh tà vong hình. Thiên tướng thần sứ, kính hạ vân cang. Tinh di Đẩu chuyển, liễm diễm tam quang. Tôn ngô phù lệnh, thanh tịnh thập phương, cấp cấp như Kim Mẫu Thiên Tôn luật lệnh nhiếp!*

(”Luật lệnh nhiếp” cũng có thể đọc là “luật lệnh cương”). 

Niệm “cấp cấp như luật lệnh” vốn là một dạng triệu thỉnh. Căn bản Thượng sư khi làm Hộ Ma tại Đài Loan Lôi Tạng Tự thường làm kết giới cho bốn cọc của lò đốt hỏa cúng, thường tụng: “Ma ha bát nhã ba la mật, Om mani padme hum. Chu ly. Cấp cấp như luật lệnh.” Ở trong câu chú này có Diêu Trì Kim Mẫu, Bồ Tát thừa, Quan Âm Tứ Thủ, uy lực vô cùng.

Khi làm nước Cửu phụng phá uế, đầu tiên lấy một cái cốc đựng nước sạch, dùng ba ngón tay: ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa của tay trái nâng cốc (thủ ấn cái vạc), tay phải kết kiếm ấn, vẽ phù “Liên Sinh sắc lệnh Cửu phụng phá uế thủy tịnh”, đồng thời niệm chú Cửu phụng phá uế, quán tưởng chín con phượng hoàng đi vào trong nước hoặc nước dãi của chín con phượng hoàng rơi vào trong nước là thành. Nếu không vẽ phù “Liên Sinh sắc lệnh Cửu phụng phá uế thủy tịnh” (như hình vẽ) thì dựa theo những gì Sư Tôn đã viết trong văn tập “Thông linh bí pháp thư”, viết bốn chữ “vũ huyên” (雨晅), “vũ nguyệt nhục” (雨月肉), “vũ hỏa đẩu” (雨火斗), “vũ sát” (雨煞) cũng được. 

Trong pháp phù này, chữ “vũ” đại diện cho “linh”. Có chú, ấn, hình tượng thì có thể tu trì pháp Cửu phụng phá uế. Người tu pháp tương ứng rồi có thể chữa bệnh, thanh tịnh kết giới, phá tà trừ ma, cuối cùng thăng lên Diêu Trì tiên cảnh của Đại La Kim Tiên Diêu Trì Kim Mẫu.


### Liên Sinh Hoạt Phật truyền thụ tâm yếu khẩu quyết


Hôm nay làm quán đảnh pháp Cửu phụng phá uế. Cửu phụng là một loài chim, bản thân xưng là Cửu Phụng Đại Tướng Quân. Nguồn gốc của Cửu Phụng có quan hệ với Diêu Trì Kim Mẫu, Diêu Trì Kim Mẫu cưỡi cỗ xe cửu phụng, ở trên ghế của ngài, bên này có bốn con chim phượng hoàng, bên này cũng có bốn con chim phượng hoàng, trên đầu ngài có một con chim phượng hoàng nữa, cho nên gọi là Cửu Phụng và có quan hệ với Diêu Trì Kim Mẫu. Chú ngữ cũng có liên quan đến Diêu Trì Kim Mẫu, bản thân ngài có năng lực phá uế. Tôi nhớ là trước đây tôi từng nói rồi, dùng nước Cửu phụng có thể chữa các bệnh ngoài da, bản thân nước Cửu phụng cũng có thể bài trừ chất độc, tức là bài trừ những thứ ô uế ra ngoài. Ngoài ra nó còn có thể dùng để kết giới, trong nước này có công năng kết giới. Nói chung, lợi ích của nước Cửu phụng là kết giới, phá uế và loại bỏ những bệnh tật trên thân thể, nhất là bệnh về da.

Trước kia tôi từng viết chú Cửu phụng phá uế, tôi tóm lược lại một cách đơn giản, sự tóm lược này đã đủ rồi, không nhất định phải niệm toàn bộ chú ngữ, chính là: 

*Cửu phụng ngao tường
Phá uế thập phương
Kim đồng tiếp dẫn
Ngọc nữ thị bàng
Bái yết Tôn Đế
Triều lễ Ngọc Hoàng
Bách tà đoạn tuyệt
Khước trừ bất tường.
Đệ tử…. cung kính thỉnh Cửu Phụng Phá Uế Đại Tướng Quân tốc giáng thiên cang, tinh tà vong hình. Thiên tướng thần sứ, kính hạ vân cang. Tinh di Đẩu chuyển, liễm diễm tam quang. Tôn ngô phù lệnh, thanh tịnh thập phương, cấp cấp như Kim Mẫu Thiên Tôn luật lệnh cang (nhiếp)!*

Mọi người phỏng theo cuốn sách Liên Sinh Phù là sẽ có được phù thức Liên Sinh sắc lệnh cửu phụng phá uế thủy tịnh. Khi niệm chú ngữ này, có một thủ ấn, tôi kết cho mọi người xem. Có thủ ấn, có chú ngữ, chú ngữ này giống như một lời cầu thỉnh, sau đó là “cấp cấp như luật lệnh”, giống như tôi thường niệm. Còn khi kết giới thì tôi thường niệm *“Ma ha bát nhã ba la mật. Om mani padme hum. Chuy-li. Cấp cấp như luật lệnh.”*, chính là để gia trì cho bốn cái cột ở bốn góc lò Hộ Ma. Trong câu chú này có chú ngữ của Diêu Trì Kim Mẫu, Bồ Tát thừa, Quan Âm Tứ Thủ. 

Còn hôm nay thì là chú ngữ này: 

*Cửu phụng ngao tường
Phá uế thập phương
Kim đồng tiếp dẫn
Ngọc nữ thị bàng
Bái yết Tôn Đế
Triều lễ Ngọc Hoàng
Bách tà đoạn tuyệt
Khước trừ bất tường.
Đệ tử…. cung kính thỉnh Cửu Phụng Phá Uế Đại Tướng Quân tốc giáng thiên cang, tinh tà vong hình. Thiên tướng thần sứ, kính hạ vân cang. Tinh di Đẩu chuyển, liễm diễm tam quang. Tôn ngô phù lệnh, thanh tịnh thập phương, cấp cấp như Kim Mẫu Thiên Tôn luật lệnh cang (nhiếp)!*

Khi niệm chú ngữ này phải kết thủ ấn (Sư Tôn thị phạm), ở đây có ý nghĩa là chim phượng hoàng, chim phượng hoàng đang bay, chỉ có chín cái đầu thôi, vì một cái đầu giấu ở bên trong. Bởi vì là cửu phụng cho nên chỉ có chín cái đầu, đây chính là thủ ấn của ngài. Trước kia tôi chưa từng truyền dạy, mọi người đã nhìn rõ chưa? Chính là chín cái đầu, một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy, tám, chín, chính là thủ ấn này. Hôm nay tôi đặc biệt nói với mọi người về thủ ấn, chú ngữ và hình tướng của ngài, bạn có thể quán tưởng chín con chim phượng hoàng đang bay trong hư không, như vậy cũng được. Thứ hai, có thể kết hợp chín con chim phượng hoàng này lại thì chính là Cửu Phụng Đại Tướng Quân, thì chỉ có một cái đầu, một chim phượng. Nếu bạn cho rằng chín con chim phượng sao lại chỉ có một đầu, bởi vì khi thành một đầu thì đại diện cho Cửu Phụng Đại Tướng Quân. Bạn quán tưởng thân mình của một con chim phượng hoàng, quán tưởng ngài có chín cái đầu, chính là cửu phụng; còn Cửu Phụng Đại Tướng Quân thì có một đầu. Quán tưởng chín con chim phượng hoàng thì có chín cái đầu. Thật ra một cái đầu cũng được, chín cái đầu cũng được, đây là một Đạo pháp, một pháp của Đạo giáo, có thủ ấn, có chú ngữ, lại có phù lục, còn có hình tướng của ngài, vậy sẽ trở thành một loại Mật pháp. Bạn có thể tu như vậy, trực tiếp tương ứng với Cửu Phụng Đại Tướng Quân hoặc với chín con chim phượng hoàng, sau này tuyệt đối có thể thăng lên Diêu Trì tiên cảnh.

Diêu Trì Kim Mẫu là Đại La Kim Tiên, tiên và thần không giống nhau, ở đây tôi phải giải thích với mọi người một chút. Tiên là phải có tu hành mới thành tiên, thần dựa vào chính nghĩa mà được làm thần, cũng tức là bạn đã chết rồi, nhưng con người bạn cực kì tốt, vừa có chính khí vừa có chính nghĩa, bạn có thể xưng thần, giống như Ngũ Phủ Thiên Tuế, toàn bộ Ngũ Phủ Thiên Tuế này đều đến từ Trung Quốc Đại Lục, đó là sự anh dũng của họ, lòng chính nghĩa ái quốc của họ, cho nên họ mới xưng thần, đó là thuộc về thần. Thần xưng là có đại lực, có pháp lực lớn mới gọi là thần. Thế còn quỷ? Có tiểu lực, có sức mạnh nhỏ thì gọi là quỷ, sức mạnh lớn thì gọi là thần. 

Thế còn tiên thì khác, tiên là có tu hành mới thành tiên, cho nên, tiên và thần bạn phải phân biệt rõ ràng. Cái gọi là thành tiên là dựa vào sức mạnh tu hành mới có thể thành tiên. Cái gọi là thần tức là khi bạn làm người, bạn vô cùng công chính, vô cùng liêm minh, lại có chính khí, đó mới gọi là thần. 

Thế còn quỷ? Quỷ là khí còn sót lại của con người, con người chết rồi để lại một khối khí, hơi có sức mạnh, cho nên chúng ta gọi là linh hồn, không gọi là thần. Mọi người phải phân biệt rõ ràng thần, quỷ, tiên. [Trong ngữ cảnh ở Việt Nam thì quỷ ở đây tức là hồn ma, là linh hồn.] Nếu là ma thì sao? Thế thì lại càng khác, có thiên ma, có ngũ uẩn ma, có phiền não ma, có tử ma, ma thì lung tung lộn xộn, cũng tức là tu hành một cách hỗn loạn, hoặc là tâm đố kỵ rất mạnh, hoặc là ghen tuông một cách ghê gớm thì đó mới hình thành ma. Tuy rằng có tu hành nhưng tâm đố kỵ lại vô cùng mãnh liệt thì sẽ trở thành ma.

Phật và ma chỉ khác nhau một chút xíu thôi, rất kiêu ngạo thì trở thành ma, cho nên điều này giống hệt với Cơ Đốc giáo, Cha - Con - Thánh linh. Cha tức là gọi Thượng Đế, Con chính là Jesus, Thánh linh chính là thiên sứ. Trong kinh Thánh đã viết vì sao Lucifer lại trở thành ma? Bởi vì hắn nói hắn luôn luôn ở dưới Thượng Đế, hắn là do Thượng Đế tạo ra, hắn rất không cam lòng. Hắn cho rằng bản thân mình lúc nào cũng phải ở vị trí thứ ba, “Vì sao ta không thể ở vị trí thứ nhất chứ?”. Hắn rất ngạo mạn, hễ ngạo mạn là sẽ trở thành ma, cho nên, người tu hành phải hiểu, hễ bạn ngạo mạn, quá ngạo mạn thì sẽ thành ma. 

Trong Mật giáo có thuyết về cha con, cha đại diện cho sư phụ, tâm tử là biểu thị người này là đệ tử mà sư phụ yêu thích nhất, đệ tử bình thường thì đều là con. Khi bạn quá ngạo mạn, bạn nói: “Tôi muốn đứng đầu.” Thế thì bạn sẽ thành ma. Bạn muốn vượt qua Sư Tôn, bạn ở bên cạnh tôi học xong các thứ, đột ngột bạn nghĩ: “Ta mãi mãi là đệ tử của Sư Tôn, như thế làm sao mà được? Ta phải to hơn Sư Tôn…” Thế là xưng làm Đại Sư Tôn, Sư Tôn là Sư Tôn, anh ta xưng làm Đại Sư Tôn, như thế là thành ma rồi, bởi vì quá tự phụ rồi, không thể được. Cho nên người tu hành không được ngạo mạn, nếu quá ngạo mạn sẽ thành ma. Tài năng rất tốt, đức hạnh cũng rất tốt, sau này bạn sẽ thành Phật, điều này rất quan trọng. Trong kinh Cựu Ước cũng nói như vậy, hắn biến thành ma, nguyên nhân chính là ở đây, tâm của hắn đã rơi mất rồi, tâm xấu xa rồi, thì sẽ thành ma.

Tôi lại nói một chút về pháp Cửu phụng phá uế. Vừa rồi nói về tu pháp, chưa nói đến nước. Vâng, cái cốc này là nước, đây là thủ ấn cái vạc (đỉnh ấn - Sư Tôn thị phạm), mọi người biết làm thủ ấn cái vạc không. Bạn cầm thế này thì không phải là ấn cái vạc, đây là cái cốc, bạn phải dựng ngón tay lên giống như núi. Cái vạc chính là núi, cầm chắc cái cốc ở đây. Sau khi bạn niệm chú Cửu phụng, khi thỉnh cầu nước Cửu phụng, bạn phải niệm chú ngữ, tay phải kết thủ ấn, thủ ấn này gọi là kiếm ấn. Bạn dùng pháp cầu nước Cửu phụng, nếu bạn vẽ phù lên trên nước ở trong cốc, sau đó lại trì chú, quán tưởng chín con chim phượng hoàng đi vào trong nước, hoặc là nước dãi của cửu phụng, nước miếng ở bên trong miệng của chúng nhỏ vào trong nước, thì nước này sẽ biến thành nước Cửu phụng. Dùng kiếm ấn vẽ phù “Liên Sinh sắc lệnh Cửu phụng phá uế thủy tịnh” là được rồi. Bạn phải quán tưởng cửu phụng đi vào bên trong cốc, hóa thành nước, hoặc là ngài há miệng ra để cho nước dãi nhỏ vào trong nước, như vậy sẽ biến thành nước Cửu phụng. Cách cầu nước Cửu phụng là như vậy, nhưng phải niệm chú ngữ, kết thủ ấn, quán tưởng cửu phụng đến, cốc nước đặt như thế này, sau đó dùng kiếm chỉ vẽ phù trên mặt nước là được. Trước kia tôi cũng từng viết một chữ “vũ”,  “vũ” trong pháp phù là cái gì? Mọi người có biết không? Chính là linh trong từ linh cảm. Có mấy chữ, hình như là ở bên này. 

Viết mấy chữ này lên trên mặt nước, nước này cũng sẽ rất có tác dụng. Quán tưởng cửu phụng đi vào trong nước, nếu bạn không vẽ lá phù này của Sư Tôn thì chỉ cần viết lên mặt nước mấy chữ, đó cũng sẽ là nước Cửu phụng. Như vậy mọi người đã hiểu chưa?

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---
# File: nghi-quy-tu-tap/cuu-thien-tai-do-mau-niem-tung-phap.md
# Title: Cứu Thiên Tai Độ Mẫu niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_ce4927cd58ce4958e1007d1b44a1f10a.jpg)



## Cứu Thiên Tai Độ Mẫu niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


(1) Quán Không.

(2) Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (7 biến)

(3) Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

(4) Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Nhất tâm phụng thỉnh: Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Cứu Thiên Tai Độ Mẫu.

(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)

Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê. 

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_6bff359df0238988bd3529469a03dc02.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn Cứu Thiên Tai**** Độ Mẫu**

Tay phải kết ấn thí vô úy, lòng bàn tay hướng ra ngoài. Tay trái kết ấn nâng tịnh bình, lòng bàn tay hướng lên trên.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời xanh vạn dặm không mây, một nguyệt luân từ mặt biển nhô lên, trong nguyệt luân có một chủng tử chữ “Tang” màu xanh lục, tỏa ra ánh sáng xanh lục. Chữ “Tang” xoay tròn hóa thành Cứu Thiên Tai Độ Mẫu.

(2) Quán tưởng Cứu Thiên Tai Độ Mẫu một đầu hai tay, trên đỉnh đầu có A Di Đà Phật, thân màu xanh lục, tay phải kết ấn thí vô úy, tay trái nâng bông hoa upala, trên bông hoa có chày kim cang chữ thập, chân phải duỗi ra dẫm lên bông hoa sen, chân trái cong lại, ngồi trên tòa hoa sen. Ngài mặc thiên y và đeo đủ loại trang sức.

(3) Quán tưởng thiên tâm của Cứu Thiên Tai Độ Mẫu phóng ra một vệt ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả. Từ họng ngài phóng ra một vệt ánh sáng đỏ chiếu thẳng đến họng của hành giả. Tâm luân của ngài phóng ra một vệt ánh sáng xanh lam chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng trắng, đỏ, lam tan vào thân tâm của hành giả. 


### Phần 14: Trì tâm chú Cứu Thiên Tai Độ Mẫu


Tâm chú: 

Ôm ta-rê tu-ta-rê tu-rê ma-ma sa-ơ-wa ya-ya-ma-ha ha-na-pa-ya xin-tâng-mu gu-ru sô-ha. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Tang), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Cứu Thiên Tai Độ Mẫu, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định.

**Tụng tán:**

Đóa sen vi diệu hiện yết ma Đại Kim Cang
Hào quang chiếu khắp diệt tận mọi thiên tai
Quốc thái dân an chúng sinh gặp ân huệ
Quy y tôn kính trước Cứu Độ Phật Mẫu. 


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hum.


![image](/img/img_029d2b3a16cebbbaef9d6347d952db0a.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Cứu Thiên Tai Độ Mẫu


Cứu Thiên Tai Độ Mẫu một đầu hai tay, trên đỉnh đầu có A Di Đà Phật, thân màu xanh lục, tay phải kết ấn thí vô úy, tay trái nâng bông hoa upala, trên bông hoa có chày kim cang chữ thập, chân phải duỗi ra dẫm lên bông hoa sen, chân trái cong lại, ngồi trên tòa hoa sen. Ngài mặc thiên y và đeo đủ loại trang sức.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị khẩu quyết tu pháp Cứu Thiên Tai Độ Mẫu


**Pháp chấn động đất:**

Lấy đất của 5 hướng, tu pháp 108 đàn, sau đó trả đất về chỗ cũ.

Đến miền cực Đông, miền cực Tây, miền cực Nam, miền cực Bắc, miền Trung của một đất nước và lấy ở mỗi nơi đó 1kg đất, sau đó đặt trước đàn thành cứu thiên tai. Tu 108 đàn pháp Cứu Thiên Tai Độ Mẫu, mỗi đàn trì 108 biến chú ngữ, sau đó kết thủ ấn Cứu Thiên Tai Độ Mẫu. Mọi người cùng nhau tu cũng được, hoặc mỗi cá nhân tự tu cũng được. Sau khi tu pháp xong thì gia trì cho số đất này, rồi trả đất về lại nơi ban đầu, lấy 1kg đất thì trả về 1kg đất. Như vậy khu vực trong phạm vi này sẽ không có động đất.

**Pháp phòng lũ lụt:**

Lấy đất của sông lớn, tu pháp xong thì rắc đất về sông.

Lấy đất của biển hoặc đất ven sông. Lấy đất ở các dòng sông ở miền Đông, miền Nam, miền Tây, miền Bắc và miền Trung, hễ là đất của sông lớn thì đều lấy được, và bạn cũng tu pháp giống như trên. Tu pháp xong thì lại trả đất về, đất của sông nào trả về sông đó, như vậy sẽ không gặp lũ lụt. Tuy nhiên không thể dựa vào mỗi Cứu Thiên Tai Độ Mẫu mà cũng cần phải làm tốt công tác thủy lợi để nước có thể chảy đến các kênh rạch, sông nhỏ, suối nhỏ, và nước có thể nhanh chóng chảy về sông lớn, như vậy thì mới có thể thật sự giải trừ được họa về nước.

**Pháp cứu hỏa hoạn:**

Dùng Cửu tự chân ngôn và kết ấn Tứ tung ngũ hoành để diệt lửa.

Thủ ấn: ấn Tứ tung ngũ hoành (4 nét dọc, 5 nét ngang)

Cửu tự chân ngôn: Lâm, binh, đấu, giả, giai, trận, liệt, tại, tiền.

Dùng ấn Tứ tung ngũ hoành, niệm Cửu tự chân ngôn tổng cộng lặp lại 3 lần. Nếu ở nơi đó đúng lúc gặp hỏa hoạn thì vẽ ấn và đọc “lâm, binh, đấu, giả, giai, trận, liệt, tại, tiền” về phía ngọn lửa thì lửa sẽ dập tắt. Pháp này không chỉ chữa cháy mà còn có thể cứu người nữa.

**Pháp trấn bão:**

Tháp Tôn Thắng Phật Mẫu, chú của Tôn Thắng Phật Mẫu có thể trấn bão, và có cả chú của Cứu Thiên Tai Độ Mẫu cũng có thể trấn bão. 


![image](/img/img_cea553a7b9da6397b8b1768919527a10.jpg)


Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/cuu-tiet-phat-phong.md
# Title: Cửu tiết Phật phong
---

## Cửu tiết Phật phong


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Công đức tu pháp


Liên Sinh Hoạt Phật không quản ngại một lần nữa giải thích rõ về pháp Cửu tiết Phật phong. Thật ra, lợi ích thù thắng của pháp Cửu tiết Phật phong là không thể xem thường.

Pháp Cửu tiết Phật phong này có thể lần lượt khiến cho tất cả nghiệp chướng bệnh tật, phiền não vô minh đều hóa thành khí đen, theo hơi thở thoát ra ngoài.

Và pháp Cửu tiết Phật phong hít vào ánh sáng trắng, có thể tương ứng pháp thân Như Lai ở khắp mọi nơi, chính là sáu  đại không còn trở ngại, không-hữu viên dung, hấp thu lẫn nhau, mọi thứ đều tự tại, ở đây là dùng “phong đại” để gia trì cho lực của mình. Pháp thân Như Lai và hành giả có sự tương thông thần kỳ về hơi thở. Pháp Cửu tiết Phật phong là hít trắng thở đen, chính là nhận lấy ánh sáng của Phật, gột sạch tội chướng.

Hành trì pháp Cửu tiết Phật phong tức là hít vào ánh sáng trắng của sự dung hợp giữa công đức trí huệ và thần thông lực, đi vào trong thân hành giả, gột sạch tội chướng tất cả các đời của hành giả, máu mủ bệnh tật, vi khuẩn ô uế, những nơi tắc nghẽn đều thông, thậm chí tất cả bệnh ma, tất cả phiền não, tất cả vô minh, tất cả tình cảm yêu thương thầm kín cũng sẽ được Phật quang quét sạch, hóa thành khói đen, bài trừ ra ngoài cơ thể. Pháp này có đại pháp lực bất khả tư nghì.

Pháp Cửu tiết Phật phong có thể đắc tướng thanh tịnh, thân tâm thanh tịnh, đặc biệt là tướng thanh tịnh, bởi vì sau khi thân tâm thanh tịnh rồi thì tự nhiên có thể có đầy đủ mọi tướng đẹp trang nghiêm. Tu Cửu tiết Phật phong càng ngày càng có tướng trang nghiêm, là tướng từ bi vốn có của Phật Bồ Tát.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng vẫn còn có những lợi ích như sau:

1. Dùng quán tưởng để dừng vọng niệm, chính là “lấy niệm dừng niệm”.

1. “Lấy niệm dừng niệm” có thể đạt đến tinh thần thống nhất, đắc tâm pháp nhập định, tiến nhập kim cương tam muội. 


### Quán tưởng


Ngồi im, thân tâm thả lỏng. Đầu tiên quán tưởng thân thể mình trong suốt như thủy tinh, và bên trong thân thì có ba ống mạch thẳng đứng song song, rõ ràng như tận mắt nhìn thấy. Đoạn cuối của ba ống mạch này đều bắt đầu từ vị trí dưới rốn bốn lóng tay, ba ống giao nhau, mạch ở giữa thì trên to dưới nhỏ chống thẳng lên đỉnh não, hình dạng giống như cái kèn đồng. 

Mạch trái mạch phải và trung mạch song song đi lên trên đầu, sau đó bẻ về phía lỗ mũi. 

Sau khi quán tưởng rõ ràng như vậy, lại quán tưởng ánh sáng của chư Phật Bồ Tát đầy ắp hư không, thành ánh sáng trắng lớn, hành giả hít vào tức là đang hít ánh sáng trắng của chư Phật Bồ Tát. 

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen.
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen.
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen.
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).


### Nghi quỹ


Tu trì Cửu tiết Phật phong thông thường sẽ hành trì ở trước phần nhập Tam ma địa, để mở đường cho nhập Tam ma địa, đây là thói quen của tôi (Lư Sư Tôn), tôi cho rằng nó rất vừa phải. Ngày thường chúng ta cũng có thể luyện tập mọi lúc, lợi ích của nó rất đặc biệt, không thể mô tả hết.


### Khẩu quyết


Khẩu quyết lớn của pháp Cửu tiết Phật phong là chậm, mảnh, dài, vì sao? Đạo lý của nó là như sau:

Chậm — vì chậm nên mới có thể định tâm, chậm mới có thể tự tại, khí mới có thể tụ lại, khí tụ lại thì mới có thể thành lớn nhỏ, lớn nhỏ mới bắt đầu có thể thần biến.

Mảnh — vì mảnh nên mới có thể khéo léo, khéo léo mới có thể nhẹ nhàng, nhẹ nhàng thì có thể hoạt bát, ẩn mà lại có thể chạy xa, có thể tùy ý động tĩnh.

Dài — vì dài nên mới có thể nhập tĩnh, tĩnh rồi mới có thể thanh tịnh, thanh tịnh rồi mới bắt đầu có thể tùy ý, có thể đạt đến chỗ thắng lợi, có công đức thù thắng. 

Hít thở nhanh, thô, ngắn là hít thở của người bệnh trước khi chết. Còn khẩu quyết lớn của hít thở trong Mật pháp là chậm, mảnh, dài.

Chúng ta biết tám cách ngăn ngừa tai họa của thiền định, tức là lo, mừng, khổ, vui, tìm, đợi, thở ra, hít vào. Tám loại tai họa này là những cái họa bên trong tự thân của hành giả, có tám loại nhiễu loạn này thì không cách nào đạt đến Tứ thiền thiên được.

Vì vậy hô hấp, hít vào thở ra đầu tiên phải học chậm, mảnh, dài, cho đến khi hít thở ra vào giống như không hít thở, tức là đắc đại định Tam ma địa.


### Liên Sinh Hoạt Phật truyền tâm yếu khẩu quyết


**Sư Tôn khai thị pháp Cửu tiết Phật phong**

Hôm nay khi nhập Tam ma địa, có người nào làm Cửu tiết Phật phong không? À, mọi người đều làm Cửu tiết Phật phong. Bản thân tôi mỗi lần cũng đều làm Cửu tiết Phật phong. Cửu tiết Phật phong có ý nghĩa là lặp lại, chủ yếu nhất là dạy bạn làm sao tinh thần chuyên nhất. Bạn chỉ nghĩ đến màu sắc, khí hít vào thì là màu trắng, vào đến bên trong thân thể thì là màu đỏ, thở ra thì biến thành màu đen, nghĩ đến khi đi vào ra sao, đi ra ra sao.

Khi mới bắt đầu, phải quán tưởng Bổn tôn của bạn ở trước mặt bạn, khí bạn thở ra, khí bạn hít vào, thở ra hít vào tức là đang có sự giao lưu luân chuyển khí, luân chuyển thành vòng tuần hoàn, chính là biểu thị khí của bạn và Bổn tôn tương thông với nhau.

Thật ra, đây là một việc rất vĩ đại, các vị tổ sư đã đưa ra pháp này, ý nghĩa chủ yếu nhất chính là giao lưu với vũ trụ, sau đó, trong khi làm việc này thì huấn luyện sự chuyên nhất của bạn, bởi vì tinh thần của bạn hoàn toàn chuyên tâm vào việc vận chuyển khí, tức là luyện cho bạn chỉ nghĩ đến màu sắc, nghĩ đến hít thở, không nghĩ gì khác.

Sau khi bạn làm xong Cửu tiết Phật phong rồi, dòng chảy pháp sẽ đi vào, tràn đầy toàn thân bạn, đạo lý mà các tổ sư Tạng mật truyền pháp Cửu tiết Phật phong chính là ở đây, hoàn toàn là để huấn luyện tinh thần bạn thống nhất.

Kì thực, Cửu tiết Phật phong chính là sự giao lưu giữa vũ trụ và bạn - đại ngã và tiểu ngã. Việc này rất đơn thuần lại cũng rất đơn giản, bạn từ từ hiểu về nó, từ từ làm, bạn sẽ có thể nhập Tam ma địa. Từ hơi thở rất thô biến thành hơi thở rất mảnh, rồi lại biến thành hơi thở rất ẩn mật, trong vô hình bạn dung nhập vào vũ trụ. Chính là đạo lý này.

Phương pháp nhập Tam ma địa có rất rất nhiều, nhưng tôi cho rằng Cửu tiết Phật phong là một phương pháp rất hay. Cửu tiết Phật phong cực kì quan trọng. Tinh thần chuyên nhất!

Tinh thần của bạn rất dễ dàng tập trung thì bạn sẽ rất dễ có được dòng chảy pháp. Giả sử bạn chưa định được, suy  nghĩ cứ chạy lung tung, vậy thì đương nhiên không có cách nào có được dòng chảy pháp. Trước kia, Phật Thích Ca Mâu Ni ở trong đạo Bà La Môn, ngài ở Tuyết Sơn sáu năm, hai sư phụ của ngài đều rất thích ngài, vì ngài luôn dễ dàng tập trung tinh thần, rất dễ đến được Tứ thiền, thậm chí rất dễ đến được Phi tưởng phi phi tưởng xứ thiên. 

Vì vậy, trong giáo pháp chân chính của yoga Ấn Độ vẫn là từ thiền định, nhập môn từ việc luyện tinh thần chuyên nhất. Thật ra Phật môn cũng thế, thiền định bắt đầu từ tinh thần chuyên nhất. Du già tương ứng, thậm chí giao hòa lẫn nhau giữa vũ trụ, đều là bắt đầu từ tinh thần chuyên nhất.

Muốn tiêu trừ tạp niệm thì tiêu trừ thế nào? Vì bạn đã làm Cửu tiết Phật phong, tự nhiên tạp niệm của bạn sẽ tiêu trừ. Nếu bạn không làm thì bạn sẽ suy nghĩ lung tung ngay, đương nhiên tạp niệm của bạn sẽ chạy lung tung. Cho nên bất luận thế nào, người mới nhập môn nhất định cần làm Cửu tiết Phật phong. 

**Nhiều biến thành một, một biến thành không có gì.**

Khi làm Cửu tiết Phật phong, bạn nghĩ đến màu sắc, nghĩ đến hơi thở, nghĩ đến Bổn tôn, nghĩ đến sự ra vào của khí, sau đó khi dần dần tiến vào sự vi diệu, khi bạn quán tưởng xong thì tất cả đều trống rỗng, dòng chảy pháp sẽ đi vào. Nhiều biến thành một, một hóa thành không. Một hóa thành không tức là cái bình đã rỗng rồi, không khí sẽ ùa vào bên trong bình, chính là đạo lý này.

Nhiều biến thành một, một biến thành không, đây chính là khẩu quyết.

Nhiều, chính là chúng sinh.
Một chính là Phật.
Không chính là vũ trụ.

Nhiều biến thành một, một lại biến thành không, cũng tức là đã dung hòa làm một với vũ trụ rồi. Từ không biến thành một, tức là phật đi ra từ trong vũ trụ, một lại biến thành nhiều, tức là lại biến thành chúng sinh.

**Hồi hướng**

Khi chúng ta làm hồi hướng thì cũng như vậy, chúng ta hồi hướng tức là hồi hướng chúng sinh cho Phật, sau đó cầu Phật đến độ chúng sinh, đây là một dạng giao lưu. Hồi hướng chúng sinh thành Phật, sau đó cầu Phật đến độ chúng sinh, đây chính là hồi hướng.

Hôm nay tôi làm xong Cửu tiết Phật phong, toàn bộ dòng chảy pháp liền đổ xuống, liền dội lên đỉnh đầu. Thật ra khi niệm tâm chú A Di Đà Phật thì đã là đang tiếp nhận quán đảnh rồi. Khi niệm chú Vãng sinh, dòng chảy pháp đã tràn đầy rồi.

Cho nên, chúng ta tu hành, thứ nhất: tinh thần nhất định phải chuyên nhất, sau đó lại hóa thành không, tức là tan vào vũ trụ. Cửu tiết Phật phong, rất hay! Ngày thường bạn có thể luyện tập, chính là phương pháp tốt nhất để luyện tập tinh thần chuyên nhất.

Trước kia Sư Tôn đã từng nói bước khởi đầu quan trọng nhất của tu hành là Cửu tiết Phật phong. Mọi người đã thực hành Cửu tiết Phật phong rồi hay chưa? Ở Trung Quốc đại lục thì gọi là “nắm vững”, bạn đã nắm vững Cửu tiết Phật phong hay chưa? Trong số các bạn ai đã tập Cửu tiết Phật phong trên nửa năm xin giơ tay? Ai đã tu một năm? Tôi nhìn thấy có một người giơ tay. Pháp này khó có lắm đó! Người khác đều không có cách nào tu được pháp Đại viên mãn, Cửu tiết Phật phong chỉ là pháp cơ sở nhất của pháp Đại viên mãn thôi, các bạn chưa tu được nửa năm hoặc một năm thì nói Mật giáo cái gì chứ? Nói Nhị quán, Nội pháp cái gì chứ? Cửu tiết Phật phong, Kim cang tụng, Bảo bình khí, ba pháp này đều phải biết, tu khí thì đầu tiên phải tu Cửu tiết Phật phong. Bạn nói bạn tu khí mà không biết Cửu tiết Phật phong thì cơ bản là bạn đang bốc phét. 

Có một câu truyện cười thế này: “Chồng ơi, vì sao mỗi lần tắm xong em đều cảm thấy mình đặc biệt xinh đẹp hơn nhỉ?” Chồng liền trả lời: “Bởi vì não của em bị úng nước.” Vợ rất tức giận: “Cút!”

Thân thể của chúng ta nhất định phải “tấn khí”, bạn cho rằng đây chính là việc hít thở bình thường, không sai, đó là thổ nạp, thổ tức là thở ra, nạp tức là hít vào, học võ công cũng phải học thổ nạp, luyện khí chính là phải luyện thổ nạp. Cửu tiết Phật phong chính là hít thở hoàn toàn.

Tôi lại giảng lại một lần nữa về Cửu tiết Phật phong, tương đối kĩ càng, bình thường tôi rất ít khi giảng cho mọi người, tôi từng nói qua rồi, chỉ là một lúc sau là mọi người cho qua luôn. Khi bắt đầu, bạn ngồi thẳng ngay ngắn, ví dụ ngồi tư thế hoa sen, ngồi vắt một chân, ngồi vắt hai chân, ngồi tùy ý, bạn cần ngồi yên, giữ thân thẳng. Bạn hãy nhìn chính mình, bản thân mình chỉ là một cái vỏ mà thôi, toàn bộ bên trong đều rỗng, chỉ có một trung mạch đi từ lỗ đỉnh đầu đến mật luân. Ngoài ra còn có một mạch phải, từ lỗ mũi phải đi xuống đến tề luân, nối với trung mạch, rồi lại từ mạch trái đi lên đến lỗ mũi trái. Chính xác là như vậy, ở giữa thì thẳng, hai bên có mạch trái mạch phải, ba mạch gặp nhau ở vị trí luân xa rốn. 

Cửu tiết Phật phong tổng cộng có chín tiết, thật ra chỉ có ba điểm quan trọng, khi mới luyện không thể dùng ý nghĩ để kiểm soát hít và thở của mình, không có cách nào làm được, cho nên phải dùng ngón tay. Bạn quán tưởng Bổn tôn ở trước mặt, Bổn tôn chính xác là ở đối diện với bạn, ngồi tư thế giống như bạn. Mỗi người các bạn đều tu pháp Bổn tôn mà! Bạn quán tưởng lỗ mũi của Bổn tôn phóng ra ánh sáng trắng, từ lỗ mũi phải của bạn đi vào đến mạch phải, sau đó chuyển sang mạch trái và đi lên đến lỗ mũi trái và đi ra ngoài. Khi bắt đầu phải làm thế nào? Bạn cần tu mạch phải, vậy thì bạn lấy ngón tay út ấn vào lỗ mũi trái. Bạn quán tưởng lỗ mũi của Bổn tôn phóng ra ánh sáng trắng đi vào lỗ mũi phải của bạn, dùng ý nghĩ để tưởng tượng khí ở trong thân thể bạn đi một vòng đến mạch trái, từ mạch trái đi lên, sau khi đến lỗ mũi trái thì thở ra ngoài. Tiếp theo dùng ngón tay út ấn lên lỗ mũi phải, thả lỏng lỗ mũi trái mà vừa nãy bạn đã ấn vào, sau đó lại hít vào, động tác này là mảnh, chậm, dài. Rất mảnh! Rất chậm! Rất dài! Vì sao phải mảnh? Bởi vì mảnh thì mới có thể tinh. Dùng não của bạn để quán tưởng ánh sáng trắng, hít vào đi một vòng, đi ra thì biến thành ánh sáng đen, khí màu đen tản ra ngoài. Nếu là đi vào từ lỗ mũi trái thì ấn lên lỗ mũi phải (Sư Tôn thị phạm), thở ra thì là khí đen. Như vậy đây đã là hai tiết của Cửu tiết Phật phong rồi. 

Tiếp theo, bạn phải nhìn hai lỗ mũi của Bổn tôn đều hiện ra ánh sáng trắng, bạn hít ánh sáng vào, bạn ấn vào lỗ mũi, lúc này hai đường ánh sáng tập hợp lại tại tề luân, xung lên trung mạch, xung lên đỉnh, không thông ra ngoài cho nên lại đi xuống, rồi phân ra đi theo mạch trái mạch phải, thả lỏng hai tay, khí đi ra từ hai lỗ mũi, biến thành khí màu đen. 

Hồi thứ hai thì chính là đảo ngược lại, đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (Sư Tôn thị phạm). Tiếp theo lại đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (Sư Tôn thị phạm). Tiếp đó, đi vào từ hai lỗ mũi, rồi lại đi ra từ hai lỗ mũi (Sư Tôn thị phạm). 

Hồi thứ ba, từ hai lỗ mũi đi vào, từ hai lỗ mũi đi ra; từ lỗ mũi phải đi vào, từ lỗ mũi trái đi ra; cuối cùng từ lỗ mũi trái đi vào, từ lỗ mũi phải đi ra. Vậy tổng cộng là chín tiết. Mỗi một tiết đều làm cực kì mảnh, cực kì chậm, cực kì dài, thời gian cực kì dài. Mảnh, chậm, dài chính là bí quyết. Cái gọi là dài tức là hít thở hoàn toàn. Hít thở bình thường của chúng ta là khi hít vào chỉ đến ngực, sau đó lập tức thở ra. Cái gọi là hít thở hoàn toàn chính là giống như thế này (Sư Tôn thị phạm). Cần phải làm như thế này nửa năm đến một năm, lúc này, mỗi khi bạn hít khí vào đều sẽ có rất nhiều khí, có ba lần khí đều đi qua trung mạch, sau đó đi lên trên (xung đỉnh), rồi lại đi xuống, bởi vì bên trên không thông cho nên khí lại đi xuống, rồi đi ra từ hai lỗ mũi, đây chính là Cửu tiết Phật phong. 

Cửu tiết Phật phong có lợi ích gì? Đương nhiên có rất nhiều lợi ích. Thầy giáo hỏi học sinh: “Ở đây có hai con chim, một con chim én, một con chim sẻ, ai có thể chỉ ra con nào là chim én, con nào là chim sẻ?” Người nghiên cứu về chim sẽ biết chim sẻ và chim én rất dễ phân biệt, học sinh thì đương nhiên không hiểu. Học sinh nói: “Con không chỉ ra được, nhưng con biết đáp án.” Thầy giáo liền hỏi trò: “Trò cứ nói ra xem nào.” Học sinh nói: “Bên cạnh con chim én chính là con chim sẻ, bên cạnh con chim sẻ chính là con chim én.” Không hề sai mà! Câu trả lời này rất hay, mặc dù cậu học trò không nhận ra được thế nào là chim én, thế nào là chim sẻ. Bây giờ mạch trái, mạch phải cũng có cùng một vấn đề, nếu bạn hiểu phương pháp vận dụng Cửu tiết Phật phong, bạn cũng không cần phải để ý mạch trái, mạch phải, ấn lỗ mũi trái, chỉ cần quán tưởng Bổn tôn phóng ánh sáng trắng, từ lỗ mũi phải hít vào (Sư Tôn thị phạm), khí đầy ắp rồi, sau đó lại đi ra, ánh sáng trắng đi vào, khí đen đi ra. Ánh sáng trắng đi vào, thông qua toàn thân bạn, ánh sáng đen lại đi ra, tượng trưng cho nghiệp chướng của bạn, phiền não của bạn và mọi chướng ngại của bạn đều được thở ra toàn bộ. Ở đây chính là một phương pháp dùng khí để rửa sạch phiền não và nghiệp chướng của bạn. 

Cái này cần tu bao lâu? Cần tu nửa năm đến một năm. Bởi vì khi mới bắt đầu, bạn không có cách nào dùng ý niệm để điều khiển, giống như Sư Tôn bây giờ có thể dùng ý niệm để điều khiển, tôi quán tưởng Bổn tôn ở trước mặt, còn mình thì ở đây, thật ra tôi chỉ dùng một lỗ mũi để hít thở, ý niệm nằm tại lỗ mũi phải, hít vào, còn lỗ mũi trái thì đã đóng lại rồi, tôi có thể dùng phương pháp như vậy, cuối cùng thì tự do rồi. Đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải, đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái, đi vào từ hai lỗ mũi, đi ra từ hai lỗ mũi. Khi bạn có thể tự do vận dụng, bạn sẽ hiểu được bí quyết, tất cả đều biết hết. Bạn có thể dùng ý niệm để điều khiển khí, ánh sáng trắng đi vào từ lỗ mũi phải, đi một vòng, khí đen đi ra từ lỗ mũi trái; ánh sáng trắng đi vào từ lỗ mũi trái, đi một vòng, khí đen đi ra từ lỗ mũi phải; hai đường ánh sáng trắng đi vào từ hai lỗ mũi, đi một vòng, lên trên xung đỉnh, xuống dưới đến tề luân, lại đi một vòng, khí đen đi ra ngoài từ hai lỗ mũi. Nếu bạn thường xuyên mỗi ngày luyện hít thở hoàn toàn như thế này, thứ nhất, thân thể của bạn sẽ khỏe mạnh. Bạn đang hít thở hoàn toàn mà! Bạn không chỉ có hít thở bình thường, rất ngắn ngủn, hít thở của chúng ta bây giờ là rất ngắn, chỉ từ mũi đến phổi thôi, có khả năng chỉ đến được họng mà thôi, không đến được tề luân. Có thể đến được tề luân là hít thở hoàn toàn, sau đó bạn có thể hát như thế này, tức là dùng đan điền để hát. Bình thường chúng ta hát giọng gió là dùng họng để hát, bởi vì khí không đến được đan điền. Khi khí của bạn có thể đến đan điền, sau này bạn sẽ trở thành giọng nam cao, tề luân của bạn sẽ hát ra. Thân thể bạn sẽ khỏe mạnh, hít thở hoàn toàn chính là hít thở sâu. Chúng ta thường nói đi vào trong rừng sâu, hít thở bầu không khí trong lành, hít thở thật sâu, hít vào thật sâu rồi lại thở ra. Thật ra Cửu tiết Phật phong cũng giống như hít thở sâu, mỗi ngày bạn đều hít thở sâu, lúc này khí của bạn sẽ dần dần được bồi dưỡng, khí ở đan điền đã có rồi. Bạn dùng khí này thì có thể thông trung mạch, cho nên, Cửu tiết Phật phong là một pháp vô cùng quan trọng, tu Mật giáo không thể không có Cửu tiết Phật phong. 

Ngày xưa khi tôi dạy mọi người tu pháp, tôi đều có dạy người dẫn chương trình nói một câu: “Chúng ta tu Cửu tiết Phật phong sau đó nhập Tam ma địa.” Có không? Ngày xưa là như vậy. Bây giờ, người dẫn chương trình đã “rẹt”, cắt bỏ luôn rồi, trực tiếp nhập Tam ma địa luôn. Được! Nhập thế nào đây? Bởi vì bạn buộc phải tập trung tinh thần, bạn biết luyện “mũi phải vào, mũi trái ra, mũi trái vào, mũi phải ra, hai mũi vào, hai mũi ra”, là đang luyện cái gì không? Chính là luyện tinh thần thống nhất đó. Có chín lần luyện cho tinh thần tập trung, sau khi tinh thần bạn tập trung rồi thì mới có thể định được. Và định rồi thì mới có thể sản sinh trí huệ. Dạy mọi người làm Cửu tiết Phật phong sau đó nhập Tam ma địa là đúng, phải làm Cửu tiết Phật phong trước, để mọi người tập trung tinh thần. Bình thường bạn là người có tinh thần tán loạn, hoặc là người không dùng đến não, thường xuyên nghĩ lung tung, thầy giáo đang giảng bài, thần trí của bạn không rõ đã bay đi đâu rồi, có một loại bệnh là như vậy, tinh thần không cách nào tập trung được, luyện Cửu tiết Phật phong có thể chữa được bệnh này. Bạn dùng ý niệm để quán tưởng, phải - trái, trái - phải, cả hai; bên phải đi vào, bên trái đi ra, bên trái đi vào, bên phải đi ra, cả hai đi vào, cả hai đi ra; sau đó lại bên trái đi vào, bên phải đi ra, bên phải đi vào, bên trái đi ra, cả hai đi vào, cả hai lại đi ra; hai bên đi vào, hai bên đi ra, bên phải đi vào, bên trái đi ra, bên trái đi vào, bên phải đi ra. Nếu bạn thường xuyên làm như vậy, não bạn tập trung vào việc này, đây là kỹ thuật để tập trung tinh thần. 

Trong giờ lên lớp ở trường học, mắt nhìn giáo viên, tay không biết đang làm cái gì, có loại bệnh như vậy, bởi vì khi giáo viên đang bảo bạn điều gì đó, bạn căn bản không có cách nào tập trung tinh thần để nghe lời giáo viên giảng được, não bạn thường xuyên chạy đến nơi khác. Bạn luyện Cửu tiết Phật phong chính là bước đầu để luyện tinh thần chuyên nhất. Nếu không làm được kỹ thuật tập trung tinh thần này thì còn tu Nội pháp gì chứ? Nội pháp cũng không tu nổi đâu! Nội pháp chủ yếu là tu khí mà. Nhưng căn bản là bạn không có nguyên khí, cho nên Cửu tiết Phật phong là vô cùng quan trọng.

Chú ý: Đệ tử quy y Chân Phật Tông đều có thể tập Cửu tiết Phật phong. Nếu muốn, bạn vẫn có thể xin quán đảnh riêng pháp này.

---
# File: nghi-quy-tu-tap/dai-bach-tan-cai-phat-mau-niem-tung-phap.md
# Title: Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_b87be48f488792e690610b128fb400b8.jpg)



## Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Thỉnh cầu Căn bản Truyền thừa gia trì. Tay kết thủ ấn Căn bản Thượng sư, quán tưởng Căn bản Thượng sư phóng ba ánh sáng trắng, đỏ, lam chiếu đến hành giả, gia trì hành giả tu pháp viên mãn. Niệm chú Căn bản Thượng sư 7 lần. Niệm văn cầu thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật gia trì 1 lần.

- Quán tứ vô lượng tâm.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô chủ tôn tu pháp Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu. (x3)
Phụng thỉnh Ngũ phương Ngũ Phật.
Phụng thỉnh Bát Đại Bổn tôn.
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tát cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Mặc giáp hộ thân


Kết thủ ấn chắp tay kim cang, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cang thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Phụng thỉnh bát đại Bồ Tát
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Kim Cang Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Diệu Cát Tường Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.

Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ thất Phật. Vị lai hiền kiếp thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Niệm danh hiệu Phật sáu phương
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyệt Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Hết thảy chúng sinh trung ương, chư vị trong Phật giới, trú ngụ trên mặt đất, cho đến tại không trung, thương lo cho tất cả chúng sinh. Ai cũng an ổn tốt lành. Ngày đêm tu trì. Tâm thường cầu tụng kinh này. Diệt được khổ sinh tử. Tiêu trừ hết độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Tụng bản kinh không ngừng. Thất Phật Thế Tôn. Liền nói chú sau:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-lô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-ki-a-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha” (7 lần)

Mười phương Quan Thế Âm. Hết thảy chư Bồ Tát.
Đã thề cứu chúng sinh. Xướng danh tất giải thoát.

Nếu gặp người trí tuệ. Ân cần mà giảng nói.
Lại có đủ nhân duyên. Đọc tụng không ngơi nghỉ.
Tụng kinh tròn nghìn biến. Niệm niệm tâm không dừng.
Gặp lửa cháy chẳng sao. Việc đao binh cũng thoát.
Nóng giận thành vui vẻ. Chết rồi hóa sống vui.
Đừng nghĩ rằng không đúng. Chư Phật chẳng nói chơi.
Cao Vương Quan Thế Âm. Cứu được hết khổ nạn.
Lúc khó khăn nguy cấp. Người chết còn thành sống.
Chư Phật chẳng nói đùa. Vì vậy nên đảnh lễ.
Niệm tụng trọn nghìn lần. Tội nặng đều tiêu diệt.
Người có phúc tín tâm. Hãy chuyên tâm đọc tụng.

Nguyện mang công đức này. Gửi tới hết chúng sinh.
Tụng tròn một nghìn biến. Tội nặng đều tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (Hết)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha.  


### Phần 9: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 10: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_24d5ce8c65746abc8d6a8207940aea22.jpg)


**Kết ấn: **

Tay phải đặt năm ngón tay ngang bằng nhau, tay trái nắm lại và dựng thẳng ngón ttỏ, úp lòng bàn tay phải và đặt lên đầu ngón trỏ tay trái (giống như hình cái ô), và đặt ấn trước ngực.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán Không, niệm chú quán Không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

Quán tưởng toàn bộ hư không là màu trắng, có một vòng bánh xe chú, ở giữa có một chữ “Om” (tiếng Phạn). Chữ “Om” quay tròn hóa thành Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu, một đầu, hai tay, ba mắt, tay trái cầm ô, tay phải kết ấn thí nguyện. Cũng có thể quán tưởng Phật Mẫu ngồi tư thế kiết già trên đài hoa sen.

Quán tưởng nhập định:
Cha: Trong hư không hiển hiện Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu.
Hum: Phật Mẫu di chuyển đến phía trên đầu hành giả.
Ban: Ở vùng tim nở ra hoa sen trắng, ở giữa hoa sen có một chữ Om. Chữ Om phóng ra ánh sáng trắng ba lần. Lúc này Phật Mẫu từ từ tiến vào trong tim, sau đó Phật Mẫu từ từ biến to ra. 
Ho: Trong sát-na, chính mình biến thành Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu, bay lên hư không, biến hóa ra chiếc ô, quán tưởng chiếc ô phóng tỏa ánh sáng trắng che chở bảo vệ cho những người cần được bảo vệ, cho nơi ở hoặc thành phố.


### Phần 11: Trì tâm chú Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu đến trước mặt mình.

**Chú ngữ:**

Chú ngắn: Hùm ma-ma hùm ni sô-ha.(108 biến)
Chú dài: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta a-ni-ka si-ta-ta-pa-cha hùm pây hùm ma-ma hùm ni sô-ha.”


### Phần 13: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 

**Tụng tán:**

Mọi pháp đều không, không trụ tướng
Bạch Tản Cái Mẫu thân màu trắng
Một đầu hai tay ba con mắt
Thân khoác thiên y đội mũ miện
Trên mỗi tay chân một con mắt
Tay trái cầm ô, phải thí nguyện
Ngồi thế kim cang trên tòa sen.
Om benza samaya cha 
Cha hum ban ho hợp nhất thể
Từ trong chữ Om phát bạch quang.


### Phần 14: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-tê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 15: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 16: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 17: Hồi hướng


Gia trì tu pháp đạt thành tựu
Trăm bệnh tiêu trừ phúc huệ tăng
Mong cùng Bổn tôn hợp làm một
Chúng sinh thế giới được an vui.

Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. xin đem công đức này hồi hướng. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 18: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 19: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


![image](/img/img_c8f76ff198c4b93eb4c43eb6e21da58c.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu


Có nhiều hình tượng Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu: một mặt hai cánh tay, ba mặt sáu cánh tay, và nghìn mặt nghìn cánh tay. 

Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu với một mặt hai tay ba mắt có sắc thân màu trắng thuần khiết, tay trái cầm ô, tay phải kết ấn thí nguyện, Phật Mẫu ngồi thế kiết già trên pháp tọa hoa sen.

Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu với nghìn mặt nghìn tay nghìn chân có sắc thân màu trắng thuần khiết, tóc đính ngọc và đeo chuỗi ngọc, đủ loại trang sức. Hình tượng của ngài là: khuôn mặt ở chính giữa có màu trắng và ba con mắt, bên trái bên phải mỗi bên có hai khuôn mặt, có màu đỏ, vàng, đỏ, xanh, và đều có ba con mắt. Phía trên đỉnh đầu của khuôn mặt chính có năm khuôn mặt nữa, bên trái bên phải mỗi bên có chín tầng.

Hai cánh tay chủ yếu ở chính diện, tay trái cầm ô lớn màu trắng ở trước ngực, tay phải cầm pháp luân (hoặc chày kim cang), bốn xung quanh có nhiều cánh tay, phân ra cầm vô số pháp khí các loại như chuông, chày, pháp luân, móc câu, dây thừng, cung, tên,… hình dáng giống như bánh xe nghìn nan hoa, bên ngoài có ngọn lửa cháy hừng hực.

Phật Mẫu mặc thiên y váy xếp, trang sức bằng trăm loại báu vật trang nghiêm, nghìn chân đứng uy mãnh, bên dưới chân đầy âm thiên nhân và các chúng sinh hữu tình.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị lai lịch vĩ đại của Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu và khẩu quyết tu trì thù thắng


Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu là Kim Cang Đỉnh Kế Đại Hồi Già Mẫu, là nghìn tay nghìn mặt nghìn mắt nghìn chân, vốn là như một với Đại Bạch Mẫu lớn lao với hàng vạn tướng rực cháy, nắm giữ tất cả chúng sinh trong tam giới. Phật Mẫu có đại uy lực, có thể phóng ánh sáng bao phủ tất cả chúng sinh, dùng chiếc ô lớn làm tam muội da hình, vì vậy gọi là Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu. 

Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu là do vị Đại Phật Mẫu được hóa thân từ ánh sáng vô thượng trên đỉnh đầu của Phật Thích Ca Mâu Ni, rất được tôn sùng trong Tạng mật. Tôn Thắng Phật Mẫu, Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát cùng có đại pháp lực ngăn chặn tất cả tai nạn.

Nguồn gốc của Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu là: “Thời kì Đế Thích Thiên và Atula chiến tranh, Đế Thích Thiên thất bại, cầu cứu Phật Thích Ca Mâu Ni. Từ đỉnh đầu của Thích Tôn đã hóa hiện ra Đại Phật Mẫu vô địch có màu trắng với nghìn tay nghìn mặt nghìn chân. Thích Tôn tuyên thuyết Đại Bạch Tản Cái đà-la-ni chú, Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu đã che chắn toàn bộ Đế Thích Thiên, vì thế Atula chúng không có cách nào tấn công được, nên lần này phải tạm ngừng chiến.”

Bản thân Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu có uy lực kim cương vô địch. Gọi là vô địch tức là ngay cả đến Atula Vương hùng mạnh cũng bị đánh bại, cho nên uy lực của ngài là vô cùng, vì thế mà gọi là vô địch. Uy lực của Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu có thể khiến cho mọi kẻ thù tự động rút lui, Thiên Ma tà ma rút lui, hơn nữa còn phá hủy tất cả bùa chú lời nguyền, có thể nhờ A Di Đà Phật mà tăng thêm thọ mạng, phá Tam ma thiên-địa-thủy, phàm tất cả bệnh tật tai ách, giấc ngủ bất an, quỷ quái hiện hình đều có thể phá trừ.

Đại Bạch Tản Cái Hồi Già Mẫu trong kinh điển có ghi chép, ngài là hộ pháp của mọi Phật Bồ Tát, là Hộ Pháp Mẫu, bởi vì sự hộ trì của ngài đã xuất sinh ra rất nhiều Phật.

Năng lực quan trọng nhất của Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu chính là hồi già. Thế nào gọi là hồi già? Hồi có nghĩa là anh có dùng pháp lực lớn thế nào để đánh thì ngài cũng sẽ trả lại cho anh. Thế nào gọi là già? Già nghĩa là anh có dùng pháp lực lớn thế nào để đánh thì ngài cũng đều che chắn hết. Người ta giáng bùa chú lên bạn, chỉ cần bạn tu trì pháp Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu, nếu có Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu bảo vệ bạn, bạn sẽ ở bên dưới cái ô trắng lớn, bất kì bùa chú gì cũng không có cách nào xâm nhập. Thậm chí bất kì quỷ thần nào cũng đều không có cách gì xâm nhập. Cho nên, ngài còn được gọi là Hồi Già Mẫu, hồi già là một điểm quan trọng.

Trước kia tôi không muốn giảng về chú hồi già lắm, bởi vì đây là một bí mật, thật ra chỉ cần đọc ngược lại, “ha so ni hum ma ma hum” thì đây chính là chú hồi già của Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu. Chỉ cần bạn biết chú hồi già này thì đối phương sẽ bị thương ngay. Bạn không biết chú hồi già này thì đọc bình thường sẽ là bảo vệ chính mình, che chắn chính mình, không có phản trở lại người khác.

Nếu bị bỏ bùa, bạn thỉnh cầu Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu dùng chiếc ô trắng lớn che chở cho bạn, sau đó niệm chú hồi già, người bỏ bùa bạn sẽ lập tức ngã lăn.

Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu, Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát, Mã Đầu Minh Vương, Tôn Thắng Phật Mẫu, Sư Diện Không Hành Mẫu, năm vị này đều có chú hồi già. Những vị khác, các bạn đừng niệm bừa. Thời Luân Kim Cang cũng có, có một vài vị Kim Cang Thần cũng có chú hồi già. 

Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu có thể dùng quán tưởng tương đối đơn giản, tức là quán tưởng Phật Mẫu màu trắng, cầm chiếc ô lớn màu trắng, tay phải kết ấn ban nguyện, một đầu hai tay. Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu cũng có Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu ba đầu sáu tay, cũng có nghìn tay nghìn đầu nghìn chân, ngài là biến hóa thân từ đỉnh đầu Phật Thích Ca Mâu Ni phóng ánh sáng trắng, ngài có nguồn gốc của ngài. Có hình tướng, có thủ ấn, có chú ngữ của ngài “Hum mama hum ni soha”, bạn có thể tu Bổn tôn niệm tụng pháp của ngài.

Kiên giáp chú của Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu, ý nghĩa của kiên giáp nghĩa là cái ô, giống như một tấm áo giáp kiên cố. “Hum mama hum ni soha” là pháp bí mật nhất của Mật tông, có thể dùng vào các mục đích tiêu tai, tăng ích, kính ái, hàng phục (tức-tăng-hoài-tru), có thể trấn hộ quốc gia, đẩy lùi kẻ địch, có thể ngăn chặn tai nạn đất, nước, lửa, gió, không khí.

Tu trì pháp Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu có thể quán tưởng chiếc ô lớn màu trắng bay lên không trung, dùng tấm màn kim cương che chắn, tất cả ác pháp đều không thể đến gần mình, tất cả kiếp số không tốt đều sẽ tránh được, tất cả mọi thứ không tốt đều sẽ bị chặn và phản hồi. Vì thế, ngài thuộc chủ tôn hàng phục, không chỉ là hàng phục bùa chú giáng đầu, mà cũng có thể hàng phục tất cả ác quỷ, tất cả ma, thậm chí Atula, tất cả ác nghiệp đều sẽ không sản sinh.

Khi có bệnh nếu tu Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu, ánh sáng của ngài có thể tiêu trừ mọi bệnh nghiệp, khiến thân tâm của bạn được an lạc.

Tu trì pháp Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu có hai bản dịch lớn là Phật Đỉnh Đại Bạch Tản Cái Đà La Ni Kinh, Phật Thuyết Đại Bạch Tản Cái Tổng Trì Đà La Ni Kinh.

Bài kệ tán thán Phật Mẫu là:

*Sức mạnh Phật Mẫu là vô địch
Đại uy thần lực quét sạch bay
Ngọn lửa uy lực cháy hừng hực
Đại Bạch Cái Mẫu đại lực Mẫu
Thiên y trắng và ngọn lửa cháy
Thánh Cứu Độ Mẫu tên Kim Cương
Xưng danh Kim Cương xưng Đỉnh Kế
Liên Hoa Nhãn và Nguyệt Quang Mẫu.*


![image](/img/img_f5fb3f083c444a110215b5b378cd659b.jpg)


Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/dai-chuan-de-phat-mau-niem-tung-phap.md
# Title: Đại Chuẩn Đề Phật Mẫu niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_2b9b88311357205b09e5b1a7565cdf21.jpg)



## Đại Chuẩn Đề Phật Mẫu niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Thỉnh cầu Căn bản Truyền thừa gia trì. Tay kết thủ ấn Căn bản Thượng sư, quán tưởng Căn bản Thượng sư phóng ba ánh sáng trắng, đỏ, lam chiếu đến hành giả, gia trì hành giả tu pháp viên mãn. Niệm chú Căn bản Thượng sư 7 lần. Niệm văn cầu thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật gia trì 1 lần.

- Quán tứ vô lượng tâm.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô chủ tôn tu pháp Đại Chuẩn Đề Phật Mẫu. (x3)
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tát cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Mặc giáp hộ thân


Kết thủ ấn chắp tay kim cang, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cang thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Phụng thỉnh bát đại Bồ Tát
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Kim Cang Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Diệu Cát Tường Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.

Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ thất Phật. Vị lai hiền kiếp thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Niệm danh hiệu Phật sáu phương
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyệt Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Hết thảy chúng sinh trung ương, chư vị trong Phật giới, trú ngụ trên mặt đất, cho đến tại không trung, thương lo cho tất cả chúng sinh. Ai cũng an ổn tốt lành. Ngày đêm tu trì. Tâm thường cầu tụng kinh này. Diệt được khổ sinh tử. Tiêu trừ hết độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Tụng bản kinh không ngừng. Thất Phật Thế Tôn. Liền nói chú sau:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-lô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-ki-a-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha” (7 lần)

Mười phương Quan Thế Âm. Hết thảy chư Bồ Tát.
Đã thề cứu chúng sinh. Xướng danh tất giải thoát.

Nếu gặp người trí tuệ. Ân cần mà giảng nói.
Lại có đủ nhân duyên. Đọc tụng không ngơi nghỉ.
Tụng kinh tròn nghìn biến. Niệm niệm tâm không dừng.
Gặp lửa cháy chẳng sao. Việc đao binh cũng thoát.
Nóng giận thành vui vẻ. Chết rồi hóa sống vui.
Đừng nghĩ rằng không đúng. Chư Phật chẳng nói chơi.
Cao Vương Quan Thế Âm. Cứu được hết khổ nạn.
Lúc khó khăn nguy cấp. Người chết còn thành sống.
Chư Phật chẳng nói đùa. Vì vậy nên đảnh lễ.
Niệm tụng trọn nghìn lần. Tội nặng đều tiêu diệt.
Người có phúc tín tâm. Hãy chuyên tâm đọc tụng.

Nguyện mang công đức này. Gửi tới hết chúng sinh.
Tụng tròn một nghìn biến. Tội nặng đều tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (Hết)!

**Niệm thêm chú vãng sinh:** (7 biến)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha.  


### Phần 8: Quán tưởng tam quang bao trùm



![image](/img/img_380fa7c4995c85990bdfceb7c7d3534f.jpg)


**Kết ấn: Chuẩn Đề Phật Mẫu căn bản ấn**

Đan ngón út và ngón áp út nội phộc, hai ngón giữa dựng thẳng chạm vào nhau, hai ngón trỏ đặt vào lưng của hai ngón giữa, hai ngón cái tựa vào nhau. Đặt ấn trước ngực. 

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời trong vạn dặm không mây, một vầng mặt trăng từ dưới biển nhô lên không trung, ở chính giữa vầng mặt trăng có một chủng tự chữ Chuan (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu trắng phóng ra ánh sáng vàng nhạt.

(2) Chữ Chuan ở giữa vầng mặt trăng quay tròn hóa thành Chuẩn Đề Phật Mẫu thân màu vàng nhạt, là một vị Đại Phật Mẫu có 3 mắt 18 cánh tay, đầu đội mũ miện, trên mũ miện có một vị Hóa Phật. Phật Mẫu khoác thiên y màu trắng, vai và cánh tay đeo trang sức. 18 cánh tay cầm nhiều loại pháp khí, từ phải qua trái thuận theo chiều kim đồng hồ lần lượt là: bảo tràng như ý, hoa sen, lu nước, dây thừng, bánh xe, vỏ ốc, bảo bình, hộp bát nhã, mũ đội đầu, ấn căn bản, chày kim cương, móc câu, rìu, thiên diệu quả, chuỗi tràng hạt, kiếm trí huệ, thí vô úy ấn. Hai tay kết ấn căn bản, nên tổng cộng có 18 tay. Chuẩn Đề Phật Mẫu thân sắc màu vàng trắng, 3 mắt 18 cánh tay, đầu đội bảo quán Hóa Phật, trang nghiêm xuất hiện và trụ tại hư không trước mặt hành giả Mật tông. 

(3) Quán tưởng con mắt ở thiên tâm của Chuẩn Đề Phật Mẫu phóng ra một đường ánh sáng trắng cực mạnh chiếu dội đến thiên khiếu của hành giả, khiến toàn thân hành giả thanh tịnh thuần bạch. 

(4) Lại quán tưởng con mắt thứ ba ở thiên tâm của Chuẩn Đề Phật Mẫu chiếu mãnh liệt đến thân tâm của hành giả, ở vị trí con mắt thứ ba liên tục hết sức quán tưởng. (Nếu ai muốn có được con mắt thứ ba thì phải quán tưởng cho đến khi có cảm giác tê tê ở thiên tâm.)


### Phần 9: Trì tâm chú Bổn tôn Chuẩn Đề Phật Mẫu


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Chuẩn Đề Phật Mẫu đến trước mặt mình.

**Chú ngữ:**

Ôm chưa-li chu-li chuân-thế sô-ha. (108 biến)


### Phần 10: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Chuan), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Bổn tôn Chuẩn Đề Phật Mẫu, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 11: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 

Tụng tán:

Chắp tay quy y Susiddhi, kính lễ Phật Mẫu Đại Chuẩn Đề.
Đại thánh Chuẩn Đề tôn, xót thương cho thế gian, thành tựu mọi tịnh thổ, nay con cung kính lễ.
Đại từ Chuẩn Đề tôn, nay con vì Bổn tôn, phúc trì biển công đức, nay con cung kính lễ.
Đại lực Chuẩn Đề tôn, lành thay Minh Trì Vương, hàng phục mọi ma nạn, nay con cung kính lễ.
Đại phúc Chuẩn Đề tôn, ban vô hạn như ý, như có ngọc mani, nay con cung kính lễ.


### Phần 12: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-tê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 13: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 14: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 15: Hồi hướng


Mong con định huệ chóng viên minh.
Con mắt thứ ba mong sớm đắc.
Trang nghiêm Bổn tôn đại tịnh thổ.
Nguyện cùng chúng sinh thành Phật đạo.

Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. xin đem công đức này hồi hướng. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 17: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


![image](/img/img_3ed361bdc20f66f7c6f8c81766dfc828.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Chuẩn Đề Phật Mẫu


Chuẩn Đề Phật Mẫu thân màu vàng nhạt, có 3 mắt 18 cánh tay, đầu đội mũ miện, trên mũ miện có một vị Hóa Phật. Những cánh tay Phật Mẫu đều đeo vòng trang sức, khoác thiên y màu trắng. 18 cánh tay cầm nhiều loại pháp khí, từ phải qua trái thuận theo chiều kim đồng hồ lần lượt là: bảo tràng như ý, hoa sen, lu nước, dây thừng, bánh xe, vỏ ốc, bảo bình, hộp bát nhã, mũ đội đầu, ấn căn bản, chày kim cương, móc câu, rìu, thiên diệu quả, chuỗi tràng hạt, kiếm trí huệ, thí vô úy ấn. Hai tay kết ấn căn bản (ấn tổng trì) nên tổng cộng có 18 tay. Có hai Long Vương làm thị giả, đứng phục vụ bên dưới tòa hoa sen, chính là Nan Đà Long Vương và Bạt Nan Đà Long Vương.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị lai lịch thù thắng của Đại Chuẩn Đề Phật Mẫu và tâm yếu tu trì


“Rập đầu quy y Susiddhi, kính lễ Phật Mẫu Đại Chuẩn Đề.”

Chuẩn Đề Phật Mẫu đến từ cung Pháp Giới Tối Thắng của Đại Nhật Như Lai, vì thế, Chuẩn Đề Phật Mẫu có cùng một nguồn gốc với Liên Hoa Đồng Tử. Chuẩn Đề Phật Mẫu vô cùng nổi tiếng trong Trung mật, Đài mật, Đông mật, cũng được lấy làm chủ tôn tu pháp, nhưng trong Tạng mật thì tương đối ít gặp. 

Lai lịch của Chuẩn Đề Phật Mẫu tương đối vĩ đại, là do Phật Thích Ca Mâu Ni nhập đẳng hư không đại hải biến hóa thần thông tam muội tam ma địa, là mẹ của chư tôn trong Liên Hoa Bộ sinh ra Đại Chuẩn Đề Phật Mẫu. Các tôn xưng khác là Thất Câu Tri Phật Mẫu, Thiên Nhân Trượng Phu Quan Âm, v.v… tức là mẹ của bảy trăm triệu chư Phật Bồ Tát. Hai chữ Chuẩn Đề có nghĩa là thanh tịnh không gì sánh bằng. Vì Phật Mẫu có 18 cánh tay, lại có 3 con mắt, vì vậy pháp lực uy mãnh, mật hiệu là Tối Thắng Kim Cang, Như Ý Kim Cang, Thanh Tịnh Kim Cang.

Vì Chuẩn Đề Phật Mẫu là hóa thân của Phật Thích Ca Mâu Ni, cho nên ngài có đủ mọi diệu tướng trang nghiêm, pháp lực vô cùng. 18 cánh tay của Chuẩn Đề Phật Mẫu tổng cộng có 18 bất cộng pháp, là 18 công đức thành Phật, đó là 18 bất cộng pháp. Đây cũng là biểu trưng bí mật của Chuẩn Đề Phật Mẫu, bao hàm lí lẽ thâm sâu vi diệu.

18 bất cộng pháp này có thể phá hủy tất cả những nghiệp mê hoặc của chúng sinh. Người có thể tu pháp Bổn tôn này thì diệt mọi tội, không có tai họa, đời này cầu gì, mọi điều thế gian và xuất thế gian, đều mau chóng thành hiện thực. Vì vậy, Chuẩn Đề Phật Mẫu có thể làm Bổn tôn, cũng có thể làm Hộ pháp. Thân sắc của ngài thuộc về màu trắng và màu vàng.

Chuẩn Đề Phật Mẫu có 8 đại Bồ Tát là quyến thuộc, chính là Quán Tự Tại Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Kim Cương Thủ Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Trừ Cái Chướng Bồ Tát, Địa Tạng Bồ Tát.

Bí mật của Chuẩn Đề Phật Mẫu chính là nằm ở con mắt thứ ba. Hành giả Mật tông muốn tu con mắt thứ ba thì nhất định phải quán tưởng con mắt thứ ba của Phật Mẫu phóng đại tịnh quang màu trắng, chiếu đến con mắt thứ ba (bộ phận thiên tâm) của chính m ình, cho đến khi khu vực thiên tâm của mình tê ngứa. tu trì lâu ngày sẽ phát hiện thấy thiên tâm của  mình xuất heiẹn kí hiệu của thiên nhãn. Phàm là người tu luyện thành tựu, dùng thien nhãn thông để quan sát thì không có gì là không thấy được, không có gì là không biết, nghìn dặm vạn lí đều nằm trong con mắt thứ ba! Đây là bí mật trong bí mật về con mắt thứ ba của Chuẩn Đề Phật Mẫu. 

Trong bộ Đại Trí Độ Luận từng kể ra 18 bất cộng pháp là:

1. Thân vô thất (tâm không mất).

1. Khẩu vô thất (khẩu không mất).

1. Niệm vô thất (suy nghĩ không mất).

1. Vô dị tưởng (không nghĩ điều kì quái).

1. Vô bất động tâm (không còn tâm lăng xăng lộn xộn).

1. Vô bất tri dĩ xả (không còn vô tri, hiểu cách xả bỏ).

1. Dục vô lậu (không còn dục vọng).

1. Tinh tấn vô lậu (thường xuyên tinh tấn).

1. Niệm vô lậu (ý thanh tịnh).

1. Huệ vô lậu (đầy đủ trí huệ).

1. Giải thoát vô lậu (đạt thành tựu giải thoát).

1. Giải thoát tri kiến vô lậu (có đầy đủ nhận thức về giải thoát).

1. Nhất thiết thân nghiệp tùy trí huệ hành (tất cả thân nghiệp đi theo trí huệ).

1. Nhất thiết khẩu nghiệp tùy trí huệ hành (tất cả khẩu nghiệp đi theo trí huệ).

1. Nhất thiết ý nghiệp tùy trí huệ hành (tất cả ý nghiệp đi theo trí huệ).

1. Trí huệ tri quá khứ thế vô ngại (trí huệ biết rõ đời quá khứ mà không có trở ngại nào).

1. Trí huệ tri vị lai thế vô ngại (trí huệ biết rõ đời tương lai mà không có trở ngại nào).

1. Trí huệ tri hiện tại thế vô ngại (trí huệ biết rõ đời hiện tại mà không có trở ngại nào).

Liên Sinh Hoạt Phật nói Chuẩn Đề Phật Mẫu là diệu pháp vô thượng, nếu biết sử dụng 18 loại pháp khí để làm pháp thì hành giả cầu tiêu tai, trị bệnh, tăng ích, như ý, kính ái, hòa hợp, hàng phục, trừ ma đều sẽ vô cùng viên mãn.

Khi tu pháp nếu có pháp khí, có thể tay cầm pháp khí phóng quang chiếu chạm vào người và việc. Nếu không có pháp khí, có thể quán tưởng Chuẩn Đề Phật Mẫu tay cầm pháp khí phóng quang chiếu đến. Đây chính là bí mật trong bí mật.

Chuẩn Đề Phật Mẫu tổng nhiếp 5 bộ hoặc 25 bộ, vì thế thủ ấn của Chuẩn Đề Phật Mẫu cũng là thủ ấn chung của rất nhiều Phật Bồ Tát, điểm này rất nhiều người không biết.

Chú ngữ của Chuẩn Đề Phật Mẫu là: Om dzelee dzulee zhunteh soha. Đây là chú ngữ ngắn nhất của ngài. Thủ ấn của ngài chính là ấn tổng trì, Phật Thích Ca Mâu Ni là tổng trì tất cả, vì thế thủ ấn của Chuẩn Đề Phật Mẫu cũng là ấn tổng trì. Ấn tổng trì này nghĩa là bao hàm tất cả.

Thủ ấn của Chuẩn Đề Phật Mẫu gọi là ấn tổng trì. Mỗi lần làm Hộ Ma diễn hóa thủ ấn thì thủ ấn đầu tiên chính là ấn Chuẩn Đề Phật Mẫu - tức ấn tổng trì.

Ở đây có một cái gương Chuẩn Đề. Khi bạn tu pháp Chuẩn Đề Phật Mẫu, bạn có thể nhìn vào cái gương này mà tu pháp, tu đến khi cả cái gương phóng quang chiếu đến bạn, thậm chí là Chuẩn Đề Phật Mẫu xuất hiện ở trong gương.

Nếu bạn tu con mắt thứ ba, thì bạn quán tưởng Chuẩn Đề Phật Mẫu phóng quang chiếu đến mi tâm luân ở giữa hai lông mày của bạn, tu lâu ngày, bạn sẽ có được con mắt thứ ba. Chuẩn Đề Phật Mẫu có năng lực như vậy, ngài vô cùng vĩ đại.

Sư phụ truyền pháp Chuẩn Đề Phật Mẫu cho Lư Sư Tôn là Phổ Phương Thượng Sư. Bổn tôn của Phổ Phương Thượng Sư chính là Chuẩn Đề Phật Mẫu. Tại đảo Xã Tử ở Đài Bắc, thầy ấy đã xây dựng một ngôi chùa tên là Chùa Tổng Trì, Lư Sư Tôn có pháp bản của Chuẩn Đề Phật Mẫu mà Phổ Phương Thượng Sư truyền cho.


### Bí mật trong bí mật của tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu - Cửu tự thánh quán


Om dzelee dzulee zhunteh soha

Om - mọi pháp vốn không sinh.

Dze - mọi pháp không sinh không diệt.

Lee - mọi pháp tướng là vô sở đắc.

Dzu - mọi pháp là vô khởi trụ.

Lee - mọi pháp thanh tịnh.

Zhun - mọi pháp là vô đẳng giác.

Teh - mọi pháp là vô thủ xả - không chọn lựa giữ hay bỏ.

Soha - mọi pháp bình đẳng không thể thuyết giảng bằng lời.

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/dai-hac-thien-mahakala-niem-tung-phap.md
# Title: Đại Hắc Thiên Mahakala niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_d4caa41a0af7a7c540645d704ebf8999.jpg)



## Đại Hắc Thiên Mahakala niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Đại Hắc Thiên.

(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê. 

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyệt Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha.  


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_4e00c9cf020f3370a9817403e71c9aad.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn Đại Hắc Thiên**

Cổ tay phải đặt ở trên cổ tay trái, hai mu bàn tay tựa vào nhau, hai ngón cái dựng thẳng, bốn ngón còn lại đan vào nhau.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời xanh vạn dặm không mây, một nguyệt luân từ mặt biển nhô lên, trong nguyệt luân có một chủng tử chữ “Hum” màu lam, tỏa ra ánh sáng lam. Chữ “Hum” xoay tròn hóa thành Đại Hắc Thiên.

(2) Đại Hắc Thiên có một mặt sáu tay, hai chân, ba con mắt đỏ mở to trợn trừng, thân màu xanh đen, toàn thân tỏa ngọn lửa mãnh liệt. Thân khoác một tấm da voi màu trắng, đầu voi chúc xuống, bốn chân giơ lên hai vai và sau hai chân. Trên cao nhất tay phải túm lấy chân voi, tay trái cầm kích ba chấu, ở giữa, tay phải cầm trống đầu lâu, tay trái cầm dây thừng, hai tay còn lại cầm bát đầu lâu và dao cong. Trên cổ ngài có quấn rắn xanh, vòng cổ, cổ chân và cổ tay đều có rắn quấn, quanh hông mặc váy da hổ, xung quanh có đầu người. Chân phải cong chân trái duỗi, dẫm lên con voi trắng nằm ngửa.

(3) Quán tưởng thiên tâm của Đại Hắc Thiên phóng ra một vệt ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả. Từ họng ngài phóng ra một vệt ánh sáng đỏ chiếu thẳng đến họng của hành giả. Tâm luân của ngài phóng ra một vệt ánh sáng xanh lam chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng trắng, đỏ, lam tan vào thân tâm của hành giả. 


### Phần 14: Trì tâm chú Đại Hắc Thiên


Tâm chú: Ôm ma-ha ka-la-ya sô-ha. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Hum), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Đại Hắc Thiên, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định.


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.


![image](/img/img_89b3916eb74a53b7b15968e886fbd09a.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Đại Hắc Thiên Mahakala


Đại Hắc Thiên Mahakala có hình tượng hai tay, bốn tay, sáu tay. Đại Hắc Thiên hai tay là vị Hộ pháp sự nghiệp của phái Bạch giáo Karma Kagyu, hiện hung tướng phẫn nộ để hàng phục tâm ma của tự thân, tượng trưng sự không sợ hãi (vô úy).

Đại Hắc Thiên một mặt sáu tay, hai chân, ba con mắt đỏ mở to trợn trừng, thân màu xanh đen, toàn thân tỏa ngọn lửa mãnh liệt. Thân khoác một tấm da voi màu trắng, đầu voi chúc xuống, bốn chân giơ lên hai vai và sau hai chân. Trên cao nhất tay phải túm lấy chân voi, tay trái cầm kích ba chấu, ở giữa, tay phải cầm trống đầu lâu, tay trái cầm dây thừng, hai tay còn lại cầm bát đầu lâu và dao cong. Trên cổ ngài có quấn rắn xanh, vòng cổ, cổ chân và cổ tay đều có rắn quấn, tượng trưng Long Vương và Dược Xoa đều bị hàng phục. Quanh hông ngài mặc váy da hổ, xung quanh có đầu người. 

Mặc dù Đại Hắc Thiên có sáu tay nhưng chỉ có hai chân, chân phải cong chân trái duỗi, dẫm lên con voi trắng nằm ngửa, tay trái của voi trắng cầm bát đầu lâu, tay phải cầm một củ cải to. 

Hộ pháp Đại Hắc Thiên hiện thân màu xanh đen, biểu thị bản chất pháp thân bất biến. Ba con mắt biểu thị sự hóa hiện “liễu ngộ tam thế” và “Phật Đà tam thân”, trên đỉnh đầu đội mũ năm đầu lâu tượng trưng cho chuyển ngũ độc thành ngũ trí. Sáu cánh tay tượng trưng cho sáu ba la mật, dao cong tượng trưng cho cắt đứt mọi bám chấp. Bát sọ người đựng đầy máu đại diện cho hàng phục tất cả ma chướng. Chuỗi xương người đại diện cho sự nghiệp lợi sinh không bao giờ dừng lại, trống cầm tay đại diện cho sức mạnh của vị Hộ pháp này siêu việt sự nghiệp Không Hành Mẫu, kích ba chấu đại diện cho sức mạnh siêu việt tam giới (Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới). Dây thừng kim cang có móc đại diện cho trói buộc chúng sinh phá giới, hai chân đại diện cho phương tiện thiện xảo và trí huệ. Nhật luân ở dưới chân là để chiếu sáng bóng tối vô minh, hoa sen đại diện cho thanh tịnh rời bỏ ô nhiễm của thế tục. Ngọn lửa trí huệ sau lưng đại diện cho phá hủy tất cả tán loạn, trạo cử. Tấm váy da hổ đại diện cho tịnh trừ tất cả tham niệm, tấm da voi đại diện cho tịnh trừ tất cả tâm ngạo mạn. Vòng trang sức bằng rắn đại diện cho hàng phục tâm sân, tất cả vật trang sức trên thân đại diện cho có đầy đủ mọi đức hành của Phật Đà. Uy lực và pháp lực của ngài là vô cùng, ngài cai quản phúc, lộc, thọ.  


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị về bản địa của Đại Hắc Thiên và khẩu quyết tu trì


Đại Hắc Thiên (tên Phạn ngữ là Mahakala), còn gọi là Đại Hắc Thần, Đại Hắc Thiên Thần hoặc Mahakala Thiên, là vị pháp thần có thể làm tam căn bản Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp. 

Thân phận của Đại Hắc Thiên rất đặc biệt. Ngài có rất nhiều thân phận. Bản địa ban đầu của Đại Hắc Thiên, Phật giáo gọi bản địa là “sát thổ”, có nghĩa là nói cái gốc gác ban đầu của ngài là từ đâu đến. Các truyền thuyết không giống nhau, có chỗ nói ngài là hóa thân của Tì Lô Giá Na Phật - Đại Nhật Như Lai, có chỗ nói ngài là hóa thân của Đại Tự Tại Thiên (tức là thần Shiva - Thần Hủy Diệt của Ấn Độ giáo). Có chỗ nói ngài là hóa thân của Quan Thế Âm Bồ Tát.

Trong Ấn Độ giáo thì gọi ngài là hóa thân của Shiva. Còn ở Nhật Bản - Đông mật, thì gọi ngài là một trong số bảy vị Phúc Thần, chính là bảy vị thần tài phúc. 

Trong nhà bếp của các tiệm ăn có thờ cúng Mahakala, ngài cũng là một vị thần của nhà bếp. Ở Tây Tạng, Mahakala chủ quản rừng vứt xác, tức là thần cai quản mồ mả, tất cả mồ mả đều nằm dưới sự quản lí của ngài, nên ngài là một vị Hộ pháp chủ quản, hơn nữa còn là một vị đại Hộ pháp thần của Tây Tạng nữa. Năng lực của ngài đạt đến trình độ nào? Đừng thấy là ngài chỉ có cai quản mồ mả mà thôi, tất cả quỷ thần vô hình đều thuộc sự quản lí của ngài, ngài có thể triệu thỉnh mọi quỷ thần.

Thủ ấn của vị này rất đặc thù, ai chưa nhận quán đảnh không được kết thủ ấn này. Thủ ấn này gọi là thủ ấn triệu thỉnh quỷ thần. Tất cả quỷ thần đều nghe lệnh của Đại Hắc Thiên. (Thủ ấn này là hai tay đan nội phộc, ngón út và ngón áp út dựng thẳng, sau đó tách ra hai bên, hai ngón cái đặt sát nhau và xoa vào nhau, xoa vào nhau ba lần, sau đó niệm Mahakala sắc lệnh thì mọi quỷ thần sẽ đều đến.)

Pháp lực của Mahakala rất mạnh, thậm chí có Bạch Mahakala do Quan Thế Âm Bồ Tát biến hóa ra, cho nên ngài có thể tiếp dẫn chúng sinh u minh vãng sinh Phật quốc thanh tịnh.

Ngày xưa khi Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi thiền dưới cây bồ đề, có rất nhiều ma chướng đến quấy nhiễu, Phật Đà đã thỉnh cầu Mahakala bảo vệ, bốn cánh tay của Mahakala đã giúp Phật Đà tiêu diệt tất cả ma chướng, giúp Phật Đà đắc khai ngộ. Còn nữa, ngày xưa Liên Sư đi vào Tây Tạng (chùa Samye), cũng có rất nhiều ma chướng đến ngăn chặn, Liên Sư đã thỉnh Mahakala bốn tay giúp tiêu trừ ma chướng, vì thế chùa Samye có thể hoàn thành xây dựng thuận lợi. Cho nên, ngài là một vị Hộ pháp rất lớn, có thể nói là tổng trì của các Hộ pháp.

Mahakala là một trong số các vị Hộ pháp trí huệ quan trọng nhất ở Tây Tạng. Người tu Phật tập Mật, thành kính cúng dường và tu trì tán dương, ngày ngày dâng cúng ngài, ngài sẽ ngày đêm bảo vệ không rời, có thể nhanh chóng xóa tan mọi chướng nạn nghịch duyên khi tu hành Phật pháp và các pháp thế gian, cũng như khó khăn gian khổ của cuộc sống, phá trừ bùa chú nguyền rủa, tà thần ma chướng và oan địch không thể xâm hại, giúp tiêu trừ chướng ngại nội, ngoại, mật của hành giả, tức-tăng-hoài-tru đều thuận lợi thành tựu, tăng trưởng phúc huệ thọ mạng, đầy đủ quyền thế, danh vọng, của cải dồi dào, gia đình cát tường, hưng thịnh và hòa thuận, viên mãn tất cả thiện nguyện của chúng sinh, có công đức thù thắng.

Phương pháp thờ phụng Đại Hắc Thiên: đầu tiên thỉnh tượng thần Đại Hắc Thiên về nhà. Chọn này Trừ nhật, sau giờ Ngọ, bày cúng phẩm lên đàn thành, thắp hương lễ bái, trì chú thành tâm cầu nguyện Đại Hắc Thiên Thần giáng lâm đến nhà mình, sau đó đặt vị trí thờ tượng thần Đại Hắc Thiên ở vị trí chính giữa trên xà ngang ở cửa chính trong nhà mình. 


![image](/img/img_ce39ab62874bb2144b180d2563033b3a.jpg)


Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/dai-ho-than-phap.md
# Title: Đại hộ thân pháp
---

## Đại hộ thân pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

🎯 Chày ba cổ hộ thân kết giới pháp

📝 Có thể thỉnh quán đảnh từ xa.


![image](/img/img_1af32c3a2efe0339c30a2d565449c237.jpg)



### Quán tưởng:


Hành giả quán tưởng Thượng sư của mình đứng thẳng, hóa thành chày kim cang ba cổ.
Bản thân hành giả chắp hai tay, đặt trên đỉnh đầu, hai chân cong lại, gót chân sau chạm vào nhau. (Thân tướng của hành giả cũng là chày kim cang ba cổ.)
Hành giả quán tưởng chày kim cang Thượng sư hóa ra một chữ Hum màu trắng, đi vào trong tim của mình, còn chính mình biến thành chày kim cang chữ Hum màu trắng.
Tụng lục tự chân ngôn 108 biến. Tụng xong thì giải thân ấn.
Tất cả ma địch không thể làm hại, tất cả oan địch rút lui, tất cả ma chướng tiêu trừ.
Đây là pháp đại hộ thân.


### Hỏi đáp với Sư Tôn:


**Hỏi:** Con chào Sư Tôn. Sư Tôn khai thị thường tu bia giáp hộ thân bảo hộ chính mình. Trong văn tập số 220 “Đương đại Pháp Vương giải đáp nghi hoặc”, có giới thiệu pháp hộ thân bằng chày ba cổ. Sư Tôn có thể một lần nữa khai thị kĩ hơn về khẩu quyết và diệu dụng của đại pháp hộ thân này được không? (Pháp này đã được quán đảnh từ xa.) Cảm ơn Sư Tôn.

**Đáp:**

Thật ra, pháp hộ thân bằng chày ba cổ là như thế này. Tôi nói rõ với bạn, đứng cũng được, nằm cũng được, ngồi thì không được, ngồi thì không giống với hình dạng thẳng đứng của chày kim cang ba cổ lắm. 

Mời sư huynh Bỉnh Tường bước lên trước thị phạm. Đây là chày kim cang ba cổ đứng thẳng.

Đứng thẳng như vậy rồi, còn phải làm gì nữa?

Quan trọng nhất là: tâm của chày kim cang, là chữ Hum.

Chày kim cang là niệm ba chữ “Hum Hum Hum”, quán tưởng thân thể của mình biến thành chày kim cang. Đây chính là hộ thân bằng chày kim cang ba cổ.

Đầu tiên bạn làm tư thế này. Sau đó quán tưởng chính giữa chày kim cang ba cổ của bạn có Hum Hum Hum, niệm xong ba chữ này, chính mình đã biến thành chày kim cang.

Quán tưởng chày kim cang ba cổ là, bạn đứng thẳng giống như chày kim cang ba cổ, chính giữa này chính là chữ Hum (Sư Tôn cầm chày kim cang ba cổ, chỉ vào vị trí ở giữa chày), Hum Hum Hum, ba chữ đều là chữ Hum màu trắng. Quán tưởng chính mình thành chày kim cang ba cổ, chính là như vậy.

Bạn phải quán tưởng chính mình biến thành chày kim cang, đây chính là kết giới bằng chày kim cang ba cổ. Kết giới cho chính thân thể bạn. Khẩu quyết của nó thì tôi vừa mới nói xong, chính là như vậy. Diệu dụng của nó mà nói thì chính là làm kiên cố bản thân. Bạn đã biến thành chày kim cang rồi. Chày kim cang là thế nào? Chày kim cang chính là bất hoại. Cho nên rất nhiều người, nếu có ma quỷ đến, ma quỷ nhìn thấy không phải là bạn, mà là nhìn thấy chày kim cang, chày này không phá hoại được. Nếu có yêu ma quỷ quái đến, hoặc là ma thần tử (quỷ quái), nhìn thấy bạn, bạn là chày kim cang, bạn không phải là bản thân bạn, bởi vậy nó không thể phá hoại bạn.

Sư Tôn từng có một lần hoằng pháp tại Malaysia. Khi ở Penang, có lão pháp sư phái ba con quỷ răng nhọn đến tìm tôi. Tôi ở trên giường làm pháp hộ thân chày kim cang ba cổ, tôi nằm đó, biến thành chày kim cang ba cổ. Hum Hum Hum. Nằm thẳng, chính mình biến thành chày kim cang ba cổ. Quỷ răng nhọn đó đến cắn. “Rắc rắc”, thân thể của tôi chẳng hề gì, bởi vì tôi là bất hoại. Kết quả là răng của quỷ răng nhọn đó đều gãy hết. Tôi dùng chính phương pháp này.

---
# File: nghi-quy-tu-tap/dai-huyen-hoa-vong-kim-cang-niem-tung-phap.md
# Title: Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_5417781c2a757526559a3f8d68937770.jpg)



## Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang.
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha.  


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_2bd76a674eec9b1336914328492c8407.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn **Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang

Hai bàn tay năm ngón tay dựng thẳng hơi tách nhau, ngón trỏ, ngón giữa, ngón áp út tựa vào nhau, lòng bàn tay mở ra. Thủ ấn này giống như hình mái nhà.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Quán tưởng trong hư không có một vị Bản Sơ Phật - A Đạt Nhĩ Mã Phật. Trong tâm của A Đạt Nhĩ Mã Phật có một chủng tử chữ Hum (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu xanh lam tỏa ra ánh sáng lam.

(2) Quán tưởng chữ Hum xoay tròn hóa thành Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang. Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang là do Bản Sơ Phật hóa ra, hình tượng của ngài là có 21 mặt, 42 tay, 8 chân. Mỗi tay ngài đều cầm gương sáng, trong gương có 42 vị Bổn tôn tịch tĩnh. 42 vị Bổn tôn tịch tĩnh bao gồm Bản Sơ Phật và Đại Tự Tại Phật Mẫu, Ngũ Bộ Như Lai, Ngũ Phật Mẫu, Bát Đại Bồ Tát, Bát Bồ Tát Mẫu, Tứ Minh Vương, Tứ Phẫn Nộ Mẫu, Lục Thích Ca Năng Nhân. Phật Mẫu có 9 mặt, 18 tay, 4 chân, trong tay ngài đều cầm gương sáng. Có 2 tay cầm dao cong và đầu lâu, các tay còn lại thì cầm gương, hiện tướng Phẫn Nộ Mẫu có mặt thú.

(3) Thiên tâm của Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang phóng ra một đường ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả, họng của ngài phóng ra một đường ánh sáng đỏ chiếu thẳng đến họng của hành giả, tâm luân của ngài phóng ra một đường ánh sáng lam chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng trắng đỏ lam đi vào hòa nhập vào thân tâm hành giả, gia trì cho hành giả.


### Phần 14: Trì tâm chú Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang


Tâm chú: Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. Ôm ben-za chua-ta ma-ha sê xi-li hê-ru-ka hùm pây. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Hum), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


![image](/img/img_ce41786b963488e248dd6e373b649af2.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang


Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang là do Bản Sơ Phật hóa hiện ra, hình tượng của ngài là có 21 mặt, 42 tay, 8 chân. Mỗi tay ngài đều cầm gương sáng, trong gương có 42 vị Bổn tôn tịch tĩnh. 42 vị Bổn tôn tịch tĩnh bao gồm Bản Sơ Phật và Đại Tự Tại Phật Mẫu, 5 Bộ Như Lai, 5 Phật Mẫu, 8 Đại Bồ Tát, 8 Bồ Tát Mẫu, 4 Minh Vương, 4 Phẫn Nộ Mẫu, 6 Thích Ca Năng Nhân. Phật Mẫu có 9 mặt, 18 tay, 4 chân, trong tay ngài đều cầm gương sáng. Có 2 tay cầm dao cong và đầu lâu, các tay còn lại thì cầm gương, hiện tướng Phẫn Nộ Mẫu có mặt thú.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị về lai lịch và sự thù thắng của Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang


Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang là do Bản Sơ Phật hóa hiện ra, còn gọi là Thông Nhãn Kim Cang.

Hình tượng của ngài có 21 mặt, 42 tay, 8 chân, Phật Mẫu thì có 9 mặt, 18 tay, 4 chân, mỗi tay đều cầm gương, trong gương có 42 vị Bổn tôn tịch tĩnh bao gồm Bản Sơ Phật và Đại Tự Tại Phật Mẫu, 5 Bộ Như Lai, 5 Phật Mẫu, 8 Đại Bồ Tát, 8 Bồ Tát Mẫu, 4 Minh Vương, 4 Phẫn Nộ Mẫu, 6 Thích Ca Năng Nhân, tổng cộng là 42 vị. 42 vị này gọi là các vị tịch tĩnh, ngoài ra còn có 58 vị phẫn nộ, cộng vào là 100 vị phẫn nộ và tịch tĩnh, nên còn gọi là Văn Võ Bách Tôn.

Trong Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh thịnh hành ở triều Đường, vị Phật đầu tiên tên là Tịnh Quang Bí Mật Phật, mọi người không biết là ai, tôi nói đó chính là Bản Sơ Phật A Đạt Nhĩ Mã Phật, và hóa thân của ngài là Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang.

Một biểu tượng của Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang là phía trên có một vòng tròn, trong đó có một điểm chính là Bản Sơ Phật, là kí hiệu của tất cả Phật, bên dưới có kí hiệu giống như chữ “Xuyên” (川) là tượng trưng cho Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, là mọi sự diễn hóa. Nghĩa gốc của Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang là gì? Chính là Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, không có gì khác. Ngài là hóa thân của ai? Ngài là thân kim cang của Bản Sơ Phật A Đạt Nhĩ Mã Phật. Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang phóng tỏa trăm ánh sáng quý, nói chung phóng tỏa ba ánh sáng đã là rất cực kì rồi, thế mà ngài lại phóng tỏa trăm ánh sáng. 

Tôi truyền thụ Thập vạn tụng Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, pháp này ở nhân gian đã rất ít người biết, ở thiên cung cũng không có nhiều. Ở nhân gian, Thập vạn tụng Đại Huyễn Hóa Võng cũng có phẩm giả, không phải phẩm thật.

Tôi phân Thập vạn tụng Đại Huyễn Hóa Võng thành năm bộ phận chính, đó là thân, khẩu, ý, công đức, sự nghiệp. 
Còn có phương diện tu trì, phương diện du già.
Về phương diện thân, tôi giảng giải gia hành của Phật Thích Ca Mâu Ni, Tượng Vương truyền pháp, Tượng Vương nhập thủy.
Về phương diện khẩu, tôi giảng giải nguyệt cung minh điểm, thiền tu, Mã Đầu Minh Vương Kim Cang.
Về phương diện ý, tôi giảng giải cát tường như ý mật, tam hoa tụ hợp bí mật, thiên tùng liên hoa bí mật.
Về phương diện công đức, tôi giảng giải tối thắng vô thượng cát tường, tối thắng cam lộ, như ý mani bảo pháp.
Về phương diện sự nghiệp, tôi giảng giải quần tinh bí mật, nhiên quang minh đăng, vạn tự quang minh.
Ngoài ra, tôi còn truyền thụ: pháp tướng cụ túc pháp, tâm chi mật tập, thệ nguyện vô tận ức vạn hóa thân, đại công đức huyễn võng.

Nghĩa gốc của Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang là gì? Từ sự biến hóa ban sơ nhất cho đến nhiều nhất, sau đó trở về điểm ban đầu, cái này rất đặc biệt. Vì sao lại như vậy? Mọi người tu hành đều từ nhiều nhất trở về điểm ban đầu. Hôm nay bất kể là tu hành Phật giáo, tu hành Đạo gia, tu hành Mật giáo, đều là từ nhiều nhất trở về một, một lại trở về không, không lại trở về với Phật, hợp nhất với Đạo. Nhân gian là cái gì? Nhân gian chính là đại huyễn, tất cả hiện tượng chính là huyễn.

Trở về với cái gốc chính là tu ngược lại, có thể đạt đến thành tựu ba thân. Bí mật chủ yếu nhất của Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang chính là con người chúng ta tu trở về với Bản Sơ Phật A Đạt Nhĩ Mã Phật, tu trở về với Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang. 

Thủ ấn Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang giống như kim tự tháp, trên kim tự tháp có một con mắt, kí hiệu ấy chính là Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang. Có con mắt của thiên thượng, con mắt của Phật ở trên kim tự tháp, ở chỗ cao nhất, bên dưới kim tự tháp là chúng sinh, toàn bộ vũ trụ này chính là Phật Bồ Tát đại huyễn, một cái huyễn cực lớn, hóa thành một mạng lưới, lưới của kim tự tháp, bên dưới đều là chúng sinh, bên trên là con mắt Phật của Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, cũng chính là con mắt của Phổ Hiền Vương Như Lai A Đạt Nhĩ Mã Phật từ bên trên nhìn xuống.

Thủ ấn của ngài đại diện cho chữ “Xuyên” (川), chữ Xuyên này thì tách nhau ra nhưng thủ ấn thì lại là kết lại với nhau. Có thủ ấn, có hình tượng của Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, lại có cả chú ngữ của ngài “Om benza chuata maha seh xili heruka hum pei”. 

Tôi nói về khẩu quyết quan trọng nhất của pháp này, bởi vì có hình tượng của Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang rồi, có chú ngữ của ngài rồi, lại có thủ ấn của ngài rồi, ba cái này hợp làm một sẽ trở thành một pháp niệm tụng. Bản thân tôi biết thế gian này là đại huyễn, vạn tượng là lưới võng biến hóa, vì thế mà ngộ ra Phật tính. Đạo lí lớn của minh tâm kiến tính chính là ở đây. Trên thế gian này, thực tế là vô sở đắc.

Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang còn được gọi là Thông Nhãn Kim Cang, bởi vì toàn thân đều có con mắt. Khi tu pháp, quán tưởng lỗ đỉnh đầu có một con mắt, hải để luân có một con mắt, hai con mắt nhìn nhau, nhìn ra trung mạch của mình. Tiếp theo, tai phải có một con mắt, tai trái có một con mắt, hai con mắt nhìn nhau. Tiếp nữa, toàn thân đều là con mắt, vai trái có một con mắt, vai phải có một con mắt, hai con mắt nhìn nhau. Sau đó, từ đầu xuống chân, đầu gối có hai con mắt nhìn nhau, hai con mắt ở lòng bàn chân nhìn nhau, ở chỗ thận này cũng có hai con mắt nhìn nhau. Cứ nhìn mãi như thế thì như thế nào? Toàn thân đều là con mắt, toàn bộ đều nhìn nhau. Khi ánh sáng của bạn hiển hiện ở trong tâm thì toàn bộ con mắt của bạn đều phóng quang, có thể nhìn toàn bộ vũ trụ, toàn bộ thế giới, tất cả bạn đều nhìn thấy hết, từ cái nhỏ nhất cho đến toàn bộ vũ trụ, cho nên gọi là Thông Nhãn Kim Cang, tức là Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang. 

Tu pháp này thì bạn sẽ trở thành toàn thân đều là mắt, mỗi một lỗ chân lông đều là mắt, từ con mắt này phóng quang, ánh sáng phóng tỏa ra, nhỏ thì có thể nhìn thấy nội cảnh của toàn thân bạn, lớn thì có thể nhìn thấy ngoại cảnh của vũ trụ. Đây là pháp tu “đại viên mãn toàn thân là mắt”, trong Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang đều có.

Muốn tu pháp “toàn thân là mắt”, bạn phải có địa điểm là ở trong căn phòng tối, hoàn toàn không cho ánh sáng lọt vào để huấn luyện con mắt của bạn. Bạn ngồi trên giường mình, bốn xung quanh dùng vải đen che lại, cửa ra vào và cửa sổ đều dùng vải đen che lại, không để lọt ánh sáng. Lúc này quán tưởng lỗ đỉnh đầu có một con mắt, hải để luân có một con mắt nhìn nhau, lỗ đỉnh đầu và hải để luân của bạn. Thế nào là hải để luân? Vị trí giữa hậu môn và mật luân gọi là hải để luân, ở đó có một con mắt, bạn hãy quán tưởng hai mắt nhìn nhau. Nhưng nhìn nhau như thế thì làm sao nhìn được? Thì bạn phải quán tưởng hai mắt đối nhau nhìn nhau, còn những thứ ở giữa thì đều không có, hai mắt nhìn vào nhau. Thiên tâm có một con mắt, sau não có một con mắt, hai mắt nhìn nhau. Thiên tâm là ở đây, sau não là ở đây, cũng có hai con mắt nhìn nhau. Tai trái có một con mắt, tai phải có một con mắt, nhìn nhau. Vùng tim có một con mắt, sau lưng có một con mắt, hai mắt nhìn nhau. Vai trái có một con mắt, vai phải có một con mắt, hai mắt nhìn nhau. Như vậy tổng cộng có mười con mắt trí huệ nhìn nhau, đối khán lẫn nhau, chiếu ánh sáng về phía nhau, cuối cùng đan vào nhau thành lưới ánh sáng. Pháp tu hành này gọi là tu hành trong phòng tối - bế hắc quan tu hành.

10 con mắt này đều nhìn nhau, đầu tiên bạn quán tưởng nhìn, khi ánh sáng của dây xích kim cang, ánh sáng bát nhã có thể dẫn vào trong tim bạn thì bạn có thể nhìn thấy ánh sáng. Ở đây dùng phương thức dồn ép để ép ra, giống như khi bạn bóp kem đánh răng để ép cho kem đi ra. Đây là một pháp tu hành chân thực, chỉ cần có ánh sáng sinh ra trong tâm bạn, dẫn ánh sáng vào bên trong thân thể hành giả, 10 con mắt trí huệ đều tràn đầy ánh sáng của xích kim cang, đan chéo nhau tạo thành lưới ánh sáng, chiếu tới chiếu lui về phía nhau, ánh sáng sẽ chạm vào nhau, giằng giữ lẫn nhau, chiếu về phía nhau. Sau khi luyện thành công cái này rồi thì lại biến lỗ chân lông trên toàn thân bạn thành con mắt trí huệ, lỗ chân lông trên toàn thân giống như từng con mắt, ánh sáng từ trong tâm bạn từ bên trong các lỗ chân lông này sinh ra. Lúc này toàn thân bạn là mắt, toàn bộ đều phóng ra ánh sáng.

Lúc này toàn thân đều là mắt, toàn thân chính là mắt, toàn thân là ánh sáng, tự thân đã trở hành đức tướng của Vô Lượng Quang Như Lai, trong thân vô lượng ánh sáng đó xuất hiện vô lượng Bổn tôn, vô lượng Không hành, vô lượng Hộ pháp. Thành tựu cao nhất là ánh sáng bản giác hiển hiện, cũng tức là Phật quang hiển hiện, ánh sáng của Như Lai hiển hiện trong thân bạn. 

Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang có trăm vị văn võ. Chính nhờ sự dẫn dắt của Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang mà đến cuối cùng có Văn Võ Bách Tôn xuất hiện, đây là hiện tượng các vị xuất hiện để dẫn dắt một người vãng sinh Phật quốc, rất đơn giản, nhất định phải ghi nhớ.

Lúc hành giả lâm chung và nhìn thấy ánh sáng cực kì mạnh xuất hiện trước mắt thì bạn hãy nhập vào ánh sáng ấy, đó là ánh sáng ban sơ, ánh sáng Phật tính ban sơ. Ánh sáng này hiển hiện không phải đến từ nơi nào khác, mà chính là ánh sáng Phật tính của chính bạn. Cơ hội này qua rồi thì bạn còn cơ hội tiếp theo là có Văn Tôn và Võ Tôn, và cơ hội có một nửa Văn Võ Tôn. Cơ hội thứ ba là Bổn tôn của bạn xuất hiện, bạn dung nhập vào Bổn tôn. Hộ pháp của bạn xuất hiện, bạn dung nhập vào Hộ pháp là cơ hội thứ tư. Còn có một cơ hội nữa, chính là Bổn tôn phẫn nộ và tươi cười xuất hiện, đây là cơ hội vãng sinh thứ năm. Sau năm cơ hội này mà bạn không tận dụng được thì sẽ phải lục đạo luân hồi, không thể vãng sinh đến Phật quốc tịnh thổ được.

Thế giới này phân thành quá khứ, hiện tại, vị lai. Nhưng nếu dựa theo việc thành Phật mà nói thì bạn tu Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang bạn sẽ biết, khi bạn lên đến đỉnh cao nhất, thông thường bạn sẽ đạt đến sự thường hằng vĩnh viễn. Sư Tôn khuyến khích mọi người đạt được sự thường hằng vĩnh viễn, niềm vui vĩnh viễn, thanh tịnh vĩnh viễn, Phật ngã vĩnh viễn. Tu Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang sẽ đắc được bốn chữ “thường, lạc, ngã, tịnh”. Nếu không tu hành thì vĩnh viễn dừng lại ở “khổ, không, vô thường, vô ngã”, vĩnh viễn dừng lại ở đây.


![image](/img/img_4b09c682703b23e5d8778db152470199.jpg)


Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/dai-luan-kim-cang-mahachakra-niem-tung-phap.md
# Title: Đại Luân Kim Cang Mahachakra niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_2d9c6f61e4ce7b78d351381f5ae17a04.jpg)



## Đại Luân Kim Cang niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


(1) Quán Không.

(2) Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (7 biến)

(3) Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

(4) Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Đại Luân Kim Cang.

(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)

Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê. 

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_f33b69d40f54a621ba8059d22fcc8004.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn ****Đại Luân Kim Cang**

Ngón út và áp út đan nội phộc, ngón trỏ và ngón cái chắp lại, ngón giữa móc vào ngón trỏ. 

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời xanh vạn dặm không mây, có một nguyệt luân từ dưới biển nhô lên, ở giữa nguyệt luân xuất hiện chủng tử tự chữ “Hum” (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu trắng phóng quang và xoay chuyển hóa thành Đại Luân Kim Cang.

(2) Đại Luân Kim Cang hiện thân màu trắng, mắt hơi nhìn lên trên, tay phải gập lại cầm chuỗi niệm hạt, tay trái gập lại cầm chày ba chấu, chân trái co đầu gối lại, ngồi trên tòa hoa sen màu trắng.

(3) Quán tưởng từ thiên tâm của Đại Luân Kim Cang phóng ra một đường ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả, từ họng của ngài phóng ra một đường ánh sáng đỏ chiếu đến họng của hành giả, từ tâm luân của ngài phóng ra một đường ánh sáng màu xanh lam chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng đi vào thân tâm hành giả, gia trì cho hành giả thân tâm thanh tịnh.


### Phần 14: Trì tâm chú Đại Luân Kim Cang


Tâm chú: Ôm ta-la-ma-ti sit-ta ka-li-ya ta-lan sô-ha. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Hum), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Đại Luân Kim Cang, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định.


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hum.


### Giới thiệu pháp tướng Đại Luân Kim Cang


Đại Luân Kim Cang hiện thân màu trắng, mắt hơi nhìn lên trên, tay phải gập lại cầm chuỗi niệm hạt, tay trái gập lại cầm chày ba chấu, chân trái co đầu gối lại, ngồi trên tòa hoa sen màu trắng.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị lai lịch của Đại Luân Kim Cang và khẩu quyết tu pháp


Đại Luân theo Phạn văn là Mahachakra, lời thề nguyện của ngài là “thành tựu tất cả mandala”, vì vậy Đại Luân Kim Cang Bồ Tát còn được gọi là Mạn Đà La Bồ Tát. Trong Kim cương giới, Đại Luân Kim Cang có một xưng hiệu là Kim Cang Khởi có nghĩa là khởi nguồn của mọi pháp tu Kim cương thừa. 

Pháp tướng Đại Luân Kim Cang trong Đông mật và Tạng mật có điểm không giống nhau. Trong Đông mật, thân ngài màu trắng, cầm chày kim cang ba chấu, ba chấu này tách ra như ba cái răng. Còn trong Tạng mật ngài đội mũ, có râu, chày kim cang thì là chày năm chấu và chụm lại. 

Đại Luân Kim Cang có hai lai lịch:
Thứ nhất là Phật Thích Ca Mâu Ni chuyển hóa thành Đại Luân Kim Cang. 
Thứ hai là Di Lặc Bồ Tát chuyển hóa thành Đại Luân Kim Cang. 

Kim Cang Nhân Bồ Tát là do lời thề gốc của Di Lặc hóa hiện ra, Đại Luân Kim Cang là giáo lệnh luân thân của Di Lặc, cũng là hóa thân kim cang phẫn nộ. 

Thích Ca Mâu Ni Phật và Di Lặc Bồ Tát đều là Đại Quyền Thần Vương Phật, tại nhân gian, Đại Quyền Thần Vương Phật biểu thị rằng ngài nắm quyền hành lớn nhất, tất cả những gì mà ngài nói ra cũng chính là quyền uy. Vì thế, sức mạnh của Đại Luân Kim Cang là vô cùng, cực kì vĩ đại.

Ngài là hóa thân của Thích Ca Mâu Ni Phật, Di Lặc Bồ Tát, Đại Quyền Thần Vương Phật. Nhận được quán đảnh của Đại Luân Kim Cang, bạn sẽ xuất hiện tại Long Hoa Tam Hội của Di Lặc Bồ Tát, hơn nữa Di Lặc Bồ Tát còn hướng dẫn bạn thành Phật.

Bánh xe lớn của Đại Luân Kim Cang tức là ánh sáng của ngài giống như một bánh xe pháp rất lớn, đâu đâu cũng có thể chiếu tới, vì vậy gọi là Đại Luân. Bất luận bạn là chúng sinh ở trong đạo nào của lục đạo, chỉ cần bạn muốn tu pháp thì ngài sẽ phóng quang, tấm lòng từ bi của ngài giống như bánh xe pháp lớn chuyển động không dừng, phóng quang không ngừng.

Kinh “Đại Luân Kim Cang đà-la-ni” ghi chép rằng: “Tụng chú này 21 biến, có thể thành tất cả chú pháp, việc thiện mau chóng thành tựu; có thể thành tất cả ấn pháp, tất cả đàn pháp, khi vào đại đàn mandala không cần sự đàn.”

Kinh “Đà-la-ni tập” ghi chép rằng: “Tụng chú này 37 biến, lập tức có thể nhập vào tất cả mandala, mọi việc làm đều thành, tụng chú có thân ấn và các loại pháp ấn, nếu làm thủ ấn, tụng mọi chú pháp, dễ đắc thành nghiệm. Nếu người nào chưa từng vào đàn nhận quán đảnh, không được lập tức làm tất cả thủ ấn, nhưng nếu có người tụng chú này thì cũng giống như vào đàn, làm thủ ấn hay thực hành công dụng thì không xem là trộm pháp.”

“Đại Tạng Mật Yếu” viết: “Dựa theo những điều được dạy, tất cả chân ngôn thủ ấn phải nhận từ vị thầy, nếu chưa vào luân đàn quán đảnh mà lập tức kết thủ ấn làm pháp thì đắc tội trộm pháp, mọi việc làm đều không thành. Nếu ở trước tượng Như Lai, tụng chú này 21 biến, lập tức giống như thấy Như Lai, cũng giống như vào tất cả mandala, mọi pháp mong cầu đều đắc thành tựu.”

Trong pháp bản “An Lạc Diệu Bảo” cũng ghi chép lại nghi quỹ tu trì pháp Đại Luân Kim Cang Bồ Tát, Mật giáo truyền pháp là phải có Kim cương Thượng sư quán đảnh truyền pháp cho một người, nếu chưa nhận quán đảnh mà tu trì pháp thì sẽ phạm vào tội vượt pháp hoặc tội trộm pháp. Nhưng Mật giáo cũng có phương tiện linh động để thích hợp với những vùng xa xôi, nơi không có Kim cương Thượng sư thường trú, vậy thì người không có cách nào nhận quán đảnh cũng có thể tiếp tục tu trì Mật pháp, chỉ cần trì tâm chú của Đại Luân Kim Cang Bồ Tát là có thể tu pháp mà không phải lo lắng, đợi đến ngày gặp được Kim cương Thượng sư chân chính thì lại cầu quán đảnh.

Đại Luân Kim Cang từng nói như thế này, chỉ cần trì chú Đại Luân Kim Cang vô số biến là có thể “tự ban quán đảnh”. 

Vì Đại Luân Kim Cang là Đại Quyền Thần Vương Phật, cho nên có thể tự ban quán đảnh. Giống như Phật Thích Ca Mâu Ni, ngài chính là Đại Quyền Thần Vương Phật, giống như Di Lặc Bồ Tát cũng là Đại Quyền Thần Vương Phật. Thời đại Phật Nhiên Đăng, ngài cũng là Đại Quyền Thần Vương Phật; thời đại Phật Kim Quang, ngài cũng là Đại Quyền Thần Vương Phật; thời đại Phật Đại Uy Đức, ngài cũng là Đại Quyền Thần Vương Phật. Không có nhiều vị là Đại Quyền Thần Vương Phật, nhưng ở thế gian Ta Bà trở thành vị Phật giáo chủ chính là Đại Quyền Thần Vương Phật.

Khi chúng sinh chúng ta muốn quán đảnh mà không tìm được Thượng sư đủ tiêu chuẩn, hoặc không tìm được Thượng sư có thể quán đảnh cho bạn, bạn hãy trực tiếp cầu Đại Luân Kim Cang. Cách cầu như thế nào? Mọi nghi quỹ nhất định phải chu toàn, quan trọng nhất là hiến dâng thân tâm của bạn cho Đại Luân Kim Cang. Chỉ cần bạn hoàn toàn 100% dâng hiến thân tâm của mình cho Đại Luân Kim Cang, ở trước mặt ngài rất khiêm nhường cúi mình làm đại lễ bái trước ngài, làm đại cúng dường, trì tâm chú của ngài, nghênh thỉnh ngài đến đàn thành thì bạn có thể tự ban quán đảnh.

Tự ban quán đảnh có ý nghĩa gì? Nghĩa là bản thân ở trước đàn thành, không có Thượng sư, tự mình trì chú, thỉnh cầu Bổn tôn của bạn giáng lâm, giáng lâm xuống vị Báo thân, tức là giáng lâm lên Bổn tôn, giáng lâm lên đàn thành, từ đàn thành lại phóng quang chiếu đến bạn, đây chính là tự ban quán đảnh, tự mình trao quán đảnh cho mình, đây là điểm quan trọng nhất của Đại Luân Kim Cang. 

Đại Luân Kim Cang có thể tự ban quán đảnh là có nguyên nhân, bạn đã biết rằng Mật pháp, bạn có được pháp bản nhưng ở nơi bạn sống không có Thượng sư, không cách nào thỉnh cầu Thượng sư quán đảnh cho bạn được, khi ấy, bạn hãy niệm 21 biến chú Đại Luân Kim Cang, sau đó lại cầu thỉnh muốn Bổn tôn quán đảnh giáng lâm ban quán đảnh cho mình, đây tức là tự mình quán đảnh cho mình. Đại Luân Kim Cang có năng lực như vậy, các vị khác không có, bởi vì ngài đại diện cho Phật Thích Ca Mâu Ni, đại diện cho Di Lặc Bồ Tát, đại diện cho Đại Quyền Thần Vương Phật, vì thế có thể tự ban quán đảnh.

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/dai-luc-kim-cang-niem-tung-phap.md
# Title: Đại Lực Kim Cang niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_c365818eb2021476ea5e0281899c27df.jpg)



## Đại Lực Kim Cang niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Đại Lực Kim Cang.
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha.  


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng tam quang bao trùm



![image](/img/img_d66b270dc905d54b3a6e44970968a817.jpg)


**Kết ấn:**

Kết ấn Kì khắc (ấn Phẫn nộ), hai tay đều từ ngực hướng ra bên ngoài. 

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Từ chữ “Ban” tiếng Phạn sinh ra hoa sen, trong hoa sen có một vầng mặt trăng, trong vầng mặt trăng có chữ Hum (tiếng Phạn) màu xanh lam. (Về quán tưởng màu sắc của chữ Hum, màu đỏ là kính ái, xanh lam là hàng phục, trắng là thanh tịnh, vàng là tăng phúc.)

(2) Từ chữ Hum phóng ánh sáng xanh lam, xuất hiện Đại Lực Kim Cang, thân kim cang màu xanh lam (hoặc đỏ, vàng, trắng), bốn cánh tay. Chân trái duỗi, chân phải cong. 
Một cánh tay cầm gậy - dùng gậy để đánh ngất kẻ thù.
Một cánh tay cầm thừng - dùng dây thừng để trói.
Một cánh tay cầm phất trần - quét sạch nghiệp chướng.
Một cánh tay kết ấn Kì khắc - kết ấn Kì khắc ra dấu hiệu.

(3) Đại Lực Kim Cang một mặt bốn cánh tay, tóc vàng dựng đứng, dùng con rắn để buộc tóc, miệng nhe ra để lộ răng nanh. Thân quấn váy da hổ, đầu đội vòng nhật quang, trên đỉnh đầu là A Di Đà Như Lai. (Vòng nhật quang có màu trắng, cực kì trắng, có năm vòng, trên cao nhất là A Di Đà Phật.) 

Vị Hộ pháp này giống như viên đá quý màu xanh, từ chữ Hum màu xanh lam phóng ánh sáng ra bốn phía, triệu thỉnh các vị trong vũ trụ.

(4) Chữ Hum phóng quang chiếu thẳng đến hành giả, hành giả biến hóa thành Đại Lực Kim Cang. 
(Vị Hộ pháp này giống như một viên đá quý, màu đỏ thì giống như hồng ngọc, màu lam thì giống như ngọc lam, màu vàng giống như đá hoàng ngọc - topaz, màu trắng giống như kim cương. Ánh sáng từ chữ Hum phóng tỏa để triệu thỉnh các vị trong vũ trụ, rồi lại chiếu đến hành giả, Om Ah Hum, hành giả biến thành Đại Lực Kim Cang.)


### Phần 14: Trì tâm chú Đại Lực Kim Cang


Tâm chú: Ôm ma-ha ba-la-ya sô-ha. (108 biến)
(Đại Lực Kim Cang cấm quỷ chú là: Ôm ma-ha ba-la-ya hùm hùm pây.)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Hum), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Đại Lực Kim Cang, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 

**Tụng tán:**

Đại Lực Kim Cang phẫn nộ vương
Thân sắc tựa như đá hồng ngọc
Ý niệm duy nhất hàng phục ma
Kính lễ trước vị đại uy lực.


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


![image](/img/img_f783c7de236f0710b7f5eedd7fa90450.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Đại Lực Kim Cang


Đại Lực Kim Cang, thân kim cang màu xanh lam (hoặc đỏ, vàng, trắng), bốn cánh tay. Chân trái duỗi, chân phải cong, tóc vàng dựng đứng, dùng con rắn để buộc tóc, miệng nhe ra để lộ răng nanh. Thân quấn váy da hổ, đầu đội vòng nhật quang, trên đỉnh đầu là A Di Đà Như Lai. (Vòng nhật quang có màu trắng, cực kì trắng, có năm vòng, trên cao nhất là A Di Đà Phật.) 
Một cánh tay cầm gậy - dùng gậy để đánh ngất kẻ thù.
Một cánh tay cầm thừng - dùng dây thừng để trói.
Một cánh tay cầm phất trần - quét sạch nghiệp chướng.
Một cánh tay kết ấn Kì khắc - kết ấn Kì khắc ra dấu hiệu.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị về lai lịch vĩ đại của Đại Lực Kim Cang và yếu quyết tu pháp


Đại Lực Kim Cang là tướng phẫn nộ của Liên Hoa Đồng Tử, là một vị Kim Cang Thần vô cùng đặc biệt của Chân Phật Tông, đại diện cho truyền thừa Chân Phật Tông. Ngoại giới thật sự không có hình tượng của vị Kim Cang Thần này, chỉ Chân Phật Tông mới có, là vị Đại Hộ Pháp của tông phái. Tại Tây Tạng vốn cũng có Đại Lực Kim Cang nhưng không được truyền rộng rãi, ít người biết, ít người tu. 

Mahabala cũng chính là Hộ pháp Đại Lực, có lời thề nguyện là hộ trì Chân Phật Tông. Trên đỉnh đầu Đại Lực Kim Cang là A Di Đà Phật, giữ vị trí ở phía trên của thangka, bên phải là Diêu Trì Kim Mẫu, bên trái là Tiếu Diện Quỷ Vương.

Đại Lực Kim Cang là vị Kim Cang Thần từ tự tâm Liên Hoa Đồng Tử xoay chuyển mà xuất hiện. Trên bàn tay của Lư Sư Tôn, ở ngón cái tay phải, có dấu vân tay của Đại Lực Quỷ Vương rất thật và rõ ràng. Đại Lực Kim Cang (Tiếu Diện Quỷ Vương) cũng là một trong sáu đại thị giả của Địa Tạng Vương Bồ Tát.

Trong cuốn văn tập Lư Thắng Ngạn số 76 “Đêm ở hồ U Linh”, chương “Giáng xuống đạo địa ngục” có viết: Liên Hoa Đồng Tử ở Thúy Vân Thánh Cung đã gặp mặt Địa Tạng Vương Bồ Tát, cũng gặp sáu vị sứ giả của Địa Tạng Vương Bồ Tát, sáu vị sứ giả này chính là Diễm Ma sứ giả, Trì Bảo đồng tử, Đại Lực sứ giả, Đại Từ thiên nữ, Bảo Tạng thiên nữ, Nhiếp Thiên sứ giả, 

Trong số sáu sứ giả của Địa Tạng, Đại Lực sứ giả vì có sự giao phó của Địa Tạng Bồ Tát muốn ngài đi theo Liên Hoa Đồng Tử để độ chúng sinh, cho nên tương lai sẽ trở thành thị giả của Liên Hoa Đồng Tử, Đại Lực sứ giả chính là Đại Lực Quỷ Vương. Bởi vì khuôn mặt tươi cười của ngài cho nên Liên Sinh Hoạt Phật gọi ngài là Tiếu Diện Quỷ Vương, ẩn thân trong ngón tay cái trên bàn tay phải của Liên Sinh Hoạt Phật. Đó là nhân duyên của Tiếu Diện Đại Lực Quỷ Vương - thị giả của Liên Sinh Hoạt Phật.

Đại Lực Kim Cang là vị Kim Cang Thần do năm thân gồm A Di Đà Phật, Diêu Trì Kim Mẫu, Địa Tạng Vương Bồ Tát, Đại Lực thị giả, Liên Hoa Đồng Tử kết hợp lại mà thành. Hình tướng của ngài có cầm phất trần, cây phất trần này chính là tượng trưng cho Diêu Trì Kim Mẫu. Thế còn A Di Đà Phật? Chính là vật trang trí trên đầu của Đại Lực Kim Cang, ở trên cao nhất, nguồn gốc của ngài chính là A Di Đà Phật. Vị Phật chủ yếu ở phía trên của thangka chính là A Di Đà Phật, A Di Đà Phật hóa thành Đại Lực Kim Cang. Còn vì sao là Địa Tạng Vương Bồ Tát? Bởi vì Địa Tạng Vương Bồ Tát hóa ra Đại Lực thị giả. Vì sao là Liên Hoa Đồng Tử? Bởi vì Địa Tạng Vương Bồ Tát tặng Đại Lực thị giả cho Lư Sư Tôn, ngài ở ngay trên ngón tay cái của tôi, trở thành hộ pháp của Sư Tôn. Vì sao là Liên Hoa Đồng Tử? Cầm gậy chính là Liên Hoa Đồng Tử. Vì thế, Đại Lực Kim Cang là năm vị hóa thành một thân, hình tướng của ngài là cầm gậy, cầm phất trần, còn cả cầm dây thừng, Đại Lực thị giả cũng cầm dây thừng, hình tướng của ngài là như vậy.

Bạn tương ứng với Đại Lực Kim Cang rồi thì cũng giống như tương ứng với A Di Đà Phật, tương ứng với Diêu Trì Kim Mẫu, tương ứng với Liên Hoa Đồng Tử, tương ứng với Địa Tạng Vương Bồ Tát, tương ứng với Đại Lực thị giả. Tôi nói thế này là hết sức rõ ràng rồi.

Đại Lực Kim Cang vĩ đại như vậy, mọi người tu pháp nhất định cần tương ứng. Thủ ấn của ngài là ấn Kì khắc, có bốn tay, một tay cầm gậy, một tay cầm phất trần, một tay cầm thừng kim cang, một tay kết ấn cầm chuỗi hạt, vô cùng uy nghi. Ngài có thể hàng phục Tứ ma, thế nào là Tứ ma? Đầu tiên là bệnh ma, cái khổ của đời người đầu tiên phải kể đến là bệnh, thật đó, bệnh là khổ nhất, ngài có thể hàng phục bệnh ma. Thế rồi hàng phục phiền não ma, bạn tu pháp của ngài thì phiền não không còn nữa. Quanh thân ngài là ngọn lửa màu đỏ đốt sạch phiền não của bạn. Bạn tu Đại Lực Kim Cang còn có thể hàng phục ngũ uẩn ma, ngũ uẩn ma là gì? Sắc, thọ, tưởng, hành, thức, ngũ uẩn này đều có thể hàng phục được hết. Quan trọng nhất là hàng phục tử ma, nếu hàng phục tử ma thì bạn có thể cứ liên tục tu hành mãi. Nếu cái chết xuất hiện, chết rồi thì rất khó tu hành, lại theo lục đạo mà luân hồi, theo nghiệp chướng mà đi chuyển thế. Chỉ có không chết, có thể trường thọ, trong khoảng thời gian đó có thể tu hành cho tốt, tử ma sẽ bị bạn hàng phục, có thể trường thọ. Ngoài ra còn có thể hàng phục thiên ma của Đại Tự Tại Thiên. Thiên ma của Đại Tự Tại Thiên là lợi hại nhất. Cho nên tu Đại Lực Kim Cang có nhiều lợi ích như vậy. Ngài còn có thể ban phúc, bởi vì trong ngài có Liên Hoa Đồng Tử nên có thể ban phúc cho bạn. Ngài có thể cho bạn trí huệ, bởi vì có A Di Đà Như Lai, bản thân A Di Đà Như Lai cũng có một thân khác chính là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, mà Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát là vị Bồ Tát trí huệ nên cũng có thể ban cho bạn trí huệ, trí huệ Như Lai giống như A Di Đà Phật.

Đại Lực Kim Cang kì thực là vị Kim Cang Thần của giới luật. Pháp tu của ngài nếu muốn làm kính ái thì quán tưởng ngài màu đỏ, muốn làm hàng phục thì quán tưởng ngài màu xanh lam, muốn làm thanh tịnh thì quán tưởng ngài màu trắng, muốn được phúc được lợi thì quán tưởng ngài màu vàng.

Đại Lực Kim Cang có thủ ấn là ấn Kì khắc, ấn Kì khắc cũng chính là ấn phẫn nộ, cực kì tức giận. Chủng tử tự của ngài cũng là chữ “hum”, dường như các vị Kim Cang Thần, Ngũ Đại Kim Cang của Tạng Mật gồm Hỉ Kim Cang, Mật Tập Kim Cang, Thắng Lạc Kim Cang, Đại Uy Đức Kim Cang, Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang đều có chủng tử tự là chữ “hum”. 

Đại Lực Kim Cang có bốn cánh tay, một cánh tay cầm gậy kim cang, một cánh tay cầm phất trần, phất trần có tác dụng gì? Chính là tác dụng thanh tịnh. Gậy có tác dụng gì? Có tác dụng đánh ngất người ta. Một cánh tay của ngài cầm thừng kim cang, thừng có tác dụng gì? Có tác dụng trói buộc. 

Đối với đệ tử phạm giới, không sám hối, cũng không biết hối cải, cũng không hiểu lời Khổng Tử dạy rằng một ngày phải ba lần tự kiểm điểm bản thân, cứ ra sức phạm giới, Đại Lực Kim Cang sẽ một gậy đánh ngất, dùng dây thừng trói lại, rồi lôi đến địa ngục vô gián. Thế nào gọi là vô gián? Là thời gian không gián đoạn. Nếu địa ngục còn cho bạn có chỗ tạm nghỉ thì không gọi là địa ngục vô gián, đó gọi là hữu gián, để cho bạn đau khổ một chút rồi sẽ cho khôi phục lại như ban đầu. Cái gọi là vô gián tức là không gián đoạn, đau khổ không ngắt quãng. 

Nói để mọi người biết, phạm giới rồi, phất trần của Đại Lực Kim Cang chỉ cần phẩy qua người bạn thì bạn sẽ trở nên thanh tịnh, bởi vì bạn có tự kiểm điểm, có hối hận thì sẽ không trách lỗi xưa nữa.

Mật giáo cũng có một quy luật: Đối với người phạm giới, bạn đi cùng với họ, bạn cũng sẽ biến thành người phạm giới. Cho nên phải giữ khoảng cách, bởi vì phạm giới rồi sẽ truyền nhiễm, lây nhiễm cho người khác. Tuyệt đối không được phạm giới, cũng không được ở cùng với người phạm giới, trừ phi bạn là Đại Lực Kim Cang, bạn đã có định lực rồi, bạn có power (sức mạnh) rồi, “tôi vĩnh viễn thanh tịnh”, “tôi đến chỗ của anh chính là muốn độ hóa anh, bằng không thì sẽ kéo nhau xuống địa ngục”. Nếu bạn là một người phạm giới mà lại dẫn theo các đệ tử Chân Phật Tông cùng rơi xuống hố, tất cả đều đi cùng bạn thì thôi xong rồi.

Pháp kính ái Đại Lực Kim Cang thì tức là đánh khẽ người khác một chút, khiến họ trở nên mơ màng rồi yêu bạn luôn, sau đó dùng thừng kim cang để trói chặt đối tượng của bạn lại, trói về nhà, kết hôn cùng bạn, đây chính là pháp kính ái. Còn đánh rất mạnh thì là dùng thừng để trói xuống địa ngục.

Đại Lực Kim Cang có thể hàng phục kẻ thù, loại bỏ chướng ngại, tất cả những người đối địch với bạn sẽ đều hàng phục được hết. Đại Lực Kim Cang có thể đạt được sự kính ái, khiến cho đối tượng ban đầu không có ý gì với bạn, chẳng mấy chốc sẽ chuyển thành có tình ý với bạn. (Thủ pháp của ngài khá uy lực, bởi vì ngài là Đại Lực Kim Cang.)

Tu hành pháp này sẽ gặt hái được: thân thể khỏe mạnh, uy phong, chỉ huy tất cả. (Đạt được mọi ý muốn.)

Pháp cấm ma Đại Lực Kim Cang:

Thỉnh tượng hoặc tranh ảnh của Đại Lực Kim Cang về thờ ở nhà, bày cúng phẩm, thắp ba nén hương. Hành giả đứng trong nhà, kết thủ ấn, quán tưởng Đại Lực Kim Cang đứng ở cửa, sau đó tụng chú Đại Lực Kim Cang: Om mahabalaya hum hum pei. (108 biến)

Đồng thời, cứ mỗi ô cửa sổ lại quán tưởng có Đại Lực Kim Cang, kết thủ ấn, niệm 108 biến. Làm như vậy thì ma quỷ sẽ không thể vào nhà. 
Làm hàng ngày đều được. Hoặc cứ 15 ngày thì làm một lần. Như vậy gia trạch sẽ được bình an, trở nên thanh tịnh. Hành giả trong lúc đi đứng ngồi nằm thường trì chú Đại Lực Kim Cang tự sẽ được bảo vệ bình an.


![image](/img/img_bd4b273998adc8b30475ba5d86f3c029.jpg)


Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/dai-nhat-nhu-lai-kim-cuong-gioi-niem-tung-phap.md
# Title: Đại Nhật Như Lai kim cương giới niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_8591dd10dc60222899fc94ddf15aee14.jpg)



## Đại Nhật Như Lai kim cương giới niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Thỉnh cầu Căn bản Truyền thừa gia trì. Tay kết thủ ấn Căn bản Thượng sư, quán tưởng Căn bản Thượng sư phóng ba ánh sáng trắng, đỏ, lam chiếu đến hành giả, gia trì hành giả tu pháp viên mãn. Niệm chú Căn bản Thượng sư 7 lần. Niệm văn cầu thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật gia trì 1 lần.

- Quán tứ vô lượng tâm.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô chủ tôn tu pháp Đại Nhật Như Lai. (x3)
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tát cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Mặc giáp hộ thân


Kết thủ ấn chắp tay kim cang, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cang thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Phụng thỉnh bát đại Bồ Tát
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Kim Cang Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Diệu Cát Tường Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.

Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ thất Phật. Vị lai hiền kiếp thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Niệm danh hiệu Phật sáu phương
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyệt Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Hết thảy chúng sinh trung ương, chư vị trong Phật giới, trú ngụ trên mặt đất, cho đến tại không trung, thương lo cho tất cả chúng sinh. Ai cũng an ổn tốt lành. Ngày đêm tu trì. Tâm thường cầu tụng kinh này. Diệt được khổ sinh tử. Tiêu trừ hết độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Tụng bản kinh không ngừng. Thất Phật Thế Tôn. Liền nói chú sau:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-lô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-ki-a-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha” (7 lần)

Mười phương Quan Thế Âm. Hết thảy chư Bồ Tát.
Đã thề cứu chúng sinh. Xướng danh tất giải thoát.

Nếu gặp người trí tuệ. Ân cần mà giảng nói.
Lại có đủ nhân duyên. Đọc tụng không ngơi nghỉ.
Tụng kinh tròn nghìn biến. Niệm niệm tâm không dừng.
Gặp lửa cháy chẳng sao. Việc đao binh cũng thoát.
Nóng giận thành vui vẻ. Chết rồi hóa sống vui.
Đừng nghĩ rằng không đúng. Chư Phật chẳng nói chơi.
Cao Vương Quan Thế Âm. Cứu được hết khổ nạn.
Lúc khó khăn nguy cấp. Người chết còn thành sống.
Chư Phật chẳng nói đùa. Vì vậy nên đảnh lễ.
Niệm tụng trọn nghìn lần. Tội nặng đều tiêu diệt.
Người có phúc tín tâm. Hãy chuyên tâm đọc tụng.

Nguyện mang công đức này. Gửi tới hết chúng sinh.
Tụng tròn một nghìn biến. Tội nặng đều tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (Hết)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 10: Kết ấn và Quán tưởng tam quang bao trùm



![image](/img/img_98ab491c862f17a85d0cb0e3fec35184.jpg)


**Kết ấn: Kim cương giới Đại Nhật Như Lai thủ ấn (ngũ trí ấn)**

Tay trái nắm lại, duỗi ngón trỏ ra, năm ngón tay phải nắm lấy ngón trỏ tay trái, ngón cái tay phải đè lên đầu ngón trỏ tay trái.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời trong vạn dặm không mây, một vầng mặt trăng từ dưới biển nhô lên không trung, ở chính giữa vầng mặt trăng có một chủng tự chữ Fan (tiếng Phạn) màu trắng phóng ra ánh sáng màu trắng.

(2) Chữ Fan ở giữa vầng mặt trăng quay tròn hóa thành Đại Nhật Như Lai, pháp thân Đại Nhật Trí, thân ngài có màu vàng của diêm phù đàn kim [Loại vàng được sản xuất từ dòng sông Nada chảy qua rừng cây diêm phù, này có màu vàng đỏ óng ánh như tia lửa, là loại quí nhất trong các loại vàng.], giống như tướng của Bồ Tát, đội mũ miện ngũ trí, đầu đội búi tóc như vương miện, toàn thân phóng ra ánh sáng đủ màu sắc, thân khoác dải lụa, đây là ấn hiệu của bậc chính giác tối cao tại Hội Đầu Đà Thiên [còn có tên khác là Ngũ Tịnh Cư Thiên, Ngũ Bất Hoàn Thiên] tay kết ấn trí quyền.

(3) Thiên tâm của Đại Nhật Như Lai phóng ra một đường ánh sáng trắng, chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả. Vị trí họng của ngài phóng ra một đường ánh sáng đỏ, chiếu thẳng đến họng của hành giả. Tâm luân của ngài phóng ra một đường ánh sáng xanh lam, chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng trắng, đỏ, lam hòa tan vào trong thân tâm của hành giả.


### Phần 11: Trì tâm chú Đại Nhật Như Lai


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Đại Nhật Như Lai đến trước mặt mình.

**Chú ngữ:**

Ôm ben-za ta-tu fan. (108 biến)


### Phần 12: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Fan), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Đại Nhật Như Lai, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 13: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 


### Phần 14: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-tê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 15: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 16: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 17: Hồi hướng


Gia trì tu pháp đạt thành tựu
Trăm bệnh tiêu trừ phúc huệ tăng
Mong cùng Bổn tôn hợp làm một
Chúng sinh thế giới được an vui.

Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. xin đem công đức này hồi hướng. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 18: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 19: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


![image](/img/img_4a76f4800dcfc637948f56e3b25afe0f.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Kim cương giới Đại Nhật Như Lai


Thân ngài có màu vàng của diêm phù đàn kim [Loại vàng được sản xuất từ dòng sông Nada chảy qua rừng cây diêm phù, này có màu vàng đỏ óng ánh như tia lửa, là loại quí nhất trong các loại vàng.], giống như tướng của Bồ Tát, đội mũ miện ngũ trí, đầu đội búi tóc như vương miện, toàn thân phóng ra ánh sáng đủ màu sắc, thân khoác dải lụa, đây là ấn hiệu của bậc chính giác tối cao tại Hội Đầu Đà Thiên [còn có tên khác là Ngũ Tịnh Cư Thiên, Ngũ Bất Hoàn Thiên] tay kết ấn trí quyền, có đầy đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, ngồi tư thế kiết già trên tòa bảy sư tử. 


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị lai lịch thù thắng của Đại Nhật Như Lai


Đại Nhật Như Lai tiếng Phạn chính là Maha Vairocana, còn gọi là Biến Chiếu Kim Cang, có nghĩa là ánh sáng lớn chiếu khắp nơi, là mặt trời to lớn chiếu khắp nơi, hoặc chiếu tất cả mọi nơi.

Đại Nhật Như Lai có ý nghĩa là ánh sáng chiếu khắp tất cả vạn vật trong vũ trụ mà không có một chút chướng ngại nào.

Bởi vì Đại Nhật Như Lai, đối với bên trong thì chiếu xuyên pháp giới chân như, đối với bên ngoài thì chiếu xuyên tất cả chúng sinh và không có trở ngại. Sự viên mãn các đức hành của ngài, pháp tính vĩnh viễn bất biến của ngài, có thể nói là tập hợp pháp tính của tất cả chư tôn, hơn nữa còn đầy ắp mọi nơi, vì thế được tôn là chủ tôn của Mật tông, tức là Đại Nhật giáo chủ.

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn biết Đại Nhật Như Lai có một xưng hiệu khác mà thế nhân không biết, tôn xưng của ngài là: Tối Cao Hiển Quảng Nhãn Tạng Như Lai.

Hình tượng của Đại Nhật Như Lai trong mandala Kim cương giới gọi là Đại Nhật Trí pháp thân, tay kết ấn trí quyền. 

Trong Thai tạng giới, gọi là Đại Nhật Lí pháp thân, ấn tướng là pháp giới định ấn.

Hình tượng Đại Nhật Như Lai không có tướng đứng, chỉ có tướng ngồi, ở đây có một tầng ý nghĩa sâu xa hơn. Bởi vì ngài là Trung Ương Thiền Định Phật, hình tượng của ngài chính là ở trong thiền định rất sâu. 

Vairocana Đại Nhật Như Lai cũng chính là tổ sư của Mật giáo, ngài là một vị quan trọng nhất trong Ngũ Phật, pháp giới thể tính trí là quan trọng nhất, cũng có thể nói là toàn bộ ngũ trí tập trung trên người Vairocana Đại Nhật Như Lai, từ bản thân ngài lại hóa tiếp ra.

Đại Nhật Như Lai có Phật Mẫu, chính là Đại Cát Tường Thiên Mẫu (Đại Cát Tường Kim Cang Minh Phi), cũng chính là Phật Nhãn Phật  Mẫu. Trước đây, tôi viết là Vô Tà Nhãn Như Lai, chính là Phật Nhãn Phật Mẫu, kì thực là một vị, Phật Mẫu và Vairocana Đại Nhật Như Lai là một. Nếu có song thân, Phật Mẫu đại diện cho trí huệ, Bổn tôn (Phật Phụ) đại diện cho phương tiện. Tuy nhiên, nếu có phương tiện mà không có trí huệ thì cũng không thành, vì thế song thân là tượng trưng cho trí huệ và phương tiện, ý nghĩa là ở đây.

Đại Nhật Như Lai có ba biểu trưng:
Thứ nhất, quang minh biến chiếu, ý nghĩa là ánh sáng của ngài không đâu là không chiếu đến, bất kì pháp giới nào cũng đều có thể được chiếu tới.
Thứ hai, trí huệ biến chiếu, trí huệ của ngài là tổng hợp của mọi trí huệ bên trong các pháp giới, chính là trí huệ viên mãn, cũng chính là trí huệ biến chiếu.
Thứ ba, phá phiền biến chiếu, ngài có thể phá bỏ mọi phiền não.

Vì thế, “biến chiếu” của ngài có ba ý nghĩa, một là quang minh, một là trí huệ, một là phá bỏ mọi phiền não.

Đại Nhật Như Lai (Phật Vairocana) có ba thân:
1. Pháp thân — biến khắp pháp giới.
2. Báo thân — tại Đại Tự Tại Thiên, tịnh thổ Kim Cương Pháp Giới Tối Thắng cung. 
3. Ứng thân — tùy hình lục đạo đủ loại giáo hóa.

Đại Nhật Như Lai là pháp thân, báo thân, ứng thân, có thể nói ngài là mẹ của Chư Phật, thân của ngài màu trắng, thiên y váy xếp màu trắng, đầu đội mũ Ngũ Phật, kết ấn trí quyền, ấn chuyển pháp luân, mọi pháp luân đều là do ngài chuyển động, mọi trí huệ viên mãn nhất. 

Chú ngữ Kim cương giới của ngài là “Om benza tatu fan” nghĩa là “tôn sùng Biến Chiếu Kim Cương Đại Nhật Như Lai có trí huệ nhất”. 
Chú ngữ Thai tạng giới của ngài là “Ah ua la hum khan”, chính là đất, nước, lửa, gió, không. 
Chú ngữ của cả hai bộ Kim và Thai là: “Om benza tatu fan ah ua la hum khan.” Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng mọi người niệm là “Ah wei la hum khan”, có khi thì niệm là “Ah ua (âm ở giữa ua và wei) la hum khan”, âm đọc như vậy mới chuẩn xác. 

“Om benza tatu fan ah ua la hum khan.” 

Ngày xưa Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn từng nói, tiền thân của Liên Sinh Hoạt Phật là Liên Hoa Đồng Tử, tiền thân của Liên Hoa Đồng Tử là Vô Tà Nhãn Như Lai, tên gọi khác của Vô Tà Nhãn Như Lai chính là Phật Nhãn Phật Mẫu. Phật Nhãn Phật Mẫu vốn là Đại Cát Tường Kim Cang Minh Phi, là do Đại Nhật Như Lai sinh ra.

Liên Sinh Hoạt Phật từ lâu đã biết mình là Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử ở Ma Ha Song Liên Trì của Tây phương Cực Lạc thế giới hạ sinh, chính là A Di Đà Phật phó thác mà thừa nguyện lại đến. 

Nguồn gốc mà ngài truy tìm là: Đại Nhật Như Lai hóa hiện Phật Nhãn Phật Mẫu, hai con mắt của Phật Nhãn Phật Mẫu chính là Ma Ha Song Liên Trì, Phật Nhãn Phật Mẫu hóa hiện Liên Hoa Đồng Tử, Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện Liên Sinh Hoạt Phật.

Cho nên truyền thừa của ngài chính là: 
Đại Nhật Như Lai - Phật Nhãn Phật Mẫu - Liên Hoa Đồng Tử - Liên Sinh Hoạt Phật.

Kinh Đại Nhật (Đại Tì Lô Giá Na thành Phật thần biến gia trì kinh), và một quyển khác là kinh Kim Cương Đỉnh (Kim cương đỉnh nhất thiết Như Lai chân thực nhiếp Đại thừa hiện chứng đại giáo chủ kinh), hai cuốn kinh điển này đều là do Đại Nhật Như Lai thuyết. Mật giáo chính là lấy Đại Nhật Như Lai làm tổ sư.

Trong Mật giáo, hai bộ kinh điển của Kim cương giới, Thai tạng giới là Kinh Đại Nhật và Kinh Kim Cương Đỉnh đều lấy Vairocana Đại Nhật Như Lai làm chủ tôn.

Đại Nhật Như Lai trong mandala có hai bộ, có Thai tạng bộ (Thai tạng giới) và Kim cương bộ (Kim cương giới). Thai tạng giới là nhân, Kim cương giới là quả, Thai tạng giới là mandala của nhân, Kim cương giới là mandala của quả, có nghĩa là bạn đang tu hành mandala của nhân và tu hành mandala của chứng quả. 

Vì thế, các vị của Thai tạng giới gọi là “lí hóa thân”, nghĩa là hóa thân của Phật lí, các vị trong Kim cương giới gọi là “tri hóa thân”, nghĩa là hóa thân của trí huệ. Một là nhân, một là quả, hai cái khác nhau, hai cái không giống nhau. 

Còn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn là người đã từng đến Đại Tự Tại Thiên, cũng đã đi vào cung Pháp Giới Tối Thắng, gặp mặt Đại Nhật Như Lai. 

Đại Nhật Như Lai Vairocana đích thực ở tại Đại Tự Tại Thiên thuyết pháp.
Đại Tự Tại Thiên không phải là cõi trời thứ sáu của Dục giới, mà là đỉnh của Sắc giới  Thất Bất Hoàn Thiên.

Đại Tự Tại Thiên này không phải là cõi trời của Thiên Ma mà con người bình thường tưởng tượng ra, mà là cõi tịnh thổ do Đại Nhật Như Lai biến hiện, cung Kim Cương Pháp Giới Tối Thắng nằm ở tịnh thổ Đại Tự Tại Thiên này.
Bên trong tịnh thổ này đều là Bồ Tát thập địa, cũng tức là những Bồ Tát chuẩn bị thành Phật.
Bồ Tát thập địa ở tại cung Kim Cương Pháp Giới Tối Thắng nghe Đại Nhật Như Lai thuyết pháp.

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/dai-nhat-nhu-lai-quan.md
# Title: Đại Nhật Như Lai quán
---

![image](/img/img_0fbca86b7b36939608d4d2de7308e90f.jpg)



## Đại Nhật Như Lai quán


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### **Chú ngữ: **


Ôm. Ben-za ta-tu. Fan. (Ah. Ưa. La. Hùm. Khan.)


### **Công đức của pháp:**


Người tu trì Đại Nhật Như Lai quán sẽ có năng lực di chuyển được núi và biển, ví dụ, người đó biết rằng biển sẽ biến thành ruộng dâu, núi cũng sẽ biến thành biển, đồng thời, có thể dự tính được khi nào núi biến thành biển, biển biến thành núi.

Nói chung, ở trong một đất nước, hoặc một bang, hoặc  một thành phố nếu có người tu thành tựu pháp Đại Nhật Như Lai quán thì đất nước, bang hoặc thành phố đó sẽ ít có thiên tai như bão hoặc động đất, hoặc lũ lụt hạn hán, hoặc dịch bệnh, v.v… Chủ yếu là vì pháp Đại Nhật Như Lai quán có đại nhật chiếu khắp, chắc chắn khiến cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, ngũ cốc dồi dào, người người an cư lạc nghiệp.


### **Nghi quỹ:**


Liên Sinh Hoạt Phật biết rằng Đại Nhật Như Lai có một xưng hiệu khác mà người đời không biết, tôn xưng của ngài là: Tối Cao Hiển Quảng Nhãn Tạng Như Lai. 

Cho nên bí mật pháp thân biến hóa của Liên Sinh Hoạt Phật chính là: 
Đại Nhật Như Lai - Vô Tà Nhãn Như Lai (Phật Nhãn Phật Mẫu) - Liên Hoa Đồng Tử -  Liên Sinh Hoạt Phật.

Tôi đặc biệt viết ra bài kệ tụng tán Đại Nhật Như Lai như sau: 
(Trước khi tu pháp thì hát bài tụng tán.)

*Quy mệnh Đại Nhật lễ Tam Bảo.
Giáo chủ tạo nên muôn hình tướng.
Nhãn Tạng Như Lai đại bi tôn.
Thanh tịnh ba nghiệp lợi chúng sinh.
Thắng hết tam thế thập phương Phật.
Trong bí mật thừa cũng kham năng.
Ruộng phúc vô thượng đáng ca ngợi.
Lệnh đắc ba thân lần lượt thành.
Cúi lạy Đại Nhật tự tại chủ.
Chuỗi ngọc trang nghiêm chuyển pháp luân.
Trong Kim cương giới đức vô biên.
Thiện xảo huyễn võng bền bỉ giữ.
Trao truyền quán đảnh các thắng nghiệp.
Quyền hiện phàm tướng Thai tạng giới.
Tam muội du già thập bát hội.
Đảnh lễ thỉnh cầu hiện diệu nghĩa.*

Trước khi tu pháp, ở trong mật đàn, cần tụng tán ba lần.

Bây giờ tôi sẽ tường thuật lại nghi quỹ tu trì Đại Nhật Như Lai quán như sau:

(Bắt đầu từ niệm chú thanh tịnh cho đến Cao Vương Quan Thế Âm chân kinh, từ mục 1 đến 7 mỗi lần tu pháp đều phải làm, nên ở đây lược bỏ.)

Kết ấn: ấn trí quyền — Tay trái nắm lại, duỗi ngón trỏ ra, năm ngón tay phải nắm lấy ngón trỏ tay trái, ngón cái tay phải đè lên đầu ngón trỏ tay trái, giữ ấn trước ngực.

Quán tưởng: đầu tiên quán tưởng chủng tử chữ Fan của Bổn tôn ở trong hư không xoay tròn, sau đó quán tưởng chủng tử tự hóa thành bảo tháp trang nghiêm. Từ bảo tháp trang nghiêm lại chuyển thành Tỳ Lô Giá Na Như Lai. Tỳ Lô Giá Na Phật ngồi nghiêm tư thế kiết già trên tòa hoa sen tám cánh ở giữa nguyệt luân, có màu vàng kim đại uy đức, thân khoác thiên y màu trắng lông ngỗng, có tất cả mọi tướng tốt, phong thái an tường viên mãn, đầu đội mũ miện, tóc rủ xuống như dải lụa tết, thân thể là tất cả minh chú, làm vô lượng thần biến, tay kết ấn đại trí quyền, phóng tỏa vô lượng ánh sáng quý.

Quán tưởng trong vô lượng ánh sáng quý có vô lượng chủng tử chữ Fan, vô lượng ánh sáng quý quán đảnh cho hành giả Mật tông, chủng tử tự của Bổn tôn ở tim, ở mi tâm, ở họng, ở rốn, ở hai tay, ở hai chân, chủng tính của Bổn tôn đầy ắp toàn thân. Nói cách khác là hành giả Mật tông toàn thân đầy ắp chủng tính tự và bách bảo vô lượng quang.

“Đoàng” một tiếng, trong sát-na, hành giả biến hóa thành Đại Nhật Như Lai. 

Niệm chú: Ôm. Mua-rư-la-thua-tu. Chung. (108 biến)

Niệm chú xong, hơ chuỗi hạt trên lư hương, hai tay chắp thế hoa sen nâng chuỗi hạt, đặt trước ngực, quán tưởng chân ngôn chữ Fan, dung nhập vào trong chuỗi hạt, thành tựu công đức bí mật tạng. Từ đó quán tưởng chữ Fan nhập vào trong 108 hạt của chuỗi hạt.

Niệm chú: Ôm. Mua-rư-la-yu-xi-yê. Rưa-pua. Sa-ma-ti. Hùm. (7 biến)

Tĩnh tọa (kết ấn). Nhập Tam ma địa. 
Tam ma địa này tức là Tam ma địa của Đại Nhật Như Lai. Chính là Đại Nhật Như Lai ngũ tướng thành thân. Tại Sắc cứu cánh thiên vương cung hiện thành đẳng chính giác, có đầy đủ tất cả Như Lai Phổ Hiền đại bồ đề tâm, dùng sức mạnh samaya để sản sinh ra Tam ma địa kiên cố nhất, hỷ lạc vô cùng.

Xuất định hồi hướng:

*Nguyện đem công đức này.
Tự thành Đại Nhật tôn.
Thập phương Phật Bồ Tát.
Hiện ngay trong mạn-đà.*

Vỗ tay xuống khỏi pháp tọa.
Đại lễ bái Phật. Rời khỏi đàn thành.
Viên mãn cát tường.


### **Liên Sinh Hoạt Phật khai thị tâm yếu khẩu quyết:**


Đại Nhật Như Lai có tên tiếng Phạn là Maha Vairocana, cũng chính là Đại Quang Minh Biến Chiếu, hoặc Đại Nhật Biến Chiếu, hoặc Biến Nhất Thiết Xứ Chiếu. Vị Như Lai này có ý nghĩa là ánh sáng chiếu tất cả vạn vật vũ trụ mà không có chút chướng ngại nào. Bởi vì Đại Nhật Như Lai, về bên trong thì chiếu xuyên pháp giới chân như, về bên ngoài thì chiếu khắp tất cả chúng sinh mà không có chướng ngại, cho nên sự viên mãn các đức hành của ngài, pháp tính vĩnh viễn bất biến của ngài, có thể nói là tập hợp tất cả pháp tính của chư tôn, và ở khắp mọi nơi, vì vậy ngài được tôn là chủ tôn của Mật tông, tức là Đại Nhật Giáo Chủ.

Hình tượng của Đại Nhật Như Lai trong Kim cương giới là: “Pháp thân Đại Nhật Trí, thân Phật có màu vàng của diêm phù đàn kim, giống như tướng của Bồ Tát, đầu đội búi tóc như vương miện, toàn thân phóng ra ánh sáng đủ màu sắc, thân khoác dải lụa, đây là ấn hiệu của bậc chính giác tối cao tại Hội Đầu Đà Thiên, tay kết ấn trí quyền.”

Hình tượng của Đại Nhật Như Lai trong Thai tạng giới là: “Đại Nhật Như Lai ngồi trên tòa hoa sen tám cánh. Toàn thân màu vàng kim, có hình tướng giống Bồ Tát, chân ngồi kiết già trên tòa hoa sen quý, đầu đội mũ Ngũ Phật, đeo dải khăn trắng, phía sau đầu là vòng tròn ánh sáng ngũ sắc đan xen, ánh sáng trên đầu như mây, ánh sáng từ thân tỏa ra nhiều lớp, nhẹ như tơ, mái tóc màu xanh tím rủ xuống hai vai. Tai đeo khuyên tai vàng, cổ đeo nhiều vòng chuỗi hạt châu báu, mọi châu báu quý giá, và tóc bằng ngọc xanh và lộng lẫy, xõa xuống đầu gối, đeo vòng ngọc trên hai cánh tay, hai cổ tay đeo vòng vàng. Hai lòng bàn tay đặt lên nhau, tay phải ở trên, tay trái ở dưới, ngón cái chạm vào nhau, ngửa lên, đặt bên dưới rốn. Thân trên khoác áo trắng nhẹ nhàng đẹp đẽ, bên dưới mặc váy gấm, gấm xanh quần lụa, đai dệt bằng gấm xanh.”

Tại Chân Phật Mật Uyển có hai bức mandala, bức bên phải là madala Kim cương giới, bức bên trái là mandala Thai tạng giới. Còn Đại Nhật Như Lai chính là kinh Đại Nhật và kinh Kim Cương Đỉnh - hai bộ giáo điển căn bản của Mật tông, chiếm vị trí chủ tôn trong hai bộ mandala Kim cương giới và Thai tạng giới.

Nghe nói, đại sư Hoằng Pháp (Không Hải) của Nhật Bản đến Trung Thổ học Mật tông, đại sư Hoằng Pháp ở chỗ của lão hòa thượng Huệ Quả đã tung hoa để chọn Bổn tôn, cú tung hoa đó đã tung trúng vào Đại Nhật Như Lai. Đại sư Hoằng Pháp của Nhật Bản chính là tổ sư Đông mật của Mật tông Nhật Bản.

Tên gốc của kinh Đại Nhật là kinh Đại Tỳ Lô Giá Na Thành Phật Thần Biến Gia Trì. Lấy Tỳ Lô Giá Na làm biệt danh của mặt trời, do vậy nói rằng kinh Đại Nhật và 14 quyển giải nghĩa đều là sáu quyển kinh văn đầu trong số bảy quyển kinh gốc do Thiện Vô Úy Tam Tạng giải thích. Quyển thứ bảy nói về thứ tự cúng dường mà bản kinh này đã nói, là do pháp sư Bất Khả Tư Nghì giải thích, gọi là Bất Khả Tư Nghì Sớ. 

Tên gốc của kinh Kim Cương Đỉnh là kinh Kim Cương Đỉnh Nhất Thiết Như Lai Chân Thực Nhiếp Đại Thừa Hiện Chứng Đại Giáo Vương, là tên chung của 10 vạn bài kệ 18 hội bản tiếng Phạn. Ba quyển do Bất Không dịch, còn Thí Hộ thì dịch kinh Phật Thuyết Nhất Thiết Như Lai Chân Thực Nhiếp Đại Thừa Hiện Chứng Tam Muội Giáo Vương. Ngoài ra còn có kinh Kim Cương Đỉnh Du Già Trung Lược Xuất Niệm Tụng do Kim Cương Trí dịch. Ba bản dịch này đều là kinh Kim Cương Đỉnh.

Ngày xưa Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn từng nói, tiền thân của Liên Sinh Hoạt Phật là Liên Hoa Đồng Tử, tiền thân của Liên Hoa Đồng Tử là Vô Tà Nhãn Như Lai, tên gọi khác của Vô Tà Nhãn Như Lai chính là Phật Nhãn Phật Mẫu. Phật Nhãn Phật Mẫu vốn là Đại Cát Tường Kim Cang Minh Phi, là do Đại Nhật Như Lai sinh ra.

Trong Đại Nhật Như Lai quán, Liên Sinh Hoạt Phật có một miêu tả đặc biệt, chính là lấy chủng tử pháp tính của Bổn tôn bí mật dung nhập vào trong chuỗi hạt, trở thành bí mật công đức tạng. Pháp bí mật này vô cùng trân quý, pháp này có một tên gọi chính là Chuyển châu minh. 

Yếu quyết của Đại Nhật Như Lai quán đương nhiên trước tiên là chú tự, sau đó là bảo tháp, rồi biến thành Đại Nhật Như Lai. Tiếp đó là chú tự phóng ánh sáng đầy ắp toàn thân, thế là tự mình biến thành Bổn tôn Đại Nhật Như Lai. 

Hành giả tu trì Đại Nhật Như Lai quán nếu đắc thành tựu thì chắc chắn trở thành “hải nội long tượng”. Thế nào là hải nội long tượng? Đây là một so sánh rồng đi trong nước, sức mạnh lớn nhất, voi đi trên đất liền cũng có sức mạnh lớn nhất, rồng và voi chính là người gánh vác đại pháp. Nói ngắn gọn là, thanh danh vang dội khắp thế giới, thành tựu của người đó sẽ khiến người đời kinh thán.

Theo như tôi biết, người chuyên tu trì Đại Nhật Như Lai quán có thể tức thân thành Phật, đồng thời thân có ánh sáng, nếu hành nghề y cứu đời thì chính là một vị danh y.

Tôi nhớ có một danh y Lama chuyên bí mật tu Đại Nhật Như Lai quán. 

Danh y Lama này cùng nhiều vị Lama cưỡi ngựa đến vùng xa, đến nơi mà dân cư ít đến, có một con ngựa trong số đó đột ngột chết, vì thế hành trình bị trì hoãn.

Danh y Lama nói: “Tôi có thể khiến cho ngựa chết sống lại.”
Mọi người nghe xong thì đều lắc đầu không tin. 
Danh y Lama chỉ yêu cầu ở cùng con ngựa chết một đêm.
Danh y Lama ban đêm ngủ cùng ngựa, dùng mũi mình hít thở vào mũi con ngựa. Kể cũng lạ, con ngựa đó có được khí trong người của danh y Lama thì không ngờ đã sống dậy, nhảy vọt lên, cất tiếng hí như bình thường.
Các Lama khác đều kinh thán.
Lúc đó họ mới biết công đức to lớn của Đại Nhật Như Lai quán.

Người tu trì Đại Nhật Như Lai quán sẽ có năng lực di chuyển được núi và biển, ví dụ, người đó biết rằng biển sẽ biến thành ruộng dâu, núi cũng sẽ biến thành biển, đồng thời, có thể dự tính được khi nào núi biến thành biển, biển biến thành núi.

Nói chung, ở trong một đất nước, hoặc một bang, hoặc  một thành phố nếu có người tu thành tựu pháp Đại Nhật Như Lai quán thì đất nước, bang hoặc thành phố đó sẽ ít có thiên tai như bão hoặc động đất, hoặc lũ lụt hạn hán, hoặc dịch bệnh, v.v… Chủ yếu là vì pháp Đại Nhật Như Lai quán có đại nhật chiếu khắp, chắc chắn khiến cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, ngũ cốc dồi dào, người người an cư lạc nghiệp.

Người tu trì Đại Nhật Như Lai quán, đương nhiên tâm lượng phải vô cùng lớn, phải lấy tâm từ bi làm chính. Trong Phật pháp, tâm từ bi phân làm ba loại:
Chúng sinh từ — tức là coi chúng sinh trong thiên hạ là cha mẹ, anh em mình. (Ta kính trọng bậc cha mẹ ta cũng như kính trọng các bậc cha mẹ của mọi người, ta yêu thương con em ta cũng như yêu thương con em của mọi người.) [Lời của Mạnh Tử] Thậm chí coi chúng sinh trong thiên hạ giống như là chính mình. 

Pháp duyên từ — phá bỏ ngã tướng, hoàn toàn thông đạt cái không gốc của mọi pháp, như phá bốn tướng của kinh Kim Cang, cái từ bi do phá bốn tướng dẫn đến chính là pháp duyên từ.

Vô duyên từ — đây là cái từ “tam luân thể không” vô tận, tức là cái từ bi của chư Phật, có thể phổ duyên tất cả chúng sinh, biết các duyên không thật, hư vọng điên đảo, vì thế tâm không có nguyên do. Tuy làm việc từ bi nhưng không thấy người nhận sự từ bi đó, không thấy người làm việc từ bi, thậm chí không biết người làm việc đó là từ bi, đó là không bỏ sót không tướng, cũng không bỏ sót hữu tướng. Kiểu từ bi này gọi là vô duyên từ và vô sự từ.

Đại Nhật Như Lai quán kì thực là pháp phản quán nội chiếu, phần đông người chuyên tu thành tựu tương ứng có thể nhìn thấy ngũ tạng bên trong thân thể mình sáng đẹp rực rỡ.

“Ngũ tạng trong người, sáng như đại nhật” - cái thần trí sáng rõ này, trong pháp tu này là một công phu thực tiễn, người thành tựu pháp này ở trong bóng tối thì con mắt cũng có ánh sáng long lanh, có thể ở trong đêm tối không cần bật đèn cũng có thể nhìn thấy vật, đây là sự tương ứng ban sơ nhất.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng đại thành tựu giả của pháp tu hành vào lúc lâm chung có thể ngay cả lông tóc xương cốt cũng sẽ hóa hết, không còn sót lại một chút nào, không có một chút tro nào, hoàn toàn dung nhập vào trong đại nhật. Đạo thăng thiên này còn lợi hại hơn cả hóa thân cầu vồng. Đây là:
Chôn xương chẳng cần nơi đất tổ.
Hào quang đại nhất thấu huyền quan.

---
# File: nghi-quy-tu-tap/dai-nhat-nhu-lai-thai-tang-gioi-niem-tung-phap.md
# Title: Đại Nhật Như Lai thai tạng giới niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_8591dd10dc60222899fc94ddf15aee14.jpg)



## Đại Nhật Như Lai thai tạng giới niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Thỉnh cầu Căn bản Truyền thừa gia trì. Tay kết thủ ấn Căn bản Thượng sư, quán tưởng Căn bản Thượng sư phóng ba ánh sáng trắng, đỏ, lam chiếu đến hành giả, gia trì hành giả tu pháp viên mãn. Niệm chú Căn bản Thượng sư 7 lần. Niệm văn cầu thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật gia trì 1 lần.

- Quán tứ vô lượng tâm.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô chủ tôn tu pháp Đại Nhật Như Lai. (x3)
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tát cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Mặc giáp hộ thân


Kết thủ ấn chắp tay kim cang, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cang thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Phụng thỉnh bát đại Bồ Tát
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Kim Cang Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Diệu Cát Tường Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.

Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ thất Phật. Vị lai hiền kiếp thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Niệm danh hiệu Phật sáu phương
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyệt Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Hết thảy chúng sinh trung ương, chư vị trong Phật giới, trú ngụ trên mặt đất, cho đến tại không trung, thương lo cho tất cả chúng sinh. Ai cũng an ổn tốt lành. Ngày đêm tu trì. Tâm thường cầu tụng kinh này. Diệt được khổ sinh tử. Tiêu trừ hết độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Tụng bản kinh không ngừng. Thất Phật Thế Tôn. Liền nói chú sau:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-lô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-ki-a-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha” (7 lần)

Mười phương Quan Thế Âm. Hết thảy chư Bồ Tát.
Đã thề cứu chúng sinh. Xướng danh tất giải thoát.

Nếu gặp người trí tuệ. Ân cần mà giảng nói.
Lại có đủ nhân duyên. Đọc tụng không ngơi nghỉ.
Tụng kinh tròn nghìn biến. Niệm niệm tâm không dừng.
Gặp lửa cháy chẳng sao. Việc đao binh cũng thoát.
Nóng giận thành vui vẻ. Chết rồi hóa sống vui.
Đừng nghĩ rằng không đúng. Chư Phật chẳng nói chơi.
Cao Vương Quan Thế Âm. Cứu được hết khổ nạn.
Lúc khó khăn nguy cấp. Người chết còn thành sống.
Chư Phật chẳng nói đùa. Vì vậy nên đảnh lễ.
Niệm tụng trọn nghìn lần. Tội nặng đều tiêu diệt.
Người có phúc tín tâm. Hãy chuyên tâm đọc tụng.

Nguyện mang công đức này. Gửi tới hết chúng sinh.
Tụng tròn một nghìn biến. Tội nặng đều tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (Hết)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 10: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_98ab491c862f17a85d0cb0e3fec35184.jpg)


**Kết ấn: Thai tạng giới Đại Nhật Như Lai thủ ấn (pháp giới định ấn)**

Hai lòng bàn tay ngửa đặt lên nhau, tay phải ở trên, hai ngón cái chạm vào nhau, đặt thủ ấn bên dưới rốn.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời trong vạn dặm không mây, một vầng mặt trăng từ dưới biển nhô lên không trung, ở chính giữa vầng mặt trăng có một chủng tự chữ Ah (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu vàng kim phóng ra ánh sáng màu vàng kim.

(2) Chữ Ah ở giữa vầng mặt trăng quay tròn hóa thành Đại Nhật Như Lai. Đại Nhật Như Lai ngồi trên tòa hoa sen tám cánh. Toàn thân màu vàng kim, có hình tướng giống Bồ Tát, chân ngồi kiết già, đầu đội mũ Ngũ Phật, đeo dải khăn trắng, phía sau đầu là vòng tròn ánh sáng ngũ sắc đan xen, ánh sáng trên đầu như mây, ánh sáng từ thân tỏa ra nhiều lớp, nhẹ như tơ, mái tóc màu xanh tím rủ xuống hai vai. Tai đeo khuyên tai vàng, cổ đeo nhiều vòng chuỗi hạt châu báu, mọi châu báu quý giá, và tóc bằng ngọc xanh và lộng lẫy, xõa xuống đầu gối, đeo vòng ngọc trên hai cánh tay, hai cổ tay đeo vòng vàng. Hai lòng bàn tay đặt lên nhau, tay phải ở trên, tay trái ở dưới, ngón cái chạm vào nhau, ngửa lên, đặt bên dưới rốn. Thân trên khoác áo trắng nhẹ nhàng đẹp đẽ, bên dưới mặc váy gấm, gấm xanh quần lụa, đai dệt bằng gấm xanh. 

(3) Thiên tâm của Đại Nhật Như Lai phóng ra một đường ánh sáng trắng, chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả. Vị trí họng của ngài phóng ra một đường ánh sáng đỏ, chiếu thẳng đến họng của hành giả. Tâm luân của ngài phóng ra một đường ánh sáng xanh lam, chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng trắng, đỏ, lam hòa tan vào trong thân tâm của hành giả.


### Phần 11: Trì tâm chú Đại Nhật Như Lai


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Đại Nhật Như Lai đến trước mặt mình.

**Chú ngữ:**

A ưa la hùm khan. (108 biến)


### Phần 12: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Ah), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Bổn tôn Đại Nhật Như Lai, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 13: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 


### Phần 14: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-tê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 15: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 16: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 17: Hồi hướng


Gia trì tu pháp đạt thành tựu
Trăm bệnh tiêu trừ phúc huệ tăng
Mong cùng Bổn tôn hợp làm một
Chúng sinh thế giới được an vui.

Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. xin đem công đức này hồi hướng. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 18: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 19: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


![image](/img/img_e04ddc8072e617d08a1c8f8fd8c83af2.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Kim cương giới Đại Nhật Như Lai


Đại Nhật Như Lai ngồi trên tòa hoa sen tám cánh. Toàn thân màu vàng kim, có hình tướng giống Bồ Tát, chân ngồi kiết già, đầu đội mũ Ngũ Phật, đeo dải khăn trắng, phía sau đầu là vòng tròn ánh sáng ngũ sắc đan xen, ánh sáng trên đầu như mây, ánh sáng từ thân tỏa ra nhiều lớp, nhẹ như tơ, mái tóc màu xanh tím rủ xuống hai vai. Tai đeo khuyên tai vàng, cổ đeo nhiều vòng chuỗi hạt châu báu, mọi châu báu quý giá, và tóc bằng ngọc xanh và lộng lẫy, xõa xuống đầu gối, đeo vòng ngọc trên hai cánh tay, hai cổ tay đeo vòng vàng. Hai lòng bàn tay đặt lên nhau, tay phải ở trên, tay trái ở dưới, ngón cái chạm vào nhau, ngửa lên, đặt bên dưới rốn. Thân trên khoác áo trắng nhẹ nhàng đẹp đẽ, bên dưới mặc váy gấm, gấm xanh quần lụa, đai dệt bằng gấm xanh. 


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị lai lịch thù thắng của Đại Nhật Như Lai


Đại Nhật Như Lai tiếng Phạn chính là Maha Vairocana, còn gọi là Biến Chiếu Kim Cang, có nghĩa là ánh sáng lớn chiếu khắp nơi, là mặt trời to lớn chiếu khắp nơi, hoặc chiếu tất cả mọi nơi.

Đại Nhật Như Lai có ý nghĩa là ánh sáng chiếu khắp tất cả vạn vật trong vũ trụ mà không có một chút chướng ngại nào.

Bởi vì Đại Nhật Như Lai, đối với bên trong thì chiếu xuyên pháp giới chân như, đối với bên ngoài thì chiếu xuyên tất cả chúng sinh và không có trở ngại. Sự viên mãn các đức hành của ngài, pháp tính vĩnh viễn bất biến của ngài, có thể nói là tập hợp pháp tính của tất cả chư tôn, hơn nữa còn đầy ắp mọi nơi, vì thế được tôn là chủ tôn của Mật tông, tức là Đại Nhật giáo chủ.

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn biết Đại Nhật Như Lai có một xưng hiệu khác mà thế nhân không biết, tôn xưng của ngài là: Tối Cao Hiển Quảng Nhãn Tạng Như Lai.

Hình tượng của Đại Nhật Như Lai trong mandala Kim cương giới gọi là Đại Nhật Trí pháp thân, tay kết ấn trí quyền. 

Trong Thai tạng giới, gọi là Đại Nhật Lí pháp thân, ấn tướng là pháp giới định ấn.

Hình tượng Đại Nhật Như Lai không có tướng đứng, chỉ có tướng ngồi, ở đây có một tầng ý nghĩa sâu xa hơn. Bởi vì ngài là Trung Ương Thiền Định Phật, hình tượng của ngài chính là ở trong thiền định rất sâu. 

Vairocana Đại Nhật Như Lai cũng chính là tổ sư của Mật giáo, ngài là một vị quan trọng nhất trong Ngũ Phật, pháp giới thể tính trí là quan trọng nhất, cũng có thể nói là toàn bộ ngũ trí tập trung trên thân Vairocana Đại Nhật Như Lai, từ bản thân ngài lại hóa tiếp ra.

Đại Nhật Như Lai có Phật Mẫu, chính là Đại Cát Tường Thiên Mẫu (Đại Cát Tường Kim Cang Minh Phi), cũng chính là Phật Nhãn Phật Mẫu. Trước đây, tôi viết là Vô Tà Nhãn Như Lai, chính là Phật Nhãn Phật Mẫu, kì thực là một vị, Phật Mẫu và Vairocana Đại Nhật Như Lai là một. Nếu có song thân, Phật Mẫu đại diện cho trí huệ, Bổn tôn (Phật Phụ) đại diện cho phương tiện. Tuy nhiên, nếu có phương tiện mà không có trí huệ thì cũng không thành, vì thế song thân là tượng trưng cho trí huệ và phương tiện, ý nghĩa là ở đây.

Đại Nhật Như Lai có ba biểu trưng:
Thứ nhất, quang minh biến chiếu, ý nghĩa là ánh sáng của ngài không đâu là không chiếu đến, bất kì pháp giới nào cũng đều có thể được chiếu tới.
Thứ hai, trí huệ biến chiếu, trí huệ của ngài là tổng hợp của mọi trí huệ bên trong các pháp giới, chính là trí huệ viên mãn, cũng chính là trí huệ biến chiếu.
Thứ ba, phá phiền biến chiếu, ngài có thể phá bỏ mọi phiền não.

Vì thế, “biến chiếu” của ngài có ba ý nghĩa, một là quang minh, một là trí huệ, một là phá bỏ mọi phiền não.

Đại Nhật Như Lai (Phật Vairocana) có ba thân:
1. Pháp thân — biến khắp pháp giới.
2. Báo thân — tại Đại Tự Tại Thiên, tịnh thổ Kim Cương Pháp Giới Tối Thắng cung. 
3. Ứng thân — tùy hình lục đạo đủ loại giáo hóa.

Đại Nhật Như Lai là pháp thân, báo thân, ứng thân, có thể nói ngài là mẹ của Chư Phật, thân của ngài màu trắng, thiên y váy xếp màu trắng, đầu đội mũ Ngũ Phật, kết ấn trí quyền, ấn chuyển pháp luân, mọi pháp luân đều là do ngài chuyển động, mọi trí huệ viên mãn nhất. 

Chú ngữ Kim cương giới của ngài là “Om benza tatu fan” nghĩa là “tôn sùng Biến Chiếu Kim Cương Đại Nhật Như Lai có trí huệ nhất”. 
Chú ngữ Thai tạng giới của ngài là “Ah ua la hum khan”, chính là đất, nước, lửa, gió, không. 
Chú ngữ của cả hai bộ Kim và Thai là: “Om benza tatu fan ah ua la hum khan.” Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng mọi người niệm là “Ah wei la hum khan”, có khi thì niệm là “Ah ua (âm ở giữa ua và wei) la hum khan”, âm đọc như vậy mới chuẩn xác. 

“Om benza tatu fan ah ua la hum khan.” 

Ngày xưa Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn từng nói, tiền thân của Liên Sinh Hoạt Phật là Liên Hoa Đồng Tử, tiền thân của Liên Hoa Đồng Tử là Vô Tà Nhãn Như Lai, tên gọi khác của Vô Tà Nhãn Như Lai chính là Phật Nhãn Phật Mẫu. Phật Nhãn Phật Mẫu vốn là Đại Cát Tường Kim Cang Minh Phi, là do Đại Nhật Như Lai sinh ra.

Liên Sinh Hoạt Phật từ lâu đã biết mình là Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử ở Ma Ha Song Liên Trì của Tây phương Cực Lạc thế giới hạ sinh, chính là A Di Đà Phật phó thác mà thừa nguyện lại đến. 

Nguồn gốc mà ngài truy tìm là: Đại Nhật Như Lai hóa hiện Phật Nhãn Phật Mẫu, hai con mắt của Phật Nhãn Phật Mẫu chính là Ma Ha Song Liên Trì, Phật Nhãn Phật Mẫu hóa hiện Liên Hoa Đồng Tử, Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện Liên Sinh Hoạt Phật.

Cho nên truyền thừa của ngài chính là: 
Đại Nhật Như Lai - Phật Nhãn Phật Mẫu - Liên Hoa Đồng Tử - Liên Sinh Hoạt Phật.

Kinh Đại Nhật (Đại Tì Lô Giá Na thành Phật thần biến gia trì kinh), và một quyển khác là Kinh Kim Cương Đỉnh (Kim cương đỉnh nhất thiết Như Lai chân thực nhiếp Đại thừa hiện chứng đại giáo chủ kinh), hai cuốn kinh điển này đều là do Đại Nhật Như Lai thuyết. Mật giáo chính là lấy Đại Nhật Như Lai làm tổ sư.

Trong Mật giáo, hai bộ kinh điển của Kim cương giới, Thai tạng giới là Kinh Đại Nhật và Kinh Kim Cương Đỉnh đều lấy Vairocana Đại Nhật Như Lai làm chủ tôn.

Đại Nhật Như Lai trong mandala có hai bộ, có Thai tạng bộ (Thai tạng giới) và Kim cương bộ (Kim cương giới). Thai tạng giới là nhân, Kim cương giới là quả, Thai tạng giới là mandala của nhân, Kim cương giới là mandala của quả, có nghĩa là bạn đang tu hành mandala của nhân và tu hành mandala của chứng quả. 

Vì thế, các vị của Thai tạng giới gọi là “lí hóa thân”, nghĩa là hóa thân của Phật lí, các vị trong Kim cương giới gọi là “trí hóa thân”, nghĩa là hóa thân của trí huệ. Một là nhân, một là quả, hai cái khác nhau, hai cái không giống nhau. 

Còn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn là người đã từng đến Đại Tự Tại Thiên, cũng đã đi vào cung Pháp Giới Tối Thắng, gặp mặt Đại Nhật Như Lai. 

Đại Nhật Như Lai Vairocana đích thực ở tại Đại Tự Tại Thiên thuyết pháp.
Đại Tự Tại Thiên không phải là cõi trời thứ sáu của Dục giới, mà là đỉnh của Sắc giới Thất Bất Hoàn Thiên.

Đại Tự Tại Thiên này không phải là cõi trời của Thiên Ma mà con người bình thường tưởng tượng ra, mà là cõi tịnh thổ do Đại Nhật Như Lai biến hiện, cung Kim Cương Pháp Giới Tối Thắng nằm ở tịnh thổ Đại Tự Tại Thiên này.
Bên trong tịnh thổ này đều là Bồ Tát thập địa, cũng tức là những Bồ Tát chuẩn bị thành Phật.
Bồ Tát thập địa ở tại cung Kim Cương Pháp Giới Tối Thắng nghe Đại Nhật Như Lai thuyết pháp.

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/dai-nhat-tri-hue-phap.md
# Title: Đại Nhật trí huệ pháp
---

## Đại Nhật trí huệ pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp! 

**Chú ngữ: **Ôm. Ben-za ta-tu. Fan. (Ah. Ưa. La. Hùm. Khan.)

**Liên Sinh Hoạt Phật khai thị tâm yếu khẩu quyết:**

Đại Nhật trí huệ pháp

Một ngày tu ba lần, lúc mặt trời mọc tu một lần, buổi trưa tu một lần, lúc mặt trời lặn tu một lần, tổng cộng ba lần. 

Tu 1 năm, bệnh tật đều khỏi.
Tu 5 năm, thân hiện ánh sáng cầu vồng.
Tu 18 năm, đắc đạo.

Ở dưới ánh nắng mặt trời, ánh nắng không chiếu thấy được bóng của hành giả, trăm nghìn tai nạn không để đến gần, thọ mạng tăng trưởng. Khi duyên phận tại thế gian hết thì phi thân đến Đại Nhật tịnh thổ. 

Tu pháp như sau: nhắm mắt ngồi im, quán tưởng trong tim mình có mặt trời, kích cỡ của mặt trời to bằng đồng xu, ở trong tim của mình hiển hiện màu đỏ và tỏa ra ánh sáng.

Lại quán tưởng mặt trời di chuyển đi lên phía họng, đến giữa răng thì dừng lại, nhưng không từ miệng đi ra ngoài mà lại quay trở về đi xuống đến bụng. Duy trì quán tưởng mặt trời ở vùng bụng thật lâu và rõ ràng. 
Nhổ ra uế khí.
Nuốt nước bọt 39 lần.
Cát tường viên mãn.

(Pháp này vốn là cực kì bí mật, là pháp phải truyền trực tiếp từ miệng qua tai, là pháp bí mật của Thanh Liên Hoa Đồng Tử. Người thường tu pháp này sẽ có kỳ hạn đắc giải thoát, đối với người có tâm thì chỉ có thể bí mật chỉ dạy.)

---
# File: nghi-quy-tu-tap/dai-pham-thien-vuong-ton-quy-phap.md
# Title: Đại Phạm Thiên Vương tôn quý pháp
---

![image](/img/img_07ce3e9c125ceb693042c590b4e122b1.jpg)



## Đại Phạm Thiên Vương tôn quý pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp! Pháp cần được Liên Sinh Hoạt Phật quán đảnh và truyền pháp trực tiếp.


### Chú ngữ


Ôm. Ma-la. Han. Mô-ni. Sô-ha.


### Thủ ấn và chủng tử tự



![image](/img/img_6799fcf35098747e9e62df640c30a5f0.jpg)


Tay trái: ngón trỏ và ngón cái tạo thành vòng tròn, kẹp một chiếc lông ngỗng màu trắng, các ngón tay khác dựng thẳng, để tay cao quá vai mình, lòng bàn tay hướng ra ngoài.


### Công đức của pháp


Chủ ý của Đại Phạm Thiên là thanh tịnh, ngài là chủ thần trong Bà-la-môn giáo, cũng là chúa tể sáng tạo ra trời đất. 

Nói chung, Đại Phạm Thiên là chủ của thiên giới, có thể nói là cha của chúng sinh, khi vị trời này vui, thế giới loài người sẽ cực kì yên ổn, khi vị trời này tức giận, thế giới sẽ có rối loạn, chúng sinh cũng sẽ không yên. Nghe nói Đại Phạm Thiên Vương lúc vui lúc giận chi phối những biến động và tai nạn lớn của đời người.

Trong kinh Đại Nhật có ghi chép pháp tướng của ngài là: “Đại Phạm Thiên Vương đội mũ miện, ngồi trên bảy cỗ xe, bốn mặt bốn tay. Tay phải thứ nhất cầm hoa sen, tay phải thứ hai cầm chuỗi hạt, tay trái thứ nhất cầm gậy, tay trái thứ hai làm ấn chữ Om (tức là ấn cát tường).”

Ấn Độ giáo có ba vị chủ thần:
Thần Sáng Tạo - Brahma — Đại Phạm Thiên.
Thần Hủy Diệt - Shiva — Tự Tại Thiên.
Thần Bảo Hộ - Vishnu — Biến Tịnh Thiên.

Thần Sáng Tạo Đại Phạm Thiên (Brahma) trong kinh Vệ Đà có định nghĩa và giải thích về ngài như sau:

Tất cả bà-la-môn, tăng lữ, thầy tế, được sinh ra từ trong miệng của Đại Phạm Thiên. Tất cả sát-đế-lợi, hoàng tộc, chiến sĩ, được sinh ra từ cánh tay của Đại Phạm Thiên. Tất cả phệ-xá, thợ thủ công, thương nhân, được sinh ra từ bắp đùi của Đại Phạm Thiên. Tất cả thủ-đà-la, nông dân và nô lệ được sinh ra từ lòng bàn chân của Đại Phạm Thiên. 

Tóm lại, Đại Phạm Thiên là thần Sáng Tạo của Ấn Độ giáo, tất cả mọi thứ đều là do ngài sáng tạo ra.

Tu pháp Đại Phạm Thiên Vương chủ yếu nhất chính là phải bày biện bảy chiếc lông ngỗng trắng, cắm xung quanh Đại Phạm Thiên Vương. Bảy chiếc lông ngỗng trắng này đại diện cho một tuần lễ, từ thứ hai tới chủ nhật. Mỗi lần tu pháp, khi trì chú thì cầm lên một chiếc lông ngỗng trì chú 108 biến. Khi tu pháp đến lúc tương ứng rồi thì mang lông ngỗng theo người sẽ vô cùng cát tường.

Tâm chú của Đại Phạm Thiên Vương là: Ôm. Ma-la. Han. Mô-ni. Sô-ha.

Đại Phạm Thiên Vương là chí cao vô thượng. Chỉ cần nhận được quán đảnh Đại Phạm Thiên Vương, tu pháp tương ứng rồi thì Đại Phạm Thiên Vương: thứ nhất, tương lai bạn sẽ có danh lợi; thứ hai, bạn sẽ cực kì tôn quý; thứ ba, bạn sẽ cực kì giàu có. Cho nên sự tôn quý của pháp Đại Phạm Thiên Vương là, thành tựu chắc chắn là vua của nhân gian.


### Nghi quỹ


Trước tiên, thỉnh cầu Căn bản Thượng sư gia trì: 

Đầu tiên quán không, sau đó quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật trụ ở đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì tâm chú Liên Hoa Đồng Tử 7 biến, cầu nguyện tu pháp viên mãn.

Tiếp theo, làm quán tưởng tứ vô lượng tâm. Làm thủ ấn đánh thức (vỗ tay hai lần, bắt chéo hay tai, búng ngón tay). 

1. Chú thanh tịnh.

1. Chú triệu thỉnh.

1. Đại lễ bái.

1. Đại cúng dường.

1. Tứ quy y.

1. Mặc bia giáp hộ thân.

1. Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (1 biến)

1. Chú vãng sinh (7 biến)

1. Căn bản Truyền thừa Thượng sư tâm chú
Om guru liansheng siddhi hum. (108 biến)

1. Kết ấn và quán tưởng:
Kết ấn: thủ ấn Đại Phạm Thiên Vương. 
Tay trái: ngón trỏ và ngón cái tạo thành vòng tròn, kẹp một chiếc lông ngỗng màu trắng, các ngón tay khác dựng thẳng, để tay cao quá vai mình, lòng bàn tay hướng ra ngoài.
Quán tưởng: 
Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)
(1) Trên mặt biển lớn, trời trong vạn dặm không mây, nguyệt luân từ mặt biển nhô lên, trong nguyệt luân có chủng tử chữ “Brah” màu xanh lam. (Cũng có thể quán tưởng chủng tử chữ “Vi”, phần sau tự suy ra.)
(2) Trong nguyệt luân, chữ Brah xoay tròn, hóa thành Đại Phạm Thiên Vương, bốn mặt tám tay. Tay phải từ trước ra sau theo thứ tự là áp vào ngực, cầm ấm nước, cầm gậy, cầm minh luân. Tay trái từ trước ra sau cầm chuỗi hạt, pháp loa, kinh Phật, cờ lệnh, an trụ trong hư không trước mặt. (Cũng có thể quán tưởng Đại Phạm Thiên Vương bốn mặt bốn tay, tay phải thứ nhất kết ấn ban nguyện, tay phải thứ hai cầm mác, tay trái thứ nhất cầm hoa sen, tay trái thứ hai cầm bình nước; hoặc tay phải thứ nhất cầm hoa sen, tay phải thứ hai cầm chuỗi hạt, tay trái thứ nhất cầm gậy (hoặc bình nước), tay trái thứ hai kết ấn chữ Om (tức ấn cát tường).)
(3) Quán tưởng thiên tâm của Đại Phạm Thiên Vương phóng ra một vệt ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả. Từ họng ngài phóng ra một vệt ánh sáng đỏ chiếu thẳng đến họng của hành giả. Tâm luân của ngài phóng ra một vệt ánh sáng xanh lam chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng trắng, đỏ, lam tan vào thân tâm của hành giả.

1. Trì tâm chú Đại Phạm Thiên Vương:
Ôm. Ma-la. Han. Mô-ni. Sô-ha. (108 biến)
(Khi trì chú, tay trái kết thủ ấn Đại Phạm Thiên Vương, cầm một chiếc lông ngỗng màu trắng, tay phải cầm chuỗi hạt.)

1. Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa.

1. Xuất định.

1. Trì thêm những tâm chú khác.

1. Niệm Phật.
Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)

1. Hồi hướng.

1. Niệm Bách tự minh chú 3 biến.

1. Đại lễ bái.

1. Chú viên mãn.
Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.

**Chú ý:**

(1) Bố đàn: trong tròn ngoài vuông. Chủ tôn ở trung tâm là Đại Phạm Thiên Vương, xung quanh cắm bảy chiếc lông ngỗng màu trắng thuận theo chiều kim đồng hồ, tạo thành vòng tròn. Sau đó lại bày hoa, hương, đèn, trà, quả… tám món cúng tạo thành hình vuông cho đàn thành. 

(2) Trên bảy chiếc lông ngỗng trắng có thể làm ký hiệu để phân biệt thứ hai, thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ sáu, thứ bảy, chủ nhật. Tay cầm những lông ngỗng khác nhau niệm tụng chú ngữ. Sau khi tu pháp tương ứng rồi thì vào ngày thứ hai, lấy chiếc lông ngỗng có ký hiệu ngày thứ hai để vào trong túi áo mang theo người, ngày hôm đó sẽ được cát tường như ý. Cứ tương tự như vậy mà suy ra thì liên tục cả tuần lễ đều được cát tường như ý.

(3) Quán tưởng nhập ngã hợp nhất với Đại Phạm Thiên Vương: Đại Phạm Thiên Vương hóa thành một chấm sáng, đi vào từ lỗ đỉnh đầu của hành giả, ngồi tại đài hoa sen trong tim, sau đó thân từ từ biến to ra, cho đến khi bằng kích thước với thân của hành giả. (Hai người kết hợp chặt chẽ, Đại Phạm Thiên Vương tức là mình, mình tức là Đại Phạm Thiên Vương, không hai không khác.)

(4) Nếu không có tượng kim thân của Đại Phạm Thiên Vương cũng có thể thờ cúng pháp tướng Đại Phạm Thiên Vương bằng giấy. Trước tiên lấy khung ảnh có pháp tướng của Đại Phạm Thiên Vương dựng đứng ở trung tâm, sau đó theo phương thức bố đàn như chú thích (1) để thiết lập đàn thành. 


### Ứng dụng Yết ma


Thứ nhất, tương lai bạn sẽ có danh vị. Thứ hai, bạn sẽ cực kì tôn quý. Thứ ba, bạn sẽ cực kì giàu có.


### Liên Sinh Hoạt Phật khai thị tâm yếu khẩu quyết của pháp


Thái Lan có một vị thần rất nổi tiếng, đứng tại trung tâm thành phố Bangkok, chính là Thần Bốn Mặt. Và vị Thần Bốn Mặt này và vị Phật Bốn Mặt chính là Đại Phạm Thiên Vương.

Chủ ý của Đại Phạm Thiên là thanh tịnh, ngài là chủ thần trong Bà-la-môn giáo, cũng là chúa tể sáng tạo ra trời đất. Trong Phật giáo, Đại Phạm Thiên Vương này chính là thiên chủ của cõi Sơ thiền Sắc giới thiên. Thần Bốn Mặt của Thái Lan nổi tiếng thiên hạ, thật ra cũng chính là Đại Phạm Thiên Vương nổi tiếng thiên hạ.

Khi Phật Thích Ca Mâu Ni ở dưới cây bồ đề ngộ đạo, ngài không muốn ở lại nhân gian, rất muốn nhập niết bàn. Lúc này, Phạm Thiên và Đế Thích Indra xuất hiện, thỉnh cầu Phật Thích Ca Mâu Ni lưu lại nhân gian để chuyển pháp luân. Chính vì có hai vị là Đại Phạm Thiên và Đế Thích Thiên thỉnh cầu Phật Thích Ca Mâu Ni ở lại nhân gian truyền pháp, sau này mới có Phật giáo. Đại Phạm Thiên này đã thỉnh cầu Phật Thích Ca Mâu Ni ở tại nhân gian truyền pháp, là một vị Đại Phạm Thiên có ơn với chúng sinh.

Trong Phật giáo, Phạm Thiên tuy chỉ là Sơ thiền, cũng tương đương với cõi trời thứ nhất, cõi trời thứ hai của Sắc giới mà thôi. Nhưng trong Ấn Độ giáo, Đại Phạm Thiên đích thực là một vị thiên thần chí cao, thiên thần có vị trí cao nhất, gọi là Thần Sáng Tạo. Ấn Độ giáo có ba đại thần, một là Thần Sáng Tạo - Đại Phạm Thiên, một là thần Hủy Diệt - Đại Tự Tại Thiên, một là Thần Bảo Hộ - Biến Tịnh Thiên. Tư tưởng triết học của Ấn Độ giáo chính là ba vị đại thần này đang tuần hoàn, một người là sáng tạo, một người là hủy diệt, một người là bảo hộ, chính là sự diễn hóa của ba vị đại thần này.

Trong cách nói về Thần Sáng Tạo của Ấn Độ giáo và Phật giáo tương đối khác nhau. Trong Ấn Độ giáo nói Thần Sáng Tạo chính là sáng tạo ra toàn bộ trời đất vũ trụ và là thần của toàn thể nhân loại. Địa vị của Đại Phạm Thiên, nói một câu tương đối bí mật một chút, ngài chính là Thượng đế Jehovah, chính là thánh Allah, có thể nói là Thượng đế mà Do Thái giáo, Cơ Đốc giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, Đông Chính giáo tôn sùng. Thần Phạm Thiên tương đương với Thượng đế.

Vị Thần Sáng Tạo Đại Phạm Thiên tôn quý nhất này, theo truyền thuyết của Ấn Độ giáo thì chỉ cần ngài giáng lâm đến nhân gian, chuyển thế đến nhân gian, thì ngài chính là Quốc vương, chính là Hoàng đế, chính là Tổng thống, chính là Thủ tướng, thân phận rất đặc biệt. Bạn chỉ cần tu tương ứng với Đại Phạm Thiên thì bạn có thể có được danh vị, nói cách khác là Đại Phạm Thiên có thể ban cho bạn pháp ấn của ngài, ấn này chính là quyền trượng, cây gậy của quyền lực. Ở nhân gian bạn sẽ trở thành vua của nhân gian, chính là Chuyển Luân Thánh Vương.

Rất nhiều người hiểu lầm về Đại Phạm Thiên Vương. Đại Phạm Thiên chí cao nhất của Ấn Độ giáo, thì ra thân phận của ngài lại chính là Thượng đế của các tôn giáo trên thế giới. Thật ra Indra của Phật giáo - Đế Thích Thiên và Đại Phạm Thiên, đều ở cùng nhau. Đại Phạm Thiên chí cao vô thượng chân chính của Ấn Độ giáo, thì ra danh xưng khác của bản thân ngài chính là Thượng đế. Thật ra, tôn giáo của các nước trên thế giới chỉ là địa phương khác nhau, chủng tộc khác nhau, cho nên Thượng đế của họ mới có sự phân ra, trên thực tế đều cùng là một vị Đại Phạm Thiên. Đây là thân phận thật sự của ngài.

Đại Phạm Thiên là Thần Sáng Tạo, trong cách nói của Phật giáo thì đương nhiên không nhất định là nói về sáng tạo, các vị khác cũng đều là sáng tạo. Chỉ là Nguyên Nhân Luận của Phật giáo nói rằng thiên nhân của Quang Âm Thiên đã đến trái đất khi trái đất hình thành, cảm thấy các thứ ở trái đất rất hay, kết quả là các vị không bay trở về, nên đã trở thành tổ tiên của loài người. Phật giáo nói như vậy. 

Thật ra thiên nhân của Quang Âm Thiên là ai? Quang Âm Thiên chính là Đại Phạm Thiên, có quan hệ với Đại Phạm Thiên. Cho nên, Phật giáo nói thiên nhân của Quang Âm Thiên chính là tổ tiên của nhân loại, cũng thuộc về Immigration cai quản, tức là bộ Di Trú. Các vị ấy là di dân, từ Quang Âm Thiên di chuyển đến trái đất, thuộc về Di Dân Luận. Bây giờ có cái gọi là Sáng Tạo Luận, nhân loại được sáng tạo ra. Nhưng theo Phật giáo mà nói thì thuộc về Di Dân Luận, di dân đến trái đất. Tất cả Ấn Độ giáo và các tôn giáo khác, mấy tôn giáo lớn trên thế giới toàn bộ đều theo Sáng Tạo Luận.

Đại Phạm Thiên là chí cao vô thượng. Hôm nay những ai đến đây là có may mắn, đã nhận được quán đảnh này, thứ nhất là tương lai bạn sẽ có danh vị, thứ hai, bạn sẽ cực kì tôn quý, thứ ba, bạn sẽ cực kì giàu có. Cho nên chúng ta tương lai chuyển thế, chỉ cần bạn tu pháp tương ứng với Đại Phạm Thiên rồi, bạn muốn đến nhân gian, bạn sẽ trở thành Obama, bạn sẽ trở thành Bill Gates, bạn muốn gì sẽ có cái đó, chí ít bạn cũng trở thành Warren Buffett. Bởi vậy, sự tôn quý của vị này là vua của nhân gian, hễ ngài chuyển thế thì chắc chắn sẽ là vua của nhân gian.

Phật giáo cũng nói, Đại Phạm Thiên chỉ cần chuyển thế đến nhân gian thì chính là Chuyển Luân Thánh Vương, cũng tức là vị vua tôn quý nhất của nhân gian. 

Thủ ấn của Đại Phạm Thiên Vương là tay trái giơ lên, giơ cao quá vai, ngón cái và ngón trỏ tạo thành vòng tròn, kết ấn là kết thủ ấn như thế này. Ngài có bốn mặt tám tay, mỗi tay có biểu trưng riêng, biểu trưng của ngài là có một tay cầm cờ lệnh, biểu thị ngài có pháp lực vạn năng, pháp lực của ngài rất mạnh. Ngài có một tay cầm kinh Phật, biểu thị ngài rất có trí huệ; có một tay cầm pháp loa, biểu thị ngài ban phúc cho chúng sinh; có một tay cầm minh luân, tức là bánh xe ánh sáng, biểu thị tiêu tai hàng ma và hủy diệt phiền não; một tay cầm quyền trượng, biểu thị thành tựu chí thượng, thành tựu rất cao; một tay cầm ấm nước, biểu thị bạn cầu ngài, ngài sẽ cho bạn cảm ứng. Hôm nay các bạn nhận quán đảnh này xong, trở về cầu thỉnh ngài, ngài sẽ có cảm ứng. Ngài có một tay cầm chuỗi hạt, biểu thị lục đạo luân hồi; một tay áp vào ngực, biểu thị bảo hộ tất cả chúng sinh, Thần Sáng Tạo cũng đang hộ trì tất cả chúng sinh.

---
# File: nghi-quy-tu-tap/dai-the-chi-bo-tat-niem-tung-phap.md
# Title: Đại Thế Chí Bồ Tát niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_5ae6b4fd76387ed34b0062820ac18787.jpg)



## Đại Thế Chí Bồ Tát niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát.
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê. 

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_3cd08be037c5746b98f5569feaa4a43f.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn Đại Thế Chí Bồ Tát**

Thủ ấn hoa sen chưa nở. Hai tay khum lại tạo khoảng rỗng ở giữa, các đầu ngón tay chạm vào nhau. 

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Quán tưởng trên mặt biển lớn, trời xanh vạn dặm không mây, một nguyệt luân từ dưới mặt biển nhô lên, trong nguyệt luân có một chủng tử chữ “Sua” (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu vàng kim. Chữ “Sua” xoay tròn hóa thành một vị Đại Thế Chí Bồ Tát. 

(2) Đại Thế Chí Bồ Tát có tướng mạo giống với Quan Thế Âm Bồ Tát, đầu đội mũ miện, bên trên có bảo bình là biểu trưng của ngài. Tay trái ngài cầm bông hoa sen chưa nở, mặc thiên y váy xếp, đeo khuyên tai chuỗi ngọc, ngồi kiết già trên tòa hoa sen. Có thể quán tưởng ngài đứng trên nhật luân hoa sen.

(3) Thiên tâm của Đại Thế Chí Bồ Tát phóng ra một đường ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả, họng của ngài phóng ra một đường ánh sáng đỏ chiếu thẳng đến họng của hành giả, tâm luân của ngài phóng ra một đường ánh sáng lam chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng trắng đỏ lam đi vào hòa nhập vào thân tâm hành giả, gia trì cho hành giả.


### Phần 14: Trì tâm chú Đại Thế Chí Bồ Tát. 


Tâm chú: Ôm xi-xi sua sô-ha. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Hum), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Đại Thế Chí Bồ Tát, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 

**Tụng tán:**

“Thế Chí Bồ Tát đức vô biên
Phụ tá Di Đà đưa thuyền pháp
Cứu khổ Trực Đồng Quán Tự Tại
Hướng về Tây phương Phổ Hiền Vương. 
Tu nhân biến dụng căn trần thức
Chứng quả đủ đầy được viên thông
Người nhớ niệm Phật về tịnh thổ
Ơn này muôn kiếp không thể quên.”


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


![image](/img/img_91a3d9881e67e1f788da8ceca008d3b0.jpg)



### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị về Đại Thế Chí Bồ Tát


Đại Thế Chí Bồ Tát là dịch âm tiếng Phạn của Mahasthamaprapta, dịch âm là Ma Ha Na Bát, gọi đơn giản là Đại Thế, Thế Chí, cũng có tên gọi là Đắc Đại Thế. Đại Thế Chí Bồ Tát lấy trí huệ làm chủ. Mũ miện trên đầu ngài có bảo bình làm biểu trưng, dùng ánh sáng trí huệ phổ chiếu tất cả. Đại Thế Chí là một vị đại Bồ Tát trong truyền thuyết Phật giáo. Ảnh hưởng của ngài trong dân gian Trung Quốc thì không bằng Quan Thế Âm Bồ Tát, nhưng ở Nhật Bản thì ngài được tôn sùng rộng rãi. Đại Thế Chí Bồ Tát dường như không được thờ phụng một mình, thông thường đều cùng với Quan Thế Âm Bồ Tát theo phục vụ bên cạnh A Di Đà Phật.

Đại Thế Chí Bồ Tát là thị giả bên tay phải của A Di Đà Phật, làm chủ cánh cửa trí huệ, là một trong Tây phương Tam Thánh. Vì ít người niệm tụng danh hiệu của ngài, Liên Sinh Hoạt Phật khuyến khích các thiện tín “chỉ cần bạn nhớ ngài, ngài nhất định nhớ bạn, ngài sẽ gia tăng trí huệ của bạn, bởi vì trí huệ mới là cái gốc”. 

Đại Thế Chí Bồ Tát là thị giả bên tay phải của A Di Đà Phật, làm chủ cánh cửa trí huệ, là một trong Tây phương Tam Thánh. Vì ít người niệm tụng danh hiệu của ngài, Liên Sinh Hoạt Phật khuyến khích các thiện tín “chỉ cần bạn nhớ ngài, ngài nhất định nhớ bạn, ngài sẽ gia tăng trí huệ của bạn, bởi vì trí huệ mới là cái gốc”. 

Đại Thế Chí Bồ Tát có một danh hiệu kim cang, gọi là Trì Luân Kim Cang. Pháp tướng của ngài giống với Quan Thế Âm Bồ Tát. Quan Thế Âm Bồ Tát thì cầm tịnh bình, cầm cành dương liễu để vẩy nước, từ bi chúng sinh, là phương tiện, nhưng Đại Thế Chí Bồ Tát là cánh cửa lý trí, dùng lý và trí huệ của ngài, ánh sáng trí huệ của ngài có thể chiếu chúng sinh, chiếu ba ác đạo, khiến chúng sinh đều có trí huệ. Vì thế, khi chúng ta tu Tây phương Tam Thánh tịnh thổ tông, nhất định phải niệm Nam Mô A Di Đà Phật, Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát, không thể thiếu một vị là Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát, cũng phải niệm. Đó là để tăng trưởng trí huệ của chính bạn. Từ bi là phương tiện, trí huệ là nền tảng. Cho nên công khóa buổi sáng hàng ngày, tôi đều niệm Nam Mô A Di Đà Phật, Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát, Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát. Vì thế, khi bạn đến Tây phương Cực Lạc thế giới, nhìn một cái: “Sao lại thiếu mất một vị, chỉ có hai vị?” Bởi vì bạn không nhớ đến vị đó mà. Đúng thế không? Bạn nhớ ngài, ngài sẽ nhớ bạn, đặc biệt là vị này có rất ít người nhớ đến ngài, cho nên bạn nhớ ngài, ngài sẽ nhớ bạn. Trước kia tì kheo nam gặp người ta thì sẽ nói “A Di Đà Phật”, còn tì kheo ni nữ thì sẽ nói “Quan Thế Âm Bồ Tát”, chưa từng có người nào niệm “Đại Thế Chí Bồ Tát”, nhưng chỉ cần bạn nhớ ngài, ngài nhất định sẽ nhớ bạn. Ngài sẽ gia tăng trí huệ của bạn, bởi vì trí huệ mới là cái gốc. 

“Thế Chí Bồ Tát đức vô biên
Phụ tá Di Đà đưa thuyền pháp
Cứu khổ Trực Đồng Quán Tự Tại
Hướng về Tây phương Phổ Hiền Vương. 
Tu nhân biến dụng căn trần thức
Chứng quả đủ đầy được viên thông
Người nhớ niệm Phật về tịnh thổ
Ơn này muôn kiếp không thể quên.”

Sau cùng, Lư Sư Tôn ban cho mọi người quán đảnh Đại Thế Chí Bồ Tát Bổn tôn pháp, y theo lời Đại Thế Chí Bồ Tát đã nói: “Nếu tâm chúng sinh, nhớ Phật niệm Phật, sẽ đến trước mặt, ắt sẽ thấy Phật, không rời xa Phật, không giả phương tiện, tự đắc tâm khai.”

Kinh Bi Hoa nói: Quá khứ khi A Di Đà Phật là Chuyển Luân Vương, Đại Thế Chí Bồ Tát là vị vương tử thứ hai, tên là Ni Ma. Khi ấy, Bảo Tạng Như Lai giúp Chuyển Luân Vương và thái tử thứ nhất (Quan Thế Âm Bồ Tát) thọ ký xong, vị vương tử thứ hai cũng bẩm báo với Phật rằng: “Thế Tôn. Như con đã có tất cả thiện căn phúc đức của thân khẩu ý nghiệp thanh tịnh vô nhiễm, toàn bộ hồi hướng cho A nậu đa la tam miểu tam bồ đề. Nguyện Biến Xuất Công Đức Quang Minh Phật (tức Quan Thế Âm Bồ Tát), khi mới thành Phật đạo, khi ấy con sẽ thỉnh Phật đại chuyển pháp luân đầu tiên. Sau đó, trong thời gian thuyết pháp độ chúng mà vị Phật này trải qua, con sẽ thực hành đạo Bồ Tát làm lợi ích chúng sinh hữu tình. Sau khi vị Phật này nhập niết bàn, đợi đến khi chính pháp diệt hết rồi, con sẽ nhanh chóng ngay sau đó nhập quả vị Bổ Phật viên mãn thành tựu vô thượng chính đẳng chính giác. Sau khi con thành Phật, tất cả các Phật sự hoằng pháp lợi sinh, tất cả sự thanh tịnh trang nghiêm của thế giới quốc thổ con, và sau khi nhập niết bàn, thời gian chính pháp trụ thế, con đều sẽ cùng với Biến Xuất Công Đức Quang Minh Phật làm tất cả mọi việc với tâm bình đẳng không khác biệt.”

Bảo Tạng Như Lai nói với vị vương tử thứ hai: “Hôm nay thế giới quốc thổ thanh tịnh trang nghiêm mà ngươi mong muốn có được, nhất định sẽ như ý nguyện. Ngươi sẽ ở trong thế giới thanh tịnh thù thắng nhất như vậy mà thành tựu vô thượng chính đẳng chính giác, danh hiệu là Thiện Trụ Trân Bảo Sơn Vương Như Lai. Bởi vì ngươi phát nguyện thu nhận che chở thế giới quảng đại thù thắng thanh tịnh trang nghiêm, vì thế mệnh danh ngươi là Đắc Đại Thế.” Kết hợp với nhân duyên thọ ký của Quan Thế Âm Bồ Tát, nên biết Đại Thế Chí Bồ Tát và Quan Thế Âm Bồ Tát đồng hành đồng nguyện, trải qua vô lượng kiếp đến nay đều không mâu thuẫn và tách xa nhau, chính là đến trang nghiêm tịnh thổ, trước sau lần lượt thành Phật, công đức có được nhờ tu hành cũng đều ngang nhau.

Trong Thất Phật Bát Bồ Tát Thần Chú Kinh và Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bản Nguyện Công Đức Kinh đều liệt vị Bồ Tát này là một trong số tám đại Bồ Tát, kinh điển của hệ kinh Đại Nhật thì xếp vị này thuộc Quan Âm bộ, mật hiệu là Trì Luân Kim Cang, Kim Cang Thủ, Trì Quang Kim Cang, Chuyển Luân Kim Cang, Không Sinh Kim Cang.

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/dai-tu-tai-vuong-phat-niem-tung-phap.md
# Title: Đại Tự Tại Vương Phật niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_af3458878ff1a7b8da0dac052b1c8579.jpg)



## Đại Tự Tại Vương Phật niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp! Sư Tôn đã không còn truyền pháp này nữa!!!


### Chú ngữ:


Đại Tự Tại Vương Phật chân ngôn:
Ôm. Mô-xi-sư-la-bô-yê. Pu-ta. Sô-ha.

Đại cứu nạn chú:
Tha-chi-cha-cha-la. Tha-chi-lu-lô-lu. Mô-hơ-lu-lô-lu. A-la-mô-la. Tô-la. Sô-ha.


### Chủng tử tự



![image](/img/img_95c188641c7dd22a3d54de80f984bd63.jpg)


Chữ Ah màu lam.


### Thủ ấn



![image](/img/img_57bb201d69072def4dfb82ad55875b4c.jpg)


Hai tay chắp lại, ngón giữa và ngón áp út đan ngoại phộc.


### Quán tưởng


Trên mặt biển lớn, trời trong vạn dặm không mây, có một nguyệt luân từ mặt biển nhô lên hư không, trong nguyệt luân có một chủng tử chữ Ah màu lam, phóng tỏa ánh sáng lam.

Chữ Ah trong nguyệt luân xoay tròn, hóa thành Đại Tự Tại Vương Phật, thân màu xanh lam, khoác áo cà sa, có 32 tướng tốt, hai tay kết ấn chuyển pháp luân, ngồi trên đài sen.


### Nghi quỹ


Trước tiên, thỉnh cầu Căn bản Thượng sư gia trì: 

Đầu tiên quán không, sau đó quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật trụ ở đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì tâm chú Liên Hoa Đồng Tử 7 biến, cầu nguyện tu pháp viên mãn.

Tiếp theo, làm quán tưởng tứ vô lượng tâm. Làm thủ ấn đánh thức (vỗ tay hai lần, bắt chéo hay tai, búng ngón tay). 

1. Chú thanh tịnh.

1. Chú triệu thỉnh.

1. Đại lễ bái.

1. Đại cúng dường.

1. Tứ quy y.

1. Mặc bia giáp hộ thân.

1. Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (1 biến)

1. Chú vãng sinh (7 biến)

1. Căn bản Truyền thừa Thượng sư tâm chú
Om guru liansheng siddhi hum. (108 biến)

1. Kết ấn và quán tưởng:
Kết ấn: thủ ấn Đại Tự Tại Vương Phật. Hai tay chắp lại, ngón giữa và ngón áp út đan ngoại phộc.
Chủng tử tự: chữ Ah màu lam.
Quán tưởng: 
Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)
(1) Trên mặt biển lớn, trời trong vạn dặm không mây, có một nguyệt luân từ mặt biển nhô lên hư không, trong nguyệt luân có một chủng tử chữ Ah màu lam, phóng tỏa ánh sáng lam.
(2) Chữ Ah trong nguyệt luân xoay tròn, hóa thành Đại Tự Tại Vương Phật, thân màu xanh lam, khoác áo cà sa, có 32 tướng tốt, hai tay kết ấn chuyển pháp luân, ngồi trên đài sen.
(3) Quán tưởng thiên tâm của Đại Tự Tại Vương Phật phóng ra một vệt ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả. Từ họng ngài phóng ra một vệt ánh sáng đỏ chiếu thẳng đến họng của hành giả. Tâm luân của ngài phóng ra một vệt ánh sáng xanh lam chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng trắng, đỏ, lam tan vào thân tâm của hành giả.

1. Trì tâm chú Đại Tự Tại Vương Phật. Làm quán tưởng chuỗi hạt.
Ôm. Mô-xi-sư-la-bô-yê. Pu-ta. Sô-ha. (108 biến)

1. Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa.

1. Xuất định.

1. Trì thêm những tâm chú khác.
Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)

1. Niệm Phật.
Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)

1. Hồi hướng.

1. Niệm Bách tự minh chú 3 biến.

1. Đại lễ bái.

1. Chú viên mãn.
Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


### Ứng dụng Yết ma


Một khi thúc chú đại cứu nạn thì những người dân tị nạn mới vừa thoát chết, những người dân tị nạn chịu khổ trong vùng thảm họa, đều sẽ được chú đại cứu nạn bảo vệ. Chú này sẽ thúc giục các quốc gia trên thế giới coi trọng công tác cứu viện, thúc giục các đoàn thể công ích cứu viện, khiến những người dân tị nạn sau thảm họa không gặp phải di chứng hậu thảm họa, ví dụ dịch bệnh lớn, v.v… 


### Liên Sinh Hoạt Phật truyền thụ tâm yếu khẩu quyết của pháp


Trong Ấn Độ giáo, vị đại thần đầu tiên trong số ba đại thần chính là thần Sáng Tạo, vị đại thần thứ hai là thần Hủy Diệt, chính là Đại Tự Tại Thiên Vương, vị đại thần thứ ba là Biến Tịnh Thiên, tức là thần Bảo Hộ.

Vì thế trong Ấn Độ giáo, tất cả đều là do ba vị đại thần Sáng Tạo, Hủy Diệt, Bảo Hộ chi phối toàn bộ vũ trụ này, đây là một vòng tuần hoàn của Ấn Độ giáo.

Phật Thích Ca Mâu Ni chính là giáo chủ của Phật giáo chúng ta. Có một câu nói là: “Vua của các vị vua là Thiên Vương thứ sáu, Thánh trong các vị Thánh là Phật Đà Đại Giác.” Câu đầu tiên ở đây, “Vua của các vị vua là Thiên Vương thứ sáu”, và Đại Tự Tại Vương Như Lai ở tại cõi trời thứ sáu, chính là Đại Tự Tại Thiên. Thánh trong các vị Thánh chính là Phật Đà Đại Giác - Thích Ca Mâu Ni Phật.

Trong Dục giới thiên tổng cộng có sáu cõi trời, cõi trời thứ sáu đều xuất hiện có hình có tướng giống với con người. Nhân gian chúng ta cũng ở trong Dục giới thiên, Dục giới thiên tức là có hình có tướng, có nam nữ. Và cõi trời cao nhất của Dục giới thiên chính là cõi trời thứ sáu, là cõi trời tôn quý nhất.

Chúng ta gọi Đại Tự Tại Thiên là Ma, là Ma Vương sống ở đó. Rất nhiều cõi trời đều có tịnh thổ, và tịnh thổ của Đại Tự Tại Thiên chính là cung Pháp Giới Tối Thắng, trong tịnh thổ đó có một vị Phật chính là Đại Tự Tại Vương Phật. Rất nhiều vị Phật đều qua lại Đại Tự Tại Thiên. 

Cõi trời mà Đại Tự Tại Thiên Ma cai quản gọi là Nội Viện, ở trong Nội Viện chính là Đại Tự Tại Vương Phật. Cũng có cả Ngoại Viện, ở Ngoại Viện là Đại Tự Tại Thiên. Mỗi cõi trời đều có chính diện và phản diện, có thiên nhân cư ngụ, cũng có Bồ Tát cư ngụ, cũng có Phật cư ngụ.

Nhật Bản có Nhật Liên tông, Nhật Liên Thượng Nhân đã viết cuốn “Ngự Bổn Tôn”, Nhật Liên Thượng Nhân đã đặt cuốn sách đó ở trong một am thờ Phật, bình thường khi không niệm thì am thờ Phật đó đóng lại, khi niệm thì mới mở am thờ Phật đó ra. Nhật Liên tông dùng tiếng Nhật để niệm kinh Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa, bên trong cuốn Ngự Bổn Tôn chính là kinh Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa, bên cạnh là Thiên Ma của cõi trời thứ sáu. Nhật Liên Thượng Nhân cũng rất tôn kính Thiên Ma của cõi trời thứ sáu.

Mở cuốn Ngự Bổn Tôn của họ ra, ở chính giữa là Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, bên tay trái ngài có Đại Tự Tại Thiên Ma. Trong cuốn Ngự Bổn Tôn mà họ tôn trọng có Đại Tự Tại Thiên Ma.

Vì sao Nhật Liên tông lại lễ bái Thiên Ma của cõi trời thứ sáu? Chẳng phải là Thiên Ma rất đáng sợ sao? Trong kinh Phật có nói, thật ra Thiên Ma là Bồ Tát thâm địa, thế nào gọi là Bồ Tát thâm địa? Tức là đạo hạnh vô cùng cao sâu, bởi vì các vị muốn đến độ chúng sinh, dùng phương pháp đi ngược để độ chúng sinh. Phương pháp đi ngược tức là gây chướng ngại cho bạn, ngăn chặn bạn, nhưng bạn cần phải vượt qua các vị thì mới có thể chứng đắc.

Phật từng nói, Thiên Ma là Bồ Tát thâm địa. Thế nào gọi là Bồ Tát thâm địa, tức là Bồ Tát rất cao, tức là Bồ Tát đẳng giác, Bồ Tát ở địa thứ mười chính là đẳng giác, Bồ Tát ở địa thứ mười một thì gọi là diệu giác, diệu giác thì cũng tương đương với Phật rồi. Vì thế, ngài là Bồ Tát ở địa rất sâu, tương đương với Phật. Có thể nói, Đại Tự Tại Thiên Ma cũng chính là Đại Tự Tại Vương Phật, một thân thể hai khuôn mặt, Phật và Ma là một - Phật Ma nhất như.

Bản thân Ma vốn dĩ chính là hóa hiện của Phật, là Phật hóa ra, vốn là đồng loại. Vũ trụ quy về cuối cùng cũng là một thứ. Bản thân con người chúng ta sau này khi trở về cũng là quy về một. Hôm nay, Đại Tự Tại Thiên này cũng tương đương với từ chỗ của Phật hóa thân mà ra.

Thế còn Đại Tự Tại Vương Phật sinh ra như thế nào? Lấy hình tượng của Tỳ Lô Giá Na Phật (Đại Nhật Như Lai) để làm thành hình tượng của bản thân Đại Tự Tại Vương Phật, là lấy Phật ở địa thứ 13 để làm thành hình tượng của Đại Tự Tại Vương Phật.

Ngài có chú ngữ, có thủ ấn, có thân tướng, thân thể với hình tướng ban đầu cũng mặc giống như Phật, Đại Tự Tại Vương Phật giống với Phật, thân màu xanh lam đậm, bên ngoài là y phục quý màu vàng, giống như Phật. Chủng tử tự của ngài là chữ Ah, có chân ngôn là: **Ôm. Mô-xi-sư-la-bô-yê. Pu-ta. Sô-ha.**

Ôm - chính là vũ trụ. 
Mô-xi thật ra là Mahesvara, tức là Đại Tự Tại Thiên.
Sư-la-bô-yê - nói đơn giản chính là Shiva, tức là Thần Shiva Ma Ê Thủ La Thiên.
Pu-ta - chính là Phật. 
Sô-ha - viên mãn tất cả. 
Chú ngữ này có Ma Ê Thủ La Thiên, Thiên Vương, có Phật ở cùng nhau, cho nên chú ngữ này là Phật Ma nhất như, Phật và Ma là như một.

Ngoài ra có một câu chú là chú đại cứu nạn của Thiên Vương cõi trời thứ sáu. Chẳng phải ngài là Thiên Ma sao? Sao lại cũng có chú đại cứu nạn chứ? Tôi nói, Phật và Ma là một, một thể hai mặt.

Đại Tự Tại Vương Phật từng truyền thụ cho Liên Sinh Hoạt Phật chú đại cứu nạn: Tha-chi-cha-cha-la. Tha-chi-lu-lô-lu. Mô-hơ-lu-lô-lu. A-la-mô-la. Tô-la. Sô-ha.

Chúng sinh có nạn, tôi trì chú này để đi cứu độ.
Một khi thúc chú đại cứu nạn thì những người dân tị nạn mới vừa thoát chết, những người dân tị nạn chịu khổ trong vùng thảm họa, đều sẽ được chú đại cứu nạn bảo vệ. Chú này sẽ thúc giục các quốc gia trên thế giới coi trọng công tác cứu viện, thúc giục các đoàn thể công ích cứu viện, khiến những người dân tị nạn sau thảm họa không gặp phải di chứng hậu thảm họa, ví dụ dịch bệnh lớn, v.v…

Người đã tạ thế thì dùng chú vãng sinh để cứu độ. (Chú đại cứu nạn cũng có thể siêu độ người chết.)
Dân tị nạn chưa chết thì dùng chú đại cứu nạn để bảo hộ.
Tôi nói với mọi người một vị Phật rất bí mật rất bí mật, tên vị Phật này là: Đại Tự Tại Vương Phật.

Các bạn biết hoa sen phải không? Hoa sen đại diện cho tâm xuất ly. Thế còn mặt trăng? Mặt trăng đại diện cho tâm bồ đề. Thế nào là Phật? Phật đại diện cho chính pháp. Hôm nay tôi dạy bạn về Đại Tự Tại Vương Phật chính là dạy bạn đi từ Ma Vương Thiên thành tựu thành một vị Phật chân chính.

Ma chính là Ma, vĩnh viễn chịu sự phê bình. Nhưng mà có một cõi trời, Ma có thể hiên ngang đứng rất thẳng, ngài cũng nhận được sự biểu dương, bởi vì ngài chính là Đại Tự Tại Vương Phật. Cuối cùng có một người, từ Ma mà bước ra thành Phật, đó chính là Phật Thích Ca Mâu Ni, không có Ma thì không thể thành Phật. Ngài đến nhân gian, muốn thành Phật thì phải trải qua Ma Vương Thiên. Từ chỗ của  Ma Vương bước ra, đứng thẳng nhất, chính là Phật Thích Ca Mâu Ni.

Đại Tự Tại Vương Phật và Đại Tự Tại Thiên Ma là cùng một vị, là tên gọi khác nhau mà thôi. Nếu bạn có thể cứu chính mình thì bạn là Đại Tự Tại Vương Phật. Nếu bạn đọa lạc trong tam ác đạo của địa ngục thì bạn chính là Đại Tự Tại Vương Ma. Đây là đạo lý sâu nhất!

---
# File: nghi-quy-tu-tap/dai-tuy-cau-bo-tat-niem-tung-phap.md
# Title: Đại Tùy Cầu Bồ Tát niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_716f6aa8a86c2c03e3cc01cd74b2b00e.jpg)



## Đại Tùy Cầu Bồ Tát niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Đại Tùy Cầu Bồ Tát.
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_bb8d375cd3c198d5ac824a428ac5bb65.jpg)


**Kết ấn: Phạn khiếp ấn - Ấn tráp Phật**

Lòng bàn tay phải úp xuống, lòng bàn tay trái ngửa lên, hai tay chạm vào nhau như quyển kinh. 

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Quán tưởng trong hư không có một nguyệt luân, trong nguyệt luân có chủng tử chữ “Pra” (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu vàng kim, tỏa ánh sáng vàng kim. 


![image](/img/img_73803bb17cc528fb09b6229fcc944f46.png)


(2) Chữ “Pra” trong nguyệt luân xoay tròn, hóa thành Đại Tùy Cầu Bồ Tát. Đại Tùy Cầu Bồ Tát có tám cánh tay, thân màu vàng đậm. Tay trái cao nhất cầm bông hoa sen, trên bông hoa sen có một vòng bánh xe lửa. Cánh tay tiếp theo cầm hộp Phạn, một tay cầm bảo tràng, tay trái cuối cùng cầm sợi dây thừng. Tay phải cao nhất cầm chày kim cương 5 chấu, tay tiếp theo cầm lưỡi mác cong, tay tiếp theo cầm bảo kiếm, tay cuối cùng cầm cây đinh ba. Ngài ngồi trên đài hoa sen.

(3) Thiên tâm của Đại Tùy Cầu Bồ Tát phóng ra một đường ánh sáng trắng, chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả. Từ họng của Đại Tùy Cầu Bồ Tát phóng ra một đường ánh sáng đỏ, chiếu thẳng đến họng của hành giả. Tâm luân của ngài phóng ra một đường ánh sáng lam, chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng trắng, đỏ, lam tan vào trong thân tâm hành giả. 


### Phần 14: Trì tâm chú Đại Tùy Cầu Bồ Tát


Tâm chú: Ôm ma-ha pra-ti-sa-ra sô-ha. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Pra), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Đại Tùy Cầu Bồ Tát, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


### Chú thích về 8 thủ ấn Đại Tùy Cầu Bồ Tát:



![image](/img/img_c3ab51717092180eceb55085dc850074.png)


Đại Tùy Cầu Bồ Tát có 8 thủ ấn, sau khi hành giả kết 8 thủ ấn này, hướng về Đại Tùy Cầu Bồ Tát cầu nguyện, có thể viên mãn như ý. Mỗi lần bạn cầu nguyện ngài, bạn kết thủ ấn này, còn niệm thêm chú ngữ của ngài. 8 thủ ấn này gọi là Tùy Cầu Bát Ấn. 

1. Nội ngũ cổ ấn

1. Thời Luân Kim Cang ấn

1. Đại Uy Đức Kim Cang ấn

1. Tôn Thắng Phật Mẫu ấn

1. Tam cổ ấn

1. Đan cổ ấn

1. Hư Không Tạng ấn

1. Phạn khiếp ấn

Dùng Phạn khiếp ấn ma sát ba lần, rồi vỗ tay ba lần, rồi trở về ấn Đại Tùy Cầu Bồ Tát ban đầu. Đây là khẩu quyết quan trọng nhất khi cầu nguyện Đại Tùy Cầu Bồ Tát.


![image](/img/img_6bff545f1296cb1623f7ba34563f5d18.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Đại Tùy Cầu Bồ Tát


Đại Tùy Cầu Bồ Tát đầu đội mũ miện, dáng hình hiên ngang (tướng Vô Úy) không hề sợ hãi với 8 cánh tay, thân mình màu vàng đậm. Tay trái cao nhất cầm bông hoa sen, trên bông hoa sen có một vòng bánh xe lửa. Cánh tay tiếp theo cầm hộp Phạn, một tay cầm bảo tràng, tay trái cuối cùng cầm sợi dây thừng. Tay phải cao nhất cầm chày kim cương 5 chấu, tay tiếp theo cầm lưỡi mác cong, tay tiếp theo cầm bảo kiếm, tay cuối cùng cầm cây đinh ba. Ngài ngồi trên đài hoa sen.


![image](/img/img_627241528935f5050bb1c7b357111678.jpg)



### Lai lịch vĩ đại của Đại Tùy Cầu Bồ Tát và khẩu quyết tu pháp. 


Đại Tùy Cầu Bồ Tát tên gọi trong tiếng Phạn là Maha Pratisara Vidyaraja. Ngài là một biến hóa thân của Quan Thế Âm Bồ Tát, gọi ngắn gọn là Đại Tùy Cầu Bồ Tát, là một trong các vị Bổn tôn có liên hệ với Thai Tạng Giới Mandala Âm Viện. Mật hiệu của ngài là Dư Nguyện Kim Cang.

Đại Tùy Cầu Bồ Tát thường tùy theo những điều cầu nguyện của chúng sinh mà sẽ ban cho được như ý. Bạn có điều ước gì thì ngài sẽ cho bạn điều đó, bởi vậy ngài có tên gọi là Đại Tùy Cầu. Một tên gọi khác của ngài là Đại Minh Vương, bởi vì đặc tính đầu tiên của Đại Tùy Cầu Bồ Tát là ngài sẽ hiển hiện lên với ánh sáng chói lọi nhất, rực rỡ nhất, mạnh mẽ nhất. Bất kể là Hiển giáo hay Mật giáo, Đại Tùy Cầu Bồ Tát trong Phật giáo là một vị Bồ Tát đặc biệt và thù thắng phi thường. Nhưng rất ít người biết có Đại Tùy Cầu Bồ Tát.

Công đức của Đại Tùy Cầu Bồ Tát chủ yếu nằm tại chú ngữ của ngài trên "Tùy Cầu tức đắc đại tự tại Đà-la-ni". Theo ghi chép trong kinh văn, Tùy Cầu Bồ Tát cảm ứng truyện quyển 3, có đủ các loại linh nghiệm khác nhau. Nói tóm lại, nghe thấy, thọ trì đọc tụng và lan truyền Đại Tùy Cầu Đà-la-ni có thể đạt được các loại công đức như: không bị lửa thiêu, không bị trúng độc, hàng phục kẻ thù xung quanh, thoát khỏi địa ngục vô gián, đi trên biển tránh được cá dữ và long vương, sản sinh an lạc, tránh được nạn lớn.

Nói về sự linh nghiệm của ngài, trong kinh "Phổ biến quang minh thanh tịnh xí thịnh như ý bảo ấn tâm vô năng thắng Đại Minh Vương Đại Tùy Cầu Đà-la-ni" đã ghi chép: Tại Đại Thành Ca Tì La (Kapila), đồng tử La Hầu La khi còn ở trong thai mẹ là bà Da Du Đà La, người mẹ từng bị ném vào hầm lửa, lúc này, La Hầu La nhớ ra niệm Đà-la-ni này, hầm lửa ngừng cháy biến thành ao sen. Còn có Quốc vương Ma Ca Đà không có con, đã viết Đà-la-ni này ra đeo lên cổ của phu nhân, thế là cuối cùng đã được thỏa ước nguyện.

Tôi cho rằng nếu bạn hướng về hai vị Đại Tùy Cầu Bồ Tát và Bất Không Quyến Tác Quan Âm để thỉnh cầu thì họ đều sẽ giúp cho bạn đạt được ước nguyện. Vì sao gọi là Đại Tùy Cầu, cũng chính vì ngài được xếp vào hàng các vị Bồ Tát cầu gì được nấy. Phật pháp vốn giảng về sự "vô cầu", "vô sở cầu", nhưng Bồ Tát từ bi, vẫn muốn giúp cho chúng sinh được như ý nguyện. Đây chính là bi nguyện lớn nhất của bản thân Bồ Tát, do vậy mới gọi là Đại Tùy Cầu.

Con người trên thế gian này hầu hết đều mong cầu điều gì đó, điều này cũng là bản tính, là đặc tính chung giống nhau của mỗi người. Đại Tùy Cầu Bồ Tát từ bi đối với chúng sinh của thế gian, để cho lòng từ bi hóa hiện thành những việc cầu được ước thấy. Sau khi ngài cho bạn có được cảm ứng, bạn có thể giữ được đạo tâm vững chắc, hơn nữa bạn sẽ càng tôn kính, càng thành tâm tin tưởng vào Quan Thế Âm Bồ Tát.

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Pháp vương đặc biệt truyền thụ 8 ấn của Đại Tùy Cầu.

1. Nội ngũ cổ ấn

1. Thời Luân Kim Cang ấn

1. Đại Uy Đức Kim Cang ấn

1. Tôn Thắng Phật Mẫu ấn

1. Tam cổ ấn

1. Đan cổ ấn

1. Hư Không Tạng ấn

1. Phạn khiếp ấn

Sau khi kết 8 ấn, hai tay xoa vào nhau ba lần, lại lật lại vỗ vào nhau ba lần, đây chính là chìa khóa bí mật, rất quan trọng.

Bởi vì, làm thế này thì trong tâm của Đại Tùy Cầu Bồ Tát lập tức nghe thấy âm thanh lời thỉnh cầu của bạn, xoa ba lần là có thể chạm tới tâm của Đại Tùy Cầu Bồ Tát, lại vỗ ba cái, ngài sẽ đáp lại lời thỉnh cầu của bạn. Mỗi lần bạn thỉnh cầu ngài, hãy kết thủ ấn này và niệm chú ngữ của ngài: "Om maha pratisara soha."

Đại Tùy Cầu Bồ Tát không phải là Bồ Tát "tùy tiện", không phải cứ tùy tiện cầu là có thể được. Ngài có pháp lực rất lớn, có thể làm mãn nguyện chúng sinh, nhưng bản thân chúng sinh cũng cần phải cân nhắc, điều cầu xin cần phù hợp với tài năng và phẩm hạnh của bản thân, không phải cứ tùy tiện cầu xin.

Bạn muốn nguyện vọng của mình có thể thành hiện thực thì buộc phải tuân thủ các giới luật của Phật giáo và của ngài Đại Tùy Cầu, có như vậy thì ngài mới giúp nguyện vọng của bạn thành hiện thực được. Đại Tùy Cầu Bồ Tát có thể lựa chọn giúp đỡ chúng sinh khỏi mọi tội chướng, sợ hãi, bệnh tật, và giúp thân tâm an lạc, cầu được viên mãn. Người thọ trì chú này có thể có được sự bảo vệ của chư thiên, rồng, thần và có được sự bảo vệ của Nhất Thiết Như Lai.

Liên Sinh Hoạt Phật truyền dạy pháp Đại Tùy Cầu Bồ Tát nhằm hi vọng mọi người được như ý viên mãn. Sau khi được như ý viên mãn rồi thì bước thêm bước nữa đến "vô cầu", tới cuối cùng là "vô sở cầu", như vậy mới có thể thành Phật, tu hành sẽ được thành tựu.


![image](/img/img_bc6cdeac6a1c1c2cfa83ca7f15005eec.jpg)


Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/dai-uy-duc-kim-cang-niem-tung-phap.md
# Title: Đại Uy Đức Kim Cang niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_bae16f249fd70d274956621b30242f10.jpg)



## Đại Uy Đức Kim Cang niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Đại Uy Đức Kim Cang.
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 

**Văn cầu thỉnh Đại Uy Đức Kim Cang:**

*Hết thảy Chư Phật chí tôn diệu cát tường
Chủ tôn bẻ gãy nhà ngục ma quân nội ngoại
Thế nên để cho Tsongkhapa hóa thân người
Thượng sư Kim Cang là một nay kính lễ.
Văn Thù Phẫn Nộ Kim Cang Đại Uy Đức
Pháp đại mật nhị cấp tu thành tựu
Chân nghĩa nương nhờ Thượng sư không nhiễm bẩn
Kể rõ sự nghiệp ngục chủ thỉnh hộ trì.*
*Yamantaka Minh Vương lệnh tại
Luân chuyển giáo chủ tối đại thắng tôn
Mọi ma sợ hãi đều quy y hết
Thỉnh trừ ma sự ban đại gia hộ.*


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha.  


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_485e4ae94f2dcccef5786569605b81b5.jpg)


**Kết ấn: **

Hai tay đan nội phộc, hai ngón giữa dựng lên, đầu ngón tay chạm vào nhau tạo thành vòng khép kín.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Đầu tiên quán tưởng từ Văn Thù Bồ Tát. Trong không trung hoàn toàn trống không, có một chủng tử chữ Phạn “Di” hiện ra, chữ “Di” biến thành một vị Văn Thù Bồ Tát có màu vàng đỏ, đầu đội mũ Ngũ Phật nhỏ. Râu tóc búi cao, một đầu hai tay, hiện tướng đồng tử, tay phải cầm một cây bảo kiếm, tay trái kết ấn thuyết pháp, ngồi trên lưng một con sư tử. Toàn thân Văn Thù Bồ Tát đeo đầy chuỗi ngọc thể hiện sự trang nghiêm.

(2) Văn Thù Bồ Tát từ đỉnh môn phóng ra một luồng ánh sáng đen, trong ánh sáng đen này hiện ra một vị Đại Uy Đức Minh Vương. 

Nếu quán tưởng theo Đông mật: Đại Uy Đức Minh Vương tổng cộng có sáu mặt, sáu cánh tay, sáu chân, bụng ngài màu đen, toàn thân đeo đầy đầu lâu xương sọ, quấn váy da hổ, tóc dựng thẳng đứng, mắt đỏ lồi ra, mỗi khuôn mặt đều có ba con mắt, khuôn mặt chính há to miệng thể hiện tướng đại phẫn nộ, răng nhọn lộ ra ngoài, lưỡi thè ra như chớp, phía trên cái đầu ở trên cao nhất là Văn Thù Bồ Tát, đầu ở phía bên phải đều thè dài lưỡi ra, đầu ở phía bên trái thì bặm môi thể hiện tướng phẫn nộ, đầu ở phía sau có khuôn mặt cười lớn đầy hung bạo phía trên bốn cái đầu có một đầu Quỷ Vương, phía trên đầu Quỷ Vương mới là đầu của Văn Thù Bồ Tát, chỉ có đầu Văn Thù là tướng hiền từ, còn những đầu khác đều là tướng phẫn nộ.

Sáu cánh tay của ngài đều cầm pháp khí. Bên phải, cánh tay thứ nhất cầm kiếm sắc, cánh tay thứ hai cầm chày kim cang, cánh tay thứ ba cầm mũi tên. Bên trái, cánh tay thứ nhất cầm dây thừng bằng lụa hoặc kết ấn kì khắc, cánh tay thứ hai cầm kinh Bát Nhã, cánh tay thứ ba cầm cung. Toàn thân ngài phần lớn là màu xanh đen, cưỡi trên một con trâu nước màu xanh đen, dưới chân của con trâu nước là tòa hoa sen lớn.

Nếu quán tưởng theo Tạng mật: Đại Uy Đức Kim Cang trên cao nhất là tướng của Văn Thù Bồ Tát, xuống thấp hơn là Quỷ Vương, tiếp theo là bốn khuôn mặt, khuôn mặt chính phía trước là đầu trâu tướng phẫn nộ, răng lộ ra ngoài, lưỡi như chớp, có hai sừng trâu lớn, ba con mắt trâu, hiện ra 18 cánh tay, ngoài tay cầm pháp khí ra thì những cánh tay khác đều kết ấn phẫn nộ, hai chân to dẫm lên hai con thú, toàn thân đeo đầu lâu xương sọ thể hiện tướng trang nghiêm, thân trên màu vàng, thân dưới màu đen. Những cái khác thì giống với Đông mật.

(3) Sau khi đã quán tưởng rõ hình tướng, quán tưởng tiếp thân của Đại Uy Đức Kim Cang bắt đầu xoay vòng, trở thành một khối ánh sáng màu tím với đại pháp lực, sau đó từ đỉnh môn tiến nhập vào trong thân của hành giả, lập tức quán tưởng mình thành Đại Uy Đức Kim Cang Minh Vương.


### Phần 14: Trì tâm chú Đại Uy Đức Kim Cang


Tâm chú: Ôm ya-ma-ta-ka hùm pây ôm chuy-li ka-la-lu-pa hùm khan sô-ha.. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Di), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Đại Uy Đức Kim Cang, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


### Giới thiệu pháp tướng Đại Uy Đức Kim Cang


Đại Uy Đức Kim Cang (Độc Hùng Đại Uy Đức) có một mặt hai tay hai chân (chân trái duỗi thẳng, chân phải cong), tay phải cầm rìu, tay trái cầm thiên linh cái, toàn thân màu xanh đen, tóc đỏ dựng thẳng như ngọn lửa, thị hiện tướng phẫn nộ, hai chân đứng theo thế cung tên, chân trước cong chân sau thẳng, dẫm trên hoa sen.

Đại Uy Đức Kim Cang còn có hình tượng 6 mặt, 6 cánh tay, 6 chân, cưỡi trâu nước xanh. Ngoài ra còn có hình tượng là 9 mặt, 34 cánh tay, 16 chân. Cũng có hình tượng 32 mặt, 36 tay, gọi là 13 vị Đại Uy Đức Kim Cang. 


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị về lai lịch vĩ đại của Đại Uy Đức Kim Cang và lợi ích tu trì pháp


Đại Uy Đức Kim Cang là giáo lệnh luân của A Di Đà Phật, còn gọi là Cát Kiệt Đa Kiệt, là Ngũ Phương Phật hóa thân thành Ngũ Đại Kim Cang. Hóa thân của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát gọi là Bố Úy Kim Cang, Uy Đức Kim Cang, tiếng Phạn là Yamantaka, có ý nghĩa là hàng phục mọi ma. Danh xưng của ngài gồm có Địch Trị Tử Vong, Thánh Yamantaka Uy Nộ Vương, Hàng Phục Diêm Ma Tôn, v.v… Trong mandala Thai Tạng Giới, vị Kim Cang này đứng bên trái của Bát Nhã Bồ Tát trong Trì Minh Viện. 

Lai lịch của Đại Uy Đức Kim Cang, theo như truyền thuyết lịch sử Tây Tạng, khi xưa, Diêm Ma La hiện ra Ma Vương mang hình tướng con trâu nước với đầu trâu có sừng và thân người, làm hại rất nhiều người. Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát ứng hóa nhập vào tam ma địa của Diêm Ma Pháp Vương, hiển hiện tướng đại uy mãnh cũng là đầu trâu thân người, đã hàng phục Diêm Ma La, cho nên cũng gọi là Hàng Diêm Ma Tôn. Cho nên, tâm chú của Đại Uy Đức Kim Cang là: “Om chuli kalalupa hum khan soha.” Cũng có thể niệm “Om chuli kalalupa hum khan soha. Om yamantaka hum pei.” Cũng có thể niệm thêm là “Om arapacha nadi. Om chuli kalalupa hum khan soha. Om yamantaka hum pei.” Đây là một chuỗi, là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát biến hóa thành Đại Uy Đức Kim Cang Hàng Phục Diêm Ma Tôn.

Đại Uy Đức Kim Cang có cái gọi là “Đàn thành 13 vị Đại Uy Đức Kim Cang”. Đàn thành 13 vị là chỉ cái cuối cùng, pháp lực của Đại Uy Đức Kim Cang vô cùng uy mãnh.

9 mặt của Đại Uy Đức Kim Cang đại diện cho chín bộ khế kinh Đại thừa, 34 cánh tay và thân ngữ ý đại diện cho sự tinh thông 37 đạo phẩm, 16 chân đại diện cho sự triệt ngộ 16 tính Không, ngọn lửa kim cang phẫn nộ đại diện cho từ bi thanh tịnh hàng phục.

Bởi toàn thân Đại Uy Đức Kim Cang có màu xanh đen, dáng vóc đặc biệt cao lớn, hơn nữa còn có ngọn lửa quanh thân, đây là một hình tướng cực kì phẫn nộ, cho nên ngài có thể phá tan và hàng phục tất cả ác ma độc long, đoạn trừ mọi chướng ngại, khiến tất cả ác ma trông thấy đã khiếp sợ. Luật lệnh của Đại Uy Đức Kim Cang có sức mạnh to lớn, có thể làm tiêu tai, kính ái, tăng ích, hàng phục, có thể hàng phục bốn loại ma gồm Thiên ma, bệnh ma, phiền não ma, tử ma, cho nên sức mạnh uy lực của ngài tương đương với Phật.

Người tu trì pháp Đại Uy Đức Kim Cang nên chọn tu trì pháp Văn Thù Bồ Tát trước, bởi vì Văn Thù là nguồn gốc của Đại Uy Đức Kim Cang, đây là từ một tâm mà hóa làm hai vị của Văn Thù Bồ Tát, như thế sẽ tương đối dễ thành tựu hơn. Giả như bạn tu luyện thành thục pháp Văn Thù rồi, lúc này vì “đã lập được cái gốc vững chắc, đạo sẽ sinh trưởng”, tự nhiên sẽ có duyên phận rất lớn với Đại Uy Đức Kim Cang, sau đó lại tu pháp kim cang, tự nhiên rất nhanh chóng tương ứng. Muốn tu trì pháp này phải học được “pháp chuyển”, tức là kết ấn Đại Uy Đức Kim Cang giáo lệnh luân, chân phải duỗi thẳng, chân trái cong và giơ lên xoay vòng, từ tâm phẫn nộ biến thành tướng phẫn nộ. Công đức của pháp này rất lớn, tất cả oan gia ác nhân đều sẽ thất bại, tất cả quỷ thần đều phải nghe lệnh.

Phần lớn thi triển các pháp kim cang đều là hàng ma trừ ác, khiến oan gia ác nhân đều thất bại, đặc biệt uy lực của pháp Đại Uy Đức Kim Cang là nỗi khiếp sợ của các ma, pháp lực và sắc lệnh của ngài có thể nói là số một. Người tu pháp này cũng chắc chắn sẽ thành Phật, cho nên Hoàng giáo coi pháp Đại Uy Đức Kim Cang là pháp tối cao. Đại Uy Đức Kim Cang là Hộ pháp của Tổ sư Tsongkhapa của Hoàng giáo, cũng là Hộ pháp căn bản của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn của Chân Phật Tông.


### Truyền thừa cao quý của pháp Đại Uy Đức Kim Cang của Chân Phật Tông Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.


Thubten Nyima —  Thubten Dali — Thubten Dhargye — Thubten Qimo (tức Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn). 
Pháp bản Đại Uy Đức Kim Cang của Liên Sinh Pháp Vương Lư Thắng Ngạn chính là đến từ tổ sư Thubten Nyima. 

Pháp Đại Uy Đức Kim Cang của Chân Phật Tông có các hạng mục cần chú ý đặc biệt như sau, nếu có người muốn tu trì thì xin tuân thủ:
1. Hệ thống Đại Uy Đức Kim Cang từ phong luân trong đất nước lửa gió chuyển hóa thành, chính là chữ “yam” trong tam tự chú “ram yam kham” hóa sinh, cho nên người mang họ Dương có thể nhận quán đảnh, có thể nghe pháp, nhưng không được tu pháp này. 
2. Tu trì pháp Đại Uy Đức Kim Cang nhất định phải giữ nghiêm giới luật, người phạm trọng giới hoặc phạm năm giới đều không được tu, trừ phi hướng về Kim Cang Tát Đỏa cầu sám hối. Niệm 21 biến Kim Cang Tát Đỏa bách tự minh chú, niệm xong cầu sám hối, cho đến khi xuất hiện tướng sám hối rất tốt thì mới xem là có thể tu trì.
3. Tu trì pháp Đại Uy Đức Kim Cang phải có phẩm tính thượng đẳng. Người tu trì nhất định phải giữ giới samaya.

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/di-lac-bo-tat-niem-tung-phap.md
# Title: Di Lặc Bồ Tát niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_1167bdcaeb9804e1c6b7e24dbe6a1948.jpg)



## Di Lặc Bồ Tát niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Di Lặc Bồ Tát.
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha.  


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_528c18a038826a2da16627be38f3b940.jpg)


**Kết ấn: **

Ấn pháp luân ngoại phộc: ngón cái và ngón trỏ tay trái chạm vào nhau thành vòng tròn, ba ngón tay còn lại dựng thẳng. Ngón cái và ngón trỏ tay trái chạm vào nhau thành vòng tròn, ba ngón tay còn lại hơi khum. Hai lòng bàn tay đặt úp vào nhau. 

Ấn pháp luân nội phộc: ngón cái và ngón trỏ tay trái chạm vào nhau thành vòng tròn, ba ngón tay còn lại dựng thẳng. Ngón cái và ngón trỏ tay trái chạm vào nhau thành vòng tròn và móc vào vòng tròn của tay trái, ba ngón còn lại hơi khum. Hai lòng bàn tay đặt úp vào nhau. 

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn trời xanh vạn dặm không mây, một nguyệt luân từ mặt biển nhô lên, trong nguyệt luân có một chữ “yu” (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu trắng. Chữ “yu” xoay tròn hóa thành Di Lặc Bồ Tát. 

(2) Quán tưởng hình tượng Di Lặc Bồ Tát theo Thai Tạng Giới thì ngài đầu đội mũ miện, trong mũ miện có một bảo tháp, trong bảo tháp có xá lợi, tay trái đặt trước ngực, lòng bàn tay mở ra, tay phải cầm hoa sen, trên hoa sen có bảo bình, hai bên đều đeo bảo châu, tướng mạo trang nghiêm như Phật, ngồi trên tòa hoa sen nghìn cánh. Hình tượng Di Lặc Bồ Tát theo Kim Cương Giới giống với Di Lặc Bồ Tát Thai Tạng Giới, chỉ có thủ ấn là tay phải ngón cái, ngón trỏ, ngón út đều dựng thẳng, ngón giữa và ngón áp út cong lại đặt trước ngực, tay trái thì đặt trên đầu gối. (Hoặc có thể quán tưởng Bồ Tát chính xác như hình ảnh trong thangka.)

(3) Thiên tâm của Bồ Tát phóng ra một đường ánh sáng trắng chiếu đến thiên tâm của hành giả, họng của Bồ Tát phóng ra một đường ánh sáng đỏ chiếu đến họng của hành giả, tâm luân của Bồ Tát phóng ra một đường ánh sáng lam chiếu đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng trắng đỏ lam dung nhập vào trong toàn bộ thân tâm hành giả.


### Phần 14: Trì tâm chú Di Lặc Bồ Tát


Tâm chú: Ôm mi-chuy-ya sô-ha. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Hum), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Đại Lực Kim Cang, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 

Tụng tán:
Cõi vô lượng quang, thành Đâu Suất Hóa Lạc
Từ Thị Di Lặc cư ngụ diễn diệu pháp.
Ba hội Long Hoa duy thức đại thần biến,
Độ hết kẻ mê chỉ thẳng nghĩa chân thật.
Trước Phật nghĩ thiện, nghe–nghĩ–tu bằng chân tâm
Giác hành viên mãn vô ngại chứng thành tựu
Đại Quyền Thần Vương hiển thần thông nhậm vận,
Trước tòa tôn giả con chí thành đảnh lễ.


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


![image](/img/img_013fd259798658ef8d7d4790b9d2399a.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Di Lặc Bồ Tát


Trong Thai Tạng Giới, Di Lặc Bồ Tát đầu đội mũ miện, trong mũ miện có một bảo tháp, trong bảo tháp có xá lợi, tay trái đặt trước ngực, lòng bàn tay mở ra, tay phải cầm hoa sen, trên hoa sen có bảo bình, hai bên đều đeo bảo châu, tướng mạo trang nghiêm như Phật, ngồi trên tòa hoa sen nghìn cánh.

Hình tượng Di Lặc Bồ Tát trong Kim Cương Giới giống với Di Lặc Bồ Tát Thai Tạng Giới, chỉ có thủ ấn là tay phải ngón cái, ngón trỏ, ngón út đều dựng thẳng, ngón giữa và ngón áp út cong lại đặt trước ngực, tay trái thì đặt trên đầu gối. 


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị về lai lịch vĩ đại của Di Lặc Bồ Tát và khẩu quyết tu pháp


Di Lặc Bồ Tát có rất nhiều tên gọi như Từ Thị, A Dật Đa, Vô Năng Thắng. 

Di Lặc Bồ Tát vốn sinh ra là một Bà-la-môn ở nam Thiên Trúc (Ấn Độ), sau đó được Phật Thích Ca Mâu Ni giáo hóa, thọ kí là Bồ Tát, tương lai sẽ thành Phật. Di Lặc Bồ Tát vốn là một trong các vị cổ Phật, từng đi theo Tư Thiện Phật. 

Di Lặc Bồ Tát trong Mật tông vốn được gọi là Maitreya, ở trong mandala Thai Tạng Giới, ngài đứng ở vị trí phía đông bắc của viện Trung Đài Bát Diệp, trong mandala Kim Cương Giới, ngài đứng ở phía đông của mười sáu vị Hiền Kiếp. Đại Luân Như Lai trong Thai Tạng Giới chính là hóa thân kim cang phẫn nộ của Di Lặc Bồ Tát. 

Đâu Suất Đà Thiên của Di Lặc Bồ Tát là cõi trời tầng thứ tư trong Lục Dục Thiên, ở trên Dạ Ma Thiên. Cõi trời này lấy việc hành thiện là niềm vui, cho nên còn gọi là Hỉ Lạc Thiên. Đâu Suất Đà Thiên vào đời tương lai, ba đại tai nạn nước lửa gió sẽ không thể gây ra bất kì tổn hại nào đến nội viện của Đâu Suất Đà Thiên. Đâu Suất Đà Thiên nội viện đều được làm bằng ngọc mani, có thể nói là một vùng vô lượng quang.

Gọi là Từ Thị Bồ Tát là vì Di Lặc Bồ Tát tu thiền định đắc “từ tâm tam muội”, cho nên gọi ngài là Từ Thị Bồ Tát. Tu hành “từ tâm tam muội” là: tam muội tâm từ bi vĩnh viễn đem đến niềm vui cho người khác, giải trừ mọi đau khổ của chúng sinh, vĩnh viễn cho chúng sinh niềm vui. Phật Thích Ca Mâu Ni gọi là Năng Nhân, Di Lặc Bồ Tát gọi là Năng Từ, một người là Nhân, một người là Từ, cho nên trong tương lai, ở thế giới Ta Bà, ngài sẽ là vị số một về độ chúng sinh. Người Tây Tạng gọi ngài là Cường Ba Phật. Vì thế có thể gọi ngài là Di Lặc Phật hoặc Di Lặc Bồ Tát.

Ngày xưa vào thời đại của Để Sa Phật, Để Sa Phật có hai đệ tử, một đệ tử chính là Phật Thích Ca Mâu Ni, một đệ tử chính là Di Lặc Bồ Tát. Di Lặc Bồ Tát thành tựu rất cao, vượt qua cả Phật Thích Ca Mâu Ni. Di Lặc Bồ Tát Cường Ba Phật đã viên mãn mọi pháp. 

Vốn dĩ Cường Ba Phật cho rằng thế giới Ta Bà nên có Đại Quyền Thần Vương Phật, là dựa theo nhân duyên. Vì Để Sa Phật quan sát nhân duyên của hai người họ và thế giới Ta Bà, kết quả là nhân duyên của Phật Thích Ca Mâu Ni với thế giới Ta Bà chín muồi trước, vì thế Phật Thích Ca Mâu Ni hạ sinh tại nhân gian trở thành giáo chủ của thế giới Ta Bà, sau đó sẽ là Di Lặc Bồ Tát đến nhân gian. Cho nên Di Lặc Bồ Tát cũng là Đại Quyền Thần Vương Phật. 

Di Lặc Bồ Tát hiện sống tại Di Lặc Nội Viện trong cung Đao Lợi Thiên, ngài thuyết pháp và diễn hóa. Người ta nói rằng sau 5 tỉ 670 triệu năm sau ngài sẽ giáng sinh tại Diêm Phù Đề, thành đạo dưới cây long hoa, mở ba pháp hội lớn, chính là Long Hoa Tam Hội nổi tiếng. Long Hoa Tam Hội là ba pháp hội lớn mà Di Lặc Bồ Tát giáng sinh cứu đời, có hội thứ nhất, hội thứ hai, hội thứ ba, có thể độ hết tất cả chúng sinh. Chỉ cần niệm một câu “Namo buddha ye” là ngài sẽ độ hết toàn bộ. Di Lặc Bồ Tát dùng phương pháp đặc biệt để độ chúng sinh. Phương pháp mà ngài dùng là “duy thức thần biến”. 

Thế nào là duy thức thần biến? Di Lặc Bồ Tát ở dưới cây long hoa, chỉ cần từ tâm của ngài phóng ra ánh sáng, ánh sáng này chiếu khắp tâm của mỗi con người ở trong Long Hoa Tam Hội thì mọi nghiệp chướng trong sát-na đều được tiêu trừ toàn bộ, trở thành Phật tính thanh tịnh, trực tiếp hóa thành ánh sáng, toàn bộ đều biến thành ánh sáng bát nhã, tất cả Phật tính đều ngồi trong ánh sáng bát nhã, cùng bay lên. Cảnh tượng ấy vô cùng ngoạn mục, toàn bộ ánh sáng bát nhã đều bay lên không đến tịnh thổ Đâu Suất Thiên Nội Viện, đây chính là trực tiếp thành Phật.

Di Lặc Bồ Tát chính là Nhất Sinh Bổ Xứ Bồ Tát, vị Bổ Xứ Bồ Tát số một, từ Bồ Tát biến thành Phật, ngài là vị Hậu Bổ số một, chính là Bổ Xứ Bồ Tát No.1, cho nên là số một. Và Di Lặc Bồ Tát xuất sinh vào ngày mồng một năm mới, cho nên ngài là No.1, vừa là vị Hậu Bổ Phật đầu tiên - Nhất Sinh Bổ Xứ, chính là Di Lặc Phật, tương lai lại là Đại Quyền Thần Vương Phật số một.

Tại Ấn Độ, sau cùng Phật giáo có hai hệ phái, một là tư tưởng Trung quán do Long Thọ Bồ Tát sáng lập, hai là tư tưởng Duy thức mà Di Lặc Bồ Tát truyền cho Vô Trước. Trung quán và Duy thức là hai tư tưởng rất lớn của Phật giáo. 

Năm xưa, Huyền Trang Đại Sư đến Tây Vực thỉnh kinh, đến Thiên Trúc cầu pháp, thứ ngài đã học được chính là Duy thức. 

Thủ ấn của Di Lặc Bồ Tát có ấn chuyển pháp luân, biểu thị rằng ngài là Đại Quyền Thần Vương Phật. Thủ ấn thứ hai gọi là thủ ấn “stupa”, chính là thủ ấn bảo tháp, thủ ấn của tháp Tôn Thắng Phật Mẫu, là thủ ấn tháp. Thủ ấn thứ ba là “liên hoa hợp chưởng”, là thủ ấn hoa sen chụm lại. Thủ ấn thứ tư là thủ ấn Di Lặc “thành thân hội”. Di Lặc Bồ Tát có bốn thủ ấn, cũng là một vị Bồ Tát có nhiều thủ ấn nhất. Cho nên ngài lại là No.1, lại là số một.

Liên Hoa Đồng Tử tại Đâu Suất Đà Thiên trong viện thuyết pháp của Di Lặc Bồ Tát đã cung thỉnh Di Lặc Bồ Tát khai thị thuyết pháp. Di Lặc Bồ Tát đã giảng giải pháp vi tế. 

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Pháp Vương và Di Lặc Bồ Tát có duyên phận rất sâu. Bởi vì Liên Hoa Đồng Tử hạ sinh nhân gian Ta Bà, trở thành Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, Hồng Quán [mũ miện đỏ] này chính là do Di Lặc Bồ Tát tự tay đội lên. Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Pháp Vương từng đọc sáu bộ kinh Di Lặc là: kinh Quán Di Lặc Bồ Tát Thượng Sinh Đâu Suất Thiên, kinh Di Lặc Hạ Sinh, kinh Di Lặc Lai Thời, kinh Quán Di Lặc Hạ Sinh, kinh Di Lặc Hạ Sinh Thành Phật, kinh Di Lặc Đại Thành Phật. 


![image](/img/img_acc07d54d3846266a3c13accc9e68313.jpg)


Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/dia-mau-bo-tat-niem-tung-phap.md
# Title: Địa Mẫu Bồ Tát niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_32bf3a5bedbb1fa27872c9a322668779.jpg)



## Địa Mẫu Bồ Tát niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


(1) Quán Không.

(2) Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (7 biến)

(3) Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

(4) Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Địa Mẫu Bồ Tát.

(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)

Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê. 

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_4a7652163f4b55c494fe85136d2e86e5.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn ****Địa Mẫu Bồ Tát**

Hai tay đan nội phộc, ngón giữa dựng thẳng chạm vào nhau, ngón trỏ mở ra hai bên, ngón cái đè nhẹ lên ngón áp út. Giữ thủ ấn trước ngực.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời xanh vạn dặm không mây, có một nguyệt luân từ dưới biển nhô lên, ở giữa nguyệt luân xuất hiện chủng tử tự chữ “Hum” (tiếng Phạn hoặc Tạng) phóng quang, màu sắc của chủng tử tự tùy theo mục đích tu pháp của hành giả mà biến hóa: cầu tiêu tai thì quán tưởng chủng tự màu trắng, cầu tăng ích thì quán tưởng màu vàng, cầu kính ái thì quán tưởng màu đỏ, cầu hàng phục thì quán tưởng màu lam.

(2) Chữ “Hum” trong nguyệt luân xoay tròn hóa thành Địa Mẫu Bồ Tát, tay phải cầm phất trần, tay trái cầm bát quái, chân trái dẫm lên địa cầu (trái đất). 

(3) Quán tưởng từ thiên tâm của Địa Mẫu Bồ Tát phóng ra một đường ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả, từ họng của ngài phóng ra một đường ánh sáng đỏ chiếu đến họng của hành giả, từ tâm luân của ngài phóng ra một đường ánh sáng màu xanh lam chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng đi vào thân tâm hành giả, gia trì cho hành giả thân tâm thanh tịnh.


### Phần 14: Trì tâm chú Địa Mẫu Bồ Tát


Tâm chú: Ôm ben-za ma-ma pô-li-thi-pi sô-ha. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Hum), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Địa Mẫu Bồ Tát, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định.

**Tụng tán:**

Che chở núi sông dày công đức
Nuôi dưỡng quần sinh nặng ân từ
Thống nhiếp Tài Thần sung túc nhất
Địa Mẫu Bồ Tát con kính lễ.


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hum.


![image](/img/img_6ed8f905e015043cd6de0998de8b22f6.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Địa Mẫu Bồ Tát


Địa Mẫu Bồ Tát tay phải cầm phất trần, tay trái cầm bát quái, chân trái dẫm lên địa cầu (trái đất). 


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị lai lịch của Địa Mẫu Bồ Tát


Địa Mẫu Bồ Tát còn gọi là Địa Mẫu Nương Nương, ngài là một vị Bồ Tát vô cùng vĩ đại. Tay phải của ngài cầm phất trần, tay trái cầm bát quái, chân dẫm lên trái đất, điều này tượng trưng rằng toàn bộ địa cầu, núi Tu Di, bốn đại châu, tám tiểu châu, bảy biển công đức, bảy biển nước thơm đều nằm dưới sự quản lí của ngài.

Mọi vàng, bạc, đồng, thiếc, sắt, wolfram, mangan, trân châu bảo vật, san hô, thất trân bát bảo đều từ mặt đất sinh ra. Địa Mẫu Nương Nương cai quản bao gồm: xã tắc, năm nhà ngục, núi rừng, sông ngòi, hồ biển… đều thuộc sở hữu của Địa Mẫu Bồ Tát. Vì vậy, con người cần kính lễ thần của đại địa, coi đại địa là mẹ, cho nên gọi là Địa Mẫu.

Địa Mẫu Bồ Tát có hai truyền thuyết, một là Kiên Lao Địa Thần hóa hiện ra Mẫu Tính Địa Mẫu, gọi là Địa Mẫu Bồ Tát, hai là ngài là thê tử của Kiên Lao Địa Thần - tức Prithvi (Pha Lí Đề Bì). 

Địa Mẫu Bồ Tát có kinh Địa Mẫu, Địa Mẫu Chân Kinh, Địa Mẫu Diệu Kinh. Kinh Địa Mẫu là kinh điển mà Địa Mẫu Nương Nương tận tình khuyên nhủ khuyến thiện thế nhân. Trong Tạng mật có Địa Mẫu Bồ Tát, trong Đông mật thì không có vị Địa Mẫu này, nhưng trong tín ngưỡng của Đài Loan, Địa Mẫu là một vị Bồ Tát rất lớn. Còn Chân Phật Tông có thể nói là “Mật tông mẫu quốc”, cho nên Địa Mẫu Bồ Tát ở trong Chân Phật Tông là một vị được vô cùng mến mộ.

Khi Liên Sinh Hoạt Phật bị bệnh, từng được Địa Mẫu Bồ Tát ban cho một cốc nước gia trì, Liên Sinh Hoạt Phật đặc biệt cảm ơn Địa Mẫu Nương Nương.

Kinh Địa Tạng nói Địa Mẫu chính là vị tôn quý nhất, bạn muốn tiền tài, tài bảo, không cầu xin Địa Mẫu thì còn cầu ai?

Trên trời giàu có nhất là Tứ Đại Thiên Vương, Đế Thích Thiên. Dưới biển giàu có nhất là Long Vương. Trên mặt đất, giàu có nhất là Sơn Thần, Kiên Lao Địa Thần, Thổ Địa các phương, đều là những vị giàu có nhất.

Tứ Thiên Vương ở trên trời, các vị thuộc về Địa Cư Thiên, vị trí ở lưng chừng núi Tu Di, cũng thuộc về Địa Mẫu Nương Nương. Long Vương ở dưới biển cũng thuộc về Địa Mẫu Nương Nương, ngay cả Sơn Thần, Thổ Địa, mọi Thần Tài Thổ Địa, Ngũ Lộ, Ngũ Tính Thần Tài, Tạng mật ngũ Tài Thần và tất cả Tài Thần cũng vậy, cho nên Địa Mẫu Nương Nương chính là một vị Tài Thần chân chính vĩ đại nhất. 

Trung Quốc nói về ngũ hành, thổ sinh kim, kim chính là từ đất mà sinh ra. Mặt đất là mẹ, bầu trời là cha, trong bát quái trời là càn, đất là khôn, từ càn khôn mà sinh ra mọi chúng sinh. Vì thế, phải kính thiên, cũng phải kính địa, đây là việc quan trọng nhất. Cho nên, công đức của Địa Mẫu Bồ Tát vô cũng vĩ đại.

Danh chú của Địa Mẫu Bồ Tát là “Ôm ti-mủ sit-đi hùm”, nhưng theo chỉ thị của Địa Mẫu, danh chú và tâm chú của ngài không giống nhau, tâm chú thật sự là “Ôm ben-za ma-ma pô-li-thi-pi sô-ha”. Tâm chú của ngài có nghĩa là Bổn tôn trí huệ của toàn bộ vũ trụ. “Mama” là thuộc về mẫu hệ, Prithvi chính là Địa Mẫu, ý nghĩa của “soha” là thành tựu. 

Thủ ấn của ngài giống với thủ ấn của các chủ tôn mẫu tính, thủ ấn của Diêu Trì Kim Mẫu cũng giống như vậy. Có thủ ấn, có chú ngữ, có hình tượng, như vậy là trở thành một pháp của Mật giáo. Vì thế, Địa Mẫu Nương Nương là đại pháp đặc biệt của Chân Phật Tông chúng ta, cũng là vị Tài Thần lớn nhất của chúng ta.

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/dia-tang-vuong-bo-tat-niem-tung-phap.md
# Title: Địa Tạng Vương Bồ Tát niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_f49f7a24f2448cf14debf53449a2fbf6.jpg)



## Địa Tạng Vương Bồ Tát niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì đồng tu.

- Quán tứ vô lượng tâm.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tát cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Niệm thêm chú vãng sinh: (7 biến)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha.  


### Phần 8: Quán tưởng tam quang bao trùm



![image](/img/img_812287f8abc14697805d69ef5723ebaf.jpg)


**Kết ấn: Ấn Địa Tạng nâng ngọc**

Hai mu bàn tay úp vào nhau, tay phải đặt trên tay trái, tựa ngón út tay trái vào giữa ngón cái và ngón trỏ tay phải. Tựa ngón út tay phải vào giữa ngón cái và ngón trỏ tay trái. Giữ ấn trước luân xa rốn. (Ấn này còn được gọi là ấn kim cương bộ samaya). 

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời trong vạn dặm không mây, một vầng mặt trăng từ dưới biển nhô lên không trung, ở chính giữa vầng mặt trăng có một chủng tự chữ Ha (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu vàng phóng ra ánh sáng trắng.

(2) Chữ Ha ở giữa vầng mặt trăng quay tròn hóa thành một vị Địa Tạng Vương Bồ Tát, đầu dội mũ Ngũ Phật, mặc áo cà sa, toàn thân màu trắng, hai tay ngài nâng ngọc minh châu (bảo châu), ngồi trên đài hoa sen.

(3) Lại quán tưởng bảo châu phóng quang, trở thành hình vòm từ lỗ trên đỉnh đầu chiếu dội xuống hành giả, toàn thân hành giả thanh tịnh.


### Phần 9: Trì tâm chú Bổn tôn Địa Tạng Vương Bồ Tát


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Địa Tạng Vương Bồ Tát đến trước mặt mình.

**Chú ngữ:**

Địa Tạng Vương Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn: (dùng để tiêu nghiệp)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (108 biến)
Địa Tạng Vương Bồ Tát tâm chú: (dùng khi tu pháp Bổn tôn)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (108 biến)


### Phần 10: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Ha), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Bổn tôn Địa Tạng Vương Bồ Tát, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 11: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 

**Tụng tán: **

Lời thề Địa Tạng sâu như biển
Địa ngục chưa sạch không thành Phật
Lợi ích trời người Đại Bồ Tát
Độ hết chúng sinh chứng bồ đề.


### Phần 12: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 13: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 14: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 15: Hồi hướng


Nguyện lấy Địa Tạng làm Bổn tôn
Độ hết chúng sinh cõi u minh
Ngày ngày đều hành Bồ Tát pháp
Minh châu chiếu sáng hóa vạn đèn.

Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. xin đem công đức này hồi hướng. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 17: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


![image](/img/img_3b4cfa446e1e2105a61e8d6a7fb440f8.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Địa Tạng Vương Bồ Tát


Địa Tạng Vương Bồ Tát đầu đội mũ Ngũ Phật, mặc áo cà sa, toàn thân màu trắng, hai tay nâng ngọc bảo châu, ngồi trên đài hoa sen.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị lai lịch vĩ đại của Địa Tạng Vương Bồ Tát và khẩu quyết tu pháp


Địa Tạng Vương Bồ Tát là một trong những vị Bổn tôn của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, tên tiếng Phạn của ngài là Ksitigarbha, mật hiệu là Bi Nguyện Kim Cang hoặc Dư Nguyện Kim Cang. Địa Tạng Vương Bồ Tát là một trong bốn đại Bồ Tát của Phật giáo, cùng với Quan Âm, Văn Thù, Phổ Hiền, cùng được người đời tôn sùng. Vì lời nguyện lớn lao rất sâu rất rộng của ngài nên ngài còn được gọi là Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát. 

Trong Địa Tạng Thập Luân Kinh, ngài hiển hiện thân Phật, thân Bồ Tát, thân Thanh Văn, thân Phạm Vương, thân Đại Tự Tại Thiên, thậm chí là thân Diêm La Vương, cũng là nghìn nơi cầu nghìn nơi hiện. Trong mandala Thai Tạng Giới của Mật tông, ngài ở tại Viện Địa Tạng, trong mandala Kim Cương Giới, Kim Cương Tràng Bồ Tát của nam phương Bảo Sinh Phật cũng chính là Địa Tạng Vương Bồ Tát. 

Địa Tạng Vương Bồ Tát có rất nhiều tướng, thông thường hình tướng đầu đội mũ Ngũ Phật, tay nâng viên ngọc minh châu tỏa sáng, thân khoác áo cà sa, ngồi trên tòa hoa sen, tay cầm tích trượng là nhiều nhất. Ở Nhật Bản, bên đường ở vùng nông thôn, có hình tượng Địa Tạng Vương Bồ Tát để đầu trọc và đứng thẳng được lưu truyền rất rộng rãi. Địa Tạng Bồ Tát, Trì Địa Bồ Tát, Diệu Tràng Bồ Tát, Vô Biên Tâm Bồ Tát đều là những tên gọi khác của Địa Tạng Vương Bồ Tát. 

Các danh xưng của Địa Tạng Vương Bồ Tát có: Kim Cương Nguyện Địa Tạng, Kim Cương Bảo Địa Tạng, Kim Cương Bi Địa Tạng, Kim Cương Tràng Địa Tạng, Phóng Quang Địa Tạng, Đỉnh Thiên Hạ Địa Tạng, Hộ Tán Địa Tạng, Diên Mệnh Địa Tạng, Mâu Ni Địa Tạng, Tán Long Địa Tạng, Phá Thắng Địa Tạng, Bất Hưu Tức Địa Tạng, tay cầm những pháp khí khác nhau.

Địa Tạng Vương Bồ Tát tại Đao Lợi Thiên đã được Phật Thích Ca Mâu Ni dặn dò, là vị Bồ Tát đại bi giáo hóa lục đạo chúng sinh.

Xưng hiệu Địa Tạng nghĩa là: An nhẫn bất động Như Lai địa, tĩnh lự thâm mật như bí tạng.

Địa Tạng còn có 6 Địa Tạng:

1. Kim Cương Nguyện Địa Tạng - tay trái cầm cờ đầu người, tay phải kết ấn cam lộ, chuyên cứu độ đạo địa ngục.

2. Kim Cương Bảo Địa Tạng - tay trái cầm bảo châu, tay phải kết ấn cam lộ, chuyên cứu độ đạo ngạ quỷ.

3. Kim Cương Bi Địa Tạng - tay trái cầm tích trượng, tay phải kết ấn tiếp dẫn, chuyên cứu độ đạo súc sinh.

4. Kim Cương Tràng Địa Tạng - tay trái cầm cờ xí kim cương, tay phải kết ấn thí vô úy, chuyên cứu độ đạo atula.

5. Phóng Quang Địa Tạng - tay trái cầm tích trượng, tay phải kết ấn ban nguyện, chuyên cứu độ cõi người.

6. Đỉnh Thiên Hạ Địa Tạng - tay trái cầm ngọc như ý, tay phải kết ấn thuyết pháp, chuyên cứu độ đạo trời.

Thần kỳ nhất là Địa Tạng Vương Bồ Tát hiển hiện thân Diêm La Vương, ở trong địa ngục độ đủ loại sinh linh khổ nhất ác nhất. 

6 sứ giả là:

1. Diễm Ma sứ giả. (hóa địa ngục)

2. Trì Bảo đồng tử. (hóa ngạ quỷ)

3. Đại Lực sứ giả. (hóa súc sinh)

4. Đại Bi thiên nữ. (hóa tula)

5. Bảo Tạng thiên nữ. (hóa người)

6. Nhiếp Thiên sứ giả. (hóa trời)

Khi Phật Thích Ca Mâu Ni tại Đao Lợi Thiên thuyết pháp cho mẹ mình là phu nhân Maya, đã ủy thác lục đạo cho Địa Tạng Vương Bồ Tát, và Địa Tạng Vương Bồ Tát là một trong tám vị đại Bồ Tát, nguyện lực vô cùng vĩ đại, ngài còn phát lời thề “địa ngục chưa trống thề không thành Phật”. 

Địa Tạng Vương Bồ Tát vô cùng vĩ đại, đặc biệt lời nguyện to lớn của ngài là lớn nhất trong các vị Bồ Tát. Phật Thích Ca Mâu Ni từng ở cung Đao Lợi Thiên dặn dò Địa Tạng Vương Bồ Tát rằng khi Phật Thích Ca Mâu Ni rời đi, lúc viên tịch, tất cả chúng sinh và chư Thiên đều cần nương nhờ vào Địa Tạng Vương Bồ Tát. Phật Thích Ca Mâu Ni dặn dò Địa Tạng Vương Bồ Tát hãy làm đạo sư của trời người. “Địa ngục chưa trống thề không thành Phật” là lời thề nguyện của ngài.

Địa Tạng Vương Bồ Tát độ chúng sinh là theo hình thức chăn cừu, có nghĩa là đem tất cả cừu đưa sang bờ bên kia rồi cuối cùng còn lại một mình ngài, lúc ấy ngài mới thành Phật. Ngài muốn tất cả chúng sinh đều thành Phật rồi ngài mới thành Phật, đó là vị Bồ Tát với tâm từ bi lớn nhất, nguyện lực lớn nhất.

Vì sao Phật Thích Ca Mâu Ni lại ủy thác thiên giới và nhân gian cho Địa Tạng Vương Bồ Tát mà không phải là Bồ Tát nào khác? Chủ yếu là vì trong số tám vị đại Bồ Tát, duy có Địa Tạng Vương Bồ Tát là hiện tướng xuất gia, Phật Thích Ca Mâu Ni hy vọng Phật pháp tương lai sẽ do người xuất gia nắm giữ, người tại gia thì yêu mến ủng hộ.

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn cũng phát lời thề rằng: “Địa ngục chưa trống thề không thành Phật, phân thân xả cốt độ chúng sinh.” Thật ra “Địa ngục chưa trống thề không thành Phật” chính là lời thề lớn lao của Địa Tạng Vương Bồ Tát, có thể thấy Địa Tạng Vương Bồ Tát đã đem đến cho Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn những giáo hóa cực sâu. Và khẩu quyết tu trì Địa Tạng Vương Bồ Tát Bổn tôn pháp chính là: không có tâm phân biệt.

Địa Tạng Vương Bồ Tát cũng là huynh đệ của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Ở Cửu Hoa Sơn trong bốn đại đạo tràng ở Trung Quốc, đạo tràng của Địa Tạng Vương Bồ Tát cũng chính là do Kim Kiều Giác xây dựng, là một đại đạo tràng vô cùng thần kỳ, Kim Kiều Giác ở đây cũng chính là Kim Liên Hoa Đồng Tử.

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn từng hỏi Địa Tạng Vương Bồ Tát: “Địa Tạng Vương Bồ Tát có tịnh thổ nào?”
Địa Tạng Vương Bồ Tát nói: “Tịnh thổ này thế nhân không biết, cũng chưa có ai lưu truyền, và trong thiên hạ, người đầu tiên và duy nhất biết đến danh hiệu của tịnh thổ này chính là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đó.”
Lại hỏi: “Tịnh thổ ấy tên là gì? Lẽ nào là tịnh thổ Cửu Hoa?”
Địa Tạng Vương Bồ Tát nói: “Không phải, tên đầy đủ của tịnh thổ này là Địa Tạng Bồ Tát Thúy Vi Nam Phương Cực Lạc Thế Giới.”

Vì vậy, hành giả tu trì pháp Bổn tôn Địa Tạng Vương Bồ Tát cũng có thể vãng sinh Phật quốc tịnh thổ, chính là Địa Tạng Bồ Tát Thúy Vi Nam Phương Cực Lạc Thế Giới. 

Địa Tạng Bồ Tát vốn có sáu vị sứ giả theo bên cạnh, trong số đó, Đại Lực sứ giả được Địa Tạng Bồ Tát dặn dò là giao cho Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn mang theo bên người để sai khiến, vì thế trên ngón cái tay phải của Lư Sư Tôn có ký hiệu của Đại Lực sứ giả.

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/dieu-am-phat-mau-niem-tung-phap.md
# Title: Diệu Âm Phật Mẫu niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_18948606815eed9fa480945c7be0205d.jpg)



## Diệu Âm Phật Mẫu niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


(1) Quán Không.

(2) Thỉnh cầu Căn bản Truyền thừa gia trì. Tay kết thủ ấn Căn bản Thượng sư, quán tưởng Căn bản Thượng sư phóng ba ánh sáng trắng, đỏ, lam chiếu đến hành giả, gia trì hành giả tu pháp viên mãn. Niệm chú Căn bản Thượng sư 7 lần. Niệm văn cầu thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật gia trì 1 lần.

(3) Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

(4) Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô chủ tôn tu pháp Diệu Âm Phật Mẫu. (x3)

(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)

Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê. 

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Mặc giáp hộ thân


Kết thủ ấn chắp tay kim cang, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Phụng thỉnh bát đại Bồ Tát
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Kim Cang Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Diệu Cát Tường Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.

Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ thất Phật. Vị lai hiền kiếp thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Niệm danh hiệu Phật sáu phương
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyệt Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Hết thảy chúng sinh trung ương, chư vị trong Phật giới, trú ngụ trên mặt đất, cho đến tại không trung, thương lo cho tất cả chúng sinh. Ai cũng an ổn tốt lành. Ngày đêm tu trì. Tâm thường cầu tụng kinh này. Diệt được khổ sinh tử. Tiêu trừ hết độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Tụng bản kinh không ngừng. Thất Phật Thế Tôn. Liền nói chú sau:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-lô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-ki-a-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha” (7 lần)

Mười phương Quan Thế Âm. Hết thảy chư Bồ Tát.
Đã thề cứu chúng sinh. Xướng danh tất giải thoát.

Nếu gặp người trí tuệ. Ân cần mà giảng nói.
Lại có đủ nhân duyên. Đọc tụng không ngơi nghỉ.
Tụng kinh tròn nghìn biến. Niệm niệm tâm không dừng.
Gặp lửa cháy chẳng sao. Việc đao binh cũng thoát.
Nóng giận thành vui vẻ. Chết rồi hóa sống vui.
Đừng nghĩ rằng không đúng. Chư Phật chẳng nói chơi.
Cao Vương Quan Thế Âm. Cứu được hết khổ nạn.
Lúc khó khăn nguy cấp. Người chết còn thành sống.
Chư Phật chẳng nói đùa. Vì vậy nên đảnh lễ.
Niệm tụng trọn nghìn lần. Tội nặng đều tiêu diệt.
Người có phúc tín tâm. Hãy chuyên tâm đọc tụng.

Nguyện mang công đức này. Gửi tới hết chúng sinh.
Tụng tròn một nghìn biến. Tội nặng đều tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (Hết)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_c655ddb6abaafb0300e7f2095fdb433f.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn ****Diệu Âm Phật Mẫu**

Tay trái mở ra, lòng bàn tay hướng lên không trung, giữ trước ngực. Úp lòng bàn phải xuống, ngón cái và ngón trỏ khép thành vòng, đặt phía trên cách tay trái khoảng 15cm.

Ấn tâm trong tâm: tay phải ngón cái cọ vào ngón trỏ ba lần, ba ngón còn lại khẽ cử động.

**Tụng văn thỉnh cầu:**

Tối thượng trí giả Biện Tài Thiên
Cầu kiến thiên thân đều toại nguyện
Tịnh y tịnh xứ tịnh cúng dường
Tự lợi lợi tha vô cùng tận
Hiểu mọi biện luận và pháp nghĩa
Diệu pháp vô cùng bất tư nghì.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời xanh vạn dặm không mây, có một nguyệt luân từ dưới biển nhô lên, ở giữa nguyệt luân xuất hiện chủng tử tự chữ "Su" màu trắng, phóng ánh sáng trắng.

(2) Trong nguyệt luân, chữ Su xoay tròn hóa thành Diệu Âm Phật Mẫu. Diệu Âm Phật Mẫu hiện thân màu trắng, có một mặt hai tay, tay trái cầm đàn tỳ bà, làm hình tượng đang đánh đàn. Diệu Âm Phật Mẫu ngồi hai chân bắt chéo nhau, tướng mạo như thiếu nữ xinh đẹp 16 tuổi, dịu dàng và trang nghiêm.

(3) Quán tưởng từ thiên tâm của Diệu Âm Phật Mẫu phóng ra một đường ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả, từ họng của ngài phóng ra một đường ánh sáng đỏ chiếu đến họng của hành giả, từ tâm luân của ngài phóng ra một đường ánh sáng màu xanh lam chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng đi vào thân tâm hành giả, gia trì cho hành giả thân tâm thanh tịnh.


### Phần 14: Trì tâm chú Diệu Âm Phật Mẫu


Tâm chú: 

Ôm sa-ra-sa-ti sô-ha. (108 biến)

Ôm sa-ra-sa-ti-yê sô-ha. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Sri), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Diệu Âm Phật Mẫu, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định.

**Tụng tán:**

Kim khẩu Như Lai diễn thuyết diệu pháp nhường ấy
Điều phục trời người âm nhạc vang tiếng nghìn năm
Nhất tâm chính niệm ắt đắc diệu trí đại nguyện
Niệm lên trời người vô thượng tối thắng đà-ni
Thỉnh cầu gia hộ tùy tâm lễ kính chư Phật
Thần thông trí huệ nhất thiết tốc chứng bồ đề.


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-tê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hum.


![image](/img/img_a363c87ff07fc0970244c73a46dd1e71.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Diệu Âm Phật Mẫu/Diệu Âm Thiên Nữ


Diệu Âm Thiên Nữ thân màu trắng, một mặt hai tay, mặt ngọc da tuyết, tóc đen kết thành các lọn tóc, mặc thiên y váy lụa, tay cầm đàn tì bà, ngồi tư thế đang chơi đàn tì bà, hai chân bắt chéo nhau ở tư thế ngồi xổm, tướng mạo như thiếu nữ 16 tuổi duyên dáng xinh đẹp, dịu dàng và trang nghiêm. 


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị lai lịch của Diệu Âm Thiên Nữ và lợi ích tu pháp


Diệu Âm Thiên Nữ được ví là Thần của âm nhạc, tay trái khẽ nâng đàn tỳ bà, tay phải đang gẩy lên những âm thanh vi diệu.

Diệu Âm Thiên Nữ đến từ kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương, phẩm Biện Tài Thiên Nữ, và kinh Đại Tùy Cầu, kinh Đại Nhật, các tên gọi của ngài là Biện Tài Thiên Nữ, Diệu Âm Phật Mẫu, Mỹ Âm Thiên Nữ, Diệu Âm Thiên Nữ, Trí Dục Thiên Nữ, Tài Nghệ Thiên Nữ.

Trong kinh Kim Quang Minh có ghi chép rằng: “Chỉ cần bạn trì tụng kinh Kim Quang Minh, Diệu Âm Phật Mẫu nhất định sẽ đến gia trì.”

Biện Tài Thiên Nữ cực kì có học thức, có trí huệ. Cái gọi là “biện tài” chính là những lời mà ngài nói ra đều rất có học thức, có thể chấn động và thu hút thập phương. Cho nên, ngài là một thiên nữ rất có trí huệ, ngài có thể ban trí huệ cho con người.

Biện Tài Thiên Nữ là một trong bảy vị Phúc Thần của Nhật Bản, ở tại Đại Biện Thần Dụng Tự Tại Quang Khiết Danh Thiên, tương đương với quả vị của Bồ Tát địa thứ 9, nói về địa vị trời thì ngài là bậc nghĩa thiên số một. Diệu Âm Phật Mẫu ở địa thứ 9 thì cũng đã sắp thành Phật rồi, vì thế địa vị của ngài rất cao.

Lời thề gốc của Diệu Âm Thiên Nữ, trong kinh Tối Thắng Vương, phẩm Đại Biện Tài Thiên Nữ, có ghi chép rằng: “Khi mọi người tụ tập đông đủ tại đạo tràng của Thích Tôn để nghe kinh Tối Thắng Vương, vị thiên nữ này đã đứng dậy trong đại chúng, bạch Phật rằng, thưa Thế Tôn, nếu có pháp sư thuyết kinh này thì sẽ có được hết trí huệ của tôi, có đầy đủ tài hùng biện với những lời nói trang nghiêm; nếu pháp sư đó mà có quên mất câu từ ngữ nghĩa trong kinh điển này, tôi cũng sẽ khiến cho họ nhớ lại và khai ngộ, không gặp chướng ngại nào đối với đà-la-ni và tổng trì; đối với vô lượng chúng sinh hữu tình, nghe kinh điển này đều đắc phúc trí, biện tài bất khả tư nghì, có đại huệ vô tận, giỏi hiểu biết các luận thuyết và kỹ thuật, có thể ra khỏi sinh tử, nhanh chóng đến được bồ đề vô thượng.”

Phật giáo Tạng truyền coi Văn Thù Bồ Tát và Diệu Âm Thiên Nữ là chủ tôn trí huệ. Tu trì Diệu Âm Thiên Nữ có thể khai phát trí huệ, tăng phúc huệ căn. Tu trì pháp môn này có thể mở mang trí huệ gia tăng phúc phần, đắc tài hùng biện thiện diệu phá được mọi tà luận ngoại đạo. Kết quả cuối cùng có thể nói là hiển lộ Câu sinh Phật trí, đắc chứng Phật quả, thành tựu vô nhị Văn Thù Diệu Âm tất cả siddhi.

Nếu bạn tương ứng với Diệu Âm Thiên Nữ rồi, giọng nói của bạn không những rất đẹp đẽ mà đồng thời tài năng biện luận của bạn cũng có thể thuyết phục được mọi người, nói ra lời gì mọi người đều nghe theo. Đồng thời, ngài cũng là thần về tài nghệ, tay của ngài biến hóa thành rất nhiều tay, cho nên, trong Ngũ minh, Diệu Âm thuộc về Công xảo minh, cũng được gọi là Thanh minh, có nhiều loại ngôn ngữ, âm thanh rất đẹp đẽ.

Kỹ thuật và nghệ thuật của ngài đều rất giỏi, vì thế ngài là thần nghệ thuật, cũng là thần công nghệ kỹ thuật, thần âm nhạc, thần hùng biện. Bạn tương ứng với ngài rồi thì tất cả sự nghiệp đều có thể tương ứng, biện tài vô ngại, thiên hạ đều nghe thấy diệu âm, tài nghệ vô cùng khéo léo.

Người tu tập pháp Biện Tài Thiên Nữ cũng sẽ đạt được tài biện luận, đây chính là biện tài vô ngại.
Thứ nhất, có thể nói thao thao bất tuyệt như nước chảy, mãi mãi không dừng và với tốc độ rất nhanh.
Thứ hai, tài biện luận nhanh nhẹn, lời nói ra đều có nội dung đẹp đẽ kỳ diệu.
Thứ ba, có thể đáp ứng thời cơ mà biện luận.
Thứ tư, không xuất hiện những luận điệu hoang đường.
Thứ năm, biện luận không bao giờ cạn ý, vĩnh viễn không ngừng.
Thứ sáu, những lời biện luận đều có ý cảnh phong phú. 
Thứ bảy, tài biện luận với lý lẽ vi diệu vô thượng.
Ưu điểm của pháp này nằm ở: một tăng biện tài, hai tăng y phục, ba tăng ẩm thực, bốn tăng trí huệ.

Người tu pháp này, tất cả sao xấu đến xâm hại, tất cả tai nạn, tất cả xung phạm hay khổ bệnh tật, ví dụ tranh đấu, chiến trận, ác mộng, ác thần, cổ độc, bùa chú, v.v… đều sẽ được giải trừ và tiêu diệt.

Người tu pháp này có thể có được trí tuệ thông minh, hơn nữa còn có sức mạnh dũng mãnh và tinh tấn, không những biện tài vô ngại mà còn nổi danh thiên hạ, tại thế gian hoàn toàn thành tựu nguyện vọng của chính mình. Không những nguyện vọng của mình được thỏa mãn mà cũng có thể thỏa mãn nguyện vọng của người khác, cho nên đây là diệu pháp tối thắng.

Diệu Âm Thiên Nữ là Phật Mẫu của A Di Đà Phật, Phật Mẫu của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, cũng là Phật Mẫu của Đại Uy Đức Kim Cang, vì thế, lai lịch của Diệu Âm Phật Mẫu là rất phi phàm, ngài cũng có tài phúc vô cùng, có thể ban cho chúng sinh phúc đức, trí huệ.


![image](/img/img_69df949b186bf852904dc4fdb9568bf4.jpg)


Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/dieu-sac-than-nhu-lai-niem-tung-phap.md
# Title: Diệu Sắc Thân Như Lai niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_140edf56ad7347d6c2c7bdd710d0398c.jpg)



## Diệu Sắc Thân Như Lai niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Thỉnh cầu Căn bản Truyền thừa gia trì. Tay kết thủ ấn Căn bản Thượng sư, quán tưởng Căn bản Thượng sư phóng ba ánh sáng trắng, đỏ, lam chiếu đến hành giả, gia trì hành giả tu pháp viên mãn. Niệm chú Căn bản Thượng sư 7 lần. Niệm văn cầu thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật gia trì 1 lần.

- Quán tứ vô lượng tâm.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô chủ tôn tu pháp Diệu Sắc Thân Như Lai. (x3)
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê. 

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Mặc giáp hộ thân


Kết thủ ấn chắp tay kim cang, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cang thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Phụng thỉnh bát đại Bồ Tát
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Kim Cang Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Diệu Cát Tường Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.

Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ thất Phật. Vị lai hiền kiếp thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Niệm danh hiệu Phật sáu phương
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyệt Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Hết thảy chúng sinh trung ương, chư vị trong Phật giới, trú ngụ trên mặt đất, cho đến tại không trung, thương lo cho tất cả chúng sinh. Ai cũng an ổn tốt lành. Ngày đêm tu trì. Tâm thường cầu tụng kinh này. Diệt được khổ sinh tử. Tiêu trừ hết độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Tụng bản kinh không ngừng. Thất Phật Thế Tôn. Liền nói chú sau:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-lô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-ki-a-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha” (7 lần)

Mười phương Quan Thế Âm. Hết thảy chư Bồ Tát.
Đã thề cứu chúng sinh. Xướng danh tất giải thoát.

Nếu gặp người trí tuệ. Ân cần mà giảng nói.
Lại có đủ nhân duyên. Đọc tụng không ngơi nghỉ.
Tụng kinh tròn nghìn biến. Niệm niệm tâm không dừng.
Gặp lửa cháy chẳng sao. Việc đao binh cũng thoát.
Nóng giận thành vui vẻ. Chết rồi hóa sống vui.
Đừng nghĩ rằng không đúng. Chư Phật chẳng nói chơi.
Cao Vương Quan Thế Âm. Cứu được hết khổ nạn.
Lúc khó khăn nguy cấp. Người chết còn thành sống.
Chư Phật chẳng nói đùa. Vì vậy nên đảnh lễ.
Niệm tụng trọn nghìn lần. Tội nặng đều tiêu diệt.
Người có phúc tín tâm. Hãy chuyên tâm đọc tụng.

Nguyện mang công đức này. Gửi tới hết chúng sinh.
Tụng tròn một nghìn biến. Tội nặng đều tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (Hết)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Là vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_0977d548503652fce7101f9704aaadfe.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn Diệu Sắc Thân Như Lai**

Tay trái năm ngón tay giơ thẳng, lòng bàn tay hướng về phía trước. Tay phải ngón cái và ngón trỏ chạm vào nhau tạo thành vòng khuyên, ba ngón tay còn lại giơ thẳng, lòng bàn tay hướng về phía trước.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Quán tưởng hư không có một chữ Su (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu vàng kim. Chữ Su xoay tròn hóa thành một vị Diệu Sắc Thân Như Lai . 

(2) Diệu Sắc Thân Như Lai có hình tướng giống như A Di Đà Phật, mặc áo cà sa, ngồi kiết già trên tòa hoa sen nghìn cánh, mắt hiền từ nhìn chúng sinh. Tay trái năm ngón tay giơ thẳng, lòng bàn tay hướng về phía trước. Tay phải ngón cái và ngón trỏ chạm vào nhau tạo thành vòng khuyên, ba ngón tay còn lại giơ thẳng, lòng bàn tay hướng về phía trước.

(3) Thiên tâm của Diệu Sắc Thân Như Lai phóng ra một đường ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả, họng của ngài phóng ra một đường ánh sáng đỏ chiếu thẳng đến họng của hành giả, tâm luân của ngài phóng ra một đường ánh sáng lam chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng trắng đỏ lam đi vào hòa nhập vào thân tâm hành giả, gia trì cho hành giả.


### Phần 14: Trì tâm chú Diệu Sắc Thân Như Lai 


Tâm chú: Na-mô su-ru-pa-ya ta-tha-ga-ta ya. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Hum), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Đại Lực Kim Cang, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-tê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


### Giới thiệu pháp tướng Diệu Sắc Thân Như Lai 


Diệu Sắc Thân Như Lai có hình tướng giống như A Di Đà Phật, mặc áo cà sa, ngồi kiết già trên tòa hoa sen nghìn cánh, mắt hiền từ nhìn chúng sinh. Tay trái năm ngón tay giơ thẳng, lòng bàn tay hướng về phía trước. Tay phải ngón cái và ngón trỏ chạm vào nhau tạo thành vòng khuyên, ba ngón tay còn lại giơ thẳng, lòng bàn tay hướng về phía trước.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị về lai lịch và sự thù thắng của Diệu Sắc Thân Như Lai


Diệu Sắc Thân Như Lai là một vị trong số bảy vị Du già diễm khẩu Như Lai. Mỗi khi làm Du già diễm khẩu, nhất định phải xưng tán bảy vị Như Lai này, thỉnh bảy vị Như Lai gia trì.

Vị thứ nhất là Nam Mô Bảo Thắng Như Lai. Nếu nghe danh hiệu của Bảo Thắng Như Lai có thể khiến cho những trần lao nghiệp hỏa của chúng sinh đều được tiêu diệt. Nếu có các thiện nam thiện nữ trụ trong Bồ Tát thừa, người nghe thấy danh hiệu chính đẳng chính giác Bảo Thắng Như Lai Ứng Cúng và có thể xưng niệm thọ trì thì người ấy có thể sinh ra đủ loại phúc uẩn.

Vị thứ hai là Nam Mô Ly Bố Úy Như Lai. Nếu nghe thấy danh hiệu Ly Bố Úy Như Lai có thể khiến chúng sinh thường được an lạc, vĩnh viễn xa rời những kinh sợ, được thanh tịnh vui vẻ. Nhờ xưng niệm danh hiệu Ly Bố Úy Như Lai mà được gia trì, có thể khiến mọi ma và tất cả khủng bố đều bị tiêu diệt, rời xa đạo ngạ quỷ.

Vị thứ ba là Nam Mô Quảng Truyền Thân Như Lai. Nếu nghe danh hiệu Quảng Truyền Thân Như Lai có thể khiến cho chúng sinh ngạ quỷ bị nghiệp lửa chích vào họng ngừng thiêu đốt, thân thể được mát mẻ dễ chịu, đồ ăn thức uống ăn được tiếp nhận có mùi vị cam lộ. Nhờ được gia trì do xưng niệm danh hiệu Quảng Truyền Thân Như Lai mà có thể khiến cho yết hầu của ngạ quỷ mở rộng ra, những thức ăn được bố thí sẽ khiến chúng được mặc sức ăn uống no nê.

Vị thứ tư là Nam Mô Diệu Sắc Thân Như Lai, sự nghiêm trang thù thắng của ngài là số một ở thiên thượng nhân gian.

Vị thứ năm là Nam Mô Đa Bảo Như Lai. Nếu nghe danh hiệu Đa Bảo Như Lai có thể khiến chúng sinh có đầy đủ tài bảo, hài lòng như ý, được hưởng thụ vô tận. Nhờ được gia trì do xưng niệm danh hiệu Đa Bảo Như Lai mà có thể phá trừ được tất cả ác nghiệp keo kiệt từ nhiều đời đến nay, và có được phúc đức viên mãn.

Vị thứ sáu là Nam Mô A Di Đà Như Lai. Nhờ được gia trì do xưng niệm danh hiệu A Di Đà Như Lai mà có thể vãng sinh Tây phương Cực Lạc thế giới, hóa sinh hoa sen, nhập vào địa bất thối chuyển.

Vị thứ bảy là Nam Mô Thế Gian Quảng Đại Uy Đức Tự Tại Quang Minh Như Lai. Nếu nghe danh hiệu của Thế Gian Quảng Đại Uy Đức Tự Tại Quang Minh Như Lai có thể có được năm loại công đức:

1. Là số một trong các thế gian;

1. Đắc thân Bồ Tát đoan nghiêm thù thắng;

1. Uy đức quảng đại vượt qua tất cả thiên ma ngoại đạo, như mặt trời chiếu thế hiện trên biển lớn, công đức cao ngút trời;

1. Đắc đại tự tại, luôn được như ý, tựa như chim bay trên bầu trời không có chướng ngại;

1. Đắc đại trí huệ quang minh kiên cố, thân tâm sáng trong như ngọc lưu ly.

Mỗi một vị Như Lai đều có rất nhiều pháp lực, nhưng Diệu Sắc Thân Như Lai thì chuyên môn quản bộ phận này, đó chính là khiến thân thể bạn cực kì khỏe mạnh, nhan sắc cực kì vi diệu, tướng mạo giống như thiên nhân, giống như thiên nhân có sắc thân tuyệt diệu trang nghiêm thù thắng. Diệu Sắc Thân Như Lai có pháp lực rất lớn.

Kinh điển nói: “Các hàng Phật tử, nếu nghe danh hiệu Diệu Sắc Thân Như Lai có thể khiến các người không bị xấu xí, có đầy đủ mọi căn tốt, tướng đẹp viên mãn, thù thắng đoan nghiêm, thiên thượng nhân gian, luôn là số một. Nhờ được gia trì do xưng niệm danh hiệu Diệu Sắc Thân Như Lai mà có thể phá bỏ mọi hình tướng xấu xí của ma quỷ, có được đầy đủ sắc tướng tốt đẹp.”

Diệu Sắc Thân Như Lai là một vị Như Lai như thế nào?

Ngài có thể khiến người có tứ chi không vẹn toàn lại có được đầy đủ, và bản tướng vốn có của người này là như thế nào thì phải cần đến Diệu Sắc Thân Như Lai giúp họ may vá lại, tổ hợp lại thành diệu sắc thân, vì thế mà gọi ngài là Diệu Sắc Thân Như Lai. Đây là một điểm quan trọng. Nếu không có Diệu Sắc Thân Như Lai thì thân thể họ không toàn vẹn, sắc thân không đầy đủ, thậm chí linh hồn cũng không vẹn toàn, tất cả mọi thứ đều không vẹn toàn. Cho nên phải nhờ có Diệu Sắc Thân Như Lai đến đàn thành mới có thể giúp cho họ tổ hợp lại, để họ được thanh tịnh qua lửa, ăn uống no nê, sau đó giúp cho họ vãng sinh đến Phật quốc thanh tịnh. Trong lễ Du già diễm khẩu có bảy vị Như Lai, và mỗi vị có nhiệm vụ riêng. Nhiệm vụ của Diệu Sắc Thân Như Lai chính là tổ hợp lại thân thể của một người thành một sắc thân mới, trở thành một hồn ma vi diệu, vãng sinh đến Phật quốc tịnh thổ.

Diệu Sắc Thân Như Lai có biến hóa vô cùng. Như Lai phóng ra ánh sáng thất bảo, chiếu đến chúng sinh cõi âm, rất nhiều chúng sinh âm gian được ánh sáng thất bảo của Diệu Sắc Thân Như Lai chiếu đến xong thì bất luận là ở đạo ngạ quỷ, ở đạo địa ngục, ở đạo súc sinh có hình tướng không đẹp, hoặc là không hoàn chỉnh đầy đủ, có khuyết tật, thì đều được biến thành vô cùng trang nghiêm, trang nghiêm giống như trời người. Lúc này vì họ đã được thanh tịnh rồi nên mới có thể vãng sinh Phật quốc. Diệu Sắc Thân Như Lai có mấy tác dụng như vậy. Sau này, khi muốn làm siêu độ rất lớn thì cần có thêm lệnh bài của Diệu Sắc Thân Như Lai.

Thủ ấn của bản thân Diệu Sắc Thân Như Lai là tay phải kết thủ ấn thuyết pháp, tay trái là thủ ấn vô úy, hai tay để thẳng ở trước ngực, đây chính là thủ ấn của Diệu Sắc Thân Như Lai. Chú ngữ của ngài là “Na-mô su-ru-pa-ya ta-tha-ga-ta ya.”

Trong khi viết sách, Liên Sinh Hoạt Phật từng nhắc đến em trai của mình vì tình cảm mà trở thành ma tự sát. “Nó theo mẹ tôi đến nơi ở của tôi ở Mỹ, một đêm hiện thân ba lần, thỉnh cầu tôi chữa trị cho cổ họng của nó.”

Liên Sinh Hoạt Phật đã dùng Mật pháp của Diệu Sắc Thân Như Lai, nhờ sự trợ giúp của khí mà giúp em trai mình, họng của nó đã có thể phát ra âm thanh, không ngờ sau đó có thể hồi phục, điều này thật sự rất vi diệu.

Sau khi sự việc này lan truyền đi thì đã làm xôn xao ma giới. Rất nhiều ma tự sát lũ lượt kéo tới thỉnh cầu Liên Sinh Hoạt Phật chữa trị, nhà của Liên Sinh Hoạt Phật không ngờ đã trở thành trạm xá của ma tự sát. Ma uống thuốc độc thì xin chữa nội tạng. Ma nhảy lầu thì xin chữa què chân tay. Ma treo cổ thì xin chữa họng. Ma đốt than tự sát thì xin chữa não. Ma nhảy cầu chết đuối thì xin chữa phổi…

(Sự việc linh ứng có thật này được viết trong cuốn văn tập Liên Sinh Hoạt Phật số 226 “Hãy mở lòng ra”.)

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/dieu-tri-kim-mau-7-dai-phap-cho-suc-khoe.md
# Title: Diêu Trì Kim Mẫu 7 đại pháp cho sức khỏe
---

![image](/img/img_189b73664e6ea0208ee22ca5253872cb.png)



# Diêu Trì Kim Mẫu 7 đại pháp cho sức khỏe


🪷 Liên Sinh Hoạt Phật từ bi truyền thụ Mật pháp thần thánh không công khai

Ngày 16/09/2006, dưới sự thỉnh pháp khẩn thiết của nhiều vị Thượng sư, Liên Sinh Hoạt Phật tại Seattle Lôi Tạng Tự lần đầu tiên truyền thụ Diêu Trì Kim Mẫu bảy đại pháp làm lợi ích chúng sinh. Diêu Trì Kim Mẫu bảy đại pháp là đại pháp cứu độ đặc biệt có ở Chân Phật Tông, đệ tử Chân Phật Tông phải trực tiếp nhận quán đảnh từ Liên Sinh Hoạt Phật xong mới có thể khởi tu.

**Bảy đại pháp này bao gồm:**
1. Pháp bí mật trị ung thư
2. Pháp vận động mắt
3. Pháp gõ hàm răng
4. Pháp gõ màng nhĩ
5. Pháp phòng tắc nghẽn cơ tim
6. Pháp lưu thông khí huyết
7. Pháp củng cố thận

Đặc biệt là pháp bí mật trị ung thư kể từ khi công khai đến nay đã chữa được cho vô số người bị ung thư, là đại pháp thật sự lợi ích chúng sinh.


### 1. Pháp bí mật trị ung thư


Người hiện đại nghe đến ung thư là biến sắc, bình quân cứ bốn người thì có một người có khả năng mắc bệnh ung thư. Kể từ khi công khai pháp trị ung thư bí mật này, thật sự đã có rất nhiều người được chữa khỏi.

Quán tưởng hình tượng Diêu Trì Kim Mẫu mà mình thờ cúng, miệng tụng: “Đội mũ phượng, cầm phất trần, nâng gậy như ý.” (Lấy tượng thánh mà mình thờ cúng làm chuẩn, vì có một số bức tượng Diêu Trì Kim Mẫu cầm quả đào tiên). Và tụng ba lần: “Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn” (cũng có thể niệm thánh hiệu dài hơn). Sau đó đặt tay vào nơi mọc khối u, quán tưởng khối u biến thành tổ ong, sau khi niệm 3 lần thánh hiệu Diêu Trì Kim Mẫu thì niệm thêm một lần “Hùm. Hùm. Hùm.” Khi niệm thì quán tưởng rất nhiều ong mật từ tổ ong bay ra. Mỗi ngày cố định thời gian ở trước tượng thánh Diêu Trì Kim Mẫu để làm quán tưởng và niệm tụng như trên, khối u sẽ dần dần thu nhỏ lại và cuối cùng là biến mất.


### 2. Pháp vận động mắt


Buổi sáng khi vừa ngủ dậy, ngồi trên giường, nhắm mắt, đưa nhãn cầu về bên phải, lên trên, bên trái, xuống dưới, từ từ chuyển động 14 vòng (mắt vẫn nhắm). Rồi quán tưởng thật tỉ mỉ trong ngọn núi ở rất xa có cây, dừng lại ở đó một lúc, sau đó bất thình lình mở mắt ra, mở hết cỡ. Giả vờ nhìn xuyên qua một chỗ nào đó trong phòng (ví dụ bức tường), nhìn thấy núi và cây ở nơi cực xa. Pháp này có thể phòng ngừa các bệnh mắt do lão hóa gây nên. Mỗi ngày khi thức dậy làm một lần là được.


### 3. Pháp gõ hàm răng


Sau khi làm xong vận động mắt, ngậm miệng lại, hai hàm răng đập vào nhau phát ra tiếng, gõ 36 lần.


### 4. Pháp gõ màng nhĩ


Khuỷu tay đưa ra phía trước, hai bàn tay che lấy tai, ngón tay ở phía sau tai làm động tác búng ngón tay, búng 7 hoặc 14 lần. Một ngày làm một lần là được. (Búng ngón tay ở đây giống như động tác vỗ tay rồi búng tay trong nghi quỹ tu pháp, nhưng hai tay phải giơ lên, bàn tay chụp vào tai, búng đồng thời hai tay.)


### 5. Pháp phòng tắc nghẽn cơ tim


Lấy một đường thẳng ở chính giữa ngực (từ dưới gáy đến trên dạ dày) làm thành đường ngực, khi chưa mặc quần áo (ví dụ trước khi tắm), dùng ngón cái tay phải (hoặc trái) ấn vào bụng, dùng lực ấn dọc theo đường ngực từ trên xuống dưới 50 lần. 


### 6. Pháp lưu thông khí huyết


Trước tiên chắp hai tay lại xoa vào nhau cho nóng, dùng cả bàn tay phải (ngón tay và bàn tay duỗi bằng), đi vòng quanh rốn thuận chiều kim đồng hồ dùng lực xoa 14 vòng, sau đó dùng tay trái ngược chiều kim đồng hồ dùng lực xoa 14 vòng. 

Pháp này hỗ trợ khi tu pháp dễ nâng chuyết hỏa, hành giả nam sẽ dễ đạt đến vô lậu, hành giả nữ thì điều kinh thông khí, làm cho khí ở Tề luân thuận, có lợi cho tu Nội pháp. Nhưng điều kiện trước tiên là phải làm một cách bền bỉ, làm cả đời. Người mang thai không được làm bài vận động này.


### 7. Pháp củng cố thận


Trước tiên chắp hai tay lại xoa vào nhau cho nóng, hai tay tách nhau ra đặt ở vị trí thận ở sau lưng, đồng thời dùng lực lấy hai bàn tay xoa lên xuống tối thiểu 100 lần.

‼️ Chú thích:

Bảy đại pháp này phải được Liên Sinh Hoạt Phật đích thân quán đảnh và gia trì mới có thể khởi tu. 

Sư Tôn đề nghị, bảy đại pháp Kim Mẫu cố định thời gian mỗi ngày để làm, có sự bền bỉ chắc chắn sẽ thấy hiệu quả. Ví dụ pháp vận động mắt, pháp gõ hàm răng, pháp gõ màng nhĩ làm sau khi vừa ngủ dậy; pháp phòng ngừa tắc nghẽn cơ tim, pháp lưu thông khí huyết, pháp củng cố thận có thể làm trước khi tắm.

---
# File: nghi-quy-tu-tap/dieu-tri-kim-mau-lap-tuc-co-tien-phap.md
# Title: Diêu Trì Kim Mẫu lập tức có tiền pháp
---

![image](/img/img_c65bf6e51eb9074cc3902c0e2d0a881c.jpg)



## Diêu Trì Kim Mẫu lập tức có tiền pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Niệm văn cầu thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật gia trì (1 biến)

Ôm ah hùm!
Kính đem thân khẩu ý thanh tịnh.
Cúng dường Tì Lô Giá Na Tôn.

Pháp thân Phật Nhãn Phật Mẫu Thánh.
Báo thân Liên Hoa Đồng Tử thân.
Ứng thân giáo chủ Liên Sinh Phật.
Ba thân không khác, đại Phật ân.

Cung kính Chân Phật đại truyền thừa.
Thần thông ban trải đầy thế giới.
Phóng quang chiếu rọi khắp ba thời.
Hóa hiện không ngừng chứng nhất như.
Đệ tử tha thiết thường cầu tới.
Soi chiếu quang minh, phúc huệ tăng.

Xưa đến thọ ký, Phật Thích Ca.
Phó thác ân cần, A Di Đà.
Di Lặc Bồ Tát ban hồng quán.
Liên Hoa Đại Sĩ mật pháp truyền.
Thánh Tôn xin thỉnh đừng quên nguyện.
Cứu độ chúng sinh chúng con đây.
Hộ niệm như thế xin nhiếp thọ.
Thành tựu nhanh nhanh thỉnh gia trì.

Nam mô Tì Lô Giá Na Phật.
Nam mô Phật Nhãn Phật Mẫu.
Nam mô Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Chân Phật hải hội thập phương tam thế chư Phật Bồ Tát Ma Ha Tát.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn.
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê. 

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng tam quang bao trùm



![image](/img/img_54374002e9948796af8df85141d7dcdc.jpg)


**Kết ấn: Thủ ấn Diêu Trì Kim Mẫu**

Hai tay kết thủ ấn Kim Mẫu. Đầu tiên hai tay đan nội phộc, hai ngón giữa dựng thẳng lên chạm vào nhau, hai ngón trỏ giơ lên mở ra hai bên, hai ngón cái giơ thẳng đặt cạnh nhau, chạm vào hai ngón áp út. Giữ thủ ấn trước ngực. 

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời trong vạn dặm không mây, một vầng mặt trăng màu xanh lam từ dưới biển nhô lên không trung, ở chính giữa vầng mặt trăng có một chủng tự chữ Hum màu trắng phóng ra ánh sáng trắng.

(2) Chữ Hum ở giữa vầng mặt trăng quay vòng hóa thành Vô Cực Diêu Trì Kim Mẫu đầu đội mũ phượng hoàng, tay cầm phất trần và gậy như ý, nét mặt mỉm cười, pháp tướng trang nghiêm, ánh mắt từ bi nhìn chúng sinh.

(3) Quán tưởng phất trần và gậy như ý trong tay của Kim Mẫu phát ánh sáng trắng tỏa lên phía trên tạo thành một hình vòng cung đi vào từ lỗ trên đỉnh đầu của hành giả Mật tông, toàn bộ cơ thể hành giả thấm dẫm ánh sáng trắng và biến thành thủy tinh trong suốt, nghiệp chướng đều tiêu trừ.
• (Hoặc quán tưởng vị trí thiên tâm của Kim Mẫu phát ra một đường ánh sáng trắng chiếu trực tiếp vào thiên tâm của chính mình. Từ vị trí cổ họng của Kim Mẫu phóng ra đường ánh sáng đỏ chiếu thẳng vào cổ hỏng của mình. Từ thiên luân của Kim Mẫu phóng ra một đường ánh sáng xanh lam chiếu thẳng vào tâm luân của mình. Ba đường ánh sáng trắng, đỏ, lam tan vào thân tâm của mình.)

(4) Lại quán tưởng Diêu Trì Kim Mẫu đến trước mặt hành giả, trụ trên đỉnh đầu của hành giả, tiến nhập vào tâm luân của hành giả, hành giả hóa thành Diêu Trì Kim Mẫu.

Sau đó quán tưởng thêm phần sau:


![image](/img/img_049f90a3e6199a63384db712de3c9e45.png)


(1) Cầm phất trần. Quán tưởng trong vầng mặt trăng có một chữ “Ah” (tiếng Phạn) màu đỏ, chữ Ah xoay vòng biến thành một con ngựa quý, trên lưng ngựa chở rất nhiều tiền.
(2) Phẩy phất trần ba lần, phóng quang chiếu đến con ngựa quý đó, sau đó hét lên một tiếng “Chi-a!” Ngựa chạy đến trước mặt hành giả, tiến vào trong tâm hành giả.

Hoặc:
(1) Quán tưởng trong vầng mặt trăng có một chữ “Ah” (tiếng Phạn) màu đỏ, chữ Ah xoay vòng biến thành một con ngựa quý, trên lưng ngựa chở rất nhiều tiền.
(2) Dùng ánh sáng ở mi tâm của hành giả, quán tưởng ánh sáng này chiếu đến con ngựa quý đó, sau đó hét lên một tiếng “Chi-a!” Ngựa  theo ánh sáng của hành giả mà đi vào trong mi tâm của hành giả. 


### Phần 14: Trì tâm chú Kim Mẫu


Khi trì chú, mỗi một hạt trong chuỗi hạt đều quán tưởng thành một vị Diêu Trì Kim Mẫu đến trước mặt hành giả.

**Chú ngữ:**

Ôm chin-mủ sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Hum), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Bổn tôn Diêu Trì Kim Mẫu, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 18: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 19: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


### Bí mật của pháp "Diêu Trì Kim Mẫu lập-tức-có-tiền"


Pháp có tên gọi Hán Việt là Kim Mẫu Mã Thượng Hữu Tiền. "Mã thượng" nghĩa đen là "trên lưng ngựa", nhưng trong khẩu ngữ nó cũng có nghĩa là "ngay lập tức". Vì thế tu tập pháp này là phải quán tưởng mời "Một con ngựa linh, trên lưng có tiền, được Kim Mẫu phái mang tới." 

Kính mời quý huynh đệ đọc một bài viết rất thú vị về pháp này để tìm hiểu thêm.

Viết bởi: Liên Từ Kim Cương Thượng Sư tại Chân Phật Báo, bài đăng ngày 18/02/2013.

Gần đây tôi nghe được tin tức rằng rất nhiều đồng môn và người nhà bị mắc bệnh ung thư, đều là đột nhiên phát bệnh, hơn thế nữa tuổi nào cũng đều có người mắc. Trong Chân Phật Báo số 928 trang 16 đã đăng một bài viết được kí tên bởi một đệ tử Chân Phật, kể về cảm ứng của bản thân khi tu trì Kim Mẫu Bát Đại Pháp.

Người đệ tử này liên tục mỗi ngày đều tu Kim Mẫu Bát Đại Pháp, không có một ngày nào gián đoạn. Không những độ cận thị và lão hóa của mắt đã giảm đi, cái mụn cơm ở phía sau eo từ lâu khiến cho bà đau không thể chịu đựng được cũng đã hoàn toàn khỏi sau vài tháng bà tu trì pháp Kim Mẫu. Còn nữa, ngón tay bị nhiễm trùng, vị trí đầu mắt từ lâu thường có polyp (*), gân cánh tay bị sưng viêm, thường bị cảm (những bệnh trên uống thuốc đều không có hiệu quả), thì đều đã khỏi. Điều thần kì nhất là có một cái u cỡ hạt ngô dài 1cm bên trong dạ dày trong vòng một năm đã hoàn toàn biến mất. Các ví dụ về cảm ứng tương tự như vậy nhiều không kể hết.

Trong thời kì kinh tế khó khăn như hiện nay, nhập thế khó khăn, xuất thế lại càng khó khăn. Tất cả những chướng ngại một khi đã đến, thọ chướng, bệnh chướng, tai họa thiên nhiên và do con người gây ra không ngừng dứt. Do vậy, tôi nghiêm túc thay mặt mọi người gợi ý Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đích thân truyền pháp Kim Mẫu, bao gồm Kim Mẫu Bát Đại Pháp và pháp Kim Mẫu lập tức có tiền để có thể hỗ trợ Phật tử nhập thế, xuất thế được bình an như ý.

Có đồng môn hỏi: "Vì sao tôi tu pháp Kim Mẫu lập-tức-có-tiền, tôi cũng có cảm ứng là nhìn thấy ngựa đến, nhưng tiền thì không thấy đến, là vì sao?"

Nguyên nhân là tại chính bản thân người tu pháp, không phải là do pháp không linh nghiệm, mà là do người tu pháp ngay từ đầu đã bị nhầm lẫn. Tôi tin rằng có nhiều đồng môn khi tu pháp lập-tức-có-tiền, đã tập trung vào ý trên người con ngựa, đây là đã bỏ qua điều cơ bản mà lại tập trung vào chi tiết.

Lấy một ví dụ, có một đồng môn tu pháp lập-tức-có-tiền, bà hỏi tôi, chỉ cần bà nghĩ đến con ngựa một cái thì toàn thân linh động, vì sao vậy? Tôi nói với bà rằng trong hư không có rất nhiều các linh ngựa, nghĩ đến ngựa, linh ngựa đến, do vậy mới bị linh động. Ý của tôi là quán tưởng ngựa đến, ngựa đến này không chắc đã là do Kim Mẫu phái đến mà bất kì con ngựa nào cũng đều có thể đến để nhận đồ cúng, nếu mà cứ tu mù quáng mà không biết thì ngựa bám theo người cũng không biết gì. Sau khi đồng môn này nghe xong nói: vậy thì sau này tôi tu pháp Kim Mẫu, quán tưởng Kim Mẫu là tốt rồi!

Đây chính là bí mật của tu pháp Kim Mẫu lập-tức-có-tiền. Tu pháp Kim Mẫu tương ứng thì pháp lập-tức-có-tiền mới linh nghiệm. Bằng không, nhìn thấy ngựa đến, thì ra chỉ là ngựa đến để ăn đồ cúng phẩm thôi, không phải ngựa đem tiền đến. Chỉ có ngựa có ý chỉ của Kim Mẫu đến mới là ngựa mà người tu pháp cần. Điều này rất quan trọng.

Pháp Kim Mẫu lập-tức-có-tiền là pháp đầu tiên được truyền sau khi Sư Tôn dừng ẩn cư vào năm 2006. Sau khi đệ tử tu trì, có người trúng giải xổ số hơn 100 triệu đô Mỹ, có người trúng hơn 5 triệu đô Mỹ, có người trúng hơn 4 triệu đô Mỹ, còn có cực kì nhiều đệ tử trúng giải mà không muốn công khai, những việc này là bằng chứng cho pháp Kim Mẫu lập-tức-có-tiền mà Sư Tôn trao truyền. Thực tế là sự thật không phải bịa đặt, thù thắng khó tưởng tượng nổi. Theo như Sư Tôn nói, những đệ tử trúng giải đều chăm chỉ tu pháp Kim Mẫu mỗi ngày, tu đến một ngày Kim Mẫu xuất hiện chiếu rọi ánh sáng ngũ sắc lên anh ta, kết quả là anh ta liền trúng vé xổ số hơn 5 triệu đô Mỹ.

Do vậy, tu pháp lập-tức-có-tiền quan trọng là quán tưởng chủ tôn Kim Mẫu, sau đó mới là ngựa, ngựa là phải theo Kim Mẫu đến. Hai tuần trước khi chúng ta tu pháp Kim Mẫu lập-tức-có-tiền, có rất nhiều đồng môn chỉ trúng xổ số được vài đô, vài chục đô, vài trăm đô, nguyên nhân là ở chỗ phải tu đến khi Kim Mẫu xuất hiện phóng quang thì mới có cảm ứng lớn.

Mùa Giáng sinh đã sắp đến rồi, chúc phúc cho mọi người lập-tức-có-tiền.

(Hết.)

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/dieu-tri-kim-mau-niem-tung-phap.md
# Title: Diêu Trì Kim Mẫu niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_593bda233299e5206b15d354a6889a55.jpg)



## Diêu Trì Kim Mẫu niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.

- Quán tứ vô lượng tâm.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn.
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 10: Kết ấn và Quán tưởng tam quang bao trùm



![image](/img/img_54374002e9948796af8df85141d7dcdc.jpg)


**Kết ấn: Thủ ấn Diêu Trì Kim Mẫu**

Hai tay kết thủ ấn Kim Mẫu. Đầu tiên hai tay đan nội phộc, hai ngón giữa dựng thẳng lên chạm vào nhau, hai ngón trỏ giơ lên mở ra hai bên, hai ngón cái giơ thẳng đặt cạnh nhau. Giữ thủ ấn trước ngực. 

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời trong vạn dặm không mây, một vầng mặt trăng từ dưới biển nhô lên không trung, ở chính giữa vầng mặt trăng có một chủng tự chữ Hum (tiếng Phạn  hoặc Tạng) màu trắng tỏa ánh sáng trắng mạnh mẽ.

(2) Chữ Hum ở giữa vầng mặt trăng quay tròn hóa thành Vô Cực Diêu Trì Kim Mẫu, đội mũ phượng, cầm phất trần và gậy như ý, khuôn mặt mỉm cười, pháp tướng trang nghiêm, ánh mắt hiền từ nhìn chúng sinh.

(3) Quán tưởng cây phất trần và gậy như ý trong tay của Kim Mẫu phóng ánh sáng trắng lên cao, trở thành hình vòng cung chiếu đến đỉnh đầu và đi vào thân hành giả Mật tông, thân hành giả trở nên trong suốt như thủy tinh, nghiệp chướng đều tiêu trừ.

(Hoặc quán tưởng thiên tâm của Kim Mẫu phóng ra một vệt ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả. Từ họng Kim Mẫu phóng ra một vệt ánh sáng đỏ chiếu thẳng đến họng của hành giả. Tâm luân của Kim Mẫu phóng ra một vệt ánh sáng xanh lam chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng trắng, đỏ, lam tan vào thân tâm của hành giả.)


### Phần 11: Trì tâm chú Kim Mẫu


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Diêu Trì Kim Mẫu đến trước mặt mình.

**Chú ngữ:**

Ôm chin-mủ sit-đi hùm.(108 biến)


### Phần 12: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Hum), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Bổn tôn Diêu Trì Kim Mẫu, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 13: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 


### Phần 14: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 15: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 16: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 17: Hồi hướng


Gia trì tu pháp đạt thành tựu
Trăm bệnh tiêu trừ phúc huệ tăng
Mong cùng Bổn tôn hợp làm một
Chúng sinh thế giới được an vui.

Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 18: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 19: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


![image](/img/img_0df63cbef4a355cb011f0b056f7baf4f.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Diêu Trì Kim Mẫu


Diêu Trì Kim Mẫu đội mũ phượng, tay trái cầm quả đào tiên hoặc gậy như ý, tay phải cầm cây phất trần, tướng mạo như Thiên Tiên, hình tướng thiếu nữ tuổi thanh xuân, ngồi trên cỗ xe cửu phụng, nét mặt tươi cười, pháp tướng trang nghiêm, ánh mắt hiền từ nhìn chúng sinh.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị lai lịch thù thắng và yếu quyết tu pháp của Vô Cực Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn


Vô Cực Diêu Trì Đại Thánh Tây Vương Kim Mẫu Đại Thiên Tôn (Diêu Trì Kim Mẫu) là một trong ba vị Bổn tôn của Chân Phật Tông Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, cũng là vị Bổn tôn đầu tiên mà Liên Sinh Hoạt Phật tu hành tương ứng. Từ buổi ban đầu, Diêu Trì Kim Mẫu đã khai mở thiên nhãn cho Liên Sinh Hoạt Phật, và ngài cũng là vị cao linh ở sau lưng Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.

Trong hang đá Đôn Hoàng, ba vị Thích Ca Mâu Ni Phật, Tây Vương Mẫu (Diêu Trì Kim Mẫu), Hạng Quang Đồng Tử (Liên Hoa Đồng Tử) đứng ngang hàng, địa vị ngang bằng, chứng tỏ Liên Sinh Hoạt Phật (Liên Hoa Đồng Tử) và Diêu Trì Kim Mẫu có nhân duyên không thể tách rời.

Diêu Trì Kim Mẫu còn gọi là Tây Vương Mẫu, bởi vì ngài sống ở Diêu Trì Tiên Uyển, trên đỉnh Cương Phong núi Côn Luân, đồng thời vì ở phương tây, phương tây thuộc kim, cho nên gọi là Kim Mẫu. Tây Vương Mẫu và Kim Mẫu là đồng thể dị danh, tức là cùng một vị nhưng khác tên gọi, có người gọi là Vương Mẫu, có người gọi là Kim Mẫu.

Tại Nghi Nam, Sơn Đông Trung Quốc phát hiện thời kì Đông Hán trong những đồ cổ đào được thời kì đầu có khắc Diêu Trì Kim Mẫu Tây Vương Mẫu, Đông Vương Công (Đông Hoa Đế Quân), Hạng Quang Đồng Tử (Liên Hoa Đồng Tử).

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn tôn kính nhất là Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn, gọi Diêu Trì Kim Mẫu là vua của các Tiên - Tiên Vương.

Diêu Trì Kim Mẫu là Tiên Vương, A Di Đà Phật là Phật Vương, Địa Tạng Vương Bồ Tát là Địa Vương, đây là ba vị Bổn tôn tu hành của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.

Diêu Trì Kim Mẫu là một trong Ngũ Lão của Đạo gia, trấn thủ ở phương tây, cũng giống như một vị mẫu thân chăm nom tất cả sinh linh.

Ngũ Lão của Đạo gia - trung ương thuộc thổ, gọi là Hoàng Lão; phương đông thuộc mộc, gọi là Mộc Công Thượng Thánh; phương tây thuộc kim, gọi là Diêu Trì Kim Mẫu; phương nam thuộc hỏa, gọi là Hỏa Đức; phương bắc thuộc thủy, gọi là Thủy Quân hoặc Thủy Đức. Đạo gia Ngũ Lão có địa vị tương đương với Ngũ Phương Phật, cho nên địa vị của Diêu Trì Kim Mẫu rất cao quý, ngài tương đương với một vị Phật.

Trong tôn giáo của Trung Quốc từ xưa đến nay, một vị Đại La Kim Tiên cổ xưa nhất chính là Diêu Trì Kim Mẫu, vị duy nhất có thể vượt trên mọi vị Thiên Tôn, là vị Đại Thiên Tôn có pháp lực và uy lực vô cùng nhất.

Vì Diêu Trì Kim Mẫu là bậc Thượng Tiên, là vị Tiên căn bản vô thượng, trong “Liệt Tiên Truyện” có ghi chép về Diêu Trì Kim Mẫu, Diêu Trì Kim Mẫu là vị đứng đầu, là vị Thượng Tiên số một, ứng hóa thân của ngài gọi là Câu Hồi, báo thân của ngài chính là Diêu Trì Kim Mẫu, pháp thân của ngài là Tiên Thiên Nhất Khí Đại La Kim Tiên.

Sách Đạo ghi chép rằng, Huyền Huyền Thượng Nhân truyền pháp cho Đông Phương Mộc Công Thượng Thánh Thiên Tôn, sau đó Mộc Công truyền pháp cho Diêu Trì Kim Mẫu, Mộc Công gọi là Đông Vương Công, Diêu Trì Kim Mẫu gọi là Tây Vương Mẫu. Trong Đạo gia, Tây Vương Mẫu xưng với chúng sinh là Mẫu, tất cả nguyên linh là do Tây Vương Mẫu hóa ra. 

Dựa theo Đạo gia tu Tiên và Phật giáo tam giới để phân biệt:
Dục giới thiên — Địa Tiên.
Sắc giới thiên — Thiên Tiên.
Vô sắc giới thiên — Kim Tiên.

Phật giáo truyền vào Trung Quốc, cùng với Đạo giáo vốn có ở Trung Quốc đã triệt tiêu và thúc đẩy lẫn nhau, hình thành nên Phật giáo Trung Quốc. Lấy Mật giáo để nói, Vô thượng mật bộ và Nội pháp của Tạng Mật cùng với pháp khí công Đan đỉnh của Đạo gia rất gần với nhau, tu pháp có hơi khác nhưng hiệu quả như nhau.

“Diêu Trì Kim Mẫu Thu Viên Định Huệ Giải Thoát Chân Kinh” có mấy câu rất quan trọng, trong kinh văn giảng tu tinh khí thần: “Người có cái gốc vững chắc là gì, con người lấy hiếu đễ làm gốc, Đạo lấy tinh thần làm gốc.” Nho gia (Nho đạo) nói con người cần phải “lấy hiếu đễ làm gốc”, Đạo gia nói “lấy tinh thần làm gốc”, lấy tinh khí thần làm gốc, Mật giáo là “lấy khí, mạch, minh điểm làm gốc”, cũng là tinh khí thần, là cùng một thứ.

Trong kinh văn nói phải “trước trừ lục tặc, tai không nghe tiếng, mắt không nhìn sắc, thân không chạm bẩn, ý không chấp vật” chính là vô niệm, “mũi không ngửi bừa”, mũi không ngửi các thứ lung tung, “miệng không tham ăn”, miệng không ăn uống lung tung, miệng không tham ăn những đồ ngon lành. Phải trừ lục tặc trước, bởi vì hễ mê vào cái gì thì sẽ bị cái đó mê hoặc, đây chính là giặc trong người bạn, bạn sẽ không có cách nào thiền định được. “Thọ tưởng hành thức, ngũ uẩn tự minh”, đây là lời của Phật giáo. Đầu tiên trừ lục tặc cũng là lời của Phật giáo, sắc, thân, hương, vị, xúc, pháp chính là lục tặc, ngũ uẩn chính là sắc, thọ, tưởng, hành, thức, một khi hiểu ngũ uẩn thì tinh khí thần chính là “tam gia hội hợp”, “trưởng dưỡng hoạt bát, trên dưới lưu thông, giải thoát đâu khó”, chính là khí, chỉ cần khí mạch của bạn đều thông, minh điểm có thể phát quang, tự nhiên có thể đắc đạo, có thể thành Phật thành Đạo. Mật giáo là khí, mạch, minh điểm, tương thông với tinh khí thần của Đạo gia.

Bởi vì Diêu Trì Kim Mẫu đã dẫn dắt tôi (Lư Sư Tôn) từ một phàm phu bình thường bước ra độ hóa chúng sinh, vị đầu tiên mà tôi (Lư Sư Tôn) tương ứng cũng là Diêu Trì Kim Mẫu. Tất cả mọi thứ cho đến nay, từ năm tôi 26 tuổi cho đến bây giờ, tất cả mọi thứ của tôi (Lư Sư Tôn) đều là Diêu Trì Kim Mẫu ban cho, cho nên Liên Sinh Hoạt Phật cảm tạ nhất là Diêu Trì Kim Mẫu.

Không có Diêu Trì Kim Mẫu thì không có Chân Phật Tông. Khởi nguồn của tất cả chúng ta đến từ Diêu Trì Kim Mẫu, đây cũng chính là cội nguồn pháp của Chân Phật Tông, của mọi pháp. Hôm nay có nhiều đệ tử như thế này, có True Buddha School Chân Phật Tông, có Sư Tôn, Sư Mẫu, có Thượng sư, giáo sư, pháp sư, giảng viên, trợ giảng, đường chủ, còn có các đồng môn, toàn bộ đều đến từ cội nguồn pháp Diêu Trì Kim Mẫu. Cho nên tôi  mới nói, không có Diêu Trì Kim Mẫu thì không có Chân Phật Tông, không có Diêu Trì Kim Mẫu cũng không thể thay đổi vận mệnh cả một đời của tôi. Vận mệnh cả cuộc đời này của tôi đều do Diêu Trì Kim Mẫu thay đổi, nếu không có Diêu Trì Kim Mẫu thì ngày hôm nay Chân Phật Tông cũng không tồn tại. 

Pháp của Diêu Trì Kim Mẫu mà Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn của Chân Phật Tông đích thân truyền vô cùng nhiều, ví dụ:
Diêu Trì Kim Mẫu bổn tôn pháp.
Diêu Trì Kim Mẫu bát đại pháp.
Diêu Trì Kim Mẫu cửu chuyển huyền công.
Diêu Trì Kim Mẫu sai khiến thần binh đại pháp.
Diêu Trì Kim Mẫu thu tài chiêu tài pháp.
Diêu Trì Kim Mẫu trạng nguyên khôi tinh đại pháp.
Diêu Trì Kim Mẫu thủy cúng pháp.
Diêu Trì Kim Mẫu lập tức có tiền pháp.
Diêu Trì Kim Mẫu thế thân pháp.
Diêu Trì Kim Mẫu thân phẫn nộ Hổ Đầu Kim Cang.
Hắc Diện Kim Mẫu bất cộng đại pháp.
Kim Diện Kim Mẫu bất cộng đại pháp.
Biến Thân Kim Mẫu bất cộng đại pháp.
Cửu Phụng Phá Uế chân ngôn pháp.
Kim Quang phù chú.
v.v…


![image](/img/img_b881ab666983486366bd46586e1100ec.jpg)


Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/dorje-drolo-phan-no-lien-su.md
# Title: Dorje Drolo - Phẫn Nộ Liên Sư
---

![image](/img/img_faf6a1a47bf77dc9b1d7748e15166381.jpg)



## Dorje Drolo - Phẫn Nộ Liên Sư


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Tâm chú Dorje Drolo: 
“Hùm-hùm-hùm ôm-ah-hùm wa-ji-la gu-ru chua-la la-ka sa-ơ-wa si-đi-hùm-hùm.”

Hoặc tâm chú: 
”Ôm-ah-hùm a-ơ-xi-khưa ni-ơ-xi-khưa na-mô pa-cưa-wa-ti hùm-hùm-pây.”

Hoặc: 
”Hùm hùm hùm hùm hùm hùm hùm hùm hùm…………..”

**Pháp tướng Dorje Drolo: **
Một đầu hai tay ba mắt.
Thân màu đỏ nâu. 
Thân trên khoác áo gấm màu nâu, thân dưới mặc váy múa. 
Tay phải giơ chày kim cang thiên thạch.
Tay trái cầm dao phurba. (Móng tay nhọn của tay trái tung ra một con bọ cạp chín đầu màu đen.)
Chân dẫm lên lưng của hổ cái mang thai.
Lấy nhật luân hoa sen làm thiên ma tọa. 
An trú trong ngọn lửa mãnh liệt.

**Khai thị pháp ngữ trân quý của Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn**

Dorje Drolo (Phẫn Nộ Liên Sư) có công đức thù thắng như sau:

1. Trong đời này sẽ không bị tà thần, ác quỷ và oan thân trái chủ làm hại.

1. Không bị bùa chú ác độc của ngoại đạo làm hại.

1. Không mơ thấy ác mộng, không mắc bệnh hiểm nghèo không rõ nguyên nhân.

1. Bảo vệ cho cả gia đình lớn nhỏ đều không mắc bệnh, không gặp vận ác.

1. Không gặp tai nạn hỏa hoạn, sự nghiệp thuận lợi, của cải dồi dào.

1. Phụ nữ sinh đẻ thuận lợi, trẻ sơ sinh không chết yểu.

1. Thân thể khỏe mạnh, không bệnh tật, không gặp tai nạn.

1. Không gặp người xấu làm hại hoặc tiểu nhân hãm hại.

1. Đời này sống lâu, tài phúc, uy thế.

**17.08.2024 | Bài khai thị tại Seattle Lôi Tạng Tự**

Truyền pháp Guru Dorje Drolo là vô cùng thù thắng. Guru Dorje Drolo - Guru là đại diện cho Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, người Tây Tạng đều gọi ngài là Guru Rinpoche. Dorje Drolo chính là thân phẫn nộ của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, ngài cưỡi trên lưng hổ cái - tiger mother, rất hung dữ, hổ cái này chính là do Tashi - một trong năm Phật Mẫu của ngài, hóa ra. 

Chỗ thù thắng của ngài là ở đâu? Ngài có thể hàng phục bốn ma: thứ nhất là thiên tử ma - thiên ma; thứ hai là tử ma, tu pháp này có thể trường thọ, khỏe mạnh; thứ ba là phiền não ma, tất cả phiền não, bám chấp đều có thể cắt đứt; thứ tư là bệnh ma, tu pháp này có thể cắt đứt bệnh ma. 

Ngoài ra, chỉ cần bạn tu pháp này đạt tương ứng, có hai sức mạnh vô cùng thù thắng sẽ xuất hiện, bạn tuyệt đối có thể hóa thành cầu vồng, giống như pháp Đại viên mãn của bản thân Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Bắt đầu từ A Đạt Nhĩ Mã Phật, liên tục đến truyền thừa ở cõi trời, đến Cực Hỷ Kim Cang ở dưới đất, sau đó là Vô Cấu Hữu. Vô Cấu Hữu có hai vị, Sư Lợi Tinh Ha, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, tất cả đều hóa thành cầu vồng. 

Bạn có thể chứng vô sinh vô tử, pháp này có sức mạnh lớn như vậy. Bạn có thể hóa thành cầu vồng. Vì thế pháp này tương đương với tu đại pháp hóa cầu vồng, có sức mạnh tương tự, sức mạnh ấy sẽ trực tiếp sinh ra, đây là một truyền thừa rất lớn.

Bạn tu thành tựu vị này rồi, hóa thân cầu vồng, không sinh không diệt, bạn đều có thể chứng đắc. Ngoài ra còn có một điều hết sức thù thắng nữa, Guru Dorje Drolo có một sức mạnh rất lớn, đó là danh tiếng của bạn sẽ lan đi rất xa, giống như tiếng sấm, sấm rền thì tất cả mọi người đều nghe thấy. Tiếng tăm, thanh danh đều giống như tiếng sấm. 

Guru Dorje Drolo không chỉ hàng phục bốn ma, còn có thể hóa cầu vồng, không sinh không tử, hơn nữa còn có một đặc điểm - tùy ý mong cầu. Trên thế giới này có ai có thể tùy ý mong cầu chứ? Nói muốn thế nào là sẽ được như thế. Không ai có thể! Bạn có biết thế nào là tùy ý mong cầu không? Trong lòng bạn nghĩ gì nó sẽ xuất hiện, đây chính là tùy ý mong cầu. Bạn tu chứng Guru Dorje Drolo rồi, đã tương ứng rồi thì tùy ý mong cầu. Miệng bạn nói ra điều gì chính là pháp chỉ. Bạn nghĩ đến cái gì thì cái đó sẽ xuất hiện, đây chính là tùy ý mong cầu.

Chỉ cần bạn tương ứng với Guru Dorje Drolo thì rất khủng khiếp. Không sinh không diệt, hóa thân cầu vồng, nghĩ gì được nấy, toàn bộ đều đi theo bạn.

---
# File: nghi-quy-tu-tap/duoc-su-luu-ly-quang-vuong-phat-niem-tung-phap.md
# Title: Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_d867c059231e3b113c6362f43b9d9f7d.jpg)



## Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Thỉnh cầu Căn bản Truyền thừa gia trì. Tay kết thủ ấn Căn bản Thượng sư, quán tưởng Căn bản Thượng sư phóng ba ánh sáng trắng, đỏ, lam chiếu đến hành giả, gia trì hành giả tu pháp viên mãn. Niệm chú Căn bản Thượng sư 7 lần. Niệm văn cầu thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật gia trì 1 lần. 

- Quán tứ vô lượng tâm.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô chủ tôn tu pháp Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. (x3)
Nam mô Nhật Quang Bồ Tát.
Nam mô Nguyệt Quang Bồ Tát.
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tát cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê. 

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Mặc giáp hộ thân


Kết thủ ấn chắp tay kim cang, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cang thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Phụng thỉnh bát đại Bồ Tát
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Kim Cang Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Diệu Cát Tường Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.

Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ thất Phật. Vị lai hiền kiếp thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Niệm danh hiệu Phật sáu phương
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyệt Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Hết thảy chúng sinh trung ương, chư vị trong Phật giới, trú ngụ trên mặt đất, cho đến tại không trung, thương lo cho tất cả chúng sinh. Ai cũng an ổn tốt lành. Ngày đêm tu trì. Tâm thường cầu tụng kinh này. Diệt được khổ sinh tử. Tiêu trừ hết độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Tụng bản kinh không ngừng. Thất Phật Thế Tôn. Liền nói chú sau:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-lô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-ki-a-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha” (7 lần)

Mười phương Quan Thế Âm. Hết thảy chư Bồ Tát.
Đã thề cứu chúng sinh. Xướng danh tất giải thoát.

Nếu gặp người trí tuệ. Ân cần mà giảng nói.
Lại có đủ nhân duyên. Đọc tụng không ngơi nghỉ.
Tụng kinh tròn nghìn biến. Niệm niệm tâm không dừng.
Gặp lửa cháy chẳng sao. Việc đao binh cũng thoát.
Nóng giận thành vui vẻ. Chết rồi hóa sống vui.
Đừng nghĩ rằng không đúng. Chư Phật chẳng nói chơi.
Cao Vương Quan Thế Âm. Cứu được hết khổ nạn.
Lúc khó khăn nguy cấp. Người chết còn thành sống.
Chư Phật chẳng nói đùa. Vì vậy nên đảnh lễ.
Niệm tụng trọn nghìn lần. Tội nặng đều tiêu diệt.
Người có phúc tín tâm. Hãy chuyên tâm đọc tụng.

Nguyện mang công đức này. Gửi tới hết chúng sinh.
Tụng tròn một nghìn biến. Tội nặng đều tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (Hết)!

**Niệm thêm chú vãng sinh:** (7 biến)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha.  


### Phần 8: Quán tưởng 



![image](/img/img_fd91430ec5c3aab11223cc73c744c7bd.jpg)


**Kết ấn: Dược Sư Phật ngũ sắc quang ấn**

Hai tay tách nhau. Tay trái lòng bàn tay mở ra, ngửa lên trên, ngón cái đè lên ngón trỏ. Tay phải lòng bàn tay mở ra hướng về phía trước, ngón cái đặt hướng vào lòng bàn tay. Đặt ấn trước ngực.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời trong vạn dặm không mây, một vầng mặt trăng từ dưới biển nhô lên không trung, ở chính giữa vầng mặt trăng có một chủng tự chữ Hum (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu xanh lam phóng ra ánh sáng màu xanh lam.

(2) Chữ Hum ở giữa vầng mặt trăng quay tròn hóa thành một vị Dược Sư Phật có hình tướng giống với A Di Đà Phật, cũng có đủ 32 tướng tốt, nhưng thân của ngài màu xanh lam, hai tay kết định ấn, cầm một chiếc bát, bên trong bát có đầy cam lộ chữa bệnh, ngồi trên đài hoa sen.

(3) Lại quán tưởng tâm của Dược Sư Phật phóng ánh sáng màu xanh lam chiếu dội đến hành giả, từ đỉnh đầu hành giả đi vào thân thể, toàn thân trong suốt màu lưu li, tất cả nghiệp chướng túc nghiệp và bệnh tật đều tiêu trừ.

(4) Tam quán tưởng, tâm của Dược Sư Phật phóng ánh sáng xanh lam, tâm của hành giả cũng phóng ánh sáng xanh lam, hai ánh sáng gặp nhau ở không trung, hợp lại thành một, lập tức, hành giả biến thành Dược Sư Phật, Dược Sư Phật ở không trung và Dược Sư Phật hành giả không hai không khác, đều thành Bổn tôn.


### Phần 9: Trì tâm chú Bổn tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Dược Sư Lưu Li Quang Vương Phật đến trước mặt mình.

**Chú ngữ:**

Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (108 biến)


### Phần 10: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Hum), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Bổn tôn Dược Sư Phật, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 11: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 

**Tụng tán: **

Mười hai đại nguyện mong ước chúng sinh hằng trụ thế
Ánh sáng xanh lam chiếu thế nhân mãi được trường sinh
Tối thượng thù thắng thành tựu Dược Sư Quang Vương Phật
Chúng con lần lượt đảnh lễ quy y dưới chân ngài. 


### Phần 12: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-tê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 13: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 14: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 15: Hồi hướng


Gia trì tu pháp đạt thành tựu
Trăm bệnh tiêu trừ phúc huệ tăng
Mong cùng Bổn tôn hợp làm một
Chúng sinh thế giới được an vui.

Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. xin đem công đức này hồi hướng. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 17: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


![image](/img/img_2e0f7d4a907d7ee102ed7d39a2af0923.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật


Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật thân hình giống như A Di Đà Phật, có 32 tướng tốt, thân ngài màu xanh lam, hai tay kết định ấn, cầm bát, bên trong bát đầy cam lộ chữa bệnh, ngồi xếp bằng trên đài hoa sen.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị lai lịch thù thắng của Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật và khẩu quyết tu pháp


Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật là giáo chủ của Đông phương Lưu Ly Quang thế giới, vị Phật này là Đại Y Vương Phật, có thể trị mọi loại bệnh tật, tịnh thổ của ngài là cõi Lưu Ly Quang, vi diệu trang nghiêm, là cùng thể nhưng khác tên với Đông phương A Súc Phật trong số Ngũ Phật.

Chỗ vĩ đại của Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật chính là phát 12 đại nguyện, trong số đó có một nguyện là trị liệu tám vạn bốn nghìn loại bệnh của chúng sinh, dùng tám vạn bốn nghìn loại thuốc để trị tám vạn bốn nghìn loại bệnh, khiến cho mọi người mắc bệnh hoàn toàn tiêu trừ được bệnh nghiệp. 

12 đại nguyện của Dược Sư Phật hóa hiện thành 12 vị Yết Ma Thần, còn gọi là Dược Sư Thập Nhị Thần Tướng, theo 12 phương hướng xoay quanh bốn phía của Dược Sư Phật. Phục vụ sát sườn bên Dược Sư Như Lai là Nhật Quang Bồ Tát, Nguyệt Quang Bồ Tát, nên khi phụng thỉnh cũng cần niệm xưng hiệu của ngài các ngài. Trong Mật giáo, Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai cũng tương đương với A Súc Như Lai.

Thị giả và quyến thuộc của Dược Sư Phật có Nhật Quang Bồ Tát, Nguyệt Quang Bồ Tát, Quan Thế Âm Bồ Tát, Thế Chí Bồ Tát, Văn Thù Bồ Tát, Bảo Đàn Hoa Bồ Tát, Vô Tận Ý Bồ Tát, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát, v.v… có thể nói là trang nghiêm vô cùng. 

Hành giả Mật tông tu trì Bổn tôn Dược Sư không những có thể giúp thế nhân độ chúng sinh, mà còn có thể vãng sinh đến tịnh thổ của Bổn tôn, tức thân thành Phật.

Pháp tu lớn nhất của Dược Sư Phật là pháp tu Thất Phật Dược Sư Ngũ Đàn, là một trong bốn đại pháp của Đài mật. Ngũ đàn ở đây là: ở giữa là Đại Thánh Bất Động Minh Vương, phía nam là Quân Đồ Lợi Dạ Xoa Minh Vương, phía bắc là Kim Cương Dạ Xoa Minh Vương, phía đông là Hàng Tam Thế Minh Vương, phía tây là Đại Uy Đức Minh Vương. Đó là đại pháp vô thượng, là đại pháp cứu nước cứu dân.

Pháp tu Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật Thất Phật Dược Sư Ngũ Đàn, với Đông mật mà nói thì đó là pháp lớn nhất. Đây là một pháp rất lớn, cũng là một pháp để chữa bệnh. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật có hai thủ ấn, một thủ ấn chính là ấn phóng ngũ sắc quang, hai bàn tay tách nhau, ngón cái tay trái đè lên ngón trỏ, lòng bàn tay ngửa lên trên, ngón cái tay phải đè lên ngón trỏ, lòng bàn tay hướng ra phía trước, đặt ở trước ngực, đây là ấn ngũ sắc quang của Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Ngoài ra, ấn cơ bản của Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật chính là hai tay kết nội phộc, hai ngón tay cái thẳng đứng và chạm vào nhau, đặt ấn trước ngực, đây là hai thủ ấn.

Khẩu quyết của pháp Bổn tôn Dược Sư Phật là: vùng tim của hành giả Mật tông phóng ra tịnh lưu ly quang màu xanh lam. Vùng tim của Dược Sư Phật phóng ra tịnh lưu ly quang màu xanh lam. Hai ánh sáng này gặp nhau, hành giả và Dược Sư Phật không hai không khác, đều trở thành Bổn tôn.

Khẩu quyết chân chính của Bổn tôn Dược Sư Phật là: nội hỏa - ngoại hỏa - tịnh lưu ly quang. Người tu tập pháp này trước tiên phải biết “khám bệnh phúc điền” quan trọng nhất của Thích Ca Mâu Ni Phật.

Yếu quyết trị bệnh của Dược Sư Phật chính là phóng ánh sáng xanh trắng, để tiếp xúc với tất cả quần áo và đồ ăn của người bệnh, đây là bí mật trong bí mật của việc giúp đỡ chữa bệnh. Thật ra, mật pháp Bổn tôn Dược Sư Phật không chỉ là để chữa bệnh mà thôi, pháp này cũng có thể hàng phục ma chúng, đẩy lùi mọi oan địch. Ngày xưa, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn từng ứng dụng Hộ Ma của pháp Dược Sư, và pháp Quang Chiếu, hoặc tịnh lưu ly quang chiếu hồng lục tuyến, để chữa bệnh tật cho người bị bệnh, đã chữa khỏi cho vô số người, pháp này lớn bất khả tư nghì, pháp lực lớn vô hạn, là pháp Bổn tôn vô thượng.

Bản thân Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật vô cùng linh. Liên Sinh Hoạt Phật từng đích thân nhìn thấy Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật hiển hiện, và khi chính bản thân bạn có bệnh, bạn hãy cung kính niệm Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật, hoặc tâm chú của Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật, chỉ cần ánh sáng của ngài xuất hiện, ngài xuất hiện cho bạn nhìn thấy, thì bệnh của bạn chắc chắn sẽ khỏi.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đích thân thấy Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật và toàn bộ quyến thuộc hiện thân


Có lần khi Liên Sinh Hoạt Phật đang ẩn cư, Ngài mắc một căn bệnh nặng là "chứng vỡ não", não như bị tách ra làm tám mảnh..., đau đớn không thể tả. Lúc đó Liên Sinh Hoạt Phật đã đến Hàn Quốc. Hàn Quốc cũng là một quốc gia Phật giáo, Liên Sinh Hoạt Phật đi nhiễu quanh từng ngôi chùa, nhiễu quanh từng tượng Phật, sau đó đến chùa Đồng Hoa - nơi có tượng Dược Sư Như Lai Thống Nhất lớn nhất thế giới (cao 33m, rộng 16,5m), để đảnh lễ Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật cao lớn nhất, người Hàn Quốc gọi vị Phật này là Phật Thống Nhất. Trên đường từ chùa Đồng Hoa [Donghwasa] đến chùa Hải Ấn [Haeinsa], Liên Sinh Hoạt Phật ngồi trên xe, nhắm mắt lại, chỉ trong một sát-na, liền thấy mắt Phật, lông mày Phật, mũi Phật, miệng Phật, tai Phật, kim thân Phật, tòa sen của Phật. Liên Sinh Hoạt Phật thấy Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật, Nhật Quang Bồ Tát, Nguyệt Quang Bồ Tát, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Thập Nhị Dược Xoa Thần Tướng, các Kim cang Hộ pháp đều hiện thân, tất cả quyến thuộc của Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật đều xuất hiện. Lúc đó, Liên Sinh Hoạt Phật nói: "Bệnh của tôi chắc chắn sẽ khỏi", và quả nhiên, chẳng bao lâu sau, "chứng vỡ não" đã hoàn toàn bình phục. (Chú thích: Nội dung thực chứng của Liên Sinh Hoạt Phật trên đây, xin tham khảo văn tập tập 162 của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn "Phiêu Bạt Nơi Đất Khách". Trong thời gian ẩn cư và bế quan của Liên Sinh Hoạt Phật, do chư Phật Bồ Tát khiến Ngài từ "chứng vỡ não" thân chứng quá trình "tứ đại phân tán" thực sự của thân người, giúp Liên Sinh Hoạt Phật thấu hiểu hơn nỗi khổ bệnh tật của chúng sinh, dùng tâm đại từ bi phổ độ chúng sinh, khiến chúng sinh thoát khỏi nỗi khổ bệnh tật; mà trong suốt cuộc đời của Liên Sinh Hoạt Phật, ngoài lần này ra, Ngài chưa từng biết bệnh tật là gì.)


### Mười Hai Đại Nguyện của Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật


Nguyện thứ nhất, nguyện thân mình và người khác đều có hào quang rực rỡ.
Nguyện thứ hai, nguyện oai đức cao vời, khai mở trí tuệ cho chúng sinh.
Nguyện thứ ba, nguyện cho chúng sinh được đầy đủ như ý, không thiếu thốn.
Nguyện thứ tư, nguyện khiến tất cả chúng sinh an trụ nơi Đại thừa.
Nguyện thứ năm, nguyện tất cả chúng sinh tu phạm hạnh, đầy đủ Tam tụ giới.
Nguyện thứ sáu, nguyện những ai không đủ các căn được hoàn thiện các căn.
Nguyện thứ bảy, nguyện trừ hết bệnh tật cho chúng sinh, khiến thân tâm an lạc, chứng đắc vô thượng bồ đề.
Nguyện thứ tám, nguyện chuyển nữ thành nam.
Nguyện thứ chín, nguyện khiến các hữu tình thoát khỏi sự trói buộc của thiên ma ngoại đạo, thoát khỏi rừng rậm tà kiến ác kiến, dẫn dắt về chính kiến.
Nguyện thứ mười, nguyện khiến chúng sinh thoát khỏi nạn vua ác, giặc cướp và các tai ương bất ngờ.
Nguyện thứ mười một, nguyện cho chúng sinh đói khát được thượng vị thực phẩm.
Nguyện thứ mười hai, nguyện cho người nghèo thiếu áo quần được y phục tốt đẹp.

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/gia-lam-bo-tat-niem-tung-phap.md
# Title: Già Lam Bồ Tát niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_ebe361adf0ae8942c5774d3c97025a72.jpg)



## Già Lan Bồ Tát niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Già Lam Bồ Tát.

(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_538ebece2c94f74409efb05d3f41f028.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn ****Già Lam Bồ Tát**

Thủ ấn chắp tay kim cang: năm ngón tay đan chéo nhau như chiếc chày. 

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời xanh vạn dặm không mây, có một nguyệt luân từ trên mặt biển nhô lên, trong nguyệt luân có một chủng tử chữ “Hum”. Màu sắc của chủng tự tùy theo nhu cầu của hành giả mà biến hóa: cầu tiêu tai thì quán tưởng chủng tự màu trắng phóng ánh sáng trắng, cầu tăng ích thì quán tưởng chủng tự màu vàng phóng ánh sáng vàng, cầu kính ái thì quán tưởng chủng tự màu đỏ phóng ánh sáng đỏ, cầu hàng phục thì quán tưởng chủng tự màu lam phóng ánh sáng lam.

(2) Chữ “Hum” trong nguyệt luân xoay tròn, hóa thành Già Lam Bồ Tát/Hộ Pháp. Già Lam Bồ Tát có dáng vẻ đầy uy vũ, thân mặc áo giáp, cưỡi ngựa xích thố hoặc đứng hiên ngang, tay cầm thanh long yển nguyệt đao. 

(3) Quán tưởng thiên tâm của Già Lam Bồ Tát phóng ra một vệt ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả. Từ họng ngài phóng ra một vệt ánh sáng đỏ chiếu thẳng đến họng của hành giả. Tâm luân của ngài phóng ra một vệt ánh sáng xanh lam chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng trắng, đỏ, lam tan vào thân tâm của hành giả. 


### Phần 14: Trì tâm chú Già Lam Bồ Tát


Tâm chú: Ôm chia-lan sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Hum), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Già Lan Bồ Tát, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định.

**Tụng tán:**
Trung nghĩa chính trực xuyên nhật nguyệt
Uy linh hiển hách trừ nạn chướng
Già Lam Tôn Giả hộ Phật pháp
Phật tự gia môn đều cát tường.


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.


![image](/img/img_4c0494ec263e6770d60c214c2664523f.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Già Lam Tôn giả


Già Lam Thánh Chúng Bồ Tát - già lam là tên thường gọi cho chùa chiền đạo tràng. Già Lam Thần là vị bảo vệ Chư Thiên Thiện Thần của các chùa miếu. Trong kinh Thất Phật Bát Bồ Tát Đại Đà-la-ni Thần Chú có ghi 18 vị Già Lam Thần là Mỹ Âm, Phạn Âm, Thiên Cổ, Thán Diệu, Thán Mỹ, Quảng Diệu, Lôi Âm, Sư Tử, Diệu Thán, Phạn Hưởng, Nhân Âm, Phật Nô, Tụng Đức, Quảng Mục, Diệu Nhãn, Triệt Thính, Triệt Thị, Biến Thị.

Theo Hán truyện, Già Lam Tôn giả là hình tượng của Quan Thánh Đế Quân, mặt đỏ như quả táo, râu tóc đẹp và dài, dáng vẻ uy vũ, thân mặc áo giáp, khoác áo choàng vai và đeo thắt lưng, tay cầm thanh long yển nguyệt đao, cưỡi ngựa Xích Thố (hoặc đứng hiên ngang không cưỡi ngựa), hoặc ngài không cầm đao mà ngồi đọc kinh Xuân Thu.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị về Già Lam Tôn giả


Bình thường ở mặt chính trong chùa Đài Loan Lôi Tạng Tự của chúng ta có hai vị Hộ Pháp rất lớn, một vị là Vi Đà Hộ Pháp Bồ Tát, một vị là Già Lam Hộ Pháp Bồ Tát. Hễ bạn đi vào trong ngôi chùa miếu nào ở Trung Quốc Đại Lục, vừa bước qua thiên môn ở tầng thứ nhất, tức là cánh cửa đi vào đại điện, đầu tiên chắc chắn bạn sẽ nhìn thấy Tứ Thiên Vương, chính là Đa Văn Thiên, Trì Quốc Thiên, Tăng Trưởng Thiên, Quảng Mục Thiên. Và ở ngay đối diện với Tứ Thiên Vương chính là Di Lặc Bồ Tát, tức là vị Phật tương lai. Sau đó, quay ra phía sau, bạn sẽ nhìn thấy Vi Đà Hộ Pháp Tôn Thiên Bồ Tát, ngay đối diện với ngài luôn là Đại Hùng Bảo Điện, bên trong điện có Phật Thích Ca Mâu Ni, Dược Sư Như Lai, A Di Đà Phật được sắp xếp như vậy.

Già Lam Tôn Giả chính là Quan Thánh Đế Quân mà người Hoa chúng ta tôn kính nhất. Vào thời Trung Quốc cổ đại, Trí Giả Đại Sư của Thiên Thai tông triều Tùy ở trong thiền định đã nhìn thấy Quan Thánh Đế Quân (Quan Vân Trường), ngài dắt theo rất nhiều âm binh âm tướng ở trên sa trường xông pha chiến đấu. Trí Giả đã thỉnh Quan Thánh Đế Quân làm Hộ Pháp Thần Tướng cho Phật giáo, vì uy linh của ngài, uy phong của ngài, linh khí của ngài có đầy đủ để là một vị Thánh Thần, một vị Tôn giả vĩ đại.

Quan Thánh Đế Quân lấy hai chữ “trung nghĩa” để tượng trưng cho mình. Trung là trung thành với Thục Hán Chiêu Liệt Đế, nhà Hán của Tây Thục. Khi ấy, có Tào Tháo, Lưu Bị, Tôn Quyền - ba nước làm nên thế chân vạc. Tào Tháo đã dùng lễ rất hậu với Quan Thánh Đế Quân, dùng lễ tôn quý nhất, hy vọng Quan Thánh Đế Quân sẽ quy về Ngụy, nhưng Quan Vân Trường (Quan Công) không hề lay động, ngài vẫn trung với Thục Hán của mình. Nói về nghĩa thì ngài “qua ngũ quan, trảm lục tướng”, bảo vệ chị dâu của mình, tức là hai phu nhân của Lưu Bị, đưa chị dâu của mình về bên Lưu Bị, đây là một hành động đầy nghĩa khí, nghĩa khí của tình kết nghĩa, theo đến tận cùng. Ngài trung với đất nước, nghĩa với bạn bè, nghĩa với mọi chúng sinh, cho nên biểu tượng của ngài hai chữ “trung nghĩa”. “Qua ngũ quan, trảm lục tướng” là việc vô cùng khó khăn, vì thế Quan Vân Trường là một người trung nghĩa, một nhân vật Thần Thánh vô cùng vĩ đại.

Bản thân Vi Đà có thần túc truy phong, còn Già Lam Tôn Giả có ngựa Xích Thố truy phong, cả hai vị đều rất nhanh, chạy cực nhanh, đều liên quan đến gió, biểu thị rằng hai vị đều nhanh như gió.

Thần túc của Vi Đà Hộ Pháp Bồ Tát và ngựa Xích Thố của Quan Thánh Đế Quân đều nằm ở chân, không phải chân của Quan Thánh Đế Quân mà là chân của con ngựa. Vì thế khi chúng ta cầu Quan Thánh Đế Quân, bạn phải nhớ mua “giáp mã”, có một loại giấy vàng mã gọi là “giáp mã”, bạn có biết không? Gọi là “giáp mã kim”. 

“Giáp mã kim” có tác dụng gì? Nếu bạn tu Quan Thánh Đế Quân mà thành tựu rồi, Quan Thánh Đế Quân có thể nghe được lời của bạn, bạn cũng có thể nghe được lời của Quan Thánh Đế Quân, bạn nói chuyện với ngài, tối hôm nay tôi muốn đi gặp một người bạn, thế thì buổi tối hôm đó, bạn hãy buộc giáp mã kim vào chân bạn. Bạn cần niệm một câu chú, là câu chú gì? Chú truy phong. “Yam yam yam yam. Yam” Bạn niệm 5 chữ này. Sau khi bạn buộc giáp mã kim vào chân bạn, buổi tối hôm đó linh hồn của bạn sẽ xuất khiếu, lập tức cưỡi lên giáp mã, bạn muốn đến đâu sẽ đến đó, bạn có thể lập tức nhìn thấy bạn của bạn. 

Tôi nói một cách đơn giản. Bí quyết đầu tiên là bạn phải trì chú của ngài “Om jialan siddhi hum”, rồi quán tưởng Quan Thánh Đế Quân, kết thủ ấn của ngài, như tôi vừa nói lúc này là thủ ấn chắp tay kim cang. Ngoài ra còn một thủ ấn nữa (hai tay đan ngoại phộc, lòng bàn tay hướng xuống dưới, ngón cái, ngón trỏ, ngón áp út thì đan vào nhau đặt nằm ngang, còn ngón giữa thì dựng thẳng hướng lên trời, giống như ấn đơn cổ - chày đơn). Đây chính là thủ ấn của Quan Thánh Đế Quân, cũng là thủ ấn của Vi Đà Tôn Giả, tượng trưng cho động tác cầm chày hàng ma hoặc cầm thanh long yển nguyệt đao. Bạn kết thủ ấn này, niệm chú này, quán tưởng ngài, cho đến khi tương ứng, có một ngày, Quan Công sẽ hiện thân, ngài sẽ nói với bạn: “Anh đã tương ứng rồi.” Mua giáp mã buộc vào chân, cầu nguyện Quan Thánh Đế Quân: “Tôi muốn đi châu Phi một chuyến.” Ở trong mơ, bạn sẽ lập tức cưỡi trên ngựa Xích Thố truy phong, chạy băng băng trên thảo nguyên ở châu Phi, có thể bay ở trên không trung khắp châu Phi, bạn muốn đến quốc gia nào là có thể đến được quốc gia đó. Chỉ cần bạn tương ứng với Quan Thánh Đế Quân thôi.

Vấn đề nằm ở hai chữ “tương ứng” này. Bạn mua giáp mã kim về buộc vào chân, vì ngài cưỡi ngựa mà! Bạn chỉ cần đơn giản là buộc giáp mã kim vào chân, niệm chú “Yam yam yam yam. Yam”, buổi tối khi đi ngủ, nhắm mắt lại, niệm “Yam yam yam yam. Yam”, trong mơ bạn sẽ có thể thần hành đến toàn bộ châu Âu. Tôi không giấu các bạn đâu, là sự thật đó, Quan Thánh Đế Quân trực tiếp nói với tôi như vậy. Chỉ cần bạn tương ứng với ngài, buộc giáp mã vào chân thì sẽ làm được. Đây là một khẩu quyết rất quan trọng, đừng có nói cho người khác đấy. 

Tôi nói cho các bạn một bí quyết quan trọng nhất: “Tôi muốn đến Tây phương Cực Lạc thế giới, đến thập phương Phật quốc xem Ma Ha Song Liên Trì.” Đây chính là khẩu quyết, khẩu quyết của Vi Đà Tôn giả là viết chữ “Ha”, còn khẩu quyết của Già Lam Tôn giả là buộc giáp mã vào chân. Nếu không mua được giáp mã, bạn viết hai chữ “giáp mã” (甲馬) cũng được. Tôi nói bạn có thể đến thế giới Ta Bà thì cũng có thể đến được Phật quốc tịnh thổ. Ai có thể nói ra điều này? Tôi đã dạy cho bạn hai khẩu quyết này, một là ngựa, một là chữ “Ha”, cả hai đều là gió. “Ha ha ha ha. Ho”, “Yam yam yam yam. Yam.”

Om guru liansheng siddhi hum.

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/hac-dien-kim-mau-niem-tung-phap.md
# Title: Hắc Diện Kim Mẫu niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_e5ed61c0e17d2e304a901a36b3d153a2.jpg)



## Hắc Diện Kim Mẫu niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Hắc Diện Kim Mẫu.

(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_9ceb622fbc33cd591651bb77bf93579f.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn Hắc Diện Kim Mẫu:**

Hai tay kết thủ ấn Kim Mẫu. Đầu tiên hai tay đan nội phộc, hai ngón giữa dựng thẳng lên chạm vào nhau, hai ngón trỏ giơ lên mở ra hai bên, hai ngón cái giơ thẳng đặt cạnh nhau. Giữ thủ ấn trước ngực.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời trong vạn dặm không mây, một vầng mặt trăng từ dưới biển nhô lên không trung, ở chính giữa vầng mặt trăng có một chủng tự chữ Hum (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu đen kim tỏa ánh sáng trắng mạnh mẽ.

(2) Chữ Hum ở giữa vầng mặt trăng quay tròn hóa thành Kim Diện Kim Mẫu hiện tướng thiếu nữ thanh xuân, đầu đội mũ phượng, tay phải cầm phất trần, tay trái cầm thất tinh bảo kiếm, khuôn mặt hơi mỉm cười, pháp tướng trang nghiêm, ánh mắt hiền từ nhìn chúng sinh, ngồi trên cỗ xe cửu phụng.

(3) Quán tưởng cây phất trần và bảo kiếm trong tay của Kim Mẫu phóng ánh sáng trắng lên cao, trở thành hình vòng cung chiếu đến đỉnh đầu và đi vào thân hành giả Mật tông, thân hành giả trở nên trong suốt như thủy tinh, nghiệp chướng đều tiêu trừ.

(Hoặc quán tưởng thiên tâm của Kim Mẫu phóng ra một vệt ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả. Từ họng Kim Mẫu phóng ra một vệt ánh sáng đỏ chiếu thẳng đến họng của hành giả. Tâm luân của Kim Mẫu phóng ra một vệt ánh sáng xanh lam chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng trắng, đỏ, lam tan vào thân tâm của hành giả.)


### Phần 14: Trì tâm chú Hắc Diện Kim Mẫu


Tâm chú: Ôm chin-mủ ha-ha-ha hùm pây. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Hum), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Hắc Diện Kim Mẫu, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.


![image](/img/img_4a334b07e12702c70eec331e48ef672b.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Hắc Diện Kim Mẫu


Hắc Diện Kim Mẫu đầu đội mũ phượng, tay cầm phất trần và thất tinh bảo kiếm, mặt màu đen, pháp tướng trang nghiêm.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị lai lịch của Hắc Diện Kim Mẫu


Về lai lịch của Hắc Diện Kim Mẫu, lần đầu tiên trong đời Liên Sinh Hoạt Phật nghe nói đến Hắc Diện Kim Mẫu là do năm xưa sư cô Lâm Thiên Đại  kể. Sư cô Thiên Đại đến thiên thượng nhìn thấy một vị Diêu Trì Kim Mẫu mặt đen đưa cho bà một viên thuốc màu đen, và còn dặn dò bà rằng tương lai trở về thế gian thì có thể đến âm gian, có thể đi độ vong, có thể dắt vong, độ các linh hồn của âm gian.

Ý nghĩa chủ yếu của viên thuốc màu đen này là âm gian, tức là độ hồn ma. Cho nên sư cô Lâm Thiên Đại (Cơ Nga Tang) trong suốt cuộc đời mình đều dắt vong độ âm.

Lần thứ hai Liên Sinh Hoạt Phật nghe đến danh hiệu Hắc Diện Kim Mẫu chính là một lần, Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thần Phổ Hóa Thiên Tôn chủ yếu dùng ngũ lôi để đánh chết một hồn ma u minh, hồn ma này đã thỉnh cầu Liên Sinh Hoạt Phật cứu độ cô ta. Đúng vào lúc nghìn cân treo sợi tóc, Thần Sấm nói rằng: “Ta là Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thần Phổ Hóa Thiên Tôn, ta có luật lệnh của Hắc Diện Kim Mẫu, nhất định phải cho con ma này bị ngũ lôi đánh vào đầu, đánh chết cô ta.”

Bởi vì khi thời giờ đến, con ma này nhất định phải chết, quả nhiên đến giờ thì có tiếng sấm nổ, khi ấy Liên Sinh Hoạt Phật khởi tâm từ bi, đã giúp con ma này, cầm một cuốn kinh Kim Cang đặt lên trên đầu của con ma. Thần Sấm đánh xuống thì đánh trúng vào cái cây ở bên cạnh, bởi vì ngài không thể đánh vào kinh Kim Cang.

Khi ấy, Thần Sấm đã đánh đổ cây rồi trở về báo cáo, biểu thị rằng sấm đã đánh rồi, thế là Liên Sinh Hoạt Phật đã cứu độ thành công linh hồn u minh này.

Kinh Kim Cang có thể đặt trên đỉnh đầu, có thể tránh tai nạn. Đây chính là lần thứ hai Liên Sinh Hoạt Phật nghe đến Hắc Diện Kim Mẫu.

Còn lần thứ ba nghe đến Hắc Diện Kim Mẫu là năm xưa, khi Liên Sinh Hoạt Phật vẫn còn trẻ, trông thấy một nhóm người ở bên bờ sông đang tổ chức hoạt động, Liên Sinh Hoạt Phật rất hiếu kì đi tới, vừa nhìn thì thấy là họ đang khênh kiệu, người Đài Loan gọi là rước kiệu, kiệu thần do bốn người khênh, hai người phía trước, hai người phía sau, ở giữa có một ghế tựa nhỏ, trên đó bày một vị Thần minh. Họ khênh kiệu từ trên bờ sông, một lúc sau thì bốn người lao xuống sông, sau đó lại từ dưới sông quay đầu, bốn người này ở dưới sông đi lòng vòng một lúc rồi lại lên bờ, rồi một lúc sau lại lao xuống sông. Hỏi người bên cạnh đây là đang làm gì, người bên cạnh nói: “Đây là Hắc Diện Kim Mẫu đang bắt thủy quái.”

Vậy là tổng cộng có ba lần nghe nói đến. Lần thứ nhất là từ sư phụ Lâm Thiên Đại, lần thứ hai là do Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thần Phổ Hóa Thiên Tôn nói đến luật lệnh của Hắc Diện Kim Mẫu, lần thứ ba là ở bên sông nhìn thấy người ta dùng Hắc Diện Kim Mẫu để bắt thủy quái.

Cho nên hôm nay đã thỉnh Hắc Diện Kim Mẫu đến đây, chúng ta ở Lôi Tạng Tự nói là muốn thỉnh pháp Kim Mẫu bắt ma, thì ra là Hắc Diện Kim Mẫu. Diêu Trì Kim Mẫu là Bổn tôn đầu tiên mà Liên Sinh Hoạt Phật tương ứng, chỉ cần tương ứng được với Diêu Trì Kim Mẫu rồi thì bạn có thể tương ứng với rất nhiều vị.

Chủng tử tự của Hắc Diện Kim Mẫu là chữ Hum màu đen, tâm chú của ngài là “Om jinmu hahaha hum pei”. Thủ ấn giống với thủ ấn của Diêu Trì Kim Mẫu. Hắc Diện Kim Mẫu rất dễ quán tưởng, quán tưởng toàn bộ khuôn mặt ngài có màu đen là được.

Hắc Diện Kim Mẫu tổng quản mọi việc lớn nhỏ của âm gian, và sở trường chủ yếu nhất của ngài chính là bắt ma.


![image](/img/img_65e0c95925febefc81779f427472e49e.jpg)


Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/hi-kim-cang-niem-tung-phap.md
# Title: Hỉ Kim Cang niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_c53c15416a48274f8ba129f89b7a18ac.jpg)



## Hỉ Kim Cang niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


(1) Quán Không.

(2) Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (7 biến)

(3) Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

(4) Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Hỉ Kim Cang.

(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)

Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê. 

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_229c15f39c5944ba516af25edd163cc9.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn ****Hỉ Kim Cang**

Hai tay chắp lại, hai ngón cái cong vào trong lòng bàn tay, đặt bên dưới ngón áp út.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời xanh vạn dặm không mây, có một nhật luân từ dưới biển nhô lên, ở giữa nhật luân xuất hiện chủng tử tự chữ “Hum” (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu lam phóng quang.

(2) Chữ “Hum” trong nhật luân xoay tròn hóa thành Hỉ Kim Cang. Hỉ Kim Cang hiện thân màu xanh, có 8 mặt, 16 tay, 4 chân, tướng phẫn nộ, 4 chân dẫm lên 4 ma, 16 tay cầm pháp khí và ôm lấy Vô Ngã Mẫu. Hỉ Kim Cang có ba mắt đều mở to tròn, tóc vàng dựng lên và xoắn, đeo bờm, vòng tai, đồ trang sức trên cổ, vòng tay, thắt lưng, quanh thân là ngọn lửa đại trí huệ. Các vật cầm trên tay gồm: voi trắng, Hoàng Địa Thiên, ngựa xanh, Bạch Thủy Thần, lừa đỏ, Hồng Hỏa Thần, trâu đỏ, Thanh Phong Thần, lạc đà xám, Bạch Nguyệt Thiên, người đỏ, Hồng Nhật Thiên, sư tử xanh, Thanh Ngục Đế, mèo đỏ, Hoàng Thí Tài.

(3) Quán tưởng từ thiên tâm của Hỉ Kim Cang phóng ra một đường ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả, từ họng của ngài phóng ra một đường ánh sáng đỏ chiếu đến họng của hành giả, từ tâm luân của ngài phóng ra một đường ánh sáng màu xanh lam chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng đi vào thân tâm hành giả, gia trì cho hành giả thân tâm thanh tịnh.


### Phần 14: Trì tâm chú Hỉ Kim Cang


Tâm chú: Ôm đê-wa pi-chư wa-zư-la hùm hùm hùm fa-cha sô-ha. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Hum), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Hỉ Kim Cang, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định.


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hum.


![image](/img/img_bbe90ed3dc324716b43ed9911f582c02.jpg)



![image](/img/img_39e27ac2baa15d7af5858c493b4fad2b.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Hỉ Kim Cang


Hỉ Kim Cang hiện thân màu xanh, có 8 mặt, 16 tay, 4 chân, tướng phẫn nộ, 4 chân dẫm lên 4 ma, 16 tay cầm pháp khí và ôm lấy Vô Ngã Mẫu. Hỉ Kim Cang có ba mắt đều mở to tròn, tóc vàng dựng lên và xoắn, đeo bờm, vòng tai, đồ trang sức trên cổ, vòng tay, thắt lưng, quanh thân là ngọn lửa đại trí huệ. Các vật cầm trên tay gồm: voi trắng, Hoàng Địa Thiên, ngựa xanh, Bạch Thủy Thần, lừa đỏ, Hồng Hỏa Thần, trâu đỏ, Thanh Phong Thần, lạc đà xám, Bạch Nguyệt Thiên, người đỏ, Hồng Nhật Thiên, sư tử xanh, Thanh Ngục Đế, mèo đỏ, Hoàng Thí Tài.

Các vật mà ngài cầm tượng trưng cho:
1. Trừ tất cả bệnh tật.
2. Trấn tất cả ác thú.
3. Thí tất cả tài bảo.
4. Chứng tám Đại Tự Tại.
5. Quản thiên địa nhật nguyệt.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị lai lịch của Hỉ Kim Cang


Hỉ Kim Cang còn gọi là Hoan Hỉ Kim Cang, là vị Kim cang thần (Heruka) xuất hiện sớm nhất, đại diện cho trí huệ, thuộc về Kim cang thần mẫu hệ.

Hỉ Kim Cang đất, nước, lửa, gió, Nhật Thần, Nguyệt Thần, Tử Thần đều nằm dưới sự kiểm soát của ngài.

Hỉ Kim Cang là vị Kim cang thần xuất hiện sớm nhất trong các pháp Kim cang. Hỉ Kim Cang ở chính giữa, có tám đại minh phi trụ tại tám phương. Bình thường khi chúng ta cúng dường các minh phi tương đương với cúng dường các Không Hành Mẫu, có các Mẫu trấn thủ bốn phương (Tứ Thủ Phương Mẫu), Không Hành Mẫu ở tám phương, Thiên Nữ của hai mươi cõi thiên, đều là các Không Hành Mẫu. Cho nên bình thường khi làm cúng dường, chúng ta đều niệm: “Cúng dường Tứ Thủ Phương Mẫu, Bát Phương Không Hành Mẫu, Nhị Thập Thiên Thiên Nữ”. 

Hỉ Kim Cang chính là hóa hiện của Kim Cang Tát Đỏa, Kim Cang Thủ, Kim Cang Tâm Bồ Tát. Tâm chú của Hỉ Kim Cang là “Om deva picu vajra hum hum hum phat svaha” (Ôm đê-wa pi-chư wa-zư-la hùm hùm hùm fa-cha sô-ha). Hoặc cũng có thể niệm là “Ôm đê-wa pi-chư wa-zư-la hùm hùm hùm sê sô-ha”, hoặc “Ôm đê-wa pi-chư wa-zư-la hùm hùm hùm pây sô-ha”, đều được. “fa-cha” kì thực chính là “pây”, tức là tiêu diệt, quét sạch. 

Hình tượng của Hỉ Kim Cang biểu thị:
1. Kim cương bất hoại.
2. Vua của đại lực.
3. Vua của thành tựu thế gian.
4. Vua của giải thoát xuất thế gian.
5. Cái tham lớn nhất của Hỉ Kim Cang là phương tiện đại lạc.
6. Bản chất phẫn nộ của Hỉ Kim Cang là đại bi.
7. Hỉ xả của Hỉ Kim Cang là Phật tính của phương tiện trí huệ.

Tu chứng Hỉ Kim Cang có thể đè bẹp tứ ma, kiểm soát thiên địa nhật nguyệt, chứng bát đại tự tại.
Hàng phục tứ ma là:
1. Phiền não ma: những phiền não của tham, sân, si có thể làm hại thân tâm.
2. Ngũ uẩn ma: còn gọi là Ngũ ấm ma. Sắc, thọ, tưởng, hành, thức sẽ sinh ra đủ loại khổ não.
3. Tử ma: cái chết có thể cắt đứt vận mệnh của con người.
4. Tự Tại Thiên ma: Tha Hóa Tự Tại Thiên Ma, có thể làm hại việc tốt và huệ mệnh của con người.

Có thể đắc tám đại tự tại:
1. Hóa thân làm nhiều thân, hóa thân bên ngoài thân.
2. Thân đầy khắp đại thiên thế giới.
3. Thân đến đi tự do thần hành.
4. Hóa thân hiện vô lượng, luôn cư trú tại các tịnh thổ.
5. Đất nước lửa gió biến hóa.
6. Đắc mọi pháp.
7. Thọ vô lượng kiếp.
8. Thân biến khắp nơi, giống như hư không.

Đắc chứng Hỉ Kim Cang thân đàn thành có công đức pháp vô cùng lớn, thành tựu của pháp này là:
1. Hành giả bảo vệ thân mình.
2. Hành giả tương ứng Bổn tôn.
Pháp này có thể thành tựu thân kiên cố bất hoại, ác pháp tấn công cũng không hề gì, không sợ mọi tà thuật bùa ngải giáng đầu.

Trong lịch sử, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn là vị Pháp Vương người Hán đầu tiên truyền thụ pháp Hỉ Kim cang. Liên Sinh Hoạt Phật giảng dạy giáo trình Hỉ Kim Cang là dựa theo:
1. Kinh nghiệm thực tu của Liên Sinh Hoạt Phật.
2. Sakya Chứng Không Thượng sư truyền dạy.
3. Bài kệ “Hỉ Kim Cang bản tục”. 
4. Phật thuyết Đại Bi Không Trí Kim Cang Đại Giáo Vương Nghi Quỹ Kinh.
5. Cát Tường Hỉ Kim Cang Tập Luân Cam Lộ Tuyền.
6. Đại Thừa Yếu Đạo Mật Tập.
7. Đạo Quả.


![image](/img/img_c2587f3441226a4c063f9273198609ca.jpg)


Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/ho-dau-kim-cang-niem-tung-phap-dieu-tri-kim-mau.md
# Title: Hổ Đầu Kim Cang niệm tụng pháp (Diêu Trì Kim Mẫu)
---

![image](/img/img_90c8a0c7710e632b44d952dbe576afea.jpg)



## Hổ Đầu Kim Cang niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Hổ Đầu Kim Cang.
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chúng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li.. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_375ad48bd56cc1f760a41ed4c3e405a1.jpg)


**Kết ấn: **

Thủ ấn Hổ Đầu Kim Cang: hai tay đan nội phộc, hai ngón cái dựng thẳng và mở sang hai bên, giống như đầu con hổ. 

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Quán tưởng hư không có nguyệt luân, trong nguyệt luân có chữ Hum (tiếng Phạn) màu trắng xoay vòng hóa thành Vô Cực Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn. 

(2) Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn đầu cài trâm ngọc, đội mũ phượng, tay cầm cờ hạnh hoàng và hồ lô, ngồi trên lưng Hổ Đầu Kim Cang.

(3) Quán tưởng Hổ Đầu Kim Cang phóng ánh sáng trắng lên cao thành hình vòng cung và rót xuống đỉnh đầu của hành giả, thân hành giả biến thành màu trắng trong suốt như thủy tinh, tai nạn nghiệp chướng đều bị đẩy lùi.


### Phần 14: Trì tâm chú Hổ Đầu Kim Cang


Ôm chin-mủ sit-đi hùm hùm pây. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Hum), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Đại Lực Kim Cang, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


![image](/img/img_c38e826144dc387cdbee9191986f60ed.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Hổ Đầu Kim Cang


Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn đầu cài trâm ngọc, đội mũ phượng, tay cầm cờ hạnh hoàng và bình hồ lô, ngồi trên lưng Hổ Đầu Kim Cang. 


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị về lai lịch của Hổ Đầu Kim Cang và khẩu quyết tu pháp


Hổ Đầu Kim Cang là thân phẫn nộ của Diêu Trì Kim Mẫu. 

Trong Phật giáo, ở Trung ương là Tỳ Lô Giá Na Phật, phía Đông là A Súc Phật, phía Tây là A Di Đà Phật, phía Nam là Bảo Sinh Phật, phía Bắc là Bất Không Thành Tựu Phật. Đạo gia thì nói đến kim mộc thủy hỏa thổ, cho nên ở Trung ương có Hoàng Lão, Tây phương có Kim Mẫu, Đông phương có Mộc Công, Bắc phương có Thủy Tinh, Nam phương có Hỏa Đức, vì thế phía Tây thuộc về kim, có bạch hổ ở đó trấn giữ, cũng chính là Diêu Trì Kim Mẫu ở đó trấn giữ, bản thân ngài chính là bạch hổ.

Phía đông thuộc về mộc, chính là thanh long, rồng ở phương Đông, hổ ở phương Tây, phía trước có chu tước, phía sau có câu trần. 

Phật giáo có Ngũ Phật, Đạo gia có Ngũ Đại Kim Tiên canh giữ năm phương, có chung một đạo lý. 

Hổ Đầu Kim Cang thật sự có nguồn gốc lai lịch, trong “Thượng cổ thần thoại diễn nghĩa” ngài rất uy nghiêm. Khi tay của Diêu Trì Kim Mẫu cầm trâm ngọc, chỉ cần ngài cài trâm ngọc lên tóc thì Diêu Trì Kim Mẫu lập tức hiển hóa thành hình dạng một con hổ, vô cùng uy mãnh. 

Bản thân Hổ Đầu Kim Cang có pháp lực giống như Diêu Trì Kim Mẫu, pháp lực vô cùng lớn, có tám pháp tại thế gian và tám pháp xuất thế gian giống như nhau, pháp lực đều vô cùng mạnh. Diêu Trì Kim Mẫu là vị Căn bản Thượng sư mà tôi tôn sùng nhất, ngài cũng là Căn bản Bổn tôn của tôi, cùng với tôi hợp nhất.

Diêu Trì Kim Mẫu Hổ Đầu Kim Cang vốn là cùng một vị, pháp lực của Hổ Đầu Kim Cang cũng chính là pháp lực của Diêu Trì Kim Mẫu. Pháp lực của Hổ Đầu Kim Cang và pháp lực của Diêu Trì Kim Mẫu là vĩ đại như nhau. 

Diêu Trì Kim Mẫu thuộc hàng Đại La Kim Tiên, Hổ Đầu Kim Cang của ngài thuộc về Kim Tiên, vì thế pháp lực của ngài không giống với các “Ông Hổ” thông thường. Ông Hổ thông thường là Hổ Thần, linh của hổ giáng lên thân của Ông Hổ, cho nên mới gọi là Ông Hổ, Hổ Thần. Ông Hổ chỉ là thần bảo hộ ở trong chùa miếu, có thể dựa vào oai phong của hổ để chặn mọi hung thần. Nhưng uy lực của Hổ Đầu Kim Cang thì có thể ngăn chặn mọi tai nạn.

Bản thân ngài có thể chống đỡ mọi hung thần ác sát, hung thần và ác sát ngài đều có thể tiêu trừ hết, bao gồm cả những bùa chú giáng đầu.

Hổ Đầu Kim Cang có thể cắn các thần bất chính, có thể chặn sát, chặn tai nạn, mọi thần ôn dịch, ngũ ôn thần ngài đều có thể cắn. Cho nên ngài không chỉ có công dụng trấn trạch mà còn có thể trấn công xưởng, còn có thể trấn nông trường, trang trại trồng trọt, có thể bảo hộ quốc gia, có thể nạp tài, tiền vào như nước.

Uy lực của Hổ Đầu Kim Cang không hề tầm thường!

Hổ Đầu Kim Cang còn có năng lực hô mưa gọi gió, trên tay của ngài cầm cờ lệnh, Diêu Trì Kim Mẫu cầm cờ lệnh chính là cây cờ này. Vào thời cổ đại, cầm cờ lệnh màu vàng gọi là cờ hạnh hoàng, cờ hạnh hoàng này nếu có sắc lệnh của Diêu Trì Kim Mẫu ở trên đó thì cực kì tuyệt vời, có thể hô mưa gọi gió. “Gió đến” là gió sẽ đến, “mưa đến” là mưa sẽ đến, đây là hô mưa gọi gió. 

Trong Đạo gia mà nói thì Nguyên Thủy Thiên Tôn có cờ hạnh hoàng, Diêu Trì Kim Mẫu cũng có cờ hạnh hoàng. Nguyên Thủy Thiên Tôn là một trong ba vị Tổ của Đạo gia, ba vị Tổ là Nguyên Thủy Thiên Tôn, Linh Bảo Thiên Tôn và Thông Thiên Giáo Chủ. Cũng có thuyết nói là Linh Bảo Thiên Tôn, Thái Thượng Lão Quân và Nguyên Thủy Thiên Tôn, ba vị này đi cùng với nhau. Trên ba vị này có Hồng Quân Lão Tổ.

Vì thế nên mới có bức tướng Diêu Trì Kim Mẫu ngồi trên Hổ Đầu Kim Cang này, nếu có thể đặt bức tướng này tại đàn thành của bất kì ngôi nhà nào thì mọi tai nạn đều có thể loại bỏ.

Nếu muốn xem dương trạch, âm trạch, cái gọi là dương trạch chính là nhà ở, âm trạch chính là mồ mả, thì nơi phong thủy không tốt đặt Hổ Đầu Kim Cang lên đó, Hổ Đầu Kim Cang sẽ cắn hết mọi hung thần bất hảo. Có điều gì không tốt chỉ cần trấn Hổ Đầu Kim Cang tại đó thì tự nhiên sẽ biến thành tốt. Hổ Đầu Kim Cang có lợi ích như vậy.

Thủ ấn của Hổ Đầu Kim Cang cũng là nội phộc, thủ ấn này thuộc thủ ấn của A Đạt Nhĩ Mã Phật, nếu mở hai ngón tay cái ra thì sẽ thành ấn của Hổ Đầu Kim Cang. Chú ngữ là "Ôm chin-mủ sit-đi hùm hùm pây”. Khi quán tưởng bạn có thể quán tưởng Diêu Trì Kim Mẫu cầm một bình hồ lô vàng và cờ hạnh hoàng, cưỡi trên lưng hổ. Hoặc cũng có thể quán tưởng như thế này, đỉnh núi Tu Di có một chữ Hum màu trắng, sau đó từ chữ Hum biến thành Diêu Trì Kim Mẫu, từ bên dưới pháp tọa của Diêu Trì Kim Mẫu lại xuất hiện một chữ Hum, chữ Hum lại chuyển thành hổ vàng, chính là Hổ Đầu Kim Cang. 

Có hình tướng, có chú ngữ, có thủ ấn thì bạn có thể tu pháp của ngài. 

Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật khai thị: Hổ Đầu Kim Cang cũng là chủ tôn siêu độ nghìn chiếc thuyền pháp. Ngài hiển hiện ở hư không phía trên, ra lệnh một tiếng, tất cả thân trung ấm sẽ đồng thanh niệm Phật. Sau đó cờ lệnh của Diêu Trì Kim Mẫu sẽ phát hiệu lệnh, ra lệnh một tiếng, nghìn chiếc thuyền pháp sẽ bay về Tây phương Cực Lạc thế giới - tịnh thổ của A Di Đà Phật. Đây đều là sự hiển hóa của Hổ Đầu Kim Cang. 

⁉️ Thượng sư của Chân Phật Tông có thể chủ trì pháp hội Hổ Đầu Kim Cang, và có thể thay mặt Sư Tôn ban quán đảnh trì chú - tâm chú Hổ Đầu Kim Cang.

Còn Hổ Đầu Kim Cang niệm tụng pháp phải do Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật Pháp Vương trực tiếp quán đảnh.

Thượng sư của tông phái thay mặt Sư Tôn quán đảnh phải có đủ các điều kiện:
1. Đã trực tiếp được Căn bản Truyền thừa Thượng sư ban quán đảnh Hổ Đầu Kim Cang niệm tụng pháp.
2. Tự mình tu pháp Hổ Đầu Kim Cang đạt đến trên 108 đàn.
3. Phải trì Hổ Đầu Kim Cang tâm chú đạt đến 100.000 biến trở lên (con số cơ bản). [Trì chú đạt đến con số viên mãn được chỉ định.]
4. Tốt nhất là đã tu Hổ Đầu Kim Cang niệm tụng pháp đạt đến tương ứng.
5. Phải chờ trên 6 tháng sau khi Căn bản Truyền thừa Thượng sư công khai truyền pháp này lần đầu.

Pháp Hổ Đầu Kim Cang được xếp vào “Điều lệ Chân Phật Tông - Quy tắc cho Thượng sư”, thuộc vào dạng “bất cộng Kim cang đại pháp” [tức đại pháp Kim cang đặc biệt].

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/hoang-tai-than-niem-tung-phap.md
# Title: Hoàng Tài Thần niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_be10b2d46b44998932744890c24ea60f.jpg)



## Hoàng Tài Thần niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì đồng tu.

- Quán tứ vô lượng tâm.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Hoàng Tài Thần.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tát cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Niệm thêm chú vãng sinh: (7 biến)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 8: Quán tưởng tam quang bao trùm



![image](/img/img_90cdba4bd058c2fbf49f30b78551f261.jpg)


**Kết ấn: Hoàng Tài Thần kim cương ấn**

Tức là ấn kim cương hợp chưởng. Các đầu ngón ta đan vào nhau như chiếc chày. Đặt ấn trước ngực. 

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời trong vạn dặm không mây, một vầng mặt trăng từ dưới biển nhô lên không trung, ở chính giữa vầng mặt trăng có một chủng tự chữ Chan (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu vàng phóng ra ánh sáng vàng.

(2) Chữ Chan ở giữa vầng mặt trăng quay tròn hóa thành một vị Hoàng Tài Thần ở tư thế ngồi, thân màu vàng, ngồi tư thế bán già, đầu đội mũ miện màu vàng kim, trên mũ được trang sức đầy đá quý, khuôn mặt tròn, tướng mạo phú quý uy nghiêm, thân ngài đeo những chuỗi đá quý, tay phải cầm bảo vật giống như hình quả bưởi, tay trái ôm một con chuột nhả tài bảo. 

(3) Lại quán tưởng ngón chân cái trên bàn chân phải của Hoàng Tài Thần sưng lên, khiến ngài rất đau đớn. Lúc này niệm thầm trong tâm “Om ah hum soha” 3 lần để triệu thỉnh Ngũ Phật trong hư không đến. 
(4) Quán tưởng Ngũ Phật đến trụ tại hư không phía trên Hoàng Tài Thần, mỗi vị Phật phóng ra một đường ánh sáng để quán đảnh cho Hoàng Tài Thần. Lúc này niệm: “Om hum jum seh ya” 3 lần. Nhờ có Ngũ Phật ở không trung quán đảnh cho Hoàng Tài Thần mà ngón cái chân phải của Hoàng Tài Thần không còn sưng đau nữa, mặt Hoàng Tài Thần lộ vẻ tươi cười. Lúc này miệng con chuột nhả tài bảo mở ra, nhả ra vàng trên đĩa gạo, biến đĩa gạo thành một núi vàng.

(5) Lúc này có thể quán tưởng tất cả những thứ mà mình mong cầu đều tuôn ra từ trong miệng con chuột nhả tài bảo.


### Phần 9: Trì tâm chú Bổn tôn Hoàng Tài Thần


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Hoàng Tài Thần đến trước mặt mình.

**Chú ngữ:**

Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (108 biến)


### Phần 10: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Chan), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Bổn tôn Hoàng Tài Thần, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

Chỉ nhẹ nhàng để cho ý nghĩ của mình bay lên và ẩn vào trong làn khói cát tường của Hoàng Tài Thần, bay vào trong hư không của Bắc Phương Thiên, tất cả khinh an, thư thái.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 11: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 

Tụng tán: 

Bắc Phương Thiên Vương phúc dồi dào
Ban cho vô số mọi tài bảo
Giờ đây tất cả đều viên mãn
Nhờ Hộ Pháp trụ nơi cửa Phật.


### Phần 12: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 13: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 14: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 15: Hồi hướng


Nguyện cùng Hộ Pháp thăng Bắc Thiên
Dâng lễ cúng dường vào thánh vực
Có được tài phúc vĩnh viễn hưởng
Rồi thí pháp tài giúp chúng sinh.

Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. xin đem công đức này hồi hướng. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 17: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


![image](/img/img_a2f48d49a6f6c1ecf5a9a0d71d0d3adc.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Hoàng Tài Thần


Hoàng Tài Thần (Đa Văn Thiên Vương) theo kiểu Tạng mật thân màu vàng, ngồi tư thế bán già, đầu đội mũ miện màu vàng kim, trên mũ được trang sức đầy đá quý, khuôn mặt tròn, tướng mạo phú quý uy nghiêm, thân ngài đeo những chuỗi đá quý, tay phải cầm bảo vật giống như hình quả bưởi, tay trái ôm một con chuột nhả tài bảo, con chuột này có thể nhả ra vô số kho báu. 


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị lai lịch của Hoàng Tài Thần và khẩu quyết tu pháp


Hoàng Tài Thần là hóa thân của Đa Văn Thiên Vương, Đa Văn Thiên Vương tức là Bì Sa Môn Thiên Vương, trong Phật giáo, ngài là Hộ Thế Tứ Đại Thiên Vương, là thiên thần của hộ pháp kiêm thần ban phúc.

Hoàng Tài Thần là một trong tám đại Bổn tôn của Chân Phật Tông, là vị thần tài duy nhất được liệt vào danh sách này. Hoàng Tài Thần cũng là một trong năm vị thần tài của Mật giáo (Hoàng Tài Thần, Hồng Tài Thần, Bạch Tài Thần, Lục Tài Thần, Hắc Tài Thần).

Bắc phương Đa Văn Thiên Vương Hoàng Tài Thần sống tại phương bắc trong bốn thiên hạ, trấn hộ Bắc Câu Lư Châu, địa điểm là cung Bắc Thủy Tinh ở tầng thứ tư của núi Tu Di. Tùy tùng của ngài đa phần là quyến thuộc của quỷ Dạ Xoa và các loài La Sát, vì thế, làm sao để gia tăng tư lương, gia tăng tài phúc, trước hết phải nhớ cúng dường La Sát.

Ví dụ: khi chúng ta cúng dường cam lộ, niệm bài kệ rằng: “Đại bàng Kim Sí Điểu, La Sát quỷ tử mẫu, hoang dã quỷ thần chúng, cam lộ đều sung mãn.” Bởi vì quyến thuộc xung quanh Tứ Thiên Vương đại bộ phận là La Sát, cho nên cúng dường La Sát tương đương với cúng dường Jambhala, cúng dường Tài Thần. Vì thế, chỉ cầncó thể cúng dường La Sát thì Jambhala sẽ trực tiếp có lợi, ngài sẽ sinh tâm hoan hỉ đối với bạn, bạn sẽ có được tư lương. Ví dụ: tăng thêm tiền tăng ca, được thăng chức vụ, được tăng lương, kinh doanh tốt đẹp, đơn đặt hàng ùn ùn kéo đến, v.v…

Ở Thiên thượng giới thì coi Tứ Đại Thiên Vương là giàu có nhất. Tứ Đại Thiên Vương chính là: Bắc phương Đa Văn Thiên Vương, Trì Quốc Thiên Vương, Tăng Trưởng Thiên Vương, Quảng Mục Thiên Vương. Bốn vị Thiên Vương này đều có thể ban phúc, ban tài, còn có thể ban thọ, ban mọi điều cát tường.

Ở nhân gian thì coi Kiên Lao Địa Thần, Sơn Thần, Địa Thần là giàu có nhất. Ở biển, hồ, giếng, sông, suối, thì coi Long Vương là giàu có nhất.

Trên Thiên thượng giới, Đa Văn Thiên Vương Hoàng Tài Thần giàu có nhất có thể nói là vị thần tài lớn nhất. Đa Văn Thiên Vương Hoàng Tài Thần có tâm tính của Hộ pháp, là vị Minh Vương hộ trì Phật pháp, có tài phúc và phúc báo lớn nhất.

Trong Đông mật, Hoàng Tài Thần (Bì Sa Môn Thiên Vương) nâng một tòa bảo tháp, tháp này có thể tuôn ra vô lượng trân bảo để ban thưởng cho tất cả chúng sinh, khiến họ có được đại phúc đức. Kiên Lao Địa Thần đỡ lấy hai chân ngài, hai Dạ Xoa là Lam Bà và Bì Lam Bà ôm hai bên trái phải của thần, là vị Thiên Vương đại phú quý trấn thủ Bắc phương thiên. Bì Sa Môn Thiên Vương cũng là một trong bảy vị phúc thần ban tài ban phúc.

Tại Shikoku Nhật Bản có 88 đạo tràng tâm linh, trong số đó có một cung điện gọi là Kim Đao Bì La Cung (nằm ở trấn Kotohira huyện Kagawa thuộc phía bắc Shikoku), phải leo rất nhiều bậc thang mới có thể đến được. Ý nghĩa của Kim Đao Bì La có nghĩa là Bắc phương Đa Văn Thiên Vương Hoàng Tài Thần Jambhala của Tứ Thiên Vương. 

Kim Đao Bì La Đa Văn Thiên Vương ban đầu cũng ở dưới đáy biển, ngài là một loài rồng, gọi là Giác Long, ngài tu hành chứng quả nên mới biến thành Kim Đao Bì La Đa Văn Thiên Vương. Ở Trung Quốc, Đa Văn Thiên Vương từng hóa hiện thành Lí Tĩnh, hay còn gọi là Thác Tháp Thiên Vương. Trong lịch nhà nông của Trung Quốc có viết: “Ngày Tứ Thiên Vương tuần hành”, biểu thị ngày đi tuần của Tứ Thiên Vương ở dưới thiên hạ tới các nước trên thế giới, là ngày Tứ Thiên Vương hạ giáng đến nhân gian để bảo hộ thế gian.

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn cho rằng, khẩu quyết tu pháp Bổn tôn Hoàng Tài Thần chính là “thí phúc hộ tài nhân”, đầu tiên phải hiểu đạo lí bố thí. Thí tức là đem những gì mình có phân chia cho chúng sinh. Thí có ba loại, chính là: Thí tiền, thí pháp, thí vô úy.

Học pháp Bổn tôn Hoàng Tài Thần, đầu tiên phải có tâm bố thí hào phóng, trước hết phải thực hành bố thí. Người không có tiền phải có ba loại bố thí, vô cùng quan trọng:

Thứ nhất, đầu tiên học bố thí đồ ăn, biến đổi đồ ăn cúng cho ngạ quỷ la sát.

Thứ hai, cúng dường thức ăn chay cho tăng nhân.

Thứ ba, học thật tốt nghi quỹ cúng dường Hoàng Tài Thần.

Khi tu pháp, triệu thỉnh Ngũ Phật phải niệm chân ngôn triệu thỉnh, năm ánh sáng của Ngũ Phật quán đảnh cho Hoàng Tài Thần, niệm chân ngôn quán đảnh, và quán tưởng ngón chân cái sưng đau của Hoàng Tài Thần không còn sưng đau nữa. Ở đây có một bí mật. Quán đảnh cho Hoàng Tài Thần xong, có thể tiếp tục quán tưởng năm ánh sáng cũng quán đảnh cho chính mình, và như thế là nghiệp chướng tiêu trừ, có bệnh tật thì cũng sẽ thuyên giảm, và có thể có được phúc báo lớn. Đây cũng là một trong số những bí mật của bí mật. Tiếp theo mới là niệm chú, tụng tâm chú Hoàng Tài Thần là: Om jambhala chalan chana ye soha. 

Mỗi lần khi Hoàng Tài Thần xuất hiện đều có năm vị Phật cùng nhau quán đảnh. Cho nên chúng ta phải niệm chú quán đảnh là: Om hum zhensua ah. Phải niệm chân ngôn quán đảnh của Ngũ Phật, như vậy mới là như pháp. Mỗi lần tu pháp Hoàng Tài Thần, còn phải quán tưởng Ngũ Phật xuất hiện tại hư không, Ngũ Phật quán đảnh cho Hoàng Tài Thần, sau đó Hoàng Tài Thần biến thành sáng đẹp phi thường, ngài sẽ có thể ban phúc cho chúng sinh.

Tôi chọn Jambhala là một trong tám đại Bổn tôn của Chân Phật Tông là vì sao? Bởi vì Jambhala là Hoàng Tài Thần, vị thần tài có màu vàng, hơn nữa danh tiếng của ngài lan truyền rất xa. Còn vì ngài có Ngũ Phật ở phía trên, là địa gốc của ngài, tương lai ngài thành Phật cũng tương đương với Ngũ Phật. Vì thế tôi mới chọn Jambhala Hoàng Tài Thần là bát đại Bổn tôn của Chân Phật Tông.

Trước tiên lấy tài phúc để thu hút mọi người tiến vào Mật giáo, sau đó mới tiến vào trí huệ của Như Lai, đây là điều mà kinh Duy Ma Cật nhắc đến: “Tiên dĩ dục câu chi, tái lệnh nhập Phật trí.” Ban đầu vì sao lại dùng Hoàng Tài Thần? Bởi vì trong số Tứ Thiên Vương, Hoàng Tài Thần có duyên nhất với người Hoa chúng ta. 

Nếu có chúng sinh tin vào nhân quả của Đa Văn Thiên Vương, thọ trì pháp Hoàng Tài Thân của Chân Phật Tông, giữ 5 giới và tu 10 điều thiện, cắt đứt mọi tà duyên, thường phụng hành giới luật Chân Phật Tông, cúng dường Căn bản Thượng sư và Tam Bảo, in và bố thí sách thiện kinh Phật, cứ làm như vậy một cách bền bỉ, thì chính là trồng ruộng phúc lón. Người như vậy khi kết thúc sinh mạng này, chắc chắn sẽ sinh ra ở thiên giới, có thể tùy ý mà sinh vào 33 cõi trời, hoặc đến chỗ của Đa Văn Thiên, hưởng thụ mọi niềm vui kì diệu ở trên trời, có năm loại thần thông, vui vẻ tiêu dao tự tại.

Mỗi người đều thích tiền, nhưng phải là tiền ngay thẳng, tiền ngay thẳng tức là tiền mà bạn có được một cách chân chính. Tiền ngay thẳng gọi là tịnh tài, là đồng tiền sạch. Dùng tiền sạch để làm việc bố thí thanh tịnh, mới là Phật hoan hỉ phi thường. Tứ Thiên Vương sẽ xem xét phúc phần mà bản thân mỗi người đã làm rồi mới ban cho chúng sinh tư lương đầy đủ.

Người tu pháp này có thể tiêu diệt nghèo khổ của lục đạo, tiêu diệt tai nạn, đuổi tà hàng ma, hàng phục kẻ thù, và còn có thể tăng trưởng phúc đức, thọ mạng, trí huệ, kính ái viên mãn, có thể hộ quốc tiêu tai, khiến địa phương đó được an bình, mưa thuận gió hòa, và chiêu tài tấn bảo, công đức lợi ích vô cùng, có đủ đại pháp lực. 

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/hong-do-mau-niem-tung-phap.md
# Title: Hồng Độ Mẫu niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_3c2efcac6c010a14f918883e42d6fe5f.jpg)



## Hồng Độ Mẫu niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


(1) Quán Không.

(2) Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (7 biến)

(3) Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

(4) Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Hồng Độ Mẫu.

(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê. 

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_f1c5a06d9f2dacff2b1d7e7033c4e982.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn ****Bạch Độ Mẫu**

Hai tay đan nội phộc, ngón giữa dựng thẳng chạm vào nhau, ngón trỏ dựng thẳng mở ra hai bên, hai ngón cái khẽ đè lên hai ngón áp út. Giữ ấn trước ngực.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời xanh vạn dặm không mây, một nhật luân từ mặt biển nhô lên, trong nhật luân có một chủng tử chữ “Tang” màu đỏ, tỏa ra ánh sáng đỏ. Chữ “Tang” xoay tròn hóa thành Hồng Độ Mẫu.

(2) Quán tưởng Hồng Độ Mẫu thân màu đỏ, một đầu hai tay, tướng mạo là một thiếu nữ thanh xuân, nét mặt khẽ cười, hoa nở bên tai, đầu đội mũ miện, trên đỉnh đầu có A Di Đà Phật trụ đỉnh. Chân phải duỗi và dẫm lên một bông hoa sen, chân trái cong, ngồi trên tòa hoa sen màu đỏ. Ngài có ba mắt, mặc thiên y váy xếp, có khuyên tai, vòng cổ, vòng tay trang điểm cho vẻ trang nghiêm diễm lệ. Tay phải cầm móc câu kim cang, tay trái cầm hoa upala, sau đầu có một vầng nhật luân. 

(3) Quán tưởng thiên tâm của Hồng Độ Mẫu phóng ra một vệt ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả. Từ họng ngài phóng ra một vệt ánh sáng đỏ chiếu thẳng đến họng của hành giả. Tâm luân của ngài phóng ra một vệt ánh sáng xanh lam chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng trắng, đỏ, lam tan vào thân tâm của hành giả. 


### Phần 14: Trì tâm chú Hồng Độ Mẫu


Tâm chú: Ôm ta-rê tu-ta-rê soang-ta rô-ni sê sô-ha. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Tang), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Hồng Độ Mẫu, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định.


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hum.


![image](/img/img_e3ad393eeeb89293211f804b4a0a6f5e.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Hồng Độ Mẫu


Quán tưởng Hồng Độ Mẫu thân màu đỏ, một đầu hai tay, tướng mạo là một thiếu nữ thanh xuân, nét mặt khẽ cười, hoa nở bên tai, đầu đội mũ miện, trên đỉnh đầu có A Di Đà Phật trụ đỉnh. Chân phải duỗi và dẫm lên một bông hoa sen, chân trái cong, ngồi trên tòa hoa sen màu đỏ. Ngài có ba mắt, mặc thiên y váy xếp, có khuyên tai, vòng cổ, vòng tay trang điểm cho vẻ trang nghiêm diễm lệ. Tay phải cầm móc câu kim cang, tay trái cầm hoa upala, sau đầu có một vầng nhật luân. 


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị khẩu quyết làm pháp niệm tụng Hồng Độ Mẫu


Hồng Độ Mẫu là một trong số 21 vị Độ Mẫu, là một vị Bổn tôn tác pháp quan trọng nhất. Hôm nay tôi dạy mọi người, pháp niệm tụng Hồng Độ Mẫu nhất định cần có phần Tiền hành. Tiền hành mà chúng ta nói đến là gì? Là đại lễ bái, đại cúng dường, tứ quy y, đại sám hối, tứ vô lượng tâm, phát bồ đề tâm, mặc bia giáp hộ thân, gồm các bước một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy, tức là bảy mục của Tiền hành, hành giả Mật giáo đều phải học và biết phần này.

Sau đó tiến vào phần Chính hành. Chính hành tức là quán tưởng. Quán tưởng trong Tâm luân của bạn có một chữ “Ah” biến hóa thành nguyệt luân màu đỏ, cũng chính là hoa sen tám cánh trong tim của mình, ở giữa nguyệt luân có một chủng tử tự, chính là chữ “Tang”, là chủng tự chung của 21 vị Độ Mẫu. Chữ “Tang” tỏa ánh hào quang, biến thành một bông hoa upala màu đỏ, hoa upala cũng là một loại hoa sen. Ở chính giữa hoa sen lại là một chữ “Tang” phóng quang, bản thân hành giả biến thành Hồng Độ Mẫu. 

Hình tướng của Hồng Độ Mẫu giống như bức hình ở phía sau tôi đây, có một đầu hai tay, mặt khẽ cười, tay phải cầm móc câu, chính là móc kim cang, đặt ở trên đầu gối, tay trái cầm bông hoa sen màu đỏ, là hoa upala, giữ ở trước ngực, hoa nở ra ở bên tai. Chân phải ngài duỗi ra, chân trái co lại, ngồi trên tòa hoa sen màu đỏ. Ngài có ba con mắt, mặc thiên y váy xếp, vùng tim của ngài có chữ “Seh”, chữ “Seh” chính là chủng tử tự của A Di Đà Phật, có thể thấy là Hồng Độ Mẫu là từ chỗ của A Di Đà Phật hóa thân mà ra. 

Mi tâm của Hồng Độ Mẫu có chữ “Om”, Hầu luân (ở trên gáy) có một chữ “Ah”, Tâm luân lại có một chữ “Hum”, lúc này, hành giả đã biến hóa thành Hồng Độ Mẫu. Trong hư không lại có Bổn tôn trí huệ, cũng là Hồng Độ Mẫu, ngài hạ giáng, cùng hành giả hợp nhất thành một thể. Khi quán tưởng, tay kết thủ ấn Độ Mẫu, thủ ấn Độ Mẫu cũng giống với thủ ấn của Diêu Trì Kim Mẫu, lúc này giống như ngài đang quán đảnh cho chính thân mình, cam lộ đầy ắp toàn thân, tất cả nghiệp chướng tiêu trừ, thanh tịnh. Trên đỉnh đầu ngài có A Di Đà Phật, A Di Đà Phật trụ tại đó. Sau khi quán tưởng xong, bạn cần niệm chú của ngài “Ôm ta-rê tu-ta-rê soang-ta rô-ni sê sô-ha” tổng cộng 108 biến. Chú ý này, mặc dù mỗi đàn pháp bạn niệm 108 biến, nhưng phải niệm đủ 1.500.000 biến mới sản sinh ra sức mạnh lớn nhất. 1.500.000 biến mới có thể sản sinh ra sức mạnh lớn, còn 500.000 biến thì là sức mạnh vừa, 100.000 biến thì là sức mạnh nhỏ, ba loại sức mạnh lớn, vừa, nhỏ. Đương nhiên, có thể trì càng nhiều thì càng tốt.

Tiếp theo là nhập Tam ma địa, dựa theo duyên của Hồng Độ Mẫu mà nhập định, dùng phương pháp chỉ-quán để nhập định. Pháp chỉ-quán tức là nếu có vọng niệm thì bạn dùng âm “pây” để dừng vọng niệm lại. Quán tưởng bản thân mình chính là Hồng Độ Mẫu, quán tưởng thật rõ ràng, có vọng niệm xen vào thì dùng âm “pây” để loại bỏ, một dừng một quán, sau đó nhập Tam ma địa. Thế rồi, ngay cả quán tưởng cũng không cần nữa, bạn tọa vong rồi, khi ấy mới gọi là tiến vào tính Không. Sau khi xuất định, làm pháp, móc kim cang quay 3 vòng, đây là bí quyết. Sư Tôn bây giờ đang cầm móc kim cang, bạn không nhất định cũng phải cầm cái móc kim cang giống như tôi, bạn quán tưởng móc kim cang trên tay mình quay ba lần. Quay 3 vòng tức là quay bên phải 3 vòng, quay bên trái 3 vòng, đây chính là khẩu quyết. Nếu bạn chỉ biết cầm móc kim cang, nhưng không biết quay, không quay 3 vòng, móc kim cang này giống như chết. Quay 3 vòng cái móc kim cang thế này thì nó sẽ sống, bạn dùng ý niệm để quán tưởng móc kim cang, quay bên phải 3 vòng, quay bên trái 3 vòng, như vậy móc kim cang này là sống, điểm này rất quan trọng, đây chính là bí quyết rất quan trọng, nhất định phải làm như vậy.

Tiếp theo, tôi nói ví dụ này cho mọi người nghe. Bạn muốn làm pháp tiêu tai, ở trước mặt Hồng Độ Mẫu, trời xanh không mây, xuất hiện một chữ “Hum”, chữ “Hum” ban đầu có một chấm thôi, tiếp theo là nhật luân, tiếp theo là nguyệt luân, tiếp theo là một nét ngang, rồi đến 3 cái móc, nhật luân là một vòng tròn. [Sư Tôn đang mô tả quán tưởng lần lượt từng phần từ trên xuống dưới của chữ “Hum” Tạng ngữ.]

Bạn quán tưởng trên bầu trời xanh không mây có một chữ “Hum”, sau khi bạn dùng móc kim cang quay ba lần, quán tưởng bạn dùng móc kim cang để câu chữ “Hum” này, móc vào nhật luân, lúc này, ví dụ trong nhà bạn có người ốm, người thân của bạn bị bệnh, muốn loại bỏ bệnh nghiệp của người đó, bạn hãy quán tưởng người bệnh, sau đó hóa chữ “Hum” này thành cam lộ, từng giọt từng giọt đi vào trong miệng người bệnh, chảy đến toàn thân của người bệnh, khiến cho toàn thân họ tràn đầy cam lộ màu trắng, đây chính là cách làm pháp, đây là pháp tiêu tai. 

Bản thân bạn có nghiệp chướng, cũng tương tự, móc lấy chữ “Hum” màu trắng, hóa thành cam lộ, cam lộ đi vào trong thân thể này, nghiệp chướng của người này sẽ biến thành nước đen thoát ra từ các lỗ chân lông, hoặc là những con sâu con bọ màu đen đi ra, để cho toàn thân người này đều là cam lộ màu trắng. Đây chính là pháp tiêu tai.

Còn tăng ích thì sao? Càng đơn giản hơn. Móc kim cang quay bên phải 3 vòng, quay bên trái 3 vòng, móc lấy chữ “Hum” màu vàng trong hư không, sau đó chữ “Hum” dần dần biến mất, trong lúc tiêu biến thì sẽ rơi xuống rất nhiều tiền ở xung quanh bạn, xung quanh bạn toàn là tiền bạc của cải, *one hundred dollars* *[những đồng 100 đô la Mỹ]*, bạn ngồi ở giữa. Sau đó, bạn biến thành con ếch, tiền bên cạnh biến thành giống như cái giếng, chồng lên nhau rất cao ở xung quanh bạn, đều là tiền của bạn. Đây chính là pháp tăng ích để gia tăng lợi ích của bạn.

Tiếp theo là pháp kính ái. Đàn ông đang tìm kiếm bạn đời cho mình, phụ nữ cũng đang tìm kiếm bạn đời cho mình, từ đầu tới cuối vẫn chưa tìm được. Khi làm pháp này, bạn cần quán tưởng trong hư không, dùng móc kim cang để móc chữ “Hum” màu đỏ trong hư không, tương tự, chữ “Hum” sẽ bốc cháy hết, rồi xuất hiện một cô gái rất xinh đẹp mười phân vẹn mười ở trước mặt bạn, đối tượng bạn ngưỡng mộ trong lòng sẽ xuất hiện trước mặt bạn. Nhưng nếu chỉ xuất hiện ở trước mặt thì cũng chẳng có ý nghĩa gì đúng không? Cũng cần phải giống như Đại Thánh Hoan Hỷ Thiên, Đại Thánh Hoan Hỷ Thiên là như thế nào? Là ôm lấy nhau, hành giả ôm chặt lấy cô gái kia, cô gái kia cũng ôm chặt lấy bạn, chính là “bích đông” đó [bích đông là một từ ngữ lưu hành trên mạng, xuất phát từ truyện tranh Nhật Bản, mô tả hành động đẩy đối phương vào tường và ép sát vào đối phương]. Làm pháp này xong thì chính là “bích đông”. “Bích đông” xong, nếu bạn có đối tượng mà mình ngưỡng mộ trong lòng, cô gái đó sẽ để cho bạn “bích đông”. Đây là pháp kính ái, đã hiểu chưa?

Thế còn pháp hàng phục thì làm thế nào? Tương tự, móc kim cang quay trái 3 vòng, quay phải 3 vòng, móc lấy chữ “Hum” màu lam trong hư không, rồi cũng đốt cháy chữ “Hum” này. Thế nào gọi là đốt cháy? Từ đuôi của chữ cứ thế cháy lên, cháy đến nguyệt luân ở phía trên, chỉ còn lại một chấm, sau đó hóa thành tro, không còn gì nữa. Tro này thì sao? Nếu bạn có kẻ địch, bạn không thích người này, muốn họ rời khỏi chức vụ này, lúc này, tro mà chữ “Hum” màu lam hóa thành sẽ rơi vào trong miệng của người này, sau đó bạn niệm một câu “bùm”, nổ tung như bom, người này sẽ “phân thân xả cốt độ chúng sinh”. Sao cơ? Bạn phải giúp họ siêu độ à? Tôi nói cho bạn biết, thật ra, không cần phải nghiêm trọng như vậy, quán tưởng chữ “Hum” hóa thành tro xong thì quán tưởng người này rời khỏi vị trí, đi ra ngoài cửa, như thế là người này sẽ rời khỏi vị trí hiện tại của họ, đi ra ngoài xách theo cái đàn guitar đi lang thang, thế là bạn có thể ngồi vào cái ghế này. Đây chính là pháp hàng phục. Không cần phải khiến họ nổ “bùm” một tiếng đâu, chất nổ màu vàng mà ở trên thân người thì “bùm” một tiếng, thật sự đúng là phân thân xả cốt đó. Đây là pháp hàng phục.

Nếu hôm nay tôi không giảng như vậy, bạn cầm móc kim cang lên mà không biết dùng, bạn không hiểu cần phải quay 3 vòng, móc lấy chữ “Hum” trong hư không, chữ “Hum” là đại diện cho tất cả. “Om” chính là hư không, “Ah” chính là một, “Hum” chính là tất cả. Hư không là 0, “Om” là 0, “Ah” là 1, “Hum” là tất cả, chữ “Hum” có thể đại diện cho tất cả.

Bạn dùng móc kim cang để móc chữ “Hum” màu trắng, màu đỏ, màu lam, màu vàng, đều có tác dụng riêng của nó, đốt cháy chữ “Hum” này thành cam lộ, biến thành thuốc nổ màu vàng, hoặc biến thành phấn tình yêu rơi xuống, hoặc biến thành vàng bạc châu báu, tiền của ở xung quanh bạn, tất cả đều thuộc về bạn. Bạn muốn làm pháp thế nào thì làm pháp như thế. 


![image](/img/img_3181054e8f0ef8634c354db5ef8e67d7.jpg)


Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/hong-tai-than-niem-tung-phap.md
# Title: Hồng Tài Thần niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_13e5693369a6fa921947397bc2b4c2e9.jpg)



## Hồng Tài Thần Red Jambhala niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Hồng Tài Thần.

(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha.  


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_9958c98141a211d5f247d7575f11247c.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn **Hồng Tài Thần

Hai tay đan nội phộc, sau đó giơ hai ngón cái lên tựa vào nhau, ngón út giơ thẳng chạm vào nhau.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Đầu tiên quán tưởng trong một cái búng tay, bản thân đã biến thành một vị căn bản. Trong hư không có một chủng tự chữ Chuan (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu trắng (chủng tự của Chuẩn Đề Phật Mẫu) hóa thành một đàn tế bánh xe như ý, ở chính giữa đàn tế là hoa sen tám cánh. Trên hoa sen có chữ Cang (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu đỏ biến thành Hồng Tài Thần. 

(2) Hồng Tài Thần có thân màu đỏ, đầu voi, bốn cánh tay, tay phải thứ nhất cầm củ cải, tay phải thứ hai cầm rìu hàng ma, tay trái thứ nhất cầm lá củ cải, tay trái thứ hai cầm chuỗi niệm hạt.
Hồng Tài Thần đứng trên chuột nhả tài bảo màu lam, còn chuột nhả tài bảo ở trên hoa sen tám cánh.

(3) Quán tưởng tâm của hành giả phóng ánh sáng lam. Chữ Cang trong tâm của Hồng Tài Thần phóng ánh sáng đỏ. Hai ánh sáng hòa nhập vào nhau. 


### Phần 14: Trì tâm chú Hồng Tài Thần


Tâm chú: Ôm ga-na-ba-ti-yê sô-ha. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Cang), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Hồng Tài Thần, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 

Tụng tán

Tài Thần tư lương chủ
Nạp phúc đại thần lực
Mật chú triệu thỉnh ngài
Pháp theo tôi như ý.


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.


![image](/img/img_7a2939041bfe8749d6b80a7e803ae30a.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Hồng Tài Thần Red Jambhala


Hồng Tài Thần có thân sắc màu đỏ, đầu voi, bốn cánh tay, tay phải thứ nhất cầm củ cải, tay phải thứ hai cầm rìu hàng ma, tay trái thứ nhất cầm lá củ cải, tay phải thứ hai cầm chuỗi niệm hạt.

Hồng Tài Thần đứng trên chuột nhả tài bảo màu lam, còn chuột nhả tài bảo ở trên hoa sen tám cánh. (Hình tượng Hồng Tài Thần còn có hai tay, bốn tay, sáu tay, tám tay, mười hai tay.) 


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị lai lịch và khẩu quyết tu pháp Hồng Tài Thần 


Hồng Tài Thần Ganesh vốn là Thần Tài của Ấn Độ Bà La Môn giáo, là một trong bốn đại thần của Ấn Độ. Ấn Độ ban đầu có ba đại thần, một là Thần Hủy Diệt Shiva (Đại Tự Tại Thiên), một là Thần Sáng Tạo Brahma (Đại Phạm Thiên), một là Thần Bảo Hộ Vishnu (Biến Tịnh Thiên). Ngoài ra còn có một vị chủ tư lương cực kì nổi tiếng chính là vị Thần Tài Mũi Voi này, ngài cũng chính là Ganesh con trai của Shiva.

Ở Ấn Độ và Tây Tạng ngài đều rất có uy tín. Khi Mật tông hưng thịnh, ngài được liệt vào là một trong Ngũ Tính Tài Thần của Mật tông, được gọi là Tạng Mật Tư Lương Chủ, có đại pháp lực, có thể thí tài bảo, là vua ban phúc. (Ngũ Tài Thần của Mật giáo là: Hoàng Tài Thần, Hồng Tài Thần, Lục Tài Thần, Bạch Tài Thần, Hắc Tài Thần.)

Tu pháp Hồng Tài Thần quan trọng nhất là cúng dường làm sao để khiến Hồng Tài Thần vui thích. Đầu tiên hành giả quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn tu pháp, sau đó mở tâm của mình ra, dùng bốn thiên nữ cúng dường điệu múa kim cang, bài ca kim cang, mũ hoa kim cang, trò chơi kim cang để cúng dường Hồng Tài Thần, khiến cho Hồng Tài Thần vui vẻ. Sau đó vừa trì tâm chú Hồng Tài Thần (Ôm ga-na-ba-ti-yê sô-ha) vừa sờ vào cái mũi voi của Hồng Tài Thần, tổng cộng ba biến. Quán tưởng những thứ mình thỉnh cầu đều từ mũi của Hồng Tài Thần đi ra. Chỉ cần thành tâm cúng dường, khiến cho Hồng Tài Thần vui thích, bất luận là danh vị hay tài phúc thì bạn cầu gì sẽ đều được như ý nguyện.

Trì chú của Hồng Tài Thần, kết thủ ấn là thủ ấn của Thần Tài Mũi Voi. Khi thỉnh cầu ngài giáng lâm, hai ngón tay út của bạn phải cử động giống như là mũi voi, biểu thị rằng bạn đã làm tâm của Hồng Tài Thần xúc động. Hai ngón út xoa vào nhau, động đậy, để làm xúc động tâm của Hồng Tài Thần Ganabathiye. Mũi của ngài sẽ tuôn ra tài bảo từ trên trời xuống như thế này.

Tu trì pháp Hồng Tài Thần, quán tưởng chày kim cang ở trên đỉnh đầu ngài, sau đó cầu nguyện ngài, sờ mũi ngài, pháp lực của ngài quan trọng nhất là nằm ở mũi, mũi ngài có thể sinh ra mọi tài bảo, có thể tuôn ra tất cả vàng bạc tài bảo và tư lương.

Mũi ngài có thể phun ra nước cam lộ, có thể thanh tịnh bệnh nghiệp của chúng sinh, thân tâm đều thanh tịnh. Chúng sinh u minh vì được nước cam lộ này làm thanh tịnh mà có thể vãng sinh Phật quốc tịnh thổ. Hồng Tài Thần chỉ cần móc lấy chúng sinh và đưa đến chỗ Bổn tôn của ngài, Bổn tôn của ngài chính là Ngũ Phật, cho nên ngài cũng có thể làm siêu độ.

Ganabathiye và Biện Tài Thiên (Diệu Âm Thiên Nữ) là bạn thân, chú ngữ của Biện Tài Thiên là “Ôm sa-ra-sa-ti-yê sô-ha”. Hai vị là bạn bè nam nữ, cho nên niệm tên của bạn gái Ganabathiye trước, sau đó mới niệm tên của Ganabathiye, thế thì Ganabathiye sẽ rất vui mừng, sẽ ban cho chúng ta mọi điều như ý cát tường. “Ôm sa-ra-sa-ti-yê sô-ha. Ôm ga-na-ba-ti-yê sô-ha.” 

Mọi người có thể quán tưởng Thần Tài Mũi Voi, ngài có màu đỏ, có hai tay, cũng có hình tướng bốn tay, sáu tay, nhiều cánh tay hơn đều có. Bản thân ngài hiển hiện ở tư thế đang múa ở trên hoa sen, chân dẫm lên chuột nhả tài bảo.

Thủ ấn của Hồng Tài Thần là nội phộc, hai ngón út giơ lên chạm vào nhau, hai ngón út làm thành mũi voi chìa ra thế này. Yêu mến người nào thì đi móc người đó, thế là sẽ yêu kính lẫn nhau. Cho nên có thể đi móc vào sếp, gái đẹp, tổng giám đốc, hoặc móc vào người mà bạn yêu mến, quán tưởng họ, thì họ lúc nào cũng sẽ nhớ đến bạn, điều này rất quan trọng. Người làm kinh doanh làm như vậy thì đơn hàng sẽ đến lập tức.

Hồng Tài Thần rất thích đếm lá củ cải, thì ra đếm lá củ cải không ngờ lại là đang tính toán tài phúc của thế nhân. Ví dụ như mỗi người trong đời này có thể được bao nhiêu tài phúc, có thể được bao nhiều quần áo, có thể ăn được bao nhiêu thứ, có được bao nhiêu đất đai nhà cửa, có bao nhiêu vàng bạc châu báu, Thần Tài Đầu Voi đều có thể lần lượt nói ra phúc phần của họ, biết rõ như lòng bàn tay, không sai một li. Ngài cũng rất thích ăn chuối. Cà rốt hay củ cải ngài đều thích ăn.

Tu pháp Hồng Tài Thần nhấn mạnh việc phải phát bồ đề tâm thanh tịnh, cũng phải rộng rãi kết thiện duyên, siêng làm bố thí, lợi ích rộng rãi chúng sinh thì tài phúc sẽ tăng trưởng, tất cả các việc kính ái đều có thể thành tựu, không có chướng ngại, được hưởng thụ tất cả.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị nguyên do Hồng Tài Thần thân người đầu voi


Ấn Độ giáo có ba đại Thần - Shiva Đại Tự Tại Thiên chính là Thần Hủy Diệt, Brahma Đại Phạm Thiên là Thần Sáng Tạo, Vishnu Biến Tịnh Thiên là Thần Bảo Hộ. Shiva và Parvati (Thiên Hậu) sinh ra con trai chính là Ganapathiye. Khi ấy, khi ngài vừa được sinh ra thì đã mang hình dáng cực kì cường tráng uy vũ. Có một hôm, Shiva từ bên ngoài trở về nhà, đúng lúc Parvati đang tắm trong phòng tắm, Ganapathiye thì đứng ngoài cửa canh chừng. Kết quả là Shiva trở về nhìn thấy một người đàn ông cao to cường tráng như vậy đứng bên ngoài cửa phòng tắm của Parvati để bảo vệ thì cho rằng Parvati có vấn đề. Shiva liền phi thanh kiếm qua chém bay đầu Ganapathiye. 

Parvati tắm xong đi ra ngoài nhìn thì thấy con trai mình đã bị chém đầu rồi. Bà liền nói với Shiva: “Ông đã chém đầu con trai của ông đó!” Shiva hết sức đau buồn, liền đi thỉnh cầu Thần Bảo Hộ Vishnu. Vishnu nói với Shiva rằng: “Trên con đường kia vào một ngày đó, hãy chém cái đầu đầu tiên mà ông nhìn thấy để gắn vào làm đầu cho con trai ông, cậu ta có thể sống lại.” Shiva làm theo ý của Vishnu. Vào buổi sáng ngày hôm đó, ông ấy đi đến con đường kia, nhìn thấy một con voi lớn bèn chặt đầu con voi, gắn lên làm đầu cho con trai mình. Cho nên con trai của Shiva đã biến thành đầu voi thân người. Ganapathiye chỉ huy toàn bộ quyến thuộc của Đại Tự Tại Thiên, nên có thể nói vị đại Thần thứ tư của Ấn Độ chính là Ganapathiye.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị nguồn gốc của Đại Thắng Tự Tại Hoan Hỷ Thiên


Nguồn gốc song thân của Đại Thắng Tự Tại Hoan Hỷ Thiên chính là vì vị này là Thiên Tử Ma trong số các quyến thuộc của Shiva, là con trai cả của Đại Tự Tại Thiên, điều khiển toàn bộ quyến thuộc của Đại Tự Tại Thiên, hắn có tính hủy diệt rất mạnh, hắn đi cản trở mọi chúng sinh, hại vô số chúng sinh, gây trở ngại cho việc tu hành của con người, ngăn cản thiện tâm của con người, phá hoại sinh mạng của con người, là một hung thần rất lợi hại, vốn dĩ là rất hung ác.

Quan Thế Âm Bồ Tát từ bi chúng sinh, ngài nhìn thấy Ganapathi đang làm hại các chúng sinh thì phát tâm từ bi, ngài đã hy sinh chính mình. Quan Thế Âm Bồ Tát tiến vào trong thân của Ganapathi, biến hóa thành Ganapathi nữ, sau đó nói với Ganapathi nam rằng: “Anh phải quy thuận Phật, học tập Phật pháp, bảo hộ chúng sinh thì tôi sẽ kết hôn với anh.”

Ganapathi nam thấy vậy thì cảm thấy cực kì bị mê hoặc, thật sự là không có cách nào kháng cự được, bèn nói: “Được thôi! Sau này ta sẽ thay đổi thói quen của mình, biến việc tàn sát chúng sinh thành yêu thương bảo vệ chúng sinh.” Từ đó về sau, họ trở thành Đại Thắng Tự Tại Hoan Hỷ Thiên hộ trì Phật pháp, ban phúc cho chúng sinh.


![image](/img/img_60738966d647d23c3fa7179b55b0659d.jpg)


Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/hu-khong-tang-bo-tat-niem-tung-phap.md
# Title: Hư Không Tạng Bồ Tát niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_b7d7d11a87ad809c21912a0d2fb74da1.jpg)



## Hư Không Tạng Bồ Tát niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát.
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_c2659ef57e1b011ecdd6ac3d9e503555.jpg)


**Kết ấn: **

Hai tay đan ngoại phộc, sau đó hai ngón trỏ dựng lên chạm hai đầu ngón tay vào nhau, hai ngón cái giơ song song tựa vào nhau. Giữ thủ ấn trước ngực.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn trời xanh vạn dặm không mây, một nguyệt luân từ mặt biển nhô lên, trong nguyệt luân có một chữ “Tha” (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu xanh da trời. Chữ “Tha” xoay tròn hóa thành Hư Không Tạng Bồ Tát. Cũng có thể quán tưởng chữ “Kham” (tiếng Phạn hoặc Tạng). 

(2) Hư Không Tạng Bồ Tát đầu đội mũ Ngũ Phật, hai tay cong về phía trước, tay phải cầm thanh kiếm có ngọn lửa rực cháy, tay trái cầm hoa sen, trên hoa sen có châu báu bảo vật. Hư Không Tạng Bồ Tát thân màu trắng, ngồi tư thế kiết già trên hoa sen màu xanh. 

(3) Sau đó quán tưởng thanh kiếm lửa phóng ra những ngọn lửa ánh sáng trắng bay vút lên cao, tạo thành hình cầu vồng và bay vào trong cốc nước lọc cúng tại bàn thờ. Tiếp theo, quán tưởng châu báu trên hoa sen tỏa ra ánh sáng hào quang màu trắng chiếu vào trong cốc nước. Quán tưởng hai ánh sáng này rất rõ ràng.


### Phần 14: Trì tâm chú Hư Không Tạng Bồ Tát


Tâm chú: Na-mô a-ka-sa-ga-ba-ya ôm a-li ka-ma-li mô-li sô-ha. (108 biến)

Trì chú xong, lấy nước đã cúng quán tưởng hình tượng mặt trăng mặt trời của ngày nhật thực nguyệt thực đi vào trong cốc nước, sau đó uống nước này. 

Thỉnh cầu Hư Không Tạng Bồ Tát dung nhập và hợp nhất với chính mình. 


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Hum), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Đại Lực Kim Cang, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


![image](/img/img_83f89a572415720063a28e2d42721e5a.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Hư Không Tạng Bồ Tát


Hư Không Tạng Bồ Tát đầu đội mũ Ngũ Phật, hai tay cong về phía trước, tay phải cầm thanh kiếm có ngọn lửa rực cháy, tay trái cầm hoa sen, trên hoa sen có châu báu bảo vật. Hư Không Tạng Bồ Tát thân màu trắng, ngồi tư thế kiết già trên hoa sen màu xanh. 


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị về lai lịch của Hư Không Tạng Bồ Tát và khẩu quyết tu pháp


Hư Không Tạng Bồ Tát ở trong Kim Cương Bộ và Thai Tạng Bộ, trong mandala Kim Cương Giới chính là Kim Cang Bảo Bồ Tát, là một trong mười sáu vị Hiền Kiếp, xếp ở hành lang phía nam. Trong mandala Thai Tạng Giới, ngài chiếm vị trị đầu tiên của viện Hư Không Tạng.

Mật hiệu của Hư Không Tạng Bồ Tát là Khố Tạng Kim Cang. Tên gọi Hư Không Tạng chính là trí huệ sâu rộng, rộng lớn giống như hư không. Ngài sống tại hư không giới, không chỉ đắc tất cả bí mật nghĩa mà còn dùng tâm đại bi đi cứu độ chúng sinh.

Hư Không Tạng Bồ Tát có một tịnh thổ gọi là Hương Tích Thế Giới. Cũng có người nói tịnh thổ của Hư Không Tạng Bồ Tát chính là các vì sao, tịnh thổ của ngài phân bố ở khắp hư không vũ trụ, giống như các vì sao phân bố khắp cả hư không. Cho nên năng lực và uy danh của bản thân Hư Không Tạng Bồ Tát rất lớn.

Hư Không Tạng Bồ Tát kết hợp cả hai đại bí mật môn của phúc đức và trí huệ, ngài xuất xứ từ kinh Hư Không Tạng, Đại Tập Kinh Hư Không Tạng Phẩm, kinh Bát Đại Bồ Tát Mandala, v.v… Hư Không Tạng Bồ Tát là một trong số tám Đại Bồ Tát, khi chúng ta niệm Cao Vương Kinh sẽ xưng niệm danh hiệu của Hư Không Tạng Bồ Tát. Bát Đại Bồ Tát là: Quan Thế Âm Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Trừ Cái Chướng Bồ Tát, Kim Cang Thủ Bồ Tát, là tám vị Đại Bồ Tát của Đại thừa.

Kinh Hư Không Tạng có nói: “Nếu có người muốn có được trí huệ, muốn được mọi người yêu kính, muốn có giọng hát hay, muốn có địa vị đế vương hoặc quan lại, muốn có đủ loại tài sản và quyến thuộc mĩ mãn, đồng thời khi làm việc thiện được nổi danh trong thiên hạ, thì phải thường xuyên niệm tên của vị này, nhất định sẽ được như ý nguyện.” Hình tướng của ngài là tay phải cầm bảo kiếm, là để trí huệ sắc bén như kiếm; tay trái cầm hoa sen, trên hoa sen có mặt trời, mặt trăng, còn có quả trí huệ hình tròn, cũng có báu vật trí huệ. Thủ ấn của Bổn tôn Hư Không Tạng Bồ Tát có dùng ngón trỏ kết thành hình bảo vật, cũng có khi dùng ngón giữa kết thành hình bảo vật, ngón tay hơi cong lại chứ không nhọn. 

Tu tập pháp Hư Không Tạng Bồ Tát có thể đắc trí huệ, trí nhớ, công danh, v.v… 

Hư Không Tạng Bồ Tát có một số đặc điểm. Đầu tiên, ngài là vị số một về phúc và trí. Phúc phần của ngài đầy ắp hư không, cũng có thể làm Tài Thần, trí huệ của ngài cũng đầy ắp hư không. Ngoài ra, năng lực kí ức của ngài cũng đầy ắp hư không. Còn một điều nữa, uy quyền uy lực của ngài, nếu muốn làm hoàng đế, muốn làm vua, muốn làm tổng thống, làm văn võ bách quan, muốn có được quyền lực lớn, có uy lực rất mạnh, thì hãy tu Hư Không Tạng Bồ Tát. Phúc lực của ngài, sức mạnh phúc phần của ngài tràn đầy hư không, trí huệ của ngài tràn đầy hư không, sức mạnh kí ức của ngài giống như hư không vậy. Ngoài ra, sức mạnh uy quyền của ngài, quyền lực có được, sức mạnh uy lực có được cũng giống như hư không, ngài là một vị Bồ Tát rất lớn, tất cả mọi thứ đều giống như hư không.

Hư Không Tạng Bồ Tát tương ứng pháp, điều chủ yếu mà mọi người có được là, bạn tu đến khi tương ứng rồi thì bạn có thể gia tăng năng lực kí ức, gia tăng sức mạnh uy quyền, gia tăng phúc phần, gia tăng trí huệ. 

Hư Không Tạng Bồ Tát có năm vị, gọi là Ngũ Đại Hư Không Tạng. Thủ ấn của Ngũ Đại Hư Không Tạng không giống nhau, nhưng đều có hình bảo vật. 

Năng lực của bản thân vị Bồ Tát này cực kì cao, trí huệ của ngài tràn trề, ngài có tịnh thổ của mình, bản thân ngài có thể làm tăng trưởng trí huệ của con người.

Bổn tôn của Không Hải Đại Sư trước kia là Đại Nhật Như Lai, nhưng ngài lại thực tu pháp Hư Không Tạng Bồ Tát Cầu Văn Trì, ngài bế quan trong hang động của mình để tu hành. Ngài tu pháp này cho đến khi những ngôi sao bay vào trong miệng ngài, kể từ đó, khả năng ghi nhớ của ngài đã hồi phục, hơn nữa ngài còn nhớ được hết mọi kinh điển đã từng học tập, mọi thủ ấn, mọi chú tự, mọi quán tưởng, tất cả pháp tu hành của chư Phật Bồ Tát. 

Tu trì pháp của Hư Không Tạng Bồ Tát trước tiên phải quán tưởng hình tượng của Hư Không Tạng Bồ Tát, sau đó trì Hư Không Tạng Bồ Tát văn trì chân ngôn: “Namo akasagarbhaya om ali kamali moli so ha.” Quy định phải trì đủ 1.000.000 biến. Trước khi tu pháp phải niệm đủ 100.000 biến Hư Không Tạng Bồ Tát văn trì chân ngôn. 

Bạn thường xuyên ghi nhớ chân ngôn của Hư Không Tạng Bồ Tát trong tâm mình thì khẩu của bạn sẽ thanh tịnh. Khi tu pháp thì không giống với tu pháp thông thường, phải chú ý ngày nhật thực hoặc nguyệt thực. Nếu có ngày nhật thực hoặc nguyệt thực thì thắp hương, cúng hoa và đồ ăn lên Hư Không Tạng Bồ Tát, sau đó lấy một cốc nước lọc để cúng, ngồi yên trước tượng/ảnh ngài, kết ấn Hư Không Tạng: hai ngón trỏ dựng lên, chạm vào nhau thành hình bảo vật, hai ngón cái song song tựa vào nhau, các ngón khác thì đan vào nhau, đây chính là thủ ấn của Hư Không Tạng Bồ Tát. 

Khi bạn tu pháp niệm câu chú này, trước tiên quán tưởng tỉ mỉ hình tượng của Hư Không Tạng Bồ Tát, quán tưởng ngài ở hư không ngay trước mặt. Sau đó quán tưởng ngọn lửa ánh sáng trắng của bảo kiếm của Hư Không Tạng Bồ Tát giống như được bắn ra từ thanh kiếm lửa bay vút lên cao, tạo thành hình cầu vồng và bay vào trong cốc nước lọc cúng tại bàn thờ. Sau đó quán tưởng châu báu trên hoa sen cũng tỏa ra ánh sáng hào quang màu trắng, ánh sáng ấy cũng chiếu vào trong cốc nước. Ánh sáng trên thanh bảo kiếm chính là ánh sáng kiếm trí huệ, có thể phá trừ nghiệp chướng ngu muội nhiều kiếp, cắt đứt mọi trói buộc của nghiệp đen. Còn hào quang của châu báu chính là ánh sáng quả trí huệ để gia tăng hào quang trí huệ của hành giả Mật tông, có ý nghĩa là vững chắc không quên. Quán tưởng hai ánh sáng này rất rõ ràng, sau đó niệm văn trì chân ngôn 108 biến. Trì chú xong thì lấy nước đã cúng đó quán tưởng hình tượng mặt trăng mặt trời của ngày nhật thực nguyệt thực đi vào trong cốc nước, biểu thị rằng trong nước này có ánh sáng kiếm trí huệ, ánh sáng quả trí huệ, ánh sáng mặt trời, ánh sáng mặt trăng, sau đó uống nước này. Tiếp đó thỉnh cầu Hư Không Tạng Bồ Tát dung nhập và hợp nhất với chính mình. 

Có hình tượng của Hư Không Tạng Bồ Tát, lại có chú ngữ của ngài, có thủ ấn của ngài, như vậy là cấu thành nên một Mật pháp. Ba yếu tố chính quan trọng của Mật pháp chính là quán tưởng, thủ ấn và chú ngữ (chân ngôn), có ba yếu tố này rồi thì có thể tu hành.

Căn cứ theo tổ sư truyền dạy, quan trọng nhất chính là phải tu pháp vào ngày nhật thực và nguyệt thực. Nói cách khác là khi tu pháp bạn ở dưới ánh trăng, cốc nước đó tốt nhất là ở dưới ánh trăng của nguyệt thực hoặc dưới ánh mặt trời của nhật thực. Có thể có ánh sáng của nguyệt thực và nhật thực hiện lên, chỉ cần có ánh sáng ấy đi vào trong cốc nước của bạn thì bạn uống nước đó vào, ngày hôm sau bạn sẽ có năng lực trí nhớ. Sự kì diệu của Mật pháp chính là như vậy. 


![image](/img/img_8d9c9de891a615a461734bf3f93101f0.jpg)


Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/hum-am-do-mau-niem-tung-phap.md
# Title: Hùm Âm Độ Mẫu niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_0b0d2af2c34513640882db5ae35f9652.jpg)



## Hùm Âm Độ Mẫu niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


(1) Quán Không.

(2) Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (7 biến)

(3) Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

(4) Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Hùm Âm Độ Mẫu.

(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)

Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê. 

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_bc88430f989aeaf72aafb2f267a0be4b.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn Hùm Âm**** Độ Mẫu**

Hai tay đan nội phộc, hai ngón giữa dựng thẳng chạm vào nhau, hai ngón trỏ dựng thẳng mở ra hai bên, hai ngón cái khẽ đè lên ngón áp út.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Quán tưởng trong hư không có nguyệt luân, ở giữa nguyệt luân xuất hiện chủng tử tự chữ "Hum" (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu vàng, phóng quang và xoay chuyển hóa thành Hùm Âm Độ Mẫu.

(2) Hùm Âm Độ Mẫu hiện thân màu vàng, một mặt hai tay, hình dáng là thiếu nữ 16 tuổi, ngũ quan đẹp tuyệt sắc, tay phải kết ấn ban nguyện, tay trái kết ấn cầm hoa sen, trên hoa sen có cung tên. 

(3) Quán tưởng trong hư không có một chữ “Om” màu trắng, hành giả hít chữ “Om” này đi vào từ mũi, bế khí, giữ chặt, nhíu hậu môn, chữ “Om” theo trung mạch đi đến nhật luân của hoa sen tám cánh ở tim hành giả, sau đó lại thở chữ “Om” này ra.

Quán tưởng trong hư không có chữ “Ah” màu đỏ, hành giả hít chữ “Ah” này đi vào từ mũi, bế khí, giữ chặt, nhíu hậu môn, chữ “Ah” theo trung mạch đi đến nhật luân của hoa sen tám cánh ở tim hành giả, sau đó lại thở chữ “Ah” này ra.

Quán tưởng trong hư không có chữ “Hum” màu lam, hành giả hít chữ “Hum” này đi vào từ mũi, bế khí, giữ chặt, nhíu hậu môn, chữ “Hum” theo trung mạch đi đến nhật luân của hoa sen tám cánh ở tim hành giả. Quán tưởng chữ “Hum” màu lam (không thở ra) biến thành chữ “Hum” màu vàng, rồi lại biến thành Hùm Âm Độ Mẫu màu vàng ngồi trên hoa sen tám cánh ở tim hành giả. Lại quán tưởng Hùm Âm Độ Mẫu từ từ hóa to ra, trong tích tắc, hành giả đã biến thành Hùm Âm Độ Mẫu. 

(4) Lại quán tưởng trên hoa sen tám cánh trong tim của Hùm Âm Độ Mẫu mà hành giả biến hóa ra có một chữ “Hum” màu vàng. Lúc này, hành giả có thể làm các pháp tiêu tai, tăng ích, kính ái, hàng phục.


### Phần 14: Trì tâm chú Hùm Âm Độ Mẫu


Tâm chú: 

Ôm ta-rê tu-ta-rê tu-rê hùm sô-ha. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Hum), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Hùm Âm Độ Mẫu, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định.

**Tụng tán:**

Đảnh lễ Hùm Âm Sất Tra Mẫu
Hư không Dục giới vọng âm thanh
Chân ngài đè bẹp bảy thế gian
Câu triệu tất cả không bỏ sót.


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hum.


![image](/img/img_69de220f802b8bcdc26217dce1af49d2.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Hùm Âm Độ Mẫu


Hùm Âm Độ Mẫu hiện thân màu vàng, một mặt hai tay, hình dáng là thiếu nữ 16 tuổi, ngũ quan đẹp tuyệt sắc, tay phải kết ấn ban nguyện, tay trái kết ấn cầm hoa sen, trên hoa sen có cung tên. 


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị lai lịch vĩ đại của Hùm Âm Độ Mẫu và khẩu quyết tu pháp 


Trong Lục Độ Mẫu (21 vị Độ Mẫu) thì Hùm Âm Độ Mẫu xếp vị trí thứ năm. 

Nguồn gốc của pháp Lục Độ Mẫu là do Atisa Tôn giả từ Ấn Độ đến Sri Lanka, sau đó ngài lại đến Jambi Indonesia thăm viếng Kim Châu Đại Sư, ngài đã theo học Kim Châu Đại Sư gần 12 năm. Ngài học được pháp phát bồ đề tâm, trong đó pháp quan trọng nhất là pháp Lục Độ Mẫu.

Atisa Tôn giả đem pháp này về Ấn Độ, rồi lại đem đến Tây Tạng, đây chính là nguồn gốc của pháp Lục Độ Mẫu (21 vị Độ Mẫu). 

Lục Độ Mẫu là hóa hiện từ giọt nước mắt từ bi của Quan Thế Âm Bồ Tát khi ngài thương xót chúng sinh trên mặt đất. Một loạt các vị Độ Mẫu cùng với Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát đều là từ một hệ thống truyền xuống.

Thủ ấn của Hùm Âm Độ Mẫu là thủ ấn của Mẫu tục. Chú ngữ của ngài là “Om tare tutare ture hum soha”. Điểm quan trọng là câu chú của Lục Độ Mẫu và thêm một chữ “hum” (khi niệm phải đặc biệt nhấn mạnh âm thanh “Hum” này). 

Pháp nghĩa chủ yếu nhất của Hùm Âm Độ Mẫu nằm ở sự quán tưởng. Quán tưởng như thế nào? Đó là phải quán tưởng trong hư không có một chữ “Hum”, sau đó chữ “Hum” này xoay tròn biến thành Hùm Âm Độ Mẫu, rồi lại quán tưởng Hùm Âm Độ Mẫu đi tới đỉnh đầu mình, đi vào bên trong thân thể mình, Hùm Âm Độ Mẫu lại phóng ra lớn bằng chính thân thể mình, trong chốc lát bạn đã biến thành Hùm Âm Độ Mẫu. Lúc này bạn có thể làm mọi pháp của Hùm Âm Độ Mẫu. 

Đầu tiên quán tưởng trong hư không có một chữ Phạn “Om” màu trắng, đại diện cho toàn bộ vũ trụ. Hít vào một hơi, hít chữ “Om” này vào trong mũi bạn, từ trung mạch đi xuống ở trên nhật luân của hoa sen tám cánh trong tim bạn, ép chắc, nâng hậu môn, rồi sau đó theo trung mạch mà thở ra ngoài. 

Lại quán tưởng trong hư không có một chữ Phạn “Ah” màu đỏ, cũng lại hút chữ này vào từ mũi, theo trung mạch đi xuống ở trên nhật luân của hoa sen tám cánh trong tim bạn, ép chắc, nâng hậu môn, rồi theo trung mạch thở ra ngoài.

Lại hít vào một hơi, tương tự hít vào một chữ “Hum” màu lam trong hư không vào mũi, theo trung mạch đi xuống ở trên nhật luân của hoa sen tám cánh ở trong tim, ép xuống, nâng hậu môn, nín thở, sau đó chữ “Hum” màu lam này biến thành màu vàng, rồi lại biến thành Hùm Âm Độ Mẫu. Hùm Âm Độ Mẫu từ từ biến to ra bằng chính thân thể mình, trong nháy mắt, bạn và Hùm Âm Độ Mẫu hợp nhất không hai không khác, bản thân đã biến thành Hùm Âm Độ Mẫu. 

Lại quán tưởng ở trên nhật luân hoa sen trong tim của Hùm Âm Độ Mẫu do chính mình biến hóa ra cũng có một chữ “Hum” màu vàng, lúc này mới có thể làm pháp yết ma.

**Pháp tăng ích: **

Bạn muốn người nào phát tài, trúng xổ số thì hãy lấy ảnh của người đó, hoặc quán tưởng người này ở trước mặt. Bạn thở ra một chữ “Hum” tăng ích màu vàng, chữ “Hum” bay ra dính lên thân của người đó, dính lên khắp toàn thân. Sau đó bạn hô lớn một tiếng “Hum”, biến thành một chữ “Hum” màu vàng, người đó sẽ trúng xổ số. Đây là pháp tăng ích, có thể gia tăng tư lương và tài phúc. Pháp này cũng có thể dùng cho chính mình.

**Pháp tiêu tai: **

Chấm dứt tất cả tai nạn, có thể trị bệnh, trừ tai họa, đi lại an toàn. Phương pháp cũng giống như trên, cũng có thể quán tưởng thân mình hoặc người khác dán đầy chữ “Hum”. 

**Pháp kính ái:**

Dùng chữ “Hum” màu đỏ, gia tăng tình yêu, quán tưởng đối phương và mình ôm lấy nhau. Pháp này cần ứng dụng chính đáng thì mới có thể linh ứng. Pháp kính ái cũng có thể dùng đối với sếp ở nơi làm việc, như vậy công việc sẽ thuận lợi, và cũng sẽ được tăng lương. Nếu có người muốn ứng cử, hoặc nghệ sĩ muốn được nổi tiếng… đều cực kì linh nghiệm.

**Pháp hàng phục:**

Chữ “Hum” màu lam, có thể khiến kẻ thù rời xa bạn, xua đuổi chướng ngại, hoặc khiến kẻ thù trở nên nghe lời bạn.

Chỉ cần tu Hùm Âm Độ Mẫu là có thể muốn gì được nấy, mọi việc đều như ý cát tường, làm cái gì cũng sẽ thành công. Pháp này không những có thể dùng trên thân người mà còn có thể dùng với nhà cửa để làm kiết giới, thanh tịnh,… Còn có thể làm với đất nước, đất nước này sẽ được bảo vệ, nhân dân được sung túc, mưa thuận gió hòa, hộ quốc hộ dân. Lợi ích pháp rất lớn, và cũng rất dễ tương ứng.

Ví dụ, nếu dán chữ “Hum” màu vàng lên nhà ở, căn nhà này sẽ biến thành dương trạch tốt nhất, trở thành ngôi nhà có thể gia tăng tài phúc. 
Dán lên chữ “Hum” màu trắng thì người sống trong ngôi nhà này đều cực kì khỏe mạnh.
Dán lên chữ “Hum” màu đỏ thì trong gia đình sẽ rất hòa thuận vui vẻ.
Dán lên chữ “Hum” màu lam thì ngôi nhà sẽ được kiết giới, bất kì bùa ngải nào cũng không thể ếm lên bạn, bất kì ma quỷ nào cũng không thể vào nhà bạn.

Pháp Hùm Âm Độ Mẫu nhất định phải làm phần Tiền hành, sau khi làm Tiền hành xong thì đầu tiên phải quán tưởng, sau đó trì chú, rồi nhập tam ma địa. Trì chú phải nhấn mạnh vào chữ “Hum”. Nhập tam ma địa tức là chính định.

Nhập tam ma địa xong, xuất định, xuất định xong thì phải tụng tán, ca ngợi Hùm Âm Độ Mẫu. Ca ngợi như thế nào? Thật ra bài kệ ca ngợi đều là do con người viết ra, trong lòng bạn cảm tạ ngài điều gì thì bạn trực tiếp dùng lời nói cảm ơn để cảm ơn Hùm Âm Độ Mẫu. Sau đó thì kết thúc, bạn tiễn Hùm Âm Độ Mẫu lên xe mây để ngài trở về bản vị ban đầu của ngài, đây gọi là tiễn xa lộ, tức là tiễn Bổn tôn trở về cõi trời. Đàn pháp như vậy là viên mãn rồi.

Om guru liansheng siddhi hum

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/index.md
# Title: Nghi quỹ tu tập
---

# Nghi quỹ tu tập


> Nghi quỹ Chân Phật Mật Pháp

**Ghi chú: **Phân loại nhóm ở đây dựa theo Mạng thông tin toàn cầu Chân Phật Tông, chỉ nhằm mục đích giúp độc giả tiện tra cứu và tìm kiếm dựa theo tên gọi, không phải phân loại dựa theo thứ bậc hoặc bản chất của chư vị.

Thần chú ở đây được phiên âm Việt hóa theo khẩu âm của chính Sư Tôn khi đọc hoặc ghi chép câu chú đó.


---



### **Mới hoàn thành**


[Pháp gia trì tịnh hóa tràng hạt](/nghi-quy-tu-tap/phap-gia-tri-tinh-hoa-trang-hat) 

[Pháp thờ cúng chủ đất của Chân Phật Tông](/nghi-quy-tu-tap/phap-tho-cung-chu-dat-cua-chan-phat-tong) 

[Chân Phật Hội Cúng ](/nghi-quy-tu-tap/chan-phat-hoi-cung) 

[Tứ gia hành - Đại pháp tu hành thành tựu của Mật giáo](/nghi-quy-tu-tap/tu-gia-hanh-dai-phap-tu-hanh-thanh-tuu-cua-mat-giao) 


---



### Chuẩn bị



---



### Nền tảng tu tập trọn bộ



---



### Phật - Như Lai



---



### Phật Mẫu



---



### Bồ Tát



---



### Kim Cang - Minh Vương



---



### Không Hành - Độ Mẫu



---



### Hộ Pháp



---



### Tổ Sư



---



### Tài Thần



---



### Các vị khác



---



### Các pháp bổ trợ



---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/kien-lao-dia-than-ket-gioi-phap.md
# Title: Kiên Lao Địa Thần kết giới pháp
---

![image](/img/img_785fe2c195e25650f24058f77dc24134.jpg)



## Kiên Lao Địa Thần kết giới pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Kiên Lao Địa Thần là tập hợp tất cả địa thần, là tổng hợp của tất cả sơn thần giàu có, cho nên Kiên Lao Địa Thần là giàu có nhất, thuộc về thần chủ yếu nhất trên mặt đất. Hành giả có thể hướng đến Kiên Lao Địa Thần để thỉnh cầu pháp lực, tài phúc, chữa trị bệnh tật, bất kì mong cầu gì cũng đều có thể được như ý nguyện. 

Ngài là Hộ pháp Kim cang thần của mặt đất, có thần biến và thần thông đại lực, có thể khiến cho vùng đất kiên cố, ma không thể vào. Kiên Lao Địa Thần đối với tất cả những người tu trì chính pháp đều sẽ cung kính ủng hộ. Bởi vì Phật Thích Ca Mâu Ni từng ban phúc cho Kiên Lao Địa Thần, lệnh cho đại địa sâu 16 vạn 8 nghìn luân, cho đến Kim cang luân, tất cả địa, đều do Kiên Lao Địa Thần hộ trì, phàm là trăm nghìn sự nghiệp của mặt đất, Kiên Lao Địa Thần đều có thể biết hết. 

Bởi vì Kiên Lao Địa Thần Kim Cang có đại lực và thần biến, cũng có thể ban phúc cho chúng sinh, có thể chữa trị các bệnh, có thể cầu được thần thông, quan trọng nhất là có thể kết giới, hàng phục kẻ thù trước đây. Kiên Lao Địa Thần Kim Cang này do rất gần gũi với nhân gian, chỉ cần bạn tu trì ngài thì rất nhanh chóng đạt được tương ứng, có tu sẽ đắc, hết sức như ý thù thắng.

Thời gian tu pháp này vô cùng đặc biệt, phải chọn ngày Bát Bạch, bởi vì ngày Bát Bạch là ngày mà sao Bố Sái xuất hiện ở chân trời. Sao Bố Sái xuất hiện thì bạn tu Kiên Lao Địa Thần Kim Cang nhất định sẽ cảm ứng, cầu tài được tài, cầu bệnh được chữa, cầu kết giới được kết giới, cầu thần thông được thần thông. Sao Bố Sái chính là sao của Kiên Lao Địa Thần Kim Cang. Nhớ kĩ, thời gian là buổi tối ngày Bát Bạch, khi sao trên trời xuất hiện. 

Trước tiên phải chuẩn bị một căn phòng sạch sẽ, thiết lập đàn thành, đàn thành này có thể thờ Phật Thích Ca Mâu Ni, giống một mật đàn thông thường. Trước thời gian đó thì phải tắm gội sạch sẽ, chuẩn bị một ít cúng dường. 

Làm Tứ quy y, Đại lễ bái, Đại cúng dường, Tứ vô lượng tâm. 

Trước hết tụng chú triệu thỉnh Kiên Lao Địa Thần Kim Cang: “Tan-chi-tha chi-li chi-li chu-lu chu-lu chuy-lu chuy-lu chuy-chu chuy-chu tu-chu tu-chu pô-hưa pô-hưa fa-xia fa-xia sô-ha.” Tổng cộng 108 biến.

Khi tụng xong 108 biến, hành giả có thiên nhãn sẽ có thể nhìn thấy một vị Kim Cang đến, trên đầu vị thần này có trái đất, chân dẫm lên trái đất, hai tay cầm mặt trời mặt trăng, ba con mắt phẫn nộ, mặc áo giáp vàng. Thấy vậy thì đừng sợ hãi, lập tức thành tâm cầu nguyện mọi điều mong muốn. Lấy ra bốn sợi dây ngũ sắc đặt lên bàn cúng, sau đó bí mật trì tụng chú kết giới hộ thân: “Tan-chi-tha ơ-chư-li mô-sưa chia-chự lai-chự chuy-chự pô-ti pô-ti-li ti-chự pi-chự-chuy chuy-chự chiê-pô chư-li sô-ha.” Tụng chú 1 biến thì thắt 1 nút trên sợi chỉ ngũ sắc, tổng cộng tụng 21 biến, thắt 21 nút. Chỉ ngũ sắc này có hai tác dụng, tác dụng thứ nhất là người tu trì đeo lên người, mọi lúc đều có Kiên Lao Địa Thần Kim Cang theo người bảo vệ, không sợ kẻ xấu làm hại, phàm tất cả pháp ác đều không thể làm hại đến thân, bởi vì mặt đất kiên cố. Cho người bệnh đeo, người bệnh sẽ có được pháp lực của mặt đất kiên cố, bệnh tật sẽ nhanh chóng hồi phục; cho người cầu thần thông đeo, vì có được pháp lực của Kiên Lao Địa Thần nên họ sẽ nhanh chóng có được thần thông. Tác dụng thứ hai là bốn sợi dây ngũ sắc này tổng cộng thắt 84 nút, lấy đàn thành của người tu trì làm trung tâm, chôn bốn sợi dây ngũ sắc ở bốn phía Đông Tây Nam Bắc trên mặt đất, trong phạm vi có chôn chỉ ngũ sắc thì quỷ mị đều không thể vào, ác ma cũng không thể vào, đây chính là pháp kết giới của Kiên Lao Địa Thần Kim Cang. 

Điểm quan trọng khi tu pháp là khi tụng xong 108 biến chú triệu thỉnh, để cho nghi thức càng đầy đủ hơn, cũng có thể kết ấn “cưỡng thỉnh địa thần”. Cái này tức là tay trái nắm chặt chày kim cang ba chấu, tay phải ngón cái gập vào trong lòng bàn tay, bốn ngón tay khác duỗi thẳng, lòng bàn tay hướng ra ngoài, niệm “sô-ha” với âm mạnh ba lần. Lúc này Kiên Lao Địa Thần Kim Cang nhất định sẽ đến.

(Trong tu pháp Kim cương thừa, chày một chấu gọi là châm kim cang, chày ba chấu gọi là miệng kim cang, chày năm chấu gọi là răng kim cang, hoặc là răng kim cang cười to, đa phần là đầu nhọn tách nhau ra tượng trưng cho phẫn nộ, khi đầu nhọn chụm lại thì tượng trưng cho từ bi.)

Tu xong đàn pháp thì tiễn Kiên Lao Địa Thần trở về trong đất.

Hồi hướng. Nguyện độ chúng sinh.

Kiên Lao Địa Thần Kim Cang vào thời đại Phật Thích Ca Mâu Ni đều từng phát lời thề nguyện lớn, muốn cho chúng sinh có được phúc báo vô lượng, chỉ cần chúng sinh thề nguyện tu chính pháp, làm việc thiện, thì các vị Kim Cang tự nhiên sẽ đi theo hộ trì. Tâm trì chú kim cang của Kiên Lao Địa Thần, cầu tài phúc được tài phúc, cầu thần thông được thần thông, cầu chữa bệnh được chữa bệnh, cầu kết giới được kết giới. Ví dụ bị ma quỷ quấy nhiễu, hoặc trong đàn pháp có người bỏ bùa ác hoặc vật ô uế, hoặc kẻ ác dùng pháp sát khí, thì do bạn đã làm pháp kết giới của Kiên Lao Địa Thần Kim Cang mà tất cả ma chướng tự nhiên tiêu trừ. 

Bồ Tát tu minh huệ, an tâm trong pháp Đại thừa, nhưng vì có những kẻ tiểu nhân đến quấy nhiễu, cũng không thể không tu pháp kết giới. Như thế thì ánh sáng của trí huệ mới có thể phổ chiếu, như thế trong tu thiền không đến không đi, tất cả Mật pháp đều có thể tương ứng. Người tu trì kỹ xảo bí mật không thể không biết pháp Kiên Lao Địa Thần Kim Cang.

---
# File: nghi-quy-tu-tap/kim-cang-hoi-mau-vajra-yogini-niem-tung-phap.md
# Title: Kim Cang Hợi Mẫu Vajra Yogini niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_111357843553091387895d941bc808c0.jpg)



## Kim Cang Hợi Mẫu Vajra Yogini niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Thỉnh cầu Căn bản Truyền thừa gia trì. Tay kết thủ ấn Căn bản Thượng sư, quán tưởng Căn bản Thượng sư phóng ba ánh sáng trắng, đỏ, lam chiếu đến hành giả, gia trì hành giả tu pháp viên mãn. Niệm chú Căn bản Thượng sư 7 lần. Niệm văn cầu thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật gia trì 1 lần.

- Quán tứ vô lượng tâm.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô chủ tôn tu pháp Kim Cang Hợi Mẫu. (x3)

(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Mặc giáp hộ thân


Kết thủ ấn chắp tay kim cang, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cang thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Phụng thỉnh bát đại Bồ Tát
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Kim Cang Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Diệu Cát Tường Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.

Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ thất Phật. Vị lai hiền kiếp thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Niệm danh hiệu Phật sáu phương
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyệt Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Hết thảy chúng sinh trung ương, chư vị trong Phật giới, trú ngụ trên mặt đất, cho đến tại không trung, thương lo cho tất cả chúng sinh. Ai cũng an ổn tốt lành. Ngày đêm tu trì. Tâm thường cầu tụng kinh này. Diệt được khổ sinh tử. Tiêu trừ hết độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Tụng bản kinh không ngừng. Thất Phật Thế Tôn. Liền nói chú sau:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-lô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-ki-a-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha” (7 lần)

Mười phương Quan Thế Âm. Hết thảy chư Bồ Tát.
Đã thề cứu chúng sinh. Xướng danh tất giải thoát.

Nếu gặp người trí tuệ. Ân cần mà giảng nói.
Lại có đủ nhân duyên. Đọc tụng không ngơi nghỉ.
Tụng kinh tròn nghìn biến. Niệm niệm tâm không dừng.
Gặp lửa cháy chẳng sao. Việc đao binh cũng thoát.
Nóng giận thành vui vẻ. Chết rồi hóa sống vui.
Đừng nghĩ rằng không đúng. Chư Phật chẳng nói chơi.
Cao Vương Quan Thế Âm. Cứu được hết khổ nạn.
Lúc khó khăn nguy cấp. Người chết còn thành sống.
Chư Phật chẳng nói đùa. Vì vậy nên đảnh lễ.
Niệm tụng trọn nghìn lần. Tội nặng đều tiêu diệt.
Người có phúc tín tâm. Hãy chuyên tâm đọc tụng.

Nguyện mang công đức này. Gửi tới hết chúng sinh.
Tụng tròn một nghìn biến. Tội nặng đều tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (Hết)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha.  


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_25e93f18f7fa511553187f84f57e1701.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn Kim Cang Hợi Mẫu**

Đầu tiên hai tay đan nội phộc, hai ngón cái dựng thẳng chạm vào nhau, hai ngón trỏ dựng thẳng mở ra hai bên, hai ngón cái dựng thẳng đặt song song và đè nhẹ lên ngón áp út.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời trong vạn dặm không mây, một vầng mặt trời từ dưới biển nhô lên không trung, ở chính giữa vầng mặt trời có một chủng tự chữ Pang (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu đỏ, tỏa ra ánh sáng đỏ.

(2) Chữ Pang ở giữa vầng mặt trời quay tròn hóa thành Kim Cang Hợi Mẫu. Kim Cang Hợi Mẫu có hình tướng một cô gái trẻ, một mặt hai tay, ba mắt mở to tròn, nhíu mày, nhe răng, lõa thể, trong sự phẫn nộ có nét tươi cười. Thân ngài màu đỏ, đứng tư thế múa, eo thon mềm mại, ngực tròn đầy, các đường cong uyển chuyển hoạt bát, trang điểm bằng chuỗi xương người, đeo trên cổ là chuỗi đầu lâu, trang điểm thêm bằng hoa và chuông, xung quanh có ngọn lửa cháy bừng bừng, vô cùng diễm lệ. Chân phải cong và giơ lên không trung, chân trái dẫm lên xác chết ở trên nhật luân hoa sen, toàn thân tỏa ra ánh sáng đỏ chiếu khắp mọi thứ, tóc màu đỏ dựng thẳng đứng, đội mũ gắn năm cái đầu lâu. Phần đầu bên cạnh có mọc ra một cái đầu lợn. Tay phải giơ cao cầm dao cong kim cang, tay trái cầm đầu lâu đựng đầy máu tươi giữ trước ngực, vai trái kẹp chặt chày kim cang và cây trượng xuyên qua ba cái đầu người. 

(3) Quán tưởng thiên tâm của Kim Cang Hợi Mẫu phóng ra một vệt ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả. Từ họng Kim Cang Hợi Mẫu phóng ra một vệt ánh sáng đỏ chiếu thẳng đến họng của hành giả. Tâm luân của Kim Cang Hợi Mẫu phóng ra một vệt ánh sáng xanh lam chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng trắng, đỏ, lam tan vào thân tâm của hành giả.


### Phần 14: Trì tâm chú Kim Cang Hợi Mẫu


Tâm chú: Ôm tô-chê pa-mủ sô-ha. (108 biến)
Hoặc: Ôm tô-chê pa-mủ hùm pây sô-ha.


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Pang), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Kim Cang Hợi Mẫu, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-tê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.


### Giới thiệu pháp tướng Kim Cang Hợi Mẫu


Kim Cang Hợi Mẫu có hình tướng một cô gái trẻ, một mặt hai tay, ba mắt mở to tròn, nhíu mày, nhe răng, lõa thể, trong sự phẫn nộ có nét tươi cười. Thân ngài màu đỏ, đứng tư thế múa, eo thon mềm mại, ngực tròn đầy, các đường cong uyển chuyển hoạt bát, trang điểm bằng chuỗi xương người, đeo trên cổ là chuỗi đầu lâu, trang điểm thêm bằng hoa và chuông, xung quanh có ngọn lửa cháy bừng bừng, vô cùng diễm lệ. Chân phải cong và giơ lên không trung, chân trái dẫm lên xác chết ở trên nhật luân hoa sen, toàn thân tỏa ra ánh sáng đỏ chiếu khắp mọi thứ, tóc màu đỏ dựng thẳng đứng, đội mũ gắn năm cái đầu lâu. Phần đầu bên cạnh có mọc ra một cái đầu lợn, vì thế gọi là Hợi Mẫu. Tay phải giơ cao cầm dao cong kim cang, tay trái cầm đầu lâu đựng đầy máu tươi giữ trước ngực, vai trái kẹp chặt chày kim cang và cây trượng xuyên qua ba cái đầu người, cây trượng này gọi là kachangka.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị về lai lịch thù thắng của Kim Cang Hợi Mẫu và yếu quyết tu pháp


Kim Cang Hợi Mẫu Dorje Pamu là vị đứng đầu các Không Hành Mẫu, là Không Hành Tổng Chủ. Ngày xưa, trong tu hành thường ngày, Liên Sinh Hoạt Phật thường khởi thỉnh ngài, chuyết hỏa định của Liên Sinh Hoạt Phật chính là chuyết hỏa định của Kim Cang Hợi Mẫu. 

Kim Cang Hợi Mẫu là Không Hành Mẫu căn bản, Kim Cang Hợi Mẫu có lời thề nguyện lớn, lời thề làm bạn đạo của mọi hành giả. Kim Cang Hợi Mẫu, Vô Ngã Mẫu, v.v… đều giúp đỡ hành giả Mật giáo thành đạo. 

Văn cầu thỉnh Căn bản Kim Cang Hợi Mẫu:

Chí tâm triệu thỉnh
Hợi Mẫu chiếu cố
Làm thầy kim cang
Liên cung ban sữa
Tốc chứng Phật quả
Trường sinh phổ độ.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, Kim Cang Hợi Mẫu, Sư Diện Không Hành Mẫu, uy lực của ba vị này là vô cùng, nguồn gốc của ba vị đều giống nhau, ba vị đều cầm kachangka, gọi là thiên trượng. Kachangka có ba cái đầu lâu đại diện cho tiêu diệt tham, sân, si, cũng đại diện cho ba thân Pháp, Báo, Ứng. Cầm thiên trượng đại diện cho quyền uy, và kachangka cũng là một hóa thân khác của Kim Cang Hợi Mẫu. 

Sư Diện Không Hành Mẫu có uy lực rất lớn, nhưng vị sư phụ ở phía trên ngài chính là Kim Cang Hợi Mẫu, và ở trên cao nhất của Kim Cang Hợi Mẫu, vị ở cao nhất chính là Bát Nhã Phật Mẫu. Tổng tư lệnh của tất cả Không Hành Mẫu chính là Bát Nhã Phật Mẫu, đều từ ngài mà phân ra.

Yeshe Tsogyal, Mandarava ở bên cạnh Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đều là hóa thân của Kim Cang Hợi Mẫu, mọi Không Hành Mẫu hầu hết đều là hóa thân của Kim Cang Hợi Mẫu. Lửa của Kim Cang Hợi Mẫu có thể tiêu diệt hết tất cả bệnh nghiệp, đồng thời gia tăng kính ái và phúc phần của chúng sinh, ngài cũng là vị chủ tôn về hàng ma.

Kim Cang Hợi Mẫu có thể nói là tổng trì của mọi Không Hành Mẫu, là thủ lĩnh của Không Hành Mẫu. Các Kim cương Thượng sư đều nên tu khí, mạch, minh điểm, đều nên đến được Nhị quán [tầng quán đảnh thứ hai]. Muốn tu khí, mạch, minh điểm đều cần có Dorje Pamu. Bởi vì Dorje Pamu Kim Cang Hợi Mẫu là Bổn tôn của chuyết hỏa định, ngài là chủ tôn của chuyết hỏa, giống như ngọn lửa ở tề luân của bạn phát quang phát sáng. Tu chuyết hỏa định, nếu không có Kim Cang Hợi Mẫu thì không thể thành tựu.

Ngoài ra, tôi nói với mọi người, trong Phật giáo Tạng truyền ở toàn bộ Tây Tạng, mọi Hoạt Phật đều là nam, không có Hoạt Phật nữ, chỉ có một người thôi, người đó là hóa thân của Kim Cang Hợi Mẫu. Vị đó có Kim Cang Hợi Mẫu quyền, Kim Cang Hợi Mẫu 27 thức quyền pháp, Kim cang quyền 108 thức, là pháp dẫn đường cho khí, mục đích chính là bổ trợ cho sự vận hành của khí, đối với pháp Vô lậu, pháp Chuyết hỏa, pháp Minh điểm phải do thân ấn dẫn đường. Cho nên, Kim Cang Hợi Mẫu tương đương là Bổn tôn chung của mọi yogi Mật thừa tu chuyết hỏa. 

Từ Kim Cang Hợi Mẫu lại sinh ra rất nhiều Không Hành Mẫu, bất luận là ở Ngoại pháp hay Nội pháp, ngài đều có thể làm Bổn tôn. Trong phái Nyingma, thậm chí trong mọi phái, đều hết sức tôn sùng Kim Cang Hợi Mẫu. 

Kim Cang Hợi Mẫu đại diện cho lửa, đại diện cho chữ/âm “A” ngắn. 

Kim Cang Hợi Mẫu đứng trên tòa hoa sen, đứng trên cung tam giác (cung sinh pháp) của hạ đan điền của bạn, rồi lại từ chữ/âm “A” ngắn biến hóa thành Kim Cang Hợi Mẫu, từ ngài lại sinh khởi tất cả chuyết hỏa. Dùng pháp lực của Kim Cang Hợi Mẫu sinh ra màu đỏ, nhiệt và ánh sáng, từ ngài sinh ra chuyết hỏa, sau đó sẽ thông trung mạch của mỗi người chúng ta, đây gọi là Kim Cang Hợi Mẫu chuyết hỏa định. Ngài thuộc về Mẫu tục, trong Tạng kinh, kinh điển Phụ tục thuộc về phương tiện, kinh điển Mẫu tục thuộc về trí huệ, cho nên Kim Cang Hợi Mẫu đại diện cho Mẫu tục.

Chuyết hỏa chủ yếu nằm ở vị trí dưới tề luân bốn ngón tay [lưu ý: để xác định vị trí, bạn xoay ngang bốn ngón tay trên bàn tay mình (trừ ngón cái) và đặt dưới rốn], có một cung sinh pháp, cung này hình tam giác màu xanh lam. Căn cứ theo Mật giáo, trên thân thể con người vốn đã có nhiệt độ, là 37 độ, nhiệt độ này từ đâu mà có? Đó là từ vị trí dưới rốn bốn ngón tay. 

Về mặt quán tưởng thì cung sinh pháp có hình tam giác, là hình tam giác có thể đứng thẳng, hai hình tam giác đối đầu nhau, ở giữa chính là chuyết hỏa, một điểm, chuyết hỏa lại hóa thành Kim Cang Hợi Mẫu, Kim Cang Hợi Mẫu lại hóa thành chuyết hỏa, đây là yếu quyết tu trì quán tưởng chủ yếu, chính là nằm ở đây. Chuyết hỏa nằm ngang, như thế này, rồi quấn đi lên, uốn cong, như thế này, nằm ở giữa hai cung tam giác, chuyết hỏa lại hóa thành Kim Cang Hợi Mẫu, Kim Cang Hợi Mẫu lại biến thành chuyết hỏa. Chỉ cần gia tăng ánh sáng của chuyết hỏa, gia tăng màu đỏ của nó, gia tăng nhiệt độ của nó, thì chuyết hỏa có thể nâng lên hạ xuống, nâng lên đến vị trí thiên đình thủy - thiên đình thủy chính là vị trí bồ đề tâm nguyệt dịch, sau đó lại hòa tan thiên đình thủy thì sẽ có chất lỏng đi xuống, thủy và hỏa kết hợp lại, nước và lửa cùng nguồn, sản sinh ra một dạng thiền định gọi là chuyết hỏa định.

Bạn có thể dùng chuyết hỏa để khiến cho trung mạch thanh tịnh, tịnh hóa mọi luân xa, tịnh hóa năm luân xa, bảy luân xa, có thể khiến cho minh điểm thanh tịnh. Trong Mật giáo có nói đến rằng khi ngài thanh tịnh khí của bạn, bản thân bạn sẽ có thể biến thành Ứng thân. Khi ngài thanh tịnh trung mạch của bạn, tương đương với thanh tịnh Báo thân của bạn, khi ngài thanh tịnh minh điểm của bạn thì bạn sẽ biến thành Pháp thân, ba thân Pháp-Báo-Ứng đều có thể thanh tịnh. 

Kim Cang Hợi Mẫu là yogini của mọi hành giả Mật thừa, là Bổn tôn để tu trì mọi pháp như trung mạch, chuyết hỏa, minh điểm, vô lậu.

Trong tu hành của chúng ta, chủ yếu là ánh sáng, từ khí cháy bùng lên biến thành chuyết hỏa, từ chuyết hỏa đốt cháy minh điểm, minh điểm toàn thân liên tục gia tăng, chuyết hỏa liên tục đi lên, đốt cháy toàn bộ trở thành một vùng ánh sáng lửa, một vùng ánh sáng từ lỗ chân lông phát ra, sau cùng sẽ hóa thành ánh sáng. Cái gọi là pháp Đại viên mãn chính là biến thành cầu vồng, biến thành ánh sáng, toàn bộ đều nhờ chủ tôn Kim Cang Hợi Mẫu, vì thế ngài là một vị vô cùng quan trọng.

Kim Cang Hợi Mẫu là “Không-Lạc căn bản”. Công đức của ngài là:
1. Tịnh trừ phiền não, hiển “cụ sinh trí”. 
2. Điều hòa khí mạch, chứng quả vô tử.
3. Hàng phục ma và kẻ thù, thu về thập pháp giới.

Tên gọi Dorje chính là Kim cang, Pamu chính là Hợi Mẫu. Chú ngữ này thuộc về “danh chú”: “Om dorje pamu hum pei soha”, gia tăng sức mạnh của ngài, phát huy sức mạnh của ngài. Thêm vào “hum pei” là để phát huy sức mạnh của ngài, “soha” chính là thành tựu, “dorje pamu” là Kim Cang Hợi Mẫu. Cho nên ý nghĩa của danh chú này là: “Kim Cang Hợi Mẫu sinh ra giữa vũ trụ, xin phát huy sức mạnh của ngài, để viên mãn tất cả!” 

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/kim-cang-tam-bo-tat-phap-tu-gia-hanh-phap.md
# Title: Kim Cang Tâm Bồ Tát Pháp (Tứ gia hành pháp)
---

![image](/img/img_4caaef8b6e5b9eec3a1b6ea1d200eb24.jpg)



## Kim Cang Tâm Bồ Tát Pháp (Tứ gia hành pháp)


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

Trình tự tu pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát / Kim Cang Tát Đỏa / Kim Cương Trì:


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì đồng tu.

- Quán tứ vô lượng tâm.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô chủ tôn tu pháp: Kim Cang Tâm Bồ Tát (x3)
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cang Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 
Thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát. 
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật đa.


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, bát đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, bát đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tát cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kỳ diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Mặc giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Phụng thỉnh bát đại Bồ Tát
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Kim Cang Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Diệu Cát Tường Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.

Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ thất Phật. Vị lai hiền kiếp thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Niệm danh hiệu Phật sáu phương
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyệt Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Hết thảy chúng sinh trung ương, chư vị trong Phật giới, trú ngụ trên mặt đất, cho đến tại không trung, thương lo cho tất cả chúng sinh. Ai cũng an ổn tốt lành. Ngày đêm tu trì. Tâm thường cầu tụng kinh này. Diệt được khổ sinh tử. Tiêu trừ hết độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Tụng bản kinh không ngừng. Thất Phật Thế Tôn. Liền nói chú sau:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-lô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-ki-a-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha” (7 lần)

Mười phương Quan Thế Âm. Hết thảy chư Bồ Tát.
Đã thề cứu chúng sinh. Xướng danh tất giải thoát.

Nếu gặp người trí tuệ. Ân cần mà giảng nói.
Lại có đủ nhân duyên. Đọc tụng không ngơi nghỉ.
Tụng kinh tròn nghìn biến. Niệm niệm tâm không dừng.
Gặp lửa cháy chẳng sao. Việc đao binh cũng thoát.
Nóng giận thành vui vẻ. Chết rồi hóa sống vui.
Đừng nghĩ rằng không đúng. Chư Phật chẳng nói chơi.
Cao Vương Quan Thế Âm. Cứu được hết khổ nạn.
Lúc khó khăn nguy cấp. Người chết còn thành sống.
Chư Phật chẳng nói đùa. Vì vậy nên đảnh lễ.
Niệm tụng trọn nghìn lần. Tội nặng đều tiêu diệt.
Người có phúc tín tâm. Hãy chuyên tâm đọc tụng.

Nguyện mang công đức này. Gửi tới hết chúng sinh.
Tụng tròn một nghìn biến. Tội nặng đều tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (Hết)!

Niệm thêm chú vãng sinh: (7 biến)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 8: Đọc bài kệ Tứ vô lượng tâm


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.

**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.

**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 9: Niệm thêm Căn bản Thượng sư tâm chú 


Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 10: Pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát



![image](/img/img_631f859031c99c8991d83fb5bbcd2fbe.jpg)


**Kết ấn: **

Tay phải nắm lại, hướng vào trong, ngón cái đè lên ngón trỏ.
Tay trái nắm lại, hướng ra ngoài, ngón trỏ đè lên ngón cái.
Đặt thủ ấn trước ngực.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời trong vạn dặm không mây, một vầng mặt trăng từ dưới biển nhô lên không trung, ở chính giữa vầng mặt trăng có một chủng tự chữ Hum (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu trắng phóng ra ánh sáng trắng.

(2) Chữ Hum ở giữa vầng mặt trăng quay vòng hóa thành Kim Cang Tâm Bồ Tát. Bồ Tát thân màu trắng, đội mũ Ngũ Phật, thiên y váy xếp, đủ loại bảo vật trang sức cho toàn thân ngài, ngồi trên hoa sen tám cánh trong vầng mặt trăng, tay phải kết ấn phẫn nộ cầm chày kim cương đặt tại vị trí tim, tay trái kết ấn phẫn nộ cầm chuông kim cương đặt trên đùi trái. Xung quanh vị trí tim ngài có Bách tự minh chú quay vòng tròn, vòng thần chú này xoay chuyển và tỏa ra vô lượng ánh sáng trắng. 

(3) Lại quán tưởng ánh sáng trắng này bay thẳng lên không trung thành vòng cung, từ đỉnh đầu của hành giả Mật tông dội xuống toàn thân. Toàn thân hành giả Mật tông cũng xuất hiện ánh sáng chói lọi, ác nghiệp ác niệm toàn thân hóa thành khí đen thoát ra từ các lỗ chân lông trên toàn thân, thế rồi toàn thân hành giả trong suốt quang minh, đắc đại thiền lạc.


### Phần 11: Tụng Kim Cang Tâm bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (21 hoặc 49 biến)

Kim Cang Tát Đỏa chú ngắn: Ôm pê-cha sat-tô ah hùm pây.

Kim Cang Tát Đỏa tâm chú: Ôm pê-cha sat-tô hùm.


### Phần 12: Nhập Tam ma địa


(1) Quán tưởng Kim Cang Tâm Bồ Tát trụ tại đỉnh đầu (Phạn huyệt) của mình.

(2) Bên trong thân mình, trên tâm luân ở trung mạch có hoa sen nở ra, trên hoa sen có một nguyệt luân, trong nguyệt luân có chủng tử tự chữ Hum của Kim Cang Tâm Bồ Tát, chủng tử tự tỏa ánh sáng trắng.

(3) Quán tưởng Kim Cang Tâm Bồ Tát tại đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to bằng hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, xuống đến tâm luân, rồi dừng lại trên hoa sen ở tâm luân. 

(4) Kim Cang Tâm Bồ Tát tại hoa sen trên tâm luân của chính mình dần dần phóng to lên, cho đến khi bằng chính hành giả. Quản tưởng mình biến thành Kim Cang Tâm Bồ Tát giống y hệt, mình chính là Kim Cang Tâm Bồ Tát, không hai không khác.


### Phần 13: Xuất định. Hồi hướng


Liên Sinh Hoạt Phật truyền thụ đại mật pháp.
Kim Cang Tát Đỏa biến hóa Kim Cang Tâm.
Cả hai dung hợp đích thực đại tương ứng.
Tội chướng tiêu trừ chân chính đắc thanh tịnh.


### Phần 14: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 15: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 16: Hồi hướng


*Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.*

Đệ tử …….. xin đem công đức này hồi hướng. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 17: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 18: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


![image](/img/img_25ed49a234627006caea4e04a11094b5.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Kim Cang Tát Đỏa


Kim Cang Tát Đỏa thân màu trắng, tướng đẹp trang nghiêm, thiên y váy xếp, đủ loại báu vật trang sức cho thân ngài. Ngài ngồi trên nguyệt luân hoa sen tám cánh, tay phải kết ấn phẫn nộ cầm chày kim cang đặt ở vị trí tâm luân, tay trái kết ấn phẫn nộ cầm chuông kim cang đặt ở trên đùi trái.

Cũng có Kim Cang Tát Đỏa thân sắc màu vàng.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị lai lịch thù thắng của Kim Cang Tát Đỏa và khẩu quyết tu pháp


Trong Mật giáo, Kim Cang Tát Đỏa là một vị đại Bồ Tát tôn quý nhất, là Tỳ Lô Giá Na Phật tại đại Mandala Kim Cương Giới nhập vào tam muội của tất cả Như Lai Phổ Hiền mà sinh ra. 

Vị Phật nguyên thủy cũng chính là Bản Sơ Phật, Đa Kiệt Khương Phật (Dorje Chang, tức Kim Cương Tổng Trì, tiếng Phạn là Vajradhara), cũng là Phổ Hiền Vương Như Lai, A Đạt Nhĩ Mã Phật, Kim Cương Tổng Trì. 

Ngài hóa thân thành năm vị Phật: trung ương Tỳ Lô Giá Na Phật, tây phương A Di Đà Phật, đông phương A Súc Phật, nam phương Bảo Sinh Phật, bắc phương Bất Không Thành Tựu Phật. Pháp vương tử của Ngũ Phật chính là Kim Cang Tát Đỏa, là tâm kim cương bồ đề của tất cả Như Lai, là hóa thân của Ngũ Phật để giáo hóa chúng sinh, là pháp vương tử của tất cả Như Lai. Ngài là vị duy nhất có thể đại diện cho Kim cương thừa.

Khi xưa, Long Thụ Bồ Tát ở Nam Thiên Trúc (Ấn Độ) mở tháp sắt, gặp mặt Kim Cang Tát Đỏa. Kim Cang Tát Đỏa đã truyền thụ toàn bộ pháp của Kim cương giới và Thai tạng giới cho Long Thụ Bồ Tát. Kể từ đó Mật giáo mới bắt đầu truyền bá, mới có truyền thừa của Mật giáo. Vì thế, Kim Cang Tát Đỏa chính là giáo chủ của Mật giáo.

Kim cang đại diện cho bất hoại, tính Không; Tát Đỏa đại diện cho Bồ Tát, Kim Cang Tát Đỏa chính là Kim Cương Bồ Tát.

Pháp thân, báo thân, ứng thân của Kim Cang Tát Đỏa là:

1. Kim Cang Tát Đỏa: là bản thân Bồ Tát, đại diện cho từ bi.

1. Kim Cang Thủ Bồ Tát: tượng trưng cho sức mạnh, đại diện cho phương tiện.

1. Kim Cang Tâm Bồ Tát: tượng trưng cho ý, đại diện cho pháp chỉ.

Kim Cang Tát Đỏa vốn dĩ là kết tinh của ý, pháp lực và mọi trí huệ. Đại bộ phận các Kim Cang Thần đều là do Kim Cang Tát Đỏa biến hóa mà ra.

Truyền thừa của Mật giáo là: Kim Cương Tổng Trì - Ngũ Phật (Ngũ Kim Cương Trì) - Kim Cang Tát Đỏa (Kim Cương Trì thứ sáu).

Truyền thừa trí huệ chân thực của Chân Phật Tông là: Kim Cương Tổng Trì - Ngũ Phật (Ngũ Kim Cương Trì) - Kim Cang Tát Đỏa (Kim Cương Trì thứ sáu) - Pháp vương Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn (Kim Cương Trì thứ bảy) - Kim cương Thượng sư của Chân Phật Tông (Kim Cương Trì thứ tám).

Mật giáo coi trọng nhất là truyền thừa. Giống như mỗi lần trước khi thuyết pháp, tôi nhất định phải nhắc đến các vị sư phụ truyền thừa của mình. 

Sư phụ của Liên Sinh Hoạt Phật chính là Liễu Minh Hòa Thượng, là vị thầy học theo phái Nyingma - Hồng giáo của Tạng mật; là Sakya Chứng Không Thượng sư của phái Sakya - Hoa giáo, là truyền thừa của Hoa giáo; là Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16, thủ lĩnh của phái Bạch giáo, vì thế đây là truyền thừa của Bạch giáo; là Thubten Dhargye Thượng sư, sư phụ của Hoàng giáo. Mật giáo luôn nói đến truyền thừa.

Hôm nay, chúng ta không thể nói rằng bản thân đã học xong pháp của thầy rồi, vậy thì lập ra một “cửa tiệm” mới chứ nhỉ? “Cửa tiệm” của Sư Tôn gọi là Chân Phật Tông - True Buddha School, vậy bạn sẽ lấy tên là Chân Như Tông, hoặc là Chân Pháp Tông, gọi là tông gì cũng được, đúng thế không? Hoặc là sau khi rời khỏi Sư Tôn, bạn sẽ cắt đứt truyền thừa? Điều này là không được.

Cây có cái gọi là thân cây, có cái gọi là cành cây, có gốc rễ, có thân, có cành, như vậy mới gọi là một cái cây, nếu bạn cắt đứt truyền thừa thì giống như cái cây mất gốc, bạn sẽ không còn truyền thừa nữa. Không có truyền thừa thì không có cái gì cả. Vì vậy, chúng ta lấy việc “kính sư” là quan trọng nhất. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã nói: “Kính sư, trọng pháp, thực tu.” Kính sư xếp hàng đầu.

Tiếp theo là hoàn tịnh. Mật giáo có rất nhiều điều cấm (giới), có 14 đại giới, có Sự sư pháp ngũ thập tụng (50 quy tắc về ứng xử giữa thầy và trò), nếu bạn phạm giới, đương nhiên nhất định phải sám hối, nếu sám hối thì nhất định phải niệm chú sám hối. Thế nào là chú sám hối? Bách tự minh chú (chú 100 âm) chính là chú sám hối, bởi vì hoàn trả về hư không, trả lại cho hư không, đem toàn bộ thiện nghiệp, ác nghiệp trong cuộc đời bạn hoàn trả về hư không, biến bản thân thành hư không, như vậy sẽ trở nên không ô nhiễm, đây gọi là sám hối.

Bạn sám hối với Căn bản Thượng sư, sám hối với thầy cũng chính là sám hối, sám hối với trưởng lão cũng chính là sám hối. Bạn niệm nhiều Bách tự minh chú, Kim Cang Tát Đỏa chính là một vị Bổn tôn sám hối. Bạn hướng về lão tổ sư, giáo chủ Mật giáo để sám hối, thì bạn cần thường xuyên niệm Bách tự minh chú.

Pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát là một trong các pháp của Tứ gia hành, là một pháp quan trọng nhất, nó được gọi là một trong những khóa tu bắt buộc của Mật thừa. Và Bách tự minh chú của Kim Cang Tát Đỏa là vua của các câu chú, là chú của tính Không, chí ít cũng phải niệm chú này đủ 100.000 biến.

Bách tự minh chú của Kim Cang Tát Đỏa có thể tiêu trừ tất cả nghiệp chướng từ vô thủy đến nay, toàn bộ đều được thanh tịnh, có thể khiến hạnh nguyện của hành giả Mật tông vững chắc như kim cương. Vì thế, chúng ta niệm Kim Cang Tát Đỏa Bách tự minh chú là đại diện cho một cái Không viên mãn. Đôi khi chúng ta tu pháp sám hối, chúng ta niệm Kim Cang Tát Đỏa Bách tự minh chú, sẽ giúp cho chúng ta sản sinh ra tính Không, ngài chính là đại diện cho viên mãn.

Kim Cang Tát Đỏa Bách tự minh chú vô cùng quan trọng, là tâm của chính bản thân Kim Cang Tát Đỏa hóa ra, tương đương với Phật tính. Câu chú này bao gồm bốn ý nghĩa lớn:

1. Tự tính thanh tịnh.

1. Tất cả thanh tịnh.

1. Quảng đại tự tính thanh tịnh.

1. Quảng đại thanh tịnh mọi thứ khác.

Đây là điều lý thú cao nhất của Mật giáo Đại Thủ Ấn, là tội khởi từ tâm thì dùng tâm sám hối, là tự tính không tính, căn bản đã đạt đến chân lí không của bản chất tội lỗi. 

Với ý nghĩa bí mật ấy, công đức rất vĩ đại ấy, sau khi tu pháp nếu trì niệm câu chú này 3 biến, thì mọi lỗi lầm, sai sót trong khi tu pháp thì tương đương có đại nguyệt luân tỏa ánh sáng để bù đắp hết, chư Phật Bồ Tát sẽ không trách tội.

Thường tụng Bách tự minh chú có thể sám hối, có thể tiêu trừ nghiệp chướng, có thể bổ khuyết và chặn dừng ác niệm, khiến ác niệm không tăng trưởng, có thể phá trừ mọi phiền não, có thể hàng phục ma quái, khiến yêu ma lánh xa không dấu vết, có thể tăng trưởng phúc phần và đức hạnh, sinh ra đủ loại công đức, tất cả có thể như nguyện như ý.

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/kim-cuong-tong-tri-niem-tung-phap.md
# Title: Kim Cương Tổng Trì niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_e762089a9c1380683d450b44031f925f.jpg)



## Kim Cương Tổng Trì niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Thỉnh cầu Căn bản Truyền thừa gia trì. Tay kết thủ ấn Căn bản Thượng sư, quán tưởng Căn bản Thượng sư phóng ba ánh sáng trắng, đỏ, lam chiếu đến hành giả, gia trì hành giả tu pháp viên mãn. Niệm chú Căn bản Thượng sư 7 lần. Niệm văn cầu thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật gia trì 1 lần.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô chủ tôn tu pháp Kim Cương Tổng Trì. (x3)
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Mặc giáp hộ thân


Kết thủ ấn chắp tay kim cang, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cang thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Phụng thỉnh bát đại Bồ Tát
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Kim Cang Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Diệu Cát Tường Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.

Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ thất Phật. Vị lai hiền kiếp thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Niệm danh hiệu Phật sáu phương
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyệt Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Hết thảy chúng sinh trung ương, chư vị trong Phật giới, trú ngụ trên mặt đất, cho đến tại không trung, thương lo cho tất cả chúng sinh. Ai cũng an ổn tốt lành. Ngày đêm tu trì. Tâm thường cầu tụng kinh này. Diệt được khổ sinh tử. Tiêu trừ hết độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Tụng bản kinh không ngừng. Thất Phật Thế Tôn. Liền nói chú sau:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-lô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-ki-a-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha” (7 lần)

Mười phương Quan Thế Âm. Hết thảy chư Bồ Tát.
Đã thề cứu chúng sinh. Xướng danh tất giải thoát.

Nếu gặp người trí tuệ. Ân cần mà giảng nói.
Lại có đủ nhân duyên. Đọc tụng không ngơi nghỉ.
Tụng kinh tròn nghìn biến. Niệm niệm tâm không dừng.
Gặp lửa cháy chẳng sao. Việc đao binh cũng thoát.
Nóng giận thành vui vẻ. Chết rồi hóa sống vui.
Đừng nghĩ rằng không đúng. Chư Phật chẳng nói chơi.
Cao Vương Quan Thế Âm. Cứu được hết khổ nạn.
Lúc khó khăn nguy cấp. Người chết còn thành sống.
Chư Phật chẳng nói đùa. Vì vậy nên đảnh lễ.
Niệm tụng trọn nghìn lần. Tội nặng đều tiêu diệt.
Người có phúc tín tâm. Hãy chuyên tâm đọc tụng.

Nguyện mang công đức này. Gửi tới hết chúng sinh.
Tụng tròn một nghìn biến. Tội nặng đều tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (Hết)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Là vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_c921f8b493823da477c05d79625bf6df.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn Kim Cương Tổng Trì**

Hai tay nắm lại, ngón cái và ngón trỏ chạm vào nhau tạo thành vòng tròn, hai tay đặt chéo nhau, tay trái ở trong tay phải ở ngoài, lòng bàn tay hướng vào trong. Giữ thủ ấn trước ngực. 

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Quán tưởng hư không có một chữ Hum (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu xanh lam. Chữ Hum xoay tròn hóa thành một vị Kim Cương Tổng Trì. 

(2) Kim Cương Tổng Trì có thân sắc màu xanh lam đậm, đội mũ miện, thiên y váy xếp, có đủ loại bảo vật trang sức cho thân ngài. Ngài ngồi trên nguyệt luân hoa sen, hai tay nắm lại, ngón trỏ và ngón cái chạm vào nhau thành vòng tròn, hai tay đặt chéo nhau ở trước ngực, tay trái ở trong tay phải ở ngoài, lòng bàn tay hướng vào trong.

(3) Thiên tâm của Kim Cương Tổng Trì phóng ra một đường ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả, họng của Kim Cương Tổng Trì phóng ra một đường ánh sáng đỏ chiếu thẳng đến họng của hành giả, tâm luân của Kim Cương Tổng Trì phóng ra một đường ánh sáng lam chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng trắng đỏ lam đi vào hòa nhập vào thân tâm hành giả, gia trì cho hành giả.


### Phần 14: Trì tâm chú **Kim Cương Tổng Trì** 


Tâm chú: Ôm ben-za ta-la hùm hùm. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Hum), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Đại Lực Kim Cang, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-tê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


### Giới thiệu pháp tướng Kim Cương Tổng Trì 


Kim Cương Tổng Trì có thân sắc màu xanh lam đậm, đội mũ miện, thiên y váy xếp, có đủ loại bảo vật trang sức cho thân ngài. Ngài ngồi trên nguyệt luân hoa sen, hai tay nắm lại, ngón trỏ và ngón cái chạm vào nhau thành vòng tròn, hai tay đặt chéo nhau ở trước ngực, tay trái ở trong tay phải ở ngoài, lòng bàn tay hướng vào trong.

Trong ba thân Pháp - Báo - Ứng thì Kim Cương Tổng Trì là Báo thân Phật, là chủ tôn tôn quý của truyền thừa Đại thủ ấn, biểu trưng cho tướng huệ đức của Đại Nhật Như Lai. Kim Cương Tổng Trì có thân màu xanh lam đậm, tượng trưng cho Phật tính thanh tịnh vĩnh hằng bất biến, tay phải cầm chày kim cang, tay trái cầm chuông kim cang, hai tay bắt chéo nhau trước ngực, ngồi tư thế kiết già, an trụ trên nguyệt luân hoa sen bảo tọa đài sư tử tuyết sơn. 

84 vị đại thành tựu giả của Đại thủ ấn của Ấn Độ là tổ sư của truyền thừa Đại thủ ấn. Các vị đại thành tựu giả này phần đông sống trong nhóm hành giả vĩ đại tại Ấn Độ. Thành tựu giả nổi tiếng trong lịch sử Phật giáo ví dụ có Long Thụ Bồ Tát, Thánh Thiên, v.v… Trong những câu chuyện của họ đầy truyền kỳ, rất nhiều truyền kỳ khiến người ta kinh ngạc, và trong các câu chuyện đầy thú vị có rất nhiều khải thị về thần thông và trí huệ. 84 tổ sư thành tựu Đại thủ ấn đại diện cho mấy trăm năm từ thế kỷ 8 đến thế kỷ 12, đại diện cho truyền thừa mật tục của Phật giáo Ấn Độ được truyền từ đời này sang đời khác.

Tại Ấn Độ cổ xưa, có một vị là Kim Cương Trì Tôn Giả, đã truyền pháp Đại thủ ấn này cho đại thành tựu giả của Ấn Độ vào thời Tống là Tilopa tôn giả (988-1069 sau Công nguyên). Tilopa tôn giả truyền cho Naropa tôn giả, Naropa tôn giả truyền cho Marpa tôn giả, Marpa tôn giả truyền cho Milarepa tôn giả, Milarepa tôn giả truyền cho Gampopa tôn giả, Gampopa tôn giả truyền cho Karmapa Pháp Vương… Đây chính là tổ sư các đời đã truyền thụ truyền thừa tâm pháp vô thượng của tu tập thiền định Đại thủ ấn.

Đại thủ ấn trong tiếng Phạn là Mahamudra, là tâm pháp thành Phật của đại tu hành, còn gọi là pháp tu trì trung đạo, hoàn toàn mượn việc vận dụng đồng thời tâm và kỹ thuật để đạt đến nhất thừa, từ đó mà thấu hiểu tính chân thực của vạn sự vạn vật. Mục đích cuối cùng của người tu trì là thành Phật, bước lên chính đạo, kết quả của con đường đó chính là cảnh giới niết bàn, từ đó trở đi thoát khỏi trói buộc của đại luân hồi sinh tử, hoàn toàn đắc tự tại.

Tu trì pháp Đại thủ ấn phải do Căn bản Truyền thừa Thượng sư quán đảnh và khẩu truyền. Tâm hành giả trước hết phải có sự tương ứng với Thượng sư ở nhân gian, sau đó mới lần lượt tương ứng với các Thượng sư các đời ở trên Thượng sư nhân gian, sự tương ứng như vậy mới có thể thành tựu theo thứ tự. Bởi vì tu pháp Đại thủ ấn nhất định phải nhờ vào sự gia trì của Thượng sư, nhờ thánh tâm của Thượng sư gột rửa phàm tâm của người tu pháp. Sau khi có được sự tương ứng bí mật rồi thì tâm và tâm có sự khế hợp lớn, mới có đại thành tựu.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị về lai lịch vĩ đại và sự thù thắng của Kim Cương Tổng Trì


Kim Cương Tổng Trì chính là Phật ở địa thứ 16, chính là A Đạt Nhĩ Mã Phật, cũng chính là Phổ Hiền Vương Như Lai, còn gọi là Dorje Chang, thuộc về Bản Sơ Phật, đại diện cho bản chất giác ngộ viên mãn giác tính cứu cánh.

Hiển giáo bình thường gọi Bản Sơ Phật là Phổ Hiền Vương Như Lai. Hồng giáo thì gọi là A Đạt Nhĩ Mã Phật. Kim Cương Tổng Trì là tên gọi trong Bạch giáo, hay còn được gọi là Kim Cương Trì. Ngài là vị Bản Sơ Phật đầu tiên, vị Phật sớm nhất, Phật ở địa 16, có thể nói là Phật trong Phật.

Kim Cương Tổng Trì tổng nhiếp tất cả Tam Bảo, tam căn bản của Kim cương thừa, là tổng ngọn nguồn gia trì của truyền thừa Kim cương thừa, là tổng tổ sư của Mật giáo.

Kim Cương Tổng Trì có sắc thân màu lam đậm, tượng trưng cho Phật tính thanh tịnh vĩnh hằng bất biến, tính Không, hai tay ngài cầm chày kim cang, hai tay bắt chéo nhau đặt trước ngực, ngồi tư thế kiết già trên nguyệt luân hoa sen bảo tọa trên bục sư tử tuyết sơn. Thủ ấn của ngài là hai tay bắt chéo nhau, tay cầm chày kim cang thì như thế này, đan chéo nhau, ngón cái và ngón trỏ chạm vào tạo thành khuyên tròn, còn các ngón khác thì nắm lại. Chú ngữ của ngài là “Om benza tala hum hum”. Thật ra “tala” chính là viết tắt của A Đạt Nhĩ Mã Phật. 

Vốn dĩ ngài không có hình tướng, nhưng nếu tạo ra hình tướng của ngài thì hình tướng ấy có màu xanh lam, bởi vì bầu trời có màu xanh lam. Cho nên lấy màu sắc của bầu trời tượng trưng cho thân tướng của A Đạt Nhĩ Mã Phật Kim Cương Tổng Trì, tất cả sự trang nghiêm của Phật đều ở trên người Bản Sơ Phật, pháp lực của ngài, chú ngữ của ngài và tất cả mọi thứ đều là lớn nhất.

Trong Mật giáo, Kim Cương Tổng Trì được gọi là Bản Sơ Phật, ý nghĩa của Bản Sơ Phật chính là “ban đầu đã có”, chính là vị Phật sớm nhất. Dưới Kim Cương Tổng Trì có Ngũ phương Ngũ Phật — trung ương Tỳ Lô Giá Na Phật, đông phương A Súc Phật, tây phương A Di Đà Phật, nam phương Bảo Sinh Phật, bắc phương Bất Không Thành Tựu Phật, Ngũ Phật này gọi là Ngũ Kim Cương Trì.

Kim Cang Tát Đỏa là Pháp Vương Tử của Ngũ Phật, cho nên cũng là Kim Cương Trì thứ sáu. Kim Cang Tát Đỏa lại có ba thân: Kim Cang Thủ, Kim Cang Tâm, Kim Cang Tát Đỏa, ba vị hợp lại thì thành một vị, còn Kim Cang Tát Đỏa phân ra thì có ba vị.

Kim Cang Tát Đỏa thì tương đối “văn”, đại diện cho bản thân Kim Cương Trì, còn Kim Cang Thủ Bồ Tát thì tương đối uy mãnh, đại diện cho pháp lực, Kim Cang Tâm thì đại diện cho ý, ba vị hợp lại thì gọi là Kim Cương Trì thứ sáu. 

Trong Mật giáo, do Kim Cang Tát Đỏa truyền pháp cho Long Thụ Bồ Tát, Long Thụ Bồ Tát chính là Kim Cương Trì thứ bảy.

Từ Bản Sơ Phật (Kim Cương Trì thứ nhất) - Ngũ Phương Phật (Ngũ Kim Cương Trì) - Kim Cang Tát Đỏa (Kim Cương Trì thứ sáu) - Long Thụ Bồ Tát (Kim Cương Trì thứ bảy). 

Còn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Thánh Tôn cũng chính là Kim Cương Trì có được chân truyền trực tiếp của Kim Cang Tát Đỏa, thuộc về Kim Cương Trì của Kim Cang Tát Đỏa, cũng chính là Kim Cương Trì thứ bảy. Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn lại truyền cho Kim cương Thượng sư của Chân Phật Tông thì các Thượng sư này chính là Kim Cương Trì thứ tám.

Tất cả các Kim cương Thượng sư đều được gọi là Kim Cương Trì, mỗi một vị Thượng sư truyền pháp, mỗi một Thượng sư quán đảnh đều gọi là Kim Cương Trì, tức là đại diện cho Kim Cang Tát Đỏa xuất hiện truyền pháp, tương đương với ứng hóa thân của Kim Cang Tát Đỏa.


### Thứ tự truyền thừa trí huệ chân thực của Chân Phật Tông


Kim Cương Tổng Trì — Ngũ Phương Phật — Kim Cang Tát Đỏa — Liên Hoa Đồng Tử (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) — Chân Phật Tông Kim cương Thượng sư.

Kim Cương Tổng Trì là vị chủ tôn được truyền thừa Đại Thủ Ấn tôn sùng, tượng trưng cho đức tướng trí huệ của Đại Nhật Như Lai. 

Trong bài viết “Bí mật về truyền thừa Đại Thủ Ấn” trong cuốn văn tập số 234 “Lư Thắng Ngạn và những bí mật lớn”, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đã tiết lộ truyền thừa của pháp Đại Thủ Ấn như sau:

Bản Sơ Phật (truyền nhân thứ nhất) — Bảo Ý Đồng Tử (Liên Hoa Đồng Tử) — Bảo Thượng Đồng Tử — Saraha — Niguma — Tilopa — Naropa — Marpa — Milarepa — Gampopa — Đại Bảo Pháp Vương thứ nhất Düsum Khyenpa, cứ thế truyền cho đến Đại Bảo Pháp Vương thứ mười bảy Ogyen Trinley Dorje và Trinley Thaye Dorje.

Kim Cương Tổng Trì truyền pháp Đại Viên Mãn có truyền thừa như sau:

Truyền thừa thiên thượng: Phổ Hiền Vương Như Lai — Ngũ phương Ngũ Như Lai — Kim Cang Tát Đỏa — Kim Cang Thủ Bồ Tát — Thắng Tâm Thiên Tử.

Truyền thừa nhân gian: Cực Hỷ Kim Cang — Diệu Cát Tường Hữu — Cát Tường Sư Tử — Tỳ Lô Giá Na — Liên Hoa Sinh Đại Sĩ — Trisong Detsen (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn), Yeshe Tsogyal.

Kim Cương Tổng Trì hai tay cầm chày kim cang đặt trước ngực, còn Kim Cang Tát Đỏa là một tay cầm chày kim cang, một tay cầm chuông kim cang.

Kim Cương Tổng Trì là vị Phật đầu tiên hiển hiện trong Kim cương thừa, là vị truyền pháp sớm nhất, là tổng tổ sư của Mật giáo, pháp lực vô cùng, cực kì vĩ đại. Ngài có thể khiến cho tất cả những người quán đảnh đều được hoàn tịnh, bởi vì ngài là vị Phật cao nhất!

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/kim-dien-kim-mau-niem-tung-phap.md
# Title: Kim Diện Kim Mẫu niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_cdc90db67379d5d03d04e6a1ce933284.jpg)



## Kim Diện Kim Mẫu niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Kim Diện Kim Mẫu.

(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Namo amitābhāya tathāgatāya
Tadyathā 
Amṛtod-bhave
Amṛta-siddhaṃ bhave 
Amṛta-vikrānte 
Amṛta-vikrānta 
Gāmine gagana 
Kīrta-kare svāhā 


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_aa972674a12a28c9109bd1ecbfdb30f0.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn ****Kim Diện Kim Mẫu**

Hai tay kết thủ ấn Kim Mẫu. Đầu tiên hai tay đan nội phộc, hai ngón giữa dựng thẳng lên chạm vào nhau, hai ngón trỏ giơ lên mở ra hai bên, hai ngón cái giơ thẳng đặt cạnh nhau. Giữ thủ ấn trước ngực.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời trong vạn dặm không mây, một vầng mặt trăng từ dưới biển nhô lên không trung, ở chính giữa vầng mặt trăng có một chủng tự chữ Hum (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu vàng kim tỏa ánh sáng trắng mạnh mẽ.

(2) Chữ Hum ở giữa vầng mặt trăng quay tròn hóa thành Kim Diện Kim Mẫu hiện tướng thiếu nữ thanh xuân, đầu đội mũ phượng, tay phải cầm phất trần, tay trái cầm quả đào tiên hoặc gậy như ý, khuôn mặt mỉm cười, pháp tướng trang nghiêm, ánh mắt hiền từ nhìn chúng sinh, ngồi trên cỗ xe cửu phụng.

(3) Quán tưởng cây phất trần và gậy như ý trong tay của Kim Mẫu phóng ánh sáng trắng lên cao, trở thành hình vòng cung chiếu đến đỉnh đầu và đi vào thân hành giả Mật tông, thân hành giả trở nên trong suốt như thủy tinh, nghiệp chướng đều tiêu trừ.

(Hoặc quán tưởng thiên tâm của Kim Mẫu phóng ra một vệt ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả. Từ họng Kim Mẫu phóng ra một vệt ánh sáng đỏ chiếu thẳng đến họng của hành giả. Tâm luân của Kim Mẫu phóng ra một vệt ánh sáng xanh lam chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng trắng, đỏ, lam tan vào thân tâm của hành giả.)


### Phần 14: Trì tâm chú Kim Diện Kim Mẫu


Tâm chú: Ôm chin-mủ su-ta-li sưa-na sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Hum), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Kim Diện Kim Mẫu, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.


![image](/img/img_bc40e924850e7432cf5b8f63fe489d90.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Kim Diện Kim Mẫu


Diêu Trì Kim Mẫu là Vô Thượng Kim Tiên, và Kim Diện Kim Mẫu là một vị hóa thân chủ yếu nhất của Kim Mẫu. Kim Diện Kim Mẫu hiển hiện là thiếu nữ thanh xuân một mặt hai tay hai chân, khuôn mặt màu vàng kim, pháp tướng mỹ lệ trang nghiêm, ánh mắt hiền từ nhìn chúng sinh, đầu đội mũ phượng, tay phải cầm phất trần, tay trái cầm đào tiên hoặc gậy như ý, ngồi đoan trang trên cỗ xe cửu phụng.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị về Kim Diện Kim Mẫu 


Tại Ngọc Hoàng Cung, tôi đã được Diêu Trì Kim Mẫu mở thiên nhãn. Buổi tối cùng ngày, ngài đã dẫn tôi đi du hành toàn bộ thế giới vô hình, tất cả mọi thế giới vô hình tôi đều đã du hành qua. Ngài dẫn tôi đi xem tiền kiếp của tôi, ánh sáng trắng vô cùng chói lọi, kim quang lấp lánh, nghìn tia khí cát tường, Liên Hoa Đồng Tử không có hình tướng. Diêu Trì Kim Mẫu ở bên cạnh nói với tôi: “Tiền kiếp của anh chính là Liên Hoa Đồng Tử.” 

Thật ra, có một hôm ngài lại đưa tôi đến Diêu Trì Tiên Uyển. Diêu Trì Kim Mẫu ngồi trên pháp tọa, ngài nói với tôi: “Kim Mẫu chủ yếu chính là Kim Diện Kim Mẫu.” Tôi đứng trước mặt Kim Diện Kim Mẫu, ngài cầm một cái khay, trên khay có ba viên thuốc, viên thứ nhất màu đen, viên thứ hai màu đỏ, viên thứ ba màu trắng. Ngài đặt ba viên thuốc này trên khay và đưa cho tôi, nói với tôi rằng: “Anh chỉ được chọn một viên.” Tôi nói tôi muốn ba viên. Ngài nói: “Không được, anh chỉ có thể chọn một viên thôi.” Tôi nhìn viên màu đen, nó đen bóng; viên màu trắng, trắng bàng bạc; viên màu đỏ thì ngược lại, lại có một chút ánh sáng của sự hân hoan, tôi liền lấy viên thuốc màu đỏ. Diêu Trì Kim Mẫu nói: “Rất tốt, sau này anh phải quảng độ chúng sinh.” Tôi liền hỏi ngài: “Màu đen thì sao?” Diêu Trì Kim Mẫu đáp: “Viên màu đen là phải độ người âm. Viên màu đỏ là âm dương đều độ, quảng độ.” Tôi lại hỏi: “Thế còn viên màu trắng?” Ngài nói: “Đó là muốn anh vào núi bế quan chăm chỉ tu hành, tự mình thành tựu.” 

Kim Diện Kim Mẫu là vị Kim Mẫu số một, ngài có thể khiến bạn “chăm lo Phật Tổ cũng phải chăm lo bao tử” [một câu thành ngữ phổ biến ở Đài Loan, ý nghĩa là tu hành cần phúc đức tư lương, phải ăn no trước thì mới có thể tu hành]. Mọi người biết thủ ấn của Diêu Trì Kim Mẫu đại diện cho thân thể thanh tịnh, chú ngữ của ngài đại diện cho khẩu thanh tịnh “Ôm chin-mủ su-ta-li sưa-na sit-đi hùm”. Bạn có thể quán tưởng Diêu Trì Kim Mẫu đầu đội mũ phượng và khuôn mặt ngài màu vàng kim, tay phải cầm phất trần, tay trái cầm gậy như ý hoặc đào tiên đều được. Chỉ cần bạn và ý thức tối thượng hợp nhất, trời người hợp nhất thì bạn chính là tối thượng, bạn cũng có thể thành Phật, bạn cũng có thể thành Bồ Tát, bạn cũng có thể thành Kim cang, thành Hộ pháp, thành Không hành, thành chư Thiên, mọi người cùng đều thành tựu. 


![image](/img/img_31cbc7fa524e02a626a2c896798b915e.jpg)


Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/ky-long-bach-tai-than-niem-tung-phap.md
# Title: Kỵ Long Bạch Tài Thần niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_88a8048f3f20efadef3e0a0a7fb00c4c.jpg)



## Kỵ Long Bạch Tài Thần White Jambhala niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Kị Long Bạch Tài Thần.

(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_678474d4d404f3fb9265812225bc3458.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn ****Kị Long Bạch Tài Thần**

Hai tay ngón cái đè lên ngón áp út. Ngón trỏ, ngón giữa và ngón út giơ thẳng, lòng bàn tay hướng ra ngoài. Giữ thủ ấn trước ngực.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Quán tưởng hư không, trong hư không có nguyệt luân, trong nguyệt luân có chủng tự chữ “Jam” (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu trắng, trong chữ Jam xuất hiện Bạch Tài Thần. 

(2) Bạch Tài Thần có thân màu trắng, một mặt, hai tay, ba mắt, tóc đỏ, có lưới trùm tóc trang nghiêm, đội  mũ ngũ Phật nhỏ, thân lấp lánh hào quang. Thân thể thấp lùn, bụng to, cưỡi trên rồng xanh. Tay phải cầm gậy như ý, tay trái cầm túi hoặc châu báu và kẹp đinh ba kachangka. Có bốn Không Hành Mẫu ở xung quanh, trên cao nhất là Quan Thế Âm Bồ Tát. 

(2) Quán tưởng từ bên trong bát nước cúng hóa thành rồng màu xanh lục, rồng ở trong hư không phun nước tắm để tắm cho Bạch Tài Thần. 

(3) Dùng thủ ấn Bạch Tài Thần chấm vào trong cốc nước tắm, sau đó chấm lên miệng mình một chút, biểu thị tài bảo này là do Bạch Tài Thần ban cho.

(4) Tiếp theo, vẫn dùng tay chấm vào nước tắm rồi búng ngón tay để vẩy nước về phía Bạch Tài Thần ở giữa bàn cúng, ý nghĩa là tắm cho Tài Thần. Có bảy bát nước cúng thì búng tay vảy nước bảy lần, mỗi lần niệm một biến chú tắm gội:

Om pema chuata aerye jambhala shataya layitapen balingta kaka kahei kahei.

Khi niệm chú và búng ngón tay vẩy nước, quán tưởng Bạch Tài Thần đang tắm gội.

(5) Mỗi lần búng ngón tay vẩy nước, quán tưởng đồng thời tiền bạc châu báu trong hư không rơi xuống làm đầy ắp cả nhà.


### Phần 14: Trì tâm chú Bạch Tài Thần


Tâm chú: Ôm pê-ma chua-ta a-li-ya chân-pa-la sết-ta-ya hùm pây. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Jam), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Kị Long Bạch Tài Thần, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 

**Tụng tán**

Mắt thấy chúng sinh gặp cảnh khổ
Luân hồi cứu tế nước mắt rơi
Kim thân màu trắng như núi tuyết
Không Hành Mẫu ở bốn xung quanh
Hộ trì tài phúc bậc Thánh Tôn
Nay con quy mệnh và đảnh lễ.


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.


![image](/img/img_31b16ee4f19d5a7383687eb9c44b199f.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Kỵ Long Bạch Tài Thần White Jambhala


Bạch Tài Thần có thân màu trắng, một mặt, hai tay, ba mắt, tóc đỏ, có lưới trùm tóc trang nghiêm, đội  mũ ngũ Phật nhỏ, thân lấp lánh hào quang. Thân thể ngài thấp lùn, bụng to, cưỡi trên rồng xanh. Tay phải cầm gậy như ý, tay trái cầm túi hoặc châu báu và kẹp đinh ba kachangka. Có bốn Không Hành Mẫu ở xung quanh, trên cao nhất là Quan Thế Âm Bồ Tát, là bản địa của ngài.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị công đức và khẩu quyết tu trì pháp Kỵ Long Bạch Tài Thần 


Kỵ Long Bạch Tài Thần quan trọng nhất là đàn thành của ngài. Kỵ Long Bạch Tài Thần có màu trắng, ngài cũng được gọi là Jambhala, Hoàng Tài Thần cũng là Jambhala. Kỵ Long Bạch Tài Thần là một vị thần thuộc cung Thủy Tinh trong Tứ Thiên Vương Thiên ở khoảng lưng chừng núi Tu Di, sở thích của Kỵ Long Bạch Tài Thần chính là tắm nước nóng. Cho nên, khi cúng dường Bạch Tài Thần phải dùng bảy bát nước xà phòng (nước tắm gội). Thế nào gọi là nước xà phòng? Bạn hòa một ít sữa tắm vào bát nước cho nổi bọt thì gọi là nước xà phòng. Nước xà phòng có tác dụng gì? Chính là để cúng cho Thần minh tắm gội, Kỵ Long Bạch Tài Thần thích nhất là tắm gội. Tại đàn thành của ngài, bạn nhất định phải cúng bảy bát nước xà phòng, ngoài ra còn phải bày thêm bảy miếng thủy tinh, đây là những thứ chủ yếu nhất, sau đó mới cúng những thứ khác. 

Tu Kỵ Long Bạch Tài Thần nhất định phải thờ cúng Kỵ Long Bạch Tài Thần, vậy thì đầu tiên phải chuẩn bị một chiếc bàn hình tròn, chiếc bàn này phải hợp với vóc dáng của mình, không cần phải quá cao. Chính giữa chiếc bàn tròn này đặt một chiếc đĩa màu trắng hoặc bạc, thờ Bạch Tài Thần màu trắng ở trung tâm của chiếc đĩa bạc. Xung quanh đặt bảy cốc nước xà phòng thơm dùng làm nước tắm, trong mỗi cốc nước lại bỏ vào một miếng thủy tinh, loại có hình tam giác giống như kim tự tháp. Bạch Tài Thần sống trong cung Thủy Tinh ở núi tuyết, bởi vì toàn thân ngài đều là màu trắng, cho nên bạn dùng miếng thủy tinh có hình tam giác tượng trưng cho cung Thủy Tinh, thủy tinh này có từ tính.

Cúng phẩm cho Bạch Tài Thần là hai trắng ba ngọt. Hai trắng là bột mì (bột mì đã rang chín), sữa tươi. Ba ngọt là đường trắng, đường phèn và mật ong. Thế còn nếu bạn muốn bày hương hoa đèn trà quả - năm món cúng, hay bảy món cúng, tám món cúng đều được, như cách bày đàn pháp thông thường.

Khi chúng ta làm quán tưởng phải kết thủ ấn Kỵ Long Bạch Tài Thần. Thật ra thủ ấn này cũng là ấn búng nước, tức là dùng thủ ấn này để búng nước, chấm nước rồi búng ra nước tắm. Trong quán tưởng này có điểm quan trọng, đó là từ trong nước cúng sinh ra một con rồng màu xanh lục, rồng ở trong hư không phun nước tắm lên Bạch Tài Thần. 

Có một điểm đặc biệt khi tu pháp này, đó là bạn dùng thủ ấn với ngón tay cái và ngón áp út chạm vào nhau, dùng hai ngón tay này chấm vào nước tắm, chấm xong thì đầu tiên là chấm lên miệng mình một chút, sau đó tắm cho Bạch Tài Thần bằng cách búng ngón tay để vẩy nước đi, vẩy nước đi tức là tắm cho Bạch Tài Thần, ý nghĩa là như vậy. Với bảy cốc nước phải làm bảy lần búng nước, mỗi lần vẩy nước đi thì niệm một lần chú tắm gội, vậy tổng cộng là niệm bảy biến. Chú tắm gội là “Om pema chuata aerye jambhala shataya layitapen balingta kaka kahei kahei.”

Khi bạn tu xong pháp Kỵ Long Bạch Tài Thần, bạn phải dùng hai tay kết thủ ấn búng nước, đầu tiên là chấm một ít nước tắm lên miệng mình và chính bạn cũng nuốt vào, biểu thị rằng tiền bạc không chảy ra bên ngoài, chính mình phải nhấp một miếng. Sau đó vẩy nước để mời Bạch Tài Thần tắm. Bảy cốc nước này không được đổ đi, chỉ có thể vẩy ở trong nhà mình. Khi bạn tu pháp xong, khi vẩy nước, bạn hãy quán tưởng Kỵ Long Bạch Tài Thần đang tắm, sau đó quán tưởng nước vẩy ra biến thành tiền, tờ hai nghìn Đài tệ hoặc tờ một trăm đô la Mĩ, từng xấp từng xấp tiền từ hư không rơi xuống, lấp đầy cả ngôi nhà bạn. Đây chính là cách tu pháp Bạch Tài Thần, để cho tài phúc của bạn đầy ắp, hạnh phúc mĩ mãn. Nếu bạn quán tưởng là vàng rơi xuống, từng thỏi từng thỏi vàng từ hư không rơi xuống lấp đầy bên trong ngôi nhà bạn thì bạn sẽ biến thành chủ nhân của ngôi nhà vàng. Nhưng khi quán tưởng thì đừng quán tưởng một tờ, mà phải quán tưởng một xấp tiền, đặc biệt nếu quán tưởng là thỏi vàng thì bạn đừng quán tưởng vàng rơi trên đầu mình, thế thì vàng rơi xuống sẽ đè bẹp bạn đó, phải quán tưởng xa xa một chút. Nước tắm này phải vẩy vào khắp nơi trong nhà bạn.

Bài kệ tán thán Kỵ Long Bạch Tài Thần là:
*Mắt thấy chúng sinh gặp cảnh khổ
Luân hồi cứu tế nước mắt rơi
Kim thân màu trắng như núi tuyết
Không Hành Mẫu ở bốn xung quanh
Hộ trì tài phúc bậc Thánh Tôn
Nay con quy mệnh và đảnh lễ.*

Bạn phải tán dương Bạch Tài Thần, rồi sau đó làm hồi hướng: 
*Hồng Quán Thánh Miện đại thượng sư
Gia trì giáng sinh Bạch Tài Thần
Chúng sinh chúng con nhiều vô lượng
Phú quý ban cho đại cát tường.*

Nếu bạn niệm đủ 100.000 biến chú Quan Thế Âm Bồ Tát rồi sau đó tu pháp Kị Long Bạch Tài Thần thì rất nhanh tương ứng bởi vì có bản địa, cái gọi là bản địa tức là nguồn gốc của ngài.

Pháp Kỵ Long Bạch Tài Thần này là sư phụ Liễu Minh Hòa Thượng nói với tôi, ngài nói quan trọng nhất của pháp này là nước tắm. Bình thường khi chúng ta tu pháp này phải chấm một ít nước tắm lên đầu lưỡi và nuốt vào, rồi lại dùng nước này để tắm cho Kỵ Long Bạch Tài Thần. Ý nghĩa của việc nuốt xuống này chính là gia tăng phúc khí của bản thân, phúc khí phúc phần trong thân thể mình. Sau khi tu pháp này thì cấp trên của bạn nhìn bạn sẽ rất vừa mắt, sếp sẽ cảm thấy bạn làm việc rất tốt, sẽ tăng lương cho bạn. Sau khi gia tăng phúc khí của bạn rồi thì bạn làm kinh doanh buôn bán cũng sẽ rất suôn sẻ, thuận lợi.

**Pháp dùng nước tắm để xin số:**

Sau khi bạn cúng Kỵ Long Bạch Tài Thần xong thì nước tắm tuyệt đối không được đổ đi, phải gom nước tắm lại, đây chính là một pháp bí mật mà Liễu Minh Hòa Thượng dạy. Đầu tiên bạn tu pháp Kỵ Long Bạch Tài Thần, cảm ứng thấy Kị Long Bạch Tài Thần giáng lâm rồi, bạn dùng một cái chậu rửa mặt lớn một chút, rồi bạn hãy viết lên thành chậu các con số và đổ đầy nước tắm. Tu 7 đàn, 49 đàn, sau đó bạn dùng chậu rửa mặt màu trắng để đựng nước tắm của các lần tu vào đó, rồi bỏ thêm vào một mảnh gỗ, gỗ sẽ nổi trên mặt nước. Rồi cắm thêm một ngọn nến trắng lên đáy chậu, bên dưới bạn phải dùng sáp để gắn nến vào vì nó sẽ trơn. Để cho nước hoàn toàn yên lặng rồi bạn thắp nến.

Sau khi bạn tu xong 7 đàn hoặc 49 đàn thì bạn cầu nguyện Bạch Tài Thần, chỉ cần nói chân phương thôi: “Cầu nguyện linh cảm, mong Tuyết Sơn Kỵ Long Bạch Tài Thần linh cảm nhất hạ giáng, cầu nguyện linh quang Bạch Tài Thần hộ trì, con hi vọng sau khi có được tài phúc thì sẽ làm sự nghiệp từ thiện.” Khi bạn cầu nguyện thì hãy cực kì thành tâm thành kính, nếu một khi có linh giáng xuống thì ánh nến sẽ càng sáng hơn, mảnh gỗ trong chậu nước sẽ di động, sẽ chạy qua bên này bên kia, di chuyển đến con số đầu tiên, bạn hãy ghi lại con số đầu tiên này. Sau đó bạn lại đem mảnh gỗ về lại chính giữa, rồi bạn lại cầu nguyện, lại thỉnh cầu con số thứ hai, rồi lại thỉnh cầu con số thứ ba, thỉnh cầu con số thứ tư. Bạn muốn xin sáu con số thì bạn thỉnh cầu sáu lần. Lưu ý chậu nước này hãy mua một chậu nước mới toanh, và chuẩn bị mảnh gỗ mới, cây nến mới, rồi bạn hãy cầu nguyện đầy kiền thành.

**Pháp dùng nước tắm để đòi nợ:** 

Mọi người nợ tiền bạn mà không trả thì phải làm sao? Bạn cũng dùng nước tắm và cầu nguyện Kỵ Long Bạch Tài Thần, thỉnh cầu Kỵ Long Bạch Tài Thần giáng quang gia trì, đọc tên người nào đó sống ở đâu, người đó nợ bạn bao nhiêu tiền, hi vọng khi bạn đi gặp họ thì họ có thể trả tiền cho bạn. Đây là phương pháp đòi nợ. Lại đem nước tắm đã cầu nguyện này hòa một ít vào trong nước uống, rồi đem nước này nghĩ cách nào đó để cho đối phương uống, chỉ cần đối phương uống nước này vào thì Kỵ Long Bạch Tài Thần sẽ đi vào trong tâm họ, họ sẽ phát khởi lương tâm.

**Pháp dùng nước tắm đào tài bảo:**

Bạn tìm một cành trúc xanh và chặt nó xuống, số lượng là bội số của 7, bởi vì bội số của 7 là con số viên mãn. Ở đầu bó trúc, bạn buộc một miếng vải trắng, vải trắng đó lại chấm vào trong nước tắm, và bạn cũng phải cầu nguyện. “Hi vọng Kỵ Long Bạch Tài Thần có thể giúp con tìm được kho báu.” Sau đó bạn cầm bó trúc đó đi, khi bạn tìm được đến nơi có kho báu thì tay của bạn sẽ bị tê, sẽ tê rần. Ở nơi có từ trường của từ tính thì kho báu sẽ ở chỗ đó. Đây cũng là một phương pháp đào kho báu. 

Và không chỉ có những kho báu như vậy, ở Tây Tạng, người ta lưu truyền pháp bảo nham truyền, pháp bảo nham truyền là cái gì ư? Chính là các vị tổ sư ngày xưa đã đem pháp bảo Mật giáo rất trân quý đặt vào trong hang đá và phong kín lại, phong kín trong đất nước lửa gió không khí. Bạn thỉnh cầu Tuyết Sơn Kỵ Long Bạch Tài Thần đi tìm ra những pháp bảo ở trong hang động này thì cũng theo phương pháp này để mà tìm kiếm.

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/lien-hoa-dong-tu-can-ban-thuong-su-tuong-ung-phap.md
# Title: Liên Hoa Đồng Tử Căn bản Thượng sư tương ứng pháp
---

![image](/img/img_51a57734eca0579236407f55201fce52.jpg)



## Liên Hoa Đồng Tử Căn bản Thượng sư tương ứng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì đồng tu.

- Quán tứ vô lượng tâm.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 
Thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật đa.


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tát cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Mặc giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Phụng thỉnh bát đại Bồ Tát
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Kim Cang Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Diệu Cát Tường Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.

Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ thất Phật. Vị lai hiền kiếp thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Niệm danh hiệu Phật sáu phương
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyệt Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Hết thảy chúng sinh trung ương, chư vị trong Phật giới, trú ngụ trên mặt đất, cho đến tại không trung, thương lo cho tất cả chúng sinh. Ai cũng an ổn tốt lành. Ngày đêm tu trì. Tâm thường cầu tụng kinh này. Diệt được khổ sinh tử. Tiêu trừ hết độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Tụng bản kinh không ngừng. Thất Phật Thế Tôn. Liền nói chú sau:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-lô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-ki-a-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha” (7 lần)

Mười phương Quan Thế Âm. Hết thảy chư Bồ Tát.
Đã thề cứu chúng sinh. Xướng danh tất giải thoát.
Nếu gặp người trí tuệ. Ân cần mà giảng nói.
Lại có đủ nhân duyên. Đọc tụng không ngơi nghỉ.
Tụng kinh tròn nghìn biến. Niệm niệm tâm không dừng.
Gặp lửa cháy chẳng sao. Việc đao binh cũng thoát.
Nóng giận thành vui vẻ. Chết rồi hóa sống vui.
Đừng nghĩ rằng không đúng. Chư Phật chẳng nói chơi.
Cao Vương Quan Thế Âm. Cứu được hết khổ nạn.
Lúc khó khăn nguy cấp. Người chết còn thành sống.
Chư Phật chẳng nói đùa. Vì vậy nên đảnh lễ.
Niệm tụng trọn nghìn lần. Tội nặng đều tiêu diệt.
Người có phúc tín tâm. Hãy chuyên tâm đọc tụng.
Nguyện mang công đức này. Gửi tới hết chúng sinh.
Tụng tròn một nghìn biến. Tội nặng đều tiêu diệt.
Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (Hết)!


### Phần 8: Niệm thêm chú Vãng sinh


Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha.  

(Có thể niệm thêm Chân Phật Kinh.)


### Phần 9: Cầu thỉnh Liên Hoa Đồng Tử


Tay kết thủ ấn Liên Hoa Đồng Tử như sau:


![image](/img/img_d4e32427f0d66a2f44d346aa0995942d.jpg)


Tự tính liên hoa pháp tính thân
Tay phải thuyết pháp trái cầm hoa
Hóa thân biến khắp nghìn vạn cảnh
Thiên y bảo sức diệu trang nghiêm
Một thân đắc chứng Đạo Hiển Mật
Truyền thừa dung hợp trân quý nhất
Chân Phật Mật Pháp dạy chúng sinh
Phổ độ quần sinh không bỏ sót.

**Quán tưởng tam quang bao trùm:**

Kết thủ ấn Căn bản Truyền thừa Thượng sư (Liên Hoa Đồng Tử): 
Tay phải kết ấn thuyết pháp: ngón tay cái chạm vào ngón giữa, các ngón tay khác dựng thẳng, lòng bàn tay hướng ra ngoài, đặt trước ngực.
Tay trái kết ấn cầm hoa sen: ngón cái chạm vào ngón trỏ, ngón út dựng thẳng, hai ngón tay còn lại cong gập vào trong, lòng bàn tay hướng vào trong, đặt trước ngực, giống như cầm hoa sen.

**Quán tưởng:**

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời trong vạn dặm không mây, một vầng mặt trăng từ dưới biển nhô lên không trung, ở chính giữa vầng mặt trăng có một chủng tự chữ Hum (tiếng Phạn) màu trắng phóng ra ánh sáng trắng.

(2) Chữ Hum ở giữa vầng mặt trăng quay tròn hóa thành Căn bản Truyền thừa Thượng sư, ngồi ngay ngắn trên đài hoa sen trắng, nét mặt khẽ cười, pháp tướng trang nghiêm.

(3) Thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một đường ánh sáng trắng, chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả. Từ họng của Thượng sư phóng ra một đường ánh sáng đỏ, chiếu thẳng đến họng của hành giả. Từ tâm luân của Thượng sư phóng ra một đường ánh sáng xanh lam, chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba đường ánh sáng trắng, đỏ, lam đi vào thân tâm của hành giả.


### Phần 10: Trì tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư (Liên Hoa Đồng Tử)


Cầm chuỗi hạt quán tưởng:

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

Chú ngữ: Chú dài hoặc chú ngắn, niệm 108 biến.

Ôm a hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lián-shâng sit-đi hùm. (Chú dài)
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (Chú ngắn)


### Phần 11: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Hum), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Bổn tôn Liên Sinh, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 12: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 


### Phần 13: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 14: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 15: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 16: Hồi hướng


Cung kính Liên Sinh Thánh Tôn pháp.
Một phái Chân Phật giúp chúng sinh.
Niệm chú sinh về Song Liên Trì.
Thập bát Liên Hoa đến hóa sinh.
Bí mật vô thượng và hiếm có.
Nay con tu trì cúng dường hết.
Phát lời thề nguyện trong thâm tâm
Mong con sớm đăng Phật địa này.
Thỉnh cầu Thánh Tôn gia trì lực.
Ban cho quán đảnh liên hoa sinh.
Quảng đại viên mãn đắc tự tại.
Độ mình độ người đến Phật quốc.

Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. xin đem công đức này hồi hướng. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 17: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 18: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


![image](/img/img_13472257aa0140abd1d1aadc9353a309.jpg)



![image](/img/img_e7fd17f37456e3cc905a8ae98cd1f11a.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Liên Hoa Đồng Tử


Liên Hoa Đồng Tử đội mũ Ngũ Phật (mũ Pháp Vương), tay phải kết ấn thuyết pháp, tay trái kết ấn cầm hoa sen, ngồi tư thế kim cương kiết già ngay ngắn trên pháp tọa hoa sen trắng, nét mặt tươi cười, pháp tướng trang nghiêm, thân tỏa ra ánh sáng trân quý.


### Liên Sinh Hoạt Phật khai thị về lai lịch thù thắng của Liên Hoa Đồng Tử và khẩu quyết tu pháp:


Liên hoa - biểu thị cho sự thanh tịnh, sinh ra từ bùn nhơ mà không ô nhiễm.
Đồng tử - biểu thị cho sự thuần khiết, biểu thị pháp thân thanh tịnh.

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn vào năm 26 tuổi được Diêu Trì Kim Mẫu mở thiên nhãn. Đêm hôm đó, ngài đã xuất thần du lịch đến Tây phương Cực Lạc tịnh thổ, tận mắt nhìn thấy Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử tỏa ánh sáng hào quang chói lọi. Lúc này bên tai ngài vang lên âm thanh nói: Ngài chính là Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử tái xuất!

Còn lai lịch của Liên Hoa Đồng Tử là vị Phật ở địa thứ 13, nguồn gốc của ngài đến từ Đại Nhật Như Lai, và ở cùng với Đại Nhật Như Lai chính là Phật Nhãn Phật Mẫu. Đôi mắt của Phật Nhãn Phật Mẫu hóa thành Ma Ha Song Liên Trì (2 hồ sen lớn). A Di Đà Phật là chủ tôn của Tây phương Cực Lạc thế giới, Liên Hoa Đồng Tử chính là chủ tôn của Ma Ha Song Liên Trì. A Di Đà Phật hóa thân thành Liên Hoa Đồng Tử, Liên Hoa Đồng Tử lại ứng hóa thành Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.

Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử tức là hóa sinh của tất cả Phật nhãn đại kim cương cát tường, tất cả Phật Mẫu tâm tôn. Phật Nhãn Phật Mẫu chính là hóa sinh của Ngũ Phương Phật, cũng chính là hóa sinh của nguyên thủy trung ương Phật Đại Nhật Như Lai. Liên Hoa Đồng Tử là tên gọi chung của 18 vị Liên Hoa tôn giả ở tại Ma Ha Song Liên Trì. Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử là vị đứng đầu của 18 vị Liên Hoa tôn giả. Ngoài 18 vị Liên Hoa tôn giả này ra, còn có vô tận vô lượng quyến thuộc của Liên Hoa Đồng Tử.

Vì vậy, truyền thừa Chân Phật Tông chính là: Đại Nhật Như Lai - Phật Nhãn Phật Mẫu - A Di Đà Phật - Liên Hoa Đồng Tử - Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.

Còn 3 Bổn tôn của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chính là: A Di Đà Phật, Diêu Trì Kim Mẫu, Địa Tạng Bồ Tat. Chính là thân của Địa Tạng Bồ Tát, khẩu của A Di Đà Phật, ý của Diêu Trì Kim Mẫu, biến hóa thân của thân khẩu ý. Đó là ứng hóa của tam thân hợp nhất.

Vào thời nhà Đường, đã có lưu truyền bài kệ Liên Hoa Đồng Tử, cho nên Liên Hoa Đồng Tử là đến từ Cực Lạc thế giới. Liên Hoa Đồng Tử cũng chính là hóa thân của A Di Đà Như Lai.

**Liên Hoa Đồng Tử có lai lịch và quả vị thù thắng chí cao vô thượng, xin được liệt kê ra như sau:**

1. Vào thời đại của Đại Uy Đức Vương, do Bảo Ý Đồng Tử và Bảo Thượng Đồng Tử đã dẫn độ Đại Uy Đức Vương đến chỗ của Kim Quang Phật, do Kim Quang Phật dạy dỗ Đại Uy Đức Vương thành đạo, và Đại Uy Đức Vương chính là tiền thân của Phật Thích Ca Mâu Ni. Bảo Ý Đồng Tử, Bảo Thượng Đồng Tử đều là Liên Hoa Đồng Tử. Vì thế, người dẫn độ Phật Thích Ca Mâu Ni chính là Liên Hoa Đồng Tử.

1. Cao Vương Kinh có nhắc đến một vị Phật, tên gọi đầy đủ thật sự của vị đó là Tịnh Quang Liên Hoa Đồng Tử Bí Mật Phật, cho nên Tịnh Quang Bí Mật Phật cũng chính là Liên Hoa Đồng Tử.

1. Truyền thừa của pháp Đại Thủ Ấn từ Bản Sơ Phật truyền cho Bảo Ý Đồng Tử, và Bảo Ý Đồng Tử cũng chính là Liên Hoa Đồng Tử.

1. Truyền thừa của pháp Đại Viên Mãn từ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền cho Trisong Detsen, Yeshe Tsogyal, còn Liên Hoa Sinh Đại Sĩ kì thực chính là Liên Hoa hóa sinh, cũng là Liên Hoa Đồng Tử. Còn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chính là ứng hóa của Liên Hoa Đồng Tử tái xuất.

1. Chân Phật Kinh - một trong những điển tập trọng yếu của Chân Phật Tông do tâm quang của Liên Sinh Hoạt Phật phát lộ, khi ngài nhập vào tâm thân của Tì Lô Tính Hải mà lĩnh hội được, trực tiếp nói ra 18 Liên Hoa Đồng Tử và cảnh giới Ma Ha Song Liên Trì ở Tây phương Cực Lạc thế giới.

1. Trong hang động số 249 ở khu vực hang đá Đôn Hoàng ở Trung Quốc có Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật A Di Đà, Di Lặc Bồ Tát và chư Phật, Diêu Trì Kim Mẫu, Liên Hoa Đồng Tử, có thể thấy địa vị của Liên Hoa Đồng Tử cao quý không thua kém.
Trong hang số 314 còn đặc biệt ghi rõ Liên Hoa Đồng Tử, hơn nữa, trong cuốn sách liên quan đến hang đá Đôn Hoàng do trường Đại học Lan Châu xuất bản còn đặc biệt có nghiên cứu về Liên Hoa Đồng Tử. 

1. Từ cuốn sách “Nguồn gốc của Liên Hoa Đồng Tử” do sư huynh Trương Minh Thông ở hội đồng tu Pháp Minh của Chân Phật Tông biên tập có rất nhiều tài liệu lịch sử và tư liệu có thể chứng minh Liên Hoa Đồng Tử là có tồn tại thật sự không phải là giả tạo, cũng không phải hư cấu, là vô cùng chân thực.

1. Giới giáo dục, nghệ thuật, khảo cổ, Phật giáo trong 100 năm qua cho rằng Phật giáo khởi nguồn từ Tây Bắc Ấn Độ (nay là Pakistan), theo nguồn gốc của nghệ thuật tạc tượng Phật theo phong cách Hi Lạp, người ta tin rằng chỉ có Đức Phật (trước khi thành đạo) và Bồ Tát Di Lặc.
Năm 1990, cuốn sách "Ganda ─ Art II" do Kurita Kung người Nhật biên tập, Ergensha xuất bản, tiết lộ rằng không chỉ có Phật Đà Bồ Tát (trước khi thành đạo) và Bồ Tát Di Lặc, mà còn có Liên Hoa Thủ Bồ Tát. (Thật ra Liên Hoa Bồ Tát cũng là Liên Hoa Đồng Tử), làm sửng sốt cả thế giới! Và hai vị Liên Hoa Thủ Bồ Tát và Quan Thế Âm Bồ Tát đều trở thành nguồn gốc của sự phát triển tạo hình Bồ Tát sau này của Đại thừa Hiển - Mật Bắc truyền.) 

1. Những bức tượng sớm nhất của những di tích hiện vật về tượng Phật Trung Quốc là Liên Hoa Đồng Tử, thời đó được gọi là Hạng Quang Đồng Tử, những di tích này được phát hiện ở Nghi Nam, Sơn Đông trên tượng được vẽ trên đá của những ngôi mộ Hán. Vào khoảng năm 150-170 cùng với Đôgn Vương Công và Tây Vương Mẫu.

1. Vương triều Tây Hạ (Đại Bạch Cao Quốc) có ba vị quân vương là Cảnh Tông, Nhân Tông và Mạt Đế, cũng đều là hóa thân của Liên Hoa Đồng Tử, còn Đại Bạch Cao Quốc chính là Cao Vương Quan Thế Âm Quốc do Đại Bạch Liên Hoa Đồng kiến lập, nên gọi là Đại Bạch Cao Quốc. 

1. Bộ kinh điển Mahabharata cổ nhất ở Ấn Độ, tiếng Trung dịch ra là “Ma Ha Ba La Mật Đa”, trong cuốn kinh điển này đã có danh xưng Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử. Bởi vì quốc vương đầu tiên của Shambhala là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, vị quốc vương thứ hai chính là Bạch Liên Hoa Vương. 

**Liên Hoa Đồng Tử thượng sư tương ứng pháp vô cùng siêu thắng, bất khả tư nghì:**

Chỉ cần tương ứng với pháp Liên Hoa Đồng Tử thượng sư tương ứng pháp thì tức là đã tương ứng với Liên Hoa Đồng Tử. Tương ứng với Liên Hoa Đồng Tử rồi thì sẽ tương ứng với A Di Đà Phật. Tương ứng với A Di Đà Phật rồi thì sẽ tương ứng với Phật Nhãn Phật Mẫu. Tương ứng với Phật Nhãn Phật Mẫu rồi thì sẽ tương ứng với Đại Nhật Như Lai.

Vì thế, Liên Hoa Đồng Tử tương ứng pháp tương đương với Đại Nhật Như Lai tương ứng pháp!

Và ai cũng có thể tu pháp của Liên Hoa Đồng Tử, bất kì ai cũng có thể thành tựu!

Liên Sinh Hoạt Phật đã truyền thụ rất nhiều pháp của Liên Hoa Đồng Tử, bao gồm: Căn bản Thượng sư tương ứng pháp, Liên Hoa Đồng Tử Bổn tôn pháp, Ngũ đại thành tựu pháp, pháp tương ứng vãng sinh nhanh nhất, pháp cúng gạo Chân Phật, pháp mọc tóc Liên Sinh Kim Cương thượng sư, pháp Liên Hoa Đồng Tử ban tài bảo,… Pháp Liên Hoa Đồng Tử tương ứng cũng chính là pháp hoàn tịnh, vô cùng quan trọng!

Liên Hoa Đồng Tử vì giúp tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật hoằng pháp nên mới hạ sinh ở nhân gian, vì thế, nhân gian mới có Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.

Liên Sinh Hoạt Phật đã tình cờ gặp được rất nhiều nhân duyên, nhận được sự dạy bảo của nhiều vị thầy, hơn nữa còn được Phật Thích Ca Mâu Ni đích thân thọ kí và A Di Đà Phật ủy thác, Bồ Tát Di Lặc ban cho mũ miện đỏ, Liên Sinh Hoạt Phật truyền dạy Mật pháp. Nhưng pháp duyên vĩ đại này là thời đại Liên Sinh Hoạt Phật cứu độ chúng sinh, giáng xuống mưa pháp, thổi lớn pháp loa, đánh lên trống pháp, diễn hóa pháp nghĩa vĩ đại!


### Công đức của pháp:


Tóm tắt quan niệm cơ bản về tu trì Căn bản Thượng sư tương ứng pháp.

Trong Căn bản Thượng sư tương ứng pháp của Chân Phật Tông, Thượng sư có bốn thân:

Thứ nhất, chân thân — như mẹ của hư không giới, chúng sinh khởi thỉnh thân thật của Thượng sư.

Thứ hai, pháp tính thân — như mẹ của hư không giới, chúng sinh khởi thỉnh thân pháp tính của Thượng sư.

Thứ ba, báo tính thân — như mẹ của hư không giới, chúng sinh khởi thỉnh báo thân viên mãn của Thượng sư.

Thứ tư, ứng tính thân — như mẹ của hư không giới, chúng sinh khởi thỉnh ứng hóa thân đại bi vô ngại của Thượng sư.

Cũng có thể nói như sau:

Chân thân — Ngũ Phương Phật.
Pháp tính thân — Phật Nhãn Phật Mẫu (Vô Tà Nhãn Như Lai).
Báo tính thân — Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Ứng tính thân — Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.
(Văn tập Liên Sinh Hoạt Phật số 063.)

Cần biết rằng, một Thượng sư linh tính chân chính có thể nói là người đã tu hành rất nhiều kiếp rất nhiều đời, có đầy đủ mọi đức hạnh, và tất cả đều tự tại, có thành tựu thù thắng, có đại trí huệ, có thể đắc chứng tất cả các pháp trên đời chứ không phải khi tạ thế mới đắc pháp, có sức mạnh thiền định của Đại thủ ấn, đã tự thân nhập vào Tỳ Lô tính hải, đắc chứng Mật pháp. Thành tựu vô thượng, có Phật thọ ký, gánh vác Phật sự, có đại pháp lực, tất cả rốt ráo, điều phục mọi tâm, bảo tướng trang nghiêm, nhập thế xuất thế, đều là tự như, thánh hiền vô song, hóa thân vô số, đầy ắp hư không, chúng sinh nương dựa, từ bi như một, kim cương bất hoại, công đức như biển, thuyết pháp độ chúng, che chở người mê, ban chúng sinh trí, hiển chân thực nghĩa, thuyết chân thực đế, ma không thể địch. 
(Văn tập Liên Sinh Hoạt Phật số 48.)

Quan niệm của Căn bản Thượng sư tương ứng pháp là: Thượng sư cùng chư Phật của tất cả pháp giới là một thể, Thượng sư là thể tính của thân khẩu ý hợp nhất của thập phương tam thế chư Phật, là ngọn nguồn của tám vạn bốn nghìn pháp môn. Đệ tử Chân Phật Tông quy y một truyền thừa đầy đủ, căn bản, một Thượng sư đủ đức. Quy y thập phương tam thế tất cả chư Phật Bổn tôn Thánh chúng. Quy y thập phương tam thế tất cả các Bồ Tát Bổn tôn Thánh chúng. Quy y tám vạn bốn nghìn pháp môn và pháp môn vô thượng. Quy y tất cả các Thánh hiền đắc chứng và Thánh hiền tăng già. Quy y tất cả Hộ pháp Thánh chúng có đủ bi trí. 
(Văn tập Liên Sinh Hoạt Phật số 48.)


### Ứng dụng Yết ma


Tóm tắt ứng dụng pháp Yết ma của Căn bản Thượng sư tương ứng pháp.

Pháp Yết ma, cũng tức là những ý vị của các pháp như tiêu tai, tăng ích, kính ái, hàng phục, nhiếp triệu của Mật tông. 
(Văn tập Liên Sinh Hoạt Phật số 54.)

Ứng dụng pháp Yết ma của Căn bản Thượng sư tương ứng pháp đều có thể dùng vào các mục đích tiêu tai, tăng ích, kính ái, hàng phục. Sự kỳ diệu khi tu pháp này đều dựa vào sự nhất tâm để sử dụng.

Tu trì pháp tiêu tai nên dùng tâm từ bi, nhân từ bảo vệ tất cả hữu tình, có Như Lai ẩn tàng, dùng thân khẩu ý kim cang, dùng sức mạnh công đức của tam mật gia trì để hóa giải tai kiếp của đối phương.

Tu trì pháp kính ái nên dùng tâm thương xót, để tự thân thanh tịnh trước, không khởi tâm phân biệt giữa mình và chúng sinh, dùng sức mạnh công đức của tam mật gia trì để mình và chúng sinh ngang hàng nhau như hư không. 

Tu trì pháp tăng ích nên dùng tâm thanh tịnh, nhập vào tự tâm hoa sen, mở ra tất cả kho báu cất giữ trong kho, đạt được tất cả của cải, sau đó bố thí pháp tài, lệnh cho sức mạnh công đức của sự gia trì khiến thành tựu tất cả. Dùng thành tựu tăng ích để tất cả chúng sinh đắc tất cả thành tựu.

Tu trì pháp hàng phục nên dùng tâm uy mãnh, nhìn chúng sinh bằng sự bình đẳng, lệnh cho tất cả hữu tình có thể lìa bỏ tướng tính, dùng sức mạnh công đức của tam mật gia trì để khiến họ bỏ tà quy chính, tất cả hữu tình đều đắc thành tựu và quy thuận.

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn thật lòng thật sự nói với mọi người, tâm yếu tu trì của tất cả Mật pháp nằm ở tâm tính thanh tịnh của chính mình, tự tâm trở thành một điểm, sau đó hóa thành ánh sáng phổ chiếu.

Tự biết có một khối sức mạnh chân thực vô hình tràn đầy không gian, tất cả bất kì phiền não và ma lực nào cũng đều không thể xâm phạm, đây chính là cảnh giới hiện lượng.

Suy nghĩ vô niệm, tức tất cả pháp Yết ma. 

Dùng tam mật để lo liệu tất cả, tức vô thượng du già. 
(Văn tập Liên Sinh Hoạt Phật số 66.)


![image](/img/img_c3f4f2559acd4ee716ef8072fd0b37cb.jpg)


Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/lien-hoa-sinh-dai-si-niem-tung-phap.md
# Title: Liên Hoa Sinh Đại Sĩ niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_fb0e95caf811c74910f41fb87c73357e.jpg)



## Liên Hoa Sinh Đại Sĩ niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì đồng tu.

- Quán tứ vô lượng tâm.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tát cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Niệm thêm chú vãng sinh: (7 biến)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha.  


### Phần 8: Quán tưởng tam quang bao trùm



![image](/img/img_4bb1511675ee605bbfa45d5ac2bbb54d.jpg)


**Kết ấn: Liên Hoa Sinh Đại Sĩ kim cương ấn**

Trước tiên hai tay bắt chéo úp lưng vào nhau, hai ngón út móc vào nhau, hai ngón trỏ giơ thẳng hướng lên không trung, hai ngón cái đè lên ngón giữa và ngón áp út thành vòng tròn. Đặt ấn trước ngực.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời trong vạn dặm không mây, một vầng mặt trăng từ dưới biển nhô lên không trung, ở chính giữa vầng mặt trăng có một chủng tự chữ Seh (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu đỏ phóng ra ánh sáng màu hồng.

(2) Chữ Seh ở giữa vầng mặt trăng quay tròn hóa thành một vị Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đội bảo quán, thân màu hồng nhạt, tay phải cầm chày, tay trái ôm trượng ba chấu, bàn tay trái cầm thiên linh cái, trong thiên linh cái đựng đầy châu báu và cam lộ. Ngài ngồi trên đài hoa sen trên nguyệt luân, an trụ tại hư không đối diện với hành giả.

(3) Quán tưởng nước cam lộ hóa thành ánh sáng trắng, tạo thành vòng cung, chiếu dội đến hành giả. Cam lộ này tiêu diệt hết tất cả nghiệp chướng, bệnh khổ, ma chướng của hành giả, hành giả đắc đại tự tại.


### Phần 9: Trì tâm chú Bổn tôn Liên Hoa Sinh Đại Sĩ


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đến trước mặt mình.

**Chú ngữ:**

Ôm ah hùm ben-za gu-ru pê-ma sit-đi hùm sê. (108 biến)


### Phần 10: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Seh), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Bổn tôn Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 11: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 

Tụng tán: 

Liên Sư tổng trì đại quang minh
Vị đại Tổ sư thỉnh là đến
Ánh sáng chiếu rọi tâm chúng sinh
Bồ đề đại tâm mãi hộ trì.


### Phần 12: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 13: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 14: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 15: Hồi hướng


Mong đem đại nguyện tu hành này
Mau thành đại giác Liên Hoa Sinh
Cả hai hợp nhất không phân biệt
Quảng độ chúng sinh đến Phật địa.

Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. xin đem công đức này hồi hướng. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 17: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


### Giới thiệu pháp tướng Liên Hoa Sinh Đại Sĩ


Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đội mũ miện, thân có màu hồng, tay phải cầm chày, tay trái cầm thiên linh cái, bên trong có đầy bảo vật và cam lộ, khuỷu tay trái đỡ lấy trượng ba chấu (kachangka, ý nghĩa là cây quyền trượng), ngồi xếp bằng trên nguyệt luân hoa sen, toàn thân phóng ra trăm ánh sáng quý.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị lai lịch vĩ đại của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ và khẩu quyết tu pháp


Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, tức Liên Sư, còn được gọi là Hải Sinh Kim Cang, là một vị Liên Hoa Đồng Tử hóa sinh từ hoa sen ngũ sắc bên biển Đạt Lạp Quách Khiếu ở tây Ấn Độ, là vị Kim Cang ứng hóa thân của tam mật thân-khẩu-ý A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát, Thích Ca Mâu Ni Phật tương ứng.

Ngài sinh ra trên biển Đạt Lạp Quách Khiếu, Ấn Độ cổ đại gọi hồ là biển, ở trên mặt biển rất rộng lớn, ngài sinh ra từ bên trong một bông hoa sen rất lớn, vì vậy gọi là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, ngài thật sự là một vị Liên Hoa Đồng Tử.

Ngày xưa, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nhận lời mời của vua Trisong Detsen từ Ấn Độ vào Tây Tạng hoằng pháp, từng hàng phục mọi thần của Bon giáo, biến họ thành những vị hộ pháp của Mật giáo, đồng thời truyền bá Kim cương thừa (Mật giáo) đi khắp thế giới, trở thành vị tổ sư đời thứ nhất của Tạng mật. 

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ ở tại Tây Tạng hoằng pháp 50 năm, xây dựng tu viện Samye (chùa Nhậm Vận), nhận được sự tôn sùng của bốn đại giáo phái lớn ở Tây Tạng, được người Tạng gọi là Guru Rinpoche, là vị tổ sư tôn quý vĩ đại nhất. Mật tông Tây Tạng cho đến ngày nay vẫn đang hoằng dương chính là nhờ Liên Sư đã khởi đầu nền móng ban đầu của nó, cũng là nhờ đại gia trì của Liên Sư.

Nếu tương ứng với Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, có thể lấy ngài làm Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp. 

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là căn bản thượng sư tôn truyền của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Trong thiền định của Liên Sinh Hoạt Phật, Liên Sư cũng từng đội mũ miện đỏ cho Sư Tôn, ban cho hiệu là Hồng Quán Kim Cương Bảo Miện Mật Hành Tôn Giả. Trong thiền định của Liên Sinh Hoạt Phật, Liên Sư cũng từng đưa Liên Sinh Hoạt Phật đến Nhất Kim mộ huyệt, truyền thụ đại pháp vô thượng tối cao của phái Nyingma, tức là pháp Đại Viên Mãn. Cho nên, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn thật sự có được chân truyền của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. 


### Liên Hoa Sinh Đại Sĩ từng ban hai đại quán đảnh thù thắng cho Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn


1. Ngài biến Liên Sinh Hoạt Phật thành minh điểm, rồi nuốt vào từ miệng của Liên Sư, rồi lại thoát ra từ mật luân của Liên Sư. (Ý nghĩa là, Liên Sư là tôi, tôi là Liên Sư, không hai không khác, tôi tức là minh điểm hóa sinh của Liên Sư.)

1. Lỗ chân lông trên toàn thân Liên Sư phóng quang, những ánh sáng này lần lượt đi vào bên trong lỗ chân lông của toàn thân Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. (Ý nghĩa là, tất cả pháp tu hành thành tựu của Liên Sư lần lượt phóng quang, biến hóa quán đảnh trên thân tôi, tôi có được toàn bộ quán đảnh của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.)

“Kính sư, trọng pháp, thực tu” chính là sáu chữ mà Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã để lại cho thế giới Ta Bà. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ có pháp kim cương đại bí mật trên người, có tính kim cương, vì thế có thể chế phục mọi ngoại đạo, có thể tiêu diệt yêu ma, tất cả quỷ thần đều nghe lệnh của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Bí mật lớn nhất là “kim cương tính hàng ma”, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ có kim cương tru pháp, nếu có yêu tà tác quái, chỉ cần tu pháp của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, dùng ấn kim cương của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ phóng ra ánh sáng đỏ chạm vào thì yêu tà sẽ chạy tán loạn, không dám lại đến làm hại người lương thiện.

Bí mật của pháp Bổn tôn Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là có thể trừ bệnh, trường thọ, ăn mặc đầy đủ, đắc phúc báo lớn, có thể tiêu trừ tất cả tai nạn, tất cả tai vạ bấ ngờ không xảy ra, gia vận đại cát tường, có thể nói là cầu con được con, cầu tiền được tiền.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ vốn đã thành tựu đẳng chính giác, chứng ngũ trí Phật, phương tiện độ sinh đều đầy đủ. Có thể mãn nguyện chúng sinh, phổ lợi hữu tình. 5 vị Phật Mẫu của ngài chính là Yeshe Tsogyal, Mandarawa, Kala Siddhi, Sakya Dewa, Tashi Tenzin.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã dung hòa Hiển Mật, không để có sự không thống nhất, tất cả những pháp nghĩa rốt ráo trong kinh Hiển giáo và nghi quỹ Mật giáo đều thành tựu vô thượng, đều có được khẩu quyết kế thừa từ Thích Ca Như Lai, có huyết mạch chân chính. Mọi kim cương thân ngữ ý tam nghiệp, tam thân pháp báo ứng, đều chứng được bí quyết, và phương tiện độ sinh, tức tăng hoài tru, đều viên mãn.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là người đầu tiên đem Mật giáo vào Tây Tạng, bất kể là Hồng giáo, Hoàng giáo, Bạch giáo, Hoa giáo, bốn đại giáo phái này đều rất tôn sùng ngài. Những pháp mà Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã truyền vô cùng nhiều, trong số đó pháp lớn nhất chính là pháp Đại viên mãn của Mật giáo.

Hành giả tương ứng với Liên Hoa Sinh Đại Sĩ rồi thì thứ nhất, có thể trường thọ, thọ mạng vô lượng, thứ hai là vĩnh viễn thanh xuân, hơn nữa còn có pháp lực.

Chỉ cần bạn tương ứng với Liên Hoa Sinh Đại Sĩ rồi thì cũng tương đương như tương ứng với Phật Thích Ca Mâu Ni, tương ứng với A Di Đà Phật, tương ứng với Quan Thế Âm Bồ Tát, tương ứng với tất cả chư Phật! Vì thế, ngài là một vị vô cùng vĩ đại, vô cùng quan trọng!

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/long-thu-bo-tat-niem-tung-phap.md
# Title: Long Thụ Bồ Tát niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_27f3f8c6adc2184e699150b76d05a2c6.jpg)



## Long Thụ Bồ Tát niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Long Thụ Bồ Tát.

(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li.. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha.  


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_deeae29e7a6f25294eb2460e10080a5c.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn ****Long Thụ Bồ Tát**

Hai tay: ngón cái và ngón trỏ tạo thành vòng tròn, ba ngón còn lại dựng thẳng, lòng bàn tay trái hướng vào trong, lòng bàn tay phải hướng ra ngoài.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Quán tưởng trong hư không có một chữ “Pang” (tiếng Phạn hoặc Tạng) hóa thành hoa sen, trong hoa sen có một chủng tử chữ “Ah” màu trắng phóng tỏa ánh sáng trắng. 

(2) Chữ “Ah” trong hoa sen xoay tròn, hóa thành Long Thụ Bồ Tát. Long Thụ Bồ Tát có một đầu hai chân hai tay, thân màu trắng, nét mặt khẽ cười, có 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp như Phật Đà. Ngài mặc tam y của người xuất gia, ngồi kiết già trên bồ đoàn, hai tay đặt trước ngực kết ấn chuyển pháp luân, sau lưng có bảy con rồng, mỗi con rồng có màu sắc khác nhau từ sau lưng Long Thụ Bồ Tát thò đầu ra.

(3) Quán tưởng thiên tâm của Long Thụ Bồ Tát phóng ra một vệt ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả. Từ họng ngài phóng ra một vệt ánh sáng đỏ chiếu thẳng đến họng của hành giả. Tâm luân của ngài phóng ra một vệt ánh sáng xanh lam chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng trắng, đỏ, lam tan vào thân tâm của hành giả. 


### Phần 14: Trì tâm chú Long Thụ Bồ Tát


Tâm chú: Ôm ben-za na-ga-ju-na bốt-đi sat-tô sô-ha. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Ah), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Long Thụ Bồ Tát, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định.


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.


### Giới thiệu pháp tướng Long Thụ Bồ Tát


Long Thụ Bồ Tát có một đầu hai chân hai tay, thân màu trắng, nét mặt khẽ cười, có 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp như Phật Đà. Ngài mặc tam y của người xuất gia, ngồi kiết già trên bồ đoàn, hai tay đặt trước ngực kết ấn chuyển pháp luân, sau lưng có bảy con rồng, mỗi con rồng có màu sắc khác nhau từ sau lưng Long Thụ Bồ Tát thò đầu ra.

Long Thụ Bồ Tát còn có tên gọi là Na Già A Chu Đà Na, vì đi vào long cung, nhờ rồng mà thành đạo, lại sinh ra ở dưới cây A Chu Đà Na, vì vậy mới lấy tên là Long Thụ. Long Thụ Bồ Tát sinh ra 700 năm sau khi Phật Đà nhập diệt (khoảng thế kỉ thứ 3 sau Công Nguyên) ở miền Nam Ấn Độ. Căn cứ theo bản văn của Liên Sinh Hoạt Phật kể lại, Long Thụ Bồ Tát là đệ tử của Ca Bì Ma La - đệ tử của Mã Minh Bồ Tát, lai lịch thật sự của ngài là hóa thân của Diệu Vân Tự Tại Vương Như Lai. 

Long Thụ Bồ Tát được xưng là tổ sư Phật học thế hệ thứ nhất, ngài tinh thông nghĩa lí của Tiểu thừa, Đại thừa và Kim cương thừa, hiểu biết sâu rộng, hơn nữa lí pháp và sự pháp đều có đủ. Long Thụ Bồ Tát tích cực thâm nhập học Phật, học vấn phong phú là để hoằng dương rộng rãi Phật pháp, ngài còn viết sách lập thuyết, ôm hoài bão đem những kiến địa tinh hoa vi diệu ẩn giấu lần lượt phơi bày cho đại chúng, hoàn thành một số lượng trước tác nhiều đáng kinh ngạc, bởi vậy ngài mới có một danh xưng đẹp đẽ là Thiên Bộ Luận Chủ [chủ nhân của nghìn bộ luận]. Trong các trước tác của ngài, cuốn sách có tính đại diện nhất là “Trung Luận”, khi cuốn sách này ra đời đã làm chấn động giới Phật giáo đương thời. Tư tưởng Trung quán của Long Thụ Bồ Tát là một hướng tiếp cận mới, có thể nói là chỉ thẳng vào bản chất của thế giới, nghĩa đế của tu hành, cũng hé lộ những bài văn hoàn toàn mới về tư tưởng Phật học.

Long Thụ Bồ Tát từng đi vào biển đến Long Cung, đọc hết Phật điển tuyệt diệu số lượng nhiều gấp mười lần nhân gian, trong đó nổi tiếng nhất là ngài đã đọc được ba cuốn “Hoa Nghiêm đại bất tư nghì giải thoát kinh”, cuối cùng ngài đã ngộ đạo. Kinh Hoa Nghiêm là vua trong các kinh, là kinh điển trọng yếu của Phật giáo Đại thừa, là bộ kinh điển đầu tiên mà Phật Thích Ca Mâu Ni tuyên thuyết sau khi thành đạo, kinh này vốn được giấu tại Long Cung. Nhờ Long Thụ Bồ Tát vào Long Cung đọc được Phật điển này mà nó mới được truyền ra ngoài, truyền đến nhân gian. Trong kinh này lần lượt tuần tự nói cho hành giả biết nên dựa theo thứ tự như thế nào để mà tu trì viên mãn 52 bậc thang của đạo Bồ Tát, đến cuối cùng mới có thể chứng đắc Phật quả, đến được thế giới Hoa Nghiêm. 

Sau này Long Thụ Bồ Tát cũng từng đến Nam Ấn Độ, mở ra tòa tháp sắt thần bí mà kể từ sau khi Phật Đà nhập diệt chưa từng có người nào mở ra, đích thân yết kiến tổ sư Mật giáo Kim Cang Tát Đỏa sáng chói như mặt trời, đồng thời ngài còn được ban cho kinh điển trọng yếu của Mật giáo là kinh Đại Nhật, kinh Kim Cương Đỉnh, hai bộ Kim Cương Giới và Thai Tạng Giới, mở ra nhân duyên Mật giáo quảng truyền tại nhân gian. Vì thế mà Long Thụ Bồ Tát đã được tôn phong là tổ sư Mật giáo. Đồng thời ngài cũng được Luật tông, Tam Luận tông, Tịnh Độ tông, Pháp Tướng tông, Thiền tông, Thiên Thai tông, Hoa Nghiêm tông cùng tôn làm tổ sư, là vị tổ chung của tám tông Hiển-Mật.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị về Long Thụ Bồ Tát


Tổ sư Long Thụ Bồ Tát là người Nam Thiên Trúc, là đệ tử của tôn giả Ca Bì Ma La - đệ tử của Mã Minh Bồ Tát. Không phải là ngài sinh ra đã rất lợi hại ngay, ngài cũng phải bái thầy học Phật. Ngài do tộc rồng sinh ra, cho nên gọi là Naga. Ngài lại sinh ra ở dưới cây A Chu Đà Na (Nagarjuna), tức là cây rồng. Lai lịch thật sự của ngài là Diệu Vân Tự Tại Vương Như Lai.

Truyền thuyết sớm nhất về Long Thụ kể rằng ngài có tư chất thông minh bẩm sinh, đọc rất nhiều sách. Ở đất nước của ngài còn có ba vị nữa học hành cũng rất giỏi. Khi họ còn trẻ thì rất lông bông, bốn người họ ở chỗ của Tây Sơn Lão Tiên học thuật ẩn thân, rồi lén chui vào hoàng cung, khiến hậu cung của Quốc Vương đại loạn. Vì sao lại đại loạn? 4 nam sinh ẩn mình trong hậu cung của cung vua, không bao lâu sau thì cung nữ hoặc phi tần đều to bụng lên. Ôi! Học thuật ẩn thân cũng có lợi ích này. Những cung nữ hoặc phi tần kia đều to bụng lên, Quốc Vương cảm thấy rất kì quái bèn thỉnh giáo Tiên nhân, Tiên nhân nói đây là thuật ẩn thân. Quốc Vương bèn mời Tây Sơn Lão Tiên vào cung, Tây Sơn Lão Tiên liền dạy Vua rải cát mịn xung quanh cung vua để cho bọn họ không nhận ra, chỉ cần nhìn dấu chân là biết họ đang đến. Họ không đến thì không sao, nhưng hễ đến là đi đời, hễ vào hậu cung là xong đời, sẽ để lại dấu chân. Quốc Vương đóng toàn bộ cửa của hậu cung. Thế nhưng Long Thụ Bồ Tát khá có tâm cảnh giác, ngài liền trốn bên cạnh Quốc Vương, Quốc Vương đi đến đâu ngài liền đi đến đó, ba người kia thì bị bắt. Khi bọn họ đi vào, Quốc Vương liền ra mệnh lệnh cho các võ sĩ, các bảo vệ tuốt đao ra chém vào không khí. Ba người kia đã bị giết, còn Long Thụ không bị giết, bởi vì ngài có tâm cảnh giác, cứ ở bên cạnh Quốc Vương, cho nên ngài không chết. Sau khi Long Thụ Bồ Tát đi ra ngoài mới cảm thấy hối hận. Hối hận điều gì? “Trong vạn ác thì dâm đứng đầu”, dâm sẽ mang đến rất nhiều tai nạn, thậm chí là cái chết.

Long Thụ Bồ Tát quyết tâm quy y đệ tử của Mã Minh Bồ Tát là tôn giả Ca Bì Ma La, cắt tóc đi tu sám hối. Ngài tinh thông Phật giáo Tiểu thừa, Phật giáo Đại thừa, nghĩa lí của Kim cương thừa, học rộng biết nhiều. Vì thế ngài đã viết rất nhiều sách, được gọi là Thiên Bộ Luân Chủ, đã viết mấy nghìn bộ sách có liên quan đến phương diện Phật pháp. Cuối cùng, ngài đã viết “Trung Luận”, cũng chính là khởi đầu của học phái Trung quán. Ngài trở thành tổ sư của Phật giáo bát tông, tức là Luật tông, Tam Luận tông, Tịnh Độ tông, Pháp Tướng tông (Duy Thức tông), Thiền tông, Thiên Thai tông, Hoa Nghiêm tông, là vị tổ chung của tám tông. 

Thủ ấn của Long Thụ Bồ Tát là ấn chuyển pháp luân. Chú ngữ của ngài là “Om benza nagarjuna boddhi satto soha”, ý nghĩa của câu chú này là “ý thức chí thượng của vũ trụ, Long Thụ Bồ Tát đại trí huệ thành tựu”. “Naga” tức là rồng, “rjuna” là một loại cây ở Ấn Độ, “om” là ý thức cao nhất của vũ trụ, Nagarjuna, Long Thọ trí huệ, Bồ Đề Tát Đỏa, Bồ Tát, “soha” là thành tựu tất cả. Câu chú của  ngài là như vậy. 

Bạn có biết quán tưởng Long Thụ Bồ Tát không? Ngài giống Phật Đà đang chuyển pháp luân, điều đặc biệt không giống là trên đỉnh đầu có bảy con rồng, mỗi con rồng có màu sắc khác nhau, số bảy mang ý nghĩa là viên mãn. Có quán tưởng, có thủ ấn và trì chú thì có thể làm thành một nghi quỹ. Trên biển biến ra hoa sen, trong hoa sen có nhật, nguyệt luân, biến thành Long Thụ như thế nào? Từ chữ “Pang” biến thành hoa sen, rồi chữ “Ah” trong hoa sen biến thành Long Thụ Bồ Tát, sau đó ba ánh sáng bao trùm, bạn đã được thanh tịnh rồi. Long Thụ Bồ Tát đi vào hoa sen trong tim bạn, ngài đi vào bên trong bạn, bạn hợp nhất với ngài, trong sát-na, bạn biến thành Long Thụ Bồ Tát, Long Thụ Bồ Tát chính là bạn, bạn chính là Long Thụ Bồ Tát, chính bạn đã biến thành vị tổ của tám tông, biến thành Diệu Vân Tự Tại Vương Phật.

Long Thụ Bồ Tát có thuật trường sinh, ngài đã học được thuật trường sinh, vĩnh viễn không chết, sống mấy trăm năm, giống như Liên Hoa Sinh Đại Sĩ vậy, đều sống qua thời gian rất lâu rất dài. Tôi nói để mọi người biết, con người muốn sống lâu, đầu tiên phải tu luyện ba thứ. Thứ nhất, bạn phải luyện nạp khí, khi bạn thật sự biết cách thổ nạp rồi, đây là việc trọng yếu đầu tiên trong thuật trường sinh. Trong Mật giáo, tu khí là rất quan trọng. 

Ngoài ra, bạn phải có thể nuốt dịch, thế nào gọi là nuốt dịch? Thân thể của bạn có thể tồn giữ thật lâu minh điểm, rồi tăng trưởng minh điểm của bạn. Thông thường mà nói thì minh điểm chỉ có tiêu hao, tiêu hao hết rồi thì chết, minh điểm chính là hormone trong thân thể bạn. Khi bạn nuốt dịch thì có thể tồn giữ cam lộ của hư không ở trong thân thể bạn, sau đó tăng trưởng minh điểm của bạn. Bạn biến những dịch thể đó thành cam lộ chảy vào bên trong thân thể bạn, đây là pháp trường sinh thứ hai. 

Thứ ba, không rò rỉ minh điểm, tức là bạn tu hành đến khi vô lậu, minh điểm sẽ không tan mất, nếu trên người bạn có hormone thì trông bạn sẽ rất trẻ trung. Trên người bạn thiếu hormone thì bạn sẽ bắt đầu lão hóa. Thế nào gọi là thời kì suy giảm hormone? Chính là hormone dần dần tan biến, tiến vào thời kì suy giảm, suy giảm bao lâu? Suy giảm cho đến khi bạn già và chết, đây gọi là thời kì suy giảm. Nam cũng có thời kì suy giảm, nữ cũng có thời kì suy giảm, cả hai cùng bước vào thời kì suy giảm. Vì sao con người lại già? Vì hormone trên người bạn tiêu biến, lục phủ ngũ tạng thiếu sự tưới ẩm của minh điểm thì bạn sẽ bắt đầu già đi, các bộ phận cũng lão hóa, nguyên nhân chính là ở đây. Cho nên bạn phải đưa cam lộ của Phật Bồ Tát vào trong thân thể bạn, bạn có thể nuốt dịch vào trong thân thể bạn thì bạn có thể thành tựu, có thể trường sinh bất lão. Đây chính là thuật trường sinh rất nổi tiếng của Long Thụ Bồ Tát. Nạp khí, nuốt dịch, minh điểm vô lậu, ba điều này rất quan trọng. Ngoài ra còn có các nhân tố khác, ví dụ, bạn không phiền não, không lo âu, có thể thư giãn thoải mái, thì có thể trường sinh.

Vào khoảng thế kỉ 6, học thuyết Duy thức thịnh hành ở Ấn Độ, Duy thức cũng nghiên cứu thảo luận về Phật tính, nói đến Phật tính ẩn giấu trong mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, ý căn, a-lại-da, tư tưởng này là thẳng, còn tư tưởng của Long Thụ Bồ Tát là ngang, dùng mọi quán niệm để dạy mọi người. Khi ấy có hai vị, một vị là Phật Hộ, một vị là Thanh Biện Luận Sư. Phật Hộ duy trì Trung quán luận, cùng với Thanh Biện phục hồi học thuyết của Long Thụ Bồ Tát và Đề Bà. Trung quán của Phật Hộ là phái Nhân Thành, còn Trung quán của Thanh Biện Luận Sư là phái Trung Quán Tự Tục. 

Phái Trung Quán Nhân Thành là gì? Phá mà không lập - chủ trương nhân minh luận, dùng suy lí và tri thức, trí huệ để hiển thị cái Không của trung đạo. Trung Quán Tự Tục của Thanh Biện là phá mà cũng lập - chủ trương dùng những ước lượng trong nhân minh để tích cực diễn đạt cái Không, cũng tức là Phật tính.

Trung quán của Long Thụ Bồ Tát thì xen vào giữa “thường” và “đoạn”, gọi là Trung đạo. Ví dụ con người hiện đại cho rằng, Sư Tôn có kết hôn, có vợ có con, như thế là thế tục. Nhưng tâm linh của bản thân Sư Tôn thì siêu việt thế tục, vượt lên trên cái thấy của thế tục. Tuy là thế tục, Phật Thích Ca Mâu Ni cũng như vậy, thê tử của Phật Thích Ca Mâu Ni là Da Du Đà La, họ sinh ra một đứa con trai tên là La Hầu La, nhưng ngài đã vượt lên trên thế tục, đã xuất gia, đi trên con đường đạo xuất thế. Ngài từng trải qua nhập thế, rồi ngài xuất thế, xuất thế xong ngài lại trở về thế tục để độ chúng sinh, cũng tức là ngài không rời xa “có”, không rời xa “không”, tổng hợp lại chính là Trung đạo, đây là học thuyết trung dung. 

Còn về lửa, vừa rồi chẳng phải đã lấy ví dụ rồi sao? Dùng gỗ đánh lửa, lửa chính là “tất cả do duyên sinh, tất cả do duyên diệt” mà Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói (mọi pháp vì duyên sinh, mọi pháp vì duyên diệt), duyên khởi tính không, loại bỏ cái duyên này thì bạn chứng ngộ được tính Không, chứng ngộ được Phật tính, loại bỏ hết mọi duyên, tất cả nghiệp chướng, lúc đó bạn nhìn thấy Phật tính. Đây là tư tưởng của bản thân Long Thụ Bồ Tát. 

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/long-ton-vuong-phat-niem-tung-phap.md
# Title: Long Tôn Vương Phật niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_e8358261d264fe5592fa53d03910924a.jpg)



## Long Tôn Vương Phật niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Thỉnh cầu Căn bản Truyền thừa gia trì. Tay kết thủ ấn Căn bản Thượng sư, quán tưởng Căn bản Thượng sư phóng ba ánh sáng trắng, đỏ, lam chiếu đến hành giả, gia trì hành giả tu pháp viên mãn. Niệm chú Căn bản Thượng sư 7 lần. Niệm văn cầu thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật gia trì 1 lần.

- Quán tứ vô lượng tâm.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô chủ tôn tu pháp Long Tôn Vương Phật. (x3)
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cang, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cang - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cang, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tát cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cang, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê. 

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Mặc giáp hộ thân


Kết thủ ấn chắp tay kim cang, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cang thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Phụng thỉnh bát đại Bồ Tát
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Kim Cang Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Diệu Cát Tường Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.

Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ thất Phật. Vị lai hiền kiếp thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Niệm danh hiệu Phật sáu phương
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyệt Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Hết thảy chúng sinh trung ương, chư vị trong Phật giới, trú ngụ trên mặt đất, cho đến tại không trung, thương lo cho tất cả chúng sinh. Ai cũng an ổn tốt lành. Ngày đêm tu trì. Tâm thường cầu tụng kinh này. Diệt được khổ sinh tử. Tiêu trừ hết độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Tụng bản kinh không ngừng. Thất Phật Thế Tôn. Liền nói chú sau:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-lô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-ki-a-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha” (7 lần)

Mười phương Quan Thế Âm. Hết thảy chư Bồ Tát.
Đã thề cứu chúng sinh. Xướng danh tất giải thoát.

Nếu gặp người trí tuệ. Ân cần mà giảng nói.
Lại có đủ nhân duyên. Đọc tụng không ngơi nghỉ.
Tụng kinh tròn nghìn biến. Niệm niệm tâm không dừng.
Gặp lửa cháy chẳng sao. Việc đao binh cũng thoát.
Nóng giận thành vui vẻ. Chết rồi hóa sống vui.
Đừng nghĩ rằng không đúng. Chư Phật chẳng nói chơi.
Cao Vương Quan Thế Âm. Cứu được hết khổ nạn.
Lúc khó khăn nguy cấp. Người chết còn thành sống.
Chư Phật chẳng nói đùa. Vì vậy nên đảnh lễ.
Niệm tụng trọn nghìn lần. Tội nặng đều tiêu diệt.
Người có phúc tín tâm. Hãy chuyên tâm đọc tụng.

Nguyện mang công đức này. Gửi tới hết chúng sinh.
Tụng tròn một nghìn biến. Tội nặng đều tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (Hết)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 10: Kết ấn và Quán tưởng tam quang bao trùm



![image](/img/img_93f710d47efe7d0931fda5cee1a1f47b.png)


**Kết ấn: Thủ ấn Long Tôn Vương Phật**

Mu bàn tay phải đặt lên lòng bàn tay trái, hai ngón cái chạm vào nhau. 

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời trong vạn dặm không mây, một vầng mặt trăng từ dưới biển nhô lên không trung, ở chính giữa vầng mặt trăng có một chủng tự chữ Ah (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu xanh lam phóng ánh sáng lam.

(2) Chữ Ah ở giữa vầng mặt trăng quay tròn hóa thành Long Tôn Vương Phật, mặt màu trắng, thân màu lam, trên búi tóc có rồng, hai tay kết ấn chuyển pháp luân, ngồi trên đài sen. Phía trước của Như Lai có Trừ Cái Chướng Bồ Tát màu trắng, bên phải là Di Lặc Bồ Tát màu đỏ, phía sau là Văn Thù Bồ Tát màu vàng, bên trái là Quan Thế Âm Bồ Tát cầm hoa sen.

(3) Quán tưởng Long Tôn Vương Phật toàn thân phóng ánh sáng vàng kim chiếu đến bên trong thân thể hành giả, khiến cho ba thứ độc tham-sân-si của hành giả có thể tiêu trừ. 

(4) Các lỗ chân lông trên khắp thân thể hành giả mở ra, ác nghiệp tội chướng của hành giả, tất cả nghiệp chướng từ vô thủy đều hóa thành khí đen từ lỗ chân lông tản ra bên ngoài thân thể, tiêu biến vào trong không gian, toàn thân hành giả thuần bạch trong suốt tỏa sáng, thân thể hành giả đã thanh tịnh. 

(5) Long Tôn Vương Phật ở trong hư không bay đến trên đầu hành giả, trụ trên đầu hành giả. Long Tôn Vương Phật thu nhỏ lại thành ánh sáng to bằng hạt gạo. Lúc này, Tâm luân của hành giả mở ra trở thành một đóa hoa sen, trong tâm của bông hoa sen này có nguyệt luân, trong nguyệt luân có chú tự Ah. Quán tưởng chữ Ah phóng quang nhiếp triệu Long Tôn Vương Phật đi vào trung mạch. Sau khi đi vào, Long Tôn Vương Phật ngồi trên hoa sen trong tâm của hành giả, thân thể ngài dần dần biến to ra cho đến khi hoàn toàn bằng với hành giả. Trong tích tắc, hành giả biến thành Long Tôn Vương Phật, không hai không khác. 


### Phần 11: Trì tâm chú Long Tôn Vương Phật


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Long Tôn Vương Phật đến trước mặt mình.

**Chú ngữ:**

Ôm pê-cha na-ka pu-ta-ya ta-tu sô-ha. (108 biến)


### Phần 12: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Ho), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Bổn tôn Long Tôn Vương Phật, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 13: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 

Tụng tán: 

Long tộc tối thượng tôn.
Tiêu tai kiêm ban phúc.
Hoằng pháp báo ơn đời.
Kính lễ từ bi thâm.


### Phần 14: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-tê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Vương Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thế sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-lê-ya sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 15: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 16: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 17: Hồi hướng


Gia trì tu pháp đạt thành tựu
Trăm bệnh tiêu trừ phúc huệ tăng
Mong cùng Bổn tôn hợp làm một
Chúng sinh thế giới được an vui.

Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. xin đem công đức này hồi hướng. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 18: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 19: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


![image](/img/img_801a8a5c77a3d3c33fe729c7e9beef01.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Long Tôn Vương Phật


Long Tôn Vương Phật mặt màu trắng, thân màu lam, cạnh búi tóc có rồng (hơi giống Long Thụ Bồ Tát). Phía trước của Như Lai có Trừ Cái Chướng Bồ Tát màu trắng, bên phải là Di Lặc Bồ Tát màu đỏ, phía sau là Văn Thù Bồ Tát màu vàng, bên trái là Quan Thế Âm Bồ Tát cầm hoa sen.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị lai lịch thù thắng của Long Tôn Vương Phật


Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/long-vuong-bao-binh-phap.md
# Title: Long Vương bảo bình pháp
---

![image](/img/img_3f0c54931964543a64d530258a89e2ba.jpg)



## Long Vương bảo bình pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


Quán Không.

Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

Quán tứ vô lượng tâm:
Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (x3)
Nam mô Long Vương Bồ Tát.

(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa.

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không.


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn.

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường:

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha.


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### **Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng**



![image](/img/img_2a048bc3a05804b1183f3606614a9858.jpg)


**Kết ấn**: kết thủ ấn Long Vương (ấn chữ “tỉnh” [cái giếng])

**Quán tưởng: **

Quán tưởng những bảo bình Long Vương cúng tại pháp đàn biến thành rồng, miệng bình là đầu rồng, cổ bình là cổ rồng, thân bình là thân rồng, đáy bình là đuôi rồng. Sau đó cung thỉnh Long Vương thành Phật, và quán tưởng Long Vương bay lên, biến hóa thành Ngũ Phương Phật trụ trong hư không. (Phải quán tưởng rõ ràng.)

**Cách làm hoặc thỉnh bảo bình về tu xin vui lòng liên hệ các vị Kim cương Thượng sư của Chân Phật Tông.**


![image](/img/img_0f6d90d9398772fe2b33798e3f67f713.jpg)



### **Phần 14: Trì chú và Thỉnh nguyện**


**Niệm chú Long Vương:** Nam-mô san-man-tô mô-thua-nam wa-zư-la mi. (108 biến)

**Thỉnh nguyện: **Nói lên một nguyện vọng mong cầu của mình, ví dụ cầu tài, sự nghiệp, hôn nhân…

**Quán tưởng gia trì:** quán tưởng Ngũ Phương Phật hóa thân của Long Vương ở tại hư không phóng ánh sáng ngũ sắc gia trì cho bảo bình.


### **Phần 15: Tán thán và hồi hướng**


**Đọc kệ tán thán:**
Long Vương bảo bình pháp
Liên Sinh Hoạt Phật truyền
Cùng tu pháp lực tăng
Cầu nguyện đại cát tường.

**Hồi hướng: **

Nguyện có được tài bảo lớn, sau đó bố thí pháp tài cứu giúp chúng sinh.


### Phần 16: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 17: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 18: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 19: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 20: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

**(Hết nghi quỹ)**


### Điều kiện tương ứng của pháp Long Vương bảo bình


Liên Sinh Hoạt Phật khai thị:

Trước đây tôi đã từng dạy pháp Long Vương bảo bình, cũng có rất nhiều người đi dâng bảo bình Long Vương, khi đó có rất nhiều đệ tử Chân Phật Tông đều đã hứa nguyện cũng đi khắp nơi để dâng bảo bình, cũng có người có được cảm ứng, rất nhanh chóng nguyện vọng đã thành hiện thực. Cũng có người không có cảm ứng gì. Vì thế, có người hỏi: “Vì sao có người có cảm ứng, có người không có cảm ứng?” Bảo bình như nhau, tu pháp như nhau, cùng đi ra biển để dâng bảo bình, có người có cảm ứng, có người thì không có cảm ứng. Vấn đề này rốt cục nằm ở đâu? Chúng ta biết bản thân Long Vương rất từ bi, pháp này cũng được xem như là pháp mà Long Vương và Như Lai ở trong kinh Long Vương truyền xuống. Cũng niệm chú, cũng dâng bảo bình, cùng đi ra biển và còn tu pháp bảy ngày. Nói đúng ra phải có cảm ứng, nhưng vì sao lại không có?

Thật ra nói đến việc cảm ứng cúng dường, có một số người rất nhanh có cảm ứng, có một số người thật sự là không có cách nào cho bạn có cảm ứng được. Bởi vì trên thực tế, đi dâng bảo bình Long Vương là để có được sự kết nối liên thông với Long Vương, bởi vì khi quán tưởng Long Vương, dâng lên ngài thứ mà ngài thích nhất, hy vọng ngài có thể cảm ứng, tức là ngài có thể nhìn thấy bạn và sau đó ban phúc cho bạn. Nhưng trong quá trình bạn tu pháp hoặc nguyện vọng mà bản thân mình cầu không phù hợp với chính bạn: không chắc phù hợp với ý của bản thân Long Vương, cũng không chắc bạn có thể có được cái phúc này, hoặc là nguyện cầu của bạn quá lớn, không thích hợp để cho bạn.

Lấy đơn giản một ví dụ. Có một người nông dân làm một việc tốt, quan lớn ở vùng đó cho gọi người này đến, bảo với anh ta rằng: “Anh làm việc này tốt quá, anh là người làm ruộng, ta sẽ cho anh một nguyện vọng, anh có thể nói nguyện vọng trong lòng mình ra.” Người nông dân nghe nói có thể ước nguyện thì rất vui mừng nói: “Tôi làm việc này đã khiến ông thích thú như vậy thì tôi sẽ có một điều ước.” Điều ước của anh ta rất lớn. Là điều gì thế? Chính là “hy vọng lập tức lên chức huyện trưởng”. Thật ra điều này là không thể nào, vì người nông dân không biết chữ, chí ít có rất nhiều sự việc phải cân nhắc xem năng lực của bản thân mình có thể làm được không đã.

Đệ tử chúng ta thường đi khắp nơi hứa hẹn, cũng đi khắp nơi cầu lung tung, ngay cả chơi cổ phiếu cũng cầu, nếu thế thì Long Vương cũng phải quản cả thị trường cổ phiếu mất. Cho nên khi bạn cầu cũng phải dựa vào bổn phận của mình mà cầu. Rất nhiều đệ tử cũng cầu rất kỳ quái, thậm chí là đem cổ phiếu giả đi bán, hy vọng Long Vương sẽ gia trì cho họ có thể đem cổ phiếu giả bán sang nước khác, và phải bán được hết tất cả. Thỉnh cầu vô lý như vậy thật sự là rất quá đáng rồi. Ví dụ như đánh bạc, làm tổ trưởng, anh ta cũng cầu. Cũng có người đến Las Vegas, đến đến thành phố Atlantic để đi đánh bài, cũng cầu Long Vương giúp đỡ anh ta, đây đều là những thỉnh cầu quá đáng rồi. Cũng giống như người nông dân kia làm được việc tốt xong thì cầu được làm huyện trưởng vậy, những thỉnh cầu kiểu này đều là quá đáng. 

Cho nên nói chung, có tương ứng hay không tương ứng có liên quan tới phúc phần của bản thân bạn. Nếu bạn không tương ứng, phải nghĩ xem liệu có phải phúc phần của mình chưa đủ không? Liệu có phải nghiệp chướng của mình quá nặng không? Nên tu pháp sám hối. Phải tu đến trình độ nào đây? Chính là trước tiên bạn thỉnh cầu Long Vương, đến khi bạn nhìn thấy Long Vương hoặc mơ thấy mình đến Long Cung đi lấy tài bảo, hoặc Long Vương ban cho bạn các thứ, hoặc Long Vương phóng quang gia trì cho bạn, hoặc mơ thấy rồng, hoặc mơ thấy có con thuyền chở bạn sang bờ bên kia, đây đều là những giấc mơ cát tường mà Long Vương ban cho bạn, biểu thị bạn có thể tương ứng rồi, đây là có chứng có nghiệm rồi. Bạn đã có được giấc mơ tương ứng rồi thì lại tu pháp Long Vương bảo bình bảy ngày, rồi đem dâng bảo bình, như vậy mới có thể có tương ứng.

Phúc phần của bản thân mỗi người có lớn có nhỏ, Long Vương cũng phải xem phúc phần của bạn lớn nhỏ thế nào mà quyết định phải lập tức cho bạn hoặc là bạn phải từ từ tu mới có thể có được chứ. Hoặc là về cơ bản bạn không có cách nào có được phúc phần này. Nói chung là sẽ đều cho bạn chỉ thị. 

Cho nên bất kì pháp tu dâng cúng dường nào cũng đều như vậy, chứ không phải là tu pháp bảy ngày xong là có thể có được tương ứng. Giả sử mọi ước nguyện đều đạt được hết thế thì tôi cũng muốn ngày ngày tu pháp Long Vương bảo bình, bảy ngày là có thể cầu được rồi, như thế thì cái gì tôi cũng cầu, cái gì cũng ứng. Thế nhưng ở đây phải dựa vào tâm, phúc phần và con đường tương ứng của mỗi người, và xem cả nghiệp của chính mình nữa, còn cả hành vi nữa, tất cả những điều này đều phải xem xét. Hy vọng mọi người đã hiểu đạo lý của việc dâng bảo bình Long Vương và cúng dường.

Om mani padme hum.
16/7/1993.


![image](/img/img_ce23ec2448369029a1d151d3c07b833e.jpg)



### Điểm quan trọng khi tu pháp Long Vương bảo bình 


Khai thị của Liên Sinh Hoạt Phật.
Thời gian: 12/02/2011.
Địa điểm: Viên Nhuận Đường.
Quán đảnh: pháp Long Vương.

Vừa rồi Thượng sư Liên Nhuận có cầu pháp Long Vương, điểm quan trọng của bảo bình Long Vương trong pháp Long Vương là: thứ nhất, bạn phải quán tưởng bảo bình thành Long Vương, miệng bình là miệng của Long Vương, chỗ cổ bình tròn tròn này quán tưởng thành đầu của Long Vương, răng của rồng. Thế rồi xuống dưới thân bình tròn tròn này quán tưởng thành thân của Long Vương, chân của Long Vương. Bảo bình Long Vương cần phải được quán tưởng thành Long Vương như vậy. 

Thế rồi sau khi quán tưởng xong thì phải trang bị thêm nội tạng, trong Mật giáo phải trang bị thêm tim, gan, lá lách, phổi, thận, tất cả đều phải trang bị đầy đủ cho Long Vương. Mỗi thứ này đều có vật tượng trưng của nó, phải bỏ những vật tượng trưng này vào trong bình. Trước kia tôi có viết trong sách rồi, tim, gan, lá lách, phổi, thận, có thứ đại diện cho đầu của Long Vương, cũng có thứ đại diện cho đuôi của Long Vương, còn có cả thứ đại diện cho âm thanh của Long Vương nữa, nhưng vật tượng trưng này đều phải bỏ vào trong bảo bình Long Vương.

Trước đây Thượng sư của tôi nói như thế này. Bắt buộc trong bảo bình này phải bỏ một món đồ mà bạn thích nhất, món đồ mà bạn thích nhất đó gọi là “khó bỏ mà có thể bỏ”, bỏ vào món đồ khó bỏ mà bạn có thể bỏ đó thì bạn mới có thể có được sự ban phúc của Long Vương.

Người bình thường nghe tới đây thì nói “tôi không muốn tu  nữa”. Phải bỏ thứ mà bạn thích nhất vào trong bình, sau đó đem ra biển rồi ném xuống biển, thỉnh Long Vương tiếp nhận bình rồng này. Bạn không thể nào lại nhảy xuống nước để vớt nó lên, coi như thứ này không có được nữa. Thứ bạn thích nhất là gì? Ví dụ như kim cương. Bạn từ bỏ được viên kiêm cương mà bạn thích nhất, dâng cho Long Vương, đem thứ mà bạn thích nhất, bất kể là thứ gì, tóm lại là thứ bạn thích nhất, bỏ vào trong bình, cái này gọi là “khó bỏ mà có thể bỏ”. 

Sau khi “khó bỏ mà có thể bỏ” được rồi, Long Vương thấy là bạn thật sự vô cùng kiền thành, ngài mới có thể ban phúc cho bạn. Sau này Thượng sư của tôi thấy như vậy thì pháp Long Vương bảo bình sẽ rất khó để tu, liền dạy chúng tôi một cách đơn giản nhất, dùng thủy tinh thay thế cho kim cương. ”Khó bỏ mà có thể bỏ” này cực kì quan trọng. 

Thứ hai, bạn tu Long Vương bảo bình phải vô cùng thành tâm dâng hiến, nói cách khác là tôi dâng bảo bình này cho Long Vương, tôi làm với tâm thành kính dâng hiến nhất, đây là điều quan trọng nhất. Nếu có thể làm như vậy thì sẽ có được cảm ứng của Long Vương.

Những thứ bỏ vào trong bình là đại diện cho tim, gan, lá lách, phổi, thận và đầu, đuôi, ngoài ra còn có thứ mà bạn thích nhất, vàng cũng có thể cho vào. Có thể bây giờ vàng tương đối đắt, bạn dùng miếng vàng nhỏ thôi, không nhất định phải là miếng to. Nếu mà đòi to như quả bóng, bảo bình sẽ rất nặng, bạn sẽ không chịu nổi đâu, dùng một miếng vàng nhỏ, thứ bạn thích để làm vật tượng trưng. Khi ném bảo bình đi, bạn phải đem toàn bộ thân khẩu ý của bạn dâng hiến cho Long Vương. 

Trước khi đem dâng bảo bình, bạn phải trì chú, mỗi ngày vào buổi tối phải đi trì chú: “Nam-mô san-man-tô mô-thua-nam wa-zư-la mi.” Khi bạn trì chú thì còn phải kết thủ ấn, kết thủ ấn chữ “tỉnh” (井) [cái giếng] này đây là đầu, bên dưới là chữ “tỉnh”, bởi vì nó chính là chủng tử tự của Long Vương. Quán tưởng bảo bình này biến hóa thành Long Vương, bạn ở trước mặt ngài kết thủ ấn, trì chú, quán tưởng ngài đi vào bên trong bạn, bạn đi vào bên trong Long Vương.

Bình thường hiện tượng tu pháp có cảm ứng là bạn cảm thấy bản thân Long Vương ban tài bảo cho bạn, cảm ứng thấy Long Vương hiện thân, cảm ứng thấy hình tướng của Long Vương, ngài xuất hiện trong giấc mơ của bạn, xuất hiện trong thiền định của bạn, trong lúc trì chú bạn nhìn thấy hình Long Vương và thấy ánh sáng, lúc này bạn mới đi dâng bảo bình, đem bảo bình dâng ra biển. Đây là một điểm quan trọng. Thật ra Mật giáo mà chúng ta nói chính là yoga, bản thân yoga này dịch ra tiếng Trung chính là tương ứng.

Bản thân Long Vương rất dễ tương ứng. Thật đó, các vị Thần Tài mà chúng ta gọi, ví dụ trên trời thì có Tứ Thiên Vương, dưới biển là Long Vương, trên mặt đất là Sơn Vương, rất nhiều Sơn Thần, rất nhiều Hồ Thần. Sơn Thần, Thiên Thần, Hải Long Vương, Long Thần đều tương đối dễ tương ứng. 

Bản thân Long Vương có nguyện vọng của ngài, đó là ngài mong muốn có thể thành Phật, nhờ việc tu hành của bạn, bạn hợp nhất với ngài rồi, sau khi bạn thành Phật, Long Vương cũng có thể thành Phật. Chúng ta có thể khuyên thỉnh Long Vương thành Phật, tu hành thành Phật! Chính bản thân bạn cũng có thể thành Phật. Trọng điểm của pháp Long Vương là khi hồi hướng, bạn phải khuyên thỉnh Long Vương thành Phật. Long Vương thích thành Phật, mà ngài đã thích rồi thì khi bạn khuyên thỉnh ngài thành Phật, ngài sẽ sinh tâm hoan hỷ, sẽ ban phúc cho bạn.

Trọng điểm của pháp này nằm ở đâu. Thứ nhất, làm đầy bảo bình. Thứ hai, quán tưởng bảo bình biến thành Long Vương. Thứ ba, bạn phải chuẩn bị một đàn thành thanh tịnh, tu pháp Long Vương bảo bình cho tốt, quán tưởng, trì chú, kết thủ ấn, nhập Tam ma địa. Mỗi ngày làm như vậy cho đến khi ngài tương ứng với bạn, có được cảm ứng rồi, sau đó bạn lại cầm bảo bình này đi ra biển, dâng bảo bình cho Long Vương, sau đó khuyên thỉnh Long Vương thành Phật. Tu hành đúng như vậy mới là như pháp.

---
# File: nghi-quy-tu-tap/luc-do-mau-bon-ton-niem-tung-phap.md
# Title: Lục Độ Mẫu Bổn Tôn niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_0048aa25bb9bf5fbe1bdadb1bac952ee.jpg)



## Lục Độ Mẫu Bổn tôn niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn.
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha.  


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Văn cầu thỉnh


Con và chúng hữu tình
Tâm chí thành cầu thỉnh
Thánh tôn Lục Độ Mẫu
Phá trừ thọ chướng nạn
Tài phúc và trí huệ
Cầu gì đều như ý.


### Phần 14: Kết ấn và Quán tưởng tam quang bao trùm



![image](/img/img_97afabcd5efcae535992024650586650.jpg)


**Kết ấn:**

Đầu tiên hai tay đan nội phộc, hai ngón giữa dựng thẳng lên chạm vào nhau, hai ngón trỏ giơ lên mở ra hai bên, hai ngón cái giơ thẳng đặt cạnh nhau, chạm vào hai ngón áp út. Giữ thủ ấn trước ngực. 

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời trong vạn dặm không mây, có một tòa hoa sen lớn nổi lên, trong tòa hoa sen có một vầng mặt trăng, trong vầng mặt trăng có chữ “Tang” (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu xanh lục.

(2) Chữ Tang ở giữa vầng mặt trăng quay vòng biến thành một bông hoa upala. Bông hoa upala phóng quang làm lợi ích tất cả chúng sinh hữu tình. Ánh sáng thu về hóa thành Lục Độ Mẫu.

(3) Lục Độ Mẫu thân màu xanh lục, một mặt hai cánh tay, tay phải kết ấn Mãn nguyện hoặc ấn Thí vô úy, tay trái đặt trước ngực, dùng ngón áp út và ngón cái cầm một cành hoa upala có ba bông hoa, một bông chưa nở, một bông nở hé và một bông nở bung. Tư thế ngồi là chân phải duỗi ra, chân trái gập lại, ngồi trên tòa hoa sen. Thân khoác thiên y và có đủ loại trang sức quý báu. Sau lưng có nguyệt quang. Đỉnh đầu đội mũ Bất Không Thành Tựu Phật. 

(4) Lại quán tưởng Lục Độ Mẫu phóng ba ánh sáng trắng, đỏ, lam chiếu đến hành giả, gia trì cho chúng sinh tất cả đều quang minh cát tường, sở cầu như nguyện viên mãn.

(5) Quán tưởng trên mỗi bông hoa upala mà Lục Độ Mẫu cầm trên tay đều có chữ “Tang” màu xanh lục. Lại quán tưởng chữ “Tang” trên bông hoa upala nở bung phóng quang chiếu lên hư không rồi từ đỉnh đầu của hành giả tiến nhập vào tâm luân, tâm nở ra hoa sen, trên hoa sen có chữ “Tang” biến thành Lục Độ Mẫu. Lục Độ Mẫu từ từ biến to lên bằng hanh giả, trong sát-na, hành giả biến thành Lục Độ Mẫu không hai không khác.


### Phần 15: Trì tâm chú Lục Độ Mẫu


**Chú ngữ:**

Ôm ta-rê tu-ta-rê tu-rê sô-ha. (108 biến)


### Phần 16: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Tang), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Bổn tôn Lục Độ Mẫu, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 17: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 

**Tụng tán:**

*Mấy đời quá khứ con đã tu
Sự nghiệp của ba đời chư Phật
Một mặt hai tay thân lục sắc
Mau chóng Mẫu đem đến yên bình
Tay cầm cành hoa upala
Hành giả tán dương Thánh Độ Mẫu.*


### Phần 18: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 19: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 20: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 21: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 22: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 23: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


![image](/img/img_e0ad9de19c653d01ba89892ab5d346d7.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Lục Độ Mẫu


Lục Độ Mẫu có một đầu, hai tay, hai chân, toàn thân màu xanh lục ngọc, thân thể duyên dáng và mảnh mai, đầu đội mũ Ngũ Phật, trên chóp mũ trang trí Bất Không Thành Tựu Phật, khuôn mặt là thiếu nữ xinh đẹp 16 tuổi, giữa hai lông mày có hào tướng màu sắc của thất bảo, tuôn chảy tám vạn bốn nghìn loại ánh sáng, trang nghiêm mĩ lệ, thiên hạ hiếm có. 

Lục Độ Mẫu mặc thiên y váy xếp, đeo đủ loại trang sức quý báu, xung quanh thân tỏa ánh sáng cầu vồng, sau lưng tỏa ánh sáng mặt trăng, ngồi trên tòa hoa sen, tư thế ngồi tự do, chân phải duỗi về phía trước, dẫm lên một bông hoa sen, ý nghĩa là mọi lúc đều sẵn sàng đi cứu độ chúng sinh.

Hai tay ngài cầm hoa sen đỏ (hoa upala), tay phải đặt lên đầu gối phải, kết ấn Ban nguyện, lòng bàn tay hướng ra ngoài, là tâm nguyện ban hoa sen cho thiên hạ. Tay trái đặt trước ngực, dùng ngón áp út và ngón cái cầm một cành hoa upala, trên cành hoa có ba bông hoa upala. Một bông nở bung, một bông nở hé, một bông chưa nở, có hàm ý là ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai đều dựa vào lời thề nguyện của Phật pháp mà làm.

Nét mặt của Lục Độ Mẫu như từ mẫu, dường như mọi lúc đều sẵn sàng đi cứu những đứa con của mình. Ngài cao quý trang nghiêm, người nào muốn kiếp sau có được vẻ xinh đẹp thì tu pháp Lục Độ Mẫu là có thể được xinh đẹp.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị về Lục Độ Mẫu


Ngày xưa, Quan Thế Âm Bồ Tát vì thương xót chúng sinh trong thiên hạ mà rơi hai giọt nước mắt, một giọt nước mắt biến hóa thành Bạch Độ Mẫu, một giọt nước mắt biến hóa thành Lục Độ Mẫu, cho nên Độ Mẫu là từ bi nhất.

Lục Độ Mẫu còn được gọi là một vị Đại Bồ Tát cứu đời, trong Tạng mật còn gọi Lục Cứu Độ Mẫu là Đa La Bồ Tát, tổng cộng có 21 hóa thân, Bạch Độ Mẫu và Lục Độ Mẫu là chị em, gần gũi và thân thiết nhất, và cũng dễ tương ứng nhất. Rất nhiều hành giả Mật tông nữ đều tu trì vị này. Có một số người cả đời chuyên tu pháp Lục Độ Mẫu, đạt được trí huệ rất lớn. Chúng sinh chỉ cần thành tâm thành ý xưng niệm tên của ngài, trì tâm chú của Lục Cứu Độ Mẫu thì hành giả tự có thể đắc quả.

Bản thân Lục Độ Mẫu đưa ra ba nguyện vọng. Nguyện vọng thứ nhất, vì trong thời quá khứ, ngài từng làm một vị gọi là Công chúa Bát Nhã, có người hỏi ngài: “Vì sao không hiển hiện làm thân nam, mà lại hiển hiện làm thân nữ?” Ngài nói: “Bởi vì người nữ độ chúng sinh tương đối ít.” Cho nên ngài phát nguyện vĩnh viễn muốn dùng thân nữ để độ chúng sinh, tức là dùng hình tướng thân nữ để độ chúng.

Nguyện vọng thứ hai là, ngài hộ trì cho mọi khổ nạn, chỉ cần có khổ nạn thì ngài đều sẽ bảo vệ gia trì, có rất nhiều ma ngài đều có thể hàng phục.

Nguyện vọng thứ ba là, Quan Thế Âm Bồ Tát từng gọi Bạch Độ Mẫu và Lục Độ Mẫu đến, bởi vì Quan Thế Âm Bồ Tát rất đau khổ, bởi vì ngài độ chúng sinh rất vất vả, Bạch Độ Mẫu và Lục Độ Mẫu đều phát nguyện vọng rằng: “Sẵn sàng sẻ chia đau khổ độ chúng sinh cùng Quan Thế Âm Bồ Tát.”

Khi xưa, lúc Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi thiền dưới gốc cây chính là có Lục Độ Mẫu trụ đỉnh đầu. Bởi vì Lục Độ Mẫu trụ đỉnh, Lục Độ Mẫu từng hiển hiện trên đỉnh đầu Phật: “Om tare tutare ture soha hahahahaha.” Lục Độ Mẫu niệm xong câu chú này, Phật Đà đã khai ngộ, tương ứng cùng Lục Độ Mẫu! Phật Đà cũng tương ứng với Lục Độ Mẫu, sinh ra truyền thừa Lục Độ.

Trên phương diện tu trì Mật giáo thì pháp Độ Mẫu là tương đối dễ tương ứng. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ cũng là tu Độ Mẫu mà tương ứng, vị Độ Mẫu mà Liên Hoa Sinh Đại Sĩ tương ứng đầu tiên chính là Sư Diện Không Hành Mẫu Simhamukha. 

Cổ đại có rất nhiều tổ sư lấy Lục Độ Mẫu làm Bổn tôn tu trì. Đầu tiên là tổ sư phái Trung quán - Long Thọ Bồ Tát vĩ đại. Còn có tổ sư của Bạch giáo là Tilopa, Naropa, hai vị cũng tu Lục Độ Mẫu. Nguyệt Xứng Bồ Tát, Thanh Biện Bồ Tát, Atisha tôn giả đều tu Lục Độ Mẫu. Từng có một khoảng thời gian, Mật giáo ở Ấn Độ dần dần mất đi, Atisha tôn giả vì để cứu pháp đã đến Jambi ở đảo Java Indonesia để tìm Kim Châu đại sư. Atisha tôn giả ở một nơi gọi là Yogyakarta, rất gần Borobudur. Atisha tôn giả ở Yogyakarta cũng có tu pháp Lục Độ Mẫu. Sau đó, ngài lại thỉnh giáo Kim Châu đại sư, cuối cùng ngài đã truyền pháp Lục Độ Mẫu về Ấn Độ, rồi lại từ Ấn Độ tiến nhập Tây Tạng. Cho nên, nguyên nhân mà Tây Tạng có pháp Lục Độ Mẫu chính là nhờ Atisha tôn giả đã đem pháp Lục Độ Mẫu vào Tây Tạng.

Tay trái của Lục Độ Mẫu, ngón cái và ngón trỏ cầm cành hoa sen, bông hoa ở trên cao nhất còn chưa nở, còn là nụ khép lại. Bông hoa sen thứ hai mới nở một nửa, bông hoa sen thứ ba thì đã nở xòe hẳn. 

Tôi nói với mọi người một khẩu quyết, bạn chỉ cần quán tưởng trong bông hoa sen chưa nở của Lục Độ Mẫu có một chữ “Tang”, bạn dùng sự quán tưởng của bạn để nhìn rõ chữ “Tang” ở bên trong hoa sen. Rồi lại quán tưởng chữ “Tang” thứ hai ở trong bông hoa sen nở hé, rồi lại quán tưởng bông hoa thứ ba là bông hoa đã nở xòe, bên trong có một chữ “Tang”. Chú tự bay lên không, từ lỗ đỉnh đầu của bạn tiến nhập vào trong trung mạch đến tim của bạn. Khi ấy, hoa sen trong tim bạn nở ra, giống như hoa sen mà Lục Độ Mẫu cầm trên tay, chữ “Tang” tiếng Phạn sẽ tiến vào trong bông hoa sen trong tim của bạn, đây chính là tương ứng.

Mỗi lần tu pháp, bạn nhất định phải quán tưởng nhu vậy, chỉ cần bạn quán tưởng như vậy thì Lục Độ Mẫu sẽ hạ giáng. Khẩu quyết này là do Sakya Chứng Không Thượng sư đặc biệt gợi ý cho tôi: “Khi con muốn tu pháp Độ Mẫu, nhất định phải quán tưởng bông hoa chưa nở, bông hoa hé nở, bông hoa nở xòe ở giữa có một chữ “Tang” tiến nhập vào trong thân thể của con, trong tim con có hoa sen nở ra, chữ “Tang” ở trong tim con, lúc này, mặc dù con chưa tương ứng với Lục Độ Mẫu, nhưng chỉ cần con quán tưởng như vậy, ngài nhất định sẽ hạ giáng, đây chính là khẩu quyết Lục Độ Mẫu hạ giáng.”

Lục Độ Mẫu tổng cộng có 22 vị, chủ tôn chính là Lục Độ Mẫu, 21 vị khác đều là Độ Mẫu. Pháp của 21 vị Độ Mẫu là pháp chung của Lục Độ Mẫu cộng lại tổng cộng có 22 pháp, chỉ cần bạn tu tương ứng Lục Độ Mẫu thì bạn cũng sẽ tương ứng với 21 vị Độ Mẫu khác. Có thể vận dụng ở bất kì đất nước nào, bất kì lúc nào, thời gian, địa điểm, nhân vật nào bạn cũng đều có thể vận dụng. Hơn nữa tất cả những gì phát sinh trên thế gian này, 21 vị Độ Mẫu đều có quản được hết. Cho nên, chỉ cần bạn tương ứng với Lục Độ Mẫu rồi thì cũng sẽ tương ứng với 21 vị Độ Mẫu khác. Sau đó bạn tu Ma Lợi Chi Thiên cũng sẽ rất dễ tương ứng, tu Nhất Kế Phật Mẫu cũng càng dễ tương ứng, đây là điểm rất đặc biệt khi tu luyện pháp Độ Mẫu. Sự phân công của các vị rất tinh tế, 21 vị Độ Mẫu quản 21 loại tai nạn, đồng thời quản 21 loại ban phúc, tất cả đều nằm trong đó. 

Tịnh thổ của Lục Độ Mẫu có ba nơi, thứ nhất là tịnh thổ Cực Lạc thế giới, thứ hai là tịnh thổ ở núi Phổ Đà Lạc Già, thứ ba là tịnh thổ Ngọc Diệp Trang Nghiêm, đều là tịnh thổ của Lục Độ Mẫu. 

Tu trì pháp Lục Cứu Độ Mẫu có ba điều thù thắng:
1. Thay đổi tự tâm, đạt đến tâm cứu thế từ bi, chuyển thành đại bồ đề tâm bất sinh bất diệt. 
2. Từ đó minh tâm kiến tính, tịnh thổ chính là Thường Tịch Quang thổ.
3. Tất cả phúc huệ thế gian đều có thể thành tựu, trước tiên theo tướng mà đắc phúc báo thế gian, sau đó lìa tướng mà đắc tịnh thổ xuất thế gian.

Thề nguyện của Lục Độ Mẫu là pháp từ bi rất đặc biệt, người ác đã làm bất kì việc ác nào (trừ tội phản bội thầy là đại nghịch bất đạo ra) đều có thể quy y vị Bồ Tát đại từ bi này mà học pháp này, hơn nữa đều có thể được cứu độ. Nói chung, ngoài những người phản bội sư phụ ra, vì nghiệp chướng quá nặng không thể cứu độ, thì những người khác đều có thể được cứu. Đây là lời thề của Lục Cứu Độ Mẫu.

Người tu pháp Lục Cứu Độ Mẫu sẽ có được mật hiệu là Chính Pháp Kim Cang và Thanh Tịnh Kim Cang. Nguyên nhân là quan sát các pháp, tự do tự tại, ban mọi công đức cho chúng sinh, khiến rất nhiều người thoát li biển khổ, có được niềm vui, tu pháp đến trình độ cao nhất thì cực kì rực rỡ huy hoàng.


![image](/img/img_05d80c8429b8bc93298f1f93f0b0301a.jpg)


Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/ma-cat-lap-ton-machig-labdron-niem-tung-phap.md
# Title: Mã Cát Lạp Tôn Machig Labdrön niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_6aea667e3a1b2f36cf063d409f7d91df.jpg)



## Mã Cát Lạp Tôn **Machig Labdrön** niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Mã Cát Lạp Tôn Phật Mẫu.

(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_95842b579c26e21ff49bae5f70297c30.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn ****Mã Cát Lạp Tôn**

Hai tay đan nội phộc, ngón giữa giơ lên chạm vào nhau, hai ngón trỏ giơ lên mở ra hai bên, hai ngón cái đặt song song hơi đè lên ngón áp út. 

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời trong vạn dặm không mây, có một nguyệt luân từ dưới biển nhô lên không trung, ở chính giữa nguyệt luân có một chủng tự chữ Hum (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu lam, tỏa ra ánh sáng lam.

(2) Chữ Hum ở giữa nguyệt luân xoay tròn hóa thành Mã Cát Lạp Tôn, thân màu trắng, một mặt hai tay ba mắt, lõa thể, trang điểm bằng đầu lâu và chuỗi châu báu, tay phải lắc trống pháp, tay trái cầm chuông kim cang, chân phải cong và giơ lên không, chân trái duỗi ra, đứng ở tư thế múa.

(3) Quán tưởng thiên tâm của Mã Cát Lạp Tôn phóng ra một vệt ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả. Từ họng ngài phóng ra một vệt ánh sáng đỏ chiếu thẳng đến họng của hành giả. Tâm luân của ngài phóng ra một vệt ánh sáng xanh lam chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng trắng, đỏ, lam tan vào thân tâm của hành giả. Tiếp đó, quán tưởng minh điểm trên toàn thân mình to như hạt đậu, bay lên hư không, nghĩ đến chữ “pei”


![image](/img/img_57a94ce0fcc14cc43dfc4781bcb52f3b.png)


chuyển hóa thành Mã Cát Lạp Tôn Hắc Nộ Mẫu. 


![image](/img/img_dfe9c85dc63b9317dbd30d7825a94a4c.jpg)


Tay phải cầm dao cong. Tay trái cầm kapala (sọ người), kẹp quyền trượng kachangka. 
Bản thân hành giả nằm ngửa ra, quán tưởng thân thể mình là một tử thi to lớn bằng cả đại thiên thế giới. 
Có một cái kiềng ba chân, bên dưới nổi lửa, một cái đầu lâu to đặt trên kiềng ba chân. 
Mã Cát Lạp Tôn Hắc Phẫn Nộ Mẫu giống như người hành hình, đầu tiên dùng dao cong cắt lìa đầu hành giả, cắt lìa tứ chi, cắt xương thịt toàn thân, rồi bỏ vào trong đầu lâu để nấu thành cam lộ.


![image](/img/img_714e7c775905ca3325b952a9b74e5b98.png)


Chữ “Hang” thành cam lộ màu trắng.


![image](/img/img_5de14b4ecb1f477d527ce35a93c25869.png)


Chữ “Ah” thành cam lộ màu đỏ.
Đem cam lộ trắng đỏ cúng chư Phật Bồ Tát (Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp), khiến Phật Bồ Tát hoan hỉ.
Đem cam lộ trắng đỏ cúng chư Thiên Thần minh.
Đem cam lộ trắng đỏ cúng lục đạo chúng sinh.
Đem cam lộ trắng đỏ cúng cúng oan thân trái chủ.
Khiến tất cả hoan hỉ hưởng thụ, oan thân trái chủ của mình sẽ vui vẻ mà rời đi.

Lưu ý: Trong quá trình quán tưởng, phải niệm tam tự chú Om Ah Hum. Sau cùng, thân thể hành giả không còn gì nữa, hành giả đã thí thân để cúng dường tứ Thánh lục phàm thập pháp giới. Tu thành tựu pháp này có thể chứng vô ngã, vô niệm, vô chấp.


### Phần 14: Trì tâm chú Mã Cát Lạp Tôn


Tâm chú: Ôm ben-za ma-chi-la sha-sha hùm-hùm pây. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Hum), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Mã Cát Lạp Tôn, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.


![image](/img/img_f8b5ce533041a164b183058ed6d44ba6.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Mã Cát Lạp Tôn


Mã Cát Lạp Tôn có một đầu hai tay hai chân, toàn thân màu trắng, vóc dáng nhỏ nhắn uyển chuyển, đầu đội mũ năm đầu lâu, trên đỉnh đầu là bản địa Bất Không Thành Tựu Phật. Ngài có dung nhan của một thiếu nữ trẻ trung 16 tuổi, khuôn mặt khẽ cười, giữa hai lông mày có con mắt thứ ba. 

Mã Cát Lạp Tôn lõa thể, mặc thiên y, đeo chuỗi xương người, chân phải cong và giơ lên, chân trái đứng tư thế múa trên đài hoa sen. Tay phải giơ cao lắc trống pháp, tay trái cầm chuông kim cang. 

Mã Cát Lạp Tôn còn được gọi là Lạp Tôn Ma, là vị sáng lập phái Giác Vũ của Mật tông (còn gọi là phái Hi Giải, phái Hỉ Giải). Ngài là đệ tử kế truyền và Phật Mẫu của một đại thành tựu giả người Ấn Độ, ngài Dampa Sangye (tên tiếng Tạng của Đạt Ma Tổ Sư), là một trong số cực kì ít các nữ tu hành giả người Tây Tạng đã thành tựu. 

Ý nghĩa của phái Giác Vũ là "đoạn cảnh", nghĩa là cắt đứt giải trừ mọi phiền não. Tất cả mọi phiền não sẽ sinh ra nghi hoặc và tạo nghiệp, là căn nguyên của việc sinh tử luân hồi, do vậy lấy bồ đề tâm để cắt đứt những tư tưởng vì lợi ích của bản thân, lấy cái "kiến" về tính Không để cắt đứt những bám chấp vào luân hồi, lấy "con đường chung" để cắt đứt bốn loại tâm ma, đây chính là ý nghĩa của phái này. Phái Giác Vũ dựa vào nhận thức về bát nhã tính Không để loại bỏ chấp ngã, đạt tới việc dừng dứt tất cả khổ não và căn nguyên của nó, từ đó đạt được giải thoát.

Mã Cát Lạp Tôn cũng là vị sáng lập ra pháp Xả thân của Mật tông Tây Tạng. Pháp Xả thân chính là dạy mọi người về bố thí, yêu cầu bạn quán tưởng việc phá nát thân thể của chính mình, lấy tất cả mọi thứ trên thân mình, bao gồm cả mình và thân thể để cúng đi hết, dâng cúng toàn bộ và hết thảy cho chúng sinh, làm lợi ích cho thập pháp giới, cúng dường tam ác đạo. Đây chính là tư tưởng vô ngã. Do vậy, pháp Xả thân chính là quán Vô ngã.

Tu pháp này là:
Xả thân.
Phát đại bồ đề tâm.
Hoàn toàn từ bỏ chính mình, cúng dường hết thảy.
Tiêu diệt tham, sân, si của bản thân.
Bởi vì cách tu pháp như vậy nên rất dễ dàng có được tư lương tràn trề, thành tựu tu chứng Vô ngã, chứng đắc tính Không.
Tất cả mọi khẩu quyết của pháp này đều là Đại viên mãn.
Bố thí lớn nhất, sẽ được phúc báo lớn nhất.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị về Mã Cát Lạp Tôn


Truyền thuyết có liên quan đến Tổ sư Đạt Ma thì có rất nhiều, ngài là vị tổ sư đầu tiên của phái Giác Vũ Tây Tạng, truyền thuyết nói ngài truyền pháp cho Mã Cát Lạp Tôn giả. 

Sau khi Tổ sư Đạt Ma được mai táng, ngài liền nhờ cây mà trốn khỏi quan tài, rồi lại nhờ đất mà trở về Ấn Độ. Trên đường đi, khi đi qua Tây Tạng, ngài đã gặp Milarepa, còn gặp cả Mã Cát Lạp Tôn giả, khi ấy, tên gọi của ngài là Dampa Sangye, đây là tên tiếng Tạng của Tổ sư Đạt Ma. Ngài cũng có một phái riêng, gọi là phái Hi Giải, còn được dịch ra tên khác là Thích Hi Giaỉ, Hỉ Giải, Hi Kết, Hệ Giải. Đạo lí của phái Hi Giải chính là đạo lí của Thiền tông, cho nên Mật tông Tây Tạng có pháp của Thiền tông, trong pháp Đại viên mãn có pháp của Thiền tông, chính là vì Dampa Sangye từng đến Tây Tạng, cho nên bốn phái Hồng, Hoàng, Bạch, Hoa cũng học pháp của Thiền tông Dampa Sangye. Dampa Sangye từng truyền cho minh phi của ngài, chính là Mã Cát Lạp Tôn giả, ngài đã dạy minh phi của mình pháp Xả thân. 

Mã Cát Lạp Tôn giả màu trắng là một hành giả nữ, tay phải của ngài cầm trống pháp và lắc, tay trái cầm chuông kim cang, một chân giơ lên cao, một chân đứng. Tổ sư của phái Hỉ Giác chính là Mã Cát Lạp Tôn giả, ngài thường cùng với các đệ tử sống trong rừng núi hoang dã, tu pháp Xả thân là chính. Vì sao ngài muốn xả thân? Ngài đem thân thể mình thí xả cho tất cả chúng sinh giữa trời đất, xả bỏ thân này để bồi dưỡng cho người khác, pháp này thuộc về Mật giáo. Nhìn chung trong Tạng mật rất hiếm có. Đầu lâu của ngài, vật trang sức bằng xương của ngài đều có lực gia trì. Cho nên Mật giáo không giống với nơi khác, họ dùng đầu lâu.

Có người hỏi tôi: “Vì sao Mật giáo phải dùng sọ người? Vì sao dùng chuỗi niệm hạt bằng xương người? Vì sao dùng chuỗi bằng xương để trang trí thành Kim Cang Thần?” Tôi giải thích thế này, ở đây chính là pháp Xả thân, vì sao có thể làm pháp Xả thân? Bởi vì Vô ngã thì mới có thể làm pháp Xả thân. Nếu bạn còn quý cái thân thể của mình thì vẫn là còn có chính bản thân mình! Đã gọi là pháp Xả thân thì không còn thân thể nữa! Rất nhiều người phương Tây cũng không hiểu vì sao phải xả thân, vì sao phải dùng đầu lâu, chuỗi hạt thì bằng xương người, vì sao dùng đầu lâu để làm thành pháp khí, ngay cả thổi cũng là dùng đầu lâu, bởi vì bản thân người Tây Tạng tu Tạng mật đều biết đến pháp Xả thân, xả bỏ thân thể của chính mình, như vậy là Vô ngã rồi.

Xả như thế nào? Hai con mắt hóa thành nhật nguyệt của vũ trụ, da dẻ thì hóa thành mặt đất của vũ trụ, xương và thịt hóa thành bụi trần và núi của vũ trụ, sông suối chính là máu trên người bạn, ao hồ đại dương sông suối đều là máu trên người bạn hóa thành. Hơi thở của bạn hóa thành gió, lông trên thân thể bạn hóa thành cây trên mặt đất. Chính là quán tưởng như vậy, cắt bỏ toàn bộ thân thể bạn để thí cho tất cả chúng sinh. 

Mã Cát Lạp Tôn rất nổi tiếng, mặc dù hiện tại không còn phái Giác Vũ, nhưng tư tưởng thiền và pháp Xả thân của phái này đã đi vào trong tim người Tây Tạng.

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/ma-dau-minh-vuong-niem-tung-phap.md
# Title: Mã Đầu Minh Vương niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_3fc60bbbd06729d29e9b552066ecc9f7.jpg)



## Mã Đầu Minh Vương niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Mã Đầu Minh Vương.

(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha.  


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_bd24eb6ad539dec0f6c0674d43f990da.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn Mã Đầu Minh Vương**

Tay trái nắm lại, ngón trỏ và ngón cái tạo thành hình khuyên. Tay phải ngón trỏ và ngón cái cũng tạo thành hình khuyên, còn ngón giữa, ngón áp út và ngón út thì giơ thẳng, hai tay tựa vào nhau.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Quán tưởng trong hư không có một chủng tử chữ Seh (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu đỏ, chữ Seh xoay tròn hóa thành một vị Mã Đầu Minh Vương. 

(2) Mã Đầu Minh Vương có một mặt hai tay, thân màu đỏ, ba con mắt trợn tròn, răng lộ ra ngoài, tướng mạo dữ tợn. Râu tóc đều có màu đỏ cam dựng thẳng, trên đỉnh đầu có một đầu ngựa làm vật trang sức. Tay phải cầm bảo trượng đầu lâu, tay trái cầm sợi thừng có móc. Có hai chân, chân phải cong chân trái duỗi, đứng trên nhật luân hoa sen trong ngọn lửa bát nhã cháy hừng hực.

(3) Quán tưởng thiên tâm của Mã Đầu Minh Vương phóng ra một đường ánh sáng trắng chiếu đến thiên tâm của hành giả, họng của ngài phóng ra một đường ánh sáng đỏ chiếu đến họng của hành giả, tim của ngài phóng ra một đường ánh sáng lam chiếu đến tim của hành giả. Ba ánh sáng trắng, đỏ, lam hòa nhập vào thân tâm hành giả, gia trì cho hành giả.


### Phần 14: Trì tâm chú Mã Đầu Minh Vương


Tâm chú: Ôm sê pê-ma-ta-chi ha-ya-chi-wa sê hùm pây. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Seh), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Mã Đầu Minh Vương, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


![image](/img/img_f1f9309b496b4837d31ed0cc1139645c.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Mã Đầu Minh Vương


Mã Đầu Minh Vương có một mặt hai tay, thân màu đỏ, ba con mắt trợn tròn, răng lộ ra ngoài, tướng mạo dữ tợn. Râu tóc đều có màu đỏ cam dựng thẳng, trên đỉnh đầu có một đầu ngựa làm vật trang sức. Tay phải cầm bảo trượng đầu lâu, tay trái cầm sợi thừng có móc. Có hai chân, chân phải cong chân trái duỗi, đứng trên nhật luân hoa sen trong ngọn lửa bát nhã cháy hừng hực.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị về công đức và khẩu quyết tu trì pháp Mã Đầu Minh Vương 


Mã Đầu Minh Vương còn gọi là Tấn Tật Kim Cang, Tấn Tốc Kim Cang, Đạm Thực Kim Cang. Mã Đầu Minh Vương là một trong số tám đại Minh Vương, là hóa thân của Quan Thế Âm Bồ Tát, cũng được gọi là Mã Đầu Quan Âm, là giáo lệnh luân của Quan Âm Bồ Tát, uy lực vô cùng. Mã Đầu Minh Vương là biến hóa của Quan Thế Âm Bồ Tát cho nên bản địa của ngài chính là A Di Đà Phật.

Có hai lợi ích công đức chủ yếu khi tu trì Mã Đầu Minh Vương:
1. Độ hóa đạo súc sinh.
2. Tránh mọi ác chú tà pháp.

Mã Đầu Minh Vương theo như trong kinh điển viết thì một tay của ngài cầm quyền trượng, trên đầu mút của quyền trượng có một cái đầu lâu, tay kia thì có khi kết ấn phẫn nộ, có khi cầm sợi dây thừng. Mã Đầu Minh Vương có màu sắc chủ yếu là màu đỏ, ngoài ra còn có màu đen và pha thêm một chút màu lam, tượng trưng cho ý nghĩa hàng phục. 

Mã Đầu Minh Vương là tướng phẫn nộ của Quan Thế Âm Bồ Tát, lục đạo chúng sinh đều là đối tượng độ hóa của ngài, nhưng ngài thiên về độ đạo súc sinh, bởi vì ngài là ngựa.

Pháp khí chủ yếu của Mã Đầu Minh Vương không phải là cây trượng đầu lâu luật lệnh của ngài, cũng không phải sợi dây thừng, mà là cái răng của đầu ngựa trên đỉnh đầu ngài. Mã Đầu Minh Vương có pháp lực cực nhanh, bởi vì “mã lực” chạy nhanh nhất, sức mạnh và vận tốc của ngựa là nhanh nhất. Vì tên ngài có Mã Đầu, nên bất kể là bùa ngải giáng đầu ở đâu, ngài đều có thể phá giải, pháp lực phổ khắp năm đại châu, uy lực vô cùng.

Cho nên, thứ nhất là ngài rất nhanh, pháp lực của ngài khi triển khai thì có tốc độ nhanh nhất.

Thứ hai, sức mạnh nhai nghiền của ngài cực kì lớn, ngài có thể dùng răng để làm tất cả mọi pháp. 

**Pháp tiêu tai trừ bệnh: **Nếu người nào có bệnh, khi tu pháp Mã Đầu Minh Vương thì quán tưởng răng của đầu ngựa, chỗ nào có bệnh thì nhai cắn vào chỗ đó, đương nhiên là đừng có tự cắn vào chính mình, cắn chính mình sẽ đau đó, dùng quán tưởng thôi. Người này có bệnh, ở trước mặt bạn, bạn xem họ chỗ nào có bệnh, ví dụ tim có bệnh, bạn hãy quán tưởng tim của họ, dùng phương thức nhai để nhai sạch và tiêu trừ bệnh của họ. Tu pháp này có thể nhai bệnh trên thân mình, cũng có thể nhai bệnh trên thân người khác, đây là pháp tiêu tai.

**Pháp tăng ích:** Phải quán tưởng Mã Đầu Minh Vương ngoạm một khối vàng hoặc một đống tiền giấy đem về, như thế là bạn sẽ phát tài, đây là pháp tăng ích dùng để phát tài.

**Pháp tăng trí huệ:** Phải quán tưởng Mã Đầu Minh Vương đi ra dùng răng ngoạm vào kinh điển, mấy trăm bộ kinh tục đem về, như thế bạn sẽ có thể gia tăng trí huệ của bản thân mình. 

**Pháp kính ái viên mãn:**** **Pháp này là bạn thích cô gái nào, thích chàng trai nào, tu pháp Mã Đầu Minh Vương quán tưởng đầu ngựa bay đi, ngoạm vào chàng trai hoặc cô gái kia để đem về, nhưng đừng có ngoạm họ đến chết, chỉ giữ nhè nhẹ thôi, ngậm nhè nhẹ là được rồi, đem về bên cạnh bạn. Đây chính là pháp kính ái.

**Pháp hàng phục: **Tức là sai khiến Mã Đầu Minh Vương đi ra ngoài, sau đó giống như gặm cỏ vậy, răng sẽ nhai nghiền, dùng răng để nghiền kẻ thù của bạn. Kẻ thù, quân địch đều nhai cho chết sạch. Đương nhiên điều này thì không hay lắm, bạn nhai chết người ta thì sau đó phải đưa linh hồn của họ đến Phật quốc thanh tịnh, đây chính là pháp sát độ của Mã Đầu Minh Vương mà trước đây Sư Tôn từng giảng rồi. Nếu ngậm nhè nhẹ thì đều là tốt, còn nhai sạch sẽ thì sẽ trở thành pháp hàng phục.

Người tu Bổn tôn Quan Thế Âm Bồ Tát thì đại bộ phận Hộ pháp của họ đều là Mã Đầu Minh Vương. Có người hỏi tôi: “Bổn tôn của tôi là Quan Thế Âm Bồ Tát, vậy Hộ pháp của tôi là vị nào?” Phần lớn tôi đều trả lời là Mã Đầu Minh Vương, bởi vì bản thân Mã Đầu Minh Vương chính là tướng phẫn nộ của Quan Thế Âm Bồ Tát, có liên quan, cho nên, người có Bổn tôn là Quan Thế Âm Bồ Tát thì Hộ pháp của họ đều là Mã Đầu Minh Vương. 

Tu pháp Mã Đầu Minh Vương đầu tiên phải quán không, từ không trung hiện lên chủng tử chữ “Seh”, trời xanh vạn dặm không mây, trên mặt biển lớn bình lặng nhô lên một nguyệt luân, trong nguyệt luân có chủng tự, chủng tự xoay tròn hóa thành Bổn tôn… Đại bộ phận quán tưởng đều là như vậy, nhưng đôi khi cũng không cần phải phiền phức như thế, trực tiếp trong hư không xuất hiện chủng tử chữ “Seh”, chữ “Seh” này ở trên một bông hoa sen đỏ, rồi biến hóa thành Mã Đầu Minh Vương. 

Có thể quán tưởng trong tâm của hành giả có một chữ “Seh”, sau đó chữ “Seh” này phóng quang để triệu thỉnh Mã Đầu Minh Vương trong hư không, trong hư không cũng có một chữ “Seh”, sau đó chuyển hóa thành Mã Đầu Minh Vương, quán tưởng như vậy cũng được. Thủ ấn của ngài là trước tiên hai tay nắm lại, sau đó ngón trỏ và ngón cái chạm vào nhau tạo thành hình khuyên, ba ngón tay còn lại của tay phải thì giơ thẳng lên, sau đó bàn tay phải hơi áp vào nắm đấm tay trái, đây chính là thủ ấn Mã Đầu Minh Vương. Chủng tử tự là chữ “Seh”, chữ “Seh” chính là chủng tử tự của A Di Đà Phật. Chú ngữ của ngài là “Om seh pematachi hayechiwa seh hum pei”. Có chú ngữ của ngài, có hình tướng của ngài, có chủng tử tự của ngài, rồi còn có thủ ấn, như thế là hoàn thành một pháp niệm tụng của Mã Đầu Minh Vương. 

Các pháp yết ma trong Mã Đầu Minh Vương mà Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn từng truyền thụ có rất nhiều, ví dụ pháp phá độc, pháp bùa ngải giáng đầu không đến thân, pháp kính ái, pháp chày kim cang Mã Đầu Minh Vương, pháp kiên cố thân. 

Tu pháp chày kim cang Mã Đầu Minh Vương có thể bảo vệ bạn, mọi bùa ngải giáng đầu, tai nạn đều sẽ không xảy đến với bạn. 
Tu pháp kiên cố thân thì quỷ thần không có cách nào trộm khí, trộm minh điểm của bạn được.
Tu trì pháp Mã Đầu Minh Vương có thể làm cho thân thể khỏe mạnh, có thể bảo vệ bình an cát tường.

Hành giả chỉ cần tương ứng với Mã Đầu Minh Vương thì thỉnh cầu kết lời thề với ngài, kể từ đó về sau, bạn cúng dường Mã Đầu Minh Vương một ngày ba thời không quên thì mọi lúc ngài đều nghe theo lời sai khiến của bạn.

Thủ ấn của Mã Đầu Minh Vương là tương ứng với hai cái răng của ngài, nếu bạn tìm được răng ngựa để làm món đồ trang sức cho tượng kim thân của Mã Đầu Minh Vương thì uy lực của ngài lại càng hiển hiện vô cùng. Nếu bạn có thể tìm được hai chiếc răng ngựa và trang điểm cho tượng của ngài thì sẽ tượng trưng rằng ngài là Mã Đầu Minh Vương Kim Cang, như thế thì càng gia tăng sức mạnh!

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/ma-loi-chi-thien-bo-tat-niem-tung-phap.md
# Title: Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_b6358112c761525db2f0757d7cf9eb8d.jpg)



## Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát.
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng tam quang bao trùm



![image](/img/img_09251b153ea21f50e18c91bd9bdd754e.jpg)


**Kết ấn:**

Kết ấn cơ bản của Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát: hai tay đang nội phộc, hai ngón trỏ dựng thẳng chạm vào nhau, hai ngón giữa quấn lấy hai đầu ngón trỏ, đầu ngón tay chạm vào nhau. Hai ngón cái cũng dựng thẳng, giữ ấn trước ngực. 

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Quán tưởng trong tim mình sinh ra một chữ “Ah”, chữ Ah phóng quang từ lỗ đỉnh đầu đi ra, biến thành một vầng mặt trăng.

(2) Từ trong mặt trăng sinh ra một chủng tử tự chữ “Ma”, chữ Ma phóng ra ánh sáng màu vàng kim, hóa thành Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát. Quán tưởng Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát phóng ba lần ánh sáng trắng, đỏ, lam chiếu đến hành giả.

(3) Quán tưởng pháp ẩn hình: 


![image](/img/img_45b379c074018a37e3ef24e4416a1c67.jpg)


Kết thủ ấn ẩn hình: tay trái nắm lại, ngón cái chạm nhẹ vào ngón tay trỏ giống như tạo thành một cái khuyên, còn ba ngón tay kia thì nắm chặt vào lòng bàn tay, đặt tay trước ngực. Quán tưởng thân mình thu nhỏ lại và rút vào trong lòng bàn tay trái của chính mình. Sau đó lòng bàn tay phải úp lên trên nắm tay trái. Lúc này, chính mình đã ẩn mình vào trong thủ ấn ấn hình. 

Trong cách quán tưởng này, thủ ấn ẩn hình chính là pháp thân của Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát, hành giả đã ẩn mình vào trong tâm của Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát, tu trì một cách nhất tâm chuyên chú. Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát phóng ra ánh sáng trắng che kín lấy chính mình.


### Phần 14: Trì tâm chú Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát


Tâm chú: Ôm ma-ri-chi-yi sô-ha. (108 biến)
Chú dài: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm ma-ri-chi yi sô-ha.
(Hai câu chú này có công đức như nhau.)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Ma), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


![image](/img/img_4885f26d276a527f8e03d8786557493a.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát


Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát mặc thiên y màu đỏ, trên người đeo đầy trang sức trân quý tô điểm vẻ trang nghiêm của ngài. 

Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát có ba khuôn mặt, ba mắt, tám cánh tay (tay bên trái cầm cuộn dây thừng, cung, nhánh cây vô ưu, bó sợi, tay bên phải cầm chày kim cang, cây kim, móc câu, mũi tên). Khuôn mặt thẳng có tướng thiện lành, mỉm cười, màu vàng đậm, mở mắt, môi đỏ thắm, có tướng dũng mãnh tự tại. Khuôn  mặt bên phải có màu đỏ đậm giống như liên hoa bảo sắc của trăng tròn mùa thu, tỏa ra ánh sáng tối thượng, nét mặt hiền từ dịu dàng, tướng như một trinh nữ. Khuôn mặt bên trái là mặt lợn, phẫn nộ và đáng sợ, miệng nhe răng nhọn, mặt màu xanh đen, nhíu mày, thè lưỡi, trông rất đáng sợ, thị hiện tướng đại phẫn nộ. Bồ Tát đứng hoặc ngồi trên chiến xa do lợn vàng kéo. 

Ma Lợi Chi Thiên với hình tượng thiên nữ: Bồ Tát ngồi hoặc đứng trên tòa hoa sen, tay trái cầm quạt trời, giống như cái quạt của Duy Ma Cật Tiền Thiên Nữ, tay phải buông xuôi, lòng bàn tay hướng ra ngoài, là ấn bố thí và ban nguyện. Vị Bồ Tát này thân khoác thiên y màu trắng, cũng có thể tưởng tượng bên cạnh Bồ Tát có hai thiên nữ tay cầm phất trần màu trắng đứng phục vụ hai bên.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị về lai lịch vĩ đại của Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát và khẩu quyết tu trì


Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát là hóa thân của Đại Nhật Như Lai Vairocana, có sức mạnh thần thông tự do ẩn hình, là quyến thuộc của Đế Thích Thiên, thường ở phía trước mặt trời, đi trước mặt trời. 

Ma Lợi Chi Thiên là vị Kim Cang có lời thề sẽ hộ trì Chân Phật Tông, tên hiệu là Chiến Uy Kim Cang, hoặc là Dương Uy Kim Cang, là vị vô năng thắng, ngài có sức mạnh rất lớn, sức mạnh vô cùng vĩ đại. Bồ Tát này là một vị thần đại chiến đấu, người tu trì pháp Ma Lợi Chi Thiên có thể đánh thắng các cuộc chiến, luôn giành chiến thắng, uy phong hiển hách, như một vị vua sư tử tất thắng, dũng mãnh vô địch.

Ngày xưa, tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) từng gặp lúc nguy nan, nhờ sự bảo vệ và cứu hộ của Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát, cho nên đến nay tất cả mới được bình yên vô sự.

Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát và Lư Sư Tôn đã có khế ước với nhau, “hễ là đệ tử của Chân Phật Tông, ngài đều sẽ bảo vệ, bảo vệ mỗi một đệ tử của Chân Phật Tông”. 

Ma Lợi Chi Thiên chưởng quản Bắc Đẩu Thất Tinh, 28 vì tinh tú, 36 thiên cang, 72 địa sát, man thiên hoa cái, mặt trời mặt trăng, ngài quản lí tất cả tinh tú quỷ thần, cho nên được gọi là Phát Man Tinh Chủ. Ma Lợi Chi Thiên trong Đạo giáo được gọi là Đẩu Mẫu Tinh Quân, trong Mật giáo được gọi là Bồ Tát Marici, đạo Bà La Môn cũng tôn sùng Ma Lợi Chi Thiên, gọi ngài là Marici Dewa. Đông mật của Nhật Bản tôn sùng nhất là vị này, lão tổ sư ninja đã bái vị này, ninja kết thủ ấn chính là thủ ấn Ma Lợi Chi Thiên. Tất cả ninja Nhật Bản đều tôn sùng Ma Lợi Chi Thiên. 

Ma Lợi Chi Thiên có pháp khắc tượng, có thể trừ nạn, có tác dụng bảo vệ và trừ khử tai nạn.

Pháp khắc tượng có thể điêu khắc tượng cao một tấc, hai tấc, ba tấc đều được, không câu nệ chất liệu, chuyên môn trừ nạn, bất kì tai nạn nào ngài cũng đều có thể tiêu trừ. Có thể tiêu trừ:
1. Vương nạn, nạn liên quan đến chính trị.
2. Tặc nạn, những tai nạn liên quan đến trộm cắp cướp bóc.
3. Hành nạn, tai nạn khi đi ra ngoài, du lịch, đi tàu thuyền, máy bay.
4. Tai nạn liên quan đến đất nước lửa gió.
5. Nạn đao binh.
6. Nạn quỷ thần, xung phạm. 
7. Nạn trúng thuốc độc.
8. Nạn ác thú.
9. Nạn oan gia ác nhân, đối phương chuyên môn hại bạn nhưng không hại được.

Trong kinh Ma Lợi Chi Thiên viết: “Ma Lợi Chi Thiên thường đi trước mặt trời, không ai nhìn thấy được vị này, không ai có thể bắt được, không ai có thể bịa chuyện dối trá, không ai có thể trói buộc, không ai có thể nợ nần tài vật của vị ấy, oan gia sẽ chẳng có cơ hội thuận lợi để làm hại.” 

Còn nữa: “Ma Lợi Chi Thiên trong lúc đi đường sẽ bảo vệ ta, trong lúc không đi đường cũng bảo vệ ta, ban ngày bảo vệ ta, ban đêm bảo vệ ta, gặp oan gia cũng bảo vệ ta, trong vương nạn bảo vệ ta, trong tặc nạn bảo vệ ta, mọi nơi mọi lúc đều bảo vệ ta.” 
”Phật bảo các tì kheo, nếu có người có thể chép và đọc tụng, người thọ trì, thì giống như ở trong búi tóc, giống như ở trong quần áo, có thể ẩn mình mà đi, tất cả mọi điều ác xấu đều thối lui.”

Liên Sinh Hoạt Phật khai thị: làm Hộ Ma Chiến Uy Kim Cang, bạn cần có hai loại pháp khí tượng trưng cho Chiến Uy Kim Cang, một là cung, hai là tên. Nhưng với mũi tên này, bạn không được dùng sắt để rèn, sắt thì không đốt được, cho nên bạn làm bằng giấy là được, bạn hãy dùng giấy để làm thành mũi tên, dùng giấy để làm thành một cái cung nhỏ, sau đó đem đốt, biểu thị rằng đây là Chiến Uy Kim Cang. Nhưng không được ăn thịt lợn, bởi vì lợn là con vật để ngài cưỡi. 

Pháp khí gì mà tay ngài cầm đều có thể dùng giấy trắng để vẽ, bỏ vào lò đốt thì sẽ bắt đầu biến hóa thành pháp khí của ngài. 

Xin chớ coi thường Ma Lợi Chi Thiên, “thiên” này cũng là bất hoại thiên giới, là sự diễn hóa từ Thập Kim Cang tâm nhập vào trong thánh đàn kiên cố, là bất nhị thiên giới. Tôn sùng Ma Lợi Chi Thiên, cung kính ngài, cúng dưỡng ngài, cầu nguyện ngài, trì niệm chú ngữ của Ma Lợi Chi Thiên, bạn tương ứng với ngài, bạn cầu nguyện ngài, niệm: “Om marici sắc lệnh (nêu sự việc gì đó) hoàn thành soha.” Tất cả đều có thể thành tựu. 

Ma Lợi Chi Thiên có thể ẩn thân, có pháp ẩn thân, uy mãnh vô cùng. Chúng ta làm đệ tử nên học tập Ma Lợi Chi Thiên, bởi vì không một ai có thể bắt nạt được Ma Lợi Chi Thiên. Bạn học pháp của ngài thì sẽ không bị người khác sỉ nhục, sẽ không bị người khác ức hiếp, sẽ không bị người khác trộm cướp, không ai có thể thắng được ngài. Tu trì pháp Ma Lợi Chi Thiên có thể chiến thắng mọi ngăn trở, vị Bồ Tát này chắc chắn sẽ làm chúng sinh mãn nguyện.

Câu chú “Om marici yi soha” này ít nhất cũng phải trì 100.000 biến đến 300.000 biến, lúc này nếu làm pháp thì đều sẽ có hiệu quả. Chỉ cần có cảm ứng rồi thì bất kì việc gì cũng sẽ ứng nghiệm. Bạn tu pháp Ma Lợi Chi Thiên thì bất kì việc gì cũng đều làm được.

Nếu như bạn muốn ẩn thân, hoặc muốn loại bỏ cơn buồn ngủ, chú ngữ là: “Om amitiye mariciyi soha.”

Ma Lợi Chi Thiên không chỉ quản lí mọi cõi trời mà còn quản lí tất cả u minh, cho nên ngài là vua của mọi linh, đây là bí mật của ngài. Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn vào năm 1999 tại Seattle từng truyền thụ một pháp rất bí mật là pháp “Bách linh tương trợ”, có thể khiến sức mạnh của một người biến thành sức mạnh của trăm người, có thể phát huy sức mạnh vô cùng tận, hết sức trân quý. Nhưng có phải là ai cũng đều có thể tu không? Đương nhiên, cần xem bản thân mình có phát tâm vĩ đại không, có phải mình muốn quảng độ chúng sinh không. Pháp này là bất cộng đại pháp của Chân Phật Tông, phải chọn người mà truyền.

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn từng truyền Ma Lợi Chi Thiên bất cộng đại pháp, pháp ẩn thân, pháp loại trừ buồn ngủ, pháp kết ấn hộ thân, pháp khắc tượng trừ nạn, pháp khâu miệng khâu mắt kẻ ác, pháp trừ bệnh, pháp lấy vật, pháp bách linh tương trợ, v.v…


![image](/img/img_5ee9128904f3ab9cf60dc1a48b193002.jpg)



![image](/img/img_52912ba5680585298c4fab25066c998f.jpg)


Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/mac-giap-ho-than-kieu-tang-mat.md
# Title: Mặc giáp hộ thân kiểu Tạng mật
---

# Mặc giáp hộ thân kiểu Tạng mật


Bình thường, giả sử phòng tắm trong nhà bạn cũng làm kiểu như vậy là được rồi. Các bạn ở trong phòng tắm, những con ma đó đều chạy mất, như vậy sẽ không có ma đến nhìn trộm bạn tắm. Tôi nói cho bạn biết, trong Mật giáo chúng ta nói rằng trong nhà vệ sinh đích thực đều sẽ có thứ gì đó trốn ở trong. Vì thế, bạn (hành giả Chân Phật) khi đi vào nhà vệ sinh, trước tiên phải búng ngón tay một cái, biểu thị có người vào, những thứ ở bên trong phải đi ra. Có ý một chút như vậy, làm một động tác cảnh báo, ý nghĩa của búng ngón tay chính là như vậy.

Nhưng nếu mỗi lần bạn đi vào nhà vệ sinh đều nhìn xung quanh như vậy, tôi thấy đều chẳng thể “đi” được! Bởi vì sẽ rất căng thẳng, về mặt tâm lý bạn đã sợ trước rồi, muốn dọa ma, nhưng kết quả ngược lại là dọa chính mình! Vì thế phải phòng hộ.

Cần phải kết thủ ấn, còn phải đánh toàn thân, hơn nữa còn phải niệm tụng: “A-mi-ti-hùm-pan.” Chúng ta đọc trang 54 dòng 7: “Hai tay nắm lại, ngón cái ở trong, ngón trỏ duỗi thẳng, từ đầu đến chân và xung quanh đều chạm vào để trừ ma trong thân.” Đây là để đánh ma ở trong thân mình. Không những phải phòng hộ ma ở bên ngoài mà còn phải phòng hộ ma ở bên trong chính mình. Hai ngón cái ấn vào hai bên, đây là ấn gia trì, sau đó vỗ toàn thân, từ đầu đến chân bạn, đây là để trừ ma chướng trên người bạn. Bạn xem, lại còn phải nằm ngửa, hai ngón út móc vào nhau, hai ngón áp út đè vào trong, hai ngón giữa dựng thẳng chạm nhau, hai ngón trỏ cong lại ở đốt thứ ba, ngón cái hợp lại ở trong, kết ấn này tức là mặc giáp hộ thân, mặc giáp kim cang.” Thủ ấn này sao mà lôi thôi thế chứ! Thủ ấn này rất rườm rà.

Thật ra, chúng ta dùng chắp tay kim cang là được rồi. Ấn kim cang giáp phải là hai ngón giữa tách ra, sau đó cũng cũng là làm cái này, thật ra trước kia khi sư phụ dạy tôi là hai tay đan vào nhau mở ra, hai tay ấn vào ở phía trên bên này, làm kim cang giáp, kim cang quán. Cách làm pháp đó là như thế này: hai ngón trỏ giơ thẳng, hai tay ấn vào đây, nếu phải ấn thì là ấn ở đây, có người thì làm thành như thế này, vươn ra thì là như thế này.

Mặc giáp kim cang chính là mặc giáp hộ thân. Bình thường chúng ta làm mặc giáp hộ thân chính là như thế này, gọi là kim cang giáp ấn, tụng: “Na-mô-rat-na-cha-ya-ya, ôm ka-cơ hùm pan.” Dùng ấn này để ấn, ấn vào đầu, họng, tim, hai vai, trở về thiên tâm giải ấn, đây là cách bình thường chúng ta làm.

---
# File: nghi-quy-tu-tap/man-nguyen-dong-tu-niem-tung-phap.md
# Title: Mãn Nguyện Đồng Tử niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_1ac801eaa1e62773b1c11b5a269b7590.jpg)



## Mãn Nguyện Đồng Tử niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Mãn Nguyện Đồng Tử.

(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li.. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha.  


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_4b1b734721c3067bf227ebc7a01d2249.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn Mãn Nguyện Đồng Tử**

Tay phải kết ấn ban nguyện, tay trái kết ấn nâng quả cát tường.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Quán tưởng hư không, trong hư không có nguyệt luân, trong nguyệt luân có chủng tự chữ “La” (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu vàng hóa thành Mãn Nguyện Đồng Tử.

(2) Mãn Nguyện Đồng Tử hiện tướng một bé trai, một đầu hai tay, ngồi xếp bằng trên lá sen. Trên đầu có nhiều búi tóc, tay phải kết ấn ban nguyện, tay trái kết ấn nâng quả cát tường. Lá sen mọc lên từ bình bát của Phật Thích Ca Mâu Ni. 

(3) Thiên tâm của Mãn Nguyện Đồng Tử phóng ra một đường ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả, họng của ngài phóng ra một đường ánh sáng đỏ chiếu thẳng đến họng của hành giả, tâm luân của ngài phóng ra một đường ánh sáng lam chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng trắng đỏ lam đi vào hòa nhập vào thân tâm hành giả, gia trì cho hành giả.


### Phần 14: Trì tâm chú Mãn Nguyện Đồng Tử


Tâm chú: Ôm bi-li-in-ca sô-ha. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ La), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Mãn Nguyện Đồng Tử, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.


![image](/img/img_1b18e6e745f171bd09a67cf184504f57.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Mãn Nguyện Đồng Tử


Mãn Nguyện Đồng Tử hiện tướng một bé trai, một đầu hai tay, ngồi xếp bằng trên lá sen. Trên đầu có nhiều búi tóc, tay phải kết ấn ban nguyện, tay trái kết ấn nâng quả cát tường. Lá sen mọc lên từ bình bát của Phật Thích Ca Mâu Ni. 


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị lai lịch và sự thù thắng của Mãn Nguyện Đồng Tử


Khai thị ngày 4/2/2023 tại Đài Loan Lôi Tạng Tự.

Hôm nay làm Hộ Ma Mãn Nguyện Đồng Tử, Mãn Nguyện Đồng Tử chính là Băng Yết La Đồng Tử, cũng là Hà Diệp Đồng Tử, ba tên gọi này đều được. Ngài có thể thỏa mãn ước nguyện gì? Trước kia, trong sách của tôi đã từng đề cập: muốn được quý  nhân yêu thích, sẽ được mãn nguyện; muốn được đàn ông phụ nữ yêu thích, sẽ được mãn nguyện; muốn biết cách giải quyết việc băn khoăn nan giải, ngài có thể hiển hiện tại không trung hoặc ở trong  mơ nói cho bạn biết; có người bất hảo, ngài có thể khiến cho ác pháp bị phá trừ; người học hành không tốt, có thể khiến trở thành học sinh đứng đầu lớp; vợ chồng bất hòa, có thể khiến hòa hợp; sự nghiệp trắc trở, có thể khiến thuận lợi; ngài giúp chiến thắng trong các cuộc biện luận; có người nợ tiền bạn, ngài khiến người ta nhanh chóng trả tiền; ngài có thể chữa các loại bệnh tật; hung trạch có thể biến thành cát trạch; có thể khiến sản phụ sinh đẻ thuận lợi; người tu pháp này có thể tương ứng rất nhanh; có thể khiến công thành danh toại, tạo ra các phát minh mới, cảm xúc sáng tác tuôn trào, quan trọng nhất là có thể khiến bạn tương ứng các Bổn tôn. Và còn rất nhiều điều mà ngài có thể giúp bạn mãn nguyện nữa.

Mãn Nguyện Đồng Tử rất dễ tương ứng, chỉ cần bạn niệm chú của ngài 100.000 biến, cúng dường chu đáo, ngài sẽ tương ứng với bạn. Có một câu chú Hoa ngữ, vốn là bí truyền, mọi người có muốn biết không? (Mọi người vỗ tay). Thật ra có hai câu chú, một câu thì đã truyền rồi. Còn một câu là: “Thiên La Thần, Địa La Thần, thiên linh linh, địa linh linh, Ha Lê Đế Mẫu sắc lệnh, Mãn Nguyện Đồng Tử giáng lai lâm.” Có thể niệm đơn giản là: “Thiên linh linh, địa linh linh, Ha Lê Đế Mẫu sắc lệnh, Mãn Nguyện Đồng Tử giáng lai lâm.” 

Ha Lê Đế Mẫu chính là mẫu thân của Mãn Nguyện Đồng Tử, mẫu thân ra mệnh lệnh cho ngài đến thì ngài phải đến rồi. Niệm chú của ngài 100.000 biến, cúng dường ngài chu đáo, Mãn Nguyện Đồng Tử sẽ đến. Hôm nay khi làm Hỏa Cúng, cúng phẩm có rất nhiều rượu, Mãn Nguyện Đồng Tử chắc là chưa 18 tuổi đâu. Trong lúc làm Hộ Ma tôi có ngửi thấy mùi rượu, thật may không phải Mãn Nguyện Đồng Tử uống, mà là Kim Cang Thần uống.

Nguồn gốc của Mãn Nguyện Đồng Tử là vào thời Phật Thích Ca Mâu Ni, Ha Lê Đế Mẫu chính là Quỷ Tử Mẫu, bà sinh được năm trăm người con, Băng Yết La Đồng Tử chính là đứa con trai út. Nhưng Ha Lê Đế Mẫu lại thích nhất là ăn thịt trẻ con nhà người ta, rất nhiều đứa trẻ con nhà người ta bị chết, hoặc bị sinh khó, hoặc bị bệnh, bà liền ăn sạch những đứa trẻ này. Phật Thích Ca Mâu Ni thấy vậy bèn bắt đứa con trai út của bà đi, nhốt trong cái bát của Phật Thích Ca Mâu Ni. Khi Ha Lê Đế Mẫu trở về nhà, phát hiện ra đứa con trai mà mình yêu nhất không thấy đâu nữa thì bà hết sức đau lòng, vô cùng tức giận, chạy đi tìm khắp nơi. Bà có thần thông, hành động thần tốc, nhưng tìm khắp thế giới đều không thấy, cuối cùng không còn cách nào đành phải thỉnh giáo Phật Đà. Phật Đà là Thánh giả, hẳn là sẽ biết con trai bà ở đâu. Lúc này Phật Thích Ca Mâu Ni nói, bà mất đi một đứa con, bà đã đau buồn tuyệt vọng rồi, vậy bà ăn trẻ con nhà người ta, người ta có cảm thấy đau lòng tuyệt vọng không? Ha Lê Đế Mẫu nghe xong cảm thấy bản thân mình không đúng, trong lòng sám hối. Phật Thích Ca Mâu Ni nói với Ha Lê Đế Mẫu sau  này đừng ăn thịt trẻ con nhà người ta nữa, ta sẽ ra lệnh cho các đệ tử Phật sau này nhớ cúng dường bà, chúng ta niệm “Đại bàng Kim Sí Điểu, hoang dã quỷ thần chúng, La Sát Quỷ Tử Mẫu, cam lộ đều tràn trề. Om mulati soha. Om mulati soha. Om mulati soha.”

Ở đây chúng ta có được một bài học, bạn không muốn điều gì thì đừng làm điều đó với người khác. Cho nên, bản thân tôi cũng từng phát nguyện, khi tôi ngồi trên pháp tọa này từng nói, kể từ giờ trở đi, tuyệt đối không đi kiện cáo người khác, không ai thích bị kiện cáo cả, bản thân không thích bị kiện cáo, vậy thì không thể đi kiện cáo người khác, đây là điều kiện cơ bản nhất của Bồ Tát. Tôi vừa mới nói rồi, điều có lợi cho mình, có lợi cho chúng sinh thì đương nhiên cần làm rồi, điều không có lợi cho mình nhưng có lợi cho chúng sinh thì cũng phải làm, điều có lợi cho mình mà không có lợi cho chúng sinh thì không được làm, phải đặt mình vào vị trí người khác, đây mới là đệ tử Phật.

Băng Yết La Đồng Tử bị nhốt trong cái bát của Phật Thích Ca Mâu Ni, nhờ họa mà được phúc. Bát của Phật Thích Ca Mâu Ni là vật dụng hàng ngày của ngài, trên cầu Phật pháp, dưới cầu ăn mặc, bản thân chiếc bát này có pháp lực, bị nhốt ở trong đó chẳng khác gì có được gia trì lớn nhất từ Phật Thích Ca Mâu Ni. Những thứ mà Phật Thích Ca Mâu Ni dùng đều có lực gia trì, nhất là cái bát là món đồ để ăn cơm, có thể khiến cho cơm ăn áo mặc luôn dồi dào. Băng Yết La Đồng Tử ở trong chiếc bát có được thiền định, có được tam minh lục thông. 

Tam minh là nói đến:
1. Túc mệnh minh - Ngài có thể biết đời quá khứ, đời tương lai của mình, cũng có thể biết được đời quá khứ, đời tương lai của người khác.
2. Thiên nhãn minh - Ngài có thiên nhãn, có thể nhìn được Phật quốc tịnh thổ, nhìn được lục đạo, bốn Thánh giới, mười pháp giới, nghiệp quá khứ tương lai của mình, nghiệp quá khứ tương lai của chúng sinh.
3. Lậu tận minh - Dùng trí huệ kim cang để đoạn trừ mọi phiền não và chấp trước.

Lục thông là nói đến:
1. Thiên nhãn thông: Chính là thiên nhãn minh.
2. Túc mệnh thông: Chính là túc mệnh minh.
3. Thiên nhĩ thông.
4. Tha tâm thông: Không cần phải mở miệng ra nói, ngài đã biết ngay trong tâm bạn đang nghĩ gì.
5. Thần túc thông: Còn gọi là như ý thông, ngài đều có thể cát tường như ý, muốn cái gì có cái đó, giống như cái bát của Phật Đà, muốn cái gì có cái đó. Ngài đến đi cực nhanh, Phật quốc tịnh thổ, tam thiên đại thiên thế giới bất kì nơi nào, chỉ một ý  nghĩ là có thể đến được.
6. Lậu tận thông: Chính là lậu tận minh. Mãn Nguyện Đồng Tử tương đương với đẳng giác - bình đẳng giác ngộ. Nếu hành giả tương ứng với ngài thì quả vị của người đó cũng tương đương với ngài. Cho nên bị Phật Thích Ca Mâu Ni bắt đi vào nhốt vào trong bát, đây đúng là việc hiếm có và vô giá, lập tức có được tam minh lục thông. Tôi cũng muốn được bắt nhốt vào trong bát, hễ vào đó là cái gì cũng có. Sự gia trì của Phật Thích Ca Mâu Ni không đơn giản đâu, là gia trì của Phật lực đó. 

Khi quán tưởng là đầu tiên quán tưởng chữ “Pang” biến thành cái bát của Phật Thích Ca Mâu Ni, sau đó từ trong bát sinh ra lá sen, Băng Yết La Đồng Tử ngồi trên lá sen đó. Hoặc là quán tưởng chủng tự của ngài chuyển hóa thành Băng Yết La Đồng Tử. Vì sao dễ tương ứng với Mãn Nguyện Đồng Tử? Bởi vì ngài là trẻ con, sau khi ngài sinh ra, ngài du hí nhân gian ở cõi Ta Bà, giúp đỡ các chúng sinh. 

Có sư tỉ ở California tặng tôi một bức tượng Hà Diệp Đồng Tử, tôi để ở trong phòng hỏi việc của mình, không ngờ thật sự rất linh. Ngài thích nhất là món ăn lạnh như kem, kẹo. Thỉnh ngài để hỏi việc thật sự rất linh, trong túi của tôi hay để kẹo. Đệ tử tham gia pháp hội, chỉ cần niệm tên ngài, sau này mỗi người đều trở thành thần toán số một, biết trời biết đất, biết nhân quả ba đời, hành giả có thể cầu nguyện Mãn Nguyện Đồng Tử cho mình nhìn được nghiệp chướng của mình, bên cạnh đó có thể tránh được mọi tai nạn, có được mọi điều an lành. Cho nên, pháp hội cầu phúc ngày hôm nay là số một. 


![image](/img/img_7477abe6cacd6ce8baf00034273c9efa.jpg)


Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/mat-giao-dai-quang-hoa.md
# Title: Mật giáo đại quang hoa
---

![image](/img/img_0bc1e97fe75b40b612de539aed1cccbb.jpg)



## Mật giáo đại quang hoa


🪷 Giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh

Cuốn số: 662
Xuất bản năm: 1/1/2006
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎** ****Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


## Lời mở đầu


(Tập hợp các khai thị của Liên Sinh Hoạt Phật vào tháng 11/1992). 

Xin chào các vị Thượng sư, các đồng môn.
Cơ duyên ngày hôm nay vô cùng khó gặp, cũng xem như lần đầu tiên Biệt thự Cầu Vồng chính thức được sử dụng. Kể từ hôm nay tại đây sẽ thường xuyên có những hoạt động hoằng pháp. Bởi vậy trước hết tôi muốn giải thích thật rõ ràng chi tiết toàn bộ nghi quỹ của Mật pháp, nói cách khác là giảng thật chi tiết toàn bộ.

Việc giải thích toàn bộ này chính là hy vọng tôi sẽ không bỏ sót bất kì điều gì trong nghi quỹ Mật pháp. Hơn nữa, tôi sẽ giảng toàn bộ những khẩu quyết và những gì bản thân tôi đã đạt được trong quá trình tu pháp của mình để cho mọi người có thể biết được, để mọi người có thể cùng có được những hiểu biết như vậy.

Ý nghĩa của việc giảng giải chi tiết chính là giảng thật kĩ càng hết mọi thứ. Bởi vì tông phái của chúng ta hiện tại có 120 vạn đệ tử và ngày một tăng thêm. Nếu mỗi lần như thế này, tôi truyền dạy một lần sau đó người khác truyền lại, thậm chí tới người khác lại truyền lại thêm một lần nữa, như vậy càng truyền đi càng biến đổi, cuối cùng biến thành tam sao thất bản. Nên ý của tôi chính là muốn có thể giải thích Mật pháp rất rõ ràng, rất chi tiết để cho tất cả mọi đệ tử đều có thể hiểu thông hiểu thấu, từ đó dựa vào pháp này mà tu. Mỗi người sẽ đều có thể đạt được thành tựu tuyệt hảo, mỗi người sẽ đều có được sự học hỏi tốt nhất, đến cuối cùng mỗi người đều có thể thành Phật.
Điều này là tối quan trọng.

Trên thực tế, bản thân Mật pháp này chính là chân lý của vũ trụ, bởi vì nếu bạn dựa vào Mật pháp đích thực để tu, bạn chắc chắn sẽ có được trí huệ vô thượng. Ở đây có rất nhiều khẩu quyết quan trọng, trong quá trình giảng giải nghi quỹ không thể nào bỏ qua. Trước đây tôi đã viết trong sách rồi, đương nhiên cũng khá chu toàn rồi, nhưng cũng có rất nhiều thứ không thể nào viết ra bằng văn tự được, nói cách khác là trên văn bản không có cách nào để mô tả chi tiết, để viết ra một cách cực kì rõ ràng được. Nếu như rất nhiều đệ tử chỉ dựa vào sách để học như vậy, rồi nếu như họ dùng một cách hiểu khác để giải thích nghi quỹ này, thì rất dễ phát sinh những sai lệch. Bởi vậy nói tóm lại, những bài giảng mà chúng ta sẽ được học trong mấy ngày này có thể giúp mọi người có được khẩu quyết Mật pháp chính xác 

24/11/1992 - Biệt thự Cầu Vồng, Mỹ.


## 01. Chuẩn bị trước khi tu pháp


Mỗi lần chúng ta bắt đầu tu pháp, nhất định cần tịnh thân. Thế nào gọi là tịnh thân? Ý nói ở đây chính là một sự chuẩn bị trước khi bạn tu pháp.

Có rất nhiều người biết rằng trước khi tu pháp nhất định cần tắm rửa sạch sẽ hoặc trai giới. Vậy vì sao cần tắm rửa trai giới? Ý nghĩa của việc tắm rửa chính là để cho thân thể của bản thân sạch sẽ. Vậy còn trai giới thì sao? Chính là ăn đồ ăn thanh tịnh.

Vậy thì trong khi tu pháp, đương nhiên không nên ăn quá no. Nếu như bạn vừa mới ăn no xong mà lại tiến hành tu pháp luôn thì bụng căng tức. Nhưng nếu để bụng quá đói cũng không tốt. Do đó nên chọn thời gian để tu pháp là lúc không quá no, không quá đói.

Ngoài ra, trước khi tu pháp bạn cần đánh răng súc miệng, mà tốt nhất vẫn là tắm một cái. Khi tắm thì cần rửa tay, như vậy sẽ làm cho toàn bộ thân thể sạch sẽ. Nếu cần ăn thì nên ăn thức ăn thanh tịnh, việc này thuộc về phương diện trai giới. Tất cả những điều này biểu hiện cho việc bạn cần thanh tịnh thân khẩu ý trước tiên.

Khi bước vào đàn thành cần trang nghiêm cung kính, yên tĩnh, thân tâm của bạn cần thư giãn nhẹ nhàng. Nói như vậy không có nghĩa là đi vào bên trong là để chuẩn bị đi ngủ, mà là thân tâm của bạn cần thoải mái, thả lỏng, việc này rất quan trọng. Nếu bạn vừa mới đi từ bên ngoài, chạy hoặc đi bộ ở sân tập thể dục, vừa về nhà còn đang thở hồng hộc mà bạn lập tức đi vào đàn thành để tu pháp ngay thì sẽ không có cách nào làm tâm của bạn yên tĩnh lại được.

Hoặc ví dụ bạn vừa mới cãi nhau gay gắt với người nhà, máu dồn lên hừng hực, lúc này mà đi vào Mật đàn tu pháp thì cũng chẳng có cách nào an tịnh được.

Hoặc khi bạn có rất nhiều việc lo lắng phiền não, vừa nghe được rất nhiều tin tức xấu, vào lúc rất lo lắng này mà bạn vào Mật đàn tu pháp cũng sẽ rất khó có được tương ứng.

Nói cách khác, khi bạn vào Mật đàn, không những thân thể cần sạch sẽ mà suy nghĩ của bạn cũng cần phải bình tịnh như nước. Khi hồ nước không có gió thổi thì mặt nước hồ sẽ bình lặng như tấm gương. Dùng tâm trạng này để tu pháp thì rất dễ có được cảm ứng. Lúc khí huyết đảo lộn lung tung, lúc rất tức giận, hoặc trong lòng có rất nhiều lo lắng phức tạp đều rất khó tu pháp. Thân tâm thư giãn, không vướng bận việc gì cả, khi đó hãy vào đàn thành để tu pháp.


## 02. Trước khi bắt đầu tu pháp


Khi chúng ta bước vào Mật đàn tu pháp, trước khi bắt đầu, chúng ta thường làm động tác vỗ tay. Thế nhưng khi chúng ta cùng tu thì lại không làm như vậy. Việc vỗ tay này là một động tác để bắt đầu.

Vỗ tay chính là cần vỗ hai cái. Tác dụng của việc vỗ tay là "đánh thức", biểu thị rằng bạn sắp bắt đầu tu pháp. Ý nghĩa của việc đánh thức là thỉnh mời Phật Bồ Tát ở tại đàn tràng hoặc trong hư không xin hãy chú ý đến việc bạn sắp tu pháp. Bởi vậy mới gọi là đánh thức.

Cuối cùng, khi bạn muốn rời khỏi đàn thành hoặc muốn ngồi xuống, bạn cũng vỗ tay như vậy. Việc này cũng là đánh thức, để thông báo với các vị rằng bạn sắp rời đi. Ý nghĩa khác của việc đánh thức chính là giải tán, ý nói rằng: Tôi đã tu pháp xong rồi, xin mời tất cả chư Phật Bồ Tát có thể đi nghỉ ngơi, các vị có thể tự do rồi.

Ý nghĩa của việc vỗ tay khi ngồi xuống tu pháp và đứng dậy sau khi tu xong chính là như vậy đấy.
Cũng có người bắt chéo hai tay rồi búng ngón tay. Vỗ tay xong thì bắt chéo tay rồi búng ngón tay một cái. Hai việc này có ý nghĩa hoàn toàn giống nhau.

Trong Mật giáo có nhiều nghi quỹ rất lạ và ảo diệu.
Nói về việc vỗ tay, rất nhiều người đều cho rằng thật ra bạn không cần phải vỗ tay vẫn có thể tu pháp như thường, giống như lúc nãy chúng ta cùng đồng tu đều không vỗ tay. Trên thực tế, ngay khi chúng ta khi tập trung lại, Phật Bồ Tát cũng biết chúng ta sắp bắt đầu cùng tu rồi.

Nhưng khi chỉ có một mình cá nhân bạn "len lén" đi vào trong Mật đàn, Phật Bồ Tát sẽ không thấy bạn. Hoặc giả bạn sắp bắt đầu tu rồi nhưng Phật Bồ Tát không chú ý đến bạn, vậy thì bạn vỗ tay chính là để biểu thị một dạng bắt đầu, một kiểu đánh thức. Sau cùng lại một lần vỗ tay (hai cái) nữa, biểu thị rằng tu đến đây là kết thúc rồi.

Hành động vỗ tay này có ý nghĩa nghi quỹ sâu xa của nó trong đó.


## 03. Thanh tịnh


Khi sắp bắt đầu tu pháp, chúng ta đều biết rằng cần niệm chú thanh tịnh. Thanh tịnh ở đây chính là làm thanh tịnh thân khẩu ý.
Ngoài ra còn cần niệm thêm An thổ địa chân ngôn. Niệm An thổ địa chân ngôn chính là để phụng thỉnh tất cả các Thổ Thần đến để hộ trì và bảo vệ bạn tu pháp.

Lúc bắt đầu, chúng ta niệm:
(Thanh tịnh thân khẩu ý)
Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
(An thổ địa chân ngôn)
Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.

Khi niệm những câu chú này, rất nhiều người hỏi có cần phải quán tưởng không, có cần phải kết thủ ấn không.

Đúng là trong nghi quỹ của Mật giáo, thường khi trì chú cần phải có quán tưởng và kết thủ ấn. Khi quán tưởng, trì chú, kết thủ ấn cùng thực hiện đồng thời thì chúng ta có thể gọi là Tam mật hợp nhất. Nhưng trong tông phái của chúng ta, khi niệm chú thanh tịnh thì không có. Chúng ta trì chú là được rồi, việc kết thủ ấn và quán tưởng ở đây là không cần thiết. Bởi vì khi niệm chú thanh tịnh là bạn đã thanh tịnh thân khẩu ý của bạn luôn rồi.

Lúc vừa mới vào Mật đàn, trước đó làm các công việc thanh tịnh, nghĩa là bạn đã trai giới, tắm rửa. Thân đã thanh tịnh, khẩu đã thanh tịnh do bạn đã đánh răng súc miệng, ý đã thanh tịnh do bạn đã làm xong việc điều chỉnh lại tâm ý của mình, gạt đi mọi phiền não lo lắng, tức giận và những tạp niệm ra bên ngoài đàn thành hết rồi. Thân tâm của bạn đã thư giãn, do vậy khi bạn đi vào trong đàn thành, không thể nào lại có tạp niệm hoặc tức giận. Tất cả những phiền não đều phải bỏ ra bên ngoài đàn thành, thân tâm hoàn toàn thư giãn thả lỏng.

Đây là bước thứ nhất, chúng ta niệm xong chú thanh tịnh này thì có thể nói là đã làm xong bước một, làm xong bước một là có thể lắc chuông kim cang rồi.


## 04. Triệu thỉnh


Tiếp theo là triệu thỉnh.
Ở đây khi triệu thỉnh có một điều rất quan trọng, đó chính là khẩu quyết, bí quyết, kinh nghiệm tu pháp của Sư Tôn.

Bình thường khi chúng ta triệu thỉnh sẽ cần niệm chú triệu thỉnh, chắp tay lại, đọc ba lần: "Ôm ah hùm sô-ha."
Bạn triệu thỉnh chủ tôn ở trong Mật đàn, triệu thỉnh các chư vị khác, thậm chí triệu thỉnh thêm tất cả quyến thuộc. Hoặc có thể thỉnh tất cả các vị Phật của thập phương tam thế (quá khứ, hiện tại, vị lai), tất cả các vị Bồ Tát Ma Ha Tát.

Đầu tiên phải triệu thỉnh: 
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật.
Tiếp đó cần xem trong Mật đàn của bạn vị chủ tôn là ai thì bạn triệu thỉnh vị đó đến.

Dùng ý niệm để triệu thỉnh.
Trong Mật thừa, triệu thỉnh thường được thực hiện bởi sự kết hợp giữa thủ ấn, thần chú và quán tưởng. Hiện nay chúng ta tu pháp chỉ là chắp tay lại để niệm chú triệu thỉnh. Đây là dùng ý niệm để triệu thỉnh. Thế nào gọi là dùng ý niệm để triệu thỉnh?

Khi bạn chắp tay lại, bạn quán tưởng Tâm luân mở ra trở thành một đóa hoa sen. Trong hoa sen có một nguyệt luân, trong nguyệt luân có chủng tự Bổn tôn của bạn. Giả sử nếu đó là Phật A Di Đà thì sẽ là chữ "Seh". Chính là chữ Seh này in trên nguyệt luân của bạn.


![image](/img/img_e76d5e45f6783f52b2f02596b892e65b.png)


[Seh, đọc là "sê" là đọc theo tiếng Tạng. Theo Ấn Độ cổ đại, chủng tự này là "Hrih", đọc là "hật rị". Theo các chú ngữ của riêng Sư Tôn sau này chúng ta cũng sẽ gặp nhiều cách đọc là "chui", "chuây", hoặc "chu li".]

Lúc này bạn quán tưởng tâm của bạn biến thành một đóa hoa sen, ở trong hoa sen có một chữ Seh, có một nguyệt luân, ở trong nguyệt luân có một chữ Seh. Chữ Seh này theo màu sắc của Bổn tôn mà phóng quang ba lần.

Trong trường hợp này, bạn là A Di Đà Phật, màu sắc của ngài là màu đỏ, phóng ánh sáng đỏ ba lần, đi qua trung mạch, xuyên lên đỉnh đầu, rồi đi ra khỏi đỉnh đầu phóng vào hư không ba lần. Việc này chính là dùng ý nghĩ của bạn để triệu thỉnh.

Khi sử dụng niệm chú để triệu thỉnh: "Ôm ah hùm sô-ha" (3 biến), đồng thời lúc niệm này, bạn có thể dùng ý quán tưởng làm cho hoa sen ở Tâm luân nở ra, trong bông hoa sen có nguyệt luân, trong nguyệt luân có chú tự phóng ra ánh sáng đỏ ba lần. Sự quán tưởng của bạn ở đây chính là dùng ý để triệu thỉnh.

Để triệu thỉnh, còn có thể dùng thủ ấn và dùng chú ngữ.
Khi miệng chúng ta niệm lên chính là dùng chú ngữ để triệu thỉnh.
Thậm chí khi bạn chỉ cần phụng thỉnh: "Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật." Hoặc nếu chủ tôn của bạn là Diêu Trì Kim Mẫu, thì phụng thỉnh Tây Vương Kim Mẫu Đại Thiên Tôn, cũng chính là bạn đã triệu thỉnh rồi.

🌟

	
Mỗi lần tôi ăn cơm cũng đều triệu thỉnh chư vị.
Kì thực việc triệu thỉnh của riêng tôi rất đơn giản, có lúc tôi chẳng phụng thỉnh, lại cũng không niệm bất kì chú ngữ gì. Với tôi mà nói, mỗi lần ăn cơm mà lại phải nói một câu "Ôm ah hùm sô-ha" thì thật phiền phức.
Phật Bồ Tát chính là ở xung quanh ta mà thôi, bạn chỉ cần chắp tay lại: "Xin mời các ngài ăn cơm, xin mời các ngài ăn cơm", chính là chỉ niệm đơn giản như vậy. Các vị lập tức liền nghe thấy.

Mỗi lần ăn cơm tôi đều vỗ tay: "A! Thỉnh các ngài tới đây, các ngài ăn cơm thôi", chính là như vậy, rất đơn giản. Tôi chỉ cần phát khởi suy nghĩ của mình, các vị đều rất dễ cảm nhận được, các vị ở rất gần, hơn nữa việc này rất bình thường với tôi.

🌟

	
Quay lại với các bạn. Vì sao chúng ta lại niệm câu chú "Ôm ah hùm sô-ha" này?
Kì thực câu chú này là vĩ đại nhất. Ba chữ "Ôm ah hùm" chính là Tam tự chú, đại diện cho vũ trụ. “Ôm” chính là vũ trụ, “Ah” chính là Phật, “Hùm” chính là thành tựu. “Sô-ha” cũng như là Amen, chính là xin thỏa mãn lời ước nguyện trong tâm.

Lúc này, khi khởi đầu tu tập trong đàn thành, bạn muốn gì? Chẳng phải trong tâm bạn có mong muốn triệu thỉnh các vị sao, chẳng phải đó là ước nguyện trong tâm sao? (Ví dụ nguyện ước trong tâm tôi ngay bây giờ là mong muốn được thành tựu Phật Bồ Tát đó!)

Triệu thỉnh các vị, phụng thỉnh tất cả đến đây. Câu chú này được dùng làm chú triệu thỉnh, là câu chú vĩ đại nhất. Vốn dĩ câu chú này là để triệu thỉnh Ngũ Phương Phật, nên khi triệu thỉnh mà niệm câu chú này thì các vị từ Ngũ Phương Phật trở xuống đương nhiên đều sẽ nghe được, các vị sẽ đều đến hết. Bởi vậy việc sử dụng câu "Ôm ah hùm sô-ha" chính là tương đương với việc triệu thỉnh tất cả chư tôn của toàn bộ vũ trụ. Nhắc lại, đây là câu chú vĩ đại nhất.

Còn nếu dùng thêm ý để triệu thỉnh cũng vô cùng tốt. Trong suy tưởng bạn chắp tay lại, Tâm luân mở ra thành bông hoa sen, bên trong có nguyệt luân, nguyệt luân có chú tự, phóng ánh sáng ba lần. Nếu bạn có thể quán tưởng được như vậy, mà quán tưởng được rất rõ ràng thì Phật Bồ Tát nhất định sẽ tới. Đây là Mật pháp rất quan trọng, tối quan trọng: hoa sen, nguyệt luân, chú tự, phóng quang.

🌟

	
Kinh nghiệm trong tu Mật giáo là triệu thỉnh có thủ ấn càng hiệu quả. Chúng ta còn có thể dùng ấn triệu thỉnh. Cách này tôi chưa từng dạy cho mọi người. Trước đây hầu hết mọi người khi triệu thỉnh thì chắp tay lại, chỉ dùng chú để triệu thỉnh, thậm chí còn không dùng ý để triệu thỉnh.

Hôm nay ở đây tôi đã dạy mọi người cách dùng ý để triệu thỉnh rồi. Ngoài ra còn có thể dùng ấn triệu thỉnh. Là thế nào? Chính là dùng thủ ấn.
Thế chắp tay có phải là thủ ấn không? Chắp tay là thủ ấn để xin đáp ứng nguyện ước trong lòng mình, có ước mong trong tâm mình thì chắp tay lại. Nhưng bây giờ, bạn có thể dùng hai bàn tay đan ngoại phộc, rồi dùng móc câu - để tạo ra thủ ấn móc kim cang.

🌟


Giả định bạn đã niệm chú rồi, nhưng Phật Bồ Tát vẫn không đến, rồi suy nghĩ quán tưởng lại cũng không rõ ràng. Đã niệm chú rồi nhưng niệm không thành tâm thì sẽ không thể làm thanh tịnh chú này được. Như vậy dù bạn đã niệm xong chú thanh tịnh, cũng niệm xong cả chú triệu thỉnh, thì từ đầu tới cuối cũng không thực sự được thanh tịnh cho lắm. Việc dùng ý quán tưởng cũng có thể không chuẩn xác, ví dụ bông hoa sen trong tâm bạn bị nghiêng sang một bên.

Như vậy chẳng còn cách nào khác là tôi đành phải dạy thêm các bạn dùng ấn. Dùng thủ ấn Móc kim cang chính là dùng ấn để triệu thỉnh.


![image](/img/img_a7b31aea0d7a43d11cbbae65fb06fbe5.png)



![image](/img/img_74ce7c12b3f80fa1c40f95158c2e759b.png)


Hình ảnh thủ ấn móc kim cang như hình trên, là hình một cái móc. Làm ấn ngoại phộc rồi dùng thêm ngón trỏ tay phải để làm thành hình móc câu.

Ở đây chúng ta cũng dùng quán tưởng, tay kết ấn, miệng niệm:
"Nam mô Kim Cang Câu Bồ Tát Ma Ha Tát" niệm 3 lần.

Quán tưởng chiếc móc câu này bay thẳng lên giữa không trung, ở nơi rất cao rất cao. Bổn tôn ở trên mây cao giữa không trung, do vậy bạn cần quán tưởng ở trên mây có Bổn tôn, chiếc móc câu này sẽ bay lên không trung và móc vào đám mây kéo xuống. Chiếc móc câu này không được móc vào cổ áo của Phật Bồ Tát đâu nhé, đừng có làm sai, chỉ có thể móc vào đám mây của ngài thôi, hoặc có thể móc vào pháp tọa của ngài.

🌟


Trong Mật pháp có nhiều thứ rất vi diệu, hôm nay tôi chính là đang giảng về một thứ rất vi diệu như vậy cho mọi người biết. Mặc dù chỉ là một loại ý niệm, một loại nghi quỹ, nhưng có thể biến thành hiện thực. Bạn phụng thỉnh "Namo Kim Cang Câu Bồ Tát Ma Ha Tát" ba lần, để cho móc câu lớn lên vươn tới hư không, vượt qua các tầng mây với tới đám mây của Phật Bồ Tát, kéo xuống dưới, các vị sẽ từ phía trên hạ giáng, đây chính là bí mật. Khẩu quyết (bí mật, bí quyết) chính là ở đây.

🌟


Vào đàn thành tu pháp, phụng thỉnh Phật Bồ Tát, nhưng các bạn đều viết thư tới hỏi tôi: "Sư Tôn ơi mỗi ngày con tu pháp, không biết Phật Bồ Tát có đến không?"
Tôi nói: "Bạn thế là tiêu rồi! Mỗi lần bạn tu pháp đều không biết Phật Bồ Tát có đến hay không, tâm của bạn rốt cục đã dùng vào chỗ nào mất rồi?"

Bạn phụng thỉnh Phật Bồ Tát chư Tôn, Phật Bồ Tát sẽ phải đến, làm sao lại không đến chứ? Chính là vì bản thân bạn dụng tâm chưa đủ, phải dùng chú thỉnh, dùng ý thỉnh, còn dùng ấn thỉnh. Dùng ấn thỉnh là một cách phụng thỉnh vô cùng vi diệu. Dùng ý thỉnh cũng vô cùng vô cùng vi diệu nữa.

Hôm nay tôi đã nói hết cho mọi người biết về mọi khẩu quyết và tâm yếu rồi, chính là hy vọng 120 vạn đệ tử chúng ta ai ai cũng có thể thành Phật, chứ không phải là tu mấy năm vẫn chẳng có cảm ứng gì, hoặc là càng tu lại càng không muốn tu, chẳng khác nào đi vào trong đàn thành lãng phí mất nửa tiếng, bốn mươi phút, một tiếng đồng hồ.

Như thế đi vào trong đàn thành sẽ giống như đi vào trong hầm trú ẩn vậy, trốn máy bay một lúc. Nghiêm trọng hơn nữa là đi vào đàn thành cũng giống như đi ra ngoài cãi nhau một trận, hoặc là đi vào trong đàn thành để ngủ gật một lúc vậy.

Tương ứng - Phật Ngã hợp nhất.

Tu pháp cần rất chân thực. Bạn vào trong đàn thành tu thì cần phải đạt được Trời - Người hợp nhất hoàn toàn, liên kết giao tiếp được với Phật Bồ Tát.

Hôm qua chúng ta đã nói: hít thở bằng cùng lỗ mũi. [Ý rằng bằng việc hợp nhất với Phật Bồ Tát thì ta sẽ cùng với các ngài hít thở bằng cùng lỗ mũi. Hơi thở của Phật Bồ Tát chính là hơi thở của ta, hơi thở của ta cũng chính là hơi thở của Phật Bồ Tát.] Hít thở bằng cùng lỗ mũi chính là biểu thị ở trong Mật đàn, Phật và ta hợp nhất, ở cùng nhau.

Bạn không thể tu cả nửa ngày trời mà ta vẫn là ta, Phật vẫn là Phật. Phật có đến không? Không biết! Không biết là coi như xong rồi đấy.

Hôm nay tôi dạy mọi người cách triệu thỉnh, đây là pháp cực kì quan trọng. Bạn đã biết cách dùng móc câu, không chỉ có thể kéo các vị xuống, mà còn có thể gọi các vị xuống trước mặt ta. Không chỉ gọi các vị xuống trước mặt ta mà các vị còn đi vào trong tâm ta. Không chỉ đi vào trong tâm ta mà bạn còn biến thành các vị nữa! Đây mới được gọi là Mật giáo, mới được gọi là tương ứng.
Bạn tu Thượng sư tương ứng pháp, tu Bổn tôn pháp, bạn đều cần phải biến thành các vị, chứ không phải Phật là Phật, ta là ta, hai đối tượng tách biệt.

🌟


Khẩu quyết của việc triệu thỉnh - khí động.
Ở đây vẫn còn có chỗ vi diệu nữa. Đó là các vị đến hay không đến bạn cần phải biết rõ ràng.

Bổn tôn ở trên các tầng mây trong hư không. Giả sử Quan Thế Âm Bồ Tát là Bổn tôn của bạn, bạn chú ý có thấy thiên y màu trắng của ngài chuyển động không? Bạn hãy chú ý một chút, mắt của ngài có cử động không? Bạn còn cần chú ý đến chân của ngài. Rồi đám mây của ngài có bay đến trước mặt bạn không, chân của ngài có chuyển động không. Đây là một khẩu quyết rất quan trọng, cực kì quan trọng.

Bạn dùng móc kim cang, câu ngài đến, sau đó bạn dùng ý niệm để quán tưởng ngài, tưởng tượng thiên y của ngài chuyển động, tưởng tượng nước trong tịnh bình của ngài đang quán đảnh cho bạn, tưởng tượng chân của ngài đang chuyển động, đang bay múa, tưởng tượng ánh mắt ngài đang nhìn bạn, đang chú ý đến bạn, tưởng tượng mũ miện của ngài, thậm chí là xiêm y pháp của ngài đều đang bay bay trong gió.

Đây chính là chuyển động của Bồ Tát. Bởi vì có được chuyển động này thì mới xác định là ngài đã đến. Lúc đó những việc này đều sẽ biến thành hiện thực.


🌟


Trước đây trong lúc tu pháp chúng ta niệm: "Ôm ah hùm sô-ha" 3 biến xong thì lắc chuông kim cang, nhưng lại không biết rằng trong câu chú này vốn có nhiều thứ ảo diệu như vậy, cũng có ý, có ấn, có chú, có tất cả mọi cách triệu thỉnh. Đó là các khẩu quyết bí mật trong Mật giáo. Vào thời điểm cấp bách, thời điểm chúng ta gặp phải sự việc rất khẩn, cần triệu thỉnh rất nhanh, bạn có thể sử dụng cùng lúc tất cả mọi cách triệu thỉnh này. Đầu tiên dùng chú, sau đó là móc kim cang, và tiếp đó quán tưởng chư vị thật sống động.

Dấu hiệu nhận biết chư vị hạ giáng
Có nhiều bạn vẫn không biết liệu các ngài có đến không. Vậy bạn cần phải tu tập đến trình độ nào để biết được?
Khi bạn triệu thỉnh các ngài, nếu các ngài rẩy nước chú (nước cam lộ) lên bạn hay khi ánh sáng trắng vừa chiếu tới bạn, bạn sẽ lập tức có cảm giác tê tê như có dòng điện chạy. Bạn sẽ có cảm giác, có cảm nhận ngay.

Giờ thì bạn sử dụng cả ba cách thức, đã dùng ý triệu thỉnh rồi, niệm chú cũng đã niệm rồi, móc kim cang triệu thỉnh ấn cũng đã làm rồi, cũng quán tưởng Quan Thế Âm Bồ Tát chuyển động trong gió, thiên y đều bay bay, nước chú quán đảnh cho bạn, ánh mắt ngài cũng nhìn bạn rồi, tất cả đều đến trước mặt bạn. Bạn đã làm đủ hết mọi thứ hoàn chỉnh rồi.

Tới lúc này, bạn chỉ cần thực sự thả lỏng mở tâm mình ra, thực sự dùng toàn bộ ý niệm chí thành của bạn để tu pháp thì khi các ngài từ bi rẩy nước cam lộ, bạn sẽ thấy cảm giác tê tê.


🌟


Bạn đừng thấy Sư Tôn chắp tay triệu thỉnh các vị Phật Bồ Tát chư tôn một cách rất thoải mái và tùy ý: "Xin mời cả nhà ăn cơm đi! A Di Đà Phật mời ăn cơm, Quan Thế Âm Bồ Tát mời ăn cơm, Đại Thế Chí Bồ Tát mời ăn cơm!" mà nghĩ rằng Sư Tôn qua loa cho xong nhé.

Tôi biết rất rõ chư vị có tới hay không tới. Chứ không phải tôi cứ "nói mời" xơi xơi vậy, rồi mặc kệ không quản, cứ ăn uống mà không cần biết chư vị có hạ giáng hay không. Nhưng cũng có lúc (tôi thỉnh) các vị không đến, vì sao lại thế? Bởi vì tôi ăn được nửa bữa cơm rồi mới nhớ ra là cần triệu thỉnh. Do thức ăn ngon quá, thế là tôi cứ tới tới tới, đũa cứ gắp gắp gắp, ăn ăn ăn. Oa! Lúc này mới nhớ ra là mình chưa triệu thỉnh, lập tức liền vỗ tay mời các vị lại từ đầu. Ha! Nhưng các vị chẳng tới! 

Có những lúc khác tôi cảm thấy rất có lỗi, nhưng tôi thấy Sư Mẫu từ bên cạnh đi tới, bà cầm một đĩa thức ăn, thức ăn đó vẫn chưa ai động tới. Tôi liền lấy đĩa đó rồi triệu thỉnh các vị xuống để cúng dường đồ ăn trong đĩa này. Và chư vị liền hạ giáng.

Vì vậy, bạn cần phải thấy rõ được các vị có tới hay không tới.
Giả sử hôm nay nếu tôi không biết chư vị có tới hay không, nhưng tôi lại cứ ngồi ở đây nói với mọi người là "Tôi biết đấy", thì tôi sẽ trở thành nói khoác.

Trong quá trình tu pháp mỗi ngày, Phật Bồ Tát có quán đảnh, gia trì cho bạn hay không, tôi nói là tôi biết.
Vậy hôm nay trước mặt Phật Bồ Tát, giả dụ tôi giảng là "Tôi biết" nhưng Phật Bồ Tát ở phía sau lại nói: "Thực sự ông cũng chẳng biết", thì đúng là tôi trở thành nói dối, vọng ngữ.


🌟


Mỗi ngày tu pháp, ở trước mặt Phật Bồ Tát, bạn cần phải biết rõ mình có đang được các vị quán đảnh cho mình, gia trì cho mình, sờ đầu mình, phóng quang đến mình, rẩy nước chú đại bi cho mình, làm thanh tịnh thân tâm của mình hay không. Một hành giả chân chính sẽ biết được điều này, bởi cảm giác mà bạn nhận được này rất kiên minh. Kiên minh là thế nào? Kiên là kiên cường, kiên cố, minh là cực kì rõ ràng, không phải giống như người Quảng Đông hay nói rằng "hình như thế, có vẻ thế, gần gần thế, hình như có, hình như không có".

Bạn nghĩ sao? Có là có, không có là không có. Nó là một kiểu xúc giác, một kiểu chạm vào, một kiểu tiếp xúc, rất rõ ràng, không phải là "hình như có rồi lại hình như không có".

Có người nói hôm nay cảm thấy tu hành rất tốt, tôi hỏi tốt như thế nào?
Người đó nói: "Thân thể rất nhẹ." Đương nhiên là anh thấy nhẹ rồi. Gần đây bụng dạ không tốt, không ăn cơm, gầy đi một chút, thân thể đương nhiên là nhẹ rồi.
"Cảm thấy rất an." An chính là rất bình an, đương nhiên là an rồi, anh ở trong đó ngủ một giấc mà, chẳng cần nghĩ ngợi gì cả.
Không phải là như vậy đâu! Tuyệt đối không phải là những biểu hiện này.

Bởi thế việc triệu thỉnh cho đúng là vô cùng quan trọng, khẩu quyết của nó nằm ở những chuyển động của Phật Bồ Tát, tay chân phải có chuyển động, thiên y lay động, mắt cử động, các vị thực sự giáng lâm. Điểm chính yếu nằm ở đây.


🌟


Khẩu quyết lúc khẩn cấp.
Vào lúc thực sự khẩn cấp, Mật giáo dạy rằng cần vỗ vào đùi chân phải một cái, rồi vỗ vào đùi chân trái một cái. Vì sao lại vỗ đùi? Bởi vì chân biểu trưng cho hành động, vỗ đùi của chính bạn sẽ cảm ứng Phật Bồ Tát tới để hành động. Đây cũng chính là một bí mật.

Lại có pháp giảng rằng, ở trong chân phải, chân trái của bạn ẩn giấu 500 Không Hành Dũng Phụ (Dakas) và 500 Không Hành Dũng Mẫu (Dakinis). Trong Mật giáo, Không Hành Dũng Phụ và Không Hành Dũng Mẫu đều có sự tương ứng với chân phải, chân trái của hành giả Mật tông.

Bạn vỗ đùi chính là thỉnh cầu sự hành động, thì Không Hành Dũng Phụ và Không Hành Dũng Mẫu sẽ hành động, sẽ tới để giúp bạn. Bạn có vấn đề khó khăn gì, bạn cứ nói với chư vị.

Vào lúc không đủ thời gian để thực hiện nghi quỹ triệu thỉnh, những lúc cấp bách nhất, bạn có thể vỗ đùi chân phải chân trái. Đây chính là một điều tôi tâm đắc, cũng là một khẩu quyết. Lúc không thực sự cấp bách thì không được dùng chiêu này.

Còn bình thường chúng ta triệu thỉnh chỉ dùng ý, dùng chú, dùng ấn, sau đó quán tưởng y phục của các vị chuyển động, pháp khí chuyển động, mắt cử động, chân cử động là được rồi. Đây chính là bí mật, bí quyết của triệu thỉnh, tâm yếu của triệu thỉnh.


🌟


Vì sao bây giờ Sư tôn mới giảng?
Nhưng vì sao trước đây trong sách tôi không viết ra tỉ mỉ như vậy? Vì sao lại không nói chi tiết cho mọi người? Là bởi vì giả sử tôi viết hết sạch ra những khẩu quyết mà tôi trải nghiệm được này thì sẽ có rất nhiều đệ tử không thể trong chốc lát mà làm nhiều bước cùng lúc như vậy được.

Vì khi ngồi xuống tu tập, chỉ riêng việc triệu thỉnh đơn giản thì họ cũng đã mất đứt nửa tiếng đồng hồ. Bạn nói xem có đúng không? Tôi chỉ mới giảng đến bước thứ hai thôi, bạn đã thấy phải dùng đến rất nhiều công đoạn như vậy rồi.

Trên thực tế, trong việc tu học Mật pháp, tôi hy vọng rằng, sau khi các bạn đã luyện tập thành thạo, quen thuộc các bước cơ bản rồi thì mới bổ sung, giảng lần lượt từng thứ trọng yếu, từng vấn đề trọng điểm để các bạn có thể dễ dàng hiểu rõ. Nếu không làm theo cách như thế, không để trải qua một khoảng thời gian cho bạn thực hành đủ mà đã giảng kĩ ngay, thì sẽ có rất nhiều người thấy Mật pháp rất hay, rất tỉ mỉ, nhưng lại dài quá. Họ không cảm thấy muốn thực hành quá công phu như vậy. Ngay từ đầu họ đã cảm thấy muốn thoái lui rồi. Bởi vậy nên tôi tách ra cần niệm chú thanh tịnh, rồi niệm chú triệu thỉnh, thì giải thích sẽ đơn giản hơn. Đợi tới khi mọi người có thể thâm nhập sâu hơn rồi thì có thể dùng đến những cách thức này. Sau đó tôi sẽ lại tiếp tục phân tích những chi tiết này tỉ mỉ hơn. Rồi từ việc bản thân hiểu một cách thấu đáo, bạn sẽ từ từ tu, từ từ tiến vào những cảnh giới như thế.

Ngoài ra, sau khi mọi người đã tu trì một khoảng thời gian, quay lại học những khẩu quyết, tâm đắc này lại càng có thể gia tăng mức độ sâu sắc của việc thực hành pháp và tu pháp của mình, toàn bộ đều sâu hơn.

Triệu thỉnh cần thực hành như vậy, mọi người đã hiểu rõ chưa? 
Phần này rất quan trọng.


🌟

	
Chú Kim Cang Tát Đỏa để triệu thỉnh.
Ngoài ra còn có một thần chú triệu thỉnh, các bạn đã từng biết hay đã từng niệm qua chưa? Đó là chính là chú Kim Cang Tát Đỏa cũng có thể triệu thỉnh được.

Lúc trước chúng ta đã nói về thần chú "Ôm ah hùm sô-ha" để triệu thỉnh Ngũ phương Phật. Các vị từ Ngũ phương Phật trở xuống, toàn bộ đều triệu thỉnh được. Nhưng bên cạnh đó, nếu bạn dùng chú Kim Cang Tát Đỏa "Ôm, ma-ha sa-may-a, sô-ha. Ôm ma-ha, sa-may-a, hùm, ah" thì cũng triệu thỉnh được.

Vì sao có thể dùng chú Kim Cang Tát Đỏa để triệu thỉnh?
Bạn có biết vị Phật Nguyên Thủy - Phật A Đạt Nhĩ Mã còn được gọi là Kim Cương Tổng Trì không?
Ngài ở địa thứ 16 (cấp độ, địa vị thứ 16). Nếu đem so sánh thì bình thường Hiển giáo chỉ nói tới có 10 địa [thập địa Bồ Tát], còn Phật A Đạt Nhĩ Mã thuộc về địa thứ 16.

Ngũ phương Phật còn được gọi là Ngũ Đại Kim Cương Trì hay là năm vị Kim Cương Trì. Còn Kim Cang Tát Đỏa chính là vị Kim Cương Trì thứ sáu, là hóa thân tổng hợp của năm vị Kim Cương Trì. Các hóa thân tổng hợp lại chính là vị Kim Cương Trì thứ sáu này. Vì vậy, triệu thỉnh bằng chú Kim Cương Tát Đỏa là vĩ đại tương đương với triệu thỉnh Ngũ Đại Kim Cương Trì, Ngũ phương Phật.

Do đó ta hoàn toàn có thể dùng tên gọi Kim Cang Tát Đỏa để triệu thỉnh, ở đây có nguồn gốc của nó.

Trước hết chúng ta cần biết Phật A Đạt Nhĩ Mã còn được gọi là vị Phật Nguyên Thủy, khi phiên âm ra tiếng Trung thì được gọi là Phổ Hiền Vương Như Lai. Trong Kim cương thừa thì ngài được gọi là Kim Cương Tổng Trì.

[Phật A Đạt Nhĩ Mã = Phổ Hiền Vương Như Lai = Bản Sơ Phật = Samantabhadra = Kuntu Zangpo = Kim Cương Tổng Trì = Principal Vajradhara = Adi Buddha = Primordial Buddha. Đây là các tên gọi khác nhau của cùng một vị.]

Vậy thì Ngũ phương Phật chính là Ngũ Đại Kim Cương Trì, đều được gọi là Kim Cương Trì, vị Kim Cương Trì thứ sáu chính là Kim Cang Tát Đỏa (Vajrasattva).

Hai chữ Tát Đỏa cũng tương đương với chữ Bồ Tát. Quan Thế Âm Bồ Tát mà chúng ta vẫn gọi có thể được gọi thành Quan Âm Tát Đỏa, Chuẩn Đề Bồ Tát có thể được gọi thành Chuẩn Đề Tát Đỏa, Liên Hoa Sinh Bồ Tát có thể được gọi thành Liên Hoa Sinh Tát Đỏa.

[Tát Đỏa là phiên âm của từ Sattva, còn có nghĩa là chiến binh. Bồ Tát chính là phiên âm của từ Bodhi-Sattva, là Bồ Đề - Tát Đỏa, là những chiến binh dũng mãnh mang trong mình tâm Bồ Đề. Có thể gọi tắt Bồ Đề - Tát Đỏa thành Tát Đỏa.]

Kim Cang Tát Đỏa cũng chính là tổ sư của Kim cương thừa. Bởi vì Long Thụ Bồ Tát mở cửa tháp sắt để gặp mặt Kim Cang Tát Đỏa và nhận pháp, nên truyền thừa có thể tính bắt đầu từ Kim Cang Tát Đỏa. Điều này giải thích tại sao việc dùng thần chú của Kim Cang Tát Đỏa để triệu thỉnh lại tuyệt hảo như thế. Giảng về phần triệu thỉnh xong rồi, chúng ta sẽ tiếp tục phần thứ ba: Đại lễ bái. 


## 05. Đại lễ bái


Đại lễ bái, Đại cúng dường, Tứ quy y làm trước hay sau chỉ thuộc về vấn đề trình tự.

Có người triệu thỉnh xong thì niệm Tứ quy y chú, lại cũng có người thực hiện Đại cúng dường trước, bởi vì đã triệu thỉnh các vị xuống rồi thì chúng ta sẽ làm Đại cúng dường luôn. Có người chỉ thực hành mỗi Đại lễ bái. Thứ tự các việc này có thể thay đổi, không quan trọng lắm.

Trong Mật giáo, những việc cần tiến hành trước gọi là Tiền hành, tiếp theo là Chính hành và cuối cùng là Hậu hành. Ba phần này kết hợp lại với nhau chính là một nghi quỹ Mật pháp hoàn chỉnh. Hiện tại chúng ta đang nói tới các pháp trong phần Tiền hành. Tôi nhớ là tôi đã dạy mọi người thực hành Đại lễ bái, tiếp theo niệm Tứ quy y, và Cúng dường sẽ xếp sau cùng.

Xin nhắc lại là có người đưa Cúng dường lên làm trước, hoặc là ngay vừa bắt đầu đã Cúng dường rồi, sau đó mới đến Tứ quy y, việc này không quan trọng. Chỉ cần bạn có thể thực hành hết, Phật Bồ Tát đều có thể tiếp nhận. Sáng ba chiều bốn, sáng bốn chiều ba cũng đều như nhau cả, cộng lại đều là bảy. Việc khác biệt này có thể được, miễn là không được để thiếu sót bước nào.
Tuy vậy, kì thực là nếu có thiếu sót cũng vẫn có thể bù đắp được.
Niệm Bách tự minh chú của Kim Cang Tát Đỏa chính là để sửa chữa những lỗi lầm và thiếu sót.

🌟

	
Ba công dụng lớn của Bách tự minh chú.
Bách tự minh chú của Kim Cang Tát Đỏa có ba ý nghĩa. Lý do vì sao chú này vĩ đại chính là vì trong câu chú có ba ý nghĩa rất to lớn.

Thứ nhất là sám hối. Vì sao lại có tác dụng sám hối? Bởi vì có quán Không, trong câu chú Kim Cang Tát Đỏa có ý nghĩa về tính Không, lại rộng lớn giống như hư không. Thế nên với những lỗi lầm mà bạn đã phạm phải, chỉ cần niệm Bách tự minh chú của Kim Cang Tát Đỏa, là hư không sẽ đem chúng đi, tất cả sẽ hóa thành hư không. Tất cả thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp đều hoàn toàn hóa thành hư không. Chính vì thế trong câu chú có ý nghĩa sám hối.

Ngoài ra, ý nghĩa thứ hai là có sự gia trì của Ngũ phương Phật. Kim Cang Tát Đỏa Bách tự minh chú là vị Kim Cương Trì thứ sáu, là hóa thân của Ngũ phương Phật, niệm chú của ngài sẽ có được sự gia trì của Ngũ phương Phật. Ý nghĩa này rất lớn.

Ý nghĩa thứ ba, bởi vì câu chú có bao hàm tính Không, một loại chú ngữ có tính Không của hư không, nên nếu niệm câu chú này, tất cả đều sẽ hóa thành hư không.

Nếu trong quá trình bạn tu pháp có một vài khuyết điểm nhỏ, lỗi lầm nhỏ như hạt vừng, ví dụ như tâm ý của bạn chưa đủ chân thành, niệm chú không đủ nhất tâm, quán tưởng không rõ ràng hoặc thiếu mất một vài điểm, hay đáng lẽ bạn cần phải làm một công đoạn mà bạn lại không làm như tu pháp xong mới biết là mình quên cúng dường chẳng hạn, thì không thành vấn đề, cứ niệm Kim Cang Tát Đỏa Bách tự minh chú là có thể bổ khuyết được, vì bản thân câu chú có ý nghĩa bổ sung những thiếu sót khuyết điểm mà bạn đã phạm phải. Thậm chí ngay cả lỗi tạp niệm [suy nghĩ lung tung] cũng có thể bù đắp được.

Trong khi tu pháp, ý niệm của chúng ta có thể không thanh tịnh, không những không thanh tịnh mà có khi trong suy nghĩ còn phạm tội nữa. Lúc này, niệm chú 100 âm là có thể sửa chữa toàn bộ tội chướng, chướng ngại, khuyết điểm, thiếu sót.

Bởi vậy mới nói Bách tự minh chú có ba tác dụng lớn: một là sám hối, hai là được Ngũ phương Phật gia trì, ba là bổ sung, sửa chữa mọi khiếm khuyết và lỗi lầm. Đây chính là công đức của Kim Cang Tát Đỏa Bách tự minh chú.


🌟


Thủ ấn
Tôi giảng tiếp về Đại lễ bái.
Thông thường, Đại lễ bái được nói đến trong Mật giáo đều là việc lạy với toàn thân nằm trên mặt đất. Đây là một hành động rất kiền thành, rất cung kính. Mọi người thích đưa tay chạm vào đỉnh đầu, thậm chí chạm vào phía sau gáy, rồi lại chạm vào họng, chạm vào tim, sau đó lại lạy nằm xuống. Mọi người chỉ đều chắp tay mà thôi, rất ít người làm thủ ấn.

Vậy thủ ấn này xuất phát từ đâu ra? Lại có thủ ấn đảnh lễ Phật, thủ ấn đảnh lễ Bồ Tát, thủ ấn đảnh lễ Hộ pháp Kim cang. Tôi cần giảng cho rõ ràng rằng, đây thuộc về Đông mật, Trung mật.

Trong Tạng mật, thủ ấn tương đối ít. Bản thân Mật tông Tây Tạng có thủ ấn, nhưng họ rất ít dùng thủ ấn. Ngược lại, trong Đông Mật, Trung Mật - hay Đài mật cũng vậy, việc dùng thủ ấn tương đối nhiều. Sự khác biệt ở chỗ đó. Các thủ ấn này tuy đều là ấn Mật giáo, nhưng thuộc về ấn của Đông mật và Trung mật. Thủ ấn mà Chân Phật Tông chúng ta dùng - đảnh lễ Phật, Bồ Tát, Hộ pháp Kim cang đều là ấn của Đông mật.


🌟


Quán tưởng Đại lễ bái
Bởi vì khi chúng ta bắt đầu tu pháp thì ban đầu là ngồi xuống tu, ngồi xuống rồi thì tới phần Lễ bái lại cần đứng dậy làm Đại lễ bái, giống như phân tách ra làm hai công đoạn.

Cho nên chúng ta hiện tại luôn luôn chỉ cần ngồi một mạch, tu trì Phật pháp và Mật pháp hoàn chỉnh xong xuôi là xong. Cái gọi là ngồi và quán tưởng Đại lễ bái là to tôi tự tạo ra, còn bình thường người khác thì nhất định cần phải đứng dậy để làm Đại lễ bái. Chúng ta quán tưởng Đại lễ bái ở đây chính là sau khi ngồi xuống tu pháp, ngồi ngay ngắn rồi, không cần phải đang từ ngồi rồi lại đứng lên lễ bái, rồi lại ngồi xuống. Như vậy thì tương đối tiện hơn.

Thậm chí khi có nhiều người tập trung lại mà tất cả đều Đại lễ bái thì có lúc sẽ không ngồi xuống lại được do vướng rất nhiều yếu tố. Bởi thế tôi mới dạy mọi người làm quán tưởng Đại lễ bái. [Điều này càng đúng khi trong pháp hội của Sư Tôn thường đông người, ngồi san sát nhau, vốn không có đủ chỗ để có thể lễ bái bình thường, buộc phải quán tưởng.]


🌟


Chạm đỉnh đầu.
Vì sao có một số người Tạng lại đưa tay ra đằng sau đầu? Đó là vì khí công.
Các bạn có thể không biết rằng não của chúng ta vốn được bao bọc bởi hộp sọ. Chỉ có ở phía sau chỗ này là lộ ra, hai huyệt Thái dương ở đây, tác động vào huyệt Thái dương không tới được não bộ, nhưng phía sau cổ lại thuộc về bộ phận tiểu não, chạm vào đây chính là kích thích thần kinh tiểu não, điều tiết khí toàn thân.

Bạn chắc không nghĩ đến điều này, nhưng trước đây tôi cũng chưa dạy mọi người cần phải làm như vậy.
Gần đây tôi thấy cần phải điều chỉnh công năng của ngũ tạng trên thân thể chính mình. Tôi vốn cũng không biết việc nhất định phải chạm vào chỗ này là có ý nghĩa gì? Tôi cảm thấy chạm vào thiên tâm là đã rất cung kính rồi. Vì sao lại cần chạm vào phía sau đầu? Thật kì lạ! Vì sao người Tạng họ lại cần làm như vậy nhỉ?

Hiện tại mỗi ngày tôi có quy định về thời gian. Buổi sáng viết văn xong, tôi liền luyện công. Tôi luyện công sẽ triệu thỉnh:
Nam mô Vô Cực Đại Thánh Tây Vương Kim Mẫu Đại Thiên Tôn.
Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới A Di Đà Phật.
Nam mô U Minh Giáo Chủ Địa Tạng Vương Bồ Tát.

Đương nhiên là tôi không dùng tiếng Quốc ngữ rồi, tôi dùng Đài ngữ [cười]. 
Khi tôi triệu thỉnh, các bạn đừng có cười nhé, tôi triệu thỉnh các vị đến giúp tôi luyện công như sau:
Thỉnh ngài tới a...! Thỉnh ngài tới a...! [Sư Tôn dùng tiếng Đài để nói]. 
Nam mô Vô Cực Kim Mẫu Đại Thiên Tôn, thỉnh ngài tới a...!
Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật, thỉnh ngài tới a...! 
Nam mô U Minh Giáo Chủ Địa Tạng Vương Bồ Tát. 
[Sư Tôn vừa hát những lời trên bằng tiếng Đài, vừa làm động tác khởi động chân khí.]

Làm như vậy rất nhanh đó! Trong chốc lát các vị liền "xẹt" giống như điện, lập tức đến ngay, rất nhanh chóng. Tôi chỉ cần niệm rất nhẹ nhàng như vậy là các vị đã nhanh chóng đến rồi.

Khi các vị đến, tôi niệm rất chân thành, nói ra những lời từ trong lòng mình. Tôi thường sẽ hát khi thỉnh mời các vị, hát lên những lời triệu thỉnh từ trong lòng mình, cứ hát lên là các vị đến. Khi các vị đến rồi thì hai tay này tự động chắp lại, các vị dùng tay này ấn vào phía sau đầu của tôi. Tôi liền hỏi là việc này là sao, đập vào chỗ này rồi lại ấn vào bên kia. Là sao vậy?

Các vị liền nói cho tôi biết, vị trí đó điều khiển lục phủ ngũ tạng bên trong của ta. Khi kích thích vào chỗ đó sẽ kích thích một bộ phận nhất định, công năng của bộ phận đó sẽ hồi phục lại bình thường, bộ phận đó sẽ trẻ lại.

Oa! Chẳng mấy chốc mà biến thành 30 tuổi mất. [Sư Tôn nói bằng tiếng Đài và cười.]
Chạm vào đây (sau đầu) xong lại đưa tay về chỗ đỉnh này (thiên tâm). Ở đây là ánh sáng trắng.

Hãy nhớ là Bổn tôn ở trước mặt bạn, bạn đã triệu thỉnh ngài đến rồi, ngài ở ngay không gian phía trên đối diện với bạn. Bạn chạm vào chỗ này, ánh sáng trắng từ trán của ngài sẽ chiếu đến trán của bạn, ánh sáng này chính là nằm ở đây. Chạm xuống dưới (cổ họng), ánh sáng đỏ. Rồi chạm vào tâm luân, ánh sáng xanh lam. Giải ấn. Sau đó là lạy sát đầu xuống đất.

Việc lạy này đều cần quán tưởng. Chúng ta làm pháp lễ lạy, khi ba ánh sáng chiếu vào bạn, bạn cần phải quán tưởng chính bạn nằm sấp trên đất. Khi bạn nhấc tay lên để giải ấn, bạn cần quán tưởng mình nằm sấp xuống mặt đất, sau đó lại đứng dậy để để làm tiếp bước lạy thứ hai. Việc này rất quan trọng.


🌟


Trong quá trình này, Bổn tôn phóng quang, bạn tiếp nhận ánh sáng thì sẽ có hiện tượng dung nhập. Dung nhập là như thế nào?
Dung nhập không phải là ánh sáng chiếu vào bạn giống như chiếu tới "thiết bàn" [cái bàn sắt], bạn sẽ không hấp thụ được ánh sáng. Ánh sáng chiếu vào bạn mà bạn là bàn sắt thì bạn sẽ phản xạ lại ánh sáng, cũng tương đương như chẳng hề được chiếu đến.

Ở đây là thân, khẩu, ý cần thanh tịnh. Sau khi bạn đã làm thanh tịnh thân khẩu ý rồi, ý niệm thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, thân thể thanh tịnh, thì khi ánh sáng chiếu vào, bạn sẽ có cảm giác giống như đèn điện chiếu vào thân, sau đó ánh sáng đó sẽ dung nhập vào trong thân thể bạn.

Ánh sáng đỏ chiếu vào bạn, hòa tan vào toàn thân bạn. 
Ánh sáng xanh lam chiếu vào bạn, hòa tan vào toàn thân bạn. 
Chúng ta làm Đại lễ bái là có ý nghĩa của nó.


🌟


Triệu thỉnh Tam Vương.
Có người hỏi Sư Tôn, vì sao mỗi lần thầy triệu thỉnh đều cần triệu thỉnh Diêu Trì Kim Mẫu, A Di Đà Phật, Địa Tạng Vương Bồ Tát? Chúng con có thể bắt chước Sư Tôn cũng triệu thỉnh như vậy không, cũng là ba vị này?

Các bạn triệu thỉnh ai cũng được, tôi không quản việc này. Tôi chỉ quản được việc của chính mình thôi. Nguyên do từ lúc đầu tôi đã biết các vị đó là Tam Vương.
Diêu Trì Kim Mẫu là Tiên Vương, ngài ở hồ ngọc trong núi Côn Lôn, là nơi tập trung của các vị tiên. Ngài là vị vua của các thần tiên, bản thân ngài đã tồn tại từ thời cổ đại rồi.

Còn đối với Phật A Di Đà, tôi tôn sùng gọi ngài là Phật Vương, vì sao lại là Phật Vương? Bởi vì đối với thời hiện tại này, trong Hiển giáo, Mật giáo, sự cứu độ của Phật A Di Đà là lớn nhất. Bạn cũng biết rằng ở Trung Quốc chúng ta, ở khu vực Đông Nam Á, mỗi người đều niệm Nam mô A Di Đà Phật. Không chỉ có người xuất gia niệm A Di Đà Phật mà ngay cả Đạo gia cũng niệm. Đạo gia niệm Vô Lượng Thọ Phật. Kì thực, Vô Lượng Thọ Phật chính là A Di Đà Phật. Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang đều là A Di Đà Phật. Do vậy sự cứu độ của Phật A Di Đà là lớn nhất. Bốn vị Phật khác đương nhiên cũng có cứu độ, nhưng bản thân Phật A Di Đà phát ra lời nguyện lớn nhất, bởi vậy ngài là Phật Vương.

Ngoài ra, U Minh Giáo Chủ - Địa Tạng Vương Bồ Tát, ngài đương nhiên không chỉ là độ chúng sinh ở địa ngục. Ngài độ cả chúng sinh khắp sáu cõi, bao gồm trời, người, atula, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, lục độ chúng sinh ngài đều độ cả. Bởi vì đối với tam ác đạo là đạo địa ngục, đạo ngạ quỷ, đạo súc sinh, ngài đều độ hết. Do vậy chúng ta tôn sùng gọi ngài là U Minh Giáo Chủ Địa Tạng Vương - chính là Địa Vương.


🌟


Vì lời nguyện lớn của bản thân tôi, vì mong muốn trước đây của tôi vào lúc mới bắt đầu tu hành, là bắt đầu từ chỗ Diêu Trì Kim Mẫu. Do vậy tôi không thể vì học Phật mà quên đi Tiên Vương, đây là ân nghĩa. Lúc đó, tôi mới bước ra từ Đạo gia, chính Diêu Trì Kim Mẫu độ hóa tôi, đây là cái ân. Tôi không thể vì học Phật mà cắt đứt cái ân huệ này. Chúng ta làm người thường hay nói về việc cần phải nhớ lấy cái ân, ân nghĩa này không thể cắt đứt. Chúng ta không thể nào nói một cách vô tình kiểu như qua cầu rút ván, ăn cháo đá bát, do vậy tôi luôn luôn triệu thỉnh Diêu Trì Kim Mẫu đầu tiên.

Còn lại các bạn có thể tùy ý triệu thỉnh. 
Thứ hai tôi luôn triệu thỉnh Phật A Di Đà, thứ ba là triệu thỉnh U Minh Giáo Chủ - Địa Tạng Vương Bồ Tát, các vị đến dạy cho tôi lấy tay ấn vào phía sau đầu này, việc này là cực kì vi diệu.


![image](/img/img_7dd2cbb5d9473604e9120e390cbab701.png)



![image](/img/img_b3905107d9da5b98143f515abe152d6a.png)


🌟

Lục phủ ngũ tạng quyền
Gần đây tôi luyện công rất chăm chỉ, ngày nào cũng tập. Có rất nhiều chư vị Phật Bồ Tát tới dạy tôi tập, trong đó có Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát. Lúc tôi tập, tư thế luyện công mà ngài giúp tôi cũng thiên kì bách quái [nhiều điều kì lạ lạ lùng khó có thể mô tả được]. Ngài dạy tôi từng bước từng bước một, cứ như vậy dần dần điều chỉnh lá lách, điều chỉnh thận. Cũng có các tư thế giúp điều chỉnh tim, gan.

Trong tương lai, tôi sẽ sáng tạo ra một bộ "lục phủ ngũ tạng quyền". (mọi người đều cười vui vẻ)
Quyền pháp này cũng chính là để khí lực mạnh lên. Khí lưu thông đến chỗ nào thì chỗ đó sẽ được khai mở, chỗ đó sẽ hoạt động, chỗ đó sẽ được kích hoạt, sẽ làm chỗ đó tăng thêm sự vững chắc kiên cố, trở thành bất hoại.

Bản thân "lục phủ ngũ tạng quyền" mà nói ra thì là có pháp lực như vậy.
Tôi cho rằng đã từng có quyền pháp như thế rồi, trước đây có lẽ đã bị thất truyền, ngày xưa hẳn là có thứ này. Vì nếu có người tu đến cảnh giới giống tôi hẳn là sẽ xuất hiện quyền pháp này ngay và sẽ được ghi chép lại.

Mặc dù tôi chưa từng học đến, nhưng trong khi luyện công thì Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát đã đến dạy như thế, Chuẩn Đề Phật Mẫu cũng đến dạy như thế, rồi cả Thần hộ pháp - Đại Uy Đức Kim Cang đến cũng dạy như thế, Hàng Tam Thế Minh Vương cũng đến dạy như thế. Hết sức kì lạ, các vị Phật Bồ Tát đó, mỗi vị dạy tôi những tư thế khác nhau, rất kì lạ.

Tuy thế, làm sao để tôi giảng đây nhỉ? Ví dụ như thế "tê giác ngắm trăng" này, bạn có biết tê giác ngắm trăng như thế nào không? (Sư Tôn biểu diễn động tác và cười.) Là cả thân người nằm xuống, còn cái đầu thì cong lên nhìn ra sau, gọi là tư thế "tê giác ngắm trăng", còn có tư thế "tiên nhân chỉ đường", "bạch xà thổ tín".


Oa! Rất nhiều chiêu thức.

Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát mỗi lần đến, ngài dạy tôi tay phải vươn ra như thế này, sau đó vài nghìn cánh tay của ngài chuyển động thế này để thị phạm cho tôi thấy, giơ lên cao nhất.

Còn có hạ xuống, nâng lên, giữ nằm ngang, giải tán, đây chính là giáng, đề, trì, tán. Hạ xuống như thế nào, nâng lên ra sao, giữ thăng bằng kiểu gì, giải tán ra sao, rất nhiều kiểu tư thế ảo diệu.
Các chuyển động và tư thế của thân, cũng giống như "ngôn ngữ cơ thể", có thể chuyển dịch nghĩa thành các bài tập về khí. Bây giờ rất thịnh hành "ngôn ngữ cơ thể" đúng không.

Chư Phật Bồ Tát đầu tiên dạy tôi các chuyển động của thân, sau đó liền chỉ dạy cho tôi thấy chúng có ý nghĩa gì. Kì thực đây chính là luyện khí thông mạch và giữ lại hạt [minh điểm], hoàn toàn là vẫn nằm trong công phu của khí - mạch - điểm.

Chúng ta thực hành Đại lễ bái thì thấy là Đại lễ bái cũng có kĩ thuật đặc thù của nó. Người Tạng thực hiện Đại lễ bái sẽ điểm vào phía sau rồi điểm vào ba vị trí trắng, đỏ, lam, cuối cùng nằm úp xuống. Đây cũng là một hình thức luyện thân thể.


🌟


Cách quán tưởng chi tiết
Ngoài ra, trong Đại lễ bái, bên cạnh việc quán tưởng ánh sáng trắng, đỏ, lam ra, còn có quán tưởng nào khác không? Đương nhiên là có.
Bình thường Hiển giáo làm lễ bái chính là đối diện với đàn thành để lạy, không cần quán tưởng. Mật giáo thì lại cần quán tưởng.
Tôi đã từng viết một bài kệ Đại lễ bái, là lạy toàn bộ bình đẳng tất cả. Khi chúng ta quán tưởng, ngoài việc quán tưởng Diêu Trì Kim Mẫu, A Di Đà Phật, Địa Tạng Vương Bồ Tát hiện ra rất rõ ràng trước mặt thì còn có thể quán tưởng phía sau của ba vị này có tất cả các vị Phật Bồ Tát của mười phương ba cõi cũng đều hiện ra.

Vậy thì quán tưởng như thế nào? Bạn cần phải quán tưởng tất cả các vị Phật Bồ Tát đến trước mặt bạn, nhưng làm sao để quán, làm sao có thể quán cho hết? Đương nhiên là không quán hết được. Bạn quán tưởng về một vị đã khó rồi. Có rất nhiều người ngay cả một vị cũng không quán tưởng được.

Quán cả nửa ngày... Ôi chà, vẫn thiếu cái tai rồi (cười).
Có người quán tưởng được cái đầu thì lại không thấy được cái thân, có người quán được y phục của ngài nhưng lại không thấy đầu. Tưởng tượng thế nào cũng không quán nổi.

Tôi nói cho mọi người biết, kì thực phương pháp quán tưởng có một cách rất hay, đó chính là quán tưởng lông mày trước, rồi quán tưởng tiếp đến mắt, mũi, miệng, tai, đầu tóc. Tới sau khi quán tưởng hết thân thể, tay chân, thiên y, toàn bộ lập tức có thể cho ngài biến mất luôn.

Tôi không dạy các bạn phải mãi mãi giữ toàn hộ hình ảnh quán tưởng mà không cho nó tan đi. Không cứ nhất định cần phải giữ chặt "ngài" ở chỗ đó, không nhất thiết phải giữ cho "chư vị" không được đi mất. Không cần phải như vậy đâu.

Tôi quán tưởng như thế này.
Ví dụ khi tôi nghĩ đến Phật A Di Đà, vừa nghĩ tới là ngài đã xuất hiện rồi. Ngài đứng trên hoa sen, mặc thiên y vi diệu, đầu của ngài, tai của ngài rất dài, trên đầu có nhục kế, một tay giữ ấn ban nguyện, một tay cầm hoa sen.

Khi bạn đã quán tưởng ngài rõ ràng rồi, có thể lập tức không cần ghi nhớ hình ảnh nữa, lập tức để ngài biến mất luôn, có thể làm như vậy.
Đợi đến sau khi bạn luyện tập đủ lâu thì chỉ cần ấn vào đầu một cái là có thể làm các ngài hiện ra, giống như bạn chỉ vừa nhắm mắt lại là lập tức thấy các ngài hiện ra rất rõ ràng trước mặt. Việc này cần có thời gian luyện tập dài lâu. Trước đây tôi không hẳn là quán tưởng được rõ ràng như thế.

Còn như bây giờ, buổi sáng hôm nay ở Chân Phật Mật Uyển, khi tôi làm cúng dường ở bên ngoài trời ở đàn tràng bên ngoài, có vài người [có thiên nhãn] đã nhìn thấy các vị đến. Tôi chú ý thấy một số người đã quay đầu lại để nhìn.

Kì thực tôi đã quán tưởng chính mình thành Phật A Di Đà, kim thân cao sáu trượng, cao rất là cao lên đến tận mây. Tay cầm tịnh thủy - nước cam lộ liền biến hóa, biến thành nghìn nghìn vạn vạn giọt nước cam lộ, vừa rắc xuống là tất cả mọi vật đều thấm đẫm. Bản thân tôi biến thành Phật A Di Đà kim thân cao sáu trượng như vậy, rất rất cao, cao đến tận mây, chính là tôi đã quán tưởng như vậy. Thậm chí ngay cả khi đang nói chuyện với các bạn đây, tôi cũng có thể quán tưởng được rất rõ ràng. Tuy nhiên hãy nhớ, bạn không cần phải quán tưởng giữ mãi hình ảnh đó rất lâu. Không cần thiết phải tiếp tục quán tưởng Phật A Di Đà ở nguyên một chỗ mãi.

Còn việc quán tưởng tất cả các vị Phật của thập phương tam thế thì thế nào?
Hãy lấy các vì sao để quán tưởng, dùng ánh sáng của các vì sao. Giống như các bạn quán tưởng chủ tôn ở trước mặt, phía sau các vị chủ tôn là toàn bộ các đốm sao sáng lấp lánh, vô cùng vô tận các đốm sao.

Đây là cách để lạy hết thập phương tam thế tất cả Phật tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát trong Đại lễ bái. Khi Đại lễ bái, đầu tiên quán tưởng vô số đốm và ánh sao, sau đó quán tưởng chủ tôn ở phía trước các đốm và ánh sao lấp lánh này, tiếp đó quán tưởng bản thân đảnh lễ tới tất cả chư Phật Bồ Tát. Cách quán tưởng này đem lại công đức cực kì khổng lồ.


🌟


Lạy tất cả bình đẳng - sự trang nghiêm của tâm.
Đây là mục thứ ba, cũng chính là Đại lễ bái. Lạy tất cả bình đẳng chính là tất cả chư Phật ta đều lạy hết. Bình thường Hiển giáo không có việc quán tưởng như vậy, cũng không có việc phóng quang gia trì, chỉ Mật giáo mới có.

Công đức của việc lạy tất cả trong Mật giáo này đương nhiên là vô cùng vĩ đại. Bởi vì tất cả các vị Phật của thập phương tam thế đều ở trước mặt bạn, bạn chỉ cần đảnh lễ một cái thôi là bằng với các bạn bên Hiển giáo đảnh lễ mất vài năm. Do họ thường luôn chỉ đảnh lễ một vị hoặc vài vị mà thôi. Đảnh lễ của chúng ta một lúc là cả nghìn nghìn vạn vạn các vị, tất cả ta đều đảnh lễ hết. Nguyên nhân Mật giáo có thể tức thân thành Phật chính là ở đây.

Hiển giáo phải trải qua ba đại a-tăng-kì kiếp [vô số kiếp] mới có thể thành Phật, còn Mật giáo có thể tức thân thành Phật bởi vì công đức của sự thực hành này rất lớn. Thành tựu của bản thân Mật giáo vô cùng siêu việt. Mật giáo có trí huệ vô thượng, sử dụng trí huệ vô thượng, pháp vô thượng, nghi thức vô thượng để thành tựu đại pháp vô thượng, sau đó sẽ thành tựu được Phật quả.

Do vậy Đại lễ bái của Mật giáo là lạy tất cả, lạy tất cả chính là một lần lạy là hoàn toàn lạy hết tất cả chư Phật.

🌟


Giống như nghi thức Hộ Ma (hỏa cúng) của Mật giáo chúng ta, bên Hiển giáo thì thắp hương. 
Khi Hiển giáo thắp hương, mỗi lư hương thắp một que hoặc ba que hương. Hộ Ma của chúng ta mỗi lần đốt tới cả vài nghìn vài vạn que hương, chúng ta làm một lần Hộ Ma thì tương đương với Hiển giáo thực hành cả vài năm, vì chúng ta đã đốt nhiều hương như vậy cơ mà.

Hiển giáo làm gì có Hộ Ma. Chỉ có Mật giáo có Hộ Ma. Hộ Ma của Mật giáo chính là một hình thức cúng dường cực kì cực kì lớn, cũng là một kiểu cúng dường vĩ đại nhất, tập hợp lại tất cả mọi công đức. Đại lễ bái của Mật giáo, chỉ một lạy là lạy cả nghìn nghìn vạn vạn tất cả các vị chính là như vậy. Các bạn tuyệt đối đừng coi thường việc thực hành Đại lễ bái này. 

Đại lễ bái cũng hoàn toàn dạy các bạn làm sao để hàng phục bản thân mình, làm sao để hàng phục "ngã mạn" (sự ngạo mạn) của chính mình. Trước mặt các vị Phật Bồ Tát, bạn có thể đại lễ bái biểu thị sự cúi mình trước các ngài. Điều này chính là phát lộ sự sám hối, chính là giao toàn bộ thân khẩu ý của mình cho Phật Bồ Tát, giao toàn bộ bản thân bạn cho Bổn tôn.

Một lạy là lạy tất cả, chính là lễ bái tất cả với tất cả sự cung kính, việc này chỉ có trong nghi quỹ của Mật giáo. Do đó công đức của việc này vô cùng vĩ đại, không được xem nhẹ Đại lễ bái.


🌟


Trong các buổi đồng tu, rất nhiều người thực hành Đại lễ bái như sau. (Sư tôn làm mô phỏng hành động lễ bái qua loa, mọi người cười.)
Không có chút năng lượng nào, cũng không có tí sự trang nghiêm thành kính nào. Bạn phải biết rằng rằng sự thành kính và trang nghiêm tới từ bên trong, tới từ trái tim của bạn. Bạn sử dụng sự quán tưởng phải tạo ra được cảm thức về sự trang nghiêm và thành kính này. Rất nhiều người thoạt nhìn Đại lễ bái bên ngoài thì nghĩ đơn giản, sau khi tới tham dự đồng tu vài buổi thì tự thấy rằng "hai ba ngày là tôi biết hết rồi". Chỉ vài ngày là thấy họ đã trốn đi hết sạch.

Học được một cái thủ ấn cúng dường, kết được vài cái thủ ấn, rất đơn giản, rất *easy** [dễ]*, anh ta không biết rằng bên trong còn có rất nhiều kiến thức ẩn mật to lớn khác. Bởi vậy sau khi tôi giải thích hết ra sẽ khiến mọi người biết sự vĩ đại của Mật pháp nằm ở đâu, chứ không phải chỉ là vài kĩ năng biểu diễn bên ngoài.


🌟


Đại lễ bái để chứng nhập "vô ngã"
Đại lễ bái cần có thể chấp nhận bản thân không còn "tự ngã". Có rất nhiều người tu rất nhanh, bộp bộp bộp… Oa! 20 phút là xong rồi, như vậy là kết thúc rồi. Hỏi anh ta, anh vừa mới tu xong một đàn pháp, vậy anh có cảm giác gì không?
"Cảm nhận gì chứ, con làm một đàn là một đàn thôi! Sư Tôn bảo con tu 200 đàn mà! Con tu chỉ trong một chốc, một ngày đã tu xong mấy đàn rồi, rất nhanh sẽ tu xong 200 đàn thôi."

Xong anh lại hỏi tôi: "Phải làm sao đây, vì sao nghiệp chướng của con vẫn còn nặng như vậy?"
Nghiệp chướng đương nhiên là nặng rồi! Cái tâm của anh không hề lĩnh ngộ được cái gì cả, như vậy là tâm trang nghiêm sao?
Khi làm đại lễ bái, cái tâm phải vô cùng trang nghiêm, bạn cần phải từ trong tâm mình kính lễ một cách vô cùng kính cẩn trang trọng. Tất cả Phật Bồ Tát đều vô cùng trang nghiêm, ý thức vũ trụ rất vĩ đại.

Bạn đảnh lễ tất cả, bạn cần khiêm tốn nhún mình, bản thân cần phát lộ lòng sám hối, phải là làm một công phu tu hành thực sự, không phải là qua loa quýt luýt. Mục thứ ba nói về Đại lễ bái, hy vọng mọi người có thể hiểu được thông suốt.


🌟


Đại lễ bái - công đức khổng lồ
Vì sao trong pháp Tứ gia hành lại có phân chia ra làm Tứ quy y, Đại lễ bái, Đại cúng dường và Kim cang tâm [Kim Cương Tát Đỏa]?
Bạn tự mình thử nghĩ xem, vì sao Đại lễ bái lại cần phải tách ra để làm riêng? Chính bởi vì công đức của thực hành này cực kì lớn.
Mỗi ngày khi bạn tu tập, đầu mỗi thời khóa nên thực hiện Đại lễ bái một cách cung kính kiền thành. Vừa là rèn luyện thân thể chính mình, vừa có được công đức khổng lổ cùng sự gia trì của nghìn nghìn vạn vạn Phật Bồ Tát khi các ngài phóng quang gia trì.

So với việc đảnh lễ thông thường, Đại lễ bái cùng với sự quán tưởng này đem lại kết quả rất khác biệt.
Ý nghĩa của cả "thân tâm toàn bộ nằm xuống lạy", chính là khi Đại lễ bái, bạn có thể chấp nhận được mình hoàn toàn không còn tự ngã (cái tôi) nữa, hoàn toàn buông lỏng các giới hạn, hoàn toàn dung nạp nghìn nghìn vạn vạn ánh sáng của Phật Bồ Tát chiếu đến bạn.
"Tôi lĩnh thọ mọi ân đức của Phật Bồ Tát, tôi sẵn lòng đem tất cả nghiệp chướng của bản thân tiêu trừ hoàn toàn."

Làm Đại lễ bái như vậy mới là vĩ đại chân chính, mới là Đại lễ bái có công đức lớn nhất.
Tôi thấy chúng ta hôm nay nói đến mục thứ ba rồi. Ngày mai chúng ta tiếp tục bài giảng, mỗi ngày đều giảng, trong vòng mấy ngày này tôi sẽ giải thích hết toàn bộ nghi quỹ cho mọi người, có được không?


## 06. Tôn chỉ của Chân Phật Tông


Thông báo [vào năm 1992 tại Biệt thự Cầu Vồng, Mỹ]
Tôi muốn thông báo với mọi người một chút. Biệt thự Cầu Vồng này trong tương lai sẽ là nơi giảng dạy Phật pháp.

Vậy còn lần này thì sao? Lần này thì vẫn chưa thể để cho mọi người ở lại đây được, nguyên nhân chủ yếu là vì vẫn còn nhiều việc nhỏ chưa thể chu toàn. Do vậy chưa thể để mọi người lưu lại đây, thế nên để lần sau nhé! Lần sau có thể ở lại đây được rồi.

Có một quy định về việc ở lại, nói cụ thể là người đến đây muốn ở lại cần chuẩn bị túi ngủ. Sau khi khóa giảng dạy kết thúc, các bạn về nhà và cũng đem theo túi ngủ của mình về. Ở đây việc giặt chăn ga không được thuận tiện lắm, cũng sợ rằng mỗi cái chăn ga lại có mùi riêng của mỗi người nữa (mọi người cười). Có người buổi tối ngủ vẫn còn chảy nước miếng đấy (mọi người cười).

Đương nhiên nếu ở khách sạn thì tắm giặt hàng ngày không có vấn đề gì. Nhưng vì thời gian bạn ngủ lại đây tương đối dài, như thế thì mùi có thể sẽ ám vào chăn ga. Không chỉ có ga trải giường, đương nhiên là cả đệm cũng sẽ bị ám mùi nữa khiến cho những người lần sau đến ngủ lại sẽ cảm thấy không quen lắm.

Do vậy chúng tôi đã nghĩ rồi, hy vọng những người đến ở lại sau này, mỗi người đều tự mang túi ngủ của mình đến. Sau khi khóa học kết thúc lại tự mình đem túi ngủ về.
Ngoài chuyện này ra thì khả năng vẫn còn vài quy định nữa. Nếu phát sinh ra vấn đề thì chúng tôi sẽ công bố để cho mọi người sinh hoạt phù hợp với quy định lớp học ở đây.

Thời gian khóa học tiếp theo, dự định là vào tháng 5 năm tới sẽ có một kì. Nhưng rất nhiều người sẽ đến và tất cả khó có thể cùng ở lại đây được hết, nên chúng tôi cũng có quy định là chỉ nhận 20 nam và 20 nữ. Khi tham gia lớp học cần phải nộp luận văn, chúng tôi xem luận văn cũng biết bạn đã đến được trình độ nào rồi. Người ở trình độ nào thì sẽ đến học cùng người ở trình độ đó, đây là điểm thứ nhất.
[Chúng tôi vẫn giữ nguyên việc dịch các đoạn nói chuyện như trên, mặc dù bản thân chúng không thực sự là "kiến thức". Mong muốn rằng chúng ta có thể cùng "cảm nhận", cùng "sống" lại trong không gian, thời gian cách đây gần 30 năm, nơi Sư Tôn bắt đầu giảng pháp những ngày đầu tiên tại Mỹ. Những khoảnh khắc đơn sơ và giản dị thế này đã trở thành lịch sử.]


🌟


Minh tâm kiến tính. Tự chủ sinh tử.
Điểm thứ hai!
Tôi sẽ nói một chút về tôn chỉ Chân Phật Tông chúng ta. Hiện tại đệ tử đã rất đông, có rất nhiều người, nếu có nhiều đệ tử không hiểu tôn chỉ của tông phái thì không hay chút nào.

Ý nghĩa chủ yếu trong tôn chỉ tông phái chúng ta là Tự chủ sinh tử. Tự chủ sinh tử cũng chính là Vô sinh vô tử. Nếu có thể hoàn toàn tự chủ được việc sống chết thì cũng chính là Phật sống, cũng gần như thành Phật rồi. Ngoài ra còn cần phải Minh tâm kiến tính, thoát khỏi phiền não, đây đều là tôn chỉ của tông phái chúng ta.

Ý nghĩa của tôn chỉ chính là mục tiêu này, là ngọn cờ này, bạn cứ theo phương hướng này mà đi là đúng đường. Tôi nhắc lại, mục đích chủ yếu nhất của những người học Phật chúng ta, chính là Tự chủ sinh tử, Minh tâm kiến tính. Hiểu rõ tâm của chính mình, nhìn ra được Phật tính vốn có của chính mình, như vậy tự mình có thể sinh ra, có thể chết đi, tới cuối cùng khi nhập niết bàn an tịnh thì không còn sinh tử mà thành tựu Phật quả.

Đây chính là tôn chỉ chủ yếu của tông phái. Tiêu trừ nghiệp chướng, thoát khỏi phiền não cũng có thể xem như là một phần của Tự chủ sinh tử.


🌟


Trong xã hội này có rất nhiều kiểu học Phật, có rất nhiều nhóm tư tưởng, cũng có rất nhiều kiểu rẽ nhánh. Thế nào gọi là rẽ nhánh? Chính là những thứ sinh ra thêm, nằm ngoài tôn chỉ gốc của Phật pháp. Vậy thì rẽ nhánh là có những cái gì?

Ví dụ như học vẽ tranh Phật, vẽ thangka chính là rẽ nhánh của Phật giáo. Cũng có người học về âm nhạc Phật giáo, âm nhạc của Phật giáo cũng chính là một rẽ nhánh. Cũng có người học Phật công, nghĩa là luyện công trong Phật giáo, cái này cũng được phân vào loại rẽ nhánh. Ngoài ra còn có các lớp nghệ thuật, các lớp nấu ăn chay nữa. Học chữa bệnh, khí công, nhân điện, những cái này đều thuộc về rẽ nhánh.

Ý nghĩa của rẽ nhánh chính là hỗ trợ thêm cho Phật pháp, có thể bổ trợ Phật pháp, nhưng hoàn toàn không phải là tôn chỉ chính, không có liên quan gì nhiều đến tôn chỉ cả.

Bạn muốn đi học khí công, tôi cho rằng rất tốt. Việc này giúp về khí lực thân thể, giúp cho sự khỏe mạnh của bạn, nên bạn có thể đi luyện khí.
Tuy nhiên tôn chỉ chân chính của Chân Phật Tông là Tự chủ sinh tử, Minh tâm kiến tính, tôn chỉ này bạn không được quên. Nói cách khác là tương lai bạn muốn học khí công, tốt thôi, nhưng nếu bạn nói tôi học khí công đây, không học Phật pháp nữa, như vậy là bạn đã vứt bỏ đi tôn chỉ rồi.

Hoặc nếu nói bạn đi học nhân điện lấy việc chữa bệnh làm chính, giúp người ta chữa bệnh. Sau khi bạn giúp mọi người chữa bệnh rồi lại không học Phật pháp nữa, thì đây chính là chỉ thấy cái ngọn mà quên đi cái gốc.

Vốn dĩ bạn nên Minh tâm kiến tính, Tự chủ sinh tử, nhưng học chữa bệnh xong rồi, bạn liền biến thành chuyên gia chữa bệnh, không phải là chuyên gia học Phật thì bạn sẽ không thể nào thoát khỏi sinh tử được.

Tóm lại, tôn chỉ của tông phái là phải lấy việc thoát khỏi sinh tử, minh tâm kiến tính làm chính. Mọi việc rời xa khỏi "Tự chủ sinh tử, Minh tâm kiến tính" đều được gọi là rẽ nhánh. Tôi nói như vậy mọi người có hiểu không?


🌟


Huệ mệnh song tu.
Ngoài ra vẫn còn điểm nữa. Ngày trước Mật tông chú trọng vào nội tu. Thế nào gọi là nội tu? Chính là thuộc về Tu mệnh, Tu mệnh chính là tu hành những việc hỗ trợ cho thân thể này.

Trên khía cạnh Phật pháp mà nói, có một quãng thời gian việc này cũng bị hiểu nhầm là một dạng rẽ nhánh vì Mật giáo chú trọng nội tu. Kì thực bên trong Phật pháp có cả Tu huệ, có cả Tu mệnh, đây gọi là "Huệ mệnh song tu". Trên phương diện Tu huệ thì không chú trọng tu hành thân thể, nói cách khác là tôi ăn cực kì ít, cực kì đơn giản. Nếu như bản thân sinh bệnh cũng mặc kệ!

Còn việc ở? Ở dưới gốc cây, quần áo thì mặc đồ rất cũ sờn. Còn như đi đường, tôi không muốn ngồi xe do người khác kéo, hoặc xe có người phục vụ, luôn luôn tự mình phục vụ mình thôi, không muốn gánh chịu thêm nghiệp của chúng sinh, muốn tự mình đảm đương tất cả mọi thứ.

Việc tu hành của những hành giả kiểu này có thể nói là tới gần với khổ hạnh. Họ hoàn toàn chỉ coi trọng phương diện tu trí huệ. Gặp lúc mắc bệnh, họ vẫn ngồi yên, phát sốt rồi họ vẫn ngồi yên, thân thể mắc bệnh tới mức vô cùng nghiêm trọng rồi, họ vẫn mặc kệ. Họ cho rằng thân thể là thứ rác rưởi, do có thân thể này mà họ không thể siêu thoát, không thể giải thoát được, bởi vậy họ muốn làm cho cái thân thể này bị hủy hoại ghê gớm. Sau đó họ sẽ theo đuổi một kiểu thành Phật trên phương diện trí huệ, trên phương diện lý tính. Trước đây, rất nhiều hành giả chúng ta đều đi trên con đường này. Nhìn chung những người học Phật tu đạo đi trên con đường này rất nhiều, đều muốn loại trừ hẳn cái thân thể này, gọi đây là "bị thịt thối". Cái bị thịt thối này họ không cần nữa. Họ ghê tởm cái bị thịt thối này, mỗi ngày đều muốn đánh chết nó.

Có người tự ngược đãi bản thân, tu hành đến mức tự tàn nhẫn với mình. Tự tàn nhẫn với mình là như thế nào? Chính là cầm lấy con dao cắt bên ngày một miếng, cắt bên kia một miếng, cắt bên kia một miếng nữa, treo ngược thân thể của mình lên, ngồi trong khu rừng đầy cây gai, treo ngược thân thể, dùng lửa để tự đốt thân thể, dùng nước để làm trương phình thân thể của mình. Nói tóm lại là dùng mọi phương pháp tự ngược đãi chính mình, nhằm khiến tinh thần tập trung để đạt đến định rồi tới trí huệ vô thượng, cuối cùng đạt được trí huệ thành Phật. Những pháp này gọi là Tu huệ, không phải là Tu mệnh.

Mật tông thì không giống như vậy. Mật tông chủ trương cần tu trí huệ và cũng cần tu thân thể. Cần phải tu thân thể cho tốt thì bạn mới có thể có được thọ mệnh (tuổi thọ dài), lúc đó mới có thể đi tìm hiểu được chân lý của vũ trụ.

Chính vì thế pháp được giảng sẽ không giống nhau.
Hành giả tu đạo có thể chọn tu thiền cũng được, tu đạo cũng được, tu theo con đường khổ hạnh, mặc kệ hay vứt bỏ hoàn toàn cái thân thể bị thịt thối này của chính mình cũng được. Nhưng hành giả tu Mật giáo thì chú trọng tu hành trên phương diện trí huệ, đồng thời cũng chú trọng khí của thân thể chính mình, tu hành để khai thông mạch, minh điểm. Cái này gọi là "Huệ mệnh song tu".

Theo bản thân Sư Tôn thì nên cần cùng tu cả huệ và mệnh, vì thân thể và tinh thần của bản thân rất tốt thì trí huệ mới phát triển được. Bạn đủ thể lực, thọ mệnh dài thì mới có thể hiểu được chân lý của Phật pháp. Nếu bạn không coi trọng sinh mệnh bản thân, mà chỉ cầu trí huệ, mệnh không còn nữa thì huệ từ đâu tới? Thân thể xương thịt này không còn nữa thì trí huệ Phật pháp mà bạn tìm kiếm cũng không thể tìm được. Do đó Chân Phật Mật Pháp chúng ta chú trọng "Huệ mệnh song tu".

Bạn cần phải đạt được trí huệ thành Phật, nhưng thân thể của bạn cũng cần phải chăm sóc cho cực kì khỏe mạnh, tinh thần cực kì thịnh vượng. Thậm chí đối với việc tu nội hỏa, khí, mạch, minh điểm, bạn còn phải trực tiếp hóa thân thể của bạn thành cảnh giới hư không. Trước đây Mật giáo có một giai đoạn bị coi là ngoại đạo, nguyên nhân chính là vì việc chú trọng đến vấn đề khí mạch của thân thể này.


🌟


Ý nghĩa lớn của Phật pháp
Bất luận bạn dùng phương pháp gì để thành tựu Phật quả, để Minh tâm kiến tính, Tự chủ sinh tử, thì chúng đều thuộc về tôn chỉ của Phật pháp.
Còn những mục đích khác đều thuộc về rẽ nhánh, đều chỉ là những thứ để bổ trợ cho Phật pháp. Hy vọng mọi người có thể hiểu rõ được ý nghĩa này, đừng nên chỉ thấy ngọn mà quên mất gốc.
(Tại Biệt thự Cầu Vồng, Seattle, Mỹ, 25/11/1992)


## 07. Cúng dường Đại Mạn đà la (Mandala)


Hôm nay chúng ta lại nói về mục thứ tư. Mục thứ tư mọi người tu cái gì đây? Chính là làm pháp cúng dường đại mandala. Việc cúng dường này trong Mật giáo là dùng bát cúng (cúng 8 món đồ) bố trí tại đàn thành.

Nhìn chung trên phương diện học Phật ta thường dùng ngũ cúng, và đương nhiên còn có rất nhiều pháp cúng không giống nhau, nhưng chúng ta cũng không giới thiệu nhiều như vậy. Có nơi cúng 5 món, 7 món, 8 món, 21 món, 22 món, 27 món, 37 món. Ở đây chúng ta chỉ nói về ngũ cúng (5 món) và bát cúng (8 món).


🌟


Chú, ấn và quán tưởng cúng dường.
Ngũ cúng chính là hương, hoa, đèn, trà, quả. Bát cúng thì cộng thêm phần thơm, là loại phấn thơm mà chúng ta dùng để thoa lên người. Ngoài đàn hương ra thì thêm một hũ phấn thơm này. Rồi thêm một chén nước có sữa tắm để dùng làm nước tắm, thêm một vỏ ốc như ý, như vậy là thành bát cúng, ngoài năm món trên thì thêm ba món này nữa là thành bát cúng.

Bát cúng cần quán tưởng biến hóa. Khi chúng ta làm cúng dường, cần kết ấn cúng dường, dùng chú cúng dường để gia trì cho đồ cúng, gia trì cúng phẩm: "Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru-na-na men-cha-la khan ni-ni-ya ta-ya-mi.”

Đây chính là câu chú cúng dường. Trước tiên khi kết ấn cúng dường, bạn cần quán tưởng cúng phẩm biến hóa. Đặt mọi đồ cúng ở trước mặt bạn, đầu tiên quán tưởng chúng là một điểm, rồi nhân lên thành một hàng, rồi lại nhân lên thành một mặt phẳng, rồi lại nhân lên thành đầy ắp cả không gian hư không, giống như bài kệ mà chúng ta thường niệm:
"Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp tốc tốc chứng bồ đề."

Rồi trì thêm chú cúng dường. Thủ ấn này chạm vào thiên tâm rồi giải ấn.

Có nhiều lúc tôi cảm thấy không thoải mái lắm khi mọi người công khai cúng dường Sư Tôn hồng bao. Giống như hôm qua, tôi ngồi ở đây, tôi xua tay nói với các vị: "Mọi người không cần làm thế đâu." Ý tôi nói không cần là như thế nào? Là bởi vì tôi không quán đảnh gì cho mọi người cả. 
Khi có quán đảnh thì có thể nói là bạn có cầu xin, vậy thì nhất định cần đưa cúng dường (đây là luật lệ trong việc nhận Mật pháp). Hồng bao trong quán đảnh cũng được xem là cúng dường.

Nhưng cứ lần nào tôi thuyết pháp xong đi xuống, mọi người đều đưa hồng bao cho tôi, tôi cảm thấy không hay lắm. Ý của tôi muốn nói là... Tôi cũng chẳng biết cần phải nói thế nào (mọi người đều cười), tóm lại tôi cảm thấy ở trước mặt mọi người, nhận hồng bao, mà lại không quán đảnh, thì không thấy thoải mái lắm.

Vậy nếu các bạn vẫn nhất quyết muốn cúng dường thì khi kết thúc buổi học này, các bạn muốn quán đảnh pháp gì, chúng ta sẽ làm pháp quán đảnh. Như vậy xem ra còn tương đối có ý nghĩa một chút, chứ không thì cũng không hay lắm, có đúng không?


🌟


Ý nghĩa của việc chạm vào thiên tâm [thiên tâm là vị trí thiên nhãn - con mắt thứ ba]
Mọi người sẽ thấy khi nhận cúng dường, tôi chạm vào đầu, chính là khi tôi cầm hồng bao các bạn cúng chạm vào thiên tâm một cái, giống như lúc mọi người kết ấn cúng dường cũng chạm vào thiên tâm để giải ấn. Vì sao tôi lại chạm vào thiên tâm? Mọi người có biết hay không? Có người nói là chuyển thành cúng dường Phật, hoặc là chuyển như thế nào đó, tóm lại là chuyển tới chuyển lui (cười).

Kì thực tôi chạm vào thiên tâm là có ý nghĩa của nó. Chúng ta ở đây là những người xuất gia, hoặc không thì cũng là thượng sư, cho nên nhất định khi có đệ tử cúng dường cho các vị, các vị cũng nên học Sư Tôn mà chạm vào thiên tâm một cái đi (mọi người cười). 

Rồi sờ xem thử có bị sốt hay không (mọi người cười). Tất nhiên không phải như vậy đâu. Ý nghĩa của việc chạm vào thiên tâm một cái, thứ nhất là cung kính trước sự cúng dường của bạn, bởi vì việc chạm vào thiên tâm chính là một biểu hiện ý nghĩa cung kính, tôi cung kính đối với sự cúng dường của bạn.

Thứ hai là từ thiên tâm này phát ra ánh sáng ba màu trắng đỏ lam để gia trì cho cúng dường của bạn, đây là ban phúc cho người cúng dường. Sau khi phóng ánh sáng gia trì xong, nhận lấy rồi thì tự mình vẫn cần quán tưởng cúng dường này biến thành nghìn nghìn vạn vạn, rất rất nhiều hồng bao.

Việc này là sao? Việc này chính là ban phúc cho bạn, trả lại cho người cúng dường, chuyển sang người cúng dường. Bởi vậy việc chạm vào thiên tâm một cái có nhiều ý nghĩa ở trong nó như vậy, nên thiên tâm này không được tùy tiện chạm vào đâu (cười). Chạm một cái, biểu thị tôi tôn kính bạn, tôn kính việc cúng dường của bạn. Thế nên Kalu Rinpoche cầm tấm ảnh của tôi lên chạm vào đầu một cái, chính là biểu thị "tôi tôn kính ngài", đây là ý nghĩa thứ nhất.

Ý nghĩa thứ hai là lập tức phóng quang, quán tưởng ánh sáng từ giữa chân mày của mình chiếu lên món cúng dường này, chính là giúp bạn tiêu tai, cầu phúc, tăng ích, kính ái, hàng phục. Lại quán tưởng nghìn nghìn vạn vạn hồng bao để bạn phúc ngược lại cho bạn. Cần nhớ việc cúng dường này là như vậy.


🌟


Cúng dường thật
Hôm nay chúng ta thực hiện Đại cúng dường, kết ấn cúng dường, niệm chú cúng dường, gia trì quán tưởng nghìn nghìn vạn vạn đồ cúng phẩm dâng lên Phật Bồ Tát. Trong Mật giáo còn có Cúng dường thật, cúng dường thật là cúng dường thực sự, là thực tế cần đi mua rất nhiều đồ về, làm một lần cúng dường lớn, bày ra trước mặt Phật để sám hối, nói hết cho Phật Bồ Tát nghe những phiền não của bản thân.

Khi thỉnh cầu Phật Bồ Tát ban phúc cho bạn, bạn cần phải làm cúng dường thật lớn thì mới có hiệu quả. Vì thế trong Mật giáo rất nhiều đệ tử khi cầu pháp, lần đầu tiên đến chỗ của Thượng sư cúng dường rất lớn. Cúng dường lớn chính là cúng vải vóc để Thượng sư may y phục, long bào, pháp y, chính là cúng dường đồ ăn, đem những đồ ăn tốt nhất ngon nhất cúng dường Thượng sư.


🌟


Cúng dường tùy hỉ.
Ngoài ra còn có rất nhiều đệ tử cúng dường những tư lương mà bản thân Thượng sư cần. Tư lương chính là tiền đó!

Trước đây ở Tây Tạng các đệ tử cần cúng dường trâu, là trâu yak, rồi cừu và những sản vật ở trên núi cho sư phụ của họ. Ví dụ như bạn học một pháp lớn thì cúng 20 con trâu, học một pháp nhỏ thì cúng 2 con trâu, họ có quy định như vậy (mọi người cười). Nhưng ở đây Sư Tôn chẳng có quy định gì (cười). Nếu tôi nói với mọi người rằng học pháp lớn cần 20 con trâu, bạn dắt 20 con trâu tới, tôi cũng không biết phải nuôi ở đâu (mọi người cười). Ở Tây Tạng, mọi người dùng trâu, cừu để làm tư lương. Còn ở nước Mỹ chỗ của chúng ta thì tư lương lại chính là tiền, là đô-la!

Sư Tôn không có quy định cúng dường bao nhiêu, tuyệt đối không có quy định này. Trước đây Tổ sư đã nói, sau này Sư Tôn truyền pháp, tất cả đều phải là tùy hỉ. Giả sử nếu Sư Tôn có quy định với mọi người về tiền, vậy thì Sư Tôn coi như phạm giới rồi, bản thân tôi đã phạm giới với Tổ sư.

Trước đây Thanh Chân Đạo Trưởng (Liễu Minh Hòa Thượng) cũng đã từng nhắc chuyện này với tôi, là "trong tương lai khi con ra ngoài đi khắp giang hồ...", là xuống núi đó mà (mọi người cười), "...luôn luôn phải ghi nhớ không được có quy định về số lượng tiền cúng dường cho người ta, dù bất kể con siêu độ, cầu phúc, an thần vị, an thái tuế, an đèn quang minh, con làm bất kì pháp sự gì, luôn luôn chỉ được có hai chữ này: Tùy hỉ."

Đây chính là điều sư phụ tôi căn dặn, tôi phải tuân thủ. Tôi chắc chắn tuân thủ điều này, bất kể cúng dường như thế nào tôi cũng đều làm, cho dù anh chỉ gửi có hai đồng tiền Mã Lai đến, muốn được an đèn quang minh, lại muốn cả an sao thái tuế, lại muốn lập bài vị tổ tiên, lúc đó lại muốn tham gia cầu phúc, siêu độ, phần còn lại thì cúng dường Sư Tôn (mọi người cười).

Ví dụ bạn có biết Thượng sư Liên Hỏa, Thượng sư Liên Thế hiện đang ở đây muốn đặt làm tấm bài thẻ tổ tiên ở Đài Loan, giá của mỗi tấm đã là 20 đô-la Mỹ rồi không? Có người chỉ gửi hai đồng tiền Malaysia đến và thỉnh cầu mọi việc trên. Tôi biết hai đồng tiền Mã Lai ở Malaysia khá hữu ích, một đồng có thể mua được một bát mì, vậy hai đồng có thể ăn được hai bữa rồi, cũng là thực tế thôi, thực tế thì cũng không sai.

Nhưng theo tôi, bạn cũng nên nhẩm tính một chút! Không nên để cho Lôi Tạng Tự thường xuyên phải bù tiền ngược lại cho các sự thỉnh cầu của các bạn (mọi người cười). Đây là Sư Tôn nói đùa thôi. (cười)
[2 đồng Mã Lai là 2 Ringit = khoảng 11,.300 đồng Việt Nam. Đây là chuyện có thật đã từng xảy ra.]


🌟


Cúng dường quy mô lớn và biến hóa
Trên phương diện cúng dường, chúng ta nên xuất phát từ tâm, hoàn toàn dùng tâm mình để cúng dường thì chính là cúng dường tốt nhất. Ý nghĩa của việc cúng dường lớn là bày biện rất nhiều thực phẩm để cúng dường. 
Tất cả đều bày rất đầy, rất nhiều trong mọi khả năng có thể của hành giả. Việc này là để chứng minh tấm lòng thành tâm của bạn nhằm hy vọng Phật Bồ Tát sinh lòng hoan hỷ, sẽ ban phúc cho bạn.

Giống như ngày trước, khi đại sư Tsongkhapa cầu pháp từ Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, ngài cũng phải bày cúng dường rất lớn, chính là đi mua vải vóc quý nhất, hoa quả, đồ ăn ngon nhất, rồi bày ra trước Phật, cúng dường rất lớn. Trong lúc ngài tu pháp đã từng nhìn thấy Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát thực sự xuất hiện ở đàn thành. Ngài mô tả đã nhìn thấy hào quang tỏa ra từ Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, kết hợp các sợi vải bông cotton màu cầu vồng thành các đốm tròn dầy và lớn trong quầng ánh sáng bao quanh. Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát ở giữa vòng ánh sáng đó hiện ra cho ngài nhìn thấy. Ngài Tsongkhapa thực sự nhìn thấy Bồ Tát, đây là hiện tượng tương ứng tuyệt hảo khi cúng dường.

Trong Chân Phật Tông, chúng ta làm cúng dường quy mô lớn tương đối ít, đại bộ phận mọi người đều cầm một món đồ tới, rất nhỏ rất nhỏ. [Đây là vào năm 1992.] Mỗi lần Lôi Tạng Tự chúng ta đồng tu xong, người đến đồng tu rất đông, 8 giờ tối thứ bảy mọi người đến đồng tu cũng đông xấp xỉ như thế này.

Tôi thấy mọi người đều tới để uống nước chú Đại bi. Khi Thượng sư gia trì nước chú Đại bi xong, mọi người đều đến uống nước chú Đại bi, và tôi cũng quan sát một chút xem có ai mang đồ cúng dường tới không (mọi người cười). Tôi thấy ngay cả một miếng bánh cũng không có, dù chỉ một miếng bánh nhỏ cũng không thấy. Còn những hoa quả bày ở bên trong đều sắp hỏng, cũng đã cúng dường được mấy ngày rồi.

Cũng có vài đệ tử mua một ít hoa quả đến đặt trên bàn cúng, nhưng sau khi cúng bái xong, họ lại liền thu gom rất nhiều hoa quả đem đi, chỉ để lại hai quả nhỏ nhỏ, nói là muốn để lại cho người của Lôi Tạng Tự ăn (mọi người cười). Những hoa quả này trên thực tế cũng vẫn sẽ được tiếp tục bày ở đó thêm vài ngày nữa cho tới khi gần hỏng mới dọn đi.

Đối với việc cúng dường Phật Bồ Tát, bạn chắc chắn cần phải phát tâm chân thành cung kính. Bản thân đi mua đồ cúng dường, hay thực hiện cúng dường quy mô lớn đều cần bày biện cả ra với toàn tâm toàn ý mới khiến Phật Bồ Tát sinh ra tâm hoan hỷ mà chứng nhận. Như vậy bạn mới có thể cầu phúc được, Phật Bồ Tát sẽ ban phúc cho bạn. Về điểm này, trong rất nhiều giáo lý và giáo phái đều có hướng dẫn rõ ràng. Khi bạn đặc biệt muốn cầu phúc cho việc gì đó, bạn cần làm cúng dường lớn như vậy.

Ngoài ra còn có một thứ gọi là biến hóa cúng dường. Đệ tử Chân Phật Tông chúng ta hôm nay, đại bộ phận đều đã học biến hóa cúng dường, nhưng chưa thực hiện cúng dường quy mô lớn. Mới chỉ là quán tưởng biến một thứ nhỏ thành rất nhiều rất rất nhiều (mọi người cười).

Phương thức này có thể được chấp nhận trong tông phái của chúng ta, nhưng bắt buộc phải quán tưởng. Ví dụ như một quả táo biến thành một hàng quả táo, biến thành một bề mặt đầy táo, lại biến thành cả một không gian đầy táo, đảm bảo không thể ăn hết, đây chính là sự quán tưởng trong Mật giáo. Quán tưởng xong thì sẽ gia trì bằng chú cúng dường. Như vậy việc biến hóa là hoàn toàn có thể được.


🌟


Cúng dường đồ cúng phù hợp
Cũng có người hỏi về đồ cúng dường, trong tu hành Mật pháp cần cúng gì thì thích hợp.

Mọi người đã biết Hoàng Tài Thần và Tứ Thiên Vương, Ngũ Lộ Tài Thần và Tài Bảo Thiên Vương, Hắc Tài Thần, Hồng Tài Thần, Bạch Tài Thần, Hoàng Tài Thần, đều cần phải cúng dường rượu, với các vị này cúng dường rượu là đúng rồi. Ngoài ra, Bạch Tài Thần cần cúng nước tắm, cúng thế là đúng và phù hợp. Nói chung chúng ta nên biết các thứ mà các vị thần, Hộ pháp cần để cúng dường những thứ đó cho họ.
Vậy đối với Phật Bồ Tát, bạn cần cúng gì? Đối với cúng Phật Bồ Tát thì không phải là Phật Bồ Tát thích cái gì, mà là bạn thích cái gì.

Theo Mật giáo mà nói thì bản thân Phật Bồ Tát không thích không ghét, tâm thái của các vị vĩnh viễn giữ ở trạng thái giữa sự không thích và không ghét, vậy bạn sẽ cúng dường thế nào? Bạn cúng dường đồ gì các ngài cũng không thích, mà bạn cúng dường đồ gì các ngài cũng không ghét.

Vậy thì cần cúng dường thứ mà bạn thích, cúng vậy là đúng và phù hợp. Bạn thích nhất những đồ gì, bạn cúng dường cái đó cho Phật Bồ Tát. Còn các vị thần thích thứ gì, bạn cúng thứ đó cho các thần thì các vị sẽ thích, các vị sẽ ban phúc cho bạn. Còn bạn thích nhất cái gì, bạn có thể sẵn lòng từ bỏ nó để cúng lên Phật Bồ Tát, Phật Bồ Tát sẽ vì tấm lòng của bạn như vậy mà trong lòng sinh ra hoan hỷ, như vậy có thể tương ứng.


🌟


Chúng ta ở Đài Loan, có rất nhiều người bái đồng tử, kiển tử tiên (tiếng Đài, chỉ linh hồn trẻ con). Chúng ta nói kiển tử tiên chính là đồng tử, bái đồng tử thì cần cúng cái gì? Theo tôi được biết thì trước đây cần cúng viên bi, dây chun, rồi thì bộ bài (mọi người cười).

Bởi vì là linh hồn trẻ con nên thích chơi dây chun, thích chơi bi, thích chơi đánh bài, vậy thì cần cúng những thứ này cho "thần trẻ con", rất đơn giản, bạn cúng ba thứ này là phù hợp rồi.

Tuy nhiên trẻ con thời nay thì không giống như vậy. Trẻ con bây giờ chơi trò chơi điện tử (mọi người cười), do vậy, đối với trẻ con bây giờ bạn nhất định cần cúng dường ti vi, trong đó còn phải cài sẵn trò chơi nữa, dù chúng nghiện hay không nghiện trò chơi thì cũng làm như vậy (Sư Tôn dùng ngón tay bấm bấm, mọi người cười). Đã là thứ mà chúng thích thì bạn cứ vậy mà làm, sẽ rất dễ tương ứng với chúng, sự thực là như vậy.

Lại nói đến Đại Phạm Thiên Vương (Brahma Deva) ở trung tâm một thành phố ở Thái Lan. Mọi người đều biết rồi, đó là một vị Thánh có bốn mặt, gọi là Tứ diện Phật [ND: Phật bốn mặt]. Ngài có 8 cánh tay, nghe nói ngài thích nhất là xem thiếu nữ múa. Thế là rất nhiều người phát nguyện rằng sau này nếu tôi đạt được như điều tôi muốn, tôi sẽ múa trước mặt ngài cho ngài xem. Việc này chính là do Đại Phạm Thiên Vương thích, bạn cứ theo ý thích của ngài mà làm theo, liền được tương ứng.

Thế nên bạn hãy nhớ, về những thứ để đem cúng dường, Hộ pháp thích cái gì thì bạn liền cúng cái đó. Còn đối với Phật Bồ Tát thì ngược lại, bạn thích cái gì thì bạn cúng cái đó, các ngài sẽ khởi tâm hoan hỷ mà hồi đáp lại bạn.


🌟


Ý niệm quán tưởng biến hóa
Trên phương diện cúng dường mà nói, theo truyền thống Tây Tạng, mọi người cần dùng gạo, dùng gạo đặt trong lòng bàn tay để quán tưởng biến hóa.
Nói chung rất nhiều vị từng học qua Tạng mật đều biết việc dùng gạo, bởi vì người Tây Tạng xem hạt gạo rất trân quý, thế nên dùng gạo để làm thứ quán tưởng biến hóa.

Vậy sau khi cúng dường gạo xong thì sao? Họ rắc gạo đi liền biến thành nghìn nghìn vạn vạn hạt gạo được phát tán đầy khắp trong hư không. Do vậy khi khai quang, họ cũng dùng gạo để rắc. Khai quang rắc gạo chính là tượng trưng cho ánh sáng. Còn lúc quán tưởng biến hóa thì tượng trưng cho thất trân bát bảo.

Riêng đối với chúng ta mà nói thì gạo là một thứ đồ tương đối bình thường, chúng ta không dùng gạo. Chúng ta chỉ dùng ý niệm để quán tưởng biến hóa thôi, còn bên Tạng mật thì có thể dùng gạo, bên Chân Phật Tông chúng ta thì không gắn chặt với việc dùng gạo, chúng ta dùng ý niệm. Khi bạn cúng, bạn quán tưởng biến hóa thành nghìn nghìn vạn vạn hạt gạo là có thể được rồi.


🌟


Tư lương của việc tu hành: Tiền, Bạn, Pháp, Địa

Về phương diện Đại cúng dường thì kì thực còn tồn tại một ý nghĩa khác nữa. Cúng dường chính là tư lương, không phải là bạn cho Phật Bồ Tát tư lương, mà là để Phật Bồ Tát ban cho bạn được tư lương.

Trong quá trình tu hành bạn muốn có được đầy đủ tư lương, bạn buộc phải biết pháp Đại cúng dường - cúng dường Mandala. Việc này để cầu Phật Bồ Tát ban phúc cho bạn có được nhiều tư lương, để bạn trong kiếp này có thể tận tâm tu hành.

Với một hành giả chân chính, thì chỉ cần anh ta sau khi học được pháp đại cúng dường Mandala chân chính, sẽ có được sự ban phúc của Phật Bồ Tát. Lúc này tự nhiên sẽ xuất hiện thí chủ đến giúp đỡ anh ta tu hành, cho anh ta tư lương. Bạn muốn đóng cửa ẩn tu, nhưng không có người cúng dường bạn, ở trước mặt Phật Bồ Tát bạn thực hiện Đại cúng dường, tự nhiên bằng cách nào đó sẽ có người biết bạn có tâm tu hành. Thí chủ đó sẽ sẽ giúp bạn đi tu hành, giúp bạn có thể đóng cửa tu, cúng cho bạn thực phẩm, đưa cho bạn tiền để bạn có thể yên tâm mà đi tu hành.

Ngày xưa rất nhiều đại thành tựu giả thực hiện Đại cúng dường trước chư Phật Bồ Tát, sau đó tự nhiên có rất nhiều thí chủ xuất hiện giúp đỡ họ tu hành.
Tu hành có bốn thứ không thể thiếu, trong Mật giáo là như vậy đó! Có nhiều đại hành giả ngày xưa không cần đến những thứ này, anh ta nói rằng "Tôi tu khổ hạnh". Nhưng còn thời hiện đại, bạn bắt buộc cần có bốn thứ:

Một là tiền!
Trong Mật giáo có nhiều thứ rất quý giá. Ví dụ như tượng Phật, ba vị Phật ở vị trí cao nhất trên kia, mỗi bức tượng cũng có giá trị tới 20.000 đô la Mỹ. Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni, Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, Phật A Di Đà, mỗi bức tượng đều 20.000 đô Mỹ.

Bạn không có tiền thì làm sao bạn cúng Phật đây? Bạn cũng cần làm pháp cúng dường nữa, một số vật phẩm trong Mật giáo không phải là vàng thì cũng là bạc, kém một chút thì là đồng, tạm được thì là sắt, tiếp sau nữa thì là sứ, đất nung.

Chỉ nói đơn giản một vài pháp khí như chuỗi tràng hạt, chày kim cang, chuông kim cang, chày một cổ, trống da người, hay như cái pháp tọa này, đàn thành trang nghiêm này, rất nhiều thứ không có tiền thì không làm được. Giả sử bạn muốn thực hiện cúng dường quy mô lớn cũng cần có tiền, do vậy thứ đầu tiên là Tiền.


🌟


Thứ hai là Bạn hữu!
Bạn ở đây chính là đạo hữu, là bạn bè cùng tu hành. Bạn một mình tu hành mà không có thiện tri thức cùng sát cánh với bạn, bạn sẽ không có được trí huệ chân chính, một người tự lần mò thì không được. Bạn cần có bạn bè cùng học tập Phật pháp thật sự, người đồng hành cùng chân thành với nhau, hoàn toàn nhất tâm. Có bạn đồng tu mới có thể dễ dàng trao đổi những kinh nghiệm và trải nghiệm với nhau, có được sự hiểu biết chung, từ đó có thể nhanh chóng tu thành tựu Phật pháp.

Tuy vậy, ngày trước có nhiều người không thể có được người "Bạn" này. Có người chồng mỗi lần ngồi xuống tu, vợ anh ta liền đem ngay một xô nước dội thẳng từ trên đầu xuống (mọi người cười), nếu không thì bà ấy cũng lấy vài viên đá trong tủ lạnh ra rồi thả từ cổ áo xuống cho đá chạy trên lưng. 

Trường hợp này chính là không có được người bạn đồng hành. Do vậy có được bạn đạo là vô cùng quan trọng, trao đổi hiểu biết, kinh nghiệm lẫn nhau, học hỏi được lẫn nhau, hơn nữa nếu có thiện tri thức ở bên cạnh thì là tốt nhất.


🌟


Thứ ba chính là Pháp!
Bạn có tiền có bạn rồi, nhưng không có Phật pháp chân chính thì cũng không được. Do vậy các bạn buộc phải tìm được một vị thầy chân chính, vị thầy hiểu rõ Phật pháp, vị thầy đã đi qua con đường này rồi, do vậy thầy có thể dạy bạn cách đi trên con đường này từ đầu để thành Phật. Thầy dạy cho bạn phương pháp, dạy cho bạn kĩ xảo thì bạn mới có thể thành tựu Phật pháp được, điểm này cũng rất quan trọng.


🌟


Thứ tư là Địa điểm tu hành!
Địa điểm bạn tu hành cũng rất quan trọng. Ví dụ như ở Biệt Thự Cầu Vồng đây rất là tốt, là một nơi nhiều linh khí. Địa điểm bạn tu hành vốn thường chính là nơi bạn sống. Nếu địa lý không tốt, không có linh khí, những người sống xung quanh lại rất phức tạp, bạn vừa thắp hương lên người ta liền chửi bạn rồi. Không có được thiên thời, thiên thời chính là hoàn cảnh xung quanh bạn mà không tốt, địa lý không tốt, con người xung quanh bạn cũng không tốt, thì từ đầu tới cuối bạn đều không thể có được điều kiện an tịnh để tu hành.


🌟


Bốn thứ Tiền, Bạn, Pháp, Địa có được từ đâu? Từ việc cúng dường. Bạn cần hiểu rằng Đại cúng dường sẽ đem lại Tiền, Bạn, Pháp, Địa. Bạn không có cách nào khác là cần nắm rõ về Đại cúng dường. Nếu bạn có chút lơ là việc cúng dường, thì Tiền, Bạn, Pháp, Địa, bạn sẽ chẳng thế nào có được.

Tôi có thể nói như thế này. Trong kiếp này tôi đã thực hành rất nhiều Đại cúng dường. Giả sử tôi muốn đời đời kiếp kiếp độ chúng sinh, thì kiếp sau tôi có thể tái sinh thành Quốc Vương. Vì sao có thể nói chắc chắn rằng kiếp sau sẽ tái sinh làm Quốc Vương? Do Quốc Vương có rất nhiều tiền mà! (cười) Tại sao tôi có thể đảm bảo điều này? Bởi vì trong kiếp này, tôi đã thấu hiểu pháp cúng dường chân chính, cúng dường bằng tấm lòng của mình. Tôi có thể chuyển hóa những thứ mà tôi cúng dường thành tài phúc như của một vị Thiên Vương. Bởi vì có nhiều tư lương như vậy, đương nhiên có thể sở hữu đất đai rộng lớn, và những người bạn đồng hành chính là chúng sinh. Sinh ra mà có nhiều tiền như vậy, có nhiều phương pháp rộng lớn như vậy để cai trị, bạn chẳng phải Quốc Vương sao? Tiền, bạn, pháp, địa mà bạn có sẽ hóa thành cả một quốc gia. Bởi vậy bạn tu hành cần phải thực sự hiểu về pháp Đại cúng dường Mandala. Sau này bạn sẽ là một Quốc Vương.

Rất nhiều vị xuất gia biết cúng dường Phật Bồ Tát, rất nhiều đại sư Mật giáo biết cúng dường Phật Bồ Tát, họ đã học pháp Đại cúng dường. Kì thực rất nhiều vị Quốc Vương trước đây đều là những người xuất gia. Rất nhiều vị vua, rất nhiều tổng thống, tiền kiếp đều là những người xuất gia. Đó là bởi vì họ biết cúng dường, họ hiểu phương pháp Đại cúng dường. Cho nên sau này các bạn nên tu tập phương pháp Đại cúng dường này cho tốt đi!

Nếu trong kiếp hiện tại này có được nhiều tư lương để tu hành, trong kiếp sau bạn sẽ thành người trung lưu phú quý, Mà không chỉ là người trung lưu phú quý, bạn sẽ thác sinh ra trong những gia đình của Thiên Vương, thành quyến thuộc của Tứ Thiên Vương. Thậm chí nếu có được nhiều tư lương hơn nữa để cúng dường, bạn sẽ trở thành Tài Bảo Thiên Vương [Vị vua trời chuyên ban phát về tài bảo do họ có quá nhiều phước báu tích tập được]. Do vậy pháp Đại cúng dường này vô cùng quan trọng.


🌟


Nói về ý nghĩa chủ yếu của mục này tôi muốn nhấn mạnh với mọi người thì chính là việc cúng dường toàn tâm và rộng rãi của bạn sẽ có được tâm hoan hỷ của Phật Bồ Tát. Lúc đó Phật Bồ Tát sẽ ban phúc và ban tư lương cho bạn, bạn sẽ có đầy đủ tiền, bạn, pháp, địa. Lúc đó việc tu hành của bạn sẽ không còn vấn đề gì nữa.


![image](/img/img_7d91b436ef2032d671cc003efc367455.png)



## 08. Tứ quy y


Tiếp theo chúng ta tu pháp Tứ quy y. Pháp Tứ quy y cũng tương tự như vậy, có chú, có ấn, có quán tưởng. Khi tu Tứ quy y, mọi người chú ý pháp Tứ quy y này chính là Sức mạnh nương dựa duy nhất của bạn.

Sức mạnh nương dựa duy nhất nghĩa là bạn chỉ dựa vào duy nhất truyền thừa của bạn, dựa vào duy nhất vị thầy của mình, chính là Căn bản Thượng sư, chính là dòng truyền thừa của bạn. Tất cả sức mạnh được sản sinh ra trong dòng truyền thừa được gọi là Sức mạnh nương dựa duy nhất.
Câu chú này là:
Namo Guru bei.
Namo Buddha ye.
Namo Dharma ye.
Namo Sangha ye.

Khi bạn niệm câu chú này, trước hết chúng ta quán tưởng Thượng sư, Tam bảo, kinh điển ở trước mặt bạn xoay vòng biến thành một luồng ánh sáng trắng từ trong hư không chiếu xuống quán đảnh cho bạn.

Thượng sư, Tam bảo, tất cả mọi kinh điển kết hợp lại thành một luồng ánh sáng trắng, từ trong hư không hướng về hành giả để quán đảnh. Quán đảnh dội xuống toàn thân ta đều thấm đẫm nước cam lộ, nước cam lộ tỏa ra ánh sáng màu trắng.

Chúng ta quán tưởng từ các lỗ chân lông này tỏa ra rất nhiều sương khí màu đen. Bởi vì lúc này chúng ta đang được quán đảnh, nên nghiệp trên toàn thân ta đều từ những lỗ chân lông này mà thoát ra ngoài. Trước hết là chúng ta quán tưởng như vậy, quán tưởng xong thì niệm ba lần:
Namo Guru bei.
Namo Buddha ye.
Namo Dharma ye.
Namo Sangha ye.

**Các dòng truyền thừa của chúng ta**
Pháp Tứ quy y này gọi là Sức mạnh nương dựa duy nhất, nên Căn bản thượng sư [ND: root guru – vị thầy gốc] cực kì quan trọng. Bởi vì tất cả mọi pháp đều là do Căn bản Thượng sư truyền cho mọi người, sau đó mọi người sẽ dựa theo pháp đó mà tu.

Bây giờ chúng ta nói về Thượng sư của bản thân Sư Tôn. Trước đây khi tôi ở Ballard (Washington) tu hành, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ từ trong hư không biến hóa xuất hiện, ngài đưa tôi đi đến Nepal, đưa đến một nơi gọi là Pon-je-pu ở Nepal, không biết các bạn có ai nghe nói đến nơi đó chưa?

Ngài đưa tôi đến đó để quán đảnh, truyền pháp, ngài tiếp tục dạy cho Sư Tôn như vậy. Trong phái mũ đỏ (Nyingma) của Mật giáo, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chính là Thượng sư của Sư Tôn.

Đối với dòng mũ vàng (Gelugpa), Sư Tôn đã quy y Thubten Dargye Thượng sư. Thubten Dargye Thượng sư ban cho tôi chiếc chày kim cương, chuông kim cương do dòng Gelugpa làm, chúng không lớn lắm. Thubten Dargye Thượng sư nói với Sư Tôn rằng hai chiếc chuông và chày kim cương này chính là để ban quán đảnh vô thượng mật cho con. Chiếc chuông kim cương và chày kim cương này tôi để ở trong phòng làm việc ở trên tầng của tôi.

Ngoài ra, thầy Thubten Dhargye của tôi còn viết một bài kệ, chính là bài kệ mà tôi treo ở trong bếp, do chính tay ngài viết: "Thổ lộ Gia Đà Hộ Phạm Giáo", mấy chữ ở trên đó là Thổ Đăng Tự Như, Thổ Đăng Tự Như chính là Thubten Lama, là truyền thừa phái Gelugpa của Thubten Lama. Thổ Đăng Tự Như là pháp hiệu mà Căn bản Thượng sư của tôi đặt cho tôi, tôi chính là Thổ Đăng Tự Như.

Trước đây có một khoảng thời gian tôi tự gọi mình là Thubten Chi-mo (Thổ Đăng Kì Ma), không có gì sai ở đây, bởi vì hồi đó ngài viết cho tôi một mảnh giấy, trên đó có viết hai chữ Thubten. Khi đó thầy cũng dùng cả chữ Chi, thầy nói với tôi rằng con thích chữ nào thì con chọn chữ đó. Tôi xem thử, trên đó có một chữ Ma, tiếng Đài gọi là Ma Ha, tôi liền thích cái chữ Ma viết trên đó, nên tôi chọn pháp hiệu là Thổ Đăng Kì Ma.

Có lần tôi ở Hồng Kông, thầy lại nói với tôi, thầy nhận thấy rất nhiều đệ tử của thầy không tốt, là những đệ tử này này...! Thầy nói là thầy thích......, thầy thích nói một cách hơi thô và thẳng thừng (mọi người cười). Thầy nói đệ tử mang pháp hiệu có chữ Kì đều không tốt, tất cả đều là...., xem ra không nên nói ra, bởi vì nói ra cũng không khác gì tự mắng tôi (mọi người cười). [ND: Do Sư Tôn chọn tên Kì Ma.]

Thầy nói không muốn có những đệ tử này nữa, tôi cần phải đổi tên lại từ đầu, thế nên chúng tôi đều bị khai trừ hết, tất cả những đệ tử mà tên có chữ Kì đều bị khai trừ. Tôi cũng không biết thầy có khai trừ tôi hay không. Tóm lại, thầy nói rằng đệ tử mà tên có chữ Kì là đều không tốt, đều muốn loại bỏ hết, rồi thầy bất ngờ viết ra cái tên Thổ Đăng Tự Như đưa cho tôi, tôi chỉ còn cách đổi pháp hiệu thôi. Bởi vì chẳng phải thầy nói các đệ tử có chữ Kì đều không tốt sao! Không tốt thì không cần nữa, nên thầy viết cho tôi tên mới là Thổ Đăng Tự Như.

Ở đoạn sau ngài còn thêm mấy chữ - "Chân Chủ Liên Hương" (mọi người cười). Thế thì Sư Mẫu mới là người chủ, còn tôi biến thành phó rồi! (mọi người cười).
Thế nhưng tôi là Thổ Đăng Tự Như cũng tốt, tự do tự tại, ai làm chủ, ai làm phó, tôi không quản (mọi người cười). Dù sao tên tôi được viết trước là tốt rồi… ha ha (mọi người cười). Thầy viết: Thổ Đăng Tự Như, Chân Chủ Liên Hương, bài kệ này là do thầy tự tay cầm bút viết, sau đó bảo đệ tử của Tín Pháp Đường bên Hồng Kông làm cho đẹp, đóng khung xong, làm cho sạch sẽ rồi treo lên. Thầy còn bảo tôi và thượng sư Liên Hương đứng ở trước bài kệ này của thầy chụp một tấm ảnh, chứng minh là thực sự đã treo nó lên rồi (mọi người cười), trong lòng thầy thực sự rất vui.

Còn đối với dòng Hoa giáo (Sakya), trên phương diện truyền thừa thì mọi người đều biết rồi. Sakya Chứng Không cũng là một lão sư phụ, sau khi tôi gặp được thầy, thầy liền quán đảnh cho tôi, quán đảnh rất nhiều, sau đó quán đảnh cho tôi cả Quán đảnh Acharya (A-xà-lê) nữa. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ cũng bán Quán đảnh Acharya cho tôi giống như vậy. Ở đây là Thubten Dargye Thượng sư quán đảnh cho tôi Vô thượng mật.

Khi tôi gặp Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16 của dòng mũ đen (Kagyu), ngài lại ban cho tôi quán đảnh Ngũ phương Phật.

Quán đảnh Ngũ phương Phật này là lớn nhất, lớn hơn cả quán đảnh Acharya. Nếu như bạn hiểu Mật pháp, bạn sẽ biết rằng Ngũ phương Phật, còn gọi là quán đảnh Tôn Thắng Phật Đảnh Ngũ phương Phật là đỉnh cao của mọi quán đảnh, là quán đảnh cao nhất.

Ở phía trên có một vị Phật, ở trước trán có một vị Phật, hai bên tai có hai vị Phật, ở sau đầu có một vị Phật, đây chính là Ngũ phương Phật. Còn vị nào lớn hơn cả Ngũ phương Phật? Có Phật A Đạt Nhĩ Mã, vị Phật nguyên thủy, là Phổ Hiền Vương Như Lai. Nhưng bản thân ngài là Pháp thân Phật, là Kim Cương Tổng Trì, hóa thân thực sự của ngài là Ngũ phương Phật. Bởi vậy sau khi bạn nhận quán đảnh Tôn Thắng Phật Đảnh Ngũ phương Phật rồi, còn có gì to lớn hơn Ngũ phương Phật đây? Không có đâu.

Thích Ca Mâu Ni Phật cùng với Bắc Phương Bất Không Thành Tựu Phật hợp lại thành một vị tôn, Đông phương A Sơ Phật. Bắc Phương Bất Không Thành Tựu Phật còn được gọi là Bất Động Phật, Nam phương Bảo Sinh Phật, Tây Phương A Di Đà Phật, Trung Ương Đại Nhật Như Lai, cho nên quán đảnh Ngũ phương Phật này là lớn nhất, lớn hơn cả quán đảnh Acharya.
Bởi vậy tôi nghĩ Đại Bảo Pháp Vương rất kì lạ, vì sao ngài vừa mới gặp tôi đã lập tức ban quán đảnh Ngũ phương Phật cho tôi. Đây vốn là quán đảnh này là lớn nhất, lớn hơn cả quán đảnh Acharya.

Quán đảnh cần có thứ tự. Chúng ta biết rằng có bốn thứ tự quán đảnh là quán đảnh bí mật, quán đảnh mật, quán đảnh nội pháp, quán đảnh ngoại pháp. Cũng có rất nhiều loại quán đảnh khác là quán đảnh bình, quán đảnh chày kim cương, quán đảnh chuông kim cương, quán đảnh mũ miện, quán đảnh tên, đây đều là những quán đảnh thuộc hàng cao cấp khó có được, là những quán đảnh cần có thứ tự tu hành.

🌟

**Tôn kính quy y sư phụ**
Chúng ta đã quy y vị thầy mà có thể dựa vào duy nhất rồi.
Lúc tôi mới bắt đầu tu hành, tôi quy y Tam Sơn Cửu Hầu tiên sinh. Thầy dạy tôi rất nhiều thủ ấn. Tôi được các vị Phật Bồ Tát đưa đến trong hư không, tới Ma Ha Song Liên Trì. Còn Thanh Chân Đạo Trưởng (Liễu Minh Hòa Thượng), thầy dạy tôi rất nhiều Đạo pháp và Mật pháp, rất là nhiều. Còn ở Ngọc Hoàng Cung, tôi gặp một người phụ nữ mặc áo xanh, chính là Sư Cô Thiên Đại. Cô bảo tôi chắp tay lại, quỳ xuống, như thế này này, lập tức nhanh chóng có thể hợp nhất trời và người, có thể mở thiên nhãn.

Đối với quãng thời gian quá khứ này của tôi, tôi đã gặp rất nhiều vị thầy. Mỗi người từ đó cho đến nay, tôi đều vô cùng cung kính. Mặc dù sau này sư cô Thiên Đại cũng quy y Chân Phật Tông, cũng quy y Sư Tôn, cô thường nói một câu này, chính là "thầy độ trò, trò độ thầy", nói chung là hết thầy lại trò, hết trò lại thầy mới là đúng. (cười)

Có được một giai đoạn trải nghiệm, vị linh sư vô hình của tôi - Tam Sơn Cửu Hầu tiên sinh, cứ tới nửa đêm lại tới dạy tôi suốt ba năm. Thầy dạy tôi vô cùng chi tiết tỉ mỉ. Có người chất vấn vì sao tôi không gọi ngài một tiếng là sư phụ, là Tam Sơn Cửu Hầu sư phụ, vì sao tôi chỉ luôn gọi là Tam Sơn Cửu Hầu tiên sinh? Kì thực hai tiếng "tiên sinh" là một cách gọi tôn kính nhất trong thời kì cổ đại. Người hỏi này có nền tảng về văn hóa Trung Hoa kém quá, bởi vậy mới không biết hai tiếng "tiên sinh" này. Con người hiện đại khi viết Lư Thắng Ngạn tiên sinh thì chỉ là một cách gọi phổ thông mà thôi, nhưng vào thời cổ đại thì một người được gọi là "tiên sinh" thì vô cùng khó đạt được, vô cùng thanh cao. Một người có phẩm hạnh và chứng ngộ rất cao thì mới được gọi là "tiên sinh".

Do vậy ngài tự xưng là Tam Sơn Cửu Hầu tiên sinh, còn có Cổ Liên tiên sinh, đều xưng là tiên sinh cả, đều là những vị Phật cổ vĩ đại đến để dạy Sư Tôn. Những sự việc này đều vô cùng chân thực.

🌟

**Gia trì thông qua việc mắng mỏ**
Những dòng truyền thừa này của Sư Tôn đều là vô cùng chân thực. Trong cuộc đời này của tôi, tôi cũng nói thẳng với mọi người, ai tôi cũng đều dám mắng hết.

Trong mọi trường hợp, tôi mắng chính là đang gia trì cho bạn đó! Thế thì có vấn đề gì đâu nhỉ (mọi người cười), đúng không? Một vị Phật mắng một chúng sinh, cũng là vì yêu thương, vì yêu quá thôi! Là vì thích người đó! Tôi không thích bạn thì tôi mắng bạn làm gì? Đúng không? Bởi vì tôi quan tâm tới bạn! Vì muốn tốt cho bạn, tôi mới mắng bạn. Bởi vậy mắng cũng được xem như một kiểu yêu thương, một kiểu gia trì, một kiểu yêu thương xuất phát từ trong lòng, lúc đó thầy mới mắng bạn vậy. Thầy của tôi cũng mắng tôi như vậy. Thubten Dargye Thượng sư mắng tôi rất nhiều. Tôi thường hay bị mắng nhưng tôi vẫn ngoan ngoãn.

Kì thực trước đây Sakya Chứng Không cũng mắng tôi rất thậm tệ, thầy cũng mắng tôi, rất nhiều sư phụ đều mắng tôi, nhưng tôi tuyệt đối không dám mở miệng nói lại.

Trong cuộc đời này của Lư Thắng Ngạn tôi, tôi dám nói câu này, thầy của tôi có thể mắng tôi, tôi tuyệt đối không dám mắng lại thầy. Làm gì có chuyện đồ đệ gia trì cho sư phụ (mọi người cười), không thể có chuyện này đâu nhé! Làm gì có chuyện đệ tử gia trì cho thầy.

Do vậy tôi nhận được sự gia trì của thầy, trong lòng rất rõ ràng. Việc thầy mắng tôi là rất nên có, và một câu nói tôi cũng không dám thốt lên. Trong lòng thì sao? Tôi luôn rất phục, bởi vì thầy chắc chắn là quan tâm đến bạn đó! Chắc chắn là nhớ đến bạn, còn khi thầy bạn không mắng bạn thì là không nhớ đến bạn đâu, cơ bản là bạn và thầy chẳng có mối quan hệ nào cả! Bởi vì thầy quan tâm đến bạn, yêu thương bạn, nhớ đến bạn, nên bạn xứng đáng bị mắng.

Thế nên các sư phụ của tôi thường hay mắng tôi, thầy rất thích mắng tôi. Nhưng khi tôi thực sự đến chỗ thầy thì một câu thầy cũng không mắng, hơn nữa lại còn ôm chặt lấy tôi (mọi người cười). Thật đấy!

Tôi nói tôi ở bên ngoài toàn nghe thấy sư phụ mắng tôi. Tốt, hôm nay tôi đến lạy sư phụ, tôi đi lạy sư phụ, thầy vui mừng không kể xiết, thầy nói thầy mắng tôi muốn chết, vậy mà tôi vẫn đến thăm thầy. Vì sao trong lòng thầy lại vui? Thầy nói: "Ai chà! Tên đệ tử này, mắng nó thế nào, nó cũng không bỏ đi, tên đệ tử này vẫn nhớ về sư phụ."

Trong việc này có một sức mạnh, đó là Sức mạnh nương dựa duy nhất. Bạn dựa vào duy nhất người thầy đó thì bạn cần phải nghe lời thầy. Pháp mà thầy truyền cho, bạn chắc chắn cần phải trân trọng. Chú âm mà thầy đọc bạn không được thay đổi. Pháp mà thầy truyền xuống, bạn không được thay đổi. Vì sao vậy? Bởi vì thầy có lực gia trì của truyền thừa, ở bên trong có sức mạnh nương dựa duy nhất. 

🌟

**Chú âm và sức mạnh nương dựa duy nhất của truyền thừa**
Bạn có thể cho rằng những thứ mà bạn học được ở bên ngoài hay hơn thầy của bạn. Pháp của thầy bạn có khuyết điểm, chú âm của thầy có khiếm khuyết. Đương nhiên chú âm của tôi có khiếm khuyết (mọi người cười). Vì sao vậy? Bởi vì tôi là "củ khoai lang" [ND: tiếng lóng chỉ Đài Loan, vì đất nước Đài Loan hình củ khoai.], là người Đài Loan mà! Chú âm mà tôi đọc vẫn có khẩu âm của tiếng Đài mà!

Nhưng nếu bạn dựa theo âm tiếng Tạng của người Tạng để đọc thì có chính xác được 100% không? Để tôi kể cho bạn biết, có ba loại phương ngữ ở Tây Tạng, ở Tây Tạng không phải chỉ dùng một loại ngôn ngữ, đừng nhầm lẫn. Có ba loại ngôn ngữ, các vị Hoạt Phật Tây Tạng (tulku) ở ba khu vực này niệm chú âm hoàn toàn không giống nhau.

Vùng Himalayas có hơn 200 loại ngôn ngữ, chú ngữ mà mỗi vị sư phụ truyền dạy ở mỗi địa phương hoàn toàn không giống nhau. Bạn nói xem cái nào mới chính xác? Chưa kể chú âm của tiếng Tạng lại được dịch từ tiếng Phạn [ND: Sankrit ] mà ra, dịch từ tiếng Ấn Độ ra, còn tiếng Ấn Độ lại được truyền thừa từ Phật giáo nguyên thủy, từ âm tiếng Phạn nguyên thủy, âm đúng nhất là âm tiếng Phạn nguyên thủy.

Thực tế bạn chỉ cần đúng theo chú âm của sư phụ truyền lại, bạn niệm đúng y như âm của chính sư phụ là bạn có thể đạt thành tựu được. Bạn niệm theo âm của thầy thì không có gì sai cả. Ở đây là sức mạnh gì? Đây chính là Sức mạnh nương dựa duy nhất, không phải sức mạnh gì khác.

Những Mật pháp mà Sư Tôn truyền ở đây và những pháp ở bên ngoài có chỗ nào không giống nhau không? Có, có những chỗ không giống nhau. Thủ ấn có khác không? Có, có khác. Chú âm có khác không? Có, có khác. Quán tưởng có khác không? Có, có khác. Nhưng bạn muốn chọn lựa cái nào? Bạn cần chọn lựa truyền thừa trực tiếp, cái mà bạn được trực tiếp truyền cho, thì mới là chính xác! Đây là sức mạnh gì? Đây gọi là sức mạnh nương dựa duy nhất.

Bạn đừng nói rằng Sư Tôn truyền cho bạn thủ ấn này, thì bạn đi tới đạo tràng khác lại thấy: hầy, thủ ấn của họ không giống của bạn này. Thủ ấn của họ có vẻ mới là đúng! Thủ ấn của Liên Sinh Sư Tôn này e rằng sai rồi, vậy thì bạn dùng theo thủ ấn của họ thôi. Như vậy là bạn sai rồi. Bởi vì vấn đề ở đây là Sức mạnh nương dựa duy nhất.

Có lần tôi gặp một đệ tử, anh ta đến chỗ của tôi ở đây, anh nói: "Sư Tôn à!"
Tôi hỏi: "Có chuyện gì vậy?"
Anh nói: "Con ở đây, nhưng con cũng quy y một sư phụ khác ở bên ngoài kia rồi." 
Tôi nói: "Rất tốt! Ngài ấy dạy con cái gì rồi?"
Anh nói: "Thủ ấn Uế Tích Kim Cương của thầy ấy có vẻ như không giống với thủ ấn của Sư Tôn dạy." 
Tôi nói: "Có phải là như thế này không? Vậy con làm thế nào?"
Anh liền nói: "Sư Tôn, con thấy thầy ấy nhiều tuổi hơn thầy đó!" (mọi người cười)
Tôi nói: "Con nói thế là có ý gì?" (mọi người cười)

Ý của anh ta chính là ai tuổi cao hơn thì người đó thắng (cười). Bởi vì vị sư phụ kia tu pháp Uế Tích Kim Cương, nên tôi liền nói với đệ tử kia rằng, con thử kết thủ ấn cho ta xem nào. Anh liền đưa tay kết ấn ..... (mọi người cười).

Anh vừa kết ấn xong thì lập tức giải ấn, buông tay ra. Anh ta có ý gì đây? (mọi người cười). 
Anh nói thủ ấn này không thể dạy cho Sư Tôn được (mọi người cười). Ý của anh chính là thủ ấn này không thể dạy cho Sư Tôn, đây là do tôi tự học được, làm sao tôi có thể dạy lại cho thầy, có đúng vậy không? Ai chà, trong lòng tôi cảm thấy rất nực cười.

Kì thực, tôi đã học thủ ấn Uế Tích Kim Cương từ rất lâu, rất rất lâu rồi. Tôi học từ lão hòa thượng Huệ Tam, ngài cũng là sư phụ của Sư Tôn. Ngài học pháp Uế Tích Kim Cương. Lão hòa thượng Huệ Tam đã viên tịch rồi, đó là vào lúc tôi thọ Bồ Tát Giới, ngài là một trong ba vị sư phụ khi đó. Bởi lão hòa thượng Huệ Tam học pháp Uế Tích Kim Cương nên ngài đã dạy thủ ấn cho tôi. Thủ ấn này kết như thế này này (Sư Tôn thị phạm kết thủ ấn). Đây là thủ ấn Uế Tích Kim Cương.

Còn anh đệ tử kia sau khi đi tới nơi khác học xong, anh liền sợ tôi học trộm, anh kết rất nhanh, rồi lập tức buông tay ra, sợ tôi học trộm mất (cười). Hành động như vậy cũng không ra sao cả, tôi cho rằng việc này cũng không có ý nghĩa gì cả. Những thứ mà Sư Tôn đã học được là vô cùng vô tận. Bạn xem, tôi có bao nhiêu sư phụ, 20 vị, 20 vị thầy. Những thứ mà tôi đã học được rất nhiều, tôi đã học hai mươi mấy năm rồi, lẽ nào một cái thủ ấn Uế Tích Kim Cương tôi cũng không biết sao?

Bởi vì anh ta có tâm so sánh như vậy, hơn nữa lại đi theo người khác học, anh ta không chắc có thể có được Kim cương Mật pháp chân chính. Có lẽ sau này anh ta ở chỗ của Sư Tôn đây học hành cẩn thận, tôi sẽ truyền pháp cho.

Ví dụ tôi truyền Bất Động Minh Vương kim cương pháp, mọi người đều biết trong pháp này có rất nhiều khẩu quyết, rất nhiều bí mật. Pháp mà tôi dạy, các bạn cứ y theo như vậy mà học là sẽ có được Sức mạnh nương dựa duy nhất, chính là sức mạnh gia trì của truyền thừa. Bạn theo người khác học, hoặc là bạn nghe bên này một câu, nghe bên kia một câu, thì chỉ là thay đổi lớp vỏ bên ngoài thôi, còn Sức mạnh nương dựa duy nhất chắc chắn sẽ không còn nữa.

🌟

**Lực gia trì của Thượng sư**
Các bạn đã từng đọc cuốn sách tên gọi hình như là "Các vị đại sư của Himalayas" chưa? Lúc ở Đài Loan tôi đã đọc cuốn sách này rồi, thực tế là khoảng mười mấy năm trước tôi đã đọc nó, nó được viết bởi một vị Lama Tôn giả. Trong cuốn sách này ngài có một chương rất quan trọng, không biết các bạn có chú ý thấy không?

Có một vị Thượng sư trèo lên một cái cây, trên cây có một tổ ong. Vị Thượng sư kia nói với con ong: "Lũ mi sẽ không đốt ta, lũ mi sẽ không đốt ta." Ông trèo từ trên cây xuống, và lũ ong không đốt ông tẹo nào. Kì thực lũ ong đó rất dễ đốt người ta. Đệ tử của ngài nhìn sư phụ trèo lên cây, ong trong tổ ong không cắn ông, thấy rất kì lạ, liền hỏi sư phụ: "Thầy niệm chú gì mà bầy ong không đốt thầy?" Vị thượng sư kia nói với đệ tử: "Chỉ có một câu này thôi con hãy nhớ lấy. Đó là trèo lên cây nói với ong trong tổ là đừng đốt tôi, chúng sẽ không đốt con đâu."

Thế là anh chàng đệ tử thực sự trèo lên cây, các bạn đừng có cười! (cười) Anh trèo lên cây rồi và nói với bầy ong: "Sư phụ tôi dạy, bảo với lũ mi sẽ không đốt ta." Ồ! Lũ ong đó tất cả đều ngoan ngoãn không đốt anh ta. Kết quả tiếp sau, anh thấy thế này thì tốt quá, anh ta lập tức chạy đi dạy cho người khác. Đệ tử đó lập tức đi dạy cho người khác rằng: "Anh chỉ cần trèo lên cây đó, rồi nói với lũ ong: "Lũ mi sẽ không đốt ta", thì chúng sẽ không đốt anh đâu." Những người khác nghe xong lời anh, sau đó cũng thực sự trèo lên cây, nói với bầy ong rằng: "Lũ mi sẽ không đốt ta." Kết quả là bị ong đốt muốn chết (mọi người cười), mà là cùng một câu nói thôi!

Tôi nói cho mọi người biết, vì sao cùng một câu nói mà có người nói thì có hiệu quả, có người nói thì lại không có hiệu quả? Người nói có hiệu quả là do có lực gia trì của Thượng sư, còn người khác nói không có hiệu lực là do không có lực gia trì của Thượng sư. Bởi vậy, khi một Mật pháp được đưa ra, người dạy pháp phải là người thầy. Bạn phải có lực gia trì của Thượng sư thì Mật pháp này mới có hiệu quả. Hôm nay có vài người đến học Sư Tôn mấy pháp này.

Nếu bạn chỉ là cứ từ trong sách chọn ra lấy vài pháp để học, nhưng do không có Sức mạnh nương dựa duy nhất, không có lực gia trì của Thượng sư thì sẽ mất đi công hiệu, không có hiệu quả gì cả. Thế nên việc truyền dạy trong Mật giáo thì quán tưởng, chú ngữ, thủ ấn đều phải cần được sư phụ dạy và quán đảnh. Nguyên nhân nằm ở đâu? Có nhận quán đảnh thì mới có sức mạnh gia trì của Thượng sư, khi đó bạn tu pháp mới dễ tương ứng, nguyên nhân chính là như vậy.

Ngày xưa khi Milarepa tu học Lama Ngokpa, pháp mà ngài học không hề có chút tương ứng gì. Mãi sau này chỉ có Thượng sư Marpa ban quán đảnh cho, ngài quay trở về tu luyện thì mới có được tương ứng.

[ ND: Sau một thời gian dài thử thách nhưng Đại dịch giả Marpa vẫn không dạy pháp cho, Milarepa rất đau đớn và buồn khổ. Lúc này sư mẫu (vợ của ngài Marpa) thương Milarepa quá, bà liền trộm thánh tích, giấu đồ và giả mạo chỉ lệnh từ chồng, giả yêu cầu của Marpa lệnh cho đại đệ tử lớn là Lama Ngokpa thay mặt thầy truyền pháp cho Milarepa. Các vị này thường đã tập pháp là sẽ lập tức có tương ứng ngay. Lama Ngokpa vốn đã là một đại thành tựu giả, truyền pháp xong nhưng Milarepa tập mãi vẫn không thấy dấu hiệu thành tựu gì. Ngokpa rất ngạc nhiên tra hỏi thì mới biết Thượng sư Marpa chưa đồng ý trao pháp cho Milarepa.]

Ngài học cùng một pháp giống nhau, bản thân Ngokpa Lama cũng là đệ tử của đại sư Marpa, pháp được học tuy là giống nhau, nhưng tu vẫn sẽ không tương ứng được. Trừ phi Căn bản Thượng sư (vị thầy gốc) ban quán đảnh cho, có được Sức mạnh nương dựa duy nhất thì mới có thể tương ứng.

Bởi vậy ở mục này chúng ta niệm: "Namo Guru bei - Namo Buddha ye - Namo Dharma ye - Namo Sangha ye", chính là sản sinh ra Sức mạnh nương dựa duy nhất. Sức mạnh này là sự kết hợp hoàn toàn giữa Căn bản Thượng sư và đệ tử, là một dạng sức mạnh nương dựa duy nhất vào nhau không thể nào phân tách. Sức mạnh này chính là được sản sinh ra từ trong mấy câu chú Tứ quy y.

Thượng sư quán đảnh cho bạn, Tam Bảo quán đảnh cho bạn, tất cả mọi Mật pháp quán đảnh cho bạn. Khi bạn niệm câu chú Tứ quy y này là bạn hoàn toàn yêu cầu Thượng sư, Tam Bảo, tất cả mọi Phật pháp ban quán đảnh cho bạn. Nếu không làm như vậy, sẽ không có Sức mạnh nương dựa duy nhất, thì cũng vô hiệu thôi. Niệm chú này cần phải niệm 1 triệu biến mới có thể thực sự sản sinh ra Sức mạnh nương dựa duy nhất. Đây là một thực hành vô cùng quan trọng trong Tứ gia hành.

Rất nhiều đệ tử không hiểu tầm quan trọng của chú Tứ quy y "Namo Guru bei - Namo Buddha ye - Namo Dharma ye - Namo Sangha ye" hoàn toàn nằm ở việc thỉnh cầu quán đỉnh gia trì của Thượng sư, Tam Bảo, tất cả mọi pháp Phật. Khi chúng ta tập pháp Tứ quy y, trước tiên cần quán tưởng, rồi mới trì chú. Quán tưởng cũng cần rất rõ ràng, Thượng sư, Phật, pháp, tăng, Tam Bảo, tất cả mọi Phật pháp, kết hợp lại thành một vùng ánh sáng trắng lớn chiếu rọi vào quán đỉnh cho bạn, sau đó mới đọc chú Tứ quy y.

Trên thế giới này, bây giờ muốn tìm một vị thầy giỏi và đệ tử giỏi cũng không dễ dàng gì, thầy và trò cũng không dễ gì tìm được tới nhau. Nhưng chỉ cần bạn có tâm hướng đạo, bạn hướng về chân lý, hướng về ý thức vũ trụ, có tâm mong muốn thành tựu, bạn chỉ cần hết sức chân thành thỉnh cầu, các vị sư phụ đều sẽ truyền pháp cho bạn, chắc chắn sẽ quán đảnh, hơn nữa luôn luôn ở bên cạnh bạn. Bởi vậy một đệ tử chân chính, chỉ cần sau khi đã chuẩn bị tốt rồi thì vị thầy này nhất định sẽ hiện thân. Đừng sợ không có Thượng sư đích thực đến truyền pháp cho bạn. Chỉ cần đệ tử chuẩn bị mọi thứ đều tốt rồi, Thượng sư sẽ xuất hiện trước mặt người đó, việc này vô cùng quan trọng.

Tuy vậy đệ tử có đầy đủ căn khí thượng đẳng cũng rất hiếm. Muốn có được một vị thầy chân chính thực sự chứng đắc cũng rất hiếm. Trên thế giới này, Thượng sư đã thực sự chứng đắc cũng không nhiều.

🌟

**Giới nguyện Samaya**
Trước khi bạn quy y, nhất định cần phải nhận ra và tìm ra được thầy của chính mình. Nhưng sau khi quy y xong, bạn tuyệt đối không được tìm những khuyết điểm của sư phụ.

Đừng cho rằng tôi không còn khuyết điểm, tôi thực sự có khuyết điểm, tôi cũng không cho rằng thầy của tôi không có khuyết điểm gì cả, thầy của tôi cũng thực sự có khuyết điểm. Đừng cho rằng thầy của bạn nổi cơn tức giận là bạn liền nghĩ ngay vị thầy này không tốt rồi, không thể được. Cũng đừng cho rằng thầy của bạn làm sai ở đâu liên nghĩ rằng sư phụ này không tốt. Sau khi bạn đã quy y, bạn phải không được hối hận.

Bạn có biết không, Mật giáo chính là như vậy, giữa Sư phụ và Đệ tử có tồn tại giới nguyện, chính là giới nguyện samaya để hoàn toàn hợp nhất Thượng sư và đệ tử. Khi bạn phê bình sư phụ của chính mình, hoặc hủy báng miệt thị sư phụ của chính mình, cũng chính là bạn đang hủy báng miệt thị bản thân. Giới nguyện Samaya bền chắc không thể phá bỏ. Do đó trước khi muốn quy y, bạn cần hiểu cho rõ ràng, tuyệt đối không được hối hận sau khi đã quy y rồi. Tôi nói với mọi người câu này, trước khi muốn quy y, bạn phải nhận thức rõ ràng. Sau khi quy y, tuyệt đối không được phá giới. Trong Mật giáo có giới nguyện Samaya, giới này rất quan trọng, không thể phá hủy.

Con người đều có khuyết điểm. Sư phụ của tôi cũng có khuyết điểm đó thôi! Chỉ là tôi không tiện nói ra mà thôi, đúng không? Những khuyết điểm đó của sư phụ chúng ta cũng có phải học chúng đâu! Chúng ta chỉ học ưu điểm của thầy thôi. Mà kì thực chúng ta chỉ học Phật pháp của thầy, vì thầy hiểu Phật pháp và dạy lại cho chúng ta, chúng ta sẽ có được Sức mạnh nương dựa duy nhất để chúng ta đi tu được thành tựu, chỉ đơn giản như vậy thôi. Bạn làm sao quản được sư phụ bạn như thế nào? Bạn muốn quản sư phụ ca hát, bạn muốn quản sư phụ nhảy múa, bạn muốn quản sư phụ uống rượu ư? Những việc này không cần bạn phải quản thầy. Bạn cũng không học thầy những điều này, cái bạn học chính là Phật pháp mà! Đừng có nhầm lẫn.

Tôi có rất nhiều sư phụ, và mỗi vị sư phụ đều có cách sống riêng, tôi cũng chẳng bận tâm. Tôi chỉ học Phật pháp của thầy, tôi cung kính thầy, cung kính Phật pháp của thầy.

Bạn có được Sức mạnh nương dựa duy nhất, giữa thầy và trò có sức mạnh nương dựa duy nhất, sức mạnh này cần liên kết lại với nhau và gia tăng lên, cần rất kiên cố chắc chắn không thể phá bỏ. Khi bạn đã quy y rồi là đã có giới nguyện Samaya, có Sức mạnh nương dựa duy nhất cực kì vĩ đại. Bạn nghe Phật pháp của thầy rồi đi tu sẽ có hiệu lực, đây chính là thầy đã truyền cho bạn lực gia trì của truyền thừa đó!

Mọi người đã hiểu giữa Thượng sư và đệ tử trên thực tế là mối liên hệ trực tiếp, rất trực tiếp rất thân mật. Chú Tứ quy y chính là như vậy, bạn tu Tứ quy y xong, lực gia trì sẽ càng được tăng trưởng và rất kiên cố.


## 09. Mặc giáp hộ thân


Chúng ta lại nói tiếp về Mặc giáp hộ thân. Để thực hiện Mặc giáp hộ thân, chúng ta kết ấn chắp tay kim cang như thế này, và niệm câu chú: "Ôm bua-rua lan chưa-li" (7 biến), chạm ấn vào vị trí thiên tâm, cổ họng, tim, vai trái, vai phải, đưa ấn trở lại đỉnh đầu và giải ấn.

Khi giải ấn thì cần quán tưởng, quán tưởng Kim Cang Tát Đỏa hoặc quán tưởng Hộ pháp ở đàn thành biến hóa thành bốn vị phía trước, sau, trái, phải bảo vệ cho bạn tu pháp. Việc này chính là để phòng ma quỷ.

Phòng ma quỷ là sao? Chúng ta còn gọi là phòng hộ lực - phòng là phòng ngừa trong không gian, hộ là bảo hộ, lực là sức mạnh. Khi chúng ta làm động tác Mặc giáp hộ thân, xem ra có vẻ rất đơn giản, chỉ có chắp tay lại thành thủ ấn kim cang, chạm vào thiên tâm, họng, tim, vai trái, vài phải, trở về đỉnh đầu giải ấn.

🌟

**Tam nghiệp chuyển tam mật.**
Một thủ ấn, một câu chú, một quán tưởng, đó chính là Mật pháp. Nhìn chung mà nói, Phật pháp không tách rời khỏi ba yếu tố này, quán tưởng chính là bí mật của "Ý", chú ngữ chính là bí mật của "Khẩu", thủ ấn chính là bí mật của "Thân", bí mật của thân thể.

Thân - Khẩu - Ý thanh tịnh chính là bí mật của bản thân Đại Nhật Như Lai, chính là bí mật của Như Lai. Dùng bí mật của Như Lai hóa thành bí mật của khẩu, bí mật của ý và bí mật của thân, việc tu hành mà hành giả giữ cho tam mật hợp nhất này chính là dùng tam mật để thanh trừ tam nghiệp.

Nói một cách đơn giản là dùng tam mật để thay thế cho tam nghiệp, việc thay thế này chính là chuyển tam nghiệp thành tam mật, chính là từ phàm phu biến thành Như Lai. Mật pháp chính là dựa trên điều này để tu, gọi là pháp của Mật giáo, hoàn toàn nằm ở vấn đề tu thân - khẩu - ý thanh tịnh.

🌟

**Thụy mộng đại thủ ấn**
Hiển giáo chưa từng nghe nói đến Mặc giáp hộ thân, chỉ trong Mật giáo mới có, trong đó có rất nhiều rất nhiều phương pháp phòng hộ. Ví dụ như Sư Tôn có dạy qua mọi người về Thụy mộng đại thủ ấn, đây chính là lúc bạn đi ngủ sẽ thực hiện một công phu để bảo vệ.

Dùng tư thế nằm kiểu sư tử, trì chú, quán tưởng Bổn tôn hoặc Thượng sư phát ánh sáng chiếu đến bạn. Rồi chính bạn lại phát ra ánh sáng đỏ từ cổ họng mình, biến thành một lớp màn màu đỏ để che chắn, giúp bản thân có thể ngủ một giấc ngon lành, tu xuất miên quang. Đây chính là sức mạnh phòng hộ của Thụy mộng đại thủ ấn.

Khi tu hành, bạn thực hiện phòng hộ, quán tưởng thỉnh Kim cang thần ở bốn mặt bảo vệ cho bạn, kết thủ ấn, trì chú, quán tưởng. Nếu tất cả bạn đều làm đủ tốt, tập trung quán tưởng đủ sâu, kết thủ ấn đủ chính xác, niệm chú cũng đủ tốt, tự nhiên bạn sẽ có được sự bảo hộ của thần Hộ pháp.

🌟

**Cần làm mặc giáp hộ thân ở đâu?**
Bình thường có rất nhiều nơi bạn cần chú ý đến và cũng cần tu mặc giáp hộ thân, bởi vì không phải chỉ có mỗi lúc tu pháp thì mới có ma quỷ đến để quấy nhiễu. Ở những nơi nào sẽ có ma quỷ tới quấy nhiễu?

Khi bạn đến bệnh viện cần chú ý, rất nhiều người ở trong bệnh viện có vong linh bám theo thân. Vì sao họ lại mắc bệnh? Bởi vì linh hồn bám theo thân, quỷ thần làm hại, bởi vậy mới sinh bệnh. Khi đến bệnh viện thăm bệnh nhân, trước đó bạn hãy thực hiện mặc giáp hộ thân, bằng không lúc bạn đi thăm người bệnh, các vong linh sẽ theo bạn trở về nhà. Thế là chính bạn cũng biến thành bị vong linh bám theo thân.

Mỗi lần chúng ta giúp siêu độ vong linh bám theo thân đều rất vất vả, bởi vậy khi cần đến bệnh viện, trước tiên hãy làm Bia giáp hộ thân. Bạn đến lò giết mổ, các oan hồn ở lò giết mổ rất nhiều, do vậy cần làm Bia giáp hộ thân. Đến những nơi đó mà bị oan ma bám theo thì phiền phức lắm! Do vậy trước đó cần làm mặc giáp hộ thân. Đi tới rạp chiếu phim, rạp hát, cũng cần phải làm mặc giáp hộ thân. Vì sao bên trong rạp hát lại có ma? Bạn có lẽ không biết rằng bên trong rạp hát có nhiều nhất chính là cô hồn dã quỷ. Những ma quỷ sống lang thang là thích đến nơi đó nhất, bởi vậy cần làm mặc giáp hộ thân.

Ngoài ra, đi tới đám cưới hoặc đám tang đều cần làm mặc giáp hộ thân. Chính là đám cưới, là khi bạn kết hôn đó! Khi đó các vong linh tổ tiên sẽ đến để chúc mừng. Còn khi ai đó chết thì họ lại đến để mở hội chúc mừng sinh nhật, chúc mừng người đó sinh vào thế giới của họ. Khi bạn kết hôn thì tổ tiên cũng muốn đến tham gia hôn lễ của bạn, họ rất quan tâm đến cháu chắt của mình, đến việc đại sự của cháu chắt. Vì vậy tới đám cưới hoặc đám tang đều cần làm mặc giáp hộ thân.

Những nơi vui chơi mại dâm thì tốt nhất đừng nên tới, còn đã đi thì trước đó cần làm mặc giáp hộ thân (mọi người cười). Ở những chỗ đó có ma quỷ gì nhiều nhất? Là quỷ sắc đó! (mọi người cười) Bạn vốn dĩ là pháp thân Phật thanh tịnh, một khi đi tới đó, quỷ sắc bám theo thân, làm thế nào cũng không thể thanh tịnh lại được. Sự thanh tịnh mất đi thì bạn cũng cứ thế trượt dài đi. Chính vì những nơi đó có quỷ sắc nên cần làm Bia giáp hộ thân.

Nói chung đối với những chỗ này, bạn không chỉ cần làm mặc giáp hộ thân mà có lúc bạn cũng cần niệm Bách tự minh chú. Đến khu vực xung quanh các chỗ này thì bạn hãy niệm Bách tự minh chú, việc này sẽ rất tốt cho bạn. Còn đối với họ, những u linh, những chúng sinh đó, cũng đều có lợi ích. 

🌟

**Bảo vệ lúc đi ngủ**
Mặc giáp hộ thân có thể được dùng ở rất nhiều nơi. Có đệ tử hỏi Sư Tôn: "Sư Tôn có pháp nào đặc biệt không? Xin dạy chúng con lúc buổi tối đi ngủ, không cần phải làm Thụy mộng đại thủ ấn nữa, Thụy mộng đại thủ ấn dài quá." Anh ta nói có lúc lên giường đi ngủ thì đã rất mệt rồi, nên muốn làm Thụy mộng đại thủ ấn thì cũng cần ngắn và nhanh như Bia giáp hộ thân thôi. Do pháp Thụy mộng đại thủ ấn dài quá, mới thực hiện được một nửa thì anh đã ngủ mất rồi do quá mệt.

Bạn biết đấy, ban ngày làm việc vất vả quá, hễ nhìn thấy cái giường là đã mệt muốn chết rồi, lên giường lại còn phải tu pháp nữa, ai dà! Cái Chân Phật Tông này cũng làm người ta mệt chết mất (moi người cười), ngủ thì ngủ thôi, lại còn phải làm Thụy mộng đại thủ ấn gì nữa.

Bạn không biết sao, lúc ngủ là lúc dễ mất đi ý thức, trong khi ban ngày bạn có thể tỉnh táo mà giữ được. Ví dụ như Sư Tôn, ban ngày đảm bảo 100%, còn buổi tối cũng đảm bảo 100% là tỉnh giác. Còn các bạn thì sao? Tôi không dám nói. 

Ban ngày bạn có thể tỉnh táo được 100%, buổi tối chưa chắc đã có thể giữ được ý thức. Buổi tối muốn bảo vệ được mình thì nhất định cần có hộ thân, cần có sức mạnh phòng hộ, bởi khi đó ma quỷ đến muốn lấy cắp khí của ta. Ta vừa đi ngủ là mệt muốn chết, rõ ràng đã ngủ rất lâu nhưng càng ngủ càng mệt. Ban ngày rõ ràng bạn rất tỉnh táo, nói chuyện đạo lý với người ta như thánh hiền, tới buổi tối vừa ngủ một cái thì trở nên mơ hồ. Thế là xong rồi, dù có tự đập vào đầu mình xem vì sao lại xảy ra "chuyện này, chuyện kia", nhưng buổi tối lên giường đi ngủ thì đã lại mơ hồ như thế. Bởi vậy mới nói buổi đêm khi ngủ rất dễ mất đi ý thức tâm thần.

🌟

**Quán tưởng Tam tự chú**
Mặc giáp hộ thân có một cách thực hiện đơn giản, hôm nay tôi sẽ dạy mọi người. Oa! Mọi người đều có được pháp bảo rồi (mọi người vỗ tay).
Trong xã hội hiện đại mọi người đều thích thứ gì đơn giản, cái gì dài và chán, phiền phức quá thì không thích.

Khi vừa lên giường, bất kể là bạn nằm theo tư thế nào, đầu tiên hãy quán tưởng ngón chân cái của bạn kéo dài ra, cả hai ngón chân cái nhập vào với nhau đều kéo dài ra, kéo ra rất rất dài. Rồi lại quán tưởng đỉnh đầu mình, ngay đỉnh đầu, chính là chỗ thiên khiếu (huyệt đỉnh đầu) cũng kéo dài ra. Có vẻ giống như là bạn biến thành "độc giác" (một sừng) đúng không? Bạn không cần phải lo lắng gì nhiều như vậy (cười).

Ngón chân cái nhập vào nhau kéo dài ra, chỗ thiên khiếu cũng kéo dài ra, bạn bắt đầu biến hóa, bộ phận đầu gối biến thành năm mũi nhọn. Khu vực từ đầu gối trở lên cho đến cổ biến thành hình dạng của thân chày kim cang, phần đầu thì cũng biến thành năm mũi nhọn. Bạn có biết bạn đã biến thành cái gì không? Chính là một chiếc chày kim cang.

Lúc này, bạn đã biến thành một chiếc chày kim cang rồi. Năm mũi nhọn này chụm lại với nhau rồi chĩa ra, phần cơ thể biến thành đoạn thân của chày kim cang, phần đầu gối cũng biến thành năm mũi nhọn [rồi chụm lại chĩa ra]. Ngón chân cái biến thành phần mũi nhọn kéo dài của chày kim cương, cả hai đầu nhọn đã chụm lại của chày đều chĩa ra.
Trước tiên bạn cần quán tưởng chính mình biến hóa như thế, rồi niệm Tam tự chú: "Lang. Yang. Kang". Bạn cứ liên tục niệm chú âm này, cứ niệm cho tới khi ngủ luôn cũng được, hoặc không thì niệm 21 biến, 49 biến, 108 biến, cứ niệm cho tới khi ngủ luôn.
[Lang. Yang. Kang: chính là chú của 3 chủng tự: Ram - Yam - Kham]

Khi bạn quán tưởng, cần quán tưởng cực kì rõ ràng, rồi bạn lại niệm chú ngữ, thì trên giường của bạn sẽ xuất hiện một chiếc chày kim cang đang nằm ngủ. Vậy là bạn biết rồi đó! Chày kim cương nằm đó ngủ, nằm trên giường. Ma quỷ nào tới mà trông thấy, oa, đây chính là báu vật để phá ma đó! Chúng sẽ không dám lại gần, bởi vì bạn đã niệm Tam tự chú - Lang. Yang. Kang. Chữ Kang này chính là kiên cố, kiên cố và rắn chắc, bạn trở nên vô cùng chắc khỏe, trở thành một chiếc chày kim cang nằm trên giường, ma quỷ không dám lại gần xâm phạm.

Thực hành này là dễ nhất, đơn giản nhất, là sức mạnh phòng hộ "easy" [dễ] nhất. Tu pháp này còn có thể trường thọ, vừa kiên cố vừa trường thọ, vô cùng tốt.

🌟

**Chúng ta cần biết cách ứng dụng pháp Bia giáp hộ thân:**
Bạn có thể lấy quần áo ra, niệm "Om, bo-ru-lan, ze-li" bảy biến. Niệm bảy biến "Om, bo-ru-lan, ze-li" gia trì vào mũ nữa. Thế là quần áo biến thành bộ áo giáp, mũ biến thành mũ cối, chúng ta gọi là mũ thép, mũ cối, còn thân thể thì biến thành bộ áo giáp thực sự.

Mọi người cần biết cách ứng dụng Bia giáp hộ thân vào cuộc sống. Bản thân ma quỷ nói chung đều có pháp lực mạnh, nhưng khi bạn biết làm Bia giáp hộ thân rồi, sẽ có thần hộ pháp bảo vệ bạn, việc tu hành của bạn sẽ không còn gặp ma chướng.

Mỗi hành giả đều phải biết về sức mạnh phòng hộ, ở đây chính là Bia giáp hộ thân. Bạn có thể quán tưởng chày kim cương có màu vàng kim, chày kim cương bằng vàng này cộng thêm niệm Lang. Yang. Kang. Hôm nay những ai ở tại đây nghe và biết pháp này, sau đó trở về và thực hiện như thế, sẽ sản sinh ra sức mạnh phòng hộ. Tôi nhắc lại, khi đi ngủ bản thân nằm trên giường biến thành chày kim cương, ma quỷ không dám đến gần, chính là sức mạnh bảo vệ tốt nhất.

Hôm nay tôi đã giảng xong ba mục rồi, là Đại cúng dường, Tứ quy y và Bia giáp hộ thân. Kì thực vẫn còn có rất nhiều kiểu pháp Bia giáp hộ thân, ví dụ như Tứ linh hộ thân pháp, pháp này tôi đã từng viết trong sách rồi. Ngoài ra còn có nhiều pháp hộ thân khác nữa cũng đều có hết.

Trên thực tế mọi người chỉ cần biết pháp Bia giáp hộ thân của Kim Cương Tát Đỏa này là đã rất tốt rồi. Vào buổi tối lại làm pháp phòng hộ bằng quán tưởng chày kim cương nữa. Tôi tin tưởng rằng mọi người sẽ cực kì kiên cố vững chắc. Tương lai mọi người tu hành đều sẽ đạt được Phật quả rất tốt.
Om mani padme hum.


![image](/img/img_b54342d94cd2fa8d337d378371f8eac4.png)


[ND: Một ví dụ về chày kim cương để các bạn có thể quán tưởng khi ngủ. Bạn có thể tìm các hình chày kim cương khác trên mạng có họa tiết đơn giản hơn nếu muốn.]


## 10. Thề nguyện và con đường tu hành


Các vị Thượng sư, các vị đồng tu, xin chào mọi người!
Hôm nay là ngày thứ ba tại biệt thự Cầu Vồng tôi giảng chi tiết về nghi quỹ Mật pháp hoàn chỉnh. Trước khi bắt đầu bài giảng pháp, tôi muốn nhấn mạnh điểm trọng yếu của Mật pháp, cũng như nhấn mạnh rằng cá nhân tôi trong quá trình nghiên cứu và học tập Mật pháp đã có những chứng ngộ rất quan trọng.

🌟

**Ma Ha Song Liên Trì đích thực**
Mọi người đều biết khi tôi 26 tuổi đã đến Ngọc Hoàng Cung và được Diêu Trì Kim Mẫu mở thiên nhãn. Vào buổi tối hôm đó, tôi đã được ngài đưa tới Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Ma Ha Song Liên Trì. Đối với trải nghiệm kiểu này, theo như tôi biết thì có người đã từng trải qua, tuy cũng khá hiếm. Khi tôi 26 tuổi đã gặp được trải nghiệm này, rõ ràng sống động, vô cùng chân thực.

Thế rồi tôi nhìn thấy Liên Hoa Đồng Tử tỏa ra ánh sáng trắng lấp lánh giống như những tia điện, rồi mỗi một đóa hoa sen đều to như cái bánh xe, giống như những gì mà Kinh A Di Đà đã mô tả về Tây Phương Cực Lạc Thế Giới và Ma Ha Song Liên Trì. Tất cả đều giống như mô tả vậy.

Trải nghiệm chân thực này đã trở thành một sự hậu thuẫn về mặt tinh thần cho tôi sau này khi tôi học tập Phật đạo. Trước đó tôi chưa từng bao giờ nghĩ tới Liên Hoa Đồng Tử là gì. Trước năm 26 tuổi, căn bản là tôi chẳng hề biết cái gì gọi là Liên Hoa Đồng Tử. Mãi cho đến tận ngày hôm đó, bắt đầu từ buổi tối hôm đó về sau, tôi mới biết có Liên Hoa Đồng Tử. Tên gọi Liên Hoa Đồng Tử này, cũng chính vào lúc mà tôi gặp ngài, đích thân ngài nói với tôi, danh hiệu của ngài là Liên Hoa Đồng Tử.

Trải nghiệm kiểu này rất hiếm, tôi biết rằng trên thế gian này rất hiếm. Tôi thực sự đã đến Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Ma Ha Song Liên Trì.
Tôi thường xuyên nhấn mạnh và lặp lại câu nói này. Ý của tôi là hy vọng mọi người có thể kiên định tín tâm, giống như tôi đã kiên định tín tâm. Từ đó khi chúng ta quy y Chân Phật Tông và tu hành mới có được mục đích chân chính, mới có thể có được thành tựu chân chính.

Tín tâm này vô cùng quan trọng. Bản thân tôi thường xuyên muốn nói ra lời thề nguyện, thường xuyên muốn đưa ra lời thề nguyện, nhưng lại nghĩ khi đã phát lời thề nguyện rồi, giả sử nếu tôi là người vọng ngữ (nói khoác) thì nói ra lời thề cũng có tác dụng gì đâu?

Giả sử bạn không vọng ngữ, bạn rất chân thành nói với mọi người trên thế gian này rằng bạn đã đến Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Ma Ha Song Liên Trì, ai tin sẽ tin, ai không tin thì vẫn không tin. Đây cũng là việc chẳng có cách nào giải quyết ổn thỏa, nên mới nói đây chính là nhân duyên.

Hôm nay ở đây, tôi tuyên bố với mọi người lời thề này. Trước đây tôi chưa từng nói ra, bởi vì mỗi lần chúng ta nói đến chuyện muốn thề thốt là tôi liền dừng ngay lại. "Vào năm tôi 26 tuổi, buổi tối hôm đó, tôi đã đến Tây Phương Cực Lạc Thế Giới, đã đến Ma Ha Song Liên Trì, nói với Liên Hoa Đồng Tử những gì tôi đã nhìn đã nghe. Giả sử tất cả việc này là do tôi tự bịa ra, tôi nguyện sẽ xuống địa ngục kim cương, vĩnh viễn không siêu sinh." (mọi người vỗ tay)

Trước nay tôi rất hiếm khi thề thốt. Nguyên nhân mà tôi ít khi thề là có những lúc đưa ra lời thề cũng chẳng có tác dụng gì, ngược lại có một số người nghe được lời thề của tôi cũng nói rằng ngay cả lời thề này cũng là giả nốt, thế thì tôi cũng chẳng còn cách nào cả.

Trước trời, Phật Bồ Tát chư Tôn, tôi phát ra lời thề nguyện như thế này:
"Những gì tôi nhìn thấy, tôi nghe thấy, vào buổi tối năm tôi 26 tuổi đó, giả sử là do tôi tự bịa đặt ra, tôi thề sẽ xuống địa ngục kim cương, vĩnh viễn không siêu sinh."
Đây là một lời thề rất nặng, vĩnh viễn ở trong địa ngục kim cương không còn thấy mặt trời nữa! Vĩnh viễn không thể chuyển thế làm người, vĩnh viễn kẹt lại ở địa ngục kim cương, đây thực sự là một lời thề vô cùng nặng. Việc tôi thề trước Phật Bồ Tát hoàn toàn là sự thật.

🌟


**Thọ kí thành Phật**
Việc thứ hai tôi muốn nói với mọi người chính là việc năm nay ở Đài Loan [1992], tôi đã gặp Phật Thích Ca Mâu Ni, cùng với Phật Thích Ca Mâu Ni uống cà phê. Mọi người đều cảm thấy rất kì quái, Lư Thắng Ngạn càng nói càng điên rồ, uống cà phê ư? Phật Thích Ca Mâu Ni và Lư Thắng Ngạn uống cà phê ấy à?

Tôi đưa ra lời thề thứ hai:
Phật Thích Ca Mâu Ni viết cho tôi mấy chữ "Hoa Quang Tự Tại Phật" có phải là thật không? Tôi nói cho mọi người rằng đó là giả! Vì sao lại nói là giả? Vì lúc ban đầu không phải ngài viết là "Hoa Quang Tự Tại Phật", mà ngài viết "Đại Quang Tự Tại Phật".

Ngài đưa cho tôi mấy chữ ngài viết là "Đại Quang Tự Tại Phật". Tôi không thích cái chữ "Đại" này nên nói với Đức Phật rằng Lư Thắng Ngạn tôi không thích chữ "Đại", không muốn được gọi là đại sư, gọi là tiểu sư đi, ngài sửa cho tôi một chữ thành "Tiểu Quang Tự Tại Phật" đi. Thế là "Tiểu Quang" liền biến thành "Hiểu Quang" pháp sư rồi (mọi người cười). Không phải là cái chữ Hiểu đó, mà là chữ Tiểu này cơ. (*trong tiếng Trung, chữ Tiểu (nhỏ) và Hiểu (sớm) đều có cách phát âm giống nhau là xiao). Chữ Hiểu của Đức Phật là chữ Hiểu trong từ "xuân hiểu" - buổi sáng sớm mùa xuân.

Còn tôi yêu cầu Phật Thích Ca Mâu Ni không dùng chữ Đại Quang. Bản thân tôi không thích chữ Đại Quang. Tôi vốn không thích làm lớn, tôi chỉ thích làm nhỏ thôi. Kết quả là Phật Thích Ca Mâu Ni giúp tôi sửa, bỏ chữ Đại đi, đổi thành Hoa, thế là thành Hoa Quang Tự Tại Phật.

Việc này là sự thật.
Lần thứ hai ngài sửa cho tôi là vô cùng chân thực, tôi thực sự nhìn thấy rất rõ ràng Phật Thích Ca Mâu Ni mặc Âu phục. Sự việc là như vậy.

"Tôi đã nhìn thấy Phật Thích Ca Mâu Ni viết cho tôi mấy chữ Đại Quang Tự Tại Phật, sau khi tôi yêu cầu, Phật Đà đã sửa cho tôi chữ Đại thành chữ Hoa.
Giả sử sự việc này là Lư Thắng Ngạn bịa đặt ra, và hoàn toàn không có việc như vậy, không hề nhìn thấy, không hề nghe thấy, đều là Lư Thắng Ngạn bịa đặt, tôi nguyện xuống địa ngục kim cương, vĩnh viễn không siêu sinh." (mọi người vỗ tay).

Ở trước mặt Phật Bồ Tát, trước mặt Như Lai, trước mặt Kim Cương Hộ Pháp, trước mặt tất cả chư Tôn, tôi phát ra lời thề này, đây là lời thề rất nặng thứ hai.

🌟

**Cảm nhận khi tu pháp**
Hôm nay tôi đưa ra ba lời thề trang nghiêm. Đây là lời thề trang nghiêm thứ ba.
 Có rất nhiều người tu Chân Phật Mật Pháp, tôi cũng giống như mọi người, mỗi ngày đều tu Chân Phật Mật Pháp và đã tu hai mươi mấy năm rồi, không gián đoạn một ngày nào.

Đương nhiên trong tất cả đệ tử cũng có rất nhiều người đã tu nhiều năm, cảm ứng của các bạn như thế nào? Có rất nhiều người nói với tôi, có người có cảm ứng, có người không có cảm ứng, có người có tương ứng, có người không có tương ứng.

Tôi sẽ kể về chính tôi:
Khi tôi tu pháp ở Ballard, nơi này ở lệch về phía bắc Seattle, cảm nhận trong mỗi lần tu pháp đều không giống nhau. Có lúc cảm nhận rất tốt, có lúc không có cảm nhận gì. Còn về cảm ứng trong mỗi lần tu trì, có lúc rất mạnh mẽ, có lúc rất nhẹ rất nhạt, thời kì đó là như vậy. Mấy năm gần đây thì khác. Khi chuyển đến tu pháp tại Chân Phật Mật Uyển, trong thời gian này cảm nhận của tôi mỗi lần tu pháp như thế nào? 

Cảm nhận của tôi khi đó là khắp toàn thân có một khối khí bao bọc lấy xung quanh mình. Bên ngoài khối khí này có ánh sáng, ở giữa ánh sáng và khí có lửa. Đúng vậy, chính là bao bọc xung quanh tôi có một khối khí, bao quanh khí có lửa, bao quanh lửa có ánh sáng, còn cả người thì được giữ lại trong toàn bộ hư không, ở hư không phía trên.

Trong mỗi một đàn pháp, cảm nhận đó vô cùng mãnh liệt, hơn nữa còn thực sự có xúc giác, nghĩa là có thể chạm vào cái khối khí bao trọn lấy bạn, cảm giác không phải giống như gió thổi một cái, mà là giống như bị điện giật, là cảm giác về một thứ rắn chắc bám dính lấy bạn.

Mỗi lần tôi tu một đàn pháp đều luôn có cảm nhận rất rõ ràng và mãnh liệt. Thế còn cảm ứng của các bạn thế nào? Tôi không biết, tôi không có cách nào giúp các bạn phát lời thề cả, bây giờ chỉ có tôi phát lời thề thôi:

"Tôi tu pháp, mỗi một đàn pháp, đều có khí, lửa và ánh sáng cuộn vòng xung quanh, chính là một cảm nhận hòa trộn lẫn nhau, vô cùng kiên cố, vô cùng rõ ràng. Giả sử những gì Lư Thắng Ngạn nói hôm nay là do tự mình bịa đặt ra, căn bản là không hề có việc này, tôi thề sẽ xuống địa ngục kim cương, vĩnh viễn không siêu sinh." (mọi người vỗ tay)

Tôi tuyên bố với mọi người về ba lời thề này, ý của tôi chủ yếu là hy vọng trong quá trình tu trì, trong mỗi lần tu trì, các bạn đều có thể có được cảm nhận kiên cố và rõ ràng như vậy.

Tôi cũng hy vọng các bạn có thể đích thân đến Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Ma Ha Song Liên Trì, lại càng hy vọng các bạn có thể nhìn thấy rất rõ ràng chư Phật, Bồ Tát, thỉnh cầu được Phật Bồ Tát gia trì quán đảnh cho bạn, thọ kí cho bạn thành Phật. Ý của tôi cực kì rõ ràng như thế. Tôi nhắc lại là hy vọng mỗi người các bạn chưa từng được tới Tây Phương Cực Lạc Thế Giới thì có thể đến đó, hơn nữa có thể trở về, đây là điều thứ nhất.

Điều thứ hai chính là hy vọng các bạn tu hành sẽ được Phật Bồ Tát thọ kí thành Phật.

Điều thứ ba là trong quá trình tu pháp của các bạn, mỗi lần tu các bạn đều có thể có được những cảm nhận kiên cố, rõ ràng và vi diệu nhất.

Nếu được như vậy, giả sử các bạn đều có được ba điều trên rồi, tự khắc bạn sẽ không thối lui cái tâm ban đầu, không thối lui đạo tâm. Các bạn có thể tu trì Chân Phật Mật Pháp một cách kiên trì, hơn nữa ai ai cũng đều có thể đạt được Phật quả, thành tựu Phật quả, sẽ đi độ hóa được càng nhiều chúng sinh hơn nữa.


🌟


**Con đường tu hành**

Con đường tu hành rất khó, thực sự là không hề dễ dàng. Nhưng tôi cảm thấy trong cuộc đời này, nếu bạn không đi con đường tu hành thì thực sự vô cùng đáng tiếc. Trước đây khi tôi vẫn chưa khai ngộ, tôi vô cùng đau đớn và tuyệt vọng, trút xuống bao nhiêu mồ hôi và nước mắt, tôi nỗ lực hết sức, tinh tấn hết sức để đạt được mục tiêu.

Thế rồi sau khi đã đạt tới sự khai ngộ rồi, tôi cũng như vậy, vẫn đau đớn và tuyệt vọng, vẫn nỗ lực trong mồ hôi và nước mắt, vì sao vậy? Không phải vì bản thân mình, là vì tôi nhìn chúng sinh trên thế giới này, mặc dù tôi đã khai ngộ rồi, tôi đã khai ngộ rồi, tôi đã biết rồi đã hiểu rõ rồi, nhưng nhìn chúng sinh trên thế gian, rất nhiều chúng sinh vẫn chưa khai ngộ, không biết gì, không hiểu gì, tôi đương nhiên vô cùng đau lòng!

Khi chưa khai ngộ, tôi rất đau lòng. Sau khi khai ngộ rồi, tôi lại càng đau lòng, bởi vì tại sao con người thế gian vẫn chưa hiểu việc tu hành này, nó tốt như vậy, nó quan trọng như vậy. Tu hành có thể đạt được thành tựu, có thể vượt trội, có thể vô cùng tốt đẹp, có thể hợp nhất với toàn bộ vũ trụ. Một đại pháp tốt đẹp như vậy, vì sao con người vẫn không hiểu? Thế nên khi chưa khai ngộ thì tôi đau đớn tuyệt vọng, sau khi khai ngộ rồi tôi vẫn đau đớn và tuyệt vọng như thế.

Hôm nay tôi thấy mọi người có thể cùng ngồi ở đây nghe pháp, tôi ngồi ở đây giảng pháp. Vậy là mọi người đều cực kì có duyên phận, một duyên phận rất sâu rất phi thường đối với Phật. Vì thế hãy nên trân trọng pháp mà bạn có được. Sau khi bạn có được pháp rồi thì hãy nên kiên trì, hãy luôn luôn tiếp tục tu hành.

Tôi đã tu được hơn hai mươi năm rồi, giả sử Phật pháp này là giả, vậy chẳng phải là tôi đã tự lừa mình suốt hơn hai mươi năm sao? Có phải tôi đã tự lừa dối mình suốt hơn hai mươi năm không? Chính bởi vì tôi đã đi qua con đường này rồi, các bạn cũng sẽ làm được giống như tôi, sẽ đến lúc Phật đến thọ kí cho bạn thành Phật, chẳng phải là tốt vô cùng hay sao?

Bạn sẽ có được sự tự do tự tại khổng lồ, sẽ có được sự viên mãn khổng lồ, có được sự quang minh khổng lồ, sẽ có mọi thành tựu vượt trội hơn cực kì nhiều so với những thứ như thất trân bát bảo, danh lợi địa vị, vợ con phú quý. 

Bởi vậy, gia đình đầm ấm, vợ chồng viên mãn, những thứ này chẳng đáng kể gì. Trong con mắt của Phật Bồ Tát chúng đều là bụi trần, đều là cát bụi. Bạn xây nhà mới to hơn thì cũng chỉ là bụi trần thôi, danh lợi địa vị cao hơn cũng chỉ là bụi trần, giàu có số một thế giới cũng chỉ là bụi trần, yêu thương vợ chồng cũng chỉ là bụi trần. 

Chỉ có duy nhất việc tu hành mới là thực sự siêu việt. Trong toàn bộ vũ trụ này, cảnh giới quang minh, viên mãn và tự do tự tại đó mới là vô thượng đại trí huệ chân chính, là quả vị của Phật quốc. Do đó tôi hy vọng trong tông phái của chúng ta, ngày càng có nhiều người chuyên tâm nhất trí đi trên con đường này càng tốt.

Ngày nay có rất nhiều người xuất gia tu hành, họ có tinh thần chuyên nhất luôn luôn đi trên con đường pháp này. Vậy thì chúng ta cần cổ vũ họ do họ hạ quyết tâm như thế, họ có cái tâm quyết đoán như thế, có sự xuất ly tâm như thế, phát bồ đề tâm như thế là rất hiếm và rất quý.

Nếu do những ràng buộc nhân duyên của kiếp này, tạm thời bạn chưa thể xuất gia được thì cũng không cần phải căng thẳng. Nhưng bạn hãy ghi nhớ một ngày nào đó, khi bạn có thể buông bỏ việc của thế tục thì bạn hãy buông bỏ, bởi vì những việc của thế tục rốt cục vẫn thuộc về thế tục, việc của thế tục rốt cục vẫn thuộc về cát bụi, cát bụi vĩnh viễn là cát bụi. 

Có câu nói, khí trở về với khí, đất trở về với đất, tất cả mọi thứ của thế gian vĩnh viễn thuộc về cát bụi. Chỉ có linh khí trên người bạn, chỉ có tâm linh mới là siêu việt. Bởi thế đi trên con đường tu hành này là sự lựa chọn chân chính duy nhất.

Còn những người thế gian không hiểu, chúng ta không gọi họ tỉnh dậy được thì trước tiên chúng ta cần gọi chính mình tỉnh dậy đã, sau đó dựa vào sự tu tập của bản thân để đi độ hóa chúng sinh. Hôm nay trước khi bắt đầu buổi thuyết pháp của ngày thứ ba, tôi có mấy lời nói với mọi người như vậy.
26/11/1992


## 11. Tứ vô lượng tâm


Bây giờ chúng ta sẽ bắt đầu giảng về nghi quỹ Mật pháp hoàn chỉnh. Hai ngày trước chúng ta đều nói về phần Tiền hành, còn hôm nay chúng ta sẽ nói về phần Chính hành.

Phần Tiền hành bao gồm niệm chú Thanh tịnh, Triệu thỉnh, thực hiện Đại lễ bái, Đại cúng dường, Tứ quy y, Bia giáp hộ thân. Trong Chân Phật Mật Pháp của chúng ta, kì thực vẫn có thể thêm vào một mục nữa, chính là Tứ vô lượng tâm. Bài kệ Tứ vô lượng tâm cũng vô cùng quan trọng, nếu bạn có thể thực sự hiểu được bài kệ Tứ vô lượng tâm thì bạn cũng rất vĩ đại.


🌟


**Từ bi hỉ xả**
Tứ vô lượng tâm chính là từ - bi - hỉ - xả. Từ là gì? Là đem đến niềm vui cho chúng sinh, cho mọi người. Bi là gì? Là kéo chúng sinh ra khỏi đau khổ. Hỉ là gì? Là làm những việc đem lại hạnh phúc vô lượng. Còn xả? Là có thể từ bỏ toàn bộ bản thân để đi làm các việc từ - bi - hỉ. Đó chính là từ - bi - hỉ - xả.

Nếu bạn có thể thực hiện được từ - bi - hỉ - xả thì bạn chính là thánh nhân rồi, và tâm này của bạn chính là Tứ vô lượng tâm.
Vô lượng nghĩa là gì? Là tâm quảng đại không thể đo đếm, nếu mỗi người có được cái tâm như vậy thì thế giới này đã thành một thế giới đại đồng rồi, không cần Khổng Tử phải đến dạy.

Bởi vì con người thế gian không có lòng từ - bi - hỉ - xả, thay vào đó họ có tâm gì chứ? Tâm làm chúng sinh đau khổ để cho mình vui vẻ; thấy người khác làm việc thiện thì không thích, trong lòng không thoải mái; muốn thấy người khác từ bỏ mọi thứ còn bản thân mình thì lại keo kiệt bủn xỉn. Phần lớn chúng sinh đều như vậy cả. Tâm tính của chúng sinh đều là như vậy.

🌟

**Pháp xả thân**
Học Tứ vô lượng tâm rất quan trọng, có thể đem đến cho chúng sinh niềm vui, loại bỏ đau khổ. Ta sẽ vô lượng hoan hỉ làm những việc thiện lành, và từ bỏ hết mọi thứ của mình.

Chúng ta có một vị gọi là Machig Labdron - Mã Cát Lạp Tôn Giả, người sáng lập phái Giác Vũ. Đây là một vị nữ tổ sư rất nổi tiếng ở Tây Tạng, biểu tượng của ngài là chữ "Xả". Ngài là người sáng tạo ra pháp xả thân, người khởi xướng pháp xả thân trong Mật tông Tây Tạng.

Xả như thế nào? Quán tưởng hai con mắt hóa thành mặt trời và mặt trăng của vũ trụ, da trên thân thể hóa thành mặt đất rộng lớn của vũ trụ, xương và thịt hóa thành cát bụi và núi non của vũ trụ, máu chính là những con sông, hồ, đại dương, hơi thở thì hóa thành gió, lông tóc trên thân thể hóa thành cây trên trái đất. Quán tưởng tất cả mọi thứ trên thân thể bạn, bao gồm chính bản thân bạn, đều cắt ra, từ bỏ hết để cho mọi chúng sinh. Đây chính là ý nghĩa chính của pháp xả thân của bản thân Mã Cát Lạp Tôn Giả - tổ sư của phái Giác Vũ.

Khi bạn đã từ bỏ tất cả rồi, xả hết, hi sinh toàn bộ bản thân bạn cho chúng sinh, bạn chính là Vô Ngã.
Vô Ngã nghĩa là gì? Bạn từ bỏ hết tất cả bản thân mình, bạn liền biến thành Vô Ngã [ND: không còn bản ngã, không còn cái tôi]. Bạn không thể từ bỏ hết, không xả hết được, thì là vẫn còn tham niệm. Vô Ngã là gì? Miệng hay nói Vô Ngã, tôi đã thành tựu Vô Ngã rồi. Làm gì có chuyện đơn giản như vậy!

Ví dụ có lúc bạn cần cúng dường, bởi vì bạn đến Biệt Thự Cầu Vồng để nghe giảng pháp bảy ngày nên bạn liền chia tiền bạn mang theo thành bảy phần, mỗi ngày cúng dường một hồng bao, vừa đủ bảy phần. Nhưng ngẫm nghĩ lại thì, ai chà, không được rồi! Chia thành bảy phần, vậy thì tôi ăn cái gì đây? Thế nên cần giữ lại một nửa, tôi cần phải ở hotel, tôi cần phải mua bánh mì và trứng để ăn sáng nữa. Buổi trưa thì có thể "ăn chùa" rồi! Buổi tối cũng có thể "ăn chùa", nhưng có lúc cũng cần đi tới cửa hàng mua sắm, đến siêu thị mua một ít nhu yếu phẩm. Không biết chừng trông thấy thứ gì hay hay còn phải mua một ít nữa.

Có rất nhiều người từ Đài Loan đến, anh ta còn cần mang vài cái lò nướng về nước, bởi vậy cần giữ lại một ít tiền. Tôi vốn dĩ có 1000 đồng, nếu chia thành bảy phần và giữ lại 300 đồng thì không đủ, vậy thì tôi giữ lại 900 đồng sẽ tốt hơn, còn 100 đồng thì đem cúng dường, mỗi hồng bao 10 đồng, thế là vẫn còn dư lại 30 đồng, buổi tối vẫn còn có thể ăn một ít đồ ăn vặt. 

Cứ tính tính tính tính như vậy. A! Thật là tốt quá.

Thực tế là như vậy đó! Đệ tử tính toán như vậy cũng là đúng, không có gì sai cả. Trên thực tế khi bạn đi ra ngoài, bạn luôn cần có lộ phí, cần tiền đi taxi, mua đồ nọ thứ kia, chắc chắn là cần. Sư Tôn cũng sẽ cảm thấy ngại lắm nếu bạn phải rỗng túi vì Sư Tôn.

Ý của tôi là như thế này, khi bạn cúng dường không phải là bạn chỉ cúng dường mỗi Sư Tôn. Bạn thấy cái gì thiện, cái gì tốt, thì bạn cần làm việc đó.
Bạn cảm thấy việc đó có ý nghĩa, có thể giúp đỡ người ta, bạn có thể dành toàn bộ tấm lòng mình để làm việc đó. Đây cũng là một kiểu cúng dường. Sau khi bạn đã cúng dường, bạn sẽ kết được duyên rất tốt lành. Duyên cực kì tốt lành lập tức sẽ đến.

🌟

**Cúng đồ ăn**
Ví dụ bạn cúng đồ ăn, bây giờ rất phổ biến việc cúng bữa ăn. Việc cúng bữa ăn là rất tốt, giống như là bạn tới chùa, bỗng nhiên có người nói rằng bữa tối hôm nay tôi sẽ trả tiền toàn bộ đồ ăn, một mình tôi cúng bữa ăn. Thế là mọi người đến ăn đều là người nhận, còn người cúng thì là người bố thí. Bạn cúng đồ ăn rồi thì không nên có lòng mong cầu được báo đáp, không có tâm đòi hỏi mà nói rằng, này, mọi người ăn bữa cơm của tôi hôm nay sau này phải trả lại tôi. Không được như vậy, không được có cái tâm này.

"Tôi cúng bữa ăn" chính là muốn kết duyên với mọi người. Hôm nay bạn ăn của người ta 10 đồng, tới kiếp sau, một kiếp là dài bao nhiêu nhỉ, một kiếp có lẽ là khoảng 60 năm, 60, 70 tuổi đã tính là thượng thọ rồi đó! Có người sống một kiếp tới tận 80 tuổi, có người sống tới cả 100 tuổi, 120 tuổi cũng có. 10 đồng tiền này sau 120 năm sẽ sinh ra lợi tức rất nhiều, 10 đồng tiền trải qua 120 năm sẽ trở thành bao nhiêu tiền?

Giá trị của "số tiền" này cho tới kiếp sau, cũng không rõ là trải qua bao lâu nữa, khi họ lại cùng xuất hiện tại dương gian, (ở cõi âm thì không tính)! bạn sẽ gặp lại anh ta, anh ta sẽ gặp lại bạn, thì sẽ có cảm tình với bạn. Anh ta chắc chắn sẽ thích bạn, bởi vì kiếp trước bạn đã ăn của anh ta một bữa ăn đó!

Tới kiếp sau bạn gặp lại cô gái đã mời cúng cho bạn từ kiếp trước, thì bạn sẽ có cảm tình tốt, rằng con người này rất tốt, thấy rất thích, thế là cưới làm vợ. Còn giả sử kiếp sau bạn là phụ nữ, còn anh ta là đàn ông, anh ta lấy bạn làm vợ là anh ta trả nợ bạn từ kiếp trước đó! (mọi người cười) Thế nên cho dù người vợ có nhéo tai anh ta, tát vào mặt anh ta, mắng mỏ anh ta, anh ta vẫn ngoan ngoãn làm trâu làm ngựa, bởi vì anh ta trả nợ bạn mà! Vẫn còn nợ, bởi vì kiếp trước anh ta đã ăn của bạn một bữa ăn. (mọi người cười)

Còn với sếp, nếu kiếp trước sếp cũng từng ăn của bạn một bữa cơm, kiếp này sếp nhìn bạn sẽ rất thuận mắt, vô duyên vô cớ bảo bạn rằng ngày mai sẽ tăng lương cho bạn. Vì sao vậy? Cũng vì kiếp trước đã ăn của bạn một bữa cơm đó!

Vị quan tòa này rõ ràng biết bạn đã làm sai. Đến trước mặt quan tòa bạn sợ muốn chết, nhưng vì vị quan tòa này kiếp trước đã ăn của bạn một bữa cơm, nên ông ta vừa nhìn bạn một cái, ý, kì lạ thật, con người này rõ ràng có tội, nhưng lại cảm thấy bộ mặt này rất thiện, nên phán tội nhẹ nhẹ một chút, giảm bớt đi vài tháng, cho anh ta được án treo, cho anh ta không bị giam nữa, phạt chút tiền là được rồi.
Bạn cúng bữa ăn sẽ rất có lợi ích. Người nhận bữa ăn của bạn có thể cho bạn mượn bất kì thứ gì, có thể cho bạn bất kì cái gì, việc gì cũng cảm thấy có cảm tình với bạn, người đó sẽ là quý nhân trong tương lai của bạn.

Kiếp sau bạn có được bao nhiêu quý nhân, bạn tự mình tính thử xem. Mỗi lần bạn cúng bữa ăn để kết duyên với chúng sinh, mọi người gặp bạn đều sẽ thích bạn.

Ví dụ Michael Jackson ở nước Mỹ, là người ca sĩ đó, chắc chắn kiếp trước anh ta đã cúng bữa ăn (cười), bởi vì mọi người hễ gặp anh đều thích anh ta! Cực kì điên cuồng vì anh ta, bán cả đồ đạc đi vì anh ta, bất luận thế nào cũng lấy tiền đi mua vé nghe anh ta hát. Anh ta có thể hấp dẫn rất nhiều chúng sinh trong kiếp này bởi vì tất cả những người này kiếp trước đều đã ăn của anh ta một bữa cơm, tạo thành duyên nghiệp, tới kiếp này sẽ phải trả. Tạo được duyên với chúng sinh, tạo được phúc với chúng sinh, tạo được lộc với chúng sinh, kết nối được sự giúp đỡ của chúng sinh, tạo được duyên với Phật pháp, đều là như vậy. Tạo được duyên với đại thiện tri thức, tạo được duyên với đại minh sư, tất cả đều nhờ việc cúng bữa ăn mà có. Đây chính là "xả".

Tôi chỉ lấy một ví dụ nhỏ mà thôi, còn rất nhiều ví dụ khác nữa không biết bao nhiêu mà kể. Tôi lấy ví dụ này để nói về việc "xả", chính là nói rằng nếu bạn có thể hy sinh với toàn bộ tấm lòng của mình, đến cuối cùng khi bạn có thể xả hoàn toàn Vô Ngã thì sẽ là vĩ đại nhất. Xả bỏ hoàn toàn, tới khi Vô Ngã thì có thể thành Phật được. Bản Sinh Kinh của Phật Thích Ca Mâu Ni đã kể về kiếp trước của ngài, việc xảy ra từ mấy kiếp trước, ở đó ngài cũng không nói gì khác ngoài một chữ "xả". Cắt thịt cho chim ăn, là xả. Xả thân cho hổ ăn, là xả. Rất nhiều các câu chuyện về Vua Nai, Vua Voi của ngài đều để nói về chữ Xả. Không biết mọi người có biết không, rằng có thể nhận ra được cái tâm từ-bi-hỉ-xả là có thể thành Phật, thực sự rất vĩ đại.

Có thể xả một cách hoàn toàn Vô Ngã, không còn tồn tại Ngã tâm, sẽ thành Phật. Bởi vậy bài kệ Tứ vô lượng tâm rất vĩ đại.


## 12. Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Tiếp theo chúng ta lại nói đến mục thứ bảy, mục thứ bảy chính là niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. Vì sao lại niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh? Bởi vì kinh Phật mà lần đầu tiên tôi tiếp xúc chính là Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh.

Bản kinh vào triều đại nhà Đường đã có rồi, là một kinh điển rất linh nghiệm, niệm kinh này sẽ có được sự linh nghiệm rất lớn. Kì thực trong kinh chỉ có Phật hiệu và tôi thích mấy chữ này ở trong đó: "Năng diệt sinh tử khổ, tiêu trừ chư độc hại." (Có thể diệt trừ đau khổ của sinh tử luân hồi, diệt trừ mọi sự độc hại.)

Tôi mới nhìn thấy "Năng diệt sinh tử khổ, tiêu trừ chư độc hại" liền cảm thấy rất hoan hỉ. Bởi vì khi đó, bản thân tôi cảm thấy đời người này quá khổ, hơn nữa những thứ độc hại lại quá nhiều, mới bước chân ra ngoài xã hội đã gặp phải rất nhiều khó khăn.

"Năng diệt sinh tử khổ, tiêu trừ chư độc hại" chính xác là phù hợp với sự cầu xin thoát khỏi đau khổ luân hồi của chúng sinh. Bởi vậy tôi rất thích Cao Vương Kinh. Hơn nữa bản kinh này vào thời Đường đã được rất nhiều người truyền tụng, rất có linh nghiệm, ngoài ra rất mau chóng cảm ứng. Thế là tôi liền đem Cao Vương Kinh vào trong Chân Phật Mật Pháp, hy vọng mọi người có thể niệm bản kinh này.


🌟


"Thất Phật diệt tội chân ngôn" là một câu chân ngôn cực kì hay. Khi chúng ta đọc chân ngôn này để gia trì, rồi lại niệm thêm chú Vãng sinh, (chú Vãng sinh là của Đức Phật A Di Đà), đều có thể vãng sinh đến Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Ma Ha Song Liên Trì. Bởi vậy cũng cần niệm chú Vãng sinh.

Vậy thì khi niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, niệm chú Vãng sinh có cần quán tưởng không? Giả sử khi bạn làm pháp siêu độ thì bạn cần quán tưởng. Phương pháp quán tưởng đơn giản nhất là kết thủ ấn Đại hải siêu độ, rồi niệm chú Vãng sinh bảy biến, tiếp đó bạn quán tưởng thuyền pháp hiện ra trước mặt, đem những chúng sinh ở dưới địa ngục muốn được siêu độ lên thuyền rồi thuyền hướng về hư không trung bay lên, cuối cùng là giải ấn.

Tôi nhắc lại, đây chính là ấn Đại hải siêu độ. Kết ấn Đại hải siêu độ, quán tưởng trên biển lớn có con thuyền pháp, các chúng sinh ở cõi địa ngục lên thuyền pháp bay đi, chúng sinh sẽ thoát khỏi khổ luân, giải ấn.


🌟


[ND: Bài đọc thêm: Kinh nghiệm đọc Cao Vương Kinh của tôi.]
(Văn tập số 216 - Định trong định - Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn)

Cao Vương Kinh, tức là Cao Vương Quan Thế Âm Kinh, là kinh điển mà tôi rất thích niệm, trì kinh này có linh nghiệm. Bản thân tôi đánh giá rất cao Cao Vương Quan Thế Âm Kinh. Nội dung của kinh này đều là các Thánh hiệu của Phật Bồ Tát, hơn nữa còn có Thất Phật diệt tội chân ngôn, chư Phật Bồ Tát của tam thế thập phương đều dung hợp trong kinh này.
Kinh văn ngắn.
Rất dễ mang.
Công đức cao.
Trong đó, có hai câu: "Năng diệt sinh tử khổ - Tiêu trừ chư độc hại" vô cùng lợi ích.

Sau khi tôi khai ngộ - chứng "nhất như", thì: "Thực vô sinh tử khổ - Thực vô chư độc hại". [ND: Vốn chẳng hề có khổ sinh tử, cũng chẳng có độc hại nào - chúng đều vô tự tính.]

Tuy nhiên tại thế gian của con người hữu tình, "Năng diệt sinh tử khổ - Tiêu trừ chư độc hại" cũng đã gắn sâu vào nhân tâm.
Tôi thực lòng thực sự nói cho mọi người biết, từ việc niệm Cao Vương Kinh có thể trải nghiệm được thiền định, tam ma địa. Vì sao lại nói như vậy?

Tôi nói cho mọi người hay:
Kinh văn ngắn vỏn vẹn vài phút, khi miệng niệm kinh văn, từng câu từng chữ có đi vào tai bạn rồi đọng lại trong tâm bạn hay không?
Lúc niệm kinh:
Có hay không vọng niệm lớn xen vào?
Có hay không vọng niệm nhỏ xen vào?
Có hay không thoáng vọng niệm vi tế?
Có hay không vọng niệm vi tế nhất không thể nhận ra được xen vào?

Bạn có thể một câu không lơ là, trong vòng vài phút đồng hồ ngắn ngủi, tinh thần chuyên nhất mà niệm đến khi xong không? Điều tôi hỏi là, bạn thực sự có thể hoàn toàn tập trung tinh thần để đọc hết Cao Vương Kinh, dù một vọng niệm cũng không có không? Kinh nghiệm của chính tôi là: "Rất khó!"

Tôi đã thử đọc lớn tiếng, đọc nhỏ, đọc thầm, tưởng niệm từng chữ từng chữ một, rồi phát hiện ra là chẳng có cách nào chống lại vọng niệm xen vào. Kinh văn chỉ ngắn vỏn vẹn vài phút mà đã có vọng niệm xen vào rồi. Thế là tôi rèn luyện bản thân, mỗi khi có vọng niệm, lập tức cảnh giác, lập tức loại bỏ vọng niệm. Tôi cố gắng tập trung chú ý vào những trọng điểm của kinh văn, hoặc chú ý vào từng chữ, hoặc chú ý vào các chữ quan trọng, hoặc lưu lại từng chữ vào trong tâm, để cho mỗi chữ khi đọc lên giữ lại ở trong tâm, không cho phép vọng niệm xen vào. Về sau từ từ vọng niệm ít đi, cứ thế cho đến khi vọng niệm không còn xen vào nữa. Việc luyện tập lặp đi lặp lại như vậy cuối cùng mới có thể đạt được khả năng đọc tụng Cao Vương Kinh không còn vọng niệm.

Tôi thực sự rất kính phục Phật Thích Ca Mâu Ni, bởi vì Phật Đà sau khi ngộ đạo ở dưới gốc cây bồ đề thì vọng niệm cũng không còn. Không còn một giờ khắc nào là không trong thiền định. Thiền định này không phải là nhắm mắt im lìm bất động. Mà là trong bất kì lúc nào, làm bất kì việc gì, hoặc trong lúc thuyết pháp khai thị đều có thể chuyên nhất.

Làm được như vậy cũng thực sự không dễ dàng gì!
Tôi có thể luyện tập sự tập trung chuyên nhất vào Cao Vương Kinh, rồi trở thành chuyên nhất vào từng lời nói từng hành động, rồi tiếp tục đến mức độ loại bỏ vọng niệm, vọng niệm không còn xuất hiện nữa. Cứ như vậy mà chứng nhập vào biển vũ trụ quang minh.

Hư không in vào tôi.
Tôi in vào hư không.
Phát bồ đề tâm.
Lập tức chứng ngộ.
Chứng nhập rồi thì mọi "lậu hoặc" và ô nhiễm đều hết sạch thôi!


## 13. Quán tưởng tam quang bao trùm


Chúng ta chuyển sang mục thứ tám. Mục thứ tám chính là sang phần Chính hành. Trong Mật giáo có Tiền hành, tiếp theo đó là Chính hành. Chính hành bao gồm ba mục: quán tưởng - khi quán tưởng là phải kết thủ ấn, trì chú - niệm chú ngữ, cuối cùng là nhập Tam Ma Địa. Ba mục này thuộc về Chính hành.

Tôi thường nói, khi các bạn ở trên máy bay, hoặc đi xe buýt công cộng, không có cách nào để làm đại lễ bái, niệm chú tứ quy y, hay cúng dường được. Hoặc giả thời gian không đủ, bạn còn phải đi làm nữa. Nếu cứ phải thực hiện cả bảy mục trước đó, thời gian thực hiện chúng sẽ rất dài. Thế thì thì tôi sẽ tu hành một cách đơn giản nhất, chính là Chính hành, chỉ làm quán tưởng, trì chú, nhập Tam Ma Địa thôi.

Còn những lúc bình thường, bạn cần tu một đàn Mật pháp hoàn chỉnh, không được chỉ làm ba mục, nhất định cần làm đủ Tiền hành, Chính hành và Hậu hành, ba phần này kết hợp lại mới là một nghi quỹ hoàn chỉnh. Chỉ khi bạn thực sự không có thời gian, hoặc khi đang ở những chỗ đặc thù, thì có thể chỉ tu Chính hành. Đây là những trường hợp rất đặc biệt, rất ngoại lệ, bất khả kháng thì mới có thể làm như vậy.

Đầu tiên chúng ta nói về quán tưởng. Đối với quán tưởng, ví dụ bạn tu pháp bổn tôn A Di Đà Phật, bạn kết thủ ấn A Di Đà Phật, đây là ấn cơ bản của A Di Đà Phật. [ Xem hình ]

Ấn cơ bản và ấn thiền định không giống nhau. Ấn thiền định là như thế này (Sư Tôn thị phạm kết thủ ấn.) Bạn kết ấn cơ bản cũng được, kết ấn thiền định cũng được, sau đó thì quán tưởng.

Bây giờ tôi sẽ bắt đầu giảng về quán tưởng. Tôi sẽ nói về quán tưởng mà tôi thực hiện. Quán tưởng mỗi một vị sẽ khác nhau. Mỗi một vị Phật Bồ Tát, Bát Đại Bổn Tôn của chúng ta hoàn toàn không giống nhau, quán tưởng Hoàng Tài Thần lại càng khác biệt, quán tưởng Kim Cương Tâm Bồ Tát cũng không giống, thủ ấn, chú ngữ, quán tưởng của ngài cái nào cũng khác. Mọi người có thể tham khảo và nghiên cứu kĩ hơn trong cuốn "Chân Phật - Bí mật trong bí mật", sẽ có thể hiểu rõ ràng hơn.

🌟

**Quán không**
Bây giờ tôi sẽ nói về chính bản thân tôi khi tôi tu pháp bổn tôn A Di Đà Phật, sẽ cần quán tưởng thế nào. Khi tôi quán tưởng A Di Đà Phật, trước tiên là quán không (quán tưởng hư không). Rất nhiều đệ tử hỏi tôi quán không là làm sao? Bởi vì khi anh ta nhắm mắt lại, trong đầu từ đầu tới cuối đều không thể "bất không" được (nghĩa là không thể trống rỗng). "Bất không" của anh ta ở đây không phải là Bất Không Thành Tựu Phật đâu nhé (mọi người cười). Không phải đâu. Đầu của anh ta "bất không" nghĩa là có rất nhiều thứ trong đầu, nhiều suy nghĩ linh tinh phức tạp. Quán không là quán thế nào?

Trong Mật pháp tôi từng đề cập đến rồi, đó là bầu trời trong xanh không mây, bạn nhìn lên bầu trời không gợn một chút mây nào, trời trong vắt, cả một vùng không gian màu xanh lam rộng lớn. Các bạn cần phải quán tưởng được trạng thái này của bầu trời. Đây chính là quán không.
Như khi chúng ta đi trên máy bay, khi máy bay vượt lên trên mây, bạn nhìn hướng về bầu trời phía trên thấy bầu trời rất xanh, trong vắt, tròn đầy đồng nhất, không có một chút tạp chất nào.

Bạn cần quán tưởng về bầu trời trong xanh không mây trong đầu bạn, sau đó gia trì bằng đọc chú Quán không:
"Om, su-ba-wa, su-da, sar-va, dhar-ma, su-ba-wa, su-do, hang."

Đây chính là câu chú quán không, bạn cần ghi nhớ chính xác, cần phải luyện đọc thật lâu, bởi vì khi niệm chú ngữ cần phải nghĩ về nó, nghĩ về chú âm rồi đọc ra.

Khi niệm chú, nếu bạn là người "thổi gió" (tiếng lóng), ví dụ như ba cái răng cửa thì bạn bị thiếu mất một cái, thì khi niệm chú, âm phát ra lại càng không giống, bạn nói sẽ thành "sờ sờ sờ", chỉ phát ra được âm thanh này, như vậy là bạn bị gọi là "thổi gió".

Nhưng cũng có lúc khi chúng ta niệm bị sai một chút, ví dụ bình thường tôi niệm rất tốt, niệm rất nhanh, rất chính xác, nhưng [thi thoảng] khi tôi giảng trước mặt mọi người là cần phải niệm cho thật chính xác thì tôi lại niệm lập bập luôn. Tôi cũng chẳng hiểu điều này là do bị tâm lý gì nữa. Nói tóm lại là cứ tự nhiên đọc thì lại đúng. (cười)

🌟

**Quán tưởng nguyệt luân**
Vậy là bạn dùng chú quán không để gia trì cho việc quán tưởng hư không của bạn. Câu chú này thực sự là dùng để gia trì thêm. Quán không xong thì bạn lại quán tưởng tiếp nguyệt luân.

Chính là quán tưởng như thế này (Sư Tôn kết ấn). Đầu tiên kết ấn cơ bản của A Di Đà Phật, trong hư không, bên dưới là vùng biển rộng lớn mênh mông, bên trên là bầu trời, dưới là mặt biển, từ xa xa phía đường chân trời có một nguyệt luân (đĩa mặt trăng) từ từ nhô lên, nói cách khác là ở giữa trời và biển treo lơ lửng một nguyệt luân màu xanh lam rất tròn. Quán tưởng nguyệt luân chính là như vậy.

Quán tưởng nguyệt luân chính là tưởng tượng một đĩa mặt trăng. Vì sao cần quán tưởng nguyệt luân? Trước đây tôi rất băn khoăn vì sao quán tưởng lại phải là quán tưởng nguyệt luân? Tại sao không quán tưởng mặt trời? Tại sao không quán tưởng các vì sao? Tại sao không quán tưởng những cái khác mà nhất định phải là mặt trăng? Bởi vì ánh sáng của mặt trời mạnh quá, bạn quán tưởng một cái là mắt bạn không thể chịu được.

Còn nếu quán tưởng các vì sao thì chúng lại quá nhỏ. Còn nếu quán tưởng những thứ khác trên thế gian thì cái nào mới có thể tượng trưng cho sự thanh tịnh đây? Trong hoàn cảnh này mặt trăng chính là thanh tịnh nhất, ánh trăng chính là thanh tịnh nhất, trong ánh trăng còn có cả hương vị, bởi vậy quán tưởng mặt trăng chính là sự thanh tịnh.

Nguyệt luân còn tượng trưng cho cái gì nữa? Nguyệt luân còn tượng trưng cho "siddhi", chính là "siddhi" trong câu chú Om, guru, liansheng, siddhi, hum. Siddhi là Phật quốc, là đất nước của các vị Phật, chính là tịnh độ. Thế nên, bạn thường xuyên quán tưởng nguyệt luân, bạn nghĩ về bầu trời không mây, về một vùng biển lớn, từ mặt nước nhô lên một vầng nguyệt luân, nguyệt luân chính là siddhi, chính là tịnh độ, cũng chính là Phật quốc, vô cùng rõ ràng.

[ ND: Siddhi nghĩa gốc là "thành tựu". ]

Rồi bạn quán tưởng tiếp đến chủng tự Hri của Đức Phật A Di Đà.
[ ND: Hri (theo Sankrit), hoặc cũng đọc là Seh (theo Tạng ngữ), hoặc là Chuây theo 1 số dòng Tôn Sư dạy. ]

Chú tự Hri này xuất hiện ở giữa nguyệt luân. Có thể quán tưởng chú tự này. Có người hỏi tôi chú tự màu sắc gì là tốt nhất, tôi nói Phật A Di Đà ở phương Tây là thuộc về màu đỏ, vậy thì chú tự chính là màu đỏ. Bạn quán tưởng chủng tử tự Hri màu đỏ xuất hiện, bạn đã hiểu rõ chưa? Rất rõ ràng. Bầu trời xanh trong vắt không mây, chủng tử tự Hri màu đỏ trong nguyệt luân, mặt biển mênh mông, rất rõ ràng.

Hri tượng trưng cho cái gì? Chính là chủng thức của hành giả. Chủng thức - thức trong từ ý thức, chính là Phật tính, là Phật tính của chính bạn. Trong hư không, hiện lên trên nguyệt luân là Phật tính của bạn.

Nếu bạn tu bổn tôn A Di Đà Phật, bạn cần quán tưởng chữ Hri ở giữa nguyệt luân. Chữ Hri màu đỏ quay vòng tròn, rồi từ trong nguyệt luân xuất hiện A Di Đà Phật. Kim thân của A Di Đà Phật từ trong nguyệt luân hiện ra. Nói cách khác là một vị A Di Đà Phật biến hóa hiện ra ở trước mặt bạn, bổn tôn chính là ở trong hư không, ngay trước mặt bạn, nói như vậy bạn có thể quán tưởng được không? Phật A Di Đà có liên quan gì đến bạn? Phật A Di Đà chính là pháp thân của bạn. Ở đây có ba quán tưởng: một quán tưởng nguyệt luân, một quán tưởng chủng tử tự, một quán tưởng bổn tôn.

Quán tưởng nguyệt luân chính là Phật quốc tịnh độ, quán tưởng chủng tử tự - chữ Hri chính là Phật tính của bạn. Bổn tôn A Di Đà Phật chính là pháp thân của bạn. Sau khi bạn tu thành tựu, pháp thân của bạn chính là Phật A Di Đà. Bạn biến Phật A Di Đà thành nghìn vị, vạn vị, nghĩa là bạn có nghìn vị vạn vị bổn tôn đứng trước mặt bạn, thân ngoài hóa thân, vô cùng vô cùng vi diệu.

🌟

**Quán tưởng thế nào?**
Rất nhiều người nói với tôi: "Sư Tôn, con học quán tưởng, học lâu như vậy rồi, mà từ đầu tới cuối đều quán không được?"

Tôi bảo bạn quán bầu trời trong không mây đi, được đúng không? Có thể tưởng tượng ra được. Biển lớn bạn cũng có thể tưởng tượng ra được. Hẳn là cũng tưởng tượng ra được ở giữa mặt biển và bầu trời có một mặt trăng. Một chữ Seh chắc là không có khó khăn gì đúng không.

Thế rồi Phật A Di Đà hiện ra từ trong mặt trăng cũng rất rõ ràng. Bạn vẫn thường nhìn tượng Phật A Di Đà đó thôi! Tai ngài rất dài và rộng, lông mày cong cong như trăng khuyết, đôi mắt sáng như biển lớn, cái mũi cao như núi. Miệng và môi đều rất trang nghiêm, nét mặt cực kì viên mãn, trên đỉnh đầu có búi tóc. Tướng mạo của ngài, thân hình của ngài rất trang nghiêm, vô cùng chuẩn mực. Thiên y váy xếp của ngài, tay ngài cầm hoa sen, bàn chân của ngài, tòa sen của ngài, bạn đều có thể quán tưởng ra được, rất tỉ mỉ rất cẩn thận. Oa, thật trang nghiêm. Ngay lúc này tôi cũng có thể quán tưởng được rất rõ ràng và trang nghiêm.

Nhưng rất nhiều người nói với tôi thực sự là không có cách nào quán tưởng được, tôi hỏi lại vì sao. Anh ta nói, mỗi lần con quán tưởng nguyệt luân màu xanh lam thì nó luôn luôn biến thành màu đen, con không tưởng tượng thành màu xanh được. Tôi hỏi anh có bị mù màu không? Anh nói, không hề. Không hề? Vì sao luôn luôn lại bị như vậy nhỉ? Vậy thì anh cần chú ý nhìn màu xanh nhiều hơn, cứ nhìn thật nhiều, rồi lại nghĩ về nó, tưởng tượng nó, cố hết sức để tưởng tượng màu xanh, có ngày sẽ thành công.

Anh nói, chữ Phạn đó anh không viết được. Tôi nói, có sách dạy chữ Phạn mà, trong đó có các chú tự. Anh đi mua một cuốn sách rồi tìm hiểu về chữ đó cẩn thận, sau đó viết lại một lần, vẫn chưa giống thì viết lại hai lần, ba lần, bốn lần, viết nghìn lần vạn lần, rồi cũng sẽ viết được một cách cực kì hoàn hảo, cực kì tốt. Anh ta làm theo lời tôi nói, thế rồi cũng làm được. Nhưng anh lại nói, bổn tôn xuất hiện rồi, nhưng có vấn đề! Tôi hỏi, có vấn đề gì? Anh nói, bổn tôn luôn đứng không thẳng! Vậy anh cần phải quán tưởng ngài đứng thẳng đi! Phải quán tưởng ngài thật thẳng. Ai chà! Bổn tôn luôn luôn nghiêng về một bên, con thực sự đã cố gắng...

Tôi thường gặp phải chuyện như vậy. Anh nói bất kể anh quán tưởng bổn tôn xuất hiện như thế nào thì ngài cũng luôn nghiêng về một bên, lúc nào cũng lệch lệch. Tôi bèn ngẫm nghĩ, lẽ nào tim của người này khả năng cũng bị lệch, bởi vậy mọi thứ đều lệch về một bên (đùa - cười). Thế nhưng việc này vẫn có thể sửa được.

Khi tôi còn làm trong ngành trắc lượng, trước đây luôn phải treo một quả bóng, nghĩa là dùng một sợi dây nối vào một quả bóng và treo lên như thế này để đo xem cái cột đó có thẳng hay chưa, xem cái ống tre đó đã thẳng hay chưa. Tôi lúc nào cũng phải dùng quả bóng và sợi dây để đo, đo độ nghiêng của cột tre xong rồi thì có thể làm cho nó đứng rất thẳng. Tôi luôn dùng phương pháp trắc lượng từ từ điều chỉnh cho thẳng lại. Oa! Rất chính xác!

Cái cột bóng rổ ở Biệt thự Cầu Vồng của chúng ta đó, tôi dùng dây treo hòn đá, bởi vì lúc đó tôi không có bóng, nên tôi đã dùng sợi dây buộc một đầu vào hòn đá để treo lên đo và làm cái cột đó rất thẳng. Nhưng mấy ngày này gió rất mạnh, có thể gió đã thổi cái cột bóng rổ đó bị nghiêng đi mất rồi.

Vẫn còn một vấn đề nữa, có đệ tử nói với tôi, mỗi lần quán tưởng Phật A Di Đà đến trước mặt, anh không thể nhìn chính diện ngài mà chỉ có thể nhìn nghiêng từ mặt bên. Ai chà, việc này lạ quá! Hễ ngài xuất hiện là ngài lại xoay nghiêng, nghiêng, nghiêng, quay một bên mặt như thế này. Ai chà, kì lạ ghê! Phật A Di Đà không quan tâm tới bạn rồi. Liệu có thể có hiện tượng này không? Có. Thực sự là có kiểu hiện tượng này, vậy phải làm sao? Dùng "tẩy" để tẩy hết hình ảnh của ngài trong đầu đi, rồi lại quán tưởng ngài đến lại từ đầu.

Thực sự đã từng có vấn đề này rồi, ngài hễ xuất hiện là lại hiện thân đứng xoay về mặt bên, chẳng bao giờ hướng thẳng mặt cả. Anh ta hỏi tôi phải làm sao? Tôi nói, thử lại, buộc phải làm cho ngài quay thẳng lại, nói cách khác là nếu ngài cứ như vậy, bạn dùng hơi thổi vào ngài (Sư Tôn dùng miệng thổi, mọi người cười) để cho ngài quay thẳng lại. Tôi không tin là lúc nào ngài cũng xuất hiện mà quay người một bên.

Tôi từng kể một chuyện có thật. Có một đệ tử như thế này, anh ta học Sư Tôn cách biến hóa thực phẩm, anh niệm đại bàng Kim Sí Điểu. Anh bắt chước quán tưởng giống Sư Tôn, quán tưởng một con chim rất lớn. Vù! Con chim từ hư không bay tới. Oa, thực sự là rất tốt đó! Là "Đại bàng Kim Sí Điểu - Hoang dã quỷ thần chúng" đó. Thực sự anh quán tưởng rất tốt. Nhưng rồi không may là anh cũng nghĩ đến một mũi tên bắn ra, bắn trúng vào con chim đại bàng đó. (mọi người cười) Bạn biết mũi tên khi bắn ra rồi đó, "víu"! Mũi tên này rất to, bắn một cái là trúng ngay con chim, thế là rơi cái "bộp"! (mọi người cười) Mỗi lần anh ta đến đều luống cuống và bực bội, nói với Sư Tôn rằng: "Sư Tôn, con không thể tu pháp này được." Tôi nói: "Vì sao vậy?" "Mỗi lần con quán tưởng đại bàng Kim Sí Điểu đều xuất hiện ý nghĩ ác, là có một mũi tên bay từ bên cạnh tới bắn chết con chim này."

Ai chà! Tôi cũng bó tay rồi (mọi người cười)! Ác nghiệp của người này rất nặng, bản thân trong tâm anh có hạt giống ác, có tu hành, có Phật duyên tốt, nhưng cũng có hạt giống ác luôn đeo bám, mỗi lần anh quán tưởng đều không thể quán tưởng nghiêm túc được.

Ai da! Anh ta quán tưởng Thượng sư, Thượng sư tướng mạo rất trang nghiêm. Bức tượng sứ hình Thượng sư được làm rất tốt, đôi mắt rất trang nghiêm. Nhưng khi anh quán tưởng ra thì, ai chà, tại sao đôi mắt Thượng sư lại biến thành đầy dục vọng thế này? (mọi người cười) Anh nói anh không thể tu pháp được. Anh nói mỗi lần quán tưởng, hình tướng của Thượng sư hiện ra lập tức biến thành đầy dục vọng. Ai chà! Tôi đâu có như vậy nhỉ? (mọi người cười) Nhưng thực sự là anh ta bị như vậy đó, anh kể với tôi như vậy. Nghiệp chướng này rất nặng, gặp phải hiện tượng này cũng giống như một kiểu chướng ngại, một kiểu cản trở trên con đường đạo. Cách duy nhất để phá bỏ là buộc phải có chính niệm.

Tấm lòng phải rộng mở, phải thường đi du lịch ngắm cảnh, ngắm núi ngắm sông, ngắm thiên nhiên, ngắm trời ngắm đất, ngắm mặt trời, ngắm trăng ngắm sao để vun đắp cho tâm hồn thêm phong phú rộng mở. Khi tâm đã phong phú rộng lớn rồi thì khi bạn ngồi xuống để quán tưởng sẽ không có những suy nghĩ bất hảo nữa. Những suy nghĩ tự động sẽ thanh tịnh, Phật A Di Đà hiện đến sẽ cực kì đoan trang nghiêm túc. Ngài phóng quang gia trì cho bạn, tam quang sẽ bao trùm, ánh sáng trắng, ánh sáng đỏ, ánh sáng lam đi vào trong bạn, hòa nhập với thân tâm bạn.

Trước đây tôi từng nói rằng có thể dựa vào pháp khí của các vị để phóng quang cũng được. Ví dụ tòa hoa sen phóng ra ánh sáng trắng theo đường vòng cung đến gia trì cho bạn. Có lúc, ví dụ như Chuẩn Đề Phật Mẫu, 18 pháp khí trên các cánh tay của ngài đều phóng quang gia trì cho bạn, việc này hoàn toàn có thể.

🌟

**Quán tưởng không rõ, phải làm sao?**
Bạn cần phải thường xuyên ngắm nhìn thứ mà bạn phải quán tưởng. Thậm chí chính bạn cũng phải vẽ mandala, phải vẽ ra, vẽ một đĩa mặt trăng, vẽ biển lớn, vẽ chú tự, vẽ Phật A Di Đà ở trước chú tự. Bạn cứ từ từ vẽ, vẽ mắt của ngài, vẽ lông mày của ngài, mũi của ngài, tai của ngài, mặt của ngài, búi tóc của ngài, cánh tay của ngài, chân, thiên y váy xếp, những thứ trang sức trang nghiêm trên thân ngài, bạn đều vẽ tất cả ra, vẽ, vẽ, vẽ. Tâm của bạn đặt vào trong bức vẽ, vẽ đủ lâu thì hình ảnh sẽ nằm trong tâm bạn, lúc đó bạn có thể quán tưởng rất rõ ràng.

Bạn có biết các vị La Ma ở Tây Tạng làm những bức mandala, tất cả những thứ này đều từ tâm mà vẽ ra, in rõ trong tâm. Phương pháp làm việc của họ là: "Tôi vẽ ra, vẽ tượng Phật, tâm của tôi chính là tâm của Phật, tâm này chính là Phật.”

Bạn quán tưởng Phật Bồ Tát chính là thân Phật, tâm Phật, là Phật đang thực hiện việc này. Giống như là bạn đang vẽ chính tâm bạn! Lúc này chính là bạn đang vẽ tâm bạn! Tâm của bạn thanh tịnh, quán tưởng của bạn chắc chắn sẽ rất thanh tịnh, rất rõ ràng trong sáng. Tâm của bạn không thanh tịnh, khi bạn quán tưởng đương nhiên sẽ có tạp niệm và không rõ ràng, thậm chí do có những suy nghĩ không tốt nên chúng cũng xuất hiện luôn trong lúc quán tưởng.

Việc này chính là để tu sửa suy nghĩ của bạn, tu sửa thân tâm của bạn. Tam quang bao trùm chính là để chỉnh sửa ý niệm của bạn đó! Ý niệm của bạn phải thanh tịnh, bạn luôn luôn cần tu cho ý thanh tịnh. Có siddhi, có Phật tính, có pháp thân, ánh sáng quang minh từ hư không sẽ chiếu soi bạn, việc này chính là để sửa tâm của bạn, sửa ý của bạn đó!

Khi bạn hoàn toàn đồng nhất vừa khít với ánh sáng quang minh, tôi nói cho bạn hay, bạn không cần phải sợ hãi gì nữa. Tới lúc tuổi già, bệnh tật, hơi thở đã rất ngắn rất gấp rồi, sắp chết rồi, bạn phải bám víu vào cái gì đây? 
Lúc đó bạn cần dựa vào cái gì? Lúc đó mắt chỉ cần nhắm lại, cõi tịnh độ sẽ hiện lên trước mặt, Phật A Di Đà sẽ hiện lên trước mặt vì bình thường bạn đã quen luyện tập như vậy rồi. Tịnh độ, Phật tính, bổn tôn, pháp thân đều ở ngay trước mặt bạn. Bạn vừa nhắm mắt liền vãng sinh tới Tây Phương, việc này bình thường bạn vẫn luôn tu hành rồi!

Sự tiếp dẫn thành Phật này chính là ở mức độ cơ bản nhất. Có Phật quốc, có Phật tính, Phật tính của chính bạn, có pháp thân của bạn hiện ra trước mắt, bạn sẽ biến thành pháp thân, trực tiếp đi đến Phật quốc, vãng sinh thành Phật.

🌟

**Niệm Phật kết hợp quán tưởng**
Niệm Phật trong Hiển giáo không đạt tới mức độ công phu như vậy! Bởi vì ở đây chúng ta phải quán tưởng và kết hợp niệm Phật mới có thể đến được cảnh giới này. Nếu bạn cứ chỉ niệm Nam mô A Di Đà Phật, Nam mô A Di Đà Phật, ngày ngày niệm Nam mô A Di Đà Phật và bạn không quán tưởng gì, chỉ dùng miệng để niệm mà thôi, thì đây là pháp niệm Phật đơn thuần. Tuy bạn niệm Nam mô A Di Đà Phật, Nam mô A Di Đà Phật, nhưng nếu trong tâm trí bạn lại chỉ nghĩ tới bùn thì tôi nói cho bạn biết, đến với bạn sẽ chỉ có bùn thôi.

Bởi vì bạn không quán tưởng được, không quán tưởng thành cái gì cả, bạn không đi về Tây phương được. Cho dù bạn có niệm "Nam mô A Di Đà Phật, Nam mô A Di Đà Phật" rất kiền thành, nhưng nếu hình tướng phật A Di Đà không hiện lên, nếu bạn không làm gì để cho Phật hiện lên được trước mặt bạn thì Tam Thánh cũng chẳng có cách nào tiếp dẫn bạn được, niệm cũng không có tác dụng gì hết!

[ Trường hợp đặc biệt: nhất tâm bất loạn ]

Phật A Di Đà từ bi, thấy bạn niệm thực sự rất khổ sở, ngài biến hóa bùn đất trong não bạn thành hoa sen, tiếp dẫn bạn bởi vì bạn thực sự rất chí thành, chỉ niệm duy nhất Phật A Di Đà, luôn luôn nghĩ đến Phật A Di Đà.

Phật A Di Đà nói: Tốt! Anh niệm danh hiệu của ta, cho dù trong đầu anh toàn nghĩ những thứ bùn đất, ta sẽ biến bùn đất đó thành hoa sen để tiếp nhận anh thành Phật. Tuy nhiên điều này cần anh phải nhất tâm bất loạn. Còn niệm Phật và đồng thời luôn nghĩ đến hình tướng Phật thì cũng chính là quán tưởng kết hợp niệm Phật. Vậy mới tốt. 

Nếu bình thường bạn luyện tập có chất lượng (nghĩa là biết chính xác mình đang làm gì), thì khi mắt bạn vừa nhắm lại (lúc chết), Phật A Di Đà sẽ hiện lên trước mặt bạn, chào đón bạn vãng sinh, đúng vậy không!

Điều đầu tiên đảm bảo bạn có thể vãng sinh Tây phương Cực Lạc Thế Giới Ma Ha Song Liên Trì là có được tam quang bao trùm, chính là ánh sáng trắng, đỏ, lam của Phật A Di Đà bao trùm. Quán đảnh, hoa sen ở trên tay ngài phát ra ánh sáng trắng chiếu trọn lấy bạn, ánh sáng đỏ chiếu trọn lấy bạn, ánh sáng lam chiếu trọn lấy bạn. Phật A Di Đà rất ân cần rất từ bi hiện lên trước mặt bạn, đây chính là quán tưởng, mọi người rõ rồi chứ? Giải thích về quán tưởng thì rất nhiều kiểu quán tưởng, hôm nay tôi mới chỉ nói với mọi người về đĩa mặt trăng, chủng tử tự, bổn tôn.

🌟

**Quán tưởng vi tế**
Có nhiều kiểu quán tưởng, ví dụ như khi bạn quán tưởng Hoàng Tài Thần thì lại khác. Với ngài thì bạn cần quán tưởng ra được Ngũ Phương Phật. Thế rồi ngón chân cái bên bàn chân phải của ngài phải sưng lên, tiếp đó Ngũ Phương Phật niệm chú quán đỉnh, cần phải niệm chú quán đỉnh như sau:
"Om, hum, jen-sha-ya"
Ánh sáng ngũ sắc xuất hiện quán đỉnh cho Hoàng Tài Thần, cái ngón chân cái bị sưng của Hoàng Tài Thần từ từ tiêu đi, ngài lập tức thị hiện vui mừng. Vào lúc ngài vui mừng thì ngài lắc chuông kim cương, việc lắc chuông chính là vì vui đó!

Kì thực tôi vẫn chưa dạy mọi người lắc chuông kim cương, bạn không lắc chuông cũng không sao, quán tưởng ngài rất vui là được rồi. Cái ngón chân cái bị sưng nhờ được quán đỉnh nên mới tiêu biến đi, thế là ngài vui rồi. Vì ngài đã rất vui nên miệng con chuột nhả ra tài bảo cũng sẽ há to, nó cũng rất vui nên sẽ nhổ ra hết tất cả những thứ mà bạn muốn. Những thứ bạn thích nó đều nhổ hết ra cả, tôi nói ví dụ như xe ô tô, nhà tầng, đô-la Mỹ!

Quán tưởng tiền đô như thế này: Từng cọc từng cọc tiền giống như ở ngân hàng, vào giờ thu gom tiền buổi tối là từng cọc từng cọc tiền chất cao như núi, hiện lên trước mặt bạn. Bạn biến thành rất nhỏ bé ngồi trước đống tiền cao như núi như thế này. Bạn nghĩ xem có bao nhiêu tiền, thế nên vui là đúng rồi. (mọi người cười) Hoàng Tài Thần vui, bạn cũng vui.

🌟

**Quán tưởng Chuẩn Đề Phật Mẫu**
Quán tưởng này rất nhiều và rất đặc biệt. Bạn cần quán tưởng Chuẩn Đề Phật Mẫu với 18 cánh tay cầm vũ khí. Giả sử nếu bạn có thể quán tưởng tất cả 18 cánh tay cầm vũ khí thì thực sự bạn cũng rất phi phàm. Giả sử bạn quán tưởng được ba mắt mười tám cánh tay, tất cả pháp khí bạn đều có thể quán tưởng ra được, thì nếu tôi là Chuẩn Đề Phật Mẫu, tôi cũng khâm phục bạn. (mọi người cười)
Tôi sẽ nói: "Oa! Con quán tưởng ta rõ ràng như vậy sao!"

Ngài nhất định sẽ thương bạn nhất. Khi chúng ta quán tưởng, càng vi tế thì càng đi sâu vào sự an tịnh. Càng tiến sâu vào tầng lớp vi tế hơn của tâm trí thì bạn càng có thể tĩnh tâm. Càng có thể điều khiển hơi thở, càng có thể thâm nhập sâu vào ý thức và cảm giác.

Còn bạn càng quán tưởng thô thì càng chẳng có gì. Khi bạn quán tưởng mà bạn thực hiện rất thô, mắt nhắm lại một cái, bầu trời có mây bạn cũng mặc kệ, nước biển ô nhiễm bạn cũng mặc kệ (mọi người cười). Bạn cũng mặc kệ cả đĩa mặt trăng luôn, oa, bạn quán tưởng mặt trăng thì thiếu mất một nửa, (mọi người cười), trở thành chỉ có nửa trên hoặc nửa dưới. Nếu bổn tôn xuất hiện, bổn tôn vừa giống Phật lại vừa không giống Phật, giống Bồ Tát lại cũng không giống Bồ Tát, giống Kim Cương Hộ Pháp nhưng cũng lại không giống Kim Cương Hộ Pháp, thực sự là không có đặc tính rõ rệt. (mọi người cười) Thế rồi cũng quán tưởng ngài quán đảnh cho bạn, quán cả nửa ngày bạn cũng chẳng thấy có cảm giác gì. Cho đến khi bạn sắp sửa quán tưởng xong thì liền trì chú luôn. Rất nhiều người đều làm một cách chiếu lệ qua loa như vậy đó.

Trong lúc tu pháp, bạn quán tưởng cực kì kĩ thì mới có thể đi vào được nơi vi tế nhất của sự vi diệu. Việc này là dùng ý thức để tu, dùng ý thức sâu nhất để tu quán tưởng, lúc đó thì những gì bạn đạt được sẽ thực sự đáng kinh ngạc.

🌟

**Các cấp độ tu hành**

"Nghi quỹ Mật giáo hoàn chỉnh" này thuộc về tầng lớp Ngoại pháp trong Mật giáo. Ngoài ra còn có Nội pháp, có Mật, và có Mật mật pháp.
-	Thành tựu được Mật mật pháp ở Tây Phương Cực Lạc Thế Giới gọi là Thường Tịch Quang Thổ. 
-	Thành tựu được Mật pháp thì gọi là Thực Báo Trang Nghiêm Thổ. 
-	Thành tựu được Nội mật, hay còn gọi là thành tựu Nội pháp thì sẽ tới được Phương Tiện Hữu Dư Thổ. 
-	Thành tựu được Ngoại pháp thì đến được Phàm Thánh Đồng Cư Thổ.
Đây là sự phân chia bốn vùng đất của Tây Phương Cực Lạc Thế Giới.

Lúc này tôi mới chỉ giảng Ngoại pháp mà thôi! 
-	Còn ở cấp độ Mật mật thì sao? Sẽ là Phật quốc nào? Là Mật Nghiêm Phật Quốc. 
-	Ở cấp độ Mật thì là Hoa Nghiêm Phật Quốc. 
-	Ở cấp độ Nội pháp thì là Chân Phật Phật Quốc. 
-	Ở cấp độ Ngoại pháp thì là Cực Lạc Phật Quốc.
Có sự phân chia bốn loại như vậy. Việc này thực sự tuyệt vời như thế.

-	Cấp độ Mật mật còn có gì nữa? Chính là Đại Viên Mãn. 
-	Cấp độ Mật thì chính là Đại Thủ Ấn. 
-	Cấp độ Nội là ở mức độ Khí - Mạch - Minh điểm. 
-	Cấp độ Ngoại thì là Thân - Khẩu - Ý.
Việc tu hành Mật giáo thực sự là vô cùng tuyệt vời, vô cùng vi diệu!

-	Mật mật là tu được pháp thân. 
-	Mật là tu được Viên giác. 
-	Nội pháp là tu được Bồ Tát. 
-	Ngoại pháp là tu được thành A La Hán.

Tuy nhiên cách phân chia này là do tôi tự phân chia, không nhất định là tuyệt đối chính xác. Tôi chỉ giảng về các cấp độ nên có đôi chút khái quát lại, bởi vì bạn ở trong báo thân, giống như Viên Giác cũng thuộc về báo thân, ở cõi tịnh thổ này cũng thuộc về báo thân, còn ở cõi Phàm Thánh Đồng Cư cũng có tồn tại ứng thân. Về pháp thân thì sao? Tôi không có lời nào để nói, chắc chắn là phải tới cấp độ Mật mật thừa.

Thế còn Liên Hoa Đồng Tử thì là thân gì? Liên Hoa Đồng Tử chính là báo thân. Lư Thắng Ngạn là thân gì? Chính là ứng thân. Đại Nhật Như Lai là gì? Chính là pháp thân. Phật Nhãn Phật Mẫu và Liên Hoa Đồng Tử đều thuộc về báo thân. Còn Lư Thắng Ngạn chính là ứng thân. Ba thân cần phân biệt như vậy.

Các cấp độ mà chúng ta tu hành, Ngoại - Nội - Mật - Mật mật chính là tu từ Ngoại pháp của Chân Phật Mật Pháp đến Nội pháp của Chân Phật Mật Pháp. Tu từ pháp Khí - Mạch - Minh điểm, đến Mật, đến Đại Thủ Ấn, đến Vô Thượng Mật, đến Mật mật, chính là Đại Viên Mãn. 
Đây là phân loại dựa theo các cấp độ.


## 14. Trì chú


**Quán tưởng chuỗi hạt**
Sau khi chúng ta quán tưởng xong rồi thì có thể đi tiếp một bước nữa tới mục trì chú. Bình thường chúng ta nói, được thôi, trì chú chứ gì, thế là liền cầm chuỗi hạt lên. Có người thì đặt trên chân, cứ thế niệm "Om, a-mi-te-wa, seh", "Om, a-mi-te-wa, seh", và cứ thế lần hạt. Có người niệm như vậy đó, điều này thực sự là không đúng. Bạn cần cầm chuỗi hạt trước ngực, hơn nữa cần phải tập trung vào chuỗi hạt này. Trước đây tôi từng dạy rồi, nhưng ngược lại mọi người đếm lần chuỗi hạt thế nào, niệm thế nào lại vẫn cứ tùy ý mà làm! Mọi người đều cứ niệm "Om, mani padme hum", "Om, mani padme hum"… niệm xong là xong và nghĩ: Trì chú thì có gì hay mà nói chứ, trì chú chỉ cần khẩu thanh tịnh thôi mà.

Một hành giả chân chính thì trì chú cũng phải cần quán tưởng, không phải là chẳng quán tưởng gì hết. Bây giờ tôi giảng cho mọi người nghe, mọi người sẽ hiểu rất rõ ràng. 

Trước hết tay cần thực hiện việc cầm chuỗi như thế này. Quán tưởng tay phải biến thành chày kim cương, tay trái quán tưởng biến thành chuông kim cương, tất cả đều có quán tưởng cả. Tay trái quán tưởng thành chuông kim cương rồi cầm chuỗi hạt lên. Bây giờ tay phải quán tưởng thành chày kim cương, tay trái quán tưởng thành chuông kim cương, được rồi chứ! OK!

Thế còn chỗ bốn hạt ở giữa chuỗi này, hạt ở đây chẳng phải có màu đỏ sao? Các hạt màu đỏ gồm có một hạt Mẫu, ngoài ra có ba hạt ở giữa, cần quán tưởng bốn hạt này thành Tứ Đại Thiên Vương. Bạn phải quán tưởng bốn vị Thiên Vương ở trên chuỗi hạt của bạn.

Cái tua rua ở trên chuỗi hạt này bạn quán tưởng thế nào?
Ý, một số người gọi là cái "râu ria"? (mọi người cười). Có người nói rằng bức tượng kia rất giống Sư Tôn, cái bức tượng ở Bồ Đề Lôi Tạng Tự (ở Vancouver) đó nghe nói là càng giống hơn, còn bức này là bức giống thứ hai. Có đứa bé nói, ý, vẫn không giống, bởi vì thiếu mất cái "râu ria" mọc ra ở chỗ cổ Sư Tôn. (Sư Tôn cười)

Tôi vừa nói cái "râu ria" của chuỗi hạt này cần quán tưởng thành cái gì nhỉ? Cần quán tưởng thành Liên hoa thủ, các bạn đã từng nhìn thấy Liên hoa thủ chưa? Liên hoa thủ chính là bàn tay có hình dạng giống bông hoa sen nở. Tôi nhớ hình như là trước đây, ồ, ở trong một cái temple [ ND: chùa ], đúng là ở trong một ngôi chùa tôi đã nhìn thấy có hình liên hoa thủ ở trên lư hương ở đó, bàn tay đó giống như tay Phật. Tay Phật gọi là Liên hoa thủ thì đúng rồi!

Bạn quán tưởng cái "râu ria" này thành Liên hoa thủ, bốn hạt này quán tưởng thành Tứ Thiên Vương, tay phải quán tưởng thành chày kim cương, tay trái quán tưởng thành chuông kim cương, sợi dây xỏ các hạt vào cũng cần quán tưởng thành vòng tròn ánh sáng màu trắng của Kim Cương Tát Đỏa, đúng là ánh sáng trắng của Kim Cương Tát Đỏa, đây là bản tính gốc của Kim Cương Tát Đỏa. Sau khi bạn quán tưởng như vậy xong thì bắt đầu trì chú: "Om, a-mi-te-wa, seh" … niệm như vậy.

Trong khi bạn niệm chú cũng cần quán tưởng, quán tưởng rằng ở trong mỗi hạt đều có một vị A Di Đà Phật, cứ lần một hạt là phải quán tưởng ngài hiện ra trước mắt bạn. Thật là phiền phức! 

Oa! Mật pháp này nói tới mức chi tiết như vậy tôi thấy là cũng hiếm đấy. Nhưng thực sự là bản thân tôi đã thực tu như vậy hai mươi mấy năm rồi, tôi đã được dạy rất tỉ mỉ ý thức tối thượng của vũ trụ này. Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, đại sư Tsongkhapa, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, Thanh Chân Đạo Trưởng, mỗi chi tiết các ngài đều chỉ dạy cho tôi rất rõ ràng. Cách thức trì chú như thế này vô cùng vĩ đại, là vi diệu nhất, vi tế nhất, sẽ có được thành tựu nhất!

Trước đây chúng ta tu Mật pháp là cứ cầm chuỗi hạt lên niệm niệm niệm, niệm xong 108 biến là xong rồi, xong rồi là bỏ xuống, hôm nay hết giờ (tu tập) rồi. Kì thực không phải là như vậy. Trì chú, ngoài sự thanh tịnh của khẩu còn cần dùng đến sự quán tưởng của ý. Thân thể thì trong lúc trì chú bạn cũng đã sử dụng rồi, bạn đã kết thủ ấn rồi.

Đây chẳng phải là chày kim cương sao! Đây chẳng phải là chuông kim cương sao! Đây chẳng phải là sợi dây của Kim Cương Tát Đỏa sao! Đây chẳng phải là Tứ Thiên Vương sao! Đây chẳng phải là Bổn tôn sao! Đây chẳng phải là Liên hoa thủ sao, vậy là bạn đã kết ấn rồi.

Mỗi câu niệm ra đều quán tưởng một vị A Di Đà Phật nằm trong mỗi hạt tròn tròn, chẳng phải bạn đang dùng sự thanh tịnh của ý đó sao? Miệng bạn niệm "Om, a-mi-te-wa, seh" chẳng phải là khẩu thanh tịnh sao?

Đây chính là tu hành tam mật hợp nhất, là tu hành vô cùng vi diệu, là Mật pháp vô cùng tuyệt vời. Tôi dạy bạn quán tưởng, dạy bạn trì chú, dạy bạn nhập Tam Ma Địa, dạy bạn kết thủ ấn, như vậy là hoàn chỉnh rồi, là Mật pháp cực kì hoàn chỉnh không thiếu cái gì cả.

🌟

**Tu pháp cần lòng tin kiên định**
Trước đây những gì tôi từng viết trong sách chỉ là sự giới thiệu một cách sơ lược, trước tiên để mọi người có nhận thức về Mật pháp, sau đó là dạy tới ngoại pháp. Thực tế tôi vẫn muốn dạy nội pháp nữa! Khi tôi dạy nội pháp, tôi đã từng nói sẽ bắt đầu từ Linh nhiệt pháp, bắt đầu từ Nội hỏa minh điểm, dạy "giáng - đề - trì - tán" (hạ xuống - nâng lên - giữ lại - giải tán) để giúp bạn thắp lên nội hỏa, giúp bạn thông trung mạch.

Nhưng đến khi tôi 50 tuổi, tôi vẫn chưa dạy tới Ngoại pháp mà đã có rất nhiều người thoái lui đạo tâm rồi. Tôi vẫn còn chưa dạy pháp, họ đã bỏ đi rồi. Thế là "phi vụ kinh doanh" này bất thành rồi. (mọi người cười) Tôi vẫn chưa "bán" cho bạn những thứ của tôi có, thế mà bạn đều cho rằng đã học xong hết cả rồi!

Tôi nói, kì lạ thật? Có rất nhiều thứ đó! 
Ý của tôi muốn nói rằng cần phải từ từ, tôi vẫn còn muốn dạy cho mọi người biết nhiều thứ khác. Một số đệ tử thiếu kiên nhẫn, một số người thì tâm lí bắt đầu sinh bệnh, một số người thì thân thể sinh bệnh, một số người thì tâm trí trở nên cổ quái.

Ai chà! Bọn họ đều cho rằng đã biết hết mọi thứ rồi, thậm chí có đệ tử nói rằng Lư Sư Tôn này mỗi ngày ở trong mật đàn, mỗi ngày luyện tập y như vậy, toàn thứ cũ rích đó, tùy ý làm vài cái động tác tay, miệng thì niệm lung tung blah blah… (mọi người cười). A! Thế là thành Phật rồi! Làm gì có chuyện đơn giản thế, như vậy đây chắc chắn là pháp giả rồi. Mỗi ngày đều làm như vậy một chút, thế là có thể thành Phật sao? Ai chà! Khi đó họ hỏi tôi như vậy, trong lòng tôi cảm thấy rất buồn.

Ý của tôi là như sau: 
Trong lúc đệ tử thực hành pháp, tôi sẽ quan sát tâm tính và năng lực của tất cả các đệ tử. Nếu bạn thực sự có thể thực tu Chân Phật Mật Pháp thì tôi mới dạy bạn đến cấp độ thứ hai. Cấp độ thứ nhất của Ngoại pháp tôi vẫn còn chưa giảng xong cho bạn, vẫn còn chưa dạy bạn hết, bạn đã thối lui đạo tâm rồi. Như vậy là "thỏa thuận kinh doanh" của chúng ta còn chưa thành, bạn đã bỏ đi rồi, tôi gọi bạn cũng không quay lại, đúng không? Trên thực tế, việc thực hành những pháp này đòi hỏi sự luyện tập chăm chỉ và lặp đi lặp lại vô số lần. Nếu những con người may mắn nhờ có pháp này lại không thể đạt được sự thành tựu thì là không có tín tâm kiên cố rồi! Thực là hời hợt quá! Gió bất chợt thổi một cái thế là bạn lăn đùng ra.

Trên thực tế đệ tử của chúng ta nhiều quá, nhưng chính bởi vậy chúng ta cần phải sàng lọc, dùng cái sàng này, sảy sảy sảy, lọc bỏ những tạp chất rơi xuống, cuối cùng còn lại chính là vàng nguyên chất. Chúng ta cứ luyện tập cho tốt rồi sẽ được thành Phật. Thực tế là Phật độ chúng sinh cũng như thế, chắc chắn cần phải làm như vậy. Ngài nói tín tâm của người này không đủ. Dù bạn có nói thế nào thì cũng chẳng có cách nào khác, tín tâm của người này từ đầu tới cuối đều không có.

Việc này cũng có liên quan đến duyên nghiệp. Có khả năng là kiếp trước người đó chưa ăn cơm mà tôi cúng rồi! (mọi người cười) Kiếp trước anh ta chưa ăn cơm mà tôi cúng nên anh không cần phải đáp trả lại tôi, có đúng không? Anh ta muốn để cho Sư Tôn được "nhẹ gánh" một chút, thiếu đi vài đệ tử cũng tốt. Tóm lại, nếu bớt đi vài đệ tử thì trong lòng này của tôi cũng bớt đi phiền phức, được thanh tịnh thêm chút!

Đôi lúc tôi cảm thấy, những thứ tốt đẹp như thế này tôi thực sự muốn trao cho bạn, nhưng bạn không muốn, do vậy tôi thấy vô cùng buồn bã. Nguyên nhân chính là như vậy. Có những thứ tốt đẹp như thế, bạn lại thực sự không muốn, nói rằng không muốn đâu. Hầy! Tôi tặng miễn phí cho bạn cơ mà! Thực sự bạn không muốn sao? Thực sự không muốn, điều này khiến tôi khóc một cách đầy cay đắng, thực sự đây chính là điều khiến tôi đau lòng, không phải điều gì khác.

Bản thân tôi đã rất tự tại rồi, rất viên mãn rồi, rất vui sướng rồi, tất cả mọi ưu phiền thuộc về tiềm thức đều không còn nữa. Bởi vì nếu bạn đã đạt đến mức độ có thể dung nhập vào vũ trụ thì đây là một sự khai ngộ vô cùng phi phàm! Sự khai ngộ này không hề tầm thường, là siêu phàm, trên đời này không còn thứ gì có thể ảnh hưởng đến bạn nữa. Bây giờ vì độ chúng sinh, tôi chỉ có tấm lòng nhiệt thành, chính vì nhiệt thành nên mới cảm thấy buồn bã, mới rơi lệ. Nếu không thì còn gì để mà phiền não đây? Xin hỏi các vị còn gì để bám chấp đây?

Hôm nay tôi cùng mọi người nói chuyện, xin hỏi các vị có gì đáng để mà bám chấp? Thử nghĩ xem, là gia đình sao? Vợ chồng sao? Con cái sao? Là tiền bạc sao? Địa vị sao? Nghề nghiệp sao? Sức khỏe sao? Tất cả những thứ này rồi sẽ trở về cát bụi, đều quay về với cát bụi mà thôi. Chỉ có tu hành bạn mới có được đại pháp, chỉ có nỗ lực tu hành mới có được cuộc sống vĩnh hằng, không sinh, không diệt.

Bạn cần biết làm sao để loại bỏ phiền não. Nếu bạn thực sự có thể loại bỏ phiền não thì sẽ rất tốt, sẽ liễu sinh thoát tử, minh tâm kiến tính. Sống còn có ý nghĩa gì đây? Sống trên thế giới này có ý nghĩa gì? Bạn tu hành được quả thì sự vui sướng đó là vô giới hạn, đây mới là ý nghĩa lớn nhất của đời người.

🌟

**Tùy thuận đối với con cái**
Hôm qua tôi đã nói rồi đó! Hôm qua vào lúc ăn bữa tối, tôi kể đến việc ngày xưa tôi vẫn giữ quan niệm thế này. Tôi họ Lư, tôi cũng từng luôn muốn sinh được một đứa con trai mang họ Lư! Nó sẽ là thế hệ kế thừa Lư gia của chúng tôi. Có đúng vậy không? Trong đầu những người Trung Quốc đều có kiểu quan niệm tiếp nối dòng họ này.

Nhưng khi bạn đưa con sang Mỹ thì, a, mọi hi vọng truyền thống đều chấm dứt. (mọi người cười) Nó chẳng quan tâm bạn là Lư gì, cái họ Lư mà tổ tiên để lại ấy, nó chẳng thèm bận tâm đến mong muốn của bạn về việc tương lai tạo dựng một nền tảng gia tộc ở Mỹ! Nó lấy một cô tóc vàng mắt xanh, sinh ra đứa con cũng tóc vàng mắt xanh, thằng bé họ Lư, nhưng lại viết kiểu tiếng anh là LU, là LU đó! Không hề giống như chữ Hán có một bộ Hô, một bộ Thất, một bộ Điền, một bộ Mãnh, hoàn toàn không phải chữ Lư tiếng Hán. Nó viết thành chữ LU rồi! Còn chữ Lư tiếng Hán [ 廬 ] nó viết không được.

Ấy, nó như vậy liệu có thể tiếp nối và giữ gìn truyền thống dòng họ không? Làm gì có, đến đây là xong rồi! Đúng vậy đó! Bạn đem con bạn tới Mỹ. Nó không có cảm giác về sự tôn quý khi là con cháu của nhà họ Lư nữa, tuyệt đối không có việc này. Nó cũng không đặt kì vọng vào thế hệ con cháu tiếp theo phải tiếp nối họ của gia đình nữa. NO! Không còn nữa. Tôi tin chắc rằng một đời sau, hai đời sau đều hoàn toàn không còn, quan niệm này chắc chắn không còn nữa. Tổ tiên các bạn từ đâu tới? Nó cũng chẳng biết.

Bởi vậy quan niệm về gìn giữ dòng họ vốn chỉ có trong đầu của những người Trung Quốc thôi, giống như là gia phả vậy. Người nào truyền cho người nào, rồi lại truyền cho mấy người, mấy người nữa, ai thuộc về gia phả là được liệt kê hết ở đó! Bạn đem nó đến nước Mỹ, gia phả đều có thể đem đốt, chẳng còn nữa.

Bạn muốn ép buộc nó, ở Mỹ ép buộc không được phép. Nó có thể đến tòa án để tố cáo bạn. (mọi người cười) Bạn nhốt nó lại, bạn đánh nó một cái, nó bèn đi báo cáo với giáo viên, giáo viên báo lên trường học, trường học tổ chức một buổi họp thành viên để tố cáo bạn. (mọi người cười) Việc này được gọi là gì? Cực kì bại hoại! (mọi người cười)

Bởi vậy với thế hệ sau, thực sự không nên kì vọng rằng nó cần phải thế này thế nọ, tôi chỉ hy vọng chúng nó có thể sống tốt, đừng đem tới cho bạn lắm phiền phức, thế là tốt rồi.

Ví dụ như Phật Thanh con gái tôi. Có lúc tôi cũng từng phiền não vì nó, vì sao vậy? Vì thành tích học tập của nó quá tốt, cũng là một sự phiền não. Nó cũng lại muốn mỗi kì học đều giữ được điểm 4, nó lúc nào cũng được 4 [ND: 4/5 điểm, giáo dục ở Mỹ dùng thang điểm 5 là điểm cao nhất), cho đến nay cũng luôn luôn là 4 điểm, như vậy cũng là một kết quả hoàn hảo rồi. Đều là điểm A, là 4 điểm, không có kém đi một điểm nào, không có 3.9 điểm.

Nó nói nó muốn mua xe, nó nói muốn đổi xe cũ, muốn đổi sang xe gì vậy? Ớ, là xe Jeep. (mọi người cười) Tôi nói tôi có một điều kiện. Nếu nó muốn mua xe, khi nào thành tích học tập của nó được 3 điểm mấy thì tôi mới cho nó mua. (mọi người cười) Nó không cần phải duy trì cho tôi điểm 4 đó, tôi nhìn thấy cái điểm 4 là tôi bực mình rồi. (mọi người cười)

Nó học hành rất vất vả. Nó học tới cấp ba thì lại tham gia vào các câu lạc bộ, phục vụ trường học, tham gia rất nhiều các hoạt động. Mỗi tối lại còn phải viết văn, ghi chú, làm toán, cái gì cũng phải học hết. Trường học đó học rất nặng, nó bận tới nỗi không thể ngơi nghỉ, nó tham gia hết các lớp học, các câu lạc bộ và các hoạt động của trường. Nó vắt kiệt thời gian của bản thân, nhìn nó rất đáng thương.

Tôi nói với nó, không cần giữ điểm 4 nữa! Nó không cần phải học mấy trường đại học tốt như vậy, ví dụ như Stanford, Havard hay Yale gì đó đâu. Yale trong tiếng Trung chúng ta chẳng đọc thành "Ya Lu" đấy thôi! (mọi người cười)

[ ND: Ya Lu âm Hán Việt là Á Lỗ - dịch nghĩa ra là Châu Á ngu si ].

Nó chính là muốn đi học mấy trường đại học Yale, Standford, Harvard đó. Tôi bảo không cần phải đi học mấy trường đó, con học trường BCC là tốt rồi. (mọi người cười) BCC là một dạng trường cao đẳng cộng đồng, hình như trường Bellevue của chúng ta cũng là một dạng BCC, trường college (cao đẳng) đó là được rồi, không cần phải học mấy trường tốt đến thế kia.

Thế còn Phật Kỳ con trai tôi, tôi nói với nó thế này. (Sư Tôn quay sang Sư Mẫu hỏi) "Nói ra có vấn đề gì không nhỉ?" Tôi nói, con học hết trung học là được rồi. (mọi người cười)

Tôi muốn đứa con này bình thường thôi, bản thân có kĩ năng gì có thể kiếm sống là được rồi, không cần phải kì vọng quá cao vào nó! Kì thực từ góc nhìn của bản thân Sư Tôn mà nói, đối với con cái nên để cho chúng phát triển tự nhiên, đừng hạn chế, đừng giới hạn chúng, nhưng hi vọng cuộc sống của chúng được vui vẻ, thời gian đi học cũng nên vừa đủ thôi. Tất cả nên bình thường, nên như vậy.

Nói cách khác là tâm tư của cha mẹ nên tương đối bình thản, đừng nên nói rằng kì vọng chúng có thể học tới mức thế này thế kia. Vinh danh tổ tiên, làm rạng danh tổ tiên thời nay không thể nữa rồi! Tôi nói đúng không, thực sự là chuyện không thể, những đứa trẻ lớn lên ở nước Mỹ có tư tưởng riêng của chúng, quan niệm riêng của chúng, tôi không hạn chế chúng.

🌟

**Tùy thuận đối với đệ tử**
Tôi quay lại với chủ đề chúng ta đang nói, tông phái của chúng ta cũng là tự do và dân chủ. Trước nay tôi cũng rất hiếm khi hạn chế đệ tử cần phải như thế nào. Đệ tử muốn làm thế nào thì cứ làm như vậy. Ý của tôi muốn nói với mọi người rằng Mật giáo là một môn học, một mục tiêu, một công cụ tu hành trong cuộc đời bạn, rằng Chân Phật Mật Pháp là một thứ vô cùng vô cùng tốt đẹp. Các bạn đến cầu pháp, Sư Tôn nhất định sẽ dạy, hơn nữa nhất định sẽ cho bạn đại pháp chân chính.

Khi trình độ của bạn đủ rồi Sư Tôn nhất định sẽ dạy bạn tiếp, ở đây chỉ là vấn đề thứ tự cấp độ. Ví dụ bạn đã đạt đến được sự tương ứng ở cấp độ thứ nhất rồi, thế thì tôi chắc chắn sẽ dạy bạn cấp độ thứ hai. Khi bạn đạt đến sự tương ứng của cấp độ thứ hai rồi, tôi chắc chắn sẽ dạy bạn cấp độ thứ ba. Đời người lấy việc tu hành làm điều quan trọng nhất, ý nghĩa của đời người cũng nằm ở đây. Mật pháp tốt như vậy, tôi đương nhiên hy vọng mọi người có thể tiếp nhận, có thể tu hành, hơn nữa cần có sự bền chí.

Giả sử bạn nói bạn có tư tưởng dân chủ của riêng bạn, cũng có tự do riêng của bạn, tôi cũng chẳng bắt buộc gì các bạn. Tôi thuộc về kiểu người tự do và dân chủ. Thêm nữa tông phái chúng ta là phái tự nhiên, là phái tự nhiên chủ nghĩa. Những người theo phái tự nhiên chủ nghĩa thì tùy thuận. Mọi người có thể tu hành đến như thế nào thì cứ như thế đó.

Tuy nhiên, trong pháp mà tôi dạy mọi người, tôi luôn một lòng chân thành. Tôi đối với con cái cũng vậy, cũng một lòng với chúng. Nhưng chúng cũng tự do và dân chủ, thế nên kết luận cuối cùng của tôi là tôi là người theo chủ nghĩa tự nhiên. Các bạn đến nghe pháp là có duyên rồi, còn không nghe pháp thì là không có duyên. Nếu học pháp nghiêm túc thì là có duyên rất tốt, còn học hời hợt chiếu lệ thì cũng là duyên hời hợt qua loa, cũng chẳng có cách nào giúp cả.

Nhưng tôi nhấn mạnh, Chân Phật Mật Pháp là chính pháp, là chân pháp, vô cùng tốt đẹp. Ngày mai tôi sẽ lại giảng tỉ mỉ cách nhập Tam Ma Địa thế nào, tôi cũng sẽ giảng về Hậu hành, trong nghi quỹ có Tiền hành, Chính hành, Hậu hành. Tôi cũng sẽ giảng cho mọi người về pháp khí nữa. Nếu có nhiều thời gian, tôi sẽ giảng cho mọi người cách sử dụng pháp khí như thế nào, ta có chuông kim cương, chày kim cương. Rồi còn cả cái trống da người này nữa, dùng thế nào. [ ND: trống Damaru ]

Trong Mật giáo pháp khí quan trọng nhất chính là chuông kim cương, chày kim cương, chuỗi hạt, ngoài ra còn có trống da người nữa. Đối với hành giả Mật giáo mà nói thì những pháp khí thế như vậy là đủ rồi.
Nhưng hôm nay tôi giảng pháp đến đây thôi. Om mani padme hum.


## 15. Tức thân thành Phật và tiếp dẫn thành Phật


Các vị Thượng sư, các vị đồng tu, chào mọi người.
Hôm nay là buổi thứ tư chúng ta giảng về nghi quỹ tu trì Mật pháp hoàn chỉnh. Trước khi bắt đầu thuyết pháp, tôi sẽ giảng cho mọi người một chút về thế nào là tiếp dẫn thành Phật, thế nào là tức thân thành Phật.

Đã từng có một đại pháp sư trong lúc thuyết pháp được rất nhiều người hỏi rằng có chuyện tức thân thành Phật không? Thế là vị đại pháp sư này liền nói: "Căn bản là không có chuyện tức thân thành Phật. Cái chuyện gọi là tức thân thành Phật ấy à, đại bộ phận đều là lừa người ta cả."

Ông ý nói ra như vậy đó! Không hề dùng não để mà suy nghĩ một chút. Khi ông ý nói câu này ra cũng tương đương việc chửi Phật Thích Ca Mâu Ni rồi, bởi vì bản thân Phật Thích Ca Mâu Ni chính là tức thân thành Phật. Mọi người nói xem có đúng không? Phật Thích Ca Mâu Ni tại thế giới Ta Bà này, ở dưới gốc cây bồ đề, buổi đêm nhìn sao sáng, khai ngộ thành Phật. Phật Thích Ca Mâu Ni chính là như vậy.

Thế mà vị đại pháp sư này nói rằng: "Làm gì có chuyện tức thân thành Phật, tức thân thành Phật là lừa gạt người ta." Như vậy chẳng phải là nói rằng không có chuyện Phật Thích Ca Mâu Ni thành Phật sao, chuyện ngài ở thế giới Ta Bà thành Phật là lừa người ta sao?

Lại cũng có người nghĩ như sau, Phật Thích Ca Mâu Ni đương nhiên có thể tức thân thành Phật vì Phật Thích Ca Mâu Ni có căn khí rất lớn. Ngài đã tu hành rất nhiều kiếp rồi, nhất định có thể thành Phật được, chỉ có một mình ngài là có thể thôi, còn chúng ta thì không thể. Rất nhiều người nói, Phật Thích Ca Mâu Ni thành Phật thì hiển nhiên, chẳng có vấn đề gì.

Điều mà đại pháp sư kia nói chính là tất cả tỉ tỉ chúng sinh đều không thể tức thân thành Phật. Kì thực Phật Thích Ca Mâu Ni cũng là từ con người mà tu thành Phật. Ngài đã có căn cơ tu hành từ rất nhiều kiếp rồi, thế nên chắc chắn vào một kiếp ở thế giới Ta Bà ngài sẽ tu trì thành được Phật. Đây là điểm khác nhau giữa tức thân thành Phật và tiếp dẫn thành Phật.

Tôi giảng cho mọi người một chút nhé.
Liệu có người nào khác thành tựu giống như vậy không, nghĩa là trực tiếp từ thế giới Ta Bà, giống như Phật Thích Ca Mâu Ni mà tu trở thành Phật không. Có đó!

Ví dụ như Long Thọ Bồ Tát, Mã Minh Bồ Tát, rất rất nhiều Bồ Tát đều là từ thế giới Ta Bà này thành Phật cả. Chưa kể việc tức thân thành Phật không nhất thiết chỉ nói đến việc thành Phật ở thế giới Ta Bà. Ví dụ như Phật A Đạt Nhĩ Mã, chính là Phật Nguyên Thủy, ngài ở cõi trời Vô sắc giới, ở cõi trời Hư không phi tưởng phi phi tưởng mà tu thành Phật, ngài ấy chính là tức thân thành Phật.

Ngoài ra, Đại Nhật Như Lai, Phật Tì Lư Giá Na, ngài ở cõi trời Ma Ê Thủ La Thiên của cõi trời Vô sắc mà tức thân thành Phật. Ngoài ra còn những vị giống như Phật Thích Ca Mâu Ni ở thế giới Ta Bà tức thân thành Phật, nãy giờ chúng ta kể đến thì cũng đã có vài vị rồi, có vài vị Phật đều là tức thân thành Phật.

Mật giáo chúng ta nói về tức thân thành Phật, còn Hiển giáo thông thường nói về tiếp dẫn thành Phật, giữa hai điều này rốt cục sự khác biệt nằm ở đâu?

Tiếp dẫn thành Phật của Hiển giáo, khẩu quyết chính là ở bốn chữ: Nhất tâm bất loạn. Trong kinh A Di Đà đã ghi chép, bạn chỉ cần niệm Phật liên tục bảy ngày, nhất tâm bất loạn, Phật A Di Đà hiện lên trước mặt sẽ tiếp dẫn bạn thành Phật.

Pháp Bảy ngày thành Phật của Mật giáo cũng thế. Bạn thường xuyên quán tưởng bản thân mình là một chữ Hum (tiếng Phạn), Phật là chữ Ah, liên tục bảy ngày, chữ Ah này hạ xuống, dùng cái móc của chữ Ah móc vào cái khuyên của chữ Hum, móc nó bay lên trời. Đây chính là Bảy ngày thành Phật của Mật giáo.

Nhưng bất kể là bạn tập bảy ngày thành Phật của Hiển giáo hay bảy ngày thành Phật của Mật giáo thì cũng đều là tiếp dẫn thành Phật.

Hôm qua tôi có kể đến một Phật tử, ông vừa nhắm mắt qua đời là có thể nhìn thấy Phật A Di Đà xuất hiện ở trước mặt. Chỉ cần công phu của bạn đủ, bình thường bạn luyện tập có "chất", luôn niệm mà không quên Di Đà thì cho dù trì chú hay niệm Phật, đúng thời điểm lúc bạn nhắm mắt xuôi tay, Phật A Di Đà sẽ hiển hiện trước mặt bạn, chắc chắn sẽ tiếp dẫn bạn thành Phật.

Với việc niệm Phật trong Hiển giáo, nếu tập sâu hơn một chút - có thêm quán tưởng niệm Phật thì chắc chắn có thể thành Phật, có thể được tiếp dẫn đến Tây phương cực lạc thế giới.

Hiện nay người tu hành thông thường đều là được tiếp dẫn thành Phật. Đối với tiếp dẫn thành Phật thì cần dựa vào tự lực và tha lực. Tha lực chính là Phật lực. Bản thân Phật A Di Đà đã phát nguyện, chỉ cần bạn niệm Phật liên tục bảy ngày nhất tâm bất loạn, ngài sẽ đến để tiếp dẫn bạn đến Tây Phương Cực Lạc Thế Giới. Ngài phát ra lời nguyện này, còn bạn lại có tự lực của chính mình.

Vậy tự lực là gì? Đó chính là bạn niệm Phật, niệm đến khi bản thân nhất tâm bất loạn.

Vào lúc lâm chung, đúng thời khắc đó, nếu bạn một lòng muốn đến Tây Phương Cực Lạc Thế Giới, một lòng muốn được Phật A Di Đà đến tiếp dẫn bạn, bạn trì Phật hiệu không ngừng dứt, lúc này ngài sẽ đến tiếp dẫn bạn. Đây chính là tự lực của bạn, là tâm lực của bạn mong ngóng về Tây Phương Cực Lạc Thế Giới, cùng tương ứng với đại nguyện mà Phật A Di Đà đã đưa ra. Đây chính là sự tiếp dẫn thành Phật, cũng chính là tự lực cùng tha lực phối hợp với nhau để thành Phật, bởi vậy gọi là tiếp dẫn thành Phật.


🌟


Vậy vì sao còn có tức thân thành Phật đây? Tức thân thành Phật nghĩa là không dựa vào tha lực mà chỉ hoàn toàn dựa vào bản thân mình để tu hành. Đó là bản thân bạn khi còn tại thế, bạn đã khai ngộ, đã đạt được trí huệ vô thượng của Phật. Bạn đã hoàn thành việc chuyển ý thức của mình thành trí huệ, chuyển nghiệp của mình thành thanh tịnh, chuyển từ tam Nghiệp chuyển thành tam Mật, cũng chính là thân - khẩu - ý đó!

Nghiệp của thân - khẩu - ý chuyển thành Mật của thân - khẩu - ý, nói cách khác chính là thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh của Đại Nhật Như Lai. Bạn đã đạt được bí mật của Như Lai rồi, lại có thêm việc bạn chuyển ý thức của mình thành Ngũ đại trí huệ - năm trí tuệ vĩ đại của Phật. Chuyển được như vậy rồi thì là bạn đã tức thân thành Phật. Việc này chính là tức thân thành Phật.

Tôi nhắc lại, tam Nghiệp chuyển thành tam Mật, từ ý thức của con người chuyển thành Ngũ đại trí huệ của Phật, chuyển được như vậy xong thì gọi là tức thân thành Phật. Mật giáo khi đạt tới cảnh giới cao nhất, khi bạn hoàn toàn biến mình thành Phật tính thì chính là tức thân thành Phật. Lúc đó không cần Phật A Di Đà đến tiếp dẫn bạn nữa, tự bản thân bạn chính là tự tính Phật. Lúc đó pháp thân Phật, pháp thân - báo thân - ứng thân, tam thân Phật trên "người" bạn đều hiển hiện ra. Do vậy việc tu hành Mật giáo vô cùng vĩ đại. Điểm khác biệt trong bản thân Mật giáo là có thể tức thân thành Phật, có thể tu trì thành tựu. Thế nên tiếp dẫn thành Phật và tức thân thành Phật đều giống nhau ở chỗ là tuy cùng rất vĩ đại, nhưng các cấp độ của chúng lại có những chỗ không giống nhau.

🌟

**Cơ sở của việc tiếp dẫn thành Phật**
Với con người sống trên thế gian, việc tu hành trên con đường thế gian này là trân quý nhất và quan trọng nhất. Thế nên tôi hi vọng mọi người có thể hiểu rõ thế nào là tiếp dẫn thành Phật, thế nào là tức thân thành Phật. Trong số các đệ tử của chúng ta có rất nhiều người nói rằng việc tức thân thành Phật thực sự khó quá, "chúng con chỉ cần tiếp dẫn thành Phật là được rồi". Như vậy cũng có thể được. Nhưng cho dù bạn chỉ cần được tiếp dẫn thành Phật thì bạn vẫn cần tu tập đến khi hoàn thành tốt Ngoại pháp của Chân Phật Mật Pháp và cần tương ứng được với bổn tôn. Lúc đó tôi bảo đảm bạn cũng có thể được tiếp dẫn thành Phật.

Bạn có thể chỉ cần tương ứng được với pháp bổn tôn thôi là được rồi. Bạn nói rằng các nội pháp khác như khí - mạch - minh điểm bạn không muốn tu, khó quá, rằng "tôi cũng không muốn tu mật pháp gì hết nữa." Ví dụ như Vô thượng mật, cái này cũng quá khó. Bạn có thể sẽ nghĩ "tôi cũng không muốn tu Đại viên mãn, cũng không muốn tu nội pháp, không cần đả thông nội - ngoại, tôi không muốn tu Đại viên mãn, tất cả viên mãn tôi cũng không muốn, tôi chỉ cần tiếp dẫn thành Phật, nhẹ nhàng là được rồi. Phật đến đưa tôi đi, tôi không cần tự mình đi, thế là được rồi." Tuy nhiên trong Mật giáo, chỉ cần bạn tu pháp bổn tôn có được sự tương ứng, hay tối thiểu là tương ứng được Tứ quy y là đã có cơ sở để được tiếp dẫn thành Phật rồi.

Còn riêng trường hợp nếu hoàn thành được Thượng sư tương ứng pháp, giả sử Sư Tôn không đến đưa các bạn đi, thì có nghĩa là Sư Tôn đi vacation  [ ND: nghỉ dưỡng ] rồi. (mọi người cười) Sẽ không như vậy đâu, bởi vì Liên Hoa Đồng Tử cũng có pháp thân. Ngài có pháp thân, ngài biết bạn sắp rời bỏ cõi thế. Vì bạn đã tương ứng được với Thượng sư rồi thì pháp thân của ngài nhất định đến tiếp dẫn bạn. Thế nên dù Sư Tôn có đi vacation thì pháp thân của ngài vẫn luôn đến để tiếp dẫn bạn. Chắc chắn sẽ có Liên Hoa Đồng Tử đến đưa bạn đi cùng, dẫn bạn đến Ma Ha Song Liên Trì.

Khi bạn đã tương ứng được với Thượng sư tương ứng pháp thì tôi bảo đảm bạn có thể đến được Ma Ha Song Liên Trì. Bạn đã tương ứng được pháp bổn tôn rồi thì có thể bảo đảm bổn tôn sẽ đến tiếp dẫn bạn đến Tây Phương Cực Lạc Thế Giới, hoặc đến cõi tịnh độ của bổn tôn đó.

Việc này chính là nếu có tương ứng sẽ có bảo đảm, nếu không tương ứng sẽ không có bảo đảm. Bạn tương ứng được rồi, nói cách khác là do bạn thường xuyên trì chú của ngài, một khi bạn nhắm mắt lâm chung, ngài sẽ hiện ra trước mắt bạn. Việc này chắc chắn là nhờ sự tương ứng. Bởi vậy để được tiếp dẫn thành Phật, bạn nhất định phải tu được tương ứng pháp bổn tôn, có thể đến được cõi tịnh độ của bổn tôn. Trường hợp nếu bạn tu được tương ứng Thượng sư tương ứng pháp cũng có thể đến được Ma Ha Song Liên Trì. Ở mức độ cơ bản nhất nếu bạn đã tương ứng được pháp Tứ quy y thôi là bạn đã có cơ sở để được bổn tôn và Phật tiếp dẫn thành Phật.

Do vậy trong việc tu hành Chân Phật Mật Pháp của chúng ta, bạn cần tương ứng được pháp Tứ quy y, tương ứng pháp Thượng sư, rồi lại cần tương ứng pháp bổn tôn. Tại mức độ này là bạn có thể bảo đảm trình độ của mình cũng ngang bằng với trình độ tiếp dẫn thành Phật của Hiển giáo, hơn nữa lại còn có được sự bảo đảm chắc chắn! Tuy nhiên tôi còn có thể đảm bảo cho bạn, cấp độ "tương đương" này của bạn thậm chí đã vượt qua cả trình độ của Hiển giáo, bởi vì chúng ta còn có nhập Tam Ma Địa nữa!

🌟

**Quy không pháp**
Hôm nay tôi muốn giảng về nhập Tam Ma Địa.
Nhập Tam Ma Địa chính là nhập định (samadhi), là định giới. Nói đến pháp môn tịnh độ, họ đương nhiên cũng có giảng về thiền định, tuy tương đối ít. Họ chủ yếu giảng về niệm Phật để cầu vãng sinh tịnh độ, và chỉ có vài chữ này thôi - nhất tâm bất loạn. Kì thực "nhất tâm bất loạn" chính là định! Nhất tâm bất loạn chính là thiền định.

Trong Mật giáo bình thường bạn đã học về công phu thiền định. Một khi công phu thiền định đủ, khi bạn tới được trình độ thiền đủ tốt, sẽ có công lực thiền định sâu. Việc chuyển tam Nghiệp thành tam Mật, chuyển ý thức thành trí huệ, (chính là tức thân thành Phật) cũng chính là bắt nguồn từ năng lực thiền định mà có.

Đối với việc tiếp dẫn thành Phật và tức thân thành Phật tôi cần phải giảng như vậy cho mọi người hiểu rõ. Khi bạn tức thân thành Phật, nhận thức lúc này của bạn và nhận thức của con người thế gian sẽ không giống nhau, tuyệt đối khác biệt.

Nhận thức một hành giả đã khai ngộ và nhận thức của con người thế gian tuyệt đối không giống nhau. Hành giả khai ngộ chắc chắn là siêu việt hơn rất nhiều. Lúc này bạn đã ở vào cảnh giới vô cùng vô cùng cao, bạn đã bay lên rất rất cao rồi. Khi đó bạn nhìn thế gian này chỉ như một hạt cát bụi mà thôi, một hạt cát, một hạt bụi. 


Thế con người khi thành Phật là như thế nào?
Có người so sánh như sau: Việc này giống như một hạt cát trở về với một ngọn núi, giống như một giọt nước chảy về biển lớn. Sự so sánh này không hẳn là đúng lắm nhưng cũng là một cách so sánh tương đối dễ hiểu. Một hạt cát trở về nơi một ngọn núi, một giọt nước chảy về biển lớn, thành Phật chỉ là như vậy mà thôi.

Trước đây đệ tử của Norras Thượng sư từng yêu cầu sư phụ dạy về một đại pháp có thể thành tựu dễ nhất và nhanh nhất, nói cách khác là pháp này lập tức có thể thành Phật được.  Đệ tử đó cầm lên một con dao, chính là muốn đe dọa sư phụ của anh. Anh ta nói: "Thầy không cần phải giảng nhiều như vậy, hôm nay thầy chỉ cần giảng cho con nghe về bộ pháp có thể thành Phật rất nhanh là được rồi." Anh ta muốn Thượng sư Norras nói ra ngay lập tức, Thượng sư Norras bị ép buộc, không còn cách nào khác đành phải nói với đệ tử rằng: "Anh hít một hơi thật sâu, hít một hơi thật là sâu, chính là hít vào một hơi thật dài, sau đó lại thở ra một hơi, tâm của anh cũng theo hơi thở này đi ra luôn, vậy là anh có thể thành Phật."

Ô! Thật là đơn giản quá! Ngài nói rằng hít vào một hơi thật sâu, rồi lại thở ra một hơi, đem cả tâm theo hơi khí này thở ra ngoài luôn, thế là bạn có thể thành Phật rồi. Nói thì rất đơn giản, nhưng làm thì rất khó. Phương pháp này chúng ta gọi là Quy không pháp. Quy không, nghĩa là trở về với hư không. Ai có thể đem tâm mình cùng lúc đi ra cùng với hơi thở ra đây? Trên thực tế, nếu có thể đem tâm của bạn cùng với hơi thở này thở ra ngoài được thì bạn thực sự chính là thành Phật rồi đó!

Bạn thử nghĩ mà xem, Mật pháp "Trung ấm cứu độ" toàn bộ đều nằm ở sự tập trung đưa tâm thức hay "tâm" đi ra từ đỉnh đầu mà thôi, tâm chính là Phật mà! Vị Phật ở trong bạn rời xa chính bạn. Bản thân vị Phật này từ trong hơi thở đi ra, rồi từ đỉnh đầu đi ra, chẳng phải là bạn thành Phật rồi sao? Điều đáng sợ nhất chính là không đi ra được, không có đường nào để đi ra. Thậm chí có khi e là Phật tính của bạn còn không muốn đi ra, không muốn rời bỏ thế giới Ta Bà, không muốn rời khỏi cơ thể phàm trần này của bạn. Đó mới là cái khổ, đó mới là sự giày vò. Do đó nếu bạn có thể bỏ đi toàn bộ thân thể mình, có thể "đẩy" Phật tính của mình đi ra cùng hơi thở, có thể đem Phật tính gửi tới vũ trụ thì bạn thực sự trở thành Phật được rồi.

Thượng sư Norras nói rất có lý, nhưng có thể đưa được chính mình ra ngoài thì thực sự cần phải có công phu.
27/11/1992


## 16. Nhập Tam ma địa (sadmadhi)


Tốt rồi! Bây giờ chúng ta sẽ giảng chi tiết về pháp nhập Tam ma địa như thế nào. Trong sách và trong các bài thực hành pháp trước đây tôi đã từng nhắc đến rằng muốn nhập Tam ma địa, trước tiên cần thực hiện Cửu tiết Phật phong, cần tập Nội hỏa Minh điểm. Tôi thường nhắc đến Cửu tiết Phật phong và Nội hỏa Minh điểm.

Tuy nhiên kì thực bạn chỉ cần tập Cửu tiết Phật phong là cũng được rồi. Nội hỏa Minh điểm cần để tới sau này mới tập, nói cách khác là đến khi bạn tu nội pháp thì mới tập. Trong trường hợp bạn đã có công lực về Nội hỏa Minh điểm rồi thì trong lúc tu trì nghi quỹ này bạn cũng có thể thực hiện luôn.

Còn giả sử bạn chưa có Nội hỏa, không những chưa có Nội hỏa mà chỉ có Nội băng, không có hỏa chỉ có băng, lạnh muốn chết, cơ bản là không "thắp lửa" lên được. Thì trong lúc tu pháp đến bài tập Nội hỏa Minh điểm mà bạn vẫn cứ ngồi tập, kết quả sẽ chỉ là toàn thân trở lạnh mà thôi. Như thế thì thực hành này hoàn toàn vô ích. Bởi vậy có thể đợi đến khi thực hành nội pháp mới tu Nội hỏa Minh điểm. Giờ chúng ta cần thực hiện Cửu tiết Phật phong trước.

🌟

**Trong Định sinh trí huệ**
Vậy thì Tam ma địa là gì? Tam ma địa chính là Định, chính là chữ định trong thiền định. Chữ Định này vô cùng vô cùng quan trọng. Trong Phật học có Tam vô lâu học. Tam vô lậu học chính là giới - định - huệ. Lại là chữ Định này! Giới "có mặt" ở đây cũng vì Định.

Vì sao bạn cần giữ giới? Giữ giới chính là giúp cho có được Định. Vì sao bạn cần khổ hạnh? Khổ hạnh cũng vì để có được Định.
Vì sao bạn cần tu hành đại lạc? Tu hành đại lạc cũng là vì Định. Có rất nhiều phương pháp, cực kì nhiều phương pháp đều là nhằm đạt được một chữ Định này.

Theo đó từ Định mới sinh ra trí huệ vô thượng, mới sinh ra Phật trí - trí huệ Phật. Nếu không có Định thì không thể mong cầu có trí huệ. Rất nhiều người nói rằng về cơ bản tôi không cần phải tu Định, chẳng cần phải thiền định, tôi nhất tâm bất loạn! A, nói thế này thì anh ta là "nhất tâm rất loạn" chứ không phải là "nhất tâm bất loạn". Khi bạn còn loạn thì có thể sản sinh ra trí huệ không?

Một người vào lúc hỗn loạn hoang mang căng thẳng, có thể nói rằng trí huệ đã phân tán rồi, trí huệ của anh ta đã lung tung rồi. Từ đó làm ra rất nhiều sự việc không hợp lý, không hợp tình, không hợp pháp, nói cách khác là những sự vụ bạn gây ra chính là lúc bạn mất đi trí huệ.

Vì sao bạn có thể mất đi trí huệ? Bởi vì bạn vừa căng thẳng vừa hoang mang. Tóm lại, đều là vì bạn lo lắng, chính vào lúc bạn không có nặng lực Định, bạn sẽ chạy lồng lộn lên. Một người có Định thì làm việc gì anh ta cũng đều sản sinh ra trí huệ vô thượng trong Định. Anh ta dựa vào Định để giải quyết mọi vấn đề. Tất cả sẽ không còn là vấn đề gì nữa. Còn không có Định thì chẳng thể sản sinh ra trí huệ. Ngũ đại trí huệ của Phật toàn bộ đều sản sinh ra từ trong Định. Giữ giới cũng chính là vì để có được Định.

Do vậy những người xuất gia tu hành khổ hạnh ở vùng núi Himalayas, những người xuất gia tu hành ở Ấn Độ, ở Tây Tạng chọn sống ở những nơi núi cao hẻo lánh sống khổ hạnh hoàn toàn là vì chữ Định này.

🌟

**Giữ giới và sự ràng buộc giới**
Trong Phật pháp mà nói, chỉ cần bạn có được Định thì không bị ràng buộc vào việc giữ giới nữa. Giữ giới là để có được Định, một khi bạn đã biết được Định rồi, bạn thực sự nắm được Định rồi, thì cũng không hẳn nói là có thể được phá giới. Điều tôi muốn nói là không bị ràng buộc vào giới, bạn không bị giới luật hạn chế bạn nữa, điều này ở mức độ rất cao thâm.

Đừng vì bây giờ tôi đang nói với các bạn như vậy, thế là các bạn cũng đều không còn giữ giới nữa, lấy lý do là vì Sư Tôn đã nói rồi đó, không bị ràng buộc bởi giới nữa, không bị giới cản trở nữa.

Nếu nói sự không bị ràng buộc giới chính là không cần giữ giới thì không phải giữ giới là có thể làm loạn rồi. Nếu như bạn làm loạn, cần phải biết rằng khi loạn thì bạn sẽ không còn Định nữa, bạn sẽ mất đi năng lực Định này. Năng lực Định một khi mất đi, trí huệ sẽ không phát triển, không bộc lộ được huệ nữa. Như vậy nếu bạn không giữ giới nữa là sai rồi, thực sự là sai đó.

Điều tôi nói là, nếu bạn là người có được Định, thì không còn bị ràng buộc bởi giới, không còn bị giới luật hạn chế bạn. Nếu như bạn chưa có được Định, bạn cần giữ giới, việc này thực sự rất rõ ràng. Bạn có thể Định được thì không cần bị ràng buộc vào giới, bạn không có Định thì chắc chắn cần giữ giới. Đạo lý này rất sâu sắc.

Trước đây tôi có đi hát Karaoke, đi khiêu vũ nhảy tango, uống rượu. Các đệ tử nói uống rượu ấy à, sao có thể làm thế, Sư Tôn làm sao có thể làm như vậy được? Chúng ta nhìn thấy chẳng vừa mắt tí nào! Chúng ta cần phải viết lời nhắn cho Sư Tôn, bảo ngài không thể làm như vậy. Bạn muốn quản tôi đấy à? (mọi người cười) Rất nhiều đệ tử đều muốn quản việc của Sư Tôn. Làm Sư Tôn mà như vậy là không được! (mọi người cười) Có lẽ tôi nên làm đệ tử thôi. Nếu tôi làm đệ tử, giả dụ sư phụ của tôi làm sai, tôi cũng viết lời nhắn gửi cho sư phụ. Còn nếu tôi làm sai, sư phụ lại không quản được tôi.

Bạn uống rượu có say xỉn làm loạn lên không? Tôi uống rượu không có say, không làm loạn bao giờ! Rất nhiều người uống rượu đều nói là bản thân mình không say. (mọi người cười) Nhưng tôi thì thực sự là không say đâu! Tôi thực sự không hề bị say rượu! Đây là điểm thứ nhất, tôi không bị say, thực sự là không bị say. Bạn có thể uống rượu, nhưng khi bạn uống rượu xong thì cũng không giữ được giới luôn, bởi vậy bạn không được phép uống rượu. Tôi uống rượu xong tôi vẫn giữ được giới, bởi vậy có thể uống rượu!

Trước đây khi tôi còn trẻ tôi đi khiêu vũ ở phòng khiêu vũ Tuyết Lệ nằm dưới nhà hàng Hậu Đô, bên bờ sông Tình Yêu ở thành phố Cao Hùng. Bây giờ nó đã chuyển đi rồi, chuyển tới quận Linh Nhã, khu Linh Tử Liêu. Thời điểm tôi đến phòng khiêu vũ Tuyết Lệ, tôi còn rất trẻ, mới hai mươi mấy tuổi. Lúc đó tôi đi khiêu vũ cảm thấy rất mê đắm, rất cuốn hút. Bởi sự mê đắm đó mà thậm chí hôm qua tôi đi rồi, hôm nay không đi, nhưng tôi lại cứ chờ đợi xem có ai hẹn mình đi không nhỉ.

Hầy! Thế rồi trong lúc khiêu vũ, bạn biết mấy cô vũ nữ đó rồi đấy, các cô mặc sườn xám đều bộc lộ các đường cong tuyệt mĩ. Hơn nữa từ trên cơ thể các cô đều tỏa ra hương thơm quyến rũ bởi nước hoa và phấn son, tiếng Đài Loan gọi là "mùi phấn" rất nặng.

Sau khi mũi bạn ngửi được những mùi này rồi, mắt bạn nhìn thấy những hình ảnh này rồi, thêm việc bạn có thể chạm vào nữa, có những cái đụng chạm, những cái chạm của tay, của thân thể, lại còn có cả kiểu nhảy "ba dính" nữa! (mọi người cười) [ ND: nhảy ba dính: dính liền ba bộ phận mặt, bụng, chân ]. Thế là sau khi về nhà rồi, bạn có biết sẽ thế nào không?

Khiêu vũ ở Đài Loan luôn bắt đầu bằng một điệu nhanh, một điệu disco hoặc điệu gitobuc, nhịp điệu rất nhanh. Ở phần giữa là một điệu tango, điệu thứ ba là điệu chậm rãi ví dụ như blues. Lúc nhảy chậm rãi, người ta sẽ tắt hết đèn (mọi người cười). Lúc đó đèn điện tắt hết rất tối tăm. Có khi bạn chẳng dựa vào cô ta, cô ta cũng cứ dựa vào bạn. (mọi người cười)

Đúng vậy không? Cứ một điệu nhanh, một điệu tango, rồi một điệu chậm trong ánh đèn mờ ảo, tối om. Lúc đó đều là dựa vào nhau rồi sờ soạng, dựa vào và sờ soạng, không có cách nào khác! Bởi vì bạn chẳng nhìn thấy gì cả. Bạn không nhìn thấy gì nên chỉ có sờ soạng thôi.

Thế rồi đến khi bạn về nhà, tâm bạn chẳng thể nào yên ổn được, sẽ bị mê đắm, sẽ nghĩ ngợi, sẽ nghĩ mãi về nó, lúc này chính là lúc bạn đánh mất giới, bạn đã mất đi sự tỉnh táo rồi. Rất dễ, thực sự rất dễ đánh mất giới đó! Bạn chẳng còn giới luật gì nữa.
Do đó Phật pháp dạy bạn không được đi đến những nơi tửu sắc, vũ trường, phòng trà, nguyên nhân chủ yếu chính là vì e sợ rằng bạn sẽ phá giới.

Tuy nhiên giả sử bạn có thể đi đến những chỗ đó mà bạn vẫn rất tự tại, vào lúc đó bạn chỉ giống như đang exercise [ ND: vận động ]. Đó chỉ là một kiểu vận động thôi, vận động xong trở về nhà, nằm xuống giường một cái là bạn lập tức ngủ ngon lành an tịnh, chẳng còn gì lưu lại trong tâm trí bạn nữa. Bạn chẳng mê đắm, chẳng yêu thích, vậy là bạn vẫn giữ được giới.

Bạn đi nghe nhạc, bạn đi hát karaoke, khi trở về bạn hoàn toàn không còn chút gì mê đắm vào những âm nhạc đó, hoặc là những âm thanh ca từ đó không còn luẩn quẩn trong đầu bạn mãi không rời đi, như vậy cũng có thể nói là bạn vẫn còn giữ được giới. Nói cách khác là bạn không mê đắm vào bài hát, cũng không mê mấy cô gái xinh đẹp đó, bạn ở trong vũ trường không mê đắm vào sắc đẹp, trong phòng trà không mê đắm vào âm nhạc, vậy thì bạn có thể đi. Nếu bạn có thể điều tiết những thứ trong cuộc sống của bạn một cách thích hợp, một cách vừa phải mà không bị mê đắm vào chúng thì đều có thể được.

Nhưng cũng có người hỏi tôi: Sư Tôn à, nếu ngài không bị say đắm vào âm nhạc, vào ca hát, không đắm đuối vào những điệu nhảy, nói tóm lại là không bị mê đắm, thế vì sao ngài còn đi? Ý, họ nói cũng có lý, vì sao còn muốn đến những chỗ đó nhỉ? Người hỏi như vậy rất có lý, bởi vậy bây giờ tôi cũng không đi nữa rồi. (mọi người cười)

Kì thực, có thể đi, có thể không đi. Tôi nói câu "có thể đi, có thể không đi" có nghĩa là tự do, gặp những dịp như vậy bạn có thể đi, có thể không đi, bạn giữ giới không bị ràng buộc bởi giới bởi vì bạn đã có được Định.

Khi còn trẻ thì tôi chẳng thể làm được. Tôi nói rằng khi đó tôi mới chỉ có hai mươi mấy tuổi, tôi từng mê đắm một quãng thời gian, đây là những lời nói rất thật lòng! Nhưng chúng đều là quá khứ rồi, không phải là hiện tại bây giờ, có đúng vậy không?

Thế còn bây giờ thì sao? Tôi còn mê đắm không? Làm gì còn nữa. Kể cả những thứ cực kì mê hoặc ở trước mặt tôi, nói thật nhé, cũng chẳng có tác dụng gì hết. Tôi nói thế có thể các bạn chẳng tin đâu. (cười)

Thực tế là sao? Khi định lực đã đủ rồi, định lực chân chính đã đủ, bạn sẽ tu được Vô thượng mật. Trong Mật giáo có định lực, khi bạn thực sự đã tu đạt được định lực rồi, bạn có thể tu Vô thượng mật. Còn nếu định lực của bạn không đủ, tôi nói cho bạn biết, bạn sẽ sinh baby [ ND: em bé ] đó. Đó là bởi vì định lực không đủ.

[ ND: Sư Tôn đang nói về pháp tu Vô thượng mật - pháp tu đôi cùng phối ngẫu. ]

Mật giáo ở mức độ cao nhất có một cảnh giới mà người có đủ Định sẽ tu được tới. Cảnh giới đó nhìn chung mà nói, đối với người vẫn chưa đạt đến được cảnh giới đó trong Mật giáo thì không thể nói được. Không thể nói ra bởi vì nói ra thì thành là phạm giới. Nhưng với hành giả thực sự đến được cảnh giới đó thì anh ta vẫn sẽ giữ giới, đến giai đoạn đó sẽ vẫn còn giữ giới, vẫn còn giữ giới nhưng lại không bị ràng buộc bởi giới. Cảnh giới này hoàn toàn khác với tình huống thông thường, hoàn toàn không tương đồng với những tập tục, hoàn cảnh, pháp luật trên thế gian. Thế mà anh ta vẫn giữ giới đó! Anh ta vẫn giữ giới, đừng cho rằng anh ta không giữ giới, kì thực anh ta vẫn giữ giới.

Từ giới mà sản sinh ra Định, bởi vì bạn có Định rồi, bạn sẽ có thể giữ được mọi giới, rất đơn giản. Bạn đã có Định rồi thì cũng tương đương với việc bạn giữ được mọi giới. Công lực này thực sự phi phàm.

🌟

**Tam ma địa chính là Định**
Tam ma địa là gì? Tam ma địa chính là Định. Phật đến từ đâu? Làm sao để thành tựu? Từ trong Định mà thành tựu. Rất nhiều người nói tôi đã có Định rồi, tôi có thể không giữ giới nữa, muốn thử một lần cho biết. Bản thân bạn muốn chạm vào lương tâm mình, thử xem thế nào, muốn thử. Bạn thực sự có Định không? Có thể Định được không? 

Bạn có thể tạo ra khí chạy khắp toàn thân, ngoài khí có lửa, ngoài lửa có ánh sáng. Bạn có thể đạt được như vậy chưa? Khi bạn có đủ Định thì sẽ sản sinh ra những điều này. Ở trong Định bạn sẽ có được định lực này, sức mạnh này sản sinh ra thì sẽ có thân ngoài hóa thân, rất đơn giản. Do đó bạn không thể dối mình dối người. Bạn có thể lừa rất nhiều người khi nói rằng "Tôi đã đạt đến Tam ma địa rồi, đã đạt đến Định giới rồi." Bạn có thể nói thế, chẳng có vấn đề gì cả. Nhưng bạn cần đối diện với lương tâm mình, lương tri mình, có thực sự là bạn đã có Định không? Việc này chỉ có chính bạn biết thôi.

Bạn có bị rò rỉ hay không bị rò rỉ? Bạn bây giờ có rò rỉ hay không có rò rỉ đây? Rò rỉ có hai dạng là rò rỉ vật chất minh điểm và rò rỉ trí huệ phiền não, bạn có còn phiền não không? Bởi vì bạn đã định rồi thì làm sao còn phiền não đây? Bạn đã định trong Tam ma địa rồi, lúc nào cũng ở trong Tam ma địa, làm sao còn có thể rò rỉ đây? Vẫn còn rò rỉ thì vẫn chưa đạt đến được định giới của Tam ma địa.

Thỉnh thoảng có định à! Các bạn nói là "có lúc tôi có định, có lúc tôi không có định!" (cười)
Ban ngày bạn có định, ban đêm không có định à, có đúng không? (cười) "Có khi buổi tối tôi cũng có định đó, chỉ là thỉnh thoảng một tháng đến một lần thôi!"

Thế là bạn vẫn còn rò rỉ rồi! Đây không được coi là định. Đây chỉ là Tam ma địa ở cấp độ sơ khởi xuất hiện ngẫu nhiên. Tam ma địa có cái gọi là Sơ trụ, có cái gọi là Tế trụ, còn có cái sâu nhất gọi là Tối tế trụ, lại còn có Kiên cố vô quá tam ma địa. Thế nào gọi là Kiên cố vô quá tam ma địa? Đó là trong lúc bạn nhập định thì vô cùng kiên cố, rất vững chắc, không thể bị phá hủy, không thể bị hủy hoại. Vô quá là không có lỗi, nói cách khác chính là không còn bị rò rỉ mất. Phiền não của bạn không rò rỉ, trí huệ của bạn không rò rỉ, vật chất minh điểm của bạn không rò rỉ, tinh thần của bạn không rò rỉ, như vậy được gọi là không lỗi. Bạn có thể đạt được Tam ma địa ở mức độ Kiên cố vô quá thì mới được xem là đại định chân chính.

🌟

**Thủ ấn nhập Tam ma địa**
Tam ma địa chính là Định. Chúng ta tu Tam ma địa ra sao, tôi dựa vào chính kinh nghiệm của mỉnh để giảng với mọi người ngày hôm nay. Trước khi bắt đầu thiền định, chúng ta đã trì chú rồi. Sau khi trì chú thì tiếp theo là nhập Tam ma địa. Chúng ta kết thủ ấn, chính là thủ ấn này đặt ở hai bên đầu gối. (Sư Tôn thị phạm kết thủ ấn.)

Có người mở rộng ra như thế này, ngồi kiết già hoặc bán già, hoặc ngồi tùy ý, tay thì vươn ra. Đây là tư thế của vũ trụ, chính là tư thế viên mãn của toàn bộ vũ trụ. Chúng ta cũng có thể kết thủ ấn là tay trái đặt ở trên, tay phải đặt ở dưới, hoặc tay phải ở trên tay trái ở dưới, thực tế cả hai cách đều được.

Thủ ấn này tương đương với mối liên quan giữa nước và lửa, tư thế này tượng trưng cho toàn bộ thân tâm thả lỏng dung hợp cùng vũ trụ, toàn bộ vũ trụ hoàn toàn bao trùm bản thân ta.

Có người kết thủ ấn như thế này (Sư Tôn thị phạm), nhưng cũng có thủ ấn thế này (Sư Tôn thị phạm). Được, đều được cả. Thế còn lưỡi chạm vào hàm trên, việc lưỡi chạm vào hàm trên cũng có ý nghĩa ở trong đó. Lưỡi chạm vào hàm trên là rất hay, vừa khéo để có thể nhận được thiên thủy. Thế còn đối với ngồi bán già, kiết già hay ngồi tùy ý thì sao? Khi bạn ngồi tùy ý thì trung mạch của bạn bị cong, ngồi bán già và kiết già thì trung mạch thẳng.

Sau này khi tôi dạy bạn nội pháp, tôi sẽ nói lại tỉ mỉ hơn về việc ngồi bán già, kiết già và tùy ý có ảnh hưởng thế nào đối với trung mạch. Bởi vì khi ngồi tùy ý, trung mạch này bị cong, thế còn ngồi bán già, kiết già thì đốt sống mới thẳng được, đốt sống thẳng thì trung mạch mới thẳng. Sau này khi giảng về nội pháp, tôi sẽ lại giảng về khẩu quyết của phương diện này.


## 17. Cửu tiết Phật phong


**Phương pháp thở Cửu thiết Phật phong**
Khi bắt đầu cần thực hành Cửu tiết Phật phong, có cần quán tưởng lại từ đầu không, nghĩa là bầu trời xanh không mây, biển, nguyệt luân, chú tự, bổn tôn xuất hiện, có cần làm lại không?

Không cần nữa, bởi vì lúc bắt đầu nghi quỹ bạn đã thực hiện quán tưởng tam quang bao trùm rồi. Bổn tôn đã thông qua thành tựu và chú tự từ trong Phật tính hiển hiện trước mặt bạn, lúc này bạn nhắm mắt lại là có thể quán tưởng được bổn tôn của bạn ở trước mặt rồi.

Có một vài cách hít thở mọi người cần chú ý. Trước đây tôi dạy mọi người chẳng phải là hít vào ánh sáng trắng theo mạch phải rồi thở ra từ mạch trái đó sao? Thế rồi lại hít vào ánh sáng trắng, lại từ mạch trái đi vào, rồi đi ra từ mạch phải. Tiếp đến lại là ánh sáng hít vào từ mạch hai bên, đến bên dưới thì dồn về trung mạch, chạy lên đỉnh đầu nhưng không thông tiếp nữa mà đi xuống, rồi lại từ mạch hai bên thở ra.

Như vậy là được ba tiết, đúng vậy không? Thế rồi lặp lại vòng tròn này, tôi cũng đã giảng rồi, từ mạch phải ba tiết, từ mạch trái ba tiết, rồi hai mạch ba tiết, như vậy là đủ Cửu tiết Phật phong.

Trước đây tôi giảng là ánh sáng trắng đi vào bên trong biến thành ánh sáng đỏ, ánh sáng đỏ xoay chuyển lúc đi ra thì biến thành khí màu đen. Việc này biểu thị Phật là ánh sáng trắng thanh tịnh đi vào trong thân thể bạn, sau khi vận chuyển một vòng thì sẽ đem theo nghiệp đen của bạn đi ra từ lỗ mũi trái.

Lỗ mũi trái, lỗ mũi phải, hai bên lỗ mũi đều tương tự làm như vậy tổng cộng ba lần, rồi chúng ta đổi lại lại là ba lần, ba lần cuối cùng là hít vào từ hai lỗ mũi trước, rồi đến lỗ mũi trái, cuối cùng là lỗ mũi phải.


🌟


**Lấy vọng tưởng dừng vọng tưởng**
Trước đây chúng ta tập Cửu tiết Phật phong luôn là như thế. Nếu có quán tưởng thì chính là một trung mạch, một mạch trái, một mạch phải, vị trí ba mạch thông nhau của chúng ở phía dưới là vị trí dưới rốn bốn đốt ngón tay. Thế còn mạch phải thông với lỗ mũi bên phải, mạch trái thông với lỗ mũi bên trái, đường trung mạch này đi thẳng qua luân xa họng rồi mở rộng lên đỉnh đầu, đến đây thì được che kín lại không thông nữa.

Điều ảo diệu của Cửu tiết Phật phong nằm ở đâu? Cửu tiết Phật phong giúp bạn làm cho tinh thần thống nhất. Bởi vì khi chúng ta quán tưởng hoặc lúc thiền định, tinh thần thường rất loạn, tinh thần và não bộ đều rất phức tạp, cực kì loạn. Muốn loại bỏ những tạp niệm này, phương pháp của Mật giáo chính là lấy vọng tưởng để dừng vọng tưởng. Lấy vọng tưởng để dừng vọng tưởng nghĩa là sao? Chính là lấy một ý niệm này để chặn lại những ý niệm khác.

Như vậy, Cửu tiết Phật phong là một dạng suy tưởng, ta lấy một ý nghĩ này để chặn lại ý nghĩ khác. Pháp của Mật giáo chính là như vậy, đây cũng chính là quán tưởng. Dùng ý nghĩ thanh tịnh để chặn dừng những ý nghĩ bất hảo.

Giả dụ nói rằng bạn nhập Tam ma địa công lực đã sâu rồi, thực sự công lực rất sâu, vừa ngồi xuống là nhập định ngay, vậy thì bạn không cần phải thực hiện việc này nữa. Nhưng bạn không chắc được như vậy. Khi bạn vừa bắt đầu ngồi xuống, òa, tôi lập tức đến rồi. (mọi người cười) Cha tôi bị bệnh rồi, con gái tôi lại đòi tiền rồi! Tôi cần phải mua xe gì đây? Tôi còn thiếu nợ ai nhỉ? Ai nợ tôi bao nhiêu tiền còn chưa trả nhỉ? Bạn vừa bắt đầu ngồi thiền là suy nghĩ đã chạy đi tận đâu rồi. Nếu bạn ngồi mà chỉ như vậy, cứ cho là có thể ngồi mười ngày thì cũng chẳng có tác dụng gì cả. Bởi vì bạn toàn nghĩ lung tung đi đâu đó rồi! Nếu vậy thì chi bằng đi ngủ cho xong, đi ngủ còn giúp cho tinh thần tốt hơn một chút. (cười)

Nói chung khi nhập Tam ma địa, điều đáng sợ nhất là bạn rơi vào trong những vòng xoáy của vọng niệm, những vọng niệm cuốn xoay không ngừng. Rất nhiều người viết thư cho Sư Tôn kể rằng khi họ nhập Tam ma địa, không có cách nào để dừng lại những tạp niệm.

Tôi nói các bạn thực hiện Cửu tiết Phật phong đi! Bạn lập tức có thể lấy niệm dừng niệm! Bạn cần dùng suy nghĩ này để loại bỏ hoàn toàn những tạp niệm khác. Đây là một kĩ thuật giúp tinh thần tập trung thống nhất! Khi bạn thực hiện Cửu tiết Phật phong, nghĩa là bảo bạn tập lỗ mũi trái, lỗ mũi phải, rồi lại hai lỗ mũi, rồi lại lỗ mũi phải, lỗ mũi trái, lại hai lỗ mũi.

Bạn đang làm cái gì vậy? Đây chẳng phải là việc rất phiền toái sao, nhưng thực sự là cần phải điều khí như vậy để điều chỉnh tâm bạn, để tinh thần bạn có thể tập trung. Đạo lý này rất đơn giản. Thế nhưng có nhiều bạn không thực hiện được, bạn nói chỉ cần ngồi xuống (nhập Tam ma địa) và cứ hễ ngồi xuống là: Òa! Mẹ bạn đến (mọi người cười), cha bạn đến, con gái bạn cần thứ gì đó! Ai thiếu tiền của tôi, tôi thiếu tiền của ai, hôm nay tôi cãi nhau với ai, cãi nhau với công ty, cứ nghĩ mãi về việc cùng với ai như vậy, nghĩ mất cả nửa ngày trời.

Ai dà! Tôi đang tập cơ mà nhỉ? Quên mất tiêu rồi! (mọi người cười) Bạn đang nhập Tam ma địa cơ mà!

Bởi vậy lúc đầu tôi dạy bạn tập Cửu tiết Phật phong là rất thực tế. Bạn cũng nên thực sự tập pháp này một cách cẩn thận. Bởi vì chí ít trong lúc tập Cửu tiết Phật phong, bạn cũng sẽ không có suy nghĩ lung tung, do bạn đang phải thực hiện Cửu tiết Phật phong mà! Bạn phải nghĩ khí này hít vào thế nào thở ra thế nào, đi lên đỉnh đầu thế nào, làm sao để đi lên rồi lại đi xuống, rồi lại từ hai bên đi ra như thế nào.

🌟

**Tôi và Phật thở cùng một lỗ mũi**
Phương pháp cao siêu hơn mà trước đây tôi đã dạy mọi người về việc ánh sáng trắng từ đâu tới. Tôi chẳng phải đã từng giảng rồi sao! Từ đàn thành tới, từ pháp giới tới, từ đàn thành của bổn tôn tới.

Ví dụ bạn treo một tấm thangka, vậy thì ánh sáng trắng này từ tấm thangka tới. Còn từ pháp giới, ví dụ bạn treo một tấm mandala Kim Cương Giới, mandala Thai Tạng Giới, ánh sáng bổn tôn chính là từ nơi đó tới. Nói kĩ hơn một chút thì ánh sáng chính là từ lỗ mũi của bổn tôn bạn tới. Thiền tông có nói một câu này: "Tôi và Phật thở cùng một lỗ mũi" chính là ý nghĩa này.

Tập thêm một bước sâu hơn nữa là từ trong lỗ mũi của Phật A Di Đà bay ra một chú tự, là chú tự gì? Là chữ "Seh" - từ trong lỗ mũi của ngài bay ra, phát ánh sáng đỏ, đi vào trong lỗ mũi bạn, chạy một vòng rồi bay ra đi ngược lại vào trong lỗ mũi của Phật A Di Đà.

Tiếp theo, hai chú tự từ trong lỗ mũi trái phải của Phật A Di Đà bay ra, đi vào hai lỗ mũi trái phải của bạn, rồi lại đi một vòng bên trong nhưng không thông ra ngoài mà lại đi xuống. Cuối cùng hai chữ "Seh" này lại từ lỗ mũi bạn đi ra, bay vào trong lỗ mũi của Phật A Di Đà.
Đó cũng chính là cách quán tưởng vi diệu hơn. Bạn cần quán tưởng chú tự, còn quán tưởng cả màu sắc của nó, lại còn quán tưởng lỗ mũi của Phật A Di Đà. Tưởng tượng cả mũi của ngài chẳng phải là càng vi diệu hơn sao?

Đây vốn là Phật tính bên trong bổn tôn của bạn "chạm tới" được Phật tính bên trong bản thân hành giả, hai thứ là một, Phật tính như nhau. Chính là cách hít thở như thế. Khí của ngài (A Di Đà) - Phật khí đi vào trong thân của hành giả, rồi sau đó chủng tử Phật tính ở trong thân ta lại đi vào trong thân của Phật, hai bên có sự đối lưu. Đây chính là hít thở cùng một lỗ mũi. Do đó mới nói, bên trong Mật giáo tương ứng với Thiền tông, là giống nhau. Tôi và Phật thở cùng một lỗ mũi, ý nghĩa chính là ở đây.

Cửu tiết Phật phong rất ảo diệu, và đến khi tập ở mức độ cao nhất thì sẽ thành thế nào nhỉ? Lúc đó chữ "Seh" sẽ không chỉ có một chữ đâu! Lúc đầu bạn quán tưởng chỉ một chữ, tập cho đến khi Phật A Di Đà thở ra cả hơn trăm chữ "Seh" cùng lúc đi vào trong thân thể bạn. Bạn cũng sẽ thở ra cả hơn trăm chữ "Seh", từng chữ từng chữ nối nhau đi vào trong thân thể Phật A Di Đà. Lúc này mới là ảo diệu nhất.

Phật tính bên trong Phật A Di Đà chính là Phật tính của bạn, chẳng phải là đã hợp nhất được rồi sao? Điều này gọi là hợp nhất! Bạn cùng ngài hợp nhất. Bạn thực hành xong được pháp này thì tâm trí của bạn sẽ cực kì định, có đúng không? Bạn thực hiện quán tưởng như vậy, quán tưởng ánh sáng trắng, đỏ, rồi lại làm chín lần quán tưởng chữ "Seh". Phật tính giữa bản thân bạn và Phật A Di Đà cùng nhau đối lưu, giao lưu, cùng nhau hít thở như thế.

🌟

**Lạy sám hối**
Pháp của Mật giáo rất vi diệu, nó nhấn mạnh vào Sự pháp (yogic practice). Sự pháp chính là nói về phương pháp mà bạn thực tu. Pháp của Hiển giáo phần lớn đều là nói về lý pháp, lý pháp chính là phương pháp tập trung trên lý luận.

Nói một cách đúng đắn thì trong Hiển giáo, thử nói xem bạn có thứ gì trên thực tế để chúng ta tu đây? Pháp sư chỉ bảo: "Đi về niệm Phật đi!" Bạn niệm Phật là được rồi. Vậy tôi phải làm sao để gia tăng tri thức trên phương diện Phật học đây? Thế thì bạn đi đọc kinh đi. Bạn đi đọc kinh là được rồi. Hiển giáo chính là dạy bạn niệm Phật, dạy bạn đọc kinh. Hiển giáo không dạy bạn phương pháp gì, nếu có thì cũng chính là sáng tối làm một khóa, buổi sáng cũng đánh chuông keng keng keng, buổi tối cũng đánh chuông keng keng keng (mọi người cười), không có Sự pháp nào cả.

Không phải vậy ư? Nói thẳng chuyện mọi người cùng đến để lạy sám hối đi. Bạn nhìn xem, muốn sám hối Di Đà, sám hối Pháp Hoa, sám hối Dược Sư, sám hối Đại Bi, sám hối Địa Tạng, mọi người cùng đến để lạy sám hối. Lạy sám hối là cái gì? Chính là Đại lễ bái đó! Chính là khấu đầu, khấu đầu là sám hối. Thế rồi niệm kinh một chút, niệm niệm niệm…… nhìn thấy Phật thì khấu khấu khấu…… chính là lạy sám hối (Sư Tôn cười, mọi người cười). Trên thực thế như vậy cũng là sám hối.

Tuy nhiên chúng ta không thể nói rằng khấu đầu là không tốt, niệm kinh là không tốt.
Chỉ cần lưu ý niệm kinh cần đi sâu vào ý nghĩa của kinh, cần biết bạn sám hối là sám hối cái gì. Bất kể là bạn sám hối cái gì đều cần phải dạy bạn tâm khẩu ý thanh tịnh. Bạn có hiểu không? Bên trong thân bạn có bao nhiêu lỗi lầm? Khẩu có lỗi lầm gì? Ý niệm có lỗi lầm gì? Tất cả bạn đều đem ra sám hối hết, chính là sám hối thân khẩu ý. Thân có bao nhiêu lỗi, khẩu có bao nhiêu lỗi, ý có bao nhiêu lỗi, đều cần bạn nói ra bạn đã làm sai cái gì, đã phạm vào điều gì. Không phải là nói xuông, được rồi! Sám hối, khấu khấu khấu… (mọi người cười) chính là như vậy.

Vậy đây là gì, là lạy sám hối. Khi bạn tu pháp, bạn có mong cầu sám hối không? Chúng ta tu Mật pháp kì thực cũng chính là mong cầu sám hối đó!

Chẳng phải tôi dạy bạn thân khẩu ý cần thanh tịnh sao? Đúng không?
Bạn quán tưởng tốt rồi, chính là ý niệm thanh tịnh rồi. Bạn kết thủ ấn chính là thân không làm những việc tệ hại nữa, chính là thân thanh tịnh rồi. 
Bạn niệm chú, lúc niệm chú thì không còn chửi mắng người ta nữa, chính là khẩu thanh tịnh rồi, khẩu sẽ không phỉ báng, không vọng ngữ, không nói lời ong bướm, không nói hai lưỡi ác khẩu, chính là có được khẩu thanh tịnh. Lúc tu pháp thực sự là lúc thân khẩu ý thanh tịnh đó!

Điều này cũng tương đương với việc bạn sám hối, là bạn đang rất thực tế đó! Tịnh hóa thân khẩu ý thanh tịnh một cách rất thực tế.

Lạy sám hối trong Hiển giáo chính là dạy rằng: "Tôi niệm kinh văn để hiểu mình sai ở chỗ nào. Tôi sẽ đảnh lễ Phật Bồ Tát để bộc lộ sự sám hối." Đây là điều tương tự nhau giữa các dòng. Phật pháp cho dù Hiển, Mật đều có sự tương thông như thế.

Tập Cửu tiết Phật phong chính là tập luyện cho tinh thần thống nhất. Bạn muốn tinh thần thống nhất, bạn cần phải lấy vọng tưởng để dừng vọng tưởng, dựa vào việc quán tưởng ý niệm thanh tịnh. Ánh sáng trắng đi vào và khí đen đi ra, ánh sáng đỏ ở bên trong bạn. Chú tự Phật tính bay vào thân bạn rồi lại bay ra, bay đến thân Phật, rồi lại bay trở lại thân bạn. Cứ đối lưu như vậy để tịnh hóa thân thể bạn, khiến gia tăng thêm Phật tính, khiến thân thể bạn được thanh tịnh. Thân khẩu ý thanh tịnh chính là Cửu tiết Phật phong.

Vì sao lại gọi là Phật phong? Vì sự hít thở của Phật chính là Phật phong. Hơi thở của Phật với hơi thở của bạn đối lưu với nhau, chính là Cửu tiết Phật phong. Tiếp theo sau Cửu tiết Phật phong, khi bạn đã điều chỉnh tịnh hóa thân khẩu ý cho thanh tịnh rồi, bạn sẽ thực hiện tiếp đến Nhập ngã - Ngã nhập.


## 18. Nhập ngã - Ngã nhập


Quán tưởng Nhập ngã - Ngã nhập này rất quan trọng.
Lúc này, Phật A Di Đà đang ở trước mặt bạn, sau đó ngài bay đến trên đỉnh đầu bạn, đứng trên đỉnh đầu. Bùm! Lập tức ngài biến thành hạt ngọc ánh sáng cỡ như hạt gạo, rất nhỏ, nhưng lại là một hạt ngọc cực kì lấp lánh, ở trên đỉnh đầu bạn, ở chính trung mạch của bạn.

Hoa sen nơi tâm luân của bạn nở ra, ở giữa hoa sen có một nguyệt luân, ở giữa nguyệt luân có một chữ Seh, cũng là chủng tính của bạn. Thế rồi Phật A Di Đà theo đường trung mạch của bạn cứ thế đi thẳng xuống, hạ xuống tới tâm luân của bạn, đứng ở trung tâm của nguyệt luân nơi tâm luân.

Rất nhiều người quán tưởng đến đây thì hỏi tôi: "Sư Tôn, khi Phật A Di Đà hiện lên trước mặt thì là ngài đứng, rồi khi đi vào tâm luân của ta thì cũng là đứng, thế nhưng chúng ta thì lại đang ngồi, chẳng có cách nào hợp nhất được." (mọi người cười) Họ nói rốt cục cần bảo ngài ngồi hay là bảo ngài đứng đây? Có người nghĩ như vậy đó, nghĩ như vậy cũng đúng đó chứ.

Tôi thì quán tưởng như thế này.
Bức pháp tướng Đức Phật A Di Đà ở nơi cửa ra vào trong nhà tôi là đứng. Và tôi thường quán tưởng hình ảnh đó, bởi vì hình ảnh đó rất dễ quán tưởng, rất dễ tưởng tượng. Mặt mũi của ngài rất viên mãn, thân thể rất viên mãn, thiên y váy xếp cũng rất trang nghiêm, màu sắc cũng tươi sáng. Sau đó ngài đi vào bên trong thân tôi cũng là đứng, bởi vì ngài đứng rồi cứ thế nhập vào bên trong ta mà! Ở trong không trung ngài cũng đứng, khi ngài đến trên đỉnh đầu cũng là đứng, rồi thu nhỏ lại đi vào bên trong ta cũng vẫn là đứng.

Sau đó tôi quán tưởng ngài ngồi xuống với hai chân vắt như thế này. Có thể được, bạn có thể quán tưởng như vậy được. Ngài ngồi ở trên bông sen nở ở chính giữa nguyệt luân nơi vị trí tâm luân của bạn. Như vậy chính là Nhập ngã rồi. Tiếp theo lại từ từ quán tưởng toàn thân ngài biến hóa lớn dần lên, lớn đến khi bằng với thân thể bạn. Tai của ngài là tai của bạn, lông mày của ngài là lông mày của bạn, đôi mắt, cái mũi, cái miệng, thân thể hoàn toàn lớn bằng như chính bạn. Tôi chẳng phải đã từng giảng điều này rồi sao? Trong chớp mắt, bạn liền biến thành bổn tôn, bạn chính là Phật A Di Đà, đây gọi là Nhập ngã.

Tôi nhắc lại, bổn tôn từ trong hư không bay đến trên đỉnh đầu bạn, trụ ở đỉnh đầu bạn, thu nhỏ lại thành hạt ánh sáng bằng cỡ hạt gạo. Lúc này, tâm luân của bạn nở ra thành một đóa hoa sen, ở giữa hoa sen có một nguyệt luân, ở giữa nguyệt luân có một chú tự Seh. Thế rồi bạn có thể quán tưởng chữ Seh, phóng quang để sáp nhập bổn tôn A Di Đà đi vào trung mạch. Sau khi đi vào rồi, Phật A Di Đà ngồi trên hoa sen ở giữa nguyệt luân. Từ trong nguyệt luân, thân thể ngài từ từ biến hóa thành lớn lên, lớn lên, lớn đến khi toàn thân ngài hoàn toàn bằng với toàn thân bạn, chỉ trong vòng một cái búng tay (nghĩa là nhanh lập tức), bạn liền biến thành bổn tôn, đây chính là quán tưởng Nhập ngã.

Thế là bạn đã biến thành bổn tôn A Di Đà Phật rồi. Lúc này bạn không cần quán tưởng lại mặt mũi của chính mình nữa. Bạn đã quán tưởng mặt mũi của bạn chính là giống hệt như Phật A Di Đà rồi. Thân người, dáng người của bạn, tất cả trạng thái của bạn đều giống Phật A Di Đà y như đúc. Đây chính là Nhập ngã.

Quán tưởng Nhập ngã - Ngã nhập là một cách thức cực kì vi diệu trong Mật giáo, là một quán tưởng rất vi diệu. 
Thế còn Ngã nhập là cái gì? Ngã nhập chính là đưa Phật ở trong tâm bạn chuyển ra khỏi trung mạch, đi vào bổn tôn ở trong hư không, chính là Ngã nhập.

Chúng ta thực hiện Nhập ngã, sau khi xong Nhập ngã rồi, chúng ta lập tức có thể ngồi xuống rất an tịnh, bởi vị bạn chính là Phật rồi, lúc này bạn chính là bổn tôn rồi, bạn và Phật A Di Đà là không hai không khác, nói cách khác là không có sự khác biệt nào, hoàn toàn là một, không phải là hai.

Khi đã đạt đến trạng thái này, bạn đừng để cho đầu óc lại nghĩ đến cha bạn đến đây, mẹ bạn đến đây, con gái bạn cần tiền nữa. Rồi thì bài tập về nhà của con bạn ra sao nhỉ! Ai nợ tiền của bạn hoặc bạn nợ tiền của ai… đừng nghĩ đến những việc này nữa. Lúc này hoàn toàn vô cùng thanh tịnh. Cái gọi là quán tưởng Nhập ngã - Ngã nhập chính là quán tưởng bạn và bổn tôn hoàn toàn là một.


## 19. Đếm hơi thở


Tiếp theo chúng ta cần làm gì nữa? Tiếp theo chính là cần đếm hơi thở. Tôi cho rằng đếm hơi thở rất có lợi ích. Quán hơi thở là cách tốt nhất dành cho những người có nhiều tạp niệm [ND: suy nghĩ lung tung]. Bạn có nhiều tạp niệm, nghĩa là bạn cứ nghĩ đông nghĩ tây không ngừng dứt. Người hay nổi lên nhiều tạp niệm xoay mòng mòng cần quán hơi thở.

**Cách thức đếm hơi thở**
Người mới bắt đầu quán hơi thở thì luyện tập quán tưởng này. Quán hơi thở chính là đếm hơi thở của bạn. Bạn có thể đếm hơi thở một cách rất đơn giản, ví dụ như hít vào là một, thở ra là hai.

Bạn cũng có thể làm thế này, hít vào và thở ra một lần thì đếm là một, hít vào thở ra một lần nữa đếm là hai, đều được cả. Quan sát xem thói quen của bản thân như thế nào thì làm như thế. Khi bạn mới bắt đầu đếm hơi thở thì bạn cứ đếm một, hai, ba, bốn… cứ như vậy mà đếm liên tục.

Có người nói là đếm hơi thở cho đến khi bằng đủ số tuổi của bạn là được (mọi người cười). Ví dụ bạn bây giờ 48 tuổi thì bạn đếm đủ 48 lần. Thế sau khi đếm đủ hết 48 lần thì sao? Thì sao ấy à? Thì lại đếm lại từ đầu là được rồi. Bởi vì khi bạn đếm được trên 100 lần thì bạn phải đếm số có ba chữ số. Đếm số có ba chữ số thì hơi phiền toái, bạn sẽ cảm thấy "phiền chết mất". Khi đếm số có ba chữ số đến một nghìn thì lại thành số có bốn chữ số rồi (cười), phải đếm nhiều quá mất.

Bởi vậy nếu bạn đếm theo số tuổi của bạn, thì có vẻ như nó có một sức mạnh ý chí đặc biệt hoặc một quy luật đặc biệt nào đó. Bạn năm nay bao nhiêu tuổi thì bạn đếm đến số đó, sau đó lại đếm từ đầu. Đếm đến số tuổi của mình rồi lại đếm lại từ đầu, như vậy sẽ tăng thêm tính quy luật và tính tiết chế cho việc đếm số hơi thở của bạn. Đừng bảo là cứ thế đếm đến một nghìn, hai nghìn. Kì thực đếm hơi thở đến số tuổi của bạn rồi quay lại từ đầu, lại đếm đến số tuổi của bạn rồi lại quay lại từ đầu, hoàn toàn giúp cho khả năng Định của bạn. Đây là kĩ thuật áp dụng việc đếm số để đưa tâm trí của bạn quy về "sự nhất tâm".

🌟

**Cảnh giới Định**
Bạn thực sự cứ đếm hơi thở cho tới khi bạn không còn đếm nữa, hơn nữa cũng không còn suy nghĩ, không có tạp niệm gì khác nữa, hoàn toàn không còn suy nghĩ. Lúc này sẽ sản sinh ra cảnh giới Định. Cảnh giới Định sẽ xuất hiện. Oa! Một khi cảnh giới Định đã xuất hiện thì có thể nói là thân tâm bạn đều hóa thành hư không, bạn cũng quên mất bản thân đang ngồi thiền. Lúc này, ranh giới giữa bên trong và bên ngoài thân thể bạn cũng đã bị phá bỏ. Khi ranh giới giữa bên trong và bên ngoài đều bị phá bỏ thì cái tôi này cũng bị phá bỏ. Có người khi đến cảnh giới này thì toàn bộ thân thể có thể trôi bồng bềnh, trôi trong hư không, hoặc giống như ở trong biển lớn, như ở giữa gió trời, như ở trong nước, như trôi trong ánh sáng.

Dựa vào những đặc tính của ngũ đại trong thân thể bạn, bạn sẽ sản sinh ra năm loại cảm giác khác nhau. Có người thì cảm giác ở trong lửa, có người thì ở trong nước, có người thì ở trong gió, có người thì biến thành đại địa vững chắc như núi, có người thì ở trong hư không. Đây chính là một sự tan rã hoàn toàn của cái tôi tham lam. Bởi vì thuộc tính của thân thể bạn là đất, nước, lửa, gió, không khí mà!

🌟

Cảnh giới Định cao nhất là sự hòa tan vào tính không.
Nếu bạn thuộc về yếu tố đất, bạn sẽ kiên cố như núi. 
Nếu bạn thuộc về yếu tố nước, bạn sẽ có cảm giác về sự mát mẻ. 
Nếu bạn thuộc về yếu tố lửa, toàn thân bạn như đang cháy trong lửa. 
Nếu bạn thuộc về yếu tố gió, bạn sẽ cảm giác giống như bạn đang trôi bồng bềnh trong gió.

Năm thuộc tính này sẽ quyết định những hiện tượng sản sinh ra khi bạn thiền định. Có lúc bạn sẽ trở nên rất nhỏ, có lúc bạn lại biến thành rất to, tràn đầy khắp trong hư không. Bởi vậy cái gọi là "phóng to như núi Tu Di, thu nhỏ như hạt cải, ẩn mình trong một hạt cải" chính là một dạng cảnh giới sẽ sản sinh ra. Ở đây chúng ta có thể nói rằng cảnh giới mà ta đạt được trong Tam Ma Địa sẽ bao gồm toàn bộ những ý cảnh vô cùng vô cùng cao sâu.

Tôi đã dạy mọi người thực hiện Cửu tiết Phật phong và đếm hơi thở từ trước rồi. Cửu tiết Phật phong, Nhập ngã - Ngã nhập cùng Đếm hơi thở là ba thứ bạn bắt buộc phải thực hiện trước hết rồi bạn mới nhập Tam Ma Địa. Nói cách khác là bạn muốn nhập Tam Ma Địa, trước tiên bạn buộc phải thực hiện Cửu tiết Phật phong, rồi quán tưởng Nhập ngã - Ngã nhập, sau đó là thực hiện cách đếm hơi thở.

🌟

**Chỉ quán pháp**
Nếu bạn đã thực hiện chu toàn ba việc trên thì bạn cứ như vậy mà tiếp tục. Lưu ý rằng khi đếm hơi thở đến thời điểm dừng lại, giả sử lại sinh ra tạp niệm thì phải làm sao? Lúc này bạn lại cần quán tưởng chính bạn là Phật A Di Đà, rồi đếm hơi thở lại từ đầu. Giả sử lại tiếp tục sinh ra tạp niệm thì bạn lại nhanh chóng quán tưởng mình chính là Phật A Di Đà. Tới khi ở trong trạng thái vô niệm thì không cần quán tưởng nữa. Còn hễ bạn sinh ra tạp niệm thì bạn lại quán tưởng mình là Phật A Di Đà.

"Nhất Chỉ nhất Quán" này chính là sự phối hợp Chỉ (dừng lại) và Quán (quán tưởng), gọi là Chỉ quán pháp. Nhưng đây mới chỉ là Chỉ quán pháp ở mức độ thô nông, thực tế Chỉ quán pháp còn sâu hơn nhiều nữa.

Chỉ là gì? Chỉ là khi bạn không còn một chút ý nghĩ nào nữa thì là chỉ - dừng lại. Quán là gì? Chính là bởi vì bạn không dừng lại, chẳng có cách nào để dừng suy nghĩ lại cả, thì bạn duy có cách là lại quán - quán tưởng. Bạn quán tưởng rõ ràng rồi thì lại có thể đi vào trạng thái Chỉ - dừng lại, khi không dừng lại thì lại nhanh chóng quán tưởng. Việc này gọi là Chỉ-Quán song vận.

🌟

**Sự pháp của Mật giáo**
Khi bạn đặt nhiều nỗ lực vào việc luyện tập và phát triển kĩ năng này qua nhiều năm, qua thời gian rất dài, bạn sẽ thấy rất rất nhiều cảnh giới của Tam Ma Địa. Nếu bạn có thể tu luyện rất cao sâu thì lần nào bạn thiền cũng đều có thể nhập định. Còn nếu tu chưa đủ cao sâu, thậm chí ngay cả với một số hành giả lâu năm hay người xuất gia nhiều năm, thì bạn cứ thử hỏi họ xem Tam Ma Địa là gì? Họ sẽ trả lời, Tam Ma Địa chính là ngủ chảy nước miếng đó. (cười)

Bạn cũng có thể thử đi đến các đạo tràng khác, cho dù họ rất chăm chỉ tu khổ hạnh, tu rất cần mẫn thì bạn cứ thử quan sát họ xem. Họ ngồi trước mặt Phật mà đầu thì ngoẹo sang như thế này (mọi người cười), còn nước miếng thì từ đây chảy ra (mọi người cười). A Di Đà Phật! Bạn mà như vậy thì Tam Ma Địa ở đâu? Bạn như vậy thì có mà Tứ Ma Địa, là vùng đất ngủ mất rồi. [ ND: Địa là đất, bởi vậy Sư Tôn mới chơi chữ gọi là Vùng đất ngủ.]

Kì thực trong Mật giáo có quy định rất nghiêm ngặt. Khi bạn thực tập pháp được gọi là thiền định nhập Tam Ma Địa thì tư thế của bạn cần phải chỉnh cho đúng. Mọi tư thế đều cần phải đoan trang, không được tựa vào bên này, bên kia. Không được dựa vào tường hoặc nghiêng người, đầu không được nghiêng thế này rồi đánh một giấc ngủ ngon.

Các bạn cố gắng nỗ lực ra sao tôi không biết, nhưng sư phụ của các bạn có dạy các bạn Cửu tiết Phật phong không, có dạy các bạn Nhập ngã - Ngã nhập không, có dạy các bạn thực hiện Chỉ-quán không, có dạy các bạn đếm hơi thở không? Có lẽ các bạn cũng có đếm hơi thở, bởi vì phương pháp đếm hơi thở nói chung rất phổ biến, phương pháp này cũng rất dễ để dừng những tạp niệm. Nó là pháp rất quan trọng. Nhưng Nhập ngã - Ngã nhập thì chỉ có Mật giáo có, Cửu tiết Phật phong cũng chỉ Mật giáo có.

Hiển giáo thông thường không có cái gì gọi là Cửu tiết Phật phong, cái gì gọi là Nhập ngã - Ngã nhập. Họ không biết làm sao để quán tưởng Phật đến bên ta! Theo họ thì làm như vậy sẽ là phạm giới rồi. Đức Phật thần thánh như vậy, còn tôi thì nhơ bẩn như vậy, làm sao để Phật và tôi hợp nhất được chứ! Như vậy chẳng phải là bất kính với Phật hay sao?

Không thể nghĩ như vậy được. Chúng ta cần phải nghĩ mình chính là Phật, rằng bản thân mình vô cùng thanh tịnh, ta chính là Phật. Một khẩu quyết quan trọng nhất trong Mật giáo chính là - "Ta chính là Phật". Ai là Phật? Ta chính là Phật! Đây chính là khẩu quyết lớn nhất trong Mật giáo. Bạn và Phật không hai không khác.

Do đó ba sự quán tưởng này - Cửu tiết Phật phong, Nhập ngã - Ngã nhập và Đếm hơi thở chính là phương pháp rất chuẩn xác để nhập Tam Ma Địa.

Một sư phụ dạy Thiền tông, dạy ngồi thiền.
-	"Sư phụ dạy ta ngồi thiền thế nào nhỉ?" 
-	"Anh không biết ngồi thiền thế nào à? Cứ ngồi im là được, anh cứ ngồi ở đó thì là thiền rồi!"

Ngồi ở đó rồi chảy nước miếng như thế này (mọi người cười), ngày ngày cứ chỉ ngồi khô người như vậy. Muốn thiền định cũng cần có phương pháp đó! Bởi vậy, việc thực hành thực sự của Mật giáo là phải có phương pháp, thực sự có phương pháp. Ở phần sau tôi sẽ lại giảng thêm một quán tưởng nữa, nếu bạn không muốn thực hiện quán tưởng Nhập ngã - Ngã nhập thì bạn có thể tu Bạch cốt quán.


## 20. Bạch cốt quán (quán xương trắng)


**Hệ niệm pháp**
Bạn tu cái gì tiếp theo đây? Bạn tập xong Cửu tiết Phật phong rồi, sau đó thiền định, bạn cần quán tưởng sang ngón chân cái của mình. Cần quán tưởng ngón chân cái của bàn chân trái sưng to lên.

Mọi người có thể nghĩ rằng trong pháp Bạch cốt quán, việc quán tưởng ngón chân trái của chính mình sưng lên là để không bị giống với Hoàng Tài Thần trong pháp tài bảo. [ ND: Trong pháp quán Hoàng Tài Thần thì sẽ quán ngón chân phải của Hoàng Tài Thần sưng lên. ] (mọi người cười)

Kì thực không phải là như vậy đâu!
Có thể là lúc ban đầu, lúc Phật Thích Ca Mâu Ni giảng pháp này [ND: Bạch cốt quán là do Phật Thích Ca Mâu Ni giảng dạy], khi đó đức Phật ngồi vắt chân với chân trái để bên trên chân phải, nên khi ngài nhìn xuống ngón chân trái của mình thì bèn giảng là quán tưởng ngón chân trái của mình trước tiên.

Giả sử ngài ngồi xuống, vắt chân trái trước, rồi sau đó mới vắt chân phải lên, thì hẳn là ngài sẽ giảng là quán tưởng ngón cái chân phải trước tiên. (mọi người cười)

Sau khi bạn tập xong Cửu tiết Phật phong rồi thì sao? Thì bạn quán tưởng ngón cái chân trái của mình sưng lên. Thế sưng lên xong rồi thì sao? Thì nó sẽ mềm nhũn ra. Mềm nhũn ra rồi thì sao? Thì phần thịt bên ngoài nó sẽ rơi ra, để chừa lại phần xương màu trắng, phần xương trắng nhỏ nhỏ ở chỗ đó.
Bạn chỉ cần quán tưởng phần xương trắng đó là được rồi. Tôi nhắc lại là ngón cái chân trái sưng lên, sưng lên xong rồi thì mềm nhũn ra, mềm nhũn xong rồi thì phần da thịt rơi ra để chừa lại đầu mẩu xương trắng, đầu mẩu xương cực kì trắng ở bên trong. Bây giờ thì bạn quán tưởng cái mẩu xương trắng đó. 
Pháp này gọi là gì? Gọi là Hệ niệm pháp. Hệ niệm pháp chính là buộc chặt suy nghĩ của bạn lên mẩu xương trắng đó.

🌟

**Vô ngã**
Bạn cần phải tập đến lúc nào thì mới có thể tiếp tục quán tưởng toàn thân là xương trắng đây? Cần luyện tập đến khi xương trắng phát ra ánh sáng trắng. Đây là cả một khoảng cách rất xa đó!

Khi Phật Thích Ca Mâu Ni giảng pháp này, ngài nói đây là Hệ niệm pháp. Nghĩa là bạn buộc chặt hoàn toàn suy nghĩ của mình lên cái đầu mẩu xương trắng trên ngón cái chân trái của bạn. Cứ nghĩ suốt như vậy về cái mẩu xương trắng đó, không nghĩ đến gì khác nữa, nhìn tới khi đầu mẩu xương trắng đó phát ra ánh sáng trắng. Công phu này thực sự rất lớn.

Sau đó lại quán tưởng toàn thân bạn sưng lên. Tôi "tăng tốc" toàn bộ quá trình này, bởi vì Phật Thích Ca Mâu Ni giảng là cần quán tưởng từng phần từng phần cơ thể một, nhưng quán tưởng thế này thì sẽ khiến đầu ta quay cuồng chóng mặt mất (cười), vì quán tưởng kiểu này rất lâu.

Do vậy tôi nói "tăng tốc" chính là ý rằng bạn nhìn mẩu xương trắng cho đến khi nó phát ra ánh sáng trắng, thì lúc này bạn có thể quán tưởng luôn toàn thân bạn sưng lên rồi mềm nhũn ra. Toàn thân đều mềm nhũn tới mức rơi hết ra, thịt da đều rơi rụng hết, bạn biến thành một bộ xương trắng. Hơn nữa cái sọ của bộ xương trắng này phải chúi xuống như thế này. Nói cách khác đây chính là một bộ xương không còn chút sinh khí nào, chỉ còn là một khối xương toàn thân màu trắng đục.

Bạn cần quán tưởng đến khi toàn bộ xương của thân thể bạn phát ra ánh sáng trắng thì mới được xem là thành công. Lúc này bạn đã tiến tới trạng thái Vô ngã, bởi vì cái tôi này của bạn đã chết rồi. Thứ còn lại chỉ là một bộ xương trắng thì chẳng phải là Vô ngã sao?

Sau đó thì bạn cần phải quán tưởng gì nữa? Cần quán tưởng ở trước mặt bạn là người bạn hận nhất trong đời. Bạn hận hay ghét người nào thì bạn tưởng tượng người đó ngồi trước mặt bạn.

Ví dụ như hận người chồng mà bạn đã ly hôn đó (cười), hận người thầy giáo thời tiểu học thường hay đánh tôi đó, hận cái ông chủ không chịu tăng lương cho tôi đó, hoặc là cái người ngày nào cũng tìm tới quấy rầy tôi đó.

Bạn ghét những người nào thường chửi bạn, phỉ báng bạn thì bạn hãy tưởng tượng tất cả họ đến trước mặt, xếp thành một hàng ở trước mặt bạn. Sau đó quán tưởng họ bỗng nhiên thân thể cũng sưng lên, đều mềm nhũn hết ra (mọi người cười). Thế rồi da thịt của họ cũng rơi rụng hết sạch, giống hệt bạn, chỉ còn trơ lại bộ xương như vậy. Họ ngồi trước mặt bạn làm thành một đống xương lớn.

Lúc trước quán tưởng Vô ngã, bây giờ quán tưởng Vô tha. Tất cả những người khác đều đã biến thành xương trắng, đều chết hết rồi. Bạn cũng chỉ là xương trắng, vô ngã! Họ cũng chết rồi, vô tha. [ ND: Vô ngã: Không còn cái tôi nữa. Vô tha: Không còn người ta nữa] Bạn lại quán tưởng vô số chúng sinh đông đúc ở trước mặt bạn. Họ cũng đều sưng to lên, mềm nhũn ra, biến thành từng bộ từng bộ xương trắng, cái xương sọ chúi thấp xuống, gục xuống. Lúc này thì mọi sự biến thành gì? Vô ngã, vô tha, vô chúng sinh.

Lúc này có thể dẫn nội hỏa. Nếu công lực nội hỏa của bạn tốt thì lửa từ đan điền sẽ làm cháy lên những đốm lửa âm ỉ, rồi cứ thế thiêu rụi dần bộ xương trắng. Boom! Cháy lên rồi. Rồi bạn lại dẫn ngọn lửa này đến trước mặt bạn, boom! Cháy bùng lên. Lửa bén đến chỗ đám đông chúng sinh kia rồi đốt cháy hết thảy. Boom! Biến thành một đống tro khổng lồ.

Lúc này ở trong Định gọi là làm Hỏa quang tam muội. Định này gọi là Hỏa quang tam muội đại định. Bạn tu được đến mức độ Định này thì bạn thành A La Hán. A La Hán là đã đạt đến vô ngã, vô tha, vô chúng sinh.

Trong kinh Kim Cương có một câu này: "Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng". Lúc này, do bạn đã dẫn lửa đốt cháy chính mình, cảnh giới của bạn là không còn cái tôi rồi, cũng không còn người khác, không còn chúng sinh, tất cả đều nằm trong đống tro tàn bị thiêu cháy bởi Hỏa quang tam muội. Bạn đến được cảnh giới này thì bạn chính là A La Hán.

🌟

Thế nhưng rất nhiều người tu Bạch cốt quán, tu đến tận cùng thì đều rất ghê tởm thân thể của chính mình. Lúc đó họ cũng đồng thời sinh ra những quan niệm tăm tối. Nói cách khác là họ nói tôi không còn nữa, người khác không còn nữa, chúng sinh cũng không còn nữa, tôi sống trên thế giới này để làm gì? Tôi còn có gì vui đây? Cuộc đời tôi còn ý nghĩa gì nữa đây? Bạn đã đạt được cảnh giới định này rồi, vậy thì bạn đi hát Karaoke đi (mọi người cuời). Bạn có thể đi khiêu vũ thể thao. Bởi vì bạn tu đến cảnh giới này rồi mà! Bạn có thể sẽ trở nên bi quan, bạn cảm thấy đời người chẳng là cái gì sất! Một giấc mơ! Có gì hay ho, người sống người chết cũng giống nhau cả thôi! Cái nhìn xám xịt này sẽ dẫn bạn đi đến kết luận là cuộc đời chẳng còn ý nghĩa gì cả. Bởi vậy thỉnh thoảng bạn nên đi hát, đi nhảy một chút để điều chỉnh lại cái góc nhìn u ám này của bạn. Thế rồi bạn sẽ cảm thấy cũng hay đấy nhỉ! Rất hay! Cuộc đời này vẫn còn những nơi thật đáng yêu. (mọi người cười)

🌟

**Tính không**
Bạn nên biết rằng tu Bạch cốt quán đến tận cùng thì chính là Tính không. Vậy thì bạn cần tìm chút gì đó vui vẻ để cân bằng lại!
Lạc cũng chính là Không mà, Không cũng chính là Lạc. Thế nên khi bạn sản sinh ra Lạc - Không đại định, bạn cần có một chút Lạc để điều chỉnh mình. Nếu như vậy thì bạn sẽ không bị đi về hướng có cảm giác cuộc sống này hoàn toàn chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Nếu cuộc sống không có nghĩa thì bạn sống để làm gì? Khiêu vũ cũng là Không, ca hát cũng là Không, yêu cũng là Không, hận cũng là Không, đều là Không, Không, Không. (mọi người cười)

Tuy nhiên bên trong điều này có chỗ rất vi diệu. Bởi vì bạn đã ở trong Hỏa quang đại định, bạn cũng có thể tiêu diệt được rất nhiều phiền não. Hỏa quang tam muội định tiêu trừ được rất nhiều phiền não. Các bạn có biết vì sao Lư Thắng Ngạn không còn phiền não? Tôi cũng tu Hỏa quang đại định! Tôi ở trong Hỏa quang tam muội thấy rằng trên thế giới này vô ngã, vô tha, vô chúng sinh, tôi liệu còn phiền não gì đây?

Các vị hãy thử nghĩ xem, bởi vì là vô ngã, vô tha, vô chúng sinh, bạn còn phiền não cái gì? Không có gì cả, thế bạn lo lắng cái gì? Bạn buồn phiền người ta chửi bạn à? Những bài viết chửi bạn đăng trên báo à? Phát hành tạp chí đó à! Người ta phỉ báng bạn, người ta nói bạn không tốt, không tốt cũng là Không, tốt cũng là Không, chửi ta cũng là Không, khen ta cũng là Không.

Bạn đã đạt được thành tựu rồi. Tóm lại, bạn đã hoàn toàn hòa nhập vào tính Không rồi, bạn cùng với tính Không là một rồi.
Bạn quán tưởng trên thế gian này cơ bản là chẳng có người, đã không có người thì còn ai phỉ báng bạn nữa? Phỉ báng chẳng phải là Không sao? Bạn còn phiền não cái gì? Người ta chửi bạn, chẳng phải bạn bịt chặt tai lại, chẳng phải bạn như điếc sao? Hơn nữa bạn quán tưởng sự phỉ báng này cũng là Không. Nghiêm túc đó!

Đến cảnh giới này rồi, có giết bạn thì cũng là Không mà! Giả sử người ta có cầm dao giết bạn, bạn cũng cười lớn ha ha: "Ha ha! Rốt cục cũng là Không mà!" (mọi người cười). Bạn giết tôi cũng là Không mà!


"Tôi đã tu tới được Hỏa quang tam muội đại định rồi thì vô ngã, vô tha, vô chúng sinh. Bạn giết tôi thì vẫn là Không! Tôi vốn dĩ là Không mà!" Bạn đến được cảnh giới này rồi, quan niệm của bạn đã vượt trội, tuyệt đối siêu việt.

Bởi vậy tôi từng nói câu này, nói rằng giả sử cha mẹ không cần gì tới tôi nữa, Sư Mẫu không cần gì ở tôi nữa, con cái không cần tôi nữa, Phật Thanh, Phật Kì cũng bỏ đi hết, rồi thì các đệ tử của tôi cũng không cần gì ở tôi nữa cả. Các đệ tử của tôi đều nói: "Ai chà! Lư Thắng Ngạn xem ra chẳng thể nhận ra nữa rồi, không giống Phật gì hết, thôi tôi cũng bỏ đi đây!" Các bạn bỏ đi thì có quan hệ gì tới tôi? Tôi vốn dĩ là vô ngã mà! Cũng chẳng hề có người khác. Cơ bản là cũng chẳng hề có chúng sinh.

Khi bạn tu tới Hỏa quang tam muội, căn bản là chẳng còn người nào cả! "Trên chẳng còn Phật mà tu, dưới chẳng còn chúng sinh mà độ" - đây chính là cảnh giới của A La Hán. Tôi cũng tu tới cảnh giới này rồi! Do vậy khi bạn tu đến cảnh giới này, bạn có thể nói ra câu nói ở trên. Về cơ bản là tâm bạn cũng không động nữa, giả sử bạn có đánh chết tôi, tâm tôi vẫn bất động.

Bạn nói xem, đến cảnh giới này đi khiêu vũ thì có bị vũ nữ mê hoặc nữa không? Uống rượu có bị rượu làm cho say không? Hát một bài hát có bị mê đắm muốn chết không? Có thể nào không? Đến lúc này đã đi vào tính Không, hòa nhập với tính Không rồi, sống trên thế gian, vô sinh vô diệt. Bởi vậy việc thành tựu Bạch cốt quán là cực kì phi thường.

🌟

**A La Hán**

Khi Phật Thích Ca Mâu Ni tại thế thuyết pháp đã giảng về Tứ đế: Khổ - Tập - Diệt - Đạo, cho đến cuối đời ngài vẫn giảng Khổ - Tập - Diệt - Đạo. 
Khổ - Tập - Diệt - Đạo chính là con đường của A La Hán. Trước đây trong hầu hết các kinh điển, Phật Thích Ca Mâu Ni rất hiếm khi giảng về Đại thừa. Ngài thường giảng về Tiểu thừa: Khổ - Tập - Diệt - Đạo.

Do vậy bản thân khi Đức Phật còn tại thế, bạn có thể thấy là mười đại đệ tử của ngài đều là A La Hán, rồi 500 vị La Hán cũng đều là A La Hán đó! Vì sao ngài lại không nói là 500 Bồ Tát? Chính là bởi vì cảnh giới của họ đạt đến A La Hán. Đều là 500 vị đại A La Hán, 18 đại A La Hán, 10 đại đệ tử kì thực đều là 10 vị đại A La Hán. Còn Bồ Tát lại đều đến từ không gian bên ngoài. Khi Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Quan Thế Âm Bồ Tát, rất nhiều vị Di Lặc Bồ Tát từ đâu đến? Từ không gian bên ngoài.

Quan Thế Âm Bồ tát sinh từ đâu, diệt về đâu? Không có, đều là đến từ không gian bên ngoài. Do vậy Phật Thích Ca Mâu Ni khi độ chúng sinh thì thực sự giảng về Tiểu thừa và quả vị A La Hán là nhiều nhất. Mãi đến sau này ở Ấn Độ, khi tư tưởng Đại thừa phát triển, kinh điển Đại thừa mới lần lượt được dịch ra. Còn thời kì ban đầu khi Phật Thích Ca Mâu Ni giảng đều là Tiểu thừa và A La Hán.

Nhưng đừng chê bai Tiểu thừa, bởi vì Tiểu thừa chính là cơ sở của Đại thừa. Bạn không có được cảnh giới A La Hán thì bạn làm sao độ được chúng sinh? Có mà bạn bị chúng sinh độ đó! Tuyệt đối không phải là bạn độ chúng sinh đâu. Bởi vì bạn có tinh thần vô ngã, vô tha, vô chúng sinh, bạn đi độ chúng sinh thì mới không bị chúng sinh độ lại. Bạn biết rằng chúng sinh là một cái ổ phiền não khổng lồ. Bạn cần tu đến khi bản thân không còn phiền não nữa. Bạn đã vô ngã, vô tha, vô chúng sinh rồi thì lúc này bạn mới dựa vào cái tâm mát lành để đi độ chúng sinh mà không bị chúng sinh độ ngược lại.

Giả sử nếu bạn vẫn chưa có được cơ sở của Tiểu thừa mà đã cứ mở miệng ra nói là muốn độ chúng sinh: "Tôi nhất định muốn độ chúng sinh, tôi chính là muốn độ hết thảy chúng sinh đến Tây phương cực lạc thế giới". Khẩu hiệu này bạn hô hào rất to. Nhưng tối hôm đó mời bạn đến vũ trường một lát, bạn liền bị một cô gái độ đưa đi mất tiêu (mọi người cười) thì đừng có nói là bạn đi để độ chúng sinh! Một cô nữ sinh nhỏ bé đã độ bạn đi mất tiêu rồi. Bạn hô to như vậy, nhưng sau khi bạn đến chỗ vũ trường đó thì lại nói: "Tôi thực sự không biết thế gian này vẫn còn có chuyện hay như vậy." (mọi người cười) Vui quên cả lối về, cái gì cũng chẳng màng nữa rồi! Bảo anh ta quay lại học Phật, "No!" (mọi người cười) Khoái lạc lớn nhất của nhân gian đó! Nhân gian có mấy thứ khoái lạc lớn nhất. Đồ ăn và sắc dục là khoái lạc lớn nhất của nhân gian. Chỉ có A La Hán mới có thể thoát khỏi những cám dỗ của đồ ăn và sắc dục mà thôi.

Bạch cốt quán - vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, có thể giúp đạt được đại định trong Hỏa quang tam muội. Người đạt được đại định trong cái lạc của Không mới là A La Hán chân chính, mới là một đại tu hành giả chân chính. Bạn lấy sự thành tựu này làm cơ sở để phát Đại bồ đề tâm của Đại thừa thì mới có thể được. Đó chính là Phật pháp Đại thừa.

🌟

**Thanh lương độ**
Nhưng tôi không hề dạy mọi người sau này không cần độ chúng sinh nữa. Tuyệt đối không phải vậy, các bạn đừng hiểu lầm ý của tôi. Ví dụ bạn nói là, oa, sư phụ bảo là căn cơ A La Hán của tôi vẫn chưa đến, thế nên tôi không thể đi độ chúng sinh được, tuyệt đối không phải như vậy. 

Bất kể là bạn đi độ người ta hay là bị người ta độ, bạn cần kiên định tín tâm của chính bản thân mình. Khi tín tâm của bạn đủ rồi, tu định có nền tảng ban đầu rồi, trong quá trình tu định có được định tính là cũng có thể độ chúng sinh được rồi. Nếu không bạn có thể tập phát Bồ đề tâm của Đại thừa bồ đề. Nói cách khác là giả định bạn đã đọc rất nhiều kinh điển và bạn đã hiểu đạo lý thì "Mặc dù tôi vẫn chưa thực tu, vẫn chưa đến được cảnh giới định, nhưng tôi sẽ giảng đạo lý này cho các bạn nghe". Có thể làm như vậy được không? Có thể! Ví dụ ngày hôm nay các bạn đã nghe đạo lý mà Sư Tôn giảng sẽ đều biết được.

Bạn thử nghĩ xem - "Bây giờ tôi đã hiểu thế nào là Bạch cốt quán, thế nào là Hỏa quang tam muội, thế nào là Định giới, bây giờ tôi hiểu rồi, thế nên tôi có thể đi giảng cho đồng môn khác nghe, hoặc là giảng cho người nhà tôi nghe chứ?" Bạn có thể làm như vậy được! Việc này cũng chính là độ chúng sinh. Nên nhớ lúc này bạn đã hiểu được lý luận, nhưng bạn vẫn chưa thực tu, vẫn chưa thể thực sự vô ngã, vô tha, vô chúng sinh. Bạn sẽ vẫn cần tu đến khi nào thực sự vô ngã, vô tha, vô chúng sinh, lúc này bạn mới được gọi là đạt được Định. Lúc đó mới thực sự chính xác là bạn đã nhập Tam ma địa, có thế ở trong định phát quang, phát triển trí huệ của bạn, phát lộ ra trí huệ của chính bạn.

Khi chưa tu hành đến được Định giới mà bạn đi độ chúng sinh thì chỉ gọi là "dựa trên lý luận phát bồ đề tâm để độ chúng sinh". Sau khi bạn có được Định rồi, bạn đi độ chúng sinh thì sẽ gọi là Thanh lương độ. Nghĩa là độ chúng sinh một cách bất hoại, bất loạn, bất động, nói cách khác là đã được như kim cương bất hoại rồi. 

Khi bạn đến được cảnh giới này thì xem như đã là Kim cương bất hoại. Ý nghĩa của kim cương bất hoại chính là thân thể của bạn đã không thể bị hủy hoại nữa. Không có thứ gì có thể hủy hoại bạn được. Tâm tính của bạn cũng sẽ không bị loạn nữa, mà đã thực sự rất Định rồi, bất hoại, bất loạn, bất động. Bất động là sao? Ở đây có thể nói là cho bạn đi đến bất kì nơi nào, bạn ở vào bất kì hoàn cảnh nào, tâm của bạn đều không bị thay đổi, bản thân bạn đã cực kì kiên cố.

Do vậy người nào đã đạt được Tam ma địa kiên cố vững chắc, ở trong Hỏa quang tam muội tu thành đại A La Hán, đã thành tựu vô cùng vĩ đại siêu việt, lại phát tâm độ chúng sinh thì sẽ trở thành Bồ Tát. Khi giác hành này đều viên mãn hết thì sẽ thành Phật. Pháp nhập Tam ma địa này, mọi người có thể lĩnh hội được không?

Hôm nay tôi đã giảng về Cửu tiết Phật phong, Nhập ngã - ngã nhập, pháp Đếm hơi thở và Bạch cốt quán. Đương nhiên, trong Tam ma địa này có rất nhiều rất nhiều cảnh giới. Nếu giảng về những cảnh giới này thì dù chỉ giảng một Tam ma địa thôi cũng sẽ cần phải nói rất dài. Nhưng hôm nay là tôi dạy mọi người thực tu, Cửu tiết Phật phong, Nhập ngã - ngã nhập, Đếm hơi thở, Bạch cốt quán. Tu Bạch cốt quán đến tận cùng thì đạt được Hỏa quang tam muội.
Om mani padme hum!


## 21. Thứ tự sinh khởi và thứ tự viên mãn


Các vị Thượng sư, các vị đồng tu, xin chào mọi người!
Hôm nay là ngày thứ năm tôi giảng chi tiết về nghi quỹ tu trì hoàn chỉnh Mật pháp. Trước khi bắt đầu bài giảng chính thức, hôm nay tôi muốn cùng mọi người nói chuyện về hai dạng thứ tự của Mật giáo, một cái là "Thứ tự sinh khởi", một cái là "Thứ tự viên mãn". Trong Mật giáo, hai dạng thứ tự này vô cùng quan trọng.

Nhìn chung đối với căn khí của phần đông chúng ta thì chúng ta đều tu theo Thứ tự sinh khởi. Còn Thứ tự viên mãn là dành cho đại Bồ Tát, cho những người có căn khí lớn tu. Thông thường chúng ta thực tu Mật pháp thì sẽ tu từ cơ bản mà lên, như vậy thì cần phải tu Thứ tự sinh khởi.

🌟

**Thứ tự sinh khởi**
Thứ tự sinh khởi là gì? Nó giống như là trước tiên bạn cần học mẫu giáo, rồi học tiểu học, rồi đến sơ trung, cao trung, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ. Nhưng đương nhiên cũng có những người từ khi còn rất nhỏ đã là thiên tài rồi, mười mấy tuổi, hai mươi mấy tuổi đã học đến tiến sĩ rồi. Có người mới hai mươi tuổi, hoặc là vẫn còn đang ở trong độ tuổi học cao trung (cấp 3), người đó đã học đến bậc tiến sĩ rồi, đây là người có căn khí lớn.

Thế còn đối với những người không tu hành dựa theo thứ tự sinh khởi mà trực tiếp bước vào lớp học tiến sĩ, thì chính là người đó ngay khi vừa bắt đầu là đã tu theo Thứ tự viên mãn rồi, người này là thiên tài. Thế còn "xuẩn tài" như Sư Tôn đây, bộ não này của tôi tuyệt đối chẳng phải là cái máy tính, não của Sư Tôn là "não Trư", bởi thế nên tôi đi rất từ từ. Năm 26 tuổi tôi mới bắt đầu lần mò tu hành, cho đến bây giờ là 48 tuổi. Sau hai mươi mấy năm công phu, từ khởi đầu tu theo Thứ tự sinh khởi, cuối cùng đã có thể đến được Thứ tự viên mãn.
[ND: "não Trư" là não của Trư Bát Giới - là não heo.]

Để tu hành theo Thứ tự sinh khởi trong Mật giáo, Chân Phật Mật Pháp của chúng ta trước tiên cần tu Tứ gia hành, đây chính là nền móng của mọi Mật pháp. Do vậy đệ tử mới quy y thì cần tu Tứ gia hành trước. Sau khi tu Tứ gia hành được tương ứng rồi thì lại tu đến Thượng sư tương ứng pháp. Tu tương ứng được Thượng sư tương ứng pháp rồi thì lại tu đến Bổn tôn pháp. Bổn tôn pháp tương ứng rồi thì lại tu pháp Kim cang. Pháp Kim cang tương ứng rồi thì cuối cùng mới tu Vô thượng mật, Đại viên mãn. Tu đến trình độ Vô thượng mật rồi thì có thể nói là đến Thứ tự viên mãn. Đây chính là một dạng thứ tự tu hành.

Nhưng trong quá trình tu từ pháp Bổn tôn đến pháp Kim cang lại có vài lớp thứ tự bên trong đó. Không hẳn là nói rằng tu tương ứng được Bổn tôn pháp rồi thì lập tức tu lên Kim cang pháp ngay, mà sau đó cần tu nền tảng của pháp Kim cang.

Hai mươi mấy năm tu hành của tôi, thứ tự các lớp tu hành của tôi như thế nào tôi sẽ giảng cho mọi người nghe. 
Trước tiên tôi tu Tứ gia hành, tiếp theo là Thượng sư tương ứng pháp, rồi lại tu đến Bổn tôn pháp. Sau khi tương ứng được với Bổn tôn thì bạn đã có thể thành Phật rồi, nhưng việc thành Phật này chỉ là "tiếp dẫn thành Phật". Vài ngày trước tôi đã nói qua rồi, đó là khi bạn vừa nhắm mắt rời khỏi nhân gian, bạn sẽ lập tức nhìn thấy Bổn tôn. Việc thành Phật này là có bảo đảm, bởi vì đến lúc bạn sắp sửa nhắm mắt lìa đời thì Bổn tôn lập tức hiện lên trước mắt, lập tức sẽ đưa bạn đi, tiếp dẫn bạn thành Phật, tuyệt đối không có vấn đề gì sai khác.

🌟

**Bảo bình khí**
Sau khi bạn tương ứng được pháp Bổn tôn rồi thì tu cái gì đây? Bạn sẽ tu cơ sở của pháp Kim cang. Cơ sở của pháp Kim cang trước tiên cần tu bình khí - Bảo bình khí. Vì sao cần phải tu Bảo bình khí?

Bảo bình khí là cơ sở của nội hỏa, khí của bạn cần đủ thì lửa mới dễ sinh ra. Bởi vì khí ở trong thân thể bạn có sự vận chuyển, nếu như bạn có đủ đầy, bạn có thể trở thành một nguồn điện, nói cách khác là giống như nguồn điện của thang máy vậy. Khí của bạn dư thừa thì chính là bạn có được nguồn điện đủ đầy, lúc đó thang máy của bạn mới có thể hoạt động được. Bạn tu được bình khí dư thừa thì bạn mới tu đến nội hỏa, nếu nội hỏa được thắp lên thì sẽ thông trung mạch, trung mạch khi đó mới có thể thông được. Đây chính là tu để thông trung mạch.

Trung mạch là cái thứ gì vậy? Chính là một quỹ đạo cho thang máy đi lên, là một đường quỹ đạo ở chính giữa từ Hải để luân (luân xa 1, luân xa đáy biển) một mạch đi thẳng tới Đỉnh luân (luân xa 7, luân xa đỉnh đầu), chính là đường đi của thang máy. Nguồn điện cho thang máy này chính là khí đó! Bạn đã tu đủ Bảo bình khí rồi thì bạn tu nội hỏa. Thế nội hỏa là cái thứ gì vậy? Chính là cái thang máy. Bên trong thang máy vận chuyển cái thứ gì vậy? Chính là vận chuyển minh điểm. Minh điểm là cái thứ gì vậy? Chính là tinh khí trên thân bạn, là kết tinh của thần.

Bây giờ tôi giảng cho bạn rõ, kết tinh của Tinh - Khí - Thần chính là được đặt bên trong thang máy, được vận chuyển lên trên, nên đường trung mạch này mà thông thì bạn lập tức nhìn thấy được tịnh quang.

🌟

**Mở 5 luân xa**
Sau khi trung mạch đã thông thì bạn tu gì nữa? Bạn tu 5 luân xa, mở 5 luân xa. Tâm luân (luân xa tim) này mà mở ra thì báo thân Phật sẽ hình thành. Luân xa họng mà mở ra thì ứng thân Phật sẽ hình thành. Luân xa thiên nhãn mà mở ra thì pháp thân Phật sẽ hình thành. Tam Phật - ba thân Pháp - Báo - Ứng thân đều được tạo ra. Còn bên trong 5 luân xa sẽ được phân chia cho Ngũ đại Kim Cang, chính là khi ta tu pháp Kim cang. Khi bạn tu thành tựu pháp Kim cang rồi thì có thể tu Vô thượng mật.

Quá trình tu hành của tôi như tôi đã nói với mọi người, từng cấp độ tu hành của tôi chính là Tứ gia hành, Thượng sư tương ứng, Bổn tôn pháp, Bảo bình khí, Nội hỏa minh điểm, thông trung mạch, mở 5 luân xa, Vô thượng mật, Đại viên mãn. Đến được Vô thượng mật tối thượng rồi, đến được Đại viên mãn rồi thì chính là Thứ tự viên mãn. Các cấp độ tu hành chính là như vậy.

🌟

**Tứ gia hành - Pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát (Vajrasattva)**
Có người hỏi tôi, hy vọng Sư Tôn từ bi khai thị, giảng dạy Tứ gia hành, pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát và pháp Thượng sư tương ứng. Kì thực đối với Tứ gia hành thì chúng ta đã nói xong về Tam gia hành rồi, gồm Đại lễ bái, Đại cúng dường, Tứ quy y, chính là Tam gia hành đó. Cái thứ tư chính là pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát.

Nghi quỹ tu trì pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát tương đối giống như pháp tu Thượng sư tương ứng pháp và pháp Bổn tôn trong nghi quỹ tu trì Mật pháp hoàn chỉnh mà chúng ta hiện đang giải thích ở đây. Chỗ khác biệt nằm ở đâu? Chính là thủ ấn không giống nhau, chú ngữ không giống nhau, quán tưởng cũng không giống nhau.

Giả sử bạn đã rất cẩn thận, tới đây nghe Sư Tôn trong mấy ngày này giảng chi tiết về Nghi quỹ Mật pháp hoàn chỉnh. Sau đó bạn tìm hiểu rất tỉ mỉ, học một hiểu mười, bạn có thể tu trì cực kì hoàn chỉnh pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát. Mọi người hiểu được chỗ khác nhau giữa pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát, pháp Thượng Sư Tương ứng và pháp Bổn tôn ở đâu không? Chính là thủ ấn khác nhau, chú ngữ khác nhau, quán tưởng khác nhau.

Bạn hãy chú ý xem video. Lần này video tôi giảng chi tiết nghi quỹ tu trì Mật pháp hoàn chỉnh, nếu bạn xem cẩn thận sẽ rút ra được nhiều điều. Kì thực, nghi quỹ mật giáo nhìn trên phương diện ngoại pháp mà nói thì không thể tách rời khỏi pháp Tứ gia hành, không thể thiếu quán tưởng, trì chú, nhập Tam ma địa, sau khi xuất định thì gia trì thêm và hồi hướng. Chờ một lát nữa chúng ta sẽ nói về sau khi xuất định thì cần làm cái gì.

Hôm nay tôi cùng mọi người giải thích về việc giảng dạy Mật pháp. Bạn hãy động não suy nghĩ thật kĩ, Tứ gia hành là gì? Bạn tu thêm pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát chính là Tứ gia hành. Khi tu thêm Thượng sư tương ứng pháp và Xả thân pháp thì gọi là Lục gia hành. Đây chính là Lục gia hành của Mật pháp.

Thế còn khi bạn tu pháp Bổn tôn, chỉ cần bạn tương ứng được với Bổn tôn, tôi đã giảng rồi, đảm bảo bạn sẽ thành Phật. Nếu không thành Phật, các bạn cứ tới tìm tôi. Không chỉ Thượng sư đến tiếp dẫn bạn mà còn có cả Bổn tôn nữa. Bạn đến Phật quốc nào, đến Phật quốc của Bổn tôn nào thì bạn chắc chắn có thể tới được đó.

Giả sử bạn không ngừng tu hành, tu Chân Phật Mật Pháp với mật độ dày, thế mà bạn vẫn không thành tựu, không thể thành Phật, Phật Bồ Tát không đến tiếp dẫn bạn. Tới lúc đó bạn lại phải xuống gặp Diêm Vương, bạn cứ nói với Diêm Vương là tại vì Lư Sư Tôn dạy nên tôi vẫn chưa thành Phật được. Tôi sẽ lập tức xuống địa ngục để tiếp dẫn bạn, bạn chắc chắn có thể thành Phật. (mọi người vỗ tay) Tôi dám nói như vậy đó! Hôm nay nếu bạn dựa theo nghi quỹ Chân Phật Mật Pháp này mà thực tu, nhất định sẽ được tương ứng.

Hiển giáo bình thường chỉ giảng về niệm Phật, Phật A Di Đà đã tiếp dẫn bạn đến Tây phương cực lạc thế giới rồi, chỉ có niệm Phật thôi mà đã có thể được tiếp dẫn đến Tây phương cực lạc thế giới rồi đó! Còn chúng ta ở đây có cả thủ ấn, có câu chú, có quán tưởng, lại còn có nhập Tam ma địa - Định, còn cả niệm Phật nữa! Mỗi một pháp này, gần như chắc chắn cứ mỗi một pháp này đã đều có thể bảo đảm bạn thành Phật được.

Việc này cực kì vĩ đại, vô cùng chính xác, thực sự có thể tương ứng được và gắn kết chặt chẽ với Phật pháp. Trên thế gian này rất khó có người thầy nào có thể giải thích rõ ràng như thế này.
Có rất nhiều các vị Phật sống Tây Tạng thuyết pháp, (đương nhiên cũng có rất nhiều đại Hoạt Phật hiểu biết rất nhiều), nhưng rất nhiều Lama, rất nhiều đại Hoạt Phật dạy đệ tử của họ bảy, tám năm, họ cùng đệ tử bảy, tám năm chỉ học mỗi Tứ gia hành.

Mọi người nghĩ thử xem, hôm nay chúng ta đã có thể ở đây nghe giảng Mật pháp cực kì hoàn chỉnh này, từ đầu đến cuối, các bạn đều có thể thâm nhập vào cảnh giới của nó. Đây chính là công phu tâm huyết mà tôi đã mất cả hơn 20 năm, chính là những kinh nghiệm và khẩu quyết của chính bản thân mình mà đem ra dạy cho mọi người. Bởi vậy mọi người nên trân trọng những pháp này.

Chỉ cần mọi người tu hành cho tốt, ai nấy sẽ đều có thể gặp được Sư Tôn ở Tây phương cực lạc thế giới. (mọi người vỗ tay)

Tứ gia hành này kì thực chính là có thêm pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát. Nghi quỹ của Kim Cang Tâm Bồ Tát chính là nghi quỹ Mật pháp hoàn chỉnh mà tôi đã giảng kĩ. Ngoài thủ ấn, quán tưởng, trì chú là khác ra thì các mục khác đều giống nhau. Pháp Thượng sư tương ứng cũng vậy, hai pháp này đều vô cùng quan trọng.

🌟

**Không thoái đạo tâm**
Bạn cần biết rằng pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát cũng chính là một đại pháp để sám hối, cũng là một đại pháp về tính Không, lại còn là một đại pháp để bổ khuyết. Còn pháp Thượng sư tương ứng là bằng chứng của việc vãng sinh, thỉnh cầu sức mạnh nương dựa duy nhất. Bạn tương ứng được với Thượng sư rồi, tuyệt đối không được thoái lui đạo tâm. Vì sao lại không được thoái lui đạo tâm?

Bởi vì Thượng sư đâu có thoái lui đạo tâm! Tôi không hề thoái lui đạo tâm, nhưng bạn lại thoái lui đạo tâm là bởi vì bạn không còn tương ứng với tôi - với Thượng sư nữa rồi. Đơn giản là như vậy! Đúng không? Hôm nay bạn tu pháp đã được tương ứng với Sư tôn rồi, thế sao bạn còn thoái lui đạo tâm? Sư Tôn đâu có thoái lui!

Nói cho mọi người hay, giả sử hôm nay tôi bị người ta chửi cho chết, bị người ta đánh tới chết, tôi cũng sẽ không thoái lui đạo tâm. Còn nếu bạn thoái lui đạo tâm, việc này cho thấy căn bản là bạn chẳng hề tương ứng với Thượng sư. Vì bạn đã tương ứng với thầy rồi thì làm sao còn thoái lui đạo tâm được nữa! Làm sao có thể? Thượng sư ăn một miếng khoai, các bạn cũng ăn một miếng khoai, có đúng vậy không? Thượng sư thành Phật, các bạn nhất định thành Phật! Khi bạn đã tương ứng với Thượng sư rồi, Sư Tôn đã là Hoa Quang Tự Tại Phật, bạn có "Hoa Quang" không? Có! Chính là đôi mắt lấp lánh đó! (mọi người cười) 

Bạn có Tự Tại không? Bạn đã đạt được đại tự tại chưa? Chưa, chẳng tự tại được chút nào! Bởi vì sao mà chưa tự tại? Bởi vì người ta vừa chửi tôi gì đó là bạn lập tức chẳng còn tự tại được nữa. Buổi tối bạn chẳng thể ngủ được, cơm cũng chẳng muốn ăn!
[ ND: Nếu bạn thật sự tương ứng với Thượng sư rồi thì dù ai có chửi Sư Tôn hay chửi bạn, bạn cũng vẫn sẽ Tự tại. Bởi vì Sư Tôn luôn Tự tại. ]

🌟

**Miên quang pháp**
Có người tới tham vấn một đại sư Thiền tông.
Anh ta hỏi:
“Gần đây ngài có chăm chỉ tu hành không?”
“Tôi rất chăm chỉ.”
“Ngài chăm chỉ như thế nào?”
“Ăn cơm rồi ngủ.”
“Í, thế ngài ăn cơm rồi ngủ mà là chăm chỉ, thế chẳng phải người trong thiên hạ đều chăm chỉ hay sao? Người trong thiên hạ đều ăn cơm rồi ngủ mà! Đúng vậy không?”

Hầy! Đại sư Thiền tông nói: "Khác nhau. Ta ăn cơm rồi ngủ khác người khác ăn cơm rồi ngủ.”
“Khác như thế nào?” 
Sư phụ Thiền tông này nói rằng: "Khi ta ăn cơm ăn rất tốt, ăn rất ngon miệng, ăn đến mức cả tinh thần đều tràn đầy, nhất tâm vào việc ăn, ta ăn cơm rất trang nghiêm.”

Đừng bảo là ăn cơm thì trang nghiêm ở chỗ nào, Sư Tôn ăn cơm có trang nghiêm gì đâu. Có lúc Sư Tôn cầm bát lên rồi húp soàn soạt hết sạch cả bát canh này! Chẳng có gì trang nghiêm cả. Tuy biểu hiện bên ngoài là không trang nghiêm, nhưng nội tâm bên trong thì rất trang nghiêm đó. (mọi người cười)

Sư Tôn ăn rất ngon miệng, mỗi bữa ăn đều rất ngon miệng, hơn nữa bảo đảm mỗi bữa đều ăn rất nhiều. Lượng thức ăn mà tôi ăn đều được tiêu hóa rất tốt, ăn rất trang nghiêm, đây chính là công phu tu hành.

Ngoài ra, tôi cũng ngủ rất tốt, ngủ rất ngon lành! Việc ngủ của tôi cũng không giống người khác, hễ ngủ là tôi ngủ rất sâu, trước nay chẳng hề mất ngủ, hễ nằm xuống là tôi biến thành chày kim cương, rất kiên cố, đúng vậy không? Tôi tu Miên quang pháp, buổi tối đi ngủ vẫn còn phóng quang đấy! Đi ngủ phóng quang, phóng ra ánh sáng đỏ, giống như một chiếc ô che phủ lấy chính mình, đó là công phu của tôi đó! Tôi hóa thành chày kim cương, rất kiên cố, ma quỷ chẳng dám bén mảng tới, bởi vậy tôi ngủ rất sâu. Buổi sáng hôm sau ngủ dậy tinh thần rất tốt. Trong lúc ngủ tôi vẫn còn tu pháp, trong khi ngủ còn tu Vô lậu. Việc này chẳng hề đơn giản đâu!

Sư Tôn còn luyện tập Đồng Tử Công nữa! [ ND: công pháp để trở lại như còn trẻ ]. Các bạn nghĩ Sư Tôn mà luyện Đồng Tử Công ấy à, đương nhiên rồi! Trong quá khứ tôi đã từng kết hôn, rồi sinh ra Phật Thanh, Phật Kỳ. Thế Đồng Tử Công là cái gì? Trước đây đương nhiên tôi chẳng phải là "trinh nam" rồi! Nhưng giờ thì sáu, bảy năm nay tôi đều sống chay tịnh (mọi người cười). Tôi sống chay tịnh để làm gì à? Để trở thành "trinh nam" lại từ đầu đó.

Tôi luyện tập hít một hơi khí vào là có thể bế khí, tới mức độ có thể đóng lại bất kì kênh rò rỉ, thoát khí nào. Tu pháp Vô lậu, thân thể phóng quang, không chỉ có ban ngày vô lậu, ban đêm vô lậu, trí huệ vô lậu, phiền não vô lậu, vật chất vô lậu. 

Buổi tối tôi ngủ chính là đang tu hành, tôi có thể kiểm soát giấc mơ của mình, không bị giấc mơ lôi kéo đi. Hôm nay nếu bạn ngủ mơ nhưng không biết là mơ, không biết là mình đang nằm mơ, đó là vì công phu tu hành không đủ. Buổi tối hễ nằm mơ, thảm rồi, bạn gái xuất hiện. Buổi tối hễ nằm mơ, ai dô, bạn trai xuất hiện. Phải làm sao đây? Chúng ta chỉ có thể "teng teng teng…….".  "Teng teng teng……." là sao cơ? Chính là mượn con rối tay này để mà biểu diễn một màn múa rối rằng: "Nói ra thì dài lắm, chỉ bằng dùng âm thanh đều biểu thị thôi, tùng tùng tùng, ba tiếng trống này (mọi người cười), ba tiếng kêu này nghĩa là gì, chính là "thôi xong rồi".

Tu hành buổi tối còn quan trọng hơn cả ban ngày. Bởi vì buổi tối hễ bạn nằm mơ là sẽ bị giấc mơ kéo đi, không biết đó là mơ, rất dễ để mất Tinh - Thần - Khí, mà rò rỉ mất rồi thì coi như uổng phí nỗ lực bao lâu nay. Bạn thức dậy, đầu óc quay cuồng, sức tàn lực kiệt thì còn tu cái gì nữa? Tôi thấy thế là thôi rồi đó!

Làm một phàm phu dễ hơn, làm thánh nhân rất khó. Ban ngày cho dù tôi là một người xuất gia rất thánh tiết, tôi giảng kinh rất nhiều người nghe tôi, nhưng đến buổi đêm thì tôi lại có những giấc "mộng xuân", như vậy có được không? Không được! Bạn cần tu Miên quang, tu Thụy mộng đại thủ ấn, làm Bia giáp hộ thân, những thứ này Mật giáo mới có, Hiển tông không có. Bạn làm như vậy thì buổi tối sẽ ngủ rất ngon.

Tôi ăn ngon, ngủ ngon, chính là tôi đang rất chăm chỉ, có đúng không? Tu hành Mật pháp này ban ngày cũng cần tu, buổi tối cũng cần tu, lúc nào cũng đều trong trạng thái tu hành, trong cuộc sống hàng ngày cũng tu hành. Bạn sẽ đạt được đại tự tại, không bị ma quỷ xâm phạm, Chuyện gì bạn cũng có thể vượt qua, buông bỏ, tự tại. Đó là "I-chi-ban".
[ ND: "I-chi-ban" trong tiếng Nhật nghĩa là "Số một". ]

Pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát, Thượng sư tương ứng bạn đều có thể học ra từ trong nghi quỹ Mật pháp hoàn chỉnh mà Sư tôn đã giảng chi tiết. Nhắc lại, pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát, pháp Thượng sư tương ứng đều có thể tìm được trong nghi quỹ. Đây chính là Thứ tự sinh khởi của việc tu hành. Mọi người đã hiểu được Thứ tự sinh khởi rồi, hiện giờ tôi giảng nghi quỹ tu hành bổn tôn A Di Đà Phật. Cần lấy một ví dụ để giảng (về pháp tương ứng Thượng sư, bổn tôn) nên tôi chọn lấy nghi quỹ Mật pháp tu hành bổn tôn A Di Đà Phật để giảng, hy vọng mọi người có thể học một hiểu ba.

Thế còn đối với mỗi đệ tử quy y thì sao? Cũng giống vậy, bắt đầu từ Tứ gia hành, trước tiên tu Đại lễ bái, Tứ quy y, Đại cúng dường, Kim Cương Tâm Bồ Tát, Thượng sư tương ứng pháp, rồi tu Bổn tôn pháp. Tương ứng được với bổn tôn rồi thì đảm bảo được thành Phật. Tiếp đó bạn sẽ tu Bảo bình khí, nội hỏa minh điểm, thông trung mạch, Kim cang pháp, Vô thượng mật, rồi đến Đại viên mãn. Như vậy mọi người đã hiểu được chưa?

🌟

**Thứ tự viên mãn - Lập đoạn**
Bây giờ chúng ta nói tiếp đến Thứ tự viên mãn. Cái gì được gọi là Thứ tự viên mãn? Phương pháp tu hành tối thượng thừa thì phải những người ở đẳng cấp tiến sĩ mới tu được. Kì thực học Thiền tông chính là đang tu Thứ tự viên mãn. Khi mới bắt đầu tu Thứ tự viên mãn, người có căn khí lớn thì huệ lực, huệ căn của người đó vô cùng sắc bén, anh ta ngay lập tức có thể "đi tắt", người bình thường chúng ta chẳng có cách nào để đi tắt cả, nhưng anh ta có thể đi tắt. Ví dụ như vị tổ sư của Thiền tông - Tổ sư Đạt Ma (Bodhidharma), ngài lập tức có thể "đi tắt" (lập đoạn).

Nhị tổ của Thiền tông - Huệ Khả đến gặp Tổ sư Đạt Ma, Tổ sư Đạt Ma hỏi: "Anh đến đây làm gì?" Huệ Khả đáp: "Tôi đến để cầu được an tâm." Tổ sư Đạt Ma hỏi: "Anh lấy tâm ra đây, tôi sẽ an nó cho anh. Anh yêu cầu được an tâm mà! Thế thì anh lấy tâm ra đây cho tôi, tôi sẽ an nó cho anh." Huệ Khả đáp: "Tôi làm sao để tìm được tâm của tôi đây? Tôi không tìm thấy tâm của tôi." Tổ sư Đạt Ma đáp: "Tốt thôi! Tôi đã an cái tâm của anh rồi đó."

Đây là một công án của Thiền tông. Huệ Khả này cũng rất thông minh. Con người có cái gốc thông minh sắc bén như ông chỉ cần nghe Tổ sư Đạt Ma nói với mình rằng, tôi đã an cái tâm của anh rồi, thì chính là cái tâm đã được an rồi. Người thông minh như ông lập tức khai ngộ, ông lập tức đã khai ngộ rồi. Ông đã biết, mà một khi đã biết thì lập tức được Đại viên mãn. Đại viên mãn chính là như vậy - lập tức khai ngộ.

Hôm nay tôi kể công án này cho mọi người nghe, mọi người có ai khai ngộ không? Khai ngộ thì thành Phật đó! Bạn chỉ cần nghe một công án này, nếu bạn có thể thâm nhập và hiểu thấu công án này, thì bạn lập tức hiểu rõ Phật pháp là gì. Nhưng chỉ e là bạn chẳng có cách nào lĩnh ngộ được. Nhị tổ Huệ Khả người ta vừa nghe Tổ sư Đạt Ma nói, tôi đã an cái tâm của anh rồi đó, ông lập tức khai ngộ rồi.

Tôi lại kể một công án thứ hai. Thiền sư Đức Sơn viết "Kim Cương Kinh Sớ". Trong Kim Cương Kinh Sớ này ngài đã giải thích Kinh Kim Cương vô cùng rõ ràng. Thế là ngài treo Kim cương kinh sớ vào đầu một cây sào để đi triệt phá tà ma ngoại đạo. Ngài cho rằng Kim Cương Kinh Sớ vô cùng phi thường. Ngài đã có thể hiểu được những đại ý của Kinh Kim Cương, đã viết ra một cuốn Kim Cương Kinh Sớ rất dày, rồi treo ở đầu cây gậy đem đi phá tà ma ngoại đạo.

Ngài đến một tiệm bán bánh, là một quán ăn nhẹ, gặp một bà lão. Bà lão hỏi ngài: "Này pháp sư, ngài treo cái thứ gì trên sào vậy?" Thiền sư đáp: "Tôi mang kinh Kim Cương, kinh sách, tôi là người đã hiểu được ý nghĩa to lớn của kinh Kim Cương."

Bà lão muốn kiểm tra ông bèn nói rằng: "Hôm nay tôi bán điểm tâm, Thiền sư Đức Sơn đây rất giỏi, hôm nay tôi sẽ hỏi một câu, nếu ngài trả lời được, tôi sẽ miễn phí điểm tâm cho ngài ăn. Nếu ngài không trả lời được, ngài phải đi khỏi đây, không được ăn điểm tâm của tôi nữa."

A! Thiền sư Đức Sơn bèn mời bà nói, bà lão liền hỏi: "Trong kinh Kim Cương nói, tâm quá khứ không thể đắc, tâm hiện tại không thể đắc, tâm tương lai không thể đắc, xin hỏi ngài muốn gọi món điểm tâm của tôi, là tâm gì?" Thiền sư Đức Sơn trong một chốc không thể trả lời được, ba loại tâm không thể có được, bạn gọi món điểm tâm của bà lão thì là tâm gì? Thiền sư không trả lời được, rất xấu hổ.

Tôi nói cho mọi người nhé, pháp Thứ tự viên mãn chính là pháp Đốn, cắt đứt lập tức, chặt bỏ lập tức. Pháp Thứ tự sinh khởi là pháp Tiệm, nghĩ là từ từ, cứ từng cấp từng cấp độ mà tu lên, đi thẳng đến chỗ có thể cắt đứt, đây là Thứ tự sinh khởi.

Mật giáo có Thứ tự viên mãn, Thứ tự viên mãn chính là Thiền tông! Sự "cắt đứt" của "Vô tướng Mật tông". Nói để mọi người nào muốn "đi tắt" biết, nếu bạn có thể cắt đứt, bạn liền thành Phật, không thể lập tức cắt đứt, không thành Phật được.

Tổ sư Đạt Ma nói với Huệ Khả: "Lấy tâm ra, ta sẽ an cho anh." Huệ Khả đáp: "Tôi không tìm thấy tâm của tôi." Điều này là đúng! Vốn dĩ bạn chẳng thể tìm được tâm của bạn, nên lập tức cắt đứt lìa bỏ tâm này.

Về cơ bản tâm là cái thứ gì? Chỉ một câu thôi - Vô tâm. Vô tâm được thì thành Phật, bạn còn có tâm thì không thể thành Phật. Bà lão hỏi thiền sư Đức Sơn, ba loại tâm không thể có, ông gọi món tâm gì? Nếu thiền sư Đức Sơn trả lời bà thì câu trả lời nên là "vô tâm", bởi vì ba loại tâm không thể có được mà! Bạn gọi món điểm tâm gì? Bạn cần trả lời - Vô tâm. Bây giờ mọi người đều biết cách trả lời rồi đó, đều đã thành Phật rồi! (mọi người cười)

Câu trả lời "vô tâm" rất đơn giản, bây giờ chúng ta đều đã biết đáp án rồi, nhưng bạn biết đấy, bạn có thực tu đến khi không còn cái tâm không? Thứ tự Viên mãn trong tiếng Tây Tạng gọi là Treckcho, Togal. Treckcho và Togal chính là Lập đoạn, lập tức cắt bỏ hết, sau đó nhậm vận.

Nhậm vận là gì? Là thần thông nhậm vận. Thần thông nhậm vận là gì? Là đại tự tại. Thứ tự viên mãn chỉ có bốn chữ "Lập đoạn, Nhậm vận". Treckcho và Togal, Lập đoạn và Nhậm vận, chính là Đại Viên Mãn.

Người có đại trí huệ chân chính khi nghe nói đến Lập đoạn, bèn thắc mắc Lập đoạn là cái gì vậy? Tất cả mọi phiền não lập tức chuyển hóa từ địa vị phàm phu biến thành địa vị Thánh hiền, nói cách khác là người đại trí huệ đã từ phàm phu biến thành Thánh hiền.

Bạn có thể cắt đứt tất cả thứ của phàm phu, Đoạn - cắt đứt, bạn liền trở thành Thánh hiền. Chỉ e là bạn không thể cắt đứt được, chẳng khác gì "tơ trong cuống sen". [ ND: nghĩa là bên ngoài có thể cắt đứt nhưng bên trong vẫn còn vương vấn.]

Có một đệ tử đến nói với Sư Tôn: "Sư Tôn, con đã cắt đứt mọi ràng buộc rồi." Tôi nói: "Rất tốt, oa! Căn khí lớn." "Nhưng mẹ của con vẫn đang ốm." (cười) Anh đã cắt bỏ cái gì đâu! Anh cắt cái gì mà cắt chứ.

Được, hôm nay bạn lại đến nói với Sư Tôn: "Sư Tôn, con đã cắt đứt mọi ràng buộc rồi." Tốt lắm, bạn đã buông bỏ được rồi. "Nhưng hôm qua con chửi sếp mấy câu, tối không ngủ được." !!!

Việc lập tức buông bỏ này dạy bạn cần phải hoàn toàn trần trụi, cởi bỏ hoàn toàn quần áo không còn vương lại dù gì một sợi tơ, giống như là vũ điệu thoát y vậy, ở Mỹ gọi là topless gì đó, trong tiếng Nhật thì gọi là Sidolibu, ở Mỹ gọi là topless. (mọi người cười)

Tôi không bảo các bạn đi xem topless, cũng không phải bảo bạn tự show thân thể bạn, không phải đâu. Tôi chỉ bảo bạn làm trần trụi nội tâm của bạn, để tâm quang minh, không bị ô nhiễm dù chỉ một sợi tơ, bạn hoàn toàn tự do tự tại.

Bởi thế trong Mật giáo có giảng về Pháp thân Phật. Oa! Pháp thân Phật được vẽ mô tả hoàn toàn trần trụi. Còn báo thân Phật thì để trần một nửa, để lộ ra vai phải, mặc quần áo một nửa. Đây là báo thân Phật có hình tướng. Còn ứng thân Phật thì giống như Sư Tôn đây, phía trên mặc quần áo, phía dưới cũng vẫn mặc quần áo, mùa đông lại còn quàng khăn, đi tất, nghĩa là toàn thân được gói kĩ lại, đây chính là ứng thân Phật.

Pháp thân Phật - không vương dù chỉ một sợi tơ. Ý nghĩa của không vương dù chỉ một sợi tơ là một hình ảnh tượng trưng cho hoàn toàn trần trụi, hoàn toàn vô tâm. Nếu bạn có thể lập tức Lập đoạn, lập tức có thể chứng đắc đại tự tại, hiển hiện trong thần thông, nhậm vận đại tự tại, thì đây chính là Thứ tự viên mãn dành cho người có đại trí huệ, người có căn khí lớn tu.

Kì thực, một khi bạn có thể từ Thứ tự sinh khởi tu một mạch đến cảnh giới của Thứ tự viên mãn, bạn cũng lập tức có thể Đoạn, cũng có thể Nhậm vận. Bốn chữ của pháp Đại Viên Mãn mà Liên Hoa Sinh đại sĩ truyền dạy - Lập đoạn, Nhậm vận, chính là bốn chữ này. Đại sư Marpa đến Ấn Độ cùng với đại sư Naropa học Hằng Hà Đại Thủ Ấn, chính là học cái này. Hằng Hà Đại Thủ Ấn, Đại Thủ Ấn của dòng Kagyu được gọi là Thực trụ Đại thủ ấn (Sutra Mahamudra), đây vẫn chính là Thứ tự sinh khởi. Chỉ có Hằng Hà Đại Thủ Ấn, Đại Viên Mãn và Thiền tông là thuộc về phương diện Đốn ngộ, chính là Thứ tự viên mãn.

Tôi giảng về Thứ tự sinh khởi và Thứ tự viên mãn như vậy, rằng trong Mật giáo có sự phân chia Thứ tự sinh khởi và Thứ tự viên mãn, mọi người có thể hiểu được chưa? Trong đó, tôi cũng đã nói đến Tứ gia hành, pháp Kim Cương Tâm Bồ Tát, và pháp Thượng sư tương ứng. Tôi giải thích như vậy hẳn là mọi người đều biết thế nào là tu hành theo cấp bậc của Thứ tự sinh khởi, hẳn là đã hiểu cực kì rõ ràng rồi.

Trong tương lai tại Biệt thự Cầu Vồng, đợi đến sau khi giảng xong khóa này, tôi sẽ giảng về Nội pháp, chính là tu hành Khí - Mạch - Minh điểm. Sau này tôi sẽ giảng về Nội pháp, nghĩa là phải giảng xong Ngoại pháp trước rồi mới giải thích Nội pháp, pháp tức thân thành Phật như thế nào. Rồi sau khi giảng xong Nội pháp, thì sẽ lại giảng về Mật, nói cách khác là làm sao để tu bốn pháp quán đảnh về Đại Thủ Ấn và Vô Thượng Mật. Đến cấp độ Mật Mật rồi thì sẽ giải thích sâu hơn nữa về Đại Viên Mãn. Bốn cấp bậc của Mật giáo này, sau này tại Biệt thự Cầu Vồng tôi sẽ lần lượt giảng cho mọi người biết.

Tuy nhiên trên thực tế, trong cuộc đời của mình, bạn chỉ cần tu pháp bổn tôn, tu được tương ứng xong thì trên cơ sở đó bạn cũng đã tương ứng được với Ngoại pháp, nghĩa là đã có thể thành Phật rồi. So với niệm Phật của Hiển giáo - nghĩa là việc "tiếp dẫn thành Phật", thì lại càng vi diệu hơn, càng có bảo đảm hơn.

Lần này sau khi tôi giảng pháp xong rồi thì sẽ thế nào? Mọi người có thể cho rằng đến hôm nay là kết thúc rồi, nhưng kì thực vẫn còn ngày mai nữa. Vì vậy những ai tối nay muốn đi về thì hãy lưu lại một chút để tôi quán đảnh cho các bạn pháp Ngũ lộ tài thần và pháp bổn tôn trước. Những ai mong muốn được quán đảnh thì có thể nhận quán đảnh vào tối nay. Nói chung, tối nay hoặc ngày mai là các bạn có thể ra về rồi.

Thế còn ngày mai thì sao! Tôi đã chuẩn bị để cho mọi người đặt câu hỏi, các bạn có thắc mắc gì, các bạn có thể hỏi. Thời gian của buổi ngày mai sẽ để dành cho mọi người hỏi đồng thời tôi sẽ quán đảnh Ngũ lộ tài thần và pháp bổn tôn cho mọi người. Ngoài ra, các bạn còn muốn cầu quán đảnh gì, bạn cứ nói, đến lúc đó tôi sẽ quán đảnh cho các bạn.

Hôm nay là này thứ năm tôi giảng pháp cho mọi người nghe, bốn ngày trước giảng pháp đều là nói về Tiền hành và Chính hành. Hôm nay tôi sẽ giảng về Hậu hành. Mật pháp hoàn chỉnh cần có Tiền hành, Chính hành và Hậu hành, ba mục này gộp lại thì mới là một Mật pháp hoàn chỉnh.
29/11/1992


## 22. Xuất định và trì tụng thêm các tâm chú khác


Xuất định
Chúng ta đã nhập Tam ma địa rồi, sau khi nhập Tam ma địa xong thì sẽ xuất định. Khi xuất định, khi bạn đã bắt đầu muốn xuất định, bạn sẽ biến thân thể - bổn tôn của mình thu nhỏ lại, cũng chính là quán tưởng ngược lại quy trình Nhập ngã. Bổn tôn thu nhỏ lại rồi ngồi trên tòa sen ở tâm luân. Thế rồi bổn tôn lại hóa thành điểm sáng từ trung mạch của bạn đi ra khỏi đỉnh đầu, đến đỉnh đầu thì điểm sáng lại hóa thành bổn tôn ở ngay trên đỉnh đầu, tiếp đó bổn tôn di chuyển về phía trước và quay người hiện ra ngay trước mặt bạn. Như vậy chính là Ngã nhập.

Lúc đầu bổn tôn ở trong tâm của ta, bây giờ lại đi ra ngoài, nhập vào trong hư không, việc này chính là Ngã nhập. Nhập ngã đã làm rồi, Ngã nhập cũng làm rồi, làm như vậy là đã xuất định.


🌟


Gia trì các tâm chú khác
Sau khi xuất định chúng ta cần làm việc gì nữa? Trong nghi quỹ mật pháp của chúng ta chính là gia trì các tâm chú khác.
"Om, a-mi-te-wa, seh."
"Om, ma-ni, pad-me, hum."
"Om, pu-la-mo lin-tho-lin, so-ha."
"Om, ha-ha-ha wei-sa-mo-ti, so-ha."
"Om, cha-le, chu-le chun-te, so-ha."
"Om, jam-ba-la, cha-lan, cha-na-ye, so-ha."
"Om ah hum, ben-za, gu-ru pe-ma sid-dhi hum."
"Om ah hum gu-ru-bei, a-ha-sa-sa-ma-ha, lian-sheng sid-dhi hum."
"Ta-dya-tha, om, be-kan-ze be-kan-ze, ma-ha be-kan-ze, la-za-sa-mo-kia-to-ya, so-ha."

Chúng ta niệm chú ngữ của Bát đại bổn tôn này chủ yếu nhất là để thỉnh cầu có thể kết duyên cùng với Bát đại bổn tôn. Kết duyên với Bát đại bổn tôn rồi thì từ Bát đại bổn tôn mà hóa thành tất cả chư Phật, Bồ Tát Ma Ha Tát của mười phương ba cõi. Ở đây chúng ta niệm các tâm chú của các bổn tôn khác, là cùng với mọi chư Tôn, với Bát đại bổn bôn trong Chân Phật Mật Pháp cùng kết duyên, không có chút phân biệt nào giữa vị này với vị khác. Chúng ta niệm chú này, mỗi câu chú gia trì niệm một biến, ba biến, bảy biến đều có thể được.


## 23. Chày và chuông kim cương gia trì


Yết-ma pháp (*)
[ ND: Yết-ma là dịch âm chữ Phạn của karma, nghĩa là nghiệp, yết-ma pháp nghĩa là thọ giới, thuyết giới, sám hối tội lỗi và các thứ xử lý của Tăng sự.]

Đến thời điểm này bạn đã có thể thực hiện gia trì cho các sự việc của chúng sinh. Ở đây hãy nhớ rõ là cần phải thực hành pháp, cầu thỉnh thêm Bát đại bổn tôn, niệm chú của Bát đại bổn tôn để gia trì thêm.

Lúc này thì bạn đang gia trì cho tất cả những người mong muốn được gia trì. Ta sẽ lắc chuông kim cương và chày kim cương một chút, đây chính là để làm pháp, là làm Yết-ma pháp.

Lúc này có thể làm Yết-ma pháp (Sư Tôn thị phạm). Đây là cách lắc chuông kim cương và múa chày kim cương cùng nhau để thực hiện pháp. Ở đây có một vài tác dụng. Nếu các bạn có thể luyện tập thành thạo việc lắc chuông và chày như thế này thì sau khi gia trì thêm bằng chú ngữ của Bát đại bổn tôn xong, bạn có thể lắc chuông và chày kim cương. Thực hành này bao hàm một vài ý nghĩa ở trong đó.

Chạm cái chày này vào chuông như thế này bốn lần (Sư Tôn thị phạm), cần quán tưởng ánh sáng trắng phóng ra bốn phía đông tây nam bắc. Ánh sáng trắng phóng ra được bao xa thì bạn sẽ kết giới được xa bấy nhiêu, đây là hành động kết giới.

Ta nghe tiếng chày gõ vào chuông và quán tưởng ánh sáng trắng phóng ra để làm kết giới giống như tôi đang làm đây (Sư Tôn thị phạm). Nhờ đó toàn bộ phạm vi của Biệt thự cầu vồng này đã được kết giới rồi. Bạn ở tại mật đàn trong nhà bạn thì sau khi bạn kết giới cho căn phòng xong thì chính là bạn đã làm bia giáp hộ thân cho căn phòng. Ma không thể đi vào, đã kết giới xong thì đã thanh tịnh được căn phòng rồi.

Khi tại trước đàn thành mà bạn muốn tu pháp để giúp đỡ người khác, bạn hãy đặt tên của những người đó ở trước mặt mình. Nếu bạn muốn gia trì cho việc kinh doanh của người đó được tốt, bạn làm tư thế chuyển động trước sau như thế này (Sư Tôn thị phạm). Làm thế này chính là để gia trì cho việc kinh doanh của người đó. Cần phóng ánh sáng vàng chiếu rọi vào người và cửa hàng, vì thế bạn cần quán tưởng người kia và cửa hàng của họ. Nếu như có ảnh thì càng tốt, bạn sẽ lập tức có thể gia trì bằng Yết-ma pháp.

Giả định có một cặp vợ chồng thường cãi vã tới mức muốn li hôn. Bạn có thể dùng chày kim cương và chuông kim cương vẽ thành vòng tròn, (Sư Tôn thị phạm) phóng ra ánh sáng đỏ chiếu vào tấm ảnh mà bạn muốn gia trì. Người nam và nữ chủ nhân của tấm ảnh đó cùng phóng ra ánh sáng đỏ, như vậy là hiểu rồi đó!

Thế còn nếu có người mắc bệnh, bạn để họ trước mặt bạn, chỉ cần làm như thế này (Sư Tôn thị phạm), phóng ánh sáng trắng gia trì cho người bệnh, đây là pháp Tiêu tai.

Còn Hàng phục thì sao? Bạn kết ấn hàng phục, chuyển lật chuông kim cương, chày kim cương, ánh sáng xanh lam phóng đến người kia thì sẽ hàng phục được.

Bốn pháp ở đây (Tăng phúc, Tiêu tai, Kính ái, Hàng phục) bạn đều đã có rồi. Để tôi giảng cho các bạn biết trong trường hợp các bạn không học kịp được giống Sư Tôn vừa lắc chuông lúc nãy.

Lắc chuông như vậy là sẽ có kết giới, bia giáp hộ thân, cũng bao gồm cả Tăng ích, Hàng phục, Kính ái, Tiêu tai, đều có thể làm hết, làm hết cả bốn mục đích này. Như Sư Tôn vừa nãy lắc chuông là để làm đồng thời cả bốn pháp luôn. Còn nếu bạn chỉ muốn làm một pháp thì rất đơn giản thôi.

Cầm chày kim cương, chuông kim cương lên (Sư Tôn thị phạm), làm thế này chính là Kính ái, phóng ra ánh sáng trắng, Tiêu tai (thị phạm), Tăng ích (thị phạm), Hàng phục (thị phạm), làm như vậy là đủ cả bốn pháp. Múa chày và lắc chuông kim cương có thể làm được tất cả các pháp này.

Khi đã niệm Bát đại bổn tôn để gia trì xong, bạn có thể thực hiện bốn pháp trên. Bạn không cần học nhiều thủ ấn, bạn chỉ cần lắc chuông kim cương, chày kim cương giống như tôi vừa mới làm đây. Bạn nhìn gần một chút đi (Sư Tôn thị phạm). Ồ, như thế này này, đến gần một chút đi, rất đơn giản thôi là bạn có thể làm được rồi.


Trước đây người Đài Loan chúng ta thường nói một câu: "bạn cần mất ba năm để tìm ra mẹo kinh doanh, nhưng khi tiết lộ ra thì chẳng còn giá trị gì". (Sư Tôn đùa)

Pháp chuông và chày kim cương này tôi được chính đức Kim Cương Tát Đỏa đưa lên trên cõi trời truyền dạy, đích thân ngài chỉ dạy cho Sư Tôn. Điều này không thể nói cho các vị Hoạt Phật Tây Tạng nghe. Bạn nghĩ là kể với họ thì họ cũng biết, kì thực họ không biết đâu, họ thực sự không biết. Họ cũng có lắc chuông và chày, nhưng giống như là chơi trò bán kem que vậy (động tác cầm que huơ huơ), thế rồi gõ tinh, tinh, tinh như thế này. Họ nào biết bốn kiểu bí quyết dùng chày kim cương và chuông kim cương! Họ không biết đâu, bởi vì đây là do Kim Cang Tát Đỏa dạy cho tôi mà. Ngài đưa tôi đi lên cõi trời và đích thân giảng giải cho tôi rất tỉ mỉ cách lắc và múa. Các Lama, Tulku Tây Tạng họ cũng có lắc chuông (Sư Tôn thị hiện lắc, mọi người cười), nhưng họ hiểu không nhiều, tôi xem thấy họ không biết được cái bí mật đó.
Những gì Kim Cang Tát Đỏa dạy là "i-chi-ban". [ ND: tiếng Nhật, nghĩa là số một. ]

Hôm nay những gì các bạn học được cũng giống như Sư Tôn được học từ Kim Cang Tát Đỏa, là Sư Tôn dạy lại cho các bạn. (mọi người vỗ tay)

🌟

**Vận dụng pháp khí**
Trong việc gia trì này chúng ta vận dụng đến pháp khí, bởi vậy tôi nói chuyện thêm với mọi người một chút về các pháp khí này.
Đây là chày kim cương, tượng trưng cho sự kiên cố, cũng tượng trưng cho lòng bi mẫn, nhổ cái gốc của đau khổ, tượng trưng cho kim cương bất hoại, bất loạn, bất động. Còn đây là chuông kim cương, tượng trưng cho trí huệ, niềm vui, tiếng cười, sự lan truyền (Sư Tôn lắc chuông thị phạm). Như thế này chính là niềm vui, tiếng cười, sự lan truyền, tượng trưng cho trí huệ.

Hai món đồ cùng xoay chuyển (Sư Tôn thị phạm) chính là tượng trưng sự vận động song song của Bi-Trí. Bi trong từ bi, Trí trong trí huệ, Bi-Trí song vận, chính là cứu chúng sinh khỏi đau khổ. Trí huệ, từ bi, kiên cố, hoan hỉ, đây chính là sự kết hợp của chày kim cương và chuông kim cương.

Lúc nào bạn sẽ lắc chuông kim cương? Khi chúng ta tu Chân Phật Mật Pháp, cứ làm xong một mục ta lại lắc chuông, việc này sẽ sinh ra tâm hoan hỉ. Khi làm xong mục thứ hai lại lắc chuông, sinh ra tâm hoan hỉ. Rất nhiều pháp sư ngày nay cứ thích lắc là lắc, chẳng vì một lý do đặc biệt nào cả. Cầm chày kim cương lên chính là Định, chuông kim cương chính là Huệ, đó chính là trí huệ. Bây giờ hẳn là bạn đã hiểu cách dùng chày và chuông kim cương rồi.

Còn chuỗi hạt chính là được dùng khi trì chú, mọi người đều biết rồi.

Đến cái trống da người (trống Damaru) này thì được dùng thế nào? Ba ngón tay này cần đỡ ở phía dưới, hai ngón tay này thì đỡ lấy cái trống, tay phải lắc, bên này cầm chuông, bên này cầm trống (Sư Tôn thị phạm lắc chuông, lắc trống).

Ta lắc trống này để làm gì? Lắc trống có tác dụng tán dương. Khi bạn niệm kệ: "Quan Thế Âm Bồ Tát ơi Ngài từ bi làm sao!" (Sư Tôn lắc trống da người) Ồ, đúng rồi, lắc đúng rồi đó. Bởi vì chúng ta muốn ca ngợi, ca ngợi lòng từ bi của Quan Thế Âm Bồ Tát. Có đúng không?

"Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát trí tuệ thật vĩ đại làm sao!" (Sư Tôn lại lắc trống da người), hát ca ngợi xong rồi lại lắc. "Phổ Hiền Bồ Tát đại hạnh thật lớn lao làm sao!" (Sư Tôn lắc trống). "Địa Tạng Bồ Tát đại nguyện vĩ đại là sao!" (lắc trống).

Ồ, bạn cứ lắc một lúc giống như bạn đang bán hàng rong vậy đó (mọi người cười). Thực sự là pháp lắc trống này được các vị Hoạt Phật (Tulku) và Lama Tây Tạng dùng rất nhiều. Pháp lắc trống của họ được dùng khi họ muốn tán dương, ca ngợi, vừa lắc vừa hát, "Bồ Tát thật từ bi, đại nguyện thật lớn, đại hạnh thật lớn, vĩ đại làm sao!" (mọi người cười)

Lần sau bạn trông thấy việc tán dương Bồ Tát như thế này, hãy nhớ mua một cái trống về lắc và nhớ đừng để cho trẻ con lấy đi làm đồ chơi (mọi người cười).

Chiếc trống da người này chính là để dùng vào việc tán dương. Hễ có dịp tán tụng, ví dụ như tán thán vị Bồ Tát này thật từ bi, thì họ sẽ vừa lắc trống vừa lắc lư thân thể, tự vui với chính mình, rất là tiêu dao! Tiêu dao tự tại chính là cứ thế mà hát hát hát, niệm niệm niệm, đồng thời với lắc trống da người. Việc tán tụng như thế này rất hay, Phật Bồ Tát hễ nghe thấy âm thanh tiếng trống da người, các vị sẽ đều xuống, việc lắc trống này là có ý nghĩa ở trong đó.

Vậy là tôi đã nói về tác dụng pháp của pháp khí chuông kim cương, chày kim cương và trống da người.

Còn chày một cổ này thì dùng thế nào đây? Tác dụng pháp của chày một cổ thì trước đây tôi cũng có nói với mọi người rồi đó. Bất kể chày của bạn là chày một cổ của Mã Đầu Minh Vương hay là chày Phổ Ba, hay là chày kim cương của bất kì vị Hộ Pháp phẫn nộ nào, thì tác dụng trong pháp của nó đều là dùng để chọc thủng trên tấm hình tam giác này. Trước đây chúng ta đã từng học pháp Bất Động Minh Vương, bình thường cũng cần phải cúng dường. Hàng ngày bản thân các vị Hoạt Phật Tây Tạng cũng cần làm pháp cúng dường. Chày kim cương này là để khi muốn cúng dường thì cần xem bản thân nó chính là Thần Kim Cang. Chiếc chày này chính là dùng để làm pháp.

Làm pháp, tán dương, dùng trong Yết-ma pháp, dùng trong khi trì chú. Bây giờ mọi người đã biết cách vận dụng các pháp khí này rồi.

🌟

**Phật sống chân chính**
Trên thực tế, trong số những người Hán chúng ta, người có thể giảng nghi quỹ Mật pháp hoàn chỉnh như thế này không có nhiều. Theo như tôi biết, thực sự là không có nhiều người, tất nhiên là có nhưng không phải nhiều. Còn nói về những người Tây Tạng thì giống như khi nãy tôi vừa lắc chuông kim cương, chày kim cương đó, họ cũng không thực sự hiểu rõ.

Liệu các vị tái sinh (Tulku) Tây Tạng có hiểu hay không toàn bộ Ngoại pháp của nghi quỹ Mật pháp hoàn chỉnh, toàn bộ đầy đủ? Có rất nhiều vị Tulku cao siêu có biết, hoàn toàn biết về những nghi quỹ này, họ cũng hiểu rất rõ ràng cặn kẽ. Trên phương diện Nội pháp, họ cũng có tu, họ cũng tu Vô thượng mật. Thế nhưng rất ít người có thể giảng giải toàn bộ Ngoại pháp chân chính để khiến cho người khác có thể hiểu được rõ ràng cặn kẽ. Theo tôi được biết là rất ít. Họ có thể hoàn toàn thâm nhập vào bên trong những Mật pháp này, có thể hoàn toàn thể hội, có chứ không phải là không có. Tuy vậy rất ít người đạt được như thế.

Người có thể giảng giải một mạch từ Thứ tự sinh khởi cho đến Thứ tự viên mãn, giải thích toàn bộ rõ ràng cặn kẽ lại càng ít, lại càng hiếm. Bởi vì người đó cần phải tu được Ngoại pháp, Nội pháp, lại còn cần tu Mật pháp, Mật mật pháp. Người tu được theo trình tự các cấp độ này rất ít. Rất ít người biết khẩu quyết và bí mật của các pháp tu vì chúng rất ít khi được viết trong sách. Sách về Nội pháp thì hẳn là vẫn có, nhưng đến mức độ Vô thượng mật bộ thì không có, Mật mật bộ lại càng khó, khẩu quyết của chúng đều rất khó.

Nhưng Sư Tôn hoàn toàn hiểu rõ, bởi thế nên mới có mong muốn giảng toàn bộ nghi quỹ tu hành Mật pháp hoàn chỉnh cho mọi người hiểu rõ ràng, biết rõ cả các cách vận dụng pháp khí.

Vì sao Sư Tôn dám nói rằng một số vị Phật sống Tây Tạng cũng không biết, cũng không hiểu rõ? Bởi vì tôi biết các vị Phật sống Tây Tạng cũng được phân ra làm nhiều đẳng thứ. Đừng cho rằng cứ gặp được một vị Phật sống là ồ, thật là phi thường! Ngài ấy đã tu được Đại viên mãn này, Viên mãn thứ đệ này! Có người trông thấy họ là lập tức "rập, rập, rập" cái đầu như thế này. Thế rồi bạn dốc hết túi ví ra, có thứ gì đó, thường là tiền, bạn đều đem cúng cho họ hết, muốn chờ họ giảng cho, nhưng họ chẳng giảng gì đã bỏ đi rồi. Còn bạn thì chẳng có được cái gì cả!

Nhiều nhất là họ đạt đến được Tứ gia hành, nhưng Tứ gia hành họ cũng giảng không hết được. Sau khi bạn cúng hết mọi thứ cho họ rồi, họ liền cho rằng, ồ, thật là tốt. Quán đảnh nào họ cũng có thể cho bạn được, quán đảnh Thời Luân Kim Cang, "rập đầu", xong rồi, đi về đi.

Bạn biết có Thời Luân Kim Cang, bạn đã có được quán đảnh Thời Luân Kim Cang rồi. Ồ, nhưng mà tu thế nào nhỉ? Bạn không biết! Bạn không hiểu quán tưởng Thời Luân Kim Cang như thế nào, trì chú ra sao. Kì thực việc quán tưởng của Ngài rất phức tạp, cần quán tưởng mười loại màu sắc, mười loại màu sắc tạo nên một câu chú mới là Thời Luân, rất là khó! Việc này rất khó, không phải bất kì một vị Phật sống Tây Tạng nào cũng biết.

🌟

**Đẳng cấp của Phật sống (Hoạt Phật)**
Về Phật sống Tây Tạng mà tôi được biết, thì bây giờ ở Tây Tạng Phật sống có cực nhiều, trong đó vị lớn nhất, vị Hoạt Phật ở đẳng cấp số một là Đạt Lai Lạt ma (Dalai Lama). Ban Thiền Lạt ma (Panchen Lama) cũng là vị đẳng cấp số một. Phật sống ở đẳng cấp thứ hai là Tạng Vương, Vua Tây Tạng, vị này có thể được nhiếp chính là Phật sống ở đẳng cấp thứ hai. Hoạt Phật ở đẳng cấp thứ ba là trụ trì của ba ngôi chùa lớn, là các vị trụ trì của những tự viện to nhất rất nổi tiếng ở Tây Tạng. Tiếp theo là Phật sống thuộc đẳng cấp thứ tư, các vị pháp vương của các ngôi chùa nhỏ hơn ba ngôi đại tự kia là thuộc về đẳng cấp thứ tư. Thế còn ngoài ba ngôi đại tự ra thì sao? Ví dụ như Đại Bảo Pháp Vương, Đại Bảo Pháp Vương của dòng Mũ trắng (Kagyu), giáo chủ của dòng Hoa giáo, của dòng Sakya, dòng Mũ đỏ (Nyingmapa), dòng Mũ vàng (Gelugpa), họ đều thuộc về đẳng cấp thứ tư. 

Dalai Lama, Panchen Lama - đẳng cấp thứ nhất. Đẳng cấp thứ hai - Tạng Vương. Đẳng cấp thứ ba - trụ trì ba ngôi đại tự. Đẳng cấp thứ tư mới là các vị Pháp vương giáo chủ của các dòng phái.

Đẳng cấp thứ năm thì sao? Đó là các vị trụ trì của các tự viện Tạng mật nói chung, là các chùa bình thường, không phải là ba ngôi đại tự hoặc là một trong số các chùa lớn. Trụ trì của các chùa khác sẽ thuộc về đẳng cấp thứ năm.

Còn đẳng cấp thứ sáu thì sao? Đó là các thầy giảng dạy giáo pháp, những vị Hoạt Phật giảng dạy giáo pháp mà có thể hiểu được Mật pháp thì thuộc về đẳng cấp thứ sáu. Phổ biến nhất chính là những vị ở dưới trụ trì của các chùa bình thường, những vị du tăng đi lại khắp nơi, đây chính là những vị thuộc đẳng cấp thứ sáu.

Thế còn đẳng cấp thứ bảy thì sao? Vẫn còn đẳng cấp thứ bảy nữa. Một người nào đó làm Lama một thời gian dài mà vẫn chưa có được thân phận Hoạt Phật, thế nhưng nhà của họ có một chút ruộng đất, hoặc có một ít dê, hoặc ít trâu. Anh ta đem chúng đổi lấy tiền, rồi đi gặp chính phủ Tây Tạng, nói rằng tôi muốn làm Hoạt Phật, thế rồi trao đổi ít tiền, đây tiền này đưa cho ông. Được rồi, bắt đầu từ hôm nay, anh sẽ là Hoạt Phật. Các Hoạt Phật kiểu này gọi là "Hoạt Phật đóng góp", chính là do đóng góp tiền mà có.

Những người bình thường được "xếp loại" Hoạt Phật này được gọi là Hoạt Phật đóng góp, là đẳng cấp thứ bảy. Mỗi đẳng cấp là phân biệt như vậy đó.


🌟


Tôi vừa giảng về bảy đẳng cấp của Phật sống, bởi vậy bạn đừng nên hễ gặp Phật sống là bạn liền ố á! Tuyệt vời làm sao! Thấy Phật sống là lập tức bái lạy, lấy hết tiền ra cúng dường, muốn được cúng dường! Gặp được một vị Hoạt Phật thì ôi thật là phi thường. Xin hỏi có thể truyền cho tôi một ít nhân điện không, có mà làm cho tôi bị điện giật chết thì có (mọi người cười).

Cũng như vậy, rất nhiều Phật sống là do quyên góp tiền mà có danh hiệu này. Có rất nhiều người phải tranh chấp rất lâu, tranh chấp danh hiệu Lama, rồi từ từ đi lên, lên, lên, lên, lên đến vị trí trụ trì. Đối với việc này, họ có hai từ này, một là Khenpo, chính là trụ trì, hai là Pháp vương. Mỗi người họ đều là như vậy mà từ từ từ từ được đẩy lên, cứ như vậy mà được thăng cấp lên. Họ có cả hệ thống, dòng Mũ vàng (Gelugpa) còn có hẳn một chế độ. Bản thân dòng Mũ vàng còn có chế độ tương đối có hệ thống.

Trước đây từng có người đến hỏi Dalai Lama: "Chúng tôi gặp một vị Hoạt Phật, ông ấy dạy chúng tôi cái gì đó. Nhưng cái mà ông ta dạy, tôi không biết có phải là chuẩn hay không chuẩn, ông ta liệu có phải là Hoạt Phật thật không?" Dalai Lama nói: "Anh đưa tên người đó cho tôi xem." Dalai Lama xem xong rồi bảo: "Tôi không biết người này!" Vị Phật sống này Dalai Lama không biết. Những người ở bên dưới hỏi ngài: "Dalai Lama Ngài vì sau không quen biết vị Hoạt Phật đã truyền pháp cho tôi?" Dalai Lama nói thế nào, ngài ấy nói: "Ai chà, Phật sống nhiều quá mà, giờ đã nhiều đến mức không thể đếm được nữa rồi."

Phật sống đã nhiều đến mức không thể đếm được, ngay cả Dalai Lama cũng chẳng có cách nào để nhận ra người nào là Phật sống thật, người nào là Phật sống giả nữa. Ngài không nhận ra được bởi vì mỗi người đều tự gọi mình là Phật sống mà! Rốt cục mỗi người đều chỉ viết một chữ Rinpoche, Rinpoche lại chính là Hoạt Phật. [ ND: Thực tế Tulku là tên gọi chính xác của Hoạt Phật. Rinpoche có nghĩa là Cao quý, vị đã thành tựu thực sự thì sẽ được tôn xưng thành Rinpoche. Ý Sư Tôn nói rằng giờ ai cũng tự xưng Rinpoche cả, trở thành Tulku cả.]

Người thực sự hiểu Mật pháp có được bao người? Người có thể thực sự biết dùng những hàm nghĩa thâm sâu để tu tập có được bao người? Mọi người cần chú ý đó. Bởi vậy mới nói, một vị Hoạt Phật chí ít cũng cần phải hiểu được Mật pháp hoàn chỉnh, phải thực sự học qua, thực sự tu qua, hiểu rõ được thì người đó mới có thể được gọi là Phật sống. Còn một hành giả có tu Nội pháp, tự chủ sinh tử, minh tâm kiến tính, thì đây là chính Hoạt Phật đích thực.

Các Phật sống Tây Tạng ngày nay, có bao nhiêu vị đã tự chủ sinh tử, minh tâm kiến tính? Có, nhưng chắc chắn là không nhiều. Vì thế, đối với những vị Phật sống khác mà bạn biết, hoặc các vị Phật sống mà bạn muốn cầu pháp từ họ, bạn cần lưu ý: Muốn cầu được đại pháp thực sự, bạn cần phải xác nhận được ấn chứng từ họ, phải xác nhận được người đó có thực sự hiểu Mật pháp hay không.

Nếu một vị có thể giảng tất cả các pháp, các tầng lớp, Thứ tự sinh khởi, tất cả đều hiểu rõ, Thứ tự viên mãn cũng biết, thì thật là tuyệt vời. (Chí ít thì người này cũng làm được Thượng sư, mặc dù không chắc đã thực tu. Có một số ít vị không hề thực tu, nhưng họ hiểu rõ Thứ tự sinh khởi, Thứ tự viên mãn, họ đều hiểu cả, mọi người hỏi gì họ đều có thể trả lời được.)

Thứ tự sinh khởi bạn đã tu đến được trình độ nào rồi, người đó biết. Thứ tự viên mãn người đó cũng hiểu, họ có thể nói cho bạn pháp này tu như thế nào. Đây mới gọi là một Thượng sư chân chính. Bởi vậy nên đối với một vị Phật sống, đối với một vị Lama đến từ Tây Tạng, các bạn cần biết họ có hiểu Mật pháp hay không. Nói cách khác là bạn cần biết rõ họ có hiểu Thứ tự sinh khởi và Thứ tự viên mãn hay không. Nếu họ có thể nắm được hoàn toàn Thứ tự sinh khởi và Thứ tự viên mãn thì mới là một vị Hoạt Phật chân chính.


## 24. Niệm Phật


Tốt, tôi đã giảng xong về pháp khí rồi, cũng đã gia trì rồi, thế vì sao chúng ta lại cần phải làm thêm phần niệm Phật nữa? Đó là vì tôi hy vọng mỗi đệ tử không còn bài trừ Hiển giáo nữa, đối với Hiển giáo đừng bài trừ nữa. Tôi hy vọng có thể hợp nhất Hiển - Mật. Đạo - Hiển - Mật hợp nhất, Hiển và Mật hợp nhất để mà tu tập.

Có một số bạn có vẻ chỉ thích tu Mật, nhưng kì thực trong nghi quỹ Chân Phật Tông cũng vẫn cần niệm, chính là niệm Phật. Khi bạn niệm Phật thì cũng tương đương niệm chú. Niệm Phật và niệm chú là đồng đẳng, là ngang hàng.

Nếu có phân biệt thì sẽ phân biệt như thế này. "Niệm Phật là tu sắc thân", nghĩa là thân hình tướng của Phật. "Niệm chú là tu Pháp thân", nghĩa là tương đối thâm nhập sâu vào trong Nội mật rồi.

Cách nói thì như vậy, nhưng bản thân tôi cho rằng niệm Phật là rất tốt. Bởi vì trong khi bạn còn chưa thành tựu tương ứng với Mật pháp thì chí ít bạn cũng có thành tựu được việc niệm Phật, có đúng vậy không! Hơn nữa, việc niệm Phật của Mật pháp chúng ta cũng lại không hoàn toàn giống Hiển giáo.

"Nam mô 36 vạn tỷ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật." "Nam mô 36 vạn tỷ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật", bạn niệm Phật như vậy thì công đức lớn số một. Phần này cũng là do Sư Tôn "phát minh" ra đó!

Bạn thử nhìn mấy bên Hiển giáo xem, "Nam mô A Di Đà Phật", "Nam mô A Di Đà Phật", họ niệm như vậy. "A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật…" cứ niệm như vậy. Họ vừa mới niệm một hơi dài mới chỉ có được 8 lần. Làm sao họ có thể hiểu được đại pháp của Mật giáo chúng ta! Nam mô 36 vạn tỉ cơ mà (mọi người cười)…, mỗi lần tôi niệm thì bằng họ niệm cả một đời, thậm chí cả đời họ cũng không niệm nhiều đến mức như vậy được! Bởi vậy, vẫn là Chân Phật Mật Pháp vĩ đại số một. [Đùa] (mọi người vỗ tay)

Mỗi lần chúng ta niệm ba biến, còn họ phải niệm ba đời. Mỗi lần chúng ta tu một đàn pháp, niệm một biến "Nam mô 36 vạn tỷ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật", chỉ mỗi niệm câu này thôi thì tương đương Hiển giáo họ niệm A Di Đà Phật cả ba đời. Ba đời có nghĩ là sau khi chết rồi lại sống lại, sống rồi lại chết, chết rồi lại sống, sống rồi lại chết. Mật pháp hay như vậy mà họ lại không biết. "Khờ quá đi!" (mọi người cười). Thật là ngốc đó mà, nếu họ học chúng ta cách niệm Phật thì lập tức thành Phật rồi. Họ không học cách chúng ta niệm Phật thì chờ ba đời nhé! [Đùa]

Sau khi niệm Phật ba biến, chúng ta sẽ làm bước "hồi hướng". Như vậy thì ta rất gần gũi với Phật, rất thân mật là khác. Bạn đã niệm như thế là rất tuyệt vời rồi. Chẳng còn lời nào để nói về Phật và bạn nữa. Đây là "Cặp đôi hoàn hảo" (mọi người cười), rất thân mật, Phật và bạn không phân biệt, bạn chính là Phật đó.


## 25. Hồi hướng


Bây giờ chúng ta hồi hướng, hồi hướng chính là chắp tay lại niệm bài kệ có ý nghĩa sau:
"Nguyện ai đang niệm Phật
Cùng sinh Cực Lạc cõi
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới giúp ba đường khổ
Gặp Phật thoát sinh tử
Độ hết thảy như Ngài."

Bài kệ này chính là nói đến việc "Tiếp dẫn thành Phật", không phải là "Tức thân thành Phật". Bởi vì là tiếp dẫn, vì Gặp Phật thoát sinh tử mà. Bạn phải gặp được Phật rồi mới thấu hiểu về sống chết thì có thể thấy là hiện nay bạn vẫn chưa phải là Phật đâu.

"Tức thân thành Phật" đích thực không phải chỉ niệm như vậy là được. "Hoa khai kiến Phật" à? Í, hoa vừa nở làm sao mà có thể nhìn thấy Phật đây, hoa nở ra là Phật à? (mọi người cười). Hoa nở thì ta chính là Phật rồi sao?

Bởi vậy, "Nguyện ai đang niệm Phật" ở đây là bài kệ của Hiển giáo, "Nguyện ai đang niệm Phật" - ước nguyện cùng những người cùng niệm danh hiệu Phật được vãng sinh đến Cực Lạc Thế Giới, gặp được Phật sẽ thấu hiểu được sinh tử.
"Độ hết thảy giống Ngài" có nghĩa là sẽ giống như Phật mà đi độ tất cả chúng sinh. Bài kệ này cực kì hay, tôi rất thích bài kệ này, do vậy tôi đưa nó vào nghi quỹ tu tập Chân Phật Mật Pháp.

Thế còn ở đây có quán tưởng không? Có đó! Có quán tưởng đó!

Khi bạn niệm lên câu "Nguyện ai đang niệm Phật", bạn quán tưởng bổn tôn của mình hóa thành nghìn nghìn vạn vạn. Mọi người có hiểu 36 vạn tỷ là bao nhiêu không? Là tràn đầy cả hư không đó. Sau đó thì sao? Vãng sinh cõi cực lạc, hoa sen nở khắp nơi, nghìn đóa sen, vạn đóa sen nở khắp mọi nơi như vậy. Trên báo bốn ơn sâu là cần quán tưởng bốn loại ơn nghĩa sâu nặng.

Bốn ơn nghĩa sâu nặng cần quán tưởng như thế nào?
Bổn tôn ở trên cao nhất, chính là Tam Bảo, bốn ơn sâu chính là ơn Tam Bảo - Phật Pháp Tăng, ơn Tam Bảo ở tầng trên cao nhất. Quán tưởng Tam Bảo màu trắng.
Tiếp đó là ơn cha mẹ, người đã nuôi dưỡng dạy dỗ bạn, người chăm sóc cho thân thể và đời sống của bạn, chính là ơn cha mẹ đã nuôi bạn dạy bạn. Ơn cha mẹ thì cần quán tưởng cha mẹ thành màu đỏ, ơn cha mẹ màu đỏ.
Tiếp theo là ơn người thầy, ơn người thầy thì cần quán tưởng ai? Chính là quán tưởng sư phụ đã dạy pháp cho bạn. Thượng sư thì cần quán tưởng một tầng màu vàng, một tầng màu vàng như vậy, đó là ơn người thầy.
Ơn đất nước là tầng thứ tư, quán tưởng ơn đất nước thành màu xanh lam. Ơn đất nước bao gồm những gì? Bao gồm Vua, thậm chí gồm cả chúng sinh của đất nước đó. Bốn ơn này gọi là Trên báo bốn ơn sâu - Tam Bảo, cha mẹ, người thầy, đất nước!

"Dưới giúp ba đường khổ", thế nào là "Dưới giúp ba đường khổ"? Ngay sau khi niệm bài kệ này thì lập tức ba cõi liền xuất hiện - địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Dưới giúp ba đường khổ - địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.

Bạn nói xem, ta chưa từng đến địa ngục, làm sao biết địa ngục hình tướng thế nào? Ngạ quỷ thì ta còn biết, những con quỷ đói bụng rất to, cái cổ thì gầy như khe nứt, đầu to cổ gầy, bụng thì to, ăn chẳng bao giờ no, đó là ngạ quỷ.

Nếu như không hiểu rõ, bạn có thể xem trong đồ hình về lục đạo luân hồi sẽ có, sẽ thấy cõi địa ngục như thế nào, cõi ngạ quỷ như thế nào. Súc sinh thì bạn đương nhiên có thể quán tưởng ra được, là trâu, ngựa, dê, lợn, những loại này là súc sinh.

Lúc này tâm luân của bạn phóng ra ánh sáng trắng chiếu khắp tam ác đạo. 

Tam ác đạo đều có thể quán tưởng là màu đen, tất cả đều là màu đen. Tâm luân phóng ra ánh sáng trắng chiếu đến tam ác đạo biểu thị quyết tâm cứu độ tam ác đạo của bạn.

"Trên báo bốn ơn sâu, Dưới giúp ba đường khổ" cần quán tưởng như vậy. Còn những cái khác không cần quán tưởng. "Gặp Phật thoát sinh tử, Độ hết thảy như Ngài" thì không cần quán tưởng.

Bạn "Trên báo bốn ơn sâu, Dưới giúp ba đường khổ" thì cần quán tưởng, biểu thị bạn không quên lời thề nguyện của mình, không quên lời thề báo đáp bốn ơn sâu, không quên độ hết mọi nỗi khổ của tam ác đạo. Lời nguyện này cần phải quán tưởng hết ra. Việc hồi hướng này có quán tưởng như vậy.

[ ND: Hoa khai kiến Phật: đầy đủ là "Hoa khai kiến Phật ngộ vô sinh". Người nào từng tụng kinh, thọ trì, ghi chép mười lời đại nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền thì có thể thấy mình sinh về thế giới Tây Phương Cực Lạc trong hoa sen. Người sinh về đó đều hóa sinh trong hoa sen, hoa nở thấy Phật, tức là liền được Phật A Di Đà thọ ký cho đến khi thành Phật. ]


## 26. Niệm Bách tự minh chú


Hồi hướng xong rồi thì làm gì nữa? Ồ đúng rồi, cần niệm Bách tự minh chú. Niệm Bách tự minh chú là để sửa chữa những thiếu sót mà bạn mắc phải hoặc là khi tâm bạn bị loạn trong quá trình tu pháp. Bởi vì chúng ta chẳng thể nào bảo đảm trong quá trình tu pháp tâm mình đều "rất định".

Người mới tu pháp thì ai cũng không thể lập tức "rất định" được. Nói cách khác là từ đầu ta thực hiện Đại lễ bái, Triệu thỉnh, Đọc chú thanh tịnh, tính từ lúc bắt đầu một mạch tu cho đến lúc làm hồi hướng, nếu nói rằng bạn đều có thể bảo đảm không có khiếm khuyết, đầu óc thì lúc nào cũng rất rõ ràng, luôn quang minh vô lượng, thì đó là việc không thể nào có đâu.

Chẳng phải là tôi đã nói rồi đó sao! Trong quá trình bạn đang tu pháp, đột nhiên vừa mới quán tưởng một cái thì, ây, mẹ bạn đến rồi, cha bạn đến rồi, ai chà, thật phiền quá, bây giờ cần phải nấu món gì tiếp họ đây! Thế là đầu óc của bạn đã chạy đi rất xa rồi, đã đi rất xa rồi. Sau đó đột nhiên bạn nhớ ra, "Ai chà, không được, bây giờ ta đang tu pháp cơ mà, không thể nghĩ lung tung." Thế là lập tức bạn lôi đầu óc mình trở lại, bắt đầu lại từ đầu, lại quán tưởng từ đầu.

Đây chính là khiếm khuyết, đã mắc lỗi rồi. Do vậy bạn cần niệm Bách tự minh chú một biến, ba biến, bảy biến để tiêu trừ những khiếm khuyết này. Bởi vì khi bạn niệm Bách tự minh chú chính là tượng trưng cho tính Không. Tất cả công đức có thể có được đều đi vào trong tính Không. Hơn nữa, tất cả những chỗ nào có lỗi lầm cũng đều ở trong tính Không mà tan biến như vô hình. Bởi vậy lúc này bạn cần niệm Bách tự minh chú. Đó là một chân ngôn đặc biệt.


## 27. Viên mãn - Niệm chú viên mãn


Bạn niệm xong Bách tự minh chú, Sư Tôn đã từng dạy mọi người rồi. Ngoài ra khi bạn hồi hướng còn cần phải niệm mấy chữ này nữa, chính là: Đệ tử tên là gì đó, tu một đàn pháp này là để làm việc gì đó…

"Nguyện ai đang niệm Phật, Cùng sinh chốn Cực Lạc, Trên báo bốn ơn sâu, Dưới giúp ba đường khổ, Gặp Phật thoát sinh tử, Độ tất cả như Ngài. Đệ tử là ABC, hy vọng người tu pháp được thân thể khỏe mạnh, tinh thần vui vẻ, tất cả mọi nghiệp chướng đều được tiêu trừ, tất cả mọi nguyện ước đều được viên mãn."

Đây là ngôn ngữ nói, ý nghĩa của ngôn ngữ nói bạn có biết không? Ngôn ngữ nói chính là như vậy. Tiếp đó bạn cần thực hành bước Viên mãn.

🌟

**Vẽ vòng tròn Viên mãn và quán tưởng**
Thực hành bước Viên mãn là bạn vẽ một vòng tròn, trong vòng tròn bốc ra ngọn lửa, một vòng tròn lửa xuất hiện, rất tròn. Sau đó lại niệm một câu chú: "Nguyện cho tất cả mọi điều ước muốn đều được viên mãn, nguyện tất cả tai nạn đều tiêu tan." Sau khi nói xong câu tất cả tai nạn đều tiêu tan, bạn cầm lấy chày kim cương chỉ hướng về hư không, lắc chuông kim cương, hét lên một tiếng "Wun".

Ý nghĩa của chữ Wun này như sau: Khi một chữ Wun phát ra, lập tức trong hư không bốc lên ngọn lửa lớn cháy vòng quanh chày kim cương chữ thập, chày kim cương chữ thập ở trên bông hoa sen. Ý nghĩa là như vậy.

Chày kim cương chữ thập tượng trưng cho sự kiên cố, còn bản thân hoa sen tượng trưng cho trí huệ. Chày kim cương ở trên hoa sen là tượng trưng cho tác dụng phòng hộ, chính là phá ma. Ngọn lửa chính là sự viên mãn. Cần phải quán tưởng như vậy. Chày kim cương chữ thập, hoa sen, vòng tròn lửa bao xung quanh sẽ đẩy lùi tất cả ma quỷ.

Trước đây tôi đã từng mô tả pháp quán tưởng trước mặt có một vùng đất tối đen, trong hư không là vùng đen tối tượng trưng cho ma quỷ. Thế rồi khi chày kim cương giáng xuống một chữ Wun, lắc chuông kim cương sẽ đẩy lùi vùng bóng tối đó. Lúc này lập tức xuất hiện chày kim cương chữ thập và hoa sen, bao xung quanh là một vòng tròn lửa. Đây chính là sự viên mãn lớn lao. Việc này tượng trưng cho việc bạn đã tu pháp vô cùng viên mãn, tất cả những gì bạn mong cầu đều có thể được viên mãn, tất cả tai nạn đều tiêu tan. Wun - chính là tiếng hét lên khi bạn dùng chày và chuông kim cương.

🌟

**Chú viên mãn**
Tiếp đó lại cần niệm chú viên mãn, có phải thế không? Chú viên mãn có mấy cách niệm, giống như Uế Tích Kim Cang cũng vậy, Uế Tích Kim Cang chú vào thời kì nhà Đường có cách niệm khác, ngoài ra còn có vài cách mà các pháp sư tự đưa ra. Do vậy câu chú Uế Tích Kim Cang không giống nhau, có câu thì rất nhiều chữ, có câu thì chỉ vài chữ.

Còn hôm nay, câu chú viên mãn này là do Thượng sư Phổ Phương, cũng là thầy của Sư Tôn, truyền cho. "Om, bu-lin. Om, bu-lin. Om, bu-lin."
Cũng có người thì truyền câu chú này: "Om, bu-long. Om, bu-long. Om, bu-long." Rồi cũng có người thì truyền câu chú này: "Om, bu-long hum. Om, bu-long hum. Om, bu-long hum." Có ba câu chú khác nhau như vậy. Chúng ta lấy câu "Om, bu-lin" của Thượng sư Phổ Phương truyền cho, ngài cũng là sư phụ mà Sư Tôn quy y. Ngài cũng viên tịch rồi, nhưng chúng ta dùng câu chú viên mãn này chính là câu chú viên mãn mà Thượng sư Phổ Phương truyền lại.

🌟

**Giải tán**
Tiếp theo sau đó, đã xong bước Viên mãn rồi thì cần tới bước Đại lễ bái, đúng không nào! Thế thì thực hiện Đại lễ bái. Tới khi niệm câu "Om, mani padme, hum" là coi như đã kết thúc. Khi kết thúc thì cần nhớ vỗ tay, đặt chéo tay và búng ngón tay.

Ý nghĩa của việc bắt chéo tay và búng ngón tay không phải là để đánh thức chư vị, mà là để giải tán. Giải tán đương nhiên là không có phát tiền đâu! [Sư Tôn đùa]

Ý nghĩa của giải tán kì thực cũng là một sự tôn kính. Không phải theo kiểu nói là, này, các vị có thể đi được rồi, hoàn toàn không có ghê gớm như vậy. Mà ở đây chính là nói rằng tu pháp đã kết thúc rồi, phụng thỉnh Phật Bồ Tát chư tôn, các vị Phật của mười phương ba cõi, tất cả các vị Bồ Tát Ma Ha Tát, Kiên Lao Địa Thần, tất cả Kim Cang Hộ Pháp Không Hành có thể trở về vị trí của các vị. Nói cách khác là tất cả đều trở về nơi mà bản thân mình vốn ở đó. Vỗ tay chính là giải tán, bắt chéo tay búng ngón tay xong thì ngồi xuống. Mật pháp hoàn chỉnh này chính là từ ban đầu - từ Tiền hành, tới Chính hành, tới Hậu hành làm một mạch cho đến khi kết thúc.

🌟

**Lưu ý về nhập Tam ma địa**
Tôi đã sử dụng pháp bổn tôn A Di Đà Phật để làm ví dụ giải thích, nhưng mọi người cần phải hiểu được tính chất tương tự, học một thứ mà suy ra các thứ khác.
Thực tế là bạn dùng pháp này để tu pháp Kim Cương Tâm Bồ Tát, Thượng sư tương ứng pháp, hay Bát Đại Bổn Tôn, tất cả cũng gần giống nhau, chỉ khác biệt ở sự quán tưởng, trì chú, nhập Tam ma địa và thủ ấn.

Nhập Tam ma địa có khác biệt ở chỗ nào? Bởi vì trong khi nhập Tam ma địa, bạn có thể có cách đặc biệt riêng của bạn. Nếu bạn có phương pháp của riêng mình để có thể dễ dàng nhập Tam ma địa, tự bạn nhận thấy "tôi làm như vậy thì dễ nhập định", thì bạn cứ y theo cách của mình mà làm, không có vấn đề gì cả.

Còn Sư Tôn đã nói cho mọi người kinh nghiệm của mình rồi. Khi nhập Tam ma địa, trước tiên là làm Cửu tiết Phật phong, rồi làm Nhập ngã - Ngã nhập, rồi đếm hơi thở, thậm chí dùng cả Bạch cốt quán. Đây là kinh nghiệm riêng của tôi. Còn theo kinh nghiệm của các bạn, các bạn muốn dùng phương pháp gì để nhập Tam ma địa thì bạn có thể tự mình "check" [ ND: kiểm tra] xem sao. Nếu các bạn tự nhận thấy là, "ớ, tôi dùng cách khác, có thể nhập Tam ma địa một cách rất "easy" [ ND: dễ dàng ] này" thì đều được cả! Có cực kì nhiều cách để nhập Tam ma địa.

Hy vọng mọi người đều có thể nắm bắt được cẩn thận Chân Phật Mật Pháp chân thực, quý giá và cực kì viên mãn nhường này. Mọi người thâm nhập cho thật sâu, dùng ý thức, ý thức rất sâu, ý thức sâu nhất, ý thức cực kì sâu để mà tu, nhất định có thể đạt được thành tựu lớn, được "Tiếp dẫn thành Phật", nhất định có thể được "Tiếp dẫn thành Phật". Ít nhất là bạn chắc chắn được tiếp dẫn thành Phật, cho đến khi công lực thiền định của bạn thực sự sâu! Đôi khi thành tựu sẽ không chỉ là "Tiếp dẫn thành Phật" mà bạn còn có thể đạt được "Tức thân thành Phật" đó.

🌟

Tất cả đều bao gồm trong Chân Phật Mật Pháp
Việc tu hành tốt như vậy đó. Ở đây Sư Tôn nói cho mọi người biết, trong rất nhiều pháp Phật hiện nay trên thế giới, có người dùng hình thức khổ hạnh, có người xây chùa, có người niệm Phật, có người tụng kinh, có người quán tưởng niệm Phật, có người làm từ thiện, thế còn chúng ta ở đây là thực tu Chân Phật Mật Pháp.

Ai có thể bảo đảm bạn có thể thành Phật, có Phật Bồ Tát đến tiếp dẫn bạn đây? Bản thân tôi cho rằng, bạn càng thực tu Chân Phật Mật Pháp, Phật đến tiếp dẫn bạn, thì sẽ càng tăng thêm sự tiếp cận, càng có được sự đảm bảo về thành tựu. Bởi vậy bạn càng thực tu Chân Phật Mật Pháp, bảo đảm bạn thành Phật, bạn sẽ càng đến gần hơn với đạo.

Xây chùa, khổ hạnh, làm từ thiện, niệm Phật, tu tịnh độ, kì thực đã đều bao hàm trong Chân Phật Mật Pháp. Tôi đã giảng từ lúc bắt đầu với Tiền hành, giảng Chính hành, giảng Hậu hành, tôi đã bày hết toàn bộ lên trên bàn rồi, trong đó đã có thiện pháp rồi. Ví dụ bạn tu Tứ vô lượng tâm này chính là thiện, chính là bạn làm từ thiện rồi.

Quá trình tu hành của bạn cũng chính là thực hành Khổ hạnh, ở đây chính là trong lúc tu thiền định đó! Trong đó bạn cũng có niệm Phật, có Sức mạnh nương dựa duy nhất, đã có cả sức mạnh nương dựa duy nhất rồi đó! Có tha lực, có sức mạnh phòng hộ để phá ma rồi! Cái gì cũng có hết cả, đều đã bao gồm trong đó rồi. Do đó mọi người cần trân trọng Chân Phật Mật Pháp, bằng mọi giá không không được coi thường, nói cách khác là tuyệt đối không được coi thường.
Có chỗ nào chưa hiểu thì bạn hãy hỏi các vị Kim Cương Thượng Sư chân chính.
Om Mani Padme Hum!


## 28. Giải đáp thắc mắc


Hôm nay là ngày thứ sáu tôi giảng giải về nghĩ quỹ Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh. Năm ngày trước tôi đã giảng giải cực kì rõ ràng chi tiết về Tiền hành, Chính hành, Hậu hành rồi. Thế nên buổi chiều ngày thứ sáu này là để cho tất cả các đồng môn đã đến nghe pháp đưa ra câu hỏi. Có câu hỏi gì liên quan đến phương diện tu pháp thì bạn hãy đặt câu hỏi. Mọi người đều đã để hết giấy ở đây rồi, tờ giấy ghi câu hỏi này chờ một lát nữa tôi sẽ đọc một chút, đọc một chút để rồi tổng hợp lại các câu hỏi của mọi người mà trả lời.

Trước khi tôi trả lời các câu hỏi, tôi sẽ cùng mọi người nói chuyện một chút về tầm quan trọng của Chân Phật Mật Pháp. Chúng ta đã biết rằng Chân Phật Mật Pháp là pháp Tức thân thành Phật.

Bản thân tôi cho rằng bạn chỉ cần hoàn toàn tinh thông Mật pháp này thì có thể đạt được ngũ đại trí huệ của Như Lai. Ngũ đại trí huệ của Như Lai cũng tương đương với vũ trụ, nói cách khác là toàn bộ tri thức của vũ trụ bạn đều có thể có được. Thế nếu như bạn có thể đạt được toàn bộ tri thức này thì chính là Tức thân thành Phật rồi. Tôi tin tưởng mọi người chỉ cần thực tu Chân Phật Mật Pháp thì mỗi người đều có thể thành Phật, đều có thể đạt thành tựu.

Buổi trưa hôm nay lúc đang ăn cơm, nói chuyện cùng mấy vị thượng sư, tôi đã giảng giải một chút về nghi quỹ Mật pháp hoàn chỉnh này. Tôi không biết trên thế giới này có nơi nào mà có thể thành tựu Mật pháp trong thời gian ngắn như vậy, tốt như vậy, lại nhanh như vậy không?

Tôi thực sự không biết, nhưng Sư Mẫu lại nói là bà ấy biết. Bà ấy nói đại pháp để thành Phật nhanh hơn nữa chính là chuẩn bị một cái cây gậy đánh bóng chày, có ai đến là liền đánh vào đầu cho một cái, một gậy là ngã lăn, thì sẽ rất nhanh chóng thành Phật.

Bản thân tôi cảm thấy đây chỉ là chuyện hài thôi! Nhưng tôi cảm thấy Mật pháp của tôi có thể nói là đã đem mười lời nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát – Phổ Hiền Đại Nguyện -  tập trung hết tất cả lại. Trong Mật pháp này đã bao gồm lục độ, đã gồm cả Bồ Tát Thừa lục độ. Bởi vì Chân Phật Mật Pháp của chúng ta đã bao gồm mười lời nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát, thế thì pháp này đương nhiên không thể tách rời mười lời nguyện Phổ Hiền, không xa rời lục độ, đây chính là Phật pháp chân chính. Nếu như bạn có thể tu cho giỏi, nhất định bạn sẽ thành Phật. Thế nên rốt cục vẫn là phải nhắc lại một câu, đó là hy vọng mọi người nhất định phải trọng pháp, nhất định phải thực tu. Cảm ơn các bạn. (mọi người vỗ tay)


🌟


Hỏi và Đáp
Bây giờ tôi sẽ trả lời các câu hỏi về pháp của các đệ tử.

🙏 Hỏi: Làm một lần Bia giáp hộ thân có thể giữ được trong thời gian bao lâu? Kết giới một lần có thể giữ được trong thời gian bao lâu? Nước chú Đại bi thời gian hiệu quả được bao lâu?

💡 Đáp: Ô, ở đây phải dùng thước để đo rồi. (mọi người cười) Trước đây cũng từng có người hỏi câu này. Bia giáp hộ thân nhìn chung mà nói thì đối với một sự việc, bạn làm một lần Bia giáp hộ thân thì vấn đề không phải là ở chỗ lâu hay nhanh, mà là trước khi bạn đến bệnh viện, bạn cứ làm Bia giáp hộ thân. Làm Bia giáp hộ thân xong đi đến bệnh viện, bất kể là bạn ở trong bệnh viện bao lâu đều vẫn có hiệu quả. Giả sử bạn đi vào đó 10 phút rồi đi ra thì sẽ có tác dụng trong 10 phút. Bạn đi vào 15 phút thì sẽ có tác dụng trong 15 phút. Thế nhưng có một lưu ý, bạn cần phải chú ý không quên, "chú ý" nghĩa là bạn phải thường xuyên nghĩ đến rằng Kim Cương Hộ Pháp đang ở cùng bạn, chính là chú ý.

Kết giới một lần có thể có tác dụng bao lâu? Mỗi ngày tôi tu pháp đều làm kết giới một lần, tương đương với việc trong lúc tu pháp bạn thỉnh Kiên Lao Địa Thần đến hộ trì. Giả sử mỗi ngày bạn tu pháp đều kết giới, tôi cho rằng như vậy là rất đủ rồi.

Nước Đại bi có thời gian hiệu quả trong bao lâu? Chỉ cần bạn niệm xong, niệm chú Đại bi nhập vào trong nước này, nước này vẫn chưa có ai uống thì có thể giữ được trong một năm, mười năm, một trăm năm, thời gian thực sự là dài như vậy đó. Giả sử nước chú Đại bi này bạn vừa niệm xong liền uống hết thì thời gian có hiệu quả của nước chỉ trong năm giây. Bạn đã uống hết rồi thì chẳng còn nước chú Đại bi đâu nữa, đương nhiên là nước không còn hiệu quả gì rồi! [ ND: Hiệu quả đã chuyển vào trong người bạn sau khi uống]
Bạn giữ nước chú đại bi 100 năm thì nó sẽ còn giữ được hiệu quả 100 năm. Bạn đã niệm chú Đại bi và phóng quang vào nước, gia trì nước chú Đại bi rồi thì bạn để bao nhiêu lâu sẽ có hiệu quả lâu bấy nhiêu.

🙏 Hỏi: Trong pháp Bạch cốt quán, quán tưởng nội hỏa bùng cháy lên đốt sạch toàn thân còn xương trắng, nội hỏa quang Tam ma đại định. Xin hỏi có phải là phải tu đến khi thực sự có thể thắp lên nội hỏa thì mới có thể được tập quán tưởng đốt cháy thành xương trắng như trên không?

💡 Đáp: Có thể tu đến khi thực sự thắp lên được nội hỏa rồi mới tu quán tưởng đốt cháy thành xương trắng thì là tốt nhất rồi. Nhưng nếu bạn chưa thắp được nội hỏa thì vẫn có thể làm quán tưởng này.

🙏 Hỏi: Khi quán tưởng cúng dường, cúng phẩm biến hóa thành nghìn nghìn vạn vạn. Sau khi cúng phẩm tràn đầy khắp vũ trụ rồi, có cần phải quán tưởng Phật Bồ tát từng vị từng vị đến, hoặc vươn tay ra để tiếp nhận cúng phẩm, hoặc là ăn cúng phẩm không?

💡 Đáp: Câu hỏi này thực sự là có người hỏi rằng có phải quán tưởng các vị đưa tay ra nhận hay không, hoặc dùng miệng để ăn hay không, có cần phải quán tưởng hình tướng của các vị khi ăn không? Quán tưởng các vị đến là được rồi, bởi vì các vị thích ăn cái gì thì các vị sẽ tự mình lấy. Bạn không thể ép các ngài thứ mà các ngài không thích ăn, có đúng không? Nếu mà bạn còn cúng quần áo nữa thì lẽ nào bạn cũng giúp các vị cởi quần áo và mặc quần áo lên? Lẽ nào bạn bạn còn gọi các các vị đi vào trong xe để lái xe đi? Hoặc là bạn đem cả ngôi nhà mà bạn thích nhất cũng cho Phật Bồ Tát ở.

Ở đây không chỉ có việc ăn. Bạn biết rằng người Trung Quốc chỉ nghĩ đến chuyện ăn mà thôi, kì thực cúng phẩm không chỉ là những thứ ăn được. Bốn thứ mong muốn sẽ đem lại cho con người niềm vui là cơm ăn, áo mặc, chỗ ở, đi lại, tất cả những thứ nàyđều có thể cúng dường được. Bởi vậy không cần phải quán tưởng các vị đưa tay ra lấy cúng phẩm. Các vị sẽ tự lấy được.

🙏 Hỏi: Rất nhiều người khi tu Thượng sư tương ứng pháp lập tức phát đại nguyện - ví dụ như "Muốn đời đời kiếp kiếp cứu độ chúng sinh", "Địa ngục chưa sạch, thề không thành Phật". Phát đại nguyện như vậy có phù hợp không? Tu đến cảnh giới thế nào mới có thể phát lời thề nguyện to lớn như vậy?

💡 Đáp: Có thể phát lời thề nguyện lớn. Mỗi người đều có thể thề, ví dụ phát những lời thề như "Muốn đời đời kiếp kiếp cứu độ chúng sinh", "Địa ngục chưa sạch, thề không thành Phật" đều được cả. Nhưng bạn cần nhớ khi bạn đã phát ra mong ước về Bồ Đề tâm này mà có thể giữ được nó mãi mãi thì mới là điều trân quý nhất.

Bất kì người nào cũng có thể phát nguyện, bất kể là lúc nào, khi nào ở đâu đều có thể được. Chỉ cần bạn phát tâm, chỉ cần bạn thực sự thể hiện ra Bồ Đề Tâm của bạn thì đều có thể phát nguyện. Nhưng muốn giữ được lời thề nguyện thì cũng tương đối khó đấy. Bạn cần giữ vững lời thề này giống như bạn giữ giới khi bạn thọ nhận Bồ tát giới vậy.

Tu đến cảnh giới nào thì mới có thể phát lời thề nguyện to lớn như vậy? Thực tế là chẳng cần phải quan tâm là tu đến cảnh giới nào. Chỉ cần bạn phát tâm như vậy là được, thì đã gọi là Bồ Tát phát tâm rồi. Bồ Tát phát tâm chính là phát khởi Bồ Đề tâm. Tâm nguyện phát Bồ Đề Tâm này bất kì người nào cũng có thể làm. Không thể nói là hạn chế phải tu đến cảnh giới nào đó mới được phát ra tâm nguyện này. Không có hạn chế nào.

🙏 Hỏi: Pháp Tứ gia hành có cần phải phân ra làm bốn lần quán đảnh không? Kim Cang Tâm Bồ Tát có cần phải quán đảnh riêng không?

💡 Đáp: Trong tông phái của chúng ta thì Tứ Gia Hành chỉ cần một lần quán đảnh, do vậy không cần phải quán đảnh riêng Kim Cang Tâm Bồ Tát, không cần.

🙏 Hỏi: Tứ gia hành, Thượng sư tương ứng, Bổn tôn pháp, Kim Cang pháp, liệu có phải mỗi pháp tu đến khi tương ứng được rồi thì mới xin quán đảnh pháp tiếp theo không?

💡 Đáp: Đúng vậy.

🙏 Hỏi: Tứ gia hành tương ứng là thế nào? Thượng sư tương ứng pháp là tương ứng thế nào?

💡 Đáp: Vấn đề về tương ứng này trong sách tôi đã nhắc đến nhiều rồi. Hơn nữa tôi còn nhắc đến rất nhiều lần, nếu như bây giờ giảng lại từ đầu thì thực tế là sẽ tốn rất nhiều thời gian. Nhưng ở đây tôi cũng nói tóm tắt cho mọi người một chút. Tương ứng nghĩa là ý nói rằng trong lúc bạn tu pháp sẽ sản sinh ra thụy tướng.

Thụy tướng nghĩa là, ví dụ như khi bạn tu Tứ gia hành, Phật Bồ Tát sẽ phóng quang chiếu đến bạn, quán đảnh cho bạn, sờ đầu thọ kí. Khi bạn thỉnh cầu mà có được giấc mơ tương ứng thì sẽ có được rất nhiều mộng cảnh cát tường. Ví dụ khi bạn ngồi trên hoa sen, bay vút lên hư không, ở cùng với tất cả Phật Bồ Tát, ở cùng với tất cả thiện tri thức, lên thuyền đến được bến bờ bên kia. Đây đều là những mộng cảnh rất tốt, chính là lên được đỉnh núi rồi! Chúng đều là những mộng cảnh rất đẹp. Lúc đã có được mộng cảnh tương ứng hoặc trực tiếp có được cảm ứng thì bạn cầu xin vị thầy của mình ấn chứng cho. Nếu thầy nói rằng bạn đã tương ứng rồi thì như vậy là có thể được gọi là tương ứng.

🙏 Hỏi: Bây giờ mọi người ở đây phần lớn là đang tu Thượng sư tương ứng pháp, liệu có thể cầu xin quán đảnh cho mọi người Thượng sư tương ứng pháp không?

💡 Đáp: Giả sử hôm nay nói chuyện xong mà còn thời gian thì tôi sẽ quán đảnh cho mọi người. Ngoài ra cũng có người xin quán đảnh pháp chỉ ngũ sắc của Đại Cát Tường Thiên Nữ, đợi lát nữa tôi quán đảnh cho mọi người xong rồi, có ai cầu quán đảnh pháp gì thì tôi sẽ quán đảnh pháp đó.

🙏 Hỏi: Pháp nào có thể xin quán đảnh từ xa? Pháp nào không thể xin quán đảnh từ xa? Liệu Sư Tôn có thể giảng một chút về phạm vi chung chung được không?

💡 Đáp: Tứ gia hành, Thượng sư tương ứng, Bổn tôn pháp có thể quán đảnh từ xa. Các pháp khác không thẻ quán đảnh từ xa.

🙏 Hỏi: Tu pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát cần phải niệm Quân Đồ Lợi Minh Vương chân ngôn, xiin hỏi niệm như thế nào?

💡 Đáp: Việc này trong sách tôi có nói rồi, Quân Đồ Lợi Minh Vương chân ngôn không khó lắm, bạn nên niệm nếu có thể.

🙏 Hỏi: Tay cầm chuỗi hạt rồi chuông, chày kim cương nên quán tưởng thế nào?

💡 Đáp: Tôi đã giảng rất rõ ràng rồi. Quán tưởng tay phải là chày kim cương, quán tưởng một lúc thì không cần nghĩ về nó nữa. Lại quán tưởng tay trái là chuông kim cương, quán tưởng một lúc thì cũng không cần phải nghĩ về nó nữa. Vậy là được rồi.

🙏 Hỏi: Chủng tử tự của Kim Cang Tâm Bồ Tát có phải là chữ "Hum" màu trắng không?

💡 Đáp: Chữ "Hum" cũng có thể được.

🙏 Hỏi: Nên cúng dường dã quỷ (ma quỷ lang thang) như thế nào, thủ ấn hóa thực (biến đổi thức ăn) như thế nào?

💡 Đáp: Ồ, các câu hỏi càng ngày càng khó rồi. Thủ ấn hóa thực để cúng dường dã quỷ thế này (Sư Tôn kết thủ ấn). Trong việc làm pháp của tôi, tôi đang nói đến nếu chính bản thân tôi làm pháp thì tôi dùng Tam Sơn ấn, đặt chén cúng dường trên đỉnh của Tam Sơn ấn.

Thế còn tay bên này thì dùng kiếm ấn, rồi niệm chân ngôn. Sau khi niệm chân ngôn xong thì thì vẽ một chữ "Hum" vào chính giữa chén nước này. Chữ "Hum" chính là có ý nghĩa biến hóa thành sự thành tựu. Sau đó hắt nước này đổ ra ngoài.

🙏 Hỏi: Thủ ấn và quán tưởng "Zha, Hum, Bam, Ho" như thế nào?
💡 Đáp: Cái này tôi cũng đều giảng rồi. Mọi người có biết thủ ấn này không? Các bạn có thể hỏi các Thượng sư về thủ ấn và quán tưởng "Zha, Hum, Bam, Ho".

🙏 Hỏi: Xin giải thích thêm lần nữa về "Ngã nhập".

💡 Đáp: Ngã nhập có nghĩa là vốn dĩ tôi đã ở trạng thái hợp nhất với Bổn tôn rồi. Trong Mật pháp thì khi nói là đã cùng bổn tôn hợp nhất thì sẽ có nghĩa như sau:

Về "Nhập ngã", đầu tiên quán tưởng nguyệt luân, lại quán tưởng tiếp bổn tôn xuất hiện và đi vào trong thân thể bạn, ngồi trên hoa sen ở tâm luân, biến hóa lên thành to lớn bằng như bạn, đây gọi là Nhập ngã.

Còn "Ngã nhập" thì là bổn tôn (vốn đã hợp nhất với chính ta) sẽ thu nhỏ lại, trở về tâm luân của ta. Sau khi bổn tôn đã trở về tâm luân rồi, ta lại biến hóa bổn tôn thành nhỏ như viên ngọc, nhỏ như một viên trân châu vậy. Viên trân châu đi theo trung mạch tới đỉnh đầu và từ đó xuất ra ngoài rồi hòa nhập vào trong hư không. Lúc này lại quán tưởng bổn tôn hiện thân trong hư không, đây gọi là Ngã nhập. Nhập ngã và Ngã nhập, Ngã nhập chính là quán tưởng ngược lại của quá trình Nhập ngã.

🙏 Hỏi: Khi bổn tôn hóa thành viên ngọc ánh sáng đi vào từ đỉnh đầu, tâm luân hóa thành hoa sen tám cánh, trên hoa sen có nguyệt luân, trên nguyệt luân có chú - chủng tử tự. Hoa sen tám cánh và chủng tử tự có phải sẽ thay đổi màu sắc tùy theo bổn tôn đúng không?

💡 Đáp: Đúng vậy. Không có gì sai.

🙏 Hỏi: Viên ngọc ánh sáng hạ xuống hoa sen rồi, hóa thành bổn tôn, thế lúc này chú tự và nguyệt luân trên hoa sen tám cánh sẽ thành thế nào?

💡 Đáp: Thì vẫn ở đó thôi. Bổn tôn ngồi trên chú tự rồi thì bạn không nhìn thấy chú tự nữa, nguyệt luân cũng vẫn còn ở đó, không thể nói rằng khi bổn tôn ngồi xuống thì không còn nguyệt luân và chú tự nữa, vẫn còn ở đó thôi. Cũng giống như cái pháp tọa này, nó là do Amchok Rinpoche tặng cho tôi, những thứ trang trí cho nó cũng đều do Rinpoche tặng. Trên mặt ghế có chày Thập tự kim cang, khi Sư Tôn ngồi lên thì chày Thập tự kim cang vẫn ở đó, không phải vì Sư Tôn ngồi lên mà nó lại biến mất. Vấn đề ở đây cũng giống như thế. Nói cách khác là Như Lai ngồi tên hoa sen tám cánh, ngồi lên chú tự và nguyệt luân thì chú tự và nguyệt luân phải làm sao? Vẫn ở đó, chỉ vì mông của các vị che mất rồi thôi. Câu hỏi của mọi người cũng thật là kì quặc.

🙏 Hỏi: Thủ ấn của chú Tứ quy y như thế nào?

💡 Đáp: Chỉ cần chắp tay lại khi đọc chú Tứ quy y là được rồi, không có vấn đề gì cả.

🙏 Hỏi: Khi thực hiện Cửu Tiết Phật Phong, quán tưởng bổn tôn hoặc Thượng sư phóng chữ Hum đến chữ Hum của người đang tu, thì quán tưởng chữ Hum màu trắng đi vào như thế nào? Chữ Hum màu đỏ đi đến đan điền rồi lại biến thành chữ Hum màu đen đi vào lỗ mũi của Bổn tôn sao?

💡 Đáp: Quán tưởng như vậy thì lại càng chi tiết, bạn có thể làm như thế.

🙏 Hỏi: Quán tưởng Bách tự minh chú như thế nào?

💡 Đáp: Đối với Bách tự minh chú thì có thể quán tưởng Kim Cang Tát Đỏa. Nói chung khi niệm chú, chúng ta phân tách ngài ra. Ví dụ chúng ta trì chú, tu pháp trì chú của bổn tôn thì cần có quán tưởng mỗi hạt châu đều biến thành vòng tròn, ở giữa vòng tròn có một vị bổn tôn. Niệm bách tự minh chú có thể quán tưởng Kim Cang Tát Đỏa là được.

🙏 Hỏi: Xin Sư Tôn thị phạm kết thủ ấn Kim Cang Tát Đỏa và niệm một biến Bách tự minh chú.

💡 Đáp: Mọi người đều đã biết niệm Bách tự minh chú rồi! Tôi không cần phải niệm lại nữa. Ngoài ra thủ ấn Kim Cang Tát Đỏa lại có rất nhiều kiểu. Đa phần thủ ấn mà mọi người kết là nắm đấm, một tay là ngón cái bên trong, một tay là ngón cái bên ngoài, một nắm đấm thì hướng vào trong, một nắm đấm hướng ra ngoài.

Có lúc thì hai bàn tay như thế này (Sư Tôn thị phạm), có lúc thì một tay đặt vào tâm, một tay đặt vào eo, nắm tay này chính là chày kim cương (ở tâm), còn chuông kim cương là ở vị trí eo. Ngoài ra hai tay chuông chày kim cương này còn đan chéo như thế này, chính là tượng trưng cho "bi trí song vận".
(Xem hình)

🙏 Hỏi: Sư Tôn từng viết trong sách rằng khi niệm chú cần quán tưởng chú âm làm chấn động đến tâm luân dể khai mở tâm luân. Trong mấy ngày trước thì lại quán tưởng mỗi hạt trong chuỗi hạt là một bổn tôn, hay cách này kết hợp lại như thế nào?

💡 Đáp: Việc này thì tự bản thân mỗi người tìm cách kết hợp. Bởi vì ý nghĩa của chú âm chính là niệm ra thành tiếng, âm thanh đi vào tai, in dấu vào trong tâm. Chú âm niệm thành tiếng, đi vào tai, in vào tâm, đây gọi là sơ trụ Tam ma địa, là sơ trụ. Kì thực, trạng thái trụ Tam ma địa tinh tế và tinh tế nhất là không còn niệm chú âm thành tiếng nữa. Vì vậy bạn có thể kết hợp ba việc quán tưởng bổn tôn, đếm số hạt, và niệm chú thầm với nhau. Mặc dù âm thanh của câu chú không được niệm ra nhưng bạn đã in nó vào tâm rồi.

🙏 Hỏi: Công đức của việc niệm chú 1 triệu lần khi lái xe so với việc niệm trước đàn thành thì có sự khác biệt nhiều không?

💡 Đáp: Sự khác biệt của việc niệm chú khi lái xe và khi ngồi niệm trước Phật đường hoàn toàn là vấn đề của tâm. Giả sử bạn có thể thực sự chú tâm niệm thì công đức lớn như nhau. Giả sử sự chú tâm của bạn khi trì chú là khác nhau thì sẽ có sự khác biệt. Giả sự bạn cùng có sự chú tâm niệm như nhau thì không có khác biệt nào cả.

🙏 Hỏi: Xin Sư Tôn giới thiệu đơn giản về pháp Xả thân.

💡 Đáp: Tôi đã giảng về pháp Xả thân rồi, pháp này cũng rất đơn giản thôi! Núi và mặt đất rộng lớn chính là từ da và xương thịt trên thân thể bạn hóa thành. Những dòng sông, nước, hồ, biển chính là máu trong thân thể bạn hóa thành. Tất cả cây cối là lông tóc trên thân thể bạn hóa thành. Mặt trời và mặt trăng là hai con mắt của bạn hóa thành. Trăng sao, núi sông đại địa đều là thân thế bạn biến hóa mà nên để bạn đem cúng dường tất thảy mọi chúng sinh. Đây là cách giới thiệu đơn giản về pháp Xả thân.

🙏 Hỏi: Trong cuộc sống thường ngày, nên làm thế nào để giữ được chính niệm thanh tịnh, loại bỏ thói quen của phàm phu?

💡 Đáp: Việc này rất quan trọng. Bởi vì rất nhiều người khi ngồi ở đây nghe pháp thì rất cảm động, khi về nhà rồi thì chẳng còn thấy cảm động nữa. Trở về nhà là lại là phàm phu, đợi cho đến lần sau Sư Tôn thuyết pháp thì lại rất cảm động. Hễ cứ quay về với cuộc sống bình thường thì lại hoàn toàn chẳng có gì khác biệt so với một phàm phu thế tục.

Việc này cần làm thế nào để giữ được? Trong Mật giáo có đưa ra một ngày ba thời cần nhớ niệm Thượng sư Tam Bảo. Một ngày ba thời chính là buổi sáng thức dậy, buổi trưa - thời gian giữa ngày, và khi mặt trời lặn, chính là như vậy. Một hành giả Chân Phật chân chính và người xuất gia thì một ngày cần làm bốn đàn, một ngày tu bốn đàn pháp. Không giống như đệ tử tại gia, bản thân họ rất bận, bạn bảo họ một ngày tu một đàn pháp, có người đã không thể nào dành ra được một chút thời gian nào rồi. Nhưng đệ tử xuất gia thì khác, trong một ngày cần tu bốn đàn pháp, nghĩa là sáng ngủ dậy tu một đàn, giữa ngày tu một đàn, ngày tàn tu một đàn, trước khi đi ngủ tu một đàn, như vậy là một ngày tu được bốn đàn pháp. Như vậy mới luôn nhớ về Thượng Sư và Tam Bảo mà không quên. Khi đã có thể luôn nhớ về Thượng sư và Tam Bảo rồi thì sẽ không quên được, họ sẽ luôn tồn tại trong cuộc sống hàng ngày của bạn, bạn sẽ không quên mất chính niệm.

Bình thường đối với cư sĩ tại gia thì có thể được thay thế bằng việc hướng suy nghĩ đến Thượng sư và Tam bảo ba lần một ngày, vào lúc mặt trời mọc - khi ngủ dậy, giữa ngày và khi ngày tàn. Bây giờ thì trở thành rất đơn giản rồi đó! Chính là một ngày tu một lần, mỗi ngày bạn chỉ càn tu một đàn pháp thôi. Còn bạn vẫn sống cuộc sống của bạn như vậy, nhưng muốn giữa được thân tâm thanh tịnh thì luôn luôn quán tưởng có Phật Bồ Tát, Hộ Pháp Kim Cang ở trên đỉnh đầu của bạn, hoặc là ở bên cạnh bạn, lúc nào cũng nhớ hướng về chư vị như vậy thì trong cuộc sống hàng ngày bạn sẽ có thể luôn luôn giữ được chính niệm thanh tịnh.

🙏 Hỏi: Chủng tử tự của Kim Cang Tát Đỏa là gì? Có màu sắc gì? Thế khi thực hành Cửu tiết Phật phong với quán tưởng chủng tử tự thì khi đi vào là màu trắng, đi ra là màu đen, hay là từ đầu đến cuối vẫn chỉ là một màu sắc?

💡 Đáp: Chủng tử tự của Kim Cang Tát Đỏa cũng có vài chữ, cũng như tôi từng nói rằng Quan Thế Âm Bồ Tát cũng có vài chủng tử tự. Ví dụ khác như chủng tử tự của Hồng Quan Âm giống với chủng tử tự của A Di Đà Phật, ví dụ như Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm cũng có chủng tử tự giống chủng tử tự của A Di Đà Phật. Nhưng nếu bạn lấy sách tiếng Phạn chủng tử tự ra để tra cứu, bạn sẽ hiểu cách viết của người Tây Tạng và chữ Phạn, bạn sẽ thấy Kim Cang Tát Đỏa cũng có vài chủng tử tự. Theo như tôi biết thì là như vậy.

Ngoài ra, màu sắc thì là màu gì thì mọi người hãy nhớ, mỗi một vị bổn tôn có màu sắc riêng, dựa vào màu sắc của ngài để biểu thị. Ví dụ năm căn nhà phía sau của chúng ta ở đây được sơn năm màu sắc, chính là tượng trưng cho Ngũ Phương Phật. Đại Nhật Như Lai là màu trắng, A Di Đà Phật là màu đỏ, Bảo Sinh Phật là màu xanh lục, Bất Không Thành Tựu Phật là màu đen, A Sơ Phật là màu vàng. Trong hầu hết trường hợp thì mỗi màu sắc trong năm màu này đại diện cho một vị bổn tôn. Nhưng tuy vậy thì Văn Thù Sư Lợi là kết hợp màu vàng và trắng, Chuẩn Đề Phật Mẫu cũng là màu vàng và trắng.

Thế còn chủng tử tự của Kim Cang Tát Đỏa thì là màu gì? Hẳn là màu trắng rồi, bạn xem bức vẽ toàn thân Kim Cang Tát Đỏa đều là một màu trắng, bởi vì ngài là Ngũ Đại Kim Cang Trì đến từ cung Đại Nhật của Đại Nhật Như Lai, do vậy lấy màu trắng làm biểu tượng.

Kim Cang Tổng Trì hóa thành màu lam, tôi thấy Kim Cang Tổng Trì hóa thành màu lam, đây là dựa trên màu sắc vốn có của bản thân mà hóa thành. Vừa nãy tôi đã nói về Cửu Tiết Phật Phong, đi vào là màu trắng, đi ra là màu đen, còn khi ở bên trong thì là màu đỏ.


![image](/img/img_5d5c3af54bf1107050cf75a7fb59044e.png)



![image](/img/img_404a2ceedb807a89515ebe68ad0d7dc1.png)



![image](/img/img_670c236e7809b5743720fc8eb66af92a.png)



![image](/img/img_91ca5857c56b8040197e8c8a3a38d013.png)


🙏 Hỏi: Phải làm sao để các loại cảm quan, cảm nhận và cảnh giới trong khi tu pháp có thể phù hợp với "Ngũ uẩn đều là hư không" nói đến trong Tâm Kinh và "khi thấy mọi hình tướng đều là phi tướng tức là đã kiến được Như Lai" nói đến trong Kim Cang Tâm? Nói cách khác là ngồi xuống tu bao lâu, hoặc là sau khi trải qua quá trình như thế nào thì cảnh giới sản sinh ra mới là định giới (cảnh giới định) đích thực mà không phải là những huyễn tượng được tạo ra bởi sự kiên cố của ngũ uẩn? [ ND: ngũ uẩn là năm thứ gồm sắc - thọ - tưởng - hành - thức, tích tập ô nhiễm che lấp mất chân tính của con người. ]

💡 Đáp: Câu hỏi này rất hay, hỏi rất sâu xa. Trong Thứ tự sinh khởi đều có các hình tướng, chỉ có trong Thứ tự viên mãn mới không còn hình tướng (vô tướng).

Do đó khi tôi giảng Thứ tự viên mãn là tương đương với "vô tâm, vô hình, vô tướng, vô trụ", đều là một chữ "vô". Thế nhưng trong Thứ tự sinh khởi vẫn đều phải dựa vào "chứng lượng, chứng phân" để phân biệt và nhận biết bản thân bạn đã tu hành đến cảnh giới nào rồi, đến lớp thứ tự nào rồi. Nếu như bạn đã từ bỏ được hữu tướng thì tất cả đều không có gì gọi là "chứng lượng, chứng phân" nữa rồi, đều không còn nữa. Do vậy, kì thực trong "vô" đã bao hàm cả "hữu" rồi, thế còn "hữu" đến cuối cùng tổng kết lại cũng là "vô". Giữa "hữu" và "vô" này là trong "vô" có "hữu", trong "hữu" có "vô".

Vậy làm sao để khế hợp với "ngũ uẩn đều là hư không" của Tâm Kinh? Bên trong Tâm Kinh là cảnh giới của ba-la-mật (paramita) - sự cứu cánh, nói cách khác là đã thành tựu thành Phật Bồ Tát rồi. Trước khi thành tựu cảnh giới này thì các loại cảm quan, cảm nhận và cảnh giới đều vẫn còn ở trong "hữu".

Khi bạn tồn tại trong cảnh giới trên, bạn cần phải nhận thức được rằng: "Những thứ này đều là do Phật Bồ Tát "động viên" mà cho ta thôi, tất cả đều là huyễn, đừng có bám chấp vào chúng." Không thực sự cần thiết phải nghĩ rằng nhất định cần có cảnh giới này xuất hiện thì trong lòng tôi mới hoan hỉ được.

Rất nhiều người bám chấp vào cảnh giới này là điều không tốt, phải xem chúng đều là "huyễn". Tuy nhiên có được cảnh giới này cũng là điều tốt, sẽ cho bạn cảm thấy mình được cổ vũ. Hành giả cần rất chú ý đến điểm này để có thể "không cầu không tìm không bám chấp", cứ để tự nhiên mà sinh ra, như vậy là tốt nhất. Còn nếu bạn đi thỉnh cầu, đi tìm kiếm, rồi bám chấp vào chúng thì lại trở thành không tốt. Mọi người cần chú ý đến điểm này.

🙏 Hỏi: Trong nghi quỹ tu trì Thượng sư tương ứng pháp, đến lúc niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, có cần niệm thêm Chân Phật Kinh không?

💡 Đáp: Nếu bạn có thời gian thì rất tốt. Nếu có rất nhiều thời gian thì có thể niệm thêm, rất tốt. Bạn muốn niệm kinh gì thì tùy ý, nhưng nếu bạn niệm kinh Rosary của Thiên Chúa Giáo, niệm Kinh Thánh thì có lẽ không phù hợp lắm.

Thực ra tôi cho rằng Kinh Thánh cũng tốt, bản thân Kinh Thánh mà nói thì nội dung của nó cũng có rất nhiều đạo lý, cũng có thể thành tiên, đạo lý về cuộc sống vĩnh hằng này cũng có trong đó. Phật pháp rất bao dung, tuy nhiên nếu bạn gom rất nhiều kinh điển lại để niệm, và kinh gì cũng niệm, không lựa chọn kinh nào tương đối gần với Phật pháp thì bạn sẽ lại đi ra tương đối xa.

Ý của tôi muốn nói rằng kì thực niệm kinh gì cũng được, chỉ cần xem xem bạn có thời gian không, bạn có thể thâm nhập để thể hội được hay không.

Trước đây trong khi thuyết pháp, tôi đã từng nói về vấn đề trong nghi thức sám hối. Ý nghĩa chủ yếu của việc chúng ta sám hối là hoàn toàn mở tâm của mình ra, hoàn toàn thể hiện ra sự hối hận. Khi bạn đọc kinh cần hiểu rõ cái gì là lỗi lầm về thân thể, cái gì là lỗi lầm về khẩu, cái gì là lỗi lầm về ý niệm, bạn cần hiểu rõ, sau đó bạn thực sự sám hối thì mới đạt được mục đích của việc sám hối.

Thế nên không phải là miệng chỉ cứ đọc kinh khơi khơi như vậy. Đương nhiên tôi cũng có thể đọc kinh được rất nhanh. Mà kì thực nếu chỉ thế thì cũng không cần bạn phải đọc đâu, bạn bật băng ghi âm là được rồi. Bây giờ có rất nhiều băng ghi âm đọc kinh, đọc đọc đọc…

Oa! Bạn bảo mỗi ngày tôi đọc rất nhiều kinh, có phải bạn đọc thật không? Đó là băng ghi âm đó chứ. Nếu bạn đọc kinh giống như băng ghi âm mà không hiểu ý nghĩa của kinh đó thì cũng chẳng có công đức gì, chẳng có hiệu quả gì. Do vậy chúng ta sám hối và đọc kinh cần nhớ rõ là phải hiểu ý nghĩa của kinh và thực sự thực hành chúng.

🙏 Hỏi: Khi kết ấn thiền định, tay phải đặt ở trên hay tay trái đặt ở trên, có liên quan đến nguyên tố thủy hỏa như thế nào, xin giải thích cho đệ tử rõ?

💡 Đáp: Được thôi, vấn đề thủy hỏa là thế này! Tay phải đại diện cho hỏa, tay trái đại diện cho thủy. Bởi vì tôi biết mọi người đều kết ấn như thế này (Sư Tôn thị phạm tay phải đặt trên tay trái). Thế nhưng Phật Thích Ca Mâu Ni khi giảng về Bạch cốt quán lại làm như thế này (Sư Tôn thị phạm tay trái đặt trên tay phải).

Thực tế thì mọi người đặt thế nào cũng được. Ở đây tôi cũng có thể làm thế này. Bình thường là nước chảy ở phía dưới, nước chảy xuống dưới, hỏa thì bốc lên trên, cách nói thông thường là như vậy. Nước chảy xuống dưới, lửa cháy lên trên. Hai tay này tượng trưng cho thủy hỏa, dựa theo cách thức tự nhiên mà có tư thế đặt tay thế này.

Còn nếu đảo ngược lại thì thế nào! Nghĩa là nước chảy lên trên, lửa cháy xuống dưới, vốn cũng có một pháp như vậy. Kì thực nước chảy lên trên chính là nâng lên, lửa cháy xuống dưới chính là hạ xuống, nhưng cách này không thuận tự nhiên mà là đảo ngược lại tự nhiên. Một cái là hướng chính, một cái là hướng nghịch, hướng chính là thuận với tự nhiên, hướng nghịch là hoàn toàn đảo ngược.

Vốn cũng có một câu nói rằng: "Đường đạo bao cuộn xoắn, ai xoay chuyển theo kịp, khác gì Đại La Tiên." Do thế thủ ấn thiền định này cũng có cách đặt ngược. Ý nghĩa của cách kết thủ ấn đảo ngược này chính là nước trên lửa dưới. Hoặc nói cách khác chính là đảo ngược lại, ý là như vậy.

🙏 Hỏi: Trong tu hành Chân Phật Mật Pháp cần sử dụng đến ý thức vi tế và ý thức siêu vi tế, xin giải thích cho đệ tử được rõ.

💡 Đáp: Oa! A Di Đà Phật (cười). Ý thức vi tế và ý thức siêu vi tế là Duy thức học, xin mời bạn đọc về Duy thức học nhé.

Bạn đã biết rõ về sáu thức của chúng ta rồi, "mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý" chính là sáu thức. Thức thứ bảy là Mạt-na thức, thức thứ tám là A-lại-da thức, thức thứ chín là Am-bổn-la thức.

Mật giáo chính là nói đến thức thứ chín này. Hiển giáo chỉ nói đến thức thứ tám. Mắt tai mũi lưỡi thân ý, đến khi sáu giác quan đóng lại mới đến được thức thứ bảy.

Việc tu hành này bạn có thể tham khảo cuốn kinh điển "Đại thừa khởi tín luận" và các sách về Duy thức học là có thể hiểu rõ cái gì là ý thức vi tế và ý thức siêu vi tế.

🙏 Hỏi: Có thể dùng chuông, chày kim cang để làm siêu độ không? Dùng pháp Tứ gia hành để siêu độ như thế nào? Xin Sư Tôn dạy thủ ấn bát cúng. Trước khi hít khí vào thì trung mạch có màu sắc gì?

💡 Đáp: Có thể dùng chuông, chày kim cang để siêu độ được. Tôi đã giảng về cách niệm chú Văn Thù vãng sinh và dùng ấn Đại Hải Siêu Độ là có thể làm siêu độ được.

Thế còn nếu dùng chuông, chày kim cang để làm siêu độ thì cần quán tưởng và cũng cần quán tưởng mọi biến hóa. Ngoài việc làm bốn loại pháp yết ma ra thì trong lúc lắc chuông, bản thân chính ta cần kết thủ ấn siêu độ, "Thượng phẩm thượng sinh, Trung phẩm trung sinh, Hạ phẩm hạ sinh", kết ấn "dữ nguyện" (ấn ban cho ước nguyện), kết ấn "vô úy" (ấn không còn sợ hãi).

Đây là cách dùng chuông chày kim cang để siêu độ cùng pháp Tứ gia hành. Sau khi bạn làm quán tưởng xong ở pháp Tứ gia hành rồi, sau khi làm pháp xong, bản thân bạn cần niệm chú Văn Thù vãng sinh, sau đó kết ấn Đại hải siêu độ, hóa thành một con thuyền pháp đem tất cả chúng sinh trong cõi u minh lên thuyền siêu độ. Bạn chỉ cần quán tưởng như vậy là được.

Trước đây tôi mới chỉ dạy mọi người về thủ ấn của ngũ cúng, chưa dạy mọi người thủ ấn của bát cúng. Trong Mật giáo có thủ ấn của bát cúng, nhưng chúng ta không dùng đến, vì sao vậy? Bởi vì khi bạn kết thủ ấn cúng dường thì đã bao gồm cả thủ ấn bát cúng rồi. Chỉ cần kết một thủ ấn cúng dường này là tương đương với tám thủ ấn cúng dường, toàn bộ đã bao gồm trong thủ ấn cúng dường. Còn nếu bạn làm thủ ấn bát cúng thì quá phức tạp và quá nhiều, hơn nữa lại còn cần quán tưởng bát cúng, thời gian tu pháp như vậy sẽ rất dài.

Trên thực tế ở Tây Tạng, cúng dường Mandala của họ không giống với cúng dường mà chúng ta đang làm hiện nay. Họ cúng dường mandala, có người dùng một mâm hình vuông, mâm có bốn cạnh to cỡ như cái bàn này, cạnh bên cũng cao lên. Sau khi làm cúng dường xong, họ lại cầm lên một nắm gạo và rắc, vừa rắc vừa niệm chú, vừa rắc vừa niệm chú, rắc xong lại đem đổ hết gạo này ra, dùng vải lau đi những chỗ bị bẩn, lau đến khi rất sạch sẽ rồi thì họ lại lặp lại nghi thức này. Cách làm pháp của họ rất khác.

Nhưng chúng ta hiện tại không làm như vậy. Bởi vì nếu làm như vậy thì sẽ rất tốn thời gian. Hơn nữa, gạo này sẽ đem cho chim ăn, chúng ta rắc ra cho chim ăn, chúng ta sẽ lại cảm thấy làm như vậy thì rất lãng phí, do đó hiện nay chúng ta sửa thành kết ấn cúng dường.

Đúng là có thủ ấn bát cúng, nếu bạn muốn học có thể học từ các Thượng sư đã biết để biết thế nào là thủ ấn bát cúng. Ví dụ những thứ như Ốc như ý thì lại phải kết ấn Ốc như ý, lại phải kết ấn Nước mộc dục (nước tắm), lại phải kết ấn Đồ hương,… bát cúng là như vậy.

Trước khi hít khí vào thì trung mạch có màu sắc gì à? Trung mạch có màu tím hoặc màu lam, hoặc là ngoài màu lam trong màu trắng.

🙏 Hỏi: Trước khi tu pháp, lúc làm quán tưởng Tứ vô lượng tâm, quán tưởng cha ở bên trái hay bên phải? Mẹ ở bên trái hay bên phải?

💡 Đáp: Tôi quán tưởng như thế này, quán tưởng người cha ở bên phải, người mẹ ở bên trái. Đây là dựa theo quán tưởng của chính bản thân tôi, cha ở bên phải, mẹ ở bên trái.

🙏 Hỏi: Khi niệm chú triệu thỉnh "Om Ah Hum", quán tưởng chủng tử tự ở giữa tâm luân có phải là dựa theo chủng tử tự của bổn tôn để quán tưởng không? Chủng tử tự ở tâm luân xoay chuyển như thế nào? Theo mặt phẳng ngang hay theo chiều thẳng đứng? Chú luân ở tâm luân xoay chuyển như thế nào? Chuyển động theo mặt phẳng ngang hay theo chiều thẳng đứng?

💡 Đáp: Khi niệm chú triệu thỉnh, tôi đều quán tưởng chữ "Hum". Ở giữa tâm luân của bạn, chữ "Hum" này nằm trên tâm của nguyệt luân. Do vậy tôi quán tưởng là nó nằm trên mặt phẳng ngang, nằm ngang ngay ở giữa tim của chính mình. Thế còn ở trong hư không, khi có câu chú thì quán tưởng là hiện lên thẳng đứng.

Xoay chuyển như thế nào? Tôi đều quán tưởng xoay như thế này (Sư Tôn thị phạm dùng ngón tay vẽ theo thuận chiều kim đồng hồ). Tôi đều quán tưởng xoay như vậy. Thế còn ở trong tâm luân thì sẽ xoay theo mặt phẳng ngang, thế còn ở trong hư không trung thì xoay như tôi vừa vẽ (Sư Tôn thị phạm).

🙏 Hỏi: Khi làm đại lễ bái, quán tưởng thân mình trong hư không cùng với lục đạo chúng sinh cùng nhau lễ lạy hư không như thế nào? Theo Tứ quy y mà nói thì riêng Đại lễ bái cần làm bao nhiêu lần? Khi lạy Phật có nhất định cần phải niệm chú lạy Phật không?

💡 Đáp: Đặt mình vào trạng thái hư không có nghĩa là biểu thị ý niệm của bạn hoàn toàn tập trung, hóa thành cảnh giới hư không. Nói rõ hơn là đặt mình trong trạng thái hư không, suy nghĩ hoàn toàn tập trung, tất cả mọi thứ xung quanh đều không bị phân tán, như vậy mới được gọi là đặt mình trong hư không. Lễ lạy hư không nghĩa là xem đàn thành trước mặt bạn giống như một vũ trụ và bạn đang đảnh lễ trước cả vũ trụ này.

Thực hiện Đại lễ bái cần bao nhiêu lần à? Chúng ta nhớ rằng chúng ta niệm chú Tứ quy y cần niệm 1 triệu biến. Làm Đại lễ bái cần bao nhiêu biến? Nếu tính theo số lần thì có rất nhiều người lạy rất nhiều lần, lạy đến khi toàn thân đẫm mồ hôi, đảnh lễ đến mức toàn thân đổ mồ hôi. Tuy nhiên chúng ta không có cách nào để làm Đại lễ bái nhiều như vậy, bạn nên thuận theo tình trạng cơ thể bạn để điều tiết việc đảnh lễ là được rồi.

Thế rốt cuộc lại thì cần làm bao nhiêu lần? Kì thực cũng không có quy định văn bản chính thức nào cả. Có người cho rằng làm 250 nghìn lần, có người thì nói rằng vẫn cần phải làm 1 triệu lần, có người thì còn lạy nhiều hơn nữa. Nói tóm lại là bạn có thể đảnh lễ cho đến khi tương ứng là được.

Việc lạy Phật này có cần phải niệm chú lạy Phật không? Nếu có thời gian thì bạn có thể làm. Trước đây, đại sư Tsongkhapa - một hóa thân của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, đã hướng tới 35 vị Phật mà đảnh lễ. Mỗi một cái lạy Phật là toàn thân nằm xuống, rất kiền thành, ngài lạy tới mức tay đều bị chà sát tới rách cả.

Ở Tây Tạng họ làm đại lễ bái là đầu gối không được cong, đầu gối phải thẳng hết ra, "pang" một cái là nằm thẳng dưới đất, rồi hai tay vươn thẳng ra, sau đó vừa chạm đất lại lập tức đứng lên rất nhanh. Do vậy bản thân người Tây Tạng khi làm đại lễ bái không cong đầu gối như vậy.

Ngài làm Đại lễ bái trên một phiến đá, là một phiến đá rất lớn, tay chà sát lên đó đều bị rách cả. Việc này khiến 35 vị Phật rất cảm động và tất cả đều hiện thân. 35 vị Phật hiện lên trong hư không để cho ngài Tsongkhapa nhìn thấy.

Thế nhưng 35 vị Phật mà đại sư Tsongkhapa nhìn thấy đều không có đầu. Khi 35 vị Phật hiện thân thì đều không có đầu, ngài cảm thấy rất kì lạ, vì sao các vị lại không có đầu nhỉ?

Ngài mới hỏi Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nói với ngài: "Mặc dù ngài làm Đại lễ bái, đảnh lễ 35 vị Phật, 35 vị Phật nhìn thấy ngài khó nhọc làm đại lễ bái như vậy, tu khổ hạnh đến mức như vậy, đã rất cảm động, do vậy mới hiện thân. Nhưng vì sao lại không có đầu? Bởi vì ngài không đọc thêm 10 xưng hiệu của Như Lai. Nếu như ngài đọc thêm 10 xưng hiệu của Như Lai, nói cách khác là khi ngài niệm xưng hiệu của Phật nữa mới là đầy đủ chu toàn. Khi ngài làm Đại lễ bái mà niệm thêm tên hiệu thì lại càng thêm viên mãn."

Thế là đại sư Tsongkhapa từ sau đó khi đảnh lễ 35 vị Phật lại niệm thêm cả 10 xưng hiệu của Phật, đó là "Như Lai, Chính Biến Tri, Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn". Chính là ngài đã đọc thêm 10 xưng hiệu này.

Sau khi ngài đọc thêm 10 xưng hiệu này thì mới làm Đại lễ bái. Ý! Thế là 35 vị Phật hiện lên, tất cả đều có đầu rồi. Hôm nay có cần phải thêm chú lạy Phật hay không, bạn tự mình nghĩ xem là bạn có thời gian hay không.

🙏 Hỏi: Niệm chú Tứ quy y, quán tưởng Thượng sư, Phật, Pháp, Tăng, hóa thành một đường ánh sáng trắng, quán tưởng tất cả cùng xoay chuyển thành ánh sáng trắng là quán tưởng như thế nào? Quán tưởng nên làm vào lúc trước hay sau khi niệm chú?

💡 Đáp: Rất nhiều việc đều là quán tưởng trước rồi niệm chú sau. Nếu trong Mật pháp giả sử có một trình tự thì sẽ là quán tưởng trước trì chú sau. Mật giáo đều dạy mọi người là quán tưởng trước trì chú sau.

Quán tưởng xoay vòng thành ánh sáng trắng như thế nào ư? Ngay cả việc xoay vòng thế nào cũng cần tôi phải dạy à, để tôi bảo Phật Kì xoay vòng vòng cho mọi người xem. Nó có một động tác vận động là ngồi thấp người dưới đất và xoay mấy vòng. Xoay vòng chính là như vậy, đợi một lát nữa khi thấy Phật Kì tôi sẽ kêu nó ra làm một lần cho mọi người xem.

🙏 Hỏi: Kết thủ ấn Bia giáp hộ thân, chạm vào thiên tâm, họng, tim, vai trái, vai phải là có hàm ý gì?

💡 Đáp: Ô (Sư Tôn cười), việc này tượng trưng cho việc gia trì đó mà! Thiên tâm, họng, tâm luân, vai trái, vai phải bao gồm toàn thân của bạn, toàn bộ thân thể của bạn, đây là các bộ phận quan trọng, toàn bộ đều giúp cho việc hộ thân của bạn. Chạm - phải chạm vào! Có đúng vậy không! Đây cũng có ý nghĩa là thân khẩu ý, là ý niệm về toàn thân.

🙏 Hỏi: Niệm Cao Vương Kinh, khi niệm Thất Phật Diệt Tội chân ngôn, có cần phải quán tưởng Phật phóng quang không? Quán tưởng như thế nào?

💡 Đáp: Thất Phật có pháp tướng, nếu muốn quán tưởng thì cần nghĩ cách để tìm ra pháp tướng của Thất Phật. Thường thường trong việc sám hối, khi sám hối bạn thường hướng tới Thất Phật. Bạn cần tìm được hình ảnh pháp tướng của Thất Phật để quán tưởng. Nếu bạn muốn quán tưởng thì bạn có thể làm. Oa! Nếu mà tu một đàn pháp như vậy thì mất cả một ngày trời đó. (mọi người cười)

🙏 Hỏi: Niệm chú vãng sinh A Di Đà Phật có cần quán tưởng không, quán tưởng như thế nào?

💡 Đáp: Chú vãng sinh A Di Đà Phật thì quán tưởng chính A Di Đà Phật là được rồi. Bạn muốn làm siêu độ được thuận lợi thì kết ấn Đại hải siêu độ, quán tưởng thuyền pháp.

🙏 Hỏi: Trì Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, có phải là mỗi khi niệm đến chữ "Hum" đều cần phải quán tưởng chữ "Hum" trong tâm luân phóng quang không, làm như vậy là để giúp cho tâm luân phát quang phải không?

💡 Đáp: Việc này nếu như bạn có thời gian thì bạn làm, tuyệt đối không có vấn đề gì cả. Có thời gian thì bạn cứ làm.

🙏 Hỏi: Làm sao để quán tưởng chi tiết tam quang bao trùm, ví dụ ánh sáng trắng chiếu đến thiên tâm, có phải thiên tâm là ở giữa đầu không?

💡 Đáp: Ồ, lấy thước ra đo thì vị trí chính giữa khoảng cách hai tai ta lấy một điểm, bạn lấy thước ra đo rồi đánh dấu một điểm, chấm một điểm. Nhưng có ai làm như thế không? Thiên tâm ở giữa đầu à, nếu thế thì tâm luân (luân xa tim) này của bạn, bạn muốn chỗ nào là trái tim cơ thể của bạn đây? Chúng ta đều biết rằng tim lệch về một bên, nên tâm luân chắc chắn là phải lệch về một bên, đâu phải ở giữa.

Nhưng thực tế chúng ta lại quán tưởng ở giữa, tâm luân chính là ở giữa cơ thể. Luân xa họng thì ở cổ họng. Luân xa con mắt thứ ba của chúng ta ở đây thì khác với bên Nhất Quán Đạo. Trong Nhất Quán Đạo thì điểm ở giữa hai con mắt này là huyền quan (lối vào bí mật), là ở giữa con mắt này và con mắt này, chính ở chỗ thấp này nơi bắt đầu của mũi, theo họ nói thì huyền quan là ở đây. Trước đây vào thời xa xưa thì họ chưa điểm huyệt, bây giờ thì họ sẽ điểm huyệt vào chỗ này của bạn (Sư Tôn thị phạm). Ngày trước họ không điểm huyệt, chỉ có trỏ vào nó một chút thôi, trỏ vào từ một khoảng cách. Còn bây giờ thì họ trực tiếp ấn một cái, gọi là điểm huyền quan. Chúng ta không gọi là huyền quan mà gọi là thiên tâm, nằm ở đây (Sư Tôn thị phạm).
[ ND: Nhất Quán Đạo là một tà phái mượn danh nghĩa Phật giáo, được truyền từ Trung Quốc vào Đài Loan từ năm 1954.]

🙏 Hỏi: Khi gia trì chú của bát đại bổn tôn khác thì mỗi lần niệm một câu chú liệu có phải quán tưởng mỗi vị Phật Bồ Tát hiện ra không?

💡 Đáp: Tốt nhất có thời gian thì bạn nên làm.

🙏 Hỏi: Niệm xong gia trì bát đại bổn tôn tâm chú, khi làm gia trì Tức-Tăng-Hoài-Tru [ ND: bốn đại pháp của Mật tông, Tức là Tức tai, Tăng là Tăng ích, Hoài là Kính ái, Tru là Hàng phục ] thì lực gia trì là từ đâu đến? Có phải là từ lực của bát đại bổn tôn không? Vì sao lại xếp ngay sau khi làm xong gia trì tâm chú của bát đại bổn tôn, có phải là có ý nghĩa liên quan với nhau không?

💡 Đáp: Không phải. Khi làm Tức-Tăng-Hoài-Tru là sau khi làm xong phần Tiền hành, Chính hành, có thể nói là lúc này bạn đã tu trì một đàn pháp sắp đến lúc kết thúc rồi. Khi sắp kết thúc, Phật Bồ Tát vẫn còn ở đây, bạn không nên nói với Phật Bồ Tát và bổn tôn là hãy giải tán đi, mà nhân lúc này dùng pháp lực tu pháp của bản thân bạn cùng với pháp lực của tất cả chư tôn và pháp lực của bổn tôn cùng hợp lại để làm Tức-Tăng-Hoài-Tru. Nói như vậy bạn đã hiểu chưa?

🙏 Hỏi: Xin Sư Tôn chỉ dạy, ở những nơi công cộng nếu muốn tu pháp nhập định nhưng không tiện kết thủ ấn hoặc niệm chú phát ra âm thanh, ta có thể dùng cách thức là nhắm mắt quán tưởng thủ ấn và niệm thầm chú ngữ khi thực hiện mọi trình tự tu pháp được không?

💡 Đáp: Có thể được.

🙏 Hỏi: Khi niệm Nam mô 36 vạn tỷ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật có cần quán tưởng không?

💡 Đáp: Có thể (mọi người cười), nhưng bạn quán tưởng chẳng hết nổi đâu. Nếu bạn có thể quán tưởng 36 vạn tỷ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật, mỗi một vị lại cần quán tưởng thật rõ ràng mới là tốt nhất (mọi người cười), thì "đảm bảo vãng sinh"! (mọi người cười)

🙏 Hỏi: Tại Chân Phật Mật Uyển cùng Sư Tôn đồng tu, khi tu đến lúc niệm vãng sinh tịnh độ thần chú, Sư Tôn đều lắc chuông kim cương. Xin Sư Tôn nói rõ ý nghĩa của việc lắc chuông là thế nào?

💡 Đáp: Kì thực việc lắc chuông thì lúc niệm chú cũng có thể lắc chuông được. Bạn niệm bất kì chú gì cũng có thể lắc chuông. Đọc kinh cũng có thể lắc chuông. Có thể lắc chuông khi đọc kinh được, chỉ cần âm thanh của chuông phù hợp với nhịp đọc kinh và đọc chú sao cho hay thì đều có thể lắc. Việc lắc chuông tượng trưng cho sự hoan hỷ và nhịp điệu tiết tấu. Bởi vì bạn đọc kinh hay niệm chú đều là một việc rất hoan hỷ, đều giúp cho tinh thần tập trung chuyên nhất. Lắc chuông có ý nghĩa là một kiểu tập trung và tăng cường thêm sự hoan hỷ. Bạn nên làm.

🙏 Hỏi: Khi niệm chân ngôn Thổ Địa Công nên quán tưởng thế nào?

💡 Đáp: Khi niệm chân ngôn Thổ Địa Công à, về việc này thì khi niệm chú xong đã tương đương với việc bạn mời họ đến rồi. Có sức mạnh của câu chú này là có thể mời được họ đến, nếu bạn muốn thêm quán tưởng nữa thì cũng được.

🙏 Hỏi: Những lúc bình thường, trong khi lái xe hoặc những lúc không thuận tiện thì dùng máy đếm để niệm chú, xin hỏi dùng cách này để niệm chú thì chú lực liệu có bị giảm đi hay không?

💡 Đáp: Điều này hoàn toàn là vấn đề của sự chú tâm, như tôi vừa nói ban nãy rồi.

🙏 Hỏi: Ngày đầu tiên đệ tử nghe Sư Tôn giảng về tu pháp cần điều chỉnh tâm, dùng tâm vui vẻ như một bầu trời xanh ngắt trong vắt vô tận để nhập Tam ma địa. Lúc đầu nội tâm đệ tử yên tĩnh, chỉ cảm giác thân thể bay lên hư không, rồi thân thể cứ thế lớn lên, phóng to lên đến khi có thể nuốt toàn bộ hư không này vào bên trong thân thể mình. Sau đó thì dừng lại, lúc này đệ tử cảm giác có một khối khí dội thẳng từ trên xuống, đi vào trong thân thể, giống như nước xi-măng đổ xuống khiến đệ tử không thể cử động được, rồi đột nhiên cảm thấy thân thể cứ thế to lớn như một ngọn núi, tay trái cũng to lớn như một cây cột bê-tông, tay phải cũng to lớn như một cây cột bê-tông, sau đó thì hai chân và cả cơ thể giống như biến thành một quả núi. Khi đó đệ tử rất sợ hãi nên mau chóng xuất định, nhưng khối khí đó vẫn tiếp tục dội thẳng từ trên xuống, rất lâu sau mới tản đi. Có phải là nghiệp chướng hay là tu pháp có sai sót gì không?

💡 Đáp: Không có sai sót gì của việc tu pháp ở đây cả. Bạn hỏi có phải là nghiệp chướng hay là tu pháp bị sai không, thì tu pháp không có gì sai. Bởi vì yếu tố địa khí của bản thân bạn tương đối nặng, do vậy khi tu pháp có cảm ứng thì sẽ giống như là bị đông cứng lại như núi và bê-tông vậy.

🙏 Hỏi: Sư Tôn nói đến nhập Tam ma địa, lúc đầu quán tưởng hít ánh sáng trắng vào, đi vào tới họng thì biến thành ánh sáng màu đỏ, đi vào tới tâm luân thì biến thành ánh sáng màu lam, đi ra thì là khí đen, thế còn khi khí tới đan điền thì biến thành ánh sáng màu gì? Liệu có phải là biến trở lại thành ánh sáng trắng như mặt trăng không? Khi thở khí ra, từ đan điền tới tâm luân rồi lại đi lên họng, màu sắc của ánh sáng liệu có phải là lại biến thành màu lam màu đỏ không? Rồi lúc ra tới lỗ mũi thì lại biến thành khí màu đen?

💡 Đáp: Tôi đâu có nói nhiều đến mức như bạn diễn tả đâu! Chỉ cần là ánh sáng từ bên ngoài đi vào là màu trắng, khi vào bên trong thân thể là màu đỏ, đi khi ra ngoài thì biến thành màu đen, ngoài ra không cần phải thêm màu sắc gì khác cả (mọi người cười)! Kem ba màu như vậy là đã quá đủ rồi!

🙏 Hỏi: Đệ tử hiểu được đạo lý rằng luyện khí cần luyện cho đến khi giữ hơi thở được lâu và vi tế thì không thành Phật cũng thành tiên. Nhưng ban đầu việc khống chế hơi thở rất khó, cần phải có quyết tâm rất lớn, cần có đạo tâm kiên trì lớn, vậy thì tốc độ quán tưởng phối hợp với tốc độ hít thở như thế nào? Bởi vì nếu phối hợp không đúng, đệ tử cho rằng sẽ có nguy cơ bị tẩu hỏa nhập ma!

💡 Đáp: Việc giữ cho hơi thở dài và vi tế, cách điều chỉnh hơi thở của mỗi người là khác nhau, thời gian dài ngắn cũng khác nhau. Việc này phải do chính bạn quán tưởng và hít thở, ngoài ra còn cần có ý niệm của bạn nữa. Bạn hít thở ngắn hay dài là do bạn tự điều hòa. Tự bản thân bạn điều hòa, nói cách khác đây là vấn đề về ý niệm của bạn muốn điều chỉnh khí xoay chuyển ra sao khi khí ở trong thân thể bạn lúc tập Cửu tiết Phật phong, là do bạn muốn xoay chuyển nhanh chậm thế nào. Ngoài ra, muốn khí dài và tinh tế thì cần luyện từ từ mới có thể thành công, không phải trong thời gian ngắn là có thể luyện được. Việc này cần học cách điều tiết khí và hơi thở.

🙏 Hỏi: Sư Tôn có nói đến việc thanh tịnh ý trước khi tu pháp, điều này tương đối trừu tượng. Đệ tử luôn luôn giữ tâm trạng hoan hỷ để tu luyện, nhất là khi nhập Tam ma địa, thì Phật Bồ Tát cũng cảm nhận được mà hoan hỷ tương ứng. Sư Tôn có nghĩ như vậy không?

💡 Đáp: Việc này tôi không rõ lắm (mọi người cười), nhưng mà luôn luôn làm với cả tấm lòng thì sẽ là đúng.
🙏 Hỏi: "Muốn làm được việc, cần có công cụ tốt". Trước đây thì đệ tử chưa tu pháp. Sư Tôn đã biết điều này, nhưng người khác thì không biết. Đệ tử vốn muốn tu tâm trước, trước tiên là tu Tứ vô lượng tâm, bởi vì đệ tử cho rằng tu tâm quan trọng hơn tu pháp, tâm bất chính thì còn tu pháp cái gì! Xin Sư Tôn lượng thứ cho con về việc này. Ngoài ra, xin Sư Tôn ban phước cho những trẻ em nghèo ở nước cộng hòa Dominica.

💡 Đáp: Việc ban phước này chắc chắn cần phải làm rồi. Tôi không biết là anh không tu pháp, nếu đã biết thì tôi đã không đọc tên anh ra, nãy giờ tôi cũng không đọc tên ai ra cả. Tôi đã từng nói đệ tử Chân Phật Tông mỗi người đều cần tu pháp, mỗi người đều cần tu tâm. Bởi vì tu pháp kèm với tu tâm thì sẽ thành Phật. Chỉ có tu pháp mà không tu tâm thì sẽ thành ma. Do vậy tu tâm vô cùng quan trọng. Quan điểm này là cực kì chính xác. Tu pháp cần kết hợp với tu tâm.

Thế còn chỉ có tu tâm mà không tu pháp thì bạn không thể nào hiểu thấu được tâm. Điểm mấu chốt của vấn đề này nằm ở đây, bởi vì trong lúc tu pháp bạn sẽ thể hội được cái tâm này, tâm chính là nằm trong pháp, tâm ở ngay trong pháp. Nhưng nếu bạn chỉ tu pháp mà lơ là cái tâm ý chân chính thì sẽ thành ma. Tu pháp kết hợp với tu tâm thì mới thành Phật, đây là điểm cực kì quan trọng.

🙏 Hỏi: Khi quán tưởng triệu thỉnh bổn tôn thì bát đại bổn tôn có chú ngữ và ánh sáng không giống nhau. Xin Sư Tôn giới thiệu thật rõ ràng từng vị một, bắt đầu từ Địa Tạng Vương Bồ Tát. Đồng thời trong phần Chính hành, xin hỏi phương pháp quán tưởng chi tiết cho mỗi một vị trong bát đại bổn tôn như thế nào?

💡 Đáp: Thực tế là việc này tôi đã nói trong sách rồi. Phương pháp quán tưởng chi tiết mỗi vị bổn tôn đều có trong sách. Tôi sẽ nói cho mọi người màu sắc gắn với chủng tự của bát đại bổn tôn.
Chuẩn Đề Phật Mẫu là chữ "Bu", màu trắng.
Hoàng Tài Thần là chữ "Jam" màu vàng. Hoàng Tài Thần đương nhiên là màu vàng rồi. 
Địa Tạng Vương Bồ Tát là chữ "Ha" màu vàng. 
Liên Hoa Đồng Tử là chữ "Hum" màu trắng.
Quan Thế Âm Bồ Tát là chữ "Seh" màu trắng. Ngài dùng chữ màu đỏ để quán tưởng. Còn Hồng Quan Thế Âm là màu đỏ.
Phật Dược Sư là chữ "Hum" màu xanh lam. 
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là chữ "Seh" màu đỏ.
A Di Đà Phật là chữ "Seh" màu đỏ.
Vừa nãy tôi nói đến Quan Thế Âm Bồ Tát, Hồng Quan Âm là màu đỏ, Bạch Quan Âm là màu trắng.

🙏 Hỏi: Dùng thủ ấn Kim cang câu, ngoài niệm ba lần "Mam mô Kim Cang Câu Bồ Tát Ma Ha Tát" thì còn có câu chú nào đặc biệt có thể dùng được không?

💡 Đáp: Kì thực khi bạn làm triệu thỉnh thì đã có chú ngữ rồi. Khi niệm chú triệu thỉnh là đã có niệm chú rồi. Do vậy không cần phải niệm thêm chú gì khác nữa.

🙏 Hỏi: Chân lý của sự hình thành và sinh ra của vũ trụ là gì? Vì sao lại có sự hình thành vũ trụ này? Bên ngoài vũ trụ là cái gì? Bên trong vũ trụ ngoài thần lực của Phật Bồ Tát thì còn có bao nhiêu sức mạnh khác tồn tại? Họ là cái gì? Chúng ta mỗi ngày đều phải dựa vào thế giới vật chất thì mới sống qua ngày được, xin Sư Tôn từ bi giảng giải cụ thể làm thế nào để thể hội và cảm nhận được sự tồn tại của tính không?

💡 Đáp: Oa! Đây đúng là một câu hỏi lớn (mọi người cười). Chân lý của sự hình thành và sinh ra của vũ trụ là gì? Có rất nhiều cách giải thích về sự hình thành của vũ trụ lúc ban đầu. Cách giải thích này nằm trong lý luận về vũ trụ. Trong triết học cũng giảng về lý luận vũ trụ, bên Nhất Quán Đạo là giảng nhiều nhất. Ây, mẹ của Thượng sư Thiếu Đông cũng là một vị thầy điểm truyền của Nhất Quán Đạo đó, còn có cả mẹ của Minh Nghi nữa, bên đó họ giảng nhiều nhất. Họ giảng thế này. Vào thời kì hỗn độn, hỗn độn nghĩa là khi trời đất còn chưa phân biệt, trời đất chưa phân biệt thì gọi là hỗn độn, không phải là "hoành thánh" đâu nhé (mọi người cười), hoành thánh thì ăn được, còn ở đây là hỗn độn. [ND: Ở đây Sư Tôn chơi chữ, hỗn độn - "hùn tùn" trong tiếng Trung đồng âm với hoành thánh - "hún tun".]

Thời kì đó là trời đất chưa phân chia, khi bắt đầu phân chia thì là thanh khí bay lên trên, trọc khí hạ xuống dưới. Những cái mà "thanh" thì là trời, những cái mà "trọc" thì là đất, trải qua một quá trình thanh lọc rất lâu dài như vậy, cứ thanh lọc như vậy. Những thứ "thanh" thì bay lên làm trời, những thứ "trọc" thì hạ xuống làm đất. Thế nhưng đất cũng vô cùng đẹp đẽ. Thế giới Ta Bà này vào thủa sơ khai thì vô cùng thanh bình, vô cùng tươi đẹp, đất đai rộng lớn. Những đất đai này có thể ăn được, rất là sạch sẽ.

Bên Nhất Quán Đạo giảng rằng, Vô Sinh Lão Mẫu chính là người quản lý cả vũ trụ. Khi Vô Sinh Lão Mẫu ở trên trời nhìn thấy địa cầu chẳng có ai quản liền rắc xuống 96 nguyên linh. 96 nguyên linh ở đây nghĩa là 96 tỉ linh hồn nguyên thủy được phái xuống để cai quản trái đất. Xuống tới địa cầu này thì những nguyên linh này hình thành nên lục đạo chúng sinh. Việc 96 nguyên linh được rải xuống này chính là tạo nên sự hình thành vũ trụ theo như quan điểm của Nhất Quán Đạo.

Còn Cơ Đốc Giáo thì lại nói rằng ngay từ buổi ban đầu đã có đạo, đạo và Chúa cùng tồn tại, đạo chính là Chúa. Kinh Thánh nói rằng sau thời kì tạo lập, Chúa tạo ra trời đất, con người. Lý luận về sự hình thành vũ trụ của Cơ Đốc Giáo chính là nói rằng do Chúa tạo ra.

Phật giáo thì lại nói thế này. Phật giáo có lý luận về con người nguyên thủy. Lý luận này như sau. Sự hình thành của trái đất thì cũng tương đối giống như cách nói của bên Nhất Quán Đạo. Phật giáo phân biệt âm dương trên dưới, những gì lên trên là trời, những gì ở dưới là đất. Thiên nhân thì ở cõi trời Quang Âm, Quang Âm Thiên chính là cõi trời dục giới, phía trên của cõi trời sắc giới. Ở cõi trời sắc giới, thiên nhân của cõi trời Quang Âm nhìn thấy trái đất xinh đẹp như vậy liền bay xuống. Sau khi bay xuống rồi thì sao? Họ lại ăn đất của trái đất, lập tức cảm thấy thân thể rất nặng nề, tương đối nặng, thế là họ không quay về trời được nữa, không thể bay về được, thế là hình thành nên con người trái đất. Đây là cách nói của Phật giáo. Xong! Vậy là tôi đã nói xong về sự hình thành của vũ trụ rồi đó. (Mọi người cười)

Chân lý là gì? Chân lý của việc sinh ra là gì? Vừa nãy bạn nói về tính Không rồi đó! Chúng ta lại nói về điểm ban đầu, Ba-la-mật. Phải, gần đây tôi đều giảng về chữ "Đạo", tôi đã giảng suốt mấy ngày nay rồi, nói rất lâu rồi, bây giờ bạn có thể nghe cho kĩ một chút, chân lý là gì? Vì sao lại có sự hình thành vũ trụ này? Vũ trụ này hình thành là vì sao? Đúng rồi, ban nãy tôi nói về sự hình thành vũ trụ còn nói thiếu mất quan điểm của Lão Tử.

Đạo giáo của Lão Tử nói rằng vũ trụ này hình thành là do ngài ấy nhổ từ miệng ra. Miệng nhổ ra trời đất. Việc nhổ ra trời đất này có điểm giống với cách nói của Mật tông. Vì sao lại thế? Cách nói của Mật tông là thiên ma Shiva ngậm lục đạo luân hồi trong miệng, việc này cũng giống như việc nhổ ra trời đất. Lão Tử nói rằng miệng nhổ ra trời đất cũng có nghĩa là trời đất hình thành từ âm thanh, từ âm thanh mà có, từ âm thanh của miệng mà hình thành. Thế làm sao mà âm thanh lại có thể làm nên cả trời đất thế này? Thế âm thanh là cái gì? Âm thanh chính là gió. Từ sự vận chuyển của khí mà phân chia thành trời thành đất, tất cả chính là bắt đầu từ "bánh xe gió".

Bởi vậy chân lý chính là "Không". Đất nước lửa gió, sự thật chính là "Không". Ở đây được gọi là Ngũ luân. Đất-nước-lửa-gió-không được gọi là Ngũ luân. Ngoài vũ trụ là cái gì? Ngoài vũ trụ vẫn là "Không luân". Dựa trên điều này mà nói thì với đất-nước-lửa-gió-không, bên ngoài nhất của vũ trụ còn có một thứ là "Không luân".

Trong vũ trụ, ngoài thần lực của Phật Bồ Tát ra thì còn có bao nhiêu sức mạnh khác tồn tại? Họ là cái gì? Có rất nhiều sức mạnh đó! Giống như chúng ta thôi. Ở tại Biệt Thự Cầu Vồng của chúng ta bây giờ đây bạn nhìn xem có bao nhiêu người, mỗi người đều có một sức mạnh đó! Đấm một cái là cũng đo được mấy cân sức mạnh đấy. Bạn nói xem bạn có sức mạnh không? Có chứ! Bạn có thể nâng xà đơn được mấy cái.

Sức mạnh của tôi thì là… thôi không nói về bản thân tôi nữa. Tôi muốn nói về xà kép. Hôm trước khi ở chỗ xà kép tôi nâng được hai lần mỗi lần bảy cái, nhẹ nhàng như chuồn chuồn chạm trên mặt nước vậy, làm hai lần bảy cái, một lần năm cái, hai lần bảy là mười bốn, cộng thêm năm thì là mười chín cái. Mười chín cái, thế nên hôm nay cái vai tôi hơi đau. Tối hôm qua tôi tập xà kép. Nếu bạn thử tập tôi đảm bảo cơ bắp của bạn cũng đau muốn rụng rời luôn. Đây chính là sức mạnh. Vẫn có sự tồn tại những sức mạnh khác, đương nhiên là có! Giống như chúng ta ở trong Biệt Thự Cầu Vồng này, chúng ta đang có rất nhiều sức mạnh tồn tại ở đây. Bất kì nơi nào cũng đều có sức mạnh, có người thì gọi là thần, quang, nhân, điện, những sức mạnh kiểu này đều tồn tại.

🙏 Hỏi: Chúng ta mỗi ngày đều phải dựa vào thế giới vật chất mới có thể sống qua ngày được, xin Sư Tôn từ bi giảng giải cụ thể làm thế nào để thể hội và cảm nhận được sự tồn tại của tính Không?

💡 Đáp: Hãy để cho tâm lượng của bạn rộng lớn như vũ trụ, dùng Tứ vô lượng tâm để thể hội tính Không.

🙏 Hỏi: Ân sư, thực lòng xin lỗi, đệ tử một lòng muốn học về chuông chày kim cương, hôm qua ân sư đã thị phạm, đệ tử chỉ có được một chút ấn tượng, cầu xin Sư Tôn có thể thị phạm lại được không. Xin thứ lỗi cho hành vi vô lễ này, xin ân sư thứ lỗi. (mọi người cười)

💡 Đáp: Lắc một lần, lại lắc một lần nữa. Lần này tôi lắc tương đối chậm một chút để cho mọi người nhìn được kĩ hơn. Được rồi! Nhưng khi bạn lắc chuông, hãy nhớ chuông kim cương và chày kim cương khi chuyển động thì được gọi là chuyển pháp luân, cũng được gọi là Bi Trí song vận. Mỗi lần lắc không nhất định là phải giống nhau, bởi vì bạn biết đấy, khi chúng ta lắc chuông chày kim cương, kì thực chỉ là thực hiện Tức-Tăng-Hoài-Tru, kết giới, gia trì, và thực hiện pháp Đại Bạch Tản Cái.

Khi thực hiện những pháp này bạn cần chú ý một chút, chú ý vào chi tiết. Những thứ khác bạn thậm chí có thể biến hóa vi diệu hơn (thị phạm cách lắc). Vốn dĩ là tôi muốn làm thật chậm, kết quả là càng lắc càng nhanh, có vẻ lại rất nhanh rồi.

Chủ yếu nhất chỉ có vài việc mà thôi, Tiêu tai - Tăng ích - Kính ái - Hàng phục, kết giới, làm thế này là kết giới. Còn thế này là pháp Đại Bạch Tản Cái. Như thế này là gia trì, gia trì nhanh.

Xin cảm ơn mọi người.
30/11/1992.

**(Hết)**

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/mat-tap-kim-cang-niem-tung-phap.md
# Title: Mật Tập Kim Cang niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_7e7a5ab32430fdc04011d5d3c8bdc473.jpg)



## Mật Tập Kim Cang niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Mật Tập Kim Cang.

(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha.  


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_332ba1387c07d13971903d8d143c5305.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn **Mật Tập Kim Cang

Hai tay đan nội phộc, sau đó giơ hai ngón trỏ lên và chạm đầu ngón tay vào nhau. Giữ thủ ấn trước ngực.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Từ chữ “Hum” (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu xanh lam xoay tròn hóa thành kim cang địa cơ [mặt đất kim cang]. Quán tưởng bốn chày kim cang chữ thập dựng lên thành bốn bức tường bao ở trên kim cang địa cơ, có cung điện ở chính giữa, bao quanh là rặng núi bốc cháy. Ở chính giữa cung điện có chữ Hum lại sinh ra một tòa hoa sen, chính giữa tòa hoa sen có một nhật luân, trong nhật luân xuất hiện chày kim cang chữ thập. Chày kim cang chữ thập lại xoay tròn và biến thành Mật Tập Kim Cang tướng song thân. 

(2) Mật Tập Kim Cang có thân sắc màu xanh lam, ba mặt sáu tay hai chân, thân mặc áo lụa nhiều màu sắc, đeo chuỗi vòng đầu lâu ngồi kiết già trên đài hoa sen. Ba mặt có màu lam, trắng, đỏ, biểu hiện phẫn nộ tướng, lạc tướng, hoặc kết hợp cả hai. Mỗi khuôn mặt có ba mắt, đầu đội mũ ngũ diệp, tượng trưng cho Ngũ Phật Ngũ Bồ Tát, trên đỉnh đầu có A Súc Phật. Sáu cánh tay đều cầm pháp khí, hai tay trước ôm lấy Phật Mẫu Kim Cang, cầm chày kim cang, chuông kim cang, cánh tay phải ở trên cầm pháp luân, cánh tay phải ở dưới cầm hoa sen, cánh tay trái ở trên cầm bảo châu, cánh tay trái ở dưới cầm bảo kiếm.

(3) Quán tưởng thiên tâm của Mật Tập Kim Cang phóng ra một đường ánh sáng trắng chiếu đến thiên tâm của hành giả, họng của ngài phóng ra một đường ánh sáng đỏ chiếu đến họng của hành giả, tim của ngài phóng ra một đường ánh sáng lam chiếu đến tim của hành giả. Ba ánh sáng trắng, đỏ, lam hòa nhập vào thân tâm hành giả, gia trì cho hành giả.


### Phần 14: Trì tâm chú Mật Tập Kim Cang


Tâm chú: Ôm ben-za tạc hùm hùm sô-ha. (108 biến)

Hoặc: Ôm a ben-za tạc hùm hùm sô-ha. 
Hai câu chú này đều được.


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Hum), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Mật Tập Kim Cang, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 

**Tụng tán**

Sắc thân màu lam phẫn nộ tôn
A Súc Như Lai trên đỉnh đầu
Coi xét chúng sinh đại thành tựu
Mật Tập Kim Cang con kính lễ.


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.


![image](/img/img_f177af82d8d490cc7f7414b02761212d.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Mật Tập Kim Cang


Mật Tập Kim Cang (Phạn văn là Guhyasamâja Vajra) còn gọi là Mật Tụ Kim Cang, tên đầy đủ là Bí Mật Tập Hội Hằng Đặc La A Súc Kim Cang, là một trong năm vị đại Kim Cang của Phật giáo Tạng truyền, là Bổn tôn của Vô thượng du già bộ Phụ tục, là một trong ba đại Bổn tôn của phái Gelugpa, cũng là thần Hộ Pháp của người sáng lập phái Gelugpa - Đại Sư Tsongkhapa.

Hình tượng của Mật Tập Kim Cang là thân sắc màu xanh lam, ba mặt sáu tay hai chân, thân mặc áo lụa nhiều màu sắc, đeo chuỗi vòng đầu lâu ngồi kiết già trên đài hoa sen. Thân màu xanh tượng trưng cho chân lí tối cao của Phật giáo. 

Ba mặt phân làm màu lam, trắng, đỏ thị hiện công đức từ bi, tiêu tai và hàng phục, biểu hiện phẫn nộ tướng, lạc tướng, hoặc kết hợp cả hai. Mỗi khuôn mặt có ba mắt đại diện cho quá khứ, hiện tại, vị lai. Đầu đội mũ ngũ diệp, tượng trưng cho Ngũ Phật Ngũ Bồ Tát, trên đỉnh đầu trang sức bởi A Súc Phật. 

Sáu cánh tay đều cầm pháp khí, hai tay trước ôm lấy Kim Cang Phật Mẫu cầm chày kim cang và chuông kim cang, cánh tay phải ở trên cầm pháp luân tượng trưng cho pháp luân thường chuyển, cánh tay phải ở dưới cầm hoa sen tượng trưng cho trí huệ thanh tịnh, cánh tay trái ở trên cầm bảo châu tượng trưng cho cầu gì được nấy, cánh tay trái ở dưới cầm bảo kiếm tượng trưng cho chém đứt tất cả vô minh.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị lai lịch và pháp tu Mật Tập Kim Cang 


Đàn thành của Mật Tập Kim Cang có núi xung quanh đều là các ngọn núi lửa, núi lửa vây quanh thành hình vuông, ở giữa có tường kim cang, đây là cung điện. Có một mặt đất kim cang, phía trên toàn bộ cung điện có võng kim cang, ở chính giữa sinh ra hoa sen, trên hoa sen có chữ Hum, nhật luân, nguyệt luân, chữ Hum biến hóa thành Mật Tập Kim Cang. 

Quán tưởng rất đơn giản: thứ nhất, quán tưởng đàn thành của Mật Tập Kim Cang, đầu tiên quán tưởng từ ngọn lửa kim cang, xung quanh đều là rặng núi. Mọi đàn thành đều là thiên viên địa phương, luật lệnh cửu chương, trời tròn, cung điện ở giữa đều là hình tròn, còn bên ngoài là hình vuông. Trong cung điện có một bảo tọa, trên bảo tọa có hoa sen, trong hoa sen có chữ Hum, từ chữ Hum xuất hiện Mật Tập Kim Cang, tướng song thân. Phật Mẫu của Mật Tập Kim Cang là Kim Cang Xúc Phật Mẫu. 

Ở đây tôi viết là sau khi quán không, từ chữ Hum sinh ra kim cang địa cơ, đàn thành, cung điện, xung quanh là rặng núi bốc cháy. Trong cung điện có chữ Hum lại sinh ra hoa sen, trong hoa sen có nhật luân, trong nhật luân xuất hiện chày kim cang chữ thập, chày kim cang chữ thập chuyển hóa thành tướng Mật Tập Kim Cang. 

Quán tưởng Mật Tập Kim Cang như thế nào? Thân màu xanh, ba mặt sáu tay, mặt có màu xanh đen, trắng, đỏ. Hai cánh tay phía trước ôm lấy Kim Cang Phật Mẫu, cầm chuông chày kim cang, tay phải cầm pháp luân và hoa sen, tay trái cầm trân châu và bảo kiếm. Phẫn nộ tướng và lạc tướng kết hợp, ngồi trên hoa sen. Tướng phẫn nộ và tướng khoái lạc, hai tướng mặt này rất khó, vừa phẫn nộ lại vừa vui sướng, rất khó.

Trên đỉnh đầu Mật Tập Kim Cang được trang sức bằng A Súc Phật. Chú ngữ của ngài có hai câu “Om ah benza takua humhum soha”, có thêm một chữ “ah” vào nữa cũng được. “Om benza takua humhum soha”, câu này cũng được. Hai câu chú này đều được. Còn có thủ ấn nữa. Thủ ấn cũng có hai kiểu, đều được cả. Một kiểu là hai tay đan nội phộc, hai ngón trỏ giơ lên chạm vào nhau. Một kiểu khác là hai tay đan nội phộc, hai ngón trỏ giơ lên chạm vào nhau, và ngón cái cũng vẫn đan nội phộc. Có chú ngữ, có thủ ấn, có quán tưởng là có thể làm thành một pháp niệm tụng của Mật Tập Kim Cang.

Tụng tán ngài ra sao? “Sắc thân màu lam phẫn nộ tôn, A Súc Như Lai trên đỉnh đầu, coi xét chúng sinh đại thành tựu, Mật Tập Kim Cang con kính lễ.” Bạn dùng bài này làm văn cầu nguyện cũng được. Tức tai, tăng ích, kính ái, hàng phục đều có thể tùy hỉ.

Nói chung, pháp kim cang đều dùng để tiêu trừ tham niệm, cực kì quan trọng. Mật Tập Kim Cang thì có thêm sân và si nữa, có thể trị sân và si. Thế nào gọi là “Mật Tập”? Rất đơn giản thôi tôi nói để mọi người biết, đó là “tập hợp tất cả bí mật thân khẩu ý của Như Lai”. Ngài luôn là như vậy, vì sao gọi là “Mật Tập”? Tập hợp bí mật thân khẩu ý của chư Phật quá khứ, chư Phật hiện tại, chư Phật vị lai, nói đảo ngược lại thì gọi là “Mật Tập”, hoặc gọi là “Tập Mật”, tập hợp bí mật thân khẩu ý của chư Phật ba đời thì gọi là Tập Mật, dịch đảo ngược lại gọi là Mật Tập Kim Cang. Có người gọi là Tập Mật Kim Cang, cũng có người gọi là Mật Tập Kim Cang. 

Có hai người đem pháp Mật Tập Kim Cang về Tây Tạng, người thứ nhất chính là dịch sư Thích Ca Ích Hỉ Trác Di, ông ấy đến chùa Siêu Giới ở Ấn Độ, ở chỗ của Đông Môn Tổ học được pháp Mật Tập Kim Cang của Bất Động Phật. Sau đó, ngài Marpa của Bạch giáo cũng đến Ấn Độ, ngài học được pháp Mật Tập Kim Cang của Văn Thù Sư Lợi. Cho nên Bạch giáo Marpa cũng học pháp kim cang rồi đem về Tây Tạng. Mật Tập Kim Cang là căn bản của tất cả tục bộ, Hộ Pháp Kim Cang của Đại Sư Tsongkhapa chính là Mật Tập Kim Cang. 

Tsongkhapa đã viết “Thập nhị bộ luận”, trong đó có năm bộ luận đều viết về Mật Tập Kim Cang, cho nên Tsongkhapa có học tập Mật Tập Kim Cang, ngài là Tổ sư của Hoàng giáo. Ngài cho rằng Mật Tập Kim Cang là “Thánh giáo cứu cánh, là báu vật độc nhất của tam giới, sáng trong như nhật nguyệt”. Ngài tán dương Mật Tập Kim Cang như vậy. “Ngũ thứ đệ luận” mà Long Mãnh Bồ Tát viết có nhắc đến Mật Tập Kim Cang, “Nhiếp hành uận” do Đề Bà viết cũng nhắc đến Mật Tập Kim Cang. Trong “Thập nhị bộ luận”, Tsongkhapa có “Mật Tập viên mãn ngũ thứ đệ minh cự luận” toàn bộ đều viết về Mật Tập Kim Cang. 

Bạn tu tương ứng với Mật Tập Kim Cang rồi, thứ nhất, bạn sẽ sinh về cõi thiện. Thế nào gọi là cõi thiện? Bạn sẽ không đọa vào tam ác đạo, nhất định là ở Phật quốc tịnh độ, bởi vì ngài có ba đức hành, Thứ nhất là đức hành giải thoát, nếu bạn có thể y theo pháp Mật Tập Kim Cang mà tu được tương ứng thì bạn sẽ đắc giải thoát. Thứ hai là bạn có thể chứng bồ đề, tức là bạn có quả vị rồi, bạn có thể chứng quả bồ đề, hơn nữa còn có quả giải thoát. Thật ra, có hai loại giải thoát, một là đạo giải thoát, một là đạo bồ đề. Chỉ tu mỗi pháp Mật Tập Kim Cang mà đều đắc được hai loại giải thoát này rồi thì cũng có thể đắc được ba đức hành này.

“Om” là kho tàng trí huệ, “Ah” là bồ đề vô ngã, “Hum” là đàn thành, tu cung điện của bạn (thân kim cang). Mật Tập Kim Cang có thể khiến thân khẩu ý của bạn thanh tịnh, có thể loại bỏ tham niệm, sân niệm và mọi ngu si của bạn, nếu bạn có thể có được trí huệ tối cao của Như Lai thì công danh lợi lộc đều có dư thừa. Bạn muốn cầu thế gian sẽ có được thế gian, bạn muốn cầu xuất thế sẽ có được xuất thế.

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/nam-loai-kim-cang-quyen-phap.md
# Title: Năm loại kim cang quyền pháp
---

## Năm loại kim cang quyền pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp! 

Trong pháp hội thứ bảy tuần trước, tuy Thánh Tôn đã giải thích thế nào gọi là ba thức kim cang quyền để nâng minh điểm bay qua núi Tu Di, nhưng vẫn có đệ tử phản ứng với Thánh Tôn là không hiểu lắm. Thánh Tôn xét thấy rằng Mật giáo chú trọng tu khí mạch minh điểm của nội tại và mở năm luân xa (mi tâm luân, hầu luân, tâm luân, tề luân, mật luân), tức là trước tiên dùng khí thông trung mạch, sau đó khí đi vào toàn thân, dùng khí khiến cho minh điểm hạ xuống, dùng khí làm cho chuyết hỏa đi lên. Khi hai cái này dừng lại ở tâm luân thì có thể mở tâm luân, nhìn thấy ánh sáng Phật tính màu xanh lam, đây chính là phương pháp tức thân thành Phật của Mật giáo. Nhưng đòi hỏi phối hợp với năm loại kim cang quyền pháp, và khi đến Vô thượng mật thì cũng phải phối hợp với nâng minh điểm bay qua núi Tu Di. 

Để các đệ tử có thể hiểu thế nào là nâng, làm sao để mở năm luân xa, Thánh Tôn từ bi đã đích thân thị phạm năm loại kim cang quyền pháp, hà hơi lắc mạnh để mở năm luân xa, và ba thức kim cang quyền để nâng minh điểm bay qua núi Tu Di.

Chú thích 1: Khi làm kim cang quyền pháp ngồi kiết già, mông phải dùng đệm để lót cao lên.

Chú thích 2: Trước khi luyện kim cang quyền pháp, phải làm Cửu tiết Phật phong (ngồi kiết già), khi hít khí và thở khí, dùng hai ngón tay út luân phiên ấn lên hai lỗ mũi trái phải.

1. **Mở mi tâm luân (ngồi kiết già):**

Dùng hai tay xoa toàn bộ phần đầu, mặt, cổ và sau gáy, để khí lưu thông đến mặt. Sau đó lần lượt bàn tay trái phải dùng lực để vỗ vào mi tâm luân, lặp lại như vậy nhiều lần.

1. **Mở hầu luân (ngồi kiết già):**

Cổ xoay tròn theo chiều kim đồng hồ và ngược chiều kim đồng hồ, để khí ở hầu luân, lặp lại như vậy nhiều lần.

1. **Mở tâm luân (ngồi kiết già):**

A. Đầu tiên tay trái duỗi về bên trái (lòng bàn tay hướng về phía trước), bàn tay phải hướng về bên trái, sau khi chạm vào bàn tay trái thì dùng phương thức di động ngang đi qua vai trái, tâm luân, sau đó hướng về bên phải duỗi ra (lòng bàn tay hướng về phía trước). Tiếp đó, tay trái lại hướng về bên phải chạm vào bàn tay phải, dùng phương thức di động ngang đi qua vai phải, tâm luân, cuối cùng tay trái lại duỗi ra về bên trái (lòng bàn tay hướng về phía trước). Như vậy tay phải tay trái đi qua tâm luân thay nhau duỗi ra, lặp lại nhiều lần.

B. Mở tâm luân còn phải làm chống đẩy 30 cái.

1. **Mở tề luân (ngồi kiết già):**

A. Khi tay trái chạm vào mặt đất ở phía trước, tay phải đồng thời chạm vào mặt đất ở sau lưng, đầu xoay sang phải, hà khí. Tiếp đó, khi tay phải chạm vào mặt đất ở phía trước, tay trái đồng thời chạm vào mặt đất ở sau lưng, đầu xoay sang trái, hà khí. Tay trái phải cứ thay nhau chuyển động, quay đầu, hà khí như vậy lặp lại nhiều lần.

B. Hai bàn tay đặt ở trước bụng (không chồng lên nhau), xoay tròn bên phải 14 cái, sau đó xoay tròn bên trái 14 cái.

1. **Mở mật luân và mở hải để luân (ngồi kiết già):**

Hai tay vỗ lên mặt đất, đồng thời nâng thân thể lên (nhấc lên không), sau đó rơi xuống đệm ngồi, lặp lại như vậy nhiều lần. 

1. **Hà hơi lắc mạnh (đứng và nhảy):**

Đứng dậy, hai tay hai vai tự do lắc lư về phía trước nhiều lần, hai tay hai vai tự do lắc lư về phía sau nhiều lần. Sau đó hai chân bật nhảy, vừa hà khí, vừa bật nhảy lò cò bằng chân trái chân phải. Lặp lại như vậy nhiều lần, để khí đi đến năm luân xa trên khắp người và các nơi vi tế khác.

1. **Ba thức kim cang quyền nâng minh điểm bay qua núi Tu Di. **

A. Tư thế đứng: hai chân mở ra rộng bằng vai, gập bụng, mặt cúi xuống, lòng bàn tay phải úp vào đầu gối trái, lòng bàn tay trái úp vào đầu gối phải. Xoay đầu sang trái nói một tiếng “Hum” dài, sau đó quay đầu sang phải nói một tiếng “Hum” dài. Cuối cùng ngửa đầu lên cúi đầu xuống nói mười lần tiếng “Hum” ngắn, tức là mười tiếng “Hum”ngắn. Tổng cộng bên trái bên phải nói hai tiếng “Hum” dài, ngửa lên cúi xuống nói mười tiếng “Hum” ngắn.

B. Tư thế quỳ: gập bụng, mặt cúi xuống dưới, hai tay vươn ra trước, lòng bàn tay đặt trên mặt đất. Đầu quay sang trái nói một tiếng “Hum” dài, lại quay đầu sang phải nói một tiếng “Hum” dài, cuối cùng ngửa đầu lên trên nói tiếng “Hum” ngắn mười lần, tức là nói mười tiếng “Hum” ngắn. Tổng cộng bên trái bên phải nói hai tiếng “Hum” dài, ngửa lên cúi xuống nói mười tiếng “Hum” ngắn.

C. Tư thế ngồi: gập bụng, mặt cúi xuống, hai tay vươn ra phía trước, lòng bàn tay đặt trên mặt đất. Đầu quay sang trái nói một tiếng “Hum” dài, lại quay đầu sang phải nói một tiếng “Hum” dài, cuối cùng ngẩng đầu lên nói tiếng “Hum” ngắn mười lần, tức là mười tiếng “Hum” ngắn. Tổng cộng bên trái bên phải nói hai tiếng “Hum” dài, ngửa lên cúi xuống nói mười tiếng “Hum” ngắn.

Khi Thánh Tôn đích thân thị phạm và giải thích kim cang quyền pháp, các đệ tử đều chăm chú nhìn, chăm chú quan sát mỗi một động tác và điểm quan trọng của Thánh Tôn, giống như có được báu vật vô giá, không ngớt vui mừng.

Sau khi kết thúc thị phạm kim cang quyền pháp, Thánh Tôn còn nói rõ năm loại kim cang quyền pháp này có thể khiến minh điểm ở mi tâm luân giáng xuống, đến được hầu luân, tâm luân, tề luân, mật luân. Cũng có thể dùng pháp nâng của ba thức kim cang quyền phía sau để nâng minh điểm từ cột sống đi lên, cho đến khi lên đến mi tâm. Làm lâu ngày tựu nhiên sẽ sinh ra cảm nhận tốt, toàn thân sẽ nhẹ nhõm và không gặp phải vấn đề đau nhức. Cho nên người học Mật pháp phải hiểu kim cang quyền, phải dùng cách hà hơi lắc người để khiến thân thể rung lắc về phía trước, về phía sau, thậm chí toàn thân rung lắc mạnh, và phải mở miệng ra liên tục hà khí “hà, hà, hà” mới có thể khiến cho khí chạy khắp toàn thân, để biến hành khí tràn đầy, đây chính là “biến” trong Đạo Quả. 

Thánh Tôn còn nói với mọi người, có một số người có vấn đề đau nhức, đó là bởi vì mạch không thông, khí tắc nghẽn nên mới bị đau, chỉ cần khí thông, mạch thông, hỏa cũng thông thì sẽ không bị đau nữa. Cho nên, khi bị đau ở chỗ nào thì dùng ý niệm vận khí đến chỗ đau nhức, khí chạy qua vài lần, để khí chạy khắp toàn thân, chỗ đau nhức sẽ khỏi, thân thể sẽ kiện khang. Quan trọng nhất là phải mở năm luân xa.

---
# File: nghi-quy-tu-tap/nghi-quy-cac-phap-dac-thu-cua-bien-tinh-thien-vishnu.md
# Title: Nghi quỹ các pháp đặc thù của Biến Tịnh Thiên Vishnu
---

![image](/img/img_cf51415e733c35aa07558308bbeb8f43.png)



## Nghi quỹ các pháp đặc thù của Biến Tịnh Thiên Vishnu


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

Nghi quỹ thực hành niệm tụng pháp, xin tham khảo tại: Pháp niệm tụng Vishnu - Biến Tịnh Thiên 


## Cúng dường Biến Tịnh Thiên


Cần cúng dường cam lộ thủy cho đại bàng Kim Sí Điểu. 

Cúng dường Biến Tịnh Thiên các cúng phẩm như hương, hoa, đèn, trà, quả. Bất kì thứ gì đều được miễn là chúng thanh tịnh. Bất kì thứ gì bạn thích thì thần Vishnu cũng thích.


## Phương pháp làm cam lộ thủy


*(Cần phải xin quán đảnh pháp cam lộ thủy, bạn có thể gửi thư đến Chân Phật Mật Uyển để thỉnh cầu quán đảnh từ xa từ Sư Tôn.)*

Cách làm Cam lộ thủy như sau:

- Lấy một cốc nước sạch

- Niệm chú sau: Đại bàng Kim Sí Điểu, hoang dã quỷ thần chúng, La sát Quỷ Tử Mẫu, cam lộ đều tràn trề. Om muti soha. Om muti soha. Om muti soha.

Kết thủ ấn kim cang chỉ, sau đó vẽ trên mặt nước sạch chủng tự "Hum" (bằng tiếng Tạng hay Sankrit đều được).


## Cách quán tưởng hợp nhất Vishnu với bản thân hành giả


Quán tưởng Vishnu ngồi trên lưng chim đại bàng của ngài ở phía trên đầu mình, sau đó ngài biến hóa thành viên ngọc ánh sáng, đi xuyên qua đỉnh đầu xuống tâm của luân xa tim.

Vishnu ngồi trên lưng đại bàng, từ từ lớn ra đến khi trở thành bằng kích cỡ của cơ thể mình. Lúc này, hành giả cùng Vishnu đã hợp nhất làm một. Vishnu là chính mình, mình là Vishnu, không hai không khác.


## Thực hành từng pháp đặc thù



### 1️⃣ Pháp di chuyển khối u


1. Kết thủ ấn, niệm tâm chú Vishnu và Garuda 10.000 lần, sau đó đặt một hạt gạo lên bàn. Tiếp tục niệm 10.000 lần nữa, lại đặt một hạt gạo khác lên bàn. Đến cuối cùng khi niệm xong tổng cộng 200.000 lần, bạn sẽ có 20 hạt gạo lên bàn.

1. Kết ấn Vishnu. Quán tưởng chim Garuda gắp ra từng khối u (trong thân người bệnh hoặc hành giả) và chuyển khối u sang hạt gạo. Số lần quán tưởng gắp khối u tùy vào số khối u mà người bệnh có. Sau khi tất cả khối u được chuyển sang các hạt gạo, niệm tâm chú Vishnu và Garuda 7 lần, hà một hơi khí vào toàn bộ số gạo. Sau đó giải ấn.

1. Tìm một cái cây mà có lỗ trên thân. Để 20 hạt gạo này vào lỗ đó. (Chú ý, nếu không có lỗ nào trên thân cây, bạn có thể tự đục một cái lỗ.)

1. Kết ấn Vishnu. Niệm chú Vishnu và Garuda 7 lần, hà một hơi mạnh vào lỗ trên cây. Giải ấn.

1. Bịt cái lỗ bằng đất sét và miết cho phẳng bề mặt.

Từ ngày đầu tiên kể từ khi làm thực hành này, khối u của người bệnh sẽ từ từ nhỏ lại. Chỉ số ung thư sẽ giảm xuống cho đến khi hết hẳn. Mặt khác, cái cây sẽ mọc ra những cái bướu.


### 2️⃣ Bảo vệ thai sản và chọn sinh con trai hoặc con gái


1. Hoàn thành niệm tâm chú Vishnu và Garuda đủ 200.000 biến.

1. Vào ngày 15 âm lịch, người phụ nữ mang thai tắm rửa sạch sẽ, mặc quần áo sạch, ngồi yên tĩnh, chọn hoa màu trắng (nếu muốn sinh con trai) hoặc đỏ đặt lên đầu (nếu muốn sinh con gái). Kết ấn Vishnu, niệm chú Vishnu và Garuda 7 lần.

1. Đứa con (trai hoặc gái) sẽ được sinh ra theo ý muốn. Ngoài ra, người mẹ sẽ cũng sẽ có được một ca sinh đẻ dễ dàng và an toàn.


### 3️⃣ Giải trừ bùa chú


1. Hoàn thành niệm chú Vishnu và Garuda đủ 200.000 biến.

1. Tìm một sợi chỉ ngũ sắc.

1. Kết ấn Vishnu. Niệm chú Vishnu và Garuda 7 lần, giải ấn. Thắt một nút trên sợi chỉ ngũ sắc. Sau đó lại kết ấn Vishnu, đọc chú 7 lần, giải ấn, thắt một nút trên sợi chỉ ngũ sắc. Lặp lại việc này cho đến khi có tổng cộng 14 nút thắt trên sợi chỉ ngũ sắc.

1. Đeo dây ngũ sắc này trên người, mọi bùa chú sẽ được hóa giải.


### 4️⃣ Thực hành cầu mưa


1. Hoàn thành niệm chú Vishnu và Garuda đủ 200.000 biến.

1. Viết chữ Hán「龍」 (long-rồng) bằng bút.

1. Kết ấn Vishnu. Niệm câu chú sau 7 lần hướng vào chữ Rồng.

Om benza vishnuya soha. Om benza garuda chale chale hum pei. Sắc lệnh long thần giáng vũ!


### 5️⃣ Thực hành dừng mưa


1. Hoàn thành niệm chú Vishnu và Garuda đủ 200.000 biến.

1. Viết chữ Hán「龍」(long-rồng) bằng bút.

1. Kết ấn Vishnu. Niệm câu chú sau 7 lần hướng vào chữ Rồng:

Om benza vishnuya soha. Om benza garuda chale chale hum pei. Sắc lệnh long thần li khai. Vũ mã thượng đình chỉ!


### 6️⃣ Pháp thực hành dừng mưa mạnh hơn nữa


1. Hoàn thành niệm chú Vishnu và Garuda đủ 200.000 biến.

1. Lấy một tấm khăn liệm người chết. (Cách 1: khi bốc mộ, nếu quần áo hoặc khăn liệm của người chết vẫn chưa bị phân hủy, hãy lấy một mảnh vải liệm. Cách 2: mặc thêm quần áo cho người chết, sau đó lấy quần áo/ khăn liệm đó ra trước khi quan tài được đóng hẳn lại.)

1. Viết chữ Hán「龍」(long-rồng) bằng bút.

1. Ngồi trên tấm khăn liệm. Kết ấn Vishnu. Niệm câu chú sau 7 lần hướng vào chữ Rồng:

Om benza vishnuya soha. Om benza garuda chale chale hum pei. Sắc lệnh long thần li khai. Vũ mã thượng đình chỉ!


### 7️⃣ Kiết giới, hộ thân và chữa bệnh với thủ ấn


1. Hoàn thành niệm chú Vishnu và Garuda đủ 200.000 biến.

1. Kết ấn Vishnu. Sau khi niệm chú Vishnu và Garuda 7 lần.

1. Kiết giới hộ thân hành giả: Đặt ấn lần lượt tại các vị trí thiên nhãn, cổ họng, trái tim, vai trái, vai phải, tổng cộng là 5 vị trí, để kiết giới cơ thể mình.

1. Kiết giới hộ thân người khác**: **Làm y hệt như trên với thân người khác, tổng cộng là 5 vị trí.

1. Kết giới nhà**: **Đặt ấn chạm vào 4 góc của ngôi nhà để kiết giới nhà.

1. Chữa bệnh: Đặt vùng tam giác của thủ ấn Vishnu, nơi được tạo bởi hai ngón tay trỏ và ngón tay cái, chạm vào họng, các bệnh tại họng sẽ được chữa khỏi; chạm vào tim, các bệnh về tim sẽ được chữa khỏi; chạm vào bụng, các bệnh về dạ dày sẽ được chữa khỏi; chạm vào lưng, các bệnh về lưng sẽ được chữa khỏi; chạm vào đầu gối, các bệnh về khớp gối sẽ được chữa khỏi; chạm vào bàn chân, các bệnh về chân sẽ được chữa khỏi, vv…


### 8️⃣ Tăng cường trí nhớ


1. Hoàn thành niệm chú Vishnu và Garuda đủ 200.000 biến.

1. Kết ấn Vishnu. Quán tưởng pháp luân của ngài Vishnu phóng ra ánh sáng, đi vào từ đỉnh đầu của mình, trụ lại ở khu vực thiên nhãn, xoay vòng vòng tại đó. Niệm chú Vishnu và Garuda 7 lần.


### 9️⃣ Chữa bệnh với nước tắm


1. Hoàn thành niệm chú Vishnu và Garuda đủ 200.000 biến.

1. Lấy nhị của hoa sen trắng.

1. Kết ấn Vishnu. Niệm chú Vishnu và Garuda 7 lần (gia trì vào nhị hoa sen).

1. Bỏ nhị hoa sen trắng vào bồn tắm.

1. Cho đầy nước vào bồn tắm rồi tắm. Ngày hôm sau bệnh sẽ hết.


### 1️⃣0️⃣ Thăng tiến sự nghiệp


1. Hoàn thành niệm chú Vishnu và Garuda đủ 200.000 biến.

1. Kết ấn Vishnu. Quán tưởng miệng vỏ ốc như ý (pháp loa) mở lớn ra. Sau đó bạn quán tưởng bất kì điều gì bạn muốn xuất hiện ở miệng vỏ ốc, ví dụ như là một vị trí quan chức bạn muốn đạt được. Niệm chú Vishnu và Garuda 7 lần.


### 1️⃣1️⃣ Loại bỏ hận thù


1. Hoàn thành niệm chú Vishnu và Garuda đủ 200.000 biến.

1. Kết ấn Vishnu. Niệm chú Vishnu và Garuda 7 lần.

1. Quán tưởng kẻ thù (hoặc cấp trên mà đối xử không tốt với bạn) xuất hiện. Hành giả khi đó dùng chùy kim cang của Vishnu lắc sang trái và qua phải 3 lần.

Kẻ thù (hoặc cấp trên đối xử tệ với bạn) sẽ lập tức quên hết những điều xấu và sự ghét bỏ đối với bạn. Họ sẽ chỉ nhớ được những điều tốt về bạn và sẽ đối xử tốt với bạn mà thôi.


### 1️⃣2️⃣ Thực hành chữa bệnh hiếm muộn


1. Hoàn thành niệm chú Vishnu và Garuda đủ 200.000 biến.

1. Kết ấn Vishnu. Niệm chú Vishnu và Garuda 7 lần. Sử dụng cùng phù "Thiên sinh hữu thai" (phù sinh nở tự nhiên)*.*

**Ghi chú về cách sử dụng phù:** Đốt hóa phù cho vào cốc, thêm nước lọc. Dùng miếng vải mỏng bịt miệng cốc lại rồi lọc lấy nước trong, loại bỏ tro giấy, và uống nước này. (Tham khảo thêm văn tập số 42 “Linh Tiên Phi Hồng Pháp” của Liên Sinh Hoạt Phật.)


### 1️⃣3️⃣ Kết nối lại quan hệ vợ chồng


1. Hoàn thành niệm chú Vishnu và Garuda đủ 200.000 biến.

1. Lấy nhị hoa sen trắng và hoa sen hồng.

1. Kết ấn Vishnu. Niệm chú Vishnu và Garuda 7 lần và gia trì cho nhị hoa sen trắng và hồng.

1. Cho tất cả nhị hoa vào bồn tắm.

1. Vợ và chồng cùng tắm hoặc thay phiên nhau tắm.


### 1️⃣4️⃣ Tăng trưởng tài bảo


1. Hoàn thành niệm chú Vishnu và Garuda đủ 200.000 biến.

1. Kết ấn Vishnu. Quán tưởng miệng vỏ ốc như ý mở lớn. Có một đống lớn tiền đô la Mĩ (hoặc tiền của nước bạn) ở miệng vỏ ốc. Tiền liên tục tràn ra ngoài miệng vỏ ốc cho đến khi tiền dâng cao đến tận mái nhà và lấp đầy toàn bộ căn nhà. Niệm chú Vishnu và Garuda 7 lần.


![image](/img/img_6e82ceac882b967ceafefc4eb62328b7.png)



![image](/img/img_b7b86888b411e43ea90de37fcda8bf09.jpg)



![image](/img/img_7d4466f5a8e363555b71daa53250536b.jpg)



![image](/img/img_d6f8c152906eadb0972bc1012206edf2.jpg)



![image](/img/img_63c379f63d2b504b17c088201fe291c1.jpg)


Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/nghi-quy-dong-tho.md
# Title: Nghi quỹ động thổ
---

![image](/img/img_ac99aea6dfe228a6e336fedffc91a4c6.png)



# Nghi quỹ động thổ


Có thể chọn ngày trực: Định, Thành, Mãn. Giờ cát.
Vật dụng cần chuẩn bị: 
1. Một đĩa gạo muối, mỗi loại một nửa bằng nhau. 
2. Một lá phù phá đất (xin tham khảo cuốn “Linh Tiên Phi Hồng Pháp”). 
3. Xẻng mới, cán xẻng phải dùng một dải vải đỏ để buộc (tượng trưng cho cát tường). 
4. Cúng phẩm: 3 chén rượu (dùng rượu, trà, nước đều được), các loại thịt làm thức ăn, 5 nén hương.
5. Chuẩn bị giấy dùng để phủ lên đất. Bày đàn pháp.

Trong Mật giáo cũng có nghi lễ phá đất. Thượng sư làm nghi lễ phá đất, trước tiên phải niệm An thổ địa chân ngôn để triệu thỉnh Địa Thần. Niệm xong An thổ địa chân ngôn và Địa Thần đến rồi thì bạn cầm chày kim cang ấn vào đầu của Địa Thần một cái, biểu thị gia trì cho Địa Thần. 

Thế nhưng, bạn có biết được Địa Thần có đến hay không đến không? Làm sao có thể ấn một cái vào đầu Địa Thần chứ? Bạn phải quán tưởng mặt đất nứt ra, Địa Thần màu vàng từ trong đất trồi lên, ngồi trước mặt bạn. Bạn cầm chày kim cang năm chấu ấn lên đỉnh đầu của Địa Thần một cái. Gia trì xong, Địa Thần rất vui vẻ, lại trở về lòng đất, mặt đất lại khép lại. Đây là cách an thổ địa của Mật giáo.

Làm an thổ địa xong, bạn đặt chày kim cang ở trung tâm của mảnh đất định xây dựng, đầu tiên đặt nó nằm ngang, sau đó cầm lên rồi lại đặt nó đứng thẳng. Đây chính là chày kim cang chữ thập. Sau đó quán tưởng chày kim cang chữ thập biến thành rất to, phủ trên mảnh đất bạn sẽ xây dựng. Mảnh đất này sẽ trở thành thập tự kim cang yết ma địa.


### Nghi quỹ


1. Dâng hương.

2. Vỗ tay, búng ngón tay. Thượng sư chủ trì làm tam đoạn pháp sinh, quán tưởng chính mình biến hóa thành Bổn tôn hoặc Căn bản Thượng sư.

3. Niệm chú thanh tịnh. Niệm 3 biến An thổ địa chân ngôn. Chân trái dậm một cái.

4. Niệm chú triệu thỉnh. 
Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Thánh Tôn Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử. 
Nam mô Ngũ Phương Phật. 
Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật.
Nam mô Vô Cực Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn.
Nam mô Di Lặc Bồ Tát.
Nam mô Kim Cang Tát Đỏa.
Nam mô Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.
Nam mô Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát.
Nam mô Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.
Nam mô Đại Chuẩn Đề Phật Mẫu.
Nam mô Bạch Cứu Độ Phật Mẫu.
Nam mô Lục Cứu Độ Phật Mẫu.
Nam mô Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu.
Nam mô Uế Tích Kim Cang Đại Quyền Thần Vương Phật.
Nam mô Trung Ương Đại Thánh Bất Động Minh Vương.
Nam mô Hoàng Tài Thần.
Nam mô Hồng Tài Thần. Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn. Huyền Thiên Thượng Đế. Đại Phạm Thiên Vương.
Nam mô Tứ Đại Thiên Vương. 
Nam mô Hộ pháp Vi Đà Tôn Thiên Bồ Tát.
Nam mô Hộ pháp Già Lan Tôn giả.
Hải Long Vương. Thái Tuế Tinh Quân. Thành Hoàng Gia. Thổ Địa Phúc Đức Chính Thần. 
Thập phương tam thế tất cả Phật. Tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát. 
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật đa.

5. Đại lễ bái. 

6. Đại cúng dường.

7. Thượng sư chủ trì làm cúng dường.
Tay trái kết ấn tam sơn, tay phải kết ấn kiếm, làm gia trì.
Niệm “Kính thiên thiên thanh. Kính địa địa linh. Kính nhân trường sinh. Kính quỷ diệt vong.”
Mỗi khi niệm 1 câu thì ngón áp út tay phải nhúng vào rượu/trà/nước để búng ra. 

8. Niệm chú tứ quy y. 

9. Làm mặc giáp hộ thân.

10. Tụng Cao Vương Quan Thế Âm chân kinh.

11. Niệm chú vãng sinh. (7 biến)

12. Thượng sư chủ trì gia trì cho gạo muối:
Dùng Cửu tự chân ngôn tổng ấn để gia trì cho gạo muối, trì chú Cam Lộ Minh Vương: “Ôm a-mi-ta-hùm-pan” 7 biến.

13. Bẩm báo Thổ Địa Công:
Ví dụ: người A đã mua mảnh đất mới, muốn động thổ xây nhà. Thỉnh cầu Thổ Địa Công giúp đỡ tất cả công trình hoàn thành thuận lợi. (linh hoạt ứng dụng)

14. Thượng sư chủ trì chuẩn bị xong gạo muối thì đến chính giữa mảnh đất để trì chú Cam Lộ Minh Vương. 
Dậm chân trái, vẩy gạo muối ra, quán tưởng khi vẩy ra thì biến thành một chiếc chày kim cang.

15. Thượng sư chủ trì men theo rìa của mảnh đất mới đi thuận chiều kim đồng hồ, đến mỗi góc của mảnh đất lại làm lại động tác ở trên. Quán tưởng chày kim cang liên kết lại thành bức tường kim cang kết giới. (Mọi người đồng thời niệm An thổ địa chân ngôn.)

16. Đốt hóa phù phá đất. (trước đàn tế)

17. Cầm xẻng đến trung tâm của mảnh đất xúc đất lên vài lần. (biểu thị đã động thổ)
Niệm: “Thiên viên địa phương. Luật lệnh cửu chương. Ngô kim động thổ. Phổ tảo bất tường. Lương thần cát nhật. Động thổ đại cát. Đại cát đại lợi. Phát.” (Mọi người cùng hô lên: Phát!)

18. Bách tự minh chú. (3 biến)

19. Chú viên mãn. (3 biến) 
Om mani padme hum.

20. Đại lễ bái.
Đảnh lễ Căn bản Truyền thừa Thượng sư và đàn thành Tam Bảo. 

21. Đốt hóa tiền giấy. 

Cát tường viên mãn.

---
# File: nghi-quy-tu-tap/nghi-quy-tu-phap-phong-sinh-trong-chan-phat-tong.md
# Title: Nghi quỹ tu pháp phóng sinh trong Chân Phật Tông
---

![image](/img/img_6a019bc7c6b14beeccd83ff1da7206a9.png)



# Nghi quỹ tu pháp phóng sinh trong Chân Phật Tông


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam


---



### Các bước thực hành nghi quỹ phóng sinh


**1. Đảnh lễ**

Đảnh lễ Căn bản Truyền thừa Thượng sư và Tam Bảo tại đàn thành.

**2. Thỉnh cầu**

Thỉnh cầu Căn bản Truyền thừa gia trì, nhân viên hoằng pháp quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ đỉnh gia trì, trì Liên Hoa Đồng Tử tâm chú (7 biến).

**3. Kết giới**

Kết giới bằng chuông chày kim cang.

**4. Niệm chú thanh tịnh và An thổ địa chân ngôn.**

Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.

**5. Niệm chú triệu thỉnh.**

Nhất tâm phụng thỉnh: 

Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Thánh Tôn Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Trung ương Tỳ Lô Giá Na Phật. Nam mô Đông phương A Súc Phật. 
Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật. Nam mô Nam phương Bảo Sinh Phật.
Nam mô Bắc phương Bất Không Thành Tựu Phật.
Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật.
Nam mô Vô Cực Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn.
Nam mô Di Lặc Bồ Tát. Nam mô Kim Cang Bồ Tát. Nam mô  Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. 
Nam mô Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát. Nam mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát.
Nam mô Đại Chuẩn Đề Phật Mẫu. Nam mô Uế Tích Kim Cang Đại Quyền Thần Vương Phật.
Nam mô Trung ương Đại Thánh Bất Động Minh Vương. Nam mô Đại Uy Đức Kim Cang. Nam mô Hoàng Tài Thần.
Nam mô Hộ Thế Tứ Đại Thiên Vương. Nam mô Hộ pháp Vi Đà Thiên Tôn Bồ Tát. Nam mô Hộ pháp Già Lan tôn giả.
Thập phương tam thế nhất thiết Phật, nhất thiết Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô bát nhã ba la mật đa.

**6. Đại lễ bái. **

Đảnh lễ Căn bản Truyền thừa Thượng sư và Tam Bảo tại đàn thành.

**7. Đại cúng dường.**

Kệ cúng dường:
*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kỳ diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.
C*hú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.

**8. Quán tưởng tứ quy y.**

Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời và Tam Bảo phóng quang quán đảnh gia trì.
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê. (3 biến)

**9. Mặc giáp hộ thân.**

Kết thủ ấn Tam xoa xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)

**10. Tụng Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh.**

**11. Có thể niệm thêm Tâm Kinh, chú Đại Bi.**

**12. Niệm chú vãng sinh. (7 biến)**

**13. Người chủ trì thuyết pháp.**

Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư. Thập phương tam thế Thượng sư Tam Bảo. Chư Phật Bồ Tát Ma Ha Tát. Chỉ mong từ bi chứng biết hộ niệm. Nay có các chúng sinh trên trời dưới nước trên mặt đất. Bị người ta đánh bắt, sắp vào cửa tử. Các thiện tín đệ tử Chân Phật Tông phát tâm từ bi, học hạnh Bồ Tát, chuộc lại thân mạng của chúng, thả cho chúng tự do, hợp với kinh điển Đại thừa, thay cho sám hối. Ban cho chúng quy y Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Hoạt Phật. Xưng mật chú và nói mười hai nhân duyên. Nhưng với những loài này, tội chướng sâu nặng, thần thức u mê, không thể hiểu biết pháp sâu như vậy. Mong thỉnh nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh tôn giả, chư Phật Bồ Tát Ma Ha Tát uy đức gia trì, khiến chúng khai ngộ, sớm đắc giải thoát. Các thiện tín đệ tử Chân Phật Tông nay vì các loài chúng sinh trên cạn dưới nước trên trời, hướng về trước Thượng sư Tam Bảo, phát lộ tội lỗi, chúng bay cũng phải thành tâm theo ta sám hối.”

**14. Thượng sư chủ trì ban tứ quy y. **

(Mọi người cùng quán tưởng Căn bản Thượng sư phóng tam quang gia trì cho sinh vật.) 

Người chủ trì niệm một mình:
”Phật tử các người. Quy y Chân Phật Tông lịch đại tổ sư. Quy y Thượng sư Tam Bảo. Từ nay về sau xưng Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Hoạt Phật làm thầy. Và không quy y những kẻ ngoại đạo tà ác, không đọa địa ngục, không đọa ngạ quỷ, không đọa súc sinh, chỉ quy y Thượng sư Tam Bảo.”

Mọi người cùng niệm chú Tứ quy y (3 biến).
Na-mô gu-ru pây. Quy y Liên Sinh Hoạt Phật không đọa ác đạo.
Na-mô pút-ta yê. Quy y Phật không đọa địa ngục.
Na-mô ta-mô yê. Quy y pháp không đọa ác quỷ.
Na-mô sâng-kya yê. Quy y Thánh hiền tăng không đọa súc sinh.
Mọi người cùng niệm văn 12 nhân duyên.
Các hàng Phật tử, quy y Thượng sư Tam Bảo đã xong. Nay ta vì ngươi mà nói mười hai nhân duyên, tướng sinh tướng diệt. Nay các người đã biết pháp sinh diệt, hiểu pháp sinh diệt, phải rốt ráo, phải thanh tịnh, phải tự tại, một khi rốt ráo thì tất cả rốt ráo, một khi thanh tịnh thì tất cả thanh tịnh, một khi tự tại thì tất cả tự tại, giống như chư Phật chứng Đại Niết Bàn. Vì thế gọi là vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sinh, sinh duyên lão tử, sầu bi khổ não. Vì thế gọi là vô minh diệt thì thức diệt, thức diệt thì danh sắc diệt, danh sắc diệt thì lục nhập diệt, lục nhập diệt thì xúc diệt, xúc diệt thì thọ diệt, thọ diệt thì ái diệt, ái diệt thì thủ diệt, thủ diệt thì hữu diệt, hữu diệt thì sinh diệt, sinh diệt thì lão tử sầu bi khổ não diệt. Vô minh vô tính vốn là thể của chư Phật bất động. Các người bám chấp, vọng khởi vô minh, ví như mắt có bệnh thấy hoa trong hư không, lập tức biết mà dừng lại thì vô minh sẽ diệt. Phật tử, lại vì các người mà xưng bốn thề nguyện lớn, để cho các người nghe thấy, nương dựa Thượng sư phát nguyện tu hành, nay hãy lắng nghe.

**15. Làm sái tịnh cho các sinh vật. **

(Mọi người cùng niệm Liên Hoa Đồng Tử tâm chú 49 biến.)

**16. Kệ sám hối. **

(Mọi người cùng niệm thay sinh vật sám hối.)

Xưa kia đã tạo bao nghiệp tội, đều vì vô thủy tham sân si, đều sinh ra từ thân ngữ ý, nay trước Thượng sư cầu sám hối.

Xưa kia đã tạo bao nghiệp tội, đều vì vô thủy tham sân si, đều sinh ra từ thân ngữ ý, nay ở trước Phật cầu sám hối.

Xưa kia đã tạo bao nghiệp tội, đều vì vô thủy tham sân si, đều sinh ra từ thân ngữ ý, tất cả gốc tội đều sám hối.

Tội khởi từ tâm tâm sám hối, nếu tâm đã diệt tội cũng vong, tâm tội diệt vong đều rỗng cả, thì được gọi là chân sám hối.”

Chú sám hối: Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah. (21 biến)
Bách tự minh chú. (3 biến)

**17. Phát nguyện**

Người chủ trì đọc một mình:
”Phật tử các người, lại vì các người mà xưng bốn thề nguyện lớn. Nay các người đã được nghe, nương dựa Thượng sư mà phát nguyện tu hành. Các người hãy lắng nghe.”

Mọi người cùng đọc:
Chúng sinh vô biên thề nguyện độ. Phiền não vô tận thề nguyện dứt.
Pháp môn vô tận thề nguyện học. Phật đạo vô thượng thề nguyện thành.
Tự tính chúng sinh thề nguyện độ. Tự tính phiền não thề nguyện dứt.
Tự tính pháp môn thề nguyện học. Tự tính Phật đạo thề nguyện thành.

**18. Xưng tán thánh hiệu bảy vị Như Lai.**

Người chủ trì đọc một mình:
”Các đệ tử. Chúng ta lại vì các người mà xưng tán danh hiệu cát tường của bảy vị Như Lai, có thể khiến các người mãi lìa khổ tam đồ bát nạn. Luôn làm Phật tử thanh tịnh của Như Lai.”

Mọi người cùng niệm thánh hiệu của bảy vị Như Lai:
”Nam mô Đa Bảo Như Lai. Nam mô Bảo Thắng Như Lai. Nam mô Diệu Sắc Thân Như Lai. Nam mô Quảng Bác Thân Như Lai. Nam mô Ly Bố Úy Như Lai. Nam mô Cam Lộ Vương Như Lai. Nam mô A Di Đà Như Lai.” (3 biến)

Người chủ trì đọc một mình:
”Các hàng Phật tử. Bảy Như Lai này dùng sức mạnh thề nguyện cứu tế chúng sinh. Ba lần xưng rõ, nghìn đời lìa khổ, chứng đạo vô thượng. Chỉ mong các người sau khi được thả, vĩnh viễn không gặp ác ma ăn thịt, vĩnh viễn không gặp lưới bắt, sống hết tuổi trời, sau khi mệnh hết, nhờ sức mạnh uy đức của Thượng sư Tam Bảo mà tùy nguyện vãng sinh. Giữ giới tu hành, thấy nghe Phật pháp, Bồ Tát nhớ đến, đắc đại giải thoát, chứng vô thượng bồ đề. Và mong các thiện tín đệ tử báo danh phóng sinh hành nguyện bồ đề, niệm niệm quang minh, cứu hộ chúng sinh, như nghĩ cho mình, được sống an dưỡng, thấy A Di Đà Phật chứng vô sinh nhẫn. Phân thân trần sát, hết đời tương lai, quảng độ chúng sinh. Và mong những người đánh bắt sinh vật hồi tâm hướng thiện, cùng được giải thoát, cùng chứng chân thường.”

**19. Kết thủ ấn Đại hải siêu độ.**

Quán tưởng trong tâm luân của chính mình có một chữ Hum phóng ánh sáng trắng. Chư Phật Bồ Tát phóng ánh sáng trắng chiếu đến linh hồn súc sinh, tiêu trừ nghiệp chướng, lần lượt vãng sinh.

Niệm chú Văn Thù vãng sinh: “Ôm a-pây-đa-hùm khan-cha-la sô-ha.” (21 biến)

**20. Mọi người cùng niệm Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

“Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm.”
(Khi trì Thượng sư tâm chú, phóng tất cả sinh linh đi vào trong hồ biển hoặc không trung, để chúng được tự do mà đi.)

**21. Hồi hướng:**

Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Nguyện đem công đức trì chú niệm Phật này hồi hướng cho các sinh vật trên cạn dưới nước trên không, thỉnh cầu Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật và Phật Bồ Tát chiếu Phật quang đến các sinh vật trên cạn dưới nước trên không đã chết, tiêu trừ nghiệp chướng, siêu sinh thoát khổ, sớm vãng sinh tịnh thổ.”

**22. Bách tự minh chú. (3 biến)**

**23. Niệm chú viên mãn.**

Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (1 biến)

**24. Đại lễ bái**

Đảnh lễ Căn bản Truyền thừa Thượng sư và Tam Bảo tại đàn thành.

Nghi thức kết thúc, cát tường viên mãn, công đức vô lượng.


### Bỏ giết và phóng sinh


Chúng ta biết rằng trong thế giới Ta Bà, tội ác lớn nhất nên thuộc về sát sinh, đặc biệt là giết người. Ngược lại, thiện hành lớn nhất chính là phóng sinh. Vì thế, trong Phật pháp phóng sinh là phương pháp tốt nhất để giải oan kết, cho nên chúng ta phải làm nhiều phóng sinh.

Khi Phật Đà tại thế đã nói: “Làm một Phật tử, điều quan trọng nhất là không sát sinh, những thứ ăn vào cũng tuyệt đối không được tự mình giết, không được nhìn thấy việc giết, không được nghe thấy tiếng giết, đây gọi là ba loại thịt thanh tịnh.”

Chân Phật Tông không so đo việc ăn chay và ăn mặn, tùy mọi người lựa chọn. Bởi vì muốn phân biệt chay và mặn rất khó, đó là do trong nước cũng có rất nhiều vi sinh vật, rau xanh cũng sẽ có vi trùng và vi sinh vật ở trong đó, đừng cho rằng ăn chay thì là không sát sinh, thật ra bên trong chúng vẫn có rất nhiều vi sinh vật. Giả như bạn không sát sinh, ngay cả đến những vi sinh vật cũng không giết, như thế thì bị cảm cũng không thể uống thuốc, vì uống thuốc kháng sinh chính là sát sinh. Bởi vậy Phật Đà nói: “Uống một ngụm nước sạch, tám vạn bốn nghìn trùng, nếu như không trì chú, cũng như giết chúng sinh.” Đây là một đạo lý tương tự.

Khi trời mưa, đi bên ngoài cũng có thể dẫm phải những loài sâu bọ nhỏ như ốc sên, đôi khi tùy tiện đi lại cũng có thể không cẩn thận mà dẫm phải kiến hoặc sinh vật nhỏ. Nói rằng không sát sinh, nhưng thật ra là ngày ngày sát sinh. Theo đạo lý của Chân Phật Tông, bất kể chay mặn đều phải làm hồi hướng, siêu độ và cúng dường. Bởi vì có rất nhiều sinh vật đều không phải do chính tay bạn giết, nhưng lại phải bỏ đi thân thể làm thức ăn cúng cho bạn để duy trì dinh dưỡng cho thân thể bạn, để cho bạn có thể tu Phật pháp học Mật pháp, chúng ta đều phải cảm ơn những sinh vật này. Vì thế phải cúng dường hồi hướng, niệm Phật và gia trì cho chúng, thậm chí niệm chú Vãng sinh, hy vọng chúng sớm chuyển thế làm người, hoặc sinh về đạo Trời, sinh về Phật quốc, cũng có thể có được chủng tử của Phật để đi tu hành.

Về phương diện phóng sinh, chúng ta cũng phải tích cực làm, mua nhiều sinh vật để phóng thả chúng về trời, hoặc thả xuống nước, hoặc bất kì nơi nào. Không chỉ cần phóng sinh mà đồng thời cũng phải trì thêm kinh chú, tức là niệm kinh và trì chú ngữ của Chân Phật Tông để gia trì cho những sinh vật này, để chúng quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng, quy y Kim cương Thượng sư, làm tứ quy y cho chúng, sau đó niệm thêm kinh chú gia trì cho chúng, khiến chúng có thể được tái sinh và sau đó còn kết được chủng tử Phật. Đây là phương diện phóng sinh.

Về phương diện chúng ta ăn các thứ, không những cần cảm ơn mà đồng thời còn phải niệm thêm kinh chú, cúng dường, hồi hướng, để chúng vãng sinh. Đây là cách làm của Chân Phật Tông chúng ta. Đối với những sinh vật chúng ta không tự mình giết, nhưng bạn đã ăn thì phải làm một vài việc, làm nhiều phóng sinh có thể giải được rất nhiều nghiệp chướng và giải được oan khí của oan hồn. Bình thường khi tu pháp niệm 7 biến chú Vãng sinh, hồi hướng cho oan hồn và các sinh vật, và gia trì cho những sinh vật mà bạn ăn mỗi ngày, đây đều là việc rất quan trọng.

Tông phái chúng ta tuy không so đo chay mặn, nhưng chúng ta bỏ sát sinh, không được sát sinh mà còn phải phóng sinh, vì việc ác nhất chính là sát sinh, việc thiện nhất chính là phóng sinh. 

Om mani padme hum.

25/08/1993.

---
# File: nghi-quy-tu-tap/nghi-quy-tung-kinh-vang-sinh-chan-phat-tong.md
# Title: Nghi quỹ tụng kinh vãng sinh Chân Phật Tông
---

![image](/img/img_44b16b142a425f0a07ba460b8350ae38.png)



# Nghi quỹ tụng kinh vãng sinh Chân Phật Tông



### 1. An vị


**Hồi hướng trước bài vị vãng sinh** (bản ngắn)

Nam mô Thanh Lương Địa Bồ Tát Ma Ha Tát. (x3)
Nam mô Bát Nhã hội thượng Phật Bồ Tát. (x3)

**Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh:** (x1)

Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.
Xá Lợi Tử, sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng hành thức diệc phục như thị.
Xá Lợi Tử, thị chư pháp không tướng, bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm.
Thị cố không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức. Vô nhãn nhĩ tỵ thiệt thân ý, vô sắc thanh hương vị xúc pháp, vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới.
Vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận. Vô khổ, tập, diệt, đạo. Vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố.
Bồ Đề Tát Đỏa y Bát nhã Ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết bàn.
Tam thế chư Phật, y Bát nhã Ba la mật đa cố, đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.	
Cố tri Bát nhã Ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư.
Cố thuyết Bát nhã Ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết:
Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.

**Chú vãng sinh:** (x7)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na
Chê-tô ka-ni sô-ha.

**Biến thực chân ngôn:** (x3)
Na-mô sa-mô ta-tha-yê-tô. Mô-lu-chư-ti. Ôm. San-pa-la san-pa-la hùm.

**Cam lộ thủy chân ngôn: **(x3)
Na-mô su-lu pa-ya. Ta-tha-ka-ta-ya. Ta-chư-thua. Ôm su-lu su-lu. Pô-lua su-lu. Pô-lua su-lu. Sô-ha. 

**Phổ cúng dường chân ngôn:** (x3) 
Ôm yê-yê-nang. San-pô-fu. Fa-rư-lua. Hùm.

**Di Đà tán:**

Liên trì hải hội. 
Di Đà Như Lai, Quan Âm Thế Chí tọa liên đài. 
Tiếp dẫn lên đài vàng. Lời thề lớn rộng mở. 
Nguyện cầu khắp chúng sinh xa lìa bụi trần. 

**Hồi hướng kệ:**

Nguyện sinh về Tây phương tịnh thổ
Chín phẩm hoa sen làm cha mẹ
Hoa nở thấy Phật ngộ vô sinh
Bất Thoái Bồ Tát làm bạn lữ. 


### 2. Bắt đầu tụng kinh


1. Cung thỉnh người chủ trì dâng hương. Đảnh lễ Căn bản Truyền thừa Thượng sư và Tam Bảo tại đàn thành. 

2. Mời công đức chủ (gia đình người mất) dâng hương. 

3. Cầu thỉnh Căn bản Truyền thừa gia trì, tay kết thủ ấn Liên Hoa Đồng Tử. 


![image](/img/img_b9f2105d555b61566173d3bed2f7b540.png)


Quán tưởng Căn bản Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật trụ đỉnh, phóng quang gia trì tất cả mọi người để buổi tụng kinh được viên mãn cát tường. 

Niệm tâm chú Thượng sư: (x7) 
Ôm gu-ru lién-sâng sit-đi hùm.

4. Vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay. 

5. Cung kính đọc sớ văn. 

6. Gia trì sớ văn. 

7. Kết giới bằng chuông chày kim cang, kết giới bốn tầng. 

Niệm Cam Lộ Minh Vương chân ngôn: (x7)
Ôm a-mi-ta hùm pan. 

8. Tụng hương tán.

Lư hương vừa mới khẽ nhen lên
Mười phương pháp giới đều thơm ngát
Hội Phật thanh tịnh như biển lớn
Từ xa tất thảy đều nghe vang.
Khắp nơi mây lành đang kết tụ
Mưa hương mưa báu khắp nhân gian.
Là hương điềm lành trang nghiêm khắp
Chư Phật toàn thân hiện rõ ràng. 
Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát. (x3)
Ôm pê-cha tu-pê ah hùm. (x3)

[Có thể hát bài Tụng hương tán của Chân Phật Tông.]

9. Niệm chú thanh tịnh:

Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An thổ địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.

10. Niệm chú triệu thỉnh:
Ôm ah hùm sô-ha. (x3)

Nhất tâm phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử. 
Nam mô Trung ương Tỳ Lô Giá Na Phật. 
Nam mô Đông phương A Súc Phật. 
Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật. 
Nam mô Nam phương Bảo Sinh Phật.
Nam mô Bắc phương Bất Không Thành Tựu Phật.
Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật. 
Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. 
Nam mô Vô Cực Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn. 
Nam mô Kim Cang Tát Đỏa.
Nam mô Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. 
Nam mô Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát.
Nam mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát.
Nam mô Đại Chuẩn Đề Phật Mẫu. 
Nam mô Uế Tích Kim Cang Đại Quyền Thần Vương Phật.
Nam mô Trung ương Đại Thánh Bất Động Minh Vương.
Nam mô Đại Uy Đức Kim Cang. 
Nam mô Hoàng Tài Thần.
Nam mô Hộ thế Tứ đại Thiên Vương.
Nam mô Hộ pháp Vi Đà Tôn Thiên Bồ Tát.
Nam mô Hộ pháp Già Lam Tôn Giả. 
Nam mô đàn thành chư tôn Phật Bồ Tát, Hộ pháp, Kim cang, thần chúng.
Thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát. 
Nam mô Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa.

11. Quán tưởng đại lễ bái

Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)
Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn liên hoa (hoa sen)
Ba: bái Hộ pháp Kim cang - kết thủ ấn chày kim cang
Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng


![image](/img/img_9a73e2c0c7f76cf93f4341124086e72c.png)


12. Cúng dường mandala:

Kết thủ ấn cúng dường:


![image](/img/img_947ee8f42252d80fd6af71b935a62ce8.png)


Quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ, nhiều vô lượng vô biên. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, truyền thừa tổ sư các đời, tám đại Bổn tôn, mười phương ba đời tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ pháp Kim cang, Hộ pháp long thiên.

Đọc bài kệ cúng dường:

Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi. Ôm ah hùm.

13. Niệm chú tứ quy y:

Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

14. Mặc giáp hộ thân

Kết thủ ấn chắp tay kim cang, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ pháp, Kim cang thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.

15. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm chân kinh: (x1)

Phụng thỉnh bát đại Bồ Tát
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Kim Cang Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Diệu Cát Tường Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.

Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô pháp. Nam mô tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ thất Phật. Vị lai hiền kiếp thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Niệm danh hiệu Phật sáu phương
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyệt Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Hết thảy chúng sinh trung ương, chư vị trong Phật giới, trú ngụ trên mặt đất, cho đến tại không trung, thương lo cho tất cả chúng sinh. Ai cũng an ổn tốt lành. Ngày đêm tu trì. Tâm thường cầu tụng kinh này. Diệt được khổ sinh tử. Tiêu trừ hết độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Tụng bản kinh không ngừng. Thất Phật Thế Tôn. Liền nói chú sau:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-lô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-ki-a-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha” (7 lần)

Mười phương Quan Thế Âm. Hết thảy chư Bồ Tát.
Đã thề cứu chúng sinh. Xướng danh tất giải thoát.

Nếu gặp người trí tuệ. Ân cần mà giảng nói.
Lại có đủ nhân duyên. Đọc tụng không ngơi nghỉ.
Tụng kinh tròn nghìn biến. Niệm niệm tâm không dừng.
Gặp lửa cháy chẳng sao. Việc đao binh cũng thoát.
Nóng giận thành vui vẻ. Chết rồi hóa sống vui.
Đừng nghĩ rằng không đúng. Chư Phật chẳng nói chơi.
Cao Vương Quan Thế Âm. Cứu được hết khổ nạn.
Lúc khó khăn nguy cấp. Người chết còn thành sống.
Chư Phật chẳng nói đùa. Vì vậy nên đảnh lễ.
Niệm tụng trọn nghìn lần. Tội nặng đều tiêu diệt.
Người có phúc tín tâm. Hãy chuyên tâm đọc tụng.

Nguyện mang công đức này. Gửi tới hết chúng sinh.
Tụng tròn một nghìn biến. Tội nặng đều tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (Hết)!

**Mời công đức chủ (người nhà của người mất) dâng hương.**

16. Niệm Chân Phật Kinh

Niệm văn cầu thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật gia trì
Ôm A Hùm!
Kính đem thân khẩu ý thanh tịnh.
Cúng dường Tỳ Lô Giá Na Tôn.

Pháp thân Phật Nhãn Phật Mẫu Thánh.
Báo thân Liên Hoa Đồng Tử thân.
Ứng Thân giáo chủ Liên Sinh Phật.
Ba thân không khác, đại Phật ân.

Cung kính Chân Phật đại truyền thừa.
Thần thông ban trải đầy thế giới.
Phóng quang chiếu rọi khắp ba thời.
Hóa hiện không ngừng chứng nhất như.
Đệ tử tha thiết thường cầu tới.
Soi chiếu quang minh, phúc huệ tăng.

Xưa đến thọ ký, Phật Thích Ca.
Phó thác ân cần, A Di Đà.
Di Lặc Bồ Tát ban hồng quán.
Liên Hoa Đại Sĩ mật pháp truyền.
Thánh Tôn xin thỉnh đừng quên nguyện.
Cứu độ chúng sinh chúng con đây.
Hộ niệm như thế xin nhiếp thọ.
Thành tựu nhanh nhanh thỉnh gia trì.

Nam mô Tỳ Lô Giá Na Phật.
Nam mô Phật Nhãn Phật Mẫu.
Nam mô Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Chân Phật hải hội thập phương tam thế chư Phật Bồ Tát Ma Ha Tát.

Niệm thánh cáo (x3)
Tây phương Liên Trì hải hội, Ma Ha Song Liên Trì, thập bát đại Liên Hoa Đồng Tử, Bạch Y Thánh Tôn, Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng sư, Chủ Kim Cương Chân Ngôn Giới Bí Mật Chủ, Đại Trì Minh Đệ Nhất Thế Linh Tiên Chân Phật Tông. Lư Thắng Ngạn mật hành tôn giả.

Phụng thỉnh hai Phật tám Bồ Tát:
Nam mô Pháp Giới Tối Thắng Cung Tỳ Lô Giá Na Phật.
Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới A Di Đà Phật.
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Kim Cương Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Diệu Cát Tường Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.

Khai kinh kệ
Phật pháp rộng sâu rất nhiệm màu.
Trăm nghìn vạn kiếp khó tìm cầu.
Nay con nghe thấy chuyên trì tụng.
Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm sâu.

Chân Thực Phật Pháp Tiêu Tai Ban Phúc Kinh

Tôi nghe như vầy.
Một thời, Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử tại Ma Ha Song Liên Trì, ngồi trên pháp tọa hoa sen lớn màu trắng, xung quanh là mười bảy đóa hoa sen lớn khác.

Hoa màu xanh phát ánh sáng xanh.
Hoa màu vàng phát ánh sáng vàng.
Hoa màu đỏ phát ánh sáng đỏ.
Hoa màu tím phát ánh sáng tím.
Mỗi đóa hoa sen tỏa ra hương thơm tinh khiết vi diệu.

Bạch Liên Hoa Đồng Tử âm thầm vận thần thông làm Ma Ha Song Liên Trì biến hóa thành ánh sáng vàng kim chói lọi. Tất cả hương hoa tỏa mạnh ra thơm ngát. Tiên thảo cũng tỏa ngát hương thơm. Chim Bạch hạc, Khổng tước, Anh vũ, Xá lợi, chim Ca lăng tần già, chim Cộng mạng, đều hóa màu vàng kim, cùng hót lên âm thanh hòa nhã của cõi trời.

Trong hư không xuất hiện ánh sáng vàng kim cùng âm thanh cõi trời thanh tịnh vi diệu. Có hương thơm nồng tỏa trong các thế giới, có tầng các bằng vàng trên không trung, tất cả cùng phát hào quang hoa rực rỡ. Mọi chốn nở đầy hoa sen vàng kim và hoa trời bay phấp phới khắp hư không.

Lúc bấy giờ,
Ma Ha Song Liên Trì chấn động mạnh mẽ. Vô lượng chư Thiên đều cảm nhận được, chư Phật, chư Bồ Tát cùng chư Thanh Văn cũng đều cảm nhận được, tất cả liền đi đến Ma Ha Song Liên Trì. Ba mươi ba vị thiên chủ cõi trời cũng vội đến Ma Ha Song Liên Trì. Tập hợp liền hai mươi tám loại thiên chúng, Đế Thích, Phạm Vương, bát bộ, tứ chúng. Rộng giảng nói pháp yếu.

Lúc bấy giờ:
Kim Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Đại trí huệ.
Bạch Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Pháp giới.
Lục Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Vạn bảo.
Hắc Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Hàng phục.
Hồng Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Hạnh nguyện.
Tử Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Đoan nghiêm.
Lam Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Quả đức.
Hoàng Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Phúc túc.
Tranh Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Đồng chân.

Chư Thiên thấy vậy cảm thấy kinh ngạc lạ kỳ. Thế là Đế Thích từ trong chỗ ngồi đứng dậy, cúi đầu hướng về Bạch Liên Hoa Đồng Tử mà thưa rằng: "Thánh Tôn, thật hy hữu hiếm có. Ma Ha Song Liên Trì do nhân duyên nào mà xuất hiện ánh sáng đại quang hoa rực rỡ này?"

Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử nói: "Đó là vì để thuyết giảng cho các ông vậy."
Đế Thích nói: "Thánh Tôn uy quyền tối tôn. Chỉ mong Thánh Tôn vì chúng sinh mà tuyên thuyết. Tất cả trời người sẽ đều biết phải hướng quay về."

Lúc bấy giờ Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử nói với Đế Thích cùng các đại chúng: "Lành thay lành thay. Nay ta vì các ông và chúng sinh đời mạt thế, cùng những người hữu duyên trong đời tương lai, giảng cho tất cả đều biết đạo lý chân thực Phật pháp và tiêu tai ban phúc."

Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử liền nói tiếp:
"Chư Phật, Bồ Tát cứu độ chúng sinh.

Có:
Tối Thắng thế giới,
Diệu Bảo thế giới,
Viên Châu thế giới,
Vô Ưu thế giới,
Tịnh Trú thế giới,
Pháp Ý thế giới,
Mãn Nguyệt thế giới,
Diệu Hỷ thế giới,
Diệu Viên thế giới,
Hoa Tạng thế giới,
Chân Như thế giới,
Viên Thông thế giới.
Bây giờ sẽ có Chân Phật thế giới."

Thế là Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác cùng chư Thánh chúng nghe Thánh Tôn khai diễn Chân Phật thế giới.
Biết được sự cát tường, thiện thệ, đại bi, nhân quả của quá khứ - hiện tại - vị lai, là do Thánh Tôn vì chúng sinh hóa thân thị hiện, ai nấy hoan hỷ chưa từng có, cúi đầu tán thán mà hát lên bài kệ:

Thánh Tôn đại từ bi.
Vô thượng bí mật tôn.
Quá khứ sớm tu chứng.
Giới siêu phàm thoát tục.
Nay lập Chân Phật giới.
Xót thương chư chúng sinh.
Hóa thân làm giáo chủ.
Hạ giáng cõi Ta Bà.
Lành thay hiệu Liên Sinh.
Vì chúng sinh quảng thuyết.
Chúng con đều đã nghe.
Nguyện sẽ đại hộ trì.

Lúc bấy giờ, Thánh Tôn Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử nói với đại chúng:
"Tu hành lấy vô niệm làm chính giác Phật bảo. Lấy thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh làm Pháp bảo. Lấy Chân Phật Thượng sư làm Tăng bảo."

Thánh Tôn nói với đại chúng:
"Nếu có thiện nam tử, tín nữ tử vào ngày 18 tháng 5 hàng năm, tắm rửa trai giới, mặc y phục sạch sẽ, hoặc vào ngày 18 hàng tháng, hoặc ngày sinh thần của mình ở trước mật đàn, phụng thỉnh hai Phật tám Bồ Tát, tụng "Chân Thực Phật Pháp Tiêu Tai Ban Phúc Kinh" thì cầu gì tùy tâm, sẽ có cảm ứng. Có thể cúng dường hương, hoa, đèn, trà, quả, chí thành cầu nguyện, đều được như ý."

Thánh Tôn nói với đại chúng:
"Những vị quan chức, quý nhân, sa môn, cư sĩ, người tu đạo, phàm tục trong thế gian, nếu nghe kinh này, thêm thọ trì tụng niệm thì những người này bổng lộc chức vị tối thắng, thọ mệnh kéo dài, cầu trai được trai, cầu gái được gái, có được phúc nhiều vô lượng, là đại phúc bảo kinh tăng ích.
Những vong linh, oan thân trái chủ chưa được cứu độ mà còn ở trong chốn u minh, nếu có thể trì tụng kinh này, ấn tống kinh này thì người chết sẽ được lên trời, oan gia trái chủ sẽ bỏ đi, hiện tại còn gặt hái được phúc đức.
Những người nam, người nữ nào hoặc bị tà ma xâm phạm, hoặc bị quỷ thần hãm hại, hoặc có ác mộng hỗn loạn, nếu thọ trì kinh này, ấn tống kinh này thì tà ma sẽ bỏ chạy. Họ lập tức sẽ được an lạc.
Những ai có bệnh tật đeo bám, phải trả nhân quả nghiệp báo của kiếp trước hoặc có các bệnh do quỷ thần, nếu thọ trì kinh này, ấn tống kinh này thì tai ương sẽ được cứu, bệnh tật sẽ tiêu trừ.
Những ai có ác vận, dính phải kiện tụng, bị giam cầm tù tội nhưng có thể trì tụng kinh này, ấn tống kinh này thì tai họa sẽ được giải trừ, điều hung sẽ hóa thành cát tường.
Nếu hai nước xảy ra chiến tranh, có thể trì tụng kinh này, lập tượng cúng dường, sẽ được gia tăng uy lực, chiến thắng chắc chắn.
Người đọc tụng, người ấn tống, người bố thí, tất cả sẽ được cát tường như ý viên mãn, tiêu trừ các độc hại, có thể diệt sinh tử khổ."

Tây phương Chân Phật hải hội, tại Ma Ha Song Liên Trì, Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử đều ở trong đó mà nói chú rằng:
“Ôm, gu-ru, lién-sâng, sít-đi, hum” [Om guru liansheng siddhi hum] (vô số lần)

Thánh Tôn khi giảng xong kinh này, Đế Thích cùng chư đại chúng, Thiên long, Bát bộ, Tứ chúng cung kính hành lễ, tín thọ phụng hành.
Chân Thực Phật Pháp Tiêu Tai Ban Phúc Kinh (Hết!)

**Mời công đức chủ (người nhà của người mất) dâng hương.**

17. Niệm Phật Thuyết A Di Đà Kinh

Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật (x3)
Nam mô Liên Trì hải hội Phật Bồ Tát (x3)

Khai kinh kệ
Phật pháp rộng sâu rất nhiệm màu.
Trăm nghìn vạn kiếp khó tìm cầu.
Nay con nghe thấy chuyên trì tụng.
Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm sâu.

Phật Thuyết A Di Đà Kinh

Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ, trong vườn Kỳ Thụ Cấp Cô Độc, cùng với đại chúng tỳ kheo một nghìn hai trăm năm mươi vị, đều là bậc đại A La Hán, được mọi người biết đến: trưởng lão Xá Lợi Phất, Ma Ha Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp, Ma Ha Ca Chiên Diên, Ma Ha Câu Hy La, Ly Bà Đa, Chu Lợi Bàn Đà Già, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lư Phả La Đọa, Ca Lưu Đà Di, Ma Ha Kiếp Tân Na, Bạc Câu La, A Nậu Lâu Đà, cùng các vị đại đệ tử như thế; và các vị Bồ Tát Ma Ha Tát: Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử, A Dật Đa Bồ Tát, Càn Đà Ha Đề Bồ Tát, Thường Tinh Tấn Bồ Tát, cùng các vị đại Bồ Tát như thế, và Thích Đề Hoàn Nhân và vô lượng chư thiên đại chúng có đủ.

Bấy giờ, Đức Phật bảo trưởng lão Xá Lợi Phất: "Từ đây về phương Tây, cách xa mười vạn ức cõi Phật, có một thế giới tên là Cực Lạc. Ở cõi ấy có Đức Phật hiệu là A Di Đà, hiện đang thuyết pháp. Này Xá Lợi Phất! Vì sao cõi ấy gọi là Cực Lạc? Vì chúng sinh trong cõi nước đó không có các nỗi khổ, chỉ hưởng các điều vui, nên gọi là Cực Lạc.

Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc có bảy lớp lan can, bảy lớp lưới giăng, bảy lớp hàng cây, tất cả đều được bao quanh bởi bốn loại báu, vì thế nên cõi ấy gọi là Cực Lạc. Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc có ao bảy báu, nước tám công đức tràn đầy trong đó, đáy ao thuần dùng cát vàng trải đất. Bốn bên thềm bậc được làm bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê hợp thành. Phía trên có lầu gác, cũng được trang hoàng bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xà cừ, hồng ngọc, mã não. Trong ao có hoa sen to như bánh xe, màu xanh ánh sáng xanh, màu vàng ánh sáng vàng, màu đỏ ánh sáng đỏ, màu trắng ánh sáng trắng, hương thơm tinh khiết vi diệu. Này Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm như thế.

Lại nữa, Xá Lợi Phất! Cõi Phật ấy thường nổi thiên nhạc, mặt đất bằng vàng ròng. Ngày đêm sáu thời, mưa hoa mandala từ trên trời rơi xuống. Chúng sinh cõi ấy, thường vào mỗi sáng sớm, đều dùng y phục đựng các hoa đẹp vi diệu, đem cúng dường mười vạn ức Phật ở phương khác, đến giờ ăn liền trở về cõi nước của mình, thọ trai, kinh hành. Này Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm như thế. Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Cõi ấy thường có các loại chim kỳ diệu đủ màu sắc: bạch hạc, khổng tước, anh vũ, xá lợi, ca lăng tần già, và chim cộng mạng. Các loài chim ấy, ngày đêm sáu thời, hót lên âm thanh hòa nhã, diễn xướng các pháp như ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần, bát thánh đạo phần; chúng sinh trong cõi ấy nghe những âm thanh này rồi, hết thảy đều niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng.

Này Xá Lợi Phất! Ông chớ nghĩ rằng: "Những con chim này thực sự do tội báo mà sinh ra." Vì sao vậy? Vì cõi Phật ấy không có ba đường ác. Này Xá Lợi Phất! Cõi Phật ấy còn không có tên gọi của đường ác, huống chi là có thật. Những con chim ấy đều do Phật A Di Đà muốn cho âm thanh của pháp được lan truyền mà biến hóa ra. Này Xá Lợi Phất! Ở cõi Phật ấy, gió nhẹ thổi động các hàng cây báu và lưới báu, phát ra âm thanh vi diệu, ví như trăm nghìn loại nhạc cùng trỗi lên một lúc. Người nghe những âm thanh ấy tự nhiên sinh tâm niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng. Này Xá Lợi Phất! Cõi Phật ấy thành tựu công đức trang nghiêm như thế.
Này Xá Lợi Phất! Ý ông thế nào? Vì sao Đức Phật kia có hiệu là A Di Đà? Này Xá Lợi Phất! Ánh sáng của Đức Phật ấy vô lượng, chiếu khắp mười phương cõi nước, không bị chướng ngại, vì thế nên có hiệu là A Di Đà. Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Thọ mạng của Đức Phật ấy và nhân dân của Ngài là vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp, nên có hiệu là A Di Đà. Này Xá Lợi Phất! Đức Phật A Di Đà thành Phật đến nay đã được mười kiếp. Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Đức Phật ấy có vô lượng vô biên đệ tử Thanh Văn, đều là bậc A La Hán, không thể dùng toán số mà biết được, các Bồ Tát cũng như vậy. Này Xá Lợi Phất! Cõi Phật ấy thành tựu công đức trang nghiêm như thế.

Này Xá Lợi Phất! Chúng sinh nào sinh về cõi nước Cực Lạc đều là bậc bất thoái chuyển. Trong số đó có rất nhiều vị Nhất Sinh Bổ Xứ, số lượng nhiều không thể tính đếm được, chỉ có thể nói là vô lượng vô biên a-tăng-kỳ. Này Xá Lợi Phất! Chúng sinh nghe được điều này nên phát nguyện sinh về cõi ấy. Vì sao vậy? Vì sẽ được cùng hội họp một chỗ với các bậc thượng thiện nhân như thế. Này Xá Lợi Phất! Không thể dùng chút ít thiện căn, phước đức, nhân duyên mà được sinh về cõi ấy. Này Xá Lợi Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe nói đến Phật A Di Đà, chấp trì danh hiệu trong một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, bảy ngày, nhất tâm bất loạn, thì khi người ấy lâm chung, Phật A Di Đà cùng các thánh chúng sẽ hiện ra trước mặt. Người ấy khi mạng chung, tâm không điên đảo, liền được vãng sinh về cõi Cực Lạc của Phật A Di Đà. Này Xá Lợi Phất! Ta thấy lợi ích ấy nên nói những lời này. Nếu có chúng sinh nào nghe được điều này, nên phát nguyện sinh về cõi nước ấy.

Này Xá Lợi Phất! Như ta hôm nay, tán thán công đức lợi ích không thể nghĩ bàn của A Di Đà Phật: ở phương Đông có A Súc Bệ Phật, Tu Di Tướng Phật, Đại Tu Di Phật, Tu Di Quang Phật, Diệu Âm Phật, và vô số chư Phật nhiều như cát sông Hằng như thế. Mỗi vị đều ở tại cõi nước của mình, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời chân thật rằng: "Chúng sinh các ngươi nên tin kinh này, kinh được tất cả chư Phật hộ niệm, tán thán công đức không thể nghĩ bàn." Này Xá Lợi Phất! Ở thế giới phương Nam, có Nhật Nguyệt Đăng Phật, Danh Văn Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tu Di Đăng Phật, Vô Lượng Tinh Tấn Phật, và vô số chư Phật nhiều như cát sông Hằng như thế. Mỗi vị đều ở tại cõi nước của mình, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời chân thật rằng: "Chúng sinh các ngươi nên tin kinh này, kinh được tất cả chư Phật hộ niệm, tán thán công đức không thể nghĩ bàn."
Này Xá Lợi Phất! Ở thế giới phương Tây có Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Tướng Phật, Vô Lượng Tràng Phật, Đại Quang Phật, Đại Minh Phật, Bảo Tướng Phật, Tịnh Quang Phật, và vô số chư Phật nhiều như cát sông Hằng như thế. Mỗi vị đều ở tại cõi nước của mình, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời chân thật rằng: "Chúng sinh các ngươi nên tin kinh này, kinh được tất cả chư Phật hộ niệm, tán thán công đức không thể nghĩ bàn." Này Xá Lợi Phất! Ở thế giới phương Bắc có Diệm Kiên Phật, Tối Thắng Âm Phật, Nan Thư Phật, Nhật Sinh Phật, Võng Minh Phật, và vô số chư Phật nhiều như cát sông Hằng như thế. Mỗi vị đều ở tại cõi nước của mình, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời chân thật rằng: "Chúng sinh các ngươi nên tin kinh này, kinh được tất cả chư Phật hộ niệm, tán thán công đức không thể nghĩ bàn."

Này Xá Lợi Phất! Ở thế giới phương dưới có Sư Tử Phật, Danh Văn Phật, Danh Quang Phật, Đạt Ma Phật, Pháp Tràng Phật, Trì Pháp Phật, và vô số chư Phật nhiều như cát sông Hằng như thế. Mỗi vị đều ở tại cõi nước của mình, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời chân thật rằng: "Chúng sinh các ngươi nên tin kinh này, kinh được tất cả chư Phật hộ niệm, tán thán công đức không thể nghĩ bàn." Này Xá Lợi Phất! Ở thế giới phương trên có Phạm Âm Phật, Tú Vương Phật, Hương Thượng Phật, Hương Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân Phật, Sa La Thọ Vương Phật, Bảo Hoa Đức Phật, Kiến Nhất Thiết Nghĩa Phật, Như Tu Di Sơn Phật, và vô số chư Phật nhiều như cát sông Hằng như thế. Mỗi vị đều ở tại cõi nước của mình, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời chân thật rằng: "Chúng sinh các ngươi nên tin kinh này, kinh được tất cả chư Phật hộ niệm, tán thán công đức không thể nghĩ bàn."

Này Xá Lợi Phất! Ý ông nghĩ sao? Vì sao gọi là kinh được tất cả chư Phật hộ niệm? Này Xá Lợi Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe kinh này và thọ trì, cùng nghe danh hiệu chư Phật, thì những thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy đều được tất cả chư Phật hộ niệm, đều được bất thoái chuyển nơi đạo Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác. Vì vậy, này Xá Lợi Phất! Các ông đều nên tin nhận lời ta và lời chư Phật đã nói. Này Xá Lợi Phất! Nếu có người đã phát nguyện, đang phát nguyện, sẽ phát nguyện muốn sinh về cõi Phật A Di Đà, thì những người ấy đều được bất thoái chuyển nơi đạo Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác, ở cõi nước kia, hoặc đã sinh, hoặc đang sinh, hoặc sẽ sinh. Vì vậy, này Xá Lợi Phất! Các thiện nam tử, thiện nữ nhân, nếu có lòng tin, nên phát nguyện sinh về cõi nước ấy.

Này Xá Lợi Phất! Như ta hôm nay tán thán công đức không thể nghĩ bàn của chư Phật, các Đức Phật ấy cũng tán thán công đức không thể nghĩ bàn của ta mà nói rằng: "Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có thể làm được việc rất khó và hiếm có, có thể ở trong cõi Ta Bà, ngũ trược ác thế: kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sinh trược, mạng trược, mà chứng được đạo Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác. Vì các chúng sinh mà nói pháp khó tin này trong tất cả thế gian." Này Xá Lợi Phất! Nên biết ta ở trong ngũ trược ác thế làm việc khó này, chứng được đạo Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác, vì tất cả thế gian nói pháp khó tin này, thật là rất khó!"
Khi Đức Phật nói kinh này xong, Xá Lợi Phất cùng các tỳ kheo, tất cả thế gian, trời, người, atula, nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ tin nhận, đảnh lễ rồi lui ra.
Phật Thuyết A Di Đà Kinh (Hết.)

18. Niệm chú vãng sinh (x7)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na
Chê-tô ka-ni sô-ha.

19. Niệm chú Đại Bi

Nam mô Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát (x3)

Na-mô hơ-la-ta-na. Tô-la-yê-yê. Na-mô a-li-yê. 
Pô-lô-gê-tê. Liêp-pân-la-yê. Pô-tê-sat-tô-pô-yê. 
Ma-ha sat-tô-pô-yê. Ma-ha ka-lu-ni-ka-yê.
Án. Sa-ta-la-fa-yi. Su-ta-la-ta-sê. 
Na-mô hê-kê-li-tô. Yi-mâng-a-li-yê. Pô-lô-kê-tê. 
Sêt-pô-la-linh-tô-pô. Na-mô na-la-kin-tin. 
Xi-li ma-ha can-tô-sa-mê. Sat-tô-a-tha. Tô-su-pâng.
A-sê-yin. Sat-tô sat-tô. Na-mô pô-sat-tô. Na-mô pô-kya. 
Mô-fa-thưa-tua. Tan-chi-tha. Ôm. A-lua-lu-yi.
Lô-ka-tê. Ka-la-tê. Yi-hê-lê. Ma-ha pu-thi-sat-tô. 
Sa-pố sa-pố. Mô-la mô-la. Mô-xi mô-xi. Yi-tô-yin. 
Ki-lu ki-lu kê-mân. Tu-lu tu-lu. 
Fa-sa-ya-tê. Ma-ha fa-sa-ya-tê. Tô-lô tô-lô. Ti-li-ni. 
Sê-pô-la-ya. Chưa-la-gia-la. Ma-ma. Fa-mô-la.
Pô-ti-yi. Yi-hê-yi-hê. Sê-li-sê-na. A-lô-san-pô la-sưa-li.
Fa-sa-fa-san. Pô-lô-sê-ha. 
Hu-lu-hu-lu mô-la. Hu-lu-hu-lu xi-li. 
Sa-la-sa-la. Xi-li-xi-li. Su-lu-su-lu. 
Pô-thê-yê. Pô-thê-yê. Pu-thô-yê. Pu-thô-yê. 
Mi-ti-li-yê. Na-la-kin-tin. Piên-li piên-ni-la. Pô-yê-mô-na.
Sa-pô-hơ. Si-thô-yê. Sô-ha. Ma-ha si-thô-yê. Sô-ha. 
Si-thô-yi-yi. Sư-pan-la-yê. Sô-ha. 
Na-la-kin-chư. Sô-ha. Mô-la-na-la. Sô-ha. 
Xi-la-châng. A-mu-chê-yê. Sô-ha. 
Sa-pô mô-hơ. A-xi-thô-yê. Sô-ha.
Chưa-chi-la. A-xi-thô-yê. Sô-ha.
Pô-thô-mô-chế xi-tô-yê. Sô-ha. 
Na-la-kin-chi. An-kya-la-yê. Sô-ha. 
Mô-pô-li-sâng kya-la-yê. Sô-ha. 
Na-mô hưa-la ta-na-tô-la-yê-yê. Na-mô a-li-yê. 
Pô-lô-gê-tê. Kê-pân-la-yê. Sô-ha. 
Ôm. Xi-ten-tu man-tô-lô ka-thô-yê. Sô-ha. 

20. Kết thủ ấn Liên Hoa Đồng Tử, quán tưởng tam quang gia trì:

(1) Trên mặt biển lớn, trời trong vạn dặm không mây, một vầng mặt trăng từ dưới biển nhô lên không trung, ở chính giữa vầng mặt trăng có một chủng tự Hum (tiếng Phạn) màu trắng phóng ra ánh sáng trắng.

(2) Chữ Hum ở giữa vầng mặt trăng xoay tròn hóa thành Căn bản Truyền thừa Thượng sư, ngồi ngay ngắn trên đài hoa sen trắng, nét mặt khẽ cười, pháp tướng trang nghiêm.

(3) Thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một đường ánh sáng trắng, chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả và thiên tâm của Liên Hoa XX (người mất). Từ họng của Thượng sư phóng ra một đường ánh sáng đỏ, chiếu thẳng đến họng của hành giả và họng của Liên Hoa XX. Từ tâm luân của Thượng sư phóng ra một đường ánh sáng xanh lam, chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả và tâm luân của Liên Hoa XX. Ba đường ánh sáng trắng, đỏ, lam đi vào thân tâm của hành giả và Liên Hoa XX, thỉnh cầu Căn bản Thượng sư gia trì cho thân, khẩu, ý của Liên Hoa XX thanh tịnh. 

21. Niệm tâm chú Liên Hoa Đồng Tử:

Ôm a hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lián-shâng sit-đi hùm. (Chú dài)
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (Chú ngắn)

22. Nhập Tam ma địa

23. Trì thêm tâm chú của tám đại Bổn tôn:

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)

24. Niệm Phật

Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (x3)

25. Tổng hồi hướng

Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Nguyện đem công đức trì chú niệm Phật hồi hướng cho người mất XXX, thỉnh cầu Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật và Phật Bồ Tát chiếu ánh sáng Phật đến người mất XXX, tiêu trừ nghiệp chướng, sớm vãng sinh tịnh thổ.


### 3. Tiễn bài vị - Hồi hướng trước ban thờ vãng sinh


Niệm tụng thánh hiệu Nam mô A Di Đà Phật nhiều lần.

Nam mô Thanh Lương Địa Bồ Tát Ma Ha Tát. (x3)
Nam mô Bát Nhã hội thượng Phật Bồ Tát. (x3)

**Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh:** (x1)

Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.
Xá Lợi Tử, sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng hành thức diệc phục như thị.
Xá Lợi Tử, thị chư pháp không tướng, bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm.
Thị cố không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức. Vô nhãn nhĩ tỵ thiệt thân ý, vô sắc thanh hương vị xúc pháp, vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới.
Vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận. Vô khổ, tập, diệt, đạo. Vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố.
Bồ Đề Tát Đỏa y Bát nhã Ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết bàn.
Tam thế chư Phật, y Bát nhã Ba la mật đa cố, đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.	
Cố tri Bát nhã Ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư.
Cố thuyết Bát nhã Ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết:
Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.

**Chú vãng sinh:** (x7)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na
Chê-tô ka-ni sô-ha.

**Biến thực chân ngôn:** (x3)
Na-mô sa-mô ta-tha-yê-tô. Mô-lu-chư-ti. Ôm. San-pa-la san-pa-la hùm.

**Cam lộ thủy chân ngôn: **(x3)
Na-mô su-lu pa-ya. Ta-tha-ka-ta-ya. Ta-chư-thua. Ôm su-lu su-lu. Pô-lua su-lu. Pô-lua su-lu. Sô-ha. 

**Phổ cúng dường chân ngôn:** (x3) 
Ôm yê-yê-nang. San-pô-fu. Fa-rư-lua. Hùm.

**Di Đà tán:**

Liên trì hải hội. 
Di Đà Như Lai, Quan Âm Thế Chí tọa liên đài. 
Tiếp dẫn lên đài vàng. Lời thề lớn rộng mở. 
Nguyện cầu khắp chúng sinh xa lìa bụi trần. 

**Hồi hướng kệ:**

Nguyện sinh về Tây phương tịnh thổ
Chín phẩm hoa sen làm cha mẹ
Hoa nở thấy Phật ngộ vô sinh
Bất Thoái Bồ Tát làm bạn lữ. 

**Bài kệ hồi hướng chung:**

Công đức tụng kinh 

Tụng kinh công đức thù thắng hạnh
Phúc lành vô biên nguyện hồi hướng
Hết thảy chúng sinh đang chìm đắm
Mau về cõi Phật ánh quang minh.
Mười phương ba đời tất cả Phật
Tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát. 
Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật.

27. Niệm Bách tự minh chú (x3)

Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây.

28. Quán tưởng đại lễ bái:

Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)
Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn liên hoa (hoa sen)
Ba: bái Hộ pháp Kim cang - kết thủ ấn chày kim cang
Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng

29. Niệm chú viên mãn
Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Nghi thức kết thúc. Cát tường viên mãn. Công đức vô lượng. 

༄༅༎ཨོཾ་མ་ཎི་པད་མེ་ཧཱུྃ༎

---
# File: nghi-quy-tu-tap/nhan-vuong-ho-the-ho-quoc-quan.md
# Title: Nhân Vương hộ thế hộ quốc quán
---

## Nhân Vương hộ thế hộ quốc quán


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp! Pháp này Liên Sinh Hoạt Phật chưa phổ truyền.


### Nghi quỹ


Tu trì pháp này có thể bảo hộ sự an ninh của thế giới, có thể bảo hộ sự an ninh của nhân dân trong một nước, đây là đại pháp số một của nhập thế, vốn là một trong các đại pháp được giữ bí mật của Liên Sinh Hoạt Phật. (Pháp giản lược từng viết trong cuốn sách “Mật tông Yết ma pháp”.)

Trình tự của nghi quỹ tu trì như sau:

1. Nhập đàn, niệm chú thanh tịnh.

1. Niệm chú triệu thỉnh.

1. Chân Phật đại lễ bái pháp.

1. Kết ấn cúng dường, dâng cúng dường. 

1. Niệm chú Tứ quy y: “Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê.”

1. Mặc bia giáp hộ thân.

1. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (3 biến)

1. Quán Phật minh, vỗ tay đánh thức.

1. Tay kết ấn Nhân Vương hộ quốc, thế ấn như sau: 
Tay phải ngón cái đè ngón trỏ và ngón út, giống như tạo thành vòng tròn, giơ thẳng ngón giữa và ngón áp út. 
Tay trái ngón cái đè lên ngón trỏ và ngón út, giống như tạo thành vòng tròn, giơ thẳng ngón giữa và ngón áp út. 
Hai tay tựa vào nhau, ngón giữa và ngón áp út chạm vào nhau, như vậy là thành ấn. (đặt trước ngực)

1. Quán tưởng.

Quán tưởng thứ nhất: toàn bộ trái đất hiện lên màu vàng kim. Nếu muốn cứu nước, có thể quán tưởng bản đồ của một đất nước, hiện lên một vùng màu vàng kim. 

Niệm chân ngôn: “Ôm. Ben-za la-pa u-mi-a. Hùm.” (Chú củng cố đại quyền kim địa.)

Quán tưởng thứ hai: đại quyền kim địa này có núi Thiết Vi bao vây xung quanh. 

Niệm chân ngôn: “Ôm. Ben-za la-la-hưa. Ka-hưa-a. Hùm.”

Quán tưởng thứ ba: theo thứ tự quán tưởng là, ngọn núi vua ở trung ương là núi Tu Di, Đông Thắng Thần Châu, Nam Chiêm Bộ Châu, Tây Ngưu Hạ Châu, Bắc Câu Lư Châu. Thân Châu. Thắng Thân Châu. Phật Châu. Tha Phật Châu. Động Đãng Châu. Thượng Hành Châu. Lại Thanh Châu. Lữ Liệt Thanh Châu. Bảo Sơn. Gia Ý Đậu Thụ. Ca Mục Đạt Lý Ngưu. Tự Sinh Miêu. Thâu Bảo Như Ý Bảo. Nữ Bảo. Nam Bảo. Tượng Bảo. Mã Bảo. Tướng Quân Bảo. Bảo Tạng Bình. Hy Thiên Nữ. Mạn Thiên Nữ. Ca Thiên Nữ. Vũ Thiên Nữ. Hương Thiên Nữ. Hoa Thiên Nữ. Đăng Thiên Nữ. Đồ Thiên Nữ. Nhật Cung. Nguyệt Cung. Bảo Cái. Phương Thắng Tràng. Trong đó đầy kín thiên nhân, ví dụ như Tứ Đại Thiên Vương và chúng thần Phạm Thiên, tất cả cảnh tượng đức hạnh và phú quý đều viên mãn không thiếu. 

(Theo cách quán tưởng thế giới này, đây vốn là quán địa lý của Ấn Độ và Tây Tạng cổ đại. Trâu, thực vật, voi, ngựa đều tượng trưng cho báu vật đầy đủ sung túc. Hành giả Mật tông hiện đại tu trì pháp Hộ thế hộ quốc quán, có thể lấy ngọn núi vua ở trung ương là núi Himalaya, sau đó quán tưởng châu Á, châu Mỹ, châu Âu, châu Phi, châu Úc… Hoặc nếu đặc biệt hộ trì một đất nước nào đó thì có thể quán tưởng những hiện tượng giàu có phồn vinh và an bình, hoặc là hình thành nên đất nước màu vàng kim. Tứ Đại Thiên Vương giáng xuống, lọng quý phóng quang, cờ phướn thắng lợi phóng quang.)

Quán tưởng thứ tư: Ngũ Phương Bồ Tát giáng lâm, Ngũ Bồ Tát biến hóa thành mây ngũ sắc, che chở cho quốc thổ, phía đông là mây màu lam, phía tây là mây màu đỏ, phía bắc là mây màu lục, trung ương là mây màu trắng, phía nam là mây màu vàng. Năm đám mây cát tường này bảo vệ bên trên thế giới và lãnh thổ của một quốc gia.

1. Niệm chú:

“Na-mô la-ta-na-ta la-yê-yê. Na-mô a-li-phây lu-chưa-na-yê. Ta-tha-niê-tô-yê a-la-hưa-ti. San-meo-san mây-tô-yê. Na-mô a-li-yê. San-man-tô pa-na-la-yê. Mu-ti-sa ta-pô-yê. Ma-hưa-lan hăng-pô-yê. Ma-hưa-ka-lu-ni-ka-yê. Ta-ni-yê-tha. Chư-rang-na-pô-la-ni-pi. Ưa-cha-yê-câu-sư. Pô-la-ti pô-na-pô-ti. Sa-pô-mây thua-lu-chi-tha. Yu-wo-pa-li ni-sư-pa-ninh. Yen-pi-la-nu la-pô-ưa-xi. Ti-li-yê-thưa-pô. Pa-li-ni-sư-pa-ninh. Mu-ti-chư-tô san-rưa-na-ni. Sa-pô-pi-sai ka-pi-sưa-chi-ti. Ta-mô-pô-ưa la-san-pu-ti. A-mu-ka-sư la-pô-ninh. Ma-hưa san-man-tô pa-na-la-pu-mi. Niê-li-yê-ti. Wây-yê-chia-la-nu. Pa-li-pô-la-pô-ni. Sa-pô-xi-thua. Na-mô sai-chi-li-ti. Sa-pô-mu-ti-sa-ta-pô. San-rưa-na-ni. Pô-ưa-pô-ti. Mây-thua-mơ-ti. A-la-mi-ka-la-mi. A-la-nu-ka-la-mi. Ma-hưa-pô-la. Chi-rang. Pô-la-mi-ti pô-pô-hưa.”

1. Cửu tiết Phật phong. Nhập Tam ma địa.

Tam ma địa này tức là quốc thổ sẽ thanh tịnh, biến hóa thành chúng hội Phật quốc của các Thượng sư, Phật Thích Ca Mâu Ni và quyến thuộc có phúc đức. 

Tam ma địa này là đại hải hội tam thời tam hội của thân khẩu ý thanh tịnh, là mandala của Phật quốc thượng thắng, tương đương với sự rộng lớn và đầy ắp của Phổ Hiền Hương Vân. 

Tam ma địa này là quốc thổ mà Tứ Đại Thiên Vương, Ngũ Đại Bồ Tát ban ơn phóng quang bao bọc che chở.

1. Xuất định, tụng tán:

Mặt đất thơm hương cỏ hoa trang nghiêm vi diệu.
Tu Di tứ châu nhật nguyệt tô điểm trang nghiêm.
Bồ Tát Thiên Vương phóng quang ban gia hộ.
Chỉ mong hữu tình đều đi trong cõi thanh tịnh.

1. Hồi hướng.

1. Đại lễ bái. Rời khỏi đàn thành.

Cát tường viên mãn.

---
# File: nghi-quy-tu-tap/nhat-ke-phat-mau-niem-tung-phap.md
# Title: Nhất Kế Phật Mẫu niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_639d1b31e45d0203cbbddb316c862995.jpg)



## Nhất Kế Phật Mẫu niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp! 


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Thỉnh cầu Căn bản Truyền thừa gia trì. Tay kết thủ ấn Căn bản Thượng sư, quán tưởng Căn bản Thượng sư phóng ba ánh sáng trắng, đỏ, lam chiếu đến hành giả, gia trì hành giả tu pháp viên mãn. Niệm chú Căn bản Thượng sư 7 lần. Niệm văn cầu thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật gia trì 1 lần.

- Quán tứ vô lượng tâm.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô chủ tôn tu pháp Nhất Kế Phật Mẫu. ̣(x3)
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa.


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không.

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn.

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tát cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường:

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Mặc giáp hộ thân


Kết thủ ấn chắp tay kim cang, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cang thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Phụng thỉnh bát đại Bồ Tát
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Kim Cang Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Diệu Cát Tường Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.

Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ thất Phật. Vị lai hiền kiếp thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Niệm danh hiệu Phật sáu phương
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyệt Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Hết thảy chúng sinh trung ương, chư vị trong Phật giới, trú ngụ trên mặt đất, cho đến tại không trung, thương lo cho tất cả chúng sinh. Ai cũng an ổn tốt lành. Ngày đêm tu trì. Tâm thường cầu tụng kinh này. Diệt được khổ sinh tử. Tiêu trừ hết độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Tụng bản kinh không ngừng. Thất Phật Thế Tôn. Liền nói chú sau:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-lô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-ki-a-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha” (7 lần)

Mười phương Quan Thế Âm. Hết thảy chư Bồ Tát.
Đã thề cứu chúng sinh. Xướng danh tất giải thoát.

Nếu gặp người trí tuệ. Ân cần mà giảng nói.
Lại có đủ nhân duyên. Đọc tụng không ngơi nghỉ.
Tụng kinh tròn nghìn biến. Niệm niệm tâm không dừng.
Gặp lửa cháy chẳng sao. Việc đao binh cũng thoát.
Nóng giận thành vui vẻ. Chết rồi hóa sống vui.
Đừng nghĩ rằng không đúng. Chư Phật chẳng nói chơi.
Cao Vương Quan Thế Âm. Cứu được hết khổ nạn.
Lúc khó khăn nguy cấp. Người chết còn thành sống.
Chư Phật chẳng nói đùa. Vì vậy nên đảnh lễ.
Niệm tụng trọn nghìn lần. Tội nặng đều tiêu diệt.
Người có phúc tín tâm. Hãy chuyên tâm đọc tụng.

Nguyện mang công đức này. Gửi tới hết chúng sinh.
Tụng tròn một nghìn biến. Tội nặng đều tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (Hết)!

**Niệm thêm chú Vãng sinh:** (7 biến)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha.


### Phần 8: Quán tưởng tam quang bao trùm



![image](/img/img_639d1b31e45d0203cbbddb316c862995.jpg)


**Kết ấn: Nhất Kế Phật Mẫu**

Tay phải nắm lại, giơ thẳng ngón trỏ.

**Quán tưởng:**

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Quán tưởng trong hư không có Bản Sơ Phật - A Đạt Nhĩ Mã Phật. Trong tâm của A Đạt Nhĩ Mã Phật có chủng tử chữ “Rang” màu đỏ, phóng ra ánh sáng đỏ.

(2) Quán tưởng chữ “Rang” ở quay tròn hóa thành Nhất Kế Phật Mẫu. Hình tượng của Nhất Kế Phật Mẫu là một đầu, một búi tóc, một mắt, một răng, một vú. Con mắt độc nhất của ngài ở chính giữa trán, chiếc răng độc nhất chĩa mũi nhọn xuống dưới giống như chày phổ ba, vú độc nhất ở chính giữa ngực, tóc buộc túm trên đỉnh đầu, tóc chĩa mũi nhọn lên trời. Phật Mẫu thân màu xanh đen, tay phải cầm gậy xác chết, tay trái cầm tim của ma quỷ và sói mẹ.

(3) Quán tưởng thiên tâm của Nhất Kế Phật Mẫu phóng ra ánh sáng trắng chiếu đến thiên tâm của mình, họng ngài phóng ra ánh sáng đỏ chiếu đến họng mình, tâm luân ngài phóng ra ánh sáng màu lam chiếu đến tâm luân mình. Ba ánh sáng trắng, đỏ, lam hòa nhập vào thân tâm mình.


### Phần 9: Trì tâm chú Bổn tôn Nhất Kế Phật Mẫu


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Nhất Kế Phật Mẫu đến trước mặt mình.

**Chú ngữ:**

Ôm i-chi rang yang khang hùm. (108 biến)


### Phần 10: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Rang), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Bổn tôn Nhất Kế Phật Mẫu, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 11: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định.


### Phần 12: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-tê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 13: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 14: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 15: Hồi hướng


Mong con định huệ chóng viên minh.
Con mắt thứ ba mong sớm đắc.
Trang nghiêm Bổn tôn đại tịnh thổ.
Nguyện cùng chúng sinh thành Phật đạo.

Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. xin đem công đức này hồi hướng. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!*

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 17: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


### Công đức tu pháp Nhất Kế Phật Mẫu


Nhất Kế Phật Mẫu là hóa thân của A Đạt Nhĩ Mã Phật - Phổ Hiền Vương Như Lai (Bản Sơ Phật). Hình tượng của ngài tương đối đặc biệt, một búi tóc, một con mắt, một chiếc răng, một bầu vú, tay phải của ngài cầm gậy xác chết, tức là cầm thi thể của một con người làm thành gậy pháp, tay trái cầm một quả tim, chúng ta gọi là tim ma, hoặc tim sói.

Một búi tóc đại diện cho Bản Sơ Phật tối vô thượng đỉnh.
Một con mắt đại diện cho một trí huệ - trí huệ viên mãn.
Một trí huệ đại diện cho trí huệ vô sinh.
Một chiếc răng đại diện cho sự thanh tịnh hoàn toàn, bởi vì một chiếc răng của ngài sẽ nhai nát tất cả những thứ bất hảo như tham, sân, si, nghi, mạn.
Một bầu vú đại diện cho bốn loại sự nghiệp tức - tăng - hoài - tru, ban phúc gia trì chúng sinh không phân biệt, đối xử bình đẳng.

Nhất Kế Phật Mẫu, Kurukulle Phật Mẫu, Rahula là ba vị Hộ pháp đặc biệt của Hồng giáo (Nyingma). 
Điều đặc biệt là Nhất Kế Phật Mẫu cũng là Bổn tôn của Liễu Minh Hòa Thượng.

Nhất Kế Phật Mẫu là vị Phật Mẫu rất vĩ đại, bản thân ngài chính là hóa thân của A Đạt Nhĩ Mã Phật, cũng chính là hóa thân của Bản Sơ Phật, vì thế ngài là vị Phật Mẫu lớn nhất. Ngoài ra còn có hai vị cũng rất lớn, một là Bát Nhã Phật  Mẫu, hai là Phật Nhãn Phật Mẫu. Nhưng Nhất Kế Phật Mẫu vẫn là Phật Mẫu lớn nhất.


### Liên Sinh Hoạt Phật khai thị tâm yếu khẩu quyết


Chủng tử tự của Nhất Kế Phật Mẫu là chữ “Rang”, chữ “Rang” có ý nghĩ là lửa, chú ngữ của ngài là “Ôm a-sung-ma hùm pây” [Om asongma hum pei]. Chú ngữ này là trực tiếp xưng tên của Nhất Kế Phật Mẫu. “Asongma” có nghĩa là Nhất Kế, còn “hum pei” thì thuộc về hàng phục, “Om” tức là vũ trụ. Ngoài ra còn có một câu chú nữa là: “Ôm i-chi rang yang khang hùm” [Om yiji ram yam kham hum].

Khi tu pháp này, chỉ cần quán tưởng trong tâm luân của A Đạt Nhĩ Mã Phật có chữ “Rang”, từ trong chữ “Rang” chuyển hóa thành Nhất Kế Phật Mẫu, sự chuyển hóa như thế này cũng là tam đoạn pháp sinh. Nhất Kế Phật Mẫu đặc biệt khác biệt, chính là từ A Đạt Nhĩ Mã Phật chuyển hóa ra là được.

Chú ngữ của Nhất Kế Phật Mẫu là “Ôm a-sung-ma hùm pây”. Niệm tên của ngài, trì chú của ngài, tu pháp hàng phục của ngài, về bên trong có thể hàng phục tham sân si nghi mạn của chính mình, và tất cả chướng ngại, tập khí bất hảo đều được tiêu trừ sạch sẽ. Về bên ngoài, hễ ma đến trước mặt ngài thì sẽ biến thành rất nhỏ. Chiếc răng của ngài có hình tam giác, sẽ đặt ma trên cái đầu nhọn của hình tam giác đó, “rắc” một cái, ma sẽ như con kiến bị nhai nát, cho nên có thể hàng ma. 

Vị này chủ yếu là hàng phục. Có thể quán tưởng đặt nghiệp chướng hoặc kẻ địch của bạn ở bên dưới góc nhọn của chiếc răng hình tam giác của Nhất Kế Phật Mẫu, “rắc” một cái, thế là tan biến hết, bốc hơi khỏi nhân gian. Nhưng pháp này không thể tu bừa bãi đâu. Nếu nói về con người thì không được tu, còn đối với nghiệp chướng tham sân si nghi mạn, những thói quen xấu và tất cả nghiệp chướng, thì cần đặt ở dưới chiếc răng hình tam giác, hàng phục chính mình, “rắc” một cái, “trả lại sự thanh tịnh cho ta”, đây cũng là pháp sám hối.

“Trả lại sự thanh tịnh cho ta”, một ngọn đèn có thể xua tan bóng tối nghìn năm, chính là phúc báo lớn nhất.
“Trả lại sự thanh tịnh cho ta”, một trí huệ có thể diệt ngu muội vạn năm, chính là trí huệ lớn nhất.
“Trả lại sự thanh tịnh cho ta” chính là tiêu tai lớn nhất.
“Trả lại sự thanh tịnh cho ta” chính là kính ái lớn nhất.
“Trả lại sự thanh tịnh cho ta” chính là hàng phục lớn nhất.

Chỉ cần bạn hàng phục được tất cả nghiệp chướng của mình, trả lại cho bạn sự thanh tịnh của mình, đương nhiên, phúc phần của bạn sẽ gia tăng, trí huệ của bạn cũng gia tăng, tất cả mọi thứ của bạn đều thanh tịnh viên mãn, chính là kính ái. Tất cả thanh tịnh rồi, kẻ thù cũng sẽ rút lui. 

Nhất Kế Phật Mẫu chính là trí huệ của Như Lai, là trí huệ đại viên mãn. Trí huệ đại viên mãn chỉ có một. Chữ “nhất” đại diện cho “vô sinh”. Thủ ấn của ngài là giơ một ngón tay lên, cái này đại diện cho Nhất Kế Phật Mẫu, cũng chính là một, còn chúng sinh là hai, bởi vì chúng sinh còn có phân biệt, có thiện có ác, tất cả mọi thứ đều có hai bên. Giống như thái cực vậy, một bên là trắng một bên là đen, chính là hai bên như vậy. Đến Nhất Kế Phật Mẫu thì chỉ còn lại một, không có hai. Vì thế Nhất Kế Phật Mẫu là trí huệ mẫu tối cao.

Lư Sư Tôn nói, sức mạnh công đức của pháp Nhất Kế Phật Mẫu chủ yếu là hàng phục, và công đức hàng phục rất lớn, chỉ cần “trả lại sự thanh tịnh cho ta” thì đã chính là phúc báo lớn nhất rồi. “Trả lại sự thanh tịnh cho ta” chính là tiêu tai lớn nhất, kính ái lớn nhất và hàng phục lớn nhất. Chỉ cần bạn hàng phục được mọi chướng ngại của bản thân, trả lại sự thanh tịnh cho mình thì phúc phần, trí huệ sẽ gia tăng. Bởi vì tất cả mọi thứ của bạn đều thanh tịnh viên mãn thì cũng chính là kính ái. Tất cả thanh tịnh rồi thì kẻ thù của bạn cũng sẽ rút lui, nếu bạn tu chính là pháp hàng phục thì bất kì ma nào cũng sẽ rút lui.

Trong khai thị của Liên Sinh Pháp Vương ngày xưa từng ca ngợi: “Nhất Kế Phật Mẫu chính là trí huệ của Như Lai, là trí huệ đại viên mãn. Bản thân ngài chính là hóa thân của Bản Sơ Phật - A Đạt Nhĩ Mã Phật, vì thế, ngài là Phật Mẫu lớn nhất.” Trí huệ đại viên mãn chỉ có một, chữ “nhất” đại diện cho “vô sinh”, chỉ cần vẫn còn một chút “có” thì không phải là đại viên mãn.

Nhất Kế Phật Mẫu là vị Hộ pháp số một của phải Nyingma. Pháp tướng của ngài đặc thù, có một búi tóc, một mắt, một răng, một vú. Ý nghĩa của chúng như sau:  

Một búi tóc đại diện cho A Đạt Nhĩ Mã Phật.
Một con mắt đại diện cho một trí huệ, viên mãn toàn bộ trí huệ của Ngũ Phật, chỉ còn lại một trí huệ, đó là trí huệ đại viên mãn. 
Một chiếc răng tức là dùng một chiếc răng của ngài để tiêu trừ tất cả ngũ độc tham sân si nghi mạn và tất cả nghiệp chướng không tốt.
Một bầu vú đại diện cho việc nuôi dưỡng chúng sinh, bốn loại sự nghiệp tức - tăng - hoài - tru đều có hết, toàn bộ đều đầy ắp, cũng tức là sự nghiệp độ chúng sinh đều ở bên trong bầu vú, tất cả chúng sinh đều có thể ăn no nê.

Pháp Vương chỉ ra rằng, khi tu trì pháp niệm tụng của Bổn tôn, không nhất định đều phải làm quán tưởng biến hóa tam đoạn pháp sinh, bởi vì nếu Bổn tôn mà ta tu trì đặc biệt sinh ra từ một Bổn tôn khác, ví dụ như Nhất Kế Phật Mẫu, thì có thể trực tiếp quán tưởng trong tâm của A Đạt Nhĩ Mã Phật có chủng tử chữ “Rang”, chữ “Rang” chuyển hóa thành Nhất Kế Phật Mẫu.

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---
# File: nghi-quy-tu-tap/phap-bay-ngay-thanh-phat.md
# Title: Pháp Bảy ngày thành Phật
---

![image](/img/img_12892042c9284c16a38ea02a3794568b.jpg)



## Pháp Bảy ngày thành Phật


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Chủng tự và quán tưởng


Chủng tử tự: chữ Ah và chữ Hum

Quán tưởng:

Quán chủng tử tự của tất cả chư Phật chính là quán chữ Ah. Lúc sắp lâm chung thì cần quán tưởng mặt trăng, trong mặt trăng có một chữ Ah, như thế là xong.

Chủng tử tự này đại diện cho Phật. Quán chữ Ah, chữ Ah quán thế nào? Ở bên này chẳng phải có một cái nét giống số 5 sao? Chẳng phải có một cái móc sao? Lúc lâm chung, nghĩ đến chữ Ah xuất hiện, còn quán tưởng chính bạn thành cái gì? Nghĩ một chữ Hum xuất hiện, chính là hai chữ Ah và Hum mà thôi.

Bạn quán tưởng thân thể mình biến thành chữ Hum, ở trên đầu bạn quán tưởng thành nhật luân, cái gì là nhật luân? Chính là phần đầu của chữ Hum này, chữ Hum chẳng phải là có một cái vòng tròn sao? Ở bên trên vòng tròn chẳng phải là có một cái chấm sao? Đúng không? Có một vòng tròn, một cái móc, bạn phải quán tưởng đầu mình thành cái móc tròn tròn, thân thể bạn thì biến thành chữ Hum. Trong hư không, trong nguyệt luân có một chữ Ah, cái móc của chữ Ah sẽ chìa ra, móc lấy cái vòng tròn của chữ Hum trên đầu bạn.


### Liên Sinh Hoạt Phật khai thị về pháp Bảy ngày thành Phật


Trong kinh A Di Đà có nhắc đến bảy ngày niệm Phật, nhất tâm bất loạn thì có thể vãng sinh Tây phương Cực Lạc thế giới. 

(Chú thích: đoạn trích này là “Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân, nghe nói đến A Di Đà Phật mà trì danh hiệu của ngài, hoặc một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu ngày, hoặc bảy ngày, nhất tâm bất loạn, người này lúc lâm chung, A Di Đà Phật và các Thánh chúng sẽ hiện lên trước người ấy. Người này khi chết tâm không điên đảo, lập tức được vãng sinh A Di Đà Phật Cực Lạc quốc thổ.”)

Đây là pháp Bảy ngày thành Phật của Hiển giáo, cũng chính là vào mấy ngày trước lúc lâm chung, bạn một lòng niệm Phật không tán loạn, cảm ứng được Tây phương Tam Thánh, Tây phương Tam Thánh sẽ hiện lên để tiếp dẫn bạn, bạn sẽ vãng sinh về Tây phương. 

Trong Mật giáo cũng có pháp Bảy ngày thành Phật rất bí mật, pháp này rất đặc biệt. Ai đã từng học rồi nói thử xem? Trong Mật giáo cũng có pháp Bảy ngày thành Phật, có ai từng học chưa? Giả sử nếu có người từng học rồi thì tôi không cần phải nói nữa. Không có ai từng học thì mới nói. Đã học chưa? Đều chưa ai từng học. Hôm nay tôi để cho mọi người giành được lợi thế, bảy ngày là các bạn có thể thành Phật, lần này đi nghe giảng một chuyến rất có giá trị, đáng tiền vé máy bay khứ hồi.

Thật ra, pháp Bảy ngày thành Phật của Mật giáo vô cùng đơn giản, đơn giản giống như pháp Bảy ngày thành Phật của Hiển giáo. Bạn nghĩ mà xem, Hiển giáo niệm Phật, một đến bảy ngày, nhất tâm bất loạn là có thể thành Phật.

Bảy ngày thành Phật của Mật giáo là thế nào? Chỉ là dùng quán tưởng thôi, quán cái gì? Quán chủng tử tự của tất cả chư Phật - chính là chữ Ah. Quán chữ Ah này. Lúc sắp lâm chung, cần quán tưởng mặt trăng, trong mặt trăng có một chữ Ah, như thế là xong.

Chủng tử tự này đại diện cho Phật. Quán chữ Ah, chữ Ah quán thế nào? Ở bên này chẳng phải có một cái nét giống số 5 sao? Chẳng phải có một cái móc sao? Lúc lâm chung, nghĩ đến chữ Ah xuất hiện, còn quán tưởng chính bạn thành cái gì? Nghĩ một chữ Hum xuất hiện, chính là hai chữ Ah và Hum mà thôi.

Bạn quán tưởng thân thể mình biến thành chữ Hum, ở trên đầu bạn quán tưởng thành nhật luân, cái gì là nhật luân? Chính là phần đầu của chữ Hum này, chữ Hum chẳng phải là có một cái vòng tròn sao? Ở bên trên vòng tròn chẳng phải là có một cái chấm sao? Đúng không? Có một vòng tròn, một cái móc, bạn phải quán tưởng đầu mình thành cái móc tròn tròn, thân thể bạn thì biến thành chữ Hum. Trong hư không, trong nguyệt luân có một chữ Ah, cái móc của chữ Ah sẽ chìa ra, móc lấy cái vòng tròn của chữ Hum trên đầu bạn. Như vậy có làm được không? Rất dễ quán tưởng đúng không?

Chính là chữ Ah trong hư không buông cái móc giống hình số 5 xuống, xuyên qua nguyệt luân của chữ Hum trên thân thể bạn. Bạn phải nghĩ đến hai chữ, nằm xuống và nghĩ đến hai chữ Ah và Hum này, niệm hai chú tự này.

Chữ Ah thì rất dễ niệm. Bởi vì chúng ta khi ra đời, chữ khác thì không biết nói, tất cả đều kêu lên “a”. Vừa sinh ra là đã kêu “a” rồi. Hễ bị đánh là kêu “a”! Đánh bạn một cái, bạn liền kêu “A, đau quá!”. Khi chết, bạn thấy đau một chút, thế là cũng kêu “A, chịu không nổi rồi!”, không chịu nổi, muốn chết luôn, cũng kêu lên “a”. Bạn xem, lũ quạ ở Seattle ngày nào cũng đều kêu “a”, quạ ở Seattle, buổi sáng kêu “a” cũng là chữ Ah này đó. Đây là chữ nguyên thủy, tất cả chủng tử tự đều tư chữ Ah sinh ra. Con người chúng ta vừa sinh ra đã kêu “a” rồi, khi chết cũng là “a”. 

Cho nên, bạn hãy ghi nhớ chữ Ah này móc vào chữ Hum của bạn, vậy thì sẽ không đọa lạc nữa, vì chữ Ah đã móc chặt bạn rồi mà. Bạn vừa chết, vừa ngừng thở, móc chặt lại, kéo lên trên, thế là thành Phật! Đây chính là pháp Bảy ngày thành Phật của Mật giáo.

Bạn chỉ cần quán tưởng thành thục, Ah, Hum, Ah… Bạn bị chữ Ah - chính là chủng tử tự của Phật, chủng tử tự chung của tất cả Phật Bồ Tát, móc chặt lấy bạn, bạn sẽ không đọa lạc nữa, sẽ vãng sinh Tây phương.

Người già, cả đời không học Phật, bạn dạy họ một chữ Ah này, họ sẽ nghĩ, nghĩ chữ đó ra, bạn lại dạy họ một chữ Hum này, nghĩ chữ đó ra, dạy họ về cái móc của chữ Ah này đi móc vào cái vòng tròn của chữ Hum. Sau đó niệm Ah Hum Ah Hum… hai chữ này là được, thì sẽ không đọa lạc nữa, nhất định sinh về Tây phương.

Bởi vì một khi bạn đã chết, khi ngừng thở, bạn quán chữ Ah thành thục rồi, chữ Hum thành thục rồi, móc vào một cái là sinh về Tây phương. Bởi vì chữ Ah chính là Phật, Phật đã móc lấy bạn rồi, làm sao bạn có thể rơi vào trong địa ngục được chứ? Lục đạo bàng sinh bạn đều sẽ không đi tới đó. Đây chính là pháp Bảy ngày thành Phật của Mật giáo.

Hiển giáo thì phải nhất tâm bất loạn niệm Phật, niệm đến khi Tây phương Tam Thánh đến, tiếp dẫn bạn đi thành Phật, các vị không đến thì bạn có thể xuống địa ngục đó, đúng không?

Mật giáo thì khác. Chữ Ah chính là Phật rồi, ngài nhất định sẽ xuất hiện, bởi vì đây là bạn quán tưởng ra. Chữ Ah nhất định sẽ xuất hiện, bởi thân thể bạn đã biến thành chữ Hum rồi, một ngày từ sáng tới tối bạn đều niệm Ah Hum Ah Hum… Nghĩ chính mình biến thành chữ Hum, chữ Ah móc lấy bạn, móc lấy thần thức của bạn, thì chắc chắn sẽ sinh về Tây phương.

Đây là một bí quyết, rất ít người biết được. Chính là cái móc của chữ Ah móc vào nhật luân của chữ Hum rồi treo bạn lên, sinh về Tây phương.

Nhất tâm bất loạn thì chắc chắn thành Phật. Bạn quán tưởng thành thục thì nhất định thành Phật. Rất đơn giản! Một ngày là bạn có thể thành tựu, là có thể thành Phật rồi, không cần bảy ngày. Khi không kịp, trong sát-na, bạn liền có thể thành Phật, bởi vì móc chắc rồi mà! Chủng tử tự của Phật đã móc chặt lấy bạn rồi.

Công đức này rất lớn đó! Bình thường, các Hoạt Phật và Lama Tây Tạng chỉ dạy bạn một phương pháp lúc lâm chung, còn những cách khác họ không nói. Hãy mau nghĩ đến chữ Ah xuất hiện, sau đó nghĩ thân thể bạn biến thành một chữ Hum, nhanh chóng móc lấy chữ Ah, móc chắc lấy chữ Hum là bạn.

Vì sao làm như vậy thì sẽ có công đức? Bởi vì chữ Phạn, chữ Tạng đều từ cõi trời đưa xuống, cũng chính là do bản thân Đại Phạm Thiên Vương xuống và truyền dạy, cũng chính là ý thức của bản thân Phật, cái này đều có công đức rất lớn. Chữ Ah thường dùng trong quán tưởng của Mật giáo, ở đây đều có công đức rất lớn.

Bình thường bạn cứ quán chữ Ah, đến lúc cần là dùng luôn, biến thân thể mình thành chữ Hum, móc vào một cái thế là thành Phật rồi.

Om mani padme hum.

Chú thích: muốn tu pháp này, chỉ cần được quán đảnh pháp Quán chữ Ah là được.

---
# File: nghi-quy-tu-tap/phap-cung-duong-khi-di-ra-ngoai.md
# Title: Pháp cúng dường khi đi ra ngoài
---

![image](/img/img_64d6d41db52f2be1583cd0ebfb49baa6.png)



# Pháp cúng dường khi đi ra ngoài


🪷 Khai thị của Sư Tôn tại Đài Loan Lôi Tạng Tự ngày 7/4/1993.


### **Pháp cúng dường bí mật**


Hôm nay vì đã đến Lôi Tạng Tự rồi nên tôi cũng muốn dạy mọi người một pháp đơn giản. Mọi người đều biết pháp cúng dường thông thường rồi, Sư Tôn đã từng dạy rồi, vậy vì sao vẫn phải dạy nữa? Pháp cúng dường này thì khác, đó là pháp cúng dường khi đi ra ngoài. Những quy tắc ở trong Mật giáo của chúng ta có rất nhiều nghi quỹ. Nói chung Hiển giáo thông thường đi ra ngoài không có pháp cúng dường gì, khi đi vắng thì Phật Bồ Tát ở trong nhà sẽ đói mấy ngày, đi vắng một tháng thì sẽ đói một tháng, chi bằng tự mình đi vào tủ lạnh mà lấy đồ ăn. 

Mật giáo thì không như vậy, trong Mật giáo có bức tượng Phật rất nhỏ, bạn cầm ngài trên tay, quán tưởng tất cả các vị ở đàn thành đều hóa thành ánh sáng, toàn bộ đều thu vào trong tim của bức tượng này, rồi cất đi, đem ngài đi theo. Khi đi đến đâu, thắp hương, chắp tay, tu pháp, làm cúng dường, cũng không khác gì bạn đang làm cúng dường ở trước tất cả các vị ở đàn thành. Khi trở về nhà thì cũng đem bức tượng Phật nhỏ đặt trở lại Mật đàn, quán tưởng trong tim ngài phóng ánh sáng xoay tròn, từ trong ánh sáng đó tuôn ra các vị, như thế là các vị lại trở về rồi. Đây là một pháp cúng dường.

Bạn chuẩn bị một bức tượng nhỏ, là Bổn tôn cũng được, bức tượng Liên Hoa Đồng Tử nhỏ cũng được, toàn bộ các vị quán tưởng đi vào trong tim bức tượng nhỏ này, bạn đi tới đâu cũng đều có thể tu pháp. Như vậy thì bạn không phải sợ các vị ở đàn thành của bạn sẽ bị đói bụng. 


### **“Ký đỉnh pháp” cúng dường**


Giả sử bản thân bạn không có bức tượng Phật nhỏ, cho rằng mang theo bức tượng nhỏ đó để trong hành lý thì không tiện, mang theo trên người cũng không tiện, vậy thì cũng có thể dùng pháp ký đỉnh [gửi tại đỉnh đầu]. Có nghĩa là hành giả ngồi yên lặng, từ tâm luân của mình phóng quang, kêu gọi các vị ở đàn thành đi vào tim bạn, toàn bộ đều giấu trong tim bạn. Như thế thì bạn cúng dường chính mình cũng như đang cúng dường các vị, như thế thì tiện lợi quá rồi! Thật ra không phải như vậy, đây là tôi nói đùa thôi! Khi bạn muốn cúng dường, hoa sen trong tim nở ra, các vị hóa thành các điểm xếp thành đường thẳng, từ trung mạch đến đỉnh đầu, ở tại đỉnh đầu của bạn biến thành đàn thành của bạn. Trên đỉnh đầu bạn biến thành các vị ở đàn thành, kết ấn cúng dường, niệm chú cúng dường, làm cúng dường xong thì lại thu đàn thành về trong tim mình, đây là cúng dường theo cách ký đỉnh. Đây là phương pháp thứ hai.

---
# File: nghi-quy-tu-tap/phap-dai-cung-duong-chan-phat-tong.md
# Title: Pháp Đại cúng dường Chân Phật Tông
---

![image](/img/img_2d4ca7057f0c7ef710e0306eb4473618.jpg)



## Pháp Đại cúng dường Chân Phật Tông


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp! 


### Công đức của pháp


Hành giả Mật tông mỗi lần tu pháp, nhất định phải dâng cúng dường, trong pháp Tứ gia hành, đây chính là pháp cúng dường mandala.

Liên Sinh Hoạt Phật từng nói: “Con người thế gian, nếu muốn có được phúc báo lớn nhất thì phải cúng dường Thượng sư, Tam Bảo, Kim cang, Hộ pháp. Bởi vì nguyên do là cúng dường biểu thị sự cung kính của hành giả, cung kính Tam Bảo vô thượng, nên có thể có được sức mạnh che chở của Thượng sư và Tam Bảo, và có được phúc báo vô cùng.”

Trước kia pháp sư Thích Huệ Linh từng nói với tôi:
Trước Phật cúng hoa — đời sau xinh đẹp phi phàm, tướng mạo anh tuấn.
Trước Phật cúng hương — đời sau thân thể thơm tho.
Trước Phật cúng đèn — đời sau trí tuệ siêu việt, quang minh vô tận.
Trước Phật cúng trà — đời sau tài phúc vô tận, nguồn tài nguyên không dứt.
Trước Phật cúng quả — đời sau ăn uống không phải lo nghĩ, có dư thừa.

Liên Sinh Hoạt Phật nói: “Một người nếu muốn có được phúc báo lớn nhất của nhân gian, đời sau trở thành quốc vương của nhân gian, hoặc thành người giàu có nhất, chỉ cần người đó học được pháp Chân Phật đại cúng dường thì sẽ được thành tựu như vậy. Chỉ tu trì mỗi pháp Chân Phật đại cúng dường thì đã có thể có được phúc báo vô cùng tận.”


### Nghi quỹ


Pháp cúng dường mandala của Mật tông như sau:

Hành giả tiến vào mật đàn thì ngồi xuống, hai tay kết ấn cúng dường. Trước tiên đặt một ít gạo lên lòng bàn tay trái.

Kết ấn cúng dường — Hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau, hai ngón út đan chéo nhau (đều là tay phải ở ngoài). Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. 

Quán tưởng núi Tu Di trong vũ trụ ở chính giữa, bốn cõi trời đông tây nam bắc ở xung quanh núi Tu Di, và ở phía đông tây của núi Tu Di có mặt trăng mặt trời. 

Lại quán tưởng gạo trong tay mình biến thành thất trân bát bảo, đầy ắp cả núi Tu Di và bốn cõi trời đông tây nam bắc. Quán tưởng tất cả trân bảo đều dâng cúng chư tôn.

Thế rồi niệm bài kệ cúng dường:

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kỳ diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Trì thêm chú cúng dường: 

Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.

Niệm xong chú cúng dường thì nâng thủ ấn lên trên, ấn vào thiên tâm một cái. Khi giải ấn thì có thể trực tiếp tung gạo lên không trung. Như vậy được xem là đã hoàn thành pháp cúng dường mandala.


### Liên Sinh Hoạt Phật truyền thụ tâm yếu khẩu quyết của pháp


Liên Sinh Hoạt Phật từng dạy mọi người bí mật của pháp Chân Phật đại cúng dường. Ví dụ chúng ta cúng dường một ngọn đèn, thắp đèn sáng lên, nhập đàn tay kết ấn cúng dường. 

Đầu tiên nghĩ đến ngọn đèn dầu này ở trong đầu, sau đó từ một ngọn đèn dầu hóa thành một hàng, sau đó đèn dầu lại biến hóa thành một mặt phẳng, thậm chí biến hóa thành mười phương trên dưới cả vũ trụ đều đầy ắp đèn dầu thắp sáng. 

Quán tưởng chư tôn tiếp nhận cúng dường đèn dầu sáng của bạn. Trong tâm niệm thầm chú cúng dường, sau đó đưa thủ ấn chạm vào thiên tâm rồi giải ấn. 

Ví dụ chúng ta cúng dường một bông hoa, nhập đàn tay kết ấn cúng dường, đầu tiên nghĩ đến bông hoa này ở trong đầu, rồi quán tưởng hoa biến thành một hàng hoa, rồi từ một hàng lại biến thành một mặt phẳng hoa, thậm chí là mười phương trên dưới cả vũ trụ đều đầy ắp hoa. Quán tưởng chư tôn trong vũ trụ, mỗi vị Phật đều cầm một bông hoa của bạn trên tay, đầy ắp cả bầu trời vũ trụ. Trong tâm niệm thầm chú cúng dường rồi chạm thủ ấn vào thiên tâm, sau đó giải ấn.

Đây chính là từ một biến thành nhiều, lần lượt hóa hiện như mây, như biển. Kết quả là đủ loại cúng dường vô tận, một lần Chân Phật đại cúng dường như thế này là thù thắng vi diệu nhất, thanh tịnh và kỳ diệu nhất, quảng đại vô tận nhất. Đương nhiên là phúc báo có được cũng vô cùng vô tận.

Chân Phật Tông chúng ta bày bát cúng là: vỏ ốc nhỏ, trái cây, phấn thơm, đèn, ba que đàn hương, năm bông hoa đỏ, nước tắm, nước sạch, bày từ phải sang trái. Còn ngũ cúng là hoa, hương, đèn, trà, quả. Hai kiểu này đều được.

Thật ra theo như trong kinh Phật, nghi thức cúng dường rất phiền phức, và cúng phẩm cũng có nhiều loại, có cái gọi là năm món cúng, bảy món cúng, tám món cúng, hai mươi bảy món cúng, ba mươi bảy món cúng. Mỗi loại bảo vật đều xem là cúng phẩm, ví dụ pháp luân cũng là một bảo vật, trân châu cũng là một bảo vật, cây lạ cũng là một bảo vật, voi quý cũng là một bảo vật. Tôi cho rằng chỉ cần là thứ mà bạn cho là có giá trị thì đều có thể biến hóa để dâng lên cúng Phật. 

Có đệ tử hỏi tôi là không có thứ gì quý hiếm để cúng dường Phật, phải làm sao? Tôi trả lời như sau, đây là bí mật trong bí mật của Chân Phật đại cúng dường. Khi chúng ta thiếu những món đồ thật để cúng Phật, chúng ta cũng có thể kết ấn cúng dường, rồi nghĩ ra những thứ tốt đẹp nhất, những thứ mà chúng ta nhìn thấy trên đường, hoặc là những thứ nhìn thấy trong nhà người khác, đều có thể ghi nhớ vào trong đầu chúng ta. Chúng ta cũng biến hóa một thành nhiều, nhiều hóa thành vô tận, rồi cũng cúng dường chư tôn trong vũ trụ. Trì thêm chú cúng dường, sau đó giải ấn. Cũng vẫn sẽ có công đức to lớn.

Có ba trọng điểm của pháp Chân Phật đại cúng dường, tức là thủ ấn, chân ngôn, quán tưởng. Kì thực điểm chính yếu thật sự vẫn là tâm cung kính. Chúng ta một lòng biến hóa cúng phẩm thành vô lượng vô tận, tự nhiên phúc phần có được cũng vô lượng vô tận, cho nên nhất tâm quán tưởng là quan trọng nhất.

Pháp Chân Phật đại cúng dường là mật pháp để có được phúc vô lượng.
Pháp Chân Phật đại cúng dường là mật pháp để có được sức mạnh gia trì của Thượng sư và Tam Bảo.
Pháp Chân Phật đại cúng dường là mật pháp Kim cang Hộ pháp hộ thân.
Pháp Chân Phật đại cúng dường là từ cúng dường Phật Bồ Tát mà sản sinh ra tâm bố thí, sau đó chuyển thành bố thí chúng sinh, là đại mật pháp để phát bồ đề tâm quảng đại.
Pháp Chân Phật đại cúng dường là từ cúng dường mà có được sự che chở của chư tôn, từ sự che chở đó lại có được thành tựu.

Hoạt Phật Tây Tạng cho rằng pháp cúng dường mandala phải tu tập 100.000 biến, thậm chí nhiều hơn, đây cũng là khóa trình mà mỗi hành giả Mật tông phải tu. Ngoài ra, cúng dường Thượng sư cũng chính là biểu thị sự tôn kính, lòng hoan hỷ và không rơi vào việc “cầu xin suông” (hoặc có điều thỉnh cầu, hoặc cầu nguyện, đều phải cúng dường để biểu thị một chút tâm ý). 

Bởi vì Thượng sư là đại diện cho Phật, pháp, tăng. Chúng ta đi theo Thượng sư mới có thể tu hành học pháp, cho nên cúng dường Thượng sư là cực kì quan trọng. Thượng sư chân chính sẽ không tham cúng dường, tất cả cúng dường đối với Thượng sư, Thượng sư sẽ dùng thái độ “lấy của chúng sinh, dùng cho chúng sinh” để mà xử lý, dùng vào việc hoằng dương Phật pháp, phổ độ chúng sinh.

Pháp Chân Phật đại cúng dường là một mật pháp tôn kính, gần gũi, phụng sự, từ đó mà có được lực gia trì che chở, có được lực gia trì che chở rồi thì tu bất kì mật pháp gì cũng đều đắc thành tựu, không có lực gia trì che chở thì tu bất kì mật pháp gì cũng đều sẽ không sản sinh sức mạnh. 

Tôi viết một bài kệ:

*Cúng dường là tâm mềm mại nhất
Kiền thành tự sẽ đến địa đầu
Vô cùng vô tận đại phúc báo
Hiện lên thù thắng chẳng lo âu.*

---
# File: nghi-quy-tu-tap/phap-dai-tu-tai-thien-danh-tieu-nhan.md
# Title: Pháp Đại Tự Tại Thiên đánh tiểu nhân
---

## Pháp Đại Tự Tại Thiên đánh tiểu nhân


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp! 


### Chú ngữ


Ôm. Mô-xi-sư-la-bô. Ya. Sô-ha.
(Ôm. Ma-xi-sư-la-fu-yê. Sô-ha.)


### Thủ ấn


Tay trái nắm lại, ngón cái giơ thẳng. Tay phải nắm lại đánh vào ngón cái tay trái chui thẳng vào trong nắm đấm.

Hoặc: hai tay đan ngoại phộc, ngón trỏ, ngón cái, ngón út giơ thẳng. 


### Ứng dụng Yết ma


Hàng phục kẻ thù


### Liên Sinh Hoạt Phật truyền thụ tâm yếu khẩu quyết của  pháp


Pháp Đại Tự Tại Thiên đánh tiểu nhân

Hôm nay, vì mọi người đã không quản ngại đường xa tới đây nên tôi cũng muốn truyền cho mọi người một pháp, một pháp rất nhỏ thôi. Pháp này với các bạn thì hữu dụng, còn đối với tôi mà nói thì chẳng dùng làm gì. Vì sao? Bởi vì tôi đã không còn ngã chấp rồi thì còn dùng pháp gì nữa? Bây giờ tôi sống cũng được mà chết cũng được, già cũng được mà bệnh cũng được. Tu đến cảnh giới này của tôi thì cái gì cũng tốt cả.

Hôm nay tôi truyền pháp này, gọi là pháp Đại Tự Tại Thiên đánh tiểu nhân. Còn nhớ lúc tôi ở Hồng Kông, trên đường đi đến chùa, buổi tối có một cụ bà ở cạnh chùa cầm một chiếc giày, niệm một câu chú, rồi “pẹt” một tiếng, dùng chiếc giày đập vào một tờ giấy. Tôi cảm thấy rất kỳ quái, Liên Hàn bèn nói với tôi: “Đây là đánh tiểu nhân.” A! Tôi đã nhớ ra rồi, trước đây sư phụ tôi từng dạy tôi pháp Đại Tự Tại Thiên đánh tiểu nhân. Rất hữu dụng, tôi có thể dạy cho các bạn.

Rất nhiều đệ tử đến Chân Phật Mật Uyển của tôi hỏi việc. Họ nói: “Trong công ty có lắm kẻ tiểu nhân, cấp trên là tiểu nhân, nhân viên cấp dưới cũng là tiểu nhân.” Trong lúc hỏi việc, rất nhiều người đều nói họ gặp phải tiểu nhân. Tôi liền nghĩ đến có thể dạy pháp Đại Tự Tại Thiên đánh tiểu nhân này cho mọi người.

Thật ra, các bạn chắc chắn sẽ nghĩ rằng Sư Tôn là người dùng pháp này giỏi nhất, vì sao? Vì Sư Tôn có lắm kẻ tiểu nhân nhất. Trên thực tế, tôi rất khâm phục những kẻ tiểu nhân này. Mọi người biết, tôi đi ra ngoài hoằng pháp, những tình huống mà tôi gặp phải cực kì khó khăn gian khổ, bởi vì đi tới đâu cũng có những cuốn sách nhỏ được phát ra, thật sự là rất khó ứng phó với những phỉ báng, lời đồn và tin nhảm mà người ta dành cho tôi. Tôi vô cùng khâm phục tinh thần hại người này của họ. (cười)

Một cách đơn giản bạn có thể nghĩ thử, muốn viết thành một cuốn sách như vậy, họ đã phải đọc bao nhiêu cuốn sách của tôi? Sau đó còn phải bóp méo sự thật, nghĩ cách để liên kết chúng lại với nhau, sau khi viết ra còn phải đi đánh máy, đánh máy xong thì còn phải đi in. Sau khi in ra những cuốn sách này rồi lại còn phải rất bí mật vận chuyển đến các nước, rồi từ các nước đó phải nhờ người ta bỏ từng cuốn vào trong phong bì thư, dán tem, gửi đến các giáo hội của các nước trên toàn thế giới và các phân đường Chân Phật Tông. Những việc này đều phải dùng rất nhiều tiền, nhân lực, vật lực, thời gian, tinh thần này cực kì vĩ đại đó. Và họ chỉ có một mục đích, chính là hy vọng Lư Thắng Ngạn thân bại danh liệt, để buổi tối họ lên giường đi ngủ có chui trong chăn mà lén cười. Thật ra điều có lợi duy nhất của họ cũng chỉ là có thể chui trong chăn mà cười hi hi. 

Sư Tôn đã gặp phải rất nhiều kẻ tiểu nhân. Nhưng tôi đều chẳng để ở trong lòng, tôi cũng chẳng tu pháp Đại Tự Tại Thiên đánh tiểu nhân này. Thật ra khi họ chui trong chăn mà cười thì tôi cũng chui trong chăn cười. Vì sao? Bởi vì con người tôi luôn công khai, chẳng qua họ chỉ là lấy những thứ mà tôi đã công khai ra, gom góp những khuyết điểm của tôi, rồi lại công khai cho mọi người biết mà thôi, điều đó không phù hợp với ý của tôi. Gần đây tôi muốn nêu một kiến nghị với chủ tịch và phó chủ tịch của Lôi Tạng Tự, hy vọng họ có thể trợ giúp in ấn hai cuốn sách nhỏ đó (cười). Thật đó, với Sư Tôn thì chẳng có vấn đề gì cả.

Người tu hành đến cảnh giới vô nhân ngã thì còn cần đến cái thể diện này sao? Căn bản là tôi chẳng có bộ mặt nào cả. Người mà họ chửi là Lư Thắng Ngạn, có liên quan gì đến tôi? Người họ chửi là Liên Sinh Hoạt Phật, có quan hệ gì tới tôi? Sống tại thế giới Ta Bà là rất ngắn ngủi, là một cái tên mà thôi, với tôi mà nói chẳng qua chỉ là ánh điện lửa đá, bong bóng, chẳng mấy chốc sẽ tiêu tan, bởi vì bạn đã đắc tính Không rồi mà! Bạn đã viên mãn rồi mà! Đúng không? Nói thẳng ra, họ mới viết được hai cuốn mà thôi, còn tôi bây giờ đã viết đến cuốn 107 rồi, tốt nhất là họ hãy viết 107 cuốn sách phỉ báng để đôi bên có thể khớp lại với nhau.

Thật ra Sư Tôn có rất nhiều kẻ tiểu nhân, nhưng tôi chẳng hề để những việc này ở trong lòng. Tôi chỉ có đi giúp người, vĩnh viễn chỉ có đi giúp người mà thôi, không thể nào đi hại người.

Bây giờ tôi dạy pháp này, đầu tiên là tay phải kết thủ ấn “số một” [chỉ tay trái nắm lại và giơ thẳng ngón cái], quán tưởng tay trái này đại diện cho kẻ tiểu nhân. Kẻ tiểu nhân này chuyên môn hại người, chuyên môn lén lút phát tán tin đồn, trước mặt cấp trên thì đâm thọc mách lẻo, gây chuyện thị phi. Ban đầu thì anh ta có vẻ rất vĩ đại, sau cùng thì cực kì hổ thẹn, cúi đầu lui đi, chui xuống hầm, không dám gặp bạn. Trước tiên bạn hãy quán tưởng kẻ tiểu nhân này, quán tưởng đầu, thân của họ, sau đó họ cúi đầu xuống, rất hổ thẹn trốn ở trong cái hang này (chui vào bên trong bốn ngón tay). Thế còn cái tay phải này chính là Đại Tự Tại Thiên. Quán tưởng tay phải là Đại Tự Tại Thiên, tay trái là kẻ tiểu nhân, cúi đầu, sau đó đánh vào hắn, đánh xuống 49 cái. Đánh xong thì phải niệm chú Đại Tự Tại Thiên: “Ôm. Ma-si-sư-la-pô-yê. Sô-ha.” Nói chung, có người đánh một cái thì niệm một câu chú Đại Tự Tại Thiên. Pháp này rất đơn giản. Sau khi các bạn trở về, đừng có đánh ngón tay mình đến mức sưng lên đó (cười). 

Nói chung, người với người chung sống với nhau là cực kì khó. Trong cuộc đời con người khó tránh khỏi gặp những kiểu người như vậy, nhưng trước khi làm pháp này, chính bạn cũng cần nghĩ một chút xem có phải là bản thân bạn vô lý không? Bản thân mình có chút nào dã man không? Bản thân mình có ngang ngược không? Trước tiên phải tự mình suy nghĩ một chút. Trên đời này, người tốt đôi khi chưa chắc đã là tốt, người xấu cũng không chắc là xấu. Giống như tâm của Sư Tôn, chính là tâm chúng sinh bình đẳng, bởi vì tôi nhìn những chúng sinh là kẻ xấu cũng có mặt tốt. Giống như những kẻ tiểu nhân liên tục công kích Sư Tôn, tôi đều cực kì khâm phục họ cái tinh thần hại người này (cười). Tôi muốn học tập, không phải là học tập hại người, mà là dùng cái tinh thần hại người này để tu hành, thế thì chắc chắn sẽ là “số một” rồi. Bề ngoài thì thấy là tôi có tiểu nhân, nhưng trên thực tế, những kẻ tiểu nhân đó cũng đang giúp đỡ tôi, họ cũng là đối tượng để tôi học tập. Người đã tu hành đến cảnh giới này rồi thì đều có thể xem rất nhiều chuyện như chẳng có gì, cho nên tôi sẽ chẳng đi hại người, cũng chẳng đi làm kẻ tiểu nhân. Tôi hy vọng mọi người cũng đừng đi hại người, cũng đừng đi làm kẻ tiểu nhân. Vì Sư Tôn đã dạy cho mọi người pháp này rồi, đương nhiên các bạn có thể đánh tiểu nhân rồi (cười). Chỉ cần bạn thật sự cho rằng họ đích thực là tiểu nhân, bạn có lý, họ không có đạo lý, thế thì bạn có thể dùng pháp này.

---
# File: nghi-quy-tu-tap/phap-dung-mua-phap-cau-mua.md
# Title: Pháp dừng mưa, pháp cầu mưa
---

# Pháp dừng mưa, pháp cầu mưa


Chân Phật Tông thông báo pháp vụ. 

Pháp dừng mưa và pháp cầu mưa

Tông pháp tự - Thông báo số 0009 về Mật pháp.

Ngày 13/07/2020 tại văn phòng Tông Ủy Hội ở Seattle, để ứng phó với lũ lụt do mưa lớn có tính khu vực và hạn hán do thời tiết cực đoan, Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Pháp Vương đã từ bi truyền thụ pháp dừng mưa, pháp cầu mưa. Chỉ thị như sau:

**Pháp dừng mưa:** nếu mưa không ngừng tạo thành lũ lụt, trình tự nghi quỹ như sau:
1. Chuẩn bị ba trắng (sữa tươi, phô-mai, sữa chua), bỏ thêm đất sét, vê thành 108 viên tròn.
2. Lấy một bộ quần áo của người chết đã từng mặc, hành giả ngồi trên bộ quần áo này.
Niệm tụng chú dừng mưa:
”Ôm na-ga ga-la ga-la pa rư yi xia-ya pây pây pây.”
Với mỗi một viên đất sét thì niệm 108 biến chú dừng mưa.
3. Niệm chú xong, ở nơi bị lũ lụt, lấy 108 viên đất sét ra ném về năm hướng đông tây nam bắc và ở giữa, Long Vương sẽ bỏ đi (bởi vì thổ khắc thủy), mưa sẽ dừng.

**Pháp cầu mưa:** nếu hạn hán lâu ngày không mưa, khu vực khô cạn, trình tự nghi quỹ như sau:
1. Chuẩn bị ba trắng (sữa tươi, phô-mai, sữa chua), bỏ thêm bột mì, vê thành 108 viên tròn.
2. Lấy một bộ quần áo của người chết đã từng mặc, hành giả ngồi trên bộ quần áo này.
Niệm tụng chú cầu mưa:
”Ôm na-ga ga-la ga-la pa rư yi xia-ya sô-ha.”
Mỗi một viên bột mì niệm 108 biến chú cầu mưa.
3. Niệm chú xong, đem 108 viên bột mì để vào trong hồ, biển, sông, suối ở địa phương đó, nếu không có những nơi có nước kể trên thì bỏ vào trong giếng nước lớn nhất ở địa phương, trời sẽ đổ mưa.

Chú thích: Liên Sinh Pháp Vương chỉ thị như sau:
1. Các đệ tử có thể cầu quán đảnh từ xa pháp dừng mưa và pháp cầu mưa như ở trên.
2. Mỗi một viên nặn thành kích cỡ tròn khoảng 2cm.
3. Trong pháp dừng mưa, ném các viên đất lên không về bốn hướng và ở giữa, có thể lặp lại nhiều lần cho đến khi ném hết thì thôi. Không cần phải thuận theo chiều kim đồng hồ để ném về các hướng.

Tông Ủy Hội Chân Phật Tông Thế Giới kính báo.
Thời gian: 14/07/2020.

---
# File: nghi-quy-tu-tap/phap-gia-tri-tinh-hoa-trang-hat.md
# Title: Pháp gia trì tịnh hóa tràng hạt
---

![image](/img/img_ef59e0ed60ff304286b5dcf2f3544723.png)



## Pháp gia trì tịnh hóa tràng hạt


Còn gọi là pháp chuyển châu minh - xoay tràng hạt.

Chúng ta truyền pháp gia trì tịnh hóa tràng hạt. Mỗi lần trước khi làm Hộ Ma, bạn cần gia trì tràng hạt vì tràng hạt này chưa chắc đã thanh tịnh. Bởi tay của người cầm tràng hạt không thanh tịnh; tay của người thắt nút Trung Quốc (chỉ nút ở hạt Phật đầu của tràng hạt) cũng không thanh tịnh, tay của người xâu chuỗi tràng hạt cũng không thanh tịnh, vậy làm sao để thanh tịnh? Trước tiên xoay một vòng, quấn vào tay trái (tay trái cầm tràng hạt, dùng tay phải quấn một đoạn ngắn đặt vào tay trái), sau đó chuyển sang tay phải, điều này biểu thị cả hai tay đều đã chạm vào, rồi dùng hai tay kết ấn gia trì tràng hạt (đặt tràng hạt vào vòng tròn tạo bởi ngón cái và ngón trỏ của hai tay, ba ngón còn lại của hai tay chụm lại hướng lên trời). Quán tưởng Quan Thế Âm Bồ Tát xuất hiện trong hư không, từ mi tâm của Ngài phóng ra ánh sáng trắng, chiếu một vòng vào tràng hạt, biểu thị tràng hạt đã thanh tịnh, đây gọi là thủ ấn gia trì tràng hạt.

Bạn quán tưởng Quan Thế Âm Bồ Tát đến phóng ánh sáng trắng, gia trì tràng hạt một vòng, sau đó cầm vào hạt Phật đầu, biểu thị tràng hạt đã thanh tịnh. Lúc này bạn có thể tụng chú, ví dụ như Cam Lộ Vương chân ngôn: "Ôm a-mi-ta hùm pan." Sau khi tụng xong Cam Lộ Vương chân ngôn, đặt tràng hạt vào bên tay trái, vì tràng hạt này đã thanh tịnh nên khi đặt lên tay bạn, tay bạn sẽ trở nên thanh tịnh; rồi chuyển tràng hạt sang tay phải, tay phải cũng trở nên thanh tịnh. Đúng không? Sau đó xoay vài vòng (dùng mu bài tay của hai tay xoay lên xuống) biểu thị toàn bộ cánh tay đều đã thanh tịnh, rồi đeo lên cổ, biểu thị toàn thân đều đã thanh tịnh.

Bạn tưởng tôi cầm tràng hạt đùa giỡn sao! Nó có ý nghĩa của nó đấy. Tràng hạt này đã trở nên thanh tịnh, tay trái, tay phải đã thanh tịnh, toàn bộ cánh tay cũng đã thanh tịnh, đeo lên cổ thì toàn thân cũng đều thanh tịnh.

---
# File: nghi-quy-tu-tap/phap-hop-tu-thuong-su-tuong-ung-va-tu-gia-hanh.md
# Title: Pháp hợp tu Thượng sư tương ứng và Tứ gia hành
---

![image](/img/img_790a7d5d1c48034cc419ce158d58cd51.jpg)



## Pháp hợp tu Thượng sư tương ứng và Tứ gia hành


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp! 


### Chú ngữ: 


Căn bản Thượng sư (Liên Hoa Đồng Tử) tâm chú:

Ôm a hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lián-shâng sit-đi hùm. (Chú dài)
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (Chú ngắn)

Kim Cang Tâm bách tự minh chú:

Ôm ben-za sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya ben-za sa-tô tê-nô-pa ti-cha
Chê-chô mê-pa-wa su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-ơ-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-ơ-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-ân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ pan-ga-guân
Sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta ben-za ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya sa-to ah hùm pây.


### Chú tự: 



![image](/img/img_8c01b848dc4d147dd5d48684c5f510c8.jpg)


Chữ Hum màu trắng.


### Thủ ấn:



![image](/img/img_2f5524c7340f33f73f9f97b5e0e477f9.jpg)



### Công đức của pháp:


Xin chú ý: 

Pháp hợp tu có tính tiện lợi, khuyến nghị tu riêng từng pháp là chính, tách ra tu sẽ dễ hơn, hợp tu tương đối phức tạp. 

Nhất là đối với đệ tử mới quy y, khuyến nghị bắt đầu tu từ Tứ gia hành, trì nhiều tâm chú Căn bản Thượng sư, Bách tự minh chú, dựa theo thứ tự mà tuần tự tiến dần từng bước. Trước tiên tu pháp sám hối để tiêu nghiệp chướng, từ đó có thể làm nền móng cho sự tương ứng.


### Nghi quỹ:



### **Mở đầu**


- Đầu tiên thỉnh cầu Căn bản Thượng sư gia trì. Trước tiên quán Không. Tiếp theo quán tưởng truyền thừa Chân Phật Tông. 

Nam mô Đại Nhật Như Lai.
Nam mô Phật Nhãn Phật Mẫu.
Nam mô A Di Đà Phật.
Nam mô Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Liên Sinh Hoạt Phật.

Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật trụ đỉnh, phóng quang gia trì.

Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn:

Ôm a hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lián-shâng sit-đi hùm. (Chú dài)
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (Chú ngắn)

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### **1. Niệm chú thanh tịnh và an thổ địa chân ngôn**


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.

Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.

Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.

An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### **2. Niệm chú triệu thỉnh**


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:

Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa.
Thập phương tam thế tất cả chư Phật.
Tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa.


### **3. Đại lễ bái (làm quán tưởng Đại lễ bái)**


Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật kham (tháp Phật).

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cang, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không.

Dùng thủ ấn chạm vào Thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng Thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào Thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào Tâm luân, quán tưởng Tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào Tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào Thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

Ba: bái Hộ Pháp Kim Cang - kết thủ ấn tam xoa xử (chày ba chấu).

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cang, Hộ Pháp Long Thiên.

Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào Thiên tâm giải ấn.

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### **4. Đại cúng dường và kết ấn cúng dường**


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tát cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cang, Hộ Pháp Long Thiên.

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường:

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kỳ diệu bao công đức 
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: 
Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### **5. Tứ quy y và quán tưởng quán đảnh**


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến) 
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê. 
Na-mô ta-mô yê. 
Na-mô sâng-kya yê.


### **6. Mặc bia giáp hộ thân**


Kết thủ ấn tam xoa xử, đặt thủ ấn trước trán.

Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)

Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cang thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### **7. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh **


Phụng thỉnh bát đại Bồ Tát:

Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Kim Cang Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Diệu Cát Tường Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô chư tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.

Quan Thế Âm Bồ Tát. Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng. Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân. Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú. Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú. Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú. Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu: Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật. Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật. Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật. Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật. Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật. Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật. Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật. Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết: “Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát. Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát. Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết. Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết. Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt. Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết. Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt. Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết. 

Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách. Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt. Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ. Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt. Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh. Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết. Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt. 
Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### 8. **Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh**


Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.

Xá Lợi Tử, sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng hành thức diệc phục như thị.

Xá Lợi Tử, thị chư pháp không tướng, bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm.

Thị cố không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức. Vô nhãn nhĩ tỵ thiệt thân ý, vô sắc thanh hương vị xúc pháp, vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới.

Vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận. Vô khổ, tập, diệt, đạo.

Vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố.

Bồ Đề Tát Đỏa y Bát nhã Ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết bàn.

Tam thế chư Phật, y Bát nhã Ba la mật đa cố, đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.

Cố tri Bát nhã Ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư.

Cố thuyết Bát nhã Ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết:

Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.


### 9**. Niệm thêm chú Vãng sinh (7 biến)**


Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na
Chê-tô ka-ni sô-ha.

(Có thể niệm thêm Chân Phật Kinh.)


### 10**. Văn thỉnh cầu:**


Văn cầu thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật gia trì:

Ôm A Hùm [Om Ah Hum]
Kính đem thân khẩu ý thanh tịnh.
Cúng dường Tỳ Lô Giá Na Tôn.

Pháp thân Phật Nhãn Phật Mẫu Thánh.
Báo thân Liên Hoa Đồng Tử thân.
Ứng Thân giáo chủ Liên Sinh Phật.
Ba thân không khác, đại Phật ân.

Cung kính Chân Phật đại truyền thừa.
Thần thông ban trải đầy thế giới.
Phóng quang chiếu rọi khắp ba thời.
Hóa hiện không ngừng chứng nhất như.
Đệ tử tha thiết thường cầu tới.
Soi chiếu quang minh, phúc huệ tăng.

Xưa đến thọ ký, Phật Thích Ca.
Phó thác ân cần, A Di Đà.
Di Lặc Bồ Tát ban hồng quán.
Liên Hoa Đại Sĩ mật pháp truyền.
Thánh Tôn xin thỉnh đừng quên nguyện.
Cứu độ chúng sinh chúng con đây.
Hộ niệm như thế xin nhiếp thọ.
Thành tựu nhanh nhanh thỉnh gia trì.

Nam mô Tỳ Lô Giá Na Phật.
Nam mô Phật Nhãn Phật Mẫu.
Nam mô Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Chân Phật hải hội thập phương tam thế chư Phật Bồ Tát Ma Ha Tát.


### 11. **Thỉnh cầu Liên Hoa Đồng Tử**


Kết thủ ấn Căn bản Truyền thừa Thượng sư (Liên Hoa Đồng Tử): Tay phải kết ấn thuyết pháp: ngón tay cái chạm vào ngón giữa, các ngón tay khác dựng thẳng, lòng bàn tay hướng ra ngoài, đặt trước ngực. Tay trái kết ấn cầm hoa sen: ngón cái chạm vào ngón trỏ, ngón út dựng thẳng, hai ngón tay còn lại cong gập vào trong, lòng bàn tay hướng vào trong, đặt trước ngực, giống như cầm hoa sen.

**Quán tưởng:**

Đầu tiên quán Không, niệm chú quán Không: Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Quán tưởng một cái hồ lớn sáng như gương, chính giữa hồ xuất hiện một ngọn núi cao, trên đỉnh núi có một tòa hoa sen, và Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật đang ngồi trên hoa sen, tướng mạo trang nghiêm viên mãn như Phật, thân phóng tỏa trăm ánh sáng trân quý. Bên phải Căn bản Truyền thừa Thượng sư có quá khứ thập phương chư Phật, bên trái có tất cả Bồ Tát Thánh hiền tăng già, và các vị tổ sư các đời vây xung quanh thành vòng tròn. Ở bên dưới pháp tọa có Tứ Đại Thiên Vương và Quỷ thần Hộ pháp. 

(2) Tiếp theo quán tưởng Thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư có chữ Om phóng ra một đường ánh sáng trắng, chiếu thẳng đến Thiên tâm của hành giả, đây là ánh sáng đại viên kính trí, khiến ngũ uẩn của hành giả và thức thứ tám hóa thành vô hình. Từ họng của Thượng sư có chữ Ah phóng ra một đường ánh sáng đỏ, chiếu thẳng đến họng của hành giả, tất cả tính tham và dục niệm của hành giả hóa thành vô hình, biến thành ánh sáng đại trí huệ. Từ Tâm luân của Thượng sư có chữ Hum phóng ra một đường ánh sáng xanh lam, chiếu thẳng đến Tâm luân của hành giả, hàng phục tính ngu si, hóa tính si thành vô hình.

(3) Lại quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư và Tam Bảo chư tôn cùng phóng ánh sáng ngũ sắc chiếu đến toàn thân hành giả, và ác nghiệp tội chướng của hành giả, tất cả nghiệp tội từ vô thủy, đều hóa thành khí đen, từ lỗ chân lông bốc hơi thoát ra bên ngoài thân thể, tiêu tan vào trong bầu khí quyển, sau đó toàn thân trắng tuyền, trong suốt và phát quang, đắc khinh an. 


### **12. Trì tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư (Liên Hoa Đồng Tử)**


Cầm chuỗi hạt quán tưởng:

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

Chú ngữ: Chú dài hoặc chú ngắn, niệm 108 biến.

Ôm a hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lián-shâng sit-đi hùm. (Chú dài) Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (Chú ngắn)


### 13. **Niệm bài kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỷ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### 14. **Phát bồ đề tâm**


Niệm văn phát bồ đề tâm: (1 biến)

Đệ tử Liên Hoa…(tên)… từ nay quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, cho đến khi đắc bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển, tất cả các việc thiện lớn nhỏ đều hồi hướng bố thí cho chúng sinh mau chóng thành tựu Phật đạo.

Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn: (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### 15. **Kim Cang Tâm (kệ sám hối và chú)**


Niệm kệ sám hối:

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Là vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

Niệm chú sám hối: (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### 16. **Quán tưởng pháp tướng Kim Cang Tâm Bồ Tát, kết thủ ấn Kim Cang Tát Đỏa**


Tay phải nắm lại, hướng vào trong, ngón cái đè lên ngón trỏ. Tay trái nắm lại, hướng ra ngoài, ngón trỏ đè lên ngón cái.
Đặt thủ ấn trước ngực.

(1) Trên mặt biển lớn, trời trong vạn dặm không mây, một vầng mặt trăng từ dưới biển nhô lên không trung, ở chính giữa vầng mặt trăng có một chủng tự chữ Hum (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu trắng phóng ra ánh sáng trắng.

(2) Chữ Hum ở giữa vầng mặt trăng quay vòng hóa thành Kim Cang Tâm Bồ Tát. Bồ Tát thân màu trắng, đội mũ Ngũ Phật, thiên y váy xếp, đủ loại bảo vật trang sức cho toàn thân ngài, ngồi trên hoa sen tám cánh trong vầng mặt trăng, tay phải kết ấn phẫn nộ cầm chày kim cương đặt tại vị trí tim, tay trái kết ấn phẫn nộ cầm chuông kim cương đặt trên đùi trái. Xung quanh vị trí tim ngài có Bách tự minh chú quay vòng tròn, vòng thần chú này xoay chuyển và tỏa ra vô lượng ánh sáng trắng.

(3) Lại quán tưởng ánh sáng trắng này bay thẳng lên không trung thành vòng cung, từ đỉnh đầu của hành giả Mật tông dội xuống toàn thân. Toàn thân hành giả Mật tông cũng xuất hiện ánh sáng chói lọi, ác nghiệp ác niệm toàn thân hóa thành khí đen thoát ra từ các lỗ chân lông trên toàn thân, thế rồi toàn thân hành giả trong suốt quang minh, đắc đại thiền lạc.


### 17. **Tụng Kim Cang Tâm bách tự minh chú** 


(21 biến hoặc 49 biến)

Ôm ben-za sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya ben-za sa-tô tê-nô-pa ti-cha
Chê-chô mê-pa-wa su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-ơ-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-ơ-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-ân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ pan-ga-guân
Sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta ben-za ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya sa-to ah hùm pây.


### **18. Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa**


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Có thể làm Cửu tiết Phật phong trước để bản thân tập trung tinh thần.

(2) Quán tưởng tại hư không trước mặt, bên phải xuất hiện một vị Kim Cang Tâm Bồ Tát. Bên trái là Liên Sinh Tôn Giả, hai người tập trung nhất tề hóa thành một đường ánh sáng trắng chiếu sáng hành giả, sau đó ánh sáng trắng này từ từ di chuyển đến trên đỉnh đầu hành giả, thu nhỏ lại thành một viên ngọc ánh sáng to bằng hạt gạo. 

Sau khi quán tưởng thanh tịnh, hạt ngọc ánh sáng này (tức là Kim Cang Tâm Bồ Tát và Liên Sinh Tôn Giả to bằng hạt gạo) từ đỉnh huyệt của hành giả đi vào đến vùng tim của hành giả, dừng lại ở chữ Hum trong tim hành giả. 

(3) Tại chữ Hum trong tim hành giả, hạt ngọc ánh sáng này từ từ to ra biến thành Liên Sinh Tôn Giả. (Bởi vì Kim Cang Tâm Bồ Tát chính là Liên Sinh Tôn Giả. Liên Sinh Tôn Giả chính là Kim Cang Tâm Bồ Tát.) Ngài đã biến thành to bằng thân thể của hành giả. Sau đó, “Hum” một tiếng, bản thân biến thành Liên Sinh Tôn Giả. Thân khẩu ý của ngài chính là thân khẩu ý của hành giả. Hai người hợp nhất, hoàn toàn dung hợp. (Bất kể là mắt, mũi, miệng, tai, tay chân, tướng mạo, ăn mặc, đều giống hệt với Liên Sinh Tôn Giả.) Bản thân chính là Liên Sinh Tôn Giả. Toàn thân tràn đầy linh khí.

Ngã nhập quán:

Quán tưởng bản thân thành Bổn tôn, từ trung mạch đi lên, tiến vào trong hư không, tan vào trong biển ánh sáng lớn của vũ trụ. Quên hết toàn bộ chính mình (tọa vong), tiến vào trong hư không, tiến vào trong ý thức vũ trụ, tiến vào trong biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, đã tan vào trong hư không và trở thành một với biển ánh sáng vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng chói lòa. Nếu không thể tọa vong, lập tức lại quán tưởng bản thân là Liên Sinh Tôn Giả, quán tưởng rõ ràng xong thì lại quên luôn chính mình, lại vào trong hư không.
Cứ “một dừng một quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”. 

Quán đếm hơi thở:

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### **19. Xuất định**


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định.


### 20**. Trì thêm những tâm chú khác**


Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### 21**. Niệm Phật**


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### 22. **Hồi hướng**


Liên Sinh tôn giả dạy Mật pháp.
Trong pháp gia hành tiêu nghiệp chướng.
Thượng sư tương ứng phúc huệ tăng.
Quảng đại viên mãn đắc tự tại.

Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử … (tên)… hôm nay làm hồi hướng này. Nguyện đem công đức tu pháp hồi hướng cho Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, trường thọ tự tại, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. 

Cung chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Nguyện tất cả nguyện vọng mong cầu đều được viên mãn. Nguyện tất cả tai nạn được đẩy lùi. 

*Uân!*

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### 23**. Tụng bách tự minh chú:**


Ôm ben-za sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya ben-za sa-tô tê-nô-pa ti-cha
Chê-chô mê-pa-wa su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-ơ-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-ơ-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-ân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ pan-ga-guân
Sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta ben-za ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya sa-to ah hùm pây. (3 biến)


### 24**. Đại lễ bái**


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### 25**. Niệm chú viên mãn**


Ôm bu-lin. (3 biến)

Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.

Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.

**Chú thích 1: **Khẩu quyết quán tu pháp hợp tu Liên Hoa Đồng Tử Căn bản Thượng sư tương ứng và Kim Cang Tâm Bồ Tát trích từ văn tập Liên Sinh Hoạt Phật số 81 - Chân Phật Nghi Quỹ Kinh, chương “Tất cả nghi quỹ tu pháp”. 

**Chú thích 2:** Có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn Mật Giáo Đại Quang Hoa - giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.

**Chú thích 3:** Bảy mục Tiền hành tham khảo từ cuốn 275 - Khẩu Quyết Đạo Giải Thoát, chương “Nghi quỹ tu pháp (Tiền hành)”. 

**Chú thích 4:** Giải thích về thủ ấn Kim Cang Tát Đỏa, xin đọc thông báo pháp vụ của Tông Ủy Hội ngày 01/10/2020: thủ ấn Kim Cang Tát Đỏa (Kim Cang Câm Bồ Tát/ Kim Cương Trì) đều dùng thủ ấn giao bão [đặt hai chéo hai tay trước ngực] của Kim Cang Tát Đỏa.

---
# File: nghi-quy-tu-tap/phap-ngu-trong-anh-sang.md
# Title: Pháp ngủ trong ánh sáng
---

Pháp ngủ trong ánh sáng đang làm một việc là không chỉ khi bạn tỉnh bạn độ chúng sinh, mà trong giấc ngủ bạn cũng có thể độ chúng sinh. Khi nói đến giấc ngủ, các vị tổ sư qua các thời đại đều dạy chúng ta phải giống như Đức Phật, nằm như sư tử, tức là tư thế cát tường, nằm cát tường như sư tử, đây là tư thế tốt nhất, cần phải tập dần. Có người trở mình liên tục, rất khó, nhưng dần dần bạn sẽ quen, đây là thân ấn của giấc ngủ.

Tay phải nên đặt lên vùng cổ họng, đặt nhẹ vào vị trí cổ họng, tay trái hơi che lỗ mũi, điều này có ý nghĩa gì, đây là một ám hiệu, đây chính là ấn thân, tức là tư thế khi bạn ngủ, tim phải ở phía trên nên tay phải đặt lên cổ họng, tay trái nhẹ nhàng ở nơi lỗ mũi, để chú ý đến việc điều hòa hơi thở. Tay phải đặt ở cổ họng chỉ ra rằng giấc ngủ ban đêm có mối quan hệ lớn nhất với luân xa cổ họng. Lúc này bạn cần quán tưởng, sau khi có thân ấn cần quán tưởng, hãy quán tưởng nơi cổ họng có một chữ Phạn là chữ "Ah" tỏa ra ánh sáng màu đỏ, chiếu khắp pháp giới đều là ánh sáng màu đỏ, rồi phản chiếu ánh sáng đỏ trở lại chính mình, như một chiếc lọng che. Bây giờ ở đây có một chiếc lọng che, mọi người có thể thấy được chiếc lọng che này, ánh sáng đỏ biến thành một chiếc lọng che, phủ lên mình. Sau khi quán tưởng xong, bạn cầu nguyện Thượng sư và Bổn tôn của mình ban ân gia hộ, tụng chú Bổn tôn, tụng chú Thượng sư, tụng đến khi ngủ thiếp đi cũng rất tốt. Bạn trì chú, tụng niệm Bổn tôn, mỗi lần đi ngủ vào buổi tối trước tiên làm thân ấn, sau đó quán tưởng luân xa họng phát sáng, rồi trì chú.

Trong Mật pháp thông thường, ba yếu tố chính là quán tưởng, trì chú và nhập Tam ma địa. Bản thân thần chú có ý nghĩa tăng cường, củng cố, đây là một bí mật. Bạn trực tiếp biến thành Bổn tôn rồi ngủ, ngủ trong ánh sáng đỏ. Chúng ta, những hành giả Mật giáo, mỗi lần đi ngủ đều phải làm như vậy: tạo thân ấn, quán tưởng luân xa họng phóng quang, cầu nguyện Bổn tôn, cầu nguyện Thượng sư gia hộ cho bạn, giúp giấc ngủ của bạn được bình an. Nói đúng ra, pháp ngủ trong đại quang minh tạng có vẻ rất đơn giản, có một thân ấn, một quán tưởng, một thần chú, chỉ vậy thôi, bạn đã có thể rất an ổn, có thể ngủ rất ngon. Khi mới bắt đầu tập, không phải là bạn sẽ ngủ ngon ngay, tuy nhiên, đây đã là hình thức hoàn chỉnh, nghĩa là, hình thức khi bạn lên giường ngủ đã hoàn thành, vì đã có ấn, có quán tưởng, có chú ngữ. Nhưng khi bạn chưa hoàn toàn vững chắc, không tránh khỏi còn nhiều giấc mơ bạn không thể tự chủ. Khi bạn nằm mơ không thể tự chủ, lúc này, bình thường bạn cần tu tập thế nào? Bạn cần tu tập minh điểm, tức là làm rõ giấc mơ. Làm rõ giấc mơ nghĩa là gì? Nghĩa là khi bạn đang mơ, bạn cũng phải biết đây là đang mơ, không thể vì bạn đang ở trong mơ mà không biết gì, nếu bạn không biết đó là mơ, bạn sẽ đi theo giấc mơ. Bạn cần hiểu đây là mơ, bạn có thể tự chủ, trong mơ bạn muốn làm gì, bạn đều có thể, như vậy mới được.

Người bình thường nên quán tưởng minh điểm ở Mi tâm luân, nơi con mắt thứ ba, muốn làm rõ giấc mơ thì cần những khẩu quyết quan trọng. Trước khi đi ngủ, đầu tiên bạn quán tưởng minh điểm ở Mi tâm luân. Khi quán tưởng cần phân biệt màu sắc, thông thường người ta quán tưởng điểm sáng màu trắng ở giữa chân mày là đủ. Có người cũng quán tưởng điểm sáng màu đỏ. Nếu bạn là người có tuần hoàn máu rất tốt, và có nhiều hồng cầu, với sắc mặt rất hồng hào, bạn có thể quán tưởng điểm sáng màu đỏ, nghĩa là người có nhiều huyết sắc tố nên quán tưởng điểm sáng màu đỏ ở Mi tâm luân, đây là sự khác biệt trong quán tưởng. Nếu bạn là người có thần kinh nhạy, bạn có biết điều đó không? Một số người không biết đâu, có người khá là thần kinh, như thể một việc nhỏ cũng khiến họ căng thẳng, là loại người nhạy cảm hơn, bạn nên quán tưởng điểm sáng màu xanh lá ở Mi tâm luân, điểm sáng màu XANH LÁ, điểm sáng màu xanh lá ở Mi tâm luân. Nếu mỗi lần trước khi ngủ bạn làm điều này, đây là khẩu quyết quan trọng, giúp bạn có thể tự làm chủ giấc mơ của mình trong giấc ngủ này, điểm này rất quan trọng.

Nếu quán tưởng như vậy mà vẫn không hiệu quả thì sao? Bạn có thể làm gì đây? Còn có một khẩu quyết rất quan trọng khác: bạn quán tưởng điểm sáng màu đen, không phải ở Mi tâm luân, mà ở Mật luân. Khi bạn quán tưởng điểm sáng màu đen ở Mật luân, giấc mơ của bạn sẽ trở nên rất rõ ràng, bạn sẽ nhận biết đó là một giấc mơ và có thể tự chủ, đây là khẩu quyết quan trọng. Trước khi ngủ, bạn trước tiên nhập Tam ma địa, sau đó quán tưởng điểm sáng ở Mi tâm, hoặc có thể quán tưởng điểm đen ở Mật luân. Chỉ cần chọn một cách: người bình thường quán tưởng điểm sáng màu trắng ở Mi tâm; người có tuần hoàn máu tốt quán tưởng điểm sáng màu đỏ ở Mi tâm; người có thần kinh nhạy thì quán tưởng điểm sáng màu xanh lá ở Mi tâm; nếu vẫn không hiệu quả, bạn quán tưởng điểm sáng màu đen ở Mật luân, đây là khẩu quyết rất quan trọng được truyền từ sư phụ.

Tại sao chúng ta có nhiều giấc mơ trong khi ngủ? Theo như thuyết giảng, tất cả đều liên quan đến luân xa họng, vì sự rung động của luân xa họng sẽ tạo ra nhiều giấc mơ. Theo cách giải thích về giấc mơ, tất cả hiện tượng và giấc mơ bạn trải qua, đôi khi không nhất thiết là linh hồn bạn đã rời khỏi cơ thể đi vào không gian trống rỗng. Chỉ cần linh hồn bạn còn ở trong cơ thể, di chuyển và đi lại trong đó đều sẽ tạo ra giấc mơ. Ý thức của bạn phải rất rõ ràng, bạn biết mình đang mơ trong giấc mơ, và biết rằng hiện tại bạn là một hành giả, là người tu tập, không thể bị giấc mơ dẫn dắt.

Để có giấc ngủ tốt, tôi nghĩ bạn cần điều chỉnh chế độ ăn uống của mình, ăn uống rất quan trọng, giấc ngủ tốt có liên quan đến chế độ ăn uống, bạn hãy điều chỉnh chế độ ăn uống của mình. Bạn cũng cần tập thể dục, tập thể dục là EXERCISE, nếu không tập thể dục, vì năng lượng nhiệt trong cơ thể chưa được tiêu hao hết, năng lượng nhiệt vẫn còn trong cơ thể, bạn không cảm thấy mệt mỏi thì bạn rất khó đi vào giấc ngủ, tinh thần của bạn vẫn rất phấn chấn, bạn không thể thực sự nghỉ ngơi. Để thực sự có thể nghỉ ngơi và có được giấc ngủ tốt, bạn cần phải tập thể dục, vì vậy trong Mật giáo có cái gọi là kim cang quyền.

---
# File: nghi-quy-tu-tap/phap-quan-am-than-dan-thanh-tranh-tai-nan.md
# Title: Pháp Quan Âm thân đàn thành tránh tai nạn
---

![image](/img/img_0eddf73020343a438a353ff7588121ca.jpg)



## Pháp Quan Âm thân đàn thành tránh tai nạn


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát.
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_547bdd44426b77b7d1fd70cf8bcd2f3d.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn hoa sen**

Hai tay chắp lại, sau đó mở ra như hoa sen nở, chỉ có hai ngón cái và hai ngón út chạm vào nhau. Giữ thủ ấn trước ngực.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

1. Hành giả quán tưởng tóc của mình tập trung lại, hóa thành Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát, đứng ở vị trí trên cao nhất của đàn thành.

1. Quán tưởng da trên toàn thân hóa thành bảo cái [ô, lọng] của đàn thành.

1. Quán tưởng mắt thành minh châu, kim cương nạm trên bảo cái.

1. Quán tưởng mũi thành đá quý nạm trên tầng bảo cái thứ hai.

1. Quán tưởng răng thành chuỗi ngọc, treo trên tầng bảo cái thứ ba.

1. Quán tưởng hai tai hóa thành một cặp cờ phướn, trên đó viết chữ Phạn “Om mani padme hum”, treo ở hai bên của bảo cái. (Hoặc viết tâm chú của Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát.)


![image](/img/img_224998d6e2908c3ce651cc8cb014de44.png)


1. Lại quán tưởng tầng thấp nhất là lòng bàn chân của hành giả hóa thành phong luân [bánh xe gió] (màu lam).

1. Mật luân [luân xa bí mật] của hành giả hóa thành hỏa luân [bánh xe lửa] (màu đỏ), ở trên phong luân.

1. Tề luân [luân xa rốn] của hành giả hóa thành thủy luân [bánh xe nước] (màu lục), ở trên hỏa luân.

1. Tâm luân [luân xa tim] của hành giả hóa thành thổ luân [bánh xe đất] (màu vàng), ở trên thủy luân.

1. Xương sống của hành giả hóa thành núi Tu Di (màu cà phê), ở trên thổ luân.

1. Bản thân hành giả ngồi trên núi Tu Di, lỗ chân lông toàn thân tỏa ra ánh sáng vàng kim. 


![image](/img/img_9d40fe19e68333ca05fbfd6833b5e19a.png)



### Phần 14: Trì tâm chú Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát


Tâm chú: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam wa-zư-la ta-mô sê. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


### Khai thị của Liên Sinh Hoạt Phật:


Cứ mỗi nửa tháng tu pháp này một lần thì sẽ không có tai nạn, bất kì bùa chú giáng đầu nào cũng đều phá trừ được. Pháp này là thân cúng dường, phải theo thứ tự quán tưởng rõ ràng, như vậy có thể tránh được mọi tai họa, ví dụ bệnh tật, tai nạn bất ngờ, ma nạn, tai họa do con người gây ra, thiên tai, tất cả hung họa tai vạ bất ngờ đều có thể tiêu diệt. Có được sự bảo vệ che chở của Quan Thế Âm Bồ Tát đại từ bi.
Mật pháp này là pháp khác biệt chỉ riêng Chân Phật Tông mới có.
Nguồn gốc của pháp này là trong lúc tôi tiến hành đại bi bảo sám, trong sát-na nhập vào thiền định rất sâu, Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát hiển hiện, đích thân khẩu truyền cho tôi pháp này, tổng cộng ngài giảng ba lần thì tôi mới ghi nhớ được.
Sau khi ra khỏi thiền định, tôi lại giảng giải cho các đệ tử nghe.
Do vậy, truyền thừa của pháp này là:
Quan Thế Âm Bồ Tát → Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn → Các đệ tử Chân Phật Tông.
Là Bồ Tát trực tiếp truyền cho tôi.
Tôi nói với mọi người, người phàm tục tu pháp này nhất định phải quy y nhận quán đảnh mới có thể tu.

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/phap-quan-thap-ngu-luan.md
# Title: Pháp quán tháp ngũ luân
---

![image](/img/img_4ac9ce97f4c670c68e4ec1ecb0ff4842.png)



## Pháp quán tháp ngũ luân


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

Chúng ta biết rằng mandala Kim cương giới và Thai tạng giới, Thai tạng giới tượng trưng cho Nhân địa, Kim cương giới tượng trưng cho Quả địa. Cũng có cách nói rằng, Thai tạng giới là cái vốn có, Kim cương giới là cái hình thành sau này. Ngoài ra còn một cách nói khác, Thai tạng giới là vật chất, Kim cương giới là tinh thần. Có thể nói những cách nói này đều đúng.

Tuần trước từng nói Thai tạng giới chính là đất, nước, lửa, gió, không, phương pháp quán tháp ngũ luân tức là phương pháp tu Thai tạng giới. Tu pháp của Kim cương giới tức là quán ngũ tướng thành thân, và hai loại tu pháp của Thai tạng giới và Kim cương giới là nhân quả lẫn nhau. Quán tháp ngũ luân, dưới cùng là hình vuông thuộc đất, tiếp theo là hình tròn thuộc nước, tiếp theo là hình tam giác thuộc hỏa, tiếp theo là hình bán nguyệt thuộc gió, trên cùng là hình tròn có chóp nhọn thuộc không. 

Thật ra, giữa Thai tạng giới và Kim cương giới có sự biến đổi lẫn nhau, “đất nước lửa gió không” này là năm đặc tính rất lớn, cũng chính là nơi tồn tại của tất cả bản chất và tinh thần của vũ trụ, cho nên nói đây là sự tổng hợp của thế giới vật chất và thế giới tinh thần của vũ trụ, cũng có thể nói là ý thức của vũ trụ.

Thế còn chủng tính của đất chính là kiên cố, trong Phật pháp mà nói, thuộc tính của đất là tín tâm, tín tâm của bạn phải kiên cố giống như mặt đất. Thuộc tính của nước là mềm mại, là đại diện cho từ bi, từ bi thuộc về nước, sự từ bi của nước cũng chính là nhân ái. Đi lên nữa, thuộc tính của lửa là tinh tấn dũng mãnh, ngọn lửa hình tam giác, thuộc tính là ánh sáng, nhiệt độ và tinh tấn dũng mãnh. Gió tức là chuyển pháp luân, gió là xoay tròn, là trí huệ, là dùng các loại trí huệ trong ngũ trí để chuyển pháp luân. Thế còn “không” là cái gì? Không có thể nói là thiền định, là minh thể, cũng chính là pháp giới. Bản thân “không” chính là minh thể, chính là tính Không, Chân Như, thiền định mới có thể đắc được, tức là sau khi bạn tiến vào “không” rồi mới có thể đắc chứng được “không”, đây là tính Không, Chân Như, pháp giới, minh thể. 

Đất, nước, lửa, gió, không, năm tượng trưng của tháp ngũ luân này, bản chất của vũ trụ, thế giới vật chất vốn có ban đầu chuyển hóa thành thế giới tinh thần, chính là tín tâm kiên cố, từ bi, tinh tấn, dũng mãnh, dùng trí huệ để chuyển pháp luân, cao nhất đạt được tính Không Chân Như lớn nhất. Tại thế giới vật chất, trong Thai tạng giới chính là dùng tháp ngũ luân để tượng trưng, trong Kim cương giới thì dùng năm loại tinh thần để tượng trưng. Vì thế, tu Thai tạng giới dùng tháp ngũ luân, tu hành Kim cương giới dùng ngũ tướng thành thân.

---
# File: nghi-quy-tu-tap/phap-rung-cay-co-tien.md
# Title: Pháp rung cây có tiền
---

![image](/img/img_ced3ee807cfc4ec3d0e902d9d7b86403.jpg)



## Pháp Rung Cây Tiền Chân Phật Tông


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Giới thiệu về pháp Rung Cây Tiền Chân Phật Tông:


Pháp Rung cây tiền là do Liên Hoa Sinh Đại Sĩ trực tiếp truyền thụ cho Liên Sinh Hoạt Phật vào ngày 31/8/1986. Phải là người đã được nhận quán đảnh mới được tu pháp này. Trong Mật tông Tây Tạng, Đông mật hoặc Trung mật đều chưa từng có pháp này, vì thế đây cũng là pháp đặc biệt thù thắng có một không hai của Chân Phật Tông.

8h tối ngày 31/8, sau pháp hội Chân Phật siêu độ năm Bính Dần, pháp này đã được công khai quán đảnh và truyền thụ, cũng tức là lần đầu tiên công khai pháp này với trời người.

Có thể thờ phụng Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đứng trên, đứng dưới là tượng của Liên Sinh Thượng sư, hoặc trực tiếp thờ tượng của Liên Sinh Thượng sư cũng được.

Hiện tượng tu pháp tương ứng vô cùng thù thắng, khi đó hành giả Mật tông sẽ nhìn thấy cây nhựa mà mình thờ phụng tại đàn thành hơi xuất hiện màu sắc của ánh sáng vàng kim hoặc một lớp ánh sáng vàng mỏng ở trên cây giả. Lúc này chính là thời khắc tu pháp tương ứng. Lúc này hãy hướng về Liên Hoa Đồng Tử cầu nguyện, cầu gì được nấy, có cầu tất ứng.


### Ghi chú:


Công dụng của pháp này: tăng ích, tăng phúc, thăng quan tiến chức, tăng lương, kéo dài tuổi thọ, công danh, trí tuệ, kinh doanh thịnh vượng, sự nghiệp thành tựu, thu lợi nhuận lớn, tài nguyên không cạn, tiền bạc dồi dào, trúng giải lớn, có đồ quý giá, nhà lầu xe hơi, v.v…

Lập đàn: Dùng bàn hình vuông, dùng vải màu vàng phủ kín, pháp đàn phải tọa đông hướng tây, chủ tôn là kim thân Liên Hoa Đồng Tử (kim thân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư). Pháp tướng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư tọa đông hướng tây, dùng ngũ cúng hoặc bát cúng, hương hoa đèn quả đều cố gắng hết sức dùng màu vàng. Cách lập đàn đặc biệt là ở phía trước ngũ cúng hoặc bát cúng dựng lên một cái cây nhỏ bằng nhựa (cây giả), trên những cành cây thì cuộn tiền mới, dùng giấy đỏ gói lại, dùng sợi chỉ đỏ buộc lại. Trên cây buộc bảy tờ tiền mới, tượng trưng cho ý nghĩa viên mãn.

**Pháp này có hai điểm đặc biệt:**

Thứ nhất, thờ phụng pháp tướng Liên Hoa Đồng Tử (pháp tướng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư) làm chủ tôn.

Thứ hai, trước đàn dựng một cây nhỏ, trên các cành cây, dùng giấy đỏ và chỉ đỏ để buộc tiền mới lên đó. 

Thời gian tu pháp: một ngày một đàn, tu đến khi tương ứng.

Tư thế tu pháp: nên ngồi kiết già, hoặc ngồi bán già, ngồi tùy ý thì cũng được, ngồi trên ghế cũng được.

Video bài giảng


### Mở đầu:


- Đầu tiên thỉnh cầu Căn bản Truyền thừa gia trì: Trước tiên quán Không, tiếp theo quán tưởng truyền thừa Chân Phật Tông: 
Nam mô Đại Nhật Như Lai, nam mô Phật Nhãn Phật Mẫu, nam mô A Di Đà Phật, nam mô Liên Hoa Đồng Tử, nam mô Liên Sinh Hoạt Phật. 

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. 

- Tay kết thủ ấn Liên Hoa Đồng Tử, trì Liên Hoa Đồng Tử tâm chú 7 biến, thỉnh cầu truyền thừa đại gia trì, tu pháp viên mãn. Chú ngữ: Om guru liansheng siddhi hum.

![image](/img/img_44e7fd8fb96cfdd2a977ea02b28626e5.jpg)


- Quán tứ vô lượng: quán tưởng bên tay phải có người thân thuộc phụ hệ, bên tay trái có người thân thuộc mẫu hệ, phía sau có ân nhân sư trưởng, phía trước có oán thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh đứng vây thành các vòng, đồng tu Mật pháp, cùng thành Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Om suri suri maha suri susuri soha.

Tịnh thân: Om sudori sudori sumoli sumoli soha.

Tịnh ý: Om vajra dam hoho hum.

An Thổ Địa chân ngôn: Namo samanta buddhanam om duru duru devi soha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


(Quán tưởng Liên Sinh Hoạt Phật đầu đội mũ miện Pháp Vương, thân mặc long bào màu vàng, ngồi trên đài hoa sen màu vàng, giáng xuống đàn thành, nét mặt tươi cười, phóng ánh sáng vàng chiếu đến hành giả.)

Om ah hum soha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Thập phương nhất thiết chư Phật.
Nhất thiết Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa.


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tát cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

**Đọc bài kệ cúng dường:** 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

**Niệm chú cúng dường: **

Om sarva tathagata idam guru ratna mandala kham nirya tayami


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Namo guru bei.
Namo buddha ye.
Namo dharma ye.
Namo sangha ye.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Kim Cang Tâm (kệ sám hối và chú)


**Niệm kệ sám hối:** (3 biến)

*Xưa kia con tạo bao nghiệp tội.
Đều vì vô thủy tham sân si.
Sinh ra từ thân ngữ ý.
Nay con sám hối tất cả.*

**Niệm chú sám hối: **(108 biến)

Om benza samaya suto ah. 


### Phần 7: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Om buaru lan chuali. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn. (3 lần)


### Phần 8: Niệm kệ Tứ vô lượng tâm


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 9: Phát bồ đề tâm


Niệm văn phát bồ đề tâm: (1 biến)

Đệ tử Liên Hoa… từ nay quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, cho đến khi đạt bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Tất cả mọi điều thiện đều hồi hướng cho chúng sinh mau thành tựu Phật đạo.

Niệm chân ngôn phát bồ đề tâm: (3 biến)

Om bodichita benza samaya ah hum.


### Phần 10: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)


### Phần 11: Niệm thêm chú vãng sinh 


Namo amitābhāya tathāgatāya
Tadyathā 
Amṛtod-bhave
Amṛta-siddhaṃ bhave 
Amṛta-vikrānte 
Amṛta-vikrānta 
Gāmine gagana 
Kīrta-kare svāhā (7 biến)


### Phần 12: Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư


**Quán tưởng tam quang bao trùm.**

**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Chú ngữ:** (108 biến)

Om ah hum guru pei ahasasamaha liansheng siddhi hum. (chú dài)

Om guru liansheng siddhi hum. (chú ngắn)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_6af19bbd1191316f77741823b59f3132.jpg)


**Kết ấn: Ấn rung cây tiền**

Hai bàn tay đều xòe ra, lòng bàn tay trái úp xuống, đặt trước ngực, lòng bàn tay phải hướng về phía trước, cổ tay phải đặt giữa ngón cái và ngón trỏ của bàn tay trái. (Giống như một cái cây mọc trên mặt đất, đây chính là ấn rung cây tiền.)


![image](/img/img_1b3db242da39eb80f70874d3f3baa0f1.jpg)


**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Om subawa suda saerwa daerma subawa sutohang (3 biến)

(1) Quán tưởng Liên Sinh Hoạt Phật phóng ánh sáng vàng chiếu vào cây, toàn bộ cây tỏa ra ánh sáng vàng kim. Cây biến thành to, cành lá sum sê ken dày. 

(2) Lại quán tưởng lá cây không còn là lá cây nữa, mà toàn bộ biến thành tiền mới coóng, tức là một cái cây to, toàn bộ lá trên cây to đó đều biến thành tiền. (Quán tưởng tất cả rõ ràng.) Lúc này, tay phải hơi dao động, tức là rung cây.  

(3) Quán tưởng tất cả lá cây (tiền) đều rơi xung quanh hành giả Chân Phật, chất thành đống cao như núi, bao quanh lấy hành giả. 


### Phần 14: Trì tâm chú rung cây tiền


Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Liên Hoa Đồng Tử (Đại Phúc Kim Cang) đến trước mặt mình. 

**Chú ngữ:**

Na-mo sa-man-tô wa-zư-fa hùm. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Hum), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Bổn tôn A Di Đà Phật, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định.  


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)

Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)

Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (Địa Tạng Vương Bồ Tát)

Ôm chưa-li chu-li chuân-thế sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)

Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)

Ôm ah hùm ben-za gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)

Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lián-shâng sit-đi hùm (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)

Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-lê-ya sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. xin đem công đức này hồi hướng. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 


### Phần 20: Tụng bách tự minh chú: 


Om benza sato samaya
Manupalaya benza sato denopa titha
Drido me bhava suto kayo me bhava
Supo kayo me bhava
Anurakto me bhava
Sarva siddhi me prayatsa
Sarva karma su tsame
Tsittam shriyam kuru hum
Ha ha ha ha ho, bhagavan
Sarva tathagata benza mame mutsa
Bendzi bhava maha samaya sato ah hum pei. (3 biến)

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Om brum. (3 biến)
Om mani padme hum.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/phap-tho-cung-chu-dat-cua-chan-phat-tong.md
# Title: Pháp thờ cúng chủ đất của Chân Phật Tông
---

![image](/img/img_8add6acd0557a6e85345ff2786f5a4be.png)



## Pháp thờ cúng chủ đất của Chân Phật Tông


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Công đức thờ cúng: thỉnh cầu chủ đất giúp bảo vệ nhân khẩu bình an, làm ăn hưng thịnh, tài vận hanh thông, thân thể khỏe mạnh, gia đình viên mãn, mọi việc như ý, yên tâm tu trì Phật pháp.

Thời gian: mồng 1, 2 hoặc 15, 16 Âm lịch hàng tháng, sau 12 giờ trưa.

Cúng phẩm: thịt nấu chín, cá, gà, vịt, ngan (mua thịt làm sẵn, không giết mổ động vật) hoặc cơm, canh, rau củ,… cộng thêm bánh trôi màu trắng và đỏ, ba chén rượu, ba chén trà, trái cây, hoa v.v… Cũng có thể cúng thêm coca cola (nếu bạn sống ở nước ngoài, bạn có thể mua những thực phẩm đồ ăn đồ uống mà người bản địa thích). 

Phương hướng: phải vái lạy hướng vào trong nhà, tức là quay lưng ra cửa, mặt quay vào trong nhà, hoặc bạn có thể hướng về bếp nấu trong nhà mà vái lạy. Nếu trong nhà có lập bàn thờ chủ đất thì sẽ lạy trước bàn thờ này. 

Thứ tự lễ bái:

1. Thắp hương. (cắm 5 que hương)
2. Niệm an thổ địa chân ngôn (Namo samanta buddhanam om duru duru devi soha) 7 biến hoặc nhiều hơn.
3. Dùng chân trái dậm nhẹ xuống đất một cái. (biểu thị gõ cửa của chủ đất)
4. Quán tưởng chủ đất đến trước mặt.
5. Kính rượu cho chủ đất. (phải kính ba lượt)
6. Làm quán tưởng cúng dường. (không cần kết ấn cúng dường, chắp tay là được)
7. Thỉnh cầu. (bản thân muốn thỉnh cầu việc gì thì âm thầm báo cáo rõ ràng với chủ đất)
8. Niệm chú vãng sinh 7 biến hoặc vừa niệm vừa quán tưởng A Di Đà Phật phóng ánh sáng đỏ chiếu đến chủ đất, niệm đến khi quán tưởng rõ ràng mới dừng.
9. Sau cùng đem tiền giấy đã gia trì đi hóa đốt. (tiền giấy như là Như Ý Kim, Thất Phật Kim, Hòa Hợp Kim, Liên Hoa Đồng Tử Kim)

Chú thích: Nghi quỹ thờ cúng thổ địa công giống như trên, trừ hướng vái lạy là hướng ra ngoài nhà.

---
# File: nghi-quy-tu-tap/phap-thu-sat-bang-gao-va-quan-ao.md
# Title: Pháp thu sát bằng gạo và quần áo
---

# Pháp thu sát bằng gạo và quần áo


**Chú ý: **Pháp này không cần quán đảnh

Chân Phật Tông Liên Sinh Hoạt Phật đích thân truyền pháp thu sát bằng gạo và quần áo.

Nếu có người thường mất ngủ, không thể ngủ được, bị tạp âm, sinh bệnh, hoặc trẻ con nửa đêm khóc không ngừng, có thể làm pháp thu sát bằng gạo và quần áo để thu sát, thu kinh. Làm nhiều lần pháp thu sát bằng gạo và quần áo có thể loại bỏ ma quỷ quẫy nhiễu, có thể hồi phục tinh thần, có thể ngủ yên và ngon giấc, vô cùng hữu dụng!

Cách làm pháp thu sát bằng gạo và quần áo như sau:

1. Lấy một cái khay mới, bên trên đổ đầy gạo trắng.

2. Ở trên gạo đặt nội y đã mặc lâu ngày (nội y càng cũ càng tốt, sẽ có khí của bạn ở trên đó.)

3. Đem khay gạo và y phục đặt trước đàn thành (bày thêm một vài cúng phẩm).

4. Ở trước đàn thành, thắp ba nén hương, cầu thỉnh Căn bản Truyền thừa Thượng sư gia trì, hướng về Bổn tôn hoặc Hộ pháp (Bất Động Minh Vương, Đại Lực Kim Cang hoặc Hộ pháp khác) cầu khấn: “Xin loại bỏ toàn bộ sát trên người!” Đồng thời không ngừng niệm chú Bổn tôn (hoặc chú Hộ pháp), triệu thỉnh Bổn tôn (hoặc Hộ pháp) giáng lâm, ma trên người tự nhiên sẽ bị thu vào trong gạo. 

5. Sau đó lại đem ba nén hương cắm vào giữa gạo và quần áo (tương đương với dẫn ma đi ra). 

6. Đợi hương cháy hết một nửa, lấy hương ra (ma sẽ đi theo hương), đem hương và gạo đi ra cửa sau ném đi (ném ra bãi cỏ sau nhà, hoặc dùng giấy tiền vàng để đốt hết), ma sẽ theo hương mà bị ném ra ngoài, rời khỏi thân thể bạn. Ném gạo đi tương đương với loại bỏ sát trên người (y phục thì có thể giữ lại để mặc). 

7. Sau cùng, lại niệm chú Hộ pháp, làm xong việc kết giới chính mình này thì ma sẽ không thể đi vào thân thể được nữa, bệnh của bạn sẽ khỏi.

**Chú thích:**

1. Người bị quấy nhiễu, ngoài dựa vào sự gia trì hoàn tịnh của Sư Tôn (tha lực), tự mình cũng nên làm nhiều lần pháp thu sát bằng gạo và quần áo (tự lực), thì mới có thể nhanh chóng hồi phục, cũng sẽ không khiến cho Sư Tôn quá cực nhọc.

2. Pháp thu sát bằng gạo và quần áo cực kì hữu dụng!

3. Nếu làm sau giờ Ngọ ngày Trừ nhật thì hiệu quả càng tốt.

4. Liên quan đến cách làm pháp cụ thể, xin xem thêm các video Liên Sinh Hoạt Phật truyền thụ pháp thu sát bằng gạo và quần áo.

---
# File: nghi-quy-tu-tap/phap-thuat-hy-kim-cang-chien-thang-quan-dich.md
# Title: Pháp thuật Hỷ Kim Cang chiến thắng quân địch
---

![image](/img/img_c53c15416a48274f8ba129f89b7a18ac.jpg)



## Pháp thuật Hỷ Kim Cang chiến thắng quân địch


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Ở đây có pháp thuật chiến thắng quân địch. Có thể nói về pháp thuật chiến thắng quân địch, nhưng đừng dùng nó! Đây cũng là pháp thuật của Hỷ Kim Cang, tôi nói đơn giản cho mọi người nghe. Phật Thích Ca Mâu Ni có nói pháp thuật muốn chiến thắng quân địch là thế này: để ảnh thủ lĩnh của quân địch ở trên một hòn đá, sau đó đem hòn đá này nghiền thành bột, sau đó trộn thêm năm loại cam lộ và “đoạn thiết thảo”. Đoạn thiết thảo có thể tìm ở đâu? Sư Tôn biết, bởi vì sư phụ có dạy, nhưng tôi không nói cho bạn biết đoạn thiết thảo là gì. Bạn đi hỏi thầy thuốc Đông y, đây là loại cỏ có thể làm gãy sắt. Mọi người đều biết năm loại cam lộ là gì chứ? Bạn không tưởng tượng được năm loại cam lộ trong Mật giáo đâu. Rất nhiều người đều cười, rất nhiều người gật đầu, người nào không gật đầu thì đi hỏi người gật đầu đi. 

Trộn bột đá, năm loại cam lộ và đoạn thiết thảo vào với nhau, nặn thành viên, biến thành “thịt viên”, rồi niệm chú vào “thịt viên” đó: “Ôm wa-zư-la ka-li-tô li sư-wa-zư-la-yê hùm-hùm-hùm fa-cha sô-ha.” Đoạn sau có “hùm-hùm-hùm fa-cha sô-ha”, đây là chú của Hỷ Kim Cang. Phải niệm chú ngữ này 100.000 biến. Bạn bảo niệm 100.000 biến thì niệm tới khi nào chứ? Quân đội của chúng ta sẽ bị tiêu diệt rồi. Ở đây là trước khi làm pháp bạn phải niệm trước từ sớm rồi. Niệm 100.000 biến làm cơ sở, đến khi ấy bạn làm pháp thuật này, bạn lại niệm 108 biến, là như vậy đó. Chú ngữ này phải niệm 100.000 biến, càng lợi hại hơn là niệm 1.000.000 biến.

Lấy một bình rượu, lấy “thịt viên” này bôi lên nắp bình, sau cùng đem bình rượu và nắp bình chặt đứt làm đôi. Làm thế này thì thủ lĩnh của quân địch chắc chắn sẽ chết. Nhưng như vậy chỉ chết một người, nếu có thể ngăn chặn chiến tranh là tốt nhất. Nếu làm cho thủ lĩnh của quân địch chết rồi nhưng phó thủ lĩnh đứng ra làm thủ lĩnh thì vẫn như thế, bạn lại làm một lần nữa. Khi thủ lĩnh của quân địch chết hết rồi thì khi ấy quân địch sẽ nhanh chóng tán loạn. Pháp thuật này vào thời cổ đại rất hữu dụng! Vào thời cổ đại, tướng dẫn quân chết thì quân địch sẽ rút lui. Vào thời hiện đại thì rất khó nói, bởi vì quân đội hiện đại đều có rất nhiều tướng quân, một chủ soái trong đó chết thì phó chủ soái khác lập tức đứng ra, sẽ không có tác dụng gì cả!

Các bạn không thể dùng pháp này bừa bãi! Bởi vì không chỉ là chủ soái của quân địch, đối với đầu não của công ty cũng đều có thể vận dụng pháp này. Nhưng không được dùng đâu! Đây là sát sinh đó! Bạn không thể nói: “Sư Tôn truyền pháp này hay quá! Tôi đang ghét lão sếp ở công ty.” Dùng pháp này thì nếu ông ta không nợ bạn bạn sẽ phải đền ông ta! Nhân quả lẫn nhau đó! Cho nên làm pháp thuật này phải biết sự ghê gớm của nhân quả. Tuần sau, pháp mà Phật Thích Ca Mâu Ni nói tương đối hay, phá tất cả tà thuật và pháp bùa ngải, đều hữu dụng cho mọi người. Pháp này chính là số một!

---
# File: nghi-quy-tu-tap/phap-thuy-cung-chan-phat-tong.md
# Title: Pháp Thủy Cúng Chân Phật Tông 
---

![Tháp Thủy cúng](/img/img_f59ef93b29f88da4ce099f8dae14db27.png)



### Giới thiệu pháp Thủy cúng


Pháp cúng dường lớn trong Mật giáo bao gồm Hỏa cúng (còn gọi là Hộ Ma), bắt nguồn từ nghi thức đốt lửa tế trời của đạo Bà-la-môn cổ xưa ở Ấn Độ, là cách thức đốt cúng phẩm trong lửa, nhờ Hỏa Thiên Thần chuyển các cúng phẩm lên chư Phật Bồ Tát và chư Thiên. Khói cúng là việc nghiền các hương liệu, thực phẩm thành bột, những vật quý giá, bột mì, tsampa (bột lúa mạch rang) thành một khối, khi đốt lên sẽ tạo ra khói, và lúc khói bốc lên, hành giả sẽ hướng về khói để cầu nguyện, thỉnh cầu, cúng dường và hồi hướng. (Chú thích: Năm 2008, Căn bản Thượng sư Liên Sinh Thánh Tôn đã truyền thụ "Pháp Khói Cúng Chân Phật Tông".)

Một phương pháp cúng dường khác là pháp Thủy Cúng, là việc đặt phẩm vật vào nước và thông qua Thủy Thiên Thần để dâng lên. Pháp Thủy cúng của Chân Phật Tông được truyền xuống từ Diêu Trì Kim Mẫu (chú thích: do đó đây là bất cộng đại pháp của tông phái, khác với Thủy cúng thông thường trong Mật giáo). Pháp này là do Thánh Tôn từ bi để cho những đệ tử vì giới hạn về mặt bằng mà không thể tu trì Hỏa cúng cũng có thể tu trì đại pháp Thủy cúng tương đương với Hộ Ma.

Ngoài pháp Thủy cúng của Dao Trì Kim Mẫu, còn có thể làm Thủy cúng của các vị tôn khác. Như Thủy cúng Đại Uy Đức Kim Cang, Thủy cúng Quan Thế Âm Bồ Tát, Thủy cúng A Di Đà Phật... v.v. (phần lớn chư tôn đều có thể trở thành chủ tôn của Thủy cúng). Công dụng đặc biệt của pháp Thủy cúng là vì có Cửu Phụng Bồ Tát hộ trì, nên có thể tiêu trừ bệnh ngoài da, và có thể tiêu trừ hỏa, thổ, phong, thủy và quỷ sát.

**Pháp khí cần chuẩn bị cho Thủy cúng**

Để tu tập Thủy cúng cần chuẩn bị một biểu tượng Thái Cực (đại diện cho tính Không), và dựng một tháp nước ba tầng hoặc năm tầng hình tam giác, đặt cờ lệnh năm màu xung quanh tháp nước, dùng dây ngũ sắc bao quanh tháp cúng để biểu thị kết giới, còn phải chuẩn bị lông công (đại diện cho Cửu Phụng Bồ Tát), đèn hoa sen ngũ sắc (đại diện cho Ngũ Phương Phật) và nước tinh khiết (đại diện cho nước thanh tịnh đại bi của hồ Diêu Trì).

Ba tầng của tháp nước tượng trưng cho Phật, Bồ Tát, Hộ pháp chư Thiên, tương ứng với cơ thể người là thân, khẩu, ý; thượng tiêu, trung tiêu, hạ tiêu [đây là khái niệm Tam tiêu rất quan trọng trong Đông y, là một cách phân chia các vùng chức năng của cơ thể]; thiên quan, địa quan, thủy quan [ba cửa ải hoặc trung tâm năng lượng trong cơ thể con người, thường được đề cập trong các môn tu luyện nội công, khí công]. Ngoài ra, cờ lệnh tướng quân ngũ sắc đại diện cho lực gia trì của năm đức Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ của Ngũ Lão trong Đạo gia. Đối ứng với cơ thể người là đỏ-tim, vàng-rốn, đen-thận, trắng-phổi, xanh-gan. Biểu tượng Thái Cực là ánh sáng vô cực được chuyển hóa từ sự xoay chuyển âm dương Thái Cực, đại diện cho tính Không.

**Kết giới**

Thủy cúng sử dụng chuông chày kim cang và cờ lệnh tướng quân ngũ sắc để kết giới. Pháp kết giới bằng chuông chày kim cang giống với pháp thông thường, còn pháp kết giới của cờ lệnh tướng quân ngũ sắc được tóm tắt như sau: Cờ lệnh đỏ phát ánh sáng đỏ lên trên để tạo kết giới ở trời, đại diện cho Thiên La Thần; cờ lệnh vàng phát ánh sáng vàng xuống mặt đất để tạo kết giới ở đất, đại diện cho Địa La Thần; cờ lệnh đen, cờ lệnh trắng, cờ lệnh xanh lá phát ánh sáng về ba phương để chiếu sáng kết giới, quán tưởng kết giới xa đến đâu thì ánh sáng chiếu tới đó. Kết giới bằng cờ lệnh ngũ sắc đã bao trùm toàn diện trời đất bốn phương.

**Hướng dẫn Thủy cúng**

Khi nghi quỹ bước vào phần Chính hành (Thủy cúng), giống như phần mở đầu của các pháp tu thông thường, hành giả vỗ tay và búng ngón tay, thanh tịnh hóa tràng hạt (phương pháp có thể tham khảo nghi thức Hộ Ma do Thánh Tôn thị phạm), đeo tràng hạt đã thanh tịnh lên người, thân cũng theo đó mà thanh tịnh. Tiếp theo là thỉnh triệu, trước tiên kết ấn Chuẩn Đề Phật Mẫu (ấn tổng) tượng trưng cho ý thức vũ trụ để thỉnh triệu ý thức vũ trụ, sau đó kết ấn chủ tôn và chư tôn để thỉnh triệu chư vị (khi làm Thủy cúng nhất định phải thỉnh triệu Thủy Thiên Thần), tiếp đến kết ấn hoa hương đèn trà quả, sau đó là ấn cúng dường, cuối cùng là bốn lớp kết giới phòng ma.

Khi dâng cúng phẩm, hành giả cần phải hợp nhất với chủ tôn, và sau khi thanh tịnh tất cả cúng phẩm bằng tràng hạt, dùng hai tay nâng lên, quán tưởng vô lượng vô biên rồi mới thả vào nước. Mỗi loại cúng phẩm đều có ba phần, nên phải thực hiện ba lần cúng dường. Sau khi cúng xong một phần cần nhập định, rồi mới tiến hành vòng cúng dường tiếp theo. Trong lần nhập định cuối cùng, hành giả diễn hóa thủ ấn tức-tăng-hoài-tru.

**Khẩu quyết nhập định**

Khẩu quyết khi nhập định, hành giả phải quán tưởng bản thân, chủ tôn và chư tôn đi vào trong biển nước thơm cam lộ, cả ba hòa quyện vào nhau, tất cả nghiệp đen và tội nghiệp của hành giả đều được rửa sạch, được cam lộ mát mẻ thấm nhuần, phúc huệ tăng trưởng.

Nước sau khi hoàn thành pháp Thủy cúng có thể dùng để rảy tịnh, kết giới, tắm rửa, chữa bệnh và uống.


### Hỏi - Đáp về pháp Thủy cúng



![image](/img/img_bfa8f45f6d50a8aa34fe363315cc1664.png)


**Pháp Thủy cúng có cần được quán đảnh từ Căn bản Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn không?**

Có thể thỉnh cầu quán đảnh từ Căn bản Thượng sư hoặc các Thượng sư trong tông phái đại diện cho Căn bản Thượng sư để quán đảnh đều được, nhưng pháp này không thiết lập quán đảnh từ xa. Theo lời dạy của Căn bản Thượng sư, nếu đã được quán đảnh pháp Diêu Trì Kim Mẫu thì có thể tu trì pháp Thủy cúng Kim Mẫu. (Bởi vì Căn bản Thượng sư Liên Sinh Thánh Tôn ban tổng quán đảnh các pháp Kim Mẫu đã bao gồm pháp Thủy cúng.)

**Sự khác biệt lớn nhất giữa Thủy cúng và Hỏa cúng là gì?**

Hỏa cúng sử dụng phương thức lửa Hộ Ma để chuyển cúng phẩm thông qua Hỏa Thiên Thần lên chủ tôn và chư Thiên, trong khi Thủy cúng khác biệt ở chỗ sử dụng phương thức nước thông qua Thủy Thiên Thần (Căn bản Thượng sư đã từng nói, Thủy Thiên Thần chính là Vũ Lâu Na Long Vương [Varuna], để đưa cúng phẩm chảy vào các biển, dâng lên chủ tôn và chư Thiên. Mặc dù hình thức có khác nhau đôi chút, nhưng cùng đích đến giống nhau, công hiệu tương đồng.

**Sự khác biệt giữa nghi quỹ Thủy cúng và Hỏa cúng là gì?**

Nghi quỹ Tiền hành của Thủy cúng và Hỏa cúng về cơ bản là giống nhau, chỉ khác là thêm vào nghi quỹ dâng cúng tám phẩm vật. Sau đó quán tưởng chủ tôn gia trì nước và cúng phẩm trong tháp nước. Chính hành là dâng cúng phẩm vào tháp nước, đồng thời quán tưởng cúng phẩm biến hóa thành vô số vô lượng, lần lượt cúng dường chủ tôn, Căn bản Thượng sư và chư thánh hiền tăng, chư Thiên, và cúng dường xuống cho chúng sinh trong sáu cõi.

**Công đức và hiệu lực của Hỏa cúng và Thủy cúng có giống nhau không?**

Theo lời dạy của Căn bản Thượng sư, công đức và hiệu lực của Hỏa cúng và Thủy cúng là ngang bằng nhau.

**Thực hành Thủy cúng có thuận tiện hơn Hỏa cúng không?**

Xét về việc sử dụng không gian, Thủy cúng tiết kiệm được nhiều diện tích hơn. Và ưu điểm lớn nhất là không có khói, nên không cần thiết bị hút khói, có thể thực hành ở bất kỳ địa điểm nào, dù trong nhà hay ngoài trời.

**Chất liệu của tháp Thủy cúng?**

Bất kỳ chất liệu nào có thể chịu được trọng lượng của nước đều có thể sử dụng. Thông thường, thủy tinh hoặc mica trong suốt được sử dụng làm chính. Trụ đỡ có thể làm bằng cùng chất liệu hoặc bằng cột thép. Cổng vòm cầu vồng phía trên có kích thước tùy ý, thường thì khi tự tu tập chỉ cần dùng loại nhỏ là đủ.

**Tháp Thủy cúng có hình tam giác, vậy khi thực hành thì phần đỉnh nhọn nên hướng về đâu?**

Khi tu tập cá nhân, đỉnh nhọn hướng về phía mình. Khi Thượng sư của Tông phái chủ trì pháp hội, đỉnh nhọn hướng về phía đại chúng, nhưng tốt nhất là không nên có người ngồi ở ngay phía trước đỉnh nhọn.

**Hình Thái Cực ở dưới cùng của tháp Thủy cúng có ý nghĩa gì? Và xin giải thích cách kết giới bằng năm lá cờ lệnh tướng quân.**

Âm dương Thái Cực xoay chuyển hóa thành ánh sáng vô cực, đại diện cho tính Không.

Phương pháp kết giới bằng năm lá cờ lệnh tướng quân: cờ lệnh đỏ phóng ánh sáng đỏ lên trên để kết giới bầu trời, đại diện cho Thiên La Thần; cờ lệnh vàng phóng ánh sáng vàng xuống mặt đất để kết giới đất, đại diện cho Địa La Thần; cờ lệnh đen, cờ lệnh trắng và cờ lệnh xanh lá phóng ánh sáng theo ba phương của lá cờ để chiếu sáng kết giới, quán tưởng xa đến đâu thì kết giới đến đó. Kết giới bằng năm lá cờ lệnh đã bao trùm toàn diện trời đất bốn phương.

Ngoài ra có thể sử dụng phất trần để kết giới, phất trần thanh tịnh nghiệp trần của chúng sinh, chỉ cần quán tưởng ánh sáng trắng bao phủ là được.
Nói chung, tất cả phương pháp kết giới được truyền từ Căn bản Thượng sư đều có thể áp dụng.

**Năm tướng quân lệnh năm màu có phải là Ngũ Đức Tinh Quân không?**

Năm tướng quân lệnh năm màu là hóa thân của Ngũ Đức Tôn Giả trong Đạo giáo.

**Cách cắm cờ lệnh ngũ sắc và cách quấn dây ngũ sắc như thế nào?**

Cách cắm cờ lệnh: Thông thường tháp thủy cúng có ba tầng, trước tiên đặt phần nhọn hướng về phía mình, cắm cờ lệnh màu đỏ vào đỉnh nhọn của tầng trên cùng, cắm cờ lệnh màu vàng vào đỉnh nhọn của tầng giữa, cắm cờ lệnh màu đen vào đỉnh nhọn của tầng dưới, cắm cờ lệnh màu xanh lá vào góc phải của tầng dưới, cắm cờ lệnh màu trắng vào góc trái của tầng dưới.
Cách quấn dây ngũ sắc: Đầu tiên buộc một đầu của dây ngũ sắc vào cờ lệnh màu xanh lá, sau đó lần lượt theo thứ tự "xanh lá -> đỏ -> trắng -> vàng -> xanh lá -> đen -> trắng -> xanh lá". (Có thể tham khảo hình ảnh và bản vẽ tháp thủy cúng trong bài viết này.)

**Chất lượng nước dùng cho Thủy cúng có yêu cầu đặc biệt gì không?**

Chỉ cần sử dụng nước sạch thông thường là được.

**Cúng phẩm trong Thủy cúng là gì?**

Giống như cúng phẩm trong Hộ Ma (Hỏa cúng), phạm vi rất rộng, chỉ cần là thực phẩm hoặc vật dụng có ý nghĩa đều có thể dâng cúng. Nhưng việc chuẩn bị cúng phẩm cần phải phù hợp với nguyện lực của hành giả. Pháp tiêu tai: chủ yếu là màu trắng. Nếu là chữa bệnh, có thể cúng dường thuốc. Pháp kính ái: chủ yếu là màu đỏ. Pháp tăng ích: chủ yếu là màu vàng. Pháp hàng phục: chủ yếu là màu đen. Ngoài ra còn có các cúng phẩm cơ bản như hoa, hương, đèn, trà, quả, đậu ngũ sắc, dược liệu, đường, gạo, sữa, mật ong, ngũ hành (nấm kim châm, mộc nhĩ, miến, váng đậu và nấm hương), sơn hào hải vị (được đại diện bằng muối và gừng) và tất cả các thực phẩm và vật phẩm quý giá và yêu thích.

Ngoài ra, cúng dường Pháp giới (chư Phật Bồ Tát) nên là những vật thanh tịnh, như long bào, khăn khata, thất trân bát bảo...; phẩm vật cúng dường Báo giới (chư Thiên) có thể dùng dược liệu, nước hoa...; phẩm vật cúng dường Ứng giới (Kim cang Hộ pháp) có thể dâng thực phẩm như thịt, rượu, đồ uống, ngũ cốc...

**Làm thế nào để thanh tịnh cúng phẩm?**

Có thể giống như khi tu Hộ Ma, sử dụng cách chuyển châu minh gia trì hoặc dùng lông chim công nhúng vào nước cam lộ (tức là nước sạch thông thường, dĩ nhiên nếu dùng nước chú Đại Bi thì càng tốt), rảy lên nước và cúng phẩm trong tháp Thủy cúng để đạt được tác dụng thanh tịnh.

**Cách sắp xếp đèn ngũ sắc?**

Từ trái sang phải theo hướng hành giả đối diện với đàn thành, lần lượt là: vàng, xanh lam, trắng, đỏ, xanh lá.

**Có giới hạn về số lượng lông chim công cắm vào các lỗ của tháp không?**

Lông chim công chủ yếu là để trang nghiêm, số lượng không có giới hạn, cũng không nhất thiết phải là số chẵn hay số lẻ.

**Sớ văn của Thủy cúng như thế nào?**

Về cơ bản, định dạng sớ văn giống như Hộ Ma, chỉ cần thay đổi một số từ trong đó, như Hộ Ma, Hỏa cúng thành Thủy cúng, và Hỏa Thiên Thần thành Thủy Thiên Thần mà thôi.

**Làm thế nào để dâng cúng phẩm vật trong tháp Thủy cúng ba tầng?**

Về cơ bản, có thể dâng cúng bất kỳ cúng phẩm gì ở mỗi tầng. Có thể dâng cúng những vật quý giá như ngọc trai, mã não, các loại hạt vừng, ngũ cốc, sữa bò và các vật phẩm thanh tịnh khác, cũng như thịt và các thực phẩm mặn. Tuy nhiên, nên tránh dâng cúng những thứ quá nhiều dầu mỡ. Khi dâng cúng, có thể kết ấn cúng dường, cũng có thể kết ấn ngũ cúng. Khi cúng dường chư Thiên, phải có hoa thơm và nước hoa; khi cúng dường long thiên hộ pháp, phải có rượu và thịt cùng dâng cúng. Khi cúng dường, có thể quán tưởng ánh sáng nhiều màu gia trì. Đôi khi dâng cúng dược liệu có thể cầu nguyện gia trì cho hành giả khí huyết thông suốt, phần báo cáo này cần phải rõ ràng minh bạch.
Khi hành giả kết thúc cúng dường cũng có thể diễn hóa các thủ ấn cơ bản (ấn Bổn tôn, ấn cúng dường và ấn ngũ cúng).

**Cúng phẩm của tám món cúng có được thả vào tháp nước không?**

Cúng phẩm của bát cúng không được đưa vào nước. Nếu muốn dâng cúng xuống nước, cần chuẩn bị thêm một phần riêng.

**Cúng phẩm sau khi Thủy cúng nên xử lý như thế nào?**

Nhược điểm duy nhất của Thủy cúng là không thể hóa tất cả cúng phẩm thành tro như Hỏa cúng và Khói cúng, nên công việc xử lý sau khi tu pháp sẽ nhiều hơn. Phần lớn cúng phẩm sau khi cúng không thể dùng để cúng lại. Một số vật như quần áo, trang sức và đồ trang trí có thể giữ lại. Một số vật có thể đốt được, sau khi khô có thể đem hóa. Một số thực phẩm và nguyên liệu thực phẩm sau khi cúng có thể dùng để nấu ăn. Ngoài ra, trong tám món cúng, vỏ ốc, hương thoa và nước hoa có thể tiếp tục sử dụng (mặc dù hầu hết phẩm vật sau khi cúng không được dùng lại, nhưng tám món cúng có thể tái sử dụng). Đèn có thể thắp hoặc không thắp. Rượu cúng, nếu không uống, có thể đổ đi. Nước tinh khiết sau Thủy cúng có thể giữ lại để rảy tịnh hoặc tịnh thân. Dược liệu có thể nấu để ăn. Các cúng phẩm ở tầng dưới khác có thể lọc qua lưới lọc trước khi xử lý.

**Làm thế nào để xử lý nước sau khi Thủy cúng?**

Nước Thủy cúng có thể được dùng để tắm gội tiêu trừ nghiệp chướng, hoặc rảy tịnh kết giới. Cũng có thể lấy một lượng nhỏ để uống, cầu xin Kim Mẫu gia trì tiêu trừ bệnh nghiệp.

**Những thứ gì không thể cúng?**

Khi Bổn tôn là chư Phật Bồ Tát, bất kỳ vật phẩm thanh tịnh nào mà bạn thích đều có thể dâng cúng. Nếu Bổn tôn là Tài Thần, Kim cang Hộ pháp, có thể cúng dường các món như thịt, thức ăn mặn (sống hoặc chín đều được), rượu mạnh, v.v… Khi hành giả tu pháp với lòng thành kính và tâm chuyên nhất, tự nhiên sẽ đạt được cảm ứng.

**Tại sao khi tu pháp Thủy cúng, mỗi lần nên chọn cùng một Bổn tôn?**

Mỗi lần tu Thủy cúng, nếu cố định cùng một Bổn tôn, hành giả sẽ liên tục kết duyên với vị tôn này, từ đó hình thành một mạng lưới hộ trì từ Bổn tôn và Hộ pháp, đạt được sự tương ứng tốt nhất. Khi tu pháp Hộ Ma Hỏa cúng cũng tương tự như vậy.

**Nước Thủy cúng có thể dùng để rảy tịnh kết giới, vậy có thể dùng thay thế cho nước chú Đại Bi không?**

Có thể thay thế cho nước chú Đại Bi, bởi vì trong nghi quỹ đã có trì chú Đại Bi gia trì.

**Có người tu thực hành cả Hỏa cúng và Thủy cúng, cho rằng sức tiêu tai của Thủy cúng lớn hơn, vậy thực tế có sự khác biệt không?**

Hỏa cúng và Thủy cúng đều là pháp tiêu tai lớn với công đức bình đẳng không phân biệt, có thể đạt được phước lực vi diệu vô thượng, chỉ là do duyên phận của mỗi người khác nhau, điều quan trọng nhất là phải kiên trì thực hành liên tục.

**Hỏa cúng có thể quán tưởng đặt vị trí bệnh của bệnh nhân lên lửa để đốt, vậy Thủy cúng nên quán tưởng như thế nào?**

Quán tưởng nước rửa sạch nghiệp đen ở vùng bệnh, chuyển hóa thành ánh sáng thanh tịnh, nghiệp bệnh được tiêu trừ.

**Chúng ta biết pháp Thủy cúng được truyền từ Diêu Trì Kim Mẫu, vậy điều này có ý nghĩa đặc biệt gì không?**

Bởi vì bản địa của Diêu Trì Kim Mẫu có liên quan đến nước, cảnh giới Diêu Trì thường được hiểu là hồ thiên nhiên thanh tịnh nhất, chỉ cần nhập vào nước là có thể tiêu trừ nghiệp chướng, đạt được sự thanh tịnh tối đa. Vì vậy, việc truyền pháp Thủy cúng này phù hợp với đặc tính của Bổn tôn. Căn bản Thượng sư từng nói rằng, nước trong cơ thể con người và nước trong pháp Thủy cúng của Kim Mẫu hoàn toàn có cùng một bản chất, nên mượn Thủy cúng để thanh tịnh chính mình.

**Pháp Thủy cúng nên lấy ai làm Bổn tôn? Nếu thực hành Thủy cúng, phải tu đủ 200 đàn với Diêu Trì Kim Mẫu hay Liên Hoa Đồng Tử làm Bổn tôn phải không?**

Thông thường, Thủy cúng đều lấy Diêu Trì Kim Mẫu làm Bổn tôn, vì vậy bạn vẫn nên tu Diêu Trì Kim Mẫu làm Thủy cúng, theo đúng quy tắc là 200 đàn với Diêu Trì Kim Mẫu làm Bổn tôn. —— Trích từ bài khai thị ngày 26 tháng 12 năm 2021 của Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn tại đại pháp hội Hộ Ma Bất Không Quyến Sách Quan Âm và bài giảng thứ 45 về "Kinh Kim Cang" tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự.

**Thủy cúng có lợi ích gì cho việc tu tập và tích lũy công đức không?**

Về mối quan hệ địa lý, trong nhà bạn không thể tu Hỏa cúng được. Trừ khi ra ban công, nhưng nếu ở ban công, hàng xóm nhìn thấy cũng là một vấn đề, và khói cũng là một rắc rối, khi ấy bạn có thể tu Thủy cúng, dùng Thủy cúng thay thế Hỏa cúng. Khi tu Hỏa cúng bạn phải thỉnh Hỏa Thiên Thần, khi tu Thủy cúng bạn phải thỉnh Thủy Thiên Thần, nhờ Thủy Thiên Thần chuyển cúng phẩm lên chư tôn, Bổn tôn mà bạn tu, Bổn tôn của Thủy cúng. Bổn tôn của Hỏa cúng cũng tương tự, nhờ Hỏa Thiên Thần chuyển cúng phẩm lên Bổn tôn của bạn, Bổn tôn của Hỏa cúng. 
~ Trích từ bài khai thị ngày 12 tháng 6 năm 2021, Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì pháp hội đồng tu Bổn tôn Hoàng Tài Thần tại Seattle Lôi Tạng Tự và bài giảng thứ 407 về "Đạo Quả"

**Thủy cúng với những Bổn tôn khác có gì khác với Thủy cúng Diêu Trì Kim Mẫu?**

Về cơ bản, ngay cả khi Bổn tôn khác nhau, nghi quỹ vẫn giống nhau, chỉ khác ở phần thỉnh mời Bổn tôn và quán tưởng trong phần Chính hành mà thôi.

**Trong nghi quỹ Thủy cúng do Sư Tôn viết, có một đoạn cuối cùng là "vũ cúng", xin hỏi đoạn nghi quỹ này có cần thiết không?**

Vũ cúng [cúng dường ca múa] là đặc điểm của pháp Thủy cúng, là cúng dường lớn qua thân khẩu ý, có thể thỉnh triệu chư Phật Bồ Tát hoan hỷ giáng lâm, có thể nhiếp thọ chúng sinh pháp hỷ sung mãn. Khi tự tu, vũ cúng có thể bỏ qua, tùy theo nhân duyên cá nhân mà quyết định. 

Vũ cúng cũng có thể quán tưởng cúng dường, nhưng tốt nhất vẫn là cúng dường thực tế, cũng có thể tự biên đạo múa quyền hoặc các điệu múa cúng khác mà mình thích.

Còn về việc nên múa điệu gì, Căn bản Thượng sư đã từng nói, vũ cúng vốn lấy Kim cang vũ làm chính thống, nhưng khi cá nhân thực hành Thủy cúng, cũng có thể tự do phát huy.

**Kinh nghiệm tu tập pháp Thủy cúng?**

Niềm hưởng thụ lớn nhất khi tu tập pháp Thủy cúng là nghi quỹ tỉ mỉ trang nghiêm, hành giả lại quán tưởng hợp nhất với Bổn tôn đi vào biển nước thơm, đạt được sự hòa hợp và thanh tịnh mát mẻ tối đa, toàn thân sẽ cảm nhận được sự gia trì của Thủy Đức.


### Nghi quỹ pháp Thủy cúng cho cá nhân tu trì


**⚠ **Mật pháp quan trọng nhất là truyền thừa, vui lòng nhận quán đảnh pháp Thủy cúng trước khi bắt đầu tu tập. **⚠**

(Dựng tháp nước ba tầng hoặc năm tầng hình tam giác, xung quanh tháp nước cắm cờ lệnh năm màu.)

Vào đàn thành tháp nước để tu pháp.

Trước tiên cầu nguyện gia trì từ căn bản truyền thừa: Đầu tiên quán Không, sau đó quán tưởng Căn bản Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật trụ trên đỉnh đầu phóng hào quang gia trì, trì tâm chú Căn bản Thượng sư 7 lần, cầu nguyện tu pháp viên mãn.

Sau đó thực hiện quán Tứ vô lượng tâm. Kết ấn thức tỉnh: Vỗ tay hai lần, sau đó bắt chéo búng ngón tay.

1. Trì tụng chú thanh tịnh.

2. Kết giới bằng chuông chày kim cang.

3. Tụng An thổ địa chân ngôn 108 lần.

4. Tụng chú Kiên Lao Địa Thần 7 lần.
Chú Kiên Lao Địa Thần: "Tan-chi-tha chi-li chi-li chu-lu chu-lu chuy-lu chuy-lu chuy-chu chuy-chu tu-chu tu-chu pô-hưa pô-hưa fa-xia fa-xia sô-ha."

5. Chú triệu thỉnh. (Triệu thỉnh Bổn tôn (3 lần), Thủy Thiên Thần và chư tôn.)

6. Đại lễ bái.

7. Tuyên đọc sớ văn. Gia trì sớ văn. Hóa đốt sớ văn.

8. Cúng dường đại mandala.

9. Chú tứ quy y chú 3 lần.

10. Mặc giáp hộ thân.

11. Tụng văn cầu thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật gia trì:

Ôm A Hùm [Om Ah Hum]
Kính đem thân khẩu ý thanh tịnh.
Cúng dường Tỳ Lô Giá Na Tôn.

Pháp thân Phật Nhãn Phật Mẫu Thánh.
Báo thân Liên Hoa Đồng Tử thân.
Ứng Thân giáo chủ Liên Sinh Phật.
Ba thân không khác, đại Phật ân.

Cung kính Chân Phật đại truyền thừa.
Thần thông ban trải đầy thế giới.
Phóng quang chiếu rọi khắp ba thời.
Hóa hiện không ngừng chứng nhất như.
Đệ tử tha thiết thường cầu tới.
Soi chiếu quang minh, phúc huệ tăng.

Xưa đến thọ ký, Phật Thích Ca.
Phó thác ân cần, A Di Đà.
Di Lặc Bồ Tát ban hồng quán.
Liên Hoa Đại Sĩ mật pháp truyền.
Thánh Tôn xin thỉnh đừng quên nguyện.
Cứu độ chúng sinh chúng con đây.
Hộ niệm như thế xin nhiếp thọ.
Thành tựu nhanh nhanh thỉnh gia trì.

Nam mô Tỳ Lô Giá Na Phật.
Nam mô Phật Nhãn Phật Mẫu.
Nam mô Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Chân Phật hải hội thập phương tam thế chư Phật Bồ Tát Ma Ha Tát.

12. Sám hối nghiệp chướng

Con xưa đã tạo các ác nghiệp.
Đều do vô thủy tham sân si. 
Từ thân khẩu ý mà sinh ra.
Đã phạm thập ác ngũ vô gián. 
Tam muội da giới cùng nghiệp tội. 
Vô lượng vô biên các trọng tội. 
Con nay phát lộ đều sám hối.

13. Trì Bách tự minh chú 3 lần.

14. Trì Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh 1 lần.

15. Trì chú vãng sinh 7 lần.

16. Trì tâm chú Liên Hoa Đồng Tử 108 lần.
(Nếu chủ tôn không phải là Liên Hoa Đồng Tử thì cần phải trì thêm tâm chú Liên Hoa Đồng Tử.)

17. Trì kinh điển của chủ tôn hoặc Chân Phật Kinh. (Ví dụ: nếu chủ tôn là Diêu Trì Kim Mẫu, có thể trì "Diêu Trì Kim Mẫu Định Huệ Giải Thoát Chân Kinh", chú Đại Bi; nếu chủ tôn là Liên Hoa Đồng Tử có thể trì Chân Phật Kinh.)

18. Quán tưởng chủ tôn tam đoạn pháp sinh. Sau đó quán tưởng chủ tôn phóng ánh sáng trắng gia trì nước trong tháp nước. Tay kết ấn của chủ tôn. Miệng trì Om Ah Hum. Nước trong tháp nước hóa thành biển nước thơm cam lộ.

19. Quán tưởng cờ lệnh ngũ sắc phóng ngũ sắc quang hộ đàn. Tạo bốn lớp kết giới.

10. Trì tâm chú chủ tôn.

Dâng tám món cúng dường và các cúng phẩm khác vào tháp nước.

Diễn hóa thủ ấn (đồng môn có thể sử dụng thủ ấn ngũ cúng, ấn Liên Hoa Đồng Tử, ấn chủ tôn Thủy cúng, ấn tám đại Bổn tôn, ấn Kim Mẫu là được. Thượng sư thì diễn hóa thêm ấn tiêu tai, ấn cầu phúc, ấn siêu độ.)

A-can sô-ha ôm ah hum. (nước)
Pa-tang sô-ha ôm ah hum. (nước tắm)
Pu-pê sô-ha ôm ah hum. (hoa)
Tu-pê sô-ha ôm ah hum. (hương)
A-lô-cây sô-ha ôm ah hum. (đèn)
Can-tia sô-ha ôm ah hum. (phấn)
Ni-wây-tia sô-ha ôm ah hum. (quả)
Ka-ta sô-ha ôm ah hum. (nhạc)

21. Nhập định.

Quán tưởng thân mình đi vào biển nước thơm cam lộ, tẩy sạch mọi nghiệp chướng đen tối, khôi phục bản tính, thân thể hoàn toàn trong suốt, hợp nhất với nước, được cam lộ mát mẻ thấm nhuần, phúc huệ tăng trưởng. (Hoàn toàn nhập vào định của đại không.)

22. Tụng tán

Hum Hum Hum.
Ba thân tự tính nơi cõi Phật
Thượng sư Bổn tôn Không hành mẫu
Hộ pháp phát lời thề bảo vệ
Cầu thỉnh giáng lâm nạp hội cúng
Liên Sinh Hoạt Phật Đại Thượng sư
Liên Hoa Đồng Tử ứng hóa tôn
Ngũ phương Ngũ Phật đại đàn thành
Bát đại Bồ Tát mãn tâm hỷ
Hộ pháp Không hành nhiễu như biển
Âm nhạc bảo sức xuất nhã âm
Lời ca điệu múa đầy tiêu dao
Biến khắp hư không và mặt đất
Cầu ban gia trì diệu hội cúng
Hành giả du già tâm kiền thành
Với cúng dường mây vi diệu này
Hoan hỷ tụ tập nội minh đường
Thành tâm sám hối mọi phá giới
Thanh tịnh viên mãn nội minh cung
Liên Sinh Hoạt Phật trường trụ thế
Chân Phật Mật thừa pháp luân chuyển
Nay con chí thành xin khởi thỉnh
Nguyện ban đại bi thường hộ niệm
Tiêu tai trừ chướng tăng giác thọ
Cúng hết mọi cõi ban viên mãn.

23. Trì tâm chú tám đại Bổn tôn, niệm Phật.

24. Hồi hướng:

Như thế đủ đầy nước tắm thơm.
Vô thượng đại bi tự tính thủy.
Nhờ đây gia trì đại trí huệ.
Đại bi thủy cúng diệu phúc lực.
Cầu ban sở nguyện đạt thành tựu. 
Chúng con phúc huệ đều đầy đủ.

25. Trì Bách tự minh chú. (3 lần)

26. Quán tưởng đại lễ bái.

27. Trì chú viên mãn. (3 lần)

Om mani padme hum.
Cát tường viên mãn.

---
# File: nghi-quy-tu-tap/phap-xa-loi-toc-phat-man-cua-kim-cuong-thuong-su.md
# Title: Pháp xá lợi tóc (phát man) của Kim Cương Thượng sư
---

![image](/img/img_416dbdd41d056b617a74250ad3ce6561.png)



## Pháp xá lợi tóc (phát man) của Liên Sinh Kim cương Thượng sư


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: 1992
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


Xá lợi sinh xá lợi. Chúng ta đều đã từng nghe truyền thuyết về xá lợi tóc của Sư Tôn, cắt xuống rồi nhưng cứ tự mọc dài ra, hay tự xoắn lại trở thành viên. Ngày 22/12/2018, Sư Tôn còn truyền cả pháp tu luyện xá lợi tóc của ngài nữa. Vậy tu pháp này có lợi ích gì? Cảm khái của Sư Tôn về tóc ra sao, xin mời cả nhà cùng đọc nhé.


### Bài giảng của Sư Tôn


Ngày xưa tôi từng hỏi đệ tử: "Đại Mandala của Phật Tỳ Lô Giá Na (Vairochana) có người nào làm cúng dường kim cương không?"
Đệ tử không trả lời được.

Tôi nói:"Trong những thứ như hí (biểu diễn kịch), man (mũ hoa), ca (bài hát), vũ (điệu múa), hương (hương thơm), hoa, đăng (đèn), v.v... thứ cúng dường Phật Vairocana gần phù hợp nhất chính là "kim cương hí kịch", "kim cương man", "kim cương ca", "kim cương vũ".

Thế nên tôi dạy đệ tử vẽ đại Mandala. Từ việc này tôi liên tưởng đến việc gần đây có nhiều đệ tử bay tới Seattle cầu xin tôi sau khi cắt tóc thì giữ tóc lại để cho họ đem về thờ cúng.

Sau khi họ đem tóc tôi về, có người thì cho vào trong tượng sứ của Liên Hoa Đồng Tử gọi là "nhập thần". Có người thì bỏ vào tháp xá lợi, chính là xá lợi tóc, để thờ cúng. Người ta nói rằng sau khi thờ cúng xá lợi tóc có rất nhiều rất nhiều đệ tử đều có được những hiện tượng cảm ứng may mắn cát tường, cảm ứng rất là nhiều, nhiều đến mức người ta thấy kinh ngạc. 

Bây giờ đệ tử ở các nước trên thế giới khi nghe được tin tức này liền đến xin xá lợi tóc ngày càng nhiều, nói đơn giản thì là cung không đủ cầu. Tôi (Liên Sinh Hoạt Phật) vốn dĩ một tháng cắt tóc hai lần, bây giờ một tháng cắt tóc tới bốn lần. Bây giờ mỗi ngày đều cầu nguyện cho tóc dài ra mau để giúp cho đệ tử đạt được tâm nguyện.

🌟

Có đệ tử của Tử Liên Đường ở Mỹ, ngày 14/12 sau khi nhận được xá lợi tóc của Sư Tôn đã viết một bài tản văn gửi cho tôi, bài văn như sau:

*"Đó là một âm thanh từ trong tâm, không có ngôn từ kết thúc, liên kết và lưu luyến. Đó là một sợi tóc đen đẹp đẽ, đen trắng lại bóng sáng, vẫn không ngừng dài thêm. Là Thầy đó! Vị Tôn giả vĩ đại. Tất cả đều để lại cho chúng con. Tôn giả của chúng con, có năng nguyện của Thầy chúng con chẳng thiếu gì, chúng con cần Thầy dẫn dắt, chúng con cần Thầy cứu giúp. Chỉ cho chúng con cách phân định rõ thời gian và không gian, chấp nhận áp lực của thời đại. Tấm lòng bao la của Thầy chiếu rọi quang minh, vô cùng vô tận, là nơi gặp gỡ, là nơi giao lưu tâm linh, nhưng tất cả đều không cần phải nói ra. Chỉ lưu lại tiếng lòng, lưu lại cho chúng con. Chuông ngân vang chuông ngân, lắc lắc rồi lại lắc. Một sợi tơ trắng mọc ra từ mái đầu hoa râm. Thầy là nơi tâm linh hội tụ, những hy vọng thành hiện thực với mức độ không thể nào so sánh. Ánh sáng quang minh sẽ thấy xoay vòng tròn, từ trong tâm hiển lộ tia sáng đỏ trắng rọi trúng vào kim quang, biến hóa và biến hóa, tự nhiên hiển lộ. Tôn giả vĩ đại. Chúng con yêu Thầy, những gì Thầy để lại, tất cả đều không cần nói ra. Sư Tôn, con yêu Thầy! Con tôn kính Thầy! Một sợi tóc đen để lại, con sẽ gìn giữ! Lưu lại cho đời đời hậu thế, nghìn thế hệ sau. Mãi mãi không dừng dứt!"*


### Nghi quỹ pháp xá lợi tóc


Do vì nhân duyên của xá lợi tóc, tôi bèn truyền thụ pháp xá lợi tóc của Liên Sinh Kim Cương Thượng Sư cho mọi người. Pháp xá lợi tóc này, trên thế gian hiếm có. Pháp có nghi quỹ như sau:

1. Niệm thanh tịnh chú.

1. Niệm triệu thỉnh chú.

1. Đại lễ bái.

1. Pháp cúng dường Mandala.

1. Niệm tứ quy y chú.

1. Tu pháp Bia giáp hộ thân.

1. Tứ vô lượng tâm, phát bồ đề tâm.

1. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm chân kinh.

1. Cầu thỉnh Liên Hoa Đồng Tử (tay kết thủ ấn Liên Hoa Đồng Tử):
*Tự tính Liên Hoa pháp tính thân.
Hữu thủ thuyết pháp tả trì liên.
Hóa thân biến mãn thiên vạn cảnh.
Thiên y bảo sức diệu trang nghiêm.
Đắc thừa đạo hiển mật nhất thân.
Dung hợp truyền thừa tối thượng trân.
Chân Phật Mật Pháp chúng sinh đạo.
Phổ độ quần sinh nhi vô d*ư.

1. Đầu tiên quán không, rồi quán tưởng: Quán tưởng một cái hồ lớn, mặt hồ sáng như gương soi, giữa hồ xuất hiện một ngọn núi cao, trên đỉnh núi có một tòa sen, Liên Sinh Hoạt Phật Thượng Sư ngồi trên tòa sen này, giống như bức tượng Thượng Sư bằng sứ vậy, tướng mạo trang nghiêm viên mãn như Phật, thân phát ra hàng trăm ánh sáng trân quý. Bên phải Thượng Sư có Chư Phật mười phương quá khứ, bên trái có tất cả Bồ Tát thánh hiền tăng già, các tổ tiên quá khứ và tầng tầng lớp lớp những người ngồi ở phía dưới, có Tứ Đại Thiên Vương và quỷ thần hộ pháp. Trên đỉnh đầu Liên Sinh Thượng Sư rủ xuống hai búi tóc. Lại quán tưởng vị trí thiên tâm (con mắt thứ ba) của Thượng Sư, chữ "Om" tiếng Phạn, phát ra một luồng ánh sáng màu trắng rất mạnh chiếu rọi đến thiên tâm của hành giả. Đây là ánh sáng trí huệ của tấm gương tròn lớn, khiến cho ngũ uẩn của hành giả và thức thứ tám hóa thành vô hình. [Thức thứ tám: âm tiếng Phạn dịch ra là A-lại-da-thức, còn gọi là Tàng thức. Tất cả mọi chủng tử không phân biệt thiện ác, tốt xấu, sinh tử và niết bàn, mê ngộ và vui khổ. A-lại-da-thức có khả năng tiếp nhận, duy trì và làm các hạt giống chủng tử tăng trưởng, chuyển biến cho đến khi đầy đủ nhân duyên thuần thục chín muồi thì mới được đi tái sinh vào những thế giới thích hợp với căn nghiệp của mình.] Từ vị trí giữa cổ họng của Thượng Sư, chữ "Ah" tiếng Phạn phóng ra một luồng sáng màu đỏ rất mạnh chiếu rọi đến giữa cổ họng của hành giả, khiến cho tất cả tham tính dục niệm của hành giả đều biến thành vô hình, trở thành ánh sáng đại trí huệ. Từ vị trí tim của Thượng Sư, chữ "Hum" tiếng Phạn phóng ra một luồng ánh sáng màu xanh lam chiếu rọi đến vị trí tim của hành giả, rồi chuyển thành ánh sáng của đại trí huệ, chuyển đổi tính ngu si của hành giả, biến ngu si trở thành vô hình. Tam quán tưởng "Thượng Sư và Tam Bảo Chư Tôn" cùng phát ra ánh sáng ngũ sắc chiếu rọi lên toàn thân hành giả, khiến cho tất cả mọi ác nghiệp tội chướng, tất cả các nghiệp chướng từ vô thủy của hành giả đều biến thành khí đen theo các lỗ chân lông thoát ra ngoài, tan biến vào không khí, sau đó thì toàn thân quang minh thuần khiết, toàn thân phát quang.

1. Trì chú: "Liên Sinh Thượng Sư Phát Man chú" 108 biến. "Om. lian-sheng. ta-rưa-li. soha"

1. Nhập Tam Ma Địa

1. Gia trì bằng tâm chú khác.

1. Hồi hướng:
*Kính lễ xá lợi tóc Thượng Sư
Năng lực tối thắng và viên mãn
Thắng lợi sinh trưởng thật phì nhiêu
Đạt được như ý còn dư dả.
Cát tường viên mãn.*

Theo như tôi biết, thiên hạ vạn pháp lấy con người làm chủ, con người lấy tông phái làm "tâm", vô chủ tắc pháp bất sinh, vô tâm tắc thân bất lập (*không có người làm chủ thì không sinh ra pháp, không có tâm thì thân cũng không đứng vững được). Tâm pháp có nhiều môn, lấy môn nào để sử dụng cũng không phải chỉ có một. Bởi vì "tâm" cũng là vô hình, tu tâm theo "khí" đi vào, khí cũng là vô hình, thế nên lấy cái hữu hình để tượng trưng cho cái vô hình, có gì đẹp đẽ hơn thế, suy ngẫm kĩ càng mới biết "xá lợi" là như vậy.

Còn sống thì cái gì là "xá lợi"? 
Đáp: "Lông tóc móng tay."

Chết rồi thì cái gì là "xá lợi?" 
Đáp: "Thân cứng đặc."

Cao Thượng Chân Hoàng Quân nói: nguồn gốc nguyên khí bắt đầu từ Cửu Thiên đi vào trong cơ thể con người thành các viên nguyên khí, phân bố trong ngũ tạng, từ vị trí trái tim lan ra khắp nơi đều có khí, giống như các sợi tơ của sự sống lan ra đến tận cùng phía trên đỉnh đầu nơi hư không, đây chính là "phát man".

🌟

Trong "phát man" có ba loại khí hoa:

1⃣ Khí tự nhiên, giống như sắc hoa phù dung.

2⃣ Minh khí trong cõi trời, giống như ánh sáng của ngọc trong buổi sớm.

3⃣ Khí thượng thanh, sóng cuộn như hoa sen.

Càng huyền bí hơn chính là "phát man" có thể xem như ở trong ráng đỏ (*ánh sáng đỏ của mặt trời khi mọc hoặc lặn), trong ngọc khuyết, trong những nơi rất nhỏ, trong phòng ngọc của Thiên Thượng Ngọc Đế, mỗi khi gió thổi qua thì phát ra âm thanh "phù kim phòng".

Có một lời kệ như sau:

*Người quân tử tỏa sáng từ trong pháp
Tâm cao thượng gửi đến cõi thượng thanh
Giải thoát hết mọi khổ đau vũ trụ
Cưỡi Bát Tố đi vào cửa Tứ Minh 
Từ đó tóc trân quý như cây ngọc
Sáng huy hoàng, dày mượt như ráng mây!*

[Bát Tố, Tứ Minh: Để hiểu sự uyên thâm và ý nghĩa của nó, xin vui lòng đọc Vân Cấp Thất Thiêm, phần Tam Động Kinh giáo bộ, chương 14, lời giảng của Ngọc Thần Thái Thượng Đại Đạo Quân.]

🌟

Tu pháp xá lợi tóc của Liên Sinh Thượng Sư Kim Cương có lợi ích gì?

1⃣ Tương ứng khi tu tập cực nhanh: Như cưỡi xe thần, nhập vào dòng chảy nhanh vượt trội. (Bởi vì tóc của con người là sinh trưởng nhanh nhất.)

2⃣ Chữa bệnh linh nghiệm, có hiệu quả: Ngũ tạng thông suốt, mặt sinh ra tử vân. (Chân khí đệ nhất, nguồn gốc của trường sinh) [Tử vân: hào quang, tia khí màu tím tỏa ra từ trên mặt, đây là hiện tượng các vị võ công tu luyện theo Đạo giáo tới mức đả thông kinh mạch, đạt nội lực rất thâm hậu.]

3⃣ Làm giàu nhanh chóng, là số một: Tài sản tiền bạc tích lũy nhanh như thần, may mắn lớn sẽ đến. (Giống như tóc mỗi ngày đều dài thêm ra.)

4⃣ Phá ma trừ tà: Bảo vệ nguyên khí dương, nguyên thần sẽ vững chắc. (Tóc có cái thế tĩnh lặng của trời đất hợp thành tự nhiên, hỗn nhiên từ vô thủy.)

5⃣ Như cầu vồng bất tử: Tựa Bạch vân chi khí, như khí chất của mây trắng, sẽ đạt được chứng đạo. (Tu pháp tương ứng, có thể chứng được sự bất tử.)

Đây thật là:

Tinh khí thần của con người hóa thành một làn khói tím, như mây phúc lành, như chân ngọc huy hoàng rực rỡ, phản chiếu lên những gợn mây đỏ kết thành hình ảnh đẹp đẽ tuyệt vời, với ánh sáng tụ lại thành một sợi tơ huyền bí ở trong hư vô. Bỗng nhiên, tựa như xuất hiện hai búi tóc từ nơi nào tới, từ nơi nào sinh ra, do vậy mà trở nên vô cùng thiên chân chân đạo. Nguồn gốc từ đó, tựa các hạt huyền bí bỗng xuất hiện đi vào sách như những hạt ngọc hư vô, làm nên cảnh tượng như từ cõi thiên thượng thuần khiết, như điệu múa vút lên cao, rồi góp gió thành bão, lại bải hoải như khói sương, nhờ trâm cài tóc như hoa hướng dương để suốt một ngày dài miệt mài phục vụ từ sáng sớm. Đây là đạo căn, gốc rễ không hư hại.

Trong Đạo gia, "phát man" chính là:

"Phát xuất bay lên, như ngọc sáng trên trời như ý, tên gọi là Ngọc Hoàng Minh Thượng Đại Đạo Quân, thọ nhận Cao Thanh Thái Hư Vô Cực Thượng Đạo Quân ẩn phù." Với một sợi tóc trong tượng, tu năm nghìn đàn, thần trí sẽ được khai sáng, thánh trí như tiếng sét, chân bước lên mây, có đại uy thần biến. Tiêu tai giải ách, cầu rồi sẽ được, tương ứng vi diệu, bí mật này ở trên cõi chư thiên là ẩn trong tư tưởng huyền bí, là một bước lên hư không.

🌟

Tôi (Liên Sinh Hoạt Phật) có một lần xuất định, ngộ ra được nhiều điều, đã viết một áng văn có liên quan đến "phát man". Lần đầu tiên tôi cạo sạch tóc đã có một cảm giác rất sâu sắc.

*Ánh sáng chân lý là vô sự.
Cả đời lo toan làm việc pháp.
Không vì cao hứng thích thì làm.
Từ đó Phật gia ở trong tôi.*

Tôi vốn cho rằng xuất gia rồi thì hoàn toàn an ổn thoải mái, mọi thứ đều vô thị vô phi [không còn những lời gièm pha nói xấu đặt điều], sẽ được vui vẻ mà sống yên bình nhẹ nhõm. Tôi từ bỏ những phức tạp của trần thế, tôi từ bỏ những phiền nhiễu. Tôi cảm thấy xuất gia là vô cùng hoàn mỹ, cảm thấy rất thuần tịnh, rất hào hiệp, vô cùng đơn giản chất phác.

Tôi không nghĩ rằng xuống tóc rồi lại thành một điều ràng buộc. Tôi không cho rằng việc rút vào trong phòng, sống trong bóng tối là một kiểu tự làm khổ mình. Ngược lại tôi cho rằng bầu trời tâm linh lại càng được mở rộng, càng đẹp đẽ, càng mở ra rộng lớn thêm, bởi vì hư không từ lâu đã hào phóng đem lại cho tôi rất nhiều thứ. 

Tuy nhiên, tóc đã cắt rồi lại dài ra, giống như bốn mùa hoa vẫn nở, tóc cũng có thể xem như là một trong những kiệt tác đáng kinh ngạc của ý thức vũ trụ, mỗi ngày đều dài thêm, mỗi ngày đều thị hiện.

Tôi ngợi ca cỏ dại. Cỏ dại có thể xem như sự sống vĩ đại của trời đất. Mùa đông bị lấp vùi dưới tuyết, gió xuân thổi tới lại sống dậy. Trên đỉnh núi cao, trong khe hang động, trong kẽ nứt của đá, ở bên bờ suối, nơi đâu cũng có thiên cơ. Bất kể bốn mùa luân chuyển, tóc cũng giống như vậy, cứ lớn đều đều.

Sức sống của tóc tôi rất đáng kinh ngạc, một tuần đã rất dài rồi, nó có sức mạnh sinh trưởng, tóc mềm đen bóng, đôi khi có vài sợi trắng, nhưng vẫn đen bóng rất đẹp. Cuối cùng tôi hiểu ra: Chẳng thể cắt đứt được ba nghìn sợi phiền não. Vừa mới cắt tóc, tóc lại mọc lên. Mặc dù tôi ước là tóc đừng mọc nữa, nhưng tất cả tùy duyên.

Tôi cũng ngợi ca vẻ đẹp của tóc. Ở nước Mỹ phương Tây, tôi đã nhìn thấy nhiều kiểu tóc vàng như hoa vậy, tóc vàng sáng bóng như vàng, còn có tóc đỏ như màu lá phong, đỏ như hoa trạng nguyên. Đôi mắt tôi sau khi được nhìn thấy những thứ tuyệt mĩ trong trời đất thì giờ mới biết. Những sợi dây đàn trong lòng tôi chỉ vang lên những thanh âm lạnh lẽo.

Tôi tự mình cắt tóc. Ngân nga vài âm thanh nhỏ nhỏ. Dùng tay sờ vào tóc và nhìn gương, kiểu tóc thì đương nhiên luôn luôn như vậy, y hệt như lần trước, gió thổi lá rụng, tất cả đều gọt sạch sẽ, đầu trọc lóc.

Tôi cảm thấy có đôi lúc "hòa thượng đầu trọc" còn đẹp hơn để tóc dài. Đầu trọc rất thoáng mát, giống như là không có tì vết, giống như dấu lặng (dấu nghỉ) trong diễn tấu âm nhạc, khoảng thời gian trống được nghỉ này xem như ngày càng khó mà có được! Đây là gột rửa sạch hết hư không rộng lớn.

"Đầu trọc" làm người ta phải nín thở mải mê nhìn.
"Đầu trọc" là khởi đầu của mầm non mùa xuân.
"Đầu trọc" là sự bắt đầu hoàn toàn mới mẻ.
"Đầu trọc" là một kiểu thoái lui.

Tôi thích tất cả những gì trọc lốc trần trụi, giống như thích một phút tĩnh mịch, đây là nhận thức từ biểu hiện bên ngoài của vạn sự vạn vật , cũng là nhận thức từ gốc rễ của đầu tóc.

Tôi không thấy thu qua. 
Tôi chẳng thấy hè dài. 
Tôi đâu thấy xuân đến.
Có lẽ "trốn vào mùa đông" chính là sự bình lặng đẹp đẽ nhất!

🌟

Tất cả các đệ tử Chân Phật Tông sưu tầm những sợi tóc của tôi cũng có thể xem như một kiểu "trốn vào mùa đông" khác. Họ xin tóc của tôi để làm gì? Có gì cầu xin, cũng như chẳng có gì cầu xin, đều nằm ở trạng thái tinh thần, mọi thứ đều nằm ở chính bạn, không phải nằm ở trong tôi. Tâm bạn an, tâm tôi cũng an, trong tu pháp Mật giáo cũng xem như là bắt đầu một thế giới mới, gồm có những điều thú vị bên trong chính nó.

Còn về tôi mà nói, thế giới này mặc dù rất rộng lớn, nhưng những thứ mà con người để lại cũng chẳng thể xem là quá nhiều. Tôi sẽ chẳng hối hận, cũng chẳng sợ hãi, trên thế giới rộng lớn vô biên này các đệ tử của tôi từ trên người của tôi mà "sưu tầm" được mấy sợi tóc thì cũng chỉ mong mấy sợi tóc đó, ở bên ngoài mấy độ không gian, có được trí huệ vĩnh hằng.

Tóc dài như thác nước thật đáng yêu.
Bầu trời cũng thật đáng yêu.
Người tại gia có thể tìm được tình ái.
Người xuất gia có thể kiếm được Phật âm.
Hôm qua là tình ái, hôm nay là Phật âm.

Còn đối với "phát man" cũng chỉ là "kính hoa thủy nguyệt" [hoa trong gương, trăng dưới nước, ý nói rằng chỉ là ảo ảnh dễ tan biến], mặt trăng lạnh mặt trời nóng [như chuyện bình thường xưa nay vẫn thế, không có gì lạ cả]. Tôi cũng không còn trẻ nữa, thực tế cũng đã trung niên rồi, có thể xem như gần đất xa trời, đem mọi tình cảm gửi tới những chân trời góc bể mà tôi biết đến. Những ngày xưa đó là tóc rủ hai bên, còn những ngày sau này từng sợi giấu trong tâm. Giống như tất cả đệ tử của tôi đem từng sợi từng sợi tóc giấu vào trong tâm vậy.

*(Bản văn trích từ cuốn văn tập số 98 của Liên Sinh Hoạt Phật - “Pháp hải câu huyền”, viết năm 1992, năm ngài 47 tuổi.)*

Nếu chưa được quán đỉnh pháp, vui lòng không thực hành để tránh chịu nghiệp nặng và các hệ quả không đáng có.

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/phat-dinh-ton-thang-phat-mau-niem-tung-phap.md
# Title: Phật Đỉnh Tôn Thắng Phật Mẫu niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_ea4ca07d4030d845b9797162a9e04007.jpg)



## Phật Đỉnh Tôn Thắng Phật Mẫu niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


(1) Quán Không.

(2) Thỉnh cầu Căn bản Truyền thừa gia trì. Tay kết thủ ấn Căn bản Thượng sư, quán tưởng Căn bản Thượng sư phóng ba ánh sáng trắng, đỏ, lam chiếu đến hành giả, gia trì hành giả tu pháp viên mãn. Niệm chú Căn bản Thượng sư 7 lần. Niệm văn cầu thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật gia trì 1 lần.

(3) Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

(4) Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô chủ tôn tu pháp Tôn Thắng Phật Mẫu. (x3)

(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)

Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê. 

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Mặc giáp hộ thân


Kết thủ ấn chắp tay kim cang, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cang thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Phụng thỉnh bát đại Bồ Tát
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Kim Cang Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Diệu Cát Tường Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.

Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ thất Phật. Vị lai hiền kiếp thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Niệm danh hiệu Phật sáu phương
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyệt Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Hết thảy chúng sinh trung ương, chư vị trong Phật giới, trú ngụ trên mặt đất, cho đến tại không trung, thương lo cho tất cả chúng sinh. Ai cũng an ổn tốt lành. Ngày đêm tu trì. Tâm thường cầu tụng kinh này. Diệt được khổ sinh tử. Tiêu trừ hết độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Tụng bản kinh không ngừng. Thất Phật Thế Tôn. Liền nói chú sau:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-lô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-ki-a-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha” (7 lần)

Mười phương Quan Thế Âm. Hết thảy chư Bồ Tát.
Đã thề cứu chúng sinh. Xướng danh tất giải thoát.

Nếu gặp người trí tuệ. Ân cần mà giảng nói.
Lại có đủ nhân duyên. Đọc tụng không ngơi nghỉ.
Tụng kinh tròn nghìn biến. Niệm niệm tâm không dừng.
Gặp lửa cháy chẳng sao. Việc đao binh cũng thoát.
Nóng giận thành vui vẻ. Chết rồi hóa sống vui.
Đừng nghĩ rằng không đúng. Chư Phật chẳng nói chơi.
Cao Vương Quan Thế Âm. Cứu được hết khổ nạn.
Lúc khó khăn nguy cấp. Người chết còn thành sống.
Chư Phật chẳng nói đùa. Vì vậy nên đảnh lễ.
Niệm tụng trọn nghìn lần. Tội nặng đều tiêu diệt.
Người có phúc tín tâm. Hãy chuyên tâm đọc tụng.

Nguyện mang công đức này. Gửi tới hết chúng sinh.
Tụng tròn một nghìn biến. Tội nặng đều tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (Hết)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_6b8b1ce41006cdad69cd7e0eb795f7cf.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn tháp ****Tôn Thắng Phật Mẫu**

Hai tay chắp lại, ngón cái đè lên ngón trỏ và co vào bên trong lòng bàn tay.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời xanh vạn dặm không mây, có một nguyệt luân từ dưới biển nhô lên, ở giữa nguyệt luân xuất hiện chủng tử tự chữ “Brum” (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu trắng phóng quang. Quán tưởng chữ “Brum” trong nguyệt luân xoay tròn hóa thành chày kim cang chữ thập, chính giữa chày kim cang chữ thập lại có chú tự Brum. Từ chú tự Brum lại phóng quang chiếu đến hành giả, trong hư không hiển hiện Tôn Thắng Phật Mẫu.

(2) Tôn Thắng Phật Mẫu có ba mặt tám tay, mỗi khuôn mặt có ba con mắt, mặt ở giữa màu trắng tịch tĩnh trang nghiêm, mặt bên phải màu vàng tươi cười vui vẻ, mặt bên trái màu xanh lam hiện tướng phẫn nộ.

Tôn Thắng Phật Mẫu thân trắng ngần không tì vết, tướng mạo như thiếu nữ trẻ trung, ngồi ngay ngắn trên nguyệt luân hoa sen, thiên y, lọn tóc, mũ miện, chuỗi ngọc làm trang nghiêm cho vẻ hiền từ của ngài, có vô lượng tịnh quang màu trắng tỏa chiếu.

Tám cánh tay của Tôn Thắng Phật Mẫu đều cầm pháp khí, cánh tay phải thứ nhất cầm chày kim cang chữ thập giữ trước ngực, tay thứ hai nâng tòa hoa sen có A Di Đà Phật ở trên, tay thứ ba cầm mũi tên, tay thứ tư kết ấn ban nguyện đặt ở trên đùi phải. Cánh tay trái thứ nhất kết ấn phẫn nộ và cầm dây thừng, tay thứ hai giơ cao kết ấn vô úy, tay thứ ba cầm cung, tay thứ tư kết định ấn và nâng bảo bình cam lộ.

(3) Sau đó quán tưởng Đông phương có Bất Động Minh Vương tay phải cầm bảo kiếm. Nam phương có Ái Nhiễm Minh Vương tay phải cầm móc sắt. Tây phương có Trì Bổng Minh Vương tay phải cầm gậy xanh. Bắc phương có Đại Lực Minh Vương tay phải cầm chày kim cang. Tứ Đại Minh Vương đều có thân màu lam, tay trái đều kết ấn phẫn nộ quyền giữ trước ngực, tóc và lông mày đều bốc cháy, nghiến răng hàm, quấn váy da hổ, dùng rắn làm vòng đeo để làm trang nghiêm, ngồi trên nhật luân, xung quanh có ngọn lửa bát nhã cháy hừng hực, chân phải cong chân trái duỗi, bảo vệ xung quanh Tôn Thắng Phật Mẫu. Lúc này quán tưởng từ thiên tâm của Tôn Thắng Phật Mẫu phóng ra một đường ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả, từ họng của ngài phóng ra một đường ánh sáng đỏ chiếu đến họng của hành giả, từ tâm luân của ngài phóng ra một đường ánh sáng màu xanh lam chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng đi vào thân tâm hành giả, gia trì cho hành giả thân tâm thanh tịnh. Trong chớp mắt, hành giả biến hóa thành Tôn Thắng Phật Mẫu.


### Phần 14: Trì tâm chú Tôn Thắng Phật Mẫu


Tâm chú: Ôm brôm sô-ha. Ôm a-mi-ta a-yu-la ta-tê sô-ha. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Brum), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Tôn Thắng Phật Mẫu, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định -  Tụng tán


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định.

Tụng tán: 

Vô Thượng Thiên Mẫu thân ánh trăng
Ba đầu tám tay thân viên diệu
Bát nhã huệ mệnh ly tướng thí
Vô pháp pháp sinh con kính lễ.


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-tê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hum.


![image](/img/img_b9e12be6ed5f10b8dccd21c60ec34a85.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Tôn Thắng Phật Mẫu


Tôn Thắng Phật Mẫu có ba mặt tám tay, trên mỗi khuôn mặt đều có ba con mắt, khuôn mặt ở giữa màu trắng tịch tĩnh trang nghiêm là Tôn Thắng Phật Mẫu, mặt bên phải màu vàng tươi cười vui vẻ là Quán Tự Tại Bồ Tát, mặt bên trái màu xanh lam hiện tướng phẫn nộ là Kim Cang Thủ Bồ Tát. 

Tôn Thắng Phật Mẫu thân như trăng thu, trắng ngần không tì vết, tướng mạo như thiếu nữ trẻ trung, ngồi ngay ngắn trên nguyệt luân hoa sen, thiên y, lọn tóc, mũ miện, chuỗi ngọc làm trang nghiêm cho vẻ hiền từ của ngài, có vô lượng tịnh quang màu trắng tỏa chiếu. 

Tám cánh tay của Tôn Thắng Phật Mẫu đều cầm pháp khí, cánh tay phải thứ nhất cầm chày kim cang chữ thập giữ trước ngực, tay thứ hai nâng tòa hoa sen có A Di Đà Phật ở trên, tay thứ ba cầm mũi tên, tay thứ tư kết ấn ban nguyện đặt ở trên đùi phải. Cánh tay trái thứ nhất kết ấn phẫn nộ và cầm dây thừng, tay thứ hai giơ cao kết ấn vô úy, tay thứ ba cầm cung, tay thứ tư kết định ấn và nâng bảo bình cam lộ.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị lai lịch vĩ đại của Tôn Thắng Phật Mẫu và khẩu quyết tu pháp


Tôn Thắng Phật Mẫu là sự hóa hiện vô thượng đỉnh của Thích Ca Mâu Ni Phật, cũng chính là thân khẩu ý của Thích Ca Mâu Ni Phật. Ngài chính là một vị Bồ Tát do ánh sáng vô lượng, trí huệ vô lượng, đỉnh vô lượng của Thích Ca Mâu Ni Phật tổng hợp lại mà biến hóa ra, ngài còn được gọi là Phật Đỉnh Tôn Thắng Phật Mẫu. 

Vô thượng đỉnh của Thích Ca Mâu Ni Phật là trí huệ của Đại Nhật Như Lai, vô lượng quang của A Di Đà Phật, đại diện cho trí huệ vô thượng của Như Lai là “Không” và “Vô”. 

Vì thế, Tôn Thắng Phật Mẫu là ba thân trong một của Quan Thế Âm Bồ Tát, Kim Cang Thủ Bồ Tát và Tôn Thắng Phật Mẫu, có đầy đủ mọi pháp, là tổng hợp của trí huệ, phẫn nộ, hàng phục và từ bi, dựa vào vô thượng đỉnh của Như Lai mà hiển hóa, có đầy đủ đại uy thần lực, có thể nói là thể, tướng, dụng đều có sẵn.

Trong kinh điển gọi Phật Đỉnh Tôn Thắng Phật Mẫu là Tối Thắng Phật Đỉnh, mật hiệu là Trừ Ma Kim Cang.

Trường Thọ Tam Tôn của Mật giáo chính là Tôn Thắng Phật Mẫu, Trường Thọ Phật, và Bạch Độ Mẫu. Bạn tu pháp của ngài thì có thể sống lâu, kéo dài tuổi thọ, có pháp lực vô lượng uy đức, có thể lợi ích mọi chúng sinh.

Sức mạnh đại công đức của Tôn Thắng Phật Mẫu:
1. Trừ tất cả phiền não nghiệp chướng.
2. Có thể phá trừ tất cả ma đạo và khổ ách của chúng sinh.
3. Có thể khiến chúng sinh được tất cả Bồ Tát đồng tâm bảo hộ, trong đời hiện tại sẽ không bị bệnh tật và các việc phiền não gây trở ngại.
4. Chú này có thể phá tất cả khổ của địa ngục, của Diêm La Vương giới và bàng sinh, có thể hồi hướng thiện đạo.
5. Người đoản mệnh có thể được trường thọ.
6. Người trì chú này đều có thể diệt trừ tất cả nghiệp tội trong trăm nghìn kiếp, nơi họ sinh ra luôn gặp được chư Phật và thậm chí đắc vô thượng bồ đề, bỏ thân này và lập tức được vãng sinh đến các sát thổ vi diệu của chư Phật.
7. Nếu người nào có thể trì tụng đà-la-ni, người này đều phá trừ và tiêu diệt được mọi khổ của địa ngục, súc sinh, Diêm La Vương giới, ngạ quỷ.

Tôn Thắng Phật Mẫu có tám tay ba mặt, khuôn mặt ở giữa màu trắng, biểu thị đã dẹp bỏ mọi tai nạn, mặt bên phải màu vàng, biểu thị có thể gia tăng lợi ích, mặt bên trái màu lam, biểu thị có pháp lực hàng phục.

Tay bên phải thứ nhất cầm chày kim cang yết ma chữ thập bốn màu, biểu thị có thể hàng phục ma nạn, chấm dứt mọi tai nạn; tay thứ hai nâng tòa hoa sen có A Di Đà Phật ngồi ở trên, A Di Đà Phật là Thượng sư của Tôn Thắng Phật Mẫu, biểu thị một sự kính ái; tay thứ ba cầm mũi tên, cũng tượng trưng cho năng lực nhiếp triệu tâm của mọi chúng sinh; tay thứ tư là ấn ban nguyện, có thể thỏa mãn tâm nguyện của mọi chúng sinh. 

Tay bên trái thứ nhất kết ấn phẫn nộ, trên tay cầm dây thừng, có thể hàng phục tất cả chúng sinh khó điều phục; tay thứ hai kết ấn thí vô úy, biểu thị chúng sinh rời xa tất cả khủng bố sợ hãi; tay thứ ba cầm cung, biểu thị có thể siêu thắng tam giới; tay thứ tư kết định ấn và ở trên có bảo bình cam lộ, biểu thị chúng sinh được trường thọ không bệnh tật.

Chú Tôn Thắng là: Ôm brôm sô-ha. Ôm a-mi-ta a-yu-la ta-tê sô-ha. (Om brhum svaha om amrita ayur dade svaha.) Chính là từ ánh sáng của Như Lai Vô Thượng Đỉnh hóa hiện ra, bản thân ngài chính là một dạng ý thức viên mãn của vũ trụ. 

Ý nghĩa của Brhum chính là chúng ta mỗi lần tu pháp đến đoạn đọc chú viên mãn đều nói “Om brhum Om bruhm” đó. Thật ra, câu chú “Om bruhm” khi được truyền vào Đài Loan thì đã bị đọc thành “Ôm bu-lin”. Còn nói đúng ra phải là “Om bruhm” (Ôm brừm), tức là ánh sáng của Như Lai Đỉnh của vũ trụ viên mãn, cùng với ánh sáng trong tâm của chính bạn, hai thứ hợp lại, dung hợp cùng nhau, ánh sáng đại thành tựu mà bạn có được chính là ý nghĩa của chú Tôn Thắng Phật Mẫu.

Chân tướng của vũ trụ - chân tướng của Tôn Thắng Phật Mẫu, ngài vốn dĩ chính là một vùng ánh sáng thuần bạch. Phật tính của bản thân con người chúng ta cũng là một vùng ánh sáng thuần bạch, vô cấu vô tịnh, là hiện tượng của toàn bộ vũ trụ, như thế này tức là viên mãn. Chỉ vì những ý nghĩ của chúng sinh làm cho nó ô nhiễm, cho nên, trì chú của Tôn Thắng Phật Mẫu sẽ làm hiển phát Phật tính của bản thân, cùng dung hợp làm một với pháp thân “thanh tịnh pháp thân Phật” vốn có của vũ trụ, và như thế là thành tựu toàn bộ vũ trụ.

Nếu ai có thể trì tụng chú ngữ này, mọi khổ của địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ, Diêm La Vương giới của người này đều sẽ được phá trừ, không còn sót cái khổ nào. Người đó sẽ không sinh vào tam ác đạo, có thể vãng sinh, thậm chí bạn chỉ cần gia trì cho đất bằng Tôn Thắng đà-la-ni chú 21 biến rồi rắc đất này lên mộ của người chết thì người chết có thể thăng thiên, chú ngữ này có sức mạnh như vậy.

Chú của Tôn Thắng Phật Mẫu treo trên bức hoành phi, treo ở cửa nhà mình, đến một ngày bụi bám lên chú Tôn Thắng ở trên bức hoành phi rơi xuống đầu bạn thì bạn đều có thể vãng sinh. Còn một kiểu nữa, bạn niệm chú này gia trì lên gạo, sau đó vãi cho chim ăn, chim đều có thể vãng sinh Phật quốc, còn có thể tiêu trừ được mọi bùa ngải.

Tháp Tôn Thắng Phật Mẫu có thể trấn bão, trấn động đất, trấn hỏa hoạn, trấn lũ lụt, các tai họa bên ngoài đến từ đất, nước, lửa, gió và các tai nạn về đất, nước, lửa, gió bên trong đều có thể dùng Tôn Thắng Phật Mẫu để trấn.

Thủ ấn của Tôn Thắng Phật Mẫu là hai tay chắp lại, ngón cái đè lên ngón trỏ và cong vào trong lòng bàn tay, đây gọi là ấn stupa, tức là tháp của Tôn Thắng Phật Mẫu. Có chú ngữ, có hình tướng, có thủ ấn, như vậy là thành một Mật pháp tu hành của Tôn Thắng Phật Mẫu.


![image](/img/img_09614df9c082f6d14c2e161ac8e8c722.jpg)


Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/phat-mau-khong-tuoc-minh-vuong-niem-tung-phap.md
# Title: Phật Mẫu Khổng Tước Minh Vương niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_12ae34bdaad4eec8901ee3b9361113e2.jpg)



## Phật Mẫu Khổng Tước Minh Vương niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Thỉnh cầu Căn bản Truyền thừa gia trì. Tay kết thủ ấn Căn bản Thượng sư, quán tưởng Căn bản Thượng sư phóng ba ánh sáng trắng, đỏ, lam chiếu đến hành giả, gia trì hành giả tu pháp viên mãn. Niệm chú Căn bản Thượng sư 7 lần. Niệm văn cầu thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật gia trì 1 lần.

- Quán tứ vô lượng tâm.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô chủ tôn tu pháp Phật Mẫu Đại Khổng Tước Minh Vương. (x3)
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tát cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô Đại Khổng Tước Minh Vương Phật.
Na-mô Đại Khổng Tước Minh Vương kinh.
Na-mô Khổng Tước Minh Vương hải hội quyến thuộc. 

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Mặc giáp hộ thân


Kết thủ ấn chắp tay kim cang, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cang thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Phụng thỉnh bát đại Bồ Tát
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Kim Cang Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Diệu Cát Tường Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.

Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ thất Phật. Vị lai hiền kiếp thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Niệm danh hiệu Phật sáu phương
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyệt Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Hết thảy chúng sinh trung ương, chư vị trong Phật giới, trú ngụ trên mặt đất, cho đến tại không trung, thương lo cho tất cả chúng sinh. Ai cũng an ổn tốt lành. Ngày đêm tu trì. Tâm thường cầu tụng kinh này. Diệt được khổ sinh tử. Tiêu trừ hết độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Tụng bản kinh không ngừng. Thất Phật Thế Tôn. Liền nói chú sau:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-lô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-ki-a-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha” (7 lần)

Mười phương Quan Thế Âm. Hết thảy chư Bồ Tát.
Đã thề cứu chúng sinh. Xướng danh tất giải thoát.

Nếu gặp người trí tuệ. Ân cần mà giảng nói.
Lại có đủ nhân duyên. Đọc tụng không ngơi nghỉ.
Tụng kinh tròn nghìn biến. Niệm niệm tâm không dừng.
Gặp lửa cháy chẳng sao. Việc đao binh cũng thoát.
Nóng giận thành vui vẻ. Chết rồi hóa sống vui.
Đừng nghĩ rằng không đúng. Chư Phật chẳng nói chơi.
Cao Vương Quan Thế Âm. Cứu được hết khổ nạn.
Lúc khó khăn nguy cấp. Người chết còn thành sống.
Chư Phật chẳng nói đùa. Vì vậy nên đảnh lễ.
Niệm tụng trọn nghìn lần. Tội nặng đều tiêu diệt.
Người có phúc tín tâm. Hãy chuyên tâm đọc tụng.

Nguyện mang công đức này. Gửi tới hết chúng sinh.
Tụng tròn một nghìn biến. Tội nặng đều tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (Hết)!


### Phần 8: Niệm thêm chú vãng sinh 


Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. (7 biến)

**Niệm kệ tứ vô lượng tâm:**

Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 9: Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư


Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 10: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_c741d16fa268bd7958a06076310a613f.jpg)


**Kết ấn: **

Phật Mẫu Đại Khổng Tước Minh Vương ấn (ấn nội phộc).
Đầu tiên kết ấn nội phộc, sau đó hai ngón út và hai ngón trỏ duỗi ra chạm vào nhau, tay ấn đặt trước ngực. (Ngón tay cái là đầu của chim khổng tước, ngón út là cánh của chim khổng tước, ở giữa là thân mình của chim khổng tước.)

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời xanh vạn dặm không mây, đầu tiên xuất hiện đôi cánh khổng tước, sau đó bên trong đôi cánh khổng tước có một chủng tử chữ “Yu” (tiếng Phạn) màu trắng, sau đó biến hóa thành một con chim khổng tước vua màu vàng kim. 


![image](/img/img_851695a321a56b48928ecf660ce5f9c0.png)


(2) Lại quán tưởng trên lưng khổng tước có một chủng tử chữ “Pan” (tiếng Phạn) màu trắng biến hóa thành hoa sen trắng. 


![image](/img/img_3613b67eb0a82a3cc4e756747ff5d4a1.png)


(3) Trên hoa sen trắng hiện rõ một chủng tử chữ “Mo” (tiếng Phạn) màu vàng kim hoặc màu trắng xoay chuyển biến hóa thành Khổng Tước Minh Vương bốn tay màu vàng kim, màu trắng hoặc hỗn hợp màu vàng kim và trắng, đầu đội mũ Ngũ Phật. 


![image](/img/img_3a87b414f3c7951520a59155cf140951.png)


Cánh tay phải thứ nhất của ngài cầm hoa sen trắng, cánh tay phải thứ hai cầm quả câu duyên màu đỏ, cánh tay trái thứ nhất cầm quả cát tường màu vàng, cánh tay trái thứ hai cầm lông chim khổng tước. 

(4) Lại quán tưởng thiên tâm của Khổng Tước Minh Vương phóng ra một đường ánh sáng trắng, chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả. Họng của Khổng Tước Minh Vương phóng ra một đường ánh sáng đỏ, chiếu thẳng đến họng của hành giả. Tim của Khổng Tước Minh Vương phóng ra một đường ánh sáng xanh lam, chiếu thẳng đến tim của hành giả. Ba ánh sáng trắng, đỏ, lam hòa nhập vào thân tâm của hành giả.


### Phần 11: Trì tâm chú Khổng Tước Minh Vương


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Khổng Tước Minh Vương đến trước mặt mình.

**Chú ngữ:**

Ôm mô-yu-li cơ-la-ti sô-ha. (108 biến)


### Phần 12: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Mo), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Bổn tôn Phật Mẫu Khổng Tước Minh Vương, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 13: Xuất định, Tụng tán


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 

Tụng tán: 

Thế tôn đại bi tâm
Pháp thể tịch diệt tính
Đại lực đại tác dụng
Đầy đủ mọi công đức.


### Phần 14: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-tê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 15: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 16: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 17: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. xin đem công đức này hồi hướng. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 18: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 19: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


![image](/img/img_60b41737b9faeafa5fcd68e2fff436f6.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Khổng Tước Minh Vương:


Khổng Tước Minh Vương đội mũ Đại Nhật Như Lai, thân màu vàng kim hoặc màu trắng, hoặc hỗn hợp màu vàng kim và trắng, có bốn tay, tay phải thứ nhất cầm hoa sen trắng, tay phải thứ hai cầm quả câu duyên màu đỏ, tay trái thứ nhất cầm quả cát tường màu vàng, tay trái thứ hai cầm lông chim khổng tước.


### Liên Sinh Hoạt Phật khai thị về lai lịch Khổng Tước Minh Vương và khẩu quyết tu pháp:


Khổng Tước Minh Vương tượng trưng cho ba vị Như Lai:

Khổng Tước Minh Vương là thọ dụng thân của Phật Thích Ca Mâu Ni, bởi vì trong đời quá khứ của Phật Thích Ca Mâu Ni, có một kiếp ngài từng làm Khổng Tước Vương, vì thế Khổng Tước Minh Vương là thân thọ dụng của bản thân Phật Thích Ca Mâu Ni.

Khổng Tước Minh Vương là biến hóa thân của A Di Đà Phật. Trong kinh A Di Đà có nhắc đến rằng ở tây phương Cực Lạc thế giới có chim Cộng Mạng, có Khổng Tước, Anh Vũ, Ca Lăng Tần Già, trong đó chim Khổng Tước chính là thân biến hóa của A Di Đà Phật.

Phật Tì Lô Giá Na Đại Nhật Như Lai tướng mạo rất trang nghiêm, toàn bộ mọi tướng mạo của ngài chính là tướng mạo của Khổng Tước Minh Vương. Khổng Tước Minh Vương đội mũ miện Đại Nhật Như Lai, chính là đẳng lưu thân của Đại Nhật Như Lai Tì Lô Giá Na Phật, tức là thân ngang bằng. Vì thế, ngài là biến hóa thân hợp nhất chủ yếu nhất của ba vị Phật. Nguồn gốc của bản thân Khổng Tước Minh Vương là Đại Nhật Như Lai, bởi vì trên đầu ngài đội mũ miện của Đại Nhật Như Lai.

Bình quán đảnh của Mật giáo đều có cắm lông chim khổng tước, cho thấy hình tượng bình quán đảnh này hoàn toàn chính là hóa thân của Khổng Tước Minh Vương, bình quán đảnh chính là biến hóa thân của bản thân Khổng Tước Minh Vương. 

Bởi vì có pháp lực của bản thân ba vị Phật này hợp lại, cho nên Khổng Tước Minh Vương có thể thay đổi định nghiệp, những định nghiệp khó thoát cũng có thể chuyển hóa, vì thế uy lực của Khổng Tước Minh Vương là vô cùng.

Căn cứ theo kinh Khổng Tước Minh Vương ghi chép, khi Phật Đà tại thế, có một vị là tì kheo Sa Đề bị rắn độc cắn, đau đớn không thể chịu nổi. Sau khi A Nan bẩm với Phật Đà, Phật Đà bèn chỉ dạy một pháp môn tu trì có thể tiêu trừ ma quỷ, chất độc và ác bệnh. 

Trong mọi vị Minh Vương thì Khổng Tước Minh Vương là vị hiện tướng xinh đẹp và từ bi, thuộc Minh Vương mẫu hệ, ngài có bốn cánh tay:

Cánh tay phải thứ nhất cầm hoa sen trắng, biểu thị tức tai (tiêu trừ tất cả tai nạn).

Cánh tay phải thứ hai cầm quả câu duyên màu đỏ, biểu thị kính ái (viên mãn tất cả nhân duyên).

Cánh tay trái thứ nhất cầm quả cát tường màu vàng, biểu thị tăng ích (tăng trưởng tất cả phúc phần).

Cánh tay trái thứ hai cần lông khổng tước nhiều màu, biểu thị hàng phục (hàng phục mọi ma chướng). 

Vì thế bốn cánh tay của Khổng Tước Minh Vương tượng trưng cho tức tai, tăng ích, hàng phục, kính ái. Mọi nguyện vọng của nhân gian đều nằm trong tay của ngài, vị này có thể làm các pháp yết ma tức, tăng, hoài, tru. 

Khổng tước có thể ăn chất độc, ngài có thể ăn sạch mọ chất độc hóa học trên thân thể bạn, thân thể bạn có thể giải độc, thân thể bạn sẽ khỏe mạnh, sẽ trường thọ, tự tại.

Nếu bình thường chim khổng tước ăn phải thứ có độc, toàn thân của ngài sẽ phát quang, hơn nữa còn tỏa sáng, và đôi cánh (lông đuôi) của khổng tước lại càng đẹp hơn. Trong xã hội chúng ta, nếu có ai dùng thuốc Ketamine (một loại thuốc gây mê phân li, có thể coi là ma túy), hoặc ăn phải thứ gì đó, thật ra chỉ cần niệm chú Khổng Tước Minh Vương là có thể giải được chất độc của họ.

Vì thế, niệm chú Khổng Tước Minh Vương có thể chữa bệnh, chú ấy có năng lực trị bệnh. Tôi nhớ Khổng Tước Minh Vương còn có rất nhiều pháp. Chà! Có tinh quang thân pháp, bởi vì 28 vì tinh tú và cửu diệu (mặt trời, mặt trăng và các vì sao đều gọi là diệu) đều là quyến thuộc của ngài. Nếu bạn muốn tu thân ánh sao thì cũng phải trì chú của Khổng Tước Minh Vương. Còn có pháp cầu mưa, nếu không có mưa thì có thể cầu Khổng Tước Minh Vương thì có thể có mưa xuống. Bạn thấy đấy! Nói trời mưa là trời mưa. Ngoài ra, còn có pháp dừng mưa nữa. Trời mưa quá nhiều, cũng có thể kêu mưa ngừng. Còn có pháp trấn địa chấn nữa, ngài cũng có thể trấn được động đất.

Lấy một 1kg đất ở nơi cực bắc, 1kg đất ở nơi cực nam, 1kg đất ở nơi cực đông, 1kg đất ở nơi cực tây, sau khi lấy được 4kg đất rồi thì tu pháp Khổng Tước Minh Vương trấn địa chấn, sau đó trả đem số đất này trả về, 1kg trả về phương bắc, 1kg trả về phương nam, 1kg trả về phương đông, 1kg trả về phương tây, như vậy Đài Loan sẽ không có động đất nữa. Đây gọi là pháp trấn địa chấn, rất hiếm có. Chỉ có Khổng Tước Minh Vương có năng lực này có thể trấn được động đất.


### Trọng điểm khi tu trì pháp Khổng Tước Minh Vương:


Chú tứ quy y của ngài khác với chú tứ quy y của chúng ta. 
Namo guru bei, đây là quy y Căn bản Thượng sư.
Namo Đại Khổng Tước Minh Vương Phật, chính là quy y Phật.
Namo Đại Khổng Tước Minh Vương kinh, chính là quy y kinh điển của Khổng Tước Minh Vương, cũng tức là quy y pháp.
Namo Khổng Tước Minh Vương hải hội quyến thuộc, hải hội quyến thuộc chính là quy y tăng, cho nên đây là quy y tất cả hải hội quyến thuộc của ngài. Phía trên hải hội quyến thuộc của ngài có Thất Phật, ở giữa có Di Lặc, hai bên có Duyên Giác và Thanh Văn, Bát Thiên Vương, 28 Dạ Xoa (tinh tú), cửu diệu, 12 cung, toàn bộ đều là quyến thuộc của Khổng Tước Minh Vương. 


### Cách thiết lập đàn thành Khổng Tước Minh Vương:


Có thể dùng cách viết: Thất Phật, Di Lặc, Duyên Giác, Thanh Văn, 8 Thiên Vương, 28 Dạ Xoa, 9 chòm sao chiếu sáng, 12 cung bao lấy xung quanh, Thất Phật ở trên, 12 cung ở dưới, hai bên, xung quanh đều bao vòng lấy, ở chính giữa là Khổng Tước Minh Vương. Hoặc là tượng Khổng Tước Minh Vương, hoặc là một chiếc lông vũ của Khổng Tước Minh Vương. Đây là cách đơn giản nhất. Bạn mua được lông chim công thì bạn đặt chiếc lông ở giữa, những thứ khác thì dùng giấy đỏ để viết lên, viết toàn bộ tên của Thất Phật, Di Lặc, Duyên Giác, Thanh Văn, 8 Thiên Vương, 28 Dạ Xoa, 9 chòm sao, 12 cung, đây chính là quyến thuộc của Khổng Tước Minh Vương, đã bao gồm quyến thuộc gia trì cho đẳng lưu thân, quyến thuộc của biến hóa thân và quyến thuộc của thụ dụng thân, đều ở đó hết. Đây chính là cách sắp đặt một đàn pháp.

Tu pháp Khổng Tước Minh Vương nhất định cần phải phát bồ đề tâm, phải cúng dường. Có ngoại cúng, nội cúng, pháp cúng. Pháp cúng chính là cúng Phật tính. Đó là ta đem Phật tính của bản thân chuyển hóa thành Đại Khổng Tước Minh Vương, bạn tương ứng với Khổng Tước Minh Vương, có thân khẩu ý giống như của Khổng Tước Minh Vương, thì đây chính là cúng dường pháp, gọi là cúng Phật tính. Cúng dường này, cái gọi là cúng Phật tính, là rất lợi hại, không được phạm một chút sai lầm nào. Đó gọi là cúng Phật tính.

Pháp Đại Khổng Tước Minh Vương, lớn có thể thỉnh cầu quốc gia bình an, nhỏ có thể chữa cảm cúm hoặc dịch cúm mới. Điều này dựa theo điều mà kinh Khổng Tước Minh Vương đã nói, ngài có thể trị mọi bệnh, rất nhiều bệnh đều có thể trị được.

Niệm chú Đại Khổng Tước Minh Vương và Khổng Tước Minh Vương tương ứng rồi có thể phát huy được Phật tính, Phật tính là chân chính vĩ đại nhất. Niệm đủ 600.000 biến chú Đại Khổng Tước Minh Vương, nhất định vãng sinh Ma Ha Song Liên Trì, đây là điều quan trọng nhất!

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Đại Pháp Vương từng từ bi truyền thụ Phật Mẫu Khổng Tước Minh Vương Kim Cang bất cộng đại pháp, và pháp cam lộ thủy, pháp thân ánh sao, pháp cầu mưa, pháp dừng mưa, pháp trấn động đất, pháp tăng ích, pháp kính ái, pháp tịnh thân tâm, pháp trừ bệnh.

📚Tham khảo thêm [chương 51 cuốn 212 - Hồ Sơ Cơ Mật Của Lư Thắng Ngạn -](https://chanphat.org/van-tap/212-ho-so-co-mat-cua-lu-thang-ngan#4b42553b68b84b48a556edfcf1a65841) Sư Tôn khai thị giảng pháp Phật Mẫu Đại Khổng Tước Minh Vương.

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/phat-mau-kurukulle-kinh-ai-phap.md
# Title: Phật Mẫu Kurukulle kính ái pháp
---

![image](/img/img_92a0851ed65bdac146d918e277c5cd55.jpg)



## Phật Mẫu Kurukulle kính ái pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Thỉnh cầu Căn bản Truyền thừa gia trì. Tay kết thủ ấn Căn bản Thượng sư, quán tưởng Căn bản Thượng sư phóng ba ánh sáng trắng, đỏ, lam chiếu đến hành giả, gia trì hành giả tu pháp viên mãn. Niệm chú Căn bản Thượng sư 7 lần. Niệm văn cầu thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật gia trì 1 lần.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô tu pháp chủ tôn Phật Mẫu Kurukulle. (x3)
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Mặc giáp hộ thân


Kết thủ ấn chắp tay kim cang, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cang thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Phụng thỉnh bát đại Bồ Tát
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Kim Cang Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Diệu Cát Tường Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.

Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ thất Phật. Vị lai hiền kiếp thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Niệm danh hiệu Phật sáu phương
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyệt Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Hết thảy chúng sinh trung ương, chư vị trong Phật giới, trú ngụ trên mặt đất, cho đến tại không trung, thương lo cho tất cả chúng sinh. Ai cũng an ổn tốt lành. Ngày đêm tu trì. Tâm thường cầu tụng kinh này. Diệt được khổ sinh tử. Tiêu trừ hết độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Tụng bản kinh không ngừng. Thất Phật Thế Tôn. Liền nói chú sau:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-lô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-ki-a-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha” (7 lần)

Mười phương Quan Thế Âm. Hết thảy chư Bồ Tát.
Đã thề cứu chúng sinh. Xướng danh tất giải thoát.

Nếu gặp người trí tuệ. Ân cần mà giảng nói.
Lại có đủ nhân duyên. Đọc tụng không ngơi nghỉ.
Tụng kinh tròn nghìn biến. Niệm niệm tâm không dừng.
Gặp lửa cháy chẳng sao. Việc đao binh cũng thoát.
Nóng giận thành vui vẻ. Chết rồi hóa sống vui.
Đừng nghĩ rằng không đúng. Chư Phật chẳng nói chơi.
Cao Vương Quan Thế Âm. Cứu được hết khổ nạn.
Lúc khó khăn nguy cấp. Người chết còn thành sống.
Chư Phật chẳng nói đùa. Vì vậy nên đảnh lễ.
Niệm tụng trọn nghìn lần. Tội nặng đều tiêu diệt.
Người có phúc tín tâm. Hãy chuyên tâm đọc tụng.

Nguyện mang công đức này. Gửi tới hết chúng sinh.
Tụng tròn một nghìn biến. Tội nặng đều tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (Hết)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_b4a5cfe19a21968ef93c245a6984a2fd.jpg)


**Kết ấn: **

Hai ngón áp út đan nội phộc, hai ngón trỏ dựng thẳng chạm vào nhau, các ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa của hai bàn tay chụm vào nhau. Giữ thủ ấn trước ngực.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Quán tưởng trong hư không xuất hiện một chữ “Rang” (tiếng Phạn hoặc Tạng), từ chữ “Rang” này biến thành vầng mặt trời, trong vầng mặt trời có một chữ “Chuli” màu đỏ phóng tỏa ra ánh sáng đỏ để chào đón Phật Mẫu Kurukulle trụ trong hư không. Hoa sen trong tim nở ra, trong hoa sen có vầng mặt trời, trong vầng mặt trời có chữ “Chuli”, từ chữ “Chuli” tỏa ra ánh sáng đỏ để triệu thỉnh Phật Mẫu Kurukulle thuận theo trung mạch mà tiến vào thân thể mình, sau đó bản thân biến hóa thành Phật Mẫu Kurukulle.  

(2) Phật Mẫu thân màu đỏ, một mặt bốn cánh tay, khuôn mặt vừa cười vừa mang nét phẫn nộ. Tay phải chính cầm mũi tên đỏ có gắn hoa upala, tay trái thì cầm cung tên đỏ có gắn hoa upala, tay phải bên dưới cầm móc câu màu đỏ gắn hoa upala, tay trái phía dưới cầm dây thừng màu đỏ gắn hoa upala. Chân phải của Phật Mẫu gập lên, chân trái thì đứng duỗi thẳng, đạp lên một ma nữ, đầu đội mũ đầu lâu kuru, bao quanh có vòng ánh sáng.


### Phần 14: Trì tâm chú Phật Mẫu Kurukulle


Tâm chú: Ôm ku-ru-ku-lê chu-li sô-ha. (108 biến)
(Khi tụng chú không kết thủ ấn.)

Phật Mẫu Kurukulle thập phương xạ tiễn pháp tâm chú: Ôm ku-ru-ku-lê chu-li sô-ha. Thượng phương Kurukulle Phật Mẫu. Hạ phương Kurukulle Phật Mẫu. Bát phương Kurukulle Phật Mẫu.


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Rang), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Phật Mẫu Kurukulle, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-tê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


![image](/img/img_c06edfc2eb5d592bd45c41760f5013cb.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Phật Mẫu Kurukulle


Phật Mẫu Kurukulle có một mặt ba mắt, đầu đội mũ đầu lâu kuru, thân màu đỏ, trẻ trung xinh đẹp, mỉm cười nhưng vẫn toát ra vẻ phẫn nộ. Thân trên mặc thiên y màu đỏ, thân dưới quấn váy da hổ, trước ngực đeo trang sức bằng đá hồng ngọc, toàn thân tỏa ra ánh sáng trân quý màu đỏ.

Phật Mẫu Kurukulle có bốn cánh tay, tay phải ở trên cầm mũi tên hoa upala, tay phải ở dưới cầm gậy móc câu hoa upala, tay trái phía trên cầm cung tên hoa upala, tay trái phía dưới cầm sợi thừng hoa upala.

Phật Mẫu Kurukulle có tướng đứng, chân đứng trên nguyệt luân, bên dưới có Đại Tự Tại Thiên và Thiên Mẫu, có vòng ánh sáng bao quanh.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị về lai lịch của Phật Mẫu Kurukulle và khẩu quyết tu pháp


Bản địa của Phật Mẫu Kurukulle là A Di Đà Phật, là vị Thần Tình Yêu của Tây Tạng và Ấn Độ, còn gọi là Tác Minh Phật Mẫu, Tác Minh là chuyên môn dùng để làm pháp, là một vị đại kính ái giống như Ái Nhiễm Minh Vương.

Bạch giáo của Tạng mật coi ngài là một Bổn tôn bí mật, là bất cộng bí mật pháp, nghe nói có rất nhiều đại thành tựu giả lấy Phật Mẫu Kurukulle làm Bổn tôn, tức thân đắc chứng thành Phật. Thượng sư Thubten Dhargye cũng lấy vị này làm Bổn tôn.

Bản thân Phật Mẫu Kurukulle có pháp lực rất cao, ngài tương đương với một vị Đại Bồ Tát, là siêu thế gian. Sự vĩ đại của Phật Mẫu Kurukulle nằm ở sức mạnh nhiếp triệu của ngài, ngài rất có sức mạnh thu hút triệu tập. Cho nên rất nhiều người tu pháp Phật Mẫu Kurukulle, sau này thành tựu nhất định trở thành người vĩ đại, làm sự nghiệp gì cũng đều trở thành to lớn, đây là một vị rất quan trọng.

Phật Mẫu Kurukulle là Tác Minh Phật Mẫu, cho nên ngài có tác dụng quang minh. Ngài có thể gia tăng ánh sáng trên người hành giả, gia tăng ánh sáng cho sự nghiệp, gia tăng ánh sáng cho thành tựu. 

Phật Mẫu Kurukulle đến từ A Di Đà Phật, cho nên ngài có màu đỏ, tâm chú là “om kurukulle chuli soha”, “chuli” chính là khẩu hiệu từ chỗ của A Di Đà Phật. 

Phật Mẫu Kurukulle cầm cung, tên, thừng, móc câu, giống như thần Cupid trong thần thoại Hi Lạp. Chỉ cần cung tên hoa upala của ngài bắn trúng bạn thì trong lòng bạn sẽ sinh ra lòng ngưỡng mộ. Chỉ cần quăng sợi dây thừng của ngài ra, trói chặt đối phương, nếu trói người mình yêu thích thì đó chính là tình yêu nhỏ, nếu trói nhiều người thì là tình yêu lớn. Móc câu của ngài là để móc vào người ta, hi vọng người nào đó hoặc cấp trên sẽ đối tốt với bạn. Dùng móc câu móc vào người nào đó thì người ấy sẽ đối với bạn rất tốt.

Phật Mẫu Kurukulle không chỉ có ở phương diện kính ái giữa nam và nữ mà còn có kính ái trong gia đình, tại nơi làm việc, ở nơi giao tiếp xã hội, thậm chí có thể thu phục hết thảy chúng sinh hướng về ngài. Phật Mẫu Kurukulle có đại quyền lực, có sức mạnh rất lớn, là đại uy quyền tôn giả, cũng có cả tác dụng hàng phục. 

Tu trì pháp của Phật Mẫu Kurukulle có thể đắc đại kính ái, nhân sĩ trong giới chính trị có thể làm Tổng thống, được nhân dân yêu quý. Trong giới tôn giáo thì sẽ gánh vác sự nghiệp Như Lai, trở thành tông sư đời thứ nhất. Trong giới “show biz” thì sẽ có nghìn nghìn vạn vạn fan hâm mộ. Lớn thì ở tầm vóc quốc gia và xã hội, nhỏ thì gia đình hòa hợp, có được nhân duyên cá nhân và sự nghiệp, v.v… Tất cả đều có thể đạt được sức mạnh kính ái hòa hợp mạnh nhất. Sau này ai muốn làm lãnh tụ, làm Tổng thống, làm Quốc vương thì tu pháp Phật Mẫu Kurukulle, ngài có thể nhiếp triệu mọi chúng sinh đến tín phục bạn, tôn sùng bạn, tiến cử bạn, ủng hộ bạn, Phật Mẫu Kurukulle là Phật Mẫu có đại uy quyền.

Tu pháp của Phật Mẫu Kurukulle có thể vãng sinh đến tịnh thổ của Phật Mẫu Kurukulle, tịnh thổ của ngài vượt ra bên ngoài tam giới. Tịnh thổ của ngài ở trong một hang động, cho nên pháp của Phật Mẫu Kurukulle không những có thể đạt được những thứ trân quý nhất mà còn có thể siêu thắng, vãng sinh đến Phật quốc của Phật Mẫu Kurukulle, và Phật quốc của ngài chính là ở Tây phương Cực Lạc thế giới.

Bốn thề nguyện lớn của Phật Mẫu Kurukulle:

1. Lời thề của “đất”: Cho tất cả con người có được tài phúc.

Đất sinh trưởng mọi thứ, tất cả mọi thứ đều từ đất mà sinh ra, không chỉ là các loại cây nông nghiệp mà còn bao gồm nhà cửa, đất đai đều từ đất sinh ra. Cho nên Phật Mẫu Kurukulle có lời thề nguyện về địa khí, có thể giúp cho bạn đạt được tài phúc.

2. Lời thề của “nước”: Tiêu tai trị bệnh.

Nước có sức mạnh thanh tịnh, khiến cho trên người bạn nhờ có lời thề nguyện của thủy khí mà khử độc và được thanh tịnh, dùng nước để gột rửa tất cả bệnh tật của chúng sinh.

3. Lời thề của “lửa”: Giúp đỡ chúng sinh kính ái viên mãn.

Bạn biết vì sao chúng ta lại ái mộ một người khác, hễ trong tim bạn có lửa trỗi dậy, ở đây không phải là nói đến lửa của sự tức giận cãi lộn, mà là lửa dục vọng. Một khi dục vọng sinh ra thì có thể sinh ra lòng kính ái. Sau khi ngọn lửa màu đỏ này sinh ra thì giống như bị hút chặt vào, vừa nhìn thấy là yêu ngay, có chạy thế nào cũng không chạy thoát, cho nên cái này thuộc về hỏa khí, là thề nguyện về hỏa khí của Phật Mẫu Kurukulle. 

4. Lời thề của “gió”: Sức mạnh hàng phục.

Chúng ta muốn hàng phục kẻ địch, muốn khiến cho kẻ tiểu nhân rút lui, chỉ cần niệm 100.000 biến Phật Mẫu Kurukulle rồi thổi một hơi khí vào người đó, họ sẽ bay tới tận Bắc Cực luôn. Thổi một hơi khí vào người mình không thích, người đó sẽ nhanh chóng chuyển đi nơi khác. Nếu cấp trên của bạn không hòa hợp với bạn, bạn niệm chú Phật Mẫu Kurukulle rồi thổi một hơi khí vào người đó, sếp sẽ bị thay thế bằng người mới, hơn nữa sẽ là một người sếp thích bạn.

Khẩu quyết tu trì pháp Phật Mẫu Kurukulle chính là dùng năm cây nến màu đỏ và năm cây hoa màu đỏ bày cùng nhau để tu pháp. Khi trì chú đủ 600.000 biến thì Phật Mẫu Kurukulle sẽ hiện thân, cầu nguyện gì sẽ được mãn nguyện, tất cả nguyện vọng sẽ đều thành hiện thực.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn truyền thụ pháp Thập phương xạ tiễn Phật Mẫu Kurukulle


Phật Mẫu Kurukulle là trời của mười phương, bao gồm 12 thiên, 20 thiên, 28 thiên, toàn bộ đều có liên quan đến Phật Mẫu Kurukulle. Pháp thập phương xạ tiễn cho thấy sự đại viên mãn của Phật Mẫu Kurukulle sau khi ngài bắn mũi tên hướng về mười phương, không bỏ sót một phương nào. Cho nên sau khi bạn tu thành tựu được pháp thập phương xạ tiễn của Phật Mẫu Kurukulle, phải thỉnh cầu thượng phương Phật Mẫu Kurukulle, hạ phương Phật Mẫu Kurukulle, bát phương Phật Mẫu Kurukulle, cộng lại là mười phương, đảm bảo sẽ không bỏ sót.

Chỉ cần cầm cung tên, có được sức mạnh gia trì của Phật Mẫu Kurukulle, sau đó bạn quay về tám hướng, sau khi quay tám hướng thì còn phải quay lên trên, quay xuống dưới, như thế là tuyệt vời, trên, dưới, toàn bộ mười phương đều là fan hâm mộ của bạn. Ở đây cũng có ánh sáng, mũi tên có màu đỏ nhưng cũng sinh ra ánh sáng, có ánh sáng sinh ra thì ánh sáng sẽ chiếu khắp thế giới ở phương trên phương dưới và tám phương.

Nếu làm pháp thập phương xạ tiễn, dùng mũi tên kết hoa đào, cúng khói hoa đào, sẽ lan đến các nơi khắp mười phương, mọi người trúng phải mũi tên của bạn thì sức hấp dẫn của bạn sẽ sinh ra, sức hấp dẫn của bạn là vô cùng, cho dù không thể làm Tổng thống trong kiếp này thì đến kiếp sau cũng có thể làm Tổng thống, kiếp sau chắc chắn là người giàu có, cầu danh được danh, cầu địa vị được địa vị, cầu tiền tài được tiền tài, cầu cái gì được cái đó. Phật Mẫu Kurukulle không chỉ có mỗi mũi tên đâu, ngài còn có cái móc câu, ngài muốn móc vào cái gì thì sẽ móc được cái đó. Ngài còn có dây thừng, ngài muốn trói cái gì thì sẽ trói được cái đó, nhất định sẽ có được. Tu pháp này sẽ giúp cho chuyện tình duyên của bạn được thuận lợi, hôn nhân của bạn được viên mãn, khiến bạn được cấp trên yêu quý, có được sự yêu kính trong sự nghiệp, có được sự kính ái rộng lớn, được mọi người yêu kính. Đây chính là ý nghĩa chủ yếu nhất của pháp Phật Mẫu Kurukulle thập phương xạ tiễn.


### Khai thị của Liên Sinh Hoạt Phật trong đại pháp hội Hộ Ma Kurukulle cầu phúc Tân Xuân năm Giáp Ngọ tại Đài Loan Lôi Tạng Tự ngày 08.02.2014. 


Pháp Kurukulle Phật Mẫu có cái gọi là đại kính ái, trung kính ái, tiểu kính ái. Bạn muốn đời sau làm tổng thống, người làm chủ cầu ngày hôm nay đều có phần, ngài có thể điều chuyển bạn đi Mỹ, sinh ra ở Mỹ, làm tổng thống Mỹ, hoặc không thì điều chuyển bạn đến Palau, làm quốc vương của Palau, hoặc là nước Bí Đao, nước Dưa Hấu, cũng là tổng thống đó. Người muốn làm tổng thống nhất định phải tu pháp Thập phương xạ tiễn. Bạn muốn làm người giàu nhất thế giới giống như Bill Gates hoặc là muốn làm Quách Đài Minh của Đài Loan, hoặc là muốn làm Lý Gia Thành của Hồng Kông thì bạn phải tu pháp Thập phương xạ tiễn, có thể có được đại kính ái.

Còn nữa, người muốn nổi tiếng, muốn làm ngôi sao ca nhạc giống như Châu Kiệt Luân, bạn xem, Châu Kiệt Luân chẳng đẹp trai bằng pháp sư Liên Tặng, pháp sư Liên Nhai của chúng ta, nhưng kết quả là hai người họ đều làm hòa thượng, Châu Kiệt Luân thì làm ngôi sao ca nhạc. Vì thế, nhất định phải tu pháp này, bạn tu pháp này rồi, tương lai, bạn hất mái tóc một cái, tất cả các cô gái đều sẽ ngất xỉu. Đây là thuộc về đại kính ái. Bạn tu pháp này bạn sẽ có được đại kính ái. Bạn muốn làm một lãnh tụ tôn giáo, cũng phải có được đại kính ái mới có thể làm lãnh tụ tôn giáo. Vì thế, bạn nhất định phải hiểu pháp Kurukulle Phật Mẫu thập phương xạ tiễn, bạn nhất định phải tu!

Trung kính ái chính là người đứng đầu một đoàn thể - người dẫn đầu, ví dụ là chủ công ty thì thuộc về trung kính ái. Bạn có một gia đình viên mãn, đây là thuộc về tiểu kính ái. Bạn muốn theo đuổi một *beautiful lady* (cô gái xinh đẹp), hoặc là *handsome boy* (anh chàng đẹp trai), nhất định phải có tiểu kính ái làm cơ sở, bằng không bạn già câng rồi vẫn sẽ không gả được đi, bạn có đẹp trai thế nào cũng sẽ chỉ hẹn họ vài ngày là thôi. Đây là việc rất kỳ quái. Vì thế, bạn muốn kết duyên rất rộng lớn thì nhất định phải tu pháp Thập phương xạ tiễn.

Trước kia tôi phụng thỉnh Kurukulle Phật Mẫu đều chỉ niệm: “Thỉnh cầu Nam mô Kurukulle Phật Mẫu.” Bây giờ chúng ta phụng thỉnh phải niệm: “Thỉnh cầu Thập phương Kurukulle Phật Mẫu.” Vừa rồi tôi niệm: “Thỉnh cầu Thượng phương Kurukulle Phật Mẫu, Hạ phương Kurukulle Phật Mẫu và Bát phương Kurukulle Phật Mẫu.” Đông, Tây, Nam, Bắc, cộng thêm hai đường chéo là biến thành một mặt phẳng tám hướng, còn có phương trên phương dưới, tổng cộng là mười phương, đây là pháp Thập phương xạ tiễn. Vì thế, khi bắt đầu tu pháp, nhất định phải triệu thỉnh Thập phương Kurukulle Phật Mẫu - Thượng phương Kurukulle Phật Mẫu, Hạ phương Kurukulle Phật Mẫu, Bát phương Kurukulle Phật Mẫu. 

Về vấn đề bày đàn thành, đàn thành này rất khó bày! Ở chính giữa có núi Tu Di, có bốn hướng là Kurukulle Phật Mẫu bắn tên. Cái gọi là hiện tượng của vũ trụ chính là ở giữa là núi Tu Di, bốn đại châu, tám tiểu châu, sau đó là bảy núi vàng, bảy biển. Nếu bạn muốn treo đàn thành của Kurukulle Phật Mẫu thì đại diện cho mặt trời, mặt trăng. Trước tiên, trên bức tường chúng ta phải treo một bức tướng hoặc thangka Kurukulle Phật Mẫu, trước thangka bày một cái bàn hình tròn, đây gọi là “nội viên tứ phương”, bên trong là hình tròn, bên ngoài là hình vuông, làm một cái bàn hình vuông cũng được, nhưng bạn phải bày thành hình tròn. Ở trung tâm bày lò cúng khói (Sư Tôn lấy lò cúng khói ra), đây là lò cúng khói do công ty Bổn Bổn chế tạo, đây là đại diện cho đất, nước, lửa, gió, không của vũ trụ, đại diện núi Tu Di, sẽ bày ở trung tâm của chiếc bàn. Bên trong có thể đổ bột cúng khói, vào lúc đốt khói cúng có thể mở ra, lúc không đốt khói cúng thì lại đậy vào.

Nguyên liệu trong lò khói cúng cũng giống với nguyên liệu khói cúng bình thường, nhưng trong đó có một thứ tương đối đặc biệt, bạn phải hái 108 bông hoa đào đi sấy khô rồi tán thành bột, bỏ vào trong lò khói cúng, đây chính là mẹo của pháp này. Bây giờ đúng lúc có thể hái hoa đào, nghe nói bên phải Hoàng Đế Lôi Tạng Tự đều là hoa đào, nhưng bạn không được đi hái trộm, phải nói với chủ nhân một câu, hoặc là mua 108 bông, sau đó sấy khô rồi làm thành bột, trộn cùng với nguyên liệu làm khói cúng, như thế là có nguyên liệu khói cúng rồi. Đốt lửa xong, khói sẽ tỏa ra, sẽ không cố định một hướng nào, nó sẽ bay lên trên, bay xuống dưới, đây chính là Thập phương xạ tiễn.

Bốn đại châu bày thế nào? Đây là đại diện cho một châu (Sư Tôn giơ một cái chày chữ thập Kurukulle Phật Mẫu lên), ở giữa là Kurukulle Phật Mẫu, ngài bắn ra bốn mũi tên, mũi tên của ngài là mũi tên có hoa đào, là mũi tên có hoa upala, cũng tức là mũi tên hoa đào, bắn về bốn hướng. Chày chữ thập này cần có bốn cái, đại diện cho bốn đại châu, vây xung quanh bốn hướng của lò khói cúng, lò khói cúng ở trung tâm, còn bốn cái chày ở hướng Đông Tây Nam Bắc của lò khói cúng.

Tám tiểu châu bày thế nào? Có thể dùng cây nến màu đỏ để đại diện, cây nến có thể tạo hình bông hoa thì càng tốt. Tám cây nến màu đỏ đại diện cho tám tiểu châu, đặt ở xung quanh. Cái gọi là bảy núi vàng thì có thể dùng đèn để đại diện, tức là bảy cốc đèn. Biển thì có thể dùng nước để đại diện, dùng bảy cốc nước để quây lấy đàn thành. Bảy núi bảy biển chính là bảy cốc đèn và bảy cốc nước. Sau đó, muốn bày thêm cúng phẩm gì thì bày tùy ý.

Ngoài ra còn có mũi tên hoa đào, mũi tên hoa đào là một mũi tên nhỏ, bày ở chính giữa bảy núi vàng và bảy biển, phóng thẳng lên, quây thành một vòng tròn. Mũi tên này có thể có 108 cái, hoặc là bội số của 7, chỉ cần có thể quây lấy xung quanh đàn thành là được. Đôi khi không cần phải dùng nhiều mũi tên như vậy, 7 mũi tên, hoặc 14, hoặc 21, hoặc 28, tóm lại, là bội số của 7 là được, có thể quây vòng quanh đàn thành là được rồi. Hoặc là 108 cái, như thế thì càng viên mãn. Muốn tu đại đào hoa thì phải làm 108 mũi tên, muốn tu trung đào hoa thì có thể ít đi một chút, 49 cái là được, muốn tu tiểu đào hoa thì 7 cái là được rồi.

Lại nói rõ, trung tâm đàn thành bày lò cúng khói đại diện cho núi Tu Di, bốn phương chính là bốn vị Kurukulle Phật Mẫu bắn tên ra bốn phía, sau đó sẽ là tám tiểu châu, dùng tám cây nến màu đỏ để đại diện, hoặc là tám bông hoa đào cũng được, nhưng hoa đào thì sẽ tàn mất, bạn có thể nói với người làm giấy là: “Tôi muốn tám bông hoa đào làm bằng giấy.” Hoa đào bằng giấy bày lên thì rất tốt. Sau đó là bảy cốc đèn, dùng đèn nhỏ là được, cắm điện để cho nó sáng lên, phải nhớ nhất định là đèn màu đỏ, hoa đào đỏ, mũi tên cũng màu đỏ. Sau đó dùng bảy cốc nước quây xung quanh, bảy cốc nước đại diện cho bảy biển. Tiếp theo là mũi tên, 108 cái hoặc bội số của 7 đều được.

Nếu là tu tiểu đào hoa, ví dụ bạn thích một người đàn ông cực kì đẹp trai, anh ta chưa kết hôn, bạn muốn gả cho anh ta, nếu có thể lấy được vật tượng trưng cho tinh thần của anh ta thì là tuyệt vời nhất. Vật tượng trưng cho tinh thần chính là tóc, móng tay và da, đương nhiên không phải bảo là bạn lột da người ta! Nếu anh ta có thói quen mài chân thì lấy một ít bột da mà anh ta mài ra cho vào trong bột cúng khói, hoặc là bỏ mấy sợi tóc của anh ta vào trong bột cúng khói, bỏ một ít móng tay vào trong bột cúng khói. Nếu vẫn không được thì cắt một mẩu quần áo cũ của anh ta bỏ vào trong bột cúng khói. Vẫn không được nữa thì bên dưới giày của anh ta có dính một ít đất, cạo lấy đất đó bỏ vào trong bột cúng khói, sau đó tu pháp. Đàn ông hay phụ nữ đều như vậy. Nếu vẫn không được thì bạn hãy viết họ tên, địa chỉ lên một tờ giấy, sau đó đặt vào trong lò cúng khói để đốt.

Điều duy nhất không giống là khi bạn tu pháp Kurukulle Phật Mẫu, quan trọng nhất là phải niệm: “Thượng phương Kurukulle Phật Mẫu, Hạ phương Kurukulle Phật Mẫu và Bát phương Kurukulle Phật Mẫu.” Nhất định phải niệm như vậy mới là pháp Thập phương xạ tiễn, sau đó có thể đốt lò cúng khói, bắt đầu tu pháp Kurukulle Phật Mẫu. 

Lần nào giảng một pháp xong cũng bắt đầu có câu hỏi. “Hoa đào phải to cỡ nào?” “Màu hồng có được không?” Màu đỏ là được, màu hồng thì càng tốt. Đều được cả! Loại to hay loại nhỏ không quan trọng, chỉ cần 108 bông hoa đào là được, cái này nhất định phải lấy để làm nguyên liệu. Nếu bạn tu tiểu đào hoa, ví dụ bạn theo đuổi một cô gái nào đó, những vật tượng trưng cho tinh thần của cô gái đó, bạn đều không có được, vậy thì bạn viết họ tên, địa chỉ của cô gái đó rồi bỏ vào trong lò là được, nếu có thể biết được bát tự của đối phương thì chắc chắn là càng tốt, bởi vì mục tiêu có thể càng rõ ràng hơn. Khi bắt đầu đốt khói cúng, khói của khói cúng bay lên, tất cả oan thân trái chủ sẽ đến, lấy những thứ họ muốn đi, hoa đào cũng sẽ được tản đi, sau đó, người có duyên, người yêu, cuối cùng sẽ thành quyến thuộc.

Phải nhớ, 108 mũi tên là thuộc về tu pháp đại đào hoa, nếu là tu pháp trung đào hoa thì là bội số của 7 là được. Hoa đào không cần nhiều như vậy, bạn tu nhiều hoa đào thì có khi hoa đào chẳng đến mà lại là “hoa trà” đến, như thế thì phiền phức lắm. Bạn tu pháp Thập phương xạ tiễn, khói của lò cúng khói đốt lên sẽ tản ra khắp mười phương, giống như bắn tên về mười phương vậy, tất cả mọi người sẽ đều bị bạn bắn trúng, sức hấp dẫn của bạn sẽ xuất hiện, bạn sẽ trở nên hấp dẫn vô cùng, đời này không thể làm tổng thống thì đời sau cũng có thể làm tổng thống! Đời này bạn tu pháp này, đời sau bạn chắc chắn là người có tiền. Cầu danh được danh, cầu địa vị được địa vị, cầu tiền tài được tiền tài, bạn cầu cái gì thì được cái đó!

Kurukulle Phật Mẫu không chỉ có mũi tên, mà ngài còn có cái móc, tức là cái móc của Câu Tài Thiên Nữ đó, ngài muốn móc cái gì thì sẽ móc được cái đó. Ngài còn có dây thừng, ngài muốn trói cái gì thì trói được cái đó, chắc chắn sẽ có! Đương nhiên, pháp lực của Kurukulle Phật Mẫu là cực kì cao, ngài có năng lực này, bản thân ngài cũng là một Đại Bồ Tát, ngài cũng là siêu thế gian, bản vị của ngài chính là A Di Đà Phật. Chú ngữ của ngài rất đơn giản: “Ôm ku-ru-ku-lê chu-li sô-ha. Ôm ku-ru-ku-lê chu-li sô-ha. Ôm ku-ru-ku-lê chu-li sô-ha. Thượng phương Kurukulle Phật Mẫu, Hạ phương Kurukulle Phật Mẫu, Bát phương Kurukulle Phật Mẫu.” Phải triệu thỉnh như vậy. 


![image](/img/img_f797099d9f5e8dfc8323a8b8c833e845.jpg)


Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/phat-nhan-phat-mau-niem-tung-phap.md
# Title: Phật Nhãn Phật Mẫu niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_5012ed0e61ccb1439c760eec097e925e.jpg)



## Phật Nhãn Phật Mẫu niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


(1) Quán Không.

(2) Thỉnh cầu Căn bản Truyền thừa gia trì. Tay kết thủ ấn Căn bản Thượng sư, quán tưởng Căn bản Thượng sư phóng ba ánh sáng trắng, đỏ, lam chiếu đến hành giả, gia trì hành giả tu pháp viên mãn. Niệm chú Căn bản Thượng sư 7 lần. Niệm văn cầu thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật gia trì 1 lần.

(3) Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

(4) Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô chủ tôn tu pháp Phật Nhãn Phật Mẫu. (x3)

(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)

Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê. 

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Mặc giáp hộ thân


Kết thủ ấn chắp tay kim cang, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cang thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Phụng thỉnh bát đại Bồ Tát
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Kim Cang Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Diệu Cát Tường Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.

Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ thất Phật. Vị lai hiền kiếp thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Niệm danh hiệu Phật sáu phương
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyệt Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Hết thảy chúng sinh trung ương, chư vị trong Phật giới, trú ngụ trên mặt đất, cho đến tại không trung, thương lo cho tất cả chúng sinh. Ai cũng an ổn tốt lành. Ngày đêm tu trì. Tâm thường cầu tụng kinh này. Diệt được khổ sinh tử. Tiêu trừ hết độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Tụng bản kinh không ngừng. Thất Phật Thế Tôn. Liền nói chú sau:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-lô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-ki-a-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha” (7 lần)

Mười phương Quan Thế Âm. Hết thảy chư Bồ Tát.
Đã thề cứu chúng sinh. Xướng danh tất giải thoát.

Nếu gặp người trí tuệ. Ân cần mà giảng nói.
Lại có đủ nhân duyên. Đọc tụng không ngơi nghỉ.
Tụng kinh tròn nghìn biến. Niệm niệm tâm không dừng.
Gặp lửa cháy chẳng sao. Việc đao binh cũng thoát.
Nóng giận thành vui vẻ. Chết rồi hóa sống vui.
Đừng nghĩ rằng không đúng. Chư Phật chẳng nói chơi.
Cao Vương Quan Thế Âm. Cứu được hết khổ nạn.
Lúc khó khăn nguy cấp. Người chết còn thành sống.
Chư Phật chẳng nói đùa. Vì vậy nên đảnh lễ.
Niệm tụng trọn nghìn lần. Tội nặng đều tiêu diệt.
Người có phúc tín tâm. Hãy chuyên tâm đọc tụng.

Nguyện mang công đức này. Gửi tới hết chúng sinh.
Tụng tròn một nghìn biến. Tội nặng đều tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (Hết)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_c5847d283dbeb91b8c8699efec5996e3.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn Phật Nhãn Phật Mẫu**

Hai tay chắp thủ ấn kim cang, hai ngón trỏ và ngón cái tạo thành hai con mắt. 

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Quán tưởng trong hư không có nguyệt luân, ở giữa nguyệt luân xuất hiện chủng tử tự chữ "Sri" (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu vàng kim phóng quang và xoay chuyển hóa thành Phật Nhãn Phật Mẫu.

(2) Phật Nhãn Phật Mẫu hiện thân màu trắng, có một mặt ba mắt hai tay, đầu đội mũ miện, tai đeo khuyên vàng, cánh tay đeo vòng và chuỗi ngọc, mặc thiên y màu trắng, tay kết ấn trí quyền, ngồi tư thế kiết già trên tòa hoa sen.

(3) Quán tưởng từ thiên tâm của Phật Nhãn Phật Mẫu phóng ra một đường ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả, từ họng của ngài phóng ra một đường ánh sáng đỏ chiếu đến họng của hành giả, từ tâm luân của ngài phóng ra một đường ánh sáng màu xanh lam chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng đi vào thân tâm hành giả, gia trì cho hành giả thân tâm thanh tịnh.


### Phần 14: Trì tâm chú Phật Nhãn Phật Mẫu


Tâm chú: 

Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm mô-thô lu-chua-ni sô-ha. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Sri), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Phật Nhãn Phật Mẫu, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định.


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-tê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hum.


![image](/img/img_148800eaf4fb9f3efee34b0f44cc5193.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Phật Nhãn Phật Mẫu


Phật Nhãn Phật Mẫu hiện thân màu trắng, có một mặt ba mắt hai tay, đầu đội mũ miện, tai đeo khuyên vàng, cánh tay đeo vòng và chuỗi ngọc, mặc thiên y màu trắng, tay kết ấn trí quyền, ngồi tư thế kiết già trên tòa hoa sen.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị lai lịch vĩ đại của Phật Nhãn Phật Mẫu và lợi ích tu pháp thù thắng


Phật Nhãn Phật Mẫu là hóa thân của Đại Nhật Như Lai, cũng là đẳng lưu thân của Đại Nhật Như Lai. 

Phật Nhãn Phật Mẫu là một trong các Bổn tôn mà Mật tông thờ phụng, trong mandala Thai Tạng Giới của Mật tông, ngài là một vị ở viện Biến Tri và viện Thích Ca, còn được gọi là Phật Nhãn, Phật Nhãn Tôn, Phật Mẫu Tôn, Phật Mẫu Thân, Phật Nhãn Bộ Mẫu, Phật Nhãn Minh Phi, Hư Không Nhãn Minh Phi, Hư Không Tạng Nhãn Minh Phi, Nhất Thiết Như Lai Nhãn Đại Kim Cang Cát Tường Nhất Thiết Phật Mẫu, Biến Tri Phật Mẫu. 

Phật Nhãn Phật Mẫu là thần biến của Đại Nhật Như Lai hoặc Thích Ca Như Lai, mật hiệu của ngài là Thù Thắng Kim Cang, công đức rất lớn, trong Mật giáo, ngài là bộ chủ của Phật bộ.

Trong "Đại Nhật Kinh Sớ" viết: "An Trí Phật Nhãn, cũng là mẹ của Thích Ca Mâu Ni, nơi này dịch là Năng Tịch Mẫu. Thường vui nhìn thế gian, thân đoan nghiêm vô cùng, toàn thân đều có hào quang, vui vẻ mỉm cười, đây là Như Lai tùy loại hình xuất sinh tam muội, tam muội này chính là lấy đại từ phổ nhãn làm thể, quan sát các chúng sinh, dẫn dắt họ, ánh sáng con mắt từ bi không nơi nào là không chiếu đến, vì thế gọi là biến thể viên tịnh quang."

Nguồn gốc của Phật Nhãn Phật Mẫu là ở viện Biến Tri và viện Thích Ca của Thai Tạng Giới. Thế nào gọi là viện Biến Tri? Trong các danh hiệu Phật, có một danh hiệu gọi là Chính Biến Tri, nghĩa là cái gì cũng biết, và Phật Nhãn Phật Mẫu chính là một vị Chính Biến Tri, tương đương với Phật, Chính Biến Tri chính là Phật, cũng vì thế mà ngài ở viện Biến Tri. Ngoài ra, Phật Nhãn Phật Mẫu cũng xuất hiện trong viện Thích Ca, cung điện chủ yếu của Phật Thích Ca Mâu Ni cũng xuất hiện Phật Nhãn Phật Mẫu.

Ý nghĩa của Phật Mẫu là các vị đều có đại trí huệ, chúng sinh thành Phật đều từ chỗ của Phật Nhãn Phật Mẫu và Bát Nhã Phật Mẫu mà thành Phật, đây là chỗ vĩ đại của các vị.

Vào vô lượng kiếp trước đây, pháp thể không có một chút trở ngại nào, vì các đức hành đều viên mãn, thường trụ bất biến, duy có ánh sáng chiếu đến các pháp giới, ánh sáng này vốn là từ hai con mắt phát ra, vì thế mà gọi là Đại Từ Phổ Nhãn, từ Đại Từ Phổ Nhãn hóa hiện thành Nhất Thiết Phật Nhãn Đại Kim Cang Cát Tường Nhất Thiết Phật Mẫu Tâm Tôn, đây chính là ánh sáng của Đại Nhật Như Lai hóa thân thành Phật Nhãn Phật Mẫu. 

Phật Nhãn Phật Mẫu đã bố trí Phật nhãn tại Tây phương Cực Lạc thế giới, hai con mắt Phật trở thành hai hồ sen trang nghiêm, trong hồ đều có những vòng hào quang, hỉ lạc vô tận, chính là Ma Ha Song Liên Trì. Tam muội của Ma Ha Song Liên Trì chính là lấy cái thể của Đại Từ Phổ Nhãn để quan sát đáp ứng chúng sinh, chỉ dẫn họ, con mắt từ bi không đâu là không chiếu tới.

Đại Nhật Như Lai nói: “Đây chính là hai con mắt ánh sáng của Đại Nhật Như Lai hóa thành Phật Nhãn Phật Mẫu, hai con mắt của Phật Nhãn Phật Mẫu lại hóa thành Ma Ha Song Liên Trì, thế còn 18 đại Liên Hoa Đồng Tử là các hóa sinh với tịnh quang khắp toàn thân trong hồ sen.” 

Phật Nhãn Phật Mẫu là Bổn tôn trí huệ của chúng ta, cũng là Bổn tôn trí huệ của Chân Phật Tông. Đại Nhật Như Lai - Phật Nhãn Phật Mẫu - A Di Đà Phật - Liên Hoa Đồng Tử - Lư Thắng Ngạn, đây chính là truyền thừa trí huệ trong hư không của chúng ta.

Phật Nhãn Phật Mẫu đi ra từ cung Pháp Giới Thanh Tịnh của Đại Nhật Như Lai, hai con mắt ngài hóa thành Ma Ha Song Liên Trì, trong hồ sen hóa sinh ra Liên Hoa Đồng Tử, và Liên Hoa Đồng Tử chính là tiền kiếp của tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn). 

Liên Sinh Hoạt Phật là do Thập Bát Đại Liên Hoa Đồng Tử Bạch Y Thánh Tôn hóa sinh, còn Bạch Liên Hoa Đồng Tử là hóa sinh của Nhất Thiết Phật Nhãn Đại Kim Cang Cát Tường Nhất Thiết Phật Mẫu Tâm Tôn, còn Phật Nhãn Phật Mẫu chính là hóa sinh của Ngũ Phương Phật.

Cũng có thể nói như thế này:
Chân thân — Ngũ Phương Phật.
Pháp tính thân — Phật Nhãn Phật Mẫu (Vô Tà Nhãn Như Lai).
Báo tính thân — Liên Hoa Đồng Tử.
Ứng tính thân — Liên Sinh Hoạt Phật.

Thủ ấn mà Phật Nhãn Phật Mẫu kết là ấn trí quyền của Đại Nhật Như Lai, cho nên, thủ ấn mà hiện tại chúng ta kết khi tu pháp cũng có thể kết ấn trí quyền này: sau khi chắp tay kim cang, ngón cái và ngón trỏ cong lại tạo thành hình hai con mắt, đây là thủ ấn chân chính của Phật Nhãn Phật Mẫu. 

Phật Nhãn Phật Mẫu tâm chú còn gọi là "Nhất Thiết Phật Nhãn Đại Minh Mẫu chân ngôn", chú ngắn là "Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm mô-thô lu-chua-ni sô-ha".

"Kỳ Đặc Tối Thắng Kim Luân Phật Đỉnh Niệm Tụng Nghi Quỹ Pháp Yếu" nói: "Đây gọi là Nhất Thiết Phật Nhãn đại minh. Có thể dừng lại thứ đáng sợ khó điều phục. Vì muốn thành tựu thế gian xuất thế gian tất cả Phật đỉnh đại luân vương pháp, tất cả sự việc diệt mọi tranh luận. Cũng là chủng tộc mẫu của tất cả chư Phật. Còn là sinh dưỡng mẫu của tất cả đại Bồ Tát. Vì nói đỉnh luân chân ngôn uy đức đặc biệt. Các đại Bồ Tát đều mất bản tâm. Các thiên long thần uy lực đều không còn. Hễ tụng nhất tự Phật đỉnh minh. Trước tiên phải tụng Phật Nhãn minh. Niệm tụng hoàn tất. Cũng tụng 7 biến. Các thánh hoan hỷ an lạc hữu tình."

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

Các Thượng sư có thể chủ trì pháp hội Phật Nhãn Phật Mẫu, có thể làm quán đảnh trì chú tâm chú Phật Nhãn Phật Mẫu cho đại chúng.
Các Thượng sư không được truyền quán đảnh tu pháp Phật Nhãn Phật Mẫu, phải do Sư Tôn đích thân quán đảnh.

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/pho-ba-kim-cang-niem-tung-phap.md
# Title: Phổ Ba Kim Cang niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_1d76cc4e8a89be0894d71269ca0e8ff3.jpg)



## Phổ Ba Kim Cang niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Phổ Ba Kim Cang Vajra Kilaya.
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha.  


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_350366d8d5bfd4b123c266fa708a8fba.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn Phổ Ba Kim Cang**

Hai tay đan ngoại phộc (hoặc nội phộc), hai ngón giữa giơ thẳng chạm vào nhau. 

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời xanh vạn dặm không mây, nguyệt luân từ trên biển nhô lên, trong nguyệt luân có chủng tử chữ “Hum” (tiếng Phạn) màu xanh lam, phóng tỏa ánh sáng lam.

(2) Chữ “Hum” trong nguyệt luân xoay tròn, hóa thành Phổ Ba Kim Cang, thân màu xanh lam, ba đầu sáu tay. Khuôn mặt chính màu lam, mặt bên phải màu trắng, mặt bên trái màu đỏ, phân biệt là Đại Thế Chí Bồ Tát biến hóa thành tướng phẫn nộ là Kim Cang Thủ Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát biến hóa thành tướng phẫn nộ là Đại Uy Đức Kim Cang, Quan Thế Âm Bồ Tát biến hóa thành tướng phẫn nộ là Mã Đầu Minh Vương. Hai tay trước ngực nâng kim cang quyết [cọc], cánh tay phải thứ nhất cầm chày kim cang chín chấu, cánh tay phải thứ hai cầm chày kim cang năm chấu, cánh tay trái thứ nhất cầm ngọn lửa, cánh tay trái thứ hai cầm thiên trượng ba đinh. Sau lưng có đôi cánh, hai chân bên phải dẫm lên lưng của hai ma nam, hai chân trái dẫm lên ngực của hai ma nữ. 

(3) Thiên tâm của Phổ Ba Kim Cang phóng ra một đường ánh sáng trắng, chiếu đến thiên tâm của hành giả; từ họng phóng ra một đường ánh sáng đỏ, chiếu thẳng đến họng của hành giả; từ tâm luân phóng ra một đường ánh sáng lam, chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng trắng, đỏ, lam tan vào thân tâm của hành giả.


### Phần 14: Trì tâm chú Phổ Ba Kim Cang


Tâm chú: Ôm ben-za chi-li chi-la-ya sa-ơ-wa bi-ka-nê pằng hùm pây. (108 biến)
Chú ngắn: Ôm pủ-pa tô-chê hùm pây. / Ôm pủ-pa tô-chê hùm.


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Hum), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Phổ Ba Kim Cang, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 

**Tụng tán:**

Uy thần hiển hách ngọn lửa bát nhã đại trí
Tức tăng hoài tru trừ chướng khắp nơi cát tường
Tất cả mọi lúc bảo vệ con lìa mọi khổ
Phổ Ba Kim Cang trước chân ngài con kính lễ.


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


![image](/img/img_1e45591ca72e8da984499a744cfc805d.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Phổ Ba Kim Cang


Phổ Ba Kim Cang thân màu xanh đen, ba đầu, ba mắt, sáu cánh tay, bốn chân, hai cánh. Khuôn mặt chính màu xanh lam, đại diện cho Đại Thế Chí Bồ Tát, cũng chính là Kim Cang Thủ Bồ Tát, đại diện cho ý của chư Phật.

Mặt bên phải màu trắng, đại diện cho Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, cũng chính là Đại Uy Đức Kim Cang, đại diện cho thân của chư Phật.

Mặt bên trái màu đỏ, đại diện cho A Di Đà Phật (Quan Thế Âm Bồ Tát), cũng chính là Mã Đầu Minh Vương, đại diện cho ngữ của chư Phật.

Phổ Ba Kim Cang hai tay trước ngực cầm cọc kim cang, cánh tay phải thứ nhất cầm chày kim cang chín chấu, cánh tay phải thứ hai cầm chày kim cang năm chấu, cánh tay trái thứ nhất cầm ngọn lửa, cánh tay trái thứ hai cầm thiên trượng ba đinh. Sau lưng có đôi cánh, hai chân bên phải dẫm lên lưng của hai ma nam, hai chân trái dẫm lên ngực của hai ma nữ.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị về lai lịch vĩ đại của Phổ Ba Kim Cang  và khẩu quyết tu pháp


Phổ Ba Kim Cang (Kili Kilaya), tiếng Trung gọi là Phổ Ba Kim Cang, tiếng Tạng gọi là Dorje Phurpa, là tướng phẫn nộ của Kim Cang Tát Đỏa, còn gọi là Karma Heruka.

Phổ Ba có ý nghĩa là chày, chày trong chày kim cang, cũng giống như một cái cọc kim cang. Ý nghĩa của Phổ Ba chính là cọc kim cang, ngài có đầu, có thân, có tay, có chân, có đôi cánh, đều có cả, uy thần của ngài rất lớn.

Hình tượng của ngài rất đặc biệt, ngài có ba khuôn mặt, có cánh, cọc kim cang bình thường cũng chính là Phổ Ba Kim Cang. Ngoài ra cọc kim cang này có ba mặt màu trắng, đỏ, lam. Ý nghĩa của Phổ Ba chính là cọc kim cang, kim cang tức là Kim Cang Thần.

Phổ Ba Kim Cang (Kili Kilaya) có ba thân, có Đại Uy Đức Kim Cang, Mã Đầu Minh Vương, Kim Cang Thủ Bồ Tát, đại diện cho ba vị phẫn nộ.

Phổ Ba Kim Cang là hóa hiện do thề nguyện của Phổ Hiền Vương Như Lai, là tổng tập hóa hiện từ thề nguyện của tất cả chư Phật Bồ Tát.

Trong bốn giáo phái, Phổ Ba Kim Cang đều rất được coi trọng, đều có nguồn gốc của pháp Phổ Ba, trong đó chủ yếu nhất chính là phái Nyingma, chính là Hồng giáo cựu giáo, họ coi trọng Phổ Ba Kim Cang nhất.

Phổ Ba Kim Cang có sức mạnh uy thần rất lớn, bản thân ngài vốn là Đại Lực Quỷ của Thi Đà Lâm [rừng vứt xác], rất có sức mạnh, ngài chính là vua của Thi Đà Lâm, chính là vua của mộ phần, ngài đã làm rất nhiều việc không tốt. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã gặp Đại Lực Quỷ, hàng phục ngài, hơn nữa còn đi vào trong thân thể của Đại Lực Quỷ, tức là đi vào trong tâm của Đại Lực Quỷ, chuyển hóa thành Phổ Ba Kim Cang, trở thành thần Hộ Pháp của Phật giáo. Ngài có thần túc thông, có thể bay, bởi vì ngài có đôi cánh.

Vì thế, trong thần biến của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ cũng có một biến hóa thuộc về Phổ Ba Kim Cang, ngài cũng có cánh. Cho nên hình tượng của Phổ Ba Kim Cang là biến thân của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Về sau, Phổ Ba Kim Cang lại gặp được giáo chủ của Mật giáo là Kim Cang Tát Đỏa, Kim Cang Tát Đỏa thấy tình hình như vậy thì ngài liền biến ra thân của ngài giống y hệt, cũng có cánh, cũng có ba đầu sáu tay, là hóa thân của Kim Cang Tát Đỏa. Kim Cang Tát Đỏa đã xuống để hàng phục Đại Lực Quỷ Vương Phổ Ba Kim Cang, sau khi hàng phục xong rồi thì chuyển hóa thành thần Hộ Pháp của Mật giáo. Vì thế bên trong Phổ Ba Kim Cang có sức mạnh của Kim Cang Tát Đỏa và sức mạnh của bản thân Đại Lực Quỷ Vương.

Trong truyền kì về Liên Hoa Sinh Đại Sĩ có nhắc đến Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đưa Minh Phi Yeshe Tsogyal rời khỏi Tây Tạng, khi sắp đến một đỉnh núi ở Nepal, ở nơi đó, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã hiển hóa mandala của 13 vị Phổ Ba Kim Cang. Có 13 mandala Phổ Ba Kim Cang không giống nhau, bao gồm Phổ Ba Kim Cang do chính bản thân ngài hiển hóa thành. Cho nên chúng ta gọi Phổ Ba Kim Cang do Liên Hoa Sinh Đại Sĩ hiển hóa ra là Guru Kili Kilaya, cũng chính là tướng của Phổ Ba Kim Cang mà bản thân Liên Hoa Sinh Đại Sĩ biến thân ra, ngài có 13 đàn thành, 13 tư thế khác nhau, có những hình tượng khác nhau hiển hiện ra.

Vị này được gọi là “tổng tập của tất cả Như Lai, Bồ Tát và tất cả sự nghiệp, chính là Phổ Ba Kim Cang”, uy lực của ngài vô cùng, bởi vì ba khuôn mặt của ngài  mỗi khuôn mặt lại đại diện cho một vị Kim Cang Thần.

Ý nghĩa của tổng tập chính là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, chúng ta gọi ngài là vị Bồ Tát có trí huệ nhất, Quan Thế Âm Bồ Tát là vị Bồ Tát từ bi nhất, Kim Cang Thủ Bồ Tát là vị Bồ Tát có pháp lực nhất. Pháp lực, từ bi và trí huệ, ba vị Bồ Tát kết hợp lại biến hóa hành Phổ Ba Kim Cang.

Sự hóa hiện này, Phổ Ba Kim Cang có uy lực là điều phục Ma Vương làm đảo loạn chúng sinh trong tam giới, ra mệnh lệnh cho hắn, hàng phục hắn, có thể khiến chúng sinh trong tam giới được yên vui. Ngài có thể vượt qua tất cả chướng ngại, phá trừ mọi bám chấp, có thể che chặn tất cả quỷ thần, phi nhân, ma chướng, ác chú và tiêu trừ tất cả nghiệp chướng của chúng sinh.

Phổ Ba Kim Cang là Đại Lực Quỷ Vương, ngài hàng phục tất cả ác quỷ, tất cả quỷ bất hảo, tất cả oan thân trái chủ không thể lại gần, cầu gì được nấy. Phổ Ba Kim Cang có thể nói là bộ pháp Kim Cang số một. Ở vùng Tây Tạng có rất nhiều người ngay khi bắt đầu đã học tập pháp Phổ Ba Kim Cang, bởi vì ngài là vị Kim Cang Minh Vương có uy lực trong số các vị Hộ Pháp Thần, cũng là vị Kim Cang Thần dễ tương ứng nhất, một vị Đại Hộ Pháp.

Nếu bạn đã nhận quán đảnh Phổ Ba Kim Cang rồi, bạn tương ứng với ngài rồi, tất cả yêu ma quỷ quái, tất cả mọi điều ác đều được tiêu trừ hết.

Chỉ cần bạn đã nhận quán đảnh Phổ Ba Kim Cang thì bên trong đã bao gồm quán đảnh Đại Uy Đức Kim Cang rồi, Đại Uy Đức Kim Cang còn gọi là Hàng Ma Diêm Tôn. Diêm La Vương cũng chẳng có cách nào chế ngự được bạn, chỉ cần bạn tương ứng với vị Hộ Pháp này, Diêm La Vương sẽ đối với bạn rất cung kính, bạn sẽ không phải vào địa ngục và không ở trong lục đạo luân hồi.

Kim Cang Thủ Bồ Tát là vị chuyên môn trừ bùa chú giáng đầu. Cho nên, bạn niệm chú Phổ Ba Kim Cang, bạn bị bỏ bùa ngải, chỉ cần Phổ Ba Kim Cang đến thì bùa ngải sẽ đều được giải trừ hết.

Đặc điểm của Mã Đầu Minh Vương là vô cùng nhanh, Mã Đầu Minh Vương tượng trưng cho sức ngựa, mã lực của ngài rất mạnh.

Phổ Ba Kim Cang chủ yếu là hàng phục, bởi vì trong ngài có pháp lực của Kim Cang Tát Đỏa, cho nên ngài có thể làm tiêu tai, tăng ích, kính ái, hàng phục, cũng có thể tiếp dẫn các linh hồn vãng sinh Phật quốc thanh tịnh, cũng có thể chữa khỏi bệnh tật của chúng sinh. Ngài có sức mạnh lớn như vậy.

Phổ Ba Kim Cang có sức mạnh như vậy là cực kì vĩ đại, ngài chủ yếu là hàng phục, mọi người nghĩ thử xem, chỉ cần hàng phục được đen thì trắng sẽ xuất hiện, ánh sáng sẽ xuất hiện. Một khi ánh sáng xuất hiện thì tự nhiên có duyên phận, duyên phận tốt lành sẽ đến, sẽ có quý nhân, sẽ có phúc phần, sẽ có thể gia tăng tư lương, gia tăng trí huệ, tiêu diệt tai nạn, hàng phục mọi điều không tốt, tất cả đều hàng phục hết, uy lực của Phổ Ba Kim Cang chính là như vậy.

Ngày xưa, tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) từng đến chỗ của Thượng sư Thubten Dhargye, lần đầu tiên gặp mặt, ngài đưa cho tôi một cái chày kim cang một chấu có ba mặt, chính là Phổ Ba Kim Cang.

Thủ ấn của pháp Phổ Ba Kim Cang chính là cọc Phổ Ba Kim Cang. Khi kết thủ ấn chĩa vào bạn thì sẽ hàng phục suy nghĩ tán loạn của bạn, khi kết thủ ấn chĩa ra bên ngoài thì hàng phục tất cả phiền não và tất cả chướng ngại, khi bạn kết thủ ấn và xoa hai ngón giữa vào nhau ba lần thì Phổ Ba Kim Cang sẽ hạ giáng. Mỗi khi bạn tu pháp, làm cúng dường, ngài nhất định sẽ đến nhận cúng dường của bạn.


![image](/img/img_83f1e6e715550886e140199d506211f5.jpg)


Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/pho-hien-bo-tat-niem-tung-phap.md
# Title: Phổ Hiền Bồ Tát niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_a8c29b1b8e5552890f3e06b72fe5c646.jpg)



## Phổ Hiền Bồ Tát niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát.
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê. 

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_8f7aa5e3d2be060923c57d5539281339.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn Phổ Hiền Bồ Tát**

Đầu tiên hai tay đan nội phộc, hai ngón cái đứng song song tựa vào nhau, hai ngón trở dựng thẳng tách ra hai bên, ngón giữa dựng thẳng chạm vào nhau, ngón áp út vẫn giữ nội phộc, hai ngón út dựng thẳng chạm vào nhau.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Quán tưởng trời xanh vạn dặm không mây, trên mặt biển lớn có một nguyệt luân từ từ nhô lên, trong nguyệt luân có một chữ Ah (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu trắng. Chữ Ah xoay tròn hóa thành một vị Phổ Hiền Bồ Tát. 

(2) Phổ Hiền Bồ Tát đầu đội mũ miện, thân màu vàng kim, tay phải cầm hoa sen hoặc gậy như ý, tay trái kết ấn ban nguyện. Hoặc Phổ Hiền Bồ Tát đầu đội mũ Ngũ Phật, thân màu vàng kim, kết ấn, hoặc cầm chày kim cang, ngồi bán già trên lưng voi trắng sáu ngà (sáu ngà đại diện cho ý nghĩa lục độ). 

(3) Thiên tâm của Phổ Hiền Bồ Tát phóng ra một đường ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả, họng của ngài phóng ra một đường ánh sáng đỏ chiếu thẳng đến họng của hành giả, tâm luân của ngài phóng ra một đường ánh sáng lam chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng trắng đỏ lam đi vào hòa nhập vào thân tâm hành giả, gia trì cho hành giả.


### Phần 14: Trì tâm chú Phổ Hiền Bồ Tát


Tâm chú 1: Ôm sô-sha ga-ya sô-ha. (108 biến)
Tâm chú 2: Na-mô sa-man-tô wa-zư-la sat-tô ơ. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Hum), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Đại Lực Kim Cang, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


![image](/img/img_958c4d06925062005d2f33c2c2f9fe67.jpg)



![image](/img/img_57c9721b5ed6dea67271ea5adfa0eddf.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Phổ Hiền Bồ Tát 


Phổ Hiền Bồ Tát đầu đội mũ miện, thân màu vàng kim, tay phải cầm hoa sen hoặc gậy như ý, tay trái kết ấn ban nguyện. Hoặc Phổ Hiền Bồ Tát đầu đội mũ Ngũ Phật, thân màu vàng kim, tay kết ấn hoặc cầm chày kim cang, ngồi bán già trên lưng voi trắng sáu ngà (sáu ngà đại diện cho ý nghĩa lục độ). 


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị về lai lịch vĩ đại của Phổ Hiền Bồ Tát và khẩu quyết tu pháp


Phổ Hiền Bồ Tát là Bồ Tát đại hạnh cưỡi voi trắng sáu ngà, là Pháp Vương Tử chuyển kiếp qua các đời, có Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm truyền đời. Phổ Hiền dùng nhĩ thức: tùy niệm phân biệt, phát trí huệ quang, phổ chiếu quần sinh, đắc đại tự tại, là một vị đại Bồ Tát viên thông số một, cũng là một trong số tám đại Bồ Tát.

Trong Đông mật, Phổ Hiền Bồ Tát là tâm tử của Tỳ Lô Giá Na Phật Đại Nhật Như Lai, cũng chính là Pháp Vương Tử. Kim Cang Tát Đỏa là Pháp Vương Tử của Ngũ Phật, Phổ Hiền Bồ Tát cũng là Pháp Vương Tử của Ngũ Phật. Trong Hiển giáo, ngài là Phổ Hiền Bồ Tát, còn trong Mật giáo ngài là Kim Cang Tát Đỏa, Kim Cang Tâm Bồ Tát, Kim Cang Thủ Bồ Tát, là một vị vô cùng vĩ đại. Tất cả Kim Cang Thần chính là từ chỗ của Phổ Hiền Bồ Tát hóa sinh mà ra.

Hoa Nghiêm Tam Tôn là Thích Ca Mâu Ni Phật, còn có Văn Thù Sư Lợi và Phổ Hiền Bồ Tát, hai vị đại Bồ Tát này là thị giả của Thích Ca Mâu Ni Phật. Văn Thù Bồ Tát nắm giữ cánh cửa trí huệ, Phổ Hiền Bồ Tát nắm giữ cánh cửa lý trí.

Kim Cang Tát Đỏa và Phổ Hiền Bồ Tát là đồng thể dị danh. Bởi vì Phổ Hiền đến nhận quán đảnh từ Đại Nhật Như Lai, hai tay đều cầm chày kim cang của ngũ trí. Về sau, hễ là truyền thụ Acharya của Mật pháp, nhận quán đảnh làm Thượng sư, thành tựu ngũ tướng thì gọi là hóa thân của Kim Cang Tát Đỏa.

Kim Cang Tát Đỏa ở trong Kim Cương Giới là Kim Cang Tát Đỏa trong số mười sáu Bồ Tát. Vị tổ thứ nhất của Chân Ngôn Tông Nhật Bản là Đại Nhật Như Lai, vị tổ thứ hai chính là Kim Cang Tát Đỏa.

Khi tu pháp Phổ Hiền Bồ Tát, đầu tiên kết thủ ấn, sau đó quán tưởng Phổ Hiền Bồ Tát, nhưng phải nhớ hình tượng quán tưởng là Phổ Hiền Bồ Tát của Mật giáo, tức là hai tay của ngài đều cầm chày kim cang bởi vì ngài đã nhận quán đảnh của Tỳ Lô Giá Na Phật. Trong Mật giáo có Phổ Hiền Bồ Tát hai tay đều cầm chày kim cang, làm quán tưởng Phổ Hiền Bồ Tát như vậy.

Trong Hiển giáo, pháp tướng của Phổ Hiền Bồ Tát là đầu đội mũ Ngũ Phật, thân màu vàng kim, tay phải cầm hoa sen hoặc gậy như ý, tay trái kết ấn ban nguyện, ngồi bán già trên lưng voi trắng sáu ngà. Mỗi ngày một tu pháp niệm tụng của Phổ Hiền Bồ Tát thì tất cả nghiệp chướng đều sẽ bị đẩy lùi, có đầy đủ mọi công đức, vãng sinh tịnh thổ Cực Lạc thế giới của A Di Đà Phật.

Phổ Hiền Bồ Tát là Kim Cang Tát Đỏa của Mật giáo, đều là chủ của Hiển-Mật, lấy đức phát bồ đề tâm làm tiêu chuẩn của tam thế thập phương Phật Bồ Tát. Cho nên A Di Đà Phật cũng là chủ của pháp môn.

Mười đại nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát là Đại Nguyện Vương, mười đại nguyện này tất cả Phật tử đều tôn sùng.

Nguyện thứ nhất: Lễ kính chư Phật — Kính lễ tất cả các vị Phật.
Nguyện thứ hai: Xưng tán Như Lai — Tán dương tất cả Như Lai, tán dương các vị đến cảnh giới tối cao, là các bậc chí tôn, là Như Lai, là nơi nương dựa của mọi chúng sinh.
Nguyện thứ ba: Quảng tu cúng dường — Tu cúng dường nhiều và rộng rãi, pháp đại cúng dường mandala, cúng dường là việc nhất định phải làm.
Nguyện thứ tư: Sám hối nghiệp chướng — Mỗi ngày chúng ta cần sám hối nghiệp chướng của chính mình, bản thân đã phạm vào nghiệp gì tự mình biết, bạn nhất định phải sám hối nghiệp chướng đã phạm phải ngày hôm nay.
Nguyện thứ năm: Tùy hỷ công đức — Bạn nhìn thấy người ta đang làm công đức, đang làm bố thí, bạn phải vui mừng và tham gia cùng họ mới là đúng.
Nguyện thứ sáu: Thỉnh chuyển pháp luân — Ý nghĩa của điều này là người biết thuyết pháp, hoặc người tu pháp rất tốt, họ có chính pháp thì phải mời họ chuyển bánh xe chính pháp, mời chuyển pháp luân, mời họ thuyết pháp, quảng độ chúng sinh.
Nguyện thứ bảy: Thỉnh Phật trụ thế — Thỉnh Phật trụ tại thế gian này, chúng ta phải thường xuyên làm thỉnh Phật trụ thế.
Nguyện thứ tám: Thường theo Phật học — Cùng theo đồng môn học Phật, mọi người cùng học Phật, không thể tu một ngày dừng ba ngày, hoặc vào ngày nghỉ thì không tu nữa, như thế không được. Hoặc bản thân một tháng mới tu một lần, hoặc là một tuần lễ mới tu một lần, hoặc là ba ngày mới tu một lần đều không được.
Nguyện thứ chín: Hằng thuận chúng sinh — Rất quan trọng, phải thuận theo chúng sinh, gọi là tạo sự thuận tiện. Một câu nói “hằng thuận chúng sinh” này có kiến thức rất lớn ở trong đó.
Nguyện thứ mười: Hồi hướng đều khắp — Điểm này rất quan trọng, bạn làm những việc này phải tập trung thành một dòng chảy pháp chảy đến Tây phương Cực Lạc thế giới tịnh thổ.

Tịnh thổ của Phổ Hiền Bồ Tát cũng là tịnh thổ của A Di Đà Phật. Mười đại nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát vĩnh viễn không dừng lại, cho dù nghiệp chúng sinh đã hết, phiền não của chúng sinh đã hết thì Thập Đại Nguyện Vương vẫn không cùng tận. Cho nên bất kể là trên thế gian có người hay không có người, Phổ Hiền Bồ Tát vĩnh viễn tồn tại mười đại nguyện vọng này ở trong toàn bộ hư không.

"Bí Tạng Ký" của đại sư Hoằng Pháp người Nhật Bản giải thích Tây phương Cực Lạc thế giới tịnh thổ chính là Mật Nghiêm Quốc Thổ. Còn Phổ Hiền Bồ Tát là chủ bí mật của tất cả Hiển-Mật, lấy nguyện lực của ngài làm tam thế tất cả chư Phật, nguyện vãng sinh Tây phương tịnh thổ và chứng bồ đề. Cho nên, đối với vãng sinh Tây phương thì Hiển-Mật đều giống nhau.
Tịnh độ tông là một phái của Phật giáo, lấy Phổ Hiền Bồ Tát làm Sơ Tổ, mục đích chính nằm ở việc niệm Phật vãng sinh.

Trung Quốc có bốn ngọn núi nổi tiếng: Ngũ Đài Sơn là đạo tràng của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, cũng gọi là Thanh Lương Sơn; Phổ Đà Sơn là đạo tràng của Quan Thế Âm Bồ Tát; Cửu Hoa Sơn là đạo tràng của Địa Tạng Vương Bồ Tát, Nga Mi Sơn là đạo tràng của Phổ Hiền Bồ Tát.

Phổ Hiền Bồ Tát cũng có bài kệ “Phổ Hiền cảnh giác chúng sinh” truyền đời, cực kì nổi tiếng:
”Một ngày trôi qua, mệnh cũng giảm bớt, như cá thiếu nước, có gì là vui? Mọi người! Cần siêng tinh tấn, như cứu đầu cháy, phải nhớ vô thường, đừng nên lười nhác.”

Tán dương Phổ Hiền Bồ Tát: “Đại Bồ Tát, đại trang nghiêm, đại công đức, đại cụ túc, đại tương ứng, đại liên hoa, đại uy lực, đại thủ hộ, đại thành tựu, đại thọ ký.”


![image](/img/img_12b6b0bf122568e8b9483e1c10931baa.jpg)


Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/phuong-thuc-tho-dia-than-tho-dia-cong-cong.md
# Title: Phương thức thờ Địa Thần (Thổ Địa Công Công)
---

# Phương thức thờ Địa Thần (Thổ Địa Công Công)


🌟Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn truyền thụ phương thức thờ Thần Thổ Địa như sau:

1. Thời gian: Sau 12 giờ trưa, vì Địa Thần thuộc về các thần cõi âm.

1. Địa điểm: Bày bàn thờ ở trong bếp hướng về bếp lửa, hoặc bày ở cửa gần đường chính, quay lưng ra đường chính quay mặt vào phía trong, cúng phẩm phải bày ở bên trong.

1. Cúng phẩm: Cơm, thịt (có thể chuẩn bị đùi gà hoặc mấy miếng thịt lợn, món mặn), 3 chén rượu và tiền vàng mã, hương, tùy theo khả năng mà sắm đồ cúng, tâm thành tắc linh.

1. Triệu thỉnh: Tất cả như nghĩa, kiền thành niệm An Thổ Địa chân ngôn (Namo samanta buddhanam om duru duru devi soha) 3 biến, sau đó chân trái dậm “bịch” xuống đất một cái, gõ vào cửa của Địa Thần. 

1. Cầu khấn: Đệ tử ABC xin dâng món ngon rượu thơm, cung thỉnh Địa Thần hưởng dụng, thỉnh cầu Địa Thần phù hộ cho đệ tử và gia đình bình an, thân tâm khỏe mạnh, gặp dữ hóa lành. (Lời khấn này có tính chất tham khảo, có thể linh hoạt thay đổi tùy theo tình hình của cá nhân.)

1. Tiễn Thần: Rượu sau khi cúng ba tuần hương có thể đổ vào cỏ khô hoặc tiền xu, hỏi Địa Thần đã hưởng dụng xong hay chưa? Nếu hưởng dụng xong rồi thì có thể niệm thêm 7 biến chú vãng sinh, sau đó đốt tiền vàng, làm như vậy thì âm dương đều có lợi, cát tường viên mãn.

📆Chọn ngày cúng Địa Thần: ngày mồng 1, 2 hoặc 15, 16 âm lịch đều được, có thể tự mình quyết định, khi Địa Thần đã quen được cúng vào thời gian đó thì sẽ tự động đến ngày giờ sẽ đến.

Độc giả có duyên y theo pháp này mà làm, chắc chắn gia đình viên mãn, thân thể khỏe mạnh, tài vận hanh thông, nếu có thể phát tâm học Phật tu hành thì đương nhiên tất cả sẽ cát tường viên mãn.

➖➖➖➖➖➖➖➖➖➖➖➖

💖Om guru liansheng siddhi hum💖

---
# File: nghi-quy-tu-tap/quan-am-tu-thu-niem-tung-phap.md
# Title: Quan Âm Tứ Thủ niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_4ef9e6c2431abcc1e921e126d81cb6b8.jpg)



## Quan Âm Tứ Thủ niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Quan Âm Tứ Thủ.
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê. 

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_041515be127dee424df90caa9ea9edc1.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn chắp tay hoa sen**

Đầu tiên hai tay chắp lại, sau đó các ngón tay xòe ra như hoa nở, duy có hai ngón cái và hai ngón út còn chạm vào nhau. Giữ thủ ấn trước ngực. 

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Quán tưởng hư không có một chữ Seh (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu trắng. Chữ Seh xoay tròn hóa thành một vị Quan Âm Tứ Thủ. 

(2) Quan Âm Tứ Thủ có một mặt bốn cánh tay, đầu đội mũ miện, thân mặc thiên y váy lụa, ngồi tư thế kiết già trên hoa sen. Hai cánh tay ở phía trước mặt nâng bình ngọc mani, cánh tay phải bên dưới cầm chuỗi niệm hạt thủy tinh, cánh tay trái bên dưới cầm hoa sen trắng. Ngài có đầy đủ mọi trang sức, xung quanh tỏa ánh hào quang cầu vồng.

(3) Thiên tâm của Quan Âm Tứ Thủ phóng ra một đường ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả, họng của ngài phóng ra một đường ánh sáng đỏ chiếu thẳng đến họng của hành giả, tâm luân của ngài phóng ra một đường ánh sáng lam chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng trắng đỏ lam đi vào hòa nhập vào thân tâm hành giả, gia trì cho hành giả.


### Phần 14: Trì tâm chú Quan Âm Tứ Thủ


Tâm chú: Ôm ma-ni pê-mi hùm. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Hum), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Đại Lực Kim Cang, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


### Giới thiệu pháp tướng Quan Âm Tứ Thủ 


Quan Âm Tứ Thủ có một mặt bốn cánh tay, đầu đội mũ miện, thân mặc thiên y váy lụa, ngồi tư thế kiết già trên hoa sen. Hai cánh tay ở phía trước mặt nâng bảo vật mani, cánh tay phải bên dưới cầm chuỗi niệm hạt thủy tinh, cánh tay trái bên dưới cầm hoa sen trắng. Ngài có đầy đủ mọi trang sức, xung quanh tỏa ánh hào quang cầu vồng.

Tay trái cầm hoa sen, hoa sen tượng trưng cho thanh tịnh.
Tay phải cầm chuỗi niệm hạt, chuỗi hạt tượng trưng cho tinh tấn.
Bảo vật mani có thể ban cho tất cả chúng sinh một loại báu vật, báu vật ấy có thể hóa hiện ra tất cả báu vật ban cho chúng sinh, có thể thỏa mãn nguyện vọng của chúng sinh.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị về lai lịch của Quan Âm Tứ Thủ và khẩu quyết tu pháp


Quan Âm Tứ Thủ và chú Quan Âm Tứ Thủ, ở khu vực Tây Tạng không ai là không biết, không ai là không hay. Quan Âm Tứ Thủ Bồ Tát tương đương với Thần Bảo Hộ của Tây Tạng, thậm chí những vị Hoạt Phật cao nhất đều là hóa thân của Quan Âm Tứ Thủ. 

Mọi người Tạng đều niệm Om mani padme hum - đại minh lục tự chân ngôn. Tất cả những tháp đá mani ở đất Tây Tạng đều có khắc Om mani padme hum bằng tiếng Tạng. [Ở vùng Tây Tạng, hai bên đường núi thường xuyên có thể nhìn thấy những chồng đá được xếp thành hình tháp, trên các tháp đá đó cũng thường có khắc kinh chú, tượng Phật, phổ biến nhất là khắc lục tự đại minh chú.]

Phật giáo Hán truyền thì niệm Nam Mô A Di Đà Phật.
Phật giáo Tạng truyền thì niệm Om mani padme hum.
Hai câu chú này phản chiếu lẫn nhau. 

Vì sao gần như toàn bộ khu vực Tây Tạng đều là đạo tràng của Quan Âm Tứ Thủ?
Bởi vì tổ sư Tsongkhapa là người sáng lập Hoàng giáo, ngài sinh ra ở Hoàng Trung, Thanh Hải. Ngài đã học rất nhiều pháp của Hiển giáo và pháp của Mật giáo, ngài có rất nhiều trước tác không thể đếm xuể, hơn nữa ngài còn có tám vị đại đệ tử thân cận.

Trong Mật giáo gọi là “tâm tử”, “tâm tử” chính là người có mối liên hệ như cha con ở trong lòng vị Căn bản Thượng sư chân chính, chính là đứa con của Phật pháp thì gọi là tâm tử. 

Vị tâm tử thứ nhất của Tsongkhapa là Khắc Chủ Kiệt [Khedrup Gelek Pelzang (1385-1438) - Panchen Lama thứ nhất], Khắc Chủ Kiệt là tâm tử quy y sớm nhất, các vị chuyển thế nhiều đời sau này chính là Panchen Lama. 

Vị tâm tử thứ hai đại diện cho Tsongkhapa diện kiến Minh Thành Tổ (Hoàng Đế Vĩnh Lạc), và vị này ở lại bên cạnh Hoàng Đế Vĩnh Lạc, chính là vị tâm tử thứ hai của Tsongkhapa, gọi là Thích Ca Dã Thỉ, về sau chuyển thế thành Chương Gia Hoạt Phật.

Truyền thừa Hoàng giáo của Sư Tôn là Jetsun Dampa Cam Châu Hoạt Phật - Thubten Nyima (Thubten Lama) - Thubten Dali - Thubten Dhargye - Thubten Qimo.

Cam Châu Hoạt Phật và Chương Gia Hoạt Phật chính là phân ra từ Jetsun Dampa. 

Sư Tôn chính là Thubten Qimo. Nguồn gốc của Hoàng giáo chính là Cam Châu, Chương Gia, Jetsun Dampa - chuyển thế của Thích Ca Dã Thỉ, đều là các đệ tử trung gian của Tsongkhapa, đại diện cho Tsongkhapa đến chỗ của Minh Thành Tổ (Hoàng Đế Vĩnh Lạc).

Sau này, Chương Gia Hoạt Phật và Cam Châu Hoạt Phật liên tục có quan hệ với Mật giáo của Trung Quốc Đại Lục chính là vì sự liên quan này.

Vị tâm tử thứ ba là Căn Đôn Chủ [Gedun Drupa**]****,** là người đến quy y Tsongkhapa khi ngài đã 57 tuổi, mới nương dựa vào Tsongkhapa được 5 năm. Tsongkhapa viên tịch năm 63 tuổi. Vị Căn Đôn Chủ này về sau chuyển thế chính là Dalai Lama.

Dalai Lama là đệ tử nhỏ nhất của Tsongkhapa. Đệ tử lớn tuổi nhất là Panchen Lama. Ở giữa có đệ tử Chương Gia Hoạt Phật. Do sự biến hóa trên thực tế, Panchen ở Hậu Tạng, còn Dalai ở Tiền Tạng. Diễn biến đến cuối cùng thì giống như là vị đầu tiên là Dalai Lama, vị thứ hai mới là Panchen Lama.

Theo lí mà nói, ban đầu đệ tử lớn tuổi nhất là Khắc Chủ Kiệt - Panchen Lama, đây cũng là sự biến hóa ở thế gian. Trên thực tế, chúng ta biết rằng Panchen Lama là chuyển hóa của Thời Luân Kim Cang, cũng là chuyển hóa của A Di Đà Phật.

Còn Dalai Lama là chuyển hóa của Quan Âm Tứ Thủ. vì là sự chuyển hóa của Quan Âm Tứ Thủ cho nên toàn bộ Tây Tạng đều là đạo tràng của Quan Âm Tứ Thủ, bởi vì Quan Âm Tứ Thủ chuyển hóa độ chúng sinh là nhiều nhất.

Pháp cúng khói mà Liên Sinh Hoạt Phật truyền thụ cũng lấy Quan Âm Tứ Thủ là Bổn tôn tu pháp, nhờ nguyện lực từ bi của Quan Thế Âm Bồ Tát mà viên mãn thỉnh cầu của Phật tử.

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/quan-the-am-bo-tat-niem-tung-phap.md
# Title: Quan Thế Âm Bồ Tát niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_37ddc12cb8b9ac1ce1edc7db4db7fc26.jpg)



## Quan Thế Âm Bồ Tát niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì đồng tu.

- Quán tứ vô lượng tâm.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô tu pháp chủ tôn Quan Thế Âm Bồ Tát. (x3)
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tát cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Mặc giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Phụng thỉnh bát đại Bồ Tát
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Kim Cang Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Diệu Cát Tường Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.

Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ thất Phật. Vị lai hiền kiếp thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Niệm danh hiệu Phật sáu phương
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyệt Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Hết thảy chúng sinh trung ương, chư vị trong Phật giới, trú ngụ trên mặt đất, cho đến tại không trung, thương lo cho tất cả chúng sinh. Ai cũng an ổn tốt lành. Ngày đêm tu trì. Tâm thường cầu tụng kinh này. Diệt được khổ sinh tử. Tiêu trừ hết độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Tụng bản kinh không ngừng. Thất Phật Thế Tôn. Liền nói chú sau:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-lô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-ki-a-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha” (7 lần)

Mười phương Quan Thế Âm. Hết thảy chư Bồ Tát.
Đã thề cứu chúng sinh. Xướng danh tất giải thoát.

Nếu gặp người trí tuệ. Ân cần mà giảng nói.
Lại có đủ nhân duyên. Đọc tụng không ngơi nghỉ.
Tụng kinh tròn nghìn biến. Niệm niệm tâm không dừng.
Gặp lửa cháy chẳng sao. Việc đao binh cũng thoát.
Nóng giận thành vui vẻ. Chết rồi hóa sống vui.
Đừng nghĩ rằng không đúng. Chư Phật chẳng nói chơi.
Cao Vương Quan Thế Âm. Cứu được hết khổ nạn.
Lúc khó khăn nguy cấp. Người chết còn thành sống.
Chư Phật chẳng nói đùa. Vì vậy nên đảnh lễ.
Niệm tụng trọn nghìn lần. Tội nặng đều tiêu diệt.
Người có phúc tín tâm. Hãy chuyên tâm đọc tụng.

Nguyện mang công đức này. Gửi tới hết chúng sinh.
Tụng tròn một nghìn biến. Tội nặng đều tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (Hết)!

**Niệm thêm chú vãng sinh:** (7 biến)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 8: Quán tưởng tam quang gia trì



![image](/img/img_4c178867abaa59df2a163f0f6ca297b3.jpg)


**Kết ấn: **

Hai tay kết ấn liên hoa: trước tiên, hai tay chụm lại, sau đó mở ngón tay ra giống như hoa nở, chỉ có hai ngón cái và hai ngón út vẫn chạm vào nhau. Đặt thủ ấn trước ngực. (Thủ ấn này là ấn chung của tất cả Bồ Tát.)

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời trong vạn dặm không mây, một vầng mặt trăng từ dưới biển nhô lên không trung, ở chính giữa vầng mặt trăng có một chủng tự chữ Seh (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu trắng phóng ra ánh sáng trắng.

(2) Chữ Seh ở giữa vầng mặt trăng quay tròn hóa thành Tự Tính Quan Âm, thân ngài màu trắng, thiên y bảo sức chuỗi vòng, Quan Thế Âm Bồ Tát ngồi trên đài hoa sen, trang nghiêm hiền từ, có vô lượng tịnh quang màu trắng tỏa ra. Có thể quán tưởng lục tự đại minh chú xoay tròn quanh Quan Thế Âm Bồ Tát và tỏa ánh sáng. 
(Có thể quán tưởng theo hình tướng Quan Âm mà mình thờ phụng.)

Quán tưởng pháp khí của Quan Thế Âm Bồ Tát, ví dụ ngọc minh châu, quyển kinh, hoa sen, cam lộ trong tịnh bình hóa thành một dải ánh sáng trắng uốn cong xuống, chiếu dội xuống hành giả từ đỉnh đầu, toàn thân hành giả đầy ắp tịnh quang màu trắng.


### Phần 9: Trì tâm chú Bổn tôn Quan Thế Âm Bồ Tát


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Quan Thế Âm Bồ Tát đến trước mặt mình.

**Chú ngữ:**

Ôm ma-ni pê-mi hùm. (108 biến)


### Phần 10: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Seh), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Bổn tôn Quan Thế Âm Bồ Tát, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 11: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 

**Tụng tán: **

Chính pháp minh Như Lai hóa thân Bồ Tát
Đắc thành tự tại đại từ Quan Thế Âm
Tỏa khắp thế gian Lục Tự Đại Quang Minh
Phật quang dẫn dắt chúng sinh đến Phật thổ.


### Phần 12: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 13: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 14: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 15: Hồi hướng


Nguyện đem tịnh quang tiêu nghiệp chướng
Đắc thành tự tại Quan Âm tôn
Phóng đại từ quang đến giúp đời
Người người nương dựa đại bi tôn.

Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. xin đem công đức này hồi hướng. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 17: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


![image](/img/img_f0517629fba92424583d2000aafd83e9.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Quan Thế Âm Bồ Tát


Quan Thế Âm Bồ Tát thân màu trắng, ngồi trên đài sen, mặc thiên y và vòng trang sức bảo vật, trang nghiêm hiền từ, tỏa ra vô lượng ánh sáng trắng thanh tịnh. Có thể quán tưởng lục tự đại minh chú xoay quanh Bồ Tát và tỏa ra ánh sáng. Rất nhiều hình tượng Quan Thế Âm Bồ Tát có cầm ngọc minh châu, cầm quyển kinh, cầm hoa sen, cầm tịnh bình, v.v… (Khi tu pháp, có thể quán tưởng hình tượng Quan Thế Âm Bồ Tát** **bản thân thờ phụ, dựa theo pháp khí mà quán đảnh.)


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị lai lịch của Quan Thế Âm Bồ Tát và khẩu quyết tu pháp


Trong Phật giáo, Quan Thế Âm Bồ Tát là một vị đại Bồ Tát phát tâm bồ đề lớn nhất, phát nguyện lớn nhất, vì thế ngài độ chúng sinh nhiều nhất, cũng là vị có duyên sâu nặng nhất với chúng sinh. Thế nhân gọi là Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát, ngài còn được ca ngợi là nghìn nơi cầu nghìn nơi ứng.

Quan Thế Âm Bồ Tát có hàng tỉ hóa thân, có Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm, Thánh Quan Âm, Như Ý Luân Quan Âm, Tống Tử Quan Âm, Mã Đầu Quan Âm, Thập Nhất Diện Quan Âm, Chuẩn Đề Quan Âm, Ngao Long Quan Âm, Tịnh Bình Quan Âm, Bạch Y Quan Âm, Cao Vương Quan Thế Âm…

Hễ là tín đồ Phật giáo thì hầu như ai cũng đều thờ phụng Quan Thế Âm Bồ Tát, vì thế gọi là “người người A Di Đà, nhà nhà Quan Thế Âm”. 

Trong dân gian Đài Loan, hình tượng của Quan Thế Âm Bồ Tát được sử dụng phổ biến làm bối cảnh ở ở các miếu thờ, am thờ Phật, tục gọi là “sắc màu Quan Âm”. Có Quan Thế Âm Bồ Tát đứng ở nơi cao nhất, bên cạnh có Thiện Tài, Long Nữ, bên dưới có thần linh của Đạo giáo như Thiên Thượng Thánh Mẫu, Quan Thánh Đế Quân, cũng có Quan Thế Âm Bồ Tát đứng một mình.

Quan Thế Âm Bồ Tát lấy từ bi cứu tế chúng sinh là lời nguyện gốc của mình, ngài là hóa hiện tâm bồ đề của chư Phật Bồ Tát, từ lâu đã thành tựu Cổ Phật Chính Đẳng Chính Giác, xưng là Chính Pháp Minh Như Lai. 

Quan Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát cùng phục vụ hai bên tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật, gọi là tây phương Tam Thánh, đồng thời Quan Thế Âm Bồ Tát cũng là một trong tám vị đại Bồ Tát.

Trong mandala Thai Tạng Giới, Quan Thế Âm Bồ Tát sống ở phíatây nam của Viện Trung Đài Bát Diệp, là chủ vị của Viện Quan Âm, trong mandala Kim Cương Giới thì ngài là Kim Cương Pháp Bồ Tát.

Quan Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi, chỉ cần có thể độ hóa được chúng sinh thì đủ mọi phương pháp ngài đều làm. Mỗi sự việc đều phải học theo sự phát tâm của ngài, giống như Quan Thế Âm Bồ Tát, sự phát tâm của ngài là vĩ đại số một.

Chú ngữ nổi tiếng nhất của Quan Thế Âm Bồ Tát là: lục tự đại minh, Bạch Y Đại Sĩ Quan Âm thần chú, đại bi chú, v.v…

Trong kinh Pháp Hoa - Quan Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm có nhắc đến, Quan Thế Âm Bồ Tát có 32 hóa thân để đáp ứng yêu cầu của chúng sinh mà hiện thân thuyết pháp. Ngài có thể hóa thành Phật, Tích Chi Phật, Thanh Văn, Phạm Vương, Đế Thích, Tự Tại Thiên, Đại Tự Tại Thiên, Thiên Đại Tướng Quân, Bì Sa Môn, tiểu vương, trưởng giả, cư sĩ, quan tể, bà la môn, tì kheo, tì kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di, phụ nữ, đồng nam, đồng nữ, trời, rồng, dạ xoa, can thát bà, a tu la, ca lâu la, khẩn na la, ma hầu la già, người, phi nhân, chấp kim cương thần, v.v…

Ở Tây Tạng, Quan Thế Âm Bồ Tát thấy chúng sinh khó cứu độ, mắt trái của ngài tuôn chảy một giọt lệ, hóa thành Lục Độ Mẫu, mắt phải tuôn chảy một giọt lệ hóa thành Bạch Độ Mẫu, vì thế Lục Độ Mẫu và Bạch Độ Mẫu đều được xem là hóa thân của Quan Thế Âm Bồ Tát. 

Hàng năm, có ba ngày lễ lớn mà Liên Sinh Hoạt Phật sẽ truyền thụ pháp Quan Thế Âm Bồ Tát, vào ba ngày này (đản sinh, thành đạo, xuất gia), tu trì pháp Bạch Y Đại Sĩ Như Ý Bảo Châu là thù thắng cát tường nhất.

Âm lịch ngày 19/2: kỉ niệm ngày Quan Thế Âm Bồ Tát đản sinh. 
Âm lịch ngày 19/6: kỉ niệm ngày Quan Thế Âm Bồ Tát thành đạo.
Âm lịch ngày 19/9: kỉ niệm ngày Quan Thế Âm Bồ Tát xuất gia.

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/so-tay-quan-tuong-cho-hanh-gia.md
# Title: Sổ tay quán tưởng cho hành giả
---

## Sổ tay quán tưởng cho hành giả


Văn tập số: 600
Xuất bản năm: N/A
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu - Quán tưởng 


(Lời biên tập)

Trong nghi quỹ tu trì Mật pháp cần có các yếu tố là thủ ấn, trì chú, quán tưởng, nhập Tam Ma Địa. Trong đó, dùng thủ ấn để làm thanh tịnh thân, trì chú để làm thanh tịnh khẩu, quán tưởng để làm thanh tịnh ý, những việc này giúp hành giả có thể đạt đến cảnh giới hợp nhất với Phật. Tuy nhiên, sự quán tưởng thì không có cách nào để cụ thể được, khiến cho hành giả trong quá trình tu pháp sẽ trải qua một giai đoạn tương đối mơ hồ, nghi hoặc. Do vậy, Bát Nhã Tạng đã thành lập một nhóm, dựa theo khẩu quyết về "quán tưởng" mà Căn bản Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật truyền dạy, sử dụng công nghệ hoạt hình để hỗ trợ thêm vào sự chỉ dẫn của Thượng sư. Sau khi được Căn bản Thượng sư xác nhận, chúng tôi đã làm xong video quán tưởng, hy vọng sẽ có lợi ích cho hành giả.
 
Tổ chức văn hóa và giáo dục Chân Phật Bát Nhã Tạng.


### 1-1. Bài giảng Quán tưởng Quán đảnh hư không truyền thừa Chân Phật Tông


Liên Sinh Hoạt Phật truyền dạy cách quán tưởng quán đảnh hư không truyền thừa Chân Phật Tông
Trích lời giảng pháp khai thị trong buổi khai quang an tọa ngày 9/10/2011 tại Mỹ
(Liên Ngạn Lôi Tạng Tự)
 


Dòng truyền thừa Chân Phật Tông của chúng ta, nếu như ở tại hư không giới, thì đó chính là Đại Nhật Như Lai - Phật Nhãn Phật Mẫu - A Di Đà Phật - Liên Hoa Đồng Tử - Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Nếu các bạn muốn đạt được pháp lưu của dòng truyền thừa này, bạn buộc phải quán tưởng nhiều vị như vậy. Lư Sư Tôn ở tư thế ngồi, trên đầu ngài là Liên Hoa Đồng Tử, ở trên nữa chính là A Di Đà Phật, ở trên nữa chính là Phật Nhãn Phật Mẫu, ở trên nữa chính là Đại Nhật Như Lai. Do vậy bạn có thể quán tưởng một vòng tròn, ở trong vòng tròn này chính là nguyệt luân, ngồi ở giữa nguyệt luân chính là Đại Nhật Như Lai. Thêm một nguyệt luân ở dưới, ngồi ở giữa nguyệt luân này chính là Phật Nhãn Phật Mẫu. Thêm một nguyệt luân ở dưới nữa, ngồi ở giữa nguyệt luân này chính là A Di Đà Phật. Thêm một nguyệt luân ở dưới nữa, ngồi ở giữa nguyệt luân này chính là Liên Hoa Đồng Tử. Thêm một nguyệt luân ở dưới nữa, chính là tôi. Cần phải quán tưởng rõ ràng như vậy xong rồi thì mới tiếp tục quán tưởng các khuôn mặt chư tôn đều biến thành khuôn mặt Căn bản Thượng sư. Rồi lại quán tưởng các vị hóa thành một điểm ánh sáng nhỏ chỉ bằng hạt châu của chuỗi hạt, một hạt châu của chuỗi hạt, thế là thành vài hạt châu xếp thẳng hàng với nhau như thế này, sau đó đi vào bên trong thân của Căn bản Thượng sư
 
Lúc này lại phóng quang từ ba vị trí trên người Căn bản Thượng sư 「Ôm  Ah  Hùm 」, lần lượt có màu trắng, đỏ, xanh lam. Ba đường ánh sáng chiếu đến bản thân bạn, chiếu sáng hết toàn bộ chính bạn xong thì lúc này thân thể bạn đã được thanh tịnh rồi. Toàn bộ các lỗ chân lông trên thân bạn đều mở ra cho tất cả nghiệp chướng thoát ra ngoài từ các lỗ chân lông. Như vậy là thân thể bạn đã thanh tịnh rồi. Lúc này, bạn có thể nghênh thỉnh Đại Nhật Như Lai trực tiếp đi vào Căn bản Thượng sư kết thành một chuỗi hạt đi vào trong thân thể bạn. Trước tiên là đi vào trong thân của Thượng sư, Thượng sư lại hóa thành một điểm sáng đi vào trong thân bạn. Cần làm như vậy đó. Sau đó khuôn mặt của bạn biến thành khuôn mặt của Căn bản Thượng sư, thân của bạn bây giờ chính là thân thể của Căn bản Thượng sư. Quán tưởng như thế này gọi là quán tưởng dòng truyền thừa là quán tưởng quan trọng nhất. Tôi giảng như vậy các bạn hẳn là đã rất rõ ràng rồi. Tất các các vị, tính từ Đại Nhật Như Lai trở đi, toàn bộ đều đi vào trong Căn bản Thượng sư, rồi lại từ Căn bản Thượng sư đi vào trong bạn. Là một chuỗi hạt châu, toàn bộ đều đi vào trong chính bạn. Trong chốc lát, chính bạn đã biến thành Căn bản Thượng sư, bạn giống hệt Căn bản Thượng sư. Pháp quán đảnh như thế này chính là pháp quán đảnh dòng truyền thừa quan trọng nhất.


### 1-2. Minh họa Chân Phật Tông quán tưởng quán đảnh hư không truyền thừa


Tay kết thủ ấn Liên Hoa Đồng Tử đặt trước ngực, tay phải là "Ấn thuyết pháp", tay trái là "Ấn cầm hoa sen".
Quán tưởng: Đầu tiên là Quán Không.
Niệm chú Quán Không: Ôm, sư-pa-oa, su-ta, sa-óa, ta-má, sư-pa-oa, sư-tô, hăng.

(3 lần)

1. Trên mặt biển lớn, trời trong vạn dặm không mây, một nguyệt luân màu xanh lam từ từ ở dưới biển nhô lên không trung. Ở giữa nguyệt luân có chủng tự Hùm màu trắng.

1. Chữ Hùm ở giữa xoay tròn theo chiều kim đồng hồ phóng ra ánh sáng trắng rực rỡ hóa thành Căn bản Truyền thừa Thượng sư. Thánh tôn Liên Sinh Hoạt Phật, Sư Phật đầu đội mũ Pháp vương thân mặc long bào, ngồi trên đài hoa sen trắng, miệng cười mỉm, pháp tướng trang nghiêm viên mãn như Phật không khác.

1. Ở phía trên đầu Căn bản Truyền thừa Thượng sư, có một nguyệt luân. Trong nguyệt luân có một chủng tự Hùm 「」màu trắng. Chủng tự Hùm 「」xoay tròn theo chiều kim đồng hồ, phát ra ánh sáng màu trắng rực rỡ, biến hóa thành tôn Liên Hoa Đồng Tử.
Ở phía trên đầu Liên Hoa Đồng Tử, có một nguyệt luân màu xanh lam. Trong nguyệt luân có một chủng tự Sê「」màu đỏ. Chủng tự Sê 「」xoay tròn theo chiều kim đồng hồ, phát ra ánh sáng màu đỏ rực rỡ, biến hóa thành tôn A Di Đà Phật.
Ở phía trên đầu A Di Đà Phật, có một nguyệt luân màu xanh lam. Trong nguyệt luân có một chủng tự Sư-li 「」màu vàng kim. Chủng tự Sư-li 「」xoay tròn theo chiều kim đồng hồ, phát ra ánh sáng màu trắng rực rỡ, biến hóa thành tôn Phật Nhãn Phật Mẫu.
Ở phía trên đầu Phật Nhãn Phật Mẫu, có một nguyệt luân màu xanh lam. Trong nguyệt luân có một chủng tự Vam 「」màu trắng. Chủng tự Vam「」 xoay tròn theo chiều kim đồng hồ, phát ra ánh sáng màu trắng rực rỡ, biến hóa thành tôn Đại Nhật Như Lai.

1. Sau khi quán tưởng rõ ràng rồi, lại quán tưởng khuôn mặt của chư tôn biến thành khuôn mặt của Căn bản Thượng sư, hình thành một chuỗi hạt ngọc, đi vào bên trong thân Căn bản Truyền thừa Thượng sư.

1. Từ thiên tâm của Căn bản Thượng sư, chữ Ôm「」 phóng ra một luồng ánh sáng trắng chiếu thẳng tới thiên tâm của hành giả. Ánh sáng trắng phóng ra không ngừng, tràn đầy toàn thân hành giả, hòa quyện với thân tâm.
Từ luân xa cổ họng của Căn bản Thượng sư, chữ Ah「」 phóng ra một luồng ánh sáng đỏ chiếu thẳng tới luân xa cổ họng của hành giả. Ánh sáng trắng phóng ra không ngừng, tràn đầy toàn thân hành giả, hòa quyện với thân tâm.
Từ tâm luân của Căn bản Thượng sư, chữ Hùm 「」 phóng ra một luồng ánh sáng màu xanh lam chiếu thẳng tới tâm luân của hành giả. Ánh sáng trắng phóng ra không ngừng, tràn đầy toàn thân hành giả, hòa quyện với thân tâm.
Trắng, Đỏ, Xanh lam, ba luồng ánh sáng hòa quyện với thân tâm.
Tam quang của Căn bản Thượng sư bao trùm, gia trì khiến cho tham, sân, si của hành giả, tam độc đều được tiêu trừ hết.

1. Nghiệp chướng, ác niệm tích lũy qua nhiều kiếp, tất cả nghiệp chướng từ vô thủy chuyển hóa hoàn toàn thành khí đen, từ lỗ chân lông ở khắp toàn thân thoát hết ra ngoài. Đám khí đen, nước đen này tan biến, tiêu trừ vào trong hư không. Lúc này, toàn thân trở nên thanh tịnh như ngọc lưu ly, sáng ngời, trong suốt, thân thể khinh an.

1. Căn bản Truyền thừa Thượng sư hiển hiện trong không gian, thiên y bay phấp phới, từ từ di chuyển tới vị trí ở trên đầu của hành giả.
Đại Nhật Như Lai - Phật Nhãn Phật Mẫu - A Di Đà Phật - Liên Hoa Đồng Tử - Căn bản Truyền thừa Thượng sư, nối liền lại thành một xâu chuỗi ngọc ánh sáng đi vào trong thân của Căn bản Thượng sư. Thượng sư lại từ từ thu nhỏ lại thành một hạt ngọc ánh sáng nhỏ cỡ hạt gạo.
Lúc này tại tâm luân của hành giả nở ra hoa sen tám cánh, trên hoa sen có một nguyệt luân màu xanh lam, trong nguyệt luân có chủng tự chữ Hùm 「」 màu trắng, phóng lên luồng ánh sáng trắng, nhiếp thỉnh Căn bản Truyền thừa Thượng sư, từ đỉnh đầu đi vào trung mạch, theo đường trung mạch hạ xuống đến tòa sen bên trong tâm luân.
Lúc này, toàn thân Căn bản Thượng sư lại từ từ biến to ra, biến to cho đến khi hoàn toàn lớn bằng chính bản thân mình (hành giả). Trong tích tắc.. bản thân chính là Căn bản Thượng sư, không hai, không khác biệt.


### 2-1. Bài giảng Quán tưởng Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu niệm tụng pháp


Liên Sinh Hoạt Phật truyền thụ Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu niệm tụng pháp


Bây giờ tôi nói về việc Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu chỉ cho tôi cách làm bột thuốc thế nào. Trước tiên hãy đi tới tiệm thuốc Đông y, mua về sáu loại thuốc Đông y (thuốc Bắc) với phân lượng các vị thuốc bằng nhau, quan trọng là phải có sáu loại. Thứ nhất là... Xà sàng tử, ghi lại đi.. Xà sàng tử. Thứ hai là... Chế phụ tử ... Chế phụ tử. Thứ ba là... Viễn Chi ... Viễn Chi. Thứ tư, Cam thảo. Thứ năm, Quế tâm. Thứ sáu, Hùng hoàng. Xà sàng tử, Chế phụ tử, Viễn chi, Cam thảo, Quế tâm, Hùng hoàng, cùng phân lượng, tất cả nghiền thành bột, đem chúng tất cả nghiền thành bột. Sau khi nghiền thành bột, bạn đem mỗi vị thuốc với phân lượng bằng nhau, mỗi loại đều cần lấy phân lượng bằng nhau, bạn mang chúng theo người, đeo theo bên mình. Đeo theo bên mình, gói lại trong túi nylon, mang theo bên mình.
 
Làm như vậy thì có thể phòng chống ôn dịch, thế nhưng lúc này vẫn chưa làm pháp, vẫn chưa tu pháp. Bạn cần tu pháp trước đã, đem sáu loại bột thuốc này đặt ở trước đàn thành, sau đó tu pháp Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu (niệm tụng pháp).         
 
(Giảng về các yếu tố trong pháp Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu): Thứ nhất, ta có hình tướng, thứ hai là có chú ngữ, thứ ba, có thủ ấn. Bạn dựa theo trình tự tu pháp để tu.
 
Thân của Độ Mẫu có màu đỏ cam, tay phải kết ấn ban cho nguyện ước (Dữ Nguyện ấn), tay trái là ấn cầm hoa sen (Liên Hoa ấn), trên bông hoa sen có bảo bình. Trong bảo bình có tràn đầy nước cam lộ bất tử tiêu trừ dịch bệnh. Đôi mắt của ngài sáng như mặt trăng mặt trời, phóng ra vô lượng ánh sáng. Thủ ấn của ngài gồm có, một là ấn ban nguyện, hai là ấn cầm hoa sen. Chủng tự của ngài là chữ "Tang". Có hình tướng của ngài, có chủng tự, ... lại có cả chú ngữ nữa. Ôm, ta-ra, tút-ta-ra, tu-ra. Namo, ha-ra, hưa-ra, hùm. Ha-ra, sô-ha. 
 
Sáu vị thuốc đông y, lượng bằng nhau, nghiền thành bột, đặt trước đàn thành. Bạn tu pháp Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu, sau đó khi bạn quán tưởng, cần quán tưởng Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu xuất hiện trước mặt bạn. Sau đó lại quán tưởng nước cam lộ bất tử của ngài phóng ra ánh sáng trắng chiếu tới nơi bạn đặt sáu vị thuốc bột, sáu vị thuốc bột. Sau đó khi bạn tu pháp xong, với số thuốc bột này của bạn, bạn biết được rằng, thực sự là Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu đã đến, hơn nữa ngài còn phóng quang chiếu sáng, gia trì lên thuốc bột của bạn. Bạn đem thuốc bột này gói lại, đem theo người. Thứ nhất, bạn sẽ không bị bệnh truyền nhiễm.Bạn đã kết giới, thì sẽ không bị bệnh truyền nhiễm nữa.       
Đây là làm (bảo hộ) cho cá nhân, nếu như là làm (bảo hộ) cho gia đình, thì bạn đem số thuốc bột này lấy ra một ít, chia làm bốn phần, đặt xung quanh nhà của bạn, ở bốn góc Đông, Nam, Tây, Bắc, thì gia đình của bạn sẽ không bị bệnh truyền nhiễm nữa. Nếu là làm (bảo hộ) cho cộng đồng, thì bạn đặt ở tòa nhà lớn nhất trong khu vực, đặt vào bốn góc, cũng theo hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, bốn góc, thì cộng đồng này sẽ không bị bệnh truyền nhiễm nữa. Còn nếu chúng ta ở biệt thự Cầu Vồng này, thì bạn cần đặt vào ở nơi nào là góc nhất. Ở đây có một góc, ở bên kia có một góc. Bên này có một góc, ở bên kia có một góc nữa. Lấy các góc này, tạo ra chu vi bao xung quanh (biệt thự), thì người sống ở bên trong đều sẽ không bị nhiễm bệnh. 
 
Với cá nhân, bạn dùng thuốc bột này đem theo người. Tu pháp cũng tương tự như các pháp khác vậy, tỉ dụ như cũng cần ngồi theo tư thế bảy điểm Tì lô. Về ngồi thiền cũng như thế, trước đó cũng vẫn cần Đại lễ bái, Đại cúng dường, Tứ quy y, Tứ vô lượng tâm. Những mục này đều cần thực hiện, Sám hối hoặc niệm Cao Vương Kinh đều được cả. Đây là những thứ thuộc về phần Tiền hành, phần Chính hành, chính là Quán tưởng, Kết ấn, Trì chú, Nhập tam ma địa. Cuối cùng chính là Hồi hướng và xuất đàn rồi lại thực hiện Đại lễ bái. 
 
Cách tu pháp này cũng y hệt như thế, tuy nhiên, trong pháp này, chúng ta cần biết về (hình tướng) ...với sự xuất hiện của bản thân ngài, bản thân sự xuất hiện của Độ Mẫu. Trước tiên chúng ta cần quán tưởng một mặt trời lớn, thái dương chính là mặt trời, ở giữa trong không gian. Sau đó, từ chính giữa của mặt trời xuất hiện một chữ Phạn, cũng giống như chủng tự của Lục Độ Mẫu, như chủng tự của 21 vị Độ Mẫu, là chữ "Tang".       
 
Chữ "Tang" rất dễ nhớ, các bạn ai đã từng bị thi rớt, thì sẽ biết chính là chữ "Tang" trong từ "thi rớt" đó. Khi bạn còn đi học, có môn nào bạn "thi rớt" thì chính là chữ "Tang" trong từ đó. 
Chữ "Tang" này (được vẽ ra) chính là một vòng tròn, là mặt trời, rồi mặt trăng, tiếp đó thêm số 5, phía dưới có một cái móc, ở bên cạnh có hai cái (vòng tròn) thế này. Như vậy chính là chữ "Tang". Sau đó, bạn quán tưởng ở giữa mặt trời có một chữ "Tang". Chữ "Tang" xoay vòng vòng, thế là xuất hiện Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu. Lúc quán tưởng thì chính như vậy, sau đó bạn kết thủ ấn, đây là ấn cầm hoa sen (Liên Hoa ấn), đây là ấn ban nguyện (Dữ Nguyện ấn). 
 
Sau đó, khi quán tưởng, bạn hãy quán tưởng, bảo bình ở phía trên, trên tay Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu. Bảo bình mở ra, có cam lộ bất tử hóa thành ánh sáng trắng chiếu xuống sáu vị thuốc bột..vào trong sáu vị thuốc bột. Sau đó, cũng có thể (quán tưởng) nước cam lộ bất tử rót xuống chính bạn. Quán tưởng "Nhập ngã - Ngã nhập", bạn và Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu hợp nhất. Quán tưởng là bạn tiến nhập vào tâm của Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu, hay Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu tiến nhập vào tâm của bạn, đều được cả. Sau đó thì chính bạn biến thành Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu, cuối cùng là Nhập tam ma địa, sau đó xuất định. 
 
Chúng ta quán tưởng, bạn biết rồi đó, quan trọng nhất chính là (quán tưởng) mặt trời, ở giữa mặt trời có một chữ "Tang", từ chữ "Tang" lại xuất sinh ra Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu. 
 
Bạn có thực hiện quán tưởng được như vậy không? Việc này rất dễ...  rất dễ...
 
Với pháp này, nếu bạn cảm ứng được cam lộ bất tử của Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu đã rót vào sáu vị thuốc bột này, thì bạn có thể lấy bột thuốc đó để cứu người. Cũng bởi vì toàn bộ sáu vị thuốc này đều thuộc tính Dương, dịch bệnh thì mang tính Âm. Sáu vị thuốc này mang tính Dương, lấy Dương để khắc chế Âm. Sáu vị thuốc này bạn đem theo người, mang theo bên mình, thì có thể tránh bệnh...
 
Mang theo người cũng được, mà đặt ở trong nhà tại bốn góc Đông, Tây, Nam, Bắc cũng được...hoặc đặt ở bốn phía Đông, Tây, Nam, Bắc xung quanh cộng đồng cũng được nữa. Như vậy có thể được cứu người trong cộng đồng, cũng có thể cứu được người trong gia đình, cũng có thể tự cứu được bản thân. (Tất cả đều) sẽ không bị nhiễm bệnh dịch...
 
Nói như vậy mọi người hiểu rồi chứ? Ở đây phần lớn thuốc đều mang tính Dương, không có thuốc nào tính Âm, do vậy thuốc này rất mạnh, bạn đem theo người có thể khắc chế được bệnh dịch. Như vậy đó. Hơn nữa, còn có Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu phóng quang gia trì sáu vị thuốc này. Mang thuốc này theo người thì bạn có thể tránh được các loại bệnh dịch mang tính Âm thâm nhập vào trong thân thể bạn. Sau đó, đặt ở bốn phía xung quanh nhà, hoặc là bốn phía xung quanh cộng đồng, đều có thể giúp đỡ mọi người, lại cũng có thể cứu người. Đây chính là một phương pháp phòng chống (dịch bệnh). 
 
Về phương diện tu pháp có vấn đề gì không? Mọi người có câu hỏi gì không?
 
Mặt trời, sau đó có một chữ "Tang" chuyển động, rồi biến thành Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu. Hình tướng của ngài vừa nãy tôi đã nói rồi. [Có đệ tử hỏi]   Đúng rồi...   Đúng rồi... Đây chính là hình tướng...  [Thánh Tôn cho mọi người xem] Ngoài ra còn có chú ngữ: Ôm, ta-ra, tút-ta-ra, tu-ra. Namo, ha-ra, hưa-ra, hùm. Ha-ra, sô-ha.
 
Theo thông báo ngày 16 tháng 3 năm 2020 của Tông ủy hội (Thông báo số 0003):
"Sáu vị thuốc phòng dịch, nghiêm cấm uống. Nghiêm khắc cảnh báo: Sáu vị thuốc phòng thân, chỉ có thể đem theo người hoặc kiết giới, không được uống."
Thánh tôn Liên Sinh Hoạt Phật trong pháp hội Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu ngày 15 tháng 3 năm 2020 đã kahi thị rõ ràng: "Sáu vị thuốc có thể cho vào bao, chỉ đeo trên người (hoặc đặt rải các nơi), không được uống"
Tông ủy hội cũng nghiêm khắc cảnh cáo: "Bao thuốc sáu vị phòng dịch chỉ để phòng thân, nghiêm cấm uống! Thuốc chỉ được dùng để mang theo thân, làm kiết giới phòng hộ!"
Ngoài ra, xin mọi người y theo  lời dạy của Thánh tôn khi truyền pháp đã đặc biệt căn dặn. Đó là trước tiên phải tu pháp "Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu niệm tụng pháp" cho tới khi tự mình có thể cảm ứng được nước cam lộ bất tử của Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu đã phóng quang gia trì cho sáu vị thuốc bột thì thuốc mới có thể sử dụng.
Hãy tụng nhiều tâm chú "Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu" hồi hướng cầu nguyện cho "Bệnh dịch dừng lại. Người người cát tường an khang, mọi lúc đều được cát tường"


### 2-2. Minh họa Quán tưởng Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu niệm tụng pháp


Tay kết Cứu Dịch Độ Mẫu thủ ấn，tay phải kết ấn ban nguyện (Dữ Nguyện ấn),Tay trái kết ấn cầm hoa sen (Liên Hoa ấn).
Đầu tiên cần quán Không，niệm chú quán Không﹕Ôm, sư-pa-oa, su-ta, sa-óa, ta-má, sư-pa-oa, sư-tô, hăng. (Om, subawa suda saerma daerma subawa sudo. Hang - Niệm ba lần)
Quán tưởng trong không gian có một vầng mặt trời, ở giữa mặt trời có chủng tự màu đỏ cam, chữ "Tang". Chữ "Tang" xoay tròn theo chiều kim đồng hồ, tỏa ra ánh sáng màu đỏ cam, hóa thành Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu.
 
Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu thân màu đỏ cam, một mặt, hai tay, chân phải hơi thả lỏng, chân trái giữ tư thế cong, ngồi trên tòa sen. Thân ngài mặc thiên y với các loại trang sức trân quý. Đôi mắt của ngài giống như mặt trăng mặt trời, tỏa ra vô lượng tia sáng. Tay phải kết ấn ban nguyện, tay trái kết ấn cầm hoa sen, hoa sen trên tay nở rộ, trong hoa sen có bảo bình, trong bình tràn đầy cam lộ bất tử tiêu trừ bệnh dịch. Cam lộ phóng tỏa ánh sáng trắng mạnh mẽ, vô lượng ánh sáng từ trong hư không, gia trì chiếu tới: Xà sàng tử, Chế phụ tử, Viễn chi, Cam thảo, Quế tâm, Hùng hoàng. Sáu vị thuốc bột cùng phân lượng.
(Nếu không có hùng hoàng thì dùng 5 vị thuốc bột còn lại cũng được.)
 
Sau khi quán tưởng rõ ràng, hành giả thực sự cần cảm nhận được Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu đã phóng quang gia trì cho số thuốc bột này. 
Ngoài ra, Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu trên tay còn cầm hoa sen với bảo bình bên trong, cam lộ bất tử trong bảo bình cũng tỏa ra ánh sáng trắng chiếu tới hành giả, thấm đẫm toàn thân, tiêu trừ hết thảy tất cả tội chướng. Khí đen thoát ra từ các lỗ chân lông khắp toàn thân. Lúc này tự thân đã được thanh tịnh, giống như ngọc lưu ly, trong suốt lấp lánh, khắp cơ thể khinh an.
 
Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu thiên y bay bay, từ từ di chuyển đến vị trí trên đỉnh đầu hành giả. Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu lại từ từ thu nhỏ lại thành một hạt ngọc sáng chỉ lớn bằng hạt gạo. Lúc này trong tâm luân của hành giả nở ra hoa sen tám cánh. Trên hoa sen có một vầng mặt trời, trong vầng mặt trời có một chữ "Tang" màu đỏ cam. Chữ "Tang" phóng ba lần ánh sáng đỏ cam, tiếp nhận Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu ở trên đỉnh đầu, từ lỗ đỉnh đầu đi vào trung mạch, thuận theo trung mạch đi xuống tới tòa sen tại tâm luân.
 
Lúc này, toàn thân Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu từ từ phóng to ra, cho tới khi lớn bằng với hành giả. Trong tích tắc, bản thân hành giả hòa nhập, tự mình cũng chính là Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu, không hai không khác. 



### 3-1. Bài giảng Quán tưởng Văn Thù siêu độ vãng sinh pháp


Liên Sinh Hoạt Phật truyền thụ Văn Thù Siêu Độ Vãng Sinh pháp


Theo Mật giáo mà nói thì không có sự cấm kị trong việc ăn chay hay ăn mặn, hay là trong việc chọn lựa giữa ăn mặn và ăn chay. Nguyên nhân của việc "không cần quan tâm tới sự phân biệt" này là do họ chắc chắn sẽ phải làm siêu độ. 
Có người nói rằng "Ây, Mật giáo bạn vì sao lại có thể ăn thịt được chứ?". Xem ra các Pháp sư, Thượng sư trong Mật giáo hoặc là các hành giả tu Mật giáo.. " Tại sao... hây, tại sao anh lại có thể ăn thịt chứ? Ăn thịt là sát hại chúng sinh đó!" Tuy nhiên ở trong việc này, họ thực sự có một đạo lý tồn tại. Bởi vì hành giả Mật giáo trước khi ăn nhất định sẽ siêu độ trước, tiếp đó là cúng dường. Siêu độ có nghĩa là mang các đồ thực phẩm để ăn đó, trước tiên đem chúng đi độ hóa. Rất nhiều người hỏi tôi về vấn đề này. 
Bởi vì Hiển giáo là không được chạm tới đồ ăn mặn. "Tôi chỉ ăn chay!. Là người ăn chay... chính là ăn chay". "Tôi sẽ không chạm vào những đồ có mang tính chất.. thịt". 
Mật giáo thì lại có thể, vì sao vậy? Bởi vì trong Mật giáo, trước khi ăn đều nhất định sẽ thực hiện siêu độ trước. Trước tiên sẽ đem đồ ăn để siêu độ. Đem linh hồn của chúng đi siêu độ. Bạn siêu độ thì có thần chú của siêu độ. "Ôm, a-pây-la-hùm, khan-cha-la, sô-ha. Ôm, a-pây-la-hùm, khan-cha-la, sô-ha. Ôm, a-pây-la-hùm, khan-cha-la, sô-ha". Bạn cần phải niệm Văn Thù siêu độ chú hoặc niệm A Di Đà Phật siêu độ chú. 
Thế thì bạn niệm siêu độ chú, siêu độ chúng sinh. Hơn nữa, bạn sẽ nhắm mắt lại. Bạn nhờ tới Bổn tôn hạ giáng, chiếu ánh sáng lên thức ăn, dẫn dắt linh hồn chúng sinh trong đồ ăn tới Phật quốc thanh tịnh, sau đó làm cúng dường. "Ôm - A - Hùm". Biến đồ cúng dường thành vô cùng vô tận, cúng dường nhiều như mây và lớn như biển vậy. Sau đó bạn mới ăn. Đây là điều đặc biệt trong Mật giáo vậy. 
Bởi vì có sức mạnh của siêu độ. Bản thân chú ngữ có sức mạnh siêu độ. Còn có sức mạnh của sự quán tưởng. Còn có sức mạnh của chú ngữ. Sức mạnh của chú ngữ, quán tưởng, thủ ấn. Đem tất cả chúng sinh trong đồ ăn siêu độ trước, sau đó mới ăn thì không có tội.
...
"Thỉnh Sư Tôn khai thị. Có phải là khi hành giả tu một ngày 6 thời, quán tưởng tâm luân phóng quang chiếu rọi tất cả chúng sinh trong lục đạo, chư Phật, Bồ Tát, Sư Tôn sẽ phóng quang gia trì cho hành giả. Hành giả tu một ngày 6 thời sẽ biến thành Bổn tôn".
Thì trong lúc bạn tu một ngày 6 thời trong khi bạn tu pháp, trước tiên bạn cần tự mình quán tưởng Bổn tôn tiến nhập vào bên trong bạn, hoặc là bạn tiến nhập vào trong Bổn tôn. Chính là nhập Ngã - Ngã nhập. Bổn tôn và bạn không hai không khác. Bổn tôn chính là bạn, bạn chính là Bổn tôn . Tới lúc này bạn có thể quán tưởng tâm luân phóng quang, chiếu rọi tất cả tới tất cả chúng sinh trong lục đạo. Bởi vì bạn chính là Bổn Tôn mà. Bạn có thể phóng quang chiếu rọi lục đạo chúng sinh. Trọng điểm cần phải nói ở đây là, nếu bạn chỉ "là" một con người phàm phu, bạn chỉ là phàm phu "hữu lậu", thì dù bạn có quán tưởng tâm luân của mình phóng quang, ánh sáng cũng sẽ không xuất hiện. Nhưng khi Bổn tôn đã hợp nhất cùng bạn, thì ánh sáng sẽ xuất hiện. Bởi vì bạn chính là Bổn tôn mà. Đương nhiên, tâm luân sẽ phóng quang, chiếu rọi lục đạo chúng sinh. Không phải là chư Phật, Bồ Tát, Sư Tôn phóng quang gia trì cho hành giả. Chẳng phải là chư Phật, Bồ Tát, Sư Tôn phóng quang gia trì cho hành giả trước [ rồi sau đó, bạn mới tự phóng quang gia trì cho đồ ăn ]. Mà là chính do nhờ bạn nhập Ngã, Ngã nhập, bạn tự mình biến thành Phật, Bồ Tát, Sư Tôn. Lúc đó bạn mới có thể phóng quang chiếu rọi lục đạo chúng sinh. 
Như vậy là rõ ràng rồi đó. 
"Đối với việc kết thủ ấn Đại hải siêu độ, con cảm thấy khó hiểu vì có hai cách kết thủ ấn. Cách thứ 1, lấy hai ngón tay cái đè lên hai ngón tay giữa, hay là cách thứ 2, ngón tay trái đè lên ngón áp út tay phải và ngón cái tay phải đè lên ngón giữa tay trái. Xin được hỏi Sư Tôn cách nào là chính xác?"
Tôi nói cho bạn biết, cả hai cách đều chính xác với ấn Đại hải siêu độ. Hình ảnh con vật khi đã quán tưởng xuất hiện được rõ ràng rồi, chỉ cần bạn có đủ năng lực siêu độ thì dùng thủ ấn nào cũng đều được cả. Nếu bạn không thể siêu độ thì có kết ấn Đại hải siêu độ cũng thể siêu độ được.
Như vậy đã hiểu rõ chưa?
Khi bạn dùng ấn Đại hải siêu độ, bạn dùng tâm mình để siêu độ là được rồi. Cả hai cách [ kết thủ ấn ] đều chính xác.


### 3-2. Minh họa Quán tưởng Văn Thù siêu độ vãng sinh pháp


Chân Phật Tông, pháp Văn Thù siêu độ vãng sinh. Mật tông bí mật pháp về độ súc sinh vãng sinh.


Tay kết thủ ấn giải thoát vãng sinh (Đại hải siêu độ). Hai ngón cái đè lên hai ngón giữa. Hoặc ngón tay cái tay trái đè lên ngón áp út tay phải, ngón cái tay phải đè lên ngón giữa tay trái, cả hai cách đều được.
Nếu như những người ngồi cùng bàn không phải là hành giả Mật tông, thì có thể quán tưởng kết thủ ấn ở trong tâm trí.
Quán tưởng Văn Thù Bồ Tát hiển hiện trong không trung, phóng quang gia trì, hoặc quán tưởng A Di Đà Phật, phóng quang gia trì cũng được. Chủng tự Hùm ở trong tâm của hành giả phát ra ánh sáng trắng. Vô lượng ánh sáng, rực rỡ chiếu tới đồ ăn mặn thịt cá. Những đồ thịt cá này xuất hiện biến thành các hình dạng.
Thịt bò sẽ biến thành hình dạng con bò. Thịt dê biến thành hình dạng con dê. Thịt gà biến hình thành con gà. Thịt cá sẽ biến hình thành con cá. Thịt vịt sẽ biến hình thành con vịt. Thịt heo (lợn) biến hình thành con heo. Những con gà, vịt, bò, dê, heo, cá này ở dưới sự phóng quang gia trì của chủng tự Hùm, được tiêu trừ nghiệp chướng của súc vật. Linh thể trở nên thanh tịnh quang minh, hóa thành kim quang, bay lên, hướng về phía ánh sáng quang minh của Văn Thù Bồ Tát hoặc A Di Đà Phật.
Trì Văn Thù vãng sinh chú 7 lần. “Ôm, a-pây-đa-hùm, khan-cha-la, sô-ha. Ôm, a-pây-đa-hùm, khan-cha-la, sô-ha. Ôm, a-pây-đa-hùm, khan-cha-la, sô-ha. Ôm, a-pây-đa-hùm, khan-cha-la, sô-ha. Ôm, a-pây-đa-hùm, khan-cha-la, sô-ha. Ôm, a-pây-đa-hùm, khan-cha-la, sô-ha. Ôm, a-pây-đa-hùm, khan-cha-la, sô-ha”.


### 4-1. Bài giảng Cúng dường vô tận pháp


Trích lời giảng pháp khai thị ngày 03/04/1997 tại Seattle - Mỹ quốc


 
Hôm nay tôi sẽ giảng về pháp Cúng dường vô tận của Mật giáo.
Pháp cúng dường của Mật giáo, không tính tới Hộ Ma hỏa cúng, thì cúng dường của Mật giáo với Hiển giáo cũng có chút hơi khác. Bởi vì cúng dường của Mật giáo cần tới quán tưởng biến hóa. 
 
Trong đó có 3 cách quán tưởng.
Thứ nhất là biến thành nhiều, một biến thành nhiều, còn cách quán tưởng thứ hai chính là từ hạt cải biến thành núi Tu Di, cũng chính là từ nhỏ biến thành lớn. Cách thứ ba chính là Đế võng minh châu. "Đế võng minh châu" nghĩa là ở tại cõi trời Đế Thích, tại cõi trời Đế Thích, tất cả mọi thứ đều được bao bọc toàn bộ, trang trí bởi lưới ngọc minh châu, rất sáng. Cách quán tưởng này chính là nằm ở một chữ "Mãn" (tràn đầy), biến thành rất viên mãn
Cúng dường của Mật giáo có 3 cách quán tưởng như vậy. 
 
Khi chúng ta đi tới "temple" [ đền thờ ] hoặc đi chùa cúng Phật, khi không hiểu cách quán tưởng này, bạn chỉ có mỗi dâng đồ cúng, dâng một đĩa trái cây lên cúng dường, chỉ mỗi vậy là bạn đã xong. Chờ một lát cho nhang cháy một ít rồi mang trái cây về nhà ăn mất. Việc đi chùa cúng dường thông thường chính là như thế. 
 
Mật tông thì khác. Đồ cúng lúc đặt lên, thì sẽ từ ít biến thành nhiều, từ nhỏ biến thành lớn. Sau đó thì quán tưởng tràn ngập hư không như Đế võng minh châu. Đây là pháp quán tưởng rất đặc biệt của Mật giáo, gọi là pháp Cúng dường vô tận.
 
Ấy nhưng, tự bản thân tôi còn có thêm một cách khác nữa.
Người khác thì một biến nhiều, rồi nhỏ biến thành lớn, rồi còn có biến hóa tràn ngập như Đế võng minh châu. Tôi còn có thêm một cách nữa. Cách này là làm thế nào?
 
Chính là chỉ từ một loại mà biến thành nhiều loại đồ cúng. Cách này là không hoàn toàn giống những người khác rồi. 
 
Ở trong Mật giáo, chúng ta bày ra cúng phẩm như thế này. Ở phía trước sẽ là một hàng..
hoa, nhang, đèn, trà, trái cây, ốc loa như ý, nước pháp. Trong đó nhang có 2 loại, Đồ hương, Mạt hương, thành Bát cúng. Ngoài ra còn có một hàng 8 chén nước, cả 8 chén đều là nước. 8 chén nước này, đừng thấy nó chỉ mãi là nước, không phải đâu. Nước cũng có thể biến thành hoa. Một hàng 8 chén nước này toàn bộ có thể biến thành 8 đóa hoa, cũng có thể biến thành 8 cái bát, 8 cái bát rất lớn, biến thành cái gì? biến thành món súp cá mực.. (cười)
 
Miễn là bạn cứ thấy gì hay, bạn đều có thể cho biến thành cái đó. 8 chén nước này, là bạn có thể tùy ý biến hóa thành rất nhiều loại. Vì thế Lư Sư Tôn mỗi lần ăn được món gì ngon
là tập tức đem cúng dường Phật, Bồ Tát ngay.
 
Đừng thấy tôi buổi sáng mỗi ngày cúng thí thực giống nhau. Tôi mỗi ngày đều cúng dường chẳng giống nhau. Việc rảy nước cúng thí đều như nhau, là cam lộ thủy cả. "Cam lộ tất sung mãn" rảy nước thí cúng đều là cam lộ thủy, nhưng cam lộ thủy rảy thí cúng đó, tất cả đều biến ra nhiều loại đồ. 
 
Đây chính là cách quán tưởng biến hóa của tự bản thân tôi. Không phải chỉ có mỗi một biến thành nhiều, nhỏ thành lớn hay là hóa thành tràn đầy khắp như Đế võng minh châu mà còn có cách biến thành nhiều loại đồ cúng. Vì thế nên bạn nói xem, tôi biến một thứ thành rất nhiều thứ đó.
 
Như đột nhiên, hôm nay tôi lại cúng dường "ice-cream" [ món kem ]. Món kem Thirty-One [ nhãn kem 31 của Baskin-Robbins ]. Bởi vì tối qua tôi ăn kem thấy ngon quá.. vì thế hôm nay tôi cảm thấy nhất định muốn cúng dường món kem. Thế là đột nhiên tôi cúng dường món kem.
 
Chiêm ngưỡng một đóa hoa, thấy đóa hoa đó quá đẹp đi... thế là tôi liền sử dụng đóa hoa đó để dùng cho mục đích biến hóa. Cam lộ thủy liền được biến hóa cho tràn ngập tất cả hư không với đóa hoa đó nhiều như Đế võng minh châu.
 
Mấy hôm trước, tôi được ăn món .. món mì Unagi. Tôi liền quán tưởng,. Oa.. trong hư không toàn bộ là mì Unagi. Quý hiếm lắm đấy! Nhiều năm rồi chưa được biết tới mùi vị ngon như thế này. À, đột nhiên đệ tử Đài Loan lại biết làm món này. Món này làm xong, tôi thử xem.. Ôi chà.. sao mà lại vừa thơm vừa ròn rụm thế cơ chứ.. Nói ra tới đây là ứa nước miếng ý chứ.. chảy nước miếng ngay. Tôi liền lập tức quán tưởng biến hóa bát mì Unagi thật là to, tràn đầy khắp hư không. Mà nói ra thế, là sẽ có người lại làm đồ ăn ngon tới cho tôi ăn đây.
 
[ Sư Tôn và đại chúng cười ]
 
Bạn ăn được món bánh bao rất ngon à, bánh bao chay ngon, cảm thấy "Ây, làm ngon quá", lớp vỏ vừa lỏng vừa mềm, thì bạn cứ quán tưởng Oa.. toàn bộ hư không tràn đầy bánh bao như Đế võng minh châu. 
 
Rảy xuống cúng thí tuy đều là nước giống nhau, nhưng cũng có thể làm quán tưởng y như thế.
Nhưng trước tiên chắc sẽ ứa chút nước miếng đã ha..
 
Có lúc bạn được ăn món ngon, giống như món của chủ tịch huyện Miêu Lật [ Đài Loan ] mang tới. Ông ấy làm.. cái này cũng làm từ gạo nếp.. bánh trôi Đài Loan. Làm loại bánh này rất khó, đặc biệt là loại này. Loại bánh này, nói chung thì người Hẹ [ Hakka ] rất biết cách làm. Làm như thế nào? Ông ấy sẽ làm cái này.. nắm nó lại.. thành viên, viên tròn lại. Món đó.. à.. món đó mà nói thì.. loại ngọt gọi là bánh trôi.. loại mặn thì gọi là bánh trôi mặn. Món đó giống như bánh trôi mặn mà tôi bây giờ diễn tả không ra, nhưng tóm lại là món này rất ngon, mỗi lần ăn 2 cái.
 
Thế thì bạn lúc này có thể lại biến hóa, đã biết món đó rồi thì ngày tiếp đó, cúng dường
chính là đồ ăn đó, biến hóa.. Oa.. tràn trề đầy rẫy khắp nơi.
 
Cách quán tưởng biến hóa như vậy, cách tu tập như vậy gọi là Cúng dường vô tận. Sẽ đạt được phúc báo rất lớn.
 
Bởi vì.. Phật, Bồ Tát đã từng giảng như thế này..
Sự biến hóa quán tưởng của bạn hoàn toàn ở tâm, là ở chữ "Tâm". Nghi thức cúng dường thì nhất định vẫn phải có, nhưng bạn phải thêm cái tâm cúng dường của bạn vào, chính là Cúng dường vô tận.
 
Bởi vì bạn đem hết tấm lòng để cúng dường lên. Cũng vì thế Phật Bồ tát đã giảng qua một câu. Một hai giọt nước sạch, một chiếc lá, một đóa hoa nhỏ, chỉ cần bạn dùng tâm của bạn để cúng dường, các ngài sẽ đều hoan hỉ mà thọ nhận, chứ không phải là do cúng phẩm nhiều hay ít.
 
Một chiếc lá, một đóa hoa, hai ba giọt nước sạch, dùng hết tấm lòng của bạn, đây chính là Cúng dường vô tận. Bạn đã hiểu được cách quán tưởng biến hóa rồi, các ngài sẽ thọ nhận.
Điểm này chính là chân đế của việc cúng dường.
Ôm ma-ni pát-mê hùm!


### 4-2. Minh họa Cúng dường Mandala


Pháp cúng dường Mandala chân thực (phần chính hành)


 
Tay kết ấn cúng dường

1. Hai ngón út để ngang bằng đan vào nhau

1. Tiếp theo, hai ngón cái đè lên điểm đầu hai ngón út

1. Hai ngón áp út cùng dựa vào nhau, dựng thẳng đứng

1. Hai ngón giữa để ngang bằng đan vào nhau

1. Tiếp đó, hai ngón trỏ móc vào hai ngón giữa
Thủ ấn hóa thành vũ trụ hư không. Hai ngón giữa dựng thẳng đứng, đại biểu cho núi Tu Di
Ở phía đông và phía tây của núi Tu Di có nhật, nguyệt, xung quanh là bốn đại châuCó: Đông Thắng Thần Châu, Tây Ngưu Hạ Châu, Nam Chiêm Bộ Châu, Bắc Câu Lư Châu.
Xung quanh bốn đại châu còn có tám tiểu châu. Ở giữa có bảy biển nước thơm
Quán tưởng cúng phẩm biến hóa, cúng phẩm có thể là:
Sơn hào hải vị, nước trắng, nước tắm, hoa, nhang, đèn, trà, trái cây, ốc loa như ý, thất trân bát bảo (7 món trân quý, 8 món bảo vật)
Cách quán tưởng: ví dụ, khi cúng dường đèn dầu, quán tưởng thêm đèn thành một hàng, rồi hóa thành một mặt phẳng, tiếp đó biến hóa nhân lên đầy khắp cả vũ trụ, trên dưới mười phương đều là đèn dầu sáng rạng rỡ. Quán tưởng chư Tôn đón nhận toàn bộ đèn sáng rực rỡ mà bạn đang cúng dường.
Trên cúng Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Thánh Tôn cùng các vị tổ sư đời trước,
cúng tới thập phương tam thế chư Phật, chư Bồ Tát, Kim Cang, Hộ pháp, Không hành. Ở giữa cúng tới chư Thiên. Phía dưới cúng tới lục đạo chúng sinh. Tất cả đều hoan hỉ thọ nhận
[ Niệm kệ tán cúng rồi tới Chú cúng dường ]
Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa chư trân bảo cúng dường Phật
Chủng chủng trân kì chư công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng Bồ đề
Ôm, sa-óa, ta-tha-ga-ta, i-ta-mu, gu-ru-ra-na, mên-cha-la, khan, ni-ri-a, ta-a-mi.

(Còn tiếp)

---
# File: nghi-quy-tu-tap/su-dien-khong-hanh-mau-niem-tung-phap.md
# Title: Sư Diện Không Hành Mẫu niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_cbdfebba0622fd07263a364c4cf802a6.jpg)



## Sư Diện Không Hành Mẫu niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Sư Diện Không Hành Mẫu.

(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_687bca141f58d2758f313f491eb9051e.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn ****Sư Diện Không Hành Mẫu**

Ấn Sư Vương tất thắng: hai tay đan nội phộc, ngón cái, ngón út và ngón giữa dựng thẳng chạm vào nhau.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Quán tưởng trong hư không có một nhật luân, trong nhật luân có chủng tự “Seh” (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu lam, chữ “Seh” xoay tròn hóa thành Sư Diện Không Hành Mẫu. 

(2) Sư Diện Không Hành Mẫu thân màu xanh da trời, đầu đội mũ năm đầu lâu, mặt sư tử, lõa thể, dùng 50 đầu người để làm thành chuỗi đeo cổ, một mặt hai tay, tay phải cầm dao cong, tay trái nâng đầu lâu và kẹp thiên trượng tam xoa, chân phải cong chân trái duỗi, đứng trên hoa sen nhật nguyệt và dẫm lên một thi thể.

(3) Quán tưởng thiên tâm của Sư Diện Không Hành Mẫu phóng ra một vệt ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả. Từ họng ngài phóng ra một vệt ánh sáng đỏ chiếu thẳng đến họng của hành giả. Tâm luân của ngài phóng ra một vệt ánh sáng xanh lam chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng trắng, đỏ, lam tan vào thân tâm của hành giả. 


### Phần 14: Trì tâm chú Sư Diện Không Hành Mẫu


Tâm chú: A-ka sa-ma la-cha sa-ta la-sa ma-la-ya pây. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Seh), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Sư Diện Không Hành Mẫu, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định.


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.


![image](/img/img_de2e4fe7c083190e88010181ecaae0d3.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Sư Diện Không Hành Mẫu


Sư Diện Không Hành Mẫu thân màu xanh da trời, đầu đội mũ năm đầu lâu, mặt sư tử, lõa thể, dùng 50 đầu người để làm thành chuỗi đeo cổ, một mặt hai tay, tay phải cầm dao cong, tay trái nâng đầu lâu và kẹp thiên trượng tam xoa, chân phải cong chân trái duỗi, đứng trên hoa sen nhật nguyệt và dẫm lên một thi thể.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị về Sư Diện Không Hành Mẫu


Sư Diện Không Hành Mẫu có tên tiếng Phạn là Simhamukha, là một vị được cả bốn giáo phái Tạng mật tôn sùng, và còn là một trong ba vị đại Hộ pháp của phái Nyingma, hai vị còn lại là Nhất Kế Phật Mẫu (Ekajati) và Rahula Tôn giả, Sư Diện Không Hành Mẫu đứng ở vị trí thứ nhất. Sư Diện Không Hành Mẫu không chỉ là vị đại Hộ pháp số một của phái Nyingma mà ngài gần như là Không Hành Mẫu lớn số một.

Sư Diện Không Hành Mẫu từng thề nguyện là Hộ pháp số một của Chân Phật Tông. Ngài là Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, cho nên uy lực của ngài là vô cùng.

Pháp thân của Sư Diện Không Hành Mẫu chính là Bát Nhã Phật Mẫu, Báo thân là Dorje Pamu tức Kim Cang Hợi Mẫu, là vị Phật Mẫu số một, vị Độ Mẫu số một, pháp lực của ngài là lớn nhất!

Chú ngữ của Sư Diện Không Hành Mẫu vô cùng thù thắng, đặc biệt là chú Phản hồi của ngài thì vô cùng nổi tiếng. Thế nào gọi là chú Phản hồi? Đối phương có sức mạnh lớn đến thế nào thì toàn bộ đều bị chặn lại và trả lại cho người đó, đây là chú ngữ rất bí mật, gọi là chú Phản hồi, chú ngữ này cần phải truyền bí mật.

Chỉ cần bạn niệm chú Phản hồi của vị này thì bùa chú giáng đầu nào cũng không còn. Người ta tung ra chú gì, bạn niệm chú Phản hồi thì người đó coi như xong đời. Người nào đó làm pháp để khiến cho hai chân bạn bị què, bạn niệm chú Phản hồi một lúc, họ sẽ lập tức rơi từ trên giường xuống và sẽ bị què chân. Rất lợi hại đó. Trên tay ngài có hai cái chũm chọe, thế nào gọi là chũm chọe? Chính là thứ mà khi còn nhỏ bạn cầm để đập vào nhau thành tiếng “cheng cheng chát” đó. Bạn nhốt kẻ thù vào trong đó, rồi bạn đập mấy cái thì hắn sẽ bị điếc tai, đập mấy cái nữa thì bảy lỗ sẽ chảy máu, ngài có sức mạnh uy mãnh như vậy. Vì thế gọi ngài là Không Hành Mẫu hung mãnh số một.

Vì sao Sư Diện Không Hành Mẫu vừa là Thượng sư, vừa là Bổn tôn, vừa là Hộ pháp của Liên Sư? Ngày xưa, Tổ sư Liên Hoa Sinh Đại Sĩ trong một khu rừng sâu ở Bắc Ấn Độ đấu pháp với 500 ngoại đạo, 500 ngoại đạo này cũng đều là các thầy phù thủy, mỗi người đều biết niệm chú. Sau đó, Sư Diện Không Hành Mẫu đã hiển hiện, dạy cho Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chú Phản hồi uy mãnh nhất, cho nên Sư Diện Không Hành Mẫu là Thượng sư của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.

Trong Mật giáo chúng ta biết về biến hóa, Bổn tôn chân chính của Liên Sư là Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật, các vị có cùng một chủng tử tự là “Seh”, từ A Di Đà Phật biến hóa thành Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Sư Diện Không Hành Mẫu lại từ chính bản thân Liên Sư hóa ra, cho nên Liên Hoa Sinh Đại Sĩ cũng là Bổn tôn của Sư Diện Không Hành Mẫu, có mối liên hệ như vậy.

Đặc tính của Không Hành Mẫu là gì? Đặc tính của Không Hành Mẫu là rất hung mãnh. Trong Mật giáo khi vẽ pháp tướng Không Hành Mẫu thì đều rất hung mãnh, rõ ràng là Không Hành Mẫu nhưng mà vẽ ra thì lại hung mãnh như vậy. Sư Diện Không Hành Mẫu cũng thế. Mật giáo cực kì tôn sùng Hộ pháp Không Hành Mẫu, bởi vì bản thân các vị rất hung mãnh. Ngoài ra, trong các loài động vật thì sư tử là có uy lực nhất, cho nên Sư Diện Không Hành Mẫu là một vị đại Hộ pháp vô cùng uy lực.

Sư tử là hung mãnh nhất, bất kì tinh linh nào nhìn thấy sư tử cũng phải bỏ chạy, bất kì động vật nào nhìn thấy Sư Diện Không Hành Mẫu cũng đều bỏ chạy. Bạn tu thành tựu vị này thì không người nào dám làm bùa chú giáng đầu với bạn.

Thủ ấn của Sư Diện Không Hành Mẫu là đầu tiên đan nội phộc, sau đó ngón cái, ngón giữa và ngón út dựng thẳng lên, chạm đầu ngón tay vào nhau, giống như mặt sư tử. Thủ ấn của ngài như thế này gọi là ấn Sư Vương tất thắng. 

Chú ngữ của ngài là “Aka sama lacha sata lasa malaya pei”, chú này đừng nên niệm to tiếng, bởi vì uy lực của câu chú này rất lớn, nếu niệm lớn tiếng thì các Thần linh của bốn phương đều bỏ chạy hết. Nhưng nếu niệm chú này trong phạm vi mà Sư Tôn kiết giới thì không có vấn đề gì, bằng không thì rất nhiều linh đụng phải câu chú này sẽ đều đi đời nhà ma hết, bao gồm cả Long Vương. Vì thế câu chú này không được niệm ở cạnh sông nước hay ở biển. Có rất nhiều hành giả không niệm câu chú này thành tiếng, chỉ niệm thầm.

Chú ngữ của ngài là “Aka sama lacha sata lasa malaya pei”, chữ “pei” này chính là dừng. Trong Mật giáo, bạn có những suy nghĩ không tốt sinh ra, hét lên một tiếng “pei” thì sẽ loại bỏ suy nghĩ đó ngay. Bạn chỉ cần hét một tiếng “pei” thì những suy nghĩ không tốt bên trong đầu bạn sẽ có thể dừng lại. Công đức của ngài rất lớn, có hình tướng, có chú ngữ, có thủ ấn của ngài thì có thể làm thành một pháp tu Bổn tôn.

Tu trì pháp Sư Diện Không Hành Mẫu có thể phá trừ ma chướng, đẩy lùi oan địch, bảo vệ thân và mạng, tăng ích kính ái, thành tựu tất cả sự nghiệp, có thể khắc phục thiên tai nhân họa, các nạn đao binh chiến tranh, mọi tai nạn đến từ mặt trời, mặt trăng, sao, đất, nước, lửa, gió.

Lần đầu tiên Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Pháp Vương truyền đại pháp đặc biệt Sư Diện Không Hành Mẫu này là ở trung tâm hội nghị Meydenbauer ở Seattle vào ngày 8/2/1998. Ngoài truyền thụ lai lịch và yếu quyết tu pháp của vị này ra thì Sư Tôn còn dạy mọi người cách làm pháp để phá trừ chướng ngại, hàng phục ma chướng. Xin giới thiệu tóm tắt như sau:

Cách làm pháp 1: Xung quanh vùng tim của Sư Diện Không Hành Mẫu có ánh sáng màu lam, ánh sáng này gọi là “chú man”, nó sắc giống như dao cạo, quán tưởng chú man xoay tròn và cắt chém tất cả chướng ngại thành vi trần, như thế là có thể phá hủy mọi chướng ngại.

Cách làm pháp 2: Sư Diện Không Hành Mẫu hai tay cầm chũm chọe (một chũm chọe là mặt trời, một chũm chọe là mặt trăng), quán tưởng oan địch hoặc ma tác quái ở giữa, sau đó kẹp hai chũm chọe này vào nhau, tức là kẹp đối phương ở trong, nghiền nát giống như nghiền đá, đây là pháp hàng phục.

Cách làm pháp 3: Mang theo pháp tướng và chú tự của Sư Diện Không Hành Mẫu theo bên mình, thường xuyên gọi ngài, thường xuyên thỉnh ngài, đây là kết lời thề samaya, một ngày ba thời cầu nguyện ngài, gặp khó khăn chướng ngại, chỉ cần bạn thỉnh cầu là ngài nhất định sẽ giáng xuống ánh sáng đi theo hành giả, bảo vệ cho hành giả.


![image](/img/img_d4b5e3e9715842b4623025186b73455e.jpg)


Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/tai-bao-thien-vuong-niem-tung-phap.md
# Title: Tài Bảo Thiên Vương niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_6963ee85127e2e7312407c6e67c243bf.jpg)



## Tài Bảo Thiên Vương niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Tài Bảo Thiên Vương.

(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_8a8ef64c4529dbf7cdbf04d298b5ebd4.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn ****Tài Bảo Thiên Vương**

Ngón út đan nội phộc, ngón áp út và ngón giữa chụm lại với nhau, ngón trỏ mở ra hai bên, ngón cái tựa vào nhau song song.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Quán tưởng hư không, trong hư không có một nhật luân, trong nhật luân có chủng tự chữ “Jam” (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu vàng, trong chữ Jam xuất hiện Tài Bảo Thiên Vương.

(2) Tài Bảo Thiên Vương thân màu vàng kim, một đầu hai tay, đầu đội mũ miện, tay phải cầm lọng quý, tay trái cầm chuột nhả tài bảo, ngồi tư thế Bồ Tát như ý trên lưng sư tử trắng, trên người đeo đầy chuỗi ngọc ngà trang sức, trên hai vai có vầng nhật nguyệt, ngài có Thiên khố với tài bảo vô tận.

(3) Quán tưởng Tài Bảo Thiên Vương ở hư không phóng ánh sáng vàng kim đến gia trì cho hành giả. Quán tưởng chuột nhả tài bảo trên tay ngài nhả ra vô số tài bảo, lấp đầy không gian ngôi nhà của bạn.


### Phần 14: Trì tâm chú Tài Bảo Thiên Vương


Tâm chú: Ôm pây sha-wa na-ya sô-ha. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Jam), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Tài Bảo Thiên Vương, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.


![image](/img/img_b201299906d26ac3d342ff9a40438451.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Tài Bảo Thiên Vương


Tài Bảo Thiên Vương thân màu vàng kim, một đầu hai tay, đầu đội mũ miện, tay phải cầm lọng quý, tay trái cầm chuột nhả tài bảo, ngồi tư thế Bồ Tát như ý trên lưng sư tử trắng, trên người đeo đầy chuỗi ngọc ngà trang sức, trên hai vai có vầng nhật nguyệt, ngài có Thiên khố với tài bảo vô tận.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị lai lịch và sự thù thắng của Tài Bảo Thiên Vương


Trong toàn bộ pháp giới, vị giàu có nhất chính là Đa Văn Thiên. Đa Văn Thiên Vương có biệt danh là Tài Bảo Thiên Vương. Hoàng Tài Thần cũng chính là Tài Bảo Thiên Vương. Thật ra sức mạnh của hai câu chú là như nhau, Hoàng Tài Thần và Tài Bảo Thiên Vương là cùng một vị. Rất ít người biết, Tài Bảo Thiên Vương chính là Hoàng Tài Thần, chính là Jambhala, cũng chính là Đa Văn Thiên Vương. Mặc dù tên gọi khác nhau, nhưng đều là một vị.

Kinh điển nói rằng: Tài Bảo Thiên Vương là một trong bốn Đại Thiên Vương, là ngoại thần của Đế Thích Thiên, vì năng lực hộ trì thế gian cho nên còn gọi là Hộ Thế Giả, tên tiếng Phạn là Bì Sa Môn, Hán dịch là Đa Văn. Tài Bảo Thiên Vương lãnh đạo các bộ Dạ Xoa, làm thần thủ hộ ở phương bắc cõi Diêm Phù Đề, cư ngụ ở cung Thủy Tinh ở phía bắc núi Tu Di. Theo ghi chép trong kinh điển, khi Phật Thích Ca Mâu Ni còn trụ thế, Thiên Vương đã lập lời thề trước Phật, nguyện hộ trì Phật pháp, đồng thời ban tài phúc tư lương cho chúng sinh, giúp họ thành tựu pháp thế gian. Trong Tạng Mật có nói tên của Tài Bảo Thiên Vương là Nam Thông Tạ, chính là Nam Phương Bảo Sinh Phật trong số Ngũ Phật hóa hiện ra. Xung quanh ngài có tám Tuấn Mã Tài Thần làm thuộc hạ, mỗi vị quản lí Thiên khố của tám hướng, trợ giúp Tài Bảo Thiên Vương cứu độ chúng sinh nhằm thỏa mãn nguyện vọng của chúng sinh.

Tài Bảo Thiên Vương có lai lịch bất phàm. Tổ sư Hoàng giáo Tsongkhapa từ lúc còn rất trẻ đã xuất gia. Sư phụ của ngài chính là Choje Dondrub Rinchen Rinpoche, pháp đầu tiên mà sư phụ quán đảnh cho ngài chính là pháp Tài Bảo Thiên Vương, quán đảnh thứ hai là Mahakala Đại Hắc Thiên, quán đảnh thứ ba là Kim Cang Thủ Bồ Tát. Cho nên Tài Bảo Thiên Vương cũng là chủ tôn của Tsongkhapa đại sư. Có Tài Bảo Thiên Vương rồi, tư lương của ngài mới không thiếu thốn, đồng thời, công đức và phúc đức của ngài mới không thiếu thốn.

Tài Bảo Thiên Vương và Liên Hoa Đồng Tử đều là Đại Phúc Kim Cang, đều ban tài phúc. Tâm chú của Tài Bảo Thiên Vương là “Om pei shawa naya soha”. hình tượng của Tài Bảo Thiên Vương về cơ bản là giống với Jambhala Hoàng Tài Thần, chỉ là Hoàng Tài Thần có một chân của ngài dẫm lên hoa sen và không ngồi trên sư tử trắng.

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/tang-phuc-hue-do-mau.md
# Title: Tăng Phúc Huệ Độ Mẫu
---

![image](/img/img_960bcf77bfac6ede8d4ef4d418dfe013.jpg)



## Tăng Phúc Huệ Độ Mẫu


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Chú ngữ:


Ôm, rê-na-ta-rê, sa-ơ-wa-lua-ka, cha-na, pê-ya, ta-la-ta-la, tưa-hây-li, tưa-hây-li, sâng-sâng, cha-cha-na, pu-chinh, gu-ru, ôm.


### Công đức tu pháp:


Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng tu trì Tăng Phúc Huệ Độ Mẫu, thấp nhất sẽ được sinh vào tám nơi có phúc, đó là vì công đức phúc nghiệp. Tám nơi sinh có phúc này, ở nhân gian là hàng phú quý, ở thiên giới có thể sinh vào Tứ Thiên Vương Thiên, Đao Lợi Thiên, Dạ Ma Thiên, Đâu Suất Thiên, Hóa Lạc Thiên, Tha Hóa Thiên, Phạm Thiên, những cảnh giới trời người này đều là nghiệp đại phúc.

Tu pháp Tăng Phúc Huệ Độ Mẫu có thể đắc thần thông, những thần thông đó là:

1. Có thể thị hiện một thân hóa thành nhiều thân.

1. Có thể thị hiện một thân trần thế đầy khắp đại thiên giới.

1. Có thể nhẹ nhàng bay trên không, xa gần đều đến được.

1. Hiện vô số loài, nhưng pháp thân thường ở một cõi Phật.

1. Có thể dùng cùng lúc nhiều thân phận.

1. Có được tất cả Mật pháp, đạt đến cảnh giới vô pháp.

1. Nói một bài kệ có thể lưu truyền vô lượng kiếp.

1. Thân ở khắp các cảnh giới, giống như hư không.

Tu Tăng Phúc Huệ Độ Mẫu, trí huệ cao nhất của người đó là “như như”, như như tức là: “Bất động, tịch mịch, đại trí huệ hoàn toàn bình đẳng không hai, hoàn toàn không khởi lên cảnh giới tự tính phân biệt đảo điên, là cảnh giới chân như do lý trí đã chứng đắc.”

Đây là trí huệ gốc, là Phật của chân lý giác ngộ như như, đạo của chân như, có thể đắc chính giác, tất cả các loại trí, hoàn toàn khế hợp với chân lý. Như như có ý nghĩa là không biến đổi, vì nó là bất nhị, cho nên bất dị, bất biến, bất động, có thể nói là chân diện mục của vạn pháp.  


### Quán tưởng:


Trên mặt biển lớn, trời xanh vạn dặm không mây, nguyệt luân từ trên mặt biển nhô lên, trong nguyệt luân có chủng tử chữ “Tang” màu vàng, phóng ánh sáng vàng.

Chữ Tang trong nguyệt luân xoay vòng, hóa thành Tăng Phúc Huệ Độ Mẫu, thân màu vàng, tướng mạo uy mãnh, tay phải cầm như ý bảo châu, tay trái cầm gậy móc sắt như ý, thân ngồi tư thế bán già.


![image](/img/img_cedf4af0ce292afa89c23e5f724dee58.jpg)



### Nghi quỹ tu trì:


Trước tiên, thỉnh cầu Căn bản Thượng sư gia trì: 

Đầu tiên quán không, sau đó quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật trụ ở đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì tâm chú Liên Hoa Đồng Tử 7 biến, cầu nguyện tu pháp viên mãn.

Tiếp theo, làm quán tưởng tứ vô lượng tâm. Làm thủ ấn đánh thức (vỗ tay hai lần, bắt chéo hay tai, búng ngón tay). 

1. Chú thanh tịnh.

1. Chú triệu thỉnh.

1. Đại lễ bái.

1. Đại cúng dường.

1. Tứ quy y.

1. Mặc bia giáp hộ thân.

1. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh.

1. Niệm chú Vãng sinh. (7 biến)

1. Tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư.
Ôm gu-ru lién-sâng sit-đi hùm. (108 biến)

1. Thủ ấn và quán tưởng.
Thủ ấn: Hai tay đan nội phộc, ngón giữa giơ lên chạm vào nhau, ngón trỏ giơ lên mở ra hai bên, ngón cái đặt song song tựa vào nhau.
Chủng tử tự: chữ “Tang” màu vàng.
Quán tưởng: Đầu tiên quán không, niệm chú quán không. 
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)
(1) Trên mặt biển lớn, trời xanh vạn dặm không mây, nguyệt luân từ trên mặt biển nhô lên, trong nguyệt luân có chủng tử chữ “Tang” màu vàng, phóng ánh sáng vàng.
(2) Chữ Tang trong nguyệt luân xoay vòng, hóa thành Tăng Phúc Huệ Độ Mẫu, thân màu vàng, tướng mạo uy mãnh, tay phải cầm như ý bảo châu, tay trái cầm gậy móc sắt như ý, thân ngồi tư thế bán già.
(3) Thiên tâm của Tăng Phúc Huệ Độ Mẫu phóng ra một đường ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả, họng phóng ra ánh sáng đỏ chiếu đến họng của hành giả, tâm luân phóng ra ánh sáng lam chiếu đên tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng trắng, đỏ, lam đi vào hòa tan vào thân tâm hành giả.
  1. Trì tâm chú Tăng Phúc Huệ Độ Mẫu:
Ôm, rê-na-ta-rê, sa-ơ-wa-lua-ka, cha-na, pê-ya, ta-la-ta-la, tưa-hây-li, tưa-hây-li, sâng-sâng, cha-cha-na, pu-chinh, gu-ru, ôm. (108 biến)
  1. Nhập Tam ma địa.
  1. Xuất định.
  1. Tụng tán:
Kính lễ Tăng Phúc Huệ Độ Mẫu
Thắng phúc vô tận biển công đức
Diệu huệ viên minh đức thường hằng
Thần thông nhậm vận khắp pháp giới.
  1. Trì thêm những tâm chú khác.
  1. Niệm Phật
Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)
  1. Hồi hướng.
  1. Bách tự minh chú. (3 biến)
  1. Đại lễ bái.
  1. Chú viên mãn.
Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.
Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.
Chú thích: 
Quán tưởng Tăng Phúc Huệ Độ Mẫu nhập ngã hợp nhất: Tăng Phúc Huệ Độ Mẫu hóa thành một điểm ánh sáng, từ lỗ đỉnh đầu của hành giả đi vào, ngồi trên đài hoa sen ở trong tim, sau đó phóng to lên đến khi thân lớn bằng kích cỡ của hành giả. (Hai người kết hợp chặt chẽ, Tăng Phúc Huệ Độ Mẫu tức là mình, mình tức là Tăng Phúc Huệ Độ Mẫu, không hai không khác.)

---
# File: nghi-quy-tu-tap/thang-lac-kim-cang-niem-tung-phap.md
# Title: Thắng Lạc Kim Cang niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_d820a35531fa9833664440c838d95e57.jpg)



## Thắng Lạc Kim Cang niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


(1) Quán Không.

(2) Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (7 biến)

(3) Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

(4) Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Thắng Lạc Kim Cang.

(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)

Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê. 

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_9616074a83d7c2d5dbe27130e918bcf7.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn ****Thắng Lạc Kim Cang**

Hai tay nắm lại, ngón trỏ và ngón cái chạm vào nhau thành vòng tròn, hai tay bắt chéo nhau, tay phải ở trong, tay trái ở ngoài, lòng bàn tay hướng vào ngực. 

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trong hư không có một bông hoa sen, trong hoa sen có một vầng mặt trời (nhật luân), ở giữa nhật luân xuất hiện chủng tử tự chữ “Hum” (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu lam phóng quang. 

(2) Chữ “Hum” trong nguyệt luân xoay tròn hóa thành chày  kim cang, sau đó chày kim cang hóa thành Thắng Lạc Kim Cang. Thắng Lạc Kim Cang thân màu xanh lam, một đầu hai tay, đứng trên nhật luân hoa sen, hai chân, chân trái cong chân phải duỗi, dẫm lên hai thiên nhân. Tóc trên đầu búi lại, trang sức có ngọc mani, trăng lưỡi liềm, tay phải cầm chày kim cang, tay trái cầm chuông kim cang bắt chéo nhau, ôm lấy Kim Cang Hợi Mẫu. Trên người đeo sáu đầu lâu làm vật trang sức, trên đỉnh đầu có trang sức là đầu người, thân mặc váy da hổ, mặt phẫn nộ.

Kim Cang Hợi Mẫu thân màu đỏ, cầm dao cong và đầu lâu, tóc xõa, chân trái duỗi chân phải co, hai vị song vận, mặt hiện lạc tướng, trên người có năm loại trang sức bằng xương. Xung quanh Phật Phụ và Phật Mẫu có ngọn lửa của ánh sáng trí huệ.

Phật trên đỉnh đầu Thắng Lạc Kim Cang là A Súc Phật hoặc Đại Nhật Như Lai hoặc A Di Đà Phật. 

(3) Quán tưởng từ thiên tâm của Thắng Lạc Kim Cang phóng ra một đường ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả, từ họng của ngài phóng ra một đường ánh sáng đỏ chiếu đến họng của hành giả, từ tâm luân của ngài phóng ra một đường ánh sáng màu xanh lam chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng đi vào thân tâm hành giả, gia trì cho hành giả thân tâm thanh tịnh.


### Phần 14: Trì tâm chú Thắng Lạc Kim Cang


Tâm chú: Ôm sê ha-ha hùm-hùm pây. (108 biến)

Chú chung của Thắng Lạc Kim Cang và Kim Cang Hợi Mẫu: 
Ôm hai-ha-ân-ta-rua-hưa hùm-hùm pây.


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Hum), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Thắng Lạc Kim Cang, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định.

**Tụng tán:**

Thắng lạc cũng tức là không
Bản tính đầy đủ tam giới
Trí huệ quang minh song vận
Đảnh lễ Thắng Lạc Kim Cang.


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hum.


![image](/img/img_7d4b9edc9e4bebc2f2d59dba1e8db942.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Thắng Lạc Kim Cang


Thắng Lạc Kim Cang thân màu xanh lam, một đầu hai tay, đứng trên nhật luân hoa sen, hai chân, chân trái cong chân phải duỗi, dẫm lên hai thiên nhân. Tóc trên đầu búi lại, trang sức có ngọc mani, trăng lưỡi liềm, tay phải cầm chày kim cang, tay trái cầm chuông kim cang bắt chéo nhau, ôm lấy Kim Cang Hợi Mẫu. Trên người đeo sáu đầu lâu làm vật trang sức, trên đỉnh đầu có trang sức là đầu người, thân mặc váy da hổ, mặt phẫn nộ.

Kim Cang Hợi Mẫu thân màu đỏ, cầm dao cong và đầu lâu, tóc xõa, chân trái duỗi chân phải co, hai vị song vận, mặt hiện lạc tướng, trên người có năm loại trang sức bằng xương. Xung quanh Phật Phụ và Phật Mẫu có ngọn lửa của ánh sáng trí huệ.

Phật trên đỉnh đầu Thắng Lạc Kim Cang là A Súc Phật hoặc Đại Nhật Như Lai hoặc A Di Đà Phật. 

(Trước ngực Thắng Lạc Kim Cang có treo 50 đầu người còn chảy máu tươi, biểu thị cho 50 chữ cái Phạn văn, dùng chuỗi xương người biểu thị lục độ viên mãn, mũ 5 đầu lâu biểu thị thể tính của Ngũ Phật, máu tươi biểu thị cam lộ, thiên linh cái biểu thị bảo bình.)


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị lai lịch vĩ đại của Thắng Lạc Kim Cang pháp tu trì thù thắng


Thắng Lạc Kim Cang đại pháp, cũng có thể gọi là Thượng Lạc Kim Cang, là một trong năm đại pháp Kim cang, là một trong năm đại pháp trân quý của Chân Phật Tông.

Ngũ Đại Kim Cang là: Hỉ Kim Cang, Mật Tập Kim Cang, Thắng Lạc Kim Cang, Đại Uy Đức Kim Cang, Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang.

Pháp này vốn là đại pháp trân quý nhất của Mật tông Bạch giáo, tu trì pháp này rất phức tạp, phải được Thượng sư hướng dẫn tỉ mỉ tâm yếu khẩu quyết mới có thể tu trì. Thắng Lạc Kim Cang có ý nghĩa là vượt qua tất cả khoái lạc, nên gọi là Thắng Lạc. 

Thắng Lạc Kim Cang thuộc về Vua của mẫu tục, mẫu tục chính là trí huệ. Tục có nghĩa là kinh điển, có Vua của phụ tục chính là phương tiện, Vua của mẫu tục chính là trí huệ. Không có phương tiện thì trí huệ không thể hiển hiện ra.

Thắng Lạc Kim Cang đại pháp thuộc về pháp tu trì của Bạch giáo, chính là một trong các pháp bí mật của Đại Bảo Pháp Vương thứ 16, cho nên Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16 tại khách sạn trên đỉnh núi Meadow ở Woodstock, Upstate New York đã thay đổi toàn bộ thành Thắng Lạc Luân, đó chính là pháp đài của Thắng Lạc Kim Cang. Lư Sư Tôn đã đi tới đó, ngoài việc gặp Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16 ra thì còn có Nga Ba Lama truyền dạy pháp Thắng Lạc Kim Cang. Nguồn gốc của truyền thừa chính là như vậy.

Pháp này cũng có thể dùng vào việc tăng ích cho trời người. 

Về pháp tiêu tai, có thể quán tưởng ánh sáng trắng như các vòng tròn lan tỏa ánh sáng ra khắp nơi, tiêu trừ tội chướng của chúng sinh, nhờ đó tự có thể tiêu tai.
Về pháp tăng ích, cần quán tưởng ánh sáng màu vàng, cũng giống như các vòng tròn ánh sáng lan tỏa khắp nơi, khiến cho chúng sinh thiên hạ đều có thể đắc mọi điều mong cầu và được như ý.
Về pháp câu triệu (kính ái), cần quán tưởng ánh sáng đỏ che phủ tất cả, tự nhiên tất cả mọi sự thu hút triệu gọi đều thành tựu.
Về pháp hàng phục, tức là pháp tru, cần quán tưởng ánh sáng lam phân bố khắp nơi, hàng phục tất cả.

Thật ra trong Hoa giáo cũng có Thắng Lạc Kim Cang, Hoa giáo là do ai đề xướng? Chính là Quốc sư của Mông Cổ Bát Tứ Ba đề xướng. Ngoài Hỉ Kim Cang ra thì Thắng Lạc Kim Cang là bổ trợ.

Chú ngữ của Thắng Lạc Kim Cang là: “Ôm sê ha-ha hùm-hùm pây.”

Thắng Lạc Kim Cang đi kèm với Kim Cang Hợi Mẫu, thủ ấn của ngài là ấn giao bão (vòng tay ôm), hai tay nắm quyền, bắt chéo ở trước ngực, ở giữa ngực và vòng tay có Kim Cang Hợi Mẫu. Nếu bạn hợp tu Thắng Lạc Kim Cang và Kim Cang Hợi Mẫu thì chú ngữ là: “Ôm hai-ha-ân-ta-rua-hưa hùm-hùm pây.”

Ngày 11/2/2017 tại Đài Loan Lôi Tạng Tự, lần đầu tiên Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Pháp Vương truyền đại pháp Thắng Lạc Kim Cang. 

Trong văn tập số 251 “Cắt một tấm áo mộng”, Liên Sinh Hoạt Phật cũng đã đăng tải pháp Thắng Lạc Kim Cang niệm tụng pháp. 

Bạn có thể tham khảo tại: [Văn tập 251](https://chanphat.org/van-tap/251-cat-mot-tam-ao-mong). 

Tu thành tựu pháp này sẽ có được lợi ích lớn:
1. Tự do trong tam giới.
2. Từ chư Thiên đến thiên long bát bộ đều có thể câu triệu.
3. Tất cả Không Hành Mẫu đều sẽ hầu hạ hành giả.
4. Biết được nhân quả bảy đời.
5. Chư Thiên không thể làm hại, huống hồ là ma hoặc người.
6. Có thể muốn người nào sống người đó sẽ sống, muốn người nào chết người đó sẽ chết.
7. Có thể ẩn thân.
8. Có được thân thể kim cang.
9. Trộm cướp và ác thú đều không thể xâm hại, ngũ hành kim mộc thủy hỏa thổ đều không thể làm hại đến thân.
10. Đẩy lùi dịch bệnh.
11. Có thể đi trên không, đi trong nước, đi trong lửa, lên cao đến Sắc cứu cánh thiên hoặc cao hơn.
12. Thần biến.
13. Trường thọ.
14. Thành Phật.

Giả như bạn không có cách nào tu thành tựu pháp thân, không cách nào dung nhập vào tính Không, thì căn bản là không thể thành Phật. Về cơ bản mà nói, bạn không thể nào thành Phật. Duy có chứng thực, chứng minh được pháp thân, dung nhập vào tính Không thì mới có thể quán tự tại, mới là du hí trong thần thông tam muội. Mới là Thắng Lạc Kim Cang. Đây là cảnh giới cao nhất.

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/thanh-quan-am-de-nhat-phu-hao-phap.md
# Title: Thánh Quan Âm Đệ Nhất Phú Hào pháp
---

![image](/img/img_9de1da12da5a13f6b0d42e3ea6ab7ef5.png)



## Thánh Quan Âm Đệ Nhất Phú Hào pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


Trước tiên thỉnh cầu căn bản truyền thừa gia trì: thả lỏng thân tâm, sau đó quán tưởng truyền thừa Chân Phật Tông:
Nam mô Đại Nhật Như Lai. Nam mô Phật Nhãn Phật Mẫu. Nam mô Liên Hoa Đồng Tử. Nam mô Liên Sinh Hoạt Phật. 

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Tay kết thủ ấn Liên Hoa Đồng Tử, trì tâm chú Liên Hoa Đồng Tử 7 biến. Thỉnh cầu truyền thừa đại gia trì, tu pháp viên mãn.

Chú dài: Ôm a hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lián-shâng sit-đi hùm.

Chú ngắn: Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Văn thỉnh cầu Liên Sinh Hoạt Phật gia trì (1 biến)

Ôm A Hùm [Om Ah Hum]
Kính đem thân khẩu ý thanh tịnh.
Cúng dường Tỳ Lô Giá Na Tôn.

Pháp thân Phật Nhãn Phật Mẫu Thánh.
Báo thân Liên Hoa Đồng Tử thân.
Ứng Thân giáo chủ Liên Sinh Phật.
Ba thân không khác, đại Phật ân.

Cung kính Chân Phật đại truyền thừa.
Thần thông ban trải đầy thế giới.
Phóng quang chiếu rọi khắp ba thời.
Hóa hiện không ngừng chứng nhất như.
Đệ tử tha thiết thường cầu tới.
Soi chiếu quang minh, phúc huệ tăng.

Xưa đến thọ ký, Phật Thích Ca.
Phó thác ân cần, A Di Đà.
Di Lặc Bồ Tát ban hồng quán.
Liên Hoa Đại Sĩ mật pháp truyền.
Thánh Tôn xin thỉnh đừng quên nguyện.
Cứu độ chúng sinh chúng con đây.
Hộ niệm như thế xin nhiếp thọ.
Thành tựu nhanh nhanh thỉnh gia trì.

Nam mô Tỳ Lô Giá Na Phật.
Nam mô Phật Nhãn Phật Mẫu.
Nam mô Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Chân Phật hải hội thập phương tam thế chư Phật Bồ Tát Ma Ha Tát.

- Quán tứ vô lượng:

Quán tưởng bên trái hành giả là cha và người thân bên nội, bên phải hành giả là mẹ và người thân bên ngoại, sau lưng có ân nhân sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh vây xung quanh, cùng tu Mật pháp, cùng thành Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh và An thổ địa chân ngôn


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Nhất tâm phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát. 
Nam mô Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa.

Hoặc chắp tay cung kính niệm:
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tát cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kỳ diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê. 

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Mặc giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn. Quán tưởng Kim Cang Thủ Bồ Tát biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. 


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Phụng thỉnh bát đại Bồ Tát
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Kim Cang Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Diệu Cát Tường Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.

Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm thêm chú vãng sinh 


Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha.  (7 biến)


### Phần 9: Niệm kệ Tứ vô lượng tâm


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


Niệm văn phát bồ đề tâm (1 biến):

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim Cang Tâm (bài kệ và chú sám hối)


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: Trì Liên Hoa Đồng Tử tâm chú


Đầu tiên quán tưởng ba ánh sáng bao trùm gia trì, sau đó cầm chuỗi niệm hạt quán tưởng (hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái lần hạt). 

Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật đến trước mặt mình.

Liên Hoa Đồng Tử tâm chú: Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)

༄༅༎ཨོཾ་གུ་རུ་པདྨ་སམ་སིདི་ཧཱུྃ༎ 


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_4180030de505f41176b495e556d9cb20.jpg)


**Kết ấn: **

Hai tay đan nội phộc, riêng ngón cái tay phải giơ thẳng lên. 

Chủng tử tự: chữ Seh màu vàng.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Quán tưởng hư không óc một nguyệt luân màu xanh lam, trong nguyệt luân có chủng tử chữ Seh màu vàng phóng tỏa ánh sáng vàng.

(2) Trong nguyệt luân, chữ Seh xoay tròn, hóa thành Thánh Quan Âm. Thánh Quan Âm thân có hai tay, kim thân màu vàng nhạt, tay trái cầm hoa sen, tay phải ngón cái và ngón trỏ chạm vào nhau thành vòng tròn, ba ngón còn lại giơ thẳng.

(3) Quán tưởng Thiên tâm của Thánh Quan Âm phóng ra một đường ánh sáng trắng, chiếu đến Thiên tâm của chính mình, họng phóng ra một đường ánh sáng đỏ chiếu đến họng của mình, Tâm luân phóng ra một đường ánh sáng lam chiếu đến Tâm luân của mình. Ba ánh sáng trắng, đỏ, lam đi vào thân tâm chính mình.


### Phần 14: Trì tâm chú Thánh Quan Âm


Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt đều quán tưởng thành một vị Thánh Quan Âm đến trước mặt mình.

Chú ngữ: Ôm ma-ni-pát-mi-hùm. Ta-cha-pu-chưa ku-lu-ya sô-ha. (108 biến)


### Phần 15: Cửu tiết Phật phong, Nhập ngã ngã nhập, Nhập Tam ma địa


(1) Quán tưởng Thánh Quan Âm trụ tại Phạn huyệt ở đỉnh đầu mình.

(2) Trong thân mình, hoa sen trên Tâm luân ở trung  mạch nở ra, trên hoa sen có một nguyệt luân, trong nguyệt luân có chủng tử chữ Seh của Thánh  Quan Âm, chủng tử tự phóng tỏa ánh sáng vàng.

(3) Quán tưởng Thánh Quan Âm ở trên đỉnh đầu biến thành một viên ngọc ánh sáng to bằng hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trung mạch của chính mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống dưới, giáng xuống Tâm luân, tọa trên hoa sen ở Tâm luân.

(4) Thánh Quan Âm ở trên hoa sen trong Tâm luân của mình từ từ biến to ra, đến khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành giống hệt Thánh Quan Âm, mình chính là Thánh Quan Âm, không hai không khác.


### Phần 16: Xuất định



### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Vàng bạc tài bảo dùng không cạn.
Ngũ cốc hoa màu ăn không xuể.
Y phục ngũ sắc mặc không hết.

Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. xin đem công đức này hồi hướng. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Rời đàn thành, niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


![image](/img/img_523fc10716519e4c7eff25ff77b72d55.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Thánh Quan Âm:


Thánh Quan Âm có hai tay, kim thân màu vàng nhạt, tay trái cầm hoa sen, tay phải ngón cái và ngón trỏ chạm vào nhau thành vòng tròn, ba ngón còn lại giơ thẳng.


### Liên Sinh Hoạt Phật khai thị khẩu quyết tu pháp Thánh Quan Âm


Pháp Thánh Quan Âm Đệ Nhất Phú Hào trọng điểm nằm ở thủ ấn của Thánh Quan Âm, ngài kết thủ ấn “đệ nhất”. Thủ ấn là hai tay đan nội phộc, riêng ngón cái tay phải giơ thẳng lên, đây chính là người giàu có số một thiên hạ. Ngón cái tay phải giơ thẳng lên trời, mọi người phải hiểu đây là thủ ấn “số một thiên hạ”. 

Pháp Thánh Quan Âm thiên hạ đệ nhất phú hào có hai ý  nghĩa:
Thứ nhất: Bạn thành Phật Bồ Tát, đây là đệ nhất phú hào ở cõi trời.
Thứ hai: Trong cuộc đời ngắn ngủi tại thế giới Ta Bà, bạn có thể trở thành người giàu có số một ở nhân gian.

Báo danh làm chủ cầu, bạn tương ứng với Thánh Quan Âm, tự nhiên bạn sẽ đạt đến là người giàu số một trong thiên hạ. Người giàu số một ở cõi trời, người giàu số một ở nhân gian, bạn đều có thể đạt được, đây là Thánh Quan Âm đặc biệt từ bi chúng sinh, để bạn từ tham mà tu, đạt thành người giàu có số một.

Thủ ấn của ngài là thủ ấn thiên hạ đệ nhất phú hào, ấn này có thể lệnh cho toàn bộ Tài Thần trong thiên hạ đến giúp đỡ bạn. 

Trọng điểm thứ hai nằm ở chú ngữ. Chú ngữ là: “Ôm ma-ni-pát-mi-hùm. Ta-cha-pu-chưa ku-lu-ya sô-ha.”
“Ôm ma-ni-pát-mi-hùm” chính là Thánh Quan Âm.
”Ta-cha-pu-chưa” nghĩa là tất cả đại tư lương đầy đủ, đại tài phúc đầy đủ.
”Ku-lu-ya” là number one, số một.
”Sô-ha” nghĩa là viên mãn nguyện vọng này.
Bất kể hành giả trì tụng bao nhiêu biến chú ngữ, chỉ cần tu trì tương ứng rồi thì cả đời này bạn sẽ “phát”. Phát (tài) thế nào? Có tiền tiêu, tiêu không hết, tùy ý tiêu.

Nếu bạn tu pháp này thì tiền từ đâu đến? Đến từ trúng số! Đều sẽ trúng số.

Bạn tu pháp này, cúng phẩm cũng rất quan trọng. Nhất định phải cúng ba khay đồ rất đặc biệt. Khay thứ nhất là ngũ bảo, gồm: vàng, bạc, trân châu (ngọc trai), đá quý, thủy tinh. Khay thứ hai là vải lụa năm màu sắc, vải lụa hoặc vải tơ đều được. Khay thứ ba là ngũ cốc: gạo, lúa mì, đại mạch, tiểu mạch, đậu, vừng (mè).
Khi cúng dường, phải quán tưởng ngũ bảo biến vô cùng vô tận. Sau cùng khi hồi hướng phải niệm:
Vàng bạc tài bảo dùng không cạn.
Ngũ cốc hoa màu ăn không xuể.
Y phục ngũ sắc mặc không hết.
Các bước tu pháp hoàn toàn giống như các pháp tu Bổn tôn khác. Đời này không thành tựu thì đời sau chắc chắn thành tựu.

⁉️ Sau buổi pháp hội truyền thụ pháp này, rất nhiều đệ tử có thắc mắc, vì thế, Tông Ủy Hội Chân Phật Tông vào ngày 20.09.2023 đã thỉnh Sư Tôn chỉ thị, giải đáp, và vào ngày 25.09.2023, Tông Ủy Hội đã có thông báo chính thức như sau:

Q1: Xin hỏi xem đoạn video phát lại Căn bản Thượng sư ban quán đảnh pháp Thánh Quan Âm hoặc xem video toàn bộ pháp hội có phải là có được quán đảnh trực tiếp không?

A1: Xem video phát lại không thể coi là đã có được quán đảnh, chỉ có thể có sự gia trì. Nhưng, Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật có chỉ thị đặc biệt: (người có được pháp lưu, xem là đã được quán đảnh).

Chú ý 1: Nếu sau này có cơ duyên, tốt nhất là tự mình có thể thỉnh cầu Sư Tôn đích thân quán đảnh.

Chú ý 2: Theo quy định về Mật pháp mới được truyền lần đầu của tông phái chúng ta, phải đợi 6 tháng sau lần truyền pháp đầu tiên, đợi Tông Ủy Hội công bố liệu pháp này có thể quán đảnh từ xa được không, sau đó các bạn mới viết thư cầu quán đảnh từ xa.

Q2: Những cúng phẩm bắt buộc mà Căn bản Thượng sư đã truyền dạy, ngoài ngũ cốc ra, ngũ bảo và vải ngũ sắc, có cần mỗi lần tu một đàn pháp lại phải đổi cúng phẩm mới không?

A2: Người có nhiều tư lương (tức là có điều kiện tài chính), thì nửa tháng thay mới một lần. Người có ít tư lương thì ba tháng thay mới một lần.

Ba khay cúng phẩm (ngũ bảo, vải lụa ngũ sắc, ngũ cốc) thay mới cùng lúc. Thời gian thay mới do hành giả tự mình quyết định.

Q3: Vải lụa ngũ sắc có thể dùng chỉ ngũ sắc để thay thế không?

A3: Không được dùng chỉ ngũ sắc thay cho vải lụa ngũ sắc.

Q4: Cúng phẩm của pháp Thánh Quan Âm, về phương diện tài bảo vàng bạc, đá quý và thủy tinh có chỉ định số lượng bao nhiêu không? (1 cái hay là 5 cái) Về phương diện màu sắc thì là đá quý và thủy tinh 1 màu hay là 5 màu?

A4: Số lượng, màu sắc tùy ý.

Q5: Ba lại cúng phẩm quan trọng (vàng bạc tài bảo, ngũ cốc hoa màu và tơ lụa ngũ sắc) phải bày trên đàn thành như thế nào? Bày cùng với bát cúng hay sao? Hay là có cách bố đàn đặc biệt nào không? Ví dụ như đàn thành của Khổng Tước Minh Vương và Kỵ Long Bạch Tài Thần.

A5: Lấy ba khay riêng, bày ba loại cúng phẩm tại đàn thành để cúng dường là được.

Tông Ủy Hội Chân Phật Tông Thế Giới trân trọng kính báo.

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/that-phuc-than-niem-tung-phap.md
# Title: Thất Phúc Thần niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_8f2cd08bb560938e423ae8d14e33b49f.jpg)



## Thất Phúc Thần niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Thất Phúc Thần.

(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha.  


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_ca91a999057435df2327a0279aebb34b.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn Thất Phúc**** Thần**

Cổ tay phải đặt trước cổ tay trái, hai bàn tay úp lưng vào nhau, hai ngón cái giơ thẳng, các ngón tay còn lại giơ thẳng và đan vào nhau.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn trời xanh vạn dặm không mây, nguyệt luân từ mặt biển nhô lên hư không, trong nguyệt luân có chủng tử chữ “Hum” phóng tỏa ánh sáng màu vàng.

(2) Chữ “Hum” trong nguyệt luân xoay tròn, hóa thành một con thuyền báu xuất hiện trên mặt biển lớn, trên con thuyền báu có chở vô số vàng bạc tài bảo và bao gạo, thuyền báu chở bảy vị Phúc Thần: Huệ Bỉ Thọ, Biện Tài Thiên, Bì Sa Môn Thiên, Thọ Lão Nhân, Phúc Lộc Thọ, Đại Hắc Thiên, Bố Đại Hòa Thượng.

Huệ Bỉ Thọ là thần thương nghiệp, nét mặt tươi cười, có thể phù hộ kinh doanh hưng thịnh, hình tượng của ngài là mặc đồ săn bắt, tay phải cầm cần câu, tay trái ôm một cái đầu cá to.

Bì Sa Môn Thiên là thần tài của cõi trời, hình tượng của ngài là mặc áo giáp, một tay cầm bảo tháp, một tay cầm bảo kích.

Biện Tài Thiên là vị nữ thần duy nhất trong số bảy vị Phúc Thần, tinh thông âm luật, tài hùng biện vô ngại, hình tượng của ngài là đầu đội mũ tám hoa sen, ôm đàn tì bà.

Phúc Lộc Thọ là thần của phúc phần, hậu lộc, trường thọ, hình tượng của ngài giống với Tiên Ông Nam Cực của Trung Quốc, tay cầm tích trượng, thường làm bạn với chim hạc trắng.

Thọ Lão Nhân là thần trường thọ bất lão, là hóa thân của Đạo gia Lão Tử, hình tượng của ngài là mặt gầy râu dài, tay cầm bảo trượng, thường có hươu đi theo bầu bạn.

Đại Hắc Thiên là thần khai vận chiêu phúc, có thể đuổi ác thần, bảo vệ con người bình an, hình tượng của ngài là đầu đội khăn đen, vai khoác túi vải, tay cầm dùi vạn bảo có thể gõ ra vô tận tài phúc.

Bố Đại Hòa Thượng là thần hồng phúc cát tường, hình tượng của ngài là bụng to, mập mạp, cầm túi vải to.

(3) Quán tưởng bảy vị Phúc Thần giáng xuống đàn thành. Hành giả quán tưởng Huệ Bỉ Thọ trụ trên đỉnh luân của mình, Biện Tài Thiên, Bì Sa Môn Thiên trụ tại thượng nguyên cung (thượng đan điền) của mình, Thọ Lão Nhân, Phúc Lộc Thọ trụ tại trung nguyên cung (trung đan điền) của mình, Đại Hắc Thiên, Bố Đại Hòa Thượng trụ tại hạ nguyên cung (hạ đan điền) của mình.


![image](/img/img_c61be4bc1da5e4ffd99cccace880d27d.jpg)



### Phần 14: Trì tâm chú Thất Phúc Thần


Tâm chú: Ôm ma-ha-ka-la-ya sô-ha. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Hum), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Thất Phúc Thần, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.


![image](/img/img_6fc807347afeb0bc6e2901adf63e159c.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Thất Phúc Thần


Trên mặt biển lớn có một con thuyền báu chở vô số vàng bạc tài bảo và bao gạo, cùng với bảy vị Phúc Thần: Huệ Bỉ Thọ, Biện Tài Thiên, Bì Sa Môn Thiên, Thọ Lão Nhân, Phúc Lộc Thọ, Đại Hắc Thiên, Bố Đại Hòa Thượng.

Huệ Bỉ Thọ là thần thương nghiệp, nét mặt tươi cười, có thể phù hộ kinh doanh hưng thịnh, hình tượng của ngài là mặc đồ săn bắt, tay phải cầm cần câu, tay trái ôm một cái đầu cá to.

Bì Sa Môn Thiên là thần tài của cõi trời, hình tượng của ngài là mặc áo giáp, một tay cầm bảo tháp, một tay cầm bảo kích.

Biện Tài Thiên là vị nữ thần duy nhất trong số bảy vị Phúc Thần, tinh thông âm luật, tài hùng biện vô ngại, hình tượng của ngài là đầu đội mũ tám hoa sen, ôm đàn tì bà.

Phúc Lộc Thọ là thần của phúc phần, hậu lộc, trường thọ, hình tượng của ngài giống với Tiên Ông Nam Cực của Trung Quốc, tay cầm tích trượng, thường làm bạn với chim hạc trắng.

Thọ Lão Nhân là thần trường thọ bất lão, là hóa thân của Đạo gia Lão Tử, hình tượng của ngài là mặt gầy râu dài, tay cầm bảo trượng, thường có hươu đi theo bầu bạn.

Đại Hắc Thiên là thần khai vận chiêu phúc, có thể đuổi ác thần, bảo vệ con người bình an, hình tượng của ngài là đầu đội khăn đen, vai khoác túi vải, tay cầm dùi vạn bảo có thể gõ ra vô tận tài phúc.

Bố Đại Hòa Thượng là thần hồng phúc cát tường, hình tượng của ngài là bụng to, mập mạp, cầm túi vải to.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị lai lịch và sự thù thắng của Thất Phúc Thần


Thất Phúc Thần không có liên quan lớn với Nhật Bản, trong số bảy vị Phúc Thần, chỉ có một vị là Huệ Bỉ Thọ là Thổ Địa Công của Nhật Bản, còn sáu vị khác đều là thần của Trung Quốc.

Vị thứ nhất Huệ Bỉ Thọ là Thổ Địa Công của Nhật Bản.
Vị thứ hai Biện Tài Thiên chính là Diệu Âm Thiên, còn gọi là Tài Nghệ Thiên, là nữ thần duy nhất trong số bảy vị Phúc Thần.
Vị thứ ba là Bì Sa Môn Thiên, là Bắc Phương Đa Văn Thiên trong số Tứ Đại Thiên Vương của Trung Quốc.
Vị thứ tư là Phúc Lộc Thọ, ở Đài Loan thì nói Phúc Lộc Thọ là ba vị thần, ở đây thì Phúc Lộc Thọ hợp lại thành một vị thần, mang hình tướng Tiên Ông Nam Cực.
Vị thứ năm là Thọ Lão Nhân, thật ra chính là Lão Tử của Trung Quốc. Lão Tử là lão tổ sư của Đạo gia, địa vị rất cao. Thái Thượng Lão Quân, Nguyên Thủy Thiên Tôn, Thông Thiên Giáo Chủ chính là ba vị lão tổ sư của Đạo giáo, trong đó một vị biến thành Thọ Lão Nhân trong số bảy vị Phúc Thần của Nhật Bản. 
Vị thứ sáu là Đại Hắc Thiên, chính là Mahakala của Mật tông Tây Tạng. Đại Hắc Thiên ở Tây Tạng là một vị Kim Cang Thần rất hung ác, nhưng ở Nhật Bản thì lại biến thành một vị rất hiền hòa, cầm cái búa (cái dùi) của Thất Phúc Thần, ý nghĩa của cái búa này là càng gõ thì càng có tiền.
Vị thứ bảy là Bố Đại Hòa Thượng, thật ra Bố Đại Hòa Thượng là hóa thân của Di Lặc Bồ Tát, ngài có cái bụng to to, khuôn mặt tươi cười.

Ý nghĩa của Thất Phúc Thần chính là để tu Tư lương đạo, thỉnh cầu phúc báo của nhân gian, mà tu Tư lương đạo tức là để cho mọi người có tư lương trước, có phúc phần trước, thân thể khỏe mạnh, sống lâu, có nghệ thuật, có tài ăn nói, có âm nhạc… những thứ trên đều có thể độ hóa chúng sinh.

Cho nên có tiền có thể độ hóa chúng sinh, có phúc có thể độ hóa chúng sinh, có thân thể khỏe mạnh thì có thể độ hóa chúng sinh, có tuổi thọ, sức khỏe đều có thể độ hóa chúng sinh. Ý nghĩa của Thất Phúc Thần chính là ở đây. Nhập thế trước sau đó mới xuất thế.

Vì thế đầu tiên tu Tư lương đạo, Gia hành đạo, Kiến đạo, Tu đạo, Cứu cánh đạo, tu hành của Phật pháp có năm giai đoạn như vậy. Tư lương đạo nằm trong sự cai quản của Thất Phúc Thần, toàn bộ những điều trên đều gọi là Tư lương đạo.

“Thất thánh tài” trong Phật pháp chính là xuất thế, còn gọi là “pháp tài”. 
Bảy loại pháp tài là: Tín tài - bạn tin Phật giáo tức là biểu thị bạn có được loại tài này; sau khi tin tưởng Phật giáo rồi, bạn giữ giới luật, cái tài này gọi là Giới tài; bạn sám hối quá khứ, đây cũng gọi là làm việc tài, gọi là Sám tài; bạn đã ăn năn rồi, làm lại từ đầu, đây gọi là Quý tài [quý trong từ ăn năn hối lỗi]; bạn nghe được Phật pháp chính là Vấn tài; bạn làm công đức bố thí chính là Thí tài; bạn có được trí huệ của Phật gọi là Huệ tài. Đây chính là bảy loại pháp tài, xuất xứ từ kinh Pháp Cú. 

Về thủ ấn, bạn kết thủ ấn của Đại Hắc Thiên, chú  ngữ của Đại Hắc Thiên cũng làm chú chung của Thất Phúc Thần, đó là “Om mahakalaya soha”. 

Bất kể tu Đạo hay là học Phật, bạn phải biết cái gọi là tam điền tam cung, thượng đan điền ở mi tâm, trung đan điền ở tâm luân, hạ đan điền ở tề luân, đây gọi là tam điền tam cung.

Quán tưởng Huệ Bỉ Thọ ở trên đỉnh đầu, Biện Tài Thiên và Bì Sa Môn Thiên ở thượng nguyên cung, tâm luân chính là Thọ Lão Nhân và Phúc Lộc Thọ, ở bên dưới tề luân là Đại Hắc Thiên và Bố Đại Hòa Thượng. 

Khi bạn đã quán tưởng rõ ràng rồi, bạn hãy bắt đầu niệm chú của Đại Hắc Thiên, kết thủ ấn của Đại Hắc Thiên. Khi nhập tam ma địa, bạn hãy giữ suy tưởng bảy vị Phúc Thần ở các vị trí trên thân thể bạn. Đây là khẩu quyết lớn nhất mà hôm nay tôi giảng, khẩu quyết tu pháp chính là ở đây.

Có quán tưởng, có trì chú, có kết thủ ấn, có ba điều này thì sẽ trở thành một pháp của Mật giáo.

Pháp này là do Thất Phúc Thần đến dạy cho tôi, thượng nguyên cung chính là thượng đan điền, trung nguyên cung chính là trung đan điền, hạ nguyên cung chính là hạ đan điền, không có phân biệt lớn nhỏ. 

Tôi cũng rất có duyên với Thất Phúc Thần, bởi vì lo liệu cho pháp hội Thất Phúc Thần cho nên Thất Phúc Thần cũng bảy lần giáng lâm lên người tôi, nói cho tôi biết nơi mà các vị sống ở bộ phận nào trên thân thể. Bạn cần làm quán tưởng như vậy, nếu mà giữ được sự suy tưởng ấy lâu thì sẽ cực kì có duyên với Phúc Thần.

Trong số bảy vị Phúc Thần này, một mình Biện Tài Thiên đã là cực kì rồi, Biện Tài Thiên tức là rất giỏi biện luận, có thể đến đài truyền hình để làm người dẫn chương trình đó! Bạn thỉnh Biện Tài Thiên đến thượng nguyên cung của bạn thì tự nhiên bạn biết vẽ tranh, tự nhiên biết đánh dương cầm, đàn gì cũng biết, bởi vì ngài là Tài Nghệ Thiên Nữ, bạn sẽ có được rất nhiều tài nghệ. Hơn nữa Tài Nghệ Thiên Nữ còn cực kì xinh đẹp nữa, Tài Nghệ Thiên Nữ, Biện Tài Thiên Nữ, Diệu Âm Thiên Nữ hát rất giỏi, bạn sẽ trở nên hát rất hay, bạn sẽ trở thành người rất có tài nghệ, bạn sẽ trở thành người rất giỏi ăn nói. Chỉ riêng một vị thôi mà bạn đã hưởng phúc vô tận rồi. Còn có Bì Sa Môn Thiên nữa, cực kì giàu có đó! Tứ Thiên Vương là giàu có nhất trong thiên giới, có nhiều tiền nhất đó! Nếu bạn có thể duy trì suy tưởng Bì Sa Môn Thiên ở thượng nguyên cung của bạn thì tài phúc tương lai của bạn sẽ cực kì dồi dào.

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/the-than-phap-bai-giang-chi-tiet.md
# Title: Thế thân pháp - Bài giảng chi tiết
---

![image](/img/img_7c2bc625f6f38cc383e3f3559323656c.jpg)



## Thế thân pháp - Bài giảng chi tiết


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Bài giảng số 1


Tôi cùng mọi người nói về pháp thế thân.

Trong Chân Phật Mật Pháp có pháp thế thân. Phạm vi tác dụng của bản thân pháp thế thân rất rộng. Ví dụ, thân thể bạn có bệnh, muốn khỏi bệnh hoàn toàn, có thể dùng pháp thế thân. Vận khí của bạn không tốt, cảm thấy mình rất kém may mắn, bạn cũng có thể dùng pháp thế thân.

Phạm vi của pháp thế thân rất rộng, trong đó còn có rất nhiều tác dụng nữa. Nếu tôi từ từ giảng giải cho mọi người, mọi người sẽ hiểu rất rõ ràng.

Tên gọi pháp thế thân nghĩa là sao? Chính là sau khi làm xong một pháp rất thù thắng, sẽ dẹp bỏ được cái không tốt, gia tăng cái tốt. Ví dụ như loại bỏ hết những khí bẩn không tốt trên thân thể mình, tự mình gia tăng khí quang minh, khí tốt trên thân mình.

Trước đây tôi cũng đã nói qua về pháp thế thân trong Chân Phật Mật Pháp rồi, bây giờ chúng ta có thể nói chi tiết hơn một chút.

Ví dụ trong nhà có trẻ con buổi tối hay khóc, phải làm sao đây? Thực tế có phương pháp rất đơn giản, chính là một trong các pháp thế thân. Bạn chỉ cần đặt một bát cơm ở giường nơi đứa bé ngủ. Trên bát cơm cắm thêm ba nén hương, bạn cũng không cần nói gì cả, hoàn toàn không cần phải nói. Khi hương cháy được một nửa, bạn bất ngờ xuất hiện trong phòng, đem bát cơm này ra bên ngoài cửa sau, đổ bát cơm đi. Cắm hương ở bên ngoài cửa, đổ cơm đi. Buổi tối trẻ con đi ngủ sẽ được bình an, ngủ rất ngon.

🌟

Lý do của việc này là gì? Xem ra rất đơn giản, một bát cơm, đặt ở trên giường, cắm ba nén hương. Hương cháy một nửa, đem bát cơm này đổ ra ngoài cửa sau. Thực tế là trong toàn bộ pháp giới của chúng ta, đây là việc rất kì dị. Trẻ con buổi tối vô duyên vô cớ cứ khóc. Chúng ta dùng "con mắt tinh tường" để xem có cái gì đang quấy nhiễu đứa bé không, mắng bé, lại càng khiến nó khóc gào to hơn.

Bạn dùng một bát cơm, đặt trên giường đứa bé ngủ, thắp ba nén hương, là có ý nghĩa gì? Ý nghĩa ở đây chính là mời cái thứ gì đang quấy nhiễu đó đến ăn bát cơm đó.

Thế còn hương cháy một nửa nghĩa là sao? Là khi "cái thứ đó" ăn được một nửa, bạn dẫn "nó" đi ra xa khỏi cái giường. Cầm bát cơm ra ngoài cửa sau đổ đi, nghĩa là để cho "nó" ở bên ngoài cửa ăn, rời khỏi cái giường đó. Sau khi nó đã đi ra ngoài rồi, ăn cơm xong lại muốn đi vào trong phòng đó, theo như những lời dạy trong Phật giáo, cửa sau nhà chính là "tiễn". Cửa trước là "nghênh", cửa sau là "tiễn". Một khi đã tiễn nó đi rồi thì nó không đi vào trong nhà được nữa. Buổi tối khi đứa bé ngủ sẽ rất bình an.

Bởi vậy nếu trẻ con khóc buổi đêm, bạn không biết nguyên nhân, là do có thứ quấy nhiễu khiến nó khóc. Đây là một phương pháp rất đơn giản, nhưng cũng chính là một trong các pháp thế thân. Đây chỉ là một kỹ xảo rất đơn giản mà lại rất hiệu quả mà thôi.

Hoặc giả đứa bé không được khỏe, đương nhiên nếu có bệnh thì cũng là nguyên nhân khiến bé khóc. Nhưng giả dụ không phải là do mắc bệnh, hoàn toàn chỉ là cứ buổi đêm lại khóc, chúng ta gọi là "khóc dạ đề". Vậy thì hãy dùng cách này là có thể giải quyết được, đây chính là chỗ hiệu quả đầu tiên của phép thế thân.

🌟

Trên người có bệnh, cũng có thể dùng pháp thế thân. Người này có bệnh, sao lại có thể dùng thế thân đây? Trước đây tôi cũng từng dạy qua cho mọi người cách dùng pháp thế thân ra sao rồi.

Ví dụ bệnh do quỷ thần quấy nhiễu, hoặc là do phạm âm, bệnh rất đặc thù, bạn hãy thử mà xem, dùng pháp thế thân có thể tiêu trừ nghiệp chướng.

Tôi đã từng nói dùng một hình nhân giấy, vẽ thật đẹp. Bao gồm cả tên, địa chỉ, ngày tháng năm sinh, đều viết rõ ràng lên đó. Sau khi viết xong, cho người bệnh hà ba hơi vào hình nhân giấy. Cái hà hơi này phải lấy khí từ bên trong hà ra thật mạnh, không phải là thổi khí.

Sau đó cũng đem hình nhân giấy này đặt ra cửa sau, đốt cùng với giấy tiền vàng. Đây chính là pháp thế thân, cần phải đem các thứ bên trong thân thể bạn, bởi vì bạn đã hà khí lên người hình nhân giấy, trên người hình nhân giấy cũng đã để rất nhiều giấy tiền vàng. "Nó" một khi nhìn thấy có vàng, có tiền, "nó" sẽ đi theo khí mà thoát ra, sẽ bám vào người giấy. Sau đó, bạn đốt người giấy cùng với tiền vàng ở sau nhà, chính là "tiễn" đi. Dùng tiền giấy vàng và hình nhân giấy để tiễn cái thứ đó đi. Chỉ cần cái thứ này thoát đi khỏi thì thân thể bạn sẽ lập tức cảm thấy nhẹ nhõm.

🌟

Tôi nói "cái thứ đó" là cái thứ gì đây? Cái thứ đó trong tiếng anh gọi là Item, là một thứ gì đó, không phải là Đông Tây Nam Bắc. (Sư Tôn cười). (*trong tiếng Trung, từ đồ vật, thứ gì đó gọi là "dong xi", "dong xi" cũng chính là hai chữ Đông Tây - chỉ phương hướng, ghép lại, do vậy Sư Tôn cần giải thích rằng "dong xi" là một thứ gì đó, không phải là Đông Tây Nam Bắc.)

Cái thứ gì đó ở đây chính là nói về những bệnh do quỷ thần ám vào thân.

Trong Chân Phật Mật Pháp có pháp thế thân, trước đây người Đài Loan gọi là Thế thân tử, chính là những việc kiểu thế này. Bạn dùng pháp thế thân chính là thay thế cho bệnh trên người bạn. Đem những quỷ thần này ra cửa sau để tiễn đi.

Đương nhiên ở đây cũng có một chút kĩ xảo. Cần phải làm cho cái thứ quỷ thần này có thể bám lên hình nhân thế mạng, sau đó tiễn nó đi, đây chính là kỹ xảo đặc thù.

Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum!
Seattle Lôi Tạng Tự - 19/12/1997


### Bài giảng số 2


Chúng ta đã từng nói đến pháp thế thân.

Lần trước những gì chúng ta đã nói về pháp thế thân đều là những yếu nghĩa rất đơn giản. Cơ thể bạn có bệnh, vậy thì chúng ta làm pháp thế thân, làm cho bệnh trong người bạn chuyển sang hình nhân thế mạng. Sau đó tiễn nó đi từ cửa sau nhà.

Bởi vì bạn đã tiễn nguyên nhân gây bệnh trên thân thể bạn đi khỏi từ cửa sau, bệnh trong người bạn sẽ khỏi.

🌟

Nói về vấn đề khác, giả sử có người yểm bùa ngải lên bạn đi. Ở Malaysia, Indonesia có rất nhiều kiểu làm bùa ngải. Bùa ngải nghĩa là sao? Nghĩa là người ta yểm phép lên người bạn, nên gọi là giáng bùa ngải.

Những gì giáng lên người bạn là những thứ gì? Đó chính là "cái thứ đó". Vậy cần phải làm gì để đưa "cái thứ đó" đi khỏi? Chính là cần dùng pháp thế thân.

Cắt một hình người giấy, viết lên đó tên họ, ngày tháng năm sinh của bạn, sau đó dùng giấy tiền vàng và hương để dẫn "nó" ra ngoài.

Giả sử bạn biết niệm chú, vậy thì bạn niệm một ít "Nhiếp hồn chú", hà một hơi khí vào mặt của hình người giấy. Điều này sẽ dẫn "nó" ra ngoài bám vào người giấy và giấy tiền vàng, rồi tiễn đi từ cửa sau.

Cần chọn ngày "Trừ nhật", bởi vì bạn cần phải loại trừ bùa ngải. Hơn nữa phải làm sau giờ Ngọ, vào buổi chiều. Lực ảnh hưởng của buổi chiều đến phần "âm" tương đối mạnh. Sự xuất hiện của "âm" đều vào buổi chiều, nên gọi là "âm thời".

🌟

Nếu bạn biết được phương pháp của Mật giáo thì cũng có thể dùng "thu pháp".

Đem quần áo của người bệnh đặt lên trên đĩa gạo, do gạo đại diện cho vũ trụ, còn quần áo đại diện cho linh hồn của bạn. Lại đặt thêm tiền giấy vàng ở trên, rồi đặt người giấy lên. Nếu bạn hiểu cách làm thì tu pháp này liên tiếp ba ngày hoặc bảy ngày. Người hiểu Mật giáo, tu pháp bảy ngày. Bạn có thể tu Bổn tôn pháp. Bổn tôn gia trì cho thế thân này, gia trì cho chính bạn.

Sau đó sẽ làm cho "cái đó" đi ra và đến với hình thế thân của bạn. Sau khi tu pháp 7 ngày được viên mãn xong, lại đem tiễn "nó" ở cửa sau. Trước đón sau tiễn, phía trước là đón tiếp vào. Bạn thắp hương ở cửa trước, chính là mời vào. Bạn thắp hương ở cửa sau, chính là tiễn đi. Đây cũng chính là pháp thế thân.

🌟

Bí mật thành công mà tôi nói ở đây tùy vào năng lực dụng tâm của chính bạn. Bạn đi làm giúp người khác cũng được. Nếu người này có bệnh, mà là bệnh do quỷ thần gây ra, thì có thể dùng phương pháp này để trị. Một lần thế thân, hai lần thế thân, ba lần thế thân, cần tu bảy lần thế thân tổng cộng.

Ngoài ra bạn thỉnh Bổn tôn của bạn tới gia trì. Ví dụ bạn tu pháp Quan Âm, bạn thỉnh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát đến gia trì cho người bị bệnh và gia trì cho hình thế thân. Khi Bổn tôn đến, thỉnh Bổn tôn làm chủ, đem thứ "bùa ngải" kia chuyển sang hình thế thân.

🌟

Có một số người bệnh không thể hà hơi khí (cho chạy ra) hình nhân thế mạng. Ví dụ như người đã bị bệnh rất nặng, không thể nào hà hơi khí nổi, vậy thì ta sẽ "chà chà" lên ngực của người bệnh. Chính là bạn cầm hình thế thân áp vào ngực của người bệnh và chà sát ba cái. Bởi vì bạn đã niệm chú lên hình thế thân này rồi, cũng đã gia trì rồi nên bùa ngải trên người bệnh sẽ lập tức chuyển sang hình thế thân. Sau đó lại gia trì cho thế thân, hoặc tu pháp, rồi đem ra cửa sau mà tiễn "nó" đi. Tôi giải thích như vậy chắc hẳn cũng đã rõ ràng rồi.

Người mắc phải bệnh nhẹ thì bạn dùng pháp thế thân đơn giản là có thể trị được. Người mắc bệnh nặng thì bạn dùng pháp thế thân tu bảy ngày để làm giúp người đó. Thậm chí đối với bệnh cực nặng, bệnh cực kì hiểm nghèo, thì giúp người đó tu pháp bảy bảy bốn mươi chín ngày. 49 ngày thì sẽ được viên mãn, "nó" chắc chắn sẽ đi.

Khi bạn thỉnh Bổn tôn tới, Bổn tôn sẽ giúp bạn giải quyết. Bạn cũng lại biết được chìa khóa thành công của pháp thế thân, bạn biết niệm chú, gia trì cho hình thế thân, lại gia trì thêm cho cả người bệnh nữa. Hễ bị bỏ bùa ngải, hoặc bị phần âm ám lên người, bị quỷ thần ám vào người, pháp này đều sẽ làm "nó" phải rời đi.

🌟

Pháp thế thân chính là như vậy. Ngoài ra, còn có một phương pháp cũng là pháp thế thân. Nếu bạn biết chắc chắn rõ ràng có người đang muốn yểm bùa ngải lên bạn, thì bạn cần phòng bị như thế nào? Làm sao để bảo vệ mình?

Tất nhiên tôi cũng từng dạy mọi người rồi, buổi tối đi ngủ, chính mình phải biến hóa thành chày kim cương, khiến cho tất cả bùa ngải kia không có cách nào đi vào trong người bạn được.

Còn pháp đặc biệt khác nữa, nếu buổi tối khi đi ngủ, bạn dùng một chiếc thảm dệt bằng cọng rơm phủ lên trên người làm chăn. Bên trên tấm chăn lại đặt một tấm thảm nhỏ dệt bằng cọng rơm, rồi trên tấm thảm rơm lại đặt thêm một nắm gạo đã được gia trì, rắc lên trên đó, thì có thể chặn được bùa ngải. Lý do là gì? Nắm gạo này tượng trưng cho đất. Tấm thảm dệt bằng cọng rơm phủ lên thân tượng trưng cho "cái chết".

Khi cái thứ bùa ngải kia đi vào và nhìn thấy, mắt của "nó" sẽ bị thảm rơm và gạo che mất. "Nó" vừa nhìn sẽ "Yeah! Người mà ta muốn đi bắt nạt, người mà ta muốn đi làm hại, hóa ra đã chết từ lâu rồi." Bởi vì "nó" nhìn thấy thảm rơm, nhìn thấy "đất", lại che phủ lên người thì sẽ cho rằng người đó đã chết.

Người làm pháp kia ở trong nhà lại thêm rung chuông ding dong ding dong ding dong…

Cái thứ âm linh kia đến nhà của người kia xem thì Ok! Con người này đã chết rồi, chẳng cần làm gì nữa, "ta" về nhà thôi! Và thế là "nó" sẽ trở về lại nhà của pháp sư kia thôi. Vị pháp sư kia lại rung chuông ding dong ding dong ding dong. Chà, không cần phải đi nữa, chết hết cả rồi, tất cả đều chết sạch rồi, còn cần đi làm pháp làm gì nữa đâu.

🌟

Chính vì thế mà khi bạn biết chắc có người sẽ giáng bùa ngải lên mình, hoặc giả là lúc người nào đó làm hại bạn, bạn dùng pháp này sẽ tránh được bùa ngải. Đắp thêm một tấm thảm rơm, rồi lại rắc thêm một nắm gạo đã được gia trì, thỉnh cầu Bổn tôn gia trì cho bạn, thì sẽ không xảy ra chuyện gì cả, thân thể sẽ được bình yên. Pháp này gọi là pháp gì? Kì thực đây cũng được gọi là pháp thế thân, dùng chính mình để làm giả thành một thế thân đã chết.

Hôm nay tôi giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.


### Bài giảng số 3


Chúng ta lại nói tiếp về pháp thế thân.

Trong Phật pháp, tác dụng của pháp thế thân có thể ứng dụng trên mọi phương diện tu tập của hành giả. 

Ví dụ như pháp Sinh cơ. Pháp Sinh cơ nghĩa là gì? Sinh cơ là một phương pháp mà người và địa linh cùng bổ trợ cho nhau. Xét trong từ trường 360 độ, trong đó sẽ có hai phương vị là thuộc nhóm tương hợp với từ tính của bạn, thêm hai phương vị khác là thuộc về nhóm bài trừ với bạn. Những phương vị còn lại thì có tính bình thường. Khi chúng ta xem phong thủy, cần tìm phương hướng đặt bàn. Bình thường bạn ngồi ở một hướng này, nếu hướng đó hợp với phương hướng của bạn thì tinh thần của bạn sẽ rất vui vẻ, còn nếu không bạn sẽ cảm thấy chán chường. Nếu bạn ngồi vào hướng không hợp với bạn, bạn sẽ hay uể oải buồn chán. Do vậy có thể tận dụng vấn đề từ trường để hỗ trợ cho tinh thần và sức sống của mình. Đây là một phương pháp rất thù thắng.

Giống như Liên Hoa Sinh Đại Sĩ tìm một hang động đá để bế quan, mỗi hang động sẽ đều có địa khí. Đất có địa linh, địa linh có thể hỗ trợ cho linh tính (bản chất tâm linh) của thân thể bạn. Lấy địa linh hợp lại cùng với linh tính thân thể của bạn, trên phương diện tu hành, bạn có thể đạt được thành tựu nhanh hơn và cao hơn.

🌟

Tương tự vậy, pháp Sinh cơ cũng hỗ trợ cho việc tu hành, hỗ trợ con đường tu đạo. Thế nên tôi đã từng nói, cần lấy những thứ tượng trưng cho tinh thần như tóc, móng tay, quần áo mà bạn đã dùng lâu, bởi vì tinh thần của bạn lâu ngày đã bám vào tóc, móng tay, cũng giống như quần áo mà bạn đã mặc trên người. Khi tinh thần đã bám vào lâu rồi thì có thể dùng cho pháp thế thân.

Nếu bạn đem những thứ như mảnh quần áo, tóc, móng tay đặt ở nơi có linh khí, nhờ lực gia trì từ bản thân linh khí nơi này đã có từ trước, sẽ vô hình trung khiến sức sống của bạn và linh tính của bạn tăng lên rất nhiều. Hơn nữa việc này còn biến bản thân bạn trở nên có phúc phần. Đây cũng là một phương pháp liên quan đến từ trường. Tôi phát hiện ra rằng mỗi người chúng ta ngồi ở phương nào thì tự nhiên sẽ sinh ra một loại từ trường. Vì sao lại như vậy? Bởi vì bạn chỉ cần ngồi xuống là sẽ có một điểm, có điểm sẽ có hướng.

Bạn ở trong cả thế giới cõi Ta Bà này, cho dù bạn đi tới đâu cũng đều sinh ra một loại hướng. Vô hình trung, nếu từ tính của nam cực và bắc cực thường xuyên hợp với thân thể của bạn thì sự nghiệp của bạn sẽ thành công, việc tu hành của bạn cũng sẽ thành công. Nếu bạn thường xuyên cách xa hướng từ trường sinh mệnh của bạn, sự nghiệp của bạn sẽ thất bại, việc tu hành của bạn cũng sẽ thất bại giống như vậy. Đây là nguyên lí của pháp sinh cơ.

Khi bạn hiểu được Đạo của địa linh, bạn sẽ đi tìm một nơi để đào hố thật tốt, bạn đem những thứ sinh cơ của mình đặt vào trong đó. Cách làm này chính là một kiểu thế thân. Bạn đặt ở hai chỗ, thì sẽ là hai lần thế thân. Bạn đặt ở ba chỗ, thì sẽ là ba lần thế thân. Thế nên tôi đã từng có lần nói, ngày trước khi còn ở Đài Loan, bản thân Sư Tôn đã làm 12 thế thân, tương đương với 12 Sinh cơ. 12 Sinh cơ này luôn luôn nhận được một loại sức mạnh gia trì từ địa linh.

🌟

Bạn thấy đấy, tại Chân Phật Mật Uyển, tôi ngồi ở cái bàn ở đó viết sách, hướng đặt bàn vừa khéo là hợp hướng từ trường với sinh mệnh của tôi. Mỗi ngày tôi ngồi ở đây, hễ cầm bút lên là cảm hứng lại ào ào đổ tới. Tôi thường rất hiếm khi ngồi ở vị trí khác, vì ở chỗ khác hễ cầm bút lên là bộ não này lại kêu "tút tút", trong đầu liền trống rỗng, não cứ như dừng lại. Bởi vì nơi hợp với bạn sẽ hấp dẫn lực của bạn rất mạnh. Lực của chính bạn cùng với lực của phương hướng phối hợp hoàn toàn với nhau.

Trước năm 1982 tôi ở Đài Loan, tôi viết 39 cuốn sách. Sau khi đến Mỹ, tính cho đến thời điểm này, tôi đã viết được 126 cuốn sách. (ghi chú từ người dịch: bài giảng này vào năm 1997, tới tháng 5/2022, Tôn sư đã viết 289 cuốn sách). Trong vòng mấy năm ngắn ngủi này, ngày nào tôi cũng viết sách. Tinh thần này từ đâu mà có? Loại sức mạnh này sẽ kéo bạn, cứ kéo bạn. Năng lượng sống mạnh mẽ này của bạn trước nay sẽ không dừng lại, bạn sẽ không ngủ gật mỗi khi ngồi ở cái bàn đó. Sẽ không có chuyện hễ ngồi vào bàn là buồn ngủ hay người sẽ uể oải. Năng lượng sống vô cùng mạnh mẽ, đầu óc bạn vô cùng tỉnh táo, cảm hứng dâng trào như sóng nước vậy.

Đặc biệt lại có thêm bảo huyệt địa linh của Đài Loan, chính là sức mạnh từ 12 cái hố chôn Sinh cơ mà tôi đã làm, tiếp tục gia trì cho tôi. Sức mạnh đó luôn luôn gia trì lên người bạn. Phương hướng tốt, Sinh cơ tốt, đây đều là pháp thế thân cả.

🌟

Còn có một thứ gọi là Pháp bộc nhân. Pháp bộc nhân là gì? (Bộc nhân chính là người hầu.) Bạn làm vài hình thế thân, sau đó gửi vào hư không, những hình thế thân này sẽ đến phục vụ bạn. Đây chính là pháp bộc nhân cao siêu nhất. Pháp bộc nhân đương nhiên cũng là một loại pháp thế thân. Bởi vì bạn vẽ một hình thế thân, đó cũng chính là một phân thân của bạn. Bạn làm một cái thế thân, đây cũng chính là thế thân của chính bạn, đều sẽ đến để giúp đỡ bạn.

Những việc này đều rất ảo diệu, đương nhiên nội dung ở đây đều được gọi là pháp thế thân, đều thuộc về một dạng sức mạnh huyền mật. Vô hình trung, "nó" luôn hỗ trợ bạn. Pháp bộc nhân là như vậy. Pháp Sinh cơ thuộc về vấn đề địa lý. Pháp bộc nhân thuộc về sự linh ứng của hư không.

Hôm nay tôi giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.

**Ghi chú tới bạn đọc:**

Tôn sư mỗi năm tầm tháng 8, tháng 9 đều làm pháp Sinh cơ cho mọi đệ tử (và bất kì ai, kể cả không phải đệ tử của mình). Mỗi người gom lại một mảnh vải nhỏ (nếu thấm một chút xíu máu càng tốt), một ít tóc, móng chân móng tay rồi gửi sang Mỹ hoặc một địa điểm tập kết nào đó, ghi tên tuổi.

Sau đó Tôn sư chọn một vị trí địa linh, chôn các thế thân này xuống. Không những đây là pháp Sinh cơ bình thường, mà với pháp lực của mình, Sư Tôn còn gia trì và ban phước cho chỗ đó nữa, các chư thần, chư thiên, chư hộ pháp cũng sẽ tập trung ở khu vực này gia trì và yểm hộ.

Mỗi người cần kèm một phong bì đỏ, có thể cúng dường tùy hỷ, không quan trọng tới con số (ví dụ quý vị có thể cúng 50.000 VND, 100.000 VND hoặc ít hơn hay nhiều hơn tùy ý). Nên cúng dường (gieo Nhân) mới có thể nhận được Quả.

Càng nhiều năm tham gia, mỗi người sẽ càng có nhiều thế thân và sức hỗ trợ cho bản thân càng lớn. Nếu quý vị quan tâm, vui lòng theo dõi trang này cẩn thận, tới thời điểm đó của năm, chúng tôi sẽ thông báo tin tức và cách thức.

Sinh cơ là pháp Phong thủy thù thắng bậc nhất cho người còn sống, mạnh hơn phong thủy Dương trạch rất nhiều. Nó được xếp vào giữa Âm trạch và Dương trạch, và rất khó làm. Pháp rất nổi tiếng ở Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, thường được các vị đại gia tìm thầy phong thủy giỏi để làm rất nhiều, chi phí cực kì tốn kém. Sinh cơ không chỉ giúp thân thể khỏe mạnh, tinh thần tốt đẹp, mà còn cải vận, kinh doanh thuận lợi, mang lại phúc phần, tu tập nhanh chóng. Quý vị có thể tự tìm kiếm thông tin để tìm hiểu thêm.


### Bài giảng số 4


Chúng ta lại nói tiếp về pháp thế thân.

Tôi nói pháp sinh cơ cũng là pháp thế thân, bởi vì pháp này có sức mạnh gia trì của địa linh.

Giả sử bạn đi tìm một hang động trong núi để tu hành, tìm đến nơi có địa linh, địa khí, thì đó không tính là pháp thế thân. Bởi vì nơi đó trực tiếp gia trì lên thân thể chính bạn, không phải là thế thân. Còn trong pháp sinh cơ, bạn dùng những thứ tượng trưng cho sức mạnh tinh thần của thân thể bạn, đó là lông tóc, móng tay, quần áo, đặt vào một nơi có địa linh khí rất mạnh. Không phải trực tiếp chính bạn đến đó, mà là phần "thay thế" của bạn đến đó, đó chính là thế thân.

Trước đây tôi đã dạy mọi người về địa lý cơ sở. Có một bài kệ thế này:

*"Sau lưng là chỗ dựa
Hai bên che chắn ngoài
Ở giữa có chỗ lồi
Trước mặt nắng chiếu soi."*

Về mặt địa lý cơ sở là như vậy. Chúng ta tìm một nơi có địa lý tốt. Khi chúng ta nhìn mảnh đất mà có thể thấy chắc chắn ngay có khí tốt thì đó phải là sinh khí, là hoạt khí, là mãnh khí, không phải là tử khí, bại khí. Không có khí sẽ không có lực. Ngoài ra cần phải hiểu khí địa linh này cần phải tụ đúng ngay nơi đó, không được chảy đi mất. Khí mạnh quá cũng không tốt, khí yếu quá cũng không được. Nơi này được dùng để đào hố.

Sau lưng có chỗ dựa, nghĩa là phía sau có rồng bay tới, phía sau có khí địa linh rất lớn, đến tập hợp lại tại địa điểm là cái hố. Xung quanh phạm vi cái hố sinh ra một loại lực gia trì, chính là xung quanh được che chắn ôm ấp. Trước mặt có minh đường là có ánh sáng chiếu. Ở giữa ánh sáng chiếu mà có chỗ lồi phồng lên thì lại càng tôn quý. Có lực cực kì cát tường ở phía trước mặt, lại có ánh sáng chiếu tới, đây là nguyên tắc của địa linh.

Tuy nhiên không phải lúc nào một nơi có chỗ dựa phía sau cũng là nơi có khí địa linh, tuyệt đối không phải như vậy. Ngoài việc sau lưng có chỗ dựa, bạn cần xem cả hướng đi của khí địa linh. Lại còn cần chỉ ra được vị trí của nó. Lại cần quan tâm đến lực gia trì của khu vực xung quanh có tốt không, lực gia trì phía trước mặt có tốt không. Cuối cùng, bạn mới xem xét đến nơi có địa linh như vậy có hợp với hướng từ trường sinh mệnh của bạn hay không.

Pháp sinh cơ liên quan đến rất nhiều yếu tố, nhưng nói chung, tôi cho rằng khi tìm địa điểm ở Mỹ, nếu thấy có địa khí, phong cảnh phía trước đẹp, hợp với từ trường sinh mệnh thì cũng đương đối được rồi.

Còn điều này rất quan trọng, ở Mỹ thì cách này gọi là Âm trạch. Bạn dù đi rất nhiều nơi nhưng để tìm ra một nơi hợp địa linh lại viên mãn 100% ở Mỹ là rất khó. Do vậy đối với pháp Sinh cơ, chúng ta chắc chắn cần có nhiều sự hiểu biết (để đáp ứng thay đổi tùy cơ). Giống như khi chúng ta xem Dương trạch, nếu bạn biết thì các thầy Âm trạch gọi là làm Nhập địa nhãn. Mắt của bạn không phải nhìn những biểu hiện bên ngoài của đất, mà hoàn toàn phải đi vào bên trong để nhìn ra linh khí của nó.

Theo nguyên tắc này, khi có rồng bay tới, khí tập hợp lại ở nơi nào, đó chính là nơi đào hố. Hai bên có che chắn, rồng, hổ cùng canh giữ. Nước chảy hữu tình, hơn nữa đi vào minh đường, phương hướng hợp với hướng từ trường sinh mệnh.

Sau khi tìm được nơi tốt để làm sinh cơ, bạn đặt sinh cơ vào trong hố. Trong cõi vô hình bạn sẽ có được sự gia trì của định linh lên thân thể của bạn. Nếu bạn làm vài cái sinh cơ, tổng hợp địa khí sẽ tập hợp lại trên người bạn, thân thể bạn sẽ trở nên khỏe mạnh, sức sống của bạn cũng sẽ mạnh mẽ, bạn sẽ luôn không ngừng phấn đấu. Bạn sẽ luôn có năng lượng, sức mạnh sẽ sinh ra trên thân thể của chính bạn. 

Bạn tu hành, tu pháp tinh tấn không mệt mỏi. Lúc này bạn có thể cải biến vận mệnh của chính mình. Cải biến vận mệnh hoàn toàn không phải là ngồi ở đó đợi vận mệnh thay đổi, mà là tự bản thân bạn trong quá trình phấn đấu sẽ có thêm sức mạnh này ở phía sau hỗ trợ. Pháp sinh cơ chính là pháp thế thân.

Tôi cũng nhấn mạnh rằng vị trí chỗ ngồi rất quan trọng. Chỗ ngồi là một yếu tố định hướng trong phong thủy. Mỗi ngày bạn đều ngồi ở bàn làm việc vài tiếng đồng hồ. Nếu bạn có thể làm cho chỗ ngồi ở bàn làm việc hợp với hướng từ trường sinh mệnh của bạn thì tín tâm của bạn cũng sẽ được nhân lên nhiều lần. Một cách tự nhiên, bạn sẽ nỗ lực, bạn sẽ tinh tấn không biết mệt mỏi, bạn sẽ đạt được thành tựu của chính mình.

Lựa chọn hang động đá cũng giống như vậy, các bạn muốn bế quan, thì cần tìm một hang động tốt. Cần có địa khí, có năng lượng, hơn nữa có thể đóng kín lại được. Nơi này lại cần hợp với hướng của bạn. Nếu thực sự có được nơi hoàn hảo như vậy thì đúng là thiên đường do trời đất tạo ra. Cứ ở đó tu, đến khi bạn thành tựu, kim quang sẽ từ bên trong động chiếu ra ngoài, cả người sẽ bay lên giữa ban ngày. Chỗ này trở thành nơi Động thiên Phúc địa của bạn.

Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát đã chọn Ngũ Đài Sơn. Ngũ Đài đó chính là năm búi tóc của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, năm búi tóc chính là ngũ đài của ngài. Cả ngọn núi là Động thiên Phúc địa của ngài, cũng là đạo tràng của ngài, lại cũng là sự biến hóa của chính Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. Một, hai, ba, bốn, năm búi tóc của ngài chính là sự hóa hiện của chính ngài, đại địa chính là thân của ngài.

Om mani padme hum!


### Bài giảng số 5


Có hai câu chuyện xưa, tôi kể sơ qua cho mọi người như sau:

**Chuyện thứ nhất:**

Thuật xem bói bốc quẻ bát quái của Chu Văn Vương nổi tiếng khắp thiên hạ. Văn Vương vốn cũng nghiên cứu sâu các kĩ thuật khác, trong đó có nhập tam muội, bởi vậy nhiều chuyện chưa cần xem đã biết.

Vào thời của Văn Vương, ngài có thể "họa địa vi lao", nghĩa là ngài vẽ một vòng tròn xung quanh tội phạm bị bắt quả tang, ra lệnh cho phạm nhân ngồi vào trong, không được chạy ra ngoài. Thứ nhất, việc này thể hiện rằng người dân thời đó rất trung thực đơn thuần, nghiêm túc tuân thủ luật pháp. Thứ hai, người dân thời đó ai ai cũng biết ngài Văn Vương bốc quẻ bát quái rất lợi hại, cho dù có tìm cách chạy trốn cũng không thể thoát khỏi quẻ bói của Văn Vương. Văn Vương có thể bói quẻ bát quái mà biết được bạn chạy trốn hướng nào, đã chạy bao xa, lẩn trốn ở đâu, đoán đâu trúng đó, linh nghiệm vô cùng. Do vậy phạm nhân đều không dám chạy trốn.

Có lần, một người tiều phu vác củi vào thành, bởi vì phải né tránh nên đã bất cẩn va vào đầu người đi đường. Kết quả là người kia bất ngờ chết, đây là tội vô tình giết người. Khi đó vừa hay Văn Vương đi ngang qua, thế là người tiều phu liền dính ngay "họa địa vi lao".

Đúng lúc đó, Khương Tử Nha cũng đi qua, thấy phạm nhân đang ngồi khóc. Gia cảnh của phạm nhân khiến người ta phải cảm thương, bởi vậy ông bày cách cho phạm nhân trốn đến nước khác, nhưng phạm nhân sợ Văn Vương bốc quẻ.

Khương Tử Nha đáp:"Đừng sợ, bát quái của Văn Vương mặc dù rất linh, nhưng tôi có pháp thế thân."

Khương Tử Nha dạy phạm nhân trước tiên tết một hình nộm bằng rơm, bên trong có giấu tóc và móng tay. Vào một lúc nào đó trong ngày, đứng trên rìa vách đá, làm pháp, ném người rơm xuống đáy vách đá. Sau đó đem mẹ già chạy sang nước khác.

Phạm nhân nghe Khương Tử Nha nói xong liền bỏ trốn khỏi vòng tròn. Văn Vương trở lại con đường đó, hình vẽ vẫn còn nhưng người thì đã biến mất nên rất tức giận. Văn Vương trở về hoàng cung, bày hương án ra, bốc một quẻ bói thì có được kết quả là: "Phạm nhân này đã tự tử để thoát khỏi hình phạt, tự đâm đầu xuống vách núi mà chết rồi."

Văn Vương thở dài một hơi, không tiếp tục truy tìm phạm nhân nữa.

🌟

**Chuyện thứ hai:**

Có hai người là bạn thân. Một người chết trước, còn người kia là thầy địa lý có danh tiếng, thầy liền thay bạn chọn vị trí đặt ngôi mộ, phía trước hướng mặt về dòng sông chín khúc, lưng dựa vào dãy núi nghìn dặm, các ngọn núi hai bên trái phải đều được bao quanh bởi phong thủy tốt.

Đêm đó thầy địa lý thắp đèn đọc sách, đột nhiên một cơn gió lạnh thổi đến mang âm thanh thê lương, rồi thầy nhìn thấy trong ánh đèn có một người lúc hiện lúc ẩn, hơn nữa còn nghe tiếng khóc thảm thương.

Thầy địa lý lớn tiếng hỏi: "Ai đó?" - Đối phương đáp: "Là tôi." Thầy địa lý lại hỏi: "Anh đã chết rồi, hôm nay lại đến đây, là vì nguyên cớ gì?"

Người bạn đã chết đáp: "Địa lý mà anh chọn đặt mộ tôi có thể nói là mười phân vẹn mười, nhưng ở gần đó có ngôi mộ của một kẻ lưu manh, hắn là thủ lĩnh xã hội đen, linh hồn cực kì hung ác. Tôi mới chôn xuống, hắn liền đến bắt nạt. Có bảy, tám tên thuộc hạ dưới tay hắn, tôi không phải là đối thủ. Bọn chúng cho rằng tôi đã chiếm chỗ phong thủy tốt của bọn chúng." "Làm sao để giúp anh?" "Mau dùng pháp thế thân, kết hình nhân bằng rơm, dùng chỉ màu làm quần áo, tay cầm vũ khí, chọn một ngày đốt trước mộ tôi, làm khoảng hai chục người, như vậy chắc chắn sẽ đánh thắng."

Thầy địa lý là người hiểu về pháp thế thân, ông bèn làm 20 hình nhân bằng rơm, đặt xung quanh phần mộ của người bạn đã chết, trên tay các hình nộm đều cầm gươm đao, sau khi ông làm phép thuật xong thì đốt. Tối đó vào khoảng canh hai, tiếng sấm chớp vang rền, âm thanh tiếng đánh nhau không ngớt.

Ngày hôm sau, thầy địa lý lên núi kiểm tra phong thủy nơi ngôi mộ người bạn thì thấy mọi thứ rất tốt đẹp. Gần đó có một ngôi mộ, những cây tùng cây bách xung quanh đều bị nhổ bật gốc, mộ sụp xuống, đất ngôi mộ nứt ra văng lung tung phía trước mộ.

Linh hồn của tên lưu manh từ đó cũng không còn nữa! Thầy địa lý hỏi người sống ở gần đó, quả nhiên họ nói chủ nhân của ngôi mộ đó lúc còn sống là một tên đại lưu manh. Họ còn kể, tối hôm đó, có tiếng người hò hét, tiếng đánh nhau không ngớt, hôm sau thì thấy phần mộ bị lật tung lên rồi.

🌟

Hai câu chuyện này có ý nghĩa rất sâu xa, giải thích rất rõ ràng cho pháp thế thân. Công dụng của pháp thế thân cực kì rộng.

- Có thể tránh được họa và tai nạn.

- Có thể gia tăng pháp lực.

- Có thể phá vỡ tà thuật do người khác giáng đầu mình.

- Có thể tiêu trừ bệnh tật (bệnh do âm linh hoặc các lý do khác).

- Có thể ẩn thân, ve sầu thoát xác.

- Có thể giúp việc kinh doanh thịnh vượng.

- Có thể giải trừ ác mộng, mất ngủ.

- Trên phương diện phong thủy, có thể giải bỏ việc trùng tang, người thân liên tiếp qua đời.

- Nhiều việc khác nữa.

Trong Mật giáo hoặc Đạo giáo, tu pháp thế thân đến giai đoạn cao nhất, có thể đạt được "thân ngoài hóa thân". Tôn Ngộ Không trong Tây Du Kí nhổ ra vài cái lông khỉ, thổi một hơi khí, liền biến thành nghìn nghìn vạn vạn Tôn Ngộ Không, đây cũng là pháp thế thân. Việc rắc đậu thành binh hay cắt giấy làm hình người của Đạo gia cũng là pháp thế thân.

🌟

Đây là pháp thế thân do Liễu Minh Hòa Thượng của Mật tông Hồng giáo truyền dạy.

Trong Mật giáo pháp thế thân tu đại ý như sau:
Tụng thần chú: Sang-ha rưa-na ben-za.
Hít thở, giữ khí lại ở mũi thành một khối Kim cương. (Đây chính là tập hợp các thân Kim cương vi tế.) Sau khi thành tựu xong thân Kim Cương vi tế. 
Thì tụng thần chú: Sa-pa-rưa ben-za.
Tương tự như gió thổi bụi bay đi, bạn phân tán các thân kim cương vi tế đến khắp mọi nơi trong tam giới. Điều này được viết trong cuốn "Sơ phẩm": "Nếu thân kim cương vi tế xuất hiện trạng thái cảm xúc vui, thì những thân tương ứng của nó ở khắp nơi cũng xuất hiện tâm tương ứng này, tâm tùy theo ý muốn có thể ở khắp nơi, thậm chí khắp tam giới."

Tôi nói cho mọi người biết rằng: "Thân kim cương vi tế này là thế thân, cũng chính là phân thân." Pháp tu này nhất định cần được Căn bản Thượng sư hướng dẫn cẩn thận mới được làm.

**(Hết)**

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/thich-ca-mau-ni-phat-niem-tung-phap.md
# Title: Thích Ca Mâu Ni Phật niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_a576cb96cd0ace8e3bd38c7851ae83aa.jpg)



## Thích Ca Mâu Ni Phật Bổn tôn pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Thỉnh cầu Căn bản Truyền thừa gia trì. Tay kết thủ ấn Căn bản Thượng sư, quán tưởng Căn bản Thượng sư phóng ba ánh sáng trắng, đỏ, lam chiếu đến hành giả, gia trì hành giả tu pháp viên mãn. Niệm chú Căn bản Thượng sư 7 lần. Niệm văn cầu thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật gia trì 1 lần. 

- Quán tứ vô lượng tâm.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (x3)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tát cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê. 

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Mặc giáp hộ thân


Kết thủ ấn chắp tay kim cang, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cang thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Phụng thỉnh bát đại Bồ Tát
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Kim Cang Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Diệu Cát Tường Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.

Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ thất Phật. Vị lai hiền kiếp thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Niệm danh hiệu Phật sáu phương
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyệt Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Hết thảy chúng sinh trung ương, chư vị trong Phật giới, trú ngụ trên mặt đất, cho đến tại không trung, thương lo cho tất cả chúng sinh. Ai cũng an ổn tốt lành. Ngày đêm tu trì. Tâm thường cầu tụng kinh này. Diệt được khổ sinh tử. Tiêu trừ hết độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Tụng bản kinh không ngừng. Thất Phật Thế Tôn. Liền nói chú sau:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-lô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-ki-a-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha” (7 lần)

Mười phương Quan Thế Âm. Hết thảy chư Bồ Tát.
Đã thề cứu chúng sinh. Xướng danh tất giải thoát.

Nếu gặp người trí tuệ. Ân cần mà giảng nói.
Lại có đủ nhân duyên. Đọc tụng không ngơi nghỉ.
Tụng kinh tròn nghìn biến. Niệm niệm tâm không dừng.
Gặp lửa cháy chẳng sao. Việc đao binh cũng thoát.
Nóng giận thành vui vẻ. Chết rồi hóa sống vui.
Đừng nghĩ rằng không đúng. Chư Phật chẳng nói chơi.
Cao Vương Quan Thế Âm. Cứu được hết khổ nạn.
Lúc khó khăn nguy cấp. Người chết còn thành sống.
Chư Phật chẳng nói đùa. Vì vậy nên đảnh lễ.
Niệm tụng trọn nghìn lần. Tội nặng đều tiêu diệt.
Người có phúc tín tâm. Hãy chuyên tâm đọc tụng.

Nguyện mang công đức này. Gửi tới hết chúng sinh.
Tụng tròn một nghìn biến. Tội nặng đều tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (Hết)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 10: Kết ấn và Quán tưởng tam quang bao trùm



![image](/img/img_980491b04b267f637b5bebf2ec9bc2a8.jpg)


**Kết ấn: Thủ ấn Thích Ca Mâu Ni Phật**

1. Nội tam sơn ấn: hai tay chắp lại, ngón cái, ngón giữa, ngón út dựng thẳng chạm vào nhau, ngón trỏ và ngón áp út cong vào bên trong lòng bàn tay. 

1. Ngoại phộc tam sơn ấn: hai tay đan ngoại phộc, ngón cái, ngón giữa, ngón út dựng thẳng chạm vào nhau. 

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời trong vạn dặm không mây, một vầng mặt trăng từ dưới biển nhô lên không trung, ở chính giữa vầng mặt trăng có một chủng tự chữ Ho (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu vàng kim tỏa sáng mạnh mẽ.

(2) Chữ Ho ở giữa vầng mặt trăng quay tròn hóa thành Thích Ca Mâu Ni Phật. Thân của Thích Ca Mâu Ni Phật thuần màu vàng kim, tay phải chạm xuống đất, tay trái kết định ấn, ở trên ấn nâng một cái bát đựng đầy cam lộ (hoặc hai tay cùng nâng bát cam lộ), trên thân mặc tam y của người xuất gia, tướng mạo trang nghiêm viên mãn, quang minh trong trẻo lấp lánh, thân thể giống như ngọc lưu li, ngồi trên tòa hoa sen trắng nhập định trong ánh sáng cát tường.

(3) Thiên tâm của Thích Ca Mâu Ni Phật phóng ra một đường ánh sáng trắng, chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả. Vị trí họng của ngài phóng ra một đường ánh sáng đỏ, chiếu thẳng đến họng của hành giả. Tâm luân của ngài phóng ra một đường ánh sáng xanh lam, chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng trắng, đỏ, lam hòa tan vào trong thân tâm của hành giả, gia trì cho hành giả.

(4) Quán tưởng nước trong bình cam lộ hóa thành một đường ánh sáng trắng, bay lên không trung, đi thành đường cong chiếu xuống chỗ hành giả đang ngồi im, ánh sáng trắng từ đỉnh đầu đi xuống, hành giả tọa định trong vùng ánh sáng trắng.


### Phần 11: Trì tâm chú Thích Ca Mâu Ni Phật


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Thích Ca Mâu Ni Phật đến trước mặt mình.

**Chú ngữ:**

Ôm mô-ni mô-ni ma-ha mô-ni sê-kya-mô-ni sô-ha. (108 biến)


### Phần 12: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Ho), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Bổn tôn Thích Ca Mâu Ni Phật, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 13: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 


### Phần 14: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-tê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 15: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (x3)


### Phần 16: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 17: Hồi hướng


Gia trì tu pháp đạt thành tựu
Trăm bệnh tiêu trừ phúc huệ tăng
Mong cùng Bổn tôn hợp làm một
Chúng sinh thế giới được an vui.

Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. xin đem công đức này hồi hướng. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 18: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 19: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


![image](/img/img_9a993731b95f4d72e63cfa78ba2789f1.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Thích Ca Mâu Ni Phật


Thân của Thích Ca Mâu Ni Phật thuần màu vàng kim, tay phải chạm xuống đất, tay trái kết định ấn, ở trên ấn nâng một cái bát đựng đầy cam lộ (hoặc hai tay cùng nâng bát cam lộ), trên thân mặc tam y của người xuất gia, tướng mạo trang nghiêm viên mãn, quang minh trong trẻo lấp lánh, thân thể giống như ngọc lưu li, ngồi trên tòa hoa sen trắng nhập định trong ánh sáng cát tường.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị lai lịch thù thắng của Thích Ca Mâu Ni Phật


Thích Ca Mâu Ni Phật là giáo chủ Phật giáo, Thích Ca là họ của ngài, chính là tên của một gia tộc - tộc Thích Ca. Hai chữ Mâu Ni chính là “năng nhân”, nghĩa là có thể làm một vị Thánh giả nhân từ trên thế gian thiên thượng nhân gian, ý nghĩa là một Thánh giả sinh ra trong gia tộc Thích Ca. 

Bất kể là Hiển giáo hay Mật giáo đều tôn sùng Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. 

Thích Ca Mâu Ni Phật trong hai bộ mandala của Mật giáo, Thai Tạng Giới lấy Thích Ca Mâu Ni Phật làm chủ tôn, trong Kim Cương Giới thì đứng cùng với Bất Không Thành Tựu Phật. Theo như Kinh Đại Nhật viết: “Thích Ca Mâu Ni toàn thân hiện màu vàng kim, có đầy đủ sự rực rỡ của 32 tướng, khoác áo cà sa màu vàng sậm, ngồi trên hoa sen trắng, ứng thân thuyết pháp.”

Thích Ca Mâu Ni Phật có tên gọi trong nhà là Siddhartha Gautama, đản sinh ngày 8/4 bên dưới cây Vô Ưu tại khu vườn Lumbini. Là châu Diêm Phù Đề, nước Ca Tì La Vệ, gia tộc Thích Ca, phụ thân là vua Tịnh Phạn, mẫu thân là vương hậu Maya, 29 tuổi xuất gia, 35 tuổi thành đạo, thuyết pháp khoảng 45 năm, hơn 300 pháp hội giảng kinh, thiên nhân mà ngài đã độ là không thể tính đếm. Khoảng vào năm 543 trước Công Nguyên, ở dưới hai cây sala bên bờ sông Bạt Đề, ngài đã viên tịch nhập diệt, thọ 80 tuổi.

Thích Ca Mâu Ni Phật đầu tiên đã độ hóa năm tì kheo Kiều Trần Như, sau đó độ Tam Ca Diếp và rất nhiều Quốc vương và đệ tử khác. Ngài thường đi đi lại lại giữa các nước Ma Kiệt Đà, nước Kiêu Tát La, nước Tì Xá Li để thuyết pháp.

Câu chú của Thích Ca Mâu Ni Phật là “Om muni muni mahamuni sakyamuni soha.” Ý nghĩa chính là “Năng nhân, có thể thực hành nhân từ lớn nhất, thánh giả.”

Những giáo huấn của Thích Ca Mâu Ni Phật vô cùng vĩ đại, đối với Tiểu thừa, vào lần chuyển pháp luân đầu tiên ở vườn Lộc Uyển, ngài đã dạy khổ-tập-diệt-đạo, khổ-tập-diệt-đạo chính là bốn Thánh đế của Tiểu thừa.

Ý nghĩa của khổ-tập-diệt-đạo là sống trên đời có rất nhiều phiền não, rất nhiều đau khổ. Niềm vui cũng có nhưng không nhiều. Trên thế giới này, cuối cùng đều quy về diệt, nghĩa là đều sẽ tiêu tan. Đến khi diệt rồi, trước lúc bạn tiêu tan đi, bạn đã giác ngộ được diệt, vào lúc đó, bạn  mới có thể chứng ngộ đạo lí của Phật.

Vì thế trên đời không có niềm vui chân chính. Nói chung, niềm vui đều rất ngắn ngủi, khổ thì tương đối nhiều.

Bạn thu gom toàn bộ khổ lại, cuối cùng là không khổ không lạc, tức là diệt rồi, không còn nữa, khi ấy bạn mới có thể chứng đạo. Đây chính là khổ-tập-diệt-đạo mà đã thuyết pháp cho Tiểu thừa trong lần chuyển pháp luân đầu tiên.

Lần chuyển pháp luân thứ hai, Thích Tôn đã dạy Bát Nhã thừa - Ma ha bát nhã ba la mật đa thừa, đây cũng là pháp mà Thích Ca Mâu Ni Phật dạy, chính là lục độ vạn hành. Bạn làm một Bồ Tát, một người phải lợi tha, một người phải hoán đổi mình với người khác, một người phải bình đẳng, phát bồ đề tâm cứu độ chúng sinh, đây chính là Ma ha bát nhã ba la mật đa thừa, chính là Bồ Tát thừa.

Muốn trở thành một Bồ Tát, bạn phải dùng pháp lục độ là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, thiền định, tinh tấn, trí huệ để độ hóa chúng sinh. Đây chính là Bồ Tát thừa mà Thích Ca Mâu Ni Phật giảng. Bồ Tát thừa lấy việc phát bồ đề tâm làm chủ, bồ đề tâm còn được gọi là bình đẳng, chúng sinh đều bình đẳng. Sư Tôn và mọi người đều bình đẳng, bất kì người nào cũng có Phật tính.

Lợi tha, là không nghĩ cho bản thân, mà nghĩ cho chúng sinh, nghĩ cho người khác, tức là lợi tha. 

Hoán đổi mình với người khác chính là điều mà Khổng Tử nói: “Điều mình không muốn thì đừng làm với người khác.” Bạn có sẵn lòng bị người ta phỉ báng không? Không sẵn lòng. Vậy thì bạn đừng phỉ báng người khác, làm trái điều này thì không phải là Phật pháp. Thứ mà bản thân không muốn thì đừng cho người khác, đừng thêm vào người khác, khiến người ta đau khổ thêm. 

Tôi đã từng nói phải biết tri ân, nhớ ơn của cha mẹ. Bạn làm sao mà lớn lên, không có cha mẹ bạn có thể trưởng thành không? Không thể nào, không thể. Cha mẹ sinh ra ta, cha mẹ giáo dục ta, thậm chí là người nuôi nấng bạn, mặc dù không phải là cha mẹ, nhưng cũng không khác gì cha mẹ. Cho nên phải biết tri ân đó! Phải biết cảm niệm cái ơn này! Đến cuối cùng phải báo ơn, đây chính là đạo lí mà bản thân Đức Phật đã giảng.

Thích Tôn cũng trong thời gian này đã dạy về Duyên Giác, tất cả chân lí giác ngộ thế gian, có pháp 12 nhân duyên, khi đắc đạo thì được gọi là Duyên Giác. Đây cũng là điều Thích Ca Mâu Ni Phật đã dạy.

Sự vĩ đại của Phật, ba lần ngài chuyển pháp luân, lần chuyển cuối cùng chính là thuộc về Bí mật thừa, ngài dạy bạn thành Phật, dạy bạn minh tâm, dạy bạn kiến tính. Đây đều là do Thích Ca Mâu Ni Phật giảng, chỗ vĩ đại của ngài chính là ở đây. Có ba trọng điểm, trọng điểm thứ nhất là xuất li tâm, quan trọng nhất. Rõ ràng bạn biết rằng thế giới Ta Bà rất khổ, có theo đuổi cái gì cũng đều không có tác dụng, đều không có được, vô sở đắc, trong Tâm Kinh đã nói rồi, “dĩ vô sở đắc cố, Bồ Đề Tát Đỏa”. Bởi vì bạn không có được cái gì nên mới trở thành một Bồ Tát.

Thích Ca Mâu Ni Phật giảng như vậy, lẽ nào bạn không biết thế gian này là vô sở đắc, cái gì cũng đều không có được sao? Bởi vì bạn vô sở đắc, nên khi bạn biết là vô sở đắc rồi, bạn mới có thể đốn ngộ, trở thành Bồ Tát lợi tha chân chính.

Vì thế mọi người cũng đừng tranh tới tranh lui, trên thế gian có những chuyện thị phi, đều là vì hai chữ đấu và tranh. Nếu có tâm bình đẳng, tâm lợi tha, hoán đổi mình với người khác, đến cuối cùng, khi bạn đã hiểu tất cả mọi thứ của thế gian, vì vô sở đắc, bạn sẽ hiểu thế gian, bạn sẽ có thể đốn siêu và trở thành Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật đã giảng như vậy.

Người xuất gia ngày nay, bởi vì đã vứt bỏ ngôi nhà thế tục, cho nên cũng có nghĩa là đã đi vào ngôi nhà của Pháp Vương, vứt bỏ đi họ tên thế tục, trở thành mang họ Thích Tôn. Điều này do pháp sư Đạo An thời Tấn đề xướng. Kinh A Hàm cũng nói thế này: “Bốn sông đổ vào biển, không còn gọi là sông nữa, bốn họ xuất gia, đều xưng họ là Thích.” Đây chính là nguyên nhân mà đệ tử của Phật Thích Ca đều đổi tên lấy họ Thích.

Có rất nhiều người xuất gia và đệ tử Phật môn biết rất nhiều phương pháp tiêu nghiệp chướng. Nhưng họ không biết chân ngôn của Thích Ca Mâu Ni Phật lại là đại bí mật để tiêu trừ nghiệp tội cực nặng. Đại bộ phận đệ tử chỉ biết Phật pháp mà giáo chủ Phật giáo tại thế đã truyền được kết tập trong Tam Tạng Thập Nhị Bộ, là kho tàng văn hóa quý báu của phương Đông, nhưng lại không biết có đại bí mật.

Trong pháp Yết Ma tiếng Pali, cho biết, Thích Ca Mâu Ni Phật vốn là một vị Công Đức Vương Bạc Già Phạm ứng chính đẳng giác, cũng chính là giáo chủ của thế giới Ta Bà, trong Mật pháp, Thích Ca Mâu Ni Phật rốt cục lại là Bổn tôn sám hối tội chướng tiêu nghiệp chướng.

Người tu trì pháp Thích Ca Mâu Ni Công Đức Vương chẳng bao lâu sẽ có thể có được túc mệnh thông, tiền kiếp của mình sẽ lần lượt như ở ngay trước mắt, giống như xem phim vậy, trong chốc lát đã hiểu rõ nhân quả đời trước, nhờ có tu pháp này mà nghiệp kiếp trước của chính mình đều sẽ rõ mồn một.

Trọng điểm của pháp này nằm ở hào quang màu trắng của nước cam lộ, tương đương với quán đảnh của Thích Ca Mâu Ni Phật, dùng ý nghĩa tối thượng của Phật quả, từ đỉnh đầu đi vào trong thân của hành giả, ý nghĩa là có thể khiến cho công đức biến thành đại viên mãn. Đây đương nhiên là mật pháp tiêu nghiệp chướng lớn nhất.


![image](/img/img_dcf1ca70a6b0e3c2db573a5bcc077658.jpg)


Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/thien-chuyen-luan-phap.md
# Title: Thiên chuyển luân pháp
---

![image](/img/img_43694cb4b7870c9d09d09a496491c8c1.jpg)



## Thiên chuyển luân pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Công đức của pháp


Trong pháp môn Mật tông, có một pháp bí mật chính là pháp Thiên chuyển luân, cũng có chú Thiên chuyển luân, đây cũng là một trong những diệu pháp tinh vi. Ở đây tức là một hành giả Mật tông niệm chú, nhưng niệm một biến thì sẽ biến thành một nghìn biến, đây là một Mật pháp đại tiện lợi cực kì biến hóa. 

Khi thực hành pháp, đầu tiên quán tưởng pháp luân, trì tụng: “Chư thiên thần tướng hộ pháp pháp luân, nay con cầu thỉnh chuyển nghìn lần, tâm như pháp đến hiện mật ý, tất cả chân thực và phân minh.” Thế là pháp luân xoay chuyển, không trung lần lượt hiện ra các hành giả, tổng cộng có một nghìn người. Một nghìn người này chính là phân thân biến hóa của chính mình đều từ trong pháp luân xoay chuyển mà biến hóa ra, ở đầy khắp hư không. Thế rồi quán tưởng hành giả trong hư không toàn bộ đều chắp tay niệm tụng chân ngôn. Một câu chú chân ngôn này tương đương với một nghìn người đồng thời niệm, niệm xong lạy Phật một cái, rồi lại niệm câu thứ hai, niệm xong lại lạy Phật một cái. Niệm mười câu thì lạy Phật mười lần, câu chú này tương đương đã niệm được 10 nghìn biến rồi. 


### Nghi quỹ:


Hành giả ngồi yên ngay ngắn, tịnh tâm mình cho trong veo, suy nghĩ về quá khứ, hiện tại, tương lai đều không bám lên thân tâm. Đây chính là pháp giới tam muội địa.

Quán tưởng trên đỉnh đầu mình có một chữ Phạn “Ram”. chữ này tỏa ánh sáng như trăng tròn. Sau đó hóa thành hình tam giác, trên đó có ngọn lửa màu đỏ, ngọn lửa hình tam giác này đốt cháy thân tâm chính mình. 

Tụng chú: “Ram”. (21 biến)

Có thể đốt hết tất cả nghiệp tội của người tu hành.

Và:

Trước tiên người tu hành cầm chuỗi tràng hạt trên tay phải, cuốn tràng hạt bằng tay trái, sau đó lại chuyển tràng hạt sang tay phải. Hai tay chụm lại kết thủ ấn hoa sen với chuỗi hạt đặt ở bên trong, đưa thủ ấn lên trước trán và tụng.

Ôm, ram, sô-ha. (Thanh tịnh tất cả)

Ôm, huai-lu-chia-na, ma-la, so-ha. (Thanh tịnh và gia trì chuỗi hạt)

Ôm, va-ji-la, ku-hưa-ya, ka-ba, sa-ma-ya, hùm. (Chú Thiên chuyển luân)

Chú này nghĩa là đọc một lần tương đương với đọc nghìn lần. Đây là pháp bí mật, cũng chính là pháp nhân lên nghìn lần, một đàn pháp trở thành một nghìn đàn pháp.


### Sư Tôn truyền thụ tâm yếu khẩu quyết


Về nguyên tắc, khi niệm tụng chú Thiên chuyển luân, cũng có thể quán tưởng thân mình biến hóa thành một hàng cho đến vô số hàng, từ nghìn người biến thành vạn người, nghìn biến chú này đã lại hóa thành nghìn vạn biến chú rồi. 

Pháp Thiên chuyển luân chú này kể từ khi được tôi viết ra thì có rất nhiều người hỏi, không đếm xuể, vì thế không thể nào không công khai nó. Tuy nhiên, cá nhân tôi cho rằng, tu bất kì pháp gì, lấy việc thực tu làm chính, tu hành trung thực có nề nếp thì tốt hơn là có “tiểu xảo”. Tu hành có “tiểu xảo” mặc dù là “đường tắt” nhưng cũng có công đức rất lớn. Nhưng tôi cho rằng, tu hành chân thực thì vững bền hơn đi đường tắt. Chúng ta đừng theo đuổi tương ứng nhanh, ngược lại, tu hành chân thực sẽ vững bền hơn, sẽ không xảy ra sai lầm. Mật pháp đã là một con đường tắt rồi, lại còn muốn đường tắt nhanh hơn nữa thì có phải là có lệch lạc rồi không. 

Câu chuyện thỏ và rùa thi chạy. Rất nhiều người muốn làm con thỏ. Nhưng tôi thì lại thích con rùa hơn. 

☸️ Thiên chuyển luân là một pháp đặc biệt vi diệu. Mời các bạn xem và nghe TS Liên Anh hướng dẫn tu pháp thù thắng này.

🌟 Công đức của pháp

Trong pháp môn Mật tông, có một pháp bí mật chính là pháp Thiên chuyển luân, cũng có chú Thiên chuyển luân, đây cũng là một trong những diệu pháp tinh vi. Ở đây tức là một hành giả Mật tông niệm chú, nhưng niệm một biến thì sẽ biến thành một nghìn biến, đây là một Mật pháp đại tiện lợi cực kì biến hóa.

Khi thực hành pháp, đầu tiên quán tưởng pháp luân, trì tụng: “Chư thiên thần tướng hộ pháp pháp luân, nay con cầu thỉnh chuyển nghìn lần, tâm như pháp đến hiện mật ý, tất cả chân thực và phân minh.” Thế là pháp luân xoay chuyển, không trung lần lượt hiện ra các hành giả, tổng cộng có một nghìn người. Một nghìn người này chính là phân thân biến hóa của chính mình đều từ trong pháp luân xoay chuyển mà biến hóa ra, ở đầy khắp hư không. Thế rồi quán tưởng hành giả trong hư không toàn bộ đều chắp tay niệm tụng chân ngôn. Một câu chú chân ngôn này tương đương với một nghìn người đồng thời niệm, niệm xong lạy Phật một cái, rồi lại niệm câu thứ hai, niệm xong lại lạy Phật một cái. Niệm mười câu thì lạy Phật mười lần, câu chú này tương đương đã niệm được 10 nghìn biến rồi.

---
# File: nghi-quy-tu-tap/thien-sac-than-du-gia-phap.md
# Title: Thiên sắc thân du già pháp
---

# Thiên sắc thân du già pháp


Chú ý: Pháp này phải do Căn bản Thượng sư trực tiếp quán đảnh.


### **Chú ngữ: **


Ôm hùm pan hô sê.


### Khai thị của Liên Sinh Hoạt Phật:


Ở đây nói đến thân Phật, pháp thân này là do Phật tĩnh lự [tĩnh lặng suy tư] mà đắc được. Tĩnh lự chính là phương pháp dùng thiền định mà đắc được. Sắc thân này là do phúc tư lương mà có được. Ở đây tổ sư Tsongkhapa nói rất rõ ràng. 

Đã nói rất nhiều về Thiên du già. Thế nào là Thiên du già? Chính là tương ứng với trời. Pháp này Hiển giáo không có.

Sự khác biệt duy nhất giữa Mật giáo và Hiển giáo là sự thu nạp rộng rãi chư Thiên mà tu. Về phương diện khác biệt này, tổ sư Tsongkhapa đã nêu ra rất nhiều luận sư, rất nhiều hành giả đều tu Thiên du già, nhờ hợp tu Thiên du già và tính Không mà trực tiếp thành Phật. 

Vậy thì Thiên du già tu như thế nào? Hôm nay tôi chính là muốn nói với mọi người về Thiên du già tu ra sao. Pháp Thiên du già này phải quán đảnh, đây là một pháp rất bí mật, hôm nay ai không nhận quán đảnh thì sau này cũng phải tự mình đến cầu. Sau này tôi cũng sẽ không nói về Thiên du già nữa. 

Tôi nói với mọi người một cách đơn giản, cái gọi là Thiên du già là tu Thiên thân. Nếu bạn có thể tu được thân trời của bạn, bảo đảm bạn có thể thăng thiên. Và sau khi bạn lên trời rồi thì bạn lại tu tính Không, hoặc là vào lúc này bạn đồng thời tu tính Không, tu Phật tính, rất nhanh chóng có thể trực tiếp thành Phật. 

Trước kia sư phụ của tôi nói như thế này, thầy nói với tôi, thời gian là vào sáng sớm, mặt trời còn chưa mọc, nhưng là vào lúc sắp xuất hiện rồi, nhìn về hướng đông nơi mặt trời sắp mọc lên, ở bên ngoài nhà, hoặc là từ cửa sổ của mình có thể nhìn về nơi mà mặt trời mọc, ở trong nhà cũng được và mở cửa sổ ra. 

Quán tưởng trong hư không có mây ngũ sắc, mây có năm màu sắc, hạ xuống trước mặt bạn, che kín lấy mặt bạn, sau đó bạn hít mây ngũ sắc vào, mây ngũ sắc hoàn toàn đi vào bên trong thân thể bạn. Sau khi quán tưởng này kết thúc, bạn lại quán tưởng hư không phía trên đầu bạn cũng hiện lên tầng mây ngũ sắc, ở trong đó có một cung điện, cung điện có hình nhọn. Cung điện mở ra, bên trong có một vị thần trời ngồi đó, chính là một thần tiên đó. Nếu bạn là đàn ông tu thì đương nhiên đó là một vị thần nam, còn bạn là phụ nữ tu thì đó là một vị thiên nữ. 

Bạn biết rằng nếu là đàn ông thì bản thân họ cũng đội mũ miện, cũng có hoa cài tóc, có thiên y, có váy xếp. Hãy cố gắng hết sức để quán tưởng họ rất trang nghiêm. Họ có lông mày, cũng phải quán tưởng có 32 tướng mạo giống như Phật, lông mày phải cong cong như trăng khuyết. Đôi mắt thì phải giống như vì sao, ở bên trong con mắt, những chấm nhỏ ở bên cạnh là biển xanh thẳm, giống như hải dương vậy, giống như con mắt của Phật A Di Đà, ở giữa có con mắt như vì sao, xung quanh là biển xanh thẳm, mũi thì phải nhô cao lên, rất trang nghiêm, mũi phải cao giống như núi Tu Di vậy. Còn cái miệng, nếu là thiên nữ thì đương nhiên cái miệng phải nhỏ một chút, còn nếu là đàn ông thì miệng phải to một chút. Đàn ông miệng rộng ăn hết bốn phương mà! Đúng thế không? Còn phụ nữ thì phải là miệng nhỏ như trái anh đào. Thế còn tai? Bạn biết là tai Phật thì phải là tướng tai dài. Còn ở trên đỉnh đầu, nếu bạn quán tưởng ở trong thiên cung là một vị Phật, thế thì vị đó cũng phải có nhục kế, cũng phải có búi tóc xoay tròn, Có búi tóc, có nhục kế, có tai Phật, có lông mày như trăng khuyết, lông mi của Phật, cái mũi cao, đôi mắt xanh thăm thẳm, rồi cái miệng, tướng mạo vô cùng viên mãn.

Sau đó lại phối hợp với các món đồ trang sức, những món đồ trang sức trên thân thể. Chúng ta không thể nói là con người hiện đại đeo đồng hồ Rolex, còn Phật thì không đeo đồng hồ Rolex. Nói tóm lại là bạn dùng kim cương, vòng ngọc, tất cả thiên y váy xếp để làm trang nghiêm cho vị đó. Thiên nữ thì đội mũ hoa, tóc hoa, khuôn mặt đẹp tuyệt vời, giống như tiên trời. Chuỗi vòng, châu báu, kim cương, vòng xuyến, khuyên tai, tất cả đều có, đều trang điểm cực kì trang nghiêm. 

Đợi đến khi bạn quán tưởng cực kì rõ ràng rồi, ở trong mây ngũ sắc, trong cung điện ở trên trời có một thiên nữ ngồi đó, sau đó bạn thở ra năm hơi khí: thở ra, hít vào một hơi, thở ra một hơi, ánh sáng màu trắng bay về phía vị kia, bay về phía vị đang ở trên trời đó. Khí từ trong miệng bạn bay ra, ánh sáng ngũ sắc dội xuống đỉnh đầu của thiên nữ kia để mà quán đảnh cho họ, ở đây giống như là phóng quang quán đảnh. Hoàn trả mây khí ngũ sắc mà trời thở ra về lại với trời, khí ngũ sắc lại trả về với trời. Màu đỏ, màu trắng, màu vàng, màu lục, màu đen, khí ngũ sắc lại trả về cho họ. Phải quán tưởng sau khi họ có được khí ngũ sắc này thì biến thành vô cùng sáng chói, sau đó thì rất xinh đẹp và vững chắc. Thở ra khí ngũ sắc cho họ, mỗi ngày đều tu như vậy.

Mỗi buổi sáng bạn làm như vậy, quán tưởng hết sức rõ ràng, bạn nhập Tam ma địa. Khi bạn quán tưởng vị thiên thần hoặc thiên nữ thứ nhất vô cùng rõ ràng rồi thì bạn lại quán tưởng vị thứ hai, lại quán tưởng vị thứ ba, lại quán tưởng vị thứ tư, lại quán tưởng vị thứ năm, thậm chí là quán tưởng 108 vị, 1080 vị, lần lượt trùng lặp lên nhau, sau này những vị này đều là hóa thân của bạn, toàn bộ họ đều biến thành hóa thân của bạn. Sau này bạn làm bất kì việc gì để giúp đỡ chúng sinh, bạn chỉ cần quán tưởng thiên nữ này xuất hiện, sau đó cầu nguyện họ giúp bạn làm chuyện gì đó, họ liền đi làm việc đó, sẽ trở thành hóa thân của chính bạn.

Ngày xưa khi sư phụ dạy tôi phương pháp này, đây chính là Thiên du già niệm ngũ tự chú, ngũ tự minh. Ngũ tự minh này chính là “Ôm hùm pan hô sê”. Hãy ghi nhớ ngũ tự minh này “Ôm hùm pan hô sê”. Bạn cũng phải niệm rất rõ ràng, niệm 108 biến chú này để gia trì cho Thiên du già của chính mình.

Vì sao cần tu pháp này? Đây chính là pháp thiên sắc thân, trọng điểm của pháp nằm ở việc lựa chọn thời gian, vào lúc mặt trời còn chưa mọc, nhưng mà trời thì đã hửng sáng rồi, quán tưởng mây ngũ sắc giăng đầy trước mặt bạn, hít mây ngũ sắc vào trong tâm bạn. Sau đó quán tưởng mây ngũ sắc trong hư không có thiên cung, chính bạn ngồi trong thiên cung đó, tướng mạo vô cùng trang nghiêm, có mũ miện, có tóc hoa, có trang sức, có thiên y, có váy xếp. Sau đó thở ra năm hơi khí, năm hơi khí này chính là mây ngũ sắc mà ban đầu bạn hít vào, phóng ra ánh sáng để quán đảnh, sau đó vị trời kia hiển hiện ra vô cùng rõ ràng và vững chắc. Đợi đến khi hoàn toàn vững chắc và rõ ràng rồi, khi vị đó hiển hiện trước mặt bạn rồi, lúc này vị đó chính là hóa thân bên ngoài thân của bạn, cũng chính là thiên sắc thân của bạn. 

Bạn quán tưởng một vị rõ ràng chắc chắn rồi, bạn lại quán tưởng vị thứ hai, lại quán tưởng vị thứ ba, lại quán tưởng vị thứ tư, lại quán tưởng vị thứ năm, sau đó là đến tận 108 vị, đến tận 1080 vị, sau đó là vô tận vô số hóa thân bên ngoài thân. Đây là phương pháp tu hành Thiên du già.

Bạn có biết niệm chú ngữ này không? Ngũ tự minh: “Ôm hùm pan hô sê.” Ngũ tự minh gia trì cho Thiên sắc thân. Như vậy đã hiểu chưa? Tôi đã nói rất rõ ràng rồi. Có chú ngữ, có quán tưởng, thế còn thủ ấn thì sao? Trước đây sư phụ truyền pháp cho tôi, ngài không nói về thủ ấn, không hề nói là thủ ấn gì. Nếu dựa theo ý kiến mà Phật Bồ Tát đã nói thì là như thế này: giả sử nói là bạn muốn tu chính mình, không muốn tu thân thiên nữ, cũng không muốn tu thân thiên thần, bạn trực tiếp có thể quán tưởng Bổn tôn, ví dụ Bổn tôn của bạn là vị nào đó, bạn mong muốn là bạn tu Bổn tôn của chính mình ở trên trời, vậy thì bạn hãy tu Bổn tôn của bạn, hãy kết thủ ấn của Bổn tôn bạn là được rồi. Hôm nay tôi nói tới đây thôi.

---
# File: nghi-quy-tu-tap/thien-thu-thien-nhan-quan-the-am-niem-tung-phap.md
# Title: Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_620202958fa267f9de65d0743fe88169.jpg)



## Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì đồng tu.

- Quán tứ vô lượng tâm.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tát cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)


### Phần 8: Niệm thêm chú vãng sinh 


Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha.  (7 biến)


### Phần 9: Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư


Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 10: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_e226b5b2effb781cfaa07d7ed5fa2c4f.jpg)


**Kết ấn: **

Hai tay chắp lại, ngón trỏ, ngón giữa, ngón áp út đan vào nhau, ngón cái và ngón út tách ra.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời trong vạn dặm không mây, một vầng mặt trăng từ dưới biển nhô lên không trung, ở chính giữa vầng mặt trăng có một chủng tự chữ Seh (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu trắng phóng ra ánh sáng trắng.

(2) Chữ Seh ở giữa vầng mặt trăng quay tròn hóa thành Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát. Quán tưởng Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát có mười khuôn mặt, ba khuôn mặt ở phía trước là mặt Bồ Tát, ba khuôn mặt bên trái là mặt phẫn nộ, ba khuôn mặt bên phải là vừa mặt Bồ Tát vừa mặt quỷ, mặt phía sau là khuôn mặt cười lớn dữ dội, trên cao nhất là một khuôn mặt Phật. Ở đây đại diện cho ngũ bộ, cao nhất là Phật bộ, phía trước đại diện cho Bảo bộ, Bồ Tát kiêm quỷ đại diện cho Liên Hoa bộ, phẫn nộ đại diện cho Kim cương bộ, cười lớn dữ dội đại diện cho Yết Ma bộ. 

(3) Thiên tâm của Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát phóng ra một đường ánh sáng trắng, chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả. Họng ngài phóng ra một đường ánh sáng đỏ, chiếu thẳng đến họng của hành giả. Tâm luân của ngài phóng ra một đường ánh sáng lam, chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba đường ánh sáng trắng, đỏ, lam hòa nhập vào thân tâm của hành giả.

(4) Quán tưởng tay của Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát cầm những pháp khí sau, tu năm bộ Mật pháp: tức tai, hoặc hàng phục, hoặc tăng ích, hoặc kính ái, hoặc triệu tập:

1. Như Lai tức tai pháp: hóa Phật, bạch Phật, dương liễu, kích sáo, thí vô úy, v.v…

1. Kim cương hàng phục pháp: kim luân, bảo điện, bảo kiếm, chày kim cương, bảo bát, v.v…

1. Bảo bộ tăng ích pháp: ngọc như ý, bảo kinh, hoa sen xanh, bảo cung, hoa sen trắng, v.v…

1. Liên hoa kính ái pháp: chắp tay liên hoa, bảo ấn, bảo gương, vòng ngọc, hoa sen đỏ, v.v…

1. Yết ma câu triệu pháp: bảo tiễn, mây ngũ sắc, tràng hạt, móc sắt, pháp loa, v.v…

Bình thường tu 5 pháp tức tai, hàng phục, tăng ích, kính ái, triệu tập chỉ cần quán tưởng tay Bồ Tát cầm các pháp khí như trên. (Bí mật trong bí mật.)


### Phần 11: Trì tâm chú Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát đến trước mặt mình.

**Chú ngữ:**

Tâm chú: Ôm wa-zư-la đa-mô sê. (108 biến)
Chú ngắn: Na-mô sa-man-tô mu-thua-nam wa-zư-la đa-mô sê. (108 biến)
Chú dài: Chú Đại Bi. 


### Phần 12: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Seh), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Bổn tôn Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 13: Xuất định, Tụng tán


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 

**Tụng tán: **

Quan Âm Bồ Tát viên mãn nhất
Tâm cực từ bi lệ ròng ròng
Nghìn tay mật pháp rất hiệu nghiệm
Độ sinh nhiều nhất nghìn vạn năm.


### Phần 14: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 15: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 16: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 17: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. xin đem công đức này hồi hướng. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 18: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 19: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


![image](/img/img_247f587e1f85b1cd74704de13aef1bc9.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát:


Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát có mười khuôn mặt, ba khuôn mặt ở phía trước là mặt Bồ Tát, ba khuôn mặt bên trái là mặt phẫn nộ, ba khuôn mặt bên phải là vừa mặt Bồ Tát vừa mặt quỷ, mặt phía sau là khuôn mặt cười lớn dữ dội, trên cao nhất là một khuôn mặt Phật. Đó là đại diện cho ngũ bộ, cao nhất là Phật bộ, phía trước đại diện cho Bảo bộ, Bồ Tát kiêm quỷ đại diện cho Liên Hoa bộ, phẫn nộ đại diện cho Kim cương bộ, cười lớn dữ dội đại diện cho Yết Ma bộ. 


### Liên Sinh Hoạt Phật khai thị về lai lịch Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát và khẩu quyết tu pháp:


Nguồn gốc của Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát: 

Ngày xưa, Quan Thế Âm Bồ Tát phát lời thề nguyện quảng đại. Có một ngày, Bồ Tát phát hiện ra, mặc dù ngài đã độ vô tận chúng sinh, nhưng chúng sinh không thấy giảm bớt, căn bản là không tăng không giảm. Bồ Tát tinh tấn nỗ lực như vậy mà độ chúng sinh không hết, ngài tức giận và dần dần mất đi đạo tâm, trở nên lơ là. Vì ngài đã phá bỏ lời thề, cho nên đầu bị vỡ thành mười mảnh, thân bị vỡ nát thành những mảnh vụn. 

Lúc này, Căn bản Thượng sư của Quan Thế Âm Bồ Tát là A Di Đà Phật dùng pháp lực của Phật để nhập vào Bồ Tát tam muội địa, biến hóa ra Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát. 

Đầu của A Di Đà Phật cộng thêm vào 10 mảnh đầu vỡ, trở thành 11 cái đầu, tượng trưng cho đẳng giác của 11 địa, ở cao nhất là A Di Đà Phật. Rồi Phật lại biến những mảnh vỡ của thân thể lần lượt thành nghìn cánh tay, nghìn con mắt, hình thành nên nghìn tay nghìn mắt. Câu chú nổi tiếng nhất của vị Bồ Tát này là chú Đại Bi (ứng nghiệm phi phàm). 

“Quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà-la-ni” là chú mà nghìn vị Phật cùng niệm, uy lực vô cùng lớn, có thể thành tựu Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát, là quả của Phật, có thể khiến người niệm tụng đạt được an lạc, trừ bệnh, trường thọ, sung túc, tránh xa tai nạn, tất cả đều không sợ hãi, tu hành thành tựu, v.v…

Tương ứng với Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát rồi còn có thể đắc quang minh, từ bi, có đại pháp lực, Và nghìn cánh tay đại diện cho nghìn loại diệu pháp. Nếu có thể thiền định thì sống lâu vĩnh viễn, đắc được giải thoát, có công đức và thành tựu vô lượng rất lớn. Trong tất cả các vị Bồ Tát, Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát là Bồ Tát ở địa 11, chính là Diệu giác, chính là Phật, về cơ bản ngài chính là Chính Pháp Minh Như Lai.

Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát chính là hợp thể của A Di Đà Phật và Quan Thế Âm Bồ Tát, cũng là tượng trưng ngài có rất nhiều phương pháp cứu độ chúng sinh, cũng tượng trưng cho ý nghĩa là sức mạnh, pháp lực của bản thân ngài là vô lượng vô biên. Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát là vị nằm trong số mọi vị Quan Thế Âm Bồ Tát, là vị có sức mạnh nhất, có POWER lớn nhất. Bất kể là vị Quan Thế Âm Bồ Tát nào thì cũng đều là Liên Hoa Đồng Tử.

Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát dùng nghìn con mắt quán chiếu, nghìn cánh tay hộ trì, có thể tiêu tai, hàng phục, tăng ích, kính ái, gia tăng trí huệ. Nước chú Đại Bi có thể chữa bệnh, có thể tiếp dẫn chúng sinh vãng sinh Tây phương Cực Lạc thế giới, vì thế nói ra thì có lẽ vị Bồ Tát này là Bồ Tát vĩ đại nhất.

Khẩu quyết tu pháp:

Trọng điểm của tu pháp nằm ở chỗ: sau khi hành giả Mật tông và Bổn tôn hợp nhất thì tay cầm pháp khi để làm pháp. Cần quán tưởng việc mà mình muốn giải quyết, nhờ pháp khí của hành giả phóng quang, chạm vào người đó, hoặc là sự việc đó, như vậy mới có thể muốn gì được nấy, khiến tất cả đều như ý viên mãn.

Liên Sinh Hoạt Phật đặc biệt truyền thụ bí mật trong bí mật của tu trì pháp này. Tu 5 pháp: tiêu tai, hàng phục, tăng ích, kính ái, triệu tập. Chỉ cần khi quán tưởng thì quán tưởng tay Bồ Tát cầm những pháp khí như trên. Chỉ cần được quán đảnh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát là có thể tu 5 bộ Mật pháp nói trên. 

Ví dụ: nhân viên hoằng pháp, nhân vật chính trị, nghệ sĩ có thể dùng pháp đại câu triệu, pháp tiểu câu triệu, là có thể móc nối tâm mình với người khác. Câu triệu cũng có thể tăng ích, triệu tập sự nghiệp viên mãn. Vì thế có pháp đại, trung, tiểu câu triệu, cũng giống với pháp câu triệu của Kurukulle Phật Mẫu.

Tu Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát có nhiều lợi ích:

1. Quảng đại viên mãn.

2. Vô ngại đại bi.

3. Cứu khổ cứu nạn.

4. Khỏe mạnh sống lâu.

5. Loại bỏ đam mê xấu.

6. Kéo dài thọ mệnh.

7. Thỏa mãn ước nguyện của chúng sinh.

8. Tùy tâm tự tại.

9. Phá trừ ác nghiệp.

10. Nhanh chóng vượt lên các địa cao hơn.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị nguồn gốc của kinh luân quay:


Có một hôm, Quan Thế Âm Bồ Tát xuất hiện nói với Long Thọ Bồ Tát rằng, ở long cung, Long Tôn Vương Phật có một cái kinh luân quay, bất kì chúng sinh nào chỉ cần nghe thấy, nhìn thấy, nghĩ đến, chạm vào, là có thể giải thoát, rời xa tam ác đạo. Nếu như Bồ Tát có được kinh luân quay này thì có thể lợi ích chúng sinh. 

Thế là Long Thọ Bồ Tát đến long cung thỉnh cầu Long Tôn Vương Phật, Long Tôn Vương Phật nói kinh luân quay này là do Phật Nhiên Đăng tặng, có uy lực rất lớn có thể bảo vệ được các long cung… Cuối cùng, Long Tôn Vương Phật đã tặng kinh luân quay này cho Long Thọ Bồ Tát, và Long Thọ Bồ Tát lại tặng cho Sư Diện Không Hành Mẫu. Sư Diện Không Hành Mẫu đem kinh luân quay đến Tây Tạng, vì thế chùa miếu khắp nơi ở Tây Tạng đều có kinh luân quay.

Trong kinh Bảo Khiếp cũng có nhắc đến, kinh luân chuyển động có đại thần lực, có thể tiêu nghiệp, hàng phục ma nạn, bệnh tật, thiên tai, tù ngục, đao binh, oan địch… Quay một lần tương dương với niệm chú vô số vạn triệu biến, công đức ấy là bất khả tư nghì, rồng trời hộ pháp bảo vệ, tội chướng tiêu trừ,… Vì thế, lời ích của kinh luân quay là vô cùng lớn.

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/thien-thuong-thanh-mau-niem-tung-phap.md
# Title: Thiên Thượng Thánh Mẫu niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_d27f5775d69ca2ce975bfce9672776a2.jpg)



## Thiên Thượng Thánh Mẫu niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Thiên Thượng Thánh Mẫu.

(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_405aa164d2c5c06b3ec45a77e3b9a9d6.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn **Thiên Thượng Thánh Mẫu

Hai bàn tay chồng lên nhau, tay trái ở dưới ôm lấy tay phải ở trên, ngón cái tay trái đè lên ngón cái tay phải ở đốt ngón tay thứ nhất, bốn ngón tay còn lại đều duỗi thẳng.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời trong vạn dặm không mây, một vầng mặt trăng từ dưới biển nhô lên không trung, ở chính giữa vầng mặt trăng có một chủng tự chữ Hum (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu trắng tỏa ra ánh sáng trắng.

(2) Chữ Hum ở giữa vầng mặt trăng quay tròn hóa thành Thiên Thượng Thánh Mẫu. Thiên Thượng Thánh Mẫu đầu đội mũ thông thiên, thân mặc áo choàng vai, hai tay đặt trước ngực chắp lại cầm thẻ ngọc khuê, hoặc tay phải cầm gậy như ý, tay trái đặt lên đầu gối (hoặc trên tay vịn của ghế ngồi), hiền từ đoan nghiêm.

(3) Quán tưởng thiên tâm của Thiên Thượng Thánh Mẫu phóng ra một vệt ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả. Từ họng Kim Mẫu phóng ra một vệt ánh sáng đỏ chiếu thẳng đến họng của hành giả. Tâm luân của Kim Mẫu phóng ra một vệt ánh sáng xanh lam chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng trắng, đỏ, lam tan vào thân tâm của hành giả.


### Phần 14: Trì tâm chú Thiên Thượng Thánh Mẫu


Tâm chú: Ôm a-li-ye su-li-tô thô-mi sô-ha. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Hum), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Thiên Thượng Thánh Mẫu, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 

**Tụng tán:**

Đại bi Quan Âm diệu hóa thân
Cứu khổ cứu nạn hộ muôn dân
Biển rộng sóng yên thuyền ra khơi
Thiên Thượng Thánh Mẫu con kính lễ.


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.


![image](/img/img_3677fba7b52148a2ead183e2d8d5a0f5.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Thiên Thượng Thánh Mẫu


Thiên Thượng Thánh Mẫu đầu đội mũ thông thiên, thân mặc áo choàng vai, hai tay đặt trước ngực chắp lại cầm thẻ ngọc khuê, hoặc tay phải cầm gậy như ý, tay trái đặt lên đầu gối (hoặc trên tay vịn của ghế ngồi), hiền từ đoan nghiêm.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị về lai lịch vĩ đại và thành tựu của Thiên Thượng Thánh Mẫu


Thiên Thượng Thánh Mẫu còn gọi là Ma Tổ, ngài có thể xuất dương thần đi khắp nơi cứu người, còn thu phục được hai yêu quái là Thiên Lí Nhãn và Thuận Phong Nhĩ trở thành phó tướng. Ngài có thể hiển lộ những năng lực khác thường, cứu giúp chúng sinh trên vùng biển.

Nguồn gốc của Thiên Thượng Thánh Mẫu Ma Tổ là: Ở Mi Châu thuộc Bồ Điền Phúc Kiến Trung Quốc có một gia tộc họ Lâm, gia tộc này có một thế hệ đã làm rất nhiều việc thiện. Vào những lúc mất mùa, họ thường nuôi dưỡng dân đói, trong đó có một người tu hành tu Đạo thường xuyên đi đến đó để nhận đồ ăn, cứ như vậy liên tục ba năm. Sau đó, người tu Đạo ở Bồ Điền này đã chỉ điểm phong thủy cho nhà họ Lâm, khiến cho mấy đời đều có người nhà họ Lâm thi đậu tiến sĩ, cử nhân, trong số đó có một nữ Thánh nhân, chính là Lâm Mặc Nương. 

Lâm Mặc Nương lớn lên gặp được một người tu hành tên là Huyền Thông Đạo Trưởng. Huyền Thông Đạo Trưởng đã truyền cho Lâm Mặc Nương pháp trân quý của Đạo gia là pháp Cửu chuyển huyền công. Sau khi Lâm Mặc Nương tu hành có được thành tựu, có thể xuất dương thần, lại còn kết duyên với Quan Thế Âm Bồ Tát và Diêu Trì Kim Mẫu. Diêu Trì Kim Mẫu đưa cô đi gặp Ngọc Hoàng Đại Đế, cô được phong là Thiên Hậu - Thiên Thượng Thánh Mẫu, Thiên Hậu Nương Nương Diệu Hạnh Ngọc Nữ, chính là Ma Tổ, cũng chính là Thiên Thượng Thánh Mẫu.

Vì sao tên gọi là Mặc Nương? Bởi vì ngài không bao giờ nói chuyện, lúc còn nhỏ, ngài không mở miệng ra nói chuyện, cho nên mới gọi là Mặc. 

Người thích nói chuyện thì đại bộ phận đều nói chuyện tầm phào, nói những lời lừa phỉnh người khác, hoặc là những lời ong bướm, lời xấu ác, buôn dưa lê, rất dễ phạm khẩu nghiệp.

Cho nên, chữ Mặc này trong tên Lâm Mặc Nương là cực kì tuyệt vời, ngài lặng im thì sẽ không phạm khẩu nghiệp, im lặng chính là thanh tịnh.

Lai lịch của Thiên Thượng Thánh Mẫu không đơn giản, ngài vốn là một vị Trời từ Đâu Suất Thiên của Di Lặc Bồ Tát hạ giáng đến nhân gian. Thiên Thượng Thánh Mẫu không chỉ là Thần linh mà thôi, không phải chỉ là tín ngưỡng dân gian mà thôi, ngài tương đương với Bồ Tát. Ma Tổ Bồ Tát đã hiển hiện rất nhiều thần tích, ngài là thần của sông nước, phàm nơi nào có nước đều thuộc sự quản lí của ngài, vì thế gọi ngài là thần của vùng sông nước, địa vị của ngài hết sức cao quý. Thiên Thượng Thánh Mẫu cũng có rất nhiều tài phúc.

Trung Quốc có ba đại Thánh nhân, văn Thánh nhân chính là Khổng Tử, võ Thánh nhân chính là Quan Công, nữ Thánh nhân chính là Thiên Thượng Thánh Mẫu. 

Thiên Thượng Thánh Mẫu Diệu Hạnh Ngọc Nữ hiển hóa tại Trung Quốc và Đài Loan, thậm chí còn truyền khắp nơi trên thế giới, không chỉ trở thành tín ngưỡng toàn dân ở Đài Loan mà cũng là một vị Đại Bồ Tát được các tín đồ cung kính ở khắp nơi trên thế giới. Trong Mật tông không có niệm tụng pháp Bổn tôn Thiên Thượng Thánh Mẫu, nhưng ở Đài Loan thì pháp niệm tụng Thiên Thượng Thánh Mẫu chính là khởi nguồn từ Chân Phật Tông.

Thiên Thượng Thánh Mẫu mặc dù là tín ngưỡng dân gian nhưng tthật ra ngài là Bồ Tát, rất vĩ đại. Cho nên chúng ta rất tôn kính Thiên Thượng Thánh Mẫu. 

Ở Đài Trung có Hạn Khê Ma Tổ, cung Vạn Xuân ở đường Thành Công, thành phố Đài Trung cũng có Ma Tổ. Trước kia tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) khi còn đi học ở trường Trắc Lượng đã từng đến đó tham bái.

Trong cuốn văn tập số 16 “Mạn đàm linh cơ thần toán”, Liên Sinh Hoạt Phật đã kể về nhân duyên gặp gỡ với Thiên Thượng Thánh Mẫu, xin trích đăng như sau:

Cung Phượng Lâm nằm tại một ngôi làng nhỏ ở mũi Phượng, Tiểu Cảng, thành phố Cao Hùng. Mũi Phượng kề sát biển, gần đó có căn cứ của đội huấn luyện người nhái (đội Thành Công). 

Tôi rất thích biển, mỗi buổi hoàng hôn, tôi đều không ngăn được mình đi đến bờ biển mũi Phượng ngồi trên những con thuyền vỡ trên bãi cát. Biển và trời nối liền nhau thành một đường thẳng, tiếng sóng biển rì rào. Mặt biển nhấp nhô lên xuống liên tục, còn trái tim tôi giống như một con thuyền nhỏ thoạt lên thoạt xuống, dường như trong dòng chảy hoảng hốt này, tôi đã lĩnh hội được vẻ đẹp thê lương của cuộc sống. Cuộc sống vốn dĩ là thăng trầm, chao đảo, không ngơi không nghỉ, còn tôi là một lữ khách đo đạc, cũng là dạo bước trong cuộc đời thôi. Dạo bước.

Chẳng nhớ nổi đó là buổi hoàng hôn lần thứ mấy, đúng vào lúc tôi đang ngẩng đầu ngắm mây bay từng đám từng đám trên bầu trời, tâm hồn nhẹ nhàng bay lượn trên mặt biển bao la hùng vĩ, mặt trời lặn dần xuống, gió thổi vù vù, tiếng sóng biển gầm gào xô vào bờ cát đêm. Dường như trên đời chỉ có một mình tôi.

Khi tôi chuẩn bị rời khỏi bãi biển thì phát hiện ra trên mặt biển có một ngọn đèn đang đung đưa. Ngọn đèn đó lúc sáng lúc tắt, lúc trôi bên này, lúc trôi bên nọ. Khi đến gần, tôi nhìn thấy phía sau ngọn đèn có một kiệu Thần, phía trước kiệu có hai vị phó tướng, phó tướng đạp sóng mà đi, tôi nhìn thấy trên đầu kiệu Thần có viết mấy hàng chữ: “Phượng Lâm cung Thiên Thượng Thánh Mẫu.” Kiệu Thần và các Thần tướng hiển hiện được một lúc, không bao lâu thì biến mất không còn tăm tích. 

Ngày hôm sau, tôi hỏi người địa phương:
”Gần đây có cung Phượng Lâm nào không?”
Người đó nói:
”Có! Là miếu Ma Tổ ở trong làng.” 
Buổi tối đó tôi đi vào trong làng, tìm đến cung Phượng Lâm. Bây giờ tôi đã quen bái Thần rồi, mỗi khi đến nơi nào tôi đều gặp chùa thì bái Phật, gặp miếu thì bái Thần, kể cả gặp miếu Thổ Địa tôi cũng chắp tay lại, thỉnh thoảng đúng lúc Thổ Địa Công đang ở trong miếu, ngài cũng sẽ ngẩng đầu chào hỏi tôi. Tôi cảm thấy tôi tôn kính Thần, Thần ắt sẽ giúp đỡ tôi. 

Tại cung Phượng Lâm, tôi thắp mấy que hương, làm lễ trước Thiên Thượng Thánh Mẫu xong, Thánh Mẫu nói:
”Thiện nam trước mặt, anh đã học được thuật Lục giáp Thần linh thính âm rồi sao?”
”Đúng vậy, con đến đây để hỏi đạo từ Bồ Tát.”
”Muốn hỏi đạo gì?”
Tôi đáp:
”Đạo dưỡng sinh.” 

Thiên Thượng Thánh Mẫu Ma Tổ đáp rằng:
”Vậy thì nói về ăn uống đi! Ngũ vị chính là mặn, đắng, chua, cay, ngọt, năm vị này chính là điều hòa âm dương, biến thành bài thuốc bí truyền của thiên địa huyền công, là thứ không thể thiếu trong cuộc sống thường ngày. Thế nhưng cần phải có sự tiết chế mới có thể có ích và vô hại. Nếu không tiết chế thì sẽ làm tổn thương ngũ hành, tất sẽ sinh bệnh. Ngũ vị nếu ít thì dưỡng mệnh, nhiều thì vong mạng. Người thượng cổ chưa có gia vị nóng thì hưởng tuổi thọ cao. Toại Nhân Thị [trong thần thoại Trung Quốc là người sáng tạo ra lửa] lần đầu tiên dùng lửa để nấu thức ăn, cho đến nay con người đa phần gặp họa chết yểu. Nếu con người tham ăn tạp tất sẽ sinh ra lục tình, lục tình sinh ra thì linh căn tất sẽ diệt.”
”Đa tạ Thánh Mẫu giáo huấn.” - Tôi kính cẩn cảm ơn.

Thánh Mẫu lại nói: 
”Người thời nay nói đến đạo dưỡng sinh sai rồi! Nam nam nữ nữ hiện nay sinh vào thời mạt kiếp, u u mê mê, không gặp được minh sư để mở ra cái trí của họ, không gần gũi với giáo lí thiện để làm sáng tỏ cái tính của mình, thường ngày nói đến dưỡng sinh chẳng qua chỉ là uống thuốc tẩm bổ, gây nên vô số nghiệp tội, khởi lên một vài vọng tưởng tạp niệm, như thế thì nghiệp tội còn chẳng thể nào tiêu trừ được, làm sao có thể nói đến dưỡng sinh chứ?”
”Những gì Bồ Tát nói rất đúng, đệ tử sẽ ghi nhớ lời dạy dỗ chỉ bảo.”
”À đúng rồi, chưa từng hỏi con tu đạo ở chỗ nào? Chỉ thấy trên mặt con có linh quang, tỏa hiện tam quang, biết con chính là người tu đạo, công đức Thần luôn đi theo bên cạnh, vì thế mà ta muốn hỏi.”
”Bồ Tát, đệ tử Liên Sinh vốn tin Cơ Đốc, sau đó lĩnh pháp chỉ của Diêu Trì Kim Mẫu, theo Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh tu đạo, lại bái môn của Thanh Chân Đạo trưởng, nay đến mũi Phượng làm công việc đo đạc, tối hôm qua nhìn thấy Thánh Mẫu xuất tuần trên mặt biển, vì thế hôm nay con đặc biệt đến tham bái.”
”Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh à? Ta không biết vị này, Thanh Chân Đạo trưởng thì trái lại đã từng nghe qua, chính là một đạo sĩ thanh tịnh vô vi, thế này rất tốt, rất tốt.”
”Bồ Tát, Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh không phải là người, mà là một khối khí của chân linh, con gọi ngài là Linh Sư, chính là Thiên Tiên ở cõi Vô sắc giới, chưa từng nhận sắc phong của Ngọc Đế, do vậy gọi là Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh.”
”Thì ra là vậy, nếu thế thì ta lại quá thất lễ rồi, Liên Sinh, nếu con có thời gian rảnh, hoan nghênh con thường đến chơi.”
”Cảm ơn ngài!”

Kể từ sau đó, khi nhà tôi chính thức thờ cúng Diêu Trì Kim Mẫu Thiên Tôn, tôi từng phát đi phù “Phật điệp biến thập phương”. Thiên Thượng Thánh Mẫu cung Phượng Lâm ở Tiểu Cảng cũng từng giá lâm. Đây chính là một đoạn nhân duyên gặp gỡ giữa Thiên Thượng Thánh Mẫu cung Phượng Lâm và tôi. 

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/thoi-luan-kim-cang-kalachakra-niem-tung-phap.md
# Title: Thời Luân Kim Cang Kalachakra niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_468f67b1b16ce39301d12fcf24937063.jpg)



## Thời Luân Kim Cang Kalachakra niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Thời Luân Kim Cang.

(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha.  


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_0e294f557e514263e891ac2eeaeb27fa.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn Thời Luân Kim Cang**

Lưng bàn tay phải áp vào lòng bàn tay trái, chạm đầu hai ngón tay cái vào nhau, các ngón tay còn lại đan xen nhau. 

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên bánh xe thời gian hóa hiện ngũ đại đất-nước-lửa-gió-không khí, ở chính giữa là núi Tu Di. Đỉnh núi Tu Di hiện lên một bông hoa sen lớn, ở giữa hoa sen là nhật nguyệt luân. Trên bánh xe xuất hiện chữ Hum màu xanh lam, chữ Hum xoay tròn hóa thành Thời Luân Kim Cang ôm Phật Mẫu. 

(2) Thời Luân Kim Cang có 4 mặt, 3 cổ, 6 vai, 12 cánh tay hoặc 24 cánh tay, mỗi tay đều cầm pháp khí. Hai chân dẫm lên Đại Tự Tại Thiên và Thiên Hậu. Khuôn mặt chính diện của Thời Luân Kim Cang có màu xanh lam, khuôn mặt bên phải màu đỏ, mặt bên trái màu trắng, mặt đằng sau màu vàng. Phật Mẫu lõa thể. Phật Phụ và Phật Mẫu trên mỗi khuôn mặt đều có 3 mắt, đứng tư thế ôm lấy nhau song vận.

Ngoài ra cũng có thể quán tưởng Thời Luân Kim Cang chỉ có hình tượng Phật Phụ như trong hình thangka.

(3) Quán tưởng thiên tâm của Thời Luân Kim Cang phóng ra một đường ánh sáng trắng chiếu đến thiên tâm của hành giả, họng của ngài phóng ra một đường ánh sáng đỏ chiếu đến họng của hành giả, tim của ngài phóng ra một đường ánh sáng lam chiếu đến tim của hành giả. Ba ánh sáng trắng, đỏ, lam hòa nhập vào thân tâm hành giả, gia trì cho hành giả.


### Phần 14: Trì tâm chú Thời Luân Kim Cang


Tâm chú: Ôm ha ka-ma-la wa-la-ya sô-ha. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Hum), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Thời Luân Kim Cang, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.


![image](/img/img_94cd83c238d128efb88246fb122b9d59.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Thời Luân Kim Cang Kalachakra


Thời Luân Kim Cang có 4 mặt, 3 cổ, 6 vai, 12 cánh tay hoặc 24 cánh tay, mỗi tay đều cầm pháp khí. Hai chân dẫm lên Đại Tự Tại Thiên và Thiên Hậu. Khuôn mặt chính diện của Thời Luân Kim Cang có màu xanh lam, mặt bên phải màu đỏ, mặt bên trái màu trắng, mặt đằng sau màu vàng. Thời Luân Kim Cang hiện hình tướng đơn thân hoặc song thân. Với hình tướng song thân, Phật Mẫu lõa thể. Phật Phụ và Phật Mẫu trên mỗi khuôn mặt đều có 3 mắt, đứng tư thế ôm lấy nhau song vận.

4 khuôn mặt của Thời Luân Kim Cang đại diện cho màu sắc của thân, khẩu, ý và đại lạc không trí. 3 cổ là cổ trái màu trắng, cổ phải màu đỏ, cổ giữa màu lam, đại diện cho 3 mạch bên trong thân. Chân trái màu trắng, chân phải màu đỏ, trên đỉnh đầu Phật Phụ có chày kim cang làm vật trang sức, thân dưới quấn váy da hổ, đeo chuỗi vòng trang sức châu báu. 


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị lai lịch vĩ đại và khẩu quyết tu pháp thù thắng của Thời Luân Kim Cang 


Thời luân chính là bánh xe thời gian. Thời Luân Kim Cang (Kalachakra) là Bổn tôn của Vô thượng du già bộ Bất nhị tục của Phật giáo Mật tông, đây là pháp môn vô thượng thù thắng và thậm thâm quảng đại trong các Mật pháp. 

Lai lịch của ngài là như thế này. Ngày xưa, Nguyệt Hiền Quốc Vương của đất nước Shambhala, chúng ta gọi ngài là Pháp Vương, ngài đến Nam Ấn Độ, ở đó có một ngọn tháp gọi là tháp Cát Tường Mễ Tụ (Amaravati Stupa). Khi ấy Phật Thích Ca Mâu Ni ở Linh Sơn thuyết pháp, ngài đã phân thành một thân đi đến tháp Cát Tường Mễ Tụ ở Nam Ấn Độ, biến thành chủ tôn Thời Luân Kim Cang của Thời Luân Kim Cang Tục, ngài đã truyền pháp Thời Luân Kim Cang cho Nguyệt Hiền Pháp Vương. Pháp Thời Luân Kim Cang chính là do Nguyệt Hiền Pháp Vương đem về đất nước Shambhala, toàn bộ đất nước Shambhala đại bộ phận đều tu pháp Thời Luân Kim Cang, đây chính là nguồn gốc.

Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn của Chân Phật Tông vào năm 2000 tại Hồng Kông, lần đầu tiên truyền thụ Thời Luân Kim Cang vô thượng đại pháp. Pháp này vừa truyền ra đã làm chấn động trời đất, Liên Sinh Hoạt Phật trở thành vị Pháp Vương người Hán đầu tiên trong lịch sử truyền thụ pháp Thời Luân Kim Cang. 

Pháp Thời Luân Kim Cang được bốn giáo phái lớn của Phật giáo Tạng truyền cùng tôn sùng. Truyền thừa Thời Luân Kim Cang của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn là:

**Truyền thừa thứ nhất:** Cam Châu Hoạt Phật — Thubten Nyima — Thubten Dali — Thubten Dhargye — Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Pháp Vương.

(Người biên tập chú thích: Cam Châu Nhĩ Ngõa là đại Hoạt Phật của Mông Cổ. Vị Hoạt Phật vĩ đại nhất của Mông Cổ là Triết Bố Tôn Đan Ba (Jetsundamba Khutuktu), tiếp theo chính là Cam Châu Nhĩ Ngõa và Chương Gia Hoạt Phật. Cho nên Thời Luân Kim Cang của chúng ta là truyền thừa do đại Hoạt Phật ban cho.)

**Truyền thừa thứ hai: **Panchen Lama thứ 9 — Sakya Chứng Không Thượng sư — Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Pháp Vương.

(Người biên tập chú thích: Sakya Chứng Không Thượng sư ở Ngọc Thụ, Thanh Hải được Panchen Lama thứ 9 truyền pháp Thời Luân Kim Cang, sau đó ngài lại truyền cho Liên Sinh Hoạt Phật. Cho nên truyền thừa thứ hai của Chân Phật Tông là truyền thừa của vị Hoạt Phật tối cao của Tây Tạng.)

**Truyền thừa thứ ba:** Truyền thừa bí mật từ thiền định tịch tĩnh - Liên Sinh Hoạt Phật nhập vào “tối thâm tịch tĩnh tam muội địa” mà có được truyền thừa này.

Trong thiền định, vũ trụ Thời Luân Kim Cang hiển hiện, ngài gia trì và quán đảnh cho Liên Sinh Hoạt Phật, đây cũng chính là truyền thừa cực kì cơ mật trực tiếp có được từ trong thiền định tịch tĩnh.


### Ý nghĩa của thời luân


Thời luân còn phân thành Ngoại thời luân, Nội thời luân và Biệt thời luân. 

Tu hành là quá trình từ phàm phu đến Thánh hiền, khẩu quyết trọng yếu là chính mình là Nội thời luân, vũ trụ chư tôn là Ngoại thời luân, dẫn Ngoại thời luân lên thân mình, tâm mình, đạt trạng thái hợp nhất chính là Biệt thời luân. Cho nên Biệt thời luân chính là thành tựu, Ngoại thời luân chính là hư không, Nội thời luân chính là khí mạch minh điểm.

Cái gọi là thời luân chính là bánh xe thời gian, thời gian giống như một bánh xe khổng lồ xoay tròn, lăn qua sinh lão bệnh tử, phá hủy toàn bộ, chính là thời luân. Không tồn tại thời gian, cũng chính là “hằng tại”, hằng trong từ vĩnh hằng, tồn tại vĩnh viễn, đây chính là mục đích cuối cùng của Thời Luân Kim Cang, tức là thành Phật, thành Bồ Tát, thành tựu Thanh Văn, thành tựu Duyên Giác, thành tựu A La Hán.

Mật giáo mà chúng ta gọi phân ra làm rất rất nhiều pháp, ví dụ như Tứ gia hành, Thượng sư tương ứng, Bổn tôn, Bảo bình khí, Chuyết hỏa, Vô lậu, Kim cang pháp, Vô thượng mật, Đại viên mãn, phân ra làm rất nhiều cấp độ pháp, tổng hợp lại chính là đại pháp của Thời Luân Kim Cang vô thượng mật bộ.

Pháp Thời Luân Kim Cang vô cùng quan trọng, bởi vì ngài có thể sinh khởi tất cả mọi thứ, và cũng có thể tiêu diệt tất cả, bởi vì ngài là bánh xe thời gian khổng lồ. Thời gian có quá khứ, hiện tại và vị lai, chuyển hóa thời gian chính là Phật Thời Luân Kim Cang. Thời Luân Kim Cang cũng đại diện cho thời gian, Thời Luân Kim Cang tượng trưng cho thành-trụ-hoại-không, cũng tượng trưng cho bánh xe thời gian khổng lồ lăn qua tất cả mọi thứ, thanh trừ sạch sẽ mọi phiền não, nghiệp chướng, khiến bạn có thể đến Phật quốc tịnh thổ, thậm chí thành Phật. Cũng chính là bánh xe thời gian khổng lồ lăn qua nghiền nát mọi phiền não và nghiệp chướng, đạt đến cảnh giới Không, cứu cánh thành Phật. Đây chính là nghĩa gốc của Thời Luân Kim Cang Phật.

Phật nói “không tự sinh”, “không tha sinh”, “không cộng sinh”, theo duyên mà sinh, dựa theo cái duyên này mà sinh ra. Thời Luân Kim Cang chính là nói đến điều này, Thời Luân Kim Cang Phật chính là hóa hiện của Thích Ca Mâu Ni Phật. Điều ngài nói là, tất cả mọi thứ của chúng sinh đều sẽ qua đi, chư hành vô thường, không có cái gọi là trạng thái bình thường, bởi vì mọi thứ đều sẽ tan biến dần. Tiếp nữa, tất cả sinh vật, bao gồm hữu tình và vô tình, toàn bộ đều không có tự tính, không có pháp của chính mình, tính ở đây là tính trong phân biệt tính, câu nói này rất quan trọng. Dưới bánh xe thời gian khổng lồ, toàn bộ đều biến mất, cho nên tất cả hữu tình vô tình đều vô tự tính, tức là vô ngã, chư pháp vô ngã, không có một cái tính nào tồn tại. Cái cuối cùng mới là niết bàn tịch tĩnh, là chí lạc. Nếu bạn hiểu được tam pháp ấn thì bạn sẽ hợp với Phật.

Câu chú của Thời Luân Kim Cang có 10 chữ “Om ha kamala walaya soha”. 10 chữ này chính là nghĩa gốc của ngài, tượng trưng cho “thọ, tâm, vật, sự nghiệp, sinh, thần biến, thắng giải, nguyện, trí huệ, tự tại”. Vừa đúng 10 chữ, cho nên cũng gọi là Thập Luân Kim Cang. 

Mọi thứ của vũ trụ gọi là Ngoại thời luân, mọi thứ trên người chúng ta gọi là Nội thời luân, kết hợp lại thì gọi là Biệt thời luân. Nếu bạn có thể vận dụng thời luân của thân thể mình và thời luân trong vũ trụ, phối hợp với nhau thì sẽ trở thành một cảnh giới của Thời Luân Kim Cang. 


### 7 quán đảnh của Thời Luân Kim Cang


Quán đảnh xuất sinh: đại diện cho huệ mệnh bắt đầu lại từ đầu.

Quán đảnh bình: đại diện cho thân thanh tịnh, ngũ đại chuyển hóa thành 5 vị Phật Mẫu.

Quán đảnh mũ: đại diện cho xuất sinh đỉnh kế, cũng chính là ngũ uẩn chuyển hóa thành ngũ Phật, tương lai bạn sẽ thành Phật.

Quán đảnh băng đai: đại diện cho trang nghiêm, tịnh hóa khí của hành giả.

Chuông kim cang: đại diện cho những gì từ miệng nói ra đều rất thanh tịnh. Quán đảnh chày kim cang thuộc về Phật tâm Phật ngữ, tịnh hóa song mạch.

Chày kim cang: đại diện cho vĩnh viễn bất hoại, đạo tâm của bạn vô cùng kiên cố.

Quán đảnh danh: đại diện cho việc có một xưng hiệu Kim Cang, tương lai bạn sẽ thành tựu Thời Luân Kim Cang. 

Quán đảnh như ý: đại diện cho đẩy lùi mọi tai nạn.

Quán đảnh cho phép: cho phép bạn tu pháp Thời Luân.


### Lợi ích thù thắng khi tu pháp Thời Luân Kim Cang


Thứ nhất, người có được quán đảnh pháp Thời Luân Kim Cang và chăm chỉ tu trì và giữ giới, có thể trong bảy đời sẽ thành Phật.

Thứ hai, có được quán đảnh pháp Thời Luân Kim Cang, lại trì chú, tu pháp, có thể tránh được mọi tai nạn.

Thứ ba, tu pháp Thời Luân Kim Cang và trì chú, tương lai nhiều kiếp sẽ không vào tam ác đạo.

Nhận được quán đảnh pháp Thời Luân Kim Cang, sau bảy kiếp có thể thành Phật, tu tập pháp này có thể khiến nạn binh đao chiến tranh và tất cả tai kiếp đều dừng lại, thúc đẩy hòa bình, mưa thuận gió hòa, ngũ cốc được mùa, quốc thái dân an, vãng sinh đến tịnh thổ của Bổn tôn là vương quốc Shambhala.

Cảnh tượng ở tịnh thổ Thời Luân như thế nào?

Liên Sinh Hoạt Phật từng nói đến Viên Thông Quốc dưới lòng đất, trên thực tế đây chính là tịnh thổ Shambhala. Liên Sinh Hoạt Phật mô tả là: “Thế giới này không giống Cực Lạc thế giới, cũng không giống với thiên giới, càng không giống nhân giới, mà là quốc độ vô ưu duy nhất, không biết đến cái chết, thậm chí hiếm có sinh, không thiện không ác, mãi cho đến ngày trời đất hủy diệt thì quốc độ này mới bị hủy diệt, có thể nói là thọ cùng trời đất. Tại đây, trước tiên tôi phải nói rõ, nếu có người muốn sinh vào quốc độ này, chỉ cần thường xuyên niệm Nam mô Đại Tự Tại Địa Để Hỏa Diễm Phật thì tự nhiên sẽ được vãng sinh đến Viên Thông Quốc dưới lòng đất này. Thành tựu của thế giới này cũng bất khả tư nghì, người trong đất nước này thân cao hơn một trượng, trên đầu mỗi người có vòng tròn ánh sáng, họ có thể bay, vĩnh viễn sống trong thanh tịnh. Mặt đất phủ hoa sen, có những ngôi nhà tranh tự nhiên rất đẹp đẽ, không có bốn mùa xuân hạ thu đông, ngày đêm đều có ánh sáng vô tận, không có sinh lão bệnh tử, không có đói khát, ai ai cũng đều là Thánh nhân. Trong mười pháp giới, họ chỉ có thể vào cõi người để giúp đỡ con người hiện có tu đạo, nhưng không để lại tên, không ai biết được họ là người của Viên Thông Quốc dưới lòng đất.”

Ngày 13/12/2015, tại Hồng Kông, khi Liên Sinh Hoạt Phật truyền thụ pháp Bạch Liên Hoa Vương đã tiết lộ bí mật rốt cục nước Shambhala ở đâu. Thì ra tịnh thổ Shangri-La chính là núi Đảng Hạng của Đại Bạch Cao Quốc thời vương triều Tây Hạ.

Diệu Cát Tường hóa thân thành Nguyệt Hiền Quốc Vương đời thứ nhất của nước Shambhala, quốc vương thứ hai của Shambhala là Bạch Liên Hoa Vương, người viết cuốn “Vô cấu quang minh luận”… Và Bạch Liên Hoa Vương chính là Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử, tức là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.

Pháp Thời Luân Kim Cang là một Phật pháp được truyền rộng rãi trong tịnh thổ Shambhala. Có người nói bản thân Thời Luân Kim Cang là của Ấn Độ giáo, là thần của Bà La Môn giáo. Điều này sai rồi. Vì sao? Bạn hãy nhìn chân của Thời Luân Kim Cang, chân của ngài dẫm lên Đại Tự Tại Thiên và Thiên Hậu, chính là Shiva và vợ của Shiva, biểu thị rằng Thời Luân Kim Cang vượt trội mọi thần của Ấn Độ giáo và Bà La Môn giáo, hơn nữa bản thân pháp Thời Luân Kim Cang là do Phật Thích Ca Mâu Ni đích thân truyền, cho nên “Thời Luân Kim Cang Tục” là mật pháp mà Phật Thích Ca Mâu Ni đích thân truyền. Phật Thích Ca Mâu Ni cũng đã truyền rất nhiều mật pháp, chỉ là khi ấy chỉ hoằng dương ở nước Shambhala chứ không hề hoằng dương ra bên ngoài, về sau này mới dần dần hoằng dương ở bên ngoài.

Trong nhiều năm qua, các pháp liên quan đến Thời Luân Kim Cang mà Liên Sinh Hoạt Phật từng truyền thụ là:

Thời Luân Kim Cang bảy đại pháp.
Thời Luân Kim Cang chân thực kim cang quyết pháp.
Thời Luân Kim Cang thiền định cửu thứ đệ pháp.
Thời Luân Kim Cang bản nghĩa pháp.
Thời Luân Kim Cang thuẫn bài phòng hộ pháp.
Thời Luân Kim Cang nhật nguyệt luân pháp.
Thời Luân Kim Cang kim cang liên bất cộng đại pháp.
Thời Luân Kim Cang giới luật.


![image](/img/img_86bc64943fe6291db0916f6166ea53d3.jpg)



![image](/img/img_338775574782fb60ba707fcd34a20bb7.jpg)


Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/to-su-tsongkhapa-niem-tung-phap.md
# Title: Tổ sư Tsongkhapa niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_0d439980f2a8ec53ad90e06b88f96973.jpg)



## Tổ sư Tsongkhapa niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Tổ sư Tsongkhapa.
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê. 

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha.  


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_75d0574a80589ee75fd16a9541612f28.jpg)


**Kết ấn: Ấn chuyển pháp luân**

Ngón cái và ngón trỏ tay trái chạm vào nhau tạo thành vòng khuyên, ngón giữa, ngón áp út và ngón út duỗi ra, lòng bàn tay hướng vào trong. Ngón cái và ngón trỏ tay phải chạm vào nhau tạo thành vòng khuyên, ngón giữa, ngón áp út và ngón út duỗi ra, lòng bàn tay hướng ra bên ngoài. Tay trái đặt phía trước, tay phải đặt phía sau, giữ thủ ấn trước ngực.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Quán tưởng trên đầu hành giả có tòa sư tử, trên tòa sư tử có nguyệt luân hoa sen, trong nguyệt luân có một chữ “Ah” (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu vàng, chữ Ah xoay tròn hóa thành Tổ sư Tsongkhapa. 
(2) Tổ sư Tsongkhapa hai tay kết ấn chuyển pháp luân, cầm hoa sen, trên hoa sen có bảo kiếm bát nhã và kinh bát nhã. Y phục màu vàng, đầu đội mũ vàng, ngồi tư thế kiết già trong ánh sáng trí huệ. 
Trên đầu tổ sư Tsongkhapa có Phật Nhiên Đăng, Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật Di Lặc (tam thế Phật). 
Còn có: Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Quan Thế Âm Bồ Tát, Kim Cang Thủ Bồ Tát (tam hỗ chủ).
Tổ sư Tsongkhapa có tướng đẹp trang nghiêm, diễn giảng Phật pháp sâu rộng.

(3) Thiên tâm của Tổ sư Tsongkhapa phóng ra một đường ánh sáng trắng, chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả. Từ họng của Tổ sư Tsongkhapa phóng ra một đường ánh sáng đỏ, chiếu thẳng đến họng của hành giả. Tâm luân của ngài phóng ra một đường ánh sáng lam, chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng trắng, đỏ, lam tan vào trong thân tâm hành giả. Pháp Vương Tsongkhapa và hành giả dung hợp với nhau, tự thân hành giả hóa thành Tổ sư Tsongkhapa. 


### Phần 14: Trì tâm chú Tổ sư Tsongkhapa


Chú dài: Ôm ah hùm ben-za sông-kha-pa cưa-lu sô-ha. (108 biến hoặc 1080 biến)
Chú ngắn: Ôm ben-za sông-kha-pa cưa-lu sô-ha. (108 biến hoặc 1080 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Ah), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Tổ sư Tsongkhapa, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 

Niệm chú Văn Thù: Ôm a-ra-pa-cha-na đi.
Niệm chú Quan Âm: Ôm ma-ni pê-mi hùm.
Niệm chú Kim Cang Thủ: Ôm ben-za bua-ru hùm pây.

**Tụng tán:**

Trước Thượng sư tổng trì Tam Bảo
Con cung kính hết lòng tán thán
Chỉ mong trừ hết thảy nghiệp chướng
Mau thành tựu công đức trong ngoài.


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


![image](/img/img_19d319ea07d0f73c496c171fe9e63cf4.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Tổ sư Tsongkhapa


Tổ sư Tsongkhapa có một đầu hai tay hai chân, thân màu trắng, tướng mạo từ bi viên mãn, trang nghiêm như Phật, nét mặt hơi tươi cười, thân mặc pháp y màu vàng, đầu đội mũ pháp màu vàng, ngồi tư thế kim cang kiết già trên pháp tọa nguyệt luân hoa sen do tám đại sư tử vương nâng đỡ. Trên hoa sen bên tay phải có bảo kiếm bát nhã, trên hoa sen bên tay trái có kinh điển bát nhã.

Quanh thân Tổ sư tỏa ra ánh sáng trí huệ, diễn hóa Phật pháp sâu rộng. Trên đỉnh đầu có tam thế Phật: Phật Nhiên Đăng, Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật Di Lặc. Và tam hộ chủ là: Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Quan Thế Âm Bồ Tát, Kim Cang Thủ Bồ Tát. 

Thứ tự quán tưởng các vị như sau:
Nam Mô Nhiên Đăng Phật.
Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam Mô Thích Ca Phật.
Nam Mô Văn Thù Bồ Tát.
Tổ sư Tsongkhapa.
Hành giả.
Nam Mô Di Lặc Phật.
Nam Mô Kim Cang Thủ Bồ Tát.


![image](/img/img_b41c29c145ff6358745b55b57bac91d4.jpg)



### Khai thị trân quý của Liên Sinh Pháp Vương Lư Thắng Ngạn


Bản thân tôi có sự kết nối về mặt tâm linh với tôn giả Tsongkhapa. Mọi người còn nhớ không, có một vị giáo chủ đời thứ 100 là Ganden Tripa của phái Gelug - Hoàng giáo, đã đến Seattle Lôi Tạng Tự của chúng ta. Ai còn nhớ xin giơ tay! Ngài ấy tặng cho Sư Tôn một chiếc long bào Pháp Vương mà bản thân ngài từng mặc, còn có một cái bình quán đảnh, một cái chuông kim cang, một cái chày kim cang, một cái trống cầm tay, những pháp khí mà người tu hành dùng. Ganden Tripa đại diện cho ai? Đại diện cho Tổ sư Tsongkhapa. Có ba người khi đi ra ngoài đều dùng cái ô màu vàng để mở đường dẫn đường, có người dùng đàn hương để đón và tiễn, trong phái Hoàng giáo Gelug chỉ có ba người, một là Dalai Lama, hai là Panchen Lama, ba là Ganden Tripa. Ganden Tripa đã tặng cho Lư Sư Tôn long bào, bình quán đảnh, chuông kim cang, chày kim cang, chuỗi hạt, còn có trống tay. Thật ra, Ganden Tripa tương đương với giáo chủ của phái Gelug, khi đi ra ngoài, phía trước có người mở đường, che ô màu vàng cam, có đàn hương đón tiễn. Chỉ có ba người, Dalai, Panchen và Ganden Tripa, bởi vì ngài có thân phận là giáo chủ.

Khi Tsongkhapa rời quê hương đến Tây Tạng, ngài đã cúng dường lớn cho chùa Jokhang và chùa Ramoche, kết quả là, Quan Thế Âm Bồ Tát đưa ngài lên trên đỉnh núi cao nhất, ngài ở đó nhìn thấy hoa sen màu xanh, ngài cầm bông hoa sen màu xanh trên tay mình, Quan Thế Âm Bồ Tát nói với ngài rằng: “Ngài chính là Liên Hoa Đồng Tử màu xanh.” Tôi nói với các bạn một bí mật: Atisha tôn giả sáng lập phái Kadam, Tsongkhapa tôn giả sáng lập phái Gelug, Lư Sư Tôn sáng lập True Buddha School Chân Phật Tông, thật ra, Liên Hoa Đồng Tử đều là người sáng lập tôn giáo, đây là một bí mật.

Quan Thế Âm Bồ Tát nói với Tsongkhapa: “Ngài Là Liên Hoa Đồng Tử màu xanh.” Nếu các bạn chú ý đến lịch sử Tsongkhapa đến nhân thế gian này, có một đoạn như vậy, đây là bí mật đầu tiên.

Bí mật thứ hai, khi Tsongkhapa tại thế, ngài rất ngưỡng mộ Atisa tôn giả, đã học rất nhiều pháp của phái Kadam, bất kể Hiển Mật. Atisa tôn giả có “Bồ đề đạo cự luận”, cự trong từ hỏa cự, tức là bó đuốc, có người gọi là “Bồ đề đạo đăng luận”. “Bồ đề đạo thứ đệ quảng luận” của Tsongkhapa chính là kế tục “Bồ đề đạo đăng luận” và “Tam sĩ đạo”, ngài viết thành cuốn “Bồ đề đạo thứ đệ quảng luận” [Luận bàn sâu rộng về thứ tự đạo bồ đề] chính là pháp Hiển giáo, vô cùng vĩ đại. Bởi vì ngài kế tục phái Bkardgam cho nên ngôi chùa đầu tiên mà ngài xây dựng chính là chùa Kadam, bây giờ người ta gọi là tu viện Ganden để tưởng nhớ Atisa tôn giả. Bạn xem, “Bồ đề đạo đăng luận” của Atisa tôn giả truyền cho Tsongkhapa tôn giả, vì thế Tsongkhapa viết thành cuốn “Bồ đề đạo thứ đệ quảng luận”. 

Khi Tsongkhapa tại thế, ngài có 3 vị sư phụ, đây là 3 vị sư phụ chủ yếu mà ngài coi là Căn bản Thượng sư, các sư phụ khác mà ngài đã bái làm thầy có 14 vị, nói nhiều hơn một chút thì ngài có 32 sư phụ, tổng cộng ngài đã kết duyên với 32 vị sư phụ. Ngài học rộng rãi Hiển giáo và Mật giáo. Sư phụ của Sư Tôn, cộng cộng trừ trừ tổng cộng có 27 vị.

Tsongkhapa nương dựa vào 32 sư phụ, học vấn của  ngài cực kì uyên bác, chủ yếu nhất là Trung quán. Bạn đừng cho rằng Tsongkhapa chỉ học Trung quán, đó là sai lầm, ngài cũng học “Duy thức ngũ luận”, “Trung quán ngũ luận”, còn học tập luận tác của rất nhiều vị tổ sư, ngài đều học cả. Học vấn của ngài vô cùng cao sâu, hơn nữa còn rất uyên bác. Sư phụ đầu tiên của ngài là Pháp Vương Choje Dondrub Rinchen, từ nhỏ ngài đã thu nhận Tsongkhapa về nuôi dưỡng, dạy Tsongkhapa Mật pháp, quán đảnh cho Tsongkhapa pháp Thời Luân, Đại Uy Đức, Mật Tập, Thắng Lạc, sau đó cũng học pháp Hỉ Kim Cang, mọi pháp Kim Cang đều học. Vị sư phụ đầu tiên Pháp Vương Choje Dondrub Rinchen đã dạy Tsongkhapa Mật giáo, hơn nữa còn nuôi dưỡng ngài cho đến 16, 17 tuổi, sau đó gửi ngài đến Tây Tạng. 

Khi Tsongkhapa ở Tây Tạng, ngài đã chu du khắp Tây Tạng, Tiền Tạng, Hậu Tạng, toàn bộ mọi địa phương ngài đều đi hết, hễ gặp được một đại thiện tri thức là ngài bắt đầu học pháp, Hiển Mật đều học. Cho nên ngài đã học Mật giáo, cũng thực tu, sư phụ của ngài lúc này là Rendawa Shyönnu Lodrö. Ban đầu Rendawa Shyönnu Lodrö ở tu viện Sakya, thuộc về phái Sakya. Vị sư phụ thứ hai chủ yếu nhất của Tsongkhapa là Rendawa Shyönnu Lodrö. Rendawa dạy ngài Trung quán và Nhân minh. Sau này, Tsongkhapa vẫn có rất nhiều nghi vấn đối với Trung quán, và cũng có rất nhiều nghi vấn đối với Duy thức. Ngài đã gặp một người, người này là Lama Umapa, người mà có thể giao tiếp tâm linh với Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, tất cả mọi nghi vấn, ngài đều có thể thỉnh Lama Umapa hỏi Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, nhờ Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát đích thân giải đáp mọi thắc mắc của Tsongkhapa, cuối cùng đã khiến Tsongkhapa thỏa mãn, hình thành nên điều kiện quan trọng thứ ba, chính là trung quán chính kiến. Phái Gelug coi trọng nhất chính là tâm xuất li, thứ hai là tâm bồ đề, thứ ba là trung quán chính kiến. Đây là điều mà Tsongkhapa nói với tôi. Họ coi trọng điều này. Ngoài ra còn coi trọng giới luật nữa.

Buổi tối ngày 6/9/2018, Tsongkhapa xuất hiện trong thư phòng của tôi, tướng mạo của ngài vô cùng viên mãn, thần thái phấn khởi, trên người tỏa ánh sáng nhiều màu sắc, tay cầm hoa sen màu xanh. Tôi hỏi ngài là ai, Tsongkhapa trả lời: “Sư Tử Hống Như Lai.” Ngài lập tức hiện tướng mạo của Như Lai, khi Tsongkhapa thành Phật, Phật hiệu khi ngài thành tựu gọi là Sư Tử Hống Như Lai, đây là bí mật thứ hai. Có ai biết ngài ấy là Sư Tử Hống Như Lai không? Thượng sư nào biết xin mời giơ tay. Không cần khách khí, nếu các bạn biết ngài là Sư Tử Hống Như Lai thì xin mời giơ tay. Vì các bạn không biết, vậy thì ngài chính là Sư Tử Hống Như Lai đó. Đây cũng là bí mật của ngài.

Tôi hỏi ngài: “Ngài từ đâu đến?” Tsongkhapa trả lời: “Tôi ở Nội viện Di Lặc Đâu Suất Thiên.” Thật ra, ngài cười và nói: “Pháp thân vô số.” Ngài nói tôi là hóa thân của ngài, Lư Sư Tôn là hóa thân của Tsongkhapa. Tôi nói: “Dường như tôi biết ngài là Tsongkhapa, tôi đang muốn tìm ngài đây.” Tsongkhapa nói: “Tôi tự đến rồi, ngài không cần tìm.” Tôi nói: “Xin mời tự thuật về lai lịch của chính ngài đi.” Tsongkhapa trả lời: “Tôi vốn là ứng hóa của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.” 

Bản thân Tsongkhapa cũng là Liên Hoa Đồng Tử. Ngài nói, những gì ngài làm chính là những gì chư Phật làm, Tsongkhapa nói như vậy. Ngài nói, ở chùa Jokhang, chùa Ramoche, ngài đã được Quan Thế Âm Bồ Tát khai sáng. “Ở trên đỉnh núi, tôi cầm một bông hoa sen màu xanh, cho nên, tôi là Thanh Liên Hoa Đồng Tử.” Tôi trả lời: “Thì ra là cùng một gốc.” Về trải nghiệm tu hành của mình, Tsongkhapa trả lời rằng: “3 tuổi đến 16 tuổi, học tập Mật thừa từ Choje Dondrub Rinchen, đã được quán đảnh và tu pháp Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Diệu Âm Thiên Nữ, sau đó học Đại Uy Đức Kim Cang, Thắng Lạc Kim Cang, Hỉ Kim Cang, Kim Cang Thủ Bồ Tát.” Lúc này, Tsongkhapa tôn giả nói: “Atisa tôn giả đã nhiều lần hiển hiện chỉ đạo, sau này tôi sẽ hoằng dương pháp của phái Bkardgam.” Ngôi chùa đầu tiên mà ngài xây dựng chính là chùa Bkardgam, cũng chính là chùa Ganden hiện nay. Tsongkhapa nói: “Tôi là một tì kheo thanh tịnh, vì hoằng dương Thánh giáo mà học rộng Phật pháp.” Ngài nói ngài học Trung quán của Long Thọ Bồ Tát, Đề Bà và Nguyệt Xứng trước, sau đó là Duy thức, chính là Duy thức của Di Lặc, Vô Trước, Thế Thân. Còn học cả Nhân minh, nương dựa vào rất nhiều sư phụ, học hỏi mọi luận thuyết. Ngài đã học quá nhiều luận thuyết, bây giờ tôi chỉ kể tên có “Hiện quán trang nghiêm luận” là của Di Lặc Bồ Tát, “Câu xá luận”, cũng chính là “Quang minh luận” nói về từ lúc bắt đầu tu hành cho đến khi thành Phật, còn có “Trung quán luận”, “Nhập trung luận” của Nguyệt Xứng Bồ Tát, “Tập lượng luận” của Trần Na Bồ Tát, còn có “Thích lượng luận” và “Giới luận”, “Giới luận” chính là giới luật. Căn bản Thượng sư chủ yếu nhất của Tsongkhapa là: “Rendawa Shyönnu Lodrö là Căn bản Thượng sư mà tôi tôn sùng nhất.”

Tsongkhapa nói: “Tôi học tập Long Thọ và Đề Bà của Hiển giáo, còn có Vô Trước, Thế Thân, Trần Na, Pháp Xứng. Tôi còn học tập pháp Ngũ Đại Kim Cang.” Dựa vào Đại Uy Đức Kim Cang để che chắn những tai họa chết người cho ngài. Tsongkhapa có rất nhiều tai nạn, chủ yếu nhất là những tai nạn liên quan đến tuổi thọ. Mọi người thử nghĩ xem, Hộ pháp của Sư Tôn là Đại Uy Đức Kim Cang Minh Vương, cũng giống với Tsongkhapa.

Đại sư Tsongkhapa có nhiều trước tác, có “Bồ đề đạo thứ đệ quảng luận”, “Mật tông đạo thứ đệ quảng luận”, hai bộ luận này là chủ yếu nhất, các luận tác khác thì cực kì nhiều, mọi người có nhớ không? Nghe tôi giảng “Mật tông đạo thứ đệ quảng luận”, là ai hiển hiện ra để gia trì cho Sư Tôn? Chính là Tsongkhapa hiển hiện ra để gia trì cho Sư Tôn. Tsongkhapa khi học pháp của phái Kadam, Atisa tôn giả cũng hiển hiện để gia trì, khi tôi giảng “Mật tông đạo thứ đệ quảng luận”, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát và Tsongkhapa cùng hiển hiện để gia trì cho Lư Sư Tôn, điều này là hoàn toàn có thật, là sự thật. Tsongkhapa còn nói: “Tất cả mọi thắc mắc đều có Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát đích thân đến chỉ dạy và hướng dẫn. Lama Umapa cũng là một trong những vị thầy chủ yếu.” Cho nên, ngài có tổng cộng ba vị thầy, Choje Dondrub Rinchen, Rendawa Shyönnu Lodrö và Lama Umapa. Tsongkhapa nói: “Vì sự tu học Hiển Mật viên mãn và nêu cao giới hạnh, cho nên sáng lập phái Gelug.” Hai chữ Gelug chính là giới luật. Cuối cùng, ngài đã có thể tận mắt nhìn thấy Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát và 35 vị Phật, nhìn thấy chư vị, đạt được thành tựu cao nhất.

Ngài coi trọng tâm xuất li, tâm bồ đề, trung quán chính kiến, giới luật. Cuối cùng tôi hỏi Tsongkhapa: “Ngài muốn nói với chúng tôi nhất là điều gì?” Tsongkhapa nói: “Giới luật và tinh tấn.” Tsongkhapa muốn đệ tử Chân Phật Tông chúng ta nhất định phải giữ giới và tinh tấn. Chỉ nói đại khái một chút. Atisa tôn giả, Tsongkhapa tôn giả và Lư Sư Tôn là ba hợp thành một, đều là Liên Hoa Đồng Tử, không có khác biệt, đây chính là một bí mật rất lớn. Tsongkhapa thành tựu Phật rồi chính là Sư Tử hống Như Lai. Ngài không dùng sự nghiệp thủ ấn [karmamudra, còn gọi là nghiệp ấn, hành ấn, là một môn yoga, một kĩ thuật tu hành trong Mật tông, chính là pháp song thân], ngài biết sự nghiệp thủ ấn, nhưng ngài không dùng. Trung ấm của ngài thành Phật, Phật danh chính là Sư Tử Hống Như Lai, vô cùng tôn quý.

Tôi đã viết “Tsongkhapa Tổ sư niệm tụng pháp”, các bạn có thể nhìn thấy pháp tướng của Tổ sư Tsongkhapa ở phía sau, chú ngữ của ngài có chú ngắn là “Om benza tsongkhapa gelug soha”, cũng có thể niệm thành “Om ah hum benza tsongkhapa gelug soha”. Thủ ấn của ngài là ấn chuyển pháp luân, tôi kết cho mọi người xem. (Sư Tôn thị phạm.) Kì thực cũng không cần tôi phải kết ấn, bởi vì nhìn trên pháp tướng thì chính là ấn chuyển pháp luân rồi, tay phải hướng ra ngoài, tay trái hướng vào trong, đây là ý nghĩa của chuyển pháp luân. Atisa tôn giả được quốc vương của vương triều Guge Tây Tạng mời ngài đến Tây Tạng để chuyển pháp luân. Tsongkhapa ở Tây Tạng chuyển pháp luân, Lư Sư Tôn cũng chuyển pháp luân, thủ ấn của Liên Hoa Đồng Tử là một tay là ấn thuyết pháp, một tay là ấn cầm hoa sen (Sư Tôn thị phạm, hai tay đặt trước ngực), đây cũng là ấn chuyển pháp luân, tay phải hướng ra ngoài, tay trái hướng vào trong, đây cũng là chuyển pháp luân. Mọi người cảm thấy Tsongkhapa vô cùng quan trọng không?

Tsongkhapa có học Thời Luân Kim Cang, Mật Tập Kim Cang, Hỉ Kim Cang, Đại Uy Đức Kim Cang, Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, ngoài ra còn có Thắng Lạc Kim Cang, toàn bộ ngài đều học rồi, mọi pháp Vô thượng mật đều học hết. Ngài cũng từng bế quan. Một Phật pháp muốn tồn tại vĩnh viễn đòi hỏi phải có một số đệ tử vĩ đại ủng hộ ngài. Ngài đã giao vị trí Pháp Vương của mình, y phục và mũ của mình cho đệ tử số một của ngài là Gyaltsab Je. Đệ tử tâm phúc của Tsongkhapa là Khedrup Je, Khedrup Je là ai? Chính là truyền thừa Panchen Lama sau này, từ Khedrup Je truyền xuống. Gyaltsab Je thì trở thành giáo chủ Ganden Tripa. Ngoài ra còn có tì kheo giữ giới luật thanh tịnh nhất là Jetsun Dragpa Gyaltsen. Còn có một người là Sakya Yeshi, Tsongkhapa phái ông ấy đi gặp Hoàng đế Vĩnh Lạc ở chùa Minh Thành Tổ, Hoàng đế Vĩnh Lạc ban cho ông ấy một xưng hiệu Pháp Vương là Đại Từ Pháp Vương. Đại Từ Pháp Vương, Đại Thừa Pháp Vương, Đại Bảo Pháp Vương là các danh hiệu Pháp Vương mà Hoàng đế Vĩnh Lạc ban cho, một trong số đó là ban cho Sakya Yeshi. Sakya Yeshi ở Mông Cổ chuyển thế thành Jebtsundamba Khutuktu, dịch ra tiếng Hán là Chương Gia Hoạt Phật, Cam Châu Hoạt Phật. Sư Tôn có truyền thừa của Cam Châu Hoạt Phật, Cam Châu Hoạt Phật chính là chuyển hóa của đệ tử của Tsongkhapa. Panchen cũng là đệ tử Khedrup Je của Tsongkhapa chuyển hóa. Người mà vào 5 năm cuối cùng của Tsongkhapa mới đến quy y chính là Gendun Drubpa, chính là Dalai Lama sau này, đó là đệ tử nhỏ nhất của Tsongkhapa. Thế nhưng đệ tử tâm phúc thật sự chính là Panchen Lama. Dalai Lama, Panchen Lama, Ganden Tripa, Chương Gia Hoạt Phật - Mông Cổ Đại Hoạt Phật Chương Gia Khutuktu, Cam Châu Khutuktu, có người gọi ngài là Khờ Khạo Tồ Tồ. (đùa) Ở đây tôi nói về quá khứ của Tsongkhapa, về sau cần phải có người truyền thừa rất vĩ đại tiếp tục truyền xuống. Khi xưa, lúc Tsongkhapa còn tại thế, đầu tiên ngài xây dựng chùa Kadam - tu viện Ganden. Tiếp theo là xây dựng chùa Drepung, sau này lại xây dựng chùa Sera, đây là ba ngôi chùa lớn của Hoàng giáo Tây Tạng. Còn có chùa Tashi Lhunpo ở biên giới Hậu Tạng, chùa Kumbum ở Thanh Hải [Amdo] nơi Tsongkhapa sinh ra, và chùa Labrang ở Cam Túc, được gọi là sáu ngôi đại tự của Hoàng giáo. Đây chính là điểm vĩ đại nhất trong cuộc đời của Tsongkhapa.

Song vận mà Tsongkhapa truyền lại có hữu-không song vận, sắc-không song vận, “sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc”, trong Tâm Kinh nói đến, Phật Thích Ca Mâu Ni cũng biết, “có” và “không” đều phải coi trọng, không có “có” thì không có “không”, từ đây mà sản sinh ra “trung quán tự tục phái”, bởi vì tự tính cũng là không. Tôi nói để bạn biết, duyên khởi tính không, tự tính cũng là không, đó là thuyết pháp thắng nghĩa. Tsongkhapa cuối cùng đã hiểu sắc-không song vận. Cho nên, ngài nói về duyên khởi lập thành. Hai song vận duyên khởi tính không và duyên khởi lập thành này chính là “trung quán ứng thành phái”.

“Trung quán tự tục phái”, “trung quán ứng thành phái”, Tsongkhapa chủ trương “trung quán ứng thành phái”, ngài cho rằng thế tục đế vô cùng quan trọng, không có thế tục đế thì sẽ không có tính Không, duyên khởi lập thành. Đây là điều mà chính Tsongkhapa và Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nói với tôi như vậy, cần phải là “hữu-không song vận”. Ngoài ra còn có “lạc-không song vận”, “lạc” chính là phương tiện, “không” chính là thắng nghĩa. Một điều quan trọng nhất của Tsongkhapa là khi nhập tam ma địa, ngài có thể lạc-không song vận, có và không song vận.

Tsongkhapa còn dạy chúng ta một điều, thế nào gọi là “chỉ quán”. Tu hành có hai phương pháp, một là tu chỉ niệm [dừng suy nghĩ], hai là tu quán tưởng. Bạn thiên về tu chỉ niệm thì bạn sẽ đi vào không cảnh, không có bất kì suy nghĩ nào, chính là tu chỉ niệm. Khi bạn chưa thành tựu được chỉ niệm, bạn phải cần tu quán tưởng, cho nên, chỉ-quán song vận chính là ở đây. Tsongkhapa nói với tôi về pháp tu tập nhập tam ma địa như vậy, tu tập nhập tam ma địa cũng có hai phương pháp, một là tu hành dừng dứt suy nghĩ (tu chỉ niệm), hai là tu hành quán tưởng. Khi bạn chưa thể nào dừng được mọi suy nghĩ thì dùng cách tu quán tưởng, khi bạn quán tưởng đến cực độ rồi thì bạn dùng cách tu chỉ niệm, đây chính là chỉ-quán song vận, đây là phương pháp nhập tam ma địa tốt nhất. Bạn không thể chỉ tu mỗi chỉ niệm, bởi vì suy nghĩ không dừng lại được, bạn nghĩ về chỉ niệm thì cũng vẫn là có suy nghĩ rồi, bạn nghĩ đến việc muốn dừng hết mọi suy nghĩ lại thì suy nghĩ đó vẫn là suy nghĩ. Cho nên bạn phải quán tưởng đến mức tinh thần thống nhất, cho đến khi suy nghĩ hoàn toàn không có nữa mới là chỉ-quán song vận, cứ thế cho đến khi thành tựu. Đây chính là chủ trương của Tsongkhapa, là điều mà Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát đã dạy, chính là trung quán chính kiến.


![image](/img/img_e02a1a48045fd5db91b7fc6fd436fb09.jpg)



![image](/img/img_0bd26fadd73bb24732edb14dc0d36f29.jpg)


Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/trieu-thinh-khong-hanh-ho-phap-va-chu-vi-bang-thu-an-tu-nhiep.md
# Title: Triệu thỉnh Không hành, Hộ pháp và chư vị bằng thủ ấn tứ nhiếp
---

# Pháp triệu thỉnh Không hành, Hộ pháp và chư vị bằng thủ ấn tứ nhiếp



### Bài giảng số 1


Thủ ấn tứ nhiếp như trong hình minh họa


![image](/img/img_c23e6155495c89dbf1df419202040919.png)


Cha - ấn móc kim cang: ngoại phộc, ngón trỏ tay phải hơi cong làm thành hình móc câu.
Hum - ấn thừng kim cang: ngoại phộc, ngón trỏ tay phải cho vào trong huyệt hổ khẩu của tay trái.
Ban - ấn khóa kim cang: ngoại phộc, tạo khoảng rỗng giữa hai lòng bàn tay, hai tay ngón trỏ và ngón cái chạm vào nhau thành vòng.
Ho - ấn chuông kim cang: ngoại phộc, hai ngón cái cụp xuống đất, lắc qua lắc lại ở vị trí ngón áp út.

**Triệu thỉnh Không Hành Hộ Pháp như thế nào?**

Có rất nhiều đệ tử viết thư hỏi, đôi khi gặp sự việc rất gấp muốn thỉnh cầu thì phải làm sao? Muốn thỉnh cầu Phật Bồ Tát, các Hộ Pháp Không Hành giáng lâm đàn thành, làm thế nào mới biết được các vị có giáng lâm hay không? Có rất nhiều đệ tử hỏi việc này, có phải là có phương pháp đặc biệt để triệu thỉnh Hộ Pháp Không Hành không?

Bình thường chúng ta triệu thỉnh đều như nhau, tức là hai tay chắp lại, thỉnh Phật Bồ Tát ở đàn thành hạ giáng. Thật ra mỗi đàn thành đều có các vị thường trụ, ý nghĩa của thường trụ tức là trong đó nhất định có pháp thân Bồ Tát ở trong đàn thành, đại bộ phận đều là như vậy, cho nên chúng ta chắp tay lại niệm chú triệu thỉnh, kiền thành thỉnh cầu, đại bộ phận đều sẽ có cảm ứng.

Phương pháp triệu thỉnh đặc biệt tức là giống như khi đặt bát hương nằm ra và thắp hương, tức là đốt hai đầu hương, có nghĩa là vốn dĩ khi bạn thắp hương thì chỉ đốt một đầu, từ bên trái cháy qua bên phải. Nhưng khi sự tình rất gấp gáp, bạn có thể đốt hai đầu hương, tức là đốt cả hai đầu của que hương, đốt hai đầu hương tức là tương đối khẩn cấp, Phật Bồ Tát biết đây là hương khẩn cấp thì sẽ hạ giáng. Đây là cách thứ nhất.

Trong Mật giáo còn có một phương pháp khác, chính là dùng ấn câu triệu để phụng thỉnh Phật Bồ Tát hạ giáng, nếu làm ấn câu triệu phải quán tưởng, ví dụ bạn muốn thỉnh vị đó, vị Bổn tôn trí huệ sẽ xuất hiện trong hư không, chân dẫm trên mây cát tường ngũ sắc, hoặc ngồi trên pháp tọa hoa sen ở trong hư không. Hộ Pháp Không Hành đại bộ phận là đứng trên mây cát tường ngũ sắc, bạn dùng ấn móc câu để móc vào đám mây của ngài, quán tưởng ngài xuất hiện trong hư không, sau đó thả xuống dưới, thế là đến đàn thành của bạn, đây là chỗ tương đối đặc biệt của Mật giáo.

Ở Tây Tạng cũng có cách nói như vậy, ở trên chân phải của chúng ta có ẩn giấu 300 nam Hộ Pháp Dũng Phụ, ở trên chân trái có ẩn giấu 300 Không Hành Dũng Mẫu. Không Hành Dũng Phụ ở chân phải, Không Hành Dũng Mẫu ở chân trái, muốn triệu thỉnh Hộ Pháp Không Hành hạ giáng, bạn chỉ cần luân phiên vỗ vào chân phải và chân trái, vỗ một cái thì niệm một câu chú, câu chú này chính là chú bốn chữ mà tôi đã truyền trước đây “Cha Hum Ban Ho”. Vỗ một cái vào chân phải niệm “Cha”, vỗ một cái vào chân trái niệm “Hum”, rồi lại vỗ vào chân phải niệm “Ban”, vỗ một cái vào chân trái niệm “Ho”, dùng ấn câu triệu. Không Hành Dũng Phụ và Dũng Mẫu nhất định sẽ hạ giáng, đây là cách tu pháp của Mật giáo Tây Tạng, cũng không cần đốt hương hai đầu. Bởi vì trong chân phải của chúng ta có ẩn giấu 300 Dũng Phụ, ở chân trái của chúng ta có ẩn giấu 300 Dũng Mẫu, Không Hành Dũng Phụ và Không Hành Dũng Mẫu đều là Hộ Pháp, khi có việc khẩn cấp bạn chỉ cần chắp tay lại làm như vậy, Không Hành Hộ Pháp nhất định sẽ giáng xuống.

Om mani padme hum.
30/06/1992. 


### Bài giảng số 2


Tứ nhiếp pháp "Cha. Hum. Ban. Ho." Thủ ấn tứ nhiếp chính là móc kim cang, thừng kim cang, khóa kim cang, chuông kim cang.

Trước kia chẳng phải tôi đã nói sao? Bạn làm pháp triệu thỉnh, giơ thủ ấn triệu thỉnh này lên, chẳng phải là cái móc kim cang sao? (Ấn ngoại phộc, ngón trỏ tay phải làm thành hình cái móc.) Móc kim cang phải vươn vào trong cõi trời, sau đó quán tưởng chủ tôn ở trên mây, bạn móc vào đám mây của ngài rồi kéo ngài xuống, thế là ngài sẽ rơi xuống. Chẳng phải tôi đã từng nói sao? Bạn bảo sao cơ? Đúng rồi, khẩu quyết chính là như vậy.

Thật ra bạn dùng pháp triệu thỉnh, dùng móc kim cang này, đây là cách móc. Ngoài ra, bạn muốn thỉnh ngài đến, bạn nói tôi muốn thỉnh Quan Thế Âm Bồ Tát đến, bạn vẽ [trong tâm] Quan Thế Âm Bồ Tát, trong lúc bạn vẽ, vẽ đến những vòng xuyến của ngài, vòng xuyến là cái gì? Chính là vòng tay. Khi vẽ đến vòng tay, bạn phải quán tưởng vòng tay này đang động. Khi bạn vẽ vòng cổ của ngài thì cũng như vậy. Giống như vẽ chuỗi hạt của ngài, bạn hãy vẽ chuỗi hạt của ngài đang động chứ đừng quán tưởng ngài tĩnh lặng. Quán tưởng vòng tay của ngài đang động, vòng chân đang động, sau đó thì sao? Tay áo bay bay, thiên y váy xếp đang lay động, cuối cùng, bạn quán tưởng chân của ngài “tiệm quán túc bộ đẳng”, thế nào gọi là “tiệm quán túc bộ”? Tức là phải nghĩ chân của ngài đang tiến về phía trước, bay bay chuyển động trong hư không đến chỗ của bạn. Đây chính là khẩu quyết.

Phật Bồ Tát đến chỗ bạn là đến thật hay sao? Người bình thường chúng ta sẽ nói: “Làm gì có đến thật? Ngài muốn đến hay không là tùy ý ngài. Chúng ta có thể tác động được đến ngài sao?” Nhưng mà không phải như vậy đâu! Bạn dùng cách giả tưởng, “các ngài chỉ sinh ra trong giả tưởng” — bạn dùng niệm lực của bạn, dùng niệm lực trong đầu của bạn để tưởng tượng, tưởng tượng tay ngài đang cử động, vòng xuyến của ngài đang rung động, vòng chân của ngài đang rung động, vòng cổ, chuỗi hạt đều rung động, tất cả những thứ ngài đang đeo đang mặc đều chuyển động. Sau cùng quán tưởng chân của ngài đang chuyển động, tay của ngài chuyển động, mắt của ngài động, ngài đã sống lại rồi. Ban đầu là bạn giả tưởng, nhưng khi bạn vẽ ngài trên tấm vải của bạn, bạn quán tưởng Quan Thế Âm Bồ Tát đang động. Lúc này, ngài chính là từ trong sự giả tưởng của bạn mà biến thành Quan Thế Âm Bồ Tát thật sự, đến trước mặt bạn. Đây là pháp sự bộ của Mật giáo, yếu quyết nằm ở đây.

Các vị có đến hay không, thứ nhất là nằm ở ý niệm của bạn, bạn dùng ý niệm quán tưởng ngài đến trước mặt bạn. Thứ hai là nằm ở thủ ấn của bạn, bởi vì thủ ấn của bạn đã móc vào ngài, dùng móc kim cang của bạn để móc vào ngài rồi. Thứ ba là nằm ở chú ngữ, bởi vì chú ngữ của bạn đã đi vào trong tâm của Phật Bồ Tát chư thiên. Đó là pháp Mật giáo, bí mật của nó chính là ở đây: niệm chú ngữ đi vào trong tim ngài, kết thủ ấn câu triệu để móc vào ngài, dùng suy nghĩ của bạn quán tưởng ngài đã di chuyển đến trước mặt bạn.

Bạn biết tứ tự minh không? Tứ tự minh Cha Hum Ban Ho. 

Cha - ngài ở trong hư không.
Hum - ngài đã đến gần bạn.
Ban - ngài hoàn toàn đến sát thân bạn.
Ho - ngài tiến vào bên trong thân thể bạn.

Cha Hum Ban Ho, đây gọi là tứ tự minh, chính là bốn chữ trong Mật giáo. Khi bạn quán tưởng Bổn tôn trí huệ tiến vào thân thể bạn, bạn phải làm: Cha - ngài ở trong hư không; Hum - ngài di chuyển đến trước mặt bạn; Ban - ngài và bạn hợp nhất; Ho - ngài tiến vào trong tim bạn. Sau đó phải làm quán tưởng thế nào nữa? Tôi vừa nói khi nãy: bạn phải làm cho vòng xuyến động, vòng cổ động, quần áo động, chân động, cả con mắt ngài cũng động, tất cả mọi thứ của ngài đều chuyển động và di chuyển đến trước mặt bạn, đây chính là khẩu quyết. Hôm nay mọi người kiếm được món lời rồi.

---
# File: nghi-quy-tu-tap/tru-cai-chuong-bo-tat-niem-tung-phap.md
# Title: Trừ Cái Chướng Bồ Tát niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_13ae454dd88991755682661f0349582e.jpg)



## Trừ Cái Chướng Bồ Tát niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_da37eeea4577167a2c4b0689e69104ba.jpg)


**Kết ấn: **

Hai tay chụm lại khum khum tạo khoảng trống ở giữa, ngón út và ngón áp út cong gập vào trong lòng hai bàn tay (nhưng không phải ấn nội phộc), hai ngón cái đè nhẹ lên ngón áp út. Giữ ấn trước ngực. 

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn trời xanh vạn dặm không mây, nguyệt luân từ trên mặt biển nhô lên, trong nguyệt luân có chủng tử chữ “Ah” tiếng Phạn hoặc tiếng Tạng.

(2) Chữ Ah trong nguyệt luân xoay trò, hóa thành Trừ Cái Chướng Bồ Tát tay trái cầm pháp tràng, trên đỉnh pháp tràng có bông hoa sen, trong hoa sen có mặt trời. Tay phải kết ấn ban nguyện hoặc ấn vô úy.

(3) Thiên tâm của Trừ Cái Chướng Bồ Tát phóng ra một đường ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả, họng của Bồ Tát phóng ra một đường ánh sáng đỏ chiếu thẳng đến họng của hành giả, tâm luân của Bồ Tát phóng ra một đường ánh sáng lam chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng trắng đỏ lam dung nhâp vào thân tâm hành giả.


### Phần 14: Trì tâm chú Trừ Cái Chướng Bồ Tát


Tâm chú: Ôm na-sa-la-ya sô-ha. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Hum), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Đại Lực Kim Cang, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


### Giới thiệu pháp tướng Trừ Cái Chướng Bồ Tát


Trừ Cái Chướng Bồ Tát thân màu vàng kim, pháp tướng trang nghiêm viên mãn, ngồi tư thế bán già, tay trái cầm pháp tràng, trên đỉnh pháp tràng có bông hoa sen, trong hoa sen có mặt trời. Tay phải kết ấn ban nguyện hoặc ấn vô úy.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị về lai lịch và sự thù thắng của Trừ Cái Chướng Bồ Tát 


Trừ Cái Chướng Bồ Tát là trừ bỏ tất cả chướng ngại, hàng phục tất cả trở ngại, là Bồ Tát dẹp bỏ mọi sự che chắn tăm tối. Ngài là một trong tám vị Đại Bồ Tát của Phật giáo, là chủ tôn của viện Trừ Cái Chướng trong mandala Thai Tạng Giới của Mật giáo, mật hiệu là Li Não Kim Cang [Li Não - xa rời phiền não]. 

Trừ Cái Chướng Bồ Tát là một trong số tám Đại Bồ Tát. Khi chúng ta niệm Cao Vương Kinh có niệm đến Bát Đại Bồ Tát — Quan Thế Âm Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Trừ Cái Chướng Bồ Tát, Kim Cang Thủ Bồ Tát, đây là tám vị Bồ Tát trong thời đại của Phật Đà, cùng với Phật Đà hoằng dương Phật pháp, cho nên gọi là Bát Đại Bồ Tát.

Bát Đại Bồ Tát ở cùng một thời gian, cùng tu hành, cùng thành tựu, cho nên được gọi là Bát Đại Bồ Tát. Trừ Cái Chướng Bồ Tát mặc dù xếp ở sau cùng, nhưng sự hữu dụng của ngài vô cùng lớn. Ngài có thể hàng phục phiền não, điều này rất hiếm có; loại trừ nghiệp chướng, cũng là điều rất hiếm có. Có thể nói ngài là vị số một về hàng phục phiền não, loại trừ nghiệp chướng. 

Pháp lực của Trừ Cái Chướng Bồ Tát vô cùng hiển hách, vốn dĩ vị Bồ Tát này có thể hàng phục phiền não, có thể loại bỏ nghiệp chướng của chúng sinh, cho nên mới gọi là Trừ Cái Chướng.

Trừ Cái Chướng Bồ Tát có lai lịch rất lớn. Mật giáo có Kim Cương Bộ và Thai Tạng Bộ, chính là Kim Cương Giới và Thai Tạng Giới. Kim Cương giới là biểu thị đã đạt đến chứng quả, thuộc về Quả Giới, Kim Cương Giới tương đương với thế giới của Quả. Thai Tạng Giới tương đương với Nhân Giới - thế giới của Nhân. Và Trừ Cái Chướng Bồ Tát có một viện đặc biệt thuộc về ngài ở trong Thai Tạng Giới gọi là viện Trừ Cái Chướng. 

Viện Trừ Cái Chướng đứng vị trí viện thứ tám trong số mười ba đại viện trên mandala Thai Tạng Giới, vị trung tâm là Trừ Cái Chướng Bồ Tát, xung quanh ngài có tám vị Bồ Tát khác là:
1. Trừ Nghi Cái Bồ Tát.
2. Thí Nhất Thiết Vô Úy Bồ Tát.
3. Trừ Nhất Thiết Ác Thú Bồ Tát.
4. Cứu Ý Huệ Bồ Tát.
5. Từ Niệm Bồ Tát.
6. Từ Khởi Bồ Tát.
7. Trừ Nhất Thiết Nhiệt Não Bồ Tát.
8. Bất Khả Tư Nghì Huệ Bồ Tát.

Chúng sinh có phiền não muôn hình muôn vẻ, căn nguyên chủ yếu là vì có năm chướng ngại che chắn là tham sân si nghi mạn. Năm loại chướng ngại này có thể che phủ ánh sáng tâm tính của con người, khiến cho thân tâm con người khó được yên ổn.

Trừ Cái Chướng Bồ Tát tượng trưng cho sự quang minh, chủ yếu chính là vì ngài tiêu trừ phiền não và tiêu trừ nghiệp chướng của bạn. 

Trừ Cái Chướng Bồ Tát có thể tiêu trừ phiền não, nghiệp lực, sinh tử và tất cả chướng ngại được biết đến của chúng sinh, cứu độ chúng sinh khỏi đau khổ phiền não, đạt đến cảnh giới giải thoát. Con người dùng tâm thanh tịnh xưng niệm danh hiệu Trừ Cái Chướng Bồ Tát có thể khởi phát thiện niệm và trí huệ của chúng sinh, thanh trừ sự ô nhiễm của chúng sinh, cuối cùng đạt được nhân duyên thanh tịnh. Trừ Cái Chướng Bồ Tát có thể thỏa mãn nguyện vọng của chúng sinh, khiến thân tâm chúng sinh được an ổn và không sợ hãi.

Kinh Bát Đại Bồ Tát Mandala nói rằng: “Thiện nam có tám mandala, là pháp yếu thậm thâm của Bát Đại Bồ Tát, nếu có chúng sinh hữu tình y pháp mà xây dựng một loạt tám mandala thì mọi tội thập ác ngũ nghịch đều được tiêu diệt hết. Tất cả mong cầu có ý nghĩa, lợi ích và tốt đẹp đều được thành tựu.”

Trừ Cái Chướng Bồ Tát có ba thân tướng, thứ nhất là Trừ Cái Chướng màu trắng, còn có Trừ Cái Chướng màu vàng và Trừ Cái Chướng màu lam, tổng cộng có ba vị Trừ Cái Chướng Bồ Tát màu sắc như vậy. Bạch Trừ Cái Chướng là tiêu tai, Hoàng Trừ Cái Chướng là tư lương, Lam Trừ Cái Chướng là loại bỏ kẻ thù. Trừ Cái Chướng Bồ Tát ba thân sắc như vậy có thể thấy pháp lực của bản thân ngài vô cùng thông đạt, sức mạnh vô cùng hiển hách.

Trừ Cái Chướng Bồ Tát có hình tượng rất giống các Bồ Tát khác, đều là tướng mạo giống nhau. Mỗi một vị trong số Thất Phật Thế Tôn hoặc hàng tỉ tỉ vị Phật đều có cùng một khuôn mặt, cho nên khi bạn quán tưởng thì có thể quán tưởng khuôn mặt Bồ Tát là được rồi. 

Ngài có hai biểu tượng, ngài cầm pháp tràng, cũng có thể gọi là cờ pháp, trên cao nhất có hoa sen, trên hoa sen có ánh sáng tượng trưng cho mặt trời. Trong tạo hình thông thường, ngài có hai thủ ấn, một là ấn ban nguyện, hai là ấn vô úy. Trừ Cái Chướng Bồ Tát đội mũ Ngũ Phật, tướng mạo cực kì trang nghiêm.

Chủng tử tự của ngài là chữ Ah, cũng có ba màu sắc trắng, vàng, lam. 

Thủ ấn của Trừ Cái Chướng Bồ Tát là ngón út và ngón áp út gập vào trong, nhưng không phải nội phộc, mà là gập vào trong và chạm vào nhau, ngón cái đè lên ngón áp út, còn ngón trỏ và ngón giữa thì dựng thẳng và tựa vào nhau.

Chú ngữ của ngài là “Om nasalaya soha” chính là tâm chú của ngài. Có chú ngữ, có thủ ấn, có hình tướng, như vậy là tạo thành ba yếu tố tu trì Mật pháp. Bạn dựa theo Mật pháp là có thể soạn ra nghi quỹ tu hành. Và trong nghi quỹ tu pháp cũng phải phụng thỉnh Bát Đại Bồ Tát, bởi vì ngài thuộc về Bát Đại Bồ Tát.)

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/tru-on-dich-do-mau-niem-tung-phap.md
# Title: Trừ Ôn Dịch Độ Mẫu niệm tụng pháp 
---

![image](/img/img_0cfbb179b0cadc93c5974391acca119e.jpg)



## Trừ Ôn Dịch Độ Mẫu niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


(1) Quán Không.

(2) Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (7 biến)

(3) Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

(4) Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Trừ Ôn Dịch Độ Mẫu.

(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)

Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê. 

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_69946d9659dbe4f03272f496d27b2cb7.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn ****Trừ Ôn Dịch Độ Mẫu**

Tay phải kết ấn ban nguyện, tay trái kết ấn cầm hoa sen.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Quán tưởng trong hư không có mặt trời lớn, ở giữa mặt trời xuất hiện chủng tử tự chữ "Tang" màu đỏ và cam phóng quang và xoay chuyển hóa thành Trừ Ôn Dịch Độ Mẫu. 

(2) Trừ Ôn Dịch Độ Mẫu hiện thân màu đỏ và cam, một mặt hai tay, chân phải duỗi ra, chân trái giữ tư thế cong, ngồi trên tòa hoa sen. Thân ngài mặc thiên y với các loại trang sức trân quý. Tay phải kết ấn ban nguyện, tay trái cầm hoa sen, trên bông hoa sen có bảo bình, trong bình có đầy cam lộ bất tử tiêu trừ bệnh dịch. Đôi mắt của ngài giống như mặt trăng mặt trời, tỏa ra vô lượng tia sáng.

(3) Trừ Ôn Dịch Độ Mẫu hiện thân trước mặt hành giả, tiếp đó lại quán tưởng ở trong bông hoa sen nở xòe trên tay Trừ Ôn Dịch Độ Mẫu có một chiếc bảo bình, trong bình có cam lộ bất tử phóng ra vô lượng ánh sáng trắng, vô lượng tia sáng từ hư không gia trì chiếu tới bản thân hành giả. Ánh sáng cũng chiếu tới gia trì cho sáu vị thuốc bột hoặc năm vị thuốc bột. Tiếp đó bản thân hành giả và Độ Mẫu hợp nhất để nhập định.


### Phần 14: Trì tâm chú Trừ Ôn Dịch Độ Mẫu


Tâm chú: 

Ôm ta-ra tu-ta-ra tu-ra na-mô ha-ra hơ-ra hùm ha-ra sô-ha. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Tang), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Trừ Ôn Dịch Độ Mẫu, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định.

**Tụng tán:**

Đảnh lễ Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu
Nhật nguyệt đôi mắt sáng hiển minh
Ta-ra tu-ta-ra hai lần tụng
Bệnh dịch nguy nan được tiêu trừ.


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hum.


![image](/img/img_69de220f802b8bcdc26217dce1af49d2.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Trừ Ôn Dịch Độ Mẫu


Trong số 21 vị Độ Mẫu có một vị có thể diệt trừ được bệnh dịch, chính là vị Độ Mẫu thứ 20 - Trừ Ôn Dịch Độ Mẫu. Trì tụng tâm chú của ngài có thể tiêu trừ được bệnh dịch.

Trừ Ôn Dịch Độ Mẫu hiện thân màu đỏ và cam, một mặt hai tay, chân phải vươn ra, chân trái giữ tư thế cong, ngồi trên tòa hoa sen. Thân ngài mặc thiên y với các loại trang sức trân quý. Tay phải kết ấn ban nguyện, tay trái cầm hoa sen, trên bông hoa sen có bảo bình, trong bình có đầy cam lộ bất tử tiêu trừ bệnh dịch. Đôi mắt của ngài giống như mặt trăng mặt trời, tỏa ra vô lượng tia sáng.

Công đức của Trừ Ôn Dịch Độ Mẫu là: khiến bệnh dịch không thể xâm hại bạn (phòng hộ), tiêu trừ tất cả bệnh truyền nhiễm. Tụng chú ngữ của Trừ Ôn Dịch Độ Mẫu để hồi hướng cầu nguyện có thể tiêu trừ dịch bệnh và các bệnh truyền nhiễm.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị khẩu quyết tu pháp Trừ Ôn Dịch Độ Mẫu


Chuẩn bị thuốc bột hộ thân:

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự Seattle chủ trì Trừ Ôn Dịch Độ Mẫu pháp hội đã khai thị rằng:

Trong thiền định của ngài, Trừ Ôn Dịch Độ Mẫu đã truyền thụ pháp phòng hộ ôn dịch và phòng thân kết giới. Đầu tiên tới tiệm thuốc đông y, lấy 6 vị dương tính, với phân lượng bằng nhau:

1. Xà sàng tử

2. Chế phụ tử

3. Viễn chí

4. Cam thảo

5. Quế tâm

6. Hùng hoàng

Dùng 6 loại này, phân lượng bằng nhau, xay thành bột, tu pháp Trừ Ôn Dịch Độ Mẫu, gia trì vào rồi đeo bên người. Cần phải thọ pháp quán đỉnh trước, sau đó y theo nghi quỹ tu hành của Chân Phật Tông, chính hành như nghi quỹ Trừ Ôn Dịch Độ Mẫu đã thông báo. Quán tưởng nước cam lộ bất tử trong bảo bình của Trừ Ôn Dịch Độ Mẫu gia trì vào 6 vị thuốc kia. Trì chú nhập định. Nếu có thể cảm ứng với Độ Mẫu gia trì thì là tốt nhất, có thể cứu giúp được người khác nữa.

Thuốc bột đã được gia trì có thể đem đeo trên người, có thể hộ thân, phòng bệnh dịch, nếu muốn bảo hộ cho nhà cửa hoặc nơi chốn cộng đồng thì có thể đem bột rải 4 phương tại những nơi cần thiết.

Vào ngày 17/3/2020, Liên Sinh Hoạt Phật đã từ bi chỉ thị rằng: nếu không có hùng hoàng thì có thể dùng 5 vị thuốc bột cũng được. 6 vị thuốc hoặc 5 vị thuốc đều được. Gói thuốc Độ Mẫu phòng dịch nghiêm cấm uống. Chỉ được phép mang theo bên mình, và sử dụng khi làm kết giới phòng hộ.

- 5 vị thuốc gồm: xà sàng tử, chế phụ tử, viễn chí, cam thảo, quế tâm.

Mỗi vị thuốc có lượng bằng nhau, xay thành bột. Hầu hết các vị thuốc này có tính dương, không có tính âm, cho nên rất mạnh, bạn mang theo bên người thì thuốc có thể khắc chế dịch bệnh, hơn nữa khi có sự gia trì của Trừ Ôn Dịch Độ Mẫu rồi thì bạn có thể tránh được các bệnh virus truyền nhiễm. Bạn cũng có thể rắc bột thuốc này xung quanh ngôi nhà hoặc khu vực mình ở, cũng có thể giúp được người khác. 

**Chú ý: Nếu bạn chưa nhận quán đảnh mà vẫn muốn trì chú để ngăn ngừa dịch bệnh, bạn vẫn có thể trì chú và đọc bài kệ tán thán, ngoài ra không được kết thủ ấn và làm các quán tưởng khác. Ngày 25/2/2020, Liên Sinh Pháp Vương đã có chỉ thị như vậy.**


![image](/img/img_b3a1c322786f10db62b43c6378cdf391.jpg)


Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/truong-tho-phat-niem-tung-phap.md
# Title: Trường Thọ Phật niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_8dd3226cb90897f1e7e664d4fc22c691.jpg)



## Trường Thọ Phật niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Thỉnh cầu Căn bản Truyền thừa gia trì. Tay kết thủ ấn Căn bản Thượng sư, quán tưởng Căn bản Thượng sư phóng ba ánh sáng trắng, đỏ, lam chiếu đến hành giả, gia trì hành giả tu pháp viên mãn. Niệm chú Căn bản Thượng sư 7 lần. Niệm văn cầu thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật gia trì 1 lần. 

- Quán tứ vô lượng tâm.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô chủ tôn tu pháp Trường Thọ Phật. (x3)
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tát cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kỳ diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê. 

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Mặc giáp hộ thân


Kết thủ ấn chắp tay kim cang, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cang thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Phụng thỉnh bát đại Bồ Tát
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Kim Cang Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Diệu Cát Tường Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.

Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ thất Phật. Vị lai hiền kiếp thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Niệm danh hiệu Phật sáu phương
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyệt Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Hết thảy chúng sinh trung ương, chư vị trong Phật giới, trú ngụ trên mặt đất, cho đến tại không trung, thương lo cho tất cả chúng sinh. Ai cũng an ổn tốt lành. Ngày đêm tu trì. Tâm thường cầu tụng kinh này. Diệt được khổ sinh tử. Tiêu trừ hết độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Tụng bản kinh không ngừng. Thất Phật Thế Tôn. Liền nói chú sau:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-lô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-ki-a-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha” (7 lần)

Mười phương Quan Thế Âm. Hết thảy chư Bồ Tát.
Đã thề cứu chúng sinh. Xướng danh tất giải thoát.

Nếu gặp người trí tuệ. Ân cần mà giảng nói.
Lại có đủ nhân duyên. Đọc tụng không ngơi nghỉ.
Tụng kinh tròn nghìn biến. Niệm niệm tâm không dừng.
Gặp lửa cháy chẳng sao. Việc đao binh cũng thoát.
Nóng giận thành vui vẻ. Chết rồi hóa sống vui.
Đừng nghĩ rằng không đúng. Chư Phật chẳng nói chơi.
Cao Vương Quan Thế Âm. Cứu được hết khổ nạn.
Lúc khó khăn nguy cấp. Người chết còn thành sống.
Chư Phật chẳng nói đùa. Vì vậy nên đảnh lễ.
Niệm tụng trọn nghìn lần. Tội nặng đều tiêu diệt.
Người có phúc tín tâm. Hãy chuyên tâm đọc tụng.

Nguyện mang công đức này. Gửi tới hết chúng sinh.
Tụng tròn một nghìn biến. Tội nặng đều tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (Hết)!


### Phần 8: Niệm thêm chú vãng sinh 


Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha.  (7 biến)


### Phần 9: Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư


Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 10: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_cf5d496f83c56fc0d598ada0f19b820d.jpg)


**Kết ấn: **

Hai tay kết pháp giới định ấn: hai tay ngửa lên, đặt chồng lên nhau, tay phải ở trên, hai ngón cái chạm vào nhau, đặt ở vị trí dưới rốn.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời trong vạn dặm không mây, một vầng mặt trăng từ dưới biển nhô lên không trung, ở chính giữa vầng mặt trăng có một chủng tự chữ Seh (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu đỏ phóng ra ánh sáng đỏ.

(2) Chữ Seh ở giữa vầng mặt trăng quay tròn hóa thành Trường Thọ Phật. Trường Thọ Phật thân màu đỏ, một đầu hai cánh tay, hai bàn tay kết định ấn, trên tay cầm bảo bình cam lộ.

(3) Quán tưởng bảo bình cam lộ phóng quang ba lần để quán đảnh cho hành giả, hành giả nghiệp chướng tiêu trừ, thọ mệnh tăng trưởng.


### Phần 11: Trì tâm chú Trường Thọ Phật


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Trường Thọ Phật đến trước mặt mình.

**Chú ngữ:**

Ôm a-ma-rua-ni chu-wân-ti-yê sô-ha. (108 biến)


### Phần 12: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Seh), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Bổn tôn Trường Thọ Phật, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 13: Xuất định, Tụng tán


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 

**Tụng tán: **

Trường Thọ Như Lai đại quán đảnh
Tiêu nghiệp trường thọ phúc huệ tăng
Đệ tử hữu duyên thường phụng thỉnh
Gắn bó keo sơn thọ vô biên.


### Phần 14: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-tê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 15: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 16: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 17: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. xin đem công đức này hồi hướng. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 18: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 19: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


![image](/img/img_f881fc83e0000bbdcb585206b6786244.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Trường Thọ Phật:


Pháp tướng của Trường Thọ Phật có một đầu hai cánh tay, thân màu đỏ, tóc búi cao trên đỉnh đầu, đội mũ miện Ngũ Phật. Thân trên mặc thiên y, phía dưới mặc váy lụa, thân đeo chuỗi ngọc châu báu, có đầy đủ mọi tướng trang nghiêm của báo thân Phật, hai tay kết định ấn đặt trên đầu gối, trên tay cầm bảo bình trường thọ. Hai chân ngồi xếp bằng tư thế kim cương, an trụ trên nguyệt luân hoa sen.


### Liên Sinh Hoạt Phật khai thị về lai lịch Trường Thọ Phật và lợi ích thù thắng khi tu trì pháp


Trường Thọ Như Lai còn gọi là Tây Phương Vô Lượng Thọ Như Lai, là do A Di Đà Phật biến hóa ra. Ngài có đặc trưng là bình cam lộ trường thọ, nếu có thể uống cam lộ trường thọ trong bình cam lộ trường thọ thì có thể sống lâu và khỏe mạnh. 

Trường Thọ Phật có bốn vị Không Hành Mẫu tức-tăng-hoài-tru ở xung quanh, dùng móc câu để triệu tập tinh hoa, thọ mệnh, phúc đức, trí huệ của đất, nước, lửa, gió, không khí. 

Trường Thọ Như Lai có thể ngăn chặn những tai nạn của chúng ta, tiếp dẫn chúng sinh u minh vãng sinh Phật quốc thanh tịnh. Ánh sáng của Trường Thọ Như Lai vô cùng sâu xa, có ánh sáng lớn màu đỏ, có thể khiến chúng sinh tăng trưởng trí huệ, tăng trưởng phúc phần, diệt trừ bệnh nghiệp, gia tăng kính ái, khiến gia đình vui vẻ hòa hợp, tất cả tai nạn và thù địch đều có thể tiêu tan.

Ánh sáng của Trường Thọ Như Lai cũng có thể tiếp dẫn mọi chúng sinh u minh vãng sinh Phật quốc thanh tịnh, vì thế vị Phật này cũng là Bổn tôn siêu độ tốt nhất. 


### Kinh Vô Lượng Thọ


“Vô Lượng Thọ Phật uy thần quang minh tối tôn đệ nhất. Ánh sáng của chư Phật không thể sánh bằng.”

Trong kinh Phật nói, trì tụng chú Trường Thọ Phật, có thể tăng trưởng thọ mệnh và phúc đức trí huệ. Tránh được những tai nạn bất ngờ hoặc chết yểu. Tiêu trừ mọi nghiệp tội, chứng thành tựu vô tử hoặc trụ sinh tại Tây phương Cực Lạc thế giới tịnh thổ. Tu trì Trường Thọ Phật có thể tiêu trừ bệnh tật, phúc thọ kéo dài, thiện duyên tăng trưởng, ác duyên tiêu trừ, khiến sự nghiệp pháp thế gian trường thọ.

Chủ yếu nhất là Phật cầm bình cam lộ, thủ ấn của ngài là định ấn thông thường, chính là định ấn của A Di Đà Phật, nhưng không vòng ngón tay lại, tay phải ở trên, tay trái ở dưới, hai ngón cái chạm vào nhau. Chú ngữ của ngài là “Ôm a-ma-rua-ni chu-uân-ti-yê sô-ha”. Hình tướng của ngài là thân màu đỏ, ngài vốn là A Di Đà Phật, và A Di Đà Phật vốn dĩ còn gọi là Trường Thọ Phật. Có hình tướng, có thủ ấn, chú ngữ thì sẽ có niệm tụng pháp của Bổn tôn Trường Thọ Phật.

Đặc trưng chủ yếu nhất của Trường Thọ Phật là bình cam lộ mà ngài cầm trên tay. Bản thân bình cam lộ có thể gia trì cho chúng sinh, cũng có thể tiếp dẫn chúng sinh. Ngài còn có tác dụng thanh tịnh, có tác dụng trị bệnh, tác dụng trường thọ và tác dụng khỏe mạnh. Còn có rất nhiều tác dụng bất khả tư nghì nữa. Cho nên, Trường Thọ Phật còn được gọi là Cam Lộ Vương Như Lai, cũng còn gọi là A Di Đà Như Lai, Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Quang Phật, Đại Quang Phật, đều là tên gọi của vị Phật này.

Tín đồ Phật giáo gặp nhau thường hay nói “A Di Đà Phật”. Các đạo sĩ Đạo giáo hoặc đạo trưởng gặp nhau thì đều nói “Vô Lượng Thọ Phật”. Thật ra, cả hai vị đều như nhau. A Di Đà Phật chính là Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang.

Trường Thọ Phật, Tôn Thắng Phật Mẫu, Bạch Độ Mẫu đều là hóa thân của đại từ đại bi, có thể đem đến sức khỏe và bình an, may mắn cho con người, gọi chung lại là Tam Trường Thọ Phật hoặc Trường Thọ Tam Tôn.

Hôm nay chúng ta nói về Trường Thọ Như Lai là rất quan trọng. Vì sao bạn có thể sống lâu? Bởi vì bạn sẽ không gặp tai nạn bất ngờ, thân thể bạn không gặp những điều ngoài ý muốn. Đi ra ngoài làm mọi thứ cũng không xảy ra điều bất trắc. Không chỉ là thân thể không xảy ra chuyện ngoài ý muốn, mà ngay cả khi đi ra ngoài cũng sẽ không gặp chuyện không may, lái xe cũng không gặp tai nạn.

Vì thế, mọi lúc chúng ta đều có Hộ pháp của mình ở bên cạnh để bảo vệ. Hoặc bạn có thể đeo thẻ hộ thân của Hộ pháp, hoặc thẻ hộ thân của Bổn tôn, thẻ hộ thân của Thượng sư. Nếu như bạn đã tương ứng, tự nhiên sẽ có Bổn tôn ở bên cạnh bạn, bạn sẽ không gặp những tình huống ngoài ý muốn, điều này vô cùng quan trọng. Chúng ta tu hành chính là cần tu đến khi Hộ pháp ở bên cạnh bạn, Bổn tôn ở bên cạnh bạn, Thượng sư ở bên cạnh bạn. Một ngày bạn đạt được như vậy rồi thì thân tâm của bạn sẽ an định.

Bạn muốn khỏe mạnh thì cần biết tu Trường Thọ Như Lai. Điều mà Trường Thọ Như Lai dạy bạn thật ra chính là dạy: đừng lừa dối người khác, đừng ganh đua. Bởi vì ganh đua sẽ có một bên bị hại. Đừng sỉ nhục người khác, bạn sỉ nhục người khác sẽ làm tổn thương người khác. Bạn không thể sát sinh, tâm bạn cần phải rất từ bi, rất nhân từ, rất tốt bụng, phải có lòng nhân từ. Cần có tâm nghĩ cho người khác, như thế bạn chính là Bồ Tát, như vậy chính bạn sẽ có thể trường thọ. Bằng không, nếu bạn có tâm sát sinh, lại muốn sỉ nhục người khác, lại muốn ganh đua, lại muốn lừa gạt người, vậy thì thân tâm bạn sẽ bất an, làm sao có thể trường thọ được chứ? Đây chính là điểm quan trọng về Trường Thọ Như Lai đó!

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/tu-gia-hanh-dai-phap-tu-hanh-thanh-tuu-cua-mat-giao.md
# Title: Tứ gia hành - Đại pháp tu hành thành tựu của Mật giáo
---

![image](/img/img_f74be5ad5f6bac91353e15648f3e2283.jpg)



## Tứ gia hành - Đại pháp tu hành thành tựu của Mật giáo


Địa điểm: Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ. 
Thời gian: NA
Quyển số: 676
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời nói đầu


**Bậc thang tu hành Mật giáo - Tứ gia hành (Ban biên tập)**

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn từng nói: "Hiển giáo giống như học lý thuyết trong lớp học, còn Mật giáo giống như thực hành lý thuyết trong phòng thí nghiệm." Và Tứ gia hành chính là phương pháp thực hành Phật pháp từ căn bản đi lên của Mật giáo, đồng thời là phương pháp thực tiễn để chuyển đổi và thay đổi vận mệnh từ nhân quả, có thể tiêu trừ nghiệp chướng nhiều đời của hành giả, tăng thêm phước báu và trí tuệ.

Giới thiệu sơ lược về pháp Tứ gia hành

Cái gọi là Tứ gia hành, tức là bốn môn công khóa, là pháp môn cơ bản mà người học Mật giáo phải tu tập. Xin giới thiệu sơ lược như sau:

1. Pháp Đại lễ bái:

Pháp Đại lễ bái là phương pháp lễ Phật bằng cách năm vóc sát đất hoặc toàn thân phủ phục. Tu tập pháp Đại lễ bái có thể điều phục tâm kiêu mạn tự đại của bản thân, có thể tiêu trừ nghiệp chướng nhiều đời, đồng thời là động tác yoga cơ bản nhất, có thể làm mềm dẻo gân cốt, có tác dụng rèn luyện sức khỏe rất tốt.

2. Pháp Tứ quy y:

Tứ quy y là quy y Kim cương Thượng sư, quy y Phật, quy y pháp, quy y mười phương thánh hiền tăng. Tu tập pháp Tứ quy y có thể tiêu trừ nghiệp chướng nhiều đời, củng cố niềm tin với Thượng sư và Tam Bảo, được sự gia trì của Thượng sư Tam Bảo, đồng thời làm sâu sắc thêm Phật duyên của mình, cũng là bước đầu phát tâm bồ đề.

3. Pháp Đại cúng dường:

Tu tập pháp Đại cúng dường có thể đạt được phước báu vô tận, được sự gia trì của Thượng sư Tam Bảo, cũng như được chư vị Hộ pháp thần hộ trì, đồng thời có thể tăng trưởng tâm bố thí và tâm bồ đề.

4. Pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát:

Kim Cang Tâm Bồ Tát, còn gọi là Kim Cang Tát Đỏa, là biến hóa thân tổng hợp của Ngũ phương Phật, là giáo chủ của Phật môn Mật tông. Tu tập pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát có thể tiêu trừ tất cả tội chướng từ vô thủy đến nay, có thể khiến đạo tâm và hạnh nguyện kiên cố như kim cương. Tu tập pháp này đạt đến tương ứng tức là quả vị Đẳng Giác Bồ Tát, là pháp quan trọng nhất trong Tứ gia hành.

Đại pháp tích lũy tư lương phước báu và trí tuệ

Điều quan trọng nhất trong tu hành Mật tông chính là tương ứng (hợp nhất), chỉ cần tương ứng với Bổn tôn thì Bổn tôn chính là mình, mình chính là Bổn tôn; Bổn tôn có gì thì hành giả có đó. Kim Cang Tâm Bồ Tát là giáo chủ của Mật tông, là hóa thân tổng hợp của Ngũ phương Phật; nếu có thể mỗi ngày điều chỉnh từ trường và tần số của bản thân để cầu tương ứng với vị Bồ Tát vĩ đại như vậy, tự nhiên sẽ có được phước báu và trí tuệ vô tận, vận mệnh đương nhiên cũng sẽ theo đó mà trở nên tốt đẹp!

Cuốn sách này được biên soạn dựa trên tác phẩm và khai thị của Pháp Vương đương đại - Liên Sinh Hoạt Phật, tập hợp và sắp xếp lại những nội dung liên quan đến pháp Tứ gia hành, kèm theo những hình ảnh và hướng dẫn chi tiết về cách quán tưởng tu tập, giúp độc giả trong thời gian ngắn nhất có thể hiểu biết toàn diện và chính xác về pháp Tứ gia hành của Mật tông. Đây là cẩm nang tu học rất phù hợp để người mới bắt đầu thường xuyên đọc lại và ôn tập.


### 01. Dạy pháp Tứ gia hành (01-04 là phần nhận thức về pháp Tứ gia hành)


Tôi đi máy bay từ Seattle ở Mỹ đến Los Angeles ở California, thời gian bay là 2 tiếng 40 phút, độ cao bay trên tầng mây, dưới bầu trời xanh, đất liền ở phía dưới rất xa, tầng mây trải dài vô tận.

Tôi quen ngồi bên cửa sổ, quen nhìn ra ngoài, quan sát những biến chuyển đa dạng của tầng mây và hình dáng của mây. Hoặc là, tôi đọc sách, khi mỏi vì đọc sách thì nhắm mắt lại.

Khi vừa lên máy bay, tôi đã thực hiện nghi quỹ đi máy bay:
Quán tưởng Bổn tôn an trụ ở đỉnh đầu.
Tôi trì chú Bổn tôn.
Tôi tĩnh định.

Trong lịch trình này, tôi sẽ giảng dạy pháp Tứ gia hành và truyền quán đảnh Tứ gia hành. Mỗi đệ tử mới bắt đầu đều phải tu tập pháp Tứ gia hành trước, đây là pháp môn cơ bản nhất của Mật giáo.

Pháp Tứ gia hành của Chân Phật Mật Pháp gồm có: pháp Đại lễ bái, pháp Đại cúng dường, pháp Tứ quy y và pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát.

Tôi thường nói:
Đối với đệ tử mới bắt đầu, phải làm Đại lễ bái 100.000 lần, Đại cúng dường 100.000 lần, trì chú Tứ quy y 100.000 biến, và tu pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát cho đến khi tương ứng.
Tương ứng chính là chứng nghiệm và cảm nhận.

Tu hành Mật giáo phải có thứ tự, tiến dần từng bước một, không được nhảy cấp. Khi muốn tiến lên một cấp để tu Mật pháp cao hơn, nhất định phải xin quán đảnh từ Căn bản Thượng sư hoặc các vị Thượng sư mới được tu.

Mỗi khi tu một pháp, đều phải có tương ứng mới được tiến lên một cấp.
Mật giáo có câu: "Một pháp tương ứng thì tất cả pháp đều tương ứng."
Lại nói: "Một pháp thông thì vạn pháp thông."
Vì vậy, chúng ta không thể xem thường pháp Tứ gia hành.

Nói một cách đơn giản, khi pháp Tứ gia hành chưa tương ứng thì các pháp khác cũng khó tương ứng; ngược lại, một khi pháp Tứ gia hành đã tương ứng thì các pháp khác cũng dễ tương ứng theo.

Pháp Mật giáo tuy có nông có sâu, nông thì như một sự rung động bề mặt, còn sâu thì như sự rung động từ chiều sâu bên trong. Điều này cũng giống như trong Duy thức học, từ nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân, ý cho đến Mạt-na thức, A-lại-da thức, và Am-ma-la thức là thức sâu nhất.

Pháp Mật giáo có nội dung rộng lớn, nội dung ấy chính là toàn bộ lĩnh vực, khi tu pháp thì hoạt động bên ngoài cũng tác động đến ý thức bên trong. Tầng ý thức sâu bên trong tuy quan trọng, nhưng tầm quan trọng của nó vẫn thể hiện ở bề mặt, có thể nói trong ngoài là một, có sự liên kết và không thể tách rời.

Đại lễ bái, Đại cúng dường, Tứ quy y và Kim Cang Tâm được kết hợp với nhau một cách tinh xảo và vi diệu, nhằm thiết lập chiều sâu trong các pháp gia hành cơ bản. Sau đó, từ đây phát triển và mở rộng, khi từng pháp đều tương ứng thì sẽ đi vào trí tuệ vô thượng của Như Lai.

Pháp Tứ gia hành không hề nông cạn, trong đó pháp Kim Cang Tâm và Bách tự minh chú là pháp thù thắng độc nhất của Mật giáo. Bách tự minh chú giống như Tâm Kinh, và Bổn tôn của pháp Kim Cang Tâm là Kim Cang Thủ Bồ Tát, chính là Kim Cang Tát Đỏa - vị Tổ sư của Mật giáo, là Pháp Vương Tử của Ngũ phương Ngũ Như Lai. Từ sự tương ứng của pháp Kim Cang Tâm sẽ sinh ra dòng pháp lưu bất tận, cho đến khi đạt được sự tương ứng sâu sắc và giác ngộ chân như.

Tôi nói:
"Chỉ có thực tu mới có chiều sâu."
"Một giọt nước là cả đại dương."
"Một hạt cát là cả ngọn núi."

Chúng ta thường lấy một ví dụ, pháp Tứ gia hành là nền móng kim cang để xây tháp báu kim cang, nếu không có nền móng kim cang vững chắc thì làm sao có được tháp báu kim cang? Tăng cường pháp Tứ gia hành chắc chắn sẽ xây dựng được tháp báu kim cang.

Tu Mật pháp, đừng cầu nhanh, đừng hỗn loạn, đừng nhảy cấp.
Hãy tu tập vững chắc.
Chắc chắn sẽ tương ứng.
Các bậc đại thành tựu đều nhất định như vậy.

~ Trích từ văn tập Lư Thắng Ngạn Văn số 123 "Sao băng và lá phong đỏ".


### 02. Tứ gia hành là đại pháp


Nhiều người thường nghe tôi nói: "Tứ gia hành là đại pháp."
Có đệ tử rất nghi hoặc: "Tứ gia hành là pháp cơ bản nhất của Mật giáo, là nền móng, làm sao lại là đại pháp được?"
Xin hãy lắng nghe lời tâm sự của tôi: "Không có nền móng thì không thể tiến lên tầng cao hơn, vì vậy là đại pháp."

Pháp Đại lễ bái - hàng phục ngã mạn của chính mình.
Pháp Tứ quy y - phát tâm bồ đề tiêu trừ nghiệp chướng.
Pháp cúng dường mandala - tích tụ tư lương.
Pháp Kim Cang Tâm - thanh tịnh sám hối nghiệp tội.

Cần biết rằng, bất kì pháp môn nào của Mật giáo, dù là Thượng sư tương ứng, Bổn tôn pháp, Kim cang pháp, Vô thượng mật, Đại viên mãn pháp, Đại thủ ấn pháp, Đại viên thắng huệ pháp, Đại uy đức pháp, bất kể pháp nào, đều không tách rời pháp Tứ gia hành.

Tôi thật lòng nói với mọi người một câu: "Chí tâm khẩn thiết, tự đắc mật ích."
Câu nói này thông cả Hiển giáo lẫn Mật giáo.
Hiển pháp nói: "Nhất tâm bất loạn, tự đắc vãng sinh Phật quốc."
Mật giáo nói: "Chí tâm khẩn thiết, tự đắc mật ích."

Cần biết rằng, tên gốc của "Kinh Đại Nhật" là "Kinh Đại Tỳ Lô Giá Na Thành Phật Thần Biến Gia Trì", trọng điểm nằm ở "gia trì thần biến thành Phật". Khi hành giả Mật giáo tu trì theo pháp Tứ gia hành, thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh, lúc tam mật của Như Lai và tam nghiệp của chúng sinh tương ứng, hòa hợp không hai, thì "thần biến gia trì thành Phật" sẽ phát sinh.

Điều bất khả tư nghì của Mật giáo chính là ở đây, Pháp thân Phật và người phàm không có sự phân biệt, đây chính là mật mật mật mật mật. Pháp Đại lễ bái (thân thanh tịnh), Tứ quy y, pháp Đại cúng dường (khẩu thanh tịnh), pháp Kim Cang Tâm (ý thanh tịnh). Chẳng phải thế sao?

Tự thanh tịnh tam nghiệp tức là được gia trì bởi thần biến thành Phật của Như Lai. Một khi được gia trì như vậy thì sẽ được quảng đại viên mãn, sẽ đạt đại bi vô ngại, sẽ cứu khổ kéo dài tuổi thọ, sẽ thoát sinh tử, sẽ viên mãn ước nguyện, sẽ tùy tâm tự tại, sẽ nhanh chóng vượt lên địa vị cao.

Thần chú của Mật giáo có khả năng trì giữ, ngăn che và tổng nhiếp.

Pháp Tứ gia hành tuy là nền móng của Mật pháp, nhưng một khi nền móng đã vững chắc thì sẽ nhanh chóng vượt lên địa vị cao, được gia trì thần biến thành Phật, làm sao không phải là đại pháp?

~ Trích từ văn tập Lư Thắng Ngạn số 167 "Lắng nghe tiếng thì thầm trong tim".


### 03. Tứ gia hành nằm ngay trong cuộc sống thường ngày


Trong pháp tu của Mật giáo, Tứ gia hành được gọi là pháp gia hành, là pháp mà mỗi hành giả đều phải tu tập, phải tu ngay từ khi bắt đầu.

Có thể nói rằng pháp gia hành này, mỗi hành giả đều thực hành hàng ngày, chỉ là họ không nhận ra mà thôi. Dù bạn là người xuất gia hay tại gia, một hành giả Mật giáo chưa từng rời xa pháp gia hành này.

**Tứ gia hành là pháp phải thực hành mỗi ngày**

Mọi người thường nghĩ rằng: "Những pháp gia hành cơ bản như vậy tôi đã làm rồi nên không cần làm nữa." Thực ra đây là quan niệm sai lầm, pháp gia hành là những điều phải làm hàng ngày.

Hãy nhìn xem các tăng ni và cư sĩ tại gia ở Lôi Tạng Tự đang làm gì? Khi thấy chư Phật Bồ Tát, thấy chư vị Kim cang Hộ pháp, bước vào đại điện, việc đầu tiên họ làm chính là lễ bái, đó chính là pháp gia hành; khi gặp tất cả đồng môn, đều phải cung kính chắp tay, đảnh lễ, đó cũng chính là pháp gia hành.

Tại Lôi Tạng Tự, khi bạn thay trà, thay nước, hàng ngày quét dọn, hút thảm, lau kính, dọn dẹp đàn tràng, đó là gì?

Đó chính là đang thực hành cúng dường, giống như mỗi ngày chúng ta thay nước, thay trái cây, thay phẩm vật cúng, đều là đang cúng dường. Như việc bạn hằng ngày cúng dường lục đạo chúng sinh, dùng gạo cúng pháp, dùng nước cúng pháp, cúng dường tất cả chúng sinh trong tứ thánh lục đạo, đó chính là đang thực hành đại cúng dường. Ngay cả việc chúng ta nấu ba bữa ăn cũng đều là cúng dường, tất cả đều là pháp gia hành.

Ngoài ra, mỗi ngày bạn phải nhớ nghĩ đến tam căn bản vào ba thời trong ngày - tức là khi thức dậy vào buổi sáng, giữa trưa và lúc mặt trời lặn. Ba thời trong ngày nhớ nghĩ đến tam căn bản - Căn bản Thượng sư, Căn bản Bổn tôn, Căn bản Hộ pháp, đây chính là đang thực hành Tứ quy y, phải làm mỗi ngày.

Ngoài ra còn gì nữa? Bạn phải quán chiếu những việc mình đã làm trong ngày, phải tĩnh tọa. Quán chiếu để làm gì? Để sám hối, khi bạn sám hối chính là đang thực hành gia hành, đây đều là những việc phải làm mỗi ngày.

Vì vậy, trong chùa, công việc chúng ta làm hàng ngày chính là Tứ gia hành, chính là gia hành; thực hành Đại lễ bái, thực hành Đại cúng dường, thực hành Tứ quy y, thực hành sám hối - Kim Cang Tâm Bồ Tát, ngày ngày làm công việc gia hành, ngày ngày làm, ngày nào cũng phải như vậy, chưa từng có một ngày nào được ngừng nghỉ.

**Tứ gia hành nằm ngay trong cuộc sống thường ngày**

Vì vậy tôi nghĩ như thế này, trong cuộc sống thường ngày của chúng ta, tất cả đều là pháp gia hành, đều là pháp Tứ gia hành. Chỉ cần biết hòa nhập cuộc sống thường ngày vào tu hành, thì chính là đang tu pháp, chỉ là không đặc biệt nói ra rằng: "Bây giờ tôi đang tu pháp." Thực tế là bạn đang hòa nhập tất cả pháp gia hành vào trong cuộc sống.

Đừng nghĩ rằng pháp gia hành chỉ cần tu một thời gian là có thể ngừng tu, không thể nói như vậy được. Có lúc nào bạn không làm cúng dường? Có lúc nào không quy y? Có lúc nào không cung kính, đảnh lễ tất cả chư tôn? Có lúc nào bạn có thể không sám hối?

Vì vậy bốn pháp này: Đại lễ bái, Đại cúng dường, Tứ quy y, Kim Cang Tâm sám hối, là những pháp không thể rời xa thân tâm dù chỉ một phút giây nào, từ đó có thể thấy được tầm quan trọng của chúng. Cuộc sống hàng ngày của bạn chính là đang thực hành những điều này, việc tu hành của bạn chính là đang thực hành những điều này, đây là điều quan trọng nhất.

**Tứ gia hành vững chắc thì pháp Bổn tôn mới tương ứng**

Khi bạn đã thực hành vững chắc những điều này, sinh ra sức mạnh thì bước tiếp theo là pháp Bổn tôn mới có thể tương ứng được. Khi bạn không rời xa pháp gia hành này thì chư Phật cũng không rời xa bạn. Nếu bạn không thực hành pháp gia hành, thì làm sao còn có chư Phật trong tâm? Làm sao còn có Thượng sư trong tâm? Làm sao còn có Hộ pháp trong tâm? Tất cả đều không còn nữa.

Nói về công phu tu hành, tất cả đều là pháp gia hành, đó là điều quan trọng nhất. Vì vậy chúng ta đặt tâm vào cuộc sống thường ngày, mà cuộc sống thường ngày bao gồm tất cả pháp gia hành. Như vậy mới có thể đạt được lợi ích của pháp, có thể thành tựu pháp, có thể tương ứng với Thượng sư, Bổn tôn và Hộ pháp của mình.

**Không được xem thường pháp Tứ gia hành**

Vì vậy chúng ta không được xem thường pháp Tứ gia hành. Nếu bạn xem thường pháp Tứ gia hành, hoặc coi nhẹ nó, sơ suất với nó, không thể nhất tâm ứng dụng nó, thì thời gian tu hành của bạn sẽ hoàn toàn lãng phí.

Đặc biệt là pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát, nếu không liên tục thực hành pháp sám hối như vậy, thì nghiệp chướng của bạn sẽ càng ngày càng chất chồng, mãi mãi nặng nề, khiến bạn không thở nổi. Mỗi ngày đều phải phản tỉnh, hồi tưởng, sám hối, phải chuyển hóa nghiệp của mình thành không.

Om mani padme hum.

Trích từ Tuyển tập khai thị của Lư Thắng Ngạn "Bài ca của Hoạt Phật (tập 4)"


### 04. Trong tâm không một vật mới có thể chứng ngộ tính Không


Chúng ta biết rằng Tứ gia hành của Chân Phật Tông gồm có: Một là Đại lễ bái. Hai là Đại cúng dường. Ba là Tứ quy y: Kim cương Thượng sư, Phật, pháp, tăng - bạn tập trung quán tưởng tất cả cùng một lúc, sẽ có cảm ứng, chắc chắn sẽ có cảm ứng. Bốn là pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát.

Chỉ riêng việc thực hành Đại lễ bái đã là luyện tập khí cơ bản của bạn, đó là một dạng vận động, là một hình thức lễ bái vô cùng thành kính đối với chư Phật Bồ Tát, tương đương với việc bình đẳng đảnh lễ thập phương chư Phật, chư Bồ Tát, chư Kim cang Hộ pháp và chư Không hành.

Khi bạn thực hiện đại lễ bái toàn thân phủ phục xuống đất, đó là một hình thức vận động rất mạnh mẽ, cứ thế hạ xuống, rồi đứng lên, lại hạ xuống, cúi người xuống, hai tay đẩy ngang ra, rồi khi đứng dậy, nhanh chóng, một tay chống đất, vụt đứng lên, đó là động tác rất mạnh, không phải người già có thể làm được, ngay cả người trẻ làm vài lần cũng thở hổn hển và đổ mồ hôi, đó là một bài tập rất dữ dội.

Toàn thân phủ phục, giống như cách lễ bái kiểu Trung Quốc, vốn là quỳ gối, hai chân quỳ xuống, và ngày xưa cũng có cách quỳ một chân... vân vân. So với những cách đó thì pháp Chân Phật của chúng ta quả là quá nhẹ nhàng, khi bạn tu pháp Đại lễ bái, tốt nhất là dùng cách toàn thân phủ phục, hoặc là quỳ hai gối, rồi rập đầu lạy, hai cách này.

Không được dùng quán tưởng để lễ bái, bạn tưởng rằng cứ làm như vậy 108 lạy, hay 1080 lạy, hoặc là một lúc 100.000 lạy, làm xong ngay, chỉ trong một ngày đã làm xong, vụt vụt vụt, tay đưa lên đưa xuống, rồi nói rằng tôi đã làm 100.000 lạy trong một ngày, sao vẫn chưa có cảm ứng? Điều này không được, đây chỉ là cách dùng khi cùng tu tập theo nhóm, vì không có chỗ để quỳ lạy mới phải dùng cách này.

Giống như khi tụng chú Tứ quy y: "Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê." Phải tụng đủ 100.000 biến, cơ bản là phải tụng đủ 100.000, phải thực hiện quán tưởng, đây cũng là một bài tập! Chỉ cần bạn tĩnh tâm tụng niệm, thực hiện quán tưởng chính là đang rèn luyện sự nhất tâm bất loạn của mình.

Đại lễ bái, Tứ quy y và Đại cúng dường - Lư Sư Tôn đã thực hành Đại cúng dường bao lâu rồi? Tôi xin nói với các bạn, từ khi tôi 26 tuổi bắt đầu học Phật pháp cho đến năm nay, tôi chưa từng ngừng thực hành Đại cúng dường, không thể đếm xuể, hàng chục năm như một ngày.

Hôm nay Lư Sư Tôn làm Đại cúng dường, tôi đều tương ứng. Mỗi ngày, kể cả hôm nay, ở đây mọi người kết ấn cúng dường: "Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt, hóa mọi trân bảo cúng dường Phật..." tụng tụng tụng, "cốc" một tiếng. Không biết có hay không, cuối cùng bạn có thất trân bát bảo đều biến hóa ra để cúng dường chư Phật Bồ Tát hay không? Có không? Có cảm ứng không? Các ngài có nói rằng khi bạn vừa biến hóa ra, các ngài lập tức nhảy xuống đưa tay đón lấy, giống như bắt bóng rổ vậy, có không?

Tôi xin nói với mọi người, mỗi lần Lư Sư Tôn cúng dường đều có cảm ứng (mọi người vỗ tay), vừa khi biến hóa ra, các ngài lập tức cảm ứng, giống như tôi là người ném bóng, ném ra, người bắt bóng lập tức bắt được, cảm ứng là như vậy đó. Đó chính là cảm ứng! Bạn thực sự biết người bắt bóng đã bắt được quả bóng của mình, tức là cúng phẩm bạn biến hóa ra, chư Phật Bồ Tát đã tiếp nhận cúng phẩm của bạn, như vậy mới tính.

Tôi dám nói với mọi người, hôm nay mọi người làm Đại cúng dường, chư Phật Bồ Tát đều là người bắt bóng, các ngài đều tiếp nhận, tôi có cảm ứng như vậy, đó chính là tương ứng. Hôm nay bạn làm Đại cúng dường, bạn cần biết chư Phật Bồ Tát có đến thọ nhận hay không, khi công phu của bạn đạt đến, tương ứng rồi, có chứng lượng, sinh ra chứng lượng rồi, lượng của bạn phát ra, tiếp nhận lượng của các ngài, lượng và lượng tiếp xúc nhau, chạm nhau, bạn sẽ biết cảm ứng, biết thế nào là tương ứng.

Vì vậy hôm nay tôi xin nói với mọi người, hãy nỗ lực thực hành Tứ gia hành: Đại cúng dường, Tứ quy y, Đại lễ bái, mỗi pháp đều phải thực hành 100.000 lần. Điểm trọng yếu là ở pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát. Pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát là pháp cuối cùng trong Tứ gia hành, nhưng tôi cho rằng đây không phải là pháp nhỏ mà là pháp lớn. Kim Cang Tâm Bồ Tát là ai? Chính là Kim Cang Thủ Bồ Tát, chính là Kim Cang Tát Đỏa, là tổ sư của Mật giáo. Mật giáo do ngài truyền xuống, bất kì vị tổ sư Mật giáo nào, cuối cùng cũng đều là Kim Cang Tát Đỏa.

Chúng ta biết vị Bồ Tát vĩ đại nhất ở Tây phương tịnh thổ là ai? Đó là Quan Thế Âm Bồ Tát; Bạn có biết vị Bồ Tát vĩ đại nhất ở Hoa Nghiêm tịnh thổ là ai? Đó là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát; Bạn có biết ở Mật giáo tịnh thổ, vị Bồ Tát vĩ đại nhất của Mật giáo chính là Kim Cang Tát Đỏa, Kim Cang Tâm Bồ Tát chính là Kim Cang Tát Đỏa! Đó là Pháp thân, Báo thân và Ứng thân, vì vậy mà phân thành Kim Cang Tát Đỏa, Kim Cang Tâm Bồ Tát và Kim Cang Thủ Bồ Tát.

Tất cả đều là Kim Cang Tát Đỏa, khi bạn tu Kim Cang Tát Đỏa và pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát. Ngài đã dạy bạn rất nhiều điểm trọng yếu, khi tu pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát có rất nhiều nghi quỹ, rất nhiều điểm trọng yếu, khi tu pháp cuối cùng, bạn vẫn phải thực hành Đại lễ bái, phải thực hành Đại cúng dường, tất cả đều có trong nghi quỹ. Phải thực hành Tứ quy y, triệu thỉnh, trì chú, quán tưởng, nhập Tam ma địa, nhưng trong đó còn dạy bạn Tứ vô lượng tâm, Tứ vô lượng tâm mọi người đều biết.

Từ là mang lại niềm vui cho người khác, bi là giải quyết nỗi khổ của người khác, hỷ là gì? Là hoan hỷ vô lượng mà thực hành, xả là gì? Chính là oán thân bình đẳng, chính là xả, vô lượng xả, oán hay thân đều bình đẳng. Tôi đã từng nói - "oán thân bình đẳng" là điều khó làm nhất! Hôm nay con trai, con gái của bạn đến xin tiền, một đứa là con trai, một đứa là con gái, bạn liền cho chúng, bỗng nhiên có con cái nhà người khác đến xin tiền, bạn liền nghĩ: "Tại sao tôi phải cho bạn? Vô lý quá! Con nhà người ta đột nhiên đến xin tiền mình, không thể nào cho được."

Hôm nay bạn gái của bạn đến xin tiền, nói rằng cần tiền để đi học, để đóng học phí, bảo với bạn trai là đang gặp khó khăn nên mượn trước một chút, người bạn trai đều rất vui vẻ cho cô ấy. Hôm nay... không biết phải nói thế nào... hãy thử nghĩ xem nếu người đồng nghiệp mà bạn ghét nhất chìa tay xin bạn mượn tiền, bạn có cho không? (Trả lời: "Không.") Người mà bạn ghét nhất lại đi xin bạn mượn tiền, điều đó gần như không thể, vì vậy mà oán thân bình đẳng, vô lượng xả này, oán thân bình đẳng, là điều khó khăn nhất.

Vì vậy người tu hành cần tu tập đến khi có tâm bình đẳng, đầy đủ tứ vô lượng tâm. Phải nhớ rằng, Kim Cang Tát Đỏa, trong "Pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát" có dạy bạn tu "Tứ vô lượng tâm".

Ngài còn dạy bạn phải sám hối, tại sao vậy? Tại sao pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát lại là sám hối? Bạn không biết sao? Ý nghĩa của thần chú trong Bách tự minh chú rất tương đồng với Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh của chúng ta: "Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng", Bách tự minh chú chính là nói về điều này.

Khi bạn nói tất cả đều hóa thành không, tất cả đều vô tướng, lúc đó tất cả nghiệp chướng của bạn mới tiêu tan. Như trong pháp sám hối đã nói, tất cả đều không, đều là không, khi bạn chứng được tính Không, tất cả nghiệp chướng của bạn mới như bạn đã nói, tất cả khói đen từ thân thể tan biến đi, thực sự tan biến, bởi vì bạn đã hóa thành không rồi! Ngay cả khói cũng không còn, lúc này muốn nhập định rất dễ dàng.

"Tâm không vướng mắc, do không vướng mắc nên không có sợ hãi, xa lìa mộng tưởng điên đảo". Khi tâm bạn không vướng mắc, trong tâm không một vật, mới không có vướng mắc. Khi bạn không vướng mắc thì sẽ xa lìa mộng tưởng điên đảo. Ngày nay mỗi người đều đang trong mộng tưởng điên đảo, bởi vì họ không phải là một bậc giác ngộ, nên mới có mộng tưởng điên đảo.

Pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát có chân ngôn phát bồ đề tâm: "Ôm bô-đi-chi-ta pê-cha sa-ma-ya ah-hùm", đây là chú phát bồ đề tâm. Bạn phải trì chú này, phải quán tưởng tâm mình khai mở, giống như hoa sen đang nở, trong hoa sen có nguyệt luân, trên nguyệt luân có chú tự (Hum), là chủng tự của Kim Cang Tát Đỏa, điều này biểu thị tâm bạn phát bồ đề tâm, bồ đề tâm đã khai mở.

Tứ vô lượng tâm là gì? Hãy nói cho rõ, khi bạn phát bồ đề tâm rồi thì sẽ không vì bản thân nữa mà là vì chúng sinh. Lục độ vạn hành, phát bồ đề tâm, những điều này đều là vì chúng sinh, làm một vị Bồ Tát phải như vậy, cho nên pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát dạy bạn điều này.

Tiếp theo cần phải quán tưởng, quán tưởng nguyệt luân, chú tự, Kim Cang Tát Đỏa xuất hiện, phóng quang chiếu soi bạn, tam quang gia trì, sau đó bạn trì chú: "Ôm pê-cha sat-tô ah-hùm pây". Trì chú ngắn cũng được, nếu có thời gian bạn có thể trì Bách tự minh chú, đây là chú dài.

Tiếp theo nhập Tam ma địa, tức là nhập định, tu định, bạn có biết chúng ta học Phật là để làm gì không? Trong ba thành tựu lớn của "Mật Tông Đạo Thứ Đệ Quảng Luận", thành tựu thứ nhất là thành tựu trì minh, tức là trì chú, vì vậy trong Mật giáo có nhiều vị thầy được gọi là chú sư. Thời xưa trong Mật giáo, họ gọi đây là chú sư, là vị thầy tụng chú, thành tựu trì minh chính là thành tựu về trì chú.

Chúng ta tu Hộ Ma là để làm gì? Cúng Phật. Tiếp theo là gì? Chính là tu định, nhập Tam ma địa, đây là ba thành tựu lớn. Trong "Mật Tông Đạo Thứ Đệ Quảng Luận" nói rằng, ba thành tựu lớn của Mật giáo là: thành tựu trì minh, thành tựu Tam ma địa và thành tựu Hộ Ma.

Ngày nay chúng ta đều có ba thành tựu lớn này, Chân Phật Tông chúng ta tu hành theo đúng ba thành tựu này. Tất cả các tăng, ni, pháp sư của chúng ta, cùng với tất cả đồng môn, đều tu tập theo trì minh, Hộ Ma và Tam ma địa, nhập Tam ma địa để quán tưởng trì chú.

Trong Kinh Viên Giác, Phật Thích Ca Mâu Ni đã giảng rất nhiều về Tam ma địa, bạn hãy xem kĩ cách tu tập, trong Mật giáo cũng giảng rất nhiều, nhiều vị Tổ sư đã giảng rất nhiều về Tam ma địa và việc tu định. Có rất nhiều pháp môn như Trekcho, Togal đều là pháp Đại Viên Mãn, đều giảng về tu định; pháp Đại Thủ Ấn cũng giảng về tu định, Hằng Hà Đại Thủ Ấn, Thực Trụ Đại Thủ Ấn, Quang Minh Đại Thủ Ấn, tất cả đều giảng về tu định.

Rất nhiều vị thiền sư của chúng ta cũng đều giảng về tu định, vì vậy định rất quan trọng, bởi từ định mới có thể sinh ra Pháp thân và huệ mạng, trí huệ viên mãn của Phật mới được sinh ra, từ đó bạn mới có thể từ trong trí huệ, từ trong bát nhã mà đạt được sự giác ngộ viên mãn, điều này rất quan trọng.

"Vậy sau khi xuất định thì phải làm gì?" Sau khi xuất định cần phải hồi hướng, tiếp đến là Hậu hành, bạn cần tụng tán, làm một số thủ ấn sự nghiệp, hoặc làm các pháp tiêu tai, tăng ích, hàng phục, kính ái, dùng chuông kim cang, chày kim cang, dùng trống tay, trống tay là để tán thán. Làm sự nghiệp, tu pháp có phần sự nghiệp, về mặt nhập thế, cũng có phần xuất thế, cho nên, có cả nhập thế và xuất thế.

Như tôi đã giảng, nhập thế là gì? Đó là những điều bạn mong cầu trong kiếp sống này, đó là nhập thế; còn những mong cầu về siêu việt giác ngộ, một loại giác ngộ, sự giác ngộ và tỉnh thức của bạn về cuộc sống, đó chính là xuất thế.

Mọi người đều biết trong Phật pháp có pháp nhập thế, đó là những điều bạn cầu mong trong đời hiện tại, đó là pháp nhập thế; có cái gọi là pháp xuất thế, tức là bạn buông bỏ tất cả để theo đuổi một sự đại giác đại ngộ, đây là pháp xuất thế. Vì vậy trong Mật giáo có cả pháp nhập thế và pháp xuất thế, trong pháp Kim Cang Tát Đỏa, pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát, sau khi hồi hướng bạn có những pháp này, bạn có thể cầu những điều cần thiết trong đời hiện tại, đồng thời cũng có thể giác ngộ tính Không.

Vì vậy tôi nói, nếu muốn sinh vào cõi người và cõi trời, trong Phật giáo có nhiều thừa, có nhân thiên thừa, đặc biệt là Hồng giáo giảng về cửu thừa, chín thừa thì quá nhiều, phân chia quá chi tiết. Nếu bạn tu trì năm giới, làm mười thiện, đó là Nhân Thiên thừa; còn nếu bạn tu "tự liễu", tự mình giải thoát sinh tử, chỉ độ được chính mình, đó là Thanh Văn thừa, thiên về tâm xuất ly nhiều hơn.

Còn trong Mật giáo và Đại thừa, đều phải phát bồ đề tâm, đều phải độ chúng sinh, đó chính là Bồ Tát thừa; trọng điểm của Bồ Tát thừa là vừa độ mình vừa độ người, quan trọng là phát bồ đề tâm; và Mật giáo còn thêm vào "Không tính kiến", bạn phải hiểu được tính Không, bởi vì tính Không đã gần với sự giác ngộ. Phật Thích Ca Mâu Ni và nhiều vị đại tổ sư Mật giáo đều có "Không tính kiến", vì vậy một điểm trọng yếu của Kim Cương thừa chính là "Không tính kiến".

Sau đó, khi tu đến phần cuối cùng là quán tưởng, trì chú, nhập Tam ma địa, sau khi xuất định cần phải hồi hướng. Hồi hướng là phần cuối cùng của một pháp tu, còn phải tán thán, làm hồi hướng, làm sự nghiệp, hồi hướng cho tương lai như thế nào, ví dụ như chúng ta hồi hướng vãng sinh tịnh thổ, những điều này đều là hồi hướng, đây là phần cuối cùng của pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát.

Qua những điều tôi đã thảo luận với mọi người hôm nay, có thể nói trọng điểm của Mật giáo nằm ở tương ứng và tu tập để đạt được chứng lượng của chính mình, đây là điểm then chốt. Vậy để đạt được tương ứng, điều gì dễ tương ứng nhất? Tu Tứ gia hành dễ tương ứng hơn, hơn nữa bạn có thể đạt được một loại chứng lượng, khi bạn thành tựu Tứ gia hành rồi thì đạo tâm sẽ kiên cố.

Khi bạn có được tương ứng thì đạo tâm sẽ kiên cố, còn nếu không có tương ứng thì người ta nói gì cũng dễ thoái lui đạo tâm. Vì vậy trọng điểm tôi giảng hôm nay là tương ứng, và từ trong tương ứng đó sẽ sinh ra một loại chứng lượng.

Mọi người đừng nghĩ rằng Tứ gia hành là pháp nhỏ, tôi nói cho bạn biết nhé! Ngay lập tức tất cả đều tương ứng, việc vãng sinh của bạn sẽ có sự bảo đảm, tu pháp bất kì Bổn tôn nào cũng đều tương ứng. Kim Cang Tát Đỏa đã là vị Bồ Tát lớn nhất trong Kim Cương thừa rồi, khi bạn đã tương ứng với Kim Cang Tát Đỏa thì còn vị Bồ Tát nào mà không thể tương ứng được nữa?

Vì vậy đây là một điểm quan trọng, với Tứ gia hành, nếu bạn cho rằng đó là pháp nhỏ, tôi lại cho rằng đó là pháp lớn, lý do chính là ở đây, hãy tu tập thật tốt, bạn sẽ nhanh chóng tương ứng với các pháp của Mật giáo, và còn có thể đạt được thành tựu ngay trong đời này, điều này thật hiếm có.

Mong rằng mọi người đều trân quý pháp Tứ gia hành, sau này khi chuyên tâm vào từng pháp, thậm chí khi trì chú, có một số chú ngữ bạn đều phải trì đủ 100.000 biến. Căn bản là chú của Bổn tôn của bạn, chú của Thượng sư, chú của Hộ pháp, ba loại chú quan trọng này nhất định phải trì đủ 100.000 biến; chú Tứ quy y cơ bản cũng là 100.000 biến, đây là thành tựu trì minh.

Vì vậy, mong rằng mọi người đều có thể vững bước từng bước một, thực sự tu trì để đạt thành tựu, đừng nóng vội hiếu thắng, phải không? Đúng vậy! Đừng nóng vội hiếu thắng, nếu bạn leo từ chỗ cao, không leo được mà ngã xuống thì sẽ tan tành, còn nếu bạn leo từ chỗ thấp, không leo được thì cũng không bị thương!

Cho nên điều này rất quan trọng, rất quan trọng, pháp nhỏ chính là pháp lớn, pháp lớn chính là pháp nhỏ. Hôm nay bạn tu pháp lớn, tôi nói bạn đang tu pháp nhỏ, hôm nay bạn tu pháp Tứ gia hành, đó mới chính là pháp lớn thực sự.

Om mani padme hum.

~ Trích từ Tuyển tập khai thị của Lư Thắng Ngạn "Tâm sự cùng bạn (tập 9)".


### 05. Pháp Đại lễ bái của Chân Phật Tông 


Đại lễ bái của Chân Phật Tông hơi khác với Mật tông thông thường, tôi chia Đại lễ bái thành ba loại, đó là Đại lễ bái toàn thân phủ phục, Đại lễ bái ngũ thể đầu địa và Đại lễ bái quán tưởng.

Thủ ấn Đại lễ bái:

Thông thường khi tu một đàn pháp, có bốn thủ ấn trong pháp Đại lễ bái, ba thủ ấn đầu có cách lễ bái giống nhau, còn thủ ấn cuối cùng là cúi người khấu đầu bình đẳng.

Phật kham thủ ấn — là lễ bái thứ nhất, đảnh lễ chư tôn trong Phật bộ. Nghĩa là chắp hai tay lại, mười đầu ngón tay chạm vào nhau, lòng bàn tay hơi khum, tạo thành hình như kham thờ Phật.


![image](/img/img_cd6e77a1e05c26bf62261a5936e2807e.png)



Liên hoa thủ ấn — là lễ bái thứ hai, đảnh lễ chư tôn trong Bồ Tát bộ (Liên hoa bộ). Nghĩa là hai ngón cái và hai ngón út chạm vào nhau, ba ngón còn lại xòe ra, như hình hoa sen đang nở.


![image](/img/img_bed25ffa6878a03c86628ca2595b7fa6.png)



Kim cang thủ ấn — là lễ bái thứ ba, đảnh lễ chư tôn trong Kim cang bộ. Nghĩa là hai tay chắp vào nhau, mười ngón tay đan chéo, như hình chữ thập của chày kim cang, đó chính là thủ ấn kim cang.


![image](/img/img_40d9821b3512bf837263ff4baadb979b.png)



Thủ ấn Bình đẳng — là lễ bái thứ tư, tức là thủ ấn cúi người khấu đầu. Nghĩa là ngón trỏ giơ thẳng chạm vào không trung, ngón cái song song với mặt đất và chạm vào nhau, ba ngón còn lại đan chéo song song tạo thành thủ ấn bình đẳng. Thủ ấn bình đẳng là sự đảnh lễ bình đẳng đối với Phật bộ, Bồ Tát bộ, Kim cang bộ, Hộ pháp bộ và chư Thiên bộ.


![image](/img/img_3da7f3b9c150ee093751ba1770622ce0.png)


Đại lễ bái toàn thân phủ phục là theo cách của Tây Tạng. Đó là nằm sấp toàn thân xuống đất. Cách lễ bái này thường cần có đệm lễ bái hoặc chiếu cỏ trải sẵn trên đất để tránh bị thương.

Khi thực hiện bất kì đại lễ bái nào, trước hết quán tưởng Thượng sư và Tam Bảo ở phía trước. Bản thân mình (hoặc cùng với người thân, hoặc quán tưởng người thân đến), cùng nhau lễ bái. 

Trước tiên đặt thủ ấn lên đỉnh đầu, có ánh sáng trắng chiếu vào đỉnh đầu (thanh tịnh tất cả thân nghiệp). 


![image](/img/img_8226dc103dec254e78c549d993c95dd5.png)


Kế đến đặt thủ ấn nơi cổ họng, có ánh sáng đỏ chiếu vào cổ họng (thanh tịnh tất cả khẩu nghiệp). 


![image](/img/img_4ee6aa72d0ffe31ada6b5316d38ea161.png)


Sau đó đặt thủ ấn nơi tim, có ánh sáng xanh chiếu vào tim (thanh tịnh tất cả ý nghiệp). 


![image](/img/img_8f436bbd9c1dc464cb8fc4ddb8b7f095.png)


Khi thân khẩu ý tam nghiệp đã thanh tịnh, đưa thủ ấn trở lại đỉnh đầu chạm một cái rồi xả ấn. Thân cúi xuống, hai tay duỗi thẳng, đẩy về phía trước, toàn thân nằm sấp xuống đệm lễ bái, sau khi lễ xong, lập tức chạm một cái rồi đứng dậy, không được nằm lâu trên đất, đây chính là Đại lễ bái toàn thân phủ phục.

Đại lễ bái ngũ thể đầu địa:
Là cách lễ Phật theo kiểu Trung Quốc, không phải nằm sấp toàn thân xuống đất, mà chỉ hai đầu gối chạm đất, hai lòng bàn tay úp xuống đất, lòng bàn tay hướng lên trên. Cách lễ bái này cũng dùng bốn thủ ấn, nhưng không nằm sấp toàn thân. Đây là vì khi ra ngoài, hoặc đến các chùa khác, không có đệm lễ bái hay chiếu cỏ, nếu nơi nào cũng thực hiện đại lễ bái toàn thân, e rằng lòng bàn tay, trán và thân thể sẽ bị thương.

Đại lễ bái quán tưởng:
Là do Liên Sinh Hoạt Phật của Chân Phật Tông sáng tạo. Khi chúng ta cùng nhau tu tập, nơi chốn chật hẹp, người đông, không thể để tất cả mọi người đứng lên thực hiện pháp Đại lễ bái vì không gian không đủ. Do đó mọi người ngồi xuống, vẫn kết thủ ấn, ấn vào đầu, cổ họng, tim, đến tim thì lập tức quán tưởng toàn thân đảnh lễ trước Phật, sau đó đưa thủ ấn trở lại đỉnh đầu rồi xả ấn, đây chính là cách thuận tiện của Đại lễ bái quán tưởng.

Đại lễ bái quán tưởng có rất nhiều lợi ích, ví dụ như khi chúng ta ngồi trên xe, trên máy bay, muốn tu một đàn pháp, đương nhiên không có chỗ để thực hiện pháp Đại lễ bái, nên chúng ta ngồi ngay ngắn trên ghế, trước tiên quán tưởng chư Phật trên không trung phóng quang, rồi quán tưởng mình kết thủ ấn, lần lượt ấn vào đỉnh đầu, cổ họng, tim, quán tưởng mình đảnh lễ Phật, sau đó đưa ấn trở lại đỉnh đầu rồi xả ấn. Thậm chí đối với phụ nữ mang thai, bụng to không thể toàn thân phủ phục, cũng không thể ngũ thể đầu địa, tự nhiên có thể vận dụng Đại lễ bái quán tưởng.

Trong số đệ tử của Chân Phật Tông, có người trước đây bị máy móc cắt đứt ngón tay, có người sinh ra đã khuyết tật. Theo quy định của Mật tông, những người này không thể kết thủ ấn, tư thế ngồi không đẹp, nghiệp chướng sâu nặng, không đủ tư cách tu Mật tông. Nhưng Liên Sinh Hoạt Phật đã phá bỏ quy định phân biệt đối xử với người khuyết tật này, tôi cho rằng ai cũng có thể tu Mật tông. Thủ ấn có thể quán tưởng ra, pháp Đại lễ bái cũng có thể tu bằng quán tưởng.

Có người chuyên tu Đại lễ bái pháp, một lần lễ 21 lạy, hoặc 49 lạy, hoặc 108 lạy, hoặc vài trăm lạy. Loại Đại lễ bái này có thể dùng Phật kham thủ ấn, liên tục lễ bái, xem tất cả chư Phật Bồ Tát và chư tôn đều là Phật, không ngừng lễ bái, càng nhiều càng tốt.

Quán tưởng cùng người thân lễ bái sẽ giúp họ kết duyên với Phật

Có rất nhiều đệ tử hỏi tôi, bản thân họ tin Phật nhưng người thân không tin, làm sao để người thân có duyên với Phật? Tôi thích trả lời như thế này, hãy quán tưởng người thân không tin Phật của mình đang ở bên cạnh, dùng ánh sáng của Phật chiếu vào họ, sau đó cùng họ lễ Phật.

Đây cũng là một trong những pháp Quán tưởng lễ Phật. Niệm niệm thay người không tin Phật lễ Phật, lâu dần, trong tâm người không tin Phật sẽ gieo được mầm Phật, tự nhiên sẽ sinh ra duyên với Phật.

Trọng điểm của Đại lễ bái pháp vẫn nằm ở quán tưởng
Khi đặt thủ ấn lên đỉnh đầu, chư tôn phóng ánh sáng trắng (thân nghiệp thanh tịnh).
Khi đặt thủ ấn nơi cổ họng, chư tôn phóng ánh sáng đỏ (khẩu nghiệp thanh tịnh).
Khi đặt thủ ấn nơi tim, chư tôn phóng ánh sáng xanh (ý nghiệp thanh tịnh). Thủ ấn trở về đỉnh đầu rồi xả ấn, sau đó thực hiện đại lễ bái.

Làm Đại lễ bái có thể tiêu nghiệp chướng

Điểm quan trọng nhất của pháp Đại lễ bái là tiêu trừ nghiệp chướng. Khi chư Phật Bồ Tát phóng quang chiếu soi, chính là để tiêu trừ nghiệp chướng nhiều đời. Khi nghiệp chướng nhiều đời được tiêu trừ, tu hành mới có thể đạt đến thanh tịnh, tự thân mới có thể phóng quang, và khi tự thân có thể phóng quang thì mới có hy vọng thành Phật.

Làm Đại lễ bái có thể chế ngự tâm kiêu mạn ngã chấp

Pháp Đại lễ bái có thể chế ngự tâm kiêu mạn ngã chấp. Tôi cho rằng điều này cũng rất quan trọng, bởi vì khi chúng ta phủ phục đảnh lễ chính là học tập lòng thành kính và khiêm hạ, ý nghĩa là để diệt trừ ba độc tham, sân, si. 

Cần biết rằng người tu đạo, chỉ cần có chút thành tựu nhỏ là dễ sinh tâm kiêu ngạo, ý thức tự mãn tự đại hoàn toàn bộc lộ, thấy người khác cao hơn mình liền đố kỵ, động một tí là muốn so đạo hạnh với người khác. Vì vậy người học Phật trước tiên phải lễ Phật, học tập lòng thành kính. Phủ phục đảnh lễ chính là để chế ngự tâm kiêu mạn ngã chấp này.

Làm Đại lễ bái có thể khỏe thân

Pháp Đại lễ bái là một phương pháp vận động thể chất, trong quá trình thực hành, kết hợp với các động tác của cơ thể, trở thành động tác yoga với hơi thở và điều khí. Loại vận động thể chất này, khi thực hiện đến mức đổ mồ hôi, thậm chí có thể chữa bệnh, điều này có thể giải thích một cách hợp lý. Từ xưa, pháp Đại lễ bái của Tây Tạng được xem là "pháp lễ Phật khắc kỷ, khổ thân, điều hòa thân thể", điều này cũng có nguồn gốc của nó.

Pháp Đại lễ bái có thể tiêu trừ nghiệp chướng, có thể kết duyên với Phật, có thể chế ngự tham sân si, học tập lòng thành kính, lại còn là pháp yoga phù hợp với vận động cơ thể. Tôi mong rằng đệ tử Chân Phật Tông không được xem thường pháp Đại lễ bái, lời tôi nói tuy đơn giản nhưng đạo lý rõ ràng, nếu thực hành sẽ có công đức to lớn.

Phật pháp bao la tinh vi, nhưng cũng phải từng bước thực hành mới có thể đạt đến "vô thượng". Pháp Đại lễ bái tuy không phải pháp thù thắng nhất, nhưng cũng là pháp tinh tế vi diệu.
Tôi xin viết một bài kệ ghi lại:
*Mê mải bên ngoài là thế tục
Kiểm điểm nội tâm mới ngộ ra
Pháp Đại lễ bái là hồi tâm
Tiêu nghiệp cung kính có lợi ích.*

~ Trích từ văn tập Lư Thắng Ngạn số 63 "Bí Mật Trong Chân Phật Mật Pháp"


### 06. Khẩu quyết Đại lễ bái - lễ khắp hư không


Phương pháp Đại lễ bái, trước tiên quán tưởng Thượng sư và Tam Bảo Phật ở trước mặt. Trước hết đưa thủ ấn lên đỉnh đầu, có ánh sáng trắng chiếu vào đỉnh đầu (tất cả thân nghiệp thanh tịnh). Sau đó đưa thủ ấn đến cổ họng, có ánh sáng đỏ chiếu vào cổ họng (tất cả khẩu nghiệp thanh tịnh). Tiếp đến đưa thủ ấn đến tim, có ánh sáng xanh lam chiếu vào tim (tất cả ý nghiệp thanh tịnh). Khi thân khẩu ý ba nghiệp đã thanh tịnh, đưa thủ ấn trở lại đỉnh đầu chạm một cái rồi xả ấn, sau đó cúi lạy. Có thể dùng Đại lễ bái toàn thân nằm xuống đất theo kiểu Tây Tạng, hoặc Đại lễ bái năm phần chạm đất theo kiểu Trung Quốc, hoặc quán tưởng Đại lễ bái đều được.

Khẩu quyết của pháp Đại lễ bái rất quan trọng, khẩu quyết đó là:
Lạy khắp hư không.
Tự thân hư không.

Trong cuốn "Bí Mật Trong Chân Phật Mật Pháp", tôi đã từng nói rằng pháp Đại lễ bái có thể tiêu trừ nghiệp chướng, tạo được nhân duyên lớn với Phật, do sự cung kính lễ lạy mà dứt được tham sân si và ngã mạn, đây là pháp môn thành kính cao nhất, lại còn phù hợp với việc vận động thân thể như yoga. Thêm vào đó, nhờ được chư Phật Bồ Tát phóng quang gia trì mà tiêu trừ nghiệp chướng nhiều đời, cuối cùng đạt được thân khẩu ý thanh tịnh, chứng được tự thân phóng quang.

Lạy khắp hư không - quán tưởng vô số chư Phật Bồ Tát trong khắp hư không, trùng trùng vô tận.
Tự thân hư không - quán tưởng tự thân và chúng sinh trong lục đạo cũng trùng trùng vô tận.
Khi lễ bái, có thể vừa lạy vừa tụng một câu chú lạy Phật, hoặc một bài kệ quán tưởng đảnh lễ chí thượng. 

Chú lạy Phật như sau: 
"Ôm. Na-mô man-chu xi-ơ-yê. Na-mô su xi-ơ-yê. Na-mô u-ta-ma xi-ơ-yê. Sô-ha."

Công đức của việc "lạy khắp hư không" và "tự thân hư không" là vô cùng lớn. Một lạy như vậy bằng với nghìn vạn lạy Phật, đây là khẩu quyết vô thượng của pháp Đại lễ bái.

Liên Sinh Hoạt Phật khai thị thêm như sau:
"Khẩu quyết của pháp Đại lễ bái chính là lạy khắp hư không và tự thân hư không, nghĩa là đảnh lễ vô số chư Phật, quán tưởng vô số thân mình đang lễ bái. Khi chúng ta cúi mình lạy xuống, đó là lúc chúng ta thành kính và buông bỏ nhất, phải trừ bỏ tâm kiêu căng ngã mạn của mình, phải trừ bỏ tâm tự đại tự mãn, chúng ta cần phải Đại lễ bái, chính là để diệt trừ tâm kiêu ngạo của bản thân! Lúc này, tâm ta như hư không vậy."

Tôi lại nói:
"Hư không vô tận, nên đây là sự vô thượng của đảnh lễ khắp hư không, và tự tính của chúng ta cũng phải hóa thành vô tận, đó chính là tự thân hư không, dùng hư không để lễ bái hư không, đó là khẩu quyết vô thượng của pháp Đại lễ bái trong hư không. Ý nghĩa trong đó thâm sâu và vi diệu, đó là một sự dung hợp, một sự giao thông, một sự cảm ứng vô thượng."
Vô số vô tận chư Phật.
Tất cả hóa thành chính ta vô số vô tận.

Chư Phật Bồ Tát hóa thành một đường ánh sáng lớn, rót vào tâm của vô số vô tận chính ta.
Hai bên hợp nhất, ánh sáng chiếu rọi lẫn nhau.
An lạc, khinh an, bay lên hư không, ngồi trên hoa sen.
Đây là "lạy khắp hư không vô tận Phật, tự thân hư không vô tận ta, Phật tức là ta." Loại khẩu quyết vô thượng này là chữ "tạp".


![image](/img/img_0e0fcd11e6ed559e86264fc0475fad7d.png)


Sự thành tựu này là:
Một lạy tức là nghìn vạn lạy.
Một lạy tức là Phật ta hợp nhất.

Liên Sinh Hoạt Phật tiết lộ khẩu quyết vô thượng này, đặc biệt viết một bài kệ:

*Lạy khắp chư Phật vô thượng sư.
Thượng sư Kim cang đại tổng trì.
Như mây như biển hóa vô tận.
Lễ bái của con cũng vô tận.
Bồ đề bát nhã đẳng trì sâu.
Quang minh quán đỉnh theo thứ tự.
Ba nghiệp thân con đều tiêu vong.
Quang minh thanh tịnh con vô tận.
Phật con dung hợp được thành tựu.
Không đứt bi trí chân Phật tử.
Ngồi trên hoa sen nhiều thù thắng.
Như thế chứng đạo truyền pháp đăng.*

Tôi đặc biệt chỉ rõ rằng, khẩu quyết vô thượng của Pháp Tứ quy y chính là quy y tự tính, chính mình là Phật. Còn khẩu quyết vô thượng của Đại lễ bái Phật tất nhiên chính là lạy khắp hư không, tự thân hư không, thành tựu cao nhất của nó chính là Phật ta hợp nhất.

Thật ra pháp Tứ gia hành của Mật giáo có lý pháp thâm sâu, hành giả không thể xem thường, đều là pháp sâu rộng, đều là đại pháp, qua đây có thể biết được.


### 07. Pháp Tứ quy y của Chân Phật Tông 


Có một đệ tử nội mật của Dudjom Rinpoche đến quy y Chân Phật Tông.
Tôi hỏi: "Dudjom Rinpoche đã dạy cho anh pháp môn gì?"
"Pháp Tứ quy y" - Anh ấy đáp. Tôi lắc đầu tỏ vẻ không tin.
"Đúng là pháp Tứ quy y đấy, Dudjom Rinpoche nói rằng, tu trì pháp Tứ quy y một triệu biến chính là đại pháp." - Vị đệ tử mới quy y trả lời tôi một cách kiên định như vậy.

Từ đây có thể thấy tầm quan trọng to lớn của pháp Tứ quy y - một trong bốn pháp gia hành.

Pháp Tứ quy y của Chân Phật Tông được trình bày chi tiết như sau:
1. Tiến vào mật đàn. Chiêm ngưỡng pháp tướng hoặc tượng của Thượng sư.

2. Trước tiên quán tưởng hình dáng Thượng sư, từ thiên tâm phóng ra ánh sáng trắng, chiếu vào thiên tâm của hành giả; từ cổ họng phóng ra ánh sáng đỏ, chiếu vào cổ họng của hành giả; từ tim phóng ra ánh sáng xanh, chiếu vào tim của hành giả.

3. Hành giả chắp tay cung kính niệm: "Nam mô Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Hoạt Phật." 
Mỗi niệm một lần, lạy một lạy.

4. Niệm Tứ quy y chân ngôn:
Na-mô gu-ru pây — quy y Kim cương Thượng sư.
Na-mô pút-ta yê — quy y Phật.
Na-mô ta-mô yê — quy y pháp.
Na-mô sâng-kya yê — quy y tất cả thánh hiền mười phương.

Trước tiên niệm ba lần, sau đó quán tưởng Thượng sư và chư tôn Tam Bảo hiện ra trên không trung, hòa nhập vào nhau, hóa thành ánh sáng ngũ sắc rực rỡ, ánh sáng ngũ sắc này rót vào đỉnh đầu hành giả, tràn đầy toàn thân. Tự cảm nhận tất cả nghiệp chướng, ác nghiệp, bất tịnh nghiệp, tội nghiệp đều hóa thành khí đen, thoát ra qua các lỗ chân lông, bản thân trở nên trong sáng thuần khiết, thân tâm an lạc, tràn đầy phúc huệ.


![image](/img/img_80d6fa2722450f35c1ca62b8c3551216.png)


5. Sau đó lại niệm chân ngôn Tứ quy y, tùy ý niệm nhiều hay ít, càng nhiều càng tốt.

6. Sau khi niệm xong chân ngôn Tứ quy y, cần niệm văn phát bồ đề tâm: "Đệ tử (tên) từ nay quy y Thượng sư Tam Bảo, cho đến khi thành tựu bồ đề, vĩnh viễn không thoái chuyển, tất cả thiện căn lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh nhanh chóng thành tựu Phật đạo." (niệm 3 lần)

7. Trì tụng các thần chú khác:
Trì tụng tâm chú Liên Sinh Hoạt Phật: "Ôm gu-ru lién-sâng sit-đi hum" 108 biến hoặc 1000 biến.
Trì tụng tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ: "Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê" 108 biến hoặc 1000 biến.
Trì tụng tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát: "Ôm ma-ni pê-mi hùm" 108 biến hoặc 1000 biến.
Trì tụng tâm chú A Di Đà Phật: "Ôm a-mi-đê-wa sê" 108 biến hoặc 1000 biến.
Trì tụng tâm chú Lục Độ Mẫu: "Ôm ta-rê tu-ta-rê tu-rê sô-ha" 108 biến hoặc 1000 biến.

8. Sau khi trì tụng các thần chú gia trì xong, tụng văn hồi hướng: "Liên Sinh Hoạt Phật gia trì lực, Tam Bảo phóng quang trừ nghiệp chướng, con và chúng sinh thành Phật đạo, đều cùng vãng sinh Cực Lạc quốc."


![image](/img/img_e5ff60346648303d6926f8d8f127080e.png)


9. Đại lễ bái. Xuất đàn.

Trong pháp Tứ quy y Chân Phật này, điểm trọng yếu nằm ở ánh sáng ngũ sắc rực rỡ, chính là phần quán tưởng sau khi niệm xong ba lần chân ngôn Tứ quy y. Thượng sư và chư tôn Tam Bảo xuất hiện trên không trung, xoay chuyển hòa nhập vào nhau, biến thành ánh sáng ngũ sắc rực rỡ, sau đó rót vào đỉnh đầu hành giả, tất cả nghiệp chướng của hành giả hóa thành khí đen, thoát ra qua các lỗ chân lông. Phần quán tưởng này là quan trọng bậc nhất.

Điểm trọng yếu của pháp Tứ quy y này chính là ở Thượng sư. Trong Mật tông, pháp Tứ quy y đặt Kim cương Thượng sư ở vị trí đầu tiên, bởi vì Kim cương Thượng sư là tổng trì của chư tôn Tam Bảo. Chúng sinh nhờ có sự truyền pháp của Kim cương Thượng sư mới có thể thực sự hiểu được Tam Bảo. Vì vậy, chúng sinh nhờ quy y Kim cương Thượng sư mới có Mật pháp để tu học, và cũng nhờ nương tựa vào Kim cương Thượng sư mới có thể được Thượng sư Tam Bảo cứu độ.

Tu trì pháp Tứ quy y là củng cố lòng tin của chính mình đối với Thượng sư Tam Bảo.
Tu trì pháp Tứ quy y là kết duyên vĩnh viễn với Thượng sư và Tam Bảo, mãi mãi có duyên với chư Phật Bồ Tát.
Tu trì pháp Tứ quy y là tiêu trừ tất cả nghiệp chướng nhiều đời.
Tu trì pháp Tứ quy y là nhận được gia trì của Thượng sư Tam Bảo.
Tu trì pháp Tứ quy y là bước đầu phát tâm bồ đề của chính mình.

Thông thường các vị Hoạt Phật Tây Tạng khi bắt đầu dạy người trì chú, đều dạy chân ngôn Tứ quy y, niệm chân ngôn Tứ quy y một triệu biến để củng cố nhân duyên tin Phật của chính mình.

Tôi viết một bài kệ cho pháp Tứ quy y Chân Phật:
*Một pháp quy y nghiệp tiêu trừ,
Có duyên với Phật pháp ắt thành;
Chớ làm người tục trong nhân thế,
Phát tâm bồ đề độ chúng sinh.*

~ Trích từ văn tập Lư Thắng Ngạn số 63 "Bí Mật Trong Chân Phật Mật Pháp"


### 08. Khẩu quyết Tứ quy y - Quy y tự tính


Tại sao phải quy y? Bởi vì nhờ có quy y mới có thầy dạy Phật pháp cho mình, nếu không có thầy truyền pháp thì không có pháp để tu. Đây là đạo lý rất đơn giản.

Ý nghĩa của quy y chính là hướng về, nương tựa và được cứu độ. Mật giáo có Tứ quy y, đó là quy y Kim cương Thượng sư, quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng.

Trong tiếng Phạn, "Nam mô" chính là "quy y". Bốn quy y ấy là:
Nam-mô gu-ru pây.
Nam-mô put-ta yê.
Nam-mô ta-mô yê.
Nam-mô sâng-kya yê.

Trong Phật pháp, Thiền tông, Mật tông và Luật tông đều rất coi trọng sư phụ.
Thiền tông, sư phụ ấn chứng.
Luật tông, sư phụ truyền giới.
Mật tông, sư phụ truyền pháp.

Giáo lý của Mật tông Tây Tạng đặt Căn bản Kim cương Thượng sư lên hàng đầu, là tôn trọng pháp truyền thừa tôn sư, từ Dojre Chang Như Lai đến vị Căn bản Thượng sư truyền pháp, đó là căn bản trong các căn bản.

Tôi cho rằng cội nguồn của quy y nằm ở chữ "tín", "tín" là khởi đầu của tất cả, cũng chính là "tín là mẹ công đức của đạo nguyên, tăng trưởng tất cả các thiện pháp, trừ diệt tất cả các nghi hoặc, thị hiện khai mở vô thượng đạo."

Có tín mới có lạc, thể của tín tâm ắt có tướng hoan hỷ, hoan hỷ quy y Liên Sinh Hoạt Phật.

Pháp môn của Tịnh Độ tông là quy y tín niệm.
Pháp môn của Thiên Thai tông là quy y nhất niệm.
Pháp môn Mật tông Chân ngôn là quy y chữ Ah.
Có tín mới có quy y, có quy y rồi mới có hành, đó là hành theo pháp Mật tông, như vậy mới có sự quy hướng chân chính.

Quy y là khởi đầu của tín-giải-hành-chứng, trước hết tin tưởng và thích thú với pháp, kế đến là hiểu rõ pháp, nương theo pháp mà thực hành tu tập, cuối cùng là chứng được quả.
Vì vậy, cái gốc của quy y chính là tín.

Phương pháp quán tưởng quy y là:

1. Trước tiên quán tưởng hình dáng của Thượng sư, ánh sáng trắng từ thiên tâm phóng ra, chiếu vào thiên tâm của hành giả, ánh sáng đỏ từ cổ họng phóng ra, chiếu vào cổ họng của hành giả, ánh sáng xanh từ tim phóng ra, chiếu vào tim của hành giả.

2. Hành giả cung kính tụng chú Tứ quy y 3 lần: "Nam-mô gu-ru pây. Nam-mô put-ta yê. Nam-mô ta-mô yê. Nam-mô sâng-kya yê." 

3. Tiếp đó quán tưởng Thượng sư hiện ra trong hư không, Phật hiện ra trong hư không, pháp bản phóng quang hiện ra trong hư không, tăng bảo hiện ra trong hư không, tất cả hòa nhập vào nhau, hóa thành đại quang minh ngũ sắc, đại quang minh ngũ sắc này rót vào đỉnh đầu của hành giả, tràn đầy toàn thân. 

Lại quán tưởng tự thấy tất cả nghiệp chướng, nghiệp ác, nghiệp bất tịnh, nghiệp tội, đều hóa thành khí đen, thoát ra từ các lỗ chân lông, bản thân trở nên trong suốt sáng ngời, thân tâm khinh an, tràn đầy phước huệ.

Như thế này chính là nội nghĩa chân thật của pháp quán tưởng quy y.


![image](/img/img_8d89bf55fa51431f9830e0d225589752.png)


Liên Sinh Hoạt Phật khai thị khẩu quyết vô thượng về quy y như sau:
"Tự thân thật ra là một thể do nhân duyên hòa hợp, có Phật tính thường trụ trong tâm, Phật tính này không sinh không diệt, không đoạn không thường, không đến không đi, không một không khác. Vốn dĩ là Phật, vốn không liên quan gì đến phiền não nghiệp duyên. Phàm phu vì vọng tưởng chấp trước nên không biết được điều này. Nay Sư Tôn đặc biệt chỉ ra rằng, đây là đại trí huệ chân thật, 'tự mình là Phật', tất cả Phật pháp đều chỉ là phương tiện thiện xảo, điều quan trọng nhất của quy y chính là 'quy y tự tính', đây mới thật sự là khẩu quyết quy y, sau khi phá được vô minh sẽ hồi phục về chân tâm thường trụ vốn có, viên mãn Pháp thân thanh tịnh quang minh."

Khẩu quyết như vậy chính là:
*Ví như linh đan dược.
Điểm sắt thành vàng báu.
Trì tụng đà-la-ni.
Biến phàm thành thánh hiền.*

Thường trì tụng chú Tứ quy y, quán tưởng ba luồng ánh sáng gia trì của Thượng sư, được đại quang minh ngũ sắc quán đảnh, có thể nhập vào định vô tướng, được khẩu quyết quy y, kiên cố đạo tâm của mình, thân ngữ ý ba nghiệp mãi mãi thanh tịnh, đó chính là Kim Cương Tràng Như Lai kiên cố.

Sư Tôn truyền xuống pháp môn phương tiện. (chìa khóa báu)
Khai mở Phật tính trong tự tâm bạn. (mở kho báu)
Lúc mê có thầy độ. (quy y bên ngoài)
Lúc ngộ tự độ. (quy y bên trong)
Chính mình là Phật. (Mật quy y)

~ Trích từ Văn tập Lư Thắng Ngạn số 75 "Chân Phật Pháp Trong Pháp"


### 09. Pháp Đại cúng dường của Chân Phật Tông


Hành giả Mật tông mỗi lần tu pháp, nhất định phải dâng cúng dường, trong pháp Tứ gia hành, đây chính là pháp cúng dường mandala.

Liên Sinh Hoạt Phật từng nói: "Con người thế gian, nếu muốn có được phúc báo lớn nhất thì phải cúng dường Thượng sư, Tam Bảo, Kim cang, Hộ pháp. Bởi vì nguyên do là cúng dường biểu thị sự cung kính của hành giả, cung kính Tam Bảo vô thượng, nên có thể có được sức mạnh che chở của Thượng sư và Tam Bảo, và có được phúc báo vô cùng."

Trước kia pháp sư Thích Huệ Linh từng nói với tôi:
Trước Phật cúng hoa — đời sau xinh đẹp phi phàm, tướng mạo anh tuấn.
Trước Phật cúng hương — đời sau thân thể thơm tho.
Trước Phật cúng đèn — đời sau trí tuệ siêu việt, quang minh vô tận.
Trước Phật cúng trà — đời sau tài phúc vô tận, nguồn tài nguyên không dứt.
Trước Phật cúng quả — đời sau ăn uống không phải lo nghĩ, có dư thừa.

Liên Sinh Hoạt Phật nói: "Một người nếu muốn có được phúc báo lớn nhất của nhân gian, đời sau trở thành quốc vương của nhân gian, hoặc thành người giàu có nhất, chỉ cần người đó học được pháp Chân Phật đại cúng dường thì sẽ được thành tựu như vậy. Chỉ tu trì mỗi pháp Chân Phật đại cúng dường thì đã có thể có được phúc báo vô cùng tận."

Pháp cúng dường mandala của Mật tông như sau:

1. Hành giả tiến vào mật đàn thì ngồi xuống, hai tay kết ấn cúng dường. 

2. Trước tiên đặt một ít gạo lên lòng bàn tay trái.

3. Kết ấn cúng dường — Hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau, hai ngón út đan chéo nhau (đều là tay phải ở ngoài). Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út.


![image](/img/img_455c3409ce18c4da0fc1a85be3844795.png)


4. Quán tưởng núi Tu Di trong vũ trụ ở chính giữa, bốn cõi trời đông tây nam bắc ở xung quanh núi Tu Di, và ở phía đông tây của núi Tu Di có mặt trăng mặt trời.

Lại quán tưởng gạo trong tay mình biến thành thất trân bát bảo, đầy ắp cả núi Tu Di và bốn cõi trời Đông Tây Nam Bắc. Quán tưởng tất cả trân bảo đều dâng cúng chư tôn.


![image](/img/img_e96c869477958c214f31ff35ff7f4e45.png)


5. Niệm bài kệ cúng dường:

Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kỳ diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.

6. Trì thêm chú cúng dường:

Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.

7. Niệm xong chú cúng dường thì nâng thủ ấn lên trên, ấn vào thiên tâm một cái. Khi giải ấn thì có thể trực tiếp tung gạo lên không trung. Như vậy được xem là đã hoàn thành pháp cúng dường mandala.

Bí mật của pháp Chân Phật đại cúng dường:

Liên Sinh Hoạt Phật từng dạy mọi người bí mật của pháp Chân Phật đại cúng dường. 

Ví dụ chúng ta cúng dường một ngọn đèn, thắp đèn sáng lên, nhập đàn tay kết ấn cúng dường. Đầu tiên nghĩ đến ngọn đèn dầu này ở trong đầu, sau đó từ một ngọn đèn dầu hóa thành một hàng, sau đó đèn dầu lại biến hóa thành một mặt phẳng, thậm chí biến hóa thành mười phương trên dưới cả vũ trụ đều đầy ắp đèn dầu thắp sáng. Quán tưởng chư tôn tiếp nhận cúng dường đèn dầu sáng của bạn. Trong tâm niệm thầm chú cúng dường, sau đó đưa thủ ấn chạm vào thiên tâm rồi giải ấn.


![image](/img/img_9dfc347a2987f81260f4232fbabc4ba1.png)



![image](/img/img_dc7b31468f736e38aa2ebac896a21bfa.png)



![image](/img/img_ce8dc2c41c1ec6a7cd3bc22593779391.png)


Ví dụ; chúng ta cúng dường một bông hoa, nhập đàn tay kết ấn cúng dường, đầu tiên nghĩ đến bông hoa này ở trong đầu, rồi quán tưởng hoa biến thành một hàng hoa, rồi từ một hàng lại biến thành một mặt phẳng hoa, thậm chí là mười phương trên dưới cả vũ trụ đều đầy ắp hoa. Quán tưởng chư tôn trong vũ trụ, mỗi vị Phật đều cầm một bông hoa của bạn trên tay, đầy ắp cả bầu trời vũ trụ. Trong tâm niệm thầm chú cúng dường rồi chạm thủ ấn vào thiên tâm, sau đó giải ấn.

Đây chính là từ một biến thành nhiều, lần lượt hóa hiện như mây, như biển. Kết quả là đủ loại cúng dường vô tận, một lần Chân Phật đại cúng dường như thế này là thù thắng vi diệu nhất, thanh tịnh và kỳ diệu nhất, quảng đại vô tận nhất. Đương nhiên là phúc báo có được cũng vô cùng vô tận.

Chân Phật Tông chúng ta bày bát cúng là: vỏ ốc nhỏ, trái cây, phấn thơm, đèn, ba que đàn hương, năm bông hoa đỏ, nước tắm, nước sạch, bày từ phải sang trái. Còn ngũ cúng là hoa, hương, đèn, trà, quả. Hai kiểu này đều được.

Thật ra theo như trong kinh Phật, nghi thức cúng dường rất phiền phức, và cúng phẩm cũng có nhiều loại, có cái gọi là năm món cúng, bảy món cúng, tám món cúng, hai mươi bảy món cúng, ba mươi bảy món cúng. Mỗi loại bảo vật đều xem là cúng phẩm, ví dụ pháp luân cũng là một bảo vật, trân châu cũng là một bảo vật, cây lạ cũng là một bảo vật, voi quý cũng là một bảo vật. Tôi cho rằng chỉ cần là thứ mà bạn cho là có giá trị thì đều có thể biến hóa để dâng lên cúng Phật.

Có đệ tử hỏi tôi là không có thứ gì quý hiếm để cúng dường Phật, phải làm sao? 

Tôi trả lời như sau, đây là bí mật trong bí mật của Chân Phật đại cúng dường. Khi chúng ta thiếu những món đồ thật để cúng Phật, chúng ta cũng có thể kết ấn cúng dường, rồi nghĩ ra những thứ tốt đẹp nhất, những thứ mà chúng ta nhìn thấy trên đường, hoặc là những thứ nhìn thấy trong nhà người khác, đều có thể ghi nhớ vào trong đầu chúng ta. Chúng ta cũng biến hóa một thành nhiều, nhiều hóa thành vô tận, rồi cũng cúng dường chư tôn trong vũ trụ. Trì thêm chú cúng dường, sau đó giải ấn. Cũng vẫn sẽ có công đức to lớn.

Có ba trọng điểm của pháp Chân Phật đại cúng dường, tức là thủ ấn, chân ngôn, quán tưởng. Kì thực điểm chính yếu thật sự vẫn là tâm cung kính. Chúng ta một lòng biến hóa cúng phẩm thành vô lượng vô tận, tự nhiên phúc phần có được cũng vô lượng vô tận, cho nên nhất tâm quán tưởng là quan trọng nhất.

Pháp Chân Phật đại cúng dường là mật pháp để có được phúc vô lượng.
Pháp Chân Phật đại cúng dường là mật pháp để có được sức mạnh gia trì của Thượng sư và Tam Bảo.
Pháp Chân Phật đại cúng dường là mật pháp Kim cang Hộ pháp hộ thân.
Pháp Chân Phật đại cúng dường là từ cúng dường Phật Bồ Tát mà sản sinh ra tâm bố thí, sau đó chuyển thành bố thí chúng sinh, là đại mật pháp để phát bồ đề tâm quảng đại.
Pháp Chân Phật đại cúng dường là từ cúng dường mà có được sự che chở của chư tôn, từ sự che chở đó lại có được thành tựu.

Hoạt Phật Tây Tạng cho rằng pháp cúng dường mandala phải tu tập 100.000 biến, thậm chí nhiều hơn, đây cũng là khóa trình mà mỗi hành giả Mật tông phải tu. Ngoài ra, cúng dường Thượng sư cũng chính là biểu thị sự tôn kính, lòng hoan hỷ và không rơi vào việc “cầu xin suông” (hoặc có điều thỉnh cầu, hoặc cầu nguyện, đều phải cúng dường để biểu thị một chút tâm ý).

Bởi vì Thượng sư là đại diện cho Phật, pháp, tăng. Chúng ta đi theo Thượng sư mới có thể tu hành học pháp, cho nên cúng dường Thượng sư là cực kì quan trọng. Thượng sư chân chính sẽ không tham cúng dường, tất cả cúng dường đối với Thượng sư, Thượng sư sẽ dùng thái độ “lấy của chúng sinh, dùng cho chúng sinh” để mà xử lý, dùng vào việc hoằng dương Phật pháp, phổ độ chúng sinh.

Pháp Chân Phật đại cúng dường là một Mật pháp tôn kính, gần gũi, phụng sự, từ đó mà có được lực gia trì che chở, có được lực gia trì che chở rồi thì tu bất kì mật pháp gì cũng đều đắc thành tựu, không có lực gia trì che chở thì tu bất kì mật pháp gì cũng đều sẽ không sản sinh sức mạnh.

Tôi viết một bài kệ:
*Cúng dường là tâm mềm mại nhất
Kiền thành tự sẽ đến địa đầu
Vô cùng vô tận đại phúc báo
Hiện lên thù thắng chẳng lo âu.*

~ Trích từ Văn tập Lư Thắng Ngạn số 63 "Bí mật trong Chân Phật Mật Pháp"


### 10. Khẩu quyết Đại cúng dường - bố thí không mong cầu


Cúng dường có nghĩa là phụng dưỡng. Đối với bậc trên, cúng dường hàm chứa ý nghĩa thân cận, phụng sự và tôn kính. Đối với bậc dưới, cúng dường hàm chứa ý nghĩa đồng cảm, thương xót và che chở.

Pháp Đại cúng dường của Mật tông là:

1. Kết thủ ấn cúng dường.

2. Quán tưởng cúng phẩm hiện rõ trong tâm trí, trước tiên hóa thành một hàng, sau đó hóa thành một mặt phẳng, rồi biến thành vô lượng vô tận cúng phẩm cúng dường khắp mười phương vũ trụ.

3. Thầm tụng thần chú cúng dường gia trì:
"Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi."

4. Sau đó chạm thủ ấn vào thiên tâm và giải ấn.

Là người học Phật, chúng ta trước hết phải tu pháp Đại cúng dường, dùng cúng dường này để cúng dường Thượng sư Tam bảo Kim cang Hộ pháp, cầu xin gia trì thành tựu. Nguyên tắc là dùng tất cả núi Tu Di, mặt trời mặt trăng, bốn đại châu, thất trân bát bảo trong thiên hạ. Dùng sức quán tưởng, gia trì thần chú thủ ấn, từng phẩm vật hóa hiện như mây như biển, trùng trùng vô tận.

Loại cúng dường này là thù thắng vi diệu.
Loại cúng dường này là thanh tịnh trang nghiêm.
Loại cúng dường này là rộng lớn vô biên.

Ấn cúng dường như sau: Hai ngón áp út dựng đứng đối lưng nhau, kế đến hai ngón giữa duỗi thẳng đan chéo nhau, hai ngón út duỗi thẳng đan chéo nhau, tiếp theo dùng hai ngón trỏ móc vào hai ngón giữa, hai ngón cái ấn lên đầu hai ngón út.

Khi kết thúc cúng dường, tụng tán như sau:

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kỳ diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Khi chúng ta học được phương pháp đại cúng dường, còn phải hiểu rõ khẩu quyết đại cúng dường. Thực ra khẩu quyết của đại cúng dường chính là bố thí và không mong cầu.

Bố thí là đem những gì mình có ban phát cho người khác. Thứ nhất là tài thí, tức là dùng của cải cứu giúp người bệnh tật nghèo khổ. Thứ hai là pháp thí, tức là dùng chính pháp khuyên người làm thiện tránh ác. Thứ ba là vô úy thí, tức là không màng đến sự an nguy của bản thân để giải trừ nỗi sợ hãi cho người khác. Bố thí là để độ thoát lòng tham lam bủn xỉn.

Và Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng không mong cầu chính là khẩu quyết chân chính của đại cúng dường, bởi vì muốn độ thoát lòng tham lam bủn xỉn thì phải không mong cầu.

Nếu không mong cầu, tức là tâm không có chỗ dựa, không cầu thì vô tâm, tâm không nương tựa vào đâu, vì tâm không nương tựa nên vọng niệm không khởi, không trụ không chấp, thông suốt thanh tịnh.
Không mong cầu là cúng dường vô tận trong pháp đại cúng dường.
Có mong cầu là phúc báo hữu hạn trong pháp đại cúng dường.

Liên Sinh Hoạt Phật mời mọi người chú ý:
Phẩm "Diệu hạnh vô trụ" thứ tư trong Kinh Kim Cang:

Lại nữa: "Này Tu Bồ Đề! Bồ Tát đối với pháp, nên không có chỗ trụ mà hành bố thí. Nghĩa là không trụ vào sắc mà bố thí, không trụ vào thanh, hương, vị, xúc, pháp mà bố thí. Này Tu Bồ Đề! Bồ Tát nên bố thí như thế, không trụ vào tướng. Vì sao? Nếu Bồ Tát bố thí không trụ tướng, phúc đức ấy không thể nghĩ lường. Này Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Hư không phương Đông có thể nghĩ lường được chăng?" "Bạch Thế Tôn, không thể!" "Này Tu Bồ Đề! Nam, Tây, Bắc phương, bốn hướng phụ, trên, dưới, hư không có thể nghĩ lường được chăng?" "Bạch Thế Tôn, không thể!" "Này Tu Bồ Đề! Bồ Tát bố thí không trụ tướng, phúc đức cũng lại như thế, không thể nghĩ lường. Này Tu Bồ Đề! Bồ Tát chỉ nên trụ như lời dạy!"

Bố thí không trụ tướng chính là bố thí không mong cầu, là điều không thể nghĩ lường.

Liên Sinh Hoạt Phật hiểu rằng, khi chúng ta hành pháp đại cúng dường, nếu có thể cúng dường không mong cầu, phúc báo đạt được cũng sẽ vô lượng như hư không.
Hàng phục vọng tâm nằm ở chỗ không mong cầu.
Khẩu quyết chân thật của đại cúng dường nằm ở chỗ bố thí không mong cầu.

~ Trích từ Văn tập Lư Thắng Ngạn số 75 "Chân Phật Pháp Trong Pháp"


### 11. Pháp Kim Cang Tâm của Chân Phật Tông


Một trong Tứ gia hành của Mật giáo là Kim Cang Tâm Bồ Tát pháp. Pháp này là pháp quan trọng nhất trong Tứ gia hành, được xem là một trong những khóa tu bắt buộc của Mật thừa. Cần trì tụng Bách tự minh chú của Kim Cang Tát Đỏa đủ 100.000 biến.

Kim Cang Tâm Bồ Tát pháp có hai ý nghĩa lớn:
Có thể tiêu trừ sạch sẽ tất cả tội chướng từ vô thủy đến nay.
Có thể khiến hạnh nguyện của hành giả Mật tông kiên cố như kim cương.

Liên Sinh Hoạt Phật từng nói như thế này: 
Lai lịch của Kim Cang Tâm Bồ Tát không phải tầm thường, nguyên là thân dung hợp biến hóa của Ngũ Phật, là ánh sáng trắng thanh tịnh vĩ đại. Đây là thân biến hóa của vị sứ giả vĩ đại nhất của Mật thừa, trong đó ẩn chứa ý nghĩa vô cùng thâm sâu. 

Có người chỉ lấy Kim Cang Tâm Bồ Tát làm Bổn tôn tu pháp, từ đó mà đạt được tâm lớn của Bồ Tát, tâm lớn của Bồ Tát kiên cố bất hoại, như kim cương vậy.

Trong 52 địa vị Bồ Tát của Đại thừa, Bồ Tát ở địa vị thứ 51 được gọi là Đẳng Giác, sự giác ngộ này ngang bằng với Phật, cho nên nhìn lại Pháp vân địa thứ 10 đã có thể gọi là Phật, danh hiệu chính là Kim Cang Tâm Bồ Tát.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, Kim Cang Thủ Bồ Tát được xem là vị tổ thứ hai của Mật thừa, Kim Cang Thủ Bồ Tát chính là Kim Cang Tát Đỏa, trong đó có mối quan hệ đồng thể dị danh với Kim Cang Tâm Bồ Tát.

Nhiều người xem thường pháp Tứ gia hành, cho rằng đó là pháp nhỏ, nhưng theo như tôi biết, pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát chính là đại pháp, không những là đại pháp, mà còn là vô thượng pháp.

Có rất nhiều đệ tử Mỹ quy y các vị Hoạt Phật Tây Tạng đến gặp tôi, họ nói với tôi rằng họ đã tu pháp được tám đến mười năm, và pháp cao nhất mà họ tu chính là Kim Cang Tâm Bồ Tát pháp.

Và đệ tử quy y của tôi là Đạt Thừa Rinpoche - Hoạt Phật đời thứ 10 của Hồng giáo Tây Tạng, nói với tôi rằng, phần lớn các đệ tử Mỹ khi mới học pháp, nhất định phải cho họ tu Tứ gia hành trước, và pháp cao nhất chính là Kim Cang Tâm Bồ Tát pháp, vì thế các đệ tử Mật tông người Mỹ đều tụng chú Bách tự minh của Kim Cang Tát Đỏa.

Pháp Chân Phật Kim Cang Tâm trình bày như sau:

1. Vào đàn, đại lễ bái.

2. Trước tiên ngồi xuống chắp tay niệm: 
"Nam mô Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật." 3 biến.

3. Niệm chú Tứ quy y: 

"Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê." 3 biến.

4. Niệm kệ Tứ vô lượng tâm.
Nguyện cho tất cả chúng sinh đầy đủ niềm vui và nhân của niềm vui, đó là từ vô lượng.
Nguyện cho tất cả chúng sinh thoát khỏi khổ và nhân của khổ, đó là bi vô lượng.
Nguyện cho tất cả chúng sinh mãi mãi ở trong an lạc không khổ, đó là hỷ vô lượng.
Nguyện cho tất cả chúng sinh bỏ yêu ghét, trụ nơi bình đẳng, đó là xả vô lượng.

5. Niệm chân ngôn phát tâm bồ đề:
"Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm." (3 biến)

6. Niệm kệ và chú sám hối:
Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.
"Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah." Chú này có thể niệm vô số biến.

Sau khi niệm chú xong, có thể dùng nước Đại bi chú hoặc nước chú Quân Đồ Lợi Minh Vương, hướng về bốn phương Đông Nam Tây Bắc, dùng tay búng vẩy nước, và tự mình cũng uống một chút nước Đại bi chú hoặc nước chú Quân Đồ Lợi Minh Vương, biểu thị Đông Nam Tây Bắc Trung tất cả đều thanh tịnh. (Nước Đại bi chú hoặc nước chú Quân Đồ Lợi Minh Vương cần phải niệm chú sẵn để dùng.)

7. Kết thủ ấn: Tay phải nắm lại, hướng vào trong, ngón cái đè lên ngón trỏ. Tay trái nắm lại, hướng ra ngoài, ngón trỏ đè lên ngón cái. Đặt trước ngực.

8. Quán Không, quán tưởng Kim Cang Tâm Bồ Tát hiện ra trên không trung.

Thân Bồ Tát màu trắng, đội mũ Ngũ Phật, khoác thiên y và váy xếp, thân được trang nghiêm bằng các loại bảo vật, ngồi trên tòa sen tám cánh và nguyệt luân, tay phải kết phẫn nộ ấn cầm chày kim cang ở trước ngực, tay trái kết phẫn nộ ấn cầm chuông kim cang ở bên đùi trái. Xung quanh ngực có vòng tròn bách tự minh chú bao quanh, vòng chú này tỏa ánh sáng trắng rực rỡ xoay vần.

Ánh sáng trắng lớn này bay lên không trung, tạo thành một vòng cung, rót vào đỉnh đầu của hành giả Mật tông và lan tỏa khắp toàn thân. Toàn thân hành giả cũng tỏa ra ánh sáng lớn, tất cả nghiệp chướng và ý niệm xấu ác trong thân hóa thành khí đen, thoát ra từ các lỗ chân lông trên toàn thân. Lúc này toàn thân hành giả trở nên trong suốt sáng ngời, đạt được đại thiền lạc.


![image](/img/img_94709e248870327f6405b90865d79d9e.jpg)


9. Tụng Bách tự minh chú Kim Cang Tâm 21 biến: (Khi tụng chú không kết thủ ấn)

Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây.

10. Nhập định:

Sau khi tụng xong 21 biến Bách tự minh chú Kim Cang Tâm, quán tưởng Kim Cang Tâm Bồ Tát hóa thành một điểm ánh sáng trắng, đi vào đỉnh đầu của hành giả Mật tông và nhập vào tâm, thân khẩu ý của Kim Cang Tâm Bồ Tát chính là thân khẩu ý của hành giả Mật tông, hai bên hợp làm một, hoàn toàn hòa hợp, hành giả Mật tông biến thành Kim Cang Tâm Bồ Tát.

Vào thời khắc quan trọng nhất này, nếu hành giả Mật tông thật sự có thể để thân tâm hoàn toàn "buông bỏ", chắc chắn sẽ có tư tưởng tối thượng thâm nhập vào thân thể hành giả, đó chính là sự hợp nhất hoàn toàn giữa ý thức tối cao của vũ trụ với ánh sáng tâm của chính mình. Đây là đại tương ứng vi diệu không thể diễn tả bằng lời, cũng là không thể nói ra, một trạng thái bất nhị mà chỉ người thực chứng mới có thể thấu hiểu, và chỉ những ai đạt được sự tương ứng như vậy mới thực sự chứng ngộ.

11. Sau khi xuất định, hồi hướng:

Liên Sinh Hoạt Phật truyền thụ đại mật pháp.
Kim Cang Tát Đỏa biến hóa Kim Cang Tâm.
Cả hai dung hợp đích thực đại tương ứng.
Tội chướng tiêu trừ chân chính đắc thanh tịnh.

12. Đại lễ bái Phật, xuất đàn.

Hôm nay, tôi thật lòng nói với mọi người rằng, pháp môn Tứ gia hành này, nếu học được trọn vẹn và đạt được sự tương ứng hoàn toàn, tôi cho rằng đã đạt được quả vị Bồ Tát Đẳng Giác. Đây chính là điều kỳ diệu của Chân Phật Mật Pháp. Tuy Tứ gia hành là pháp căn bản của Mật tông, nhưng thực sự là nền tảng vĩ đại của Mật thừa nghìn đời. Tôi cho rằng, chỉ cần Tứ gia hành đạt được sự tương ứng, thật sự đại tương ứng, thì chính là Kim Cang Tâm Bồ Tát.

Pháp Kim Cang Tâm Chân Phật là bí mật lớn để tiêu trừ tội chướng từ vô thủy.
Pháp Kim Cang Tâm Chân Phật có quả vị là Đẳng Giác, vượt qua Pháp vân địa thứ mười.
Pháp Kim Cang Tâm Chân Phật là pháp Tứ gia hành, cũng là pháp Bổn tôn.

Điểm trọng yếu của Pháp Kim Cang Tâm Chân Phật là quán tưởng ánh sáng trắng lớn đi vào, khí đen thoát ra. Quan trọng nhất là sự thành tựu vô thượng khi Kim Cang Tâm Bồ Tát hợp nhất với chính mình, tôi viết một bài kệ:
Trong pháp gia hành có thắng cảnh
Như tên bay nhanh nhẹ tội chướng
Quán không hợp nhất thật tuyệt diệu,
Kim Cang Tát Đỏa Bách tự minh.

~ Trích từ Văn tập Lư Thắng Ngạn số 63 "Bí mật trong Chân Phật Mật Pháp"


### 12. Khẩu quyết của Kim Cang Tâm - Pháp sám hối số một


**Ý nghĩa của sám hối**

Trong Phật giáo có nói đến sám hối rất nhiều. Mọi pháp bản sám hối đều muốn tiêu trừ cái "nhân" không tốt. Đừng làm những nhân không tốt thì sẽ không sinh ra quả không tốt, loại bỏ nhân thì sẽ không có quả, cái này chủ yếu là sám hối.

Khi chúng ta sám hối, đọc thấy trong quyển sám dạy bạn không được làm cái gì, đừng làm cái gì, loại bỏ hết các loại nhân không được làm thì sẽ không có quả, đây là ý nghĩa chủ yếu của sám hối.

Rồi cũng cần đặt tâm của bạn vào trong bản văn sám hối. Trong văn sám nói như thế nào, bạn phải thâm nhập và hiểu được, rồi thật sự đi thực hiện, đây là ý nghĩa chân chính của sám hối.

**Ba ý nghĩa lớn của Bách tự minh chú**

Ở đây nhắc đến pháp sám hối số một, cái gì là pháp số một? Chính là pháp sám hối của Kim Cang Tát Đỏa. Pháp sám hối Kim Cang Tát Đỏa nằm ở Bách tự minh chú của ngài, Bách tự minh chú có ba ý nghĩa cơ bản ở trong đó.

Một, thanh tịnh.
Ý nghĩa thứ nhất là thanh tịnh. Bách tự minh chú cho rằng tất cả đều là thanh tịnh, tự tính đều là thanh tịnh. Bạn chỉ cần niệm Bách tự minh chú thì tất cả ô uế đều chuyển hóa thành thanh tịnh. Đây là đạo lý gì?

Bởi vì Bách tự minh chú chính là Không, Không dùng cái gì để đại diện cho nó? Dùng "trời xanh không mây" để đại diện. Cảnh giới giống như trời xanh không mây, bất kì vật gì ở trong bầu trời xanh không mây đều sẽ hóa thành vô hình, đều là thanh tịnh.

Hai, tự tính chân như.
Ý nghĩa thứ hai là tự tính chân như, cũng tức là khi bạn niệm Bách tự minh chú tương đương với đang niệm chân như, đang niệm chân lý.

Tự tính của bạn không những là thanh tịnh, tự tính của bạn còn chính là Phật. Phật tức là thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, thân thanh tịnh, toàn bộ đều thanh tịnh. Bạn sẽ giống như chuyển hóa toàn bộ nghiệp của bản thân mình thành thanh tịnh.

Ba, tự tính quảng đại.
Ý nghĩa thứ ba là tự tính quảng đại, quảng đại vô biên. Gọi là Phật tức là quảng đại vô biên, là ở khắp mọi nơi, hơn nữa còn là rộng lớn vô biên. Lớn mà không có ngoài, nhỏ mà không có trong, chính là ý nghĩa vô cùng vô hạn. Vì là vô cùng vô hạn nên hạt giống nghiệp nhỏ bé ở trong cái vô hạn vô cùng ấy mà hóa thành vô hình.

Cho nên, ý nghĩa chủ yếu nhất của Kim Cang Tát Đỏa Bách tự minh chú là Không, ngay cả nghiệp của bạn cũng là Không, tức là thân nghiệp Không, ý nghiệp Không, khẩu nghiệp Không, đều hóa thành pháp sám hối số một thù thắng nhất của Không cảnh.

Bởi vậy, ý nghĩa chủ yếu nhất khi bạn niệm Kim Cang Tát Đỏa Bách tự minh chú chính là đem toàn bộ nghiệp hóa thành cái Không thanh tịnh, đây chính là ý nghĩa của Kim Cang Tát Đỏa Bách tự minh chú. Trong Mật giáo, mỗi người đều phải niệm chú ngữ này.

**Kim Cang Tát Đỏa chính là giáo chủ của Mật giáo**

Kim Cang Tát Đỏa chính là giáo chủ của Mật giáo, bản thân ngài chính là hóa thân của Ngũ Phật. Tại thế giới Di Đà, vĩ đại nhất chính là hình tượng Bồ Tát do Quan Thế Âm Bồ Tát hiển hiện ra. Tại thế giới Hoa Tạng, Bồ Tát vĩ đại nhất hiển hiện ra chính là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. Trong Mật giáo, tại tịnh thổ Mật Nghiêm, tại Úc Minh Thiên, tại Kim Cang Pháp  Giới Cung, vị giáo chủ hiển hiện ra chính là Kim Cang Tát Đỏa.

**Pháp sám hối Kim Cang Tát Đỏa là pháp sám hối của quả địa**

Kim Cang Tát Đỏa trong Mật giáo chính là Pháp Vương Tử của hóa thân của Ngũ Phật. Mật chú của bản thân ngài tương đương với mật chú của Ngũ Phật. Pháp sám hối này chúng ta gọi là pháp sám hối quả địa, tức là bất kể bạn "nhân địa" đã làm ra nghiệp chướng thế nào, hôm nay dùng chú của "quả địa" để niệm, thì sẽ hóa tất cả nghiệp thành Không, nên được gọi là pháp sám hối quả địa, trong Mật giáo pháp này rất đặc thù, sức mạnh rất lớn.

Vì thế trong Mật giáo, bạn trì 100.000 biến Kim Cang Tát Đỏa Bách tự minh chú để làm nền móng kim cang, tiêu trừ hết tất cả nghiệp chướng quá khứ. Khi tâm ấn của bạn và tâm ấn của Kim Cang Tát Đỏa hoàn toàn nhất trí thì sẽ hiển hiện tính Không, Phật tính sẽ có thể hiển hiện ra. Đây là pháp sám hối rất thù thắng của Mật giáo, vì thế nó là pháp sám hối số một. 

Om mani padme hum.

**Pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát thông mọi pháp**

Pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát vô cùng quan trọng, pháp Thượng sư tương ứng cũng cực kì quan trọng. Pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát, bạn chỉ cần tương ứng với Kim Cang Tâm Bồ Tát thì pháp Thượng sư tương ứng cũng sẽ nhanh chóng có thể tương ứng. Bất kì một pháp nào vào lúc đó cũng đều sẽ rất dễ tương ứng.


![image](/img/img_f006dac6f6fb425af8e7dacbcf2faa7b.png)


**Tương ứng pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát, pháp khác cũng sẽ dễ tương ứng**

Liên quan đến việc tu pháp, thâm nhập từng pháp là đúng, đừng nghe thấy người khác tu cái gì thì lại theo họ tu cái đó. Vì thế, khi tu pháp tương ứng này, bạn hãy tu Kim Cang Tâm trước, chỉ cần bạn tương ứng với Kim Cang Tâm rồi, khi ấy hễ bắt đầu tu pháp Thượng sư tương ứng thì sẽ rất nhanh chóng tương ứng, bởi vì bản thân Thượng sư cũng là Kim Cương Trì.

**Kim Cang Tát Đỏa là Kim Cương Trì thứ sáu**

Kim Cang Tâm, tôi từng nói rồi, Kim Cang Tâm, Kim Cang Thủ, Kim Cang Tát Đỏa, ba vị hợp lại là cùng một vị, tên gọi khác nhau mà thôi. 

Trên Kim Cang Tát Đỏa là Ngũ Phật, trên Ngũ Phật chính là Bản Sơ Phật - tức A Đạt Nhĩ Mã Phật. A Đạt Nhĩ Mã Phật là Kim Cương Tổng Trì, Ngũ Phương Phật là Ngũ Kim Cương Trì, Kim Cang Tát Đỏa là Kim Cương Trì thứ sáu, Căn bản Thượng sư chính là hóa thân của Kim Cương Trì.

Bạn chỉ cần tương ứng với pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát của Tứ gia hành thì tương đương với đã tương ứng với Kim Cang Tát Đỏa rồi. Tương ứng Kim Cang Tát Đỏa rồi thì Sư Tôn ở dưới Kim Cang Tát Đỏa - pháp Thượng sư tương ứng, bạn cũng rất dễ dàng tương ứng được. 

Bởi bạn đã tương ứng với Ngũ Phật rồi thì bạn cũng rất dễ tương ứng với Kim Cương Tổng Trì - Bản Sơ Phật, tức là A Đạt Nhĩ Mã Phật tối cao. Vì thế, Kim Cang Tâm Bồ Tát là đại pháp chân chính chính là ở đây.

**Kim Cang Tát Đỏa**

Kim Cang Tát Đỏa là Bổn tôn tịch tĩnh một mặt hai tay, tay phải cầm chày kim cang đặt ở tim, tay trái cầm chuông kim cang đặt ở eo, chuông đại diện cho trí huệ, chày đại diện cho phương tiện, Kim Cang Tát Đỏa tay cầm chuông chày tượng trưng cho nhất vị nhất nhất thể của trí huệ và phương tiện.


![image](/img/img_4caaef8b6e5b9eec3a1b6ea1d200eb24.jpg)


"Viên mãn báo sức" là chỉ mười ba vật trang sức mà Báo thân Phật có. Năm loại y phục bằng lụa mỏng là: dải băng nhỏ (từ mũ miện treo ở phía sau), băng đai, thượng y (màu trắng không tay), váy (màu đỏ), thắt lưng. Tám loại trang sức châu báu là: mũ Ngũ Phật, khuyên tai, vòng cổ, vòng cổ dài vừa phải, vòng cổ dài hẳn xuống, vòng cánh tay, vòng cổ tay, vòng chân. 

**Pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát thông mọi pháp**

Kim Cang Tát Đỏa Bách tự minh chú vô cùng quan trọng, Kim Cang Tát Đỏa Bách tự minh chú tương đương với Phật tính, mọi người cần hiểu rõ. Vì thế, tôi thường xuyên nói: "Pháp Tứ gia hành là đại pháp, không phải là pháp phổ thông."

Có rất nhiều người quy y xong thì họ nhảy qua, tu thẳng pháp Bổn tôn, tu pháp Thượng sư tương ứng, họ không biết pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát thông mọi pháp, rất quan trọng.

~ Trích Tuyển tập khai thị của Lư Thắng Ngạn "Tâm Sự Cùng Bạn (tập 7)"


### 13. Nghi quỹ pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát


**Mở đầu**

1. Thắp hương. Tụng hương tán

2. Niệm văn cầu thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật gia trì.

3. Quán tưởng truyền thừa Chân Phật Tông, niệm:

Nam mô Đại Nhật Như Lai.
Nam mô Phật Nhãn Phật Mẫu.
Nam mô A Di Đà Phật.
Nam mô Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Liên Sinh Hoạt Phật.

Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật trụ đỉnh, phóng quang gia trì.

4. Tụng Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:

Ôm a hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lián-shâng sit-đi hùm. (x7)

5. Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên trái của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay phải là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

6. Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.

**A. Tiền hành**

1. Nhập đàn, niệm chú thanh tịnh và an thổ địa chân ngôn

Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An thổ địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.

2. Niệm chú triệu thỉnh

Ôm ah hùm sô-ha. (x3)
Nhất tâm phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Kim Cang Tâm Bồ Tát.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
(Cá nhân tùy theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cang Hộ Pháp được thờ cúng tại đàn thành của mình mà lần lượt niệm danh hiệu phụng thỉnh.)

Nam mô đại ân Chân Phật Tông lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô tam tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế thánh hiền tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa.
Thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa.

3. Quán tưởng đại lễ bái

Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn tháp Phật. Ôm ah hùm.


![image](/img/img_abe433a172aa930bfcfc8332776fa906.png)



Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn hoa sen. Ôm ah hùm.


![image](/img/img_0491f3a984eae899024a0bbc1965b204.png)



Ba: bái Hộ Pháp Kim Cang - kết thủ ấn chắp tay kim cang. Ôm ah hùm.


![image](/img/img_ffbbfffff14f71b7cd769167fc9cc286.png)



Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng.


![image](/img/img_f7f65113e4430584a3f09047a1da6b74.png)


4. Đại cúng dường

Kết ấn cúng dường. Quán tưởng cúng phẩm biến hóa vô lượng vô biên cúng lên toàn bộ pháp giới.


![image](/img/img_4d3e5ac2bb496b616edb45f701d91398.png)


Đọc bài kệ cúng dường:

Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kỳ diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.

Niệm chú cúng dường: 
Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-yê-mi. Ôm ah hùm.

5. Tứ quy y và quán tưởng quán đảnh

Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê. (x3)

6. Mặc giáp hộ thân

Kết thủ ấn chắp tay kim cang, đặt thủ ấn trước trán.

Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (x7)

Dùng thủ ấn chạm vào 5 vị trí và niệm: trán (ôm), họng (ah), tim (hùm), vai trái (sô), vai phải (ha). Thủ ấn trở về thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng ánh sáng xanh lam bao trùm xung quanh hành giả, bốn vị Kim Cang Thủ Bồ Tát đứng bốn phía bảo vệ hành giả.

7.  Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh

Phụng thỉnh bát đại Bồ Tát
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Kim Cang Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Diệu Cát Tường Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.

Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ thất Phật. Vị lai hiền kiếp thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Niệm danh hiệu Phật sáu phương
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyệt Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Hết thảy chúng sinh trung ương, chư vị trong Phật giới, trú ngụ trên mặt đất, cho đến tại không trung, thương lo cho tất cả chúng sinh. Ai cũng an ổn tốt lành. Ngày đêm tu trì. Tâm thường cầu tụng kinh này. Diệt được khổ sinh tử. Tiêu trừ hết độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Tụng bản kinh không ngừng. Thất Phật Thế Tôn. Liền nói chú sau:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-lô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-ki-a-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha” (x7)

Mười phương Quan Thế Âm. Hết thảy chư Bồ Tát.
Đã thề cứu chúng sinh. Xướng danh tất giải thoát.

Nếu gặp người trí tuệ. Ân cần mà giảng nói.
Lại có đủ nhân duyên. Đọc tụng không ngơi nghỉ.
Tụng kinh tròn nghìn biến. Niệm niệm tâm không dừng.
Gặp lửa cháy chẳng sao. Việc đao binh cũng thoát.
Nóng giận thành vui vẻ. Chết rồi hóa sống vui.
Đừng nghĩ rằng không đúng. Chư Phật chẳng nói chơi.
Cao Vương Quan Thế Âm. Cứu được hết khổ nạn.
Lúc khó khăn nguy cấp. Người chết còn thành sống.
Chư Phật chẳng nói đùa. Vì vậy nên đảnh lễ.
Niệm tụng trọn nghìn lần. Tội nặng đều tiêu diệt.
Người có phúc tín tâm. Hãy chuyên tâm đọc tụng.

Nguyện mang công đức này. Gửi tới hết chúng sinh.
Tụng tròn một nghìn biến. Tội nặng đều tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (Hết)!

Niệm thêm chú vãng sinh: (x7)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na
Chê-tô ka-ni sô-ha.

8. Đọc bài kệ Tứ vô lượng tâm

Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.

Đọc văn phát bồ đề tâm:
Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn: 
Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm. (x3)

Đọc bài kệ sám hối:

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp

Đều vì vô thủy tham sân si

Đều sinh ra từ thân ngữ ý

Nay con hết thảy xin sám hối. (x3)

Niệm chú sám hối: 
Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah. (x108)

9. Niệm Căn bản Thượng sư tâm chú

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (x108)

**B. Chính hành**

1. Kết ấn: Tay phải nắm lại, hướng vào trong, ngón cái đè lên ngón trỏ. Tay trái nắm lại, hướng ra ngoài, ngón trỏ đè lên ngón cái. Đặt thủ ấn trước ngực.


![image](/img/img_0cddfa0150ceb6029869ad83bf9386b5.png)


2. Quán tưởng

Đầu tiên quán Không, niệm chú quán Không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời trong vạn dặm không mây, một nguyệt luân từ dưới biển nhô lên không trung, ở chính giữa nguyệt luân có một chủng tự chữ Hum (tiếng Phạn/Tạng) màu trắng phóng ra ánh sáng trắng.

(2) Chữ Hum ở giữa nguyệt luân xoay tròn hóa thành Kim Cang Tâm Bồ Tát. Bồ Tát thân màu trắng, đội mũ Ngũ Phật, thiên y váy xếp, đủ loại bảo vật trang sức cho toàn thân ngài, ngồi trên hoa sen tám cánh trong nguyệt luân, tay phải kết ấn phẫn nộ cầm chày kim cương đặt tại vị trí tim, tay trái kết ấn phẫn nộ cầm chuông kim cương đặt trên đùi trái. Xung quanh vị trí tim ngài có Bách tự minh chú xoay tròn, vòng thần chú này xoay chuyển và tỏa ra vô lượng ánh sáng trắng.

(3) Lại quán tưởng ánh sáng trắng này bay thẳng lên không trung thành vòng cung, từ đỉnh đầu của hành giả Mật tông dội xuống toàn thân. Toàn thân hành giả Mật tông cũng xuất hiện ánh sáng chói lọi, ác nghiệp ác niệm toàn thân hóa thành khí đen thoát ra từ các lỗ chân lông trên toàn thân, thế rồi toàn thân hành giả trong suốt quang minh, đắc đại thiền lạc.


![image](/img/img_94bb1304f1994315a2b8f7cfa70503ce.png)



![image](/img/img_a894f8800f43edde014eaaf61ac6bf12.png)



![image](/img/img_4901d717a077b5ee39727a027508fe87.png)



![image](/img/img_fd7d166387412966fb4319c554e0268f.png)



![image](/img/img_3051182d7b552a193aadce70da2da908.png)



![image](/img/img_5c74c45664751f7b1e704b90e74c0bad.png)


3. Quán tưởng chuỗi hạt. Tụng Bách tự minh chú:
Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya. Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha. Chư-chô mê-pa-wa. Su-tô ka-yô mê-pa-wa. Su-pô ka-yô mê-pa-wa. A-nu-ra-tô mê-pa-wa. Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha. Sa-wa ka-ma su-cha-mê. Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm. Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân. Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha /Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya. Sa-tô ah hùm pây. (x21 hoặc x49)
Khi tụng chú tay lần chuỗi hạt.

4. Cửu tiết Phật phong

5. Nhập ngã Ngã nhập

Quán tưởng Kim Cang Tâm Bồ Tát hóa thành một điểm ánh sáng trắng nhỏ, đi vào đỉnh đầu của hành giả, theo trung mạch ngồi trên đài sen trong tim hành giả, sau đó phóng lớn bằng với thân thể hành giả. (Hai thân hợp nhất, hành giả chính là Kim Cang Tâm Bồ Tát, Kim Cang Tâm Bồ Tát chính là hành giả, không hai không khác.)


![image](/img/img_9ccc7aaf53767f5cac645f71e14160e8.png)



![image](/img/img_9d627387a707d47402492e0c1b99e75d.png)



![image](/img/img_21f3347e821c492925d36817c5637505.png)



![image](/img/img_e18c48b8f81211ed2da80e72b113a8ab.png)



![image](/img/img_d741f0afc8bde29141acdba7a71dcffa.png)



![image](/img/img_be6c689b99c8398affc3794bd23aca51.png)



![image](/img/img_81672f3a414109de456b4c2fc5c989f7.png)



![image](/img/img_6d0f5e776ca01880e7fde334138f10ab.png)


6. Nhập định. Thân tâm thanh tịnh tự tại, nhập vào Tam ma địa của Bổn tôn Kim Cang Tâm Bồ Tát.

**C. Hậu hành**

1. Xuất định

2. Trì thêm những tâm chú khác

Ôm a-mi-tê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-yê sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)
Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (x3)

3. Hồi hướng

Liên Sinh Hoạt Phật truyền thụ đại mật pháp.
Kim Cang Tát Đỏa biến hóa Kim Cang Tâm.
Cả hai dung hợp đích thực đại tương ứng.
Tội chướng tiêu trừ chân chính đắc thanh tịnh.

Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử Liên Hoa …….. xin đem công đức này hồi hướng. (Tự đọc lời hồi hướng, cầu nguyện của mình.)
Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. Uân!

4. Tụng bách tự minh chú

Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya. Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha. Chư-chô mê-pa-wa. Su-tô ka-yô mê-pa-wa. Su-pô ka-yô mê-pa-wa. A-nu-ra-tô mê-pa-wa. Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha. Sa-wa ka-ma su-cha-mê. Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm. Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân. Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha /Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya. Sa-tô ah hùm pây. (x3)

5. Đại lễ bái Phật

6. Niệm chú viên mãn

Ôm bu-lin. (x3)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.

**Học tập tinh thần của Kim Cang Tát Đỏa**

Chúng ta tu Kim Cương thừa, nghĩa là bản thân sự tu tập của bạn là bất hoại, không đổi màu, luôn sở hữu năng lực lớn nhất, có thể làm chủ sinh tử, có thể đoạn trừ phiền não, có thể vãng sinh tịnh thổ, có thể tức thân thành Phật. Đây chính là Kim Cang Tát Đỏa, còn gọi là Kim Cang Bồ Tát.

Học tập tinh thần Kim Cang Tát Đỏa cái gọi là Kim Cang là bất biến hình. Bản thân Kim Cang của Ngài, bởi vì bản thân Ngài bất hoại, nên không biến dạng. Kim cương cũng không đổi màu, màu vàng ròng vĩnh viễn không thay đổi. Hôm nay Sư Tôn có thể nói như thế này, hôm nay chúng ta tu Kim Cang Tát Đỏa, Kim Cang Tát Đỏa cũng là hạng mục cuối cùng trong Tứ gia hành - Pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát, là tu thành tâm của chính bản thân hành giả, giống như Kim Cang Tát Đỏa vậy, Ngài tuyệt đối không đổi màu, cũng không biến dạng, vĩnh viễn bất hoại.

Hôm nay chúng ta học theo Kim Cang Tát Đỏa, không biến dạng, không đổi màu, dù gặp bất kì hoàn cảnh nào, dù là thuận duyên gia trì hay nghịch duyên gia trì, tâm đạo của bạn vẫn mãi bất hoại. Khi tâm đạo của bạn bất hoại, đó chính là tâm kim cương; khi tu hành sinh ra pháp lực, đó chính là Kim Cang Thủ Bồ Tát; khi tâm bạn thành Phật, thành tựu rồi, đó chính là Kim Cang Tâm Bồ Tát; khi bạn truyền pháp độ chúng sinh, đó chính là Kim Cang Tát Đỏa.

Mỗi hành giả Mật giáo chúng ta, có thể nói rằng, đều quy y Kim Cang Tát Đỏa. "Quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng, quy y Kim cương Thượng sư", tất cả đều quy y nơi Kim Cang Tát Đỏa.

~ Liên Sinh Hoạt Phật

**(Hết.)**

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/ue-tich-kim-cang-niem-tung-phap.md
# Title: Uế Tích Kim Cang niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_ef15e34d58cddf2218758b4eec7ea035.jpg)



## Uế Tích Kim Cang niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Uế Tích Kim Cang.

*Nhai hết tất cả bất tịnh là thần thông
Lực sĩ đại uy vũ hàng phục ma chúng
Đại quyền thần vương vô thượng công đức lực
Uế Tích Kim Cang nhất tâm tam bái thỉnh.*

(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_db10ca5d88b444aefcf800acd3c62eda.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn **Uế Tích Kim Cang

Trước tiên, ngón giữa tay trái giơ thẳng, đan vào giữa ngón trỏ và ngón giữa tay phải. Sau đó, ngón trỏ và ngón út tay trái móc lên hai điểm đầu và cuối của ngón trỏ tay phải. Ngón cái tay trái đè lên ngón giữa tay phải. Ngón cái tay phải đè lên ngón út tay phải. Còn lại hai ngón áp út móc chặt vào nhau.   

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Quán tưởng trong hư không có một vị Thích Ca Mâu Ni Phật. Tâm của ngài phóng ra một đường ánh sáng lam, ánh sáng đi lên trên chính giữa đỉnh đầu. Trong ánh sáng lam đó biến hóa ra Uế Tích Kim Cang Đại Quyền Thần Vương Phật có 3 đầu, 8 tay, 9 mắt. Tóc ngài màu đỏ, thân màu lam, cánh tay màu đen, mặt màu xanh, tướng phẫn nộ. (Có thể quán tưởng theo pháp tướng trên thangka.)

(2) Tiếp theo quán tưởng tâm của hành giả phóng ra một đường ánh sáng lam, và Uế Tích Kim Cang Đại Quyền Thần Vương Phật ở trong không trung từ tâm cũng phóng xuống một đường ánh sáng lam, hai đường ánh sáng này gặp nhau ở không trung, hòa lẫn vào nhau. Hành giả hét một tiếng “hong” và bản thân biến thành Uế Tích Kim Cang Đại Quyền Thần Vương Phật 3 đầu 8 tay. Hành giả và Uế Tích Kim Cang không hai không khác.


### Phần 14: Trì tâm chú Uế Tích Kim Cang


Đầu tiên niệm: (10 biến)
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam mô hóa thân Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam mô Uế Tích Kim Cang Đại Quyền Thần Vương Phật.

Tâm chú: Ôm chuy-ru tô-lan hùm rưa. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Hum), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Uế Tích Kim Cang, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 

**Tụng tán**

Là đại Kim Cang hiện mười phương
Hóa giải tai họa thành cát tường
Trừ hết ô uế tự phóng quang
Vết tích tà ma đều quét sạch.


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


![image](/img/img_5e6b8b9e501fca6d968a34ba4a1b7fce.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Uế Tích Kim Cang


Uế Tích Kim Cang có 3 mặt, 8 tay, 9 mắt, thân có màu xanh đen, tóc đỏ dựng đứng, có 8 con rồng quấn trên 8 cánh tay. Hai tay kết ấn đặt trước ngực, tay phải kết ấn khai sơn, tay trái kết ấn đô nhiếp, sáu cánh tay còn lại đều cầm pháp khí gồm: chuông kim cang, chày kim cang, bảo luân, bảo ấn kích, sợi dây thừng, bảo kiếm. Chân trái đứng trên đỉnh ngọn núi lớn, chân phải giơ lên giống như muốn bay lên không. Toàn thân tỏa ánh sáng, mặt biểu lộ sự phẫn nộ.  


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị về lai lịch thù thắng của Uế Tích Kim Cang và khẩu quyết tu pháp


Tôn xưng của Uế Tích Kim Cang là Mật Tích Lực Sĩ Đại Quyền Thần Vương Phật, nhưng vì có năng lực phá uế khí nên ngài được gọi là Uế Tích Kim Cang. 

Uế Tích Kim Cang là hóa thân của Thích Ca Mâu Ni Phật, là thân giáo lệnh luân của Thích Ca Mâu Ni Phật, tên tiếng Phạn là Ucchusma, còn gọi là Hỏa Đầu Kim Cang, Bất Hoại Kim Cang, Bất Tịnh Kim Cang, Thụ Xúc Kim Cang, v.v…

Ngày xưa, bên bờ sông Bhadra dưới hai gốc cây sala, Phật Thích Ca đã ngọa nhập niết bàn, Phạm Vương Loa Kế không đến yết kiến thăm hỏi. Thời Tiểu Chú Tiên đi đón nhưng không đón được. Kim Cương Trì Chú Nhi đi đón, bảy ngày cũng không đón được. Khi ấy, Phật Thích Ca Mâu Ni thường lạc tịch quang, nhờ thần lực đại biến tri, từ tim bên trái hóa ra Bất Hoại Kim Cang, vị kim cang này lập tức tự bay vọt đến chỗ của Phạm Vương, chỉ vào những vật ô uế biến thành mặt đất, Nhị Bộ Chú Tiên trả lại thần lực, Phạm Vương lập tức phát tâm đến chỗ của Phật.

Đoạn trên là kinh văn giản lược về Mật Tích Lực Sĩ Đại Quyền Thần Vương Phật tức Uế Tích Kim Cang. Và Uế Tích Kim Cang cũng là một vị Kim Cang Minh Vương hóa hiện ra từ trong tâm của Phật Thích Ca Mâu Ni.

Uế Tích Kim Cang đến từ kinh Uế Tích Kim Cang, kinh Lăng Nghiêm, kinh Ucchusma Minh Vương, công đức của ngài rất lớn, có thể trừ bệnh tiêu tai, được mọi người kính ái, phòng tránh mọi việc phát sinh ngoài ý muốn, có được phúc báo rất lớn, hàng phục rất nhiều kẻ thù, tất cả tà ma ác quỷ không dám đến gần. Lời thề gốc của ngài chính là nhai hết tất cả những thứ bất tịnh.

Bởi vì Uế Tích Kim Cang có khí dương cương rất dồi dào, nên khi tu trì thành tựu pháp này thì không sợ tất cả vật dơ bẩn, đám cưới đám ma, nhà xác, bệnh viện, nghĩa trang đều có thể đi được, đặc biệt những người sinh nhiều con gái, muốn sinh con trai, tu pháp này có hiệu quả nhất. 

Vị này có thể đi đến bất kì nơi nào. Có một số thần khi gặp phải uế khí thì không dám đến gần, có một số vị Phật cũng như vậy, gặp phải uế khí thì các vị cũng không dám đến gần. Nhưng vị này thì khác, mọi lúc mọi nơi, chỉ cần bạn phụng thỉnh ngài, ngài có cảm ứng với bạn thì nhất định ngài sẽ hạ giáng, cho dù là bạn đang đi toilet hay đang ngồi trên hoa sen, bạn phụng thỉnh ngài thì ngài đều có thể đến, hơn nữa ngài còn giúp bạn làm sạch sẽ mọi thứ. Cho nên ví dụ việc ma chay, việc cưới hỏi, nếu bạn có xung phạm, hoặc bạn đi đến các miếu thờ và gặp xung phạm, hoặc bạn đến nơi có âm khí, bệnh viện, đi đến nhà tang lễ, nghĩa địa, chỉ cần phụng thỉnh vị này đi theo bạn thì yên tâm, mọi uế khí đều được tịnh trừ.

Hành giả trì chú Uế Tích Kim Cang lâu ngày, tất cả mọi điều ám muội, ví dụ xung phạm, phạm âm, bùa ngải, hoặc có bệnh quỷ thần, phần lớn sẽ đều bị trừ bỏ. Cho nên Uế Tích Kim Cang cũng là một vị Kim Cang Thần chuyên môn chữa bệnh.

Vị này còn một điểm rất đặc biệt nữa. Các bạn đi đến sòng bài, bên trong sòng bài có rất nhiều  những con ma cờ bạc điên khùng ở trong đó. Nhưng chỉ cần bạn phụng thỉnh vị thần dương cương Uế Tích Kim Cang này đến sòng bài thì ma cờ bạc sẽ đều bỏ chạy hết, bỏ chạy sạch sẽ!

Nói chung, nếu bạn không tắm rửa, không đánh răng, không rửa mặt, bạn muốn triệu thỉnh Phật giáng xuống nhưng bạn lại cảm thấy mình không sạch sẽ, tuy nhiên nếu bạn triệu thỉnh Uế Tích Kim Cang hạ giáng thì ngài có thể giáng xuống, ngài có thể ăn sạch mọi ô uế trên người bạn.

Người Nhật Bản thờ Uế Tích Kim Cang ở trong nhà vệ sinh, bởi vì ngài sẽ ăn hết những thứ không sạch sẽ. Nhưng chúng ta cảm thấy nếu thờ ngài ở trong nhà vệ sinh thì thật sự không hay lắm, nên chúng ta vẫn không muốn thờ ngài ở trong đó.

Pháp Uế Tích Kim Cang này là một trong năm đại pháp Kim Cang Minh Vương, là đại pháp vô thượng, là pháp đại bí mật. Muốn tu pháp này, trước tiên phải niệm mười lần: “Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”, hoặc là “Nam mô Đại Quyền Thần Vương Phật”, phải niệm mười lần như vậy thì mới có hiệu quả, ở đây chính là tìm về nguồn gốc. 

Uế Tích Kim Cang chính là terma của Phật Thích Ca Mâu Ni, terma ở trong tâm.

Chân Phật Tông có hai vị Hộ pháp rất tôn quý, hai vị Hộ pháp đến sớm nhất, một vị là Bất Động Minh Vương, một vị là Uế Tích Kim Cang, ở đây có điều bí mật lớn. Trước kia, trong thiền định của tôi, Uế Tích Kim Cang cũng từng nói với tôi rằng: Ngài sẽ hộ trì tất cả các đệ tử của Chân Phật Tông chúng ta.

Uế Tích Kim Cang có quyền uy rất lớn, có đại thần thông lực.

Khi trì chú, nhất định phải tâm, miệng, tai đều hợp nhất, như vậy mới tốt, và tốt nhất là trì tụng ở trước đàn thành.

Tu trì Uế Tích Kim Cang (Mật Tích Kim Cang đại pháp) có ba điểm lớn quan trọng:

Thứ nhất, bình thường tu pháp, hễ tụng chân ngôn chú, trước tiên phải niệm Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Nam mô Uế Tích Kim Cang Đại Quyền Thần Vương Phật, mỗi câu niệm mười lần, sau đó mới niệm chân ngôn.

Thứ hai, dùng ấn tướng và quán tưởng. Ấn tướng thứ nhất của ngài, đầu tiên quán tưởng Phật Thích Ca Mâu Ni giáng lâm, ấn tướng của Phật Thích Ca Mâu Ni là ngón cái, ngón giữa, ngón út, ba ngón giơ thẳng chạm vào nhau, còn ngón trỏ và ngón áp út thì cong vào bên trong lòng bàn tay, hai tay chụm vào nhau, đặt trước ngực. Ấn tướng thứ hai là, đầu tiên quán tưởng Uế Tích Kim Cang, lúc này ấn tướng là năng tỏa phục ấn, tay trái túm chặt vào góc áo cà sa, tay phải năm ngón tay xòe ra, ấn chắc lên mặt đất, đây chính là ấn năng tỏa phục của Uế Tích Kim Cang. 

Thứ ba, yếu quyết quán tưởng. Trước tiên phải quán tưởng vùng tim của Phật Thích Ca Mâu Ni phóng ra ánh sáng xanh lam, ánh sáng đi lên trên ở chính giữa đỉnh đầu, vùng ánh sáng xanh lam này biến hoa thành Uế Tích Kim Cang 3 mặt, 8 tay, 9 mắt. Về màu sắc của ngài, tóc màu đỏ, thân màu xanh lam, cánh tay màu đen, mặt màu xanh, tướng phẫn nộ. Uế Tích Kim Cang Đại Quyền Thần Vương Phật đứng tại không trung. Lúc này chữ “Hum” trong tâm phát ra ánh sáng lam, tương ứng cùng ánh sáng lam này hồi lâu. Quán tưởng xong thì lại trì chú ngữ chân ngôn.

Uế Tích Kim Cang có thể ăn sạch mọi chướng ngại. Nếu trên người chúng ta có nghiệp tội, bạn muốn làm Hộ Ma để loại bỏ nghiệp chướng của bạn, bạn có thể dùng vừng đen. Ý nghĩa chủ yếu là vừng đen chính là tất cả những lỗi lầm và nghiệp tội trên thân bạn. Khi làm Hộ Ma thì dùng chữ “Hum” màu đen hoặc chữ “Can” (tiếng Phạn) đi vào trong hạt vừng đen, thỉnh Uế Tích Kim Cang ở trong hư không, phải quán tưởng được tám cánh tay của ngài phóng quang chiếu đến bạn. Bạn khẩn trương biến Uế Tích Kim Cang thành một điểm ánh sáng màu lam tiến vào trung mạch của bạn, đi đến đứng yên trên nhật nguyệt luân hoa sen tám cánh của bạn, chính bạn biến thành Uế Tích Kim Cang. Rồi bạn lại há mồm ra, quán tưởng tất cả vừng đen và tất cả cúng phẩm của Hỏa cúng đều đi vào bên trong thân thể bạn, rồi bạn tiêu hóa hết sạch vừng đen, làm như vậy có thể trừ bỏ được chướng ngại, bản thân đã trở nên thanh tịnh.

Sau khi trì tụng chú đủ 600.000 biến, có thể vào ngày rằm trăng tròn âm lịch, lấy một chậu nước sạch đựng đầy nước, đặt ở sân vườn dưới trăng, đặt cây chày kim cang bằng gỗ (còn gọi là phủ kim cang) nổi trên mặt nước, sau đó khẩn thỉnh: "Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Nam Mô Hóa Thân Thích Ca Mâu Ni Phật, Nam Mô Uế Tích Kim Cang Đại Quyền Thần Vương Phật." Rồi trì tụng chân ngôn: "Ôm chuy-ru tô-lan hùm rưa" (vô số biến). Nếu thấy cây chày kim cang nổi trên mặt nước lay động hoặc từ từ xoay theo chiều kim đồng hồ, thậm chí thấy cây chày kim cang lơ lửng trên mặt nước, thì chứng tỏ Uế Tích Kim Cang đã giáng lâm trên cây chày kim cang. Lúc này, hành giả có thể hướng về Uế Tích Kim Cang cầu nguyện (ví dụ cầu trị bệnh, đầy đủ tư lương, hôn nhân...), Uế Tích Kim Cang sẽ viên mãn nguyện vọng của hành giả. Ngoài ra, những người trên thân có ma chướng, bị âm khí, tà ma và hạ đầu, có thể hướng về Uế Tích Kim Cang chuyên trừ khử uế khí mà khẩn cầu, và những ma quỷ đang bám trên thân, đầu của chúng sẽ bị nứt ra và biến mất.

Chú thích: Bởi vì Uế Tích Kim Cang là vị Kim Cang Thần do Phật Thích Ca Mâu Ni hóa hiện, cho nên Uế Tích Kim Cang có thể làm được mọi việc, ngài không chỉ có thể trừ ma trừ uế, còn có thể trị bệnh, cũng có thể ban cho kính ái và tư lương.


![image](/img/img_af5ef2476482666446f3b2e02fa23569.jpg)


Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/van-cau-thinh-lien-sinh-hoat-phat-gia-tri.md
# Title: Văn cầu thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật gia trì
---

![image](/img/img_730298b7d7700d13508dfdae4b063033.jpg)



# Văn cầu thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật gia trì



### Chuẩn bị


**Đại lễ bái
**Một lễ bái chư Phật mười phương.
Hai lễ bái chư Bồ Tát.
Ba lễ bái Hộ Pháp Kim Cang.
Bốn bái Bình đẳng một cúi đầu.

**Tịnh khẩu nghiệp chân ngôn**
Ôm, su-ri, su-ri, ma-ha-su-ri, su-su-ri, sô-ha  [Om suri suri mahasuri susuri soha]

**Tịnh thân nghiệp chân ngôn
**Ôm, su-đô-ri, su-đô-ri, su-mô-li, su-mô-li, sô-ha  [Om sudori sudori sumoli sumoli soha]

**Tịnh ý nghiệp chân ngôn
**Ôm, va-zờ-ra-đam, hô-hô-hùm  [Om vajradam ho ho hum]


### Chính văn cầu thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật gia trì


Ôm A Hùm [Om Ah Hum]
Kính đem thân khẩu ý thanh tịnh.
Cúng dường Tỳ Lô Giá Na Tôn.

Pháp thân Phật Nhãn Phật Mẫu Thánh.
Báo thân Liên Hoa Đồng Tử thân.
Ứng thân giáo chủ Liên Sinh Phật.
Ba thân không khác, đại Phật ân.

Cung kính Chân Phật đại truyền thừa.
Thần thông ban trải đầy thế giới.
Phóng quang chiếu rọi khắp ba thời.
Hóa hiện không ngừng chứng nhất như.
Đệ tử tha thiết thường cầu tới.
Soi chiếu quang minh, phúc huệ tăng.

Xưa đến thọ ký, Phật Thích Ca.
Phó thác ân cần, A Di Đà.
Di Lặc Bồ Tát ban hồng quán.
Liên Hoa Đại Sĩ mật pháp truyền.
Thánh Tôn xin thỉnh đừng quên nguyện.
Cứu độ chúng sinh chúng con đây.
Hộ niệm như thế xin nhiếp thọ.
Thành tựu nhanh nhanh thỉnh gia trì.

Nam mô Tỳ Lô Giá Na Phật.
Nam mô Phật Nhãn Phật Mẫu.
Nam mô Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Chân Phật hải hội thập phương tam thế chư Phật Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Niệm thánh cáo (3 lần)**
Tây phương Liên Trì hải hội, Ma Ha Song Liên Trì, thập bát đại Liên Hoa Đồng Tử, Bạch Y Thánh Tôn, Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng sư, Chủ Kim Cương Chân Ngôn Giới Bí Mật Chủ, Đại Trì Minh Đệ Nhất Thế Linh Tiên Chân Phật Tông. Lư Thắng Ngạn mật hành tôn giả.

🌟

Bài văn cầu thỉnh rất ngắn này không thể xem thường. Nếu có thể trì tụng một lần trước khi tu pháp thì công đức sâu như biển, pháp lực cao như núi Tu Di. Mỗi ngày có thể trì tụng văn cầu thỉnh này thì cũng có thể hiển hiện sức mạnh bất khả tư nghì.

Công đức của văn cầu thỉnh này như sau:

1. Phật hiện kim thân.

1. Quang minh phổ chiếu.

1. Người chết thăng thiên.

1. Bệnh tật tiêu trừ.

1. Giải thoát khổ ách.

1. Miễn giảm nghiệp chướng.

1. Tăng trưởng phúc phần.

1. Đầy đủ trí tuệ.

1. Mong cầu như ý.

1. Nhanh đạt thành tựu.

(Văn cầu thỉnh này là một khẩu quyết rất quan trọng.)

🌟

Ngày xưa.

Vào giờ Ngọ, ngày 18 tháng 5 năm Ất Dậu, Liên Sinh Hoạt Phật đã hạ sinh tại nhân gian. Năm 26 tuổi, ngài đã được Diêu Trì Kim Mẫu khai mở thiên nhãn. Ngài tận mắt nhìn thấy:

Diêu Trì Kim Mẫu.
A Di Đà Phật.
Địa Tạng Bồ Tát.

Mỗi vị nói một câu: "Nhất tâm học Phật. Nhất tâm học Pháp. Nhất tâm hướng thiện." Đế Thích Thiên Chủ ban cho hai chữ "trung nghĩa". Sau đó, ngài đã được chỉ dẫn để tận mắt thấy tiền thân của mình là Liên Hoa Đồng Tử.

Từ đó ngài đã bái nhiều vị cao tăng đại đức làm thầy, học tập Phật pháp, Hiển giáo Mật giáo đều đạt thành tựu lớn. Ngài sáng lập Chân Phật Tông, thiết lập pháp tràng. Sau khi thành tựu, ngài thị hiện thần thông, tự do tự tại, cải tử hoàn sinh, hô mưa gọi gió, trị bệnh trừ ma, phân thân vô số, trên trời dưới đất, làm thầy của trời người.

*Pháp tràng đã có,
Pháp vũ muôn nơi,
Chúng sinh được độ,
Năm trăm vạn người.*

Ngài đã xây dựng hơn 70 tòa Lôi Tạng Tự, để lại dấu vết khắp nơi trên thế giới, khắp năm châu. Ngài quán đảnh cho hàng vạn người, diễn thuyết Mật pháp, cứu độ chúng sinh vô số, tổ chức các sự kiện pháp hội lớn chưa từng có.

*(Văn cầu thỉnh nói đến ở trên chỉ cần mỗi ngày tụng một lần thì sẽ có được cảm ứng liên miên, đây cũng là khẩu quyết trọng yếu.)*

**Liên Sinh Hoạt Phật - Lư Thắng Ngạn**

Sheng-yen Lu
17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A

---
# File: nghi-quy-tu-tap/van-cau-thinh-van-thu-bo-tat.md
# Title: Văn cầu thỉnh Văn Thù Bồ Tát
---

1. Trong bầu trời tri thức sâu rộng. Bánh xe vàng trí huệ viên mãn tỏa hào quang. Xua tan bóng tối ngu muội của chúng sinh. Văn Thù Sư Phật diệu âm con đảnh lễ.

2. Từ nay cho đến khi chứng Bồ Đề. Ngoài Ngài con không có ai cứu hộ. Vì nghiệp lực cho dù sinh vào đường nào. Giữa tai ương thế gian xin Văn Thù cứu con.

3. Khi con lìa bỏ thân xác từ kiếp này. Tất cả bạn bè thân quyến đều chia ly. Khi rơi vào tay thần chết hung tợn. Xin Văn Thù cứu con khỏi nỗi kinh hoàng.

4. Từ vô thủy đến nay tạo nhiều nghiệp ác. Trong cõi trung ấm gió mạnh phiền não thổi. Sẽ bị cuốn đến những nẻo ác hiểm nguy. Xin Văn Thù vì con chắn gió phiền não.

5. Khi ý thức trung ấm tái sinh đầu thai. Xin Văn Thù gia trì xa lìa tám chốn khó tu hành. Cho con sinh vào gia tộc nhiều phước đức. Tay cầm pháp tràng Phật pháp thù thắng khi sinh ra.

6. Kiếp sau được thân tướng cao quý cõi người trời. Bảy đức trang nghiêm thân tựu thành. Gặp được chính pháp thiện tri thức. Nhờ duyên lành được Văn Thù dạy bảo.

7. Bậc pháp sư thiện xảo đầy từ bi và phương tiện. Dạy con thông suốt biển cả kinh luận vô lượng. Và có thể như pháp giáo hóa chúng sinh. Xin Văn Thù ban cho trí tuệ quyết trạch.

8. Đời đời kiếp kiếp con vì lợi ích chúng sinh. Tất cả tài sản không tiếc trao bố thí. Tâm không tán loạn tu tập thiền định. Viên mãn lục độ đại hành Văn Thù Sư.

9. Thuốc giải mát lành diệt khổ bức bách cõi trần. Nguyện du ngoạn thung lũng núi băng kinh luận. Lỡ sa biển bùn tâm tán loạn. Xin Văn Thù từ bi cứu con khỏi bùn lầy.

10. Bước chân bước vào con đường tri kiến sâu xa. Một lòng muốn đến hòn đảo giải thoát an lạc. Duyên cạn tâm thế như dây thừng trói buộc. Xin Văn Thù chặt đứt mối tơ lòng.

11. Từ bỏ rừng sen tịch tĩnh tự lợi của đêm tối. Quán xem nghìn mẫu sen rộng lớn của đạo Phật. Trí nhãn bị bóng tối vô minh che phủ. Xin Văn Thù xua tan khói mù vô minh.

12. Xin cho con đời đời kiếp kiếp. Nương dựa biển cả Phật pháp rộng sâu. Trở thành kho báu thỏa mãn nhu cầu chúng sinh. Như nguyện sinh thành đại bảo Văn Thù Sư.

13. Con thành tâm cầu xin sức mạnh Văn Thù. Khởi động thuyền lớn tư lương phúc trí. Chở tất cả chúng sinh ra khỏi biển luân hồi. Xin gia hộ cho con thần lực như Văn Thù Sư.

Om A Ra Pa Ca Na Dhih. 🙏

---
# File: nghi-quy-tu-tap/van-phat-thu-vo-cuc-nhan-dieu-tri-kim-mau-niem-tung-phap.md
# Title: Vạn Phật Thủ Vô Cực Nhãn Diêu Trì Kim Mẫu niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_50ace97363c30849e6935effe9a3ed4c.jpg)



# Vạn Phật Thủ Vô Cực Nhãn Diêu Trì Kim Mẫu niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Nghi quỹ


Trước tiên, thỉnh cầu căn bản truyền thừa gia trì: 

Đầu tiên quán Không, sau đó quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật trụ ở đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì tâm chú Liên Hoa Đồng Tử 7 biến, cầu nguyện tu pháp viên mãn.

Tiếp theo, làm quán tưởng tứ vô lượng tâm. Làm thủ ấn đánh thức (vỗ tay hai lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay). 

1. Chú thanh tịnh.

2. Chú triệu thỉnh.

3. Đại lễ bái.

4. Đại cúng dường.

5. Tứ quy y.

6. Mặc giáp hộ thân.

7. Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (1 biến)

8. Chú Vãng sinh. (7 biến)

9. Căn bản Truyền thừa Thượng sư tâm chú:

Ôm gu-ru lién-sâng sit-đi hùm. (108 biến)

10. Kết ấn và quán tưởng:

Kết ấn: Hai bàn tay đan chéo nhau, hai ngón giữa giơ thẳng dán vào nhau, tượng trưng ở giữa là Diêu Trì Kim Mẫu còn bên cạnh là tay và mắt của ngài.


![image](/img/img_143245428874dbabe4e43aa243b76753.png)


Quán tưởng:
Đầu tiên quán Không, niệm chú quán Không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời xanh vạn dặm không mây, nguyệt luân từ mặt biển nhô lên, trong nguyệt luân có một chủng tử chữ Seh màu đỏ. 

(2) Chữ Seh trong nguyệt luân xay tròn hóa thành Vạn Phật Thủ Vô Cực Nhãn Diêu Trì Kim Mẫu, thân màu vàng, đội mũ phượng, diện mạo xinh đẹp trang nghiêm, ngồi ngay ngắn trên pháp tọa. Tay phải cầm phất trần, tay trái cầm bàn đào, trên vô số cánh tay có con mắt vô cực, trong đó 24 cánh tay nâng 24 vị A Di Đà Phật, các pháp khí khác bao gồm bình báu, bút lông, kinh thư, gậy như ý.

(3) Quán tưởng thiên tâm của Vạn Phật Thủ Vô Cực Nhãn Diêu Trì Kim Mẫu phóng ra một vệt ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả. Từ họng ngài phóng ra một vệt ánh sáng đỏ chiếu thẳng đến họng của hành giả. Tâm luân của ngài phóng ra một vệt ánh sáng xanh lam chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng trắng, đỏ, lam tan vào thân tâm của hành giả.

11. Trì tâm chú Vạn Phật Thủ Vô Cực Nhãn Diêu Trì Kim Mẫu

Chú ngữ: Ôm chin-mủ sit-đi ta-mô sê. (108 biến)

12. Nhập Tam ma địa. 

13. Xuất định.

14. Tụng tán:
Vạn thủ vô cực nhãn
Mười phương đều cứu độ
Phóng quang khắp tam tế
Chúng sinh đều thấm nhuần.

15. Trì thêm những tâm chú khác.

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)

16. Niệm Phật. (3 biến)

17. Hồi hướng.

18. Bách tự minh chú. (3 biến)

19.  Đại lễ bái.

20. Chú viên mãn.

Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.

Chú ý: Quán tưởng Vạn Phật Thủ Vô Cực Nhãn Diêu Trì Kim Mẫu nhập ngã hợp nhất: Vạn Phật Thủ Vô Cực Nhãn Diêu Trì Kim Mẫu hóa thành một điểm sáng, từ lỗ đỉnh đầu của hành giả đi vào, ngồi tại đài sen ở trong tim, sau đó thân biến to ra đến khi bằng với thân của hành giả. (Hai người kết hợp chặt chẽ, Vạn Phật Thủ Vô Cực Nhãn Diêu Trì Kim Mẫu tức là mình, mình tức là Vạn Phật Thủ Vô Cực Nhãn Diêu Trì Kim Mẫu, không hai không khác.)


![image](/img/img_8796e0093f2e922b42c2b73ca454fe34.jpg)



### Liên Sinh Hoạt Phật khai thị 


Ngày 8/1/2023 tại Hoàng Đế Lôi Tạng Tự, Liên Sinh Hoạt Phật đã khai thị Diêu Trì Kim Mẫu có Vạn Phật Thủ Vô Cực Nhãn Diêu Trì Kim Mẫu. Diêu Trì Kim Mẫu cũng có trăm nghìn triệu hóa thân. 

Thủ ấn của Vạn Phật Thủ Vô Cực Nhãn Diêu Trì Kim Mẫu là ở giữa chính là Diêu Trì Kim Mẫu, bên cạnh đều là tay và mắt của ngài.

Chú ngữ của ngài là “Ôm chin-mủ sit-đi ta-mô sê”. Chú ngữ này đại diện cho sự thanh tịnh của khẩu, thủ ấn đại diện cho sự thanh tịnh của thân, khi quán tưởng Vạn Phật Thủ Vô Cực Nhãn Diêu Trì Kim Mẫu là đại diện cho sự thanh tịnh của ý niệm. Thân, khẩu, ý thanh tịnh là trọng tâm của tu hành.

Từ chú tự “Seh” biến hóa thành Vạn Phật Thủ Vô Cực Nhãn Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn, hiện tượng của ngài hiển hiện ra, bạn có thể quán tưởng, bạn có thể trì chú, bạn có thể kết thủ ấn, sau đó nhập Tam ma địa, đây chính là phần Chính hành của tu pháp.

Vạn cánh tay Phật của ngài có thể phù trợ tất cả đệ tử Chân Phật Tông, con mắt vô cực của ngài cũng có thể tìm đến âm thanh mà cứu khổ. Hôm nay có một vị Tài Thần rất lớn, Liên Hoa Đồng Tử chính là Đại Phúc Kim Cang, từ khi tôi nương dựa vào Diêu Trì Kim Mẫu thì muốn cái gì là có cái đó. Cho nên, Vạn Phật Thủ Vô Cực Nhãn, bạn muốn cái gì, bạn thỉnh cầu cái gì, bạn đều có thể cầu nguyện ngài, ngài thỏa mãn mọi nguyện vọng của chúng sinh, đồng thời Tài Thần rất nhanh chóng đến nhà bạn. 


![image](/img/img_6a2d66bd6ca09d6cab07cc7f7ac7f166.jpg)

---
# File: nghi-quy-tu-tap/van-thu-sieu-do-vang-sinh-phap.md
# Title: Văn Thù siêu độ vãng sinh pháp
---

## Văn Thù siêu độ vãng sinh pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp! 


### Pháp Văn Thù siêu độ vãng sinh của Chân Phật Tông


Pháp bí mật độ súc sinh vãng sinh của Mật tông

Tay kết ấn giải thoát vãng sinh (ấn Đại hải siêu độ), hai ngón cái đè lên hai ngón giữa, hoặc ngón cái trái đè lên ngón áp út phải, ngón cái phải đè lên ngón giữa trái cũng được. Nếu người ngồi cùng bàn không phải là hành giả Mật tông thì quán tưởng kết ấn ở trong đầu, quán tưởng trong tim mình, chủng tử chữ Hum phóng ra ánh sáng trắng, vô lượng ánh sáng chiếu đến thịt súc sinh. Thịt của những súc sinh này tụ lại thành hình dạng của chúng, nếu là thịt bò thì thành hình bò, thịt cừu thì thành hình cừu, thịt gà thì thành hình gà, thịt cá thì thành hình cá, thịt vịt thì thành hình vịt, thịt lợn thì thành hình lợn. Gà, vịt, bò, cừu, lợn, cá được chữ Hum phóng ánh sáng trắng gia trì sẽ tiêu trừ hết nghiệp chướng của súc vật, linh thể thanh tịnh và sáng ngời, hóa thành kim quang, bay vào trong hư không. Trì chú Văn Thù vãng sinh 7 biến: “Ôm. A-pây-la-hùm. Khan-cha-la. Sô-ha.”

🌟🌟🌟

Tại Cầu Vồng Sơn Trang, chúng ta đã dành một tuần cho “giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh”, gần như là đã nói tỉ mỉ hết một lượt các chi tiết về tu pháp rồi. Trong đó có nói đến pháp siêu độ. Hôm nay, vừa hay có người đến làm siêu độ. Siêu độ mà tôi giảng là phải quán tưởng thuyền pháp, dùng ấn Đại hải siêu độ, quán tưởng thuyền pháp chở những chúng sinh lục đạo cần siêu độ bay vào trong hư không.

Trong đó, trừ quán tưởng thuyền pháp ra, còn có một quán tưởng nữa mà trong mấy ngày này chưa nói đến, tức là Bổn tôn vẫn ở trước mặt bạn, ví dụ như là khi A Di Đà Phật vẫn ở trước mặt bạn, bạn làm siêu độ, bạn có thể quán tưởng tất cả chúng sinh u minh hóa thành ánh sáng màu vàng kim, biến thành từng chấm từng chấm. Tức là từ trong tim của A Di Đà Phật tuôn chảy ra một thứ ánh sáng chiếu đến chúng sinh u minh, chúng sinh u minh hóa thành từng chấm từng chấm kim quang, bay về phía tim của A Di Đà Phật, đây cũng là siêu độ.

Cũng có thể kết ấn Đại hải siêu độ, quán tưởng chúng sinh u minh lục đạo hóa thành kim quang, bay về phía tim của A Di Đà Phật, nhờ tim của A Di Đà Phật thu nhận lục đạo chúng sinh mà chúng có thể thành Phật, đến được Tây phương Cực Lạc thế giới. 

Quán tưởng này lần trước tôi chưa nói đến. Quán tưởng thuyền pháp chở chúng sinh u minh bay vào trong hư không cũng được, cũng như thế. Hai quán tưởng này đều tương đồng. Lần trước, trong “giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh”, tôi đã hoàn toàn tiết lộ hết Mật pháp rồi, có thể nói là về phương diện Ngoại pháp thì nghi quỹ tu trì gần như đều giảng rồi, mọi người trong khi tu pháp có thể tỉ mỉ trải nghiệm, từ từ rèn luyện, tự nhiên sẽ có được thành tựu lớn. 

Om mani padme hum.

01/12/1992. 


### Thủ ấn Đại hải siêu độ 



![image](/img/img_bbd4da6646906d798944f1aa56141509.jpg)


[Trò hỏi Thầy đáp - Tương tác chính là sức mạnh (Tập 3)]

Ngày 18/4/2020 tại Seattle Lôi Tạng Tự, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị pháp ngữ và giảng Đạo Quả bài giảng số 290.

Câu hỏi 15: Về ấn Đại hải siêu độ cảm thấy không rõ ràng, có hai phiên bản: “hai ngón cái đè lên hai ngón giữa”, “ngón cái trái đè lên ngón áp út phải, ngon cái phải đè lên ngón giữa trái”. Xin hỏi thủ ấn nào mới chính xác?

Đáp: 

Để tôi nói cho bạn biết, cả hai đều đúng. Như tôi vừa nói, buổi tối khi đi ngủ, có thể để râu ngoài chăn, hoặc để râu trong chăn, cả hai đều được. Thói quen cá nhân là khác nhau, thói quen của mỗi người là khác nhau, cả hai kiểu này đều giống nhau. Hình tượng của ấn Đại hải siêu độ đã xuất hiện, chỉ cần có thể siêu độ thì thủ ấn nào cũng được; bạn không có cách nào siêu độ được, bạn kết ấn Đại hải siêu độ thì cũng chẳng siêu độ được. Bạn có hiểu điều này không? Cho nên những người có râu, buổi tối khi ngủ đừng nghĩ là phải bỏ râu ra ngoài chăn hay nhét vào trong chăn, không cần nghĩ đến điều này. Khi kết ấn Đại hải siêu độ, bạn dùng tâm để siêu độ là được rồi. Cho nên cả hai thủ ấn đều chính xác.


### Yếu quyết Văn Thù vãng sinh pháp


Chú ngữ: Ôm a-pây-đa-hùm khan-cha-la sô-ha.

Trong pháp Yết ma tiếng Pali, có một pháp rất đặc thù, đây là pháp bí mật độ súc sinh vãng sinh của Mật tông. Tôi từng nói, Thượng sư Mật tông ăn cơm chính là Hộ Ma, Thượng sư ăn cơm trước tiên quán tưởng, phàm là thức ăn thể rắn, quán tưởng chúng lớn như núi Tu Di, phàm là thức ăn thể lỏng, quán tưởng chúng sâu như biển lớn. Đây là trên cúng thập phương tam thế chư Phật, dưới cúng từ bi lục đạo chúng sinh.

Nếu trên bàn có món ăn mặn thì trước tiên tu pháp độ những linh hồn sinh vật này vãng sinh, để không khiến người khác thấy kì quái mà đánh giá, hành giả Mật tông có thể không kết thủ ấn, nhưng thủ ấn giải thoát vãng sinh này như sau:

Trước tiên trong đầu quán tưởng kết thủ ấn. Quán tưởng kết thủ ấn xong rồi lại quán tưởng trong tim mình có chủng tử chữ Hum phóng ra ánh sáng trắng, chiếu đến thịt súc sinh, hoàn toàn tiêu trừ nghiệp chướng của súc sinh này, khiến chúng thoát khổ được vui. Sau đó tiếp tục quán tưởng thịt này tụ thành một hình, nếu là thịt bò thì thành hình con bò, thịt cừu thành hình con cừu, thịt gà thành hình con gà, thịt cá thành hình con cá, lần lượt gà vịt bò cừu cá đều vì đã được tiêu trừ nghiệp chướng mà linh hồn bay vào không trung, vãng sinh thế giới Cực Lạc.

Lúc này hành giả Mật tông dùng kim cang niệm tụng chú Văn Thù Vãng Sinh: “Ôm a-pây-đa-hùm khan-cha-la sô-ha.” Tổng cộng trì chú này 7 biến. Như vậy là hoàn tất tu pháp.

Chú Văn Thù vãng sinh là chú ngữ đại bí mật, là bát tự đại uy đức tâm chân ngôn của Văn Thù Bồ Tát, có thể thấy trong “Đại Thánh Diệu Cát Tường Bồ Tát bí mật bát tự đà-la-ni tu hành mandala thứ tự nghi quỹ pháp”:

“Khi ấy Thế Tôn nói với Kim Cang Mật Tích rằng. Nơi có bát tự tối thắng đại uy đức chân ngôn. Giống như Phật tại thế không có gì khác biệt. Có thể hiện các loại thần lực của Chư Phật không thể nghĩ bàn. Cũng có thể làm đại vô lượng thần thông biến hóa.”

“Nếu có người thân thể bị đau nhức, gia trì cho nước ấm 108 biến rồi tắm thì sẽ có giấc mộng đẹp và khỏi bệnh. Nếu sáng sớm mỗi ngày, vốc nước trên tay và trì 7 biến chú, sau đó uống vào, thì mọi ác báo đều được tiêu diệt, huống hồ người không có tai ách và ba nghiệp tội bẩn thì cũng được thanh tịnh và kéo dài tuổi thọ. Nếu gia trì cho thức ăn 7 biến thì ăn vào chất độc cũng không thể bị hại. Nếu gặp kẻ ác oan gia, cần phải niệm tụng thì tự hàng phục trừ bỏ tâm sân hận, đối mặt với nhau bằng tâm từ bi. Nếu có nỗi sợ mà chí thành niệm tụng thì sẽ không còn sợ hãi nữa.”

“Nếu khi nằm tụng 108 biến thì sẽ ngủ ngon và có thể biết việc thiện ác. Nếu có người bị sốt, người trì tụng quán tưởng người bị sốt này ở trước mặt, tụng chân ngôn ngày 1080 biến thì cơn sốt sẽ giảm. Nếu phải ra trận thì dùng ngưu hoàng để viết chân ngôn này đeo trên người, tất cả đao gậy cung tên giáo mác búa rìu đều không thể làm hại. Nếu ra mặt trận, nên vẽ tượng Văn Thù Sư Lợi Đồng Tử và chân ngôn, đặt tượng lên ngựa dẫn trước quân thì quân giặc không thể làm hại, tự nhiên rút lui. Thường xuyên niệm tụng thì các tội ngũ nghịch tứ trọng thập ác đều được tiêu diệt, sẽ được nhìn thấy Văn Thù Sư Lợi. Đi đứng ngồi nằm thường trì niệm nghĩ nhớ không quên, mỗi lần tụng liền 108 biến đừng để gián đoạn. Nếu gia trì cho tóc 7 biến thì tất cả chúng sinh nhìn thấy người đó đều hàng phục, kẻ ác rút lui.”

Tham khảo video minh họa quán tưởng:

---
# File: nghi-quy-tu-tap/van-thu-su-loi-bo-tat-niem-tung-phap.md
# Title: Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_f15e37cbe4cf96fe6036f8c10167f7e7.jpg)



## Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.
(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tát cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha.  


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_bba1ede773ce7f9a15c285e8eabae7cc.jpg)


**Kết ấn: **

Ấn Ngũ tự Văn Thù: hai tay đan nội phộc, hai ngón giữa giơ lên chạm vào nhau, ngón tay cong lại, đây cũng chính là ấn kim cang kiếm.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Quán tưởng một hồ nước phẳng lặng, từ trong hồ nước nhô lên một vầng mặt trăng màu xanh lam rất tròn, trong mặt trăng có một chú tự chữ “Dhi” (tiếng Phạn hoặc Tạng). Chú tự này xoay vòng tròn, hiện ra ánh sáng màu đỏ vàng, hóa thành Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, một đầu hai tay, tay phải cầm bảo kiếm sắc bén, tay trái cầm hoa sen màu xanh, phía trên bông hoa sen màu xanh có một cái tráp Phật, Văn Thù Bồ Tát cưỡi trên lưng sư tử. 

(2) Bảo kiếm trên tay phải phóng tỏa ánh sáng trắng, ánh sáng này chiếu đến toàn thân hành giả, khiến cho mọi lỗ chân lông trên thân mình đều mở ra, tất cả ác tội nghiệp chướng nhiều kiếp hóa thành nhện, trùng, rắn, cóc nhái, tôm tép, v.v… lũ lượt từ các lỗ chân lông bò ra ngoài. Ánh sáng trắng từ bảo kiếm đã hóa giải hết tất cả nghiệp chướng của bản thân, khiến toàn bộ thân thể chứa đầy cam lộ màu trắng sữa, tất cả những vô tri, nghiệp tội, mờ ám đều bị loại trừ, trong sát-na được thanh tịnh, tự thân trong suốt lấp lánh ánh sáng tự tính.

(3) Lại quán tưởng tề luân của chính mình hóa thành một đóa hoa sen, trên hoa sen hiện lên chữ “Dhi”, trên chữ “Dhi” hiện lên bảo kiếm, trên kiếm là sáu chữ “Om ah ra pa tsa na”. Mũi kiếm nằm ngay trên lưỡi. 

(4) Sau đó lại quán tưởng bảo kiếm quay ba vòng theo chiều bên phải, phóng ra ánh sáng trân quý màu xanh. Có thể đắc biện tài vô ngại, thanh âm đẹp đẽ. Tất cả tà thuyết ngoại đạo đều có thể phá trừ, từ đó có được tất cả biện trí.


### Phần 14: Trì tâm chú Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát


Tâm chú: Ôm a-ra-pa-sa-na đi. (108 biến)
(Có thể làm quán tưởng chuỗi hạt như phần niệm Thượng sư Tâm chú để tăng thêm sức mạnh niệm chú.)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Dhi), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định. 

**Tụng tán:**

*Văn Thù Sư Lợi đại pháp vương
Tráp kiếm bảo quang thật phi phàm
Tứ quán tức đắc đại trí huệ
Thập phương thế giới hiện hào quang.*


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.


![image](/img/img_5ffb12da727dcc921379df2064e9cf8c.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát


Văn Thù Bồ Tát có một đầu hai cánh tay, tay phải cầm thanh kiếm sắc, tay trái cầm hoa sen xanh, trên hoa sen có một tráp Phật, cưỡi trên lưng sư tử.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị về lai lịch và sự thù thắng của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát


Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát tên tiếng Phạn là Manjusri, dịch ra tiếng Hán là Văn Thù Sư Lợi, Mạn Thù Sư Lợi, là một tên gọi đại cát tường. Đây là vị Bồ Tát được cho là có trí huệ nhất trong Phật giáo Đại thừa, cùng với Phổ Hiền Bồ Tát là hai vị đại thị giả bên cạnh Phật Thích Ca Mâu Ni. Bởi vì trong số các vị Bồ Tát, ngài là bậc thượng thủ trong việc hỗ trợ Thích Tôn hoằng pháp, vì thế được gọi là Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử.

Tại Ấn Độ, trong những kinh điển cổ xưa nhất, “Ma Ha Bà La Đa” có ghi chép: Nguyệt Hiền Pháp Vương của nước Shambhala, tại tháp Cát Tường Mễ Tụ đã được Thích Tôn hóa hiện và khẩu truyền mà có được giáo pháp của Thời Luân Kim Cang. Thế là lần lượt 25 đời các vị vua đã truyền thừa giáo pháp của Thời Luân Kim Cang. 
Vị quốc vương thứ nhất là Danh Xưng Vương, là hóa thân của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.
Vị quốc vương thứ hai là Bạch Liên Hoa Vương, những trước tác nổi tiếng của ngài có: Vô Cấu Quang Minh Luận (Thời Luân tục tâm yếu), Cát Tường Thắng Nghĩa Nguyện Văn.

Vị vua đời thứ hai Bạch Liên Hoa Vương là con trai do Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát sinh ra. Bạch Liên Hoa Vương cũng chính là Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử, không hai không khác.

Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát trong Thai Tạng Giới chiếm vị trí chủ tôn của Viện Văn Thù tại hướng tây nam trên Viện Trung Đài Bát Diệp. Còn trên mandala của Kim Cương Giới, ngài tọa ở vị trí thứ nhất ở phương bắc trong số 16 vị Hiền Kiếp. 

Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát cũng nắm giữ cánh cửa trí huệ, là vị Bồ Tát số một về trí huệ. Ngài có các tên gọi là: Văn Thù Sư Lợi, Mạn Thù Sư Lợi, Văn Thù Bảo Lợi, Diệu Cát Tường, Diệu Âm, Phổ Âm, Kính Âm, Diệu Đức, Nhu Thủ, Kính Thủ, v.v…

Vị đại Bồ Tát này cùng với Phổ Hiền Bồ Tát là hai vị hầu hạ bên cạnh Phật Thích Ca Mâu Ni, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát quản cánh cửa trí huệ, Phổ Hiền Bồ Tát quản cánh cửa lí trí.

Trong đời quá khứ, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát từng làm thầy của Thất Phật, tức là đã thành Phật, tôn xưng của ngài là Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật, mật hiệu của ngài là Cát Tường Kim Cang hoặc Bát Nhã Kim Cang.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát có đại bí mật, thành tựu vô thượng tối cao của ngài vốn là Phật, pháp của ngài quảng đại vô biên, là thầy của các vị Phật.

Theo ghi chép trong các kinh luận Phật giáo, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát trong đời quá khứ còn là thầy của vô lượng chư Phật, từng hướng dẫn vô số tu hành giả chứng đắc Phật quả, cho nên Đại Thừa Bản Sinh Tâm Địa Quán Kinh gọi ngài là Tam Thế Phật Mẫu.

Vào thời đại Phật Đà, pháp lực của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát ở khắp cõi Ta Bà. Hoa Nghiêm Tam Tôn thường xuyên xuất hiện thì ở giữa chính là Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, bên phải là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, bên trái là Phổ Hiền Bồ Tát, gọi là Hoa Nghiêm Tam Tôn. Phật Thích Ca Mâu Ni biết Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát có công lực như thế, ngài có thể tùy ý tự tại độ chúng sinh, biến hóa tới biến hóa lui, thần thông vô cùng, cho nên Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát vĩ đại siêu nhiên. Vị Bồ Tát này có thể nói là vị lớn nhất trong các vị Bồ Tát. Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát trong Mật giáo gọi là Thần Trí Huệ. Trong Đại thừa, bậc trí huệ đệ nhất chính là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. Trong Tiểu thừa, bậc trí huệ đệ nhất chính là Xá Lợi Phất (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Pháp Vương chính là ứng hóa thân của Xá Lợi Phất). Trong Mật thừa, bậc trí huệ đệ nhất chính là Kim Cang Tát Đỏa.

Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát trong Mật giáo còn được gọi là Trung Ương Hỗ Chủ trong số ba vị Hỗ Chủ, chính là vị chủ yếu nhất. Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát đại diện cho trí huệ, cùng với Quan Thế Âm Bồ Tát đại diện cho từ bi, cùng với Kim Cang Thủ Bồ Tát đại diện cho pháp lực, chính là Tam Hỗ Chủ của Mật giáo. Nói cách khác là bạn nhất định phải quy y Quan Thế Âm Bồ Tát để nuôi dưỡng bồ đề tâm của bạn, quy y Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát để trí huệ của bạn được tăng trưởng, có Phật huệ của Như Lai, trí huệ của Phật. Ngoài ra, Kim Cang Thủ Bồ Tát đại diện cho mọi pháp lực được triển khai tại thế gian, trong Mật giáo ba vị này được gọi là Tam Hỗ Chủ.

Hình tượng Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát là đỉnh đầu kết năm búi tóc, đại diện cho ngũ trí của Đại Nhật Như Lai, tay phải cầm kiếm, đại diện cho kiếm sắc của trí huệ. Ngài ngồi trên lưng sư tử, biểu thị sự uy mãnh của trí huệ. Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát còn có nhất tự Văn Thù, ngũ tự Văn Thù, lục tự Văn Thù, bát tự Văn Thù, nhất kế Văn Thù, ngũ kế Văn Thù, bát kế Văn Thù, nhi Văn Thù, nhưng lấy ngũ tự Văn Thù và ngũ kế Văn Thù làm bản thể. Tay trái của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát cầm hoa sen xanh, biểu thị không nhiễm mắc, vì thế có thể cắt đứt phiền não.

Vị hộ pháp lớn nhất của Liên Sinh Hoạt Phật chính là Đại Uy Đức Kim Cang, Đại Uy Đức Kim Cang cũng chính là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát tiến nhập vào tam muội địa của Diễm Ma Pháp Vương rồi xuất sinh ra vị Kim Cang vĩ đại nhất. Có một hệ thống như thế này: A Di Đà Phật → Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát → Đại Uy Đức Kim Cang, bản thân ba vị là hợp nhất, A Di Đà Phật chính là Phật pháp thân, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát là Phật chứng pháp, cũng tức là Như Lai báo thân, Đại Uy Đức Kim Cang là vị Kim Cang giáo hóa luân, ba vị này gắn liền với nhau. Cho nên A Di Đà Phật, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát và Đại Uy Đức Kim Cang thuộc về một hệ thống.

Bởi vì Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát là tượng trưng cho trí huệ trong Phật pháp Đại thừa, vì thế trong kinh Phật cũng có rất nhiều câu chuyện liên quan đến việc ngài dùng trí huệ để khuyên bảo các hành giả.

Tứ đại danh sơn của Trung Quốc chính là Ngũ Đài Sơn, còn gọi là Thanh Lương Sơn. Cao Vương Kinh đọc đến “Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát”, Thanh Lương Sơn ở đây có hàng triệu hàng vạn Bồ Tát ở đó, tất cả đều do Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát giáo hóa, có hàng triệu hàng vạn Bồ Tát sống tại Ngũ Đài Sơn cùng với ứng hóa thân của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. 

Tôi biết Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát và tôi có nhân duyên sâu dày, lần đầu tiên tôi đến Trung Quốc, tôi đã đi đến Ngũ Đài Sơn ở Sơn Tây để lễ bái Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, trong số tứ đại danh sơn của Phật giáo thì tôi đã đến Ngũ Đài Sơn đầu tiên. Khi tôi lễ bái Ngũ Đài Sơn, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát đã hóa thành một vị tì kheo, tôi lạy thì tì kheo này cũng lạy, tôi lạy từ trên núi xuống dưới núi, tì kheo đó cũng lạy từ trên núi xuống dưới núi, hai người cùng lạy. Tì kheo đó nói, tôi đợi ngài rất lâu rồi. Sau đó, tôi tặng tiền cho tì kheo, tì kheo nói: “Không phải cái này.”
Tôi làm động tác tay, tì kheo nói đúng rồi, đúng rồi. Hai người khẽ cười, cùng lạy nhau rồi tạm biệt!

Thật ra, tổ sư Tsongkhapa của phái Hoàng giáo trong Mật giáo chính là hóa thân của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. Trên phương diện cứu độ chúng sinh, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát không chỉ có độ chúng sinh mà cũng độ cả vong, cho nên có pháp Văn Thù vãng sinh, có pháp vãng sinh Văn Thù Ngũ Kế Đồng Tử, pháp vãng sinh Văn Thù Bát Đại Đồng Tử, đây đều là các pháp rất quan trọng.

Trong pháp Yết Ma của Mật tông có pháp Văn Thù vãng sinh, pháp này không phải là để khuyến khích sát sinh, mà là mượn pháp lực của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát để siêu độ sinh vật. Pháp này là pháp Văn Thù vãng sinh đặc thù, những người làm quán ăn tu trì Mật pháp này sẽ mang đến rất nhiều phương tiện và giải thoát lớn, cũng là bí mật vô thượng.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, Phật ở tại Tịnh Cư Thiên Cung từng thuyết “Văn Thù Sư Lợi Đồng Tử Hành Luân Chân Ngôn Pháp”, đó là nhất tự chân ngôn căn bản của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. 

Nhất tự chân ngôn này chính là “om brum”, hoặc dịch là “om cilin” cũng chính là chú viên mãn.

Nói chung niệm chú này, tu Tam Đại Bồ Tát (Văn Thù Bồ Tát, Quan Âm Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát) quán tưởng, có thể có được sự hộ trì và che chở của Văn Thù Bồ Tát và các vị Bồ Tát kia, lại còn có năm sứ giả của Văn Thù là Kế Thiết Ni, Nhất Ưu Ba Kế Thiết Ni, Chất Đa La, Địa Huệ, Thỉnh Triệu, và bát đại đồng tử của Văn Thù là Quang Võng Đồng Tử, Địa Huệ Đồng Tử, Vô Cấu Quang Đồng Tử, Bất Tư Huệ Đồng Tử, Triệu Thỉnh Đồng Tử, Kế Thiết Ni Đồng Tử, Cứu Hộ Huệ Đồng Tử, Ưu Ba Kế Thiết Ni Đồng Tử, sẽ đến để bảo vệ cho hành giả.

Có người hỏi tôi: “Om brum” là chú gì?
Tôi trả lời: Chú này là nhất tự tâm chú trong Văn Thù Nghi Quỹ Kinh, còn gọi là đại luân nhất tự chú, phát âm là brum.
Hỏi: Vì sao “om brum” lại có công đức lớn như vậy?
Đáp: “Om brum” này là tâm của Văn Thù Bồ Tát, là đỉnh vô thượng của tất cả chư Phật.

Những kinh điển có liên quan đến Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát như sau:

Văn Thù hối quá kinh.
Văn Thù bát nhã kinh.
Văn Thù thi lợi hành kinh.
Văn Thù Sư Lợi phát nguyện kinh.
Văn Thù Sư Lợi tuần hành kinh.
Văn Thù Sư Lợi tịnh luật kinh.
Văn Thù Sư Lợi vấn kinh.
Văn Thù Sư Lợi vấn bồ đề kinh.
Văn Thù Sư Lợi bát niết bàn kinh.
Văn Thù Sư Lợi hiện bảo tạng kinh.
Văn Thù Sư Lợi Phật thổ trang nghiêm kinh.
Văn Thù Sư Lợi căn bản nghi quỹ kinh.
Văn Thù Sư Lợi pháp bảo tạng đà la ni kinh.
Văn Thù Sư Lợi sở thuyết bát nhã ba la mật kinh.
Văn Thù Sư Lợi sở thuyết bất tư nghị Phật cảnh giới kinh.
Văn Thù Sư Lợi căn bản nhất tự đà la ni kinh.
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát lục tự chú công đức pháp kinh.
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Phật sát công đức trang nghiêm kinh.
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát căn bản đại giáo vương kinh kim sí điểu vương phẩm.
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát và chư Tiên thuyết cát hung thời nhật thiện ác túc diệu kinh.
Văn Thù diệt dâm dục ngã mạn đà la ni.

……


![image](/img/img_5868c42c3868f5ee0a35d40a96eaca78.jpg)


Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/vi-da-bo-tat-niem-tung-phap.md
# Title: Vi Đà Bồ Tát niệm tụng pháp
---

![image](/img/img_9f93771a474a3885c5d53c97a352f69d.jpg)



## Vi Đà Bồ Tát niệm tụng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

- Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

- Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô Vi Đà Bồ Tát.

(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm chú tứ quy y: (3 biến)
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Bia giáp hộ thân


Kết thủ ấn Tam Xoa Xử, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li.. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cương thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyện Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”. (7 biến)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Đệ tử Liên Hoa ……. kể từ khi quy y Căn bản Thượng sư, Tam Bảo, hướng thẳng đến bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Mọi điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_e7ddbf8f034f1c122a7e886ee87f7245.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn ****Vi Đà Bồ Tát**

Thủ ấn chắp tay kim cang: năm ngón tay đan chéo nhau như chiếc chày. 

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời xanh vạn dặm không mây, có một nguyệt luân từ trên mặt biển nhô lên, trong nguyệt luân có một chủng tử chữ “Hum”. Màu sắc của chủng tự tùy theo nhu cầu của hành giả mà biến hóa: cầu tiêu tai thì quán tưởng chủng tự màu trắng phóng ánh sáng trắng, cầu tăng ích thì quán tưởng chủng tự màu vàng phóng ánh sáng vàng, cầu kính ái thì quán tưởng chủng tự màu đỏ phóng ánh sáng đỏ, cầu hàng phục thì quán tưởng chủng tự màu lam phóng ánh sáng lam.

(2) Chữ “Hum” trong nguyệt luân xoay tròn, hóa thành Vi Đà Bồ Tát/Hộ Pháp, dáng đứng hiên ngang đầy khí phách, thân mặc áo giáp, tay cầm chày hàng ma (có nhiều tư thế, có thể quán tưởng một tay đè lên chày hàng ma, một tay chống hông, hoặc hai tay chắp lại, cổ tay nâng chày, v.v…). 

(3) Quán tưởng thiên tâm của Vi Đà Hộ Pháp phóng ra một vệt ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả. Từ họng ngài phóng ra một vệt ánh sáng đỏ chiếu thẳng đến họng của hành giả. Tâm luân của ngài phóng ra một vệt ánh sáng xanh lam chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng trắng, đỏ, lam tan vào thân tâm của hành giả. 


### Phần 14: Trì tâm chú Vi Đà Bồ Tát


Tâm chú: Ôm wẩy-thúa thian-tua ma-ha thian-tua sô-ha. (108 biến)


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Hum), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân.
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Vi Đà Bồ Tát, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định.

**Tụng tán:**

Vi Đà Thiên hiện tiền
Vị lai Lâu Chí Phật
Đại Bồ Tát cứu khổ
Thề bảo hộ chúng sinh
Chày quý trấn ma quân
Tai chướng biến cát tường
Biển công đức vô lượng
Nay con xin kính lễ.


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. nguyện đem công đức tu pháp này hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.


![image](/img/img_40d60f88379b3a35b74a223cb39ac4a0.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Vi Đà Bồ Tát


Vi Đà Tôn Thiên Bồ Tát - Vi Đà Tôn giả là vị đứng đầu trong số 32 vị tướng dưới Tứ Thiên Vương, hiện thân Thiên Đại Tướng Quân, diện mạo tuấn tú sáng sủa, tư thế hiên ngang, thân mặc áo giáp, áo choàng vai đeo đai lưng, chân đi ủng thần hành, tay cầm chày kim cang hàng ma, một tay đè lên chày, một tay chống hông, hoặc hai tay chắp lại cùng nâng chày.


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị về Vi Đà Bồ Tát


Bình thường ở mặt chính trong chùa Đài Loan Lôi Tạng Tự của chúng ta có hai vị Hộ Pháp rất lớn, một vị là Vi Đà Hộ Pháp Bồ Tát, một vị là Già Lan Hộ Pháp Bồ Tát. Hễ bạn đi vào trong ngôi chùa miếu nào ở Trung Quốc Đại Lục, vừa bước qua thiên môn ở tầng thứ nhất, tức là cánh cửa đi vào đại điện, đầu tiên chắc chắn bạn sẽ nhìn thấy Tứ Thiên Vương, chính là Đa Văn Thiên, Trì Quốc Thiên, Tăng Trưởng Thiên, Quảng Mục Thiên. Và ở ngay đối diện với Tứ Thiên Vương chính là Di Lặc Bồ Tát, tức là vị Phật tương lai. Sau đó, quay ra phía sau, bạn sẽ nhìn thấy Vi Đà Hộ Pháp Tôn Thiên Bồ Tát, ngay đối diện với ngài luôn là Đại Hùng Bảo Điện, bên trong điện có Phật Thích Ca Mâu Ni, Dược Sư Như Lai, A Di Đà Phật được sắp xếp như vậy.

Trong số “vị lai hiền kiếp thiên Phật”, vị Phật đầu tiên đứng đầu nghìn vị Phật chính là Hoa Quang Phật. Vị Phật thứ hai thành Phật trong số nghìn vị Phật tên là Lâu Chí Phật, mọi người đều không biết Lâu Chí Phật là ai, ngài chính là Vi Đà Thiên Tôn Bồ Tát. Tương lai, Vi Đà Thiên Tôn Bồ Tát sẽ thành Phật, ngài sẽ là Lâu Chí Phật, bất kì sự việc gì ngài cũng đều xử lí được. Ngài có thể gia trì và bảo vệ mỗi cá nhân được khỏe mạnh, bất kì sự việc gì nghĩ đến là thành, ngài tiếp dẫn chúng sinh âm gian vãng sinh Phật quốc tịnh thổ, phóng quang gia trì cho chúng ta gia tăng phúc phần và trí huệ, kính ái viên mãn. Đồng thời, chày hàng ma của Vi Đà Tôn Thiên Bồ Tát có thể xua đuổi tất cả kẻ thù của chúng ta, tất cả oan thân trái chủ ở bên cạnh chúng ta đều sẽ rút lui.

Vi Đà Thiên Tôn Bồ Tát rất nổi tiếng. Khi hỏa hóa Phật Thích Ca Mâu Ni thu được rất nhiều xá lợi, có một đám quỷ được gọi là “phi nhân” đến để cướp xá lợi, cướp xong thì bỏ chạy. Hộ Pháp Vi Đà Thiên Tôn khi ấy đã xuất hiện, ngài là “thần túc đệ nhất”, ngài lập tức dùng phương pháp bay để tóm gọn toàn bộ lũ quỷ đang vội vã bỏ chạy này, lấy lại xá lợi. Nơi hỏa hóa Phật Đà sau khi ngài viên tịch là ở Câu Thi Na, cũng chính là nơi Vi Đà Hộ Pháp Thiên Tôn Bồ Tát đã thu hồi xá lợi của Đức Phật.

Bản thân Vi Đà có thần túc truy phong, còn Già Lan Tôn Giả có ngựa xích thố truy phong, cả hai vị đều rất nhanh, chạy cực nhanh, đều liên quan đến gió, biểu thị rằng hai vị đều nhanh như gió.

Vi Đà Tôn giả nói với tôi khẩu quyết của ngài là gì. Bạn phải niệm chú ngữ của ngài: “Om weithuo thiantuo maha thiantuo soha”, và kết thủ ấn của ngài, tu đến khi ngài có thể tiến vào thân thể bạn, và nói với bạn rằng: “Anh đã tương ứng với ta rồi.” Tôi nói với bạn, dùng mực chu sa và một cây bút, cầm bút lên, viết xuống một chú tự “Ha”. Buổi tối khi đi ngủ, bạn muốn đến đâu, bạn sẽ dùng bút chấm một cái, rồi bạn viết hai chữ “Ha” tiếng Phạn lên hai bàn chân của bạn. Chấm bút vào chu sa rồi viết chữ “Ha”, bạn niệm chú “Ha ha ha ha. Ho”, chính là “Ha ha ha ha. Ho” trong chú 100 âm mà bình thường chúng ta vẫn niệm đó. Niệm chú xong thì bạn cầu nguyện Vi Đà Tôn giả: “Hôm nay con muốn đi châu Âu, bởi vì trên người con không có tiền, con muốn đi Italy, đi Milan, con muốn đi đến Pháp xem tháp Eiffel ở Paris. Con muốn đi xem Versailles. Con muốn đi xem tu viện Westminster ở nước Anh, đi London ngắm sông Thames. Con muốn đi Hà Lan để nhìn cối xay gió, đi Amsterdam, đi Rotterdam, con muốn đi Bỉ, Pháp, Hà Lan, Đan Mạch. Con muốn đi Thụy Sĩ, Thụy Điển, Iceland, Na Uy, con muốn đi gặp đại sứ Liêu Đông Châu, ông đại sứ ở Thụy Điển, bạn muốn gặp ông ấy thì rất đơn giản thôi. Chấm một điểm, vẽ một chữ “Ha”, niệm “Ha ha ha ha. Ho”. Đừng nói cho ai biết, bạn lập tức có thể nhìn thấy ông đại sứ Liêu Đông Châu. Kì diệu như vậy đó! Bạn viết lên mu bàn chân, không phải là dưới lòng bàn chân đâu. Ở trên hai mu bàn chân, bạn viết chữ “Ha”. Chỉ cần bạn tương ứng với Vi Đà Tôn giả, bạn có biết tốc độ của ngài là bao nhiêu không? Thần túc của ngài nhanh như gió vậy. “Vù”! Đến rồi. Bạn có biết chữ “Ha” là gì không? Chữ “Ha” chính là gió đó. Bạn có biết chữ “Yam” nghĩa là gì không? Chữ “Yam” chính là gió đó. “Ram Yam Kham”. “Yam yam yam yam. Yam” cũng là gió. “Ha ha ha ha. Ho” cũng là gió. Vi Đà Tôn giả dạy chúng ta viết chữ Phạn “Ha” vào chân, như vậy bạn có thể phi hành rất nhanh.

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/xung-pham-va-cach-dung-lua-tay-ue.md
# Title: Xung phạm và cách dùng lửa tẩy uế
---

![image](/img/img_964be0a47671bb0221fb9f72ace01728.png)



## Xung phạm và cách dùng lửa tẩy uế


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam


---


*Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Pháp Vương giải thích về "xung phạm", và phương pháp "hơ lửa tẩy uế".*

Có nhiều người bình thường dễ bị "xung phạm". Thực tế, trong những bài dạy về pháp của Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, có cực kì nhiều phương pháp ngài dạy về "phòng hộ kết giới", có thể kể đến như pháp mặc giáp hộ thân, pháp Quan Âm thân đàn thành chặn tai nạn, pháp khiên Thời Luân Kim Cang, pháp kết giới bằng chuông chày kim cang, nước chú Đại Bi sái tịnh,…

Hôm nay chúng tôi sẽ thuật lại cho mọi người những lời giảng của Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn về thế nào là phương pháp "hơ lửa", một khoa học rất đơn giản dễ dàng nhưng rất có giá trị. Phương pháp này có thể giúp người ta trong trường hợp gặp xung phạm có thể kịp thời nhanh chóng hóa giải được những ô uế bị nhiễm phải.

**Dưới đây là lời giảng của Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn**

Khi Sư Tôn dùng xong bữa cơm tối và đi ra bên ngoài Mật Uyển, một đệ tử nữ đặc biệt cầu thỉnh Sư Tôn chỉ bảo.

Không biết nguyên nhân vì sao mà lần này việc mang thai khiến cho cơ thể cô thường xuyên vô cùng mệt mỏi. Sư Tôn lập tức tập trung tinh thần, trong chốc lát liền biết, hóa ra là đệ tử nữ này không có kiết giới, bị các âm linh trong nhà quấy nhiễu dẫn tới cơ thể mệt mỏi, không những vậy còn ảnh hưởng tới thai nhi.

Sau đó nghe đệ tử nữ này thuật lại câu chuyện mới biết hóa ra trong quá khứ, đệ tử nữ này cũng từng mang thai được vài tháng thì sau đó bị sảy thai.

🌟

Sư Tôn nhắc nhở các đệ tử, mỗi ngày nhất định cần chăm chỉ thực hiện mặc giáp hộ thân để phòng hộ kết giới.

Nhưng kết giới cứ nửa tháng cần làm một lần, bởi vì trên đời này không có kết giới nào là vĩnh viễn cả. Sư Tôn lại nói thêm, lần đầu tiên cúng khiên Thời Luân Kim Cang, có thể chọn làm vào ngày Trừ nhật hoặc Định nhật.

(Chú thích: pháp Quan Âm thân đàn thành tránh tai nạn, nước chú Đại Bi sái tịnh… ít nhất cứ nửa tháng cần làm một lần.)

Sư Tôn cười nói, thường thường khi có quỷ thần ở trước mặt, bạn đi qua chúng, nếu khí của chúng mạnh hơn khí của bạn, bạn sẽ bị xung phạm (tạp âm). Thông thường vào tháng 7 Âm lịch khi cửa ma quỷ được mở ra, rất nhiều trẻ em bị xung phạm, bởi vì chúng thường không để ý và rất dễ đụng phải âm linh. Lúc này bạn cần hướng về phía mình gặp phải quỷ thần, đốt giấy tiền vàng để hơ qua lửa. Bởi vì việc hơ qua lửa có thể tiêu trừ uế khí trên người mình, hơ qua lửa cũng có thể tăng cường khí dương trên cơ thể.

(Chú thích: cách hơ qua lửa đơn giản là đốt một ít tiền giấy vàng thành một đám lửa nhỏ, người bước qua ngọn lửa, đi vòng trước sau ba lần, chính là hơ lửa tẩy uế.)

🌟

Lúc này có đệ tử hỏi, nếu chúng ta không biết chính mình gặp xung phạm ở hướng nào, vậy thì nên lấy hướng nào làm chính đây?
Sư Tôn trả lời, nếu thật sự bạn không biết rõ mình bị xung phạm ở hướng nào, bạn nên hơ lửa ở cả 4 hướng, chẳng phải như vậy là được rồi sao! Mọi người nghe Sư Tôn trả lời một cách vô cùng an toàn như vậy đã nổ ra tràng cười lớn rất vui vẻ.

Đệ tử lại hỏi, nếu người cần hơ qua lửa mà bị tàn tật thì nên làm thế nào?
Sư Tôn trả lời rằng người bên cạnh có thể dìu đỡ, hoặc ôm người đó giúp đỡ đi qua lửa.

Đệ tử cũng hỏi nếu hành giả thực sự không thể cử động được, liệu có thể cầm ngọn lửa khi đốt giấy tiền vàng hơ qua hơ lại ở phía dưới không?
Sư Tôn trả lời, bản thân lửa là bất động ngay tại đó, không được cầm ngọn lửa di chuyển hơ qua hơ lại bên dưới người cần hơ lửa, cần làm hết sức có thể để giúp người bị xung phạm đi qua lửa.

Cũng có đệ tử hỏi, có nhất định cần dùng giấy tiền vàng để hơ lửa không, chúng ta có thể dùng giấy báo hoặc đốt củi để thay thế không?
Sư Tôn đáp làm như vậy không được, bởi vì giấy tiền vàng có tác dụng gia trì trong nghi thức tôn giáo.

Lúc này, một đệ tử bên cạnh nói đùa với Sư Tôn, nếu quỷ thần đụng phải Sư Tôn thì chắc chắn là chúng sẽ bị xung phạm rồi. Sư Tôn cười nói, mỗi lần Sư Tôn đụng phải nơi có quỷ thần, bọn chúng nhìn thấy Sư Tôn lập tức dùng cách "lóe sáng" rồi đâm đầu vào tường, vào cửa, sau đó trong nhà sẽ phát ra những âm thanh binh binh binh. Thế nên bình thường khi Sư Tôn đi vào nhà vệ sinh thì đều búng ngón tay để cảnh báo trước cho bọn chúng.

Các đệ tử tò mò hỏi Sư Tôn vì sao ma quỷ thường hay thích sống ở trong nhà vệ sinh?
Sư Tôn đáp, bởi vì trong nhà vệ sinh có những thứ mà ma quỷ rất thích, ví dụ như phân và nước tiểu, bọn chúng thích ăn phân và nước tiểu. Đặc biệt là sau khi dùng toilet xong, xả nước tiểu xuống đất, những thứ này đều sẽ hấp dẫn bọn chúng tới.


![image](/img/img_ed81bf1db53b077213dc2f22fd0571af.png)

---
# File: nghi-quy-tu-tap/yeshe-tsogyal-phat-mau-tuong-ung-phap.md
# Title: Yeshe Tsogyal Phật Mẫu tương ứng pháp
---

![image](/img/img_7cf1ddc678fa7a95ca708790f371b1bc.jpg)



## Yeshe Tsogyal Phật Mẫu tương ứng pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Yeshe Tsogyal tương ứng pháp là do Liên Sinh Hoạt Phật lấy terma từ trong não mình mà có. Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Mở đầu:


(1) Quán Không.

(2) Thỉnh cầu Căn bản Truyền thừa gia trì. Tay kết thủ ấn Căn bản Thượng sư, quán tưởng Căn bản Thượng sư phóng ba ánh sáng trắng, đỏ, lam chiếu đến hành giả, gia trì hành giả tu pháp viên mãn. Niệm chú Căn bản Thượng sư 7 lần. Niệm văn cầu thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật gia trì 1 lần.

(3) Quán tứ vô lượng tâm:

Quán tưởng bên tay phải của hành giả là những người thân phụ hệ, bên tay trái là những người thân mẫu hệ, sau lưng có ân nhân, sư trưởng, bạn bè thân hữu, trước mặt có oan thân trái chủ, xung quanh có lục đạo chúng sinh quây vòng quanh, tất cả cùng tu Mật pháp, cùng thành tựu Phật đạo.

(4) Làm thủ ấn đánh thức: vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay.


### Phần 1: Niệm chú thanh tịnh:


Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.


### Phần 2: Niệm chú triệu thỉnh


Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô chủ tôn tu pháp Yeshe Tsogyal Phật Mẫu. (x3)
Tứ Thủ Phương Mẫu, Bát Phương Không Hành Mẫu. Nhị thập Thiên Thiên Nữ. Thập vạn Không Hành Mẫu chúng. 

(Các phân đường ở các địa phương có thể chiếu theo các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình mà lần lượt phụng thỉnh.)

Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc.
Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
Nam mô Tam Tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa. 


### Phần 3: Đại lễ bái


**Một: bái Căn bản Truyền thừa Thượng sư và thập phương tam thế tất cả chư Phật - kết thủ ấn Phật Kham (tháp Phật)**

Quán tưởng ở phía trên trước mặt mình có Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên, xuất hiện như muôn nghìn vì sao lấp lánh đầy khắp hư không. 

Dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm (vị trí giữa hai lông mày), quán tưởng thiên tâm của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng trắng đi vào thiên tâm của chính mình. Dùng thủ ấn chạm vào họng, quán tưởng vị trí họng của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng đỏ đi vào họng của mình. Dùng thủ ấn chạm vào tâm luân, quán tưởng tâm luân của Căn bản Truyền thừa Thượng sư phóng ra một vệt ánh sáng lam đi vào tâm luân của hành giả. Lại dùng thủ ấn chạm vào thiên tâm, giải ấn. Quán tưởng thân thể của mình nằm trên mặt đất để lạy hết Căn bản Truyền thừa Thượng sư và chư Phật mười phương.

**Hai: bái chư Bồ Tát - kết thủ ấn Liên Hoa (hoa sen)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Ba: bái Hộ Pháp Kim Cương - kết thủ ấn Tam Xoa Xử (chày ba chấu)**

Cũng quán tưởng như trên. Cách dùng thủ ấn cũng giống như trên. Lạy hết tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên.

**Bốn: khấu đầu - thủ ấn bình đẳng**

Dùng thủ ấn cúi lạy một cái, rồi chạm vào thiên tâm giải ấn. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại lễ bái, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 4: Đại cúng dường


Kết ấn cúng dường: hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau. Hai ngón út đan chéo nhau. Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. Kết ấn đặt trước ngực. Sau khi quán tưởng xong thì chạm vào thiên tâm giải ấn.

Quán tưởng cúng dường như sau: quán tưởng cúng phẩm ở trước đàn thành biến hóa thành hàng ngang, sau đó lại biến thành một mặt phẳng, nhiều vô lượng vô biên. Sau đó lại biến thành đầy ắp hư không vũ trụ. Thành tâm cúng dường toàn bộ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, lịch đại truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn, thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Hộ Pháp Kim Cương, Hộ Pháp Long Thiên. 

(Quán tưởng chi tiết có liên quan đến đại cúng dường, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)

Đọc bài kệ cúng dường: 

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kì diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.


### Phần 5: Tứ quy y


Quán tưởng quán đảnh: quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tổ sư truyền thừa các đời, tất cả chư Phật, pháp bảo, tăng bảo, kết hợp lại thành ánh sáng trắng lớn quán đảnh cho hành giả.

Niệm:

Con và tất cả chúng sinh, từ phàm phu cho đến khi thành Phật. 
Xin quy y Phật giác ngộ viên mãn.
Xin quy y Phật pháp thần thánh viên mãn.
Xin quy y tăng chúng y pháp tu hành.
Con quy y Thượng sư và Tam Bảo.
Xin ban cho sức mạnh gia trì.

(Khai thị có liên quan đến quy y và sức mạnh nương dựa duy nhất vào dòng truyền thừa, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 6: Mặc giáp hộ thân


Kết thủ ấn chắp tay kim cang, đặt thủ ấn trước trán.
Niệm chú: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Quán tưởng phòng hộ: quán tưởng Hộ Pháp, Kim Cang thờ phụng tại đàn thành biến hóa thành bốn vị, ở trước mặt, sau lưng, hai bên trái phải để bảo vệ cho hành giả. Dùng thủ ấn chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, sau đó chạm vào thiên tâm giải ấn.


### Phần 7: Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Phụng thỉnh bát đại Bồ Tát
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Kim Cang Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Diệu Cát Tường Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.

Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ thất Phật. Vị lai hiền kiếp thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Niệm danh hiệu Phật sáu phương
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyệt Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Hết thảy chúng sinh trung ương, chư vị trong Phật giới, trú ngụ trên mặt đất, cho đến tại không trung, thương lo cho tất cả chúng sinh. Ai cũng an ổn tốt lành. Ngày đêm tu trì. Tâm thường cầu tụng kinh này. Diệt được khổ sinh tử. Tiêu trừ hết độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Tụng bản kinh không ngừng. Thất Phật Thế Tôn. Liền nói chú sau:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-lô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-ki-a-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha” (7 lần)

Mười phương Quan Thế Âm. Hết thảy chư Bồ Tát.
Đã thề cứu chúng sinh. Xướng danh tất giải thoát.

Nếu gặp người trí tuệ. Ân cần mà giảng nói.
Lại có đủ nhân duyên. Đọc tụng không ngơi nghỉ.
Tụng kinh tròn nghìn biến. Niệm niệm tâm không dừng.
Gặp lửa cháy chẳng sao. Việc đao binh cũng thoát.
Nóng giận thành vui vẻ. Chết rồi hóa sống vui.
Đừng nghĩ rằng không đúng. Chư Phật chẳng nói chơi.
Cao Vương Quan Thế Âm. Cứu được hết khổ nạn.
Lúc khó khăn nguy cấp. Người chết còn thành sống.
Chư Phật chẳng nói đùa. Vì vậy nên đảnh lễ.
Niệm tụng trọn nghìn lần. Tội nặng đều tiêu diệt.
Người có phúc tín tâm. Hãy chuyên tâm đọc tụng.

Nguyện mang công đức này. Gửi tới hết chúng sinh.
Tụng tròn một nghìn biến. Tội nặng đều tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (Hết)!


### Phần 8: Niệm chú vãng sinh: (7 biến)


(Tay kết ấn Đại hải siêu độ.)

Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha 
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê 
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na 
Chê-tô ka-ni sô-ha. 


### Phần 9: **Niệm kệ Tứ vô lượng tâm**


Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.


### Phần 10: Phát bồ đề tâm


**Đọc văn phát bồ đề tâm:**

Nếu cuối cùng con thành tựu Phật quả
Con sẽ độ hóa chúng sinh
Để chúng sinh thoát khổ được vui
Cùng thành tựu Phật đạo.

**Niệm phát bồ đề tâm chân ngôn:** (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.


### Phần 11: Kim cang tâm


**Đọc bài kệ sám hối: **(3 biến)

Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.

**Niệm chú sám hối:** (108 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah.


### Phần 12: **Niệm tâm chú Căn bản Truyền thừa Thượng sư**


**Cầm chuỗi hạt quán tưởng:**

(Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư đến trước mặt mình.

**Liên Hoa Đồng Tử tâm chú:**

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)


### Phần 13: Kết ấn và Quán tưởng



![image](/img/img_139f0cadd136d7512d51118c78f3ce03.jpg)


**Kết ấn: thủ ấn ****Yeshe Tsogyal** **Phật Mẫu**

Hai tay tách xa nhau, tay trái giữ trước ngực, lòng bàn tay ngửa lên, tay phải nắm lại, giơ lên trên tay trái.

**Quán tưởng: **

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trong hư không trước mặt xuất hiện bảo tọa có tám con sư tử vây quanh. Ở giữa xuất hiện nguyệt luân, trong nguyệt luân có hoa sen, trong hoa sen xuất hiện chủng tử tự chữ “Hum” hoặc chữ "Seh" (tiếng Phạn hoặc Tạng) màu đỏ phóng quang và xoay chuyển hóa thành Yeshe Tsogyal Phật Mẫu.

(2) Yeshe Tsogyal Phật Mẫu có thân sắc màu đỏ, một mặt hai tay, tay phải lắc trống tay, tay trái cầm đầu lâu đựng đầy cam lộ và kẹp kachangka, hai chân ngồi tư thế kim cương, toàn thân trang nghiêm. Ngài có diện mạo trẻ trung và tỏa ánh sáng rực rỡ. 

(3) Quán tưởng từ thiên tâm của Yeshe Tsogyal Phật Mẫu phóng ra một đường ánh sáng trắng chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả, từ họng của ngài phóng ra một đường ánh sáng đỏ chiếu đến họng của hành giả, từ tâm luân của ngài phóng ra một đường ánh sáng màu xanh lam chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Ba ánh sáng đi vào thân tâm hành giả, gia trì cho hành giả thân tâm thanh tịnh.


### Phần 14: Trì tâm chú Yeshe Tsogyal Phật Mẫu


Tâm chú: Ôm ben-za yi-xỉ chua-ka pê-ma sit-đi hùm. (108 biến)

Hoặc:
Ôm ben-za yi-xỉ chua-ka pê-ma hùm hùm pây.
Ôm ben-za yi-xỉ chua-ka pê-ma sê sô-ha.
Ôm ben-za yi-xỉ chua-ka pê-ma hùm.


### Phần 15: Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa


**Cửu tiết Phật phong:**

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. 
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền, sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. 
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. 
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như 2).

**Quán tưởng Nhập ngã:**

(1) Quán tưởng Bổn tôn trụ tại Phạn huyệt trên đỉnh đầu hành giả.
(2) Bên trong thân mình, hoa sen trên tâm luân ở trung mạch nở ra, trên hoa sen có một đĩa mặt trăng, trong đĩa mặt trăng có chủng tử tự của Bổn tôn (chữ Seh), chủng tử tự phóng quang. 
(3) Quán tưởng Bổn tôn ở đỉnh đầu biến thành một hạt ngọc ánh sáng to cỡ hạt gạo, từ Phạn huyệt đi vào trong trung mạch của mình, thuận theo trung mạch đi thẳng xuống, tới tâm luân thì dừng lại tại hoa sen ở tâm luân. Cha - Hùm - Ban - Hô. Bổn tôn ngồi trên hoa sen trong tim hành giả. (Trước tiên hành giả quán tưởng từ chữ “Pang” biến thành hoa sen đỏ, chính giữa hoa sen đỏ dùng chữ “Ah” màu trắng biến thành nguyệt luân. Trong nguyệt luân có hai hình tam giác màu đỏ.)
(4) Bổn tôn tại hoa sen ở tâm luân của mình từ từ biến to ra, cho tới khi to bằng chính mình. Quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn giống y hệt. Bản thân chính là Bổn tôn, không hai không khác.

**An chú tự:**
Tại tề luân của Yeshe Tsogyal, an chữ “Pang” màu đỏ.
Tại tâm luân của Yeshe Tsogyal, an chữ “Han” màu lam.
Tại hầu luân của Yeshe Tsogyal, an chữ an chữ “Seh” màu trắng.
Tại mi tâm luân của Yeshe Tsogyal, an chữ “Seh” màu vàng.
Tại đỉnh luân của Yeshe Tsogyal, an chữ “Hum” màu lục.
Tại tứ chi của Yeshe Tsogyal, an chữ “Pei” màu xám.

Nhập tam ma địa (thiền định). 

**Quán tưởng Ngã nhập:**

Quán tưởng chính mình là Bổn tôn, từ trung mạch đi lên và thoát ra, tiến nhập vào trong hư không, dung nhập vào biển ánh sáng của vũ trụ.
Quên hết toàn bộ bản thân mình (tọa vong) bằng cách tiến nhập vào trong hư không, tiến nhập vào ý thức vũ trụ, tiến nhập vào biển ánh sáng, bản thân không còn nữa, hoàn toàn hòa tan vào trong hư không và biển ánh sáng của vũ trụ (ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình. Đàn thành và vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ. Nếu không thể ngồi tọa vong, lập tức quán tưởng bản thân mình là Yeshe Tsogyal Phật Mẫu, sau khi quán tưởng rõ ràng thì quên luôn chính mình, lại tiến nhập vào trong hư không. “Nhất chỉ nhất quán” như vậy gọi là “chỉ quán song vận”.

**Quán đếm hơi thở:**

Dùng ý nghĩ để đếm hơi thở của chính mình, cho đến khi đạt đến trạng thái dừng bặt không còn suy nghĩ, tiến nhập vào cảnh giới định tọa vong.

(Chi tiết có liên quan đến quán tưởng tam quang bao trùm, trì tâm chú căn bản, cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa, đếm hơi thở, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 16: Xuất định


Trình tự quán tưởng xuất định và Nhập ngã - Ngã nhập ngược nhau. Quán tưởng chính mình từ hư không tiến nhập vào thân thể, Bổn tôn thu nhỏ lại, ngồi trên hoa sen ở tâm luân của mình, rồi lại hóa thành viên ngọc ánh sáng, từ trung mạch đi ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu. Bản thân đã xuất định.


### Phần 17: Trì thêm những tâm chú khác


*(Mỗi câu chú trì một lần, không cần kết thủ ấn, chắp tay là được.)*

Ôm a-mi-tê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)


### Phần 18: Niệm Phật 


Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)


### Phần 19: Tụng bách tự minh chú: 


Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây. (3 biến)


### Phần 20: Hồi hướng


Nguyện đem công đức tu pháp này, mau chóng đạt đến thành tựu Không Hành.
Nguyện con dẫn dắt tất cả chúng sinh, không bỏ sót một ai, cùng đạt đến thành quả thành tựu. *Uân!* 

(Quán tưởng và chi tiết có liên quan đến hồi hướng, xin tham khảo cuốn *“Mật giáo đại quang hoa” *- giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh.)


### Phần 21: Đại lễ bái


(Giống đại lễ bái ở phần 3.)


### Phần 22: Niệm chú viên mãn


Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hum.


![image](/img/img_3388ee0516175c1470a253046d04ce42.jpg)



### Giới thiệu pháp tướng Yeshe Tsogyal Phật Mẫu


Yeshe Tsogyal Phật Mẫu có thân sắc màu đỏ, một mặt hai tay, tay phải lắc trống tay, tay trái cầm đầu lâu đựng đầy cam lộ và kẹp kachangka, hai chân ngồi tư thế kim cương, toàn thân trang nghiêm. Ngài có diện mạo trẻ trung và tỏa ánh sáng rực rỡ. 


### Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị lai lịch vĩ đại của Yeshe Tsogyal Phật Mẫu và khẩu quyết tu pháp


Yeshe Tsogyal Phật Mẫu là vị Phật Mẫu số một ở Tây Tạng, ngài có rất nhiều lai lịch quá khứ. Vào thời đại Phật Thích Ca Mâu Ni, ngài là vị Nữ Thần Sông Hằng, tiền kiếp của ngài là Thường Đề Bồ Tát, cũng là Diệu Âm Thiên Nữ, Bạch Độ Mẫu, sau này ngài chuyển thế thành Mã Cát Lạp Tôn, và chủ yếu nhất là ngài là Phật Mẫu của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là vị tổ sư đầu tiên của Mật giáo Tây Tạng, Yeshe Tsogyal là vị Phật Mẫu đầu tiên của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ ở Tây Tạng.

Kể từ khi Yeshe Tsogyal bắt đầu làm Phật Mẫu, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã dạy pháp cho ngài, pháp chủ yếu nhất là truyền thừa của Đại viên mãn, pháp truyền thừa Đại viên mãn này là pháp cửu thừa của phái Nyingma. Một là Thanh Văn thừa, một là Duyên Giác thừa, một là Bồ Tát thừa, ba thừa này thuộc về Hiển giáo và đều bao hàm bên trong pháp Đại viên mãn. Những thừa khác là Sự bộ, Hành bộ, Du già bộ, là ba bộ đầu của Mật giáo. Tiếp theo là Đại du già (Mahayoga), A Nỗ du già (Anuyoga) và A Để du già (Atiyoga), đây là Phật pháp cửu thừa, toàn bộ đều bao hàm bên trong pháp Đại viên mãn. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chủ yếu dạy pháp này cho Yeshe Tsogyal.

Chân Phật Tông có thánh vật đặt biệt của Yeshe Tsogyal Phật Mẫu, đó là dấu chân và hạt xá lợi.

Rất nhiều terma của phái Nyingma đều là do Yeshe Tsogyal và các đệ tử của ngài bảo tồn. Ngài không chỉ là Phật Mẫu, mà sau khi ngài làm Phật Mẫu, ngài cũng làm một Thượng sư, đệ tử của ngài cực kì nhiều. Những lời giảng của ngài giống như của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, sau cùng ngài nói, ngài căn bản là không chết, bạn chỉ cần y theo pháp mà thỉnh cầu ngài thì ngài sẽ đều xuất hiện trước mặt bạn. 

Những khai thị quan trọng của Liên Sư với Yeshe Tsogyal. Những khai thị này lấy từ pháp terma, cũng là những khẩu quyết khai thị chí yếu, có sự khai sáng và lợi ích cực kì lớn đối với việc tu trì của đồng môn.

1️⃣ Khai thị thứ nhất: Ăn.
Lấy không khí làm thức ăn chính.
Những thứ khác như các loại thịt, rau quả, sản phẩm từ sữa, đậu, trứng, cá, là thức ăn phụ.
Dùng thực vật, khoáng vật, cam lộ làm thuốc.
Chú ý: không khí nhất định phải trong lành, không khí ô nhiễm sẽ có hại mà không có lợi.

2️⃣ Khai thị thứ hai: Mặc.
Lấy chuyết hỏa làm quần áo. 
Các y phục khác cần đơn giản, rộng rãi. Thậm chí lõa thể.
Tu pháp kim cang, đeo đồ trang sức bằng xương.
Chú ý: lấy việc hô hấp của pháp chuyết hỏa làm chính yếu. Sau khi tu thành công thì không sợ cực lạnh hay ngày nóng.

3️⃣ Khai thị thứ ba: Ở.
Lấy địa linh là chính, sống ở nơi thánh địa có linh khí. 
Đất có linh khí, khí tập trung, môi trường sống, thủy thần, phương hướng (hướng từ trường), hoặc hang động, dưới cây, trong bụi cỏ, hoặc nhà nhỏ.
Chú ý: không ở nơi bại hoại.

4️⃣ Khai thị thứ tư: Đi.
Lấy thông mạch là chính. Đại lễ bái tức là thông mạch, kinh hành tức là thông mạch, kim cang quyền tức là thông mạch. Pháp song thân tức là thông mạch.
Chú ý: vận động là cần thiết, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, đều có các pháp vận động.

5️⃣ Khai thị thứ năm: Thân.
Lấy Tì Lô Thất Chi Tọa là chính. 
Chủ yếu là yên lặng. An trụ. Bất động. Nhập tam ma địa (thiền định). 

6️⃣ Khai thị thứ sáu: Khẩu.
Niệm Phật là trọng yếu.
Mật chú là trọng yếu.
Thành tựu pháp là trọng yếu.
Loại bỏ những lời nói sáo rỗng, lời ong bướm, buôn chuyện, nói chuyện thị phi.

7️⃣ Khai thị thứ bảy: Ý.
Sản sinh đại lạc.
Sản sinh quang minh.
Sản sinh tính Không.
Lấy Phật Đà thanh tịnh là chính. 
Dùng trí huệ và thiện xảo để bảo vệ giới thề nguyện samaya.
Có thể nói là lấy tam ma địa là trọng yếu.

8️⃣ Khai thị thứ tám: Từ bi.
Lấy lợi tha là chính. Tứ vô lượng tâm. Yêu kẻ thù của bạn. Yêu người khác nhiều hơn yêu bản thân. Từ đó chứng đắc quả vị Bồ Tát và Phật. (Cần thực tiễn việc này.)

Chú ý: Yeshe Tsogyal tương ứng pháp là do Liên Sinh Hoạt Phật lấy terma từ trong não mình mà có.

Pháp Đại viên mãn (Phật pháp cửu thừa - chín thứ tự của phái Nyingma) do Phổ Hiền Vương Như Lai truyền cho Ngũ Phương Phật, truyền cho Kim Cang Tát Đỏa, truyền cho Kim Cang Thủ Bồ Tát, truyền cho Cực Hỉ Kim Cang, truyền cho Diệu Cát Tường Hữu, truyền cho Cát Tường Sư Tử, truyền cho Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, truyền vào Tây Tạng cho vua Trisong Detsen và Yeshe Tsogyal. 

Tổ sư Tây Tạng của pháp Đại viên mãn có ba vị là: Tì Lô Giá Na, Trisong Detsen, Yeshe Tsogyal.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ có hai minh phi chủ yếu là Yeshe Tsogyal và Mandarava, cũng là bạn đạo trên con đường tu hành của ngài, bạn đạo trên con đường tu hành gọi là minh phi. 

Vua Trisong Detsen đã cúng dường minh phi mà mình yêu thích nhất cho sư phụ mình. Vua Trisong Detsen có mấy vị minh phi đều là những người rất có căn khí, họ đều theo Liên Hoa Sinh Đại Sĩ học pháp, đặc biệt là Yeshe Tsogyal. 

Sư Lợi Tinh Ha đã phân chia pháp Đại viên mãn cửu thứ đệ thành bốn loại pháp là ngoại mật, nội mật, bí mật, cực mật. Sư Lợi Tinh Ha cũng đã giảng hai nyingtik, một là Không Hành nyingtik, chính là pháp mà Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã truyền cho Yeshe Tsogyal, nyingtik chính là tâm yếu khẩu quyết quan trọng nhất, con gọi là “tâm trong tâm”. 

Yeshe Tsogyal cũng là một terton. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã đem những tâm yếu khẩu quyết của Không Hành nyingtik và Đại viên mãn cửu thứ đệ yêu cầu Yeshe Tsogyal đem chôn giấu ở trong hư không của Nepal, Tây Tạng, Bhutan, ở trong hồ, trong hang đá, giấu hết những kinh điển này. Yeshe Tsogyal biết rằng Tây Tạng sẽ phải đối mặt với sự diệt Phật, tức là vua Lãng Đạt Mã diệt Phật, cho nên ngài đã cất giấu toàn bộ pháp Đại viên mãn cửu thứ đệ mà Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền cho. Cuối cùng, Longchenpa tôn giả và Jigme Lingpa tôn giả là những vị terton chủ yếu nhất, hai vị đã tập hợp lại mọi terma thành pháp Đại viên mãn cửu thứ đệ. Ngoài ra, Longchenpa tôn giả còn viết thành Longchen Nyingtik. 

Yeshe Tsogyal nhờ vào tu hành Phổ Ba Kim Cang bát đại hành pháp mà đắc thành tựu, sau đó ngài đã dùng phương thức terma để bảo tồn các giáo pháp của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Phái Nyingma và phái Gelug đều nhận định ngài là Phật Mẫu, cực kì tôn sùng ngài. Ngài cũng được nhận định là người truyền thừa của giáo pháp Nyingma Không Hành nyingtik, và là hóa thân của Kim Cang Hợi Mẫu.

Dưới Bát Nhã Phật Mẫu là Kim Cang Hợi Mẫu, dưới Kim Cang Hợi Mẫu là Yeshe Tsogyal. Yeshe Tsogyal và Mandarava đều thuộc về hóa thân của Phật Mẫu.

Bạn thấy Yeshe Tsogyal là một tổ sư, nhưng thật ra, căn cứ theo những diễn hóa của ngài mà nói thì một kiếp trước của ngài là Thường Đề Bồ Tát (tức là một vị Bồ Tát thường xuyên khóc). Ngoài ra, Yeshe Tsogyal cũng là Kim Cang Du Già Mẫu, vào thời đại của Phật Thích Ca Mâu Ni thì ngài là Nữ Thần Sông Hằng, tiền thân của Nữ Thần Sông Hằng chính là Diệu Âm Thiên Nữ. Ngoài ra, ngài còn có một kiếp là Bạch Độ Mẫu - Thất Nhãn Phật Mẫu. Yeshe Tsogyal cũng có thân phận của A Di Đà Phật, vì vậy thật ra lai lịch của ngài không hề đơn giản. 

Trong những lời dạy của Yeshe Tsogyal có nói, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã khai mở mạch luân của ngài, để ngài nhìn thấy đàn thành, không phải là đàn thành ở bên ngoài (không phải là đàn thành mà chúng ta sắp đặt mà ra), mà là đàn thành thuộc về nội tại. Thượng sư đã gia trì cho Yeshe Tsogyal để ngài có thể nhìn thấy được đàn thành trên thân thể mình, cảm giác này gọi là xuất hiện đàn thành thân mạch của đạo xuất thế gian - một trong bốn loại đàn thành.

Liên Sinh Pháp Vương khi mới tập Mật giáo vô cùng tôn kính Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, ngài đã chuẩn bị cúng phẩm phong phú và cầu nguyện Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Trong thiền định, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ và Yeshe Tsogyal đã cùng xuất hiện. Liên Sư đã nuốt Pháp Vương vào trong bụng, rồi lại đẩy ngài ra từ song vận mật luân. 

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói:
”Anh chính là con ta.”
Pháp Vương nói:
”Nguyện gánh vác.”
Thế là, Pháp Vương đã được Liên Hoa Sinh Đại Sĩ và Yeshe Tsogyal phóng quang gia trì. Đây là truyền thừa thậm thâm. 


![image](/img/img_2b8472fbbeb2680a372ede9cb707bac3.jpg)


Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

---

---
# File: nghi-quy-tu-tap/yoga-nghi-ngoi.md
# Title: Yoga nghỉ ngơi
---

![image](/img/img_587627d0b649554a908f2211cc82be41.jpg)



# Yoga nghỉ ngơi


Tim của bản thân hành giả nở ra hoa sen tám cánh, trong hoa sen có nguyệt luân, trong nguyệt luân có chữ Om, chữ Om phóng ba đường ánh sáng trắng, triệu thỉnh ý thức vũ trụ. Quán tưởng ở vị trí cao trên đỉnh đầu bạn khoảng một bàn tay có một nguyệt luân, trong nguyệt luân có chữ Hum màu trắng, sau đó bên dưới nguyệt luân có một bông hoa sen, bên dưới hoa sen có cuống sen, quán tưởng cuống sen này xuyên vào Phạn đỉnh huyệt của bạn, cắm vào trung mạch của bạn. 

Sau khi quán tưởng rõ ràng xong, chữ Hum tan ra, hóa thành cam lộ màu trắng, từ hoa sen đi vào cuống sen, đi vào đỉnh huyệt của bạn, đi vào trong toàn thân bạn, quán tưởng khớp xương của bạn được bôi trơn và ẩm, tất cả tim, gan, lá lách, phổi, thận của bạn, tám vạn bốn nghìn ven mạch đều được nghỉ ngơi, đều được thả lỏng dễ chịu, khí đen dần dần được bài trừ ra ngoài. Đây chính là yoga nghỉ ngơi.

---
# File: nghi-quy-tu-tap/zhashi-lhamo-niem-tung-phap-trat-co-lap-mau.md
# Title: Zhashi Lhamo niệm tụng pháp (Trát Cơ Lạp Mẫu)
---

![image](/img/img_13f9936314a15ecb903601fbc294d83d.jpg)



# Zhashi Lhamo niệm tụng pháp (Trát Cơ Lạp Mẫu)



### Nghi quỹ


Trước tiên, thỉnh cầu căn bản truyền thừa gia trì: 

Đầu tiên quán Không, sau đó quán tưởng Truyền thừa Chân Phật Tông: Nam mô Đại Nhật Như Lai, Nam mô Phật Nhãn Phật Mẫu, Nam mô A Di Đà Phật, Nam mô Liên Hoa Đồng Tử, Nam mô Liên Sinh Hoạt Phật. 

Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật trụ ở đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì tâm chú Liên Hoa Đồng Tử 7 biến, cầu nguyện tu pháp viên mãn.

Văn cầu thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật gia trì (1 biến)

Tiếp theo, làm quán tưởng tứ vô lượng tâm. Làm thủ ấn đánh thức (vỗ tay hai lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay). 

1. Chú thanh tịnh.

2. Chú triệu thỉnh.

3. Đại lễ bái.

4. Đại cúng dường.

5. Tứ quy y.

6. Mặc giáp hộ thân.

7. Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (1 biến)

8. Chú vãng sinh. (7 biến)

9. Niệm kệ tứ vô lượng tâm. (1 biến)

10. Phát bồ đề tâm

Niệm văn phát bồ đề tâm (1 biến)

Niệm chân ngôn phát bồ đề tâm (3 biến)

11. Kim Cang Tâm (kệ sám hối và chú)

12. Căn bản Truyền thừa Thượng sư tâm chú:

Ôm gu-ru lién-sâng sit-đi hùm. (108 biến)

13. Kết ấn và quán tưởng:


![image](/img/img_bcce620c1c59cd1e73de738a039a5d1b.png)


Kết ấn: Hai tay giống nhau, ngón trỏ, ngón giữa và ngón áp út dựng thẳng lên, ngón cái đè lên ngón út, hai tay tách ra đưa về phía trước ngang tầm ngực, lòng bàn tay hướng ra ngoài.


![image](/img/img_e203240ecd5d4c953a6c41a3df62742f.png)


Chủng tử tự: chữ "Chiêu" (Tạng văn)

Quán tưởng:
Đầu tiên quán Không, niệm chú quán Không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trong tính Không, trên hoa sen và nguyệt luân có chữ 'Chiêu' màu vàng, chữ 'Chiêu' xoay tròn, biến hóa thành Trát Cơ Lạp Mẫu (Zhashi Lhamo) với làn da màu vàng đen. Hai mắt trợn tròn. Hai lông mày nhíu chặt. Miệng lớn há to, lưỡi đỏ thè ra tận cằm.

(2) Đầu đội mũ năm đầu lâu. Chân là móng gà. Hai tay trước ngực nắm giữ mặt trời và mặt trăng. Hình tượng này thể hiện sức mạnh uy hiếp và hàng phục to lớn của ngài đối với các thế lực tà ác.

(3) Quán tưởng Thiên tâm của Trát Cơ Lạp Mẫu phóng ra một luồng ánh sáng trắng, chiếu thẳng vào Thiên tâm của hành giả; Hầu luân
phóng ra một luồng ánh sáng đỏ, chiếu thẳng vào Hầu luân của hành giả; Tâm luân phóng ra một luồng ánh sáng xanh lam, chiếu thẳng vào Tâm luân của hành giả; ba luồng ánh sáng trắng, đỏ, xanh lam gia trì, hòa nhập vào thân tâm của hành giả.

(4) Tiếp tục quán tưởng chữ 'Chiêu' màu vàng trên đóa hoa sen nở rộ phóng ra ánh sáng, bay lên hư không, từ đỉnh khiếu của hành giả tiến vào Tâm luân, đóa hoa sen ở tâm nở ra, chữ 'Chiêu' trên hoa sen biến hóa thành Trát Cơ Lạp Mẫu. Trát Cơ Lạp Mẫu dần dần trở nên to bằng với cơ thể của hành giả, trong sát-na, hành giả biến hóa thành Trát Cơ Lạp Mẫu, không hai không khác.

14. Trì tâm chú Trát Cơ Lạp Mẫu.

Chú ngữ: Ôm ma-mố na-mố thung-thung cha-cha sô-ha. (108 biến)

15. Làm Cửu tiết Phật phong, nhập ngã ngã nhập, nhập Tam ma địa. 

16. Xuất định.

17. Kệ tán thán.

Ma Ma thiên nữ huyễn hóa thân,
Thoa Cát Bốc Chi ma nữ tôn, 
Mẹ của nghĩa giới La Sát Nữ, 
Cùng xưng tụng những danh hiệu này.
Giữa trưa vui cười Kim Cương Mẫu,
Bình minh gương sáng Không Hành Mẫu,
Đêm về uy mãnh Tự Tại Mẫu, 
Thoa Cát Bốc Chi tài phú tôn.
Nghiệp lực nguyện lực từ thuở xưa,
Đến nay thành thục trọn lời thề,
Thiết tha vang vọng gọi tên ngài,
Nguyện xin mau chóng giáng lâm đây.

[Thoa Cát Bốc Chi là tên phiên âm theo tiếng Trung của Zakiram, là một danh xưng khác của Zhashi Lhamo.]

18. Trì thêm những tâm chú khác.

19. Niệm Phật. (3 biến)

20. Trì thêm văn cầu nguyện thỉnh Phật trụ thế.

21. Hồi hướng.

22. Bách tự minh chú. (3 biến)

23.  Đại lễ bái.

1. Xuất đàn, niệm chú viên mãn.

Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.

- Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp.

Lưu ý:

1. Trích từ văn tập thứ 307 "Truyện Ma Hồn Quỷ" của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, Liên Sinh Hoạt Phật khai thị cúng dường Trát Cơ Lạp Mẫu có vài điểm cần chú ý:

Trát Cơ Lạp Mẫu đặc biệt thích uống rượu, cần cúng dường ba chai rượu trắng, hơn nữa phải cúng dường ba tuần rượu, rót rượu ba lần. Có thể cúng dường ngải cứu, lá thông. Khăn Khata màu trắng. Bơ và tsampa. (Tsampa là bột lúa mì thanh khoa, thức ăn chính của người Tạng). Chúng ta có thể dùng bánh mì trắng hoặc bột mì trắng và các thức ăn màu trắng thông thường để thay thế. Khi tu pháp, đặt hai tấm gương sáng, là tượng trưng cho mặt trời và mặt trăng nắm ở trong tay.
(Trát Cơ Lạp Mẫu là thần Hộ pháp, chí tâm tu pháp cầu nguyện, ngoài việc nhanh chóng phát tài ra, thì sức khỏe, trường thọ, bình an, cũng sẽ nhận được sự gia trì, thù thắng cát tường, ngài cũng bảo vệ cho những lữ khách đi xa.)

2. Xin tham khảo: Thông cáo pháp vụ của Tông Ủy Hội - Tông Pháp Tự - Thông cáo Mật pháp số 028 "Pháp Trát Cơ Lạp Mẫu - Những điều cần biết về cúng dường khi tu pháp":

Mỗi lần tu pháp, trước tiên chuẩn bị chín chén rượu trắng, mang ý nghĩa kính rượu đủ ba tuần, sau khi tu pháp xong vẩy trước tượng Trát Cơ Lạp Mẫu, (nếu khu vực đàn thành không thích hợp vẩy nước rượu, có thể dùng một vật chứa để hứng lấy nước rượu), cầm chén rượu vẩy ra theo vòng tròn thuận chiều kim đồng hồ, niệm: "Phát tiền phát cho tròn tròn, chúc cho năm nay phát tài lớn."

Có thể cúng dường ngải cứu, lá thông, bơ và tsampa. Tsampa là bột thanh khoa, có thể dùng bột mì trắng và các thức ăn màu trắng thông thường để thay thế.

3. Xin tham khảo: Khai thị trong lần đầu tiên Liên Sinh Hoạt Phật truyền pháp Trát Cơ Lạp Mẫu vào ngày 20 tháng 9 năm 2025.

4. Chú ngữ có ba phiên bản, phiên bản được niệm khi truyền pháp: Ôm ma-mố na-mố thung-thung cha-cha sô-ha.

Hai phiên bản còn lại, tự mình quyết định: 
Ôm ma-mố na-mố thung-thung-thung cha-cha-cha sô-ha.
Ôm ma-mố na-mố thung-thung-thung cha-cha hùm-hùm pây-pây sô-ha.


### Giới thiệu pháp tướng Trát Cơ Lạp Mẫu


Hai mắt mở to, thân màu vàng, chau mày há miệng, le lưỡi đỏ, mũ năm sọ người, chân móng gà, hai tay trước ngực cầm nhật nguyệt. Màu sắc của Trát Cơ Lạp Mẫu là màu vàng và màu đen, hoặc màu xanh lam. Trát Cơ Lạp Mẫu của Chân Phật Tông chúng ta chủ yếu là màu vàng. Tại sao vậy? Bởi vì chúng ta muốn nhanh chóng phát tài. Màu xanh lam của ngài, mang sắc thái của thần Hộ pháp; màu vàng mang sắc thái của sự ban phúc. Hai mắt ngài mở to, đôi mày nhíu chặt, miệng há ra, chiếc lưỡi màu đỏ thè dài xuống tận cằm, đến trước ngực, trên đầu đội mũ năm sọ người, chân của ngài là chân gà, móng vuốt gà. Hai tay đặt trước ngực, một tay nắm lấy mặt trời, một tay nắm lấy mặt trăng. Hình tượng này thể hiện sức mạnh răn đe và năng lực hàng phục to lớn của ngài đối với các thế lực tà ác. Là thần Hộ pháp, nhưng cũng là Thần Tài. Câu nói quan trọng nhất có thể dành cho mọi người, chính là nhanh chóng phát tài!


### Lai lịch thù thắng và khẩu quyết tu pháp Trát Cơ Lạp Mẫu


Nhập Tam ma địa, tương ứng Trát Cơ Lạp Mẫu
Có thể khỏe mạnh, bình an, cát tường, như ý, nhanh chóng phát tài.

Nhập Tam ma địa, cầu thỉnh Trát Cơ Lạp Mẫu giáng lâm, thiền định nhất tâm, nhập ngã ngã nhập, bạn tương ứng với Trát Cơ Lạp Mẫu thì tuyệt đối có thể khỏe mạnh, bình an, cát tường, như ý, nhanh chóng phát tài!

Kệ tán thán của ngài: 

Ma Ma thiên nữ huyễn hóa thân,
Thoa Cát Bốc Chi ma nữ tôn, 
Mẹ của nghĩa giới La Sát Nữ, 
Cùng xưng tụng những danh hiệu này.
Giữa trưa vui cười Kim Cương Mẫu,
Bình minh gương sáng Không Hành Mẫu,
Đêm về uy mãnh Tự Tại Mẫu, 
Thoa Cát Bốc Chi tài phú tôn.
Nghiệp lực nguyện lực từ thuở xưa,
Đến nay thành thục trọn lời thề,
Thiết tha vang vọng gọi tên ngài,
Nguyện xin mau chóng giáng lâm đây.

Tâm chú của ngài: "Ôm ma-mố na-mố thung-thung cha-cha sô-ha." Niệm càng nhiều càng tốt.

Tiền hành, Hậu hành giống như tu pháp thông thường
Phương pháp tu trì ở trên là chỉ cho Chính hành: quán tưởng, trì chú, nhập Tam ma địa. Còn về Tiền hành và Hậu hành, thì giống với tu pháp thông thường. Tiền hành là đại lễ bái, đại cúng dường, tứ quy y, tứ vô lượng tâm. Hậu hành là hồi hướng, tán kệ, Kim Cang Tâm bách tự minh. Nếu tu pháp có chỗ thiếu sót, sẽ dùng chú trăm âm để bù đắp sự thiếu sót đó.

Về phương diện đại cúng dường, có vài điểm cần chú ý, điểm đặc biệt khác thường của ngài Trát Cơ Lạp Mẫu là: Ngài thích uống rượu trắng, phải cúng dường ba bình rượu trắng, hơn nữa phải cúng dường ba tuần rượu, tức là rót rượu ba lần. Cũng có thể cúng dường ngải cứu và lá thông, khăn khata màu trắng.

Ngoài ra, ở Tây Tạng người ta dùng trà bơ và tsampa, tsampa chính là bột thanh khoa, ở Tây Tạng người ta không dùng bột mì, mà là bột thanh khoa, đó là lương thực chính yếu của người Tây Tạng. Có thể dùng bột màu trắng hoặc bánh mì màu trắng, cùng các loại thức ăn thông thường để cúng dường cũng được. Khi tu pháp, phải đặt hai tấm gương sáng, một tấm gương đại diện cho mặt trời trên tay ngài; một tấm gương đại diện cho mặt trăng trên tay ngài.

Trát Cơ Lạp Mẫu là thần Hộ pháp, chí tâm tu pháp cầu nguyện, ngoài việc nhanh chóng phát tài ra, sức khỏe, trường thọ, bình an cũng sẽ nhận được sự gia trì, thù thắng cát tường. Ngài cũng bảo vệ những lữ khách đi xa, cũng có nghĩa là, bạn đi ra ngoài du lịch, ngài có thể bảo vệ bạn mọi bề bình an. Thực ra, Trát Cơ Lạp Mẫu ngoài việc có một ngôi chùa Trát Cơ ở bên ngoài chùa Sắc Lạp ở Lhasa, ở Thành Đô cũng có người cúng dường Trát Cơ Lạp Mẫu; ngoài ra ở Ninh Hạ cũng có người cúng dường; ngoài ra bên trong chùa Pháp Luân ở Thẩm Dương có cúng dường Trát Cơ Lạp Mẫu, ở chùa Chính Khiết tại Đại Khánh đều có cúng dường Trát Cơ Lạp Mẫu.

Tu pháp của Trát Cơ Lạp Mẫu, quan trọng nhất là điều này: ở nhân gian bạn cũng có phúc phần, trên trời cũng có phúc phần.


### Liên Sinh Hoạt Phật khai thị tâm yếu khẩu quyết


Trát Cơ Lạp Mẫu có pháp tu trì của ngài. Đương nhiên chúng ta chủ yếu nhất là quán tưởng, trì chú, nhập Tam ma địa, là thuộc về chính hành. Về mặt quán tưởng, màu sắc của Trát Cơ Lạp Mẫu là màu vàng và màu đen, hoặc là màu xanh lam. Trát Cơ Lạp Mẫu của Chân Phật Tông chúng ta trọng điểm là màu vàng. Tại sao vậy? Bởi vì chúng ta muốn làm giàu nhanh, đây là mạnh nhất! Màu xanh lam của ngài là mang hương vị của Hộ pháp thần; màu vàng là mang hương vị của ban phúc.

Hai mắt của ngài trợn tròn, đôi mày nhíu chặt, miệng há to, chiếc lưỡi đỏ lè ra mãi đến tận cằm, đến trước ngực, trên đầu đội mũ năm đầu lâu, chân của ngài là chân gà, móng gà. Hai tay đặt trước ngực, một tay nắm lấy mặt trời; một tay nắm lấy mặt trăng. Hình tượng này cho thấy sức mạnh uy nhiếp và hàng phục to lớn của ngài đối với các thế lực tà ác. Là Hộ pháp thần, nhưng cũng là Tài thần. Câu nói quan trọng nhất có thể giúp người ta, chính là làm giàu nhanh! Hôm nay mọi người đều vì làm giàu nhanh mà đến, tôi hy vọng sau pháp hội của chúng ta, sau khi quán đảnh xong, mỗi người đều được làm giàu nhanh to lớn.

"Ôm ma-mố na-mố thung-thung cha-cha sô-ha." Chú ngữ của ngài, chúng ta phải trì chú ngữ của ngài: "Ôm ma-mố na-mố thung-thung cha-cha sô-ha." Đây là chú ngữ của ngài. Phải trì 108 biến, hoặc càng nhiều càng tốt.

Nhập Tam ma địa, cầu thỉnh Trát Cơ Lạp Mẫu giáng lâm, thiền định nhất tâm, nhập ngã ngã nhập, bạn tương ứng với Trát Cơ Lạp Mẫu rồi thì tuyệt đối có thể khỏe mạnh, bình an, cát tường, như ý, làm giàu nhanh! Kệ tán thán của ngài: 

"Ma Ma thiên nữ huyễn hóa thân,
Thoa Cát Bốc Chi ma nữ tôn, 
Mẹ của nghĩa giới La Sát Nữ, 
Cùng xưng tụng những danh hiệu này.
Giữa trưa vui cười Kim Cương Mẫu,
Bình minh gương sáng Không Hành Mẫu,
Đêm về uy mãnh Tự Tại Mẫu, 
Thoa Cát Bốc Chi tài phú tôn.
Nghiệp lực nguyện lực từ thuở xưa,
Đến nay thành thục trọn lời thề,
Thiết tha vang vọng gọi tên ngài,
Nguyện xin mau chóng giáng lâm đây." 

Tâm chú của ngài: "Ôm ma-mố na-mố thung-thung cha-cha sô-ha." Niệm càng nhiều càng tốt.

Pháp tu trì ở trên là chỉ Chính hành: quán tưởng, trì chú, nhập Tam ma địa. Còn về Tiền hành và Hậu hành thì giống với các pháp tu thông thường. Tiền hành là đại lễ bái, đại cúng dường, tứ quy y, tứ vô lượng tâm. Hậu hành là hồi hướng, tán kệ, Kim Cang Tâm bách tự minh. Nếu tu pháp có thiếu sót, dùng Bách tự minh chú để bù đắp những phần chưa đủ.

Về mặt đại cúng dường, có vài điểm cần chú ý, điểm đặc biệt khác thường của Trát Cơ Lạp Mẫu: Ngài thích uống rượu trắng, phải cúng dường ba chai rượu trắng, hơn nữa phải cúng dường ba tuần, cũng tức là rót rượu ba lần. Đây là rượu trắng (trên bàn pháp), tôi uống thử xem, rượu trắng này có chút mùi thơm, uống ba ngụm. Cũng có thể cúng dường lá ngải cứu và lá thông, khăn khata màu trắng, khăn khata màu trắng phải dùng để cúng dường.

Ngoài ra, ở Tây Tạng thì dùng trà bơ và tsampa, tsampa chính là bột thanh khoa, ở Tây Tạng không dùng bột mì, mà là bột thanh khoa, đó là thức ăn chính của người Tây Tạng. Tôi từng ăn tsampa, cho tsampa vào trong hồng trà, sau đó dùng tay nặn nó, nặn một chút rồi chấm lên ăn. Chúng ta có thể dùng bột màu trắng hoặc bánh mì trắng, và các thức ăn thông thường để cúng dường cũng được. Khi tu pháp, phải đặt hai tấm gương sáng, một tấm gương tượng trưng cho mặt trời trên tay ngài; một tấm gương tượng trưng cho mặt trăng trên tay ngài.

Trát Cơ Lạp Mẫu là Hộ pháp thần, chí tâm tu pháp cầu nguyện, ngoài làm giàu nhanh ra, sức khỏe, trường thọ, bình an, cũng sẽ nhận được sự gia trì, thù thắng cát tường. Ngài cũng bảo vệ những lữ khách đi xa, cũng tức là nói, bạn đi ra ngoài du lịch, ngài có thể bảo vệ bạn mọi bề bình an. Thực ra, Trát Cơ Lạp Mẫu ngoài việc bên ngoài chùa Sera có một ngôi chùa Trát Cơ; ở Thành Đô cũng có người cúng dường Trát Cơ Lạp Mẫu; ngoài ra ở Ninh Hạ cũng có người cúng dường; ngoài ra trong chùa Pháp Luân ở Thẩm Dương có cúng dường Trát Cơ Lạp Mẫu, ở chùa Chính Khiết tại Đại Khánh đều có cúng dường Trát Cơ Lạp Mẫu.

Đệ tử của tôi là Liên Tôn đã viết truyền thuyết về Trát Cơ Lạp Mẫu, thực ra truyền thuyết về Trát Cơ Lạp Mẫu có rất nhiều, anh ấy chủ yếu viết hai câu chuyện. Bởi vì Trát Cơ Lạp Mẫu nhất tâm tu hành, do ngài khá xinh đẹp liền vấp phải sự ghen ghét. Lại có tà thần hạ độc hãm hại ngài, nhưng cảnh giới tu hành của Trát Cơ Lạp Mẫu rất cao, đã ép chất độc ra đầu lưỡi, nhưng lưỡi lại không thể rụt vào được, cho nên lưỡi của ngài cứ thè dài đến trước ngực. Tà thần thấy không có cách nào hạ độc ngài liền chặt đứt đôi chân của ngài, kết quả chân của Trát Cơ Lạp Mẫu lại mọc ra, có ba ngón giống như gà, chính là thủ ấn của chúng ta. Thủ ấn ba ngón tay chính là tượng trưng cho bàn chân của ngài, nó giống hệt như chân gà. Do hình tượng này, bản thân ngài có đại pháp lực giải độc, cũng tượng trưng cho việc có thể giải trừ chất độc trong nội tâm chúng sinh.

Về truyền thuyết của Trát Cơ Lạp Mẫu, còn có một truyền thuyết nữa mà tôi khá coi trọng. Bản thân ngài vốn là một cô gái vùng đất Hán hội tụ đủ vẻ vô cùng xinh đẹp, trẻ trung, lương thiện, rất được hoàng đế Càn Long yêu mến, trở thành phi tử được sủng ái của ông. Chính vì sự xinh đẹp và lương thiện của ngài, do những mối quan hệ chốn hậu cung, ngài đã phải bỏ mạng, ngài bị người ta hãm hại đến chết. Sau khi bản thân bị hại, ngài không cam tâm rời đi, sự oán hận trong lòng khiến ngài mất đi sự thuần chân vốn có, một lòng chỉ muốn báo thù. Sự báo thù này không giống với "làm giàu nhanh" kia. Thế là mỗi ngày ngài đều lảng vảng trong hoàng cung, khiến những người bên trong cung đình rất đỗi sợ hãi.

Hoàng đế Càn Long sau khi biết chuyện, ông đã thỉnh Lama Cường Ba Mẫn Lãng của chùa Sera ở Tây Tạng, thực ra là hy vọng vị Lama có thể an ủi Trát Cơ Lạp Mẫu, an định lòng người. Sau khi Lama Cường Ba của chùa Sera đến, nhìn thấy một người phụ nữ đang khóc trên xà nhà, liền trò chuyện cùng ngài. Sau đó mới biết ngài vốn là phi tử của Càn Long, bị người ta hãm hại, cho nên ngài mới không muốn rời đi. Lama Cường Ba đem ngọn nguồn sự việc kể lại đúng sự thật cho hoàng đế Càn Long, hoàng đế Càn Long sau khi biết chuyện liền đem toàn bộ những kẻ hãm hại ngài ra xử tội theo pháp. Rồi thỉnh cao tăng Tây Tạng siêu độ cho vị phi tử này, hy vọng ngài có thể sớm ngày thoát khỏi bể khổ.
 
Sau khi mọi chuyện xong xuôi, cao tăng liền rời khỏi đất Hán. Trên đường trở về Tây Tạng, ông phát hiện Trát Cơ Lạp Mẫu vẫn chưa rời đi, cứ đi theo ông, không muốn rời đi. Lúc này Lama liền hỏi Trát Cơ Lạp Mẫu, Trát Cơ Lạp Mẫu trả lời: ngài quyết định nhất tâm hướng Phật, quy y cửa Phật, hơn nữa ngài muốn đi theo ông cùng nhau tu hành. Đại sư khuyên ngài rằng: Ngài không cần phải vất vả như vậy, ngài vẫn là nên quay về đi! Nhưng ngài từ đầu đến cuối không muốn quay về, cứ đi theo Lama Tây Tạng về đến chùa Sera. Thế nhưng ngài không thể vào được chùa Sera, bởi vì ngài là nữ, toàn bộ chùa Sera đều là nam, ngài không thể vào được. Lama Tây Tạng liền nói: Ta ở bên ngoài chùa Sera giúp ngài xây một ngôi chùa, tiếp nhận sự cúng dường của mọi người. Trát Cơ Lạp Mẫu liền đồng ý, bèn ở lại chùa Zhashi bên ngoài chùa Sera. Xây dựng chùa Trát Cơ là để cho ngài làm nơi tu hành.

Sau này ngài tu hành trở thành Hộ pháp của Phật giáo, cũng là Hộ pháp của nhân gian. Ngôi chùa Trát Cơ này vốn dĩ thuộc về một nơi bên ngoài chùa Sera, người qua lại rất đông, lúc này những người đến chùa Trát Cơ lễ bái đều nhận được cảm ứng. Cảm ứng vô cùng mãnh liệt, hơn nữa cảm ứng vô cùng chuẩn xác, vô cùng có sức mạnh. Ngài có thể hộ pháp, có thể hộ trì, đồng thời cũng có thể bảo hộ mọi người, nói chung làm bất cứ việc buôn bán gì, bạn đến cầu ngài liền thành công; muốn kiếm tiền gì, cầu ngài cũng thành, chính tài, hoạnh tài, thiên tài, nói chung bất cứ loại tài lộc nào cũng đều có thể có được. Cho nên ngài liền ngày càng nổi tiếng, cứ thế truyền ra ngoài, chính là làm giàu nhanh lớn, làm giàu nhanh vừa, làm giàu nhanh nhỏ!
 
Hôm nay chúng ta thỉnh Trát Cơ Lạp Mẫu ban tài lộc đến đây, ban cho mỗi người chúng ta đều được làm giàu nhanh! Thực ra trong quá trình tu hành, ngài cũng có chứng đạo. Theo Đạo gia mà nói, ngài chính là ma tiên. Tiên có rất nhiều loại, lớn nhất chính là Kim Tiên, Đại La Kim Tiên là lớn nhất, giống như Diêu Trì Kim Mẫu, Đông Hoa Đế Quân chính là thuộc về Đại La Kim Tiên, thuộc về Kim Tiên. Trát Cơ Lạp Mẫu là thuộc về ma tiên, không phải là ma, mà là từ ma tu thành tiên nhân, đây là ma tiên. Ngài không phải là ma, ngài trước kia là ma, ma cũng có thể tu hành, đúng không? Không phải chỉ có con người mới có thể tu hành; thần cũng có thể tu hành, ngài cũng có thể có được thành tựu.

Cho nên Phật, tiên, ma, thánh đều có thể tu hành. Từ ma tu thành tiên thì gọi là ma tiên; từ thánh tu thành tiên chính là thánh tiên. Tu đến cuối cùng chính là Kim Tiên, giống như Phật Thích Ca Mâu Ni chúng ta gọi ngài là Kim Tiên, chúng ta cũng gọi là Kim Tiên; Diêu Trì Kim Mẫu chúng ta cũng gọi là Kim Tiên. Những vị tu hành được xưng thần này, có vị là trung thần liệt sĩ, có vị là thánh hiền hào kiệt. Giống như Khổng Tử là Văn Thánh, ngài cũng có Khổng miếu, ngài thuộc về việc chỉ dạy chúng ta đạo lý đối nhân xử thế, ngài là thánh hiền, bản thân ngài cũng có miếu thờ.

Trát Cơ Lạp Mẫu vốn dĩ là hồn ma, thế nhưng sau khi ngài học Phật, ngài cũng chăm chỉ tu hành, cũng trở thành ma tiên. Ma tiên vô cùng linh nghiệm, cho nên liền truyền ra ngoài, sức mạnh của bản thân ngài là rất lớn. Truyền thuyết về bản thân Trát Cơ Lạp Mẫu có rất nhiều, có thuyết nói là Hộ pháp thần của đất Tạng, có thuyết nói là hóa thân của Cát Tường Thiên. Tại sao lại là hóa thân của Cát Tường Thiên? Bởi vì Trát Cơ Lạp Mẫu, Lạp Mẫu chính là tên của Cát Tường Thiên, ở Tây Tạng có một Lạp Mẫu Lạp Thác, thác chính là hồ. Tuy là thác, nhưng biểu thị ý nghĩa của nó là hồ, Lạp Mẫu Lạp Thác chính là hồ của Cát Tường Thiên Nữ. Ngài có hai chữ Lạp Mẫu, cho nên truyền thuyết nói ngài là hóa thân của Cát Tường Thiên.

Lạp Mẫu Lạp Thác, chính là hồ của Cát Tường Thiên Nữ. Tất cả các Hoạt Phật được chứng nhận, đều phải đi đến Lạp Mẫu Lạp Thác, để xem hồ của Cát Tường Thiên, cảnh hồ hiện ra, sau khi xem, xem xem hồ đó hiện ra những gì, vị Hoạt Phật này chuyển thế đến đâu? Chính là từ trong hồ đó nhìn ra được: trong nhà ngài ấy có những ai, hình dáng ngôi nhà, có mấy cái cây, phía trước có thứ gì, phía sau có thứ gì? Ở trong hồ đều có thể hiển hiện ra. Bản thân Cát Tường Thiên mà nói, ngài là vị bói toán lợi hại đệ nhất, cũng tức là thần toán lợi hại đệ nhất. Hồ của ngài chính là Lạp Mẫu Lạp Thác. Trát Cơ Lạp Mẫu bởi vì có cái tên Lạp Mẫu, liền trở thành hóa thân của Cát Tường Thiên Nữ. Cũng có người nói ngài là thân phẫn nộ của Diệu Âm Thiên Nữ. Bản thân tôi cho rằng truyền thuyết về phi tử của hoàng đế Càn Long là câu chuyện truyền kỳ nhất. Cho dù nói thế nào, sự linh nghiệm của ngài là một trăm phần trăm, danh tiếng vang xa, người đến triều bái nườm nượp không ngớt. Người đi bái chùa Trát Cơ nườm nượp không ngớt; người đi chùa Sera rất ít, mọi người đều đi bái chùa Zhashi.

---
# File: sach-tam-linh/016-man-dam-linh-co-than-toan-tap-1.md
# Title: 016. Mạn đàm linh cơ thần toán (Tập 1)
---

![image](/img/img_78a767a927f90f9529be93a3c241dd6e.jpg)



## Mạn đàm linh cơ thần toán (Tập 1)


🪷 Tiết lộ bí mật nghìn năm về linh hồn

Văn tập số: 016
Xuất bản: 01/04/1975
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


Đầu tiên, điều tôi muốn tuyên bố là, cuốn sách này là một cuốn sách rất thần kì, nhưng tuyệt đối không phải là giả, mà là kinh nghiệm thật của tôi, hoàn toàn chân thật không trộn lẫn một chút giả dối nào. Thiên hạ rộng lớn không thiếu những chuyện lạ, nhưng, nếu bạn đọc kĩ cuốn sách này, nên nhận thấy rằng Lư Sư Tôn tôi đã từng gặp được kì ngộ mà người khác có nghĩ cũng không nghĩ được, sự thần kì và bất khả của nó đều sẽ khiến con người sinh sống trong thế kỉ 20 này cảm thấy sửng sốt và không hiểu ra làm sao, thậm chí vì tôi xuất bản cuốn sách này mà có thể dẫn đến sự chú ý của các nhà khoa học và những người nghiên cứu tâm linh, và càng gây chấn động nhân tâm thế đạo.

Trình độ học vấn của tôi là tốt nghiệp đại học, trình độ tri thức mặc dù không xem là cao khiến người ta khó mà với tới, nhưng cũng không phải là hạng ngu phu ngu phụ hời hợt. Tôi hết sức coi trọng giáo dục của bản thân, đối với tôn giáo, triết học, văn học, nghệ thuật, v.v… tôi đều có hứng thú nghiên cứu, tôi cũng đã viết mười mấy cuốn sách, nhưng điều tôi muốn bày tỏ là tôi viết cuốn “Mạn đàm linh cơ thần toán” này là cuốn sách mà tôi viết với một thái độ nghiêm túc nhất, một cuốn ghi chép đáng quý về kinh nghiệm mà tự thân tôi trải qua. Những cảnh ngộ li kì của nó nếu có một câu nào là giả, tôi sẵn sàng nói lời xin lỗi lớn nhất đến những độc giả kính trọng tôi, yêu quý tôi.

Có lẽ có người cho rằng linh học là mê tín, có lẽ có người cho rằng thần cũng là mê tín, đối với những người nói như vậy, tôi nhất loạt đều không phản bác. Tôi chỉ là yêu cầu, trước khi muốn nói là mê tín thì xin dành thời gian để nghiên cứu về linh hồn, xin dành thời gian để tìm hiểu về linh lực, xin dành thời gian để đi lĩnh hội “sức mạnh siêu tự nhiên” (thần). Không biết mà biết là mình không biết thì đó là thật biết. Nếu không biết mà cương quyết nói là biết, cương quyết nói là mê tín, thì đó không phải là thái độ của một học giả. Hôm nay tôi rất mạnh dạn nói rằng: “Phàm ai cho rằng linh học là mê tín, phàm ai cho rằng thần là mê tín, thì chứng tỏ người đó đối với linh là vô tri, đối với thần cũng là vô tri.”

Ngày nay khoa học phát triển thì không sai, nhưng sức mạnh của khoa học muốn đo ra được linh lực siêu cảm giác thì rốt cuộc cũng còn kém cả một đoạn rất xa. Hôm nay tôi viết cuốn sách này toàn là những trải nghiệm tự thân của cá nhân tôi, giả dụ có người cho rằng là mê tín thì xin thứ lỗi cho tôi, bởi vì điều tôi nói là sự thật, tuyệt đối không phải là mê tín, tôi không phải là người đề xướng mê tín, mà là tôi nói ra những lời thành tâm vốn nhiều năm nay bản thân vẫn không dám nói ra. 

Trong cuốn sách này, tôi sẽ nói về việc mình đã khởi linh như thế nào. Làm thế nào mà tiến vào linh giới? Làm thế nào mà làm bạn với linh? Làm thế nào mà mượn linh lực để dự đoán tương lai? Giả dụ có người hi vọng học tập tiếp xúc với linh, tôi có thể truyền thụ mấy chiêu. Tất cả toàn bộ quá trình này không phải là nằm mơ, mà là hết sức chân thực. Tên cuốn sách này là “Mạn đàm linh cơ thần toán”, độc giả đừng cho rằng đây là một cuốn sách đoán mệnh thông thường. Đây là tri thức ở một tầng sâu hơn so với đoán mệnh bình thường. Trong sách tôi cũng nói đến mệnh lí [những triết lí về cuộc sống con người], cũng nói đến linh lực, đồng thời tôi cũng tiết lộ những bí ẩn về linh hồn và thần, hoàn toàn lấy thái độ thảo luận khoa học để phân tích. Hi vọng nhờ xuất bản cuốn sách này mà có thể tạo ra một bước tiến nhận thức đối với linh học và thần học, không khiến mọi người chỉ kêu là mê tín mà tùy tiện coi thường sự tồn tại của nó. 

Có lẽ có người muốn hiểu rõ thân phận của tôi. Ban đầu tôi là tín đồ Cơ Đốc giáo, tôi tốt nghiệp lớp sư phạm của Tín ngưỡng Cơ Đốc - Giáo hội Trưởng lão Tân Hưng ở Cao Hùng, từng được rửa tội, làm giáo viên lớp học ngày chủ nhật, làm thầy giáo lớp tra kinh. Sau đó tôi tiếp nhận Đạo giáo, từng trải qua công đức làm đạo sĩ của phân đường Thạch Bích thuộc Từ Huệ Đường của Hội Đạo Giáo Trung Hoa. Hiện nay tôi tín ngưỡng Phật giáo, tôi thọ giới Bồ Tát ưu bà tắc tại chùa Bích Sơn Nham ở huyện Nam Đầu, quy y đạo sư Ấn Thuận, ba vị thầy thụ giới là Hiền Đốn, Huệ Tam, Giác Quang. Hiện tại tôi trụ trì Từ Huệ Lôi Tạng Tự.

Tôi bẩm sinh đã rất hiếu kì đối với tôn giáo, có niềm hứng thú lớn đối với linh, ví dụ các loại kinh điển của Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, Hiên Viên giáo, v.v… tôi đều nghiên cứu từng cuốn một. Phật, Đạo, Cơ Đốc thì càng không phải nói, đặc biệt đối với “Truyền Đăng Lục”, “Nhân Thiên Nhãn Mục”, “Ngũ Đăng Hội Nguyên”, “Chỉ Nguyệt Lục”, “Tâm Đăng Lục”, v.v… hay những sách quý của Thiền tông, tôi rất tán thưởng. Còn như “Mật Giáo Thông Quan” của Mật tông, tôi cũng từng nghiên cứu và học tập, 
”Đạo Tạng 36 Bộ Chân Kinh” của Đạo gia đều là khóa trình mà tôi ngày ngày bí mật tu học. 

Tôi tin tưởng quan niệm về số mệnh, nhưng tôi cũng tin vào thuyết khai vận lập mệnh, sự việc trong thiên hạ đích thực là rất thần kì. Linh là cái gì? Thuyết thiên đường và địa ngục có phải là thật không? Trong cuốn sách này tôi sẽ có lời giải đáp kĩ càng. Bởi vì thuật thông linh của tôi được rất nhiều người biết, rất nhiều người hiếu kì tìm đến tôi, các nơi trên toàn đất nước đều có, nhưng tôi không muốn vì thế mà nêu cao tên tuổi trong thiên hạ, cũng không muốn làm những việc gây phiền phức và khiến người ta mê hoặc. Vì thế tôi viết cuốn sách này để công bố hoàn toàn những việc này ra, không giữ kín nữa. Tôi không trốn tránh mọi người, mà chỉ muốn yên tĩnh tu hành để cầu đạt đến cảnh giới ở tầng sâu hơn. Nếu người người đều tìm đến thì tôi sẽ chẳng có chút thời gian nào để mà tu. 

Cuối cùng, tôi dẫn lời của Lev Tolstoy: “Mê tín ngu dại nhất chính là có một số nhà khoa học cho rằng nhân loại không cần có tín ngưỡng vẫn sống được.” Hôm nay tôi không dám nói người không có tín ngưỡng đều là người ngu, nhưng người không có tín ngưỡng, người không tin luân hồi quả báo thì càng ngang ngược coi trời bằng vung hơn người có tín ngưỡng, càng không từ bất kì điều xấu xa nào, trong lòng họ càng chẳng có chút gì kiêng kị.

Xin kính cẩn dâng tặng cuốn sách này cho các Thần mà tôi tôn kính, dâng tặng cho bạn bè tâm linh trong giới hư không của tôi.

(Tháng 4 năm 1975)

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Cuộc kì ngộ tài tình


Năm Dân Quốc 58 [năm 1969], có một ngày, mẹ tôi muốn đến một ngôi chùa ở trong vùng để lễ bái. Khi đó tôi là tín đồ đạo Cơ Đốc, theo lí mà nói, tôi sẽ quyết không đi cùng mẹ tôi. Nhưng sáng sớm ngày hôm đó tôi nằm mơ, một giấc mơ rất kì quái. Tôi mơ thấy tôi leo núi, ngọn núi rất cao rất cao, rồi dường như ở trên đỉnh núi có một ngôi chùa rất cổ kính, tôi dù không muốn nhưng vẫn cứ đi vào. Điều kì lạ là tôi không thấy sợ hãi một chút nào, dường như đỉnh núi này quen thuộc giống như đường về nhà, trong chùa có rất nhiều tượng thần được điêu khắc, có tượng thì mang bộ dạng hiền từ, có tượng thì như kim cang trợn trừng mắt. Tôi nhẹ nhàng nhón chân đi vào đại điện, một lão đạo trưởng nhìn thấy tôi thì đứng dậy.

Lão đạo trưởng chắp tay lại nói với tôi: 
“Giờ mới đến sao? Ta đợi anh rất lâu rồi.”
”Đạo trưởng với tôi hoàn toàn không quen biết, sao lại có hẹn chứ?”
”Sao mà không quen biết, băng qua tam giáo, ngao du bốn biển, năm trăm năm một lần gặp, cho dù anh đọa vào địa ngục âm phủ làm ác quỷ thì tôi cũng nhận ra diện mạo vốn có của anh!”
”Đạo trưởng, sao lại nói như vậy?”
”Không đánh anh thì anh không biết.” - Đạo trưởng cầm lên cây phất trần gõ lên đầu tôi, tôi kêu “oái” một tiếng, sợ đến mức toàn thân đẫm mồ hôi, thế là tỉnh khỏi giấc mơ.

Tôi thường rất ít khi mơ, chỉ có một giấc mơ này là rõ ràng nhất, ngày hôm đó lại đúng là ngày chủ nhật, mẹ tôi muốn đến chùa lễ bái, tôi thân làm tín đồ Cơ Đốc thế mà lại đi cùng mẹ tôi. Đương nhiên, tôi chỉ đi theo chơi, tôi không thắp hương, càng không cúi lạy Bồ Tát hay thần minh, tôi xem ngôi chùa như một danh thắng để tham quan. Vào lúc ấy, tôi còn cười cợt một số người cúi thấp đầu mà lạy Bồ Tát, đặc biệt là những người đàn ông mặc đồ Tây mà quỳ mọp xuống đất với một bộ dạng rất ngoan đạo, hết sức nực cười.

Ngôi chùa ấy không lớn, là ngôi chùa loại nhỏ, tên chùa là Ngọc Hoàng Cung, gọi là Ngọc Hoàng Cung chính là vì chùa miếu của Ngọc Hoàng Đại Đế, trụ trì của chùa là hòa thượng tên là Thích Huệ Linh. Trong chùa có rất nhiều Bồ Tát, phần lớn tôi đều không biết. Ngày hôm đó cũng không biết là ngày Tết gì mà người đến lễ bái cũng khá đông, xô đẩy chen lấn nhau, mùi khói hương rất nặng, tôi trốn vào một góc nhỏ trên hành lang bên ngoài chùa. 

Lúc này, tôi chú ý thấy trong số những người đó có một người phụ nữ lớn tuổi mặc áo xanh, tuổi khoảng ngoài 50, bà ấy quỳ trước thần minh, bộ dạng hình như đang nói chuyện với thần minh, có rất nhiều người đứng bên cạnh bà ấy, dường như bà đang giúp người ta giải đáp thắc mắc.

Một lúc sau, bà ấy đột nhiên đứng dậy gọi to: 
“Ai là Lư Thắng Ngạn? Trong số các người có ai là Lư Thắng Ngạn?”
Tôi đứng bên ngoài cửa chùa nhưng cũng nghe thấy, mẹ tôi cũng nghe thấy. Mẹ tôi đi nhanh về phía trước hỏi: 
“Xin hỏi cô tìm Lư Thắng Ngạn có việc gì không?”
”Không phải tôi tìm anh ta, là Bồ Tát thần minh tìm anh ta, mau gọi anh ta đến đây, Bồ Tát có việc dặn dò.” 
Người phụ nữ mặc áo xanh đó sốt sắng nói với mẹ tôi. 

Thế là tôi đứng trước mặt người phụ nữ lớn tuổi đó. Người phụ nữ ấy trông rất kì quái, một mắt xếch lên, một mắt xệ xuống, cái miệng hơi méo, trông cực kì xấu xí. Người xung quanh nói một mắt bà ấy xếch lên là để nhìn trời (thần), một mắt xệ xuống là để nhìn đất (quỷ), tôi đứng trước mặt người phụ nữ này mà chẳng hiểu ra làm sao.

“Anh là Lư Thắng Ngạn?”
”Đúng vậy, không biết có chỉ giáo gì?”
Bà ấy quỳ trước mặt Bồ Tát, thì thầm nói với Bồ Tát mấy câu, và sau đó quay đầu lại hỏi tôi: 
”Anh là tín đồ Cơ Đốc à?”
”Đúng vậy.”
”Anh phục vụ trong đơn vị XX à?”
”Đúng vậy.”
”Anh tốt nghiệp đại học đúng không?”
”Đúng.”
”Giấc mơ chỉ điểm cho anh sáng nay anh có biết không?”

Lần này thì tôi đờ người ra, người phụ nữ lớn tuổi đang quỳ trước mặt tôi đây làm sao mà ngay đến giấc mơ buổi sáng sớm nay của tôi bà ấy cũng biết, trong khi tôi chưa hề kể với ai việc tôi nằm mơ, kể cả mẹ tôi. Tôi nhất thời nảy ra ý nghĩ đến chùa để tham quan thôi, đây đúng là một việc không thể nào tưởng tượng nổi. Bà ấy lại hỏi tôi tiếp, tôi không đáp “đúng” thì cũng đáp “phải”, nghĩa là những gì bà ấy nói hoàn toàn ăn khớp, không có một việc nào sai trật.

“Bồ Tát hi vọng anh có thể đứng ra thay Bồ Tát làm thiện hạnh, truyền đạo giải đáp nghi hoặc, phát huy tinh thần Phật gia, giương cao thiện đè bẹp ác. Hiện nay lòng người thói đời đã bại hoại lắm rồi, có một số nhân vật xấu xa cố ý khoác tấm áo Thần Phật để làm những việc không có tính người, xem tướng cho người ta để lừa tiền gạt sắc, uốn lưỡi như hoa sen nhưng lời lẽ yêu quái mê hoặc chúng sinh, chính đạo thì trầm luân mà tà đạo thì hưng khởi. Từ nay về sau anh có trách nhiệm trọng đại, Bồ Tát thấy tâm anh thiện, hành vi ngay thẳng, cho nên muốn anh thay trời hành đạo.”
”Tôi… tôi chẳng biết cái gì cả.”
”Trước mắt anh chẳng biết cái gì cả, nhưng nếu anh quỳ xuống thì sẽ biết mọi thứ, tôi không lừa anh đâu, đến đây, anh quỳ xuống bên cạnh tôi, hai tay chắp lại.”

Tôi học theo bộ dạng của bà ấy, quỳ trước mặt Bồ Tát, hai tay chắp lại, khi ấy có không ít người xung quanh, ngay cả trụ trì Thích Huệ Linh và mẹ tôi cũng đều đứng ở sau lưng tôi. Hai mắt tôi vừa nhắm lại thì kì tích đột nhiên xuất hiện. Bởi vì khi hai mắt nhắm lại, trước mắt đột nhiên xuất hiện một vầng hào quang, trong hào quang xuất hiện ba vị Bồ Tát đang ngồi trên hoa sen, kim thân bảy sắc, tỏa sáng rực rỡ. Tôi nói điều này tuyệt đối không phải là mơ, tuyệt đối không phải là mơ, mà là tận mắt tôi ngay tại ban ngày nhìn thấy. Vị Bồ Tát ở giữa mở miệng nói: “Nhất tâm học Phật.” Hai vị Bồ Tát ở hai bên mở miệng nói: “Nhất tâm học pháp.” và “Nhất tâm hướng thiện.” Nói xong thì lập tức biến mất. Tiếp đó, từ không trung giáng xuống một tấm vải đỏ tỏa ánh vàng kim xán lạn, trên tấm vải đỏ đó có viết hai chữ vàng rất lớn, là hai chữ “trung nghĩa”. Tai tôi nghe thấy âm thanh không biết từ đâu truyền đến: “Kim Ngọc Đế đặc biệt ban hạ hai chữ “trung nghĩa” làm nguyên tắc xử thế làm người cả đời của con, phàm việc gì cũng phải hỏi lòng mình trước có thể làm hay không thể làm, ngửa mặt không thẹn với trời, cúi mặt không hổ với đất, thoải mái tự nhiên đạo tự sống mãi, thoải mái tự nhiên tồn tại cùng trời đất.”

Tôi tận mắt nhìn thấy chữ vàng viết trên tấm vải đỏ, không hề giả dối. 
”Anh nhìn thấy chưa?” - Người phụ nữ đó hỏi tôi.
”Nhìn thấy rồi, cũng nghe thấy rồi, nhưng điều này sao có thể chứ?”
”Có rất nhiều việc trong thiên hạ anh có nghĩ cũng chẳng nghĩ nổi đâu, hôm nay, tóm lại là anh đã nhìn thấy và nghe thấy rồi, dần dần, anh cũng sẽ hiểu thế giới kì dị trong cõi vô hình, anh sẽ biến thành một con người khác hẳn với phàm phu bình thường, nhìn thấy cái mà người ta không nhìn thấy, nghe thấy cái mà người ta không nghe thấy, cảm giác thấy cái mà người ta không cảm giác thấy.” - Người phụ nữ mặc áo xanh nói: “Thần minh sẽ từ từ chỉ điểm cho anh.”

Tại ngôi chùa đó, tôi không tin điều tôi gặp phải là sự thật, nhưng sự thật ấy khiến tôi không thể không tin.


### 02. Câu chuyện trong chùa


Ở trong chùa, người phụ nữ mặc áo xanh kể cho tôi một câu chuyện như sau.

Đường Trung Sơn tại Hoa Liên có một người họ Lí tên Thiên Tứ, nghề nghiệp của anh ta là làm công việc điêu khắc và sơn cho chùa, ví dụ sơn con rồng trên đỉnh ngôi chùa nọ, v.v… Anh ta không tin thần, không có tín ngưỡng tôn giáo. Có một lần anh đến phân đường Thạch Bích thuộc Hoa Liên Từ Huệ Đường làm việc tại miếu Diêu Trì Kim Mẫu. Sau khi hoàn tất công việc, anh đi lại nhìn quanh khắp nơi trong chùa, đi đến trước bức tượng thần của Kim Mẫu, không vì lí do gì mà hai tay chắp lại, cúi đầu lạy, cái lạy này cũng chỉ có chừng mực.

Nhưng rồi khi anh cúi đầu xuống thì không ngờ lại không ngẩng lên được, tự bản thân trong lòng biết, nhưng cái đầu giống như nặng nghìn cân, đè anh ta đến mức anh hết sức căng thẳng mà kêu thét lên. Trụ trì của ngôi miếu này và người trông nom miếu cũng căng thẳng mà quỳ xuống. Sau khi mọi người hiểu rõ tình huống thì vội vã quỳ xuống cầu thần minh tha cho anh. Khi ấy người phụ nữ mặc áo xanh (tức là người phụ nữ kể câu chuyện này) cũng có mặt ở đó, bà ấy lập tức cung thỉnh chỉ thị của thần. Chỉ thị của thần minh như sau: “Người này không tin Thần ta, nhưng lại có duyên với ta, ta phải cho hắn biết giữa trời đất cũng có thần tồn tại, lệnh cho hắn phục lạy ta hai mươi cái thì ta sẽ để cho hắn đứng lên.” Nói ra thì cũng kì quái, sau khi Lí Thiên Tứ liên tục chạm đầu xuống đất lạy hai mươi cái xong thì đầu anh ta thật sự có thể ngẩng lên được.

Lí Thiên Tứ cứ hét lên suốt: “Hầy! Quả nhiên có thật!” Kể từ đó, anh công nhân quét sơn này không dám không tin thần nữa, có thời gian anh thường xuyên đến chùa làm việc, gặp người ta là anh sẽ kể lại câu chuyện này của mình.

Lại nói, người phụ nữ mặc áo xanh này cũng chính là đạo sĩ phái Đạo giáo Diêu Trì, thuộc phân đường Thạch Bích của Từ Huệ Đường, xem ra, việc học Đạo của tôi là khởi đầu từ bà ấy. Khi tôi chưa gặp bà ấy thì tôi là tín đồ Cơ Đốc, sau khi gặp bà ấy thì niềm tin tôn sùng Đạo giáo của tôi dần dần tăng trưởng. Người phụ nữ già này có con mắt âm dương, đoán mệnh cho người ta thì chẳng cần phải nói, cứ gọi là linh nghiệm như thần, ngay cả đến tên mụ của ông bà bạn thì bà ấy cũng đều có thể gọi ra được ngay, thần quỷ và bà ấy là bạn tốt, bà ấy đúng là một nhân vật kì quái nhất trong thiên hạ. 

Vào lúc tế tổ tiên, nếu bạn có thể mời bà ấy đến nhà bạn, tổ tiên đã khuất của bạn khi ấy mặc trang phục gì, trông hình dáng như thế nào, trên tay đeo nhẫn như thế nào, có đặc trưng gì, tổ tiên có lời gì dặn dò, bà ấy đều có thể lần lượt nói ra hết, linh nghiệm khiến người ta trợn mắt há mồm. Chuyện của tổ tiên thì người ngoài làm sao mà biết được chứ, huống hồ tổ tiên đã qua đời rồi, lúc đó thì vị thầy của tôi (người phụ nữ mặc áo xanh) còn chưa ra đời cơ mà! Hành vi cả một đời của bà ấy khiến rất nhiều người văn minh hiện đại lắc đầu. Nếu tin thì trên đời làm sao có chuyện như thế, còn nếu không tin thì sự thật lại bày rõ ra trước mắt, thật khiến người ta rất khó hiểu!

Gặp phải những chuyện kiểu này, chuyện kì quái, tôi còn có thể nói cái gì chứ? Đã thế, những sự việc kì dị hơn lại phát sinh tiếp. 


### 03. Vân du huyễn cảnh trong vũ trụ


Vào cái hôm đến chùa để tham quan đó, tôi trở về đơn vị đo đạc của mình để đi ngủ. Khi ấy tôi 25 tuổi, chưa kết hôn, sống một mình trong căn phòng đơn ở kí túc xá. Tôi nghĩ đến chuyện xảy ra lúc ban ngày, nằm trên giường mà không thể nào ngay lập tức chìm vào giấc ngủ được. Đột nhiên tôi ngửi thấy từng đợt mùi thơm đàn hương, hai mắt nhắm lại. Trong lúc lơ mơ, trước mắt tôi không ngờ xuất hiện một vòng ánh sáng, vòng ánh sáng đó sáng như gương, xung quanh vòng ánh sáng tựa như lấp lánh ánh vàng kim. Lúc này, thân thể tôi như nhẹ nhàng bay lên, bay vào bên trong vòng ánh sáng, chỉ nghe thấy tiếng gió thổi vù vù, dường như bản thân bay đi rất xa rất xa. Lúc này tôi phát giác ra đây là một thế giới khác, không ngờ mình đã đến một thế giới khác rồi.

Trong cõi mênh mông, tôi cảm nhận một cách hết sức rõ ràng rằng đây là cảnh giới hư ảo của vũ trụ. Tôi được một sức mạnh nào đó dẫn dắt, du hành qua cảnh giới hư ảo của thái hư. Tại nơi đó, tôi thấy rất nhiều chư Phật Bồ Tát, các Ngài cùng tôi cúi đầu chào nhau, nhưng không có vị nào tôi quen biết. Tôi thấy từng đóa hoa sen to như bánh xe, hoa sen có nhiều màu khác nhau, trên mỗi đóa hoa sen đều có một đồng tử đứng, mỗi đồng tử đều cầm hoa sen với màu sắc khác nhau. Tôi thấy từ không trung có bậc thang buông xuống, xung quanh đứng đầy thần mặc giáp vàng, khói mây lan tỏa khắp nơi. Tôi thấy lầu gác được chạm khắc vô cùng tinh xảo, ánh sáng từ vàng bạc lưu ly tỏa chiếu khắp nơi. Tôi thấy hai cây cột đứng sừng sững giữa trời mây, có người nói thầm bên tai tôi rằng, một cột là núi Côn Luân, một cột là núi Tu Di. Lúc này, tôi dạo bước tới một ngôi chùa lớn ở trong một ngọn núi, bên tai có người nói với tôi: “Vị này chính là XX, tiền thân của ngài, nếu ngài không tin, khi tỉnh lại, có thể tra cuốn kinh điển kia, trang 89, trong đó có họ tên tiền thân của ngài. Căn cơ của ngài là thiên cơ, đừng có để lộ ra, nếu hé lộ thì sẽ bị trời phạt.”

Tôi dạ dạ vâng vâng đồng ý, vì vậy xin thứ lỗi cho tôi không có cách nào tiết lộ họ tên tiền thân của mình, bởi vì thật sự là không thể tiết lộ thiên cơ! Tôi lại du lịch đến rất nhiều nơi, nói thẳng ra là tôi nhìn thấy điều chưa từng nhìn thấy, nghe thấy điều chưa từng nghe thấy, khi tỉnh dậy thì đã bảy giờ sáng rồi.

Căn cứ theo chuyến du lịch đêm qua, tôi chạy đến nhà in Thụy Thành nơi chuyên môn bán kinh Phật ở Đài Trung, tìm được cuốn kinh điển nọ mà thần minh đã chỉ thị. Tôi vội vàng giở đến trang 89 thì giật mình sửng sốt, quả nhiên trên trang đó có cái tên XX. Tôi ngây ra tại chỗ, vừa vui vừa buồn, giờ đây tôi đã xác minh được rồi, không sai một chút nào! Con người có luân hồi sao? Tôi có thể phủ nhận chuyến vân du đêm qua là giả sao? Kể từ đó, tôi tin vào thuyết quả báo luân hồi. Viết đến đây, tôi vẫn còn cảm thán điều mình đã gặp phải thật sự là bất bình thường, từ đó đã kích thích bản thân đời này không tu hành thì còn đợi đến khi nào. Tôi đã mua rất nhiều kinh điển Đạo giáo, cũng mua rất nhiều kinh điển Phật giáo, vào lúc ấy, tôi vẫn không có cách nào phân biệt được cái gì là Đạo, cái gì là Phật, Phật giáo và Đạo giáo có khác biệt ở đâu.

Tôi nói rất thật lòng, kể từ sau chuyến du lịch đến huyễn cảnh vũ trụ đó, tôi từng nghĩ có ý muốn trải nghiệm một lần nữa, tôi thật sự rất muốn đi xem một lần nữa, cho dù chỉ trong mười phút cũng được, nhưng chỉ có một lần đó mà thôi, sau này khi tôi lại muốn đi thì cũng chẳng bao giờ xuất hiện lại nữa. Tôi từng cầu thần minh nhưng không có hồi âm, dường như trong cuộc đời này, tôi chỉ có thể trải nghiệm một lần, không thể nào du lịch lại lần thứ hai vậy. 

Tôi từng kể với một người xuất gia về chuyến vân du huyễn cảnh vũ trụ. Người xuất gia đó ở sau lưng tôi nói với người ta rằng: “Lư Thắng Ngạn nói bậy!”


### 04. Sư phụ ẩn hình


Hai hôm sau, ban đêm đúng lúc tôi đang an giấc thì đột nhiên nghe thấy có người gọi tên mình. Tôi vùng dậy ngồi lên, kinh nghiệm mấy lần khiến tôi cảm thấy rằng biết đâu lại có tình huống lạ. Đưa mắt nhìn bên trong phòng, không có bóng dáng người nào cả, tôi nhìn ra bên ngoài cửa sổ, chỉ có vầng trăng đang treo trên bầu trời đêm. Tôi cầm đồng hồ đeo tay lên, nhờ ánh trăng soi vào để nhìn thì đúng một giờ đêm. Khoác áo khoác và bước xuống khỏi giường, tôi bật đèn huỳnh quang lên, ánh đèn huỳnh quang rất chói mắt. 

“Thắng Ngạn, đứng nguyên tại chỗ chớ động đậy, ta phụng chỉ truyền Đạo pháp cho con, con chắp hai tay lại, hãy học thuộc bộ pháp, nhất thiết phải ghi nhớ.” Trong phòng không có người, nhưng tôi không hề sợ hãi, bởi vì Ngài đến truyền Đạo pháp cho tôi. Tôi nhắm mắt lại, chắp tay, nói ra cũng kì lạ, tôi không có ý nhấc chân lên, nhưng có một sức mạnh khó hiểu nào đó nhấc chân tôi lên, thậm chí tôi muốn hạ chân xuống cũng không hạ được, chân cứ theo một trật tự nào đó mà bước đi những bước rất kì quái. Giả dụ khi ấy có người đứng ngoài cửa sổ nhìn lén thì họ nhất định sẽ cho rằng Lư Thắng Ngạn điên rồi. Tôi điên rồi sao? Không hề, thật sự là Ngài dùng linh lực để nhấc chân tôi lên, tôi luyện tập nhiều lần rồi ghi nhớ được bộ pháp.”

“Đây là bộ pháp gì? Có công dụng gì?”
”Đây là bộ pháp Tham Tinh Bái Đẩu, dùng khi cúng tế ở từ đường, dùng khi thỉnh thần, dùng khi bấm tay niệm chú, chớ coi thường công dụng của nó, pháp này đã thất truyền nghìn năm rồi! Không gặp lúc cần thiết thì không được tùy ý sử dụng.”
”Vậy bình thường con thỉnh thần thì dùng pháp gì?”
”Thắng Ngạn, con chỉ cần mở miệng xưng Đạo: Đệ tử Liên Sinh thuộc giáo phái Tam Thanh, phụng tiên thiên vô cực chính pháp, phụng thỉnh thần nào đó hạ giáng lập tức. Ngoài ra sau này cơ duyên thành thục, ta sẽ chỉ điểm cho con bái một người làm thầy, người này hiện tại đang ẩn cư ở núi Liên Đầu, có duyên thầy trò với con, người đó đã chứng được lục giáp thiên thư phù lục, sau này con phải đắc được lục giáp thần ấn, đắc hết lục giáp bí thuật, đến khi ấy tự nhiên ứng nghiệm.”

“Những điều này nghe như truyện thần thoại.” - Tôi có hơi không tin.
”Thần thoại hay không thần thoại thì tạm cứ kệ nó, hôm nay ta phụng chỉ truyền Đạo pháp cho con, cảnh ngộ của con từ lâu đã biến thành thần thoại rồi.”
”Tôn tính đại danh của tiên sinh là gì?”
”Không từ đâu đến, đi cũng không dấu tích, chẳng hề từ đâu đến, cũng không đi về đâu, ta vốn vô danh, con cứ gọi ta là Linh Sư đi!”

Vị Linh Sư tiên sinh này tôi không nhìn thấy được Ngài, nhưng Ngài đích thực là thường xuyên ở bên tôi, canh ba nửa đêm giục tôi thức dậy, truyền Đạo pháp cho tôi. Tôi coi Ngài là thầy, còn Ngài thì xem tôi như anh em, tôi có tâm sự đều không ngần ngại kể với Ngài, đêm khuya yên ắng, một mình tôi rủ rỉ tán gẫu với Ngài. Mặc dù tôi không nhìn thấy Ngài, nhưng mà lại có thể cảm giác được sự tồn tại của Ngài. Ngài dạy tôi luyện thủ pháp, tay tôi tự động hóa thành rất nhiều hình thái, ví dụ tay Quan Âm, ấn Di Đà, ấn hoa sen, ấn độ chúng sinh, ấn ngũ lôi, bàn tay sấm sét, đại phiên thiên ấn, ấn Mâu Ni, ấn kiếm, ấn Thiên Vương, v.v… Ngài lần lượt truyền thụ cho tôi. Hơn nữa, Ngài cũng truyền dạy cho tôi luôn thủ pháp diễm khẩu hóa thực của Phật gia. (Sau này tôi chứng minh được rằng, vào Tết Trung Nguyên, hòa thượng tĩnh tọa làm thủ pháp hóa thực khá giống với thủ pháp mà Linh Sư truyền dạy cho tôi, nhưng thủ pháp của tôi lại không giống với thủ pháp của hòa thượng, nguyên nhân là thủ pháp của tôi là do Linh Sư truyền, còn hòa thượng thông thường là thầy trò truyền từ đời này đến đời kia.)

“Linh Sư, thầy chứng đạo gì?”
”Người người gọi ta là Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, ta lấy pháp lập đạo, chính là thần tiên thượng thừa.”

Linh Sư phụng chỉ truyền Đạo pháp cho tôi, lúc có lúc không, tôi thu hoạch được rất nhiều lợi ích. Còn như việc bấm tay niệm chú thì cứ một lần truyền một pháp. Tôi từ một tín đồ Cơ Đốc thuộc lòng “Tân Cựu Ước Toàn Thư” bất thình lình biến thành người học Đạo dưới giáo phái Tam Thanh, đây là điều mà khi rửa tội tôi có nghĩ cũng chẳng thể nghĩ được.

“Linh Sư, còn đạo Cơ Đốc thì sao?”
”Cơ Đốc chính là một phương pháp cứu thế, pháp mặc dù không giống, nhưng nguyên tắc số một của nó là độ hóa người phương tây, nếu không phải Jesus thì không thể thực hiện được sự nghiệp ấy, còn độ người phương đông là Phật giáo và Tam Thanh.”
”Thì ra là như vậy, như thế thì cũng không xung đột gì.”
”Cơ Đốc là Thượng Đế (Cha), Jesus (Con), Thánh linh, ba vị một thể. Đạo là Thượng Thanh, Ngọc Thanh, Thái Thanh, ba vị một thể. Phật là Báo thân, Ứng thân, Pháp thân ba vị một thể. Con đường là như nhau, phân làm nghìn nghìn vạn vạn pháp môn thôi!”


### 05. Nhân duyên cúng dường Quan Thế Âm Bồ Tát


Trước kia khi tôi chưa thờ tượng Phật, mẹ tôi mặc dù có đi lễ nhưng trong nhà không có một bức tượng Phật nào. Mẹ tôi đi lễ chỉ là lễ tổ tiên, người nhà tôi tuyệt đối không thể ngờ rằng vào một tương lai không xa, nhà tôi lại biến thành một Phật đường lớn, hơn nữa chỉ trong vòng một khoảng thời gian ngắn ngủi vài năm đã xảy ra. Tôi tu tập Đạo pháp vẫn luôn tiến hành trong bí mật, không ai biết gì, đương nhiên là bao gồm cả đồng nghiệp và người nhà, đây là điều Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh đã dặn dò tôi, Ngài đặt cho tôi pháp hiệu là Liên Sinh. 

“Linh Sư, con có thể cúng tượng Phật và lễ bái các Thánh Thần Tiên Phật không?”
”Có thể, ở đây có ẩn giấu nhân duyên lớn. Không giấu con, nhà con sau này sẽ là một Phật đường lớn đó!”
”Thờ Bồ Tát nào là tốt nhất?”
”Thấy thích là được.” - Linh Sư không trả lời tôi cụ thể.
”Có thể thờ tượng thần của Linh Sư không?” - Tôi nghĩ, Ngài là vị thầy ẩn hình của tôi, đương nhiên tôi muốn thờ cúng Ngài rồi.
”Người đời không biết diện mạo thật của Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh ta, trong “Hoàng Đình Kinh” có ẩn cái tên ấy, ẩn thân giữa trời đất, ẩn hình trong biển núi, ngày nay không có ai biết ta, làm sao mà con thờ cúng ta được? Ta sinh thói lười nhác rồi, con không cần thờ cúng ta, con thờ cúng các Thần Phật khác đi!”
“Thờ cúng Bồ Tát có công đức không?”
”Phật nói: cơm cúng trăm kẻ xấu không bằng cơm cúng một người tốt, cơm cúng nghìn người tốt không bằng cơm cúng một người giữ năm giới, cơm cúng vạn người giữ năm giới không bằng cơm cúng một vị Tu Đà Hoàn, cơm cúng trăm vạn Tu Đà Hoàn không bằng cơm cúng một vị Tư Đà Hàm, cơm cúng nghìn vạn Tư Đà Hàm không bằng cơm cúng một vị A Na Hàm, cơm cúng một trăm triệu A Na Hàm không bằng cơm cúng một vị A La Hán, cơm cúng một tỉ A La Hán không bằng cơm cúng một vị Bích Chi Phật, cơm cúng mười tỉ Bích Chi Phật không bằng cơm cúng một vị Tam Thế Chư Phật, cơm cúng một trăm tỉ Tam Thế Chư Phật không bằng cơm cúng một vị vô trụ vô tu vô chứng. Liên Sinh, cơm tức là cúng dường, con có hiểu không?” 
”Con hiểu.” - Tôi cung kính trả lời.

Có một lần, khi đến tòa nhà tổng hợp Đài Trung, trong một cửa hàng đồ sứ ở trên tầng hai, rất bất ngờ tôi nhìn thấy một vị Quan Thế Âm Bồ Tát nổi bật hẳn lên. Vị Quan Thế Âm Bồ Tát bằng sứ này có màu xanh nhạt, hơi xám, tướng mạo trang nghiêm, ngồi trên đài hoa sen, cao khoảng tám thốn [khoảng 18cm]. Tôi vừa trông thấy thì trong lòng đã thích rồi, bèn hỏi giá. Ông chủ cửa hàng đồ sứ đó nói: “Vị Quan Thế Âm Bồ Tát này là người ta đã từng thờ cúng rồi, bởi vì tay Bồ Tát vốn cầm tịnh bình nhưng tịnh bình đã bị vỡ mất, chủ nhân cho rằng đây là điềm không lành, cho nên gửi tôi bán. Người đó cho rằng chỉ cần có người muốn mua thôi, giá thì rất rẻ, tính anh 50 đồng đi!”
”50 đồng, chà, rẻ quá! - Tôi mua ngay không chút lưỡng lự. Tôi đem bức tượng Quan Thế Âm Bồ Tát về căn phòng đơn ở kí túc xá nơi tôi phục vụ, bày ở trên bàn học của tôi, nhân tiện tôi cũng mua một bát hương nhỏ bày ở trước mặt Bồ Tát, buổi tối tôi thắp một que hương, trong lòng vô cùng hoan hỉ. 

Đêm ấy, trong lúc mơ mơ màng màng, tôi nhìn thấy trong một vùng đại dương mênh mông từ từ nổi lên một đóa hoa sen tuyệt đẹp, trên hoa sen có một vị Quan Thế Âm Bồ Tát pháp tướng trang nghiêm đang ngồi, từ xa đến gần, khuôn mặt Bồ Tát tươi cười, còn trên bầu trời thì đầy những áng mây ngũ sắc, trong đám mây đứng sừng sững một vị thần Hộ pháp mặc giáp vàng, tay cầm chày hàng ma. Sau này tôi mới hiểu đó là pháp tướng của Vi Đà Hộ Pháp Tôn Thiên Bồ Tát, tướng mạo đường đường, uy phong lẫm liệt. Vi Đà Tôn Giả trong không trung hét lớn: “Liên Sinh, ta phụng pháp chỉ của Bồ Tát, Phật đường ở nhà anh sẽ có tên là “Từ Huệ Lôi Tạng Tự”, nhớ lấy, nhớ lấy.” Nói xong câu này, Vi Đà Bồ Tát và Quan Thế Âm Bồ Tát đều biến mất, còn tôi lập tức tỉnh dậy, cẩn thận nhớ lại những tình cảnh trong giấc mơ, rồi lại nhìn vào Quan Thế Âm Bồ Tát mà tôi vừa mới thờ cúng hôm nay, điều khiến tôi sửng sốt là tôi phát hiện ra Quan Thế Âm Bồ Tát trong mơ và Quan Thế Âm Bồ Tát mà tôi thờ cúng không ngờ lại giống hệt nhau. Tôi leo ra khỏi giường, đến trước mặt Bồ Tát, tôi cung kính rập đầu ba lần, đúng lúc tôi đang rập đầu thì trong phòng ngào ngạt mùi thơm của gỗ đàn hương, thì ra là Linh Sư đến.

“Linh Sư, con làm đúng chưa?”
”Liên Sinh, hôm nay con thờ cúng Quan Âm Bồ Tát, sau này Bồ Tát sẽ vì nhân duyên này mà cứu con một mạng.”
”Cứu con một mạng ư?”
”Đúng vậy. Thời cơ chưa đến, không tiện nói trước.”
Lời của Linh Sư quả nhiên ứng nghiệm, ở chương sau tôi sẽ nói đến, thật sự khiến người ta không rét mà run.

Trong thời gian tôi thờ cúng Quan Thế Âm Bồ Tát, chủ quản đơn vị mà tôi phục vụ là đội trưởng Trang đã từng mời bố mẹ tôi đến đội. 
”Ông Lư, ông xem con trai ông, hắn hành động quái dị, trong kí túc xá mà thờ Bồ Tát, lẽ nào có vấn đề gì đó?” - Đội trưởng Trang hỏi.
”Chắc là không có gì đâu! Nó tín ngưỡng rất chân thành, nói chuyện rất tỉnh táo, không biết như vậy có ảnh hưởng gì đến quý đơn vị không?” - Bố tôi nói.
”Không có, nhưng mà tôi cứ cảm thấy hắn không bình thường, có chút kì quái, chẳng ngờ hắn lại đoán tôi trung tuần tháng bảy sẽ bị điều đi Đài Bắc, hắn học xem bói từ bao giờ thế? Từ bây giờ đến trung tuần tháng bảy còn cả nửa năm nữa lận!”
”Xem bói ư? Điều này ngay cả tôi cũng không biết nữa!” - Bố tôi nói.

Sự thật đã chứng minh, đội trưởng Trang vào ngày 27 tháng 7 đã được vinh dự điều đi Đài Bắc, sau sự việc ấy gặp ai ông ấy cũng nói thần toán của Lư Thắng Ngạn vừa chuẩn vừa linh. Đội trưởng Trang tên đầy đủ là Trang Minh Thạch, người Khê Hồ, Đài Loan. Tôi tính bát quái cho đội trưởng Trang, bát quái là Linh Sư truyền thụ cho tôi. Linh Sư nói: 
“Đạo sau khi thái cực phân chia thì định ra lưỡng nghi, tiếp hợp thành tứ tượng, tới phân biệt bát quái, rồi hiện ra cửu cung. Thiên, địa, lôi, phong, trạch, thủy, hỏa, sơn, trong tám tám sáu mươi tư quẻ đã bao hàm mọi huyền cơ và biến hóa, nếu con học được thì có thể thấy trước được nhân vật, sự việc, địa điểm, sự vật, mặc dù chưa hẳn đã thành Tiên, nhưng cũng không khác gì Địa Tiên đâu!”
“Linh Sư, giả dụ có người không tin thì sao?”
”Ôi! Người phúc mỏng thì kiếp trước đời này nhân duyên rất nông, cái căn tin đạo không sâu, xếp vào hạng thấp kém, nên cho dù thế nào cũng không gặp được kì duyên này. Cho dù họ có tình cờ gặp được nhân lành, mặc dù cùng nghe được chính pháp nhưng lập tức nghi hoặc, chắc chắn sinh ra tâm chướng ngại, không thể ân cần tiếp nhận và duy trì, khiến cho khó tránh được sinh lão bệnh tử, khiến tự mình chìm vào đau khổ, vĩnh viễn không có ngày thoát ra, rất đáng thương đó. Liên Sinh, nếu như gặp những người như vậy, con cũng khó cứu độ, cứ để cho họ tự sinh tự diệt thôi!”


### 06. Học đạo ở núi Liên Đầu


Do Linh Sư chỉ dẫn, tôi đã đến núi Liên Đầu bái Thanh Chân Đạo Trưởng làm thầy. Đạo gia có một nghi thức quy y gọi là “qua công đức”, thế là dưới sự dạy dỗ của thầy Thanh Chân Đạo Trưởng, tôi đã qua được công đức, chính thức trở thành một người tu Đạo. Có lẽ độc giả sẽ khó hiểu, ở Đài Loan nhiều núi và sông nổi tiếng như vậy, nhưng vì sao không có ngọn núi nào tên là núi Liên Đầu? Trên thực tế núi Liên Đầu này chỉ là tên riêng của một ngọn núi trong số các ngọn núi lớn, không có nhiều người biết đến. 

Thanh Chân Đạo Trưởng là người xuất thân từ Đại Lục, ngoài 80 tuổi, từ sớm đã học Đạo ở núi Thanh Thành, nhà tục mang họ Trương, cùng họ với Trương Thiên Sư. Sau khi đến Đài Loan thì thầy liên tục ẩn cư không rời núi, trên cả một quả núi chỉ có một căn nhà lá, một con người, mấy mảnh ruộng núi, bên trong nhà lá thờ phụng tượng Tam Thanh. Theo như Linh Sư kể với tôi: “Thanh Chân Đạo Trưởng đã không còn là phàm thai, thế nhân không biết diện mạo thật của ngài, tu chân dưỡng tính 50 năm, những bí quyết tâm linh từ lâu đã hiểu rõ, ban đêm có thuật xuất thần. Con bái ông ấy làm thầy thì tuyệt đối không sai đâu. Mặc dù ông ấy không thích nhận đồ đệ, nhưng nếu con đi, ông ấy không nhận không được. Lục giáp thần thuật trong bụng ông ấy nếu truyền thụ tiếp thì sẽ bổ ích cho con lắm.”

Lần đầu tiên gặp Thanh Chân Đạo Trưởng, thầy ấy ti hí hai mắt hỏi: “Đến đây có việc gì?”
”Do Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh chỉ dẫn, Liên Sinh đặc biệt đến đây cầu minh sư.” - Hai chân tôi vừa quỳ xuống thì đầu cũng rập xuống đất.
”Bát tự của anh thế nào?”
”Sinh vào giờ Ngọ ngày 18 tháng 5 năm Ất Dậu.”
Vị Thanh Chân Đạo Trưởng kia giật nảy mình, ấp úng nói: 
“Thì ra anh sinh cùng giờ cùng ngày cùng tháng với Tổ sư Trương Thiên Sư. Đứng dậy, đứng dậy, mau đứng dậy đi, đừng có lạy tôi nữa, tôi biết anh rồi, tôi nhận ra anh rồi.”

Nói ra cũng kì lạ, tôi và Thanh Chân Đạo Trưởng dường như đã từng gặp mặt. Tôi nghĩ ngợi, ngẫm nghĩ rất lâu, đột nhiên tôi đã tỉnh ngộ, Thanh Chân Đạo Trưởng chẳng phải chính là vị Đạo trưởng có hẹn với tôi mà tôi đã gặp trong giấc mơ đầu tiên của tôi sao? Đạo trưởng từng dùng phất trần đánh vào đầu tôi, còn thầy tôi Thanh Chân Đạo Trưởng cũng có một cây phất trần. Tôi kể với thầy giấc mơ kì lạ đó của tôi, thầy ấy cười vang ha ha và không nói gì.

Thầy tôi truyền thụ Đạo pháp, chú trọng đến phương diện phù chú đan đỉnh. Thuật phù lục của tôi đại bộ phận đều do thầy truyền thụ cho tôi, chú ngữ là do Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh truyền thụ. Thuật đan đỉnh có liên quan với cố bản phản nguyên, đều là bí thuật trong đại pháp Cửu chuyển huyền công. Thanh Chân Đạo Trưởng dạy tôi một câu khẩu quyết: “Đại đạo nghịch chuyển, ai đắc được nghịch chuyển, chính là Đại La Tiên.” 

Thầy nói: “Liên Sinh, cố bản là trở lại diện mạo vốn có, tinh khí thần thất tán từ chỗ nào thì phải thu về từ chỗ đó. Việc thoát khỏi lớp vỏ và bay lên không hề là mê tín, cũng không hề là chuyện không thể, có vẻ là thần thoại, kì thực không phải là giả, cái này chính là sự tu luyện linh thể, phàm phu làm sao có thể hiểu được chứ!”

Tôi học tập Đạo pháp không phải là trọn cả năm cả tháng sống tại núi Liên Đầu, mà là vào thời gian nghỉ phép tôi mới đi. Tôi là một người sống trong trần tục, không cách nào toàn tâm toàn ý đặt toàn bộ thân tâm mình vào phương diện này. Mặc dù như vậy nhưng tôi học rất nghiêm túc. Thanh Chân Đạo Trưởng cổ vũ tôi nhất định phải học cho tốt để biết ứng dụng, để dùng vào việc cứu đời cứu người sau này, đồng thời phải phá bỏ những thần côn tả đạo tà ác mượn danh nghĩa Tiên Phật để lừa tiền gạt sắc, và ngăn chặn những mị pháp tà thuật, truyền thụ thần chú hộ thân kim cang bất hoại cho tôi, vì tôi mà giảng giải rất nhiều Đạo pháp.

Thầy tôi nói: “Cứu độ muôn sinh trong thiên hạ phải phát đại từ bi, tuyên truyền rộng rãi chính giáo ngay từ lúc này, để cho các thiên hạ và đời tương lai đều được truyền bá giáo pháp, khiến cho những gì chúng sinh chưa thấy thì được nhìn thấy, những gì chưa nghe thấy thì được nghe thấy, ba nghìn đại thiên thế giới và các chúng sinh, các thế hệ thánh hiền vì việc truyền pháp của con mà hiểu rõ bản tính của mình, còn những hạng ngu muội hồ đồ thì đều vì con truyền chính giáo mà có thể hiểu ra.” Lại nói: “Giữa trời đất đã có chính khí tồn tại thì sẽ không còn phải đi nghĩ sự tồn tại của tà khí nữa, bởi vì sự tồn tại của tà pháp tà khí chính là vì chính khí không thịnh hành nên tà khí mới thừa cơ mà đi vào, nếu chính khí lưu hành thì tà khí đều bị đẩy lùi. Phàm là người tu đạo đều nên thấy như vậy. Cái gọi là tu đạo là con người nhận khí của trời đất mà sinh ra, không thể có chính mà vô tà, nên phải khiến cho tà khí tiêu tán, chính khí thường tồn, lấy việc tu đạo vô thượng chí chân thì không có chuyện ta phải chịu cái hại này, đắc được pháp sống lâu không chết cũng chính là có thể đắc đạo rồi.”

Thầy tôi hỏi tôi:
”Liên Sinh, con có muốn biết thuật thần toán quá khứ vị lai không?”
”Con muốn.”
”Một bộ kinh Hoàng Cực, nếu con nghiên cứu sâu, ta lại truyền cho con “linh cơ thần toán”, việc trong thiên hạ con sẽ nắm chắc trong lòng bàn tay.”

Thanh Chân Đạo Trưởng đã đánh thức tôi từ một thân thể máu thịt của kẻ phàm phu tục tử để nhận ra linh mệnh vốn có trên người tôi. Linh mệnh này vốn là thật, chỉ là khi nó ra khỏi thai mẹ thì đã bị nhốt kín lại trong nhục thể này, trở thành một linh mệnh chết, cho đến tận khi nhục thể này chết đi thì linh mệnh mới có thể hiển hiện ra. Linh mệnh là thật, nhục thể là giả, linh mệnh này chính là linh hồn mà người bình thường vẫn gọi.

Nói ra thì rất kì lạ, nhưng linh hồn của một con người nếu tỉnh lại thì người này sẽ nhờ tác dụng của linh hồn của mình mà có thể thấy được một số thần, người, ma quỷ của linh giới, có người chỉ có cảm giác, có người thì có thể nhìn thấy bằng mắt (con mắt âm dương), có người thì có thể nghe thấy (tai quỷ thần). Và ứng dụng tác dụng linh hoạt của linh hồn có thể mượn linh bên ngoài để dự đoán việc chưa phát sinh trong tương lai, việc đã xảy ra trong quá khứ. Sự ứng dụng linh cơ này để biết quá khứ vị lai chính là thần toán. Công dụng này không hề giống với bát tự, tứ trụ suy mệnh, tướng tay, tướng mặt, sờ xương, kì môn độn giáp thông thường. 

Người có thể linh cơ thần toán không nhiều, bởi vì người linh cơ thần toán đầu tiên phải có điều kiện là “hoạt linh”. Những thường thức này vào chương sau tôi sẽ lần lượt giải thích rõ ràng. 


### 07. Lần đầu tiên hiển thần thông


Năm Dân Quốc 59 [năm 1960], ngày mồng 9 tháng Giêng âm lịch, đó là ngày đản sinh của Ngọc Hoàng Đại Đế. Ngọc Hoàng Cung ở Đài Trung diễn hai vở kịch, trụ trì của Ngọc Hoàng Cung là sư Thích Huệ Linh còn tổ chức tượng thần của Ngọc Hoàng Đại Đế xuất tuần, tượng thần của các chùa lớn chùa nhỏ trong toàn thành phố đều đi theo hộ tuần, cảnh tượng vô cùng náo nhiệt. Những nơi mà kiệu thần đi qua đều có tiếng pháo nổ “đùng đoàng tạch tạch”, người người nhà nhà cầm hương kính cẩn nghênh đón và cung tiễn. Lại có rất nhiều tín đồ kiền thành cầm hương đi theo để cổ vũ, tượng thần trang nghiêm ngồi bên trong kiệu được tín đồ khênh trên cao.

Ngọc Hoàng Đại Đế xuất tuần trở về chùa, trong chùa, tượng thần được thờ ở chính giữa, bên trái là Đạo Đức Thiên Tôn Thái Thượng Lão Quân, bên phải là Vô Cực Chí Tôn Diêu Trì Kim Mẫu. Người dâng hương chen chúc nhau, khắp bên trong chùa khói hương vấn vít, đâu đâu cũng là khói. Đúng lúc người người đang thắp hương lễ bái, đột nhiên có một người phụ nữ mũ áo xộc xệch, miệng sùi bọt mép, hai tay khua loạn lên, quỳ trên mặt đất, liên tục hướng về Ngọc Hoàng Đại Đế kêu oan ức, yêu cầu Ngọc Hoàng Đại Đế đòi lại tính mạng cho bà, bộ dạng của bà giống như người bị bệnh thần kinh vậy. 

Bởi vì người phụ nữ điên khùng này đột ngột xuất hiện nên trong chùa bỗng chốc đại loạn, người người vây xung quanh người phụ nữ điên này để xem. Người phụ nữ điên ra sức kêu gào: “Trả lại mạng sống cho tao, tao đã thỉnh cầu Ngọc Hoàng Đại Đế rồi, trả lại mạng sống cho tao đi! Ha ha! Mày đã hại tao, tao muốn mày bồi thường, cầu xin thần minh để cho tao siêu sinh đi! Trả lại mạng cho tao, bằng không oán khí của tao khó tiêu, oán khí khó tiêu đấy, ha ha! Hi hi! Khổ quá đi! Số tôi khổ quá đi! Không tha cho mày, không thể tha cho mày!”

Trụ trì Thích Huệ Linh đứng ngây ra bên cạnh bà ta, ông ấy đã bẩm báo với Ngọc Hoàng Đại Đế rồi, nhưng người phụ nữ điên vẫn cứ ngang ngược ngồi trên mặt đất, không hề có biểu hiện tỉnh lại. Không chỉ như vậy, người phụ nữ điên còn điên khùng hơn nữa, hất hết cả hương đèn quả cúng trên bàn của Thần, toàn bộ đều rơi xuống đất kêu “xủng xẻng”. Có người trong đám đông tiến lên phía trước túm lấy bà ta, còn chưa túm được thì đã bị bà ta tiện tay cào cấu loạn xạ, cào rách cả da, ai nấy đều bó tay không biết làm sao. Lúc này mọi người vây xung quanh xem không biết phải làm thế nào mới được. Người trong chùa vốn đã rất đông, người bên ngoài chùa càng đông hơn, họ lũ lượt chen vào trong chùa để xem cảnh tượng ấy, người càng chen càng đông, nhưng chẳng một ai có cách gì giải quyết.

Lúc này trong đám người có một người đàn ông cao to bước ra, những người biết ông ta đều hét lên: “Tốt rồi, tốt rồi, pháp sư của chùa Cửu Thiên đến rồi.” Thì ra người này họ Tiền, là kê đồng của Thái Tử Nguyên Soái chùa Cửu Thiên. Chỉ thấy người này bước nhanh về phía trước, trên tay cầm một bát nước, tay trái bắt kiếm quyết, đưa bát lên mồm, “phù” một tiếng, phun ra một ngụm nước và hét lên: “Hách hách dương dương, nhật xuất đông phương, khẩu thổ tam muội chân thủy, phổ tảo bất tường.” [Ý nghĩa: mặt trời chói lọi, mọc ở đằng đông, miệng nhổ ra chân thủy tam muội, quét hết mọi điều chẳng lành.] Chỉ thấy người phụ nữ điên kia chợt im bặt, hai mắt tròn xoe, sau đó hét lên với đại pháp sư họ Tiền kia: “Ông dám can thiệp vào chuyện của tôi?” Rồi bà ta đưa tay túm lấy pháp sư với một sức mạnh ghê gớm, đại pháp sư họ Tiền liên tục phun ra mấy ngụm nước, không những không có công hiệu gì mà ngược lại còn bị người phụ nữ điên dùng tay cào cho mấy chỗ, máu tươi ứa ra. Đại pháp sư liên tục ra dấu kiếm quyết, liên tục hét: “Thái Tử Nguyên Soái cấp cấp lệnh, Thái Tử Nguyên Soái cấp cấp lệnh.” Nhưng chỉ thấy người phụ nữ điên càng điên hơn, hai tay khua khoắng, đám người vây thành một vòng tròn vội vàng lùi về phía sau. Đại pháp sư họ Tiền liên tục thở dốc, ông ta đã phí sức mà chẳng có công hiệu gì, lắc đầu nói với trụ trì Thích Huệ Linh: “Ma nhập vào người phụ nữ này, pháp lực quá mạnh, tôi không phải là đối thủ.”

Đúng vào lúc này, mẹ tôi và tôi vừa bắt kịp cảnh náo nhiệt này, tôi nói với mẹ tôi: “Việc này dễ giải quyết, để con làm cho!” Khi ấy tôi mới 26 tuổi, mẹ tôi nghe tôi nói muốn đi ngăn chặn người phụ nữ điên này thì kinh hãi đến mức mặt mày biến sắc: “Con không đi được, không được đâu, không được đâu.” Thế nhưng vì tôi tự tin có thể chắc chắn thành công nên cởi phăng cái áo tây trên người, sải bước đi đến trước mặt người phụ nữ điên. Hai tay tôi chắp lại, niệm thầm thần chú kim cang bất hoại hộ thân.

“Anh là loại người nào đây, dám quản chuyện của tôi sao?” - Hai tay người phụ nữ điên buông thõng xuống, bình tĩnh hỏi.
”Tôi là Liên Sinh, đồ đệ của Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, đặc biệt đến để khuyên bà dừng ngay oán khí này, oan gia nên giải không nên kết, oan oan tương báo đến khi nào dứt, bà cầu Ngọc Hoàng báo thù thay bà cũng được, nhưng sao có thể ảnh hưởng đến đại hội của chùa đường chứ?”
”Kiếp trước tôi chính là bị người phụ nữ này làm hại, nay tôi nhập vào người bà ta, cầu Ngọc Đế báo thù rửa hận. Đúng lúc gặp Ngọc Đế xuất tuần, cơ hội khó gặp, đây là để xả nỗi bất bình của tôi, anh bớt lo chuyện của tôi đi, tôi kính trọng anh là người tu đạo, không đấu với anh.”
”Này người bạn, thử nghĩ xem, nếu tôi có thể siêu độ cho bà, bà có sẵn lòng dừng ngay sự quấy nhiễu vĩnh viễn không có cách nào giải quyết này được không?”
”Anh có thể sao?” - Người phụ nữ điên phát ra điệu cười điên khùng, mọi người cũng toát mồ hôi thay cho tôi.

Thế rồi tôi phụng thỉnh Địa Tạng Vương Bồ Tát làm chứng cho tôi, niệm thầm đại pháp Tiên thiên vô cực bát nhã siêu độ, tôi đi nhiễu quanh người phụ nữ điên theo chiều bên trái 33 vòng, theo chiều bên phải 33 vòng, tay bắt ấn độ vong, liên tục thay đổi thủ quyết, đây chính là pháp mà Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh dạy tôi, lần đầu tiên tôi sử dụng, không biết có công hiệu không. Đương nhiên lòng bàn tay tôi cũng đổ mồ hôi, tim tôi liên tục đập “thình thịch”. Điều kì lạ là người phụ nữ điên kia từ từ khép đôi mắt tóe lửa lại, hai tay cũng không khua loạn lên nữa, miệng cũng im bặt, đợi đến khi tôi niệm xong thì bà ấy cũng tỉnh lại, từ lúc đó oan hồn kia đã rời khỏi thân thể của bà ấy rồi.

Sau khi bà ấy tỉnh dậy thì hét lên: “Sao tôi lại ở đây?”
Xung quanh nổ ra những tiếng vỗ tay vang như sấm, đồng thời rất nhiều người vây quanh tôi hỏi: “Sao anh lại làm được như vậy?” Theo như hàng xóm của người phụ nữ điên này kể thì bà ấy đã bị điên ròng rã 9 năm rồi, các thầy thuốc đều bó tay, hôm nay là lần đầu tiên bà ấy tỉnh lại, nhà ở gần miếu Thành Hoàng, cuối cùng thì lần này bệnh điên đã được chữa khỏi rồi.

Khi ấy, trong lòng tôi rất cảm kích Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, nếu như không có Linh Sư dạy tôi, làm sao tôi biết được đại pháp Tiên thiên vô cực bát nhã siêu độ chứ! Hơn nữa lần thực nghiệm đầu tiên quả nhiên đã ứng nghiệm rồi, tôi thật sự vui sướng đến mức nhảy nhót tung tăng, mẹ tôi cũng vui mừng cho tôi.

Thế nhưng, nói ra thì cũng thấy đáng tiếc, đại pháp sư họ Tiền kia nét mặt không nhịn được cơn giận, ông ta nói với trụ trì: “Trận đấu pháp này là nhờ công lực của pháp lực thần thông Thái Tử Nguyên Soái, người kia chẳng qua chỉ là bám theo đuôi thôi, hưởng được chút lợi. Ờ, cứ tưởng tùy tiện kết thủ quyết mà oan hồn liền bỏ đi à! Hứ, vẫn là Tam muội chân thủy của tôi lợi hại.”

Đương nhiên, tôi chẳng đi tranh công lao vô nghĩa này, nhưng nó khiến trong lòng tôi cảm thấy cực kì ghê tởm cái loại người hư danh đáng khinh bỉ. Thậm chí, đồ đệ của đại pháp sư họ Tiền còn tìm đến tôi hỏi: “Tiểu tử, cậu thì hiểu cái gì chứ? Biết cái gì chứ? Chúng ta thi đấu thử xem.” Hỡi ơi! Hỡi ơi! Lòng người thối tha như vậy, tôi dần dần cảm thấy mất lòng tin vào nhân loại. Tôi nghĩ đến thầy Thanh Chân Đạo Trưởng của tôi vì sao mà một mình sống đơn độc trong núi sâu, có bản lĩnh đầy mình nhưng không đem ra để cứu đời độ người, vì sao mà lại muốn tự mình ngộ chân đạo, tự mình hưởng thụ một mình mà không độ chúng sinh.


### 08. Đi đến Bành Hồ hỏi Thành Hoàng


Nhận được mệnh lệnh của đơn vị, phó đội trưởng đội trắc lượng Ngụy Thanh Bình và tôi phải đáp chuyến bay của hãng hàng không Viễn Đông bay đến Bành Hồ để đo đạc một khu căn cứ. Ngụy Thanh Bình phu nhân là bà Tiêu Phượng Hoàng, Ngụy phu nhân thuần tin Quan Thế Âm Bồ Tát, còn bản thân Ngụy Thanh Bình thì là người chẳng tin cái gì cả. Còn tôi, trong đội trắc lượng ai cũng biết tôi tin Thần bái Phật. Khi đang ngồi trên máy bay, Ngụy Thanh Bình tò mò hỏi tôi:
”Nghe nói cậu rất tin Phật?”
”Vâng! Còn anh?”
”Tôi à, tôi cái gì cũng không tin, tôi cảm thấy làm người chỉ cần ngay thẳng, nửa đêm có tiếng gõ cửa cũng chẳng kinh sợ, không có lỗi với lương tâm là được. Trước đây có người truyền giáo cho tôi, tôi nghe được mấy lần, nhưng mà khuyên người ta tin theo tôn giáo thì sẽ chỉ được cứu mà thôi, Cơ Đốc giáo, Phật giáo cũng đều giống nhau hết. Vợ tôi muốn tôi bái Quan Thế Âm Bồ Tát, tôi tôn kính là được, hà tất phải cầm hương rồi lại còn khấu đầu nữa, phiền phức chết đi được.”
”Phó đội trưởng, lời của anh không sai, ai ai cũng đều có thiện tâm như anh thì tốt quá rồi, nhưng mà có lẽ có một số người có thể lĩnh hội được chân linh của Bồ Tát đó!”
“Cậu nói đến thần toán dự đoán tương lai ấy à, ha ha! Nếu tôi không tận mắt nhìn thấy thì tôi không tin, nghe người ta nói cậu biết linh cơ thần toán, nhưng mà tôi vẫn luôn không tin, trừ phi cậu biểu diễn cho tôi xem. Có lẽ cậu sẽ cảm thấy tôi rất cố chấp, nhưng sự thật có thể chứng minh được tất cả, giả dụ cậu thật sự có thể dự đoán được chính xác thì có lẽ nói không chừng tôi sẽ biến thành một tín đồ Phật giáo đó.”

Máy bay cất cánh từ sân bay Thủy Nam, khi đến vùng trời của sân bay Mã Công ở Bành Hồ thì cũng chỉ mất có 30 phút ngắn ngủi mà thôi. Máy bay bay quanh quẩn trên bầu trời của sân bay Mã Công, ở Bành Hồ gió cát mạnh, tôi từ trên máy bay nhìn xuống, trông thấy biển xanh lam cuộn lên những đợt sóng trắng xóa vỗ vào bãi cát, cảnh sắc đẹp cực kì. Không lâu sau, máy bay đã trượt trên đường băng. Buổi tối cùng ngày, tôi và phó đội trưởng ở tại khách sạn lớn Văn Thạch. Khách sạn Văn Thạch không thể xem là khách sạn nhỏ, có tiếng gió biển gào thét, nghe người gác cổng khách sạn nói Bành Hồ gần như ngày nào cũng như vậy. Đặc sản ở địa phương này có lạc, lạc ở Bành Hồ đặc biệt to, có cá mực khô, có khoáng thạch aragonite, v.v… Tôi và phó đội trưởng đi dạo một vòng Bành Hồ, lúc này tôi mới biết phó đội trưởng từng sống tại Bành Hồ, thậm chí Ngụy phu nhân cũng từng sống tại Bành Hồ, Ngụy phu nhân từng cầu nguyện tại đình Quan Âm bởi vì năm đó sức khỏe bà ấy không tốt.

Trở về khách sạn, mới 9 giờ tối, đi ngủ thì quá sớm, đi chơi thì không có chỗ nào để đi, lúc này phó đội trưởng Ngụy thò tay vào trong túi áo lấy ra một nắm tiền lẻ (tiền xu của Đài Loan), úp tay lại và đưa đến trước mặt tôi nói: “Để tôi thử xem linh cơ thần toán của cậu có chuẩn hay không. Cậu đoán xem trong tay tôi có mấy đồng xu, đoán trúng thì tôi tin Phật, đoán không trúng thì cậu mời tôi đi xem một bộ phim ở rạp Long Cung, thế nào, thử đi!”

Ông ấy đột nhiên lại đến thăm dò khiến tôi cảm giác kinh ngạc, tôi không thích người ta thăm dò thần linh một cách khinh thường, nhưng lại không thể không ứng phó với kiểu thăm dò này. Tôi tĩnh tâm lại, để cho linh mệnh sống dậy vận hành ra ngoài, chắp tay niệm thầm: “Đệ tử Liên Sinh, nay phụng lệnh Tiên thiên vô cực chính pháp, cung thỉnh thần linh các cõi qua lại, có việc muốn cầu nên cầu giáng linh.” Trong tâm tôi cung thỉnh nhiều lần, không lâu sau quả nhiên trong không trung có một thần linh đi tới, chỉ thấy màu sắc y phục tươi sáng, tỏa nghìn tia sáng cát tường, thân mặc long bào, đầu đội mũ ô sa, tướng mạo đường đường. Đương nhiên, trong không trung có thần linh đến, phó đội trưởng với đôi mắt phàm hiển nhiên không nhìn thấy được. Còn tôi trong khoảng thời gian này, thần quỷ thông thường tôi đều nhìn thấy, trừ Tiên Phật ở cõi Vô sắc giới trở lên là tôi không nhìn thấy, ví dụ Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh tôi không nhìn thấy, còn thần có chức vụ thì tôi vẫn nhìn thấy được.

“Thần ta là Thành Hoàng Bành Hồ, không biết pháp sư dùng chính pháp thỉnh đến có gì căn dặn?”
”Phải làm phiền ngài như thế này tôi thật sự thấy áy náy, nhưng vì phó đội trưởng dùng tay cầm tiền xu muốn thăm dò tôi, tôi muốn trả lời, nên phiền ngài xem xét rõ có được không?” - Trong lòng tôi nghĩ, việc nhỏ như hạt vừng này mà phải làm phiền đến Thành Hoàng Tôn Thần của Bành Hồ thì Thành Hoàng Bành Hồ nhất định sẽ trách tôi một phen. 
”Thành Hoàng, nếu trả lời chính xác thì sẽ dẫn được người này tin Phật, công đức cực lớn, không phải là trò chơi trẻ con, chỉ cầu xin ngài một lần thôi, lần sau tôi không dám nữa.”
”Có 14 đồng.” - Thành Hoàng lắc người một cái rồi đi mất.

Tôi đáp: “Có 14 đồng xu Đài Loan.”
Phó đội trưởng Ngụy Thanh Bình xòe bàn tay ra, đếm lần lượt từng đồng xu, ngay cả chính bản thân ông ấy cũng không biết có bao nhiêu. Khi đếm đến đồng thứ 13, trên tay vẫn còn một đồng nữa, vậy chẳng phải là 14 đồng xu thì là cái gì? Phó đội trưởng ngó tôi nói: “Kì lạ, thật là chuẩn xác như vậy sao?” Ông ấy nói: “Hôm nay điều tôi nói ra rồi thì chắc chắn sẽ làm, tôi tin rồi, đợi khi chúng ta có thời gian rảnh, tôi sẽ đưa cậu đi thăm hết các chùa ở Bành Hồ, đồng thời thực hiện ý nguyện mà vợ tôi đã hứa, tôi sẽ thay bà ấy tạ lễ.”

Phó đội trưởng Ngụy quả nhiên là người uy tín, khi chúng tôi hoàn tất công việc, ông ấy đã dẫn tôi đi tham bái các ngôi chùa ở Bành Hồ, bao gồm: đình Quan Âm, cung Nam Bình, cung Hải Linh, miếu Ma Tổ, miếu Thông Lương Khang Phủ Vương Gia, miếu Âm Dương, miếu Hứa Chân Quân, cung Bảo Linh, cuối cùng là đến miếu Thành Hoàng. Đúng lúc trong miếu Thành Hoàng có người tụng kinh, Thành Hoàng Bành Hồ ngồi cao trên bàn thờ thần, nay thấy chúng tôi đi vào thì vội vàng xuống khỏi ghế, nói: 
“Thì ra anh là đệ tử Liên Sinh của Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, chả trách mà chú pháp triệu thỉnh của anh là Tiên thiên vô cực chính pháp, thất kính thất kính!”
“Không dám, không dám, lần trước được trợ giúp nên tôi đặc biệt đến bái tạ, nay phó đội trưởng đã quy y cửa Phật rồi, sau này nếu thành Phật thì ngài cũng là một đại công thần đấy!”
”Nào dám, nào dám!” - Thành Hoàng đối với chúng tôi vô cùng khách khí. Tôi nhìn thấy hai con ma nhỏ ở hai bên nháy mắt với tôi.

Sau khi Ngụy Thanh Bình trở về Đài Trung thì thay đổi hẳn thái độ, sùng tín Phật giáo, đã in nghìn cuốn Bạch Y Quan Âm Thần Chú, rồi lại in nghìn cuốn Chú Lăng Nghiêm, tặng miễn phí cho người ta đọc. Trong nhà thì thờ tượng Thần Phật Bồ Tát do tác giả đích thân khai quang điểm nhãn. Ông ấy đã sinh được ba người con trai, vợ ông mang thai chỉ cầu một đứa con gái, quả nhiên sinh được một thiên kim phúc đức viên mãn. Ông ấy vui mừng khôn xiết, sức khỏe của vợ ông cũng ngày càng khỏe mạnh. Cuối cùng ông ấy còn sùng tín vượt cả vợ mình.

Sự sùng tín của Ngụy Thanh Bình kiền thành như vậy đương nhiên có liên quan đến linh cơ thần toán của tôi, đồng thời tôi cũng dạy ông ấy luyện tập ngồi thiền, đánh thức linh mệnh trên người mình tỉnh dậy, giờ đây phó đội trưởng Ngụy cũng có một ít sức mạnh thông linh. Khi ông ấy đi ra ngoài công tác từng gặp Thổ Địa Công Công báo cáo với ông ấy tin tức trong nhà, cũng linh nghiệm cực kì. 

Bạn ạ, nếu bạn không tin, xin đến Đài Trung Nam Môn Kiều, gần đài phát thanh Nông Dân tìm đến Ngụy Thanh Bình, nhà của phó đội trưởng Ngụy ở gần đài phát thanh, chỉ cần hỏi là biết ngay thật giả. Nếu còn vẫn không tin, xin hãy xem cuốn sách này như truyện thần thoại, tôi cũng chẳng có cách nào, hết cách rồi!


### 09. Trên núi Trúc Nam có Tiên gia


Tại địa phương Trúc Nam, gần kề vùng Hương Sơn có một ngọn núi tên là núi Tiêm Bút. Trên núi Tiêm Bút có khoảng 50 hộ gia đình sinh sống, đại bộ phận là làm đặc sản miền núi. Tôi từng đo đạc ở địa phương này, khi ấy tôi mang theo một người phụ tá, người phụ tá này họ Hoàng tên Xuân Phong. Tôi với phụ tá Hoàng ở nhờ trong lô-cốt của bộ đội phòng thủ trên biển. Chúng tôi trở nên rất thân thiết với những hộ gia đình sống trong núi, người dân thường tỏ ra kính trọng và luôn tự hào khi mời khách. Ở trong núi chỉ có những bộ đội bảo vệ biển này thôi.

Lần đó là ngôi miếu Úc Đại Nhân mở tiệc khánh thành, kết quả là tôi và Hoàng Xuân Phong được lôi đi làm người tiếp khách, các gia đình trên núi mời khách, sự hoành tráng thật sự khiến người ta sửng sốt. Có người mời 30 mâm cỗ, người nào mời ít nhất thì cũng 5 mâm, cá thịt đề huề trên bàn, giữa buổi mọi người nói cười vui vẻ, chủ nhân cực kì hiếu khách, liên tiếp mời chúng tôi uống rượu, kính rượu. Trong bữa có một ông lão đột nhiên thở dài thườn thượt nói:
”Phong thủy ở núi này ban đầu không tệ, tiếc là…”
”Tiếc là thân rồng đã bị đứt thành hai đoạn.” - Tôi nói tiếp.
Ông lão tròn mắt ngạc nhiên nói: 
“Cậu thanh niên, cậu hiểu địa lí à?”
Tôi chỉ vào chỗ trũng ở phía trước ngọn núi nói: 
”Cái huyệt này tên là song long triều dương, theo lí mà nói thì vào thời cổ đại sẽ xuất hiện một quý nhân vương công nhị phẩm trở lên, nhưng mà các công ty gạch ngói đã khai thác đất để làm gạch nên đã phá mất địa lí nhân kiệt rất tốt rồi. Sau việc ấy, họ lại phát hiện ra chất đất ở đây không thích hợp để làm gạch đỏ nên ngày nay mới để lại cái hố lõm trong núi rất to này, đúng không ạ? Bởi vì long huyệt đã bị phá vỡ, khí theo thế mà đi, giờ đây trên núi mới xây ngôi miếu Úc Đại Nhân, như bây giờ ngôi miếu này vừa hay lại nằm trên đường mà thế khí đi qua, mượn linh lực của ngôi miếu này để chặn sự tán loạn chân khí của long huyệt, cháu thấy hôm nay mục đích mà mọi người mở tiệc to như vậy cũng chính là điều này.”
Ông lão nói:
”Bái phục, bái phục, chú em, cậu là môn đệ của ai? Tôi học địa lí 40 năm, là môn đệ của Tam Nguyên Đường ở Phúc Kiến mà ra, người có thể biết rõ linh khí của đất này chỉ có mình lão phu này thôi, không ngờ huyền cơ tôi xây dựng ngôi miếu Úc Đại Nhân này mà cậu cũng nhìn ra được, thật sự là rất không đơn giản. Hãy nói cho tôi biết cậu là môn đệ của ai?”
”Người dạy địa lí cho cháu là Thanh Chân Đạo Trưởng, đạo nhân học đạo trên núi Thanh Thành.” - Tôi nói.
”Thanh Chân Đạo Trưởng? Chưa từng nghe qua.” - Ông lão lắc đầu.
”Thanh Chân Đạo Trưởng chỉ là một người tu đạo thầm lặng, chưa từng xem phong thủy địa lí cho người ta, không bôn ba trong xã hội, do vậy không ai biết.” - Tôi giải thích thay sư phụ mình.
Ông lão nói:
”Thế này đi! Cậu thay tôi xem xem ngôi miếu Úc Đại Nhân này xây dựng như thế nào?” 

Ông lão không để cho tôi phân trần đã kéo tôi đi đến trước miếu để quan sát. Hoàng Xuân Phong và mấy người làng cũng đi theo. Tôi cẩn thận quan sát trước và sau miếu một lượt, ngôi miếu này không lớn, khoảng gấp năm lần miếu Thổ Địa Công mà thôi. Tượng kim thân của Úc Đại Nhân thì chỉ cao tám thốn [khoảng 18cm], ngoài ra còn thờ hai vị Thần mà tôi không biết tên. Cái tên gọi Úc Đại Nhân là người như thế nào, tôi cũng không biết, nhưng tôi nhìn một lúc thì nói: 
“Bát quái trên lư vàng treo ngược, miếu có ba cửa, bảy cây cột trụ, ngũ doanh ở giữa đường (ngũ doanh tức là năm đoàn binh mã). Cháu nghĩ đây là lợi dụng uy linh của binh mã ngũ doanh, cộng thêm toàn bộ uy lực của bảy cột trụ thần trong miếu, mở ra ba cửa ở giữa và ở dưới, dùng hồ lô bát quái treo ngược để hút toàn bộ địa linh thất tán vào.”
Ông lão lúc này kinh ngạc đến nỗi không nói được gì, một lúc sau mới nói:
”Lẽ nào cậu cũng học hết cả Địa Linh Kinh sao?”
”Cái gì là Địa Linh Kinh ạ?” - Tôi thật sự không biết.
”Địa Linh Kinh là báu vật thiên hạ, mỗi thầy địa lí nghiên cứu địa lí đều mơ có được những tri thức được ghi chép trong bộ sách đó. Tôi đã bán sạch ruộng đất mà tôi có, đến Tam Nguyên Đường ở Phúc Kiến học được một chút sơ sơ bên ngoài. Thanh Chân Đạo Trưởng là nhân vật thế nào vậy? Ông ấy đã truyền những thứ bất truyền trong thiên hạ cho cậu, cậu trả ông ấy bao nhiêu tiền học phí?”
”Cháu chẳng tốn đồng nào!”
”Cậu lừa tôi.”
”Cháu không lừa cụ. Thật đó!” - Tôi thành thật nói.
”Vậy cậu xem xem, miếu Úc Đại Nhân này khi nào linh lực sẽ tăng trưởng lớn và nổi tiếng khắp xa gần?”
Tôi xem bát quái đồ trên triều đình, tôi nói:
”Không quá 12 năm.”
”Chú em, tôi bái phục cậu, không sai, trên bát quái tôi đã ấn 12 cung. Nếu cậu xem địa lí phong thủy cho người ta, chỉ cần tìm được khách hàng biết phân biệt hàng tốt xấu, thì đời này của cậu chẳng phải lo cơm ăn chỗ ở, đồng thời còn có thể phát đại tài nữa. Tôi thấy tuổi tác cậu còn nhỏ thế này mà nhãn quang lại sắc bén như vậy, trong tương lai không xa nhất định có thành tựu lớn, điều này là chắc chắn đó.”
”Xin hỏi lão tiên sinh, Úc Đại Nhân là người thế nào đây?” - Tôi thấy thắc mắc vì sao lại lấy tượng kim thân Úc Đại Nhân đặt ở vị trí thượng tọa, nhưng mà lại không có linh Tiên giáng xuống trên kim thân. 
”Cậu nhìn ra rồi à? Ở đây không tiện nói.” - Ông lão kéo tay tôi, lôi đến một khu rừng gần đó. 
”Úc Đại Nhân chính là tôi.” - Ông lão nghiêm túc nói.
”Thì ra là vậy.” - Tôi gật gật đầu, im lặng không nói gì. 

Ông lão này đã ấn sinh thần bát tự của mình trên bát quái đồ trưng bày trong miếu, bỏ lông tóc móng tay vào trong tượng kim thân của vị Úc Đại Nhân kia, tính mạng ông lão trong vòng 12 năm chắc chắn sẽ kết thúc. Ông lão tự dự đoán mình không sống được quá 12 năm, sau khi chết, linh hồn có thể gửi gắm trong ngôi miếu này, nương dựa vào kim thân để nhận khói hương của nhân loại muôn đời, trở thành Thần Tiên Úc Đại Nhân uy linh hiển hách của núi Tiêm Bút. 

Đây là một pháp kì môn độn linh, sư phụ Thanh Chân Đạo Trưởng có truyền. Thế nhưng, bạn đọc thân mến, tuyệt đối đừng xem đây là trò chơi, mặc dù bạn biết lí thuyết của nó nhưng không biết phương pháp, nếu làm thử thì mạng sống sẽ “nghỉ hưu sớm” đó, đến lúc ấy đừng trách tôi.

Lại nói, tôi đo đạc khu vực trũng xuống của ngọn núi đó, bày tấm bảng đo xong, đặt dụng cụ lên giá, Hoàng Xuân Phong giơ thước đo lên, chuẩn bị theo đường núi để chạy xuống vùng núi trũng, tôi muốn đo xem chỗ núi trũng này rốt cục sâu bao nhiêu. Hoàng Xuân Phong giơ thước ngắm lên, đúng lúc đang chuẩn bị đi thì tôi hét cậu ta dừng lại. 
”Chờ chút, chỗ núi trũng này đi xuống không tốt, để tôi xem xem đã!”
”Anh dùng linh cơ thần toán à?” - Hoàng Xuân Phong hỏi.
”Để thử xem.” 

Tôi vận dụng linh mệnh, vươn dài “cánh tay” của linh ra, tôi tính ra được 63 mét, từ núi trũng cho đến đỉnh núi là 63 mét. Sau đó tôi sợ rằng không chuẩn nên bảo Hoàng Xuân Phong chạy xuống. Tôi dùng thiết bị ngắm đúng thước đo, dùng vòng cung cự lượng kế Beaman để tính toán, tính toán xong thì biết là 65 mét, sâu hơn 2 mét, kì lạ thật, lần này linh trắc sao lại sai 2 mét nhỉ?

Một lúc sau, Hoàng Xuân Phong từ dưới núi chạy lên, vừa chạy lên tới nơi thì anh hổn hển nói: 
“Bên dưới chỗ trũng không phải là rất bằng phẳng, tôi đứng ở nơi thấp nhất, chỗ thấp nhất này cách mặt đất bằng phẳng 2 mét.”
Tôi nói:
”Cảm ơn cậu, tôi biết rồi.”

Hoàng Xuân Phong là người hợp tác đo đạc tốt nhất của tôi, đầu óc cậu ta rất thông minh, trẻ tuổi và nhiệt huyết. Hiện tại thì cậu ấy đã rời đơn vị trắc lượng rồi, bây giờ làm kinh doanh, mở một cửa hàng đèn trang trí Kiều Lệ tại đường Bình Đẳng ở Đài Trung. Cái tên cửa hàng Kiều Lệ là tôi đặt cho cậu ấy, và khi cần lắp đặt các loại đèn trang trí trong nhà tôi đều mời cậu ấy đến lắp đặt. Nếu bạn đọc muốn chứng thực thật giả thì có thể tìm cậu ấy. 


### 10. Khó quên nét tươi cười của Lục Giáp Ma Tổ


Công việc đo đạc là chạy đông chạy tây, và điều khiến tôi khó quên nhất là nét mặt tươi vui của Lục Giáp Ma Tổ. Lục Giáp ở huyện Đài Nam [nay là thành phố Đài Nam], gần ngọn núi Ô (hồ San Hô) - một hồ chứa nước nổi tiếng khắp đất nước. Khi ấy, tôi, Trương Anh Ngao, Hoàng Đại Phúc, ba người được phái đến Lục Giáp để đo đạc. Tôi đi Lục Giáp đo đạc thì Linh Sư cũng đi cùng tôi. Thời tiết rất lạnh, nửa đêm tôi bị Linh Sư gọi dậy, bắt đi đến một khu mộ mênh mông để nhận sự huấn luyện của Linh Sư. Tác giả vẫn luôn là người gan dạ, đổi lại là người khác thì e rằng sẽ sợ chết khiếp.

Những ngôi sao mùa đông rất sáng rất sáng, những tấm bia mộ màu trắng ở khu mộ bày ra, tiếng côn trùng kêu “ri ri”, nhất là vào đêm mùa đông thì tối khuya sẽ có sương mù mỏng. Linh Sư truyền cho tôi đại pháp triệu hồn, đại pháp triệu hồn vẫn là dựa vào thần lực của ấn chú, là pháp thuật đuổi và sai khiến âm linh. Linh Sư cho rằng: “Thuật này mặc dù không phải là thứ mà các chính phái danh giá nên tu luyện, nhưng nếu muốn tuyên dương chính giáo chính pháp thì buộc phải hiểu đủ kiểu đủ dạng thần thuật.”

Linh Sư nói:
”Tâm đại trí huệ ắt sẽ dung nạp được mọi điều chí lí trong thiên hạ, ánh sáng không thể ẩn sâu. Cực kì bất khả tư nghì, tà thuật cũng không dám ức hiếp, rồi sau đó có thể đắc được chính giáo.” 
Lại nói:
”Liên Sinh, sau này con lại tu Phật pháp, tức là xuyên suốt tam giáo Cơ Đốc, Đạo, Phật, nên không đến nỗi lo cho cái này thì đánh mất cái kia, thiên thượng địa hạ duy ngã độc tôn rồi.”

Có một buổi tối, tôi đi lang thang trên đường phố Lục Giáp, đi cùng với tôi là Hoàng Đại Phúc. Hoàng Đại Phúc là người Tú Thủy huyện Chương Hóa. Chúng tôi đến một tiệm cắt tóc trên phố để cắt tóc. Ở trước chợ bán thức ăn Lục Giáp có một ngôi chùa không lớn không nhỏ, tôi cùng với Hoàng Đại Phúc đi vào đó, trước chùa có treo một tấm biển là “Nhóm niệm Phật hội Phật giáo Lục Giáp”, chái nhà phía bên trái ở trong chùa có vang lên tiếng tụng kinh. 

Tôi chắp tay lại, cúi gập người trước Bồ Tát ở đại điện, khi ngẩng đầu lên thì nhìn thấy ở trong không trung có mây ngũ sắc bay lơ lửng, có một Nữ Thần nét mặt tươi cười từ không trung giáng xuống, chân dẫm lên hoa sen bảy sắc, tổng cộng có hai đóa hoa sen, đầu đội mũ cửu long, thân mặc áo nhiều màu. Ma Tổ với nét mặt tươi cười trong trẻo đứng sừng sững trước mặt tôi. 

Bồ Tát mở miệng nói: 
”Đến Lục Giáp, Liên Sinh vẫn khỏe từ sau lần chúng ta gặp trước đây chứ?”
”Bồ Tát nhận ra con sao?”
”Ta từng vân du miền trung, đã từng đến Ngọc Hoàng Cung, cùng với con tôn phong bài vị thần tại đó, con quên rồi sao?”

Trên thực tế, tôi thật sự không nhớ được nhiều như vậy, Thần minh trên trời dưới đất nhiều lắm, mỗi vị đều có sở ti, có chức vụ, thần minh và thần minh qua lại với nhau, mặc dù tôi cũng quen không ít thần minh, có một số thần minh thậm chí đã trở thành bạn tốt vong niên với tôi, nhưng Lục Giáp Ma Tổ đã từng đến nhà tôi chưa thì tôi thật sự cũng quên rồi. Vào lúc ấy, trong nhà tôi đã thờ cúng mấy vị Bồ Tát, đã trở thành một Phật đường nhỏ rồi.

“Bồ Tát tha thứ, thật sự là con không nhớ được.”
”Nhớ hay không cũng không sao, Liên Sinh, ta có một việc muốn bàn bạc.”
”Xin Bồ Tát nói rõ.”
”Trụ trì của chùa này hiện tại đang đau ốm, ta muốn nhờ con viết một lá phù kim đan để cứu chữa, không biết con có đồng ý không?”
”Bồ Tát đã giao phó thì Liên Sinh không dám không tuân theo, nhưng nhỡ đâu mọi người không tin thì sao đây?”
”Họ sẽ tin, đệ tử ở đây tâm địa thuần khiết và lương thiện. Trụ trì ốm liệt giường đã hai tháng rồi, đến nay kiếp nạn bị bệnh này đã hết, con mau vẽ phù rồi giao cho đệ tử đang tụng kinh ở chái nhà bên trái, ngày mai con lại đến đây chắc chắn sẽ có chuyện lạ.”

Bồ Tát nói xong thì lập tức ẩn đi. Thế rồi tôi cũng không khách khí vẽ phù kết ấn ngay trên bàn thờ. Tôi cùng với Hoàng Đại Phúc đi vào chái nhà bên trái, bên trong có một người già đang dạy mấy người phụ nữ tụng kinh, tôi nói rõ mục đích tôi tới với người già này, người già này không nói gì, còn mấy người phụ nữ kia nhìn tôi một cách kì quái, một người trong số đó hỏi tôi: 
”Anh là kê đồng từ đâu đến?”
”Tôi đến từ Đài Trung, không phải là kê đồng, ngày mai tôi lại tới, Bồ Tát dặn dò như vậy.” - Tôi nói.
”Lá phù đó anh để ở đây, tối mai anh lại đến!” - Người già vẫy tay chào, tôi và Hoàng Đại Phúc lui ra, Hoàng Đại Phúc nói: “Họ có vẻ không tin lắm, anh hà tất phải lo chuyện bao đồng chứ!”
”Cậu nghĩ mà xem, chúng ta không thể trách họ không tin, khi xưa nếu tôi không được người phụ nữ mặc áo xanh kia khai thị, chưa được Linh Sư chỉ điểm, chưa bái Thanh Chân Đạo Trưởng làm thầy thì làm sao tôi có thể có được cảm ứng linh dị như thế này chứ? Nếu như trước đây có người nói với tôi chuyện này, tôi không những không tin mà còn mắng người ta là nói bậy, mê tín, những lời nói xằng của khoa học hiện đại mà những người tin thần còn không tin, huống hồ người không tin thần.”

Buổi tối ngày hôm sau, tôi cùng Hoàng Đại Phúc lại vội vội vàng vàng đến chùa Ma Tổ. Vừa đi vào cổng chùa, trụ trì cùng mấy người phụ nữ ra đón tôi, trụ trì của chùa nói:
”Lá phù đó của anh có hiệu quả cực kì, tôi bị ốm nặng đã hai tháng, thế mà chỉ sau một lúc giống như vứt bỏ được gánh nặng. Bây giờ tôi có thể xuống giường, tinh thần dần dần hồi phục như ban đầu, cảm tạ Bồ Tát che chở, cũng cảm ơn anh.” 

Tôi vừa nghe bệnh của trụ trì đã khỏi như vậy, trong lòng cũng trút bỏ được gánh nặng, tôi hướng về Bồ Tát lạy mấy lạy, đang chuẩn bị đi. 
”Liên Sinh, xin anh vẽ một lá phù cho thằng cháu nhà tôi được không? Thằng cháu tôi bị ốm, cứ sốt mãi không hết, uống thuốc thì đỡ được một chút, không uống thuốc thì nhiệt độ lại tăng cao. Năn nỉ anh vẽ một lá phù được không?” - Một phụ nữ trong số đó cầu xin tôi.
”Tôi cũng muốn một lá, mẹ tôi bị ho suốt không khỏi.”
”Tiên sinh, năn nỉ anh cho tôi một lá.”

Hoàng Đại Phúc nhân cơ hội này ca ngợi tôi linh như thế nào, chuẩn như thế nào, khiến cho những người phụ nữ trong chùa người nào người nấy tròn xoe mắt. Tôi quỳ trước mặt Bồ Tát, Bồ Tát lại tươi cười hiện thân. Lần này Ngài hiển hiện không rõ ràng như lần đầu tiên, bên tai tôi truyền đến tiếng thì thầm của Bồ Tát: “Liên Sinh, lúc cần phải làm thì cứ làm đi! Ta sẽ giúp con, đừng sợ.”

Tôi cầm bút chu sa rồi bắt đầu vẽ phù niệm chú trên giấy, chia cho mỗi người một lá. Nói ra kể cũng kì lạ, hễ uống một lá phù thì người bệnh nhẹ lập tức khỏi hẳn, người bệnh nặng cũng có tiến triển tốt, thậm chí có một cụ bà đã nằm liệt giường nửa năm không thể đi lại, vừa uống phù này vào thì bỗng nhiên có thể ra khỏi giường. Buổi tối ngày thứ ba, tôi và Hoàng Đại Phúc đến chùa Ma Tổ, chùa Ma Tổ người đông như biển, suýt chút nữa đã chen đổ cả cổng chùa. Người người loan tin rằng chùa Ma Tổ có một thần tiên trẻ tuổi vẽ một lá phù thì bệnh gì cũng chữa được, trăm lần thử trăm lần linh, cả thị trấn Lục Giáp đều xôn xao. 

Thế là tôi vận dụng thuật thông linh của linh cơ thần toán, đã giải quyết được vấn đề cho rất nhiều người, dùng thuật phù chú để chữa bệnh cho người ta, đêm nào tôi cũng bận rộn tới 12 giờ. Trụ trì gọi xe taxi muốn đưa tôi về chỗ ngủ, tôi từ chối. Người đến cầu xin tôi hỏi việc và chữa bệnh đem những phong bao đỏ tặng cho tôi, tôi vẫn một mực từ chối, tôi chưa bao giờ lấy một hào tiền nào, cũng không nhận sự thết đãi của người khác. Đối với tiền, tôi cười nhạt, hoàn toàn không phải là tôi không cần tiền, mà là thay thần cứu người thì không nên lấy tiền của người ta, lấy tiền thì có còn coi là thay thần làm việc nữa không?

Cho nên lí do mà tôi rất ghét thần côn là như vậy, thần côn chỉ muốn phong bì, hơn nữa càng nhiều càng tốt, thần côn là tà ác, người thay thần làm việc một cách chân chính là làm việc thiện cứu người, người hành thiện cứu người thì không phải là thần côn, không phải là mê tín. Có người gọi tôi là kê đồng, tôi nói tôi không phải là kê đồng, bởi vì kê đồng là “người trung gian của linh”, là những linh đồng bị thần quỷ nhập vào thân, còn tôi không phải, tôi không phải là kê đồng.

“Tiên sinh, ngài không nhận phong bao đỏ thì tức là coi thường tôi đó.”
”Xin lỗi, tôi giúp Lục Giáp Ma Tổ cứu người giúp đời, không dám nhận phong bao đỏ của bác, thế còn xem là trợ giúp Lục Giáp Ma Tổ không?”

Lần đầu tiên tôi gặp phải vấn đề nan giải như vậy, người người muốn đưa tiền cho tôi, tôi phải làm sao? Vốn dĩ tôi chỉ dựa vào một tấm thiện tâm giúp người, tôi cảm thấy như vậy mới là việc vui mừng nhất, thế nhưng con người thì rất thực tế, họ cho rằng nhờ người giúp đỡ thì nhất định phải trả tiền thù lao. Hai vị phó tướng của Lục Giáp Ma Tổ - Thiên Lí Nhãn và Thuận Phong Nhĩ, đã trở thành bạn tốt nhất của tôi. Cho đến tận khi tôi rời khỏi Lục Giáp, mỗi ngày có hơn trăm người tìm tôi. Tôi đến Lâm Phượng Doanh bắt xe trở về bắc, có hơn hai chục người đến bến xe tiễn tôi. Điều khiến tôi khó quên nhất vẫn chính là nét mặt tươi cười của Lục Giáp Ma Tổ.

Bạn ạ, giả dụ bạn đi Lục Giáp, đừng ngại đi đến chùa Ma Tổ tham bái, bạn chắc chắn có thể thấy Ma Tổ nét mặt tươi vui ngồi trên bệ thần. 


### 11. Đàm đạo ở Cung Phượng Lâm


Cung Phượng Lâm nằm tại một ngôi làng nhỏ ở mũi Phượng, Tiểu Cảng, thành phố Cao Hùng. Mũi Phượng kề sát biển, gần đó có căn cứ của đội huấn luyện người nhái (đội Thành Công). 

Tôi rất thích biển, mỗi buổi hoàng hôn, tôi đều không ngăn được mình đi đến bờ biển mũi Phượng ngồi trên những con thuyền vỡ trên bãi cát. Biển và trời nối liền nhau thành một đường thẳng, tiếng sóng biển rì rào. Mặt biển nhấp nhô lên xuống liên tục, còn trái tim tôi giống như một con thuyền nhỏ thoạt lên thoạt xuống, dường như trong dòng chảy hoảng hốt này, tôi đã lĩnh hội được vẻ đẹp thê lương của cuộc sống. Cuộc sống vốn dĩ là thăng trầm, chao đảo, không ngơi không nghỉ, còn tôi là một lữ khách đo đạc, cũng là dạo bước trong cuộc đời thôi. Dạo bước!

Chẳng nhớ nổi đó là buổi hoàng hôn lần thứ mấy, đúng vào lúc tôi đang ngẩng đầu ngắm mây bay từng đám từng đám trên bầu trời, tâm hồn nhẹ nhàng bay lượn trên mặt biển bao la hùng vĩ, mặt trời lặn dần xuống, gió thổi vù vù, tiếng sóng biển gầm gào xô vào bờ cát đêm, dường như trên đời chỉ có một mình tôi.

Khi tôi chuẩn bị rời khỏi bãi biển thì phát hiện ra trên mặt biển có một ngọn đèn đang đung đưa. Ngọn đèn đó lúc sáng lúc tắt, lúc trôi bên này, lúc trôi bên nọ. Khi đến gần, tôi nhìn thấy phía sau ngọn đèn có một kiệu thần, phía trước kiệu có hai vị phó tướng, phó tướng đạp sóng mà đi, tôi nhìn thấy trên đầu kiệu thần có viết mấy hàng chữ: “Phượng Lâm Cung Thiên Thượng Thánh Mẫu.” Kiệu thần và các thần tướng hiển hiện được một lúc, không bao lâu thì biến mất không còn tăm tích. 

Ngày hôm sau, tôi hỏi người địa phương:
”Gần đây có Cung Phượng Lâm nào không?”
Người đó nói:
”Có! Là miếu Ma Tổ ở trong làng.” 

Buổi tối đó tôi đi vào trong làng, tìm đến Cung Phượng Lâm. Bây giờ tôi đã quen bái thần rồi, mỗi khi đến nơi nào tôi đều gặp chùa thì bái Phật, gặp miếu thì bái thần, kể cả gặp miếu Thổ Địa tôi cũng chắp tay lại, thỉnh thoảng đúng lúc Thổ Địa Công đang ở trong miếu, ngài cũng sẽ ngẩng đầu chào hỏi tôi. Tôi cảm thấy tôi tôn kính thần, thần ắt sẽ giúp đỡ tôi. 

Tại Cung Phượng Lâm, tôi thắp mấy que hương, làm lễ trước Thiên Thượng Thánh Mẫu xong, Thánh Mẫu nói:
”Thiện nam trước mặt, anh đã học được thuật Lục giáp thần linh thính âm rồi sao?”
”Đúng vậy, con đến đây để hỏi đạo từ Bồ Tát.”
”Muốn hỏi đạo gì?”
Tôi đáp:
”Đạo dưỡng sinh.” 
Thiên Thượng Thánh Mẫu Ma Tổ đáp rằng:
”Vậy thì nói về ăn uống đi! Ngũ vị chính là mặn, đắng, chua, cay, ngọt, năm vị này chính là điều hòa âm dương, biến thành bài thuốc bí truyền của thiên địa huyền công, là thứ không thể thiếu trong cuộc sống thường ngày. Thế nhưng cần phải có sự tiết chế mới có thể có ích và vô hại. Nếu không tiết chế thì sẽ làm tổn thương ngũ hành, tất sẽ sinh bệnh. Ngũ vị nếu ít thì dưỡng mệnh, nhiều thì vong mạng. Người thượng cổ chưa có gia vị nóng thì hưởng tuổi thọ cao. Toại Nhân Thị [trong thần thoại Trung Quốc là người sáng tạo ra lửa] lần đầu tiên dùng lửa để nấu thức ăn, cho đến nay con người đa phần gặp họa chết yểu. Nếu con người tham ăn tạp tất sẽ sinh ra lục tình, lục tình sinh ra thì linh căn tất sẽ diệt.”
”Đa tạ Thánh Mẫu giáo huấn.” - Tôi kính cẩn cảm ơn.

Thánh Mẫu lại nói: 
”Người thời nay nói đến đạo dưỡng sinh sai rồi! Nam nam nữ nữ hiện nay sinh vào thời mạt kiếp, u u mê mê, không gặp được minh sư để mở ra cái trí của họ, không gần gũi với giáo lí thiện để làm sáng tỏ cái tính của mình, thường ngày nói đến dưỡng sinh chẳng qua chỉ là uống thuốc tẩm bổ, gây nên vô số nghiệp tội, khởi lên một vài vọng tưởng tạp niệm, như thế thì nghiệp tội còn chẳng thể nào tiêu trừ được, làm sao có thể nói đến dưỡng sinh chứ?”
”Những gì Bồ Tát nói rất đúng, đệ tử sẽ ghi nhớ lời dạy dỗ chỉ bảo.”
”À đúng rồi, chưa từng hỏi anh tu đạo ở chỗ nào? Chỉ thấy trên mặt anh có linh quang, tỏa hiện tam quang, biết anh chính là người tu Đạo, Công Đức Thần luôn đi theo bên cạnh, vì thế mà ta muốn hỏi.”
”Bồ Tát, đệ tử Liên Sinh vốn tin Cơ Đốc, sau đó lĩnh pháp chỉ của Diêu Trì Kim Mẫu, theo Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh tu Đạo, lại bái môn của Thanh Chân Đạo Trưởng, nay đến mũi Phượng làm công việc đo đạc, tối hôm qua nhìn thấy Thánh Mẫu xuất tuần trên mặt biển, vì thế hôm nay con đặc biệt đến tham bái.”
”Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh à? Ta không biết vị này, Thanh Chân Đạo Trưởng thì trái lại đã từng nghe qua, chính là một đạo sĩ thanh tịnh vô vi, thế này rất tốt, rất tốt.”
”Bồ Tát, Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh không phải là người, mà là một khối khí của chân linh, con gọi ngài là Linh Sư, chính là Thiên Tiên ở cõi Vô sắc giới, chưa từng nhận sắc phong của Ngọc Đế, do vậy gọi là Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh.”
”Thì ra là vậy, nếu thế thì ta lại quá thất lễ rồi, Liên Sinh, nếu có thời gian rảnh, hoan nghênh thường đến chơi.”
”Cảm ơn!”

Kể từ sau đó, khi nhà tôi chính thức thờ cúng Diêu Trì Kim Mẫu Thiên Tôn, tôi từng phát đi phù Phật điệp biến thập phương. Thiên Thượng Thánh Mẫu Cung Phượng Lâm ở Tiểu Cảng cũng từng giá lâm. Đây chính là một đoạn nhân duyên gặp gỡ giữa Thiên Thượng Thánh Mẫu Cung Phượng Lâm và tôi. 


### 12. Thuyết giáo ở Cung Củng An


Bạn thân của tôi Hồ Thìn Hùng nhà ở Thảo Đồn, có một lần tôi đến thăm cậu ấy trên đường đi qua Cung Củng An. Tôi đi vào trong cung tham quan, trên bàn thờ thần có ba tượng thần ngồi ngay ngắn, một vị mặt đỏ, một vị mặt xanh, một vị mặt đen, bên trên treo một dải chữ có viết “Tam Phủ Vương Gia”. Đến nhà bạn tôi, tôi hỏi:
”Lão Hồ, miếu Tam Phủ Vương Gia thờ ba vị thần nào vậy, cậu có biết không?”
Hồ Thìn Hùng nói:
”Nghe người ta nói là ba vị Thiên Tuế Trương, Lí, Mạc, nghe đâu rất linh, nhưng tôi chưa từng đến đó nên không rõ lắm, sao vậy? Cậu có hứng thú tới đó à?”
”Cũng không biết vì nguyên nhân gì mà tôi càng ngày càng thích bái thần, hễ gặp phải chùa miếu quán đường là tôi chưa bao giờ bỏ qua, vào lễ lạy cũng được mà tùy hỉ vãn cảnh chùa cũng được. Nếu không đi vào xem thì trong lòng thấy khó chịu.”
”Thắng Ngạn, tôi nghe người ta nhắc đến cậu, đều nói cậu rất linh, rốt cục thật sự là có hay không có thần? Mỗi một ngôi chùa, miếu, cung, đường đều có sự tồn tại của Thần Phật sao?” - Hồ Thìn Hùng hỏi.
”Lão Hồ, điều này cũng không hẳn, tôi từng đến một ngôi chùa ở miền Trung, ngôi chùa đó thờ Phật Thích Ca Mâu Ni, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Vi Đà và Già Lam Tôn Giả, tượng điêu khắc cực kì trang nghiêm. Tôi trông thấy vị Phật Bồ Tát nào cũng trang nghiêm như vậy, trong lòng rất vui mừng, lập tức quỳ xuống lạy. Không ngờ bên dưới bàn thờ có một vị Thổ Địa Công Công chui ra. Thổ Địa Công Công râu trắng bay bay nói với tôi: ”Chớ lạy! Chớ lạy!” Tôi cảm thấy rất kinh hoảng, hỏi: ”Thổ Địa Bồ Tát, vì sao không lạy?” Thổ Địa Công Công thở dài một hơi nói: ”Tôi là Thổ Địa ở đất này, ngôi chùa Phật này 40 năm trước do pháp sư XX tiếp quản, pháp sư lừa gạt người ta, các đệ tử đi theo sống thối nát, những quy tắc Phật giáo từ lâu đã bại hoại, mặc dù thân là sa môn nhưng tâm đã chẳng phải là sa môn. Linh quang của Phật Tổ 40 năm qua chưa từng giá lâm đến chùa này, Hộ Pháp Vi Đà và Già Lam Tôn Giả vốn muốn ra tay trừng phạt, nhưng nhân duyên kiếp trước của trụ trì vẫn còn thiện công, ác nghiệp dù nhiều nhưng báo ứng thì phải sau 50 năm. Hộ Pháp Vi Đà và Già Lam Tôn Giả từ lâu đã rời bỏ ông ấy rồi, trong chùa không có linh Phật, không có Hộ pháp, từ lâu đã trở thành bức tượng kim thân giả trống rỗng rồi, chỉ có ma quỷ lai vãng. Hòa thượng và ni cô trong chùa đều là phàm thai, ai gõ chuông thì gõ chuông, ai đánh trống thì đánh trống, họ căn bản không biết 40 năm nay linh quang của Phật Tổ chưa từng giá lâm đến chùa một bước.” Tôi nói: ”Thì ra là vậy.” Thổ Địa Bồ Tát lắc đầu rồi vụt ẩn đi. Tôi đi loanh quanh một lúc, phát hiện ra mặc dù ngôi chùa này xây cũng khá đẹp, nhưng quả nhiên không mảy may cảm giác thấy một chút linh khí nào. Lời của Thổ Địa Bồ Tát quả nhiên không sai, tôi cảm thấy thương cảm cho hòa thượng và ni cô ở chùa này.”
”Có chuyện này cơ à? Đây đúng là quá thần kì rồi, đợi một lát tôi dẫn cậu đến miếu Tam Phủ Vương Gia, cậu xem xem có thần ở đó hay không.”

Tôi và Hồ Thìn Hùng đến ngôi miếu, nhà Hồ Thìn Hùng ở gần miếu, người trông nom chùa và cậu ấy cũng có quen sơ sơ. Hồ Thìn Hùng kể với người trông chùa về những chuyện linh dị của tôi, người trông chùa cười cười không tin và nói: 
”Chà! Là như vậy sao?”

Tôi vận dụng thuật linh cơ thần toán để giao tiếp với Thần Tiên một lúc, tôi nói:
”Thưa ông, cung này tổng cộng có sáu vị kê đồng, ba vị Thiên Tuế Trương, Lí, Mạc phát tài tại phủ An Tứ ở Đài Nam. Hiện tại tình hình nhân sự ở quý cung hỗn loạn, kê đồng và những người có liên quan thường xuyên vì chuyện tiền bạc mà tranh chấp, trong đó có một kê đồng không tuân theo quy tắc thần, ăn uống bừa bãi. Mạc Phủ Thiên Tuế hiện đang linh quang xuất tuần tại một ngôi làng ở núi Trúc, chữa bệnh giúp người ta. Trong số kê đồng có một người bị bệnh, không biết thật có những chuyện này không?”
Người trông nom nghe xong thì sửng sốt, trong chùa đang có ba kê đồng đang nói chuyện, nghe tôi nói điều này thì không ai là không tim đập thình thịch. Trong đó có một người là kê đồng của Trương Phủ Thiên Tuế nói với tôi:
”Tiên sinh, những điều ngài nói hoàn toàn đúng, Thần minh có yêu cầu gì đối với chúng tôi không? Làm sao mới có thể khiến cung này hưng thịnh trở lại?”
Tôi nói:
”Ý của thần minh là coi trọng hòa khí, nếu người với người hòa thuận thì cung này tất sẽ hưng thịnh. Con người không nên chỉ vì sự linh cảm của thần mới đến bái thần, cũng không nên vì tiền mà bái thần. Thân người quý giá, quý ở chỗ biết tu, tự xem xét mình, không cứ phải cầu thần. Đời người không phải là chỉ nỗ lực vì cơm áo, vì bản thân và gia đình no ấm mà mặc kệ cho thất tình lục dục chạy lung tung, làm tinh thần kiệt quệ. Như thế nào là người tu đạo đây, bái thần tu đạo chỉ là để trở về với diện mạo vốn có của ta mà thôi!”

Tôi cùng với người trông nom và các kê đồng nói chuyện rất vui vẻ. Tôi dạy các kê đồng một linh thuật, gọi là pháp Thất bộ tống hồn, họ hết sức mừng rỡ, cuối cùng ai cũng hài lòng ra về. Khi một mình tôi đạp xe đạp trở về đội trắc lượng ở Đài Trung, tôi âm thầm cảm thấy dường như có một khối linh khí đang đuổi theo tôi. Tôi lên xe, họ cũng lên xe. Tôi xuống xe, họ cũng xuống xe. Tôi trở về đội trắc lượng, đi vào kí túc xá, thắp một nén hương, cắm vào bát hương, phía trên bát hương hiển hiện một vị Bồ Tát mặt đỏ. Thì ra là Trương Phủ Thiên Tuế ở Cung Củng An. Trương Phủ Thiên Tuế trước tiên khoanh tay lại hướng về tôi nói:
”Tôi là Trương Phủ Thiên Tuế, gặp anh thông linh, vì thế đuổi theo muốn biết lai lịch của anh?”
”Bồ Tát không biết ư?”
”Thật sự không biết.”
”Tôi là Liên Sinh, là đệ tử dưới môn của Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, bái Thanh Chân Đạo Trưởng làm thầy, là người tu hành phụng hành Tiên thiên vô cực chính pháp.”
”Quả nhiên tôi đoán không sai, thì ra là môn đệ của cao nhân, Liên Sinh, đến Cung Củng An của tôi nhé?”
”Bồ Tát tha thứ, tôi đã có một Phật đường ở tại nhà mình. Tôi chỉ thích tu đạo, không thích gì khác, không thích hỏi chuyện cho người ta. Hỏi chuyện cho người ta chỉ là một sách lược rất thấp để độ chúng sinh thôi, tôi phải tu chính mình trước, chứng ngộ huyền cơ, sau đó dùng ngòi bút trong tay tôi mà khuyên người ta tu thiện tu công đức, độ người như vậy thì càng có thể khiến cho nhiều người đến quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng. Như thế không sinh không diệt, tự tính như như, đạo công viên mãn, thiên trường địa cửu.”

Trương Phủ Thiên Tuế nghe xong thì cảm động nói:
”Liên Sinh nói phải, hỏi chuyện mặc dù là pháp độ chúng sinh, nhưng khó tránh khỏi hại mình hại người. Sau này nếu có việc gì cần tiểu thần giúp đỡ thì cứ thắp hương, quay về phương hướng của tôi, niệm tên cung của tôi, tôi nhất định nhanh chóng đến tương trợ.”
”Đa tạ Bồ Tát.”
”Tôi lui đây.” - Trương Thiên Tuế từ từ ẩn đi.
”Tiễn Bồ Tát.” - Tôi chắp tay.


### 13. Ghi chép Quan Âm Bồ Tát xả thân cứu mạng


Khoảng 12 năm trước, tôi 18 tuổi, khi ấy gia đình tôi sống ở Cao Hùng, tôi thì đang học công chức ở Cao Hùng. Có một buổi tối tôi cùng bạn học Hoàng Tín Thanh đi chơi chợ đêm ở phía sau rạp hát Vạn Long. Chợ đêm có rất nhiều sạp bán hàng trên vỉa hè bày ra liên tiếp kéo dài tới tận 2km, có bán đồ ăn, cũng có đánh võ bán thuốc, những hàng rong bán quần áo may sẵn và đồ dùng hàng ngày cũng nhiều, mọi người chen chúc nhau vô cùng náo nhiệt. Cảnh chợ đêm muôn màu muôn vẻ, là một nơi rất thú vị để giải trí. 

Chúng tôi đi dạo và nhìn ngắm. Khi chúng tôi đi qua một quầy xem bói, người xem bói này bày chỗ ngồi tại đầu một con hẻm nhỏ. Việc kinh doanh của quầy xem bói này không tốt, một ông già ngồi ngây ra trong góc, nhìn thấy hai người chúng tôi bèn gọi: “Cậu thanh niên, để tôi đoán mệnh cho hai cậu, không cần tiền đâu, quẻ Văn Vương của tôi mà xem về lành dữ họa phúc thì lập tức biết ngay, cậu thanh niên không có tiền cũng không sao, tôi đoán cho hai cậu, hoàn toàn cho không đó!”

Chúng tôi nghe thấy không mất tiền thì trong lòng muốn thử xem, bèn đi qua bên đó. Bởi vì chúng tôi để cho ông cụ xem bói đoán mệnh nên không lâu sau, xung quanh quầy xem bói của cụ tự nhiên có rất nhiều người vây quanh.

Mặc dù ông cụ đã cao tuổi nhưng con mắt thì lại tỏa sáng lấp lánh. Đầu tiên ông cụ xem tướng mặt của Hoàng Tín Thanh, rồi lại xem tướng tay, hỏi họ tên của Hoàng Tín Thanh, bảo Hoàng Tín Thanh rút một quẻ. Phía trước quẻ Văn Vương đó có bày một bát hương, bát hương có thắp hương, làn khói hương lượn lờ bay lên. Ông cụ nhìn quẻ, ngó Hoàng Tín Thanh một cái rồi nói: 
”Cậu là người Hakka ở Mĩ Nùng đúng không?”
Hoàng Tín Thanh đáp:
”Vâng.”
Ông cụ nói: 
”Theo tướng mặt của cậu, cung học hành trung bình, trí tuệ bình thường. Theo tướng tay của cậu thì cuộc đời phức tạp, thời trẻ vất vả. Từ quẻ Văn Vương mà cậu rút ra thì cả đời cậu yên ổn làm một nhân viên công vụ, cuộc sống có điều kiện tốt, trong nhà không thể dựa dẫm vào ai, phải dựa vào chính mình mà tay trắng làm nên, quý nhân ở phương bắc. Trong nhà phong thủy (mồ mả) từng thay đổi một lần, cậu có biết không?”
”Dạ biết.” - Hoàng Tín Thanh nói. “Đầu năm nay mới tìm phong thủy mới để cải táng cho ông bà nội.”
”Nếu như tôi dự liệu không sai thì chỗ phong thủy này do anh cả của cậu chọn, trong phong thủy đó anh ta đã đặt phù lệnh “kim bảo nhập đại phòng”, khiến cho trán của cậu hiện lên khí sắc bần hàn, sau này khổ cậu rồi. Chàng trai, cuộc đời cậu sau này mặc dù tiền đồ bằng phẳng, nhưng cơ hội phát tài thì mờ mịt lắm.”
”Không sai, phong thủy này là do anh cháu tìm.” - Hoàng Tín Thanh nói. 
Những người xem đứng bên cạnh đều nói bói chuẩn quá.

Cụ già quay đầu qua nhìn tôi còm nhom bên cạnh, khi ấy tôi vừa gầy vừa lùn, ông cụ kéo tôi lại gần, xem tướng mặt, tướng tay kĩ càng, cũng kêu tôi rút một thẻ giống như Hoàng Tín Thanh. Ông ấy xem thẻ thì lông mày căng ra, lắc đầu nói:
”Cậu là con trưởng à?”
Tôi trả lời:
”Vâng.”
Cụ già nói:
”Tướng mặt của cậu rất phức tạp, điều này cho thấy sự phát triển sau này của cậu không có một định số nào, tính cách đặc biệt, để xem tạo hóa của cậu vậy. Xem tướng tay thì càng khiến người ta thấy kì quái, kho bạc đầy ắp, xem ra có tướng phú quý, nhưng lại có cả đường văn chương rất dài, chọc thủng vào kho bạc, tôi nghi ngờ là sau này có khả năng là cậu học nhưng cũng chẳng dùng đến. Trước mắt gia đạo bình thường, cậu cũng là người tay trắng lập nên sự nghiệp. Còn như quẻ Văn Vương thì tôi nói ra cậu đừng hoảng sợ.”
”Ông cứ nói đi! Không sao đâu.” - Tôi bình tĩnh tự tin nói.
”Trong quẻ Văn Vương cho thấy người đến đây là người có mang thần cách cõi trời, thần cách cõi trời thì rất tốt, nhưng nếu phối hợp với thân tướng của cậu, thì năm 28 tuổi sẽ xảy ra tai nạn ngoài ý muốn, mạng sống gặp đại kiếp nạn, không mất mạng không được, cậu hãy cầu Thần bái Phật nhiều vào!”
”Nhưng cháu là tín đồ Cơ Đốc mà!” - Tôi nói. Khi ấy, tôi đã được rửa tội ở Giáo hội Trưởng lão Cơ Đốc Tân Hưng, trở thành tín đồ Cơ Đốc chính thức rồi, nhà thờ cũng ở gần khu chợ đêm.
“Tín đồ Cơ Đốc à? Vậy thì tôi hết cách rồi.” - Cụ già lắc đầu.

Những người xung quanh thốt ra những lời cảm thán: 
”Ôi! Thằng bé này trông rất thanh tú, sao mà lại chết yểu chứ.”
Sau đó rất nhiều người để cho cụ già xem bói. Nói ra cũng kì lạ, cụ già đoán mệnh, hai chúng tôi đứng bên cạnh nghe, điều cụ nói chuẩn cực kì. Nhưng mà càng chuẩn thì trong lòng tôi lại càng có một khúc mắc lớn, trong lòng tôi cảm thấy cực kì không thoải mái. 

Năm Dân Quốc 60 [năm 1971], tôi 27 tuổi, năm sau là tôi sẽ 28 tuổi, tôi không hề quên câu chuyện xem bói 10 năm trước. Có một buổi tối, tôi hỏi Linh Sư: 
“Linh Sư, ngày xưa ông cụ đoán mệnh nói như vậy, không biết sự tình là thật hay giả, giả như là thật thì mạng con sắp hết rồi.”
”Liên Sinh, môn học đoán mệnh thật sự không thể coi thường, Tứ trụ suy mệnh [tứ trụ gồm 4 trụ: trụ năm, trụ tháng, trụ ngày và trụ giờ.], Hoàng cực suy số [hoàng cực là thời điểm âm dương tác động, phóng phát, sinh hóa ra vạn vật trong vũ trụ], Cân lạng của Viên Thiên Cương, quẻ Văn Vương đều không thể tùy tiện so sánh. Tuy nhiên số trời vẫn có thể thay đổi, huống hồ là vận mệnh của một con người nhỏ bé. 28 tuổi chết yểu, đích thực là xem rất chuẩn, thế nhưng quẻ Văn Vương không có cách nào tính ra được trong huệ mệnh của con từ lâu đã dựng lên một cây cầu cứu mạng, cây cầu cứu mạng này chính lúc này đã được dựng lên. Con không nhớ khi con thờ cúng Quan Thế Âm Bồ Tát, chẳng phải ta từng nói con thờ Bồ Tát, Bồ Tát tất sẽ cứu con một mạng, công đức thờ cúng Bồ Tát rất là to lớn đó!”

Khoảng dịp Giáng Sinh năm Dân Quốc 60, buổi trưa tôi đang ở nhà ăn cơm, khi ấy tôi chưa ăn chay, vẫn ăn thịt ăn cá như trước đây. Sau đó bỗng nhiên tôi bị chóng mặt đến mức tôi không thể đứng vững được nữa, dạ dày tôi cuồn cuộn, khiến tôi nôn ra hết những thịt cá vừa mới ăn vào, sàn nhà toàn là hạt cơm và bã thức ăn, mùi tanh hôi rất khó ngửi, tôi đã nôn sạch sẽ mọi thứ trong dạ dày của tôi ra.

Người nhà cho rằng tôi sinh bệnh rồi, sờ đầu thì đầu tôi chưa phát sốt, bác sĩ kiểm tra thấy vẫn khỏe mạnh. Làm gì có bệnh, rất kì lạ! Buổi tối ăn cơm, mẹ tôi nấu món canh đầu cá, đây vẫn luôn là món ăn mà tôi thích nhất. Tôi và mấy miếng cơm, uống nước canh cá. Một lúc sau, căn bệnh buổi trưa lại đến, tôi lại nôn ra đầy sàn nhà. Lần này tôi bị nôn tới mức hoa cả mắt, chóng mặt mất phương hướng, suýt chút nữa là tôi khuỵu xuống. Nôn xong, sắc mặt tôi tái nhợt, không biết phải làm sao mới được.

Cuối cùng, tôi phát hiện ra chỉ có ăn chay thì mới không bị nôn, thỉnh thoảng ăn mặn một chút là sẽ bị nôn mửa rất khủng khiếp, khổ không tả xiết. Có lẽ độc giả sẽ cho rằng đây là bị bệnh tâm lí, nhưng tôi nghĩ rằng không phải do tác dụng của tâm lí. Bởi vì kể từ sau khi ăn chay, có một lần, em gái tôi Lư Ngọc Ý bỏ cá còn thừa của bữa trưa lên trên cơm của buổi tối để hâm nóng lại, tôi không biết việc này, chỉ vừa mới ăn phải cơm thì ăn cơm xong cũng lại nôn ra hết. Điều tra ra thì hóa ra là cá đặt trên cơm để hâm nóng một chút cũng không được. Thế là tôi cứ thế liên tục ăn chay, trong thời gian đó mà chấm đến một tí ăn mặn là nôn, chắc cũng bị nôn tới hơn chục lần, đau khổ cực kì.

Tôi hỏi Linh Sư:
”Việc này là vì sao?”
Linh Sư nói:
”Lành thay diệu pháp này, lấy mạng đổi mạng, tự nhiên tiêu diệt, đánh trúng được đại kiếp.”

Tôi ăn chay ròng rã từ tháng 12 năm 60 đến tháng 12 năm 61 [tức là từ năm 1971 đến 1972]. Vào một ngày của tháng 12 năm 61, em gái tôi Lư Ngọc Ý dùng dầu đã rán lạp xưởng để xào rau, tôi ăn vào thì lần này không nôn nữa, hơn nữa cũng không xuất hiện hiện tượng chóng mặt. Quái lạ! Quái lạ! Tính đếm ngày tháng thì tròn đúng một năm.

Tôi hỏi Linh Sư:
”Việc này là vì sao?”
Linh Sư nói:
”Ngày ấy đã qua, số kiếp đã tiêu trừ, lấy mạng đổi mạng, nhân duyên đã hết rồi. Trước đây con ăn chay là Thần Phật cưỡng ép con phải ăn như vậy, ngày ngày đều có Giới Thần giám sát con. Hôm nay đại công đã hoàn thành, Giới Thần đã bỏ đi, con lại trở về là chính mình như trước đây. Ăn chay hay ăn mặn đều không ép buộc nữa, tùy ý con đi! Nếu con không tin, trở về Phật đường xem Quan Thế Âm Bồ Tát mà con cúng dường là con sẽ hiểu ngay thôi.”

Nghe Linh Sư nói như vậy, tôi cẩn thận quan sát Quan Thế Âm Bồ Tát, bức tượng sứ Quan Thế Âm Bồ Tát toàn thân từ đầu đến chân xuất hiện những vết nứt, nứt thành hình dạng như một mạng lưới phân bố khắp toàn thân, điều này hoàn toàn khác với Quan Thế Âm Bồ Tát mà tôi cúng dường ba năm trước. Khuôn mặt hiền từ vốn có giờ đây đã bị chia năm xẻ bảy, từ đầu đến chân không có một chỗ nào nguyên vẹn, chuyện này là thế nào đây?

Sau sự việc này tôi mới hiểu, lẽ ra năm 28 tuổi là mạng tôi đã kết thúc rồi, tôi sẽ gặp tai nạn bất ngờ, tay chân sẽ gãy nát. Tôi ăn chay một năm, dùng công đức chính mình không sát sinh, không ăn mặn, cộng thêm Quan Thế Âm Bồ Tát xả thân chịu thay nên đã cứu được tôi một mạng. Tôi cúng dường ngài, thế mà ngài lại bị nứt vỡ (vô duyên vô cớ mà toàn thân lại xuất hiện những vết rạn nứt), Bồ Tát vĩ đại, tôi làm sao mà báo đáp ngài được một phần vạn đây? Hiện tại vị Quan Thế Âm Bồ Tát này tôi vẫn tiếp tục thờ cúng, ngài là vị Bồ Tát vĩ đại số một ở trong Lôi Tạng Tự của tôi. 


### 14. Thăm cư sĩ Chu Phi


Cư sĩ Chu Phi là tổng biên tập tờ nguyệt san Phật giáo Cây Bồ Đề. Trong thế giới tâm linh nhỏ bé của tôi, tôi nghĩ con người này một khi đã là tổng biên tập của một tờ nguyệt san Phật giáo rồi thì nhất định là một đại sư Phật học và Linh học. Bởi vì ngộ cảnh của tôi đặc thù, nếu tôi có thể từ chỗ của cư sĩ Chu mà có được một vài khai sáng về pháp, có thể trên phương diện tu luyện lại lên được một tầng cao mới cũng chưa biết chừng. Thế là tôi theo địa chỉ tìm đến nơi ở của cư sĩ Chu. Khi ấy ông ấy sống ở gần khu chung cư Đài Trung. Tôi lên tầng, nói thẳng về ý định mà tôi đến. 

Vợ chồng cư sĩ Chu rất đỗi ngạc nhiên, lắc đầu nói:
”Thiên hạ làm gì có chuyện như thế, lấy đâu ra chuyện như vậy.” 
Bà Chu còn niệm chú Đại Bi vào tôi lia lịa, tôi nói:
”Bà Chu, tôi cũng mỗi ngày đều trì tụng chú Đại Bi một lần đấy.”
”Ôi! Thật sao.”
Bà Chu tỏ ra rất ngại ngùng, đối với bà Chu mà nói, Lư Thắng Ngạn tôi không phải bị thần kinh thất thường thì cũng là bị ma nhập, chú Đại Bi là Thiên Thủ Thiên Nhãn đại bi tâm đà-la-ni, đuổi tà trục ma có hiệu lực lớn, không thể coi thường pháp lực của thần chú này. Nhưng Lư Mỗ tôi cũng trì chú Đại Bi, thậm chí niệm xuôi đọc ngược tôi đều thuộc làu như cháo chảy. Ví dụ như chú Lăng Nghiêm, vua của các câu chú trong Phật môn, từ lâu tôi đã thuộc nằm lòng, mỗi buổi sáng lúc 4 giờ, Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh ép tôi thức dậy, bắt quỳ xuống niệm chính là chú Lăng Nghiêm.

Cư sĩ Chu trầm ngâm không nói, rất lâu sau mới nói một câu:
”Cái mà anh gặp đại khái là tâm ma rồi! Tâm ma thì không thuốc gì cứu chữa được.”
Tôi nói:
”Người vì đạo giống như khúc gỗ nổi trên mặt nước, xuôi theo dòng mà chảy, không chạm vào hai bên bờ, không bị quỷ thần ngăn trở, không bị dòng nước xoáy hút vào, cũng không bị mục nát, như thế thì khúc gỗ này nhất định sẽ đi ra biển. Người học đạo không bị tình dục mê hoặc, không vướng víu vào những thứ xấu xa, thanh tịnh vô vi, có thể không đắc đạo sao? Câu nói này cũng chính là Phật nói, giờ đây tôi tinh tấn như vậy, có được kì duyên, lẽ nào lại là tâm ma sao?”

Vợ chồng cư sĩ Chu ngây ra nhìn tôi, một câu cũng không trả lời được. Chu Phi nói: 
”Anh Lư, xin bỏ qua cho chúng tôi kiến thức không đủ, nhưng anh có thể đi tìm thầy của chúng tôi là cư sĩ Lí Bỉnh Nam, chúng tôi đều là học sinh của ông ấy, ông ấy tin Phật tương đối lâu rồi, kiến thức tương đối rộng, có lẽ ông ấy có thể trả lời câu hỏi của anh. Cảnh ngộ của anh thật sự là quá kì quái, nhưng Phật đạo rốt cục là có sự sai khác, thầy Lí là đại sư Phật học, anh tìm thầy ấy là được.”
”Cảm ơn cư sĩ đã giáo huấn, tôi sẽ khắc sâu trong lòng.” 

Tôi bái lạy tượng Phật và tượng Địa Tạng Vương mà cư sĩ Chu thờ cúng trong nhà rồi cáo từ và đi ra phố. Trong lòng tôi bộc phát rất nhiều nghi vấn, thật sự là tâm ma gây ra chuyện sao? Đúng vào lúc nghi ngờ trong lòng tôi khởi lên, trước mắt tôi bay lên một vòng ánh sáng, ánh hào quang tỏa ra bốn phía, bên trong có một vị Bồ Tát đội mũ Ngũ Phật đang ngồi, Bồ Tát nói:
”Ta chính là phân linh của Địa Tạng Vương Bồ Tát ở núi Cửu Hoa, thấy con nghi ngờ, ta đặc biệt đến để nói cho con rõ. Tính không thay đổi, tức là tu hành không có một tí mong cầu nào, chính là nơi an thân lập vị, không bao giờ được quên chính mình là Phật Tổ. Liên Sinh, Phật loại chính là dị loại, dị loại chính là Phật loại, đi vào dị loại có chướng ngại, đi vào Phật loại lại càng có chướng ngại, nhớ kĩ, nhớ kĩ, chớ quên, chớ quên. Sau này chính là thời kì thử thách và rèn luyện của con, ta đặc biệt nói cho con biết, chớ nghi ngờ, đừng nghi ngờ.”

Nói xong, ánh hào quang ấy đã xuyên vào bầu trời đi mất, trong sát-na đã không thấy nữa, còn tôi đứng giữa đường, đứng ngay ngã tư, gió lạnh thổi vù vù, trong lòng tôi lạnh thấu. 


### 15. Thăm cư sĩ Lí Bỉnh Nam


Trong giới Phật giáo, uy tín của cư sĩ Lí Bỉnh Nam không thua kém gì những đại hòa thượng xuất gia. Thứ tư hàng tuần, ông ấy có buổi giảng kinh tại thư viện Từ Quang. Ngày thứ năm hàng tuần, tại bệnh viện Bồ Đề thuộc chùa Phật giáo Thiện Quả Lâm, thầy Lí giảng kinh A Di Đà rất nổi tiếng, các trường đại học, học viện, câu lạc bộ Phật giáo của miền trung, những người học Phật trẻ tuổi rất sùng kính cư sĩ Lí Bỉnh Nam. Thầy Lí Bỉnh Nam còn nhận giảng dạy tại trường cao đẳng, uy tín của ông ấy bất kì người học Phật nào cũng biết. 

Tuy vậy, tuổi tác của thầy Lí cũng đã nhiều dần rồi, già rồi. Khi tôi đến thăm ông ấy, đó là lúc chạng vạng một ngày mùa hè, tôi tìm đến nhà số 9 đường Chính Khí ở thành phố Đài Trung. Lí Bỉnh Nam tiên sinh đi ra mở cửa, tôi chắp tay trước ông ấy và niệm một câu Phật hiệu, ông ấy cũng đáp lại bằng một câu Phật hiệu. Chúng tôi ngồi trong phòng khách, tôi bày tỏ rằng tôi đến để thỉnh giáo ông ấy, rồi sau đó, tôi kể ra từ đầu đến cuối trải nghiệm của chính mình và xin ý kiến ông ấy xem chuyện này là thế nào. 

“Thiên hạ có những chuyện như vậy sao?” - Cư sĩ Lí hoài nghi hỏi.
”Không hề giả, đích thực là như vậy.” - Tôi nói chắc như đinh đóng cột.
”Tôi cho rằng đó không phải là thần, mà là ma. Những thần mà anh nhắc đến gần như đều là thần ngoại đạo, Phật mới là tột cùng, tột cùng và không tột cùng chính là sự khác biệt giữa Phật và thần. Giống như Thổ Địa Công này, Thành Hoàng này, tôi không phải không tin, mà là căn bản tôi chỉ tin Phật, không để ý đến họ, thần tiên ngoại đạo toàn là hưởng thụ phúc báo của trời mà thôi, tự thân họ còn không đảm bảo được thì làm sao có thể độ người? Bản thân anh hãy cẩn thận, thận trọng, pháp thuật của ma cố nhiên là lợi hại, nhưng tà không thắng chính, chỉ có sửa cho ngay suy nghĩ của mình mới xem là chính niệm, chính tri chính pháp.”
”Nhưng vì sao Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh lại bảo cháu bái Phật niệm Phật? Bái Phật niệm Phật này chẳng phải là bất lợi đối với bản thân ma sao?” - Bởi vì tôi đã trải nghiệm cảnh giới kì dị này, đương nhiên không thể ngay một lúc mà tin lời của thầy Lí được. 
”Anh không hiểu niệm Phật cũng sẽ gặp ma à?”
”Sao cơ ạ? Niệm Phật cũng có thể gặp ma, thế sao vừa bảo người ta niệm Phật, lại vừa bảo người ta đừng niệm, chuyện này là như thế nào?”
”Trước mắt anh tạm thời sẽ không hiểu được điều này đâu, tóm lại, tốt nhất là anh hãy bỏ ngay sự quấy nhiễu của họ, hãy chăm chỉ đọc một vài kinh Phật, sống một cuộc sống của người bình thường, bằng không sẽ lấy mê dẫn mê, chung quy vẫn là mê. Anh không cần nghe lời họ, bằng không họ sẽ hút hết tinh hoa thân thể của anh, sức khỏe anh sẽ càng ngày càng sút kém, cuối cùng không chống đỡ nổi nữa thì sẽ chết, khi ấy đừng trách Lí Bỉnh Nam tôi không khuyên can anh.”
”Khoan đã thầy Lí, Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sư đối với cháu chưa bao giờ có ác ý, những Phật Bồ Tát mà cháu đã gặp đều từ bi từ thiện, không hề có một chút thái độ hung ác nào. Các vị dạy cháu phải quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng, dạy cháu một lòng hướng Phật, một lòng hướng pháp, một lòng hướng thiện, lẽ nào những điều này đều là sai sao? Còn nữa, thân thể cháu chưa bao giờ cảm thấy khó ở, trái lại thân thể càng ngày càng khỏe mạnh, không hề có chỗ nào không ổn cả!”
”Ồ!” - Lí Bỉnh Nam nói: “Cái này tôi cũng chẳng có cách nào hiểu được.” 

Từ trong tủ sách, ông ấy rút ra một cuốn “Khái niệm Phật học” đưa cho tôi, hỏi tôi:
”Lần tới Phật Giáo Liên Xã sẽ quy y cho các tín đồ Phật giáo, anh hãy đến quy y đi! Bình thường anh đọc sách gì?”
”Cháu thích Triệu Châu [thiền sư Trung Quốc Triệu Châu Tùng Thẩm (778-897)], Vân Môn [thiền sư Trung Quốc Vân Môn Văn Yển (864-949)], Vĩnh Minh [tổ sư Vĩnh Minh Diên Thọ (904-975)], Tuyết Đậu [thiền sư Trung Quốc Tuyết Đậu Trọng Hiển (980-1052)], Viên Ngộ Khắc Cần [thiền sư Trung Quốc (1063-1135)], đọc một số bảo điển Thiền tông như “Truyền Đăng Lục”, “Ngũ Đăng Hội Nguyên”, “Lục Tổ Đàn Kinh”. Còn kinh Phật thì cháu đều đọc hết.” - Tôi thật sự rất thích đọc kinh sách, kinh sách trong nhà tôi đã chất cao như núi.
”Cuốn “Khái niệm Phật học” đương nhiên là hơi đơn giản, nhưng anh đọc thử cũng không có hại gì.” - Thầy Lí vừa nghe tôi đọc nhiều kinh sách như vậy thì nét mặt có biểu hiện hoảng hốt, rất hiển nhiên, cuốn “Khái niệm Phật học” quá nông. 

Tôi cáo biệt thầy Lí và trở về nhà. Đêm ấy, Linh Sư đã đến, Linh Sư nói:
”Lời của cư sĩ Lí con thấy thế nào?”
”Linh Sư, thầy biết à?”
”Sao lại không biết, ta ở ngay bên cạnh con, ta nhìn thấy cư sĩ Lí Bỉnh Nam, nhưng huệ nhãn của cư sĩ Lí thì lại không nhìn thấy Pháp thân Vô sắc giới của Tam Sơn Cửu Hầu ta.”
”Điều cư sĩ Lí nói, Linh Sư có cảm tưởng gì?”
”Phật là vô thừa, Đạo là vô cực, hoa đỏ lá xanh và ngó sen trắng, thiên hạ vốn dĩ là một nhà. Thật đáng thương! Người người không biết nghiệp báo kiếp trước, cho rằng là ngũ uẩn ngăn trở, cho rằng là thiên ma ngoại đạo, ra khỏi thiên ma ngoại đạo rồi thì lại bị Phật pháp ngăn trở, nhập Phật pháp bị cho là cản trở Phật pháp, kiến thức quá nông, lấy mê dẫn mê, lại còn nói ra những đạo lí lớn kinh thiên động địa. Tiếc thay! Tiếc thay! Nhiều lần trải qua trăm cay nghìn đắng, kết cục là vẫn còn bám chấp, chấp vào Phật pháp, quên mất bản thân chính là một Phật tử rồi!” - Linh Sư nói xong mấy câu này rồi cũng không nghe thấy tin tức gì nữa. 

Sau đó, tác giả từng đến thăm rất nhiều cao tăng Phật giáo, kể ra thì có Thánh Ấn, Sám Vân, Đạo An, Chấn Quang, Nam Đình, v.v… Trong số đó chỉ có pháp sư Chấn Quang là hơi tin tưởng, còn những pháp sư khác đều nói: “Không đáng tin.”


### 16. Quy y và thọ Bồ Tát giới


Quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng, đây là tam quy y. Quy y Tam Bảo, cúng dường Tam Bảo là quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của tín đồ Phật giáo, chúng sinh học Phật là để thành Phật, và muốn thành Phật thì nhất định phải quy y.

Tác giả theo chỉ thị của Linh Sư, tại Đài Trung Phật Giáo Liên Xã đã quy y dưới chân của Ấn Thuận đại pháp sư, pháp danh là Huệ Ngạn. Hai chữ Huệ Ngạn này là cư sĩ Lí Bỉnh Nam đặt cho tôi. Cùng ngày, mẹ tôi cũng thọ tam quy y, pháp hiệu của mẹ tôi là Huệ Uẩn. Vào lúc ấy, trong nhà tôi đã tự sắp đặt một Phật đường nhỏ, ban đầu như vậy là cũng có quy mô, tôi cúng dường Đạo gia phái Diêu Trì, Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn làm chủ thần. Ngoài ra còn thờ giáo chủ Phật giáo Bổn tôn Thích Ca Mâu Ni Phật làm chủ. Lại thờ Địa Tạng Vương Bồ Tát làm chủ, ngoài ra còn có Quan Thế Âm Bồ Tát và các vị Đại Bồ Tát. Mẹ tôi và tôi sớm tối dâng hương cúng trà thơm, mỗi lần vào mồng một, ngày rằm hoặc ngày Quán Âm Trai, chúng tôi lễ Phật tụng kinh, kinh chú do một vị tì kheo ni là sư cô Thượng Lâm ở chùa Từ Minh truyền dạy cho một chút, còn những cái khác đều là do pháp sư Thiện Tứ trụ trì khai sơn của chùa Từ Âm truyền thụ cho. 

Thầy quy y của tác giả - Thượng Ấn Hạ Thuận, là một phái của đại sư Thái Hư tổ truyền một dòng cho pháp sư Ấn Quang, thuộc phái Tam Luận Tông, pháp môn niệm Phật, tôn sùng kinh A Di Đà, Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông Chương, Vãng Sinh Luận. Ba kinh luận này chính là bảo điển của Tịnh Độ tông. Tôi cùng mẹ tôi học kinh sám và chú ngữ, hoặc hát hoặc đọc, người ta học một tháng, tôi và mẹ tôi chỉ cần một tuần, người khác phải học một tuần thì chúng tôi chỉ cần một ngày. Tóm lại, hễ học là hiểu, hễ hiểu là nhớ chắc luôn, dường như kiếp trước chúng tôi đã từng học qua rồi. Chú ngữ có khó thế nào, chú ngữ có dài thế nào thì cũng có thể thuộc làu làu như cháo chảy.

Năm Dân Quốc 61 (năm 1972 công nguyên), chùa Bích Sơn Nham ở Nam Đầu kỉ niệm tròn 220 năm khai sơn (tính từ năm Càn Long 17). Trụ trì của chùa Bích Sơn Nham là pháp sư Như Học phát tâm truyền thụ Hộ Quốc Thiên Phật giới hội, mời các đại đức cao tăng trong và ngoài nước phân chia nhau nhận các chức việc giới đàn. Vào ngày 17 tháng 4 (tức ngày mồng 4 tháng 3 âm lịch) khai đường truyền giới. Tác giả biết rằng: giới là căn bản của xuất thiện diệt ác, là hạt giống siêu phàm nhập thánh, duy có thọ trì thánh giới của Như Lai, nếu có thể vì việc sinh tử đại sự mà siêng năng cầu đạo chân chính thì tất có thể chứng đắc đạo bồ đề, vì thế tôi hân hoan đi thọ giới.

Trong lúc thọ giới, tôi sâu sắc lĩnh hội được khai thị của giới sư. Đắc giới hòa thượng - lão pháp sư Huệ Tam nói: “Giới hòa thượng là người truyền thụ cho các anh chị giới pháp; Yết ma hòa thượng là người dạy cho các anh chị làm pháp, làm pháp là sám hối tất cả nghiệp tội; Giáo thụ hòa thượng là người dạy anh chị uy nghi, dạy anh chị dựa theo giáo pháp mà làm. Các anh chị đã đến nhận Bồ Tát giới thì cần phát tâm bồ đề. Bồ Tát chính là tự lợi lợi tha, lấy việc làm lợi cho người khác làm tôn chỉ. Phật giáo Tiểu thừa A La Hán là lấy việc lợi mình làm tôn chỉ, lợi người chính là cứu độ tất cả chúng sinh, tu lục độ vạn pháp.”

Yết ma hòa thượng - lão pháp sư Hiền Đốn khai thị: “Các vị phải biết, từ vô thủy kiếp đến nay, những nghiệp tội mà chúng ta đã tạo ra là cái gì? Chính là tâm có ba loại nghiệp tội, thân có ba loại nghiệp tội, khẩu có bốn loại nghiệp tội. Ba nghiệp tội của tâm, thứ nhất chính là tâm tham, kinh nói rằng người có tâm tham sau khi chết sẽ đọa vào âm gian làm ngạ quỷ; thứ hai là tâm sân hận, người có tâm này sau khi chết sẽ đọa vào địa ngục; thứ ba là tâm ngu si, tức là không biết rõ thị phi đúng sai, tự làm tự chịu, sau khi chết đi đọa làm súc sinh. Còn ba nghiệp của thân, thứ nhất là nghiệp sát, không nghe được đạo lí của Phật Tổ; thứ hai là nghiệp trộm, người trộm cướp không nghe được đạo lí của Phật; thứ ba là nghiệp dâm, người phạm dâm không nghe được chính pháp của Phật. Khẩu có bốn nghiệp chính là ác khẩu [nói lời xấu ác], hai lưỡi [lươn lẹo đặt điều], vọng ngữ [khoác lác], ỷ ngữ [nói lời khiêu dâm]. Mười loại nghiệp tội này chính là mười điều ác, mười điều ác này có thể thay đổi, thay đổi thành mười điều thiện.”

“Kinh nói rằng: “Tội từ tâm khởi thì tâm sám hối, nếu tâm diệt thì tội cũng diệt, tâm vong tội diệt thì hai cái đều không, đây gọi là thật sự sám hối.” Cho nên Giới tràng gọi là Sám hối đường. Nhục thân của các anh chị là do bố mẹ anh chị sinh ra, thân Phật Bồ Tát sau này là phải dựa vào giới sư mà sinh ra. Người đắc giới phải buông bỏ hết tất cả gia sự vạn duyên, chuyên tâm lễ Phật sám hối, học tập giới pháp, theo thời gian đạt thành tựu cho đến khi thành Phật.”

Giáo thụ hòa thượng - lão pháp sư Giác Quang khai thị: “Cái gọi là ba nghìn uy nghi, tám vạn tế hành, nói chung quy lại không nằm ngoài bốn uy nghi đi, đứng, ngồi, nằm. Đi phải như gió, đứng phải như cây tùng, ngồi phải trên tế dưới thô, bốn bề yên tĩnh, không động không lắc, trang nghiêm tự nhiên. Còn nằm tức là ngủ, ngủ phải nằm cong như cung, nằm nghiêng bên phải là cát tường.”

Tác giả sau đó đã phát mười bốn đại nguyện, mười bốn đại nguyện này là cho đến tận cùng sau này: 

1. Thường năng niệm Phật, thân cận với thiện tri thức. 
2. Thường năng xả li các ác tri thức. 
3. Thậm chí gặp nhân duyên mất mạng cũng không phạm giới. 
4. Thường năng đọc kinh luật Đại thừa, nghiên cứu ý nghĩa sâu xa của chúng. 
5. Thường năng làm vô thượng bồ đề, sinh tín tâm. 
6. Nếu gặp chúng sinh đau khổ thì phải năng giúp đỡ. 
7. Thường tùy sức mà cúng dường Tam Bảo. 
8. Thường năng hiếu thuận cha mẹ, tôn kính bậc thầy. 
9. Thường bỏ thói lười biếng, siêng năng cầu Phật đạo. 
10. Khi mọi phiền muộn phàm trần sinh ra, có thể chế ngự tâm mình. 
11. Thề nguyện độ chúng sinh không giới hạn. 
12. Thề nguyện cắt đứt phiền não vô biên. 
13. Thề nguyện học vô lượng pháp môn. 
14. Thề nguyện thành tựu Phật đạo vô biên.

Phát nguyện xong, thầy Huệ Tam trước Phật, nói sang sảng: “Trông ra mười phương, vô biên vô tế, trong các thế giới, Chư Phật Bồ Tát. Nay tại đất nước Đài Loan, huyện Nam Đầu, trấn Nam Đầu, chùa Bích Sơn Nham, hiện có Lư Thắng Ngạn Bồ Tát, Huệ Tam Bồ Tát con đã ba lần thuyết giảng thọ Bồ Tát giới, con làm nhân chứng. Chỉ mong mười phương, vô biên vô tế, trong các thế giới, Chư Phật Bồ Tát, đệ nhất chân thánh, dù hiện không hiện, mọi lúc mọi nơi, tất cả hữu tình, đều đã thấy Lư Thắng Ngạn thọ Bồ Tát giới, cũng đều làm chứng. Hiền từ thương xót! Đại hiền từ thương xót!”

Khi thầy Huệ Tam đọc bài văn này, tôi nghe thấy trong không trung có tiếng sấm rền, như tiếng gầm sư tử làm rung chuyển trời đất. Tôi quay đầu lại nhìn những người khác, họ đều không cử động, dường như họ đều không nghe thấy gì. Sau tiếng sấm rền vang, có âm thanh như tiếng nhạc hát rằng: “Giới như nhật nguyệt sáng, cũng như chuỗi ngọc châu, Bồ Tát như vi trần, vì là thành chính giác. Chúng sinh nhận giới Phật, tức nhập vào Phật vị, cùng đạt thành đại giác, thật là các Phật tử.”

Trong khoảng thời gian thọ giới, tôi thấy pháp sư truyền thụ U minh giới, là bởi những Bồ Tát mới nhận giới vì để báo đáp ơn thân nên đã thay cho cha mẹ và quyến thuộc trong quá khứ thỉnh cầu truyền thụ U minh giới. Buổi tối pháp sư thăng tọa, những linh hồn thọ giới cũng đông xấp xỉ như người sống, long trọng nghênh đón thầy Huệ Tam triệu thỉnh linh hồn người chết nhập đàn. Đại diện bưng linh vị của người chết cùng hướng về phía trước quỳ thành hàng dài, tất cả đồng thanh thay người chết xin thọ giới. Giới hòa thượng Từ Doãn hát lời khuyên bảo các vong linh rằng: “Các linh hồn hãy chăm chú lắng nghe, “Kinh Phạm Võng” nói rằng, nếu người nhận Phật giới, Quốc vương, Vương tử, các quan lại, tể tướng, tì kheo, tì kheo ni, mười tám Phạm Thiên, lục dục thiên tử, thứ dân hoàng môn, dâm nam dâm nữ, nô tì, bát bộ quỷ thần, kim cang thần, súc sinh, thậm chí người biến hóa, chỉ cần hiểu được lời của pháp sư, cố gắng thọ giới, đều gọi là người đệ nhất thanh tịnh. Đây chính là Phật từ bi bình đẳng, phổ tế chúng sinh trong tam giới…”

Khi truyền thụ U minh giới, tác giả khai mở linh cơ, mở to mắt nhìn ra, nhìn thấy phía trước chùa Bích Sơn Nham là một đại đường mênh mông, sóng biển trào dâng, đợt sóng này nối tiếp đợt sóng khác. Trong làn sóng biển có một đám u linh đang lắc lắc lư lư đi ra, hình dạng của họ không giống nhau, dị hình dị dạng, cả đời tôi chưa từng nhìn thấy. Từng lớp từng lớp quái nhân quái vật chen nhau chạy về phía bậc thềm của chùa Phật, hướng đến Phật Bồ Tát và thầy Huệ Tam trong điện đảnh lễ chắp tay vái lạy. Trong đám u linh có kẻ không đầu, có kẻ không tay, thậm chí có kẻ ba đầu sáu tay, đều nhất tề đến tham gia lễ hội u minh long trọng. Tôi nhìn một lúc thì cảm thấy đâu chỉ có như vậy, tôi lại thu khởi linh cơ, lại mở to mắt ra nhìn, phía trước chùa trống không, cúng phẩm và bàn cúng bày thành hai hàng, pháp khí kêu leng keng, các tì kheo, tì kheo ni hát vang Phạn âm. 

Trong bản văn này, tôi ghi chép lại một sự việc nhỏ. Trong các giới hữu có một vị họ Chu tên Tâm Di, 51 tuổi, là người Giang Âm tỉnh Giang Tô, là đệ tử dưới môn của pháp sư Nam Đình, pháp hiệu là Quán Nhẫn. Ông ấy nói với tôi rằng sắp đi Malaysia, nhưng xin visa mãi vẫn chưa được, rất lo lắng. Bởi vì mãi vẫn chưa đi được nên tôi cười với ông ấy và nói rằng: 
”Tôi bói cho anh một quẻ xem sao nhé?”
”Cậu biết đoán mệnh à?” - Ông ấy lắc đầu không tin.
”Thử xem là biết.” 

Tôi dẫn ông ấy đến từ đường Trung Liệt ở gần đó, nơi đó rất yên tĩnh. Tôi nhặt lấy mười hai viên sỏi, thổi ba hơi khí vào các viên sỏi. Tôi niệm thầm kinh chú và sinh thần bát tự của Chu Tâm Di. Tôi tung sỏi lên, chúng rơi xuống giống như mưa. Tôi đếm những viên sỏi phân tán ra, tổng cộng bảy viên, còn năm viên khác thì cách nhau khá gần. Sau đó tôi bảo Chu Tâm Di nhặt một viên sỏi đưa cho tôi. Ông ấy cúi người nhặt lên, không ngờ lại là một viên bị khuyết một góc. Tôi nói:
”Vận khí của ông thật tốt. Tháng bảy năm nay nhất định sẽ lên đường, tháng bảy có thể đi Malaysia được.”
”Pháp sư Diễn Bồi ở Malaysia, tôi có thể đến thăm ông ấy rồi.” - Chu Tâm Di nói.

Một tháng sau khi thọ giới, Chu Tâm Di chạy đến nhà tôi, vừa nhìn thấy tôi thì đã muốn bái tôi làm thầy, tôi hỏi có chuyện gì.
”Chuẩn! Chuẩn quá, quả nhiên tháng bảy tôi sẽ lên đường, cậu truyền cho tôi mấy chiêu tướng thuật đi.” - Chu Tâm Di xúc động nói.
Tôi dạy ông ấy một bộ tướng pháp thực dụng. Ông ấy hết lời cảm ơn tôi rồi đi xuất ngoại. 


### 17. Thuật độ vong


Buổi tối một ngày tháng bảy năm 61 [năm 1972], tôi đang ngủ say thì nghe thấy tiếng chíp chiu chói tai ở góc phòng, giống như chim kêu, lại giống như tiếng kêu của côn trùng mùa thu. Tôi nghe kĩ hơn mới cảm thấy đó là mấy người đang nói chuyện, trong đó có người nói: 
”Ôi! Hôm nay ở ké đây đi! Ngày mai có thể được ăn một bữa no.”
”Ngày mai là pháp hội siêu độ của chùa Pháp Hoành, không biết là mời vị pháp sư nào làm chủ đàn nhỉ? Nếu chỉ là loại pháp sư “nửa bình nước” thì chẳng thể nào tháo nổi xiềng xích trên tay tôi đâu!” [”Nửa bình nước” là một cụm từ lóng, để chỉ những người có kiến thức nông cạn nhưng lại hay kêu to, bởi vì bình nước chưa đầy khi lắc mới có tiếng kêu. Ngược lại, bình nước đầy khi lắc không có tiếng kêu, vì thế cụm từ “bình nước đầy” cũng là cụm từ lóng để chỉ những người có học thức sâu dày thì thường khiêm tốn ít nói.]

Lúc này tôi nghe thấy âm thanh của tiếng xích sắt va đập vào nhau. Có một người khác lại nói: 
”Nhỏ tiếng một chút, đừng đánh thức người ta dậy.”

Sáng hôm sau tỉnh dậy, tôi tra danh bạ điện thoại, gọi một cú điện thoại đến chùa Pháp Hoành:
”Xin hỏi ngày hôm nay quý chùa có pháp hội siêu độ không?”
”Có chứ! Có phải anh muốn báo danh cho người thân và tổ tiên không? Muốn báo danh thì phải nhanh lên đó! Sớ văn của pháp hội đã sắp viết xong rồi.”
Tôi nói cảm ơn rồi gác điện thoại. Từ sự việc ấy, tôi hiểu rằng vong linh thật sự có tồn tại thật. 

Lúc chập tối cùng ngày, tôi chạy đến chùa Pháp Hoành. Pháp sư đầu đội mũ Ngũ Phật, ngồi yên ở chính giữa, hai bên có tì kheo ni cầm pháp khí, tiếng tụng kinh rất vang vọng. Pháp sư tạo thế tay diễm khẩu, cũng chính là thủ quyết độ vong (Linh Sư từng dạy tôi lúc đêm khuya). Tôi vận linh đến hai mắt, phát hiện ra biển người đang ào đến, đi đi lại lại khắp nơi. Cảnh tượng này cũng giống như những gì tôi nhìn thấy ở chùa Bích Sơn Nham. Có hai con ma cầm gậy tre xuyên qua sợi dây ở bao gạo, nhấc lên rồi khiêng đi. Cảnh tượng này rất đặc biệt, bao gạo thì vẫn nằm yên đó nhưng hai con ma thì đã khiêng linh khí của bao gạo đi rồi. 

Tôi phát hiện ra điều mà đám âm hồn kia gọi là ăn một bữa no không phải là ăn thịt cá gà vịt hữu hình, mà là đánh cắp cái khí của thịt cá gà vịt, cái mà bọn họ ăn chính là khí vô hình, còn người sống chúng ta thì ăn những thứ hữu hình. Hiện tượng này chứng minh thức ăn mà người sống ăn nhất định cũng có một dạng khí đặc thù ở trong đó.

Có lẽ độc giả đọc đến đây sẽ cảm thấy rất kì quái, Lư Thắng Ngạn có con mắt âm dương sao? Không phải, tôi không có con mắt âm dương, phương pháp mà tôi nhìn thấy u linh gọi là pháp khởi âm nhãn, là một dạng vận dụng linh. Một số pháp sư ngồi ở ghế chủ nếu không nhìn thấy được u linh thì cũng không có cách nào tháo được những xiềng xích trên người vong hồn. 

Đúng vào lúc tôi nhìn thấy cảnh náo nhiệt thì ai dè trước mắt tôi có một bóng đen đang ngồi chồm hỗm khiến tôi giật mình đánh thót. Bóng đen nói:
”Thiện nhân, cầu xin anh cởi sợi dây xích trên tay tôi ra đi!”
”Sao anh không đi cầu pháp sư mà lại cầu tôi chứ?”
”Pháp sư đã niệm chú rồi, tay cũng kết thủ pháp rồi, mồ hôi cũng chảy ròng ròng rồi, thế mà xiềng xích trên tay tôi chẳng hề động đậy tí tẹo nào, pháp sư vung tay áo một cái, tôi đứng không vững nên bị thổi qua một bên. Tôi đã cầu Phổ Độ Công - Giám Phổ Quỷ Vương, Quỷ Vương lắc đầu, sau đó Quỷ Vương chỉ điểm cho tôi rằng hãy cầu cái người mặc áo sơ mi đứng ở bên kia, có lẽ anh ta có thể cởi được xiềng xích trên tay anh đó! Vì thế tôi mới cầu xin anh.”
”Cũng được. Để tôi thử xem.” 

Kinh nghiệm mấy lần khiến tôi cảm thấy can đảm hẳn lên, đối diện với con ma mà chẳng hề thấy sợ hãi. Vốn dĩ ma là ma, người là người, ma không hại người, người không hại ma, căn bản là không có gì đáng sợ, đây chính là bình sinh không làm việc hổ thẹn lương tâm thì nửa đêm có tiếng gõ cửa lòng cũng không kinh sợ.”

Tôi niệm thầm ba biến chú Vãng sinh tịnh thổ đà-la-ni, con ma lắc lắc đầu, tay của nó vẫn bị xích chặt lại. Thế rồi trong miệng tôi niệm: “Đệ tử Liên Sinh, phụng Tiên thiên vô cực chính pháp, sai khiến các thần Lục Giáp Lục Đinh, thiên du thập nhị Khê Nữ, Na Diên Thiên Nữ, thống nhiếp thần binh ba viên Đại Tướng…” Khi ấy hai tay tôi chắp lại, nhưng bàn tay bỗng nhiên tự động kết ấn trạng, thủ pháp tự nhiên bổ từ trên xuống dưới. “Keng” một tiếng, hai tay của con ma kia đã tách khỏi nhau, bóng đen phủ phục trên mặt đất, liên tục khấu đầu. Đột nhiên con ma lao về phía bàn thờ, dẫn về rất nhiều rất nhiều bóng ma tay bị khóa chặt, có lẽ phải có tới hơn hai mươi ma. Lần này phiền phức thật sự quá lớn, tôi liên tục niệm chú, cũng liên tiếp kết thủ pháp, bầy ma lần lượt tiếp nhận chú ngữ và thủ pháp, và con nào con nấy vui mừng khôn xiết rập đầu xuống đất rồi rời đi.

Khi ấy tôi đứng im bất động, tay liên tục kết ấn, liên tục vung thủ pháp, khiến cho những người đứng cạnh đó nhìn thấy, có lẽ người ta sẽ cho rằng cậu thanh niên này đột nhiên bị thần kinh phát tác rồi! Họ làm sao biết được tôi đã tháo xiềng xích cho biết bao nhiêu ma quỷ như vậy chứ! Người ta cười tôi thì mặc họ cười đi! Có ai có thể hiểu được? Có ai có thể thấy rõ? Pháp sư ngồi trên bục, khoa tay múa chân đầy ấn tượng, cố nhiên là có tồn tại những pháp sư thực học và thật sự hiểu đạo pháp, nhưng cũng không ít pháp sư hoàn toàn không nhìn thấy gì. Những pháp sư không thấy gì này liệu có mắc nợ những âm hồn một cái rắm không? Cái đó thì không thể biết được.

Những ma quỷ mà tôi nhìn thấy thật sự là quá nhiều rồi, có người hỏi tôi hình dạng của ma ra sao? Tôi đáp:
”Hình dạng mỗi con người đều khác nhau, ma quỷ cũng vậy. Sự khác biệt của con người là mỗi người có khuôn mặt riêng của họ. Sự khác biệt của ma quỷ cũng là khuôn mặt của họ, có khuôn mặt thiện và cũng có khuôn mặt ác.”

Có người vẽ ma quỷ là cái lưỡi dài ngoằng, tóc tai bù xù, mặt xanh nanh vàng, đây là con người vẽ ma giả thôi. Ma thật cũng giống như con người, cũng có thục nữ yểu điệu, cũng có quý ông nho nhã. Tác giả nhận thấy làm bạn cùng ma hoàn toàn không phải là một việc đáng sợ, mà làm bạn với con người, lòng người khó đoán biết, biết người biết mặt chẳng biết lòng, con người mới đáng sợ đó!

Vào thời gian đó, trong nhà tôi đã thờ hai mươi vị Phật Bồ Tát, bởi vì tôi tự mình thờ cúng tại nhà nên không có nhiều người biết. Có một lần, tôi thắp hương lễ bái, đột nhiên trong không trung có một đóa hoa sen từ từ hạ xuống, trên hoa sen có một vị Bồ Tát tỏa vạn tia hào quang đang ngồi, đầu đội mũ vàng Ngũ Phật, trước ngực đeo chuỗi ngọc, khuôn mặt như trăng tròn, tay trái cầm tích trượng, mặt mày hiền hậu.

Bồ Tát mở miệng nói:
”Liên Sinh, ta là U minh giáo chủ Địa Tạng Vương Tôn Giả, Phật đường này sao không làm pháp hội siêu độ nhỉ?”
”Con có thể sao? Không được, sợ là người ta chê cười. Bồ Tát! Diễm khẩu hóa thực chính là việc của tăng gia, một ưu bà tắc tại gia từng nhận Bồ Tát giới như con đây nếu chiếm vị trí cao của vị ngồi giữa thì e là tự ý vượt qua phép tắc của tổ sư trong tôn giáo. Không biết chúng con mời một vị cao tăng làm chủ, còn con đi theo, không biết có thể làm như vậy không?”
”Liên Sinh, con cho rằng thập pháp giới ở chỗ nào? Thập pháp giới chính là vô pháp giới, thế giới trống không trống rỗng, lúc này con còn tranh luận làm chủ được hay không làm chủ được sao?”
”Bồ Tát, Phật đường là nhà mình, sao có thể làm pháp hội chứ? Còn phải xin giấy phép thành lập mới xem là hợp pháp.”
”Vậy thì sớm lo liệu đi.”
”Vào Đạo hay là vào Phật?” (Ý tôi hỏi rằng đăng kí vào hội Phật giáo, trở thành đoàn thể Phật giáo hay là vào hội Đạo giáo, trở thành đoàn thể Đạo giáo.)
”Đạo của Lão Tử không phải đạo của ta. Huyền bí của Lão Tử không phải huyền bí của ta. Trên trời dưới đất, sự giản dị của Phật gia, những luận thuyết sâu sắc của Phật gia, đều vì sự khác biệt của con người mà khác biệt, nhập Đạo hoặc nhập Phật có gì khác nhau sao? Đạo có thể diệt, Phật cũng có thể diệt, tự mình chăm chỉ thể hội đi, lĩnh ngộ đi.” - Địa Tạng Vương Bồ Tát mỉm cười rồi biến mất.

Thế là tôi đại diện tham gia Hội Đạo giáo Trung Hoa, trở thành một trong những đoàn thể hội viên của Hội Đạo giáo Trung Hoa, cá nhân thì lấy được tư cách Đạo sĩ hội viên của Hội Đạo giáo Trung Hoa. Còn hội Phật giáo thì cho tôi một tờ chứng thư hội viên Phật giáo. Hội Phật giáo Trung Quốc gửi đến cho tôi một tờ chứng nhận đã nhận Bồ Tát giới. Như vậy, tôi Phật Đạo song tu, chính thức trở thành người băng qua tam giáo: rửa tội theo Cơ Đốc giáo, qua công đức của Đạo giáo, thọ giới của Phật giáo. Nhưng từ đầu tới cuối tôi cho rằng, tổ chức của Phật giáo tương đối hoàn thiện, kinh điển hoàn chỉnh, lễ nghi rõ ràng, tư tưởng của tôi có khuynh hướng thiên về tư tưởng của Phật gia. 


### 18. Pháp hội đầu tiên tại Lôi Tạng Tự


Pháp hội lần đầu tiên tại Lôi Tạng Tự được cử hành vào ngày 18 tháng 7 âm lịch. Trước đó, chúng tôi không thông báo cho bất kì ai, nhưng kì lạ là rất nhiều người không quen biết đã nghe được tin tức mà đến, đều chạy đến để tham gia pháp hội phổ độ này. Một gian Phật đường nho nhỏ mà người chen nhau chật như nêm cối, có thể nói là một biển người, chẳng khác gì một dịp trọng đại. Người người thành kính lễ bái Chư Phật Bồ Tát, tụng kinh chỉ có một mình tôi tụng. Tôi đốt sớ văn, rồi chỉ một mình ngồi ngay ngắn tụng kinh điển. Đầu tiên tôi tụng kinh A Di Đà và niệm chú vãng sinh, sau đó tôi tụng một quyển khá dài là “Kinh Bản Nguyện Địa Tạng Bồ Tát”. Sau đó tôi lại niệm “Kinh Kim Quang Minh”, “Trai Thiên Khoa Nghi”, rồi tụng “Kinh Kim Cang”. Tụng nhiều kinh như vậy chắc chắn là rất mệt, nhưng tôi cứ thế niệm một mạch, không hề tạm ngừng, tốc độ ổn định và thoải mái, âm thanh lưu loát như nước chảy, dường như không phải là tôi tụng mà là Phật Bồ Tát đang tụng vậy, từng chữ từng chữ một đều nghe thấy rất rõ ràng.

Tiếp theo, tôi cũng học theo cách của một vị hòa thượng làm chủ đàn, lần lượt thi triển những thủ pháp mà Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh đã truyền dạy cho tôi. Rất nhiều người nhìn thấy tôi làm động tác thủ pháp thì hết sức kinh ngạc, muốn hỏi tôi những thế tay này là học từ ai mà có, vị hòa thượng nào đã truyền cho. Họ cảm thấy kì quái cực kì. Có người hỏi tôi: “Anh bỏ tiền ra học những thứ này à?” Tôi cười không đáp. 

Khi làm pháp hội, tôi có một cảm giác đặc biệt kì quái, dường như cả Phật đường tràn đầy linh khí, có một cảm giác nghiêm túc và trang trọng từ trong tâm trào dâng, và cứ liên tục rộng lớn lên, huyễn hóa thành nghìn đóa hoa sen, những chuỗi hoa trời từ trên không từ từ thả xuống. Khi tôi đốt sớ văn, tôi nhìn thấy một người mặc áo đỏ, đầu đội mũ ô sa của thiên quan, dùng tay nhận lấy sớ, sau đó truyền đi khắp thập phương pháp giới. Pháp hội lần đầu tiên của Đài Trung Từ Huệ Lôi Tạng Tự đúng là rầm rộ chưa từng có. Địa Tạng Vương Bồ Tát dùng tích trượng đẩy mở cánh cổng địa ngục, dẫn dắt các linh hồn của linh giới cùng tắm trong mưa pháp. Pháp khí kêu leng keng, Phạn âm ngân vang, giấy liếp hóa đốt, cảnh tượng thật sự hết sức náo nhiệt. Trong sự tưng bừng ấy lại phát sinh ra rất nhiều kì tích kì dị, tôi ghi chép lại như sau.

Thứ nhất, có một bà là Dương Liêu Bích Đào sống gần trường Sư Phạm Đài Trung, bỗng dưng hai mắt lại có thể nhìn thấy em trai đã qua đời lúc trẻ của mình. Em trai của bà ấy vào thời kì Nhật Bản chiếm cứ đã bị người Nhật bắt đi làm lính, rồi chết trận tại khu vực Đông Nam Á. Bà ấy nói: “Em trai của tôi được một vị Thổ Địa Công Công dắt đi, vừa đặt chân bước qua bậc cửa, khi nó nhìn thấy tôi, tôi nhận ra nó, đúng là em trai tôi, tôi nhìn thấy rất rõ ràng, nó đích thực là em trai tôi đó!”

Thứ hai, chủ cửa hàng thực phẩm Vĩnh Long họ Lí, sống tại đường Lực Hành tại Đài Trung, con trai bà ấy tám tuổi đã qua đời. Bà chủ họ Lí đó nhìn thấy một đóa hoa sen càng nở càng to ra, Địa Tạng Vương Bồ Tát ngồi ở trong đó, ngài nện tích trượng xuống và hét lên: “Đi đi! Người kia chính là mẹ của ngươi đó.” Đứa con trai tám tuổi trèo ra khỏi tòa hoa sen, òa khóc và ôm chặt lấy bà chủ Lí. Hai người ôm nhau khóc, tình cảnh hết sức thảm thương. Sau sự việc ấy, bà chủ Lí hỏi người xung quanh: “Mọi người thật sự không nhìn thấy con trai tôi à?” Người xung quanh bảo bà ấy: “Chỉ thấy hai tay bà làm động tác ôm rồi khóc vang trời, không biết là có chuyện gì?”

Thứ ba, sống tại đường Mĩ Thôn ở Đài Trung có một phụ nữ họ Liêu, bà ấy nói: “Tôi chỉ thấy trước mắt có một vệt ánh sáng lớn, tôi tiến về phía trước từng bước từng bước một, trèo đèo lội suối, cứ thế đi mãi, đến một nơi cực kì đẹp đẽ, cỏ thơm xanh biếc, trăm hoa đua nở, rừng sâu chim hót, có rất nhiều tiên nữ đang chơi đùa, đó là một nơi đẹp tuyệt vời.” Bạn ạ, nơi mà bà ấy nhìn thấy là nơi nào? Không ai biết được.

Thứ tư, có một cô gái tên là Trần Thu Lan sống tại xa lộ Đông Hạng. Cô ấy ngồi sau lưng tôi, hai mắt nhắm lại. Trong lúc mơ mơ màng màng, cô ấy đã đến một nơi âm u tăm tối, nơi đó hôi thối dị thường khiến người ta buồn nôn. Cô ấy phóng tầm mắt ra nhìn thì thấy một ao máu đỏ lòm đang phình rộng ra, bên trong có rất nhiều phụ nữ nửa chìm nửa nổi đầm mình trong ao máu, trông thấy cô Trần đến gần thì họ lớn tiếng kêu cứu. Cô cảm thấy cực kì sợ hãi, bèn tìm về đường cũ để quay trở về, sau khi tỉnh lại, cô ấy nói: “Chân tê hết cả!”.

Thứ năm, có một thanh niên tên là Khưu Văn Bân lần đầu tiên tham gia pháp hội phổ độ. Cậu ta cũng ngồi phía sau tôi, hai mắt nhắm lại, bất ngờ nhìn thấy vô số người lạ, người nào người nấy chìa tay ra trước cậu đòi tiền. Những người đó nói: “Cậu thiếu niên, kiếp trước cậu nợ tiền, kiếp này không thể tha cho cậu.” Nhưng khuôn mặt của những người đó cậu chưa từng gặp trong đời, những người này đã từng gặp cậu ở đâu chứ? Cậu không tin vào thuyết luân hồi, cũng không tin quỷ thần, nhưng những người đó cứ đòi nợ cậu, cậu thấy rất rõ ràng, nghe rõ mồn một từng câu nói. Lần này, cậu đã tin một chút rồi, cậu phát nguyện kiếp này sẽ làm nhiều việc thiện hơn một chút để đền bù cho những món nợ kiếp trước.

Thứ sáu,… việc linh dị rất nhiều, không thể kể ra hết.

Thành công của pháp hội lần này đã đặt nền móng cho những pháp hội sau này. Mỗi lần pháp hội đều xuất hiện những sự việc linh dị, đúng là bất khả tư nghì, khiến rất nhiều người trước đây không tin quỷ thần đều tin chắc rằng có quỷ thần tồn tại, càng tăng thêm tín tâm tin Phật cầu đạo. Đúng vậy, thân người thật sự rất khó có được, sáng sống chiều chết, sinh mạng ngắn ngủi mấy chục năm. Trong hành trình cuộc đời ngắn ngủi này, nếu không tìm kiếm chân lí, theo đuổi đại đạo bất sinh bất diệt thì sống có giá trị gì đây!

Những gì tôi viết ở trên, câu nào cũng là sự thật, không dám nói khoác, nếu độc giả có xem chúng là truyện thần thoại thì tôi cũng không miễn cưỡng. Ngày nay là thời đại khoa học, thuyết luân hồi quả báo, thuyết thiên đường địa ngục, thuyết linh hồn vận mệnh dường như đều bị cười cợt là mê tín, đặc biệt là trên phương diện tôn giáo, chỉ cần tín ngưỡng hơi kiền thành một chút cũng bị mỉa mai là người mê tín. Giống như tôi đây này! Người người coi tôi là cái gì? Họ bụng bảo dạ rằng tôi là đồ thần kinh thất thường, quái vật, không có tri thức. Bề ngoài thì tôi lẻ loi cô độc như vậy, nhưng nội tâm thì rất phong phú. Tôi ghét giả tạo, ghét nói dối, tôi thật sự cảm nhận bị người ta gọi là mắc bệnh tâm thần, khiến tôi bi thương muôn phần. Ngoài ra, tôi muốn thanh minh một điểm là tôi không đề xướng mê tín, tôi rất ghét kê đồng hại người, ghét thần côn hại người, ghét thuật sĩ giang hồ mượn danh thần quỷ để lừa người gạt tiền, dâm người cướp vợ, đây không phải là tội của Thần Phật, mà là tội của con người. Lòng người quá xấu xa đã phá hoại danh dự của Thần Phật, khiến cho hoa nhài cắm bãi cứt trâu, loại người này đều nên xuống địa ngục, vĩnh viễn không siêu sinh.

Những gì tôi viết ở trên thật sự là những trải nghiệm linh dị. Đương nhiên còn có rất nhiều chuyện tôi chưa viết ra, chỉ e sẽ chiếm quá nhiều trang giấy, cho nên tạm dừng ở đây. Bây giờ tôi sẽ viết ra những nghiên cứu của tôi về thế giới vô hình, cũng xem như là những tâm đắc của tôi, trọng điểm linh cơ thần toán của tôi nằm ở đây. Bạn tiếp cận thế giới linh dị như thế nào? Làm sao mượn linh để học tập Ngũ thuật? Làm sao thông linh? Làm sao thần toán? Làm sao đoán mệnh bốc quẻ cho người ta? Linh hồn là cái gì? Kê đồng hình thành ra sao? Lần lượt tôi sẽ tiết lộ những bí mật này. Đương nhiên những điều này đều là tôi tận mắt nhìn thấy, tận tai nghe thấy, có được chỉ thị của linh giới, sự dạy dỗ của ân sư Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh cũng không ít. Những linh thuật này tôi tin rằng vẫn không người nào có thể biết được. Cuốn sách này cũng xem như là trăm năm khó gặp.


### 19. Linh là cái gì?


Linh là cái gì? Vấn đề này là một câu đố nghìn vạn năm, không ai có thể giải thích tỉ mỉ kĩ càng rõ ràng. Có người nói linh tức là linh hồn, nhìn không thấy, sờ không thấy, dường như có dường như không. Nếu có thì cũng không có chút ảnh hưởng nào đến người sống, nếu không có thì càng không đáng nghiên cứu. 

Không đáng nghiên cứu sao? Đâu đâu cũng có những con người hiếu kì, nhưng họ đều không thể nào bước vào cánh cửa ấy, linh hồn thật sự là không nhìn thấy không sờ thấy sao? Tôi cho rằng quan niệm này chính là “không biết mà cho rằng biết” rồi.

Nay tôi xin to gan nói một lời kinh thiên động địa với độc giả: “Bạn chính là linh hồn.” Linh hồn là cái gì? Bạn chính là linh hồn đó! Chính mình là linh hồn, thế vì sao chính mình lại không biết, không hiểu, vì sao chính mình là linh hồn chứ? Linh hồn trốn ở chỗ nào?

“Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện” có một đoạn ghi chép rằng: Thánh Nữ hỏi Quỷ Vương Vô Độc: “Địa ngục ở đâu?” Vô Độc đáp rằng: “Trong ba biển là đại địa ngục, có đến trăm nghìn địa ngục, mỗi địa ngục đều khác nhau.” Thánh Nữ lại hỏi Quỷ Vương: “Mẹ tôi chết chưa lâu, không biết hồn thần đã đến nơi nào rồi?” Trong kinh văn, Thánh Nữ nói đến hồn thần, đương nhiên là chỉ linh hồn rồi, điều này chứng minh sau khi con người chết đi, linh hồn vẫn còn tồn tại, nhưng khi người ta còn sống vì sao không nhìn thấy linh hồn trên thân thể chính mình chứ?

Tôi nói: “Khi con người vừa ra đời, bản thân hồn thần bị cái vỏ ngoại hình con người bao vây, mất đi khả năng thần thức. Con người sống trong thế giới hữu hình, tất cả đều quy về hữu hình, hồn thần khi ấy có thể nói là chết, mặc dù linh hồn tồn tại trong thân thể con người nhưng đã mất đi tác dụng của thần thức thì có cũng như không. Cho nên ai ai cũng tưởng giả là thật, cho rằng nhục thể của mình là bản thân mình thật sự. Linh hồn thì chết, im lặng bặt tăm, suốt như thế cho đến một ngày nhục thể nằm xuống, nhục thể chết rồi thì thần thức mới từ từ sống lại, linh hồn sẽ lại trở nên hoạt bát. Đạo lí về quan niệm sinh tử luân hồi chính là ở đây, sinh sinh tử tử, tử tử sinh sinh, vĩnh viễn không ngừng nghỉ. Người tu Đạo học Phật ngày nay, cái họ tu không phải là đạo trường sinh, mà là đại đạo sinh tử hồn thần siêu thoát vĩnh viễn.”

Có lẽ có người sẽ cho rằng hồn thần là chết, do vậy người người đều không có cách nào nhận thức được hồn thần trên thân thể chính mình, đây chẳng phải là nói xằng sao? Kiểu hoài nghi này cũng có lí, nhưng giả sử tưởng tượng một chút, giả sử con người sinh tồn tại thế giới này, khi nhục thể còn chưa nằm xuống mà linh hồn đã tỉnh lại rồi, xin hỏi, đây sẽ là một thế giới như thế nào? Rất nhiều người sẽ không thể hiểu cảnh giới này, bởi vì người đến được cảnh giới người-thần hợp nhất mới có tư cách nói linh là cái gì, mới có tư cách dùng linh cơ để thần toán. Điều này kì diệu làm sao!

Theo như tôi biết, linh hồn tồn tại nhiều lắm, ở trong rừng núi, trong sông biển, trong âm trạch (mồ mả), trong dương trạch, thậm chí trên đường phố náo nhiệt, trên nhục thể của con người, to thì có thể che cả trời phủ cả đất, nhỏ thì ẩn thân trong hạt cát hạt bụi, trong những giọt sương nhỏ bé.

Chủng loại của linh hồn cũng nhiều, có linh Phật, linh Thần, linh người, linh ma, linh quỷ, v.v… Đây là những gì tôi quan sát thấy chứ không phải đến từ số liệu nào khác. Một câu hỏi quan trọng nhất, linh là cái gì? Tôi cảm thấy đó là một khối khí, một khối sức mạnh, một dạng biến hóa. Thành phần cấu tạo nên nó là cái gì? Tôi cảm thấy nó giống như điện, giống như xạ tuyến, tồn tại là tồn tại, nhưng muốn phân tích thành phần của nó thì rất khó khăn, không thể coi thường. (Tác giả chỉ biết có sự tồn tại của linh hồn, nhưng không phải là nhà khoa học nên không có cách nào phân tích được thành phần của nó.)

Theo lí mà nói, thế giới hữu hình chính là thế giới của mối quan hệ giữa con người và vạn vật, còn thế giới vô hình chính là thế giới của linh. Linh có thể biết thế giới hữu hình, còn con người của thế giới hữu hình thì lại rất khó hiểu về thế giới vô hình. Đây cũng chính là ngày nay nhân loại nghiên cứu linh học nhưng từ đầu tới cuối đều không thể nào giải đáp được nguyên nhân chân tướng. Mặc dù có người rất có linh thể, có thể giao tiếp và qua lại với linh giới, nhưng hẳn là bị châm biếm là thần kinh thất thường, tâm lí trục trặc, tinh thần rối loạn. Nhận thức về linh giới thật sự chỉ có thể ý thức thấy mà không thể truyền đạt thành lời, văn tự có giải thích hay thế nào thì cũng không có cách nào kể ra cái chỗ chân cơ huyền diệu của linh. Để cho người có hứng thú tự mình nhận thức về linh giới vậy!

Linh giới với con người của thế giới hữu hình chúng ta không chỉ là hàng xóm, mà còn có mối quan hệ gắn bó mật thiết. Chúng ta đến từ linh giới, cũng sẽ lại trở về linh giới, đồng thời con người và linh suy cho cùng là sống cùng nhau, sao có thể nói là không có liên quan chứ? Nếu chúng ta vận dụng sức mạnh của linh giới thì có thể thành tựu rất nhiều sự nghiệp lớn. Có lẽ mọi người sẽ không tin, chỉ nghe chơi thôi chứ chẳng hề tin, tin hay không tin là do bạn, còn thì cứ từ từ nghe tôi nói tiếp.


### 20. Sự quấy phá và tai họa của linh


Trong “Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện”, phẩm thứ sáu “Như Lai tán thán” có nói: “Có những người nam nữ nằm liệt giường lâu ngày, muốn sống không được muốn chết chẳng xong, hoặc đêm nằm chiêm bao thấy ác quỷ, thậm chí người thân trong nhà, hoặc mơ thấy đi trên đường nguy hiểm, hoặc bị bóng đè, hoặc đi chơi cùng quỷ thần, trải qua thời gian dài trở nên bệnh tật ốm yếu, trong khi ngủ kêu gào khổ sở, rầu rĩ thê thảm, đó đều là nghiệp đạo luận đối chưa quyết định là nặng hay nhẹ, nên hoặc là mất mạng, hoặc không thể hồi phục. Con mắt phàm tục của người nam, người nữ không phân biệt được việc ấy.” 

Đoạn này trong “Kinh Địa Tạng” đã chỉ ra rất rõ linh của quỷ thần có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của thân thể con người, “hoặc bị bóng đè hoặc đi chơi cùng quỷ thần”, cái chỉ ra ở đây chính là linh của quỷ thần, hàm ý chúng ở trong bóng tối quấy phá chính là nằm ở đây, cho nên không thể coi thường hành vi của linh. Theo kinh nghiệm của tác giả, tôi biết đích xác rằng linh có phân biệt thiện ác, giống như con người, con người cũng có phân biệt thiện ác, linh thiện có thể giúp con người làm thiện, linh ác có thể giúp con người làm ác. Linh giới cũng có chiến tranh giống như thế giới hữu hình vậy.

Trước khi viết về chủ đề này, tôi lấy một ví dụ thực tế để làm chứng.
Có một hôm, tác giả đang ở Phật đường niệm tụng “Kinh Kim Cang” thì có một thanh niên không quen biết chỉ đích danh là muốn tìm tôi. Người thanh niên này xấp xỉ 30 tuổi, đôi mắt sáng sủa tinh anh, mặt vuông tai lớn, vóc dáng cao ráo rắn rỏi, tỏa ra khí phách anh hùng. Người thanh niên này đi thẳng vào vấn đề: 
”Lư tiên sinh, chị gái tôi ở tại bệnh viện Bồ Đề Đài Trung thường xuyên nghe giảng kinh tại Thiện Quả Lâm. Thiện Quả Lâm có một cư sĩ, ông ấy nhắc đến một vài việc linh dị của ngài, chị tôi đặc biệt muốn tôi đến thăm ngài, có lẽ ngài có thể giúp được tôi một chút. Tôi họ Kha, dạy ở trường trung học XX ở Đào Viên.”
”Có chuyện gì muốn tôi giúp vậy?” - Tôi tò mò hỏi, người thanh niên ở trước mặt tôi thân thể cường tráng, chẳng hề có một chút dấu hiệu ốm đau nào.
”Tiên sinh đừng thấy thân thể tôi cường tráng, trên thực tế tôi đã đi khám mọi bác sĩ rồi, các bác sĩ không có ai cho rằng tôi bị bệnh cả, kiểm tra sóng não cũng không có gì khác thường. Các cơ quan bộ phận trên thân thể cũng đã kiểm tra rồi mà không tìm ra một nguyên nhân nào. Nhưng mà tôi đã đau khổ đến cùng cực rồi, cũng không dám kết hôn, bạn gái tôi muốn kết hôn với tôi, nhưng bởi vì tôi có điều chỉ mình tôi biết nên không dám đồng ý, chỉ có chấp nhận đau khổ, cô quạnh sống hết cuộc đời này.” - Người thanh niên tỏ ra rất thê thảm, rớt những giọt nước mắt đau xót.
“Rốt cục là có chuyện gì?”

Thế là anh ấy kể rõ cho tôi nghe đầu đuôi ngọn ngành. Khoảng 5 năm trước, anh đang giảng bài trong lớp học, đột nhiên cảm thấy có một âm thanh giống như tiếng ong bay từ xa đến gần, thế rồi đầu anh cũng cảm thấy một loạt cơn đau nhói, cái đau này còn nặng hơn bị chóng mặt đột ngột, khiến anh ấy không thể trụ vững được, kết quả là anh ngã lăn trên bục giảng. Học sinh thấy tình cảnh ấy thì kinh hoàng, nhưng sau khoảng 5 phút thì thầy giáo Kha dần dần hồi tỉnh. Khi không còn những cơn đau và chóng mặt, bản thân anh cũng không hiểu chuyện gì. Phòng y tế của trường kiểm tra sức khỏe của anh cũng không hiểu gì cả, thầy Kha thân thể cường tráng, thường ngày ngay cả cảm cúm cũng không dễ bị nhiễm, sắc mặt hồng hào, không có hiện tượng thiếu máu, vậy vì sao lại bị ngất chứ?

Lần đầu tiên bị ngất, thầy giáo Kha không hề xem trọng, sau đó số lần bị ngất liên tục tăng lên, mỗi lần trước khi ngất thì bản thân anh cũng có dự cảm, bởi vì âm thanh tiếng ong từ xa tới gần, từ gần thành tiếng ồn lớn, từ tiếng ồn lớn mà cảm thấy đau đầu, sau khi ngất đi 5 phút thì cũng lại tỉnh dậy. Về sau mỗi lần nghe thấy âm thanh tiếng ong đến gần, anh lập tức bỏ phấn viết xuống, chạy về kí túc xá của trường đợi bị ngất, sau 5 phút anh lại trở về lớp học giảng bài. Trong 5 năm qua, anh ấy đã tìm đến các bác sĩ Đông, Tây y khắp nơi, uống thuốc tiêm thuốc, chữa bệnh bằng điện hoàn toàn vô hiệu. Bác sĩ nói: “Đây là chứng kiệt sức, thần kinh quá nhạy cảm, hiệu ứng tâm lí, đừng để ý đến nó là được.” Có bác sĩ Đông y nói: “Đây là chứng động kinh và hiện tượng heo nái điên, không có cách nào chữa được, tìm đến chuyên khoa thần kinh đi!” Bác sĩ chuyên khoa thần kinh nói: “Không tìm ra nguyên nhân bệnh, sóng não rất bình thường.” Sau đó, khi anh ấy ngất xỉu ngay trước mặt những bác sĩ này, các bác sĩ cũng bó tay hết cách. Căn bệnh này khiến tất cả các bác sĩ đều trợn mắt há mồm.

Lúc này, từ trên giá sách, tôi lấy xuống quyển “Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện”, giở đến phẩm thứ sáu “Như Lai tán thán”, mời anh ấy đọc trước mặt tôi đoạn mà tôi đã viết ở trên. Anh hỏi:
”Tiên sinh có ý rằng tôi đã bị linh quấy nhiễu à?”
”Đúng vậy, cố nhiên con người ngày nay không tin chuyện này, nhưng dựa trên lập trường về linh dị mà tôi từng nhìn thấy, tôi không thể không nói như vậy. Khoa học có thể chứng minh trong vũ trụ có rất nhiều xạ tuyến tồn tại, tần số của vô tuyến điện có thể truyền đi khắp thế giới. Mặc dù chưa chứng thực được sự tồn tại của linh, nhưng cũng không thể một mực phủ định nó. Khi nhân loại chưa phát hiện được xạ tuyến thì xạ tuyến đã tồn tại rồi. Truyền hình phát đi cũng nhờ vào tần số, anh có thể nghĩ thử sự hiện diện của tần số có nhìn thấy, nghe thấy, sờ thấy được không? Các nhà khoa học nghiên cứu khoa học thì đúng rồi, khoa học cũng thay đổi từng ngày, nhưng khoa học không thể phủ định tất cả sự thật.”
“Ngài nói chẳng sai, nhưng có thể chữa khỏi bệnh của tôi không?”
”Tôi sẽ xem thử, chỉ mong là tôi có được năng lực này.”

Khi tôi và anh ấy đang nói đến truyền kì về linh giới, đột nhiên anh hét lên: “Đến rồi, đến rồi, âm thanh tiếng ong lại đến rồi.” Tôi thấy anh đưa hai tay lên bịt chặt tai lại, đôi mắt trắng dã, thân thể anh đang ngồi trên ghế sofa từ từ đổ ra, rồi từ trên ghế sofa, anh ngã lăn xuống sàn nhà bằng đá, trong miệng lầm rầm những lời nói mê sảng khiến người ta không dễ gì hiểu được. Tôi cúi đầu thử nghe xem anh ta đang kêu lên điều gì, kết quả là phát hiện ra giọng nói của anh lại hơi giống giọng con gái. 

Lúc này, tôi đột nhiên nghĩ đến Linh Sư Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh đã truyền dạy cho tôi một câu chú, là câu chú chung để trấn ma, gọi là chú Đại Phạm Thiên Kim Cang. Thế là tôi dùng ngón cái ấn mạnh vào chỗ thần khiếu của thầy giáo Kha, niệm thầm chú Đại Phạm Thiên Kim Cang, chú là: “Ôm nia-lín chử-yín chi-mi su-tua luy-linh cang.” [Thần chú này được ghi phiên âm theo cách đọc từ tiếng Trung.]

“Hừ! Mi là ai? Vì sao lại quấn lấy thầy giáo Kha? Mau khai thật ra thì thả cho mi đi.”
Ma nữ đó mượn giọng thầy giáo Kha nói:
”5 năm trước, thầy giáo Kha là hàng xóm của tôi, tôi vì bị bệnh mà qua đời. Trong lễ tang, thầy giáo Kha đi ngang qua trước cửa nhà tôi, anh ấy nhìn thấy tấm ảnh của tôi, nói một câu tội nghiệp, bởi vì anh ta thương xót tôi, tôi không có chỗ nào có thể trở về, chỉ biết tìm đến thầy giáo Kha thôi.”
”Khi ấy cô bao nhiêu tuổi? Tên cô là gì?”
”19 tuổi. Tên là Trần Hương Lan.”
”Vì bây giờ cô đã không có chỗ nào để về, chi bằng để tôi niệm chú thu hồn để thu hồn phách của cô về, nhập vào cây long não, giúp tôi bí mật truyền nhĩ báo và đi nghìn dặm, sau này công đức viên mãn rồi thì tôi giúp cô chuyển thế làm người, hoặc là độ cho làm chức quan trên trời được không?”
”Được thì được, nhưng thầy giáo Kha…”
”Thầy giáo Kha và cô không thù không oán, anh ta chẳng qua chỉ thương xót cô thôi, cô lại xem là thật, nếu cô muốn tốt cho anh ta thì chỉ có mau mau để anh ta đi mới là biện pháp tốt nhất. Nếu cô si mê anh ấy, chớ trách tôi dùng thủ ấn Ngũ lôi đánh cô vỡ nát, từ nay vĩnh viễn không siêu sinh.”
”Tiên sinh, tôi sẵn lòng để ông dùng cây long não làm vật thế thân cho tôi, bí mật truyền nhĩ báo nghìn dặm, nhưng không được nhốt tôi đâu.”

Thế là tôi niệm chân ngôn thu hồn, lấy một mảnh cây long não đặt vào chỗ thần khiếu của thầy giáo Kha, nói: “Hỡi mẹ long não linh thiêng, sống tại nơi hoang vu bên những ngôi mộ cổ, nay tôi thỉnh ngài làm thần tướng, tránh không phải ở nơi hoang dã chịu gió sương, bốn thời tám tiết đều cúng tế ngài, mỗi ngày canh thơm ngài thử trước. Cấp cấp hách hách dương dương, nhật xuất đông phương, thần phủ nhất đoạn, tảo li thử phương. Đệ tử Liên Sinh phụng Tiên thiên vô cực chính pháp cấp cấp thu hồn luật lệnh cương.” Tổng cộng tôi niệm chú ba lần, lấy mảnh cây long não ra, đặt dưới chỗ Phật ngồi ở Phật đường, nơi mà người bình thường không nhìn thấy.

Thầy giáo Kha tỉnh lại, tôi nói:
”Anh trở về Đào Viên đi! Lần này anh khỏi hẳn rồi.” 
Thầy giáo Kha lắc lắc đầu không tin.
”5 năm trước, hàng xóm nhà anh có người nào là cô Trần Hương Lan không? 19 tuổi.”
”Có đấy! Nhưng cô ấy đã chết rồi, trông cũng khá xinh đẹp. Cô ấy có liên quan đến tôi sao? Đúng rồi, làm sao mà ngài biết cô gái này?” - Anh ngạc nhiên hỏi.

Tôi kể toàn bộ sự việc từ đầu đến cuối cho thầy giáo Kha nghe, thầy giáo Kha bán tín bán nghi ra về. Mấy tuần sau, anh ấy gửi thư đến nói: ”Kể từ hôm đó, tôi không còn nghe thấy tiếng ong nữa, cũng không có những cơn đau, không ngất xỉu nữa, đã lại xuất hiện tương lai tươi sáng tốt đẹp rồi, đây là kì tích. Thắng Ngạn tiên sinh, đời này tôi vĩnh viễn cảm kích ngài. Nhân gian thật sự có thế giới linh dị.”

Tôi không trả lời thư, bởi vì Trần Hương Lan hiện tại đang ở trong Phật đường của tôi. Mặc dù cô ấy là một hồn ma nhưng tính tình không xấu, linh tính ngày một tăng tiến, giúp đỡ tôi được rất nhiều.

Từ câu chuyện có thật này, thật sự không thể xem thường sức mạnh quấy phá của linh. Chúng có thể ảnh hưởng đến động cơ hành vi của một người. Vong hồn của một nhà khoa học thậm chí có thể giúp được nhà khoa học còn sống, gợi ý những sự nhạy bén trong phát minh, khả năng này chính là giác quan thứ sáu của tiềm thức. Theo như tôi nghiên cứu câu chuyện chân thực kể trên, tần số của Trần Hương Lan gần giống với tần số của thầy giáo Kha nên dễ cảm ứng lẫn nhau. Bởi vì có tồn tại ý thức là thầy giáo Kha thương xót Trần Hương Lan, vô hình trung thành ra vong linh của Trần Hương Lan tìm đến thầy giáo Kha. Thầy giáo Kha giống như máy thu thanh, tiếp nhận tần số phát ra từ đài phát sóng của Trần Hương Lan vậy. 

Cái gọi là tai họa của linh, đạo lí cũng gần tương tự, nhưng sự khác biệt nằm ở nhân quả báo ứng, ân oán kiếp trước kiếp này trả. Còn có cái bình thường gọi là xung sát, sự việc có thật của thầy giáo Kha chính là phạm âm, bị âm linh quấy nhiễu. Những gì tôi viết ở trên có bằng chứng rõ ràng, nếu có người không tin, tôi cũng chẳng biết làm sao. Thiên hạ rộng lớn không thiếu gì chuyện lạ, chuyện tôi gặp phải kì quái hơn câu chuyện này gấp trăm lần cũng có đó!


### 21. Khởi động chân linh nguyên thủy


Trên mỗi một thân người đều có một cái linh chân thực, nhưng thực tế đáng tiếc là nó đã chết, không thể hoạt động, là một cái linh chết không có tác dụng gì. Thế nhưng nếu có một ngày đánh thức chân linh nguyên bản này dậy thì lúc này cũng giống như nhục thể sống và linh cũng sống. Người có được linh sống (hoạt linh) này trong thiên hạ không phải là không có, không những không phải là không có mà còn tương đối nhiều nữa.

Ở nước ngoài có cái gọi là “nhà ngoại cảm”, chính là người để cho quỷ thần nhập vào, ở trong nước chúng ta thì có cái gọi là kê đồng, kê đồng cũng có thể để cho quỷ thần đến nhập vào người và nói chuyện. Và con người nhờ nhà ngoại cảm và kê đồng mà có thể hỏi thần hoặc bói toán tương lai, nhóm người nhỏ này là người có hoạt linh.

Nhưng sự hiển hiện khi nhà ngoại cảm và kê đồng bị nhập vào, chúng ta có thể hiểu rằng họ chỉ là một thể trung gian mà con người và linh giới mượn để giao tiếp với nhau, tương tự như một trạm tiếp sóng vậy. Bản thân nhà ngoại cảm và kê đồng không biết đạo vận linh, chỉ biết cho mượn cái thân thể của chính mình để cho linh giới sử dụng. Linh thể của những người này và tần số của linh ở linh giới rất gần nhau, cũng tức là linh tính có thể thu và nhận lẫn nhau, cũng tương tự như sinh ra tác dụng cộng hưởng. Cái này có thể xem như ứng dụng sơ bộ của hoạt linh.

Người bình thường cho rằng kê đồng là người ta giả vờ, giả làm quỷ thần để hù dọa người, điều này cũng có khả năng bởi vì linh nhập vào có nặng có nhẹ, linh nào nhập vào nặng một chút thì bản thân kê đồng sẽ bộc lộ tình trạng hôn mê, không tỉnh dậy được, mở miệng ra nói gì cũng không ai biết, còn linh nhập vào mà nhẹ một chút thì bản thân kê đồng nhận biết được. Để thỏa mãn dục vọng của con người, kê đồng đã dùng đến những chiêu trò lừa tiền gạt sắc, đây cũng chính là nguyên nhân chủ yếu khiến cho người ta không tin tưởng vào kê đồng.

Tác giả vì nghiên cứu linh học, thân lại gặp kì duyên, đi khắp trời nam đất bắc, phát hiện ra cứ mười kê đồng thì có tám người nhờ vào mánh khóe mà kiếm cơm ăn. Đồng thời, họ lợi dụng bản chất lừa đảo bẩm sinh của mình để nhập vào xác của một số nam nữ lương thiện, hại người ta bị lừa tiền mất trinh tiết, làm hổ thẹn linh giới, thần minh bị rơi vào tình huống khó khăn, ngay đến những kê đồng có hoạt linh muốn giúp đỡ người chân chính cũng bị liên lụy. Tôi quen biết rất nhiều kê đồng, nhưng tính người vốn ác, phần lớn họ dựa vào cái này để làm công cụ kiếm tiền, than ôi, than ôi!

Ngoài kê đồng ra thì còn có người luyện linh và vận linh, loại người này thì đã ít lại càng ít. Cái gọi là luyện linh cũng tức là cái mà người tu Đạo gọi là phản bản quy chân, tìm về một cái “chân ngã”, mục tiêu sau cùng của tu Đạo có thể nói là “sự thoát xác bay lên của hoạt linh”, nhập thẳng vào thế giới thanh tịnh, đi vào trời đất không sinh không diệt. Cái mà người tu Đạo tu chính là một linh tính sống động hoạt bát, thuần phác ngây thơ. Vả lại, thuật vận linh có thể gọi là thuật thông linh, không cần phải dùng phương pháp cho mượn, mà vận chuyển linh trên thân người vào trong vũ trụ để cùng giao tiếp với thần tiên của linh giới. Pháp thuật tài tình này chính là thần thuật thông linh. Linh sống trên thân người và linh sống ở bên ngoài thân cùng giao tiếp với nhau, sau đó biết được ý của những thần linh này, cảnh giới này vượt xa phương pháp cho mượn thân của kê đồng rất nhiều. Bản thân vẫn tỉnh táo, không hề chịu ảnh hưởng quấy nhiễu của linh giới bên ngoài, có thể tự chủ linh trên người, muốn đi về đông thì sẽ chẳng hướng về tây, muốn đi về tây thì chẳng hướng về đông, tự do tự tại, vui sướng vô cùng.

Luyện linh đến được trình độ tối thượng thừa có thể luyện thành thiên nhãn thông, vận linh đến hai mắt, trực tiếp có thể nhìn thấy linh giới. Thiên nhãn thông nói đến ở đây không phải là con mắt âm dương, nhưng cũng khá tương tự con mắt âm dương. Đại bộ phận con mắt âm dương là bẩm sinh, mắt của họ vào buổi đêm có ánh sáng lóe lên, giống như mắt loài chó vậy. Nếu vận linh đến hai tai thì có thể chứng đắc thiên nhĩ thông, thiên nhĩ thông có thể trực tiếp nghe được thế giới vô hình đối thoại.

Ở phần đầu tiên của cuốn sách này tác giả đã nhắc đến người phụ nữ áo xanh, bà ấy sống tại Hoa Liên, tu Đạo ở phân đường Thạch Bích thuộc Từ Huệ Đường. Con người này đã chứng đắc thiên nhĩ thông, trực tiếp nói chuyện với quỷ thần. Trong số những người tôi quen biết thì ngoài thầy tôi Thanh Chân Đạo Trưởng và người phụ nữ áo xanh ra, cũng khó mà tìm được người nào khác đã chứng thiên nhĩ thông. Có lẽ vẫn còn, nhưng xin thứ lỗi cho tác giả không biết. Khi vận linh ra bên ngoài thân thể thì có thể thăm dò được quá khứ vị lai, hoặc là biết được người khác nghĩ gì, cái này chính là sự vận dụng tha tâm thông. Còn như túc mệnh thông (nhân quả kiếp trước sau), thần túc thông (du lịch khắp nơi, đi lại linh giới tự do), lậu tận thông (không sinh không diệt, vô sinh vô tử), sáu loại thần thông này đều có thể từ việc tu luyện chân linh mà chứng được, tu đắc sáu loại thần thông này thì cũng chính là Đại La Kim Tiên, là Như Lai, là Phật vô thượng đẳng giác rồi. 

Còn như làm sao từ một người bình thường không có hoạt linh trở thành có hoạt linh, khởi động được chân linh nguyên thủy, thì cái chỗ ảo diệu của nó nằm ở sự nhất tâm, điều này cực kì quan trọng. Tại đây tôi dẫn ra một câu chuyện có thật về khởi động hoạt linh để làm chứng. Tác giả giúp người ta khởi linh đã có tới mấy trăm người hoặc trên cả mấy nghìn người rồi, bởi vì số lượng người quá nhiều nên thật sự tôi không nhớ được tổng cộng có bao nhiêu. Lợi ích của khởi linh có rất nhiều, đoạn sau tôi sẽ lần lượt chứng minh.

Thái Văn Minh là một kĩ sư tốt nghiêp đại học, kém tác giả hai tuổi, người Đài Bắc, cậu ấy là bạn cùng học thời kì sau, không có tín ngưỡng tôn giáo nào cả, thậm chí còn không có hứng thú đối với linh học, thân thể khỏe mạnh, lương thiện thuần hậu. Bởi vì các bạn học cùng trường đều truyền tin rằng Lư Thắng Ngạn có bản lĩnh biết trời biết đất, cậu ấy cũng có nghe được một ít nhưng cũng chẳng có ý kiến gì cả, cho rằng tin đồn thì là tin đồn thôi, không đủ tin tưởng. Đồng thời trong con mắt cậu ấy, cậu ấy cho rằng con người Lư Thắng Ngạn kì quái, có lẽ là người thần kinh “chập cheng”. Không lâu sau Thái Văn Minh tốt nghiệp, trùng hợp là lại cùng tôi làm mấy việc quan trọng. 

Có một buổi chiều chạng vạng, Thái Văn Minh nói với tôi: 
“Lão Lư, tôi thấy con người anh chẳng có gì thần bí cả!”
”Thần bí ư? Vì sao phải thần bí? Tôi chỉ là một kẻ phàm phu, hà tất phải thể hiện là tôi khác người chứ! Chẳng phải tôi cũng sống giống như mọi người sao?” - Tôi cười cười trả lời.
”Tôi nghe người ta nói anh có thể thần toán, dự đoán tương lai, biết trời biết đất, có thể nói chuyện với thần minh. Nhưng mà trước nay tôi chưa từng tin những chuyện này, huống hồ “Khổng Tử bất ngữ quái lực loạn thần” [Khổng Tử không nói những chuyện quái lạ, bạo lực, phản loạn, thần linh], những thứ về linh hồn này nếu không để tôi trải nghiệm thấy thì tôi tuyệt đối không tin, muốn tôi tin thì trừ phi để cho tôi nhìn thấy, đặc biệt là không phải là ở trong mơ mà là phải ý thức thấy được rõ ràng.”
”Cậu muốn trải nghiệm không?”
”Muốn.”
”Phương pháp duy nhất chính là khởi động chân linh nguyên thủy của chính cậu, dùng chân linh sống của cậu đi tiếp xúc với linh giới, như vậy mới có thể sinh ra sự cộng hưởng và cảm ứng. Nếu chỉ dùng nhục thể muốn tiếp xúc với linh giới thì đó là trèo cây tìm cá. Tôi thường cười những người tự cho rằng mình là người nghiên cứu khoa học, chưa từng có linh thể, chỉ dùng nhục thể hữu hình để thăm dò linh giới, như vậy có thành công được không? Muốn thăm dò linh học thì nhất định phải có linh thể, đây là điều kiện quan trọng nhất.”
”Ai cũng có thể sao?” - Thái Văn Minh hỏi.
”Có thể.” - Tôi trả lời quả quyết.

Tôi dẫn Thái Văn Minh đến thư phòng của tôi, tôi vẽ một lá phù, ý nghĩa của phù là: “Ôm, phụng Ngọc Hoàng chí tôn sắc lệnh, tứ phương thần tướng trợ linh động, cấp cấp như Thượng Thanh chính pháp luật lệnh.” Thái Văn Minh uống lá phù này vào, tay tôi kết ấn Ngũ lôi, liên tiếp đánh vào thiên linh của cậu ấy năm lần. Thái Văn Minh ngồi trên ghế, hai mắt nhắm chặt lại, hai tay chắp lại, hai chân dán chặt xuống đất, miệng khép chặt lại, tôi dạy cậu ấy niệm thầm bốn chữ “Diêu Trì Kim Mẫu”, bởi vì tôi thờ Tây phương Kim Mẫu làm chủ thần, niệm Diêu Trì Kim Mẫu có tác dụng hồi tâm, giống như Tịnh Độ tông niệm Phật cũng có tác dụng quán tâm. Trước đó Thái Văn Minh đã ăn chay và tắm rửa, thân tâm đã sạch, chỉ cầu cho linh chết sống lại mà thôi. 

Sau khi phù khởi linh của tác giả được đốt cho Thái Văn Minh uống thì bắt đầu khởi tác dụng, Tây phương thần tướng nhận được ý chỉ, vội vàng luống cuống chạy tới, từ từ tác động đến linh thể của cậu ấy. Khoảng 20 phút sau, chỉ thấy tay của Thái Văn Minh hơi duỗi ra, dường như có một lực hút cực mạnh khiến cho tay cậu ta giơ cao lên quá đầu. Lúc này Thái Văn Minh lớn tiếng gọi tôi: “Lão Lư, lão Lư, tay của tôi không thu về được rồi.” Tôi bảo cậu ấy đừng căng thẳng, tôi đứng phía sau Thái Văn Minh, dùng niệm lực của tôi để khống chế linh lực của cậu ấy. Tôi nghĩ hai tay của cậy ấy tách ra, quả nhiên hai tay cậu ấy liền tách ra; tôi nghĩ tay trái quay vòng vòng, quả nhiên tay trái cậu ấy vẽ những vòng tròn. Suy nghĩ của tôi muốn hai tay cậu ấy vỗ ba cái, quả nhiên hai tay cậu ấy vỗ ba cái. Suy nghĩ của tôi lại yêu cầu Thái Văn Minh chắp tay lại, quả nhiên hai tay cậu ấy cứ thế tự nhiên chắp lại. Lúc này Thái Văn Minh lại gọi tôi: “Lão Lư, lão Lư, trước mắt tôi xuất hiện một vị Kim Cang Thần, lão Lư, lão Lư, hai mắt tôi không mở ra được.”
”Thật sự không thể mở ra được à?”
”Thật sự.”
”Được rồi! Cậu hãy lễ bái Kim Cang Thần năm lần thì mắt sẽ mở ra được.”

Cậu ấy làm theo lời tôi nói, quả nhiên mắt lại mở to ra được. Cậu ấy đứng dậy, tôi nói với cậu ấy sự việc vừa trải qua, cậu ấy liên tục thốt lên quái lạ, quái lạ! Tay không hề cố ý cử động, ấy thế mà dường như có lực hút giống như hút vào, muốn mở mắt ra nhưng da mắt cứ như không nghe lời, trong lúc mông lung lại nhìn thấy Kim Cang Thần, những điều này cậu ấy đều nhận biết rõ ràng trong sự tỉnh táo, không phải mơ không phải huyễn. Từ đó, linh bên trong thân thể Thái Văn Minh đã sống lại, tuy nhiên Thái Văn Minh không có kinh nghiệm luyện linh, mặc dù linh đã sống nhưng cũng không có lợi ích gì lớn đối với bản thân cậu ấy. Trình độ của cậu ấy là khi đi vào nhà có tang thì có thể cảm nhận được âm khí của người âm, đi vào trong một ngôi nhà sẽ có thể cảm giác sống trong căn nhà này có bình an hay không mà thôi. 


### 22. Khởi linh nằm ở nhất tâm, một niệm không khởi


Một người bình thường muốn học hoạt linh, sự thật là không hề khó, hoàn toàn dựa vào niệm lực của chính mình để thúc đẩy và tác động thì không phải là không có khả năng, nhưng quan trọng nhất là nằm ở nhất tâm bất động, một niệm không khởi, thân ở đó giống như thân không ở đó, ý niệm ở đó giống như ý niệm không ở đó. Trong cõi tâm linh vô hình, gặp được cơ may tương trợ, trong sát-na sẽ phá vỡ tất cả cửa ải khó khăn, thế là một con đường lớn sáng sủa sẽ hiện lên trước mắt, đi theo thần thức của mình, một tiếng sét vang rền khiến đất trời kinh động, đột nhiên ngộ được chân tướng giữa trời đất, đây cũng là điều có thể.

Hôm nay nếu có người muốn biết về chân linh của mình, tôi dạy mọi người phương pháp như sau:

Thứ nhất, trước tiên chuẩn bị một căn phòng sạch sẽ, thư phòng cũng được, miễn là một căn phòng không bị người ngoài làm phiền, một chiếc ghế tựa để ngồi thay cho ngồi thiền (ngồi xếp bằng). Người bình thường phải ngồi xếp bằng thì tương đối khó, ngồi bán già hay kiết già đều không ngồi được lâu. Người tin Phật hoặc Đạo có thể thắp một nén hương, ngồi trong thời gian một nén hương, hai tay chắp lại, để trước ngực một cách tự nhiên. Người tin Cơ Đốc hay Thiên Chúa có thể không thắp hương. Người tin Phật có thể niệm bốn chữ “A Di Đà Phật”, người tin Đạo có thể niệm bốn chữ “Diêu Trì Kim Mẫu”, người tin Chúa Jesus thì niệm “Jesus Christ”, các tôn giáo khác cứ thế suy ra, nhưng cứ cách 5 phút thì phải niệm thêm “giúp chân linh tôi tái hiện”, “mau giúp chân linh tôi tái hiện”. 

Thứ hai, bởi linh tính của mỗi cá nhân khác nhau, thời gian dài ngắn cũng khác nhau, cho nên sự thức tỉnh của linh cũng sẽ dài ngắn khác nhau. Có một số người ngồi một lần đã thành công, nhưng có một số người nếu không ngồi quá ba lần thì không được. Nếu có người tu Đạo trợ giúp thì tỉ suất thành công sẽ như làm chơi ăn thật, nhưng không được nản chí. Có người phụ nữ hơn 40 tuổi ngồi liên tục bảy lần đã chứng được thần thông thiên nhãn, hiệu quả thật sự khó tưởng tượng.

Thứ ba, đạo lí khởi linh và đạo lí ngồi thiền có sự liên thông với nhau, hoàn toàn nói về một chữ tâm, “nhất tâm bất loạn, mọi pháp vô tính, vì vô tính nên đều thành Phật”. Đừng thấy việc ngồi yên như thế là quá đơn giản, ngồi yên lặng như vậy, lặng lẽ phòng thủ thần cung, đèn tâm tỏa sáng, có được mấy người có thể đạt đến cảnh giới này? Đại bộ phận con người đều bận rộn suốt cả cuộc đời, khi nào mới có thể tĩnh tâm lại để ngồi xuống được nửa tiếng đồng hồ? Người có thể hoàn toàn tĩnh tâm ngồi xuống nửa tiếng đồng hồ thì người ấy chắc chắn không phải là phàm phu đâu!

Thứ tư, xin người học tập khởi linh tuyệt đối ghi nhớ, khi ánh sáng phổ chiếu cũng tức là khi tâm mình hoàn toàn tịch diệt bất động, ta là ta tự do tự tại, hết thảy mọi thứ đều không khởi lên, ta chính là người tổng nắm giữ tâm tính.

Thứ năm, xin người học tập chú ý, phàm tự tâm sáng tỏ, tính hóa nghìn vạn, tay chân tự nhiên sẽ cử động tự do, tay múa may, chân bước đi, tôi không nói rõ ra, để bạn tự mình trải nghiệm cái linh lực trỗi dậy một cách tự nhiên trong thân thể chính mình đi!

Sức mạnh của khởi linh đến từ chính mình, nhưng có ngại gì việc mượn lực bên ngoài trợ giúp. Sau khi khởi linh đến luyện linh thành công là một con đường dài đằng đẵng, đây chính là khởi linh thì dễ nhưng luyện linh thì khó. Tu đến thời khắc sau cùng chỉ nghe thấy tiếng sấm nổ vang rền, bản thân ngồi xếp bằng tĩnh tọa, vận linh đến chỗ thiên linh xuất khiếu, sấm nổ và linh lực của chính mình tiếp ứng lẫn nhau, đây chính là tam quang tích hiện, là lúc thoát xác bay lên rồi. Nhục thể mặc dù vẫn ngồi trong ngôi nhà tranh trên mặt đất, nhưng linh thì đã trở về ẩn náu trong biển lớn hư không, điều này mới tráng lệ vĩ đại làm sao, chân lí không sinh không diệt từ đây chứng đắc. Nếu linh sống thì lợi ích rất nhiều, thong thả nghe tôi từ từ nói tiếp.


### 23. Người tầm thường nhất là kê đồng


Tôi không phủ nhận tôi đã huấn luyện ra một số kê đồng dưới tay của mình, ví dụ kê đồng của Tô Vương Gia ở Cảnh Phúc Cung, kê đồng của Thái Tử Nguyên Soái ở Tam Nguyên Đường, kê đồng của Cửu Thiên Huyền Nữ ở Bảo Thiên Cung, kê đồng của Thái Ất Chân Nhân ở Thái Ất Cung, kê đồng của Thiên Thượng Thánh Mẫu ở Trấn Hải Cung, kê đồng của Tam Sơn Quốc Vương ở Tam Sơn Cung, kê đồng của Tế Công Hoạt Phật ở Bát Cảnh Cung, kê đồng của Quan Âm Bồ Tát ở Thiên Đức Đường, kê đồng của Bát Quái Chân Nhân ở Tổ Sư Đường, kê đồng của tổ sư Lã Động Tân ở Trấn Nam Cung, v.v…. Những kê đồng này chính là một tay tôi huấn luyện dạy dỗ mà ra.

Cái gọi là kê đồng chính là người để cho linh của quỷ thần nhập vào người mình, hiển hiện uy linh của quỷ thần. Mặc dù là phương pháp thông linh hạ đẳng, nhưng nhìn chung cũng là một bộ phận của thần toán, bởi vì linh nhập lên người kê đồng thường xuyên là để dự đoán tương lai, hỏi vận mệnh, sự nghiệp, gia đình, sức khỏe cho người ta. Kê đồng cao tay hơn thì có thể hỏi nhân quả kiếp trước như Thám hoa tùng [xem xét khóm hoa bản mệnh của phụ nữ, xuống âm gian để xem tình trạng sức khỏe và vợ con trong cuộc đời mình], Quán lạc âm [pháp để dẫn dắt người tham gia đi xem cung Nguyên Thần, từ đó biết được vận mệnh của mình và giao tiếp được với người thân đã qua đời], hỏi việc âm gian. Những dự đoán này thường rất thần kì, vì thế có rất nhiều người mặc dù không tin nhưng vẫn rất có hứng thú đối với những kê đồng bị nhập mà tiêu không ít tiền. 

Có một số kê đồng vừa mở miệng ra đã có thể nói ra họ tên người hỏi, ngay cả việc họ muốn hỏi cũng biết, người đến xem không cần phải nói ra việc mình muốn hỏi là gì, kê đồng cũng có thể nói ra hết quá khứ của họ, có thể lần lượt nói ra như thuộc lòng bàn tay, chỉ dựa vào một điểm này thôi là đã khiến người ta mê tít rồi. Nhưng cũng có khi đoán không chuẩn, tôi biết rõ rằng thần không phải là toàn năng, thần minh chẳng qua chỉ là có năng lực cao hơn con người một chút mà thôi, đây chính là nguyên nhân mà thần minh không thể tin hoàn toàn. Chức ti của thần có phân biệt lớn nhỏ, có phân năng lực cao thấp mạnh yếu, nếu việc được hỏi vượt quá phạm vi linh lực của họ thì thần cũng không làm được!

Theo như tôi biết, loại thần minh này rất nhiều, hỏi mười việc, có tám việc cực chuẩn, nhưng có hai việc thế nào cũng có sai lầm, vì thế không thể hoàn toàn dựa vào thần minh được. Giữa trời đất thiên biến vạn hóa, sức người thường xuyên có thể thay đổi vận mệnh của bản thân, sức mạnh của thần minh có hạn, cầu phúc thì có thể, thỉnh cầu bảo vệ bạn cũng có thể, nhưng không thể toàn tâm toàn lực dựa vào thần linh, giả như bạn toàn lực dựa vào thần minh thì tức là đi vào chỗ mê hoặc rồi.

Tại đây, tôi nhấn mạnh thuyết “trời - người hợp nhất”, trời đến giúp ta, ta cũng phải nỗ lực mới có thể phối hợp với trời, cho dù trời đến giúp ta mà ta không hề tích cực muốn vươn lên thì cũng sẽ chẳng có tiến bộ gì. Ví dụ: có người muốn thi đại học, cầu Thần bái Phật, Thần Phật đều đồng ý giúp bạn, nhưng bạn lại chẳng hề nỗ lực, vậy có thể thi đỗ đại học được không? Có thể thi đỗ đại học mới là chuyện lạ đó! Thần Phật giúp đỡ con người ở chỗ cho tâm họ được bình an, thân thể khỏe mạnh, học bài có thể hiểu thông trăm điều, nếu tự mình không nỗ lực, chỉ cầu Thần Phật trợ giúp, thì đây là phương pháp bỏ gốc lấy ngọn, điểm xuất phát căn bản đã sai lầm rồi. Hiện nay ở nước ngoài có cái gọi là thầy mo phù thủy, những người này là pháp sư dùng phương thuật mượn linh chữa bệnh, kê đồng ở trong nước ta kì thực cũng không khác các thầy mo phù thủy lắm, chỉ là phương pháp khác nhau, còn bản chất cũng là mượn linh để làm việc, chữa bệnh. 

Bản chất của những kê đồng này đều không sai, nhưng sau cùng thì đều từ từ thay hình đổi dạng. Những cám dỗ vật chất trong xã hội khiến cho nhãn quang của kê đồng hỗn loạn, những kê đồng mà bị linh nhập không nặng có thể thừa cơ đòi phong bì kếch xù từ người hỏi việc, vào chùa mua vàng mã là đòi tiền, hỏi việc lại đòi tiền, bái thần càng đòi tiền, xử lí việc cũng đòi tiền, cái chữ “tiền” này khiến thần minh của chân linh lùi bước, và tà ma sẽ lợi dụng khoảng trống để đi thẳng vào, từ đó sinh ra thần côn. Kê đồng bình thường không có bản lĩnh luyện linh, cũng không có bản lĩnh phân biệt chính tà, thiện ác bất phân, thanh bạch bất minh, dẫn đến kết quả là bản thân cũng hồ đồ không biết rõ là thần hay là ma, đây chính là nỗi bi ai của những kê đồng ngoại cảm.

Có một kê đồng là người Đại Lâm ở tỉnh Gia Nghĩa, hắn từng giả danh thần để lừa gạt tín đồ, đến nhà tín đồ để ăn ở miễn phí, hơn nữa còn phao tin đồn rằng ở trong tịnh thất của tín đồ đó để tu luyện, kết quả là dụ dỗ luôn cả con gái của tín đồ. Những hành vi lừa tiền gạt sắc ấy đúng là con sâu làm rầu nồi canh trong hàng ngũ kê đồng. Kê đồng này cũng là một trong số những người tôi đã huấn luyện, khi ấy hắn đem bộ mặt rất thành khẩn cầu đạo đến tìm tôi, tôi nhất thời không xem xét kĩ nên đã rơi vào trong cái bẫy của hắn. Thế là, hắn đã lợi dụng linh nhập vào thân để ngụy trang, làm những vụ bê bối không có tính người, khiến thần linh rơi vào tình cảnh khó khăn, các thần tủi hổ, đúng là phần tử cặn bã của linh giới, là con sâu bệnh đáng ghét tột cùng, biến linh nhập vào thành công cụ để lừa bịp chúng sinh.

Sau khi sự việc này xảy ra, từng có một người trung niên dáng dấp công nhân đến tìm tôi, vừa nhìn thấy tôi đã nói:
”Tiên sinh, nghe nói ngài có năng lực khiến tôi biến thành kê thủ.”
”Có việc gì sao?” - Tôi hỏi không mấy vui vẻ.
”Tôi rất có hứng thú với việc làm kê thủ, gần đây xã hội người thừa việc thiếu, thật không dễ tìm việc, đặc biệt là khi tìm được việc làm rồi, mỗi tháng chẳng qua chỉ kiếm được vài nghìn tệ mà thôi. Nếu tôi làm kê đồng làm việc cho người ta, có thể kiếm được nhiều tiền hơn một chút, hơn nữa ai ấy đều tôn kính tôi, đối đãi với tôi như với thần, tự mình cao hứng thế nào thì sẽ như thế, đây chẳng phải là rất thú vị sao? Tôi tin rằng tôi có thể nhanh chóng luyện thành công, tôi có sự tự tin này.”
”Xin lỗi, từ nay tôi không huấn luyện kê đồng nữa.” - Tôi nói một cách không hài lòng.
”Vì sao? Tôi sẽ không đối xử tệ với thầy đâu, mỗi tháng tôi sẽ gửi phong bì cho thầy mà!” - Ông ta nói to chẳng hề biết ngượng.
”Xin ông thôi cho! Tôi đã không chịu nổi người tâm thuật bất chính làm kê đồng nữa rồi!”
Người trung niên công nhân đó có vẻ không hiểu ý của tôi, lại nói:
”Tôi sẽ trả tiền học phí trước, sau đó hàng tháng sẽ gửi tiền.”
”Xin lỗi, tôi đã nhất quyết không huấn luyện kê đồng nữa, mời đi cho! Mời ông đi cho!” - Mặt tôi nhăn nhó đau khổ, liên tục xua tay. 
Người đó hậm hực bỏ đi.

Đối với những kê đồng ngoại cảm ngày nay, tôi vừa buồn lòng vừa mất lòng tin, họ đã tạo cho người ta một quan niệm rằng họ là những thần côn không hề có tri thức, mê tín vô tri, chuyên môn lừa tiền gạt sắc, nhờ thần kiếm miếng ăn. Hỡi ôi! Hỡi ôi! Nghiên cứu linh học đến bước này, đau lòng lắm, đau lòng lắm thay!


### 24. Thần toán bí mật của bói quẻ


Bát quái là những kí hiệu được phát minh bởi Phục Hi Thị, tám quẻ tức là Càn, Khôn, Chấn, Tốn, Khảm, Li, Cấn, Đoài. Sau này mới diễn biến ra thành 64 quẻ, ngày nay dùng để bói lành dữ họa phúc, là nguồn gốc chữ viết của nước ta, trong đó lại có biến quẻ, có nghĩa là việc đã định đoạt rồi lại thay đổi.

Bát quái có kí hiệu của bát quái, tức Càn thì là ba nét liền, Đoài là khuyết ở trên, Li là trống ở giữa, Chấn là cái lọ ngửa lên, Tốn là khuyết ở dưới, Khảm là ở giữa đầy, Cấn là cái bát úp, Khôn là sáu đoạn. Tượng hình là để giải thích cho trời, đất, sấm, gió, sông, nước, lửa, núi. 

Trong quá khứ, Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh truyền thụ cho tác giả pháp bốc quẻ, trước tiên là rửa tay thắp hương, miệng niệm: “Khẩn cầu Bát quái tổ sư gia, Phục Hi, Văn Vương, Chu Công, Khổng Tử, ngũ đại thánh hiền, Quỷ Cốc Tiên Sư, Bài Quái Đồng Tử, Thành Quái Đồng Lang. Đệ tử Liên Sinh thuộc Tam Thanh giáo, nay phụng Tiên thiên vô cực chính pháp cung thỉnh, trực nhật Công Tào chuyển bẩm, tất cả các thần linh qua lại trong không trung, vì việc nào đó chưa giải quyết được, xin trịnh trọng kiền tâm thành ý, trong tám tám sáu mươi tư quẻ này cầu lấy một quẻ, lành dữ họa phúc chỉ dựa vào sự linh nghiệm này.” Lúc này dùng ba đồng tiền đặt tại hộp đựng quẻ, lần lượt tung lên không trung, mặt phải là dương, mặt trái là âm, trước tiên cầu quẻ hạ, tiếp theo cầu quẻ thượng, trên dưới hợp nhất là có được một quẻ trong số tám tám sáu mươi tư quẻ.

Pháp bói gạo thì càng đơn giản hơn, đặt một khay gạo trước Phật, thắp hương cầu nguyện, dùng hai ngón tay để lấy gạo, nếu lấy một hạt tức là Càn, lấy ba hạt tức là Li, quá tám hạt, ví dụ mười hạt, thì trừ đi tám còn hai, tức là Đoài. Lấy xong lần thứ nhất, lại lấy lần thứ hai, vượt qua tám hạt thì lại trừ đi, lần thứ hai nếu lấy năm hạt tức là Tốn, sau đó trên dưới đảo lộn, giả định lần thứ nhất lấy ba hạt, lần thứ hai lấy năm hạt, thì thành quẻ Phong hỏa gia nhân. 

Ngoài ra còn có bói cờ, lấy quân cờ tướng hoặc cờ vây, cách bói cũng gần tương tự như cách bói gạo, điểm khác biệt lớn nhất của bói cờ là cờ tướng, lấy quân cờ tướng ra có thể đối chiếu tướng, sĩ, tượng, xe, mã, pháo, tốt, có thể bói được sự nghiệp thành bại tốt xấu. Tác giả hiện tại còn biết bói sỏi, bói hoa, bói sao, bói mộng, đoán chữ, v.v…

Các quẻ hoặc thuật xem bói ở trên có thể nói là một bộ phận của linh học. Cái gọi là “bói” tức là thỉnh thần linh ẩn mình trong hư không giới phát huy pháp lực vô hình, mượn một chút sự nhạy bén để đoán triển vọng tương lai. Diễn thuật của Bát quái chính là diệu thuật của Kinh Dịch thượng thừa. Thực tế có năng lực dự đoán tương lai thì thật sự là không thể coi thường!

Bất kể là Bát quái, bói gạo, bói cờ, v.v… nhất thiết phải chú ý mấy điểm sau:

Thứ nhất, chọn thời gian. Tác giả biết rõ cái gọi là thời khắc thiên thanh địa ninh, không phải vào chính giờ Ngọ, cũng không phải giờ Tí, mà là lúc sáng sớm khoảng 4 giờ. Vào thời khắc đó, người người đều đang nhập chiêm bao, cả một bầu không khí vẩn đục cuồn cuộn thì đến lúc 4 giờ cũng lắng chìm xuống. Đến 6 giờ thì chủ nhà thức dậy, nổi lửa nấu cơm, mùi thức ăn sẽ lại dày đặc trong không khí. Vì thế Phật gia niệm chú Lăng Nghiêm nhất định phải là lúc 4 giờ sáng, 4 giờ chính là lúc tốt nhất để bốc quẻ. Vào thời khắc thiên thanh địa ninh, vạn động đều dừng, chỉ có ánh trăng lờ mờ, lúc này người bốc quẻ trên phải hợp với ý trời, giải tỏa mọi chuyện nghi ngờ trong lòng, một khi linh cơ khởi động thì vạn pháp quy tâm, lành dữ phân biệt ngay, muốn biết trên trời dưới đất thì còn có việc gì khó chứ!

Thứ hai, tâm thành tắc linh. Bốc quẻ không phải trò chơi, mà là xuất phát từ sự cầu nguyện chân thành. Để biểu thị lòng thành kính, tốt nhất là tịnh khẩu trai giới, tắm rửa sạch sẽ, rửa tay thắp hương, như thế nhân tâm và thiên tâm mới tương ấn, cảm động thần trời hạ giáng, một khi linh cơ khởi lên thì lành dữ sẽ hiện ra thôi! Tác giả bốc quẻ vẫn luôn thành tâm cầu nguyện lên trên, vận động linh thể để cùng cảm ứng với thần linh trong hư không, linh quang của thần linh lóe sáng lên, muốn hỏi việc gì thì lập tức có được câu trả lời cực kì chuẩn xác.

Thứ ba, lựa chọn địa điểm. Địa điểm bốc quẻ tốt nhất là ở ngoài trời, ở trong nhà thì ở trước bàn thờ thần là hay nhất, nếu không có bàn thờ thần thì ở trong thư phòng quay mặt ra ngoài cửa sổ cũng được. Tuyệt đối không được ở trong phòng ngủ, phòng ăn hoặc nhà vệ sinh.

Thứ tư, về phương diện bày biện cần có hai ngọn nến, tránh có gió thổi, ba chén trà thơm, bát hương, ba quả hay năm quả đều được, hộp bói, v.v…

Tác giả có lần đáp ứng yêu cầu của người ta muốn bói xem bệnh tình của mẹ mình có thể khỏi được không, thế là vào buổi tối tôi đã chuẩn bị đầy đủ mọi thứ. Đúng bốn giờ sáng, chuông đồng hồ báo thức reo, tôi trèo ra khỏi giường, đi ra phòng ngoài, thắp hương hướng về hư không cầu nguyện, cắm hương vào trong bát hương, vận chân linh trong người mình, lập tức phát hiện thấy một bóng đen phục dưới gầm bàn, đột ngột nhìn thấy nên tôi rất kinh hãi, vội hỏi: 
”Ai dưới gầm bàn?”
”Vong nữ là Tưởng Bích Châu.” 
Tôi vừa nghe thấy Tưởng Bích Châu, đây chính là đối tượng mà đêm nay tôi cần xem bói!
”Bà qua đời khi nào? Đến đây có việc gì?”
”Hai giờ đêm nay thì tôi tắt thở, khi linh hồn vùng thoát khỏi thân người, đúng trong lúc hoảng hốt, bỗng nghe có người đọc họ tên tôi, nên đã theo âm thanh đó mà tới đây. Nhưng nhìn thấy trên bàn có bày một tấm gương Bát quái, trong gương tỏa hào quang sáng chói, tôi không dám nhìn thẳng, vì thế mới ẩn mình dưới bàn, không rõ tại sao pháp sư lại biết tên tuổi ngày sinh của tôi?”
”Là người nhà của bà yêu cầu, muốn hỏi sức khỏe của bà có thể hồi phục được không. Như bây giờ thì không cần hỏi nữa, bà mau đi đi! Có lẽ người nhà đang mời tăng đạo để tụng kinh lễ Phật cho bà đó!” 

Vong hồn đó nhẹ nhàng bay ra khỏi gầm bàn, biến mất về phía bức tường. Ngày hôm sau, tôi hỏi người nhà họ, quả nhiên 2 giờ sáng người phụ nữ đó tắt thở, không sai khác một chút nào.


### 25. Thuật lên đồng viết chữ trời - người hợp nhất


Ở nước ta thường xuyên bắt gặp phù kê [lên đồng viết chữ]. Thánh giáo ở nước ta còn gọi là Ân Chủ Miếu, sùng bái Miếu Thánh Đế của Quan Phu Tử đại bộ phận đều có biểu diễn phù kê. Các kê sinh [người lên đồng viết chữ] lúc làm phù kê có khi thì là một người, có khi là hai người. Trước mặt kê sinh có bày một khay cát trắng, kê sinh tay cầm cành cây đào hình chữ V là công cụ để viết chữ, do một đám loan sinh tụng kinh thỉnh thần linh, thần linh nhập vào cành đào, còn kê sinh dùng tay viết chữ lên khay cát trắng. Khi thần giáng xuống, đại bộ phận thần linh sẽ tự báo danh hiệu, sau đó sẽ chỉ điểm công việc, hoặc thơ hoặc từ, có khi là những lời nói thẳng rõ ràng, đúng là kì dị. Kê sinh và loan sinh thông thường hết sức cung kính đối với thần linh của thế giới vô hình giáng xuống để viết chữ, họ lễ tiết hết sức chu đáo.

Tác giả từng đọc một số bài thơ được viết ra bởi thuật phù kê, có mấy bài cảm thấy cũng rất hay, tôi đặc biệt trích ra như sau: 
*“Huyền diệu ẩn mình trong nhật nguyệt,
Thiên tâm công bằng không lệch xiên,
Thượng nhân chí thiện hiểu nhân quả,
Đế đức công cao chính khí dài.” *- Đây là Huyền Thiên Thượng Đế giáng thơ. 

Còn nữa: 
*“Thiên địa nhân gian tam nhật tài, 
Thượng thương hạ giới âm dương đài, 
Thánh chân Tiên Phật nhờ công đắc, 
Mẫu tử cháu con sẽ đề huề.” - *Đây là Thiên Thượng Thánh Mẫu giáng thơ. 

Còn nữa: 
*“Phúc tinh ban phúc khắp trời người, 
Đức dày công cao khác gì tiên, 
Chính khí cốt lõi không lẫn lộn, 
Thần linh bảo hộ được an yên.” - * Đây là Phúc Đức Chính Thần giáng thơ. 

Còn nữa: 
*“Nhân giả vui không họa,
Nghĩa giả chẳng nói tiền, 
Cổ nhân trọng đạo đức, 
Phật tử đến từ tây.”* - Đây là Nhân Nghĩa Cổ Phật giáng thơ. 

Còn nữa: 
*“Thanh sạch không nhiễm bụi, 
Thủy trong sáng như gương, 
Tổ thành thiên thượng Phật, 
Sư thầy trồng thiện căn.” - *Đây là Thanh Thủy Tổ Sư giáng thơ.

Trong đó còn có một bài phú của Tế Công Hoạt Phật ban cho, rất giống một câu chuyện: *“Đầu đội mũ bẹp, y phục rách rưới, đi dép cọc cạch, lúc say lúc điên, tay phải hũ rượu, tay trái quạt tre, nhìn trước ngó sau, đường bụi ngõ hẹp, bước đi xiêu vẹo, ấy là để cứu người phàm, ấy là độ đời phiền não điên đảo, khinh đạo ta lưu luyến, chớ trách giả điên khùng, người ngả nghiêng tâm mặc kệ, ngay giữa giao lộ bán quan huyền, xó quê ngõ hẹp đều đi khắp, không ngại vất vả tới nhà dân, chỉ ra đường núi linh thiêng, Tam Bảo xướng lên rằng có duyên, vĩnh viễn vượt qua đại đạo tránh luân hồi, tiêu dao tự tại thiên ngoại thiên.”*

Rồi có khi thần linh hạ giáng, chỉ thị chúng sinh: *“Chúng sinh chớ lần lữa, khi tuân thủ trên dưới, ngồi làm phải quy củ, nói chuyện nên nhỏ tiếng, bước đi đừng ngả nghiêng, mau tiến vào giới luật, gặp trên phải lễ phép, chớ không nên lẫn lộn, nghe kinh giảng thuyết pháp, đúng giờ đừng chậm trễ.”*

Những bài thơ được ban xuống cho phù kê đôi khi cũng có những bài hay, nhưng đôi khi dường như cẩu thả. Kì quái nhất là bản thân kê sinh không hiểu tiếng Anh hoặc tiếng Nhật, không hiểu tiếng Hebrew, nhưng lạ là Jesus Christ cũng có thể giáng kê, Thiên Chiếu Đại Thần của Nhật Bản cũng viết một bài thơ tiếng Nhật hoành tráng. Ở đây nhất định là có chỗ huyền diệu, bằng không những kê sinh có trình độ tri thức không cao làm sao mà đột nhiên lại có thể biết thơ biết văn, lại còn biết cả ngoại ngữ nữa chứ! 

Khoảng mười mấy năm trước, tôi ở miếu Tổ Sư ở Cao Hùng nhìn thấy người ta phù kê, kê thủ đó hai tay rung rung, đưa lên đưa xuống múa may, viết ra hết chữ này đến chữ khác, không có một lỗi sai nào, suy nghĩ cũng cực kì nhanh nhẹn y như động tác, một tay viết chữ lên cát như rồng bay phượng múa, thật sự là không đơn giản đâu! Khi ấy tôi không tin phù kê, nhưng sự kiền thành của họ như vậy thì cũng không giống mánh lới lừa đảo!

Hôm nay tôi đã hiểu phù kê cũng là một dạng thần toán, độc giả đừng thấy kì lạ, cái gọi là phù kê cũng chính là thỉnh linh vô hình ở hư không giáng bút chỉ thị cho một phương pháp làm việc, dùng cành đào làm bút, viết chữ thay cho miệng nói, biểu dương cái thiện, tạo ra cách giao tiếp giữa người và thần. Ở Đài Trung, tôi từng xem phù kê ở Thánh Hiền Đường, Thánh Minh Cung, Tỉnh Tu Cung, phù kê ở Thảo Đồn Huệ Đức Cung tôi cũng thấy rồi, kê sinh và loan sinh đều mặc áo dài, phù kê nổi tiếng có Viên Lâm Khuyến Hóa Đường, Bành Hồ Tín Thiện Đường, v.v… Thuật phù kê đã có ở Trung Quốc Đại Lục từ lâu, linh hay không linh đều có nói thơ, đại bộ phận kê sinh hoặc loan sinh đều kết hợp lẫn lộn tam giáo Khổng Tử, Lão Tử, Thích Ca để nói. Quy định của loan đường rất nghiêm ngặt, nếu loan sinh có lỗi lầm, có khi bị phạt quỳ trong thời gian một nén hương. Rất nhiều kinh điển Đạo giáo không phải tổ sư Đạo giáo truyền, mà là kinh điển được soạn ra thông qua cành đào viết chữ, những kinh điển này hiện nay rất phổ biến.

Bạn có thể không tin, nhưng có rất nhiều việc trùng hợp xảy ra, điều này chính bản thân tôi đã trải nghiệm. Có một lần tôi đến Đài Bắc, tôi đi dạo ở khu Cảnh Mĩ, nhìn thấy phía trước có một ngôi miếu treo một cái biển, trên đó viết “Tam Giáo Tổng Đàn”, tôi liền dấn bước đi vào. Khi ấy tôi có thói quen hễ gặp chùa miếu là vào lễ bái. Bên trong miếu có loan sinh đang bận làm việc, có bày hương án, có tụng kinh, có lên đồng viết chữ, có người hát, mặc dù rất nhiều việc diễn ra nhưng lại cực kì yên tĩnh không có tiếng động, bên trong cũng có khá nhiều tín chúng, đại khái là hỏi việc cầu chỉ thị.

Lúc này, cành đào đột nhiên dừng lại ở không trung, liên tục múa may, các loan sinh không biết vì sao. Có mấy vị liền quỳ xuống cầu xin chỉ thị. Tiếp đó, cành đào liên tục chấm chấm trên khay cát, viết ra rằng: “Hôm nay có đệ tử Liên Sinh của Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, ở Từ Huệ Lôi Tạng Tự Đài Trung đến đây, Liên Sinh đã thông hiểu sự tình, nay đã đến thăm, phải tôn kính đối đãi.” Các loan sinh nghe xong thì rối rít hỏi Liên Sinh ở Từ Huệ Lôi Tạng Tự Đài Trung là vị nào. Mọi người nhìn nhau, tôi nghe thấy gọi tôi thì tôi cũng khá ngạc nhiên, tôi nói với người đang hỏi: “Là tôi đây.” Trụ trì của Tam Giáo Tổng Đàn rất khách khí mời tôi ngồi vào chỗ, dâng trà thơm, khiến tôi cảm thấy rất ngại. Tín chúng rất đông, ấy vậy mà chỉ có mình tôi nhận được sự trọng đãi đặc biệt này, đúng là hổ thẹn, hổ thẹn.

“Tiên sinh là Liên Sinh ở Đài Trung Từ Huệ Lôi Tạng Tự à? Đệ tử của Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh à?” - Trụ trì hỏi tôi.
”Đúng vậy.”
”Vậy chủ thần của chùa mà ngài trụ trì là Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh ư?”
”Điều này thì không phải, chủ thần là Vô Cực Diêu Trì Kim Mẫu Thiên Tôn, Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, U Minh Giáo Chủ Địa Tạng Vương Bồ Tát.”
”Ồ! Vậy Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh là thần thánh nào vậy? Vì sao tôi tin thần lâu như vậy rồi mà chưa từng nghe nói đến?” - Trụ trì lại hỏi.
”Ông nói đúng rồi, ngay cả tôi cũng không biết rõ, chỉ biết ngài một thánh linh của Vô sắc giới.” - Tôi rất thành thật nói rằng tôi không biết, thế rồi tôi nói tiếp: “Vừa nãy thần thánh giáng kê đã biết ân sư của tôi, nhất định là biết lai lịch của ân sư, sao chúng ta không thử hỏi xem.”

Thần thánh giáng kê là Lư Sơn Đạo Viện Hứa Chân Quân, cũng chính là sư phụ của phu nhân Lâm Thủy Trần Tĩnh Cô mà người ta đồn. Tôi cầm hương cầu nguyện xong, Hứa Chân Quân giáng chữ trên khay cát chỉ thị rằng: “Vùng đất sen vàng đã đặt chân, cửu phẩm liên hoa sinh như vậy, thần thông nối liền khắp trời đất, linh khí trải rộng khắp cửu châu, Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh chính là vô thượng tiêu dao chí tôn bất sinh bất diệt vô câu vô thúc, chưa được Ngọc Hoàng phong Thần, đức hợp trời đất, ẩn thân trong trời xanh cát bụi, xuyên núi xuyên sông, vô hình vô ảnh, đạo pháp vô cùng, ngay cả Hứa Chân Quân tôi cũng không biết lai lịch thật sự của ngài, nhưng ngay cả đến Ngũ Lão tôn giả của Đạo giáo là Đông Hoa Đế Quân, Diêu Trì Kim Mẫu, Hoàng Lão, Thủy Tinh Tử, Hỏa Tinh Tử khi gặp mặt cũng có phần nhún nhường. Chà! Tu đạo chỉ cầu chân đạo quả, hành đạo nằm ở tâm, thành đạo cũng nằm ở tâm, trong bùn nở hoa sen, khổ tu mới là người ở trên mọi người.”

Trụ trì của Tam Giáo Tổng Đàn nói:
”Chà! Thì ra thầy của ngài lại vĩ đại như vậy, vậy ngài là học trò của vị ấy thì nhất định cũng là bất phàm!”
”Không dám, không dám, tiểu sinh đích thực là không biết gì cả, chỉ biết lễ Phật ngồi thiền mà thôi.”

Ở Tam Giáo Tổng Đàn, tôi nhìn kê sinh múa bút, những loan sinh ấy nhìn tôi với ánh mắt kì dị. Vốn dĩ ở bên cạnh khay cát không cho phép người ngoài tới gần, nhưng Hứa Chân Quân phái Lư Sơn đã bảo tôi đến bên cạnh khay trời, nói với tôi rằng: *“Âm khí chưa trừ nhiều chướng ngại, sau này tu tấn thiện công cao, Tam Tào phổ độ hợp thiên vận, tìm kiếm giác ngộ chớ chán chường.”* Lại nói: *“Đại đức công cao nên phòng ma, kiên tâm bất biến thần quang hiện, chính tà vốn có tâm phân biệt, liên hoa hóa sinh mãi là sen.”*

Khi tôi rời khỏi Tam Giáo Tổng Đàn, có một loan hữu đuổi theo tôi, anh ta thở hổn hển nói: 
“Tiên sinh, chờ một chút.”
Anh ta nói:
”Hiện tại tôi phụng mệnh phải tọa cấm (bế quan), ý của Đạo tổ là muốn tôi sau 49 ngày luyện tập sẽ làm kê thủ, nhưng ban ngày tôi đọc kinh, buổi tối ngồi thiền, từ ngày đầu tiên cho đến ngày thứ sáu không có cảm ứng gì, đến ngày thứ bảy tôi vừa ngồi thiền thì hai mắt không mở ra được nữa. Trong lúc hoảng hốt tôi nhìn thấy ở ngoài cửa có một vị Kim Giáp Thần đang đứng. Tôi nhìn ra sau lưng, sau lưng tôi có một tôi khác đang đứng, trước mặt tôi cũng có một tôi khác đang đứng, bên trái có một tôi, bên phải có một tôi, còn tôi thì đang ngồi ở giữa “các tôi”. Trong không trung có tiếng hỏi tôi rằng ai là tôi. Tôi trả lời không biết. Kết quả là ngày hôm sau, Đạo tổ chỉ thị, tôi không đủ tư cách làm kê sinh, cho tôi được mở cửa ra ngoài, bây giờ tôi chỉ được làm loan sinh thôi, xin hỏi tiên sinh, tôi đã sai ở đâu?”

Tôi nói với anh ta một câu trong “Tâm Đăng Lục”: 
“Cấp độ sơ là lìa xa cái ngã nhưng vẫn nhận thức được cái ngã. Cấp độ trung là nương theo cái ngã mà khéo lấy cái dụng của ngã. Cái ngã sẽ tự bảo vệ cái ngã nên sẽ tạo ra vọng tưởng hình tướng, cần khởi tâm muốn lìa xa, nhưng lìa xa cái ngã mà không bỏ mất cái ngã là cấp độ cao nhất. Anh hiểu lời của tôi không?” 
Anh ta gật gật đầu, hết sức vui mừng, luôn mồm nói: 
“Thì ra như vậy, thì ra như vậy.”

Theo như tôi biết, loan sinh thì người bình thường đều có thể làm được, chỉ cần bạn có tâm mộ đạo là có thể tham gia, nhưng còn kê sinh thì phải từ trong đám loan sinh luyện tập mới thành được. Nhân quả tiền kiếp của kê sinh tất nhiên không tệ, tâm hướng đạo vững chắc, trí tuệ tương đối cao, hơn nữa điều quan trọng nhất chính là linh ở bên trong phải sáng chói lọi, sống động hoạt bát, đây chính là điều kiện chủ yếu nhất để làm kê sinh lên đồng viết chữ. Linh trong không trung phải mượn vật thể của thế giới hữu hình mới có thể có biểu hiện gì đó, đây chính là đạo lí mượn vật sai vật, cho nên tôi nói đây là một dạng phương pháp thần toán trời người hợp nhất. Cái này là thật không phải là giả. Tính chuẩn xác thì lại là một chuyện khác, nhưng chính xác là có tồn tại chuyện linh nhập vào cành đào để viết chữ. 

Phật gia đối với kê đồng, bốc quẻ, phù kê đều không tin, nhưng cũng không phản đối rõ ràng, Phật là thuận theo tự nhiên, kì thực Đạo cũng là thuận theo tự nhiên, nhưng nếu quá tĩnh lặng, không có biểu hiện linh dị, thì làm sao lôi cuốn chúng sinh quy hướng Phật, quy hướng Đạo chứ?


### 26. Truyền kì về Lộ thủy ngẫu tượng


Thầy đoán mệnh dựa vào kĩ năng gì để đoán mệnh cho người ta? Có một số người thì dựa vào chỉ tay, tướng mặt và nắn xương, có một số người thì dùng đạo cụ như bốc quẻ, rút bài, tướng sao, v.v… Người nước ngoài có xem quả cầu thủy tinh, có cái gọi là bói bài tây, còn có người lấy triết học ra làm thành danh nghĩa triết học tướng mệnh. Trong số này chỉ có một loại tôi cho rằng là tướng thuật thần kì và linh nghiệm, đó chính là pháp đoán mệnh Lộ thủy ngẫu tượng. 

Hiện nay có được bao nhiêu người hiểu về pháp Lộ thủy ngẫu tượng để đoán mệnh? Thứ lỗi cho tôi không thể thống kê ra hết, nhưng tôi thật sự đã từng gặp. Người xem bói hai mắt nhắm chặt, họ không cần xem chỉ tay, cũng không cần xem tướng mặt, trong miệng lầm rầm niệm những kinh văn mà bạn nghe không hiểu gì. Người xem bói thắp một nén hương trên bàn thờ thần, trên bàn thờ thần dùng vải đỏ hoặc vải vàng để bọc lấy một thứ không biết là vật gì. Bạn báo cáo họ tên địa chỉ, ngày tháng năm sinh, người xem bói lập tức có thể nói ra bạn có mấy anh chị em, bạn là con thứ mấy, hiện tại đang làm công việc gì, ngày hôm trước bạn đã làm việc gì, khi nào bạn được thăng chức, trong lòng bạn đang có điều gì khó xử, từ lúc bạn sinh ra đến nay đã từng xảy ra những việc lớn gì, lần lượt đều nói ra cho bạn, năng lực này khiến những người đoán mệnh phải trợn mắt há mồm.

Tiếp theo, người xem bói sẽ nói về tương lai của bạn, làm việc gì có thể thành công, tiền đồ thăng quan phát tài, có kiếp số gì, vận thành công ra sao, vận gia đình ra sao. Có một số người đoán mệnh Lộ thủy ngẫu tượng còn lợi hại hơn, người đến còn chưa nói ra họ tên địa chỉ thì họ đã đưa cho bạn một mảnh giấy, trên đó đã viết tên bạn là gì, bao nhiêu tuổi, làm nghề gì, khiến bạn đọc xong là kinh hoàng. Sau đó thầy bói mở miệng nói: “Giá tiền xem bói có phân biệt nhiều ít, người giàu thì lấy nhiều, người nghèo thì lấy ít, tôi thấy mệnh của ông đắt hơn nghìn vạn, do vậy một lần xem cần ba nghìn tệ, không biết ông có chịu không?” Người bình thường nhìn thấy kiểu thầy bói chưa đoán đã biết này thì hết sức tâm phục khẩu phục nên cũng ngoan ngoãn móc tiền ra khỏi hầu bao.

Đoán mệnh Lộ thủy ngẫu tượng bói quá khứ thì chuẩn xác trăm phần trăm, nhưng bói tương lai thì có thể không chính xác, mười phần mà đoán chuẩn được tám phần đã là không tệ rồi. Hôm nay, tôi viết chương văn này không phải cố ý bóc mẽ Lộ thủy ngẫu tượng, mà là pháp Lộ thủy ngẫu tượng cũng thuộc một bộ phận của linh cơ thần toán, cho nên không công khai bí mật của nó không được. Bản văn này là một bản báo cáo có tính chất bí mật nghìn vạn năm khó gặp một lần, tôi bảo đảm trước giờ chưa từng có.

Dùng Lộ thủy ngẫu tượng để đoán mệnh cho người ta, trước hết phải thờ cúng một vị Lộ thủy ngẫu tượng, như thế nào gọi là Lộ thủy ngẫu tượng? Vì sáng sớm mỗi ngày phải đặt bức tượng ở ngoài trời để cho bức tượng thấm sương, lúc mặt trời còn chưa mọc đã phải phụng thỉnh bức tượng ấy ra ngoài, trước khi mặt trời mọc thì lại thỉnh vào trong nhà, vì có sương thấm ở trên bức tượng nên gọi là Lộ thủy ngẫu tượng [tượng thấm nước sương]. Rất nhiều người biết có thứ này, nhưng lại không biết chế tác như thế nào. Vậy hãy nghe tôi trình bày tỉ mỉ.

Phàm người nào luyện Lộ thủy ngẫu tượng cũng phải chọn một ngày lành, lấy một đoạn cành cây liễu ở bên con sông chảy về hướng đông, mời thợ thủ công thắp hương điêu khắc thành hình người, dài hai tấc sáu phân [khoảng 7cm] để chỉ số âm, dung mạo rõ ràng, bảy lỗ [gồm hai tai, hai mắt, hai lỗ mũi, miệng] tinh xảo, tay trái khắc ấn dương, tay phải khắc phù âm, đầu có hai búi tóc giống như kiểu trẻ em, thân mặc áo, dùng chu sa hòa với sữa mẹ vẽ lên tim, gan, lá lách, phổi, thận trên giấy màu vàng. Chính giữa bức tượng khoét một cái lỗ đi vào trong bụng. Sau đó dùng máu của mào gà hoặc máu rùa tô vào miệng của bức tượng, đợi làng trên xóm dưới biết đích xác có đứa bé trai qua đời, thì viết ngày giờ chết của đứa bé đó trên giấy vàng, dán vào sau lưng của bức tượng. Đợi đúng ngày Giáp Tí Canh Thân Mậu thì tế luyện trong tịnh phòng. Dùng gà luộc, chả cá, chanh dây để cúng, mỗi ngày sớm tối niệm một lượt ba câu chú, sau đó niệm chú truy hồn hiện hình 49 biến, sau đó đốt một lá phù rồi lễ bái. Không chỉ buổi sáng phải làm như vậy mà buổi trưa cũng phải làm như vậy, buổi tối cũng phải lễ như vậy. Sau 21 ngày, cho đến khi hai lá cờ vàng được treo lên đột ngột chập lại, rồi đột ngột tách ra, biểu thị rằng đại công đã sắp hoàn thành, linh hồn của đứa bé trai đã chết đó đã nhập vào khúc gỗ cây liễu này rồi. Cứ thế cho tới sau 35 ngày, đứa bé trai đó đã có thể hiện hình mới xem như là việc lớn đã thành. Trong thời gian tế luyện không được để mèo chó, phụ nữ sinh đẻ hoặc người để tang đến gần. 

Chú truy hồn hiện hình như sau: “Linh hồn liễu linh, cửu khiếu giai minh, ngoại cụ tứ tượng, nội toàn ngũ hành, ngã nãi nhân đạo, nhĩ nãi mộc tinh, ngô phụng đế lệnh, nhĩ đồng nhĩ thông linh, tảo hiện chân hình, đọa ngô hô triệu ủng hộ ngô hình, mại thiện tống lộc, phùng ác trợ binh, hoặc thủ tài bảo, hoặc nhiếp hương canh, tật lai tật khứ, vật đắc diên lưu, tại gia xuất gia, trú dạ tương thân, thiên nhân nan kiến, vạn nhân nan tầm, phàm ngô sở tại, tả hữu truy tầm, báo thượng cát hung, toán nhân họa phúc, tốc tốc khoái hành. Ngô phụng Đông Nhạc Đại Đế Quân cấp cấp sắc lệnh cang.”

Nếu luyện thành công phương pháp này thì cũng như có một linh đồng luôn đi theo người đoán mệnh, sức mạnh của linh giới có thể biết quá khứ của con người, bạn chưa bước chân vào cửa thì linh đồng kia đã sớm điều tra thân thế của bạn rõ mồn một. Trong thời gian một nén hương, với những việc đến rồi đi, với việc đoán quá khứ của bạn thì làm gì có chuyện không chuẩn.

Đối với việc thờ cúng linh đồng thì chỉ cần có hương, trà, quả, một đĩa đồ ăn chay là được. Sáng sớm mỗi ngày thì đem tượng ra ngoài cho thấm sương để nuôi dưỡng âm linh, mượn linh đoán mệnh, tiền tài đổ vào cuồn cuộn. Tuy nhiên bản thân người đoán mệnh phải có sẵn linh thể, chỉ có linh thể thì mới có thể hiểu linh đồng đang nói với bạn cái gì.

Linh pháp của Lộ thủy ngẫu tượng cũng dùng giấy vàng để che vào mũi và miệng của đứa bé trai thông minh lanh lợi mới chết, trên giấy vàng viết ngày sinh và ngày chết của đứa bé trai. Đã có hình một đứa bé trai bằng gỗ cây liễu được chế tác như trên, nhét giấy vàng vào bên trong khúc gỗ, cách cúng tế cũng là 21 ngày đến 35 ngày. Sự linh dị của nó không thể coi thường, người đoán mệnh có thể luyện Lộ thủy ngẫu tượng thì quán xem bói của người đó chắc chắn sẽ gây chấn động, dự đoán chuẩn xác đâu còn là việc gì khó nữa.

Ở Formosa có một thầy đoán mệnh tiếng tăm lẫy lừng, xem bói mà có thể lấy được một vợ hai thiếp, gia sản bạc triệu, đi ra đi vào trong tư gia phải đi xe con thay cho đi bộ, có thể lườm nguýt bất kì một doanh nghiệp nào. Sở thuế còn đặc biệt phái nhân viên đến thu thuế thu nhập của ông ấy, nhân viên của hợp tác xã phái một chuyên viên mỗi ngày đến thu tiền gửi của ông ấy, đúng là tài nguyên đổ về cuồn cuộn. Theo kết quả điều tra của tác giả, thầy đoán mệnh này lúc học tiểu học bỗng dưng gặp còi báo động có máy bay tập kích (máy bay Mĩ ném bom Đài Loan thời kì Nhật Bản chiếm đóng), thế là nhà trường cho nghỉ học, thầy đoán mệnh này men theo con đường nhỏ để về nhà. Bên cạnh con đường đất nhỏ ở miền quê hoang dã, ông ấy nhìn thấy một đứa bé gái nằm chết bên con mương, bộ dạng cực kì thê thảm, nhất thời ông ấy không đành lòng bèn nhặt một manh chiếu rách phủ lên thân thể của đứa bé gái, rồi sau đó chạy về nhà.

Không ngờ buổi tối hôm đó, thân thể của thầy đoán mệnh này lúc nóng lúc lạnh, giống như bị ốm nặng vậy. Bởi trận ốm nặng này mà hai mắt của thầy đoán mệnh bị mất thị lực, đến cuối cùng không ngờ đã trở thành người mù, tay cũng hơi run rẩy. Khi ấy ông ấy bắt đầu tiên đoán và đoán mệnh cho những người hàng xóm xung quanh. Nói ra thì cũng kì lạ, ông ấy nói chuẩn một trăm phần trăm, vì thế mà thanh danh dần dần lan truyền đi, cho đến lúc trưởng thành, ông ấy đã chính danh ngôn thuận xem bói cho người ta. Ông ấy xem bói, giọng nói nhanh và hơi run rẩy, hơn nữa không hề có hiện tượng suy nghĩ ngâm nga lâu, tay cũng hơi run run. Người đến từ khắp nơi trên đất nước để cho ông ấy đoán mệnh thật sự là nhiều như cá qua sông, người người xếp hàng đăng kí, vào thời kì hưng thịnh còn có cả cảnh tượng những người xem bói ở lại trong các nhà trọ để chờ đợi, hơn nữa còn phải chờ liên tục hơn ba ngày mới đến lượt.

Từ lúc còn là nhi đồng cho đến khi về già, ông ấy đoán việc quá khứ thì luôn khiến người ta lắc đầu thở dài, bởi vì không có điều gì là ông ấy không nói thẳng ra được, tương lai thì mặc dù không biết là có chuẩn hay không, nhưng việc hiện tại đoán chuẩn như vậy thì đã khiến cho người ta say mê rồi. Có một lần tác giả trên đường trở về nhà thì đi qua nơi đó, nhân thể ghé vào tham quan việc xem bói của ông ấy. Khi ấy ông ấy đang ở vào thời kì hưng vượng, người đông nghìn nghịt, những người chờ xem bói người ngồi người đứng. Khi tôi đi vào thì có cảm giác thấy những đợt âm khí, điều này phản ánh một cách rõ rệt về loại người có hoạt linh. Tôi nghi ngờ pháp đoán mệnh mà thầy bói này sử dụng là pháp Âm hồn báo thiên lí, thế là tôi chú ý đến sự bài trí trong nhà. Nội đường có một ban thờ thần, trên ban thờ thần có thờ một thứ không biết là vật gì được bọc bằng vải màu vàng, trên bàn cúng thì có hương vòng cháy cả ngày, bên phải là linh vị của tổ tiên, và không hề có bài vị thần.

Tôi tập trung tư tưởng để nhìn thì nhìn thấy một cảnh tượng mơ hồ, rất nhiều trẻ con chạy đi chạy lại không ngừng, lúc thì chạy ra ngoài cửa, lúc lại chạy vào trong nhà, chạy đến bên tai của thầy đoán mệnh lần lượt nói chuyện, tiếng trẻ con nói không ngừng, còn tay của thầy đoán mệnh thì cũng run rẩy không ngừng, miệng cũng nói không dừng. Cuối cùng tôi đã hiểu rồi, thì ra thầy đoán mệnh mù mắt này cũng sử dụng bí thuật của pháp Linh đồng báo thiên lí, bí mật này chỉ có người rất tinh thông thì mới có thể nhìn ra được, người bình thường chỉ biết là bói rất chuẩn nhưng không biết là vì sao lại như vậy, vẫn cho rằng người mù này đúng là nhân vật thuộc hàng bán tiên hoặc thần tiên. 

Theo tôi được biết, thầy đoán mệnh mù mắt này được trời ưu ái cho năng lực, do âm hồn của bé gái ngày xưa báo ân, âm hồn nữ vào đêm hôm đó đã luyện cho thầy đoán mệnh thành linh thể, hơn nữa còn đi theo bên cạnh, mượn việc nhập vào thân của thầy đoán mệnh mà sinh tồn, thế còn thầy đoán mệnh này thì không biết cách vận linh, hai mắt bị mù chính là hậu quả của việc không biết cách vận linh. Sau đó âm linh nữ này chủ động triệu tập linh đồng bán sức lực cho thầy đoán mệnh, cũng tương tự như bán mạng kiếm tiền cho ông ấy. Đây chính là nhân quả báo ứng của thầy đoán mệnh này.

Trong số những người mà tác giả biết có một người thanh niên họ Hoàng, linh khiếu đặc biệt “sống”, từng bái một thầy bói nổi tiếng làm thầy. Anh ấy từng nói với tôi rằng thầy đoán mệnh mù mắt kia chắc chắn có điều cổ quái.
Tôi nói: 
”Quân tử không chặn đường tiền tài của người ta, hà tất phải đố kị chứ!”
Anh ấy nói:
”Mượn âm linh để dùng là bàng môn tả đạo, căn bản không phải là cách kiếm tiền đứng đắn, tôi không đi phá ông ta không được.”
”Đâu cần phải như vậy chứ! Cậu dự tính dùng pháp gì để phá linh đồng của ông ấy?”
”Tôi đến miếu Bách Tính Công ở Vụ Phong, mượn tạm mười hai que hương, dùng chú triệu thỉnh âm hồn, đốt hương thành tro, sau đó đến quán xem bói của thầy bói mù kia, nhân lúc không có người chú ý thì rắc tro hương vào bên trong bát hương. Lúc này linh đồng của ông ta và âm hồn của tôi sẽ đấu pháp, đến khi âm hồn của tôi thắng lợi, thầy bói mù kia tất nhiên sẽ rối hết cả lên, từ đó bói toán sẽ loạn cào cào không chuẩn nữa, ha ha!”
”Khoan đã, làm sao anh biết được âm hồn sẽ thắng linh đồng?” - Tôi hỏi.
”Lư Thắng Ngạn, anh là người trong nghề, tôi dùng pháp Ngũ quỷ hỗn thiên, sử dụng năm cái đầu lâu, vào năm ngày Quý lúc canh năm thì lấy về, trên đó viết họ tên của năm con quỷ, mỗi khi qua ngày Quý thì đốt một lá phù rồi gói lại cúng tế dưới đàn tế Lục Giáp Thần, chân dẫm lên hai chữ “Khôi Cang”, tay trái kết ấn Lôi, tay phải là kiếm quyết, miệng hớp vào năm hơi chân khí của năm phương, niệm chú Hỗn thiên bảy biến, đốt năm lá phù Ngũ quỷ, sau đó dùng giấy vàng hóa đốt cùng mười hai âm hồn ở miếu Bách Tính Công, bỏ vào trong lư hương của thầy bói mù, làm sao mà không thắng chứ?”
”Chiêu này quả nhiên không tệ, nhưng anh phá linh đồng có phải là thiệt cho đức hạnh của bản thân không?”
”Chẳng quản được nhiều như vậy, ông ấy kiếm tiền cũng đã kiếm được khá rồi, đây là thay trời hành đạo, để tránh cho ông ta trở nên quá kiêu ngạo thôi!” 

Người thanh niên họ Hoàng này chính là tuổi trẻ sục sôi, anh ấy tự thấy rằng mình có bản lĩnh, nhìn không vừa mắt thì muốn nhúng tay vào để can thiệp một chút. Con người tôi thì trung hậu, dù biết rõ những người này đã sử dụng tà pháp, nhưng cũng mắt nhắm mắt mở mà cho qua thôi, ví dụ có một ngôi miếu Thánh Đế, kê đồng ở trong đó hỏi việc cũng dùng Lộ thủy ngẫu tượng làm pháp bảo, sự việc này chỉ có một mình tôi biết, thế nhưng tôi cũng không tiện nói thẳng ra.

Người thanh niên họ Hoàng quả nhiên đã làm pháp để phá thuật linh đồng của thầy đoán mệnh mù mắt kia, kể từ đó việc đoán mệnh của người mù này vì thế mà không còn linh nghiệm nữa. Giờ đây tiếng tăm đã không còn được như trước đây, tiền kiếm được cũng ít, rồi dần dần cũng vắng tanh vắng ngắt, đáng thương thay!

Tôi nghe có người nói: “Ông ấy đã bắt đầu xuống dốc rồi, đoán mệnh cũng có thời vận của đoán mệnh.”
Có người nói: “Không biết làm sao mà miệng chỉ nói ra toàn điều vớ vẩn, không có việc gì đoán chuẩn cả.”
Có người nói: “Tiền kiếm đã đủ rồi, nên nghỉ ngơi thôi.”
Mọi người đều không biết, chỉ có trong lòng tôi biết.

Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh từng nói với tôi rằng: “Tam Hoàng, Phục Hi, Thần Nông, Hoàng Đế, Chu Dịch Văn Vương, Chu Công, Đại Thánh Khổng Tử, Thánh nhân Võ Lược Thành Vương, Quỷ Cốc Tiên Sư, Hoàng Thạch Công, Tôn Võ Tử Tiên Sinh, Viên Thiên Cương, Lí Thuần Phong Tiên Sinh, Trương Tử Phòng, Tôn Tẫn Tiên Sinh, Thanh Ngưu Cao Sĩ Đông Phương Sóc, Ma Y Quách Phác, Lâm Linh Tố, Đông Hoa Đế Quân, Thiệu Khang Tiết, Ôn Châu Lư Tiên Sinh, Y Xuyên Trình Tiên Sinh, các vị này đời trước truyền đời sau pháp Lục đinh nhĩ báo, là tương đối chính phái, nhưng pháp Âm linh nhĩ báo thì tương đối là tà phái. Liên Sinh, con phải nhớ kĩ, nhớ kĩ.”


### 27. Thông linh thần toán kiêm nói chuyện tâm thông


Tong sách Diễn Nghĩa thời cổ đại và điển tích Đạo gia thường xuyên nhắc đến bốn chữ “chợt có linh cảm”, cũng tức là giác quan thứ sáu đến một cách tự nhiên bất ngờ. Thế nhưng, tôi thật sự cho rằng “chợt có linh cảm” cũng không phải là giác quan thứ sáu, mà là linh đặc biệt có cảm ứng nhanh nhạy. Nếu linh sống, nó không chỉ mỗi cảm ứng thấy linh lực của hư không giới, mà thậm chí còn cảm ứng thấy linh lực của bạn bè người thân. Còn như bạn bè gặp nạn mà truyền phát ra tần số thì cũng rất có khả năng đột nhiên nhận được dạng truyền phát này, điều này có vẻ vô cùng thần kì, kì thực căn bản nó cũng không xem là việc gì to tát cả.

Tác giả phát hiện ra trong không trung tồn tại hai dạng sức mạnh, một dạng sức mạnh là niệm lực, một dạng là linh lực. Dựa vào sức mạnh của bản thân chúng ta và sức mạnh đến từ bên ngoài để phân biệt thì một dạng gọi là tự lực, một dạng gọi là tha lực. Niệm lực luôn luôn là do tự lực sinh ra, từ niệm lực có thể tiếp ứng linh lực (tự lực) của bản thân chúng ta, sau đó tự lực cùng với tha lực giao tiếp với nhau sẽ sản sinh ra một ý nghĩ mới, ý nghĩ này có thể xem là kết quả của tâm thông. Mặc dù tôi viết như thế này dường như rất phức tạp, nhưng sự phát sinh của nó luôn luôn chỉ xảy ra trong sát-na thôi, nhanh giống như điện vậy, bật công tắc một cái là bóng đèn chỉ trong một giây đã sáng rồi.

Vì thế tôi cảm thấy niệm lực giống như công tắc của máy thu thanh, chúng ta thầm nghĩ một sự việc nào đó, tập trung sức mạnh tinh thần, kết quả là có thể giống như nguyện vọng của chúng ta dường như đã sinh ra hiệu quả mong muốn. Hơn nữa, nếu niệm lực càng mạnh thì phản ứng tiếp nhận được cũng gia tăng nhiều lần. Trong quá khứ có người dùng niệm lực để thử nghiệm, phát hiện ra tập trung niệm lực của đông người cầu nguyện thì vấn đề khó khăn thế nào cũng sẽ được giải quyết dễ dàng, hơn nữa sẽ xuất hiện kì tích không thể ngờ đến. Lại có những người cùng nắm tay nhau, suy nghĩ mọi người nhất trí mong muốn tờ giấy trước mặt có thể nhẹ nhàng bay lên, nói ra thì kì lạ nhưng tờ giấy đó thật sự đã bay lên. Dạng sức mạnh này giống như ma sát sinh ra điện, và điện sẽ hút bông hoa giấy nhỏ đó khiến nó bay khắp trời, những điều này không hề là hoàn toàn vô căn cứ. 

Tôi nói, do niệm lực ép buộc linh lực sản sinh và giao tiếp với linh ngoại giới, kiểu năng lực dự đoán tương lai này chính là thông linh thần toán, trong cõi vô hình có một dạng linh lực tràn đầy khắp cả vũ trụ, chỉ cần người có linh sống muốn biết việc gì là có thể hỏi gì đáp nấy. Tâm pháp tối thượng thừa của dạng thông linh thần toán này là tự nhiên mà đắc. Cái gọi là tự nhiên mà đắc có thể nói là linh có thể xuất khiếu và tự chủ, trên lên tới tận thiên đình, dưới xuống tận âm phủ, năm sông bốn biển, tam sơn ngũ nhạc tùy ta ngao du. Đến cảnh giới lí tưởng nhất có thể hóa thân bên ngoài thân, một linh thể biến thành hai linh thể, thậm chí thiên biến vạn hóa, lấp đầy khắp trời đất, đây là tối thượng thừa. Còn linh lực ở mức trung bình có thể vận linh đạt thiên nhãn thông, biết trời biết đất, trên thông thiên văn, dưới tường địa lí, nhìn thấy linh giới, có được thiên nhĩ thông, nghe được những điều người ta không nghe thấy, có thể nghe quỷ thần nói chuyện, biết được việc của quỷ thần, chỉ là linh lực chưa thể xuất khiếu mà thôi. Còn người ở mức tầm thường nhất thì linh mặc dù sống nhưng không thể tự chủ, không hiểu thuật luyện linh, vì thế mắt không thấy, tai cũng không nghe thấy, chỉ có thể vận dụng tâm niệm mà thu được cảm ứng của tâm. Không được coi thường tâm thông, tâm thông này có một số người vẫn luyện chưa được đâu! Tâm thông là hoàn toàn vứt bỏ quan niệm chủ kiến, yên tĩnh cầu nguyện chỉ thị của thần linh, nếu tâm còn giữ chủ kiến thì tâm thông cũng sẽ chịu ảnh hưởng của chủ kiến, như thế thì không còn chuẩn xác nữa.

Từng có một thanh niên được tôi luyện linh chạy đến tìm tôi nói:
”Thầy ơi, linh của con mặc dù sống rồi, nhưng mắt không nhìn thấy gì cả, tai cũng không nghe thấy cái gì, đồng thời cũng không có cách nào chứng đắc tâm thông, như thế con học hoạt linh có tác dụng gì chứ?”
Tôi nói với anh:
”Sự sống dậy của linh chỉ mới là công phu bước thứ nhất của tu đạo, phải tiếp tục đả thông mọi khớp nối mới xem là thành công, nhưng tôi có thể dạy phương pháp khác ngoài nhãn thông nhĩ thông tâm thông, cũng tuyệt đối linh nghiệm, phương pháp này gọi là Trước thủ thông.”

Thế rồi tôi bảo anh ấy chắp hai tay lại, yên lặng ngồi im, tâm niệm chỉ nghĩ đến một việc, không được có tạp niệm. Phương pháp này là thành kính hướng về linh giới hư không cầu nguyện sau đó mới thực thi, giống như phải cởi bỏ nỗi lòng ra, không được tồn giữ ý kiến chủ quan. Khi tĩnh tọa phải thưa bẩm từng câu từng câu rõ ràng với linh giới, khẩn cầu thần linh thông qua sự rung động mạnh yếu của tay để chỉ thị. Ví dụ: nếu việc thành công, xin hãy lắc tay mạnh một chút. Nếu việc thất bại, chỉ khẽ run run là được. Lành thì động mạnh, dữ thì động yếu, linh trong không trung sẽ làm một cách rất đơn giản là tác động đến tay chắp lại (lúc này là động thái vi diệu của linh chứ không phải là suy nghĩ của chính mình khiến cho tay dao động), nên có thể cảm giác được rất rõ ràng. Sau đó đem kết quả dự đoán đi ấn chứng thực tế, quả nhiên là từng việc đều ăn khớp. Lúc này bạn sẽ nhận ra quả nhiên có tồn tại chuyện thủ thông này. 

“Mặc dù thủ thông không xem là diệu thuật thượng thừa trong linh thông, nhưng nếu tu luyện lâu cũng có thể đạt được sự ảo diệu của tâm thông, tuyệt đối không được dễ dãi xem thường.”
”Thưa thầy, thật sự hữu hiệu sao?”
”Thử là biết liền.”

Cách mấy hôm, người thanh niên đó mặt mày hớn hở chạy đến tìm tôi. Anh ấy nói đây đúng là thần kì, người khác kiểm tra anh, dùng phương pháp đổ xúc xắc, dùng tay che lại, từ một đến sáu điểm, bảo anh đoán thử con số. Thế là anh vận dụng thuật thủ thông, liên tiếp đoán năm lần, không có lần nào là không trúng, người bạn không hiểu là thế nào, lại liên tục đổ xúc xắc mười lần, kết quả là nói trúng liền mười lần, không sai một lần nào. Người bạn hết sức kinh ngạc, còn anh thì hết sức vui mừng, đây chính là minh chứng tốt nhất của linh lực.

Nói thật lòng, bởi vì linh trên người tôi là sống, nên thường xuyên có những người bạn không thể nghĩ không thể thấy trong giới hư không đến tìm tôi. Họ thường xuyên đến một cách bất ngờ. Hoặc là khi tôi đang viết văn, họ nhìn thấy tôi đang bận, liền chui vào trong đầu tôi, khiến đầu tôi cảm thấy mờ tối, thế là tôi biết là bạn bè ở hư không giới đã đến rồi. Có khi tôi hỏi họ có việc gì mà đến tìm tôi. Có khi họ muốn nói cho tôi biết chuyện gì đó sắp xảy ra, có khi họ đến gặp tôi mà chẳng có việc gì cả. Bạn bè tôi mới nhiều làm sao! Cuộc đời mới phong phú làm sao!

Viết đến đây, tôi nghĩ đến vì sao đại bộ phận con người không tin có sự tồn tại của linh hồn, bởi vì họ không nhìn thấy, không nghe thấy, thậm chí không cảm giác thấy. Bởi vì không có cách nào biết được cho nên cũng không tin. Ngoài ra có rất nhiều người xuất gia (hòa thượng) Phật giáo, đạo sĩ của Đạo giáo, mục sư của Cơ Đốc giáo, cha xứ của Thiên Chúa giáo, cũng có một số người căn bản là phủ nhận sự tồn tại của linh. Nếu họ phủ nhận sự tồn tại của linh thì cũng chẳng khác gì tự mình vả vào miệng mình, và đồng thời cũng cho chúng ta thấy hòa thượng, đạo sĩ, mục sư, cha xứ, trong những người này, người căn bản không cách nào nhìn thấy được linh giới, người không nhìn thấy được thì nhiều lắm. Những người tín ngưỡng tôn giáo đó, những người trụ trì, nếu vẫn còn không tin những gì tôi nói là thật biết thật thấy thì thật sự khiến người ta đau lòng. Than ôi, đáng buồn!


### 28. Phù chú thay thế cho linh lực


Lần thứ hai tôi gặp người phụ nữ áo xanh đã khai sáng cho tôi cũng là ở tại Ngọc Hoàng Cung. Bà ấy vẫn luôn đi ra ngoài giúp người ta “gọi hồn”. Đó là một buổi tối mùa thu năm 60, tôi khoác một tấm áo khoác vội đến Ngọc Hoàng Cung. Ngọc Hoàng Cung rất đông người, hương khói nghi ngút. Bà ấy vừa nhìn thấy tôi liền thân thiết nắm tay tôi và hỏi:
”Gần đây khỏe chứ? Dạo này khỏe chứ?”
Tôi trả lời:
”Rất khỏe.”
Những điều khác tôi nhất thời không nói được thành lời, bởi vì khó mà giải thích bằng vài lời nói.

Bởi vì trong cung ngoài cung đều có người nên chúng tôi không tiện nói quá lâu. Người phụ nữ áo xanh bảo tôi ngồi xuống, còn bà ấy lại đi hỏi việc làm việc cho người ta, tôi ngồi một bên xem. Những việc mà bà ấy hỏi chuẩn tới mức khiến người ta không ngừng xuýt xoa, rất nhiều người cảm phục tận đáy lòng. Đúng vào lúc đang hỏi việc ấy, đột nhiên người phụ nữ áo xanh hét lớn một tiếng, đang quỳ bỗng đứng phắt lên, đưa tay về phía không trung bắt mấy cái, rồi xòe tay ra hướng về đám người xung quanh gọi lớn: 
“Là người nào to gan lại dám đốt phù để làm hại thân già này? Tôi phụng ý chỉ của Diêu Trì Kim Mẫu đi khắp nơi giúp người, không sợ bất kì phép phù nào làm hại đâu.” 
Sau đó, bà ấy cúi xuống nhìn vào lòng bàn tay, nói:
“Người này cao cao mập mập, trên cổ còn đeo khăn quàng cổ, có ai biết pháp sư nào như vậy không?”

Xung quanh có mấy người đi nhanh về phía trước để xem xem trong tay bà ấy có lá phù nào không, kết quả là họ rất thất vọng, bởi vì trên tay bà ấy chẳng có gì. Có người nói: 
“Chẳng có gì cả!” 
Bà ấy nói: 
“Sao lại không có, rõ ràng là một lá phù đang nằm trên tay tôi, sao lại không có chứ? Thắng Ngạn, cậu qua đây, nhìn xem trên tay tôi có cái gì không?” 

Tôi đứng dậy, đám người dịch ra nhường đường. Tôi vận khởi linh mục để nhìn, trên tay người phụ nữ áo xanh đích thực là có một lá phù đang động đậy, lá phù này dùng giấy đen và trắng dán lại với nhau để vẽ, linh lực của phù vẫn còn đang vùng vẫy động đậy.
Tôi nói: 
“Đó là một thần phù bằng giấy đen và trắng dán lại với nhau, pháp phù này hình như không phải là thuật phù của chính phái.”
Người phụ nữ áo xanh mừng rỡ: 
“Thắng Ngạn, cậu quả nhiên không tệ, cậu đã nhìn thấy rồi.”
Bà ấy dùng tay kia đè lên lá phù, miệng quay về hướng đông hít vào một hơi khí rồi hét một tiếng: “Hóa!” Rồi lại xòe tay ra, lá phù ấy không ngờ đã biến mất.

Lúc này trụ trì của Ngọc Hoàng Cung là sư Thích Huệ Linh nét mặt ái ngại, ông ấy giải thích với chúng tôi như sau: Tháng trước Ngọc Hoàng Cung có một pháp sư họ Trương đến, người cao cao mập mập, tự xưng là biết hỏi thần, biết bốc quẻ, biết xem ngũ quan và sắc khí của con người, biết chọn ngày phong thủy, v.v… Thế rồi ông ấy sống tại hậu viện của Ngọc Hoàng Cung, lúc rảnh rỗi thì xem tướng cho người ta kiếm chút tiền, số tiền này được chia 6:4, pháp sư được sáu phần, còn chùa được bốn phần, đây là cùng vui vẻ chung sống. Bây giờ người phụ nữ áo xanh cũng “gọi hồn”, lại cũng hỏi thần, thu hút tín chúng ùn ùn kéo đến chùa, khiến pháp sư họ Trương kia thấy thế thì trong lòng sinh đố kị, vì đố kị mà sinh tức tối, cho nên pháp sư Trương đã làm cái trò bùa chú này.

Người phụ nữ áo xanh nói: 
“Tối nay ông ta viết lá phù này, đổi lại là người khác thì chắc chắn không chịu nổi rồi, may mà là tôi. Loại người này tâm thuật bất chính, thật sự không nên để ông ta học pháp phù, lần sau lại đốt phù nữa thì nhất định không thể tha cho ông ta. Thắng Ngạn, tối ngày mai lại đến đây một chuyến, nếu ông ta lại gây chuyện thì chúng ta sẽ liệu đối phó với ông ta.”
Người phụ nữ áo xanh hỏi Thích Huệ Linh: 
“Có phải ông ta quấn khăn quàng cổ màu trắng không?”
”Ông ấy thường xuyên quấn khăn quàng cổ màu trắng.” - Thích Huệ Linh nói.
”Vậy thì không sai rồi, nhất định là con quỷ pháp sư Trương này làm.”

Ngày hôm sau, tôi lại chạy đến Ngọc Hoàng Cung, quả nhiên không sai, pháp sư Trương kia lần đầu tiên không đạt được ý đồ, lần thứ hai lại làm pháp. Ông ta cũng rút kinh nghiệm, không vẽ phù nữa mà là dùng cách niệm chú, chú của ông ta cực kì ác độc, muốn khiến cho người ta phát điên kinh hãi. Ông ta cắt một vài hình người hình rắn bằng giấy, thúc chú ngữ, chuẩn bị dọa chết chúng tôi.

Người phụ nữ áo xanh nhìn thấy, tôi cũng nhìn thấy, tôi nói để tôi xử lí cho! Từ trong cách thúc chú của ông ta, tôi biết ông ta dùng thuật Ngũ cung khu quỷ, chú ông ta niệm là: “Cổ miếu sơn tinh thủy quái, thụ mộc hoa tinh, xà trùng hồ li, nhất thiết tà ma yêu mị chi thuộc, biến hóa đa đoan, mê nhân thậm sí, hoặc xâm hoặc hại, thỉnh ngô pháp sư lệnh bài điều độ.”

Thế là tôi ung dung nghĩ đến chú Huyền Nữ mà Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh đã truyền cho tôi chuyên để phá chú thuật tà uế. Chân tôi giậm đinh bát, niệm rằng: “Cẩn thỉnh nhị nhất Chân Võ Thần, cước đạp thiên quan cực miết tinh, phi đầu tán phát vi thượng tướng, đới đỉnh sâm la thất tọa tinh, dũng trấn bắc phương vi thượng đế, kiêm quản chư thiên quải giáp binh, tả thanh long, hữu bạch hổ, tiền chu tước, hậu câu trần, tọa quản thiên lí hư không nội, lập chiếu thập phương thế giới trung, vân đoan hiển thánh, tiền hữu tạo kì già nhật nguyệt, lôi áp bách nhận kiến thiên minh, trương khẩu lang nha đạm thiết trụ, ủng thân tả hữu sát gian hồn, tiên sứ hoàng phong xúy ác quỷ, hậu tương lôi đình chấn thiên đình, sơn lâm hải quái toàn kinh tán, thiên ma vạn tà loạn phân phân, ngô Liên Sinh phụng thỉnh Ngọc Hoàng thân trảm lệnh Thiên La Thần, Địa La Thần, niệm động thử chú thiên thanh địa ninh.” Tôi niệm xong chú Huyền Nữ, tay kết lôi quyết, chỉ về phía trước, nghe thấy một tiếng sét vang dội, người giấy rắn giấy đều biến mất.

Một lúc sau, chỉ thấy hậu viện của Ngọc Hoàng Cung đột ngột xuất hiện một người, chính là pháp sư Trương, tay ông ta ôm lấy đầu, luôn mồm kêu đau. Không tới vài ngày sau, ông ta đã thu dọn đồ đạc rời khỏi Ngọc Hoàng Cung, đi xa đến nơi khác. Tôi và người phụ nữ áo xanh lắc đầu thở dài, chẳng phải là chúng tôi ép ông ta đi, mà là ông ta tự chuốc phiền nhiễu, tài nghệ chưa tinh thông, chẳng thể nào trách tôi.

Từ sự việc có thật kể trên, tôi muốn nói đến thuật phù chú. Cái gọi là phù có phân biệt chính phái và tà phái, phù có rất nhiều tác dụng, ví dụ thỉnh thần dùng phù, trấn trạch dùng phù, đuổi tà bắt ma dùng phù, v.v… Phù có cực kì nhiều chủng loại. Phù và chú chính là một biểu hiện giả mượn linh lực. Có người nói: “Phù chính là một dạng biểu hiện linh lực khi tinh thần con người tập trung.” Câu nói này nói cũng rất có đạo lí, vẽ phù quan trọng nhất chính là dựa vào sự tập trung nghị lực tinh thần, phù được vẽ ra đại diện cho tinh thần của một cá nhân, nhờ có tác dụng tinh thần mà chiêu cảm được sự linh nghiệm.

Đặc biệt là người đã có hoạt linh, vẽ phù vì là dốc hết toàn bộ linh lực cho nên càng có hiệu lực, hiệu quả tốt đẹp có thể tưởng tượng được ra, khi linh lực dồn hết lên trên giấy, vận dụng ngòi bút vẽ phù, phù này thật sự có sức mạnh linh nghiệm.

Còn về chú ngữ, chủng loại chú ngữ cũng nhiều, Phật giáo Mật tông hoặc các tông phái khác đều có chú ngữ, ví dụ mười tiểu chú, chú Đại Bi, chú vãng sinh, chú Lăng Nghiêm, v.v… Chú ngữ của Đạo giáo cũng rất nhiều, ví dụ Hương chú, Tâm chú, Tịnh thiên địa thần chú, Kim quang chú, Thỉnh cửu tiên chú, Tịnh thủy chú, Thư phù chú, Đẩu tinh chú, v.v… Những chú ngữ này nghe nói là Chư Phật Bồ Tát từ bi chúng sinh đã đem mật hành tu trì cả đời biến thành mấy câu mật chú, để cho những người học đời sau có thể nhờ mật chú mà đắc đại công đức, dựa vào chú mà tu trì để sớm bước lên Phật địa, vì thế có thuyết không giải thích chú ngữ. Chú ngữ của Đạo gia cũng có một số câu rất khó hiểu, nhưng so với Phạn ngữ của Phật gia thì vẫn khá dễ đọc thuộc. Niệm chú cũng là một dạng biểu hiện của linh lực, trên phương diện này, phù chú thường là sử dụng đồng thời.

Chủng loại của phù rất nhiều và rất phức tạp, nhưng chính quy nhất là thiên địa nhân tam dương khai thái [Trong Kinh Dịch, tam dương khai thái chỉ tháng đầu tiên trong năm mở đầu cho mọi sự may mắn của cả một năm. Phù có đầu phù, thân phù và đuôi phù, ở đây nói đến phần mở đầu của phù là đã mở ra sự tốt lành.], còn gọi là đầu phù. Tiếp theo là phụng theo tên của vị Tiên Phật nào đó sắc lệnh, tiếp theo là mục đích là gì, cuối cùng mới là áp ấn. Cái gọi là áp ấn cũng giống như chúng ta đóng dấu, phải đóng dấu mới có hiệu lực, đồng thời phải vừa viết vừa niệm chú, viết đến khi áp ấn thì phải hà một hơi khí phát ra tiếng đại diện cho cái uy của linh phù.

Cách viết phù có khi rất kì lạ, không theo quy tắc, thậm chí hoàn toàn dựa vào linh cơ của một cá nhân cũng có thể viết phù. Phù cũng không nhất định phải vẽ trên giấy, có một số người tùy ý vẽ tại không trung cũng vẫn có hiệu quả tương tự, nhưng đó phải là người có linh lực thâm hậu mới có thể thể hiện như vậy. Phù cũng giống như một tấm thiếp thần kì, hóa đốt phù xong thì phù này có thể lên Thiên Tào, xuống địa phủ, thiếp thần này gửi đi khắp mười phương pháp giới, mọi tiên linh của giới hư không đều biết mục đích của phù này. Công dụng của phù chú xem ra huyền bí khó đoán, nhưng đều là một dạng vận dụng linh lực.

Có người chuyên môn vẽ phù hóa cốt, khi bị hóc xương cá ở họng, uống một lá phù hóa cốt thì thật sự xương cá kia cũng bị đốt. Đây chỉ là một trò vặt của phù thôi, thật sự không đáng nhắc đến. Trong thiên hạ, kì môn dị thuật không chỉ có một lá phù chú mà thôi, phù chú vốn là một trong các cách biểu hiện của linh lực, sự vĩ đại của linh lực có cái gì không thể biểu hiện ra được chứ?

Tác giả nhờ Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh và Thanh Chân Đạo Trưởng mà biết được rằng có rất nhiều thuật phù chú, nhưng đại bộ phận là cực chính phái. Đối với những kẻ dùng tà thuật khiến cho người ta tạm thời mất đi tri giác rồi cướp luôn tiền bạc trang sức thì đáng ghét cực kì. Chủ ý ban đầu của phù chú là thiện, nhưng đã bị người ta biến thành công cụ để lừa bịp cướp đoạt, các vị tiên thánh tiên hiền đều biết, cần biết hối hận và sám hối. 


### 29. Bàn sơ về thiền cơ


Tạ Định Hoa và Từ Văn Chấn sống tại Đài Bắc cùng quá bộ đến nhà tôi, chẳng phải là vì cái gì khác, chỉ là muốn hỏi tôi về thiền cơ. Tạ Định Hoa là người chấp bút thời kì đầu cho tạp chí Nắng Mai, bút danh là Hắc Mã Vương Tử, rất có tài năng, đã viết một cuốn sách là “Chuyện một lữ khách”. Từ Văn Chấn thì học ở Học viện Y Dược Trung Quốc, lúc rảnh rỗi cũng viết văn, từng xuất bản cuốn sách “Thủy tinh cung, thủy tinh cung”. Tạ Định Hoa và Từ Văn Chấn nghe người ta nói đến tôi nên mới quyết định đến hàn xá của tôi thăm quan xem sao.

“Thế nào là thần?” - Tạ Định Hoa tò mò hỏi.
”Tiên sinh hỏi tôi, xin hỏi là hỏi về vị nào?” - Tôi hỏi ngược lại.
”Thần có nhiều không?”
”Vô số, vô tận, không thể đo lường, không thể suy đoán.” - Tôi đáp.
”Vì sao không nhìn thấy?” - Từ Văn Chấn hỏi.
”Nhìn thấy tức là ngộ, không nhìn thấy tức là mê. Dưới bầu trời này ít người ngộ, trên mặt đất này nhiều người mê, thần vốn là linh, linh tức là vô hình, phải dùng linh thấy linh mới có thể nhìn thấy được.” - Tôi trả lời.
”Lấy cái gì làm chứng cứ?”
”Tôi.”
”Một cá nhân không đủ làm bằng chứng, hãy đưa ra chứng cứ đi!”
”Ngoài tâm không có pháp, nếu nói ngoài tâm có pháp tức là ngoại đạo. Cái tôi biết là thật biết, không biết thì nói không biết, biết thì nói biết, thiên hạ không có một vật chứng, vẫn có thể chứng đắc thấy chư Phật Bồ Tát, trừ một cái ngã ra, tâm vô nhị pháp, tâm tức là ngã, ngã tức là tâm. Nếu tôi không đủ làm bằng chứng thì dưới bầu trời này cũng chẳng có một vật nào có thể làm bằng chứng.”

Hai người họ cùng đưa mắt nhìn nhau, sau đó Tạ Định Hoa lại hỏi:
”Tiên sinh có cách nhìn thế nào về sinh tử?”
”Vô sinh tử.” - Tôi nói: “Sinh tức là khởi đầu của tử, tử là kết thúc của sinh, tử cũng là khởi đầu của sinh, và sinh chính là kết thúc của tử. Nếu dựa vào con mắt của vô lượng vị Phật mà quan sát thì thiên hạ chẳng hề có chúng sinh, không có chúng sinh thì lấy đâu ra sinh tử?”
”Đây là quan niệm luân hồi của Phật giáo sao?”
”Đây là tự nhiên, tâm yếu viên mãn và sâu sắc tối thượng thừa, bỏ đi mọi sự kì lạ, quy nhập đại ngã tự nhiên. Phật vốn không có gì kì lạ, sự khác biệt đều nằm ở một chữ “ngộ”, một người là mê thì có luân hồi, người ngộ thì đã nhìn thấu toàn bộ luân hồi rồi thì làm sao còn có luân hồi nữa? Tôi nói luân hồi đúng là để hợp với đại chúng còn mê, cái gọi là lục đạo mê chúng gồm trời, người, atula, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh mới ở trong luân hồi, chạy không thoát khỏi con đường luân hồi.”
”Thiên đạo không phải là thần sao?”
”Đúng vậy, thiên đạo cũng tức là thần đạo, nhưng thần là nhân duyên tịnh hóa, nhân duyên thiện công, nhân duyên chính đạo của linh, dù có thiên phúc báo ứng nhưng vẫn chưa đến mức phúc chí tâm linh, tức là cảnh giới của ngộ, vì thế vẫn chịu luân hồi.”
”Vậy anh có chịu luân hồi không?” - Từ Văn Chấn đột nhiên hỏi.
”Chịu hay không chịu nằm ở cá nhân tôi, nếu tôi nói ra thì anh sẽ không tin, chi bằng không nói.”
”Anh nói đi, tôi tin là được rồi.”
”Tùy sự cao hứng của chính tôi thôi, muốn chịu thì chịu, không muốn chịu thì không chịu.” 

Câu trả lời của tôi nằm ngoài dự liệu của hai người họ, hai người họ rõ ràng có cảm giác kì quái, câu trả lời của Lư Thắng Ngạn chẳng giống với người bình thường! Thật ra đây không phải là không giống, chỉ là câu trả lời mà tôi buột miệng nói ra, trong những lời này đã hàm chứa thiên cơ phi phàm, không tin thì bạn cứ suy nghĩ kĩ càng, tỉ mỉ mà xem.

“Tôi rất có hứng thú với thiền cơ, không biết tiên sinh có thể dạy tôi không?” - Từ Văn Chấn bày tỏ mục đích đến thăm.
”Anh muốn học thiền thì tôi sẽ dạy anh, Thiên Long nhất chỉ đầu thiền của Câu Chi cả đời dùng không hết.” [Ở đây nói đến pháp thiền một đầu ngón tay của hòa thượng Thiên Long mà Hòa thượng Câu Chi đã học được, hễ có ai hỏi về thiền thì đều giơ một ngón tay lên, ngài từng nói rằng học được kiểu thiền này mà dùng suốt đời vẫn chưa hết.]
”Sao lại gọi là nhất chỉ đầu thiền?”
”Một ngón tay chính là một cảnh giới, một cảnh giới chính là một huyền cơ, một huyền cơ chính là có một vài kiến địa, có những kiến địa này rồi thì chẳng phải là cả đời dùng cũng không hết sao?”
”Xin lĩnh giáo, lĩnh giáo, thật có lí.” - Từ Văn Chấn mừng rỡ nói.
”Theo như điều anh nói, nếu anh nhận cái gì là thần thì thần chính là cái đó, bái vật gì là thần thì thần chính là vật đó.” - Tạ Định Hoa hỏi như vậy.
”Nói như vậy cũng gần đúng rồi.”
”Vậy thì, giả như tôi nhận định núm vú của phụ nữ là thần, vậy núm vú của phụ nữ chính là thần sao?”
”Điều anh nói là cực đỉnh rồi, nhưng anh sẽ nhận định như vậy sao?”
Tạ Định Hoa không còn lời gì để nói.

Tôi đưa Tạ Định Hoa và Từ Văn Chấn đi tham quan Phật đường của tôi, trong Phật đường thờ cúng Diêu Trì Kim Mẫu Thiên Tôn, Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Địa Tạng Vương Bồ Tát, lúc này cũng có không ít người đến lễ Phật ở Phật đường.

“Vì sao họ lại làm lễ quỳ lạy trước tượng gỗ?” - Tạ Định Hoa hỏi.
Tôi không trả lời câu hỏi của Tạ Định Hoa, tôi hỏi ngược lại:
”Phật đường của tôi có trang nghiêm không?”
”Trang nghiêm.” - Hai người họ nói.
”Vậy thì đúng rồi, người ta đang lễ bái sự trang nghiêm, ở trong lòng họ, bái thần như có thần ở đó, đây là một tâm cảnh khác, các anh đều cảm thấy trang nghiêm, đương nhiên bao nhiêu chúng sinh khác chắc chắn cũng sẽ cảm thấy như thế. Anh nói trang nghiêm có phải là thật không, tự nhiên là thật, vậy thì đây chính là cái chỗ của thiền cơ, đừng coi thường cái cảm giác này của con người, nếu có thể thật sự hiểu rõ thì mới là người thật ngộ.”

Tôi nhắc đến một đoạn trong “Tâm Đăng Lục” với hai người họ: “Đại Huệ nói, mắt Bồ Tát thấy Phật tính, phải là mắt nhìn thấy sự bắt đầu. Khách nói, tính làm sao mà mắt nhìn thấy được? Rằng: tính nếu chỉ dựa vào cái tâm mà thấy thì như ngồi trong hang tối, có thể dùng mắt thấy được thì chính là nhìn thấy cái chỗ viên mãn của tính. Vì thế tính như thái hư, thiên địa vạn vật của nó đều đến từ thái hư, tính và thái hư, thiên địa vạn vật vốn cùng một thể.”
”Lư Thắng Ngạn, anh cho rằng cái gì là tính?” - Tạ Định Hoa hỏi.
”Linh.”
”Linh là cái gì?”
”Là bản tính nguyên thủy cùng một thể với thiên địa vạn vật.”

Tôi kể ra đủ mọi cảnh ngộ trong quá khứ tương lai của Tạ Định Hoa, tương lai thì cố nhiên chưa thể nào lập tức ấn chứng được, nhưng những cảnh ngộ của quá khứ thì cái nào cũng linh nghiệm, khiến Tạ Định Hoa cảm thấy hết sức kinh ngạc, vận mệnh trong cõi vô hình dường như đúng là có định số thật. Ngày hôm đó, hai người họ hỏi tôi cả một buổi chiều, còn tôi cũng trả lời họ cả một buổi chiều. Đối với những việc này, ai ai cũng hiếu kì, hơn nữa người hiểu biết nửa vời cũng là nhiều nhất, còn người hoàn toàn không hiểu thì chính là những đàn ông phụ nữ ngu muội chìm vào mê cảnh trong xã hội. Còn có một số phần tử tri thức mở miệng ra là nói mê tín, ngậm miệng lại cũng nói mê tín, thì họ có khác gì những ngu phu ngu phụ kia đâu.


### 30. Đĩa thần linh nghiệm


Dùng một tờ giấy viết đầy các chữ đặt nằm trên mặt bàn, sau đó dùng một cái đĩa bằng sứ, đĩa bằng vàng hay đĩa bằng bạc đều được, vẽ mũi tên ở trên đĩa đó, sau đó có ba người, mỗi người chìa ra một cánh tay đè nhẹ vào mép của cái đĩa, trong tâm mỗi người đều cung kính niệm: “Thỉnh linh giáng lâm, chỉ điểm công việc.” Không lâu sau cái đĩa sẽ xoay tròn, tự chuyển động tới lui, tay của mỗi người chỉ đặt nhẹ lên xung quanh cái đĩa mà không hề đẩy cái đĩa chuyển động. Đây là một dạng thí nghiệm linh lực, nếu hỏi việc quá khứ thì chuẩn xác một trăm phần trăm. 

Cũng có khi một người cũng có thể làm phương pháp thí nghiệm linh lực này. Dùng một tờ Thiên tự văn [Cuốn sách dạy vỡ lòng của người xưa, gồm một nghìn chữ do Chu Hưng Tự thời Nam Lương biên soạn.] đặt nằm trên bàn, lấy một đồng tiền xu, góc khuyết đại diện cho mũi tên, cũng dùng tay ấn nhẹ lên đồng tiền, cung kính niệm thầm “thỉnh linh”. Khi linh giáng xuống, đồng tiền chạy như bay, muốn hỏi việc gì nó cũng có thể lần lượt nói ra. Tay chỉ đặt nhẹ lên trên đồng tiền, chỉ chuyển động theo đồng tiền, tốc độ chạy đi chạy lại rất nhanh, muốn hỏi việc gì chỉ cần trong đầu nghĩ đến là được, không nhất định phải nói ra. Cũng có thể có một người đứng bên cạnh hỏi, một người dùng tay đặt nhẹ lên trên đồng tiền, người đặt tay lên đồng tiền đó không biết người hỏi muốn hỏi việc gì mà vẫn linh nghiệm dị thường. 

Chỉ cần làm theo nguyên tắc này, ví dụ bàn, ghế, bút chì, đũa, đều có thể cho linh nhập vào, nhưng linh nhập vào có vài điều kiện nhất thiết phải chú ý, đây là kinh nghiệm lâu năm của cá nhân tôi.

Thứ nhất, thứ để cho linh nhập vào nhất định phải hết sức sạch sẽ, linh muốn nhập lên thân người thì nghĩa là bản thân người đó phải trai giới tắm gội, đĩa thì buộc phải là đĩa mới mua về còn mới tinh, đĩa cũ thì linh sẽ không nhập vào, những thứ khác cũng như vậy. Ở nơi ô uế như nhà vệ sinh hoặc trên giường thì không được chơi trò đĩa thần này, như thế là cực kì bất kính đối với linh. Theo như tôi biết, giường mà con người ngủ là ô uế nhất, ở nơi ô uế mà “nhốt linh” thì chỉ có linh quỷ ô uế mới có thể đến gần. Tôi không nói rằng ở nơi ô uế thì không nhốt được linh, mà là bản thân linh đến nhập vào là linh có vấn đề, có thể là quỷ, cũng có thể là yêu ma, đồng thời tốt nhất là ở trước Thần Phật, nói không chừng Thần Phật có lẽ sẽ cảm động mà hạ giáng. Có một số thần quỷ hạ giáng, nếu bạn hỏi họ là ai, nói không chừng họ lại là tổ tiên đã qua đời từ rất lâu của bạn.

Thứ hai, đĩa thần nhốt linh khi mua về phải hơ qua “kim hỏa”, đĩa hơ qua kim hỏa biểu thị rằng rất thanh tịnh rồi. Kim hỏa là gì? Cái gọi là kim hỏa chính là đốt giấy vàng mã rồi dùng tay cầm cái đĩa lên, hơ qua hơ lại trên ngọn lửa vài lần, đĩa hơ qua kim hỏa như vậy nhất định có thể cho linh nhập vào. Đây tuyệt đối không phải lời nói dối, làm thử là biết. Một người muốn làm kê đồng thì cũng phải bước qua kim hỏa, nhưng nhất định phải kháp quyết [kết thủ ấn, bấm tay] niệm chú, do người có hiểu biết làm, bằng không tự thiêu chết mình thì thứ lỗi cho Lư Thắng Ngạn tôi không chịu trách nhiệm.

Thứ ba, thời gian để làm cầu cơ cũng rất quan trọng, cố nhiên là lúc nào linh cũng có thể nhập vào, nhưng nếu ở nơi đông người ồn ào thì tính linh cảm thường có thể mất đi, cái đĩa sẽ chạy chậm rề rề, bộ dạng uể oải. Cầu cơ tốt nhất là làm lúc đêm khuya, xung quanh không có tiếng động gì, cái đĩa chạy tới chạy lui sột soạt trên giấy, tốc độ rất nhanh, có khi ngón tay cũng theo không kịp.

Tôi có một người bạn một mình vào lúc đêm khuya làm cầu cơ, cứ làm mãi đến cuối cùng thì tay không còn phải sờ vào cái đĩa nữa, cái đĩa tự nhiên chuyển động xoay tròn. Vào lúc đêm khuya linh khí nặng nên điều này cũng bình thường thôi. Giả như không thể làm vào lúc đêm khuya thì tốt nhất cũng là buổi tối. Tuyệt đối không được coi đây là trò đùa, bằng không kết quả cầu cơ sẽ không linh nghiệm, vậy thì đừng trách linh ở trên trời.

Thứ tư, cầu cơ quan trọng nhất là thành kính, cố nhiên đây là một dạng thí nghiệm, nhưng cũng không được có thái độ coi là trò trẻ con, nếu bạn hỏi một cách trẻ con thì linh cũng sẽ trả lời bạn một cách trẻ con, đôi bên sẽ chẳng thiết lập được mối quan hệ tin tưởng lẫn nhau, như thế thì cũng giống như chơi trò chơi thôi. Tôi cảm thấy làm cầu cơ ở trước Thần Phật là phương pháp tốt nhất, chỉ thị của thần thánh có khả năng không sai lệch, còn những hồn ma thì cũng có hiện tượng ăn nói lung tung. Linh là thật hay giả dựa vào quan sát là có thể biết, nhưng người cầu cơ thông thường thường sẽ bị hồn ma lừa bịp, nếu tin là thật thì cũng rất tồi tệ. Tác giả cầu cơ thì luôn luôn ở trong Phật đường của mình, hỏi việc một cách thành kính, thần thánh giáng xuống, đầu tiên báo cáo tên mình, tôi cung kính như làm nghi thức, mỗi lần hỏi đều được giải đáp, có gì không biết cũng nói là không biết, linh nghiệm dị thường.

Còn nhớ có một lần làm cầu cơ ở nhà bạn tôi, khi cái đĩa chuyển động, chúng tôi hỏi:
”Thần linh là thần thánh phương nào?”
Đáp:
”Là ma.”
Mọi người vừa nghe là ma thì ai cũng kinh hãi, nhất là có hai cô gái đang ngồi ở đó đã kêu lên đầy kinh hoàng. Tôi bảo họ đừng sợ, linh đến đó tự xưng là ma, vậy nhất định là không sai rồi, bởi vì chỉ có ma giả mạo là thần chứ không có thần tự xưng là ma.
”Đã là ma thì xin hỏi anh đến từ nơi nào?”
Cái đĩa đó quay một vòng lớn, mũi tên chỉ vào hai chữ “Việt Nam”.
”Xin hỏi lúc còn sống anh làm nghề gì?”
”Bộ đội.”
”Anh là bộ đội của nước Việt Nam sao?”
”Đúng.”
Sau khi chỉ vào chữ “đúng” thì đĩa lại chạy mấy vòng nữa, rồi tìm đến chữ “chiến tranh”, chỉ vào đó, rồi lại chạy đến hai chữ “mất mạng”, dùng mũi tên chỉ vào chữ “mất mạng”. Thế là chúng tôi biết anh ta là một anh hùng đã hi sinh trong chiến tranh.

Bạn tôi hỏi:
”Hiện giờ thân anh ở đâu?”
Cái đĩa lại chỉ vào hai chữ “hư không”. 
Có lúc một cô gái cũng to gan hỏi anh ta:
”Anh là người Việt Nam thì sao lại biết văn tự Trung Quốc?”
Cái đĩa đó chạy trên giấy một hồi lâu, quay sột soạt mấy vòng, sau đó từng chữ từng chữ một ghép lại thành một câu là: “Linh giới huyền diệu, khó mà tưởng tượng, thần quỷ thông linh, không gì không biết.” Câu nói này tựa như hiểu mà cũng chẳng hiểu, nhưng thật sự có thể biểu đạt ý tứ của linh hồn thì cũng là có ý nghĩa thật rồi!


### 31. Nói sơ về vận mệnh


Thầy bói thích nói về vận mệnh, người bình thường đối với vận mệnh thì cũng cực kì có hứng thú. Tất nhiên có một số người biểu thị không tin vận mệnh, nhưng lúc gặp nguy hiểm đến tính mạng thì con người không chỉ giận trời trách người mà còn thường xuyên trách vận mệnh của chính mình không tốt. Có một số người trời sinh ra mệnh đã tốt, từ lúc sinh ra cho đến lúc chết đều sống trong những ngày tháng vô lo vô nghĩ, nhưng có một số người thì cả đời sống trong gia đình nghèo khó, thất học từ nhỏ, không có được sự giáo dục và hoàn cảnh tốt đẹp, từ nhỏ đã phải vật lộn với cuộc sống. Đây chẳng phải là mệnh sao? Đây chẳng phải là vận sao? Ai có thể nói đây không phải là vận mệnh trời định chứ?

Tôi từng nhìn thấy bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo nằm trên giường bệnh thở hổn hển nói: ”Vì sao ông trời không thương xót tôi, tôi có tội gì đâu, tôi vẫn còn trẻ mà quả tim tôi đã hỏng rồi. Ông trời ơi, sao ông lại để cho người xấu tiếp tục sống còn người vô tội thì lại mắc bệnh hiểm nghèo, tôi có làm gì sai đâu! Vì sao lại giày vò tôi? Đây là vận mệnh, nhất định là vận mệnh, số tôi khổ quá.”

Căn bệnh ung thư đã cướp đi sinh mạng của người bạn tôi, trước lúc chết không còn ra hình người nữa, mắt nhắm tay buông thế là ra đi, đi rất xa rồi, trên đời này không còn tìm thấy giọng nói khuôn mặt của cậu ấy nữa. Đây là cuộc đời một người bạn cũ của tôi, cậu ấy mới sống có 24 tuổi, bạn có thể nói đây không phải là vận mệnh sao?

Người phụ nữ áo xanh đã kể với tôi một câu chuyện. Cho đến hiện tại, tôi chỉ biết tên gọi khác của người phụ nữ áo xanh là Cơ Nga, còn tên thật của bà ấy là gì thì tôi chưa bao giờ hỏi bà ấy, bà ấy cũng chưa bao giờ nói. Bà ấy là người ở huyện Phúc Lý tỉnh Hoa Liên, bố bà ấy là nhân viên kiểm nghiệm của công sở thị trấn Phúc Lý, là người trung hậu nhưng không tin quỷ thần, bình sinh cũng chưa từng tín ngưỡng bất kì tôn giáo nào. Bản thân bà Cơ Nga khi sinh ra cũng không nhận được sự giáo dục tốt, thế nhưng điều kì quái là trong số các anh chị em chỉ có một mình bà ấy có con mắt âm dương bẩm sinh. Lúc còn nhỏ, gia đình của người phụ nữ áo xanh không hề khá giả, thị trấn Phúc Lý là vùng miền núi, con cái phải gánh nước để giặt quần áo và làm việc nhà. Cơ Nga thân làm chị cả nên phải đi gánh nước ở con suối dưới khe núi, mà thị trấn Phúc Lý có một ngôi miếu Thành Hoàng, Hắc Vô Thường và Bạch Vô Thường ở trong miếu Thành Hoàng lại thích trêu Cơ Nga. Hai âm tướng Hắc Bạch này một người đi trước, một người đi sau trên con đường núi Cơ Nga đi gánh nước, cùng nhau đùa giỡn rất ồn ào. 

Bà ấy kể với tôi: 
”Hắc Bạch Vô Thường rất tinh nghịch, thường xuyên cố ý lật đổ thùng nước của tôi.”
”Vậy là lúc nhỏ cô đã có thể nhìn thấy quỷ thần rồi?”
”Từ khi hiểu chuyện đến nay thì tôi đã nhìn được rồi, nhưng tôi nói với mẹ tôi, mẹ tôi chỉ cười; nói với bố tôi, bố tôi cho rằng trẻ con nói vớ vẩn không đáng tin cậy, cuối cùng còn cho rằng thần kinh tôi có vấn đề nữa. Nếu tôi nói tôi nhìn thấy cái gì thì ông ấy liền mắng tôi là bệnh tâm thần phát tác, đầu của con bé này có vấn đề rồi.”
”Cô không sợ Hắc Bạch Vô Thường sao?”
”Thường xuyên nhìn thấy thì cũng không có gì đáng sợ, nhất là họ đều là bạn chơi cùng tôi, là bạn thân.”

Ví dụ câu chuyện nhìn thấy Hắc Vô Thường, Bạch Vô Thường này, khi tôi chưa có được hoạt linh hẳn là tôi cũng sẽ không dám tin, cho dù có kể một cách đầy sống động tôi cũng sẽ cho rằng là chuyện thêu dệt nên, vì thế cũng khó mà trách bố của bà ấy không tin con gái mình thật sự nhìn thấy cái gì. Con người trên đời này có mấy người thật sự có thể mở to mắt mà nhìn thấy được sự tồn tại của linh khí chứ. 

Cơ Nga dần dần trưởng thành, tin và thờ Diêu Trì Kim Mẫu Thiên Tôn, Kim Mẫu đặc biệt chăm sóc Cơ Nga - người có con mắt âm dương bẩm sinh này, từng đưa bà ấy đi du lịch một vài linh giới, đồng thời dạy bà ấy thuật gọi hồn, đây cũng là trong phái Diêu Trì của Đạo giáo. Bà ấy có thể dựa vào thân nữ yếu đuối trở thành một nhân vật xuất sắc ai ai cũng biết trong giới Đạo hữu toàn đất nước. Không chỉ mắt thấy tai nghe, bà ấy còn biết các dị thuật khác, nói một câu theo thuật ngữ hiện đại thì bà ấy chính là một siêu nhân. 

Bố của Cơ Nga tuổi càng lúc càng cao, có một lần không ngờ bị ốm liệt giường, bệnh tình càng ngày càng trầm trọng, thường xuyên nói mê sảng lúc canh ba nửa đêm, người chăm sóc ông ấy thường xuyên bị dọa sợ tới mức lúng ta lúng túng, thế là Cơ Nga xung phong nhận việc chăm sóc bố lúc nửa đêm. Đêm ấy gió thổi rất mạnh, cửa sổ va vào nhau lạch cạch, bốn bề hoang vu tối đen như mực, ánh nến bé xíu như hạt đậu. Đúng vào lúc canh hai, có rất nhiều tiếng bước chân ở bên ngoài cửa, Cơ Nga không sợ hãi chút nào, mở rộng cửa ra, bên ngoài có một đám người đang đứng, cả nam cả nữ, cả già cả trẻ. Cơ Nga hỏi: 
”Các người là ai?”
Một người lớn tuổi trong số đó nói:
”Cô là Cơ Nga phải không? Tôi là bác Bình hàng xóm của nhà cô đây! Tôi mới qua đời năm ngoái. Dương khí của bố cô sắp cạn rồi, chúng tôi đến đón ông ấy đi.”
”Không được, không ai trong các người có thể đưa ông ấy đi, tôi không cho phép các người vào đây.” 

Hai tay bà ấy giang rộng ra để ngăn đám vong hồn kia, như thế, bệnh tình của bố bà ấy lại kéo dài thêm ba ngày. Đến buổi tối ngày thứ ba, một vị tướng quân của miếu Thành Hoàng đến gõ cửa, vị tướng quân ấy trên vai đeo đầy cờ, tướng quân nói:
”Bố cô lẽ ra ba ngày trước đã sớm bị âm linh dắt đi rồi, nhưng vì cô đã ngăn chặn nên kéo dài được ba ngày, âm linh không có cách nào bèn nhờ Thành Hoàng giao ý chỉ, Thành Hoàng lệnh cho tôi đến đưa người đi, cô không thể ngăn chặn được nữa.”

Sau đó, Cơ Nga vì yêu thương bố mình tha thiết, không chịu để tướng quân đưa đi, đã nắm linh phù mà Diêu Trì Kim Mẫu ban cho trong tay, trong chốc lát ánh sáng cát tường tỏa ra chói lọi, tướng quân của Thành Hoàng cũng không có cách nào tiến về phía trước, đành trở về báo cáo. Cơ Nga không cần biết trời cao đất dày, chạy tới miếu Thành Hoàng nói chuyện với Hắc Bạch tướng quân ở trong miếu, đánh vào mông của mỗi vị Thần tướng, ngay cả Thành Hoàng Bồ Tát cũng tức giận tới nỗi ngoẹo cả đầu, mặt mày ủ rũ. Đúng lúc này, trong không trung có những đám mây cát tường, hoa thơm rải đầy mặt đất, thì ra là linh quang của Diêu Trì Kim Mẫu giá đáo. Thành Hoàng kính cẩn ra khỏi miếu nghênh đón, Kim Mẫu nói với Cơ Nga:
”Con à, tấm lòng hiếu thuận của con rất cảm động, nhưng Thành Hoàng theo ý chỉ mà làm việc, bố con thọ mạng đã hết, lẽ ra phải xuống âm giới, như bây giờ con hãy mau làm thị tì của ta, áo xanh là đại diện cho học trò của ta, hãy mau mặc vào cho ông ấy, nếu ông ấy mặc áo xanh, tự nhiên sẽ thuộc về ta xử lí, sẽ không đến nỗi phải đọa âm giới chịu khổ.”

Cơ Nga nghe nói như vậy mới miễn cưỡng gật đầu bằng lòng. Khi mặc áo xanh cho bố, bà ấy chỉ thấy trong không trung lơ lửng một chiếc thuyền chở bố của bà ấy đi.

Câu chuyện này là do chính miệng người phụ nữ áo xanh kể cho tôi. Từ câu chuyện này, chúng ta có thể hiểu rằng sống và chết đều có một định số, và vận mệnh ẩn ở giữa sống và chết. Sống chết cũng là mệnh, là vận, muốn siêu thoát đại luân hồi sinh tử chỉ có tu tập luyện linh mới có thể tự chủ không chướng ngại, và tự chủ không chướng ngại cũng chính là Đại Bồ Tát không chịu sự trói buộc của sinh tử rồi. 


### 32. Trợ duyên cho chính pháp


Có rất nhiều Phật tử, đại sư hoặc đại hòa thượng xuất gia luôn coi thường đạo của thiên nhân, đối với thuyết quỷ thần, họ không hề tin, còn cho rằng đó chẳng qua là phương thuật của thiên ma ngoại đạo mà thôi. Bản thân họ cho rằng Phật giáo mới là chính giáo, Phật pháp tăng là Tam Bảo, tu hành chính đạo không nên học tập thiên ma ngoại đạo. Thế nhưng họ không biết rằng trợ duyên cho chính pháp hoàn toàn phải dựa vào thiên ma ngoại đạo, nếu không có thuật thần thông của thiên ma ngoại đạo thì số người quy y chính pháp Phật môn sẽ giảm đi rất nhiều. Điểm này thì không cần phải nghi ngờ, cho nên không có thiên ma ngoại đạo thì làm gì có sự sống mãi của chính pháp chứ?

Trong số mười đại đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni, Xá Lợi Phất là đại đệ tử số một, Mục Kiền Liên là đại đệ tử số hai, một người là trí huệ đệ nhất, một người là thần thông đệ nhất. Cả hai đại đệ tử này đều là học giả ngoại đạo hoặc xuất thân là thủ lĩnh, đến cuối cùng lại phụng hành Phật pháp, trở thành trợ duyên cho chính pháp. Vì thế, các đại sư, hòa thượng, tì kheo xuất gia học Phật ngày nay không thể coi thường sức mạnh của ngoại đạo, có thể không tu nhưng cũng không thể ngông cuồng báng bổ. Rất nhiều người cho rằng xuất gia quy Phật còn vĩ đại hơn thiên thần, vĩ đại và cao quý hơn Ngọc Hoàng Đại Đế. Sao họ không nghĩ xem, sao Phật Tổ vẫn còn khách khí khiêm nhường với Thiên Đế như vậy, ấy thế mà một người xuất gia chưa làm nên trò trống gì dựa vào cái gì mà coi thường Thiên Đế? Thiên Đế nhìn bạn giống như nhìn một con kiến, còn bạn thì vẫn chưa nhìn thấy Thiên Đế nữa cơ! Đừng nói là không nhìn thấy Thiên Đế, có khi ngay cả ông Thổ Địa bạn cũng không nhìn thấy nữa! Vì đã không nhìn thấy ông Thổ Địa, không nhìn thấy Thiên Đế, thì dựa vào cái gì mà vĩ đại hơn ông Thổ Địa, vĩ đại hơn Thiên Đế?

Cho dù người xuất gia vĩ đại hơn Thổ Địa Công Công, nhưng người xuất gia đi qua trước miếu Thổ Địa Công Công, Thổ Địa Công Công nhìn thấy người xuất gia đến bèn đứng ở trước miếu cung kính nghênh tiếp, người xuất gia có thể không thèm nhìn Thổ Địa Công Công một chút sao? Tự nhận mình là vĩ đại, kì thực là quá nhỏ nhen, e rằng ngay cả đến Thổ Địa Công Công người xuất gia cũng không nhìn thấy đó! Chẳng trách mà tự cao tự đại cả đám. Người học Phật tu hành, thiên ma ngoại đạo có thể không tu, nhưng đối với các thần tiên dưới Thiên Đế không thể không tôn kính, chí ít các thần tiên kiếp trước còn tu cao hơn bạn đó.

Quan Thế Âm Bồ Tát hóa ra nghìn vạn thân để cứu đời, Ngài có thể hóa thành thân nam thân nữ, có thể hóa thân thành Kim Cang Thần, hóa thân thành quỷ xoa quỷ vương, hóa thân làm người hoặc không phải người, đủ loại biến hóa. Chúng sinh mà Ngài độ không phân biệt, Ngài có thể biến thành Thiên Đế, có thể biến thành Thổ Địa Công Công, còn người xuất gia bất kính với Thổ Địa Công Công há chẳng phải là bất kính với Quan Thế Âm Bồ Tát rồi sao. Cho nên người chấp thuận dựa vào thiên ma ngoại đạo để được độ thì Quan Thế Âm Bồ Tát tất sẽ hóa thân thành thiên ma ngoại đạo để độ họ, điều này không thể hoài nghi.

Có một lần, tôi tán gẫu với một vị hòa thượng, vị tì kheo ấy lại nhắc đến một vấn đề cũ.
”Người xuất gia vẫn vĩ đại hơn Thổ Địa Công Công.” - Vị tì kheo nói.
”Ông nghe ai nói vậy? Pháp sư Từ Nhân, là ai nói với ông vậy?” - Tôi hỏi ông ấy.
”Sao cơ? Ai ai cũng nói như thế, không đúng sao?”
”Tôi nghe Phật nói, đạo hợp với chân là thiện, người có chí hướng hợp với đạo là vĩ đại, Phật Tổ Thích Ca chưa từng nói người xuất gia vĩ đại hơn Thổ Địa Công Công!”
Hòa thượng Từ Nhân đỏ mặt nói:
”Chính pháp cao hơn thiên tiên ngoại đạo rất nhiều.”
”Không sai, thiên tiên ngoại đạo thấp hơn chính pháp, nhưng làm sao ông biết sau khi họ làm thiên tiên rồi thì rất hài lòng và không cầu chính pháp nữa? Huống hồ đạo hạnh của thiên tiên so với cái quả nhỏ bé của con người thì cao hơn rất nhiều đó.”
Hòa thượng Từ Nhân nghe tôi giải thích như vậy, từ đó ông ấy biết, cho dù chính pháp ở tít trên cao nhưng cũng không thể coi thường Thiên đạo. 

Nguyễn Ấn Trường - tác giả của cuốn sách “Tạo Hóa Thông” cho rằng: “Môn xem tướng chữ của Nghiêm Quân Bình, bắt linh bài, xóc quẻ, bói lông, bói xương, có lòng thành sẽ có linh cảm, mỗi loại đều có đủ sự tin cậy, tuy vậy những môn bói này là hạng thấp kém của Đạo. Môn suy địa vận để lấy Lạc thư cửu số, bói quân cơ trọng kì môn cửu tinh, kiểm tra việc người chú trọng Lục nhâm thập nhị thần tướng, những môn này là hạng trung của Đạo. Còn như đoán đại vận thế giới, duy có Hoàng Cực Dịch Tượng [hai bộ tử vi nổi tiếng Hoàng Cực Kinh Thế và Dịch Tượng Luận] và Đại Ất Lý Số là có thể suy ra được sự thường hằng, từ số lần vận hành của mặt trời mặt trăng và các vì sao trong một ngày đêm mà có thể quan sát sự thay đổi, môn này là Đạo thượng thừa.” Đoạn này Nguyễn Ấn Trường đã nói ra được tiếng lòng của tôi, Phật phân làm ba thừa, ý nghĩa của nó cũng chính là ở đây.

Giờ đây, bất kể là phù kê cũng được, phi loan cũng được, viên quang cũng được, lại còn có người sáng lập ra lục giáo hợp nhất, ngũ giáo hợp nhất, thậm chí vạn giáo đồng minh, thiên hạ vạn giáo đồng minh, thiên cung thụ mệnh, Di Lặc hạ sinh, chỉ cần làm pháp không gây lỗi lầm thì cũng không hẳn là không phải trợ duyên cho chính pháp. Cho nên, “dựa vào tâm bồ đề, tất cả ngoại đạo đều là chính pháp”. Nhưng nếu mượn danh Thần Phật để vơ vét của cải, làm đảo điên chúng sinh, làm pháp sai trái, thậm chí mê tín nói mò, thì đây thật sự là trở thành tà đạo.

Pháp mà tác giả đã học không chỉ là đạo Tiểu thừa cao thượng, hay đạo Đại thừa cao thượng, mà mục tiêu sau cùng vẫn là chính pháp tâm yếu của sinh tử viên mãn trọn vẹn. Tôi vì sự trợ duyên của linh cơ thần toán mà thu hút được vạn người quy về Phật giáo. Ngày nay Phật giáo chỉ là giảng kinh thuyết pháp, hoàn toàn không có thuật biến hóa thần kì, hơn nữa không hiểu pháp gọi linh đuổi hồn, không biết quy y đại đạo, chỉ là biết tụng kinh lễ Phật mà thôi, cách làm pháp này nếu không có ngoại đạo tương trợ thì không thể có được kết quả tốt đẹp như thế này. Hôm nay rất nhiều người tin Phật, trong quá khứ họ là tín đồ của chùa miếu, mười người thì có tám người là theo ngoại đạo trước, sau đó mới cầu chính pháp, cho nên trợ duyên cho chính pháp, người xuất gia không thể xem nhẹ, cũng không thể không tôn kính, đừng mở miệng ngậm miệng đều gièm pha.

Theo như tôi biết, có một số người xuất gia đối với linh của quỷ thần thì kính trọng nhưng không gần gũi, nguyên nhân là linh hồn thường hay giả tạo thành vị Đại Tiên nào đó, hơn nữa còn bàn luận huyền cơ, nói hươu nói vượn một hồi, người xuất gia không hiểu người nào mới là Thần Tiên, người nào là quỷ quái giả trang? Vì không có cách nào phân biệt được cho nên cũng gạt phắt không tin gì cả. Tác giả từng ở tại một thần đàn xem giáng kê viết chữ, linh đó tự xưng là tổ sư Lữ Động Tân hạ giáng, sau đó tôi vận linh nhìn thử thì căn bản không phải là tổ sư Lữ Đồng Tân, mà là một cô hồn dã quỷ tương đối có linh khí. Đương nhiên quỷ linh giảng kinh chẳng qua là pháp tu luyện của tinh khí quỷ linh mà thôi. Cho nên Phật Thánh phàm phu vốn dĩ là bình đẳng không hai, chỉ là tu luyện và giác ngộ khác nhau mà thôi, hạng trên là Phật, hạng dưới là phàm, thiên tiên ngoại đạo trở thành nhịp cầu nối giữa Phật và phàm, cái này phải xem năng lực lĩnh ngộ, năng lực tu luyện của bạn, còn thêm cả nhân quả kiếp trước cũng rất quan trọng. Thiên tiên ngoại đạo không thể quy y, nhưng phải tôn kính, đây là lời mà hôm nay tôi muốn nói với một số người xuất gia và người tu tập Phật giáo. Giả như hôm nay tôi nói Quan Thế Âm Bồ Tát từng từ không trung vẩy xuống mấy giọt cam lộ rơi trên đầu tôi, từ đó tôi hoàn toàn hết bệnh, thân tâm khoan khoái, bạn có tin không? Điều này là có khả năng, bởi vì Quan Thế Âm Bồ Tát không đâu là không hiện thân mà!

(Bổ sung thêm: tác giả từng khuyên người ta thờ tượng Phật, khuyên người ta niệm Phật, khuyên người ta theo đuổi chính pháp Phật môn, vì sao những người này tin Phật, rất ngoan đạo và không nghi ngờ? Đều là vì linh cơ thần toán của tôi, tôi đoán ra bí mật của họ, họ vì thế mà buông bỏ tất cả việc thế tục, toàn tâm toàn lực phụng sự Phật pháp.)


### 33. Pháp yếu của mật chú


Nhìn chung mà nói, Phật gia công khai rất nhiều chú ngữ, cũng linh dị phi thường, có thần chú Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm, chú này là do Phật Thích Ca Mâu Ni từ trong nhục kế tuôn trào ra bách bảo quang, rồi từ trong ánh sáng tuôn ra hoa sen nghìn cánh quý báu, có hóa Như Lai ngồi trong hoa sen quý, từ đỉnh phóng tỏa mười tia bách bảo kim quang, mỗi tia sáng đều hiển thị khắp nơi nhiều như cát của mười sông Hằng, dấu vết bí mật của Kim Cang, cầm chày nâng núi, khắp hư không giới, dưới bảo tướng ấy, Ngài đã tuyên thuyết đại chú này. Ngoài ra còn có Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà-la-ni, tục gọi là chú Đại Bi, còn có Như Ý Bảo Luân Vương Đà-la-ni, thần chú Tiêu Tai Cát Tường, thần chú Công Đức Bảo Sơn, thần chú Chuẩn Đề, Thánh Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương Đà-la-ni, Dược Sư Quán Đỉnh chân ngôn, Quan Âm Linh Cảm chân ngôn, Thất Phật Diệt Tội chân ngôn, thần chú vãng sinh tịnh thổ, chú Thiện Nữ Thiên, mười câu chú này chính là mười tiểu chú. 

Về chú ngữ của Đạo gia thì càng nhiều hơn, kể đến có tổng chú thỉnh tiên, chân ngôn quy y, chú Đại Minh Lục Tự, chú hòa hợp, chú triệu gọi Thổ Địa, chú thông thiên như ý, phù chú pháp bảo, chú hỗn thiên, chú truy hồn, chú ngũ quỷ hỗn thiên, chú Huyền Nữ, chú kim quang, chú Thái Dương Thái Âm, chú ngũ phương lôi quang, v.v… Những câu chú này đều công khai, còn có rất nhiều mật chú không công khai, đại bộ phận đều chọn người mà truyền, nếu truyền không đúng người thì thường sẽ khiến những kẻ lưu manh lợi dụng chú này để làm xằng làm bậy, như thế thì rất gay go.

Chú ngữ còn gọi là chân ngôn, chính là đạo hạnh tu trì cả đời của Thánh Thần Tiên Phật đúc kết lại thành một câu nói, dựa vào lời này mà tu niệm chính là một phương pháp để có thể độ mình độ người. Người tu mật chú có mấy điều phải chú ý, đây là việc vô cùng quan trọng.

Thứ nhất, trì chú không thể tham nhiều, trì một chú lâu dài làm chính. Hiện nay người bình thường trì chú niệm chú thường hay tham nhiều, bảo họ trì chú, họ lập tức thuộc hết mọi câu chú, mỗi câu chú đều cảm thấy cần thiết, và câu nào cũng niệm. Niệm chú chỉ nói lầm rầm trong miệng, không thể nói to ra ngoài miệng, tai nghe thấy và in vào trong tâm. Nếu mà niệm chú giống như người chăn trâu hát bài ca miền núi, hay giống như ngôi sao ca nhạc hát những bài hát thịnh hành thì không có một chút hiệu lực nào. Mật chú có đến tám vạn bốn nghìn loại, phải in vào tâm từng câu, nói thì dễ mà làm thì khó làm sao! Cho nên trì chú, nếu trì một câu chú mà trì lâu thật lâu, câu chú này lập tức thành tâm chú, hễ tâm niệm động là chú ngữ ba-la-mật, tâm làm chủ tất cả pháp giới, thành Phật thành Tiên cũng nằm ở tâm niệm thôi!

Tác giả trì Thất Phật Diệt Tội chân ngôn của Phật gia: “Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha.” Câu chú này vỏn vẹn bảy câu, đơn giản dễ niệm, không chỉ diệt tội mà còn có đại công. Thất Phật hộ trì, diệu pháp thần thông như thế từ trong câu chân ngôn này không ngừng tuôn ra. Tôi trì câu chân ngôn này rất lâu, không biết đã niệm bao nhiêu vạn vạn biến rồi! Hễ tâm niệm khởi lên thì linh cảm biết bao. Đạo gia thì tôi trì Lục Giáp thần chú, tổng cộng phân ra làm Lục Giáp Dương thần chú, Lục Đinh Âm thần chú, niệm theo chú này lâu ngày thì hành pháp tự có thần thông bất khả tư nghì. 

Thứ hai, trì chú không được đọc sai. Thường xuyên có một số người mặc dù trì chú nhưng đọc sai một chữ trong câu chú đó, ví dụ có một phụ nữ ngoài 50 tuổi thường đến Phật đường ở nhà tôi lễ Phật. Bà ấy niệm Quan Âm Linh Cảm chân ngôn “Ôm ma-ni pát-mê hùm” lại đọc thành “Ôm ma-ni pát-mê nướu”, chữ “hùm” biến thành “nướu”. [Câu chú Lục tự đại minh trong tiếng Trung, hiện tại vẫn viết phiên âm Hùm gần y hệt như Nướu, hoặc lẫn với nhau] Người phụ nữ này ở trong núi Lục Cổ ở Vụ Phong trồng cây ăn quả, hàng ngày lên núi xuống núi đều niệm chú ngữ, cứ như thế đã hơn 10 năm không gián đoạn. Nói ra kể cũng lạ, từ dưới núi đi lên núi phải đi qua một con sông dài và hẹp, mỗi khi bà ấy niệm “Ôm ma-ni pát-mê nướu” thì sỏi ở dưới lòng sông cứ nhảy ùm về phía trước. Bà ấy niệm một biến thì sỏi nhảy một cái, niệm hai biến thì sỏi nhảy hai cái, lần đầu tiên bà ấy sợ ngây người ra, sau đó thì cũng quen, bà ấy cũng thấy không hề gì. Mãi cho đến một ngày bà ấy kể với tôi, tôi cứ ngẫm nghĩ mãi, thì ra chú niệm sai, câu chú quái dị, nhưng niệm lâu ngày tự nhiên sẽ sản sinh ra hiện tượng linh dị kì quái, nhất là khi bà ấy dụng tâm chăm chỉ niệm, chú lực của bà ấy thậm chí có thể tác động được đến viên sỏi nữa!

Tôi với bà ấy đến núi Lục Cổ, tôi bảo bà ấy niệm “Ôm ma-ni pát-mê nướu”, sau đó bảo bà ấy ra lệnh cho sỏi tập trung thành một đống về phía đông. Bà ấy làm theo lời tôi, kết quả là sỏi đều chạy về phía đông tập trung lại, bà ấy lại niệm, sỏi lại chạy hết về phía tây. Tôi lại dạy bà ấy niệm “hùm”, lần này thì sỏi không hề động đậy. Điều này đã chứng minh việc trì một câu thần chú sẽ có công lực vô cùng, nhưng do niệm sai một chữ nên chỉ có thể tác động được đến sỏi [quan điểm của Sư Tôn tại thời kì tu tập này - 1975]. Vì thế người niệm chú tuyệt đối chớ niệm sai, điều này vô cùng quan trọng, vô cùng quan trọng.

Thứ ba, vô trụ vô niệm, chí đại chí cương. Kinh Kim Cang có nói: “Nên vô sở trụ mà sinh tâm ấy.” Đây là tâm yếu trì chú của pháp môn vô thượng, cũng chính là tâm tức là chú, chú tức là tâm, tâm động thì chú động. Niệm mọi lúc, niệm mọi nơi, vì lúc nào cũng niệm, lúc nào cũng chuyển động chân ngôn, giống như trạng thái nhất tâm bất động, đây chính là nhập vào trong tam muội kim cang đại định, chí đại chí cương trở thành thể kim cang bất hoại, điều này mới thần diệu làm sao.

Tác giả cho rằng trì chú tức là công phu trì giới tu định, cũng tức là bí quyết nhanh nhất từ mê nhập ngộ. Người muốn khởi linh nếu có thần chú gia trì, công lực tự nhiên tiến nhanh, không thể coi thường, chớ xem nhẹ, đạo khởi linh cũng nằm trong chú ngữ. Từ một phàm phu biến thành người có linh động cũng dựa vào đại lực của việc khẩu niệm tâm ấn bốn chữ Diêu Trì Kim Mẫu mới có thể thành công. 

“Diệu Tí Bồ Tát Sở Vấn Kinh” của pháp môn Mật tông nói: “Người tu hành nếu muốn trì tụng để nhanh chóng trở thành thành tựu giả sắc bén thì mọi nghi thức về pháp không được mảy may thiếu hụt hay phạm sai lầm, sẽ khiến cho ma chướng được dịp thuận lợi. Vì thế người tu hành, làm người trì tụng thì phải trì thời gian dài không gián đoạn, khiến cho quán tưởng, chân ngôn và chủng tự phải thông thuộc, mọi sự tương ứng, có thể thành tựu du già vô tác diệu hạnh. Rồi người trì tụng không được “tâm duyên dị cảnh” [để tâm chạy theo ngoại cảnh], không được nói với người khác những điều linh tinh, nếu tụng gián đoạn thì không thể thành tựu được. Rồi tụng không dựa theo nghi thức của pháp hoặc không giữ giới, hoặc không thanh tịnh, thì không chỉ có pháp không thành tựu mà còn chuốc hại nữa.”

“Thiện Giới Kinh” nói: “Thọ trì thần chú, có năm điều không được làm. Một, ăn thịt. Hai, uống rượu. Ba, năm vị cay. Bốn, dâm sự. Năm, ăn uống ở nơi bất tịnh.” Nếu giữ được năm giới này thì thần chú gia trì rất có khả năng khử độc trừ ma, tâm niệm chuyển động sẽ có lợi ích lớn, ác thần độc bệnh đều có thể loại bỏ.

Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh truyền thụ cho tác giả Tiên Thiên Vô Cực chính pháp, chính pháp này chính là chính chú. Nếu trì chính chú với tâm sùng kính, trời xanh ắt sẽ cảm động, sẽ có Công Tào thần linh trực nhật hạ giáng, vì thế người thọ trì Tiên Thiên Vô Cực chính pháp phải cung kính cung thỉnh, không có việc cần thiết thì không thể tùy ý niệm động. Đây chính là Đạo gia đại la thiên chú của Tiên Thiên Vô Cực phụng thỉnh Thiên Tiên Địa Tiên Tán Tiên Quỷ Tiên Kim Tiên, thậm chí là thần linh đi qua đi lại nghe thấy chú này không hạ giáng không được, không có luật lệnh bí mật nào của đô phủ Cửu Lão Tiên có thể sánh bằng, đây chính là Diêu Trì mật lệnh để thông hành khắp tam giới trên trời dưới đất. Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh truyền thụ mật lệnh này cho bao nhiêu người? Tôi không biết, nhưng biết thì nói là biết, không biết thì nói là không biết, tuyệt đối không thể đem mật lệnh truyền bừa.


### 34. Nhân quả kiếp trước kì dị


Đêm giao thừa, cả nhà tôi đang xum vầy quanh bếp lửa, bên ngoài cửa sổ gió lạnh căm căm. Mới ăn được một nửa bữa cơm thì bạn thân của tôi là Tạ Xuân Hùng xộc vào cửa với bộ dạng hết sức khẩn trương: 
“Lão Lư, anh phải cứu người, cứu người ngay, cháu gái tôi sắp chết rồi.” 
Trên tay anh ấy ôm một vị Vi Đà Bồ Tát. Tạ Xuân Hùng là thiện nam của Phật giáo Liên Xã Đài Trung, là một Phật tử ngoan đạo, trong nhà thờ Phật, là người rất thuần thành.
”Người đang ở đâu?”
”Bây giờ cháu nó đang ở sở truyền đạo Vụ Phong, tín đồ của sở truyền đạo Vụ Phong đều tập trung ở đó để niệm Phật cho nó.” 

Thế là tôi không hỏi gì nữa, khoác áo khoác, đến lạy Phật Tổ rồi lên chiếc xe taxi đang chờ ở ngoài cửa. Trên đường đi, Tạ Xuân Hùng kể cho tôi nghe câu chuyện như sau:

Cháu gái của anh ấy tên là Lưu Mẫn Ngọc, là sinh viên năm thứ ba Đại học Sư Phạm, đạo đức và học lực đều ưu tú, ngoại hình cũng rất xinh đẹp. Thế rồi vào năm thứ hai thì đột nhiên tâm thần thất thường, nói năng lảm nhảm, có khi ngủ liền bốn, năm ngày không ăn không uống. Trường học thông báo với phụ huynh của nữ sinh Lưu là ông Lưu Đạt đón về nhà dưỡng bệnh. Bác sĩ của bệnh viện tâm thần kiểm tra sóng não nói: ”Không có bệnh gì, không có gì bất thường.” Bác sĩ tâm thần cũng bó tay hết cách, ngay cả bác sĩ nước ngoài cũng đã được mời đến, cũng chỉ lặp lại một câu: “Không có bệnh.”

Bố của nữ sinh Lưu là một doanh nhân lớn trong giới khởi nghiệp ở miền trung, vì cứu con gái yêu của mình, ông ấy đã tiêu tốn cả triệu Đài tệ, nhưng bác sĩ vẫn không chữa được, chỉ còn biết cầu thần minh. Kê đồng ở miếu Vương Gia Công tại Phố Lý nói: 
”Cháu Lưu đã phạm phải quan tài sát, phải cải ách tế sát, đồng thời phải sống trong miếu 49 ngày thì mới có hiệu quả.” 
Thế rồi cháu Lưu đã sống trong miếu, cả ngày ngủ mê man, lúc tỉnh thì miệng lại càng nói lảm nhảm nhiều hơn, cuối cùng trị liệu vẫn không có hiệu quả. Pháp lực thần thông của Vương Gia Công không đủ, ngay cả kê đồng kia cũng lắc đầu than rằng vô phương cứu chữa. 

Họ lại đến thỉnh thần ở miếu Ngũ Vương tại Quan Miếu, Đài Nam chữa trị, đã bái Ngọc Hoàng Đại Đế, đã đốt cả một chiếc xe bò bằng vàng mã, kết quả là tình hình lúc tốt lúc xấu. Lúc tốt thì tựa như tỉnh mà vẫn không tỉnh, miệng không nói năng, lúc xấu thì cực kì hung hãn, mười người cũng không bắt được cô gái, lúc thì khóc lúc thì cười, nhảy múa điên loạn. Chữa trị ở miếu Ngũ Vương được nửa năm, kết quả vẫn vô hiệu. 

Sau đó họ lại đến chùa Từ Vân để cầu hòa thượng trụ trì, hòa thượng đó tự xưng chỉ cần một chiếc quạt là đánh được yêu ma quỷ quái, ma quỷ hễ nhìn thấy là chạy, kết quả là chữa trị suốt hai tháng. Hòa thượng nói: “Đây là con cá chép tinh nhập vào người để tác quái, hãy xem tôi thu con yêu quái này về.” Kết quả là hòa thượng niệm chú Đại Bi, dùng nước pháp, dùng cái quạt đánh vào người Lưu Mẫn Ngọc, không những vô hiệu mà hòa thượng còn nổi cáu: “Hầy! Quái lạ! Quái lạ! Con cá chép này thần thông quảng đại, pháp lực của tôi không đủ, thật xấu hổ, xấu hổ, xin đi thỉnh cao minh khác đi! Tôi không thắng nổi sự quấy nhiễu này.”

Ông Lưu Đạt lại đưa con gái yêu đến cầu kê đồng ở miếu Ngô Thê Vương Mẫu, kê đồng dùng phù lục dán đầy lên khắp người cháu Lưu, lại không cho cô ăn ngày ba bữa cơm, chỉ cho uống nước phù lục mà kê đồng đó vẽ. Suốt ba, bốn ngày như thế, cháu Lưu bị sốt cao, sắc mặt đen sạm, tròng đen chuyển thành trắng dã, đồng thời cũng liên tục nói mê sảng, tình hình cực kì nghiêm trọng, bệnh chưa thể chữa khỏi mà thật sự đã sắp chết đói rồi. Kê đồng bó tay, lại gửi về bệnh viện tâm thần để làm điện liệu. 

Tạ Xuân Hùng nói:
”Các chùa, miếu, cung, đường ở khắp nơi đều đã đi hơn trăm nơi rồi, tất cả đều vô hiệu, ngay cả đại sư Phật học Lý Bỉnh Nam chúng tôi cũng đến cầu rồi, nhưng ông ấy không lo liệu được việc này, ông ấy chỉ giảng kinh thuyết pháp thôi, đối với những việc kiểu này ông ấy không muốn quản. Thế rồi tôi đột nhiên nhớ đến cậu, cậu cũng có một vài linh lực, chữa được ngựa chết thành ngựa sống, cho nên tất cả đều nhờ cậy vào cậu, nếu cậu không cứu cháu tôi thì nó sẽ chết mất. Hôm nay nó nói có hai người muốn đến lấy tính mạng nó.”

Đến sở truyền đạo Vụ Phong, tôi lễ bái Phật Tổ, ở trên đại đường có rất nhiều bạn hữu Phật tử đã bỏ bữa cơm sum vầy đêm giao thừa đến đây để niệm Phật giúp cho cô gái đang vật lộn giữa ranh giới sống chết, trong lòng tôi rất cảm động. Lưu Mẫn Ngọc ngồi tại đại đường ở sở truyền đạo, âm thanh tiếng nói chuyện chói tai, không nói gì khác ngoài có người muốn đưa cô ấy đi, cô ấy không thể sống nữa, tướng quân đầu trâu mặt ngựa đã đến rồi, chỉ tay vào những bạn hữu Phật tử đang niệm Phật hét lớn: “Chỉ biết niệm Phật thì có tác dụng gì, Thần Chết cũng bắt hết các người đi!” Tôi gặp mặt ông Lưu Đạt, cũng gặp mặt mẹ của cháu Lưu, tôi hỏi thăm tình hình của cháu Lưu, rồi tôi dựa theo nghi thức cầu nước Đại Bi của Phật giáo, tôi đã cầu nước chú Đại Bi cho cháu Lưu, dùng nước chú này vẩy lên người cháu Lưu, cô gái không hề có phản ứng gì.

Lúc này tôi bảo các bạn hữu Phật tử niệm “Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát”. Tôi đứng ở giữa đại đường, mắt nhìn vị Địa Tạng Vương Bồ Tát cầm tích trượng ngồi bên dưới Phật Tổ, trong miệng cung kính niệm chú ngữ Tiên Thiên Vô Cực chính pháp, phụng thỉnh Địa Tạng Vương Bồ Tát. Tôi vận linh đến con mắt một hồi lâu thì nhìn thấy rõ ràng mặt đất bên dưới chỗ Phật ngồi tách ra làm đôi, từ dưới đất có một vị Bồ Tát từ từ trồi lên, đầu đội mũ Ngũ Phật màu vàng kim, thân khoác áo cà sa, ngồi trên tòa sen bảo quang, tay cầm tích trượng, Bồ Tát khẽ nhướn hai mắt nói: “Liên Sinh, người này mắc bệnh nặng như thế chính là báo ứng điên khùng. Ta là phân thân của Địa Tạng Bồ Tát ở tại sở truyền pháp Vụ Phong này, theo lí là phải như thế này, nên cũng không làm gì được!”
”Bồ Tát, đêm nay cô gái này phải chết sao?” - Tôi sốt ruột hỏi.
”Cũng không phải, đây chính là do các oán hận tích tụ, sẽ không chết một lần mà là trăm lần, đây là những lời nói xằng bậy khi sợ hãi, không thể xem là thật.”
”Bồ Tát, cô ấy mắc bệnh gì, tôi có thể cứu được cô ấy không?”
”Thần thức đã bị trói buộc bởi các oán hận, chỉ có sức mạnh lớn mới có thể tháo gỡ được.”

Địa Tạng Bồ Tát nói xong câu này thì kim thân cũng từ từ biến mất. Mặt đất tách ra làm đôi cũng khép lại thành một, không để lại một kẽ hở nào. Tôi nói với ông Lưu Đạt rằng thần thức của con gái ông đã bị ma trói buộc, chỉ có sức mạnh lớn mới có thể cởi bỏ được, ông Lưu nhíu chặt đôi lông mày. Tôi lại nói với ông ấy, con gái ông nói đêm nay có người đến lấy mạng của cô ấy, đó là nói linh tinh thôi. Thực tế đã chứng minh đêm ấy cháu Lưu đã không lìa cõi nhân gian, không lâu sau thì cô gái lại được gửi đến miếu đường của chùa để tĩnh dưỡng.

Mới được vài hôm, vợ chồng Lưu Đạt đã đến chỗ tôi: 
”Lư tiên sinh, làm phiền anh hết lòng chữa trị cho cháu, giả như chữa không khỏi thì chúng tôi cũng không muốn đứa con gái này nữa. Chúng tôi đã tiêu tốn hết mọi tâm huyết của mình rồi, đã dùng hết mọi khả năng có thể rồi, đã chạy đủ mọi đường rồi, bây giờ Quan Miếu ở Đài Nam cũng không để cho nó ở nữa, bệnh của nó càng phát tác ghê gớm hơn. Tối nay chúng tôi bắt chuyến tàu đêm đi Đài Nam đón nó về, bảy giờ sáng hôm sau xin mời anh đến nhà tôi, dùng pháp lực của anh để chữa cho nó, chúng tôi cầu xin anh, năn nỉ anh!”
Tôi an ủi họ:
”Được rồi! Tôi sẽ cố gắng hết sức, tất cả chỉ dựa vào Phật pháp, tôi tin rằng pháp lực vô biên có thể chữa được bệnh điên của cô ấy.”
Đêm ấy, tôi thắp hương khấn cầu cho việc này, sau đó lên giường đi ngủ.

Nói ra cũng kì lạ, vào lúc tôi nửa tỉnh nửa ngủ, tôi nhìn thấy một cảnh tượng kì quái. Tôi nhìn thấy có một cái cầu rất rất dài, trên cầu có sương, đó là lúc đêm khuya mờ mịt, có một người đàn ông vác một người phụ nữ, trên thân của người phụ nữ này có buộc một tảng đá to, người đàn ông quăng người phụ nữ này xuống dòng sông cuồn cuộn, “tùm” một tiếng, nước bắn tóe ra xung quanh. Lúc này hình như tôi biến thành người phụ nữ đó, đau đớn không cách nào hít thở được. Tiếp theo, người đàn ông kia cầm một con dao võ sĩ, tại một con hẻm tối, truy sát một người đàn ông khác, chém người đó toàn thân đẫm máu, sau đó đem xác của người đàn ông đó quăng vào trong hố vôi. Tôi nhìn thấy thi thể của người đàn ông đó từ từ chìm vào trong hố vôi, chỉ còn lại một cánh tay, sau cùng cánh tay đó cũng biến mất. Người đàn ông giết liền hai người này quay mặt lại, tôi phát hiện ra khuôn mặt hắn đã biến thành giống mặt của Lưu Mẫn Ngọc. Á! Trong lòng tôi kinh hãi, hắn chính là Lưu Mẫn Ngọc. 

Đến đây thì tôi tỉnh lại, giơ tay nhìn đồng hồ thì đã là bốn giờ sáng. Tôi ngồi dậy mặc quần áo, rửa mặt qua loa rồi đi vào Phật đường. Tôi thắp hương thầm thỉnh cầu Phật Tổ chỉ thị, rất nhanh chóng: “Những gì thấy trong mơ là nhân quả kiếp trước của Lưu Mẫn Ngọc, oan hồn tìm đến đòi trả mạng, nhân quả trói thân, nếu muốn giải thoát cần giải oan kết này.”

Bảy giờ sáng, tôi vội đến nhà ông Lưu. Lưu Mẫn Ngọc nằm sấp trên giường, mắt cụp xuống, không nói không rằng. Tôi nói với họ về chỉ thị của Bồ Tát đêm qua. Họ không biết nói gì, thế rồi họ đi theo tôi đến Phật đường ở nhà tôi. Tôi lấy ra bàn bói đĩa, để cho vợ chồng Lưu Đạt chạm tay vào, bàn bói đĩa chỉ thị rằng: “Kiếp trước của Lưu Mẫn Ngọc đã giết một nam một nữ, kiếp này chuyển sinh đầu thai làm thân nữ. Oan hồn đòi giải oan, có được âm lệnh của Địa Tạng Vương, cầm âm lệnh này để đòi mạng của Lưu Mẫn Ngọc, đồng thời Lưu Mẫn Ngọc phải bị điên tám năm mới có thể giải trừ được nỗi oán giận của nam nữ bị giết kia. Người nam bị giết họ Hoàng, người nữ họ Lâm, đây chính là nhân quả báo ứng, vì thế thần thánh trong chùa miếu cung đường cũng phải bó tay hết cách.”

Bàn bói đĩa chỉ thị rất rõ ràng, vợ chồng Lưu Đạt nhìn nhau, mẹ của cháu Lưu thở dài nói: “Chả trách khi Mẫn Ngọc lên cơn điên thì cứ hét lên xin họ Hoàng họ Lâm tha mạng, hơn nữa còn nói kiếp trước giết người rồi, kiếp này bị điên là báo ứng.”

Lưu Đạt hỏi đĩa thần: “Có hiệu quả không?”
Đĩa thần chuyển đến một câu thành ngữ: “Tháo chuông vẫn cần là người treo chuông.” 
Thế là tôi cung thỉnh Địa Tạng Vương Bồ Tát dẫn oan hồn của họ Hoàng và họ Lâm kia giáng xuống đĩa thần chỉ thị, kết quả là hai oan hồn đó đã xuống đĩa thần. Đầu tiên hai người họ dứt khoát không chịu lùi một bước, muốn cho Lưu Mẫn Ngọc phải chết mới thôi, sau đó vợ chồng Lưu Đạt khổ sở cầu xin và giải thích rõ đạo lí oan gia nên giải không nên kết, cầu xin hai con ma đó tha cho Lưu Mẫn Ngọc. 

Cuối cùng hai con ma đó đã ra điều kiện: “Thứ nhất, làm một bức tượng Phật Bồ Tát, hồi hướng công đức ấy cho hai con ma. Thứ hai, làm ba ngày pháp hội Địa Tạng Bồ Tát siêu độ, hồi hướng công đức cho hai con ma. Thứ ba, phát nguyện xây chùa Phật, tài trợ hương hỏa 160.000 tệ, hồi hướng công đức cho hai con ma. Thứ tư, tháng bảy hàng năm làm một lần phổ độ vong hồn, hồi hướng công đức cho hai con ma, liên tục làm trong 5 năm. Bốn điều kiện trên phải lần lượt làm theo, nhờ Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn, Thích Ca Mâu Ni Phật và Địa Tạng Vương Bồ Tát của Từ Huệ Lôi Tạng Tự làm chứng, sau ba ngày pháp hội Địa Tạng sẽ giao lại âm lệnh, cũng là ngày Lưu Mẫn Ngọc tỉnh táo trở lại.”

Vợ chồng Lưu Đạt vì con gái yêu đã quỳ xuống phát nguyện tại Phật đường, bằng lòng làm theo bốn điều kiện trên. Pháp hội Địa Tạng có tác giả, Tạ Xuân Hùng, Lưu Đạt, ngoài ra còn có mời hai bạn hữu Phật tử của Liên Xã, năm người cùng tụng kinh Địa Tạng, bái kim cang sám. Tác giả làm người chủ trì, đọc sớ rồi hóa đốt, kháp quyết hóa thực, lần lượt làm theo nghi quỹ của Phật môn, trong đó hóa thực là tôi dùng phương pháp mà Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh đã dạy.

Điều kiện thứ nhất là làm tượng, ông Lưu đã nhanh chóng làm. Điều kiện thứ hai cũng đã làm được. Điều kiện thứ ba, để đợi Lôi Tạng Tự sau này xây dựng sẽ bàn. Điều kiện thứ tư cũng giống như điều kiện thứ ba, nó có tính thời gian, cho nên chắc chắn có thể làm được.

Nói ra cũng kì lạ, bảy ngày sau pháp hội Địa Tạng, Lưu Mẫn Ngọc đã dần dần hồi phục thần trí, khoảng một tháng sau thì hoàn toàn khỏe mạnh bình thường, nét mặt xinh tươi, thần sắc tươi tỉnh. Cô gái đến trường học làm giáo viên tạm thời, tháng đầu tiên nhận tiền lương, cô vui mừng như đứa trẻ con, sung sướng đến phát khóc. Rồi không lâu sau, cô có thể trở lại trường Đại học Sư Phạm, tiếp tục hoàn thành việc học của mình, sau đó cô cũng có thể giống như người bình thường đi trên con đường đời tươi sáng.

(Lời cuối: nhân vật trong bản văn này đều là người thật việc thật, vì chuyện hôn nhân sau này của cháu Lưu nên tôi đã cố ý thay đổi tên người. Mong độc giả thứ lỗi cho điều này.)


### 35. Cụ già trồng cây ăn quả


Một thiếu nữ xinh đẹp đưa ông nội 63 tuổi đến tìm tôi, thiếu nữ ấy mới 18 tuổi, rất hoạt bát, sắc mặt hồng hào giống như quả táo chín, thế nhưng ông của cô lại có sắc mặt xám xịt đầy vẻ mệt mỏi, hai người trở thành một sự tương phản gay gắt. 

Thiếu nữ nói: 
”Nghe người ta nói Lư tiên sinh biết đoán mệnh, giải trừ khó khăn hoạn nạn cho người ta, tôi đưa ông nội đến đây. Ông nội tôi năm nay vận khí không tốt, ngài có thể biết khi nào thì ông tôi mới khai vận không? Hi vọng ngài có thể đoán được. Ông nội tôi họ Quách, tên Như Phong, năm nay 63 tuổi, nhà tôi sống tại quận Phong Nguyên, chúng tôi ngồi xe taxi đặc biệt từ Phong Nguyên đến đây.” 
Thiếu nữ này rất biết cách ăn nói, nhưng ông nội của cô thì không hé môi một tiếng nào. 

Tôi châm ba nén hương cho họ, thiếu nữ nhận lấy hương rồi tiện tay cúi lạy mấy cái rồi cắm hương vào lư hương. Tôi chắp tay cầu nguyện cho việc này, trước mắt tôi đột nhiên xuất hiện một ngọn núi lớn, nhưng ngọn núi này dường như là núi trồng cây ăn quả, rõ ràng là có người từng chăm sóc. Tôi quay đầu lại nói với cụ già: 
”Ông đây là người trồng cây ăn quả trên núi sao?”
Cụ già kia nghe tôi hỏi thì đứng ngây ra, sau đó khuôn mặt xám xịt miễn cưỡng nặn ra một chút xíu nét tươi cười: 
”Đúng rồi, trên núi tôi trồng nhiều cây đu đủ, nhưng cậu đoán xem trên người tôi có bệnh gì? Làm sao để chữa khỏi bệnh? Nếu chữa khỏi, tôi nhất định sẽ đáp tạ cậu, tôi đã tìm bác sĩ ở khắp nơi rồi, cả tiêm cả uống thuốc nhưng hoàn toàn vô hiệu.”

Thế là tôi xem móng tay của ông cụ, lại nhìn khuôn mặt hom hem của ông, tôi phán đoán rằng khả năng lớn là ông ấy mắc bệnh đau dạ dày. Ông cụ nói:
”Lần này cậu lại đoán chuẩn rồi, không sai, tôi có bệnh đau dạ dày, nhưng bệnh đau dạ dày này xảy đến rất kì quái, nó luôn đau đúng một thời điểm, bình thường ban ngày không đau, nhưng cứ đến đúng 3 giờ đêm thì nó bắt đầu tác quái, liên tục đau cho đến đúng 4 giờ thì không đau nữa, sau 4 giờ thì hoàn toàn như người bình thường, có thể ăn uống và làm việc như không hề có bệnh. Nhưng cứ đến 3 giờ đêm thì nó lại đau, đau liên tục cho đến 4 giờ thì dừng, đêm nào cũng như thế. Cái đau này không thể chịu nổi, giống như địa ngục sống tại trần gian, thật sự là muốn tự sát cho xong. Bác sĩ đã khám hết rồi, cứ đến 3 giờ là phải tiêm thuốc giảm đau, nếu có một hôm nào mà không tiêm thì đau kinh khủng. Nói thật là cả cuộc đời tôi không tin vào quỷ thần, hôm nay đến tìm cậu là lần đầu tiên trong đời tôi.”
”Đau dạ dày từ 3 giờ đến 4 giờ đúng là kì quái! Kì quái! Ngay cả đau mà cũng có tính thời gian, đây là lần đầu tiên cháu nghe thấy.” 

Tôi hướng về thần minh cầu chỉ thị, trong mắt tôi lại nhìn thấy ngọn núi trồng đầy đu đủ ấy. Tôi lại nhìn thấy trong rừng cây đu đủ có thấp thoáng xuất hiện một ngôi mộ, trên bia mộ khắc chữ, mấy chữ đầu ghép lại thành “Hiển Tỉ Tô Công”. Thế là tôi hỏi:
”Trên núi của cụ có một ngôi mộ à?”
”Đúng vậy, khi tôi mới mua ngọn núi này thì đã có một ngôi mộ, ngôi mộ đó đã bị đổ vỡ từ lâu, không có ai tu sửa, mấy năm nay tôi không hề nhìn thấy có con cháu nào đến tảo mộ.”
”Người trong ngôi mộ ấy họ Tô à?”
Cụ già giật nảy mình:
”Sao cậu biết được?”
”Đây chính là linh cơ thần toán.” - Tôi khẽ cười.

Thông qua kết quả linh cơ thần toán của tôi thì là như thế này: cụ già trồng cây đu đủ ở trên núi, cây đu đủ dần dần cao lớn, xung quanh ngôi mộ trồng dày đặc cây đu đủ, rễ cây to và thô đã đâm vào bên trong ngôi mộ khiến cho xi-măng căng và nứt ra, đồng thời cây đu đủ còn đâm vào quan tài và quấn vào thi thể, còn ông Tô Công kia chết chính là vì bệnh đau dạ dày mà chết.

Sau khi tìm ra nguyên nhân bệnh đau dạ dày của Quách lão tiên sinh, ông Quách nửa tin nửa không tin, còn tôi thì kê phương thuốc như sau: chuẩn bị hoa quả và nước chè xanh cúng trước mộ Tô Công, trình bày lỗi sai của mình, đồng thời trùng tu lại ngôi mộ, gom linh cốt lại từ đầu để cho vào trong hũ cốt, rồi lại đặt vào trong phần mộ mới, như thế bệnh đau dạ dày chắc chắn có thể không thuốc mà khỏi. Ông Quách vì đã chữa bệnh lâu chưa khỏi nên cũng chỉ còn cách làm theo phương thuốc kì quái của tôi. Vì bệnh đau dạ dày này mà ông ấy đã tiêu tốn hơn trăm nghìn tệ rồi, còn việc trùng tu lại ngôi mộ chẳng qua chỉ tốn vài nghìn tệ mà thôi, thế là ông ấy làm theo. Người bốc mộ phát hiện ra rễ cây đu đủ quả nhiên đã quấn chặt lấy linh cốt.

Làm xong ngôi mộ mới, linh cốt được cho vào hũ, dạ dày của ông Quách kể từ đó không những không đau mà ông còn ngủ rất ngon nữa. Ngày ông không còn bị đau nữa chính là ngày linh cốt được nhặt và cho vào hũ (tục gọi là ngày tiến kim). Kể từ đó người hoàn toàn khỏe mạnh như trước, sắc mặt dần dần hồng hào. Ông cụ vốn là một người khỏe mạnh, cả đời rất ít khi mắc bệnh. Sau khi khỏi bệnh, ông dẫn theo cô cháu gái xinh xắn đến tìm tôi, hỏi: 
”Tiên sinh muốn tôi đáp tạ cái gì? Chỉ cần tiên sinh nói ra thì tôi sẽ làm được.”
”Được rồi, nếu cháu nói ra thì ông phải giữ lời đó.”
”Đương nhiên, bao nhiêu tiền tôi cũng không quan tâm!”
”Cháu không cần tiền của cụ, cháu chỉ xin cụ mỗi ngày vào buổi sáng sớm thì niệm một trăm lần câu Nam mô A Di Đà Phật.” - Tôi cười nói.
”Niệm Phật à, cái này… Cậu không lấy tiền của tôi à!”
Cháu gái cụ ở bên cạnh nói:
”Ông à, niệm Phật rất đơn giản, ông hãy đồng ý đi! Mục đích của Lư tiên sinh đây chính là giúp người cứu đời, tiên sinh giúp người ta đoán mệnh không phải là để lấy phong bì đâu, trả tiền cho tiên sinh mới là sỉ nhục tiên sinh đó!”
”Đúng vậy, công đức niệm Phật không nhỏ đâu, chúng ta nên tích công đức tại cõi trời.” - Tôi nói.

Ông cụ nghe lời tôi, cuối cùng quỳ xuống lạy Phật, đồng thời bằng lòng niệm Phật lễ Phật, rồi ông ấy luôn miệng cảm ơn và ra về. 

Có lẽ trong thời đại khoa học này, rất nhiều người sẽ không tin những câu chuyện có thật mà tôi viết ra, cho rằng chỉ là sự trùng hợp mà thôi. Bản thân tôi cũng không hề nhất định là người ta phải tin tôi, tin hay không tin là do bạn, thế nhưng nếu nói là trùng hợp thì sự trùng hợp của linh cơ thần toán ở con người tôi thật sự là quá nhiều đó. 


### 36. Cái tay của tín đồ Cơ Đốc


Ông Nhan Vân Bằng là nhân viên ở Công ty Điện Lực Đài Loan, là đồng nghiệp với bố tôi. Có một lần ông Nhan đưa bà Nhan đến nhà tôi, vừa đến nhà tôi thì họ đã nhìn thấy Phật đường ở trong nhà. Bản thân Nhan Vân Bằng chưa bao giờ nhiệt tình với tôn giáo, tốt nghiệp đại học xong ông từng ra nước ngoài, là phần tử trí thức. Thế nhưng vợ ông ấy lại khác, bà tốt nghiệp trường trung học nữ sinh Trường Dung ở Đài Loan, trường trung học nữ sinh là trường học của giáo hội Cơ Đốc giáo, bà Nhan lại còn là người chủ trì của hội giáo Cơ Đốc, chủ nhật hàng tuần đều ôm quyển Kinh Thánh đến nhà thờ, trước nay chưa từng gián đoạn, bà ấy là một tín đồ đạo Cơ Đốc ngoan đạo. 

Bà Nhan nói:
”Tôi không tin những điều này, tôi là tín đồ Cơ Đốc giáo.”
”Bà từng nghiên cứu về Phật giáo chưa? Bà đã từng hiểu gì về Phật giáo chưa? Bà chưa thể hiểu thì đương nhiên bà sẽ không tin rồi.”
”Tôi chỉ biết Phật giáo là thờ cúng tượng, là tà giáo, là ma quỷ, Thượng Đế là vị thần duy nhất, tin Cơ Đốc có thể lên thiên đường, còn lễ tượng thì nhất định sẽ phải xuống địa ngục.”
”Theo như bà nói thì tôi là người xấu rồi, là đồ đệ của ma quỷ, bởi vì chúng tôi tin Phật, Phật cũng có tinh thần của Phật đó!” - Tôi nói.
Bà Nhan áy náy nói: 
”Đương nhiên cậu không phải là người xấu, cũng không phải là môn đồ của ma quỷ, là tôi nói người bình thường. Phật giáo có tinh thần của Phật giáo, thế nhưng tôi không muốn học tập.”

Ông Nhan Vân Bằng chỉ cười cười không nói gì, ông ấy nhờ tôi hỏi xem sự nghiệp tiền đồ của ông ấy, thế rồi tôi lần lượt đoán ra hết sự nghiệp của mấy anh em của ông Nhan, sự chuẩn xác khiến bà Nhan đứng bên cạnh cũng cảm thấy kinh ngạc.
”Một người em ruột của ông ở Tân Hóa, Đài Nam làm cảnh sát đúng không?”
”Đúng, trong quá khứ nó có sức khỏe tốt, đã từng học võ Judo, nhưng gần đây sức khỏe nó lại sa sút, không biết là nó mắc bệnh gì?”
Ông Nhan hỏi tôi, bà Nhan đứng ở bên cạnh cúi đầu cười, bà ấy cho rằng một người làm cảnh sát ở Tân Hóa Đài Nam thì làm sao mà tôi đoán ra bệnh gì được. Thế nhưng tôi liền mặc niệm, thỉnh linh chú, sau đó cung thỉnh chỉ thị, tôi nói: 
”Bệnh lao phổi.”
Nhan Vân Bằng và bà Nhan ngoảnh mặt nhìn nhau, bởi vì em trai của ông Nhan đúng là bị bệnh lao phổi. Ông Nhan gật gật đầu khó hiểu, bà Nhan thì không cười được nữa. Bà Nhan chỉ vào một bức tượng Phật hỏi:
”Kia là Phật gì?”
”Dược Sư Lưu Li Quang Vương Phật.”
”Thế còn kia là Phật gì?”
”Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Như Lai.”
”Vị kia là Phật gì?”
”Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”

Tay bà ấy chỉ hết vị này đến vị khác, chỉ qua hết hàng này đến hàng kia. Lúc này Nhan Vân Bằng nói:
”Này, đừng có dùng tay chỉ trỏ vào các vị mà hỏi, thật không có lễ phép gì cả.” 

Nói ra kể cũng kì lạ, ông Nhan còn chưa dứt lời thì trong nháy mắt, cái tay kia của bà Nhan tự động giơ lên cao, cùng với cái tay đang chỉ trỏ của bà ấy chắp lại, trở thành tư thế chắp tay, tiếp đó đầu bà ấy cúi gập 90 độ, ngẩng lên cúi xuống, liên tục không ngừng. Hai tay của bà Nhan không có cách nào tách ra được, đồng thời thân người cũng ngẩng lên cúi xuống không ngừng, bộ dạng cực kì giống lạy Phật, nhưng có phần hơi quá thành kính, bởi vì người gập lên gập xuống, tay đưa lên đưa xuống với tốc độ rất nhanh. Bà Nhan kêu lên:
”Ối! Ối! Không dừng lại được, không dừng lại được, không dừng lại được rồi!” 
Ông Nhan thì sợ đến ngây người ra.

Tôi đứng bên cạnh vận linh đến mắt nhìn thì nhìn thấy hai vị tiểu thần, một vị là Trung Đàn Nguyên Soái Na Tra Tam Thái Tử, một vị là Trung Đàn Phó Nguyên Soái Kim Tra Nhị Thái Tử. Một vị nhảy lên không trung, hai tay đè lấy cái cổ của bà Nhan, khiến cho đầu bà ấy ngẩng lên cúi xuống, một vị thì ôm chặt lấy tay của bà Nhan và cũng kéo lên kéo xuống, vì thế người và tay của bà Nhan đều không dừng lại được. Tôi lại nhìn thấy hai con mắt của Mi Châu Thiên Thượng Thánh Mẫu phóng ra một vệt tinh quang kéo sụp da mắt của bà Nhan, lúc này bà Nhan kêu lên:
”Hai mắt tôi không mở ra được, hai mắt không mở ra được.”

Tôi nói:
”Bà muốn người dừng lắc lư, tay dừng lắc lư, da mắt lại mở ra được thì chỉ cần trong lòng nói thầm rằng: xin tha thứ cho tôi bất kính, xin tha thứ cho tôi bất kính, xin tha thứ cho tôi bất kính, nói ba lần là được, sau khi dừng thì lại cúi lạy năm lần là được.” 
Bà ấy làm theo lời tôi, quả nhiên tất cả đều dừng lại.
Bà ấy thở dài một hơi:
”Hầy! Quả nhiên đúng là có nhỉ! Hôm nay chúng tôi cố ý đến để thăm dò, quả nhiên là có thật, quả nhiên có thật.”

Kể từ đó bà Nhan không dám coi thường thần minh của nhà tôi nữa. Sau này mỗi lần đến nhà tôi, mặc dù bà ấy là một tín đồ Cơ Đốc, nhưng tay bà ấy cũng biết chắp lại, không cầm hương nhưng cũng cúi lạy một cách tượng trưng. Bà ấy nói:
”Thần minh linh cảm như thế, cả đời tôi lần đầu tiên cảm thấy, đúng là thật, đúng là thật.”
Sau này Nhan Vân Bằng và bà Nhan cũng trở thành hai người có hoạt linh.

(Phụ lục: Diêu Trì Kim Mẫu ở Lôi Tạng Tự từng phân linh đến nam Đài Trung, đến một nơi gọi là Từ Huệ Nam Dương Đường. Lại Nghĩa Hùng trụ trì của Phật đường đó là một tín đồ Phật giáo kiền thành đã nghênh đón kim thân trở về. Bố của Lại Nghĩa Hùng cũng không có tín ngưỡng, thường xuyên uống rượu, khi mà tửu khí xung thiên thì nói những lời lèm bèm ở trong Phật đường, chẳng có lễ nghĩa gì cả. Có một lần, bố của Lại Nghĩa Hùng cũng quỳ xuống đất không đứng dậy được, rập đầu chạm đất mạnh đến nỗi da đầu chảy máu, phải nhờ có Lại Nghĩa Hùng và mẹ ông ấy quỳ xuống cầu thần tha thứ cho tội vô tri thì mới thôi. Kể từ đó bố của ông ấy mới không dám coi thường uy linh của Diêu Trì Kim Mẫu, ra vào Phật đường đều phải trang phục chỉnh tề, lễ độ cung kính, đây chính là kính thần như có thần ở đó, trong cõi vô hình tự có thần quân giám sát, không thể coi thường sức mạnh của linh. Thần Phật vốn từ bi, khoan hồng đại lượng, nhưng không được mạo phạm quá đáng, nếu sỉ nhục quá đà thì Hộ Pháp Thần sẽ không thể trơ mắt thờ ơ lãnh đạm nữa. Theo tôi nhận thấy, tôn giáo có rất nhiều, Phật cũng mở ra tám vạn bốn nghìn pháp môn, tuyên thuyết tám vạn bốn nghìn mật pháp, đó là phương tiện tác pháp phổ độ chúng sinh. Tôn giáo mặc dù nhiều nhưng tôn chỉ thì đều tương tự như nhau, còn con người thì luôn luôn tự cho rằng tín ngưỡng mà mình tin mới là chính giáo, còn những cái khác đều là tà giáo. Ví dụ như Thiên Chúa giáo coi Cơ Đốc giáo là tà, Cơ Đốc giáo coi Thiên Chúa giáo là không hợp giáo lí, sự bất đồng ý kiến giữa người với người này chẳng phải là điều mà năm xưa khi Jesus Christ bị đóng đinh trên thập tự giá có thể tưởng tượng được!)


### 37. Ra vào mười pháp giới


“Cái gọi là *chân nhân* chính là nói tất cả đều là huyễn là giả.” Đây là một câu nói trong “Tâm Đăng Lục”. Còn nói: “*Chân nhân* thông suốt mười phương, đi khắp pháp giới, ẩn và vô hình vô tướng, khi hiện thì biến hóa khó lường. Thập phương Như Lai chính là *chân nhân* đó. Hai mươi vị tổ cũng chính là *chân nhân* đó. Tất cả Đại Bồ Tát, các Bồ Tát và Bích Chi Duyên Giác Thanh Văn cũng là *chân nhân* đó. Đông Thổ lục đại tổ sư và các thiền sư nhiều đời cũng là *chân nhân* đó. Tất cả thiên ma ngoại đạo, atula, cũng là từ *chân nhân* đó hóa hiện ra. Thiên Đế của các cõi trời cũng là *chân nhân* đó mà ra. Tất cả chim muông, tất cả thú vật, chính là sự luân chuyển của *chân nhân* đó. Còn như ngạ quỷ, địa ngục chính là sự trầm xuống của *chân nhân* đó. Trong mười pháp giới này có giới nào mà không phải là do hành vi của *chân nhân* đó mà thành.”

“*Chân nhân* đó thần thông quảng đại, bất khả tư nghì, khi hành vi là ác thì tạo ra tướng ngạ quỷ, địa ngục, súc sinh. Khi hành vi là thiện thì tạo ra thiên đường, hiện tướng của 33 cõi trời. Có hành vi thiện ác lẫn lộn thì tạo ra tướng giàu nghèo sướng khổ ở thế gian. Có hành vi tu thiện nhưng không từ bỏ sân hận thì tạo ra tướng thiên ma atula. Có hành vi tu hành lập pháp ngoài tâm thì tạo ra tướng ngoại đạo. Có hành vi thanh tịnh lánh đời thì tạo ra tướng Tiểu thừa. Có hành vi độ mình độ người thì tạo ra tướng Bồ Tát Đại thừa. Có thể trở về với diện mạo vốn có thì thành Phật ngồi ngay ngắn, trọn cả ngày thuyết pháp, nhưng lại không có pháp nào có thể thuyết, cả ngày độ chúng sinh nhưng không có chúng sinh nào mà độ, có 80 vẻ đẹp, tạo ra 32 tướng tốt. *Chân nhân* đó có thần thông biến hóa như vậy, không thể dùng lời lẽ để mô tả hay để thấy được, này trí giả, trong mười pháp giới, *chân nhân* đó tùy ý lựa chọn như thế mà hóa hiện hành vi.”

[”Chân nhân” ở đây là sự hóa hiện nhậm vận của tự tính, của bản lai diện mục mà thành, không chỗ nào là không tồn tại, bao trùm mọi cõi giới, phủ kín mọi hành năng.]

Có người từng kể với tôi ở một ngọn núi kia có một ngôi miếu nhỏ, linh khí đặc biệt dày, có việc thỉnh cầu ngài thì đều linh ứng. Thế là tôi tò mò đến ngôi miếu nhỏ đó, sau miếu này toàn là mồ mả, trên cổng miếu có khắc ba chữ “Hữu Ứng Công”. Miếu nhỏ và tồi tàn, nhưng hương hỏa thì nghi ngút, tôi vừa thấy là Hữu Ứng Công thì nghĩ rằng đó là miếu hoang của cô hồn dã quỷ. Lư Thắng Ngạn tôi không thèm đi thăm viếng cô hồn dã quỷ, thế là tôi quay người đang định xuống núi, chẳng ngờ bên trong có âm thanh truyền đến:
”Liên Sinh, bỏ đi đâu vậy?”
”Người nào biết Lư Thắng Ngạn tôi đấy?”
”Ta là chủ nhân của miếu Hữu Ứng Công ở núi này, cũng là Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, Liên Sinh không nhận ra ta rồi.”

Tôi vừa nghe đến Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh thì giật nảy mình. Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh là Linh Sư của tôi, là Kim Tiên đại chủ tể Vô sắc giới thiên, sao lại là chủ nhân ở miếu Hữu Ứng Công này. Trong lòng tôi không tin, nhưng cũng đi vào trong ngôi miếu nhỏ cũ kĩ này. Bên trong miếu rất chật chội, khói hương nghi ngút, trên bàn thờ có một bức tượng thần thánh đầu đội mũ triều thiên [loại mũ miện có dáng cao và đồ sộ như mũ của các vị Ngọc Hoàng Tiên Vương], thân khoác áo bào đỏ, trên người có đeo hai thỏi tiền âm, biểu thị rằng thần này là Âm Thần. Tôi chắp tay mở miệng hỏi:
”Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh là Kim Tiên đại chủ tể Vô sắc giới, sao lại là Âm Thần?”
”Liên Sinh chắc từng nghe người ta nói, ta có thể ra vào mười pháp giới, ẩn mình trong một hạt cát hạt bụi, có vạn loại hình tượng, biến thiên đường địa ngục, hóa nghìn vạn triệu tam thế chư Phật, phàm phu không biết ta, người xuất gia thấy hổ thẹn vì ta, sỉ nhục ta, phỉ báng ta, ngay cả thiên tiên, địa tiên, quỷ tiên cũng trốn tránh ta, thế nhưng con không thể không nhận ra ta. Ta chính là Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh đây! Liên Sinh, con vận linh mục nhìn xem.”

Khi tôi vận linh mục, thật sự khiến tôi thở hắt ra một hơi khí lạnh, cảnh tượng trước mắt tôi thật sự khiến người ta kinh ngạc. Ngôi miếu này không ngờ càng biến càng rộng, càng biến càng lớn, cao tít lên tận mây, hơn nữa còn cao hơn cả mây, dưới thì thấp đến tận âm phủ, rộng tới mức che phủ cả bốn, năm ngọn núi. Trước mắt tôi xuất hiện những quái vật vô cùng kì quặc, mặt xanh nanh vàng, có con trên đầu mọc cái sừng dài, có con kéo theo cái đuôi dài, có con ba đầu bốn tay, mặt mày dữ tợn, mắt long lên đầy vẻ hung ác, xếp thành hai hàng. Vị trí ở trên cùng có một quái vật chưa từng thấy bao giờ ngồi ở đó, đầu giống như Phật Tổ mặt mũi hiền từ, trên đầu lại có chín cái đầu, mỗi cái lại có tướng trang nghiêm của Bồ Tát, còn bên dưới cái cổ lại là thân mãng xà, da hiện lên màu xanh lục, mình rắn thô kệch, phát sáng lấp lánh, rắn có móng vuốt sắc như dao, phần thân dưới thì bạnh ra ngồi trên một băng ghế bằng kim loại.

“Linh Sư chính là Kim Tiên Vô sắc giới, không hề có tướng, sao lại nhìn hung dữ như vậy?”
”Liên Sinh, con nhìn lại xem.” - Cái thứ đầu Phật mình rắn đó miệng nói tiếng người.

Lúc này cũng rất kì lạ, ngôi miếu này biến thành to lớn vô hạn, không trung xuất hiện 72 vị thiên thần, 36 vị Phật Bồ Tát, mỗi vị cầm hương hoa đến cúng dường Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh. Chiếc ghế kim loại kia trong sát-na biến thành tòa hoa sen vàng kim, trên tòa hoa sen có một vị Phật Như Lai với đầy đủ 32 tướng trang nghiêm. Đầu tiên hai hàng quái vật hóa thành các Bồ Tát La Hán, hương thơm nồng nàn, khắp cung điện được xây bằng vàng bạc lưu li sáng rực rỡ lấp lánh, pháp ngữ pháp âm tuôn chảy khiến trong lòng người ta trào dâng cảm giác tôn kính vô hạn, hoàn toàn trái ngược với vẻ mờ mịt ma mị ban nãy. 

Tôi nhìn thấy cảnh giới như vậy thì bất giác quỳ xuống, Phật Tổ Như Lai nói:
”Cái gọi là bậc chân nhân, chính là tất cả đều là huyễn đều là giả. Liên Sinh, con phải hiểu được câu này, ta chính là Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, không ai biết ta thần thông xuất nhập thập pháp giới, tất cả do ta tạo ra, tất cả do ta làm, không chướng ngại, tùy tâm mà biến hóa, tùy ý nguyện mà hóa thân ra các hình tướng.”
”Linh Sư, thế nào mới là mục đích tu đạo?”
”Trở về diện mạo vốn có.” 
Lại nói:
”Liên Sinh, ở trong miếu này, bên dưới bàn thờ thần Hữu Ứng Công có một miếng vải rách có bọc một ấn thần bằng gỗ, không được coi thường ấn này, con có thể đem về nhà, ấn này có thể làm bảo ấn trấn chùa cho Từ Huệ Lôi Tạng Tự, đây cũng chính là mục đích mà ngày hôm nay con đến ngôi miếu này. Ấn này chính là Lôi Phách Lục Giáp Thần Ấn, nếu con có được ấn này thì cũng giống như bậc thượng thiên có đức hiếu sinh [đức hiếu sinh là lòng thương yêu tất cả những sự vật đang sống trong môi trường sống], hãy trân trọng sử dụng, lợi ích lớn lắm!”
”Linh Sư, ấn thần có hiệu lực gì?”
”Lục Giáp Thần Ấn chính là ấn được truyền từ Đông Hoa Đại Đế Quân ngày xưa. Bậc thượng sĩ có được ấn này thì cưỡi mây bay lên trời, bậc trung sĩ có được ấn này thì quỷ thần kinh sợ, bậc hạ sĩ có được ấn này thì cai quản đất nước an định. Có thể sai khiến thần Lục Giáp Lục Đinh, Thiên Du Thập Nhị Khê Nữ, Na Diên Ngũ Thiên Nữ, Hỏa Quang Đại Tướng, Phù Hải Đại Tướng, Hống Phong Đại Tướng. Liên Sinh, nếu con có được ấn này, tuyệt đối phải sử dụng cẩn thận, sau khi con đi thì không được quay lại ngôi miếu nhỏ này nữa, miếu nhỏ này là nơi linh khí của ta tạm làm chỗ dừng chân, cũng là vì trọng trách giao phó ấn thần này. Lục Giáp Thần Ấn giấu tại miếu Hữu Ứng Công cũng khiến cho miếu này có đại linh lực và các thần bảo vệ, con có được ấn này cũng là bởi nhân duyên khiến cho như thế. Miếu nhỏ này từ nay về sau linh khí sẽ tản mát, ta cũng rời đi, nó sẽ thật sự trở thành thế giới của ma quỷ, cái này chính là thiên cơ, không thể không biết.”

Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh nói xong thì ngôi miếu to lớn vô hạn biến mất, Chư Phật Bồ Tát đều biến mất, nó trở lại là một ngôi miếu cũ kĩ. Tôi cúi đầu xuống, đưa tay vào tìm ở bên dưới bàn thờ thần, bên dưới bàn thờ tối om om, sờ một lúc thì quả nhiên có một ấn gỗ được gói trong miếng vải rách. Tôi mở lớp vải ra thấy ấn rất cũ, dường như đã bị bỏ ở dưới bàn thờ thần rất lâu rồi. Tôi cúi chào Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh rồi rời khỏi ngôi miếu nhỏ đi xuống núi.

Sau khi về nhà, tôi dùng nước sạch để rửa những vết mốc xanh ở trên ấn rồi thờ trước Diêu Trì Kim Mẫu. Đây chính là nguồn gốc của Lục Giáp Thần Ấn ở nhà tôi.


### 38. Bí ẩn của cờ lệnh đen


Người bình thường đều biết và cũng đều từng nhìn thấy cái gọi là cờ lệnh đen, nhưng lại không hiểu ý nghĩa và mục đích của nó. Có người bạn thân biết tôi viết cuốn “Mạn đàm linh cơ thần toán” đã bảo tôi viết ra bí mật của cờ lệnh đen để mọi người đỡ phải tò mò mỗi khi nhìn thấy sau chùa hoặc trước chùa có một cột cờ treo vải đen tung bay thì không biết như thế để làm gì, có công dụng gì, vì thế tôi liền viết ra, cũng xem như là kể thêm.

Người bình thường đều nghĩ thế này, quốc gia có quốc kì, và thần thì cũng phải có cờ, và cờ lệnh đen chính là cờ của thần. Giải thích như thế này là đúng rồi, cờ lệnh đen chính là cờ của thần, cắm ở trước hoặc sau chùa, bay bay trong gió, tượng trưng cho đất này có thần minh trấn ở đây. Thần linh tại không trung đến đến đi đi, tự nhiên sẽ có sự qua lại với nhau. Đối với những ngôi chùa lớn thông thường không có cờ lệnh đen, thần linh chính là ba ông Phúc Lộc Thọ hoặc là tháp thất bảo. Cờ lệnh đen ngoài dùng làm cờ của thần ra đại thể còn có ba công dụng, tác giả đặc biệt lần lượt trình bày như sau:

Thứ nhất, dùng để thỉnh thần điều chuyển thần. Nếu chúng ta muốn thỉnh thần thỉnh linh thì thắp một nén hương, quay mặt về cờ lệnh đen cầu nguyện, cắm hương chỗ cờ lệnh đen, hiệu quả của nó sẽ nhanh hơn người bình thường thỉnh thần. Có một số người trong nghề còn cúng ba tách trà thơm bên dưới cờ lệnh đen, đó là để cho các thần linh qua lại dùng uống, cho nên cờ lệnh đen có công dụng thỉnh thần điều chuyển thần. Trước chùa hoặc sau chùa nếu cắm cờ lệnh đen thì nhất thiết phải giữ gìn xung quanh sạch sẽ, không được tùy tiện để cho những bàn tay bất tịnh sờ vào, như thế là đại bất kính. Nếu treo phù hoặc dán phù trên cờ lệnh đen thì có thể dùng phù thỉnh tiên hay phù khai đường đều được. 

Thứ hai, dùng để an binh mã ngũ doanh. Thần đàn hoặc miếu ngày xưa có người đứng đầu ngũ doanh và binh mã ngũ doanh, nên mới có cái gọi là năm doanh trại ở trước sau trái phải trung tâm. Bất kể là thiên binh thiên tướng hay âm binh âm tướng đều có thể an ở phía trên cờ lệnh đen. Nếu an thiên binh thiên tướng, có thể dùng hỉ kim ngũ sắc, an âm binh âm tướng có thể dùng cọc tiền kim loại. Chúng ta sẽ biết ngay rằng đây là cờ lệnh đen để an binh mã ngũ doanh, như thế có thể thờ cúng thay thế cho cờ ngũ linh và ảnh thần ngũ doanh tướng quân kiểu cũ. Cờ ngũ linh phân thành năm màu sắc là trắng, vàng, xanh, đỏ, đen, màu trắng chính là Thiên Binh Thiên Tướng, màu đỏ là Lôi Bộ Chính Thần, màu vàng là Thập Đại Nguyên Soái, màu xanh là Hộ Pháp Thần Binh, màu đen là Âm Binh Âm Tướng. Cũng có người dùng màu đen để phụng thỉnh Lục Đinh Lục Giáp Thần, tác dụng đều như nhau, binh mã ngũ doanh có công dụng bảo vệ đàn thành và điều tra.

Thứ ba, công dụng dẫn đường và tịnh hóa. Kiệu thần của thần minh thông thường đi tuần thì những nơi mà kiệu đi qua, đại bộ phận là dùng cờ lệnh đen để quét qua và dẫn đường. Ý nghĩa chủ yếu là xua đuổi tất cả linh tà, khiến mọi tà uế không quấy rầy việc đi tuần của thần minh, cho nên cờ lệnh đen luôn luôn do một người cầm, đi ở trước kiệu thần vẫy qua vẫy lại, đây chính là dẫn đường và tịnh hóa.

Cách làm cờ lệnh đen là dùng một que trúc, một miếng vải màu đen hình vuông hoặc hình tam giác đều được. Có người vẽ phù thỉnh tiên hoặc phù tịnh hóa lên trên vải đen, cũng có người chỉ viết một chữ “Lệnh”. Que trúc và vải đen phải được “sắc lệnh hóa” xong mới có thể dùng. Cờ lệnh đen cũng có thể nói là cờ linh, tác giả cho rằng việc an trí cờ lệnh đen nên làm ở Thắng An Cung ở Hoa Liên - là miếu của Vương Mẫu Nương Nương, là tốt nhất. Sắc lệnh hóa cờ lệnh là việc quan trọng nhất, thường linh lực của một cây cờ lệnh là dựa vào lực sắc lệnh hóa lớn nhỏ mà ra được uy lực của cờ lệnh đen, đây là điều hết sức quan trọng.

Tại đây, tôi nói cho các vị biết một bí mật về âm binh âm tướng của cờ lệnh đen. Linh lực tốt nhất có thể triệu thỉnh là tiên linh của những khu nghĩa trang liệt sĩ, hoặc tiên linh của những ngôi mộ người dân chính nghĩa. Cờ có linh lực kém hơn thì có thể triệu thỉnh âm binh âm tướng của Ông Vạn Thiện, Ông Bách Tính, Ông Hữu Ứng, cờ lệnh hạng thấp nhất thì có thể triệu thỉnh linh của cô hồn dã quỷ, linh của tổ tiên hoặc thần tại gia.

Tuy vậy, có một dạng linh lực của cờ lệnh đen không thể coi thường, đó chính là hồn phách của những người trẻ tuổi mất mạng vì tai nạn xe cộ, nếu có thể thỉnh họ đến thì linh lực của cờ lệnh đen này thật sự phải nói là không thể xem nhẹ, bởi vì linh lực của những người chết trẻ rất hoạt bát và đầy tiềm lực. Pháp này là dùng bảy tờ giấy tiền vàng mã, hễ thấy có người chết vì tai nạn xe cộ thì lập tức dùng giấy vàng mã thấm vào máu chảy trên mặt đất, sau đó đem giấy vàng mã này thờ cúng tại linh đường trong nhà mình, khi lấy thì niệm chú triệu hồn, đồng thời cúng dường sau 49 ngày thì đem bảy tờ giấy vàng mã đã thấm máu này dùng lửa hóa đốt, đem cờ lệnh đen đã được sắc lệnh hóa phe phẩy trên lửa là được. Chú triệu hồn là: “Quỷ thần quỷ thần quỷ kiến quỷ, ngô kim sắc nhĩ truy tùy ngô, cận báo họa phúc viễn báo hành nhân, linh cơ thần toán thông thiên địa, lệnh chỉ nhất hạ tốc tốc quy lai, cấp cấp như Thái Thượng Lão Quân luật lệnh cang.”

Từng có một lần tôi đến Thánh Minh Cung ở Đài Trung, vị trụ trì ở đó thân quen với tôi. Tôi vừa đến cổng cung thì thấy một người đứng dưới cờ lệnh đen, trên cổ có những vết máu, đầu vẹo, hai mắt lồi ra, lưỡi thè ra, không động đậy gì cả. Tôi vội bước vào trong, trụ trì ngồi trước thần tọa trò chuyện cùng với mấy người. Họ vừa nhìn thấy tôi vội vội vàng vàng đi vào thì hỏi: 
”Lão Lư làm gì mà vội vội vàng vàng thế?”
”Ông thờ cờ lệnh đen phải không?”
”Đúng rồi! Có chuyện gì?”
”Thờ cờ lệnh đen thì sẽ gọi vong hồn, nhưng ông lại không tịnh thân cho vong hồn, toàn thân họ lấm lem máu đang đứng dưới cờ lệnh kia, ai nhìn thấy cũng đều sợ, ông làm cái kiểu gì đấy?”
”Cậu nhìn thấy à?” - Một người trong số đó hỏi.
”Lời của lão Lư không thể không tin, cậu ta có con mắt âm dương đó, vừa nãy quả nhiên chúng ta đã bỏ sót thủ tục làm thanh tịnh thân thể của vong hồn, để tôi đốt mấy lá phù thanh tịnh, thỉnh lão Lư giúp chúng tôi làm thanh tịnh là được.” - Trụ trì nói.

Tôi gật đầu, tôi nghe thấy mấy người nói chuyện thì thầm:
”Chúng ta thờ cờ lệnh đen để triệu thỉnh những vong hồn mất mạng vì tai nạn xe cộ, anh bạn trẻ tuổi này quả nhiên vừa bước vào cổng cung đã biết rồi.”
”Có thể thấy là linh hồn có thật, không thể không tin.”
”Anh vẫn không tin à?”
”Căn bản là tôi không nhìn thấy thì có cũng thế mà không có cũng thế.”


### 39. Thần toán nhờ linh và trị liệu nhờ linh


Ông Chu Nghĩa Long làm việc cho một công ty nọ, học thức không tệ, là người trung hậu, được cấp dưới cung kính, tuổi khoảng 50. Mỗi lần ông ấy nhờ tôi xem việc quá khứ hoặc tương lai thì lần nào cũng linh nghiệm, bao gồm tuổi thọ của bố ông ấy khi cụ rời cõi nhân gian, nói sống là sống, nói chết là chết, không có một chút sai lệch nào.

Có một hôm, Chu Nghĩa Long đến chỗ tôi, ông ấy nói:
”Thắng Ngạn, cậu xem giúp tôi một chút, gần đây các đốt sống eo của tôi đau nhức lắm, tôi đã khám nhiều bác sĩ rồi, cũng uống nhiều thuốc rồi, lúc mới uống thuốc thì đỡ một chút, nhưng khi thuốc hết hiệu lực thì lại đau. Loại thuốc nào tôi cũng đều uống qua rồi, từ đầu tới cuối mấy đốt sống eo của tôi vẫn không có cách nào ngừng đau buốt, thật sự mệt mỏi, cậu có cách gì khiến tôi hết đau không?”

Thế là tôi liền giúp ông ấy làm thần thuật tính toán, không ngờ xuất hiện một chữ “âm”. Bởi vậy tôi nhắm mắt niệm chú, vận dụng phương pháp thần toán nhờ linh để tôi có thể giao tiếp với linh của ngoại giới, kết quả là tôi có được kết luận như sau: “Mẹ của Chu Nghĩa Long trước khi sinh ra ông ấy thì ông ấy còn có một người chị gái, nhưng người chị gái này không may đã chết khi mới 2 tuổi. Bởi vì thọ nguyên chưa hết nên linh hồn cứ lang thang khắp nơi, không chỗ nương thân, cuối cùng bà ấy tìm đến Chu Nghĩa Long. Bệnh đau đốt sống eo chỉ là do bà ấy ra ám thị cho ông Chu, tức là một ám thị để cầu cứu ông ấy mà thôi, mục đích chủ yếu là hi vọng Chu Nghĩa Long tụng kinh siêu độ cho bà ấy. Mặc dù bà ấy là vong hồn, nhưng lại hiểu rằng khi ông ấy đau tới mức không còn cách nào nữa thì nhất định phải đến chỗ tôi mới có thể giải quyết được.”

Thế là tôi hỏi ông ấy: 
”Mẹ của ông từng sinh ra một đứa con gái, nhưng 2 tuổi thì đã qua đời đúng không?”
Ông ấy đáp:
”Tôi chưa nghe nói bao giờ, khả năng là không có đâu! Bởi vì tôi có rất nhiều anh chị em, người nào cũng còn sống cả, không có ai qua đời.”
”Liệu ông có thể hỏi thử mẹ ông không, bây giờ bà ấy sống ở đâu?”
”Bà ấy sống ở Đài Bắc, tôi gọi điện thoại đường dài cho bà ấy là biết thôi, giả dụ là có thì tôi lại đến tìm cậu.” 
Mẹ ông Chu đã hơn 80 tuổi, sống tại Cựu Thố, Đài Bắc.

Chưa được mấy hôm, ông Chu lại đến, ông ấy nói:
”Đúng là cậu đoán cực chuẩn, tôi gọi điện thoại đường dài liên lạc với mẹ tôi, mẹ tôi nói quả nhiên là tôi có một người chị gái 2 tuổi vì mắc bệnh mà chết yểu. Mấy anh chị em tôi không có ai biết việc này, ngay cả chính bản thân tôi cũng không biết, thế bây giờ phải làm thế nào?”
Tôi bảo ông ấy:
”Pháp hội siêu độ ngày hôm nay của Từ Huệ Lôi Tạng Tự đã xong rồi, nhưng chùa Từ Âm ở Đài Trung thì vừa mới tiến hành pháp hội siêu độ, tụng kinh lễ sám. Ông đi qua bên đó báo danh, nhớ viết họ tên của đứa bé gái 2 tuổi này, ngày chết, địa điểm chết, như thế là được rồi. Tôi đảm bảo thu xếp xong việc này thì đốt sống eo đau nhức của ông sẽ khỏi lập tức.”
”Được rồi, tôi sẽ đi làm như vậy.”

Nói ra thì thần kì lắm, không có thủ tục gì, cũng không có nghi thức gì, không cần tốn rất rất nhiều tiền, chẳng bao lâu, đốt sống eo đau nhức của ông Chu Nghĩa Long đã khỏi hẳn, hoàn hảo và hoàn mĩ, đau một chút xíu cũng không còn, đây chẳng phải là kì tích sao? 

Tôi chứng minh thêm: Vợ ông Chu hiện tại kinh doanh cửa hàng cắt may đồ tây Xảo Tư, làm ăn phát đạt trên khắp cả nước, tài nguyên đổ về ào ào như nước sông. Cái tên “Xảo Tư” và ngày khai trương cửa hàng chính là do tác giả chọn tên và chọn ngày, ngày lại là ngày “hung thần trực nhật, không thích hợp làm mọi việc”. Thế nhưng có ai biết được trong cái ngày không thích hợp làm mọi việc này, chỉ có lúc 6 giờ sáng là thời điểm tốt cực kì khó tìm trong một năm. Cửa tiệm cắt may đồ tây đó mở trên đường Kiến Hành, bên cạnh đường cái của chùa Bảo Giác ở Đài Trung, hoan nghênh mọi người đến với cửa tiệm cắt may đồ tây này để may âu phục, nhân thể thăm dò thực hư về tác giả, vô cùng hoan nghênh đến đó.

Lại nói, có một buổi chạng vạng, khoảng 7 giờ, tôi đang đứng trước cổng nhà tôi, bỗng nhiên một chiếc xe taxi phóng nhanh đến trước cửa nhà tôi rồi phanh “két” một tiếng và dừng lại. Có hai người phụ nữ dìu một cô gái trẻ, cô gái trẻ ấy đã hôn mê bất tỉnh, hai người phụ nữ vội vàng khiêng cô gái trẻ đó xông vào nhà tôi. Khi ấy tôi hoảng hốt vội hỏi:
”Có chuyện gì thế này?”
”Xin hỏi thầy Lư Thắng Ngạn có ở nhà không?”
”Là tôi đây.”

Tôi nói đầy hoang mang, hai người phụ nữ này tôi chẳng hề quen biết, cô gái trẻ kia thì sắc mặt trắng bệch như tờ giấy, sinh khí thì mỏng như sợi tơ, e rằng tình hình đã xấu lắm rồi! Thế nhưng tôi vẫn để cho họ khiêng vào nhà, có rước phiền phức gì vào thân không thì tôi hoàn toàn không quan tâm, bởi vì cứu một mạng người còn hơn xây tháp Phật bảy tầng mà! Sau sự việc ấy tôi mới nghĩ lại, giả như cô gái trẻ này không cứu được, chết trong nhà tôi thì chắc tôi thảm rồi.

Vừa vào trong nhà, một người phụ nữ là mẹ của cô gái trẻ, bà ấy quỳ trước tôi và liên tục kêu lên: 
”Cậu là cứu tinh, cậu là cứu tinh, mau cứu con gái tôi với.”
Tôi bình tĩnh hỏi bà ấy:
”Bác nghe ai nói là tôi có thể chữa được bệnh của cô ấy?”
”Hàng xóm nói, họ nói cậu chuyên chữa những bệnh không chữa được.”
”Cô ấy đã khám bác sĩ chưa?”
”Khám rồi, bác sĩ trong cả nước đều đã khám rồi, không có người nào chữa khỏi chứng đau đầu của nó, thuốc cũng uống rồi, tiêm cũng tiêm rồi, trị liệu cũng làm rồi, nhưng chữa không khỏi. Hôm nay tôi đưa nó đến bệnh viện, bệnh viện nói nó không xong rồi, nên từ chối chữa trị. Lũ bác sĩ khốn nạn ấy căn bản không hiểu được nguyên nhân bệnh của con gái tôi, bây giờ chữa không được, cũng không muốn khám bệnh tiếp cho nó nữa. Bây giờ tôi đến cầu xin cậu thử xem, năn nỉ cậu! Năn nỉ cậu!”
”Tôi không phải là bác sĩ, tôi chỉ có thể thần toán tâm linh cho bác xem có cứu được không.” - Tôi nói. 
”Cầu xin cậu, cầu xin cậu.” 

Người phụ nữ đó òa khóc nức nở, con gái bà ấy thì nằm yên trên ghế, không hề động đậy.
Tôi ngồi im lặng, chắp tay thỉnh cầu sự thanh tịnh của thế giới linh hồn, vận chuyển tâm linh, kết nối với linh cơ chí cao vô thượng. Thế rồi tôi thỉnh cầu linh chỉ thị thì hiện ra hai câu rất đơn giản: “Cứu được. Cứu được.”
”Dùng cách nào?”
”Thuật trong mơ chữa trị nhờ linh của Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, thời gian một tuần là cứu được.” 
Tôi chắp tay cảm tạ thần linh.

Tôi bảo người phụ nữ kia để lại ngày tháng năm sinh của cô con gái, tóc và móng tay, địa chỉ hiện tại. Cô gái trẻ đó họ Diệp, tên là Mai Phân, sống tại đường Công Viên, Đài Trung, 20 tuổi. Tôi nói với bà ấy, mỗi tối trước khi ngủ, trên đầu giường thắp một nén hương, tôi bảo đảm sau bảy ngày sẽ khỏi bệnh. Hai người phụ nữ đó lại khiêng cô gái trẻ lên xe taxi, nửa tin nửa ngờ cảm ơn tôi rồi ra về.

Thuật trong mơ chữa trị nhờ linh này làm như sau: Tôi dùng một tờ giấy màu vàng, cắt hành hình người cô gái, trên đó viết ngày tháng năm sinh của cô gái đó, địa chỉ và họ tên, rồi ở tại mảnh đất trống, viết bốn chữ “sắc lệnh khỏi bệnh”. Dùng lon đong gạo đựng đầy gạo rồi cắm người giấy này lên đó, sau đó bỏ tóc và móng tay vào trong gạo, tóc và móng tay đại điện cho tinh thần của một con người, người giấy kia thì đại diện cho cô gái đó. Tôi đặt những công cụ này ở trước Thần Phật, sau đó hít vào một hơi khí trong không trung rồi thổi vào người giấy: “Nhất khí hóa tam khí, tam khí trợ nhân sinh, giải trừ nhất thiết ách, mễ lạp thiên thiên vạn, tạng hạ bát vạn bốn nghìn đau khổ, ngô phụng Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn luật lệnh cang.”

Buổi tối vào lúc 12 giờ, tôi thắp một nén hương, cắm lên lon gạo ở trước người giấy, niệm rằng: “Hương hương tương thông, tâm truyền hương pháp, dạ mộng an điềm, linh cơ hiển hiện, bách bệnh khư trừ. Trượng Phật pháp thần uy, thượng chí thương khung, hạ chí u minh, vô vãng bất lợi, vô vãng bất hoàn, bệnh trừ bệnh dũ, thiên nhân đồng cảm. Ngô phụng Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh dạ mộng linh liệu quy nguyên như ý đại pháp chỉ luật lệnh cang.”

Pháp này chỉ đơn giản như vậy. Nói ra cũng kì lạ, sau bảy ngày, tôi thu công cụ về, vào ngày thứ chín thì người phụ nữ đi cùng lần trước đến báo với tôi:
”Cô gái đó sau bảy ngày bệnh tự nhiên khỏi, kể từ đó không còn đau đầu nữa, hồi phục lại vẻ đẹp thanh xuân như trước, hoàn toàn giống một người bình thường.”
”Đúng là tin tức tốt, cảm ơn trời đất.”
”Tôi khuyên họ mau đến cảm ơn cậu, bởi vì cậu đã chữa khỏi bệnh này mà! Thế nhưng họ nói, cậu trẻ tuổi như vậy làm sao có thể có năng lực lớn như vậy, đây là tự nhiên khỏi thôi.” - Người phụ nữ này lộ vẻ áy náy.
”Không sao cả, chỉ cần bệnh được giải trừ là tin mừng lớn rồi. Tôi không cần người ta báo đáp, càng không cần phong bì.” - Tôi nói.

Cho dù hằng đêm vào lúc 12 giờ tôi đều phải bò dậy kháp quyết niệm chú, nhưng sự vất vả này có thể chữa khỏi bệnh của một người thì có gì ngăn được tôi dốc sức mà chữa bệnh cho những người vô vọng này. Đây chính là nguyên nhân mà đến nay tôi vẫn âm thầm phục vụ người ta không cần lấy thù lao.


### 40. Lời kết


Cuốn sách này lẽ ra có thể viết thành một quyển sách rất dày rất dài. Những sự tích về thông linh thần toán có nói cũng nói không hết, bởi vì đối với những thần thông nhỏ tương đối phổ biến mà nói thì không thể nào tính đếm được, thế nên tôi không nên lãng phí trang sách, viết ra chạy theo số trang sẽ khiến người ta cảm thấy mất đi sự sâu sắc. Trong lời mở đầu tôi đã nói đến thân phận của mình, bởi vì tôi thích tôn giáo, thậm chí tôi quên ăn quên ngủ để nghiên cứu tìm hiểu, cuối cùng tôi đã hoàn thành cuốn sách này. Từ những trình bày chân thực trong cuốn sách này, tin rằng tôi đã khiến rất nhiều người phải há hốc miệng, kinh ngạc không thốt nên lời, lại chắc chắn cũng có người nhìn tôi bằng ánh mắt nghi hoặc. Tuy nhiên, tôi bảo đảm, từng câu từng chữ là thật, các bạn hãy tin vào những gì tôi viết, tôi tuyệt đối không phải là người giỏi bốc phét, cố ý mượn điều huyễn tưởng để lừa gạt độc giả cho vui. 

Giả dụ bạn đọc xong toàn bộ cuốn sách, khi hiểu được cảnh ngộ bất bình thường nhất trong cuộc đời mà tôi đã trải qua giống như giấc mơ của Alice lạc vào xứ sở thần tiên, nhưng mà Alice mơ xong thì sẽ tỉnh lại! Còn ở đây, tôi mơ xong thì vẫn là thật, thật sự hiển hiện tại nhân gian kì ảo này. Tôi chưa bao giờ mượn khả năng khác thường đặc biệt này để hễ gặp ai là khoác lác về bản lĩnh của mình. Tôi nguyện là một người bình phàm không biết gì cả, bởi vì khi bị người ta hoài nghi, trong lòng tôi cũng cảm thấy cực kì đau khổ, vì sao những gì mà nhân loại biết về linh hồn lại nghèo nàn đến mức này, thậm chí nhân loại còn thường xuyên giễu cợt là mê tín, lạc hậu và không có khả năng. Chúng ta nên biết, có lẽ sinh vật trên các hành tinh khác cũng luôn hoài nghi liệu trên trái đất có đúng là có cái gọi là nhân loại hay không! Đương nhiên, tôi không thể trách nhân loại vô tri, bởi vì con mắt của nhân loại không thể nào có được khả năng nhìn thấu của linh.

Linh hồn có hay không, xin thứ lỗi cho tôi không cần thiết phải trả lời lại, tôi là người tuyệt đối tin vào sự tồn tại của linh hồn. Hiện tại, tôi có rất nhiều bạn bè yêu thích nghiên cứu về linh hồn, ví dụ giáo sư Thái Nghĩa Hoành ở Đại học Trung Hưng, giảng viên Thẩm Thủ Đốc, giáo sư Hồng Nguyên Long của Đại học Thành Công, v.v… Tôi làm bạn với con người, cũng làm bạn với linh hồn ở trên trời, không chỉ là trên trời có linh tồn tại mà thậm chí trên mặt đất cũng có, vùng hoang vu hay thậm chí thành thị náo nhiệt cũng có. Linh hồn tồn tại rất gần với nhân loại, nhưng nhân loại thì không có cách nào có được bản năng cảm nhận được sự tồn tại ấy, khiến nhân loại mất đi cơ hội qua lại với các linh của linh giới, đây là một việc đáng tiếc làm sao!

Cuốn sách này phân làm ba phần, phần trải nghiệm linh dị chuyên viết về quá trình tác giả bắt đầu từ một tín đồ đạo Cơ Đốc tiến nhập Đạo giáo, sau đó lại từ Đạo giáo tiến nhập Phật môn. Khi từ tín đồ Cơ Đốc bước vào Đạo, giống như có được bước ngoặt của tâm linh. Phần thứ hai là phần khởi linh và thần toán, phần này trình bày thế nào là khởi linh, phương pháp khởi linh và tu luyện vận linh, sau đó lợi dụng phương pháp thần toán nhờ linh để thăm dò linh giới mà có được kết quả của việc thần toán. Phần thứ ba là phần sự tích thông linh thần toán, lấy một vài sự tích làm ví dụ và cũng nói về kết quả của việc tôi giúp người ta thần toán nhờ linh. Vốn dĩ tôi muốn viết rất nhiều, nhưng nói nhiều cũng vô ích, ai tin thì tin, ai không tin thì vẫn không tin, nói nhiều những sự tích này thì cũng không có tác dụng gì nhiều. Giả như có người muốn biết những sự thật này, muốn biên soạn thành sách thì có thể liên hệ với tác giả.

Tôi tin vào số mệnh, bởi vì phát sinh và kết quả của một sự việc đều là do nhân duyên thúc đẩy. Con người sinh ra trên đời này sao lại không hề có nguyên do chứ? Con người chết đi quy về nơi nào, hoàn toàn mù tịt không biết gì sao? Chẳng phải, đây đều là có nguyên do cả, người sinh ra chính là linh chết đi, người chết đi chính là linh sinh ra. Thế nhưng, nếu có người có thể luyện thành công hoạt linh, tôi tin rằng người này nhất định có thể luyện được đến trình độ tương thông với linh giới. Chỉ cần ngày đêm khổ luyện thì không có chuyện không thành công. Tôi lại có một phát hiện lớn về sự thành công của luyện linh, có thể thành công hay không thành công hoàn toàn có mối liên hệ rất lớn với căn cơ. 

Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh là Linh Sư của tôi, tôi khởi đầu là một người phàm phu không hề có một chút kiến thức nào về linh hồn, Ngài đã dạy tôi luyện chỉ pháp, luyện khẩu quyết, luyện thư phù, luyện linh và Đạo thuật, v.v… Công lao của Ngài là lớn nhất. Sau cùng Ngài chỉ thị tôi xuất nhập thập pháp giới, về mặt này lại càng ẩn giấu thiên cơ cực kì lớn. Một con người ra vào mười pháp giới nhờ vào cái gì, độc giả có thể nhìn ra không? Tất cả những thứ hữu hình rốt cục sẽ quy về vô hình, tất cả pháp hữu vi đến cuối cùng cũng không có pháp nào có thể thuyết. Những sự thật li kì này đều nằm giữa việc độc giả tin hay không tin, nếu dựa vào phương pháp khởi linh để nghiên cứu sâu thì tôi tin rằng cũng có người có thể đạt được thành tựu lớn.

Tôi nhớ Linh Sư từng nói [tới thời điểm đó]: 

*”Thái thượng nhân gian mây nước xa xăm
Tiên đồng tiên nữ xếp hàng nghênh đón
Mây tía cờ lọng cưỡi mây bay đi
Rời xa nhân gian đến chín tầng trời
Bốn biển ngợi khen âm thanh chúc tụng
Ngũ nhạc cùng than núi rừng thương xót
Từ nay nhân gian mất một kì tài
Đi hết tam giáo trở về chốn xưa.”*

Đương nhiên tôi hiểu ý của Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, khi tôi nhập diệt nhất định sẽ đi theo Linh Sư, đến lúc ấy lại có một cảnh giới khác, và tôi để lại cuốn kì thư này tại nhân gian, cuốn kì thư này chính là: “Mạn đàm linh cơ thần toán”. 

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/019-giua-linh-va-toi.md
# Title: 019. Giữa linh và tôi
---

![image](/img/img_18ad94a14f5f92b3983b5fafcafd8eac.png)



## Giữa linh và tôi


🪷 Đích thân trải nghiệm sự kì bí của linh hồn

Văn tập số: 019
Xuất bản: 01/09/1975
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu: Linh hồn và tôi


Trong con mắt của rất nhiều người, tôi là một người kì quái, bởi vì tôi có một loại năng lực kì quái, tôi có thể trò chuyện với linh hồn vô hình của hư không giới, thậm chí còn làm bạn với họ, sống cùng họ một cách vô cùng hòa thuận. Nói về việc trò chuyện với linh hồn của hư không giới, tôi tự mình cho rằng đây là chuyện rất bình thường và tầm thường, nhưng người bình thường lại thán phục một cách đầy kinh ngạc, xem như chuyện rất thần kì và không thể nào.

Tôi không phải người có con mắt âm dương bẩm sinh, cũng không phải vừa ra đời đã có thể trò chuyện với linh hồn. Sau khi tôi tốt nghiệp đại học, tôi phục vụ tại đơn vị trắc lượng, sau một lần gặp được duyên phận kì dị thì tôi mới bắt đầu nhận thức về linh giới, khi ấy tôi 25 tuổi. Những trải nghiệm này tôi từng viết thành một cuốn sách, đó chính là cuốn “Mạn đàm linh cơ thần toán”. Cuốn sách này vừa xuất bản thì đã gây xôn xao cả nước, trong vòng một tháng, tôi đã nhận được năm trăm bức thư của độc giả, hơn một nghìn người đến trước cửa nhà tôi muốn gặp. Có người phụ trách câu lạc bộ của mấy trường đại học yêu cầu tôi đến câu lạc bộ của họ diễn giảng, nhà xuất bản Nhật Bản yêu cầu được phát hành tại Nhật. Có thể thấy đâu đâu cũng có những con người tò mò đối với kiến thức về linh hồn, ai ai cũng có hứng thú đối với việc tìm hiểu những bí mật vô hình.

Với tình hình như vậy, tôi không thể nào không viết ra cuốn sách “Giữa Linh và tôi” này. Độc giả tin rằng vấn đề về linh hồn không chỉ có nghìn vạn, cho nên một cuốn sách là không đủ, yêu cầu tôi mô tả tỉ mỉ hơn nữa về toàn bộ cảnh giới của linh hồn, không giấu diếm một chút nào. Sau khi tôi ngẫm nghĩ kĩ càng, tôi vẫn sẽ viết, tôi vì muốn phá bỏ mê tín, phá bỏ vô tri, phá bỏ quan niệm người ta cho rằng nhân quả báo ứng là mê tín mà viết ra cuốn sách này.

Có người cho rằng Lư Thắng Ngạn là đồ thần kinh thất thường, hoặc là kẻ bị bệnh tâm lí, hoặc là kẻ khoác lác, hoặc là kẻ giở trò đùa, tôi nhất loạt đều không phản bác. Tôi viết ra những gì tôi thật biết thật thấy, nếu có người cho rằng tôi nói láo thì mặc kệ cho họ nói. Tất nhiên sự vô tri của họ khiến tôi hết sức bực bội, thế nhưng tôi nghĩ lại về chính mình nếu không có kì duyên thì chẳng phải là tôi cũng giống như người bình thường, sẽ khịt mũi coi thường linh hồn, cho rằng đó là những lời bịa đặt hết sức hoang đường sao? Thế là tôi tha thứ cho họ, cảm thấy trong lòng buồn cho những người này.

Trong cuốn “Mạn đàm linh cơ thần toán” tôi từng nói: “Trình độ học vấn của tôi là tốt nghiệp đại học, đối với tôn giáo, triết học, văn học, nghệ thuật, v.v… tôi có hứng thú sâu đậm, đã viết mười mấy cuốn sách. Nhưng điều tôi muốn chứng tỏ là, tôi viết tác phẩm về phương diện linh hồn cực kì nghiêm túc và kĩ lưỡng, không nói dối, đều là những việc thật mà đích thân tôi đã trải qua, biết thì nói là biết, không biết thì nói là không biết, đó là “thật biết”, tôi tin rằng người đọc cuốn sách này có thể hiểu được dụng tâm của tôi. Có lẽ có người muốn hiểu về thân phận của tôi, thời kì đầu tôi là tín đồ Cơ Đốc giáo, tốt nghiệp lớp sư phạm của Hội trưởng lão Cơ Đốc Tân Hưng thuộc Cơ Đốc Giáo Cao Hùng, tôi từng được rửa tội, làm giáo viên của lớp học chủ nhật, làm thầy giáo lớp tra kinh. Sau đó tôi theo Đạo giáo, từng qua công đức, là Đạo sĩ của phân đường Thạch Bích thuộc Từ Huệ Đường hội Đạo giáo Trung Hoa. Hiện tại tôi sùng tín Phật giáo, tôi thọ giới Bồ Tát tại chùa Bích Sơn Nham tại Nam Đầu, trở thành ưu bà tắc, quy y đạo sư Ấn Thuận, ba vị thầy thọ giới là Hiền Đốn, Huệ Tam, Giác Quang. Đối với bất kì điển tích tôn giáo nào tôi cũng đã đều đề cập tới.”

Trong cuốn sách này, tôi sẽ nói đến bản thân có được kì duyên như thế nào, đại khái là viết lại một phần nhỏ của cuốn sách “Mạn đàm linh cơ thần toán”, bổ sung giải thích một vài quá trình từ khởi linh đến luyện linh, lấy việc thật làm bằng chứng, phác họa ra toàn bộ bức tranh về linh giới, rất nhiều điều là trong cuốn “Mạn đàm linh cơ thần toán” chưa từng nói đến. Tôi tin rằng cuốn sách này càng sâu hơn, càng dễ hiểu hơn, và cũng phổ biến hơn khiến mọi người có được nhận thức chính xác về linh hồn.

Hiện tại, không gian ba chiều đã dần dần phát triển thành không gian bốn chiều, thế giới của không gian bốn chiều đã dần dần có các nhà khoa học và triết học đi nỗ lực nghiên cứu. London, Oxford, Cambridge của nước Anh và các trường Đại học Mĩ cũng có môn nghiên cứu về linh học, nhưng họ là nghiên cứu, còn tôi là người tự thân trải nghiệm, chỉ mong những trải nghiệm của tôi có thể giúp ích được những người đó, khiến những người nghiên cứu này trong lúc dò dẫm thấy hiện lên một lối đi phía trước sáng sủa và tươi đẹp.

Trước khi viết hai cuốn sách này, có một hôm tôi ở trong Phật đường tụng kinh, đột nhiên không trung có âm thanh hỏi tôi:
”Liên Sinh, con người thời nay không tin nhân quả, không tin thiện ác báo ứng, không tin luân hồi, lòng người thói đời đã bại hoại, ma sư tà giáo hoành hành, nếu anh không cầm lên cây bút trong tay mình để biểu dương chính nghĩa thì còn muốn đợi đến khi nào?”
”Nếu muốn người ta tin nhân quả báo ứng, thiện ác luân hồi, thì những truyền kì về tâm linh mà tôi đích thân trải nghiệm qua không đủ để làm chứng, nhưng nếu viết ra, mọi người có tin không? Có khi tôi không viết vẫn tốt hơn, bởi vì những việc liên quan đến linh giới rất thần kì, e rằng sẽ khiến chúng sinh hiểu lầm rằng tôi là kẻ nói khoác, thế thì không hay rồi!”
”Liên Sinh, những chuyện phát sinh trước kia là thật hay là giả?”
”Là thật.”
”Liên Sinh, trong “Kinh Pháp Cú” có câu nói: Nói ra lời thiện, như gõ chuông khánh, thân không nghị luận, độ thế tất an, nếu là sự thật, có gì phải sợ? Ngày xưa ta đã thức tỉnh anh cũng là vì ngày hôm nay. Người nói thật, không giả bố thí, giả trì giới, giả học vấn, giả hiểu biết, chỉ tu nói lời thật thì sẽ có được phúc vô lượng. Anh vẫn còn không viết sao?” 

Chính vì nguyên nhân này mà tôi đã viết, bất kể người khác hiểu lầm hay không, hay là họ nghĩ rằng tôi quá thần kì, dứt khoát là không thể nào, nhưng tôi vẫn vì nhân duyên này mà đã viết, viết ra những điều mà trên đời này chưa ai từng viết, chỉ mong trong thế giới tương lai có người chứng minh những gì tôi viết hoàn toàn là sự thật, như thế thì đúng là công đức vô lượng.

(Tháng 10 năm Dân Quốc 64 [1975] tại Đài Trung Từ Huệ Lôi Tạng Tự. Địa chỉ liên lạc: Số 18/2 ngõ 133 đường Tinh Võ.)

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Cuộc gặp gỡ thần kì 


6 năm trước, tức là năm Dân Quốc 58 [năm 1969], tôi 25 tuổi, mẹ tôi đi lễ ở một ngôi chùa gần nhà, khi ấy tôi là tín đồ đạo Cơ Đốc. Theo lí mà nói, tôi sẽ quyết không đi cùng mẹ tôi, nhưng sáng sớm ngày hôm đó tôi nằm mơ, một giấc mơ rất kì quái, mơ thấy tôi leo núi, ngọn núi rất cao rất cao, rồi dường như ở trên đỉnh núi có một ngôi chùa rất cổ kính, tôi dù không muốn nhưng vẫn cứ đi vào. Điều kì lạ là tôi không thấy sợ hãi một chút nào, dường như đỉnh núi này quen thuộc giống như đường về nhà, trong chùa có rất nhiều tượng thần được điêu khắc, có tượng thì mang bộ dạng hiền từ, có tượng thì như kim cang trợn trừng mắt. Tôi nhẹ nhàng nhón chân đi vào đại điện, một lão đạo trưởng nhìn thấy tôi thì đứng dậy.

Lão đạo trưởng chắp tay lại nói với tôi: 
“Giờ mới đến sao? Ta đợi anh rất lâu rồi.”
”Đạo trưởng với tôi hoàn toàn không quen biết, sao lại có hẹn chứ?”
”Sao mà không quen biết, băng qua tam giáo, ngao du bốn biển, năm trăm năm một lần gặp, cho dù anh đọa vào địa ngục âm phủ làm ác quỷ thì tôi cũng nhận ra diện mạo vốn có của anh!”
”Đạo trưởng sao lại nói như vậy?”
”Không đánh anh thì anh không biết.” - Đạo trưởng cầm lên cây phất trần gõ lên đầu tôi, tôi kêu “oái” một tiếng, sợ đến mức toàn thân đẫm mồ hôi, thế là tỉnh khỏi giấc mơ.

Tôi thường rất ít khi mơ, chỉ có một giấc mơ này là rõ ràng nhất, ngày hôm đó lại đúng là ngày chủ nhật, mẹ tôi muốn đến chùa lễ bái, tôi thân làm tín đồ Cơ Đốc thế mà lại đi cùng mẹ tôi. Đương nhiên, tôi chỉ đi theo chơi, tôi không thắp hương, càng không cúi lạy Bồ Tát hay thần minh, tôi xem ngôi chùa như một danh thắng để tham quan. Vào lúc ấy, tôi còn cười cợt một số người cúi thấp đầu mà lạy Bồ Tát, đặc biệt là những người đàn ông mặc đồ tây mà quỳ mọp xuống đất với một bộ dạng rất ngoan đạo, tức cười cực kì.

Ngôi chùa ấy không lớn, là ngôi chùa loại nhỏ, tên chùa là Ngọc Hoàng Cung, cái gọi là Ngọc Hoàng Cung chính là chùa miếu của Ngọc Hoàng Đại Đế, trụ trì của chùa là hòa thượng, tên là Thích Huệ Linh. Trong chùa có rất nhiều Bồ Tát, phần lớn tôi đều không biết. Ngày hôm đó cũng không biết là ngày tết gì mà người đến lễ bái cũng khá đông, xô đẩy chen lấn nhau, mùi khói hương rất nặng, tôi trốn vào một góc nhỏ trên hành lang bên ngoài chùa. 

Lúc này, tôi chú ý thấy trong số những người đó có một người phụ nữ lớn tuổi mặc áo xanh, tuổi khoảng ngoài 50, bà ấy quỳ trước thần minh, bộ dạng hình như đang nói chuyện với thần minh, có rất nhiều người đứng bên cạnh bà ấy, dường như bà đang giúp người ta giải đáp thắc mắc.

Một lúc sau, bà ấy đột nhiên đứng dậy gọi to: 
“Ai là Lư Thắng Ngạn? Trong số các người có ai là Lư Thắng Ngạn?”
Tôi đứng bên ngoài cửa chùa nhưng cũng nghe thấy, mẹ tôi cũng nghe thấy. Mẹ tôi đi nhanh về phía trước hỏi: 
“Xin hỏi cô tìm Lư Thắng Ngạn có việc gì không?”
”Không phải tôi tìm anh ta, là Bồ Tát thần minh tìm anh ta, mau gọi anh ta đến đây, Bồ Tát có việc dặn dò.” - Người phụ nữ mặc áo xanh đó sốt sắng nói với mẹ tôi. 

Thế là tôi đứng trước mặt người phụ nữ lớn tuổi đó. Người phụ nữ ấy trông rất kì quái, một mắt xếch lên, một mắt xệ xuống, cái miệng hơi méo, trông cực kì xấu xí. Người xung quanh nói một mắt bà ấy xếch lên là để nhìn trời (thần), một mắt xệ xuống là để nhìn đất (quỷ), tôi đứng trước mặt người phụ nữ này mà chẳng hiểu ra làm sao.

“Anh là Lư Thắng Ngạn?”
”Đúng vậy, không biết có chỉ giáo gì?”
Bà ấy quỳ trước mặt Bồ Tát, nói thì thầm với Bồ Tát mấy câu, và sau đó quay đầu lại hỏi tôi: 
”Anh là tín đồ Cơ Đốc à?”
”Đúng vậy.”
”Anh phục vụ trong đơn vị XX à?”
”Đúng vậy.”
”Anh tốt nghiệp đại học đúng không?”
”Đúng.”
”Giấc mơ chỉ điểm cho anh sáng nay anh có biết không?”

Lần này thì tôi đờ người ra, người phụ nữ lớn tuổi đang quỳ trước mặt tôi đây làm sao mà ngay đến giấc mơ buổi sáng sớm nay của tôi bà ấy cũng biết, trong khi tôi chưa hề kể với ai việc tôi nằm mơ, kể cả mẹ tôi. Tôi nhất thời nảy ra ý nghĩ đến chùa để tham quan thôi, đây đúng là một việc không thể nào tưởng tượng nổi. Bà ấy lại hỏi tôi tiếp, tôi không đáp “đúng” thì cũng đáp “phải”, nghĩa là những gì bà ấy nói hoàn toàn ăn khớp, không có một việc nào sai trật.

“Bồ Tát hi vọng anh có thể đứng ra thay Bồ Tát làm thiện hạnh, truyền đạo giải đáp nghi hoặc, phát huy tinh thần Phật gia, giương cao thiện đè bẹp ác. Hiện nay lòng người thói đời đã bại hoại lắm rồi, có một số nhân vật xấu xa cố ý khoác tấm áo Thần Phật để làm những việc không có tính người, xem tướng cho người ta để lừa tiền gạt sắc, uốn lưỡi như hoa sen nhưng lời nói yêu mị huyễn hoặc chúng sinh, chính đạo thì trầm luân mà tà đạo thì hưng khởi. Từ nay về sau anh có trách nhiệm trọng đại, Bồ Tát thấy tâm anh thiện, hành vi ngay thẳng, cho nên muốn anh thay trời hành đạo.”
”Tôi… tôi chẳng biết cái gì cả.”
”Trước mắt anh chẳng biết cái gì cả, nhưng nếu anh quỳ xuống thì sẽ biết mọi thứ, tôi không lừa anh đâu. Đến đây, anh quỳ xuống bên cạnh tôi, hai tay chắp lại.”

Tôi học theo bộ dạng của bà ấy, quỳ trước mặt Bồ Tát, hai tay chắp lại, khi ấy có không ít người xung quanh, ngay cả trụ trì Thích Huệ Linh và mẹ tôi cũng đều đứng ở sau lưng tôi. Hai mắt tôi vừa nhắm lại thì kì tích đột nhiên xuất hiện. Bởi vì khi hai mắt nhắm lại, trước mắt đột nhiên xuất hiện một vầng hào quang, trong hào quang xuất hiện ba vị Bồ Tát đang ngồi trên hoa sen, kim thân bảy sắc, tỏa sáng rực rỡ. Tôi nói điều này tuyệt đối không phải là mơ, tuyệt đối không phải là mơ, mà là tận mắt tôi ngay tại ban ngày nhìn thấy. Vị Bồ Tát ở giữa mở miệng nói: “Nhất tâm học Phật.” Hai vị Bồ Tát ở hai bên mở miệng nói: “Nhất tâm học pháp.” và “Nhất tâm hướng thiện.” Nói xong thì lập tức biến mất. Tiếp đó, từ không trung giáng xuống một tấm vải đỏ tỏa ánh vàng kim xán lạn, trên tấm vải đỏ đó có viết hai chữ vàng rất lớn, là hai chữ “trung nghĩa”. Tai tôi nghe thấy âm thanh không biết từ đâu truyền đến: “Kim Ngọc Đế đặc biệt ban hạ hai chữ “trung nghĩa” làm nguyên tắc xử thế làm người cả đời của con, phàm việc gì cũng phải hỏi lòng mình trước có thể làm hay không thể làm, ngửa mặt không thẹn với trời, cúi mặt không hổ với đất, thoải mái tự nhiên, đạo tự sống mãi, thoải mái tự nhiên, tồn tại cùng trời đất.”

Chữ vàng viết trên tấm vải đỏ, tôi tận mắt nhìn thấy, không hề giả dối. 
”Anh nhìn thấy chưa?” - Người phụ nữ đó hỏi tôi.
”Nhìn thấy rồi, cũng nghe thấy rồi, nhưng điều này sao có thể chứ?”
”Có rất nhiều việc trong thiên hạ anh có nghĩ cũng chẳng nghĩ nổi đâu, hôm nay, tóm lại là anh đã nhìn thấy và nghe thấy rồi, dần dần, anh cũng sẽ hiểu thế giới kì dị trong cõi vô hình, anh sẽ biến thành một con người khác hẳn với phàm phu bình thường, nhìn thấy cái mà người ta không nhìn thấy, nghe thấy cái mà người ta không nghe thấy, cảm giác thấy cái mà người ta không cảm giác thấy.” - Người phụ nữ mặc áo xanh nói: “Thần minh sẽ từ từ chỉ điểm cho anh.”

Tại ngôi chùa đó, tôi không tin điều tôi gặp phải là sự thật, nhưng sự thật ấy khiến tôi không thể không tin.

(Bài viết này đã được xuất bản trong cuốn “Mạn đàm linh cơ thần toán”, để giúp cho người chưa đọc cuốn sách trước hiểu được tôi đã bắt đầu tiếp xúc với linh giới như thế nào, tôi đã đặc biệt đăng lại bài viết này.)


### 02. Cảnh giới bất khả tư nghì


Kể từ cuộc gặp gỡ kì lạ ngày hôm đó, tôi đã bước vào một cảnh giới bất khả tư nghì. Tôi sẽ nói ngắn gọn sơ sơ về cuộc gặp gỡ sau này của tôi để cho độc giả có thể hiểu được một vài trải nghiệm của tôi, những trải nghiệm này trong cuốn sách tâm linh đầu tiên tôi đã nói rất tường tận rồi.

Vào buổi tối cùng ngày, khi tôi ở vào trạng thái nửa tỉnh nửa ngủ thì tôi đã du lịch đến huyễn cảnh của vũ trụ, nhìn thấy vô số Phật Bồ Tát, giống như thế giới Cực Lạc trong “Kinh A Di Đà” vậy, từng vật từng cảnh đều rất rõ ràng, căn bản là không phải nằm mơ. Đồng thời tôi cũng tham quan địa ngục, nhìn thấy các loại khổ hình. Ở thiên giới, tôi nhìn thấy tiền thân của chính mình, tôi đã ghi nhớ họ tên tiền thân của mình. Sau khi tỉnh dậy, tôi đã tìm đến trang 89 trong kinh Phật, đã chứng minh được ở trên đó có họ tên của tôi. Tôi bắt đầu hiểu ra rằng giữa trời đất quả nhiên có luân hồi quả báo tồn tại, không mảy may sai khác.

Khi tôi du hành vào linh giới, có một tình tiết tôi đặc biệt thuật lại như sau: 

Tôi đến một ngọn núi lớn khắp nơi đều mờ mịt, tôi đi vào một thâm viện như động thiên phủ địa, mặt đất của nơi này bằng thủy tinh, tất cả các vật trang trí đều lấp lánh ánh vàng, đều được làm từ vàng bạc lưu li hổ phách, long lanh óng ánh. Ở viện thứ ba có thờ tượng Phật Tam Bảo, phía trước tượng Phật có một lư hương lớn kiểu phong cách cổ xưa, khắp nơi có mùi thơm của gỗ đàn hương, hương thơm thông đến tận trời. Có một tăng nhân xuất gia ngồi quay lưng về phía tôi đang đọc kinh, tiếng nhỏ và thấp, có tụng mà như không tụng. 

Tôi hỏi:
”Xin hỏi đại sư, nơi này là đâu?”
Ông ấy im lặng không đáp.
”Dám hỏi đại sư, nơi này là đâu?” - Tôi hỏi lại một lần nữa. 
“Nước Đông Phương Tịnh Khiết.” -  Hòa thượng quay người lại nói.
Tôi lập tức sửng sốt, thì ra khuôn mặt của ông ấy tôi có nhớ mang máng, thế nhưng càng nhìn tôi lại càng thấy giống chính mình, dường như là chính mình từ một người đã biến thành hai người vậy. Tôi không kìm được bèn nói:
”Ngài là tôi.”
”Tôi là anh.” - Hòa thượng gật đầu nói: “Pháp thân bất động, bất sinh, bất hí, bất phân biệt, là tịch tĩnh.”

Thì ra là như vậy, thì ra là như vậy, trong lòng tôi muốn hét vang lên, dường như tôi đã hoàn toàn hiểu rồi, hơn nữa cũng đã ngộ ra rồi. Trải qua sự việc lần này, từ 9 giờ tối cho đến 7 giờ sáng ngày hôm sau, sau chuyến du hành linh giới, tôi đột nhiên có một cảm giác đại triệt đại ngộ. Những gì tôi đã trải qua, người bình thường chưa bao giờ nhìn thấy. Nơi tôi đã đến đều là những nơi tôi đã quen thuộc, các vị Phật Bồ Tát cúi đầu chào tôi, đó không phải là nằm mơ, nằm mơ thì không có chuyện từng câu từng lời chân thực như thế đều ghi nhớ hết được! Huống hồ sau khi tỉnh dậy tôi đi xác minh thì quả nhiên là không sai.

Những sự việc tiếp theo sau đó thì càng là điều kì lạ trong kì lạ. Có một vị tự xưng là bậc Thần Tiên thượng thừa Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, phụng ngọc chỉ, mỗi đêm bắt đầu truyền dạy Đạo pháp cho tôi. Những Đạo pháp này đều là các bí pháp trân quý đã thất truyền nghìn năm, vị Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh này đến chẳng có hình bóng, đi không để lại dấu tích, tôi không nhìn thấy ngài, nhưng ngài lại đối với tôi đặc biệt tốt, đặc biệt kiên nhẫn truyền dạy cho tôi ấn chú, phù lục, pháp ngữ (chân ngôn), lí số, thủ ấn, v.v… Tôi gọi ngài là Linh Sư, tôi có thể cảm giác được khi ngài đến, cũng có thể nghe thấy âm thanh rất nhỏ giống như tiếng trong điện thoại của ngài, nhưng từ đầu tới cuối tôi đều không nhìn thấy ngài. Ngài tự xưng là Thần Tiên thượng thừa của Vô sắc giới, vì vô sắc vô hình cho nên tôi không có cách nào nhìn thấy hình ảnh thật của ngài được.

Dưới sự chỉ dẫn của Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, tôi đã bái Thanh Chân Đạo Trưởng làm thầy, đó là một người tu Đạo chân chính của núi Thanh Thành. Theo như Linh Sư nói thì người đời không còn ai biết đến Thanh Chân Đạo Trưởng, đó là một Tiên nhân ở nhân gian đã thông linh khiếu. Còn nhớ khi tôi mới gặp thầy, thầy đã từ chối không nhận tôi. Tôi quỳ xuống đất. 
”Ta không nhận học trò, ai chỉ dẫn cho anh đến đây?” - Thanh Chân Đạo Trưởng hỏi tôi.
”Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh.” - Tôi đáp. 
Thầy ấy có vẻ kinh ngạc. 
”Bát tự của anh?” - Thanh Chân Đạo Trưởng hỏi tôi.
”Năm Ất Dậu, tháng 5 ngày 18, giờ Ngọ.”
”Đừng quỳ nữa! Ta nhận ra anh rồi, anh có cùng giờ cùng ngày cùng tháng sinh với lão tổ sư Trương Thiên Sư, đứng dậy đứng dậy, tôi nhận ra anh rồi.” - Thanh Chân Đạo Trưởng nhận tôi làm đồ đệ là người đầu tiên, thầy ấy chưa bao giờ thu nhận đồ đệ.

Ở chỗ của thầy ấy, tôi đã học thuật Cửu chuyển huyền công và thuật khởi linh vận linh của phái Đan Đỉnh. 


### 03. Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh


Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh là Linh Sư của tôi, tôi rất tôn kính ngài, tôi không biết lai lịch của ngài, chưa từng nhìn thấy hình dáng thật của ngài, ngài là vị ân sư thật sự đã làm được công tác truyền đạo và cởi bỏ mê hoặc, khiến tôi từ một kẻ phàm phu bình thường đã tiến nhập lĩnh ngộ thế giới tâm linh, sự dạy dỗ của ngài vô cùng nghiêm khắc. 

Có một lần, ban ngày tôi làm việc quá mệt, đúng vào lúc đang ngủ rất say sưa thì Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh đến, khi ấy là 1 giờ sáng. Ngài hét lên bên tai tôi: “Liên Sinh, dậy ngay, Liên Sinh, dậy ngay.” Liên Sinh là pháp hiệu mà Linh Sư đặt cho tôi. Khi ấy vì mệt mỏi rã rời nên tôi kéo chăn trùm kín đầu, mặc kệ lờ đi, tiếp tục giấc ngủ.

Ngài thấy tôi ngủ say không dậy, không biết ngài đã dùng cách gì khiến cho truyền đến rất nhiều tiếng người đang cãi nhau, tiếng cãi nhau vừa the thé vừa xù xì, căn bản là khiến người ta không ngủ được. Tôi bịt chặt tai lại một cách vô thức, xoay người rồi lại tiếp tục ngủ, có lẽ cử chỉ lười biếng ấy đã chọc giận Linh Sư. Lại không biết ngài dùng cách gì mà khiến chân tôi từ từ giơ cao lên, hai chân song song giơ thẳng lên, đầu ở dưới, chân ở trên, trở thành tư thế người dốc ngược, máu chảy ngược khiến toàn thân rất khó chịu, chăn bị đạp ra xa. Thế rồi Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh buông tay ra, cả người tôi nhanh chóng rơi xuống giường. Tôi kêu “á” lên một tiếng, tỉnh cả người, còn cái giường thì kêu “bộp” một tiếng lớn khiến người bạn học ở phòng kí túc cạnh bên là Hồ Thìn Hùng còn gọi với sang một câu: “Lão Lư, cậu làm sao đấy?”

Linh Sư đánh thức tôi dậy, dạy cho tôi thuật “tam tài nhất thể hỗn hợp độn linh”. Tôi biết là ngài vì muốn tốt cho tôi, kể từ khi tôi được ngài giáo huấn, mỗi lần ngài gọi tôi, tôi không dám lười nhác nữa.

Ông Lâm Vinh Tông, ông chủ của Công ty Cổ phần Hữu hạn Công nghiệp Tam Lộc ở Chương Hóa vào năm Dân Quốc 49 [năm 1960] tốt nghiệp hệ Đại học Quốc lập Thành Công, khi thảo luận về Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, ông ấy cho rằng Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh là Lãnh Khiêm Tiên Sinh của triều Minh, vì có hai cuốn sách là “Vạn pháp quy tông” và “Địa lí quy hậu lục” có đăng nhân duyên lai lịch của ngài. Lâm Vinh Tông là đại sư địa lí phong thủy, từng làm thầy của ba người, sau khi viếng thăm hai ngôi mộ nổi tiếng của tri huyện Dương tiên sư Quế Sâm ở Chương Hóa trong thời kì Gia Khánh thì ông ấy mới đốn ngộ địa lí huyền cơ. Ông ấy đã nghiên cứu khá sâu về những ý nghĩa tinh hoa của “Hám long kinh” [sách của tổ sư phong thủy Dương Quân Tùng] và “Thanh nang kinh” [sách của Hoàng Thạch Công], “Đô thiên bảo chiếu”, “Thiên ngọc kinh” [tác phẩm kinh điển của tổ sư Dương Quân Tùng].

Còn có ông Giang Hoành Nghĩa quê ở Miêu Lật từng thành lập năm viện hoằng hóa Giáo Thánh Đường, ông ấy cho rằng Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh thì Tam Sơn chính là ba vị tôn giả chí cao vô thượng, tức là Hỗn Nguyên Lão Tổ, Hạo Thiên Lão Tổ, Hồng Quân Lão Tổ; thế còn Cửu Hầu chính là chín vị tôn giả, khả năng chính là chín vị lão Tiên sư của đô phủ Cửu Lão Tiên, và Hỗn Nguyên Lão Tổ chính là lão Tiên tổ quản lí luật lệnh tối cao vô thượng chí mật. Ông ấy nói có một cuốn kinh công pháp Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh có thể tu luyện.

Lại có một người quê ở Viên Lâm là ông Hồng Lão  đã xây một ngôi miếu Tam Sơn Quốc Vương ở Khê Hồ Chương Hóa, ông ấy nói Tam Sơn chính là tôn thần của Tam Sơn Quốc Vương, Cửu Hầu là tên của chín vị Hộ pháp thần tướng. Còn theo như một vị cao sĩ tu chân ở miền Nam gửi thư đến nói với tôi: “Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh là một khối khí chân linh trong vũ trụ, có công phu thiên biến vạn hóa, trải qua vạn kiếp mà không hoại, áp đảo thiên địa tạo hóa, thành chân vào lúc trời đất sơ khai, đồng vị với Thiên Đế, nhưng Ngọc Đế chưa phong chức Thần. Vì công hành của ngài nửa thiện nửa ác, thiện ác triệt tiêu lẫn nhau, trở thành không thiện không ác, pháp thân ẩn trong Vô sắc giới thiên, ngao du bốn biển, vì không thiện không ác cho nên thoát được luân hồi, trở thành thể kim cang không sinh không diệt. Vì không có tướng, cho nên tôn hiệu Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh được ít người cúng dường, cũng không nhiều người biết đến tên ngài. Luật lệnh Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh được đăng trong “Vạn pháp quy tông để khâm tập” chỉ là chút tài vặt của ngài thôi, chứ còn pháp lực của ngài thì chí đại chí cương, nào phải chỉ là một số phương thuật mà thôi. Ngài là thầy của anh, anh có thể thỉnh hỏi lai lịch của ngài, tuyên bố rõ ràng với thiên hạ để làm sáng tỏ địa vị của ngài.”

Bởi vì tôn hiệu của Linh Sư bị rất nhiều người hiểu sai, cho nên tôi đặc biệt trai giới một tuần để khẩn cầu Linh Sư chỉ thị cho tôi biết lai lịch thật sự của ngài. Tôi niệm thầm “Tiên thiên vô cực chính pháp”, liên tục bắt ấn niệm chú, đốt hết lá phù này đến lá phù khác. Mặc dù làm kinh động đến các thần Công Tào trực nhật [thần chuyên đi tuần hành vào ban ngày], kinh động đến thần dạ du [thần chuyên đi tuần hành vào ban đêm], kinh động đến các thần vãng lai, tôi hỏi các vị, các vị đều lắc đầu nói: không biết lai lịch. 

Sau khi Linh Sư hoàn thành việc truyền dạy Đạo công cho tôi thì ngài rất ít khi giá lâm Phật đường, cho dù ngài có giá lâm thì tôi cũng không nhìn thấy ngài, thật sự cũng không biết là ngài có đến hay không đến, chỉ là trong lòng tôi nhớ đến ngài, không bao giờ dám quên. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi cầu xin sự hiện diện của ngài như vậy, cầu đến ngày thứ ba thì chỉ nhìn thấy phía đông Phật đường có một vầng khí trắng, phía tây có một vầng khí vàng, phía nam có một vầng khí đỏ, phía bắc có một vầng khí xanh, ở giữa là một vùng khí tím, khí càng sủi lên càng lớn, đột nhiên có tiếng nói: “Liên Sinh, con nên biết, Phật Tổ từng nói: từ nay về sau, các đệ tử của ta truyền dạy hành đạo, tức là Pháp thân Như Lai vẫn thường tại thế chứ không hề diệt. Như Lai trí thậm thâm, phổ truyền khắp pháp giới, vì đời mà hướng dẫn, cùng Pháp thân chư Phật, tùy thuận ý chúng sinh, mà thấy mọi hình sắc, từ thân một vị Phật, hóa thành vô lượng Phật. Nay con cầu ta nói cho con biết lai lịch, biết rồi thì sao? Không biết thì sao? Mặc dù con biết lai lịch tiền thân của con, biết rồi thì sao? Không biết thì sao? Đó chẳng phải là một sự lãng phí tâm tư vô ích sao?”

Tôi im lặng không nói, hổ thẹn và hối hận vì sự vô tri của mình.

Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh nói: 
”Nay ta dạy Đạo pháp cho con, con chính là ta tái thế rồi, điểm này con phải hiểu rõ ràng, lẽ nào điều Phật nói, con vẫn chưa thể ngộ ra sao?”
Tôi nói:
”Con hiểu rồi.” 
Linh Sư lại đi rồi, nhưng tôi biết, việc ngài đi hay không đi chẳng hề có sự khác biệt nào cả!


### 04. Làm bạn với ma


Có rất nhiều người thích hỏi tôi đã từng nhìn thấy ma chưa. Thật ra tôi không chỉ từng nhìn thấy mà tôi còn kết bạn thân với rất nhiều linh hồn nữa. Các bạn bè là hồn ma của tôi rất nhiều, ví dụ có một người là cha Tô ở tu viện Tĩnh Sơn thị trấn Hoa Đàm huyện Chương Hóa, một người là Châu Gia Thần sống ở miền núi Bình Lâm, một người là ông Chung Hữu Nhân sống tại núi Bích ở huyện Nam Đầu, họ đều là bạn tốt của tôi. Cha Tô thì tự sát mà chết, Châu Gia Thần thì bị bệnh tim bộc phát mà chết, Chung Hữu Nhân thì qua đời vì ung thư xương.

Ma có hại người không? Theo lí mà nói, căn bản là không, bởi vì người đi trên dương quan đạo của người, ma đi trên cầu độc mộc của ma, khả năng gặp được ma là quá nhỏ, cho dù ma và người cùng sống thì người cũng không dễ phát giác ra sự tồn tại của ma, cho nên sẽ không bị ma quấy nhiễu. Còn như có một số người thường xuyên bị linh hồn quấy nhiễu, thậm chí nhìn thấy ma, là vì linh thể của bản thân người đó tương đối khác với người bình thường, cũng có thể nói là linh thể có tính âm tương đối mạnh thì khá dễ gặp và nhìn thấy ma. Đại bộ phận con người vào lúc lâm chung sẽ nhìn thấy dị tướng, đó là vì thần trí của người đó lúc ấy dần dần không còn rõ ràng nữa, trong não đã sinh ra huyễn tướng, đồng thời linh hồn của họ cũng dần dần thức dậy lại, vì thế những gì họ nhìn thấy tự nhiên sẽ là thế giới của ma một trăm phần trăm.

Phần lớn ma đều không hung ác, ví dụ cha Tô uống thuốc độc mà chết, ông ấy là một hồn ma rất nho nhã lễ độ, việc ông ấy đến gặp tôi mặc dù tôi có hơi bất ngờ, nhưng sau khi hiểu rõ chân tướng thì tôi cũng cảm thấy thương cảm sâu sắc cho ông ấy!

Lần đầu tiên cha Tô xuất hiện là sau khi tôi đến Tĩnh Sơn để đo đạc. Tu viện ở lưng chừng núi ở thị trấn Hoa Đàm, bên phải có một khu mộ rộng lớn rất âm u. Buổi tối hôm ấy, tôi đi dạo ở sân trước của ngôi nhà, cha Tô đứng bên dưới một bụi trúc ở phía xa xa, trên người mặc pháp y màu đen, quấn cổ áo màu trắng quanh cổ, trên tay ôm quyển Kinh Thánh. Đầu tiên tôi không phân biệt được ông ấy là cha xứ hay là mục sư, cử chỉ của ông ấy rất khoan thai, liên tục đặt tay lên trán làm lễ với tôi. Tôi không nhìn rõ khuôn mặt ông ấy, đại khái là người uống thuốc độc mà chết thì sẽ rất khó coi, cho nên ông ấy cố ý không hiển hiện quá rõ ràng.

“Chào cha.” - Tôi nói.
”Tôi đi theo anh từ tu viện Tĩnh Sơn đến đây.” - Ông ấy ôn tồn nói: “Thần bảo hộ của Tĩnh Sơn nói anh có thể giúp tôi giải quyết khó khăn.”
”Cha có khó khăn gì?”
”Tôi là cha xứ của Kim Thập Tự Đường ở địa phương nọ, tôi yêu thương anh chị em tôi, nhưng mỗi lần gặp mặt họ và trở về, tôi luôn bị chặn bởi thần bảo hộ Morne của Thánh đường, ngài cho rằng thân tôi không sạch sẽ, không thể vào Thánh đường. Hơn nữa thân tôi mang tội lỗi, vì thế ngài từ chối tôi, trừ phi có người mang nước phép đến vẩy lên người tôi thì tôi mới có thể đi vào. Tôi chờ cơ hội đến nay thì cuối cùng mới gặp được một người thông linh.”

Tôi đáp ứng yêu cầu của mục sư Tô, đã đến Kim Thập Tự Đường, lấy bình đựng nước Thánh ở cả hai bên ở bên trong Thánh đường. Vào trong Thánh đường, tôi quỳ lễ một mình. Ra khỏi Thánh đường, tôi ngẩng đầu lên thì nhìn thấy một vị thiên sứ to lớn giang đôi cánh rộng che kín cả mái ngói của giáo đường, vẻ bề ngoài màu trắng khiến người ta cảm thấy lóa mắt. Thiên sứ của Thánh đường hiện ra thì đều có nguyên do. Thiên sứ thấy tôi dùng bình đựng nước Thánh thì có lẽ cảm thấy rất lạ lẫm và kì quái.

Ngài nói: 
”Con mắt tiên sinh khác với người thường, chẳng lẽ tiên sinh có thể nhìn thấy tôi?”
”Đúng vậy, tôi nhìn thấy ngài, đôi cánh che phủ cả giáo đường, ngài là thiên sứ bảo hộ Morne đúng không?”
”Đúng vậy, tiên sinh dùng bình đựng nước làm gì?”
”Để tịnh thân cho cha Tô, để cha có thể tự do ra vào Thánh đường.”
”Chà!” - Thiên sứ nói: “Cha Tô là một cha xứ tốt, nhưng cũng lại nghĩ quẩn, ta dựa theo trách nhiệm của mình nên đành phải ngăn chặn không cho ông ấy vào, bởi vì Thánh đường không cho phép những linh hồn ô uế đi vào. Nếu ông ấy tịnh thân rồi thì ta sẽ không chặn ông ấy nữa, chỉ mong linh hồn của ông ấy có thể tu thành siêu phàm nhập Thánh, trở thành một Thánh linh mang tội chuộc thân.”

Mặc dù tôi và cha Tô không cùng giáo phái, nhưng nhờ có sự việc này mà sau đó chúng tôi đã trở thành bạn tốt. Mặc dù ông ấy lớn hơn tôi nhiều tuổi, nhưng chúng tôi đã trở thành bạn vong niên rồi!

Còn về gia quyến của ông Chung Hữu Nhân, vợ ông ấy muốn đặt bài vị ông ấy ở trong nhà nên đã tìm đến tôi. Khi ấy linh cốt của ông Chung được để ở linh cốt tháp trong chùa Bích Sơn Nham ở Nam Đầu, cho nên cần phải dẫn linh. Tôi chuẩn bị vào ngày chủ nhật sẽ đến khu dân cư mới Trung Hưng để an linh vị cho nhà ông Chung, nhưng buổi tối ngày thứ bảy thì ông Chung đã đến gặp tôi. Đó là lúc nửa đêm, ông ấy đứng sừng sững trước giường tôi. 
Ông ấy rối rít hét lên với tôi: 
“Nhớ ngày mai, nhớ ngày mai, nhớ ngày mai, nhớ ngày mai…”
Tôi nói: 
“Đừng nóng, tôi nhất định sẽ đi.”
Tôi lại hỏi ông ấy: 
”Làm sao mà ông chết?”
Ông ấy kéo ống quần tây lên, lộ ra hai cẳng chân, chân không có thịt, xương thì bị đen hết cả. 
Tôi nói:
”Ung thư xương.”
Ông ấy gật gật đầu, sắc mặt u ám muốn khóc, tôi an ủi ông ấy.

Ngày chủ nhật, tôi đến khu dân cư mới Trung Hưng, tất cả y theo nghi quỹ Phật giáo để dẫn linh, tịnh linh, an linh, tụng kinh sám hối.
Tôi hỏi bà Chung còn trẻ tuổi:
”Chồng bà chết vì bệnh ung thư xương đúng không?”
”Đúng vậy.” 
”Chồng bà tính tình rất nóng nảy đúng không?”
”Đúng vậy, nhưng sao anh biết?” - Bà Chung hỏi đầy kinh ngạc. 
Tôi cười cười không đáp, tôi nghĩ nếu tôi nói ra, bà ấy có tin không?


### 05. Bí mật về thông linh


Một lần trong tờ Reader’s Digest ấn bản Trung Quốc, tôi đọc được một bài viết về Thần y Brazil Eligo. Bài viết đã chỉ ra: “Gây mê và khử trùng là điều không thể thiếu trong phẫu thuật hiện đại. Nhưng vào những năm 1950 và 1960, tại một thị trấn hẻo lánh ở Brazil, có một người đàn ông ít học tên là Eligo, ông được cho là đã thực hiện hàng trăm ca phẫu thuật mà không cần đến các loại thuốc và kĩ thuật này. Nhiều người nói rằng bệnh nhân không cảm thấy đau khi ông ấy mổ, dù đó là bệnh đục thủy tinh thể hay căn bệnh ung thư nan y thì ông ấy đều có thể ra tay khiến họ khỏi bệnh. Trong số những người được gọi là thần y thì những ghi chép về sự tích của Eligo là tường tận và chính xác nhất. Có tin đồn ở Philippines rằng có một số thần y không được đào tạo về y tế, nhưng sau đó chúng được tiết lộ là trò lừa bịp. Nhưng Eligo thì khác, chưa từng có ai tìm ra đủ bằng chứng để chứng minh ông lừa đảo, rốt cục làm thế nào ông làm được những điều kì diệu này thì cho đến nay vẫn còn là điều bí ẩn.”

Eligo tuyên bố rằng có một bác sĩ người Đức tên là Fritz qua đời vào năm 1918, và linh hồn của ông ấy đã nhập vào Eligo, khiến ông có đầy đủ những năng lực phi thường.

Đối với việc linh nhập này, có vẻ trên khắp thế giới đều có, không phân biệt quốc tịch. Đương nhiên, vẫn còn rất nhiều người không tin vào chuyện linh nhập, nhưng ai đã từng bị linh nhập, thân rơi vào trong trạng thái ấy, thì tự nhiên sẽ tin vào sự tồn tại của linh hồn, không dễ dàng hoài nghi. Tác giả của bài viết trên tờ Reader’s Digest đó bản thân là một bác sĩ, căn bản là ông ấy không tin vào thần y Eligo nên từng quan sát một thời gian dài, và bác sĩ ấy cũng cho rằng là bất khả tư nghì.

Bởi vì bản thân tôi cũng có năng lực trên phương diện này, những người bị linh nhập mà tôi từng gặp thật sự là quá nhiều, có một số linh là thiện, họ xem việc giúp đỡ người là niềm vui, có một số linh là ác, khi linh nhập vào thì sẽ làm trò hề. Ví dụ truyền kì về thần y Eligo, đó là thiện linh của bác sĩ người Đức nhập vào người của Eligo để giúp chữa bệnh và phẫu thuật cho con người, lợi dụng linh lực đặc thù để chữa trị những căn bệnh đã hết hi vọng.

Tôi cho rằng linh nhập cũng là một dạng thông linh, con người trở thành công cụ của linh, chịu sự khống chế của linh, hiện tượng này giống như kê đồng ở nước ta. Người bị linh nhập là vì nguyên nhân gì mới có thể bị nhập? Thông qua nghiên cứu của tôi, tôi phát hiện ra linh hồn là một khối khí trong không trung, vốn là khí tự do vô hình nhưng tụ tập lại, năng lượng của chúng thì mỗi cái một khác. Và trên thân mỗi con người cũng có một khối khí bẩm sinh, cũng chính là linh hồn của con người, nếu linh khí trên thân người chúng ta và linh khí của ngoại giới có thể cảm ứng lẫn nhau thì con người này không cần phải trải qua một dạng trình tự nào cả mà tự nhiên có thể bị linh nhập.

Sự giao tiếp giữa linh và linh là nhờ vào tần số để cảm nhận lẫn nhau, ví dụ linh hồn trên thân một người nào đó và một linh nào đó của ngoại giới có tần số ngang bằng, như thế rất tự nhiên có thể cảm nhận được thôi! Cái này giống như hội thoại trên radio, nếu tần số bằng nhau thì bạn có thể nghe được. Cho nên mỗi khi xảy ra hiện tượng linh nhập, người bình thường bị linh nhập chắc chắn bộ phận nào đó trên thân thể sẽ dao dộng nhịp nhàng hoặc lắc lư, nhưng không nhất định là lúc nào cũng như thế. 

Tác giả có biện pháp khiến cho mỗi người đều có thể bị linh nhập, đương nhiên việc đó cần phải trải qua một loạt thủ tục, nếu bạn chủ động tìm kiếm linh giới, tôi cho rằng mỗi người đều có thể thành công.

Tôi từng được mời đến Trung Lịch gặp một người phụ nữ khổ sở không sao chịu nổi, cô ấy họ Trình, tốt nghiệp đại học Trung Hưng, trông cực kì xinh đẹp. Khi chưa bị linh nhập thì tính tình dịu dàng, hòa nhã thân thiện. Sau khi bị linh nhập, sắc mặt trở nên dữ tợn dị thường, miệng nói lảm nhảm, khỏe như trâu, phá hoại hết đồ đạc trong nhà, giống như đang xả cơn tức giận vậy. Người nhà cô ấy cũng từng tìm đến các bác sĩ khoa thần kinh, ngoài điện liệu ra thì còn uống thuốc an thần, nhưng chẳng có biện pháp nào tốt hơn. Con người cô ấy khi chưa bị linh nhập và lúc bị linh nhập hoàn toàn là hai người khác nhau.

Khi tôi đến nhà cô ấy, ban đầu cô ấy ngoan ngoãn đi từ trên tầng xuống, dáng vẻ trang nhã, phong thái duyên dáng, nhưng đột nhiên cô ấy thay đổi sắc mặt, đầu lắc điên cuồng, xõa tung tóc ra và lắc, bôi đầy nước bọt lên mặt. Khuôn mặt xinh đẹp lúc ban đầu đã biến thành dị hình dị dạng. Cô ấy nhảy từ tầng trên xuống tầng dưới, túm lấy cái ghế quăng ra ngoài, tiếng gào thét kinh khủng, chỉ có chồng cô ấy miễn cưỡng giữ cô ấy lại. Tôi im lặng đứng bên cạnh xem động tác của cô ấy, dùng “khởi âm nhãn pháp” để quan sát. Tôi nhìn thấy trên người cô ấy có một linh hồn ướt sũng từ đầu đến chân nhập vào, linh hồn ấy vẫn còn lớn tiếng hét lên: “Tôi không cam tâm, trả lại mạng cho tôi, trả lại mạng đây!”

Tôi đi ra sau lưng người thiếu phụ, dùng bàn tay vỗ ba cái vào lưng cô ấy, tay bắt kiếm quyết rồi vạch lên lưng cô ấy một lúc, linh hồn kia bật ra khỏi người cô ấy rồi bỏ chạy tan biến như một làn khói. Còn người phụ nữ khi tỉnh lại thì nhìn tôi bằng con mắt ủ rũ, cảm thấy ngượng ngùng. 

“Khi cô bị nhập thì cô vẫn còn tỉnh táo phải không?”
”Đúng vậy, nhưng thân bất do kỉ, tôi không biết phải làm sao?” - Cô ấy đưa tay chải tóc.
”Trong nhà có ai bị chết đuối không?” - Tôi hỏi.
”Không có.” - Cô ấy và chồng đồng thanh nói: “Không có đâu!”
”Tôi nhìn thấy một linh hồn đàn ông toàn thân ướt sũng nhập vào người cô, hắn đầy căm phẫn.”

Hai người họ im lặng không nói gì. Cuối cùng, họ thành thật kể với tôi, khi cô ấy học đại học Trung Hưng có một cậu bạn học điên cuồng theo đuổi cô ấy, nhưng từ đầu tới cuối đa tình mà chẳng được gì thì thành mối hận suốt đời, cô ấy không hề để ý đến cậu bạn này. Cuối cùng, cậu bạn học yêu sâu sắc và hận cũng sâu sắc, đã nhảy xuống đầm Nhật Nguyệt tự sát, lúc chết còn để lại lời trăng trối là không quên được cô ấy, thề sẽ không để cho cô ấy yên.

“Hai người vẫn nên siêu độ cho anh ta đi, siêu độ đi, để xoa dịu oán khí của anh ta.”
”Được thôi.”
Kết quả sau đó thế nào, họ chưa từng liên lạc lại với tôi nên tôi cũng không biết. 
Việc linh nhập vào thân như thế này từ xưa đến nay có nhiều lắm, nếu nghiên cứu sâu thì ắt sẽ có thu hoạch. 


### 06. Truyền kì về bùa phép


Sau khi cuốn sách “Mạn đàm linh cơ thần toán” được xuất bản thì đã có rất nhiều đạo hữu sôi nổi bàn luận, có người tán dương, có người chửi bới, và có một số thuật sĩ giang hồ ai đọc được thì đều kinh hãi. Những người bình thường dựa vào việc lên đồng làm kế sinh nhai thì như đứng trên đống lửa ngồi trên đống than. Những kê đồng chân chính thì không hề gì, những kẻ sợ hãi là những kê đồng giả thần giả quỷ vừa đọc được cuốn sách này thì giống như ảnh hiện hình, yêu pháp khó mà phát huy. Họ đối với tác giả cuốn sách thì chỉ sinh ra tâm lí vừa đố kị vừa ao ước. Hơn nữa, lại có một số phù tử tiên [người chuyên vẽ bùa chú] cao ngạo có những điều bất lương trong lòng, muốn đưa tôi vào chỗ chết không tha. Ôi lòng người, lòng người! Đúng là càng thay đổi càng thối tha.

Sau khi cuốn sách ấy phát hành được hai tuần, vào một buổi tối khoảng 11 giờ 40 phút, tôi đang nằm trên giường, trong đầu kiểm điểm lại những ưu khuyết điểm trong một ngày của mình. Đúng vào lúc tâm trí tôi đang chạy băng băng, bỗng nhiên tôi thấy bên ngoài cửa sổ bay vào một vệt ánh sáng trắng. Theo kinh nghiệm thông thường của tôi, đó là linh quang co duỗi của phù, xung quanh ánh sáng trắng ôm lấy một khối khí đen, có thể thấy phù này mang đến điều hung, không phải phù thiện, nếu là phù thiện hoặc thư nhắn của thần minh thì lớp bên ngoài ánh sáng trắng nhất định sẽ là các vòng tròn màu đỏ. Vì thế, trong lòng tôi có sự cảnh giác, tôi ngồi dậy, trong lòng cung kính niệm: “Thân tức biến kim sơn, năng ẩn thiên vạn phù, nhu kim toái thiết đoạn, thương cung nỗ đao phủ, thông thông bất cận thân. Ngô Liên Sinh phụng Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh cấp cấp như luật lệnh.” Tôi liên tục niệm chú, nhưng linh quang của phù vẫn hừng hực, người tung ra phù này công lực đã đạt đến mức thượng thừa, mặc dù phù không thể lập tức xông thẳng tới, nhưng phạm vi cũng dần dần thu nhỏ lại. Trong lòng tôi lo lắng, mồ hôi túa ra, tôi nhìn thấy người đã tung ra phù này là một người già, người này nhất định là phù tử tiên hạng nhất hạng nhì ở cả Đài Loan. Ông ấy để lộ ra nụ cười gằn.

Tôi biết nếu để cho tà pháp này đánh trúng người thì linh khí trên người tôi nhất định sẽ tiêu hao quá nửa, người cũng sẽ trở thành sống thoi thóp, giống như bị mắc bệnh nặng, và những âm linh khác cũng có thể xâm nhập. Đột nhiên tôi nghĩ đến chú thu phù mà trước kia tôi đã học: “Long y, long y, tốc tốc phúc thể, long trảo, long trảo, cấp cấp thu phù.” Tôi giơ năm đầu ngón tay của mình ra, vận động linh công, túm về phía trước, lá phù kia bỗng nhiên rung lên, giãy giụa thoát ra khỏi tay tôi, bay vụt vào không trung, một lát sau thì tiêu biến không thấy nữa. Tôi nghĩ, đây nhất định là đối phương phù tử tiên kia chờ lâu mà chưa thấy công hiệu, hơn nữa tôi lại niệm chú “long y long trảo”, công năng lớn nhất của chú này chính là bảo vệ thân thể và thu về tà phù, vì thế ông ta mới thu phù về để tránh chân khí phá vỡ phù, hiệu quả chưa thấy mà ngược lại còn chịu tổn hại.

Thêm nữa, sau khi sự việc này qua đi không lâu, liên tục ba đêm khi tôi đi ngủ, toàn thân tôi lạnh như băng, răng va vào nhau lập cập, tôi co người lại như một con tôm, đắp tới tận ba cái chăn mà vẫn cảm thấy lạnh, đầu tôi còn hơi nóng, thân tâm thì mệt lử. Tôi nghĩ rằng tôi bị ốm rồi, có lẽ là thân thể bị nhiễm phong hàn, tứ đại không điều hòa, âm hỏa quá thịnh, nên tôi cũng không để ý.

Tôi miễn cưỡng gắng gượng đến Phật đường làm pháp sự tụng kinh thì nghe thấy Kim Tra thần tướng nói với tôi: “Liên Sinh, bệnh của mình vẫn còn chưa trừ được thì làm sao cầu phúc cho người khác chứ?”
”Lời này là có ý gì?”
”Trong cuốn “Mạn đàm linh cơ thần toán” có họ tên, địa chỉ của anh, hơn nữa còn có giờ ngày tháng năm sinh của anh nữa, đây chính là một sai lầm lớn. Hôm nay có một người giỏi làm phù chú tự xưng là Thông Thiên Chân Nhân đọc được sách mà anh viết, trong lòng thèm muốn, nhưng cũng lại ghen ghét, cho rằng đạo hạnh của anh đã cao như vậy rồi, chi bằng kiểm tra anh thử xem, thử thi đấu, thử đọ sức, thế là ông ta dùng rơm tết thành một người rơm, trên đó viết ngày tháng năm sinh của anh, đặt trên ngọn đèn ba hồn bảy vía, lợi dụng giờ Tí hút khí bắt lấy hồn phách của anh, sau đó quăng người rơm vào trong hầm chứa đá lạnh băng băng, để cho anh nếm thử mùi vị của băng lạnh.” - Kim Tra thần tướng nói. 

“Thì ra là như vậy.” - Đến đây tôi mới hiểu, thì ra có người lén lút giở trò, tôi hỏi Kim Tra thần tướng: “Vậy tôi phải làm sao mới được đây, việc bắt nhốt hồn phách tôi đã từng đọc trong cuốn sách diễn nghĩa cũ, lẽ nào hôm nay thật sự có người biết pháp này sao?”
”Trong thiên hạ thì chẳng việc gì là không có. Người trong thiên hạ, cao nhân liên tục xuất hiện, pháp này dễ làm, vị Thông Thiên Chân Nhân kia là một thầy xem tướng mệnh, khi xem tướng mệnh cho người ta thì luôn báo trước người đó khi nào sẽ sinh bệnh. Khách đến xem bán tín bán nghi, nhưng đích thực là đến ngày hôm đó thì toàn thân thoắt lạnh thoắt nóng, giống như là mắc bệnh nặng vậy, chuẩn như thế thì lời của thầy tướng mệnh ai dám không tin chứ! Và thầy tướng mệnh kia lại chỉ thị ngày nào giờ nào đó nhất định sẽ khỏi, kết quả là cũng đoán chuẩn cực kì. Đây chính là một trong những cách kiếm tiền của ông ta đó.”

“Pháp này là dùng người rơm đặt vào trong hầm chứa đá lạnh băng băng, sau đó lấy ra, bỏ vào trong dầu sôi, rồi lại lấy ra bỏ vào trong hầm chứa đá, cứ làm tới làm lui như vậy, người bị cúng tế cũng sẽ bị lúc nóng lúc lạnh không chịu nổi!”
”Liên Sinh, anh dùng “chiêu hồn đại pháp” của Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh thử xem, để gọi hồn phách quay về, bảo đảm không có chuyện gì.”

Thế là tôi thi triển “chiêu hồn đại pháp”, quả nhiên chính tôi đã mất đi một hồn một phách mà bản thân cũng không biết, thật sự là tôi quá sơ ý bất cẩn rồi!

Tôi viết ra hai sự việc có thật ở trên để giới thiệu thuật phù bay và thuật cúng tế người rơm bắt hồn, tôi tin rằng rất nhiều độc giả nhất định sẽ hiểu đạo lí ở trong đó. Người trong thiên hạ có tà có chính, người chính làm pháp nhất định là chính, người tà làm pháp nhất định là tà, đây chẳng phải là phù chú pháp thuật có phân biệt tà chính, mà là lòng dạ làm pháp của con người có sự khác biệt. Nếu trong lòng con người có thiện niệm thì hành vi chắc chắn không có sai lầm. Thuật pháp phù chú đều là một phương pháp do con người vận dụng linh lực để làm việc, sự khác biệt chính tà không nằm ở bản thân pháp mà là ở lòng người thẳng hay lệch mà thôi.

Tôi viết một cuốn sách đã đủ khiến cho tiểu nhân tà sĩ sợ mất vía, nhưng cũng có một số người không biết lượng sức mình mà làm tà phù! 


### 07. Oan hồn trong giếng


Trong một ngôi nhà nông thôn cổ xưa ở thị trấn Đại Lý thành phố Đài Trung, tôi đã gặp một người phụ nữ cao tuổi quanh năm bị bệnh đau buốt bả vai, tuổi tác khoảng 59, tóc hoa râm. Chồng bà ấy tên là Lâm Kim Hùng, làm nghề nông, mắc bệnh phong thấp. Họ có hai người con, người con gái đã đi lấy chồng, còn người con trai thì 30 tuổi, cũng thường xuyên bị đau đầu. Chủ nhân nói với tôi: “Ở trong căn nhà này không có được một ngày bình yên, cho nên đặc biệt mời tiên sinh đến nhà tôi xem xét một chút.”

Tôi đi một vòng quanh ngôi nhà, đây là một chái nhà kiểu nông thôn rất phổ thông ở tỉnh này, gian giữa thờ tượng Quan Âm, linh vị của tổ tiên, chái nhà bên phải là phòng ngủ, nơi sinh hoạt và nhà bếp, chái nhà bên trái để dụng cụ làm nông và kho thóc, những điều này không có gì lạ lùng. Theo cách nhìn của địa lí phong thủy thì phía trước có một con suối quang đãng chảy róc rách, cánh đồng lúa xanh tươi trải dài đến vô tận, ở giữa cũng có điểm xuyết một vài ngôi nhà tranh. Sau nhà thì nuôi gà vịt, một rặng trúc, gió thổi trên ngọn trúc phát ra tiếng lao xao rì rào, phong cảnh cũng không tệ, phía trước thoáng đãng, sau lưng có chỗ dựa. Theo lí mà nói thì sống trong căn nhà này phải rất bình yên mới phải.

“Ngôi nhà này rất tốt đó!” - Tôi nói.
”Địa lí ngôi nhà tốt ư? Nhưng vì sao sống ở đây lại không bình an?”
”Thế này đi! Buổi tối tôi lại xem thêm một lần nữa, nói chung thì có một số thuật địa lí phong thủy vào ban ngày và ban đêm có khác nhau, có lẽ ban ngày thì là phong thủy tốt, nhưng ban đêm thì lại biến thành phong thủy xấu đó!”

Khi tôi đi ra bên ngoài ngôi nhà, lão nông dân nói với con trai của ông:
”Người thanh niên này xem địa lí ngôi nhà thật khiến cho người ta chẳng dám tin tưởng, có lẽ nào là kẻ lừa đảo không? Chứ không thì sao mà xem cả nửa ngày cũng chẳng nói câu nào đã bỏ đi rồi.”
”Không phải đâu, muốn mời anh ta đến nhà chúng ta đây một chuyến cũng rất khó đó, việc của anh ta vừa nhiều vừa bận.”

Buổi tối hôm ấy, tôi đạp xe từ Đài Trung đến xã Đại Lý, đi qua một khu mộ, đứng phía trước khu mộ có không ít vong hồn, họ chào hỏi tôi, tôi cũng rất khách khí với họ. Chiếc xe đạp của tôi vút qua, khi đến miếu Thất Tướng Quân, tôi nhìn thấy một con thần khuyển gác cổng ra sức sủa “gâu gâu” về phía tôi, chắc là Thất Tướng Quân không có nhà rồi! Dù sao thì tôi và Thất Tướng Quân cũng có duyên gặp mặt một lần rồi đó! Thất Tướng Quân ở đây là bảy linh hồn chết yểu, được chôn ở phong thủy bảo huyệt có linh khí tương đối nặng, cho nên có được địa linh, coi việc ở âm gian giúp đỡ người ta là niềm vui, thiện hạnh làm cảm động tới trời, vì thế nên được xây miếu xưng thần.

Trên đường phố Đại Lý rẽ vào một con đường nhỏ, hai bên đường người đi đường thưa thớt, trăng mờ sao vắng, có thể nghe thấy rất rõ tiếng nước chảy ở trong những hào nước nhỏ ở ruộng hai bên. Tôi ước chừng đã đi được nửa đường thì bỗng nhìn thấy có hai cái bóng đứng ở bên đường, chúng hét lên với tôi: “Giếng, giếng, giếng.”
”Giếng? Là ý gì?” - Tôi dừng xe lại hỏi.
Nhìn lờ mờ thì thấy hai người họ là một nam một nữ, nhưng họ hiện lên không rõ ràng, toàn thân ướt rườn rượt, khuôn mặt thì không thể nhìn ra được là như thế nào.

“30 năm trước, tôi và em gái tôi chết trong giếng, sống nhờ ở giếng, linh khí sẽ thất tán đi, nhưng vì muốn có linh khí sinh tồn, chỉ có thể nhờ vào dương khí mà sống. Hai chúng tôi không dám đi xa, chỉ biết bám gót ông Táo Quân, hai chúng tôi muốn dựa vào khí của người ta mà sống, nhưng ông Táo Quân không đồng ý. Ông Táo Quân nói, trong số mạng của cha mẹ tôi sẽ phải mang kiếp bệnh 30 năm, vì thế chỉ có thể dựa vào cha mẹ và người nhà tôi mà sống thôi. Chúng tôi mặc dù bất hiếu nhưng cũng là bất đắc dĩ. Ban ngày, chúng tôi biết là anh sẽ đến, có lẽ có thể cứu được chúng tôi. Chúng tôi chờ đợi chính là ngày này.”
Nói xong, họ đột ngột biến mất.

Tôi nhìn thấy ông Táo Quân ở phía trước lảo đảo bước đi, đại khái là ông Táo Quân đó thích uống rượu lâu năm, uống say khướt rồi, tửu khí cao ngút trời.

Tôi vừa đến nhà người nông dân kia thì hỏi luôn: 
”Giếng nhà ông ở đâu, dẫn tôi đi xem.”
Tôi và họ đi đến bên giếng, hoạt linh đặc biệt của tôi lập tức cảm nhận được những luồng âm khí. Trở về phòng khách, tôi hỏi họ:
”Ông bà có hai người con đã chết trong giếng này đúng không? Ông bà vốn dĩ là có bốn người con, hai người con ở dưới giếng là một nam một nữ, tính đến nay nam 33 tuổi, nữ 32 tuổi, lí do vì sao mà sức khỏe của gia đình ông bà từ đầu tới cuối đều không bình an chính là ở đây.”

Tôi nói cho họ biết đầu đuôi ngọn ngành sự việc mà tôi vừa gặp. 
”Là như thế này, con Lệ vào lúc 2 tuổi chơi đùa ở cạnh giếng, rơi xuống giếng, anh trai nó là thằng Vượng vì muốn cứu em gái mình nên cũng rơi xuống giếng, đến khi chúng tôi cứu chúng lên thì hai đứa đã không còn thở nữa rồi, hu hu! Tội nghiệp chúng quá!” - Bà Lâm vừa nói vừa khóc.
”Đúng vậy, đúng là việc của 30 năm trước.” - Ông Lâm bấm ngón tay đếm và nói. 
”Bây giờ phải làm thế nào mới được?” - Con trai ông Lâm Kim Hùng hỏi tôi. 
”Để tôi tụng kinh độ hóa cho họ vậy!”

Thế là tôi đặc biệt làm một pháp hội siêu độ, cúng cho hai anh em họ, cầu Địa Tạng Vương Bồ Tát làm chủ, khi hồi hướng tôi niệm: “Tất cả chúng sinh, vô thủy tới nay, đủ mọi điên đảo, tưởng nhầm rằng tứ đại là thân tướng, lục trần duyên ảnh là tâm tướng của mình, giống như bị bệnh mắt thấy trong không khí có hoa và có mặt trăng thứ hai. Không trung thật sự đâu có hoa, người bệnh cố chấp mà người chết cũng thế. Cho nên cứ luân chuyển sinh tử, gọi là vô minh. Nay Liên Sinh cầu khẩn Minh Vương Đại Pháp Chủ, theo tất cả các linh hồn không có hình tướng, ẩn thân trong hư không, sắp xếp họ vào nơi của họ, theo nghiệp mà thọ sinh… “ Niệm xong, hai hồn ma kia từ bên cạnh tôi bay lên không, đi vào trong một bánh xe pháp lớn, chủ nhân của bánh xe pháp này chính là Chuyển Luân Thánh Vương.

Thế là ông lão chủ nhà họ Lâm, bà Lâm và con trai họ bỗng dưng bệnh tình thuyên giảm hẳn. Không bao lâu sau thì bệnh trên người đã hoàn toàn bình phục, họ cảm thán rằng: linh hồn có thật.


### 08. Chân tướng của âm gian


“Lục độ tập kinh” có câu nói: “Mạng người giống như dắt trâu vào lò mổ, dắt đi một bước thì trâu gần hơn một bước đến chỗ chết; người sống được một ngày giống như một bước đi của trâu, mạng sống cứ thế chảy đi mất!” Sinh tử của con người là có định số, đây là một quan niệm về định mệnh, con người chết rồi thì thần thức (linh hồn) sẽ đi về nơi ấy. Có người nói thiên đường, có người nói địa ngục, nhưng tôi thì nói là âm gian, cái gọi là âm gian cũng chính là thế giới của linh. Trong nhận thức của tôi, thiên đường và địa ngục đều nằm trong phạm vi của âm gian, đây là một dạng thế giới của khí, không gian bốn chiều, không gian vô hình.

Có người hỏi tôi đã đến âm gian chưa? Tôi cười lớn ha ha, không những tôi đã từng đến mà còn vĩnh viễn định cư tại âm gian nữa, vì sao tôi lại nói như vậy? Bởi vì âm gian và dương gian giống như cách nhau một tờ giấy mà thôi, thật ra cũng không thể nói như vậy, tôi nói, âm gian và dương gian là nhất thể lưỡng diện [hai mặt của một vật thể]. Một số thầy địa lí xem phong thủy có cái gọi là dương trạch (nhà cửa mà người sống ở), âm trạch (thành phố của người chết), nhưng tôi lại nói: nơi âm trạch có lẽ không có âm linh tồn tại, ngược lại mỗi một gian dương trạch, quá nửa đều có âm linh cùng sống, cùng nằm, chỉ là con người không thể cảm giác được sự tồn tại của họ mà thôi. Âm linh sống trong dương trạch phần lớn là tổ tiên của chính mình, hoặc là thế hệ cùng lứa hoặc thế hệ sau của mình bị chết yểu.

Âm linh có quấy nhiễu con người không? Tôi cũng cho rằng có thể, sinh hoạt thường ngày của âm linh, cá tính của âm linh thường xuyên có thể ảnh hưởng đến tính tình và tâm trạng của mỗi cá nhân, linh khí của âm linh có lớn có nhỏ, nhỏ thì cũng chẳng thể làm được gì, trái lại còn sợ người nữa. Còn nếu linh khí của âm linh nặng thì sẽ trở nên có thể khống chế con người, khiến con người không tự chủ được mà làm ra rất nhiều động tác kì quái. Khí của âm linh có thể khống chế trí tuệ của con người, khiến tư duy của họ khác người bình thường, cho nên các nhà khoa học thông minh sau khi chết trở thành hồn ma thông minh, họ bí mật gợi ý cho các nhà khoa học còn sống, khiến cho các nhà khoa học còn sống gặp được gợi ý đó mà phát minh ra các thứ, thậm chí âm linh của các nhạc sĩ có thể dạy dỗ ra được một nhạc sĩ vĩ đại trong tương lai.

Thế giới của âm linh cũng chính là thế giới của tinh linh, trên trời, dưới đất, dương trạch, âm trạch, sông biển, núi rừng, nơi hoang dã đều có bóng dáng của họ. Một điểm quan trọng nhất là họ sống nhờ vào khí, chỉ cần nơi nào có khí thì họ đều có thể tồn tại một cách vô hình, đến đi tự nhiên, bởi vì bản thân họ cũng chính là một khối linh khí, linh khí còn sống sờ sờ.

Người sống có một số mệnh nhất định, tương tự, người chết cũng có một số mệnh nhất định. Ở âm gian cũng có phân biệt thọ mạng, thọ mạng có phân biệt dài ngắn, cũng giống như dương gian. Số mệnh của họ cũng phải chịu sự kiểm soát của sức mạnh tự nhiên vô hình của địa phương, chịu sự kiểm soát của sinh tử luân hồi, cho nên mới có thuyết chuyển thế đầu thai. Con người sau khi chết không nhất định là sẽ lập tức chuyển thế làm người, cũng có cả những linh hồn ngồi đần ra ở âm gian tới cả trăm năm nghìn năm! Đường nối của âm dương, tôi cho rằng là như thế này, dương sinh ắt âm tử (người sống thì linh chết), âm sinh ắt dương tử (linh sống thì người chết). Thế nhưng cũng có ngoại lệ, đó là thiểu số trong thiểu số thôi, ví dụ lấy chính bản thân tôi để nói đi! Tôi là người sống mà linh cũng sống, bởi vì linh của tôi sống cho nên tôi có thể nhìn thấy thế giới vô hình, nghe được âm thanh của thế giới vô hình, tiếp xúc được với những thứ mà người bình thường không tiếp xúc được, hiểu được những điều mà người bình thường không thể hiểu được. Những việc này nói ra thì rất thần kì, thật ra cũng có gì kì quái đâu!

Tôi viết cuốn sách “Mạn đàm về linh cơ thần toán” chính là do chủ thần trong Phật đường của tôi là Diêu Trì Kim Mẫu chỉ thị cho tôi viết. Ngài muốn tôi nhất định phải viết ra, đây chính là một trong những mục đích mà ban đầu ngài tìm tôi, để khiến những người ngày nay không tin vào quỷ thần, người không tin vào thiện ác quả báo, người không tin nhân quả, trong lòng sẽ có sự cảnh giác, đừng cho rằng người chết đi rồi thì tất cả đều diệt hết, làm việc xấu cũng chẳng làm sao cả, thật ra chẳng những liên lụy đến con cháu mà đồng thời còn liên lụy đến chính mình nữa! Trong cõi vô hình tự có quỷ thần bí mật chi phối đó.

Tôi lấy một ví dụ để nói rõ. Từng có một lần, tôi đồng ý với một số người làm pháp hội siêu độ, có rất nhiều người báo danh, dự định vào ngày chủ nhật nọ sẽ tiến hành pháp hội. Thế nhưng khi gần đến ngày pháp hội thì tôi đột ngột nhận được công văn, là một công văn cực kì khẩn cấp, không đi giải quyết công việc ở nơi xa không được, thế là chỉ còn cách phải hoãn lại thời gian làm pháp hội một tuần, đổi thành tuần kế tiếp sẽ tiến hành. Quyết định tới vào phút chót thì tôi cũng thông báo vào phút chót, nên tự nhiên cũng bỏ sót khá nhiều người không thông báo được.

Vào buổi tối ngày chủ nhật dự định làm pháp hội, tôi ở trong một khách sạn ở Đài Bắc, đêm ấy tôi vừa nhắm mắt lại thì có một đám người đứng ở phía trước giường tôi, trong đó có mấy người chỉ vào mũi tôi mắng: 
“Chẳng phải hôm nay làm pháp hội siêu độ sao? Sao anh lại không làm, chạy đến chỗ này làm cái gì? Anh đã hẹn trước với chúng tôi, chúng tôi đặc biệt tới đây tính sổ với anh đó.”
”Khoan đã! Tôi chắc chắn sẽ làm pháp hội siêu độ, hôm nay tôi có việc phải làm ở dương gian, chủ nhật tuần sau nhất định sẽ làm, mong mọi người thứ lỗi cho tôi.” 
Tôi phải tốn khá nhiều lời giải thích thì cuối cùng mới dần dần dẹp yên được sự ồn ào vì tức giận bất bình của họ. Ôi! Tôi vốn dĩ sống rất khỏe, bây giờ thì một mặt phải làm công việc ở dương gian, một mặt lại phải chăm lo đến âm gian.

Lúc này tôi nghĩ đến một câu trong “Kinh Niết Bàn”: “Mạng người không dừng, qua núi rồi lại xuống sông, hôm nay mặc dù còn sống, nhưng ngày mai cũng khó đảm bảo, huống chi buông thả tâm vào những việc ác. Sức khỏe hay sắc đẹp cũng không dừng, ví như ngựa phi, làm sao có thể dựa vào những thứ ấy mà sinh tâm ngạo mạn. Giống như ác quỷ rình mong có người đi qua, tứ đại ác quỷ thường rình mong có ta đi qua, bảo sao lúc nào cũng có thể khởi lên ác ý. Ví như ngôi nhà cũ sắp sụp, mạng ta cũng thế thôi.”
Ôi! Con người không hành thiện, còn chờ đến bao giờ?


### 09. Thực tướng và huyễn tướng


“Kinh Giải Thâm Mật” có nói: “Phật nói, tính của mọi pháp vốn là tịch tĩnh, tự tính của pháp là niết bàn. Vì là niết bàn, không thể nhận đó là tính của nó, do vậy nói là vô tự tính. Có tính toán và chấp vào pháp nên mới có chúng sinh tướng, chỉ là tên giả chứ thật ra không có. Tiếp nữa, bản tính của mọi pháp là không thể thấy, không thể nghe, không sinh cũng không diệt.”

Từ câu nói này của Phật có thể thấy mọi pháp như huyễn tướng, không có tự tính, không có tha tính, pháp vốn là như thế, nên bây giờ mới không diệt, cho nên trong “Kinh Bảo Tích” có một câu là: “Tự tính của mọi pháp bất khả đắc, giống như giấc mơ, theo đuổi dục vọng rồi cũng đều hư vô.” “Kinh Hoa Nghiêm” nói: “Thông đạt mọi thế gian, giả danh không có thực, chúng sinh và thế giới, như mộng như quang cảnh. Hiểu rõ mọi thế gian, như lửa như quang cảnh, như tiếng vọng như mơ, như mộng như biến hóa.”

Tôi theo “Kinh Kim Cang” mà nhìn cuộc đời, hiểu sâu sắc rằng tất cả đều thật đều huyễn. Chúng sinh ngày nay không hiểu đạo lí của thực tướng và huyễn tướng, vì thế trong bài viết ngắn này, tôi đặc biệt đi sâu vào phân tích thấu đáo, hi vọng nhờ có sự giải thích đơn giản dễ hiểu của tôi có thể khiến con người hiểu chỗ giống nhau và khác nhau giữa nhân gian và âm gian, và những cái “tướng” này liệu có phải là cái mà chúng ta gọi là “chân như” không.

Gần như những người còn sống đều cho rằng đời người là thực tướng, có hình có thể, có cao ốc chọc trời, có hỉ nộ ái ố, có cha mẹ anh em, như vậy làm sao mà không thật chứ? Sự tồn tại là có hình thật tướng thật, tự nhiên có hình tướng thật. Thế nhưng cũng có một số người cho rằng đời người giống như một giấc mộng huyễn bóng ảnh, chẳng qua là giấc mộng này hơi dài một chút mà thôi. Đời người trăm tuổi xưa nay hiếm, đếm được vài mùa hạ đến đông sang, chớp mắt một cái là đã qua đi, từ lúc ấu thơ cho đến lúc già, nhắm mắt vào mở mắt ra cũng đã đến rồi, đến cái lúc mặt trời khuất sau núi tây, thử nghĩ mà xem, đời người chẳng phải là một giấc mộng xuân thu chẳng có được cái gì cả sao? Mắt nhắm lại, hai chân buông thõng, mây núi gió mưa, chôn lâu dưới lớp đất xanh cỏ, sinh mạng của một con người kết thúc như thế, làm sao không phải là huyễn tướng chứ!
Cho nên tôi nói: “Người mê cho rằng đời người là thực tướng, người ngộ cho rằng đời người là huyễn tướng.”

Có người hỏi tôi:
”Có tồn tại địa ngục không? Hay là cố ý đặt điều nói ra để cảnh giới người đời mà thôi?”
Tôi đáp:
”Thật có địa ngục.”
Họ hỏi:
”Địa ngục âm gian là thực tướng hay là huyễn tướng?”
”Giống như nhân gian.” - Tôi đáp.

Tại đây, tôi luôn luôn nhấn mạnh, âm gian giống như dương gian, và địa ngục là một bộ phận của âm gian, đó là sự tồn tại thật sự. Sự sinh ra của con người chính là cái chết của linh, sự sinh ra của linh chính là cái chết của con người, đó là sự tuần hoàn lẫn nhau, dương gian và âm gian, sống và chết của con người, nhân quả báo ứng tuần hoàn vĩnh viễn không dừng, đây đều là tự tính làm nên sự chuyển động bánh xe pháp nhỏ của chính mình, còn vũ trụ là một bánh xe pháp lớn, dương gian và âm gian này đều thật sự tồn tại, nhưng lại đều là huyễn tướng. Nếu lấy sự tồn tại của một con người để quan sát thì con người tại dương gian khi chết đi, tất cả đều diệt, không có nhân gian; linh ở tại âm gian khi chết đi, tất cả đều diệt, không có âm gian. Nói gọn lại cũng đều là huyễn tướng giả tướng, đều do nhân duyên tự tính thúc đẩy sinh tử của họ. 

Chúng ta thử đọc “Kinh Đại Pháp Cự Đà-la-ni”: “Phật hỏi Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát: Văn Thù Sư Lợi! Địa ngục do bản thân phân biệt mà sinh ra, là tự nhiên mà sinh ra sao? Văn Thù đáp rằng: Địa ngục là dựa theo cách phân biệt vô căn cứ của phàm phu, súc sinh, ngạ quỷ cũng thế. Trong con mắt của ta thì không có địa ngục, cũng không có khổ.” Do vậy, tôi cho rằng: “Tất cả do tâm tạo, tâm chấp vào địa ngục thì sẽ có thực tướng địa ngục, tâm chấp vào ngạ quỷ thì sẽ có thực tướng ngạ quỷ, tâm chấp vào thiên nhân thì sẽ có thực tướng thiên nhân. Còn người tu đạo thông thường, nếu có thể chiến thắng được tâm niệm của chính mình thì chắc chắn thành Phật, một mình bước đi trong tam giới mà sinh ra Phật tướng chân như thật sự tồn tại.

Một buổi tối cuối tuần, có một sinh viên là Chu Văn Tân học năm thứ ba Đại học Chính Trị đến tìm tôi. Vốn dĩ tôi có quy định thời gian tiếp khách, bởi vì người tìm gặp tôi thật sự quá nhiều. Hiện tại thì tôi tiếp khách vào các buổi tối thứ hai, tư, sáu, những thời gian khác sẽ là thời gian tôi tĩnh tu, tôi không muốn có người quấy rầy, nhưng cậu sinh viên Đại học Chính Trị kia thấy cửa vào nhà tôi không đóng nên cứ thế xông thẳng vào, vào một cái là hỏi ngay.

“Anh nói có âm gian có địa ngục phải không?”
”Thật sự có.” - Tôi trả lời anh ta.
”Vậy thì xin hỏi địa ngục có Diêm Vương không?”
”Thật sự có.”
”Vậy thì tôi hỏi không khách sáo nữa, địa ngục có Diêm Vương là người phương Tây không?”

Người bình thường gặp phải câu hỏi quái dị này có lẽ sẽ lập tức cứng họng, ngay cả một tiếng hắng giọng cũng không thể hắng được, nhưng tôi thì khác, bởi vì tôi đã từng đi đến nơi hang sâu tăm tối, có được mật lệnh của Linh Sư Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, đã chứng minh được Tiên thiên vô cực đại pháp, làm sao một vấn đề nan giải nhỏ xíu này có thể khiến tôi “thi trượt” được chứ!

Tôi hỏi ngược lại anh ta:
”Có nhân gian không? Nhân gian có người Tây không?”
Anh ta chợt ngây ra:
”Thật sự có.”
Tôi lại hỏi:
”Có nhà tù không?”
Anh ta đáp:
”Đương nhiên có.”
Tôi hỏi:
”Có ông Tây làm thẩm phán và cai ngục không?”
Anh ta:
”……..”

Tôi nói thật với anh ta, nhân gian và âm gian vốn không khác biệt, đều là thực tướng, và cũng đều là hư tướng, như Phật đã nói, do nghiệp mà duyên hiện. 


### 10. Hành vi của thần


“Thần” - chữ này đã mê hoặc bao nhiêu chúng sinh. 
”Thần” - chữ này rất mập mờ mà cũng cao quý, tự cổ chí kim, trong nước và ngoài nước, bao nhiêu người từng thỉnh cầu thần, bao nhiêu người miệng ngày ngày gọi thánh danh của thần. Mặc dù ngày nay đã bước vào thời đại khoa học, nhưng nhân loại vẫn không thể nào giải thích được những sự việc thần kì, quy cho chúng là sự sắp đặt của thần hoặc trời. Bộ mặt thật của thần là như thế nào đây? Thần thánh trong vũ trụ là một vị chúa tể hay là nhiều chúa tể? Thần có phân biệt lớn nhỏ không? Và thần tiên phân thành mấy cấp? Có thần thánh ở bên ngoài tam giới không? Những nghi vấn này, đối với tôi mà nói, đều không phải là vấn đề, bởi vì rất nhiều thần minh là bạn tốt của tôi mà!

Tôi từng đến miếu Thánh Đế ở bên dưới cây cầu nối ở quận Diêm Trình thành phố Cao Hùng, linh khí ở ngôi miếu Thánh Đế đó rất dày, mỗi lần tôi đi vào, các thần minh lớn nhỏ trong miếu đó đều nồng nhiệt chào hỏi tôi. Có một vị Thiên Lôi giọng nói không rõ là thần thánh phương nào, mỗi lần nhìn thấy tôi đều gọi: “Liên Sinh, lâu rồi không gặp anh, dạo này phát tài ở đâu rồi à!” Nói ra thì khiến người ta khó tin, thần minh hễ nhìn thấy tôi thì lại mở mồm ra nói phát tài ở đâu rồi, thật sự chẳng có chút “mùi thần” gì cả. Điện bên phải của miếu Thánh Đế có một cậu bé chăn ngựa dắt một con ngựa thần, tôi nhìn thấy cậu bé chăn ngựa toét miệng cười với tôi, còn con ngựa kia thì càng kì quái hơn, cái mông nó hếch lên, chân ngựa thì đá mấy cái, rồi nó thở ra một hơi xem như là chào hỏi.

Thần minh đích thực là có phân biệt lớn nhỏ, đại bộ phận thần có vị trí tối cao thì tương đối trang nghiêm, thần uy hiển hách, có tồn tại sự tôn nghiêm đặc thù. Thần dựa theo chức vị mà phân cấp lớn nhỏ, cũng phân cấp theo xưng hiệu, ví dụ Thổ Địa Công được thờ ở trong miếu lớn thì cao cấp hơn Thổ Địa Công ở các địa phương bình thường một chút, và các Thổ Địa Công bình thường thì vẫn còn vĩ đại hơn các Thổ Địa Công được thờ cúng trong các hộ gia đình. Phần lớn trong các ngôi miếu lấy chủ thần làm chủ tôn, các thần phụ giúp khác cũng theo xưng hiệu lớn nhỏ mà lần lượt xếp hàng, không thể bất phân lớn nhỏ sẽ làm loạn kỉ cương của thần.

Thần minh trong miếu bình thường có một số rất thích nói chuyện giỡn chơi với tôi, Na Tra Tam Thái Tử (con người gọi là Trung Đàn Nguyên Soái), từng trốn trong túi áo tôi, cùng tôi đi dạo chợ đêm ở đường Trung Hoa ở Đài Trung, xem trò đánh quyền bán thuốc đến chỗ ngoạn mục thì cũng vỗ tay khen hay. Hai vị tướng quân của Minh Phủ là Thất Gia và Bát Gia vào lúc canh ba nửa đêm thấy cô quạnh quá cũng từng tìm đến tôi để tán gẫu. Tôi thích thú nhất là Lí Thiết Quải - một vị trong Bát Tiên, tướng mạo rất khôi hài, lại còn thích nhất biểu diễn trò làm xiếc, có khi là trò nhào lộn, có khi thì là trò đứng một chân, có khi thì múa một bài tập tễnh, dạy tôi luyện “thập bát thủ la hán quải”, trong đó có một chiêu gọi là “thiết quải chỉ lộ”. Lí Thiết Quải có khi còn thu nhỏ lại, kéo ra một tấm giấy bạc (giấy nhôm), thu nhỏ thân thể lại bằng nắm tay của người lớn, dùng tiền vàng mã làm chăn, rồi nằm trên bàn thờ thần mà ngủ.

Có một lần, tôi thức dậy vào lúc nửa đêm canh ba, đi vào Phật đường, thỉnh thoảng tôi nhìn thấy trên bàn thờ thần có rất đông thần minh đang ngồi trên sàn nhà, họ có tới hơn 50 vị, mỗi vị thần minh biến thành nhỏ chỉ bằng bàn tay, ngồi quây thành một vòng tròn lớn, giống như con người khi chơi trò chơi tập thể thì quây thành một vòng lớn vậy. Các vị nhìn thấy tôi nhưng chẳng hề tránh đi, trong đó có một vị Quan Thế Âm Bồ Tát nói với tôi: “Liên Sinh, thần thánh thập phương đang bàn việc quan trọng, hi vọng anh đừng làm phiền.” Tôi vừa thấy là thần minh cũng họp mặt bàn bạc việc quan trọng thì chỉ còn biết cúi mình lui đi.

Tôi từng gặp một thần minh thần kì nhất, vị thần này để lộ ngực, mặc phục trang miền núi, đầu quấn khăn hoa nhiều màu sắc, cài lông chim, nói chuyện tôi nghe không hiểu, ông ấy tự xưng là Sơn Thần, là thần của một ngọn núi nào đó ở rặng núi trung tâm, cuối cùng nhờ có thần thánh trong Phật đường của tôi phiên dịch thì tôi mới hiểu là ông ấy cứ khăng khăng muốn tôi cúng dường mấy bình rượu gạo lâu năm thì ông ấy mới chịu đi. Thần minh thích giở trò lưu manh giống như thế này thì thật sự là hiếm thấy.

Theo như tôi biết, tứ Thánh lục phàm thập pháp giới của Phật gia thì tứ Thánh là chỉ Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn. Tứ Thánh này chính là cảnh giới giải thoát, được xếp vào cảnh giới bất động bên ngoài tam giới. Thế còn lục phàm tức là sáu đạo trời, người, atula, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, sáu đạo này vẫn phải chịu luân hồi trong tam giới. Còn thiên đạo là nơi thần minh cư ngụ, atula đạo chính là thế giới của tinh linh, Atula Vương của thế giới tinh linh chiến tranh với Thiên Đế, muốn tranh giành vương vị, cũng giống như nhân gian thường xuyên có chiến tranh lẫn nhau. Thần có thần cách [quy cách làm thần], thần minh phạm tội thì cũng giống như con người, có thể đọa thẳng xuống địa ngục. Còn Đạo gia có tiên phẩm, vị cao nhất là Đại La Kim Tiên cũng dựa vào bồ đề tâm để cứu đời, địa vị ngang với Bồ Tát, cho nên cũng là địa vị bất động. Thái Thượng Lão Quân, Nguyên Thủy Thiên Tôn, Thông Thiên Giáo Chủ của Đạo giáo có địa vị ngang hàng với trời, tuổi thọ ngang với trời, vận chuyển pháp luân và bản thân cũng không chuyển động, địa vị cao quý ấy cũng có thể gọi là vô thượng rồi!

Tôi từng ở trong Phật đường ngồi im nhắm mắt lại thì nhìn thấy một cụ già lom khom đến, cụ già này mặc áo rách, đầu đội kiểu mũ của thần, sắc mặt có bệnh, cầm gậy ba-toong, đau đớn thở dài và gọi tôi: “Liên Sinh, ôi, ôi, thổ địa nhỏ bé này sức cùng lực kiệt, đặc biệt tới đây tìm anh.”
”Thổ Địa Bồ Tát là thần thánh phương nào, tìm tôi có việc gì?” - Tôi chắp tay cung kính hỏi ông ấy.
”Tôi là một tiểu thổ địa công ở phía tây Hạn Khê, vì thân thể khó chịu nên đặc biệt tới đây để xin long phù.”
”Long phù ư! Sao biết tôi biết long phù?”
”Tiểu thổ địa thần thông quảng đại, từ lâu đã biết Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh từng truyền long phù cho anh.”

Cái gọi là “long phù” là phù chuyên chữa trị “ngũ suy tướng hiện” của thần minh [ngũ suy tướng hiện là sự xuất hiện năm tướng suy hoại của các vị trời, biểu thị phúc trời sắp hết, đó là quần áo dơ bẩn, hoa trên mũ miện khô héo, nách đổ mồ hôi, thân thể có mùi, chán nơi ở của mình], nhưng phải phối hợp với thiện công của thần minh thì mới có hiệu quả. Pháp này không dễ gì mà người biết thần biết, cho nên tôi rất kinh ngạc. Tiểu thổ địa cầu tới tôi, tôi vận bút vẽ phù kết ấn rồi đốt phù cho thổ địa công công, vị thổ địa công công ấy vui mừng tung tăng ra về.


### 11. Thần thánh có thuật phân linh


“Kinh Hoa Nghiêm”: “Hỏi rằng, pháp mà Phật đã chứng chỉ có một, vậy vì sao lại hiện lên vô lượng cõi Phật, hóa hiện vô lượng chúng sinh, diễn hóa vô lượng âm thanh, hiện lên vô lượng thân? Đáp rằng, giống như mặt đất chỉ có một, nhưng chúng sinh lại sống ở nơi khác biệt, nhưng đất không có ý nghĩ khác. Rồi tính của lửa là một, có thể đốt các vật, lửa cũng không phân biệt. Rồi biển lớn là một nhưng con sóng cũng hiện lên muôn hình, nhưng cũng không khác biệt với nước. Rồi tính của gió là một, có thể thổi tất cả mọi thứ, gió không có ý niệm là thổi một cách phân biệt. Giống như mặt trời không có mây che, chiếu khắp thập phương, tính quang minh vẫn như thế. Pháp của chư Phật cũng như vậy.”

Và trong “Kinh Cảnh Giới Phật” nói: “Không thể thấy, không thể nghe, không thể ngửi, không thể nếm, không thể sờ, như các ảnh hiện lên trong gương, tùy theo các chúng sinh mà có đủ loại sức tin khác nhau, vì vậy thị hiện đủ loại thân.”

Còn về linh quang của Phật phổ chiếu khắp vũ trụ, lời giải thích trong kinh Phật tương đối mơ hồ, chỉ cho rằng giống như đất, như lửa, như nước, như gió, như ánh mặt trời, tính chất của nó vốn là một, nhưng hóa hiện ra nghìn nghìn vạn vạn hình ảnh để che khắp chúng sinh. Rồi lại nói giống như cái gương, một cái gương hiện lên một ảnh, thị hiện đủ loại pháp thân. Trong quá khứ tôi không hiểu ý nghĩa của linh trong từ phân linh, nên tôi cũng rất kinh ngạc đối với thuật phân linh. 

Tôi từng hỏi Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh: “Thưa Thầy, vì sao kim thân của Phật Tổ lại có nhiều hình tướng như vậy? Có phải là Phật Tổ của các chùa trong cả nước là một vị Phật Tổ không, rồi làm sao mà Phật phù hộ được cho chúng sinh toàn thế giới? Phật Tổ của chùa Linh Sơn và Phật Tổ của chùa Tường Vân có gì khác nhau không?”

Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh nói với tôi: “Liên Sinh, điều bí ẩn ở đây nếu ta nói ra thì con sẽ hiểu thôi, nếu ta không nói ra, chúng sinh vĩnh viễn không hiểu, chỉ biết tính chất của nó, không biết đạo lí chân thực của nó. Linh quang của Phật Tổ vĩnh viễn trụ ở thế gian, vĩnh viễn trụ thế gian này chính là Phật tử làm việc thánh của Như Lai, người ấy cũng giống như Phật Đà tái thế. Hôm nay chùa chiền trong cả nước, Phật Tổ có thể nói là một vị Phật Tổ, vì tính của Phật là một, nhưng cũng có thể nói là một linh thân khác, vì mỗi một linh của ngài lại có sự khác biệt.”
”Sao có thể nói như vậy?” - Tôi rất lấy làm lạ.

“Pháp thân Phật Tổ vĩnh viễn trụ ở Phật quốc, còn thần thông của Phật thì bất khả tư nghì, Phật tính của chúng sinh đều từ Phật mà ra. Hôm nay linh quang của Phật Tổ thấy trong chúng sinh có người có duyên thiện căn, tại thế hành bát chính đạo, tu thập thiện, chứng lạc niết bàn, siêu thẳng đến Phật quốc, Phật Tổ đích thân nghênh đón, đích thân dạy dỗ các Phật tử ấy, và sau đó hướng dẫn Phật linh của họ từ không trung giáng xuống phàm gian, sống trong chùa chiền, nhận cúng dường hương hỏa muôn đời của nhân loại. Mỗi một Phật linh đều từ con người mà ra, mỗi một Phật tính cũng giống như thế, nhưng mỗi một Phật linh thì có sự khác biệt, nói như vậy con đã hiểu chưa?”
”Đây đúng là quá bất khả tư nghì, cuối cùng thì con đã hiểu rồi.”

Cho nên hôm nay có người hỏi tôi, Ma Tổ ở Bắc Cảng, Ma Tổ ở Lộc Cảng, Ma Tổ ở Chương Hóa, Ma Tổ ở Đại Giáp, và tất cả các vị Ma Tổ lớn lớn nhỏ nhỏ ở khắp đất nước e là không chỉ có trên mấy nghìn mấy vạn vị, các vị Ma Tổ này có phải đều là một vị Ma Tổ không? Nếu cứ vĩnh viễn không giống nhau như vậy thì chuyện này là như thế nào đây? Còn nữa, hiện tại trên cả nước, các phân đường của Từ Huệ Đường Diêu Trì Kim Mẫu Thiên Tôn cũng có trên một trăm phân đường, từ tổng đường ở Hoa Liên phân thành phân đường Trung Lịch, phân đường Phong Nguyên, phân đường Trúc Sơn, phân đường Khê Hồ, phân đường Nam Đầu, phân đường Đài Nam, v.v… Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn vốn chỉ có một, làm sao mà các vị lại khác nhau chứ?

Kẻ hèn này giải thích như sau: Ma Tổ Bồ Tát đắc đạo, pháp thân ngụ tại Trung Thiên Giới, luôn luôn lo lắng cho các thiện tín ở nhân gian. Khi ngài gặp được tín chúng là nữ đạo sĩ kiền thành lễ bái Ma Tổ, tâm địa lương thiện, giúp người làm điều thiện, có đại thiện căn, thì lúc nào cũng có linh quang của ngài đi theo bảo vệ, đôi khi sẽ khảo nghiệm tâm địa và cách đối nhân xử thế của người đó, đôi khi cố ý thăm dò để hiểu rõ tâm của người đó. Trải qua trăm kiểu khảo nghiệm, nếu nữ đạo sĩ đó có thể giữ vững tín ngưỡng, vẫn luôn ưa thích làm việc thiện, tuân thủ lễ nghi, tam tòng tứ đức, tương phu giáo tử [giúp chồng thành đạt, khéo dạy con cái], có tấm lòng nhân từ và yêu thương, Ma Tổ sẽ thấy rất hoan hỉ.

Người phụ nữ này sau khi chết, Ma Tổ lập tức hiện bản tướng của mình, dẫn dắt người phụ nữ ấy tiến nhập Trung Thiên Giới, sau đó Ma Tổ ở Trung Thiên Giới dạy dỗ một nhóm nữ đạo sĩ có thiện tâm chính niệm này, dạy cho họ chính pháp chính kiến, đợi đến khi họ tu học xong rồi thì lợi dụng cơ duyên phái họ lần lượt xuống phàm trần, theo các cung miếu quán đường mà nhận cúng dường hương hỏa muôn đời của nhân loại. Những thần linh này đều là do chính bản thân Ma Tổ một tay giáo huấn mà ra, vì thế họ có tâm tính của Ma Tổ từ bi chúng sinh, tính này là một là duy nhất. Còn linh thân (thần thức) của họ tự nhiên mỗi người mỗi khác, họ trụ thế hoàn toàn là vì tu thiện công mà đến, dựa theo nhân duyên chúng sinh, mỗi người sẽ hiển hóa lực thần thông, bảo hộ chúng sinh trong thập phương thế giới, mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an.

Bởi vậy trong cuốn sách “Mạn đàm về linh cơ thần toán”, tôi có nói đến việc tôi gặp Ma Tổ ở Lục Giáp, gặp Ma Tổ ở Tiểu Cảng, và Ma Tổ Lục Giáp và Ma Tổ Tiểu Cảng cùng là Ma Tổ nhưng hình tướng không giống nhau, Ma Tổ Lục Giáp thì nét mặt vui cười trong trẻo, còn Ma Tổ Tiểu Cảng thì khá nghiêm túc, còn Ma Tổ mà tôi thờ trong nhà tôi thì là vị có tâm từ bi nhất, gặp chuyện thương tâm ngài đều rơi nước mắt, tâm ngài cũng giống như Bồ Tát.

Sau khi tôi ngộ được thiên cơ, phàm tâm còn chưa thu về, khi gặp chuyện thương tâm, tôi cũng cực kì đau lòng, đưa mắt ngước nhìn lên cũng thấy Ma Tổ Bồ Tát cũng rơi những giọt nước mắt thương tâm, nước mắt của ngài có màu đỏ, tôi sửng sốt hỏi: “Vì sao nước mắt lại màu đỏ?”
Ngài đáp: “Máu.”

Phàm phu rơi lệ, Bồ Tát chảy máu, vì thế mới nói Bồ Tát từ bi chịu khổ thay cho chúng sinh. Hôm nay chúng ta nếu như hãy còn không làm thiện hạnh, nếu như còn không tu chính đạo, thân thiết với thiện tri thức, thì chẳng phải là phụ sự kì vọng của rất nhiều Bồ Tát sao?


### 12. Thế thân pháp chú


Trong quá khứ, Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh từng truyền cho tôi một pháp, pháp này gọi là “thế thân pháp chú”, hay còn gọi là “đại la thiên bí chú pháp thuật”. Trước khi nói về thế thân pháp chú này, tôi kể một sự việc làm ví dụ.

Ông Dương Tiên Minh sống ở đường Trung Cảng ở Đài Trung, vào một ngày của năm Dân Quốc 62 [năm 1973], đã bị một chiếc xe tải lớn đâm trúng trên đường quốc lộ giữa Chương Hóa và Ô Nhật, chiếc xe mà ông chạy đâm vào một cái cây lớn bên đường, người bị thương rất nặng, hôn mê bất tỉnh, còn chiếc xe bị hỏng hoàn toàn. Ông được đưa vào bệnh viện Trừng Thanh Đài Trung để cấp cứu. Bác sĩ thấy máu chảy quá nhiều, hơn nữa não bị chấn động mạnh, cho rằng ông ấy đã chín phần chết một phần sống! E rằng đã hết hi vọng cứu sống.

Con trai ông Dương Tiên Minh là Dương Chấn Xuyên ngay trong đêm đã vội vã chạy đến tìm tôi để xin quẻ, hỏi tôi xem liệu có cứu được không. Tôi thắp hương thỉnh thần chỉ thị, quẻ bốc ra thật sự là đại hung, đây cũng chính là điềm báo không lành. Tôi lắc đầu nói không cứu được, Dương Chấn Xuyên vừa nghe nói là không cứu được thì òa khóc ngay tại chỗ, liên tục khẩn cầu cứu mạng. Thế là tôi chỉ còn biết đem ra một chiêu cuối cùng, thử dùng “đại la thiên bí chú pháp thuật”. 

Pháp này vào ngày Ngũ Quý, bện một người rơm, hít vào một hơi chân khí ở phương đông rồi thổi vào người rơm, mắt tai mũi miệng lông mày của người rơm phải vẽ rõ ràng, bỏ sinh thần bát tự của ông Dương Tiên Minh vào bên trong người rơm, ban đêm vào giờ Tí, Ngọ niệm chú thế thân: “Duy thần thường chiếu thiên địa, càn khôn biến hóa vô cùng, chân giả thị lai giả diệc chân, địa thủy hỏa phong giả biến chân, hách hách dương dương, thế thân hồn thần lai giáng, thế thân hồn thần lai giáng, ngô phụng Cửu Thiên Huyền Nữ đại pháp chỉ, cấp cấp như luật lệnh.” Sau đó lấy một tấm chiếu nhỏ đắp lên trên người rơm, rắc gạo lên trên tấm chiếu, phía trên đầu của người rơm thì thắp một cây nến màu trắng, phía dưới chân của người rơm cũng thắp một cây nến màu trắng. Pháp này phải làm trong mật thất, kiêng kị người khác nhìn thấy, kiêng kị người mới sinh đẻ hoặc để tang chạm vào. Sau đó niệm: “Thiên linh địa linh, tả Bắc Đẩu, hữu Thất Tinh, thảo thị hạ giới tị nạn khách, mễ thị đại địa ủng hộ thần, thảo tịch hộ cái đại la thiên, tiền đăng hậu đăng vong linh lộ, đặc giả thử thời dĩ tị thân, thiên linh địa linh thời thời ẩn, quỷ thần mạc kiến, mạc kiến quỷ thần, ngô Liên Sinh phụng Cửu Thiên Đốc Linh Đại Nguyên Soái luật lệnh.”

Việc làm pháp như vậy có ý nghĩa sau: người rơm đại diện cho Dương Tiên Minh, trở thành thế thân cho Dương Tiên Minh. Tôi dùng chiếu cói để phủ lên người rơm, biểu thị rằng Dương Tiên Minh đã chết rồi. Ngọn nến đặt ở hai đầu để chiếu hiện cho vong linh thấy đường đi xuống âm phủ, rắc gạo lên chiếu cói biểu thị ẩn thân trên mặt đất. Khi làm như vậy thì các lính quỷ đi bắt linh hồn xuống âm gian sẽ cho rằng Dương Tiên Minh đã chết, khi muốn bắt hồn thì lại không có hồn phách nào, tưởng nhầm rằng ông ấy đã trở thành âm hồn lang thang trên mặt đất rồi, như thế thì cũng bỏ qua luôn!

Còn Dương Tiên Minh thật thì lại đang ở trong bệnh viện Trừng Thanh, ở trong trạng thái hấp hối, mặc dù toàn thân đã mất máu quá nhiều, hơn nữa não còn bị chấn động, nhưng tạm thời vẫn chưa chết. Bác sĩ tiếp máu cho ông ấy, chữa trị tổn thương não, băng bó toàn thân, trải qua rất nhiều thời gian làm phẫu thuật chữa trị mà không cần phải lo ngại là ông ấy sẽ chết. Thế nhưng kết quả là ông Dương Tiên Minh đã hồi phục rất nhanh, không ngờ sau hai tuần hôn mê, ông ấy đã hoàn toàn hồi tỉnh, sau đó thân thể cũng dần dần hồi phục lại khỏe mạnh. Một người đã đến sát bờ vực gặp Thần Chết rồi mà từ đó đã sống lại!

Sau khi pháp này thành công, tôi thu hết người rơm, chiếu cói và nến đem hóa đốt thì thấy trong không trung có một vị dạ du thần tướng đi xuống. Thần tướng này rất quái dị, đầu đội mũ đen, lông mày dựng thẳng, hai mắt màu xanh lục, chân như chân gà, lưỡi dài và thè ra, vẻ mặt hằm hằm, hét lên với tôi chẳng hề khách khí: “Này! Anh phụng pháp chỉ của ai mà dám làm đại pháp khiến càn khôn điên đảo để mê hoặc chúng sinh hả, như thế thì loạn hết cả cương thường, khiến chúng ta cũng phải chịu trách nhiệm. Nếu sau này Cửu Thiên Đốc Linh Đại Nguyên Soái có trách cứ thì hỏi tội mỗi anh thôi đấy!”

“Thần tướng tạm khoan tức giận, tôi cũng là bất đắc dĩ thôi, cứu người thì cứu đến cùng. Tôi phụng Tiên Thiên Vô Cực Chính Pháp đại pháp chỉ, nếu sau này có sai sót gì, tôi sẽ gánh vác. Dương Tiên Minh mặc dù trong số mệnh đã định là phải chấm dứt rồi, nhưng thôi để tôi thay ông ấy tụng mười quyển kinh bù đắp cho công đức sống lại của ông ấy. Sau đó sẽ theo nguyên nhân hậu quả mà đốt sớ văn bẩm báo với chủ tể của thập phương pháp giới, cầu xin tha cho Liên Sinh tội đã làm pháp.”

Dạ du thần tướng nghe tôi nói như thế thì sắc mặt hơi dịu đi một chút: “Xét theo việc anh tự ngông cuồng làm pháp thì vốn dĩ là có tội, nhưng xét theo động cơ của anh thì lại là chân thiện, anh hãy cứ bẩm báo với sư phụ của anh đi để xin ngài làm chủ thay anh, tôi tin là đại khái sẽ không có chuyện gì đâu. Tiểu thần tôi bạo gan có lời khuyên pháp sư, sau này nếu không có sự đồng ý của thiên thần thì tuyệt đối không được sử dụng “đại la thiên bí chú pháp thuật”, bởi vì thuật này là lừa thần lừa quỷ, sẽ làm tổn hại đạo lí luân hồi tự nhiên của trời đất, sẽ thiệt thòi cho đạo hạnh của chính mình.”
”Cảm tạ thần tướng chỉ điểm, Liên Sinh sẽ ghi nhớ.”

Vị thần tướng này đi đến lưng chừng trời thì bỗng nhiên dưới chân sinh ra hai đám mây cát tường màu trắng sáng rực rỡ, dạ du thần tướng đột nhiên biến thành một vị linh thần khổng lồ, đầu đội thông thiên thần quán, mặc áo bào đại pháp, màu sắc quần áo rất tươi sáng, thần thái rực rỡ, một tay cầm thông thiên như ý, một tay cầm cờ chiêu hồn, thì ra chính là chính bản thân Cửu Thiên Đốc Linh Đại Nguyên Soái. Tôi chắp tay niệm chú cung tiễn, cảm tạ lời dạy bảo của ngài.

Thế thân pháp chú tôi mới chỉ sử dụng một lần, nếu lại có người cầu tôi, tôi cũng không dám dùng bừa nữa, bởi vì pháp thuật này có đôi chút phản lại trời, người tu đạo chính phái chính giáo đều không dám dùng. Thật may linh sư của tôi quá vĩ đại, bằng không một Lư Thắng Ngạn nhỏ bé như tôi có đức gì năng gì mà dám làm pháp đi ngược lại ý trời chứ, chẳng lẽ không sợ trời cho sét đánh sao?

Mặc dù tôi viết ra phương pháp của thuật này, nhưng tôi đã giữ lại cách cúng tế vì e rằng truyền đến đời sau thì không có lợi ích gì mà lại còn có hại cho người. 


### 13. Pháp mượn giả luyện chân


Cái gọi là tu đạo, chỉ cần là con người thì hầu như đều là pháp mượn giả luyện chân. Người tu đạo ở trong cái thân thể tứ đại giả hợp hữu hạn này tu luyện ra được một đạo quả chân như, quá trình này chính là hành trình tu đạo.

Trong thiên hạ việc gì là khó nhất? Tôi cho rằng nghe được đạo là khó nhất. Có người trong cả một đời chưa từng được nghe qua, có người nghe nhưng không tin, cho nên hai chữ “không tin” này cũng không khác gì ngăn trở tâm hướng đạo, vì thế tin cũng là một việc khó. Hơn nữa, tin rồi thì lại càng cần tu hành, hai chữ “tu hành” này tôi cho rằng lại là việc càng khó hơn, sự khổ sở phải trải qua thật sự là muôn kiểu bi thảm, người ngoài không thể nào hiểu được!

Kể ra tôi cũng xem như là một người may mắn nhất trong số nghìn nghìn vạn vạn người, nhưng cái ba lô mà Thượng Thiên trao cho tôi nặng đến nỗi tôi không thở nổi, tôi tự ca thán rằng mình cũng là một người bi thảm nhất. Cái khổ của sự rèn luyện mà tôi đã phải chịu, nếu nói ra thì cũng sẽ khiến người ta rơi nước mắt. Tôi biết rằng Thượng Thiên đã giao cho tôi sứ mệnh, tôi phải đi qua sa mạc dài và hoang vu như một con lạc đà chở nặng, còn người ta thì ném vào tôi những ánh nhìn nghi hoặc và khinh miệt, tôi đều phải âm thầm chịu đựng, âm thầm nhẫn nhịn, không thể vì những đả kích ấy mà nản lòng thối chí.

Hành trình tu đạo của đời người đều là mượn giả luyện chân, từ trong cái thân thể giả này luyện ra một chân ngã. Chân ngã này là Phật tính, vốn là Phật tính mà ai ai cũng có, nhưng bị nghiệp chướng qua bao nhiêu đời mê hoặc nên đã cho rằng cái thân thể giả này là cái ta thật, cho rằng cái thân xác thối tha chỉ có thể sống được trăm tuổi này chính là cái xác thịt vĩnh hằng thành Phật tác Tổ được rồi, thật ra điều này là sai hoàn toàn. Thể xác của con người là tứ đại giả hợp của đất nước lửa gió. Đất là xương thịt, nước là máu dịch, lửa là nhiệt độ, gió là hô hấp. Cho nên tôi nói tứ đại vốn do nhân duyên mà sinh ra, là thể bất tịnh. Ngoài tứ đại thì thứ cũng không thể thiếu chính là thần thức, cũng chính là linh hồn vô hình. 

“Bồ Tát tin mọi pháp dựa theo nhân duyên hòa hợp mà sinh ra, tin vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, không có người làm, không có người chịu, tin vô ngã và vô ngã sở [tin vào không có cái ta và không có cái của ta]. Ở thế gian không kinh không sợ, siêng năng tinh tấn, chỉ cầu cái tâm. Tâm là cái gì? Tham dục, sân hận, ngu si chăng, hay là hiện tại, vị lai, quá khứ chăng, tương lai thì chưa đến, quá khứ thì đã qua rồi, hiện tại cũng không dừng lại. Bởi tâm không ở trong, không ở ngoài, không ở giữa, không sắc, không hình, vì thế không thể thấy, không thể nghe, chỉ dựa theo nhân duyên vọng tưởng điên đảo mà sinh ra mọi sự sai biệt.” (Kinh Bảo Vũ)

Đoạn trên trong “Kinh Bảo Vũ” mặc dù nói đến cái tâm, nhưng tôi cho rằng lấy ra để so sánh với linh hồn vô hình cũng cực kì thích hợp. Linh hồn (thần thức) không có sinh tử, chỉ dựa vào nhân duyên hòa hợp mà sinh ra, vốn dĩ không có tướng, không có nơi cố định, có quá khứ, hiện tại, vị lai, trải qua nghìn vạn kiếp, trụ trong vô sở trụ, không ở trong, không ở ngoài, chỉ dựa theo nhân duyên vọng tưởng điên đảo mà sinh ra mọi sự khác biệt mà thôi.

Người tu đạo tu cái gì? Đương nhiên chính là tu linh hồn vô hình này chứ không phải là tu cái thể xác của tứ đại giả hợp, nhưng vì linh hồn mượn tứ đại giả hợp làm “miếu đường” cho mình, cho nên người tu đạo dựa vào tứ đại giả này mà tu chân linh, đây chính là đạo lí mượn giả luyện chân.

Đạo gia nói tu đạo có ba phẩm, tức là nói về thứ tự của việc tu, pháp tu luyện theo ba cấp độ thượng-trung-hạ. Luyện tinh hóa khí là hạ phẩm, luyện khí hóa thần là trung phẩm, luyện thần hoàn hư là thượng phẩm. 

Có bài kệ rằng: 
*”Ngày ngày bận rộn việc thế gian
Tưởng đường **đi sai là q**uê cũ**
Biết được nguồn gốc diện mục thật
Thân này vốn dĩ ổ vi trùng.”*

Tu pháp ở đẳng cấp này chú trọng bên trong, gọi là tu luyện mệnh, cũng có cái gọi là huệ mệnh song tu, huệ là ngoại công, còn mệnh là nội công. Tác giả đã miệt mài nghiên cứu rất lâu, phát hiện ra người tu mệnh gặp khó ở chỗ tu cho dừng vọng niệm [những ý nghĩ lung tung tán loạn], ở đây tức là tâm sinh ra thì đủ loại ma cũng sinh ra, tâm diệt thì đủ loại ma cũng diệt, nhất tâm bất động, thường trụ trong tự nhiên, đây tức là bậc giác ngộ vô tu vô chứng đó!

Phật gia nói tu Đạo thích nói phúc huệ song tu, phúc là nói về ngoại công, trong ruộng tám thức trồng xuống hạt giống của Phật, huệ là nói về trí huệ viên mãn và vô lậu, trí huệ nếu vô lậu rồi thì cũng chính là đã ngộ ra đại đạo, trở thành Phật Đà đại giác không còn sinh tử nữa, cho nên trong sáu thần thông thì lậu tận thông là khó chứng nhất, người đã có được năm thần thông kia rồi thường xuyên vẫn khó chứng được lậu tận thông.

Lão tổ sư mà tôi quy y là Ấn Quang pháp sư từng nói: “Năm giới mười thiện là để cho không đọa ác đạo, có được thân người thân trời, từng bước trồng căn lành. Tùy theo thiện căn trồng xuống là lớn hay nhỏ mà tương lai ở trong pháp Tam thừa, tùy theo thiện lực sẵn có mà phát triển thành các hành vi hiện tại. Hoặc theo Bồ Tát thừa, tu lục độ vạn hành mà tự mình chứng Pháp thân. Hoặc theo Duyên Giác Thanh Văn thừa, giác ngộ pháp mười hai nhân duyên và bốn đế mà đắc lập đoạn hoặc chứng chân. Các pháp môn này mặc dù lớn nhỏ khác nhau, nhanh chậm khác nhau, nhưng cái nào cũng đều phải tự mình tu tập đến khi công lực sâu, lập đoạn hoặc chứng chân đều có thể vượt ra khỏi luân hồi, chấm dứt khổ sinh tử.”

Trong câu nói này, tôi tán thưởng câu nói “cái nào cũng đều phải tự mình tu tập”, giả người khác không được. 
”Lễ Phật là lễ vị Phật giả làm bằng gỗ, đá, đồng, sắt, nhưng giống như có Phật thật ở trước mặt, chúng ta cung kính như đối diện với Phật với trời, đây chính là mượn giả luyện chân.”
“Đốt vàng mã cho thần minh, đốt tiền giấy cho người chết ở âm gian, nhưng giống như thần hay người chết ở đó, chúng ta cúng dường giống như đối diện với thần thánh, đây chính là mượn giả luyện chân.”

Có người thẳng thừng nói rằng đốt tiền giấy đều là giả, mọi người không cần đốt, vậy sao thế nhân không nghĩ xem, nếu thế thì lễ Phật bằng gỗ sao lại là thật, Phật bằng gỗ đó cũng không cần lễ nữa sao? Đây đều là mượn giả luyện chân, nếu ngay cả đến điều này cũng không biết thì có thể quên nói đến chuyện tu hành đi.

Người nói tu thân tức là tu tâm, tu thân là giả, tu tâm là thật, chỉ là như vậy mà thôi. 


### 14. Lục đạo luân hồi


Trong quá khứ, tôi không tin một chút nào về thuyết luân hồi. Tôi một mực cho rằng con người sinh ra là tự nhiên, con người chết đi cũng là tự nhiên như thế, và sau khi chết sẽ không còn biết gì nữa, cũng tức là trống không hết, tất cả đều chấm dứt rồi. Con người trong xã hội hiện tại, tôi tin rằng chắc chắn cũng không ít người ôm lấy quan niệm này, rằng một khi con người chết đi, tất cả đều kết thúc, công danh phú quý đều hóa thành số không. Họ không tin luân hồi, cho rằng chuyện nhân quả báo ứng là vô căn cứ, không đáng tin. 

Tôi tiếp xúc sớm nhất là Cơ Đốc giáo, là tôn giáo không nói về luân hồi, chỉ có thuyết thiên đường địa ngục, thiện ác của con người sẽ được phán xét khi Chúa Jesus Christ trở lại, người thiện sẽ lên thiên đường và trở thành vua, còn kẻ ác sẽ bị ném vào lửa địa ngục vĩnh viễn diệt vong. Tôi đã đọc sách Khải Huyền trong Tân Ước Toàn Thư, và sách Khải Huyền chứa đầy những lời tiên tri về kiếp cuối cùng, chịu sự phán xét của ngày thế giới tận thế chính là kết thúc cuối cùng của nhân loại. Người chết trong mộ sẽ được sống lại và thăng thiên, kẻ ác chìm trong lửa địa ngục mãi mãi, và người ta nói rằng thế giới sẽ bị hủy diệt bởi lửa thiên đường.

Tuy nhiên, Phật giáo và Đạo giáo khác với Cơ Đốc giáo. Phật giáo nói về lục đạo luân hồi, pháp mười hai nhân duyên, nhân quả ba đời, thuyết báo ứng, con người hùa theo số đông tưởng rằng bề ngoài đơn giản, nhưng nội tình lại rất sâu sắc, bất khả tư nghì. Tôi tin rằng Phật pháp vô biên, vì thế nên hiểu thấu triệt, nhưng phàm phu bình thường muốn hiểu sâu nghĩa đế của Phật pháp thì cũng phải tốn công phu cực lớn.

“Vì nhân duyên làm mười nghiệp bất thiện nên đọa vào tam ác đạo địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Vì nhân duyên làm mười nghiệp thiện nên sinh vào thiên giới hoặc nhân giới.” (Kinh Di Lặc Bồ Tát Sở Vấn)

“Lăng Già Vương hỏi Phật rằng: Thế Tôn! Chúng sinh chết đi, khi chưa được tái sinh thì thức ở chỗ nào? Phật nói: Vua! Hạt giống nảy mầm thì hạt phải diệt trước sau đó mới sinh ra mầm, hay là sau khi mầm sinh ra thì hạt mới diệt, khi hạt diệt thì mầm mới sinh ra? Lăng Già Vương nói: hạt giống diệt thì mầm mới sinh ra. Phật nói: sinh diệt đồng thời, không có trước sau, tức là khi tiền thức diệt thì hậu thức sinh ra.” (Kinh Lăng Già)

Đoạn Lăng Già Vương hỏi Phật này hợp với điều mà kẻ hèn này đề xướng: “Sự sinh ra của linh hồn chính là cái chết của nhục thể, sự sinh ra của nhục thể chính là cái chết của linh hồn.” Đạo lí đơn giản nhất của nhân quả luân hồi chính là: “Muốn biết nhân kiếp trước, là kiếp này đang chịu, muốn biết quả kiếp sau, là kiếp này đang làm.”

Trong cuốn “Mạn đàm về linh cơ thần toán” tôi từng nói đến việc tôi du lịch huyễn cảnh của vũ trụ, hơn nữa còn thấy được kiếp trước của tôi, đồng thời biết được họ tên kiếp trước của tôi. Sau khi tỉnh dậy, tôi kiểm tra trong kinh điển, quả nhiên có tên tôi, khi ấy tôi đứng ngây người ra, buồn vui lẫn lộn, không biết nên thế nào mới tốt. Đời người quả nhiên có kiếp trước, vì đã có kiếp trước đương nhiên lại càng có kiếp sau. Kiếp này nếu tôi không tu hành thì đợi đến khi nào đây? Đương nhiên vào thời khắc ấy, tôi càng tin vào thuyết luân hồi.

Tôi từng hỏi Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh: “Vì sao gọi là lục đạo luân hồi?” Linh Sư trả lời rằng: “Lục đạo chính là trời, người, atula, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Sáu đạo này đều theo tâm cảnh của con người mà sinh ra, lòng người như súc sinh thì sẽ chịu quả báo thành súc sinh, lòng người như thiên thần thì sẽ nhận quả báo làm thiên thần, lòng người nếu tham lam thì sẽ chịu quả báo làm ngạ quỷ, lòng người ác độc thì sẽ chịu quả báo địa ngục. Còn cảnh giới của atula là đặc biệt nhất, đó là thế giới của tinh linh, có thiện có ác, thiện ác xen lẫn, tu đạo tâm nhưng lại mắc bệnh sân hận, nên gọi là tinh linh.”

“Linh Sư, thật sự có Diêm La Vương sao?” - Tôi hỏi.
”Kinh Chính Pháp Niệm Xứ có nói: Diêm Ma La không phải chúng sinh; tội nhân nhìn thấy thì là chúng sinh, bảo là tay cầm kìm sắt bốc cháy. Song, khi ác nghiệp của tội nhân đã hết thì không thấy lính canh ngục Diêm Ma La nữa, cũng là vì họ không phải là chúng sinh. Cũng giống như bấc đèn dầu tắt lửa, khi nghiệp của chúng sinh hết thì cũng không còn thấy lính canh ngục Diêm Ma La nữa. Nói như vậy con hiểu chưa?”
”Con đã hiểu.”

Tôi nhìn thấy kiếp trước của mình sống ở một nơi cực kì đẹp đẽ, có nước như suối ngọt, trong như ngọc, có hoa sen to như bánh xe, trăm hoa nghìn hoa đua nở, tôi thấy rất nhiều đồng tử mặc những bộ quần áo sạch sẽ khác nhau, tay cầm hoa thơm lần lượt dâng cúng Phật, có 18 đồng tử, trong số đó có một vị đồng tử mặc y phục màu trắng, toàn thân tỏa ánh sáng xán lạn, tay cầm một bông hoa sen trắng, chân cũng dẫm trên hoa sen trắng, hoa sen hồi chuyển trong hồ sen. Không trung có một vị Hộ pháp Kim Giáp Thần, Hộ pháp tỏa ánh sáng vàng kim, giống như tấm lưới, lưới bao bọc lấy đồng tử áo trắng này, không trung thả xuống hai dòng nước sạch bằng bạc tinh luyện, mặt đất nổi lên con đường cát vàng như vàng thật, cực kì trang nghiêm. 18 vị đồng tử chắp tay hướng về vị đồng tử ở trung tâm, có âm nhạc giống như âm thanh hòa nhã, Phạn âm ngân vang, rất nhiều thiên chúng thần chúng dâng cúng pháp bảo bằng ngọc ngà châu báu như ý. Tôi trông thấy những điều ấy thì vô cùng cảm động, nhưng hiện tại tôi chỉ là một phàm phu yếu kém chẳng có thành tích gì, tôi làm sao có thể trở về chốn ban đầu của tôi chứ!

Cuộc đời có quả báo, tôi biết, cuộc đời là luân hồi, tôi cũng biết. Tôi đem những thông tin có thật về lục đạo luân hồi này nói cho nhân loại biết, người có duyên và có thiện căn thì tự nhiên sẽ tin sâu sắc không nghi ngờ gì, người vô duyên và không có huệ căn thì tự nhiên cũng chẳng có cách nào tin lời tôi nói. Tôi vì cái khổ của chúng sinh mà đau lòng, vì người không tin mà đau lòng, chỉ mong tôi có năng lực khiến tất cả mọi người được sống tại cõi trời, không đọa vào ba đường ác, mãi mãi tu Phật quả, đạt được không sinh không diệt. Nhưng nếu vẫn còn dè bỉu coi thường thì tôi cũng không có cách nào, cũng bó tay thôi!


### 15. Cửu chuyển huyền công 


Vào một buổi tối mưa dầm dề, đạo hữu Trần Hồng Thiên đã đích thân đến thăm tác giả. Ông ấy là người trụ trì của Thiên Tiên Cung ở miền nam, có hứng thú sâu sắc với Đạo thuật, cũng là một trong số “pháp sư đầu đỏ”. [Phái Đạo sĩ Lư Sơn phân thành pháp sư đầu đỏ và pháp sư đầu đen. Pháp sư đầu đỏ chủ yếu nhận ba vị Nữ Thần làm tổ sư, ví dụ Lâm Thủy Phu Nhân, dùng khăn màu đỏ buộc trên đầu làm dấu hiệu nhận biết.] Từ nhỏ ông ấy đã ở trên núi Gia Nghĩa học Đạo, từng bái một người miền núi làm thầy, biết một số pháp thuật kì cục quái lạ, thậm chí có một số pháp thuật ngay cả tôi cùng chưa từng thấy. Ở trước mặt tôi, ông ấy biểu diễn một số thần thuật, khiến tôi cảm thấy rất kì lạ.

Ông ấy bốc một nắm gạo từ trong thùng gạo rồi vãi trên mặt đất, sau đó lấy một ống tre đựng gạo nhỏ đặt ở giữa những hạt gạo trên mặt đất, vẽ một lá phù kì quái, ông ấy nói phù này là phù linh nhập. Đốt phù này xong thì bỏ vào trong thùng gạo, còn miệng ông ấy thì lầm rầm niệm chú, chú ngữ của ông ấy tôi không hiểu gì cả, có vẻ như là tiếng của miền núi. Sau đó, hiện tượng kì quái đã xuất hiện. Đầu tiên là những hạt gạo rải rác khắp xung quanh hơi rung rung, thế rồi chúng nhảy tưng tưng lên, Trần Hồng Thiên hét lên một câu: “Cấp cấp như luật lệnh, vật quy nguyên chủ.” Nói ra thì rất kì lạ, những hạt gạo đó cực kì ngoan ngoãn, lần lượt nhảy về phía thùng gạo, giống như là tất cả số gạo đều lần lượt nhảy vào trong thùng gạo, nhảy đến không còn sót lại một hạt nào.

Màn biểu diễn này của ông ấy thực sự khiến tôi vô cùng kinh ngạc, nhưng ông ấy nói: “Thần thuật kiểu này chỉ có thể để người có Đạo thấy thôi, để người không có tín ngưỡng thấy thì sẽ làm trái với lời dạy của tổ sư, cũng không thể vì điều này mà khiến người ta khởi lòng tin được.”
”Đúng thế, người đời bây giờ vẫn chưa tu tâm, lại chỉ muốn học thần thông, và ngược lại thần thông lại trở thành một chướng ngại lớn cho việc siêu phàm nhập thánh, nếu người ta nhìn thấy màn biểu diễn này của ông, trong lòng mặc dù thán phục, nhưng cái mà họ mong cầu không phải là chân đạo, mà lại là một vài thần thông nhỏ.”

Trần Hồng Thiên là vì Cửu chuyển huyền công nên mới đến tìm tôi. 
”Thắng Ngạn huynh, anh được Vô Cực Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh dạy dỗ, tôi tin rằng căn cơ Cửu chuyển huyền công cũng không tồi, hôm nay tôi đặc biệt đến đây xin thỉnh giáo, khẩn thiết xin anh truyền thụ cho tôi một chút về pháp vận động Cửu chuyển huyền công và đạo lí căn bản của nó, để bần đạo được mở mang đầu óc.” - Trần Hồng Thiên nói.
”Hiện tại tôi phụng Tiên Thiên Vô Cực Chính Pháp mật lệnh, lĩnh ý chỉ của Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn để hành đạo, mà Đạo gia phái Diêu Trì vốn là một phái con của phái Đan Đỉnh của Đạo gia, chú trọng thuật luyện thân, trúc cơ [xây dựng nền móng] từ trong ra ngoài. Thuật luyện thân này về cơ bản thì giống với thuật khởi linh, đích thân Diêu Trì Kim Mẫu ban cho tôi kĩ năng luyện thân. Bên ngoài nhìn vào thì giống như nhảy múa, có lúc thì giống như kê đồng bị linh nhập vào, sẽ nhảy múa loạn xạ, người không biết nội tình sẽ hiểu nhầm rằng có thần đến nhập vào người hoặc là bị bệnh thần kinh. Pháp luyện thân kiện thân kiểu này tôi gọi là Trúc cơ.”

“Trúc cơ này có ý nghĩa gì? Trúc cơ như thế nào?”
”Đầu tiên thắp hương tĩnh tọa, cung thỉnh Vô Cực Diêu Trì Kim Mẫu Thiên Tôn ban cho pháp luyện thân, khẩn cầu trong khoảng thời gian một nén hương, lúc này phải cảm thấy toàn thân chấn động, tay múa may, chân nhảy nhót, dựa theo huyết mạch của đại chu thiên và tiểu chu thiên mà đếm, khởi đầu với rồng lượn, hổ vồ, gấu bước, rùa núp, cá nhảy, hạc bay, sau đó có múa kiếm, phương pháp dịch cân kinh của Tổ sư Đạt Ma, trong vô thức đã học được toàn bộ mọi thứ, đồng thời đả thông hai mạch Nhâm Đốc. Người không biết tu tập Cửu chuyển huyền công thì dùng để chữa bệnh khỏe thân, chữa bệnh khỏe thân chính là Trúc cơ mà tôi nói đến.”

“Hoàn thành xong Trúc cơ thì lại làm gì nữa?” - Trần Hồng Thiên hỏi. 
”Cửa này là khó nhất, ông hãy nghe cho kĩ. Khi ngồi thở phải hợp với đạo trời. Nhân sinh cũng chính là thái cực, thái cực động thì sinh ra dương gọi là hỏa, hỏa tức là thần. Tĩnh thì sinh ra âm gọi là thủy, thủy tức là tinh. Thần hỏa tinh thủy, kết hợp khéo léo thì ngưng tụ thành đan, đây chính là Cửu chuyển diệu đan dược, là nền tảng của việc trở thành thánh. Mà “nhật nhập địa trung, tâm hỏa hạ giáng, nguyệt đáo thiên tâm, thận thủy thượng thăng”, lúc này thủy đi lên và hỏa đi xuống, chính là thời khắc thủy hỏa giao nhau. Lúc này ngồi yên, nối với thiên kiều (tức là lưỡi ép vào hàm trên), răng gõ vào nhau 36 lần, dùng niệm lực làm chuyển động thủy hỏa, dẫn thủy nhập vào lư đỉnh thứ nhất, sau đó dựa theo thời giờ, một hít một thở, thủy lên hỏa xuống, như vậy mà luyện thành đan.”

“Vì sao gọi là Cửu chuyển?”
”Cửu chuyển tức là chín nhu động tràng kết ở trong ruột, một mối kết là một cái đỉnh [vạc], một đỉnh là một mối kết, cứ như thế kết thành thánh đan diệu dược. Con người có Tam Cốc, đều gọi là Cốc Thần, trên gọi là Thiên Cốc, cũng chính là cung Nê hoàn, là cội nguồn của trời, bản cung của thần. Nếu tinh hóa khí, khí bay lên, cửu chuyển thiên cung đầy ắp thì thiên môn cũng theo đó mà mở ra, khi ấy tai sẽ nghe thấy, mắt sẽ nhìn thấy! Thần thông bất khả tư nghì.”

“Sử dụng niệm lực ra sao?”
”Niệm lực có thể thúc động linh lực của chính mình, dùng linh lực tập trung để vận chuyển thủy hỏa đảo nghịch, đây cũng chính là đại đạo chuyển nghịch chuyển. Người chuyển nghịch được thì chính là Đại La Tiên, Đạo công chính là ở chỗ này. Nếu vận hành khéo léo giống như dòng chảy cuồn cuộn của Trường Giang Hoàng Hà, không ngừng không nghỉ, tự nhiên mà huyền diệu, thì từ đây Đạo cảnh lại càng nâng cao một bước, vĩnh viễn không có chướng ngại, chỉ còn đợi thời cơ mọc cánh thành Tiên bay lên trời mà thôi.”

“Khi nào thì đắc đại thần thông?” - Trần Hồng Thiên hỏi.
”Khi tâm sáng thì thần thông sẽ ở ngay trong đó, nếu tâm không sáng thì muốn học thần thông ngược lại chỉ trở thành tà đạo, như thế thì càng gay go.”
”Lĩnh giáo, lĩnh giáo.” - Trần Hồng Thiên bắt chặt tay tôi, ông ấy nói: “Đạo pháp chính thống của Đạo gia của dân tộc Trung Hoa thật sự đã được anh làm rạng danh tên tuổi rồi, nếu chỗ tôi có gì hữu ích với anh, tôi chắc chắn sẽ chạy ngay tới giúp đỡ.”


### 16. Thế giới hư huyễn


Vùng phụ cận Tân Hóa ở Đài Nam có một ngôi chùa lịch sử lâu đời, trụ trì là một tì kheo ni trẻ tuổi, tì kheo ni thu nhận mấy người đồ đệ, lấy chữ Chiếu đứng đầu làm pháp hiệu, pháp hiệu của các đồ nhi lần lượt là Chiếu Đăng, Chiếu Tường, Chiếu Huệ, Chiếu Châu, Chiếu Thượng, đều là các tì kheo ni cạo đầu xuất gia. Vì bản thân sư phụ còn trẻ tuổi cho nên các đệ tử của bà ấy theo lẽ tự nhiên cũng đều là các tì kheo ni tuổi ngoài đôi mươi. 

Thường ngày họ ở sau núi trồng vườn cây ăn quả, cũng trồng một ít rau cải, họ tự lực cánh sinh, hoàn cảnh sống đơn thuần nho nhã nhưng cũng có một cuộc đời tì kheo ni tràn đầy niềm vui vô lo vô nghĩ, một cuộc sống hết sức đơn giản. Đồ nhi thứ ba của sư phụ là Chiếu Huệ sau khi tốt nghiệp trung học, lấy cớ là đi thi đại học nên đã rời xa nhà, lập chí xuất gia, tu học Phật pháp. Cha mẹ ruột cô có gia cảnh sung túc, là thương nhân giàu có ở miền nam, đã từng tìm đến ngôi chùa này, nhưng Chiếu Huệ vẫn cương quyết không chịu hoàn tục. Chiếu Huệ cho rằng phàm trần là ngũ trọc ác thế, chẳng tốt đẹp như Phật môn thanh tịnh. Từ lúc còn nhỏ tuổi, Chiếu Huệ đã kín đáo tu Phật học, tinh tấn khác thường.

Có một lần, Chiếu Huệ đang ngồi tĩnh tọa trong thiền phòng, trong tâm tưởng chỉ nghĩ đến Phật hiệu, rồi cứ thế nhập vào thế giới của tinh thần quán tưởng. Bỗng nhiên trước mắt giống như thắp lên một ngọn đèn, trong chốc lát tất cả sáng rực như ban ngày, không trung có từng đám từng đám mây cát tường, từ trên đám mây cát tường bước xuống một vị Phật Di Lặc tay cầm chuỗi niệm hạt cười ha ha. Ngài mặc áo cà sa màu vàng, đầu tròn tai lớn, chính là vị Phật Di Lặc bụng lớn có thể chứa được hết thảy mọi thứ, cười một cái là có thể giải trừ được nỗi sầu thiên cổ. Phật Di Lặc hiển hiện pháp tướng, Chiếu Huệ nhìn rất rõ ràng, đầu óc cũng cực kì tỉnh táo, Phật Di Lặc hướng về cô chắp tay và niệm một câu Phật hiệu rồi biến mất.

Chiếu Huệ thấy Phật thì vui mừng khôn xiết, lập tức chạy đi bẩm báo với sư phụ, sư phụ cũng vui mừng cho cô ấy, các sư tỉ muội đồng môn cũng cho rằng đây là điềm báo tốt, họ lan truyền thông tin đến mức ngay cả khách hành hương cũng biết chuyện này. Kể từ đó về sau, mỗi khi Chiếu Huệ ngồi thiền trong tịnh thất, vừa nhắm mắt lại là trước mắt lập tức hiện lên Phật Di Lặc, ngài cũng vẫn cười ha ha bước từ trên mây xuống, chắp tay và lạy Chiếu Huệ một cái. Về sau thì mỗi lần gặp lại khác, ví dụ Phật Di Lặc bước tới trước sờ đầu thọ kí cho cô, đi đến bên cạnh kéo tay cô. Tình hình diễn biến đến lúc nghiêm trọng nhất là dường như không cần phải ngồi thiền, chỉ cần Chiếu Huệ nhắm mắt lại là lập tức nhìn thấy Phật bước đến, ngày nào cô ấy cũng điên đảo thần hồn, vọng tưởng vọng niệm bộc phát, hoàn toàn không còn khả năng chống đỡ nữa, thân thể dần dần không thể tự chủ được, có lúc liên tục nói luyên thuyên, có lúc thì niệm Phật điên cuồng, thần chí mặc dù vẫn còn tỉnh táo nhưng cử chỉ thì khác người bình thường. 

Sư phụ của cô thấy cô có hành tung quái dị thì cũng dần dần cảm thấy bất an. Bà ấy hỏi ý kiến của một số lão hòa thượng trong Phật môn, các đại hòa thượng ấy đều cho rằng Phật Di Lặc mà Chiếu Huệ nhìn thấy e rằng không phải là Phật thật, mà là ma tướng, ma tướng huyễn hóa cũng có thể huyễn hóa ra Pháp thân của Phật, điểm này không thể không thận trọng. Nếu gặp Phật thật thì tâm cảnh sẽ sáng, tâm cảnh sáng thì sẽ đạt đến cảnh giới đạo, vẫn giống như phàm phu, không có hiện tượng kì quặc, còn đã có điều quái dị thì không phải là Phật thật rồi.

Chiếu Huệ lúc này cũng có thể dự đoán, tiên đoán mười câu thì cũng chính xác tám câu không hề sai, đồng thời cử chỉ của cô ấy cũng đã khác người bình thường, cô tự nhận mình đạo hạnh đã cao. Có rất nhiều đại đức cao tăng khuyên cô ấy đừng xem tướng, hãy niệm Phật hiệu nhiều hơn, chuyển dịch việc tu hành vào trong cuộc sống thường ngày, đừng tiếp tục chấp vào những gì thấy và không thấy nữa. Nhưng Chiếu Huệ đã nhập quá sâu vào cảnh giới này rồi, không thể nào xoay chuyển được nữa. Không bao lâu sau, chẳng cần phải mất mấy năm công phu, khuôn mặt vốn dĩ xinh đẹp của Chiếu Huệ đã trở nên trắng bệch như tuyết, hai mắt trũng sâu, xung quanh mắt hiện lên những vòng tròn đen. Cô mặc pháp y màu đen giống như một bà mo, người trở nên già nua nhanh chóng. Người khác lo lắng cho cô ấy, còn bản thân cô thì thấy chẳng sao cả, cô cho rằng mình sắp đắc đạo rồi.

Sư phụ của Chiếu Huệ được người ta giới thiệu mà chạy tới tìm tôi. Tôi cùng với sư phụ của Chiếu Huệ đi Tân Hóa Đài Nam. Ngôi chùa Phật ấy sạch sẽ khác thường, chư Phật Bồ Tát trong đại hùng bảo điện vị nào cũng trang nghiêm. Tôi lễ chư Phật Bồ Tát, hai mắt vừa nhắm lại, miệng niệm chân ngôn thì lập tức nghe thấy trong không trung có tiếng sét vang rền. Hộ pháp Vi Đà hiện pháp tướng: “Liên Sinh, Chiếu Huệ đã bị linh quỷ Tây Sơn quấy phá, dưới giường trong thiền phòng của cô ấy có bức tượng Phật Di Lặc bằng sứ đã vỡ, linh quỷ sống trong bức tượng ấy, mượn linh khí của Chiếu Huệ mà sống, ngài hãy giúp cô ấy giải trừ đi!”

Bên dưới chiếc giường trong phòng ngủ của Chiếu Huệ quả nhiên tìm thấy những mảnh vỡ của tượng Phật Di Lặc. Tôi dùng lửa để hóa tượng. Còn sự việc này, chúng tôi cũng không nói cho cô ấy biết, và bản thân cô ấy kể từ đó cũng không còn nhìn thấy Phật Di Lặc nữa. Linh quỷ Tây Sơn từng chạy tới tìm tôi vì tôi đã làm hỏng việc tốt của hắn, hắn không đấu lại được tôi nên tìm đến con gái nhỏ Phật Thanh của tôi để hạ thủ. Cuối cùng tôi cũng phải tốn rất nhiều sức lực mới đuổi hắn đi được, đúng là không đơn giản.

“Kinh Mật Nghiêm” nói: “Trong núi tuyết có một con ác thú, hễ gặp trâu thì hiện hình trâu để giết trâu, gặp ngựa thì hiện hình ngựa để giết ngựa. Ngoại đạo sinh ra trong A-lại-da thức, ta thấy cũng giống như thế, tùy theo mỗi con người mà có sự khác biệt. Ngoại đạo không hiểu đạo lí duy thức, sinh ra ngã kiến, cố chấp phân biệt có hoặc không, một hoặc nhiều. Người tu quán hành, trong nhận thức quét sạch ngã kiến. Hành giả tự tu tập và cũng vì người khác mà khuyên giảng như vậy.”

Còn Chiếu Huệ, từ trong ngã kiến, cô ấy nhận lầm ma là Phật, thật sự khiến người ta kinh sợ. Cô ấy nên tiêu trừ cái hữu tướng trong ngã kiến này, phải không khác biệt với phàm phu bình thường, tu Phật học Phật cho đến khi thành Phật. 

Cũng có một số đại hòa thượng nói chính tôi cũng chấp vào ma tướng, có pháp thuật thần thông ma quỷ. Thế nhưng cuộc sống đời thường của tôi giống hệt một phàm phu, tôi không bị linh quỷ từ bên ngoài đến quấy nhiễu, linh của tôi có thể tự chủ, tôi đã thông suốt tam giới, tự do xuất nhập, tất cả do tâm, đây chẳng phải là điều mà người xuất gia bình thường có thể lí giải sao?


### 17. Tự lực và tha lực


Sau khi kẻ hèn này tự tu tập Đạo công thì phát hiện ra hai loại sức mạnh, một loại sức mạnh chính là sức mạnh bên trong chính mình (tự lực), một loại chính là sức mạnh đến từ hư không giới bên ngoài thân, đây chính là tha lực. Hai loại sức mạnh này nếu vận dụng lẫn nhau một cách thích hợp thì công lực của nó có thể thông thiên nhập địa, chấm dứt không còn chướng ngại, nhưng ngược lại, nếu vận dụng không cân đối thì cũng chính là tẩu hỏa nhập ma mà người ta thường nói. Đã nhập vào ma tướng rồi thì muốn thoát cũng khó lắm!

Tự lực và tha lực ở đây có thể nói là đối lập nhau, cũng có thể nói là bổ trợ lẫn nhau. Nếu phân biệt một cách tỉ mỉ thì tự lực bên trong thân mình lại có hai loại sức mạnh, một loại sức mạnh là niệm lực, một loại sức mạnh là linh lực. Người bình thường rất ít người có thể lĩnh hội được niệm lực và linh lực, còn bản thân tôi cho rằng, cái gọi là niệm lực chính là sức mạnh ý chí, còn cái gọi là linh lực chính là linh cảm (giác quan thứ sáu) đặc biệt. Còn đối với người hoạt linh bình thường mà nói thì đó chính là sức mạnh của linh hồn. Trong các tông phái cũng có sự phân biệt, tôi đặc biệt nói rõ sự phân biệt của Thiền tông và Tịnh độ tông.

Tông phái thiền môn nói về tự lực, tức là chỉ chính mình trực tiếp chứng ngộ thành Phật, không dựa vào pháp khác, không dựa vào sức mạnh khác, kiểu công phu này người bình thường không dễ dàng tu được; nói về minh tâm kiến tính, trực chỉ thành Phật, từ thiền nhập định, từ định thành Phật, nói thì có vẻ đơn giản nhưng thật ra không hề dễ. Vì thế “Kinh Lăng Nghiêm” viết: “Viên mãn bồ đề, quy về vô sở đắc, người tu thiền định và người tham thiền dựa vào duy nhất tự lực, không cầu sự gia trì của Phật. Vì khi công phu đạt đến thời điểm bị chân tướng hay vọng tướng công kích, mỗi người sẽ có các loại cảnh giới, huyễn xuất hiện và huyễn biến mất. Ví như khi mưa dầm sắp tạnh, mây mù tản ra, đột ngột nhìn thấy mặt trời. Trong thoáng chốc đã có những thay đổi biến hóa khó lường, mọi cảnh giới nếu không phải là người đích thực có đạo nhãn thì không thể phân biệt được. Nếu tiếp nhận sai thông tin thì sẽ chấp ma mà phát cuồng, chẳng thể chữa được.” 

Người tu tập thiền môn bắt đầu từ tứ thiền bát định, người có chính định thì sẽ dung hòa song song tịch-chiếu [tĩnh lặng và quán chiếu], người có cảm nhận đúng đắn thì sẽ hàng phục được cuồng vọng hiển hiện chân tướng. Tứ thiền chắc chắn không hề là vô sở đắc, đây là kết luận của tác giả khi tu tứ thiền bát định, bởi vì ngũ uẩn đều không mà!

Người tu thiền định luôn luôn vì tự lực mà kiêu ngạo, một khi tâm sơ suất lơ là thì yêu ma quỷ quái sẽ thừa cơ nhập thẳng vào, người tu không phòng ngừa, nhận thức không rõ ràng, nếu tâm điên đảo thì đây là nỗi bi ai lớn nhất.

Tôi cho rằng: “Chư Phật Như Lai là thân pháp giới, nhập vào trong tất cả tâm tưởng của chúng sinh, vì thế khi tâm bạn nhớ đến Phật thì tâm chính là 32 tướng tốt 80 vẻ đẹp, là tâm làm Phật, là tâm là Phật.” Pháp sư Ấn Quang cố gắng bảo vệ pháp môn Tịnh độ niệm Phật nói rằng: “Người niệm Phật lấy sự chân thành làm tín nguyện, trì hồng danh của Vạn Đức, giống như mặt trời sáng rực rỡ trên cao, đi trên con đường của đại đạo, không những quỷ quái diệt sạch mà các ý niệm về đường rẽ thị phi cũng chẳng sinh ra, niệm đến khi công lực cực thuần tịnh thì toàn tâm là Phật, toàn Phật là tâm, tâm và Phật không hai, tâm và Phật là một.” Tôi cho rằng công phu này cũng chính là tâm pháp tối thượng đẳng của Thiền tông rồi.

Công lực tối thượng đẳng của Tịnh độ tông cũng là tự lực, nhưng trong quá trình tu tập có linh quang của Phật Tổ bao bọc, vì thế cũng là có tha lực gia trì, tự lực phối hợp cùng tha lực, như vậy sao có thể không thành công chứ! Cho nên tông sư các đời, rất nhiều các đại Phật học gia, trưởng giả xuất gia cực kì tôn sùng Tịnh độ tông, cho rằng đây là một đường thẳng thành Phật có cả thuận lợi và khó khăn, cho nên một pháp môn niệm Phật vẫn là diệu pháp số một về “bối trần hợp giác, phản bản quy nguyên” [trở về con đường đúng đắn, thoát khỏi mê lầm về với giác ngộ].

Trong vũ trụ biến ảo khôn lường này, có rất rất nhiều linh tồn tại phức tạp đan xen rối rắm, những linh lực ấy cũng có rất nhiều điều bất khả tư nghì, linh lực của một cá nhân nếu có thể phá vỡ cái vỏ xác thịt của thân thể chính mình mà cảm ứng cân bằng với linh lực ở trên trời thì chắc chắn có thể đạt được rất nhiều linh lực kì diệu. Dạng linh lực này giống như đại lực của linh cơ thần toán vậy, có thể thành tựu rất nhiều việc, đương nhiên đây cũng là một dạng kết hợp nhỏ của tự lực và tha lực mà thôi.

Giờ đây, rất nhiều người chạy đến tìm tôi, xin tôi giúp cho họ khởi linh. Tôi luôn nói với họ rằng, trước tiên phải nhờ vào tha lực, ví dụ như người tin Đạo thì cung kính niệm Diêu Trì Kim Mẫu, người tin Phật thì cung kính niệm A Di Đà Phật, người tin Chúa thì cung kính niệm Jesus Christ, người tin Hồi giáo thì cung kính niệm Mohammed. Cứ như thế ngồi yên lặng và chờ đợi, chỉ cần tiểu chu thiên [bản thân] sau 49 phút, nếu được thần linh gia trì cho sức mạnh (tha lực) thì nhất định có thể khởi linh. Sau khi khởi linh sẽ rất nhanh chóng có thể phân biệt được hai loại sức mạnh, một loại chính là linh lực của chính mình (tự lực), một loại chính là sức mạnh của linh hồn hiển hiện (linh lực). 

Có một người muốn tập khởi linh chạy đến tìm tôi, anh ấy nói:
”Chẳng hề có phản ứng gì.”
”Anh tập khởi linh ở đâu?”
”Trên giường.”
”Trên giường không được, nhất định phải ở chỗ thanh tịnh.”
Người đó lại chạy đến nói:
”Chẳng hề có phản ứng gì.”
”Anh mặc quần áo gì?”
”Quần đùi (quần lót).” 
”Quần đùi không được, phải thay bộ quần áo sạch sẽ.”

Người đó niệm Phật rất thành kính, thế rồi quả nhiên có cảm ứng. Tôi yêu cầu anh thờ phụng Quan Thế Âm Bồ Tát, anh làm theo như vậy. Tôi yêu cầu anh sớm tối niệm Phật, có thời gian rảnh là niệm Phật, niệm ở miệng, nghe ở tai, in vào tâm, anh ấy cũng làm theo. Anh hỏi tôi: 
”Vì sao nhất định niệm Phật phải ở nơi thanh tịnh, phải ăn mặc sạch sẽ chỉnh tề, phải tắm gội sửa mình thì mới có cảm ứng nhỉ?”
Tôi nói:
”Niệm Phật như có Phật ở đó, chúng ta có thể để hình dạng bẩn thỉu luộm thuộm đi đối diện với thánh linh được sao?”


### 18. Nhờ linh thấy linh


Có người nói việc tôi nhìn thấy linh quỷ linh thần là nói khoác, còn nói mắt của con người làm sao có thể nhìn thấy linh giới được chứ! Họ không hiểu yếu nghĩa mà tôi nói, cho nên hôm nay tôi không thể không nói rõ ràng. 

Trong cuốn sách “Mạn đàm về linh cơ thần toán”, tôi nhấn mạnh một câu nói là “nhờ linh thấy linh”, cái này chính là “nhờ linh hồn của chính mình có được khả năng thông linh để nhìn thấy các linh của linh giới, phương pháp này chính là pháp khởi âm nhãn”. 

Tình huống này tôi có thể tiết lộ sơ lược, tôi nghĩ điều này cũng không sao cả. Cái gọi là nhìn thấy là như thế nào, nghe thấy là như thế nào? Khi hai mắt vận linh, mắt sẽ sinh ra linh quang, linh quang ấy sẽ nhấp nháy giống như ánh huỳnh quang trên màn hình ti vi vậy, sau đó toàn bộ thế giới sẽ hiện lên một hình ảnh lờ mờ, giống như khi vừa mở ti vi lên, không khác gì tình trạng tạm thời chưa có hình ảnh gì xuất hiện trên màn hình. Sau đó lại tiếp tục trì chú vận linh, hình ảnh hiện lên dần dần ổn định và rõ nét, lúc này giống như bước tới gần ti vi để xem ti vi vậy, đây chính là pháp khởi âm nhãn nhờ linh thấy linh.

Còn nghe thấy thì lại là một việc rất kì diệu, có thể nghe thấy âm thanh của các linh trong hư không thì đó tuyệt đối không phải là giả, âm thanh ấy giống như âm thanh được truyền đi trong điện thoại vô tuyến, âm thanh mảnh và nhỏ, mỗi âm thanh lại khác nhau.

Muốn làm được khởi linh nhãn và khởi linh nhĩ thì phương pháp duy nhất là dùng linh lực của bản thân để phá vỡ lớp vỏ bao vây lấy thể xác của mình, điểm này thật sự rất quan trọng. Con người chúng ta khi sinh ra, linh hồn đã bị một lớp chướng ngại vô hình bao vây, muốn đột phá ra ngoài cũng không được, giống như đã chết vậy. Nếu có một ngày có thể vận linh phá vỡ được vòng chướng ngại này thì tất nhiên sẽ sinh ra hai hiện tượng, một chính là ma hiện lên dẫn dắt, hai là thần hiện lên dẫn dắt. Nói chung, một người tu đạo sẽ chiêu cảm ma quỷ hay là chiêu cảm thần thánh thì hoàn toàn là do “cảm ứng tâm điện” của chính mình. Đây chính là vấn đề về tần số phóng xạ, nếu một người có tâm đại nhân từ, tâm yêu thương, thì ma quân không dám xâm phạm, vì địa vị của người này cũng như Bồ Tát. 

Một số đại cao tăng xuất gia ngày nay không thích con người có được thần thông cũng là có nguyên nhân cả, bởi vì “tâm còn chưa sáng”, nếu mà chứng thần thông trước thì ngược lại sẽ trở thành ma đạo, việc chấm dứt sinh tử tất có chướng ngại. Vì thế họ đều sợ muốn chết. Thật ra, nếu có tâm bồ đề, dùng tâm đại nhân từ, tâm yêu thương, chịu lập ra lời thề lớn, thì các linh trên trời dưới đất chắc chắn sẽ hết sức hoan hỉ. Thành Phật thành Tiên chắc chắn sẽ phải chịu ma nạn, điều này là không thể tránh được, cho dù không có thần thông thì khi sắp minh tâm kiến tính chẳng phải sẽ có các ma trong thiên hạ kéo đến khảo nghiệm, nếu không kháng cự nổi thì cũng chẳng thể thành Phật tác Tổ sao. 

Tâm đại nhân từ, tâm yêu thương này dựa vào chữ “nhẫn”, giống như “Kinh Nhẫn Nhục” đã viết: “Nhẫn như ánh sáng, vượt qua tháng ngày. Sức của rồng voi, xem là mạnh mẽ, so với nhẫn nhục, vạn vạn chẳng bằng. Thất bảo sáng chói, báu vật ở đời, tự có phiền lo, đến nỗi gặp họa; nhẫn là báu vật, mãi được an yên, bố thí thập phương, chỉ có đại phúc, phúc chẳng bằng nhẫn; nhẫn nhịn hiền từ, đời đời không oán, giữ sự thản nhiên, chung quy không hại. Đời không nương dựa, duy có nhẫn thôi, nhẫn là nhà yên, không sinh tai quái. Nhẫn là áo giáp, ngăn chặn binh đao. Nhẫn là thuyền lớn, có thể cứu nạn. Nhẫn là thuốc hay, cứu được mạng sống. Chí nguyện người nhẫn, đều sẽ đạt thành.”

Nếu hiểu được bí mật về “nhẫn”, cộng thêm tâm yêu thương đại nhân từ, chứng đắc thần thông thì ma có thử thách cũng không ngã, đây chính là hạt giống của Phật Bồ Tát.

Còn nhớ sau khi tôi mới được ân sư Thanh Chân Đạo Trưởng khởi linh, ân sư bảo tôi: “Liên Sinh, căn cơ kiếp trước của con là tu đại thiện, nên kiếp này con là người có đại căn khí hiếm thấy. Một khi con khởi linh thì con lập tức chứng được thiên nhãn thông và thiên nhĩ thông.” Lời ân sư nói không hề sai. Ban đêm tôi quan sát thiên tượng, bỗng nhiên nhìn thấy bảo tướng của Ngũ Đế trên Cung Trăng. (Con người thời nay nói các nhà du hành vũ trụ lên mặt trăng chẳng hề nhìn thấy Cung Trăng hay Hằng Nga. Tôi nói, nhà du hành vũ trụ cũng là phàm phu thôi, chỉ nhìn thấy mặt trăng lạnh lẽo thê lương, yên lặng tịch mịch, khắp nơi hoang vắng, chỉ thấy được cái hoang vu hữu hình mà thôi. Nhà du hành vũ trụ làm sao biết được đôi mắt của Lư Thắng Ngạn tôi đích thực nhìn thấy Ngũ Đế ở Cung Trăng - cung điện quý của thế giới vô hình chứ! Trên trái đất có thần minh, nhưng ngay cả thần minh trên trái đất họ còn không nhìn thấy được thì lên mặt trăng họ có thể nhìn thấy được cái gì đây? Con người thời nay suy nghĩ đơn giản, nếu coi đây là chứng cứ cho thuyết vô thần thì chẳng phải là khiến người ta cười rơi răng sao?)

Khi ấy những gì tôi nhìn thấy khác với những gì người bình thường nhìn thấy. Đêm đó, những vì sao trong không trung biến thành những đóa hoa tươi rơi xuống, có những đám mây ngũ sắc mở ra hai bên, có năm vệt ánh sáng xuất hiện xung quanh mặt trăng, trong từng vệt ánh sáng đó có một ông lão đang ngồi, khuôn mặt có năm màu sắc khác nhau, đầu đội mũ thông thiên, thân khoác áo bào Đạo sĩ, ngồi trên tòa hoa sen. Ngũ Đế hiển hiện một lúc cho tôi thấy rồi dần dần biến mất. 

“Thưa thầy, con đã nhìn thấy thần thánh gì?”
”Đó là Nguyệt Cung Ngũ Đế, khuôn mặt họ có năm màu xanh, đỏ, đen, vàng, trắng đúng không?”
”Đúng vậy.”
Thanh Chân Đạo Trưởng cười cười, nói:
”Liên Sinh, họ là bạn tốt của thầy, tối hôm qua thầy đã xuất thần đến Nguyệt Cung, nói chuyện với họ rằng con đã chứng được thiên nhãn thiên nhĩ, họ không tin phàm trần vẫn còn có người như vậy, vì thế hôm nay họ hiện lên để chứng minh. Tối nay thầy lại đến Nguyệt Cung, yêu cầu họ bảo vệ cẩn thận cho con, để tương lai con thành đạo không gặp phải quá nhiều khó khăn.”
”Con xin cảm tạ thầy.” - Tôi nói.

Tôi có hai vị thầy, một vị là Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, một vị là Thanh Chân Đạo Trưởng viên tịch quy tiên ở núi Tập Tập. Hai vị ân sư này vĩnh viễn ở trong tim tôi.


### 19. Xuất gia và tại gia


Một hôm, tôi đang rảnh rỗi ở nhà thì có một tì kheo xuất gia đến tìm tôi. Tôi mời vào trong nhà, ông ấy ngẩng đầu lên nhìn thấy Phật Thích Ca Mâu Ni, Hộ pháp Vi Đà Bồ Tát, Già Lam Tôn Giả và chư Phật Bồ Tát khác mà tôi thờ thì không nói gì, chắp tay cúi đầu bái lạy, bái lạy xong thì đứng dậy chắp tay hướng về tôi chào hỏi. Tôi cũng cúi chào ông ấy thì ông ấy lập tức né tránh, tôi đã cúi chào không khí.

“Anh là Liên Sinh à? Tôi đã đọc sách của anh, hôm nay tôi đặc biệt tới đây thăm hỏi.”
”Sư phụ xuất gia ở đâu? Sống ở bảo tự nào? Hôm nay đến đây không biết có việc gì chỉ giáo?” - Tôi gật đầu biểu thị rằng tôi chính là Liên Sinh. Tôi dâng mời trà thơm và hỏi. 
”Tôi xuất gia ở miền bắc, nhưng hiện sống tại Xích Sơn Nham ở miền nam. Đọc thấy trong sách của anh viết có chứng cứ rõ ràng, từng câu đều không phải là vô căn cứ, thật sự là có đại thiện căn, tôi đặc biệt tới để phụng thỉnh anh xuất gia nhằm làm rạng rỡ Phật môn, như thế thì sư phụ của anh là pháp sư Ấn Thuận chắc chắn sẽ hoan hỉ lắm.”
”Xuất gia ư?” - Tôi trầm ngâm.
”Đúng thế, biệt danh của tôi là Hòn Đá, người người gọi tôi là sư Hòn Đá, hòn đá cứng đầu ngoan cố chẳng thay đổi mà cũng xuất gia làm sư, huống hồ anh đây là một cư sĩ đại đức, nếu không xuất gia cùng chuyển pháp luân thì có lẽ những gì mà anh chứng đắc được chỉ là một vị Đại Phạm Thiên thần chúng tâm địa thuần tịnh mà thôi. Nếu anh xuất gia, chứng đạo thành chân, có lẽ tôi cũng có thể nhận anh làm thầy, được nghe Phật pháp Phật ngữ, sớm đăng địa Niết-bàn.”

“Đại sư phụ xem trọng tôi rồi, thật sự là quá cất nhắc và coi trọng tôi rồi. Tôi có đức gì năng gì đâu, thật sự không phải là tôi không muốn xuất gia, mà là không dám xuất gia. Người xuất gia phải là người có lòng quyết tâm và quả cảm xuất thế nhập thế lớn. Nếu tôi không có nghị lực lớn thì chắc chắn sẽ đọa vào đạo địa ngục ngạ quỷ, đáng sợ như vậy làm sao tôi dám dễ dàng nói hai chữ “xuất gia” chứ!”
”Vậy anh dự định khi nào xuất gia?”
”Khi tôi một lòng thành tâm, khi thấy Phật đắc đại khoái lạc; khi tôi một lòng thành tâm, thấy Đạt Ma đắc đại lợi ích; khi tôi một lòng thành tâm, khi thấy tướng của đại sư xuất gia mà cảm thấy một sự an ổn lớn thì tôi sẽ xuất gia.” - Tôi nói.
”Chỉ mong ngày này sẽ đến sớm. Liên Sinh, “Kinh Tăng Nhất A Hàm” nói rằng: Thành tựu thiện nghiệp thì tất cả đều hòa hợp, không có tà nghiệp; người thành tựu pháp, thành tựu giới, thành tựu tam muội, thành tựu trí huệ, thành tựu giải thoát, thành tựu sinh tử, thành tựu tri kiến cũng chính là tăng bảo. Tăng nhân cũng là ruộng phúc của thế gian. Anh có thể hiểu được điều này không?” - Sư Hòn Đá nói.

“Tôi biết năm việc tại gia là: thấy sa môn thì mở rộng cửa tiếp đãi, nghênh đón và hỏi han, bố trí chỗ ngồi, bảo vệ kinh tạng, bố thí đồ sạch sẽ. Tôi càng biết rằng xuất gia không mặc quần áo bẩn, người mà tâm không nhiễm mắc thì cũng chính là tì kheo chân chính. Dù không trừ bỏ được vai trò của mình nhưng có thể cắt đứt các ràng buộc thì cũng là tì kheo chân chính, dù không chịu giới cấm nhưng tâm lìa mọi ác, mở mang công đức định huệ thì cũng là tì kheo chân chính.”

Sư Hòn Đá kia thấy tôi nói vậy thì liên tục nói là hay, ông ấy nói:
”Liên Sinh, hoan nghênh anh nếu rảnh thì đến Xích Sơn Nham thăm viếng một chút, anh cứ hỏi sư Hòn Đá là ai, mọi người đều biết hết.”
Nói xong thì tì kheo này cũng rời đi, tôi cung kính tiễn ra cửa. Ra khỏi cửa thì ông ấy đi cực nhanh, dường như thoắt một cái đã không thấy đâu nữa rồi.

Nói ra cũng rất may, không lâu sau đó tôi đi công tác đến miền nam, tiện đường tôi cũng đến Xích Sơn Nham một chuyến. Đằng trước Xích Sơn Nham có một cây đa to, phía trước chùa cũng có một quầy đoán số mệnh. Ở Đại Hùng Bảo Điện, tôi lễ bái Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Ở Trung Điện tôi lễ bái Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật và Quan Âm Thế Chí hai đại Bồ Tát. Đến điện sau cùng tôi lễ bái Địa Tạng Vương Bồ Tát, điện cuối cùng hình như có thờ phụng một vị Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn Huyền Khung Cao Thượng Đế, hai bên điện Địa Tạng có tượng của mười tám vị La Hán, trong điện Quan Âm thì có kim thân của các Bồ Tát trong chú Đại Bi, các bức tượng ở đây được điêu khắc cực kì trang nghiêm. Trong chùa có tì kheo và tì kheo ni. Tôi tham bái xong thì hỏi một nhà sư:
”Xin hỏi sư Hòn Đá có ở trong chùa không?”
”Sư Hòn Đá à? Làm gì có ai là sư Hòn Đá?” - Hòa thượng đó ngơ ngác hỏi ngược lại tôi.
Thế là tôi lại hỏi thuật sĩ mở quầy xem tướng mệnh, thuật sĩ ấy cũng lắc đầu nói:
”Tôi ở đây đoán mệnh đã nhiều năm rồi, chưa từng có ai gọi là sư Hòn Đá.”

Hỏi người không có được thông tin gì, tôi tiến vào trong đại điện, cung kính niệm chú ngữ Tiên Thiên Vô Cực Chính Pháp, lần lượt cung kính phụng thỉnh Phật linh cho đến khi vị Già Lam Tôn Giả không đứng yên được nữa. Tôi hỏi Già Lam:
”Có sư Hòn Đá không?”
Già Lam nói:
”Cái ông sư Hòn Đá ngang bướng ấy đã được thầy giáo huấn, có được lợi ích lớn, lẽ ra có thể vào chùa để cùng hưởng hương hỏa, nhưng ông ấy vốn là âm thần hiển hóa mà sinh ra, hiện tại ở tạm bên phải lư vàng của bản chùa, anh đi mà xem!”

Tôi đứng ở trước lư vàng thấy sư Hòn Đá đoan trang, đó là một người xuất gia trấn lò được người thợ khéo léo tiện tay chạm khắc trên cái lư vàng, trên lưng cõng một cái hồ lô được điêu khắc từ đá. Trong các chùa bình thường thì là Tiên Ông Lí Thiết Quải làm người trấn lư vàng, còn ở Xích Sơn Nham này thì lại là sư Hòn Đá. Tôi đứng ở đó nói rất nhiều chuyện với sư Hòn Đá, cũng lại là một mớ đạo lí về xuất gia và tại gia.

Người không biết còn cho rằng một mình tôi nói chuyện với cái lư vàng, không điên thì cũng là đồ ngốc thôi!


### 20. Có Phật phù hộ


Có một thiếu nữ họ Lương tên Bích Lan sống ở thị trấn Trác Lan huyện Miêu Lật, 25 tuổi, dáng vóc khỏe đẹp, khuôn mặt có ngũ quan thanh tú. Khi cô ấy đến tìm tôi, tôi đang xem số mệnh cho người ta, cô ấy đứng bên cạnh im lặng không nói gì.

Khi tôi xem số mệnh cho người ta, thỉnh thoảng tôi ngẩng đầu lên nhìn xung quanh, phát hiện ra sau lưng của cô gái họ Lương này có một người đàn ông đang đứng. Nói anh ta là “người” đàn ông thì thật ra không đúng, mà phải là một “ma” đàn ông, linh khí của người thanh niên này đặc biệt nặng, lại chen trong đám người, dường như nhìn tôi đoán mệnh đến mức say mê rồi. Tôi nói với cô gái họ Lương xinh đẹp rung động lòng người kia:
”Cô à, sao không mời bạn trai cô ngồi xuống?”

Cô gái họ Lương chớp đôi mắt to xinh đẹp đầy kinh ngạc. Cô ấy mặc áo trắng, váy dài đen, trông cực kì xinh đẹp rung động lòng người, khiến ánh mắt người ta không thể nào không nhìn cô ấy. Cử chỉ của cô ấy trở nên bất an, cô nói:
”Tôi là người từ Trác Lan đến đây, không hề có bạn trai nào!”
Tôi nói:
”Sao lại không có, người này là ai?”
Tôi chỉ vào sau lưng cô ấy, ánh mắt mọi người lại đổ dồn về sau lưng cô. Sau lưng cô ngay cả một con mèo nhỏ cũng không có, hoàn toàn trống trơn, chính cô ấy cũng quay đầu lại nhìn sau lưng mình, đột nhiên sắc mặt cô ấy đầy kinh sợ, liên tục chen qua đám đông, cô ấy gật đầu nói với tôi:
”Hôm nay đúng là tôi đến đây để hỏi chuyện này. Chính tôi đã trải qua những việc rất khó hiểu. Tháng tám năm nay tôi sẽ lấy chồng, nhưng tôi rất sợ, tôi sợ hắn trả thù, hắn có thể làm hại tôi không?”

Tôi ngẩng đầu lên nhìn “ma nam” đó, “ma nam” đó còn trợn mắt nhìn tôi, nhếch mép khẽ cười. 

Cô Lương nói:
”Ba năm trước, vào một ngày tháng Giêng âm lịch, thời gian khoảng 11 giờ tối, tôi đang chuẩn bị đi ngủ, đột nhiên bên ngoài cửa sổ có vang lên tiếng chó, tiếng kêu rất bi thương, con này kêu xong thì lại đến con khác kêu. Tôi nghe người ta nói đó là tiếng chó kêu khi nhìn thấy vong hồn. Tiếp đó, đàn lợn trong chuồng lợn nhà tôi trở nên cực kì hoảng loạn, nhưng không lâu sau thì tất cả đã yên lặng trở lại. Tôi có thể nghe thấy tiếng tim mình đập, dường như đó là một màn mở đầu cho một cơn cuồng phong sắp đến. Bỗng nhiên có một vệt ánh sáng trắng bay vụt qua cửa sổ của tôi, giống như ánh chớp, trong chốc lát cũng tan biến. Đêm ấy khi đi ngủ, trong lòng tôi rất sợ, đến nửa đêm, tôi tỉnh khỏi cơn mê, cảm thấy bên cạnh mình hình như có một người đang nằm ngủ….”

Nói đến đây, những người đang nghe đều sởn cả gai ốc, cô Lương cũng xấu hổ không nói tiếp được nữa. 
”Người đó chỉ có một cái bóng lờ mờ, hắn ôm lấy tôi, rất chặt, tôi hét không thành tiếng, cũng không thể nào vùng vẫy được.”
”Cửa phòng cô có khóa không?” - Có một phụ nữ hỏi cô ấy.
”Tôi một mình một phòng, đương nhiên cửa có khóa, không ai vào được.”
”Sau đó thì sao?” - Tôi hỏi.
”Sau đó, cứ cách một khoảng thời gian, hắn ta lại xuất hiện, có khi thì một tháng, có khi thì một tuần. Đầu tiên là buổi tối, bây giờ thì ngay cả buổi trưa ban ngày hắn cũng đến. Bởi vì tháng tám năm nay tôi sẽ lấy chồng, nghe người ta kể những chuyện linh dị của Lư tiên sinh nên tôi chỉ biết bí mật đến cầu cứu. Sự việc này ngay cả người nhà tôi cũng không biết, tôi đã chịu đựng ba năm, bây giờ tôi phải làm sao mới được đây?”

“Anh có bằng lòng rời xa cô ấy không?” - Tôi quay qua hỏi “ma nam” vừa trẻ trung vừa có văn hóa. Mọi người nhìn tôi nói chuyện với ma thì ai cũng xê dịch ra. 
Cô gái kia thì liên tục hét lên: ”Đáng sợ quá, đáng sợ quá.”

“Không bằng lòng.”
”Sao anh lại tìm đến cô ấy?”
”Có duyên.”
”Âm phủ và dương thế là hai con đường khác nhau, có duyên thì cũng đợi đến kiếp sau, nếu anh hiểu lí lẽ ấy thì hãy chủ động rời xa cô ấy. Tôi biết anh không có cái tâm hại người nên tôi không muốn dùng khóa vàng bát quái để khóa anh lại, nhưng anh hãy nghe tôi hòa giải, mau mau rời xa cô ấy được không?” - Tôi nói chuyện một cách lịch sự với hồn ma không rõ lai lịch này.
”Tôi vốn không muốn rời xa, nhưng tôi sẵn lòng tạm thời rời xa cô ấy.” - Ma nam ấy dường như khá quyến luyến không muốn rời bỏ.

Tôi quay đầu về phía Tiên Phật cầu chỉ thị. Quan Thế Âm Bồ Tát chỉ thị rằng: “Nhân duyên gặp gỡ tạm thời, thân này cũng như mộng từ vọng kiến mà sinh ra, thân này cũng như ảnh do nghiệp duyên mà hóa hiện. Liên Sinh, cô Lương đây thờ cúng hình tướng của ta, niệm hồng danh của ta, ta chắc chắn sẽ bảo vệ. Hồn ma cũng niệm tên của ta, anh ta vốn là một linh hồn có được linh khí địa lí, nếu niệm tên của ta thì cũng đắc giải thoát.”

Tôi truyền đạt chỉ thị của Bồ Tát, cô Lương vô cùng cảm kích, còn hồn ma kia bất ngờ quỳ xuống, liên tục hướng về kim thân của Quan Âm Đại Sĩ cung kính lễ bái, liên tiếp lạy 21 lạy, sau đó xoay người một cái thế là biến mất.

Lần thứ hai khi cô Lương lại đến tìm tôi, cô ấy nói: 
”Kể từ ngày hôm đó, ban đêm ngủ yên lành, hồn ma kia không hiện thân nữa. Thật sự cảm ơn ngài, cũng cảm tạ Quan Thế Âm Bồ Tát.” 

(Lời cuối: bản văn này có người thật việc thật, tên Bích Lan là tên giả, còn những chuyện khác đều là thật. Tháng 8 năm Dân Quốc 64 [năm 1975] cô Lương đã lấy chồng, chồng là một thạc sĩ đã hoàn thành việc học ở nước ngoài và trở về nước.)


### 21. Giữa chính và tà


Kiến thức về linh đúng là cao thâm khó lường, những nghiên cứu về linh cũng giống như một cái hố sâu không đáy, càng nghiên cứu càng thấy sâu, càng sâu thì càng không thể suy đoán. Linh có phân chính tà, giống như con người, người cũng có phân chính tà, thậm chí có một số linh trong chính có tà, một số linh trong tà có chính, có một số linh thì không tà không chính. Cho nên muốn phân biệt đâu là chính, đâu là tà, thật sự rất khó khăn.

Ở trong mơ, thần linh cũng có thể thử thách tính cách của tôi, những thử thách này tôi đã trải qua vô số lần, nói thật là thành tích của tôi chẳng hề tốt. Ví dụ có một lần, tôi ngủ say rồi, tâm thần tôi được đưa đến một nơi mà trước nay tôi chưa từng đến, nơi đó cực kì đẹp, có núi cao, sông hồ đẹp như tranh vẽ, ở trong núi có một con đường nhỏ bằng phẳng, chạy dọc theo con đường có trồng một loại cây không rõ là cây gì, trên cây trổ đầy những quả táo vàng long lanh lóng lánh. Còn tôi đứng ở dưới cây táo vàng, tôi nghĩ, con đường này chỉ có một mình tôi đi, mà dọc đường có những quả táo vàng long lanh như vậy, nếu tôi hái một quả, hoặc là nhiều hơn, chẳng phải sẽ trở thành phú ông sao? Tôi thật sự không thể kìm nén được niềm sung sướng trong lòng, nhưng tôi nghĩ lại, vật nào chắc chắn cũng có chủ, táo không phải là đồ của tôi thì tôi làm sao có thể hái trộm được chứ! Thế nhưng suy nghĩ tham lam đã nổi lên, tim tôi đập thình thịch, tôi đã quên mất sự tu dưỡng thường ngày, quên mất giáo huấn của Phật Đà, đưa tay ra định hái trộm, vừa mới hái vào tay thì tỉnh khỏi giấc mơ, toang rồi!

Lúc này, không trung có tiếng nói: “Liên Sinh, con người thường bị mắt đánh lừa, thường bị miệng đánh lừa, thường bị tai đánh lừa, còn anh bị giấc mơ đánh lừa, bị tham lam đánh lừa, nếu không dừng tham niệm, tâm giống như con thuyền nhỏ giữa sóng lớn, không có lúc nào định lại, như vậy làm sao mà đắc chính đạo được chứ?” Đây đúng là thời khắc mất mặt nhất, không ngờ ở trong mơ ác niệm của tôi đã rời bỏ tâm, còn muốn ăn trộm táo vàng của người khác nữa.

Lại có một lần khác, tôi được đưa đến một biển lớn sóng dâng cuồn cuộn, những con sóng biển cao như núi, những vòng xoáy nước sâu hoắm không thấy đáy, gió thổi vù vù, khi ấy trời đất đã đổi sắc, tiếng sấm rền vang nổ tung trên bầu trời. Còn tôi thì bị ném vào trong biển lớn đó, tôi dựa vào sức lực của mình để bơi, mãi cho đến khi mệt rã rời thì tôi nhìn lên trời đầy tuyệt vọng. Cổng trời mở ra, có mấy vị thiên sứ đi xuống, tôi hô hoán tên của thiên sứ, thế nhưng một hồi sau thì thiên sứ lại đi vào trong cổng trời, họ không có cách nào cứu tôi. Đột nhiên tôi nhìn thấy một kẻ bình thường tôi cho rằng là Ma Tây Thủ La đứng đầu trong vạn ma của Tha Hóa Tự Tại Thiên của ma quỷ, hắn cầm một sợi dây thừng quăng vào trong biển, sợi dây thừng lại biến thành một con thuyền. Tôi trèo lên thuyền, Ma Tây Thủ La nói: “Ta đã cứu anh rồi, anh phải hoan hô ta.” Thế là từ tận đáy lòng mình, tôi giơ tay về phía hắn và hét lớn: “Thần thánh của Tha Hóa Tự Tại Thiên là vua của vạn thánh, là tôn giả chí thánh vĩ đại.” Vừa hét xong thì tôi lại tỉnh dậy.

Trong không trung có tiếng nói: “Vì được cứu mạng sống trong biển duyên sinh tử mà đã không phân chính tà Ma Phật. Liên Sinh, anh phải tự mình quyết đoán, hành vi phải đoan chính, làm mọi việc thiện ích, tu cho bản thân thanh tịnh, gột rửa những cáu bẩn của tâm, lời nói và việc làm phải trung tín, trong ngoài tương ứng, nếu có tâm nịnh bợ thì sẽ trái với đạo đó!”

Quá nhiều lần thử thách tôi mà vẫn liên tục không qua được, có thể thấy tôi là một người phàm phu trong đám phàm phu, huệ căn quá thấp, không có định lực, đối với giới pháp cũng không giữ được. Đây đúng là nỗi bi ai nhiều năm tu đạo của tôi, Tiên Phật thử thách tôi hầu như đều tiến hành vào lúc nửa đêm, tôi đã đánh mất cảnh giác, tự nhiên không có cách nào chiến thắng được những thử thách, lần nào trong lòng tôi cũng rất buồn vì thất bại những khảo nghiệm đó.

Cái gọi là tu đạo cũng chính là tịnh hóa hoàn toàn cái tâm “chính tà bất phân” trở thành “chính tâm”, và đạt đến mục đích của “chính tâm” đó là phải “chế tâm”, và chế tâm cũng chính là “bỏ tà quy chính”. Tâm tính vốn thanh tịnh, trải qua nhiều việc trở nên cáu bẩn, dùng nước trí huệ để tẩy trừ tâm cáu bẩn. “Kinh Bốn Mươi Hai Chương” nói: Con người rèn sắt loại bỏ chất bẩn mà trở thành công cụ, công cụ chính là tinh luyện; người ham học đạo, bỏ tâm ô nhiễm cáu bẩn thì hành vi cũng sẽ thanh tịnh. 

Sau khi các vị thử thách tôi xong lại hỏi: 
“Liên Sinh, anh có làm tà pháp không?”
”Không, tôi không làm tà pháp.”
”Liên Sinh, anh có làm việc xấu không?”
”Không, tôi không làm việc xấu.”

Từng có một người đến Phật đường của tôi rồi bí mật gọi tôi qua một bên, thấp giọng nói với tôi:
”Tiên sinh, tôi nghe người ta nói bùa chú của anh đều là số một trong cả nước. Tôi nhờ anh giúp tôi vẽ phù được không?”
”Phù gì?”
”Hành vi của anh trai tôi quá sai trái, anh trai và chị dâu tôi bắt nạt tôi, đồng thời còn muốn chiếm đoạt tài sản mà bố tôi để lại, hiện tại tôi và anh trai vì vấn đề phân chia tài sản mà còn đang kiện tụng nhau. Tôi hi vọng anh sẽ vẽ một lá phù cho tôi, tốt nhất là loại phù có thể khiến cho anh tôi tinh thần phân liệt rối loạn tâm thần, tôi nghe nói phù tử tiên có năng lực này, để cho anh ta trúng phù pháp của tôi mà tinh thần thất thường, để dạy dỗ anh ta một chút đó mà.”
”Xin lỗi, loại tà phù tôi không vẽ.” - Tôi nói.
”Yên tâm, tôi sẽ cho anh một vạn tệ, đồng thời tuyệt đối không nói là do anh vẽ.” - Anh ta moi ra một vạn Đài tệ vừa mới lĩnh từ ngân hàng và giơ lên trước mặt tôi. 

Tôi có cần tiền không? Đương nhiên là cần rồi, nhưng mà tôi từ chối, cho dù là táo vàng tôi cũng không thể nào đồng ý. Đây cũng là khảo nghiệm. Chiến tranh giữa thiên sứ và ma quỷ, cuộc chiến của tâm, cuộc giao chiến giữa chính và tà.


### 22. Thuật âm trợ tài thông


Hồi đầu, nhà tôi ở là nhà thuê. Khi tôi thờ phụng vị Quan Thế Âm Bồ Tát đầu tiên, nhà tôi ở số 39 đường Lực Hành thành phố Đài Trung. Khi ấy tổng cộng tôi thờ ba vị là Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Địa Tạng Vương Bồ Tát và Quan Thế Âm Bồ Tát. Thế nhưng, kể từ sau khi tín chúng đồn nhau kéo đến thì Bồ Tát linh cảm dị thường, thậm chí còn hiển hiện kim thân trước tín chúng. Kể từ đó một vài tín đồ tự động đem thêm những bức tượng kim thân tới, khiến cho ngôi nhà nhỏ mà tôi thuê trở nên chật ních.

Khi ấy tôi cúng sao giải hạn cho người ta, thậm chí là tụng kinh, làm pháp hội siêu độ, bận rộn ngày này qua ngày khác, tín đồ tự động bỏ tiền bỏ sức làm Phật đường của tôi trở thành Từ Huệ Lôi Tạng Tự, dần dần quy mô hóa lên, tín đồ ào ào kéo đến như gió. Điều này cũng khiến cho thanh danh của Phật đường nhỏ bé lan đi khắp cả nước, người đến từ Hoa Liên, Cao Hùng, Bành Hồ, thậm chí người chủ trì đầu tiên của Từ Huệ Đường ở Nhật Bản là ông Yamada Gitei cũng quá bộ đến nhà tôi, muốn mời tác giả đi xa một chuyến đến Nhật Bản, nhờ vào thuật linh thông của tôi để tuyên truyền sự linh cảm của Diêu Trì Kim Mẫu.

Lần đầu tiên linh quang của Diêu Trì Kim Mẫu giá lâm Phật đường của tôi, khi ấy tôi đang ngồi trong phòng khách, nghe thấy tiếng chuông trong phòng thờ không gõ mà tự kêu. Tôi nhìn thấy một khối ánh sáng trắng chói lóa lao thẳng vào trong Phật đường, chư Phật trong Phật đường lấp lánh ánh vàng. Tất cả những người đang ngồi thiền trong Phật đường đồng loạt xúc động, một lần bảy người cùng reo mừng, tục gọi là sự khởi đầu pháp luyện thân của Diêu Trì Kim Mẫu. Thế nhưng Phật đường quá nhỏ, hễ có nhiều người là không thể nào quay người được, rất bất tiện.

Khi ấy, Kim Mẫu nói với tôi: “Liên Sinh, ta là Đạo gia Thái Thượng Vô Cực Tiên Thiên Ngũ Lão Chí Tôn, xưng hiệu là Vô Cực Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn. Nay anh tôn sùng ta, ta chắc chắn sẽ giúp anh thành tựu đại đạo, xây dựng đạo tràng. Đến năm Dân Quốc 62 [năm 1973] vật giá sẽ leo thang, anh phải mau mau xây dựng đạo tràng, bằng không thì sẽ không kịp đâu, mau mau xây dựng đạo tràng, không thì sẽ muộn mất…” Kim Mẫu hiển hiện ngồi tại không trung, mây sương bao quanh thân, đầu đội mũ phượng, người tỏa ra những tia sáng màu tím, ngồi trên tòa hoa sen, một tay cầm ngọc như ý màu xanh, một tay cầm phất trần, xung quanh có tiên chúng đi theo ủng hộ, sau một lúc thì biến mất.

Lúc này, Na Tra Tam Thái Tử nói với tôi: “Liên Sinh, xây dựng đạo tràng nhất định có thể thành công, đừng lo lắng, giá cả vào năm 62 sẽ tăng lên rất khủng khiếp, anh muốn xây dựng đạo tràng thì trước tiên phải được trao cờ lệnh ngũ sắc, ngũ sắc là năm màu gì? Một là cờ trắng đại diện cho thiên binh thiên tướng, hai là cờ đỏ đại diện cho Lôi bộ chính thần, ba là cờ vàng đại diện cho thập đại nguyên soái, bốn là cờ xanh đại diện cho hộ pháp thần binh, năm là cờ đen đại diện cho âm binh âm tướng.” 
”Có công dụng gì?”
”Ta sẽ đặc biệt dạy cho anh thuật âm trợ tài thông.”

Khi ấy, căn bản là tôi không có tiền để xây dựng đạo tràng. Tiền tiết kiệm của tôi được một trăm nghìn tệ, cộng thêm hai mươi nghìn tệ tiền kim bài thần minh, hai mươi nghìn tệ tiền hương hỏa cúng sao giải hạn. Tôi cúng sao giải hạn cho người ta được khoảng bốn năm, mỗi năm thu nhập được năm nghìn tệ, cho nên tổng cộng được khoảng hai mươi nghìn tệ. Tất cả tôi đều giao hết cho mẹ tôi giữ, tôi không hề động đến một xu. Các em gái trong nhà tôi làm việc ở bên ngoài, mỗi người góp một ít, cộng với số tiền đang có trong nhà, tổng cộng khoảng hai trăm nghìn tệ. Khi ấy muốn xây dựng một ngôi nhà trông khang trang một chút thì tối thiểu cũng cần bốn trăm nghìn tệ, cho nên vẫn còn thiếu hai trăm nghìn tệ nữa. Tác giả nhiều lần hỏi thử khi nào sẽ có tiền. Thần thánh cười không đáp, chỉ nói một cách thần bí là “đến lúc sẽ có”. 

Cái gọi là thuật âm trợ tài thông, tổng cộng tôi sử dụng hai lần, thuật pháp này là mua tiền vàng mã của âm gian về, sắc lệnh một linh phù “giúp tôi tài thông” rồi hóa đốt. Theo tỉ lệ mà nói, chúng ta tiêu một phần tiền âm cho người âm thì họ ở âm gian có thể giúp chúng ta thu về được bốn phần tiền, số tiền này sẽ quy nhập vào công khố ở âm gian, do hai vị người âm là Thái Âm Công và Nữ Âm Hồn quản lí, tự họ sẽ phân phối một cách thỏa đáng, không cần người dương chúng ta phải bận tâm.

Tôi sử dụng cờ lệnh đen để xử lí việc này. Một số người âm đã giúp tôi thành công, từ có biến thành không, rồi lại từ không biến thành có.

Bởi vì:
”*Đ**ạo pháp tại thân không tùy tiện
Ngẫm đạo lí ấy lòng tái tê
Vạn tuế nghìn năm hoa dễ nở
Một người nhập đạo khó nhập đời”. *
Tôi hiểu sâu sắc đạo lí trong đó, quả nhiên, khi có nhiều người đăng kí vay tiền từ một công ty, chúng tôi cũng không dễ dàng gì mà vay được số tiền ấy, chỉ vay được vừa vặn hai trăm nghìn tệ.

Thuật âm trợ tài thông này, xin thứ lỗi cho tác giả không thể công khai, bởi vì đây chính là một trong những phương thuật vay mượn, người dương gian giúp người âm gian, và người âm gian giúp người dương gian, nếu công khai phù chú sẽ khiến cho người người nảy sinh tâm ham muốn tranh giành tài sản, mơ mộng hão huyền rằng không cần phải làm gì mà vẫn có được của cải. 

Nhà tôi xây đạo tràng nhìn chung đã thuận lợi và thành công rồi, ngay trước khi giá cả tăng cao, trước tháng 6 năm 62 đã xây xong, thời điểm tháng 6 năm 62 thì vật giá đã bắt đầu biến động rồi. Đạo tràng của tôi ở địa chỉ số 7 ngõ 337 đường Tiến Hóa thành phố Đài Trung. Hiện tại sau khi tính toán, tổng chi phí vật liệu để xây dựng ngôi nhà này là một triệu sáu trăm nghìn tệ, không sai một chút nào, thuật âm trợ tài thông cúng một phần được hoàn trả bốn phần, không có một chút nào là giả.

Đạo tràng thờ phụng Diêu Trì Kim Mẫu, Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật và Địa Tạng Vương Bồ Tát đã được xây dựng rất nhanh chóng, từ lúc khởi đầu có ba vị Bồ Tát cho đến bây giờ đã có bốn mươi vị đại Bồ Tát, toàn bộ đều được thờ phụng trong Phật đường đó. Tín chúng mỗi ngày một tăng lên, vì thế mà lại có nỗi lo là không đáp ứng đủ chỗ cho mọi người. 

Tác giả sâu sắc biết rằng những ngày gặp ma nạn của mình đã đến. Tôi thần toán mà biết được vận số bẩm sinh của tôi cực đẹp, thế nhưng vận số sau này là vào lúc thanh niên, trung niên sẽ phải chịu những thử thách của trời, cuộc sống sẽ vô cùng trắc trở, mang theo mình vận số không thể nhờ cậy được người thân, số trời đã định tôi là người tay trắng làm nên. Vì đạo tràng đã khá thành công nên tôi đành phải chuyển ra ngoài, lại trở về với kiếp sống đi thuê nhà ở tạm, lại một lần nữa phấn đấu trong cuộc sống, cho đến tận khi “sự nghiệp một đời muộn mới thành”, đây mới là số mệnh gian khổ thật sự của tôi. May mà phúc trời còn mãi, thần linh phù hộ, bằng không mạng của tôi đã chấm dứt từ lâu rồi!

Tài lộc của tôi, thần chỉ thị rằng: Bảy triệu. Đây là một bí mật của tôi.


### 23. Vũ trụ rộng lớn trong tay áo


Ngày 18 tháng 5 năm Dân Quốc 64 [năm 1975], một sự việc khiến tôi hết sức vui mừng đã đến. Đó là nửa đêm trong lúc tôi ngủ say, Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh đã giá lâm. Nghe thấy tiếng gọi thân thương của ngài khiến tôi sung sướng đến rơi nước mắt. Nói thật, kể từ sau khi ngài dạy tôi một vài bí pháp, ngài đã tự mình bỏ đi, tôi muốn tìm ngài cũng không thể tìm được. Mùi đàn hương trong phòng tôi thơm nồng, tôi cảm giác thấy ngài thân thiết sờ lên đầu và trán tôi.

“Liên Sinh, từ lúc tạm biệt tới nay con vẫn tốt chứ?”
”Linh Sư, đúng là một lời nói sao cho hết, có điều may có điều không may, con không biết bắt đầu nói từ đâu. Con đã viết một cuốn sách “Mạn đàm về linh cơ thần toán”, khiến cho nhiều nhân sĩ trong xã hội coi trọng, và cũng có một số người cho rằng là nói vô căn cứ không đáng tin, nhưng có một số người cho rằng con đã tháo gỡ mối băn khoăn nghi ngờ nhiều năm trong lòng họ, họ khen ngợi con, muốn con càng nỗ lực hơn nữa! Linh Sư, vì sao con người trong thiên hạ vẫn có người không tin những lời nói chân thật của con chứ?”
”Liên Sinh, người có căn cơ thô mỏng, cho dù có nhất thời tin tưởng thì cũng khó tránh khỏi nghi hoặc, cho dù Như Lai hiển hiện Pháp thân, họ cũng sẽ tự cho là ảo giác thôi! Lòng người thô lậu, căn khí không đủ, kiến thức quá thấp, căn bản là giống như gỗ mục, con cứ để mọi thứ thuận tự nhiên đi. Giống như người đánh cá quăng lưới bắt cá chắc chắn sẽ bỏ sót, giống như ánh mặt trời chiếu khắp nhưng cũng có chỗ khó chiếu đến. Xuất bản cuốn sách “Linh cơ thần toán”, ta cũng biết cuốn sách này là đại thiện, sau này sẽ lưu truyền rộng rãi, sẽ trở thành một cuốn kì thư vĩnh viễn bất hủ đó! Công này cực lớn, cũng có chỗ cảnh tỉnh nhân tâm thế đạo.” 

Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh lại nói: “Liên Sinh, Bồ Tát thường năng tu phương tiện thắng trí, dùng sức mạnh chính trí có thể chấm dứt những trắng đen phải trái trong tâm hành của chúng sinh hữu tình, có thể vì chúng sinh mà thuyết pháp tương ứng, như thế tức là chính danh đại Bồ Tát.”
”Đệ tử xin nghe sư phụ dạy bảo.”
”Mục đích ta đến đây hôm nay không có gì khác, con hãy đưa bàn tay ra vận linh, ta sẽ dạy con cách bấm đốt ngón tay thần toán. Hãy để cho linh mệnh trên người di chuyển đến đầu mút của ngón tay, trong miệng cung kính niệm vô cực tiên thiên pháp chú, hỏi việc gì, thỉnh thần chỉ thị, như thế là biết ngay! Đầu ngón tay con sẽ tự nhiên dao động, bốn ngón tay phân làm thượng phẩm, trung thượng phẩm, trung phẩm, hạ phẩm, lại phân thành tiên thiên, trung thiên, hậu thiên, tự nhiên, sau này con chỉ cần bấm ngón tay mà đoán, mọi việc trong thiên hạ đều nằm trong lòng bàn tay con.” 

Tôi nghe xong thì hết sức vui mừng, vội hỏi:
”Linh Sư, đây chẳng phải là càn khôn trong ống tay áo của Văn Vương sao?”
”Không sai, chính là bấm ngón tay biết hết thiên hạ, vũ trụ rộng lớn trong tay áo. Sau này con thần toán cho người ta, không cần phải cầu đến sự giao tiếp linh cảm với thần linh nữa, đỡ phải điều động binh lực.” 

Trước sự việc này, tôi nghĩ rằng bấm ngón tay thần toán là chuyện thần thoại chỉ có trong tiểu thuyết thần tiên thôi, căn bản là không thể nào, nhưng hôm nay cuối cùng tôi đã hiểu được rằng đây không còn là chuyện thần thoại nữa. Tôi đưa bàn tay ra, trong miệng cung kính niệm tiên thiên vô cực chính pháp chú, vận chuyển linh mệnh đến đầu mút ngón tay. Nói ra thì rất kì quái, tôi nói ra toàn bộ việc nghi vấn, đầu ngón tay ấy thế mà lại tự động cong gập, xương khớp bên trong ngón tay còn phát ra tiếng kêu nữa, đây đúng là kì tích, đây đúng là thần kì, tôi vui sướng muốn phát điên.

“Kể từ khi ta rời đi, ta đã âm thầm quan sát và kiểm tra phẩm hạnh của con, biết rằng con đã xa rời bất tín, xa rời biếng nhác, xa rời ác khẩu, xa rời vô liêm sỉ, xa rời tri thức ác, giống như năm xưa khi ta tại thế, phương pháp bấm ngón tay thần toán không phải do ta truyền cho con, mà chính là phúc trời tự hưởng, công đức của con dần dần cao dày, trung hậu thật thà, tấm lòng khiêm tốn, cư xử với mọi người trung thực, độ chúng sinh vô số, tam quang tỏa hiện, từng bước tăng trưởng, nhưng tâm tính vẫn còn có hỏa khí chưa trừ bỏ được, dễ sinh bực tức, hãy coi chừng ngọn lửa vô minh của chính mình sẽ thiêu rụi rừng công đức.”
”Thế nào là lửa vô minh thiêu rụi rừng công đức?” - Tôi thắc mắc hỏi.
”Người tu đạo cần như nước sạch, có thể chịu được mọi ô nhiễm, chảy trên mặt đất. Ngày nay con người tồn tại trên mặt đất giống như những bọc bẩn thỉu hôi thối, lại còn có cả chó chết, ngựa chết, mèo chết, rắn chết, côn trùng chết, nhưng nước sạch phải lần lượt chảy qua, gột sạch tâm của chúng.”
”Linh Sư, nhẫn nhịn điều mà con người không thể nhẫn nhịn được, chính là nhẫn nhục ba la mật.”
”Đúng vậy.”

Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh lại lặng lẽ rời đi, khi đến chẳng có bóng ảnh, khi đi chẳng để lại dấu vết, ẩn thân giữa trời đất, là Thần Tiên thượng thừa cõi Vô sắc giới không đến không đi, tôi thật sự muốn đi cùng với Linh Sư. Đến khi nào tôi mới có thể giống như Linh Sư, hoàn toàn giải thoát tiêu dao đây! Tôi thật sự ghét, ghét cái thân xác thối tha của nhân loại đã trói buộc linh mệnh của tôi, tôi đã bị ngoại cảnh bức bách đến mức độ như thế này rồi, tôi cầu Linh Sư đưa tôi đi, tôi không muốn làm người nữa, thật sự, tôi không muốn làm người nữa!

Tôi bị những kẻ vô tri lừa gạt, cười nhạo.
Tôi phải chịu những ánh nhìn khinh miệt của mọi người.
Mê tín, mê tín, mê tín, mê tín… Vô số từ ngữ đè nặng lên tâm hồn tôi. “Anh ban ngày gặp ma rồi!” “Lư Thắng Ngạn là một kẻ thần kinh thất thường!” Hỡi ơi! Vận mệnh bi thảm tôi có thể trách ai? Linh Sư, sao thầy không đưa con đi? Thế nhân ngày nay đều sáng lập ra những thuyết vô thần, một mình con theo thuyết có thần mới cô độc làm sao!

Bấm ngón tay thần toán, cuối cùng tôi đã học được, nhưng tôi cũng hiểu rằng nhiệm vụ tương lai của tôi càng lớn hơn. 


### 24. Địa ngục do tâm tạo


Sau khi tôi chứng được thông linh, trong một lần đi đo đạc ở ngọn núi lớn vùng Bắc bộ, tôi từng gặp một quái linh, linh này hai mắt cụp xuống, đầu cúi xuống, lưỡi thè dài, ngồi dưới một cái cây to im lìm bất động. Tôi đi qua hỏi hắn: 
”Tiên sinh ngồi đây có việc gì?”
”……………” - Hắn không nói gì, từ đầu tới cuối cứ ngồi im như thế.

Đúng lúc ấy, phía xa xa từ trong màn sương có một vị Thổ Địa Công Công đi tới, tay cầm gậy chống, miệng hát bài ca Quay Đầu của Hồi Đầu Chân Nhân: “Quay đầu là tốt, quay đầu là tốt, việc đời sau này một nét bút gạch bỏ là xong. Mặc người ta bận rộn chuyện thế gian, lòng ta thanh tịnh không phiền não. Cả ngày tham lam đến khi nào dứt, oán hận trong nhà tiền tài thiếu thốn. Rõ ràng ta là con rối bị sợi dây điều khiển, khi sợi dây đứt thì cũng ngã nhào. Vô thường đến chẳng phân biệt lớn bé, vô thường không ham vàng bạc chẳng cần châu báu, bất phân nghèo hèn và vương tộc, mỗi năm bao người bị chôn dưới lớp cỏ hoang. Nhìn xem mặt trời đỏ khuất sau rặng núi tây, đâu hay gà kêu trời lại sáng. Khẩn trương quay đầu, đừng nói còn sớm, trẻ con bé xíu cũng sẽ già. Tài cao cung Bắc Đẩu nghìn rương hòm, nghiệp chướng theo thân vốn tự tạo. Khuyên thế nhân quay đầu là tốt, giữ giới niệm Phật là báu vật mang theo bên mình, rõ ràng danh lợi cũng sẽ tan như bọt xà phòng, chẳng bằng quay đầu niệm Phật là tốt.”

Thế rồi Thổ Địa Công Công đi đến trước mặt quái linh kia, nhấc cây gậy lên, gõ gõ lên đầu quái linh. Kể cũng lạ, quái linh kia vẫn ngồi yên ở đó không hề động đậy, dường như không có cảm giác gì. Thổ Địa Công Công thở dài một hơi, lắc đầu, nhìn tôi một cái rồi quay người định bỏ đi.

“Thổ Địa Công Công, chuyện này là thế nào?” - Tôi vội hỏi.
”Ồ, tiên sinh là cao nhân phương nào, sao lại nhìn thấy pháp thân âm linh của Thổ Địa tôi?” - Thổ Địa Công Công quay người lại đầy sửng sốt. 
Tôi chắp tay cúi đầu lạy một cái, Công Công vội vàng đáp lễ.
”Tại hạ là một nhân sĩ tu chân đạo, từng theo dị nhân học đạo, hôm nay vào trong núi này đo đạc, nhìn thấy việc này thì cảm thấy hết sức nghi hoặc, Thổ Địa Công Công có thể nói cho biết không?”
”Tiểu thần chính là Thổ Địa trấn núi Chỉ Nam này, vong linh này là cháu trai của tôi, vì khi nó tại thế làm quan, phát đại tài, nên rất lưu luyến nhân gian, sau khi chết được chôn dưới cái cây này. Nó vẫn mê đắm vào tài sản và quan vị của mình không muốn rời bỏ, hồn phách cứ trông giữ chỗ này, lo sợ bị đào lên, cho nên hồn không tản đi được! Rõ thật là con người ngu si truyền đời, đến chết vẫn không tỉnh ngộ. Vì lúc chết nó không có đại ác nên thần quỷ cứ để mặc nó ngồi đây, bây giờ nó đã trở thành ma hám tiền rồi. Tôi thân là ông nội của nó, muốn dùng bài hát Quay Đầu này để thức tỉnh nó, nhưng mà cũng chẳng có được khả năng ấy. Tiên sinh đã là một cao nhân, không biết có diệu pháp gì không?”
”Việc này……………” - Tôi nhất thời không nghĩ ra phương pháp gì, thế rồi tôi nói với Thổ Địa Công Công: “Thổ Địa Bồ Tát, có lẽ hôm nay tôi có thể giúp ngài một tay đấy, nhưng ngài phải nói cho tôi biết một điều chí lí giữa trời đất này.” 
Thổ Địa Bồ Tát gật đầu đáp một tiếng: “Được.”

Từ trong ba lô, tôi lấy ra ấn Lục Giáp Thần mà Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh đã giao xuống, dùng liên hoa thủ để cầm ấn, một tay bắt ấn kiếm quyết. Thổ Địa Công Công nhìn ấn ở trong tay tôi thì quỳ xuống và hét lên: “Thì ra là thân ấn của Đông Hoa Đại Đế Quân đã đến đây, đệ tử thấy ấn như thấy Đại Đế.” 

Nói rồi ngài ấy liên tục rập đầu xuống đất. Lúc đó tôi niệm thầm chú ngữ Tiên Thiên Vô Cực Chính Pháp, rồi nói: “Nhất động Thượng đế tới, nhị động long hổ đến bảo hộ, tam động quỷ thần kinh sợ. Đệ tử Liên Sinh phụng Tiên Thiên Vô Cực Chính Pháp, gọi hồn phách của ma hám tài trở về, khiến hắn nghe thấy ấn thần điểm hóa, biết ngũ uẩn đều không, ngay cả thân này cũng không phải vật sở hữu của ta, huống hồ tiền tài quan vị, nay nghe lời Phật, sớm đi đầu thai nơi đất lành đi!”

Tôi niệm chú xong thì dùng ấn Lục Giáp Thần in lên trán của quái linh. Nói ra cũng kì lạ, không ngờ hồn phách ấy dần dần tiêu biến, hóa vào trong vô hình, một hồn phách đã đi tìm nơi đất lành rồi.

Sau khi hoàn thành việc này, Thổ Địa Bồ Tát nói với tôi: “Đại đạo vô vi, thanh tịnh là chân, chúng sinh lục đạo, do vọng mà thành, vọng duyên tạo nghiệp, thiện ác mới phân, nhân quả xác đáng, đôi chút phân minh.” Lại nói: “Địa ngục có thật, địa ngục này chính là do lòng người tạo ra thôi! Thật ra người đời có bao nhiêu hành vi xấu xa thì địa ngục có bấy nhiêu ác thú [ác thú: chốn ác trong các đạo luân hồi], báo ứng sớm muộn chỉ là đợi đến khi duyên chín muồi mà thôi. Đủ mọi ác thú đều tùy theo ác nhân ác hành ác niệm trên đời mà tăng giảm, thiện ác họa phúc nhân quả tuần hoàn, nếu con người không cầu xuất li sinh tử thì đúng là tồi tệ. Trong quá khứ trưởng lão Giác Thế từng nói: “Địa ngục quả thật có. Nhân tính mà nghĩ đến điều thiện thì thuộc về dương minh, vì nhập vào thanh nhẹ cho nên có thể lên thiên đường. Nếu nghĩ về điều ác thì thuộc về âm trọc, vì nhập vào u ám khiến quy về địa ngục. Mỗi khi gặp thế nhân mắc bệnh hiểm nghèo là ánh mắt tôi nhìn xuống đất, vì quá kinh sợ ma quỷ, hoặc khi nghe thấy tiếng xiềng xích xiên sắt cũng thế!”
”Đây đúng là địa ngục do tâm tạo rồi.” - Tôi nói.
”Đúng vậy.” - Thổ Địa Bồ Tát nói: “Con người sống trên đời sinh diệt vô định, dần đến dần đi, như trăng khi tròn khi khuyết, như hoa khi nở khi tàn, hôm nay sinh ra chính là vì trước đó đã chết. Nếu không chết thì hôm nay há gì lại sinh ra. Đây chính là họa phúc không có cửa, chỉ có người tự mời, quả báo của thiện ác như bóng theo hình. Ngông cuồng cầu vinh, bôi nhọ danh dự, khắc nghiệt làm giàu, con cháu gặp họa.”

Thổ Địa Bồ Tát trấn núi Chỉ Nam là một lão Thổ Địa Công Công đạo đức cao thâm. Từ cách ăn nói của ngài ấy mà tôi sâu sắc biết được thần lực của ngài ấy không hề tầm thường, công đức cũng không tầm thường, lúc còn tại thế nhất định cũng là một nhà thông thái kiêm nhà từ thiện lớn, bằng không sao có thể hưởng thụ hương hỏa muôn đời của nhân loại chứ! Lời của ngài ấy từng chữ đáng giá nghìn vàng, nếu có người hết lòng tuân thủ thì sẽ có phúc đó.

Ngọn núi lớn mà tôi đo đạc ở phía sau núi Chỉ Nam, tục gọi là núi Xu-chiêng, bởi vì từ xa nhìn lại, ngọn núi cao tới tận mây, hình dáng của nó quả thật nhìn giống chiếc áo ngực. Ở trong núi ấy tôi đã gặp ma hám tiền và Thổ Địa Công Công của núi Chỉ Nam, nếu có người không tin việc này có thể đến miếu Thổ Địa, dùng “chén thần” [ý chỉ hình thức bói chén] hỏi thử là biết ngay thật giả thôi!


### 25. Pháp yếu về phù kê


Các loan đường [nơi hành nghề của những người lên đồng] hiện nay, đại bộ phận đều tôn sùng Quan Thánh Đế Quân. Và còn có thánh chỉ của phù kê [việc lên đồng viết chữ] xuất hiện. Cái gọi là phù kê chính là một trong những thuật pháp kết nối lẫn nhau giữa người và thần, người và linh, kê đàn thường dùng cành đào hoặc cành liễu làm một trong những công cụ để viết chữ, nhờ có thần giáng chữ lên cát trắng mà từ đó hiện lên lời chỉ giáo, hoặc văn vẻ của thánh, hoặc chỉ điểm công việc, hoặc chữa bệnh, hoặc luận phương pháp làm người, ở đây có rất nhiều điều kì diệu không thể suy đoán.

Sư phụ tôi Ấn Quang pháp sư từng nói: “Ngày xưa kê đàn ở Thượng Hải phổ biến rộng rãi, những khai thị từ đó như sửa sai thành thiện, tiểu luân hồi, tiểu nhân quả, đều có lợi ích lớn đối với thói đời lòng người. Còn đối với việc thuyết Trời hay thuyết Phật pháp thì thẳng thắn mà nói đều là nói nhảm. Đệ tử Phật chúng ta không thể bài trừ pháp này, bởi vì nó có cái sai là cản trở người hướng thiện, nhưng cũng không thể phụ họa khen ngợi pháp này, bởi vì những điều Phật thuyết của họ đều được soạn ra một cách chủ quan, e rằng nó sẽ có cái họa là làm loạn Phật pháp, làm hại chúng sinh.” Còn nói: “Phù kê đa phần là hồn ma giả mạo tiên Phật thần thánh, ma có thể mượn trí thông minh của con người mà hiển hóa thần thông lạ.”

Tôi cảm thấy lời pháp sư Ấn Quang nói thật không sai. Theo như tôi biết, ở địa phương kia có một loan đường tiếng tăm vang xa, tôi từng xem thuật phù kê của họ, người đến giáng đàn không phải thánh không phải thần, không phải Phật không phải tiên, trái lại là một số linh hồn của các ông bách tính, ông vạn thiện, ông thủy long, ông đại đạo, ông thiên gia, ông nghĩa dân thượng vàng hạ cám. Vì đất chôn của các linh hồn này có địa khí tương đối nặng, nên họ có được một vài thần thông nhỏ của quỷ linh, vì thế họ mới ra mặt mượn vật sai khí, viết ra một vài loan ngữ khuyến thiện. Những linh hồn này cũng có người có bản tính thiện lương, cũng rất thành thạo giúp người ta chữa bệnh giải quyết khó khăn. Tôi sử dụng khởi linh pháp nhãn của mình nhìn những linh hồn kia điều khiển khí để tác động lên cành liễu cành đào viết chữ, khi giáng bút họ không dám xưng mình là tinh linh địa lí mà lại mạo danh của các vị đại tiên đại thánh như Ngọc Hoàng Đại Đế, Phu Hựu Đế Quân, Chân Võ Tổ Sư, Quan Âm Cổ Phật, Văn Xương Đế Quân, Nguyệt Hoa Lão Nhân đến giáng đàn, thật sự là có hơi dở dở ương ương. 

Kẻ hèn này cho rằng đây chính là điều đáng băn khoăn nhất về loan đường, thỉnh chính thần không được, trái lại thỉnh đến một đám tinh linh. Hiện tại là thời mạt kiếp, đám tinh linh này nếu hay nói lời thiện thì thật cũng không có gì xấu, nhưng nếu ngông cuồng luận bàn Phật pháp thì cũng là một việc rất gay go, bởi vì thật giả bất phân, trân châu và mắt cá làm cho một đám người tu đạo tu luyện một cách đui mù. Chúng ta từng biết rằng, trung ấm chính là cái thức thần, không phải là thức thần hóa thành trung ấm, tục gọi là linh hồn. Còn phù kê chỉ là một dạng kết nối giữa thức thần và linh bên ngoài, trên phương diện phù kê, có hai điểm bắt buộc phải ngăn ngừa.

Thứ nhất, đó là ngăn ngừa linh hồn giáng đàn, mà phải phụng thỉnh chính thần giáng đàn. Trên phương diện này, linh hồn và chính thần cùng là linh, nhưng con mắt phàm tục lại không nhìn thấy, làm sao phân biệt được đây! Tôi cảm thấy sự nghiêm túc của lễ nghi phù kê ở loan đường là rất quan trọng, cộng thêm nguyên linh của kê thủ chính có phải là khí sạch thuần chân không lại càng quan trọng. Cái gọi là tọa quan (tọa cấm) 49 ngày, việc huấn luyện chủ yếu chính là luyện thành linh tịnh thanh và thuần, ở đây nếu có một chút bất tịnh nào, vẫn có tà ý, thì đó là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến chiêu động hồn ma. Cho nên sự huấn luyện của kê thủ chính là sứ mệnh chủ yếu của tất cả loan đường, linh lực của họ phải đạt đến khả năng phân biệt được linh giáng xuống là chính hay là tà. Ngày nay, thiên hạ đầy rẫy linh hồn, những thứ họ nói toàn là thuyết hít khí dưỡng khí, nếu con người dựa theo đó mà tu thì chẳng qua cũng chỉ trở thành linh ma mà thôi, cho nên nhãn quang của người tu đạo phải sắc bén, nếu học tà pháp thì mau mau quay đầu khi còn chưa muộn.

Thứ hai, ngăn chặn thức thần của kê thủ chính tác quái, cái gọi là thức thần tác quái là linh hồn của chính mình đưa ra chủ ý, niệm lực của chính mình khống chế việc viết chữ, ở đây chẳng có thần thánh giáng xuống mà chỉ có thức thần tự động làm mà thôi. Những văn tự được viết ra tự nhiên đều là suy nghĩ của bản thân kê thủ, làm như vậy đến sau cùng thì bản thân kê thủ cũng trở nên hồ đồ, không phân biệt được rốt cục có phải là mình đang viết hay không, dù sao bản thân mình muốn viết cái gì thì tay sẽ tự động thuận theo ý nghĩ mà viết ra cái đó. Dạng thức thần tác quái này đều trái với chủ ý ban đầu là “trời người hợp nhất”, “tam tài [thiên, địa, nhân] phù kê”, trở thành ảo giác của “niệm thức hợp nhất”, “nhân tài phù kê”. Kiểu dạng kê thủ như vậy có không? Có, may thay tôi đã gặp được đúng người đó.

Người đó là người Viên Lâm, tuổi khoảng ngoài 50, hiện sống ở Đài Bắc làm kinh doanh, mười mấy tuổi thì bắt đầu làm kê thủ. Kiến giải của người đó về thần và linh hồn thật sự là lệch lạc. 
Ông ta nói với tôi:
”Làm kê thủ chính là làm thần.”
”Sao lại thế?”
”Tôi muốn mắng người nào thì mắng người đó, tôi cao hứng muốn viết thế nào thì viết như thế. Mỗi lần lên đồng, tôi học thuộc trước vài bài thơ, học thuộc thơ rồi thì viết ra, ai ai cũng cực kì sùng bái tôi.”
”Ông nghĩ có linh hồn không?”
”Có, nhưng sau khi con người chết đi thì cũng tiêu biến thôi.”
”Linh hồn thì tiêu biến thế nào?”
”Cái này, cái này… dù sao tiêu biến là tiêu biến thôi, người chết rồi thì chẳng có thần cũng chẳng có linh hồn.”

Tôi không tranh luận với người đàn ông này, người đàn ông này nhiều năm làm phù kê như vậy hoàn toàn là do thức thần tác quái, nếu không phải là thức thần tác quái thì sẽ không tự nhận là muốn viết cái gì thì viết cái đó.
Người lên đồng viết chữ, công hay tội chỉ nằm trong một suy nghĩ, sao có thể khinh suất chứ?


### 26. Xem khí


Tôi đọc “Tán Lễ Địa Tạng Bồ Tát Sám Nguyện Nghi” bản soạn lại, trong đó có một đoạn nói: *“Tâm thể vốn tịnh, do căn trần mà trọc niệm khởi lên. Phật tính thường tồn, do mê lầm nên phàm tình hừng hực. Thế nên các lực tịch chiếu nhận được phản tác dụng trở thành duyên tối tăm loạn động. Ở trong thường trụ, lầm chịu nỗi khổ sinh tử. Chấp vào ngũ uẩn mà không biết rằng chung quy đều là không. Cái tâm bị che chắn thì làm sao hiểu rõ mọi thứ vốn là bất khả đắc, nhiễm sâu vào huyễn cảnh của lục trần thì đọa lạc vào trong đường khổ tam ác đạo. Dù trải qua kiếp số nhiều như vi trần thì cũng chẳng ra khỏi lục đạo luân hồi.” Còn nói: “Cả đời tìm cách tháo gỡ giải trừ, lí sự viên dung, tính - tu đều có đủ, trọc trí trở thành tịnh trí, mong muốn khiến cho phàm tâm trở thành Phật tâm, nhờ “Kinh Thập Luân” mà hiểu rõ sám hối. Gương báu đã được lau rồi thì tự sẽ tỏa sáng.”* 

Ngày xưa có một tu sĩ tên là Vô Cấu Tử từng nói: 
*“Nhân, pháp đều quên vạn sự dừng
Trăm sông bốn biển về nguồn chung
Bỗng nhiên trơ ra vầng trăng lẻ
Chiếu khắp càn khôn bốn đại châu.”*

Mục đích mà tôi trích ra hai đoạn này không gì khác ngoài việc để cho độc giả hiểu rằng linh trên thân người có liên quan đến sự ô trọc và thanh tịnh, có liên quan đến sự mờ mịt và tươi sáng, giống như gương báu khi đã lau sạch thì ánh sáng tự tỏa ra, chiếu khắp vũ trụ bốn đại châu.

Có người hỏi tôi, một người đi vào chùa, thần thánh ngồi trên đài cao, các vị làm thế nào mà nhìn một cái là biết người này là thiện hay ác? Tôi nói cái này chính là “xem khí”, con mắt của thần giống như điện, cho dù người đến có dáng vẻ phi phàm, áo quần bảnh bao, nhưng con mắt của thần minh sớm đã nhìn ra ngay chỗ thiên khiếu sáng hay mờ mịt, ha ha! Một kẻ lưu manh làm sao có thể né tránh được thần thánh xem khí chứ! Lại nói, nếu một người quân tử nho nhã ăn mặc tầm thường, dáng vẻ giản dị, nhưng ở thiên khiếu có một vùng ánh sáng đỏ, một người thiện như vậy cũng làm sao có thể giấu được thần linh.

Linh thể của con người vốn là một dạng khí, và trên thân người cũng sẽ tỏa ra khí công hay tội của người này. Con mắt phàm phu không nhìn ra được khí này, nhưng trong con mắt của thần thánh thì chúng khác nhau, vô hình trở thành hữu hình, không những hữu hình mà còn hữu sắc nữa. Ở đây không hề giống với những người xem tướng giỏi quan sát khí sắc, cái gọi là khí sắc chính là ánh sáng do bản thể của linh sinh ra.

Trong quá khứ, tôi đi công tác ở miền bắc từng ở tạm trong chùa Tập Ứng trên đường Tập Ứng ở khu ngoại ô Mộc San. Chùa Tập Ứng không thể coi là chùa nhỏ, chùa thờ phụng Bảo Nghi Tôn Vương và Bảo Nghi Đại Phu, người ta đồn là Trương Tuần và Hứa Viễn, một vị là tướng võ, một vị là văn sĩ của chùa. Sau khi tôi làm lễ bái lạy, tôi trở về chái nhà bên trái để đi ngủ. Đêm ấy, tôi có một giấc mơ rất kì lạ, mơ thấy một đám mây từ từ bay đến chỗ tôi đang ngủ. Ở chỗ mây tản ra hiện lên một vị võ tướng đội mũ vàng mặc áo giáp vàng, ngài ấy đưa tay ra xoa xoa lên đầu tôi, còn trên đầu tôi hiện lên ba vệt ánh sáng, một vệt màu trắng, một vệt màu đỏ, một vệt màu vàng kim. Vị võ tướng đội mũ vàng mặc áo giáp vàng ấy cười cười, rồi lại dùng tay xoa xoa, ba vệt ánh sáng đó liền biến mất, và võ tướng mặc giáp vàng cũng không thấy đâu nữa.

Tôi đi Đài Bắc công tác là để đo đạc kế hoạch phát triển đô thị Đài Bắc, tôi đã leo khắp các ngọn núi ở vùng phụ cận Mộc San, bao gồm thắng cảnh núi đá Tiên Tích, núi Chỉ Nam, núi Cao Tiêm, v.v… Mỗi khi trở về chùa Tập Ứng, trước tiên tôi đi tắm gội. Trước khi ăn cơm, tôi nhất định phải đến trước Bảo Nghi Tôn Vương để tụng kinh, tôi niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, sau đó niệm hồng danh của chư Phật. Tôi rất thân với người trông nom ngôi chùa này, ở điện thờ phụ ông ấy cũng thờ rất nhiều Bồ Tát, trong số đó có một vị Quan Thế Âm Bồ Tát còn chưa khai quang điểm nhãn. Tôi đặc biệt chỉ ra điều ấy khiến người trông chùa rất hoảng hốt, ông ấy thỉnh tôi khai quang giúp, tôi cũng đồng ý.

Có một lần, người trông chùa hỏi tôi:
”Anh đã thông hiểu thần toán, vậy anh có biết Địa Tạng Vương mà tôi thờ cúng làm sao mà có không?”
Tôi thỉnh thị Địa Tạng Vương Bồ Tát, Địa Tạng Vương chỉ nói một câu: “Nước.”

Người trông chùa thán phục, bởi vì bức Địa Tạng Vương Bồ Tát này đúng là trong một trận lũ lụt đã trôi trên một dòng suối lớn, được người ta vớt lên rồi nghênh đón về chùa này. Tại chùa Tập Ứng ở Mộc San, tôi đã xem bói hỏi việc cho người ta làm kinh động đến các cụ phụ lão ở địa phương. Tôi từng vẽ một lá phù khiến cho một bà cụ đã đổ bệnh trăm ngày chỉ sau một đêm có thể xuống giường đi lại được. Tôi cũng từng giúp người ta an bài vị thần, cảnh ngộ ấy thần diệu chẳng thể ngờ!

Hai ngày sau đó, Bảo Nghi Tôn Vương từng hiển hiện, ngài nói với tôi: “Mọi linh đều hiện lên năm khí, thật ra năm khí ấy là hai khí, hai khí là một khí, một khí cũng là một khí vi tế. Hai khí là âm dương thanh trọc, ngũ khí là năm màu trắng đỏ xanh xám đen, giỏi xem khí sắc thì chỉ cần nhìn màu sắc của năm khí là biết ngay thiện ác công tội của con người.”

“Lúc đầu khi anh mới đến ở đây, tôi cảm giác anh khác người bình thường, trong đêm sờ đầu anh thấy hiện ra ba ánh sáng, khi ấy mới biết lai lịch của anh và sự tu luyện kiếp này thật sự không đơn giản. Nếu ba ánh sáng ấy tỏa hiện thì tà ma dù có năng lực cũng khó mà diệt được căn linh của anh, anh sẽ tự thu xếp ổn thỏa được, anh sẽ tự giải quyết được.”

Tôi thỉnh thị Bảo Nghi Tôn Vương: “Tôn Vương cao quý, khí phân làm năm màu trắng, đỏ, xanh, xám, đen, không biết năm màu này khác biệt như thế nào?”
Tôn Vương nói: “Có đạo sinh khí trắng, có thiện sinh khí đỏ, công tội ngang nhau sinh khí xanh (nửa trắng nửa đen), có ác sinh khí xám, tà linh sinh khí đen (người cực ác cũng sinh khí đen). Thiên đường hay địa ngục đều là do lòng người tạo tác, khí do tâm sinh, kì thực làm ác hay làm thiện đều chẳng thoát khỏi con mắt của thần, có trăm cái miệng biện bạch là vô tội, nhưng thiên khiếu sinh ra khí đen thì cho dù có xảo biện cũng làm sao chạy thoát được một người nào!”
”Đa tạ Bảo Nghi Tôn Vương chỉ bảo.”

Từ đó tôi đã biết xem khí không phải là vô căn cứ, mà đích thực là có việc này. 


### 27. Chẳng phải dị đoan


Cuốn sách “Mạn đàm về linh cơ thần toán” vừa xuất bản đã gây nên một cơn chấn động tương đối lớn, đồng thời mọi người cũng sôi nổi truyền tay nhau đọc, có người tin có người không tin. Rất nhiều người chạy đến tìm tôi, thậm chí càng nhiều người viết thư cho tôi hơn, nói rằng cuốn sách khiến họ cảm thấy cuối cùng cũng không lãng phí cuộc đời này, biết được “điều bí ẩn lớn về sinh tử” của cuộc đời. Thế nhưng cũng có người nói phương pháp “nhờ linh thấy linh” của Lư Thắng Ngạn là một dạng bàng môn dị đoan. Có một số pháp sư kê đồng cố ý tìm đến để thăm dò thực hư về tôi, có một số người nói toạc ra tại chỗ. Có một số người tôi không chỉ thẳng ra, nếu mà chỉ thẳng mặt thì sẽ khó coi lắm, tôi tôn trọng các người cũng là người tu đạo, nhưng cớ sao tâm lượng lại hẹp hòi như vậy chứ?

Người vẽ phù gây phiền phức cho tôi, phù đến tôi thu phù, chú đến tôi thu chú, pháp đến tôi thu pháp, tôi biết rằng đạo pháp đều bắt nguồn từ tâm, nếu tâm rộng lớn như một cái hồ lô không đáy thì chẳng có chuyện gây ra cái xấu rồi tôi phải thu cái xấu lại như thế. Tôi chưa bao giờ phản kích, trái lại tôi lần lượt thu về những món quà mà bạn dành cho tôi, điều này khiến tôi càng dễ dàng cảnh giác chính mình rằng lòng người xấu xí, sớm rời bỏ nhân gian là thượng sách.

Có một số người xuất gia cũng đọc được cuốn sách tâm linh này, họ cũng gửi đến cho tôi một vài cuốn sách, ngoài ra còn có biên tập viên của tạp chí Thánh Lí của Vân Cung Hoằng Hóa Đường ở Đài Bắc, và biên tập viên của tạp chí Vân Lâm Minh Đạo gửi thư đến động viên tôi, các đại hòa thượng xuất gia khích lệ tôi, cư sĩ tại gia và bạn đạo tới tấp gửi thư đến, độc giả các nơi trong cả nước gửi thư đến, trong vòng một tháng tôi đã nhận được hơn năm trăm bức thư. Cuốn linh thư đầu tiên trong vòng một tháng đã tái bản, tạo ra một số tiền lệ cho sự thành công mà cơ bản không cần phải quảng cáo.

Có một số ít người xuất gia và bạn đạo cho rằng tôi dị đoan tà thuật, tôi đặc biệt giải thích rõ lí do tôi không phải dị đoan như sau:

Thứ nhất, nói một cách khẳng định về linh hồn — Quan điểm của tôi là khẳng định có linh hồn tồn tại, đồng thời có thể nhìn thấy nghe thấy, hễ là người tín ngưỡng tôn giáo, bất kể là Phật, Đạo, Cơ Đốc, Hồi Giáo hay những tôn giáo khác, thì đều thừa nhận sự tồn tại của linh hồn, có sự tồn tại của linh hồn mới có sự tồn tại của tôn giáo. Nếu không có linh hồn thì tôn giáo tín ngưỡng để làm cái gì? Cho nên mọi người đừng ngạc nhiên, nhìn thấy hoặc nghe thấy, hay là cảm giác thấy sự tồn tại của linh hồn cũng không phải là điều gì ghê gớm cả. Dùng hoạt linh của chính mình giao tiếp với linh hồn của ngoại giới là khả năng mà ai ai cũng có, chẳng qua tôi chỉ dạy mọi người thử xem mà thôi, đây không phải là dị đoan, không phải là làm việc xấu, âm dương chỉ cách nhau một tờ giấy, linh và linh tương thông có rất nhiều lợi ích.

Thứ hai, không phải là giao tiếp với ma quỷ — Cái mà chúng ta gọi là đại thần thông của Phật gia là: thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, túc mệnh thông, thần túc thông, lậu tận thông, đây là sáu đại thần thông, nếu ai biết hết thì chính là thầy của trời người, là Phật. Thế nhưng độc giả chớ hiểu sai ý, linh thông không phải nằm trong sáu thần thông này, mặc dù nó có thể trở thành một bước khởi đầu cho sáu đại thần thông, nhưng suy cho cùng nó vẫn còn cách rất xa sáu đại thần thông. Tôi viết sách đã nói rõ, tôi không bảo người người học thần thông, mà là người người học khởi linh, sau khi thông linh mệnh rồi thì đi ấn chứng đạo lí của Phật gia, đạo lí của linh hồn, để người trong thiên hạ hiểu rõ có sự tồn tại của quỷ thần, cho nên mọi việc ác đừng làm, hãy làm mọi việc thiện, xây dựng một cõi nước Cực Lạc ở thế giới Ta Bà này mà thôi. Nếu người người không tin có thần có linh thì chẳng ai biết sợ ác nghiệp ác báo, chẳng phải là thiên hạ sẽ đại loạn, người tốt vĩnh viễn chịu thiệt thòi sao. Sau khi có được linh thông, mượn giả luyện thật, nếu chân tính sáng rõ thì có thể minh tâm kiến tính, chứng đắc quả vị của Phật Bồ Tát, như thế thì tự nhiên sẽ có đầy đủ sáu thần thông. (Tác giả hi vọng người người không học thần thông, thần thông là sản phẩm phụ của sự kiến tính, không cần học cũng sẽ có. Thần thông học mà có được thì không phải là pháp lực thật.) Như vậy đã chứng minh, thông linh của tác giả là bằng chứng khẳng định của linh hồn, căn bản không phải là phân nhánh dị đoan.

Thứ ba, phá trừ mê tín vô tri — Tôi dạy mọi người học khởi linh là để phá trừ mê tín của những phần tử trí thức, họ mê tín rằng thế giới không có linh hồn, mê tín rằng thế giới không có thần, lập ra luận vô thần, tôi càng phải phá trừ sự vô tri của những phần tử trí thức ấy. Họ chưa bao giờ đi nghiên cứu, không biết mà cứ nói mạnh là biết, căn bản là họ không có chút kiến thức nào về phương diện này, nhưng mà lại trâng tráo phủ nhận thần và linh hồn mà không hề suy xét. Những phần tử trí thức này đã bị các linh của linh giới lôi ra làm trò hề, đến Khổng Tử còn không dám nói “không có linh hồn”, chỉ nói “không biết sinh, sao biết tử”, thế mà một đám người nghiên cứu lão luyện tự nhận là hiện đại, với cặp mắt phàm phu không nhìn thấy quỷ thần, chỉ có dựa vào cái “không có” mà bít chặt cái vô tri của họ. Do đó, tôi hi vọng họ sẽ học khởi linh, nếu biết khởi linh rồi thì tôi đảm bảo rất nhanh chóng họ sẽ há mồm trợn mắt, trong thoáng chốc biến thành kẻ ngốc nghếch, trở thành trò cười cho thiên hạ, miệng lẩm bẩm nói rằng: “Đúng là có thật! Đúng là có thật!” Bảo đảm họ sẽ nói là kì quái, cũng là để tránh cho họ không còn lúc nào cũng thăm dò tôi nữa, tôi không thể chịu được sự quẫy nhiễu ấy đâu!

Thứ tư, không phải dị đoan — Tôi không sáng lập tôn giáo, bạn tin Cơ Đốc cũng được, bạn tin Phật cũng được, tin Đạo giáo cũng được, tin Hồi Giáo cũng được, tôi hoàn toàn không phản đối. Lư Thắng Ngạn cho rằng một tôn giáo có một cảnh giới của tôn giáo đó, không hề xung đột lẫn nhau. Nếu bàn luận quá trớn, công kích phái khác thì đó mới là dị đoan. Lí thuyết về linh của tôi không gây nên xung đột với bất kì tôn giáo nào, tôi lại không thành lập giáo phái thì sao lại là dị đoan. Tôi chẳng qua chỉ là viết những trải nghiệm trong cuộc đời của mình thành một cuốn sách mà thôi, tin hay không là do bạn, tin cũng được, không tin cũng không cần miễn cưỡng, hãy coi nó như tiểu thuyết cũng được, đọc để giải trí tôi cũng không phản đối. Nhưng tuyệt đối đừng nói tôi là dị đoan tà thuyết, tôi đâu có dạy bạn làm việc xấu. Kẻ chuyên môn làm việc xấu đáng hổ thẹn, truyền bá lí lẽ xấu mới là dị đoan và tà thuyết, tôi hi vọng mọi người hãy nhận thức rõ ràng.

Tôi muốn biện bạch thay cho những linh hồn đã phải chịu oan ức.


### 28. Khởi động linh nằm ở nhất tâm


Một người bình thường muốn học hoạt linh, sự thật là không hề khó, hoàn toàn dựa vào niệm lực của chính mình để thúc đẩy và tác động không phải là không có khả năng, nhưng quan trọng nhất là nằm ở nhất tâm bất động, một niệm không khởi, thân ở đó giống như thân không ở đó, ý niệm ở đó giống như ý niệm không ở đó. Trong cõi tâm linh vô hình, gặp được cơ may tương trợ, trong sát-na sẽ phá vỡ tất cả cửa ải khó khăn, thế là một con đường lớn sáng sủa sẽ hiện lên trước mắt, đi theo thần thức của mình, một tiếng sét vang rền khiến đất trời kinh động, đột nhiên ngộ được chân tướng giữa trời đất, đây cũng là điều có thể.

Hôm nay nếu có người muốn biết về chân linh của mình, tôi dạy mọi người phương pháp như sau:

Thứ nhất, trước tiên chuẩn bị một căn phòng sạch sẽ, thư phòng cũng được, miễn là một căn phòng không bị người ngoài làm phiền, một chiếc ghế tựa để ngồi thay cho ngồi thiền (ngồi xếp bằng). Người bình thường phải ngồi xếp bằng thì tương đối khó, ngồi bán già hay kiết già đều không ngồi được lâu. Người tin Phật hoặc Đạo có thể thắp một nén hương, ngồi trong thời gian một nén hương, hai tay chắp lại, để trước ngực một cách tự nhiên. Người tin Cơ Đốc hay Thiên Chúa có thể không thắp hương. Người tin Phật có thể niệm bốn chữ “A Di Đà Phật”, người tin Đạo có thể niệm bốn chữ “Diêu Trì Kim Mẫu”, người tin Jesus thì niệm “Jesus Christ”, các tôn giáo khác cứ thế suy ra, nhưng cứ cách 5 phút thì phải niệm thêm “giúp chân linh tôi tái hiện”, “mau giúp chân linh tôi tái hiện”. 

Thứ hai, bởi linh tính của mỗi cá nhân khác nhau, thời gian dài ngắn cũng khác nhau, cho nên sự thức tỉnh của linh cũng sẽ dài ngắn khác nhau. Có một số người ngồi một lần đã thành công, nhưng có một số người nếu không ngồi quá ba lần thì không được. Nếu có người tu Đạo tương trợ thì tỉ suất thành công sẽ như làm chơi ăn thật, nhưng không được nản chí, có người phụ nữ hơn 40 tuổi, ngồi liên tục bảy lần, đã chứng được thần thông thiên nhãn, hiệu quả thật sự khó tưởng tượng.

Thứ ba, đạo lí khởi linh và đạo lí ngồi thiền có sự liên thông với nhau, hoàn toàn nói về một chữ tâm, “nhất tâm bất loạn, mọi pháp vô tính, vì vô tính nên đều thành Phật”. Đừng thấy việc ngồi yên như thế là quá đơn giản, ngồi yên lặng như vậy, lặng lẽ phòng thủ thần cung, đèn tâm tỏa sáng, có được mấy người có thể đạt đến cảnh giới này? Đại bộ phận con người đều bận rộn suốt cả cuộc đời, khi nào mới có thể tĩnh tâm lại để ngồi xuống được nửa tiếng đồng hồ? Người có thể hoàn toàn tĩnh tâm ngồi xuống nửa tiếng đồng hồ, người ấy chắc chắn không phải là phàm phu đâu!

Thứ tư, xin người học tập khởi linh tuyệt đối ghi nhớ, khi ánh sáng phổ chiếu cũng tức là khi tâm mình hoàn toàn tịch diệt bất động, ta là ta tự do tự tại, hết thảy mọi thứ đều không khởi lên, ta chính là người tổng nắm giữ tâm tính. Lúc này, từ bên trong có một khối sức mạnh dâng lên, cùng với trợ linh bên ngoài thân thể kết hợp với nhau, và tay của mình đang chắp lại bắt đầu có hiện tượng linh động, hiện tượng linh động có khi nằm ở tay, có khi nằm ở nội tâm, có khi là ở thể xác, có khi là ở đầu, nhìn hướng chuyển động của linh để mà xác định. 

Thứ năm, xin người học tập chú ý, phàm tự tâm sáng tỏ, tính hóa nghìn vạn, tay chân tự nhiên sẽ cử động tự do, tay múa may, chân bước đi, tôi không nói rõ ra, để tự mình trải nghiệm cái linh lực trỗi dậy một cách tự nhiên trong thân thể chính mình đi! Dạng linh lực này mặc dù không giống nhau, nhưng có một trình tự nhất định, là do trợ linh mà có sự khác biệt, do thời gian mà có sự khác biệt, do tâm cảnh mà có sự khác biệt. Có lúc bạn không thể khống chế, có lúc thì lại có thể khống chế, kể từ đây bạn phải bắt đầu nhận thức về tự lực và tha lực.

Khởi linh có thành công hay không hoàn toàn nằm ở chính mình, nhưng cũng chẳng ngại gì việc mượn lực bên ngoài trợ giúp. Khởi linh phải có lòng kiên trì, phải có sự thành tâm, không có thì không thể thành công. Khởi linh tương đối dễ, nhưng muốn đạt đến được thành công về luyện linh thì cũng phải đi qua chặng đường 12 năm dài đằng đẵng, đây chính là khởi linh thì dễ nhưng luyện linh thì khó. Tu 12 năm rồi, tu đến thời khắc sau cùng chỉ nghe thấy tiếng sấm nổ vang rền, bản thân ngồi xếp bằng tĩnh tọa, vận linh đến chỗ thiên linh xuất khiếu, sấm nổ và linh lực của chính mình tiếp ứng lẫn nhau, đây chính là tam quang tích hiện, là lúc thoát xác bay lên rồi. Nhục thể mặc dù vẫn ngồi trong ngôi nhà tranh trên mặt đất, nhưng linh thì đã trở về ẩn náu trong biển lớn hư không, điều này mới tráng lệ vĩ đại làm sao, chân lí không sinh không diệt từ đây chứng đắc. 

Người khởi linh thành công nhờ bản văn này cho đến nay không ít hơn trăm người, mà mới chỉ vỏn vẹn trong thời gian một tháng. Một người đàn ông ở quận Sĩ Lâm Đài Bắc đã đặc biệt gửi đi trăm tờ bưu thiếp để tôi dùng trong việc hồi đáp thư, bởi vì ông ấy vừa thử một cái đã thành công rồi. Có một người thanh niên họ Liêu ở thị trấn Điền Trung huyện Chương Hóa mười năm nay ban đêm ngủ không ngon, sau khi học khởi linh, chứng bệnh khó ngủ ban đêm của anh ấy không ngờ không thuốc mà khỏi, hơn nữa thần linh từng hiển hiện để cho anh ấy nhìn thấy. Rồi những người khác như Lí Đoạn Tiến ở Cao Hùng, Ngô Đông Hưng ở Đài Trung, v.v… đều có những tiến bộ lớn, sự thần kì và bất khả tư nghì của họ khiến cho người trong thiên hạ đồng thanh tán dương. 

(Lời kết: Phần đầu bài viết này tôi từng xuất bản trong cuốn “Mạn đàm về linh cơ thần toán”. Ngày 19 tháng 5 năm Dân Quốc 64 [1975] tôi có sửa chữa bổ sung và lại xuất bản trong cuốn sách này, với mục đích hi vọng người người hiểu rõ và dễ học, từ đó mà luyện thân trúc cơ để tạo nền tảng cho tu hành tu đạo. Còn về phương pháp luyện linh, trong những chương kế tiếp, kẻ hèn này sẽ lần lượt nói đến, nếu độc giả không tin thì thử đọc là biết. Tự mình thể nghiệm là có thể chứng minh lời của tôi không giả dối, Lư Thắng Ngạn tuyệt đối không nói khoác.)


### 29. Luyện linh thủ quyết


Sau khi khởi linh xong, công phu tiếp theo càng khó khăn càng gian khổ hơn, đó chính là công phu thật sự của việc luyện linh. Tôi từng nói thiên nhãn thông là do linh mệnh vận động đến con mắt tạo ra, thiên nhĩ thông là do linh mệnh vận động đến tai tạo ra, tha tâm thông là do linh mệnh nối liền với suy nghĩ của người khác tạo ra, thần túc thông là do linh mệnh xuất du tạo ra, túc mệnh thông là một dạng kí ức tiền kiếp của linh mệnh, lậu tận thông là khó nhất, đó là chân tính của linh mệnh tái hiện, hoàn toàn chấm dứt hết sinh tử.

Luyện linh có phải vì sáu loại thần thông này không? Nếu độc giả nghĩ như vậy thì là cực sai, đặc biệt sai rồi. Luyện linh là làm cho linh mệnh có thể tự tại, có nghĩa là khiến cho linh hồn có thể tự nhiên, linh hồn tự nhiên tự tại, có thể dựa vào sự thúc đẩy của niệm lực mà có được chính tri chính giác, đến cuối cùng thì thành tựu Phật vô thượng đẳng chính giác. Mục đích sau cùng của công phu này của tôi là thành Phật.

Phương pháp luyện linh như sau:

Thứ nhất: Trúc cơ. 

Có thể nói Trúc cơ là bước đầu tiên của luyện linh. Người đã từng khởi linh thì linh của họ là sống, nếu có duyên với Thần Phật thì Thần Phật chắc chắn sẽ đến tương trợ. Từ sự vận dụng của tiểu chu thiên mà khởi thế, hai tay chắp lại, tung ra một loạt những đường quyền kì quái, hoặc hai tay làm những động tác di chuyển khác nhau, hít vào thở ra theo một hình thái nhất định. Tập Trúc cơ một ngày một lần là được, mục đích chủ yếu là để rèn luyện xương toàn thân mình, cho cơ thịt được chắc khỏe, hít vào thanh khí, thở ra trọc khí. Tác dụng này có đôi chút giống với vận động vung tay đang thịnh hành hiện nay, nhưng vận động vung tay là thể thao, còn Trúc cơ là do linh lực hỗ trợ sự chuyển động của nhục thể, khiến người tu đạo có bệnh trị bệnh, không bệnh khỏe thân, người tu đạo có được thân thể cường tráng thì mới có thể tu đạo. Nếu thân thể của chính người tu đạo lại già yếu và sinh bệnh thì còn tu đạo gì nữa, có khác gì Bồ Tát đất qua sông, thân mình còn khó bảo toàn.

Thứ hai: Thần khí. 

Thời gian tập Trúc cơ cần bao lâu, tôi nói cần ba năm, mỗi ngày đều phải không ngừng chăm chỉ luyện linh, sau ba năm, cơ xương cường tráng, vừa mềm dẻo vừa cứng chắc, sắc mặt hồng hào, thần thái phấn chấn, khi tĩnh thì như trinh nữ, khi động thì như thỏ chạy. Sự xuất hiện của linh khí có thể tùy ý động hay dừng. Linh mệnh mạnh mẽ vận chuyển đến toàn thân, thân như kim cương bất hoại, lúc này, chuyển suy nghĩ một cái là lập tức có thể vận linh. Linh mệnh lúc này có thể nghe theo sự điều khiển của niệm lực, khí lúc này huyền diệu như thần, có thể xuyên tam quan, thông cửu khiếu, trộm tinh hoa của nhật nguyệt, lấy được diệu dụng của ngũ hành, thủy hỏa đi ngược chiều, kim mộc hợp lại, lập tức có thành tựu kim đan! Đây chính là từ một thể tản ra vạn cái khác biệt, vạn cái khác biệt quy về một thể. Cảnh giới này phải sau ba năm tập Trúc cơ mới có thể phát hiện ra ngọn nguồn của linh ở trong huyệt Thần khí. Đến được bước này rồi vẫn cần chăm tu, nhưng phải nhớ đạo lí chính tà do tâm phân biệt, đến bước này nhất định sẽ có ma đến kiểm tra, tai nạn giáng xuống, đặc biệt phải thực hành bát chính đạo, có lòng nhân từ và yêu thương rộng lớn, không được ỷ mình có năng lực mà ngạo mạn, thậm chí làm tà pháp, làm việc xấu, một khi đánh mất chính niệm thì sẽ đọa vào trong địa ngục vô gián, một khi đánh mất thân người thì vạn kiếp khó lấy lại đó!

Thứ ba: Cửu chuyển huyền công. 

Khi biết ngọn nguồn của huyệt Thần khí thì phải quay mặt vào tường chín năm, thứ cần phải tu vẫn là pháp Cửu chuyển huyền công, hay còn gọi là đại pháp kim đan của Đạo gia phái Đan Đỉnh. Trong chương trước, tôi đã nói về pháp luyện Cửu chuyển huyền công, ở đây không cần phải lặp lại nữa. Còn bốn chữ “quay mặt vào tường” tức là muốn tìm đến một cái tự ngã chân chính, lúc này tư duy như biển lớn, huyễn tướng bộc phát, cái nào mới là thật đây? Hoặc đều là thật, hoặc đều là giả, đều dựa vào chính mình phân biệt. Lúc này tối kị lạc đường, cửu chuyển quanh co mà không nhận thức rõ thì kim đan đại đạo khó thành tựu. Nếu trì một Phật một chú gia trì, có Phật phù hộ thần bảo vệ, từ đó định lực gia tăng, trí huệ tăng trưởng, Cửu chuyển huyền công một khi đã thành thì ta cũng chính là thần tiên tiêu dao tự tại rồi.

Thứ tư: Ngoại công. 

Từ công phu của những pháp như Trúc cơ, Thần khí, Cửu chuyển huyền công, quan trọng nhất là phối hợp với ngoại công, ngoại công chính là thiện công, thiện hạnh có thể lên trời, tức là: “Nếu nỗ lực thiện niệm, có cầu tất có ứng, công năng đổi tạo hóa, thần lực chuyển đất trời, bần hàn thành phú quý, hoạn nạn gặp cứu tinh, sống lâu như tùng bách, nuôi con được kì lân, nếu duy trì được mãi, công đức không đơn giản, người thường làm âm đức, thiên thần ắt cảm ứng.” 

Nếu chỉ biết chăm chỉ luyện nội công mà không có sự tương trợ của ngoại công, không có Thần Phật tương trợ thì chắc chắn không thể thành công, đây là sự bổ trợ lẫn nhau. Lúc đầu bắt đầu từ việc khởi linh đã phải dựa vào thần trợ giúp, đến khi luyện Cửu chuyển huyền công thì càng phải có thần bảo hộ, nếu không thể làm cảm động trời đất thì luyện linh cũng giống như luyện vô ích, hiệu quả không rõ ràng.

Chúng ta làm thiện hạnh, làm thiện công, trên thực tế là làm mà không vì điều gì cả, đó là một sự tuôn chảy tự nhiên của nhân tính thần tính, không phải là vì muốn có được thần trợ giúp thần bảo vệ. Thế nhưng, chúng ta cũng đừng ngại học theo cách thức công-tội của Viên Liễu Phàm tiên sinh trước kia, có công có tội phải ghi lại từng việc, công cần nhiều hơn tội, cứ như thế sau một thời gian dài, tự nhiên những hành vi của chúng ta sẽ trở nên rất tự nhiên. Đây là một dạng yêu cầu từ ngoài vào trong, khá cần thiết. 

Sau khi hoàn thành xong Trúc cơ, dần dần linh giác của bạn sẽ vượt qua người thường, và sẽ có hiện tượng linh cảm xuất hiện, đây chỉ đơn thuần là sự nhạy bén của giác quan thứ sáu mà thôi. Nếu thật sự tìm được ngọn nguồn của Thần khí thì chắc chắn có huyễn cảnh thật giả xuất hiện, kì diệu dị thường, nếu không trở nên mê muội thì cảnh tượng cực kì khả quan sẽ lần lượt hiển hiện, nhưng cảnh tượng qua rồi thì thôi, không cần phải lưu luyến để tránh tác động tới tình hình thực tế, nhận giả là thật, như thế thì sẽ phiền phức lớn. Người tu linh đắc đạo chân chính vĩnh viễn không bám chấp, tu mọi pháp cũng thực sự là không có pháp nào có thể tu, căn bản là không có mọi pháp. Đây là cảnh giới tối thượng thừa, đương nhiên là nó nằm bên ngoài tam giới rồi. 


### 30. Thế thân của kê đồng


Tôi từng huấn luyện không ít kê đồng, cũng biết rõ thuật thế thân của kê đồng, ví dụ kê đồng Tô Vương Gia ở cung Cảnh Phúc, kê đồng Thái Tử Nguyên Soái ở Tam Nguyên Đường, kê đồng Cửu Thiên Huyền Nữ ở cung Bảo Thiên, kê đồng Thái Ất Chân Nhân ở cung Thái Ất, kê đồng Thiên Thượng Thánh Mẫu ở cung Trấn Hải, kê đồng Tam Sơn Quốc Vương ở cung Tam Sơn, kê đồng Tế Công Hoạt Phật ở cung Bát Cảnh, kê đồng Quan Thế Âm Bồ Tát ở Thiên Đức Đường, kê đồng Bát Quái Chân Nhân ở Tổ Sư Đường, kê đồng Tổ sư Lã Động Tân ở cung Trấn Nam, v.v… cả một đám kê đồng, cho đến hôm nay tôi thật sự không rõ mình đã huấn luyện bao nhiêu người nữa.

Hiện tại tôi đã dừng việc huấn luyện rồi, bởi vì tôi phát hiện ra rất nhiều kê đồng không hề mượn việc này để cứu người, mà là mượn linh nhập để làm công cụ, dựa vào thần để kiếm cơm, trở thành thần côn [lừa đảo] thật sự. Không phải toàn bộ kê đồng đều là giả, nhưng mà linh nhập giả đã hại linh nhập thật, khiến cho người người về cơ bản là không tin cái trò này, dần dà, cách người ta nhìn và quan niệm về kê đồng không còn tốt đẹp nữa.

Có một lần, tôi ở trước một ngôi chùa ở Bắc Đầu trông thấy một kê đồng tay cầm dao sắt ở trước chùa chém ngang chém dọc, chân bước xiêu vẹo loạn xà ngầu, vừa gào vừa thét. Hắn dùng con dao đó cắt vào người, thịt bên trong hở ra, xung quanh có rất nhiều người bao vây thành một vòng tròn lớn, có hai ông Tây cầm máy ảnh ra sức chụp ảnh, lại còn giơ ngón tay cái ra biểu thị rằng cừ lắm. 

Tôi vừa trông thấy kê đồng biểu diễn kĩ xảo này thì sao có thể bỏ lỡ cơ hội thưởng thức, nên cũng vội vàng chen lên phía trước. Kê đồng đó quấn một mớ tóc trắng trên đầu, cởi trần, mặc quần dài màu đen, da dẻ xù xì đen sạm, trên lưng có mấy vết thương hở do bị dao sắt chém ngang chém dọc, nhưng không nhìn thấy có máu chảy ra. Kê đồng đập mặt dao vào ngực, lực khá mạnh, phát ra những tiếng “tét tét”, nhưng kê đồng vẫn không có chút cảm giác nào cả. Đứng sau lưng kê đồng có một vị “trác đầu” [người đứng cạnh hoặc đứng sau kê đồng để giải thích hoặc phiên dịch chỉ thị của thần minh] cầm một cái bát đựng nước phù, đưa thẳng bát lên miệng liên tục phun rượu vào vết dao cắt trên lưng của kê đồng. Trước chùa có một người đánh trống, có một người đánh chiêng, “tùng tùng cheng, tùng tùng cheng”, rất tưng bừng náo nhiệt.

Đột nhiên kê đồng nôn mửa, sau đó mở miệng ra nói: “Ta chính là Đô Úy Lã Phủ Thiên Tuế Gia do Ngọc Hoàng Đại Đế ở thượng giới đặc biệt phái đi tuần tra, nay ta mượn tạm hành cung ở vùng này để khai đường [mở phiên tòa] cứu đời, ai có vấn đề khó khăn gì, ta nhất định sẽ cứu. Với pháp lực thần thông của ta, ta thay trời hành đạo, cứu người cứu đời… Thần ta đây đến phàm trần này là cực kì không dễ dàng gì, Thần ta đi đây.” Lúc này kê đồng toàn thân không ngừng run rẩy, có hai trợ thủ bước lên trước để đỡ hắn để cho hắn khỏi ngã. Nói ra kể cũng lạ, các vết rách do dao cắt trên người kê đồng ban nãy dần dần khép miệng lại, và cũng không đau không chảy máu. Có một thanh niên lập tức dâng khăn mặt, kê đồng tỉnh lại, ngồi trên ghế đẩu ở trước chùa, đám người dần dần tản đi. 

Tôi bước lên trước vỗ vỗ lên vai hắn. Hắn ngoảnh đầu nhìn. 
”A! Là ngài, là thầy à, mau mời ngồi, mau mời ngồi.” - Thì ra kê đồng ấy là một trong những thuộc hạ của tôi, trước kia hắn sống ở thị trấn Nhân Đức huyện Đài Nam, là kê đồng của Huyền Thiên Thượng Đế. Thế nhưng sao dạo này lại đến Bắc Đầu nhỉ? Tôi ngồi xuống, vị trác đầu kia thì đối với tôi rất khách khí, nhanh nhẹn rót một cốc *coca cola *cho tôi.

“Sao anh lại đến đây? Thế còn thị trấn Nhân Đức thì sao?”
”Ôi, cũng vì miếng cơm đưa đẩy. Trấn Nhân Đức có một kê đồng mới đến, thủ đoạn khá cao, tôi chỉ còn cách rời đi thôi.”
”Bản lĩnh của anh cũng không tệ mà! Đoạn dao cắt thịt ban nãy, máu không chảy ra, cũng không đau, có thể thấy là công phu cũng rất cừ rồi.” - Tôi ca ngợi hắn.
”Thầy ạ, đây chẳng phải là hiệu quả của thuật thế thân mà thầy đã dạy sao. Không có thuật thế thân này của thầy thì hôm nay làm sao tôi lang thang trong giang hồ được chứ!”
”Anh đừng có mở miệng ra là thầy, ngậm miệng lại cũng thầy, tôi nhỏ tuổi hơn anh, nói thật lòng, lão Cung ạ, ngày xưa tôi dạy kê đồng là hi vọng có thể thu hút một số người ở nông thôn tin Thần bái Phật, từ nông thành sâu, từ việc khởi lòng tin cho đến khi tin tưởng sâu sắc không còn nghi hoặc, khiến cho người ta biết tầm quan trọng của tu thân tu đạo, từ linh cảm của việc linh nhập kê đồng mà thu hút một số tín chúng quy y Phật môn. Thế nhưng mà giờ đây lại biến thành công cụ kiếm cơm của mọi người, đây đúng là việc nằm ngoài mong đợi của tôi.”
”Hổ thẹn, hổ thẹn.” - Kê đồng họ Cung kia liên mồm nói. 

Sau khi tạm biệt hắn, tôi ngồi trên xe, nghĩ đến thuật thế thân của kê đồng. Thuật này tức là bản thân kê đồng phải tìm một cái cây to để làm thế thân cho kê đồng, sau khi cắt một ít lông tóc móng tay của kê đồng thì dùng một tờ giấy có vẽ phù để gói lại, trên phù đó viết ngày tháng năm sinh, chọn ngày lành tháng tốt khoét một lỗ nhỏ trên thân cây sát mặt đất rồi bỏ lá phù có lông tóc móng tay vào trong đó, chôn vào trong lỗ trên thân cây. Sau đó kê đồng niệm chú của pháp thế thân: “Ngô ỷ nhĩ thân, nhĩ thân thế ngã, tha nhật công mãn, dữ nhĩ bình phân. Thụ thần, thụ thần, thiên dữ ngã cơ, nhĩ tồn ngã ẩn, miễn thụ khổ ngoại, miễn sử huyết thảng, ngô phụng Thái Thượng Lão Quân cấp cấp luật lệnh cang.”
Câu chú này tổng cộng niệm ba biến.

Đầu năm và cuối năm phải cúng tế cây này, bởi vì kê đồng đánh vào thân mình, hoặc ngồi trên giường đinh ghế đinh, dùng dao cắt vào thân mình, bản thân mình không đau không chảy máu đều là nhờ vào công của cây đại thụ kia. Cái này chỉ là phương thuật của pháp thế thân mà thôi, thế nhưng nhờ thần lực thật sự bảo vệ, bản thân kê đồng đương nhiên không sao cả. Nếu bạn không tin, bạn có can đảm thử dùng dao cắt vào thân thể máu thịt của mình không? Điều quan trọng nhất là cây đó không được chảy nhiều nhựa, bằng không khi động dao, trên người kê đồng sẽ chảy máu đó.


### 31. Phật tính tâm hương


*Thế Tôn từ trong tam muội quang minh xuất thiền, khoan thai đứng dậy nói với Xá Lợi Phất: “Trí huệ của chư Phật là thậm thâm vô lượng, cánh cửa trí huệ của Phật khó hiểu và khó thâm nhập, tất cả hàng Thanh Văn, Bích Chi Phật không thể biết được. Vậy thì thế nào? Phật từng gần gũi với trăm nghìn vạn ức vô số chư Phật, thực hành hết vô lượng đạo pháp của chư Phật, dũng mãnh tinh tấn, khắp nơi nghe tiếng, thành tựu rất sâu pháp chưa từng có, tùy nghi thuyết giảng những ý nghĩa khó hiểu**.** Xá Lợi Phất! Từ khi ta thành Phật đến nay, đủ loại nhân duyên, đủ loại ví dụ, rộng rãi diễn thuyết bằng lời, với vô số phương tiện để dẫn dắt chúng sinh, khiến họ rời xa những bám chấp. Vậy thì thế nào? Như Lai phương tiện tri kiến ba la mật, đều đã có đủ. Xá Lợi Phất! Tri kiến của Như Lai quảng đại thâm sâu, vô lượng, vô ngại, không có gì sợ hãi, thiền định tam muội giải thoát, thâm nhập vô biên, thành tựu tất cả pháp chưa từng có. Xá Lợi Phất! Như Lai có thể phân biệt đủ loại, khéo thuyết mọi pháp, lời lẽ mềm dẻo, vui lòng chúng sinh. Xá Lợi Phất! Điều muốn nói là, vô lượng vô biên pháp chưa từng có, Phật đều thành tựu. Khoan, Xá Lợi Phất! Không cần phải nói lại, vậy thì thế nào? Thành tựu của Phật là pháp đệ nhất hiếm có khó hiểu, chỉ có Phật và Phật mới có thể biết hết thực tướng của mọi pháp, cho nên cái gọi là các pháp cũng là tướng, là tính, là thể, là lực, là tác, là nhân, là duyên, là quả, là báo, là thành quả từ đầu đến cuối.” *(Kinh Pháp Hoa)

Từ đoạn kinh văn này trong “Kinh Pháp Hoa” khiến tôi liên tưởng đến một lá thư của độc giả từ Tân Doanh gửi đến. Từ bức thư này, tôi lại liên tưởng đến cuộc trò chuyện phiếm giữa tôi và một tì kheo xuất gia. Tì kheo này có tiếng tăm tương đối lớn, tôi và đại hòa thượng này ngồi đối diện nhau trong Tạng Kinh Lâu. Vừa hay khi ấy bên ngoài Tạng Kinh Lâu đang có mưa phùn, giống như mandala hoa liên tiếp từ hư không rơi xuống.

“Thắng Ngạn, nghe nói cuốn sách “Mạn đàm về linh cơ thần toán” mà anh viết vừa in xong đã tái bản rồi, gây nên một sự chấn động lớn phải không?”
”Đúng vậy, từ lúc chưa xuất bản, tôi đã biết thế nào nó cũng gây chấn động rồi.” - Tôi điềm đạm trả lời.
”Vì sao? Sao lại như thế?”
”Bởi vì tôi nói điều chưa ai nói, đạo nhân không dám truyền, giới xuất bản chưa từng có, mở ra được tầm nhìn của một người bình thường. Bất kể là người ngu hay người khôn, bất kể là người xuất gia hay tại gia, bất kể là tả đạo hay chính đạo, đều có thể vì cuốn sách này của tôi mà xúc động sâu sắc, từ đó mà khởi lòng tin, thành tựu công đức tín ngưỡng.”

“Thắng Ngạn, nhưng tôi đọc tất cả những kì tích thần thông mà anh kể trong sách, tất cả các pháp mà anh nói đến, đều là các pháp chấp vào hữu tướng, cần biết rằng những cái đó đều là hư vọng. Còn cái người gọi là Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh có thể là sự chiêu cảm do trí tưởng tượng của anh mà ra, nếu là như vậy thì thử hỏi phải chăng là dẫn người ta vào hố lửa và chẳng thể nào nhảy ra khỏi tất cả mọi sự trói buộc này? Anh nói xem có đúng không?” - Đại hòa thượng là cao tăng có đạo, giọng nói dịu dàng khiến người khác phải cảm kích trước sự quan tâm của ông ấy.

“Đại sư, Thế Tôn từng nói, cánh cửa trí huệ khó vào, ngài cũng dùng vô số phương tiện để dẫn dắt chúng sinh, nếu chỉ chấp vào thực tướng và hư tướng, giảng giải về thiền định tam muội giải thoát khó hiểu thì có mấy người có thể hiểu được. Thế Tôn giảng Diệu Pháp Liên Hoa mà vẫn còn có năm trăm La Hán không nghe, Thanh Văn, Bích Chi Phật đều không cảm thấy có được điều gì, huống hồ những con người ngu muội nghiệp chướng vẫn còn nhiều này. Cho nên sách của tôi khuyên con người trước tiên từ cái Có để nhập cái Không, chấp vào linh, chấp vào pháp, thật ra linh tức là tướng Không của cái vô hình, pháp cũng là vô pháp, kết quả là đều là không chấp trước, cái gọi là pháp vô lượng vô biên chưa từng có thì sao có bám chấp cái gì?” - Tôi lại nói: “Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh là căn bản của mọi đạo, cũng không chấp vào thứ có hình tướng, đạo tức là vô lượng, vô ngại, không hề gì, tôi khuyên người ta hướng thiện, đương nhiên không chỉ là vì phúc báo trời người mà thôi, bên trong cũng ẩn chứa huyền cơ lớn.”

“Cái này tôi cũng hiểu, anh hiểu Phật là gì?” - Đại sư hỏi tôi.
”Phật là giác ngộ.” - Tôi hỏi ngược lại: “Đạo là gì?”
”Cũng là giác ngộ.”
”Đúng rồi!” - Tôi hân hoan nói: “Phật là giác ngộ, Đạo cũng là giác ngộ, giữa hai thứ này không có sự sai biệt, nhờ Phật đắc Đạo, nhờ Đạo đắc Phật, hai thứ tương thông không có trở ngại. Đáng tiếc là hôm nay có rất nhiều người chấp vào Phật mà phỉ báng Đạo, thật tình họ không biết rằng Phật vốn là Đạo, Đạo vốn là Phật, họ coi những thứ ngoại lai từ Ấn Độ là chí cao vô thượng, mà quên mất Đạo cũng là chí cao vô thượng, lập tức coi Đạo là đạo của những kẻ bàng môn ngoại đạo, cái này mới là sự bám chấp thật sự đó! Các vị cho rằng tôi nói linh pháp chính là ngoại đạo, nói Đạo chính là ngoại đạo, nhưng lại không biết rằng ở đây có thuyết pháp khéo léo, chính đạo cũng đều do ngoại đạo hỗ trợ đó!”

Đại pháp sư xuất gia kia nghe tôi nói như vậy thì gật gật đầu: “Tất cả thực và hư, thật và giả, hi vọng trong cuốn sách tiếp theo anh có thể viết ra toàn bộ, tôi tin rằng với sự một mực tinh tấn của anh, và trí huệ cao siêu của anh, dựa vào Phật tính tâm hương, thượng chứng Phật quả, trở thành bậc vô thượng chính giác của Phật Ta và Phật.”
”Đa tạ lời vàng của đại sư.”

Còn về bức thư của độc giả ở Tân Doanh, căn bản là tôi không cần trả lời, trong bản văn này tôi đã giải thích cực kì rõ ràng rồi, Phật pháp nếu chỉ là gặp ai cũng nói “bám chấp, không bám chấp”, nói tất cả pháp đều không, và không có tướng, tôi tin rằng chẳng có ai tin Phật, bởi vì phàm phu không hiểu những điều này, bởi vì không hiểu những điều này cho nên mới là phàm phu. Phàm phu nếu trở thành thánh nhân, bạn nói với họ “tất cả thứ có tướng đều là hư vọng”, lúc này họ mới có thể hiểu được. Phật pháp phân thành ba thừa, nghĩa đế của nó nằm ở đây.


### 32. Bí pháp thần thông


Có rất nhiều rất nhiều độc giả muốn bái tôi làm thầy, tôi đều lần lượt cảm ơn và từ chối. Họ cho rằng nếu bái thầy học đạo, học được một, hai bí pháp thần thông thì tương lai cũng có thể giúp người ta giải quyết vấn đề khó khăn, cứu người cứu đời. Ý định này vốn là thiện, nhưng tôi cho rằng không thỏa đáng.

Điều tôi muốn thanh minh là, khởi linh, luyện linh là việc mà ai ai cũng có thể học, còn cái gọi là thần thông thì lại không phải là thứ mà ai ai cũng đều có thể tu học, và cái gọi là thần thông chân chính thì càng không phải là học rồi là có thể có được, cái đó là thứ không học được. 

Năm xưa tôi bái kiến thầy Lý Bỉnh Nam, ông ấy nói: “Lý Bỉnh Nam tôi học Phật đã nhiều năm như vậy mà vẫn không có thần thông gì, thế mà anh là loại người gì mà dám mở mồm ra nói khoác, nói là có thần thông.” 

Tôi hiểu ý của thầy Lý Bỉnh Nam, tôi rất tôn kính thầy Lý, thật đó, nếu tôi có một chút suy nghĩ bất kính nào, tôi sẽ không đi nghe ông ấy giảng “Kinh A Di Đà” và “Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông Chương”. Tôi bái kiến ông ấy cũng với ý định thuần thiện, ông ấy đã độ nhiều chúng sinh, đức hạnh viên mãn, rất sáng tỏ Phật pháp, tự thân tu trì, công hành của ông ấy không thể che giấu được.

Giờ đây, bao nhiêu người như vậy muốn bái tôi làm thầy, tội lỗi của tôi rất lớn, nói thật lòng là tôi không có tư cách làm thầy người ta. Đức hạnh của chính mình còn chưa tròn vẹn, công lực còn chưa thành, đối với Phật pháp vẫn còn chưa thể ngộ đạo, làm sao có thể làm thầy của người ta được. Mặc dù cho đến lúc này, tôi tự nhận thấy tầm mức tư duy của mình đã có những tiến bộ lớn, nhưng tôi còn không dám bảo đảm xếp mình vào hạng hạ phẩm hạ sinh của Tây phương Cực Lạc thế giới. Tôi còn lo ngại rằng sau này lời nói của mình có sai sót, thu về vô lượng tội, đọa vào địa ngục vô gián vô biên, như thế thì thê thảm lắm! Phật tôi biết rõ, cho nên Liên Sinh tôi làm một “liên sinh giả”, tức là ví von về người hóa sinh từ hoa sen, tâm địa thiện lương, duy trì một hơi thở quang minh, chỉ như vậy mà thôi, chứ không hề dám vọng tưởng trở trhành bó đuốc rực sáng.

Bí pháp thần thông là thứ không học được, cái học được chỉ là những kĩ năng tiểu thuật rất nhỏ thôi, có hình có tướng, tuyệt đối đừng cho rằng đó chính là đại thần thông. Tuy rằng tiểu thuật có thể lôi kéo người ta phát khởi tín niệm, thu hút người ta quy y cửa Phật, nhưng không thể chấm dứt sinh tử của con người hay khiến con người đắc đại trí huệ. Nếu không cầu minh tâm kiến tính, ngược lại lại cầu sáu thần thông, như thế thì lẫn lộn đầu đuôi, mất đi gốc rễ của thành Phật. Vì thế hôm nay một lần nữa tôi nói rất rõ ràng, thần thông là sản phẩm phụ của minh tâm kiến tính, không phải là thứ có thể mong cầu một cách vô lí mà có được. Điều này chúng ta cũng gọi là “chưa minh tâm, sao có thể có thần thông”. 

Kẻ hèn này vì nhân duyên tiền kiếp không tệ, linh tính đem đến kiếp này chưa bị mất đi, kiếp này kéo theo kiếp trước, cho nên có sẵn sức mạnh thần bí của linh thông, cái này chính là nhân duyên kiếp trước, cũng không phải là đời này tôi tu được. Tôi thấy được thiên cung, thấy được túc mệnh của mình, thấy quỷ thần linh khí, nghe được lời của quỷ thần, học được một vài tiểu thuật hữu hình là để giúp cho cái tâm cứu người độ chúng mà thôi, không hề có mục đích gì khác! Ngày nay thế đạo nhân tâm đã bại hoại đến cực điểm rồi, tôi truyền thụ tiểu thuật cũng rất sợ rằng truyền không đúng người, nếu truyền sai người e rằng sẽ khiến cho tôi cũng phải chịu nhận nghiệp báo ngông cuồng. Vì thế xin các vị độc giả thứ lỗi, nguyên nhân mà tôi thận trọng như vậy là ở đây. Hiện tại tôi có một đồ đệ đang hại người khắp nơi, tâm thuật bất chính, khi xưa anh ta gặp tôi cũng rất khiêm tốn lễ độ, cầu đạo rất thành kính, khiến tôi không nghi ngờ gì anh ta. Nhưng bây giờ anh ta hại người hại mình, đây chẳng phải đã trở thành tội lỗi của tôi rồi sao? Tôi làm sao còn có thể tin tưởng con người được chứ!

Những cảnh giới của bí pháp thần thông đều khác nhau, thế nhưng đa số là có hình tướng, đến được bí pháp ở mức độ cao nhất thì sẽ trở thành vô bí pháp, vô hình vô tướng vô trụ vô niệm.

Trong quá khứ Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh từng bảo tôi: “Cầu thần thông, có sáu loại người không được. Thứ nhất, người vì hiếu kì thử cho vui mà cầu thần thông, chắc chắn không được. Thứ hai, người chưa đến lúc mà cầu thần thông, chắc chắn không được. Thứ ba, người tham niệm phóng túng mà cầu thần thông, chắc chắn không được. Thứ tư, người tiếp cận với ác tri thức bái tà sư cầu thần thông, chắc chắn không được. Thứ năm, người thích chơi đùa có tham niệm không ngừng, chắc chắn không được. Thứ sáu, người lười biếng không cầu tinh tấn, chắc chắn không được.”
“Đa tạ ân sư dạy bảo.”

Có người cũng đến chỗ tôi xin gặp. 
”Tôi muốn thành tâm cầu thần thông.” - Anh ta nói thẳng vào vấn đề.
”Vì sao muốn học?”
”Thử xem có thật hay không. Để thỏa mãn cái tâm hiếu kì của tôi.” - Anh ta đáp.
Tôi nói:
”Anh không cần học đâu, anh cũng không cần tin có hay không, thật hay giả, cũng không cần hoài nghi hay hiếu kì, anh đi đi! Anh đến để tìm cách chứng thực thần thông thì làm sao mà học được chứ!”

Vì lời nói của tôi mà sắc mặt anh ta căng đỏ lên, nói: 
”Anh nói anh có thần thông, vậy anh có thể đoán trúng được con số trúng giải xổ số Ái Quốc tháng này không?”
Tôi cười nói với anh ta:
”Nếu tôi biết thật thì cũng không đi mua xổ số đâu.”
Anh ta nhìn tôi khó hiểu. 

Ôi! Điều anh ta chưa biết vẫn còn nhiều lắm! Tôi làm sao có thể nói để trong lòng anh ta hiểu được, lòng người tham sân si đến khi nào mới dừng!


### 33. Hai sự việc trong chùa


Tôi ghi lại hai sự việc kì lạ này một cách chân thực chính xác, người khác thấy là việc kì lạ, nhưng tôi thì thấy là việc hết sức bình thường. Có lẽ cũng lại có người nói rằng căn bản chính là mê tín, bạn cho rằng mê tín cũng được, tin hay không tin tùy bạn. 

Khi phân đường Thạch Bích của Từ Huệ Đường ở Hoa Liên xây dựng thêm điện Địa Tạng và điện Mộc Công Thượng Thánh Đông Hoa Đế Quân, họ mời công nhân đến quét sơn rồng điêu khắc trên điện thờ. Ngày hôm ấy công nhân đang sơn thân rồng ở trên xà nhà, còn bên trong chùa các uỷ viên hội đang họp mặt để bàn bạc mọi công việc trong chùa. Lúc này bầu trời không mây, trong xanh vạn dặm, ánh mặt trời chiếu khắp nơi, hoàn toàn không có dấu hiệu nào của trời mưa. Từ Huệ Đường ở Hoa Liên là thánh địa nơi Diêu Trì Kim Mẫu hạ giáng, phân đường Thạch Bích cách tổng đường khoảng nửa giờ lái xe, nằm sát cạnh núi, phải đi qua một con sông lớn. Cổng chùa đối diện thẳng với sông, cảnh sắc tuyệt đẹp. Ở Hoa Liên, phân đường của Diêu Trì Kim Mẫu nổi tiếng có phân đường Pháp Hoa Sơn, phân đường Minh Sơn, phân đường Nam Cường, v.v… Trong số đó, điểm đặc sắc của phân đường Thạch Bích là “dắt vong”, dắt vong tức là dẫn dắt vong hồn, dựa vào phương thức linh nhập và người dương gặp mặt. Người khai sáng cho tôi nhập môn - người phụ nữ áo xanh Cơ Nga, chính là tu đạo sĩ của phân đường Thạch Bích, họ Lâm tên Thiên Đại. Giấy chứng nhận đạo sĩ của tác giả cũng trực thuộc phân đường Thạch Bích của Từ Huệ Đường.

Tôi nói chuyện phiếm xong rồi, bây giờ trở về chuyện chính. Đúng vào lúc các ủy viên hội đang họp trong chùa, công nhân đang sơn thân rồng ở trong điện, khi công nhân dùng sơn đỏ để điểm mắt cho rồng, đây gọi là vẽ rồng điểm mắt, có thể nói là đã hoàn thành toàn bộ công việc rồi. Lúc này con rồng ấy đột nhiên sống dậy, hai con mắt tròn xoe chớp chớp hai cái, công nhân nhìn thấy một bóng đen bay vút lên cao. Con rồng khổng lồ ở trong không trung cuộn mình hai vòng rồi bổ nhào xuống, há mồm ra, tạo nên khí thế “cửu long thổ chân thủy”. Lúc này các ủy viên đang họp trong chùa đột nhiên cảm thấy có một cơn gió thổi vào, một tiếng sét vang rền, mặt đất trước chùa đều ướt hết. Chạy ra ngoài xem thì nhìn thấy đuôi rồng rút vào trong một đám sương, lúc này bầu trời cũng vẫn trong xanh vạn dặm không mây. Những người trong ủy viên hội hét lên là kì tích, còn công nhân vẽ rồng thì liên tục kêu lên là kì quái, rồng giả biến thành rồng thật, không phải trời mưa mà là rồng phun nước thật đầy mặt đất. Khi ấy cũng có người nói rồng ở trước chùa múa lượn, múa ra một trận gió xoáy, phun ra một miệng chân thủy, rồi bay trở về trời.

Sự việc này có thể hỏi các ủy viên của phân đường Thạch Bích của Hoa Liên Từ Huệ Đường, ai ai cũng biết. Đây là chuyện thứ nhất.

Lại nói ở gần phân đường Thạch Bích của Từ Huệ Đường có một gia đình kia có một đứa con trai rất đặc biệt, từ nhỏ đã thích đến chùa chơi. Đứa con trai này có linh nhãn, có phải là sinh ra đã có con mắt linh thông hay không thì tôi không rõ, nhưng nó thích quỳ lạy Thần Phật. Nó nói nó nhìn thấy Thần Phật, nhưng không có một ai tin nó.

Thế rồi một hôm, đứa bé trai này cầm trên tay một cây gậy tre đi đến trước con sư tử đá ở trước chùa, nó trèo lên lưng sư tử và chơi cùng với sư tử đá. Đôi khi cao hứng, nó giơ cây gậy tre lên đánh vào mông sư tử, thế rồi sự việc kì lạ bất ngờ xảy ra. Con sử tử đá ấy quay đầu cắn vào thằng bé một cái (chỉ là cắn kiểu vui đùa, nên không cắn sâu). Đứa bé trai bị như thế thì gào khóc thất thanh, người nhà vội chạy tới, người quản chùa cũng chạy tới, còn thằng bé thì cứ luôn miệng nói sư tử đá cắn nó.
”Làm gì có chuyện đó, sư tử đá làm sao mà cắn người được?” - Mẹ nó không tin.
”Thật đấy, cánh tay con có một vết bầm lớn rồi này.” - Đứa bé trai giơ cánh tay ra, quả nhiên có một vết bầm. Đứa bé trai này bị sư tử đá cắn một miếng, trong lòng không cam chịu, nó cầm gậy tre lại đánh vào sư tử một lúc, và con sử tử lại cắn thằng bé một miếng, thằng bé lại khóc oang oang lên. Đứa bé trai này cũng rất tinh nghịch, nó đánh sư tử, sư tử cắn nó, lúc khóc lúc cười, lại còn la hét om sòm, lúc thì trèo lên lưng sư tử ngồi, lúc thì đưa bàn tay nhỏ xíu vào trong miệng sư tử. Rồi không ngờ sư tử lại trở thành bạn thân của nó. Nó vào trong chùa, với Thần Phật thì rập đầu sát đất lạy tạ, có khi còn vang lên tiếng “cộc cộc” nữa, cứ như thể nó bán mạng rập đầu vậy, khiến cho người lớn chỉ biết hồi hộp căng thẳng, nhưng một lúc sau thì nó lại cười hi hi và trèo lên sư tử.

Có người hỏi nó: 
”Đầu cháu không đau à?”
Nó chỉ vào Thái Tử Nguyên Soái thờ ở trong chùa nói:
”Cậu ấy đỡ đầu cháu, cho nên không đau một chút nào, cậu ấy với cháu là bạn chơi với nhau, là bạn thân.” - Thái Tử Nguyên Soái là một đứa bé xưng Thần, chả trách mà có tính cách của một đứa trẻ con.

Hai sự việc này đều xảy ra ở phân đường Thạch Bích của Từ Huệ Đường, một việc là do chính ủy viên của phân đường đó kể cho tôi nghe, vì thế tôi đặc biệt ghi lại trong cuốn sách này. Tôi tin lời của ủy viên đó và lời của mẹ tôi, tôi tin hai sự việc này nhất định là có không ít người biết.

Diêu Trì Kim Mẫu hạ giáng linh quang ở Hoa Liên, trong một khoảng thời gian ngắn ngủi đã khiến Hoa Liên trở thành thánh địa của phái Đạo giáo Diêu Trì, các phân đường của ngài phân bố ở khắp cả nước, hiện tại mỗi địa phương trong cả nước đều có. Sự hiển hiện những hiện tượng linh dị vô cùng ấn tượng thần kì, cho đến hiện tại có khoảng trên năm trăm phân đường, số lượng tăng lên từng ngày. Ngày 18 tháng 2 âm lịch hàng năm chính là ngày kỉ niệm ngài hạ giáng.

Tác giả có được mật lệnh của Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, phụng Tiên Thiên Vô Cực Chính Pháp, quy y Phật môn, lại lĩnh pháp chỉ của Diêu Trì Kim Mẫu mà đi lại ở nhân gian, không dám quên nguồn gốc, Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn cũng là vị sư phụ đại đức của tác giả.


### 34. Biến thể của tâm


Trước khi viết vào bản văn này, tôi xin để cho độc giả đọc đoạn “Kinh Di Giáo”: *“Phật nói, tì kheo các ông đã có thể trụ trong giới rồi thì nên chế ngự năm căn, chớ buông thả phóng túng mà chạy theo năm dục. Ví như người chăn bò cầm roi canh giữ chẳng để cho nó tự do chạy lung tung, xâm phạm ruộng người. Nếu buông thả năm căn, chẳng những là chúng chạy theo năm dục không có giới hạn, không thể chế ngự được, mà còn như ngựa dữ không dây cương kiềm chế, sẽ lôi người chăn nó xuống hố bẫy. Nếu bị giặc cướp làm hại chỉ khổ một đời này thôi, nhưng bị giặc năm căn gây hại, khổ nạn kéo dài nhiều kiếp, lại rất nặng nề, không thể không thận trọng. Vậy nên người có trí chế ngự mà không để chạy theo, giữ gìn như chống kẻ cướp, không để buông thả. Nếu buông thả tâm ra, chẳng bao lâu sẽ thấy nó dần chết.” Còn nói: “Tâm là chủ của năm căn. Vậy nên các ông phải khéo chế ngự tâm. Tâm rất đáng sợ, hơn cả rắn độc, thú dữ, kẻ trộm cướp, hỏa hoạn.”* Năm căn chính là mắt tai mũi lưỡi thân, cộng thêm ý nữa thì thành sáu căn. 

Vì suy ngẫm về đoạn “Kinh Di Giáo” này mà tôi từng vào một đêm mưa đi bộ trong mưa, đó là một đêm mùa đông, mưa trút xuống xối xả, rơi trên người khiến người ta cảm giác lạnh buốt. Tôi đi bộ trên một lối đi nhỏ trong rừng trúc, mắt nhìn thế giới này thấy một màn đen kịt, tai nghe tiếng thở hổn hển của rừng trúc đung đưa trong mưa gió, mũi ngửi thấy sự ẩm ướt trôi bồng bềnh trong không khí, lưỡi vô vị, thỉnh thoảng nước mưa chảy vào miệng, nếm một chút, hơi mặn, không biết là mồ hôi hay nước mưa. Cảm giác trên người lành lạnh, tôi đi đi lại lại trên con đường rừng trúc, tiếng mưa rơi tí ta tí tách, một cảm xúc xơ xác tiêu điều từ trong lòng chậm rãi dâng lên. Đúng vào lúc này, trên bầu trời lóe lên một tia chớp, tiếp sau đó là tiếng sấm ầm ầm. Khi sét đánh, tôi trông thấy một ngọn đèn nhỏ ở phía xa cuối con đường. Đó là ánh sáng nhỏ hắt ra từ cửa sổ của một ngôi nhà gạch, và sau đó là bóng tối vô tận xung quanh.

“Tâm là chủ của năm căn, tâm làm sao mà là chủ của năm căn chứ?”
”Tâm rất đáng sợ, hơn cả rắn độc, thú dữ, kẻ trộm cướp, hỏa hoạn. Tâm này vì sao lại đáng sợ như vậy?”

Tôi nhìn thế giới này! Khi mạch nước ngầm chảy đến, lòng người đều thành rắn độc, lòng người thành ác thú, lòng người thành đạo tặc. Tất cả thiên tai địa biến như nhà cháy khắp nơi, người người tháo chạy, suốt ngày nơm nớp lo sợ. Lòng người nhơ nhớp, bại hoại như mưa dầm thấm đất, làm sao làm sạch được?

Mạnh Tử nói nhân chi sơ tính bản thiện, cái thiện này là một vòng tròn cân bằng, và cái vòng tròn ánh sáng nhỏ này sẽ dần dần biến dạng. Tôi nghĩ về ngọn đèn nhỏ trong ngôi nhà gạch, ánh sáng ấy sinh trưởng trên thế giới này, giống như lòng người, tâm vốn là thiện, nhưng bị nhân gian này lây nhiễm mà biến dạng. 

Khi yêu thương thì tâm rất nhân từ, tâm mặc bộ quần áo màu trắng, thuần khiết, hơi một tí là dễ đau lòng mà rơi nước mắt, cái tâm ấy mong manh và có tình yêu người không gì sánh bằng, lúc nào cũng rơi những giọt nước mắt nhân từ. Cái tâm lúc này ôn hòa bình thản, nước mắt gột sạch mọi điều bất hạnh và sinh ra sự đồng cảm bác ái, cái tâm này là tròn, nhưng vẫn chỉ là một cái tâm nhỏ mà thôi!

Khi tâm chứa đầy sự tàn nhẫn, ác độc và hại người, thì tâm ấy chắc chắn là hung bạo, và những suy nghĩ chủ quan của nó vượt quá lí trí và những suy nghĩ tốt đẹp ban đầu. Ngay khi trong lòng trỗi dậy những suy nghĩ chủ quan, cực đoan thì sẽ hình thành một con dã thú trong lòng, dã thú không có lòng nhân từ mà chỉ có khát khao ăn tươi nuốt sống. Có rất nhiều răng nanh dữ tợn mọc ra từ cái miệng xấu xí, hình thái của tâm không tròn nữa, cũng không phẳng, mà là bao phủ bởi những chiếc gai dị dạng, đương nhiên, người như vậy bề ngoài vẫn là một con người, nhưng bên trong thì không khác gì một con thú.

Tôi nói tâm là một dạng linh quang, ánh sáng của tâm sáng và viên mãn. Nếu tâm thành bồ đề, tâm chính là bồ đề, cố định lòng nhân từ và lòng yêu thương của tâm vào trong tâm, tâm bác ái mở rộng ra toàn thế giới, toàn nhân loại và toàn vũ trụ thì vòng ánh sáng của tâm sẽ sáng như Bồ Tát, các lỗ chân lông trên thân thể con người sẽ phóng ra tám vạn bốn nghìn ánh hào quang. Ánh sáng này chiếu hiện vô hạn một cái tâm Bồ Tát vô lượng vô biên, chiếu hiện một cái tâm Như Lai bao la vô lượng vô biên, tâm Phật này bao phủ khắp tam thiên đại thiên thế giới, bao phủ vô lượng vô tận pháp giới, bao phủ thập pháp giới, tương đương với vũ trụ.

Còn nếu tâm hẹp hòi thì suy nghĩ đố kị sẽ tuôn trào, từng tia sáng sẽ theo đó dần dần biến mất. Nếu tâm hẹp hòi không chứa được một hạt cát, thật sự nhỏ đến mức không chứa nổi một hạt cát, thì đây chính là quan điểm của tôi về “sự biến thể của tâm”.
“Nếu tâm niệm nằm im thì như biển lớn bình lặng, như gương.”
”Nếu tâm niệm khởi lên thì như sóng biển cuồn cuộn, sẽ loạn.”

Mưa vẫn rơi. Tôi ngẩng đầu nhìn trời, dường như cổng trời đã mở ra, bầu trời xuất hiện một ngọn đèn, ngọn đèn ấy càng lúc càng sáng, vòng ánh sáng càng ngày càng rộng. Trong ánh đèn xuất hiện vô số Phật, vô số hóa thân Phật, vòng ánh sáng này chiếu vào mưa, mưa tạnh, chiếu vào gió, gió ngừng. Phật trong ánh sáng nói: “Liên Sinh, nếu tâm rộng lớn như vũ trụ, tâm bồ đề bao phủ khắp vũ trụ, thì đó chính là ánh sáng của người nhân từ, như ánh sáng của Phật.”

Thế là, ngọn đèn trong tâm tôi đã sáng rồi, vô số ánh sáng bao vây lấy tôi, trong lòng tôi không còn đau buồn nữa, bởi vì đau buồn chỉ là một hạt kê nhỏ xíu trong lòng tôi mà thôi.


### 35. Mượn quỷ binh


Phần lớn người tu Đạo, chỉ cần là người cực kì tinh thông thì đều biết Đạo có thuật pháp mượn quỷ binh. Pháp này mặc dù không phải là pháp được người của chính giáo chính phái tán dương, nhưng trong một số trường hợp thì vẫn cần thiết. Người hiểu pháp này nếu có tâm thuật bất chính thì cực dễ làm những việc tàn nhẫn. Theo như tôi biết, có một người chuyên dùng phù tử tiên của pháp này, người này ngoài 60 tuổi, thân thể gầy gò hom hem, nhưng ông ta thường xuyên sử dụng pháp thuật mượn quỷ binh này.

Dục vọng của con người không nằm ngoài sắc dục và tài dục. Cái kẻ phù tử tiên già rồi mà không biết tu kia không biết đã học được thuật mượn quỷ binh ở đâu mà lại lợi dụng phép mượn quỷ binh này để dung túng cho dục vọng cá nhân của hắn. Người này làm pháp nhưng chỉ biết cách làm pháp ra sao mà không biết cách thu về, vì thế đã gây ra không ít việc thất đức.

Đầu tiên, ông ta đến miếu Bách Tính Công ở Vụ Phong [một quận ở Đài Trung], tôi biết là ông ta đã mượn linh quỷ của miếu Bách Tính Công ở gần hội đồng quận Vụ Phong. Ông ta đến miếu Bách Tính Công dọn dẹp sạch sẽ lư hương của Bách Tính Công, sau đó thắp hương cầu chúc: “Thiên hạ Bách Tính Công, âm linh thần thông nhất, giúp tôi phát tài lợi, giúp tôi giải nghi nan, có việc đến trợ giúp, hết việc về âm đàn, trọng binh ủng hộ tôi, mưu sự tự nhiên thành. Cấp cấp hách hách dương dương, phàm ngô phù lệnh chí, tốc tốc trợ đàn tràng, công thành phụng canh quả, chỉ đĩnh gia bội hoàn, đệ tử âm giáo Lý AA, phụng Đốc Linh Đại Nguyên Soái cấp cấp luật lệnh cang.”

Sau khi cầu chúc xong, ông ta đốt một lá phù dưới chân thần đàn, một lá phù đốt tại lư hương, một lá phù đốt ngoài trời. Phù đốt dưới thần đàn gọi là phù tụ âm, phù đốt tại lư hương gọi là phù nghe lệnh, phù đốt ngoài trời gọi là phù linh thông. Sau khi đốt ba lá phù này xong, ông già Lý kia hết sức vui mừng, tiện tay gom hết những chân hương trong miếu Bách Tính Công, lấy không còn sót lại que nào. Những chân hương trong miếu Bách Tính Công ở Vụ Phong phải có tới hơn trăm que, tương đương với trăm âm tướng.

Ông già Lý trở về nhà, dùng một tấm biển khắc bằng gỗ đào, trên đó khắc chữ “Linh thông Bách Tính Đại Công thần vị”, dùng vải đỏ gói tấm biển đó lại rồi đặt lên bàn thờ, đem những chân hương kia đốt thành tro rồi rải lên bát hương trong nhà mình. Bắt đầu từ ngày hôm đó, đầu tiên ông ấy bày năm mâm cỗ cúng tế Bách Tính Đại Công, sau đó khoản đãi khách khứa, không ai biết vì sao ông ta lại đãi khách. Thế nhưng tôi biết, hằng đêm ông ấy đều đốt một ít vàng mã, có khi còn bái lạy nữa. Ông già Lý tuổi đã cao, vốn dĩ là một người đàn ông độc thân, nhưng kể từ đó, tổng cộng ông ta đã thu nhận hai mươi người con gái nuôi, những con gái nuôi này đều là con gái của những nhân vật có máu mặt. Bọn họ tìm đến ông già Lý để làm gì, không ai biết, nhưng hễ đi ra ngoài đường thì một cô khoác tay, một cô ôm eo, một cô đi trước, một cô đi sau. Bản thân ông già Lý lôi thôi từ đầu tới chân, nhưng những cô con gái nuôi này thì xinh đẹp như tiên trời, trang điểm lộng lẫy, tụ tập cả đám trên đường phố, người đi đường rất lấy làm ngứa mắt. Bản thân ông già Lý thì không làm việc gì, nhưng các cô con gái nuôi thì tự động bỏ tiền cấp dưỡng ông ấy. Ông ta cũng xem tướng mệnh cho người ta, và những cô con gái nuôi này đều là những cô đến xem tướng mệnh mà ra. 

Vì sao những cô gái này lại nghe theo mệnh lệnh của ông già Lý? Nguyên nhân là sau khi ông già Lý để mắt đến cô gái nào thì dùng tro hương của Bách Tính Công pha vào trà, lấy cớ là tế sát cải vận mà yêu cầu các cô uống. Kể từ đó các cô sẽ bị quỷ ám, sẽ cảm thấy ông già Lý hòa nhã dễ gần bội phần, hễ rảnh là lại nghĩ đến ông già Lý, lời ông già Lý nói, các cô đều nghe lời răm rắp, mê muội tới mức ngay cả bạn trai của mình cũng không cần nữa.

Thuật pháp mượn quỷ binh này không chỉ có thể dùng vào phương diện này, mà đồng thời có thể dùng vào việc lừa tiền của người ta. Kể ra cũng lạ, hễ người này mở miệng ra là đối phương cho dù bình thường là một người rất thận trọng thì cũng giống như bị quỷ ám, ngoan ngoãn lấy tiền ra. Lại có những tên côn đồ làm chuyện xấu, dùng phương pháp này vỗ lên người người ta, thế là quỷ ám vào tâm họ, tự mình lấy dây chuyền vàng, lấy tiền trong ví ra tự động tặng cho người khác. Đến khi tỉnh lại thì khóc váng lên cũng chẳng làm gì được. 

Còn về việc của ông già Lý, mặc dù tôi biết, nhưng cũng coi như gió thổi làm lăn tăn nước hồ, việc ông ta làm không liên quan gì đến tôi, tôi sẽ không chủ động đi tìm ông ấy và khuyên ông ta đừng làm việc xấu nữa. Mãi cho đến một ngày, một người bạn của bạn tôi đến tìm tôi. 
“Thầy Lư xin giúp đỡ, bạn gái tôi gần đây không biết làm sao mà hở một tí lại trốn trong nhà ông già Lý, nói là tu luyện công phu gì đó, nói rằng tôi và cô ấy không có duyên. Trước đây về cơ bản là cô ấy không hề như vậy, thật là gay go, cô ấy đã mê muội rồi, nghe nói ông già này có phù tử tiên nổi tiếng, mỗi lần đi chơi đều có hai ba nhóm các cô gái đi cùng. Cầu xin thầy, cầu xin thầy cứu tôi với, cứu tôi với.”

Tôi trầm ngâm một lúc rồi đành phải gật đầu. Tôi không dùng phương pháp gì cả, tôi cũng chạy đến miếu Bách Tính Công ở Vụ Phong để thu phù ở dưới chân thần đàn, thay mới toàn bộ tro trong lư hương, và cũng thu phù trong lư hương về. Nói ra cũng kì lạ, thuật pháp của ông già Lý hoàn toàn mất linh. Những kẻ trước kia thích ở cùng ông ta, nhũng cô gái phó mặc số phận cho ông ta từ từ rời xa ông ta. Ông ta thỉnh Bách Tính Công cũng không thỉnh được, cho dù mở tiệc rượu lớn cả trăm mâm cũng không thể làm được.

Dù ông ta chỉ gặp tôi có một lần, biết tôi cũng là người có kĩ năng, nhưng ông ta không dám tìm đến cửa nhà tôi, bởi vì thuật mượn quỷ binh này không phải là thuật pháp chính pháp, phàm là người của chính phái thì ai ai cũng có thể phá được pháp này mà không làm tổn hại đến thiên đức.

Không lâu sau, ông già Lý lại tìm đến miếu Bách Tính Công ở khu Tứ Trương Lê [một khu vực truyền thống ở Đài Trung], rồi lại có rất nhiều cô gái mê đắm ông ta, đi ra ngoài lại tiền hô hậu ủng, đúng là sung sướng như trời. 

(Chú thích: tôi không công khai thuật pháp này, chỉ muốn độc giả biết về sự thần diệu của dị thuật của linh mà thôi.)


### 36. Cảnh giới atula


Cái gọi là “tu thiện, không quên sân hận”, cảnh giới này chính là cảnh giới của thiên ma atula. Cảnh giới này là một thế giới tinh linh kì diệu. Thế giới này giống như 33 cõi trời vậy, tại Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên có, tại Tha Hóa Tự Tại Thiên có, tại Hóa Lạc Thiên cũng có, thậm chí đến Vô Sắc Giới cũng có, thậm chí trong địa ngục cũng có, tại thế giới Ta Bà lại càng nhiều. Thế giới atula tự tạo thành một đơn nguyên lớn, phân thành rất nhiều đơn nguyên nhỏ, ai có thể đến cảnh giới này thì có thể nhìn thấy rất nhiều điều kì diệu bất khả tư nghì. Trong thế giới này có Atula Vương và các Atula Tiểu Vương chiến tranh lẫn nhau, không chỉ như vậy, thậm chí Atula Vương chiến tranh với Thiên Đế của Thiện Pháp Đường Thiên, muốn chiếm đoạt tôn vị Thiên Đế. 

Phiên dịch tiếng Trung của atula chính là “tinh linh”, từ đây có thể thấy atula là đám tinh linh chưa chứng đắc chứng quả, nhưng atula hành thiện mà thu được công lao, tu bàng môn tự đắc quả, ở đây có rất nhiều nhân tố. Linh lực của họ ngang bằng với thần chúng cõi trời, thậm chí còn hơn cả thần chúng cõi trời, có một số hơn con người nhưng có một số kém con người. Cảnh giới atula lởm khởm luộm thuộm, có thiện có ác, có tà có chính, linh lực của họ thì lớn nhỏ khác nhau, có thể nói là một cảnh giới kì quái nhất.

Vì sao lại có cảnh giới này xuất hiện? Tôi giải thích một cách đơn giản là mọi người có thể hiểu được. Thứ nhất, nếu có tì kheo tì kheo ni tu thiện niệm Phật, nhưng trong lòng vẫn còn đố kị với người cùng tu, tuy có thiện công nhưng công không bằng tội, cho nên vì tâm lượng hẹp hòi, thường xuất hiện sân hận mà sau khi chết đi không thành được Phật, không lên được cõi trời, không có nhân duyên ở cõi người, lại không có tội báo ở địa ngục, trong sát-na liền phi thân vào thẳng cảnh giới atula vô lượng vô biên. Vì họ có thiện công cho nên khuôn mặt phía trước hiện lên nét thiện, vì họ niệm Phật nên chắp tay hiện 32 tướng và các điềm lành. Tuy nhiên còn có một khuôn mặt nữa ẩn giấu đằng sau, hai lông mày cùng nhíu lại, nét mặt hằm hằm, miệng có hai lưỡi, thường có ý phỉ báng, chưa loại bỏ được sân niệm. 

Thứ hai, nếu có người tu đạo chuyên tập thuật pháp hữu tướng của Tiểu thừa, giúp đời cứu người, tương đối có thiện công, nhưng đề xướng tiểu thuật tiểu thiện, không biết vẫn còn có pháp Đại thừa, hành pháp có tà có chính, chính tà cân bằng lẫn nhau, không thiện không ác, người tu đạo kiểu này tuy có linh thông, không chịu quả báo địa ngục, không có nhân duyên ở cõi người, không sinh về trời, cũng không có cách nào thành Phật, khi chết đi cũng phi thân thẳng vào cảnh giới atula vô lượng vô biên, trên người mọc cánh, có thể bay tới chân trời, cũng có cảm nhận sướng khổ, tâm địa tuy thiện nhưng vì đề xướng tiểu thuật, ngăn cản người thành Phật, cho nên hiện thân này.

Lại có loại người thứ ba, cả đời chưa từng nghe Phật pháp, nếu nghe thì cũng không tin, nhưng mà lại theo bàng môn tu tà đạo, tuy tu tà đạo nhưng lại chưa bao giờ làm việc ác, tâm địa thuần thiện, biết rằng làm thiện có thể lên trời nên tạo nhiều loại công đức, làm tám vạn bốn nghìn tà đạo, thành tựu tám vạn bốn nghìn tà công, tạo ra tám vạn bốn nghìn đạo bàng môn, tâm họ chính trực vô tư, nhưng tập khí chưa thay đổi, sau khi chết, con đường thành Phật bị cắt đứt, không thể đắc chứng thần vị, không có nhân duyên ở cõi người, không nhập địa ngục và tam ác đạo, thế là phi thân nhập thẳng vào cảnh giới atula vô lượng vô biên. Vì cái họ tu mặc dù không phải là chính, nhưng đạo công cũng có thành tựu, nhập thẳng vào Tha Hóa Tự Tại Thiên của 33 cõi trời, trở thành những thiên ma của Tha Hóa Tự Tại Thiên. Hạng thiên ma này cũng không biết có Phật, tự coi mình là rất cao rồi, duy ngã độc tôn, thường gây tranh chấp với các thiên chúng khác. Tuy vậy cũng có một số atula cũng tự biết tìm niềm vui riêng cho mình.

Loại người thứ tư, mặc dù tu thiện, nhưng đố kị, căm phẫn, tập khí cực đoan không thay đổi, sau khi được chôn, không sinh về cõi trời, không vào tam ác đạo, không sinh về cõi người, cho nên một mình thành một con ma thiện, tự làm thành một đơn nguyên, con người cầu việc thiện thì họ bèn làm thiện, trong đó có việc ác nhỏ thì họ cũng làm, con người gọi họ là Vạn Thiện Công hay Ông Vạn Thiện. Có một số thì nhờ khí của địa linh mà có thành tựu, có một số thì nhờ thiện nghiệp mà có thành tựu, những tinh linh này phần lớn vẫn còn có thể tu thiện, nhưng cũng kẻ làm ác, nếu làm ác vẫn sẽ chịu nghiệp báo, quả báo địa ngục vẫn không thể thoát được. Tóm lại, atula hạng này phần lớn giữ thân ở thế giới Ta Bà (cõi người), có hình dạng quái dị, có thiện có ác, và rất thích loài người thường xuyên cúng dường họ.

Sau khi tôi có được linh nhãn, có một lần tôi ở tại Phật đường tụng kinh, thấy một vật vô cùng quái dị, đầu to như cái đấu, thân mặc quần áo thần màu mè sặc sỡ, miệng méo mắt xếch, hai chân như bàn chân vịt, có màng chân. Sau khi hiện thân, nó hút sạch khí của đồ ăn cúng trên bàn, đồ ăn vẫn ở đó, nhưng khí của chúng thì đã không còn nữa rồi! Tôi thấy vật này vào trong Phật đường thì lấy làm kì lạ vì tại sao chư Phật lại chẳng hề quan tâm tới nó.

“Quái vật phương nào?” - Tôi hỏi.
”Là Thủy Long Công, tôi thích nghe kinh.”
”Mi còn thích cái gì nữa?”
”Xem kịch.”
”Xem kịch gì?”
”Kịch ca tử hoặc múa rối, miếu của tôi thường diễn kịch. Đúng rồi, anh cũng bố thí cho tôi một vở kịch được không? Tôi sẽ phù hộ anh.”
”Thôi đi, thôi đi.” - Tôi cười cười nói: “Tôi làm gì có nhiều tiền như vậy.” 

Đây là lần gặp mặt đầu tiên của tôi với Thủy Long Công, nghe nói nó rất linh, miếu của nó thường xuyên diễn kịch.


### 37. Thử nghiệm linh lực


Mấy ngày này, tôi nhận được thư của một độc giả từ thành phố Cao Hùng, độc giả này họ Thái, sống ở quận Tiền Trấn, đường Tiền Trấn, thư của anh ấy viết như sau:
*“Lư tiên sinh, chào anh! Có một buổi tối, tình cờ trong hiệu sách tôi mua được cuốn “Khởi linh học”, vừa xem nội dung thì toàn bộ tâm trí tôi đã bị hút sâu vào nó. Sau khi đọc hết cuốn sách, tôi sâu sắc cảm thấy mình giống như một con thuyền nhỏ trong mưa bão tìm được ngọn hải đăng dẫn đường. Sự an nhiên trong tâm hồn và tinh thần của tôi nhẹ nhàng hiện lên, lòng tôi trở nên bình yên hơn nhiều so với bình thường.*

*Đã nhiều năm nay, bản thân tôi hoàn toàn không hiểu được sự kì quặc của chính mình, giống như việc khởi linh trong sách của anh, tất cả những việc ấy xảy đến rất lạ, bây giờ tôi viết ra, xin anh hãy lần lượt chỉ thị cho tôi. Thứ nhất, bình thường khi tôi đứng, thả lỏng tâm mình, thân thể tôi tự nhiên sẽ đánh một bài võ thuật truyền thống Trung Quốc, tôi hoàn toàn không biết làm thế nào mà có được bài võ thuật này, mọi động tác đều không đi qua đại não hay niệm lực của tâm, căn bản là tôi chẳng hề có cái suy nghĩ ấy.*

*Khi tôi ngồi thiền theo lời anh viết, miệng niệm bốn chữ A Di Đà Phật, hai tay sẽ tự nhiên đưa ra làm thành các hình dạng, sau đó tay phải làm bộ dạng lấy vật đó ở tay trái, sau đó tay sẽ đưa vào miệng hoặc đưa lên đỉnh đầu. Có lúc tay phải biến thành kiếm quyết chém lung tung trên đầu.*

*Thứ hai, trên bàn học, tôi cầm bút lên viết chữ, tay tự động di chuyển lên tờ giấy khác, vẽ ra những kí hiệu kì quái, những kí hiệu ấy tôi đều không hiểu, không biết có hàm nghĩa gì, ý nghĩa đều không hiểu được.*

*Thứ ba, một, hai năm trước ở Cao Hùng có xảy ra vụ tàu thủy bị lật và chìm, làm chết hơn 20 nữ công nhân của khu chế xuất. Khi ấy tôi sống tại quận Tiền Trấn, cách khu cảng xảy ra tai nạn không xa. Chuyện xảy ra vào lúc 1 giờ sáng. Khi ấy tôi đang ngủ, toàn thân không biết vì lí do gì mà trở nên khó chịu, cả đêm không ngủ ngon được. Đến khoảng 3 giờ sáng thì tôi nhìn thấy một thiếu nữ tóc dài đứng ở đầu giường tôi, mắt cô ấy nhìn thẳng vào tôi, tôi càng nhìn thì càng sợ hãi, khi ấy tôi không hiểu là chuyện gì, chỉ thấy cô thiếu nữ ấy bị ướt sũng từ đầu đến chân. Tôi sống ở Tiền Trấn, từ xưa đến nay buổi đêm đều ngủ rất say, chưa bao giờ tỉnh giấc. Đến khi trời sáng, lúc 8 giờ tôi mới biết tàu thủy ở trong cảng đã chìm nghỉm rồi, và thời gian chìm là lúc 7 giờ sáng. Xin hỏi đây có phải là điềm báo không, vì sao tôi có thể cảm giác được trước sự việc? Tôi cảm thấy Thần Phật mặc dù có thể dự báo được sự việc, hơn nữa còn có chùa có miếu, nhưng vì sao thần minh không đưa tay ra giúp đỡ chứ? Vì sao không thể ngăn chặn tai nạn xảy ra để mà cứu họ chứ? Bởi vì họ đều là những phụ nữ ngư dân nghèo khổ, vì sinh tồn mà phải làm thêm, vì sinh kế của gia đình mới phải làm công nhân ở khu chế xuất, thế mà lại gặp phải bất hạnh này, chẳng phải là khiến người ta sinh lòng thương xót cảm thông hay sao?*

*Bình thường tôi dự đoán đều rất chuẩn, khi mọi người ở cùng nhau, tôi nói tất cả cho bạn bè và đồng nghiệp nghe, nhưng không có ai tin. Đúng lúc tôi mua được danh tác của anh, họ cứng họng không thể phủ nhận, về sau quan niệm của họ cũng đã thay đổi rất nhiều. Tôi hi vọng có thể luyện thành công những điều được nói đến trong sách để chứng minh linh lực không phải là giả và thần là tồn tại thật, để người người từ trong lòng mình phát tâm tin Phật tin thần và hướng thiện, như vậy thì đúng là công đức lớn. Xin hỏi sau khi khởi linh thì luyện linh như thế nào?*

*Xin chúc anh vui.
Thái X Thượng.”*

Nhận được lá thư này, tôi biết rằng anh Thái này là một người hoạt linh, sự xuất hiện của linh lực khiến bản thân anh ấy không hiểu ra làm sao. Đánh một bài võ thuật, nhưng bản thân không có chút ý thức nào cả. Trên thực tế, việc này hoàn toàn có thể giải thích được, bởi vì linh thức tiền kiếp của anh ấy chưa tiêu tan, kiếp trước có lẽ anh ấy là một đại sư võ thuật, hoặc là một người từng học võ thuật cổ truyền. Tay của anh Thái có thể tự động viết chữ, vẽ phù, hoạt linh này có thể huấn luyện thành phù kê thủ chính thức, dùng tay cầm cành đào cành liễu viết chữ trên cát, cũng có thể nói đây là kê thủ trời sinh.

Có thể dự đoán tương lai, đây là sự xuất hiện linh lực của giác quan thứ sáu, người có linh lực càng lớn thì càng có cảm ứng lớn, khi linh lực còn tương đối nhỏ thì cũng có cảm ứng nhỏ. Người không có linh lực thì căn bản là không có cảm ứng, nếu có thể dự đoán tương lai chính xác một trăm phần trăm thì đó đúng là xuất sắc tuyệt đỉnh rồi. Muốn thử nghiệm linh lực thì có thể dùng phương pháp đổ xúc xắc, từ một đến sáu điểm, có thể lần nào cũng đoán trúng thì mới xem là cao thủ. Tiếp theo có thể dùng bài tây, có thể đoán ra được quân cơ, quân rô, quân bích, quân tép thì đây là bước đầu, sau đó phải đoán ra được là con mấy cơ mới xem là cao thủ về linh lực.

Việc ở nhân gian phần nhiều là những việc bất hạnh, sinh mệnh của con người lại càng như con sâu cái kiến, những tai nạn này có thể xem là thiên tai nhân họa, những tai nạn vô hình thì lại càng không thể biết được là có bao nhiêu! Tôi cho rằng đây chính là vận, là mệnh. Ngoài quy về vận mệnh ra, càng không thể trách chư Phật và các thần minh. Thần thông của linh lực có lớn có nhỏ, theo túc mệnh mà nói thì ngoại đạo, đệ tử Phật, đại đệ tử, đệ tử thượng tọa, Bích Chi Phật, Phật đều có thể có những chuyện thần thông kí ức kiếp trước, ngoại đạo có thể nhớ được 40 kiếp, còn Bích Chi Phật có thể nhớ được hai a-tăng-kì lẻ mười vạn kiếp, còn thần thông của Phật thì không thể giới hạn, phải là lực trí huệ của linh mới có thể khéo phân biệt được.

“Linh lực huyền diệu thế nào mà phá bỏ được sự an bài của túc mệnh, có thể biết kiếp trước.”
”Linh lực siêu phàm thế nào mà dự đoán được đời tương lai, khi nào sinh về quốc độ Cực Lạc.”

Hãy niệm Phật đi! Rồi cộng thêm thực hành bát chính đạo, phối hợp tự lực và tha lực, Tây phương Cực Lạc thế giới không xa, Tây phương Cực Lạc thế giới đã ở gần, cái gọi là linh trí của Phật chính là linh lực và trí lực.


### 38. Quan niệm về sinh tử của tôi


Phật thuyết mười hai nhân duyên:
”Hành từ vô minh mà có
Thức từ hành mà có
Danh sắc từ thức mà có
Lục nhập từ danh sắc mà có
Xúc từ lục nhập mà có
Thụ từ xúc mà có
Ái từ thụ mà có
Thủ từ ái mà có
Hữu từ thủ mà có
Sinh từ hữu mà có
Lão tử ưu sầu khổ não tuyệt vọng từ sinh mà có.”

Từ mười hai nhân duyên này suy ra đời người từ vô minh mà có, và từ sinh dẫn đến lão tử, sinh tử vô thường, chư hành vô thường. Vì tôi đã biết sinh tử của con người vốn là một sự tuần hoàn của nhân duyên, chỉ có “sự tái hiện của linh” mới là một “chân ngã” chân chính. Đương nhiên tôi là một người nhìn thấu sinh tử, thậm chí nói tôi là một người vô sinh vô tử. Sống là một quá trình, chết cũng là một quá trình, tất cả ngộ cảnh trong lúc sống đều như mây khói bay qua mắt, thậm chí tôi nhập vào thiền định, thấy tất cả huyễn cảnh như Tây phương Cực Lạc thế giới cũng là huyễn cảnh, Vô Sắc Giới Thiên ở trên Tứ thiền tôi thấy cũng là huyễn cảnh, hai mươi tám thiên, ba mươi ba thiên chúng đều từ huyễn cảnh sinh ra.

Trong thiền định tôi từng nhập vào Vô Sở Hữu Xứ, đã đến Vô Sở Hữu Xứ rồi thì sẽ không còn sinh tử, không sinh tử thì sẽ không có cảm nhận, không có cảm nhận thì sẽ không có xúc giác, và tất cả thiên chúng cũng không thể đến đây. Từ trong thiền định tôi trở về Nhị thiền, thân thể tôi ngồi trên một đóa hoa sen trắng, khói mây trong không trung đã tan biến sạch sẽ, gió đang thổi biến thành âm thanh vi diệu, khắp mặt đất được phủ kín bằng hoa sen, có thiên nữ và Đại Phạm Thiên chúng xuất hiện, từ không trung rải xuống mưa hoa thơm nức. Tôi niệm thầm trì tụng “Kinh Kim Cang” một hồi lâu, nhập vào kim cang tam muội, tất cả huyễn tướng lại biến mất toàn bộ, chỉ còn lại một mình tôi ngồi trong cái không của hư vô, thân người treo lơ lửng, không chạm vào trời, không chạm vào đất, cũng không hề bay lên trên, cũng không rơi xuống dưới, tâm không điên đảo, căn bản là vô tâm, vô tâm rồi nhập vào Diệt định tận, sau đó từ Diệt định tận rời bỏ từng lớp từng lớp, trở về Sơ thiền, rồi lại mở mắt ra nhìn thấy con gái nhỏ của tôi Lư Phật Thanh, nó ngồi trước mặt tôi khóc, nhưng tôi lại chẳng có một cảm giác gì.

Có một lần, một đám thanh niên tìm hiểu về Đạo từ Hoa Liên đến Đài Trung tìm tôi. Họ ngồi thành vòng tròn bao vây lấy tôi, chính trong căn nhà dột nát tôi thuê tạm để ở, họ không cảm thấy nhà tôi dột nát, vẫn rất vui vẻ nhiệt tình hỏi thăm tôi.
”Sinh là cái gì?”
”Sinh là vô minh.”
”Tử là cái gì?”
”Tử cũng là vô minh.”
”Vô minh là cái gì?”
”Chư hành vô thường.”
”Thưa thầy, quán tưởng sinh tử có thể đạt được kết quả gì?”
”Tinh tuyển tĩnh lự, sinh tử quán tưởng, sáng tỏ mọi pháp, thấy rõ nội tình, thì mọi nghi vấn, nhất thời tiêu tan, những sinh tử này, đều là duyên sinh. Tất cả các thế giới có sinh mệnh tất có tử vong, giống như cây nến cháy tất sẽ có lúc cháy hết, giống như ánh nắng xuất hiện đằng đông tất sẽ chìm xuống đằng tây, như hoa quả có nở có tàn, như mộng huyễn, trong tỉnh có ngủ, trong ngủ có tỉnh. Bạn quán tưởng mười hai nhân duyên, mười hai nhân duyên này có thể điên đảo, có thể luân hồi, đau khổ và sung sướng thay thế lẫn nhau, cũng không giữ được lâu. Những người cầu Đạo các bạn có hiểu không?”

Họ lắng nghe rất chăm chú, một người trong đó nói:
”Vậy sinh tử vốn là vô minh, thế thì cuộc đời này của chúng ta đã là vô ích rồi! Vậy còn cầu cái gì?”
Tôi cười nói:
”Đây chính là điều mà Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh thường xuyên nói với tôi, thân người khó có được, quý ở chỗ biết tu, hiểu Đạo rồi thì cần tu hành, hãy bắt đầu từ linh trí, từ linh trí đi vào, lại từ linh trí đi ra, bắt đầu từ hữu tướng của khởi linh mà đạt đến mức độ không còn hữu tướng, trí huệ như gương sáng tự nhiên chiếu hiện nghìn nghìn vạn vạn thế giới, từ đây mà có được chân lí, mới không đi bám chấp vào sinh tử hữu thọ hữu hình của con người. Như vậy mới là ý nghĩa của đời người.”


### 39. Kì tích trong phòng phẫu thuật


Có một người phụ nữ sống ở cao ốc Hợp Tác ở Đài Trung, tác giả đã quên mất họ tên của người này, cô ấy bị mắc bệnh viêm thận rất lâu rồi, thận không ngừng bị đau, có lúc đau đến mức không thể nào đứng thẳng người để làm việc được. Người phụ nữ này được một người bạn ở Chương Hóa giới thiệu đến nhà tôi. Tôi không phải là bác sĩ, càng không hiểu đơn thuốc, thế nhưng cô ấy vẫn đến nhà tôi cầu tôi:
”Lư tiên sinh, bệnh thận này làm phẫu thuật thì tốt hay là uống thuốc thì tốt? Uống thuốc thì thuốc Đông y hay Tây y?”
”Để tôi thỉnh thị thần thánh một chút, nhưng tôi nói để chị biết, tôi không phải là bác sĩ, tôi không biết kê đơn thuốc, càng không phải là kê đồng nên không thể lừa gạt xằng bậy người ta, và quan trọng nhất là có chuyện thì vẫn nên mời bác sĩ kiểm tra là hay nhất.”
Tôi nói với cô ấy như vậy, cô ấy gật gật đầu.

Tôi tĩnh tâm lại, chắp tay, niệm chú, thỉnh cầu linh trong không trung chỉ thị. Phương pháp linh chỉ thị là vận chuyển linh mệnh trên người tôi vào trong vũ trụ, hợp nhất với linh trong vũ trụ, sau đó lại tách khỏi nhau, trở về trong tâm của chính mình, thế là tôi sẽ hiểu được ý của thần linh ở linh giới. 

“Chị mắc bệnh viêm thận đã ba năm rồi phải không?” - Tôi hỏi.
”Chính xác là ba năm.” - Cô ấy ngẫm nghĩ kĩ, nói: “Không sai một chút nào.”
”Chị là người chủ gia đình, cả nhà đều dựa vào chị vật lộn kiếm miếng ăn.”
Cô ấy cười cười nói:
”Đúng thế, chỉ thị của thần minh thật là linh quá.”
”Bệnh thận phải phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ, nó không còn khả năng làm chức năng của nó nữa, và nó vẫn tiếp tục trở nên tệ đi, nếu không cắt bỏ sẽ gây nguy hiểm cho các bộ phận khác. Nếu chị làm phẫu thuật thì thần linh chỉ thị là sẽ đi giúp đỡ chị, nên chị cứ yên tâm, nhất định sẽ bình an vô sự. Khi chị phẫu thuật, xin chị hãy cung kính niệm bốn chữ Diêu Trì Kim Mẫu, thần thánh linh cảm, nhất định chị sẽ bình an.”

Thế rồi cô ấy đến bệnh viện đa khoa trên đường Công Viên ở Đài Trung để kiểm tra, bác sĩ nói thận đã không còn sử dụng được nữa, không cắt bỏ không được, giống hệt chỉ thị của thần. Thế là người phụ nữ ấy đến nhà tôi xin một bùa chú hộ thân để mang theo người giúp cho tâm lí cảm thấy bình an. Vào lúc làm phẫu thuật, tôi cũng ở trong Phật đường giúp cô ấy tụng kinh thỉnh linh.

Sau đó, mọi thủ thuật đều tiến hành rất thuận lợi, cô ấy nhắm mắt nằm trên bàn mổ nhưng nhìn thấy ở ngoài cửa có ba vị thần linh đi vào, thì ra là Kim Tra Nguyên Soái, Mộc Tra Nguyên Soái, Na Tra Nguyên Soái. Ba vị thần linh này đi một vòng quanh phòng mổ rồi đi ra, người phụ nữ này nhìn thấy rất rõ ràng, muốn kêu lên nhưng không kêu thành tiếng được. Lúc này trong lòng cô ấy cung kính niệm Diêu Trì Kim Mẫu, Quan Thế Âm Bồ Tát, bỗng dưng trong cơn hoảng hốt, cô ấy cảm thấy một cơn đau nhói, thế rồi chỗ mổ nóng bỏng giống như bị lửa đốt. Lúc này cô ấy đột nhiên nhìn thấy trong không trung có một vị mặc áo trắng, nét mặt hiền từ, tay nâng tịnh bình, chân dẫm lên hoa sen từ từ giáng xuống. Vị Bồ Tát ấy cười và gật đầu với cô, cô ấy nhìn thấy rất chân thực, thì ra là Quan Thế Âm Bồ Tát cứu khổ cứu nạn. Chỉ thấy vị Bồ Tát ấy đổ nước trong tịnh bình vào trong vết mổ, cảm giác nóng rát nơi vết mổ đều lắng dịu, giống như nước cứu lửa, như lạnh trị nóng, mọi đau đớn đều tan biến. Thế rồi cô chìm vào giấc ngủ mà không còn một chút cảm giác đau đớn gì.

Quá trình phẫu thuật rất thuận lợi, nhưng người mệt lử, mỗi khi nhắm mắt là cô ấy lại nhìn thấy có một vị thần linh bảo vệ trước giường, các thần gồm có Quan Âm mười tám tay, Bạch Y Quan Âm, Thiên Thượng Thánh Mẫu, v.v… mỗi vị Bồ Tát thần minh đều ân cần chăm sóc cô, khiến trong lòng cô cảm kích không sao mô tả được. Đồng thời Bồ Tát cũng kiểm tra vết thương, kề mặt rất sát vào mặt cô, nét mặt hiền từ ấy khiến lòng cô vô cùng cảm động.

Ở trong viện được mấy ngày là cô đã xuất viện rồi, có thể đi lại như bình thường, mặc dù bị cắt bỏ một quả thận nhưng không có chỗ nào cảm thấy khó chịu, có thể nói là cực kì suôn sẻ. Việc đầu tiên là cô ấy chạy đến kể cho tôi về những kì tích này.
”Tôi phải làm sao để cảm tạ các vị Bồ Tát này?”
”Chỉ cần cúng dường hương hoa ngũ quả là được rồi.”
”Anh không cần tiền sao?”
”Tiền là vật ngoài thân, có hay không có cũng như nhau, tôi chưa bao giờ cầu tiền tài, đủ dùng là được rồi.”

Người phụ nữ ấy quỳ xuống, cúi lạy mấy cái rất thành kính, đồng thời cô ấy cũng đi khắp nơi để tuyên dương sự linh cảm của Bồ Tát. Bồ Tát hiển hiện để cô ấy nhìn thấy là lần đầu tiên trong đời, sự hiển hiện lần này thật sự đủ để khiến cô ấy cả đời khó quên rồi.

Bồ Tát của Từ Huệ Lôi Tạng Tự ở Đài Trung hiển hiện không chỉ một lần, mỗi lần pháp hội đều có những sự việc linh dị phát sinh, thật sự là ghi chép lại không xuể. Những việc này là do tác giả tự nói, có thể mọi người sẽ cho rằng là nói xằng bậy, vậy thì các bạn có thể đến bệnh viện đa khoa đó để tra bệnh án của những người bị cắt thận, trong số đó chắc chắn có một người phụ nữ sống ở cao ốc Hợp Tác, tìm cô ấy để hỏi là rõ ràng ngay.

Một người phụ nữ phải làm phẫu thuật mà có nhiều thần linh như vậy đích thân đến chăm sóc, có thể thấy lòng từ bi của thần thánh, có thể thấy từ tâm cứu người của thần thánh, nhiều Bồ Tát đã nhọc công như vậy để đi cứu giúp một con người mà con người vẫn còn có thể bất kính với Bồ Tát sao? Coi Bồ Tát là mê tín sao? Con người mới là động vật không từ bi nhất đó!


### 40. Khoa học và linh học


Tác giả học cấp ba tại trường Trung học Công Nghiệp, tốt nghiệp khoa Đúc của trường Trung học Công Nghiệp Cao Hùng, tôi học kĩ sư chế tạo khuôn đúc. Thời cấp ba tôi là tín đồ Cơ Đốc, được mục sư Tô Thiên Minh của giáo hội Trưởng Lão Tân Hưng ở Cao Hùng rửa tội, tôi đảm nhận làm thầy giáo của lớp học ngày chủ nhật. Sau khi tốt nghiệp cấp ba, tôi từng đi làm ở nhà máy Nhiệt Điện Miền Nam, sau đó thi đỗ vào trường Trắc Lượng, học bốn năm đại học hệ đo đạc mặt đất (hiện tại đã hợp nhất thành Học viện Khoa học Công nghiệp Trung Chính). Thứ tôi học cũng là bộ môn khoa học công nghiệp, sự giáo dục mà tôi nhận được cũng là giáo dục khoa học. Tôi chưa bao giờ mê tín, cũng không tin quỷ thần, tôi rất chán ghét hòa thượng hay đạo sĩ.

Thế nhưng kể từ khi gặp được kì ngộ linh dị, tư tưởng của tôi đã thay đổi hoàn toàn, tôi sâu sắc nhận rõ sai lầm của mình là đã coi thường linh học, nguyên nhân nằm ở chỗ khoa học là hữu hình, còn linh học là vô hình cho nên đã thừa nhận khoa học và phủ nhận linh học. Sau khi càng ngày càng biết nhiều về linh, tôi đã rất kinh ngạc, thì ra thế giới hữu hình là tạm thời, còn thế giới vô hình mới là vĩnh hằng đó!

Khi vừa ra mắt cuốn sách “Mạn đàm về linh cơ thần toán”, trong vòng một tháng, độc giả gửi đến hơn 500 bức thư, trong số đó có một học giả hồi hương sống tại đường Trấn Tú Lãng ở quận Vĩnh Hòa thành phố Đài Bắc. Trong thư người đó viết thế này:

*“Thắng Ngạn tiên sinh!*

*Tối hôm qua tôi đọc một mạch hết cuốn sách tâm linh của anh, một lúc lâu trong lòng tôi vẫn chưa thể tự chủ được. Tôi còn cảm thấy hết sức hối tiếc vì mình đã không sớm đọc được cuốn sách thần kì có thể xem là phi phàm này của anh. Những tự thuật của anh cho dù là hư cấu thì cũng đã đủ để thu hút người ta rồi, huống hồ lại là những trải nghiệm thật của chính anh. Từ trong những câu chữ, tôi chỉ cảm thấy anh viết rất thẳng thắn chân thành, thật thà chất phác. Tôi mạo muội viết lá thư này gửi anh, chủ yếu là vì tôi đã bị “linh” mà anh nói đến thu hút. *

*Lúc còn nhỏ tôi lớn lên ở một xóm làng gần huyện Nam Môn Kiều ở Đài Trung, nên tôi cũng có nghe được một chút chút những chuyện linh dị ở vùng quê hoang dã, tôi cũng có đôi chút hoài nghi về về tính chân thực của chúng, nhưng chưa dám quả quyết chúng là hư cấu. Trông thấy các ông bà thắp hương lạy Phật với vẻ mặt rất kiền thành, tôi cảm thấy việc này có lẽ là mê tín chăng? Những năm tháng sau này, vì sự nghiệp học hành mà tôi cũng đã bôn ba khắp nơi, đi theo con đường khoa học công nghệ, ra nước ngoài du học, cuối cùng tôi đạt được cái mà người ta vẫn nói là “vinh quy bái tổ”, lúc này tôi lại càng không tin vào tôn giáo. Thế nhưng bản thân tôi trước sau vẫn luôn bị câu hỏi về đời người làm cho băn khoăn, đối với vận mệnh, đối với sinh tử, đối với quỷ thần thì tôi lại càng tò mò. Tôi thường muốn nghiên cứu về kết cục của những điều này, nhưng lần nào cũng vì những điều này không có dấu tích để mà tìm kiếm cho nên tôi chẳng có được gì. Những lời chứng của những người theo đạo Cơ Đốc thường nằm rải rác trong các ấn phẩm của họ, và những người theo đạo Phật cũng vậy. Tuy nhiên, từ góc độ người phi tôn giáo thì dường như thật mà cũng dường như giả, không dám tin bừa. Nhưng cuốn sách “Mạn đàm về linh cơ thần toán” của anh đã khiến tôi chấn động sâu sắc, những ghi chép của anh chẳng lẽ lại là tiểu thuyết dưới ngòi bút của văn nhân sao? Từ trong câu chữ, tôi thật sự nhìn không ra rằng anh đang sáng tác. Tôi chỉ mơ hồ cảm thấy giống như một người bạn cũ đang rủ rỉ nói chuyện, không có một chút gượng ép nào.*

*Những thanh niên trí thức thế hệ này, cái khổ của họ là khó tìm được tín ngưỡng cho bản thân. Khoa học đã vạch trần rất nhiều trò bịp bợm, đã làm sụp đổ rất nhiều hình tượng. Thế hệ trẻ hướng tới phong cách hippie **[lập dị]**, có xu hướng phóng túng, nhưng điều quan trọng nhất là thiếu mất tín ngưỡng. Nhưng khoa học lại không thể chứng minh sự tồn tại và không tồn tại của thần minh. Trong vũ trụ có rất nhiều hiện tượng quái dị của siêu tự nhiên thật sự tồn tại, các nhà khoa học vẫn bó tay, chỉ biết nhìn mà thở dài không có kế sách gì.*

*Đọc xong sách của anh, tôi rất muốn tiếp xúc nhiều hơn với anh, một mặt là để thỉnh giáo anh về những thế giới bên ngoài mà tôi chưa từng biết đến, một mặt là tìm cầu tín ngưỡng cho chính mình. Hiện tại tôi đang dạy ở trường đại học, từ trong cuốn sách của anh, tôi biết anh cũng có không ít bạn bè ở đại học, hi vọng tôi cũng có thể giống như họ có thể trò chuyện cùng anh. Mỗi năm tôi đều về thăm nhà cũ của mình ở Đài Trung vài lần, có lẽ sau này tôi sẽ về nhiều hơn một chút. Cuối cùng, hi vọng lá thư này sẽ không làm phiền anh nhiều.”*

Lá thư này được kí tên là ông Lâm.

Từ lá thư này có thể thấy được lòng khao khát đối với linh học của một phần tử trí thức. Tôi cũng giống như ông ấy, trước khi biết về những huyền bí của linh học thì tôi cũng hoài nghi sự tồn tại của “nó”, thế nhưng đối với vận mệnh, tôn giáo, thần minh thì tôi vẫn không ngừng thích thú tìm tòi. Các bạn thân yêu của tôi ơi! Muốn chứng minh có hay không sự tồn tại của linh, các bạn không cần tìm tôi, tìm tôi cũng uổng công thôi, vì sự tồn tại của linh nằm ở trong chính bạn. Nếu bạn y theo pháp khởi linh mà tôi thuật lại ở trong sách để mà tập khởi linh thì sẽ không có chuyện không thành công. Chỉ cần thành tâm thành ý cầu khởi linh thì thiên hạ không có việc gì khó, nhất định có thể thành công. Lư Thắng Ngạn tôi chưa bao giờ lừa gạt người ta. Nếu bạn học được khởi linh rồi, bạn sẽ kinh ngạc, thiên hạ sao lại có chuyện như vậy, thử mà xem, sẽ biết ngay thôi.

Khoa học không thể phủ định linh học, khoa học là hữu hình, linh học là vô hình, linh học là khoa học của “khí”, khoa học của “tần số”, khoa học của “sóng âm”, khoa học của “tâm linh”, khoa học của “niệm lực”, khoa học của “ánh sáng”, khoa học của “sinh lí”, cần phải hiểu được. Linh là một dạng khoa học của thế giới vô hình, nghiên cứu được về nó thì tự nhiên sẽ hiểu rõ về ngọn nguồn sinh tử của con người, bằng không thì chỉ có mỗi kiếp này, đời người còn có ích gì? Đời người còn có nghĩa gì?

Khoa học và linh học không hề xung đột, khoa học không hề toàn năng, linh học thì lại vô cùng vô hạn.


### 41. Thuyết xuất nhập linh giới


Có một đêm, tôi nhập định quán, tâm thần tôi hoàn toàn neo chắc lại ở giữa mũi. [Định quán là một thuật ngữ Phật giáo, định là tâm định, quán là huệ quán, đây là một quá trình tu luyện kết hợp quan sát suy nghĩ của chính mình và định tĩnh, khi suy nghĩ trong tâm sinh ra thì lập tức loại bỏ, duy trì không nghĩ ngợi, mục đích cuối cùng là đạt đến cảnh giới tâm như nước đứng yên.] Từ ngoài cửa có một cụ già bước vào. Cửa đang khóa trái, vì thế cụ già này vào cửa mà không cần gõ cửa, không cần mở chốt cửa khiến tôi cảm thấy khá kinh ngạc, trong cả nước cũng có cao nhân như vậy sao? Cụ già ấy giống như nhân vật trong tiểu thuyết thường nói, sắc mặt hồng hào, để râu hoa râm, đầu trọc, mặc áo dài, trên đầu không có giới sẹo nên cũng không phải là người xuất gia.

Cụ già vừa đi vào, nhìn tôi một cái rồi ngồi luôn xuống trước mặt tôi, cũng học theo bộ dạng của tôi, chân xếp bằng thành tư thế kiết già, tay vòng vào nhau tạo thành thủ ấn Di Đà, miệng mím lại. Tôi nhìn cụ già nhắm hai mắt, hai mắt vừa nhắm lại thì chỗ lỗ đỉnh đầu từ từ lọt ra một đường ánh sáng trắng, ánh sáng trắng này dần dần ngưng đọng lại và sáng lên, chỗ ánh sáng rơi xuống lại có một cụ già tí hon khác, cụ già tí hon này cũng giống hệt như cụ già đến trước kia. Sau đó, cụ già này ra dấu hiệu cho cụ già kia ngồi xuống thành tư thế kiết già, sau đó thân thể của cụ già tí hon càng lúc càng lớn lên bằng với cụ già đầu tiên. Thế là, một cụ già đã biến thành hai cụ già.

Cũng theo cách thức như vậy, hai cụ già đều có ánh sáng trắng lộ ra, trong ánh sáng trắng lại có hai cụ già bước ra, thế là một thành hai, hai thành bốn, trong căn phòng mà tôi ngồi đã đầy các cụ già vây kín xung quanh tôi.

“Liên Sinh, sư phụ Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh của anh truyền Đạo pháp cho anh, anh có thể linh hoạt giống như ta đây không?” - Cụ già đầu tiên hỏi.
”Đại sư, công lực mà cụ vừa hiển hiện cháu chưa được biết đến. Thần thông hóa thân bên ngoài thân này cũng không phải là thứ mà nhục thể phàm phu này của cháu có thể tu học được, trí huệ của cháu hãy còn nông, không biết lai lịch của đại sư, cũng không biết đại sư vì cớ gì mà tìm cháu, mong đại sư chỉ thị một hai điều.” - Mặc dù tôi đang nhập định quán, nhưng hai tay tôi cũng chắp lại trước ngực, cung kính lễ phép với cụ già phi phàm ở trước mặt tôi. 
”Hóa thân bên ngoài thân này chính là một trong những phương pháp xuất thần rõ ràng và vi tế nhất, ngày nay trên đời đã không có người nào tu được pháp này, hoặc nếu có thì cũng chỉ là xuất thần được mà thôi, không biết có hóa thân bên ngoài thân, như các tiên trời đông đúc cũng không biết thuật pháp rõ ràng và tinh tế này. Ngày xưa Phật Đà có thể từ trong nhục kế của mình tuôn ra trăm ánh sáng trân quý, trong ánh sáng tuôn ra nghìn cánh sen quý, từng cánh sen lần lượt hóa thành Như Lai Thế Tôn ngồi trong hoa sen quý, lần lượt hóa thành Như Lai Thế Tôn nhiều như cát của mười con sông Hằng, và rồi Pháp thân của Như Lai đầy ắp mười pháp giới, công lực này chính là bảo tướng của Pháp thân vô lậu tối thượng rõ ràng và tinh tế, từ linh nhập trí, từ trí nhập linh, chỉ là như vậy mà thôi. Anh hãy suy ngẫm kĩ càng, từ từ lĩnh hội.”
”Đa tạ đại sư.”

“Thần thông xuất nhập của linh dựa vào lực trí huệ, anh cần biết rằng trên thân thể con người có Công Đức Thần giữ các tướng thiện ác, trên thân người cũng có Thần Giữ Xác vô tri ngu muội, các Thần Giữ Xác này canh giữ con đường ra vào của linh. Nếu dùng linh lực vô hình để đối kháng thì vô ích, thật sự chỉ làm tăng phiền não, do đó phải dùng trí để đối kháng, không thể dùng lực. Thần quang trí huệ đích thực sẽ chọc thủng ma chướng của việc giữ xác này, khi linh khí xuất ra tất có ngày thiên thần nghênh đón, nếu đến được bước này thì cũng xem như là thành công rồi! Tự mình đi trên con đường này, không cần phải nương dựa vào thần khác, thần thông xuất nhập vốn là như vậy, ba mươi ba thiên giới tùy ý anh ngao du, không cần phải mượn dùng tha lực nữa. Về vấn đề này anh có biết không?”
”Tu tập linh lực vô cùng này đệ tử từng tu rồi, nhưng đáng tiếc là đã thất bại.” - Tôi thẹn thùng nói.
”Linh xuất nhập ba mươi ba thiên giới đã là không dễ, xuất nhập mười pháp giới lại càng khó hơn. Nếu anh nhất tâm, tâm không điên đảo, tâm trong sáng và thông hiểu sự tình thì một ngày nào đó ắt sẽ thành công. Huyễn cảnh vũ trụ này đều nằm trong tầm mắt, xuất nhập thiền định tùy ý niệm mà vô cùng thần tốc, sau này nếu thành công, lại tu tập phương pháp hóa thân bên ngoài thân này thì sẽ dễ như trở bàn tay thôi.”

“Đại sư là thần thánh phương nào?” - Tôi kính cẩn hỏi thăm.
”Chín vị hợp một thân, thân hóa nghìn nghìn vạn, khắp hư không rộng lớn, từ xưa vốn vô danh, kiến đạo không có đạo, kiến pháp không có pháp, vốn không có nguyên do, cũng sinh cũng diệt định. Anh không cần hỏi lai lịch của ta, trong tên của Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh cũng có ta, trong tên của Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh cũng không có ta, anh hãy tỉ mỉ mà lĩnh hội. Ta đi đây.”

Cụ già vừa dứt lời, trong phòng trở nên trống trải, chẳng hề thấy hình bóng của ông cụ nào cả. Tôi vẫn ngồi kiết già, hai mắt nhắm chặt, cũng chẳng hề mở mắt ra.

Từ những giáo huấn lần này, tôi đã biết được thân phận của cụ già, cũng khiến tôi càng thêm cảnh giác!

“Linh ở giữa, khắp xung quanh đều có linh tính.
Linh ở giữa, trên có thiên đường, dưới có địa ngục.
Linh ở giữa, khi lớn có thể lấp đầy vũ trụ, khi nhỏ có thể ẩn thân trong một hạt cát hạt bụi.
Linh ở giữa, có được thì là Phật, không có được thì là phàm phu.
Linh ở giữa, chúng sinh đều có linh tính.”
Xuất nhập linh giới chỉ dựa vào chính mình.


### 42. Gặp Sơn Thần


Tôi từng đi đo đạc ở ngọn núi kia cùng với Đỗ Thiệu Trí, Vương Diệu Hoa và mấy đồng nghiệp khác. Ngọn núi ấy tương đối cao, từ chân núi leo lên đến đỉnh núi mất một tiếng đồng hồ. Khi quan trắc nếu gặp phải mây mù dày đặc trên núi thì sẽ không nhìn thấy cờ ở ngọn núi đối diện, và như vậy sẽ uổng công leo núi. Chúng tôi leo lên núi này liên tục hai lần nhưng kết quả đều phí công vô ích. Tại điểm tam giác trên đỉnh núi nhìn xuống, chao ôi, cả một thế giới màu trắng rộng lớn, ngay cả ngọn núi phía bên kia cũng không biết ở chỗ nào. Mấy sĩ quan nhiều tuổi vác thiết bị đo đạc lên núi rồi lại xuống núi vì bực bội mà trong bụng tức anh ách, mở miệng ra là muốn chửi rồi. Kể cũng lạ, dưới núi rõ ràng là nắng chói chang, nhưng trên núi thì không khí ẩm ướt dày đặc đến mức không thể nhìn thấy gì cả.

Lần thứ ba lên núi, cũng leo lên được nửa ngọn núi thì trời đổ mưa tầm tã, gió thổi mưa bay, mây trên bầu trời càng ngày càng dày đặc, không biết bao nhiêu mây đen từ nơi nào kéo đến tụ tập hết trên đỉnh núi này rồi mưa trút xuống ào ào xối xả, lại còn có cả sấm chớp nữa. Lưng chừng núi có một ngôi nhà, chúng tôi trú nhờ trong ngôi nhà tranh đó, trong lòng nghĩ lại mất công toi rồi. Năm, sáu người đi vào trong ngôi nhà tránh mưa, trong nhà có một bà cụ rất già đi ra, bà cụ chiêu đãi chúng tôi rất lịch sự, hơn nữa còn mời chúng tôi buổi trưa ở lại nhà bà ăn cơm. Chúng tôi cảm ơn ý tốt của bà cụ, nhưng vì chúng tôi đều mang theo cơm hộp cho bữa trưa rồi cho nên sao có thể không khách sáo mà nhận lời khi chỉ tình cờ gặp gỡ như vậy chứ!

Bên ngoài trời vẫn mưa xối xả, gió lạnh ra sức thổi vào trong nhà. Ngôi nhà tranh này có một phòng khách, hai phòng ngủ và một nhà bếp, phía sau nhà bếp còn nuôi mấy con gà. Tôi đứng trong phòng khách mà còn cảm nhận được cái lạnh lẽo âm u, trong lòng tôi cảm thấy kì quái. Bình thường gió núi thổi đến không hề cảm thấy lạnh, hôm nay sao lại có chuyện thế này. Lần thứ hai bà cụ từ phòng ngủ đi ra phòng khách, tôi bỗng nhìn thấy sau lưng bà cụ hình như có một người phụ nữ, người phụ nữ này có vẻ giống như là con gái của bà cụ, tuổi khoảng ngoài ba mươi, tay vẫn còn nắm lấy tay bà cụ.

Tôi quay đầu lại nói với mấy người bạn đồng nghiệp của mình: “Này, trong ngôi nhà này có âm khí, con gái của bà cụ mới chết không lâu.”
”Lư Thắng Ngạn, cậu đừng có dọa người ta được không, làm gì có âm khí gì, đây là trời mưa, đương nhiên là trong phòng sẽ lạnh thôi!” - Sĩ quan trưởng Trương Chí Minh nói. 
”Để tôi đến hỏi bà cụ, chẳng phải là sẽ rõ ràng sao?” - Một bạn đồng nghiệp tên là Trương Khắc Hỉ nói.
Trương Khắc Hỉ hỏi:
”Bà ơi, bà có mấy cô con gái thế?”
”Tôi có cả thảy ba đứa con gái, một đứa đã đi lấy chồng ở Đài Bắc, một đứa làm quản đốc ở một xưởng thủy tinh ở Tân Trúc, còn một đứa sống trong núi này, nhưng đứa con gái này xấu số, năm ngoái đã mắc bệnh và qua đời rồi. Hôm nay đúng là ngày giỗ nó, lát nữa tôi sẽ cúng giỗ, vì thế mới muốn mời các anh ở lại dùng cơm với tôi, các anh ở lại có được không?”

Trương Khắc Hỉ kia nghe xong thì toàn thân nổi da gà, khiến cho mấy người nghe được thì đều đứng ngồi không yên. Thật may trời mưa một lúc đã tạnh rồi, chúng tôi tiếp tục xuống núi. Con đường xuống núi ướt rườn rượt, rất khó đi, tôi nhặt một cành tre để làm gậy chống. Lúc sắp ra khỏi núi thì tôi nhìn thấy một cảnh tượng kì quái, dường như đường núi đã hết rồi, phía trước không có đường đi, phía cuối con đường có một miếu Sơn Thần nhỏ, có một người trẻ tuổi đang ngồi trên tảng đá phía trước miếu, người đó cười nói: “Một chút việc thiện, thuận tiện cho người, một chút việc ác, khuyên người đừng làm, ăn mặc tùy duyên, tự nhiên vui vẻ, nay Sơn Thần tôi, đặc biệt giúp anh, mau mau quay đầu, đo đạc rõ ràng.”

Sơn Thần kia hát xong thì biến mất. Tôi chạy lên phía trước nói với mọi người: “Bây giờ mưa tạnh rồi, nhưng công việc hôm nay vẫn chưa hoàn thành, chúng ta lại lên núi đi! Đo đạc cho xong địa điểm này, sau này không phải leo lên ngọn núi này nữa.”

Lúc này mọi người xì xào bàn tán, có người nói: 
”Trên núi vừa mưa xong, leo lên đó lại không nhìn thấy gì thì uổng công leo.”
Có người nói:
”Leo lên lại leo xuống, bây giờ lại leo lên, vậy thì lúc đầu đừng đi xuống nữa, bây giờ lại phải đi lên, chẳng phải là cố tình lừa người ta sao?”

Tranh luận một lúc, kết quả là Vương Diệu Hoa đề nghị lại leo lên một chuyến nữa. Anh ấy là người dẫn đầu, không ai có thể phản đối. Có người nói:
”Leo lên mà vẫn không đo được thì tìm Lư Thắng Ngạn tính sổ.”
Thế là một hàng người lại leo núi, lại đi qua sông, leo đến lưng chừng núi lại nhìn thấy ngôi nhà tranh, lên cao nữa lại là một hàng cây tương tư, đi đến lúc chẳng còn đường nữa, lên cao nữa thì mới là điểm tam giác trên đỉnh núi. Nói ra cũng kì lạ, vừa mới bày dụng cụ lên giá, mặt trời đã ló ra vài tia nắng, mây mù đã tản ra, đỉnh núi đối diện mặc dù vẫn còn là một vùng trắng mênh mông nhưng đã nhìn thấy được hình dáng ngọn núi, nhìn qua ống kính đo đạc, chúng tôi đã nhìn thấy lá cờ nhỏ màu đỏ đang bay phấp phới trong gió. Trắc lượng viên ngay lập tức tóm được tia nắng khó có được này để mà đo đạc một vòng, đúng là một lần đo đạc hiếm có, muốn đo một lần nữa để kiểm tra lại, nhưng bầu trời lại bắt đầu lất phất mưa nhỏ. Chúng tôi lại vội vàng thu dọn dụng cụ, khẩn trương xuống núi. Khi xuống đến chân núi thì lại là một trận mưa dữ dội trút xuống. Chúng tôi thở hắt ra một hơi, lần đo đạc này thế là quá đủ rồi.

Tôi nhìn thấy Sơn Thần, tôi vẫn không kể với ai việc Sơn Thần bảo chúng tôi mau trở vào núi để đo đạc. Nói thật, ngay cả việc Sơn Thần trông như thế nào tôi cũng không nhìn được chính xác. Tôi gặp Thổ Địa Công là chuyện bình thường, nhưng gặp Sơn Thần thì chưa bao giờ, chỉ có duy nhất một lần này. Tôi hi vọng có người sẽ nói cho tôi biết Sơn Thần rốt cục có bộ dạng như thế nào.

Hai sự việc này đều xảy ra trong cùng một ngày.


### 43. Chúa Jesus là người linh thông


Chúa Jesus là do Thánh Mẫu Maria sinh ra, và Maria chính là trinh nữ hoài thai. Khoa học có thể chứng minh trinh nữ có thể mang thai không? Khoa học không thể, vì thế, đứng trên lập trường của khoa học thì sự ra đời của Jesus chính là một dấu hỏi lớn. Nhưng nếu nhìn từ góc độ linh học thì điều này có thể, bản thân Thượng Đế chính là một khối linh khí siêu tự nhiên vô hình, linh khí ấy đã mượn nhau thai của Maria để mà lớn lên, vì thế mà đã sinh ra Jesus Christ giáo chủ của phương Tây. Đây là giải thích về sự ra đời phi phàm của đấng cứu thế, đấng cứu thế từ khi sinh ra đã có điềm lành, chủ yếu vì một nửa là do linh khí sinh ra.

Chúa Jesus có rất nhiều sự tích thần kì, lần đầu tiên là biến nước thành rượu, có hai con cá và một chiếc bánh mà bao nhiêu người ăn mãi không hết, rồi có thể đi trên mặt biển. Nhưng phép lạ lớn nhất là gọi Lazarus sống lại, sau cùng thì chính mình cũng hồi sinh và thăng thiên, trở về nơi nguồn cội của mình ở trên trời. “Ta đến từ nơi nào thì sẽ trở về nơi ấy.” Về phương diện này, tôi có một nhận thức là, Đạo gia cũng nói như vậy: “Phản bản hoàn nguyên.” Phật giáo cũng nói như vậy: “Chúng sinh đều có Phật tính.” 

Nói về phương diện thần kì của Jesus thì các nhà khoa học sẽ cho rằng căn bản là không thể, nước làm sao có thể trong một chốc mà biến thành rượu được! Hai con cá và một chút bánh làm sao có thể khiến cho nhiều người ăn no được chứ! Nhưng những việc này trên phương diện linh học thì có thể giải thích được, hơn nữa còn giải thích được rất rõ ràng nữa. Jesus đi trên mặt biển, vì sao Jesus có thể đi trên mặt biển? Vì Jesus là một người linh thông, ngài có số mệnh không phải là phàm phu, mà là linh, linh khí của ngài khiến nhục thể của ngài dừng lại trong không khí mà không bị chìm xuống. Việc đi trên mặt biển này đối với các nhà khoa học mà nói thì đúng là không thể tưởng tượng được.

Trong kinh Thánh ghi lại rằng Jesus gặp ma quỷ ở trên núi thử thách. Tình huống này giống với tình huống Phật Đà thành đạo ở dưới gốc cây bồ đề, hoặc nhiều hoặc ít cũng tương tự nhau. Bình thường Jesus có thể nghe thấy tiếng gọi của Thượng Đế, cũng có thể nghe được cả những lời cám dỗ của ma quỷ, nhìn thấy ma quỷ hiển hiện tài bảo trên toàn thế giới để đem tặng cho ngài, thậm chí ma quỷ còn đưa Jesus phi thân đến bên trên một bảo tháp và nói với Jesus rằng: “Nếu ngài là con trai của Thượng Đế, ngài nhảy xuống chắc chắn sẽ không bị thương, bởi vì Thượng Đế sẽ đỡ lấy hai chân ngài.” Jesus tiếp nhận thử thách của ma quỷ, đã thắng lợi vẻ vang. Tôi cho rằng đây là kỉ niệm thắng lợi chiến thắng tà linh.

Năm xưa Phật Đà cũng gặp tình huống như vậy xuất hiện. Phật Đà quay lưng về phía cây bồ đề, mặt quay về hướng đông, đã phát lời thề nguyện lớn: “Cho dù da thịt xương tủy của tôi đều khô kiệt thì tôi cũng vui lòng. Cho dù máu thịt trong người tôi khô cạn, trừ phi tôi đạt được chính đẳng chính giác chí cao vô thượng, tôi quyết không rời khỏi chỗ ngồi này.” Lúc này, Ma Vương ở trên trời sửng sốt gào lên: “Thái tử Tất Đạt Đa [Siddhartha] muốn thoát khỏi sự kiểm soát của ta, ta tuyệt đối sẽ không cho phép!” Ma Vương thổi bùng lên một cơn gió lớn muốn thổi bay Phật Đà, rồi lại tạo ra một trận mưa lớn, rồi từ không trung giáng xuống nham thạch, giáng xuống tro than nóng bỏng, khiến cả mặt đất tối tăm mù mịt, rồi dùng cả cách thức mê hoặc, nhưng kết quả đều bất thành.

Thế rồi trên mặt Thế Tôn xuất hiện ánh sáng hào quang trang nghiêm, thần thánh, rồng, tiên, chim trên trời và các thiên chúng đều dùng hoa thơm, hương liệu gửi đến ngài thay cho lời chào, thiên nhạc vang vọng khắp hư không, một vạn thế giới đều tràn đầy tiếng ca tán thán.

Chúa Jesus và Phật Đà, cả hai đều chiến thắng ma quỷ, kết quả và sự khởi đầu là giống hệt nhau, thắng lợi này là thắng lợi của trí huệ, nhưng cũng là thắng lợi của thánh linh. Trong tim của Jesus có thánh linh nhân từ và yêu thương, trong tim của Phật Đà cũng có thánh linh nhân từ và yêu thương, đây đều là thắng lợi của thánh linh, không có một chút nghi ngờ nào cả.

Thần thông Jesus Christ gọi Lazarus sống dậy đối với tôi mà nói là một dạng quyền uy vô thượng, người đã chết mấy ngày rồi, Jesus dùng một phần phân thân hoạt linh của mình để tác động đến “linh chết” của Lazarus, kết quả là Lazarus đã sống lại, có thể cử động, điều này còn khó hơn cả việc chính mình sống lại. Những nhà nghiên cứu về linh hồn nên đặc biệt coi trọng điểm này. Hoàn toàn hợp lí khi nói rằng Jesus sống tại nhân gian này là có sứ mệnh, ngài chuẩn bị làm công việc cứu người và cả công việc cứu linh. Cuối cùng, trong khu vườn Gethsemane, ngài đã cầu nguyện thần linh trên trời (và Đức Chúa Cha của mình) rằng: “Nhiệm vụ sắp hoàn thành. Tất cả đều theo ý của Chúa.” 

Việc Chúa Jesus bị đóng đinh trên thập tự giá cho thấy sự ngu dốt và độc ác của con người, và cũng cho thấy rằng trái tim của nhân loại thực sự nên được làm trong sạch. Tôi không ngạc nhiên về việc Chúa Jesus có thể phục sinh, bởi vì ngài là một người linh thông, một người đã chấm dứt sinh tử, và một người đã đắc Đạo. Ngài vốn đến từ thiên đường, và ngài cũng muốn trở lại linh giới vô hình. Vì thế Phật gia cho rằng việc chấm dứt sinh tử của Jesus Christ, sự ngộ đạo của Jesus Christ có thể gọi là kẻ ngoại đạo thắng lợi, cũng là một trong số các vị Bích Chi Phật.

Jesus có thể đối thoại với cõi trời bất kì lúc nào, có thể dự báo trước việc chưa xảy ra, hiểu đạo vận linh, những sự tích thần kì biểu hiện ra cũng rất huyền diệu chẳng thể đoán biết, khiến các nhà khoa học không thể hiểu được, và chẳng có cách nào chứng minh. Những việc này đều là minh chứng của linh lực, Jesus Christ không phải là người linh thông thì còn là cái gì chứ! Sau khi Jesus chứng được thần túc thông cũng có thể tự do tự tại thăng thiên, tôi tin rằng linh của ngài cũng chiếu khắp đại địa, ngài không phải là vĩnh viễn không đến, mà là đã đến từ lâu rồi. Tín đồ Cơ Đốc không biết việc linh thông, đương nhiên không nhìn thấy và cũng không nghe được.

Tôi từng gặp Jesus một lần, ở Phong Nguyên [một quận ở Đài Trung], thật đó.


### 44. Ấn chứng khởi linh


Độc giả đã đọc cuốn sách này đến tận đây, có lẽ sẽ muốn hỏi tôi một câu, anh cứ chỉ nói người ta khởi linh, rốt cục có người nào thật sự từng thành công không, có nhân chứng không. Tôi nói nhân chứng nhiều như cát sông Hằng, nay tôi đặc biệt lấy vài lá thư để làm chứng.

Thứ nhất:
*Lư linh sư! Mua được cuốn sách tâm linh này của thầy, thỉnh thoảng tôi lại nghiên cứu tìm tòi vài chương, tôi cảm thấy khá hiếm và lạ, đặc biệt là phần khởi linh trong sách khiến tôi có ấn tượng sâu sắc. Tôi vốn phủ nhận thuyết có linh hồn, nhưng lần này thì không tin không được. Mấy ngày trước kẻ hèn này đã làm theo phương pháp trong sách, thật là lợi hại không ngờ, sau mười lăm phút, tôi không có cách nào tự kiểm soát được tay mình múa may, chân bước đi. Khi ấy tôi đã giật mình sửng sốt, thiên hạ sao lại có chuyện này, nhưng đến lần thứ hai cầu khởi linh thì tôi cũng lập tức có cảm ứng. Hiện tại tôi đã biết khởi linh rồi, nhưng tôi là người học sau nên muốn thỉnh giáo mấy việc.*

*Thứ nhất, sau khi khởi linh thì luyện linh, vận linh nên làm thế nào, một ngày làm mấy lần là tốt?* (Đáp: Hãy luyện linh và vận linh theo cuốn sách “Giữa linh và tôi” này của tác giả, xin hãy lợi dụng sức mạnh siêu nhiên của niệm lực, nên luyện linh mỗi ngày một lần.)

*Thứ hai, ngũ tạng trên người tôi có bệnh đặc biệt, liệu có thể luyện linh không, có ảnh hưởng gì không?* (Đáp: Người có thể khởi linh thì có thể tự chữa được các loại bệnh trên người mình rất hiệu quả, cái này cũng chính là hiệu quả của Dịch Cân Kinh của Tổ sư Đạt Ma, khiến cho người có bệnh thì trị bệnh, người không bệnh thì khỏe thân, vượt trội so với kĩ thuật vung tay vận động đơn giản hiện nay trăm lần, vung tay là do người làm, còn linh động là do linh làm, sức mạnh ấy lớn không thể coi thường.)

*Hai sự việc trên xin thỉnh linh sư chỉ bảo, hi vọng cuốn kì thư hiếm có trên đời này có thể được liệt vào một trong số những cuốn sách thay đổi thế giới của năm 1976, được như vậy thì càng khiến người ta phấn khởi.”*

Lá thư này được gửi từ Quy Nhân, Đài Nam. Kí tên là Thái Minh Thanh.

Thứ hai:
*Lư tiên sinh! Ngày 29 tháng 3 tết Thanh Minh, khoảng hơn 1 giờ chiều, chúng tôi đặc biệt đến Đài Trung để thăm hỏi anh, chắc là anh vẫn nhớ nhỉ!*

*Sau khi trở về, tôi khích lệ một cô gái trong công ty của tôi tên là Lâm Mai Nam đi thỉnh giáo anh (cô Lâm đã biết khởi linh). Mỗi ngày cô ấy đều hạ công phu, hiện tại sắc mặt đã hiện lên khí sắc sáng sủa (trước kia sắc mặt rất tối), thân thể cũng tương đối khỏe mạnh, tại đây xin cảm ơn anh. Hơn nữa sau lần gặp ấy, chúng tôi cũng hạ công phu, anh Thanh Uyên thiền định, vừa ngồi xuống là lập tức có cảm ứng, còn tôi thì có quá nhiều tạp niệm, tâm không tập trung, vì thế không có cảm ứng gì, nhưng mỗi buổi tối tôi đều học hạ công phu, thậm chí nửa đêm ngồi dậy luyện tập. Rất kì diệu, tối hôm qua tôi ở chỗ anh Thanh Uyên hạ công phu, lúc anh Thanh Uyên khởi linh thì hai mắt mở to, tôi cứ ngồi đó bất động, chắp tay trước bàn thờ Thần Phật. Đột nhiên, sắc mặt anh Thanh Uyên thay đổi, đứng bật dậy, uy nghiêm nói: “Ta chính là linh quang của Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn, phụng chỉ Diêu Trì Kim Mẫu, linh quang hạ phàm trần giúp anh Trần Thụy Ngạn khởi linh, vì anh học khởi linh đã lâu rồi mà chưa thể thông khiếu, huyền quan chưa mở, ta thấy anh nhất tâm thành ý, đặc biệt giúp đỡ anh một tay.” Thế rồi kết ấn và đánh một bài 36 Thiên Cang 72 Địa Sát. *

*Nghe nói nhân quả kiếp trước của tôi không tệ, nhưng cũng phạm vào tội cực ác cho nên nghiệp chướng rất nặng, khai mở linh khiếu không dễ. Đêm ấy tôi trở về nhà thì đã là 1 giờ sáng rồi, không ngủ được, tôi lại xuống phòng khách ở tầng dưới, ngồi xuống và dụng công. Nói cũng kì lạ, hai tay tôi chắp lại không ngờ có thể tự động chuyển động. Tiếp đó, một sức mạnh kì lạ thúc đẩy tôi đứng lên, tôi làm rất nhiều tư thế, từ lúc 1 giờ sáng cho đến 3 giờ sáng, toàn thân toát mồ hôi như tắm, nhưng tinh thần thì vô cùng sung mãn. Buổi trưa hôm sau, chúng tôi đến cung Thành Hoàng ở thành phố để bái tạ Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn cùng hai vị Nam Đẩu Bắc Đẩu Tinh Quân ở hai bên, rồi tôi cũng quỳ lạy Thiên Thượng Thánh Mẫu ở điện phía trước (nghi thức quỳ lạy đều do linh lực tự động thúc đẩy), thật là kì diệu. Tôi có mấy nghi vấn xin tiên sinh hồi đáp, cảm kích muôn phần.*

*Thứ nhất, trước mắt, linh của chúng tôi đã được khai mở rồi, nếu luyện tập thì một ngày mấy lần?* (Câu trả lời như ở trên.)

*Thứ hai, phương pháp luyện linh ra sao? *(Câu trả lời như ở trên.)

*Thứ ba, Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn chỉ thị rằng nhân quả kiếp trước của tôi rất tốt, nhưng vì sao lại phạm vào việc đại ác chứ?* (Đáp: Ngay cả đến thiên chúng của 33 cõi trời, thiên thần hoặc thần hoặc rồng, nhân quả tiền kiếp đều chẳng kém, nhưng nếu phạm tội thì cũng đọa thẳng vào trong đạo địa ngục ngạ quỷ, cao quý như thiên thần cũng xuống địa ngục, bởi vì tất cả nghiệp báo không có sai biệt. Anh có thể sinh ra làm người cũng xem như là không tệ rồi.)

*Thứ tư, tôi có thể thường xuyên đến Thiên Hoàng Cung tham bái không?* (Đáp: Có thể.)

*Thứ năm, sau khi linh khởi động rồi, liệu có thể có tà ma xâm nhập không? *(Đáp: Tâm chính không sợ ma, tâm tà sẽ chiêu cảm ma tới, nếu tâm chính, chính niệm chính tri chính giác thì lấy đâu ra ma chướng? Nếu tâm bất chính thì đừng học khởi linh cho xong, bởi vì sẽ là tự mình gọi ma đến đó.) 

Lá thư này gửi từ quận Tiền Kim, Cao Hùng. Người gửi là Trần Thụy Ngạn, Trương Thanh Uyên.

Chỉ lấy đơn cử hai lá thứ này là có thể biết đại khái tình hình của họ. Người khởi linh ở khắp các địa phương thành phố trong cả nước đều có, không phải là nói suông, linh lực của họ có lớn có nhỏ, nhưng tuyệt đối đừng chạm đến những thứ quái hoặc dị, phải biết rằng quái hoặc dị đều có ma tướng xuất hiện, xin đặc biệt thận trọng kĩ càng, không được xem là trò đùa.


### 45. Người có trí tuệ sẽ tin tôi


Phần đông những bậc trí giả thì tuyệt không tùy tiện phủ nhận sự tồn tại của linh, vì họ biết nhưng không nói, hoặc không biết thì là không biết, không dám tham gia bình luận bừa. Chỉ có một số người căn bản là chẳng có nghiên cứu gì, không biết mà tự cho là biết, hoặc nhắm mắt phụ họa theo người khác nói là mê tín, hạng người này đâu đâu cũng có, vẫn là vì họ không nghe không thấy, tuy thật đáng buồn nhưng cũng không thể trách họ, họ chỉ là tùy tục mà thôi.

Ở miền Trung có ông Tôn Nhã Ngu là biên tập viên của một tờ báo nọ đã đặc biệt gửi thư cho tác giả, bức thư này có trí huệ lớn, tôi đặc biệt công bố ở đây.

*Thắng Ngạn tiên sinh! Chúc anh và gia đình luôn bình an. *

*Mấy ngày nay tôi có vinh dự đọc được cuốn sách “Mạn đàm linh cơ thần toán” của anh, nhìn ảnh chụp ở bìa sau, tôi có cảm giác gương mặt anh rất quen, nhưng không nhớ ra đã từng gặp anh ở đâu rồi. Thật vui mừng khi có một ngày cùng anh tâm sự. Đối với nghiên cứu thảo luận về linh, tôi không những tin tưởng mà còn có cùng sở thích giống anh, nhưng tôi muốn phát triển một lĩnh vực mới trên phương diện triết học. Đến nay tôi vẫn chỉ với tay được đến triết lí, còn thì vẫn chưa hạ công phu trên phương diện này được. Hiện tại anh đã có linh cảm rồi, lại còn biểu hiện cả ví dụ thực tế, có thể thấy là anh đã hạ không ít công phu rồi, có thể nói trong nửa cuối thế kỉ 20 này, anh là người đầu tiên của Trung Quốc Tự Do **[tên gọi của Đài Loan thời kì Chiến Tranh Lạnh]** hạ tâm huyết nghiên cứu về phương diện này. Tôi muốn nói rất nhiều về vấn đề này, nhưng hiện tại tôi khá bận rộn, nên đại khái tôi đưa ra vài điều:*

*1. Tri thức này gần như là kinh điển của thời lập quốc, bởi vì nó bắt nguồn từ trung tâm cuộc sống nguyên thủy của con người sơ khai, không chịu sự tác động của con người nên có cơ sở vững chắc. Có thể nghiên cứu tri thức này thành một môn học thuật có hệ thống.*

*2. Mặc Tử, nhà tôn giáo đầu tiên của nước ta muốn phát huy nghĩa lí của tôn giáo, nhưng đã bị hạn chế bởi lễ giáo nên chỉ dừng lại ở phạm vi đạo đức. Lại vì Mặc gia thiên về khoa học thực chứng, cũng chưa có những nghiên cứu thảo luận cụ thể về mặt triết học, vì thế nước ta vẫn chưa sáng lập được một tôn giáo hoàn chỉnh.*

*3. Hoài Nam Tử là cuốn sách đầu tiên của nước ta đi vào lí thuyết huyền bí của tôn giáo, nhưng nó cũng thiếu một quy mô tôn giáo hoàn chỉnh, và chỉ mở ra cánh cửa cho **hóa học** và đan đỉnh. Lí thuyết cũng có khá đủ nhưng chưa sẵn sàng, nên cũng rất đáng tiếc.*

*4. Bão Phác Tử thì đi hướng về con đường của đan đỉnh và tu tiên luyện tính, nhưng chưa khai phá một lối đi mới, mà chỉ nhặt nhạnh một số lí thuyết về thiền của Phật gia. Cho nên Cát Hồng Khấu Khiêm đã mượn các quy định nghi thức trong phái của ông và cuối cùng chỉ kết hợp với phù lục vốn có ban đầu. Vì thế Đạo gia có rất nhiều phái. Những nghĩa lí mang tính bước ngoặt tiên nghiệm đều chưa được phát huy, thay vào đó, chúng chỉ hạn chế trong công phu độ người của các công đức siêu độ thông thường mà bỏ qua sự mở đường của việc tự độ mình và xây dựng hệ thống triết học, điều này thật đáng tiếc.*

*5. Từ trong cuốn sách, tôi thấy được trí huệ sâu dày của anh, tiềm năng linh tính của anh vẫn chưa được khai thác và phát huy hết, nhưng cái gốc rễ vốn có của anh đã rất sâu xa rồi, bây giờ giống như là anh mỗi ngày bỏ ra một, hai tiếng đồng hồ để nghiên cứu linh trí và tĩnh tu tâm linh, để lưu lại cho đất nước chúng ta triết học về linh thông cho muôn đời sau, khiến con người và linh hợp nhất, trời và người hợp nhất, tri thức và thực hành hợp nhất,… Anh đang vì những chúng sinh có tinh thần rỗng tuếch phổ biến trên thế giới ngày, những kẻ không có chân lí rõ ràng và đang tự hủy hoại thể xác trong khi dục vọng ngày càng điên rồ mà xây nên một cây cầu, xây nên một bờ đê, chứ không phải chỉ là giải quyết một cách vụn vặt những nghi vấn mà bao nhiêu người gặp phải nhưng không tháo gỡ được mà thôi - vấn đề của thế hệ trước như thế, thế hệ này cũng như thế, thế hệ sau cũng như thế. *

*6. Tôi và anh là tri kỉ, nhưng một khi đã “nói” là bạn thì sẽ phơi bày lòng mình ra, tôi cho rằng năng lực giác ngộ của anh cao hơn người bình thường, chắc sẽ không hiểu sai lời của tôi mà vui lòng nhận cho. Ý tôi đã hết, sau này nếu tiện thì có thể gặp mặt. Xin hãy tiếp tục viết sách.*

Ông Tôn Nhã Ngu là phó biên tập của một tờ báo. Cho đến thời điểm tôi viết bản thảo này, chúng tôi vẫn chưa từng gặp mặt. Vì tôi thường gửi bản thảo đến tờ báo đó, đăng tải một vài bài viết nhỏ, cho nên tôi biết là có ông ấy và ông ấy biết là có tôi. Từ lá thư của ông ấy có thể thấy đương nhiên ông ấy không phải là hạng này nọ, không chỉ như vậy, ông ấy còn là một người có trí tuệ lớn và tài cao. Quan điểm độc đáo của ông ấy vượt quá tầm hiểu biết của tôi, sau khi được ông ấy nhiều lần chỉ ra, có thể nói là ông ấy là một người bạn kiêm người thầy tốt của tôi. Cuộc đời quý ở những bạn bè hiểu biết sâu rộng, hiểu biết sâu rộng thì sẽ có ích với tôi, ông ấy là một trong ba kiểu bạn tốt. 

Từ đây có thể thấy, tông phái linh học chính là triết học văn hóa mà nước ta vốn có, cũng xem như là một dạng ấn chứng chí lí của trời người hợp nhất. Vì sao Đạo gia Trung Quốc không thể hoằng dương đi khắp thế gới, không phải là vì Đạo không giỏi mà chính là vì nhân tố con người, một chữ “Đạo” chính là “chân lí”, và một chữ “Phật” là “người tỉnh”, là “người tỉnh ngộ ra chân lí”, hay là “chân lí đến làm người tỉnh giác ngộ”. Thiên hạ này không thể xem thường chí đạo, việc phát dương tông phái linh học đều dựa vào chúng ta xây dựng, thuật trời người hợp nhất vốn có từ xưa sao có thể tùy ý vứt bỏ không thèm đoái hoài chứ! Chỉ mong người có tâm có thể góp sức với tác giả một tay, vì sự nghiệp hoằng dương đạo chính thống của Trung Hoa mà nỗ lực. (Đương nhiên, có người giúp tôi thì càng tốt, không có người giúp tôi, tôi vẫn sẽ tận lực mà làm, với tất cả hơi thở của tôi cho đến ngày tôi chết.)

Người trí sẽ không mất hi vọng ở tôi, người trí sẽ tin tôi, cho dù nhân gian không thèm nhìn tôi, tôi vẫn có Thần linh ở hư không và những linh hồn thiện làm bạn cùng tôi.


### 46. Dùng thánh lí độ hóa là việc kì công


Trước mắt, đối với tôn giáo, tôi không có sự bám chấp vào tông nào phái nào, tôi khá yêu thích những bài viết với lời thiện khuyên đời của các tông phái. Có một số loan đường dùng thánh lí để độ chúng sinh, cũng hợp với thiên cơ diệu số, vì đất nước chúng ta nằm ở khu vực Trung Nguyên, đều là mảnh đất của ngũ giáo hội hợp, cái vĩ đại của Trung Quốc chính là ở đây, không bài xích bất kì tôn giáo nào, đồng hóa bất kì tôn giáo nào, đây đều là do văn hóa của chúng ta sâu xa rộng lớn, không giống các quốc gia khác tâm địa hẹp hòi, dung nạp bản thân mà không dung nạp người khác.

Có một vị phục vụ còn trẻ tuổi ở loan đường gửi đến một lá thư nói về huyền cơ của Tam giáo [Đạo giáo, Nho giáo, Phật giáo], khá thấu triệt, cậu ấy hi vọng tôi sẽ không đăng bài viết của cậu ấy, nhưng không đăng bài viết này thật sự là trái với ý thần, vì thế tôi sẽ giấu đi họ tên của cậu ấy, giấu tên loan đường, để chúng sinh chúng ta biết loan đường làm những công việc thế nào, lí tưởng mà chúng ta tôn sùng rất đáng kính phục đó!

Tôi thật sự không mong nghe thấy các tín đồ Cơ Đốc giáo nhìn thấy con người bái Phật bái thần thì chế giễu cho là bái tượng gỗ và tin tà thần. Tôi lại càng không mong nhìn thấy tín đồ Phật giáo nói lời coi thường thần minh, nói hòa thượng vĩ đại hơn thần, và đều gọi các giáo phái khác là ngoại đạo. Tôi càng không mong tín đồ Đạo giáo chỉ muốn đến xem kê đồng lên đồng, nghe và tin theo những lí lẽ lệch lạc nói xằng nói bậy, rồi phê bình Cơ Đốc Thiên Chúa. Tôi cũng không mong nghe thấy tín đồ Thiên Chúa giáo phê bình tín đồ Cơ Đốc giáo là những kẻ phản giáo đồ của Thượng Đế. Tôi lấy cái thiện để tôn kính, lấy Phật Đà làm nơi nương dựa quy về, chỉ cần là thiện thì đều có con đường có thể đắc đạo.

Thư của vị đại đức ở loan đường kia như thế này:

*Thắng Ngạn đạo trưởng xin có lòng soi xét. *

*Cơ duyên tình cờ vinh hạnh đọc được cuốn sách tâm linh kì diệu của anh, tôi cảm thấy hết sức tuyệt vời, đúng là một cuốn kì thư hiếm có trên đời! Kẻ vụng về này cũng không hẳn là tò mò, chỉ là thích kết thiện duyên rộng rãi mà thôi! Từ trong cuốn sách, tôi kính cẩn thấy rằng anh là một người không hề bình phàm, hơn nữa còn là một dị nhân tràn đầy linh khí. Càng đáng quý hơn là anh đã dùng diệu pháp linh thông để thay trời tuyên hóa, dẫn mê nhập ngộ, tùy duyên cứu đời độ chúng! Không nhận tiền bạc, dù tuổi đời của anh mới chỉ 30, nhưng lại là con người đường hoàng vĩ đại, diệu bút sinh hoa, văn chương sáng ngời, thật đúng là kiếp trước có tu, kẻ vụng về này biết sứ mệnh mà tiên sinh hạ giáng thế gian này không phải là chuyện vừa!*

*Kẻ vụng về này cũng còn trẻ, tuổi tác kém anh vài năm, mang tâm Phật mà ôm chí hướng độ hóa cứu đời, trước kia đã có lời thề nguyện, nay phục vụ tại loan đường, tôn chỉ của kẻ hèn này vẫn là dùng lí để độ chúng, dùng chính tín để dẫn dắt người mê, vì mọi người đồng bào mà phục vụ, nhưng chẳng hề trông chờ mục đích nào khác. Thế gian ngày nay, nếp xưa không còn nữa, trời người lo âu bận bịu bôn ba độ hóa, kẻ vụng về này nghĩ chúng ta đều cùng một thế hệ thanh niên, hơn nữa còn biết nỗ lực thực hành tu đạo, trong lòng ôm chí lớn, coi trọng trách của thiên hạ là nhiệm vụ của mình, tóm lại đều là người có duyên được trao trong trách đặc biệt, thiên mệnh là phấn đấu vì nhân dân. Một thế hệ già đã dần dần đi xa rồi, một thế hệ trẻ nếu thiếu đi người cầm gậy tiếp nối thì làm sao tiếp tục kế thừa và làm cho phong tục và truyền thống của Đạo muôn đời xanh tươi được chứ?*

*Cảm phiền nói về đạo hạnh thì anh ở trên tôi, căn cơ tôn quý, tôi chỉ là một người phấn đấu khổ hạnh không ai biết đến mà thôi! Muốn kết duyên với anh, tôi thật sự cảm thấy mình mạo muội, song sự tương thông tâm linh này vốn là đồng thời hóa hiện, vì độ hóa mà tôi ngu ngốc đánh bạo dám xin kết một đạo duyên với anh. Lệnh sư chính là một linh tự tại, vô câu vô thúc, một đạo khí không trở ngại, cũng không có hình tướng gì. Tiếng tăm của anh từ lâu đã gây chấn động, chỉ mong thỉnh giáo mục đích của anh đây là gì? Hiếu kì ư? Cầu pháp ư? Hóa giải ư? Thử nghiệm tâm linh ư?… Từng có mấy người vì chân lí, vì độ chúng sinh mà kết duyên với anh? Vốn dĩ chúng ta chẳng thể nào có thể tương thông được, có lẽ là do linh lực gom lại chăng? Tôi ngày đêm bận rộn phấn đấu độ hóa, cơ duyên tình cờ thúc đẩy chúng ta thông linh, lành thay! Có lẽ anh không hiểu tâm ý của kẻ vụng về này là gì? Nghìn lời vạn ngữ cũng khó nói cho hết! Lệnh sư Tam Sơn Cửu Hầu nếu linh cảm tự sẽ khai thị cho anh. Nếu chúng ta cùng chung chí hướng, tâm cùng một lẽ, thì duyên sẽ dính líu đến nhau để mà cùng hợp tác độ hóa!*

*Kẻ vụng về này hiện chỉ có thể làm đến được bước sơ bộ dùng lí để độ hóa thôi, vẫn chưa được như anh đã đạt đến cảnh địa “dùng diệu pháp cứu đời chuyển hóa mê lầm”. Độ người ngày nay phải gãi đúng chỗ ngứa, độ tâm linh của người ta mà thuần dựa vào lí để độ hóa thì vẫn có những chỗ không tròn vẹn, chúng sinh mạt pháp đã rời xa đạo quá lâu rồi! Nếu có thể dùng diệu pháp để khiến họ tin mà không nghi hoặc thì càng dễ để họ chịu cho độ. Lí chính là chính tông, pháp là bổ trợ đạo, hai thứ cùng song song tiến hành, có thể hợp nhất để ứng dụng thì công hoành đạo thâm đó! Mong chúng ta có thể hòa hợp, cùng dẫn dắt mê chúng, đồng bào là một thể, có một người chưa độ thì giống như một thân thể tàn tật không vẹn toàn, dốc hết tâm huyết không vì cái gì, chỉ vì sứ mệnh cùng thành mà thôi.*

*Kẻ vụng về này tự cảm thấy tâm chính pháp chính, tâm tà pháp tà, sự phân biệt chính tà thật giả chỉ nằm ở một chữ tâm, đạo trưởng có cùng cảm tưởng không? Chúc mừng anh đã có được kì duyên, khiến người ta không ngớt hoan hỉ, vẫn còn rất nhiều người đang chờ để được độ, cùng động viên nhau, chỉ cần trong tâm còn đạo lí thì ngọn đèn tâm linh sẽ không tắt, mong anh thật lòng góp ý. Chúc linh quang phổ chiếu, diệu pháp viên mãn.”*

Lá thư này khác với những lá thư khác, thanh niên có lí tưởng như vậy đã không còn thấy nhiều nữa, người trẻ tuổi mà có hoài bão như vậy lại càng hiếm có. Dùng thánh lí để độ hóa chúng sinh tình cờ trùng hợp với cách nghĩ của tôi, tôi tin rằng sớm muộn gì cũng có duyên, gặp được vị tiên sinh này, cùng vì tâm linh của chúng sinh nhân loại mà nỗ lực.

Thánh lí độ hóa là một việc cần có kì công, pháp linh thông trời người hợp nhất nếu mai một thì trên thế giới này chỉ còn một lẽ thôi, cái lẽ này chính là lẽ của Nho giáo. 


### 47. Giải thích nghi hoặc


Một vị giáo sư từng gửi thư đến, đại ý như sau:

*Lư tiên sinh, xin thứ lỗi cho tôi đã làm phiền anh, tôi thật sự mạo muội, nhưng tôi không thể nào không cầm bút, bao nhiêu năm nay những câu hỏi vẫn cứ ở mãi trong đầu tôi, cuối cùng cũng có đáp án rồi, tối thiểu có người có thể nói cho tôi biết những chuyện mà tôi không biết. Tôi vẫn luôn tin vào sự tồn tại của linh hồn, nhưng tôi lại là người không hiểu về linh hồn nhất. Mặc dù tôi từng vô số lần được nghe kể các truyền thuyết, nhưng tôi lại không từng có một ứng nghiệm nào trên chính người tôi. Tôi cũng là một người tin thần cực đoan, nhất là Trung Quốc chúng ta dung hợp cả những tôn giáo đặc thù hình thành từ Nho đạo, nhưng điều vẫn luôn dằn vặt tôi chính là không có đủ chứng cứ để người ta tin sự tồn tại của quỷ thần.*

*Tôi họ Ngô, người Bành Hồ, tốt nghiệp đại học, hiện đang làm việc ở Trung Quốc. Tại buổi gặp gỡ trong tuần thứ hai của học kì này, đề mục mà tôi dự định diễn giảng là “Nói về tín ngưỡng tôn giáo và mê tín”. Tôi khích lệ sinh viên nên có tín ngưỡng, đừng tự cho mình học tập theo thanh niên mới không tin tất cả tôn giáo, nhưng trên thực tế, bản thân tôi hiểu biết quá ít về tôn giáo, vì thế chính tôi cũng không có cách nào biết được lời tôi nói là đúng hay sai. Thế rồi vào buổi tối hôm ấy ở trong hiệu sách, tôi phát hiện ra cuốn sách tâm linh tuyệt tác, thế là tôi giống như tìm thấy một ngọn đèn sáng, tôi đã mua nó, rồi tôi vồn vã đọc nó, bao nhiêu năm qua tôi đã không còn đọc một cuốn sách nào một cách nghiêm túc say sưa như vậy. Ngày hôm sau, tôi đem cuốn sách đến trường học giới thiệu với mọi người, rồi tôi còn đặc biệt mua thêm mấy quyển cho đồng nghiệp. Trong vòng hai ngày, trường tôi đã có mười mấy giáo viên đều đọc cuốn sách quý này, có một người còn khẩn trương tìm đến thăm anh nữa.*

*Tôi biết rất nhiều người đọc sách xong thì rất lấy làm cảm động và tin tưởng, nhưng cũng có người giễu cợt là chuyện huyễn tưởng hoặc là Phong Thần Bảng hiện đại. Tôi cực kì muốn họ tin, nhưng tôi chẳng thể có được năng lực giống như anh, cho nên chỉ có cầu mong sự giúp đỡ của anh. Tôi nghĩ rằng anh nói rất đúng, không có sự trợ giúp của công phu ngoại đạo mà muốn để cho người bình thường tin tưởng và tin Phật thì rất khó. *

*Trong lòng tôi vẫn luôn có rất nhiều mối nghi ngờ tồn tại. Có một số điều từ trong sách của anh tôi đã có được câu trả lời, nhưng có một số điều vẫn khiến tôi nghi hoặc không hiểu nổi, hi vọng anh sẽ bảo ban.*

*Thứ nhất, căn cứ vào thuyết luân hồi của Phật gia, cuộc sống này chính là do cuộc sống trước đây quyết định, vậy con người trên đời hẳn là vĩnh viễn cố định ở một con số tương đương nhau mới đúng, vậy thì sao mà dân số thế giới lại gia tăng theo cấp số nhân, những linh hồn này từ đâu tới?*
(Đáp: Cái gọi là thuyết linh hồn luân hồi không phải là chỉ mỗi đạo người, mà sự luân hồi của cả lục đạo trời, người, atula, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, cho nên sẽ không cố định ở một con số. Dân số gia tăng là vận mệnh lớn của nhân loại, nhưng một khi có chiến tranh, năm đạo kia há chẳng phải cũng sẽ gia tăng sao. Đừng coi thường con kiến, kiến cũng nằm trong hàng ngũ của luân hồi đó! Số lượng kiến lớn hơn số lượng con người rất nhiều, số lượng linh hồn của chúng cũng vô lượng vô biên, nhiều như số cát sông Hằng vậy.)

*Thứ hai, thần Phật cầm gương soi con người thiện ác, vì sao thường thấy ác mà không phạt, mà lại để những kẻ làm hại người đó đợi đến kiếp sau mới phạt, nếu trừng phạt sớm chẳng phải có thể cứu được càng nhiều chúng sinh hơn sao?*
(Đáp: Theo như tôi biết, thần Phật không hề soi xét người thiện ác, mà là con người cần tự mình soi xét chính mình, bởi vì nếu con người sống, hoặc khi chết, duy có nghiệp báo theo thân, tất cả hình phạt đều là do chính mình tự làm tự chịu, nếu kiếp trước làm thiện, kiếp này làm ác, thiện công kiếp trước chưa nhận phúc báo sẽ kéo dài cho đến kiếp này và sẽ nhận được quả của thiện công kiếp trước, còn kiếp này làm ác thì sẽ kéo dài đến quả báo của kiếp sau, đây cũng là nhân quả ba đời luân hồi, chính là quy tắc tự nhiên. Các chúng sinh, cái gọi là cứu và không cứu chúng sinh, hãy đọc “Kinh Kim Cang” của Đại thừa, có thể giải thích được tỉ mỉ hơn, gốc là nghiệp báo, làm sao có thể cứu.)

*Thứ ba, Phật nói không sát sinh, nếu gặp ác trùng ác thú, có phải là vẫn nên để cho chúng hại người mà không tiến hành sát hại không? *
(Đáp: Dù Phật nói không sát sinh, nhưng tự vệ vẫn là bản năng của chúng sinh, chỉ cần trong tâm không có ý muốn sát sinh nhưng vẫn phải giết thì cũng không xem là tội, không có suy nghĩ sát sinh mà giết chính là một hành động không chủ định, sẽ không gieo xuống hạt giống sát sinh trong ruộng tâm thức.)

*Thứ tư, con người chết rồi thì sẽ chịu luân hồi mà đi chuyển thế đầu thai, vậy vì sao pháp Quán lạc âm vẫn nhìn thấy được linh hồn của người ta? Và các linh hồn trong vũ trụ nhiều không thể đếm xuể, vì sao bất kể là ở nơi nào, pháp Quán lạc âm gần như đều tìm được người rất dễ dàng, đến đi rất nhanh?*
(Đáp: Quán lạc âm là một mục trong thuật pháp của Đạo gia, người chết thì không phải là lập tức đi đầu thai, người có thể lập tức chuyển thế gần như là rất ít, mà sẽ tự thành một linh giới (âm giới). Quán lạc âm trong Phật giáo chính là Nhập định quán, nhưng thần thông Nhập định quán lớn hơn nhiều so với Quán lạc âm. Quán lạc âm là một dạng tác dụng cảm ứng của tâm điện, linh hồn cho dù ở rất xa, người quán lạc âm chỉ cần khởi tâm niệm, có cảm tất ứng, nhanh như điện vậy, cho nên đến đi rất thần tốc.)

*Thứ năm, theo những lời trong sách, có vẻ như Ma Tổ ở các nơi đều không phải là cùng một vị, nhưng vì sao Ma Tổ được thờ cúng ở các nơi lại lấy cùng một xưng hiệu mặc dù không phải là cùng một vị? Trong miếu nghìn vạn người cùng cầu nguyện thì thần minh làm sao mà ban chỉ thị cho từng người được?*
(Đáp: Xin tham khảo cuốn sách này, chương “Thần thánh có thuật phân linh” là có thể hiểu được rõ ràng rành rọt. Và việc ban chỉ thị cho mỗi người chính là một trong các pháp thần thông, như một mặt trời chiếu hiện vạn vật, mọi thứ lần lượt phân tách ra mà thôi.)

Năm điều nghi vấn này nhất định có rất nhiều người muốn biết, nên tôi đặc biệt đăng ở đây để công khai cho nhiều người cùng biết, đồng thời chắc chắn sẽ liên tục có rất nhiều thắc mắc nữa, nếu có cơ hội viết cuốn sách tâm linh thứ ba thì tôi sẽ lần lượt giải đáp, hi vọng câu trả lời của tôi có thể khiến độc giả hài lòng, có chỗ nào mà tôi diễn đạt ý chưa được tốt, mong lượng thứ!


### 48. Cảm tưởng đọc sách


Sau khi mua được cuốn sách “Mạn đàm linh cơ thần toán”, mặc dù tôi không đọc một mạch hết cuốn sách, nhưng hễ có thời gian rảnh là tôi lại vồn vã đọc tiếp, đến mấy trang cuối cùng là tôi đọc trong công viên vào buổi sáng hôm nay. Khi gấp trang sách lại, từ tận đáy lòng tôi nghĩ rồi lại nghĩ, nghĩ đến cuộc gặp gỡ thần kì đó, càng thán phục trong thiên hạ lại có người có huệ căn bẩm sinh như vậy. Tôi nhìn bức ảnh “Lư Sơn chân diện mục” ở phía sau sách, trực giác của tôi khẳng định đây là một cư sĩ đạo đức cao thâm, càng khiến tôi có sự kính phục vô hạn đối với tác giả.

Mặc dù tôi chỉ đọc một cuốn sách này, nhưng cảm nhận trong đáy lòng tôi là nó rất thiện và sâu sắc, nhất là tấm lòng từ bi trong sách đã khai thị cho tôi không ít, là một cuốn sách mà tôi thu được nhiều lợi ích nhất. Tôi sẽ ghi nhớ những lời vàng ngọc đó và sẽ thay đổi những thực hành của mình cho đúng.

Đối với linh hồn, người biết quá ít, nhưng mà thiên hạ rộng lớn như vậy, đúng là không có chuyện kì quái gì mà không có. Người biết thì nói là biết, người không biết thì nói là không biết, cảnh ngộ mà tác giả đã trải qua kì diệu như vậy, nếu không phải là người có một chút huệ căn thì không dễ tin tưởng. Hơn nữa xã hội ngày nay, lòng người không như xưa, đạo đức cũng theo đó mà bại hoại, người bình thường thường lấy những giáo nghĩa mà các bậc cổ thánh tiên hiền để lại, học thì có thể học, nhưng không chắc có thể làm được, bởi vì chung quy họ cho rằng đó là những phẩm đức cổ lỗ sĩ, cho nên mọi việc mà cứ y như cũ thì sẽ cản trở mọi sự tiến bộ. Huống chi đeo lên cặp kính có sắc thái tôn giáo thì càng không phải là thứ mà con người có thể dễ dàng tiếp nhận. Cái gọi là định luật nhân quả, lục đạo luân hồi, thần quỷ, bởi vì ít có người từng nhìn thấy hay từng trải nghiệm qua, cho nên người người đều không tin, nhưng mà những người vô tri này không tin thì thôi, lại vẫn cứ gia tăng phỉ báng, thiện nam tín nữ bình thường bị gọi là điển hình của mê tín lạc hậu. Tôi cho rằng tác giả đang than thở, quả thật là mê tín quá, chúng sinh không biết ngộ!

Tôi cho rằng trong thời kì khó khăn này, cuốn sách đã được xuất bản đúng lúc, mặc dù có thể dẫn tới sự quấy rối của rất nhiều người, nhưng cuối cùng thì vẫn là thắng lợi của tác giả, bởi vì xuất phát điểm của tác giả nằm ở hoằng dương chính tín, tôi dự đoán rằng sẽ có không ít người được cuốn sách này cảm hóa và thề nguyện sẽ quy về chính đạo, mặc dù đây là những gì một tín đồ chính giáo nên làm, nhưng công đức ấy quá lớn, vẫn là không thể mê muội.

Cái gọi là kính thần như kính người, dốc hết tinh thần thì vàng đá cũng mở ra, chắc chắn có được cảm ứng. Tồn tại là tồn tại, tuyệt đối không phải vì người ta có nhìn thấy hay không, có biết hay không mà bàn về sự tồn tại hay không tồn tại của nó một cách ngây thơ. Vả lại, trong vũ trụ vô hình này, không có đại thần thông, đại linh lực, trí huệ và năng lực lĩnh ngộ siêu phàm thì không thể nào cảm nhận được cái gì, đại khái Phật gia gọi những người này là “chúng sinh có duyên mỏng mà nghiệp chướng sâu nặng”. Cho nên việc họ không tin là lẽ đương nhiên, bởi vì không nghe không thấy, trừ phi mượn tha lực thì sẽ được khuyên bảo và dẫn độ.

Do bản thân tôi cá tính ham thích đạo, mua được cuốn sách này, tôi xem như trân bảo. Nhưng tôi học đạo chưa lâu, mà cũng không có duyên tiếp cận nhiều với thiện tri thức, đến mức mà một vài phương diện linh trí tôi chỉ có thể tự mình mày mò, thường xuyên là tôi không thật sự hiểu lắm, không tìm được cửa để mà đi vào. Nay đọc được cuốn sách này, đã gặp được lòng từ bi của anh khai thị những mối thắc mắc trong lòng, thật sự là may mắn của tôi.

Tôi cũng khá có hứng thú với thần toán, nhất là pháp làm sao để đánh thức linh hồn của mình, bởi vì hoàn cảnh hiện tại của tôi không thích hợp, hi vọng sau này sẽ có một ngày tôi thức tỉnh được linh mệnh của mình thì càng có thể chứng thực sự kì diệu của linh hồn. Cuốn sách này đã mở ra một cánh cửa phương tiện cho chúng sinh, giúp chúng sinh một tay. Tất cả những người tu đạo, người mộ đạo, người mới luyện đạo đều nên cảm kích mới phải, nhất là đông đảo chúng sinh đọc xong ắt sẽ hiểu thêm. Tôi tin rằng chỉ cần là người có tâm, có được cuốn sách này ắt sẽ chứng đắc con đường tu đạo, có được cuốn sách này ắt sẽ biết những việc chí lí trong thiên hạ.

Giả như có một ngày, kẻ hèn này có thể có cơ hội gặp thầy Lư thì đó đúng là duyên phận to lớn như trời, vậy tôi muốn tiến thêm một bước nữa để thỉnh thị là liệu tôi và anh có duyên phận làm thầy trò không, bởi vì tôi muốn bái tác giả làm thầy, đi theo mãi mãi, nhằm mong cầu một thế giới chân thật của sự đắc đạo vĩnh hằng, như vậy thì cũng không uổng cuộc đời này. Không biết tác giả có sẵn lòng thu nhận học trò kém cỏi “nửa lỗ không thông” như tôi không?

Cuối cùng, tôi muốn giới thiệu cuốn sách này, cũng nói điều mà tôi lĩnh ngộ được khi đọc cuốn sách này: Điều tâm đắc của tôi từ trong Phật đạo mà cuốn sách này nói đến chính là “người có tâm chính thì đạo tà cũng thành chính, người có tâm tà thì đạo chính cũng thành tà”. Bởi vì Phật nói “vạn sự do tâm tạo”, nhất tâm có thể diệt vạn pháp.

Một lần nữa, tôi phải nói thẳng một câu, sự kì diệu của cuốn sách này không thể so sánh với bình thường, điều trân quý nhất là trải nghiệm của chính tác giả không phải là những thứ thêu dệt nên có thể so sánh được. 

(Kí tên: Vương Mẫu Đơn viết tại Thảo Hồ.)

(Lời cuối: bản văn này là cảm tưởng của cô Vương Mẫu Đơn ở Thảo Hồ sau khi đọc xong cuốn linh thư. Cô ấy từng đến nhà thăm tôi, hơn nữa còn gửi một bài văn cảm tưởng khi cô ấy đọc sách của tôi, những gì cô ấy viết rất có tầm nhìn. Bản thân cô ấy là người có duyên Phật rất dày, từ nhỏ đã thích lễ Phật, đã đi theo cao tăng rất lâu, học thức phong phú, nên tôi đặc biệt đưa bài văn này làm phụ lục.)


### 49. Lời kết


Đây là một cuốn sách thần kì, tôi tin rằng khi xuất bản cuốn sách này sẽ lại có cực kì nhiều người lắc đầu không tin. Thế nhưng tin hay không tin không sao cả, tuyệt đối đừng cho rằng Lư Mỗ tôi cố làm ra vẻ huyền bí và giở trò trêu đùa. Có rất nhiều người cho rằng tôi rõ ràng là một tác gia (thằng cha làm trò múa bút kiếm miếng ăn), khó tránh được những ý tưởng kì lạ, cố ý bịa ra những câu chuyện để mà lừa độc giả, có mưu đồ lòe bịp thiên hạ. Bất kể là độc giả đọc xong có cảm giác là không phải thật thì tôi cũng vẫn phải thanh minh một câu với độc giả là, thật sự tôi không trộn lẫn một chút giả dối nào.

Xin các độc giả chú ý, tôi chỉ là một phàm phu rất bình thường, không phải là thần tiên, dù sao cũng đừng cười cợt tôi. Tập sách linh thư đầu tiên xuất bản, có độc giả gọi điện thoại cho tôi nói rằng: “Lư Thắng Ngạn, bây giờ anh hãy đoán xem tôi là ai? Gọi điện thoại từ nơi nào? Giả sử anh nói ra được tên tôi thì tôi tin, bằng không thì anh chính là kẻ bốc phét.” Nói thật, nhận được cuộc điện thoại kiểu này khiến tôi cười ra nước mắt, tôi chỉ là một phàm phu, chỉ là có nhiều hơn người bình thường một năng lực, năng lực này chính là thông linh. Thần linh trong không trung không phải là các vị toàn năng, tôi phải thỉnh thị, rồi đưa cho các vị tư liệu thì các vị mới có thể hồi đáp. Nay anh vô căn cứ gọi đến một cuộc điện thoại, tôi không phải thần tiên, mà thần linh lại càng coi thường cái kiểu thăm dò này, bảo tôi phải trả lời anh làm sao?

Càng có rất nhiều độc giả viết thư cho tôi, cho đến nay đã có trên một nghìn lá thư. Có mấy độc giả còn hay hơn, trong thư họ không viết họ tên và địa chỉ, nội dung cũng chỉ viết là: “Giả sử anh có thể trả lời bức thư này của tôi, biết tên và địa chỉ của tôi, thì tôi sẽ bái anh làm thầy, sẽ tin Phật, bằng không tôi không tin.” Thư kiểu này càng khiến tôi chẳng hiểu ra làm sao. Ngày nay là thời đại tự do tôn giáo, bạn tin hay không tin chẳng liên quan đến tôi, hữu duyên hay vô duyên đều là việc của cá nhân bạn, thư của tôi quá nhiều rồi, tôi chỉ lựa chọn trả lời một vài lá thư quan trọng thôi, còn những bức thư vớ vẩn thì tôi chỉ có cách dẹp bỏ để giảm bớt gánh nặng. Hơn nữa tôi cũng chưa có ý định thu nhận đồ đệ, cho đến hiện tại đã có hơn bảy chục người muốn bái tôi làm thầy để học thần toán khởi linh rồi, nhưng tôi đều nhất loạt từ chối. Tôi chỉ hướng dẫn họ làm sao để khởi linh và luyện linh, chưa bao giờ cho rằng mình là thầy giáo, chưa từng nghĩ mình muốn làm sư tôn. Điều quan trọng nhất là, linh ở không trung không phải là bậc toàn năng, tôi lại càng không phải là Thần Tiên, những lá thư không có nguyên do, tôi căn bản không cần phải thỉnh thị, cũng không muốn hồi đáp, thậm chí chẳng cần phải lãng phí tâm tư vào chúng làm gì.

Sự kì diệu của linh hồn là thần bí chẳng thể suy đoán, khoa học gia coi trọng mà nghiên cứu, học giả không dám tùy tiện mà phủ định sự tồn tại của linh, những biểu hiện và hiện tượng kì quái mà linh tạo ra hiện nay là không thể phủ nhận được. Đời người rốt cục là ngắn ngủi, và con người sau khi chết đi, thần thức sẽ hoàn toàn không còn nữa sao? Thần thức vẫn là quy về thế giới tâm linh thôi, bởi vì tôi đã có được những kì duyên như vậy, cho nên cuốn sách này tôi đặc biệt đưa ra một lời giải đáp tường tận, tin rằng có thể khiến độc giả thu được những khái niệm vô cùng sâu sắc mới phải.

Tôi rất cảm kích Cơ Nga, người đầu tiên trực tiếp khai sáng cho tôi. Hiện tại bà ấy đang tu Đạo tại phân đường Thạch Bích thuộc Hoa Liên Từ Huệ Đường, bình thường bà ấy ra ngoài giúp người ta dắt vong hồn, bề ngoài kì quái, có thần thông thiên nhãn cực kì bất khả tư nghì. Bà ấy là người Hakka, quê quán là người thôn Phú Lý ở Hoa Liên, bố bà ấy khi còn sống là bác sĩ kiêm kiểm nghiệm viên, Cơ Nga là âm tiếng Nhật, dịch ra tiếng Quốc ngữ là Thiên Đại.

Linh sư của tôi là Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, và Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh mới là ân sư chân chính của tôi. Tôi vốn là một con người thô tục, nhờ có Ngài ân cần giáo hóa, tôi mới dần dần hiểu ra những đạo lí lớn của trời đất. Ngài là Thượng Tiên của Vô sắc giới, không có hình tướng, đến không ảnh hình, đi không vết tích. Ngài đã đồng ý với tôi khi tôi Niết-bàn, Ngài sẽ đến đón tôi, Ngài để lại một bài kệ [cho thời điểm tôi Niết-bàn] là: 
*”Thái thượng nhân gian mây nước xa xăm
Tiên đồng tiên n**ữ xếp hàng nghênh đón
Mây tía cờ lọng cưỡi mây bay đi
Rời xa nhân gian đến chín** tầng trời
Bốn biển ngợi khen âm thanh chúc tụng
Ngũ Nhạc cùng than núi rừng thương xót
Từ nay nhân gian mất một kì tài
Đi hết Tam giáo trở về chốn xưa.”*

Tôi vẫn không biết được lai lịch của Ngài, nhưng tôi tin rằng khi nhập diệt, nhất định tôi sẽ biết.

Vị ân sư thứ hai của tôi là Thanh Chân Đạo Trưởng, một vị Đạo nhân của núi Thanh Thành. Ngài sống ở núi Liên Đầu, có người viết thư cho tôi hỏi rốt cục đó là ở chỗ nào. Bây giờ tôi công khai núi Liên Đầu của Thanh Chân Đạo Trưởng chính là một ngọn núi nhỏ trong dãy núi Tập Tập ở Nam Đầu. Ân sư Thanh Chân Đạo Trưởng đã mọc cánh quy tiên rồi, trở thành Địa Tiên, sau khi ngài hóa cánh thành tiên từng xuất hiện hai lần để giải thích cho tôi về pháp môn Đại thừa, rồi ngài chọn đi tu hành ở Linh Sơn. Ngài để lại cho tôi khẩu quyết pháp Cửu chuyển huyền công, thuật thần toán phù lục, tôi đã nhận không ít giáo huấn của ngài, tôi rất cảm kích.

Sau khi xuất bản cuốn linh thư đầu tiên, tình hình bán chạy nằm ngoài dự liệu của tôi, trong vòng một tháng sách đã được tái bản, rất nhiều nhà xuất bản tranh nhau cuốn sách thứ hai của tôi, bởi vì dạng sách này ở nước ta đã lập nên kỉ lục, chưa có ai biết, chưa có ai viết, hơn nữa lại là tự thân trải nghiệm mới càng đáng quý. Vì thế, tôi đã viết, với mong muốn là khiến con người tin vào sự tồn tại của thần linh, khuyên con người tu thiện bỏ ác, cảnh giác nhân tâm thế đạo càng ngày càng bại hoại. 

Tôi khuyên con người cần giữ bát chính đạo, bát chính đạo này chính là: chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tấn, chính niệm, chính định. Bát chính đạo này chính là khổ tập diệt đạo, nếu diệt hết khổ thì siêu thẳng đến Cực Lạc thế giới, vĩnh viễn không sinh tử khổ não nữa. Lúc này tâm chính là tâm Phật, là tâm từ bi hỉ xả, to lớn như vũ trụ tự nhiên, to lớn như nhật nguyệt tinh, to lớn như thiên thượng địa hạ thập phương pháp giới, tự nhiên tỏa hào quang. Thế nào là trở thành tâm của Phật Bồ Tát? Tâm này nếu là tâm Phật tâm Bồ Tát thì người này chính là Phật, chính là Bồ Tát. Còn phàm phu, cái gọi là phàm phu, là tâm hẹp hòi mà không dung một vật nào.

Mọi việc ác đừng làm, hãy làm mọi việc thiện, thì nhân gian cũng như cõi Lạc, làm gì có tai kiếp?

**(Hết.)**

---

---
# File: sach-tam-linh/020-man-dam-linh-co-than-toan-tap-2.md
# Title: 020. Mạn đàm linh cơ thần toán (Tập 2)
---

![image](/img/img_c84504c83336793608bc4cec3beb30fc.jpg)



## Mạn đàm linh cơ thần toán (Tập 2)


🪷 Đích thân trải nghiệm sự thần kỳ của linh hồn

Văn tập số: 020
Xuất bản: 11/1975
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


Trước khi bạn đọc cuốn sách này, tôi lại muốn thanh minh một câu, tuyệt đối đừng ngây người ra nhìn. Về sự thần kỳ của linh hồn, trong cuốn “Mạn đàm linh cơ thần toán” (Tập 1), và cuốn “Giữa linh và tôi”, tôi đã kể ra rất kĩ càng tỉ mỉ rồi. Việc có hay không có linh hồn, tôi không cần phải nhấn mạnh thêm một lần nữa, song tôi vẫn vỗ ngực mình hướng đến nhân loại toàn thế giới mà hô lên rằng, thế giới này đích thực có linh hồn, hãy khẩn trương cứu rỗi linh hồn của chính mình đi!

Cảnh giới mà tôi đã gặp là một cảnh giới chỉ có chính mình mới hiểu, người khác đều không hiểu được. Tôi biết có rất nhiều người cũng có thể hiểu được, nhưng họ đều không nói ra. Họ là những “người trí giả ngu”, hoặc quá hèn nhát, không dám để cho người khác biết được, bản thân có được chân lý, lại dường như sợ người khác cướp đi mất. Chỉ có tôi ngốc nghếch, cái gì cũng nói ra, hễ tôi biết cái gì, tôi đều nói ra, hy vọng rằng người người đều biết, linh hồn là thật, tuyệt đối không sai, luân hồi sau khi con người chết đi cũng là thật, thiên đường địa ngục đều là thật, không phải là một câu chuyện bịa đặt bởi những nhà tôn giáo để lừa dối mọi người. Tôi dám bảo đảm bản thân chính là nhân chứng tốt nhất, cho dù ép không được nói thì tôi vẫn phải nói, uy lực không thể khuất phục tôi.

Các bạn thân mến, đừng lấy khoa học ra để áp chế tôi, cũng đừng lấy mê tín ra để áp chế tôi. Khoa học chỉ là một loại công cụ để con người tìm cầu sự thật, đóng góp của khoa học dĩ nhiên là rất vĩ đại, nhưng vũ trụ bao la, không gian mênh mông, có quá nhiều quá nhiều sự việc khoa học không thể nào tìm cách chứng thực được. Những hiện tượng linh dị này duy có linh học mới có thể giải thích được, cũng duy có linh học mới có thể giải đáp một cách hợp lý và hoàn mỹ vấn đề đến đi của đời người.

Có người nói quá mê tín, điều này cũng khó trách, bởi vì người bình thường đã quen coi những sự vật không thể giải thích được, bao gồm thần linh, linh hồn, linh khí, v.v… là mê tín. Người bình thường không nhìn thấy, không nghe thấy, cho giả là thật, cho thật là giả, không tin Phật pháp, phỉ báng Phật pháp, dùng sự “vô tri” để chế nhạo “chân tri”, giống như một đám ngu dân năm xưa đem Chúa Jesus đóng đinh trên cây thập tự, đó là sự kiện bi thảm lớn nhất của nhân loại, dùng mê tín để chế giễu chính mình, che đậy cái vô tri của chính mình.

Hiện tại tôi đang mang thân phận Đạo sĩ, cái gọi là “Đạo” là chân lý, hiểu Đạo chính là hiểu rõ chân lý. Tôi biết đích xác cái gì gọi là “pháp luân thường chuyển”, đích thực biết rằng con người đều có một thứ “chân linh”, “chân linh” là một khối chân khí tồn tại vĩnh viễn, chân khí này cũng là Phật tính của Phật giáo. “Chân nhân” mà Đạo gia nói đến, người thời nay tu Đạo đui tu mù luyện, không hiểu bản tâm, ngông cuồng đòi hỏi cảm ứng, lại không biết rằng “Đạo sáng” tự nhiên cũng là cảm thông. Cảm thông cũng không phải là chỉ có ý nghĩa tự thân, mà còn là mấu chốt tự nhiên thông hết tất cả những chân lý chí cao trong thiên hạ như nước Trường Giang cuồn cuộn, có thể giải thích căn nguyên, đó là chân lý tuyệt vời biết bao. 

Người ngu muội nhất, nghiệp chướng sâu nặng, không tin nhân quả, họ cho rằng con người chết là chết thôi, tất cả đều không còn, toàn bộ hóa thành số không, thần gì, quỷ gì, thiên đường địa ngục đều là lừa người. Những người này sao không thử nghĩ, không có sinh ra sẽ không có cái chết, không có cái chết cũng sẽ không có sinh ra. Nếu thật sự tất cả đều hóa thành số không thì sống có ý nghĩa gì chứ! Chính là cái kiểu tư tưởng có vẻ như đúng mà lại là sai này khiến rất nhiều người không tin nhân quả, giết người trộm cắp, mặc sức buông thả, mọi việc ác đều làm hết, những người này cơ bản là không sợ báo ứng.

Nhất là thanh niên hiện đại nhận được một chút giáo dục liền tự nhận mình là phần tử tri thức đứng cao hơn người, chỉ biết đi theo sau đít người ta mà hét lên: “Tất cả đều là mê tín hết, linh hồn đều là người lừa người.” Còn trên thực tế, kiến thức về linh hồn của anh ta chẳng khác gì con số không, ngay cả nằm mơ cũng chưa từng nằm mơ nữa! Tôi cho rằng “biết thì nói là biết, không biết thì nói là không biết, đó mới thật là biết”, câu nói này cực kì đúng. Tôi mong rằng người người tu tập khởi linh, nếu khởi động được linh thì phải khiến cho những kẻ chế giễu là mê tín kia ngay lập tức phải câm miệng lại, bởi vì đó là cảm ứng đặc thù chỉ có giữa linh hồn với linh hồn, là tâm tâm tương ấn đặc biệt đó!

Cuốn sách này tôi viết là để đáp ứng yêu cầu của độc giả, bởi vì những nghi vấn của độc giả có dùng tàu hỏa để chở cũng không chở hết. Họ yêu cầu tôi có thể lần lượt giải đáp, cho nên tôi đành phải động bút để loại bỏ những chướng ngại của việc tu linh. Đồng thời, bởi vì có quá nhiều người tò mò, người người tìm đến, tôi đã trở thành người không có chút thời gian tu tập nào, vì thế tôi viết cuốn sách này lấy câu chuyện của bản thân mình làm chính, kiêm giải đáp nghi vấn của độc giả, tránh cho người người tìm đến tôi.

Về phương diện tôn giáo, hiện tại tôi sùng Phật, yêu Đạo, thích Cơ Đốc, vì sao? Bởi vì lòng nhân từ và bác ái của Cơ Đốc khiến tôi cảm động, tôi từng được rửa tội ở giáo hội Trưởng Lão. Tôi yêu Đạo pháp, bởi vì tôi học qua thần toán, chiêm bốc, diễn thuật, kỳ môn độn giáp, tứ trụ suy mệnh, phù chú, linh thông và các pháp Đại thừa, cho nên tôi yêu Đạo pháp tiểu thuật là thật. Và tôi sùng Phật là mục tiêu cuối cùng, mục đích sùng Phật chính là để thành Phật. Trong Đạo môn tôi từng qua công đức, trong Phật môn tôi thọ giới Bồ Tát làm một ưu bà tắc.

Một người thành tựu Đạo pháp không phải dễ, Phật Thích Ca Mâu Ni 6 năm ở núi tuyết, Quan Thế Âm Bồ Tát ngồi khô trong rừng trúc tía, Tổ sư Đạt Ma quay mặt vào tường 9 năm, nghe kiến đánh nhau như tiếng sấm. Hôm nay tôi cũng gặp phải ma nạn và sự giày vò, chỉ mong tôi có năng lực, dùng trí huệ và linh lực của mình, đạt được chứng quả sáng rực rỡ, đây chính là mục tiêu cuối cùng của tôi.

(Tháng 11/1974)

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Nhận thức chính xác về linh hồn


Trên thế giới ngày nay, học giả nghiên cứu linh hồn không thể xem là số ít, ở châu Âu, châu Á, châu Mỹ cũng ít nhiều có truyền thuyết về linh hồn, trong trường Đại học London và Đại học nước Mỹ cũng có khóa học về linh hồn học. Họ nghiên cứu thuật phù thủy của châu Phi và chú thuật Bà La Môn của Ấn Độ, những người đó đầy ắp lòng hiếu kỳ về linh thuật kỳ quái. Nhưng kết quả của họ là kiến thức nửa vời, có vẻ biết Đạo, nhưng lại dường như chỉ là sờ không tới giới hạn.

Bản thân linh hồn giống như không khí, không mùi không vị, như điện, không có hình tượng, như xạ tuyến, khiến người ta không có cảm giác gì cả. Tuy nhiên, sự hiển hiện của linh hồn có thể mượn vật sai khiến vật, mượn vật để tái hiện, mượn vật để phát sinh ra một dạng sức mạnh kỳ quái, giống như hệ thần kinh của con người, nhân tố tiềm tàng bên trong ý thức, trong sự vô thức đột nhiên thông hiểu hết. Nhà ngoại cảm mà người nước ngoài gọi chính là hình thức cho mượn thân thể để cho linh chiếm thân, ở nước ta gọi là kê đồng, kê đồng chính là người để cho thần quỷ nhập vào trong thân mình. Về bản thân năng lực của linh hồn mà nói thì không phải đều giống như nhau, linh lực của họ có lớn có nhỏ, tính chất ở đây giống với điện lực nhất, có một số dòng điện là điện cao thế, hễ tiếp xúc là chết ngay, có một số hễ tiếp xúc thì tim sẽ bị tê bì, còn điện lực nhỏ thì sẽ khiến người ta toàn thân run rẩy không ngừng, và điện lực nhỏ nhất thì không khởi được tác dụng gì. Hiện tại theo như tôi biết, thần minh giáng loan thông thường điện lực không lớn, chỉ khiến cho kê đồng không ngừng run rẩy mà thôi.

Sự tái hiện của linh hồn giống như truyền phát truyền hình vậy, sự hiển hiện của nó giống như màn hình tivi, cái này đều là vấn đề của nhân tử. Linh thể bên trong thân thể người chúng ta nếu có sẵn nhân tử của linh nhãn thì chắc chắn có thể thường xuyên nhìn thấy linh giới, tình trạng này giống như thân thể bạn chính là kết cấu của một chiếc tivi, có bản năng thu hình thu thanh, và có *antenna* nhạy bén. Loại người này tôi từng biết cũng không ít, có một số người là bẩm sinh, cũng có người đột nhiên nhìn thấy được. Tuy vậy, chỉ cần có trải nghiệm một lần, sau này chắc chắn có thể lại nhìn thấy được, trừ phi nhân tử có khả năng nhìn được đó tiêu biến mất.

Bình thường, thân thể của tôi có thể tiếp nhận được âm thanh truyền đến từ linh giới, ở nước ta mà nói thì đây là linh nhĩ thông, còn gọi là thuật nghe âm, thời kỳ rất sớm thì gọi là pháp nhĩ báo. Tình huống này giống như máy thu âm, chỉ cần tần số của linh hồn bên trong thân thể bạn giống với tần số của linh nào đó trong linh giới thì nhất định có thể nghe được âm thanh của linh. Âm thanh của linh truyền đi giống như tiếng điện thoại, có khi to, có khi nhỏ, thậm chí cũng có những tiếng ồn ào xuất hiện, đôi khi cũng có hiện tượng nhiễu loạn xuất hiện. Điều này cũng giống như tần số của chúng ta nằm ở giữa hai trạm phát thanh cho nên sinh ra sự nhiễu loạn.

Người thần kinh thất thường đôi khi có thể nhìn thấy vong hồn, đôi khi có thể nghe thấy quỷ thần nói chuyện, chúng ta gọi là rối loạn tâm thần. Tuy nhiên, tôi lại cho rằng những gì mà họ nhìn thấy và nghe thấy kì thực có một số không phải là giả. Người bị thần kinh suy nhược, linh thể của họ mất đi tác dụng tự chủ, nhục thể thường xuyên bị tà linh của linh giới tấn công, và thế là tà linh sẽ mượn thân thể đó mà sống, sản sinh ra hiện tượng quỷ khóc thần gào, liên tục nói lảm nhảm, lúc tốt lúc xấu. Người thần kinh thất thường và kê đồng ngoại cảm chân chính không có sự khác biệt lớn. Tôi không cố ý sỉ nhục kê đồng, chỗ để phân biệt đó là linh nhập vào kê đồng là trong thời gian ngắn, và là do cố tình để cho nhập, còn người thần kinh thất thường thì là một sự hỗn loạn lâu dài, không thể tự chủ.

Muốn hiểu rõ về thế giới của linh hồn, quan trọng nhất không phải là từ việc nghiên cứu, mà là luyện chính mình thành cái thể cho linh hồn tái hiện, linh hồn của bản thân bạn đi tiếp xúc với linh hồn của ngoại giới, phương pháp khởi động chân linh nguyên thủy kiểu này gọi là khởi linh. Thông qua nghiên cứu bao năm qua, tôi sâu sắc biết rằng khởi linh là một việc cực kì đơn giản, chỉ là phần lớn người đời không biết mà thôi. Sau khi khởi linh xong còn phải luyện linh, trên thực tế, luyện linh khó khăn hơn khởi linh rất nhiều, nếu có thể luyện thành công, việc nhìn thấy linh giới, nghe được linh âm về cơ bản không phải là vấn đề lớn. Lúc này có thể biết ngay từng câu mà Lư Thắng Ngạn tôi đã nói không hề giả dối.

Tôi không có con mắt âm dương bẩm sinh, mà là sau khi tôi nhận được sự dạy bảo của linh sư Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh và Thanh Chân Đạo Trưởng, tôi mới hoàn toàn thông hiểu linh trí của mình. Tôi thích làm bạn cùng thiên chúng Thần Phật, gần gũi với họ, tôi cũng thích làm bạn cùng ma, rất nhiều ma có tính tình đơn thuần và lương thiện hơn con người, họ là những con ma vừa đáng kính vừa đáng yêu. Trái lại, tôi luôn cảm thấy con người không đáng yêu như ma, lòng người ích kỷ, lòng người đố kỵ, lòng người xấu xí, có những chỗ chẳng thật thà ngay thẳng bằng ma. Vì thế tôi thích thân thiết với họ, họ cũng coi tôi như anh em vậy!

Tôi đến Kim Sơn ở miền Bắc đo đạc ở vùng Dã Liễu, từng trông thấy quái linh hiếm thấy trong đời này. Những quái linh này có hình dạng như trẻ con, đầu to như cái đấu, thân hình thì thấp bé, từng đám từng đám nô đùa bên bờ biển. Trông thấy tôi, chúng đi theo tôi la ó gào thét, chạy tới vây kín xung quanh tôi. Tôi kể cho bạn bè nghe, họ đều không tin.

Tôi có mấy người bạn là ma nhỏ, đa số chúng chết khi còn là trẻ con, có đứa bị bệnh mà chết, có đứa gặp tai nạn bất ngờ mà chết, tuổi thọ ở dương thế chưa hết nên hồn không có nơi nương dựa, Thổ Địa Công Công thương xót nên tạm thời thu nhận và giúp đỡ, bọn chúng có khi nửa đêm tới tìm tôi. “Lư đại ca, kể chuyện cho chúng em nghe đi.”

Trong lòng tôi rất đồng cảm với những vong hồn không nơi nương tựa này, tôi thường hay kể chuyện, kể được một nửa, nghĩ đến cảnh đời của chúng, trong lòng dâng lên niềm xót thương, tôi và chúng ôm nhau khóc òa, bi kịch cuộc đời có khác gì thế này đâu!

Sự tồn tại của linh hồn giữa trời đất đều có, ở thành phố náo nhiệt cũng có, dù không mùi không vị, nhưng nếu có linh thể không mùi không vị đi tiếp xúc với linh giới thì tự nhiên cũng là vô cùng kỳ diệu phi phàm rồi.

Hôm nay, dù tôi có lòng dũng cảm để thẳng thắn nói với nhân loại rằng linh hồn có thật, bản thân con người bạn cũng có, và xung quanh bạn cũng có linh hồn tồn tại, nếu bạn học được khởi linh thì sẽ biết tôi không nói xằng bậy, tuyệt đối chân thật chính xác.


### 02. Nguồn gốc của thuật linh thông


Khi một người từ trong cảnh giới phổ thông bình thường đột ngột tiến vào linh giới, biết về việc có linh lực tồn tại, dựa vào linh lực lớn hay nhỏ của người đó mà sản sinh ra hiện tượng linh thông [các thần thông trên phương diện tâm linh]. Có người có thể dự đoán tương lai, có người có dự cảm, biết việc quá khứ, những người này nếu tiến vào tôn giáo có thể trở thành kê thủ, làm kê đồng hoặc kê sinh, người cao minh hơn một chút thì trở thành người xem tướng triết học, thầy địa lý, người càng cao minh hơn thì biết thiên văn địa lý, thông hiểu quỷ thần âm dương.

Tâm pháp Phật nhãn tối thượng thừa của thuật linh thông chính là sáu đại thần thông mà chúng ta thường gọi: thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, thần túc thông, lậu tận thông, túc mệnh thông. Đối với các thuật linh thông bình thường như thần toán, xem bói, bốc quẻ, cảm ứng tâm điện, viên quang [xem quả cầu ánh sáng], phù kê [lên đồng viết chữ], nhĩ báo, mộng thông, thủ thông, giác quan thứ sáu, chúc do [một khoa mục chữa bệnh theo Đạo giáo của Đông y xưa], v.v… công phu tu luyện thấp hơn sáu đại thần thông kia, nhưng nói một cách nghiêm túc thì cũng linh nghiệm kỳ lạ vô cùng rồi.

Người có linh lực càng cao thì sức mạnh linh thông của họ cũng càng cao, linh lực của một số người còn vượt qua cả linh lực của ma quỷ rất nhiều. Càng có một số người tu Đạo, bình thường linh lực của họ ẩn sâu không lộ ra, nếu gặp lúc phải dùng tới, chỉ cần mở thiên khiếu ra, một đường ánh sáng trắng xung thẳng ra ngoài đến tận sao Đẩu sao Ngưu, không những linh lực của họ rất hoạt bát mà thậm chí nhục thể cũng có thể nâng cao lên đến mười thước, cái này chính là linh lực còn vượt qua cả lực của thể xác, vì thế có thể nâng cao lên.

Tác giả từng có một lần nhập thiền định, “chân ngã” xung thẳng lên trên, đến một Phật quốc, gặp một vị Phật giác giả khổng lồ ngồi trên hoa sen tỏa ánh sáng quý, bên dưới tòa hoa sen có một số người xuất gia và cư sĩ đang ngồi yên lặng nghe Phật giảng kinh. Tác giả nhón chân đến ngồi bên cạnh, không dám lên tiếng.

Lúc này, mắt Phật như điện, nói rằng:
”Người đến chẳng hay là Liên Sinh?”
”Thưa vâng, đệ tử Nam Chiêm Bộ Châu là Liên Sinh ở Đài Loan Trung Hoa Dân Quốc, là người tu Đạo phụng theo Tiên Thiên Vô Cực Chính Pháp.” - Tôi cúi lạy sát đất, cung kính trả lời. 

Những người xuất gia và cư sĩ đang ngồi đó ngoảnh đầu nhìn tôi, trong số đó chẳng ngờ lại có một người xuất gia và một cư sĩ cũng là người Đài Loan Trung Hoa Dân Quốc ở thế giới Ta Bà Nam Chiêm Bộ Châu. Hai người họ đến trước tôi, đạo hạnh dĩ nhiên là cao hơn tôi, sự xuất hiện của tôi cũng khiến hai người họ cực kì kinh ngạc. Họ chẳng thể nào nghĩ rằng chỉ dựa vào một chút linh lực nhỏ bé này của tôi mà cũng có thể xoay mấy vòng, thế rồi đến được Phật quốc nghe giảng kinh.

“Liên Sinh, anh có thể đến đây nói chung là không tệ, nhưng căn khí của anh và người xuất gia khác nhau, cái gọi là tâm thường ở nơi chân tính của mọi pháp là không thể chấp có, không thể chấp không, từ đó quan sát chân lý diệu kỳ của trung đạo, làm việc thế tục để chuyển hóa hữu tình, người bền bỉ tu từ bi gọi là Nguyện Ba-la-mật, dựa vào bốn thề nguyện lớn để mà thu nhận chúng sinh, như thế cũng là rất vất vả rồi.” - Phật từ bi thuyết pháp cho tôi.
”Đệ tử hiểu.”

Khi tôi phi thân vào hư không giới, trông thấy bốn phương vũ trụ trên dưới tròn vành vạnh, xa xăm thăm thẳm, trong lòng tôi cảm thấy rất buồn bã. Từ Phật quốc đi ra, linh thể tự do thoải mái biết bao, thế nhưng khi vừa trở về đến ngũ trọc ác thế, thân thể lại chịu sự trói buộc của thể xác hữu hình, chịu sự trói buộc của hoàn cảnh gia đình, chịu sự trói buộc của những ánh mắt khinh thường mà nhân loại ném vào mình, tôi làm sao có thể đảm đương trọng trách tuyên truyền Phật pháp, gánh vác nhiệm vụ cứu rỗi linh hồn lớn lao này chứ! Tôi dựa vào sức mạnh linh thông hiện có, muốn lay chuyển những con người không tin quỷ thần, những kẻ ngu muội không tin nhân quả, có thể sao? Có thể tôi sẽ thành công, có thể tôi sẽ thất bại, còn phải xem vận may của tôi nữa.

Thuật linh thông ai ai cũng có thể tu tập, nhưng nhất định phải nhớ gìn giữ chính niệm của mình, không cho phép sinh ra suy nghĩ sai lệch xấu xa. Thuật linh thông này không phân biệt chính tà, người chính tu thì nó sẽ chính, người tà tu thì nó sẽ tà, nếu có suy nghĩ xấu xa, tu tập không những không thể giúp người lợi mình mà rất có khả năng ngược lại là hại người hại mình, như thế thì chi bằng không tu, chỉ cầu ngoại công viên mãn, không cầu linh thông, cho đến khi có một ngày cơ duyên chín muồi thì lại tu cũng chưa muộn.

Có hai thanh niên chạy tới nhà tôi xin tôi ban cho bí thuật linh thông. 
”Dùng để làm gì?” - Tôi hỏi.
”Tò mò thôi.” - Một người trả lời.
Người kia thì nói lời rất đao to búa lớn rằng: 
“Để tìm bằng chứng cho sự thật giả của linh.” 
Người này cười nhếch mép, nét mặt tỏ vẻ coi thường.

Tôi nói:
”Các cậu có quyền không cần tin, thuật linh thông này chính là phát ra từ tâm mình, nếu tâm không chân thành thì làm sao có thể linh? Một người trong lòng chỉ có sự tò mò, tò mò thì chỉ để mua vui, không phải thành ý, một người chỉ vì muốn chứng minh thật giả thì làm gì có sự thành kính, trong lòng không thành kính thì làm sao có thể cảm thông linh lực? Các cậu không cần tìm tôi, ngược lại, hãy tìm cầu chính các cậu đi!”
Hai người họ bối rối bỏ đi.

Đúng vậy. Thuật linh thông là tuyệt đối chân thực, linh lực cũng là tuyệt đối chân thực, nguồn gốc của nó là cái gì? Chính là “chính mình”. Duy có sự tu luyện thành tâm thành ý của chính mình mới có thể đạt được.

Nếu đạt được dấu hiệu của linh lực giai đoạn đầu thì cũng đừng vội mừng, đây mới chỉ là bước công phu đầu tiên của tu Đạo, tương lai của nó còn dài lắm! Nếu có thể giữ được lòng kiên trì, không bỏ dở nửa chừng, làm nhiều công đức thiện, tiêu trừ nghiệp chướng nhiều kiếp, kiêm tu công phu nội ngoại như vậy, phúc huệ viên mãn, chắc chắn sẽ chứng đạo Bồ Tát, đến được trình độ này thì sẽ nhận ra những điều chí lý về linh lực trong thiên hạ này, trong cõi vô hình này.

Nếu gặp cơ duyên mà lại xem thường, không biết đời người quý ở chỗ biết tu mà vẫn còn bận rộn chạy theo tiền tài danh lợi mỹ sắc, tuổi già và cái chết đến gần mà vẫn không tự biết, cứ thế, một khi vô thường xảy đến thì đúng là: 
*“Thị phi thành bại quay đầu lại chẳng có,
Tịch dương ánh tà đã đỏ qua bao lần.”*


### 03. Sự thần kỳ của Ngũ Quang Bồ Tát


Tôi không biết lai lịch của Ngũ Quang Bồ Tát, cũng không biết khởi nguồn của ngài, nhưng ở đằng sau một cuốn kinh điển cực kì cũ kĩ, tôi đã đọc thấy thần chú Ngũ Quang Bồ Tát. Tôi tò mò đọc một đoạn thì thấy sau chú ngữ này có kèm thêm mấy hàng chữ nhỏ: “Chú này có công đức cao ngút trời đất, sức mạnh có thể lên tới thiên đình, cứu được sống chết bệnh nạn, công đức cực lớn. Đây chính là bảo chú cứu đời mà năm xưa Ngũ Quang Bồ Tát khi thăng thiên đã dành tặng.”

Tôi kiểm tra kinh chú ở khắp các nơi, chú ngữ Phật giáo không có thần chú Ngũ Quang, trong kinh chú Đạo gia cũng không có. Tôi lại lật giở tam mật đại chú thân-khẩu-ý của Mật tông cũng không có chú ngữ này. Tôi không nản lòng, lại tìm kiếm chú ngữ của phái Long Hoa, mật chú của bốn tông phái Thiên Thai, thậm chí cả kinh chú của Hiên Viên giáo, nhưng đều không tìm thấy ghi chép về thần chú Ngũ Quang Bồ Tát. Lúc này tôi nghĩ, chẳng lẽ vị Ngũ Quang Bồ Tát này là Bồ Tát hiển hóa trong lúc lên đồng viết chữ chứ không phải là thật có điển cố để mà tham khảo, vậy thì không cần phải quá coi trọng.

Mãi cho đến một hôm, bạn thân của tôi là Văn Tường Anh không may bị xe tải đâm trúng từ đằng sau, hôn mê bất tỉnh nhân sự, nằm trong phòng chăm sóc đặc biệt của bệnh viện. Theo kiểm tra của bác sĩ, xương chân bị gãy bên trong, da thịt bị rách, đã khâu 53 mũi, nghiêm trọng nhất là não bị chấn động, không phải là nhẹ mà khá nặng. Bác sĩ lắc đầu, cho rằng chín phần chết một phần sống, tính mạng không còn hy vọng gì nữa! Tôi chạy vội đến bệnh viện, Văn Tường Anh đã nằm đó một ngày một đêm, mắt còn chưa mở, từ đầu tới cuối vẫn hôn mê trên giường, khuôn mặt nhợt nhạt còn lộ ra màu sắc xám lạnh. Bác gái Văn nước mắt như mưa, hoàn toàn bất lực.

“Thắng Ngạn, cháu có cách gì có thể khiến cho Tường Anh tránh được nạn này không? Cả đời nó hiền lành, cũng chưa từng mắc lỗi gì nặng, vì sao lại gặp phải nạn lớn như vậy chứ? Tường Anh bình thường rất kiền thành lạy Phật, Phật Tổ cũng nên phù hộ cho nó mới phải chứ!” - Bác gái Văn nghẹn ngào nói.

Tôi nghe bác gái nói như vậy, trong lòng cũng rất đau buồn. Văn Tường Anh tin Phật cũng là do tôi dẫn dắt, bình thường cô ấy cũng niệm Phật, có một khoảng thời gian cũng sống trong chùa, sớm tối thực hành công khóa, tâm địa thuần thiện, nói như vậy thì cô ấy cũng không nên là một người phải chết yểu.

“Bác gái, Tường Anh chắc sẽ không gặp chướng ngại lớn đâu, cũng có khả năng bác sĩ kiểm tra sai rồi, cháu sẽ thay cô ấy niệm chú ngữ, hy vọng chư Phật Bồ Tát sẽ mau chóng cảm động, có thể cứu mạng cô ấy, như vậy thì tốt rồi.” 

Tôi nghĩ đến việc niệm chú, nhất thời không biết trì chú gì mới tốt. Chú Lăng Nghiêm, chú Đại Bi, chú Kim Cang, tâm chú đều từ trong tâm tôi trôi tuột ra, cuối cùng tôi nghĩ đến thần chú Ngũ Quang Bồ Tát “cứu được sống chết bệnh nạn” kia. Thế rồi tôi tìm một cái ghế tựa, ngồi quay mặt về phía cửa sổ, nhìn ra trời xanh mây trắng bên ngoài cửa sổ, tay kết tâm ấn, trong lòng cung kính phụng thỉnh: “Đệ tử Liên Sinh, một lòng phụng thỉnh thần linh đi qua đi lại các cõi trời, nay Văn Tường Anh gặp nạn sắp chết, Liên Sinh kính cẩn dùng thần chú Ngũ Quang Bồ Tát gia trì, mong rằng chư Phật Bồ Tát theo lời thề nguyện cứu khổ cứu nạn mà ban sức mạnh từ bi phù hộ…” Tôi ngồi đó niệm chú, một lúc sau, trong phòng bệnh tràn ngập khí cát tường, mùi đàn hương không biết từ đâu đưa tới.

Tôi niệm thần chú Ngũ Quang Bồ Tát, niệm trơn tru như nước chảy mây trôi, không bỏ sót một chữ nào, tâm linh tôi thanh tịnh như nhập vào trong cảnh ngộ quên mất chính mình, chỉ có chú ngữ Ba-la-mật từng câu từng câu như những đóa hoa sen nở ra. Cảm nhận tâm linh đạt đến cực độ, dường như có nước ngọc ngọt ngào từ trên bầu trời kia đi vào trong cổ họng tôi, từ trên xuống dưới, trời đất giao cảm. Tôi quên luôn tôi đã niệm bao nhiêu biến chú ngữ. 

Vào ngày thứ hai sau khi tôi niệm xong chú ngữ thì Văn Tường Anh tỉnh dậy, bác trai bác gái Văn và những người bạn thân thiết đều mừng mừng tủi tủi. Tổng cộng cô ấy ở trong bệnh viện an dưỡng nửa tháng, rồi an dưỡng tại nhà nửa tháng nữa thì mới xem là bình phục. Các bác sĩ chủ trị cho rằng não của Văn Tường Anh bị chấn động mà có thể hồi phục nhanh như vậy có thể xem như là một kỳ tích rất lớn.

Sau sự việc đó, Văn Tường Anh gặp ai cũng kể, trong lúc hôn mê, cô ấy bị hai con quỷ trói lại, từ một con đường lớn sáng rực rỡ rẽ vào một con ngõ nhỏ tối tăm. Cô ấy gắng sức vùng vẫy nhưng không thể thoát ra được. Hai con quỷ đó diện mạo dữ tợn, cực kì đáng sợ, cô ấy cũng hét to kêu cứu, nhưng nơi hoang vu mênh mông không một bóng người. Ở nơi âm u tối tăm này, họ đi đến bên một con sông lớn, trên con sông ấy sóng cao ngút trời, từ bờ bên này không nhìn thấy bờ bên kia, trên bờ có một con thuyền nhỏ, hai con quỷ giữ chặt hai bên ép cô lên thuyền. Trong lòng cô ấy vô cùng hoảng sợ, cực lực đấu tranh. Đúng vào lúc này, bầu trời đột nhiên sáng rực rỡ, xuất hiện một vị Bồ Tát hiền từ, ánh sáng ấy phát ra từ tòa hoa sen của Bồ Tát, chỉ nghe Bồ Tát nói: 
“Hai vị âm sai, hãy thả người này, người này trả về cho ta.”

Hai con quỷ nghe lời, quỳ xuống đất rập đầu, rồi lập tức cởi dây trói. Bồ Tát ngâm thơ: 
*“Sấm sét vô tư nổ một tiếng
Thiện ác thế gian đều phân minh
Người nào ngày ngày làm phương tiện
Tai qua nạn khỏi đón phúc vào.” *
Còn nói: 
“Ta chính là Ngũ Quang Bồ Tát, mau đi theo ta.” 
Bồ Tát lập tức hóa thành một đường ánh sáng trắng đi ở phía trước, còn Văn Tường Anh ở phía sau đi theo ánh sáng trắng, đi ra khỏi con đường nhỏ quanh co ngoắt ngoéo, cho đến tận khi tỉnh lại. 
Bác gái Văn và Văn Tường Anh luôn miệng nói cảm ơn tôi.

Tôi nói: 
“Việc nhanh chóng có sự cảm thông tâm linh này đều là do bản thân Tường Anh có tâm địa thuần thiện, ngày thường niệm Phật mới có thể cảm thông. Bản thân cháu chỉ là cố gắng hết sức làm việc nên làm mà thôi, còn Bồ Tát y theo nguyện lực mà cứu giúp, cũng không phải là không phân thiện ác, vẫn là phải cẩn thận nghiệp lực của mỗi người. Nếu tạo ác nghiệp phải mau mau sám hối, điều này là quan trọng.”

Tôi kể sự việc thần kỳ của Ngũ Quang Bồ Tát này cho một vị xuất gia, vị xuất gia này là trụ trì của một ngôi chùa ở miền Nam. Ông ấy trầm ngâm một lúc rồi nói: 
“Ngũ Quang Bồ Tát à? Thật sự là chưa từng nghe qua, thần chú của Ngũ Quang Bồ Tát thì lại càng chưa từng nghe nói đến. Có lẽ nói không chừng lại là mật chú của tiên linh ngoại đạo. Lư Thắng Ngạn, nếu anh học Phật thì hãy y theo chú ngữ của Phật gia để gia trì là được, không nhất định phải niệm thần chú Ngũ Quang Bồ Tát đâu.”

Chính vì đại sư phụ nói như vậy nên không ai biết thần chú Ngũ Quang Bồ Tát, tôi không dám trì bừa, cho nên cũng dần dần buông lơi. Trái lại, tôi trì Thất Phật diệt tội chân ngôn hàng ngày rất chu đáo, cuối cùng tôi dùng Thất Phật diệt tội chân ngôn làm tâm chú trì tụng lâu dài của mình.

Cho dù không ai biết đến thần chú Ngũ Quang Bồ Tát, nhưng tôi từng trì chú này, cũng xem như là có một đoạn nhân duyên, nên tôi đặc biệt ghi lại, biết đâu trong biển người, có ai đó có thể biết nguồn gốc của Ngũ Quang Bồ Tát, vậy thì sẽ giải tỏa được thắc mắc trong lòng tôi.


### 04. Nghiệp báo không hề dễ chịu


Chương trước có nói đến chú ngữ, chú ngữ tự nhiên cũng có chú lực, nhưng nếu một người ác trì chú, nếu ác nghiệp của người đó sâu nặng, nghiệp lực và chú lực sẽ khử lẫn nhau, nếu nghiệp lực lớn thì chú lực cũng không cách nào khử hết được tà. Cho nên nghiệp báo không hề dễ chịu, điểm này không hề giả một chút nào.

Vì tôi siêng năng tu Đạo pháp, tìm hiểu về Đạo và tìm hiểu người tài đức, tính cách tôi thích nghiên cứu tôn giáo, tôi cũng có không ít bạn bè thành tựu về phương diện này, trong số những người tôi biết có một câu chuyện như thế này, là chuyện có thật và chính tôi cũng tham dự vào. Người này mặc dù đã không còn ở tại nhân gian nữa, nhưng cũng không ít người biết đến, nên tôi đặc biệt giấu tên, mượn một cái tên giả để gọi, mong bạn đọc thông cảm.

Pháp sư Hoành Huyền là người Tân Doanh, Đài Loan, xuất gia tại một ngôi chùa ở Thổ Thành, Đài Bắc. Hoành Huyền tốt nghiệp cấp ba xong, vì nhiều yếu tố gia đình và hoàn cảnh nên đã đi đến miền Bắc mưu sinh. Sau khi trải qua nhiều thất bại khi tìm kiếm việc làm ở Đài Bắc, anh kết bạn với một người xuất gia, người xuất gia kia độ cho anh ấy xuất gia làm tăng, anh ấy cũng hoan hỷ tiếp nhận, lấy pháp hiệu là Hoành Huyền. Thường ngày anh trồng rau trồng cây ăn quả ở sau chùa, các giờ lên lớp sáng tối cũng khá nghiêm túc. Có một lần, tác giả gặp mặt pháp sư Hoành Huyền tại Thập Phương Đại Giác Viện ở Cơ Long, đó là địa điểm tổ chức một pháp hội lớn, pháp sư Hoành Huyền đảm nhiệm là người dẫn đọc tán văn. 

Hoành Huyền có nhận thức khá sâu về Phật lý, tài ăn nói rất tốt, tôi từng thỉnh thị anh ấy lý thuyết về thị tịch, câu trả lời của anh ấy rất toàn vẹn. Sau này tôi trở về miền Trung, chỉ có thư từ qua lại. Tôi nghe người ta nói, Hoành Huyền từng là chủ tọa của một nhóm tụng kinh trong một ngôi chùa lớn ở Đài Bắc, người học tụng kinh mỗi người phải nộp 500 tệ (hàng tháng), hơn nữa khi đi tụng kinh ở bên ngoài, những chi phí thu được đều bị Hoành Huyền độc chiếm. Sau đó, do xảy ra tranh chấp với trụ trì của ngôi chùa lớn đó, ồn ào đến mức không còn vui vẻ với nhau nữa, chủ chùa tố cáo Hoành Huyền muốn chiếm đoạt tiền quỹ của chùa, Hoành Huyền cũng tố cáo trụ trì của chùa tham ô tiền hương đèn. 

Người xuất gia dính líu đến tài sản của nhà chùa đúng là đem phân bôi lên đầu Phật. Một người tu trì thanh tịnh cần phải nhìn thông suốt, Phật ở trong tâm, trong tâm chính là một đại điện, một ngôi chùa, hà tất phải tham tài sản hữu hình của chùa chứ! So đo từng tí một tài sản của nhà chùa, về cơ bản chẳng khác gì những kẻ phàm phu tranh giành tiền bạc. Bản sắc của người xuất gia chính là “tứ đại giai không” [thế gian tất cả đều là hư vô], loại bỏ hết ba thứ độc [tham sân si], sáu tặc [mắt tai mũi lưỡi thân ý] cũng không dính vào sắc thanh hương vị xúc pháp, giữ giới như thế mới xem là bước đầu tiên của công phu thiền định. Pháp sư Hoành Huyền đã hiểu biết Phật lý nhưng lại có tham niệm và sân niệm rồi, thật là bi ai!

Trong kinh Niết Bàn có bài kệ vô thường:
*”Tất cả các thế gian,
Người sống đều sẽ chết
Thọ mệnh dù vô lượng
Rồi đến lúc cũng tàn.
Người mạnh ắt yếu suy
Gặp gỡ ắt ly biệt
Tuổi xuân đâu giữ mãi
Tham sắc bệnh đến thân
Khổ luân là vô cùng
Lưu chuyển không ngừng nghỉ
Tam giới đều vô thường
Mọi có đều chẳng vui.”*

Hoành Huyền còn trẻ, nhưng vô thường đến trong chớp mắt, anh ấy mắc bệnh ung thư xương, tất cả bác sĩ đều bó tay, chỉ trong vòng hai tháng ngắn ngủi, mạng sống của anh đã đi đến điểm cuối của cuộc đời. Căn bệnh ung thư xương này đột ngột cướp đi mạng sống của Hoành Huyền, khiến cho những người bạn quen biết anh ấy cảm thấy vô cùng thương tiếc, tuổi đời mới 28 còn trẻ lắm, thế mà đã đi hết hành trình cuộc đời này rồi, có thể nói là bất hạnh.

Tôi biết Hoành Huyền qua đời, ở trong Phật đường tại nhà mình, tôi cũng sắp đặt đèn cúng âm, đặt linh vị của pháp sư Hoành Huyền, tôi vẫn luôn thích tụng kinh Địa Tạng, “Kinh Bản Nguyện Địa Tạng” công đức cũng lớn, tụng cũng bất khả tư nghì. Tôi sâu sắc biết rằng địa ngục của âm ty cũng chính là địa ngục của lòng người, lòng người nếu không có địa ngục thì địa ngục của âm ty mới trống không được.

Tôi tụng kinh đến ngày thứ bảy, khi đến phẩm “Như Lai tán thán”, đột nhiên tôi cảm thấy chữ trong kinh Địa Tạng cũng to dần ra, từ trong con chữ nở ra một đóa hoa sen trắng, sau đó hoa sen mà tôi nhìn thấy lại biến mất, rồi tôi nhìn ra xung quanh thấy mình đã đang ngồi ở trong một góc của điện Sâm La, các lính quỷ đang đi đi lại lại xung quanh.

Phán quan âm phủ trong điện Sâm La đang phán xét một người, người này không ngờ lại là pháp sư Hoành Huyền mặc áo cà sa. Phán quan lệnh cho lính quỷ lột bỏ áo cà sa của Hoành Huyền, lính quỷ lột áo cà sa xong thì cung kính lạy chiếc áo cà sa, sau đó phán quan lại ra lệnh đeo gông vào tay và xích chân. Hoành Huyền lúc này ngửa mặt lên trời thở dài, hai mắt nhắm lại, trong miệng bất giác niệm chú Đại Bi. Vừa mới niệm được một chữ của chú Đại Bi thì xiềng xích trên tay chân tự nhiên rơi xuống đất. Nhưng hễ Hoành Huyền dừng niệm chú thì xiềng xích lại tự động bay trở về khóa chặt Hoành Huyền lại. Hoành Huyền lại niệm chú thì xiềng xích lại hóa thành hai đóa hoa sen trắng, từ từ bay lên không. Phán quan rất kinh hãi.

Đúng vào lúc này lại nghe thấy Diêm Vương hét lớn: 
”Chú Đại Bi chính là Thiên Thủ Thiên Nhãn đà-la-ni, tăng đạo biết chú này có chú lực rất lớn, mau đưa đến chỗ lục đạo luân hồi, cho đầu thai làm trẻ con của kẻ tham sân, sau đó lại lệnh cho hắn chết, lại bắt linh hồn hắn về đây, lại chịu hình phạt. Luân chuyển một lần là tự nhiên sẽ quên hết chú ngữ, theo nghiệp lực mà định tội hắn, để người đời biết rằng nghiệp báo không hề dễ chịu, một chút xíu cũng không được qua loa.”

Tôi nghe đến đây thì mới hiểu ra sự lợi hại của nghiệp lực chốn nhân gian, cho dù có chú lực gia trì thì âm ty cũng có cách để trừng phạt. Chú lực mặc dù lớn, Phật pháp cũng vô biên, nhưng không có duyên lành thì cũng không có cách nào được độ đâu! Tôi cảm thán đến đây thì lại cảm thấy mình đã trở về trong Phật đường ở nhà mình, hai tay tôi chắp lại cung kính niệm Thánh hiệu Địa Tạng Vương Bồ Tát thì nghe thấy Địa Tạng Vương Bồ Tát nói với tôi rằng: 
“Liên Sinh, Hoành Huyền nghiệp chướng sâu nặng, dù hiểu biết Phật lý nhưng lại làm điều ngược lại, thiện ít ác nhiều, hắn mặc sức tranh lợi, khởi duyên tà ác, do vậy tự tâm tạo ra nhân ác của địa ngục. Thân làm sa môn nhưng tâm không phải sa môn, quả báo địa ngục chẳng hề dễ chịu, anh hãy khuyên thế nhân đừng có tranh thủ làm lợi, cho rằng việc ác nhỏ thì có thể làm. Vừa nãy là ta khiến cho thần thức của anh tự đi vào cõi u minh để xem phán định, Liên Sinh, hãy thận trọng, thận trọng, thề nguyện chừa không phạm mới có thể tránh được hình phạt của địa ngục.”

Tác giả nghe ngài Địa Tạng nói, trong lòng cũng không rét mà run. 
Vì tôi có được kỳ duyên, rất nhiều việc bất khả tư nghì phát sinh trên người tôi, việc thấy thần thấy Phật thấy ma, nghe được âm thanh kỳ dị của linh giới truyền đến của tôi, với người bình thường mà nói thì thần kỳ quá mà không dám tin, còn với tôi mà nói thì là việc hết sức bình thường, không hề hệ trọng. Song, bạn đọc tin cũng được, không tin cũng được, nhưng tuyệt đối hãy ghi nhớ lời của tôi: “Nghiệp do tâm chuyển, báo ứng chẳng sai.” 


### 05. Linh hóa nghìn vạn


Tính chất của linh hồn là thiên biến vạn hóa, nhưng lại không tăng không giảm, điều này giống như mặt trăng sáng trên bầu trời vậy, mặt trăng chiếu lên những làn sóng xanh của nghìn dòng sông trở thành huyễn ảnh nghìn mặt trăng trên sông, mặt trăng thật vốn chỉ có một, nhưng lại huyễn hóa thành nghìn nghìn vạn vạn mặt trăng. Cũng giống như mặt trời chiếu sáng 360 độ ra bốn bề, bao phủ khắp trên dưới vũ trụ, trở thành chúa tể của hệ mặt trời. Tính chất của linh hồn cũng như vậy.

Thỉnh thoảng, tôi nhìn thấy linh tiên do thần tiên huyễn hóa ra, khi nhỏ thì giống như một hạt cải, thậm chí có thể ẩn thân trong một giọt nước, khi thân huyễn hóa của họ lớn ra thì không ngờ có thể che phủ cả bầu trời. Trong phạm vi thị giác của mình, tôi thấy toàn bộ là thân thể huyễn hóa của một mình vị đó, mặt của vị đó chính là trời, trời của vị đó chính là mặt, hai hợp làm một, hiếm có kỳ lạ dị thường. Đây cũng chính là tâm cảnh của trời người hợp nhất.

Nếu con người có sẵn tính linh thông thì có thể kết nối giao tiếp với vô số linh tướng trong vũ trụ, tôi cho rằng đây chính là linh thông, và cái mà ta có được có thể gọi là linh cảm. Những tính năng này của linh không chỉ là thế giới bốn chiều mà thậm chí là năm chiều, sáu chiều, bảy chiều, sẽ lần lượt xuất hiện. Kiến thức về linh hồn rất sâu, con người mượn sức mạnh linh thông để sinh ra thần toán, thần toán trong biển linh chỉ có thể xem là một tiểu thuật mà thôi, suy cho cùng vẫn khác biệt rất xa so với với chân nguyên của linh lực.  

Tác giả may mắn có được sự giáo huấn của vị linh sư vô hình Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, hơn nữa còn gặp được Thanh Chân Đạo Trưởng của phái Thanh Thành chỉ thị linh cơ, giờ đây có thể giao tiếp với quỷ thần, không dám tự xưng là bậc cao minh, chỉ mong còn có thể tiến lên một bậc, được Tiên Thiên Vô Cực Đại Đạo cân nhắc lựa chọn để vĩnh viễn được làm tiên gia, không phải chịu luân hồi nữa, đây mới là mục đích chân chính của tôi khi tu linh tu đạo.

Cái gọi là “linh hóa nghìn vạn” chính là cái ngã này là Pháp thân Phật, có tất cả thiện tướng mà trở thành Báo thân Phật, Hóa thân Phật. Cái ngã này có ba Phật danh, ba hợp làm một, chính là chân ngã. Độc giả hãy suy ngẫm kĩ lưỡng câu nói ở trên thì có thể biết thiên hạ vạn linh đều là: phân ra thì là nghìn vạn, hợp lại thì là một.

Có người hỏi: 
“Con giun đứt thành hai nửa, hai nửa đều động đậy, vậy Phật tính nằm ở nửa nào?”
Trường Sa đáp: 
“Đừng vọng tưởng được không?”
Có người hỏi: 
“Vì sao nói như vậy?”
Đáp rằng: 
“Hai nửa vẫn động đậy chính là vì phong hỏa còn chưa tản mát, nếu bàn về Phật tính thì cả hai nửa đều có.”
”Phật tính vốn là một, làm sao mà hai nửa đều có chứ?”
”Phật tính đâu chỉ có hai, Phật tính có trăm nghìn vạn triệu không thể nào nói, không thể nào đếm.”
”Con giun cũng có hóa thân Phật tính ư?”
”Con giun nếu không có, chư Phật cũng không có, chư Phật nếu có, con giun cũng có, cho nên nói: cao thì lên đến chư Phật, thấp thì xuống tới những vật có chứa linh đều có Phật tính, đạo lý vốn là như vậy, đừng nói bừa.”

Từ đoạn đối thoại ở trên có thể biết những vật có chứa linh đều có sự tồn tại của Phật tính, linh hóa nghìn vạn lại càng là một sự thật không thể bàn cãi. Từng có người hỏi tôi:
“Thầy Lư, hôm nay mấy vạn tín đồ của Ma Tổ ở Lan Cung của khu Đại Giáp đến thắp hương Ma Tổ ở Triều Thiên Cung ở khu Bắc Cảng, biển người chen chúc trong miếu, miếu không thể chứa được hết, ai nấy đều cầm hương đứng từ ngoài đường lớn, liên tiếp mấy con đường, cúi đầu sát đất phục lạy rồi cầu nguyện, xin hỏi Ma Tổ chỉ có một vị, làm sao mà nghe được hết lời cầu nguyện của nhiều người như vậy?”
”Linh hóa nghìn vạn.” - Tôi nói.
”Lẽ nào một vị thần Ma Tổ có thể biến hóa thành nghìn nghìn vạn vạn Ma Tổ, mỗi một vị Ma Tổ lại nghe cầu nguyện của mỗi một chúng sinh sao?”
”Đúng vậy. “Kinh Hoa Nghiêm” nói thế này: Thân Phật đầy khắp pháp giới, phổ hiện trước tất cả chúng sinh, tùy duyên mà đi cảm ứng chúng sinh chu toàn hết thảy, nhưng vẫn mãi ngồi tại Bồ Tát tọa này. Còn nói: chư Phật Thế Tôn có cảnh giới bất khả tư nghì không gì sánh bằng, đây gọi là tất cả chư Phật ngồi xếp bằng tại một chỗ nhưng vẫn ở khắp mười phương vô lượng thế giới. Tất cả chư Phật thuyết một câu nghĩa lý đều có thể khai thị tất cả Phật pháp. Tất cả chư Phật phóng một ánh sáng đều có thể chiếu khắp tất cả thế giới. Tất cả chư Phật ở trong một thân nhưng đều có thể thị hiện tất cả các thân. Và như thế, Ma Tổ chính là Bồ Tát thị hiện, mỗi một vị Ma Tổ tự nhiên có thể nghe được cầu nguyện của mỗi một chúng sinh.”

Viết đến đây, tôi nghĩ đến người đời chẳng biết tí gì về linh giới lại chê cười tôi mê tín, chỉ trích tôi hoang đường, hoặc có người gọi tôi là đồ thần kinh điên loạn. Bản thân tôi biết, trong lòng tôi hiểu rõ, chúng sinh u mê đến khi nào mới có thể ngộ ra đây! Tôi lớn tiếng kêu gọi khuyên người ta tin thiện, đáng tiếc là người người mê đắm vào nhân gian có hình có tướng ngắn ngủi này, chấp vào giả ngã mà cho rằng đó là chân ngã. Sao họ không thử nghĩ đến những ngôi mộ hoang ở vùng hoang dã, sống cũng hoang đường, chết cũng hoang đường, duy có cắt đứt sinh tử mới xem là không hoang đường mà cầu chân lý thôi! 

Tác giả được Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh truyền cho Tử Phủ Bí Văn, Tử Phủ Bí Văn này còn gọi là Thiên Ấn Chân Văn, còn gọi là Cửu Thiên Huyền Ẩn, còn gọi là Kim Thư Ngọc Triện, vì thế mà biết được điều chí lý về tổ khí nguyên thủy phổ hóa vạn thần, linh hóa nghìn vạn, thiên địa huyền tông. Người thời nay nếu có ai không tin vào những gì được viết trong bài viết này thì cũng tức là người chưa hiểu chân lý.


### 06. Thần toán vận mệnh


Có rất nhiều người tin vận mệnh, cũng có rất nhiều người không tin vận mệnh, bất kể là tin hay không tin, tôi cho rằng đều đúng. Có lẽ bạn đọc sẽ cảm thấy kỳ lạ, vì sao cả hai đều đúng chứ? Tôi chỉ có thể trả lời một câu đơn giản là: Vận mệnh là có, nhưng nếu con người có thể nỗ lực tinh tấn thì tự mình có thể thay đổi vận mệnh của mình, vận mệnh có thể thay đổi thì chẳng phải là không có vận mệnh sao?

Tác giả là người theo thuyết có quan niệm về số mệnh chính cống. Tôi không những biết được vận mệnh trong đời này của mình mà còn biết được vận mệnh của kiếp trước, thậm chí tương lai tôi muốn đi về đâu, tự trong lòng tôi đã hiểu rõ, vì thế tôi vui vẻ và hài lòng. Cho dù có lúc gặp phải số mệnh xấu, tôi cũng không dám oán trời trách người. Trước mắt tôi tự mình xem cho mình thì con đường tôi đi là quẻ kháng cửu, đó là quẻ khi mệnh gặp đại kiếp thì bạn bè coi mình như người dưng, thế nhưng đây là bụng sóng trong những cơn sóng vận mệnh, tiếp theo sẽ mở ra cơ hội, qua cơn bĩ cực đến hồi thái lai, kết quả của sự phấn đấu cả đời của tôi chắc chắn sẽ có lúc đại thành công.

Thông hiểu nhân quả kiếp trước không được xem là người có đại thần thông, có một số người đại thần thông thậm chí có thể biết được trên năm trăm kiếp, biết trên mấy nghìn kiếp, thậm chí trên mấy vạn vạn vô lượng số kiếp đều biết được hết. Những bậc đại giác có túc mệnh thông này gồm có Phật, Bồ Tát, La Hán, thậm chí bậc giác giả ngoại đạo, Bích Chi Phật, thiên thần, v.v… Như tôi chỉ biết kiếp trước, dự đoán được kiếp sau, nên chỉ có thể xem là tiểu thần thông.

Thần toán vận mệnh đúng ra là vô cùng chính xác, vị thần chúa tể của vận mệnh không phải người nào khác mà chính là bản thân mình. Điểm này trong kinh “Phật Thuyết Nhân Quả Ba Đời” đã thể hiện rất rõ ràng, nhân quả ba đời nói rằng: “Muốn biết chuyện kiếp trước, là kiếp này đang chịu, muốn biết chuyện kiếp sau, là kiếp này đang làm.”

Thật ra điều này phù hợp với logic khoa học, con người vừa sinh ra trời đã định sẵn vận mệnh, đây cũng chính là vận mệnh bẩm sinh, vận mệnh bẩm sinh từ sớm đã định sẵn cuộc đời của một con người là phồn vinh hay khô héo, thậm chí tuổi thọ, tài vận, con cái đều có định số rồi. Quỹ đạo của vận mệnh bẩm sinh đã định trước trên bát tự, tướng mặt, bàn tay, khung xương, v.v… vì thế, những thầy đoán mệnh có thể từ bốn cơ sở này để suy ra số phận, từ những dấu vết trên ngũ quan, vân tay, dấu vết trên khung xương mà suy đoán cuộc đời của người này, những điều này thật sự là không sai.

Và vận mệnh sau này từ trong họ tên, thói quen, thiện ác có thể đoán ra, đây thuộc về pháp đoán mệnh có hình có tướng. Pháp đoán mệnh này thông thường tự thành một quy cách, thuộc về pháp ở mức độ tiểu thừa, dễ thay đổi theo tập khí giang hồ, không dễ đạt đến mức độ thượng thừa. Nhất là ngày nay có rất nhiều hạng nhân sĩ đi lang bạt khắp nơi, dựa vào ba tấc lưỡi có tài ăn nói bẻm mép mà khuyên người ta cúng tế cải vận, lừa tiền lừa sắc của người ta, khiến cho môn đoán mệnh vốn dĩ thanh cao bị ô nhiễm. Ở đây là do phẩm cách của con người ô uế, không liên quan đến hai chữ “đoán mệnh”.

Còn về thần toán thì cũng giống như xem bói, có thể phân ra theo các kiểu lên đồng xem bói, cũng có thể phân ra theo các kiểu bói toán. Dựa theo lý mà nói cũng có sự trà trộn giữa “Thiên diễn hoàng số” của Đại thừa và “Kê toán linh ngữ” của Tiểu thừa, trong đó có dịch chiêm, Văn Vương khóa, bói bài, Hoàng cực, bói rùa, bói tiền. Còn về bói mộng, Thái Ất lý số, kê đồng, phù kê, viên quang, nhập định quán, quán khí, linh thông, thần thông, tất cả đều bao gồm ở trong thần toán rồi, nhiều phương pháp cũng cực kì xuất sắc, cũng không thể tưởng tượng được, có thật có giả, có chuẩn có không chuẩn. Thần toán cao minh nhất chính là thần thông, biết quá khứ vị lai, thành tiên thành Phật, vận chuyển pháp luân trong tâm, trở thành bậc đại thần thông trời biết đất biết ta biết. 

Đại bộ phận phàm phu, vận mệnh mà họ đi gần như đều là do trời định, cũng có vận mệnh do số phận đặt ra, rất ít người có hiện tượng tự mình thay đổi, cho nên những người đoán mệnh, nếu đoán theo vận trời sinh thì nói mười trúng chín, rất ít khi có điều không chuẩn, đặc biệt là môn thần toán bằng cách sờ xương thì chuẩn xác trăm phần trăm. Nhưng nếu có người hiểu đạo lập mệnh, phá bỏ vận mệnh của chính mình thì lời của người đoán mệnh cũng sẽ không chuẩn. Năm xưa Viên Liễu Phàm tiên sinh gặp được Khổng tiên sinh, Khổng tiên sinh có sở trường Hoàng cực diễn thuật, vận mệnh ban đầu của Viên tiên sinh giống như được người ta sắp xếp hết cả, nhưng kể từ khi Viên Liễu Phàm được Vân Cốc thiền sư truyền cho môn học lập mệnh, biết vận mệnh có thể thay đổi được, việc cải vận đều nằm ở chính mình, từ đó mới thay đổi vận mệnh sau này của mình. Đây chính là ghi chép chân thực trong cuốn sách “Liễu Phàm Tứ Huấn”.

Tôi cho rằng cải vận cần dùng bí quyết của hai chữ, một là “thành”, hai là “hành”. Chân thành có thể cảm động trời, thành tâm thành ý sám hối quá khứ, bày tỏ nỗi lòng. Còn hành chính là phát đại nguyện, làm đại thiện, như vậy vừa thành tâm vừa hành động, làm một cách đến nơi đến chốn, nhất định có thể thay đổi vận mệnh cuộc đời của chính mình. Làm việc thiện lớn không phải là công sức của một ngày, mà là liên tục không dừng, làm mãi mãi không ngừng nghỉ, thiên thần cảm ứng, bất hạnh đi qua may mắn kéo đến, phúc quang thường chiếu, cho dù vận xấu ập xuống đầu cũng có thể được ánh sáng cát tường che chắn cho.

Tác giả dùng linh thông để thần toán cho người ta cũng tới sáu năm, ứng nghiệm như thần, những câu chuyện ứng nghiệm có kể ra cũng không kể hết. Trong đó có một người đến từ đường Bác Ái thành phố Hoa Liên, anh ta khoảng ngoài 30 tuổi, họ Ngô tên Vĩnh Nghi. Anh ta đến Phật đường của tôi, không hề lên tiếng nói một câu nào, đặt mảnh giấy có viết họ tên và địa chỉ ở trước mặt tôi. Tôi chắp tay lại vận linh, một lúc lâu sau vẫn không có tin tức gì từ linh giới.

“Quái lạ, đây là loại người gì? Vì sao không tra ra được vận mệnh của người này?” - Trong lòng tôi hoài nghi.
”Vận mệnh của tôi thế nào?” - Người đó lạnh lùng hỏi.
”Xin lỗi! Vẫn đang phải làm phiền thần thánh điều tra!” - Tôi mặt đỏ tai nóng, trong lòng nghĩ: “Hiện tượng này rất hiếm gặp, lẽ nào họ tên và địa chỉ có vấn đề sao?”

Tôi mở linh nhãn ra thì nhìn thấy trong mờ mịt xuất hiện cây thập tự, tôi hỏi anh ta: 
“Anh là tín đồ Cơ Đốc phải không?”
”Vậy thì làm sao? Lẽ nào tín đồ Cơ Đốc thì không tra ra được vận mệnh sao?” - Anh ta vẫn nói giọng lạnh lùng.
”Tín đồ Cơ Đốc vẫn có vận mệnh của tín đồ Cơ Đốc, nhưng nếu họ tên và địa chỉ của anh là giả thì rất xin lỗi, anh đến đây là để thăm dò, thần minh cao thượng, đâu dễ để người ta sỉ nhục, các vị không trả lời anh là có lập trường của thần thánh. Tôi nghĩ, họ tên và địa chỉ của anh chắc chắn có vấn đề.” - Tôi nói. 
Bởi vì tôi nhìn thấy ngón tay của thần minh chỉ lên trên tờ giấy trắng, rồi còn xua tay.

“Tên thật của anh là gì?”
”Ngô Sâm Nghi, chỉ khác một chữ. Địa chỉ chỉ khác mấy số.” - Lần này đổi lại là anh ta mặt đỏ tía tai, anh ta nói: “Đường Bác Ái ở Hoa Liên là nhà thờ mà tôi tham gia gặp gỡ, thuộc hội thánh Baptist. Tôi vốn không tin mấy trò này của anh, nhưng bây giờ thì có đôi chút tin rồi.”
”Anh có quyền không tin, nhưng tuyệt đối đừng đến thăm dò, thần linh và kẻ hèn này không hoan nghênh người đến thăm dò, anh có khó khăn, có lẽ tôi cũng có thể giúp anh, nhưng nếu thăm dò thì anh mãi mãi không có được sự trợ giúp của thần linh, đó là tổn thất vĩnh viễn của anh.”

Ngô Sâm Nghi lủi thủi ra về. Trên thế giới này, người như anh ta rất nhiều, con người thật quá phức tạp. Đây chính là “một hạt gạo nuôi dưỡng trăm loại người”, mỗi người đều khác nhau. Lại còn có người quá đáng hơn nữa, tùy tiện tìm một người đã qua đời đến để hỏi vận mệnh, giả như không phải là thần linh thần kỳ thì gặp phải những người này đúng là bạn đã xui xẻo tám kiếp rồi. Những người xem bói thông thường, công lực đạo hạnh kém một chút thì nhất định sẽ bị thử thách thất bại. Còn tôi dựa vào thần lực, người đến hỏi nếu sỉ nhục thần minh, căn bản là thần minh sẽ lờ đi chẳng thèm cất tiếng.

Không dễ coi khinh thần toán vận mệnh đâu.


### 07. Có nhân không duyên


Phần nhiều vạn sự vạn vật đều có nguyên do, có thể nói là đều theo một dạng hình thành và tuần hoàn có quy luật, nằm trong quy luật này bao gồm cả luân hồi, bao gồm cả nhân quả, hai chữ “nhân quả” này đích thực đích xác có tồn tại. Theo nghiên cứu của tôi, kì thực nói trắng ra thì logic học của người nước ngoài cũng là một dạng diễn hóa của luật nhân quả mà thôi, giải thích đơn giản về nhân quả chính là: “Trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu.”

Từ đầu đến cuối tôi luôn cảm thấy rằng, trên thế giới này không có người ác một trăm phần trăm, cũng không có người thiện một trăm phần trăm, làm ác hay làm thiện chỉ nằm trong một niệm mà thôi. Cho nên người tu đạo chủ trương kiểm soát tâm, thật sự là rất có đạo lý. Công phu kiểm soát tâm chính là “một lòng quản ý, hành động đoan chính, chỉ làm việc thiện, không làm điều ác, tự mình vượt qua, thu hoạch phúc đức”. Cũng tức là “kẻ bỏ mặc tâm, rồi sẽ hối hận, họa buông thả tâm, nặng tựa Tu Di”. Có một số người mặc dù không có tâm làm ác, nhưng chỉ một ý nghĩ sai lầm mà đọa vào hố sâu tội ác, kể từ đó đã trồng xuống nhân ác, thật sự là thảm lắm thay!

Bởi vì thiện ác vốn chỉ nằm trong một niệm, cho nên một đời người ngay cả thánh nhân cũng có lỗi lầm, có lỗi thì phải làm sao? Quan trọng nhất là ba lần tự kiểm điểm bản thân. Thánh nhân dạy con người ba lần kiểm điểm bản thân, đó là mọi lúc đều phải cẩn thận lời nói hành động của mình để tránh phạm lỗi mà mình không tự biết, và sau khi tự biết rồi thì phải ra sức hạ quyết tâm sám hối mới có thể có nhân không duyên, tức là dù có nhân ác nhưng không có quả ác.

Tác giả nêu ví dụ để nói rõ. Ví dụ có một người tốt, cả đời làm việc thiện, nhưng trong đó lại phạm vào một việc cực ác, trong lòng thường xuyên vì việc này mà buồn rầu, mỗi khi buồn thì đau lòng chảy nước mắt, mỗi lần đau lòng chảy nước mắt và sám hối xong thì trong lòng mới cảm thấy yên được một chút. Đương nhiên thiện công và tội lỗi trong một đời của người đó sẽ triệt tiêu lẫn nhau, thiện công vẫn còn, nhưng hiện tượng này giống như một tờ giấy trắng bị vấy một vết bẩn lớn. Thế nhưng mỗi lần đau khổ rơi nước mắt thì trong lòng lại thoải mái hơn, những giọt nước mắt ân hận tuôn trào, dần dần sẽ làm phai nhạt đi vết bẩn tội lỗi kia, vì thế trong lòng mới có thể phần nào nguôi ngoai.

Tôi cho rằng tâm là vô hình, nếu tâm nhỏ hẹp thì không giấu nổi một hạt dẻ, nếu tâm rộng lớn thì trên trời dưới đất đều có thể dung nạp được. Cái gọi là tâm của chư Phật Bồ Tát dung nạp được trời đất vũ trụ, tất cả thị phi sám hối đều nằm trong đó, tự nhiên sẽ hình thành một dạng thế giới có nhân không duyên. Đáng thương nhất là con người, có một số người tâm địa hẹp hòi, không chứa được một hạt cát, tâm địa kiểu này chỉ có làm cầm thú, làm sao có thể thành Đại Thánh Bồ Tát, làm sao có thể chứng tiên đạo. 

Bởi vậy tôi nói, nếu con người thật sám hối thì chắc chắn có thể diệt nghiệp tội, khiến cho có nhân không duyên, dù từng trồng nhân ác nhưng lại không kết quả ác. Đạo lý này tôi lại phải giải thích một chút: ví dụ chúng ta trồng đậu, đậu cho dù là nhân ác, nhân ác dù đã trồng xuống, nhưng cần phải có ác duyên tương trợ mới có thể mọc thành một mầm đậu, sau đó mới ra hoa kết quả. Những ác duyên này chính là ánh nắng, nước và đất đai, có được những trợ duyên này thì nhân ác mới có thể biến thành quả ác, đây chính là đạo lý nhân quả báo ứng đến sớm và đến muộn. Một hạt đậu muốn trở thành một mầm đậu, thậm chí ra hoa kết quả thì nhất định phải có sự hỗ trợ từ ánh nắng mặt trời, nước và đất đai, giả sử không có ánh nắng mặt trời, nước và đất thì dù có nhân ác nhưng cũng không có quả ác.

Vì thế con người làm việc ác, phải khẩn trương thành tâm thành ý sửa sai, sám hối lỗi lầm của mình, như trong “Kinh Vị Tằng Hữu” đã nói: “Tâm trước làm ác, như mây che trời, tâm sau khởi thiện, như đuốc sáng soi.” Tất cả biển nghiệp chướng đều do vọng tưởng sinh ra, nếu ai muốn sám hối thì phải ngồi ngay ngắn nghĩ về thực tướng, tội lỗi như sương giá, mặt trời sáng chói có thể tiêu diệt. “Nếu người nào có thể sám hối như pháp thì mọi phiền não đều tiêu tan. Giống như kiếp hỏa phá hủy thế gian, đốt cháy hết Tu Di và biển lớn. Sám hối có thể đốt nhiên liệu phiền não, sám hối có thể sinh về cõi trời, sám hối có thể đắc được bốn thiền lạc, sám hối khiến trời đổ mưa ngọc báu mani, sám hối có thể kéo dài tuổi thọ, sám hối có thể nhập cung Thường Lạc, sám hối có thể ra khỏi nhà ngục tam giới, sám hối có thể nở hoa bồ đề, sám hối đắc Phật đại viên kính, sám hối có thể khiến đến được nơi chốn quý báu.” (Kinh Tâm Địa Quán)

Mặc dù đã trồng nhân ác, nhưng ngồi ngay ngắn sám hối, thề không tái phạm, hơn nữa có thể sửa đổi thành trồng nhân thiện, hạt giống ác mặc dù đã rắc ra rồi, nhưng mặt đất lại là sàn xi-măng, được bảo vệ trong ngôi nhà tinh thần của mình, không có sự trợ duyên của ánh nắng mặt trời, không có sự tưới tắm của nước mưa, hạt giống ác đó không có ác duyên tương trợ, sớm muộn cũng sẽ tiêu tan, từ đó quả ác chắc chắn sẽ không thể sản sinh.

Trong quá khứ tôi từng nhập Tứ thiền, công phu của Tứ thiền định này cũng là từ sám hối mà đắc được. Tôi nhận ra tất cả ánh sáng từ trên đỉnh đầu sinh ra, sau đó ánh sáng từ từ hạ xuống, xua tan tất cả nhân ác của u tối khiến mọi thứ sáng lên, sau đó toàn bộ tinh thần không còn chịu sự tích lũy của nhân ác, tâm cảnh dần dần rộng mở, phóng tỏa vô lượng những vòng ánh sáng hiếm có, trong mỗi vòng ánh sáng đều tuôn chảy tâm sám hối chứa đầy nỗi bi thương. Như thế, nghiệp thân khẩu ý dần dần tiêu tan, tinh thần được nâng đỡ, nhập vào thế giới hư không tạng, đây chính là niềm khoái lạc của Tứ thiền định. Niềm sung sướng này so với ba lần kiểm điểm bản thân của Nho gia thì thật sự có được sự tuyệt diệu của “dị khúc đồng công” [khúc nhạc khác nhau nhưng diễn hay như nhau], thậm chí còn tiến thêm một bậc, càng siêu thoát bất phàm hơn. Trong sự trải nghiệm sám hối ấy tôi nói rằng: “Mặc dù đã khóc hết những giọt nước mắt bi thương nhất, nhưng ánh sáng của tâm cảnh mà tôi có được tuyệt vời gấp trăm lần bi thương.”

Với người tu linh thông chúng ta, quan trọng nhất là hoàn toàn sám hối tất cả nghiệp của thân khẩu ý, không những không trồng nhân ác mà còn phải tu nhiều thiện công, sự khiết tịnh của linh hồn, linh tính quang minh xuất hiện mới có thể cảm ứng đạo giao với Tiên Phật. Có người ngông cuồng đòi hỏi cảm ứng đạo giao, nhưng thân này nghiệp tội còn chưa trừ bỏ, linh hồn còn hôi thối không chịu thấu, chỉ muốn học pháp, học thần thông, không biết sám hối nghiệp tội tự thân, ánh sáng không thể hiển hiện thì làm sao có thể linh thông chứ?

Có câu nói rằng: “Bồ Tát sợ nhân, chúng sinh sợ quả.” Câu này chủ yếu nói rằng, những chúng sinh bình phàm này dù sợ báo ứng, nhưng việc xấu đã che mờ lương tâm mà vẫn làm, còn Bồ Tát chỉ sợ trồng xuống nhân xấu thôi! Đây chính là sự khác biệt phàm - thánh. 


### 08. Linh chú thường chuyển chứng tâm thông


Hai người tu đạo là tiên sinh Trừng Minh sống tại chùa Kim Cang thôn Nam Phố thị trấn Tân Trúc và tiên sinh Nhạc Kiến Ngô sống tại tinh xá Đại Thừa ở Đài Bắc cùng đến thăm nhà tôi, nói chuyện say sưa cả đêm. Tiên sinh Trừng Minh sau đó còn gửi từ chùa Kim Cang một lá thư, nội dung như sau:

*“Lư tiên sinh! Lần này cùng với Nhạc tiên sinh nửa đêm tới thăm ngài, nếu có làm phiền xin lượng thứ và bỏ qua, vì chúng tôi nghe danh của ngài đã lâu! Hôm nay mới được gặp mặt, thật khiến tôi cảm thấy rất kính trọng ngài, đạo hạnh và thiên duyên của ngài quả là danh bất hư truyền, hẹn một ngày khác sẽ thỉnh giáo cẩn thận, chỉ mong ngài vui lòng bảo ban!*

*Đối với những lời giải đáp của ngài về những nghi vấn của tôi, đúng là chính xác dị thường, cũng vô cùng cảm tạ. Đại nạn trong cuộc đời này, thật sự chỉ có tu đạo cho đến khi đắc đạo mới có thể giải quyết được, song, đường đạo khó tu, trong trăm nghìn vạn người khó gặp được một người thành tựu, huống hồ là tôi. Tuy nhiên “một niệm thanh tịnh đến cùng” thực tế không phải là chuyện không thể nào, chỉ cần có lòng kiên trì, bền bỉ và thành tâm thì sau vài năm chắc chắn có thể đắc đạo.*

*Thật sự có thể quay về hợp với đạo, nhưng mà con người thời nay thiên kiến bè phái, bản thân bám chấp nhưng lại bảo người khác đừng bám chấp, không thể rốt ráo nhưng lại dạy người khác phải rốt ráo, những sự công kích khác vẫn còn nhiều, người trí tự biết, người hiểu tự độ. Tôi rất tôn kính thầy Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh của ngài, nếu không có cơ hội kết duyên, chỉ mong có thể có một ngày có được khai thị của quý thầy, thì cả đời này có vất vả cũng có thể cảm thấy được an ủi rồi!*

*Rất nhiều những bí mật về trời người khác còn đang chờ ngài công bố với đời, quảng độ những thế hệ còn đang mê muội, rộng rãi kết thiện duyên. Bên cạnh đó, sự nghiệp có ngày thành công cần phải dựa vào khẩu quyết của sư phụ ở núi Liên Đầu của ngài, tu theo pháp tu ngược, dưới sự dẫn dắt bởi đạo căn bẩm sinh của ngài, chắc chắn có thể sớm nghe được tin ngài thành tựu đạo, tôi cũng xin có lời chúc mừng sớm.*

*Nay tôi sống ở chùa Kim Cang, núi sông đẹp đẽ linh thiêng, tâm địa cảm thấy vô cùng bình lặng, có điều ở đây quan điểm thiên kiến bè phái còn rất sâu sắc, nên có chướng ngại để tiến lên, tôi chỉ biết nhẫn nhục mà tiến, song pháp của Phật môn quảng đại vô biên, chỉ dựa vào “vô niệm, vô trụ, vô tu, vô chứng” làm cảnh giới cao nhất, vốn dĩ thiên tính chính là như vậy, ở trong lòng thanh tịnh là được! Không cần phải tốn mấy chục năm thời gian đi sâu nghiên cứu Phật pháp, rốt cục mặc dù uyên thâm nhưng lại chẳng thông, đó chẳng phải là tự hại mình hại người sao.*

*Tôi đã đọc được rất nhiều khai thị của ngài, vì thế cảm thấy đời này e rằng có lẽ người giác ngộ chỉ có duy nhất mình ngài mà thôi. Cho nên tôi thành kính gửi bức thư nhỏ này để biểu thị tâm ý cao nhất của tôi đối với ngài, chỉ mong có thể được ngài tự tay tặng cho cuốn sách mới nhất là cuốn “Giữa Linh và Tôi”, thì cả đời này tôi sẽ mãi trân trọng! Tóm lại, nếu lòng người rộng lớn như vũ trụ, nếu thân này như mây trôi, thì trời người là một thể, chân ngã sẽ không ngừng sinh sôi, chắc chắn sẽ sớm có ngày thành tựu. Tôi xin chúc ngài đại thành công.*

*Một đời ngài làm lợi cho trời người, vất vả phiền hà muôn phần, thời tiết bốn mùa nhiều biến đổi, đạo càng tinh tấn thì ma khảo chắc chắn càng nhiều, chỉ mong ngài bảo trọng và tự khích lệ mình. 
Trừng Minh chắp tay.”*

Trong bức thư này nói đến “vô niệm, vô trụ, vô tu, vô chứng”, tôi cho rằng đây chính là “linh chú thường chuyển”, cũng chính là “pháp luân thường chuyển” của Phật môn. Rất nhiều người đều biết về vô niệm, vô trụ, vô tu, vô chứng, nhưng lại không biết ý nghĩa rốt ráo của nó là gì. Ví dụ như Tịnh Độ tông bảo người ta niệm Phật vãng sinh, người bình thường niệm Phật là miệng nói khơi khơi, miệng lầm rầm như hát dân ca, không biết rằng niệm Phật đòi hỏi sự in vào tâm, đòi hỏi Phật phải in vào tâm, nói ở miệng, nghe ở tai, in vào tâm. Nếu in vào tâm thì tâm chắc chắn có cảm động, tâm chắc chắn sẽ như pháp, tâm chắc chắn như Phật, liên tục không ngừng chuyển động pháp luân. Hơn nữa nếu dừng niệm Phật thì Phật lực vô cùng vô tận không thể đo lường cũng vẫn tồn tại, tuy rằng miệng dừng niệm Phật nhưng tâm luân vẫn đang chuyển động, thánh hiệu A Di Đà Phật này trở thành linh chú liên tục, đây chính là linh chú thường chuyển pháp luân, tự nhiên có thể chứng đắc “vô niệm, vô trụ, vô tu, vô chứng”.

Muốn luyện đến khi linh chú thường chuyển, trong thiên hạ ngày nay không biết có được mấy người, chỉ toàn là người môi miệng rung rung niệm Phật mà thôi. Người niệm Phật tuy đang niệm Phật, nhưng hễ dừng niệm Phật là ham muốn danh lợi lại đầy ắp trong lòng! Một số người còn “bó tay” hơn, ngay cả niệm Phật có ý nghĩa gì cũng không biết nữa! Cách xa con đường minh tâm kiến tính, tâm ấn Phật ấn, liễu sinh thoát tử, vô trụ vô niệm đến cả vạn dặm.

Cái gọi là linh cơ thần toán có thể tu đến trình độ linh chú thường chuyển thì có thể chứng được thuật tâm thông, bởi vì có linh chú thường chuyển chính là minh tâm, chính là linh hóa nghìn vạn, chính là nền móng đầu tiên của tâm cảm thần diệu vĩ đại vô lượng. Một người tu đến được bước này thì trên trời dưới đất có việc gì mà không thể biết, dưới bầu trời này chẳng hề có chướng ngại, xuất u nhập minh, xuất thần nhập hóa, cả trời đất in vào tâm, pháp luân thường chuyển, nhân tâm và thiên tâm luân chuyển cùng một trục, tự mình cố gắng vĩnh viễn không ngừng thì trời người hợp nhất rồi.

Tác giả là người đầu tiên sáng tạo ra việc dùng linh chứng Phật, dùng linh chứng Đạo, theo lý mà nói thì không hề mâu thuẫn. Niệm Phật chủ yếu nhất là minh tâm kiến tính, trừ nghiệp chướng, tăng phúc huệ, điều quan trọng nhất cũng là sự thanh tịnh của linh tính. Đầu tiên chúng ta cầu niệm Phật để tâm không tán loạn, sau đó cầu niệm Phật để nhập vào thiền định, tịnh thiền hợp nhất, từ đó tự lực và tha lực hòa nhập làm một, đến được Tây phương Cực Lạc thế giới cũng chỉ là việc một sớm một chiều thôi.

Có một cụ già sống ở quận Sĩ Lâm Đài Bắc, trông thấy tôi liền hỏi: 
“Anh biết tôi họ gì tên gì không?”
Tôi đáp: 
“Không biết.”
”Chẳng phải anh có tâm thông sao?”
”Tâm gương dù sáng nhưng không soi chiếu tên của cụ.” - Tôi đáp.
”Ý của anh là gì?” - Cụ già hoài nghi.
”Cụ vốn vô danh, vậy hà tất phải hỏi tôi tên gì.” - Tôi đáp.
Cụ già trầm ngâm một lúc, gật đầu lia lịa, còn nói: 
“Không sai! Không sai! Cái tên này vốn là giả, đời người nếu hợp với đại đạo thì đại đạo cũng tức là vô danh.” 
Cụ già và tôi bắt tay nhau, cảm ơn rồi tạm biệt.


### 09. Pháp đà-la-ni đều ở tự tâm


Trước khi viết vào chủ đề của bài viết này, tôi muốn kể một câu chuyện khó tin xảy ra vào một buổi tối khi vị Linh Sư ẩn hình Tam Sơn Cửu Hầu Tiên sinh truyền thụ đạo pháp cho tôi. Canh ba nửa đêm, tôi ngồi trước bức tượng Quan Thế Âm Bồ Tát, ở trước Phật tôi bày một chén trà, trong lư hương tôi thắp một nén hương, đêm khuya thanh vắng, chẳng nghe thấy dù chỉ một tiếng gió, chỉ thỉnh thoảng vang lên vài tiếng chó sủa. 

Tôi nhắm mắt ngồi thiền, nhắm mắt theo kiểu khép hờ hờ, Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh vẫn thường giá lâm vào canh ba nửa đêm để dạy tôi một vài thủ ấn khẩu quyết. Còn tôi thì thường xuyên tự động thức dậy trước khi ngài đến. Đúng vào lúc tôi đang ngồi thiền, tôi đột nhiên phát hiện thấy que hương vừa mới cắm hơi rung rung, tôi mở to mắt ra, que hương lúc này càng lắc lư mạnh hơn, dường như ngay cả tàn hương ở trong lư hương cũng đều nảy lên, cùng lắc lư theo cả lư hương. Càng kỳ lạ hơn là tôi nhìn thấy chén trà đặt ở trước Bồ Tát lại chuyển động tới lui, giống như có người dùng tay cầm lấy chén trà rồi dịch qua bên này một tí lại dịch qua bên kia một tí. Lúc này tôi rất kinh sợ, mặc dù tôi liên tục gặp phải những việc kỳ lạ nhưng không hề giống với cái lần chẳng hiểu ra làm sao, chẳng có lý do gì này. 

Hơn nữa, điều khiến tôi càng kinh sợ hơn là dường như cả cái giường và cái bàn đều đang rung lên, mái nhà bắt đầu xoay tròn, trong bụng tôi rất khó chịu, dạ dày thì cứ liên tục buồn nôn, dường như người cũng không ngồi vững được nữa, cả người tôi ngã ra khỏi ghế. Đúng vào lúc này, Linh Sư liền đến, chỉ nghe thấy tiếng rít từ xa đến gần, rồi lại từ gần đến xa, tượng Bồ Tát bất động, chén trà bất động, lư hương bất động, cái bàn bất động, mái nhà không còn xoay tròn nữa, tất cả đã trở về với bộ dạng vốn có. Trong lòng tôi rất ngạc nhiên, chuyện này là thế nào đây?

“Liên Sinh, cảm nhận vừa xong của con là do mắt đánh lừa, do tai đánh lừa, do mũi đánh lừa, do miệng đánh lừa, do thân đánh lừa thôi!” - Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh truyền đến âm thanh như tiếng ong nói với tôi. 
”Điều này là vì sao ạ?”
”Tâm động muốn đi, mãi không dừng lại, con đã thông linh, do đó ma khảo càng nặng hơn. Hôm nay lúc ban ngày ở cung Thánh Minh, con đã thấy thần giáng xuống que hương mà động tâm, vì thế đêm nay tâm niệm con động, một khi tâm niệm động thì không thể ngăn chặn, do vậy mà khởi lên tất cả động niệm không dừng, vật cảm linh tâm, cho nên chuyển động không dừng đó.” 
Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh nói: 
“Thân này động khởi đều do một cái tâm, vì thế trước tiên phải điều tâm. Bởi vì tâm con nghĩ đến hương động, tà ma nhân cơ hội đó mà nhập vào, con bám chấp vào ma tướng nên có xu thế phát cuồng, nếu không có ta đến thì lần này thần hồn của con sẽ bị điên đảo, cuồng loạn tâm trí, không còn là người bình thường nữa rồi.”

Tôi nghe nói như vậy thì mồ hôi túa ra ròng ròng, thì ra tôi đã gặp ma tướng. Kể từ đó tôi càng biết rằng cái gọi là người thần kinh thất thường hầu hết đều là người gặp phải ma tướng, những gì họ nhìn thấy đều kỳ quái và không hiểu kiểu gì, người bình thường thông thường tâm không tiếp xúc với hư huyễn, vì thế không nhìn thấy hư tướng nơi tâm niệm động. 

“Linh Sư, làm sao để khắc chế ma?”
”Mắt ngay thẳng, tai ngay thẳng, mũi ngay thẳng, miệng ngay thẳng, thân ngay thẳng, ý ngay thẳng, thì gọi là chế tâm.”
”Linh Sư, làm sao để chế tâm?”
”Làm bát chính đạo, không chấp tướng, lâu ngày sẽ tự đắc.” - Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh đáp.
”Đa tạ Linh Sư giáo huấn.” - Tôi cung kính trả lời.

Nhờ có sự việc này xảy ra mà tôi hiểu rằng đà-la-ni pháp hoàn toàn nằm ở tâm mình. Năm xưa Thế Tôn cầm hoa mỉm cười, không cần văn tự, chỉ có thể hiểu ngầm, không thể biểu đạt bằng từ ngữ, điều ngài muốn nói tự nhiên chính là đà-la-ni tâm ấn, dùng tâm ấn tâm để truyền pháp mà thôi.

“Truyền Đăng Lục” có một đoạn viết về chuyện của hòa thượng Kim Ngưu: “Hòa thượng Kim Ngưu mỗi ngày khi đến giờ ăn cơm đều khiêng thùng cơm đến trước nhà chính để múa, cười vang ha ha nói rằng: Các Bồ Tát, đến đây ăn cơm đi! Ngày nào Kim Ngưu cũng như vậy, có thể nói là tấm lòng rất từ bi lương thiện. Múa thùng cơm cũng giống như cầm hoa, cười lớn cũng giống như cười mỉm, tiếc rằng các Bồ Tát không hiểu, phụ lòng Kim Ngưu, tiếc thay tiếc thay.”

Kì thực đà-la-ni pháp đều nằm ở tự tâm, vạn pháp quy tâm, ngoài tâm không có pháp, tâm pháp thượng thừa của hòa thượng Kim Ngưu chính là ăn cơm, dùng tâm bình thường để ấn chứng tâm Phật, hoàn toàn không hề có pháp, đến cuối cùng đích thực là không có pháp nào có thể thuyết! Một bậc đại trí giả đến cuối cùng cũng không có pháp nào có thể thuyết, tất cả pháp đều đến từ đà-la-ni tâm mà thôi.

Tôi có một học trò theo tôi học phù nhiều năm, có một hôm anh ta hỏi tôi:
”Thưa thầy, phù nhất định phải dùng giấy, bút, mực sao?”
”Không cần.”
”Luôn cần phải áp ấn sao?”
”Không cần.”
”Nhất định cần uy linh phù sao?”
”Không cần.”
”Cái gì cũng không cần, vậy lá phù đó làm sao mà coi là hoàn thành được?”
”Phù tức đà-la-ni tâm, tâm tức đà-la-ni pháp, pháp tức đà-la-ni phù, như vậy, mỗi một tâm pháp chính là một đà-la-ni phù. Thành tựu của phù chính là như vậy mà thôi, đây chính là phù lục thượng thừa tối thượng.”


### 10. Thuật triệu tập linh


Thuật triệu tập linh của tác giả là do Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh truyền thụ, mật lệnh cao nhất của thuật này là Tiên Thiên Vô Cực Chính Pháp, sau đó ngài lại truyền thụ chú Cửu tiên triệu thỉnh, lại truyền thụ chú triệu tiên nói chung, chú ngữ là: *“Đạo do tâm học, tâm giả hương truyền, nhất khí thông thiên, phụng thỉnh chư tiên, hạo tiên kim khuyết Ngọc Hoàng Thượng Đế, Đại Thánh Bắc Đẩu Thất Nguyên Tinh Quân, nam cực cao chân vạn linh, đại từ Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thanh Phổ Hóa Thiên Tôn, Tử Vi Thượng Quan chu thiên chí tôn, nhật cung nguyệt phủ, tứ diệu ngũ tinh, nam thần bắc đẩu, thiên cang địa sát, hỗn nguyên lục thiên giáo chủ, bát thập nhị hóa tam giáo tổ sư, Tam Nguyên Tam Quan Đại Đế, Ngọc Hư Sư Tướng Huyền Thiên Thượng Đế, tam nguyên chủ tể tam bách lục thập cảm ứng thiên tôn, phàn hương bái thỉnh, bồng lai tiên chúng, Cửu Thiên Huyền Nữ Nguyên Quân, nguyên thủy chân nhân thiên tiên, địa tiên, ngũ tổ chân nhân, Thiếu Dương, Chính Dương, Thuần Dương tam vị chân nhân, ngũ hồ ánh tuyết Tam Đinh chân nhân, Ngọc Trụ đạo lão tiên nữ, Tử Dương chân nhân, La Sơn tiên ông Cát chân nhân, trích tiên Thái Bạch Lý chân nhân, Hoàng chân nhân, Vân Môn Lã chân nhân, Tử Hà Thôi chân nhân, Ngọc Thiềm tiên ông Bạch chân nhân, Nam Ngũ Tướng chân nhân, Bắc Thất Chân chân nhân, chúng tiên nữ, thiên thượng địa hạ thủy phủ dương gian, tam điểu thập châu, động thiên phủ địa, cổ lai kim vãng nhất thiết tiên chúng, đệ tử Liên Sinh án hỗn thiên thần diệu như ý đại pháp chỉ cấp cấp cung thỉnh…”*

Đây là chú ngữ triệu tiên nói chung, khi triệu tiên dùng nghi thức cúng bái để phụng thỉnh, cũng có thể gửi đi giấy thỉnh tiên hoặc phù thỉnh tiên, đợi thần tiên giáng lâm thì lại báo cáo sở dĩ phụng thỉnh tiên chúng là vì việc gì. Phàm là tiêu tai giải ách, thỉnh tiên lập lời thề, tiền đồ sự nghiệp, quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa đều có thể cầu. Nếu được thần tiên đồng ý thì chắc chắn nguyện vọng lớn sẽ đạt được. Tuy nhiên, chủ yếu là cúng phẩm phải thanh tịnh, cúng quả tươi, đồ chay, hoa thơm, rượu nhạt là chính. Quan trọng nhất là thành tâm thành ý, dù bạn không nhìn thấy thần tiên giáng xuống nhưng cũng không được xem đây là trò đùa, bằng không chẳng những không cầu được mà ngược lại còn phạm tội. Đây chính là thuật cúng tế triệu thỉnh linh. Người bình thường dùng nghi thức tụng kinh để thỉnh tiên chúng cũng được, có thể tụng “Kinh Tam Nguyên Tam Phẩm Tam Cung Đại Đế” hoặc “Kinh Bắc Đẩu” là chính, cũng có thể tụng “Ngọc Hoàng Chân Kinh”. Thuật triệu thỉnh linh kiểu này là chính phái nhất. 

Theo như sư phụ Thanh Chân Đạo Trưởng của tôi nói, có rất nhiều thiện nam tín nữ trong tâm có suy nghĩ thiện lành, bình thường chưa học tụng tiên chú, nhưng hễ gặp khó khăn là chắp tay gọi trời, lúc này tất cả tình cảm chân thành của họ đều tuôn trào ra, trời ắt cảm ứng. Nhưng nếu bình thường không làm điều thiện thì kêu trời gọi đất cũng chẳng có tác dụng gì, trong cõi vô hình đều có thần quân giám sát, người muốn cầu Thần Phật phù hộ cũng nhất định phải hợp với ý trời thì mới có thể được.

Ngoài ra có một bộ phận người tu đạo học được chú triệu thỉnh tiên chúng, cũng học được phù lục thỉnh tiên, thế nhưng làm pháp không làm theo cách chính quy, tâm thuật bất chính, không theo thời giờ mà lại tùy tiện triệu thỉnh, tự nói có thể thỉnh Ngọc Hoàng Đại Đế hạ phàm trần, thiên binh thiên tướng phải theo sự điều hành của ta, toát ra vẻ kiêu ngạo ngút trời. Loại người này tự cho rằng pháp lực cao cường, cầm phù chú làm những việc sai trái, không những triệu thỉnh Ngọc Hoàng Đại Đế không đến, ngược lại còn triệu thỉnh những hóa thân của thiên ma quỷ quái, những yêu ma quỷ quái này tự xưng là bậc cao chân hạ phàm, khoác lác khiến những người tu đạo này vui mừng khôn xiết. Những người tu đạo này không biết dùng chân tâm để phụng thỉnh, mà lại dùng phù chú triệu thỉnh như trò chơi, lúc đó ma hỏa đốt thân, hối hận thì không còn kịp nữa!

Tôi được Linh Sư hướng dẫn thuật triệu thỉnh linh ở khu mộ Lục Giáp ở Đài Nam. Khu mộ này rất gần với Xích Sơn Nham, phía đông của khu mộ có một ngôi chùa lớn thờ phụng tổ sư Lã Thuần Dương - một trong số tám vị tiên, và Nam Đẩu Tinh Quân, Bắc Đẩu Tinh Quân, người trụ trì là một vị xuất gia. Phạm vi của khu mộ này rất rộng, có một con kênh lớn chảy ngang qua trung tâm của khu mộ. Mỗi ngày vào lúc đêm khuya, Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh gọi tôi dậy, đi đến bia mộ màu trắng ở trung tâm khu mộ. Tôi ngẩng đầu nhìn trời, những vì sao thưa thớt, sương mù ban đêm đặc biệt dày, người nhát gan cũng sẽ bị dọa cho sợ chết khiếp.

Tôi ngồi ở trung tâm khu mộ, trở thành người còn thức duy nhất trong thế giới im lìm. Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh dạy tôi tay phải bắt ấn cầm hoa sen, tay trái bấm pháp chỉ, vận linh, khi chân linh hiển hiện, tôi niệm chú triệu hồn: *“Thiên linh vạn thánh, hợp thông thiên địa, tá ngã dương tinh dương hồn, tốc hiện âm tinh âm hồn, ngô niệm pháp chú, tốc chí ngô tiền, ngô phụng thái thanh bồng lai tiên tử chân nhân pháp chỉ luật lệnh.”* Tổng cộng niệm chú này 9 lần. Nói ra cũng kỳ lạ, những ngôi mộ ở trước mắt tôi, ở mặt đất phía bên phải có những ông cụ nhỏ thó đi tới, các cụ cầm gậy ba-toong tập trung trước mặt tôi nói: “Pháp sư dùng pháp cho gọi, không biết có điều gì dặn dò?” Các cụ già có bộ dạng giống nhau, mặt mũi giống nhau, tôi biết đây là “hậu thổ thần”, “hậu thổ thần” có thể nói là tiểu thổ địa công, mỗi ngôi mộ có một vị, nên có tới trăm nghìn vạn vị, mỗi vị sẽ quản một âm linh trong ngôi mộ.

“Đệ tử Liên Sinh, phụng Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sư huấn luyện triệu linh, nay khẩn thiết xin các vị thả các âm linh ra để Liên Sinh được nhìn thấy.”
Đám tiểu thổ địa đó, mỗi vị cao không quá 5cm, nhất loạt gật đầu, thế rồi tự biến mất. Không cần chờ quá lâu, đầu các ngôi mộ đều xuất hiện những âm linh, trong số đó phần lớn là các ông cụ bà cụ, cũng có những cô gái trang điểm rất đẹp, cũng có những cậu chàng thanh niên, có những âm linh tướng mạo xinh đẹp và phong độ, cũng có những âm linh thì xấu chẳng muốn nhìn, những âm linh thắt cổ tự tử mà chết thì lưỡi rất dài, mặt tím đen, trông càng đáng sợ hơn, họ lũ lượt kéo đến rất đông. Tác giả cảm thấy toàn thân lạnh như băng giống như ở trong thế giới ma quỷ, sau khi họ tụ tập lại thì nói: “Không biết vị pháp sư đây gọi tới có gì điều phối?”

“Chư vị quá cố, tôi là Liên Sinh, phụng Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh luật lệnh luyện tập đại pháp triệu hồn, sau này nếu có lúc cần nhờ tới các vị thì mong các vị tiên linh vui lòng giúp đỡ. Nay Linh Sư đặc biệt ban cho một câu pháp ngữ của Địa Tạng Vương Bồ Tát để tặng cho các linh, xin các vị lần lượt lĩnh quà.” Tôi nhắm mắt lại cung kính niệm một câu “Nam mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát”, rồi tung thủ ấn hoa sen ra, đám linh trước mắt tôi náo loạn, ào ào tranh nhau hoa sen bay ra. Tôi càng niệm càng nhanh, thủ ấn hoa sen càng vung ra, những đóa hoa sen màu hồng liên tục xuất hiện, những hồn ma có được hoa sen hoan hỷ đảnh lễ rồi đi. Tôi ở tại khu mộ Lục Giáp luyện tập đại pháp triệu linh tổng cộng bảy ngày, mỗi đêm đều niệm vô số câu Nam mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát. Tôi thích nhất là pháp hiệu của Địa Tạng Bồ Tát, đây cũng là nguyên nhân mà tôi có duyên phận gần gũi nhất với Địa Tạng Vương Bồ Tát.

Nếu học được phương pháp của thuật triệu linh thì có thể làm được rất nhiều việc. Chúng ta có thể lợi dụng người âm giúp người dương chúng ta hoàn thành rất nhiều việc khó khăn, sức mạnh của họ tuy là vô hình nhưng có thể ảnh hưởng đến những người đang sống sờ sờ đó.


### 11. Không chạy theo bốn mùa tàn lụi


Trong quá khứ tác giả diễn thuyết cho người ta thường nói đến “mệnh trời có thể đoán”. Ban đầu mọi người đều lắc đầu không tin, nhưng khi tôi giải thích rõ ràng với mọi người, mọi người đều không kìm được sự thán phục. Tôi nói: “Vận mệnh của thượng thiên đều có thể đoán ra được, huống hồ là vận mệnh của một đời người nhỏ bé.” 

Vì sao mệnh trời có thể đoán được? Đây chính là chu thiên lý số mà bình thường chúng ta vẫn chú ý đến, thời tiết biến đổi cũng là có vận mệnh nhất định đó! Chúng ta biết rằng xuân hạ thu đông là sự biến hóa bốn mùa của trời, sau mùa xuân nhất định là mùa hè, sau mùa hè nhất định là mùa thu, sau mùa thu nhất định là mùa đông, mùa đông kết thúc thì khắp nơi lại quay trở về mùa xuân. 

Trong sách hoàng lịch âm lịch, khi nào là Đại Hàn, khi nào là Tiểu Hàn đều là do con người dựa vào thiên can địa chi để phát triển tính toán mà ra. Thiên can địa chi há chẳng phải thay ông trời đoán mệnh sao. Còn người nông dân dựa vào thời tiết lệnh cho khi nào thì gieo mạ, khi nào thu hoạch, đều có một chứng cứ, thậm chí đoán được rất lâu khi nào sẽ có nhật thực, khi nào có nguyệt thực, đều có thể đoán chính xác cực kì. 

Những gì quan trắc được từ khí hậu ngày hôm nay có thể dự đoán thời tiết của ngày mai, có rất nhiều nguyên lý để dựa vào, thật ra cũng là đang làm công việc thay trời đoán mệnh. Lại có một số nông dân nhìn hướng chuyển động của cỏ, sự sinh trưởng của cỏ mà có thể đoán ra năm nay có mấy cơn bão, bão từ nơi nào thổi tới, thậm chí sao chổi bay đến nơi nào, vào ngày nào giờ nào có thể nhìn thấy. Những hiện tượng thiên văn chưa phát sinh này, nhân loại chúng ta làm sao có thể biết trước sự việc được chứ? Đương nhiên đây chính là nhờ kết quả của phép tính chu thiên diệu số mà có thể biết được. 

Động thái của hiện tượng thiên văn có liên quan đến sự biến hóa của bốn mùa trên mặt đất, đồng thời càng có liên quan đến sự lên xuống của thủy triều. Hoàn toàn không thể phủ nhận rằng sóng thần và động đất lớn thường có liên quan mật thiết với các hiện tượng kỳ dị do trời tạo ra.

Về phương diện địa lý, cũng có tồn tại lý số nhất định. Các loại hoa nở theo bốn mùa, nơi nào sẽ sản xuất ra loại trái cây nào, đây là việc theo lẽ bất di bất dịch, không mơ hồ một chút nào. Sự phân bố của núi sông đại địa dựa theo thời tiết địa lý và có những biến đổi. Con người giữa trời đất, nhận được khí của trời đất mà thai nghén, cho nên mới có thuyết địa linh nhân kiệt, việc này càng không thể xem nhẹ. Có một số nguyên lý mà các thầy phong thủy dựa vào, việc họ có thể xem được huyệt chuẩn xác như vậy không phải là không có nguyên nhân. Trời có thể tính, đất cũng có thể lường, vận mệnh của con người tự nhiên cũng có định số giống như vậy, những thành tựu của cả một đời người ra sao lẽ nào không phải là trong cõi vô hình đã có sự an bài?

Con người sống là một định số, con người sau khi chết tự nhiên cũng có một định số, đây chính là “linh luật”. Hai chữ “linh luật” này là do Lư Thắng Ngạn tôi phát minh ra, cũng là điều tôi phát hiện ra, “linh luật” chính là định luật của linh hồn, cũng chính là vận mệnh của linh hồn. Linh hồn và con người là giống nhau, tuy rằng con người tự do tự tại, nhưng lại chịu sự khống chế của thời gian, trong cõi vô hình linh hồn cũng phải chịu sự khống chế của “linh luật”, một số linh cũng bị mất tự do, một số thì chuyển thế, một số thì thăng lên thiên giới, một số thì tự làm thành một cõi âm, “linh luật” này đều có chừng mực, rất là bất khả tư nghì.

Cá thể của “linh luật” vì không hình không mùi không vị, do vậy có một hiện tượng sản sinh tần số, thể quy về của nó là khí, tần số cũng nằm trong đại khí, tình trạng này giống như từ trường, từ lực cũng là một trong những điều bí ẩn của giới tự nhiên. Từ lực cũng không hình không vị, nhưng thực tế lại là một thứ có tồn tại, từ lực có từ trường, tự hình thành một “từ luật”. Kì thực “linh luật” và “từ luật” là tồn tại giống như nhau, chỉ là linh luật thì chỉ có người có linh thể mới có thể cảm nhận được.

Tôi cho rằng trên thế giới này, có nhiều người bị “sóng linh do linh lực phát ra” quấy nhiễu, nhưng mà họ lại không tự biết. Có người bị thần trời thường xuyên can thiệp, khiến người này tràn đầy lòng nhân từ và yêu thương, có người bị linh lực của tổ tiên ảnh hưởng, cho nên tính cách của tổ tiên đều biểu lộ trên đời sau, cũng có người bị linh lực của ma quỷ quấy nhiễu, suy nghĩ tà ác thường xuyên nảy sinh xuất hiện.

Người thần kinh thất thường, bác sĩ gọi là thần kinh phân liệt hoặc suy nhược, tôi thì cho rằng đây là tinh thần không thể tự chủ, bị linh lực của ngoại giới quấy nhiễu mà ra. Các nhà khoa học thừa nhận bộ não của con người là một cơ quan thần bí đặc biệt nhất, trong đó không chỉ bao gồm ký ức mà còn có thể thu nhận sóng não kỳ dị, chịu sự quấy nhiễu của các linh trong linh giới.

Linh của ngoại giới đều thích chui vào trong não của tôi, tôi không cố ý tìm đến họ nhưng họ lại cố ý tìm đến tôi. Họ đặc biệt không ngờ chui vào trong não tôi, nói với tôi những chuyện kỳ dị của linh giới mà ngay cả nghe cũng chưa từng nghe qua. 

Viết đến đây, tôi nghĩ đến Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh nói với tôi những lời sau: “Liên Sinh, đạo chính là những điều chí lý vô hình vô danh giữa trời đất. Cái gọi là đắc đạo cũng chính là lòng người hợp với lòng trời, lòng trời in vào lòng người, cũng chính là linh và ta hợp nhất, trời và người hợp nhất, linh hồn nhập thẳng vào cõi thanh tịnh, không chịu ảnh hưởng của bốn mùa tàn lụi, tự chủ linh của mình, không chịu phúc báo của cõi trời, không chịu phúc báo của cõi người, không chịu báo ứng của atula, không chịu báo ứng của ba đạo ác là địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, từ nay linh nhập vào trong biển lớn không trói buộc, ở bên ngoài tam giới tự ý tiêu dao, đây cũng chính là bậc tôn giả đại giác, như vậy tức là đắc đạo đó!”

Cho nên, người đắc đạo chính là bậc đại giác, linh hồn không chịu sự chi phối của “linh luật”.


### 12. Thần toán có thể thông thiên


Kẻ hèn này nói thần toán có thể thông thiên, tức là biết trên trời dưới đất, quá khứ tương lai, nhân quả kiếp trước. Có một số người cho rằng đây là chuyện chẳng thể nào tin được, trên thực tế, trên trời dưới đất, quá khứ tương lai, nhân quả kiếp trước là một loại thần toán đơn giản nhất, dùng thần để đoán người thì dễ, dùng thần để hiểu thần mới khó. Dùng thần để đoán người là đoán mệnh thông thường, còn dùng thần để hiểu thần chính là thần thông, sức mạnh của thần thông là bất khả tư nghì, trời đất cũng nắm chắc trong lòng bàn tay thôi!

Chú thần thông phổ biến như sau:* “Thiên sinh vân long, đạo bản thượng thăng, bình liệt chính khí, lợi vu thái thanh, phụ bật chính đạo, hành vu trung chính, lục thân đỗng nguyên, cửu thiên siêu hình, phúc diên tử tôn, tiên hành tự chân, dĩ thần hội thần, dữ đạo hợp chân, ngô phụng Thái Thượng Lão Quân cấp cấp như luật lệnh.”* Câu chú này nếu niệm lên, với người bình thường mà nói thì sẽ chẳng có động tĩnh gì, nếu là người tu đạo đã thông linh niệm thì chắc chắn tâm sẽ nhận được sự cảm động lớn, vì sự cảm động của tâm này mà thiên thần giáng xuống, truyền thụ diệu pháp như ý, có được sự trợ giúp của thần lực, thành tựu đạo công đạo quả phi phàm.

Thần toán mà kẻ hèn này thảo luận không phải là chỉ thuật đoán mệnh giang hồ thông thường, càng không phải là dùng phương pháp kỳ môn độn giáp chuyên niệm: *“Thiên viên địa phương, ngã xứ trung ương, Thái Ất sứ giả dữ ngã đồng tàng, tùy ngã tác dụng, vãng phản vô phòng, độn pháp vu thế, thường thị ngã bàng.”* Pháp Thái Ất chân nhân linh đồng hiện thân này phải là thầy xem tướng cao minh mới có thể hiểu được, nhưng vẫn còn kém xa thần toán chân chính!

Ngay từ đầu, Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh đã nói với tôi, một người muốn học thần toán, quan trọng nhất là có phẩm cách trong sáng, nếu phẩm cách tồi thì có nỗ lực thế nào cũng uổng công, phẩm cách thượng thừa thì thiên thần tất nhiên sẽ cảm ứng. Đầu tiên chọn một ngày thiên địa âm dương giao thái [khí của trời đất hài hòa tốt lành], hoặc thiên địa khai cơ [trời đất mở ra điều mới mẻ]. Ngày âm dương giao thái chính là ngày tết Đoan Ngọ theo Âm lịch, ngày khai cơ chính là ngày mồng Một năm mới.

Vào sáng sớm, hướng về phía mặt trời đang mọc, hít vào ba hơi chân khí của phương Đông, niệm chú thần thông 3 lần, gõ răng vào nhau 36 lần, sau đó nhắm mắt lại tĩnh tọa. Có một số người đốt phù thỉnh thần, rồi cứ như vậy canh giữ ngọn đèn thần, khiến cho nó sáng không tắt, tâm niệm chuyển động hợp với trời xanh, không thể có tạp niệm xuất hiện, nếu tạp niệm xuất hiện thì thánh thần sẽ không hiện nữa! Khi hai mắt nhắm lại, nếu thấy trong mắt xuất hiện kim quang có hình dạng tròn trịa tức là có tin tức rất tốt đến. Lại nhìn thấy trong kim quang hiện lên một đám mây trắng từ xa đến gần, đây là sự xuất hiện của tình huống tốt nhất, nếu nhìn thấy thì tức là việc thần toán có triển vọng.

Buổi sáng ngày hôm sau, cũng làm pháp như hôm trước, rồi niệm chú: *“Tổ khí nguyên thủy, thượng thông tiên chân, hợp tắc đắc đạo, phân tắc thập phương, thượng đế hữu lệnh, lệnh ngã thông linh, ngoại thanh nội trừng, cửu khiếu quang minh, nhĩ văn mật ngữ, tốc tuyên thần âm. Cấp cấp như Nguyên Thủy Đại Thiên Tôn luật lệnh.”* Niệm chú này 3 lần, nhắm mắt tĩnh tọa, lúc này trong mắt chắc chắn hiện kim quang, màng nhĩ trong tai rung động, có tiếng vù vù như tiếng ong truyền đến, âm thanh vù vù này lúc xa lúc gần, lúc bên trái lúc bên phải, cuối cùng lại nghe thấy giống như ngôn ngữ truyền trong điện thoại. Điều này có nghĩa là ngày thành công đang đến gần rồi!

Tọa công của thuật này là phải đạt đến hễ hai mắt nhắm lại là thấy ở trên mây trắng trong không trung có một vị thần tiên ngồi ngay ngắn, vị thần tiên này bất kể là thần thánh phương nào thì cũng đều là do bạn dùng chân khí và chú triệu thỉnh để triệu thỉnh đến. Bạn và thần tiên thông báo cho nhau biết họ tên, và lập lời thề sẽ giúp đỡ nhau đắc đạo, và yêu cầu pháp ngữ để triệu thỉnh thần tiên để lúc nào gọi là họ sẽ hiện thân, những lúc lành dữ họa phúc thông báo cho bạn biết, khi ấy bạn thần toán cho người ta tự nhiên sẽ ứng nghiệm như thần, thậm chí là chính xác đến từng sợi lông, không sai lệch một chút nào. Và vị thần tiên đó từ trong mây đến đi thần tốc, so với pháp linh đồng nhĩ báo thì cao minh hơn nhiều, lợi hại hơn nhiều.

Thần toán tối thượng thừa chính là thông thiên thông thần, thần tiên và bạn là bạn bè, thậm chí người có cơ duyên khéo hợp mà học được thần toán, có thể nhờ kết quả của thần thông mà có được dịp tốt một bước lên mây, làm tới chức Thiên Tào, cũng thu hoạch được công quả vô cùng, trở thành người số một trong gia tộc thần tiên, như thế chẳng phải rất tuyệt vời sao!

Tác giả và một thầy xem tướng rất giỏi nọ là bạn thân. Mặc dù ông ấy biết xem tướng tay, tướng mặt, bát tự, tứ trụ, bói thẻ kim tiền, nhưng không biết thần toán là cái thứ gì.
“Xem tướng mệnh cho người để làm gì?” - Tôi hỏi.
”Giúp người ta chọn lành tránh dữ mà thôi.” - Ông ấy đáp.
”Tự mình có thể có công đức gì?” 
”Công đức thì không dám nói, chỉ là mượn việc xem tướng mệnh mà sống qua ngày thôi, chưa chắc là đã có công đức gì, cũng có thể nói là giết thời gian thôi.” 

Hôm nay, tôi biết rằng có rất nhiều chuyên gia tướng mệnh đã mượn tướng mệnh làm kế sinh nhai. Môn học tướng mệnh vốn dĩ rất uyên thâm ảo diệu, cũng có thể nói là một học vấn không thể coi thường, nhưng đáng tiếc là nếu lấy ra để làm công cụ sinh nhai thì như thế chắc chắn xem tướng mệnh sẽ dẫn vào con đường cùng, trở thành hạng thuật sĩ giang hồ hạ đẳng. Nếu đoán mệnh mượn danh là cải ách tế sát thì đúng là lừa gạt người ta. Vận mệnh cố nhiên có thể cầu thần phù hộ, cũng có thể tự mình cải biến, nhưng tuyệt đối không phải là trong chốc lát có thể cải ách tế sát, trừ phi chúng ta đem công đức hồi hướng cho cái người gặp vận hạn đó.

Ngày nay, phẩm cách trong sáng là một yếu tố then chốt quan trọng nhất của người muốn thần toán thông thần. Người tự cho rằng cả đời làm việc thiện, người tự cho rằng cả đời chưa bao giờ có suy nghĩ việc làm xấu, người tự cho rằng tâm hướng đạo rất kiền thành và bền bỉ, không ngại tu tập pháp thần toán thì có lẽ thành tựu trong tương lai còn vượt qua cả kẻ họ Lư này rất nhiều. Trên đời này không ít người có thiện căn đại khí, còn tôi chỉ có thể xem là hạng người thấp kém, nếu mọi người tin lời tôi thì chẳng phải ai ai cũng là người trong hạng thần tiên sao! Sao phải lo không thể đắc đạo chứ?


### 13. Vào thẳng Đại Âm Sơn


Ở đây tôi kể một sự việc kỳ dị, có rất nhiều người tận mắt chứng kiến việc này, ai ai cũng chặc lưỡi xuýt xoa.

Có một hôm, tôi hỏi việc cho rất nhiều người, có một bà bác 63 tuổi đến từ khu vực cầu Quan Đông thành phố Tân Trúc, bà bác cùng với hàng xóm thuê xe cùng đến nhà tôi. Bà ấy nói nghe người ta kể tôi xem rất linh, bà ấy vẫn luôn không chịu tin, cho rằng đây là người ta đồn nhau thế thôi, rồi thổi phồng khuếch đại lên. Bản thân bà ấy cả đời chưa từng lễ Phật, bình sinh không tin tà, thân thể khỏe mạnh, con cái hiếu thuận, sở thích duy nhất của bà là đi du lịch khắp nơi.

“Lư tiên sinh, bố mẹ tôi qua đời đã hơn 30 năm, tôi rất nhớ họ, anh có cách nào để cho tôi nhìn thấy họ, cũng là để cho bà già này được mở mang tầm mắt.” - Bà ấy đưa ra yêu cầu rất thẳng thắn nhanh gọn.
”Bác đây muốn tôi quán lạc âm, pháp quán lạc âm này mặc dù tôi biết, nhưng có thành công hay không là do con người quyết định. Nếu bác muốn đi, tôi sẽ phá lệ làm thử một lần, vì bác là phụ nữ, hơn nữa lại sinh vào tháng Bảy âm lịch, hơn nữa cũng đã qua tuổi sinh đẻ, có thể đến cõi âm nhìn ngó cho biết.” - Tôi thấy bà bác này rất thích hợp với quán lạc âm cho nên đã đồng ý. Còn những người xung quanh vừa thấy tôi muốn làm quán lạc âm cho bà bác thì đều luyến tiếc không muốn bỏ đi, muốn nhìn xem quán lạc âm là như thế nào.

Tôi chuẩn bị một vài đạo cụ, ví dụ: thước minh nhĩ, phù lệnh, sớ văn, chuông linh, cá gỗ. Rồi lại mua một ít giấy bạc, giấy bạc cũng có thể dùng được, lại chuẩn bị nước và rễ cây lúa. Như vậy đạo cụ cần dùng đều đầy đủ, tôi lại cho bà bác mặc bộ quần áo màu xanh, áo xanh biểu thị ý nghĩa rằng đây là môn đồ của Diêu Trì Kim Mẫu.

Khi bắt đầu, tôi mời bà bác ngồi trên ghế, dùng giấy vàng châm lửa,hơ một vòng xung quanh người bà ấy để thanh tịnh thân. Thanh tịnh thân xong, tôi bảo bà ấy chắp tay trước ngực, miệng niệm thầm Diêu Trì Kim Mẫu, đồng thời nhắm hai mắt. Tôi đốt sớ văn quán lạc âm để gửi thông điệp đến Địa Tạng Vương Bồ Tát và Đông Ngục Đại Đế, Phong Đô Đại Đế, Thập Điện Diêm Quân. Sớ văn đốt xong, chỉ thấy một vị âm thần quay người bỏ đi, lúc này tôi niệm tam vạn lục thiên thần chú, chú này liên quan đến thần thức của toàn thân, dùng tay bắt ấn lôi quyết, từ trên xuống dưới, liên tiếp bổ vào bà bác năm lần, hành động này có tác dụng là sấm lệnh cho rơi xuống cõi âm.

Sau ba phút, toàn thân bà bác có ba cơn rùng mình ớn lạnh, thân thể bắt đầu rung rung. Tôi đốt lá phù sắc lệnh thứ nhất, phù này đốt xong thì mọi người chỉ thấy thân thể bà bác dừng lại, dừng hẳn ngọ nguậy, nhịp tim và hơi thở yếu đi, giống như động vật ngủ đông vậy. Tôi biết rằng linh hồn của bà ấy đã thoát khỏi thân xác, đến đây là một điểm then chốt, có một số người toàn thân run rẩy, nhưng linh hồn không thoát ra khỏi thân được, như vậy thì sẽ gặp cửa ải khó khăn. Tôi vội vàng đốt phù phi mã, phù phi mã này vừa đốt xong thì trên mặt bà ấy vã mồ hôi, nói: “Tôi không trèo lên được, con ngựa này cao quá, cậu bé trông ngựa đỡ giúp tôi với.” Tôi nghe lời của bà bác thì càng biết là phi mã đã hiện lên, sẽ chở bà ấy đi du lịch địa phủ.

Một lúc sau, tôi lại đốt một lá phù là phù hào quang, tác dụng của phù hào quang này càng mạnh hơn, vì ở âm phủ khắp nơi là bóng tối, người dương gian nếu không có phù hào quang thì căn bản là chẳng nhìn được cái gì. Hơn nữa giống như người mù mò mẫm trong bóng tối, cái gì cũng không nhìn thấy. Lúc này bà bác đã rơi vào trạng thái ngủ đông, hơi thở yếu ớt, bà ấy đã đến một nơi, gặp phải chuyện gì, thỉnh thoảng bà ấy lại kêu lên và nói ra.

Có lúc bà ấy hét lên: “Ối! Chỗ này lạnh muốn chết.” Có lúc lại nói to: “Trời ơi! Sợ chết mất thôi, sợ chết mất thôi, địa ngục bi thảm như thế này, người sống không thể làm việc ác được!” Có lúc lại nhỏ giọng nói: “Ở đây bao lâu rồi, dạo này có khỏe không?” Đột nhiên, chúng tôi nhìn thấy bà bác có bộ dạng đưa hai tay ôm chặt lấy một người, nức nở nghẹn ngào, khóc không thành tiếng, bộ dạng rất đau buồn không biết nói thế nào. Sau khi thôi thút thít, bà ấy lại liên tục thét lên: “Lạnh quá! Lạnh quá! Đây là một ngọn núi lớn tối om om, tôi không đi ra được. Ôi, lạnh quá, lạnh quá! Tôi không đi được nữa, tôi mệt rồi, tôi lạc đường rồi, làm sao trở về đây?”

Ban đầu tôi không cảm thấy bà bác có thể xảy ra tình huống gì khác lạ, nhưng một lúc sau, dường như bà ấy mệt đến mức không còn sức lực nữa, mồ hôi cứ vã ra, miệng thở hổn hển. Vì tôi đã đốt phù phi mã, Thanh Chân Đạo Trưởng từng nói với tôi, phù phi mã có thể đi có thể về, không cần đi bộ, nhưng bà bác trước mắt dường như không còn sức để đi nữa. Tôi sờ vào mặt bà khiến tôi giật mình sợ hãi, mặt bà thoắt xanh thoắt trắng, toàn thân lạnh như băng, nhịp tim đã rất yếu. Mọi người dường như cảm thấy có điều kỳ quái, sự vui mừng ban nãy đã biến thành nỗi kinh sợ. Điều mọi người sợ nhất là: “Bà ấy liệu có một đi không trở về hay không?”

Tôi đốt một lá phù phản hồn, kết quả là bà ấy vẫn chẳng cử động gì cả, lại đốt một lá phù phản hồn nữa, gõ thước minh nhĩ, gõ cá gỗ, lắc chuông linh. Kết quả là bà ấy vẫn không động cựa. Trong lòng tôi hoảng hốt, lần này tôi cực kì sợ hãi, vội vàng xướng lên chú Tiên Thiên Vô Cực Chính Pháp, ngay cả chú ngữ tôi cũng đọc vấp váp ba bốn lần không trôi chảy, một khi đã cuống lên thì cũng chẳng để ý chuyện thắp hương lễ bái nữa. Tôi niệm khoảng hai phút, trong chú ngữ cung thỉnh Địa Tạng Vương Bồ Tát. Lúc này Địa Tạng Vương Bồ Tát thấp thoáng hiện thân trong mây trắng trên đỉnh núi, nói rằng: “Liên Sinh, bà Khưu hiện tại đã rơi vào Đại Âm Sơn, không cách nào tìm được đường ra, bà ấy không tin thần Phật, tâm không có đường nào để nương dựa, cho nên cứ loay hoay bốn phía mà không tìm được đường ra. Than ôi! Nếu lúc còn sống mà bà ấy có tín ngưỡng thì khi đến nông nỗi này tự nhiên sẽ có Thần Phật trợ giúp, tâm không có nơi nào để quay về, đi xem cõi âm lại rơi ngay vào Đại Âm Sơn, vĩnh viễn sẽ chẳng có ngày thoát ra.”

“Bồ Tát, ngài phải cứu giúp, bà ấy mặc áo xanh, bà ấy là môn đồ của Diêu Trì Kim Mẫu đó! Từ đầu tôi đã biết bà ấy không có tín ngưỡng, cho nên mới để cho bà ấy mặc áo xanh.”
“Yên tâm, đã là môn đồ của Kim Mẫu thì tất nhiên Kim Mẫu sẽ cứu trợ, chờ một lúc sẽ trở về.” - Bồ Tát lại nói: “Nếu có thể tin theo và loại bỏ ngạo mạn, phát tâm thì sẽ thấy được Như Lai. Nếu có tâm nịnh nọt bất tịnh thì trăm triệu kiếp tìm cầu cũng khó gặp được.” 
Bồ Tát nói xong lời này thì kim thân ở trong mây trắng trên đỉnh núi dần dần ẩn đi, tôi quay đầu nói với mọi người: 
“Các vị yên tâm, đợi một lát nữa bà ấy tự nhiên có thể tỉnh lại.”
“Dọa tôi sợ chết mất thôi, giả sử bà ấy không tỉnh lại, mấy người chúng tôi đi cùng xe tới đây, thật không biết khi trở về phải ăn nói ra sao nữa?”

Mười phút trôi qua dài chẳng khác gì mười thế kỷ, trong lòng mọi người bấy giờ mới thở hắt ra được, bà bác cử động tay chân, ngẩng đầu lên, người dựa vào ghế, một tay xoa ngực, thấp giọng nói một câu: 
“Mệt chết mất thôi, lần sau không dám quán lạc âm nữa, tôi trở về sẽ lập tức thờ phụng Diêu Trì Kim Mẫu Thiên Tôn, nếu không có bộ quần áo xanh này thì căn bản là tôi không thể trở về được. Diêu Trì Kim Mẫu Thiên Tôn là thiên thần cứu mạng của tôi.”

Có người rót một chén trà đưa cho bà bác uống, bà bác định thần lại rồi kể cho khoảng hơn ba chục người có mặt tại đó về trải nghiệm quán lạc âm của mình, sau đây chính là những lời mà chính miệng bà ấy kể: 
“Sau khi tôi ngồi mấy phút thì đầu và tay rung lắc mà không tự chủ được, các tế bào toàn thân dường như đang nhảy nhót, tôi tự cảm thấy lúc này chắc là giống kê đồng lắm, tôi không dám mở mắt, cũng không dám dừng niệm Diêu Trì Kim Mẫu. Sau đó tâm thần bắt đầu trở nên mơ hồ, tinh thần không biết đã được đưa đến nơi nào rồi. Trái tim càng ngày càng không còn trọng lượng, giống như ngồi trên máy bay lúc hạ cánh vậy. Đúng lúc này lại có một cơn chấn động khác, toàn thân dường như nhẹ lâng lâng, xung quanh tối tăm mù mịt. Một lúc sau, tôi nhìn thấy có một ngọn đèn lắc lư trước mặt tôi, ngọn đèn đó rất sáng, đã soi rõ một con đường, bên cạnh tôi có một con ngựa trắng, có một cậu bé giữ ngựa ra sức kêu tôi lên ngựa, ngựa cao quá, tôi sợ không leo lên được nên cuối cùng cậu bé giữ ngựa đã giúp tôi, tôi cũng không biết làm thế nào mà mình leo lên được lưng ngựa. Vừa lên lưng ngựa thì tôi lại càng hoảng, túm lấy ngựa thật chặt, ngựa tung bốn vó chạy băng băng, trên đường gió thổi vù vù, không hề nhìn thấy một người một bóng nào cả, xung quanh dường như cũng không có cảnh vật gì để mà xem, ngoại trừ ngọn đèn đung đưa. Cứ như vậy một lúc sau, bước chân ngựa bắt đầu chậm lại.”

“Ngựa vừa chậm lại, tôi ngẩng đầu nhìn, thì ra là một thị trấn náo nhiệt, dòng người cuồn cuộn, cũng giống hệt dương gian, cũng có nhà trọ, cũng có cửa hàng, cũng có quán ăn, xe cộ qua lại như nước chảy. Sau khi đi qua con đường lớn, tôi lại đến một con đường nhỏ hoang vu khuất nẻo, cuối con đường lại chia thành năm nhánh, một nhánh có ánh vàng lấp lánh, một nhánh có ánh bạc lấp lánh, một nhánh có màu của ngọc sáng, một nhánh có màu xám, một nhánh có màu đen. Đúng lúc này, có một bà lão ở bên đường gọi tôi: “Ngọc! Ngọc! Sao lại tới đây?” Tôi nhìn thì thấy hóa ra là mẹ tôi, tôi vội vàng xuống ngựa, không ngờ vừa xuống ngựa thì ngựa và cậu bé giữ ngựa cũng biến mất. Tôi và mẹ tôi ôm lấy nhau khóc, mẹ tôi nói: “Bố con đã chuyển thế rồi, mẹ ở âm gian bơ vơ không nơi nương tựa, con phải cứu mẹ ra khỏi đây.” “Làm sao cứu?” “Làm nhiều việc thiện, hồi hướng cho mẹ.” Nói chuyện không được lâu thì mẹ tôi cũng biến mất.”

“Tôi không tự chủ được bản thân, cứ thế đi về phía con đường lớn màu đen. Nơi này rất lạnh, khí lạnh phả vào người, đến một nơi, nơi này chính là rừng Vô Thường. Rừng Vô Thường dọa tôi sợ đến mức kêu la ầm ĩ, thì ra rừng Vô Thường là nơi tụ tập của những oan hồn treo cổ tự sát ở dương gian, mặt mày đen sì u tối, hai con mắt lồi ra, bảy lỗ chảy máu, lưỡi thè dài ra, suýt chút nữa là tôi bị cảnh tượng ấy khiến cho ngất xỉu. Ở trong rừng Vô Thường, tôi gặp chị Lâm là hàng xóm cũ trước đây, bà chị ấy đã treo cổ mà chết.”

“Tôi đi tiếp về phía trước, chính là địa ngục, có rất nhiều những tên lính quỷ tóc đỏ hung tợn, có nghiệt kính đài [gương soi tội ác], có bổ kinh sở [nơi phạt các sư sãi tụng kinh không đủ phải ở đây tụng bù], có vọng hương đài [bục nhìn về quê hương], khắp nơi đều có lưới sắt, đâu đâu cũng có đình đài, có mười vạn tám nghìn con đường dài nhỏ hẹp ngoằn ngoèo như ruột dê, có đại địa ngục bi thảm lần lượt hiện lên trước mắt tôi. Bởi vì tôi mặc áo xanh, trên đầu có một ngọn đèn chiếu sáng, lính quỷ bình thường nhìn tôi cũng giống như không nhìn thấy, mặc cho tôi đi qua mà không bị ngăn trở. Vì tôi không có ai dẫn đường, đi vào trong con đường nhỏ hẹp như ruột dê, tai nghe thấy các linh hồn khóc gào, âm thanh bi thảm, tôi chẳng phân biệt được gì, cứ đi bừa tới phía trước, chẳng ngờ lại đi vào một ngọn núi lớn.”

“Ngọn núi này rất lạnh, đường phân thành nghìn vạn nhánh nhỏ, ở đây tôi đi lòng vòng mấy vòng thì lạc đường, chỉ nghe thấy quỷ khóc thần gào, âm thanh thê lương, và những bóng ma đung đưa, đường núi gập ghềnh, đi thế nào cũng không ra khỏi núi này được. Nơi đây giống như một đại sơn mê lộ tối tăm mù mịt, tôi đi đến mức mệt rã rời mà vẫn không thoát ra được. Tôi cũng không biết cầu thần cầu Phật, cứ đi cho đến khi không đi được nữa, nằm lăn ra đất, thở hổn hển liên tiếp mấy hơi rồi như sắp chết…”

“Đúng vào lúc nguy cấp, không trung xuất hiện một vòng tròn ánh sáng, trong vòng tròn ánh sáng có một vị nữ thần tay cầm phất trần, tuổi tác rất trẻ, đoan trang thanh tú, ngài nói: “Bác gái, thân người quý như ngọc, quý ở chỗ biết tu, giấc mộng trăm năm chớp mắt một cái là qua. Bác gái đi vào Đại Âm Sơn này là vì trong lòng bác không nơi nương tựa, vì thế mà lạc đường, nay Diêu Trì Kim Mẫu lệnh cho tôi đưa bác ra, bác theo hào quang của tôi mà đi.” Thế là, tôi đi theo hào quang đó, rẽ trái rẽ phải, đi ra khỏi Đại Âm Sơn, lại trở về con đường cũ, rồi dần dần từ trong mơ hồ mà tỉnh táo trở lại, đây chính là trải nghiệm quán lạc âm của tôi.”

Bà bác Khưu nói đến đây, mọi người đều thở hắt ra một hơi, có người tin có người không tin. Người tin thì cho rằng bà bác Khưu chẳng việc gì phải nói dối, bà ấy không lừa tiền, cũng không lừa người. Còn một số người cho rằng bà ấy nhập vào huyễn cảnh, cũng có một số người cho rằng tôi và bà bác Khưu đang thông đồng với nhau để diễn kịch. Đối với những người này, tôi chỉ cười trừ.


### 14. Pháp thần quang xuất hiện


Tôi rất tán thưởng một đoạn trong “Tâm Đăng Lục”: “Thế nào là đại đạo thần quang? Nói về tác dụng của cái ngã, từ mắt tai mũi lưỡi thân ý đi ra ngoài làm các việc xã giao, đều là do tác dụng của thần quang của cái ngã này, “tùy xứ tác chủ, lập xứ giai chân” [có thể làm chủ mọi hoàn cảnh, không để bị ngoại cảnh ảnh hưởng xô đẩy, nếu có thể làm được như vậy thì đâu đâu cũng là chân lý]. Nếu nơi nào không có thần quang đến thì mọi việc đều không thành tựu, có thể thấy thành tựu trời đất vạn vật đều do thần quang này quyết định. Tam đồ địa ngục cũng do thần quang tạo thành, ba mươi hai tướng cũng do thần quang tạo thành, chúng ta có thể biết thần quang này tồn tại, cái ngã không hề khiếm khuyết, tương đồng với chư Phật, tương đồng với chúng sinh, thì việc thành Phật nằm trong bàn tay ta.”

Theo như tôi biết, xung quanh đỉnh đầu của một số bức tượng điêu khắc Bồ Tát có thêm một vòng tròn ánh sáng, quanh đầu của giáo chủ Cơ Đốc giáo Jesus cũng có một vòng tròn ánh sáng. Vòng tròn ánh sáng này có phải là có thật không? Tôi nói đây là có thật, tôi gọi vòng tròn ánh sáng này là thần quang, phàm phu bình thường không nhìn thấy được thần quang, nhưng nếu là người có linh nhãn thì nhất định có thể nhìn thấy được thần quang này. Nói chung một số Phật Bồ Tát đều có thần quang, thần quang loại này hiện màu trắng hoặc màu vàng kim. Cũng có khi hiện màu đỏ, thần quang màu đỏ xuất hiện là Phúc thần. Cũng có khi hiện lên màu tím, thần quang màu tím là Hộ pháp thần. Thế còn người bình thường có thần quang không? Từ trong lời của “Tâm Đăng Lục” thì có thể hiểu được rằng chỉ cần là người có đủ linh tính thì đều có thần quang.

Trước đây, tôi từng làm Hộ pháp cho một cụ già, cụ già này họ Cung tên Thiệu Quang, là người Tứ Xuyên, cả đời cụ nhặt giấy vụn để mưu sinh, hay giúp đỡ người khác, thích làm việc thiện, cụ đã tu hành nhiều năm nhưng người đời không biết. Khi cụ sắp chết, cụ hẹn tôi đến cung Thiên Hậu ở đường Thành Đô ở Đài Bắc, cụ ngồi xếp bằng trên một băng ghế đá, bảo tôi hộ linh cho cụ, vì cụ sợ lúc hấp hối thiên ma quấy nhiễu nên nhờ tôi giúp cụ một tay. Cụ tĩnh tọa nửa tiếng đồng hồ, thần quang xuất hiện, hiện lên màu đỏ, ánh sáng chói lóa. Sau đó, trong thần quang có một tiểu đồng tử ngồi ở đó, đây chính là linh đồng của nhiều năm tu hành. Tiểu đồng tử đó ngồi trong thần quang, thái độ bình thản, vẫy tay với tôi, sau đó thần quang giống như một vầng trăng sáng trên bầu trời, nâng đỡ đồng tử đó từ từ thăng lên không trung mà đi mất, còn thân xác của cụ già thì vẫn ngồi tại cung Thiên Hậu, cuối cùng đã được người phụ trách cung Thiên Hậu an táng. 

Người phụ trách cung Thiên Hậu cho rằng thần linh đã ý chỉ cho cụ mọc cánh, đây là hiện tượng thần thông cảm hóa khác với người thường. (Sự việc này xảy ra vào tháng 12 năm Dân quốc 58 [1969].)

Tại ấn đường của con người còn có cái gọi là sợi ánh sáng công đức xuất hiện. Tôi từng nhờ một vị Thổ Địa Công Công mà được biết sợi ánh sáng công đức của con người sẽ xuất hiện ở trên ấn đường, thời gian là giờ Tý hoặc giờ Ngọ, nếu như vận linh nhãn để nhìn thì chắc chắn có thể nhìn thấy rõ mồn một. Sự xuất hiện của nó giống như sợi dây tóc trong bóng đèn điện khi được thông điện, đường vân giống như hình con rắn. Sợi ánh sáng nếu là màu vàng kim thì là sợi ánh sáng công đức, nếu là đường vân màu đen thì là dấu vết của việc xấu ý nghĩ xấu. Sợi ánh sáng công đức này sản sinh ra cũng có thể xem là một dạng thần quang, đây là việc hoàn toàn có thật, không thể không biết.

Để xác minh việc này, tôi đã đặc biệt mời một người lương thiện (cố ý giấu tên người này), vào giờ Tý tôi đặc biệt chú ý đến ấn đường của người đó. Quả nhiên, có sáu sợi ánh sáng vàng kim hình dạng như con rắn lờ mờ xuất hiện, tôi nói với người đó, ông ấy cực kì vui sướng, kể từ đó tôi cũng biết cái gọi là khí của ấn đường của con người không phải giả, mà là thật sự có việc này. 

Khoảng hai tuần sau, người lương thiện này lại đến chỗ tôi, tôi vô ý nhìn các sợi hoa văn đạo đức của người đó, kỳ quái là lại thiếu một sợi, chỉ còn lại có năm sợi. Tôi hoảng hốt hỏi: “Người lương thiện, xin thứ lỗi cho tôi nói thẳng, gần đây ông đã làm sai việc gì à?”
”Đâu có! Gần đây tôi chỉ ở trong nhà, sao có thể làm sai việc gì chứ?”
”Nói thật với ông, tôi vừa chú ý đến những sợi ánh sáng công đức trên ấn đường của ông, bị thiếu một sợi so với lần trước, việc này chắc chắn có điều kỳ lạ, ông thật sự không biết sao?”
”Việc này…” - Ông ấy nói: “Hai hôm trước có hai anh em tranh nhau tài sản thừa kế, người anh đến chỗ tôi hỏi tôi liệu có nên đưa ra pháp luật không, tôi tiện mồm trả lời một tiếng là đương nhiên phải thưa kiện. Người anh lại nói tôi hiểu pháp luật nên nhờ tôi viết đơn kiện, tôi cũng giúp anh ta viết, lẽ nào là vì chuyện này sao?”
”Này người lương thiện, làm việc thiện không dễ, còn làm việc ác thì chỉ cần một suy nghĩ phát sinh thôi là ông trời đã biết rồi! Chẳng cần nói ông trời lập tức biết mà chỉ cần tâm niệm của mình vừa động là ánh sáng công đức đã tắt rồi, thật sự phải cẩn thận, thận trọng, không thể qua loa được.”

Từ sự việc này, tôi lại nói đến một câu chuyện khác có liên quan đến nhân vật lương thiện này. Nhà tôi thờ cúng rất nhiều Phật Bồ Tát, người lương thiện này thường tìm tôi để nói chuyện tu hành Phật đạo, mỗi lần ông ấy đến, tôi thường dùng vải đỏ để phủ lên ba vị Thái Tử Nguyên Soái ở trước bàn thờ Phật. Người lương thiện này hiếu kỳ hỏi tôi, tôi cười cười không đáp, mãi cho đến khi sợi ánh sáng công đức của ông ấy bị thiếu mất một sợi, ông ấy lại đến, tôi không cần phải dùng vải đỏ để phủ lên ba vị Thái Tử Nguyên Soái nữa.

Ông ấy hỏi tôi: “Vì sao?”
”Mặc dù ông là thân người, nhưng cả đời làm việc thiện hợp với đạo trời, đã làm vô số việc thiện, đã thiết lập thiện công bất khả tư nghì. Thân tuy là người, nhưng linh thì có thể gọi là thần, vì thần quang đạo hạnh của ông chói lọi, xếp vào hàng ngũ thần nhị phẩm. Lại nói về ba vị Thái Tử Nguyên Soái ở nhà tôi, các vị có phân linh là pháp thân Thái Tử Nguyên Soái, xếp vào hàng ngũ thần tam phẩm, về lý mà nói thì các vị ấy thấp hơn ông. Về mặt lễ nghi, ba vị ấy ngồi cao trên bàn thờ thần, còn ông lại ngồi dưới thấp, các vị ấy cảm thấy bất an, cho nên yêu cầu tôi dùng vải đỏ để che đầu. Thế nhưng bây giờ ông lại viết đơn kiện cho người ta, lại còn khuyên người ta kiện cáo để tranh giành thắng lợi, không những không khuyên anh em cần hòa hợp mà ngược lại còn cản trở tình cảm gia đình của họ, cho nên thần cách của ông đã từ nhị phẩm giáng xuống tam phẩm, ba vị Thái Tử Nguyên Soái có thể ngồi ngang bằng với ông rồi, không cần phải nhún nhường ông nữa.”

Sợi ánh sáng đạo đức xuất hiện trên ấn đường hoàn toàn không phải là nói xằng bậy. Tôi nghe nói ở Phượng Sơn, Cao Hùng cũng có người có thể nhìn thấy sợi ánh sáng công đức. Ngoài ra, thần quang ở chỗ thần khiếu cũng có tỏa ra hào quang, các lỗ chân lông trên khắp thân thể của Phật Tổ đều có thể phát ra ánh sáng vàng kim rực rỡ tuyệt đẹp, như thế toàn thân được kim quang bao phủ, giống như kim thân của Bồ Tát vĩ đại. Đại Bồ Tát đức hạnh viên mãn thông thường sẽ xuất hiện một vòng ánh sáng, các vòng ánh sáng này không chỉ có một màu sắc, có ánh sáng bảy màu, không có khiếm khuyết, từng lớp từng lớp ánh sáng đẹp đẽ. Những ánh sáng này sau cùng sẽ biến thành con thuyền ánh sáng, nâng những trưởng lão công đức viên mãn thăng lên thiên giới.

Thần quang xuất hiện như thế nào, phương pháp duy nhất chính là: “Hiếu thuận đứng đầu, cần nhớ trong tâm; kính thần không được tùy tiện, thận trọng như đi trên băng mỏng; trung thành báo ơn đất nước, tinh thần bất hủ; đừng đòi hỏi lẽ phải mà cần xả thân vì lẽ phải; giữ thân như ngọc, sống có trước có sau; phát huy nhẫn nhục, tức là ba-la-mật; kết bạn với người đoan chính, không sa vào phóng đãng trụy lạc; bản thân trước tiên phải trong sạch ngay thẳng, tự nhiên tự mình sẽ khác biệt; tấm lòng nhân ái rộng như trời đất, yêu động vật yêu con người; đạo đức sâu dày không giới hạn, vĩnh viễn hợp với đạo trời.” Sự xuất hiện của thần quang dựa vào sự tu hành của bản thân mới có thể đắc được, tâm địa của chính mình chính là bằng chứng của chính mình, thần quang vô tư, linh chính là sự phản ánh của chính mình, đúng sai thiện ác đều kĩ càng tỉ mỉ. 

Có người hỏi tôi: 
“Thần minh làm sao biết thiện ác của người đời?”
”Nhìn khí.”
”Nhìn khí gì?”
”Chính là thần quang.”


### 15. Tam huyền cửu yếu thần thông


Còn nhớ khi tôi mới có được năng lực thông linh, tôi nhìn tất cả thế giới giống như thế giới kỳ dị, nhìn tất cả thế giới đều thấy tò mò, tâm linh tuôn trào không ngừng không ngơi nghỉ. Tâm như vũ trụ, linh như thuồng luồng, một lúc xuất, một lúc nhập, người cứ lâng lâng như thần tiên. Thế nhưng thời gian lâu dần, tôi thấy linh giới không chỉ như vậy mà thôi. Đi sâu thêm vào thế giới bốn chiều này còn có năm chiều, sáu chiều, sự tỉ mỉ tinh vi của nó giống như tổ chức tế bào não của con người vậy, linh giới mà tôi nhìn thấy suy cho cùng vẫn là thế giới khá ngây thơ! Vì thế, trước mắt, tôi thu hết tinh thần của mình, chuyên tâm nghiên cứu nhiều hơn về phương diện này.

Hôm nay, tôi công khai những bí mật của linh hồn với toàn thế giới, hơn nữa còn nói ra rất nhiều những huyền cơ sâu xa không thể đo lường của Đạo chính thống Trung Quốc, cũng xem như là tôi đã tiết lộ hết thiên cơ rồi. Nếu có người vẫn còn chấp mê không ngộ, tâm vẫn giữ sự nghi ngờ, tôi đây cũng muốn quăng bút mà hét lên rằng: nghiệp chướng sâu nặng, tâm ngoan cố như sắt đá, công lao Bồ Tát khuyên bảo hết nước hết cái, tự mình lại dựa vào cái bộ xương đánh phấn tô son, không biết chân ngã thật sự, thế này quả thực là quá đáng thương. 

Tam huyền cửu yếu thần thông vốn là bí quyết thần công để bước lên đại thừa vô cực của Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, thuật này không truyền cho người hạ phẩm, cũng không truyền cho người trung phẩm, cho dù truyền cũng vô ích, bởi vì con người phàm phu không cách nào hiểu được chân nghĩa trong đó. Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh ban đầu truyền pháp đã chỉ ra Tam huyền cửu yếu huyền công không thể so sánh với điều tầm thường, người nào đắc được tức là chư Phật Bồ Tát, ngay cả quỷ thần cũng khó biết mục đích thật sự của nó. Hôm nay tôi may mắn biết được, không dám tự hưởng điều trân quý, nên đặc biệt công khai hoàn toàn. 

Sau khi kẻ hèn này đắc được bí quyết của Tam huyền cửu yếu thần thông, trong lòng có cảm giác muốn giở lại những sách vở mà mình đã cất giữ, phát hiện ra tiên sinh Tam Phong có thần công Tam huyền tam yếu, trong đó “Lâm Tế Công bút ký” cũng đề cập sơ lược đến Tam huyền tam yếu, nhưng Tam huyền tam yếu rốt cục chỉ biết một mà không biết hai. Tiên sinh Tam Phong và tổ sư Lâm Tế chưa hẳn đã chịu nói ra điều công khai lớn này, thế là cái công án này cũng lại chỉ rơi vào đầu tôi. Nếu tôi không nói thì phải đợi đến khi nào mới có người nói chứ? Người tu đạo thông thường chỉ biết bàng môn tiểu thuật, đui tu mù luyện, lên bục thuyết pháp, nói hết cỡ một vài lời không quan trọng, còn những gì quan trọng nhất thì một câu cũng không nói. Chỉ có mỗi tôi chỉ thẳng “linh hồn” này mà nói, dưới bầu trời này sẽ chẳng có một người nào nói ra. Khi tôi nói “linh chính là ta” thì tôi đã tạo ra lời nói của tất cả trời đất, đáp ứng yêu cầu của tất cả chúng sinh, phổ cập tất cả chúng sinh, cho đến hôm nay chỉ có một mình tôi dám nói ra những lời này.

“Tam huyền chính là cái sâu xa trong thể (thể trung huyền), cái sâu xa trong ý (ý trung huyền), cái sâu xa trong câu (cú trung huyền). Từ cái sâu xa của bản thể phát triển ra thành đại ý, đây chính là ý, đây chính là cái sâu xa trong ý. Cái sâu xa của ý và cái sâu xa của thể vốn có sự khác biệt, nhưng lại cũng là một. Cái sâu xa trong câu cú thì có sự khác biệt thiên biến vạn hóa, đại khái là vì đối ứng với căn cơ của người đến, cho nên có khác biệt, riêng ý thì là một. Còn về thể, thì không có một không có nhiều, cho nên có thể là một cũng có thể là nhiều.”

“Một câu có ba huyền, một huyền có ba yếu, cho nên ba huyền tất có chín yếu. Bây giờ chỉ cần hiểu rõ chín yếu, thì ba huyền sẽ có thể hiểu rõ. Nhiều người không hiểu chín yếu thì luận về ba huyền thì cũng vô ích. Chỉ cần hiểu được một huyền là có thể làm người ở trên người khác, chỉ cần hiểu được hai huyền là có thể làm thầy của trời người, nếu hiểu được ba huyền thì có thể thành Phật thành Tổ.”

Ý nghĩa chính của cái gọi là Tam huyền cửu yếu là như sau: “Tam yếu của thể trung huyền: thần diệu đến cực điểm thì trái lại sẽ trở nên nhạt, đó là sơ yếu. Nhạt tuy không có vị, nhưng có vị cực kì, không phải sắc, không phải không, không phải một không phải nhiều, không phải có không phải không có, không phải phàm không phải thánh, không phải cảnh không phải vật, không phải hữu vi không phải vô vi, nhưng rõ rành rành là mạch sáng, như trăng sáng giữa trời, đẩy không đi, kéo không lại, luôn luôn không giảm bớt mất đi một chút nào, thì gọi là trung yếu. Đến khi không thể giảng thuyết thì gọi là thượng yếu. Tam yếu của ý trung huyền: dùng công phu duy trì gìn giữ, miên mật rời xa và khước từ quang ảnh [ánh sáng và bóng tối, hình sắc], nhưng còn cái nỗ lực “rời xa” này thì gọi là sơ yếu. Khi rời bỏ luôn được cả tâm “rời xa” này, nhập chính vị vô vi thì gọi là trung yếu. Đạt thành công phu vô sở vị trong thời gian dài, thì vô sở vị này gọi là thượng yếu. Tam yếu của cú trung huyền là: lìa tướng nhận biết được cái ngã gọi là sơ yếu. Biết cái ngã nhưng vẫn giữ cái ngã gọi là trung yếu. Xa rời tư dục, xa rời nhưng không quên gọi là thượng yếu.”

Công phu Tam huyền cửu yếu này, lấy tam yếu của thể trung huyền là cảnh giới cao nhất. Ngày nay liệu có người nào thực hành tu dưỡng đạt được đến cảnh giới này hay không, xin thứ lỗi cho tôi không biết. Hiện tại, tam yếu của cú trung huyền thì tôi biết có một người tu đạo ở Tiểu Cảng Cao Hùng đã lĩnh hội được. Tam yếu của cú trung huyền tuy là công phu bước đầu, nhưng nếu lĩnh hội được thì tự mình độ mình không phải là vấn đề gì! So với một số người thông linh thì cao minh hơn nhiều, còn một số người tự phụ rằng mình có pháp thuật thần thông, ngay cả rìa của tam yếu của cú trung huyền, muốn sờ cũng chẳng cách nào sờ tới được! Lìa tướng biết cái ngã, nói ra thì dễ, làm được thì khó lắm. Còn tam yếu của thể trung huyền chính là nói về linh hồn kim cang thượng thừa bí pháp vô hình vô tướng, một hóa vạn, vạn hóa vô số vô lượng. Đây chính là tột đỉnh của sự tìm cầu giác ngộ đắc đạo trong đời người. 

Thiền tông giảng tam huyền, trước tiên cần tìm cầu cú trung huyền, từ cú trung huyền lại tiến vào ý trung huyền, từ ý trung huyền tiến vào thể trung huyền, nhưng cái gợi ra nhiều nhất chính là văn tự, nhưng văn tự rời xa thiền, trực chỉ thì rất khó, cho nên có nhiều biến hóa, cũng khiến cho ngày nay nhiều người tìm kiếm không được.

Tôi nói về tam huyền như sau, để độc giả cẩn thận tự mình tìm hiểu:
Cú trung huyền — ngã.
Ý trung huyền — tâm.
Thể trung huyền — linh.

Người có thể lĩnh hội được ba chữ “ngã, tâm, linh” này thì chính là nền tảng để thành Phật tác Tổ. Hôm nay mục đích khiến tôi viết cuốn sách “Mạn đàm linh cơ thần toán” không có gì khác, chính là để cho con người từ nông nhập sâu, từ sâu đến đại thừa, làm một chút công quả, phổ biến thập phương pháp giới, để tất cả trời người có thể chứng ngộ thần thông, trên lên đến thiên đình, địa ngục trống trơn, người người có thể chăm tu thiện đạo, vĩnh viễn rời xa ngũ trọc ác thế, vào thẳng thế giới thanh tịnh, như vậy thì lòng người hợp với lòng trời, đạt thành đại đạo, nhiệm vụ của tôi cũng đạt thành, không phụ trời xanh đã khổ tâm bồi dưỡng tôi.

Có người cho rằng đạt đến trình độ ý trung huyền đã xem là cùng cực rồi, đến được trình độ ý trung huyền thì đích thực có thể thoát xác thăng thiên, có thể vào Tứ thiền thiên, vào Kim cang đại định, có tam muội thần quang xuất hiện, tự thành một thế giới, nhưng thế giới này vẫn là công đức vô lượng kiếp đạt được bởi một chữ của “ý”, sức mạnh của nó là phi thường, thần thông bất khả tư nghì, nhưng tuyệt đối đừng như vậy mà đã tự cho rằng đã đạt đến cùng cực. Tâm pháp chí cao vô thượng của thể trung huyền mới là gốc rễ của vũ trụ, không đến được trình độ này, không biết có thế giới khác, cái này chính là cảnh giới Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh xuất nhập pháp giới, tự đến tự đi, không trở ngại không thúc ép.


### 16. Linh lực và niệm lực hợp nhất


Kê đồng không phải là bẩm sinh, mà là phải trải qua một sự kiện nào đó mới ngẫu nhiên biến thành kê đồng. Tôi không mấy tán thưởng kê đồng, kê đồng là sự hiển hiện của linh lực và niệm lực, nhưng nó thật sự chỉ là sự thực hành thí nghiệm linh lực đơn giản và dễ dàng ở mức độ thấp nhất. Nếu linh lực bị thay thế thì chính là kê đồng, trở thành người trung gian của linh trong không gian, ở nước ngoài gọi là những nhà ngoại cảm. Tôi từng nói linh lực tự chủ là thượng thừa, còn linh lực không thể tự chủ là hạ thừa, người luyện linh tốt nhất đừng làm kê đồng, làm kê đồng rồi thì sẽ không dễ dàng phân biệt được “linh xuống” là chính hay là tà. Điểm này cực kì quan trọng.

Bây giờ tôi đặc biệt lấy một ví dụ để nói rõ. Dưới đây là bức thư của một thanh niên họ Lâm ở thị trấn Gia Định thành phố Cao Hùng, bức thư này đã chứng tỏ sự hiển hiện của linh lực, và cũng có thể thấy được sự thiếu hụt của niệm lực. Nguyên văn của lá thư này như sau:

*Thưa thầy Lư Thắng Ngạn. 
Ngày 16 tháng này tôi cùng anh trai đi Đài Trung, đầu tiên là đi bái kiến và quấy rầy thầy, lại được thầy giải đáp những thắc mắc nghi hoặc, tôi vô cùng cảm tạ. Tại đây, cho tôi được gửi đến lời cảm ơn từ đáy lòng mình, xin cảm ơn!*

*Chẳng là, điều tôi cảm thấy rất tiếc nuối là ngày hôm đó tôi vốn muốn nhân cơ hội để thỉnh giáo thầy, nhưng lại thấy thầy quá vất vả, hơn nữa thời gian không cho phép, nên tôi đã đến rồi đi một cách khá vội vàng, ngay cả những lời muốn thỉnh giáo cũng chưa thể thổ lộ (bởi vì số đăng ký của tôi và anh tôi xếp thứ 24, mà đồng hồ lúc đó đã chỉ 10 giờ 20 phút, mà sau đó vẫn còn có hơn mười người nữa chờ thỉnh giáo, vì sợ khiến người khác bỏ lỡ mất việc thỉnh thị quan trọng hơn của họ nên tôi cũng chỉ vắn tắt thỉnh giáo một đôi điều mà thôi). Chỉ mong sau này có thời giờ hơn lại đến thăm thầy và cầu dạy bảo.*

*Bây giờ có mấy điểm này muốn xin thầy chỉ thị. Ngày 19 tháng này, vào lúc 5 giờ 45 phút sáng, ở trong căn nhà nhỏ ở làng chài của mình, tôi tuân theo chỉ thị của thầy, tôi bắt đầu thử tĩnh tọa luyện linh. Trong mười mấy phút đầu, tôi bắt đầu cảm giác thấy mùi hương ở xung quanh, có ánh sáng trắng lấp lánh, tôi nghĩ khả năng đây là thần thánh tỏa kim quang xán lạn giáng xuống rồi. Cứ cách vài phút ánh sáng lại hiện lên một lần, sau 30 phút, hai tay tôi từ từ chắp lại thành động tác lạy Phật, sau đó tôi hơi có cảm giác tay mình rung rung, ngoài điều này ra thì không có gì nữa. Đúng vào lúc tôi cảm thấy thất vọng thì kỳ tích thật sự xuất hiện. Đầu ngón tay và toàn thân tôi tự động hướng về phía que hương mà quỳ lạy lễ bái, trong vòng 15 phút, cho đến khi que hương chỉ còn lại là một chấm lửa thì mới dừng lại. Với tâm trạng phấn khích rộn rã, tôi đứng dậy, chắp tay cảm tạ Diêu Trì Kim Mẫu đã ban cho tôi linh động. Kỳ diệu là, tôi lại tiếp tục quỳ lạy, cứ như vậy tổng cộng từ đầu tới cuối là một tiếng đồng hồ.*

*Buổi chiều hôm đó, cũng là lúc 5 giờ 45 phút, tôi lại thắp hương tĩnh tọa như thế, chắp tay được 10 phút thì thần linh giáng xuống, toàn thân rung rung, khiến toàn thân tôi ngửa ra trước ngả ra sau hai lần, sau đó rung lắc rất ghê gớm. Đến cuối cùng, điều thần kỳ bất ngờ là hai tay của tôi buông xuống ôm vòng lấy bụng. Buổi tối hôm đó, tôi bảo người cha ốm yếu của tôi tĩnh tọa, ông ấy chỉ ngồi được 10 phút là đã không chịu được sự đau đớn của thân thể, còn tôi đột nhiên linh động, tương đối dữ dội, tôi giống như kê đồng giúp bố tôi xoa bóp và không hề tự chủ viết ra phù lệnh, tôi bước những bước chân và múa những thế tay cực kì quái dị, đi lại giống như thiếu nữ khoan thai, khiến người ta không hiểu gì cả.*

*Bố tôi cho rằng tôi là kê đồng, hơn nữa còn là Diêu Trì Kim Mẫu giá đáo, vì thế ông rất mừng rỡ cầu ngài phù hộ cho già trẻ trong nhà tôi đều bình an. Rồi ngày hôm đó cháu gái tôi trong người không được thoải mái, thế nên muốn tôi giúp nó một chút, kết quả là cũng thành công. Buổi tối ngày 20, lúc đang ngủ, đột nhiên tôi tỉnh dậy vào lúc 2 giờ sáng, bên tai nghe thấy có âm thanh vù vù như tiếng ong mật đang bay, còn có cả âm thanh của động cơ turbine của tàu biển lớn khởi động, còn có cả tiếng ve kêu, có cả tiếng bay lượn. Tôi đánh thức anh ba của tôi, nhưng anh ấy lại bảo chẳng có cái gì cả.*

*Tôi đến cung Kim Loan ở quê tôi thỉnh thị Thiên Thượng Thánh Mẫu, Thánh Mẫu nói tôi đã hoạt linh rồi, nhưng chính thần và ma quỷ đều có thể nhập thân, điều này không biết là thật hay giả? Tôi luôn cho rằng thầy là bậc đức hạnh cao thâm, nhất định là Đạo gia chính thống không tà. Giống như tôi đây mà trong một ngày đã xuất hiện kỳ tích tâm linh như vậy, tôi nằm bò ra đất thán phục thầy, nhưng không biết tôi đã đến được giai đoạn nào, làm sao tiếp tục luyện linh tiếp? Mong thầy chỉ thị. Còn về luyện tập “thủ thông” mà thầy nói đến trong sách thì nên cầu xin pháp nào, thời gian và địa điểm có cần lựa chọn không, mong thầy chỉ giáo!*

*Vốn dĩ từ tận đáy lòng, tôi rất hy vọng có thể làm bạn với thầy, bởi vì trông thầy rất thật thà, giản dị, hòa nhã và thân thiện (đây không phải là ca ngợi, mà là trực giác của mỗi người). Thế nhưng, tôi luôn cho rằng như thế thì trèo cao quá, cho nên tôi không dám có tham vọng quá mức như vậy, tôi chỉ có khẩn thiết hy vọng rằng, nếu thầy có di chuyển địa điểm, làm ơn thông báo cho tôi biết để tôi không bị mất đi chỗ nương dựa, xin hãy lượng thứ cho sự ích kỷ của tôi.*

*Nhà tôi thờ cúng một vị Hoàng Đạo Chân Nhân, tôi đã thờ tượng kim thân của vị này 20 năm rồi, không biết có phải là ngài giáng linh ban phúc cho chúng tôi không, Hoàng Đạo Chân Nhân tay trái cầm bát, tay phải cầm quạt, chân phải dẫm lên rùa, chân trái dẫm lên rồng, cao khoảng một mét, sau lưng có thất tinh bảo kiếm, ngồi trên đỉnh núi, đến nay vẫn chưa từng hiển linh. Tôi mong mỏi được mời thầy tới nhà tôi, nơi trú ngụ thấp hèn của tôi ở gần bờ biển, là một làng chài thuần hậu, phong cảnh đẹp đẽ, không khí trong lành, nói không chừng nơi đây sẽ càng làm cho tâm linh của thầy tóm được những tư liệu và linh cảm để sáng tác. Tôi sẽ chờ đợi và mong ngóng…*

Bởi vì rất nhiều người theo tôi học khởi linh, hơn nữa cảnh ngộ của mỗi người mỗi khác, có người linh lực đột biến trở thành kê đồng, cũng có người đột ngột có nhãn thông, lại càng có người bị bệnh quanh năm đột ngột có ngày khỏi bệnh, lại càng có người tu đến mức linh lực tự chủ tự do tự tại. Có người tu đắc tâm thông, có người chứng ngộ tâm pháp vô thượng, có người lên đồng viết chữ, khai đường để tuyên truyền giảng giải thiện hành. Thanh niên ở Gia Định Cao Hùng kia có linh lực hoạt bát, nhưng niệm lực không đủ, dễ bị linh khác lừa gạt. Tôi phải khuyên anh ấy tu trì nhiều ngoại công, thiện hạnh mỗi ngày một nâng cao, thiên thần tất có cảm ứng, luyện đến khi linh có thể tự chủ, phân biệt được đạo lý chính tà, có thể biết cái gì có thể làm và không thể làm, như vậy mới là chính niệm của người luyện linh, dùng linh lực phối hợp với chính niệm, như vậy mới hợp với đạo thượng thừa, bằng không dễ bị ma quỷ lợi dụng mà không tự biết!

Người luyện linh nhất định phải linh niệm hợp nhất, tức cái gọi là một thể của linh lực và niệm lực. Niệm lực nếu chính thì linh lực tất sẽ chính, sự tương thông giữa linh và linh ngoại giới tất sẽ chính. Cho nên, người luyện linh phải cầu tâm chính trước, tâm nếu bất chính thì linh chắc chắn bất chính, hậu quả có thể tưởng tượng được. Cái gọi là tẩu hỏa nhập ma không phải ma tìm đến bạn, mà là tự mình chiêu cảm. Rất nhiều kê đồng làm ác, gom tiền lừa sắc, chính là đánh mất chính niệm, vì thế tà ma xâm nhập, bản thân có phần vẫn còn không biết nữa! Đây chính là nỗi bi ai của kê đồng, cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu mà tôi khuyên người ta đừng làm kê đồng.

Tác giả thần toán cho người ta là tôi vận linh lực, dùng niệm lực, đây là một loại của thuật linh thông, nếu có người muốn học tập thì chắc chắn phải chấp nhận một phen bị ma thử thách, cũng là trời ban trách niệm lớn lao cho con người thôi, tất nhiên không thể thuận lợi như thế được, không đánh mất chính niệm mới là cái chỗ cho chân cơ hiển hiện. 

Tôi từng biết: “Cánh cửa lúc lâm chung là quan trọng nhất. Đời có người ngu, vào lúc cha mẹ người thân lâm chung thì lại khóc lóc thống thiết, lau người thay quần áo, chỉ mong được đẹp mặt với người đời mà không nghĩ được rằng như thế là làm hại người chết. Người không niệm Phật thì tạm gác đó không bàn, còn người đã quyết chí vãng sinh, lúc lâm chung gặp phải người thân như vậy, đa phần đều phá hoại chính niệm, vẫn cứ lưu lại ở thế giới này. Trợ niệm lúc lâm chung ví như kẻ nhát gan lên núi, tự lực không đủ, may có trợ lực của chính niệm dắt phía trước đẩy phía sau, nâng đỡ hai bên, thì mới có thể leo lên đến đỉnh, lúc hấp hối có chính niệm rõ ràng.”

Cho nên, tầm quan trọng của niệm lực hiển nhiên là như nhau!


### 17. Xuất thần ký


Ngày trước, khi tôi học trung học, có một giáo viên họ Nhan kể một câu chuyện nói đến con người ở một miền nọ có thuật xuất thần, giáo viên Nhan nói: “Loại người đó nếu buổi tối đi ngủ, linh hồn sẽ từ lỗ đỉnh đầu đi ra, đi du lịch khắp nơi, có khi bay đi rất xa rất xa, nhưng nếu trước khi trời sáng mà không quay về thì sẽ xảy ra nguy hiểm. Hơn nữa, giả sử người bên cạnh muốn hại anh ta, chỉ cần lật úp người anh ta xuống, mặt úp xuống dưới, thì linh hồn anh ta sẽ không bay trở về được, không nhập vào được nhục thể, và người xuất thần này cứ như vậy mà chết luôn.”

Đương nhiên khi đó, các bạn học nghe giáo viên Nhan kể chuyện, cho rằng chẳng qua chỉ là một câu chuyện mà thôi, không có người nào tin chuyện linh hồn xuất du là thật. Nhưng đến hôm nay, không phải là tôi đề xướng thần thoại và mê tín, tôi cho rằng linh hồn xuất du là thật, nhưng linh hồn xuất du chỉ có một bộ phận rất rất ít người mới có khả năng đó, người bình thường muốn xuất thần ư, không có chuyện dễ dàng như vậy. 

Có người cho rằng nằm mơ, những gì nhìn thấy trong mơ, liệu có phải là linh hồn xuất du không? Có rất nhiều cách giải thích về cái gọi là nằm mơ, nhưng đây không phải là linh hồn xuất du. Nằm mơ là tác dụng của tâm, tác dụng của thần kinh, đương nhiên cũng có tác dụng của linh hồn, nhưng du lịch trong giấc mơ hoàn toàn không phải là từ lỗ đỉnh đầu đi ra, mà là du lịch trong lục phủ ngũ tạng bên trong thân thể chính mình. Nếu thân thể có bệnh thì những cơn ác mộng sẽ xuất hiện liên tục hơn. Giấc mơ cao minh nhất của người bình thường gọi là “thanh mộng”, đó là khi linh hồn xoay tròn tại tim, tiến vào cảnh giới ba đời của chính mình, rất dễ nhìn thấy kiếp trước của mình, tuy vậy vẫn còn cách xuất thần xa lắm!

Người có thể xuất thần chắc chắn có thần thông, muốn có thần thông lại càng phải luyện linh, linh hồn có thể mở ra thiên môn đóng kín của chính mình mới là thuật xuất thần cao minh nhất. Trong việc học tập và rèn luyện cả đời của con người, muốn chọc thủng thiên môn là một việc không dễ dàng nhất. Thiên môn có thần thủ hộ, không có đại lực thì vị đó sẽ không chịu nhượng bộ. Chọc thủng được thiên môn mới xem là xuất thần, công lao kết quả của việc mọc cánh thành tiên sẽ được hoàn thành vào chính lúc này.

Tôi từng xem bói, tính toán vận mệnh cho một người vô số lần, nhưng tuyệt nhiên không đoán ra được vận mệnh của người này. Người này họ Trần tên Minh Tú, 47 tuổi, toàn thân bị mắc bệnh viêm da mãn tính, trên người chi chít các vết gãi ngứa, dùng tay gãi thì tay dính đầy máu tươi, không gãi thì không thấy hết ngứa, mà gãi thì da lại bị chảy máu. Ban đêm đi ngủ, cả đêm không thể ngủ được, kêu gào thảm thiết, đau khổ không nói nên lời, như thể bị ai đó quất vào người khiến càng ngứa ngáy thêm. Người nhà ông ta yêu cầu tôi xem vận mệnh cho ông, ban đêm tôi bày hương án, xem bói vô số lần, nhưng không thể lập được quẻ, hết sức kỳ lạ. Mãi cho đến đêm khuya, sao trên bầu trời sáng lấp lánh, đột nhiên có một ngôi sao băng bay từ phía Tây về phía Đông, luồng ánh sáng chói lóa giống như rơi xuống trước bàn thờ thần của tôi. Tôi nhìn, thì ra là Bắc Đẩu Tinh Quân. Bắc Đẩu Tinh Quân tay cầm phất trần, hiện thân đạo sĩ, mặc quần áo bát quái, vẻ mặt sáng chói, ngài nói với tôi: “Liên Sinh, có thể dẹp hương án được rồi! Hồn của người này đã vào điện Đông Nhạc, quẻ dương gian tính không được đâu. Nếu anh xuất thần ắt sẽ tự biết thôi.”
”Đa tạ Tinh Quân.” - Tôi chắp tay lạy Tinh Quân, Tinh Quân trong sát-na đã biến mất.

Đêm khuya lúc tôi sắp đi ngủ, tôi đặc biệt thắp một que hương dài, hướng về phía Đông cúi lạy, miệng niệm: *“Thiên nhật tẩy thân, nguyệt luyện ngô phách, thiên viên địa phương, lục luật cửu chương, triều lễ Đông Nhạc, tốc đà khoái hành, Liên Sinh phụng minh lệnh Địa Tạng Vương âm luật lệnh.”* Niệm 3 lần. 

Tôi lên giường đi ngủ, hai mắt nhắm lại, nhưng lại nhìn thấy một vị âm thần đang đứng bên cạnh vẫy tay với tôi. Tôi đi theo thần đó, vòng bên trái vòng bên phải, đi qua mấy con đường dài, nhìn thấy một cung điện cao vút, bên trên có một tấm biển ghi “Đông Nhạc Thần Cung”. Cung điện nguy nga, tôi cùng với âm thần bước nhanh vào bên trong, làm lễ chào Đông Nhạc Đại Đế. Đông Nhạc Đại Đế thân cao tám xích [khoảng 2,6 mét], tướng mạo đường đường, tỏa ra một khối chính khí uy hiếp người ta, mặt đen có râu. Trước điện có một người đang quỳ, tôi vừa nhìn thì thấy chính là Trần Minh Tú, lúc này Trần Minh Tú đang toàn thân trần truồng, trên người có mấy con rắn hoa đang bò, hơn nữa còn có vô số bò cạp và sâu bọ đang hút máu tươi của ông ta, có âm binh đang đánh vào người ông ta. Trần Minh Tú nằm trên mặt đất, kêu la thảm thiết. 

“Vì sao Trần Minh Tú phải chịu khổ hình này?” - Tôi hỏi quan âm phủ.
”Hiện tại người này tuy sống tại dương gian, nhưng lập mưu lừa gạt phụ nữ, là cường bạo ở khu vực chùa này, làm nhục tiết phụ, làm bẩn thánh địa, khiến người phụ nữ đó thắt cổ tự vẫn, xuống âm phủ khiếu nại, cho nên phải chịu báo ứng như thế, khiến hắn sống không bằng chết, chết không bằng sống, sống chịu hình phạt, thân tuy chưa chết nhưng hồn vào buổi đêm phải vào âm phủ chịu phạt.”

Tôi nghe xong lời này mà trong lòng kinh hãi, nhân gian làm gì có chuyện không có báo ứng chứ! Đây chính là “thiện ác cuối cùng đều báo đền, chỉ xem đến sớm hay đến muộn”. Tôi nhớ đến một đoạn trong “Kinh Pháp Cú”: “Yêu nghiệt gặp phúc, nghiệp ác chưa chín; nghiệp ác chín muồi, tự chịu hình phạt. Người lành gặp họa, nghiệp thiện chưa chín; nghiệp thiện chín muồi, ắt được hưởng phúc. Đánh người bị đánh, làm ác gặp ác, mắng người bị mắng, nổi giận bị giận. Thế nhân không thấy, không biết chính pháp. Cuộc đời ngắn ngủi, chẳng nên làm ác, chớ khinh ác nhỏ, cho là không sao; giọt nước tuy bé, cũng chảy đầy bình; từ nhỏ tích lớn, mà nghiệp đầy lên. Chớ khinh thiện nhỏ, chẳng được phúc gì; giọt nước tuy nhỏ, cũng chảy đầy bình; tích lũy từng chút, mà phúc đầy lên.”

Từ Đông Nhạc Thần Cung trở về, từ trong mơ tỉnh dậy, tôi hỏi người nhà của Trần Minh Tú xem buổi đêm Trần Minh Tú có gặp ác mộng không. Người nhà kể với tôi: 
“Thầy Lư, không giấu gì thầy, ông ta mơ thấy rắn quấn trên người, sâu bọ bò cạp bò lên người ông ta, có người cầm roi đánh ông ta, ông ta liên tục nói mê, ác mộng liên tiếp không dừng. Việc này phải làm sao mới được?”
”Ôi! Nếu là nhân quả, tôi cũng chẳng có cách nào.” - Tôi lắc lắc đầu.

Điều này là sự thật. Từng có rất nhiều người bị bệnh nặng đến cầu tôi, vì bác sĩ đã chẩn đoán là không thể cứu được, uống thuốc hay châm cứu đều vô hiệu, đã ngấp nghé cánh cửa chết rồi. Tôi đưa ra cầu thần thánh, có một số người, thần thánh chữa khỏi được một cách kỳ diệu, những việc thần kỳ này đúng là nhiều không đếm xuể, nhưng cũng có một số người, thần thánh cũng phải lắc đầu than rằng: “Giữa trời đất này, năm đạo phân minh, sâu thẳm tĩnh mịch, bao la bát ngát. Thiện ác báo ứng, họa phúc bổ sung, tự làm tự chịu, không ai gánh thay.” Điều này tức là không thể chữa, không có khả năng chữa, chữa không khỏi, Thần Phật tuy từ bi, nhưng chuyện sống chết cũng khó thay thế được. Có một số người cầu tôi, tôi chuyển qua cầu thần thánh, thần thánh ngoài lắc đầu ra cũng không biết nói gì, bởi vì báo ứng rất lợi hại, trên trời dưới đất có nguyên do, nghiệp lực theo thân, làm sao một thần minh nhỏ bé có thể chữa khỏi được.

Tại đây, tôi không coi thường thần lực, mà tôi biết đích xác bất kì một vị thần linh nào cũng không phải là bậc toàn năng, con người duy có dựa vào tự lực, rồi phối hợp với thần lực, như vậy mới có thể thành công. Đưa ra một lời đại nguyện không dễ, làm một việc đại thiện hạnh không dễ, nhưng nếu mắc bệnh hiểm nghèo, nếu có thể khỏi bệnh, đưa ra một lời đại nguyện, ấn tống sách thiện tặng người, thì có gì mà không thể làm chứ!


### 18. Công hiệu của Bạch Y thần chú


Toàn văn thần chú Bạch Y Đại Sĩ như sau: 
*”Nam mô đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn quảng đại linh cảm Quan Thế Âm Bồ Tát. (đọc 3 lần)
Nam mô Phật. Nam mô pháp. Nam mô tăng. Nam mô cứu khổ cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát. 
Tan-chi-tô, ôm, ka-la-fat-tô, ka-la-fat-tô, ka-huô-fat-tô, la-ka-fat-tô, la-ka fa-tô. 
Thiên La Thần. Địa La Thần. Nhân ly nạn. Nạn ly thân. Nhất thiết tai ương hóa vi trần. 
Nam mô ma ha bát nhã ba la mật.”*

Lần đầu tiên tôi tiếp xúc với chú ngữ này là khoảng 5 năm trước. Tại một tiệm sách cũ ở đường Trung Hoa thành phố Đài Trung, tôi đã giở đến thần chú Bạch Y trong một cuốn sách cũ nát, cuốn sách mỏng chỉ có mấy trang giấy, tôi đã mua nó với giá 5 hào. Vào lúc đó, Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh vẫn chưa truyền chú ngữ cho tôi, tôi trở về nhà đọc, không cảm thấy chú ngữ này khó thuộc, cho nên sau nửa buổi thì tôi đã học thuộc nó trong đầu rồi. Khi ấy, căn bản là tôi rất ít suy nghĩ về nguồn gốc và công lực của thần chú, tôi chỉ là thành kính niệm chú, không cầu bất kì phúc báo gì, mỗi tối trước khi đi ngủ tôi đều niệm 10 biến, chỉ như vậy mà thôi.

Khoảng 7 năm trước tôi bị mắc bệnh mắt, có người nói đó là bệnh viêm mắt đỏ, sợ nhìn thấy ánh sáng, gió thổi vào mắt thì đau, trong mắt cũng đầy những sợi đỏ, rất dễ mỏi mắt, nhãn áp cũng cao. Bác sĩ nhãn khoa nói đây là bệnh tăng nhãn áp, nhưng mỗi bác sĩ lại nói khác nhau, một người nói là bệnh đục thủy tinh thể, cũng có người chẩn đoán là bị viêm giác mạc, tiêm thuốc uống thuốc, dùng thuốc mắt, nhưng từ đầu tới cuối đều không thấy chuyển biến tốt lên. Nếu ngủ đủ thì có thể duy trì được nửa tiếng không nhỏ thuốc mắt, nếu ngủ không đủ thì thuốc nhỏ mắt không thể rời thân một phút nào. Mắt đau đớn không chịu nổi, nhất là khi đi trên đường gió to, mắt càng đau hơn. Tôi thật sự không biết nguyên nhân của việc đau mắt này, tuy bị nó làm cho phiền não nhưng tôi cũng không nghiêm túc quan tâm đến nó.

Sau khi tôi gặp được nhân duyên kỳ lạ, niệm thần chú Bạch Y khoảng 20 ngày, buổi tối tôi nằm mơ, mơ thấy tôi ngồi trên một đồng cỏ thơm, sau lưng và xung quanh là một khu rừng trúc, từ trong rừng trúc một cụ bà áo vải tóc trắng đi ra, cụ bà có diện mạo rất hiền từ, trên tay cầm một chuỗi tràng hạt, bảo tôi rằng: 
“Cậu thiếu niên, cậu nghĩ xem cậu muốn cầu xin tôi cái gì, tôi sẽ cho cậu.” 
Cụ bà nói xong lời thì tôi tỉnh khỏi giấc mơ, khi ấy là nửa đêm, tôi cũng chẳng hề suy nghĩ là hy vọng có thể chữa khỏi bệnh mắt của mình. Một lúc sau, tôi lại đi vào mộng cảnh. Nói ra cũng kỳ lạ, cụ bà đó vẫn đứng trước rừng trúc, dùng tay lấy ra từ trong túi áo của bộ quần áo vải một gói thuốc bột, sau đó cụ bà dùng thuốc bột xoa lên mắt tôi, mắt tôi cảm thấy cực kì mát mẻ, rất dễ chịu, cụ bà nói: 
“Mắt của cậu đã được tôi chữa khỏi rồi đó!”

Tôi từng kể giấc mơ này cho Linh Sư nghe. Linh Sư nói: 
“Chú tức tâm nguyện, con niệm Bạch Y, tâm nguyện kiền thành, tự nhiên cảm ứng.”

Kể từ sau khi có được giấc mơ này, bệnh mắt của tôi mỗi ngày một thuyên giảm, rồi đến một ngày, bệnh mắt của tôi không ngờ đã không cần thuốc mà khỏi hẳn trong khi bản thân tôi cũng không hề để ý. Tôi không đi khám bác sĩ lại, không cần dùng thủ thuật, đây đúng là một kỳ tích! Linh cảm của Bạch Y Đại Sĩ, sự linh dị cứu khổ cứu nạn của ngài thật sự quá vĩ đại.

Tôi từng đến chùa Thọ Sơn ở bên cạnh núi Thọ Sơn ở Cao Hùng trò chuyện với một tì kheo ni. 
”Thần chú Bạch Y có hiệu lực cực lớn.” - Tôi nói.
”Thần chú Bạch Y có hiệu lực không lớn bằng chú Đại Bi.” - Tì kheo ni nói: “Thần chú Bạch Y chắc là thuộc về chú ngữ của bàng môn rồi. Trong Phật môn không niệm chú này, chỉ niệm chú Đại Bi thôi.”

Trong lòng tôi không đồng tình, cùng là chú ngữ của Quan Âm Bồ Tát, lẽ nào lại có gì khác nhau sao? Do chúng sinh hiển hóa khác nhau cho nên chú ngữ của Quan Âm Bồ Tát có nhiều loại khác nhau, miễn là hiệu quả tốt, lẽ nào còn phân biệt chú chính hay chú phụ gì chứ. Con người trong Phật môn vốn dĩ nên tu trì tâm địa bình đẳng không phân biệt, nếu ngay cả chú ngữ mà cũng phân biệt thì chẳng phải là tâm phân biệt quá lớn rồi sao?

Tôi từng khuyên người ta ấn tống thần chú Bạch Y Đại Sĩ, dùng công đức của nguyện lực này mà thay đổi vận mệnh của một người, kết quả là công hiệu cũng rất thần kỳ, cầu gì được nấy. Trước mắt, thần chú Bạch Y đơn giản và dễ đọc, có thể độ hóa phàm phu bình thường, còn thần chú Đại Bi nhiều chữ hơn và hơi khó niệm hơn, người bình thường không thể nào đọc mà không có lỗi sai, đây cũng là chỗ mà Bồ Tát hiển hóa thần công khác nhau nhằm thu nạp cả người thuận lợi lẫn người khó khăn cùng lên con thuyền từ bi đến bờ bên kia.

(Tại Đài Bắc có một vị là Tôn tiên sinh, là ủy viên cấp trung ương. Ông ấy kể với tôi thần chú Bạch Y Đại Sĩ và Bạch Y Quan Âm thật sự linh cảm. Tôn tiên sinh có một căn nhà, người chủ trước của căn nhà bị chết bất đắc kỳ tử, trong nhà có rất nhiều chuyện quái dị. Tôn tiên sinh xưa nay tín ngưỡng Quan Âm Bồ Tát, niệm thần chú Bạch Y Đại Sĩ nhiều năm không gián đoạn, có cất một bức tượng của Bạch Y Đại Sĩ trong tủ quần áo, bức tượng Đại Sĩ này được thỉnh từ núi Phổ Đà ở Nam Hải, lâu ngày cũng quên mất nên chưa hề cúng dường. Cho đến một ngày, những chuyện quái dị trong nhà ghê gớm quá, cánh cửa tủ quần áo tự nhiên mở ra, không ngờ bức tượng Bạch Y Quan Âm điêu khắc bằng đá lại đứng ngay ở cửa tủ quần áo. Tôn tiên sinh hết sức kinh ngạc, thế là mới đem ra thờ phụng, kể từ sau khi thờ phụng, những chuyện quái dị trong nhà dần dần giảm bớt. Càng thần kỳ hơn nữa là, bức Quan Âm bằng đá này ban đêm tự có thể di chuyển, có khi từ trên bàn thờ đi tới tivi ở trong phòng khách, có khi lại thấy ở trong phòng ngủ, có khi tượng Bạch Y Quan Âm lại tự động trèo lên cầu thang, đứng tại đầu cầu thang. Tôn tiên sinh nói, không có ai cố ý di chuyển tượng Quan Âm, tình trạng này tiếp diễn mãi cho đến khi các chuyện quái dị trong nhà hoàn toàn hết hẳn thì mới dừng lại. Tôn tiên sinh vì đọc được cuốn “Mạn đàm linh cơ thần toán” đầu tiên của tôi nên mới đặc biệt kể với tôi chuyện này. Tôn tiên sinh cho rằng, kính Quan Âm, lễ bái Quan Âm, niệm thần chú, lợi ích cực lớn.)


### 19. Truyền kỳ về trì chú


Chương trước nói đến thần chú Bạch Y, chương này tôi kể một câu chuyện truyền kỳ về trì chú. Sự việc này cũng vô cùng thần diệu, nhưng tôi lại không hề tận mắt nhìn thấy, mà là tôi được một tì kheo ni ở chùa Đức Sơn Nham thị trấn Trúc Sơn kể cho nghe, nếu độc giả không tin thì coi như nghe chơi vậy thôi, tin hay không tùy bạn. Những chuyện trong thiên hạ không phải tự mình tự trải nghiệm được thì muốn tin cũng khó lắm.

Có hai tì kheo ni tu hành ở một ngôi chùa trên núi, ít giao du với bên ngoài, không tụng kinh, không niệm Phật, chỉ trì chú, một sư cô pháp hiệu là Từ Nhân, một sư cô pháp hiệu là Từ Thánh, họ lập lời thề với nhau là nếu không đắc đạo thề không rời núi. Cứ như vậy nhiều năm trôi qua, hai sư cô từ lúc trẻ tuổi đã bước vào tuổi trung niên, Từ Nhân trì chú Đại Bi tâm đà-la-ni, Từ Thánh trì chú vãng sinh, mỗi người tự tu hành, cũng không thường xuyên thăm viếng nhau. Các hộ gia đình dưới núi biết trên núi có hai sư cô tu hành thì sôi nổi tự động cúng dường gạo trắng, đồ chay, hoa quả, cho nên ngoài tĩnh tọa trì chú ra, mỗi người họ tự trồng rau quả, tự mưu sinh để tồn tại.

Đêm khuya, pháp sư Từ Thánh ở trong thiền phòng tĩnh tọa, trì chú sãng sinh có thể nói là đã đến cảnh giới xuất thần nhập hóa [tuyệt vời xuất sắc]. Mỗi khi bà ấy niệm chú vãng sinh thì luôn có gió lạnh ào ào thổi vào trong nhà, hiện lên những bóng đen, Từ Thánh chỉ nhìn thấy mỗi bóng đen đó đều giơ hai tay ra. Những bóng ma đó giơ hai tay ra là để nhận chú vãng sinh của pháp sư Từ Thánh. Từ Thánh nhìn thấy sự việc kỳ lạ này lâu ngày, không hề sợ hãi. Càng niệm chú vãng sinh càng thuần thục, cuối cùng đã nổi tiếng khắp xa gần, ai cũng biết chú vãng sinh của pháp sư Từ Thánh nổi tiếng khắp thiên hạ, ma quỷ tiếp nhận được càng ngày càng tăng lên.

Có một hôm, Từ Thánh đang niệm chú thì nhìn thấy một bà cụ đi vào trong thần phòng. Bà cụ tay cầm một hộp cơm, bởi vì khi ấy đã là 11 giờ tối, đường núi vào ban đêm không dễ đi, hơn nữa gió lạnh rít từng cơn, cho nên Từ Thánh kinh ngạc vội hỏi: 
“Bà ơi, vì sao đến đây?”
”Pháp sư ở trên đây, thân già này đặc biệt đem thức ăn làm bữa ăn khuya cúng dường pháp sư.” - Bà cụ mở hộp cơm ra và nói như vậy, bên trong hộp cơm là các món ăn chay rất tinh xảo, màu sắc và mùi vị đều ngon lành.
”Tôi không thể vô cớ mà nhận món ngon này.” - Từ Thánh nói.
”Ngày xưa đệ tử từng phát nguyện nếu có người trì tụng chú vãng sinh, niệm đến khi tâm khẩu hợp nhất, niệm đến mấy vạn triệu biến, khiến cho vô số người, trời và ma quỷ có được lợi ích, tôi sẽ lập lời thề, mỗi tối vào lúc 11 giờ sẽ tự mình cúng dường pháp sư. Chú vãng sinh của pháp sư đã khiến ma quỷ trong thiên hạ nhờ chú ngữ này mà được siêu thăng! Tôi y theo lời thề mà đến, không phải vô cớ đâu.” - Bà cụ thành khẩn nói.
“Bà ơi, bà sống ở đâu?” - Đêm khuya, đường núi nguy hiểm, Từ Thánh không thể không hỏi.
”Tôi sống sau núi, đến đi tự do, như sống trong hư không, vì tôi là linh thân.” - Bà cụ vốn chỉ là một khối linh khí mà thôi, bay lơ lửng trong không trung một lúc, bà cụ hướng về Từ Thánh hành lễ quy y, và Từ Thánh cũng chắp tay đáp lễ.

Kể từ đó về sau, vào lúc 11 giờ hằng đêm, bà cụ đều tự nhiên đến thiền phòng, mỗi ngày lại đổi một hộp cơm, màu sắc và mùi vị đều ngon lành, cúng dường xong, bà cụ lại hướng về pháp sư Từ Thánh hành lễ, sau đó tự lui đi. Từ đó không gián đoạn một ngày nào, còn Từ Thánh cũng vẫn trì chú vãng sinh, càng trì càng nghiêm cẩn, đã đạt đến trình độ tâm chú hợp nhất. Bà cụ này không phải người nào khác, chính là Thổ Địa Bà ở miếu Thổ Địa nhỏ ở sau núi.

Lại nói, có một hôm vào ban ngày, Từ Thánh gặp Từ Nhân - sư cô trì chú Đại Bi. Từ Thánh và Từ Nhân kể cho nhau nghe về tình hình gần đây, Từ Thánh đặc biệt kể cho Từ Nhân nghe không sót một chữ nào về việc bà cụ đem thực phẩm cúng dường mỗi đêm. Từ Nhân cho rằng đúng là quá bất khả tư nghì, rồi liên tục nói chúc mừng Từ Thánh, có thể trì chú đến mức thần thánh đưa cơm đến cúng dường, đây cũng là tượng trưng cho công lực bất phàm.

“Tối nào bà cụ cũng đến vào lúc 11 giờ đúng không?” - Từ Nhân hỏi.
”Đương nhiên.”
”Cô thật sự nhìn thấy bà cụ đứng trong không khí à?”
”Đúng thế. Pháp sư Từ Nhân, tôi hoan nghênh cô một buổi tối nào đó đến chỗ tôi một chuyến, tôi sẽ bảo bà cụ cũng cúng dường cô, xem như tôi mời khách, được không?” - Từ Thánh mời bạn đạo Từ Nhân.

Từ Thánh liên tục mấy lần mời Từ Nhân, Từ Nhân không thoái thác được, chỉ có thuận theo ý của pháp sư Từ Thánh, đến chỗ của Từ Thánh làm khách. Tối ấy hai người làm công khóa, một người trì chú vãng sinh, một người trì chú Đại Bi, dâng hương lễ Phật, nhắm mắt tĩnh tọa, hai người ngồi mãi cho đến 11 giờ.

“11 giờ rồi, cô hãy chú ý, bà cụ luôn đưa đồ ăn đến rất đúng giờ.” - Từ Thánh nói.

Nhưng 10 phút trôi qua, cánh cửa vẫn không có ai đẩy ra. Nửa tiếng sau, thậm chí một tiếng sau, bà cụ đều không xuất hiện một cách đầy kỳ lạ. Trong lòng pháp sư Từ Thánh lộ vẻ sốt ruột rõ ràng, còn Từ Nhân thì vẫn điềm nhiên, không những không trách cứ mà còn an ủi Từ Thánh. Một đêm trôi qua, bà cụ không những không đến mà ngay cả khi pháp sư Từ Thánh niệm chú vãng sinh, những cơn gió lạnh u ám thường ngày thổi vào phòng cũng không thấy, ngược lại, có ánh sáng thần thánh chiếu rọi tất cả mọi nơi.

Lại nói, Từ Nhân vui vẻ nhận lời nhưng đã uổng công đến, Từ Thánh tiếc nuối vô cùng. Buổi tối ngày hôm sau, Từ Thánh đứng ngồi không yên, một mình ngồi ngây ra, đến 11 giờ thì nhìn thấy bà cụ lại cầm hộp cơm đến.
“Sao tối qua không thấy bà?” - Từ Thánh hỏi.
”Tôi có đến mà!” - Bà cụ đó nói: “Tôi cầm hộp cơm đến, nhìn thấy thần phòng hương hoa bày ra khắp nơi, ở cửa thì có hai vị thần Hộ pháp mặc giáp vàng đứng im lìm. Tôi định đi vào từ cửa sau thì lại thấy cửa sau cũng có hai vị dường như là Bảo Tháp Thiên Vương. Từ cửa sổ nhìn vào trong, tôi thấy sau lưng người bạn đạo xuất gia của pháp sư có đầy Hộ pháp Phạm Thiên đang đứng, phía trên Phạm Thiên còn có thể nhìn thấy kim quang mờ mờ, trong kim quang lại hiện lên các vị hóa Phật hóa Bồ Tát. Một bà già như tôi chưa từng trông thấy cảnh tượng như vậy, sao dám sơ ý gõ cửa đi vào, chỉ có biết chịu đựng gió lạnh, đợi cho tì kheo ni kia đi mau, không ngờ cứ thế đợi đến khuya lơ khuya lắc mới biết hóa ra tì kheo ni đó ngủ lại đây, nên tôi đành hậm hực trở về. Hôm nay tôi đặc biệt tới đây để xin lỗi pháp sư, tôi còn chuẩn bị nhiều đồ ăn ngon.”
”Ồ! Thì ra là như vậy.”

Từ Nhân tu trì chú Đại Bi, Từ Thánh tu trì chú vãng sinh, con đường của Từ Nhân và con đường của Từ Thánh căn bản là khác nhau, từ đó có thể biết, chú lực có sự phân biệt lớn nhỏ là không hề sai. Có lẽ độc giả muốn hỏi tôi, chẳng phải anh nói “chú có quan điểm bình đẳng không phân biệt” sao? Về quan điểm này, điều tôi muốn chỉ ra là vì con người mà khác biệt, chứ không phải vì chú mà khác biệt. Thần chú Bạch Y và chú vãng sinh có thể độ phàm phu, còn chú Đại Bi có thể nhập quả vị Bồ Tát thập địa. Có rất nhiều pháp môn tu hành, cần xem duyên phận của bạn. Tôi khá tán thành “tiệm ngộ” chứ không tán thành “đốn ngộ”, bởi vì nhân tâm đã diễn biến đến mức độ như ngày nay thì “tiệm” cũng đã rất khó rồi, làm sao có thể “đốn” chứ?


### 20. Lời thiền


Càng ngày càng có nhiều người đến nhà tìm tôi. Nếu là người có đạo, tôi nói chuyện còn thấy có vị. Nếu là người không có đạo, đúng là giống như càng nói càng vô vị, nhạt như nước ốc.

Có người canh ba nửa đếm ấn chuông cửa nhà tôi. 
”Tìm ai?”
”Lư Thắng Ngạn.”
”Canh ba nửa đêm ai cũng ngủ cả rồi.”
”Nửa đêm tán dóc mới có vị đó! Cho nên tôi mới nửa đêm tới đây.”

Khi đó tôi đúng là hết cách, muốn từ chối, nhưng thật sự xét về mặt tình người thì không còn lời nào để nói về những người này. Anh ta từ trấn Kỳ Sơn thành phố Cao Hùng tới đây, nếu không từ chối, ai ai cũng như thế thì chẳng phải tôi sẽ phải đâm đầu xuống đất sao. Ban ngày tôi đi làm, buổi tối lại thần toán cho người ta, lại còn phải viết sách, thế nào mới được đây?

Trong số những người đến tìm tôi này, có một vị là ngôi sao sáng của Thiền tông, người này tôi không tiện viết ra họ tên vì tiếng tăm của ông ấy quá lớn, ông ấy được một người trẻ tuổi hộ tống đến nhà tôi. Người thanh niên này trông rất ưa nhìn, khoảng 30 tuổi, thần thái sáng sủa. Lúc anh ta ngồi chắp tay cung kính, tôi phát hiện ra đôi mắt của anh ta trong veo như nước, còn vị “ngôi sao Thiền tông” kia thì ngược lại, mắt mờ chân chậm, tay vịn vào gậy ba-toong, khí thế không bằng người thanh niên kia.

“Anh chính là Lư Thắng Ngạn mà người người đồn đại à? Là người có thể biết quỷ biết thần sao?” - Vị “ngôi sao Thiền tông” kia hỏi. 
”Đúng vậy, chính là kẻ hèn này. Xin hỏi tiên sinh tìm tôi có chuyện gì?”
”Tôi chính là…, vị này là tiểu đồ đệ Lâm Tông Phong, muốn cùng anh nói chuyện thiền.”
”Ngưỡng mộ đại danh đã lâu, tên tuổi vang dội, không dám nói chuyện thiền, chi bằng tán dóc thôi.” - Tôi trả lời.
”Anh xem đồ đệ của tôi thế nào?”
”Ánh mắt sáng ngời, thái độ tích cực, phẩm cách thanh tịnh cao quý bẩm sinh, như cây ngọc đứng trước gió, đây chính là người đứng trên người khác, không giàu thì cũng sang, nếu dựa theo kinh nghiệm quan sát nhiều người của kẻ hèn này thì tôi nghĩ người thanh niên này là con cháu nhà giàu, là đứa con được nuôi dưỡng đàng hoàng.”
”Có tiên căn hay không?”
”Nói hay không nói, là tiên hay phàm, tiên là tiên thiên, không có định số.” - Tôi cân nhắc một lúc rồi nói. 

Vị “ngôi sao Thiền tông” gật gật đầu, ông ấy hỏi: 
“Lư Thắng Ngạn, tôi đọc cuốn “Mạn đàm linh cơ thần toán” của anh, biết kiếp trước anh có căn duyên lớn mà đến, cho nên tôi muốn hỏi anh, Phật nói “thiên thượng địa hạ, duy ngã độc tôn” là có ý gì?”
”Như Lai mười phương, thật ra là một Như Lai, đương nhiên là duy có mình ta rồi.”
”Sao lại nói vậy?” - Lâm Tông Phong không hiểu: “Sao lại là một Như Lai?”
”Cùng đi trên một con đường.” - Tôi cười vang ha ha. 
”Ngôi sao Thiền tông” thấy tôi cười lớn tiếng, ông ấy cũng cười, tôi cho rằng ông ấy đã hiểu được ý của tôi.
”Xin hỏi ý nghĩa đúng của “chính pháp nhãn tạng, Niết-bàn diệu tâm” là gì?”
”Cầm hoa cho mọi người thấy là chính pháp nhãn tạng, thần thông thù thắng là Niết-bàn diệu tâm.”
”Thần thông thù thắng là thần thông mà anh viết trong sách phải không?”
”Không phải. Thần thông thù thắng là quán tự tại, luôn luôn quán tự tại thì lúc nào cũng là Bồ Tát, có thần lực bất khả tư nghì, đây chính là tự nhiên tự tại, sức mạnh ở đẳng cấp này như không thực có, như có thực không, lúc này trên trời dưới đất không có gì không phải là ta, đó tức là duy ngã độc tôn rồi.”
”Một chữ “thiền”, giải thích thế nào?” - “Ngôi sao Thiền tông” kiểm tra tôi.
”Diệu pháp chỉ thẳng ngọn đèn tâm, thoát sinh tử luân hồi.” - Tôi nói.

“Ngôi sao Thiền tông” và Lâm Tông Phong đưa mắt nhìn nhau, “ngôi sao Thiền tông” bảo Lâm Tông Phong đứng dậy, nói với Lâm Tông Phong: “Tông Phong, người đang ngồi trước mặt con đích thực là một bậc trí giả, nay ta đã già, không thể làm thầy của con, con mau quỳ xuống, rập đầu bái sư đi! Sư phụ của con trong tương lai sẽ kế thừa truyền thống và di sản của Thiền môn mà trở thành tổ sư Thiền tông, con bái người này làm thầy thì không sai một chút nào đâu.”

Lâm Tông Phong nghe nói vậy thì không dám thất lễ, quỳ lạy sát đất. Đến lúc này tôi mới biết ý định tới đây của họ. Tôi vốn dĩ không thu nhận đồ đệ, bởi vì hiện tại tôi vẫn còn trẻ, hơn nữa trên chẳng có mảnh ngói che đầu, dưới chẳng có mảnh đất cắm dùi, người muốn bái tôi làm thầy thì nhiều lắm, tôi làm sao có thể thật sự lần lượt hướng dẫn những đệ tử này được chứ! Tôi thà rằng dạy dỗ một người thành đạo chứ không chịu dạy tràn lan cho đủ con số. Lâm Tông Phong quỳ nhanh quá, tôi ngăn lại thì đã chậm, vì thế tôi đành ghi tên anh ta làm đệ tử.

Họ muốn giúp tôi xây dựng một đạo tràng, bảo tôi đặt tên, tôi nói: “Gọi là Phật Môn Linh Tiên Tông, Đại Thừa Tinh Xá đi!” Hai người họ gật đầu khen hay, rồi đỡ nhau ra về.

(Lời kết: Kẻ hèn này thần toán và biết được rằng truyền thống và di sản Phật môn của Linh Tiên Tông trong tương lai sẽ phát huy rạng rỡ, nhưng cũng phải bảy năm sau khi tôi viết cuốn sách này mới xem là có một nền móng nho nhỏ. Học trò của tôi sẽ đến từ Bành Hồ, Cao Hùng, Tân Trúc, Đài Bắc, Cơ Long, Hoa Liên… thậm chí là Nhật Bản, đây chính là cơ duyên của tôi, cơ duyên này vẫn chưa chín muồi, không tiện nói trước. Các đệ tử Phật gia, xin hãy suy nghĩ kĩ càng.)


### 21. Đạo pháp Hòa Hợp Tiên


Có một phụ nữ đến tìm tôi, hai mắt cô ấy sưng đỏ, khóc sướt mướt xin tôi cứu cô ấy, cô ấy nói cô ấy đến từ Cao Hùng. Khi ấy vừa đúng lúc tôi có hẹn với bạn, đang định đi ra ngoài thì cô ấy đẩy cửa bước vào. Cô ấy mặc Âu phục màu đỏ, đi giày cao gót, vóc dáng cao thon, nước da trắng trẻo, tuổi khoảng 27, 28. Cô ấy khóc rất thảm thương, nói rằng:
“Lư tiên sinh, bất luận thế nào anh cũng phải giúp tôi việc này.” - Cô ấy nói rồi lại khóc.
“Có chuyện gì, xin nói nhanh.” - Tôi nói.
”Chuyện này biết nói thế nào đây!” - Cô ấy cứ ngượng nghịu cả buổi, mặt đỏ bừng.

Thì ra là như thế này. Chồng cô ấy ngoại tình, còn cô ấy thì không muốn sống nữa, nghe người ta nói tôi có cách, cô ấy từ Cao Hùng bắt xe khách Cử Quang đến đây. Cô ấy từ Cao Hùng tới để cầu việc nhà, nếu tôi không giúp, về mặt tình người thật sự không còn gì để nói. Tôi nói với cô ấy: 
“Không biết có tác dụng gì không, nhưng để tôi thử thỉnh thị linh giới, giả sử không có cách nào thì cô uổng công chạy tới đây rồi.”
”Cầu xin anh, năn nỉ anh! Bất kể thế nào cũng phải cứu tôi.”
Thế là tôi tĩnh tâm lại, chắp tay, thỉnh cầu thánh thị, thánh thị đáp rằng: 
“Được.”

Người thiếu phụ xinh đẹp kể: “Khi chúng tôi mới kết hôn, cuộc sống tương đối cực khổ, sống trong căn nhà lụp xụp ở khu xây dựng trái phép, anh ấy thì không có nghề nghiệp cố định, kinh tế tương đối túng thiếu, hai vợ chồng đi ra ngoài tìm việc làm, cuộc sống tuy không thoải mái nhưng tình cảm rất đằm thắm. Có một buổi tối trời lạnh, bữa cơm tối ăn không đủ no, hai vợ chồng bàn nhau đi ra ngoài ăn bát mì suông. Kiếm tiền không dễ, có thể tiết kiệm thì tiết kiệm, cho nên hai người cùng gọi một bát mì, nhưng bản thân không nỡ ăn, cứ nhường nhau, anh ấy ăn mấy miếng thì giả vờ đã no bụng rồi, thế rồi để cho tôi ăn hết. Bụng tôi tuy đói nhưng cũng giả vờ đã ăn rất no rồi, nên để lại hết cho anh ấy ăn. Quãng thời gian đó tôi từng xúc động đến mức nửa đêm ngồi dậy khóc!”

“Thế rồi nhờ mượn tiền đầu tư làm kinh doanh bất động sản, tự mình bao thầu công trình xây dựng, trong vòng ba năm ngắn ngủi, nhờ sự hấp dẫn của bất động sản cho nên hoàn cảnh của chúng tôi đã thay đổi hoàn toàn. Hiện tại ở thị trấn, chúng tôi có một ngôi biệt thự, ở Cổ Sơn cũng có một cửa hàng mặt tiền, ở khu Tam Dân cũng có một mảnh đất, bao gồm cả ngôi nhà hai tầng kiểu Âu đang sống bây giờ, xe hơi có hai chiếc, tiền cũng nhiều rồi, điện thoại một ngày kêu từ sáng tới tối, kinh doanh càng ngày càng lớn. Thời gian anh ta ở nhà cũng ít, một ngày từ sáng tới tối đều chạy ra bên ngoài, đến gần đây thì trở thành một tuần mới về nhà một ngày. Tôi khởi tâm nghi ngờ, đi điều tra, hóa ra anh ta sống cùng với cô kế toán của công ty.”

“Những ân ái, đồng cam cộng khổ trước kia, sổ toẹt một cái là xong. Tôi cũng đã chịu đựng rồi, muốn dùng tình cảm quá khứ để chuộc lại trái tim của anh ta, ba đứa con đều vây xung quanh anh ta gọi bố, nhưng không ngờ anh ta lại nhẫn tâm vứt bỏ mẹ con chúng tôi. Tiên sinh, tôi cầu xin anh hãy cứu hạnh phúc của một gia đình.”

Tôi nghe xong thì thở dài một hơi, nói: 
“Nữ sắc đúng là xiềng xích của thế gian, phàm phu cứ bám lấy không thể tự thoát ra được. Thế này đi! Cô hãy viết ra họ tên, tuổi và địa chỉ của hai người kia cho tôi, đồng thời cô cứ đi về trước, sau đó gửi cho tôi một chiếc khăn tay mà chồng cô hay dùng, rồi tôi sẽ giúp cô nghĩ cách xem.”
“Như thế này phải bao nhiêu tiền?” - Cô ấy lo lắng hỏi tôi.
”Đây không phải là vấn đề tiền nhiều tiền ít, mà là vấn đề thành công, nếu tôi làm thành công rồi, lúc nào cô đi qua Đài Trung thì lại đến bái lạy Tiên Phật để đáp tạ là được.”

“Ôi! Thì ra tiên sinh có chính khí như vậy, tôi từng mời người ta tế sát cải vận, mời thầy bói đến xem số mạng, đi khắp nơi để hỏi thần, thầy bói đòi ba nghìn đồng, kê đồng cúng bái lấy phí năm nghìn đồng, đốt vô số tiền vàng mã, thỉnh thần tế sát cũng tiêu tốn không ít chi phí. Có một kê đồng nói đưa cho họ hai mươi nghìn đồng, bảo đảm trong vòng hai tháng sẽ hồi tâm chuyển ý. Những khoản tiền này tôi đều đã chi cả. Chỉ có tiên sinh đây không nhận xu nào, chỉ sau khi việc thành công thì mới yêu cầu khi tiện đường ghé qua lạy tạ thần minh, tinh thần ân đức phục vụ con người này, tôi sẽ sâu sắc ghi nhớ trong lòng.”

Lại nói, sau khi cô ấy trở về thì rất nhanh chóng gửi đến cho tôi một chiếc khăn tay. Đầu tiên tôi chọn một ngày lành, cắt hai hình người bằng giấy, viết họ tên địa chỉ của người đàn ông lên một hình người, viết họ tên địa chỉ của nữ kế toán kia lên một hình người, đốt khăn tay thành tro, trộn tro của khăn tay vào trong đất sét, sau đó đặt hai người giấy quay lưng lại với nhau đứng trên đám đất sét kia, đương nhiên tất cả những việc này tôi làm trong mật thất của mình. Tôi vẽ một lá phù rồi đốt, rồi vẽ một lá phù khác đốt thành tro, rắc lên trên đất sét, ý nghĩa của phù là: “Mau cắt nhân duyên ngắn ngủi này, nhanh chóng phụng luật lệnh của Kim Mẫu.” Tôi dùng tổng cộng 72 que hương, lần lượt đốt lên, sau đó cắm hết lên trên đám đất sét, vây xung quanh hai người giấy. Tôi đã mua loại vàng mã Tứ phương kim, phụng thỉnh thần tướng bốn phương, rồi phái hai vị âm tướng của Từ Huệ Lôi Tạng Tự của tôi phụ trách xử lý việc này. Chân tôi dẫm bước Khôi cang, tay trái làm Ngũ lộ tán duyên, tay phải bắt Lôi quyết, niệm rằng: *“Tinh tinh linh linh, hách hách thần uy, nhân duyên dĩ tận, tốc tốc phân ly. Kiến diện mi mục dĩ vô tình, ngôn ngữ thương đàm lưỡng vô vị, tích nhật ân ái nhược huệ kiếm, tòng thử loạn ma nhất bút câu, cấp cấp như Kim Mẫu Đại Thiên Tôn luật lệnh.”*

Sau đó tôi lại cắt hai người giấy khác, nam thì là người đàn ông kia, nữ thì là người phụ nữ kia, và cũng theo pháp niệm chú: *“Phụng thỉnh Hòa Hợp Nhị Tiên Sư, vạn hồi thánh tăng hạ phàm trần, diệc tín Phật pháp diệc tín Tiên, chuyên quản nhân gian hòa hợp sự, cựu tình phục hiện chiếu tam đài, hòa hợp mi mục tiếu tương lai, càn khôn tương phùng tự tâm ái, tòng thử nhân gian vĩnh vô sai, thời thời khắc khắc tâm thường luyến, thiên tâm vạn tâm ý hợp lai. Đệ tử Liên Sinh nhất tâm tam phụng thỉnh Hòa Hợp Nhị Tiên cấp cấp luật lệnh cang.”*

Ba tháng sau sự việc này, người thiếu phụ xinh đẹp kia đã tới. Lần này cô ấy mặt mày rạng rỡ, cô ấy đem hoa quả cúng và hương bằng gỗ đàn hương quý giá đến. Cô ấy nói, sau một tuần, chồng cô và người nữ kế toán kia đã cãi nhau, bởi vì cô kế toán cũng quan hệ với bạn trai khác. Một tháng sau thì chồng cô có chút hồi tâm chuyển ý, mặc dù bận rộn sự nghiệp nhưng mỗi tối đều về nhà, nói chuyện chơi đùa với các con, hơn nữa còn chủ động đưa con đi xem phim, con cái vui mừng nhảy nhót tung tăng.

“Đúng là cứ như một người khác hẳn, tôi mắng anh ấy, anh ấy nói là nhất thời hồ đồ, anh ấy bảo đảm sau này vĩnh viễn không bao giờ như thế nữa.” - Cô ấy vui vẻ nói.

Tôi cũng vui mừng thay cho cô, chỉ cần có thể giúp người ta giải quyết được việc, tuy rằng tôi không có được cái gì, nhưng niềm vui mà tôi có được chính là thù lao chí cao vô thượng. Thành công của việc cúng tế làm pháp này không phải là thứ mà tiền có thể mua được đâu!

(Lời kết: Nhân vật nữ chính trong bản văn này sống ở Cao Hùng, tôi đã có được sự đồng ý của cô ấy để viết bản văn này, nhưng cô ấy không muốn có người biết họ tên và địa chỉ của mình mà chạy tới để chứng thực, cho nên tôi đã ẩn đi tên và địa chỉ của cô ấy. Ngoài ra, trong cuốn “Mạn đàm linh cơ thần toán” tập 1, tôi có nhắc đến cửa hàng đèn trang trí Kiều Lệ, cửa hàng này đã chuyển từ phố Bình Đẳng đến đường Trung Chính, chủ cửa hàng vẫn là Hoàng Xuân Phong. Tôi nói rõ lại bởi vì có nhiều độc giả ở tận thành phố Hoa Liên xa xôi gọi điện đến để chứng thực.)


### 22. Ngũ quỷ và ngũ phá


Bí pháp triệu thỉnh Ngũ quỷ của Đạo gia rất phổ biến. Ngũ quỷ cũng chính là do Ngũ hành sinh tướng biến hóa ra, trong đó có thể làm thiện có thể làm ác, thông nhập u minh, công lực thần kỳ cũng không thể đoán lường. Nếu có thể sử dụng Ngũ quỷ một cách thỏa đáng thì cũng xem như là Địa Tiên hành đạo, nếu sử dụng không thỏa đáng thì có thể sa đà vào ác quỷ. Ngũ quỷ này chính là: “Đậu Nhân, Lý Khải, Trương Ngũ, Thập Thái, Trữ Vãn - 5 vị âm tướng.”

Ngũ quỷ là do khí âm đục bẩn sinh ra, cho nên vật dùng để triệu thỉnh Ngũ quỷ tốt nhất là dùng năm cái đầu lâu, năm tấm ngói lâu năm, năm mảnh tường đất ẩm, năm cây rơm, phù Ngũ quỷ mỗi quỷ năm lá phù. Triệu thỉnh Ngũ quỷ cũng phải ở trong mật thất, tối kỵ người thai sản hoặc có tang đi vào. Năm loại âm khí của Ngũ quỷ vốn là do Ngũ hành biến hóa mà ra, tuy thuộc dòng âm tà, người trong tà phái thường xuyên sử dụng, nhưng đối với người tu đạo không thể không biết. 

Tôi biết Ngũ quỷ hiện hình cũng rất giống với một số thuật phù thủy đeo năm cái đầu lâu ở trước ngực ở châu Phi, thầy phù thủy ở châu Phi dùng âm khí của năm đầu lâu đeo ở trước ngực mình, rao bán những tượng gỗ nguyền rủa chết người. Những tượng gỗ này tượng trưng cho một người, thầy phù thủy lợi dụng bí mật của Ngũ quỷ mà ấn vào đó tác dụng hấp thụ, cướp đoạt tinh phách của con người, khiến cho người đó rơi vào trạng thái điên, thậm chí bị sốc đến chết. Đây cũng là một trong số tà thuật của Ngũ quỷ.

Vào thời cổ đại ở nước ta [Trung Quốc] rất thịnh hành đại pháp Ngũ quỷ vận chuyển. Ngũ quỷ này vốn là đại lực âm tướng, có thể vận dụng thuật Ngũ quỷ để vận chuyển vàng bạc châu báu ẩn giấu trong tường đất, ăn trộm những của cải bất chính. Đương nhiên cũng có những kẻ vô lại dựa vào cái này để làm việc xấu, những kẻ này lợi dụng thuật pháp Ngũ quỷ vận chuyển, là một trong những thủ pháp cao minh nhất của trò trộm cắp, cửa chính cửa sổ không cần phải mở, không có một chút manh mối nào, không để lại bất kì dấu vết nào, tất cả mọi thứ vô hình trung đều biến mất hết. Đại pháp Ngũ quỷ vận chuyển rất giống với Càn Khôn điên đảo dịch chuyển đại vận chuyển, tôi nói những pháp này chỉ cần là người tu đạo tinh thông thì đều phải hiểu rất rõ mới đúng.

Có một số chùa, cung, đường ấn Ngũ hành Ngũ doanh, thuật pháp mà họ sử dụng không nhất định là pháp “chính dương”, trái lại họ dùng pháp “chính âm”, ngũ doanh và binh mã nếu được an pháp chính âm thì vào ngày an linh phải tụng kinh, mở đại pháp hội phổ độ, phải mở tiệc phụng thỉnh Ngũ quỷ lên pháp tọa, dùng tên của Ngũ sát tướng quân để hô, họ chính là thủ lĩnh của năm doanh trại binh mã các hướng Đông Nam Tây Bắc và Trung ương. Nếu thờ phụng tốt thì linh cảm trong ngôi chùa đó cũng vô cùng hưng thịnh, nhưng ngược lại nếu thờ phụng không tốt sẽ khiến cho tất cả mọi việc trong chùa đều rối loạn, như vậy thì sẽ phản tác dụng, một khi xuất hiện tác dụng ngược lại thì hầu như là không thể ngăn chặn được.

Tôi biết ở miền Trung có một cung đường kia thờ năm chiếc cờ linh, phương pháp phụng thỉnh là pháp chính âm, thế là Ngũ quỷ hiện hình giúp đỡ, người trụ trì không biết sự lợi hại của Ngũ quỷ, bình thường không biết phương pháp thờ cúng, liên tục mắc lỗi, thần minh trong cung đường đó lần lượt bỏ chạy đi khắp nơi, Ngũ quỷ đã chiếm luôn bảo tọa, tự xưng là Ngũ vương, và sau đó triệu thỉnh cô hồn dã quỷ làm thuộc hạ. Ai đi hỏi thần, không hỏi thì còn tốt, hễ hỏi là sẽ gặp tai ương, bản thân trụ trì cũng bị điên loạn, trẻ con cũng sinh bệnh, kê đồng thì nghi thần nghi quỷ, sợ là bị kẻ khác làm bùa ngải. Kì thực không phải, mà là tự mình đã thờ năm chiếc cờ linh không đúng, cho nên Ngũ linh chính thần không đến mà đổi lại thành Ngũ quỷ, đây chẳng phải là sai một ly đi một dặm sao? 

Trụ trì nhờ tôi nghĩ cách giúp họ, tôi đi vào trong miếu đường đó, ô hay, những yêu ma quỷ quái đó còn nhếch mép cười với tôi. Tuy tôi có một chút linh lực, nhưng cũng không dám đắc tội với những linh hồn của linh giới này, chỉ có thể làm pháp hội thết đãi. Ngoài phương pháp này ra, nếu dùng cách lấy đá chọi đá, nói lý lẽ đúng sai, thì e rằng người gặp tai ương không phải là Ngũ quỷ mà trái lại chính là tôi đó! Bạn nói xem, vỏ quýt dày có móng tay nhọn, có một số Địa Tiên mỗi khi làm pháp cũng dùng thuật Ngũ quỷ hỗn thiên. Cách làm pháp của thuật Ngũ quỷ hỗn thiên cố nhiên không phải chính, nhưng có thể nói là một trong những thủ pháp cao minh nhất trong số các tà pháp, chỉ cần dùng vào việc chính thì không hẳn là không được.

Nếu Ngũ quỷ ẩn náu trong thân người, chỉ có thể dùng Ngũ phá để phá trừ. Tim, gan, lá lách, phổi, thận là Ngũ hành ở bên trong thân người, mà Ngũ quỷ là ứng với Ngũ hành mà sinh ra, vì thế có thể ấn náu trong thân tâm con người. Cái gọi là pháp Ngũ phá là như sau:

Dùng một người giấy, trên đó viết tên của người bị Ngũ quỷ nhập vào, viết lên năm chữ tâm can tỳ phế thận, bấm tay niệm chú: *“Nhất nhị tam tứ ngũ, tâm can tỳ phế thận, Ngũ hành khắc Ngũ quỷ, tốc tốc vĩnh tương ly, cấp cấp phụng Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh luật lệnh cang.”* Bỏ người giấy này vào trong một bình gốm nhỏ, không được dùng dụng cụ Ngũ hành kim mộc thủy hỏa thổ để đậy lại, chỉ có thể dùng vải để bịt, sau đó tìm một cái gậy tre, đập một nhát vỡ nát cái bình gốm, như vậy Ngũ quỷ không ẩn náu được nữa, bị đập tan mà phải rời đi!

Phần đông người bị thần kinh thất thường, có người vì suy nghĩ mà thành điên, cũng có người bị thần kinh suy nhược, hoặc có người bị nỗi sợ hãi ám ảnh mà suốt ngày hoảng loạn bất an, cũng có người bị oan nghiệp (nhân quả kiếp trước) bám lấy thân, có người linh hồn không thể tự chủ, có người bị điên khùng bẩm sinh, có loại người bị Ngũ quỷ làm cho điên loạn hoàn toàn rất khó chữa trị. Nếu có người bị điên loạn bởi Ngũ quỷ thì có thể khẩn trương dùng Ngũ phá để phá trừ, không dùng pháp Ngũ phá thì vĩnh viễn khó hết bệnh.

Từng có một hôm, một vị đạo trưởng đến gặp tôi, nói rằng thần toán của ông ấy linh hơn tôi. 
”Thắng Ngạn tiên sinh, tôi biết Hỗn thiên thần toán.” - Vị đạo trưởng đó nói.
”Xin chỉ giáo.” - Tôi nói.

Vị đạo trưởng đó nhắm mắt niệm chú, tôi lập tức nhìn thấy có năm quỷ linh hóa thân nhỏ như con kiến phi thân vào bên trong tai của đạo trưởng, đạo trưởng mở miệng nói:
“Thắng Ngạn tiên sinh, số mệnh của ngài thật đáng thương, không thể nương dựa vào người thân, tay trắng lập nghiệp, hiện tại đang kẹt trong khó khăn, mang số mệnh kháng cửu…xx, không biết tôi đoán có đúng không? Tuy anh có linh lực, nhưng chẳng thể nào chiến thắng được vận mệnh, sao mà không đáng thương chứ.”

Tôi nghe xong thì lắc đầu thở dài, suýt nữa là không kìm được nước mắt:
“Lời của đạo trưởng không sai, quẻ bát quái của tôi chính là kháng cửu…xx, đây là trời thử thách tôi, và tôi lại không có cách nào thay đổi được vận mệnh, chỉ có thuận theo vận mệnh thôi. Thần thông hỗn thiên của đạo trưởng đích thực là lợi hại, tôi thấy Ngũ quỷ đi vào bên trong tai ngài, công lực ở đẳng cấp này quả thực là bất phàm, con người có thể tuyên thề với Ngũ quỷ, một bước không rời, thuật pháp của tôi đương nhiên không bì kịp với đạo trưởng.”

“Anh nhìn thấy Ngũ quỷ à?” - Vị đạo trưởng kia hết sức kinh ngạc.
”Pháp chú Ngũ quỷ hiện hình thì tôi cũng biết, chỉ là tôi không dùng họ.”
”Tiên sinh quả nhiên danh bất hư truyền, bái phục, bái phục!”
”Đạo trưởng tôn hiệu là gì để xưng hô?” - Tôi hỏi.
”Thượng Cửu Hạ Tinh, tôi là Cửu Tinh đạo nhân.” 
”Mong Cửu Tinh đạo trưởng thường xuyên chỉ bảo vãn bối.”

Tôi và Cửu Tinh đạo trưởng nói chuyện về một số đạo thuật đầy vui vẻ, Cửu Tinh đạo trưởng đã mộ đạo từ sớm, từng học đạo Bạch Hổ Quán, sau đó ẩn cư ở núi Bình Đông để tu đạo, bái một vị pháp sư của am Địa Tạng ở một nơi nọ làm thầy, công lực và đạo hạnh rất tốt. 


### 23. Cam lộ núi gạo


Con người nếu đọa vào đạo ngạ quỷ thì đau khổ bội phần, có ngọn lửa mãnh liệt thiêu đốt cổ họng, vừa đói vừa khát. Nhưng một số Kim cương Thượng sư biết đại pháp siêu độ, biết pháp Cam lộ núi gạo, khi vẩy nước cam lộ ra giống như đang nóng được mát mẻ, được đưa đến miền tự do, một hạt gạo biến thành trăm nghìn hạt gạo, quỷ thần nhiều như cát sông nhận cúng dường, độ người độ ma vô số. 

Tôi lại có đôi lời giải thích về những điều cần thiết của đại pháp Cam lộ núi gạo này. Cái gọi là siêu độ là việc như thế nào? Cái gọi là siêu độ tổ tiên, cô hồn dã quỷ, cúng tế quỷ thần, công đức không phải là không có, nhưng mà con người ngày nay đã biến việc cúng bái này thành cái cớ để mở tiệc chiêu đãi khách khứa, giả bộ lạy lạy lấy lệ, ăn uống ngập mồm là chính, rất lãng phí sức người sức của.

Cúng bái thật sự là hoa thơm, trái cây, mì chay, tiệc chay, đồ hộp, gạo trắng, những thực phẩm thanh tịnh mà thôi. Cúng bái siêu độ linh hồn tổ tiên, trước tiên phải phụng thỉnh linh hồn tổ tiên, hơn nữa phải phụng thỉnh chư Phật Bồ Tát làm chứng, pháp sư lên bục tụng kinh, dùng pháp lực, chú lực của chư Phật, nguyện lực từ bi của chư Phật, nếu linh hồn tổ tiên có tâm nguyện sám hối thì tội sẽ giảm nhẹ, việc chuyển thế hoặc vãng sinh cõi tịnh thổ là có. Đương nhiên thôi! Pháp hội siêu độ như thế này là một hoạt động của thế giới linh hồn, nhưng không nhất định là mỗi cá nhân đều có thể tận mắt nhìn thấy, thậm chí ngay cả pháp sư ngồi trên pháp tọa trên cao cũng không nhìn thấy điều mà người người đều nhìn thấy. Pháp hội kiểu này tuy rằng bản thân pháp sư không nhìn thấy, nhưng không phải là lừa người ta.

Tác giả từng cùng với một bác gái hành nghề sửa chữa xe ô tô sống tại đường Dân Sinh thành phố Đài Trung gần Phật giáo Liên Xã đến Phong Nguyên để xem đại lễ lập đàn làm pháp. Trong buổi cúng bái rất lớn đó, bác gái nhìn thấy được, tôi cũng nhìn thấy được, đúng là đa dạng đủ mọi thứ. Bác gái đó cũng là một người có con mắt âm dương trong vạn người khó tìm được một người. Bác ấy có thể nhìn thấy thần thấy ma, nhìn được các linh của linh giới. 

Chúng tôi cùng nhìn thấy các tiên các thần lần lượt từ không trung giáng xuống, số lượng rất nhiều, có hơi giống như sao trên bầu trời đêm mùa hè, từng vị từ hư không chầm chậm hạ xuống. Các quỷ thần trên mặt đất thì đứng im nhìn trời và rất hưng phấn, chắp tay cung kính hoan nghênh, có rất nhiều linh hồn xếp thành hàng, vỗ tay hoan hô. Đại lễ lập đàn làm pháp này giống như thể nhân loại mở hội cho linh giới vậy. Có thần tiên ngoại quốc chống gậy ba-toong, tóc dài râu dài, mặc áo dài trắng, đó không phải là Jesus Christ sao? Thánh Mẫu Maria cũng đến, các vị thần tiên ngoại quốc này cũng đến tham gia hội của các tiên. Các tiên các thần này đi đi lại lại hầu hết đều đến đi từ trong mây trong sương, vì là linh thể cho nên họ thoắt ẩn thoắt hiện.

Khung cảnh buổi đại lễ rất hoành tráng, dòng người cuồn cuộn, không chỉ là dòng người cuồn cuộn mà dòng ma cũng cuồn cuộn. Hình thái của ma giống như con người, có ma lương thiện, có ma tà ác, có ma giống như quân tử nho nhã, có ma cũng mặt mày gian giảo, có ma mặt đẹp như ngọc, có ma mặt xấu như cóc, có một số tinh linh atula dị hình dị dạng, nói thật là chẳng thể nhìn được hết. Có một số ma ăn uống rất lịch thiệp, giống như ăn cơm Tây đúng kiểu cách hẳn hoi, nhưng có một số ma thì chẳng ra làm sao, đưa tay ra là túm ngay lấy con gà béo, ma đó không có đầu, cho nên tống thức ăn vào trong cổ. Bác gái sợ đến mức kêu ré lên, răng đánh lập cập vì run sợ. Đối với phàm phu mà nói thì con gà béo vẫn nằm im không xê dịch, nhưng mà chúng tôi lại nhìn thấy linh khí của con gà béo đó bị ma không đầu ăn hết sạch rồi. Có rất nhiều ma dùng thân tre khênh bao gạo, bao gạo đó không hề mảy may xê dịch, nhưng linh khí của những bao gạo đó thì đã bị khênh đi hết. Có rất nhiều ma nhỏ chạy tới chạy lui trên đường, khiến cho những ma lớn trông coi bọn chúng phải chạy đuổi theo sau lưng. Bác gái có con mắt âm dương đó từng bị ma nhỏ đụng phải, trên chân có cảm giác đột ngột tê đi, sau đó lại bình thường.

Tôi chú ý đến một bầy quỷ cực kì hung tợn, mắt như chuông đồng, mặt xanh nanh vàng, ăn các thứ thì nuốt chửng cả xương lẫn thịt, cái bụng cực to. Tôi nhìn bọn chúng, bọn chúng cũng quay hết đầu lại nhìn tôi, dường như hiểu rằng tôi nhìn thấy bọn chúng, bác gái sợ đến mức không dám mở mắt. Bác gái buồn đi tiểu, tìm đến một buồng vệ sinh công cộng, vừa mở cửa ra thì hét ầm lên, thì ra bên trong có một con quỷ hai mắt nhìn chằm chằm vào bác gái. 

Tôi đã viết ra những gì nhìn thấy và nghe thấy ở buổi cúng tế đó, các bạn đọc nhất định sẽ cảm thấy kinh ngạc, cho rằng tôi “chém gió” tung trời, trong biển người như thế làm sao mà hồn ma chen vào được. Trên thực tế theo như tôi biết, hồn ma căn bản không sợ con người, họ biết rằng con người cũng không nhìn thấy họ, họ theo khí mà sinh ra, theo khí mà diệt, cho nên bất luận con người có cái nhìn, có cách nghĩ thế nào về họ, thì tuy họ cũng có thể ở trong cõi vô hình gây ảnh hưởng đến hành động cử chỉ của một người, nhưng nếu không có duyên cớ gì thì họ cũng sẽ không tùy tiện gây phiền hà cho con người. Những người bị gây phiền hà nếu không phải là kiếp trước đã kết oan nghiệt thì cũng là kiếp này đã làm quá nhiều việc ác, ánh sáng cát tường đã tắt, khí đen sinh ra, người như vậy thể nào mọi ác quỷ cũng đều có thể tìm đến để gây rắc rối, buổi tối người đó sẽ không thể ngủ ngon lành được. 

Tôi nhìn thấy bầy ma nhanh chóng vận chuyển hết các bao gạo, còn pháp sư cao minh ngồi trên pháp tọa, đầu đội mũ Ngũ Phật, pháp tướng trang nghiêm, miệng niệm chú, tay bắt hàng loạt pháp quyết, một tay tung ra rất nhiều hạt gạo, nói ra thì có vẻ lạ, người xung quanh nhìn thì là hạt gạo, nhưng tôi nhìn thì là rất nhiều bao gạo, những bao gạo đó lại chất thành núi gạo cao lớn. Những cô hồn dã quỷ kia vỗ tay hoan hô, chen nhau xô tới, rồi lại bắt đầu công việc vận chuyển.

Ngạ quỷ là đáng thương nhất, cái cổ dài ngoằng, cái bụng siêu to, cái miệng cũng siêu to, thức ăn vừa đi vào trong miệng liền biến thành dung dịch lửa nóng bỏng, có khi còn hóa thành nham thạch nóng chảy, có khi hóa thành nước sắt. Những ngạ quỷ đó khẩn cầu pháp sư từ bi, chỉ thấy pháp sư dùng tay hoa sen nâng tịnh bình, một tay cầm cành dương liễu, vẩy nước lên không, những giọt cam lộ mát mẻ đi vào trong miệng của ngạ quỷ, dập tắt ngọn lửa, thế là miệng ngạ quỷ có thể ăn được thức ăn, những ngạ quỷ đó tìm kiếm những thức ăn thừa mà đám ma quỷ khác ăn còn thừa, nhìn trời lạy tạ, chỉnh tề niệm Phật.

Lúc này pháp sư dẫn các tăng lữ hô Phật hiệu, bên dưới pháp tọa, các giới trời, rồng, quỷ, thần cũng hô Phật hiệu, bầy ma chắp tay niệm Phật, chỉ thấy một số linh hồn của gà vịt chó tụ tập ở trước pháp tọa để đòi đền mạng. Pháp sư nói: 
“Các linh hồn hãy lắng nghe, oan nghiệp kiếp trước, kiếp này giải trừ, kiếp trước các người không thương xót động vật mà phạm vào giới sát, kiếp này phải làm thức ăn cho người, nhân quả luân hồi, nên phải như vậy. Chúng ta tôn kính thờ Phật, các linh hồn đều có Phật tính, chỉ mong hết kiếp này lập tức đầu thai vào cõi khác, mau nghe được lời Phật, sớm sinh về cõi hoa sen. Từ mẫn! Đại từ mẫn!”

Pháp hội xong xuôi, pháp sư xuống pháp tọa, tôi chen vào trong đám người nhìn vị tôn giả đạo hạnh đang đi tới, ông ấy ngẩng đầu nhìn tôi một cái, tôi mỉm cười, dường như ông ấy cũng hơi cử động môi, hình như tôi nhận ra ông ấy, mà hình như ông ấy cũng nhận ra tôi, chỉ là tôi đã quên mất đã từng gặp một vị đạo hạnh cao minh như vậy ở đâu và lúc nào rồi, có lẽ là kiếp trước! Tôi thường xuyên cảm thấy đặc biệt quen mặt những người bạn cũ đã gặp từ kiếp trước. 

Bác gái cùng đi với tôi nói lần sau không dám đi xem đại lễ lập đàn làm pháp nữa. Ngay cả vào tháng bảy Âm lịch, bác gái đó cũng không dám đi ra ngoài. Hai mắt bác ấy sáng lấp lánh, đích thực là con mắt âm dương.


### 24. Thử thách tâm linh


Kể từ khi tác giả có được linh thông, có thể người khác sẽ nghĩ rằng kể từ nay, giá trị con người tôi là phi phàm, bước thẳng lên cửa rồng, được Tiên Phật tương trợ, một bước lên mây và chẳng bao giờ phải lo lắng. Thế nhưng trên thực tế hoàn toàn không có chuyện đó, một khi đã bước vào con đường tu đạo thì ma khảo trùng trùng, những thử thách của việc tu đạo so với những vấn đề khó khăn mà bất kì người nào phải chịu thì càng khó hơn nhiều! Có khi nửa đêm tôi tỉnh giấc mơ, không kìm nén được nước mắt ướt đẫm vạt áo, tôi sống như vậy chẳng bằng không sống, cớ sao phải đến nhân gian này một chuyến chứ! Thế nhưng tôi nghĩ đến việc trời ban trách nhiệm lớn cho con người thì con người cũng phải lao tâm khổ tứ, nếu tôi không cách nào chấp nhận thì chẳng phải là công lao đổ sông đổ biển sao?

Tiên sinh Đường Anh Long sống tại đường Nam Cảng đoạn một, thành phố Đài Bắc, đặc biệt gửi tới một bức thư khích lệ tôi, nguyên nội dung thư như sau:

*Thắng Ngạn huynh!*

*Ngày hôm qua, đệ theo người anh kết nghĩa Giang Hoành đến nhà huynh quấy rầy, không ngờ thấy quá đông người đến thăm viếng, cho nên chưa thể nào tâm sự được, thật sự cảm thấy rất nuối tiếc. Hôm nay ở Đài Trung, đệ đã đọc được cuốn sách quý “Mạn đàm linh cơ thần toán”, nhìn chung cũng có nhận thức sơ bộ về huynh. Đệ biết tới huynh là do anh Giang trước đây có nhắc tới, anh Giang có kể Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh truyền đạo pháp cho huynh, vì thế đệ mới đặc biệt tới Đài Trung để thỉnh giáo huynh. Bởi vì Tam Sơn chính là chỉ linh căn của thiên địa nhân và lời căn dặn của Hỗn Nguyên Lão Tổ, Cửu Hầu chính là chỉ cửu gia, cũng tức là cửu cung, cái này là hiện tượng thiên văn, không có minh sư chỉ thị thì không thể hiểu được Tam Sơn Cửu Hầu và thân người phối hợp ra sao. Nếu có thể hoàn toàn tương hợp, toàn bộ đạo công có thể phát huy đến cực điểm, thiên địa nhân hoàn toàn hợp nhất, thì trên có thể thâu tóm thiên tượng, dưới có thể cứu giúp muôn dân, đây chính là đạo pháp tối cao.*

*Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh đã truyền đạo pháp cho huynh, có thể thấy là căn cơ kiếp trước của huynh rất tốt, cũng là người phi phàm, người như huynh đây nhất định là trung hậu nhân từ, huynh đã đắc đạo pháp thì tất có nhiệm vụ tại thân, các khảo nghiệm đương nhiên sẽ theo đó mà đến, cái này gọi là cây to thì gặp gió to, đúng là lời lẽ chí lý. Đệ tuy ngu muội nhưng sau khi gặp mặt huynh, xin được sâu sắc chúc mừng thiện nhân đắc đạo. Đệ thành tâm thành ý hy vọng huynh có thể nhờ linh cơ mà giáo hóa nhân tâm, cải tổ phong tục để không phụ sự vất vả của Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh và lệnh sư.*

*Đạo pháp mà Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh và lệnh sư đã dạy huynh đều là nghìn vàng khó mua, hy vọng huynh có thể giữ được đạo, tiến tới hiểu đạo, lệnh sư có khẩu quyết là “đại đạo điên đảo điên, có người được trao truyền, chính là Đại La Tiên”, “cố bản phản nguyên” **[làm vững chắc cái gốc và trở về với nguồn cội]** đều rất quan trọng, đệ biết trong lòng huynh nắm chắc nghìn vạn thuật pháp diệu kỳ, lẽ ra không nên nhiều lời, xin huynh lượng thứ cho.*

*Đất trời hai cửa điên đảo điên
Âm dương tiếp xúc ngầm nối liền
Thiên địa nhân cùng chuyển hỗn nguyên 
Chính là Đại La Tử Kim Tiên.*

🌟

Bức thư này do tiên sinh Đường Anh Long sau khi gặp mặt tác giả một lần đã viết ra, ngữ ý sâu sắc, cũng là sự khích lệ của một người có đạo. Đúng vậy, vì đã đắc đạo pháp, tất có nhiệm vụ tại thân, hơn nữa cửa ải thử thách sẽ chồng chất, tôi cũng biết vậy, chỉ mong bản thân tôi có thể sâu sắc giành được sự ưu ái của trời mà vượt qua được những thử thách này, như vậy mới có thể ở giữa trời đất mà xây dựng được đạo tràng tịnh thổ thành Phật thành Tiên. Giờ đây có rất nhiều bạn đạo cổ vũ tôi, lại có một số bạn đạo tỏ ý muốn tác giả làm sư phụ, tác giả thật sự lo ngại mình tài học còn nông cạn, bản thân còn chưa có chỗ đứng, trên không có mảnh ngói che đầu, dưới không có mảnh đất cắm dùi, thật đáng buồn. Nếu có một ngày kia tôi minh tâm kiến tính, linh lực quang minh chói ngời đã có chỗ để dẫn dắt mọi người thì khi ấy sẽ bàn tiếp cũng được.

Ngô tiên sinh ở kho bạc Hợp Tác ở Đài Bắc cũng gửi đến một bức thư nói muốn học đạo pháp, nguyên văn bức thư như sau:

*Lư Thắng Ngạn tiên sinh!*

*Danh tác “Linh cơ thần toán” đúng là thiên hạ kỳ thư. Phương pháp khởi linh được nói đến ở trong đó vô cùng kỳ lạ và giản tiện, nhưng lần đầu tiên tôi thực nghiệm, khả năng là tôi thiếu kiên nhẫn nên không cách nào linh động được, kẻ hèn này cho là thiếu mất phù khởi linh, không biết có thể làm ơn ban cho tôi một lá và hướng dẫn tôi khẩu quyết diệu pháp trong đó không, nếu có được sự chỉ giáo thì tôi cảm tạ vô cùng!*

*Bản thân tôi là một tín đồ Phật giáo kiền thành, đối với kiến thức về ngũ thuật thì tôi cũng tương đối có hứng thú, nhưng chưa thể thâm nhập cảnh giới của nó để hiểu được những bí quyết bên trong. Tuy tôi có tâm hướng đạo, nhưng không có minh sư chỉ điểm cho con đường sáng, cho nên đến nay vẫn mơ mơ hồ hồ.*

*Tôi từng đọc cuốn sách “Vạn pháp quy tông”, trong sách có nói đến kiếm quyết, lôi ấn, chân đạp Khôi cang Thân văn, lôi văn, bước cang quyết, nhưng tôi lại không biết phương pháp sử dụng của chúng thế nào. Tôi cũng học bát quái chiêm bốc, động tĩnh thể dụng, nhưng lại không cách nào giải thích được hàm ý và thời gian ứng với lành dữ của quẻ đã bốc được, đồng thời tôi cũng không thể từ trong quẻ đó mà nhìn ra được việc quá khứ và tương lai. Xin ngài gợi ý cho tôi phương pháp chính yếu có được không? Người không ở trong Đạo thật sự không cách nào học được kiến thức ở trong Đạo. Tôi từng ở trong một tiệm sách cũ mua được một cuốn “Vấn Đạo sơ tri” (quyển hạ), có đề cập đến pháp phụng thỉnh tổ sư cho yết kiến của Thủy Tổ, thế là hàng năm vào ngày mồng một tháng ba âm lịch tôi lại tưởng tượng có thể yết kiến một lần, tôi dùng tâm linh thanh tịnh suy nghĩ, xuyên thủng huyền môn, thầm cầu nguyện: “Huyền môn đệ tử, kính cầu Thủy Tổ, ban cho Huyền môn linh khí, xin được yết kiến Thủy Tổ.” Như vậy là có thể mời Thủy Tổ từ bi, nhìn thấy Huyền môn, yết kiến Thủy Tổ, có được linh khí. Còn bình thường xin yết kiến tổ sư (Đạo tổ) thì dùng tâm linh hạ động và tiền động, kêu gọi Khí Vũ Tĩnh Thủ Thần Cung và khấn thầm: “Đệ tử Côn Lôn vì có việc nên thỉnh yết kiến tổ sư, kính mong tổ sư từ bi chỉ thị.” Nếu chuyên tâm thành ý thì có thể có được chỉ thị của tổ sư. Từ những lời ở trên, xin yết kiến tổ sư buộc phải là đệ tử Huyền môn hoặc đệ tử Côn Lôn mới có thể yết kiến phải không? Cuốn sách đó còn nói quan khiếu chủ yếu trên cơ thể người rốt cuộc xoay tròn thế nào. Những điều trên đây đều là những bí ẩn mà tôi không thể nào hiểu được.*

*Tôi muốn bái ngài làm thầy để học hỏi kỹ năng, không biết ngài có muốn tiếp nhận đệ tử này không? Sinh thần của tôi là ngày X tháng 12 năm Giáp Thân.*

*🌟 *

Độc giả gửi đến cho tôi rất nhiều những lá thư giống như thế này, thứ nhất là muốn được làm học trò của tôi, thứ hai chính là thể hiện họ hết sức hứng thú đối với Đạo pháp, nhưng tiếc là chẳng có cánh cửa nào để bước vào. Giống như pháp yết kiến tổ sư, không hẳn nhất định phải là đệ tử Côn Lôn hoặc đệ tử Huyền môn, chỉ cần một lòng hướng đạo thì chính là người trong môn Đạo rồi. Sau đó theo nghi thức Đạo giáo mà chính thức nhập môn là được. Đạo gia của Trung Quốc lấy Côn Lôn làm ngọn núi chủ, tức là tịnh thổ của tổ sư Nguyên Thủy Thiên Tôn. Còn phái Võ Đang là do Trương Tam Phong sáng lập, cũng là tịnh thổ của tổ sư Đạo gia Tam Thanh. Sư phụ Đạo gia của tác giả là Thanh Chân Đạo Trưởng, xuất thân của ngài là Đạo quán ở núi Thanh Thành, sau khi tới Đài Loan thì ngài ẩn cư tại núi Liên Đầu, chẳng hề bước chân ra giang hồ, thanh tịnh vô vi. Sau khi ngài mọc cánh thành tiên thì được xếp là Địa Tiên, hiện đã chọn một ngọn núi nổi tiếng khác để tu tâm pháp thượng thừa rồi. Tôi kế thừa giáo huấn của tổ mạch phái Thanh Thành, nên cũng tự cho mình mang danh phận của dòng Tam Thanh, nhưng nhân duyên của tôi khác cho nên tôi lại quy về Phật môn, đây cũng chính là nhân duyên của tôi, không phải là nỗ lực mà có thể cưỡng ép được.

Sau này nếu tôi có nơi thích hợp, tôi chắc chắn sẽ công khai toàn bộ những gì mình đã học được với đời, chỉ là trước mắt việc tôi thu nhận đồ đệ vẫn còn quá sớm, thời cơ chưa đến, nhiệm vụ hoằng pháp chưa tới, tôi vẫn mới chỉ đang náu mình trong thời gian khảo nghiệm tâm linh mà thôi. Nếu có nhân sĩ có đạo tâm, sau này tìm tôi, chỉ cần có duyên, nhất định thành tựu Tiên Phật Đạo tông.

Còn về chân đạp Khôi cang, lôi ấn, kiếm quyết, kháp chỉ tâm chú, những cái này buộc phải chọn người để truyền thụ, tuy là thuật hữu hình nhưng về phương diện lễ nghi không thể không thận trọng. Đây chính là phép tắc giữa trời đất, không thể qua loa. Bởi vì có quá nhiều người gửi thư đến nên tôi đặc biệt dùng chương sách này để trình bày một chút.


### 25. Tự bạch của thiếu nữ


Có một cô gái trẻ tuổi, khuôn mặt tròn trịa, mặc áo sơ mi hoa màu trắng, váy quây màu xanh lá mạ, cô ấy thỉnh tôi đoán mệnh, trên tờ giấy ghi là 19 tuổi. Nói ra cũng kỳ lạ, khi tôi nhắm mắt lại, không ngờ nhìn thấy thần linh tại không trung viết năm chữ lớn, năm chữ đó phát sáng lấp lánh, đó là: “Đã biết việc kiếp trước.” 
Tôi quay đầu lại nói với cô ấy: 
“Cô đã biết việc kiếp trước rồi, đúng không?” 
Cô gái đó trầm ngâm một lúc rồi gật đầu, nói: 
“Đoán chuẩn quá, đúng vậy.”

Lần này tới lượt tôi cảm thấy kỳ quái, người bình thường đối với việc quá khứ đa phần là không biết, làm sao cô gái này có thể biết được chứ? Tôi tò mò hỏi cô ấy, và rồi cô ấy kể ra một kỳ ngộ đặc biệt khiến người ta khó tin. Cô gái này họ Giản, tên là Như Ngọc. Câu chuyện của cô ấy như sau:

Đó là khoảng 5 năm trước, cô Giản mới 14 tuổi, có thể nói là ở cái tuổi vừa mới hiểu chuyện một chút, cô ấy không thể nhớ được chuyện kiếp trước, chỉ là thường xuyên có một giấc mơ kỳ quái. Giấc mơ này thường xuyên hiện đi hiện lại trong giấc ngủ, cảnh trong mơ không thay đổi, nhân vật không thay đổi, hoàn cảnh cũng không thay đổi. Cô ấy mơ thấy mình mơ mơ hồ hồ đi xuyên qua một khu rừng rậm, bên ngoài khu rừng có một con đường gạch đỏ, phía cuối con đường gạch có một nông trang. Một phụ nữ già vẫy tay với cô, người phụ nữ đó rất hiền từ, quay về phía cô và gọi “Hải Phượng”, cô ấy cũng tự nhiên đáp lại, rồi đi vào trong nhà. Trên cái bàn ở trong phòng khách có bày biện ngay ngắn ba bát chè đậu đỏ, người phụ nữ già bảo cô ăn, người phụ nữ già nói với cô ấy rất nhiều chuyện, cô Giản không nghe rõ được câu nào, nhưng cô ấy biết là người phụ nữ già gọi cô là Hải Phượng.

Ăn xong bát chè đậu đỏ, cô ấy đứng dậy, thân thể dường như bay lên nhẹ lâng lâng, đi trên con đường gạch đỏ, từng cảnh vật dường như đều quen thuộc. Cô ấy đi vào rừng rậm, rồi sau đó tỉnh dậy. Giấc mơ này luôn luôn như vậy, có khi có khi một tháng hai lần mơ thấy cảnh tượng ấy, nhiều nhất là năm lần, ít nhất cũng là một lần. Cô ấy kể với bố mẹ và bạn bè, mọi người cười cô ấy là thần kinh có vấn đề.

Hải Phượng là ai? Người phụ nữ già là ai? Nông trang với con đường gạch đỏ, thật sự có nơi này không? Khu rừng ở chỗ nào? Chè đậu đỏ là như thế nào? Những điều này đều khiến cô Giản nghĩ mãi mà không hiểu. Giấc mơ giống thế này có lẽ người khác cũng từng có, nhưng mà lần nào cũng giống hệt nhau thì quá kỳ lạ. Cô ấy liên tục có giấc mơ này cho đến khi 17 tuổi, cô Giản đã là học sinh cấp ba năm nhất, dáng người xinh xắn, khuôn mặt tròn trịa.

Có một buổi tối, cô ấy nhắm mắt lại thì nhìn thấy một người phụ nữ ngồi bên giường, người phụ nữ đó chính là người phụ nữ già thường xuyên mời cô ăn bát chè đậu đỏ trong giấc mơ, người phụ nữ già đó khóc với Như Ngọc rằng: “Hải Phượng, mẹ không thể chăm sóc con được lâu nữa, con phải tự chăm sóc mình cho tốt, mẹ đi xa rồi, mẹ đi xa rồi, Hải Phượng! Hải Phượng! Hải Phượng ơi!” Cô ấy bị người phụ nữ già khóc lóc thảm thương mà kinh hoàng tỉnh dậy. Nói ra kể cũng lạ, kể từ sau khi có giấc mơ này, giấc mơ kỳ lạ kia không xuất hiện lại nữa, cô ấy đã trở thành người không còn mơ thấy giấc mơ lạ nữa.

Giả như câu chuyện đến đây kết thúc thì câu chuyện của cô Giản Như Ngọc cũng không có gì mới mẻ, nằm mơ thì có gì là ghê gớm đáng để ngạc nhiên đâu. Thế nhưng đã xảy ra một sự việc trùng hợp. Kỳ nghỉ xuân, trường học của cô ấy đã đi du lịch ba ngày, điểm đến là công viên Khẩn Đinh ở miền nam Đài Loan. Cô ấy đi loanh quanh trong công viên, đột nhiên nhìn thấy một con đường gạch đỏ vô cùng quen thuộc, đi đến con đường gạch đỏ thì nhìn thấy nông trang ở trong giấc mơ hiện lên ngay trước mắt. Cửa không đóng, cô ấy sải bước đi vào, phòng khách không có người, trên bàn thờ trong đại sảnh có bày bức ảnh linh vị của một người phụ nữ già. Cô ấy hét lớn một tiếng, tiếng kêu đầy kinh hoàng, thì ra người phụ nữ già trong bức ảnh đó chính là người phụ nữ già trong giấc mơ của cô!

Tiếng kêu thất thanh của Giản Như Ngọc đã đánh thức một người già đang ngủ trưa. Người già hỏi cô: 
”Có việc gì vậy?”
Cô chợt có linh tính liền nói: 
“Tôi tìm Hải Phượng.”
”Hải Phượng à? Hải Phượng đã qua đời 19 năm rồi, chắc cũng phải 20 năm rồi, nhưng mẹ của Hải Phượng thì mới qua đời 3 tháng trước thôi. Mẹ của Hải Phượng sớm tối đều nhớ đến Hải Phượng, mồng Một ngày Rằm hàng tháng đều nhất định phải nấu chè đậu đỏ cúng cho nó, con bé Hải Phượng này thích nhất là ăn chè đậu đỏ đó! Ôi chao! Nếu Hải Phượng vẫn còn sống thì chắc là cũng hơn 30 tuổi rồi.”
Người già nói: 
“Sao cháu lại quen Hải Phượng?” - Người già ngờ vực.
“Cháu…” - Giản Như Ngọc không biết phải nói thế nào mới được: “Cháu chính là Hải Phượng.” 

Nói xong câu này, Như Ngọc chạy nhanh ra khỏi nông trang, chạy như bay trên con đường gạch đỏ. Khi khu rừng rậm quen thuộc hiện lên ở trước mặt, cô ấy đã hiểu ra, đây chính là đời người, Hải Phượng là kiếp trước của cô ấy, nhưng mà cô ấy không bao giờ có thể tưởng tượng được kiếp trước cô ấy đã chết như thế nào.

Câu chuyện của cô Giản được kể xong, người nghe đều lộ vẻ xúc động, chỉ có tôi không cảm thấy ngạc nhiên, bởi vì đời người luân hồi, tôi đã biết từ lâu rồi!

*Sông chảy mãi cũng cạn
Lửa cháy lâu cũng tắt
Mặt trời mọc rồi lặn
Trăng tròn rồi lại khuyết
Người vinh hoa tôn quý
Cũng vô thường thế thôi.*

Luân hồi của đời người há là giả sao? Linh hồn há là giả sao? Trong cõi vô hình đã có định số, con người không làm việc thiện thì còn chờ đến khi nào? Con người không tu hành thì chờ tới khi nào đây?


### 26. Khởi linh nằm ở nhất tâm, một niệm không khởi


Tôi viết “Mạn đàm linh cơ thần toán”, một câu mà tôi muốn nhấn mạnh là: “Duy có người hoạt linh mới có thể cảm ứng được linh hồn của ngoại giới, cũng tức là người có hoạt linh mới có thể dùng linh để linh xúc, linh thông, linh nhãn, linh nhĩ mà đi cảm ứng linh hồn của ngoại giới.” Nếu không phải là hoạt linh mà mơ mộng hão huyền là nhìn thấy được, nghe thấy được, cảm giác được, đó đúng là người mù sờ voi, duyên cây mà đòi cá, căn bản đây là chuyện không thể nào có. 

Khi tôi đề xuất các nhà khoa học nghiên cứu linh giới, không cần dùng bất kì dụng cụ thí nghiệm nào, dùng chính mình làm thiết bị là được rồi. Trước tiên hãy khởi động thần thức vốn có của chính mình, sau khi tiến vào trạng thái hoạt linh mới có thể nắm bắt và thâm nhập để nghiên cứu tìm tòi về thế giới vô hình của linh hồn, học vấn ở trong đó rất rộng lớn đó! Đâu phải đơn giản dùng hai chữ “mê tín” là có thể gạt bỏ được.

Tôi tin rằng trong tương lai không xa sẽ có rất nhiều người tin vào những kiến giải của tôi. Phương Tây tuy có tổ chức nghiên cứu về linh hồn, nhưng phương Đông từ mấy nghìn năm trước đã có lĩnh vực và thành tựu trên phương diện này rồi, nó là cả một thế giới tinh thần ẩn tàng và mang nhiều thần bí, còn nghiên cứu linh học của phương Tây chỉ là bước khởi đầu mà thôi. 

Hôm nay tôi đưa ra kiến giải về linh học của mình, thuật pháp cổ xưa của nước ta [Trung Quốc], sự siêu nhiên của linh lực niệm lực sẽ khiến cho nhân loại kinh ngạc. Thật ra những điều này đều là hiện tượng có tồn tại, chỉ là con người không đủ khả năng để hiểu, chỉ dựa vào mỗi tri thức nghèo nàn của nhân loại để đi giải thích thì khó trách linh học của chúng ta không có cách nào đẩy mạnh và tiến bộ được.

Tôi nói, khởi linh thật sự rất quan trọng, người bình thường muốn học hoạt linh thì thực sự không hề khó khăn, hoàn toàn dựa vào niệm lực của chính mình để thúc đẩy thì không hẳn là không có khả năng. Tuy nhiên, quan trọng nhất nằm ở nhất tâm bất loạn, một niệm không khởi, thân ở đó như thân không ở đó, niệm ở đó như niệm không ở đó, nói không chừng, ở trong cõi vô hình này sẽ đạt được sự tương trợ có tính bước ngoặt chuyển tiếp, trong sát-na sẽ phá vỡ được tất cả cửa ải khó khăn, thế rồi một con đường lớn quang minh xán lạn hiện lên trước mắt, theo thần thức của mình mà đi, một tiếng sấm nổ vang rền kinh thiên động địa, đột nhiên ngộ ra chân tướng giữa trời đất.

Hôm nay nếu có người muốn biết chân linh của mình, tôi dạy mọi người phương pháp như sau:

Thứ nhất, trước tiên chuẩn bị một căn phòng sạch sẽ, thư phòng cũng được, miễn là căn phòng không bị người ngoài quấy rầy, một chiếc ghế dùng để ngồi thay cho ngồi thiền (ngồi kiết già), người bình thường phải ngồi kiết già thì tương đối khó, ngồi khoanh một chân hoặc khoanh hai chân đều ngồi không được lâu. Người tin Phật hoặc không tin Phật đều có thể thắp một nén hương, ngồi trong thời gian một nén hương, hai tay chắp lại, đặt tự nhiên ở trước ngực. Người tin Cơ Đốc hoặc Thiên Chúa có thể không cần thắp hương, người tin Phật thì niệm bốn chữ A Di Đà Phật, người tin Đạo thì niệm bốn chữ Diêu Trì Kim Mẫu, người tin Chúa Jesus thì niệm Jesus Christ, tôn giáo khác cứ thế suy ra. Nhưng cứ cách 5 phút thì phải niệm thêm “giúp chân linh tôi tái hiện”, “mau giúp chân linh tôi tái hiện”. (Có một số người không cần phải niệm “giúp chân linh tôi tái hiện” cũng được.)

Thứ hai, bởi linh tính của mỗi cá nhân khác nhau, thời gian dài ngắn cũng khác nhau, cho nên sự thức tỉnh của linh cũng sẽ dài ngắn khác nhau. Có một số người ngồi một lần đã thành công, nhưng có một số người nếu không ngồi quá ba lần thì không được. Nếu có người tu Đạo tương trợ thì tỉ suất thành công sẽ như làm chơi ăn thật, nhưng không được nản chí, có người phụ nữ hơn 40 tuổi, ngồi liên tục bảy lần, đã chứng được thần thông thiên nhãn, hiệu quả thật sự khó tưởng tượng.

Thứ ba, đạo lý khởi linh và đạo lý ngồi thiền có sự liên thông với nhau, hoàn toàn nói về một chữ tâm, “nhất tâm bất loạn, mọi pháp vô tính, vì vô tính nên đều thành Phật”. Đừng thấy việc ngồi yên như thế là quá đơn giản, ngồi yên lặng như vậy, lặng lẽ phòng thủ Thần cung, đèn tâm tỏa sáng, có được mấy người có thể đạt đến cảnh giới này? Đại bộ phận con người đều bận rộn suốt cả cuộc đời, khi nào mới có thể tĩnh tâm lại để ngồi xuống được nửa tiếng đồng hồ? Người có thể hoàn toàn tĩnh tâm ngồi xuống nửa tiếng đồng hồ, người ấy chắc chắn không phải là phàm phu đâu!

Thứ tư, xin người học tập khởi linh tuyệt đối ghi nhớ, khi ánh sáng phổ chiếu cũng tức là khi tâm mình hoàn toàn tịch diệt bất động, ta là ta tự do tự tại, hết thảy mọi thứ đều không khởi lên, ta chính là người tổng nắm giữ tâm tính.

Thứ năm, xin người học tập chú ý, phàm tự tâm sáng tỏ, tính hóa nghìn vạn, tay chân tự nhiên sẽ cử động tự do, tay múa may, chân bước đi, tôi không nói rõ ra, để tự mình trải nghiệm cái linh lực trỗi dậy một cách tự nhiên trong thân thể chính mình đi!

Sức mạnh của khởi linh đến từ chính mình, nhưng có ngại gì việc mượn lực bên ngoài trợ giúp. Sau khi khởi linh đến luyện linh thành công là một con đường dài đằng đẵng, đây chính là khởi linh thì dễ nhưng luyện linh thì khó. Tu đến thời khắc sau cùng chỉ nghe thấy tiếng sấm nổ vang rền, bản thân ngồi xếp bằng tĩnh tọa, vận linh đến chỗ thiên linh xuất khiếu, sấm nổ và linh lực của chính mình tiếp ứng lẫn nhau, đây chính là tam quang tích hiện, là lúc thoát xác bay lên rồi. Nhục thể mặc dù vẫn ngồi trong ngôi nhà tranh trên mặt đất, nhưng linh thì đã trở về ẩn náu trong biển lớn hư không, điều này mới tráng lệ vĩ đại làm sao, chân lý không sinh không diệt từ đây chứng đắc.

Phần lớn người đọc “Mạn đàm linh cơ thần toán” ai ai cũng tò mò tìm tôi muốn chứng thực thật giả, tôi nói với họ: “Không cần phải đi chứng thực, hãy trở về nhà học khởi linh đi! Tự anh hãy đi trải nghiệm, khi học được rồi thì sẽ tin lời tôi không phải là giả, như thế chính là cách chứng minh tốt nhất.”

(Bản văn này đã được đăng trong cuốn “Mạn đàm linh cơ thần toán” (quyển 1), để giúp độc giả có thể biết rộng rãi về khởi linh, tôi đặc biệt đăng lại ở đây. Khởi linh đích thực là một việc đơn giản và thần kỳ, người ứng nghiệm không phải là thiểu số, mà có tới hơn trăm hơn nghìn người. Khởi linh có thể khỏe thân, cũng là một con đường tắt căn bản để thành công tu luyện đắc đạo, thuộc vào một trong các pháp tu luyện của phái Đan Đỉnh của Đạo gia.)

 


### 27. Biểu hiện của người tu linh


Tu hành thành Phật có thể thực hiện được nhờ tu linh, tu hành thành Phật không chỉ có một con đường mà thôi, mà là nghìn vạn pháp môn đều có thể tu. Chư Phật Bồ Tát tuyên thuyết tám vạn bốn nghìn pháp, mỗi một pháp môn đều có thành tựu, mỗi vị Thập địa Bồ Tát cũng đều có cảnh địa của mình. Tác giả sáng lập ra pháp môn tu linh, là pháp môn trân quý khó có được trong thiên hạ, trước tôi không có người nào nói ra, sau tôi sẽ có người tuyên dương, người tuyên dương này cũng chính là các môn sinh của tôi.

Có người hỏi tôi: “Thưa thầy, người tu linh có giới không?”
”Có.”
”Tu trì ra sao?”
”Kinh Hoa Nghiêm có nói: Người an trú trong mười pháp khiến tất cả chư Phật hoan hỷ. Mười pháp tức là: Một, an trú không buông thả. Hai, an trú trong vô sinh nhẫn. Ba, an trú trong đại từ. Bốn, an trú trong đại bi. Năm, an trú trong các ba-la-mật. Sáu, an trú trong mọi hành. Bảy, an trú trong đại nguyện. Tám, an trú trong phương tiện thiện xảo. Chín, an trú trong sức mạnh dũng mãnh. Mười, an trú trong trí huệ.

Vì sao vậy? Như Lai tôn trọng pháp như người con có hiếu tôn trọng cha mẹ, thuận theo sắc diện, tâm không rời bỏ. Như Lai từ trong tu hành mà tới, pháp tu hành đó là cúng dường phụng dưỡng. Như Lai xuất thế cũng vì lợi ích chúng sinh. Người không có tâm từ bi không thể làm lợi ích cho chúng sinh. Người không tu tập thiện pháp, không thể làm lợi ích cho chúng sinh. Người buông xả sự nghiệp, không thể làm lợi ích cho chúng sinh. Người làm không như nói, không thể làm lợi ích cho chúng sinh. Người có tâm mệt mỏi chán nản, không thể làm phụng dưỡng cha mẹ hay chúng sinh. Người bỏ đại bồ đề tâm, không làm thể lợi ích cho chúng sinh.”

“Nếu không dựa vào những điều này để tu hành thì sao?”
”Tuyệt đối không thể thành Phật.” - Tôi nói.
”Nếu có bất kì điều gì bất kính với thầy thì sao?”
”Đại sư cũng giống như Như Lai vô số kiếp chịu khó chịu khổ vì chúng sinh, sao thế gian lại không biết báo ơn đại sư?”

Là một hành giả tu linh, đời sống không thể phóng túng, không thể thu về cái tâm vượn ý mã thì không thể tu hành. Người tu linh phàm việc gì cũng có thể nhẫn nhịn, không tùy ý khởi lên những cơn nóng giận vô cớ. Người tu linh có tâm đại từ bi, thường giúp đỡ người khác làm niềm vui, xả thân vì người khác. Người tu linh phải tu hành sáu ba-la-mật. Người tu linh phải thận trọng mọi cử chỉ để không tạo nghiệp xấu. Người tu linh phải phát đại nguyện, nguyện thành Phật, nguyện độ chúng sinh. Người tu linh nói phương tiện thiện xảo, không bao giờ được cưỡng ép. Người tu linh vĩnh viễn không được lười biếng trong việc tu luyện linh, dũng mãnh tinh tấn, không nửa đường lùi bước. Người tu linh phải tu tập viên mãn về trí huệ, mưu cầu trí huệ, thành bậc trí giả viên mãn vô ngại.

Việc tu hành nhìn thì đơn giản, thật ra không dễ, nhìn thì dễ, thực tế khó khăn trùng trùng, buông bỏ tất cả gánh nặng, đặt tất cả mọi việc tu linh lên vai, sơ ý không thận trọng thì sẽ tạo vô lượng nghiệp tội.

“Vì sao nhất định phải tu hành?” - Có người từng hỏi tôi.
”Thân người quý báu, quý ở chỗ biết tu. Tu hành cứu đời là hạng người số một, là việc đại sự số một trong cuộc đời. Kể từ khi Như Lai đắc đạo thường vì chúng sinh mà diễn giải ý nghĩa của bốn tướng trong mọi pháp. Khổ nghĩa, không nghĩa, vô thường, vô ngã, không lớn, không nhỏ, không sinh không diệt, một tướng không tướng, pháp tính pháp tướng, cái không tịch vốn có, không đến không đi, không sinh ra và không không có. Nhân gian này vốn là như vậy. Cho nên làm bất kì việc gì cũng không to lớn bằng tu hành.” - Tôi nói.

“Vì việc tu hành này mà tôi đã đi khắp miền sông núi, thăm viếng các nhân vật đứng đầu của các tôn giáo, tìm kiếm hỏi thăm người có thể hướng dẫn cho tôi. Từ Bắc chí Nam, từ Đông sang Tây, tôi có vô số bạn đạo, tôi giống như dị vật ở ngoài vũ trụ, thế nhưng cuối cùng tôi đã cảm nhận được, thì ra tu hành đều ở tại chính mình, không thể dựa dẫm vào người bên cạnh, tu hành đều là việc của chính mình, thuần túy là việc của chính mình. Chư Phật Bồ Tát tuy là sư phụ của ta, nhưng ngài chỉ ra con đường sáng, còn chính mình vẫn là người phải đi. Nhất là người tu linh, không thể dừng tinh tấn trong một lúc, phải khổ tu ba năm Trúc cơ, rồi phối hợp với chín năm Cửu chuyển. Năm xưa Tổ sư Đạt Ma cũng tu luyện như vậy mới thành công đó.”

“Tổ sư Đạt Ma cũng là phái Đan Đỉnh ư?”
”Chính là phái Đan Đỉnh, công phu quay mặt vào tường chín năm chính xác là thần thông cửu chuyển dốc hết sức vào linh niệm.”

“Nguyên lý của tu linh là gì?”
”Biến linh chết vốn có của nhân loại thành linh sống, khiến linh sống hình thành nên một dạng sức mạnh của linh hồn, sự thăm dò của linh lực có thể biết thiên văn, địa lý, nhân sự, thu hoạch được huyền cơ chí cao vô thượng, linh lực có thể thần toán tương lai, đắc chứng sáu đại thần thông, nhờ linh lực rèn luyện thần thức trường sinh bất tử của mình, tu ngoại công kiến lập hào quang bất diệt, tu nội công thành tựu thần thức sáng ngời ngời, từ trí huệ cao siêu phá tan chướng ngại lục tặc của thân người, phá tan nghiệp chướng từ khởi thủy đến nay, tẩy trần lau gương, minh tâm kiến tính, tự chủ tự tại mà thành thầy của trời người, thành tựu Như Lai Phật Đà chính giác vô thượng đẳng. Từ đó phá vỡ thể xác của thân người này, phi thân vào thẳng thế giới vũ trụ, không sinh không diệt và chấm dứt sinh tử, trở thành bậc tôn giả đại giác vô tư vô lự. Phương pháp tu linh này chính là diệu pháp đại thừa của tâm vô ngại đà-la-ni.”


### 28. Miếu ma


Phần lớn mọi người đều cho rằng miếu chắc chắn là nơi mà thần minh sống, thế nhưng tôi thì lại cho rằng không hẳn là như vậy. Các miếu hiện tại có đến một phần ba là miếu ma, trong đó bao gồm cả chùa Phật, các quán đường, v.v… Những hòa thượng xuất gia và đạo sĩ này vì sao lại cứ tranh nhau bái quỷ? Bởi vì họ không nhìn thấy, không nghe thấy, cứ luôn mơ mơ hồ hồ như vậy, cho rằng tượng Phật chính là Phật, tượng thần chính là thần, không biết rằng trong miếu từ lâu đã trở thành thế giới của ma quỷ, còn linh quang của Phật Tổ thì đã trở thành người xa lạ mất rồi!

Linh khí của ma phần lớn thuộc về khí âm trọc tương đối nặng. Cũng có người đạo hạnh rất cao, bởi vì có liên hệ với địa lý và linh hút máu tanh nên trở thành một linh lực cuồn cuộn, khối linh lực này thường có thể chiếm núi xưng vua, chiếm miếu xưng thần, nếu làm việc chính thì cũng không sao cả, nếu làm việc bất chính thì điên đảo càn khôn, làm xằng làm bậy, linh ma khoe mẽ thứ linh khí tạm thời của mình mà phạm vào những tội ác tày trời.

Tôi biết ở Đài Loan có một câu chuyện gọi là “Ngũ Vương chiến linh đồng”, sự việc này cũng có thật, năm vị tướng quân của Ngũ Vương Miếu cũng là từ thân trung ấm thoát xác xưng thần. Còn ở bên cạnh Ngũ Vương Miếu có một ngộ mộ hoang của thiếu niên, ngôi mộ này được trời ưu ái, ở gần huyệt ngô công bách túc [huyệt con rết nghìn chân]. Nếu ở vào đúng huyệt ngô công bách túc này thì sẽ sinh ra nghìn mắt nghìn tay, trong huyệt có một viên minh châu, có thể làm ấn ngọc. Từ đó, linh hồn của thiếu niên này đã tăng trưởng linh khí, trên người hiện nghìn tay nghìn mắt, nắm giữ ấn ngọc, linh thông cũng không hề tầm thường. Năm vị tướng quân thấy tình hình ấy thì thất kinh, thế là phái âm bình vây quét, đánh giết đến mức người ngã ngựa đổ. Nhưng linh đồng kia có thể hiện lên nghìn vạn linh, đánh nhau bất phân thắng bại với năm vị tướng quân. Sau đó nghe nói Quan Thế Âm Bồ Tát ra mặt, dẹp yên binh khí của Ngũ Vương tướng quân và linh đồng kia, nhường phần đất ở bên cạnh miếu Ngũ Vương cho linh đồng, linh đồng tự phong là Vạn Thiện Gia, tổng quản các linh của cõi âm. Hiện tại Ngũ Vương của miếu Ngũ Vương tuy là uy linh hiển hách, nhưng linh lực của Vạn Thiện Gia cũng không thua kém gì, hương hỏa đều thịnh vượng, phân linh của Vạn Thiện Gia có ở khắp đất nước. Muốn nghênh thỉnh một bức tượng kim thân của Vạn Thiện Gia, mỗi tháng tiền thuê cũng mấy nghìn đồng đó! Bạn nói xem có kỳ quái không?

Có một thầy bói họ Lý chuyên xem tướng mệnh kể với tôi, trên đỉnh của một ngọn núi kia có xây một ngôi miếu nguy nga lộng lẫy, nghe nói vô cùng thần kỳ, ông ấy muốn tôi đi xem thử. Tôi rất có hứng thú đối với miếu, vì thế tôi một mình đi tới đó. Ngôi miếu này tương đối to, đối diện với một cái hố sâu cực lớn, từ xa có thể nhìn thấy núi Đại Đỗ và núi Bát Quái ở Chương Hóa, phong cảnh tuyệt đẹp. Sau núi là một khu nghĩa địa, chủ thần của miếu này chính là Bắc Cực Huyền Thiên Thượng Đế, người đời gọi là Thượng Đế Công. Trong miếu thờ Huyền Thiên Thượng Đế, điện phía sau thờ tam thế chư Phật, điện thờ phụ thờ Thánh nhân Khổng Tử và Địa Tạng Vương, v.v… Người đến bái thần tương đối đông, tôi chen trong biển người.

Ở trong miếu đình, tôi nhìn thấy một cái giếng phong cách cổ, thành giếng có điêu khắc hai chữ “Giếng Vàng”. Tôi thử  nhìn vào bên trong, trong giếng có nước. Đúng lúc tôi không chú ý thì bỗng nhìn thấy trong nước có trăm linh hồn đang nhảy múa, thật ra là trăm con ma đang nhảy múa. Tôi thấy vậy thì rất lấy làm lạ, ở trong ngôi miếu lớn này, ở bên dưới giếng không ngờ lại có giấu trăm ma quỷ nhảy múa. Tôi nghĩ mãi mà không hiểu, đúng lúc tôi đang trầm ngâm thì từ trong giếng bay ra một khối linh khí lạnh buốt. Một phụ nữ trung niên xinh đẹp mặc trang phục cổ đứng ở miệng giếng, người nhìn như còn sống, người bên cạnh không thể nhìn thấy, bà ấy nhìn chăm chú vào tôi. 

“Vì sao tiên sinh đến đây?”
”Đi bái Thượng Đế nên đến đây.”
”Ngài có biết lai lịch của chúng tôi không?” - Người phụ nữ đó có đôi mắt trong veo đầy sợ hãi.
”Thật sự không biết, xin hỏi phu nhân là ai?”
”Tôi là Chú Sinh Nương Nương của ngôi miếu này. Tiên sinh biết chúng tôi chính là âm linh mượn địa khí mà thác sinh, xin đừng tiết lộ về chỗ của chúng tôi ở trong miếu này. Thượng Đế Công chính là cha tôi, Địa Tạng Vương chính là con tôi, các thần khác thì không phải là người thân thích thì cũng là người quen, chúng tôi nhờ vào thiện linh lấy việc giúp người làm niềm vui, mong tiên sinh đừng lấy làm lạ.”

“Phu nhân biết tôi là ai à?” - Tôi hỏi bà ấy, cảm thấy rất kỳ quái.
”Biết, tiên sinh đã viết ra một cuốn sách tâm linh, trên trời dưới đất khắp nơi đều đồn đại, chúng tôi tuy là hạng ngu đần nhưng cũng biết tiên sinh đại đức, cuốn sách này đúng là cực kì hiếm thấy, có thể độ trời người. Ngài đến thăm miếu này, hai vị tướng quân gác cổng đã thông báo cho chúng tôi từ lâu. Chúng tôi bí mật tụ tập hết ở trong giếng, đây cũng chính là nơi chôn toàn bộ người nhà của chúng tôi. Vì Huyền Thiên Thượng Đế từng tới đây, cho nên mượn danh của Thượng Đế để cứu đời giúp người.”
”Như vậy rất tốt, rất tốt.” - Tôi chắp tay.

“Chúng tôi tuy là loài ma, nhưng cũng muốn tu hành để được đứng trong hàng ngũ đan thiên, ma tuy là ma, âm khí sâu nặng, nhưng nếu tu ngoại công cũng có thể siêu thoát nhập thiên giới. Ngọc Đế thấy chúng tôi ngày thường không có lỗi lầm, tâm địa thuần thiện, phụng Vương Thiên Quân làm thần quân giám sát miếu này, cứ mồng Một và ngày Rằm hàng tháng đều hạ giáng, khảo sát ưu khuyết điểm, để sau này dùng vào việc phân cấp trong hàng ngũ tiên. Tiên sinh có thể viết vào trong sách, nhưng không được tiết lộ nơi ở của chúng tôi, thế nhân chỉ biết nhận giả là thật, thế nhưng những người từ ma nhập tiên cũng nhiều lắm, hơn nữa ma thực hành tu tập cao hơn con người đâu đâu cũng có!”

Tôi nghe xong thì cảm thấy cực kì hổ thẹn, thật sự, vì sao ngay cả ma cũng hiểu phải tu hành, mà trái lại con người thì không bằng ma. Tôi chắp tay lạy người phụ nữ xinh đẹp, cúi mình lui đi. Khi ra khỏi miếu, tôi nhìn thấy hai vị âm tướng gác cổng tiễn tôi xuống núi. Tôi nhìn ngôi miếu vàng son lộng lẫy thấy cực kì cảm khái. Những miếu ma mà tôi đã từng thấy rất nhiều, đương nhiên cũng có những miếu ma không làm việc tốt, những ma quỷ đó chiếm miếu làm vua, ăn uống chơi bời, thế nhưng họ đã quên mất, sau này khi thời hạn đã đến, họ cũng sẽ đọa vào trong địa ngục, vĩnh viễn không có ngày dừng lại.

(Tác giả nói rõ: Có một số người tự lập Phật đường riêng, nếu hành vi là công chính thì nên nhận sự tôn kính của người đời. Nhưng nếu mượn Thần Phật để vơ vét của cải, giả danh cải vận giải ách, làm xằng làm bậy, lừa gạt người dân lương thiện, dâm ô phụ nữ, thì hạng thần côn này nên gọi là quỷ côn chứ chẳng phải là thần côn. Chữ “thần” này cao quý và vĩ đại biết bao, người làm xằng làm bậy như vậy, thần sẽ dừng chân ở với họ sao? Những kẻ được phụng thỉnh tới, bên ngoài nhìn tưởng là thần, nhưng thật ra là ma quỷ, đây chính là bị quỷ ám. Ma quỷ tuy cũng có một ít sức mạnh linh thông, nhưng dễ làm xằng làm bậy, do đó người thờ quỷ thì sẽ trở thành quỷ côn.)


### 29. Pháp môn Ngũ thừa và tu linh


Phật gia có pháp môn Ngũ thừa, đối với người tu linh như tôi rất quan trọng, Ngũ thừa này chính là Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh Văn thừa, Duyên Giác thừa, Bồ Tát thừa. Cái gọi là “thừa” có ý nghĩa là cỗ xe. Việc tu hành của năm thừa này, tôi phải nói kĩ càng để cho độc giả nghe và hiểu được. Hễ bạn là một người tu linh thì buộc phải tu pháp môn Ngũ thừa, cầu đắc đạo vô thượng, nhằm chứng minh người tu linh không phải là theo bàng môn bội kinh phản đạo, mà chỉ là Phật môn và Linh môn cảm ứng tương hỗ tương thông với nhau mà thôi, có thể chứng Phật thiên, đắc Phật trí vô thượng.

Thứ nhất, pháp môn Nhân thừa — tức là tu năm giới, cái gọi là năm giới chính là không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngữ, không uống rượu. Đây là nền tảng cư xử và hành động của con người, cũng chính là năm phép tắc làm người xử thế mà Thánh nhân nói. Mỗi một người tu linh đều phải tu đến cảnh giới như vậy mới có thể xưng là con người. Tội sát sinh là cực nặng, sát sinh tức là không từ bi, phàm là vật có linh tính đều là thân phận của người tu đạo theo Linh môn, sao có thể làm tổn thương đồng môn chứ? Trộm cắp càng không được phép. Kẻ tà dâm buông thả dục vọng không phải người trong Linh môn của tôi, một vợ một chồng, kỷ cương phép tắc này không được đánh mất. Vọng ngữ càng không được. Còn người uống rượu đánh mất bản tính, một khi mất đi linh tính thì chính là địa ngục. Tu hành Nhân thừa này làm cơ sở làm người, không giữ năm giới sẽ đánh mất thân người, giữ được năm giới thì mãi mãi gìn giữ được sự tôn quý của Nhân thừa.

Thứ hai, pháp môn Thiên thừa — tức là tu mười điều thiện, Nhân thừa và Thiên thừa không ra khỏi tam giới, vẫn ở trong lục đạo, chịu luân hồi quả báo. Pháp môn Thiên thừa chính là lên trời làm thần, thần thánh ở trong giới hư không tự hình thành một thế giới, tự hình thành các pháp luân, hưởng thụ phúc trời, nhưng khi phúc trời hưởng hết thì vẫn đọa xuống nhân gian, cho nên Thiên thừa cũng không phải là tột cùng. Tuy không phải là tột cùng nhưng cũng là khóa trình mà người người phải tu, người tu linh không thể một bước lên trời được, mà càng phải tu tập mười điều thiện. Mười điều thiện này chính là: 1. Phóng sinh, 2. Bố thí, 3. Thanh tịnh hành vi, 4. Nói lời chân thực, 5. Không lươn lẹo, 6. Không nói lời ong bướm, 7. Không ác khẩu, 8. Không tham, 9. Không sân, 10. Không si. Có thể tu mười điều thiện này thì linh của người tu linh sẽ thanh tịnh, có thể nhập thẳng vào thiên giới mà không có một chút chướng ngại nào. Đến được thiên giới rồi thì lại tu Thanh Văn thừa thì cũng vẫn kịp, nếu đến được Thiên giới mà không tu hành, cho rằng đã đến điểm cuối, thế thì sai rồi. Hãy nhớ kĩ! Nhớ kĩ!

Thứ ba, pháp môn Thanh Văn — Thanh Văn chính là công phu tu tập bốn đế, sau khi đắc đạo thì chính là Thanh Văn, bốn đế này gọi là khổ - tập - diệt - đạo. Theo như tôi biết, công phu chân chính của thiền định này, Sắc giới thiên có mười tám cõi Tứ thiền. Khi Sơ thiền, ngồi xếp bằng và điều hòa hơi thở, tâm đi theo hơi thở. Ở trong trạng thái trong sáng, mênh mông xa xăm này, dần dần nhập định sâu, đến một lúc nào đó, đột nhiên nhận ra thân như mây ảnh, trong ngoài đều không, như thế là đã đạt đến bước Sơ thiền rồi. Sơ thiền có năm loại công đức, chính là giác chi, quán chi, hỷ chi, lạc chi, định chi. Sau đó sẽ là Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, rời khỏi Tứ thiền thì sẽ ra khỏi tam giới, đắc được nhân không, đây chính là quả vị Thanh Văn. Lý lẽ về khổ - tập - diệt - đạo này thật sự là chân thực không phải giả. Khổ - tập chính là nhân quả của thế gian, diệt - đạo chính là nhân quả của xuất thế gian. Khổ chính là khổ báo của lục đạo, thậm chí khi thăng lên các thiên giới thì vào lúc xuất hiện năm tướng suy hoại cũng có đau khổ. Pháp môn Thanh Văn tuy thuộc về pháp Nhân không của Tiểu thừa, nhưng cũng là pháp thoát khỏi con đường của tam giới, người tu tập linh thông không thể không biết. Duy nhất có một việc quan trọng nhất, đó là khi nhập vào Sơ thiền dễ gặp ma tướng nhất, phải phá ngũ âm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức), năm mươi loại âm ma lần lượt phải phá trừ, nếu phá được thì xem như là việc lớn đã thành, bằng không sẽ dễ bị ma làm cho phát điên.

Thứ tư, pháp môn Duyên Giác — pháp môn Duyên Giác tức là phương pháp tu pháp mười hai nhân duyên mà đắc đạo, bởi vì mười hai nhân duyên đều là nhân duyên hòa hợp, hư vọng hữu sinh, nhân sinh hữu sinh, Thích Ca Phật Tổ từng quán tưởng mười hai nhân duyên mà ban đầu đắc được quả vị Duyên Giác. Thứ tự của mười hai nhân duyên này là: vô minh, hành, thức, sắc, lục căn, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử. Nếu độc giả muốn nghiên cứu về pháp mười hai nhân duyên, xin mời đọc cuốn “Giữa linh và tôi” do Văn Hóa Đại Đăng xuất bản, cuốn sách đó đã giải thích rất tường tận. Pháp môn Duyên Giác cao hơn pháp môn Thanh Văn, đây là một dạng công phu “giác phá”, pháp này là xem mười hai nhân duyên, ngộ ra chân lý ở trong đó, chân tâm thanh tịnh quang minh đến trạng thái bất động im lìm, đó là quét sạch tất cả chướng ngại, hiển hiện chân thực toàn bộ bản tính của tự ngã, hiểu rõ sắc tức là thân huyễn, nhập vào vũ trụ như như bất động. Nếu người tu linh đạt đến được trình độ này thì có thể tự mình vui mừng, từ đây mọi thứ đều viên dung, sống trường cửu trong an lạc.

Thứ năm, pháp môn Bồ Tát — chính là công phu tu lục đạo trong Phật gia. Thanh Văn, Duyên Giác nếu phát tâm bồ đề, cứu người cứu đời thì cũng ngang với quả vị Bồ Tát. Bồ Tát là một vị trí giả, còn gọi là bậc trí giả cứu thế. Bất kì người tu linh nào cũng đều phải ghi nhớ hành vi của Bồ Tát. Thứ nhất chính là bố thí. Bố thí có ba loại là thí tài, thí pháp, thí vô úy. Thứ hai chính là trì giới. Bồ Tát nhất định phải giữ giới luật, lấy giới làm thầy, nhìn chung Bồ Tát có mười giới trọng và bốn mươi tám giới khinh. Tiếp nữa, cái thứ ba là tinh tấn, không thỏa mãn với hiện trạng mà thường nghĩ tinh tấn, chuyên tâm tịch tĩnh, vĩnh viễn ngăn chặn mọi vọng niệm để quy về huyễn vô. Thứ tư là nhẫn nhục, chịu đựng mọi đả kích chửi mắng của chúng sinh. Thứ năm là Bồ Tát tu đại đạo xuất thế gian. Thứ sáu là trí huệ, trí huệ thành Phật đạo vô thượng, thành tựu đạo quả phi phàm, đạt đến trình độ viên mãn vô khuyết.

Pháp môn Ngũ thừa này, về lý mà nói là theo từng cấp độ mà đi lên, cũng có nghĩa là trong quá khứ từng có người đã sử dụng rồi, đây là những kết tinh trí huệ mà người trước đã để lại. Đừng xem chúng có vẻ đơn giản, trong thế giới hiện tại của chúng ta, thế giới ác nhiều thiện ít, thử nghĩ xem, bất kì một phương pháp nào cũng đều nặng như tảng đá lớn đè lên thân, có thể thấy rằng, nói tu đạo khó bao nhiêu thì thực sự khó bấy nhiêu. Thế nhưng chúng ta không được sợ khó, càng khó thì càng có thể thu hoạch được quả ngọt, cho nên con người vẫn luôn hướng tới cái gọi là sáu ba-la-mật.

Chỉ cần là người hiểu về khởi linh, xem nhân duyên kiếp trước của họ có đại thiện căn hay không, thần thánh ắt sẽ lao nhanh tới trợ giúp. Linh lực đến từ chính mình, lại cộng thêm linh lực gia trì của chư Phật Bồ Tát của cõi trời, kết hợp cảm ứng lẫn nhau, khiến cho linh bình thường biến thành linh tính vĩ đại thuần khiết trong sánn nổi lên. Con người vẫn sống, Phật tính cũng sống, linh lực có thể lên trời xuống đất, ra vào cõi vô hình. 

Nếu linh được vận dụng một cách sáng tạo và linh hoạt, có thể khiến các vấn đề và giá trị cuộc sống của chúng ta dễ giải quyết như dao sắc chẻ tre, trình độ sơ khởi nhất của linh thông cũng có thể hiểu được đồ thị vận mệnh của một cá nhân, có thể dự đoán tương lai, cầu lành tránh dữ, giảm thiểu đau khổ của nhân gian, lợi dụng linh trí để hiểu đạo lý lớn về Nhân Thiên viên đốn [viên mãn và nhanh chóng thành tựu Nhân thừa và Thiên thừa]. Từ đó bước vào cảnh giới của pháp môn Ngũ thừa, để người người không đọa vào ba đường ác, tạo ra tịnh thổ nhân gian quang minh.

Pháp môn Ngũ thừa này tuy là pháp môn tu hành của Phật gia, nhưng vận dụng vào tu linh thật sự là có sự bổ trợ lẫn nhau, không hề có chỗ nào không phù hợp. Hôm nay tôi sáng lập tu linh để càng ấn chứng Phật pháp. Nên biết rằng pháp môn của chúng ta không hề sai lầm, ngược lại, nó khiến Phật pháp càng phát triển hơn, hy vọng chư Phật phù hộ, kể từ đây người tu linh có thể trực tiếp xuất tam giới, không mảy may nhiễm bụi trần! Đúng là may mắn, may mắn!


### 30. Mạn đàm Ngũ độn tâm pháp


Người khởi xướng Ngũ độn tâm pháp là ai? Rất khó biết! Nhưng pháp này là sự phát triển biến hóa của thiên địa nhật nguyệt tam tài tứ tượng ngũ hành bát quái thì không có gì phải nghi ngờ. Trong những trước tác của cao tăng các thời kỳ có nói đến thì có Khương Thái Công, Bạch Lưu Công, Hoàng Thạch Công, Thanh Thiềm Công, Tam Hóa Chân Nhân, Vương Hải Công, v.v… Còn có Quách Tử Nghi, Trương Lương cũng biết đến pháp này. Ngũ độn tâm pháp là một trong những pháp bí mật cấp cao của Đạo gia, vì thế mà tôi đặc biệt đàm luận một chút. 

Ngũ độn chính là độn kim, độn mộc, độn thủy, độn hỏa, độn thổ, năm loại công phu lẩn trốn. Vì sao tôi lại nói đến ngũ độn này? Bởi vì ngũ độn đều có mối liên hệ rất lớn với linh, nếu độc giả đọc xong bản văn này, tin rằng có thể hiểu được toàn diện. Ngũ độn tâm pháp trong bản văn này trên khắp thế gian không ai nhắc đến, tin rằng giá trị của bản văn này có thể xem là số một.

Nói đến chủ đề này, trước tiên tác giả lấy một sự việc làm ví dụ:

Ở Đài Bắc có một cư sĩ tại gia họ Phạm, ông ấy đọc sách tâm linh của tôi nên đã đặc biệt tìm đến tôi. Cư sĩ này tuổi tác đã ngoài 40, sống đơn thân tại Đài Bắc, cha mẹ đã cao tuổi sống ở Thụy Sĩ, ông ấy thường xuyên không có tiền, cũng vì thân phận nên vẫn mãi không thể đến Thụy Sĩ như mong muốn, nỗi nhớ cha mẹ càng ngày càng sâu đậm. Mục đích ông ấy chạy đến tìm tôi nói ra thì nghe hoang đường, nhưng là hỏi tôi liệu có thể nhờ linh lực để nhìn thấy cha mẹ ông ấy không.

“Xin lỗi, cảm ứng của linh lực cố nhiên là chân trời cũng gần ngay kề bên, nhưng phải xem ông có linh lực này hay không. 10 người thử thì 9 người không được, vậy thì sẽ lãng phí sức người sức của thôi.”
”Chỉ cần có thể, cả đời này tôi sẽ cảm kích ngài, mong ngài để cho tôi thử xem.”
Ông ấy nói vậy rồi không ngờ còn quỳ xuống, tôi vội vàng đỡ ông ấy dậy, tôi nói:
”Ông nhất định muốn thử thì cũng được, nhưng thành bại đều do ông, ông phải thành tâm mong cầu.”
”Đây là phương pháp gì?”
”Ngũ độn tâm pháp, cả đời này đây là lần thứ ba tôi làm, hai lần trước đều thất bại, chỉ mong ông có thể thành công.”
”Tôi muốn thử xem.”

Tại Phật đường, tôi chuẩn bị bảy cốc đèn, dùng một cái chậu rửa mặt mới toanh để đựng nước, dùng bảy khay quả màu trắng cúng Phật, dùng giấy đỏ viết lên đó chữ “Cửu Hoàng Chân Nhân linh vị”, bên cạnh lập “Bắc phương Sát Thần linh vị”, sau đó dùng chú triệu thỉnh thổ địa, gọi thần thổ địa bốn phương đến hộ đàn. Chú triệu thỉnh thổ địa có thể dùng: “Ôm na-mô san-man-tô mu-thua-nam ti-wây sô-ha. Cung thỉnh Tứ phương Thổ Địa Thần, linh uy tối cụ hữu chân linh, thủ hộ đàn tiền hộ pháp tọa, mạc sử âm tà lai phạm ương, cấp cấp như Thái Thượng Lão Quân luật lệnh cang.” 

Sau đó đốt phù ngũ phương, phù ngũ hành, mỗi loại năm lá phù, rồi cho cư sĩ Phạm uống. Ông ấy ngồi trên ghế gỗ, hai mắt nhìn chăm chú vào chậu nước. Tôi lại niệm: “Cửu Thiên Đô Vương Quân, sắc lệnh ngũ phương hành, kim mộc thủy hỏa thổ, tùy hình tùy tàng thân, chỉ thủy thủy khai lộ, chỉ hỏa hỏa lý hành, chỉ thổ thổ phân liệt, chỉ kim độn thân ảnh, chỉ mộc thừa xa dư, cấp cấp như niệm hành, hách hách dương dương, ngô Liên Sinh phụng Cửu Hoàng Chân Nhân cấp cấp luật lệnh cang.”

Tôi hướng về Cửu Hoàng Chân Nhân niệm chú phổ triệu tổng cộng 49 biến, sau đó cúng hương hoa trái cây, thỉnh Bắc phương Sát Thần lập tức đến, thắp sáng bảy cốc đèn. Lúc này sắp đến giờ Tý, tôi bảo cư sĩ Phạm nhắm hai mắt đang nhìn chăm chú vào chậu nước, dùng thủ quyết ngũ lôi liên tiếp bổ xuống đỉnh đầu của ông ấy năm lần, hô năm tiếng Bắc phương Chân Nhân, thổi vào hai mắt của cư sĩ Phạm, hô Bắc phương Sát Thần dẫn đường, cư sĩ Phạm bắt đầu bước đi. 

Đầu cư sĩ Phạm gục mạnh xuống, hai chân từ chậm tới nhanh đung đưa về phía trước, giống như đi bộ vậy, nhưng tốc độ tương đối nhanh. Tôi ở bên cạnh liên tục niệm chú ngữ Cửu Hoàng Chân Nhân, xung quanh căn phòng đã rắc rất nhiều gạo muối, xung quanh chậu nước có cắm năm cái cờ linh. Cứ như vậy khoảng nửa tiếng sau, đầu của cư sĩ Phạm càng chúi xuống nữa. Ông ấy rên rỉ một tiếng, ngẩng đầu lên, mở to mắt, trong mắt có nước mắt lấp lánh.
”Có gặp được người thân không?” - Tôi vội vã hỏi ông ấy.
Ông ấy gật gật đầu, bất thình lình quỳ xuống, òa khóc trong niềm vui cực độ, nói: 
”Cảm ơn ngài, Lư tiên sinh.”
”Đừng như vậy, ông đứng dậy đi, nói cho tôi hay những gì ông đã trải qua.”

“Là như thế này. Tôi ngồi trên ghế, tâm trạng không thể nào yên lòng, ngài niệm chú ngữ tôi đều nghe thấy rất rõ ràng. Khi hai mắt tôi chưa nhắm, tôi nhìn chăm chú vào nước trong chậu, hồi lâu, tâm thần tôi trở nên ngẩn ngơ, mặt nước đó không ngờ dần dần mở rộng ra, trở thành một mặt biển. Khi hai mắt tôi vừa nhắm lại, ngay lập tức là một vùng tối tăm, tâm linh mơ mơ hồ hồ, sau đó đột nhiên nhìn thấy bên dưới ánh sáng có một vùng nước rất sâu không thể nào ước chừng. Trước mắt tôi có một người rẽ nước đi tới, ông ấy vẫy tay với tôi, tôi liền đi cùng ông ấy, quãng đường đi bộ này khiến chân tôi đau muốn chết. 

Đến một con phố có một dãy bốn căn nhà, người đó nói với tôi nơi đây chính là đích đến của tôi. Tôi không cần gõ cửa, không ngờ thân thể dài ngoằng này lại đi thẳng xuyên tường, trên đường có người nhìn thấy tôi như vậy thì cũng như thể không nhìn thấy. Tôi ngó một vòng quanh phòng khách, nhìn thấy bức ảnh của bố tôi, tôi đi đến nhà bếp thì nhìn thấy mẹ tôi, mẹ tôi nhìn thấy tôi đi vào trong, nhưng chỉ là nhìn lướt qua tôi rồi không hề chào hỏi. Tôi nhìn thấy em trai ở trong thư phòng, mấy đứa bé con của em trai tôi thì đang chơi trên ghế sofa trong phòng khách. Tôi muốn nói chuyện nhưng không mở miệng ra được, đại khái là tôi nhìn một lúc tất cả một cách không hề chủ tâm. Sau đó tôi lại theo người kia hốt hốt hoảng hoảng đi trở về, thế rồi cứ như thế mà tỉnh lại. Mẹ tôi thì trông vẫn như vậy, nhưng không nhìn thấy bố tôi, chắc là bố tôi đã đi ra ngoài. Nhưng tôi hoài nghi những gì tôi nhìn thấy không biết có phải thật không?” - Cư sĩ Phạm nói.

Chưa tới mấy ngày sau đã có câu trả lời cho câu hỏi “liệu có phải thật không”. Cư sĩ Phạm cầm một lá thư phấn khởi đến tìm tôi, lá thư đó là do bố ông ấy viết, đại ý nói rằng: “Mấy hôm trước, đột nhiên trong lòng mẹ con có linh cảm là con đã trở về, lại còn đứng ở cửa phòng bếp nhìn bà ấy. Mấy đứa con của em trai con cũng nói như vậy, rằng có người lạ nhìn chúng chơi. Cảm giác này khiến mọi người trong nhà cảm thấy bất an, cho rằng có khả năng con đã xảy ra chuyện gì, gần đây con ở bên đó tình hình thế nào? Phàm chuyện gì cũng phải chú ý sức khỏe trước rồi mọi việc sẽ tự ổn thỏa.”

Ông ấy và tôi đến lúc này mới tin rằng cư sĩ Phạm đích thực đã trở về nhà một chuyến rồi!

Ngũ độn tâm pháp này rất không đơn giản, người có công phu không đủ rất dễ xảy ra sự cố, bất kì cách độn nào mà xảy ra sự cố thì ngay tại chỗ có thể bị sốc mà chết. Ví dụ độn thổ, chưa đến lúc được mở mắt mà mở mắt thì chắc chắn sẽ bị chôn sống trong đất. 

Ngũ độn tâm pháp mà tôi thực hành gọi là Ngũ hành linh độn pháp, đây là phương pháp dùng phù chú để ép linh khí nhập ngũ hành, thân xác bất động, còn linh khí xuất hiện đi vào trong ngũ hành, gặp núi xuyên núi, gặp nước xuyên nước, nhưng thân xác thì vẫn ở nguyên chỗ cũ. Trong ngũ độn này thì độn kim là khó nhất, thủy hỏa tương đối dễ, còn như độn thổ thì trong tai sẽ nghe thấy tiếng gió thổi rất mạnh, tuy vậy vẫn phải tuyệt đối nhắm mắt, nếu mở mắt ra, pháp lực mất đi, lập tức ngạt thở mà chết.

Tôi biết trên thế giới này, nếu tu hành đã đạt đến cảnh giới tinh thần, thân thể và linh lực kết hợp cùng với nhau, ngũ độn này có thể phát triển và biến hóa thành độn thân, nghĩa là ngay cả thân xác cũng cùng bay lên ngay lúc ban ngày ban mặt. Nhục thân thành Phật vô cùng khó, cho nên luyện Ngũ độn tâm pháp có thể luyện đến mức nhục thân cùng đi mất, thế thì cảnh giới thân và linh hợp nhất này lẽ nào không giống với Thần Tiên sao? Dưới bầu trời này liệu có người đạo hạnh nào độn thân hay không, tôi thật sự không biết, khả năng là có, chỉ là chúng ta không biết mà thôi. Nghe nói có một số cao tăng đắc đạo của Mật tông Tây Tạng đôi khi ở trước công chúng giảng kinh thuyết pháp, thế rồi lần lượt từng bộ phận của thân thể biến mất, công phu thần hóa này chính là độn pháp. Lại có một số cao tăng đắc đạo, lúc thì xuất hiện ở phương Đông, lúc thì xuất hiện ở phương Tây, mà hai phương thì cách nhau tới mấy nghìn dặm đường, công lực đi về thần tốc trong sát-na này cũng gọi là độn công.

Đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni có một vị thần thông đệ nhất là Đại Mục Kiền Liên tôn giả. Ngài ấy từng biến thân mình thành nhỏ như con kiến, bò xuyên qua cái lỗ của ổ khóa, tránh được nạn bị thiêu cháy, công phu này cũng là rất thần kỳ.

(Nhật Bản có một loại công phu nhẫn thuật, nói chung đã thất truyền, thật ra về cơ bản cũng giống phương pháp độn công. Còn có một loại là mộc thạch độn pháp, mộc thạch độn pháp này là mượn phương pháp âm ảnh tàng hình vào cây và đá, về lý mà nói cũng khá phù hợp với khoa học. Mộc thạch độn pháp này là bước đầu tiên trong các pháp độn, cũng có thể dùng như một trong các nghiên cứu quân sự.)

Còn về phương diện độn thổ là như thế này. Nắm một nắm đất, niệm chú một lúc, hất nắm đất này lên không, người làm pháp nhắm chặt hai mắt, thế rồi đất từ một hóa mười, mười hóa trăm, từ trên đầu đè xuống, thân linh đi vào trong đất, trong tai truyền đến tiếng gió chuyển động rất nhanh, thân thể giống như đi vào vương quốc dưới lòng đất trong tạng kinh vậy. Tất cả các pháp đều dựa vào thần thông của tinh thần mà biến hóa, sau đó niệm chú thu đất, thân thể nhô lên khỏi đất, đây chính là độn thổ. Tuy nhiên, nếu luyện thành công pháp độn này thì đã là thần tiên trong đất liền rồi. Người có đạo hạnh này, trên đời còn có mấy người?


### 31. Cảm ứng của linh chú


Công ty máy móc Đường Vinh có một kỹ sư họ Lý tên Thục Du, bí danh là Dịch Nồng, nhà ở Cảnh Mỹ, Đài Bắc. Sau khi đọc được cuốn sách tâm linh của tôi, anh ấy đã đến thăm tác giả hai lần. Lần đầu tiên tôi đi vắng nên anh ấy đã uổng một chuyến đi, lần thứ hai thì anh ấy đã hẹn được thời gian gặp mặt, mới gặp mặt nói chuyện thì không ngờ anh ấy là một người có thâm niên tu Đạo, đã chứng bí quyết cơ mật về thông thiên, đã thông hai mạch Nhâm Đốc, hiện tại đang tu huyền công của Cửu Thiên Huyền Nữ. Anh ấy đặc biệt nói cho tôi biết linh chú đích thực có đại cảm ứng.

Có một lần, anh Lý đảm nhiệm công trình tháp truyền hình, công trình này buộc phải hoàn thành trước ngày Quốc khánh để phục vụ phát sóng tình hình của ngày Quốc khánh. Vừa triển khai công trình thì liên tục mưa nhiều ngày, hễ mưa thì công việc phải tạm dừng, thời hạn càng ngày càng đến gần, không biết phải làm sao mới được. Quái lạ là, ông trời dường như chẳng muốn tốt, chẳng hề có ý muốn tạnh mưa. 

“Kỹ sư, chúng ta phải làm sao đây?” - Quản đốc hỏi anh.
”Bất luận thế nào vẫn phải hoàn thành trước kỳ hạn, không thể nào trì hoãn được.” - Kỹ sư Lý kiên định nói.
”Trời mưa không tạnh, tháp cao nguy hiểm lắm!”
”Ôi! Khi nào hơi ngớt mưa thì chúng ta phải làm việc, không được ngơi nghỉ một phút nào.”

Thế nhưng điều đáng tiếc là trời vẫn mưa rất to, mưa rất dữ dội, chẳng hề có ý tạnh mưa. Bản thân Lý Thục Du cũng hết sức hồi hộp, nhưng cũng chẳng có phương kế nào! Con người không thể chống lại ông trời, phải làm sao? 

Sáng sớm một ngày nọ, mưa bụi lất phất, Lý Thục Du trèo lên tòa nhà cao tầng, nhìn về hướng Nam, hướng Nam đang có một đám mây cuộn dồn về hướng Bắc, đám mây này mà tuôn ra thì lại có một trận mưa lớn không có gì phải nghi ngờ. Công nhân bên dưới tháp đang chuẩn bị bắt đầu làm việc, nhưng vừa nhìn thấy đám mây đó thì lại do dự không tiến lên. Lý Thục Du thành tâm thành ý cầu nguyện ông trời tuyệt đối đừng cho mưa xuống, bằng không chắc chắn lại lỡ mất một ngày công. Anh ấy ngẩng đầu nhìn về phía đám mây đen đang kéo về hướng Bắc, niệm chú Đại Bi, niệm chú xong còn nói thêm “mây chóng tan đi”. 

Anh ấy nhìn thấy sức mây bay qua dường như dần dần chậm lại, rồi một cơn gió lớn thổi qua, mây lại cuộn dồn về phía sau, dường như đang bị một sức mạnh nào đó khống chế, mây cuộn về phía trước nhưng lại bị đẩy lùi trở lại. Kỹ sư Lý càng niệm chú Đại Bi thành tâm hơn, đám mây không ngờ đã từ từ lui đi. Còn khi anh ấy dừng niệm chú, những đám mây đen ấy lại dũng mãnh lao tới, cuồn cuộn dồn về phía Bắc. Kỹ sư Lý lại niệm chú, mây lại lui đi, cứ kiên trì như vậy, hai bên không nhường bước. Trời tạm thời không mưa, công nhân triển khai công việc.

Ngày hôm sau trời vẫn âm u, đám mây ở phương Nam lại đổ dồn về phương Bắc, kỹ sư Lý vẫn đứng trên tầng cao, cũng vẫn niệm Đại Bi đà-la-ni chú, mây lại bị chặn không thể dồn về phía trước, thế nhưng lần này mây tản ra, từ xung quanh phân thành hai đường tản ra, chỉ có chu vi 500 mét trên đầu kỹ sư Lý là không có mây, còn những nơi khác đều có mây, đây là một kỳ tích. Xung quanh toàn là mây đen, trời đã bắt đầu mưa lất phất, nhưng chỉ có xung quanh khu vực cột tháp mà kỹ sư Lý đang xây dựng thì không mưa, đây đúng là kỳ tích.

“Chà! Mưa kỳ lạ thật, chỉ có chỗ chúng ta đây là không mưa, toàn thành phố Đài Bắc chỉ có chỗ chúng ta không mưa.” - Công nhân rất kinh ngạc.
”Trời giúp người rồi.” - Quản đốc nói.

Kỹ sư Lý liên tục mấy ngày liền dùng chú lực để đối kháng với mây đen, cũng liên tục mấy ngày xuất hiện kỳ tích cả thành phố Đài Bắc thì mưa còn xung quanh cột tháp thì không mưa. Kỹ sư Lý cuối cùng đã hoàn thành công trình đúng thời hạn, việc hoàn công của anh ấy thật sự có nhờ vào cảm ứng của chú Đại Bi. 

Sau khi anh ấy kể cho tôi nghe sự việc này thì hỏi:
”Tôi tu Đạo có thể thành công không?”
”Có thể.”
”Thiền và linh có gì khác nhau?”
”Công phu của thiền là thiền định, công phu của linh là linh động, giữa một động một tĩnh, tuy khác nhau, nhưng cũng là dị lộ đồng quy.”
”Tiên sinh có thể giới thiệu Thanh Chân Đạo Trưởng ở núi Liên Đầu không, đệ tử muốn bái cầu Địa Linh Kinh.” - Kỹ sư Lý nói.
”Núi Liên Đầu chính là một ngọn núi trong dãy núi Tập Tập ở Nam Đầu, trên đỉnh núi đó có thể nhìn thấy hồ Nhật Nguyệt trong veo lấp lánh ở phía xa xa. Rất đáng tiếc là Thanh Chân Đạo Trưởng một năm trước đã viên tịch rồi, đắc quả vị Thần Tiên lục địa. Kinh Địa Linh là thuộc hệ khẩu truyền, không có sách dạy, chỉ có một cuốn sách là “Linh Thành Tinh Nghĩa” được truyền lại, nhưng “Linh Thành Tinh Nghĩa” cũng là sách bí mật, không thể tùy tiện truyền thụ, cũng không thể dễ dàng cho mọi người thấy.”
”Như vậy thì tôi không dám miễn cưỡng.”
”Mong thông cảm.”

“Trong sách tâm linh của tiên sinh có nhắc đến pháp Kỳ môn độn linh, từ rất sớm trước đây tôi đã hiểu sâu sắc, ngài cho rằng làm pháp như vậy là chính phái hay là tà phái? Liệu có gây ra sai sót gì không?”
”Nếu tâm chính thì chẳng ngại gì mà không làm, cho nên sẽ không gây ra sai sót gì cả.” - Tôi nói.

Kỹ sư Lý từ nhỏ đã thích Phật Đạo, đối với thuật của phái Đạo gia Đan Đỉnh thì rất thích nghiên cứu, đã sâu sắc đắc pháp Nội hô hấp và Kỳ môn độn giáp. Đã đả thông hai mạch Nhâm Đốc, thần thuật địa lý của Tam Nguyên Cửu Tinh anh ấy cũng đều nghiên cứu sâu dày, tin rằng tương lai không xa, anh ấy có thể đạt được mong muốn của mình, nếu có thời gian chắc chắn thành người tài, trở thành người xuất sắc, thành con rồng trong đám người là điều không có gì phải nghi ngờ.


### 32. Thủ quyết luyện linh


Sau khi khởi linh, công phu tiếp theo càng khó khăn càng nặng nề hơn, đó chính là công phu thực của luyện linh. Tôi từng nói thiên nhãn thông là do linh mệnh vận động đến con mắt tạo ra; thiên nhĩ thông là do linh mệnh vận động đến tai tạo ra; tha tâm thông là do linh mệnh nối liền với suy nghĩ của người khác tạo ra; thần túc thông là do linh mệnh xuất du tạo ra; túc mệnh thông là một dạng ký ức kiếp trước của linh mệnh; lậu tận thông là khó nhất, đó là sự tái hiện chân tính của linh mệnh, hoàn toàn chấm dứt hết sinh tử. 

Luyện linh là vì sáu loại thần thông này sao? Giả sử độc giả nghĩ như vậy, thế thì cực sai và đặc biệt sai rồi. Luyện linh là vì muốn cho linh mệnh có thể tự tại, cũng có nghĩa là khiến cho linh hồn có thể tự do, linh hồn tự nhiên thoải mái, có thể dựa theo sự thúc đẩy của niệm lực mà đắc được chính tri chính kiến, sau cùng sẽ thành tựu Phật chính giác vô thượng đẳng. Mục đích cuối cùng của công phu này của tôi chính là thành Phật.

Phương pháp luyện linh như sau:

Thứ nhất, Trúc cơ — Có thể nói Trúc cơ là bước đầu tiên của luyện linh, người từng khởi linh thì linh của họ là sống, nếu có duyên Thần Phật thì ắt sẽ có Thần Phật đến tương trợ, khởi thế từ sự vận dụng Tiểu chu thiên, hai tay chắp lại, đánh ra một bài quyền kỳ quái lạ lùng, hoặc là hai tay làm những động tác di động khác nhau, hít khí thở khí thành một hình thái cố định. Luyện tập Trúc cơ một ngày một lần là được, mục đích chủ yếu là rèn luyện xương cốt toàn thân mình, sự chắc khỏe của cơ thịt, hít vào thanh khí, thở ra trọc khí, tác dụng này có đôi chút giống với vận động vẩy tay đang thịnh hành hiện nay. Nhưng vận động vẩy tay là thể thao, còn trúc cơ là do linh lực đến trợ động nhục thể, khiến người tu Đạo có bệnh trị bệnh, không bệnh khỏe thân, người tu Đạo thân thể cường tráng mới có thể tu Đạo, nếu người tu Đạo mà thân thể mình già bệnh thì còn tu Đạo gì chứ, có khác gì Bồ Tát đất qua sông, thân mình còn khó bảo toàn.

Thứ hai, Thần khí — thời gian luyện Trúc cơ cần bao lâu, tôi nói cần ba năm, mỗi ngày phải chăm chỉ luyện linh không gián đoạn. Đến khi xong được ba năm, cơ xương chắc khỏe, vừa nhu vừa cương, sắc mặt hồng hào, thần thái phấn chấn, khi tĩnh thì như trinh nữ, khi động thì như thỏ chạy, sự xuất hiện của linh khí có thể tùy động tùy dừng, sức mạnh của linh mệnh vận chuyển toàn thân, thân như kim cương bất hoại, lúc này chỉ khởi một suy nghĩ là có thể vận linh rồi. Linh mệnh lúc này có thể nghe theo sự điều khiển của niệm lực của mình, khí lúc này huyền diệu như thần, thấu tam quan, thông cửu khiếu, trộm tinh hoa của nhật nguyệt, lấy diệu dụng của ngũ hành, thủy hỏa nghịch hành, kim mộc hợp lại, sẽ có thành tựu kim đan. Đây chính là từ một gốc mà phân tán ra vạn thứ khác biệt, vạn thứ khác biệt lại quy về một gốc. Cảnh giới này sau ba năm Trúc cơ mới có thể từ trong huyệt Thần khí mà phát hiện ra ngọn nguồn của linh. Đến bước này vẫn còn phải siêng tu, nhưng ghi nhớ đạo lý chính tà do tâm phân biệt, đến bước này chắc chắn có ma khảo tai nạn giáng xuống, đặc biệt là người muốn làm bát chính đạo, có lòng nhân từ và bác ái rộng lớn, không thể dựa vào điều này mà ngạo mạn, thậm chí làm tà pháp, làm nghề ác, một khi mất đi chính niệm thì đọa vào trong địa ngục vô gián, một khi mất thân người thì vạn kiếp khó phục hồi!

Thứ ba, Cửu chuyển huyền công — Khi biết ngọn nguồn của huyệt Thần khí rồi thì sẽ phải quay mặt vào tường chín năm, thứ cần tu vẫn là pháp Cửu chuyển huyền công, còn gọi là Kim đan đại pháp của Đạo gia phái Đan Đỉnh. Luyện pháp Cửu chuyển huyền công tôi đã nói qua ở chương sách trước, tại đây không cần lặp lại. Còn cái gọi là “quay mặt vào tường” chính là muốn tìm được cái tự ngã chân chính, lúc này tư duy như biển lớn, huyễn tướng bộc phát. Cái nào là thật? Cái nào là giả? Hay là toàn là thật? Hay là toàn là giả? Đều dựa vào chính mình để phân biệt. Lúc này tối kỵ lạc đường, quanh co chín khúc không nhận rõ, kim đan đại đạo khó thành tựu. Nếu trì một Phật một chú để gia trì, Thần Phật bảo hộ, nhờ đó định lực tiến bộ lớn, trí huệ tăng trưởng, Cửu chuyển huyền công mà thành thì chính là Thần Tiên tiêu dao tự tại.

Thứ tư, Ngoại công — từ trong các công phu của Trúc cơ, Thần khí, Cửu chuyển huyền công…, quan trọng nhất là phối hợp với ngoại công, ngoại công chính là thiện công, thiện hạnh có thể đạt phẩm cách của trời, đây chính là: “Thiện niệm nếu nỗ lực, có cầu tất có ứng, công trả về tạo hóa, lực kéo đến thiên đình, bần tiện chuyển phú quý, hoạn nạn gặp cứu tinh, trường thọ như tùng bách, nuôi con được kỳ lân, nếu năng duy trì mãi, công đức không hề nhẹ, người thường làm âm đức, thiên thần ắt cảm ứng.” Nếu chỉ biết siêng luyện nội công mà không có ngoại công tương trợ, không có Thần Phật tương trợ, chắc chắn không thể thành công, ở đây là sự bổ trợ lẫn nhau. Ban đầu là bắt đầu từ khởi linh thì sẽ phải dựa vào thần giúp, đến được Cửu chuyển huyền công rồi càng phải có thần bảo hộ, nếu không thể cảm động trời đất thì luyện linh cũng như không luyện, hiệu quả không rõ rệt.

Chúng ta làm thiện hạnh, làm thiện công, trên thực tế là không vì điều gì đó mà làm, là một kiểu nhân tính thần tính tự nhiên bộc lộ, không phải vì để cầu sự giúp đỡ bảo hộ của thần. Thế nhưng chúng ta đừng ngại trước tiên học theo Viên Liễu Phàm lập bảng công tội, có công có tội đều ghi nhớ, công nhiều hơn tội, như vậy một thời gian dài sẽ trở thành một dạng hành vi tự nhiên. Đây là một yêu cầu từ ngoài vào trong, có sự cần thiết tương đương.

Sau khi hoàn thành xong Trúc cơ, dần dần linh giác của bạn sẽ hơn người thường, và có hiện tượng cảm thông xuất hiện, đây chỉ là sự linh cảm của giác quan thứ sáu mà thôi. Nếu thật sự tìm được ngọn nguồn của thần khí thì chắc chắn có huyễn cảnh thật giả xuất hiện, kỳ diệu dị thường, nếu không mê hoặc thì cảnh tượng rất lạc quan chắc chắn sẽ lần lượt hiển hiện, nhưng khi cảnh trôi qua thì thôi, không đáng lưu luyến, để tránh động chân tình, nhận giả là thật, thế thì sẽ phiền phức to. Người tu linh đắc đạo thật sự sẽ không bao giờ bám chấp, tu tất cả các pháp đúng là không pháp nào có thể tu, căn bản là không có tất cả pháp, đây là tâm cảnh tối thượng thừa, đương nhiên là nằm ngoài tam giới. 


### 33. Cửu chuyển huyền công


Vào một buổi tối mưa dầm dề, đạo hữu Trần Hồng Thiên đã đích thân đến thăm tác giả. Ông ấy là trụ trì của Thiên Tiên Cung ở miền Nam, có hứng thú sâu sắc với Đạo thuật, cũng là một trong số “pháp sư đầu đỏ”. [Phái Đạo sĩ Lư Sơn phân thành pháp sư đầu đỏ và pháp sư đầu đen. Pháp sư đầu đỏ chủ yếu nhận ba vị Nữ Thần làm tổ sư, ví dụ Lâm Thủy Phu Nhân, dùng khăn màu đỏ buộc trên đầu làm dấu hiệu nhận biết.] Từ nhỏ ông ấy đã ở trên núi Gia Nghĩa học Đạo, từng bái một người dân tộc miền núi làm thầy, biết một số pháp thuật kỳ cục quái lạ, thậm chí có một số pháp thuật ngay cả tôi cùng chưa từng thấy. Ở trước mặt tôi, ông ấy biểu diễn một số thần thuật, khiến tôi cảm thấy rất kỳ lạ.

Ông ấy bốc một nắm gạo từ trong thùng gạo rồi vãi trên mặt đất, sau đó lấy một ống tre đựng gạo nhỏ đặt ở giữa những hạt gạo trên mặt đất, vẽ một lá phù kỳ quái, ông ấy nói phù này là phù linh nhập. Đốt phù này xong thì bỏ vào trong thùng gạo, còn miệng ông ấy thì lầm rầm niệm chú, chú ngữ của ông ấy tôi không hiểu gì cả, có vẻ như là tiếng miền núi. Sau đó, hiện tượng kỳ quái đã xuất hiện. Đầu tiên là những hạt gạo rải rác khắp xung quanh hơi rung rung, thế rồi chúng nhảy tưng tưng lên, Trần Hồng Thiên hét lên một câu: “Cấp cấp như luật lệnh, vật quy nguyên chủ.” Nói ra thì rất kỳ lạ, những hạt gạo đó cực kì ngoan ngoãn, lần lượt nhảy về phía thùng gạo, giống như là tất cả số gạo đều lần lượt nhảy vào trong thùng gạo, nhảy đến không còn sót lại một hạt nào.

Màn biểu diễn này của ông ấy thực sự khiến tôi vô cùng kinh ngạc, nhưng ông ấy nói: 
“Thần thuật kiểu này chỉ có thể để người có Đạo thấy thôi, để người không có tín ngưỡng thấy thì sẽ làm trái với lời dạy của tổ sư, cũng không thể vì điều này mà khiến người ta khởi lòng tin được.”
”Đúng thế, người đời bây giờ vẫn chưa tu tâm, lại chỉ muốn học thần thông, và ngược lại thần thông lại trở thành một chướng ngại lớn cho việc siêu phàm nhập thánh, nếu người ta nhìn thấy màn biểu diễn này của ông, trong lòng mặc dù thán phục, nhưng cái mà họ mong cầu không phải là chân Đạo, mà lại là một vài thần thông nhỏ.”

Trần Hồng Thiên là vì Cửu chuyển huyền công nên mới đến tìm tôi.
”Thắng Ngạn huynh, anh được Vô Cực Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh dạy dỗ, tôi tin rằng căn cơ Cửu chuyển huyền công cũng không tồi, hôm nay tôi đặc biệt đến đây xin thỉnh giáo, khẩn thiết xin anh truyền thụ cho tôi một chút về pháp vận động Cửu chuyển huyền công và đạo lý căn bản của nó, để bần đạo được mở mang đầu óc.” - Trần Hồng Thiên nói.
”Hiện tại tôi phụng Tiên Thiên Vô Cực Chính Pháp mật lệnh, lĩnh ý chỉ của Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn để hành đạo, mà Đạo gia phái Diêu Trì vốn là một phái con của phái Đan Đỉnh của Đạo gia, chú trọng thuật luyện thân, trúc cơ [xây dựng nền móng] từ trong ra ngoài. Thuật luyện thân này về cơ bản thì giống với thuật khởi linh, đích thân Diêu Trì Kim Mẫu ban cho tôi kỹ năng luyện thân. Bên ngoài nhìn vào thì giống như nhảy múa, có lúc thì giống như kê đồng bị linh nhập vào, sẽ nhảy múa loạn xạ, người không biết nội tình sẽ hiểu nhầm rằng có thần đến nhập vào người hoặc là bị bệnh thần kinh. Pháp luyện thân kiện thân kiểu này tôi gọi là Trúc cơ.”

“Trúc cơ này có ý nghĩa gì? Trúc cơ như thế nào?”
”Đầu tiên thắp hương tĩnh tọa, cung thỉnh Vô Cực Diêu Trì Kim Mẫu Thiên Tôn ban cho pháp luyện thân, khẩn cầu trong khoảng thời gian một nén hương, lúc này phải cảm thấy toàn thân chấn động, tay múa may, chân nhảy nhót, dựa theo huyết mạch của Đại chu thiên và Tiểu chu thiên mà đếm, khởi đầu với rồng lượn, hổ vồ, gấu bước, rùa núp, cá nhảy, hạc bay, sau đó có múa kiếm, phương pháp Dịch cân kinh của Tổ sư Đạt Ma, trong vô thức đã học được toàn bộ mọi thứ, đồng thời đả thông hai mạch Nhâm Đốc. Người không biết tu tập Cửu chuyển huyền công thì dùng để chữa bệnh khỏe thân, chữa bệnh khỏe thân chính là Trúc cơ mà tôi nói đến.”

“Hoàn thành xong Trúc cơ thì lại làm gì nữa?” - Trần Hồng Thiên hỏi.
”Cửa này là khó nhất, ông hãy nghe cho kĩ. Khi ngồi thở phải hợp với đạo trời. Nhân sinh cũng chính là thái cực, thái cực động thì sinh ra dương gọi là hỏa, hỏa tức là thần. Tĩnh thì sinh ra âm gọi là thủy, thủy tức là tinh. Thần hỏa tinh thủy, kết hợp khéo léo thì ngưng tụ thành đan, đây chính là Cửu chuyển diệu đan dược, là nền tảng của việc trở thành thánh. Mà “nhật nhập địa trung, tâm hỏa hạ giáng, nguyệt đáo thiên tâm, thận thủy thượng thăng”, lúc này thủy đi lên và hỏa đi xuống [thủy hỏa nghịch hành], chính là thời khắc thủy hỏa giao nhau. Lúc này ngồi yên, nối với Thiên kiều (tức là lưỡi ép vào hàm trên), răng gõ vào nhau 36 lần, dùng niệm lực làm chuyển động thủy hỏa, dẫn thủy nhập vào lư đỉnh thứ nhất, sau đó dựa theo thời giờ, một hít một thở, thủy lên hỏa xuống, như vậy mà luyện thành đan.”

“Vì sao gọi là Cửu chuyển?”
”Cửu chuyển tức là chín nhu động tràng kết ở trong ruột, một mối kết là một cái đỉnh [vạc], một đỉnh là một mối kết, cứ như thế kết thành thánh đan diệu dược. Con người có Tam cốc, đều gọi là Cốc thần, trên gọi là Thiên cốc, cũng chính là cung Nê hoàn, là cội nguồn của trời, bản cung của thần. Nếu tinh hóa khí, khí bay lên, cửu chuyển thiên cung đầy ắp thì Thiên môn cũng theo đó mà mở ra, khi ấy tai sẽ nghe thấy, mắt sẽ nhìn thấy! Thần thông bất khả tư nghì.”

“Sử dụng niệm lực ra sao?”
”Niệm lực có thể thúc động linh lực của chính mình, dùng linh lực tập trung để vận chuyển thủy hỏa đảo nghịch, đây cũng chính là đại đạo chuyển nghịch chuyển. Người chuyển nghịch được thì chính là Đại La Tiên, Đạo công chính là ở chỗ này. Nếu vận hành khéo léo giống như dòng chảy cuồn cuộn của Trường Giang Hoàng Hà, không ngừng không nghỉ, tự nhiên mà huyền diệu, thì từ đây Đạo cảnh lại càng nâng cao một bước, vĩnh viễn không có chướng ngại, chỉ còn đợi thời cơ mọc cánh thành Tiên bay lên trời mà thôi.”

“Khi nào thì đắc đại thần thông?” - Trần Hồng Thiên hỏi.
”Khi tâm sáng thì thần thông sẽ ở ngay trong đó, nếu tâm không sáng thì muốn học thần thông ngược lại chỉ trở thành tà đạo, như thế thì càng gay go.”
”Lĩnh giáo, lĩnh giáo.” - Trần Hồng Thiên bắt chặt tay tôi, ông ấy nói: “Đạo pháp chính thống của Đạo gia của dân tộc Trung Hoa thật sự đã được anh làm rạng danh tên tuổi rồi, nếu chỗ tôi có gì hữu ích với anh, tôi chắc chắn sẽ chạy ngay tới giúp đỡ.”


### 34. Điều quan trọng lúc lâm chung


Sinh mạng của con người từ lúc sinh ra cho đến lúc chết nhiều nhất là trăm năm, 60 tuổi đã xem là sống thọ. Còn có một số người chết yểu, đời người chưa đi được quá nửa đã một mạng quy âm. Ga tàu cuối cùng của đời người, không thể hoài nghi, vẫn là cái chết, người chết rồi thì tất cả đều bỏ đi hết, danh lợi hóa thành cát bụi, ở đây đương nhiên bao gồm cả thân xác mà bình thường chính mình vẫn yêu thích. Thân xác nếu hỏa thiêu lại trở thành khí, nếu chôn thì sẽ trở thành đất, tất cả đều chuyển thành hư không.

Bình thường người không có tín ngưỡng, đến bước này, hầu hết đều rơi vào thế giới kinh hoàng trong hư không, cảm thấy bị rối bời bởi bóng tối vô biên vây quanh, tai nghe tiếng khóc nỉ non của vợ con, tiếng kêu gào của thân bằng cố hữu, trong lòng trăn trở khó chịu, khi sự mịt mù trống rỗng vừa dứt thì không còn chốn nào, thê lương làm sao! Trong lòng mới đau buồn và sợ hãi làm sao! Con người khi ngừng thở thì linh mệnh trong huyệt Thần cốc của họ sẽ vùng vẫy để thoát ra, mang theo nghiệp thiện ác của cả đời, chuyển thế đầu thai vào nơi khác. Người không có tín ngưỡng tôn giáo, linh mệnh không có nơi nào để dựa vào. Nếu cả đời tạo nghiệp thiện nhiều thì linh sẽ nhẹ mà thăng lên thiên giới. Nếu nghiệp thiện và nghiệp ác tương đương nhau, có thể chuyển thế làm người hoặc sống ở âm gian. Nếu ác nhiều thiện ít, đọa vào ba đường ác, người cực ác thì vào địa ngục vô gián, vĩnh viễn khó siêu sinh!

Khi con người sắp chết, linh mệnh của họ tự nhiên xuất hiện, lúc này, quang cảnh mà họ nhìn thấy và những gì mà người hoạt linh nhìn thấy không khác nhau mấy. Thần chí lúc này tuy thanh, nhưng những gì họ nhìn thấy đều là người âm (thân bằng cố hữu đã chết), đây là một hiện tượng đặc thù của sự cảm ứng tất yếu kèm theo, đúng ra mà nói thì chẳng hề có chỗ nào kỳ quái. Tuy nhiên, khi nhìn thấy tướng của người âm xuất hiện thì người chết đa phần là sẽ chuyển đến âm gian, điều đó không có gì phải nghi ngờ. Nếu nhìn thấy tướng cát tường, đó cũng là một điềm báo tốt, biểu thị bản thân sẽ vãng sinh đến thiên giới hoặc đến một nơi tốt hơn. Phật gia từng nói, con người khi chết nếu có thể nhất tâm bất loạn niệm Phật thì Tây phương Tam Thánh là A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát chắc chắn sẽ rất nhanh chóng hiện thân để nghênh đón, ban cho quả vị hoa sen cửu phẩm, người này nhất định sẽ vãng sinh Tây phương chẳng có gì phải nghi ngờ.

Với người chết, những thân bằng cố hữu tối kỵ khóc lóc nỉ non, cũng tối kỵ kêu la gào khóc. Lúc này người chết tâm thần không yên, thần thức đã hiện nhưng tất cả vẫn đều mờ mịt không biết gì, thiên ma dạ xoa sẽ nhân cơ hội mà tác động, một khi đánh mất chính niệm thì rất dễ khiến người chết mất đi sự tự tin vốn có. Lúc này quan trọng là chuyên tâm nhất trí niệm Phật, cầu vãng sinh Tây phương, một số thiện tri thức cũng cần giúp họ trợ niệm, nhờ nhân duyên của Phật pháp mà chuyển Tâm luân của họ, mang nghiệp vãng sinh đến cõi hoa sen Tây phương. Lúc này, nếu linh mệnh có thể định tâm là tốt nhất, nếu loạn tâm thì rất gay go. Khóc là nguồn gốc của loạn, khóc cũng vô ích, nếu muốn khóc thì đợi tám tiếng sau khi chết rồi hẵng khóc! Khi đó khóc đến mức tru tréo trời đất thì cũng chẳng hề gì.

Tôi xin có lời khuyên với thiện tri thức, ở trong phòng người bệnh hoặc người sắp chết, hãy bày tượng của Tây phương Tam Thánh, cúng đàn hương và hoa, khiến tâm người bệnh ưa thích, không quên niệm Phật, quán tưởng Tây phương Cực Lạc thế giới, tự nhiên có được lợi ích lớn. Phần đông lúc lâm chung, người sân hận đa phần vãng sinh làm atula, người ngu si thì đọa vào đạo súc sinh, người keo kiệt thì trở thành quỷ đói, người ác thì xuống địa ngục, người mê đắm vào cái thật và theo đuổi cái ảo tưởng thì sẽ gánh theo những cảm giác đó mà về cõi trần, khởi lên những mê hoặc và tạo nghiệp, chịu đựng đủ mọi khổ. Nhưng nếu có thể một lòng sám hối, giống như buông bỏ đồ đao thì có thể nương nhờ Phật lực mà lập tức thành Phật. 

Người học tu linh, đến được trình độ linh giác, có thể biết trước thời khắc nhập diệt, bởi vì linh mệnh của chính mình vốn là sống, Phật linh của ngoại giới vốn có năng lực thần thông túc mệnh, chắc chắn có thể biết được lúc nào chết. Người tu linh như vậy biết trước được thời khắc sinh tử nên sẽ tắm gội giữ mình sạch sẽ, chuẩn bị hậu sự, ở trong thiền phòng mà bình thường vẫn tĩnh tọa ngồi xếp bằng, vận linh đến chỗ thiên khiếu, chỉ chờ đợi chư Phật đến đón, lập tức có thể vãng sinh. Linh xuất thiên khiếu thì không phải qua ba cửa, trực tiếp chuyển đến cõi Phật để đi thành Phật, linh mệnh như vậy mới có thể thấy được cái chỗ hoạt bát tôn quý của nó, so với “linh chết” phải chịu sự điều khiển của cảnh giới thông thường thì không biết là hơn hẳn mấy nghìn vạn lần. Người hoạt linh nhất định có thể biết trước thời khắc của chính mình, bởi vì linh mệnh của họ đã thuộc hệ trời người hợp nhất rồi.

Con người lúc sắp chết có thể nhìn thấy linh cũng có rất nhiều sự tích, tôi đặc biệt lấy bạn tôi là Lưu Thiên Thuận làm ví dụ. Cậu ấy bị ung thư gan, qua đời tại bệnh viện Cao Hùng. Trước khi chết, tôi nhìn thấy hai mắt cậu ấy cụp xuống, thần trí tỉnh táo, khi ấy có mẹ, em gái của cậu ấy và tôi có mặt tại đó, còn có chú của cậu ấy và vài người bạn thân. (Bố cậu ấy đã qua đời khi cậu mới 5 tuổi.) Lưu Thiên Thuận chỉ vào góc phòng nói: 
“Mẹ! Bố đang đứng ở kia nhìn con.” 
Mẹ cậu ấy nét mặt buồn rầu, trong lòng mấy người khác cũng cảm thấy kinh ngạc.
”Con thật sự nhìn thấy sao?”
”Thật sự nhìn thấy, giống hệt như trong bức ảnh.”
”Bố con mặc quần áo gì?” - Người mẹ hỏi cậu ấy.
”Mặc âu phục, túi áo bên trái còn có cài một cây bút máy, trên tay còn cầm một cuốn sách.”
”Đúng rồi, Thiên Thuận thật sự đã nhìn thấy bố của nó rồi, ở trong quan tài tôi đã bỏ vào cuốn sách “Phong Thần Diễn Nghĩa” mà bình thường ông ấy thích đọc nhất, trên túi áo thật sự có cài một cây bút máy.”
”Anh trai vốn dĩ rất thích kể chuyện Phong Thần Bảng.” - Chú của Thiên Thuận nói.
”Ông ấy có căn dặn gì không?”
”Không có, chỉ vẫy tay với con, mặt tươi cười, con mệt quá rồi, sao mà thế giới này càng ngày càng tối tăm, bố đến đưa con đi rồi…”

Vào thời khắc đó, Lưu Thiên Thuận đã nhìn thấy bố mình, cũng nhìn thấy một người bạn học vì gặp tại nạn xe mà chết, còn có một vài người không rõ vì sao lại đứng ở cửa phòng bệnh, có người quen, có người không quen, cậu ấy có thể lần lượt gọi tên của họ ra, nhưng đều là tên của những người đã chết. Những điều Lưu Thiên Thuận nói phù hợp với những cử chỉ thường ngày của họ, ví dụ cậu ấy nói có một người bị thọt chân, người mà cậu ấy nói đến không ngờ lại là ông ngoại, bởi vì ông ngoại bị thọt chân. 

Mấy người có mặt ở đó ai nghe thấy cũng dựng tóc gáy, nổi da gà. Còn tôi thì cho rằng: người chết, linh sống; người sống, linh chết. Đây cũng là một kiểu tuần hoàn, người có thể phá bỏ được kiểu tuần hoàn này mới xem là vượt qua được luân hồi, có thể không bị trói buộc, tự do tự chủ, thoát khỏi sinh tử. 

Khi Thiên Thuận chết, tôi vẫn chưa có được kỳ duyên, tôi chỉ cảm giác thấy sự việc này vô cùng kỳ quái, chẳng phải là điều mà khi đó tôi có thể hiểu được, đồng thời, tôi tin rằng Thiên Thuận thật sự đích thực nhìn thấy, trước khi chết, anh ấy chẳng có lý gì mà nói dối bạn bè thân hữu cả. (Nho gia nói, cốt nhục quy về đất, hồn khí tản đi, ở đây mặc dù biết linh hồn nhưng vẫn không tránh khỏi câu nệ vào sống chết vật chất, không phải là kết cục cuối cùng, cũng tức là không thể hoàn toàn biết chân nghĩa của linh hồn. Nói chung, có sinh ắt có tử, có tử ắt có sinh, sinh sinh tử tử là một kiểu luân hồi, bên trong lấy thức làm chủ, còn bên ngoài là duyên giả mà thành nhục thể, nếu ta nay duyên hết, tứ đại giả hợp phân tán tan đi, sống chỉ còn lại linh mà thôi. Dạng linh này trong Phật gia gọi là A-lại-da thức, còn gọi là Tạng thức. Tác giả đích thực biết rằng: thành Phật do từ đây, thành tiên cũng do từ đây, thành thần cũng do từ đây, lại nói ngạ quỷ, địa ngục, súc sinh, cái nào cũng do từ đây.)


### 35. Duyên xuất gia


Khi còn nhỏ, tôi sống ở Cao Hùng, khi ấy tôi cùng với tín chủ trẻ con của hàng xóm mỗi chủ nhật đều đến nhà thờ, trong tâm của trẻ con cho rằng tượng Phật chính là ma quỷ. Cùng đến nhà thờ với tôi có một cậu con trai tên là Trang Triệu Minh và hai chị em gái tên là Cao Thuần Tâm và Cao Thuần Tư. Tôi học hành ở trường học ngày chủ nhật rất tốt, nhận được sự quan tâm sâu sắc của mục sư trưởng lão của giáo hội. Tôi từng viết bài cho báo Phúc Âm, đến mức mà sau cùng tôi đã làm thầy giáo của lớp học ngày chủ nhật, các hoạt động của giáo hội trong đó hầu hết tôi đều tham gia.

Giờ đây tôi nghiên cứu Đạo giáo, quy y Phật môn, khi xưa về cơ bản là ngay cả nằm mơ tôi cũng không nghĩ tới. Chỉ có một lần, tôi nhớ rất rõ ràng, đến hôm nay vẫn rất rõ ràng. Có một buổi sáng sớm, một vị hòa thượng khoác túi vải màu vàng đến hóa duyên. Mẹ tôi tin Phật giáo, bà lấy ra một đồng đặt vào tay hòa thượng, tôi đứng bên cạnh mẹ nhìn vị hòa thượng lạ lùng này, nhưng hòa thượng không đi, hai mắt nhìn tôi, hướng về mẹ tôi chắp tay, nói một câu:
”A Di Đà Phật, thiện tai! Tôi sẽ hóa duyên lớn hơn.”
”Ngài chê không đủ ư?” - Mẹ tôi hơi khó chịu.
”Không phải.” - Hòa thượng nói: “Tiểu đệ này theo ta xuất gia được không?”
”Xuất gia?” - Tôi hoảng hốt: “Xuất gia làm hòa thượng ư?”
”Không được, nó là tín đồ Cơ Đốc.” - Mẹ tôi nói.
”Đứa bé này có duyên xuất gia, xuất gia chỉ là việc sớm muộn thôi, sau này có đi thế nào thì cuối cùng vẫn là xuất gia.”

Hòa thượng quay người rời đi, tôi chạy theo ra ngoài cửa, một con đường dài, mặt trời chói chang ở trên cao, nhưng không nhìn thấy hòa thượng đã đi đâu mất rồi. Tôi trở về nói với mẹ tôi, mẹ tôi lắc đầu không tin, một con người sờ sờ ra đó sao có thể biến mất được. Sự việc này tôi đã quên từ lâu, hôm nay nhớ lại, đích thực là có một chút kỳ quái.

Khi tôi đến thăm pháp sư Chấn Quang của chùa Từ Thiện ở Đài Trung, tôi lạy pháp sư, pháp sư liền né ra, ông ấy nói: 
”Anh là pháp sư Liên Sinh, anh xuất gia đi! Người xuất gia vì hoằng pháp mà sống mãi trên đời, tuy vất vả nhưng cũng là vì lục đạo chúng sinh. Đời trước anh có đại thiện căn, đời này không xuất gia làm sao mà được? Giống như tôi đây, tôi tuy ngu muội nhưng phát đại nguyện đời đời làm tăng, mãi trụ thế gian, hoằng pháp lợi ích chúng sinh.”

Ngoài pháp sư Chấn Quang khuyên tôi xuất gia, cũng có nhiều người khác khuyên tôi xuất gia.
Ngoài ra, vào ngày 18 tháng 7 năm Dân Quốc 64 [1975], đúng 12 giờ trưa, mặt trời đang chói chang, tôi đang ăn cơm, lại có một hòa thượng trẻ tuổi đến hóa duyên.
”Anh là tín đồ Phật giáo à?”
”Vâng.”
”Anh mau xuất gia đi!” - Hòa thượng trẻ tuổi đó nói chẳng hề có chút nguyên do gì.
”Vì sao?”
”Vì độ trời người.”

Vị tỳ kheo trẻ tuổi đó chắp tay niệm Phật với tôi, tôi cũng chắp tay đáp lễ. Tỳ kheo quay người đi, tôi đi theo ra ngoài cửa, chuyện kỳ quái lại xảy ra rồi, cả con ngõ ngập nắng chói chang, còn hòa thượng trong chớp mắt đã không thấy đâu nữa. Cho dù có đi nhanh thế nào thì cũng không thể nào rẽ qua một ngõ khác được, vì việc này mà tôi cảm thấy hết sức kinh ngạc. 

Buổi tối tôi tụng kinh Địa Tạng, lễ bái chư Phật Bồ Tát, sau đó niệm chú ngữ. Hai mắt tôi nhắm lại, trước mắt hiện lên một vầng hào quang xán lạn, hào quang thành tròn vành vạnh, ở giữa có ngồi một vị Địa Tạng Vương Bồ Tát đầu trọc cầm tích trượng, trước ngực đeo đầy chuỗi ngọc, giống như những ngôi sao trong bầu trời đêm tỏa sáng lấp lánh, pháp tướng trang nghiêm này là lần trang nghiêm thần thánh nhất trong nhiều lần tôi nhìn thấy tướng của Địa Tạng Vương Bồ Tát. Vòng bánh xe ánh sáng như ý như trụ trong hư không, áo cà sa được trang điểm bằng thất bảo, hào quang hiện lên ba mươi hai tướng vi diệu, các thần thánh cung kính hầu ở bên cạnh.

“Liên Sinh, trưa nay là ta.”
”Ồ! Thì ra là Tiên Sư.”
”Xuất gia đi! Liên Sinh, xuất gia tức là nhập gia, con không mặc y phục ô nhiễm, có thể cắt đứt trói buộc, tâm lìa mọi ác, mở ra công đức định huệ, nên là một tỳ kheo thật mới phải. Liên Sinh, “Tâm Địa Quán Kinh” có nói: Ơn Tam Bảo gọi là lợi lạc chúng sinh, bất tư nghì, và cũng không ngơi nghỉ. Thân của chư Phật là chân thiện vô lậu, trong vô số đại kiếp là bậc tu nhân đắc chứng. Nghiệp quả của tam hữu [sinh hữu, bản hữu, tử hữu] mãi mãi chấm dứt hoàn toàn. Công đức như bảo sơn sừng sững, tất cả hữu tình làm sao mà biết được chứ!”

“Lời Bồ Tát nói, con xin ghi nhớ. Trước kia có hòa thượng Thạch Đầu hóa thân độ con xuất gia, nay lại gặp Bồ Tát chỉ thị rõ ràng cho con xuất gia, con nhất định sẽ xuất gia, đa tạ Bồ Tát dẫn độ.”

Địa Tạng Bồ Tát từ từ hóa vào hư vô, một vệt hào quang bay vào trong vô tận. Tôi mở mắt ra, trong lòng tràn ngập niềm vui. Trước mắt tôi kính cẩn thọ giới luật Bồ Tát, tuy cũng hoằng pháp, nhưng thời gian thân cận Phật Tổ suy cho cùng vẫn tương đối ít. Nếu tôi có thể thoát khỏi tất cả những thứ thế tục thì tôi có thể xuất gia rồi, bây giờ tôi còn có trần duyên gì đây? (Xuất gia và không thể xuất gia, tôi cho rằng đều là duyên phận, tôi có duyên phận này, cho nên Bồ Tát năm lần bảy lượt chỉ điểm, đây đúng là có duyên với Phật, Phật pháp tương nhân rồi. Để nghiên cứu thảo luận Phật pháp ở một tầng sâu hơn, để càng có thể cúng dường và thân cận chư Phật, tôi đích thực biết rằng ngày xuất gia của tôi đã đến gần rồi, gần rồi.)


### 36. Khẩn cầu của người mất ngủ


Tám vạn bốn nghìn loại nghiệp hóa thành tám vạn bốn nghìn loại bệnh, con người phải chịu những khổ này, vì thế mà khổ nhiều hơn vui. Những gì mà bệnh gây ra trên thân người thật không thể nào nói chi tiết rõ ràng được. Đời người sợ nhất là bệnh đến giày vò, cho dù có là phú hào, người cao quý lắm tiền, nhưng khi mắc bệnh rồi thì cũng nhanh chóng trở nên thảm thương. Cũng có rất nhiều người mắc bệnh lâu ngày nên chán đời và coi nhẹ mạng sống, khi ấy sẽ cho rằng chết là một sự giải thoát đau khổ. 

Có rất nhiều loại bệnh không tên, ngay cả bác sĩ cũng không chẩn đoán ra bệnh. Bây giờ lại càng có nhiều bác sĩ chẩn đoán không ra bệnh tình của bệnh nhân thì lại nói với họ: “Mau đi tìm cái ông Lư Thắng Ngạn học môn linh hồn học đi!” Bác sĩ vốn là chữa bệnh, giờ đây không có cách nào chữa thì lại đẩy sang thân tôi. Tôi không phải là bác sĩ, tôi không dám chữa bừa bệnh của bệnh nhân, tôi chỉ có thể hỏi liệu có cứu được không. Bắt đầu từ nguyên nhân gốc, sau đó cầu thầy thuốc trị bệnh, chắc chắn có thể chữa tận gốc.

Thời đại công nghiệp, thời gian chính là tiền vàng, người người khổ vì bôn ba kiếm tiền mưu sinh, sự phức tạp trong mối quan hệ giữa người với người, áp lực của thời gian và không gian, áp lực của xã hội, nhân loại vật lộn trong thế giới chật hẹp này, khó tránh khỏi những lúc chán nản và ngã lòng. Sự khốn đốn về mặt tinh thần đôi khi khiến con người hốt hoảng ngẩn ngơ, kết quả là ban đêm không ngủ được, mất ngủ cả đêm, liên tục tuần hoàn như vậy, mất ngủ đã trở thành việc bình thường. Những bệnh do mất ngủ gây ra đôi khi dẫn đến các bệnh như suy nhược thần kinh, tâm thần thất thường, hoa mắt chóng mặt, bụng dạ khó chịu, bệnh mắt, hỏa khí tăng cao, v.v… 

Một người trẻ tuổi còm nhom đến tìm tôi, trên tay cầm cuốn sách “Mạn đàm linh cơ thần toán” mà kẻ hèn này đã viết, vẻ mặt âu sầu, vừa mở miệng ra đã nói: 
“Lư tiên sinh, ngài nhất định phải cứu tôi, ngài nhất định phải cứu tôi.”
”Anh mắc chứng mất ngủ à?”
”Đúng vậy, tôi đã 10 năm không ngủ rồi, ngài nhìn tay tôi xem, nổi đầy gân xanh.” - Anh ta đưa tay ra, khiến người ta nhìn thấy thật sự hãi hùng.
”10 năm không ngủ ư, làm gì có chuyện đó chứ!” - Tôi nói.
”Không phải 10 năm không ngủ, mà là ngủ không đủ sâu, hơn nữa không ngủ dài, đêm nào cũng mất ngủ, tinh thần phấn chấn. Buổi đêm tinh thần rất tốt, nhưng ban ngày thì ủ rũ uể oải, nỗi đau đớn này thật sự người ngoài không thể biết được.”

Người đàn ông còm nhom đó họ Liêu, nhà ở quận Tam Trọng, Đài Bắc. Anh ta kéo tôi qua một bên, nói với tôi một cách trịnh trọng và nghiêm túc:
”Lư tiên sinh, tôi không giấu gì ngài, hôm nay ngoài ngài là ân nhân cứu mạng tôi ra thì tôi không còn bất kì hy vọng nào nữa, hôm nay tôi đã mua cái này…” 
Anh ấy móc ra từ trong túi áo một lọ thuốc, giơ nó lên nói:
”Đây là thuốc ngủ dùng cho một tháng, nếu đêm nay tôi không ngủ được thì tôi dự định sẽ uống hết cả lọ thuốc này luôn. Bây giờ tôi thật sự không muốn sống nữa, tôi đã tìm hết các bác sĩ trong cả nước rồi, không một người nào có thể chữa khỏi chứng mất ngủ của tôi, bất kì phương pháp nào cũng đều dùng rồi, nhưng hoàn toàn không có một chút công hiệu nào. Hôm nay ngài không cứu tôi không được, nếu không cứu sống tôi, đêm nay tôi sẽ bỏ luôn sinh mạng này, điều này là thật, tuyệt đối không phải giả đâu.”

“Tôi sẽ tận lực thử xem, nhưng anh tuyệt đối đừng coi thường mạng sống của mình mà tự tử, thân người khó có được, nếu anh coi thường mạng sống thì sẽ chẳng có lợi ích gì đâu, chết cũng không thể xem là một sự giải thoát! Trong sách tâm linh tôi đã giải thích rất rõ ràng rồi.” - Tôi nói.
”Cầu xin ngài, cầu xin ngài.”

Tôi thỉnh thị thánh linh trong hư không, thánh linh rất từ bi nói:
”Liên Sinh, thấy tất cả người bệnh, nên cúng dường như Phật không khác biệt. Trong tám ruộng phúc thì ruộng phúc khám bệnh là số một đó. Nếu cha mẹ, thầy tăng, đệ tử có bệnh, các căn không đủ, trăm loài trăm khổ, đều nên chăm họ khỏi bệnh.”
”Phải rồi, con hiểu.”

Tôi dạy anh Liêu tĩnh tọa ngay tại chỗ, niệm bốn chữ Diêu Trì Kim Mẫu, chưa đầy 10 phút, hai tay của anh Liêu giơ lên, ấn vào đầu của chính mình, sau đó xoa xung quanh đầu mình. Nói ra kể cũng lạ, anh ấy cứ làm như thế càng ngày càng nhanh, hai tay càng ấn càng nhanh, động tác tay của anh tôi chưa từng nhìn thấy. Anh Liêu ngồi khoảng một tiếng, hai tay rủ xuống, trở thành trạng thái nửa ngủ, sau đó thì tỉnh dậy, hai mắt mở to.

“Thật kỳ quái, hai tay tôi không biết là thần lực nào đã kiềm chế tôi? Mà lại khống chế liên tục, ra sức xoa bóp cái đầu, sau khi xoa bóp xong thì vô cùng nhẹn nhõm, đêm nay tôi có thể ngủ được rồi phải không?” - Anh Liêu vui mừng phấn khởi hỏi tôi.
”Sau khi anh về nhà, buổi tối trước khi ngủ hãy thắp ba nén hương, cắm hương vào trong lư, chắp tay và y theo phương pháp mà tôi đã dạy anh mà tĩnh tọa, nếu hành trì lâu ngày, nhất định có thể ngủ được.”
”Thật thế sao?”
”Không nói dối.”

Anh Liêu đi rồi, nửa tháng sau lại đến, mang theo quà lớn quà nhỏ, một hộp điểm tâm ngọt, một hộp lớn quả đào mật, một hộp quà toàn những món khoái khẩu, vô số đồ hộp, vừa nhìn thấy tôi, anh ta đã hét lên:
”Ân nhân cứu mạng, ân nhân cứu mạng.”

Anh Liêu luyện tĩnh tọa đã càng ngày càng tiến bộ, giờ đây ban đêm ngủ ngon lành, không hề có chỗ nào khó chịu. Anh ta đã mua thuốc ngủ để chuẩn bị tự sát, kết quả là ở trong nhà sách đã đọc được sách của tôi, lập tức vội đến nơi tôi ở. Anh ấy nói đây là cơ hội chữa bệnh cuối cùng, nếu không khỏi thì anh ấy sẽ tự sát. Thật không thể ngờ, sách tâm linh của tôi đã cứu sống một người rồi!


### 37. Trên đài kim cương hiện linh thân


Tôi cả đời thích đọc kinh thư, sự nhận thức về lời Phật của tôi hoàn toàn không phải là vô căn cứ, và Linh Tiên Tông mà tôi sáng lập ra chính là yếu nghĩa đệ nhất, là gốc rễ quan trọng nhất, bất khả tư nghì, thế nhưng ít người biết được, đúng là kỳ quái! Lẽ nào thật sự muốn chính tôi nói ra thì mới có người tín thọ phụng hành sao? Người tu linh và Tây phương Cực Lạc thế giới về cơ bản là không xung đột, không những không xung đột mà còn phù hợp với nhau. Tôi đọc kinh “Quán Vô Lượng Thọ Phật”, chương “Thượng phẩm thượng sinh”, cảm xúc của tôi khá mạnh, tôi đặc biệt cung kính trích đoạn văn này, sau đó sẽ giải thích.

“Phật bảo A Nan và Vi Đề Hy. Người thượng phẩm thượng sinh. Nếu có chúng sinh. Nguyện sinh về nước ấy. Phát ba loại tâm. Liền được vãng sinh. Ba tâm là gì? Một là tâm chí thành. Hai là tâm sâu sắc. Ba là tâm phát nguyện hồi hướng. Người đủ ba tâm này. Ắt sinh về nước ấy. Lại có ba hạng chúng sinh. Cũng được vãng sinh. Ấy là hạng người gì? Một là từ tâm không giết. Đủ các giới hạnh. Hai là đọc tụng kinh điển Phương Đẳng Đại thừa. Ba là tu hành sáu niệm. Hồi hướng phát nguyện. Nguyện sinh nước ấy. Đủ công đức này. Một ngày cho đến bảy ngày. Liền được vãng sinh. Khi ở nước ấy. Người này tinh tấn dũng mãnh. Nên A Di Đà Như Lai và Quan Thế Âm, Đại Thế Chí. Vô lượng Hóa Phật. Trăm nghìn tì kheo. Thanh Văn đại chúng. Vô lượng chư thiên. Cung điện thất bảo. Quan Thế Âm Bồ Tát cầm đài kim cương. Cùng Đại Thế Chí Bồ Tát đến trước mặt hành giả. A Di Đà Phật phóng đại quang minh chiếu lên thân hành giả. Các Bồ Tát trao tay nghênh đón. Quan Thế Âm, Đại Thế Chí và vô số Bồ Tát. Tán thán hành giả. Khuyến khích tâm ấy. Hành giả thấy vậy. Hoan hỷ hăng hái. Tự thấy thân mình lên đài kim cương đi theo sau Phật. Rồi trong nháy mắt. Vãng sinh nước ấy. Thấy sắc thân Phật. Mọi tướng đủ đầy. Thấy các Bồ Tát. Sắc tướng đủ đầy. Rừng báu sáng ngời diễn thuyết diệu pháp. Nghe xong liền ngộ. Vô sinh pháp nhẫn. Chỉ trong giây lát. Thừa sự chư Phật. Ở khắp mười phương. Ở trước chư Phật. Lần lượt thọ ký. Trở về bản quốc. Được vô lượng trăm nghìn môn đà-la-ni. Đây gọi là người thượng phẩm thượng sinh.”

Kẻ hèn này đọc đoạn kinh văn trên cũng hoan hỷ hăng hái, vì A Di Đà Phật tiếp dẫn mà vãng sinh Tây phương, pháp môn phương tiện của ngài đích thực lợi ích chúng sinh, có tinh thần đại từ đại bi. Tác giả sáng lập Linh Tiên Chân Phật Tông cũng vẫn là chờ đợi đài kim cương của A Di Đà Phật và hai vị Đại Bồ Tát Quan Âm Thế Chí, ấn chứng phù hợp lẫn nhau, đích thực có pháp lực thần thông bất khả tư nghì liên miên không dứt. Tôi đặc biệt phân tích như sau:

Thứ nhất, tâm ba tâm hợp nhất chính là linh — tâm chí thành, tâm sâu sắc, tâm phát nguyện hồi hướng thật ra là một tâm, về cơ bản phân ra thì thành ba, hợp lại thì thành một. Linh chính là Phật, Phật cũng chính là tâm, có được tâm ba tâm hợp nhất xuất hiện cũng tức là sự xuất hiện của linh. Sự chuyển thế đầu thai của linh, hoặc vãng sinh đều do niệm lực nghiệp lực chi phối. A Di Đà Phật giống như vị Phật tiếp dẫn, phóng ra ánh sáng, dùng Phật lực để tiếp dẫn, lúc này phối hợp với niệm lực và linh lực của mình thì có thể vãng sinh, bởi vì nghiệp lực và Phật lực đã triệt tiêu lẫn nhau rồi. Còn từ tâm không giết, đọc tụng kinh điển Phương Đẳng Đại thừa, tu hành sáu niệm, đây là pháp môn tu hành nền tảng nhất của người tu linh. Từ bi hỷ xả là pháp bồ đề tâm, tu kinh Đại thừa là đã lên thuyền pháp, tự nhiên bước lên bờ bên kia, tu sáu niệm chính là Bồ Tát rồi.

Thứ hai, sắc thân tức là linh thân — có người nói sắc thân tức là giả thể (nhục thể), cách nói này không có gì sai, nhưng A Di Đà Phật cũng có thể hiển hóa sắc thân, hiển hóa sắc thân tức là có thể khiến con người nhìn thấy. Linh là chân ngã, sắc là giả ngã, phàm là người có linh nhãn gặp phải tướng của sắc thân xuất hiện thì cũng xem đó là sự xuất hiện của linh thân. Sắc thân của chân linh không trú ngụ ở nơi nào, muốn xuất hiện thì xuất hiện, muốn tan biến thì tan biến, đây là nói về linh thân trong hư không bình thường. Con người lúc sắp chết, A Di Đà Phật và hai vị Bồ Tát Quan Âm, Thế Chí đến đón mà họ nhìn thấy là sắc thân mà cũng là Pháp thân, nhưng chính xác nhất vẫn là sự hiển hóa của linh thân, việc dùng linh thấy linh trong quãng thời gian này là dễ xuất hiện nhất.

Thứ ba, trên đài kim cương là linh thân — một đệ tử Phật, cửu phẩm liên hoa sinh, hoa nở thấy Phật, ngồi trên tòa sen vàng, tòa sen bạc, đó là nhục thể sao? Đương nhiên không phải, nhục thể là vật chất, vật chất chắc chắn sẽ mục nát hủ bại, chắc chắn sẽ hôi thối ô uế, chắc chắn sẽ phân rã và đi vào đất, vào không khí. Thứ mà ngồi trên đài kim cương thì ra là một linh thân hoạt bát sống động, thuần phác tự nhiên, không có tiền nhân hậu quả, chính thân chính mệnh không sinh không tử.

Thoát xác bay lên trong Đạo gia là chỉ thoát khỏi cái vỏ của nhục thể, bay lên tiến thẳng vào trong thế giới của linh, không hề nói rằng mang theo cả nhục thể cùng tiến vào trong thế giới của linh. Cái gọi là viên tịch và vũ hóa [mọc cánh thành tiên, thoát xác] đều có thể nói như thế này, đã đến Tây phương Cực Lạc thế giới của A Di Đà Phật rồi, không có nhục thể, mà là linh mệnh của ba thân quy về một thân.

Tác giả thích nói về linh, bởi vì linh là nguồn gốc của tất cả, mạng người vốn quy về linh, làm sao lại không nói về linh chứ! Ngoài thế giới hữu hình ra, thế giới vô hình đều do linh khống chế, bất kì một tôn giáo nào cũng đều nói về linh, nếu họ không nói về linh thì chỉ là họ chưa thể hiểu điều bí ẩn về thế giới của linh, tín ngưỡng tôn giáo vô tri của họ đã phủ nhận tuyệt đối linh hồn, họ làm như vậy không ngoài buôn bán tôn giáo, biến tôn giáo thành bảng hiệu để giở những thủ đoạn lừa tiền gạt sắc mà thôi. Quãng thời gian này của sinh mạng là rất đáng quý, sinh mạng đáng quý không thể cứ hồ đồ mơ hồ đi qua, đi qua xong rồi lại muốn đi lại một chuyến nữa, khó lắm! Khó lắm!

“Tất cả đều là linh, không có linh thì không thông suốt.”
”Thành Phật tại linh, không có linh thì không đủ để thành Phật.”
”Linh là thật, những cái khác đều là giả.”
Đây là vài định luật nhỏ của tôi.


### 38. Hai oan hồn trên đường sắt


Một đêm nọ, tôi đi qua một đường ngang giao đường sắt, đèn đỏ trên đường ngang vừa bật sáng, tiếng leng keng leng keng, một đoàn tàu hỏa từ xa tới gần. Tôi đứng ở bên đường đợi tàu hỏa đi qua. Đoàn tàu xình xịch xình xịch chạy qua, tàu vừa đi khỏi, trong sát-na đã tối om, tôi bỗng nhìn thấy hai u linh đứng ở trên đường sắt, là một nam một nữ, nam nữ đều không có đầu, người lắc lư đung đưa chuyển động đi về phía trước, vừa hay chặn ngay phía trước đường tôi đi.

“Hai người bạn tốt, chặn đường của Lư Mỗ có chuyện gì không?”
Hai con ma không thể thốt ra tiếng, chỉ có lắc lư thân người, hai vai rung lên, dường như đang khóc cực kì bi thảm. Sau đó họ chạy về phía tôi, hai cái bóng trở thành trạng thái gãy đôi, tôi không rõ hai người họ có hàm ý gì.

“Cầu siêu độ vãng sinh à?” - Tôi hỏi.
Thân họ lắc qua lắc lại hai bên, biểu thị không phải.
”Cầu cúng dường thức ăn à?” - Tôi hỏi.
Thân họ lắc qua lắc lại hai bên, biểu thị không phải.

Tôi xoa đầu, thật sự là chẳng thể nghĩ được. Đúng lúc này, bên cạnh đường sắt đột nhiên xuất hiện ánh sáng chói lọi màu đỏ, ánh sáng đó lăn hai vòng trên mặt đất, rồi từ trong ánh sáng đó xuất hiện một vị tiểu Thổ Địa Công cầm gậy ba-toong. Tiểu Thổ Địa Công vừa xuất hiện thì hai con ma hướng về Thổ Địa Công quỳ lạy, Thổ Địa Công nói với tôi:
”Lư tiên sinh, hiện tại ở âm gian dương gian, trên trời dưới đất đều loan tin rằng ngài là truyền nhân của Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, danh tiếng của ngài ngay cả hồn ma ở âm gian ai ai cũng biết, mặc dù đem đến cho ngài không ít phiền nhiễu nhưng lợi ích chúng sinh, cũng là lợi ích chính mình, ngài đúng là người có tài năng thì vất vả rồi! Hai con ma này chính là đôi tình nhân đã ôm nhau tự sát ở đường sắt, tuy họ quá si tình nhưng tôi rất thương xót. Tiểu Thổ Địa Công tôi không nhẫn tâm thấy họ không có nơi quy về nên thu nhận cho họ ở bên cạnh, tiếc là họ đã mất đầu, chỉ cầu một cái đầu mà thôi.”

“Thổ Địa Bồ Tát từ bi, nhưng tôi làm sao mà cho họ đầu đây?”
”Lư tiên sinh, hai âm hồn này không phải người ác, lúc còn sống không có nhân ác, phải tìm hai người có vận kém để chết thay, trong lòng tôi cũng không nhẫn tâm, nhưng cứ để thế này thì cũng chẳng phải là một biện pháp tốt. Thần thông của Tiểu Thổ Địa không thể tìm được đầu họ về, chỉ có cầu Lư tiên sinh giúp đỡ thôi.”

Tôi xoa tay, trong lòng thật sự cũng chưa có chủ ý gì. Tôi học pháp như vậy đã nhiều năm, nhưng chưa hề học qua phương pháp nối đầu cho linh hồn, vậy làm sao mà làm được?

“Lư tiên sinh, Đạo pháp vốn không nhiều, đều dựa vào tâm lực mà làm, ngài hãy từ bi đi!”

Tôi nghe Thổ Địa Công nói lời này, trong lòng đột nhiên ngộ ra, hai câu nói này là Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh thường nói mà! Tôi hướng về Thổ Địa Công chắp tay chào, rồi vẫy tay với hai con ma, hai con ma đi theo sau tôi, dọc đường yên tĩnh không một tiếng động. Từng có thần dạ du [thần chuyên đi tuần hành vào ban đêm] trong không trung hỏi tôi: 
”Liên Sinh, hai con ma sau lưng là âm ma nào đấy?” 
Tôi đáp:
”Là bạn của tiểu đạo trưởng.” 
Thần dạ du lập tức ẩn thân đi. Bởi vì ma quỷ muốn hiện hình phải có nguyên do mới được, nếu giữa đường dọa người ta thì hồn ma sẽ tự chuốc lấy tội, chắc chắn sẽ đọa địa ngục, linh giới cũng có linh luật, giống như dương gian vậy.

Tôi trở về Linh Tiên tinh xá, báo cáo với thần thánh trong nhà, hai con ma đi vào cửa, tôi tĩnh tọa niệm Phật, cầu Phật Bồ Tát từ bi. Sau đó tôi mài mực mài nghiên, vẽ ra hai lá phù rồi đốt. Trên mỗi lá phù này tôi vẽ một đầu người nam một đầu người nữ, sau đó tôi nhập định, hồn thần nhập vào trong thế giới không gián đoạn, chư Phật Bồ Tát cùng hỏi thăm, Hộ pháp kim giáp liên tục gật đầu làm lễ. Tôi ở trong gian phòng “linh gian nhị thế” lấy về hai cái đầu ma. Cái gọi là “nhị thế linh gian” là nơi giữ đầu của linh trong thế giới không gián đoạn, mỗi tay tôi cầm một cái đầu. Tôi xuất ra khỏi định, mỗi tay một cái đầu đẩy về phía trên đầu hai con ma, tay kết ấn hoa sen và niệm rằng: “Bổn sư xuất hiện tốc tiếp ứng, tiền trình lộ quảng tồn thành tâm, bàn vận ngũ khí phục thân ảnh, mật tạng tại thân tốc đắc đầu, động huy giao triệt bằng thân pháp, linh không nhị thế đại từ bi, ngô Liên Sinh phụng ngũ hiển linh quang đại pháp chỉ luật lệnh.”

Hai cái đầu lăn tròn bay ra, xoay tít, hai con ma thấy thế thì vui mừng khôn xiết, vội dùng linh lực để hút lấy, đầu đã nối liền trên cổ, lần lượt khôi phục nguyên vị. Hai con ma lúc còn sống, ma nam thì rất khôi ngô tuấn tú, ma nữ cũng hoa nhường nguyệt thẹn, tiếc là hôn nhân bị bề trên ngăn chặn, nghĩ quẩn nên mới chết vì tình.

“Bây giờ thì tốt rồi, tuyệt đối đừng làm những việc ngu ngốc nữa, một khi mất thân người thì đau khổ cũng không kém gì dương gian đâu.”
”Đa tạ Lư tiên sinh, đa tạ Bồ Tát.”

Hai con ma lễ bái chư Phật Bồ Tát, tôi tiễn họ ra cửa, họ vui mừng rời đi. Bên ngoài cửa, Thổ Địa Công Công đã đứng chờ từ lâu, Thổ Địa Công Công hướng về không trung vái tạ, tôi và Thổ Địa Công Công cùng chào nhau.
Mỗi người nói một câu: “A Di Đà Phật.”


### 39. Giữa mê và ngộ


Trên thế giới này, có chính có tà, có thiện có ác, có mê có ngộ, tuy nhiên tôi muốn nhắc nhở độc giả một chút, hợp với đạo lý tức là không mê, không hợp với đạo lý mà lại tin theo tức là mê. Tại đây, tôi tiết lộ một lá thư mà độc giả gửi tới, thư này gửi từ phường Cô Gia thị trấn Tân Doanh, người gửi là Lâm Trung Dũng.

*“Lư tiên sinh, chào ngài! Biết ngài rất bận rộn, tuy nhiên tôi cũng tham gia là một trong số những người làm phiền thầy. Chủ yếu là vì tôi đã nghe lời giới thiệu của sư huynh Định Trưởng (ông Lâm Bích Tông, giám đốc chi nhánh Cathay Pacific ở Tân Doanh) nên đã lập tức đi đến hiệu sách mua cuốn sách “Mạn đàm linh cơ thần toán”. Tôi đọc một mạch hết cuốn sách, có cảm xúc rất sâu sắc trong lòng. Sau khi đọc xong, tôi lập tức có suy nghĩ thở phào. Như nay mới đọc, sau khi đọc về luyện linh, tôi lại không thể kìm được. Đối với cuốn sách này, ngoài việc mua một cuốn nữa để tặng cho người khác ra, tôi còn giới thiệu người khác mua nó, mục đích không chỉ là tán dương ngài, mà còn để cho những người xung quanh bớt chế giễu tôi là người quá mê tín. Tôi thật sự phấn khởi khi cuốn sách này ra mắt. Hàng tháng vào ngày mồng 1, 8, 15, 22, các tín đồ gặp mặt, chúng tôi sẽ luân phiên giới thiệu nội dung trong sách, sau đó hy vọng mọi người cũng có linh lực, mượn hoạt linh này để khiến cho những người vô thần không dám chỉ trích bừa là mê tín nữa.*

*Đối với sự tồn tại của thần và thần lực, tôi tin tưởng sâu sắc không nghi ngờ, hơn nữa từ nhỏ tôi đã thâm nhập vào tâm mình. Từ khi tôi hiểu chuyện, trong nhà thường không bình an, mời thần và kê đồng tới xem bói mỗi năm tới vài lần. 5 năm trước, mẹ tôi đổ bệnh nặng, bác sĩ chẩn đoán là ung thư cổ tử cung, tuyên bố là tính mạng đã không còn hy vọng, sau đó Ngô Phủ Thiên Tuế trong làng chỉ thị dùng thuốc, không ngờ đã khỏi bệnh.*

*Hiện nay, trên báo chí thường xuyên đưa tin những mánh khóe của thần côn để lừa tiền gạt sắc, đó là những kẻ dựa vào thần để kiếm cơm, hành nghề kê đồng, phá hoại uy danh của thần minh. Hạng người này là ma quỷ, dứt khoát chẳng phải là thần. Tôi phân kê đồng làm mấy loại:*

*Thứ nhất, thần uy năng lực không tệ, đây là thần thánh linh lực cao, lại phối hợp với linh lực của kê đồng, nhưng bởi vì linh lực cao liền coi trời bằng vung, tính tình cũng dễ dàng trở nên cổ quái, cuối cùng đã từ kê đồng chính phái đi vào trong tà môn.*

*Thứ hai, linh lực thấp, bản thân kê đồng không coi trọng sự tiến bộ và tu hành, được ngày nào hay ngày ấy, chỉ làm qua quýt cho xong chuyện, căn bản là cực kì vô tri. Đôi khi giả vờ có thần nhập vào mà nói xằng nói bậy.*

*Thứ ba, có kẻ thì là thần côn ham của không thể tưởng tượng nổi, cũng có người thì từ chối của cải, không phải là ít.*

*Vào ngày mồng 10 tháng này, tôi đã bắt đầu trai giới 3 ngày, đêm qua vào lúc 10 giờ tối ngày 12, tôi bắt đầu khởi linh, sau khoảng nửa tiếng đồng hồ thì tôi bắt đầu sinh ra động lực, ngón chân phải giống như bị điện giật, sau đó có cảm giác vận động, dần dần có thể tùy ý mà chuyển động, hoặc ngả về trước, hoặc sang trái phải, hoặc ngả về sau, lực này có thể kiểm soát, nhưng không kiểm soát thì tự nhiên dao động, xin hỏi đây có phải là hiện tượng linh động không?”*

Ông Lâm Trung Dũng nói đến kê đồng, tôi có thể hiểu được sâu sắc những đau khổ trong nội tâm ông ấy, có rất nhiều kê đồng đã trở thành trò cười cho phần tử tri thức. Bản thân tôi không có thiện cảm với kê đồng, nguyên nhân là vì kê đồng giả quá nhiều, kê đồng thật quá ít, học thức cũng quá thấp, căn bản là hạng ăn bám xã hội thấp cấp. Nhưng nếu có một kê đồng không lừa tiền gạt sắc, thật sự có thần nhập vào, tôi cảm thấy vẫn nên tôn kính. Kê đồng là thể trung gian của linh, nếu không làm loạn vớ vẩn thì cũng có thể thần toán, nhưng rốt cục chỉ trở thành một hình thức, dễ khiến người ta có cảm giác mê tín.

Kê đồng và người tu linh có sự phân biệt. Linh của kê đồng là thể trung gian của thần quỷ, linh của người tu linh thì có thể tự chủ, cũng có thể kiểm soát. Gọi là Phật tức là quán tự tại, cũng là chỉ sự tự chủ (không điên đảo), nếu điên đảo thì sẽ trở thành tà đạo, trở thành ma rồi. Sự khác biệt giữa mê và ngộ nằm ở đây. Mê tín chính là tâm điên đảo không thể tự chủ, không mê mà tin thì là tự chủ và hợp lý. Tôi vẫn luôn chán ghét những kê đồng lừa tiền gạt sắc, những hành vi đáng ghét của họ khiến hai tôn giáo Phật - Đạo rất tốt đẹp bị oan ức. Nhưng nói đi cũng phải nói lại, nếu không có những thần côn này, người muốn tu Đạo tuy có thể tu dễ dàng hơn rất nhiều và không bị tà thuyết làm cho mê muội, nhưng lại cũng không biểu lộ được sự cao quý của tu Đạo.

Lại có một độc giả ở đường Nam Kinh Đông ở Đài Bắc gửi thư đến, người này họ Trương.

*“Lư tiên sinh soi xét.
Chủ nhật tuần trước tôi đến hiệu sách mua cuốn danh tác “Linh cơ thần toán” quý giá, tôi đọc liền hai lần, những nghiên cứu về thần, quỷ và linh thuật trong sách thật sự rất triệt để, tôi thật sự cảm thấy kính phục vô cùng, đúng là một cuốn sách hiếm có nghìn năm khó gặp. Có lẽ những độc giả bình thường đối với những gì mà tiên sinh đã gặp phải sẽ có cảm giác bán tín bán nghi, thế nhưng tôi đây thì tin tưởng muôn phần, tuy rằng những cảnh ngộ của chính tôi so với tiên sinh thì kém xa, nhưng đều giống ở chỗ là tôi cũng có những cảnh ngộ như vậy. Tôi cũng từ Cơ Đốc chuyển sang tin Diêu Trì Kim Mẫu của Từ Huệ Đường ở Bắc Đầu, sau đó cũng tiến vào Phật giáo, bây giờ tôi xin kể cảnh ngộ của mình như sau:*

*Bản thân tôi tin Cơ Đốc khoảng 7, 8 năm. Khoảng mùa xuân năm Dân Quốc 55 **[1966]**, tôi đi cùng bố mẹ do cậu tôi đưa đến Từ Huệ Đường ở Bắc Đầu, Đài Bắc. Khi ấy thấy bố mẹ tôi và cậu kiền tâm thành ý lễ bái Diêu Trì Kim Mẫu, tôi cảm thấy vừa buồn cười vừa tò mò, tôi cũng theo họ xem bói chén để cầu chỉ thị, kết quả là liên tục đổ ra mấy lần mà không có kết quả. Khi ấy tôi cảm thấy bên trong người nóng rực nên có hỏi thăm trụ trì Diễm Minh Đại, cũng không có kết quả, tôi cảm thấy rất khó hiểu.*

*Buổi tối ngày thứ ba ở quê nhà tôi ở Nghi Lan, không ngờ tôi mơ thấy trong vườn cây ăn quả của nhà mình có hai người phụ nữ, một người trong đó mặc váy dài rất tinh xảo, nói rất rõ ràng: “Tất cả theo duyên, cải tín cũng được, anh phải hiểu rõ.” Khi ấy tôi không hiểu, về sau mới biết ý của người này. Vì thế tôi đã đổi sang tin Diêu Trì Kim Mẫu.*

*Nói ra kể cũng lạ, từ đây, không những việc của bản thân đệ tử mà ngay cả việc trong nhà, có việc tốt việc xấu gì sắp xảy ra, đều được thần tiên báo mộng cho biết. Nếu không có báo mộng thì ở trong tâm linh sâu thẳm dường như có một dạng dự cảm. Tôi nhận thấy mình cũng là kiểu người có linh lực dự cảm đó, nhưng trình độ không cao, vì thế đặc biệt gửi thư thỉnh tiên sinh liệu có thể giúp đỡ không, để thúc đẩy linh lực dự cảm này của bản thân tôi.”*

Anh Trương gửi lá thư này cũng là một nhà mệnh lý học, cũng xem tướng cho người ta, khá thông thạo tướng mệnh. Thư của anh ấy, tôi cho rằng: “Tín ngưỡng tôn giáo, tôi không cố chấp, chỉ cần cho rằng đáng để tín ngưỡng thì cứ tín ngưỡng đi! Bất kì một người nào đều có lúc mê, nhưng chỉ cần từ trong mê đi ra được thì có thể có được ngộ cảnh.”

Trên thực tế, tôi nhận ra người người đều có linh lực, và người người đều có năng lực dự đoán sự việc sắp xảy ra, đây là bản lĩnh vốn có khi sinh ra. Có người thì năng lực dự cảm đặc biệt cao, còn một số người năng lực dự cảm tương đối thấp, sự cao thấp về trí huệ chính là ở đây để mà phân biệt ra được. Thiên tài và phàm phu dường như cũng là bản năng trời sinh, nếu cộng thêm huấn luyện thì có thể khiến những học giả tâm linh thấy rất kinh ngạc. Ở sâu trong tâm linh của nhân loại tự nhiên tồn tại một dạng khí cụ thăm dò, nếu thường sử dụng, không những có thể dự đoán chính mình mà còn có thể dự đoán người khác. Người mê, tự cho rằng thiên hạ không có linh; người ngộ, nghiên cứu phát minh, biết điều mà con người không biết.


### 40. Sự đồng cảm với cuốn sách tâm linh (1)


[Thư của độc giả]

Khi viết bài viết này, trong lòng tôi có một nỗi xúc động, kẻ hèn này chẳng phải là tác giả văn nghệ, không viết ra được những văn từ đẹp đẽ êm tai, chỉ xuất phát từ sự chân thành trong lòng mình, hướng đến một người tri kỷ (hoặc ân sư) mà mình ngưỡng mộ, dốc hết những kích động nội tâm, và sự kích động này lại sâu sắc nhận được sự rung động của đối phương, dẫn đến những sự đồng cảm. Có lẽ nội dung văn chương của tôi không diễn đạt được hết ý, nếu có đắc tội với các tiên sinh đại đức, xin các vị tiên sinh rộng lòng lượng thứ.

Cuộc đời con người là một sự hoang mang khó đoán như vậy, khó trách con người khao khát muốn biết trước tất cả về tương lai của chính mình, đây là bản tính yếu ớt của con người, tò mò và muốn cầu nhiều phúc. Động cơ mà tôi mua cuốn sách “Mạn đàm linh cơ thần toán” chính là ở đây. Lư tiên sinh viết rất nhiều sách, cuốn sách đầu tiên mà kẻ hèn này mua chính là cuốn “Mạn đàm linh cơ thần toán”, vì kẻ hèn này cũng thích đọc sách tướng mệnh, và từ trong nội dung cuốn sách này mới biết sơ sơ một vài sự tích cuộc đời của tiên sinh. Khi chưa đọc cuốn sách này, tiên sinh là người thế nào, kẻ hèn này cũng chưa bao giờ nghe nói tới.

Mua cuốn sách này, cũng có thể nói hoàn toàn là cơ duyên. Ban đầu tôi không hề chủ định đi xem hiệu sách, tôi lật giở vài cuốn sách, sau đó lấy ra cuốn sách này. Đầu tiên tôi cho rằng là sách tướng mệnh bình thường, thế nhưng giở qua mấy trang thì chẳng ngờ không nỡ buông tay, trong lòng có một cảm giác khó nói, là kinh ngạc, là hân hoan, có vui, có buồn, giống như cả người sắp phát điên vậy. Lẽ nào kẻ hèn này cả đời theo đuổi chân lý chính đạo, giờ đây đã gặp được minh sư tri kỷ rồi sao? Lẽ nào là tự làm phiền mình, đây chỉ là tưởng tượng của một tiểu thuyết gia, là thật, hay là giả? Và nếu có người như thế này, viết ra một cuốn sách vĩ đại như thế này, nếu là thật, kẻ hèn này có cơ duyên được gặp để nhận giáo huấn hay không?

Tôi mua cuốn sách này về, trong khi đọc, toàn bộ tâm trí giống như gặp ma vậy, rất lâu mà không thể nào bình tĩnh được, còn chưa đọc được một nửa thì tôi đã vội vàng muốn liên lạc kết duyên với tiên sinh.

Tôi vốn lập kế hoạch trong cuộc đời này của mình sẽ lập tức kết hôn sinh con, hưởng thụ niềm hạnh phúc gia đình, đợi đến tuổi già thì sắp xếp cho con cái ổn thỏa rồi sau đó mới chuyên tâm tu Đạo. Thế nhưng sau khi đọc xong cuốn sách tâm linh này, chẳng ngờ đã khiến cho mặt hồ tâm bình tịnh không gợn sóng của tôi trào dâng những gợn sóng lăn tăn, càng làm sâu sắc thêm cái tâm muốn xuất gia tu hành của tôi trong thời gian trước đây. Bây giờ tôi lại không muốn kết hôn sinh con nữa, đây là nhân duyên gì khiến tôi đọc được cuốn sách này, là nhân duyên gì mà không ngờ đã thay đổi vận mệnh của tôi? Sách của tiên sinh có sức mạnh to lớn đến vậy, chỉ mong từ bi lượng thứ: không phải là tôi tự mình đa tình, mong bậc đại trí đại dung đại đức từ bi.

Bắt đầu từ hồi cấp hai, kẻ hèn này đã sản sinh rất nhiều nghi vấn đối với sinh mệnh vũ trụ, muốn tìm ra chân đế của cuộc đời, giá trị của đời người nằm ở đâu. Giống như trong cuốn sách đã nói, trải qua hết Phật, Đạo, Cơ Đốc, sau đó chuyên chú vào nghiên cứu thảo luận Phật pháp. Hai năm trước, tôi đã có dự định xuất gia, thế nhưng tự biết tình người, dục vọng vẫn chưa thể dập tắt, nếu xuất gia thì chỉ có sỉ nhục cửa Phật chứ chẳng có lợi ích gì cho chúng sinh. Vì thế mới muốn đợi đến lúc già, trải qua hết việc người rồi, dục vọng không còn nữa thì mới nhất tâm tu hành, có lẽ có thể thu được thành tựu, như thế thì vô cùng may mắn. Tuy nhiên khi đọc xong cuốn sách tâm linh, tôi càng nhìn rõ tất cả danh lợi, ân oán trên đời này, tâm ý tu hành càng kiên định hơn, có thể thúc đẩy thời kỳ xuất gia này của tôi sớm hơn, có thể là trong vòng một, hai năm thôi. 

Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật có nói, muốn xuất ly sinh tử, chỉ có dựa vào khổ tâm tu hành của chính mình, thế nhưng thử nhìn xem trong lời Phật có nói, minh sư khó gặp được, chính pháp khó nghe được, như người mù xem voi, chẳng sờ thấy được hết, trái lại uổng công mà chẳng được gì, có thể thấy tầm quan trọng của minh sư và tu đạo. Từ trong cuốn sách tâm linh, tôi biết rõ rằng tiên sinh chính là một tu hành giả thật sự có đại từ, đại bi, đại trí, đại nhân. Hy vọng tiên sinh phổ độ chúng sinh xuất ly biển khổ.

(Bài viết này được gửi từ Bành Hồ, người gửi là Triệu Khánh.)


### 41. Sự đồng cảm với cuốn sách tâm linh (2)


[Thư của độc giả]

Cung kính đọc danh tác “Mạn đàm linh cơ thần toán”, thật sự đây là một bộ thiên hạ kỳ thư, một cuốn sách liên quan đến thuyết linh hồn quỷ thần. Tôi lâu nay vẫn ở trong trạng thái nghi vấn “cũng có cũng không, dường như tin mà cũng không tin”, không dám cực đoan phủ nhận, nhưng cũng không dám tin tưởng triệt để. Nhưng có những sự việc bất khả tư nghì mà Lư tiên sinh đích thân trải qua mới khiến trong suy nghĩ của tôi cho rằng trong cõi vô hình, có một số chuyện mà sức người không thể sắp xếp, tất cả những bằng chứng rõ ràng này, từ trong quá trình tôi lưu vong ở Đài Loan, tôi đã đích thân trải qua, nhưng tiếc là vẫn luôn không có được căn cứ lý luận có tính hệ thống và cụ thể, vì thế những hiện tượng này từ đầu tới cuối vẫn luôn dao động giữa “nhận thức không kiên định, lý luận không chắc chắn”, như có như không. 

Cũng có khả năng là thần ý an bài, tình cờ tôi phát hiện ra cuốn danh tác linh thư này. Sau khi đọc nó, tôi giống như có được một kho báu quý giá nhất, đối với những nghi vấn trước kia, tôi nhanh chóng đột ngột tỉnh ngộ. Cuốn danh tác viết ra đều có bằng chứng căn cứ, có lý lẽ, lời tự thuật bàn đến cả khoa học và triết học. Tôi nhớ rằng trong 20 năm qua kể từ khi đến Đài Loan, tôi chưa bao giờ đọc một cuốn sách nào quá hai lần. Thế mà tôi không chỉ đọc cuốn danh tác này hai lần, hơn nữa hầu hết những điểm quan trọng đều được khoanh tròn bằng bút đỏ, lòng chân thành ngưỡng mộ của tôi không thể diễn tả bằng lời. Từ sau khi đọc xong danh tác này, trong lòng tôi rất muốn thờ vị Quan Thế Âm Bồ Tát, ngài nói xem có được không?

Bây giờ đối với hai chữ “tin thần”, tôi không còn suy nghĩ mê tín nữa. Bởi vì nhận thức về “thần” không đủ, lại chưa thể phá bỏ giới hạn mê tín nhưng đã tiến một bước gần hơn đến “thần”, vì thế tôi vẫn loanh quanh giữa “dường như tin, không tin, có thể tin” và “nửa tin gần tin” của sự “có tin không tin”, vì thế chỉ thỉnh cầu tiên sinh chỉ rõ sai lầm.

Theo trang 22 của cuốn danh tác này có nói: “Cứu độ muôn sinh trong thiên hạ phải phát đại từ bi, tuyên truyền rộng rãi chính giáo ngay từ lúc này. Để cho các thiên hạ và đời tương lai đều được truyền bá giáo pháp… khiến cho những hạng ngu muội hồ đồ thì đều nhờ con thuyền chính giáo mà có thể hiểu ra.” Mong ngài có thể căn cứ theo ý chỉ của thầy Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh của ngài để giới thiệu cho tôi giáo pháp, nhưng không biết Phật duyên giữa chúng ta ra sao?

Ngưỡng mộ tiên sinh, tuổi chỉ mới ba mươi, thế mà đã có được những nghiên cứu và tâm đắc sâu xa như vậy đối với Phật Đạo, cũng là bậc hiền triết kỳ tài hiếm có trên đời. Xin thành tâm tiếp nhận những điều bổ ích, mong có ngày xin được gặp mặt để thấy rõ tất cả. 

(Bản văn được gửi từ Cao Hùng, người gửi là Khắc Đồng.)

(Lời kết: Bởi vì có quá nhiều độc giả gửi thư đến và tự tìm đến cửa nhà tôi, trong vòng một tháng mà thư đã đầy cả hòm lớn, mỗi ngày chủ nhật có khoảng trăm người đến cửa nhà tôi muốn gặp, xin thứ lỗi tôi vẫn chưa có thuật phân thân. Việc xử lý thư từ có khó khăn, lại không thể mượn tay người khác để trả lời được, người không gửi kèm theo tem và phong bì thư thì tôi đều không trả lời thư, bởi vì nếu tôi trả lời hết từng lá thư thì thật sự cũng khá khó khăn, trước mắt phí bưu điện hàng tháng đã lên tới cả năm nghìn tệ, tôi cũng không thể gánh nổi con số này, chỉ mong độc giả thứ lỗi.

Bởi vì việc thế tục của tôi còn nhiều, người đến nhà xin chỉ giáo xin hãy hẹn trước thời gian, để tránh uổng công đi về, thật sự tôi cũng áy náy, thật xin lỗi!)


### 42. Lời kết


Từ trước tới nay tôi chẳng thể ngờ rằng, việc xuất bản sách tâm linh của mình lại tạo nên một sự vang động lớn đến như vậy. Một truyền mười, mười truyền trăm, một cuốn sách không hề quảng cáo mà có thể đạt đến mức bán chạy như vậy, khiến người ta khó tưởng tượng. Thư độc giả gửi đến mỗi ngày lại tăng lên, thư phòng nhỏ của tôi đã chất đầy thư, trước mắt tôi chỉ có thể chọn những thư quan trọng nhất để trả lời, và những thư có kèm theo tem, bởi vì tôi không thể gánh vác được tiền phí bưu điện cả mấy nghìn tệ, huống hồ tiền lương hàng tháng của tôi chỉ có vài nghìn tệ mà thôi. Tôi rất cảm kích độc giả đã gửi thư đến, những sự khích lệ bay đến như tuyết rơi này khiến tôi xúc động rơi nước mắt, bởi vì những người không quen biết này luôn luôn là những người bạn thân thiết và chân thành nhất của tôi. Tại đây, tôi muốn nói với mọi người một tiếng cảm ơn!

Xuất bản sách tâm linh là nhờ vào một dũng khí, dũng khí này đến từ sự thúc giục của thần linh tại không trung, các vị muốn tôi viết ra toàn bộ không giữ lại, mặc dù độc giả đọc sách của tôi, bất kể là tin hay không tin, tôi vẫn luôn theo lời của thần linh mà làm, hoàn thành sứ mệnh thiêng liêng mà các vị giao phó cho tôi. Kính mong độc giả đừng hỏi tôi thật giả, cái giả thì không thể thật, cái thật thì không thể giả. Tôi chỉ cam đoan những trải nghiệm của tôi là những lời thành thật thẳng thắn nhất, rồi đến một ngày sẽ có người chứng minh cái người viết sách tâm linh đó vốn là người tiên tri tiên giác, sẽ có một ngày người ta sẽ nói như thế, tôi thật sự tin tưởng chắc chắn.

Đối với tôn giáo, tôi không phản đối tín ngưỡng của người khác, tác giả có thân phận đặc biệt, Cơ Đốc giáo, Đạo giáo, Phật giáo đều có cả. Đối với Cơ Đốc mà quá khứ tôi từng tín ngưỡng, tôi vẫn hết sức tôn kính, sẽ không vì mình đã quy y Phật môn mà đem Cơ Đốc “đày vào lãnh cung”. Xin kể một việc rất thần kỳ, khi tôi quy y cửa Phật, Jesus Christ từng xuất hiện trước giường tôi, dùng tay xoa đầu tôi nói: “Thắng Ngạn thân mến, tôn giáo không phân biệt phương Tây và phương Đông, bất luận con đi qua vùng hoang vu vắng vẻ hay là hang sâu tăm tối, vinh quang của ta đều ở trên mặt con. Con sẽ không phản bội ta, ta biết, bởi vì nhận thức của con cao và xa hơn người khác, hãy dùng trí huệ của con mà đứng lên đi! Chỉ có kẻ vô tri ngu muội mới là đối tượng mà ta thương xót. Ôi những kẻ đó lại một lần nữa đóng đinh ta lên cây thập tự!” Ánh mắt từ bi của Jesus  Christ khiến tôi khó quên, nét mặt vinh quang như tuyết ấy tỏa sáng trong đêm tối, tôi vốn là người đã trải qua ba tôn giáo, Jesus Christ biết cả.

Tôi đến từ trong một cảnh giới kỳ diệu, trong thế giới đó, những gì tôi mặc trên người đều vi diệu thơm tho thuần khiết, đầu đội mũ báu của chư thiên, màu sắc và ánh sáng vô lượng vô tận, thân thể nhẹ nhàng trong sáng vi diệu, ngồi trên thiên tọa không hề động đậy. Có thiên nhạc kỳ diệu và âm thanh hòa nhã bay bổng khắp xung quanh, ánh sáng trên người tỏa ra giống như mặt trăng mặt trời, màu sắc giống như hoa sen, cảnh giới này rất thù thắng, không khổ không sầu. Có một đồng tử cầm hoa thơm cúng dường, có thiên chúng bảo vệ, thiên thần làm Hộ pháp thần binh, cảnh giới này là cảnh giới như như bất động ban đầu của tôi, chỉ là hiện tại tôi xuống làm phàm phu, đã từng vào tam đồ địa ngục, không có ánh sáng thanh minh phổ chiếu, tôi đã quên lai lịch đời trước của mình rồi! Cho đến khi chư Phật Bồ Tát thương xót tôi, đánh thức linh mệnh của tôi, cuối cùng, tôi biết sự quý giá của thân người, đời này nếu không tu đạo, e rằng khó trở về bản vị. 

Trên nguyên tắc nhân từ và ái tâm, tôi muốn đem những gì mình đạt được chia cho bạn bè của tôi, khiến họ cũng có thể giác ngộ, tu hành mà có được những điều bổ ích, chuyển pháp luân, giành được Phật quả vô thượng, đây mới là ý định chủ yếu nhất khi tôi viết sách tâm linh. Đời người nếu không biết tu hành chân chính thì thật sự rất đáng tiếc, bởi vì một chữ “chết” sẽ đến rất nhanh!

*Trời đất còn có hồi kết
Đời người cần xem như không
Chẳng ai sống mãi tuổi trẻ
Già chết thành bộ xương khô
Bốc đất đắp lên phần mộ
Chôn cả áo bào mũ mão
Thế rồi bao nhiêu đời sau
Cày lên chỉ toàn bùn nhão.*

Bài kệ này đã nói hết sự vận hành của thế giới nhân gian, nhưng không nhiều người hiểu, thật đáng thương đáng buồn. Tôi học được bí pháp từ Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, từ Thanh Chân Đạo Trưởng, khiến tôi biết trước nhân quả họa phúc của đời người, xuất u nhập minh, trên đến 36 thiên cang, dưới đến 72 địa sát, tôi hiểu không ít về sự dễ biến đổi của ngũ hành cửu cung bát quái, sự biến hóa của Hoàng cực thiên số càng khiến tôi hiểu sự bí ẩn của thần toán. Trong cõi vô hình này, tôi quán tưởng chính mình bay vào trong thế giới vô lượng vô tận, tuy đã trở thành một hạt kê nhỏ nhưng có thể phát ra vô số hào quang. 

Việc hoàn thành bản thảo của cuốn sách này hoàn toàn là tôi đáp ứng yêu cầu của độc giả mà viết ra, người người đều tò mò về thế giới của linh hồn, hơn nữa họ nhìn nhưng không nhìn thấy, nghe nhưng không nghe thấy, nếu tôi không lần lượt nói ra một cách kĩ càng về sự đột phá của sinh tử, chân lý của nhân quả luân hồi, thế thì nghi ngờ của con người càng lớn. Tôi hy vọng mọi người đừng nhìn tôi bằng con mắt tò mò, tôi giống như người bình thường, không hề có chỗ nào khác thường. 

“Tu linh có thể chứng Phật quả.”
”Tu linh có thể đạt đến cảnh giới đạo quả vô thượng của vô tu vô chứng.”
Tuyệt đối không phải nói bừa.

Tháng 11 năm 64 Trung Hoa Dân Quốc, tại Linh Tiên Tinh Xá, phường Nghi Hân, xã Thái Bình, huyện Đài Trung.

**(Hết.)**

---

---
# File: sach-tam-linh/022-khoi-linh-hoc.md
# Title: 022. Khởi linh học
---

![image](/img/img_dfa1f8f3f32e7b4fb259e8324c2e9413.jpg)



## Khởi linh học


Linh tông Tiên gia tu hành mật lục

Văn tập số: 022
Xuất bản năm: 01/03/1976
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu


Tôi viết cuốn sách này chính là để đáp lại ý chỉ của thiên thượng thánh linh, không phải với mục đích so bì tầm thường. Tôi, Lư Thắng Ngạn, chỉ là một con người bình thường chẳng có gì đáng nói, chí hướng bình thường, nhưng biết tu thân dưỡng tính, những cái khác cũng chẳng có mong cầu gì, chỉ mong cuốn sách "Khởi Linh Học" này có thể hoằng dương đại đạo, phá bỏ được ma tà, hướng thẳng đến Phật tính, từ đó khiến cho chúng sinh ai nấy thành Tiên thành Phật. Đó vẫn là một trong những tâm nguyện lớn của tôi.

Kể từ sau khi xuất bản bốn cuốn sách "Giữa Linh và Tôi", "Siêu giác của linh hồn", "Mạn đàm linh cơ thần toán" (2 tập), tôi thật sự đã tạo nên chấn động lớn, thư từ bay đến tới tấp như tuyết rơi. Người người tới tìm, nên hiện tại tôi bị dồn ép đến mức bản thân không thể không đóng cửa mà từ chối tiếp khách. Mong độc giả thử nghĩ một chút về cảnh ngộ của tôi, từ đó có thể hiểu tôi đã chẳng có cách nào đối phó với áp lực của biển người lớn đến vậy.

Tôi muốn tĩnh tâm lại để viết sách, đây mới là trách nhiệm và nghĩa vụ cấp thiết nhất mà tôi có thể làm được. Tôi muốn trực tiếp viết ra những bí mật ảo diệu của linh hồn, nhằm cứu vãn sự suy đồi của tâm linh nhân loại, để họ không đi vào tà ma ngoại đạo. Trong xã hội khoa học ngày nay, những độc tố của "thuyết vô thần" đang từ từ lan tràn khắp nơi, từ từ ngấm sâu và mài mòn vào những nơi sâu nhất trong trái tim của nhân loại. Trên thực tế, sự mê tín lớn nhất chính là tin vào "vô thần". Chúng sinh vô tri, chỉ vào mũi của Phật mà nói rằng "đồ mê tín", thật ra những người nói mê tín này, họ không hiểu rằng tự mình đã trúng chất độc của những người tà ác theo thuyết vô thần, chính họ đã đánh mất bản thân mình rồi.

Có người hỏi tôi: ông lập riêng một Chân Phật Tông chẳng phải là tự lập môn phái riêng sao? Tôi nói không phải, Phật giáo có phân chia Hiển - Mật, có sự khác biệt Thiền - Tịnh, có phân chia các phái Thiên Thai Tông, Lâm Tế Tông, Tam Luận Tông, Duy Thức Tông, Tịnh Thổ Tông, Luật Tông, Tào Động Tông, v.v…, mặc dù cách thuyết pháp khác nhau, nhưng các con đường khác nhau vẫn cùng quy về một chỗ. Hôm nay tôi tự đặt mình vào việc nghiên cứu linh hồn thành Phật, nghiên cứu thảo luận về Tiên đạo, chỉ dựa vào một cái tên Chân Phật Tông, sau này phàm có học giả đệ tử Phật, đại thiện tri thức phát huy và làm rạng rỡ truyền thống, thì đều là những bậc hiền nhân thánh triết tổ sư nhiều đời của dòng phái. Chân Phật Tông phối hợp với hai phái Thiền Tông - Tịnh Tông để hướng thẳng đến đạt thành ba chữ "ngã, tâm, linh", tự có cảnh giới thần thông vĩ đại bất khả tư nghì. Thành tựu phi phàm của nó sẽ khiến người ta nhìn với con mắt khác xưa, từ đó Phật giáo được phát dương rạng rỡ, xuất thế nhập thế đều lợi ích trời người cực lớn, khiến nhân tâm thế giới đại đồng, rồi sau đó mới có thế giới đại đồng.

Đúng lúc tôi đang viết cuốn sách này, các thánh linh trong không trung ào ào giáng xuống để trợ giúp, giống như một cuộc họp lớn vậy. Một số thần linh chúc tôi thành công, lại có một số thần thánh thì yêu cầu tôi phải cẩn thận đề phòng ma đến thử thách, bởi vì một khi cuốn sách của tôi xuất bản, thiên ma sẽ ghen ghét đố kị cực kì, cho rằng tôi muốn người người tu thân dưỡng tính, hành thiện thành Phật, như thế là đi ngược với giới luật của thiên ma, khiến cho quyến thuộc của ma sẽ ít đi rất nhiều. Vì thế, thần thánh muốn tôi chú ý ma kiếp, để tránh cho chúng có chỗ lợi dụng. Tôi cũng biết, phần đông người tu đạo, khi đã vào đạo môn thì đều sẽ phải đi qua cửa ải thử thách đó, Bổn tôn Thích Ca Mâu Ni Phật, Jesus Christ đều không phải ngoại lệ. Do đó, người nghiên cứu và học tập theo cuốn sách này xin đặc biệt chú ý, không có cuốn sách bình thường nào có thể so sánh với cuốn "Khởi Linh Học" này, hãy cẩn thận từng li từng tí, một bước đi sai là lập tức nhập ma đó.

Giữa trời đất, những ảo diệu kì bí của linh giới, đích thân tôi đã thể nghiệm được rất nhiều. Những kết quả mà bản thân tôi cẩn thận ấn chứng, linh lực của chúng có thể thông suốt nhật nguyệt. Không chỉ như vậy, biển trí huệ tâm linh của tôi cũng dần dần mở rộng, có thể biết bản thân mình cũng có một vầng mặt trời sáng chói, một vầng mặt trăng sáng ngời, thậm chí lại có càng nhiều càng nhiều hơn những cảnh giới kì diệu. Bản tính của Phật Bồ Tát cũng tức là chính mình. Khi đến được sự giác ngộ này, thân như phi thuyền bay trong bầu khí quyển, lâng lâng tự tại tiêu dao, không phiền lo đau khổ, thân tâm tùy ý, đó mới là thế giới cực lạc của sự ẩn mình trong hư không. Tôi nói với chúng sinh một bí mật, thế giới cực lạc giống như một hạt cải cực nhỏ, muốn chui vào thì rất khó, nhưng nếu giác ngộ thì trời đất đều là thế giới cực lạc, mọi người hãy cẩn thận lĩnh hội đi! Tâm nguyện lớn lao của A Di Đà Phật không thể không khiến người ta kính trọng mà khởi tâm tôn sùng ngưỡng mộ.

Giáo huấn của vị thầy tâm linh Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, sự dạy bảo của Thanh Chân Đạo Trưởng thường xuyên khiến tôi cảm động rơi nước mắt. Sự trợ giúp của Thánh Thần Tiên Phật trong trời đất đến tới tấp cũng khiến cho Lư Thắng Ngạn nhỏ bé là tôi đây trong lòng khó yên, tôi có đức gì năng gì mà đến mức cảm phiền tới các thần trong trời đất kính trọng như thế, tôi phải làm thế nào để báo đáp mới được đây? Giờ đây chỉ có cúi mình tận tụy, phân thân xả cốt hết những năm tháng cuộc đời này của tôi để đổi lấy một khoảnh khắc lóe sáng. Tôi nhắm thẳng đến cái "Ngã" sâu xa trong những câu cú của Thiền Tông, rồi lại nhắm thẳng đến cái "Tâm" sâu xa trong ý của Tịnh Thổ Tông, rồi lại đặc biệt chỉ ra cái "Linh" sâu xa trong thân thể, một chữ "Linh" này là tâm pháp tối thượng thừa của Chân Phật Tông tôi. Đạo ra sao, Phật ra sao mà "Linh" có thể dung nạp được hết?

Cuốn sách "Khởi Linh Học" này, tôi nhấn mạnh vào giải thích các phương diện như khởi linh, luyện linh, xuất quan nhập quan, cửu chuyển, v.v… rồi phối hợp với kinh nghiệm của chính tôi, những chỉ thị tâm linh của thần tiên, để bày ra trước mắt độc giả. Đây sẽ là sự công khai những ghi chép cực kì bí mật của môn tâm linh tu tiên nghìn đời khó gặp.

Có thể thấy cuốn sách này huyền bí kì diệu không thể đo lường, là báu vật nghìn năm không dễ gặp được. Đối với những người nghi hoặc thì càng có thể nhắm thẳng giúp họ đến sự thức tỉnh lập tức. Còn những ai bền chí nếu tin rằng Lư Thắng Ngạn tôi không phải đang lừa người lừa mình thì đừng ngại ngần, hãy chăm chỉ mà tu theo, đến ngày công thành, nguyên thần sáng rực rỡ sẽ bay lên thiên giới, đắc chứng chính quả, chỉ lúc đó mới nhận ra rằng tôi không nói xằng nói bậy.

Cuốn sách này, do trí tuệ của con người khác nhau, nhân duyên bẩm sinh khác nhau, nên không thể không đặc biệt nói rõ thêm vài câu: người thượng phẩm mà tu thì đắc chứng quả vị Tiên Phật, người trung phẩm mà tu thì một bước lên mây, nhập thiên giới là điều có thể kì vọng, người hạ phẩm mà tu thì thân thể khỏe mạnh, tạo nên tuệ căn cho kiếp sau.

Ngoài ra còn có mấy loại người không thể tu học, học cũng vô ích, ngược lại còn tai hại lớn, hãy thận trọng! Hãy cẩn thận! Loại người thứ nhất là thiếu niên nhi đồng. Loại người thứ hai là người nguyên thần bất định. Loại người thứ ba là người hay ngờ vực không kiên định, người chỉ muốn thăm dò. Loại người thứ tư là người không có lòng kiên trì. Loại người thứ năm là người vô tri. Những người này thì niệm Phật tu Tịnh Độ là được rồi, bởi vì nếu họ luyện tập, dòng khí sẽ bị lạc đường biến đổi, không thể kiểm soát, tẩu hỏa nhập ma, muốn quay trở lại thì khó lắm thay! Người muốn tu thì phải hạ quyết tâm mới được, nếu chỉ là để thử xem sao thì thôi xin miễn đi.

(Mùa xuân năm Dân Quốc 65 [năm 1976], tại Linh Tiên Tinh Xá.)

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Nguyên lí biến linh


Một người bình phàm vô tri không thể hiểu được trong thân thể mỗi con người đều có một "linh tính", cho dù có biết thì cũng bán tín bán nghi. Linh tính ẩn ở trong thân, mặc dù sống thì cũng như chết, là do đã bị giam cầm, không những không thể chạy ra bên ngoài cơ thể, mà thậm chí không thể di động đến các nơi bên trong thân thể nữa. Kiểu cảm giác của phàm phu tục tử này hoàn toàn dựa vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp của thể xác, cũng tức là những cảm giác của mắt tai mũi lưỡi thân ý làm nên cảm giác. Mức độ cao nhất của loại cảm giác này là ý giác, hay còn gọi là giác quan thứ sáu. Giác quan thứ sáu là "trí cảm", hoặc gọi là "tinh thần cảm", cách giác cảm thứ bảy, giác cảm thứ tám vẫn còn xa lắm! Cái gọi là giác cảm thứ bảy tôi gọi là "linh thông" hay giác cảm thứ tám gọi là "thần thông" thì chỉ là sự phân biệt miễn cưỡng thôi, thật ra sự khác biệt rất vi diệu, rất khó để vẽ một đường giới hạn phân chia một cách rạch ròi.

Cái gọi là siêu nhân và siêu cảm giác không phải là giác cảm thứ sáu. Giác cảm của người thông linh vượt qua cả giác cảm thứ sáu, không gian tồn tại của nó là không gian của giác cảm thứ bảy và không gian của giác cảm thứ tám. Có người chỉ ra rằng linh cảm là giác quan, giác cảm thứ sáu, đó là cách nói của thế tục. Trên thị trường cũng có những cuốn sách về giác quan thứ sáu, cái đó thì lại càng là nghe sai đồn bậy. Hai chữ "linh cảm" là hai chữ vô cùng cao quý, không thể chỉ gò bó trong cái "tinh thần cảm" của giác quan thứ sáu.

Người thông linh ở khắp nơi trên thế giới đều nhận thấy rằng năng lực của họ không hoàn toàn tương đồng. Có người có thể dự đoán chuyện tương lai sắp xảy ra, có thể nhớ các kiếp trước sau, một số người khác thì có thể dùng linh lực để làm gãy mũi khoan bằng kim cương, dùng linh lực để chữa bệnh, hoặc khống chế suy nghĩ của người khác, lại cũng có người có thể châm lửa cách không, rồi có người khi phẫu thuật dựa vào linh lực để gây mê thần kinh của người bệnh, hay cũng có người dùng linh lực để giết người, khiến người ta vô duyên vô cớ mà chết. Truyền kì về những người thông linh này nhiều tầng tầng lớp lớp như truyện thần thoại vậy. Sự ra đời của những người thông linh này cũng có đầy tính truyền kì.

Mẹ của những người này khi sinh ra họ, có người thì bị sấm sét đánh trúng, hoặc có một ngôi sao giáng xuống mái nhà. Người thông linh do "nửa chừng tự nhiên có năng lực" cũng có tính chất truyền kì rất lạ lùng, có người thì ngã từ trên cầu thang xuống mà biến thành người thông linh. Họ luôn cần phải trải qua một "nguyên lí biến linh" mới có thể giống như bóng đèn được nối với dòng điện, đột ngột sáng lên.

Nguyên lí biến linh này theo như tôi thấy thì vô cùng đơn giản, nhưng cũng cực kì khó, phải hợp với thời cơ thiên thời địa lí, khi điều kiện trùng hợp ngẫu nhiên thì trong sát-na sẽ thành công ngay. Có người theo đuổi cả đời, kết quả vẫn luôn là số không, có người chẳng cần theo đuổi thì "biến linh" này lại bất ngờ từ trên trời rơi xuống. Ví dụ như tôi, tôi là bỗng dưng có được, một sự chấn động trong một sát-na. Tôi vẫn còn cho rằng tôi là người ngoài hành tinh cơ đấy! Sức mạnh đột ngột sinh ra này khiến tôi cho đến lúc này vẫn còn cảm thấy như ở trong mơ, là thật hay là giả, rất mơ mơ màng màng. Nhưng, thực tế đã cho tôi thấy, tất cả đều là thật, linh hồn tự do tự tại bay nhảy, thật sự khiến người ta vừa kinh vừa sợ.

Linh hồn bị giam cầm, vốn là như chết, nếu dựa vào sự xung kích của một lực lượng nào đó thì có thể biến thành sống, giải thoát khỏi sự trói buộc giam cầm, rời khỏi sự ngăn cấm vô hình, như thế linh hồn có thể du hành bên trong thân, cho đến cuối cùng thì đột ngột phá được thiên khiếu [lỗ trên đỉnh đầu], sau cùng linh hồn có thể đi ra ngoài. Nếu linh hồn thoát khỏi sự giam cầm hoặc đi ra ngoài sẽ sinh ra cảnh giới, tôi gọi là linh cảnh. Linh cảnh có thật có giả, người tu Chân Phật Tông không thể không biết.

Sự đột ngột phá bỏ giam cầm của linh hồn này được gọi là khởi linh, hoặc biến linh, đây là điểm mấu chốt duy nhất của thông linh và thần thông. Nếu không có công phu khởi linh và biến linh thì phàm phu vĩnh viễn là phàm phu, người đó vĩnh viễn không biết có chuyện về linh hồn, chỉ có thể nghe những truyền kì về linh hồn mà không thể đích thân trải nghiệm cảnh giới này hay thật sự có được cảm nhận gì lớn.

Có rất nhiều người theo tín ngưỡng tôn giáo thích nói chuyện cảm ứng, ví dụ như chuyện "mộng giác". Mộng giác là thần linh trong không trung lợi dụng lúc con người ngủ say, đưa linh nhập vào trong vành đai hồi chuyển tư tưởng của con người, khiến cho người trong mơ vì mơ mà có được cảm giác. Kiểu "mộng giác" này rất nhiều, nhưng vẫn còn cách "linh giác" xa vô cùng! Đây chỉ là tác dụng của một phương diện, cảm ứng tương đối không rõ ràng, hơn nữa còn dễ hỗn loạn, thường thường là sau khi sự việc xảy ra xong thì mới có sự tỉnh ngộ hiểu ra, người có hiện tượng này không thể gọi là biến linh hoặc khởi linh.

Muốn khởi linh, chỉ cần có ba loại lực lượng.

Thứ nhất là tha lực đến từ bên ngoài. (Linh của không trung, có thể dùng phương pháp thỉnh cầu, cầu xin lực trợ giúp từ họ, đây là điểm then chốt trọng yếu của biến linh. Phải xem căn cơ của người khởi linh, căn cơ và tiền kiếp có mối liên quan lớn, nếu thần linh và người khởi linh kiếp trước có quan hệ mật thiết thì do duyên phận này mà vị ấy chắc chắn sẽ tự động đến trợ giúp.)

Loại lực lượng thứ hai là tự lực, cái gọi là tự lực nói một cách đơn giản chính là thành tâm thành ý, nếu có đại nguyện và thành tâm mong cầu thì không có chuyện không thành công.

Loại lực lượng thứ ba là thiện công, nghĩa là thanh tịnh nghiệp lực, nói chung người có nghiệp tội sâu nặng, bên ngoài không nhìn thấy, nhưng bên trong giống như là có tảng đá lớn đè lên người. Muốn khởi động linh hồn thì thanh tịnh nghiệp lực trước là có thể được, lúc này tạo nhiều thiện công đức, khiến linh hồn có thể sớm xuất ra được thông suốt, điều này cũng rất quan trọng.

Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh nói với tôi: "Đạo Phật nói thiền định, đây là nguyên tắc nghìn năm không đổi, tuy nhiên, do định cũng có thể sản sinh ra động, do vậy mà nghìn năm sau, pháp môn tu hành do Chân Phật Tông sáng tạo là một tĩnh một động phối hợp với nhau. Đây chính là nguyên lí tột cùng của thái cực âm dương động tĩnh, muốn biến linh, chỉ tĩnh thôi mà không động thì cũng không được, chỉ động mà không tĩnh cũng không được. Mặc dù động và tĩnh đi theo hai hướng ngược nhau, nhưng vạn pháp vốn là một, các con đường khác nhau đều đồng quy."

Nếu linh bắt đầu động thì thân thể người tất nhiên sẽ bắt đầu có cảm giác, khí đi lên trên, hóa thành nghìn vạn hình, việc biến linh này mới xem như là thành công bước đầu. Có người xem thường công phu này, kì thực đây chính là chìa khóa của pháp môn này, nếu không dùng chìa khóa này thì dù ngồi khô trăm năm, ngồi đến khi đất lõm xuống thì cũng có thể đắc được cái gì chứ?

Chiếc chìa khóa vàng đầu tiên của tu linh chính là: biến linh.


### 02. Ba cửa ải thiên ma


Đạo giáo có ba vị thần linh, tên gọi chung là Tam Nguyên Tam Phẩm Tam Quan Đại Đế, ở đây tức là Thiên Quan Nghiêu Đế, Địa Quan Thuấn Đế, Thủy Quan Vũ Đế. Thuật yoga Ấn Độ cũng phân chia thân thể người thành Thiên luân, Địa luân, Hải để luân. Hai cách nói này không hẹn mà hợp ý nhau, và thông qua kết quả tu linh của tôi, tôi phát hiện thấy tẩu hỏa nhập ma cũng có ba cửa ải lớn, ở đây tức là ải Thiên Ma, ải Địa Ma, ải Thủy Ma, người tu linh phải thắng được ba cửa ải thiên ma thì mới xem là đắc đạo, bằng không tất cả đều là nói suông mà thôi.

Có một số người căn cơ nông cạn, cả đời không có thiện công, nguyên thần bất định, không có chút nguồn gốc nào với thần tiên cõi trên, tôi khuyên những loại người này trước tiên hãy niệm Phật học Phật và đừng đi theo pháp môn linh tu cảm ứng, cũng hãy khoan khởi linh. Trừ phi bạn tự nhận mình có lòng tin kiên định, không nghi không hoặc, hơn nữa tự nhận mình thường ngày không làm điều ác, công hạnh cao siêu, loại người này cũng thuộc hạng người như tôi, bằng không thì nhập Đạo môn, học khởi linh sẽ lập tức dính ma. Dính vào ma rồi lại tìm đến tôi để cầu hóa giải, thì tôi lại phải hao tổn rất nhiều sức lực, thật sự là rất rầy rà phiền toái. Thế nhưng nhập đạo mà không có ma nạn thì lại cũng không xem là có tu đạo. Dù ai ai cũng có thể tu đạo, nhưng đạo cao một xích, ma cao một trượng, nếu không vượt qua được ba cửa ải thiên ma thì sẽ uổng phí tâm huyết cả đời. Có thể thấy tu đạo vẫn đòi hỏi hạng người số một trong thiên hạ, là việc đại sự hạng nhất.

Bước thứ nhất của pháp môn tu linh cảm ứng, khởi linh chính là chuyết hỏa xuất ra từ Hải để luân trong thuật yoga, cũng chính là sự hồi sinh và xuất hiện của linh hồn, đến cảnh giới này sẽ sản sinh ra ba kiểu hiện tượng.

Kiểu hiện tượng thứ nhất là thần linh tiếp dẫn, đây là kiểu đúng chuẩn nhất và cũng là thành công nhất trong việc khởi linh. Sau khi linh hồn ở trong Hải để luân phá vỏ thoát ra sẽ sinh ra sáu cơn chấn động lớn của Tiểu chu thiên, một đường ánh sáng trắng từ không trung giáng xuống, tiên linh sẽ bảo vệ cho nguyên thần vừa mới sinh ra này. Lúc này mặc dù có chấn động nhưng trong tâm trí của người tu linh thì lại sáng trong như tấm gương, rất rõ nét, không hỗn loạn, biết rõ cơn đại chấn động toàn thân của bản thân, tự mình hiểu rõ tất cả. Lúc này nên trì thêm Phật hiệu hoặc chú ngữ, hi vọng thần tiên bảo vệ, tương trợ, phò trợ. Thiên thần và linh của ta hợp nhất, thần tiên đi theo bên cạnh, một khắc cũng chẳng tách rời. Đến được bước này rồi thì tức là một sự khởi đầu tốt, người như vậy mới xem là tu sĩ của phái Chân Phật Tông, bằng không thì cũng chưa phải là người nhập môn.

Hiện tượng thứ hai nảy sinh là hiện tượng trung lập, hạng người này không có nguồn gốc với các thần tiên cõi trên, và cũng không dây mơ rễ má gì với linh của ma quỷ. Sau khi thần linh giúp họ khởi linh thì cũng lập tức lui đi, người đó cũng không biết phương pháp tu trì, linh quỷ cũng không chiếm đoạt thân trung ấm của người đó. Đây gọi là hiện tượng "không linh", ví dụ giống như một căn nhà trống, không có chủ nhân, bất kì ai cũng có thể ở, nhưng căn nhà này lại khước từ, không cho những ai có thể là chủ nhân thật sự của nó vào. Điều này nghĩa là cái linh không có cách nào tự chủ, giống như trạng thái trôi nổi. Loại người này phần lớn trở thành kê đồng, người nước ngoài vẫn gọi là nhà ngoại cảm, người để cho linh của thần quỷ nhập vào thân.

Linh của kê đồng một số có thể tự chủ, một số thì không thể tự chủ, việc này cần phải xem cách tu của bản thân kê đồng. Kê đồng và người tu linh có sự khác biệt rất lớn. Khởi linh nếu trở thành kê đồng thì cũng là vì người này nguyên thần bất định, không có duyên với Tiên Phật, linh không thể tự chủ, tâm trí bị linh khác khống chế. Nhưng nếu người đó có thể dần dần phớt lờ thì tâm thần sẽ dần dần hồi phục. Loại người này không có duyên với tiên, tôi khuyên họ trước tiên hãy tin theo Cơ Đốc giáo, hoặc tin Phật giáo, niệm Phật tu thiện công là được, bằng không sẽ tạo cơ hội cho thiên ma lợi dụng thì phiền phức lớn đó! Hiện nay có rất nhiều người làm kê đồng và phù kê bị thiên ma quỷ linh mượn xác rất lâu. Thế nhưng họ không hề biết, thiên ma quỷ linh mặc dù cũng có thần thông, nhưng lại khác chư Phật và thiên tiên xa lắm! Người làm kê đồng hoặc phù kê nếu sớm tu thiện công, có được sự quan tâm của thiên thần, nếu linh tự chủ được thì cũng có thể biến thân.

Kiểu hiện tượng thứ ba là nhập ma. Kẻ hèn này nghiên cứu mà biết được, phàm là các pháp môn Thiền Tông, thiền định, tĩnh tọa, chỉ quán, v.v… thậm chí luyện thuật yoga, đều sẽ có người sinh ra hiện tượng nhập ma. Thiên ma lợi hại vô cùng! Linh trí của người tu đạo tu đến Vô sắc giới, nguyên thần dù cách thiên khiếu không xa, nhưng nếu cố chấp vào "Không" thì cũng sẽ nhập vào ma cảnh, chỉ dừng lại ở Vô sắc giới, không nhập được vào cảnh giới La Hán, không đắc được quả vị La Hán. Nhập vào Vô sắc giới thiên, điều đáng tiếc là linh không có chỗ nương náu, thực hư bất phân, mê muội đến phát điên, tự mình biến thành thiên ma, thành tựu tất cả pháp thiên ma, kết quả của việc này vô cùng đáng sợ.

Nếu có người bình sinh làm nhiều điều ác, kiếp trước cũng không có thiện căn, không có tiên duyên, bán tín bán nghi, đạo tâm không vững, nếu tu khởi linh, một khi linh đã khởi động, chẳng phải thiên thần đến tiếp dẫn mà lại là thiên ma đến tiếp dẫn, như thế thì gay go rồi. Thử nghĩ mà xem, thiên ma đến tiếp dẫn thì có kết quả tốt đẹp gì chứ, người này bỗng chốc đã trở thành quyến thuộc của thiên ma, cử chỉ lời nói và hành động trái ngược với người bình thường, tự xưng là đắc đạo, tu tiên học đạo nhưng lại làm trái luân thường, không hợp tình lí, đôi mắt hiện lên vẻ lờ mờ mơ hồ, thần trí bất chính, đây chính là hiện tượng nhiễm ma. Nếu là hồn ma nhập vào thì vẫn có thể xử lí được, nếu là thiên ma chiếm thân, hoặc do nghiệp chướng kiếp trước thì cái này ngay cả Tiên Phật cũng không có cách nào cứu độ được! Vì thế, pháp môn linh tiên cảm ứng của chúng ta không phải là pháp môn phổ thông, người có đạo cơ không đủ sâu, người có định lực không đủ, thì tuyệt đối không thể tu luyện một cách đui mù, không có minh sư chỉ dẫn thì nếu tẩu hỏa nhập ma, tôi không chịu trách nhiệm.

Cái gọi là ba cửa ải thiên ma thì Tam xoa lộ khẩu của khởi linh là cửa thứ nhất, Chính niệm lực của Cửu chuyển huyền công là cửa thứ hai, Xuất thiên khiếu là cửa thứ ba. Đây là cách nói đơn giản của tôi, tức là Thủy Quan, Địa Quan, Thiên Quan, không qua được ba cửa ải này thì không xem là đắc đạo, mà cửa sau sẽ khó hơn cửa trước. Nếu dựa vào tự lực muốn đột phá ba cửa ải này, trên thực tế trong vạn người không có được một người, nhất định phải có minh sư và thiên thần trợ giúp mới được, tự lực và tha lực phối hợp cũng có thể được. Kẻ hèn này sẽ giải thích kĩ càng hơn lần lượt từng cửa ải này ở những chương sau, chương này chỉ nói sơ qua vài nét chính thôi.

Tôi xin có lời khuyên với một số người có cách nghĩ đơn thuần, người không có bản lĩnh kiên nhẫn lớn, hãy tin theo đạo Cơ Đốc tương đối đơn thuần, Cơ Đốc là pháp môn tiện lợi, làm nhiều việc thiện, kết một chút thiện duyên cho kiếp sau, nếu có duyên với thiên thần thì lại tu pháp môn linh tiên cảm ứng cũng không muộn. Tôi cũng khuyên người người hãy học Phật, niệm Phật vãng sinh Tây phương Cực Lạc thế giới, đây cũng là pháp môn phương tiện. Nếu có người không sợ khó thì mới có thể đi cùng tôi, pháp môn kết thúc sinh tử này của tôi vẫn là pháp môn Đại thừa chí cao vô thượng của Chân Phật Tông.

Khi tôi viết chương sách này, thiên ma giáng xuống đấu pháp với tôi, đôi bên đều tổn thất.


### 03. Khởi linh thần công đệ nhất pháp


Trong mấy cuốn sách tâm linh trước, tôi đều nói đến việc làm sao để khởi động chân linh, chương sách này chính là "khởi linh nằm ở nhất tâm, không khởi một niệm". Phương pháp ở đây nhìn thì đơn giản, nhưng thực ra chân tướng tôi sẽ nói rõ sau đây. Tôi không dám đem cái đơn giản mà nói rằng nó khó thế này gian nan thế kia. "Khởi linh thần công đệ nhất pháp" này, nếu là người có chính niệm ngồi xuống thực hành được, đó đích thực là Phật tử xuất thế, là người số một trong gia tộc thần tiên.

Tôi vẫn luôn hoài nghi về những cao tăng đại đức qua nhiều thời kì của Phật gia và Đạo gia vì sao họ không công khai phương pháp đơn giản dễ thực hành này, tại sao phải đợi đến khi tôi nói ra? Lẽ nào đây cũng là một định số, nếu không phải là pháp luân được truyền qua nhiều kiếp của một người họ Lư nào đó thì không được? Phải biết rằng đại pháp này ốc loa không thổi được, vì một khi thổi lên sẽ gây ra đại chấn động khắp trên trời dưới đất, đủ mọi hạng người sẽ nhất loạt chú ý, thiên ma ngoại đạo atula sẽ đều đến quy y, năng lực của tôi nếu quá kém thì làm sao chịu đựng được trọng trách lớn lao này. Tiên Sư Tam Sơn Cửu Hầu cũng có phần quá xem trọng tôi rồi, thật sự khiến tôi xấu hổ không còn mặt mũi nào nữa.

Tôi thuật lại "khởi linh thần công đệ nhất pháp" như sau:

Thứ nhất, bất kì người nào muốn khởi động hoạt linh, điều kiện thứ nhất là phải có tín ngưỡng tôn giáo, người không có tín ngưỡng tôn giáo thì xin đừng tùy tiện thử nghiệm. Người có tâm thành thì "linh" sẽ động, vàng đá sẽ nở hoa, không có chuyện không thành công. Nếu trẻ con muốn khởi linh, tôi khuyên chúng hãy từ bỏ đi, bởi vì không có tín ngưỡng tôn giáo kiên định, không làm chủ được tinh thần thì rất dễ nhập ma. Nếu chỉ là thử nghiệm cho vui thì rồi sẽ phải hối hận, tôi khuyên những người này cũng đừng thử nghiệm, bởi vì hai chữ "chân thành" vẫn là nền móng của trời đất, là sự khởi đầu của vạn pháp, tất cả đều bắt đầu từ hai chữ "chân thành" này, như thế đã là thành công một nửa rồi. Nếu còn nghi hoặc thì vẫn là người không có đủ nhân duyên.

Thứ hai, khởi linh lấy hơi thở và ý niệm làm trọng, bất kì niệm tưởng nào cũng phải dừng lại, chỉ giữ lại niệm tưởng khởi linh, vạn pháp quy nhất, vạn niệm quy nhất, một niệm không khởi lên thì đây cũng tức là cái chân cơ huyền diệu. Sự xung kích của hoạt linh, sự xuất hiện của Phật tính đều nằm trong một niệm còn lại này, mà một niệm tức là vô niệm, vô niệm thì là chuyên nhất. Một tiếng sấm rền, thần quang như linh xà chạy nhảy dữ dội, hễ được tiếp dẫn thì một cảm giác đến từ toàn thân, cứ như thế nguyên thần hoạt bát ở trên thân lưu động như mạch máu chảy, đều có thể cảm nhận được vô cùng rõ rệt, sự chuyển động của linh hồn này giống như con rắn bò đi khắp toàn thân.

Thứ ba, người muốn khởi linh, trước tiên phải chuẩn bị một căn phòng sạch sẽ, cũng giống như phòng thiền của Phật gia, có thể dùng thư phòng cũng được. Khởi linh không được ngồi trên giường, cần ngồi trên một chiếc ghế sạch sẽ đặt trong phòng, không cần phải chú trọng đến cách ngồi ra sao, không cần phải ngồi khoanh một chân, khoanh hai chân hoặc ngồi kiểu hoa sen mà có thể ngồi tùy ý, chú trọng đến sự tự nhiên thoải mái, làm sao để có thể ngồi được rất lâu là được. Trước đó cần tắm gội trai giới, cầm hương bẩm báo với thiên địa thần linh, thái độ trang nghiêm, không được làm một cách tùy ý qua loa, trai giới được ba ngày thì tốt, càng lâu càng tốt. Về mặt tinh thần thì phải thành tâm, tuyệt đối không được đắc tội với thần linh cõi trời, nếu đắc tội thì các vị không thể trợ lực, mà thế thì cũng vô dụng!

Thứ tư, trong tịnh phòng châm hương, một nén hương hoặc ba, năm nén hương đều được. Tín đồ Phật giáo thì trong tâm có thể niệm thầm A Di Đà Phật, tín đồ Đạo giáo thì trong tâm có thể niệm thầm Diêu Trì Kim Mẫu, tín đồ Cơ Đốc giáo thì trong tâm có thể niệm thầm Jesus Christ, tôn giáo khác thì cũng như vậy mà suy ra. Phải nhớ hai tay cần chắp lại, chắp lại đặt trước ngực, hai mắt nhắm lại, hai chân chạm đất, nhất tâm hoàn toàn tập trung vào niệm thầm bốn chữ Thánh hiệu. Lúc này, bàn thờ thanh tịnh, tâm thông với trời, nếu cảm động khiến Thiên Thần hạ giáng thì Thiên Thần sẽ nhanh chóng tương trợ, và linh của bản thân ở hải để luân sẽ động đậy. Giống như con gà nhỏ đang nứt vỏ, linh hồn trong sát-na sẽ bật tung ra, thần trí lúc này rất sáng sủa, và không cần phải sợ hãi, cứ để cho linh ấy tự chuyển động. Lúc này, lập tức tay múa may, chân giẫm đạp, đầu lắc tay vẫy, thân cũng chuyển động, cái này gọi là sáu cơn đại chấn động của tiểu chu thiên. Thần sắc không đổi, linh đài thanh tịnh [tâm thanh tịnh], không nhiễm ác duyên, không chấp dị tướng, đây mới là chính đạo.

Thứ năm, khởi linh phải cần thời gian bao lâu, phần lớn thì mỗi lần khoảng 50 phút, cái này cũng thay đổi tùy theo mỗi người. Mỗi người mỗi khác, có người vừa ngồi xuống, dựa theo pháp nhân duyên, chưa đến một phút là đã có được cảm ứng rồi. Cũng có người phải ngồi đến lúc thời giờ đến mới có cảm ứng, có người liên tục tĩnh tọa mười lần mới có được cảm ứng. Theo tôi nghiên cứu, người bình thường khi ngồi tĩnh tọa thì thường không thể tĩnh lại được, các suy nghĩ trong đầu cứ tuôn trào như sóng, mà đã như thế thì muốn cảm động thiên thần hạ giáng là vô cùng khó, ngược lại còn dễ vấp phải ma đạo. Nếu ở trước Phật Bồ Tát mà khởi linh, có minh sư bảo vệ thì hầu như sẽ không xảy ra sai lầm gì. Có một số người không dựa theo chính pháp, không thành tâm, thiên long hộ pháp chưa đến, ngược lại còn bị âm thần quấy nhiễu, như thế thì rất phiền phức. Hôm nay tôi giải thích rõ như vậy, nhấn mạnh thêm một lần nữa, rằng không được xem thường đây là trò chơi, như thế thì cực kì không tốt.

Thứ sáu, các tông sư Phật môn nhiều đời ngày xưa, công án thiền nhiều, Thiền Tông cũng nói về tĩnh tọa, Thiền Tông nói về nhất tâm bất động, pháp chân không cũng là không, không chấp vào một niệm. Nhưng mà ngày nay, Chân Phật Tông của Lư Thắng Ngạn tôi và Thiền Tông vừa khéo lại tương phản với nhau, mặc dù tương phản, nhưng mục đích là giống nhau, hoàn toàn là vì để người người có thể thành Phật tác Tổ. Thiền là nói về định, nói về tĩnh, còn tôi nói về linh, nói về động, cái này giống như một biển lớn, những con sóng trên mặt biển chuyển động ghê gớm như vậy, nhưng mà đáy biển thì vẫn bình lặng như nước đứng yên. Những linh tính cuồn cuộn cũng như thế. Nếu hiểu được câu nói này của tôi thì cũng chính là tri âm của tôi.

Nếu khởi linh thành công thì chính là người trong đạo của Chân Phật Tông tôi, linh hồn đã sống rồi thì mới có khả năng tu linh, như thế mới có thể thoát li khỏi nhà cháy của tam giới, thành Phật tác Tổ, thần tiên và ta lúc đó là quyến thuộc rồi. Theo tôi được biết, khi khởi linh thành công, người người đều có cảnh giới khác nhau, có người lập tức đắc thiên nhãn thông, có người lập tức đắc tha tâm thông, có người lập tức đắc túc mệnh thông, có người lại chẳng hề có cảm giác gì, chỉ là chân tay sẽ rung động theo tần số mà thôi, có thể biết việc đến đi của thần linh, những cái khác thì đều không biết, nhưng, người lập tức có được thần thông suy cho cùng cũng là thiểu số, cái này cũng vẫn liên quan đến căn duyên tiền kiếp.

Còn nhớ Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh từng chỉ thị cho tôi rằng: "Phật ta độ người, vốn có vô lượng pháp môn, pháp thiền mặc dù to nhỏ vi diệu, nhưng cũng có thể nói rằng với phàm phu thế tục thì ngồi khô ba đời cũng chẳng đi đến đâu, còn thượng nhân thì rốt cục lại quá ít. Nay pháp môn Chân Phật mới bắt đầu, thời cơ phổ độ Phật pháp đã đến, Liên Sinh, đừng quên "khởi linh thần công đệ nhất pháp" mà ta đã giao phó cho con, để chúng sinh ban đầu có được cảm ứng, phụng trì cả đời, sớm chứng bồ đề."


### 04. Người số một trong gia tộc thần tiên


Kẻ hèn này tu tĩnh tọa, từng nhập vào thánh giới của Thứ tự viên mãn, đến được thánh giới này thì khi ấy mới biết "thiên ngoại hữu thiên, nhân ngoại hữu nhân", người tu linh không thể không biết.

Tôi đi trên mặt đất đầy sương khói, khắp nơi là kì hoa dị thảo, cũng có những cây cầu nhỏ và đình gác, nơi này bốn mùa đều như mùa xuân, gió và hương thơm như mật. Phía trước động thiên phủ địa đều là tiên hoa tiên thảo, cảnh trí tao nhã lôi cuốn con người. Vào trong động phủ không nghe thấy âm thanh ồn ào, mà thấy các tiên đều đang ngủ mơ bất tỉnh, ngủ say sưa một cách ngon lành. Tôi đã đi đến không ít các nơi, những gì tôi nhìn thấy đều khiến tôi thấy vô cùng kì lạ. Đột nhiên tôi nhìn thấy trước mặt tôi có một lão tiên ông lom khom đi đến, tôi tiến lên trước cúi đầu chào.

"Tiểu tử kia từ nơi nào đến đây?"
"Kẻ hèn này là Liên Sinh ở Nam Chiêm Bộ Châu, vì tu thiền định mà đến đây."
"Mau đi mau đi, nơi này gọi là Trung Thiên Phóng Tùng Quốc Độ, các thần tiên ở đây đều vô công rồi nghề, nhập vào cảnh giới này tức là nhập vào nơi trống rỗng không người, nơi chẳng có gì hết, nơi trống rỗng vô ích, lão tăng nhập định, nhập xuyên vào cảnh giới này thấy chẳng có ý nghĩa gì. Những thần tiên đến thánh giới này và thế là tự mãn không muốn tiến đến cảnh giới khác nữa, vì thế mà đều nhàn rỗi ngủ liên miên như thế này đây. Nếu ngươi trở về, nhất thiết phải khuyên người ta tu hành, phải tu thành người số một trong gia tộc thần tiên, nếu làm hạng người số hai thì người số hai này chỉ gia nhập vào được Trung Thiên Phóng Tùng Quốc Độ này thôi." - Lão tiên ông nói.
"Xin hỏi tiên ông là ai?" - Tôi hỏi.
"Vô danh lão nhân chính là ta." - Lão tiên ông nói xong rồi biến mất.

Linh thể của tôi rời khỏi thánh giới, mãi đến khi tỉnh lại, tôi phát giác ra mình đang nằm co ro. Tôi từ ngồi tĩnh tọa cuối cùng lại biến thành nằm cong người ngủ mất, thật là đáng buồn cười! Trung Thiên Phóng Tùng Quốc là giấc mơ của tôi, hay là thật sự có đất nước ấy, tôi cũng không chắc, thế nhưng theo như tôi biết, người tỉnh như mơ, người mơ lại càng huyễn, nhân gian rất khó mà tìm được một người thật sự thức tỉnh.

Bây giờ tôi đã cảm nhận được, Thiền Tông bất lập văn tự [không thể nói ra bằng lời mà mô tả được], ẩn mà không hiện, các vị tổ sư nhiều đời thiên về tự thấu triệt huyền cơ tinh túy, cho dù có thấy được cái kiến thanh tịnh, cũng không được mô tả nó. Bởi vì bất lập văn tự, không có con đường từng bước rõ ràng, nhưng lại không được phép nghi ngờ, không được dùng thiền định, không được phép dùng hiểu biết lí giải.

Những công án đưa ra là muốn khiến người ta lập địa thành Phật ngay, phong cách bao giờ cũng là ẩn và không thấy con đường rõ ràng, khiến người bình thường lại càng không lần ra được biên giới. Còn con người ngày nay lại dựa vào cái thực để mà đo lường, khi hoàn toàn bị đặt giữa cái hư ảo thì không thể ứng dụng thực tế, cho nên người đắc đạo từ pháp Thiền Tông thế này cực hiếm, thì con đường của Tiên Phật trở nên xa xôi rất khó có hi vọng gì!

Hôm nay, tôi bảo người ta tu Linh Tông, hi vọng người người từ chính bản thân mình mà tu nên, không phải ngồi khô trăm kiếp mà chẳng thu được gì, bắt đầu tu từ chỉ một chữ "linh" đơn lẻ, để lập tức có được cảm ứng. Trong thời đại khoa học này, một khi ấn chứng được sự tồn tại của linh thì sẽ không còn là lí luận suông nữa, vì có nói suông thì cũng chẳng có chút ý nghĩa nào. Thiền Tông ngồi khô trăm kiếp, mặc dù có người đắc chứng, nhưng nếu nhập vào Trung Thiên Phóng Tùng Quốc, bám chấp vào hai khái niệm sai là nhân - ngã, thì chẳng phải là giống như thần tiên ngủ một giấc dài sao? Như thế thì làm thần tiên cũng có ý nghĩa gì chứ?

Người khởi linh nếu biết nguyên lí tu đạo, theo đuổi lần lượt từng cấp độ, có thể trở thành người số một trong gia tộc thần tiên, đạt được chính quả vô thượng, đây chính là quả vị đại viên mãn, thành tựu tất cả pháp đế, không giống như hạng nhàn nhã. Muốn có cảm ứng thần thông, dựa vào "khởi linh thần công đệ nhất pháp", có thể đắc cảm ứng vi diệu, rồi thâm nhập thêm một chút nữa thì chính là tha tâm thông mà con người thông thường biết đến.

Kẻ hèn này nói sơ lược về công pháp tha tâm thông như sau:

Sau khi có được cảm ứng vi diệu nhờ khởi linh, nên thường xuyên nhất tâm trì một pháp một chú. Một pháp tức là pháp tĩnh, giữ tại linh khiếu của chính mình, khiến cho "nó" ẩn mình mà không tự do thoải mái, để tránh cho "nó" không chạy lung tung rồi không thể cứu vãn. Trì một chú gia trì, ở đây vẫn là khẩu mật và thân ý đại mật của Mật tông, và là pháp bảo phòng ma. Trì mật chú thì sẽ tự có Phật linh của linh giới che chở, trí huệ vô hình của mình sẽ tăng trưởng, do nghiệp chướng tiêu trừ mà sáng dần, như một tấm gương báu sáng chói luôn luôn hiện lên trong tâm. Lúc này, khi quan sát ngược lại tự tâm, có thể thấy rõ một tấm gương tròn sáng lớn hoàn toàn trong vắt (Đạo gia gọi cái này là gương ngọc của tự thân). Nếu dùng gương ngọc này để hợp với gương ngọc của thiên thượng thì chính là "đắc đạo". Nếu thấy gương ngọc của mình phát tỏa ánh sáng, dùng niệm lực thỉnh cầu một việc, nguyên nhân hậu quả của việc đó liền hiển hiện trong gương ngọc. Sự hiển hiện này chỉ trong một sát-na, từ tâm ấn đến não bộ, từ não bộ đến mắt, thế là toàn bộ những suy nghĩ trong tâm của người khác lần lượt đều có thể biết rõ. Đây chính là tha tâm thông - một trong sáu đại thần thông.

Với những người sau khi khởi linh, nếu các kiếp trước không có duyên phận với thần tiên (đại đa số là như vậy), thì từ ngày đó có thể bắt đầu thờ phụng tượng của một vị Thần Phật để sớm tối lễ bái. Lấy bức tượng này làm phương hướng trong lòng mình, sớm tối cung kính lễ lạy, cũng là để tăng trưởng tâm sùng kính trang nghiêm. Mỗi lần tĩnh tọa có thể thắp một nén hương, tâm nghĩ đến Bồ Tát ở trước mặt, thu lại tất cả vọng tưởng, mũi ngửi hương thơm, tâm gửi vào thiên thượng. Tượng Thần Phật không cần phải hạn chế là Thần nào Phật nào, tự tâm mình cảm thấy vui thích là được, tượng này vốn từ tâm sinh ra, tâm có cảm nhận, tâm có hoan hỉ thì đó mới là thành ý lớn nhất của việc thờ phụng Bồ Tát. Bởi vì không có duyên phận thần tiên của kiếp trước, kiếp này sớm sớm tu trì thì cảm ứng chỉ dừng lại ở sự linh động của khởi linh mà thôi. Nhưng dù sao cũng đừng sốt ruột, sốt ruột cũng vô ích, chỉ cần nỗ lực chịu khó, không cần hỏi đến chuyện thu hoạch. Phải biết rằng chuyện cảm ứng đạo giao không phải cứ cầu là có thể có được, mà cần phải phối hợp với nhân quả kiếp trước nữa. Kiếp này tu tuy chưa đắc được gì, nhưng nếu không mắc sai lầm, thì kiếp sau càng có thể tiếp tục tu, hoặc vì một lòng thành thật nghĩ đến Phật quốc, niệm niệm thành thục, vãng sinh Phật quốc cũng rất có khả năng, việc tu hành này chỉ có lợi ích chứ không hề có hại, đời này không tu thì còn đợi đến đời nào?

Khởi linh thần công đệ nhất pháp, điều quan trọng nhất nằm ở niệm lực. Niệm lực là tất cả căn bản của khởi linh, nếu tinh thần gửi gắm vào không trung, nếu linh có thể khởi lên, có thể rất nhanh chóng được tiếp ứng bởi linh của không trung. Như sấm chớp vang rền, trong sát-na, con người chỉ cần dựa vào không khí mà có thể thăng lên nhập vào trong thiên giới, bước chân của "nhà du hành vũ trụ" đạp lên không khí mà cũng có thể đi lại trong linh giới. Dùng niệm lực để thúc đẩy linh lực, nhập vào tất cả thánh giới, từng thánh giới chắc chắn sẽ phải thốt lên với người tu linh là "thấy được điều này là đủ mãn nguyện rồi" .

Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh nói: "Hết thảy tông pháp đều là pháp giải thoát, từng pháp hiển thị trước mắt chúng sinh. Chư Phật Bồ Tát lập ra tất cả nguyên tắc, thật ra là chẳng có nguyên tắc, đừng quên sự tự giác ngộ mới là cái căn bản quan trọng nhất, chư Phật không thể giác ngộ thay được. Là người số một trong gia tộc thần tiên, thiên thượng địa hạ, duy ngã độc tôn, một phái Chân Phật chẳng phải thuyết giảng điều gì bí mật, cũng không thuyết giảng cành lá vụn vặt, mà chỉ thuyết pháp căn bản cơ yếu."


### 05. Pháp môn Tam Đại Chứng Không


Hôm nay, Liên Sinh khởi xướng Linh Tiên Chân Phật Tông, vẫn là để đáp ứng sự thuận lợi cho con người thời nay, hợp với trào lưu thế giới, đặc biệt là vào cái thời cần có bằng chứng này, nếu không thể lập tức khiến người ta có được cảm ứng thì rất khó tìm được người có duyên phận. Hơn nữa vào cái thời mà thuyết vô thần thịnh hành, nhân loại có cái tôi cao ngạo, ma kiếp ập xuống đầu cũng không tự nhận biết, thì chỉ còn cách để tôi đưa cánh tay nhỏ bé ra cứu vãn tình thế rối rắm này, khiến người người biết có quỷ thần, có nhân quả báo ứng, khiến thế nhân mau hướng thiện và tránh xa cái ác, xây dựng thế giới đại đồng tại tịnh thổ nhân gian.

Thầy tôi Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh chính là thiên tiên ở thượng giới, nhờ đạo pháp mà chứng đạo, ngài đã chỉ ra pháp môn Tam Đại Chứng Không, chính là Thiền Tông, Mật Tông và Linh Tông. Cho đến nay hai tông là Thiền và Mật đã phát huy rồi, còn Linh Tông thì vừa mới xuất thế. Tông sư các đời đòi hỏi có người tài giỏi xuất thế, còn Linh Tông lại do một người họ Lư nhỏ bé mở đường làm người tiên phong. Tôi chẳng phải là người tài giỏi gì, tôi chỉ thay thế cho cao nhân của Linh Tông trong tương lai sẽ xuất thế, làm công việc lót đường mà thôi. Trong tương lai, nghìn vị Phật ứng thiên hợp vận xuất thế, khi ấy mới là lúc Linh Tông phát dương. Tu Linh Tông không thể đi ngược với Phật giáo nguyên thủy, nó vốn là Phật giáo, chỉ là tu hành bắt đầu từ cảm ứng khởi linh, đây là điểm duy nhất khác biệt với các tông phái khác. Linh Tông không thể đi ngược với trung hiếu nhân ái tín nghĩa hòa bình, không thể làm trái lễ nghĩa liêm sỉ, mà luôn hợp với thiên đạo, hợp với đạo trung thành, giúp cho đất nước dân tộc mình hưng thịnh, cũng là đạt đến mục tiêu cuối cùng là người người hành thiện thành Phật.

Theo tôi được biết, hai tông Thiền - Mật rất gần nhau, hơn nữa còn có những chỗ không thể phân biệt, tổ sư Thiền Tông cũng học Mật, tổ sư Mật Tông cũng học Thiền, đến bây giờ còn có cảm giác Thiền - Mật bất phân nữa! Lão hòa thượng Thái Hư từng phân loại Thiền Tông thành: 
(1) Minh tâm Như Lai thiền 
(2) Siêu Phật tổ sư thiền 
(3) Siêu tổ ngũ gia thiền 
(4) Tống Nguyên Minh Thanh thiền

Còn nếu dựa theo tác phong để phân chia thì Thiền Tông thực tế có:
(1) Thánh giáo Như Lai thiền 
(2) Trực chỉ tổ sư thiền 
(3) Cơ dụng nhi tôn thiền 
(4) Khẩu đầu hà sa thiền

Tất cả pháp do các tổ sư Thiền Tông nhiều đời truyền khẩu và tâm ấn để truyền thụ, công án nhiều vô kể, có thể so sánh giống như hoa trời vãi xuống, đắc chứng hay không đắc chứng đều nằm ở giữa cái tướng, trong cái Không có cái Tính, lấy vật để chứng lý, lấy lý để chứng đạo, khá là lôi thôi luộm thuộm, năng lực lĩnh ngộ của con người bình thường cực kì hữu hạn. Có người chỉ ra rằng, Khẩu đầu hà sa thiền đã hình thành nên nhiều hủ tục đa dạng, trở thành đối tượng khiến người người châm biếm. Mặc dù có công án, nhưng lại không có chỗ đứng thật sự, để tâm ấn tự nhiên, tu mà không biết bắt đầu tu từ đâu.

Hơn nữa Mật Tông cũng như thế, Mật Tông có phân chia Đông Mật và Tạng Mật. Mật cũng tức là bí mật, đại khái là chỉ thân mật, ngữ mật, ý mật, giảng đại pháp để cắt đứt thân khẩu ý, sự sâu xa của nguyên lý trong đó, sự sâu xa của nghĩa đế lại càng không phải là thứ mà người bình thường có thể tu học. Có người giảng Đại Viên Mãn, có người giảng Đại Thủ Ấn, lại có người giảng pháp Kim cang liên hoa song vận, Mật Tông là thứ mà người theo Hiển Tông không thể hiểu được. Tôi cho rằng, pháp môn Chứng Không cũng lấy Mật Tông làm đầu, còn sự khác biệt giữa hai phái Thiền - Mật không lớn, nếu người tu hành không phải là bậc thượng nhân đại trí thì rất khó hiểu được chân đế trong đó.

Kẻ hèn này đã bước vào Phật môn, đã nghiên cứu khắp kinh thư, vì mong thể hội được tính Không, từng tu Thiền Mật, tôi cho rằng đây là pháp môn vô thượng. Bởi vì tôi đã đi vào môn công phu thiền định, từng đến Dục giới, nhưng rồi rời khỏi đó để vào Sắc giới, rồi mong cầu vô niệm nên lại nhập vào Vô sắc giới, thế giới hư không này giống như phía trên của tầng khí quyển, thuộc về thế giới của không còn hơi thở, là xứ Không vô biên. Đến được xứ Thức vô biên thì tất cả đều hoàn toàn mênh mông mù mịt, tất cả đều chẳng có gì. Tôi nhận thức sâu sắc rằng, đây vẫn chưa phải là xuất thế gian, ở xứ này vẫn dễ khởi lên tâm thiên lệch, hơn nữa hoàn toàn không có sự trả lời nào, nên tâm sinh ra hoảng sợ, đến cuối cùng chỉ có thể rút khỏi cảnh giới kì diệu ở đẳng cấp này, trở về trong Sắc giới. Tôi phát hiện thấy, tất cả mọi thứ của Sắc giới thiên chính là sự tương phản với Vô sắc giới, Vô sắc giới mới là một trận ma khảo lớn của tu hành giả chân chính. Nay tôi tu Thiền tu Mật, phát hiện ra điều mấu chốt thâm sâu ảo diệu nhất trong đó, chính là cái cửa của Vô sắc giới mới khó phá bỏ, ra khỏi Phi tưởng phi phi tưởng xứ thiên mới xem như là xuất thế gian, cái chỗ khó cũng nằm ở đây, người thượng phẩm đại trí mới có thể chứng được.

Do đã tu chứng hai tông Thiền Mật, tôi có thể nói rằng người trung phẩm và người hạ phẩm đều không có cách nào đắc được các pháp trong Thiền Mật, trong lòng tôi buồn vô cùng. Thế là tôi lấy điểm mạnh của việc ngồi thiền của Thiền Tông, pháp môn Đại Thủ Ấn của Mật Tông phối hợp với pháp Chuyết hỏa đi lên của Linh Tông, dựa vào sự hợp nhất ba thứ này khiến cho cảm ứng đến nhanh chóng, không chỉ là không, mà còn là cảm nhận thực tế, khiến cho người tu tập sớm chứng pháp thần thông, không vì Thiền Mật toàn là nói suông, mà khiến cho người ngoại giới chưa nhập môn cũng có được một chút hiểu biết. Tu linh thật sự nên công khai. Đây cũng chẳng phải là bí mật gì, tôi muốn người người đều hiểu được, Phật môn quảng đại, có thể độ trời người, không chỉ là độ người thượng phẩm mà ngay cả người trung hạ phẩm cũng là những người hữu duyên. Những bà lão không biết chữ không thể tu Thiền Mật nhưng nếu tu trì Phật hiệu thì linh lực vô hình cũng tràn đầy trong thân, tăng cường niềm tin và lòng ngưỡng mộ kiên định, xá lợi trên thân cũng ào ào sinh ra, đại đạo thần thông cũng có thể tự nhiên có được mà không có gì phải hoài nghi.

*"Tu Thiền giải thoát vốn vô tu
Tu Mật chỉ quán chứng Không tính
Thiền Mật cả hai đều vô trước
Giờ đây tam đại chứng Không môn."*

Đây là bài kệ mà tôi viết vào năm Dân Quốc 65 tại Từ Huệ Lôi Tạng Tự. Khi viết bài kệ này, từ không trung xuất hiện một đám mây mù lớn, trong mây mù xuất hiện một thần voi khổng lồ, trên lưng voi có một vị Đại Bồ Tát ngồi vững chắc, Bồ Tát này chính là Đại Hạnh Phổ Hiền Tôn Giả. Tôi thấy ngài phục sức trang nghiêm lộng lẫy, chư thiên hộ pháp đi theo, thiên thần tay cầm hoa sen các màu sắc hiện lên, Phổ Hiền mỉm cười, hé miệng nói: "Liên Sinh, đại hành vốn vô hành, nên tất cả thị hiện, quán Không vốn chẳng Không, nên tất cả là Không." Tôi ngước nhìn Bồ Tát, hai tay chắp lại kính lễ, thấy trên thân Phổ Hiền Bồ Tát tỏa ánh hào quang rực rỡ, xuất hiện ánh sáng ngũ sắc, ánh sáng ngũ sắc này có thể hút vào thả ra, giống như hình chiếc võng, mỗi chiếc lại xuất hiện một Phổ Hiền Bồ Tát nhỏ xíu, nhiều không đếm xuể. Không bao lâu thì tan biến mất.

Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh nói: "Người tu linh không thể tự cao ngạo mạn, người người đều từ cái gốc mà tu lên, một lòng học pháp thì sẽ đắc mọi pháp, dùng pháp này cứu người cứu đời, hợp với đạo chính thống, không thể đi ngược với thiên đạo mà các vị tổ đã giáo huấn, trung thành với đất nước với nhân dân, nhân nghĩa lễ tín, đặc biệt không thể không tuân theo."


### 06. Thông linh kiện thân và trúc cơ


Nguyên lý thông linh cũng có rất nhiều cái ngẫu nhiên. Sau khi thông linh có thể kiện thân, đến cuối cùng sẽ diễn biến thành "trúc cơ". Trúc cơ là từ của Đạo gia, nghĩa là bước thứ nhất của công phu vững chắc trong phương pháp tu mệnh. Còn về thông linh kiện thân, cô Tăng ở phố Tửu Tuyền, Đài Bắc có một ghi chép thật như sau:

"Thầy Lư: tôi và thầy cùng năm sinh. Tôi có một sự việc muốn thỉnh giáo. Thắp hương là công việc hàng ngày của tôi, từ khi đọc xong cuốn sách đặc sắc "Linh Thư" và "Giữa Linh và Tôi", tại Phật đường trong nhà mình (thờ phụng Phật Thích Ca Mâu Ni, Quan Thế Âm Bồ Tát, Võ Thánh Quan Công), vào buổi sáng sớm sau khi thắp hương, tôi quỳ xuống niệm Phật hiệu mười phút, niệm A Di Đà Phật, Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát. Một hôm sau khi tôi quỳ xuống niệm Phật mười phút, không biết thế nào mà đột nhiên muốn ngồi trên ghế, hai tay chắp lại niệm thầm A Di Đà Phật, một lúc sau, trước mắt hiện lên ánh sáng trắng lấp lánh, giống như ánh chớp, trong lòng sôi sục, hai tay tê rần. Đột nhiên có một khối sức mạnh kì quái tách hai tay tôi ra, tôi tăng tốc niệm Phật hiệu, ánh sáng trắng càng lấp lánh không ngừng, giống như ánh sáng tướng bạch hào của Phật Tổ vậy. Động tác hai tay từ tốn biến hóa, giống như đang đánh Thái cực quyền vậy, cuối cùng hai tay luân phiên nhau xoay tròn trên đỉnh đầu, vẽ ra một vòng tròn lớn, hai tay chắp lại lạy Phật ba lạy, tự động kết thúc. Sự việc này diễn ra trong mười phút.

Ngày thứ hai, tôi vẫn quỳ niệm Phật hiệu mười phút, sau đó ngồi trên ghế một phút thì hai tay tự động tách ra, động tác tay lạ lùng chưa từng thấy, nhưng tôi không thật sự kiểm soát được, sau đó hai tay chỉ lên trời như kiểu hợp nhất, bàn tay vẫn tách ra, trong sát-na, ánh sáng trắng đột ngột lấp lánh, trong tâm có một sức mạnh cuồn cuộn dâng trào, tiếp theo là một sự tĩnh lặng trống rỗng, linh hồn có một cảm giác muốn được thoát ra trong giây lát, lập tức hai tay tách ra, làm động tác thủ thế, các chuyển động rất lạ lùng, tổng cộng mười lăm phút.

Ngày thứ ba, trong mười phút niệm Phật hiệu, hai tay đã tách ra, tất cả như bình thường, không có ánh sáng trắng, tim đập bình thường, tay cũng không tê, thời gian mười lăm phút.

Ngày thứ tư, tôi quỳ niệm Phật hiệu chừng một phút thì lập tức tự nhiên đứng dậy, chú trọng vào một tư thế quỳ lạy chính xác, chỉnh sửa cho hoàn hảo hơn, phân hành động quỳ lạy thành ba đoạn, tư thế quỳ lạy này tổng cộng được chỉ dạy trong hai mươi phút, cuối cùng tôi quỳ niệm Phật, kết thúc khóa lễ buổi sáng.

Ngày thứ năm, chú trọng vào việc mát-xa mặt và các bộ phận trên thân thể, ngón tay tự động nhảy múa, mát-xa rất chuẩn khiến thân tâm khoan khoái.

Ngày thứ sáu, hôm nay là chủ nhật tôi không phải đi làm, buổi hôm nay tập trung vào mát-xa vùng dạ dày (đêm hôm trước dạ dày tôi không thoải mái), động tác rất mượt mà và nhanh, bảy mươi phần trăm thời gian là mát-xa bộ phận này và mát-xa mặt và cánh tay, thời gian khoảng một tiếng.

Ngày hôm nay tôi đặc biệt mở mắt ra trong khi làm khóa lễ buổi sáng, những gì mà tôi nhìn thấy cũng đẹp như những động tác mà tôi đã tưởng tượng trong khi nhắm mắt mấy hôm trước, có góc độ, có quy luật, thế tay (ngón tay) cũng kì lạ, thời gian hai mươi phút, đây là tình hình của ngày thứ bảy.

Ngày thứ tám, mát-xa vùng bụng, tôi chưa từng nghĩ đến việc dùng phương pháp này để mát-xa vùng bụng, ngay cả nằm mơ cũng chưa từng có, mát-xa mặt thì tay chuyển động cách mặt vài phân, và hai tay thì tựa như nắm vào một vật trong không gian, sau đó di chuyển hướng về phía da. Bắt đầu chú trọng vào hít thở vùng bụng, hít vào và thở ra theo sự chỉ đạo của thế tay, chậm rãi, khi hít vào, hít, dừng, hít, dừng, khi thở ra cũng giống như thế, tổng cộng ba mươi phút.

Ngày thứ chín, bắt đầu hướng dẫn cho vùng bụng vận động hít thở sâu, theo thế tay mà khởi lên đủ loại biến hóa, đứng dậy để hít thở sâu, hai chân cũng xoay tròn để hỗ trợ cho việc hít thở sâu, tổng cộng bốn mươi phút.

Ngày thứ mười, cũng giống như hôm qua, trừ ngày thứ nhất và thứ hai tôi quỳ xuống để làm khóa lễ buổi sáng, những động tác của quãng thứ hai gần như hoàn toàn là phương thức ngang bằng, nhưng quãng thứ ba thì lại giống như là tiến hành theo phương thức hình cung, điều này mới kì diệu làm sao. Đến nay tôi rất muốn biết linh lực này từ đâu đến? Tôi nghĩ thầy nhất định biết rõ, xin thầy hãy thắp cho tôi một ngọn đèn sáng chỉ bảo cho tôi."

Đây là ghi chép thật về biến linh của cô Tăng ở Đài Bắc. Việc khởi linh của cô Tăng này là không hề chủ định mà đột nhiên thành có, hơn nữa tất cả các thư thế thông linh làm khỏe mạnh thân thể của cô đều phù hợp với mọi hiện tượng sau khi khởi linh. Mặc dù hiện tượng của mỗi người mỗi khác, nhưng có nhiều điểm giống nhau hơn là khác nhau. Trong vô thức, cô Tăng đã bị linh lực chi phối, đã làm ra rất nhiều tư thế mát-xa mà ngay bản thân cô có nghĩ cũng không nghĩ ra được. Nếu nghiên cứu, tôi nghĩ những tư thế này phù hợp với động tác của mát-xa tám huyệt, pháp chỉ thủ ấn, nội gia thổ nạp, yoga kiện thân. Sau khi khởi linh, không cần sợ hãi, nếu có sự phát triển bình thường thì đây tuyệt đối không phải là hiện tượng nhập ma, hơn nữa cũng không phải là nhảy múa loạn xạ theo kiểu kê đồng. Sự hướng dẫn của linh ở mỗi người mỗi khác, nhưng thật sự đều rất tự nhiên. Sau khi thông linh, thần linh trong không trung hoặc thần linh trong nhà mình sẽ bảo vệ cho người thông linh có căn cơ thâm hậu, một cách vô hình huyền bí sẽ hướng dẫn cho người đó phương pháp tu hành, rèn luyện thân thể của người tu hành vô cùng cường tráng, quá trình rèn luyện này có thể gọi là "thuật trúc cơ". Trên thực tế, "trúc cơ" là một trong những công phu của Đạo gia, tất cả nền tảng của Đạo công, một người có thân thể ốm yếu muốn tu Đạo thì nhất định phải bắt đầu từ trúc cơ. Trúc cơ cao siêu nhất là phạt lông rửa tủy, thổ nạp chân khí của Đạo gia, huyền môn linh động, có thể khiến cho tóc trắng biến thành đen, da dẻ hồng hào, cơ xương chắc khỏe, hai mắt có thần, trường sinh bất lão.

Biến linh kiện thân có thể loại trừ bách bệnh của cơ thể, tác giả từng dùng nguyên lý này để thị phạm, hướng dẫn cho rất nhiều người mắc bệnh mãn tính, tự mình chữa trị bệnh tật của mình, hiệu quả của nó khiến người ta kinh ngạc cực kì. Nếu siêng năng luyện tập, công hiệu của nó thật sự là như thần. Trong chương sau, tôi sẽ lần lượt giới thiệu về thuật trúc cơ, trúc cơ không đơn giản, phải lấy sự siêng năng làm chủ, một khi siêng năng thì trăm bệnh tiêu trừ, thân nhẹ như chim én.

Công phu nhập vào thân người khác của linh, bí mật của yoga, tu trì Mật tông, nguyên lý biến linh, có ý thức và vô ý thức, sự vĩ đại của niệm lực, sự khai phá lĩnh vực tinh thần nhân loại, những điều này thần kì biết bao, dùng hai chữ "mê tín" để mà phỉ báng thì thật là vô tri biết bao.

Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh nói: "Đạo vốn vô Đạo, tức có công đức thiên biến vạn hóa, kiện thân chính là mục tiêu cơ bản của người thông linh, cũng là sự tổng hợp kiến thức bị thất truyền từ nghìn đời."


### 07. Sự thần bí của ý thức


Thế giới của việc khởi linh là bất khả tư nghì, tựa như nó là một vườn hoa không biên giới, một vườn đầy loài hoa không bao giờ nở [loài hoa không bao giờ nở là tên gọi của một loài hoa thuộc họ dâm bụt, hoa có màu đỏ hoặc hồng, cánh hoa luôn khép lại và bông hoa luôn rủ xuống, nên còn có tên gọi là loài hoa ngủ, tên khác là Thùy hoa huyền linh]. Một ngày bước được vào trong đó rồi, bạn sẽ phải kinh ngạc tán thán, đây thật là một thế giới huyền diệu! Điểm mấu chốt thật sự của khởi linh chính là nằm ở ý thức, cần biết cái vô thức của ý thức chính là khởi linh, đó cũng tức là thức của ý thức sâu hơn, điểm này vô cùng quan trọng, mối quan hệ đó trong siêu thoát tự ngã của Phật giáo Mật tông được giải thích rất tường tận.

Trong bộ não của con người có ẩn tàng một vùng tinh thần, và ý thức là chủ nhân thật sự của bộ phận đó, trình độ nhạy bén của vị chủ nhân này có một số là do trời sinh, nhưng lại cũng có thể dựa vào sự huấn luyện về sau. Phương pháp khai phá vùng tinh thần, dựa vào sức mạnh của ý thức để nghiên cứu sự thần bí của bộ não, chính là sức mạnh lớn lao của niệm lực. Thiền Tông ngày nay hoàn toàn dùng công phu nói đến ở trên, sự vĩ đại của Thiền và Mật cũng chính là siêu thoát tự ngã, sự ấn chứng tự ngã kết thúc sinh tử của bản thân, dựa vào sức mạnh tinh thần của bản thân trực tiếp vượt ra bên ngoài quy luật luân hồi của nhân thế gian.

Người tu linh dùng niệm lực để thúc đẩy sự hồi sinh của linh hồn, đây là phương pháp dùng vạn niệm quy về một, cũng chính là sự tập trung ý chí tinh thần mà người ta thường nói, không chỉ không thể phân tâm mà còn không chịu bất kì sự quấy nhiễu nào. Việc khởi linh này, tôi cảm thấy so sánh với việc gà mẹ ấp gà con là vô cùng thích hợp, khi gà con ra khỏi vỏ tức là linh hồn đã thoát khỏi Hải để luân, chỉ cần công phu sâu thì chẳng sợ không thành công. Vì vậy tôi nói, đây là công việc ấp trứng kiên trì, một khi nhiệt độ đủ thì linh hồn sẽ sống lại, phá bỏ lớp ràng buộc đó, cũng tức là tự do tự tại rồi.

Ý thức là một dạng chủ nhân vô hình phức tạp, não bộ là một cái máy, sự phức tạp của cái máy này có khi không có cách nào dùng ý thức để điều khiển được, bởi vì như vậy, tôi phân tích một cách đơn giản ba kiểu quan hệ của chúng như sau:

1. Ý thức và máy móc phối hợp đều đặn --- tức là một con người bình thường.

2. Ý thức vượt qua máy móc, phát huy toàn bộ công năng của máy móc --- tức là con người siêu cảm giác, người có hiện tượng linh dị, người khởi linh đều có thể tu đến được cảnh giới này.

3. Ý thức không có cách nào khống chế được máy móc, năng lực ý thức giảm sút --- đây chính là người có tinh thần suy nhược, và người có tâm thần thất thường, ý thức và bộ não không thể phối hợp, sinh ra hiện tượng tâm thần phân liệt.

Tuy vậy, khu vực tinh thần của con người không hẳn là đơn thuần như thế. Trong não của con người, do chủ nhân của ý thức có thể phát ra sóng của niệm lực, sự phát ra sóng này có tần số đặc thù, nếu phối hợp với hoạt động của linh hồn, có thể sản sinh công hiệu cụ thể, lực cảm ứng ấy là của siêu nhân. Một số người có thể biết những trải nghiệm tiền kiếp của mình, điều này không phải là giả, mà là linh hồn và chủ nhân của ý thức thâm nhập vào trong vành đai tư tưởng của kí ức tiền kiếp, cho nên con người siêu năng lực này đem đến cho nhân loại sự thán phục tột đỉnh. Thật ra đạo lý rất đơn giản, nếu ý thức đi khắp nơi hoặc tiến vào "vành đai kí ức tiền kiếp" thì tự có thể rút ra thông tin trải nghiệm được tiền kiếp của chính mình.

Có một Hoa kiều sống tại Toronto Canada, nguyên quán ở Đông Thế, ông ấy đi Hongkong, tiện đường đến Đài Loan tìm tôi. Ông ấy kể cho tôi một sự việc có thật: "Người cha sống tại Đông Thế của tôi đã đọc cuốn sách "Mạn đàm linh cơ thần toán" cùng "Giữa Linh và Tôi", cho rằng rất có giá trị, thế là ông liền gửi cho người con trai đang làm kinh doanh tại Canada là tôi. Tôi đọc xong thì cảm thấy cực kì kinh ngạc, thế là tôi liền tĩnh tọa tu trì pháp khởi linh theo như trong sách. Tôi thắp hương, thành tâm thành ý khẩn cầu, chỉ cảm thấy tay hơi hơi rung động nhẹ, những cái khác thì không cảm thấy gì, tuy nhiên tôi rất kiên trì tiếp tục tĩnh tọa, mỗi ngày một lần, chưa hề gián đoạn."

"Tôi rất ít khi nằm mơ, cho đến một ngày, tôi mơ thấy người bạn thân là Giản Quân mắc bệnh. Sau đó không lâu, tôi nhận được một bức thư, trong thư cũng nói anh ấy đã mắc một căn bệnh nặng, sự trùng hợp này khiến tôi cảm thấy vô cùng kinh ngạc. Thế là trước khi tĩnh tọa, tôi cầu nguyện với trời, đêm nay tôi muốn gặp người nào đó, nói ra kể cũng kì lạ, người đó liền xuất hiện trong giấc mơ của tôi, sự xuất hiện ấy bao gồm cả tình hình cuộc sống, sức khỏe, vận khí hiện tại của người ấy, đang làm công việc gì. Sau khi tôi ấn chứng bằng thư thì không có một chút sai lệch nào! Đây thật sự là một kì tích khiến tôi rất hưng phấn. Thế là cuối cùng tôi đã hiểu rằng không thể coi thường sức mạnh tinh thần."

"Có một khoảng thời gian, ngành bưu chính Canada có một cuộc bãi công lớn, tôi không nhận được thư của nhà gửi tới. Một lần tôi cầu được thấy mẹ tôi, thế là tôi liền trông thấy mẹ tôi nằm trên giường, xung quanh xuất hiện một đám đông người đang kéo tay kéo chân mẹ tôi. Tôi giật thót mình, lập tức tiến lên trước cật lực đánh đuổi những người đó. Sau khi tỉnh lại, trong lòng tôi biết mẹ tôi đang gặp nguy hiểm, liền vội vã đáp máy bay về Đài Loan. Vừa về đến nhà, mẹ tôi không ở nhà mà đã vào bệnh viện Hiệp Hòa rồi, đã hôn mê mấy lần, nhưng cuối cùng cũng đã cứu được mẹ tôi. Người nhà hỏi tôi làm sao biết mẹ tôi bệnh nặng? Tôi chỉ cười thôi."

Do có sự thật này, tôi phát hiện ra ý thức của con người rất kì diệu và bất khả tư nghì. Sự thần bí của ý thức có thể do "mộng giác" truyền sóng, nhờ sự phóng xạ của "linh giác" mà thăm dò tri thức ở tầng sâu hơn. Do vậy, lĩnh vực tinh thần của tôn giáo có thể được mở rộng, hơn nữa còn đạt được công hiệu với các lực lượng thần bí. Theo tôi được biết, linh giác là một loại cảm giác tối cao vô thượng, linh giác không chỉ có thể biết những gì đã trải qua trong kiếp trước, mà còn có thể biết trước thế giới tương lai. Nguyên tắc biến thân chuyển thế của tương lai đều có những quỹ tích có thể tìm thấy. Do đạo lý này, chúng ta có thể hiểu được nhân quả luân hồi trên thế giới này vẫn là những dấu vết không thể xóa mờ. Sự thần bí của ý thức cũng không thể suy đoán, huống hồ là cái linh giác còn chưa xuất thế đó!

Chúng ta có thể dùng lực ý thức để xung kích Hải để luân, phá bỏ cái tầng vỏ trói buộc linh hồn, nếu linh hồn có được sự yêu thích của chủ nhân ý thức thật sự, tự nhiên sẽ khai hoa kết quả. Tôi nói sự vô ý thức của ý thức chính xác là thiền, sức mạnh của thiền định và sức mạnh của linh động cùng có sức mạnh bát nhã, không nên tách biệt chúng thì tự nhiên sẽ đắc chứng chư thiên diệu hạnh.

Kẻ hèn này bắt đầu từ khởi linh, ngày thứ hai, tôi đã du lịch đến vành đai kí ức tiền kiếp, ấn chứng là thật rồi thì từ đó mới tin sự tồn tại của nó.
Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh nói: "Ý thức là chủ nhân của con người, vô thức chính là thiền, ý thức thật là linh, ý thức giả là ma, do ma sinh giả tướng, nên chấp mê điên đảo, nhập Phật nhập ma nằm ở sự thanh tịnh của linh."


### 08. Hư không tạng của chú lực


Sự tu trì của Chân Phật Tông có quan hệ rất lớn với mật chú, bởi vì chú tức là pháp, pháp tức là chú, chú ở đây chính là cái sâu xa huyền bí của ngôn từ trong tam huyền cửu yếu thần công, [tam huyền cửu yếu: ba điều huyền bí chín điều trọng yếu] do chư Phật Bồ Tát từ bi chúng sinh, thương xót chúng sinh không có môn tu hành, do vậy mà truyền xuống tâm đắc tu hành, hóa thành chân ngôn, dựa vào chân ngôn này mà thu hút chúng sinh. Chú cũng có thể nói là bí mật, bởi vì chú ngữ là sự chắt lọc cô đúc của pháp lực, là tập trung tinh hoa, người tu linh nhất định phải trì chú. Trì chú tức là phương pháp mượn sức mạnh của chư Phật Bồ Tát để nhập vào tâm mình, mượn tha lực để khiến bản thân thăng hoa nhập vào không linh. Những điều này nói ra thì đơn giản, nhưng nếu không thâm nhập thì thật sự không thể nói, cũng không thể hiểu rõ.

Trong Phật gia thì chú ngữ không được giải thích, bởi vì nội hàm của chú ngữ rất lớn, công hạnh của chư Phật Bồ Tát là bất khả tư nghì. Nếu giải thích thì đó chẳng phải là châu chấu đá xe sao? Cái này cũng giống như lấy trời xuống để giải thích vậy, trời tức là trời, vô biên vô hạn, làm sao mà giải thích nổi. Gần đây nghe nói có một số ít người xuất gia giải thích chú Đại Bi, ấn hành những cuốn sách như chú thích chú Đại Bi. Trên thực tế, đó là những con mắt phàm soi xét chú ngữ, không biết sự vô biên vô hạn của chú ngữ, cái này cũng giống như ném đá vào không khí vậy, sẽ chẳng nghe thấy âm thanh nào. Những cuốn sách này đọc cũng được, nhưng không thể cho rằng đó là ý nghĩa gốc của chú, nếu cho rằng là nghĩa gốc của chú thì sẽ là sai lầm đó! Nói thật sự, vạn pháp đều là chú, chú tức là vạn pháp, trì chú như ngồi thuyền pháp, từ bờ này mà lên được bờ kia, đó là một dạng sức mạnh vô hình ở trình độ cực cao, không thể xem thường.

Người tu Linh Tiên, trì chú thì có thể trì chú Lăng Nghiêm, cũng có thể tu chú Đại Bi, chú Chuẩn Đề Phật Mẫu, Thất Phật diệt tội chân ngôn… Ngoài ra, chú ngữ của Đạo gia có thể trì Tịnh pháp giới chân ngôn, Thông thiên như ý pháp chú, Hỗn nguyên chú, Kim quang chú, v.v… Cũng có thể chuyên trì một danh hiệu Phật, ví dụ có người trì một câu A Di Đà Phật, một câu A Di Đà Phật cũng có nghĩa là tổng quy y thập phương vạn pháp, một câu A Di Đà Phật nghĩa là sự quy về vạn hành, tâm dựa theo Phật xoay chuyển, và niệm lực sẽ thúc làm chuyển động (xoay tròn) bánh xe pháp. Khi tâm thông với Phật, tất cả cảm ứng lập tức có thể xuất hiện! Niệm Phật và niệm chú là như nhau, muốn đắc được cảm ứng thì nhất định phải quét sạch tất cả chướng ngại, nếu quét sạch được chướng ngại rồi thì tâm thông với Phật, tự nhiên sẽ có cảm ứng, đây là một việc tự nhiên sẽ đến, không có một chút nào miễn cưỡng.

Ở Đài Trung có một bà cụ không biết chữ, chưa từng đọc sách, cả đời phụng trì chân ngôn bốn chữ A Di Đà Phật, tâm không để ý gì khác, trì Phật hiệu lâu ngày, tự nói rằng sau khi chết có thể vãng sinh Tây phương, không có gì phải nghi ngờ. Sau khi bà cụ ấy qua đời, người nhà hỏa thiêu, có được xá lợi năm màu bảy màu nhiều không thể đếm hết, đều là những hạt xá lợi tròn xoe, kì lạ phi phàm. Công lực trì chú của một bà cụ già đã như vậy, thật là đáng hổ thẹn cho một số trưởng lão xuất gia.

Theo nghiên cứu của tôi, được linh sư trong cõi vô hình chỉ thị, chú là duy tâm, chú cũng là duy thức, tâm và thức vốn là một. Chú tức là cái gốc rễ của pháp, nếu dốc lòng trì chú có thể ấn tâm, trở thành như như bất động, nếu phóng chú ra thì có thể lan tràn khắp thiên hạ, trở thành hư không tạng. Vì thế chân lý có thể cô đọng lại thành một điểm, mà cũng có thể đúng mọi nơi mọi lúc, không thiên lệch, phá bỏ mọi chấp trước để trở thành chấp vào một thứ, thành tựu chấp vào một thứ và cái chấp này chính là chấp vào chú. Thế nhân không biết công lực này của chú, nếu coi thường và hoài nghi thì trong thiên hạ chẳng có pháp nào có thể đắc được.

Từ sau khi tôi có được khởi linh, tôi đã từng học thuộc rất nhiều kinh chú, tôi đặc biệt yêu thích chú ngữ, sự yêu thích này cũng không mô tả được sao lại thế, miệng chăm trì tụng, tai nghe rõ ràng, từng chữ từng chữ, không cầu tốc độ nhanh nhưng cầu ghi vào tâm. Tôi niệm chú rất lâu ngày, từ đầu đến cuối chẳng có được bất kì cảm ứng gì.

Còn nhớ có một lần, tôi đến một ngôi chùa nọ để bái Phật Tổ, ngày hôm đó cũng là ngày kỉ niệm A Di Đà Phật thành Phật. Bái Phật xong, tôi một mình đi vào trong Điện Địa Tạng, trong điện có đặt những hũ tro cốt của người chết, từng hũ từng hũ được sắp đặt rất chỉnh tề. Sau khi tôi lễ bái Địa Tạng Vương Tôn Giả, trong lòng nghĩ chi bằng nhiễu quanh phòng linh cốt này và niệm một vài câu chú vãng sinh, cũng xem như là kết một ít thiện duyên. Thế rồi tôi nói làm là làm, tôi chắp tay nhiễu quanh bên trong căn phòng, vừa đi vừa niệm chú vãng sinh. Nói ra kể cũng lạ, vừa niệm chú này thì tôi lập tức cảm thấy da đầu ngứa ran, mí mắt nháy nháy, thỉnh thoảng tôi nhìn chăm chú vào từng hũ tro cốt nhỏ, đột nhiên nhìn thấy trên mỗi một hũ tro cốt đều chìa ra hai bàn tay, hai bàn tay chắp lại. Tôi nhìn thấy thế thì trong lòng hơi hốt hoảng, nhưng không sợ hãi, tôi phát hiện ra vừa đi qua thì bàn tay cũng biến mất, tôi niệm đến nơi nào thì bàn tay liền xuất hiện. Cuối cùng, bên tai tôi nghe thấy nhiều người niệm chú vãng sinh, âm thanh lúc này không phải là của một mình tôi, mà là âm thanh của cả một đám người vừa già vừa trẻ. A! Tôi cảm thấy thần diệu quá, những vong linh ấy không ngờ lại cùng niệm chú ngữ với tôi chứ!

Từ sau lần niệm chú có được cảm ứng ấy, tôi bắt đầu liên tiếp có được cảm ứng. Có một lần quả thật là cảm ứng quá rõ ràng. Sáng sớm tôi niệm chú Lăng Nghiêm, vốn là tôi ngồi niệm. Đột nhiên tôi cảm thấy thân thể bay bổng, cái đệm ngồi không ngờ lại biến thành một đóa hoa sen màu đỏ, từ từ bay lên đến một vị trí nhất định. Tôi lại nhìn trước mắt, trước mắt cũng có một đóa hoa sen màu trắng, hoa sen trắng như tuyết, bên trong hoa sen có người ngồi vững, hai tay giữ tư thế trí huệ thủ. Tôi nhìn kĩ hơn, người ngồi trên hoa sen trắng đó thì ra lại là chính mình! Lúc này tôi niệm một câu, đối phương cũng niệm tiếp một câu, thế rồi hai bên niệm đối nhau, niệm xong, tôi ở phía bên kia cũng biến mất.

Năm xưa, Phật Thích Ca Mâu Ni cầm hoa khẽ cười, truyền đi tâm ấn, đó là sự khai ngộ của Sơ Tổ Thiền tông. Tôi phát hiện ra tâm ấn này không thể dùng ngôn ngữ mà giải thích được, giờ đây tôi cho rằng tâm ấn tức là chú, chú tức là tâm ấn, chú tức là đạo, chứng chú có thể xem như là chứng đạo rồi. Bởi linh chú tương hợp với ấn, có thể xoay pháp luân tam giới, nhất tâm xoay làm thiên hạ xoay, sức mạnh của chú không hề tầm thường. Trì chú là một trong những đại pháp của Chân Phật Tông, tương lai nếu có pháp hội, có thể dựa vào sự tương hợp chú lực của mọi người mà thỉnh Tiên Phật giáng xuống, dựa vào chú để định tam giới, dựa vào chú để phá bỏ tam giới, dựa vào chú để xuất khỏi luân hồi. Mỗi một người muốn tu hành, chí ít phải trì một câu chú, người người trì chú, người người tu chú, thân và chú hợp nhất, chú cũng tức là đạo.

Có thể trì chú trước khi khởi linh, sau khi khởi linh thì lại càng không thể không trì chú, thấy Phật chú như thấy cõi Phật. Trì chú phải chắp hai tay lại, trang nghiêm cung kính, khi niệm không chậm không gấp, âm điệu trung hòa, chú âm nói ra khỏi miệng, đi vào tai, in vào tâm, sau đó hóa vào vô hình. Nếu trì chú có mục đích, thì nhớ phải hồi hướng, dùng công đức này để hồi hướng cho tất cả chúng sinh hữu tình, khiến họ đắc chứng Phật đạo, sớm có ngày thoát khỏi luân hồi.

Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh nói: "Chú lực là vô hình, hư không ẩn được thân, là lời thề nguyện của chư Phật, không thể tùy tiện xem thường, nghe thấy phải trân quý, ẩn mà hóa tự thân, nhân tâm và Phật tâm, vốn dĩ chính là một."


### 09. Đỉnh cao nhất của linh khí


Người sau khi khởi linh, linh toàn thân giống như điện, từ tâm sinh ra tần số, chân tay thân thể trăm hình hài cũng là thể kết tinh của linh. Người đã từng khởi linh, hễ niệm lực động thì có thể sinh ra linh động, niệm lực mà dừng thì linh động cũng lập tức dừng lại, chân tay và toàn thân có thể tự do khống chế. Nhưng nếu không biết trình tự luyện linh, có thể nhờ linh bên ngoài đến để trợ giúp chúng ta, chỉ đạo chúng ta, đây là linh chỉ đạo, nghĩa là linh canh giữ chỉ đạo, còn gọi là hộ thần chỉ đạo. Phần lớn con người biết khởi linh trước, ngoại trừ tay rung động, toàn thân rung động, hoặc nhìn thấy nhiều màu sắc ra thì những cái khác không có cảm giác gì cả, tuy nhiên cũng có người khởi linh xong thì nhập vào địa vị "siêu giác", nhưng rốt cục thì cũng là hiếm có, trong trăm nghìn người cũng khó kiếm được một, hai người! Vì thế, luyện linh là rất quan trọng.

Mục đích luyện linh chính là thành Phật, không chỉ có thể có cảm ứng thần thông mà còn có thể xuất thần nhập hóa, chứng sáu đại thần thông, nhục thân thành Phật, trực tiếp nhập vào trong thế giới của những người siêu giác, chấm dứt tất cả sinh tử luân hồi, lập địa vị bất động, đây là đỉnh cao nhất của linh, tự thân không còn tồn tại, trời tức là ta, ta tức là trời.

Nơi luyện linh phải là một căn phòng yên tĩnh mới được, không nghe thấy những tiếng ồn ào xung quanh, không nghe thấy tiếng xe, trong phòng bày tượng Phật hoặc tượng các vị tiên, thắp hương hoa, mở đèn không nên sáng quá, chủ yếu cần trang trọng và kính cẩn. Một căn phòng rộng khoảng mười lăm mét vuông là được, không nên quá rộng hoặc quá nhỏ. Bày một chỗ ngồi trước tượng Phật, đó cũng là chỗ bản thân sẽ tĩnh tọa để luyện linh. Luyện linh và khởi linh khác nhau, người nào ngồi được thế kiết già thì ngồi kiết già, người nào ngồi được thế khoanh chân thì ngồi khoanh chân, nếu cả hai kiểu đều không ngồi được thì có thể ngồi tùy ý và ngồi tự nhiên (tư thế tùy ý). Trước khi luyện linh phải chú ý tắm gội tịnh thân, mặc quần áo rộng rãi thoải mái, tâm tình duy trì trạng thái yên bình, gạt bỏ tất cả phiền não. Trước tiên lễ bái chư Phật Bồ Tát tiên chúng thập phương, lạy theo kiểu chuẩn mực năm vóc sát đất, rồi lại lạy các vị tổ sư nhiều đời của Chân Phật Tông, tiếp theo bái lạy trời đất vua cha thầy cùng tất cả thánh chúng, lạy xong thì ngồi xuống.

Ngồi xuống hồi thứ nhất, trước tiên dừng dứt tất cả tạp niệm, sau đó bắt đầu quán tưởng. Quán tưởng bản thân mình vốn là một vị Bồ Tát, ngồi tại hư không cực kì rộng lớn vô biên, chỗ ngồi là một đóa hoa sen nghìn cánh, các cánh hoa đều nâng đỡ thân mình, còn thân mình nhẹ như sợi bông, giống như không có gì cả. Sau đó lại quán tưởng đầu mình đội mũ vàng Ngũ Phật, ngũ quan trang nghiêm, mặt mày hiền hậu, bát bảo trang nghiêm tô điểm cho bản thân, trên người tỏa ra ánh sáng ngũ sắc, hơn nữa bản thân cũng trong suốt tỏa ánh sáng, lấp lánh như pha lê hổ phách, tự mình tỏa hào quang vô tận. Lại quán tưởng phía sau có một vị Kim Cang Thần, tay cầm chày hàng ma đứng phía sau bảo vệ thân Phật, hàng phục tứ ma, khiến ma không thể xâm phạm chính pháp, không thể xâm phạm tôn giả tu trì mật hành. Tiếp theo lại quán tưởng cửa trời mở ra, thiên thần thiên chúng xuất hiện, từ không trung tung xuống hoa thơm, tán dương nghìn vị Phật xuất thế, vinh quang khắp thế giới, thiên thượng địa hạ, duy ngã độc tôn. Sự quán tưởng lúc này chính là tư dung trang nghiêm của bản thân tôn giả, đây không phải trò đùa. (Pháp tĩnh tọa thông thường chỉ bảo người ta nghĩ về hơi thở, thật ra nghĩ về hơi thở rất khó, suy nghĩ không có cách nào tập trung vào một thứ, do vậy tác giả muốn người người quán tưởng bản thân mình trang nghiêm, quán tưởng như thế lâu này thì ánh sáng sẽ hiển hiện, mọi hành động cử chỉ suy nghĩ đều trang nghiêm, thấy sai tức là sai, thấy đúng tức là đúng, bước đi khoan thai, tự bản thân sẽ không lộn xộn một chút nào.)

Ngồi xuống hồi thứ hai, hai tay chắp lại, niệm chú tịnh khẩu ba biến, thế tay lúc này lại làm thành ấn nhập trí huệ, sau đó niệm chú thân bí mật của chính mình 108 biến (cái gọi là chú thân bí mật của mình tức là một chú ngữ mà bình thường bản thân tu trì nhiều nhất, chú ngữ này đã đọc thuộc từ lâu, chú ngữ khác thì không nhất định phải thuộc, nhưng người tu linh, mỗi người cần học một chú thân bí mật của mình, trì lâu một câu chú, không tham nhiều, sẽ đạt thành tựu đột phá, rất kì diệu. Cách niệm chú không được giống với khi hát là từ trong tâm trôi tuột ra, mà đòi hỏi là phải từng câu từng từ đi vào trong tâm.)

Ngồi xuống hồi thứ ba, tay bắt thủ ấn kim cang luân pháp ấn, miệng tụng thánh hiệu của Tây phương tịnh thổ A Di Đà Phật, sau đó tụng thánh hiệu của Quan Thế Âm Bồ Tát, rồi tụng thánh hiệu của Đại Thế Chí Bồ Tát, ở đây tức là dựa vào pháp tu trì của Tịnh Độ Tông. Tiếp đó có thể chuyển động thế tay, xuất hiện ấn kim cang, ấn lên trán, ấn lên tâm, ấn lên hai vai, rồi lại ấn lên họng, đây chính là năm loại thánh ấn kim cang, có thể hàng phục tứ ma không sinh ra, cũng là không nhập vào chỗ nguy hiểm của ma đạo. (Phương pháp này rất ít người biết, nếu biết thì luyện linh sẽ không bị thiên ma quấy nhiễu, linh luật của ma sẽ không nhập vào trong thân mình, điểm này vô cùng quan trọng.)

Ngồi xuống hồi thứ tư, lúc này dùng niệm lực thúc giục linh thể của mình, khiến linh hồn của mình (chân nhân) từ Hải để luân đi lên, từ Hải để luân tiến vào vòng thổ luân, rồi lại từ vòng thổ luân nhập vào vòng khí luân, lại từ vòng khí luân nhập vào vòng thiên luân, lại từ vòng thiên luân nhập vào vòng không luân, từ vòng không luân ra khỏi tam giới hỏa trạch (xuất thần), cho đến khi đắc đạo chứng đạo, thành Phật, làm thầy của trời người.

Khi người bình thường vận linh sẽ sinh ra hiện tượng là hai tay rung động, hoặc toàn thân lắc lư bất định, hoặc không thì tay kết thánh ấn chuyển động khắp mọi chỗ không dừng. Công phu luyện linh tại thổ luân có thời gian vận hành lâu nhất, muốn đột phá thổ luân, nhìn chung mà nói thì phải mất đến ba năm. Khi ở thổ luân, linh chỉ đạo sẽ xuất hiện tự động hướng dẫn người tu linh làm sao để phá bỏ cái vỏ của thổ luân, nhưng vì thời gian ba năm cũng không phải là ngắn, hành giả bình thường không có tâm kiên trì thì nửa đường có khả năng sẽ từ bỏ. Xây dựng nền móng luyện linh trong ba năm có thể phụng thỉnh cao chân của cõi trên giáng xuống để chỉ dẫn, nếu không có biện pháp thì cũng có thể nhờ thần hộ pháp của chính mình chỉ đạo. Liệu có thể có thánh linh của bậc cao chân giáng xuống chỉ dẫn hay không hoàn toàn nằm ở tiên duyên của cá nhân đó, cái này thì không có cách nào miễn cưỡng được, thế nhưng có một chữ "thành" thì vàng đá cũng sẽ mở ra, thành tâm thành ý là vô cùng quan trọng.

Ngồi xuống hồi thứ năm, thời gian luyện linh do linh chỉ đạo tự quyết định, sau khi luyện linh xong xuôi, có người sẽ đổ mồ hôi, nhưng cũng có người không như vậy, có người lay động rất mạnh mẽ, nhưng cũng có người không như thế, chỉ hơi rung rung một chút thôi. Phương pháp luyện linh không nhất thiết là ai ai cũng giống nhau, nhưng sau khi hoàn tất việc luyện linh thì tự động lễ lạy thập phương chư Phật Bồ Tát, tổ sư các đời của Chân Phật Tông, trời đất vua cha thầy tất cả thánh chúng. Sau khi lễ bái xong thì có thể rời khỏi chỗ ngồi.

Đỉnh cao nhất của linh khí chính là xuất khỏi tam giới hỏa trạch, thành Phật tác Tổ, người vĩ đại có thể dựa vào việc tu hành pháp này bền bỉ không lười nhác, người có hứng thú thông thường thì chỉ đầu voi đuôi chuột, chỉ học khởi linh nhưng không luyện linh thì khả năng sẽ chùn bước không tiến lên nữa, nếu vậy thì thật là một đám người đáng thương! Tu hành là việc số một của con người số một trong thiên hạ, thân người khó có được, pháp môn tu hành đã được truyền xuống, nếu như vẫn không biết thì thật là đáng hổ thẹn.

Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh nói: "Chân pháp đã truyền xuống, đều dựa vào sự chân thành, dựa vào giới nguyện kim cang, tứ ma đều kinh hãi, từ vô thủy đến nay, vạn pháp đều quy tâm, tâm này nếu không diệt, sao trở về nguyên chân."


### 10. Thần diệu không thể tưởng tượng


Trong "Kinh Bảo Tích" có một đoạn nói rằng: "Phật nói với Địa Thiên Đại Vương, tất cả mọi pháp đều là Phật pháp. Đại Vương hỏi Phật rằng, nếu tất cả pháp đều là Phật pháp, thì tất cả chúng sinh cũng là Phật pháp ư? Phật đáp rằng, nếu không có cái tưởng điên đảo méo mó, thì tất cả chúng sinh đều là Phật pháp. Đại Vương! Nếu có được cái kiến thấy chúng sinh là đúng như thật chính nó, thì tất cả sẽ là bình đẳng chân như. Các hiện hữu này cũng là pháp giới. Pháp giới vốn không thể hiển thị, mà phải nhờ tới các hiện hữu giả danh này để hiển lộ. Mọi sự hiển lộ thế gian là vậy, cho nên mới có nói giảng." Đoạn này là Phật Đà nói với Địa Thiên Đại Vương, hôm nay tôi đặc biệt đưa ra để nói với mọi người.

Sự thần diệu của linh thật sự là bất khả tư nghì, nếu dựa theo lời Phật Đà nói, sự biến hóa của linh tức là sự biến hóa của tất cả Phật linh, tất cả linh đều là Phật linh, vốn dĩ không có sự khác biệt, chúng sinh, cầm, thú, tất cả những gì có linh đều là Phật linh, bởi vì mọi sinh vật đều có Phật tính.

Trong vũ trụ bao la này, trong không gian mênh mông mù mịt này, nếu khởi lên cái nhìn phân biệt thì tâm sẽ sinh ra sự khác biệt, tất cả những gì nhìn thấy cũng sẽ khác nhau. Nhưng nếu phân chia mọi thứ nhỏ hơn nữa thì sẽ thành thế giới của nguyên tử, điện tử, hạt nhân, neutron. Cuối cùng lại tách biệt nguyên tử, điện tử, hạt nhân, neutron ra thì sẽ có lượng tử, lượng tử mà lại phân ra tiếp thì không còn nữa, phân chia đến cuối cùng thì sẽ trở thành một chữ "vô". Và tôi phát hiện ra, tất cả mọi thứ này đều quy về một chữ "vô". Những nguyên tố khác nhau này thật sự là không thể phân chia được!

Nhưng mà thế nhân ngu muội vẫn đem các dạng vật chất ra mà phân chia. Ví dụ, tôn giáo thì phân linh hồn thành rất nhiều cấp độ, những cấp độ này vốn dĩ là chẳng có cấp độ gì, nhưng lại miễn cưỡng tách biệt nên linh hồn trở thành có cấp độ. Phương pháp phân cấp độ này chính là luận về cấp độ của linh. Mặc dù Lư Mỗ tôi không tán thành luận cấp độ, nhưng hành giả tu hành của Chân Phật Tông không thể không biết có một môn gọi là "luận cấp độ". Cái này chính là thế tục, do vậy mới có nói giảng. Về cấp độ của linh hồn, tôi phân biệt như sau, mong các đại đức thiện nhân suy nghĩ kĩ càng.

Thứ nhất là Phật linh.
Nói chung, Phật linh là những bậc giác giả trí huệ chí cao vô thượng, đối chiếu theo đạo lý mà nói thì chỉ có một môn là "pháp cứu cánh", nhờ phương tiện thiện xảo mà đưa ra vô số pháp môn tiện lợi, nhập pháp môn tiện lợi rồi lại tiếp tục nhập pháp môn cứu cánh, như thế có thể đạt đến cảnh giới Phật linh. Tự cổ chí kim, người chứng cứu cánh thành Phật thật sự cũng không thể tự tuyên bố, đây là bí mật số một trong thiên hạ. Tôi phát hiện ra chỉ có ba pháp môn là có thể tốc hành, mà thật ra ba pháp môn này lại chỉ là một, ở đây tức là môn phái Mật tông, môn phái Thiền tông, môn phái Linh tông, mà Linh tông chính là Chân Phật Tông do kẻ hèn này sáng lập. Chân Phật Tông và Mật tông, Thiền tông có thể hợp làm một, mối liên quan đạo lý trong đó là vô cùng rộng, chữ "Linh" này căn bản vẫn là không thể tưởng tượng nổi.

Thứ hai là Tiên linh.
Tôi nói một câu rất thẳng thắn thế này, chữ "Tiên" này không phải là ngoại đạo, những người nhạy cảm chớ hiểu lầm. Do có quá nhiều sự phân biệt Tiên nên dễ bị con người hiểu lầm, thật ra Tiên linh cũng là một cảnh giới chí cao vô thượng, điểm cao nhất của cảnh giới này cũng bình đẳng như một với Phật linh, Tiên linh cũng tu một trong những pháp xuất thế, cũng có nghĩa là xuất khỏi tam giới, chấm dứt sinh tử, ví dụ như Đại Hùng Kim Tiên có địa vị vô cùng cao quý, linh trí của vị ấy là chân như bất động. Hai chữ Phật và Tiên thật sự là như nhau, không hề có sự khác biệt. Có lẽ có người sẽ nói rằng tôi nói thế là quá to gan, nhưng chỉ khi bạn trèo lên được Kim Tiên giới, bạn mới có thể phát hiện ra chư Phật Bồ Tát vốn dĩ chính là Đại La Kim Tiên, đến lúc này thì không tránh khỏi bật cười lớn ha ha. Trừ địa vị Đại La Kim Tiên là ngang bằng với Phật Bồ Tát ra thì Thiên Tiên là ngang bằng với Duyên Giác, Địa Tiên là ngang bằng với La Hán, còn như Tán Tiên và Quỷ Tiên thì ngang bằng với địa vị của Thanh Văn. Những tiên chúng này phần lớn đều có thể tự mình sinh tử, nhưng cảnh giới thì không nhất định là giống nhau, nếu đã đặt bước chắc chắn vào cảnh giới Phật linh rồi, nhập vào cánh cửa cứu cánh cuối cùng rồi thì mới được coi là Đại La Kim Tiên.

Thứ ba là Thần linh.
Chữ Thần này được dùng rộng rãi nhất, cũng thông tục nhất, có người nói chữ Thần này là chí cao vô thượng, là tên gọi chung cho tất cả. Lại cũng có người nói chữ Thần này chỉ tương đương với ma cao cấp, cách nói này cũng không có gì sai, bởi vì mỗi người có cách nhìn nhận riêng. Ranh giới của thần linh quá rộng lớn, linh hồn chư thiên ở trong tam giới có thể gọi chung là thần, do đó thượng đế Jehovah là thần, Ngọc Hoàng Đại Đế cũng là thần, Thiên Đế của 33 cõi trời cũng là thần, thiên chúng của 28 cõi trời cũng đều là thần, trong đó cũng bao gồm cả thiên ma. Thiên ma cũng nằm trong hàng ngũ của thần, các thần của thiên giới cũng là thần, mà các sơn thần, thủy thần, thổ thần, miêu giá thần, ti lễ thần, thụ thần cai quản mặt đất cũng là thần. Thần có phân ra thượng thiên giới, trung thiên giới, hạ thiên giới, nhìn chung thượng thiên giới là tổ khí nguyên thủy xưng thần, trung thiên giới là thiên thần nhóm một, hạ thiên giới là phàm thần, tức là thần chúng sinh ra tại nhân gian thế giới Ta Bà. Thần của hạ giới thiên có nhân duyên sâu nhất với nhân gian, con người nếu dựa theo thiện công nghiệp báo thì cũng có thể xưng thần, ví dụ như Thổ Địa Phúc Thần chính là dạng này.

Thứ tư là Thánh linh.
Chữ Thánh này chỉ là dựa vào trình độ cực cao của việc tu hành các pháp nhập thế. Theo như tôi biết, người tu hành theo pháp này gọi là người thánh giới, trở thành thánh linh, cũng có tồn tại nhân duyên lớn với nhân gian. Thánh linh rất dễ ở tại nhân gian hướng dẫn cho con người tu pháp thế gian, phương pháp này cũng là một trong những pháp độ giải thoát tiện lợi. Thánh linh ở hạng này thì có khắp trong thập phương pháp giới, trở thành một đại tông phái thịnh hành nhất, tất cả lấy lý làm đầu, lấy việc làm người là cơ bản số một, linh trí của thánh linh cũng có phân biệt cao thấp, do vậy cách diễn pháp của họ cũng khác nhau.

Thứ năm là Quỷ linh.
Người chết trở thành quỷ linh, nếu là linh trong lục đạo luân hồi thì đều là quỷ linh. Quỷ linh cũng phân làm sáu đạo dựa theo hoạt động thần thức của tâm. 

Thành tiên thành Phật là do chữ linh này tác động, thành thần thành thánh cũng là do chữ linh này tác động, lục đạo luân hồi cũng là do một chữ linh này tác động. Trên trời dưới đất, bất kể là ở tầng không gian thứ nhất hay tầng không gian thứ tám thì đều là thế giới của linh. Phàm linh cũng có thần thông, đây chính là linh thông; phàm linh đều có Phật tính, tính này vốn là một, vốn là không, vốn là Phật, nếu phân ra kĩ hơn thì có thể phân chia như vậy, mà nếu hợp lại thì sẽ là một chữ Phật.

Kẻ hèn này phân chia một cách đại khái về linh hồn như vậy, thật ra cũng không phải là hoàn toàn đầy đủ, nhưng cũng có thể thấy được nét chính. Mỗi một linh đều có thể tu thành Phật linh, do vậy không được coi thường lẫn nhau, khinh thị lẫn nhau. Chính đạo và chính pháp cố nhiên là đáng phát huy, nhưng cũng không thể đối xử tùy tiện với "ngoại đạo". Nếu không có phương tiện thiện xảo của "ngoại đạo" thì cánh cửa cứu cánh không ai có thể vào được.

Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh nói: "Phật tức linh, tự gia tính, bái Chư Phật, lễ Kim Tiên, tu Linh Tông, tối căn bản."


### 11. Sự xuất nhập của siêu tự ngã


Trước khi viết chương sách này, tôi xin tiết lộ một bức thư.

*"Xin thầy Lư soi xét. Trước hết, tại đây tôi xin được gửi đến thầy lòng biết ơn sâu sắc nhất. Bố tôi vào ngày 19 tháng này đã mắc chứng bệnh lạ, khiến ông hôn mê bất tỉnh nhân sự, huyết áp lúc cao lúc thấp, đau đầu nôn mửa, được gửi đến bệnh viện Trung Sơn mới mở để điều trị, tình hình nguy cấp. Ngày 20, bạn bè vội vã về quê tôi để giúp đỡ, gặp được thầy từ bi phá lệ mà chỉ dẫn, dùng tâm bồ đề để mà chỉ điểm bày cách cho tôi, lại còn tự tay viết chú ngữ chỉ thị rằng cần đặt dưới gối của bố tôi, người chăm sóc phải thường xuyên niệm Phật hiệu của Vô Lượng Thọ Phật và Dược Sư Như Lai Phật, lại còn dặn rằng sau bốn ngày sẽ qua cơn nguy hiểm, rồi sau đó dần dần sẽ khỏe lại. Chúng tôi đều tuân theo đúng lời chỉ thị. Bây giờ quả thật đã ứng nghiệm rồi, đúng sau bốn ngày (ngày 25), bố tôi quả nhiên đã dần dần tỉnh táo. Lúc ông ấy nửa tỉnh nửa mê đã nói với mẹ tôi đang chăm sóc ở bên cạnh rằng: "Bà xem, nguyên thần của Lư Thắng Ngạn bay trong không trung đấu pháp cùng một tên ác ma kìa." Nhưng mẹ tôi nhìn rất lâu mà chẳng thấy gì cả, còn bố tôi thì cứ chỉ về phía trên phòng bệnh nói rằng ông ấy nhìn thấy. Sau đó không lâu, bố tôi đã niệm được chú Đại Bi bằng tiếng Phạn rất rõ ràng. Bình thường bố tôi ở nhà thường xuyên niệm Phật, còn lập ra cả một hội gọi là "Hội niệm Phật Tịnh Liên". Đến khi ông ấy tỉnh, ông ấy kể trong lúc hôn mê đều thần du, đi đến các chùa chiền ở khắp các khu vực miền trung. Nguyên thần của ông ấy được các thần thánh đưa đi cùng, thật là quá bất khả tư nghì. Thật sự vô cùng cảm ơn thầy, bố tôi tên là Lâm Đồng Cứ, sống tại thôn Lâm Nội, tôi là Lâm Chấn Thành."*

Bức thư này là do con trai của ông Lâm sống tại thôn Lâm Nội gửi đến. Đó là sau một tuần lễ tôi giúp ông ấy niệm tụng "Kinh Kim Cang Ba La Mật". Ban đầu tôi không thể tùy tiện bằng lòng giúp đỡ, bởi vì thế giới tâm linh vốn là một thế giới muôn vàn kì quái, nếu xử lý không thỏa đáng sẽ dẫn đến những phiền toái thật sự không thể nào chịu đựng được. Nhưng đúng vào lúc tôi định khước từ thì nhìn thấy một hình tướng rất kì lạ, hình như là ông Lâm Đồng Cứ đó tự mình đến để thỉnh cầu, hơn nữa trên mặt của người đàn ông này còn lộ ra ánh sáng cát tường công đức, khiến tôi không thể không nhận lời.

Tôi thích niệm kinh thay cho những người đang chịu đau khổ, cầu cho linh của Thần Phật đầy ắp trong tâm của những người ốm bệnh. Khi tụng kinh hằng đêm, tôi không thích bị người khác làm phiền, nếu có người làm phiền thì tâm thần không có cách nào yên ổn được, sức mạnh trì tụng kinh chú sẽ bị giảm bớt, cho nên tôi phải dừng hết việc xem bói cho người ta, bằng không mỗi khi tôi tụng kinh, sự viếng thăm của những vị khách không mời mà đến luôn luôn khiến tôi chịu không nổi sự quấy rầy ấy.

Đến ngày thứ ba, tôi im lặng tụng kinh, niệm chú Kim Cang đà-la-ni, niệm đến chỗ cực kì diệu, đến chỗ tinh mịn nhất, tôi nhập vào trong pháp vị của Kim Cang tam muội, đột nhiên thân có một đợt chấn động lớn nằm ngoài sự kiểm soát của tôi, tim dường như muốn nhảy ra khỏi khoang miệng, một cơn mê man ập đến, đầu tôi gục xuống cuốn kinh điển ở trên bàn, thân người cũng mê man thiếp đi, lúc này chỉ còn lại thần thức sống động mà thôi. Tôi cảm thấy linh hồn của mình cực kì khéo léo chui ra khỏi cái cửa duy nhất là lỗ ở đỉnh đầu, thế rồi linh hồn bay vút vào trong thế giới hư không.

Tôi trì chú Kim Cang Tâm đà-la-ni, đó là sự xuất khiếu kì diệu duy nhất của linh hồn, tôi không tự làm chủ được mình, không có sự thúc giục tác động nào của niệm lực, không có sự dẫn dắt của thần linh, không có sự chỉ dẫn của Bồ Tát, thật là kì quái hết sức! Linh hồn cứ bay đi với một tốc độ rất nhanh di chuyển về hướng tây, đây là sự xuất nhập của siêu tự ngã. Tôi hiểu rằng đó là vì có một sự dẫn động của nhiệm vụ khác, nếu không có mục đích, linh hồn sẽ không vô duyên vô cớ mà xuất du. Nếu xuất du mà không có mục đích, cái lỗ thủng tâm linh không thường xuyên được bảo vệ, thì rất dễ bị thiên ma chiếm mất, và thế là sẽ xuất hiện bản ngã cao ngạo, điều này không được Tiên Sư của tôi cho phép. Thế nhưng lần này xuất khiếu, sự việc xảy ra rất đột ngột, nhanh như điện như chớp, căn bản là không có một dấu hiệu báo trước nào, linh ấy giống như con rồng duỗi thẳng, nuốt vào và nhả ra như ngọn lửa, vừa nhập vào hư không giới là tự nhiên phi hành thần tốc.

Linh hồn tôi bay liệng ở nơi mát mẻ một hồi, sau đó nó giáng xuống giống như một cơn gió thổi ào đến, chỉ nhìn thấy Lâm Đồng Cứ nằm dài trên giường, bất tỉnh nhân sự, trên đỉnh đầu có đặt một bức tượng Kim Giáp Thần nhỏ, Kim Giáp Thần tỏa hào quang màu vàng kim. Có một tên thiên ma tay cầm cây rìu lớn áp sát muốn bắt lấy nguyên thần của ông Lâm, còn nguyên thần của ông Lâm thì đang trốn ở các lỗ cửa, thập thà thập thò, thụt ra thụt vào, tình thế vô cùng nguy hiểm, nhưng lại chỉ có ánh hào quang của một vị Kim Giáp Thần nhỏ bé để hộ thân mà thôi. Tôi vừa tiến lên trước thì thiên ma kia tay cầm rìu lớn chém xuống, tôi chỉ còn cách chắp tay lại niệm thần chú Kim cang bất hoại, rồi tay lập tức làm thành kiếm quyết niệm: "Lâm binh đấu giả giai trận liệt tại tiền", trì thêm mật ngôn lửa kim cang, chỉ về hướng thiên ma, chỉ thấy lửa kim cang cháy ầm ầm thành một bức tường lửa để chặn lại những nhát rìu. Tôi lại tiếp tục bồi thêm thần chú, lại trỏ về lửa kim cang, thế là thế lửa hừng hực liên tục thiêu đốt. Thiên ma bay vọt lên, cả hai truy đuổi nhau trên không trung, cầm cự được một hồi, tôi niệm chú thiên ma, tay vẽ hình một cái hồ lô trong không khí, viết chữ "lôi" (sét) bằng tiếng Trung, chỉ thấy một tia chớp lớn rất mạnh, một tiếng sét lớn làm rung chuyển núi sông. Thiên ma kia thấy thế trận như vậy bèn chạy mất tăm mất tích! Linh hồn của tôi cúi đầu làm lễ trước tượng Kim Giáp Thần, sau đó linh thân xoay vài lần rồi lại nhập vào trong cái thể xác của Lư Thắng Ngạn! Tôi từ trong mơ tỉnh dậy, nhìn vào đồng hồ đeo tay thì đã nửa đêm một giờ sáng rồi. Tôi đã ngủ mê man tổng cộng là hai tiếng mười phút.

Lâm Đồng Cứ hồi tỉnh chính là vì như thế, linh hồn của tôi xuất khiếu chính là như vậy.

Sự xuất nhập của siêu tự ngã là một dạng nguyên lí biến thân thần bí nhất của linh hồn. Sự biến thân thần bí này là bí mật cao nhất của hoạt động tâm thần. Trong những bí mật về Mật giáo thông quan từng đề cập đến điều này, người tu đạo không thể không biết, người tu hành thật sự có thể đến được bước này, không chỉ như vậy mà còn có thể "nhập tha thân", tiến nhập vào trong tâm của người khác để làm các hoạt động tâm thần, thần bí vô cùng.

Tôi từng tụng kinh cho người bị bệnh tâm thần thất thường, dùng pháp chỉ để vẽ phù chú. Có ma quỷ hiện thân nói:
"Liên Sinh, thầy làm pháp không công bằng."
"Sao lại nói thế?"
"Liên Sinh pháp sư, người mắc bệnh tâm thần hiện nay là người mắc nợ tôi từ kiếp trước chưa trả, kiếp này tôi mới quấy nhiễu kẻ đó, là đến để đòi nợ chứ không vì lí do gì khác, tôi chỉ muốn trút ra cái sự phẫn nộ trong lòng tôi thôi, thế mà bây giờ ngài lại giúp người này, chẳng phải là bất công, không công bằng đối với tôi sao? Như thế ngài có được xem là một người chính nghĩa không?" - Lời này của ma quỷ cũng có lí, nên tôi chẳng biết nói gì.

Chuyện của thế giới tâm linh nghìn đầu vạn mối, phức tạp vô cùng, đây chỉ là một trong số đó thôi.


### 12. Bí mật của ngón tay


Tôi cho rằng mười đầu ngón tay, hai bàn tay, là hình tượng của tâm. Khi khởi linh hai tay chắp lại, đặt trước ngực, như thế cũng là đạo của âm dương ngũ hành, cái nền cơ bản của trời đất, đó là ấn thần của trời đất thuần tịnh, chắp tay là quang minh trùng hiện của núi Tu Di, là Phật tử xuất thế, là điều quan trọng nhất của việc đắc đạo. Độc giả đừng coi thường hành động chắp hai tay lại, người bình thường không hiểu đạo lí chắp hai tay, cũng không hiểu ý nghĩa của việc chắp tay, trong suốt cuộc đời họ, cơ hội chắp tay chỉ đếm được một vài lần. Đây là những gì thường thấy ở phàm phu, kết thúc một đời vẫn không biết được chắp hai tay có diệu quyết thần công chẻ rời trời đất.

Mười ngón tay, dài ngắn khác nhau, một mặt chính một mặt lưng, một âm một dương, chẳng phải là hợp với thiên cơ kì số sao? Nhất là khi chụm mười đầu ngón tay lại, trở thành hình dạng giống như ngọn núi, đây chính là đạo sơn đã xuất hiện rồi. Lúc khởi linh, hai tay chắp lại, giống như duỗi ra vươn đến bầu trời, trong mây sương huyền diệu, núi Tu Di xuất hiện rồi. Cảm ứng của linh, với người bình thường thì bắt đầu từ hai bàn tay, đầu tiên có cảm giác hơi tê tê, giống như có dòng điện chạy qua, cảm giác giống như bị điện giật, thế nên đầu ngón tay sẽ hơi rung rung nhẹ, có thể cảm nhận được điều này. Dần dần, sự rung động sẽ càng mạnh hơn, giống như núi lở đất nứt vậy. Sự khởi động của linh đầu tiên là từ những ngón tay chắp lại, rồi lan tới khắp toàn thân, thế rồi toàn thân tràn đầy những dòng chảy của linh, và rồi bắt đầu chấn động mạnh mẽ. Hiện tượng rung lắc thì mỗi người mỗi khác. Cũng có người là do được truyền "chỉ pháp" [chuyển động của tay], linh ở trên trời giáng xuống truyền cho chỉ pháp, những chỉ pháp này chính là thủ ấn, thủ ấn chính là ấn bí mật, tương đương với một trong những thân bí mật trong Mật giáo. Nhìn chung, bí mật đầu tiên của bí mật là chỉ ý thức bề ngoài (chú ngữ), bí mật là chỉ ý thức tiềm ẩn (thủ ấn), thâm mật là chỉ ý thức sâu nhất (linh thông, thần thông), đây chính là pháp môn Tam Mật của Mật tông.

Khi khởi linh, nếu gặp được thiên thần giáng xuống, chỉ dạy cho "chỉ ấn", thì đây là hiện tượng của người có căn cơ lớn, có thể được thiên thần hạ giáng để dạy chỉ pháp đã là một điều rất không đơn giản rồi. Thiên thần dùng linh lực để làm chuyển động hai tay của người khởi linh, uốn cong các ngón tay để làm thành các thế tay (thủ ấn) đủ kiểu đủ dạng. Người học tập có thể mở to hai mắt để xem bàn tay của mình biến hóa, phần lớn sự chỉ dạy về thủ ấn đều vô cùng đẹp đẽ kì diệu, chỉ pháp thiên biến vạn hóa, những thủ ấn do mười ngón tay tạo ra có thể khiến người khởi linh đập bàn khen tuyệt. Lúc này có thể dùng ý nghĩ để ghi nhớ học thuộc thế tay, những thủ ấn này thuộc về các loại thủ quyết của nhà Phật, cũng có thủ ấn là không truyền, chỉ cần có được một thủ ấn thì đúng là nghìn vàng cũng khó mua được. Phần lớn người xuất gia, khi cúng đàn chẩn tế diễm khẩu thí thực, các thủ ấn đều là được thầy truyền cho trò, không thể bằng được như thủ ấn của Chân Phật Tông, bởi vì thủ ấn của Chân Phật Tông không khác gì được chân truyền từ cõi trời, không phải là người truyền cho người, mà chính là cơ mật thật sự của thánh linh Phật linh như vậy đó.

Hồi đầu, sau khi tác giả có được kì duyên tại Ngọc Hoàng Cung, trở về kí túc xá (trước đây đã từng kể trong cuốn "Mạn đàm linh cơ thần toán"), đêm đó Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh đã lập tức bắt đầu chỉ dạy thủ ấn thông qua linh. Ngài tách hai tay đang chắp lại ra, uốn cong ngón tay, ngay cả những chỉ pháp phức tạp cũng có thể tự tay chuyển động múa may được, những chỉ pháp ấy tôi chưa từng được nhìn thấy, nhưng không ngờ lại có thể tự thông thần tủy, cuối cùng đã có được thủ quyết và bộ pháp Tham tinh bái đẩu. Sự truyền dạy bộ pháp là Tiên Sư ở không trung sẽ kêu người học tự đứng dậy, sau đó linh thông nhập vào chân, chân tự di động, bước thành một bộ các bước chân với hình thế kì lạ, tôi còn nhớ mình ghi nhớ những thủ ấn và bước chân đó, trong đó có cả Bộ cang đạp khôi. Phương pháp truyền thụ này là do linh sư vô hình truyền thụ, trừ phi tự mình đích thân trải qua, bằng không thì chẳng có ai dám tin đây là sự thật. Nay Lư Thắng Ngạn tôi nói ra toàn bộ không giấu diếm về sự chỉ đạo tâm linh chân thực này, nếu có người còn hoài nghi không tin thì thật là oan uổng, thật là oan uổng!

Linh sư vô hình Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh truyền thụ Cửu tinh chỉ, Quang minh ấn, Định ấn, Lôi ấn, Kim quang ấn, Đại phiên thiên ấn, Mâu Ni ấn, Samaya ấn, Kiếm ấn, Tâm ấn, Nhập thần ấn, Trí huệ ấn, Cửu phẩm sinh ấn, Bát quái kim tỏa ấn, Quan Âm ấn, Liên hoa ấn, Thông thiên như ý ấn, Âm ấn, Dương ấn... Những ấn quyết mà Tam Sơn Cửu Hầu Tiên sinh đã truyền bao gồm các chỉ pháp của Phật gia và Đạo gia, và Chân Phật Tông dùng các ấn phối hợp với nhau, phát huy thần lực vô hình, sức mạnh của nó không thể xem nhẹ. Rèn luyện chỉ pháp cũng là kết quả của khởi linh, đòi hỏi sự tập trung tinh thần, thành tâm cầu nguyện tiên linh chỉ điểm, tin tưởng vào đạo lí những thiên nhân từ bi không từ bỏ hay mặc kệ mình. Sự ảo diệu thần bí của ngón tay tức là bí mật của thân, thân như núi Tu Di, tự nhiên phóng tỏa hào quang, lập nên nền móng đạo của trời đất, hóa nên Phật quả muôn đời. Một tay chỉ trời, trời tức là thân ta hóa nên, một tay chỉ đất, đất tức là thân ta biến hóa ra, vả lại, một chữ "đạo" vẫn là "thiên thượng địa hạ duy ngã độc tôn".

Tâm trong tâm ấn pháp, tôi đặc biệt chỉ rõ đó là "chú", ấn trong tâm ấn pháp, tôi đặc biệt chỉ rõ đó là "maya", maya có ba loại, tức là samaya Phật bộ, samaya Liên hoa bộ, samaya Kim cương bộ. Những chỉ pháp này, trong sách cổ thông thường của Phật gia có pháp tu, ở đây tác giả không nói nhiều, nhớ rằng phối hợp tâm với ấn, tâm ấn nếu phối hợp với nhau thì cánh cửa đi vào bí mật sâu nhất đã được mở ra rồi. Điều khó nhất là người tu không bền lòng, tính tình nôn nóng, muốn trong một thời gian ngắn ngủi mà đạt được thành tựu lớn, họ thật không biết nhân duyên chưa sinh thì thiện quả chưa kết, trèo cây bắt cá, làm sao được chứ!

Luyện thủ ấn cũng được xem như một trong những phương pháp luyện linh, nếu thủ ấn có được thành tựu thì có thể ở trong chùa Phật của Linh Tiên Chân Phật Tông đảm nhận vị trí trụ trì, ấn chú gia trì, thiện công bố thí, nhất khí thượng thiên đình, thiên đình hóa tam thanh, Đạo khí có được thành tựu thì linh giống như con rồng duỗi thẳng, tự mình hiểu được thân thần biến, nếu giác ngộ chân đạo thì thành Phật tác Tổ, tự nhiên được như mong đợi.

Linh Tiên Chân Phật Tông tu pháp theo thứ tự:
Khẩu - chú - ý thức - cái ngã [ta].
Thân - ấn - tiềm thức - tâm.
Ý - thần thông - ý thức sâu nhất - linh.

Căn cứ theo việc tu trì tam thân "ngã - tâm - linh" cùng phối hợp với nhau theo Linh Tiên Chân Phật Tông của tôi, "ngã" tức là khẩu, trực chỉ chú; tâm tức là thân, trực chỉ ấn; linh tức là ý, trực chỉ thần thông, thần thông tức là sáu đại thần thông, là sự biến hóa của Phật Tiên, có vậy thôi!


### 13. Ý niệm về Như Lai


Ý niệm về Như Lai là một dạng giác ngộ "đại biến linh", vị giác ngộ bất sinh bất tử, có thể sinh có thể tử, trong mười pháp giới tự do xuất nhập tùy ý muốn, bởi vì ý niệm về Như Lai là bí mật thâm sâu của đại biến linh, phàm phu bình thường không dễ mà hiểu được, thậm chí người có trí huệ siêu giác, vì nhất thời sơ ý, cũng không dễ biết được hệ ý niệm bí mật thâm sâu hiếm có này. Như Lai, "cũng chẳng có đến, cũng chẳng có đi", vì thế mới gọi là Như Lai.

Có lão cư sĩ học Phật nhiều năm, tôi từng hỏi ông ấy rằng: "Tiên sinh có hiểu các bậc Như Lai làm sao để đắc chứng Như Lai không?"
"Tu theo Phật thừa là có thể đắc được Như Lai thừa." - Lão cư sĩ trả lời.
"Ý niệm về Như Lai là gì?"
"Ồ… ý niệm về Như Lai…" 

Lão cư sĩ suy nghĩ rất lâu, nhưng không thể trả lời được điểm chính yếu, không thể đoán, cũng không thể giải thích. Nếu như các độc giả đọc lại bài viết "Xuất nhập thập pháp giới" thì sẽ hiểu được một cách sâu sắc, Như Lai là đại giải thoát hoàn toàn tự do, có thể nói là không bị trói buộc tại trời đất, là tâm pháp tối thượng thừa của triết học vô chướng ngại, và cái gọi là tâm pháp vô thượng thừa tức là "linh", tổ sư các đời không nói ra, chỉ có mỗi tôi nói ra thôi.

Tôi từng vì tìm tòi ý niệm về Như Lai mà đi vào trong núi sâu. Trong núi có một cái hang, tôi đi vào trong hang tối om om, lấy một ít lá khô bên ngoài hang để làm thành đệm ngồi. Một ngày của tháng 12, trời âm u lạnh lẽo, gió thổi heo hút từng cơn, ở giữa rặng núi này dường như chỉ có một mình tôi. Đứng ở cửa hang, tôi nhìn ra xa bốn hướng, không nhìn thấy đường chân trời, những tầng mây quá thấp, chỉ trông thấy mặt đất mờ mịt, khắp nơi đều như có khói mỏng. Tôi trở vào bên trong hang động, tọa công một lúc, toàn thân bắt đầu sinh ra nhiệt năng để chống lại cái khí lạnh lẽo trong hang. Hang núi ban đầu âm u thì nay dần dần sáng lên. Bản thân dường như vừa uống rượu say, có một chút cảm giác say mê và nhẹ lâng lâng, khi ngồi yên thêm một lúc thì hiện tượng say này hoàn toàn biến mất.

Lúc này, từ chỗ huyền quan của chính mình lóe lên một đốm lửa lấp lánh, đốm lửa nhỏ chiếu ra một đóa hoa sen đỏ vô cùng rực rỡ. Hai mắt tôi nhìn chăm chú vào đóa hoa sen đỏ, rồi cứ thế nhập vào trong thế giới của đóa hoa sen đó. Đây là một dạng sức mạnh của tư duy suy tưởng, ý niệm về Như Lai chính là ở trong bông hoa sen đỏ vô cùng xinh đẹp này, thân bí mật Như Lai bất khả tư nghì sẽ hiển hiện ra.

Ở chính giữa hoa sen có một vòng ánh sáng, vòng ánh sáng quay tròn không ngừng, ánh sáng của vòng ánh sáng giống như ánh sáng của tia chớp tuyệt đẹp, trắng sáng, sự tròn trịa của cái vòng ánh sáng đó không có một chút khiếm khuyết nào. Trong vòng ánh sáng hiện lên từng chữ từng chữ một, rồi từng chữ từng chữ một lại biến mất, chính là chữ "Như Lai quang luân, hàng tận thiên ma". Tôi nhìn được tám chữ này thì lĩnh ngộ được vô hạn chân ngôn quyết ngữ: "Sự vô hạn của ánh sáng giống như tâm cảnh của Như Lai, sự vô tận của thần hóa là cũng là chỗ quy y của nghìn ma, Như Lai hiển tính thì ma tất sẽ lui về ẩn náu, Như Lai nhập mật thì ma sẽ xuất hiện, tất cả mọi đạo đều nằm trong biến hóa thân của Như Lai và ma."

Lúc này, vòng ánh sáng biến mất, trên đóa hoa sen đỏ xuất hiện tháp Phật đa bảo, tỏa ra ánh sáng thần thánh rực rỡ trang nghiêm, hàng nghìn con chim ngậm hoa ở mỏ, hót lên âm thanh hòa nhã, ca ngợi tháp Phật đa bảo. Tôi tỉ mỉ quan sát bảo tháp này, quả nhiên là bảo tháp được hóa ra từ đóa hoa sen nghìn cánh. Ngoài những thứ trang sức trang nghiêm ra thì ở xung quanh bảo tháp còn hóa ra vô số Phật và Bồ Tát đang ủng hộ. Tôi không hiểu được ý của đạo lí này. Không lâu sau, tháp Phật đa bảo lại biến mất. Lúc này, hoa sen nghìn cánh cũng biến mất theo, hang núi lại trở lại tối đen như ban đầu. Tôi thu lại ngọn lửa tỏa ra từ huyền môn, tất cả cảnh vật lại chìm trong sự âm u.

"Liên Sinh! Cái gì là thân bí mật của Như Lai?" - Trong không khí có âm thanh hỏi.
"Pháp thân Như Lai không đến không đi, vì thực tính của mọi pháp là bất động. Cũng là chân như Như Lai, pháp giới Như Lai, pháp tính Như Lai, không có tính hư vọng cũng là Như Lai, không có tính biến dị cũng là Như Lai, tính bình đẳng là Như Lai, tính li sinh là Như Lai, thực tính là Như Lai, trụ tính là Như Lai, thật tế là Như Lai, hư không giới là Như Lai, bất tư nghì giới là Như Lai, tính vô sinh là Như Lai, tính vô diệt là Như Lai, tính như thực là Như Lai, tính viễn li là Như Lai, tính tịch định là Như Lai, tính không là Như Lai, tức là không đến không đi. Đây là ý nghĩa trọng yếu trong "Kinh Đại Niết Bàn".

"Mỗi Liên Sinh biết, nhưng chúng sinh không biết, vậy ngài làm sao?"
"Rốt cục là bất khả thuyết." - Tôi trả lời.
"Tháp Phật đa bảo thị hiện, ngài có hiểu không?"
"Không hiểu, mong thần linh chỉ bảo." - Tôi cung kính trả lời.
"Khi một vị Phật, một vị Như Lai xuất thế, tháp Phật đa bảo chắc chắn sẽ từ trong đất trồi lên, cứ thế sẽ xuất hiện tám vạn bốn nghìn pháp môn trên thế gian, rồng và trời sẽ cùng ủng hộ, trong đại thiên thế giới này, ánh sáng sẽ chiếu khắp pháp giới, từ vô thủy đến nay chưa từng thấy có. Liên Sinh, thân bí mật của Như Lai, tiết lộ ra cũng không có hại gì, ánh sáng chói lọi sẽ bắt đầu từ trong mọi bí mật này mà hiển lộ, và tất cả sẽ được thành tựu."

"Liên Sinh! Cái gì là thân bí mật của Như Lai?" - Linh trong không trung lại hỏi.
"Pháp thân Như Lai, tất cả pháp, tính tướng bình đẳng, cùng một thể đồng nhất, phàm - thánh, mê - ngộ, ô nhiễm - thanh tịnh, nhân - quả, đến - đi, tiến - lùi, đều giống nhau. Thế nhưng đấng Như Lai là viên ngọc mani đã được mài giũa, tự nhiên sẽ tỏa sáng rực rỡ, chúng sinh đều có Phật tính, cho nên ngài là bậc giác ngộ đại biến linh, nói như vậy có đúng không?"
"Rất đúng!"
Linh ở trong không trung này chính là Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh.


### 14. Sơ chuyển pháp luân tại Tứ thiền


Nếu học được "Khởi linh thần công đệ nhất pháp" thì cũng tương đương đã nhập môn Chân Phật Tông, công phu luyện linh là ba pháp môn Thiền tông, Mật tông, Yoga kết hợp làm một. Tu hành của Chân Phật Tông không khác với các đại môn phái Phật giáo khác, ngược lại, vì đã ấn chứng được Phật pháp nên khiến cho Phật pháp vô hình nhờ có hành vi tu hành cụ thể mà càng phát huy rộng rãi. Nay tôi đặc biệt nhấn mạnh bốn chữ "pháp luân thường chuyển", vì "pháp luân thường chuyển" không phải là lời nói sáo rỗng, cũng không phải là lí luận. Điều quan trọng nhất là vận chuyển "khí" chân chính ở trong thân của mình, vận chuyển "linh" chân chính ở bên trong thân thể của mình. Phật pháp vốn không theo đuổi thứ ở bên ngoài, ý nghĩa chân chính của nó chính là ở đây. Thế nhân không hiểu, cứ đòi hỏi cảnh giới thần thông mà không hề biết rằng, nếu sơ chuyển được pháp luân thì đã là cảnh giới bốn thiền định rồi, điều này thần kì lắm thay, không thể lường được!

Trong "Kinh Câu Xá Luận" có nói: "Tu hành nhập định mặc dù có nhiều kiểu, nhưng thật sự nhập môn chỉ có hai, một là quán bất tịnh, hai là niệm hơi thở. Tu quán bất tịnh chính là để trừ tham. Đối trị cái tham có hai kiểu pháp quán: một là quán thi thể của mình, hai là quán thi thể của người khác. Người có căn cơ sắc bén, trên thi thể của mình từ chân tới đỉnh đầu, quan sát xung quanh, lệnh cho tâm chán ghét. Nếu người có căn cơ ngu độn, phiền não mãnh liệt, thì khó mà thúc đẩy được chính mình hàng phục, phải dựa vào lực của duyên bên ngoài thì mới trị được. Người quán thân của người khác, đầu tiên phải khởi tâm từ bi, đi đến nơi có thi thể, dựa vào tướng của người ta để thấy được tướng của chính mình, tướng kia như thế, tướng của mình rồi cũng sẽ như thế."

"Tiếp theo, nhờ thi thể của người khác mà làm tám loại quán tưởng để hàng phục và đối trị với bốn cái tham, trị được người mê đắm vào nhan sắc, quán tướng xanh ngoét và tướng đỏ thẫm. Để đối trị với sự mê đắm vào tướng mạo con người, quán bị cầm thú ăn thịt và năm bộ phận bị cắn rời. Để trị kẻ mê đắm vào cơ bắp xương cốt, quán tướng bị hư hoại và tướng trơ xương cốt. Để trị kẻ mê vào đồ ăn ngon, quán tướng phì nộn và tướng thối rữa. Cuối cùng, vì toàn thân chỉ còn là bộ xương, từ đó tu bất tịnh."

Trong "Câu Xá Luận" nói đến quán bất tịnh là nói đến sự bất tịnh của bốn đại. Con người sau khi chết đi, ai nấy đều sợ hãi, bởi vì nhan sắc người chết xấu xí, có những cái chết thê thảm, đột tử thì càng đáng sợ hơn. Rồi lại quán ngược lại bản thân mình cũng thế, rồi tự nhiên nảy ra suy nghĩ muốn tu hành, lúc này cái tâm trục danh cầu lợi mới xem như có thể lắng xuống, từ định sẽ sản sinh ra trí huệ. Nếu sinh ra trí huệ thì mới xem là sơ chuyển pháp luân, phần lớn phải có trí huệ rồi mới có thể nhập thiền. Bất tịnh quán này cũng xem như là cơ sở của bốn thiền định.

Trong "Câu Xá Luận" còn viết: "Người niệm hơi thở là tập trung về hơi thở ra vào, chính là để đối trị suy nghĩ tán loạn. Chỉ tu theo cách tập trung hơi thở này có sáu loại: Sổ tức, Tùy ý, Chỉ tức, Quán tức, Chuyển tức và Tịnh tức. Sổ tức là đếm số lần thở ra hít vào, để ngăn không cho tâm phân tán vào cái khác. Phàm là đếm hơi thở thì trước tiên phải bắt đầu từ đếm hơi thở hít vào, con người mới sinh ra thì hít vào trước, lúc chết thì thở ra một hơi thở cuối cùng, chỉ thở ra và không hít vào nữa thì là chết. Dùng cách này để quán sát về sinh tử, về vô thường, dần dần có thể đắc được việc tu tập. Tùy ý là dựa theo việc hít vào thở ra mà xác định trong tâm đó là hơi thở ngắn hay hơi thở dài. Chỉ tức, nghĩa là sau khi hít hơi thở vào thì dừng lại, ý niệm sẽ ngưng lại ở ngay đó. Khi Chỉ tức, tâm dừng lại ở đầu mũi, hoặc ở giữa hai lông mày, hoặc ngón chân, dừng lại ở chỗ nào tùy ý. Pháp Quán tức, là quan sát hơi thở trên thân, ví như sợi chỉ ở giữa viên ngọc. Chuyển tức còn gọi là là đại chủng tạo sắc (đất nước lửa gió) và tâm, quán cùng với tâm. Tịnh tức [làm an tịnh hơi thở] thì là đệ nhất pháp xuất thế, có thể giúp tiến vào bát kiến đạo, tận trí đẳng, đạt tới cảnh giới cùng tận của trí huệ, nên gọi là Tịnh tức. Tu theo hai cách quán [bất tịnh và hít thở] này thì tâm sẽ định."

Trong "Câu Xá Luận" nói về cách hít thở, không hẹn mà trùng hợp với tĩnh tọa của Đạo gia. Thật ra không có gì là kì lạ ở đây, Đông phương thánh triết và Tây phương thánh triết của Lục Tượng Sơn là đồng tâm đồng lí, Phật pháp và Đạo pháp phần nhiều là giống nhau, khác biệt thì ít. Pháp luân thường chuyển của Đạo gia đích thực chính là pháp hít thở, cũng tức là dừng suy nghĩ mà đếm hơi thở, bởi vì linh nằm ở Hải để luân, cho nên muốn phá được Hải để luân để cứu linh hồn, có thể dùng niệm lực và cách hít thở để phá, nhìn chung việc hít thở của người tu Đạo rốt cuộc rất khác với phàm phu. Phương diện này có hai nguyên tắc: nguyên tắc thứ nhất là hít vào liên tục cho đến đan điền, nguyên tắc thứ hai là hít vào nhiều thở ra ít. Người tu Đạo chúng ta phải hiểu, nếu khí vào đan điền thì tức là "quy nguyên" [trở về nguồn], sau khi quy nguyên thì mới thở ra, đây chính là để kéo dài sinh mệnh, nếu luyện tập cách hít thở lâu ngày thành quen thì rất nhanh chóng có thể đạt đến cảnh giới bốn thiền, bằng không thì ngồi khô cả đời cũng chỉ uổng công. Cách hít thở nếu có thể liên tục đi vào đan điền, đan điền tất nhiên sẽ phát nhiệt, vì sự lưu chuyển của khí vẫn là một trong những phương pháp làm vững chắc cái gốc. Nếu gạt sạch được khí âm u lạnh lẽo thì đan điền sẽ sản sinh ra khí ôn hòa, đây là hiện tượng tốt, cho thấy cách hít thở đã đạt được ấn chứng sơ bộ rồi.

Nhìn chung, tĩnh tọa phải tập trung tinh thần trước, đặt tâm niệm ở giữa hai mắt, hoặc hơi thở dưới mũi, tư thế ngồi tùy ý, trang nghiêm tự nhiên, một hít một thở, rõ ràng đến mức có thể nghe thấy, cuối cùng hơi thở mới hóa thành vô hình. Hít khí vào nhất định phải xuống đến đan điền, cứ tuần hoàn như vậy mới xem là cách hít thở chính thống. Phương pháp nội đan điền này chính là pháp luân thường chuyển ở bên trong thân. Trước khi vào pháp tọa, cần làm động tác chuẩn bị là hai chân duỗi thẳng song song, dùng niệm lực để hít vào một hơi chân khí, dồn ép khí này xuống hai chân, rồi lại đẩy khí này ra đầu ngón chân, đây cũng là phương pháp để loại bỏ khí bẩn đục trước khi tĩnh tọa, và cũng có tác dụng tập trung tinh thần. Khi tọa công, cần hết sức chăm chú vào việc hít thở, tay có thể để cho một nửa linh lực chi phối để hiển hóa thủ ấn một cách tự nhiên, nếu không thể hiển hóa thủ ấn thì có thể để hai tay nắm chặt là được. Vì ý niệm chỉ tập trung vào hơi thở, cho nên niệm lực có thể quy về một điểm, thường xuyên chuyển động pháp luân như vậy thì trí huệ sẽ sinh ra thiền định, có thể song tu Phật - Đạo được. Trong dạ dày giống như có một quả cầu lửa đang cháy, như say như mê, nhập vào bốn thiền, thấy được cảnh tượng tuyệt vời, thu được tiên duyên, lửa trong lò cháy rực, đây vẫn là chứng nghiệm ban đầu.

Kết cấu của thân thể con người thần kì không thể suy đoán, ngũ hành tự nhiên, có thể ấn chứng ngũ hành nhân thân, nhập bốn thiền và chuyển pháp luân cũng đòi hỏi phải là công phu như một bánh xe đất. Bài viết ngắn này cũng chỉ là một trong những cách xây dựng trúc cơ, xây dựng cốt thép ở trong nền đất, để đạo hạnh sau này gây dựng nên nền móng. Người được vào bốn thiền định không nhiều, qua được cửa này rất khó, người tu linh không thể không biết.


### 15. Đạo lí của đại ôn dưỡng


Công phu đại ôn dưỡng là một trong những công phu của thuật trúc cơ, là cơ sở của tất cả đạo công, tác dụng của nó chính là hồi chuyển linh lực, cũng có nghĩa là sự luân hồi của linh lực. Bởi vì sự luân hồi này sản sinh ra nhiệt độ, rồi lại vì nhiệt độ tăng lên tích lũy mà hình thành một khối cương khí vô hình, khối chân khí này chính là công phu đan điền của Đạo gia, là đại ôn dưỡng của thuật đan đỉnh. Người tu luyện linh thông thường thì đến phần bụng là có khí ấm, khí âm u lạnh lẽo ở nửa thân dưới đã được loại bỏ, đây là dấu hiệu rất tốt. Trên phương diện này, kẻ hèn này có thể cung cấp pháp ôn dưỡng sơ bộ nhất, pháp này người người có thể học và có thể thành công, lợi ích rất lớn, thân thể và khí lực cường tráng, đó cũng là cơ sở để thành Phật thành tiên.

Hồi thứ nhất, ngồi xuống nên chọn thế ngồi kiết già, khoanh chân hoặc tùy ý, miễn là để cho phần thân dưới vững chắc bất động là hay nhất, hai tay đặt vào hông. Người luyện tập pháp này cũng phải có tâm bền bỉ, không cần phải gò bó vào bất kì giáo phái nào, không phải thỉnh thần, nhưng phải đập hai hàm răng vào nhau 36 lần để cho tinh thần tập trung thống nhất, hai mắt khép hờ nửa nhắm nửa mở. Pháp này không cần quán tưởng, toàn bộ là công phu bên ngoài. Đầu tiên phải đặt lưỡi chạm hàm trên, để cho thiên tân ngọc lộ (tục gọi là nước cam lộ) tiết ra, thực ra chính là nước bọt của chính mình, đợi đến khi ngọc lộ đầy trong miệng rồi thì hít sâu vào một hơi khí, khí hít vào không đi qua phổi mà là đi vào thực quản vào dạ dày rồi vào đan điền.

Hồi thứ hai, sau khi hít khí vào, không được vội vàng thở khí ra, trước tiên phải giữ không để thở ra, thế rồi thân thể sẽ dao động sang hai bên trái phải. Cần nhớ là không phải dao động theo hướng trước sau. Cái gọi là thân thể dao động là phần thân trên dao động, đung đưa qua trái qua phải từ chỗ hai tay đặt ở giữa hông cho đến nửa thân trên. Tốc độ dao động không nên quá nhanh, điều quan trọng nhất là nửa thân dưới phải vững như bàn thạch không mảy may cử động, chỉ có nửa thân trên dao động mà thôi. Trong thời gian tiến hành không được lấy hơi, lúc này sẽ mặt đỏ tía tai, nhiệt độ tăng cao, cho đến khi nhịn thở không nổi nữa thì chầm chậm thở khí ra, đây là một tiến trình.

Hồi thứ ba, công phu này có thể nói là quá đơn giản rồi, nhưng vì đơn giản, mọi người cũng sẽ không chú ý đến thành tựu vĩ đại của nó. Làm xong hồi thứ nhất và hồi thứ hai, hồi thứ ba lại quay lại động tác ban đầu. Đung đưa nửa thân trên trong kĩ thuật yoga là áp dụng pháp thận thủy, cũng là một trong những phương pháp làm vững chắc cái gốc. Công phu lâu ngày thì công lực càng sâu, vùng đan điền nóng lên giống như lửa trong lò lửa vậy! Mặc dù đây là một kĩ thuật nhỏ đơn giản nhất trong thiên hạ, nhưng cũng là bí mật huyền diệu mà vạn người không biết. Tôi công khai kĩ thuật này cũng là để vạch trần cái sai lầm của thế tục. Bảo vệ cái gốc vững chắc chỉ có một cách, chính là "bão nguyên thủ nhất" [một kĩ thuật của Đạo gia, mục đích chính là để bảo vệ tinh khí thần của con người không bị hao tổn, thất thoát ra bên ngoài, có tác dụng kéo dài tuổi thọ, trường sinh bất diệt], nâng khí đi lên.

Đạo lí về cái gốc vững chắc này giống như nguyên lí của máy bơm quay tay vậy (máy bơm nước), lợi dụng sự nén của không khí khiến cho nước ngầm theo ống dẫn mà dâng lên, còn thân thể của chúng ta giống như máy bơm nước, huyết dịch và thận thủy là nước ngầm, sự hô hấp là khí áp, thân thể dao động cũng giống như quay tay để bơm nước vậy, và thế là thận thủy dâng lên. Nửa thân dưới vốn dĩ lạnh và lỏng, vì hết lần này tới lần khác trải qua sự nâng lên mà phát sinh độ nóng, đây chính là chân lí của pháp đại ôn dưỡng. Tam bảo của Đạo gia - tinh khí thần có thể giữ chắc, và đại ôn dưỡng chính là sự phòng thủ kiên cố của tinh huyết.

Nói chung chúng sinh có thể tu được đến mức giữ được tinh huyết thì cũng tức là thần tiên bất lão ở nhân gian, có thể chứng đắc trường sinh bất lão, đương nhiên rồi! Với hành giả của Chân Phật Tông thì trường sinh bất lão không phải là mục đích, mà đây chỉ là một sản phẩm phụ của quá trình tu thành Phật mà thôi. Đại ôn dưỡng là sự vững chắc của tinh huyết, cũng chính là sự hình thành ban đầu của khí, pháp tu hành của phái đan đỉnh Đạo gia lấy pháp đại ôn dưỡng này làm pháp trọng yếu ban đầu, điều này không phải là không có nguyên nhân đâu! Đây cũng là một trong những công phu trúc cơ.

Theo đạo lí mà nói, công phu này của Đạo gia cũng là một trong những phương pháp phá âm ma của Phật giáo Thiền tông. Tôi tin tưởng rằng niệm thức của Phật môn nếu phối hợp với Đạo công thì càng có thể phát huy rộng lớn, tiếc là, Phật gia quá chấp thiên về Không, không thể nội ngoại kiêm tu, giữ huệ nhưng lại đánh mất mệnh, người giữ mệnh thì lại đánh mất huệ, không thể cùng song tu huệ mệnh, đây là một việc vô cùng đáng tiếc. Ngày nay mặc dù xuất hiện rất nhiều bậc đại đức trí giả, nhưng họ lại bài trừ đường lối này, và người cố chấp thì luôn cho rằng bản thân mình mới là chính tông, không thể tu những công pháp đơn giản dễ hiểu bên ngoài được. Đến cuối cùng họ cũng chẳng làm nên trò trống gì, chẳng phải là uổng phí nhiều năm khổ tâm hay sao. Nếu người xuất gia cũng giống như tôi tu pháp đại ôn dưỡng giản dị này, tu trì lâu ngày thì tất nhiên tinh thần sẽ sung mãn, sẽ không để thất thoát nguyên tinh, thì tinh hoa tiềm tàng, lễ Phật tụng kinh, tu tĩnh thiền công tất nhiên chỉ cần làm ít mà công phu tăng gấp bội phần, như vậy làm sao có thể ảnh hưởng Phật tâm như như bất động được chứ!

Pháp hít thở đại ôn dưỡng trước tiên là hít thở sâu, nhưng về sau thì không phải là hít thở sâu nữa, mà là hít thở tự nhiên, từ hữu hình đến vô hình, cho đến khi có thể ngồi chặn được huyết hà, đóng được con đường sinh tử thì mới xem như nền tảng đã vững chắc, linh khí lúc này chỉ có tăng lên chứ không bao giờ giảm bớt. Từng ngày từng ngày lấy khí của chân linh để tiếp lửa, tự có thể kết đan, đan này chính là tiên thiên xá lợi tử, khi thần khí kết tinh chặn đứt được huyết hà.

Người khởi linh tu pháp đại ôn dưỡng sẽ dễ dàng hơn, mặc dù ngồi trên bồ đoàn có động tác giống nhau, nhưng sự dao động của thân thể có thể do linh đến mà gây ra, đặc biệt là linh lực vận động từ dưới hướng lên trên, toàn thân sẽ khởi lên sự rung lắc tự nhiên mà vi diệu, điều này càng có lợi cho sự xung kích khí huyết. Vả lại, thân thể hoạt động tự nhiên, tay cũng có thể phụ trợ với thân, trở thành tư thế một que hương ngước nhìn trời.

Hiện tại giới Phật giáo có một vị pháp sư già đến nhà tôi để xin pháp này, trở về chùa Phật ngày ngày chăm chỉ luyện công, đã thu được bí quyết rất sâu. Ông ấy nói, ngày trước toàn bộ xương khớp đều nhức do bệnh tuổi già, không những nay đã hoàn toàn tiêu trừ, mà sắc mặt không còn tối tăm nữa, hiện tượng lạnh ở nửa thân dưới cũng hoàn toàn không còn, khí huyết thông suốt, đi đường cũng có thể bước nhanh như bay. Ông ấy cảm thấy phương pháp đơn giản như vậy vì sao người người không biết, người người không tu?

Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh nói: "Một chút mẹo Đạo pháp, thần bí vốn không nhiều, tách bạch đường sinh tử, chỉ cần chút thần công." Đây là một lời nói chân thực, nếu nhận thức được điều này thì cũng đáng gật đầu ngợi khen.


### 16. Đại định kim cương bất hoại


Ngày xưa, đệ tử Tu Bồ Đề của Phật Thích Ca Mâu Ni có một lần bị bệnh rất nặng, ngài ấy ẩn dưới một cái cây lớn, ngồi trên mặt đất, thân tâm đều kiệt quệ. Ngài nhắm hai mắt lại, nhập vào kim cương tam muội đại định, trong một sát-na, thân tâm đều không còn tồn tại, cái thần của tư duy liên tục đi lên, nhập vào Thức vô biên xứ. Lúc này, Tu Bồ Đề muốn dùng chân hỏa tam muội để đốt cháy nhục thân của mình. Đúng vào lúc này, nguyên thần của Tu Bồ Đề chạy đến chỗ thần khiếu, lập tức thấy thiên môn mở ra, Thiên Đế và thiên nữ ở cõi trời, các vị rồng thần đứng ở chân trời, hát lời ca ngợi sự vĩ đại siêu nhiên của Tu Bồ Đề khi nhập tam muội kim cương đại định. Tiên nữ đứng trên những đám mây cát tường, từ không trung rắc xuống những tiên hoa duyên dáng, bỗng nhiên bầu trời rực rỡ bảy sắc màu, những tiên hoa rơi chồng chất lên nhau thành đống cho đến khi cao bằng thân thể đang ngồi của Tu Bồ Đề.

Tu Bồ Đề dựa vào kim cương đại định mà nhập vào tam muội, đã làm cảm động khiến thượng thiên ca ngợi, trong sát-na, những đau đớn của nhục thân hoàn toàn được tiêu trừ. Sau khi xuất định ngài cảm thấy thân thể nhẹ nhõm, khí mạch sảng khoái, tinh thần ổn định, tâm tư sáng rõ, không còn chút cảm giác khó chịu nào.

Bài viết này mở đầu bằng việc nhắc đến công phu đại định của Tu Bồ Đề, chủ yếu là để người người hiểu rằng, thân thể của con người là yếu ớt nhất, khi ma bệnh tấn công và xâm nhập, ngay cả đến Tu Bồ Đề là bậc đệ nhất hiểu thấu nghĩa Không cũng không thể tránh khỏi, và để loại trừ ma bệnh thì chỉ có dựa vào thần công của tam muội kim cương đại định. Kẻ hèn này đưa mắt nhìn ra thế gian, có được mấy người có thể nhập vào kim cương tam muội đại định đây? Có được mấy người?

Xưa kia, Phật đã từng vì những người bệnh sắp chết mà nói bài kệ:
*Niệm Phật tam muội ắt thấy Phật
Mệnh chung chư Phật sẽ hiện tiền
Ngày tàn sắp chết nên nghĩ thiện
Chiêm ngưỡng chư Phật thị hiện hình
Lại khuyên niệm Phật quy y Phật
Chắc chắn sẽ thấy Phật quang minh.*

Từ điều này có thể thấy rằng, Thế Tôn tại thế gian, đối với những người bệnh sắp chết, ngài không hề dùng Phật lực để cứu vãn một cách không cần thiết, mà là tận lực tăng cường lòng tin của người ấy, với hi vọng đạt được sự bất tử của linh hồn. Con người đều phải chết, Thế Tôn cũng thế, ta cũng thế, cái chết vẫn là sự phân rã của tứ đại giả hợp, căn bản chẳng phải là một việc gì to tát, mà chỉ là mạng sống hữu hình này dừng hoạt động mà thôi. Điều quan trọng nhất là làm sao để linh hồn được nâng cao, tiến nhập vào trong thiên luân, đợi đến ngày gặp đại hạn thì nhập thẳng vào chân trời, sau đó vượt ra ngoài tam giới, phá bỏ giới hạn của tam giới để thành Tiên thành Phật.

Kẻ hèn này cũng từng bị ốm rất nặng, nặng đến nỗi phải nằm trên giường thở dốc liên miên, thân tâm kiệt quệ, toàn thân không còn một chút sức lực nào. Lúc này tôi hoa mắt chóng mặt, mồm miệng khô khốc, ngay cả sức để mở to hai mắt cũng không còn, tai chỉ nghe thấy những tiếng ù ù. Lúc này tôi cũng nghĩ đến cái chết, bởi vì sự đau đớn và giày vò khốn cùng của bệnh tật có thể khiến cho người bệnh không muốn sống nữa. Vào lúc này, linh hồn của bản thân cũng từng đi lên chỗ thiên khiếu huyền môn, chỉ cần một sự đột phá là có thể xuất thần mà ra đi. Thế nhưng trong lúc mê man, tôi vẫn thấy được linh quang của Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh dùng thần lực để truy hồi nguyên thần của tôi lại, nhập vào trong huyễn cảnh của kí ức tiền kiếp.

Tôi lúc này đột nhiên cảm thấy linh hồn trở nên nhẹ nhõm linh hoạt hẳn lên. Linh hồn tiến nhập vào trong một vòng ánh sáng, cửa của vòng ánh sáng vốn dĩ đóng chặt, lúc này lập tức tỏa sáng mạnh mẽ, rồi tôi bay vào trong, giống như chim bay lượn vậy. Tôi bay lượn rất lâu rất lâu, đến chỗ mây mù tan hết, nơi tận cùng con đường, thì ra nơi này là Hoài Nam Thần Tiên Giới. Tôi mở to mắt ra. Chà! Những cung điện trùng trùng điệp điệp, tiên cảnh tự nhiên đẹp như mơ như huyễn, và những âm thanh hòa nhã như bài ca tiếng Phạn vang lên ở khắp nơi, sắc vàng bạc lấp lánh khiến người ta không ngừng đưa mắt nhìn ngắm. Những dòng suối trong veo như ngọc, tiếng róc rách vang lên như một bản nhạc trong trẻo như ngọc thạch. Những cơn gió mềm mại mang theo mùi hương thượng phẩm, ngửi thấy khiến người ta thoải mái sảng khoái. Tôi chầm chậm dạo bước trên con đường đạo sáng như ánh chớp, thất bảo trang nghiêm, thiên cung nguy nga cứ trùng điệp hiện lên trước mắt. Trên người Thần Tiên ai nấy đều tỏa thần quang, Kim Giáp Thần cũng bay lượn tới lui tấp nập, các Thần Tiên đều có hình tướng rất tôn quý, toàn thân tỏa hương thơm trang nghiêm. Tôi bước đến một cái ao trời, nước trong ao trời này có màu bạc, đáy nước được phủ kín bằng cát vàng, mặt nước óng ánh như những viên châu ngọc.

Lúc này trên Thiên Trì [ao trời] có một lão thần tiên đứng trên ngọn sóng bay đến. Vị thần tiên này một tay cầm ngọc như ý, một tay cầm hoa sen, trên đỉnh đầu tỏa ánh hào quang màu bạc, đôi mắt rất uy nghiêm, toàn thân lộ ra ánh sáng cát tường, đi chân trần, nước ở ao trời nhẹ nhàng chảy qua chân, ý tựa mây bay nước chảy, trong trẻo dị thường. 

Vị ấy tiến đến trước mặt tôi hỏi: 
"Liên Sinh, vì sao đến nơi này?"
"Xin hỏi tôn tính đại danh của Thần Tiên?" - Tôi đã quên mất nguồn gốc kiếp trước của mình.
"Thiên Trì Lão Nhân là tôi. Liên Sinh, trong vài kiếp quá khứ, chúng ta còn là bạn tốt, nay thấy ngài sa sút như vậy, sao không đến Thiên Trì của tôi? Chao ôi, thông minh không địch nổi nghiệp lực, thần tiên khó tránh gặp luân hồi." 

Thiên Trì Lão Nhân đi phía trước, tôi theo sau. Tôi đi vào trong thiên trì, lại là một cảnh sắc đẹp đẽ "thiên ngoại hữu thiên, trì trung hữu trì, thần tiên cảnh giới, Hoài Nam động thiên". Tôi ở trong "Thiên Trì động thiên tu chân xứ" ngao du một lượt, Thiên Trì Lão Nhân nói với tôi: "Liên Sinh, nay tôi thấy ngài sa sút đến nông nỗi này, trong lòng cũng cảm thấy muộn phiền. Nhưng ngài hãy theo nguyện lực của mình mà làm, không đến Phật cảnh thề không dừng lại. Ngài hãy đi vào ao trời, nước trong ao trời sẽ giải trừ những đau đớn bệnh tật của ngài, sau đó ngài có thể trở về, tự thu xếp ổn thỏa đi!"

Tôi rời khỏi Thiên Trì, rồi lại ra khỏi vòng ánh sáng. Nói ra kể cũng lạ, tình trạng bệnh của tôi bỗng nhiên thuyên giảm, rồi dần dần cải thiện, thế rồi cũng hồi phục lại sự khỏe mạnh ban đầu. Đây cũng là một lần tôi trải qua trận ốm nặng, tôi cho rằng trận ốm này chắc là đi đời rồi! Hôm nay tôi tu Linh tông, phát hiện ra rằng bệnh tật đều là do nghiệp lực tạo nên. Người tu Chân Phật Tông cần chú ý đến sức khỏe thân tâm của mình, không thể vì tu linh mà mất đi hình thái cuộc sống bình thường, không được lơ là khoa học vệ sinh, có bệnh thì phải mời bác sĩ khám chữa bệnh, tiếp theo là khẩn cầu trời xanh bảo hộ, vì những bệnh tật của nhục thể có thể gây khó khăn cho sự thịnh suy của linh khí.

Muốn tu được thân đại định kim cương bất hoại thực sự không phải là một việc dễ dàng. Người tu đạo không đi ngược tự nhiên thì tu đạo ấy mới là chân đạo. Người tu linh thông thường muốn tiến nhập kim cương tam muội đại định thì mức tối thiểu nhất phải có công phu thiền định bốn năm, đương nhiên có thể đạt được thân kim cương bất hoại thì càng tốt, nếu không đạt được thì cũng không cần phải căng thẳng. Con người leo cầu thang, một bước lại một bước, bước từng bước vững chắc thì tự nhiên có thể đạt được thành công.

Đời người vĩnh viễn không thể tránh khỏi bệnh tật, chỉ có những người đã chứng được chân đế thì mới có thể vĩnh viễn tránh được, bởi người chứng được chân đế thì không còn dục vọng thế tục nữa, chỉ vậy mà thôi.


### 17. Chân ngôn thành tựu pháp phù


Pháp thuật của phái Nhất Đạo [giáo phái Thái Nhất Đạo, hoặc Thái Nhất Giáo, là phái Đạo giáo chuyên về phù lục] của nước ta [Trung Quốc] có lịch sử lâu dài, kiến thức ở trong đó uốn lượn quanh co chín khúc. Pháp cổ lưu truyền đến ngày nay cũng có biến chất, cũng có thất truyền, Đạo thuật thật sự còn đang được lưu truyền cũng đã rất hiếm rồi. Không những thế còn khiếm khuyết không hoàn chỉnh, rời rạc vụn vặt, vô cùng đáng tiếc. Kẻ hèn này tham chiếu những pháp cổ, lựa chọn những cái tốt cái thiện, vốn nghĩ rằng muốn thay những người xưa nay làm công việc chỉnh lí và biên soạn. Nhưng có một số người cho rằng không thể, bởi vì pháp thuật Nhất Đạo nói về tâm linh và hiệu quả của tâm linh, nếu có người dùng mà không linh thì chẳng phải là sẽ quở trách xằng bậy là mê tín sao. Hơn nữa, pháp thuật Nhất Đạo không phải ai ai tu học cũng đều đắc đạo, nhất định phải chọn đúng người mà truyền thụ, nếu truyền sai người thì chẳng phải là có lỗi với thiên cơ mật quyết sao!

Chính vì như vậy, cho nên mặc dù tôi biết muôn nghìn pháp thuật, tôi cũng không dám truyền bừa. Đạo nhân tu Chân Phật Tông nếu tâm địa từ thiện, có thể tu pháp phù. Phù chỉ là một trong số những pháp thuật mà thôi. Theo lí mà nói, môn phù không hề đáng sợ, phù có thể dùng làm "bồ câu đưa thư", có thể dùng làm hoán dụ cho pháp lực. Người vẽ phù quan trọng nhất là "ngưng thần", ngưng thần có nghĩa là sự tập trung sức mạnh tinh thần. Môn phù trong pháp thuật tồn tại đã lâu, sức mạnh của phù là do cách viết phù, do cá nhân, do thần tiên được phụng thỉnh đến mà sẽ có sự khác biệt về sức mạnh. Cũng có những phù không hề có chút công hiệu nào, loại phù này đương nhiên là do người không biết về bí quyết thật sự của linh phù vẽ ra.

Chân ngôn thành tựu pháp phù như sau:

Bí quyết thứ nhất: phù được tạo nên bởi giấy, bút và nước, trong đó nước là đặc biệt quan trọng. Nước vẽ phù phải lấy nước không rễ là tốt nhất, kế đó có thể lấy nước trời (nước tự nhiên). Kế đến là lấy nước âm dương, đầu tiên phải niệm chú Sắc thủy, chú rằng: "*Ngô dĩ thủy giả Côn Luân tú, Hà Hán lưu phương liên hoa hương. Dương liễu chi đầu đãng thiên ba, cam lộ tam sái bồng đảo thu. Tào Khê nhất phái trường lưu thủy, ngọc tụ thiên giang phiên nam phong. Ngân đôi tứ bảo thắng vũ môn, xuân noãn ngư thấu thiên tằng không. Thất bảo trì trung phiêu pháp khí, cửu long khẩu trung dục Kim Tiên. Ngọc Đế duyên huyền tiêu cấu uế, địch đãng vạn kiếp chi tội nghiệp. Vĩnh hộ nhất trần thanh thư tịnh, Hằng Hà sa tiên vận hanh thông. Đệ tử mỗ phụng phong hỏa lôi cấp luật lệnh*." Chú này dùng để ra sắc lệnh cho nước, còn để ra sắc lệnh cho bút và giấy thì trong những sách về phù thông thường đã có ghi chép, nên cuốn sách này sẽ lược bỏ.

Bí quyết thứ hai: tôi cho rằng trong các pháp khí thì dùng gương để làm thành ánh sáng của nhật nguyệt, dùng kiếm để đuổi tà trói ma, dùng chuỗi hạt để làm công đức diệu thánh pháp, dùng thước để làm chính ấn quyết của thiên hạ, dùng cân hoặc bàn tính để làm mẹo tiêu tai. Nhìn chung khi vẽ phù, quan trọng nằm ở một chữ "sắc" [sắc lệnh], ra sắc lệnh thành công thì sẽ linh, ra sắc lệnh không thành công thì sẽ mất hiệu lực. Nực cười nhất là người vẽ phù thông thường không hiểu "sắc" có ý nghĩa gì, chỉ có vẽ suông, như vậy làm sao có thể thành được chứ! Ngay từ đầu tôi đã nói về điều này, không biết về bí quyết của chữ "sắc" này thì học phù cũng không có ích lợi gì, không bằng học thư pháp vẽ núi sông cho tâm hồn thanh thản thư thái, đỡ bị mất thể diện.

Bí quyết thứ ba: mẹo thứ ba là mẹo về động tác. Nếu như hoàn thành xong mẹo thứ nhất, người vẽ phù phải tịnh thủ thành tâm cầu nguyện thầm. Tay phải cầm bút vẽ một hơi là xong, cái gọi là vẽ một hơi là xong nghĩa là không ngắt quãng, quan trọng là vẽ trơn tru rõ ràng tinh tươm, nếu bị hết mực thì có thể chấm thêm, nhưng động tác phải nhất trí, không được tách ra làm các đoạn rời rạc. Khi vẽ phù, mắt phải dùng lực, thần phải dùng lực, tay cũng phải dùng lực, phải giữ im lặng. Khi vẽ xong, hà một hơi khí vào đuôi bút, chấm một điểm vào đầu phù và chỗ "cương" của phù, ý nghĩa của hành động này là áp ấn. Phù tử tiên thông thường đến đây có thể nói là hoàn thành rồi.

Bí quyết thứ tư: vì phần trên của phù có tên của Tiên Phật, có người sợ thỉnh thần tiên không đến, cho nên ở chỗ tên của thần tiên họ lại áp lên một ấn thần nữa, giống như việc kí tên điểm chương của con người ngày nay. Như vậy cũng có công hiệu, vì thế việc dùng các ấn thần thỉnh từ các chùa cũng có tác dụng bổ trợ cho uy lực, đây cũng là một trong những phương pháp hay.

Bí quyết thứ năm: đây là điểm khác biệt duy nhất giữa sắc lệnh vẽ phù của Chân Phật Tông và các phái phù tử tiên khác, người tu Linh Tiên có lợi là ở chỗ này. Khi vẽ phù xong, có thể dùng kiếm chỉ chỉ vào phù, vận động linh lực của bản thân, tập trung tư tưởng vào tay, rồi từ tay xuyên vào trong giấy, giấy này sẽ nhận được sắc lệnh hóa ra từ linh lực của bản thân, sự thành tựu của phù này nhất định sẽ có hiệu nghiệm, đây chính là một trong những lợi ích của khởi linh. Tác dụng này chính là "sắc", người không hiểu về sắc lệnh thì vẽ phù làm sao có hiệu quả được.

Bí quyết thứ sáu: vẽ phù cần có bí quyết "tồn tưởng", ví dụ vẽ phù quang minh thì nhất định phải sáng chói lọi, vẽ "phi thư" thì nhất định phải giống như chim bay, vẽ phù ngũ lôi phải có âm thanh ầm ầm, vẽ phù trấn tà thì người vẽ phù phải tràn đầy chính khí, giống như Nộ Mục Kim Cang, vẽ phù thỉnh tiên thì nhất định phải nghĩ tưởng khuôn mặt của Trời Phật. Hơn nữa, năm loại pháp khí gồm gương, kiếm, chuỗi hạt, thước, cân trong bí quyết thứ hai, từng cái phải dựa vào đặc tính của phù đó để mà lựa chọn sử dụng để sắc phù, nhằm tăng thành tựu của đại pháp này.

Trong bản văn ngắn này, kẻ hèn tôi chỉ nói về pháp phù, nhưng từ một cái có thể suy ra những cái khác, thành tựu pháp thuật không nằm ngoài sự tập trung sức mạnh tinh thần. Công dụng của phù rất lớn, có thể giúp người, có thể thỉnh tiên, chữa bệnh dùng đan phù. Khí theo phù mà đi, thần cũng có thể theo phù mà đi, sự trợ duyên cho tu linh chính là tiên thư của phù triện. Mọi người không thể không chú ý đến điểm này, chớ coi thường hiệu lực của nó. Chân ngôn thành tựu đại pháp cũng chính là chân quyết thành tựu đại pháp, một hạt đậu nành bé nhỏ cũng có thể biến thành kim đan, một tờ giấy vẽ có thể chữa được bệnh lạ trong thiên hạ. Điều này không phải là giả dối.

Pháp nhĩ báo thông thường có thể dùng phù triện để thúc giục hành động, có nghĩa là:* "Cửu phụng chân linh phù, kiến hỏa đằng ngọc thanh, kiến thủy nhập thủy phủ, nhập thể chuyển pháp luân, nhật nguyệt tinh quang minh."*

Sự dịch chuyển của phù là cực kì vi tế, giống như tốc độ của sấm sét vậy, kẻ hèn này từng thấy phù bay đi trong không trung, nhanh đáng kinh ngạc giống như sao băng rơi vụt qua vậy, nếu chậm thì cũng giống như đom đóm ban đêm, lập lòe lập lòe, sáng rồi lại tắt.

Pháp phù của tôi không đề cập đến những lá phù mà người ta vẫn thường nói đến. Sau khi tôi được thiên thượng tiên linh mở mang đầu óc, một tay tôi cầm bút, linh ở không trung mượn tay tôi làm dao động bút son, viết xuống nghìn lá phù lục đã thất truyền, sau đó tôi lựa chọn những phù quan trọng, chăm chỉ tu học, cho đến nay mới xem là có thể vận dụng thuần thục. Phù vốn là thứ thiên biến vạn hóa, không có một bố cục nhất định, nói chung người có được linh cơ đều biết và hiểu, người không biết thì chớ cho rằng là ma vẽ phù. Tuy vậy, thật ra ma vẽ phù cũng có năng lực của ma, thiên hạ vạn vật có nguyên do, không thể tùy ý nói xấu phỉ báng.

(Phù lục được đăng trong ba cuốn văn tập của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, là cuốn số 42 "Linh Tiên Phi Hồng Pháp", cuốn số 77 "Tiên Thiên Phù Bút" và cuốn 247 “Liên Sinh Phù”.)


### 18. Pháp Linh tu thụy thiền chính tu


Đời người có một phần ba thời gian là nằm trên giường, người tu hành nếu không quý trọng một phần ba thời gian này thì việc tu hành cũng chẳng khác nào tu như không. Bởi vì khi ngủ âm khí đại thịnh, những công hành làm được vào ban ngày, đến đêm liền bị tan rã toàn bộ, cho nên thật sự không thể không thận trọng. Người tu hành theo Chân Phật Tông khi ngủ cũng phải giữ vững được chân khí, để tránh khí âm xâm nhập, mặc dù ban ngày tinh tấn nhưng đêm thì bị âm ma cướp mất, đến cuối cùng chẳng làm nên được trò trống gì, thế thì thảm lắm.

"Linh tu thụy thiền [ngủ thiền] chính tu" là một pháp chí lí giữa trời đất, phương pháp đơn giản, lâu ngày tự có công hành, cách tu pháp như sau:

Thứ nhất, tư thế ngủ thiền chỉ có một kiểu, đó chính là thế nằm cát tường, nằm cát tường chính là nằm nghiêng một bên, phải nhớ hướng nằm là tim phải ở trên, không được nằm nghiêng nhầm bên mà đè lên tim, đây là tư thế hợp với vệ sinh sinh lí. Thế nằm cát tường giống như sư tử mà cũng giống như con cóc, có thể nói là nằm co tròn lại, là tư thế bão nguyên thủ nhất. Một tay đặt ở sau đầu hoặc trước đầu đều được, một tay thì buông xuống phía dưới một cách tự nhiên thuận theo thế nằm. Nhớ rằng thân cần phải nằm cong như con cóc, đây chính là pháp thụy thiền cát tường chuẩn mực nhất. Nếu nằm ngửa mà ngủ thì đây là tử thiền, nếu nằm sấp mặt xuống mà ngủ thì gọi là âm thiền, rất dễ mắc bệnh.

Thứ hai, nhìn chung người tu hành không được ham ngủ, ham ngủ rất dễ mắc tướng ngu muội, con người hiện đại coi trọng việc ngủ đủ, nhưng cũng không được vượt quá tám tiếng một ngày. Người ngủ thiền duy trì sự cảnh giác, không được ngủ mê mệt quá sâu, cũng không được ngủ nông. Ngủ mê mệt quá sâu thì mất sự cảnh giác, tâm cảnh giác mà mất thì ma sẽ nhập vào thân thể cướp mất bảo vật đó! Nếu ngủ nông thì cũng không tốt, ngủ nông quá thì giống như bị mất ngủ, mất ngủ thì hỏa vượng, hại mắt và hại não. Công phu này cần rèn luyện lâu ngày, không phải là trong một chốc một lát là có thể thành công. Người tu hành ngủ say như chết thì tuyệt đối không phải là hiện tượng tốt, nếu thân tâm đều tan rã hết thì sinh tử luân hồi cũng sẽ do người khác điều khiển mà thôi.

Thứ ba, giữ vững chân khí, nhớ trước khi đi ngủ phải làm lễ chư Phật Bồ Tát, lên giường hai mắt nhắm lại, đầu lưỡi chạm vào hàm trên để cho thiên môn và địa hộ thông nhau, trong tâm cung kính niệm thầm A Di Đà Phật. Phải nhớ miệng đừng há ra, nếu há miệng sẽ làm tổn hại khí quản khiến thất thoát chân khí. Niệm thầm Phật hiệu, nuốt nước bọt xuống, đặt ý niệm tại không trung tự nhiên là được. Duy trì hơi thở, hơi hít vào thì dài, hơi thở ra thì ngắn, đầu hơi rụt về, giống như con hạc cúi đầu lúc nghỉ ngơi. Công phu điều hòa hơi thở và niệm Phật này không cần quá gò bó vào hình thức, lâu ngày tự nhiên sẽ được, tự có thể giữ được chân khí mà không bị thất thoát. Bằng không nếu lúc ngủ không hề có công hành, đến nửa đêm về sáng, sau hai giờ sáng, dương khí đều rút hết, âm khí đại thịnh, toàn bộ những dục vọng lúc bình thường sẽ xuất hiện, tự nhiên sẽ không giữ vững được chân khí nữa.

Thứ tư, người tu hành theo Chân Phật Tông nên giữ năm giới mười thiện, cố gắng hết sức loại bỏ những dục vọng. Chỉ cần đi đứng nằm ngồi thoải mái là được, không được theo đuổi sự hưởng thụ cuộc sống quá mức, không được mê đắm sắc dục. Phải thấm được Sắc tức là Không, bình thường tu quán thanh tịnh, niệm Phật để đạt nhất tâm bất loạn, ban đêm tự nhiên sẽ không có những giấc mơ xuân. Nhìn chung người tu hành không thể có giấc mơ, mơ vẫn là sự phản chiếu của dục tâm vọng tâm, sự biến hóa của ý thức chạy băng băng không ngừng nghỉ, cho nên khi ngủ chỉ có "cầu chân thủy hạ giáng", "bão nguyên thủ nhất", "niệm Phật thủ thần", như vậy hễ ngủ là tỉnh, dường như không ngủ, nhưng tinh thần thì hoàn toàn hồi phục, Phật nói: "Ngủ là thức ăn cho mắt." Lời này thật không sai.

Thứ năm, khi vừa ngủ thiền, quan trọng nhất là giữ khí, giữ được vững thì chính là Phật, giữ không được thì đó là tà. Ngủ thiền vẫn là một trạm gác lớn cực kì quan trọng của người tu hành, nếu người đời xem nhẹ thì làm sao thành Phật đây? Những sách Đạo và sách Phật thông thường đều dạy người ta tinh tấn dụng công, nhưng lại không ngờ rằng hễ đến ban đêm, do âm khí đại thịnh, những công hành tu được vào ban ngày đến đêm đều chảy theo dòng nước, cuối cùng vẫn là một phàm phu không hơn không kém. Miệng thì hô to đạo thành Phật nhưng hễ đến đêm thì cũng vẫn là một phàm phu, điều này thật đáng tiếc biết bao! Cho nên, hễ là người tu hành thì không tu ngủ thiền không được. Khi ngủ, nếu mộng huyễn mãnh liệt, phải nhớ là hết sức giảm bớt những dục vọng của bản thân, về phương diện ăn uống có thể ăn chay là tốt nhất. Không được ham ăn, không được ham tiền, không được ham sắc, nếu có thể thật sự bỏ được một chữ "tham" thì tự nhiên cũng sẽ không mơ đầy dục vọng nữa.

Công phu ngủ thiền nếu là phàm phu bình thường tu luyện có thể đắc trường sinh bất lão, nếu người khởi linh tu luyện thì chính là huyền cơ đóng địa hộ, mở thiên môn. Một phần ba thời gian đời người chỉ nằm trên giường một cách vô ích chẳng phải là quá lãng phí sao, người người tập ngủ thiền, vừa sống lâu vừa khỏe mạnh, công phu nửa giờ đồng hồ này cớ sao mà không làm chứ? Người khởi linh nếu luyện ngủ thiền, có thể dùng phương pháp "đại ôn dưỡng", khi nằm thì ngưng thở, thân thể có thể nằm cong lại như cái cung, phương pháp như nhau, hoặc nhờ linh khí thượng thiên đến chỉ đạo, tự nhiên hiệu lực càng lớn.

Trong "Kinh Cựu Tạp Thí Dụ" có một đoạn viết rằng: "Xưa có con rùa, gặp lúc hạn hán, ao hồ cạn khô, không thể tự mình đến ao có thức ăn. Khi ấy có con hạc lớn đến bên cạnh nó, rùa mới van nài, xin được giúp đỡ, con hạc cắp con rùa trên miệng rồi bay đi. Đi qua thành phố, con rùa cất tiếng hỏi rằng: Đây là đâu? Vì sao không dừng lại? Con hạc vì muốn trả lời nên mở miệng ra, thế là con rùa rơi xuống đất, bị con người giết làm thức ăn. Những bà vợ ngu muội, không cẩn thận miệng lưỡi, cũng giống như thế." Tôi lấy đoạn kinh văn này ra để so sánh một chút với người tu hành, lúc không được mở miệng thì tuyệt đối không thể mở miệng, bởi vì mở miệng ra, khí tất sẽ chạy đi mất, cho nên khi ngủ thiền nên ngậm miệng lại. Khí thở ra ngắn, khí hít vào dài, đây là điều căn bản của thiền! Miệng lưỡi phải thận trọng, ngậm miệng và lưỡi đặt lên hàm trên ở đây chính là đại thiên cơ.

Muốn linh có thể tự chủ, trước hết phải giữ được nguyên dương, nếu giữ chắc được nguyên dương thì khí và linh chắc chắn sẽ hợp làm một. Linh đi theo khí, khí đi theo linh, tất cả như một, đến cuối cùng linh hóa thành thần, thần hóa thành Phật Bồ Tát, nguyên lí học khởi linh tiên đều bao hàm ở trong đó. Hôm nay, phương pháp căn bản nhất này do Lư Mỗ tôi chỉ thẳng ra, xem ra đúng là công khai đại bí mật, đời người trăm năm, cho dù có đọc hết mọi sách thì ở đâu có thể tìm kiếm được pháp môn ngủ thiền chứ?

Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh nói: "Người trí hiểu giấc mơ thì kinh hãi, biết vàng bạc chẳng đổi được chở che, nhìn thế tục vô tri mà thương xót, hầu như thất niệm trong mơ suốt cả đời."


### 19. Luyện xá lợi trong lò đan đỉnh


Người ngồi thiền nếu có thể nhập vào tam muội đại định thì chắc chắn sẽ tạo ra xá lợi vô hình, mà xá lợi này còn là thuốc, đó cũng là sự kết tinh của tinh-khí-thần. Tinh-khí-thần này chính là tam gia của Đạo giáo, cũng tức là tam hoa, sự kết hợp tam hoa chính là xá lợi, xá lợi chính là quả, khai hoa kết quả, đây là điều mà mỗi người tu đạo đều tha thiết mơ ước. Đan đỉnh tức là Cửu chuyển tràng kết trên thân, Cửu chuyển tràng kết cũng là nơi để luyện đan.

Cửu chuyển tràng kết, vận chuyển bảo vật của đan đỉnh, đều dựa vào một chân niệm, ý niệm này có thể từ pháp hít thở, pháp đại ôn dưỡng, pháp linh động mà dần dần lĩnh hội được, thế là tự nhiên có thể thường chuyển pháp luân. Nhìn chung, nhập định sơ thiền, khí sẽ theo linh mà chuyển động, làm tan biến dục thành thủy rồi nâng lên lò thứ nhất, sau đó dùng pháp hít thở và một chút chân niệm để sản sinh ra công phu luyện hỏa. Kĩ thuật luyện đan này phải là người tu luyện lâu ngày mới có thể lĩnh hội sâu sắc được, có vật hay không có vật tự mình biết được. Xá lợi chân đan ở trong lò thứ nhất, tự mình phải cảm nhận được lửa nóng trong bụng mình, có một vật đang chuyển động chạy. Cần nhớ phải hàng phục được ý mã tâm vượn, tâm thần lơ là một chút là toàn bộ công phu sẽ vứt đi hết, toàn thân chuyển lạnh, toàn thân không còn sức giống như trạng thái hư thoát vậy.

Phương pháp luyện đan này thật ra có hai loại, một cái gọi là xá lợi hữu hình - tinh khí thần tam bảo, một cái gọi là xá lợi vô hình - Phật pháp tăng tam bảo. Hữu hình và vô hình, về lí cần phối hợp với nhau, cũng có nghĩa là âm đức hợp với dương động, âm dương kết hợp mới có thể thu được đại dược. Tăng nhân bình thường chỉ biết hành thiện, niệm Phật, tụng kinh tu xá lợi vô hình, không biết rằng trong mệnh cũng có tam bảo quý báu, tam bảo này là tinh-khí-thần. Tôi nói: "Tinh chính là nguyên khí của con người, giữ không để rò rỉ. Pháp dùng niệm lực để nâng hậu môn có thể khiến tinh nhập vào đan đỉnh. Dùng cách tinh luyện thủy thượng hỏa hạ có thể đắc được chân khí. Phối hợp chân khí này với linh gốc, xuất ra từ Vĩ lư quan, Giáp tích quan, Ngọc chẩm quan trên xương cột sống trên thân người, khi tới Huyền quan, chân khí này có thể gọi là thần, ra khỏi tam giới - vốn như nhà cháy, cũng tức là thành Phật Bồ Tát rồi. Pháp rèn luyện này đều nhờ vào niệm lực cùng linh lực chạy trong người, người tu linh tu đến khi chân dương xuất hiện, Vĩ lư quan sẽ tự động đóng mở, chuyển động khớp với nhau, nếu so với người bình thường chỉ nhờ vào niệm lực thúc đẩy mà không có linh lực thì càng dễ thành công hơn rất nhiều!

"Luyện thần hoàn hư" là công phu tối thượng thừa của Đạo gia [là công phu cao nhất của Đạo gia sau khi luyện tinh hóa khí, luyện khí hóa thần], cũng có nghĩa là thâm nhập được thực tướng kì diệu của chân không. Còn với những người mà đại đạo điên đảo đảo điên, cái thật của cái giả không thấm, cái giả của cái thật không hiểu, thì dù có nói ra đạo lí thì thật sự họ rất khó thâm nhập nổi. Tóm lại, phải đòi hỏi sự thành tâm thành ý, ngồi yên tâm trí hợp nhất, đưa thủy vào trong lò, dùng công phu đại ôn dưỡng ngày ngày tu trì, sớm tối sẽ kết được chân xá lợi.

Khi xá lợi chuyển lò, người tu linh có thể âm thầm vận lực dựa vào thần cung, khiến cho toàn bộ lò luyện đan rung động, vận dụng sức mạnh rung động này để dồn chân khí vào trong lò thứ hai. Lúc này toàn thân cũng mềm như tơ, khi ngồi nếu có gió mát nhè nhẹ thổi tới, đột nhiên cảm thấy tất cả đều không, thân thể nhẹ lâng lâng, ý nhập hư vô, toàn thân như không có gì, tựa như xa xăm mờ mịt, toàn thân khoan khoái dễ chịu. Chính tại lúc đó, nếu không giữ được một chút chân tâm sẽ rất dễ thèm muốn cảnh giới này, nếu ham mê cảnh giới đó thì toàn bộ công phu sẽ vứt đi hết!

Trong quá khứ kẻ hèn này tọa công cũng từng đến được cảnh giới thân tâm nhập vào cõi hư không này. Tại cảnh giới đó người nhập ma rất nhiều, xin đừng cố chấp vào tướng giả ấy, đừng tham luyến, đừng bám chấp, đừng sợ hãi, và cũng đừng khiếp sợ là được. Cái này chính là vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng đó. Mới nhập vào cảnh giới đó, tôi từng nhìn thấy bồng lai tiên cảnh, tiên ông và trẻ nhỏ vui đùa, tiên hoa tiên thảo. Tôi nhập vào cảnh giới này không muốn quay trở lại, may có Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh lớn tiếng quát, nên tôi mới như người vừa tỉnh mộng. Tôi từng nhìn thấy hổ nhe nanh múa vuốt muốn nuốt chửng tôi, hàm răng sắc nhọn thật sự khiến người ta khiếp sợ, từng nhìn thấy rắn lớn quấn chặt lấy người tôi, cái lưỡi đỏ vừa thè ra đã khiến tôi kinh hãi đến mức quả tim xém chút nữa là nhảy vọt ra ngoài, toàn thân toát mồ hôi đầm đìa. Nhập định nhìn thấy núi vàng núi bạc thì khởi lên đủ mọi ý nghĩ tham lam; thấy con gái xinh đẹp lộng lẫy thì thấy tâm động không thể kiểm soát; thấy Ngọc Hoàng Đại Đế phái kiệu thần đến đón, Thái Bạch Kim Tinh tuyên đọc ngọc chiếu thì tôi sung sướng như điên; thấy quái vật chín đầu, thấy vị Kim Cang cầm kiếm trừng mắt, những cảnh vật này lần lượt biến hóa huyền ảo, làm tâm tính tôi mê đi. Nhưng thật mừng là vị linh sư cõi thượng thiên của tôi lúc nào cũng thét tiếng gầm sư tử để đánh thức người đang ở trong cơn mê mộng. Những tướng giả này xuất hiện rất dễ làm mê muội chân tính của bản thân, nếu không cảnh giác, nhập vào mê cảnh rồi thì muốn quay đầu cũng khó lắm thay! Tác giả đã biết rằng: "Chưa đến địa đầu, tất cả tướng đều là giả; đã đến địa đầu, tự tính quang minh mới là tướng hoàn toàn chân thực." Nghiên cứu kĩ câu nói này có thể phân biệt được thật giả.

Tôi chủ trương người tu Chân Phật Tông không thể kiêu căng ngạo mạn. Phàm là người muốn tu đắc xá lợi tử, khai hoa kết quả, nhất thiết phải có ba năm công phu trúc cơ mới có thể tiến hành hái thuốc luyện đan. Các tu đạo sĩ từ xưa đến nay vẫn thường xuyên không biết rằng xây dựng nền tảng phải cần ba năm, hễ có chút tin tức là bắt đầu hái thuốc trong khi rõ ràng là nền móng chưa ổn định vững chắc, cho nên người thành công ít, người thất bại nhiều. Trúc cơ ba năm có thể vận dụng phương pháp "thông linh kiện thân và trúc cơ" đã được nói đến trong một bài viết khác của tôi, phải thỉnh cầu được thần tiên đến hướng dẫn. Có thần tiên dạy bảo rồi thì lại sử dụng linh khí làm đầy ắp các bộ phận của cơ thể, có thể tu được hiệu quả "làm chơi ăn thật". Còn trong kì hạn ba năm luyện trúc cơ, chưa thể hái thuốc mà lại nói là đã nhìn thấy thiên thần hạ giáng, nhìn thấy thiên nữ nhảy múa, hay có thể hô thần gọi quỷ, thì đại đa số đều đã nhập vào ma nạn rồi. Có thể duy trì được thân tâm không bị mê hoặc vẫn là thượng sách.

Nguyên thần và thức thần là hai cái khác nhau, nhưng thật sự cũng là hai mặt của một thứ, người học Phật phải biết luyện dương thần để khống chế âm thần, luyện nguyên thần để khống chế thức thần, đạo lí ở đây chính là đạo thành Phật hay thành ma, sự biến hóa của nó lại muôn vàn kì lạ. Bộ "Kinh Kim Cang" đã thật sự là trực chỉ nguyên thần, trực chỉ thức thần, trực chỉ chân tướng của Phật, trực chỉ chân tướng của ma, trực chỉ chân tướng của tính Không, trực chỉ giả tướng của tính Không, công đức của kinh này rất lớn. Cái gọi là một bậc Kim Cang là tâm, là linh hồn, là chân khí, và những cái tên "giả tướng" của nó rất nhiều.

Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh nói: "Ba năm nền tảng là Tam Sơn, chín năm công phu là Cửu Hầu, trên trời dưới đất theo số ấy, xá lợi hoa sen cùng hiện ra. Tí Ngọ Mão Dậu bốn dương khí, ngồi lâu tự nhiên đắc thần công."


### 20. Thuật cảm ứng thông linh


Linh hồn phục hồi là sự khởi đầu của tất cả thuật cảm ứng thông linh. Trong tích tắc khi linh hồn hồi phục thì cảm ứng của mỗi người đều khác nhau, nhưng nguyên lí đúng đắn của thuật cảm ứng trên thực tế vẫn là sự thông giao giữa linh hồn và linh hồn với nhau, cũng chính là "dùng linh thấy linh" mà tôi thường xuyên nhắc đến. Đại bộ phận con người đều không làm được cái việc dùng linh thấy linh, nhưng dùng linh hồn để cảm nhận linh hồn là thuật cảm ứng ban sơ nhất.

Một người có linh hồn đã hồi phục, mặc dù người này chưa từng tu Đạo, nhưng nếu có linh khác đi qua cọ sát bên cạnh thì người đó chắc chắn có thể cảm thấy được. Bởi vì cảm giác về các nhân tử của linh cũng giống như điện vậy, tay người bị điện giật, cái cảm giác ấy không nói ra được, nhưng thật sự là có điện. Một người thông linh cũng có cảm giác này, khi có linh hồn đi qua, tự nhiên cảm thấy toàn thân tê tê, giống như bị điện giật, những cảm giác này chính là cảm ứng, là vô hình. Người bình thường sau khi có được cảm giác ban đầu (sơ giác), dần dà lâu ngày, luyện tập tiếp xúc sau một thời gian dài, có thể hiểu được linh ở không trung muốn nói với chúng ta điều gì. Mặc dù người thông linh là người mù không nhìn thấy linh, nhưng mức độ nhạy cảm của cảm giác tăng trưởng, có thể lợi dụng lực cảm giác lớn nhỏ để mà đoán những việc chưa tới hoặc sắp phát sinh.

Người thông linh khi chưa có được sáu đại thần thông nhưng vẫn luôn có cảm ứng sơ giác, sức mạnh cảm ứng này là do nhân duyên kiếp trước quyết định. Phật gia thường nói, nghiệp chướng kiếp trước ít thì gương chỉ cần lau một chút là sáng, gương đã sáng rồi thì rất nhanh chóng có thể đạt được minh tâm kiến tính, tự nhiên có sức mạnh thần thông xuất hiện. Ngoài ra, nghiệp chướng kiếp trước sâu nặng thì cảm ứng trì trệ, thậm chí cảm ứng hỗn loạn giống như một vùng tăm tối, sẽ có hiện tượng ảo giác phát sinh. Những người kiểu như vậy thì hãy khoan học cảm ứng, nên tu công đức trước, phải lau gương trước, xóa sạch những nghiệp chướng tiền kiếp. Nếu nghiệp lực kiếp trước dần dần bị loại bỏ, lau sạch những bụi trần ở trên bề mặt, thì lúc này không cầu cảm ứng cũng sẽ tự nhiên xuất hiện cảm ứng. Phật gia hay nói rằng thần thông không cần học cũng tu đắc được, nguyên nhân của nó chính là ở đây.

Hiệu lực của cảm ứng sơ giác có lớn có nhỏ. Phần đông con người tự cho rằng mình đã có được thần thông, thật ra sức mạnh này rất yếu ớt, linh hồn của bản thân vẫn là một đứa trẻ con chưa trở thành người lớn (linh) đâu! Nếu linh ở không trung thành tâm dạy dỗ cho đứa bé mới sinh này, thì rất nhanh chóng, thuật cảm ứng của linh sẽ càng ngày càng mãnh liệt, như độ lớn của điện áp, giống với nguyên lí mạnh yếu của điện lực, năng lực làm việc cũng khác nhau. Linh sơ sinh biến thành linh lực to lớn thật sự cần nhờ vào sự chỉ đạo của linh ở không trung, kết hợp với bản thân thành tâm luyện linh, hơn nữa cần có tâm địa thuần thiện, không cho phép có tà niệm.

Người thông linh và linh chỉ đạo cố định nếu có thể thường xuyên giao tiếp với nhau, năng lực của linh chỉ đạo vô cùng cao siêu, thì nhân tài mà linh ấy bồi dưỡng ra cũng sẽ vô cùng cao siêu. Ngược lại, một người tâm thuật bất chính học thông linh, mặc dù linh phục hồi nhưng sẽ không có linh chỉ đạo nào quá bộ đến để hướng dẫn. Nếu nghiệp chướng của người này lại sâu nặng, không biết thành tâm sám hối quá khứ, tu công tạo đức, chỉ có vọng tưởng đạt được sức mạnh thông linh lớn, thử nghĩ xem, người ngu si như vậy có thể có được chỉ thị thật sự của tiên ở cõi thượng giới không? Vả lại, nếu vọng tưởng được tiên thật sự xuống chỉ đạo, bản thân thì học những tà thuật, thì đến cuối cùng sẽ đi vào ma đạo, từ đây thì chẳng có cách nào tự thoát ra được, sẽ thật đáng tiếc thay! Cho nên con người ngày nay tu tập thông linh, nhập pháp môn Chân Phật Tông, không nằm ở thông minh lanh lợi, cũng không nằm ở xảo ngôn giả tạo, lại càng không nằm ở học hành uyên bác, mà là cần thành tâm thành ý. Người có tâm địa thuần thiện mới có phần, nếu tự biết bản thân mình không được thì phải hết sức hạ quyết tâm sám hối quá khứ, người thật sự sám hối cũng là người có phúc phần.

Linh hồn mới phục hồi phóng ra các nhân tử của linh, không phải là hỗn loạn, mà là có quy luật tự nhiên. Linh hồn của bản thân sẽ phát ra một kiểu tiết tấu có tần số, cùng với linh trong không trung sẽ hô ứng lẫn nhau. Linh trong không trung rất nhiều, khi tần số của duyên và tần số của linh trong không trung là ngang bằng, thì sẽ tự nhiên sản sinh ra hiện tượng cảm thông. Theo những gì tác giả được biết, trong không trung có rất nhiều tần số, tần số của linh hồn là một dạng sóng tâm điện cực ngắn siêu vi tế, các dụng cụ khoa học hiện nay chưa chắc đã có thể đo được. Hơn nữa tần số của linh hồn có thể có hiện tượng biến tần, không phải là cố định, mà người người khác nhau, cho nên sự biến hóa của giao tiếp cảm giác thực sự phức tạp hơn và bất khả tư nghì so với chu kì tần số của radio và ti vi. Kẻ hèn này nhận thức được sâu sắc rằng đây là môn khoa học bất khả tư nghì nhất, không thể dùng logic thông thường để phán đoán bộ máy phức tạp nhất - con người.

Người thông linh muốn giao tiếp với linh của không trung, phương pháp quan trọng nhất là nhắm mắt (đóng lại sáu cảm giác chính trên thân, mắt tai mũi lưỡi thân ý, chỉ để cho linh giác tự do), ngồi trên bồ đoàn (công phu định thân), hai tay chắp lại hoặc hai tay duỗi bằng (chắp tay lại chính là để cầu khẩn, duỗi lòng bàn tay chính là thế giống như giá ăng-ten, giống như ăng-ten của ti vi vậy), trong tâm chỉ giữ lại một ý niệm (phát huy cao độ niệm lực này, hoặc kiểm soát suy nghĩ của bản thân), thỉnh cầu một vị thần linh nào đó trong không trung giáng xuống giao tiếp).

Người đã thông linh thì nhất thiết phải vận chuyển linh đến thiên khiếu đỉnh đầu, đến khi thật sự biết rằng linh trong không trung và linh của mình đã tương thông được với nhau rồi, có thể mở miệng nói ra vấn đề của mình, cầu thánh linh ở không trung giải đáp. Người sơ giác, dựa vào lực rung động của linh lực mạnh hay yếu mà từ đó có thể có được câu trả lời cho sự việc, hoặc dựa vào lực mà thần linh giáng xuống trong não mạnh yếu khác nhau mà từ đó hiểu được ý của thần linh, công phu này gọi là "cảm ứng sơ giác", nhìn chung mà nói thì cảm ứng sơ giác đòi hỏi phải qua một giai đoạn rèn luyện.

Linh hồn, có thể nói là niệm lực, cũng có thể nói là khí, cũng có thể nói là thức, cũng có thể nói là chân nhân, là nguyên thần, là thần. Cách nói của con người khác nhau, thật ra đều là sự biến hóa của cùng một thứ. Vì nó vô hình, khi mạnh thì được gọi là linh hồn, là một dạng sóng siêu tâm điện ở tầng sâu rất vi tế, chỉ có dùng tâm bất động để cảm nhận mới có thể cảm thấy được sự tồn tại của nó, cảm giác này gọi là cảm ứng thông linh.

Vì sao con người bình thường phủ nhận sự tồn tại của linh hồn? Bởi vì họ là những người chỉ biết hoạt động nhục thể, đối với linh hồn thì hoàn toàn không hiểu biết gì hết.


### 21.  Thông linh Tiên đạo


Tôi nhấn mạnh rằng, bất kì ai cũng đều không thể phủ nhận sự tồn tại của linh, bởi vì linh hồn là mục tiêu giải thoát của tôn giáo. Cơ Đốc giáo không thể phủ nhận, Thiên Chúa giáo cũng không thể, Đạo giáo không thể, Phật giáo càng không thể, bởi vì chỉ cần là tôn giáo, chắc chắn phải thừa nhận sự tồn tại của linh hồn, nếu không thừa nhận linh hồn thì tín ngưỡng tôn giáo ấy căn bản là không có chỗ đứng. Trung Quốc nói về ý nghĩa của trời-người hợp nhất, trời-người hợp nhất này không phải là hợp nhất về mặt vật chất, mà là linh hồn và linh gốc của đại ngã hợp lại làm một.

Người thông linh thường xuyên giao tiếp với thần linh ở không trung, trong cuộc sống của họ, nhất định sẽ phát sinh rất nhiều chuyện trùng hợp. Những chuyện trùng hợp này là những dự cảm và những điều thấy trước vô cùng vi diệu, có thể biết được chuyện quá khứ, cũng có thể dự đoán được chuyện tương lai. Cái gọi là lời tiên tri có thể tiên đoán thế giới mấy nghìn năm sau không phải là cái mà họ đích thân có thể nhìn thấy thật, mà là một dạng dự cảm đặc thù, khiến họ thật sự ghi chép lại. Những tiền bối xưa của Trung Quốc, dự ngôn Tạng Bồi Thi và Thôi Bối Đồ, dự ngôn Thiêu Bính Ca của Lưu Bá Ôn chính là những lời dự đoán hay nhất. Những dự đoán của các bậc thánh hiền xưa kia cũng không ít, đều ăn khớp với thực trạng hiện tại, chẳng phải là kì lạ sao! Thật ra không phải họ thấy trước, mà là dự báo, điều huyền bí của thông linh chính là ở đây, cái này chính là số mệnh của trời, duy có người hiểu thiên mệnh mới có thể biết được.

Nhờ có sự hiểu biết thiên mệnh của người thông linh nên họ thể nghiệm được nhiều hơn người khác, sẽ không bị thanh sắc khuyển mã trước mắt mê hoặc, và họ vui với việc tu thân dưỡng tính, tìm cầu chân lí giữa trời đất, tâm hồn tiêu dao tự tại, không chịu lục đạo khổ luân. Cho nên thông linh và tu đạo có mối liên quan rất lớn, chúng ta không thể phân tách thông linh và tu đạo thành hai sự việc để mà nói, giống như chúng ta không thể tách riêng Phật và thần thông ra để mà nói. Thành Phật chắc chắn sẽ có thần thông, thần thông phụ thuộc vào việc thành Phật mà có, cấp độ tu hành càng cao thì sức mạnh thần thông càng lớn, hai thứ sinh ra và phụ trợ lẫn nhau. Hơn nữa, rất nhiều người tu hành cả một đời, nhưng kết quả là chẳng đạt được gì cả, không những không đạt được một điều gì, thậm chí tu đến mức đầu tro mặt xám, đến già cũng vẫn không biết tu những cái này để làm cái trò gì. Nhưng khởi linh thì khác, người khởi linh đột nhiên có được linh giác, xúc giác tu hành thâm nhập linh giới, không còn mò mẫm tìm kiếm một cách hoàn toàn mù mờ nữa, ít nhất bạn có thể biết được thật sự có linh hồn, điều này hoàn toàn xác thực.

Người thông linh, vì linh khí rất nhạy bén, tinh thần chắc chắn rất tốt. Nếu phát hiện thấy tu linh đến mức ánh mắt sao nhãng, tinh thần không có cách nào tập trung được, cử chỉ quái dị, nếu mắt có ánh lên những tia nhìn dị thường, xuất hiện tà nhãn thì rất gay go, cần phải nhanh chóng kích động họ bằng tiếng gầm sư tử để gọi chân khí ban đầu của họ trở về, đừng để đi vào trong ngõ cụt, khi ấy muốn lôi ra cũng không đủ sức.

Giai đoạn quan trọng nhất của người thông linh là: làm sao để kết lời thề với tiên linh ở cõi trời. Có nghĩa là thiên tiên đến giúp ta và bảo vệ ta, phương pháp này vẫn là một kiểu kết hợp giữa lực kiếp trước và niệm lực, lực kiếp trước là nhân quả, niệm lực tức là cảm lực tinh thần. Phần đông những người nói về tiên duyên và tiên căn cũng là cách nói về lực kiếp trước, nói niệm lực tức là lực chiêu cảm (cảm hóa) tinh thần. Tác giả đã làm một thử nghiệm, chỉ cần một người có thể thật sự dừng lại tất cả mọi suy nghĩ, tĩnh lặng nhập định vào bầu trời xa xăm rỗng rang, lúc này chỉ cần một phút là sẽ có "thực thể khác" từ không trung giáng xuống, cảm giác này mỗi lần một mãnh liệt hơn. Người có thể nhập vào bầu trời xa xăm rỗng rang chỉ cần tập trung sức mạnh tinh thần, nghĩ đến Phật, Phật chắc chắn hạ giáng, nghĩ đến thiên tiên, thiên tiên chắc chắn hạ giáng, nghĩ đến tổ tiên đã qua đời, tổ tiên chắc chắn xuất hiện. Linh giới mặc dù rộng lớn, nhưng sức mạnh của bầu trời xa xăm rỗng rang là vô tận vô biên, chỉ cần pháp luân chuyển động thì hà tất phải lo lắng Tiên Phật không vội đến để kết lời thề với ta chứ!

Người khởi linh, nếu thân có bệnh cũ hoặc bệnh mãn tính, sẽ nhờ kết quả của việc thường xuyên luyện linh mà khỏi bệnh, bởi vì linh lực ở trong thân thể sẽ quan hệ xung kích hoặc dùng phương pháp nội công yoga vô hình, dựa vào vận động nội tuần ngoại hoàn của huyết dịch chân khí mà vô hình trung từng bước giải trừ khổ ách của bệnh tật. Đặc biệt là những căn bệnh kì dị lạ lùng, luôn luôn nhờ luyện linh trên thân mà đột nhiên khỏi bệnh. Người có kinh nghiệm này hiện tại đã có rất nhiều, điều này hợp với khoa học hiện đại, sự vận động của linh lực phối hợp với sự vận động của nhục thể, vận động chính là phương pháp tốt nhất để tiêu trừ bệnh tật. Người luyện khí công, toàn thân giống như sắt thép, và người luyện linh cũng có thể làm được như vậy. Nếu linh chuyển động khắp toàn thân, cũng tức là khí lấp đầy khắp thân, trở thành thế lực bành trướng, điều này giống như săm lốp của xe ô tô, khi săm lốp đầy khí thì có thể chở được vạn cân, người có thể vận linh thì cũng có thể tiêu hủy vạn tà, giống như kim cương bất hoại.

Thân thể con người dựa vào ba bảo vật chính là tinh, khí, thần. Tinh là chỗ ẩn nấp của các nhân tử linh, khí là sự biến hóa của nhân tử linh, thần là thân thể thực sự của nhân tử linh, và làm cho thần hóa thành hư không tức là thành Phật rồi. Phật cũng là sự tồn tại của nhân tử linh mà thôi, thành tiên thành Phật đều nằm ở nhân tử linh. Nếu tu hành ngược với điều này thì gọi là đui tu mù luyện, không biết đầu đuôi và ngọn nguồn.

Ý chính của bản văn này chủ yếu là làm thế nào để kết lời thề với thần tiên, khi thề nguyện có thể nói chân phương như thế này: "Thái Thượng Tiên Chân giám sát, đệ tử Liên Sinh trải qua vạn kiếp luân hồi, khổ luân ác thú đã nếm trải đủ hết rồi, nay gặp được Tiên Sư khởi linh, biết trên trời dưới đất. Đệ tử ngu muội mới vừa tỉnh ngộ, con đường phía trước còn gian nan, mong Tiên Chân từ bi nhìn xuống, thương xót tâm nguyện tu chân của kẻ thật lòng sám hối này, không vì coi thường sinh mệnh nhỏ bé này mà bỏ mặc. Nay xin lập đại nguyện, hành thiện tế thế, tu thành chính quả, lại kinh qua hồng trần thế tục, đời đời kiếp kiếp nghĩ vì chúng sinh, lời nguyện này chưa đạt thành thề không thành Phật. Tiên Chân chính là cao sĩ đắc đạo, con là người thế tục chưa đắc đạo, một ngày nào đó đắc đạo, tất báo đáp bốn đại ân, nguyện vọng mãi mãi không có ngày ngơi nghỉ, trịnh trọng đưa ra lời thề nguyện này, vĩnh viễn chứng chính quả."

Nếu được Tiên Chân ngày ngày giá lâm, như người một nhà, thì đây thật sự là một tin rất tốt lành, hãy biết nắm bắt cho thật tốt.


### 22. "Luyện công tọa tức" không gián đoạn


Khi mới có được kì duyên, trong lòng tôi có cảm giác sợ hãi, đặc biệt là Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh đột nhiên xuất hiện, những pháp thuật mà tôi được chỉ đạo là những thứ tôi chưa từng thấy biết. Lúc ấy, bởi vì tâm sinh ra cảnh giác, tôi đi khắp nơi hỏi những cao nhân và người tu đạo, họ không khuyên tôi dừng luyện công thì cũng bảo tôi tẩu hỏa nhập ma, một số vị xuất gia thậm chí còn cho rằng tôi bị rối loạn tâm thần, tâm thần có vấn đề. Nhưng sau một thời gian dài cùng sống với Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, tôi phát hiện ra ngài rất điềm đạm hiền lành, là một vị Tiên Chân thượng thừa đã đắc đạo. Ngài thường xuyên chỉ đạo cho tôi, bất kể là ban ngày hay ban đêm, khi ấy tôi thường xuyên phải ra ngoài làm công việc đo đạc, tôi đi đến nơi nào thì Ngài sẽ đi theo tôi đến nơi đó, những việc mà Ngài đã chỉ điểm từng việc đều ứng nghiệm, nhưng tuyệt không ảnh hưởng đến cuộc sống và công việc của tôi.

Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh dạy bảo tôi rất nghiêm khắc, nhất cử nhất động của tôi đều nằm dưới sự giám sát của Ngài, Ngài không lơ là một chút nào. Ngài chỉ thị cho tôi rằng luyện công tập thở là kế hoạch lâu dài cả trăm năm, không phải là dăm ba ngày là thành công. Không những không được gián đoạn, mà còn không thể lười biếng, người tu đạo sợ nhất là buông lỏng tinh thần, cũng không được làm một nghỉ mười, tu đạo không phải là việc có thể thành công sau một đêm! Thời gian ấy, hàng ngày vào 11 giờ tối, giờ Tí, tôi buộc phải học luyện công tập thở 50 phút, Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh ở bên cạnh chỉ đạo kĩ lưỡng, tất cả pháp thuật của tôi phần lớn đều do Ngài ấy truyền dạy. Nhờ có sự dạy dỗ của Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, từ lúc khởi đầu cho đến khi kết thúc, chỉ có dạy bảo chính đạo chính pháp, đến cuối cùng tôi mới tin tưởng chắc chắn không còn hoài nghi, thầy của tôi là Chân Tiên chính giáo, không phải là tà thuật ma phái.

Còn nhớ có một buổi tối, tôi đang ngồi tọa công luyện hơi thở, Ngài cũng ngồi trước mặt hướng dẫn cho tôi, tôi chắp tay lại, Ngài ấy dùng linh khí chỉ đạo thủ ấn của tôi biến hóa. Thủ ấn chính là công phu huyền bí của cơ thể, tư thế biến hóa của nó đẹp tuyệt vời, hơn nữa tư thế còn rất đa dạng, khiến tôi cảm thấy thâm sâu không thể đo lường được. Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh chỉ thị rằng tôi phải ghi nhớ lần lượt từng thủ ấn này. Tôi nói với vị linh sư của mình rằng: "Tiên Sinh truyền thụ thủ ấn cho con, con vô cùng cảm kích, nhưng phải ghi nhớ thủ ấn là một việc rất phiền phức, chi bằng lúc cần dùng thủ ấn, Tiên Sinh đúng lúc ấy mau đến chỉ đạo không phải là cũng được sao? Hà tất phải ghi chép lại, thật vất vả quá." Tôi nói xong những lời này, Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh liền biến mất, vào lúc ấy, tôi vẫn không biết vì sao vị linh sư của mình lại tức giận bỏ đi. Khoảng mười ngày sau, linh sư lại đến, Ngài nói: "Liên Sinh, luyện công tọa tức không thể ỷ lại vào người khác, lần trước ta nghe thấy những lời nói lười biếng của con, thật không vui chút nào, vốn nghĩ là để mặc con tự sinh tự diệt, nhưng quả thực là lấy làm tiếc cho căn cơ tư chất của con, sau này không được có những lời nói bông đùa như vậy, nếu không phải vì nhân duyên thiên giới cùng con, ta mới là người lười chẳng buồn lặn lội trong hồng trần nữa đó!"

Tôi nghe xong lời này thì vô cùng hổ thẹn, kể từ đó không dám có tâm lười biếng nữa. Hôm nay, có rất nhiều người khởi linh, mặc dù linh đã hoạt động, nhưng họ chỉ hiếu kì lúc ban đầu mà thôi, lâu ngày, tâm sẽ sinh ra sự lười nhác, quên luôn cả động cơ ban đầu khi học khởi linh. Nhất là người khởi linh, khi linh mới hoạt động, cần phải vận động ba năm mới xem như là xây dựng nền tảng thành công, người không bền chí thì sẽ dần dần buông bỏ công việc vận linh này, sau khi dừng lại thì tiên căn cũng đứt, muốn quay lại cũng khó lắm thay! Rất nhiều người chỉ biết khởi linh và vận linh, không biết rằng phải cầu lời thề với Tiên Chân, linh chỉ đạo giáng xuống để hướng dẫn, cho nên cầu lời thề với Tiên Chân cũng là một việc rất quan trọng. Lời thề với Tiên Chân này là đại bí mật xưa nay rất khó biết được, có Tiên Chân hạ giáng chỉ đạo, tu đạo mới không tẩu hỏa nhập ma, mới không có chuyện không đạt được gì cả, mới không đui tu mù luyện.

Khẩn cầu lời thề với Tiên Chân không phải ai ai cũng có thể có được, tôi từng nói điều này có quan hệ với căn duyên tiền kiếp, nhưng nếu thành tâm thành ý sám hối, thiết lập lời thề, đốt sớ dâng lên thiên đình, lập đàn tế Thất Tinh, cũng có thể làm cảm động Tiên Chân ở thượng giới giáng xuống. Nếu như thỉnh cầu nghìn vạn lần rồi mà vẫn không được Tiên Chân trợ giúp thì cũng không cần chán nản, chỉ cần giữ vững tấm lòng của mình, không giao thiệp với tà đạo, nỗ lực tinh tấn tu đạo, thì sẽ có một ngày thành công, có công mài sắt có ngày nên kim. Người không hề có tiên duyên may ra có thể dựa vào một chút thành tâm, sẽ làm cảm động sâu sắc đến trời xanh.

Phương pháp lập đàn Thất Tinh như sau: trước tiên bày một bàn thờ thần, quay về hướng Bắc, trên bàn thờ đặt bảy chiếc đèn dầu, trước mỗi chiếc đèn dầu đặt một bát hương, bảy đế cắm nến, kiếm thất tinh, bảy chén trà tiên, bảy loại quả. Về tụng kinh thì chủ yếu dùng kinh Bắc Đẩu. Thỉnh thần trước tiên có thể phụng thỉnh Hạo Thiên Kim Khuyết Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn, tiếp đó phụng thỉnh thánh hiền Tiên Phật năm phương, cuối cùng phụng thỉnh Nam Đẩu Bắc Đẩu Tinh Quân. Sớ văn có thể nhờ người trong nghề viết hộ, sớ văn thề nguyện có thể dựa theo cách viết trong chương sách trước (chương "Thông linh tiên đạo"), hơi thay đổi một chút cũng được. Quan trọng nhất là sắp đặt đàn Thất Tinh nhất định phải trai giới ba ngày, đèn dầu dùng cho đàn Thất Tinh cũng phải thắp suốt ba ngày, sau ba ngày thu đàn tĩnh tọa, chờ đợi chỉ thị của trời xanh. Luyện công tọa tức nên có minh sư chỉ dẫn, nếu minh sư là Tiên Chân ở thượng giới thì tốt nhất, nếu không phải là Tiên Chân ở thượng giới thì cũng phải cầu các bậc tiên hiền tiền bối làm thầy. Không được tự động dùng bừa tà phù để triệu thỉnh chư vị, nếu tự mình khởi việc ra lệnh triệu thần kéo quỷ, thật ra chỉ mời được những thần nhỏ kiểu như thần nước, thần sông, thần mạ, thần giếng mà thôi. Những loài ma đến chẳng qua chỉ là sơn tinh thủy quái có được chút địa linh. Tiên Chân thượng giới vốn chẳng phải hạng bừa bãi xằng bậy ngông cuồng phù phiếm để một phù sư phẩm tính thấp hèn có thể dùng phù mời tới mà được!

Người khởi linh, luyện công tọa tức hàng ngày mỗi lần đều vừa phải, thời gian không được quá dài, nhưng không được gián đoạn, tuyệt đối không được hời hợt, nếu phương pháp chính xác, giữ chính kiến, chính tri tất sẽ đạt được chính pháp, tà ma ngoại đạo không dám quấy rầy. Như vậy tự có thể thấy rằng tu đạo chỉ dựa vào một chữ "thành" [thành tâm, thành thật], rồi cộng thêm sự bền lòng, Ngu Công dời núi núi cũng phải dịch chuyển, không cần lo không đắc được đạo.


### 23. Thủy hỏa cùng biến thần thông


Mông Tạng ủy viên hội Triệu Khoa Trường viết một bài về linh khí gửi đến cho tôi, cả bài viết luận về tinh-khí-thần như sau: "Chí thành thông thiên địa, thiên địa ở đây tức là chỉ vũ trụ. Vũ trụ rộng lớn bao quát tất cả, vạn vật sinh ra nhưng không diệt, chi phối vạn vật này đều là do hoạt động của linh khí. Linh khí này lấp đầy vũ trụ, hóa sinh khắp nơi, do vậy vạn vật có được sự tồn tại vĩnh viễn. Song linh có sự phân chia không? Cái này đương nhiên là có, người có linh tính cao thượng thì là Phật là thần, người có linh khí thấp kém thì là muỗi là ruồi, mặc dù đều là linh, nhưng tướng thì khác nhau như thế. Tuy rằng linh có sự phân biệt như vậy, nhưng chất của nó thì là một, cần phải có căn cơ bẩm sinh sẵn có như thế nào đó thì mới quyết định sự cao thấp của linh này."

"Con người sinh ra là nhờ tinh khí thần chi phối tất cả. Tinh là gì? Tức là tinh linh mà cũng tức là tinh thần, có linh tức có thần, thần mà tản mát thì linh cũng đi mất, vì thế mới có cái gọi là linh khí. Nhưng khí là cái gì? Khí này tức là cái căn bản của hoạt động thân thể mà con người vốn có, cái căn bản này như thế nào? Tức là khí của việc hít thở. Thần là cái gì? Tức là tinh thần mà cơ thể người có sẵn, cũng tức là thần khí, có thần thì tinh thần phấn chấn, không có thần thì buồn rầu ủ rũ. Tinh-khí-thần mặc dù tưởng như là ba loại, nhưng rốt cục thật ra là một nghĩa. Do đó, tinh khí thần là ba điều kiện cốt lõi cho sự sinh tồn của con người, ba điều kiện cốt lõi này có thể làm tất cả mọi việc một cách cực kì thành công. Tinh khí thần này cũng được gọi là "tam nguyên", cũng tức là nguyên khí, với cách nhìn này thì có thể thấy tầm quan trọng của linh, vì thế chúng ta tu tâm dưỡng tính cũng tức là bồi dưỡng cái linh khí này. Tôi mô tả ngắn ngọn ý nghĩa của linh khí để mọi người tham khảo."

Triệu Khoa Trường tinh thông pháp phù của phái Nhất Đạo, luận về tinh-khí-thần không hề thiên lệch, tương đối nói trúng trọng tâm. Tác giả cũng nghiên cứu kĩ về tam muội trong đó, phát hiện ra một chữ "tinh" cũng chính là chữ "tính" trong nhân tính, phân tách cái "tính" này thì phân thành âm dương, mà dương chính là lửa, âm chính là nước, những thứ này đều thật sự tồn tại trên thân thể mỗi con người. Vì thế tôi cho rằng hai thứ nước-lửa chính là thứ quan trọng căn bản để thành công thông linh chứng Tiên đạo. Nếu không có thủy hỏa thì không có âm dương, không có âm dương thì không có tính, vô tính thì sẽ vô tinh, tam bảo đều không có, tất cả đều hư vô.

Phái Đan Đỉnh Đạo gia nói về phương pháp đan đỉnh thành thánh đan cũng không tách rời hai chữ thủy hỏa. Phần đông phàm phu bình thường, thủy sẽ chảy xuống, chảy hết thì cũng chết, hỏa thì đi lên, lên đến hết thì cũng chết. Nhưng người tu Đạo là hàng long phục hổ, luyện chì luyện thủy ngân, ép hỏa khí xuống dưới, nâng thủy lên hết mức, nước lên và lửa xuống, trở thành cục diện nổi lửa luyện đan đỉnh. Thủy lúc này vốn là thể lỏng, sau khi được hỏa luyện, nguội đi sẽ thành thể rắn, thể rắn trong vật hữu hình cũng được gọi là hạt xá lợi, lại luyện tiếp hạt xá lợi thì sẽ hóa thành khí thành thần, nhập vào trong hư không, đây chính là công phu "luyện thần phản hư" của phái Đan Đỉnh Đạo gia. Nếu thành tựu công phu này mới xem như là đắc đạo! Vì vậy tôi biết, xá lợi chính là quá trình của tu đạo, cũng chưa phải hoàn toàn, thế nhưng xá lợi hữu hình cũng có thể chứng minh về mặt bề ngoài là đạo công có thành tựu, là một ấn chứng thật cho việc tu đạo.

Thủy hỏa cùng biến thần thông chính là thần công đảo lộn thủy hỏa, thủy hỏa này cũng có thể đảo lộn, đều là dựa vào tác dụng của linh khí. Nước ở trong thân đi lên trên, nhập vào trong đan đỉnh, lửa ở không trung ép xuống dưới, đi vào dưới đan đỉnh, đây chính là thần công "thủy hỏa kí tế" của Đạo gia. Đạo lí này là đại pháp chấm dứt sinh tử, cũng tức là một minh chứng lớn của pháp lậu tận thông của Phật gia. Theo lí mà nói, nếu điều hòa thủy hỏa tốt, cả đời sẽ không có bệnh tật khổ ách, bồi dưỡng thành công kim đan xá lợi thì sẽ có hi vọng lớn với việc thành Phật thành Tiên. Người luyện Chân Phật Tông dựa vào linh lực tự thân, áp dụng điểm mạnh của thuật yoga, dùng phương thức lay động lắc lư thân thể, lâu ngày luyện được hỏa tính trung hòa đi xuống, thế nước cuồn cuồn dâng lên, kiêm tu nội công ngoại công, vô hình trung điều hòa thủy hỏa, âm thầm kết nên xá lợi tử, tinh khí thần sung mãn, cứ như thế thì sao phải lo không chấm dứt được sinh tử, không đắc được quả vị thần tiên chứ!

Có người hỏi tôi: 
"Linh hồn có tính gì?"
"Nói là thủy hỏa, nói hỏa tính, nói thủy tính, nói trung tính đều được."
"Vì sao như vậy?"
"Người người khác nhau, tuy nhiên nếu tu đến trung tính, tức là khi kết được xá lợi, long hổ đều hàng phục thì không còn phân biệt âm dương nữa. Phật Bồ Tát cũng không phân biệt âm dương, có thần thông thiên biến vạn hóa, đạo lí ấy nằm ở đây."

Nếu có người có thể tập trung lửa ấm của toàn thân trên một điểm cố định, rồi sau đó thở ra từ đầu ngón tay hoặc trong miệng thì có thể châm lửa cho những vật bằng gỗ hoặc vật dễ cháy. Công phu thần kì này chính là vận dụng chú của tâm niệm, tập trung niệm lực của ý thức ở tầng sâu, xoay tròn Tâm luân, toàn thân như bánh xe lửa bùng cháy. Vào lúc sức mạnh tinh thần phát huy mạnh nhất, ý thức dựa vào tay cách không tập trung vào một điểm, liên tục phát ra hỏa tính trong thân nhờ sự phát huy sức mạnh tinh thần vô cùng vô tận khiến cho vật chất đạt đến điểm bùng cháy mà bắt lửa. Thần công "hỏa" của Tân Mật tông này chính là một trong những thần công thủy hỏa biến đổi lẫn nhau, bí mật của nó nằm ở sự phát huy hỏa võng thần công, hỏa tường thần công, kim cương tam muội chân hỏa thần công của mật chú Tâm luân. Có một số người xuất gia tự biết thời điểm chết của mình nên họ đã chuẩn bị trước hậu sự, tắm gội trai giới, sau đó nhắm mắt lại ngồi thiền rồi viên tịch. Công phu tri thiên mệnh này cần phối hợp với tam muội chân hỏa trong thân mình, dẫn động tam muội chân hỏa thì hỏa sẽ xung lên trên, lửa này không phải là lửa thông thường mà chính là chân khí vô hình, lợi dụng chân khí này để thiêu đốt chính thân mình, và thế là viên tịch một cách rất tự nhiên, đây cũng chính là bí mật về sự viên tịch của các đại hòa thượng.

Chương sách này mặc dù chỉ đề cập đến thần thông thủy hỏa cùng biến đổi lẫn nhau, thật ra trong đó đã có cả đạo lí lớn về kết thúc sinh tử, không phải là người tu linh mà muốn đắc đạo thì lợi bất cập hại. Người tu Linh Tiên Chân Phật Tông thì lại làm chơi ăn thật, "điều hòa thủy hỏa đến mức vô hình, kim đan xá lợi tự nhiên đầy đủ và tràn trề".


### 24. Tín hiệu của thần minh


Thần minh luôn luôn dùng tín hiệu đặc biệt để gợi ý cho con người, mỗi một người hoạt linh đều phải học cách nhận thức được phương diện tín hiệu này. Nếu người nào có thể tu tập mà hiểu được thì không những biết trước được lành dữ họa phúc mà còn có thể tự cứu mình và cứu người nữa! Bản văn này sẽ thuật lại một câu chuyện có thật, nhân vật chính trong câu chuyện này họ Giang, người này từng khởi linh, công phu võ thuật rất giỏi, là huấn luyện viên Taekwondo, trong nhà mở xưởng sản xuất cao su. Nhà anh ta thờ phụng tượng Quan Âm từ bi màu trắng, tượng do tôi giúp khai quang.

Có một buổi tối, người này đến tìm tôi, anh nói: "Thầy Lư, buổi đêm tôi nằm mơ, một giấc mơ rất kì quái, bình thường tôi mơ thì luôn luôn không nhớ lắm, nhưng giấc mơ đêm qua thì lại nhớ rõ mồn một. Tôi mơ thấy trong bể nước nóng ở nhà mình xuất hiện một chiếc quan tài, quan tài không lớn, quan tài này từ trong bể dần dần nổi lên, bên trong quan tài có một người nằm, hai mắt nhắm, giấc mơ này khiến người ta khiếp sợ, xin hỏi đây là điềm báo gì?"

Thế là tôi xem một quẻ bói cho anh Giang, quẻ này đích thực là đại hung, tôi nói với anh Giang rằng: "Phân tích theo quẻ này thì vận của anh rất tệ, những ngày này phải coi chừng." Lúc này tôi nghe thấy linh trong không trung nói: "Đây chính là mệnh đó! Vận đó! Là điềm dương khí đã rút, âm khí đại thịnh, người chủ có hung sát, khó giải quyết." Tôi truyền đạt lại ý này, đặc biệt dặn dò phải hết sức cẩn thận, phải hết sức chú ý. Anh Giang trên còn có cha mẹ, lấy vợ sinh con được hai trai hai gái, trong đó một đứa bé trai mới sinh được hai tháng, cả nhà chăm chỉ tằn tiện, cuộc sống cũng tương đối mĩ mãn.

Buổi tối cùng ngày xảy ra sự việc, anh Giang đi lên tầng trên để tu tập trúc cơ luyện linh. Trong quá khứ, sức mạnh linh động của anh rất yếu, có khi tay giơ lên được một nửa thì lập tức rũ xuống, muốn khích động bản thân nhưng không có sức. Thế nhưng buổi tối hôm đó, sức mạnh linh động rung động mạnh đến mức chính bản thân anh cũng thấy kinh ngạc. Đêm đó, anh ngồi như phương pháp bình thường vẫn làm, nhưng linh lực lại dùng sức rất mạnh từ tay trái tóm chặt lấy ngón giữa tay phải, bẻ mạnh một cách thô bạo, cứ như thể không bẻ gãy ngón tay giữa thì không được, không có cách nào kháng cự lại sức mạnh ấy, khí thế hung hãn. Dường như linh ở không trung và linh của bản thân đang làm nổi lên một cơn gió lốc, cơn gió lốc ấy ra sức bẻ gãy ngón tay giữa của anh. Sau khi anh Giang luyện linh 50 phút, anh quay vào phòng ngủ để đi ngủ, anh nói với vợ: "Tối nay luyện linh thật sự quá kì lạ, lực rất mạnh, chưa từng có, hơn nữa còn ra sức bẻ gãy ngón tay, cứ như thể không bẻ gãy ngón tay thì không được. Đây là hiện tượng kì lạ chưa từng có kể từ khi khởi linh luyện linh cho đến nay."

Nửa đêm, cơ thể của anh Giang đè cứng cánh tay, đau tới mức khiến anh tỉnh giấc, rồi anh cứ ngủ lại tỉnh. Trời sắp sáng thì anh thấy vợ anh ôm mặt khóc, anh thận trọng kiểm tra, đứa bé trai mới sinh được hai tháng tên Giang Minh Triết sắc mặt xanh lét, đã không còn thở nữa. Anh bế đứa con lên, đánh thức bố mẹ, lập tức lái xe đi tìm bác sĩ, liên tục chạy tới ba nơi, bác sĩ đều lắc đầu nói: "Không cứu được nữa!" Nguyên nhân là đứa bé không hiểu vì sao mà lật úp mình ngủ, mũi đè xuống gối, nên ngừng hô hấp, cứ thế nghẹt thở mà chết. Cảnh sát cử người đến, kiểm sát trưởng và pháp y cũng đến, đều nói: "Đem chôn thôi." Anh Giang cúi đầu đau xót nhìn chăm chú vào đứa con, mặt đứa bé bèn bẹt, giống hệt như anh đã nhìn thấy trong giấc mơ, cuối cùng anh mới nhớ đến chiếc quan tài nhỏ, nhớ đến khuôn mặt nhỏ bèn bẹt xanh xao đó.

Sau khi lo liệu xong mọi việc, anh lái xe đến chỗ tôi, kể với tôi về sự việc đã qua, tôi nói: "Đối với sự việc này, thần minh có cho anh tín hiệu, tín hiệu thứ nhất là bể nước trong nhà có chiếc quan tài, đó là tín hiệu về cái chết, đại hung, dương khí rút hết, âm khí đại thịnh, bản thân phải lưu tâm đến mọi thứ. Tín hiệu thứ hai càng rõ ràng hơn, sự rung lắc khác thường, tay trái tóm chặt lấy ngón giữa tay phải ra sức bẻ gãy, ý nghĩa chính là "chiết tử", liên tục gợi ý cho anh về "chiết tử" đó! Chiết tử đó! Nhất là trong tên đứa con trai của anh lại có chữ Triết. Ba hiện tượng này đều ăn khớp với nhau, chẳng phải là thần minh đã chỉ điểm rõ rành rành cho anh đó sao? Có điều chúng ta không thể hiểu được mà thôi, luôn luôn là đến khi sự việc xảy ra rồi mới có thể xác nhận, như thế thì đã quá muộn rồi."

Anh Giang nghe tôi nói xong thì đột ngột bừng tỉnh, liên tục nói: "Ôi! Khi ấy sao lại không nghĩ ra chứ! Thật đúng là, lần ấy tôi cứ bẻ ngón tay giữa một cách bất thường, tôi từng nghĩ là hôm sau nhất định sẽ đến chỗ thầy để xin thầy giải thích, nhưng không ngờ tất cả đã muộn rồi."

Vì câu chuyện này mà tôi hi vọng những người hoạt linh trong lúc tĩnh tọa thiền định, hãy nhận thức rõ ràng cẩn thận những kí hiệu của thần minh, thật sự thần minh đang làm rất nhiều kí hiệu trên thân người, những kí hiệu này sẽ khác nhau tùy theo mỗi người. Thần minh trên mặt đất, trên bầu trời đều làm rất nhiều kí hiệu, người có thể hiểu được những dấu hiệu này là người có phúc rồi, bởi vì người ấy có thể biết được tương lai của vũ trụ, huống hồ là vận mệnh của một con người nhỏ bé. Người khởi linh phải đặc biệt chú ý đến gợi ý của linh động, bởi vì mỗi dạng linh động đều có hàm ý, không phải vô duyên vô cớ đâu.

Có người hỏi tôi:
"Sao là kí hiệu của trời phải không?"
"Đúng thế."
"Núi sông đại địa là kí hiệu của đất phải không?"
"Đúng thế."
"Ngũ quan, vân tay, khung xương của con người là kí hiệu của con người phải không?"
"Đúng thế."

Chúng ta cũng xem cả kí hiệu của linh nữa! Thần công thiên biến vạn hóa của linh tự nhiên cũng có kí hiệu thiên biến vạn hóa, sự giao tiếp giữa thần minh và con người không chỉ là sáu đại thần thông, gợi ý của các vị là vô cùng vô tận, có thể hiểu được toàn bộ tín hiệu của thần minh thì người nào không phải là thần tiên chứ? Thần tiên cũng là con người tu đắc đạo mà nên.


### 25. Giải thích nguyện lực Địa Tạng


"Kinh Hoa Nghiêm" có đoạn nói: "Mẹ công đức của đạo là tín, bồi dưỡng tăng trưởng mọi thiện pháp, đoạn trừ nghi hoặc, sinh yêu thích, khai thị Niết bàn vô thượng đạo. Niềm tin thanh tịnh tâm thanh tịnh, diệt trừ ngạo mạn, thêm cung kính, cũng là pháp tạng quý giá nhất, là tay thanh tịnh nhận hạnh lành. Niềm tin bố thí tâm rộng rãi, tin tưởng yêu thích nhập Phật môn. Tín mang công đức tăng trưởng trí, niềm tin đưa đến cõi Như Lai. Thanh tịnh căn rễ là nhờ tín, niềm tin vững chắc chẳng hoại suy. Lòng tin diệt tận gốc phiền não. Tin rồi hướng về công đức Phật. Tin vào cảnh giới không bám chấp, xa rời khổ nạn tránh khó khăn. Tín giúp thoát khỏi đường ma tà, thị hiện giải thoát đạo vô thượng. Công đức bất hoại chính là tín. Tín làm tăng trưởng bồ đề tâm. Niềm tin tăng trưởng tối thắng trí. Chư Phật thị hiện nhờ lòng tin."

Đoạn này trong "Kinh Hoa Nghiêm" đã giải thích một cách rất dễ hiểu về sức mạnh của lòng tin, nói ra cũng đúng, thời đại ngày nay, muốn khiến người ta tin tưởng có nhân quả, có luân hồi rất khó, muốn khiến người ta tin có linh hồn, có quỷ thần lại càng khó hơn. Thế nhưng muốn thức tỉnh linh tính của những con người sống chỉ vì sinh tồn mà không dùng những bằng chứng có sức mạnh thì không được. Tác giả dùng chân tri chính kiến của bản thân để dấn thân vào nhiệm vụ vô cùng gian nan này, nhưng cái giá đổi lại lại là những lời châm chọc khiêu khích. Đương nhiên cũng có rất nhiều người dốc sức ủng hộ, nhưng nếu còn có một người chưa gột tâm hối cải, nỗi buồn trong lòng tôi đau như bị dao cắt vậy. Cho nên, khởi nguồn của tất cả sức mạnh bắt đầu từ lòng tin, từ nguyện lực mà hành trì, tu hành là việc đại sự, là việc sinh tử hệ trọng đó!

Có lòng tin rồi thì sẽ có lời nguyện. Lời nguyện sinh ra từ lòng tin, nguyện vọng này giống như thệ lực và chú lực của bản thân, là một dạng sức mạnh vô hình, vượt ra khỏi phạm vi tưởng tượng của con người bình thường. Chúng ta hãy đọc "Luận Ta Bà": "Con người, có kẻ bố thí một nắm đồ ăn cũng có thể trồng được phần thiện căn giải thoát; có kẻ năm năm một lần làm đại hội bố thí lớn cũng không thể trồng được phần thiện căn giải thoát. Hoặc có kẻ chỉ một ngày giữ trai giới có thể trồng được phần thiện căn giải thoát; có kẻ cả đời giữ trai giới nhưng cũng không trồng được phần thiện căn giải thoát. Hoặc có kẻ tụng một bài kệ đã có thể trồng được phần thiện căn giải thoát, có kẻ giỏi tụng Tam Tạng văn nghĩa nhưng cũng không thể trồng được phần thiện căn giải thoát. Nguyên nhân ra sao, nếu vì hiểu điều này mà mạnh mẽ hồi hướng giải thoát Niết bàn thì vĩnh viễn rời xa sinh tử, nếu không hồi hướng như vậy thì cả đời trì giới tu học cũng không thể giải thoát được."

Những lời trong "Luận Ta Bà" hàm chứa rất nhiều nhân duyên. Có người hành đại thiện nhưng chẳng có cách nào thành tựu, có người hành thiện chỉ một ngày mà lập tức có thể thăng thiên, chẳng phải kì lạ lắm sao! Thật ra chuyện này không có gì kì lạ cả, đây hoàn toàn là vấn đề của nguyện lực, người hành thiện một ngày đã đem toàn bộ thân tâm hướng về nguyện lực, nguyện lực khiến họ vượt lên trên mọi trời người, có người cả đời hành thiện, nhưng lại chỉ biết mỗi hành thiện, không biết hồi hướng phát nguyện để mà biến thành phúc phần của kiếp sau, như thế càng không thể đắc được đạo quả của Niết bàn giải thoát. Hồi hướng chính là nguyện lực, nguyện lực chính là lập ra lời thề, điều này không thể không biết.

Địa Tạng Vương Bồ Tát vì đưa ra lời nguyện sâu nặng trong nhiều kiếp, vì nguyện lực ấy vô cùng vô tận, địa ngục chưa trống thề không thành Phật, và Địa Tạng Vương Bồ Tát vì nguyện lực ấy mà thành tựu Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát. Trong "Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện Kinh", Thế Tôn tại cung trời Đao Lợi đã thuyết pháp cho phu nhân Maya, hết sức ca ngợi nguyện lực của Địa Tạng Vương Bồ Tát là bất khả tư nghì, công đức cũng bất khả tư nghì, hơn nữa còn gửi gắm trời người cho Địa Tạng Vương Bồ Tát, sự gửi gắm này mới nặng nề làm sao, đáng tôn sùng làm sao! Tác giả hi vọng, phàm là người học Chân Phật Tông, không thể không lĩnh hội kĩ lưỡng từng câu từng từ trong "Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện Kinh", để có thể biết được nguyện lực quan trọng đến mức nào, hồi hướng quan trọng đến mức nào.

Có rất nhiều người đến trước mặt tôi phát đại nguyện, thế nhưng tôi chỉ cười nhạt, bởi vì tôi thấy nguyện lực mà họ đưa ra đã hóa thành một đóa hoa quỳnh dễ nở dễ tàn, mặc dù hoa đẹp nhưng thọ mệnh không dài, nói rồi quên ngay. Đóa hoa quỳnh ấy từ từ nở ra, nhưng khi ánh mặt trời chiếu sáng thì cũng héo tàn, hoặc một cơn gió nhẹ thổi qua cũng héo tàn, gặp nước là tan, gặp lửa là diệt, lời nguyện như thế thì chẳng khởi lên được tác dụng gì, cho dù có thề nhiều lần thì cũng không có một chút nguyện lực nào, bởi vì lời thề ấy không vĩnh hằng. Trong số đó có một người thanh niên đã đến nhà tôi mấy lần, nhưng đều không thể vào trong nhà. Có một lần nhìn thấy tôi, anh ấy nói: "Thầy Lư, tôi phát nguyện luôn nghĩ đến Phật hiệu, đời này không gián đoạn." "Như thế thì anh có thể thành tựu tất cả Phật pháp." - Tôi nói. Bởi vì người thanh niên này toàn bộ thân người đều sáng, rõ ràng là một dạng nguyện lực toàn tâm toàn ý, đã thành tựu tất cả đại viên mãn chỉ quán, chỉ trong một sát-na không cần phải mượn bất kì loại pháp lực nào có thể đốn ngộ Phật pháp, không còn dính líu gì đến hai chữ sinh tử, đến cuối cùng sẽ tự nhiên giải thoát.

Trước đây từ rất sớm, tôi từng phát nguyện, thứ nhất, đi theo Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, thành tựu tất cả pháp thuật, đến khi không còn pháp thuật nào có thể làm, pháp thuật viên mãn thì mới dừng. Thứ hai, siêng niệm thánh hiệu A Di Đà Phật, đời đời kiếp kiếp gắn bó với Phật, có duyên với Phật, cùng xây dựng Phật quốc Cực Lạc vô cùng tận, chưa đạt được điều này thì chưa dừng lại. Thứ ba, nếu linh tự do, nguyện vào địa ngục, giống như Địa Tạng Vương Bồ Tát, cũng phát đại nguyện lực như vậy, đi theo Địa Tạng Vương Tôn giả, dùng pháp để độ hết địa ngục, chưa đạt được điều này thì chưa ngơi nghỉ. Đây chính là ba lời thề tôi đã đưa ra lúc tôi có được linh thân như ý. Tôi không mong cầu hưởng thụ cá nhân, hưởng thụ ham muốn vật chất đối với tôi mà nói thật sự không quan trọng.

Người tu linh phải có lời thề, bởi vì nguyện lực chính là sự nối tiếp của tiên căn. Phật gia coi trọng hồi hướng, hai chữ "hồi hướng" này hết sức quan trọng. Chân Phật Tông coi trọng nguyện lực, có nguyện lực để mà "cưỡi" giống như ngồi trên thuyền, giống như lái xe vậy, tự nhiên sẽ đến được bỉ ngạn.

"Chí hướng như bánh lái, nguyện lực như con thuyền, như hổ mọc thêm cánh, uy lực khó sánh bằng, tiên duyên tiên căn đều từ đây mà ra." - Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh nói như vậy.


### 26. Đại Thủ Ấn Kim Cương thừa


Mật tông Kim Cương thừa có hai pháp tu trì, một là Đại Thủ Ấn, một là Đại Viên Mãn, bài viết này sẽ chỉ trình bày và phân tích về phương pháp Đại Thủ Ấn. Phương pháp Đại Thủ Ấn là dùng phương pháp tam quán đảnh của lực chư Phật để khiến tự thân mình hóa thành cầu vồng, cũng có người hấp thu tinh hoa nhật nguyệt, rồi sau đó hóa nhật nguyệt quang hoa thành cầu vồng, biến hóa chân tướng sáng rực, pháp kiểu này chính là phương pháp Đại Thủ Ấn. Nói chung, người tu Mật tông đến được cảnh giới Đại Thủ Ấn hay Đại Viên Mãn thật sự không gặp nhiều.

Còn nhớ hai năm trước, tại một ngôi chùa trên núi nọ, tôi đến bái kiến một vị tăng, tăng nói: 
"Liên Sinh, anh có biết pháp du già vô thượng tu quả vị Không không?"
"Tôi không biết." - Tôi thành thật nói.
"Đó là kho tàng của Mật tông Hồng giáo, có pháp gọi là thân trung ấm cũng có thể thành Phật, từ thân trung ấm mà hiển hiện Ngũ Phương Phật, tôi cảm thấy pháp này đáng tin, bởi vì Phật đã từ bi những gì có linh tính, lẽ nào lại bỏ rơi thân trung ấm sao? Liên Sinh, anh nói xem đúng hay không?" - Tăng nói.
"Tôi nghĩ là đúng, phương pháp khởi linh luyện linh của kẻ hèn này không những có thể tu chỉ quán, mà còn có thể nhờ sức mạnh của linh để khiến tâm và khí có chỗ dùng lực. Thế còn tu trì Mật tông là hai thứ tâm-khí đi lên, hóa thành cầu vồng, đây chẳng phải là sự thành tựu Phật pháp của thân trung ấm sao?" - Tôi nói.
"Đại Thủ Ấn là phải tu khí, cũng chính là công phu khởi động chân linh của anh, có thêm định lực của Đại Thủ Ấn, mở trung mạch, chạy linh khí, dung hợp ngũ khí, hóa thành cầu vồng, sự xuất hiện của Ngũ Phương Phật thật sự không phải là điều mà Hiển giáo và Bát Nhã thừa có thể tưởng tượng được. Hiển giáo chỉ nói người ta tay không lạy Phật, miệng không niệm Phật, nói ngoài tâm không có Phật, nhưng không có thành quả thực tế, thật ra tôi cho rằng không bằng tu công luyện khí, tu linh luyện tĩnh, dùng linh quang của tự thân kết hợp với linh quang của Phật Tổ để tìm kiếm một phương pháp đắc chứng quả vị." -Tăng nói.
"Dám mong cao tăng khai thị." - Tôi nói.

"Thứ nhất, Đại Thủ Ấn phải dựa vào tu Không để làm cơ sở, dùng chú lực gia trì, trì chú do cao tăng quán đảnh, quán đảnh này có được sự khai đỉnh trước, Liên Sinh, anh có thể dùng thủ ấn Ngũ Lôi Như Ý để khai đỉnh cho người ta, sau đó dùng linh lực nhập vào trong biển trí của người đó. Từ đây mà tu, có thể nhìn thấy minh thể tự thân, sự tiến vào cảnh giới như vậy hiển nhiên những tông phái khác không thể nào đạt tới. Đặc biệt quán đảnh chân ngôn là một trong những pháp ẩn dụ của Đạo gia, cái này chính là đại thần công thiên địa biến huyễn vô thượng. Cần nhớ lúc khai đỉnh không được chểnh mảng nghi thức thỉnh linh, anh có thể dạy cho đại chúng."

"Pháp thứ hai của Kim Cương thừa Đại Thủ Ấn nhấn mạnh xuất li triệt để, phải bế quan, và còn cửu đoạn tu Không, mọi việc thế tục đều phải buông bỏ hết, cắt đứt tất cả những nhân duyên nhàn nhã, bởi vì tu cửu đoạn nhân duyên, nhân không còn duyên thì thành Không, nhân Không thì sẽ đắc đạo nhanh chóng. Điểm này so với tục tăng bình thường thì lại càng khác biệt, người xuất gia bình thường muốn tâm quy nhất rất khó, bởi vì còn có nhân duyên tục thế, còn Đại Thủ Ấn thì hoàn toàn đoạn diệt, trong khi bế quan tâm không có việc gì khác, lâu dần sẽ trở nên tự nhiên, cho nên kết quả và đạo công của người ấy tự nhiên trở nên bất phàm."

"Thứ ba, Đại Thủ Ấn chỉ quán song vận là một kiểu tình thế tuần hoàn, đương nhiên phải dùng trí lực huyễn hóa ra một vòng ánh sáng hình tròn, có quán pháp hoặc chỉ pháp, vận dụng sức mạnh của linh để quan sát, cho đến khi thấy được minh thể của bản thân thì thôi. Minh thể là tự mình nhìn thấy được, và đó không phải là thân thể máu và thịt, nó hư vô như gương như ánh sáng, cũng giống như thân thể huyễn. Tăng xuất gia bình thường tu giới sinh định, từ định sinh huệ, rồi từ huệ sinh quang, đây là phương pháp của Hiển giáo, còn Mật tông thì khi thực thi pháp du già chuyên nhất là có thể sinh quang!"

"Thứ tư, tu trì Đại Thủ Ấn không được ngắt quãng, tức là linh quang hóa thành trí quang minh, động tác tay là pháp tu trì du già chuyên nhất chỉ quán, vận dụng liên tục, khiến quang minh dần dần gia tăng, đây thật sự là Phật quả Pháp-Sắc vô nhị, cũng tức là Sắc thân và Pháp thân bất phân, tức thân có thể thành Phật đó! Liên Sinh, cái mà anh gọi là khởi linh và trúc cơ vốn là công phu Đạo gia, cũng là pháp luyện khí đó! Vô hình trung đó cũng là pháp tu trì du già chuyên nhất chỉ quán, vì thế, ánh sáng tự thân có thể thành tựu pháp hư huyễn hưu tức của vô cấu quang, cái này đáng quý biết bao."

"Thứ năm, sự tu trì của pháp Đại Thủ Ấn chính là chân kiến của Pháp thân, ở đây minh thể, bảo trì, kiên cố, vận dụng, thuần hóa, cái này mới là thân kim cương bất hoại, sự thuần hóa của minh thể cũng chính là Phật quả."
"Đa tạ đại sư khai thị." - Tôi cung kính chắp tay.

Lúc này, hoàng hôn đã buông xuống đỉnh núi, kẻ hèn này và vị cao tăng từ đại điện đi đến bên vách núi, chỉ thấy hàng vạn tia ánh sáng cát tường chiếu hắt lên trời mà thôi, mây và sương núi đầy ắp và sáng sủa, trong đám mây mù cuồn cuộn phảng phất in lên đầy tượng Phật, muôn vàn biến hóa, gió từ bốn hướng thổi đến như Phạn âm ở khắp xung quanh, chỗ xa chỗ gần cả một vùng cảnh sắc đẹp diệu kì. Lúc này bầu trời bỗng dưng có một đám mây tía từ từ bay đến, trên đám mây tía ấy thì ra là một vị Hộ pháp Kim Giáp Linh Quan Thần, tôi thấy cao tăng và Hộ pháp cúi đầu chào nhau.

"Tại sao?" - Tôi hỏi.
"Diễn giảng Đại Thủ Ấn, đây chính là pháp Mật tông từ lâu đã khó nghe thấy, do vậy có Hộ pháp thần đến."
"Thì ra là vậy."
Linh tiên cũng có tam quán đảnh, đây cũng là sự gia trì của linh lực, từ đây mà ấn chứng, Đại Thủ Ấn tu khí tức tu linh.


### 27. Thân bí mật của thủ thông


Sự giao tiếp cảm giác của linh là thiên kì bách quái, những phương thức này đều là một dạng bí mật của tự thân, ở nước ta, "thần trung thần toán" thời cổ đại thuộc về một trong những pháp thủ thông. Thần toán bằng cách gập đầu ngón tay rất thần kì này từ xưa tới nay dù có người biết, nhưng đại bộ phận đều không biết làm sao cong gập ngón tay mà có thể đoán việc được, đạo lí nằm ở đâu? Hôm nay bài viết này sẽ công khai đại bí mật của pháp cong gập ngón tay thần toán của các bậc tiên gia các thế hệ, đây cũng xem như là bản văn bí mật xưa nay chưa từng có.

Tôi nói cong gập ngón tay thần toán chính là thủ thông, thủ thông tức là dùng mười đầu ngón tay dựa vào sự sắp xếp định vị của Càn-Khôn-Cấn-Tốn-Li-Khảm-Đoài-Chấn, khởi điểm từ bí quyết "Phiên quái chưởng" [lật quẻ bàn tay] của Hoàng Thạch Công: "Quẻ sao phối hợp thành một nhà, tám tám biến đổi chẳng sai sót, cách thức bàn tay biến can số, ngón út này trên Đoài dưới Chấn, áp út sắp đặt Khôn và Khảm, Tốn trên Cấn dưới về ngón giữa, trên Li dưới Càn tại ngón trỏ, một quẻ đã định ta mở xem." Đây tức là: "Càn đối Đoài, Đoài đối Càn, Li đối Chấn, Chấn đối Li, Khảm đối Tốn, Tốn đối Khảm, Cấn đối Khôn, Khôn đối Cấn." Còn có bí quyết Lạc Thư Tử Bạch Chưởng: "Nhất bạch Khảm, nhị hắc Khôn, tam bích Chấn, tứ lục Tốn, ngũ trung hoàng, lục bạch Càn, thất xích Đoài, bát bạch Cấn, cửu tử Li." Do trên bàn tay đã định ra bát quái, Thần Tiên cõi trời đã lợi dụng linh để trao đổi một chút chân quyết, vận linh tại bàn tay, và ngón cái của bàn tay tự động chạm lên các đầu ngón tay của các ngón tay khác để điểm ra quẻ hạ và quẻ thượng, quẻ thượng và hạ tương hợp cũng trở thành hình thức của tám tám sáu mươi tư quẻ. Chúng ta biết rằng sáu mươi tư quẻ âm dương quyết có tính quyết định đến lành dữ họa phúc, và dựa theo quẻ lí có thể suy ra ba giai đoạn quá khứ, hiện tại, tương lai. Do vậy thần tiên cổ xưa cong gập ngón tay có thể đoán được đại bí mật chính là nhờ thuật vận linh và bí quyết bát quái trên bàn tay mà thôi.

Học tập thủ thông trước tiên hãy học bí quyết lật bàn tay của Hoàng Thạch Công, sau đó mới học đến quẻ lí của tám tám sáu mươi tư quẻ, và hãy học thành thạo cái cốt lõi trọng tâm, sau đó mới học các biến pháp của quẻ Càn: "Cũng tức là quẻ Thiên Phụ Chính Thần, ví dụ như Càn tam liên, tam tòng thượng hào biến thành Đoài thượng khuyết, tam lại biến hào trung của Đoài thành Chấn ngưỡng vu, tam lại biến hào hạ của Chấn thành Khôn lục đoạn, tam tứ biến hào trung của Khôn thành Khảm trung mãn, tam ngũ biến hào thượng của Khảm thành Tốn hạ đoạn, tam lục biến hào trung của Tốn thành Cấn phúc oản, tam thất biến hào hạ của Cấn thành Li trung hư, tam bát biến hào trung của Li thành Càn tam liên. Ba lần khôi phục thì quay trở về quẻ gốc, bảy quẻ còn lại đều biến hóa như vậy.

Như Càn tức Đoài khởi là Tham Chấn là Cự Khôn, là Lộc Khảm, là Văn Tốn, là Liêm Cấn, là Vũ Li, là Phá Càn, là Phụ. Như Khôn long nhập thủ tức Cấn khởi, là Tham Tốn, là Cự Càn, là Lộc Li, là Văn Chấn, là Liêm Đoài, là Vũ Khảm, là Phá Thần là Phụ. Đây chính là pháp "Long thượng thủ tam cát lục tú" vậy.

Kẻ hèn này cho rằng, với cách suy như vậy, tự nhiên có thể suy đoán được lành dữ họa phúc rồi!

Bí mật của thân dựa vào tay là linh hoạt nhất, cũng dựa vào mười đầu ngón tay để tượng trưng cho pháp ấn. Người tu linh quan trọng nhất là trước hết từ cảm ứng thủ thông mà tu lên, đến khi tâm và thủ hợp nhất thì trở thành hiện tượng tâm điện cảm thông. Tâm điện cảm thông này hoàn toàn là một hiện tượng của linh, lấy thủ ấn tâm, tâm biến thì thủ biến, tâm là chủ của tất cả, phóng ra tay, nắm chắc thiên cơ của vũ trụ trời đất. Tu trì pháp này nói khó thì cũng không phải khó, nói dễ thì cũng không phải dễ, tóm lại, pháp bí mật của thân luôn nằm tại một chữ "quyết", nếu hiểu được bí quyết thì tất cả đều ứng tâm.

Bí quyết thứ nhất, đầu tiên nhắm mắt điều hòa hơi thở, niệm ba biến thần chú tịnh thiên địa, tiếp theo niệm chú thỉnh thần, sau đó lật bàn tay hướng lên trời, miệng có thể cung kính đọc tên vị thần mà mình thỉnh, đợi đến khi bàn tay có hơi ấm thì dừng. (Khi thực hiện bí quyết này không được nghĩ đến điều gì khác, thỉnh cầu phải tập trung tinh thần, phát huy sức mạnh ý chí đến cực điểm, thỉnh thần không được quên thắp hương, nếu gặp trường hợp khác thì nên nghiêm tâm cung thỉnh hoặc chắp tay cung thỉnh. Lúc này tối kị có người nhe răng cười, hoặc có tiếng người nói ồn ào, đến khi bàn tay có hơi ấm rồi thì máu lưu thông với tốc độ nhanh hơn, điều đó tức là thông tin đã đến.)

Bí quyết thứ hai, niệm rằng: "*Thần tiên để lại bí quyết tay, thần toán không cần bốn trụ lực, chỉ cần linh khí tuần hoàn chuyển, thiên cơ chảy quanh không dừng lại*." Lúc này dùng linh để áp lên các đầu ngón tay của bàn tay, đầu ngón tay tự nhiên nhảy nhót, việc ngón tay nhảy nhót này không phải do tâm trí điều khiển hoạt động, mà là tự động nhảy nhót. Nếu có người không tin đầu ngón tay này của tôi có thể tự động nhảy nhót, thế thì người đó hoàn toàn không biết gì về diệu dụng của linh. Vào lúc này, chuyển toàn bộ những thắc mắc đến thần linh cõi trời, thần linh lập tức có thể chỉ điểm điều mình không biết, ngón tay cái sẽ tự động điểm ra quẻ thượng và quẻ hạ, thế là tự nhiên có thể phá giải được những lầm lạc của mình.

Bí quyết thứ ba, sau khi xin được quẻ thượng hạ rồi, thuận theo đó có thể thỉnh cầu tiếp những việc khác, cũng có thể thỉnh cầu tiếp tục giải đáp chỉ điểm, nhưng thời gian không thể quá lâu, lâu quá sẽ loạn, mỗi lần cong gập ngón tay thần toán khoảng chừng hai mươi phút là được, cứ mỗi hai mươi phút thì lại nghỉ ngơi năm phút, như vậy tỉ suất chuẩn xác của việc thần toán sẽ rất cao. (Người bình thường không biết pháp Bát quái chưởng, cũng có thể lợi dụng sự mạnh yếu của sức mạnh linh động để dự đoán ngọn nguồn của sự việc, thành công hay thất bại, tỉ lệ chuẩn xác là tám mươi phần trăm. Nếu có thể dựa vào thời gian, địa điểm đến để xem bói, thậm chí hai mươi phần trăm đoán sai cũng có thể được bù đắp. Hai mươi phần trăm đoán sai cũng có thể do phương diện linh lực có vấn đề, hoặc phương diện trao đổi về sự việc có vấn đề. Nếu có thể tìm ra, dần dần cải thiện, có thể đạt đến sự chính xác một trăm phần trăm.)

Cảm ứng linh thông, nếu như thủ thông có thể không còn sai lầm thì cũng giống như thần tiên lục địa, kẻ hèn này đã nghiên cứu nhiều năm, phát hiện ra các cao nhân tự cổ chí kim, người có thể đến được trình độ cong gập ngón tay thần toán cũng không thấy có nhiều, nói gì đến hiểu được thiên cơ lí số, thoát khỏi đại kiếp sinh tử. Thần tiên cổ đại phần đông là tu khí, khí có thể dưỡng thần, thần có linh quang thì tự có thể đạt đến mức độ cong gập ngón tay thần toán. Hôm nay tôi đã hé lộ toàn bộ đại thiên cơ không giấu giếm điều gì, xem ra đây cũng là một kì văn, xưa nay chưa từng thấy.

Chỉ mong Chân Phật Tông làm rạng rỡ truyền thống, độ thế đạo nhân tâm, như thế mới không phụ lòng mong mỏi của tôi và cũng là ý nguyện của những bậc tiên sư.


### 28. Pháp mặc giáp hộ thân


Mỗi một người tu đạo đều phải học và biết pháp hộ thân, bởi vì trong thế giới tâm linh còn có những loài khác, có quỷ thần, có la sát, có tà thần ác sát rất nhiều. Không phải là Lư Mỗ tôi nói những lời sáo rỗng để dọa dẫm đâu, thật sự là có những thứ này. Những vật kì lạ thường xuyên đánh cắp nguyên khí của con người vào lúc họ không hay không biết, và khiến thân thể con người trở nên vô cùng yếu ớt, những vật kì lạ này hoành hành đã lâu rồi! Đây chính là kiếp số tự nhiên sinh ra giữa trời đất.

Tu lâu một phần công lực thì sẽ gia tăng một phần ma kiếp, đây là một định luật, bất kì người nào cũng đều không tránh khỏi.

Trong bài viết này, tác giả sẽ chỉ ra mỗi một người tu linh đều phải tu pháp mặc giáp hộ thân. Pháp mặc giáp hộ thân phân thành hai bộ phận, bộ phận thứ nhất là niệm "Tâm Kinh", quán tướng Không. Bộ phận thứ hai là quán nghiêm thân của Kim cang Hộ pháp. Tôi đặc biệt thuật lại tỉ mỉ như sau:

Bộ phận thứ nhất, trai giới tĩnh tọa, niệm "Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh": "*Quán Tự Tại Bồ Tát. Hành thâm bát nhã ba la mật đa thời. Chiếu kiến ngũ uẩn giai không. Độ nhất thiết khổ ách. Xá Lợi Tử! Sắc bất dị không. Không bất dị sắc. Sắc tức thị không. Không tức thị sắc. Thọ tưởng hành thức. Diệc phục như thị. Xá Lợi Tử! Thị chư pháp không tướng. Bất sinh bất diệt. Bất cấu bất tịnh. Bất tăng bất giảm. Thị cố không trung vô sắc. Vô thọ tưởng hành thức. Vô nhãn nhĩ tị thiệt thân ý. Vô sắc thanh hương vị xúc pháp. Vô nhãn giới. Nãi chí vô ý thức giới. Vô vô minh. Diệc vô vô minh tận. Nãi chí vô lão tử. Diệc vô lão tử tận. Vô khổ tập diệt đạo. Vô trí diệc vô đắc. Dĩ vô sở đắc cố. Bồ Đề Tát Đỏa. Y bát nhã ba la mật đa cố. Tâm vô quái ngại. Vô quái ngại cố. Vô hữu khủng bố. Viễn lyiđiên đảo mộng tưởng. Cứu cánh niết bàn. Tam thế chư Phật. Y bát nhã ba la mật đa cố. Đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Cố tri bát nhã ba la mật đa. Thị đại thần chú. Thị đại minh chú. Thị vô thượng chú. Thị vô đẳng đẳng chú. Năng trừ nhất thiết khổ. Chân thật bất hư. Cố thuyết bát nhã ba la mật đa chú. Tức thuyết chú viết: "Gate, Gate, Pāragate, Pārasaṃgate, Bodhi Svāhā*." "Tâm Kinh" này mỗi một người tu hành đều phải học thuộc lòng. Tôi cho rằng, trong câu chú Bát nhã ba la mật đa đã xuất hiện bốn vị thần Yết Đế. Cần biết rằng bốn vị thần Yết Đế này thần lực rất mạnh, thắng cả kim giáp thần, thắng cả linh quan, thắng cả hộ pháp rồng trời. Bốn vị thần Yết Đế đại lực thần thông là bất khả tư nghì. Nếu thường niệm tâm chú, phụng thỉnh bốn vị thần Yết Đế, mỗi lần trì chú từ ba biến trở lên, đem hương hoa hoặc dầu mè cúng dường bốn vị thần Yết Đế, thì cách làm này cũng giống như làm mặc giáp hộ thân cho chính mình vậy! (Chú thích: mỗi người đều phải ghi nhớ "Tâm Kinh", học thuộc trong tâm, cẩn thận cất giữ như kỉ vật của mình vậy, người muốn chuyển pháp luân cũng là "Tâm Kinh" này, chứng quả cũng là "Tâm Kinh" này.)

Bộ phận thứ hai, quán nghiêm thân Kim cang Hộ pháp. Sau khi niệm xong ba biến "Tâm Kinh", khép hờ mắt suy tưởng, hai tay kết ấn hộ thân, suy tưởng thần chúng Kim cang bộ từ bốn phương xuất hiện. Lúc này, chỉ có mắt mình nhìn xuống mũi, mũi nhìn tâm, thấy thân mình đang ngồi trên hoa sen nghìn cánh, thân mình phóng tỏa hào quang, dần dần bay vào trong hư không, Kim cang thần chúng bốn phương đứng trên mây cát tường hộ vệ, bản thân ngồi ở chính giữa thần chúng Kim cang bộ. Lúc này xuất hiện vòng ánh sáng trên đỉnh đầu, phóng ra mây ánh sáng, niệm tam tự chân ngôn "Om Ah Hum" ba lần, tay xuất kiếm quyết, hướng về không trung vẽ ra các vòng tròn, trong sát-na xuất hiện lưới lửa kim cang, lưới lửa không có khe hở, giống một bức tường lửa liên tục khuếch tán ra xung quanh, tương tự như hòn sỏi rơi xuống nước với các gợn sóng hiện lên khắp nơi. Cảnh tượng lúc này chính là thiên ma ở bên ngoài lưới lửa đang bán mạng xông vào trong, nhưng lưới lửa kim cang đã chặn đứng thiên ma, những Kim cang thần chúng khác thì bảo vệ pháp thân tự tại. Nếu bức tường lửa kim cang bị thiên ma xâm nhập thì có thể lại niệm Kim Cang Tâm đà-la-ni: "Om usnisa svaha", chỉ vào không trung, không trung lại giáng xuống một vệt hào quang màu vàng kim, hào quang trở nên tròn vành vạnh, hào quang tựa như lớp màn lụa vây xung quanh bản thân mình. Thần chúng Kim cang bộ ở bốn xung quanh, trong hào quang xuất hiện hóa Phật và hóa Bồ Tát. Lúc này chỉ yêu cầu tâm không thay đổi, thân tâm tự tại chuyển động, thiên ma có mạnh hơn nữa cũng hóa khí hung bạo của nó thành khí cát tường hiền hòa.

Nói xong về pháp mặc giáp hộ thân, tôi lại nhắc đến một pháp hộ thân nữa, pháp hộ thân này chính là pháp Phật Mẫu, chú rằng: "Om Hrim". Chân ngôn quy y là: "*Rập đầu quy y Susiddhi, cúi lạy đảnh lễ Thất Câu Chi (Phật Mẫu), nay con xưng tụng Đại Chuẩn Đề, mong ngài từ bi ban gia hộ, namo saptanam samyaksambuddha koninam tadyatha om cale cule cundhe svaha.*" Cuối cùng, niệm lục tự chân ngôn "Om mani padme hum" tổng cộng 108 biến. Kẻ hèn này nhận thức sâu sắc rằng trong chân ngôn quy y, một câu tức là một quang minh tồn tưởng, từ đầu đến chân đều là ánh sáng, rồi sáu chữ "om mani padme hum" có thể xưng là đại minh chú, cũng tức là ánh sáng khắp toàn thân.

Dùng pháp Phật Mẫu để tu mặc giáp hộ thân cũng có công hiệu cực kì lớn. Đương nhiên cũng phải phân làm hai bộ phận, bộ phận thứ nhất là trai giới tĩnh tọa, niệm chân ngôn quy y, niệm thần chú hộ thân, niệm lục tự chân ngôn. Bộ phận thứ hai cũng là pháp quán nghiêm thân, toàn thân mình duy trì suy nghĩ ánh sáng lần lượt xuất hiện, sau đó phóng đại quang minh, bản thân mình tựa như Phật Đà đang thuyết pháp, thực tướng trang nghiêm, lúc này không cho phép xuất hiện một chút tư tưởng tà uế nào, như thế thì ánh sáng càng có thể duy trì lâu dài và không gián đoạn, tu đến cuối cùng thì tự nhiên có thể phóng quang. Đến được trình độ tự nhiên phóng quang thì chính là lúc hoàn thành xong công hành đầu tiên của mặc giáp hộ thân. (Kẻ hèn này cho rằng người tu linh muốn từ hiện tượng linh động sản sinh ra linh quang, sau đó đạt đến mức độ linh sáng thì buộc phải tu pháp mặc giáp hộ thân, bởi vì pháp này gắn liền với ánh sáng, thành tựu lưới ánh sáng kim cang, lửa ánh sáng kim cang, thể trong suốt kim cang.)

Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh nói: "Như mắt thấy sắc, tức sinh sắc tướng, như mắt thấy quang, tức sinh quang tướng, quang tướng vốn không, quang tướng cũng sáng, hiểu được pháp này, quang minh không ngừng, mặc giáp hộ thân, chư Phật cũng thế."


### 29. Cầu nguyện thần linh thị hiện


Người học Phật thông thường, khi nhìn thấy tượng Phật, bất kể là nhìn tượng hay tranh vẽ, đều nên chỉnh đốn lại quần áo và lễ bái, khi lạy đương nhiên nên niệm thầm: *"Trên trời dưới đất không gì được như Phật, mười phương thế giới cũng không gì sánh bằng, mọi điều trên thế gian ta đều biết hết, tất cả không ai bằng được như Phật." *Cũng có thể niệm thầm rằng:* "Nếu gặp được Phật, thỏa nguyện chúng sinh, đắc vô ngại nhãn, thấy tất cả Phật." *Hoặc có thể niệm thầm:* "Pháp Vương vô thượng tôn, tam giới không gì sánh, tôn sư của trời người, từ phụ của tứ sinh, nay con được quy y, diệt được ba nghiệp tội, ngợi ca và tán thán, tỉ kiếp cũng chẳng hết."* Hễ có đi kinh hành tại điện đường, phải nhiễu theo chiều bên phải, không được nhiễu theo chiều bên trái, tất cả phải hợp với lễ nghĩa. Ngoài ra, người tu linh cũng không được coi thường thần tiên Đạo gia, lại càng không được coi thường Chúa Jesus, thấy tất cả tượng thần ngoại đạo cũng phải chắp tay cung kính hành lễ, bởi vì Phật Bồ Tát cũng có thể ứng hóa thành thần, tiên để mà độ muôn dân trong thiên hạ. Nhất là chúng ta đối với người đều phải cung kính, huống chi là các thần siêu sinh thiên giới, chúng ta có thể tu hành còn các thần ở trên trời thì không thể tu hành sao?

Phải thấy tất cả con người đều là Phật Bồ Tát trong tương lai, nên cung kính họ, thấy tất cả thần đều là Phật Bồ Tát trong tương lai, càng nên cung kính họ. Tôi dạy con người quan điểm bình đẳng không phân biệt, chúng ta không thể coi thường bất kì cá nhân nào. Kẻ hèn này cũng cho rằng, cầu nguyện là vô cùng quan trọng, cầu nguyện cũng có công hiệu rất lớn, cầu nguyện nếu thật sự phát tâm thì có thể làm cảm động đến Tiên Phật, cho nên chân thành cầu nguyện thật sự có thể gặp được thần tiên giáng xuống linh thị. Vì thế cầu nguyện là một môn học vấn, thật sự có nói rõ những điều cần thiết, trước tiên kẻ hèn này xin dẫn một việc mà bản thân đã trải qua để chứng minh.

Có một lần, tôi bị ốm rất nặng, lâu nay tôi vẫn rất hiếm khi bị ốm, trận ốm này cũng rất kì lạ. Buổi sáng thì không hề có triệu chứng gì, nhưng hễ qua giờ Ngọ là dần dần lên cơn sốt, nhiệt độ cao trên 38,8 độ C, đầu càng lúc càng nặng, toàn thân lạnh run, mặc rất nhiều quần áo vẫn cảm thấy âm khí nặng nề, buổi đêm ngủ thì mơ nhiều, cứ thế thân tâm kiệt quệ, dường như mệt đến mức không thể nào gượng dậy nổi, hốc mắt trũng sâu, mặt nhợt nhạt, bước đi cũng vô cùng khó khăn. Buổi tối tôi sử dụng thiền công, sáng sớm liền khỏe lại một cách rất kì lạ, nhưng cứ đến buổi trưa, bệnh lại lặp lại từ đầu, tình hình nghiêm trọng hệt như hôm trước, buổi sáng và buổi chiều cứ như hai con người khác nhau vậy.

Tôi nhận thấy tình hình bất thường, bèn vội vàng cầu thần tiên chỉ thị, Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn chỉ thị bằng bốn chữ "trúng phải bùa ngải". Quả đúng như dự liệu, tôi lại bị người ta bỏ bùa, tôi muốn khóc mà chẳng thể rơi nước mắt, vì sao lại gặp nhiều rắc rối bị phù tử tiên tìm đến tôi như vậy chứ! Tôi thử tự mình hóa giải, tôi uống phù Lôi lệnh phá tà linh do mình tự vẽ, nhưng phát hiện ra là vô hiệu. Tôi lại niệm chân ngôn giải trừ trói buộc, nhưng cũng vẫn vô hiệu. Nửa đêm tôi tỉnh dậy, dùng thất tinh pháp tọa để giải ách, nhưng cũng vẫn vô hiệu. Tôi phát hiện ra sức mạnh của tà phù kia rất uy lực, giống như bị ma nhập lên người vậy, hoàn toàn không phải là thứ mà pháp lực của tôi có thể loại trừ được. Cứ thế suốt bảy ngày, tình trạng của tôi rất thê thảm, tôi đã rơi vào tình thế nguy kịch, hơi thở mong manh như sợi tơ. Thế là tôi gắng gượng thắp một nén hương, cầu nguyện Diêu Trì Kim Mẫu dang tay cứu giúp, lời cầu nguyện của tôi rất chân thành, tôi nói: "*Kim Mẫu Thiên Tôn ở trên cao, đệ tử Liên Sinh, kính cẩn cầm hương cung kính cầu nguyện từ xa. Nay con trúng tà thuật, tự mình không giải thoát được, đến nay đã thất vọng lắm rồi, ngoài cầu nguyện Kim Mẫu ra thì con chẳng còn cách nào khác. Có lẽ trong lời nói và việc làm của con đã phạm sai lầm lớn, chỉ mong có thể lần lượt hết lòng sám hối những lỗi lầm của mình, thỉnh cầu các thánh linh ở thiên thượng nhìn xuống soi xét, xin hồi phục sức khỏe cho con, đệ tử Liên Sinh nhất tâm khẩn cầu lạy ba lạy.*" Tôi cầu nguyện rất đơn giản, nhưng với tâm thành kính không gì sánh bằng. Tôi cứ liên tục lạy và cầu nguyện như vậy ba ngày. Đến buổi tối ngày thứ ba, trong lúc mơ màng, tôi nhìn thấy Kim Mẫu đứng sừng sững bên cạnh giường, ngài đưa tay ra kéo lấy tay tôi, dùng ngón trỏ của tôi nhẹ nhàng xoa vào huyền quan (ở chỗ giữa hai mắt hai lông mày và thiên khiếu), liên tục cho đến khi nóng đỏ sắp chảy máu thì dừng lại. Diêu Trì Kim Mẫu đột nhiên biến mất. Lúc này một vệt khí đen từ chỗ huyền quan vọt ra thét lên một tiếng như sét đánh, tôi cũng giật mình tỉnh dậy, đưa tay sờ lên trán, chỗ huyền quan đã biến thành một vệt máu đỏ rồi. Nói ra cũng kì lạ, ngày hôm sau, qua buổi trưa, mọi bệnh tật của tôi đã hoàn toàn biến mất tăm mất tích, thân thể nhẹ tựa chim én.

Và bệnh của tôi cứ thế khỏi không hề vì lí do nào cả, bình phục khỏe mạnh, đây chính là công hiệu của việc cầu nguyện đó! Tôi thừa nhận.

Chúng ta biết rõ rằng, cuộc đời con người không thể tránh khỏi sinh lão bệnh tử, đặc biệt việc lớn trên đời hẳn là hai chữ sinh tử, khi không còn một hơi thở nữa thì đã quy về thế giới khác rồi, có một sai lầm trong suy nghĩ là đọa vào trong luân hồi. Con người đến khi gặp bệnh tình hiểm nghèo, nhất là khi tâm thức tán loạn, lúc này dễ bị mê hoặc nhất, quên mất việc thành tâm cầu nguyện, đánh mất chính niệm, nhập vào biển khổ trầm luân. Cho nên chúng ta khi cầu nguyện nhất định phải tĩnh tâm và tập trung, niệm rằng: *"Mong tịnh quang từ cõi trời chiếu đến con, thiên linh với cánh tay từ bi hãy thu nhận con, nay con chính niệm, xưng thánh danh Như Lai, vì đạo bồ đề, cầu sinh về thiên thượng tịnh thổ, đắc chính đẳng giác, nhập vào trong biển thề vĩ đại của Như Lai, được nhờ sức mạnh từ bi của Phật mà trọng tội đều được tiêu diệt, tăng trưởng nhân thanh tịnh, thân không đau khổ, không tham luyến hồng trần, tâm không điên đảo, như nhập thiền định, sen vàng thánh chúng hiển hiện, hoa nở thấy Phật*."

Cầu nguyện thật sự là rất quan trọng, tôi viết một bài kệ:
"*Nước trong tĩnh lặng hiện trăng tròn
Hết thảy cảnh vật đều trong veo
Nhất tâm cầu nguyện cũng như thế
Tâm khai tự nhiên là hoa khai."*


### 30. Công phu thoát thai thần hóa


Công phu thoát thai thần hóa tính ra cũng là một trong những thiên cơ, là mục tiêu cuối cùng của người tu đạo. Cái gọi là thoát thai nghĩa là thoát khỏi phàm thai, cái gọi là thần hóa cũng có ý nghĩa là nhập hư phản hư, đến được cảnh giới này có thể xem là biểu trưng cho sự thành tiên hoặc đắc đạo. Đây chính là xá lợi thành đan, đan chín mà sinh thần, viên mãn hoàn thành trọng trách, nhiệm vụ lớn của tu đạo. Khi thoát thai, nguyên thần phần lớn thoát ra từ thiên khiếu [lỗ đỉnh đầu], không thể thoát ra từ miệng, mũi, mắt, tai, rốn. Cảnh trí khi nguyên thần đi ra từ thiên khiếu tùy người mà rất khác nhau, tôi xin thay mặt cho các bậc lão sư phụ đức cao thuật lại huyền cơ của những gì tôi được thấy khi hộ linh cho các vị như sau:

Thứ nhất, có một lão sư phụ có thể dự đoán quá khứ tương lai, ngài thần toán mà biết được ngày đó giờ đó là ngày ngài sẽ trở về. Đến thời điểm đó, ngài trai giới tắm gội, thay quần áo và chuẩn bị ổn thỏa, tĩnh tọa tại thiền phòng ở mật thất. Lúc này, cung nê hoàn của ngài ấy đột nhiên nhô lên, mây đen kéo đến đầy trời, giông tố nổi lên. Thiền sư hai chân chạm đất, đem chân hỏa tam muội mà mình đã chuẩn bị từ lâu xung về cung nê hoàn, nguyên thần của ngài giống như cái thóp ở trên đỉnh đầu của trẻ sơ sinh vẫn liên tục phập phồng. Thời giờ đã đến, tiếng sấm rền vang, khi lỗ thủng ở thiên đường mở cửa, một khối khí màu trắng bay vào hư không (chân hỏa tam muội của lão thiền sư giấu tại chỗ cong ở chân, có nghĩa là ở giữa bắp đùi và cẳng chân, bởi vì khi chưa xuất thai thần, trong cơ thể có âm khí, phải dùng sức mạnh của linh, hai chân duỗi thẳng, yêu cầu có cam lộ hạ xuống đan điền, sau đó đẩy âm khí về chỗ cong giữa hai chân, lưu trữ hóa thành chân hỏa tam muội. Người bình thường không biết chân hỏa tam muội giấu ở chỗ nào, tôi đặc biệt chỉ ra, chính là ở chỗ cong của chân.)

Thứ hai, có một vị trưởng tiền bối lão tiên Đạo gia bí mật tu hành rất lâu, khi sắp hóa thành tiên đã gửi một bức "phi thư" đến mời tôi hộ linh cho ngài ấy. Khuya hôm đó ngài ngồi trong một ngôi chùa, trước lúc sắp hóa tiên, ngài cũng đã chuẩn bị ổn thỏa, đã phụng thỉnh các thần lớn nhỏ ở chùa đó đến. Lúc tôi tới, chỉ thấy trên trời có Công Tào, dưới đất có Thổ Địa, ngũ phương thần tướng, các thần bận bịu vây quanh, tôi chỉ thấy một đứa bé (nguyên thần), thân thể của nó là ánh sáng trắng, ngồi trong một vòng ánh sáng, vòng ánh sáng cũng tỏa ánh sáng màu trắng, từ từ bay lên. Vòng ánh sáng đó giống như mặt trăng, đẹp vô cùng. Sự xuất linh của lão tiên trưởng và người khác không giống nhau, ngài ấy là cầu thần đến để mở nắp ở đỉnh đầu của ngài ra. Tôi nhìn thấy Thiên Thượng Thánh Mẫu thong dong tiến đến, đến trước mặt tiên trưởng, dùng tay vuốt mở ra "nắp hoa" của ngài ấy, ngay sau đó đứa bé màu trắng từ đỉnh đầu bò ra, ánh sáng chậm rãi đi lên, sau đó bay lên thiên giới. Sự hóa thành tiên của lão tiên trưởng trên đời này không ai biết được. Lúc còn tại thế, ngài ấy là một ông già nhỏ bé hiền lành lương thiện làm nghề nhặt giấy vụn, hiếm người nào biết được diện mạo thật của ngài ấy. Ngài ấy bí mật tu hành, nguyên thần của ngài xuất quan chính là được giấu tại viên xá lợi ở trong đan điền.

Thứ ba, có một vị đại thiện tri thức, vài ngày trước khi lâm chung cũng tự biết mình sắp rời khỏi nhân gian nên tự mình lo liệu hậu sự. Ông ấy rất thân với tôi, cũng khẩn trương thông báo cho tôi. Khi tôi chạy đến thì đúng lúc ông ấy đang ở trạng thái hấp hối. Tôi nhìn thấy cửa trên đỉnh đầu của ông xuất hiện quang khí màu đỏ, từ trên trời một vị thiên quan hạ xuống, phía trước thiên quan có một đứa bé dẫn linh cầm cờ phướn, hai người đứng trên mây cát tường bay đến. Ánh sáng đỏ trên đỉnh đầu của đại thiện tri thức tụ lại một chỗ, chỉ thấy trong ánh sáng đỏ đó có một hình người đang đứng, tôi chợt nhận ra hình người đó cũng chính là vị đại thiện tri thức khác, hai người giống hệt nhau. Thiên quan ở phía trước, đứa bé dẫn linh đi chót, người ở trong ánh sáng đỏ đó ở giữa, cứ như thế mà thăng thiên. (Theo tôi được biết, đại thiện tri thức này vẫn mang thân phận cư sĩ tại gia, bình thường ưa thích làm việc thiện, hay bố thí, say mê nghiên cứu kinh Phật không biết mệt mỏi, tĩnh tọa thường niệm Phật, sau cùng ông theo Mật tông trì chú, ánh sáng mà tôi nhìn thấy chính là do thiện quang hóa nên, linh thể của ông ấy vẫn là thân phận người âm, chưa đạt đến trình độ thể ánh sáng. Ánh sáng đỏ xuất thần của ông ấy chính là sự hóa thân của nguyên giác thần công, cũng tức là thức, Phật gia gọi là thức thứ tám - A-lại-da. Từ đó có thể chứng minh thân trung ấm cũng có thể đắc đạo.)

Từ ba ví dụ trên, kẻ hèn này chỉ ra bí quyết có liên quan đến thoát thai thần hóa nằm ở đâu, để người người thấy được rằng cần biết thủ giữ nguyên khí, linh, hơn nữa cần tu công tạo đức, rồi một ngày kia cũng có thể lững thững mà thăng thiên, không cần tiêu tốn công phu quá lớn. Thậm chí đến mức có người đem thuyền đến đón, đem kiệu đến rước, nhưng chúng ta cũng không biết thuyền này đi về nơi nào, mênh mông mù mịt kiểu gì cũng không thể ngăn cản. Dùng kiệu đến rước, cũng không biết sẽ được đưa đến nơi nào, nếu kiệu bị đưa đến địa ngục, chẳng phải là đã bị lợi dụng sao, cho nên cẩn thận vẫn là quan trọng. Nếu xuất hiện linh của tổ tiên đến đón cũng không phải là hiện tượng tốt, vì đây cũng tức là vào âm giới. Tây phương Tam Thánh hiển hiện đến đón, nếu ban cho tòa sen, hoa nở thấy Phật, hiện tượng này cũng có thật giả, vô cùng khó phân biệt, nhưng chỉ cần nhất tâm niệm Phật, quan trọng là không điên đảo. Tốt nhất là nhắm mắt một cái rồi mở mắt ra thì đã thấy mình ngồi trên hoa sen trong hồ sen ở Tây phương rồi, các đại Bồ Tát là quyến thuộc, diệu quả thù thắng ở trước mắt, điều này là chân thực nhất. Nếu còn hỗn độn vẩn đục không rõ ràng, mơ màng mù mịt thì tình hình ấy không hay rồi.

Người thoát thai thần hóa, nếu linh khí dồi dào, linh có thể tự chủ, trước tiên sai khiến linh đi xung quanh thân mình. Phương pháp sai bảo linh được dùng ở đây vẫn là phương pháp đại ôn dưỡng, giống như nước bốc hơi lên thành khí, rồi lại ngưng đọng khí thành băng, rồi lại hóa băng thành hư vô. Cái này cũng tức là phương thức lần lượt tuần hoàn, xét về đạo lí mà nói thì rất đơn giản, nhưng phải có cảm giác thực tế mới được. Giống như người sai khiến linh, linh lập tức có thể thoát ra, tự do xuất nhập, giống như con người vận linh, linh ở bên trong cơ thể tự thành tường đồng vách sắt kiên cố, những cái này đều là cảm giác chân thực. Khi vận linh, chân khí dồi dào, giống như ruột lốp xe được bơm đầy khí vậy, cái gọi là "thoát thai thần hóa" tất nhiên phải có đầy đủ khí thì mới có thể thoát thai, đây là đạo lí chắc chắn.

Người luyện linh nếu cảm giác khí đã đầy đủ, đã kết xá lợi thật, sau đó thần hóa thì có thể chuẩn bị thoát thai rồi!


### 31. Phá huyễn đạt thực, nhận ra "minh thức”


Người từng khởi linh, muốn rèn luyện để trở thành "cây bút dữ dội", dùng phương pháp múa loan để độ thế, đạt đến mục đích cứu người cứu đời, thì cần hết sức dung dị. Sau khi khởi linh, thân thể có linh tính, vì linh ở không trung mượn linh khiếu của bản thân để múa loan, đây cũng là điều hợp tình hợp lí. Theo đạo lí mà nói, phương pháp này chính là "thần thông mượn vật", hiện tại "thần thông mượn vật" này thường gặp nhất là ở các loan đường sùng bái Quan Thánh Ân Chủ, trong các bài báo đã xuất bản ở nhiều vùng trên khắp cả nước cũng xuất hiện không ít, có nhiều bài viết có tính giá trị cao, nhưng cũng có những loan văn trình độ tương đối thấp, tuy vậy đó lại là một câu chuyện khác.

Mỗi một người khởi linh, nếu muốn hiến thân mình để làm một người trung gian cho "thần thông mượn vật", nhờ tay cầm cành đào cành liễu viết chữ trên cát trắng, lúc ban đầu họ cũng bế quan bí mật tu. Bế quan chính là một sự thử thách, khiến bạn tạm thời tách khỏi mọi người, bình định tâm chí, chuyên tâm nhất trí bước vào cửa của Thánh hiền. Khi bế quan phải nhịn ăn, thời gian nhịn ăn không cố định, có người là bốn ngày, có người là bảy ngày, chỉ uống nước, không ăn những thức ăn khác. Hiện tại ở Nhật Bản cũng xuất hiện những đạo tràng nhịn ăn, các đạo tràng nhịn ăn ở Nhật Bản cho rằng: con người mắc bệnh chính là do thức ăn gây nên, nếu không ăn trong vài ngày, các chất bẩn trong thân thể sẽ được loại bỏ sạch sẽ, sau đó ăn đồ ăn thanh tịnh có thể khiến bách bệnh tiêu trừ. Còn ý nghĩa của luyện làm người trung gian thì lớn lao hơn việc trừ bệnh tật, nếu nhịn ăn, trong thân thể không còn những thứ bẩn, biểu thị rằng nhân cách đã thanh tịnh, có thể giao tiếp được với Thần rồi. Tôi cảm thấy thời gian bế quan nhịn ăn có thể dựa theo thể lực của người bế quan mà quyết định, không cần phải cưỡng ép bản thân.

Trong khi nhịn ăn, công khóa cần làm chính là niệm chú, niệm thần chú thanh tịnh thân khẩu ý, niệm chú kim quang, niệm thần chú tịnh thiên địa, ngoài những cái này ra thì có đọc kinh và luyện tập ngồi thiền, thời gian bế quan đa số là bảy bảy bốn mươi chín ngày, sau khi nhịn ăn thì cũng bắt đầu ăn lại, nhưng lượng thức ăn cũng rất ít, tất cả đều là đồ chay, không được dùng đồ mặn, việc nhịn ăn cũng tức là để loại trừ trọc khí, nếu dùng đồ ăn mặn thì toàn bộ công lao là vứt đi hết.

Bế quan bảy ngày đầu tiên có thể đốt một bài sớ văn để bẩm lên thiên đình: "*Phục mình trước Thánh đức nguy nga, Phật ân cao quý, hôm nay con là… sống tại Đài Loan Trung Hoa Dân Quốc, nguyện chí thành tu linh khởi kê, vì tự biết từ vô thủy đến nay cứ mãi lưu luyến vấn vương trong lục đạo, mê muội trong tam đồ, phạm vào đủ mọi ác nghiệp, trải qua bao kiếp lỗi lầm khó mà đếm hết. Nay trước Phật con xin hết sức sám hối, bế quan bảy ngày, nhịn ăn kiêng tắm, để báo đáp bốn Thánh ân sâu nặng của trời đất, tự nguyện nhập đạo, tiến vào làm thân kê đồng, dùng đào liễu loan bút để mở mang đại đạo. Khấu lạy Diêu Trì Ngọc Kinh Chư Tiên, Tam Thiên Chư Phật Bồ Tát, ở trước tòa sen của các vị Tiên sư các thời kì, thỉnh cầu Thánh linh nhìn xuống thấy được lời cầu nguyện luyện thành lửa cháy của con, ban cho đại đạo sớm sáng tỏ, xua đi sương sớm, thấu hiểu được thập phương. Nếu con có làm trái Thánh thị, làm trái giới luật, làm trái Phật quy, thì Hộ Pháp Vi Đà, Vương Thiên Quân, Triệu Thiên Quân làm chứng lời thề, con vĩnh viễn đọa địa ngục, chịu khổ hình cực khổ*."

Sau khi đốt sớ văn, tự nhiên sẽ có Thánh linh ở cõi trời xuống chỉ đạo, người luyện làm kê đồng, tay cầm bút lông, thành tâm thỉnh cầu linh thị, lúc này tay tự nhiên sẽ chuyển động trên giấy trắng, thư pháp lúc này đều là "loạn thư", giống như học sinh tiểu học tập cầm bút lông viết chữ vậy, phải luyện đến khi bước đi tự nhiên và đến khi chữ có hình dạng nhất định thì mới thôi. Cũng có thể cầm cành đào cành liễu, yên lặng đợi chỉ thị của Thánh linh ở không trung, viết phù viết chữ phải phân biệt và hiểu kĩ càng. Chữ hoặc chỉ thị lúc này đều có hàm ý, sau bảy ngày cũng sẽ có thử thách, đây chính là phá huyễn đạt thực, nhận ra "minh thức". Thế nào là minh thức? Minh thức chính là ý thật sự của Thần minh, không phải là thần thức của mình tạo ra. Phá huyễn đạt thực, nếu chưa phá được cái huyễn thì không phải là thật, dễ bị tâm ma lợi dụng.

"Thần thông mượn vật" là sự liên lạc giữa linh và linh, so với kê đồng thì đây là một sự giao tiếp cảm giác cao siêu và cao thượng hơn. Trong lúc bế quan chính là vạn pháp duy tâm, vạn pháp duy thức, không được nghĩ đến việc thế tục, sẽ làm loạn đạo tâm của mình, không được cầu danh lợi mà đánh mất chủ ý chân chính. Lúc này sớm tối tĩnh tọa luyện tập sự giao tiếp cảm giác nhờ mượn vật, mong sớm biến tục tâm thành đạo công, vạn duyên không nhiễm, không còn tướng nhân ngã chúng sinh thọ giả, thấy rõ hiểu thấu không tịch, thế là tự đắc trạng thái chân không rồi! Lúc này nếu thấy mĩ nữ ở trước mặt thì cũng không bị sắc tướng ấy mê hoặc, gặp rắn độc hổ dữ cũng giữ quyết tâm dù phải chết, không dịch chuyển và kinh sợ, có người đem tiền và vàng bạc châu báu đến cũng hoàn toàn không để tâm. Trong cõi xa xăm sẽ sinh ra những huyễn tướng kì quái, nếu chấp vào một huyễn tướng thì sẽ rơi vào trong sự mê hoặc đó, như thế sẽ giống như thiêu thân lao vào lửa, côn trùng sa vào mạng nhện vậy. Nếu bạn tin vào huyễn tướng của âm ma thì toàn bộ công lao là vứt đi hết, mê muội điên cuồng, trở thành kẻ tẩu hỏa nhập ma bế quan nhập đạo, khi định lực không đủ thì thật sự là quá nguy hiểm đó!

Trước kia lúc ban đầu, tôi tu tĩnh tọa cũng sinh ra ma tướng, nhưng tôi đều dùng Phật hiệu để quát lớn, đây là phương pháp của tôi, hễ quát lên thì ma tướng biến mất. Phá huyễn đạt thực, nhận ra "minh thức", nếu nhìn thấy mĩ sắc ở trước mặt không nỡ quát lên, cũng không nỡ để cho cảnh đẹp ấy biến mất, tự tâm đã dao động, tham luyến không tạm dẹp bỏ, người như vậy không cần tu đạo, cũng đừng bế quan, để tránh tạo thành chuyện hài cho đạo tràng thanh tịnh. Người không quên được tửu sắc tài khí, danh lợi tình ái thì căn bản là không nhận thức được chân đế của Đạo.

Nếu đạt được công phu "minh thức", có thể luyện thành công "thần thông mượn vật", phá huyễn, đạt thực, thì tay cầm cành đào cành liễu có thể độ hết con người khắp mười phương rồi. Kì thực, nếu luyện thành công minh thức, pháp nhĩ báo cũng xấp xỉ thành công, có thể khẳng định lành dữ họa phúc, thì cũng giống như Thần Tiên, công phu tri thiên mệnh đã không còn xa nữa.


### 32. Thuật luyện linh viên quang


Có rất nhiều phương pháp cảm ứng linh thông, trong đó thuật viên quang tương đối thần kì, thuật viên quang nói đúng ra trong ngoài nước đều có, ở nước ngoài họ gọi là phương pháp xem quả cầu thủy tinh, cũng tức là một trong những thuật viên quang. Con mắt của người bình thường không có cách nào nhìn ra được trong quả cầu thủy tinh có bất kì điều bí ẩn nào, thật ra linh Tiên cao minh có thể nhìn ra sự biến hóa của nhiều ánh sáng màu trên quả cầu thủy tinh, người cao siêu hơn thì có thể nhìn ra hình ảnh hiện lên, cái bóng, hoặc xuất hiện cung điện lầu gác, hoa rơi trên võ đài, họa phúc của một cá nhân đều xuất hiện trên quả cầu thủy tinh. Bản thân quả cầu thủy tinh là một dạng hoán dụ, chủ yếu nhất là nhãn thần của người quan sát.

Thuật viên quang ở nước ta thì phần lớn là dùng một miếng vải trắng, treo lên không trung ở chỗ sáng sủa, và người quan sát sẽ làm tối bốn xung quanh, đốt hương thỉnh thần, hai mắt nhìn chăm chú vào tấm vải trắng, miệng đọc lớn chú. Lúc này trên tấm vải trắng sẽ từ từ xuất hiện nét chữ, nét chữ viết theo luật thơ bảy chữ, hoặc ngũ ngôn tuyệt cú, nhanh chóng xuất hiện, cũng nhanh chóng biến mất. Sự việc này giống như chiếu phim lên màn chiếu vậy, giả sử có nhiều người, trong số đó có người nhìn thấy, cũng có người không nhìn thấy, mỗi người sẽ lần lượt viết lên giấy đoạn thơ văn mà họ nhìn thấy, cuối cùng kiểm chứng lẫn nhau, kết quả là giống nhau.

Thuật luyện linh viên quang là chính hay là tà, kẻ hèn này cho rằng cũng khó nói. Tác giả biết ở Đài Bắc có một bạn đạo nữ, tuổi khoảng ba mươi, chưa kết hôn, từng nhập Phật môn tu Mật tông, sau đó theo một pháp sư luyện linh nhãn, chính thức học tập thuật viên quang. Tôi từng gặp người phụ nữ đó đúng một lần, là vì có người nhà của cô đưa cô ấy đến, khi ấy thần trí cô ấy đã không còn rõ ràng, nói xằng nói xiên, cô ấy bị trúng tà quá nặng, ngay cả tôi cũng bó tay rồi!

Người nhà của cô ấy kể với tôi, cô ấy cũng treo một tấm vải trắng ở trong mật thất, cả ngày thắp hương tĩnh tọa, niệm chú cũng chủ yếu là chân ngôn lục tự đại minh, cứ như vậy sau 49 ngày, cuối cùng cô ấy đã có thể nhìn thấy những hình chữ hiện lên trên tấm vải trắng, chỉ thị rằng: "Em trai có nạn, cấm túc một ngày." Còn chỉ rõ là ngày nào, nhưng em trai cô không tin, kết quả là đúng thật vào ngày hôm đó em trai chạy xe máy đâm vào người ta, một chân đã bị tàn phế. Kể từ đó, cô gái tu thuật viên quang đó đã tin vào những lời của nét chữ trên tấm vải trắng, không còn nghe lời của bất kì ai nữa, kể cả bố mẹ cô. Linh của thuật viên quang chỉ thị cho cô ấy không được lấy chồng, cô ấy đồng ý không chút do dự, linh của thuật viên quang chỉ thị cho cô ấy cả đời chỉ mặc đồ đen, cô ấy cũng đồng ý, linh của thuật viên quang chỉ thị phần lớn có thể ứng nghiệm, vì thế cô ấy tin mê khủng khiếp. Có một hôm, trên tấm vải trắng xuất hiện một người thanh niên mặc áo dài trắng, người thanh niên rất điển trai, chỉ thị cho cô bí quyết tu đạo của anh ta, sau đó không ngờ đã trở thành bạn thân, mỗi lần cô thắp hương tĩnh tọa, người thanh niên ấy lại từ tấm vải trắng bước xuống. Cuối cùng bố mẹ cô biết được chuyện này, họ rất đỗi kinh ngạc, cực lực cấm chỉ cô ấy không được luyện thuật viên quang nữa. Sau cùng cô ấy nói, Thần Tiên mặc áo dài trắng kia muốn đưa cô ấy đi, nói xong lời này thì cô ấy liền phát điên.

Tôi cũng không có cách nào phá giải tà thuật mà cô ấy đã trúng, tôi nhìn thấy cô ấy đã có tà nhãn, nhưng không có cách nào dùng chính pháp để phá được. Trong lòng tôi thật sự rất buồn, tôi dùng người giấy viết lên đó ngày giờ tháng năm sinh thần của cô gái đó, cắm vào trong một cái bát đựng gạo trắng, dùng mật pháp của tôi tụng kinh niệm chú để giải thoát tà linh cho cô ấy. Đúng lúc tôi đang tập trung tinh thần thì nhìn thấy một cái bóng màu trắng trôi lững lờ trước mặt tôi, cái bóng màu trắng đó rất rõ nét, không ngờ nó cũng có thể mở miệng nói pháp nữa.

"Liên Sinh, nếu anh cầu an cho chuyện này, vậy thì quá bất công rồi đó." - Người con trai mặc áo dài trắng kia nói.
"Anh phá hoại đạo pháp của người ta, dùng tà thuật để thắng họ, cũng giống như làm thân Phật chảy máu, lẽ nào tôi không nên quản chuyện này ư? Lẽ nào là không công bằng sao?"
"Không đâu, Liên Sinh, thiên hạ thiện ác nhân duyên, quan hệ đến nhân quả ba đời, cô gái này tuy tu đạo, nhưng kiếp trước chính là tên đại ác ôn đã lăng nhục tôi đến chết, tôi phải chịu nỗi oan tình mà chết, cô ta nợ tôi món nợ mười ba năm, tôi sẽ đày đọa cho cô ta không còn ra hình người nữa, nhân quả báo ứng ba đời này mà anh cầu an cho cô ta, chẳng phải là phá hoại vòng tuần hoàn báo ứng sao, thế thì không công bằng rồi!"

"Oan oan tương báo đến khi nào dứt, anh hãy tha cho cô ấy đi!" - Tôi cầu xin người con trai mặc áo dài trắng.
"Tuyệt đối không thể tha. Thật không dễ gì tôi mới tìm được cô ấy đó!" - Anh ta nghiến răng nghiến lợi nói.

Vì điều này mà nội tâm tôi càng thêm nặng trĩu, ngay đến tôi cũng không có cách nào cứu, chỉ có nhìn cô ấy tiếp tục đau khổ thôi.

Luyện thuật viên quang, quỷ linh cũng có thể hiển hiện thơ văn, cho nên người tu phải đặc biệt chú ý, phải nhớ rằng ở trước tấm vải trắng cần treo một tấm bảo gương, trong gương phải yêu cầu thợ thủ công vẽ một con rồng xanh với cái đuôi uốn vòng, trong gương rồng xanh lại vẽ thêm một con thỏ trắng nhỏ xinh, rồng và thỏ đặt cùng nhau, đây chính là tạo hình của gương chiếu yêu. Đặt bảo gương này ở trước tấm vải trắng, ma quỷ bình thường không dám tiến vào. Thuật viên quang hiển hiện thơ văn, có chính có tà, nếu treo bảo gương, tôi tin tưởng rằng linh thuật này có thể phát huy rộng rãi.

Khi luyện linh nhãn, hai mắt nhắm lại, tròng mắt đưa sang trái năm lần, đưa sang phải năm lần, sau đó hơi hé mắt ra, sau đó nhìn ánh sáng ngoại biên, sau đó quăng ánh sáng ngoại biên đó lên trên tấm vải, sẽ sản sinh ra âm ảnh và ánh sáng màu sắc, lâu ngày, tâm thành tắc linh, có thể nhìn ra được những nét chữ lúc ẩn lúc hiện ở trên tấm vải, đây chính là thuật viên quang. Thuật viên quang nói chú như sau: "*Thiên Hoàng sắc nhật diễn pháp chân, cửu thiên ngũ sắc tường vân giáng, kim quang giảo khiết càn khôn chiếu, vạn thần phụng triệu phó long hoa, giáng đàn toàn y thiết khẩu đoạn, bất đắc ẩn hình thuyết hư ngôn, Thiên Hoàng Tiên Thần tam thất tự, viên mãn trình quang địa hạ thư. Ngô tấu Hạo Thiên Thượng Đế nguyên thần giáng quang cấp cấp luật lệnh*."

Thuật luyện linh viên quang tương đối ít thấy ở Đài Loan, người biết thuật này có thể biết quá khứ vị lai, vận linh đến hai mắt, đưa mắt qua trái năm lần, qua phải năm lần, thế mới là công phu chính xác.


### 33. Pháp sóng linh trói tâm


Tĩnh tọa luyện linh khó nhất vẫn là trói tâm, trói tâm cũng tức là kiểm soát tâm. Kinh Tăng Nhất A Hàm có viết: "Nếu người chuyên nghĩ tách rời sáu căn tai mắt tai mũi lưỡi thân ý và sáu cảnh sắc thanh hương vị xúc pháp, cuối cùng sẽ không đọa ác đạo. Mắt vốn thấy sắc mà phân biệt xấu đẹp, thấy đẹp thì thích, thấy xấu thì chê; tai nghe âm thanh mà phân biệt hay dở, thấy hay thì thích, thấy dở thì chê; mũi lưỡi thân ý cũng như thế. Cũng giống như sáu loài thú, tính cách hành vi khác nhau, vì thế chúng khác nhau, nếu có người lấy dây quấn buộc chúng, ví dụ như chó, cáo, khỉ, cá, rắn, chim đều trói buộc lại hết, cùng trói lại một chỗ, rồi đem thả ra, thì lúc ấy sáu loài thú, mỗi con một tính cách hành vi: chó thích đi vào trong làng, cáo thích đi đến nghĩa địa, cá thì thích vào trong nước, khỉ thì muốn chạy vào rừng, rắn độc thì muốn chui vào hang, chim thì muốn bay trên bầu trời, khi ấy, sáu loài thú với tính cách hành vi khác nhau, đều hành động không giống nhau. Giả thiết lại cũng có người, đem sáu con thú này, buộc vào một chỗ, không thể nào chạy lung tung, sáu con thú lúc này dù có chuyển động lặp đi lặp lại cũng không rời xa khỏi chỗ cũ. Lục tình của con người cũng lặp lại như vậy, mỗi cái đều tự chủ, việc của chúng khác nhau, biểu hiện khác biệt, có đẹp có xấu. Vì thế tì kheo, cần buộc lục tình này vào một chỗ. Vì thế các tì kheo, khi tập trung suy nghĩ, ý không rối loạn. Bấy giờ, Ma Ba Tuần xấu xa sẽ gặp bất tiện, mọi thiện công đức đều sẽ thành tựu."

Đoạn kinh văn trên đây chính là Phật Thích Ca Mâu Ni lấy sáu loại động vật để so sánh với xu hướng của tâm. Tự kiểm soát tâm con người đích thực vô cùng khó khăn, đừng thấy những tăng lữ bên ngoài tụng kinh trước Phật đường, nhưng tâm thần của họ có thể giống như bức bích họa ở Tì Lô Thiền Tự tại Hậu Lí, từ lâu đã cưỡi trên lưng ngựa phi nước đại, nhảy vọt lao vào không trung. Muốn đắc "chân quán thanh tịnh quán, quảng đại trí huệ quán" quả thực là không hề dễ dàng! Có thể chế tâm thì có thể chế linh, không thể chế tâm thì cũng không thể chế linh. Tâm linh nếu không thể khống chế, người bệnh nhẹ thì cả đời không có định hướng, không có mục tiêu, rất dễ trở thành kẻ vô tích sự. Người bệnh nặng thì giống như kẻ mắc bệnh thần kinh điên cuồng, không thể tự kiềm chế tâm linh của họ, hoàn toàn giống như chuỗi hạt bị đứt tung, không có cách nào thu nhặt sửa chữa được nữa.

Sóng linh sau khi khởi linh phải được giữ gìn ổn thỏa tốt đẹp để nó không bị thất tán, cũng không bị chạy loạn khắp nơi, e sẽ bị quỷ thần trộm mất, khiến cho sóng linh mà bản thân đã vất vả bồi dưỡng bị thất tán, chân khí hao tổn, kết quả là chính mình khởi linh, đến cuối cùng lại bị linh đánh lừa, nhập ma, đi vào con đường sai lầm, tất cả đều vì không thể khống chế được tâm. Nếu có thể chế tâm thì mới có thể tu linh, bằng không chỉ hô to tu đạo, hô rất to rất vang thì cũng có tác dụng gì? Đến lúc đó lại muốn tôi đoán xem tài vận ra sao, quan vị thế nào. Ha ha! Thật nực cười thế nhân không quên danh lợi, khoác lác tu đạo, chẳng phải là xấu hổ cả Phật Bồ Tát ở trên bàn thờ sao!

Pháp sóng linh trói tâm ở mức độ thấp nhất có hai mục. Thứ nhất, chính là lạy Phật. Lạy Phật có thể chế tâm, cũng có thể chữa bệnh, có lẽ có người nói lạy Phật chế tâm thì còn có khả năng, nhưng chữa bệnh thì không thể nào! Tôi nói, lạy Phật có thể khiến người bị khô mắt dễ chịu trở lại, đầu óc sáng láng, người bị lạnh người thì có được khí ấm, và chuyên trị những bệnh mãn tính của dạ dày và bụng. Vì lạy Phật buộc tâm lại, nên khiến cho người mất ngủ có thể ngủ ngon, củng cố gân cốt. Lạy Phật tốt nhất là lạy theo kiểu đầu và mặt chạm vào chân hoặc lạy ngũ thể đầu địa [nằm trên mặt đất, hai chân hai tay và đầu chạm đất] là hữu hiệu nhất. 

Tác giả đặc biệt nói kĩ về phương pháp lạy Phật như sau: "Khi lạy Phật, đứng quay mặt về hướng tây, hoặc đối diện với tượng Phật cũng được, nhắm mắt tập trung tinh thần, đứng thẳng người vươn thẳng không cong người, chắp tay đặt trước ngực, hai chân đặt cách nhau khoảng hai mươi phân, đứng nghiêm như bộ đội. Hai khuỷu tay làm thành một đường thẳng, mười đầu ngón tay hướng lên trên, nhắm mắt tập trung tinh thần, ý dừng lại và khí tràn đầy, như không khí trống rỗng vậy. Miệng khép lại, trong tâm nghĩ: nhất tâm đảnh lễ nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới đại từ đại bi A Di Đà Phật, và quán tưởng nét mặt Phật trang nghiêm thần thánh, từ đầu chí cuối chỉ có một suy nghĩ (đây chính là tác dụng trói tâm). Thế rồi chắp tay từ từ đưa lên trên, đến mi tâm [ấn đường, điểm giữa hai đầu lông mày] rồi lên đến đỉnh đầu, rồi lại từ từ hạ xuống ngực, rồi xuống eo, chân, đầu gối, thân cũng từ từ cong xuống, tay phải chạm xuống chiếu quỳ trước, tiếp theo là tay trái chạm xuống chiếu quỳ, sau đó cùng lật ngửa hai bàn tay lên (biểu thị hai tay đón lấy hai chân Phật, cũng biểu thị rằng thân ta cũng như tay ta đều trống trơn sạch sẽ không có thứ dơ bẩn). Lúc này đầu đặt ở giữa hai tay, sau đó lại từ từ nhỏm dậy, hai tay lật lại, tay trái trước tay phải sau, chắp tay đứng thẳng. Cứ như thế lặp lại động tác lạy Phật, cao nhất là đầu, thấp nhất là khí hại, bộ phận dạ dày và ruột đều đã vận động, sự vận động này không những có thể trói tâm mà còn có thể chữa bệnh. Khi lạy Phật, nếu tâm thần còn chạy lung tung thì không thuốc gì có thể cứu, luyện tập như vậy lâu ngày tự có thể chế tâm.

Thứ hai, pháp nhìn chăm chú lễ Phật, hai mắt chúng ta nhìn đôi mắt từ bi của Phật, hai tay đưa lên, tay trái trước tay phải sau, cùng di chuyển tuần hoàn (di chuyển theo hình tròn), chạm năm đầu ngón tay của hai bàn tay vào nhau. Bàn tay di chuyển ngay trước mắt, nhưng mắt phải không bị ảnh hưởng bởi sự di chuyển của tay, và có thể giữ cho mắt không chớp, không di chuyển, không ngừng nhìn chăm chú, không nhìn đi chỗ khác, đây cũng là một động thái có tác dụng trói tâm, nếu có thể rèn luyện lâu ngày, tự nhiên có thể ngồi xuống là tĩnh, không nghĩ lung tung, công phu này hoàn toàn phụ thuộc vào việc luyện tập thường xuyên. Có rất nhiều người nói với tôi rằng họ có quá nhiều suy nghĩ lung tung, tâm không thể tĩnh được, muốn tĩnh tọa ngay cả năm phút cũng không được chứ nói gì đến năm mươi phút, hai tiếng. Sức nhẫn nại của những người này quá kém, người mà ngay cả năm phút cũng không ngồi được thì phải bắt đầu từ việc lạy Phật, mỗi lần lạy 108 lần, rèn luyện tâm nhẫn nại.

Khởi linh phải chế tâm, luyện linh lại càng phải chế tâm, bất luận là Thiền hay Mật đều phải chế tâm, bất luận Hiển hay Mật đến cuối cùng đều phải đi đến con đường chế tâm này. Theo đạo lí mà nói, công phu tu hành, chế tâm là cực kì quan trọng, chế tâm không phải là lời nói trống rỗng, mà thật sự là một dạng công phu. Những linh thị của kẻ hèn này, nếu không có công phu chế tâm thì linh sẽ giống như con khỉ, không thể tự kiềm chế, sẽ triệu gọi lửa và nước trong gió, sẽ gây ra nhiều rắc rối lớn hơn, nhất là cảm ứng giữa linh và linh hoàn toàn dựa vào hoạt động trói linh. Nếu để linh phân tán thì không khác gì linh hồn người chết, như thế thì còn có tác dụng gì nữa chứ? Linh trong thiên hạ đều quy về hoạt động tâm của bản thân, cảm ứng như vậy chẳng phải là bậc chí tôn thiên hạ sao?

Pháp sóng linh trói tâm lâu ngày tự sẽ làm nên công lao lớn, đừng thấy dễ mà coi thường, nó đặt nền móng cho việc thành đạo đó.


### 34. Thân bí mật của đầu


Đạo pháp vốn không nhiều, hoàn toàn dựa vào tự lực mà tu. Bài viết "thân bí mật của đầu" này, cùng với bài "thân bí mật của thủ thông" là phương pháp khác nhau dẫn đến kết quả tuyệt diệu như nhau. Khi viết bản văn này, trước tiên tôi lấy một ví dụ thật để chứng minh. Còn nhớ trong cuốn "Mạn đàm linh cơ thần toán", tôi có nhắc đến Ngọc Hoàng Cung, đó là ngôi chùa Ngọc Hoàng Đại Đế, trụ trì là sư Thích Huệ Linh. Sư Thích Huệ Linh đã viên tịch từ lâu rồi, tro cốt của ngài ấy được thờ cúng tại Đại Giác Viện trên đường Bình Đẳng ở thành phố Đài Trung, nằm ngay đối diện với bệnh viện Trừng Thanh. Thích Huệ Linh từ nhỏ đã xuất gia, là con người rất lương thiện, nhờ tu thiền, từ sớm đã chứng thân bí mật của đầu. Ngài ấy thấy tăng lữ trong chùa phức tạp nên tự mình trụ trì một ngôi chùa Đạo gia nhỏ, phớt lờ những nhạo báng của con người. Khi tôi mới có được kì duyên, sư Thích Huệ Linh cũng có mặt tại đó, từng lấy hoa thơm của cây đàn hương để thanh tịnh thân thể của tôi. Vì chúng tôi thường xuyên gặp mặt, cho nên ông ấy kể cho tôi biết về "thân bí mật của đầu".

Sư Thích Huệ Linh nói: "Đó là ba năm sau khi tôi cạo đầu xuất gia, có một buổi tối, tôi đang tĩnh tọa trong phòng thiền, hai mắt khép hờ, đột ngột cảm thấy trong phòng tỏa ánh sáng rực rỡ. Trong phòng tôi có bày một tượng Phật nhỏ, cũng thắp hương cả ngày, không có gió mà hương tự lay động, làn khói bay lên không ngờ ngưng lại thành hình đầu của con người, có thể nhìn rõ chỗ nào là mắt tai mũi miệng, rõ ràng một cách dị thường. Trong lòng tôi rất đỗi kinh sợ, bởi vì xuất gia ba năm, hằng đêm tĩnh tọa, đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy cảnh tượng kì quái như vậy. Đầu người ấy lượn lờ ở trên không, đột nhiên lắc lắc đầu, rồi lại gật gật đầu."

Sư Thích Huệ Linh nói: "Đúng vào lúc này, tôi đột nhiên cảm giác toàn thân từ chân đến đầu có một sự chấn động khe khẽ, cơn chấn động này ban đầu rất nhỏ, sau đó càng ngày càng dữ dội, đến cuối cùng thì giống như trời long đất lở, cả cái giường đệm cũng rung lắc, dường như cả căn phòng cũng đang nhảy nhót vậy, cứ như vậy sau năm phút mới yên lặng trở lại. Tiếp đó, tôi cảm giác thấy đầu mình có thể lắc đầu và gật đầu một cách tự do, từ đó về sau, tôi có được một bí mật, bí mật này rất đơn giản, ví dụ như tôi hướng về Phật Tổ để cầu chỉ thị cho một vấn đề, ý của Phật Tổ đáp là phải, thế rồi đầu tôi tự nhiên gật gật đầu, ý của Phật Tổ đáp là không phải, thế là đầu của tôi tự nhiên lắc lắc, đây chính là thân bí mật của đầu của tôi."

Đến bây giờ, tự nhiên tôi hiểu ra sư Thích Huệ Linh là một người thông linh, thế nhưng sự thông linh của ngài ấy chỉ có thể hỏi được một vài vấn đề đơn giản, không thể hỏi được những vấn đề phức tạp. Giờ đây sư Thích Huệ Linh đã rời khỏi nhân gian rồi, và linh hồn của ngài ấy tôi có thể triệu thỉnh đến, lúc còn sống ngài ấy rất thân với tôi, sau khi chết cũng vẫn rất thân với tôi. Tôi từng dùng hương để gọi ngài ấy đến nói chuyện, ngài ấy nói: "Nhân quả báo ứng thật chẳng sai, tu đạo tĩnh tọa thực cũng khó, làm người chớ làm điều hổ thẹn, lẽ trời sáng tỏ chẳng lọt ai. Liên Sinh ơi Liên Sinh, nay nghĩ lại quá khứ thật xấu hổ, linh giới thật sự giống nhân gian, chỉ khác là sống ở một nhà khác, bây giờ cũng phải chịu sự gò bó như thế."

Người tu linh muốn đạt được thân bí mật của đầu, theo lí mà nói thì còn đơn giản hơn so với thân bí mật của thủ thông. Chỉ cần vận linh đến đỉnh đầu, nghe linh chỉ thị là được, thân bí mật của đầu nếu so sánh với sáu đại thần thông thì thì còn kém rất xa, đây là một trong những pháp hữu vi, thế nhưng so sánh với một số người xem bói bốc quẻ, bốc quẻ hỏi Thần, bói quẻ mai rùa thì linh nghiệm hơn. Nói chung người có được thân bí mật này không thể nói ra, bởi vì linh chỉ đạo ở không trung có nguồn gốc hoàn toàn khác nhau, nếu nói ra e rằng sẽ làm hại đến cơ hội của hai bên. Nếu linh chỉ đạo mà mất thì sẽ sinh ra hiện tượng hỗn loạn, hiện tượng hỗn loạn một khi xuất hiện thì gật đầu lắc đầu sau đó sẽ hoàn toàn không chuẩn nữa.

Tu linh đạt được bí mật của đầu đừng tự mãn vui mừng, bởi vì rốt cục nó vẫn còn cách xa thần thông cảm giác cả quãng đường mười vạn tám nghìn dặm. Lúc này cần tu "tâm an trụ không bụi trần", cái gọi là an trụ tức là tự nhiên khoan khoái, khoan khoái không phải là hưởng thụ, mà là phàm chuyện gì cũng không miễn cưỡng, bình thản đạt đến trình độ "không bụi trần". Tôi cảm thấy cảnh giới "không bụi trần" là một việc vô cùng khó, đạt đến cảnh giới ấy chính là: "Vô sự an trụ ở tự nhiên, tự nhiên hiển hiện Đại Lạc Vương, tâm vốn chẳng buộc cũng chẳng cởi, Bổn tôn quan sát khắp thế gian." Đây là cảnh giới cao nhất của Thiền Mật, không còn bụi trần tự sẽ có được tất cả quang minh, còn có bụi trần thì cho dù có được thân bí mật của đầu cũng không làm nên được việc gì đáng kể, vẫn chỉ ở trong sự hỗn loạn không ngơi nghỉ.

Khi ngồi thiền tĩnh tọa, đầu nhập vào tâm mật, nếu tam quan mở ra, có thể dùng linh khí dẫn mở ra Vĩ lư quan, đi qua Đốc mạch, trên cùng thông mạch Âm duy, tiếp đó đi một mạch thẳng không nghiêng lệch qua Giáp tích quan. Lúc này khi đi qua Cửu phong sơn, phải nhớ vận dụng công phu "không bụi trần" để đạt đến Côn luân đỉnh, gõ thẳng vào Vô cực kim đỉnh. Nếu đạt đến cảnh giới này, tu luyện lâu ngày, có thể biết được mọi điều trên trời dưới đất, có thể gọi là tri thiên mệnh, đến lúc này tự biết được tuổi thọ của cuộc đời, không hề có chỗ sai sót, giữa trời đất âm thầm bí mật ẩn giấu những chân lí vô cùng tận, chỉ cần hơi bóc ra một lớp biểu hiện bên ngoài là có thể đạt đến diệu quả vô cùng, diệu quả ấy chỉ có người tu linh mới có thể có được thôi.

Tôi viết một bài kệ:
"*Quạ vàng thỏ ngọc tự nhiên thế,
An trụ nhân gian chẳng bàng hoàng,
Thẳng hướng tu linh tiến vào mây,
Gõ mở kim đỉnh cửa vô cực."*

Thân bí mật của đầu là thần thông cảm giác, nếu khéo vận dụng có thể biết những lẽ phải của trời, nhưng nếu công phu "không bụi trần" thì chỉ có thể xem bói giúp người ta mà thôi, đạo xem bói không phải là chính đạo, chỉ là bàng môn thôi.


### 35. Trăng trong nước như ảnh trong gương


Ở chương trước tôi có nhắc đến ba cửa ải Thiên Ma, nói đến tất cả nhập ma tẩu tà, đó là để cảnh cáo tất cả những người tu linh đừng đi vào con đường sai lầm, nếu nhập ma cảnh phải mau tìm minh sư để giải thoát, hoặc chỉ dựa vào pháp vô vi mà tu thì tương đối sẽ không bị Thiên Ma quấy nhiễu. Kẻ hèn này nhận thức rõ rằng ma do tâm sinh ra, cảnh cũng do tâm sinh, ma và Phật đều là tự mình hóa hiện ra, hãy cẩn thận và cẩn thận, ma và Phật không dễ phân biệt!

Trước kia tôi có quen biết một người tu đạo, huệ mệnh của người tu đạo này sáng vô cùng, thế nhưng khi anh đang tu pháp vô tướng, đến tầng cao nhất của Sắc giới thiên, rồi lại nhập vào Vô sắc giới thiên, khi nhập Vô sắc giới, anh phát hiện ra thế giới này trống rỗng chẳng có gì cả, cũng gần tương tự như cảnh giới trong mơ, hầu như đều là cảm giác tồn tại trong tích tắc mà thôi, không có thân thể, cố nhiên trọng lượng cũng có thể vạn sự tùy tâm muốn, nhưng rốt cục đều là cảnh được hóa ra. Anh quan sát bản thân, cảm thấy thân thể chính mình cũng không có gì, anh ấy không có chỗ để đặt chân, đi đến chỗ nào cũng không thể tự biết, mù mịt không biết đi đâu về đâu, tư duy đều trống rỗng, có sương mù trong không trung, màu trắng và vô vị, anh cảm giác thế giới này dường như chẳng có gì hứng thú cả, anh không biết tu hành đến đây thì có lợi ích gì chứ? Đây là cảnh tượng của thế giới không luân tầng thứ ba đó! Anh ấy tả xung hữu đột, nhưng cũng không đi ra ngoài phạm vi này được, ngày ngày như ở trong mơ, không phân biệt ban ngày ban đêm, mọi thứ đều là huyễn, cuối cùng anh không thể kiên trì được nữa, đã nhập vào ma cảnh rồi. (Kẻ hèn này  cho rằng đây là cửa cao nhất trong ba cửa ải Thiên Ma, vì không hiểu đạo lí chân không diệu hữu, thực hư chân như, cho nên tẩu hỏa nhập ma, nếu hiểu rõ chân không diệu hữu, có thể nhập vào giới La Hán "tùy thuận", thành tựu quả A La Hán, cho nên một bước đi sai là sẽ nhập ma.)

Khi viết đến đây, trong không trung có lời bảo tôi: "Là diệu hữu sợi lông chẳng có, là chân không nhân quả rõ ràng." Đệ tử tu linh xin hãy hiểu rõ câu nói này, nếu hiểu được dụng ý thật sự thì cách giới A La Hán không còn xa nữa, linh hồn chạy đông chạy tây, hoặc ra nơi khoáng dã, hoặc chạy đến cam tuyền, hãy cẩn thận đừng đi sai đường.

Hơn nữa có người tu đạo thường hay có huyễn cảnh xuất hiện, nếu xuất hiện huyễn cảnh thật ra cũng không cần kinh hoảng sợ hãi. Có người nhìn thấy một con quỷ khổng lồ, trên đầu mọc sừng, mắt như sắt như đồng, mặt xanh nanh vàng, đạo nhân mỗi lần nhập định, quỷ tà ác ắt sẽ quan sát người đó, người đó có thể nhìn thấy trong con mắt ác quỷ đầy những vằn máu đỏ, cũng có khi nhìn thấy hai người nam nữ mặc quần áo cổ trang, mặt cũng xanh, áo choàng dài bay bay, nhìn trừng trừng giận dữ, có khi duỗi ra những ngón tay dài muốn điểm lên người tu đạo, người tu đạo kinh hoàng thất sắc, tỉnh khỏi định, mồ hôi lạnh chảy ròng ròng. Tôi xin có lời khuyên những người như vậy thường xuyên tu pháp sám hối, dùng pháp cam lộ thủy thường xuyên thí cúng dường, hồi hướng oan nghiệp ba đời. Ở đây là trong kiếp trước có mối oan kết chưa trừ bỏ, tu đạo sẽ xuất hiện chướng ngại, người tu khi tu đạo mà oan kết kiếp trước chưa giải cho nên ma quỷ mới đến để đòi nợ. Cũng có người khi nhập định nhìn thấy mĩ nữ xuất hiện, những mĩ nữ này giống như tiên trời, từ không trung nhẹ nhàng bay xuống, mang theo cỏ ngọc nước tiên, có khi cũng tạo ra đủ loại sắc tướng, liên tục đưa tay ra nắm lấy vạt áo trước của người tu đạo, hoặc làm ra vẻ nũng nịu, rất có sở trường mê hoặc, lúc thì ngả sát vào người, lúc thì ngồi trên những cỗ xe lộng lẫy đến. Nếu người tu đạo thấy sắc mà tự mê, theo vào trong xe, đi theo vào trong rừng, đi vào trong ngôi nhà hoa lệ, lúc này thì đã đánh mất bản tâm mà mê muội vào ma quỷ rồi, đây cũng chính là tẩu hỏa nhập ma, ở ranh giới của thần hồn điên đảo, vẫn còn tự cho mình là người trung gian của Thần Tiên. (Nếu thấy sắc tướng, có thể dùng Đạo công để xua đuổi, nếu xua đuổi mà ma vẫn không đi, có thể coi đó là vũ điệu của đầu lâu xương sọ, nếu tâm bất động thì tự sẽ tránh được, không vì sắc tướng đó mà bị mê hoặc. Thấy ác quỷ hoặc thấy mĩ nữ, dù những gì nhìn thấy khác nhau, nhưng thật ra đều là chướng ngại, nếu thấy mà như chưa thấy, vẫn không hề nao núng, bão nguyên thủ nhất, thì có thể phá được cửa này. Nếu tâm động thì sẽ nhập ma, miệng sẽ nói mê, thần trí rối loạn, không thể kiểm soát.)

Người khởi linh khi mới bắt đầu động linh thể, cũng phải đặc biệt đề phòng gặp ma, nhất là người trẻ tuổi tâm tính bất định, chưa biết gì về linh giới, không có thề nguyện lực đối với tu đạo, không có sức bền bỉ, chỉ là có chút hứng thú hiếu kì mà thôi. Cần phải biết rằng hiếu kì và hứng thú chỉ là nhất thời, nếu linh thật sự khởi động mà không có tâm bền bỉ thì phiền toái rất lớn, linh hồn con người không có cách nào tự chủ sẽ dễ bị những âm linh khác nhập vào người, thế thì khả năng nhập ma rất lớn. Tôi có quen một người tu đạo, sau khi anh ta tu được linh thể thì lập tức từ bỏ, không nghiêm chỉnh tu thân mình, kết quả là lọt vào mắt một hồn ma nữ, hồn ma nữ liền nhập vào người anh ta. Hồn ma nữ này tự xưng là Đào Hoa Tiên Tử, có duyên với người tu đạo này, đưa người tu đạo đi du lịch khắp nơi, kết quả là người tu đạo đã bị mê hoặc dưới tay của Đào Hoa Tiên Tử, tinh thần ngẩn ngơ. Người khác không nhìn thấy, nhưng người tu đạo có thể nhìn thấy, bề ngoài như kẻ thần kinh thất thường, miệng cũng liên tục lẩm bẩm những lời nói mê, tự xưng là lên núi để đi tu đạo, thật ra là tu đạo gì chứ? Nhập ma cũng không tự biết nữa! (Có một số hồn ma cướp tinh khí của con người, thích tự xưng là Thần Tiên của núi nào đó phủ nào đó hạ phàm, thật ra chỉ là ma quỷ có được linh khí mà thôi, những hồn ma này thành yêu tinh có thể mê hoặc tâm tính con người, có thể vào loan đường mượn kê bút để đưa ra thơ phú, nhập vào thân kê đồng để nói xằng nói xiên, khi khởi linh nếu không phải là chính tâm thành ý thì rất dễ bị ma dẫn dắt. Cho nên tôi có lời khuyên con người, học khởi linh nhất thiết phải chính tâm thành ý, phụng thỉnh Tiên thật đến để khởi động, sau khi khởi động linh, vẫn còn phải thường xuyên nghe những lời giáo huấn của Thượng Tiên, nếu những lời của Thượng Tiên thật sự hợp lý thì đó mới chắc chắn là Tiên thật. Còn nếu ngược lại với kinh với đạo, hành vi dị thường quái đản, thì e rằng chỉ là ma giả Tiên, nhất thiết phải cẩn thận! Cẩn thận!)

Tôi đọc Kinh Xuất Diệu thấy rất cảm động, sự phân biệt thật giả Ma - Phật nằm ở đây.

“Người ngu phụng sự kẻ minh trí trọn đời, mà tự mình chẳng biết được đạo pháp chân chính, tựa như ăn uống cả ngày mà chẳng biết mặn nhạt.

Kẻ trí phụng sự bậc Thánh hiền trong giây lát thì liền nhận rõ được đạo pháp chân chính, giống như đầu lưỡi chỉ cần chạm tới đồ ăn là biết tới cay ngọt.

Người khôn, nghiền ngẫm một câu nói rồi diễn giải ra trăm ý nghĩa; kẻ ngu đọc tụng nghìn câu, không hiểu được một nghĩa. Người ngu biết bản thân mình ngu sẽ gặp đưuọc việc lành, người ngu tự xưng là có trí tuệ thì đúng là người ngu trong số những người ngu.”


### 36. Nhập minh xuất khổ tiêu nghiệp chướng


Khởi linh tu công phu tĩnh lặng, tại sao lại tẩu hỏa nhập ma? Đó là vì có dính líu đến nhân quả ba đời, nguyên nhân thật sự của nó nằm ở bản thân linh hồn có đầy đủ ba đời, vì sự biến hóa của nó bị nghiệp chướng kiếp trước trói buộc, cho nên người khởi linh phải tiêu nghiệp chướng, tiêu nghiệp chướng phải nhổ hết tất cả oan nghiệp, vì thế, tu luyện nhập minh xuất khổ là điều cần thiết. Muốn biết kiếp trước có nghiệp chướng gì ư? Trước tiên, có thể vào lúc 11 giờ tối hàng ngày, quay mặt về hướng nam, cầm hương cung kính niệm Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát một trăm lần, sau đó thỉnh Bồ Tát chỉ thị cho biết oan kết tiền kiếp, làm như vậy liên tục trong bảy đêm, đến đêm ngày thứ bảy, Địa Tạng Vương Bồ Tát chắc chắn sẽ ở trong mơ nói rõ cho biết oan kết tiền kiếp.

Trước đây tôi niệm kinh Địa Tạng, niệm đến khi rơi vào trạng thái nửa hôn trầm, thỉnh thoảng nhìn chăm chú vào giữa những hàng chữ, mỗi một chữ đều hóa thành một bông hoa sen trắng đẹp đẽ, sự lộng lẫy của hoa sen ấy là xuất sắc, trên đời hiếm thấy. Thỉnh thoảng vì sức tập trung mà tôi cũng có thể nhìn thấy các tướng thê thảm đáng sợ ở âm phủ, ví dụ như quỷ tóc đỏ dữ tợn hiện hình moi tim lột da, v.v… Khi ấy, sinh tử của con người đều là sự tụ hợp và phân tán của linh hồn mà thôi, đầu tiên tụ hợp để chịu bị giết mổ, sau đó lại sống lại để lại chịu hình phạt, hợp rồi lại tan, tan rồi lại hợp, chết rồi lại sống, sống rồi lại chết nghìn vạn lần, tất cả đều diễn ra trước mắt lặp đi lặp lại, thật sự khiến tôi cảm thấy tam nghiệp khó tiêu. Muốn tiêu tam nghiệp, đầu tiên phải học được tam nghiệp thiện pháp, tôi dạy người ta tam nghiệp thiện pháp như sau:

Thứ nhất, niệm Phật. Niệm Phật là công phu khẩu thiện. Khi niệm Phật miệng đọc Phật hiệu, Phật chính là hồng danh đại đức thiện căn bản, bậc thiên hạ đệ nhất trí, niệm Phật cần niệm Nam mô A Di Đà Phật. (Niệm trăm lần, nghìn lần cho đến vạn lần, ban đầu có thể niệm ít, sau đó có thể dần dần tăng lên, nhưng phải kiên trì bền bỉ, không được lúc làm lúc nghỉ, lúc nhiều lúc ít. Cách để ghi nhớ số lượng là dùng chuỗi hạt, hoặc dùng que hương, khi niệm Phật âm thanh không cao không thấp, niệng từng chữ cho tai mình nghe, in vào trong tâm, khi niệm thầm dù tai không nghe thấy, nhưng tâm đã biết rồi.) Niệm xong Nam mô A Di Đà Phật thì lại niệm Nam mô Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát ba lần, rồi niệm Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát ba lần, rồi niệm Nam mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát ba lần. Sau đó phát nguyện hồi hướng: "*Nay con xưng niệm A Di Đà, công đức chân thật danh hiệu Phật, mong Phật từ bi mà thu nạp, chứng con sám hối và nguyện cầu, con xưa đã tạo bao ác nghiệp, đều vì vô thủy tham sân si, đều sinh ra từ thân ngữ ý, nay con hết thảy xin sám hối, mong khi con lâm chung mệnh tận, trừ diệt hết thảy mọi nghiệp chướng, khi ấy gặp được Phật Di Đà, lập tức vãng sinh an lạc địa. Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật tịnh độ, trên báo bốn ơn nặng, dưới cứu khổ tam đồ, nếu có kẻ thấy nghe, đều phát tâm bồ đề, hết một báo thân này, cùng sinh cõi Cực Lạc, thập phương tam thế nhất thiết Phật, chư tôn Bồ Tát Ma Ha Tát, ma ha bát nhã ba la mật*." (Linh tông của chúng ta mặc dù tu linh, nhưng cũng cần niệm Phật, bởi vì niệm Phật là thiện công đức, niệm Phật thì trong miệng không còn ác thanh, có thể tiêu nghiệp chướng, tăng phúc huệ. Khi luyện linh cũng có thể tụng thầm Phật hiệu, khi gặp huyễn cảnh hãy dùng Phật hiệu làm tiếng gầm sư tử, hét lên âm thanh lớn để hàng phục tất cả ma.)

Thứ hai, niệm chú. Nếu phát hiện có oan kết tiền kiếp, phải niệm chú Bạt nhất thiết nghiệp chướng căn bản vãng sinh tịnh thổ đà-la-ni: "*Namo Amitābhāya Tathāgatāya Tadyathā Amṛtod Bhave Amṛta Siddhaṁ Bhave Amṛta Vikrānte Amṛta Vikrānta Gāmini Gagana Kīrti Kare Svāhā*." Chú này còn gọi là chú Vãng sinh, người tụng chú này, A Di Đà Phật sẽ thường trụ đỉnh đầu, không để cho kẻ thù làm hại, đời này được yên ổn, khi chết tùy ý vãng sinh, nếu niệm đủ hai trăm nghìn biến thì khởi linh không sợ bị ma đến dẫn dắt, không sợ nhập ma, khi luyện linh thường trì chú này, thân cũng không nhập tà, đây cũng chính là quán thanh tịnh về thân. Niệm chú được ba trăm nghìn biến thì tất cả kẻ thù đều hóa thành vô hình vô ảnh, lúc này tĩnh tọa tâm cũng bất động, không sợ bất kì điều gì. Chân Phật Tông trì chú là báu vật của pháp tạng thân bí mật, người người đều phải trì chú, chú lực nhập thân, thân có thể hóa quang, chú lực nhập linh, linh có thể treo lơ lưng ở hư không, chú lực nhập ý thì đắc đại thần thông, môn công phu trì chú, nếu không thọ trì thì không phải là người của Chân Phật Tông. 

Đạo gia Thần Tiên phái coi trọng nhất là chú Kim quang, chú Kim quang như sau: "*Thiên địa huyền tông, vạn khí chi căn, sắc thu vạn kiếp, chứng ngô thần thông, tam giới nội ngoại, vi ngô độc tôn, thể hữu kim quang, phúc hộ ngô thân, thị chi vật kiến, thính chi vật văn, bao la thiên địa, dưỡng dục quần sinh, trì tụng nhất biến, thân hữu quang minh, tam giới thị vệ, ngũ đế ti nghênh, vạn thần triều lễ, dịch sứ lôi đình, quỷ yêu tang đảm, tinh quái vong hình, nội hữu phích lịch, lôi thần ẩn danh, động cấp biến triệt, ngũ khí huy triệt, kim quang tốc hiện, phúc hộ chân nhân*." Chú này có thể phối hợp với đại pháp Bí đinh giáp trong Kinh Dịch tu thông minh thể.

Thứ ba, bái sám. Bái sám thông thường của Phật giáo cũng dùng để tiêu nghiệp chướng, bái sám có thể dùng thủy sám, Lương Hoàng sám, nhập minh xuất khổ tiêu nghiệp chướng. Bái sám nên tự mình bái thì có hiệu quả nhất, có thể lập nên ba bài vị bằng giấy hoặc gỗ, bài vị một viết "tiền thế lũy kiếp nghiệp chướng oan quỷ bái sám hóa viên linh vị", bài vị hai viết "kim thế thân khẩu ý tam nghiệp tịnh hóa viên linh vị", bài vị ba viết "nhất thiết hữu tình phổ hóa công đức viên linh vị". Ba bài vị này dùng ba bộ thủy sám pháp để hóa, phổ thí tất cả hữu tình, tiêu trừ nhân ác quả ác của bản thân. Bái sám tối kị mời ni cô hòa thượng bình thường, những người này trong miệng nỉ non một hồi, vừa hát vừa niệm, tâm và khẩu không thống nhất, giống như diễn kịch vậy, cho nên tôi khởi xướng là tự mình niệm, chữ nào không hiểu, phát âm không đúng thì không cần căng thẳng, bởi vì một chữ "thành tâm" là quan trọng nhất, có tâm mà vô âm thì cũng không cần căng thẳng, huống hồ nếu là sám hối thật sự, Thần cõi trời sẽ sớm biết thôi!

Ba phương pháp tiêu nghiệp chướng này mặc dù đơn giản, nhưng phải duy trì được bền lâu cũng là rất khó. Hai phái Hiển Mật đều phải tu trì, không thể thiên vị, phương pháp này không phải là phương pháp của Tịnh độ tông, cũng không phải là phương pháp của Mật tông, mà là bất kì tông phái nào đều phải làm như vậy. Cần biết rằng Đạo gia Phật gia dù phân thành rất nhiều tông phái, nhưng kết quả vẫn là trăm sông đổ về một biển, một pháp môn, rất nhiều con đường đi đến, tâm vô ngại đà-la-ni pháp là bí pháp chí cao vô thượng của Lư Thắng Ngạn tôi.


### 37. Siêu năng lực thiên nhãn thông


Thiên nhãn thông có thể nhìn sự vật trên trời dưới đất. Người có thiên nhãn, trên có thể nhìn thấy thiên cung, dưới có thể thị sát địa phủ, con mắt này không phải là mắt phàm, mà là một dạng linh nhãn. Linh nhãn này chính là một trong những thần thông bí mật, vượt quá năng lực bình thường, con người phàm phu không biết chuyện này, cho rằng là vô căn cứ, thật ra siêu năng lực này là một dạng sức mạnh xuất vi nhập mật thần kì nhất. Ánh sáng của thiên nhãn đến từ linh quang vượt lên trên ánh sáng bình thường, trở thành một dạng xạ tuyến, não của con người giống như điện đài, phản xạ lên mắt, tự nhiên tạo nên siêu năng lực đặc biệt - thiên nhãn thông.

Nhìn chung mà nói, thiên nhãn thông có thể nhìn khí, nhìn khí chính là pháp huyền không, một trong những pháp quyết của Cửu Thiên Huyền Nữ. Sự quan sát của pháp huyền không chỉ cần phóng mắt vào biển mây, vận dụng bí quyết huyền không, có thể quan sát thiên văn địa lí, lành dữ họa phúc của con người cũng có thể liếc qua một cái là biết hết. Tuy nhiên, pháp huyền không suy cho cùng cũng chỉ là công phu bước đầu của thiên nhãn thông mà thôi, người có thiên nhãn thông có thể thấy Thần thấy quỷ, có thể nhìn được 36 cung thiên cang, có thể nhìn thấy 72 tầng địa sát, muốn xem một thiên cung nào đó, tự nhiên các thiên cung khác sẽ biến mất, thành tựu cao nhất là có thể tận mắt thấy Phật quốc và các Bồ Tát, Thiên Tiên Kim tiên, Đại La Thiên Cung Thần Tiên có thể trở thành quyến thuộc bạn bè thân thích. Tu được thiên nhãn thông cũng có thể nói là ngày chứng đạo không còn xa nữa, có thể kì vọng thành Phật thành Tiên, thần thông này không thể coi thường.

Thiên nhãn thông không phải là con mắt âm dương, mắt âm dương phần lớn là do trời sinh, thành tựu mắt âm dương có thể nhìn thấy Âm Thần, nhìn thấy ma quỷ, nhìn thấy Địa Tiên. Mắt âm dương được hình thành một cách tự nhiên do may mắn bẩm sinh, đó là lí do mà tần số linh tính của nó tương đối gần với không gian bốn chiều của linh khí. Nếu tần số phù hợp thì hoàn toàn rõ ràng vô cùng, nếu có sai lệch tần số thì sẽ mờ nhạt. Trình độ của mắt âm dương có nông sâu khác nhau, người có con mắt âm dương ở nước ta tôi có quen hai người. Nhìn chung mà nói không hề có sai sót, người này có thể phân biệt được chất liệu của quần áo mà các âm linh mặc, có thể thấy đó là mắt âm dương ở trình độ cao, có một số con mắt âm dương chỉ có thể nhìn thấy một hình thái, nếu  nghiêm túc tu linh có thể đạt đến trình độ nhìn được rõ rệt hoàn toàn, nhưng đến lúc ấy cũng đừng sợ hãi, nhìn quá rõ ràng thật sự cũng khiến con người thấy sợ.

Thiên nhãn thông thật sự có khác mắt âm dương, bởi vì mắt âm dương không nhìn được thiên cung, không có cách nào nhìn thấu và không có cách nào thâm nhập những bí mật thâm sâu. Để có được thiên nhãn thông là rất khó, sự xuất hiện linh quang của nó cũng có sự phân biệt lớn nhỏ, lớn thì toàn thân tỏa sáng bao trùm cả bốn phương trên dưới trời đất vũ trụ, nhỏ thì nhìn thấy thân thể tồn tại ở đâu, nếu đầu phát sáng có thể nhìn thấy thiên đường, nếu thủy luân hiện ánh sáng thì chỉ có thể nhìn được âm giới tối tăm, nếu không luân tỏa sáng thì có thể tùy ý tự quan sát khắp mọi nơi. Thiên nhãn thông được tạo ra bởi linh vận chuyển đến mắt, linh vận đến mắt cần có thể hóa quang, nếu hóa quang thì sẽ nhìn được quỷ thần, bởi vì quỷ thần chính là một dạng quang khí, nhanh như điện, duy có sự vận động của linh hồn mới có thể dựa vào công lực này để mà đạt được thành tựu siêu năng lực.

Trình tự tu luyện thiên nhãn thông như sau:

Thứ nhất, ma kính pháp. Chúng ta biết rằng con người sống tại thế gian, nghiệp chướng vô cùng nặng, muốn hiện ánh sáng thì nhất thiết phải lau gương, lau gương là để khiến cho tâm gương sáng lên, như mặt nước hồ tĩnh lặng không có sóng, lọc qua lọc lại hết bụi trần, vùi sâu dưới đáy hồ. Nếu mặt hồ bình lặng thì cũng giống như tâm gương, tự nhiên có thể tỏa sáng, ánh sáng phát ra, tự có thể hiển hiện vạn vật. Pháp này nói ra thì dễ, nhưng làm thì cũng khó khăn trùng trùng. Công phu lau gương hoàn toàn dựa vào tĩnh tọa để lọc bụi, hơn nữa còn phải tu công đức, tăng phúc huệ để cầu ánh sáng cát tường, ánh sáng cát tường chính là nhật nguyệt tinh quang. Công phu tĩnh tọa lớn thì ánh sáng nhật nguyệt sâu, nội ngoại đều có, thành tựu rất nhanh. Nếu lau gương tới khi ánh sáng xuất hiện thì Phật tính sẽ xuất hiện, một hạt bụi cũng không nhiễm, có thể đạt được thiên nhãn thông.

Thứ hai, kim luân hiện quang pháp. Nhìn chung, linh hồn xuất hiện từ hải để luân, nếu nhân duyên rất tốt thì một lúc là xông đến kim luân, có thể vẽ nên một vòng ánh sáng màu vàng kim, vòng ánh sáng vàng kim vẽ trên giấy trắng, ở trên viết bốn chữ "ma phạt đặc đậu", viết "ma phạt đặc đậu" từ trái qua phải, treo tờ giấy trắng lơ lửng ở không trung hoặc dán lên tường, hai mắt nhìn chăm chú vào vòng ánh sáng, sau đó chuyển động nhãn cầu, niệm nhanh bốn chữ "ma phạt đặc đậu", lúc này đưa linh từ hải để luân lên đến kim luân, nếu phá được thổ luân nhập thẳng vào trong kim luân thì chắc chắn có thể nhìn thấy vòng vàng phóng quang, có Hàng Phục Tứ Ma Đại Lực Kim Cang Hỏa Luân Bồ Tát xuất hiện. Nếu rèn luyện như vậy lâu ngày, có thể từ trong vòng ánh sáng của kim luân nhìn thấy người việc sự vật mà mình muốn thấy, có thể nhìn thấy bản đồ thiên cung, nhìn thấy đường lối tu đạo, nhìn thấy âm phủ người âm, nhanh chóng có thể vận dụng siêu giác của linh hồn mà có được thiên nhãn thông.

Thứ ba, Phật tính hiện quang pháp. Con người bình thường có quan niệm rằng thiên nhãn thông siêu năng lực có thể gặp mà không thể cầu, đặt biệt là trong Phật môn, cho rằng thiên nhãn thông chính là sự xuất hiện của Phật tính, tự nhiên mà đắc, cầu cũng vô ích. Trên thực tế, cách nói này cũng đúng, điều này là tự nhiên mà có, không phải cầu mà có, nếu Phật tính phóng quang thì rốt cục sẽ có được thần thông thôi! Phật tính phải thế nào mới hiện ánh sáng, tôi vẫn cho rằng phương pháp Mật tông Đại Thủ Ấn và Đại Viên Mãn là một con đường tắt, Mật tông Đại Thủ Ấn và Đại Viên Mãn cộng thêm tam quán đảnh, phối hợp với sự vận động của linh, đây đúng là như hổ thêm cánh, ngựa thần lướt gió tung mây, Phật quả sớm chứng, thiên nhãn sớm thông. Phương pháp thần bí của Linh Tông này, sự vận chuyển của linh nhãn không phải là điều mà Hiển giáo có thể lĩnh hội được, càng không phải là điều mà các tín đồ Cơ Đốc hay Thiên Chúa, các thiên đường giáo phái khác có thể tin truyền.

Sau khi khởi linh, dựa vào niệm lực siêu nhiên của sức mạnh tinh thần, có thể khiến linh hồn của bản thân hóa quang, thành thể ánh sáng, ánh sáng này nếu đầy khắp toàn thân, có bản lĩnh thông thiên nhập địa, dùng linh lực của mắt để nhìn thiên thượng, thiên thượng có ánh sáng xuất hiện, nhìn đất, dưới đất ánh sáng xung lên, thiên cung địa phủ đều không lọt khỏi thiên nhãn thông của chính mình, thành Phật thành Tiên, hoàn toàn tự do, tự nhiên có thể kì vọng quả vị. Tác giả cho rằng nếu đắc được thiên nhãn thông, các pháp thần thông khác chẳng qua cũng chỉ là tài vặt như sâu bọ mà thôi.


### 38. Siêu năng lực thiên nhĩ thông


Còn nhớ lần đầu tiên tôi nghe được âm thanh của linh, tôi từng lúng túng không biết phải làm sao, âm thanh ấy dường như rất xa, cũng dường như rất gần, lại dường như đến từ nội tâm của chính mình. Âm thanh ấy giống như từ trong không trung truyền xuống, âm thanh rất nhỏ và cao, giống như âm thanh của điện thoại đường dài trong ống nghe điện thoại vậy. Đối mặt với cảm giác đột ngột ban đầu ấy, tôi thực sự không có cách nào miêu tả được tâm trạng của mình khi ấy, vừa sợ vừa mừng, vừa kì quái vừa kinh hoảng. Nhĩ thông của tôi đến vô cùng đột ngột, giống như tai bị nứt ra vậy, sau đó sinh ra tiếng điện thoại u u, cảm giác của tôi chính là như thế, xin thứ lỗi vì tôi không thể nói dối, thật sự chính là rất bình thường như vậy thôi.

Cái gọi là thiên nhĩ thông chính là có thể nghe thấy lời của quỷ thần, có thể nghe thấy những âm thanh của Thần Tiên từ hư không truyền xuống, những âm thanh này thiên kì bách quái, truyền đến một dạng ngôn ngữ mà người có thiên nhĩ thông có thể nghe hiểu được. Thiên nhĩ thông không những có thể nghe được ngôn ngữ của Thần mà còn có thể nghe được ngôn ngữ của Phật, âm thanh của bốn phương trên dưới khi suy nghĩ thật kĩ lưỡng tỉ mỉ đều có thể nghe hiểu được. Có người nói đây là thiên lí nhĩ, đúng vậy, nó chính là thiên lí nhĩ. So với thiên nhãn thông thì thiên nhĩ thông tương đối dễ tu thành công hơn, thiên nhĩ thông cũng có thể xem như là sự truyền đi của tần số rung động của lực ý thức. Cái mà nó truyền đi không phải là ánh sáng, cũng không phải là nhiệt, mà là năng lượng âm thanh, năng lượng siêu âm.

Thiên nhĩ thông chân chính không phải là pháp nhĩ báo, thiên nhĩ thông gần như là thần thông thù thắng của pháp vô vi thượng thừa, còn pháp nhĩ báo là một trong những pháp thuật hữu vi hạ thừa mà thôi. Nhìn chung, pháp nhĩ báo có pháp linh đồng nhĩ báo, pháp quỷ ngữ nhĩ báo, pháp lục đinh nhĩ báo, pháp thiên lí nhĩ báo, pháp Cửu Thiên Huyền Nữ nhĩ báo, pháp tam đài nhĩ báo, pháp Thần tướng nhĩ báo, v.v… Tu luyện pháp nhĩ báo tương đối đơn giản, đại bộ phận đều dùng cách truy thần, minh nhĩ, khai hầu, đính minh - thuộc về pháp nhĩ báo Thần tướng, rồi còn phương pháp truy hồn, hiện hình, thu hồn, khai hầu - là pháp nhĩ báo quỷ ngữ và pháp nhĩ báo linh đồng, ngoài ra còn dùng phương pháp súc địa, niệm thức, kết duyên, khai họng - là phương pháp của pháp nhĩ báo thiên lí. Những pháp này nhìn chung mà nói thì đại thể là giống nhau, chúng có trợ giúp cho việc tu đạo, nhưng không phải là thiên nhĩ thông căn bản. Thiên nhĩ thông siêu năng lực là một trong những đại thần thông bí truyền của Phật gia, hoàn toàn là niệm lực nhập vào hư không, là đại công phu trói mọi ý niệm thành một. Pháp nhĩ báo thông thường với ngôn ngữ của quỷ thần không thể so sánh được. Ngôn ngữ của nhĩ báo quỷ thần không thể thông khắp đến pháp giới, chỉ có thể tương thông với một vài linh quỷ mà thôi, năng lực của nó dù cao hơn so với người bình thường nhưng nếu so sánh với Phật Bồ Tát nhất tâm bất động thì còn kém rất xa. Pháp nhĩ báo không phải là thiên nhĩ thông, tôi nhận định như vậy.

Còn nhớ vị giáo chủ đầu tiên của phái Côn Luân Đạo gia là tiên sinh Lưu Bồi Trung sau khi mọc cánh thành Tiên, môn đồ của Lưu Bồi Trung ở miền trung đến tìm tôi, họ chưa từng nói ra lai lịch, thế nhưng Lưu Bồi Trung chân nhân đã từ không trung truyền ngôn ngữ xuống rằng: "Côn Tiên đến đi không tung tích, Côn tức đạo sơn chín ngọn cao, Mão Kim đạo trưởng ai chẳng biết, hóa thành gió Tiên Tử Kim Tiên." Cả đời tôi chưa từng gặp Lưu Bồi Trung, nhưng cặp ria mép của Lưu Bồi Trung thì tôi nhìn thấy rất rõ ràng, tôi hỏi: "Đạo nhân là ai?" Từ không trung, ngài ấy cưỡi một đám mây trắng từ từ hạ xuống nói: "Mão Kim đạo trưởng, bồi dưỡng công minh." Lời này truyền thông qua tôi, các môn đồ của Lưu Bồi Trung hết sức sửng sốt, người nào người nấy chắp tay nghênh đón sư phụ đã hạ cố đến chơi, Lưu Bồi Trung nói: "Trong thân người có một viên ngọc, trên trời cũng có một viên ngọc, dưới đất cũng có một viên ngọc, viên ngọc này cũng chính là tâm cảnh vô hình, đem viên ngọc của nhân tâm hợp với ngọc của thiên tâm thì gọi là trời người hợp nhất. Đem nhân ngọc, địa ngọc, thiên ngọc ba thứ hợp lại chính là tam nguyên, tiểu tam nguyên là Nhân đạo, đại tam nguyên là Thiên đạo, chứng thông tam nguyên tức là đắc đạo, chính là Thần Tiên. Thế còn viên ngọc trên mặt đất giấu ở chỗ nào? Nếu tìm được cũng xem như là Thần Tiên ở lục địa, có thể nghìn vạn năm làm Chuyển Luân Pháp Vương Thiên Tôn, sống thọ cùng trời đất. Còn như Lư Thắng Ngạn, khởi linh mà ông ấy tu có nhân duyên lớn với môn đạo công của ta, Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh là chân khí của cao nhân tiền bối thuở sơ khai hỗn độn, các môn sinh không được coi thường. Ta trở về núi đạo Côn Luân, các con hãy tự thu xếp ổn thỏa." Lưu Bồi Trung đạo trưởng cưỡi mây trắng rời đi, các học trò của ngài ấy nghe tôi truyền ngôn ngữ đến, nghe đến ngây cả người, có một người trong số đó là Lại Minh Cát rất thành kính tín đạo, đạo căn thâm hậu, cũng được Lưu Bồi Trung khích lệ. Sự việc này xảy ra vào khoảng năm Dân Quốc 64 (1975), tôi đặc biệt ghi lại.

Do vậy có thể chứng minh rằng, thiên nhĩ thông không phải là pháp nhĩ báo, muốn tu thiên nhĩ thông, tôi thuật lại tỉ mỉ như sau:

Thứ nhất, trước tiên phải đóng cửa, không nghe thấy những âm thanh hỗn tạp ở bên ngoài, trì một câu chú: "*Nhị hầu giao thái, thần tư triệt thanh, thiên địa hợp ngã, như ý thần thông*." Sau dó lại trì: "*Ngọc âm nhiếp tử khí, càn la hằng na cang, kim đồng chuyển ngữ lai, nhất tâm thái cực tại, linh thông bát phương thần*."  Thuật pháp thiên nhĩ thông có nhân duyên bẩm sinh rất sâu, cưỡng cầu thường không thể có được, thường xuyên tu luyện pháp này, nhất định có thể đạt đến trình độ thiên nhĩ thông ngôn ngữ tương thông, nếu trong một đời tu chưa đắc, cũng có thể kiếp sau lại có nhân duyên với thiên nhĩ thông. Nhìn chung mà nói thì Phật tính tâm hương, pháp nhĩ thông then chốt huyền bí này đều là một trong những đại pháp thần thông bí mật của Chư Phật Như Lai. Có người tu thiên nhĩ thông, thiên nhĩ thông không thành nhưng lại đắc pháp nhĩ báo, trường hợp này cũng có, còn như đào liễu quỷ thần thông cũng là một trong những pháp nhĩ báo. Thiên nhĩ thông không dễ mà có được, nếu có người muốn tu pháp nhĩ báo, xin đọc cuốn sách "Siêu giác của linh hồn".

Thứ hai, vận linh xuất khỏi hải để luân, tập trung suy nghĩ linh từ trong lỗ tai ra vào, lúc này tai phải chuyển động vo ve giống như âm thanh của con ong vậy, trói tâm lại để lĩnh hội được âm thanh này, dùng pháp tĩnh tọa để khiến linh của bản thân đi phụng thỉnh linh ở ngoài thân, dùng tác dụng thấm hút để nhập vào trong tai, cần niệm chú ngữ là: "*Kim vi tịnh nhất thiết, pháp nhập mật bát phương, kim luân xuất hải luân, phong luân nhĩ thần thông*." Chú ngữ này không thể tìm thấy trong bất kì sách cổ nào, cũng không thể tìm thấy trong bất kì văn bản chú ngữ nào. Trong chú Đại Bi có hai câu là ý gốc của câu này, độc giả hãy suy nghĩ kĩ càng, suy nghĩ tỉ mỉ, công phu này phải cần công hành tĩnh tu nghìn ngày, không được bỏ dở một ngày nào.

Thần thông thiên nhĩ, bí mật Như Lai, pháp môn hợp âm, nhờ chăm suy ngẫm. Mấy câu này chính là cách tu pháp.


### 39. Siêu năng lực tha tâm thông


Tôi nói tha tâm thông là một dạng chức năng của tâm thần, cái này chính là linh hồn vận chuyển đến tâm luân, khuếch trương tâm luân đến người khác, sản sinh ra một kiểu hiện tượng cảm thông. Tôi cho rằng linh hồn của con người là một dạng vật chất bất tử siêu năng lực, là nhân tử của linh. Bên trong nhục thể nếu linh hồn tĩnh tại đứng im thì sẽ có hiện tượng xuất du. Linh hồn rong chơi ở bên ngoài, có thể chọn người sắp chết để mượn xác hoàn hồn, cũng có thể nhập vào trong bụng của phụ nữ mang thai, biến thành một sinh mệnh mới. Nhìn chung thì đây là ý nghĩa đầu thai tái sinh. Linh tính của thần minh bình thường có thể mượn người có linh thể tương đối nặng để chiếm thân, nhập khiếu để mở miệng nói chuyện, và thế là sản sinh ra những kê đồng và người trung gian. Chức năng của linh hồn, trong bí mật của tâm luân, chính là ý nghĩa nhập vào thân người khác, vì vậy có thể biết được tâm tư của người khác, không cần người đó mở miệng ra nói.

Tha tâm thông là một trong những pháp nhập vào thân người khác của thuật yoga, sự vận chuyển của nó dựa vào "niệm trí thần thông lực", khi phát huy niệm lực của bản thân đến mức cực điểm thì lúc đó chỉ nghĩ về một người, sức mạnh ý chí tập trung lên thân người đó, vận chuyển linh hồn đến biển ý nghĩ của ý chí, ra khỏi thần khiếu, chiếu ảnh lên trên tâm luân của người kia, sau khi dừng lại một khoảng thời gian thì lại thu linh hồn về, lúc này trong tư duy của mình giống như kiểu chiếu ảnh khiến xuất hiện tư duy của người khác, từ đây có thể hiểu rõ tâm tư của người này đang nghĩ đến chuyện gì. Các hoạt động này nói ra thì dài dòng, kì thực chúng chỉ diễn ra trong một sát-na mà thôi. Tôi cảm thấy tha tâm thông đôi khi không cần phải nghĩ về một người nào đó, mà người này sẽ âm thầm hiện lên ở trong tâm luân, chúng ta có thể biết một cách rất rõ ràng người đó đang nghĩ gì, bây giờ người này đang muốn làm cái gì.

Đại Thừa Khởi Tín Luận có nói: "Cái gọi là tâm sinh diệt, là do dựa vào Như Lai tạng mà có tâm sinh diệt, cái gọi là không sinh không diệt và sinh diệt hòa hợp, không phải là một nhưng cũng không khác biệt, được gọi là A-lại-da-thức. Thức này có hai nghĩa, có thể hấp thu mọi pháp và sinh mọi pháp, nên mới gọi là hai, một cái là giác nghĩa, một cái là bất giác nghĩa. Cái gọi là giác nghĩa nói rằng tâm thể lìa niệm, người lìa niệm tướng thì ngang với hư không giới, có ở khắp mọi nơi, pháp giới nhất tướng cũng tức là pháp thân Như Lai bình đẳng." Kẻ hèn này cho rằng, cái gọi là "giác nghĩa" chính là Phật tính như như bất động, lấy chính mình làm trung tâm thành một tâm luân phóng quang, dựa vào tâm luân bất động phóng quang để mà quan sát tất cả hữu tình, thì gọi là giác nghĩa. Giác nghĩa cũng chính là công năng của tâm thức, từ đây trong tâm người khác nghĩ gì cũng có thể nhận ra, đây chính là hàm nghĩa thực tại của tha tâm thông.

Trong kinh Mật Nghiêm nói: "Như nước biển bị gió thổi, sóng không thể chấm dứt. Nơi có gió thổi đến thì sóng ý thức mới sinh ra. Như nước biển trong gió, như đất chẳng khác biệt. Ngăn che vật sai biệt, tàng thức là như thế. Nội tâm hiện cảnh vẫn là do tự mình." Đoạn kinh văn này nói đến vấn đề tâm cảnh, sự sản sinh tha tâm thông chính là như thế, cũng là chức năng của tâm thức. Nhưng mà năng lực của tha tâm thông là chức năng tâm luân phóng quang chiếu rọi người khác, theo lí mà nói thì chắc chắn cần phối hợp với sự phóng xạ và thu hồi của nhân tử linh, cái này cũng gần tương tự như đạo lí truyền hình chiếu phim. Tâm thần của tha tâm thông quan trọng nhất là như như bất động, bởi vì như như như bất động mới có thể phóng quang, nếu có suy nghĩ hỗn tạp khác, lực tinh thần không đủ tập trung, tư duy hiện lên sẽ có tướng hỗn tạp, như thế cũng không thể thuần và rõ ràng được. Sức mạnh truyền bá của tâm linh có thể sản sinh ra một dạng lực cảm ứng của siêu sóng điện. Có một số người trong lúc nguy cấp sẽ phóng ra một dạng siêu sóng điện, khiến cho người thân ở phương xa đột ngột có cảm nhận, dạng năng lực này ẩn rất sâu, nếu người tu linh tu đạo có thể dựa theo pháp mà tu luyện khả năng phóng quang và khuếch trương của tâm luân của mình thì chắc chắn đắc pháp lực tha tâm thông là điều không phải nghi ngờ. Tu luyện tha tâm thông tối kị thức thần quấy phá, thức thần chính là thần của âm ma (trung ấm).

Có một đại hòa thượng xuất gia ở chùa Hải Tạng từ phương xa tìm đến hàn xá của tôi, hỏi tôi về pháp tu tha tâm thông, nay tôi trích lục những gì chúng tôi đã nói chuyện như sau:

"Thắng Ngạn tiên sinh: thần lực của tha tâm thông đến cảnh giới nào thì có thể đắc được?"
"Cảnh giới của tha tâm thông cực kì ảo điệu, đó là sự phóng quang của Phật tính chân như, đến cảnh giới tha tâm thông thì chính là ngũ uẩn đều Không rồi, sắc tức thị Không, Không tức thị sắc, nếu sắc thân của nghiệp báo đã loại bỏ được thì tha tâm thông tự nhiên sẽ hiển hiện, cảnh giới này như A La Hán, vì ở khắp hư không nên đắc được tha tâm thông." - Tôi trả lời.
"Tha tâm thông có phải là sự phát huy của nhất tâm tam quán không?" - Hòa thượng hỏi.
"Hỏi như vậy đúng lắm. Tha tâm thông có thể nói là quán tâm hành, từ trong tam trí nhất tâm mà đắc chứng, cũng tức là thần thông trí lực, nếu có thể quán chiếu, tự tính tự ở trong đó, cho nên tu pháp quán chiếu rất quan trọng, quán chiếu này là bát nhã - trí tuệ rất sâu, cũng tức là lực trí huệ thậm thâm, có thể nhập vào trong pháp luân viên minh, không có vọng tưởng đảo điên, là thực trí bồ đề. Cho nên, tâm chú của Tâm Kinh là: "Gate, Gate, Pāragate, Pārasaṃgate, Bodhi Svāhā." Quán chiếu cố định tại hư không rất quan trọng."

"Tu pháp tha tâm thông như thế nào?"
"Tu duy tâm thức quán, niệm niệm bất sinh, tâm tâm vô sở [không sinh ra, không khởi lên bất kì một suy nghĩ nào], lục căn xa xăm tĩnh lặng, tiêu trừ mọi thức, đắc chân như thực quán. Tiếp đó, dùng mật tu Kim Cương Thừa Đại Thủ Ấn, trước tiên khiến tâm luân phóng quang, tâm luân phóng quang là một trong những bí mật của thân, đây cũng chính là chỗ khác với Hiển giáo. Nếu tu duy tâm thức quán, lại cộng thêm tâm luân phóng quang, thì rất dễ đắc tha tâm thông."

"Thắng Ngạn tiên sinh, ngài cho rằng giác quan thứ sáu, cảm ứng tâm điện, suy tưởng xa xăm siêu giác và tha tâm thông có giống nhau không?"
"Trên thực tế, giác quan thứ sáu và cảm ứng tâm điện hay suy tưởng xa xăm siêu giác đều là một dạng dự cảm, người bình thường đều có linh tính, nhưng không nhất định là chuẩn xác, đây là vấn đề của tâm trí. Ngoài ra, dự cảm có tính bộc phát, đây là sự tiếp nhận đột ngột một cảm ứng khác của thần kinh cảm giác, những hiện tượng này rất giống với linh cảm bất chợt, nhưng không phải là tha tâm thông. Tha tâm thông là linh tính phóng quang tại tâm luân, vẫn là thần thông thượng thừa mà người tu đạo mới có, khác với linh quang có tính bộc phát."


### 40. Siêu năng lực túc mệnh thông


Hai tông phái Thiền - Mật nói nhập thiền và nhập mật, tức hoàn toàn không có một vật nào có thể chạm vào, phần lớn thứ mà người tu đạo tìm thấy là trống rỗng, là hư vô, là nơi không dùng lực. Kì thực thật sự là không có chỗ dùng lực sao? Không phải, không có ai nói ra, hôm nay một mình tôi nói ra, Lư Thắng Ngạn từ xưa đến nay chỉ thẳng ra một chữ "linh". Nếu không có linh, hai phái Thiền - Mật sao có thể chân không diệu hữu chứ! Một chữ "hữu" này chính là chỉ "linh tính", Phật giáo chỉ nói về Phật tính, thật ra Phật tính chính là linh tính, căn bản không có sự phân biệt nào. Linh hồn là sắc thân, bởi vì linh tử của linh hồn có thể phóng quang nên mới có thể thành tựu sắc thân pháp thân hợp nhất của Mật tông Đại Thủ Ấn Đại Viên Mãn, rồi trực tiếp siêu vượt Phật cảnh. Bởi vì nhân tử của linh hồn có thể phóng quang thành thể huyễn và sáng (minh thể) nên Thiền tông mới có từng lớp giải thoát, cho nên nếu nói không có siêu giác của linh hồn thì Mật tông và Thiền tông đều hoàn toàn đánh mất chỗ dựa để tiếp tục duy trì rồi. Bởi vậy, Lư Thắng Ngạn trực chỉ Linh tông, chính là thế chân vạc, Thiền - Mật biết có linh, nhưng lại không thể nói ra, thế thì để một mình tôi nói ra vậy.

Túc mệnh thông là một trong sáu đại thần thông, cách nói đơn giản là kí ức của kiếp trước kiếp sau tái hiện, có thể biết được số mệnh nhiều kiếp, ví dụ như những câu chuyện thọ sinh luẩn quẩn trong trăm nghìn vạn kiếp. Thành tựu túc mệnh thông có thể nói là quả cực đỉnh của Tiểu thừa, diệt tận phiền não không sót lại gì, chân tính phát lộ tự nhiên. Và trong sự hồi phục của linh tính, tôi cho rằng đó là linh hồn xuất khỏi hải để luân, tiến nhập vào thổ luân, sau đó nhập vào khí luân, nhờ khí luân giải thoát lần lượt từng lớp, trong cấp độ phản tỉnh đã phát hiện ra vành đai kí ức tiền kiếp, vành đai kí ức tiền kiếp này giấu trong tầng ý thức sâu nhất trong não của chúng ta. Nhìn chung, sự xuất hiện túc mệnh có nông sâu khác nhau, quỹ đạo luân hồi giống như vòng tuổi của cây, là hết lớp này đến lớp khác, sức mạnh thần thông cũng có sự nông sâu, khác nhau như thế. Cho nên, người tu đạo biết túc mệnh kiếp trước của mình cũng có sự khác nhau tương tự, có người chỉ biết một đời trước và sau, có người biết ba đời, có người biết trăm đời, nghìn đời, vạn đời, không giống nhau. Đương nhiên đạt đến cảnh giới cao nhất thì chính là không có gì là không biết, túc mệnh thông đến mức không có gì là không biết thì đó chính là quán vô ngại của Phật rồi.

Kẻ hèn này cho rằng Phần chứng tức Phật mà pháp sư Thích Ấn Quang đàm luận có liên quan đến thần thông túc mệnh. Pháp sư Ấn Quang nói: "Sau khi có được thập tín, phá bỏ một phần vô minh, chứng một phần công đức, tức nhập sơ trụ và chứng pháp thân. Vì làm pháp thân đại sĩ, từ sơ trụ đến đẳng giác, tổng cộng có 41 vị, từng cái đều phá một phần vô minh, chứng một phần công đức. Vì thế gọi là Phần chứng tức Phật. Lấy vô minh phân thành 42 phẩm, sơ trụ phá một phần, cho đến thập trụ thì phá mười phần kinh qua thập hành, thập hồi hướng, thập địa, cho đến đẳng giác, tức là phá được 41 phần rồi! Sơ trụ, tức có thể ở tại thế giới vô Phật, hiện thân làm Phật, rồi lại tùy loài mà hiện thân để độ thoát chúng sinh, đạo lực thần thông ấy bất khả tư nghì. Đây chính là: mở rộng tâm khai ngộ, tất cả đều thông suốt, căn nguyên còn chưa tận, thường thấy ánh trăng mờ." Tác giả biết pháp thân đại sĩ từ sơ trụ đến đẳng giác là hiện tượng giải thoát theo trình tự lớp lang, cũng chính là túc mệnh thông, phá một phần vô minh, thấy được túc mệnh của một lớp khác cũng thế, người mới đắc túc mệnh thông, mặc dù thi thoảng tâm có thể khai ngộ, ngay tức thời có hiện tượng cảm thông, nhưng ánh trăng còn mờ mịt, niệm đầu hãy còn chưa tới!

Hiển giáo nói từ định sinh huệ, từ huệ phá vô minh, thật ra ý nghĩa thật sự nằm ở chỗ từ linh sinh trí, nhờ ánh sáng trí huệ mà phá vô minh, ở đây là sau khi linh hồn sinh ra ánh sáng trí huệ, dùng linh quang bảo kính của mình chiếu đến tầng kí ức tiền kiếp vĩnh viễn tối tăm, sự chiếu xạ ánh sáng này giống như ánh chớp đột ngột lóe lên từ không trung, từ không trung hoa rơi rụng xuống, giống như pháo hoa vậy. Nói chung đến được cảnh giới này rồi thì có thể nói là tri thiên mệnh rồi, tác giả biết rõ rằng trong số các Thiên Thần có một vị là Trí Quang Thiên Thần, chính là nhờ thần thông túc mệnh mà tự làm thành một thiên giới, có thể nhập vào trong túc mệnh của mình để nhớ lại tiền kiếp của mình, ôn lại tiền kiếp của mình, năng lực này cũng chỉ có Trí Quang Thiên Thần mới có thể làm được. Hôm nay tôi chỉ dẫn cho những người khởi linh phải coi trọng linh tính trân quý của mình, đừng muốn linh tính sống lại xong rồi lại buông bỏ công phu này, cần biết linh hồn nhơ bẩn này sau khi được thanh lọc mọi ô uế ắt có thể phóng quang, nếu xuất hiện quang minh, những thứ nhơ bẩn sẽ được loại bỏ. Phương pháp để tiêu trừ những thứ nhơ bẩn của linh hồn đã được nói đến trong chương trước của cuốn sách này, xin thứ lỗi vì tôi không nói nhiều nữa. Cần dẫn điểm ánh sáng giống như ngọn nến này vào trong tầng của khí luân, tất sẽ biết được ngọn nguồn gốc gác của bản thân, như thế là có thể đắc chứng được túc mệnh thông rồi.

Từ vấn đề túc mệnh khiến tôi liên tưởng đến kiếp này của mình, nói thật lòng, sự xuất hiện của tôi tại kiếp này chính là nhân đã trồng từ kiếp trước, có nhân tất có quả, nó gần giống như quỹ đạo của kiếp trước đã được mở sẵn. Tôi xuyên suốt ba giáo lí, thân vào đạo địa ngục, đến nay đã nhiều kiếp luân hồi, những ác nghiệp mà tôi mang theo rất nhiều, nếu muốn đứng độc lập theo cách riêng biệt, buộc bản thân phải khổ tu nhiều năm mới có thể đạt được điều gì đó. Bởi vì nhân quả kiếp trước của bản thân sẽ tác động đến kiếp này, trên thực tế, hiện tại những hành vi việc làm của tôi đều đã được sắp xếp hết rồi chỉ đợi tôi đến mà làm thôi, ý của thượng thiên muốn tôi đi về đông thì tôi sẽ đi về đông, muốn tôi đi về tây thì tôi sẽ đi về tây, chẳng ngờ tôi vật lộn nửa đời người, kết quả là lại quay về con đường cũ, đây đúng là số mệnh mà! Số mệnh, bởi vì nguyện lực của tôi khiến tôi đời này kiếp này phải làm lụng vất vả đến mức choáng váng đầu óc, đương nhiên, tôi hiểu rằng thiên mệnh là như thế rồi, bằng không, tôi cho rằng một người có thể thanh tịnh tu hành thì tốt hơn bất kì điều gì, ví dụ như Thanh Chân Đạo Trưởng, một vị ẩn cư tại núi Liên Đầu, cho đến tận khi ngài viên tịch mọc cánh thành Tiên nhưng con người trên đời vẫn không hề biết có một người như vậy!

Tại đây, tôi nói một câu rất nghiêm túc, tôi hi vọng người tu hành đừng cho rằng tu hành là chuyện một năm hai năm, cũng không phải là chuyện mười năm hai mươi năm, mà là việc của cả một đời. Đương nhiên chúng ta không vứt bỏ năng lực kiếm sống của mình, vào những thời gian rảnh rỗi thì hãy tinh tấn tu trì, điều này thật sự rất quan trọng đó, cách làm nhập thế tục lại vừa thoát tục thì nên như vậy. Có rất nhiều người đến chỗ tôi, mở miệng ra là nói muốn tu thần thông, tốt nhất là một ngày có thể học được sáu đại thần thông, lấy đâu ra khả năng đó chứ? Chư Thiên Như Lai còn công hành trăm nghìn vạn kiếp, người thế tục mà một ngày có thể thành thì chẳng phải là khiến các Tiên, Thần ở thiên giới chê cười sao? Con người phàm trần, nghiệp chướng sâu nặng, thần thông tự hiển, có thể gặp, không thể cầu.


### 41. Siêu năng lực thần túc thông


Ý nghĩa của thần túc thông là năng lực bay đến khắp các cõi trời, tức là thập phương pháp giới đều có thể đến đi tự do. Theo như tôi biết, đến đi tự do khắp thập phương pháp giới có hai năng lực lớn, thứ nhất là xuất thần, thứ hai là nhục thân thành Phật (phi thăng). Xuất thần chính là linh hồn xuất khiếu, linh hồn xuất khiếu có hai dạng, dạng thứ nhất là xuất dương thần, dạng thứ hai là xuất âm thân. Tự cổ chí kim, rất nhiều người đã ngộ đạo thành chân, người có thể xuất dương thần cũng không ít, cái gọi là xuất dương thần tức là nhân tử của linh hoàn toàn được tịnh hóa, dương thần thoát ra khỏi huyền quan, đi trên chính đạo quang minh lỗi lạc, tỏa ra khí màu tím sáng rực rỡ.

Có một số người tu thân dưỡng tính, chưa đạt đến trình độ luyện thanh tịnh linh hồn nhưng cũng có hiện tượng xuất thần, kiểu xuất thần này gọi là xuất âm thần, lối ra vào của âm thần không phải là từ huyền quan, mà là từ con mắt, âm thần hay dương thần chỉ do sự khác biệt giữa linh hồn đã được tịnh hóa hay chưa được tịnh hóa mà thôi. Nếu âm thần đi ra, cũng vẫn có thể đi trên mặt nước, có thể bay lượn trên các ngọn núi, đặt chân được đến thiên giới, cũng thấy được rất nhiều cảnh giới kì quan. Người ngồi ở trong nhà nhưng vẫn có thể biết rất nhiều chuyện kì lạ hiếm có trên trời dưới đất, ví dụ người xuất âm thần đôi khi có thể vào thế giới của loài rắn, có khi có thể vào thế giới của loài kiến, tham quan cảnh sắc của những khu vườn treo, có thể nói chuyện với Thủy Thần, cũng có thể nói chuyện với Sơn Thần, có thể nói chuyện cùng Thiên Sứ. Nhưng người xuất âm thần cũng sợ gặp phải âm ma cướp mất thần, nếu đụng phải âm ma, nếu nguyên thần không có cách nào tự mình khống chế thì dễ bị âm ma hãm chân, cũng biến thành quyến thuộc của ma.

Khi xuất dương thần, huyền quan sẽ chuyển động ăn khớp với nhau, sẽ có một dòng chảy ấm áp kì lạ vận chuyển đi khắp toàn thân, giống như uống rượu mạnh gây nên cảm giác ngà ngà say vậy, toàn bộ tâm linh sôi sục, lúc này giống như say như mê, thân dường như hư thoát, chỉ có ý thức là còn tỉnh táo minh mẫn, vẫn hiểu rõ mọi thứ, thì khi nguyên thần từ huyền quan xuất khiếu, linh hồn ấy vô cùng tự tại, giống như con thỏ vụt chạy băng băng vậy. Nếu quan sát ngược lại bản thân, có thể nhìn thấy nhục thân của mình đang ngồi trơ ra trên mặt đất, mặc dù toàn thân có khí ấm, nhưng nhưng hơi thở rất trầm, giống như động vật ngủ đông vậy. Xuất dương thần có thể đi nam về bắc, muốn gặp một người bạn nào đó tự nhiên có thể nhìn thấy người bạn đó, người đó không nhìn thấy bạn, nhưng bạn thì lại có thể nhìn thấy người đó, có thể vượt núi băng sông, vào nhà vào phòng, đến thẳng nơi biên cương không người. Bởi vì ánh sáng của dương thần là màu tím, các Thủy Thần Sơn Thần, Thổ Địa Phúc Thần bình thường nhìn thấy tất nhiên sẽ rất tôn kính, nếu gặp phân linh của các Thần Thánh cõi trời thì cũng không sợ hãi, dương thần có thể bay thẳng lên thiên quốc, cũng có thể xuống thẳng địa phủ thủy phủ, cảnh giới cao nhất là có thể đến được Phật quốc, tìm hộ cho chính mình trong tương lai một nơi để đến ở, điều này vô cùng quan trọng. Người có thể xuất thần phần lớn đã có tư tưởng "xuất thế", sẽ không còn say đắm vào nơi phồn hoa trần thế nữa. Nếu có lưu lại trong thế giới này thì đó chắc chắn là bậc chân nhân đại đức thừa nguyện lại đến vì mong muốn độ chúng sinh trong thiên hạ.

Tôi nhớ có một quãng thời gian, tôi coi việc xuất thần là công khóa mà tôi làm mỗi ngày, linh hồn tôi mượn một khối chân khí cường tráng giống như con rồng để bay lượn, những cảnh giới mà tôi nhìn thấy đều như mộng như huyễn. Tôi cũng từng quan sát ngược lại chính mình, phát hiện mình chỉ còn lại một cái thân bao bọc bởi khí trắng. Trong mấy cuốn sách trước tôi từng nhắc đến chuyện ở một Phật quốc, vị Phật ấy trong mắt tôi cao lớn như núi Tu Di, còn tôi thì bé tí như một con kiến, so sánh như vậy để thấy sự tu luyện của bản thân tôi thật nhỏ bé chẳng đáng kể gì. Có một lần, nguyên thần đang đi về hướng một ngọn núi lớn màu đỏ, tôi thấy rất quen thuộc, nhưng không nhìn ra chân ảnh chân tướng của nó. Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh nói: "Liên Sinh, việc chính thì không làm, chỉ biết xuất thần đi rong chơi, như vậy tất sẽ xao nhãng học hành, sau này nếu không có việc nghiêm túc thì không được xuất thần đi chơi nữa." Từ đó về sau, tôi không dám tùy tiện xuất thần nữa.

Còn đối với chuyện cả thân thể xương thịt này bay lên, thần túc du lịch khắp thập phương pháp giới, thì kiểu thần thông này cũng có, nhưng rất ít thấy, bởi vì nhục thể vốn thuộc về vật chất máu thịt ô uế của phàm trần, cho dù có thể tịnh hóa hoàn toàn thì mang theo cái vỏ cơ thể này bay lên cũng chẳng có ý nghĩa gì lớn lắm, cho nên từ xưa đến nay thật sự rất ít có người tu đạo đến mức nhục thể bay lên, phần lớn là tự mình biết được ngày giờ lìa thế gian của mình mà tĩnh tọa rồi biến hóa đi. Tôi nói thần túc thông là xuất thần thông, có lẽ có người sẽ bảo là không đúng, nhưng sự thật là như vậy, thân ở đó cũng giống như thân không ở đó, ý ở đó cũng như ý không ở đó, dạng năng lực này là siêu nhiên, nếu có được thần túc thông có thể xuất thần đến thập phương pháp giới, khi ấy có thể chứng minh lĩnh vực vô hình là vô cùng vô tận. Con người ở trong sự mê muội không tự biết, ai đến được bước này chắc chắn sẽ hiểu những gì mà Lư Thắng Ngạn tôi nói không có một câu nào là giả.

Người tu đạo muốn tu thần túc thông, nhất định phải bắt đầu từ tu linh, tôi không tán thành người tu đạo xuất âm thần, bởi vì nếu xuất âm thần, mặc dù có thể chứng minh được nhiều thứ của vũ trụ, nhưng dễ nhập ma đạo. Kẻ hèn này cho rằng người xuất âm thần, thân tất nhiên sẽ âm lạnh, thần khó giữ được cái "nhà" của mình. Hiện nay ở nước ngoài có loại thuốc xuất thần, nếu uống thuốc này, nguyên thần có thể giãy giụa để thoát ra khỏi nhục thể, nhìn được kì quan của một thế giới khác. Loại thuốc xuất thần này khả năng là một dạng thuốc gây ảo giác, nhưng sự xuất thần ấy chắc chắn là xuất âm thần, xuất âm thần thì dễ gặp ma, thật sự là nguy hiểm muôn dạng, tôi hi vọng người tu thần túc thông, người còn chưa đến được cảnh giới xuất thần thì đừng vội vàng muốn xuất thần để ngao du, vì xuất thần để ngao du thật sự có nguy hiểm. Từ đầu đến cuối tôi đều cho rằng, mặc dù tôi tu được một dương thần nhỏ bé, xuất nhập cũng khá tự do, không hề tệ, nhưng so với thần thông của các linh hồn địa lí cao minh thì thậm chí tôi cũng chạm không tới. Tôi phát hiện ra năng lực của bản thân có hạn, tôi còn phải bí mật tu nhiều năm nữa. Kẻ hèn này từng bị linh hồn địa lí lừa gạt, lời nói của họ điên điên đảo đảo, lúc thì thật, lúc thì giả, thật sự đầy rẫy xảo quyệt.

Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh nói: "Người có thần túc, đã có ngũ thông, xuất u nhập minh, tâm thức biến hóa, đại đạo là đường không một chướng ngại, linh có nhiều loại, luyện âm hoàn dương, thuần dương chính khí, tự có thần túc."

Tôi nói: "Thần túc là sản phẩm phụ của luyện thần phản hư, có thể quay trở lại hư không (phản hư), tất sẽ có thần túc thông."


### 42. Siêu năng lực lậu tận thông


Trong "Long thư tịnh thổ văn", cư sĩ Vương Nhật Hưu viết, ngũ uẩn đều không, là nói rằng: "Bát Nhã Tâm Kinh nói: Quán Tự Tại Bồ Tát. Chiếu kiến ngũ uẩn giai Không. Độ nhất thiết khổ ách. Ngũ uẩn. Cũng gọi là sắc thọ tưởng hành thức. Sắc là sắc thân. Thọ là thọ dụng. Tưởng là tư tưởng. Hành là sở hành. Thức là biện thức. Năm thứ này liên kết chặt chẽ với nhau. Để che lấp chân tính. Do vậy gọi là uẩn. Còn gọi là ngũ uẩn. Cũng gọi là chân tính tối tăm. Sắc thân cuối cùng cũng hư hoại. Hưởng thụ có thể qua đi bất kì lúc nào. Sắc chẳng phải rồi cũng thành Không hay sao. Giả như nghĩ về một thứ, khi có được rồi thì cũng chẳng nghĩ nữa. Tư tưởng chẳng phải là Không hay sao. Những việc ta làm, quay đầu nhìn lại vẫn giống như mộng huyễn. Hành chẳng phải là Không hay sao. Nhận thức biết cả nghìn sự vật, tái sinh lại thì cũng chẳng thể nào nhận thức được gì [từ kiếp trước]. Thức chẳng phải là Không hay sao. Tất cả khổ ách đều từ năm thứ này sinh ra. Nếu có thể chiếu kiến sắc thân là Không, thì sẽ không chấp vào sắc thân mà sợ cái chết. Sẽ sống qua được khổ ách này. Chiếu kiến thọ dụng là Không, thì sẽ không chấp vào việc hưởng thụ mà ham được phụng dưỡng. Sẽ sống qua được khổ ách này. Chiếu kiến tư tưởng là Không, thì sẽ không chấp vào những suy nghĩ. Và suy nghĩ thì vẫn không bám víu vào được, nên lại sống qua được khổ ách này. Chiếu kiến mọi hành là Không, thì sẽ không chấp vào những điều ta làm, và có thể dừng làm, nên lại sống qua được khổ ách này. Chiếu kiến biện thức là Không, thì sẽ không chấp vào biện thức, từ đó có thể tọa vong. Thế là lại sống qua được khổ ách này. Vì chiếu kiến ngũ uẩn đều Không, nên vượt qua được tất cả khổ ách. Năm thứ này đều không phải là chân thực. Chính là những vọng duyên hiện lên trong chân tính. Như lục căn lục trần lục thức thập nhị nhân duyên tứ đế đều là như vậy."

Từ đoạn văn trên, tôi hi vọng độc giả tỉ mỉ nghiền ngẫm, đừng tùy tiện đọc xong là thôi, mà phải suy ngẫm từng chữ từng chữ một. Bởi vì tôi biết, tâm trí vô lậu chính là nằm trong ngũ uẩn đều Không này, cái gọi là "tâm trí vô lậu" chính là cơ sở của lậu tận thần thông. Quan Thế Âm Bồ Tát là bậc Tôn giả đắc vô thượng đại giác trong số các vị Bồ Tát, pháp môn ngũ uẩn đều Không này đường đường một chân đạp vỡ toàn bộ lục căn lục trần lục thức tứ đế thập nhị nhân duyên, và quán ngược lại thân tự tại của mình, thành tựu một vòng ánh sáng vô tận, đây là cái gì? Đây chính là tâm trí vô lậu, người có thể đắc tâm trí vô lậu thì có thể đắc lậu tận thông, có thể đắc lậu tận thông thì sẽ cắt đứt con đường sinh tử, năm loại thần thông kia đều có thể đắc chứng, đạt đến Thánh cảnh Như Lai.

Vào lúc linh hồn đi lại khắp toàn thân, đây chính là hoạt động bẩm sinh, Đạo gia tu lậu tận thông, thật ra là ý nghĩa của sự chảy thoát rò rỉ tinh huyết để lại trở về thái hư (vũ trụ), pháp này có thể tham chiếu pháp vận động Cửu chuyển huyền công đã được nói đến ở phần đầu sách, có thể duy trì lâu dài việc ngồi ấy, tất sẽ có ngày thành công. Đạo gia cho rằng tinh huyết chính là báu vật của thân người sau này, rò rỉ hết thì sẽ chết, nếu không rò rỉ thì có thể trường sinh bất lão, sau khi không lậu nữa thì lại hóa tinh thành khí, hóa khí thành thần, luyện thần phản hư, tức hậu thiên biến tiên thiên, linh hồn được tịnh hóa thành dương thần, khí của dương thần không đi vào cửa địa phủ, thế nên cửa tử đóng lại, huyền quan tự nhiên bẩm sinh mở ra, tu thành chân nhân, tiên thiên hậu thiên hợp nhất, thần thông này chính là lậu tận thông. Đạo gia tu pháp môn này, phần lớn đều dựa vào Cửu chuyển huyền công, nhưng Cửu chuyển huyền công có phải chỉ dựa vào sự phối hợp động tĩnh của niệm lực không? Thật ra công phu ban sơ nhất của Cửu chuyển huyền công đều nhờ vào khả năng linh hồn đi lại khắp toàn thân, linh lực sẽ chi phối sự vận chuyển của thân thể. Hôm nay trong cuốn sách này, tôi đặc biệt chỉ ra sức mạnh của linh hồn, tất cả những điều nói đến ở đây đều là sức mạnh của linh hồn, thành Tiên thành Phật là niệm lực sao? Không phải, thành Tiên thành Phật là quả vị của linh hồn. Trong thế giới ngày nay các quốc gia đều có nghiên cứu về linh hồn học, đây là một môn khoa học siêu khoa học, từ rất nhiều thực nghiệm mà phát hiện ra kẻ thống trị của thân người là linh hồn, phương đông phương tây đều giống nhau, cùng một chân lí. Lậu tận thông tuyệt đối có khả năng, Cửu chuyển huyền công mặc dù là công phu của Đạo gia, nhưng cùng có điều kì diệu giống như thuật yoga, đây chính là chỗ thông nhau giữa công phu Đạo gia của Trung Quốc với công phu yoga của Ấn Độ. Việc này ít có người phát hiện thấy, hôm nay tôi đặc biệt nói ra, hi vọng có người sẽ nghiên cứu sâu thêm, công khai những tâm đắc về nghiên cứu này với toàn thế giới, có thể gây chấn động xưa nay, giành được sự ca ngợi của nhân loại trên toàn thế giới.

"Khi nào mới được coi là chứng đắc năng lực lậu tận thông?" - Có người hỏi.
"Khi tâm đắc niết bàn kì diệu."
"Ngũ uẩn đều Không, lấy cái gì làm thật?"
"Viên giác tối thượng, thân thể mình cũng là Không, quán tự tại."
"Lậu tận thần thông trong sự tu chứng của hai phái Đạo - Phật có phải là nhất định cần phải xuất thế không?" - Có người hỏi.
"Xuất thế mới có thể nhập vào cỗ xe cực lớn, nhập thế là nhân duyên trần thế, nếu nhập thế tu pháp thì phải tâm không nhiễm bụi trần mới được."


### 43. Linh dạy thủ ấn


Liên quan đến việc linh dạy thủ ấn, người chủ trì của văn phòng Trung Hoa Thổ Địa Đại Thư là anh Trần Tấn đã học được điều này. Anh Trần Tấn sống tại Đài Bắc, trên đường Khang Định quận Vạn Hoa, anh gửi đến một lá thư, tôi công bố nguyên nội dung thư như sau:

"Thưa Thầy Lư,
Tôi nhớ sau khi tạm biệt thầy ở tinh xá, (không ngờ hai lần mơ thấy thầy giá lâm đến nhà tôi, không biết có phải là sự giao cảm tâm linh không), tôi vốn dự tính sau kì thi tư pháp sẽ gửi đến thầy một lá thư để hỏi việc, tin tức truyền đến là năm nay không thi, có bạn bè cho hay, thầy Thắng Ngạn không còn xem việc cho người ta nữa, sau này có lẽ sẽ tương đối có thời gian để trả lời thư, vì thế tôi xin được thưa với thầy về tình hình tu linh như sau.

Tôi được bái kiến Tiên nhan, mới gặp lần đầu đã cảm giác quen thân, một lời khó nói cho hết. Thầy ôn hòa nho nhã khiêm tốn, học rộng tài cao, thật đúng là điểm mạnh của thầy, kính xin chúc mừng chư Phật Bồ Tát đã ủy thác giao phó đúng người, gặp thầy tôi vô cùng cảm kích và xúc động như thể đã biết nhau rất lâu rồi. Sau khi trở về nhà, tuân theo lời dặn của thầy, tôi liên tục tĩnh tọa hai lần (tổng cộng khoảng một tiếng đồng hồ), kết quả là chân linh mạnh mẽ hiện lên, quả nhiên là Phật duyên của tôi không tệ. Sau khi khởi linh, ngày hôm sau khi tôi ngồi thiền, trong mũi truyền đến một mùi đàn hương, rất đậm và rất thơm, đây là lần đầu tiên trong đời tôi ngửi thấy mùi thơm này. Sau đó, cứ cách quãng lại chỉ dạy cho tôi các kiểu thế tay (Quan Âm thủ, thể thao thức - giới hạn ở phần trên cơ thể, Mâu Ni châu ấn, lôi ấn thức, liên hoa ấn, khuyên tâm ấn, Như Lai thủ,… Tôi mong sau này gặp để trình cho thầy ấn chứng), thật sự là bất khả tư nghì. Bồ Tát từ bi đến mức ấy, nếu không tu hành thì thật sự có lỗi, hôm nay tôi quyết định thờ phụng tượng của ba vị Phật, một bức là Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, hai bức Quan Thế Âm Bồ Tát, sau này có chỗ tôi lại thờ phụng thêm Địa Tạng Vương Bồ Tát, v.v…

Niệm tụng kinh chú đã trở thành bài học sớm tối của tôi, mặc dù trước mắt linh lực hãy còn yếu (thiếu kinh nghiệm luyện linh, chưa thể đoán biết được việc gì), cũng không có thông linh gì cả, nhưng mong Chư Thiên Bồ Tát không bỏ mặc, tôi tự biết rằng khi mình còn đang trôi nổi bất định, thân thể yếu ớt dễ mắc bệnh, thì ở trong cảnh bôn ba khổ nhọc để rèn luyện tâm tính cũng được. Biết bao tâm tư tình cảm không thể nói hết, ở đây tôi đặc biệt kính chúc thầy bình an.
Trần Tấn cung kính khấu đầu."

Bức thư này làm bằng chứng cho việc linh dạy thủ ấn, anh Trần Tấn là một người trẻ tuổi, có viết cuốn sách "Lương Khởi Siêu và Hồ Thích", là người tài hoa giỏi giang. Trong cuốn "Lương Khởi Siêu và Hồ Thích" anh có viết rằng: "Trần Tấn không phải là người trung gian chỉ có cầm bút, mà còn chẳng có nhà lầu chạm trổ non sông gấm vóc. Chỉ có một phòng làm việc ồn ào, do vậy chỉ có thể vào lúc canh thâu tĩnh lặng để mà gom góp nhào nặn suy nghĩ, sau đó bò từng bước chậm chạp như ốc sên - giữa những trang bản thảo màu xanh lục. Tôi giống như chú chim đêm cô độc. Đôi khi bò mệt rồi, tôi nằm úp xuống bàn để chìm vào cơn mơ. Trong mơ: không hoa, không dao, cũng không có chim ri. Mỗi khi tỉnh giấc mơ, ngoài cửa sổ chỉ có tiếng côn trùng kêu, cũng chẳng có những con ong khát nước nhìn lén khay mực nước đặt trên bàn, cũng không có những con bướm điên chui vào trong màn. Đặt mình trong cảnh ấy, không biết mùi vị thế nào. Bởi vì tôi luôn không thể nào chỉ dựa vào mỗi lọ hồ dán, một cây kéo! Tuy rằng ngòi bút của tôi không chắc có thể "đục phá hỗn độn, quét sạch sương mù", cũng không chắc có thể trở về con đường chân chính, về chân diện mục của "nhân tượng", vẫn không dám tự xưng là mình đã "đào được báu vật" đối với "tinh thần và cốt tủy" của Lương - Hồ, trong cánh đồng lúa mạch bao la rộng lớn của họ, tôi chỉ là một hạt thóc nhỏ bé đến mức không thể nhỏ hơn. Thế nhưng, ngược lại, tôi lại bằng lòng tin tưởng vào tác phẩm kém cỏi của mình là cây bút cứng đã thấm qua không khí chạm được đến dưới đáy lòng."

Trần Tấn có một bài thơ, ngắn gọn nhưng có lực:
"Lịch sử, nhân tượng; nhân tượng, lịch sử.
Phải dũng cảm làm nên lịch sử, hoặc viết sử!
Phải quyết tâm đúc Phật, đúc tượng gỗ!
Vì tiền nhân, cũng vì bản thân.
Cho nên, siêu nhảy vọt, tiến lên trước.
Con người vĩnh hằng bất diệt; lịch sử thường tái diễn."

Cái câu "con người vĩnh hằng bất diệt" cũng tức là linh hồn bất diệt, cho nên người mong cầu đường đạo chính giác vô thượng phải bắt đầu từ hai chữ "linh hồn", linh hồn chính là tâm, chính là Phật tính, chính là tự tính, chính là ngọn nguồn, chính là Như Lai.  Việc ấn chứng linh dạy thủ ấn của Trần Tấn cũng được anh hô hào trong cuốn sách của mình, rằng linh lực bất khả tư nghì, đích thực là có tồn tại, chính xác chân thực, người nói rằng đây là mê tín chính là những người căn bản vẫn chưa nhận thức được, cũng là người không hiểu gì.

Tôi viết năm cuốn sách tâm linh, chúng là những trải nghiệm của chính bản thân tôi, tôi làm vì các bậc tiền nhân, không phải vì bản thân tôi, và cũng để trải đường cho nhân loại đời sau, vì các đệ tử của Chân Phật Tông.


### 44. Chấp vào niệm lực siêu tự nhiên


Pháp môn tĩnh tọa có rất nhiều loại, tịnh tọa của Linh Tiên cũng là một trong số đó. Con đường tu hành có nhiều phương pháp, đương nhiên cũng có nhiều kiểu nhập ma khác nhau. Điều mà bản văn này nói đến chính là nhập ma kiểu chấp vào niệm lực siêu tự nhiên, gọi ngắn gọn là niệm lực nhập ma. Thật ra, ở đây chính là niệm lực không chịu sự kiểm soát của mình, bởi vì không thể kiểm soát cho nên càng bám chấp, điểm này dễ khiến người ta chẳng thể đề phòng, nhất thiết phải cẩn thận là quan trọng. Tín đồ Cơ Đốc giáo chấp vào cầu nguyện, cuối cùng vì những cầu nguyện ấy mà nhập ma chướng. Tịnh Độ tông vì chấp vào niệm Phật, cuối cùng vì niệm Phật mà nhập ma chướng, Thiền tông vì chấp vào thiền, vì thiền mà nhập ma chướng, Mật tông chấp vào niệm lực, vì niệm lực mà nhập ma chướng. Nay Linh tông của tôi xuất hiện, tất nhiên cũng có người chẳng thể nào kiềm chế được linh hồn mà nhập ma chướng.

Con người ơi con người! Cái khó của tu hành cũng là ở đây, muốn đổi sinh mạng tạm thời ngắn ngủi như một sát-na lấy sự vĩnh hằng, cái giá phải trả chính là phải chiến thắng được cánh cửa cuối cùng - “chấp vào ma niệm”. Phật Thích Ca Mâu Ni chiến thắng ma, Jesus Christ cũng phải đánh thắng ma, và tôi cũng phải đánh thắng ma, mỗi người tu Chân Phật Tông đều phải đeo thanh kiếm trí huệ để chặt đứt sự bám chấp niệm lực.

Trong số các độc giả, có người nhập vào ma bám chấp niệm lực, họ tu luyện pháp "nhân thị tử tĩnh tọa" mà bị như vậy. Nay tôi công bố toàn bộ bức thư như sau, xin mọi người đề cao cảnh giác.

"Thắng Ngạn tiên sinh,
Tôi thật sự may mắn khi đọc được bốn cuốn sách tâm linh mà thầy viết, đủ những chuyện mà thầy từ bi cứu nạn được nói đến trong sách, đối với người thường xuyên cảm thấy đau khổ vô vọng như tôi đây mà nói thì không khác gì trong bóng đêm nhìn thấy một tia ánh sáng. Tôi từng tìm đến bác sĩ tâm lí để thôi miên trị liệu cho tôi tổng cộng ba lần, đều không có hiệu quả. Nguyên nhân là vì tôi không có cách nào nhập vào trạng thái bị thôi miên được. Tôi nghĩ nỗi đau khổ của tôi không phải người bình thường có thể giải quyết được, chỉ có thỉnh cầu thầy nương nhờ Phật lực, Phật pháp vô biên, mong có thể tiêu trừ đau khổ của tôi.

Nỗi đau khổ của tôi mang tính chất tinh thần, bác sĩ tâm thần gọi là  chứng loạn thần kinh, nguồn gốc của sự đau đớn ấy là vì tôi luyện tập pháp "nhân thị tử tĩnh tọa" mà ra, cũng không hề có ai dạy, tôi chỉ dựa theo pháp tĩnh tọa mà tu luyện một cách đui mù thôi, vì sơ suất mà có một lần khí nhập vào đường nhánh, càng luyện thì tinh thần càng đi xuống, nhưng tôi vẫn luôn cho rằng thuật này có lợi ích cho thân tâm, mặc dù có cảm giác khó chịu, nhưng tôi vẫn luôn không cam chịu buông xuôi việc này, cuối cùng đã đến nông nỗi không thể cứu vãn được nữa. Trong nỗi phiền muộn cực độ, tôi đã bùng nổ dữ dội một dạng loạn thần kinh ám ảnh, cái gọi là loạn thần kinh ám ảnh nghĩa là trong lòng luôn nghĩ đến một chuyện, nếu muốn loại bỏ suy nghĩ này thì liền cảm thấy không thể nào thoát ra được, vì thế gây nên sự đau đớn về tâm lí. Đối tượng của sự đau đớn của tôi là việc hít thở, cả ngày tôi chú ý đến hơi thở lên xuống mà không có cách nào thoát ra được. Tình huống này lúc mới phát sinh là ghê gớm nhất, cả ngày tôi đứng ngồi không yên, tâm tình u sầu buồn bực, đau khổ đến mức gần như tinh thần sụp đổ, thỉnh thoảng có suy nghĩ bi quan chán đời, về sau tinh thần mới xem là dần dần ổn định, mọi bệnh trạng cũng tương đối dịu đi, nhưng trải nghiệm này thì vĩnh viễn tồn tại. Chỉ cần tôi hễ chú ý đến hơi thở là sẽ cảm thấy âu sầu ủ rũ, lập tức cơn đau khổ lại ngoi lên. Trong khoảng thời gian này, tôi mấy lần đến gặp thầy thôi miên, muốn mượn ám thị của việc thôi miên để quên đi trải nghiệm đau khổ này, nay tôi chỉ ra và phân tích kinh nghiệm của tôi, mong thầy cho lời giải đáp rõ ràng, không biết tôi có thể cứu được không?"

Bức thư này gửi đi từ trấn Thụ Lâm, Đài Bắc, người này họ Hoàng.

Đầu tiên, tôi giải thích trước, tôi từng đọc về pháp "nhân thị tử tĩnh tọa", cuốn sách này nói về tĩnh tọa có thể mở mang trí tuệ, cũng có thể giúp thân thể khỏe mạnh, những điều này đều không có gì sai, thế nhưng rốt cục cái sai nằm ở đâu? Tôi nói cái sai nằm ở người học tĩnh tọa, mọi người đều biết rằng pháp môn tĩnh tọa là trực tiếp nhất có thể thành Phật, nhưng nói thật lòng, đây cũng là cách dễ nhất để bị ma thử thách. Người có nguyên thần bất định, niệm lực chưa chín thì vẫn đừng nên tùy tiện đi thử nghiệm, đó chính là nhập ma. Bệnh trạng này không chỉ là người luyện pháp tĩnh tọa mới bị, bao gồm cả người bình thường quá mê đắm vào một sự vật gì đó cũng sẽ bị, ví dụ như quá mê đắm vào bạn gái dẫn đến chứng các chức năng giác quan của tâm thần bị ám ảnh, hoặc là mê đắm vào tiền bạc dẫn đến chứng tiền ám ảnh vào các chức năng giác quan, nếu tiền bỗng chốc không có thì lập tức trở nên thất thường mà phát điên.

Phương pháp chữa trị chứng bệnh này thông thường là dùng pháp chuyển dịch, chuyển rời mục tiêu đến một sự vật mình có hứng thú khác, hoặc lên núi tĩnh tu một thời gian, cách xa mọi việc thường ngày, để cho tinh thần hoàn toàn thay đổi. Nói chung, hễ làm pháp chuyển dịch thì bệnh trạng có thể từ từ giảm nhẹ. Đi leo núi, ra ngoại ô chơi, hoặc đến những nơi tưng bừng náo nhiệt, đều có lợi ích cho thân tâm của chính mình, khiến suy nghĩ của bản thân không dừng hoạt động, và cũng không cố định, không ngừng nghỉ thì sẽ không bám chấp nữa, không bám chấp thì có thể quán tự tại.

Tôi cảm thấy tất cả những người nhập ma, bao gồm người mê đắm vào tiền bạc và nữ sắc, đều là người bị "dắt mũi", đây cũng hoàn toàn là sự bám chấp. Có người tham cái phúc của cuộc đời, không muốn chết, sợ chết, thật ra sao họ không thử nghĩ, sợ thì có tác dụng gì, bám chấp vào sinh mạng, đến chết cũng không tỉnh ngộ, từ đầu đến cuối vẫn luân hồi trong lục đạo, không thể cắt đứt con đường sinh tử.
Không nhập ma, không tham sân si, chính là tự tại, Quán Tự Tại Bồ Tát.


### 45. Giải đáp nghi hoặc


Có một độc giả ở Cơ Long đặt câu hỏi thắc mắc, tôi giải thích như sau.

"Thầy Thắng Ngạn,
Cuộc đời chóng vánh, thời gian nói cười bấm ngón tay cũng là lúc cuộc đời lặng lẽ trôi qua. Người mưu cầu danh lợi hối hả kiếm tìm, mãi lần theo dấu vết danh lợi không ngừng nghỉ, đến khi tâm thần khô kiệt, cuối cùng vẫn ra đi với hai bàn tay không. Vũ trụ mênh mông, Phật pháp vô biên, người có thể đến được bỉ ngạn tìm kiếm khắp xưa nay chỉ lơ thơ không quá vài người. Chúng sinh đông đúc, đến nay vẫn lênh đênh bất định. Cái gì khiến chúng sinh nổi trôi không nơi chốn, trải qua nghìn vạn kiếp, chẳng còn gì cái mùi vị chân như vốn có nữa. Mỗi khi đêm đến lại ngẫm nghĩ, kinh hoảng mồ hôi chảy thành dòng, cảm thấy bản thân nghiệp tội nặng nề, mà vẫn còn trầm luân không tỉnh ngộ, vẫn dấn thân vào trong thanh sắc khuyển mã, không có lúc nào mảy may tỉnh ngộ, thế mới đáng buồn làm sao!

Tôi có duyên đọc được mấy cuốn sách đại tác phẩm của thầy, đã tháo gỡ rất nhiều điều nghi hoặc của tôi, tôi cũng sâu sắc ngưỡng mộ kì ngộ của thầy, thầy có đầy đủ đại huệ căn chứng đắc được đại thần thông lực, dùng tâm từ bi vô ngã mà chấp thuận kiếp nhập thế, truyền đi những câu chuyện với mong muốn đánh thức thiên hạ đang mê lầm, và sử dụng sức mạnh tâm linh vô hạn để giải quyết những bất hạnh khốn đốn của chúng sinh, thực tế thầy chính là thân hành lục độ vạn hành, chính là đang làm một vị Bồ Tát với tâm bồ đề bao la. Với tất cả lòng thành kính, tôi mong quý thầy đại đức tinh tấn không ngơi nghỉ, thẳng tiến đến niết bàn Phật quốc tịch tĩnh.

Nay tôi có mấy điểm nghi vấn, muốn trình bày với thầy, hi vọng quý thầy đại đức với Phật tâm vô lượng ban cho lời chỉ dạy hữu ích, tấm lòng biết ơn của tôi chất chứa trong ngũ tạng, nguyện sẵn sàng kiên trì loại bỏ nghi hoặc chứng được chân lí, và mang theo điều này để nêu cao tông phong của Phật giáo Đại thừa.

Sau khi Phật Đà nhìn thấy sao sáng mà ngộ đạo dưới gốc cây bồ đề, phổ biến rộng rãi tám vạn bốn nghìn pháp môn, mọi pháp vô ngã, vô lượng vô biên, rốt cục phải bắt đầu từ đâu? Hơn nữa các tông phái Phật giáo quá nhiều, làm thế nào mới có thể tìm được chân ý, ý chỉ gốc của Phật mệnh?"

(Đáp: Mặc dù Đức Phật mở ra tám vạn bốn nghìn pháp môn, nhưng đó cũng tức là một pháp môn, đạo lí mà Phật Đà đã lĩnh ngộ, tôi gọi là vô ngại tâm chính đẳng giác. Còn như học Phật tu đạo bắt đầu từ đâu, đừng ngại dốc toàn bộ tâm sức tu pháp yoga Thiền - Mật này. Còn như pháp môn chứng kiến hóa cầu vồng của linh giác, sự tổng hợp các pháp tu luyện Phật pháp của tôi là phương pháp hay nhất để đắc Phật quả đại viên mãn. Nếu không dám liều lĩnh mà tu trì theo như vậy thì tu pháp môn niệm Phật cũng được, bởi vì khởi linh cũng phải dựa vào cơ sở niệm Phật để tiêu trừ nghiệp chướng, bằng không sẽ ảnh hưởng đến công phu nhập môn của khởi linh, trở thành ma lực gây chướng ngại. Ý nghĩa thực sự về mục đích gốc của Phật mệnh chính là chính kiến chính đẳng giác, nhằm tiêu trừ lục đạo luân hồi của nhân gian, chấm dứt sinh tử đắc đại giác ngộ, thành thầy của trời người không phiền não, nếu ai ai cũng như vậy thì Phật quốc vĩnh lạc, chính xác là mục đích gốc của Phật mệnh.)

"Trong kinh Phật có nói, tam giới duy thức, vạn pháp duy tâm, theo như tôi thấy, thức và tâm đương nhiên là tương đồng là một vật, và phải lấy tâm thức làm cánh cửa đi vào Phật địa, chỉ không biết như thế nào mới có thể nắm chắc được cốt tủy của nó? Về mặt lí trí, tôi luôn cho rằng trong ngoài như một, người và ta là một khối, nhưng về mặt ý chí sinh mệnh thì rất khó để đạt được, có lẽ túc nghiệp của tôi sâu nặng, chưa thể thoát khỏi cảnh giới này, tôi muốn thỉnh cầu tiêu nghiệp chướng, loại bỏ ham muốn của con người và luyện tập pháp thiền, không biết thầy có bằng lòng dạy tôi thiền định không?"

(Đáp: duy thức duy tâm đều là một cách nói chung chung, đạo lí ở bên trong vô cùng sâu, một chương sách không thể nào nói hết, cốt tủy thật sự của nó tôi cho rằng Tâm Kinh có thể nói là cốt tủy, tâm thức vốn không, chân không diệu hữu, đầu tiên là hợp nhất, sau đó lại bỏ luôn cái nhất này, đó chính là chân lí. Nội ngoại như  nhất, nhân ngã nhất thể, nói ra thì dễ, nhưng thật ra rất khó, bởi vì trong ngoài như một, người và ta là một thể chính là trời người hợp nhất của Đạo gia, có thể cùng với vạn vật cùng bất diệt, Trang Tử tiên sinh, Lão Tử tiên sinh đều đã đạt đến cảnh giới này, đây chính là nhìn thấu nhân ngã, nhìn thấu nội ngoại, chính là một sự giác ngộ vĩ đại. Tập thiền định có thể làm theo các phương pháp được dạy trong cuốn sách này, cẩn thận gia tăng tu luyện, phương pháp trong cuốn sách này rất nhiều, nhưng phải dựa vào cơ duyên của từng người, muốn tiêu nghiệp chướng, loại bỏ dục vọng của con người, thì trước tiên phải học chế tâm.)

"Thường nghe Phật dạy không có quan niệm về số mệnh, nhưng mà vận mệnh ảnh hưởng rất lớn đến cuộc đời của con người, cho dù kiếp này có duyên có thể nhập Phật đạo thì cũng là trải qua tu hành từ kiếp trước, pháp luân nhân quả có thể đưa con người đạt đến cảnh giới Thần Phật, cũng có thể đưa con người xuống thẳng địa ngục, tôi luôn cảm thấy Phật Bồ Tát siêu thoát nhân quả sinh tử cũng không hẳn là hoàn toàn không có liên quan đến nhân quả, nếu như không có liên quan, vậy thì làm sao Phật Bồ Tát chấp nhận kiếp nhập thế, cứu độ chúng sinh, phổ biến rộng rãi pháp môn sẽ có thể nhập thế được chứ? Ở đây chắc chắn có tồn tại chân lí cực ảo diệu, không biết linh thông của thầy đã ngộ ra cái lí này chưa? Mong được giải đáp nghi vấn này."

(Đáp: số mệnh đích thực là có, Phật Thích Ca Mâu Ni năm trăm kiếp tu hành, chẳng phải là số mệnh thành Phật đó sao? Địa Tạng Vương Bồ Tát thành tựu Bồ Tát cũng đã tu rất nhiều kiếp, có thể đọc Địa Tạng Vương Bồ Tát Bản Nguyện Kinh là có thể thấy được nét chính, số phận chính là số mệnh của kiếp trước. Phật giáo nói nhân quả, không nói số mệnh, chính là có ý muốn người người tích cực. Số mệnh là tiêu cực, cho nên bất luận quá khứ thế nào, từ bây giờ hạ quyết tâm học Phật, sẽ không có chuyện không thành Phật. Nhân quả nghiệp báo và thành Phật Bồ Tát có liên quan rất lớn, có nhân quả nhiều kiếp tu Phật, tự có thể đạt đến cảnh giới Phật, nếu nhiều kiếp tạo ác nghiệp thì sẽ xuống địa ngục. Bồ Tát thừa nguyện lại đến là vì nguyện lực của Bồ Tát, nguyện lực cũng là một trong những luật nhân quả, cho nên không thể tùy tiện nói lời nguyện. Đây chính là sự lăn chuyển của pháp luân, từng thứ kiềm chế lẫn nhau, sự ảo diệu trong đó là một dạng tuần hoàn, là luật trời vô cùng bất khả tư nghì.)


### 46. Tiếng lòng của tín đồ Thiên Chúa


"Thưa thầy Lư,
Chào thầy! Cầm bút hồi lâu mà vẫn chưa thành văn, biết bao suy nghĩ đan xen không biết bắt đầu từ đâu. Tôi có vinh dự được đọc mấy cuốn (sách tâm linh), tối nay tôi đọc xong cuốn "Giữa linh và tôi", nhìn lên chiếc đồng hồ báo thức đặt trên bàn thì đã là mười hai giờ rưỡi rồi, hai đứa con tôi cũng đã ngủ say sưa, một dũng khí không thể mô tả kéo tôi ra khỏi giường, ngồi trước bàn viết muốn trò chuyện cùng thầy, đây đúng là cái duyên đó! Tôi thật may mắn khi lớn lên trong thời đại này và sống tại miền trung Đài Loan của Trung Quốc tự do. Có thể ở cùng miền trung với thầy thật sự khiến tôi cảm thấy phấn khởi và tự hào. Nay tôi viết tâm thư này gửi đến thầy, hi vọng có thể truyền đạt được suy nghĩ của tôi, thế nhưng văn vẻ của tôi nông cạn, thật lấy làm hổ thẹn, xin thông cảm bỏ quá cho tôi.

Thưa thầy Lư, mặc dù tôi là một kẻ ngốc bình phàm, nhưng cái tâm tìm cầu chân lí thì chưa bao giờ nguội lạnh, ngày ngày tôi tìm kiếm chân lí trong thiên hạ, ngày ngày muốn tìm kiếm một vị thầy chân chính, cho đến tận hôm nay, có thể xem như thời cơ đã đến rồi, tôi có thể được đọc (sách tâm linh), lĩnh hội được những câu trả lời chân lí, thật đúng là phúc phận mà tôi đã tu từ kiếp trước. Cảm xúc phấn khởi này không có bút mực nào có thể mô tả được, cũng có thể nói là khiến tôi tột cùng vui sướng đến nỗi nhảy nhót. Kẻ hèn này mới học nên còn nông cạn, không thể và cũng không có lẽ nào dùng những ngôn ngữ đẹp đẽ nhất để ca ngợi thầy và mô tả về thầy. Nghĩ thử, năm 17 tuổi tôi đã dẫn theo em trai tôi, tối tối đi bộ chầm chậm trên con đường đêm đến nghe đạo lí ở nhà thờ Thiên Chúa, một thời gian sau thì mới nhận lễ rửa tội tại nhà thờ Đông Thế và tin theo Thiên Chúa giáo. Hai chị em tôi rất được Cha sủng ái, Cha của nhà thờ đó là người Mĩ, tên tiếng Trung thì là họ La, sau cùng tôi được bầu chọn làm đại biểu giáo hữu của khu vực, thường tham dự các buổi hội nghị, và người trẻ tuổi nhất trong số các đại biểu chính là tôi. Sau cùng, tôi dự định làm nữ tu, bởi vì tôi một lòng hướng về Thiên Chúa, Cha cũng giúp đỡ tôi, tôi đã từng đi tham quan viện nữ tu Thánh Tâm ở thị trấn Điền Trung huyện Chương Hóa, sau khi trở về, vì rất nhiều hạn chế, đến nửa đường thì tôi đã từ bỏ rồi. Đến bây giờ nghĩ lại thật là hối hận, khi ấy vì sao ý chí của tôi lại không kiên định như vậy chứ! Ôi chao… nói tóm lại, có lẽ là tôi không được Thánh gọi rồi! Mẹ tôi là một tín đồ Phật giáo, bà ấy cũng giống như thầy, chưa bao giờ bà ngăn cản tự do tín ngưỡng của chúng tôi. Tôi biết rõ mẹ tôi không phải là một người phụ nữ bình thường, những gì mà bà đã làm không phải người bình thường nào cũng có thể làm được. Những lời vàng ngọc và những biểu hiện tương phu giáo tử [giúp chồng thành tựu đức hạnh, khéo dạy bảo con cái] của mẹ tôi thật sự là điển hình của sự thuần phác và chân thiện.

Hiện tại, vì trong quá khứ tôi đã chịu ảnh hưởng của mẹ tôi, nên mặc dù bản thân tôi tín phụng Jesus Christ, nhưng cái tâm tìm kiếm thiên đạo chân lí thì chưa bao giờ mất đi. Nay tôi có vinh dự được đọc đại tác phẩm của thầy, muôn nghìn nỗi thắc mắc trong lòng tôi cuối cùng đã được tháo gỡ rồi, và tôi cũng đã lĩnh ngộ được chân ý của nhiều phái tôn giáo. Đúng vậy, nghìn vạn pháp môn đều nằm ở một gốc là tâm, tu hành, tu tâm, tu thiện nói thì dễ mà làm thì khó làm sao! Chỉ có nỗ lực hơn, nỗ lực học tập và tinh tấn nhiều gấp bội, bất kì việc gì, tôi cảm thấy lấy chữ nhẫn làm đầu, làm người bình tâm tĩnh khí, nay tôi chỉ mong cầu như vậy mà thôi, các thần chúng hoặc Jesus Christ trên trời chắc chắn có thể giúp tôi đạt được sự an tâm thanh thản chân chính.

Kể từ khi đọc sách tâm linh của thầy, hễ gặp ai là tôi lại giới thiệu. Bữa nay tôi đưa con đi khám bệnh ở chỗ bác sĩ đông y, nghe bác sĩ đông y kể chuyện của chính ông ấy, ông ấy nói vì công việc kinh doanh của mình hưng thịnh nên những người cùng nghề không ưa, thế là cuối cùng họ đã tự dưng dựng chuyện, bí mật tố cáo bác sĩ là thầy thuốc hành nghề bất hợp pháp, vì thế mà dẫn đến rất nhiều phiền phức. Câu chuyện này khiến tôi liên tưởng đến chuyện "phù tử tiên" giáng bùa làm hại thầy, nên tôi đã đề cập với bác sĩ, đồng thời giới thiệu sách của thầy. Nói thật lòng, chỉ cần tôi có thời giờ rảnh rỗi, tôi cam tâm tình nguyện tuyên truyền những lời tốt về thầy, để cho tất cả mọi người đều có thể nhìn thấy sự hiện rõ của chân lí, có thể tu dưỡng bản thân, làm nhiều việc thiện. Phù tử tiên giáng bùa kia và kẻ bí mật tố cáo bác sĩ đông y chính là những người có tâm đố kị nặng, đố kị là con ma lớn nhất của nhân loại, đố kị đúng là không thể chấp nhận được! Nhưng mà chúng ta cần khoan dung bỏ qua cho họ, bởi vì ma quỷ ở trong tâm họ nhảy múa, tôi tin rằng bản tính của họ là lương thiện. Lòng người thật đáng sợ, nhưng vàng thật không sợ lửa luyện, chỉ cần là chân lí thì cái gì cũng không sợ. Chính xác như lời thầy nói, người xấu ở khắp nơi, trái lại chính nhân quân tử lại bị hại, hi vọng trong tương lai không xa, thế giới tương lai sẽ nhờ cậy vào thầy truyền bá chính khí đến mọi ngõ ngách, khiến cho tà ác không còn chỗ đứng, thế giới một chiều của chủ nghĩa duy vật sẽ bị thầy một chân đạp đổ, từ đó đại lục tối tăm có hi vọng tươi sáng rồi!

Kẻ hèn này càng viết càng nhiều, càng nói càng hứng thú, thật đúng là rượu ngon mà gặp tri kỉ thì nghìn chén cũng vẫn ít, cuộc nói chuyện bất đồng thì nửa câu cũng là nhiều. Mặc dù chưa được biết đến diện mạo thật của thầy, nhưng khi tôi viết những tâm sự này cảm giác cũng giống như được nói chuyện trực tiếp với thầy vậy. Tôi là một người cực kì ngay thẳng, có một nói một, có hai nói hai, bức thư này từ đầu đến cuối không có một lời nào là giả, nói tiếng lòng chính là tiếng lòng, là tiếng lòng của một tín đồ Thiên Chúa giáo đọc sách tâm linh. Từ sách của thầy, tôi biết đến một người anh em là Mã Thủy Kim cũng quen biết thầy, anh ấy là người ở địa phương chúng tôi, sau này xin thầy quan tâm nhiều đến anh ấy.
Lan - độc giả trung thành, kính thư!"

Lá thư này đến từ tay của một tín đồ Thiên Chúa Giáo, sau khi đọc xong, mặc dù tôi thấy câu văn bình thường, nhưng tình cảm chân thành tha thiết rất cảm động lòng người, cả bức thư dạt dào tình cảm tuy hai mà một. Nhất là cô ấy nhắc đến một chữ "nhẫn", nhẫn nhịn, nhẫn nhục ba la mật thật không đơn giản làm sao. Tôi từng tức giận, nhưng khi cơn tức giận qua đi, chỉ còn lại sự hổ thẹn, tôi cũng có những lúc không nhẫn nhịn được, nhưng tôi nghĩ, thiên hạ rộng lớn như vậy, tôi giống như một hạt cải thôi, thế là có thể không tức giận nữa, nhờ đó mà tâm an lòng thanh thản, bình tĩnh ôn hòa được rồi.


### 47. Tâm đắc từ đọc sách


Ông Đường Hiến ở Đài Bắc có trí huệ lớn, ông ấy gửi đến những tâm đắc có được từ đọc sách như sau:

"Người đọc thuyết tương đối là tôi đây, có cảm nghĩ rằng trên một phương diện nào đó, thuyết tương đối thật sự không phải là thứ khoa học có thể giải thích được. Nó đã thoát li khỏi khoa học và tiến nhập vào lĩnh vực triết học, giống như Kinh Dịch bao la vạn tượng. Và tôi tin rằng trình độ cao nhất mà khoa học và triết học nghiên cứu tìm tòi rồi cũng sẽ tiến vào lĩnh vực huyền học.

Chân lí tức là đạo, nó tương đương với trí huệ được nói đến trong các bản văn của người Hebrew, hay chính là bát nhã của Phật giáo. Trí huệ khác với thông minh, ánh sáng mà trí huệ tỏa ra giống như kiến giải của Einstein về ánh sáng, nó hoạt động trong tất cả mọi thứ, lan tỏa và tiếp cận mọi nơi, chứ không phải cái mà Newton gọi là ánh sáng, luôn luôn ở trên một đường thẳng. Quan điểm của Newton về ánh sáng có thể ví với thông minh, nó có thể chiếu sáng một mặt của đối tượng, nhưng không thể chiếu sáng mặt sau của đối tượng.

Khi con người lột bỏ lớp ngụy trang tự nhiên, từ trong hỗn loạn thấy được trật tự, khi từ trong sự khác biệt sản sinh ra sự nhất trí thì sẽ phát hiện ra cảnh tượng hiện lên, so với ban đầu thì càng khó nhận ra và tách biệt hơn. Chân lí luôn luôn đòi hỏi vượt qua tất cả cảm nhận, hi sinh tất cả mọi nội dung để đổi lấy, chân lí phải thoát li khỏi cảm giác và kinh nghiệm chủ quan để mà đứng độc lập. Thế giới mà nhân loại thật sự biết đến chỉ là thế giới được tạo thành từ những cảm quan yếu ớt của họ. Khi con người loại bỏ sự tiếp thu cảm giác và những ấn tượng được lưu trữ trong trí nhớ thì nội dung cũng hoàn toàn không còn nữa. Mọi người có xu hướng có thành kiến và cảm nhận bẩm sinh về một số ít người xung quanh họ, những thành kiến và cảm nhận như vậy không chỉ mỗi người mỗi khác mà còn khác với những người khác. Tôi tin rằng mọi người đều sống trong thế giới khác nhau của riêng họ, nhưng lại không có cách nào nói ra chỗ khác nhau đó, đối với bất kì người hoặc vật nào nếu công khai xuất hiện giữa họ, thì cảnh tượng hiện lên sẽ giống như tiến vào thế giới của kính vạn hoa, họ biến những sự việc đơn giản thành phức tạp không thể tưởng tượng được, người này trong con mắt của họ trở thành kẻ địch, bạn bè, ma quỷ, thiên sứ, trí giả, kẻ ngu… muôn vàn hóa thân, và họ luôn luôn không để ý đến sự thật đơn thuần nhất: người đó chỉ là một con người, một người bình thường như bất kì ai trong số họ.

Cùng một lượng thuốc mê, nhưng mức độ mê của mỗi người khác nhau, cùng một vật, mức độ nguy hại sâu hay nông, có lợi hay bất lợi, được hay mất tùy theo mỗi người mỗi khác. Dường như vạn sự vạn vật trong thiên hạ đều do mối quan hệ tương đối lẫn nhau mà cấu thành nên sự tồn tại hư vô về đối phương, khi sớm có được chỗ đứng tuyệt đối thì quan sát ngược lại, vạn vật đều trống rỗng. Chỗ đứng tuyệt đối đại diện cho chân lí, nó vĩnh viễn nửa ẩn nửa hiện giấu bên dưới mái vòm nhựa mờ, mái vòm mờ mờ ảo ảo trên bề mặt này mang đến cho chân lí một lí luận luôn luôn thay đổi, làm đến mức bóng mà nó hiển thị không chỉ bị sai kiểu còn bị biến dạng, con người từ cái mái vòm như vậy mà nhìn ra, có thể nhìn thấy thấp thoáng thế giới khách quan ấy có bao nhiêu mối quan hệ ổn định hiển nhiên và các sự kiện tuần hoàn, đó chính là con đường mà nhân loại nên dốc sức tìm kiếm.

Con người phải chịu những thành kiến mà thế giới trải nghiệm thường ngày tồn trữ, và rất nhiều hạn chế bẩm sinh, mà vẫn không có cách nào đột phá tiến vào một thế giới khác, nhưng chức năng cảm giác vẫn truyền đi một trật tự tuyệt vời, như thể thực tế khách quan của tri giác thực sự có khả năng tồn tại, mặc dù không có ai dám nói màu đỏ hay âm điệu mà người đó cảm giác liệu có giống với cảm giác của người khác không. Khi những ảo giác cảm quan này được siêu thoát, các nhà triết học và khoa học đưa ra kết luận đáng ngạc nhiên, mọi vật thể khách quan chỉ là sự tổng hợp các thuộc tính khác nhau của nó, và những tính chất này chỉ còn là cái bóng trong cảm quan. Cho nên, toàn bộ vũ trụ khách quan do nguyên tử và các hành tinh hợp thành trên thực tế không hề tồn tại.

Sự hiểu biết về chân lí thường đòi hỏi phải vượt quá giới tuyến của cuộc sống vật chất thực tế và tâm linh siêu hình, để tìm một điểm tĩnh duy nhất trong sự thay đổi thiên biến vạn hóa, mặc dù vẫn không dám khẳng định điểm tĩnh này liệu có khả năng tồn tại hay không, nhưng điểm tĩnh này vẫn có thể tồn tại khách quan trong tâm, để nó dẫn dắt chúng ta qua vô số đêm dài tăm tối, một dạng cảm quan và trí lực, đêm đen có tính hai tầng. Và bằng cách tiến từ cảnh giới này nhập vào cảnh giới khác, liên tục tìm kiếm như vậy, chỉ cần điểm tĩnh ở trong tâm, như vậy thì sự điềm tĩnh và thỏa mãn của tinh thần sẽ dễ dàng có được, và khiến cho những sai lầm do thành kiến chủ quan của bản thân sinh ra được giảm thiểu đến mức thấp nhất."

Kẻ hèn này đọc bài viết trên, trong lòng rất cảm động, đặc biệt viết ra tâm đắc của mình như sau:

Thứ nhất, lĩnh vực huyền học thực tế bao hàm khoa học và triết học, linh quang của linh hồn hóa cầu vồng là trình độ cao nhất mà khoa học tìm kiếm, liên quan đến chân lí cuộc đời, trí huệ và bát nhã có tên gọi khác nhau nhưng thật ra là giống nhau. Con người và con người cũng như vậy, cùng là con người, có sự phân biệt người thông minh và người ngu dốt, trí huệ có sự phân biệt cao thấp, cho nên thế giới của mỗi người không bao giờ tương đồng, lời này rất sâu sắc.

Thứ hai, chân lí chính là đạo, đạo và Phật bình đẳng không hai không khác, cũng là tên gọi khác nhau nhưng thật ra là giống nhau, đạo là khả đạo, phi thường đạo, Phật là bất khả thuyết, chân lí cũng thế, chân lí Đạo - Phật không một vật một việc một người nào có thể hình dung được, vì thế không thể nói, nói ra thì lại là sai mất rồi! Cho nên, nó vĩnh viễn nửa ẩn nửa hiện được giấu bên dưới mái vòm nhựa mờ, lời này rất vi diệu.

Thứ ba, đeo đuổi cuộc sống là một kiểu tuần hoàn, phải không ngừng vượt lên, rồi lại vượt lên, đi tìm cầu chính kiến và chính giác, có chính kiến tức là có chính giác, nay linh hồn tôi siêu việt, chẳng phải là sự đột phá lớn của giới tuyến tinh vi hay sao?


### 48. Thư của người ủng hộ và nỗi khổ tâm của tôi


"Thầy Lư xin rộng lòng soi xét:
Từ rất lâu trước đây, kẻ hèn này đã đọc những tác phẩm lớn mà thầy viết, đối với những siêu năng lực mà thầy kể đến trong sách, tôi hoàn toàn tin tưởng và nghe theo, vì bình thường tôi vốn là người trung tín, cũng không có khả năng nói khoác, huống chi đệ tử Phật tu cửa Phật, là quyến thuộc thân thích của Như Lai, sao có thể có chuyện nói khoác, đây cũng là một trong những đạo lí.

Thứ hai, kể từ khi đi học đại học, tôi đã yêu thích triết học, nghiên cứu cùng tận chân lí, đến năm thứ hai đại học, trong một dịp tình cờ tôi đã được biết đến Phật học, tôi cho rằng triết lí của nó thật sự giống với triết học, tôn giáo khác không bì kịp, dần dần khơi dậy trong tôi niềm hứng thú nghiên cứu, đặc biệt là thiền học, lời ít ý nhiều, đơn giản và súc tích, nó thực sự lôi cuốn, nhưng sức lực tôi không đủ, biết đến pháp môn giác ngộ vĩnh hằng này, nếu không phải là bậc đại trí huệ thì thật rất khó thành tựu, huống chi phàm phu ngu phụ, cho nên chỉ còn nhờ cậy pháp môn Tịnh độ, có đầy đủ tín nguyện hạnh, niệm Tự Tính Quan Âm, thu về lục căn, tịnh niệm liên tục, như vậy sẽ không khó để thuần thục nhất niệm. Vì đối với Phật học tôi mới chỉ đạt được hiểu biết một chút bề ngoài, cho nên khi đọc đại tác phẩm của thầy, tôi lập tức tin tưởng sâu sắc không nghi ngờ gì, tôi đã có được một mức độ hiểu biết sâu hơn về tình hình của thế giới tâm linh, lợi ích có được không hề nông cạn, tôi thật sự lấy làm vinh hạnh khi được đọc sách của thầy!

Tôi vốn nghĩ sẽ là một độc giả âm thầm, nhưng mỗi lần đọc sách của thầy thấy nói đến có người cho rằng những gì thầy nói đều là bịa đặt, đều là ba hoa khoác lác, tôi thật sự bực mình, nên tôi không thể im lặng được nữa, rốt cục "đức bất cô tất hữu lân" [lời của Khổng Tử, nghĩa là người có đạo đức thì không cô độc, nhất định sẽ có người cùng chí hướng đến đến làm bạn cùng mình], tiếng bước chân thình thịch trong hang trống vẫn sẽ có người cộng hưởng đồng cảm, hà tất phải canh cánh trong lòng, nhất là đại đức có đầy đủ huệ căn, vào cái thời ham muốn vật chất tràn lan, đạo đức sa sút ngày nay, Trời Người kì vọng vào tiếng gầm sư tử của đại đức mới thiết tha làm sao. Mong đại đức luôn cố công học hỏi để bản thân được thập toàn.

Hoàng Bách Thành kính thư!"

Nhận được bức thư của người ủng hộ này, trong lòng tôi tràn đầy xúc động và cảm kích, thư gửi đến tôi rất nhiều, trên mấy chục nghìn lá thư và vẫn còn liên tục tới tấp bay đến. Điều mà tôi cảm thấy vô cùng có lỗi là tôi không có thời gian để trả lời những thư ấy, bởi vì mỗi ngày trung bình tôi nhận được hơn một trăm lá thư, thư nhiều như tuyết rơi, như nước thủy triều, có người còn kèm theo cả phong bì hồi đáp có dán tem. Tôi đã nghĩ hết mọi cách để trả lời họ một tiếng, nhưng thời gian có thể sẽ rất lâu mọi người mới nhận được, có lẽ phải vài năm sau mới nhận được thư trả lời, bởi vì hiện tại thư độc giả gửi đến đã chật ních mười hai cái hòm lớn rồi. Mỗi ngày tôi trả lời mười bức thư, khả năng phải hơn mười năm mới trả lời hết, tôi rất xin lỗi, vô cùng xin lỗi. Nói thật lòng, tấm thịnh tình của mọi người khó mà khước từ, nhưng mong các vị đại đức suy nghĩ cho lập trường của tôi, mọi người có lẽ sẽ hiểu được cảnh ngộ của tôi. Hàng ngày tôi nhìn đống thư mà thở dài, món nợ thư này tôi không có cách nào trả hết, nếu có chỗ nào thiếu sót, mong hết sức thứ lỗi, không phải là tôi không từ bi, mà là tôi không thể nào đủ lực, có xuất hiện mười Lư Thắng Ngạn cũng không đọc hết được, đây chính là nỗi khổ tâm trong lòng tôi.

Ngoài ra, tôi cũng đặc biệt tuyên bố, tôi đã dừng việc thần toán cho người ta, xin đừng đến tìm tôi nữa, không lại mất công tìm đến mà không được việc gì, vừa phí tiền vừa lãng phí tinh thần, kết quả là đến nhà tôi thì tôi lại chẳng thể thần toán. Lí do là như thế này, ban đầu tôi viết sách, tôi không ngờ lại gây nên sự chấn động lớn đến vậy, không chỉ những người tin theo từ mọi hướng đổ về, mà còn có rất đông người từ khắp nơi kéo đến tận nhà, số lượng người đến ngoài sức tưởng tượng của tôi, từ quan chức cao cấp đến những người dân bình thường, đủ mọi hạng người đều có. Có người mộ đạo đến cầu đạo, có người cố ý đến thăm dò, có người đau đớn hoạn nạn, có người gặp chuyện khó khăn không cách giải quyết, dòng xe dòng người kéo đến như nước chảy rồng cuốn. Tình huống này nằm ngoài dự liệu của tôi, ban đầu tôi dùng hết tinh thần không ngủ không nghỉ để đáp ứng biển người ùn ùn kéo đến này, nhưng rốt cục tôi đã nghĩ sai rồi, dòng người này vĩnh viễn sẽ không có ngày dừng lại, còn thể lực của tôi đã không thể nào chống chịu được nữa. Tôi không có cách nào tĩnh tâm lại để ngồi thiền luyện công, không có cách nào đọc sách viết sách, linh lực có hiện tượng hao mòn, tôi đã hoàn toàn không còn thời gian để tĩnh tu nữa rồi, ông trời ơi! Tôi phải làm sao? Tôi phải làm sao? Tôi thật sự muốn hét lớn, hãy tha cho tôi đi! Cầu xin mọi người, tôi gần như muốn quỳ xuống để cầu xin những người khách kéo đến, bởi vì tôi đã không còn một phút nào có thể nghỉ ngơi.

Cho nên, tôi dán lên trước cổng nhà mình một tấm giấy màu đỏ viết "Dừng thần toán, miễn tiếp khách". Vừa dán lên thì lập tức bị những người khách xé bỏ, tôi dán, họ xé, tôi dán, họ xé, giống như chơi trò chơi vậy. Tôi giải thích và xin lỗi những người khách, chẳng có ai hiểu cho, tôi biết họ từ rất xa đến đây, nếu không được giải đáp thì sẽ rất thất vọng, nhưng nếu tôi cứ tiếp tục như thế này thì cũng là đi vào đường chết (không có cách nào tu hành linh tu được), vì vậy mà tôi từ chối hết. Có rất nhiều người tính tình nóng nảy, dùng gạch đập vỡ chuông cửa nhà tôi, có người thậm chí còn trèo tường vào trong, cứ ngồi ở trong sân không chịu đi, có người tức giận dùng chân đạp vỡ cái cửa gỗ nhà tôi. Nói thật, tôi hiểu rằng những người này đều không có gì sai, có người dùng dao chém vỡ tấm biển hiệu bằng gỗ của chúng tôi, vì họ hận rằng họ từ xa xôi tìm đến nhà tôi, kết quả là tôi lại đóng cửa không tiếp khách. Tôi hoàn toàn không có ý trách họ, tôi có trách thì chỉ có thể trách chính mình, là bản thân tôi không tốt, bởi vì trong ba cuốn sách tâm linh trước tôi đã không nói rõ!

Nửa đêm một giờ sáng, hai giờ sáng, ba giờ sáng đều có người đến gõ cửa, buổi đêm tôi không có cách nào ngủ được. Không chỉ như vậy, hàng xóm xung quanh cũng bị người ta hỏi thăm rất phiền phức, hàng xóm láng giềng của tôi dù có kiềm chế rất tốt cũng không thể chịu đựng mãi sự phiền nhiễu này. Tôi thì đã đến mức độ ăn cơm cũng không thể ăn, đi ngủ cũng không thể ngủ, căn bản là đừng nói đến chuyện yên lặng ngồi thiền luyện công, hễ ngồi xuống là ngoài cửa lại vang lên tiếng gõ cửa "binh binh binh". Những ngày tháng này của tôi thật sự sống chẳng như một con người. Đương nhiên, những lá thư khích lệ từ khắp nơi gửi đến rất nhiều, rất nhiều người tu đạo cũng vồn vã hỏi thăm và chỉ giáo, những điều này thật sự khiến người ta cảm động, nhưng tôi làm sao có thể tự xử lí được? Những phiền não này là do tôi tự chuốc lấy, tôi phải làm sao?


### 49. Lời kết


Khi tôi mới có được kì duyên, tôi thường cảm thấy, Đài Loan đảo ngọc là mảnh đất trong lành do trời để lại, đồng bào cả nước ta đối với mảnh đất quý trên biển này, tấm lòng cảm kích thật khó nói thành lời. Sự phát triển của Chân Phật Tông đòi hỏi lòng bác ái và nhân từ, cũng là sự xuất hiện của một nhân duyên lớn, với những khát vọng lớn lao. Sự phát triển của văn hóa phương Đông, sứ mệnh khôi phục văn hóa Trung Quốc đặt trên vai chúng ta, như vậy chúng ta mới xứng đáng với các Thánh Hiền tổ tiên các thời đại, với các đại đức tôn giả các thời đại, với các vị tổ sư các thời đại.

Theo cá nhân tôi biết, việc tu hành thật sự không thể miễn cưỡng, tôi viết năm cuốn sách tâm linh này, từ nông tới sâu, dùng tư tưởng dễ hiểu để giải thích những câu chữ tinh hoa trong kinh Phật thâm sâu ảo diệu phức tạp. Tôi tin rằng có thể khiến mọi người có được ấn tượng sâu sắc, nhiệm vụ truyền bá rộng rãi Phật pháp cũng có thể có nhiều đất dụng võ. Nếu như thế rồi mà vẫn không thể lôi cuốn con người đi vào con đường thù thắng thì thật sự tôi cũng không còn cách nào nữa. Nếu có người sau khi đọc xong năm cuốn sách tâm linh này mà vẫn không tin, thì người đó thật sự là hòn đá ngu dốt nhất trên đời, nhân duyên như vậy không dám miễn cưỡng, xin người không tin thứ lỗi, tôi chỉ còn biết lắc đầu mà nước mắt đầm đìa, bởi vì tôi cũng bó tay rồi! Thật hổ thẹn!

Năm cuốn sách tâm linh của tác giả là một sáng kiến chưa từng có, chú trọng vào các ví dụ thực tế, cũng chỉ ra các nguyên tắc và phương hướng của Phật giáo, không phải là lí luận suông trống rỗng. Tôi viết năm cuốn sách này, nếu không có linh lực gia trì thì không thể viết được. Sự gia trì và chỉ thị của Phật lực khiến tôi khi viết sách cũng thường xuyên có thể nghe thấy Phạn âm từ không trung truyền xuống, rõ ràng và trang nghiêm không gì sánh bằng. Rất nhiều Thần Tiên và Phật Tổ đều ca ngợi rằng: "Đúng là chưa từng có, đúng là chưa từng có, Liên Sinh là sinh ra từ hoa sen, hoa sen có thể hóa sinh." Do kiến thức và hiểu biết của tôi còn hạn chế, rất nhiều đại đức tôn giả, tì kheo xuất gia cũng thường gửi thư đến để chỉ giáo cho tôi, thật sự rất cảm kích, rất cảm động. Tôi thật sự hi vọng người theo pháp này mà tu, đạt được trí huệ thậm thâm, đều có thể lĩnh ngộ, và có đại thành tựu đại viên mãn. Trên thực tế Phật pháp giống như đại dương bao la, tôi từng bế quan ẩn tu, phát hiện ra vào lúc suy nghĩ mênh mông trong vắt, có sự kết tinh thành trí huệ không gì sánh bằng, vượt lên trên rất xa so với trí huệ khác, giống như nghìn mỏm đá tranh nhau nổi bật, vạn khe nước tranh nhau dòng chảy, có thể dung hợp và thông suốt, trở thành chân lí hàng vạn hàng tỉ năm không thay đổi. Nay Chân Phật Tông của tôi có được có duyên này, tôi đắc đạo công, tôi cũng thề rằng: "Cùng tắc độc thiên hạ kì thân, đạt tắc kiêm thiện thiên hạ." [Câu nói của Mạnh tử, nghĩa là bần cùng thì giữ được mình, thành đạt thì tạo phúc cho thiên hạ.]

Thừa nhận sự tồn tại của linh hồn là phá bỏ mê tín, chúng ta cần xây dựng chân lí công bằng về thiện ác nhân quả báo ứng, phải xây dựng lòng tự tin, tự tin mới có thể tự cứu mình, tự cứu mình mới có thể cứu người khác, phát triển rộng khắp bồ đề tâm. Chúng ta còn có sức mạnh của niềm tin và ý chí, phải ngẫm lại, con người ta làm sao cứ mãi lao tâm khổ tứ, cứ tầm thường xoàng xĩnh mà đi hết cuộc đời này chứ?

Hoàn thành cuốn sách Khởi Linh Học cũng là hoàn thành một tâm nguyện lớn của tôi, cũng có thể nói là tôi viết sách tâm linh, cuối cùng cũng xem như có một đoạn kết. Tôi hi vọng mọi người đừng đến tìm tôi nữa, cũng đừng viết thư cho tôi, bởi vì tôi vẫn đang trong quá trình tự tu học, không thể chịu quá nhiều sự quấy rầy. Bởi vì hiện tại người tìm đến tôi quá nhiều, mỗi ngày nhận thư cũng trên trăm bức, thử nghĩ mà xem một đống thư như vậy sẽ chiếm hết toàn bộ thời gian của tôi. Ai ai cũng đến tìm tôi khiến tôi không có chút thời gian nào tĩnh tâm xuống mà tu luyện, nguyên nhân mà tôi đóng cửa từ chối tiếp khách là ở đây. Tôi viết sách chỉ là để ấn chứng đường lối tu hành, không phải là để xem bói cho người ta, mọi người không nên hiểu sai mới phải. Chỉ mong mọi người đặt mình vào hoàn cảnh của tôi để mà nghĩ cho tôi một chút, đừng ích kỉ mà làm hại đến công hạnh của tôi. Sau này nếu có ngày tôi thành tựu, tự nhiên tôi sẽ hiên ngang bước ra, còn bây giờ thì tôi vẫn còn non lắm! Xin thứ lỗi, thứ lỗi!

Tin hay không tin, tôi đều cho rằng là duyên phận, kinh Hoa Nghiêm có nói: "Như Lai thuyết pháp cũng như thế, thành tựu vô biên pháp giới trí luân, thường tỏa ánh sáng trí huệ vô ngại, trước hết là chiếu đến các vị Bồ Tát Ma Ha Tát, Chư Thiên, Sơn Vương, tiếp đó là chiếu đến các vị Duyên Giác, tiếp nữa là chiếu đến Thanh Văn, rồi chiếu đến những chúng sinh có thiện căn, tùy theo tâm khí mà thị hiện trí huệ quảng đại. Sau đó phổ chiếu tất cả chúng sinh ngay cả xấu tà cũng đều chiếu tới. Tuy nhiên, nhật quang đại trí của Như Lai không làm nên ý niệm, trước tiên ta chiếu tới Bồ Tát đại hạnh, sau đó chiếu tới ngay cả chúng sinh xấu tà. Chỉ tỏa ánh sáng, bình đẳng chiếu khắp, vô ngại vô chướng, không có sự phân biệt nào. Vì trí tuệ chúng sinh có cao có thấp, do vậy mà chiếu sáng có sự khác biệt trước sau." Cho nên, tin hay không tin vẫn là vì trí tuệ cao thấp không bao giờ tương đồng, người tò mò, người muốn thăm dò, người muốn cười chê thì còn thuộc hạng kém hơn thế nữa, vậy thì thật sự giống như ánh sáng mặt trời treo trên không trung, nhưng mà có người bị mù, người mù không nhìn thấy ánh sáng mặt trời cho nên không thừa nhận rằng có ánh mặt trời tồn tại!

Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh là bậc Chân Tiên chí cao vô thượng, tôi vốn là một con người thô tục, sự giáo hóa của Ngài khiến tôi cả đời cả kiếp này cảm kích. Ngài đã truyền thụ cho tôi những chân lí giữa trời đất, tôi từ một kẻ vô tri tiến nhập vào lĩnh vực của các bậc Thánh. Thế giới tâm linh đa dạng này, nếu không có sự giới thiệu của Ngài thì tôi chẳng thể viết ra được.
"Thái thượng nhân gian mây nước xa xăm
Tiên Đồng Tiên Nữ xếp hàng nghênh đón
Cờ bảy sắc, lọng lông chim, cưỡi xe mây có cánh
Rời chốn nhân gian nhập chín tầng mây
Bốn biển vang dội tiếng ngợi ca
Ngũ nhạc thở than rừng xót xa
Từ nay nhân gian mất người tài
Trải qua tam giáo lại hoàn nguyên."
Đây là bài kệ Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh để lại cho tôi, ngoài báo đáp Ngài ra, thật sự tôi không biết nói lời cảm tạ nào khác.

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/026-suc-manh-huyen-bi.md
# Title: 026. Sức mạnh huyền bí
---

![image](/img/img_682363e1de86268ebd859d9473df456c.jpg)



## Sức mạnh huyền bí


🪷 Phát huy cao độ sức mạnh tinh thần

Văn tập: 026
Xuất bản: 01/1977
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


Trong vũ trụ mờ mịt này, có rất nhiều năng lượng tồn tại, trong đó tự nhiên có những năng lượng thuộc chiều không gian từ chiều thứ tư trở lên. Các nhà khoa học, khi chưa chứng minh được, đã thực sự cảm thấy kinh ngạc và khó hiểu trước những hiện tượng đặc biệt trong vũ trụ. Vì vậy, tôi cũng cho rằng việc nghiên cứu sâu về những năng lực huyền bí của vũ trụ là điều cần thiết, để mọi sự thật có thể được phơi bày trong khoa học.

Văn minh của nhân loại càng phát triển thì những điều bí ẩn cũng càng nhiều, không phải vì văn minh thịnh vượng mà những điều bí ẩn giảm đi. Tôi có thể nói rằng, trong quá trình con người nỗ lực tìm hiểu về những sức mạnh huyền bí của vũ trụ, niềm nhiệt thành của họ đối với sự chi phối mầu nhiệm của tôn giáo vẫn không hề suy giảm. Chủ yếu là do thời gian đã quá lâu, rất nhiều phép thuật kỳ diệu đã bị con người lãng quên trong ký ức. Vậy những phép thuật này có thực sự linh nghiệm không? Tại sao chúng vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay? Liệu chúng có thực sự có sức mạnh không? Sức mạnh đó đến từ đâu và có giá trị gì không?

Khi cầm bút viết cuốn sách này, tôi đã cân nhắc rất nhiều, viết hay không viết, điều này cứ trăn trở mãi trong lòng. Bởi vì nếu viết ra, phần lớn những điều này đều là pháp thuật hữu hình, khác xa với pháp tướng vô hình của Đại thừa, không tránh khỏi việc một số cao tăng đại đức sẽ cho rằng tôi đang cổ xúy tiểu thuật, đi ngược lại với việc hoằng dương đại pháp. Ngoài ra chắc chắn sẽ có người cho rằng tôi lại đang bàn chuyện huyền hoặc, làm gì có chuyện như vậy. Sau khi suy đi tính lại, tôi nghĩ là mình vẫn nên viết! Bởi vì đây dù sao cũng là những điều thầy đã truyền cho tôi, giờ tôi công bố ra để tránh thất truyền, hơn nữa những pháp thuật đơn giản này dường như có thể trở thành điểm tựa cho việc nghiên cứu về năng lượng của con người, ít nhiều cũng có ích lợi cho mọi người.

Thần lực của quỷ thần thuộc về không gian chiều thứ tư trở lên, tôi là người tin vào sự tồn tại của quỷ thần. Trong những cuốn sách trước đây của tôi, tôi thường nhấn mạnh ba điểm: Thứ nhất, công nhận sự tồn tại của quỷ thần để phá bỏ thuyết vô thần. Thứ hai, khuyên mọi người nên có tín ngưỡng tôn giáo để tăng cường và thăng hoa sức mạnh tinh thần. Thứ ba, hy vọng mọi người làm điều thiện, tin vào sự thật của nhân quả báo ứng, để tâm hồn nhân thế không rơi vào vực thẳm tội lỗi. Có như vậy mới có thể cứu vãn sự lệch lạc tinh thần của con người hiện đại, không bị lạc lối trong những thụ hưởng vật chất. Đây là ba ý nghĩa lớn khi tôi viết sách tâm linh, tin rằng thần minh trời đất am hiểu tâm ý của tôi sẽ thấu tỏ điều này.

Tôi nhớ khi Tiến sĩ Văn học Tạng Quảng Ân từ Nhật Bản trở về, đến nhà tôi học Đạo pháp, ông đã nhiều lần đề xuất: "Thầy Lư à, trong cuộc đời này thầy nên hệ thống hóa một cách tốt đẹp các pháp thuật của Đạo gia Trung Quốc và các pháp thuật hữu hình vô hình của Phật gia. Công việc này vô cùng quan trọng, hơn nữa trong những quyển sách này có thể chỉ dẫn cho mọi người về tầm quan trọng của tu hành và tu thiện. Công việc như thế từ xưa đến nay chưa từng có, nay trời giao trọng trách này cho thầy, không thể phụ ý trời được, công việc biên soạn lớn lao này, chỉ có thầy mới làm được."

Khi đó tôi đã trả lời ông ấy rằng: "Đời người quả thật rất ngắn ngủi, tôi rất vui lòng làm việc này, nhưng chỉ e năng lực không đủ, đành phải từng bước từng bước mà tiến, tôi không dám nói những gì mình viết ra sẽ tốt đến mức nào. Nhưng, cứ hết sức mà làm vậy, mong chư Phật từ bi, trợ giúp tôi một tay, khiến tôi an lạc, thế là mãn nguyện rồi!"

Gần đây nhiều bậc trưởng bối, bạn bè, hễ gặp tôi là đều nói thế này:
"Lư Thắng Ngạn này, anh đã nổi danh rồi, phải cẩn thận kẻo cây cao đón gió, bị tiếng tăm làm hại đấy."
"Lư Thắng Ngạn này, có người đang ghen tị với anh, muốn đẩy anh vào chỗ chết mới thôi đấy! Đắc tội với quân tử còn được, chứ tuyệt đối không thể đắc tội với tiểu nhân!"
"Anh như cái đinh nhô ra, thế nào cũng bị người ta đập cho bẹt thôi."

Khi mới nghe những lời này, tôi thừa nhận mình đã khóc, khóc đến đau lòng tuyệt vọng, trong tâm hồn mình, tôi chẳng khác nào một con chim bị thợ săn bắn trọng thương. Tuy nhiên, sau khi khóc xong, tôi lại đứng dậy mạnh mẽ, tôi phải phớt lờ những lời phỉ báng và bôi nhọ đầy ác ý của những kẻ đố kỵ. Chư Phật Bồ Tát dạy tôi rằng: "Đời người chỉ có một lần sinh và một lần tử, giữa sinh tử ấy chỉ là hai chữ 'tâm an', mọi việc chỉ cần cầu tâm an mà thôi, tâm nếu an được thì mọi phiền não sẽ hoàn toàn tiêu tan. Và tất cả những người thành đạo, không ai là không phải đội vương miện hào quang sau những thử thách gian khổ." Đúng vậy, trong một đất nước có chính quyền sáng suốt và pháp trị, tôi không sợ bị phỉ báng, không sợ bị bôi nhọ ác ý.

Xin lưu ý độc giả khi đọc cuốn sách này, nội dung trong sách này, tin hay không là tùy bạn, đây là sự phát huy cao độ của sức mạnh tinh thần, là một phương pháp mượn vật để thay thế. Học những điều này hoàn toàn dựa vào sự thống nhất của sức mạnh tinh thần, dựa vào việc phát huy sức mạnh tinh thần mà biết được có hiệu quả hay không. Vì vậy, những phép thuật này hoàn toàn phụ thuộc vào tinh thần của người thực hiện, sức mạnh tinh thần càng lớn thì năng lực càng mạnh, sức mạnh tinh thần càng nhỏ thì năng lực càng yếu, đây là quy luật tương đối. Ngoài ra còn có một số pháp bí mật về tu hành độ vong cũng sẽ được công bố trong sách này.

Vì tôi đang rất bận rộn với việc viết sách, đồng thời phải tu luyện ẩn tu, vẫn còn phải làm việc bên ngoài, nên tôi mong độc giả đừng tìm đến gặp tôi. Dù quý vị có đến cũng chẳng sao, nhưng tốn tiền tốn công, thật không đáng, vì tôi thường xuyên vắng nhà. Ngoài ra, xin độc giả đừng gửi thư cho tôi, hiện thư chất cao như núi, thực sự không thể trả lời hết được. Mỗi ngày nhiều nhất là 500 lá thư, ít nhất cũng có 100 lá, mong quý vị thông cảm! Xin thông cảm!

(Ghi chú: Cuốn sách này được hoàn thành vào tháng 10 năm 1976, khi đó tác giả Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đang sống tại Đài Trung, Đài Loan; hiện nay đã di cư đến Seattle, Hoa Kỳ. Thông tin liên lạc được đính kèm dưới đây.)

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn | Sheng-yen Lu**
17102 NE 40th Ct.,
Redmond, WA 98052
U. S. A.


### 01. Kỳ tích về dòng nước giữa sông


Vào tháng 6 năm 65 [1976], vào giờ trưa, khi tôi đang ở nhà hàng chay Hoành Lâm ở Đài Bắc, có một cụ già đi nhầm phòng, sau khi ra ngoài lại quay đầu hỏi tôi: "Xin hỏi anh có phải là Lư Thắng Ngạn ở Đài Trung không?"
"Vâng, đúng vậy." - Tôi gật đầu. Tôi thắc mắc không biết vị này là ai và sao ông ấy nhận ra tôi.
"Tôi đã từng nghe anh diễn thuyết tại Viện Lập Pháp, tôi ở làng Bích Hồ, Nội Hồ, tên tôi là Chu Bang Đạo, tôi là bạn thân với đại biểu Lý Quán Nhất."
"Ồ! Thì ra là Chu Bang Đạo, thưa ông Chu, mời ông ngồi." 

Chúng tôi chắp tay chào nhau. Ông Chu Bang Đạo là giáo sư tại Học viện Văn hóa Trung Quốc kiêm Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học thuộc Học viện Học thuật Trung Hoa, hiệu là Khánh Quang, người Thụy Kim, Giang Tây, là một cư sĩ cao tuổi. Lần đầu gặp ông Chu Bang Đạo, tại sao tôi lại biết về ông ấy? Nguyên do là phu nhân của ông, bà Chu Dương Huệ Khanh có một cuốn sách truyền kỳ lưu truyền, đó là cuốn "Ký sự Chu Dương Huệ Khanh gặp Địa Tạng Bồ Tát", hơn nữa tôi biết nước chú Đại Bi của bà Chu Dương Huệ Khanh nổi danh thiên hạ, đã từng cứu sống rất nhiều người, hiệu nghiệm phi thường.

Thế là, tôi nói chuyện với ông Chu về việc nước chú Đại Bi, ông kể: "Nước chú Đại Bi của Huệ Khanh được truyền từ một vị sư già, và dường như có một lực lượng huyền bí nào đó hướng dẫn bà ấy lấy một dòng nước giữa sông. Thế nào là một dòng nước giữa sông? Không ai biết cả. Một lần đi thuyền, kỳ diệu thay, bà nhìn thấy giữa dòng sông có hai chiếc bè tre song song với nhau, giữa hai chiếc bè đó là một dòng nước. Bà liền nảy ra ý tưởng, lập tức lấy đồ đựng nước để múc nước. Sau khi mang nước về nhà, bà đặt trước tượng Quan Thế Âm Đại Sĩ, hàng ngày tụng chú Đại Bi. Thật kỳ lạ thay, "dòng nước giữa sông" này kết hợp với chú Đại Bi đã phát ra hào quang, sáng long lanh. Huệ Khanh không biết nước chú Đại Bi này linh nghiệm ra sao, nên đã thử cho một con chó hàng xóm uống một chút. Con chó này rất hung dữ, hay cắn người, bà bèn cho một ít nước vào thức ăn của nó và thầm niệm: "Này chó ơi, đây là nước chú Đại Bi của Đức Quan Thế Âm Đại Sĩ, nước này ban phúc cho tất cả chúng sinh, nếu có linh ứng, xin hãy dập tắt ngọn lửa sân hận trong lòng ngươi, từ nay không còn hung dữ, không cắn người nữa." Sau khi uống nước chú Đại Bi, con chó dữ trở nên ngoan ngoãn hơn cả mèo con, từ đó không bao giờ cắn người nữa. Vì thế, nước chú Đại Bi của Huệ Khanh đã trở thành bảo vật cứu người độ thế, nước đến bệnh trừ, đây quả thực là một kỳ tích."

Đúng vậy, đối với phàm phu bình thường mà nói, đây quả thực là một phép màu. Tuy nhiên, tôi lại không nghĩ như vậy. Trước hết, việc lấy được một dòng nước giữa sông đã không dễ dàng, hoàn toàn dựa vào cơ duyên và sự nhanh trí. Đặc biệt sau khi lấy được nước về, lòng kiên trì tụng chú còn quan trọng hơn - bảy lần, bốn mươi chín lần, một trăm linh tám lần, thậm chí siêng năng tụng sớm tối mỗi ngày, để rồi kỳ diệu thay, những giọt nước ấy tỏa ra ánh hào quang rực rỡ. Đây là biểu hiện cao nhất của sự kết hợp giữa thần lực của chư Phật Bồ Tát và sức mạnh cảm thông tâm linh, quả thật không đơn giản chút nào.

Do không còn nhiều thời gian, chúng tôi trò chuyện thêm một lúc rồi chia tay.

Trong pháp thuật của Đạo gia có một loại nước gọi là địa tương thủy, loại nước này có thể giải trăm độc. Nếu được trì chú Đại Bi thì càng linh nghiệm hơn. Để lấy nước này, đào sâu bốn thước trên mặt đất sạch, đổ đầy nước giếng vào, dùng gậy gỗ khuấy đều, sau đó để lắng dần. Đợi cho cát bùn lắng xuống hoàn toàn rồi mới lấy nước, trì tụng chú Đại Bi, đây chính là nước Đại Bi địa tương, chuyên dùng để giải độc, có công hiệu rất lớn.

Nước chú Đại Bi hiện nay được sử dụng rất phổ biến trong Phật giáo. Tuy nhiên, người thường chỉ biết cách trì chú Đại Bi mà không biết phương pháp lấy nước. Khi lấy nước phải thành tâm, đồng thời phải quán tưởng, như thể Quan Thế Âm Bồ Tát đứng trên không trung, nhẹ nhàng vẩy cành dương liễu, từng giọt nước trong tịnh bình bay lên không trung, trăm bệnh tiêu trừ, cứu khổ cứu nạn, đây chính là diệu pháp cứu độ của Bồ Tát vậy.

"Dòng nước giữa sông" là điều ông Chu Bang Đạo đã kể cho tôi, tôi vốn không dám giữ riêng cho mình, nay xin chia sẻ với quý độc giả, nước chú Đại Bi của Bồ Tát Chu Dương Huệ Khanh có sức mạnh linh nghiệm, ngoài công lực trì tụng Phật chú ra, phải chăng phương pháp lấy nước của bà ấy là từ linh cơ của trời cao? Mong mọi người hãy nghĩ kĩ, nghĩ kĩ!

Sau cuộc trò chuyện với Chu Bang Đạo, có một bài kệ lưu niệm:

*Bàn chuyện huyền bí vốn là tiên,
Người đời châm biếm cho là điên;
Chẳng kết ác duyên kết thiện duyên,
Trong lời Đại Bi quên thiếu niên.*


### 02. Cờ lục tự đại minh của Mật tông


Mấy năm qua, tác giả đã vân du khắp các nơi, những chùa miếu mà tôi đã đến thăm vô cùng nhiều, nhưng rất ít các ngôi chùa Phật bình thường có cắm cờ ở trên mái. Trái lại, các miếu Đạo giáo thì tôi nhìn thấy có cắm cờ lệnh đen là nhiều nhất, tiếp theo là cờ vàng, tiếp nữa là cờ trắng, còn cờ màu sắc khác thì căn bản là cực kì hiếm thấy. Trong cuốn sách "Mạn đàm linh cơ thần toán", tôi từng nói đến bí mật của cờ lệnh đen, vì thế, cờ lệnh đen cũng không còn là ký hiệu gì quá thần bí nữa.

Tu trì Phật giáo luôn có sự khác biệt giữa Hiển và Mật. Hiển giáo lấy Phật lý là chính, còn Mật giáo thì lấy mật hành là chính, và mật hành có ý nghĩa là tự mình thể nghiệm, coi trọng nỗ lực tinh tấn, dũng cảm ngoan cường. Còn nhớ có một lần, tôi đi dạo trên con đường vòng xung quanh một cái hồ nọ, trên tấm biển chỉ dẫn bên đường chỉ ra là trên núi có một ngôi chùa. Tôi một mình đi lên đó thì gặp một ngôi chùa nhỏ là một gian nhà lá, bên trong có thờ một bức tượng Quan Âm Đại Sĩ. Vị Quan Âm Đại Sĩ đó không giống với các vị Đại Sĩ thông thường, trên đầu có đội Di Đà Phật, có bốn cánh tay, hai tay chắp lại, hai tay kia thì một tay cầm hoa sen, một tay cầm viên ngọc, vô cùng trang nghiêm. Hai bên trái phải có hai bức phướn, viết rằng: "Thanh tịnh đại bi diệu sắc thân, Di Đà trụ đỉnh trợ hoằng nguyện. Nghìn mắt chiếu kiến chúng sinh khổ, chúng con chí tâm quy mệnh lễ." Tôi nhìn thì biết ngay đây là bức tướng Quan Âm Đại Sĩ của Mật tông, tôi chắp tay làm lễ.

Bên trong chùa có một lão cư sĩ, chúng tôi nói chuyện thì mới hay lại là sư huynh đệ, vị sư huynh này hy vọng tôi không công bố họ tên ông ấy với đời, vì trước kia ông ấy là một nhân vật quan trọng trong giới chính trị, bây giờ thì ông ấy tu Mật tông. Tôi thấy trên bàn thờ của ông ấy có đặt một cuốn "Đại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương Kinh". Ông đưa tôi đi xem ngôi nhà, thì ra xung quanh ngôi nhà của ông ấy có cắm năm lá cờ. 
Ông ấy hỏi tôi: 
"Anh có biết đây là cờ gì không?"
"Sư huynh, đây chính là cờ lục tự đại minh của Mật tông có phải không?"
"Chính xác." - Ông ấy hết sức vui mừng nói: "Bảo sao Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh muốn truyền thụ Đạo pháp cho anh. Năm lá cờ này phân thành năm hướng Đông Tây Nam Bắc và ở giữa, trên mỗi lá cờ có viết lục tự đại minh chân ngôn. Cờ hình vuông mỗi cạnh dài bảy tấc: ở phía Đông là cờ màu trắng, chính là Trì Quốc Thiên Vương hộ trấn; ở phía Nam là cờ màu vàng, là Tăng Trưởng Thiên Vương hộ trấn; ở phía Tây là cờ màu đỏ, chính là Quảng Mục Thiên Vương hộ trấn; ở phía Bắc là cờ màu lục, là Đa Văn Thiên Vương hộ trấn; ở giữa là cờ màu lam, là 28 chòm sao và các tinh tú thiên thần hộ trấn. Năm lá cờ này là cờ lục tự đại minh của Mật tông, có tác dụng cứu nạn, cầu phúc, hộ đàn, trảm ma, tồn tại sức mạnh bất khả tư nghì."

"Lục tự đại minh chân ngôn chính là "Om mani padme hum", đây là chân ngôn tiếng Tạng, chú này thần diệu thù thắng. Dụng ý chính của Mật tông nằm ở tam mật tương ứng, cũng tức là thân thể thanh tịnh - là thân mật, chân ngôn thanh tịnh - là ngữ mật, quán tưởng thanh tịnh - là ý mật. Nói vậy anh có hiểu không?" - Sư huynh lại nói.
"Tôi hiểu rồi." - Tôi nói. 

Lúc này, hai mắt tôi tập trung tinh thần, không ngờ nhìn thấy trên năm lá cờ đó, mỗi lá cờ đều phát ra ánh sáng cát tường năm màu sắc, và không ngờ là trên ánh sáng cát tường đó có một vị thần tướng đang đứng, vị nào cũng có thần thái phấn chấn, trên tay cầm cung, cầm tên, cầm đao thép, cầm rìu, cầm chày hàng ma. Tôi quay sang nói với sư huynh, hơn nữa tôi còn lần lượt chỉ rõ, sư huynh rất đỗi vui mừng, luôn miệng nói: "Thần kỳ quá, thần kỳ quá!"

Kẻ hèn này từng biết cờ lục tự đại minh có năng lực bất khả tư nghì. Có người sống trong nhà bất an, có thể cắm năm lá cờ nhỏ này ở chỗ cao nhất, mỗi ngày cần niệm 108 biến chú, trong cõi vô hình tự nhiên sẽ có sức mạnh tiêu tai cầu phúc phát ra. Đặc biệt là gió thổi vào cờ, dưới ánh sáng mặt trời chiếu rọi lâu ngày, chú lực sẽ liên tục không ngừng xuất hiện ánh sáng rực rỡ. Mặc dù đây là sự bố trí cờ hữu hình nhưng lại sản sinh ra sức mạnh vô hình. Tôi đã từng đi qua rất nhiều chùa miếu, chưa từng thấy có nơi nào làm như vậy, chỉ thấy có Cung Thắng An ở Hoa Liên là có cắm cờ lệnh đen ở bên trên, cờ lệnh đen này cũng có tác dụng trấn đàn xua tà. Nhưng nhà dân bình thường lại không dùng, nếu có người tu Mật tông, trì lục tự đại minh chân ngôn, dùng cờ lục tự đại minh để an trạch, thì đó là thủ pháp cao minh nhất.

Tại Trúc Sơn có một ngôi nhà, chủ nhân đã treo cổ tự sát ở tiền sảnh, về sau người sống trong ngôi nhà đó đều không được bình an, thậm chí nhìn thấy có người loanh quanh ở cửa trước, xuất hiện ở trong gương, trẻ con buổi tối đi ngủ khóc đêm rất khủng khiếp, cánh quạt điện quay đều đều cũng phát ra âm thanh kì quái. Thế là tôi dạy họ cắm cờ lục tự đại minh, niệm chú vãng sinh cho vong linh, kết quả là hung trạch không còn hung nữa, kể từ đó bình yên vô sự. Chủ nhân mới còn quét sơn lại toàn bộ ngôi nhà, giờ đây hung trạch đã biến thành cát trạch. Cờ lục tự đại minh của Mật tông thật sự hữu dụng.

Dùng cờ lục tự đại minh của Mật tông cần chú ý những việc sau:
(1) Trên mỗi lá cờ đều viết sáu chữ "Om Ma Ni Pad Me Hum" [ký tự Tạng văn]. Viết chữ Om thì quán tưởng màu trắng, viết chữ Ma thì quán tưởng màu đỏ, viết chữ Ni thì quán tưởng màu vàng, viết chữ Pad thì quán tưởng màu lục, viết chữ Me thì quán tưởng màu lam, viết chữ Hum thì quán tưởng màu đen. Mỗi chữ đều phóng ra ánh sáng vô lượng vô biên.

(2) Viết chữ trên mỗi lá cờ xong, xin dùng thủ ấn hà một hơi khí, ấn lên mỗi lá cờ, nếu không biết dùng thủ ấn thì phải ở trước Bồ Tát xin nước chú Đại Bi, sau đó trì thêm chân ngôn lục tự đại minh vài nghìn biến, sau đó đem nước này, dùng cành dương liễu vẩy nước lên lá cờ. Làm những việc này phải chay tịnh mới được làm, tuyệt đối không được thất lễ. 

(3) Kể từ ngày bắt đầu sử dụng, công khóa hàng ngày phải niệm lục tự đại minh chân ngôn ít nhất là 108 biến, niệm cho đến khi chính mình nhìn thấy ánh sáng của toàn thân mình mới thôi. Điều này cực kì quan trọng.

Gặp sư huynh ở bên hồ nhỏ, tôi có một bài kệ lưu niệm:

*Ẩn cư trong núi nghe chim hót,
Mật hành chân ngôn bất tư nghì,
Lục tự đại minh pháp hộ trấn
Nghìn năm tam mật được cờ thần.*


![image](/img/img_e8bf8e5fb16265a3d3df5af1aec3da08.png)



### 03. Cột rồng vạn năm hướng điện trời


Nhớ vào một mùa hè nọ, khi vải thiều trên núi chín rộ, đó là hai năm trước khi thầy tôi viên tịch, tôi lên núi thăm thầy, dọc theo đường núi đầy những trái vải, những trái vải chín buông thấp, đỏ au và tròn trịa. Khi đến gần căn lều tranh của thầy, tôi thấy cửa lều hé mở, bóng lưng thầy quay về phía tôi, thầy đang vẽ những đường trên đất, tay cầm vài đồng tiền xu, xếp đi xếp lại, không biết đang làm gì?

"Liên Sinh, con đến rồi à? Ngồi xuống đây, hãy học cái này cho kĩ, sau này sẽ rất có ích." Thầy không cần quay đầu lại mà vẫn biết tôi đến, dù rằng bước chân tôi rất nhẹ, như mèo rón rén, sợ làm phiền đến sự trầm tư của thầy. 

Thầy lại nói: "Mỗi lần con vào núi, chỉ cần đến chân núi là ta đã biết con đến rồi, bởi vì ở chân núi ta đã bố trí linh đồng tuần núi, lấy đá rối làm dấu, vì thế ta biết con đến."

"Thưa thầy, nếu như con cúng dường linh đồng tuần núi trước, xin ngài đừng báo lại cho thầy, liệu linh đồng tuần núi có nghe lệnh con không?"
"Liên Sinh, điều đó là không thể được, bởi vì ta và linh đồng tuần núi đã có lời thề từ trước, nếu vi phạm sẽ phạm đến Thề Thần và Chú Thần, sau này dù tu đạo có thành cũng không thể lên thiên giới, sau khi chết sẽ đọa địa ngục, không được siêu sinh trong năm trăm năm. Chúng ta là người tu luyện, biết rằng luật trời nghiêm minh, không thể sai một bước. Vì thế linh đồng tuần núi và ta hợp làm một thể, ngài sẽ không nghe lệnh bất kì ai, sau này khi ta siêu sinh thiên giới, tự nhiên ngài cũng sẽ cùng siêu thăng."

Tôi ngồi bên cạnh sư phụ Thanh Chân Đạo Trưởng, đầu luôn thấp hơn người nửa cái đầu, bởi vì thầy người cao lớn, tay dài quá gối, sinh ra đã có tướng lạ, đó chính là tướng của bậc đại đức. Thầy truyền cho tôi một pháp, đó là "Cột rồng vạn năm hướng điện trời", pháp này một khi tôi công khai, thì những kẻ làm tà thuật trên đời sẽ "bay màu". Theo tôi được biết, người biết pháp này trên đời chỉ có hai người, một là thầy Thanh Chân Đạo Trưởng đã hóa tiên về trời, người còn lại chính là tôi, Lư Thắng Ngạn, người được ân sư đích thân truyền pháp.

Vậy "Cột rồng vạn năm hướng điện trời" là gì? Tôi xin đặc biệt nói rõ như sau:

Trên thế giới này có rất nhiều loại người, có những người có tâm địa thiện lương chính trực. Tuy nhiên, cũng có những kẻ tâm địa xấu xa đê tiện. Khi người tốt gặp phải kẻ xấu nhiều mưu mô quỷ kế, thường là người tốt sẽ chịu thiệt thòi lớn, bởi vì người thiện luôn nhìn mọi người với thiện ý, dễ dàng mắc bẫy do kẻ xấu giăng ra. Vì vậy tôi khuyên những người có tâm thiện trên đời rằng không thể không đề phòng người khác. Ví như chó dữ cắn người, nó không phân biệt thiện ác, kẻ ác cũng như chó dữ vậy, tự nhiên cũng chẳng phân biệt thiện ác, bởi vì bản tính của nó là cắn người!

Có những kẻ xấu dùng tà thuật với nhiều phương pháp khác nhau. Ví dụ, khi biết bạn xây nhà, để khiến bạn ở không yên ổn, chúng sẽ lén lút đặt những vật dơ bẩn vào chỗ đổ bê tông, kẹp trong tường xi măng, dưới móng nhà, trong nhà bếp hay nhà vệ sinh, hoặc bể nước. Những vật dơ bẩn này có thể là đồ bẩn của phụ nữ, khiến người ở trong nhà nổi ghẻ, thần linh không trú ngụ, ngũ quỷ xâm nhập. Hoặc chúng đặt xương người chết, khiến âm hồn quấy phá, người trong nhà liên tục đau ốm. Hoặc treo xác chó mèo lên xà nhà, rồi phát lời nguyền độc: "Hàng năm người người như chó mèo." Kỳ lạ thay, cứ thế mà người ở trong nhà, mỗi năm chết một người, không sai chút nào. Có kẻ còn đặt hai chữ cắt giấy "Cấp hợp" trong nhà vệ sinh mới xây, lạ thay, mỗi sáng sớm, người trong nhà đều cùng lúc mắc đi vệ sinh gấp, xếp hàng chen chúc trước cửa nhà vệ sinh, ngày nào cũng vậy, quả là cảnh tượng hiếm thấy trên đời!

Những kẻ dùng tà thuật này không sợ trời đánh thánh đánh, chỉ vì lòng thù hận và muốn thỏa mãn nhất thời, không đếm xỉa đến đạo đức nhân nghĩa, mượn tà thuật của thiên ma để hại người hại mình. Cuối cùng chắc chắn sẽ không có kết cục tốt đẹp gì, đó là quy luật tuần hoàn của trời đất, trong cõi vô hình đã có định số, kẻ hung ác hại người tự khắc sẽ có người hung ác hơn đến trừng trị, nếu không thì các vị Hộ pháp cũng sẽ không tha thứ.

"Cột rồng vạn năm hướng điện trời" là phép dùng tiền xưa làm nền móng cột trụ. Những đồng tiền cổ này một mặt có hình rồng, mặt kia có tên hoàng đế. Nhà dân thường không được chạm khắc rồng, nên chỉ có thể dùng tiền cổ. Theo như thầy Thanh Chân dạy tôi, tiền cổ đã qua tay hàng triệu người nên đã hấp thụ khí của vạn người. Hơn nữa, có hình rồng và tên tôn quý của hoàng đế, đó chính là khí cát tường vạn năm từ trời. Tiền cổ còn chứa đựng vô tận địa khí bên trong, vì được đúc từ tinh hoa của đất, không phải đất đá tầm thường. Vì vậy khi xây nhà đổ cột, tốt nhất nên đặt tiền rồng dưới móng cột, sau đó chọn ngày lành tháng tốt đổ bê tông, mặt rồng úp xuống đất, tên hoàng đế hướng lên trên, đặt dưới mỗi cột trụ, như vậy sẽ không sợ tà ma và uế khí. Cần biết rằng những cột này chính là cột rồng, trong cõi vô hình sẽ xuất hiện thần hộ mệnh, bảo vệ sinh mạng an toàn cho chủ nhà, tạo nền tảng vạn năm, trường thọ bình an, phú quý miên man vô tận.

"Cột rồng vạn năm hướng điện trời" cần chú ý những điểm sau đây:
1. Tiền rồng cần được rửa sạch, gói trong giấy (màu đỏ), mang đến trước tượng Phật Bồ Tát tịnh hóa mới được sử dụng.
2. Nếu không có tiền rồng, có thể dùng tiền đồng thông thường, nhưng hiệu lực sẽ giảm một nửa.
3. Ngày giờ được chọn nên xem theo Tam Nguyên Nhật Khóa, phải chọn giờ thật chính xác mới có hiệu quả, nếu chọn sai giờ rất dễ mất linh nghiệm.
4. Nếu xây chùa miếu nên dùng bảy đồng tiền rồng, bảy đồng là số có sức mạnh lớn nhất, không được vượt quá bảy đồng vì sẽ mất hiệu lực. Tôi xin giữ lại một bí quyết, nếu ai hiểu về Kỳ Môn Độn Giáp có thể dựa vào số lượng tiền rồng này, căn cứ vào địa số, thiên số mà tăng giảm số lượng tiền rồng, như vậy sẽ hợp với thiên cơ, Thiên Cang Địa Sát Ngũ Hành Cửu Cung, hòa hợp với vận người, không cần sợ kẻ xấu hãm hại nữa.


### 04. Ý nghĩa hơ qua lửa và những thứ khác


Chắc hẳn nhiều người đã từng thấy nghi thức hơ qua lửa ở các đền chùa. Hơ qua lửa là việc đi qua đống lửa, kiệu thần, tượng thần, cờ linh thiêng, nam nữ già trẻ, người khiêng, người đi, chân trần bước qua ngọn lửa. Hơ qua lửa là một cảnh tượng náo nhiệt, phần lớn các nghi lễ đặt móng chùa miếu hay thần minh nhập hỏa trấn tọa đều có nghi thức hơ qua lửa. Ngọn lửa bùng cháy rực rỡ, chiếu rọi lên gương mặt phấn khích của mọi người, ai nấy đều hân hoan vui vẻ.

Khi còn nhỏ, tôi từng học tại Trường Trung học Số 3 Thành phố Cao Hùng, trường nằm ở Sư Giáp, hiệu trưởng là Trần Định Các. Lúc đó thành tích của tôi rất tốt, học kỳ nào cũng đứng nhất lớp. Một lần tan học, trên đường về nhà ở khu Tân Hưng, giữa đường bị các bạn học kéo đi xem hơ qua lửa. Đó là một khoảng đất trống trước một ngôi miếu lớn, trên mặt đất được lót gỗ lớn và mùn cưa, ngọn lửa bùng cháy đỏ rực sáng rỡ. Có một vị pháp sư nhảy lò cò một chân, xoay quanh đống lửa, thỉnh thoảng cầm sừng trâu thổi lên những tiếng vù vù, miệng lẩm bẩm đọc thần chú, vừa rải muối và gạo vào trong lửa. Lúc này người xem càng lúc càng đông, không khí thật là náo nhiệt.

"Bạn Lư này, dám bước qua lửa không?" - Bạn Trương Quốc Hưng đập vào hông tôi.
"Không dám." - Trong lòng tôi thực sự sợ hãi.
"Tôi dám đấy. Ông nội tôi nói người có chính khí đi qua thì lửa sẽ không đốt, chỉ có kẻ xấu trong lòng không tốt thì lửa mới đốt thôi."
"Lửa thật sự không nóng sao?"
"Thật." - Trương Quốc Hưng nói: "Tôi đã đi qua một lần, cảm giác thật sảng khoái."

Lúc đó tôi thật sự ngưỡng mộ, Trương Quốc Hưng trong lòng tôi giống như một vị anh hùng vậy. Nghi thức hơ qua lửa bắt đầu, tiếng trống chiêng vang dội trời, từng kiệu thần một, tám người khiêng, như cơn lốc xoáy, lao vào đống lửa rồi lại xông ra, sau khi các kiệu thần đi qua hết thì đến lượt người đi. Tôi kinh ngạc nhìn những người đó, tay bưng tượng thần, hoặc cầm cờ linh thiêng, chân trần bước trên những khúc gỗ đỏ rực, vậy mà không hề bị bỏng, thật là kỳ lạ. Nói thật, lúc đó tôi cũng muốn thử, nhưng trong lòng lại không dám, thật sự nếu bị cháy thì cả đời này coi như xong. Vì cảnh hơ qua lửa quá kích thích, tôi xem đến rất muộn mới về nhà, trong ấn tượng hình như đã bị bố mẹ "chiêu đãi" món "cành trúc xào thịt". [Ý nói bị bố mẹ cho ăn một trận đòn.]

Nghe nói hơ qua lửa vẫn rất nguy hiểm, vì báo chí đã từng đưa tin có người bị bỏng khi hơ qua lửa.

Có một thầy giáo đã nói với chúng tôi trong giờ học: "Việc rải muối vào đống lửa khi hơ qua lửa là để làm nguội nhiệt, muối có tác dụng làm mát, đây là trò ảo thuật của những người giang hồ, khi lửa không nóng nữa thì đi chân trần qua tự nhiên sẽ không bị thương."

Về việc hơ qua lửa này, tôi đã từng thỉnh giáo sư phụ Thanh Chân Đạo Trưởng, thầy nói: "Hơ qua lửa là một trong những nghi thức của Đạo giáo, nguồn gốc của nó không thể khảo chứng được. Ý nghĩa của việc hơ qua lửa là sự thanh tịnh, nghĩa là trong đống lửa, tất cả mọi thứ, bao gồm cả người và tượng thần đều được tịnh hóa, khiến tà ma không thể nhập thân. Tượng thần qua lửa tượng trưng cho việc tà thần không thể bám vào, người qua lửa biểu thị cho việc cầu phúc tiêu tai. Chữ "hỏa" có ý nghĩa "không huyễn" bên trong, có nghĩa là tất cả đều được đốt sạch, tất cả đều được tịnh hóa. Thần chú như sau: "Hỏa thần, hỏa thần, tam muội chân hỏa tốc giáng lâm. Hỏa la, hỏa linh, phong tống hóa an ninh. Trần thổ toàn tịnh hóa, kim mộc thủy thành không, ôn dịch chư tà khí, hàn nhiệt tốc ly thân, vạn bệnh tùng thử tán, nam nữ tảo an ninh, cấp cấp như Na Tra Lợi luật lệnh." Liên Sinh ơi, pháp thuật của Đạo môn, tuy là pháp hữu hình, nhưng có nhiều điều không thể không biết, thực tế rất nhiều loại pháp thuật ngay từ đầu đều phải dựa vào lửa để tịnh hóa."

Tác giả đã thực hiện nghi thức khai quang cho vô số tượng thần, từ tượng Phật trong các điện thờ cho đến các tượng thần được thờ trong các gia đình nhỏ, nhiều đến nỗi bản thân cũng không đếm xuể. Khi làm lễ khai quang, việc đầu tiên tôi luôn làm là đốt lửa thiêu vàng mã, sau đó đưa tượng thần qua lại trên đống lửa ba lần, tượng trưng cho ý nghĩa thanh tịnh. Nếu là khai quang cho Phật Bồ Tát trong điện thờ, tôi dùng giấy vàng đốt và đi vòng quanh tượng Phật một vòng, cũng mang ý nghĩa tương tự. Trước tiên dùng lửa, sau đó dùng bút chấm chu sa điểm nhãn và các bộ phận khác, cuối cùng mới dùng thủ ấn.

Tôi nghĩ rằng tất cả các pháp khí thông thường hoặc các kê bút dùng để truyền đạt thần linh đều phải qua lửa. Việc qua lửa không nhất thiết phải là nghi thức lớn, từ việc đốt một mảnh giấy nhỏ cho đến đốt một đống củi lớn, ý nghĩa đều như nhau. Tại sao có người làm pháp không linh? Tại sao cầu thần mà không thỉnh được? Đó là vì họ không chú trọng đến việc hơ qua lửa, bởi khi pháp khí được tịnh hóa thì không có vị thần nào lại không hài lòng.

Kẻ hèn này cho rằng việc hơ qua lửa có một số điểm rất quan trọng:

1. Khi hơ qua lửa, điều tối kỵ là gặp phải người đang có tang hoặc phụ nữ đang trong kỳ kinh nguyệt, bởi vì lửa thuộc dương cương, còn những người này mang khí âm tà. Khi dương cương gặp âm tà sẽ trung hòa, khiến việc hơ qua lửa mất hiệu nghiệm, đồng thời những người này cũng sẽ bị khí dương cương xung khắc, dẫn đến hậu quả không tốt. Vì vậy, khi hơ qua lửa đặc biệt phải tránh gặp những người này.

2. Khi hơ qua lửa, việc niệm chú và rải muối gạo phải do người có chính pháp thực hiện. Về phần truyền lửa và trấn áp tà ma thì cần phải có pháp sư cao minh mới có thể làm được, không thể làm tùy tiện, nếu không sẽ dễ xảy ra tai nạn. Trong thời xưa, nghi thức hơ qua lửa là một trong những phương pháp chữa bệnh về tâm linh cho người ta. Tuy nhiên, tôi cho rằng trong thời đại hiện nay, thực sự không cần thiết nữa, trừ phi đó là một căn bệnh thực sự thuộc về tà ma ám ảnh, còn không thì bệnh nhân nên đi tìm bác sĩ để chữa trị tận gốc mới đúng.

3. Về nghi thức hơ qua lửa trong tôn giáo, quy mô không nên quá lớn, nhưng cũng không nên quá nhỏ. Khi thực hiện không cần phải giết lợn mổ dê, chỉ cần hương hoa trái cây và lòng thành là đủ, không cần phải tổ chức tiệc tùng linh đình. Làm như vậy mới thể hiện được đức hiếu sinh của trời đất, và càng dễ được thần thánh chấp nhận. Như thế cả người lẫn thần đều được an lòng, tránh được cảnh vì giết sinh mạng mà gây nên ô uế, ngược lại còn mất đi sự bình an.

Tóm lại, pháp thuật hơ qua lửa chỉ có ý nghĩa tịnh hóa, không phải để thể hiện thần uy, cũng không phải là phép thần thông kỳ lạ gì, càng không phải là trò ảo thuật để lừa người.


### 05. Chân tướng của giáng linh


Những bí ẩn của thế giới chiều thứ tư trở lên, mặc dù khoa học vẫn chưa thể chứng minh hoàn toàn, nhưng sự tồn tại của năng lượng tâm linh đã trở thành một thực tế không thể phủ nhận. Thông qua nhiều thí nghiệm về giáng linh, đã có rất nhiều bằng chứng xác thực sự tồn tại của năng lượng tâm linh. Do đó, những lực lượng trong thế giới vô hình rất có thể còn mạnh mẽ hơn cả thế giới vật chất. Việc nghiên cứu về những hiện tượng siêu tâm lý này là điều thực sự cần thiết. Chúng ta hãy lấy một ví dụ nhỏ, hiện tượng điện và từ trường là điều không ai có thể phủ nhận, tuy điện và từ trường cũng chỉ là một dạng năng lượng vô hình, nhưng ngày nay đã mang lại những lợi ích to lớn cho thế giới, đem đến ánh sáng và hy vọng vô tận.

Nếu linh lực được chứng thực, có thể giúp làm sáng tỏ nguồn gốc của loài người và đích đến của sự sống, điều này thực sự mang lại lợi ích to lớn cho bước đột phá mang tính lịch sử của nhân loại. Khi đó, sự sống và cái chết sẽ không còn mơ hồ nữa, thế giới của người sống và người chết có thể giao tiếp với nhau, người chết có thể tái sinh. Về phương diện năng lực tâm linh, người sống có thể giúp đỡ người đã khuất, người đã khuất cũng có thể giúp đỡ người sống, cùng nhau thúc đẩy thế giới này trở nên an vui thịnh vượng.

Do thế giới chiều thứ tư có thêm một chiều so với thế giới ba chiều, nên nó càng phức tạp hơn thế giới ba chiều. Linh lực có phân biệt lớn nhỏ, có phân biệt thật giả, có phân biệt chính tà. Điều này liên quan đến một thế giới của những quy luật tâm linh, tạo ra nhiều hiện tượng biến đổi. Do những biến đổi này thiếu tính nguyên tắc, khiến cho phần lớn những người tìm hiểu về tâm linh học gặp phải những khó khăn không thể giải thích, sinh ra quá nhiều nghi vấn và trở ngại, không thể giải được câu đố này.

Ví dụ như ở nước ngoài, có lưu hành một loại "bàn cầu cơ". "Bàn cầu cơ" này giống như một con bướm, được làm bằng nhựa hóa học. Người sử dụng chỉ cần dùng một tay đặt nhẹ lên phần đuôi của "bàn cầu cơ", và chiếc bàn sẽ xoay tròn di chuyển, có thể trả lời được nhiều câu hỏi. Tuy nhiên có một hiện tượng kỳ lạ là có người vừa đặt tay là bàn chuyển động ngay, có người lại không làm bàn động đậy được. Về những câu hỏi được đặt ra, có câu trả lời rất chính xác, có câu lại mơ hồ chung chung. Tôi từng nghe kể có người dùng "bàn cầu cơ" để thỉnh về linh hồn của nạn nhân bị sát hại, và nhờ sự chỉ dẫn của vong linh mà phá được một vụ án mạng phức tạp.

Ở Nhật Bản, có người thực hành bói đũa. Bói đũa là việc buộc ba chiếc đũa lại với nhau, người cầu cơ sẽ dùng tay đặt lên đầu đũa (đũa được dựng đứng) để cho nó đứng trên mặt bàn. Trên mặt bàn sẽ đặt các chữ cái tiếng Nhật, khi thần linh giáng xuống, chân đũa sẽ tự di chuyển, chỉ vào các chữ tiếng Nhật, và dựa vào những chữ này mà biết được điều lành dữ họa phúc.

Tôi còn nhớ hồi nhỏ, ở vùng quê trên hòn đảo ngọc, việc "xem thần ếch" rất thịnh hành. Đây là những trải nghiệm tôi từng tận mắt chứng kiến. Cứ vào đêm rằm tháng Tám, tức là ngày trăng tròn (âm lịch), lạ thay năng lượng tâm linh đặc biệt mạnh mẽ. Một nhóm trẻ cầm hương, trong đó một đứa nằm sấp xuống đất, tạo dáng như con ếch, nhắm mắt lại. Những đứa trẻ đứng xung quanh cầm hương và miệng đọc: "Thần ếch ơi, thần ếch ơi, linh thiêng linh thiêng linh thiêng, xin mời ngài giáng xuống đêm rằm tháng Tám". Cứ đọc đi đọc lại như vậy không ngừng, rồi đứa trẻ nằm sấp bỗng nhiên phát ra tiếng "ộp ộp" như ếch kêu, sau đó bắt đầu nhảy lên nhảy xuống. Nhảy một lúc, đứa trẻ tự tỉnh lại, khi hỏi nó vừa làm gì thì nó hoàn toàn không biết, như thể vừa bị thôi miên vậy.

Nói thêm về thần đĩa, thần chổi, thần quýt, thần trúc bay, tôi đều đã thử nghiệm qua. Chúng ta không nên mê đắm những thứ này, mà nên xem đó như một thí nghiệm về năng lượng tâm linh. Những năng lượng này rất chính xác khi hỏi về quá khứ, nhưng không chắc chắn về tương lai. Có một số thần bài khi giáng xuống có thể làm thơ, những bài thơ rất hay và có chiều sâu. Tôi hỏi thần đã tốt nghiệp trường nào, thần trả lời là khoa Văn học Đại học Đài Loan. Còn về thần chổi, thần quýt và thần trúc bay, tuy cũng thú vị, nhưng những linh hồn giáng xuống đều không mạnh, chỉ là những vong linh nhỏ mà thôi, hiểu biết của họ rất hạn chế.

Nói về việc cầu cơ bút hoặc sử dụng ghế thần bút để viết chữ, đó cũng là một hình thức giáng linh. Hiện nay ở Đài Loan, có rất nhiều nơi thực hành cầu cơ bút, và có nhiều ấn phẩm xuất bản thơ văn cơ bút. Phần lớn là các vị thần thánh mượn bút cơ để viết những bài thơ văn khuyến thiện độ nhân. Khi các vị thần linh cao cấp giáng bút, văn chương rất đẹp, bàn về đạo lý đều là chân lý, có khi nói về luân hồi nhân quả. Nhiều người thường hỏi tôi những điều này có thật không? Tôi chỉ mỉm cười, không dám trả lời, bởi vì tôi biết cầu cơ có thật có giả, linh lực có lớn có nhỏ, bàn việc có đúng có sai. Thế giới tâm linh là một thế giới kỳ diệu và phức tạp, và liệu ý thức của con người có làm ô nhiễm tiên linh chân chính không? Đó là lý do tại sao tôi không dám nói.

Theo nghiên cứu của tôi: bất kì sự vật nào trên đời đều có thể giáng linh. Đồng thời tôi cũng biết thế giới tâm linh rất quan tâm đến thế giới con người. Thế giới tâm linh luôn nắm bắt thời cơ, tạo ra những hiện tượng ngoại cảm để khiến con người tin vào năng lực siêu nhiên, và đang sử dụng đủ mọi phương cách để thắt chặt mối liên hệ giữa thế giới người và thế giới tâm linh. Từ đó giúp tâm người hợp với thiên tâm, tiến vào cảnh giới cao hơn - nơi không còn phiền não mà chỉ có cõi thiên đường và cực lạc bất động, để con người không còn hoang mang sợ hãi về thế giới sau khi chết.

Thanh Chân Đạo Trưởng nói với tôi: "Pháp thuật giáng linh thực ra rất đơn giản, nói chung có ba nguyên tắc. Thứ nhất là tịnh hóa, khi linh muốn giáng vào vật gì, vật đó phải được tịnh hóa qua lửa vàng. Khi giáng linh vào thân người, người đó phải tịnh hóa thân khẩu ý, tức là tam mật tịnh hóa của Mật tông Phật giáo. Nếu làm được, linh quang từ không trung sẽ hợp nhất với linh quang của hành giả, tỏa ánh sáng rực rỡ, trời người hợp nhất. Nguyên tắc thứ hai là phải thành tâm, khai mở tâm trí, nếu có thể đạt đến trạng thái tĩnh lặng không suy nghĩ, chỉ cần một phút không suy nghĩ, thì chắc chắn linh sẽ giáng xuống. Nguyên tắc thứ ba là tập hợp sức mạnh của mọi người cầu nguyện cho linh giáng xuống, bởi vì ý niệm tinh thần của đám đông tự nó là một nguồn sức mạnh, dù vô hình nhưng có thể tạo ra kỳ tích."

Trong việc nghiên cứu tâm linh, có nhiều điều đáng buồn. Tôi thấy việc một số người lợi dụng các phép thuật để lừa tiền và sắc dục là hoàn toàn không nên. Đây là một lĩnh vực nghiên cứu học thuật và là phương pháp khai sáng cao quý, thậm chí trong tương lai có thể mang lại lợi ích cho muôn dân thiên hạ, giúp con người hiểu được bí ẩn về sự sống và cái chết - đó mới chính là mục tiêu cuối cùng của việc nghiên cứu tâm linh.


### 06. Sự kỳ diệu của thu kinh


Thu kinh là một phép thuật nhỏ rất phổ biến, chúng ta thường nhìn thấy trên cột điện có dán giấy đỏ, trên đó viết hai chữ "thu kinh". Ở miền Trung có nữ sĩ Thu Kinh Phụng Tử rất nổi tiếng về thu kinh, bà ấy giúp người ta thu kinh, những ghi chép cho thấy người đến tìm bà ấy để nhờ thu kinh nhiều như cá diếc qua sông. Tuy không cần treo bảng hiệu nhưng dòng người xếp hàng cũng phải chờ đợi một lúc, mỗi ngày đều xếp hàng dài như con rồng. Nghe nói Thu Kinh Phụng Tử cũng vì thu kinh nổi tiếng mà trở nên giàu có, bà ấy thường xuyên làm việc thiện, nhờ có thiện công phụ trợ cho nên pháp lực thu kinh cũng càng cao cường hơn.

Tôi nghiên cứu tiểu thuật của Đạo giáo, thích đến thăm những người hiền có đạo, tôi từng đứng bên cạnh Thu Kinh Phụng Tử để xem bà ấy thu kinh cho người ta, trong miệng bà ấy niệm: "Nhất thử, nhị ngưu, tam hổ, tứ thố, ngũ long, lục xà, thất mã, bát dương, cửu hầu, thập kê, thập nhất cẩu, thập nhị trư…" Thế là tôi hiểu ra Thu Kinh Phụng Tử dùng pháp mười hai con giáp để thu kinh cho người ta. Pháp thu kinh này là pháp trung cấp, pháp lực không tệ, nhưng còn có pháp thu kinh thượng thừa cao siêu hơn.

Vì sao phải thu kinh? Thu kinh có căn cứ khoa học không? Thu kinh có linh nghiệm không? Đây là nghi vấn của người bình thường. Còn nhớ lúc trước có một đứa trẻ con hàng xóm, ban ngày rất hoạt bát nhanh nhẹn, ngây thơ đáng yêu, nhưng hễ buổi tối đi ngủ thì thường xuyên giật mình tỉnh giấc, sau đó là gào khóc một chặp, ồn ào tới mức người lớn không thể ngủ được. Hiện tượng ấy rất kỳ lạ, đứa bé không sốt, lộ rõ vẻ buồn ngủ nhưng lại không thể nào ngủ yên. Về sau thì đêm nào cũng như thế, và hầu hết đều có tính thời gian, lúc khóc thì giống như nhìn thấy gì đó rất đáng sợ.

Có người khuyên hàng xóm đi tìm Thu Kinh Phụng Tử, họ là tín đồ Cơ Đốc, không tin cái trò thu kinh này, nhưng cuối cùng bị đứa bé làm huyên náo đến mức không nghĩ được cách gì nữa, tìm bác sĩ cũng vô ích, họ mới thỉnh Thu Kinh Phụng Tử làm thu kinh. Buổi tối hôm đó là lần đầu tiên đứa bé ngủ ngon lành nhất kể từ khi ra đời. Về sau, đứa bé cũng không làm ồn nữa, từ đó họ cũng không dám coi thường thu kinh, hễ đứa bé có hiện tượng kỳ lạ là lập tức lên xe taxi đi tìm Thu Kinh Phụng Tử để thu kinh.

Theo tôi được biết, thu kinh không chỉ là thu về nỗi sợ hãi của trẻ con, cũng có thể thu về nỗi kinh hãi của người lớn. Nếu người lớn buổi đêm thường xuyên ngủ không ngon, bị bóng đè, tâm trạng bất an, cũng có thể mời người biết thu kinh đến để thu kinh. Thu kinh có căn cứ khoa học không? Tôi nói thu kinh là một cách trị liệu tâm lý, cũng là một phương pháp điều trị tâm thần, là thuật thôi miên đơn giản. Nếu như thuật thôi miên có căn cứ khoa học thì thu kinh tự nhiên cũng có vị trí của nó. 

Thu kinh phần lớn là cực kì linh nghiệm. Theo kinh nghiệm quá khứ của tác giả, tôi từng giúp nhiều người thu kinh, ngoài những người bị bệnh cực kì nghiêm trọng ra thì người gặp ác mộng thông thường, hoặc người xung sát, thu kinh xong là sẽ khỏi. Thu kinh có thể khiến tinh thần con người ổn định, không sợ hãi, tâm tình bình tĩnh, bởi vì đa phần tinh thần có liên quan tới sinh lý, vì thế bệnh về sinh lý cũng vì tinh thần vui vẻ mà được chữa khỏi.

Pháp thu kinh thông thường là dùng gạo, để lên quần áo của người bệnh, thắp ba nén hương thỉnh thần, trong miệng niệm chú ngữ thu kinh: "Bổn sư an tinh thần, tổ sư an tinh thần, ngọc nữ an tinh thần, an nhữ tinh thần hộ nhữ hình, dữ thiên địa hợp đức, dữ nhật nguyệt hợp minh, cấp cấp như Tam Muội Lão Nhân Thu Kinh Tiên Ông luật lệnh." Lấy quần áo bọc gạo lại, ấn mấy cái lên đầu của người được thu kinh, sau đó bỏ gạo ra, đưa quần áo cho người được thu kinh mặc vào, như thế là xong. Thế còn pháp thu kinh của Thu Kinh Phụng Tử lại niệm chú ngữ mười hai con giáp, lợi dụng sự tương sinh tương khắc của mười hai con giáp để phá trừ tất cả tinh thần xung sát bất an, cách thu kinh này khác cách thu kinh thông thường.

Trong quá khứ tác giả làm thu kinh áp sát giúp cho người ta thì có mấy cách, đặc biệt công bố như sau:

Cách thứ nhất, pháp thu kinh bằng gạo và quần áo — dùng một cái đĩa đựng gạo, đem quần áo gấp gọn gàng đặt lên trên gạo, thắp ba nén hương, hướng lên trời thỉnh thần cầu thần, sau đó cắm ba nén hương này vào giữa quần áo và gạo. Lúc này miệng niệm Thất Phật diệt tội chân ngôn hoặc niệm chú Đại Bi, thỉnh Phật từ bi nhìn xuống nỗi khổ của chúng sinh, dùng Phật pháp để thu kinh áp sát. Hương cháy hết thì thu gạo và quần áo lại, gạo có thể nấu ăn, còn quần áo thì để cho người được thu kinh mặc. 

Cách thứ hai, pháp thu kinh bằng ngọc ấn — cái gọi là ngọc ấn tức là con dấu của thần minh, tương tự thắp ba nén hương, để ấn và hương cùng một chỗ, niệm chú dụng ấn. Lúc này người bị làm phép thuật ngồi trên ghế, hương và ấn di chuyển trước mặt họ, từ trong hư không truyền đến một sức mạnh khiến cho người bị làm phép thuật tâm trạng bình tĩnh. Cách thu kinh này, người dùng ấn (người làm thuật thu kinh) có thể từ từ nhận thức được mức độ kinh sợ của đối phương, có thể cảm thấy chính mình lần này làm thu kinh có hiệu quả hay không. Nếu người nào nghiêm trọng một chút thì có thể dùng ấn thần ấn lên trán của người được thu kinh, qua một đêm mới rửa đi. 

Cách thứ ba, pháp thu kinh bằng đèn thần [chén đèn tượng trưng cho nguyên thần] — nói chung, dùng hai cách kể trên mà thất bại thì mức độ bị kinh sợ đã là thâm căn cố đế rồi, chỉ có dùng đèn nguyên thần chiếu ánh sáng màu sắc để thu kinh. Phương pháp này là một trong các pháp dùng đèn của Đạo gia thông thường, tương đối không đơn giản, đồng thời cách này cũng rất khác, người cao minh một chút thì phải bố trí năm pháp khí, kiếm, con dấu (ấn), kéo, cái cân, bàn tính, v.v… Còn phải mời cao tăng đại đức đến bái sám, pháp thu kinh bằng đèn thần thì thần minh phụng thỉnh đến cũng khác, có thể phụng thỉnh Bắc Đẩu Tinh Quân, Cửu Thiên Huyền Nữ, Quang Minh Chân Quân, Dược Sư Lưu Ly Quang Phật, Khôi Tinh, Đẩu Mẫu Chân Quân, v.v… Còn kẻ hèn này thích phụng thỉnh Dược Sư Lưu Ly Quang Phật hoặc Vô Lượng Quang Phật.

Con gái nhỏ của tôi là Lư Phật Thanh từ nhỏ đã theo tôi lên núi xem địa lý cho người ta, một đứa trẻ bé xíu từ nhỏ đã bò tới bò lui trên những ngôi mộ. Mỗi lần ra khỏi nhà, tôi giơ ba ngón tay ra, thổi ba hơi khí, niệm ba câu "Nam mô Vô Lượng Thọ Phật", ấn vào trán của con gái. Bất kể con gái Phật Thanh của tôi có đi tới đâu thì cũng không bị kinh sợ chút nào. Đôi khi kể cả khóc lóc lúc đêm khuya thì tôi cứ thu kinh là dừng, công hiệu của thu kinh cũng không tệ. Tôi phát hiện ra mặt đất là nuôi dưỡng chúng sinh, nếu chúng ta dùng khí của mặt đất để nuôi dưỡng linh khí của chúng ta, thành tựu chân linh vô thượng chí cao, và người thu kinh có thể thu về hay phóng ra chân linh này, mượn chân linh này, thì cũng có thể thật sự thu kinh cho người ta. 

Thu kinh có hiệu nghiệm hay không, thử là biết liền.


### 07. Pháp tế năm quỷ


Tên của năm quỷ là Đậu Nhân, Lý Khải, Trương Ngũ, Thập Thái, Chử Miễn. Thần chú Ngũ quỷ hỗn thiên như sau: "Tinh linh, tinh linh, bất tri tính danh, thụ pháp ngũ quỷ, đáo ngô đàn đình, thuận ngô giả cát, nghịch ngô giả hung, phụ ngô liễu đạo, khuông ngô thành chân, lệnh di ban vận, tức tốc tựu hành, nghịch ngô lệnh giả, thốn trảm hôi trần, ngô phụng, Thái Thượng Lão Quân cấp cấp như luật lệnh. Na-mô wây-fu an-chi-li an-chi-li. Cang."

Pháp tế năm quỷ là một trong những pháp thuật phổ biến của Đạo gia, nếu một ngôi chùa muốn hưng thịnh, dùng pháp tế năm quỷ thì ắt sẽ hưng thịnh. Tuy nhiên năm quỷ không phải là chính thần, nếu cúng tế không đúng cách thì cũng sẽ gây ra phản tác dụng. Tác giả đã từng nói trong sách tâm linh về năm quỷ và năm phá, năm quỷ thì rất dễ cúng nhưng rất khó phá trừ. Mọi việc trên đời đều có hai mặt chính phản. Nếu chùa chiền muốn dùng pháp tế năm quỷ thì bắt đầu từ ngày Quý giờ Ngọ, trải qua bảy lần bảy tức bốn mươi chín ngày. Đến ngày thứ bốn mươi chín, dùng bốn cây sào tre xanh, viết tên năm quỷ lên trên (có thể khắc trên sào tre), hoặc viết lên tiền giấy rồi buộc vào. Chọn giờ tốt, dùng sào tre làm lễ trước lư hương năm quỷ. Sau đó nhanh chóng lên bốn chiếc xe máy đã chuẩn bị sẵn, xe máy chạy nhanh về bốn hướng Đông Nam Tây Bắc, xe càng chạy nhanh càng tốt. Lúc này phải theo dõi đồng hồ thật kĩ, hết một giờ thì lập tức cắm sào tre bên đường.

Phương pháp này là một bí mật lớn trong Đạo pháp. Sào tre năm quỷ lấy chùa làm trung tâm, cắm sào theo bốn hướng Đông Tây Nam Bắc. Ý nghĩa của phương pháp này là: "Trong phạm vi bốn sào tre Đông Nam Tây Bắc này, bất kì việc lớn nhỏ nào xảy ra, năm quỷ trong chùa đều có thể cảm ứng biết được. Ví dụ như khi có thần quỷ nào đi vào phạm vi chùa này, các vị thần thánh trong chùa nhờ vào pháp lực của sào tre năm quỷ mà biết trước được. Ngoài ra trong phạm vi chùa, bất cứ chuyện gì xảy ra, năm quỷ đều có khả năng tiên tri. Hơn nữa sự hưng thịnh của ngôi chùa này còn vượt xa cảm ứng linh thiêng của các chùa khác, các chùa miếu khác không thể nào sánh được."

Tinh linh của năm quỷ là do khí âm tà của thiên hạ sinh ra, tồn tại giữa ranh giới chính tà. Người tu đạo dùng pháp năm quỷ, muốn chính thì chính, muốn tà thì tà, cho nên pháp theo tâm mà chuyển, không phải lỗi của năm quỷ. Tà ma thực sự không nằm ở năm quỷ, mà tội lỗi là ở nơi con người. Có những người tu đạo tâm địa không thiện, thích làm việc âm độc hại người, bản tính làm điều xấu ác, nếu dùng pháp năm quỷ hại người, thường khiến nhà người ta tan cửa nát nhà! Nếu làm pháp năm quỷ ở nhà có tang, hiện tượng là khiến nhà đó liên tiếp gặp chuyện hung, một năm chết một người, thậm chí một năm chết mấy người, chết liên tục, phần nhiều là do ảnh hưởng của tà khí năm quỷ, nếu không mau mau thỉnh năm quỷ ra khỏi thì nhà tan người mất là điều chắc chắn.

Ở Đào Viên có một gia đình, vì một số việc mà đắc tội với một vị pháp sư nào đó, người anh trong nhà gặp tai nạn xe và qua đời, vị pháp sư đã cố tình đốt một lá bùa ngũ quỷ trước quan tài. Trong lúc đưa tang, người em trai lo hộ linh cữu, nửa đường thì đột nhiên bị chóng mặt, về đến nhà thì chết vì đau tim. Một tháng sau, mẹ của họ bệnh nặng rồi cũng qua đời (bà vốn có bệnh, nhưng không phải bệnh nặng đến mức phải chết, thường ngày chỉ bị đau lưng mỏi gối mà thôi). Hai tháng sau nữa, đứa con hai tuổi của người em trai (đã mất) cũng bị sốt biến chứng thành viêm phổi rồi mất. Trong vòng một năm mà chết liền bốn người, có thể thấy gia đình này bất an đến mức nào, ai nấy đều lo sợ cho bản thân, mọi người đều hoang mang suốt ngày không biết phải làm sao, tang sự này chưa xong đã đến tang sự khác, làm gì còn tâm trạng nào mà buôn bán kiếm tiền nữa!

Họ mời tôi đến Đào Viên để xem phong thủy nhà cửa. Vừa bước vào cửa, tôi đã nhìn thấy năm thứ xấu xí kia, tôi nói: "Các vị đã phạm phải năm quỷ rồi, không cần xem gì thêm nữa, các vị đã đắc tội với kẻ tiểu nhân."
"Vậy phải làm sao đây?" - Chủ nhà hỏi.
"Lúc vị pháp sư đó đốt bùa, tôi đã thấy rồi, ông ta còn cố tình giả vờ đến cúng bái nữa." - Vợ của người em trai nói.

Thế là tôi dạy họ một phương pháp, đó là pháp đưa tiễn năm quỷ, phương pháp đơn giản, không tốn kém nhiều, có thể đưa được những con quỷ hung tợn này đi, thì nhà cửa mới được bình an, phúc thọ khang thái.

Thứ nhất, cũng vào ngày Lục Quý, dùng kéo cắt năm hình người bằng giấy trắng, ở phần đầu vẽ lông mày, mắt, mũi, miệng, tai. Trên thân mỗi hình người viết một tên của năm quỷ, dùng bát đựng gạo sống, đặt hình người đứng trên gạo. Hình thức là trong bát có gạo, hình người giấy đứng trên gạo, như vậy tổng cộng có năm bát, năm hình người giấy, vào ngày Lục Quý, đặt dưới bàn thờ, nhà không thờ cúng thì đặt ở nhà bếp. Đồng thời chuẩn bị một lư hương, đặt trước năm quỷ.

Thứ hai, khi bắt đầu, thắp hương và lễ bái một cách rất cung kính, mỗi lần năm nén hương, sáng tối lễ bái một lần, đồ cúng dùng rất đơn giản, một miếng thịt lợn nhỏ, một miếng cá nhỏ, một miếng thịt gà nhỏ, dùng một đĩa đựng là được, nhớ khi thắp hương lễ bái, phải đọc tên năm quỷ năm lần, không cần đọc chú Ngũ quỷ hỗn thiên, cứ như vậy bảy ngày, không được gián đoạn. (Do cúng ở dưới đất nên khi lễ bái, chỉ cần ngồi xổm cầm hương là được.)

Thứ ba, đến ngày thứ bảy, là thời khắc quan trọng nhất, mua một ít tiền vàng mã vuông, tiền bạc và tiền kho, không cần tính số lượng, đợi đến tối sau khi cúng xong, khi nhang cháy còn một nửa, nhanh chóng ra khoảng đất trống trước cửa nhà, đốt tiền vàng mã vuông, tiền bạc và tiền kho, lập tức lấy năm cây hương cháy một nửa, cùng với năm hình người giấy, cầm tất cả lên, ném vào đám giấy đang cháy, miệng đọc rằng: "Mau đi, mau đi, có phúc, có lợi." Cứ thế đọc liên tục không ngừng, khi lửa tắt, dọn dẹp đồ cúng sạch sẽ là hoàn thành.

Tác giả công bố pháp đưa tiễn năm quỷ này, phương pháp rất đơn giản, chi phí cũng không nhiều, những gia đình đang bất an có thể thử làm, đây là một phương pháp cứu người, vốn là một trong những bí pháp của trời, nay tôi công khai không giữ riêng, tin hay không là tùy mỗi người. Năm xưa Thanh Chân Đạo Trưởng truyền pháp, Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh truyền pháp, ý chỉ đều là cứu người cứu đời.

Nếu tôi giấu giếm riêng tư, chẳng phải là có lỗi với đạo đức sao?


### 08. Pháp Bát Quái phá địa sát


Các vị Thánh Vương hiền triết thời cổ đại đã truyền lại Bát Quái, gồm tám quẻ Càn, Khôn, Cấn, Tốn, Chấn, Ly, Khảm, Đoài. Tám hình thái này tượng trưng cho Thiên, Địa, Lôi, Phong, Trạch, Thủy, Hỏa, Sơn, dùng để biểu thị những diễn biến giữa trời đất. Ý nghĩa việc các vị tiên nhân truyền lại Bát Quái là để chân lý được lưu truyền từ đời này sang đời khác, giúp con người hiểu được số của trời, số của đất, số của người. Sau khi hiểu được chân lý về sự vận hành của Bát Quái, tự nhiên có thể đắc được đại đạo giữa trời đất, vô vi mà làm, tự nhiên vượt qua được kiến giải của phàm phu thế tục, trở thành bậc đại giác chân nhân với trí huệ vô lậu.

Tôi từng biết rằng, với bậc thượng căn thì giảng về tính lý, với bậc trung căn thì giảng về luân hồi. Ngược lại, khi bậc đại đức tôn giả truyền pháp, với bậc thượng căn thì giảng pháp vô vi, với bậc trung căn thì giảng pháp hữu vi. Còn cuốn "Sức mạnh huyền bí" này của tôi, bắt đầu từ pháp hữu vi rồi chỉ thẳng đến pháp vô vi. Tôi nói, thiên hạ vốn không có pháp, các pháp thuật hữu hình đều do tâm tạo ra. Tuy nhiên, từ vô pháp mà sinh ra hữu pháp, từ hữu pháp rồi trở về vô pháp, đó mới chính là chân pháp. Trước khi đắc đạo, nơi nào cũng dùng pháp, nơi nào cũng là pháp. Sau khi đắc đạo, buông bỏ hết thảy pháp, nơi nào cũng vô pháp mà nơi nào cũng là pháp.

Có lẽ đoạn văn trên đây của tôi, nhiều người sẽ không hiểu được, tuy nhiên không hiểu cũng không sao, chỉ cần đạt đến cảnh giới đó, tự nhiên sẽ hiểu thôi. Tôi nghĩ, những bậc cao nhân chân chính khi đọc những gì tôi viết, chắc chắn sẽ đồng ý. Phật Thích Ca Mâu Ni khi truyền pháp, với tám vạn bốn nghìn pháp môn, cũng đều từ pháp hữu vi đến pháp vô vi, cánh cửa tột cùng chỉ có một, nhưng cánh cửa phương tiện thì vô số.

Tôi đã xem phong thủy nhà cửa cho rất nhiều người, số lượng không đếm xuể. Tôi thấy nhiều trường hợp điều kiện nhà không hợp, cũng như những ngôi nhà có địa sát rất nặng. Nếu điều kiện nhà không hợp và địa sát nặng nề, nó sẽ ảnh hưởng đến vận mệnh của cả gia đình. Nếu nhà ở không được bình an, tôi sẽ dạy mọi người một phương pháp Bát Quái phá địa sát. Nếu áp dụng phương pháp này đúng cách, nhà cửa sẽ được bình an, không có họa lớn họa nhỏ. Tôi nhớ có một nhà máy giấy, công nhân liên tục tử vong, tôi dùng phương pháp này để phá giải, kết quả rất tốt (hiện tượng tử vong không còn xảy ra nữa). Ở một hồ bơi miền Nam, cứ ba tháng lại có một du khách bị chết đuối, tôi dùng phương pháp này để phá giải (chết đuối không còn xảy ra nữa). 

Phương pháp này như sau:

Thứ nhất: Chọn vị trí trung tâm của khu đất, thông thường với nhà ở thì là phòng khách, tốt nhất là đối diện cửa chính, dùng một thùng đựng gạo, đặt ở trung tâm khu đất. Ngày làm pháp nên chọn ngày "Thần Đất cai quản", giờ thì xem theo Tam Nguyên Nhật Khóa chọn giờ tốt, cắm bảy nén hương thơm nghi ngút trên thùng gạo, lúc này chắp tay thỉnh Thần Đất làm chủ, cầu xin tiêu tai giải nạn, trấn trạch bình an.

Thứ hai: Mua tám bó tiền vàng mã, tám bó này đặt riêng biệt trên mặt đất, xếp theo tám hướng Càn, Khôn, Cấn, Tốn, Chấn, Ly, Khảm, Đoài. Khi đặt xuống, nhớ dùng lửa đốt trước một góc nhỏ của tiền vàng mã, tạo thành hình dạng năm góc, chỗ đốt phải cháy đen, cả tám bó tiền vàng mã đều phải đốt một góc như vậy. Điểm này vô cùng quan trọng, xin hãy ghi nhớ!

Thứ ba: Khi đã sắp đặt xong, chắp tay đọc rằng: "Thái Thượng hữu cấp lệnh, Mao Sơn diễn pháp chân, Địa Thần phụng ngọc chỉ, áo sát hộ chủ nhân. Bát Quái diễn thiên số, mau giáng cát tường quang, chiếu phá nhất thiết uế, nhân súc giai an khang. Cấp cấp như Thái Thượng Lão Quân luật lệnh."

Lúc này nên bước chân theo hình chữ Cang Khôi, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, ngón tay kết kiếm quyết, sau khi kết kiếm quyết xong, lại chắp tay lui xuống.

Thứ tư: Khi bảy nén hương đã cháy gần hết, lúc này cần đặc biệt chú ý, ngay khoảnh khắc bảy nén hương đều cháy hết, nhanh chóng bước lên phía trước, đưa tay phải vào thùng gạo, vốc một nắm gạo, lúc này nam trái nữ phải, dùng chân dậm mạnh xuống đất một cái, quát lên: "Hách hách dương dương, phổ dương bất tường, sát xuất, sát xuất." Nhanh chóng rải nắm gạo trong tay ra ngoài nhà, lực rải gạo và lực dậm chân phải phối hợp thành một động tác, động tác phải mạnh mẽ và mãnh liệt, mắt mở to tròn, như đang xua đuổi hung thần ác sát vậy.

Thứ năm: Đem tám bó tiền vàng mã cùng với bảy nén hương đã cháy hết ra ngoài nhà đốt thành tro. Như vậy là hoàn thành.

Có người hỏi tôi: "Thưa ngài Thắng Ngạn, phương pháp Bát Quái phá địa sát này, nguyên lý của nó là gì?"

"Phương pháp Bát Quái phá địa sát là một trong những pháp chính dương của tiên thiên quái pháp. Nguyên lý của nó là dùng phong thủy để dẫn động địa linh. Vào thời điểm Thần Đất cai quản, thu nạp địa sát vào gạo. Nếu ngôi nhà hoặc khu đất thực sự có sát khí, chắc chắn sát khí sẽ đi vào gạo. Về việc đốt một góc tiền vàng mã, đó là ý nghĩa dẫn động khẩn cấp, trong đó có một chút thiên cơ nhỏ, không tiện nói rõ hết. Còn về phần thần chú, vì đây là một trong những pháp căn bản nhất của Đạo pháp phái Mao Sơn, nên mới dùng chú này, rải gạo ra, dậm chân, niệm sát xuất, chính là đuổi địa sát ra ngoài. Khi địa sát đã bị đuổi đi, tự nhiên chuyển nguy thành an vậy."

"Thưa ngài Thắng Ngạn, khi thực hành pháp này có điều cấm kỵ gì không? Ngài đã tiết lộ hết Đạo pháp như vậy, chẳng lẽ không sợ tiết lộ thiên cơ sao?"

"Pháp này không có nhiều điều cấm kỵ, nhưng khi thực hiện bất kì pháp thuật nào, nguyên tắc là không được xem thường, không được coi như trò đùa, phải làm từng bước một theo đúng trình tự. Việc tôi tiết lộ hết Đạo pháp là vì nhiều Đạo pháp trên thế gian này đã thất truyền! Hơn nữa người đời nay không tin vào thần linh, các pháp thuật tâm linh sắp bị mai một, ai ai cũng sùng bái phương Tây, xem nhẹ sức mạnh tinh thần. Tôi đề xướng Đạo pháp thiên cơ là muốn vãn hồi đời sống tinh thần đã mất của nhân loại, vì vậy, không tiếc công tiết lộ toàn bộ Đạo pháp bí mật."

"Thưa ngài, Đạo pháp và khoa học có thể kết hợp với nhau không?"

"Nếu dùng phương pháp khoa học để phân tích Đạo pháp, chắc chắn sẽ phát hiện ra một số năng lực trong đó, không phải hoàn toàn hư ảo và khó nắm bắt. Sự phát triển của khoa học hướng đến việc tìm kiếm hạnh phúc cho nhân loại trên toàn thế giới, và mục đích của Đạo pháp cũng giống như vậy. Trong tương lai, sức mạnh tinh thần của Đạo pháp chắc chắn sẽ được phát hiện trong lĩnh vực khoa học giống như từ trường vậy, khiến người ta tin tưởng mà không còn hoang mang. Vì vậy, triết lý khoa học của phương Đông và phương Tây có thể hòa quyện làm một, không còn phân biệt."


### 09. Cứu độ âm linh tái hiện


Sau khi con người chết đi, sức mạnh ý niệm của họ không nhất thiết biến mất ngay lập tức. Vào thời điểm này, dù mắt đã nhắm, tim ngừng đập, máu ngừng tuần hoàn, nhưng sức mạnh ý niệm vẫn còn tồn tại. Thời gian linh hồn rời khỏi thể xác khoảng từ 8 đến 48 giờ. Sau 48 giờ, khi sức mạnh ý niệm hoàn toàn dừng lại, đó mới thực sự là cái chết. Tôi thường nói, từ xưa đến nay ai rồi cũng phải chết, sinh tử là một chu kỳ lớn của thành, trụ, hoại, không. Con người sống ngay bên bờ cái chết, có thể nói là láng giềng với cái chết vậy.

Cái chết và sự sống của con người đều nằm trong hàng ngũ khổ đau, bởi cái chết là sự giải thoát vô thức, còn sự sống là việc vô thức đi vào thế gian. Giữa hai điều đó là một quá trình giãy giụa, sáu nẻo luân hồi thực như biển khổ, niềm vui rốt cuộc quá ít ỏi. Hiện nay, để cắt đứt nỗi khổ của lục đạo luân hồi, chỉ có cách cầu đến sự cứu độ của Phật pháp. Khi âm linh tái hiện, với nhất tâm nhất lực, được vãng sinh về cõi Phật tịnh thổ, như vậy mới không uổng kiếp này.

Tôi đọc khắp kinh Phật, biết Mật tông có cái gọi là "trung ấm cứu độ", biết Hiển giáo có cái gọi là "trợ niệm cứu độ", những điều này đều rất quan trọng. Yếu chỉ của nó là trong vòng 48 giờ sau khi người vừa mới mất, do các vị pháp sư cao minh thực hiện pháp trung ấm cứu độ hoặc pháp trợ niệm cứu độ. Phương pháp này hiệu quả hơn việc các nhà sư tụng kinh hay đạo sĩ làm pháp sự, đồng thời giúp người thân, tiền bối nhờ nhận được lực hộ trì của đại chỉ Phật pháp, do niệm niệm vãng sinh mà được vãng sinh. Sức mạnh huyền bí này thật không thể nghĩ bàn.

Khi con người chết đi, điều đầu tiên xuất hiện chính là "không huyễn". Có người nhìn thấy người âm (người thân đã mất) hoặc thần quỷ khổng lồ, có vị thần vui vẻ hoặc quỷ dữ phẫn nộ. Khi thấy những cảnh tượng kỳ lạ này, đừng kinh ngạc sợ hãi (người tu thiền định khi vào cảnh giới "không huyễn" cũng thường gặp hiện tượng này). Lúc này không vui không giận, phải giữ tâm bất động, cần biết rằng những cảnh tượng này đều là sự biến hóa của tâm, là nghiệp lực ba đời cùng hiện ra. Nếu bị mê hoặc đắm chìm trong những cảnh huyễn này do nghiệp lực, chắc chắn sẽ rơi vào vòng khổ của lục đạo.

Nếu thấy một nam nhân đẹp đẽ mà đắm say, kiếp sau sẽ đầu thai làm thân nữ.
Nếu thấy một nữ nhân đẹp đẽ mà mê hoặc, kiếp sau sẽ đầu thai làm thân nam.

Nếu lúc này thấy một ác quỷ khổng lồ ép bức, linh thức muốn trốn chạy nhưng không có lối thoát, mà thấy có một hang động khuất nẻo liền chui vào, thì chắc chắn sẽ rơi vào vòng khổ của lục đạo, khi bừng tỉnh ra thì đã đầu thai làm súc sinh mất rồi!

Khi người thân hoặc bạn bè mất trong vòng 48 tiếng đồng hồ, nếu biết được pháp cứu độ âm linh tái hiện, cần phải làm những việc sau đây, khiến người chết trong khoảnh khắc ấy giống như người chết đuối không có gỗ để bám, nhờ việc thực hiện pháp cứu độ mà giúp họ nắm được miếng gỗ cứu sinh, được chư Phật Bồ Tát từ bi tiếp dẫn, đạt được vãng sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc.

Khi người chết, đừng khóc lóc thảm thiết, dù điều này rất khó làm được. Tuy nhiên, hãy cố gắng kiềm chế, muốn khóc thì đợi sau 48 tiếng đồng hồ hãy khóc cũng không sao, bởi tâm thức người chết vẫn còn, khi nghe tiếng khóc than của người thân bạn bè, tâm thức sẽ rối loạn, việc niệm Phật thường ngày không thể tiếp nối liên tục. Nếu trong lòng đau buồn, không thể tự chủ, thần thức không thể tập trung nhất tâm, tự nhiên sẽ bị nghiệp lực chi phối, lại phải luân hồi trong lục đạo, khó sinh về cõi Phật.

Lúc này, bậc đại đức thiện nhân hãy nhanh chóng đến bên tai người mất và nói với họ: "Thưa ông/bà, xin hãy ghi nhớ, mau chóng thu tâm, chỉ cầu hào quang của Phật và hoa sen nhanh chóng hiện tiền. Con nay quy y Phật A Di Đà ở thế giới Tây phương Cực Lạc, mong Đức Phật từ bi chiếu cố, dựa theo bản nguyện xưa của chư Phật, niệm Phật được vãng sinh, hoa sen mau khai nở, niệm Phật được vãng sinh." Lúc này bậc đại đức thiện nhân ân cần niệm Phật bên tai người mất: "Nam mô A Di Đà Phật", khiến người mất không sinh lòng sợ hãi, nhất tâm nhất niệm, một lòng mong được thấy hào quang của Phật A Di Đà. Vào lúc này, chư Phật Bồ Tát theo bản nguyện năm xưa, nhất định sẽ hiện thân tiếp dẫn.

Nói chung, khi người vừa mất, điều duy nhất còn tỉnh táo chính là hoạt động của tinh thần và niệm lực. Nếu là người thường ngày có công phu tu tập, chỉ cần không bị mê hoặc bởi những cảnh huyễn ảo, một lòng niệm Phật, không sợ không lo, chỉ quán tưởng một đóa sen, hoa sen phủ khắp thân mình. Khi được ân quang gia trì, vừa mở mắt đã thấy mình ngồi trên một đóa sen đang nở, và Phật A Di Đà, Bồ Tát Quan Thế Âm, Bồ Tát Đại Thế Chí hiện thân phóng vô lượng hào quang cát tường. Lúc này chính là đã chứng được vãng sinh! Tôi nghĩ rằng được vãng sinh hay không, thời khắc âm linh tái hiện là quan trọng nhất, hãy buông bỏ tất cả cảnh huyễn loạn, buông bỏ thân tâm, buông bỏ phiền não, chỉ cầu Liên Hoa Hóa Thân Phật mau hiện. Chỉ cầu Liên Hoa Hóa Thân Phật mau hiện!

Trong phòng của người sắp mất, cần thỉnh tượng Phật, thắp đàn hương, các huynh đệ tỷ muội trong chùa cùng nhau trợ niệm cho họ, giúp thần thức và niệm lực không bị phân tán mà quy về một mối. Do niệm lực được tập trung, dựa theo bản nguyện của Phật A Di Đà, chắc chắn sẽ được vãng sinh!

Có người hỏi: "Pháp bí mật cứu độ trung ấm của Mật tông và pháp cứu độ khi âm linh tái hiện có gì khác nhau không?"

"Pháp bí mật cứu độ trung ấm của Mật tông và pháp cứu độ khi âm linh tái hiện có sự khác biệt. Nói chung, pháp cứu độ của Mật giáo phải do pháp sư thực hiện, trong vòng bảy tuần thất (49 ngày), theo từng bước của pháp cứu độ, chỉ có pháp sư mới có thể thực hiện được. Còn pháp cứu độ khi âm linh tái hiện chỉ trong vòng 48 tiếng đồng hồ, cần thực hiện ngay lập tức, ai cũng có thể làm được, không cần pháp sư. Đồng thời, pháp bí mật cứu độ trung ấm của Mật tông có học lý sâu xa hơn, còn pháp cứu độ khi âm linh tái hiện là pháp phương tiện, chỉ lấy việc vãng sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc làm mục đích, những điều khác sẽ từ từ nói sau. Pháp này tuy đơn giản nhưng có lợi ích lớn, không thể xem thường."


### 10. Thuật truy tâm bí truyền


Thuật truy tâm là một pháp thuật được truyền từ Thanh Chân Đạo Trưởng. Khi đó ngài đã nói: "Liên Sinh, thuật truy tâm là pháp bí truyền, người thiện dùng sẽ tạo điều đại thiện, kẻ ác dùng sẽ gây điều đại ác. Vì vậy, truyền pháp này phải chọn người mà truyền, không thể công bố hoàn toàn. Chỉ cần giữ lại mật chú chân ngôn, dù người khác có phương pháp cũng không thể thực hiện được. Thuật này chia thành thượng phẩm pháp do Thiên Khu Chân Nhân truyền lại, và hạ phẩm pháp do Mao Sơn Điền Chân Nhân truyền xuống. Sau này khi con xuất bản sách, có thể viết ra hạ phẩm pháp, ẩn đi thần chú, để cho người đời hiểu được thuật này là được."

Do lời dặn của thầy, nên bài viết này chỉ nói về sự tồn tại của thuật truy tâm mà thôi, không thể công bố thần chú. Công dụng của thuật truy tâm rất lớn, chủ yếu là để thay đổi lòng người. Ví dụ như có người bỏ nhà ra đi, không biết tung tích, dùng thuật truy tâm có thể khiến người bỏ đi nhớ nhà, cuối cùng tự họ sẽ quay về. Hoặc nếu có người mắc thói xấu, chuyên làm điều ác, cũng có thể dùng thuật truy tâm khiến người xấu hối cải, sửa đổi làm điều thiện. Thuật truy tâm này cũng có tác dụng ngược lại, nếu dùng phương pháp ngược, tự nhiên cũng có thể khiến người thiện trở nên xấu, gia đình tan vỡ.

Phương pháp thuật truy tâm như sau:

Thứ nhất, dùng một chum nước lớn làm bằng sành, đổ nước vào khoảng nửa chum, đặt một cây trúc xanh ngang qua miệng chum, treo một sợi dây, một đầu dây buộc vào cây trúc, đầu kia buộc vào một chiếc giày da hoặc giày vải của người được làm phép, giày càng cũ càng tốt, điều quan trọng là nam trái, nữ phải, mặt giày vừa chạm mặt nước, miệng chum ngoài cây trúc ra còn cần một nắp gỗ, nắp không cần đậy khít cũng được.

Thứ hai, thực hiện thuật này vào lúc 11 giờ đêm, ý nghĩa là lúc này người được làm phép đã lên giường nghỉ ngơi. Lúc này thắp ba nén hương, không đậy nắp chum nước, người làm phép đối diện với chiếc giày trong chum, gọi tên người được làm phép 49 lần, sau đó tụng thần chú truy tâm 7 lần, rồi cầu nguyện về mục đích làm phép. Sau khi hoàn tất tất cả, đậy nắp gỗ lên miệng chum, cắm ba nén hương đang cầm vào nắp gỗ.

Thứ ba, thuật truy tâm thực hiện dựa vào lực của thần hoặc lực của quỷ linh, nên không thể xem thường hay đùa giỡn. Khi làm phép phải hết sức cung kính, không được sơ suất về lễ nghi. Trong thần chú cần thỉnh một vị thần làm chủ, cũng có người đốt Tứ phương kim [một loại tiền giấy của Chân Phật Tông] để thỉnh thần tướng bốn phương trợ giúp. Nếu dùng thêm pháp tế lễ cầu nguyện còn phải dâng hoa quả tươi để cung kính đón các vị thần thánh giáng lâm tương trợ.

Chum nước lớn dùng trong thuật truy tâm thực chất là hình tròn tượng trưng cho thế giới, và việc đổ nước vào một nửa chum có hai ý nghĩa: nước tượng trưng cho tinh thần con người, đồng thời cũng có thể giải thích rằng cơ thể con người được cấu tạo từ 70% nước. Chiếc giày cũ là vật dụng của người được làm phép, càng mang lâu, tinh khí thần của chủ nhân càng thấm vào giày. Giày đại diện cho người được làm phép, mặt giày chạm mặt nước tượng trưng cho sự tương thông giữa tinh khí thần. Do đó, dưới tác động của tinh thần và niệm lực, cùng với sự thúc đẩy của người thứ ba, người được làm phép sẽ bị ảnh hưởng về tâm lý, dần dần thay đổi suy nghĩ và đạt được mong muốn trong tâm của người làm phép.

Pháp thượng phẩm của thuật truy tâm cao quý hơn pháp hạ phẩm, và về mặt học lý cũng vượt trội hơn pháp hạ phẩm, hiệu quả linh nghiệm của thuật truy tâm thượng phẩm cũng mạnh mẽ hơn hạ phẩm! Thiên Khu Chân Nhân chỉ dạy rằng: Trong sinh thần của con người ẩn chứa kết cấu thiên - địa - nhân tam tài, nếu có thể hiểu được sinh thần của một người, vận dụng biến hóa sẽ đạt được công năng của Kỳ Môn Độn Giáp. Khi Kỳ Môn Độn Giáp kết hợp với Tham Tinh Pháp Bái Thần, thuật truy tâm sẽ trở thành pháp tối thượng thừa. Cổ nhân có câu, một ngôi sao trên trời tượng trưng cho một con người dưới đất, câu nói này thoạt nghe tưởng như vô lý, nhưng nếu dựa vào cách suy đoán vận mệnh theo tinh tú, vận dụng đạo lý dịch chuyển Cửu Cung, sẽ hiểu được việc điều khiển vận mệnh một người là điều rất đơn giản. Đến cảnh giới này, tự nhiên sẽ không còn chê cười câu nói "một ngôi sao trên trời, một con người dưới đất" là chuyện đùa nữa.

Từ khi tôi học được một số pháp thuật, tôi nhận ra rằng mặc dù những pháp thuật này là sự phát huy của năng lực tinh thần, nhưng chúng không phải là giả. Sức mạnh linh nghiệm của chúng quả thực có những công năng kỳ diệu không thể nghĩ bàn. Vì vậy, trong cõi vô hình mờ mịt, dường như có một luồng linh lực đang không ngừng tuôn trào. Điều này thật là huyền diệu, những bí mật của vũ trụ dường như đang muốn được hé lộ.

Theo tôi biết, có rất nhiều người học được pháp thuật, nhưng đáng tiếc những người giữ được chính đạo không thay đổi thì không nhiều. Sau khi học được pháp thuật, nếu cậy vào pháp thuật để lừa gạt người khác, ngấm ngầm sai khiến quỷ thần quấy phá, tâm địa không thiện, những người này tuy ban đầu nhờ thuật mà đắc thế, nhưng kết quả đều không tốt đẹp gì. Bởi vì những kẻ sai khiến quỷ thần làm điều xấu ác, tương lai ắt sẽ nếm mùi đau khổ, vì một số pháp thuật ma quỷ là những thứ vô tình, chắc chắn sẽ có ngày phản chủ. Đến lúc chết, tự tâm hóa ma, kết quả không được chết lành, sau khi chết sẽ đọa địa ngục.

Hôm nay, khi viết cuốn sách này, tôi muốn nói rõ rằng Đạo pháp có thể tạm thời cứu giúp người khác hoặc tránh được một số kiếp nạn nhỏ, đây là một trong những phương pháp tự vệ của người tu Đạo, ít nhiều cũng có ích cho việc tu hành. Tôi mong rằng những người bạn có chí hướng về điều này, học được điều lợi mà không gây hại, tuy nhiên, "đạo" thật sự không phải là những pháp thuật này, nhất định không được hiểu lầm. Đạo là chân lý của cuộc sống, không phải thần thông, không phải pháp thuật, mà là dùng trí huệ viên mãn để giác ngộ chân lý của cuộc đời, kết quả là không sinh không tử, vĩnh viễn chứng quả Phật, đạt được quả vị vô thượng.

Viết về thuật truy tâm bí truyền, có một bài kệ để lưu niệm:
*Truyền pháp kỳ thuật chưa từng nghỉ
Cứu người vượt qua núi đao cao
Phỉ báng đến thân không đáng kể
Trung thành báo quốc sẽ tỏ tường.*


### 11. Thế thân


Thế thân là một trong những pháp thuật cổ xưa, với phạm vi ứng dụng rộng lớn đến mức khiến người ta phải kinh ngạc, và cũng là loại pháp thuật có nhiều biến thể, phức tạp và đa dạng nhất. Tác giả xin đưa ra một ví dụ nhỏ để minh họa. Thông thường, trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ nếu có thói quen khóc đêm, cứ đến tối là khóc không ngừng. Ban ngày vẫn bình thường, không có bệnh tật gì, nhưng trời vừa tối là khóc, khóc đến khi môi khô miệng đắng mới thôi. Lúc này, nếu có người biết thuật thế thân, có thể dùng một tờ giấy đỏ, viết rằng:

*Nhà tôi có đứa hay khóc đêm
Họ tên cân nặng đủ trong này
Người hiền quân tử đem tụng niệm
Một lượt thế thân giải nghiệp ngay.*

Lại viết rằng:

*Người hiền quân tử đức hạnh cao
Thay con tôi cầu được bình an
Khóc đêm dứt hẳn mệnh vận tốt
Trăm năm sống thọ mãi an lành.*

Phương pháp này đã được sử dụng từ rất lâu đời, đây là một loại phép thế thân để ngăn trẻ nhỏ khóc đêm. Cách thực hiện là viết tên của đứa trẻ hay khóc đêm lên giấy đỏ, kèm theo hai bài kệ trên, rồi dán ở bảng thông báo hoặc bảng tin nơi dễ thấy. Nếu có người đi ngang qua nhìn thấy và đọc lên, kỳ diệu sẽ xuất hiện, từ đó về sau đứa trẻ sẽ không còn khóc đêm nữa. Bạn thấy lạ không? Hơn nữa, hai bài kệ này càng nhiều người đọc càng hiệu nghiệm, càng nhiều người đọc thì linh lực càng mạnh.

Ngoài ra, tác giả biết một bí pháp, đây cũng là pháp bí truyền, người học phải thắp hương lập lời thề, chỉ được sử dụng khi khẩn cấp hoặc thực sự cần thiết. Pháp này cũng là một loại pháp thế thân, bây giờ tôi đặc biệt giải thích pháp này. Tuy nhiên, tôi sẽ giữ lại mật chú, bởi vì nếu mọi người đều học và làm theo pháp này, sẽ đi ngược lại thiện pháp của trời đất và quy luật tuần hoàn tự nhiên. 

Sau đây xin nêu một ví dụ nhỏ: Nếu có một người bị mất trí, nói năng lộn xộn, nhưng người này có vai trò quan trọng, nếu tỉnh táo trở lại sẽ có ích cho chúng sinh, hoặc có thể làm chứng cho một việc nào đó, giúp nhiều người được lợi. Lúc này, theo pháp như sau:

Thứ nhất - tìm một chiếc tách cà phê làm bằng sứ, hoặc một món đồ sứ ngọc tinh xảo đẹp đẽ, thứ mà ai nhìn cũng thích. Ở miệng tách, đắp một miếng vải màu vàng, dùng chỉ đỏ buộc chặt. Trước khi đắp vải vàng, bên trong tách phải giấu tóc và móng tay của bệnh nhân, gói tóc và móng tay bỏ trong tách.

Thứ hai - dùng pháp tế sát để cúng tế chiếc tách, mỗi sáng sớm, cầm tách đặt gần miệng mũi của bệnh nhân, nếu bệnh nhân vẫn có thể thở, yêu cầu bệnh nhân đối miệng với miệng tách thở một hơi, nếu không thể, đưa miệng tách gần mũi, hít thở bảy lần rồi dừng, sau đó mang tách về, đặt lên bàn thờ, thắp ba nén hương để cúng, nếu không có bàn thờ, đặt xuống đất cũng được, nhưng phải đặt lư hương trước tách, mỗi lần thắp ba nén hương, cúng tế và tụng chú, không được bỏ một ngày nào. (Tôi giữ lại câu chú, không được truyền bừa bãi.)

Thứ ba - sau 49 ngày, lấy chiếc tách đẹp đẽ tinh xảo này, gói trong vải đỏ, đem vứt bên đường cách nhà mình bảy cây số, khi vứt cũng phải đọc thần chú. Đến đây mới coi như hoàn thành.

Cần biết rằng việc thực hiện pháp này có điều trái với đức thiện của trời đất, trái với quy luật tuần hoàn tự nhiên, bởi vì nếu có người vô tình nhặt được gói vải này, thấy là chiếc tách đẹp đẽ tinh xảo như vậy, sinh lòng tham, đem về nhà dùng để uống trà, thì tác dụng thay thế sẽ dần dần phát triển trong vô hình, người nhặt tách sẽ dần dần bị xung sát, cuối cùng sẽ thần trí không minh mẫn, tinh thần rối loạn. Còn bệnh nhân ban đầu, vì bệnh đã có người thay thế, có người làm thế thân, nên được khỏi bệnh, đây chính là phương pháp chuyển di thế thân.

Theo tôi biết, mặc dù việc chuyển di nghiệp bệnh có sự sắp đặt mầu nhiệm của quỷ thần trong cõi vô hình, nhưng người thực hiện pháp thuật vì tư lợi mà không màng đến sự sống chết của người khác sẽ tổn hại đức hạnh của mình rất lớn. Vì vậy, tôi không làm pháp này và cũng không truyền cho ai. Bây giờ tôi chỉ nói ra để độc giả biết rằng trên đời có pháp này, và khi nhặt được đồ vật trên đường, hãy nhanh chóng mang đến đồn cảnh sát để tìm chủ nhân, tránh sinh lòng tham một lúc mà phải chịu tai họa vô hình, như vậy thật không đáng!

Pháp thế thân cũng được các đạo sĩ sử dụng phổ biến, ví dụ như để thay thế cho người phạm sát, họ dùng hình nhân bằng cỏ hoặc giấy để làm phép. Các cửa hàng bán vàng mã thường cũng bán "người thế thân", đây là cách phổ biến nhất. Khi dùng pháp thế thân để giải trừ vận xui cho người khác, bản thân đạo sĩ phải có đạo đức cao thượng mới được. Nếu đạo đức không cao, phép thuật không tinh thông, không những không giúp được người mà còn làm hại đến chính mình. Lời tôi nói không hề sai, giữa trời đất vốn có thần giám sát, nếu bản thân không có đức hạnh mà muốn làm phép cho người khác, phép chưa làm thì đã gặp họa trước.

Như tôi đã từng nói, nhiều căn bệnh không thể tự khỏi, nguyên nhân chữa lành là nhờ người khác thay thế và giảm nhẹ. Ví dụ như có người bệnh rất nặng, chúng ta dùng sức mạnh của cả trăm người để thay thế, mỗi người chỉ phải gánh chịu một phần đau đớn có hạn, còn bệnh nhân nhờ được thay thế mà khỏi bệnh. Đây chẳng phải là một bí mật vô cùng thần kỳ và không thể nghĩ bàn sao?

Pháp thế thân vô hình này có thể nói là một phương thuật không thể thiếu trong các pháp thuật.


### 12. Xin hỏi tìm địa linh ở đâu


Phong thủy địa lý là một môn học rất sâu sắc, nhưng không ngoài năm yếu tố: long, huyệt, sa, thủy, hướng. Trong cuốn sách "Địa Linh Huyền Bí" của tôi đã trình bày rất rõ ràng. Chúng ta biết rằng, trong cuộc đời mù mịt này đều có định số, việc gặp được phong thủy tốt hay xấu cũng đã được định sẵn, tuy nhiên muốn tìm được địa thế tốt vẫn cần có bậc thầy phong thủy cao minh chỉ điểm.

Theo quan sát của tôi về thiên số địa số trong Kinh Dịch, nếu phân chia theo trời đất, thì trời là dương còn đất là âm, cho nên đất chính là mẹ, trời chính là cha, đất mẹ nuôi dưỡng vạn vật, sinh thành muôn loài, điều này có nguyên do của nó. Xét về mặt di truyền khí thiêng của đất, con người có mối liên hệ huyết thống với tổ tiên, và sự tốt xấu của địa linh tự nhiên sẽ ảnh hưởng đến vận mệnh của thế hệ sau, đây chính là sự vận hành của địa chi, quả thật không thể xem thường.

Nói về hòn đảo ngọc của chúng ta [Đài Loan], trong số tất cả các dãy núi lớn trên toàn đất nước, không có ngọn núi nào tôi chưa leo qua. Từ Nam chí Bắc, từ Tây sang Đông, tôi nhận thấy địa khí của hòn đảo ngọc dày đặc đến mức các thầy phong thủy thông thường không thể tưởng tượng được. Đảo ngọc có thể gọi là đảo tiên Bồng Lai giữa nhân gian, đây không phải lời nói suông mà là danh xứng với thực. Tôi đã phát hiện được 36 huyệt thiên long bảo địa, có thể nói là thất tinh giáng thế, bảo địa sinh liên, quang hoa rực rỡ. Vì vậy, dựa vào những yếu tố địa lý này, tôi có thể biết rằng đảo ngọc là vùng đất thánh, xét về giá trị lịch sử, càng thêm siêu việt và vĩ đại. Bản thân tôi ngước nhìn thiên tượng, phát hiện bảy con rồng uốn khúc, giáng xuống đảo ngọc, đây quả là điềm báo đại cát đại lợi, đại phú đại quý!

Các thầy phong thủy thông thường không hiểu phương pháp mượn đất vận khí, chỉ biết dựa vào khí tự nhiên của đất. Còn các bậc thầy cao minh có thể mượn đất vận khí, mượn khí thiêng của đất để giúp người đang gặp vận xấu chuyển sang con đường quang minh. Phương pháp này gọi là pháp mượn đất vận khí cải vận, có người còn gọi là pháp "tá tử". Ý nghĩa chính của pháp tá tử là quan sát sự nhiều ít của dương khí và âm khí, vận dụng nguyên lý Kinh Dịch để chuyển đổi họa phúc, nghèo giàu trong cuộc đời. Pháp tá tử cũng chính là một môn học về âm dương.

Phương pháp mượn đất vận khí cải vận như sau:

Thứ nhất - Thỉnh mời một vị thầy phong thủy cao minh, căn cứ theo cách bài trí của tinh tú giáng hạ để tìm một long huyệt chân chính. Về việc đánh giá long huyệt tốt xấu, xin tham khảo tác phẩm "Địa Linh Huyền Bí" của tôi. Trình độ cao thấp của thầy phong thủy có liên quan rất lớn đến pháp mượn đất vận khí cải vận, bởi vì nếu tìm long huyệt mà có sai lệch thì ngay từ đầu đã phạm sai lầm, như vậy là không thể thực hiện được. Pháp mượn đất vận khí nhất định phải dùng long huyệt quý chân chính, nếu không tìm được long huyệt thì không được sử dụng, bởi vì đây là phép "hiện thực lập tức".

Thứ hai - Chuẩn bị một bộ đầy đủ gồm tóc, móng tay, quần áo, giày tất, mũ nón thường mặc của đương sự, cùng với bát tự ngày sinh của họ, giao cho thầy địa lý cao minh sử dụng. Lúc này hoàn toàn phụ thuộc vào công lực của vị thầy phong thủy cao minh đó. Dựa vào bát tự ngày sinh của người đó để tính toán, có thể biết được sự thịnh suy của ngũ hành cửu cung, rồi dựa theo sự dẫn động của địa khí, đưa vào cung suy của đương sự, giúp họ chuyển họa thành phúc, chuyển hung thành cát, chuyển suy thành thịnh.

Thứ ba - Thầy địa lý tính toán ngày sinh của người đó, áp dụng phương pháp như mai táng người chết, cũng cần xác định ngày động thổ, ngày dựng bia, ngày tiến kim [sau khi người chết trải qua quá trình hỏa táng, hoặc sau khi cải táng từ mộ truyền thống (còn gọi là nhặt cốt), di cốt được đặt vào hũ hoặc bình đựng tro cốt, cuối cùng người thân đưa đến nơi an táng (tháp mộ) để lưu giữ, quá trình này trong nghi lễ tang ma được gọi là nhập tháp, hay còn gọi là vào tháp hoặc tiến kim], ngày tròn mâm [sau khi đã chôn cất tổ tiên một số năm, đào mộ lên để thu gom hài cốt bỏ vào hũ tro cốt, rồi đem chôn hũ tro cốt vào ngôi mộ mới xây]. Cần nhớ xác định rõ đó là long huyệt nào, căn cứ theo ngày sinh của đương sự để quyết định độ sâu đào đất, điều này đặc biệt quan trọng. Khi tất cả những việc này hoàn thành, tự nhiên sẽ phát sinh hiệu quả rất lớn.

Pháp mượn đất vận khí cải vận này không nhiều người biết, người biết sử dụng còn ít hơn, đây cũng là một trong những pháp bí truyền. Mục đích của nó là mượn khí thiêng siêu việt và vĩ đại của đất để giúp người sống tiêu tai giải nạn, thúc đẩy cát tường tránh hung họa. Ví dụ như có người sinh gặp vận xấu, có thể dùng pháp này dẫn động địa linh trợ vận, vượt qua năm cửa ải của vận mệnh.

Tôi thấu hiểu sâu sắc rằng trên đời có rất nhiều thuật kỳ lạ, và tôi - Lư Thắng Ngạn nhỏ bé này, may mắn có được cơ duyên kỳ ngộ, hiểu được những số lớn trong thiên hạ. Tuy nhiên, tôi đã giấu kín không lộ ra suốt bảy năm dài, người đời nhìn tôi ngờ nghệch, nhìn tôi vụng về, nhìn tôi ngớ ngẩn. Phải chăng tôi thật sự ngu dốt? Hay giả vờ ngu dốt? Hay là kẻ ngu trong số những người thông minh? Ha ha! Tôi thà làm một người thực sự ngu dốt, giữ kín mọi thuật kỳ lạ trong lòng, mang theo xuống mồ. Nhưng như vậy thì làm sao tôi có thể báo đáp ân nghĩa của các vị tiên sư trên trời dưới đất đã dành cho tôi?

Xin viết một bài kệ để chứng minh:
*Chân lý trời đất bền vững mãi
Người biết học đạo thắng được trời
Ôm ấp kỳ thuật dũng mãnh tiến
Trung trinh báo quốc mãi không dời.*


### 13. Tử vi đẩu số


Khi Thanh Chân Đạo Trưởng còn sống, ngài rất tinh thông về Hoàng Cực Số và Tử Vi Đẩu Số, đặc biệt là giỏi về thuật bói toán Nhất Trượng Thanh. Ngài từng tính mệnh cho tôi, ân sư thở dài nói: "Liên Sinh, kiếp này con khổ rồi, tuy mệnh cách của con thanh liêm hiếm thấy, nhưng ma kiếp trùng trùng, con chỉ có thể nhiều lần cầu nguyện trời cao, dùng thiên cách quý tinh để dẫn động nhân cách quý tinh, như vậy mới có thể tránh được tai ương. Than ôi! Mong con có thể nhẫn nhịn, nhẫn rồi lại nhẫn, luôn tha thứ cho những người đối địch với con, bởi vì những người này tự thân họ không làm chủ được bản thân, họ là ma tinh chuyển kiếp! Họ đến để thử thách con đấy."

Thanh Chân Đạo Trưởng truyền cho tôi thuật bói toán Nhất Trượng Thanh. Nhất Trượng Thanh là một biến thể sâu sắc hơn của Tử Vi Đẩu Số. Tôi đã từng tính số cho chính mình, thật đúng là như vậy, tính ra khiến một người thật thà như tôi phải kinh hồn bạt vía, kiếp nạn của tôi nặng nề đến thế, than ôi! Thượng thiên ơi! Xin thương xót cho Lư Thắng Ngạn tôi một đời trong sạch, tâm địa lương thiện, xin cho tôi vượt qua kiếp số này, cầu xin thượng thiên, xin hãy nhìn xuống tôi, đừng quên tôi. Sư phụ ơi, trong cơn nguy khốn Liên Sinh mong được cứu vớt, sư phụ Tam Sơn Cửu Hầu ơi...

Do Thanh Chân Đạo Trưởng đã từng tính mệnh cho tôi, bản thân tôi cũng tự tính, ngoài ra còn có một vị lão tiên sư tên Vương Minh Thụ ở số 1 đường Quang Phục, thị trấn Thanh Thủy cũng tính Tử Vi Mệnh Tạo cho tôi. Tôi không quen biết Vương Minh Thụ, nhưng thuật số mệnh lý của ông quả thật phi phàm, ông tính toán về vợ con tài lộc của tôi rất chính xác! Ông ấy gửi thư cho tôi và ông tính cho tôi như sau:

*"Thưa tiên sinh Thắng Ngạn: Tôi viết thư này không khác gì múa rìu qua mắt thợ, nghĩ rằng tiên sinh là bậc hiền đạt, chắc sẽ không chê cười. Xem bát tự của tiên sinh, tôi biết ngài là một người quân tử chính trực, nên mới dám mạo muội. Tôi thấy tiên sinh không nên công khai bát tự ngày sinh của mình trong sách, điều này sẽ mang đến nhiều phiền phức cho tiên sinh, phải biết rằng cây cao thì gió lớn, người đời có kẻ tốt người xấu, e rằng có tiểu nhân đố kỵ, âm thầm quấy phá. Dù Đạo pháp của tiên sinh cao thâm, nhưng cũng phải tốn nhiều công sức, đặc biệt khi vận hành trong ba vận Mão Tuất Dần, tuy có nhiều người ủng hộ, nhưng cũng lắm kẻ ma đạo tiểu nhân, tiên sinh cần phải đề phòng mới tốt. Nghĩ rằng với Đạo pháp tinh thâm của tiên sinh, ắt có thể hóa nguy thành an, chuyển nguy thành yên, đó là dụng ý của tôi khi viết thư này.*

*Tôi và tiên sinh vốn là đồng hương, người Gia Nghĩa, mười năm trước chuyển đến Thanh Thủy, đến nay tôi vẫn là kẻ nghèo hèn. Từ nhỏ đã thích học ngũ thuật, về thuật núi, mệnh lý, bói toán, tướng số đều có chút tâm đắc, thỉnh thoảng cũng từng phục vụ người khác. Tuy có tâm hướng đạo, nhưng nghiệp chướng chưa trừ, vẫn chưa phải lúc, chỉ biết kính thần lễ Phật, dè dặt cẩn trọng, không dám trái với thiên đạo lương tâm mà thôi. Sau này nếu có cơ duyên, sẽ đến tận cửa cầu giáo.*

*Kính chúc bình an.
Vương Minh Thụ kính bút."*

🌟

*"Tiên sinh là người có ba sao quý, sao Ất Dậu quý nhân thiên tài, sao Nhâm Ngọ tỷ kiên lộc thần, sao Đinh Mão thiên ấn, sao Bính Ngọ tỷ hựu lộc thần. Mệnh cách cao quý của tiên sinh - Đinh hỏa sinh vào mùa hè nóng bức, giờ Ngọ lộc, hỏa khí vượng thịnh 『Đinh Nhâm hợp Mộc, năm chi Dậu Kim nghịch Mộc khí, tuy có Ngọ Hỏa khắc Kim, nhưng trong giờ Ngọ Kỷ Thổ vượng tự sinh Kim, nên Đinh Nhâm tuy hợp nhưng không hóa.』 Vì vậy nên lấy Nhâm Thủy ở tháng để điều hòa làm dụng, lấy Kim ở năm chi Dậu làm cát, trời phối ba sao quý Ất Bính Đinh nên là bậc kỳ tài."*

*"Chi đới Thiên Nhất quý nhân, các cung Dậu Mão Ngọ, khí quán suốt ba cung Chấn, Ly, Đoài, Mộc hỏa thông minh. Do đó tiên sinh có tính tình ngay thẳng, trung chính không xu nịnh, văn chương tinh thông, đa tài đa năng (theo như nhật chủ và dụng thần tương hợp, ắt là bậc trung chính vĩ đại trong thiên hạ). Điều đáng ngại là Mão Dậu xung nhau, chủ về không hợp, phần nhiều là lập nghiệp từ tay trắng, tính cách cứng rắn, không có duyên với gia đình, hoặc ly biệt hoặc xung khắc, đây là mệnh bỏ tổ rời nhà tự lập thân vậy."*

*"Tý, Sửu, Mão, Dậu - dù bát tự không có con cái, nhưng hai ngôi Ngọ ngầm xung, hư thần làm dụng thần, các cung Chấn, Đoài, Khảm, Ly như bốn cực của trời đất, khí tượng vô cùng hùng vĩ. Từ đó có thể thấy rằng tiên sinh có tấm lòng rộng lớn, chí nguyện cao xa, phẩm cách thanh liêm, quả thật là bậc quân tử chân chính vậy."*

*"Vận Kỷ, lửa ẩn sinh Kim, Thực Thần tiết lộ tú khí, danh tiếng vang xa, bốn biển chấn động, quả thật có nguyên do."
"Vận Mão xung Dậu, trợ Hỏa khắc Kim, có tổn thương đến cát dụng, xin tiên sinh đề phòng tiểu nhân đố kỵ, ngầm hãm hại, đồng thời phòng phu nhân thân thể bất an."
"Vận Tuất không tốt, từ quan, thôi việc, lại phòng tai ương cho con cái, ma kiếp trùng trùng."
"Vận Dần danh tiếng càng cao, nhưng ngày tháng vất vả."
"Vận Sửu cát tinh chiếu rọi, tài lộc dồi dào."
"Vận Tý, Tý Ngọ Mão Dậu hội tụ, khai tông lập phái, thiên hạ kính ngưỡng, phổ độ chúng sinh, công đức vô lượng."
"Vận Hợi thể dụng hữu tình, bốn biển quy phục."
"Niết bàn chứng đạo, sẽ đến vào vận Tuất."*

🌟

Thuật Tử Vi Đẩu Số của cụ Vương Minh Thụ quả thật tinh thâm, những gì cụ tính toán hoàn toàn trùng khớp với những gì tôi đã suy đoán bằng phương pháp "Nhất Trượng Thanh". Mọi việc đã xảy ra đều đúng, còn những điều chưa xảy ra tôi cũng có thể biết trước. Điều này cho thấy số mệnh trong đời người quả thật là có thật! Theo như tôi được biết, trong Tam Nguyên Vận Số thì thiên vận đã định, địa vận đã định, chỉ có nhân vận là còn có thể tự tay thay đổi. Mong sao trong suốt cuộc đời phấn đấu này, Liên Sinh có thể chuyển nguy thành an, gặp dữ hóa lành, dùng tâm từ bi để cảm hóa nhân tâm trong thiên hạ.


### 14. Ngũ quả và chỉ ngũ sắc


Nhiều người thờ cúng thần Phật thường hỏi tôi: "Thưa thầy, khi thỉnh thần có cần chọn ngày giờ không? Nên dùng vật phẩm gì để thỉnh thần là tốt nhất, linh nghiệm nhất?"

"Đó chỉ là một nghi thức trong pháp hữu tướng, hoàn toàn chỉ cầu một chữ an tâm mà thôi. Tôi thấy thỉnh thần không cần phải làm khác người, dùng ngũ quả và chỉ ngũ sắc để thỉnh thần là được. Nếu không thỉnh thần, tôi cũng không phản đối, thần Phật không khai quang, tôi càng không phản đối. Nếu một người tâm thần đã siêu thoát khỏi hữu tướng, thì ngay cả Phật Bồ Tát cũng không cần phải thờ cúng. Còn về ngày giờ, cũng chỉ là hai chữ an tâm, quan trọng hay không quan trọng, đó là tùy người mà định." - Tôi nói.

Có người nghe tôi nói xong, suy nghĩ một chút là hiểu. Có người nghe tôi nói, suy nghĩ rất lâu vẫn không hiểu, nguyên nhân là vì tư tưởng của họ bị giới hạn trong khuôn khổ vật chất hữu hình hữu tướng. Vì vậy, dù tôi có giải thích thế nào, họ vẫn không hiểu được.

Tác giả đã từng viếng thăm vô số đền chùa lớn nhỏ, chứng kiến rất nhiều nghi thức nhập thần và khai quang. Nay xin đặc biệt giải thích về các vật phẩm dùng trong nhập thần như sau, để mở rộng kiến thức cho độc giả. Có cả chính pháp lẫn tà pháp, có pháp tâm linh và có cả pháp bàng môn.

1. Nhập thần bằng ruồi - Dùng ruồi màu vàng kim nhập vào tượng thần, đây là phương pháp cổ xưa nhất. Loại ruồi này không phải ruồi thường, ruồi phải được nuôi từ nhỏ đến lớn, không cho bò lung tung, nên đây là loại ruồi rất đặc biệt. Tại sao lại dùng ruồi để nhập thần? Nói ra thì rất thú vị, hai chữ "nhập thần" trong tiếng Đài Loan đọc giống như "nhập ruồi", đây quả thật là một phương pháp không có căn cứ gì.

2. Nhập thần bằng ong - Ngày nay, rất nhiều tượng thần được nhập thần bằng ong, phần lớn là dùng ong bắp cày và ong đen, hoặc dùng ong chúa. Ong thợ bình thường (ong làm việc) ít được sử dụng. Việc dùng ong để nhập thần có hai lý do. Thứ nhất, ong bắp cày và ong đen có tính khí mạnh mẽ, hung dữ, rất phù hợp với tính cách của các vị thần võ. Tương truyền sau khi nhập thần, thần tính sẽ căm ghét cái ác, có thần uy như sấm sét, có thể trừ tà ếm quỷ, khiến tà ma không dám xâm phạm. Thứ hai, dùng ong chúa nhập thần thể hiện linh tính cao siêu, có ý nghĩa lãnh đạo quần sinh. Nói chung, những tượng thần Phật được nhập thần bằng ong phần lớn là các vị thần võ như Vương Gia, Huyền Thiên Thượng Đế, Quan Thánh Đế Quân, Vi Đà Hộ Pháp, Dương Nhị Lang Thần, v.v… Thần văn ít khi dùng ong để nhập thần. Còn về lý do tại sao dùng ong để nhập thần, là vì chữ "ong" lấy ý từ chữ "gió", còn mang ý nghĩa "oai phong" vậy.

3. Nhập thần bằng hạt bồ đề - Nói chung tượng Phật ít khi được nhập thần, tuy nhiên cũng có trường hợp dùng hạt bồ đề để nhập thần. Tác giả từng chủ trì nghi thức nhập thần cho người khác, vị trụ trì cũng dùng hạt bồ đề để nhập thần. Điều này bắt nguồn từ việc năm xưa Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi dưới cội bồ đề, đêm nhìn sao sáng và đắc đạo. Do đó, bồ đề là biểu tượng của quả vị giác ngộ. Việc dùng hạt bồ đề để nhập thần thể hiện Phật có quả vị, quả vị chính là Phật. Theo như tôi được biết, cũng có người dùng kinh Phật làm vật nhập thần, việc dùng kinh Phật nhập thần thể hiện sự truyền thừa Phật pháp, chuyển bánh xe pháp lớn.

4. Nhập thần bằng thuốc Đông y - Có thể nhiều độc giả chưa từng nghe về việc nhập thần bằng thuốc Đông y. Có người dùng Tứ Vật (Thần), Bát Trân, Thập Toàn, có người dùng đến ba mươi sáu vị thuốc để nhập thần. Các vị thần được nhập theo cách này thường là Thần Nông Đại Đế, Hoa Đà Thiền Sư, Dược Vương Bồ Tát, Dược Sư Lưu Ly Quang Phật, v.v... Ý nghĩa của việc này rất rõ ràng.

5. Nhập thần bằng gương sáng - Cũng có người dùng gương sáng để nhập thần, gương sáng tượng trưng cho ánh sáng của mặt trời và mặt trăng.

6. Nhập thần bằng ngũ quả và chỉ ngũ sắc - Ngũ quả tượng trưng cho quả vị, cho kết quả tốt đẹp. Chỉ ngũ sắc được tạo thành từ năm sợi chỉ màu đỏ, vàng, trắng, xanh, đen, thể hiện ánh hào quang năm màu rực rỡ của thần linh. Nhìn chung, việc nhập thần bằng ngũ quả và chỉ ngũ sắc là phổ biến nhất, tôi cũng tán thành việc dùng ngũ quả và chỉ ngũ sắc để nhập thần, không cần phải làm khác người hay dùng tà pháp.

7. Nhập thần bằng rùa và hạc trắng - Tôi rất không tán thành cách nhập thần này. Mặc dù có người cho rằng rùa là linh thú và hạc trắng là linh điểu, nhưng vì linh khí của thần linh mà phải sát sinh hại mạng thì làm sao thần linh có thể linh thiêng được? Đây thực sự là cách làm không nên. Hơn nữa, khi nhập thần bằng rùa và hạc trắng, xác chúng sẽ phải thối rữa, mà đã thối rữa ắt sẽ có mùi hôi, liệu thần linh có giáng xuống không?

8. Nhập thần bằng rắn độc - Hiện nay tôi biết có người dùng rắn độc để nhập thần, lấy sự nhanh nhẹn và nọc độc của rắn để sử dụng, đây thực sự là cách làm không nên theo.

Còn rất nhiều vật dụng khác để nhập thần, ví dụ như đinh đồng, tiền cổ, bảo vật trấn yểm, như ý, linh chi v.v... Mỗi thứ đều có ý nghĩa và cách thức riêng, nhưng theo tôi, con đường tu pháp quan trọng nhất là tâm thành ắt linh. Nhập thần chỉ là bước đầu tiên trong việc thờ phụng thần Phật, chỉ cần tâm ý thuần khiết, đem tâm thần nhập vào thần tâm, như vậy trời người hợp nhất, đó chính là linh ứng nhất.

Nhập thần là một trong những phương pháp hữu hình, tôi cho rằng việc nhập thần hay không nhập thần, đối với thần Phật và người tu hành đều không quan trọng. Tuy nhiên, vì có rất nhiều người cứ muốn hỏi tôi về điều này, nên tôi đành phải viết bài này để bàn luận về vấn đề nhập thần.

Tôi xin làm bài kệ:
*Nhập thần được mất đừng để tâm
Tín ngưỡng chân thành mới cần vững
Trời người hợp nhất làm việc lớn
Tâm hướng nơi nào chẳng ngả nghiêng.*


### 15. Phép xem hung cát của nhà cửa theo học thuyết Âm Dương


Thanh Chân Đạo Trưởng từng nói: "Âm Dương Học là một học thuyết cổ xưa, ngày nay phần lớn đã thất truyền. Âm Dương Học có mối quan hệ vô cùng mật thiết với đạo Nho chính thống, bắt đầu từ nhất khí đến lưỡng nghi, từ lưỡng nghi đến tam nguyên, từ tam nguyên đến tứ tượng, từ tứ tượng đến ngũ hành, từ ngũ hành đến lục hợp, từ lục hợp đến thất kỳ, từ thất kỳ đến bát quái, từ bát quái đến cửu cung, từ cửu cung đến thập luận. Trong đó, lưỡng nghi chính là âm dương, âm dương sinh vạn vật, âm dương hóa vạn vật, âm dương nuôi dưỡng vạn vật."

Tiên sinh Tam Sơn Cửu Hầu nói: "Liên Sinh, vô cực chính là vô hình, là gốc rễ của đạo, còn thái cực chính là nhất khí, lưỡng nghi chính là âm dương. Một người tu đạo, nếu có thể phân biệt âm dương, tự nhiên có thể phán đoán mọi việc lớn nhỏ trong thiên hạ, không điều gì có thể thoát khỏi huệ nhãn của họ. Nếu dùng hai chữ âm dương để phân định thiên hạ, thì hung cát họa phúc đều nằm trong tầm kiểm soát. Vì vậy, Âm Dương Học này có thể biết được mọi việc trong thiên hạ, từ việc lớn đến việc nhỏ như lành dữ của con người, không thiếu sót điều gì."

Kẻ hèn này khi viết cuốn "Sức mạnh huyền bí", đương nhiên phải bàn luận về Âm Dương Học. Theo nghiên cứu của tôi, nhà đại triết học phương Tây Einstein với nguyên lý Thuyết Tương Đối của ông có thể nói là sự phát triển thêm của Âm Dương Học cổ xưa của Trung Quốc. Rất đáng tiếc là trong khi Thuyết Tương Đối của Einstein nổi danh lẫy lừng trong lịch sử, thì Âm Dương Học của chúng ta lại bị mai một hoàn toàn. Tôi cho rằng, nếu áp dụng Âm Dương Học vào thời hiện đại, phát huy những nguyên lý đích thực của nó, trong tương lai, những học thuyết cổ xưa này có thể sẽ nổi danh thiên hạ và còn được khoa học chứng minh. Hôm nay, bài viết ngắn này có tựa đề "Phép xem hung cát của nhà cửa theo Âm Dương Học", tôi sẽ dạy mọi người một phương pháp đoán định cát hung của nhà cửa. Phương pháp này rất đơn giản, nhưng quý như vàng, rất thực tế, không phải chỉ là lý thuyết suông.

Khi chúng ta muốn mua một căn nhà, trước tiên phải xem xét cát hung của căn nhà đó. Phương pháp xem xét này chính là "Phép đoán định cát hung của nhà cửa theo Âm Dương Học". Cần biết rằng, mặc dù cấu trúc, vị trí đất và diện tích của ngôi nhà đều quan trọng, nhưng có những yếu tố nhỏ có thể ảnh hưởng đến vận mệnh cả đời của người sống trong đó, những yếu tố này chính là do hai chữ âm dương quyết định. Dưới đây tôi sẽ phân tích một số điểm chính:

1. Nhà cửa cát tường theo nguyên lý trung hòa - Trung hòa nghĩa là âm dương cân bằng, loại nhà này khi mua về ở sẽ rất bình an. Cách đoán định như sau: phòng khách thuộc dương, bếp thuộc dương, phòng ăn thuộc dương, phòng đọc sách thuộc dương. Có lẽ có người thắc mắc tại sao bếp lại thuộc dương? Vì bếp là nơi lửa thịnh nên thuộc dương. Phòng ngủ thuộc âm, phòng kho thuộc âm, phòng tắm và nhà vệ sinh thuộc âm, nếu có phòng thờ riêng cũng thuộc âm, phòng trống cũng thuộc âm. Bây giờ lấy tổng diện tích các phòng thuộc dương và tổng diện tích các phòng thuộc âm cộng lại so sánh với nhau, nếu diện tích dương và diện tích âm không chênh lệch nhiều, đó chính là nhà trung hòa, ở sẽ được bảo đảm bình an.

2. Nếu ở lâu trong nhà có số âm lớn, người sống trong đó sẽ không được khỏe mạnh, bệnh tật quấn thân, ý chí suy sụp, thậm chí dễ trở nên thần kinh và thu hút tà khí âm, con cái sinh ra cũng không thể quang minh lỗi lạc, dễ mắc bệnh ngoài da, thậm chí sa đọa vào thói hư tật xấu.

Tuy nhiên, nếu người mang số âm lớn gặp người có tính chất dương cương đến ở trong nhà, hung sẽ chuyển thành cát, đây là do người và nhà tương tác "đạt đến trung hòa". Vì vậy, ở nhà thì nên chọn nhà trung hòa là an toàn nhất, nhưng cũng cần xem xét số âm dương của người ở để phán đoán.

3. Nếu ở lâu trong nhà có số dương lớn, người sống trong đó dễ bị cao huyết áp, tài lộc thịnh vượng, tính tình dễ nóng giận, cố chấp trong việc chọn điều thiện, có nguy cơ bất hòa trong gia đình, tính khí cương liệt, dễ mắc bệnh tim và gan, con cái tuy có địa vị cao quý nhưng tính tình cứng rắn, khó nhận được sự giúp đỡ của quý nhân, dù có tài thế nhưng ắt sẽ suy sụp giữa chừng. Nếu người mang số âm nặng đến ở loại nhà này, vừa hay tạo thành hiện tượng trung hòa giữa số âm và số dương, như vậy cũng là đại cát.

4. Phép điều hòa thay đổi đồ vật - Mỗi khi tôi đến xem nhà ở của người khác, dựa vào môi trường, cách ngăn phòng (bố cục nhà) và cách bày trí đồ đạc, trước tiên sẽ phán đoán có bao nhiêu số dương, bao nhiêu số âm, sau đó cải tạo bố cục nhà và sắp xếp lại đồ đạc để số dương và số âm tương tác đạt đến trung hòa. Như vậy, người ở trong nhà nhờ sự điều hòa của việc thay đổi đồ vật mà thay đổi được vận mệnh hiện tại. Người học âm dương phải biết quan sát số dương và số âm trước, sau đó mới bàn đến việc đạt trung hòa, như vậy có thể biến nhà hung thành nhà cát.

6. Phân tích và đoán định số âm dương - Vận mệnh thường thay đổi do việc di chuyển đồ vật, ví dụ như giường thuộc âm, khi di chuyển đến dưới cửa sổ có nhiều ánh nắng thì sẽ tạo thành trung hòa. Máy điều hòa thuộc âm, máy sưởi thuộc dương, ghế sofa nhung thuộc dương, ghế sofa da thuộc âm, hướng nắng thuộc dương, khuất nắng thuộc âm, sáng thuộc dương, tối thuộc âm, vật động thuộc dương, vật tĩnh thuộc âm, tính lửa thuộc dương, tính nước thuộc âm, cao thuộc dương, thấp thuộc âm... Trong đó có rất nhiều phân tích, nếu đoán định càng tinh tế thì việc dự đoán cát hung họa phúc càng chính xác, không sai một chút nào.

Việc phán đoán cát hung của nhà cửa không chỉ dựa vào số âm dương để nghiên cứu, mà còn phải xem xét các yếu tố như dòng nước, kích thước cửa ra vào, độ sáng tối của căn nhà, địa thế cao thấp, hình dáng bên ngoài của ngôi nhà. Tuy nhiên, việc nghiên cứu số âm dương là yếu tố quan trọng nhất, ảnh hưởng lớn nhất đến vận mệnh của cả gia đình. Người mua nhà để ở không thể không biết những kiến thức cơ bản này.

Hôm nay, Liên Sinh tiết lộ thiên cơ và bí pháp này, quả thật là công khai một bí thuật lớn.


### 16. Dùng tâm nhân ái để thực hiện phép thuật nhân ái


Giữa trời đất thật sự ẩn tàng huyền cơ lớn, con người đứng ở giữa trời đất và tự xưng là linh thiêng nhất trong muôn loài quả không sai, tuy nhiên, vẫn có những người mê muội không khai ngộ. Theo tôi nghĩ, người hiểu được huyền cơ lớn của trời đất chắc chắn là bậc trí tuệ và đức độ cao minh, còn những người không hiểu được huyền cơ, mê muội không tỉnh ngộ thực sự là một trở ngại lớn trong lịch sử nhân loại. Lấy ví dụ về học thuyết "tri hành hợp nhất" và "định tĩnh an lự đắc" của tiên sinh Vương Dương Minh, vào thời đó, ông bị cho là cách tân dị thường, đề xướng tà thuyết. Vương Dương Minh không những bị biếm truất mà còn đau buồn qua đời trên đường đi. Việc học thuyết của Vương Dương Minh được công nhận mãi đến sau khi ông mất, trải qua nhiều đời hoàng đế mới xảy ra. Từ đó có thể thấy, khi chân lý xuất hiện, không nhất định được xã hội bảo thủ đương thời chấp nhận.

Những đạo lý này không cần nói nhiều cũng có thể hiểu được. Muhammad phải chạy trốn từ Mecca đến Medina để thoát khỏi sự truy sát của kẻ thù, Chúa Jesus bị đóng đinh trên thập tự giá, Socrates bị oan chết trong ngục, những thành tựu của các bậc thánh nhân vĩ đại này thường không được đám người mê muội đương thời chấp nhận. Theo tôi, những bậc tiên tri tiên giác thượng trí thực sự quá ít, trong khi những kẻ hậu tri hậu giác lại chiếm đa số, vì thế mà sinh mệnh của người tài thường bị bọn tầm thường bóp chết. Chính vì vậy, khi Quốc phụ mới bắt đầu cách mạng, tự nhiên bị một đám người hậu tri hậu giác gọi là "bốn tên giặc". (Quốc phụ Tôn Trung Sơn sinh vào năm Đồng Trị thứ 5 nhà Thanh, quyết tâm theo đuổi sự nghiệp cách mạng từ sau khi nhà Thanh thất bại trong cuộc chiến với Pháp. Lúc đó mọi người đều cho ông là quái vật, kẻ điên, kẻ cướp, chỉ có ba người Trần Thiếu Bạch, Du Thiếu Uyển, Dương Hạc Linh ủng hộ ông, vì thế mọi người gọi bốn người họ là bốn tên giặc.)

Trong Phật giáo, Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn từng nói với Lục Tổ Huệ Năng: "Ta thấy kiến giải của ngươi có thể dùng được, nhưng sợ kẻ xấu hại ngươi, nên không nói với ngươi, ngươi có biết không?"

Sau khi truyền tâm ấn, Ngài lại nói: "Ngươi hãy mau đi đi, ta e người ta không phục, mọi người sẽ hại ngươi."

Lục Tổ Huệ Năng thật đáng thương quá, đã đắc "chân tính" nhưng phải chạy trốn khắp nơi như cá vượt lưới, như chó chết chủ. Người có trí tuệ lớn thường bị người đời ganh ghét, bị người ta đuổi đánh! Lục Tổ tuy đã đắc "chân tính" nhưng vẫn bị một đám người tầm thường đuổi đánh, đây thật là nỗi buồn của bậc thiên tài, sự ngu xuẩn của kẻ tầm thường.

Khi viết cuốn sách "Sức mạnh huyền bí" này, tôi tự nhận đây là một cuốn sách bình thường, nhưng lại là điều chưa từng có trong các tác phẩm trước đây. Những phép thuật nhỏ này phần lớn đã thất truyền. Tôi cảm thấy cần phải nhấn mạnh ở đây rằng, đây là phương pháp cổ xưa, chỉ đơn giản là sự phát huy sức mạnh tinh thần, không có gì đáng ngạc nhiên cả. Trong cuộc đời mình, tôi chưa từng thực hiện một phép thuật tà nào. Tôi cho rằng tất cả chúng sinh trong thiên hạ đều là Phật tương lai, tôi chỉ có thể hết sức cung kính với họ, không thể sinh ra một chút bất kính nào. Những người hiểu được phép thuật như chúng ta phải dùng tâm nhân ái để thực hiện phép thuật nhân ái!

Hôm nay, nếu tôi moi trái tim mình ra, tôi tin rằng nó vẫn trong sáng như gương soi trời đất, thanh bạch, quang minh chính đại. Lư Thắng Ngạn không phải là người có tà tâm ác ý, điều tôi đề xướng chính là tâm nhân ái và thuật nhân ái! Tâm nhân ái là tấm lòng thương yêu muôn loài giữa trời đất, tâm nhân ái chính là tình thương bao la, tâm nhân ái chính là lòng từ bi của Phật Đà. Tôi chỉ là một người bình thường, một người không màng danh lợi, một người thật thà chân thành, lẽ nào không thể chứng minh được khí chính trực mà trời đất đã ban cho con người sao? Nói ra cũng lạ, trên gương mặt tôi, trong tâm hồn tôi, tôi luôn khiêm tốn thành tâm cầu học từ mọi người, nhưng điều nhận được lại không phải là sự cảm thông và chỉ dạy, mà là những lời chửi mắng. Thật tôi lỗi quá, cơn giận dữ của những người này khởi lên vì tôi, chẳng phải tôi đã khiến họ rơi vào đường atula sao? Lòng từ bi của họ đã bị các vị thần phẫn nộ thay thế, đây là tội lỗi của tôi, tôi xin thề rằng: "Nguyện trong đời này, độ hết những người ghét tôi, mắng tôi, hại tôi, cho đến khi họ thành Phật."

Tôi sẽ dùng tâm nhân ái để thực hiện thuật nhân ái, tha thứ cho những kẻ địch của mình, bởi vì họ không biết việc họ làm. Tôi sẽ dùng tâm nhân ái để đánh thức lòng từ bi và tình thương trong họ, không để sự phẫn nộ che lấp lương tri và thiện tâm của họ. Bản chất của họ vốn là thiện, là tốt, nhưng họ không biết, không biết Lư Thắng Ngạn thực sự là người như thế nào, nên họ đã xem một người có tâm địa trong sáng thành kẻ tội lỗi sâu nặng. Họ không thấy được trái tim tôi đang rướm máu, tôi ngày đêm rơi lệ, ngày đêm đau thương và rơi lệ vì nhân loại đau khổ. Tôi tự an ủi mình, tự xét lại mình, tự nhủ rằng: "Mình phải luôn giữ tâm bình an, không vì người khác hiểu lầm mà sinh lòng oán hận, mình phải thương yêu tất cả mọi người, yêu thương chân thành, hy sinh trọn vẹn, và luôn vui vẻ. Nếu mình viết với thiện ý mà có người phê phán công kích, đó là phải trái của họ, tuy nhiên, trách nhiệm vẫn thuộc về mình, mình phải càng thương yêu họ hơn, càng cứu độ họ nhiều hơn, và hóa độ họ."

Đề xướng linh học không phải là tà thuyết gì cả. Người phương Tây đã nghiên cứu nhiều đến mức không muốn nghiên cứu thêm nữa. Sách vở về thế giới bốn chiều xuất bản ở nước ngoài nhiều như núi, sao chúng ta không mở rộng tầm mắt để nhìn nhận thế giới này? Việc nghiên cứu linh học có thể chứng minh nhân quả luân hồi là có thật, chứng minh con người bất sinh bất diệt và trường tồn, chứng minh sự thông suốt giữa triết học Đông Tây, chứng minh khoa học về ánh sáng, nhiệt và các năng lượng khác, điều này thật là quan trọng biết bao!


### 17. Thiên Cang Địa Sát Khoa Tiếu pháp


Người học qua Đạo pháp đều biết về 36 Thiên Cang, 72 Địa Sát. 36 Thiên Cang này trong các vì sao có thể lần lượt tỉ mỉ quan sát thấy, nói chung, trong một năm tôi quan sát 36 Thiên Cang, có thể hiểu rõ số trời. Còn72  Địa Sát cũng là 72 ngôi sao, nếu hiểu được sự biến hóa của chúng có thể biết thiên tai địa biến, không hề sai một li nào. Cổ nhân cúng tế trời đất thường lấy số Thiên Cang Địa Sát làm chuẩn, diễn biến cho đến nay chính là Khoa Tiếu Tông.

Khoa Tiếu Tông chính là pháp cúng tế trời đất, có tác dụng cầu phúc an tai, đại bộ phận là vì mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an. Tuy nhiên, cách làm pháp của Khoa Tiếu Tông ngày nay thật sự đã có sai lệch, bởi vì thượng thiên có đức hiếu sinh, cúng trời thì được nhưng tuyệt đối không được sát sinh, ví dụ như một lần lập đàn làm pháp giết mấy nghìn con dê, giết cả vạn con lợn, những súc sinh khác thì cũng giết vô số, những oan hồn này sao có thể không kêu thảm thiết chứ! Đức của thượng thiên chính là thương xót mạng sống của vạn vật trong thiên hạ chứ làm gì có đạo lý thương cái chết của vạn vật trong thiên hạ, loài thật sự đến hưởng thụ không ngoài hạng ma quỷ, dùng người cầu ma, ma còn không thể tự cứu ma thì sao có thể bảo hộ con người chứ! Cho nên Khoa Tiếu Tông ngay tại đây và ngay lúc này thật sự đang đi vào con đường cúng tế loài ma quỷ.

Năm xưa thầy tôi ở núi Tập Tập đã nói với tôi: "Liên Sinh, 36 Thiên Cang, 72 Địa Sát, hợp lại là 108 số, đây chính là tinh hoa suy số của thánh nhân, có thể hiểu được số, tự mình có thể vận chuyển linh số của trời đất, chính mình thoát thân từ trong kiếp người. Ngày nay pháp Khoa Tiếu đại bộ phận đều lộn xộn, giết lợn mổ dê chỉ tăng thêm tội lỗi của chính mình, bây giờ dùng hoa tươi quả chay để cúng là được rồi."

Khi ấy tôi khấu đầu hỏi thầy: "Sư Tôn, xin chỉ thị một phương pháp tiện lợi có thể thực hành được đơn giản nhất, hơn nữa còn là phương pháp có thể làm trời xanh cảm động mà ban phúc, có được không? Để Liên Sinh đem pháp Khoa Tiếu này công khai với đời, nhằm cải thiện phong tục, hợp ý trời đất."
Thanh Chân Đạo Trưởng nói: "Được."

Pháp Khoa Tiếu mới nhất này, tôi công khai như sau:

Trước tiên nói đến diễn số, Thiên Cang 36 chia cho 4 được 9, Địa Sát 72 chia cho 4 được 18, hợp số Thiên Địa 108 chia cho 4 được 27, mà 9 chia 3 được 3, 18 chia 3 được 6, 27 chia 3 được 9. Đây là con số 369 thần kỳ của trời đất. Thế rồi lấy 4 cộng 3 được 7, 7 chính là con số viên mãn. Cho nên pháp Khoa Tiếu mới nhất, để bày tỏ tôn thiên lễ thần viên mãn, chỉ cần bảy đĩa đồ cúng là được, bảy đĩa cúng phẩm này chính là Ngũ Hành Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ và sơn hào hải vị.

Đĩa thứ nhất — Kim, dùng hoa kim châm làm đại diện.
Đĩa thứ hai — Mộc, dùng mộc nhĩ làm đại diện.
Đĩa thứ ba — Thủy, dùng miến làm đại diện.
Đĩa thứ tư — Hỏa, dùng đậu phụ làm đại diện.
Đĩa thứ năm — Thổ, dùng nấm hương làm đại diện.
Đĩa thứ sáu — sơn hào, dùng gừng làm đại diện.
Đĩa thứ bảy — hải vị, dùng muối làm đại diện.

Có lẽ độc giả đọc đến chỗ này sẽ rất kinh ngạc, sao lại đơn giản như vậy, trên thực tế chính là đơn giản như thế thôi. Hôm nay tôi chọn dùng phương pháp lễ trời đất các Thánh Thần Tiên Phật chính là dùng bảy đĩa rau này, đây đều là đồ chay, cũng không đắt mà có đầy đủ cả Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ sơn hào hải vị rồi, quan trọng nhất là cộng thêm tấm lòng thành kính nhất của tôi. Pháp Khoa Tiếu mới nhất này là Sư Tôn của tôi sáng tạo ra, có thể nói là xưa nay chưa từng có, và người sau này chính là tôi, còn người khác không ai biết. Nay tôi công bố phương pháp Khoa Tiếu đơn giản nhất này, công bố phương pháp khiến Thần Phật hài lòng nhất này, có lẽ là một sự cải thiện lớn của Khoa Tiếu Tông, một cải cách lớn cho phong tục cúng bái.

Cần nhớ khi lễ bái có thể niệm:
"Đệ tử xin vì tất cả chúng sinh khắp hư không giới, thắp hương kính lễ tất cả chư Phật khắp hư không giới, tất cả chính pháp, tất cả các Đại Bồ Tát Duyên Giác Thanh Văn thánh chúng. Trên từ Thiên Đế thiên nhân của các thiên, nhật nguyệt tinh thần, Nam Đẩu Bắc Đẩu, Ty Trung Ty Mệnh, thần gió thần mưa, tất cả linh thần làm chủ tạo hóa, kính lễ tất cả. Dưới từ thần đất, núi cao biển sâu, núi non sông ngòi, tất cả linh thần làm chủ tạo hóa. Ở giữa đến nhân gian, tất cả linh thần cai quản họa phúc, kính lễ tất cả, xin thành tựu tất cả thiện nguyện….."
Tâm địa của con người là quan trọng nhất.

Khoa Tiếu cầu phúc hiển nhiên nằm ở lòng người.
Ngày nay, chỉ mong người người sử dụng pháp Khoa Tiếu mới nhất, thượng thiên có đức hiếu sinh, Liên Sinh cũng có thiện tâm cứu đại kiếp nạn.

Viết một bài kệ:
*Ân sư truyền pháp làm chủ thời cuộc mới
Khoa Tiếu lễ thần quyết định kế hoạch xa
Đàn cầm đàn sắt thiên âm chấn động thiên hạ
Mưa thuận gió hòa tâm mềm mại nhu mì.*


### 18. Chân đế của Không, Có


Hai chữ "Không" và "Có" trong mắt tôi không phải là đối lập nhau mà có mối liên hệ qua lại với nhau. Có nhiều người bàn luận về hai chữ này nhưng chỉ hiểu được một phần, càng nói càng xa rời bản chất. Cũng có nhiều người tìm đến hỏi tôi về chân đế của hai chữ "Không" "Có", tôi nói: "Không tức là có, có cũng tức là không, không không có có, có có không không. Ha ha!"

Một buổi chiều nọ, tôi nắm tay con gái nhỏ, dạo bước trên con đường nhỏ ở Hợp Tác Thôn Mới, Đài Trung. Màn đêm dần buông, đèn đường vừa sáng, gió mát nhè nhẹ thổi, những lời nói ngây thơ vô tư của con gái nhỏ khiến lòng tôi rộn ràng vui vẻ. Ngay lúc đó, một người đàn ông trung niên bước vội vã đến bên cạnh tôi và hỏi: "Xin hỏi có phải là thầy Lư Thắng Ngạn không?"
"Đúng vậy." - Tôi đáp: "Sao ông biết tôi?"
"Có lần thầy nói chuyện với một vị công tố viên, luật sư Hoàng và một cảnh sát hình sự họ Lý, tôi cũng có mặt ở đó, thầy không nhớ rồi."

"Xin lỗi vì trí nhớ tồi của tôi, xin hỏi ông có việc gì không?"
"Gần đây tôi đọc sách của thầy, rất thích và có chút lĩnh ngộ. Về vấn đề Không và Có, tôi muốn xin thầy chỉ dạy. Chúng ta có thể vừa đi dạo vừa trò chuyện được không? Trước tiên tôi xin hỏi làm thế nào để phân biệt Không, Có?"
"Là như thế này, nói về chữ Có, đó chính là ý nghĩa của sự tồn tại, tức là bàn về chân đế của vật. Còn chữ Không, đó chính là ý nghĩa của linh tính, tức là bàn về chân đế của tính. Cho nên bàn về Có tức là bàn về vật, bàn về Không tức là bàn về tính, nếu chúng ta nhìn nhận như vậy thì sẽ không nhầm lẫn giữa hai khái niệm này."

"Vấn đề về Có và Không quả thực là một câu hỏi lớn mà các triết gia nghìn đời qua đã bàn luận. Sau khi được thầy chỉ ra như vậy, tôi gần như đã hoát nhiên đại ngộ."
"Cái gọi là Có chính là sự tồn tại của vật chất. Ví dụ như khi ta nhìn thấy một chiếc xe hơi, nó chắc chắn đang tồn tại. Ví dụ như khi ta nhìn thấy một người, người đó cũng chắc chắn đang tồn tại. Con người đã tồn tại, thì đó chính là Có, đó là chân đế của Có. Trời tồn tại, đất tồn tại, người tồn tại, vạn vật đều tồn tại. Nguyên lý trong cái vạn hữu này chính là chân lý về sự tồn tại của vật chất trong Có."

Tôi nói tiếp: "Vậy thế nào là Không? Khi bàn về mặt tâm linh, bàn về mặt tinh thần, đó chính là Không, bởi vì đó là những điều không thể sờ mó được, tự nhiên chỉ có thể dùng lý thuyết về Không để giải thích, ví dụ như cảnh giới trống không trong tư tưởng. Chúng ta có thể nói bầu trời là không, bầu trời là khoảng không vô hạn, đất cũng là không, ai bảo sự biến đổi từ biển xanh thành ruộng dâu không phải là không, con người cũng là không, bởi vì sau khi chết đi, sự tồn tại trở nên trống rỗng, trở thành con số không, trở thành tướng không."

"Thưa thầy Thắng Ngạn, nếu lấy con người để bàn về Không và Có, thì là không hay là có?"
"Vừa là không vừa là có." - Tôi nói: "Nếu bàn về việc con người ăn uống, ngủ nghỉ, tắm rửa, đại tiện, thì tất cả đều là biểu hiện của Có, tồn tại vì sự tồn tại. Nhưng nếu quan sát kỹ, con người do tứ đại đất nước gió lửa giả hợp mà thành, một ngày nào đó, tứ đại phân tán, đất về đất, nước về nước, lửa về lửa, gió về gió, con người không còn tồn tại nữa, chẳng phải đã trở thành một thế giới trống không sao. Cho nên hợp lại thì là có, phân ra thì là không. Nếu lấy tinh thần của Không để bàn về linh tính, linh tính vốn không, nhưng nếu được biểu hiện thành vật chất thì lại trở thành có."

Tôi nói: 
"Chân tính của linh hồn vốn là không, cũng là vô, nhưng khi chân tính của linh hồn biến thành một dạng năng lực, tức là linh năng được biểu hiện, đó chính là từ không biến thành có, cho nên linh hồn là không, còn linh năng là có, khi linh hồn đi vào thực thể và có biểu hiện thực sự, loại biểu hiện này chính là có. Tôi cho rằng chìa khóa để chứng minh sự có-không của linh hồn nằm ở đây, chỉ cần năng lực linh hồn có thể được chứng minh, thì có thể chứng minh linh hồn là có, có người cho rằng linh hồn là không có, đó là vì họ đứng ở góc độ của không để nhìn, có người cho rằng linh hồn chắc chắn tồn tại, đó là vì họ đứng ở góc độ của linh năng để nhìn."

"Ồ! Tôi đã hiểu rồi, giá trị của đời người chính là ở khả năng thể hiện của con người, nếu có một người sống cả đời không thể hiện gì cả, cứ mơ hồ mờ mịt qua ngày, đó là cuộc đời không, còn nếu thể hiện được năng lực, tức là có thể chứng minh họ đã từng tồn tại, thể hiện được dấu tích chân thực của cái có." Ông ấy nói: 
"Thưa thầy Thắng Ngạn, hôm nay rất cảm ơn thầy đã chỉ dạy."
"Không có gì, không có gì, đừng khách sáo." 

 Tôi nắm tay con gái nhỏ Phật Thanh, nhìn con, thấy con thật đáng yêu. Còn vị khách kia đã đi xa.

Tôi chợt nhớ ra, khi viết "Sức mạnh huyền bí", tôi có đề cập đến một số pháp thuật nhỏ để giúp người, nhưng thực ra trên đời vốn không có pháp thuật nào tồn tại, cũng chẳng có phương pháp tu hành, bản chất thật của thế giới này chỉ là một sự trống không. Tuy nhiên, khi dùng phương tiện giả để độ thân giả, quay lại quán chiếu thực tướng của đời mình, lại có thể sinh ra một loại năng lực của pháp, đó chính là sự hiện hữu của pháp lực, sự hiện hữu của phương pháp tu hành. Quan điểm giữa có và không được xây dựng trên nền tảng vĩ đại này của đời người, không thể chỉ bàn về có, cũng không thể chỉ bàn về không, mà là sự liên quan lẫn nhau, như vậy mới thật sự là chân không bất không.
Bàn về vật thì phải nói Có.
Bàn về tính tự nhiên là Không.
Phân biệt như vậy, có Có cũng có Không.


### 19. Thiện niệm không ngừng có thể cải vận


Trong cuốn "Ngọc Lịch Bảo Sao - Văn Khuyến Thế", ông Thiệu Tử Kiến ở Chiết Giang đã viết lời tựa rằng: "Tục ngữ có câu, trong phòng tối làm điều xấu xa, mắt thần sáng như điện; lời nói thầm của người trần, trời nghe như sấm, điều này cho thấy đạo trời khó lừa dối, và thần quỷ ở khắp mọi nơi. Hơn nữa, chỉ một niệm chân thành có thể âm thầm nhận được ân điển của thần linh, chỉ một niệm tà ác có thể lập tức chuốc lấy sự trừng phạt của trời. Thường không cần đợi thấy sự việc xảy ra mà họa phúc đã định, không gì khác ngoài việc cầu ở tâm mà thôi. Cái gọi là ruộng phúc chính là ruộng tâm, gieo nhân nào gặt quả nấy. Đạo trời sáng tỏ, không sai chút nào, vốn không cần bàn về đạo báo ứng, nhưng báo ứng vẫn hiện hữu trong đó. Sao các nhà Nho thường cho rằng thuyết nhân quả báo ứng, thiên đường địa ngục là lời nói dối của nhà Phật để lừa gạt phụ nữ và trẻ con? Ngay cả những tác phẩm như "Thái Thượng Cảm Ứng Thiên", "Văn Xương Đan Quế Tịch", "Quan Thánh Giác Thế Kinh" và các bảo huấn của chư tiên chân nhân, họ cũng cho rằng đó chỉ là thần đạo lập giáo. Họ nào biết rằng thần đạo là để bổ sung cho chỗ thiếu sót của thánh hiền, bởi vương đạo vốn dựa trên tình người, thần đạo cũng không ngoài vương đạo. Nếu làm theo điều tâm an, ngẩng lên cúi xuống không hổ thẹn, thì dù đêm khuya thanh vắng tự mình làm, thánh hiền cũng chấp nhận, tiên Phật cũng chấp nhận, và Thượng Đế sáng suốt trên cao càng không có gì không chấp nhận. Vậy nên linh đài trong tâm chính là cung điện vàng bạc, thế giới lưu ly, phú quý phúc lộc, muốn gì được nấy, nơi thân này ở chính là thiên đường, có ma quỷ dạ xoa nào dám lừa dối, và núi đao rừng kiếm nào đáng sợ? Bởi vậy thánh hiền hổ thẹn với vách nhà dột, người quân tử kính cẩn trước "bốn biết" [trời biết, đất biết, anh biết, tôi biết], cũng là vì sâu sắc lo sợ thiện tâm không vững, có khiếm khuyết trong chốn tối tăm, mắc tội với trời, không còn gì để cầu nguyện. Vậy nên trong thế giới đen tối đầy xảo trá gian manh ngày nay, muốn khiến lòng người lộ ra một tia sáng, vãn hồi phong tục suy đồi, và độ thoát tất cả khổ ách, thì chỉ có cách khiến họ đọc "Ngọc Lịch Bảo Sao - Văn Khuyến Thế"."

"Ngọc Lịch Bảo Sao - Văn Khuyến Thế", tôi đã đọc cách đây ba năm, sau khi đọc xong tôi cảm thấy sâu sắc rằng đây là một cuốn sách rất hay, vô cùng hữu ích cho đạo đức xã hội và lòng người. Khi đọc cuốn sách này, tôi thấm thía được quyết tâm cứu độ chúng sinh của chư thần tiên, vì vậy tôi đã tự bỏ tiền in ấn để tặng người khác, đồng thời vận động một số bậc thiện tâm giúp đỡ việc in tặng, trực tiếp mua kinh sách từ nhà sách Thụy Thành ở Đài Trung để tặng mọi người. Số sách tôi đã tặng đi có lẽ lên đến hàng nghìn cuốn. Sau khi đọc cuốn sách này, tôi có một số cảm nhận như sau:

Thứ nhất, đây là một cuốn sách quý công nhận sự tồn tại thực sự của địa ngục. Trước cuốn sách này, chưa có ai mô tả tình trạng địa ngục một cách chi tiết như vậy, có thể nói cuốn sách này đã tiết lộ thiên cơ. Hình trạng của địa ngục vốn là điều không thể nói, bởi địa ngục trong chân đế của Có - Không, có thể nói là có, cũng có thể nói là không, nó là điều biến ảo, thực tướng của địa ngục hoàn toàn tùy theo sự biến ảo của lòng người. Tôi là người theo thuyết có địa ngục. Tại sao tôi công nhận có địa ngục? Vì khi đang sống, tôi cũng có thể thấy được nỗi khổ của địa ngục nhân gian, nhân gian đã có địa ngục thì tự nhiên âm giới linh giới cũng có địa ngục.

Thứ hai, các học giả lớn, các nhà khoa học lớn, và những người tự cho mình là thiên tài, có nhiều người không tin vào thiên đường địa ngục, cho rằng đó chỉ là chuyện hoang đường của tôn giáo, là lừa gạt phụ nữ và trẻ con, là thần đạo lập giáo, là chuyện hư vô mờ mịt. Nhưng họ có từng nghĩ, khi người ta làm điều thiện, tâm sẽ cảm thấy bình an, còn khi làm điều ác, trong lòng sẽ bất an lo sợ. Trạng thái an tâm chính là thiên đường, còn trạng thái bất an chính là địa ngục. Trong cõi u minh đã có quỷ thần, mà quỷ thần thực chất chính là sự diễn hóa và cảm nhận của tự tâm.

Thứ ba, mặc dù nhà Phật không bàn về định mệnh, nhưng vẫn có quy luật nhân quả hiện hữu. Số mệnh mỗi người đều khác nhau như gương mặt của họ vậy, thậm chí ngay từ khi sinh ra đã có sự khác biệt. Trong mắt tôi, quỹ đạo của số mệnh dường như đã được trời định một nửa. Đặc biệt khi đã đi đến được ngày hôm nay, tôi càng tin vào sự tồn tại của số mệnh, bởi tôi thực sự có cảm giác số mệnh của mình như một điều gì đó quen thuộc. Có nhiều người tìm đến tôi muốn thay đổi vận mệnh, tôi luôn nói với họ rằng: "Việc thay đổi vận mệnh hoàn toàn nằm trong tay mình, đừng mong cầu thay đổi vận mệnh một cách viển vông. Trong cuộc đời làm người, chỉ cần không hổ thẹn với lương tâm, giữ được tâm an là đủ. Thiện niệm không ngừng có thể cải vận. Muốn hiểu những đạo lý này, hãy đọc "Ngọc Lịch Bảo Sao - Văn Khuyến Thế"! Hoặc đọc cuốn "Liễu Phàm Tứ Huấn". Vận mệnh vốn do chính mình tạo ra, tất nhiên chỉ có mình mới có thể thay đổi được. Hiện giờ tôi chỉ có thể dạy mọi người rằng thiện niệm không ngừng có thể cải vận, vận mình phải do mình thay đổi. Việc các bạn mong cầu người khác thay đổi vận mệnh cho mình chẳng phải là trèo cây tìm cá hay sao?"

Thứ tư, sau khi đọc lời tựa của tiên sinh Thiệu Tử Kiến, tôi cảm thấy luật nhân quả vẫn luôn báo ứng chính xác, còn thiên đường địa ngục, thiện ác đều do một niệm biến hóa trong tâm. Tôi đã khản giọng khuyên người làm thiện, hết sức kêu gọi mọi người làm nhiều việc thiện, vậy mà bản thân lại bị chế giễu, tôi cười chua chát, lòng người trong thế gian đã gần như sa đọa rồi, sa đọa rồi.

Tôi viết: 
"Đại thiện có thể cảm động trời, vì trời có mắt, nên vận mệnh có thể thay đổi. Nếu vận mệnh không thể thay đổi thì cần gì đến vận mệnh?"
"Mọi việc trong thiên hạ đều do tâm thức, vận mệnh con người chỉ theo thiện và chính."
"Nếu thiện niệm không ngừng, ắt có thể cảm động trời giúp."
"Vận mệnh nhất thời chỉ như bọt nước giữa sấm sét, như sương mai cũng như ánh chớp, muốn vượt thoát khỏi vận mệnh, chỉ cần vượt lên trên nó, đừng để vận mệnh trói buộc."
"Tất cả pháp thuật đều phải lấy thiện làm điểm xuất phát, nhờ thiện niệm mà cầu xin trời linh phù hộ. Ngược lại, nếu lấy ác làm điểm xuất phát, thì pháp thuật sẽ thành tà, người làm pháp ắt bị trời giáng họa."
"Địa ngục là có thật, hãy đọc "Ngọc Lịch Bảo Sao - Văn Khuyến Thế", hãy đọc sách tâm linh."

Tôi viết bài kệ rằng:
*Công đức thánh hiền truyền thiên thu
Thần minh quang hoa tâm thu về
Chân lý vận mệnh không mê hoặc
Đức hạnh thiện lành chẳng phải lo.*


### 20. Giới thiệu tượng trưng của sức mạnh tinh thần


Sức mạnh tinh thần vốn là một năng lượng siêu việt vô hình, tràn ngập giữa trời đất, và sức mạnh tinh thần còn có thể gọi là sức mạnh tâm linh. Nó có thể bộc phát một cách sảng khoái tự nhiên, khiến con người tràn đầy sinh khí và năng động. Nhưng cũng có thể khiến một người hoàn toàn mất đi ý chí chiến đấu, như quả bóng xì hơi, như con gà trống đã thua trận, chỉ còn thoi thóp một hơi thở cuối. Vì vậy, khi sức mạnh tinh thần được phát huy, đó chính là "một tấm lòng thuần thành, dùng khí phách để hành sự". Cho đến khi "lấy khí làm chủ, lấy chí làm thầy" thì mới có thể đạt đến trạng thái "uy vũ không khuất phục được, bần tiện không lay chuyển nổi".

Do sức mạnh tinh thần là vô hình nên nó thể hiện qua con người, như Quan Vũ thời Tam Quốc, Nhạc Phi thời nhà Tống, Sử Khả Pháp thời nhà Minh, v.v. Tại sao những bậc tiền liệt này lại coi trọng khí tiết, sẵn sàng hy sinh để giữ gìn phẩm cách của dân tộc Trung Hoa? Nguyên nhân chính là ở sức mạnh tinh thần, sức mạnh tinh thần này là sự dũng cảm tiến về phía trước không chút sợ hãi. Trong di huấn của cố Tổng thống Tưởng Công có viết: "Hồn nước Nhật được gọi là 'Đại Hòa Hồn', tinh thần mà Đại Hòa Hồn thể hiện - tức tinh thần của quân nhân Nhật Bản, được gọi là 'võ sĩ đạo', đây cũng chính là hồn quân nhân Nhật Bản. Nhân cách của quân nhân Nhật Bản lấy võ sĩ đạo làm nền tảng, và quốc gia Nhật Bản cũng lấy võ sĩ đạo làm tinh thần lập quốc." Hiện nay, tôi nói rằng "võ sĩ đạo" chính là sức mạnh tinh thần, và khi sức mạnh tinh thần võ sĩ đạo này được phát huy đến cao độ, sống chết đều không còn đặt nặng nữa.

Đối với quốc gia chúng ta, tinh thần cơ bản của Tam Dân Chủ Nghĩa do Thủ tướng đề xướng chính là kết tinh của văn hóa lịch sử truyền thống Trung Quốc và sự di truyền của những đức tính tốt đẹp của dân tộc, cũng chính là tinh thần dân tộc và linh hồn của đất nước. Đây chính là sức mạnh tinh thần của quốc gia chúng ta.

Đối với cá nhân, sức mạnh tinh thần của một người được bồi dưỡng từ nhỏ, điều này liên quan đến kế hoạch giáo dục trăm năm của chúng ta. Những nguyên lý đạo đức cơ bản được truyền từ các bậc tiền nhân như Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Văn, Võ, Chu Công, Khổng Tử chính là cốt lõi của truyền thống đạo đức Trung Quốc suốt hàng nghìn năm qua. Gần đây, tôi đọc cuốn "Tinh thần trị liệu giải thuyết" do Lý Thọ Dong đề tựa, trong đó viết: "Quan sát sự vận hành âm dương tạo hóa của trời đất, sự thịnh suy tiêu trưởng, bốn mùa vận hành, vạn vật sinh sôi. Con người cùng với trời đất tham gia vào lẫn nhau, nhận được khí tinh túy của ngũ hành, âm dương hòa hợp tạo thành hình hài, thọ chính khí để thành tính, có đủ ngũ tạng tương ứng với ngũ hành để vận hành bốn mùa, âm dương luân chuyển. Do đó, mộc thuộc can, thịnh vào mùa xuân; hỏa thuộc tâm, thịnh vào mùa hạ; thổ thuộc tỳ, thịnh trong bốn mùa; kim là phế, thịnh vào mùa thu; thận là thủy, thịnh vào mùa đông. Vì thế, thân thể con người là một tiểu thiên địa vậy." Đọc văn này, tôi hiểu rằng sức mạnh tinh thần của Trung Quốc đã được hội tụ thành hai mươi chữ, hai mươi chữ này chính là nguồn gốc sức mạnh tinh thần của Thiên Đức Thánh Giáo, đó là: "Trung thứ liêm minh đức, chính nghĩa tín nhẫn công, bác hiếu nhân từ giác, tiết kiệm chân lễ hòa." Tôi cảm thấy hai mươi chữ này phù hợp với đạo trời, có thể đi cùng trời đất, như người quân tử hướng tới quyền lực cao hơn, hóa thành sức mạnh tinh thần hữu hình.

Sư phụ Thanh Chân Đạo Trưởng nói: "Sức mạnh tinh thần vốn vô hình không có vật tượng trưng, nhưng con đường pháp thuật chính là biến không thành có. Sức mạnh tinh thần mờ mịt linh thiêng, tuy vô hình nhưng lại hữu hình, hữu và vô phối hợp với nhau, mới khiến cho mọi người có được phương hướng và mục tiêu về mặt tinh thần. Liên Sinh, về sức mạnh tinh thần hữu hình hữu tướng, ta sẽ chỉ rõ như sau, tất cả pháp thuật đều phải dựa vào sức mạnh này để thực hiện."

1. Tóc - biểu tượng của sức mạnh tinh thần trên thân thể con người, sinh ra và không mất đi, có khí thì tất sẽ phát triển, không có khí thì ngừng phát triển.

2. Móng tay - biểu tượng của sức mạnh tinh thần từ địa linh, sinh ra và không mất đi, có khí thì tất sẽ phát triển, không có khí thì ngừng phát triển.

3. Gạo - kết tinh tinh thần của khí đất, con người ăn ngũ cốc tạp lương, mượn khí của nó để sống, nên gạo được xem là căn bản của khí người, ý chỉ thực phẩm.

4. Áo quần - Con người sống trên đời ắt phải mặc áo, và áo quần đại diện cho sức mạnh tinh thần của một người, sức mạnh tinh thần đó cũng hướng về y phục.

5. Ngói đất - Đây chỉ về chỗ ở, tức là trên có ngói dưới có đất, đại diện cho nơi gửi gắm sức mạnh tinh thần của một người.

6. Giày dép - Giày dép đại diện cho đi lại, chỉ ra nơi chứa đựng sức mạnh tinh thần trong hành vi của con người.

Vì vậy, sư phụ dạy tôi rằng, để thực hiện pháp thuật truyền sức mạnh tinh thần cho người khác, cần phải có những biểu tượng hữu hình của sức mạnh tinh thần. Những biểu tượng hữu hình này chính là tóc, móng tay, gạo, áo quần, ngói đất và giày dép. Gạo tượng trưng cho bệnh tật, áo quần tượng trưng cho tài lộc, ngói đất tượng trưng cho nhân lực trong gia đình, giày dép tượng trưng cho thói quen hành vi. Sử dụng những biểu tượng hữu hình của sức mạnh tinh thần này, qua một quá trình thực hiện cẩn thận, sẽ chuyển hóa thành sức ảnh hưởng tinh thần vô hình. Thanh Chân Đạo Trưởng nói: "Đây chính là pháp thuật, đạo lý của pháp thuật nằm ở đây vậy."

Pháp thuật luôn linh nghiệm, hoàn toàn dựa vào hai loại sức mạnh:
Thứ nhất: Sức mạnh biểu tượng tinh thần hữu hình do con người tạo ra.
Thứ hai: Sự phát huy sức mạnh tinh thần vô hình siêu việt.

Hai loại sức mạnh này phải kết hợp với nhau một cách hoàn hảo thì mới có thể tạo nên sự linh nghiệm. Nếu chỉ có "sức mạnh biểu tượng tinh thần hữu hình" thì vẫn chưa đủ, mà còn phải cầu được sự trợ giúp của sức mạnh tinh thần siêu việt (sức mạnh siêu nhiên không thể nghĩ bàn của thần linh vô hình). Như vậy ắt sẽ tạo ra phép màu, và sự xuất hiện của phép màu chính là sức mạnh vĩ đại của sự kết hợp giữa lực hữu hình và lực vô hình.

Chúng ta biết rằng thân thể con người được tạo thành từ ngũ hành, và bị chi phối bởi hai khí âm dương, do đó không nằm ngoài sự nuôi dưỡng của ngũ hành. Con đường tương sinh tương dưỡng của chân khí linh diệu chính là đạo trời, dùng đạo trời để điều hòa thất tình lục dục của đạo người, như vậy mới được xem là tu đạo. Dùng chính khí để đẩy lùi tà khí, đó mới chính là chính khí chính pháp chính đạo. Một người giữ được chính pháp như vậy thì tâm tự an, khí tự hòa, thần tự thích ứng, và niềm vui sẽ tồn tại mãi mãi.


### 21. Tu pháp linh nhãn


Hiện nay tôi nhận được nhiều thư từ độc giả hỏi về linh nhãn, tôi nói: "Thông thường để có được linh nhãn, nhất định phải có hai loại nhân duyên. Một là tu tập trong thiền định, đạt đến trạng thái thiền sâu để khai mở tâm nhãn mà đắc được; hai là do tích lũy công đức tu hành từ kiếp trước, đến kiếp này bỗng nhiên đạt được. Vì vậy, có người đạt được trong thiền định, cũng có người chưa từng tu thiền định, bỗng nhiên gặp được cơ duyên mà đạt được. Ví như bản thân tôi, cả đời chưa từng tu thiền định, nhưng khi đến Ngọc Hoàng Cung chỉ cần nhắm mắt lại là thấy được. Thầy tôi bảo rằng, đó là nhờ công đức tu hành từ kiếp trước mà có được đấy!"

Khi đọc cuốn "Mật Pháp Cứu Độ Trung Ấm", tôi thấy có một đoạn văn rất hợp với tâm ý của mình, đoạn văn viết rằng: "Này thiện tín, như việc ông bỗng nhiên có được năng lực thần thông không thể nghĩ bàn, đây không phải là thần thông có được từ chính định Tam ma địa, thần thông của ông chỉ là thần thông của thân trung ấm, thuộc về tính chất của nghiệp lực. Điều này có nghĩa là hiện giờ ông có thể trong một sát-na du hành khắp tứ đại bộ châu, đi vòng quanh núi Tu Di, hoặc chỉ trong khoảng co duỗi cánh tay đã có thể đến bất kì nơi nào ông muốn, thậm chí còn có thể biến hiện. Tuy nhiên, đây vẫn thuộc về huyễn pháp thông linh, chớ nên chấp trước công phu. Lúc này, nếu ông khởi một vọng niệm, tình cờ chấp trước vào bất kì một pháp nào, pháp ấy sẽ lập tức sinh khởi theo ý nghĩ. Vì vậy tuyệt đối không được khởi những ý niệm vọng động, mà chỉ nên chính xác thấu hiểu thánh giáo, kiền thành cầu nguyện với Thượng sư Bổn tôn của ông, hoặc đấng hỗ chủ đại bi, đây là điều cực kì thiết yếu."

Đây là đoạn văn nói về khi một người vừa qua đời, linh hồn họ bỗng nhiên có được thần thông không thể nghĩ bàn, ví dụ như có thể cưỡi gió bay lượn, du hành khắp tứ đại bộ châu, bay vòng quanh địa cầu nhiều vòng, đứng giữa không gian, cảm nhận tâm thức mở rộng vô hạn, muốn thấy gì là thấy ngay điều đó. Cảnh giới này gọi là phép thông linh huyễn ảo. Tôi biết rằng, thông thường có nhiều người tu đạo tọa thiền, khi cảm nhận được sự mở rộng tâm linh, toàn thân như "bay bổng" lên. Những người này nếu chấp trước vào ý niệm "không có gì cả", khi chết thường đạt được phép thông linh huyễn ảo. Phép thông linh huyễn ảo không phải là thần thông chứng đắc từ chính định Tam ma địa, mà là thần thông do chấp trước của thân trung ấm. Tuy có thể làm được mọi điều theo ý muốn, nhưng đây không phải là cảnh giới của chính pháp. Nói chung, cảnh giới này rất dễ làm lầm lạc bản thân và người khác, bởi vì tất cả đều là giả, không phải thế giới chân thật. Trong cảnh giới thông linh huyễn ảo có ma Tự Tại Thiên, toàn là những thiên ma cố chấp cho rằng không là không.

Tôi cảm thấy rằng khi hành giả đạt đến cảnh giới thông linh huyễn ảo, điều quan trọng nhất vẫn là phải giữ vững tâm thần của mình, rồi nhất tâm trì tụng thánh hiệu của Bổn tôn Như Lai cho đến khi đạt được nhất tâm bất loạn. Lúc này, những gì mắt thấy đều là thánh cảnh, chư Phật Bồ Tát là quyến thuộc, bản thân hóa thành hoa sen, không còn là cảnh giới huyễn ảo kỳ quái nữa. Điểm này vô cùng quan trọng, vô cùng quan trọng. Tôi khuyên tất cả những người tu hành hãy nhất tâm trì tụng thánh hiệu của Bổn tôn Như Lai, đừng cầu linh nhãn thần thông, bởi người đắc được linh nhãn thần thông rất dễ rơi vào cảnh giới thông linh huyễn ảo, cuối cùng không giữ được tâm mình, hành vi điên đảo, trở thành kẻ nhập ma thất thường, như vậy thì phiền phức lắm.

Đại sự tu hành, có bài kệ làm bằng chứng:

*Kẻ ngu cứ đắn đo trì hoãn
Chẳng biết cái chết sắp tới gần
Chỉ lo việc thế gian vô ích
Cuối cùng lãng phí cả một đời.*

*Để vuột mất cơ duyên tốt đẹp,
Là hạng người không có trí tuệ,
Giống như đã đến núi báu rồi,
Tay trắng trở về thật ngu si.*

*Pháp giải thoát vô lậu cao siêu,
Là điều mọi người đều cần có,
Đối với giáo pháp tối thượng này,
Sao có thể không biết tu tập?*

Tôi cũng khuyên người đời đừng vào cảnh giới thông linh huyễn pháp, xin có bài kệ làm chứng:

*Khi được sắc thân huyễn tương tự
Giống như thân trung ấm trước sau
Các giác quan đều có đầy đủ
Tự tại du hành không trở ngại*

*Lại nương vào lực của nghiệp cảm
Đầy đủ thông linh không nghĩ bàn
Cùng thuộc nghiệp cảm thì tương đồng
Dùng mắt thanh tịnh thấy được nhau.*

Trong cảnh giới thông linh huyễn pháp, nếu ưa thích cõi trời thì sẽ sinh về cõi trời, nếu ưa thích cõi người thì sẽ lại nhập thai sinh làm người, nếu chấp không thì sẽ phiêu bạt khắp nơi, không có chỗ nhất định, giống như loài atula vậy. Hôm nay, Liên Sinh viết bài này để khuyên mọi người chế ngự tâm vào một chỗ, không khởi vọng tưởng, cho đến khi cõi Phật quang minh của chân tính căn bản hiện tiền mới được coi là đắc đạo, nếu không sẽ phải làm lại từ đầu, thật đáng tiếc biết bao.

Tôi khuyên người học Phật, chỉ cần chế ngự tâm vào một chỗ, việc chứng đắc linh nhãn hoàn toàn dựa vào thiền định, tự nhiên sẽ đạt được, không cần cưỡng cầu. Có người vừa ngồi thiền đã đắc được thiên nhãn, đó là do căn cơ từ nhiều đời trước; có người ngồi thiền cả đời mà vẫn không có được, không có là không có, cưỡng cầu cũng vô ích. Nếu linh nhãn được tịnh hóa thành tịnh nhãn, thì sẽ đắc trí huệ vô lậu, "kiên trì an trụ trong Tam ma địa, không sợ tâm lực mê mờ, tinh tấn quán chiếu như lý, chân đế tự nhiên sáng tỏ". Sau khi thân người viên tịch, sẽ thành Phật tác Tổ.

Nhìn chung, người có được linh nhãn sẽ chắc chắn gặp những cảnh giới kỳ lạ hoặc những cảnh giới đáng sợ xuất hiện. Chúng ta phải hiểu rằng cả hai cảnh giới này đều là giả, không được để chúng mê hoặc, không sinh tâm yêu ghét. Người có được linh nhãn cần phải chế ngự tâm vào một chỗ, một khi đã chế ngự được tâm vào một chỗ và nhất tâm niệm danh hiệu từ bi của Thượng sư Bổn tôn, tự nhiên sẽ thoát khỏi cảnh giới thông linh huyễn pháp.

Đây là điều tôi luôn nhắc nhở, mong mọi người ghi nhớ.


### 22. Truyền kỳ của ba vị đồng tử


Một ngày nọ, ông Chung Tấn Thiêm (Mặc Văn) đến thăm, ông đi thẳng vào vấn đề: 
"Huynh Thắng Ngạn, vì huynh đóng cửa không tiếp khách nên có một quý bà ở Đài Bắc đã đích thân đến tìm huynh ba lần liền mà không gặp được. Cuối cùng bà ấy tìm đến tôi, kể cho tôi nghe một chuyện kỳ lạ. Chuyện này hiện giờ chỉ có huynh mới có cách giải quyết, bà ấy đã tìm đến rất nhiều pháp sư nhưng ai cũng lắc đầu."
"Chuyện gì vậy?" - Tôi tò mò hỏi.
"Là như thế này, có người tặng bà ấy ba tượng đồng tử, cả ba tượng đều không cao quá sáu tấc, tay cầm búa sắt. Theo lời người tặng kể lại, ba vị đồng tử này trước đây biết nói chuyện và có khả năng tiên tri, chủ nhân trước kia chưa từng khoe khoang điều này. Ví dụ ngày mai trời mưa, đồng tử sẽ mở miệng nói: "Ngày mai mưa đấy! Ra ngoài nhớ mang ô." Hoặc ngày mai có khách phương xa đến, đồng tử cũng sẽ nói: "Ngày mai cậu đến, chuẩn bị đồ ăn ngon nhé." Thậm chí khi chủ nhân đi làm ăn, kiếm được bao nhiêu tiền cũng đoán trúng phóc."
"Thế thì hay quá!" - Tôi nói.
"Tuy nhiên, ba năm trước, ba vị đồng tử này không còn mở miệng nói chuyện nữa. Chủ nhân đã tìm rất nhiều pháp sư nhưng không ai có cách nào làm cho các vị mở miệng lại được. Các vị đồng tử đã báo mộng cho chủ nhân, nói rằng cả ba vị đã bị một pháp sư đố kỵ niêm phong miệng lại, giờ không thể mở miệng được, vô cùng đau khổ. Vì ba vị đồng tử không thể nói chuyện nữa, chủ nhân nghĩ giữ lại cũng vô ích nên đã tặng cho quý bà ở Đài Bắc kia. Còn quý bà này có một người con gái, lại mơ thấy ba vị đồng tử đến bảo rằng..."
"Mơ thấy điều gì?"
"Các đồng tử nói: "Các người hãy đến Đài Trung, tìm một cánh cửa sơn son, có một người trẻ tuổi tên là Lư Thắng Ngạn, anh ấy có cách giúp chúng tôi mở miệng nói chuyện được, mau đi, mau đi." Tuy nhiên vì huynh đã không tiếp khách bên ngoài từ lâu, không thể gặp được, nên bà ấy đã tìm đến tôi, nhờ tôi xin huynh, với chuyện kỳ diệu như thế này có thể gặp họ được không, phá lệ một lần."
"Ôi! Đúng là chuyện rất kỳ diệu, nhưng nhiều pháp sư còn chẳng có cách, làm sao tôi lại có cách được! Thế này vậy, tôi sẽ hẹn gặp họ ở một nơi nào đó, bà ấy mang ba vị đồng tử đến cho tôi xem, tôi hy vọng mình có cách."
"Lúc đó, tôi cũng muốn xem ba vị đồng tử này, mở mang tầm mắt." - Chung Tấn Thiêm hào hứng nói.

Đến ngày hẹn, hai mẹ con đã đến, phu nhân của ông Chung Tấn Thiêm cũng đến, ngoài ra còn có một vị pháp sư ở khu Nam Thôn, Đài Trung. Hôm đó trời âm u, mưa phùn bay bay. Tôi quan sát hai mẹ con, người mẹ khoảng 50 tuổi, còn cô con gái ngoài 20 tuổi, vóc dáng cao ráo với đôi mắt to và sáng. Bà ấy lấy ba tượng đồng tử ra đặt lên bàn, mỗi tượng cao khoảng năm tấc, quả nhiên mỗi tượng đều cầm búa sắt trên tay. Ba vị đồng tử có gương mặt rất giống nhau, như ba anh em sinh đôi vậy. Tượng được chạm khắc mạ vàng nhưng đã bị phai màu, tôi đoán chắc đã hơn 30 năm tuổi. Tôi hỏi hai mẹ con có phải đã hơn 30 năm không, họ gật đầu.

Cô gái nói: 
"Thưa ông Lư, ba vị này nhất định chỉ muốn đến gặp ông, xin lỗi đã làm phiền ông tịnh tu."
"Không có gì phải khách sáo."

Thế rồi tôi đã thực hiện ba phương pháp cho ba vị đồng tử.

Thứ nhất, tôi dùng phép khai hầu của Cửu Thiên Huyền Nữ, đọc thần chú khai hầu: "Thần Tinh Nguyên Quân, Thái Ất Tầm Thanh, năng cứu tật khổ, thuyết đạo tiền trình, nhữ nhược bất thuyết, vĩnh đọa trầm luân, ngô kim giáo nhữ, tốc thông tính danh, cấp cấp như Cửu Thiên Huyền Nữ Nguyên Quân luật lệnh nhiếp." Tôi đọc như vậy ba lần, rồi phát hiện ra ba vị đồng tử không những không thể mở miệng mà còn đau đớn khó chịu khắp người! Quan sát kỹ hơn, tôi thấy rõ trên thân ba vị đồng tử bị ba sợi dây thừng màu hồng trói buộc, thật kỳ lạ, thế là tôi bắt ấn kéo vàng để cắt đứt dây thừng.

Thứ hai, tôi dùng phép độ khí, lấy một hơi thở của mình thổi vào miệng các bức tượng gỗ. Hơi thở này không phải thổi ra hoàn toàn mà là cách thở của Đạo gia, có tiết tấu nhịp nhàng, để cho âm linh nhận được một hơi dương khí, giúp phục hồi nguyên khí cho cả ba vị. Sau đó tôi lại dùng phép khai hầu, vì đã ba năm không thể mở miệng, tôi lắng nghe thật kĩ mới nghe được một vị đồng tử nói nhỏ nhẹ: "Cảm ơn ngài."

Thứ ba, tôi bảo họ khi về nhà, đặt ba vị đồng tử ở một nơi kín đáo, ngày đêm thắp hương không ngừng, sáng tối dâng lễ vật, sáng sớm đem ra ngoài phòng cho tượng thấm sương mai, khi mặt trời mọc thì rước vào nhà, làm như vậy liên tục bảy ngày, chắc chắn sẽ mở miệng nói chuyện được. Tôi còn dạy họ một số chi tiết, trong bảy ngày này tuyệt đối không được sơ suất.

Hai mẹ con liền liên tục cảm tạ, phu nhân Chung Tấn Thiêm tấm tắc khen ngợi, vị pháp sư kia thì ngẩn người ra nhìn, ông ta xin tôi truyền dạy cho một phương pháp phong thủy "mượn khí để sai khiến vạn vật". Hai mẹ con gói ba vị đồng tử lại, rồi lái xe rời đi trong cơn mưa phùn. Tôi ngước nhìn bầu trời u ám, nghĩ rằng cuộc đời thật là kỳ diệu!

Mười ngày sau, tôi nhận được thư cảm ơn của cô gái, ba vị đồng tử đã thực sự mở miệng nói chuyện sau năm ngày.


### 23. Có thể vứt bỏ bùa hộ mệnh không?


Nếu chúng ta để ý kĩ sẽ nhận thấy trên các xe taxi, xe tải, xe container... trong cả nước đều treo các vật tượng trưng cho bùa hộ mệnh, kể cả xe của Sở Giao Thông và xe buýt thành phố. Mặc dù họ có thể không tin, nhưng việc treo những vật tượng trưng cho bùa hộ mệnh là để mong được chuyển nguy thành an, vạn sự cát tường. Liệu bạn có thể nói rằng cách làm của những người tài xế này là sai không?

Một số tài xế dán bùa bình an từ đền chùa lên phía trước xe, hoặc xin túi hương từ đền chùa để treo trực tiếp trên xe. Hoặc họ xin tranh ảnh thần thánh từ đền chùa để dán lên xe. Ở Diêm Thủy, tôi từng thấy một tài xế taxi thờ một tượng Quan Thế Âm Bồ Tát nhỏ trong xe, sáng tối đều thắp hương lễ bái. Cũng có những tài xế đặt cây vạn niên thanh trên xe, vạn niên thanh tượng trưng cho ý nghĩa mãi mãi xanh tươi, tâm lý này thể hiện mong muốn bình an trong lòng con người.

Tâm lý về bùa hộ mệnh không chỉ thể hiện trên xe cộ, mà nhiều người còn luôn mang theo bên mình bùa hộ mệnh (túi hương), các loại dây chuyền, đặc biệt là dây chuyền có tượng Phật Quan Âm rất được ưa chuộng. Nhiều người thậm chí còn mang theo một quyển kinh Phật nhỏ bên mình, họ tin rằng có danh hiệu của chư Phật Bồ Tát bên mình thì những điều xấu sẽ không xảy ra!

🌟

Theo như tôi được biết, bùa hộ mệnh không chỉ có ở nước ta, mà bất kì quốc gia nào trên thế giới đều có hiện tượng này. Thậm chí họ còn tôn một vị thần nào đó làm thần hộ mệnh cho quốc gia mình. Các nhà nghiên cứu tâm linh còn cho rằng mỗi người đều có thần hộ mệnh riêng, nếu biết thờ cúng vị thần hộ mệnh của mình thì cuộc đời sẽ ít gặp tai ương.

Bùa hộ mệnh là một hành động xuất phát từ tâm lý cầu mong bình an, và thực ra không thể gọi hành động này là mê tín, bởi trong tâm lý ai mà chẳng cầu mong bình an. Những người không cầu mong bình an, tâm lý của họ mới là bất thường! Tác dụng của những bùa hộ mệnh này thật không thể xem thường, bởi chúng giúp bảo vệ sự bình an trong tâm hồn, mang lại cảm giác an toàn cho con người.

Một người Hoa kiều Malaysia đã kể cho tôi câu chuyện thật sau đây:

Khi anh ta còn trẻ, anh đã bỏ trốn khỏi quê nhà. Người bà già rất thương yêu đứa cháu đích tôn này, bà lấy ra một sợi dây chuyền có gắn một pho tượng Phật bằng đồng cổ và nói với anh: "Pho tượng này là Trấn Tà Thiên Vương, là bảo vật gia truyền của nhà ta. Lần này con bỏ đi, ngài sẽ phù hộ cho con được bình an suốt đường đi. Nhớ phải đeo nó trên cổ, ghi nhớ lời bà, ngài đã từng hiển linh cứu giúp cha con rồi. Con à, hãy giữ gìn ngài cho tốt, ngài sẽ bảo vệ con."

Vị Hoa kiều này đã gặp hai chuyện kỳ lạ khi đeo tượng Trấn Tà Thiên Vương bằng đồng cổ. Lần thứ nhất, anh trốn đến một ngôi miếu cổ hoang vắng và ngủ trên bàn thờ. Đến nửa đêm, giữa tiếng gió hoang vu thê lương, anh chợt giật mình tỉnh giấc và thấy một bóng đen đứng bên cạnh bàn thờ. Anh hết sức kinh hãi nhưng không thể kêu lên hay cử động. Cái bóng đen đưa tay ra định bóp cổ anh, ngay lúc đó anh cảm thấy pho tượng Phật bằng đồng trên ngực nhảy lên mấy cái, rồi bỗng phát ra ánh sáng xanh lục kỳ ảo. Bàn tay của bóng đen như bị ánh sáng xanh lục ấy chặn lại, và rồi bóng đen từ từ biến mất. Khi tỉnh lại, anh càng thêm trân trọng pho tượng Phật bằng đồng mà bà nội đã tặng.

Sự việc thứ hai còn kỳ lạ hơn. Khi anh trốn đến bên một quả núi, phía sau có cảnh sát tuần tra đuổi theo. Không còn đường chạy, trong số những người đi cùng, có người bị bắt lại, có người bị bắn chết. Anh là người mang trọng trách đặc biệt nên liều mạng nhảy xuống vực, không biết sâu bao nhiêu. Sau khi chạm đất, anh vừa lăn vừa bò. May mắn là những người đuổi theo phía sau không truy đuổi gắt gao, nên anh lại thoát nạn. Anh ước tính độ cao nơi mình nhảy xuống chắc phải hơn 60 mét, dưới chân núi chất đống đá tảng, kỳ lạ là anh không hề bị thương. Đến tối kiểm tra pho tượng Phật đồng cổ, một điều kỳ diệu đã xảy ra: chân của Trấn Tà Thiên Vương đã bị gãy. Anh cho rằng đây là do Trấn Tà Thiên Vương đã cứu giúp mình - chân tượng Phật bị gãy nhưng thân thể anh lại không hề hấn gì, đây chẳng phải là một phép màu sao?

Khi tôi nhìn pho tượng Phật bằng đồng cổ ấy, quả thật nó rất hiếm có. Trên đầu đội vương miện ngũ Phật, đôi mắt lồi ra, hai chiếc nanh to lớn nhô ra ngoài, khuôn mặt trông rất dữ tợn. Một tay cầm chuông đồng pháp khí, tay kia không rõ nắm vật gì, một chân xếp bằng, còn chân kia đã bị gãy mất. Tôi đoán đây có thể là vị Hộ Pháp Trấn Tà Thiên Vương của Phật giáo Tây Tạng, bởi tôi chưa từng thấy loại tượng thần này bao giờ.

Tôi đã học được nhiều bùa hộ mệnh từ Thanh Chân Đạo Trưởng, ví dụ như bùa hộ thân Đinh Giáp, bùa hộ thân Long Hổ, bùa hộ thân Thiên Nhân, bùa hộ thân Thiên Vương... Những bùa này không gì khác ngoài việc phù hộ cho người ta gặp dữ hóa lành, ra đường được bình an. Bùa hộ mệnh có thể mang lại cảm giác an toàn cho người ta, nếu tôi ngồi trên một chiếc xe hoàn toàn không có bùa hộ mệnh nào, tôi ngược lại sẽ cảm thấy rất kỳ lạ!

Viết bài này, xin ghi một bài kệ:
*Tâm lý chí thành là trân quý
Bùa hộ do tâm, khéo ngăn ngừa
Tín ngưỡng thần thật tự sẽ thấy
Khúc đường quanh núi có phép lạ.*


### 24. Khi con người sắp chết


Từ xưa đến nay, sinh ra làm người thì đều phải chết, khi cái chết đến gần, con người ắt sợ hãi. Tuy nhiên, chỉ có một loại người không sợ chết, đó là những người hiểu rõ đạo lý sinh tử, những người có mục tiêu khi chết, những người này mới thực sự vượt thoát khỏi giới hạn sinh tử, không bị bóng ma của cái chết ràng buộc. Tại sao lại sợ chết? Bởi vì không hiểu được khi con đường sống đã dứt thì con đường chết sẽ đi về đâu, cũng không hiểu được cảnh giới của cái chết cuối cùng sẽ như thế nào.

Tôi từng nói rằng, con người có linh hồn, trong Phật giáo linh hồn được gọi là thân trung ấm. Khi còn sống, tâm thần hoạt động, nhưng thân trung ấm bị giam cầm. Khi con người chết đi, tứ đại của thể xác tan rã, thân trung ấm hiển hiện, linh hồn lại hoạt động trở lại. Và khi con người sắp chết, ý thức linh hồn hồi sinh, có thể nhìn thấy thế giới âm linh, thế giới này kỳ quái, muôn hình vạn trạng, khiến nhiều người không thể hiểu nổi.

Tôi nhớ khi tôi ra đời, ông nội Lư Xương đã qua đời từ lâu, còn bà nội Lư Du Đoan Hương sống chung với gia đình chúng tôi. Bà nội mất vì bệnh thận (tiểu đường), toàn thân phù nề, cuối cùng nằm liệt giường, rên rỉ than thở, không những không thể cử động mà ngay cả việc lật người cũng khó khăn. Do không thể trở mình nên da dẻ cũng bị lở loét, khiến mùi thuốc sát trùng tràn ngập cả căn phòng. Lúc đó tôi đang học tại Trường Công nghiệp Cao Hùng, chưa theo đạo Phật, chỉ đi nhà thờ. Mỗi lần đi ngang qua phòng bà nội, tôi đều muốn nôn. Lúc ấy tôi nghĩ: "Bệnh tật thật là khổ quá, con người không bệnh tật thì tốt biết mấy!" Cho đến tận bây giờ nghĩ lại, đó vẫn là một ký ức rất đau buồn.

Trong tâm trí tôi không còn ấn tượng gì về ông nội, nhưng bố tôi kể rằng ông nội Lư Xương là một nhân vật nổi tiếng ở đảo Tây Tự, Bành Hồ, và cũng là một trong những người giàu có nhất vùng Gia Nghĩa thời bấy giờ. Khi còn sống, ông mở trường học, làm việc thiện, cứu giúp người nghèo khó, thực hiện nhiều việc từ thiện. Ngày ông mất, thầy và trò trường quốc dân học xá ở đảo Tây Tự nghỉ học một ngày, toàn thể đều đến đưa tang. Từ đó về sau, gia đạo suy tàn, lại vì chiến tranh, nhà cửa bị bom đạn phá hủy hoàn toàn. Đến khi bà nội mất thì đã không còn được thịnh vượng như xưa. (Bà nội Du Đoan Hương là vợ thứ ba trong số ba người vợ của ông nội.)

Khi bà nội qua đời, có một chuyện rất kỳ lạ xảy ra, chuyện này hoàn toàn có thật. Một tuần trước đó, cái búa trong nhà tôi vô cớ biến mất, nhưng cứ đến nửa đêm, trong phòng bà nội lại vang lên những tiếng keng keng loảng xoảng.

Sáng hôm sau, mẹ tìm không thấy cái búa, hỏi mọi người nhưng ai cũng nói không biết. Cuối cùng, khi bà nội nghe mẹ đang tìm cái búa, bà mới rên rỉ trả lời: "Ở đây này! Là tôi bảo Nghê Anh lấy đưa cho tôi đấy." (Nghê Anh là em gái thứ tư của tôi.)

"Mẹ lấy cái búa để làm gì đấy?" - Mẹ tôi hỏi.
"Không có gì." - Bà nội giấu kín điều bí mật, không chịu nói. 
Mẹ tuy thấy lạ nhưng không hỏi thêm nữa.

Đêm hôm sau, lại vang lên những tiếng keng keng loảng xoảng, tôi giật mình tỉnh giấc nửa đêm, lén nhìn theo tiếng động, thấy bà nội cầm cái búa, đôi mắt xanh lét, nhìn chằm chằm vào khoảng không mà đập, có lúc lại đập qua đập lại, gây ra những tiếng động ầm ĩ, thật kỳ quái. Nhìn một lúc, tôi quay về phòng đi ngủ, không hiểu nổi chuyện gì đang xảy ra.

Đến ngày thứ sáu, mẹ tôi lại tìm cái búa để đóng đồ, vẫn không thấy đâu, hỏi mãi mới biết bà nội lại lấy đi rồi. 
Mẹ lại hỏi bà: 
"Mẹ lấy cái búa để làm gì?"
"Không có gì." - Bà nội vẫn không chịu nói.
"Không có gì sao cái búa lại cứ ở bên cạnh mẹ vậy!" - Mẹ cũng tò mò.
"Thì tôi... tôi... tôi nói cho các người biết vậy, vì bọn họ đều đến đòi đưa tôi đi, tôi không chịu đi với họ, họ cứ kéo tôi, nên tôi phải dùng búa đập họ."
"Họ là ai vậy?"
"Họ là... đó đó." 
Những cái tên đó tôi không biết ai cả, nhưng mẹ biết, đó là những người thuộc thế hệ trước đã qua đời, tức là toàn ma cả.
Bà nội nói: 
"Sau này tôi không cần phải dùng búa đập họ nữa, họ muốn đưa tôi đi, tôi sẽ đi với họ."

Đêm ngày thứ sáu, bên cạnh bà nội không còn cái búa, không còn nghe thấy tiếng đập nữa, và bà thực sự đã ra đi vào đêm đó. Sáng sớm, khi tôi giúp bố mẹ di chuyển thi thể bà nội ra phòng khách, phát hiện thi thể bà vẫn còn chút hơi ấm!

Đây là một sự thật, lúc đó tôi không thể hiểu nổi, nhưng giờ đây tôi đã hoàn toàn hiểu ra, đây là sự hiển hiện của thân trung ấm (linh hồn), một người bệnh yếu, trong trạng thái hấp hối, phần lớn đều có thể nhìn thấy những điều kỳ lạ vào lúc này, những hiện tượng này rất có thể là ảo ảnh, cũng chính là sự hiển hiện của nghiệp lực, thật thật giả giả, giả giả thật thật.

Khi con người sắp chết, cõi u minh hiển hiện, báo ứng luân hồi sinh tử lại bước vào một hành trình mới. Lúc này, nên ghi nhớ pháp cứu độ âm linh mà tôi đã viết, với sự cứu độ như vậy, chắc chắn có thể khiến người chết an tâm, niệm lực hội tụ thành một, vãng sinh về Tây phương Cực Lạc. Mấy năm trước, tôi đã từng tụng kinh siêu độ cho ông bà nội, nguyện cho họ sớm về cõi Phật, không sinh không tử.


### 25. Tĩnh tọa và đạt đến lương tri


Tiên sinh Vương Dương Minh nói: "Trước đây khi tôi ở huyện Trừ, thấy các học giả chỉ tranh luận bằng miệng về những điều giống và khác, không ích lợi gì cho việc tu dưỡng, nên tôi dạy họ ngồi thiền. Ban đầu các học giả dường như có sự tỉnh ngộ, nhưng lâu dần họ sinh ra thích tĩnh ghét động, rơi vào căn bệnh khô khan cứng nhắc. Vì vậy gần đây tôi chỉ hướng dẫn công phu về việc đạt đến lương tri. Khi học giả thực sự thấy được bản thể của lương tri, sáng suốt thông đạt, phân biệt được phải trái, không gì không phải là thiên lý, dù có việc hay không việc đều tinh tế quan sát và khắc phục, cùng về một đường, đó mới là công phu thực sự của việc trau dồi tri thức, không rơi vào một bên, nên thấy không có gì vượt qua được việc đạt đến lương tri mà không có bệnh."

Tiên sinh Vương Dương Minh còn nói: "Ngoài lương tri không có tri thức nào khác, ngoài việc đạt đến lương tri không có học vấn nào khác." Ông còn nói: "Không thiện không ác là thể của tâm, có thiện có ác là ý thức khởi động. Biết thiện biết ác là lương tri, làm thiện bỏ ác là tìm về nguồn gốc. Đây là lời thấu suốt từ trên xuống dưới, từ người mới học đến bậc thánh nhân, chỉ có công phu này, nghiên cứu không cùng tận, công phu tinh nhất của vua Nghiêu Thuấn cũng chỉ như vậy."

Tôi vô cùng kính phục học thuyết của Vương Dương Minh. Trong đoạn trước, tiên sinh Dương Minh bàn về tĩnh tọa, tuy tĩnh tọa có lợi, nhưng cũng có một căn bệnh, nguyên nhân là do thích tĩnh ghét động, kết quả là rơi vào căn bệnh khô khan cứng nhắc. Tuy nhiên, việc Vương Dương Minh lúc bấy giờ có thể đề xuất phương pháp tĩnh tọa, thực sự không thể không khiến người ta khâm phục sâu sắc, bởi vì khi tâm tĩnh lặng ngồi xuống, vạn niệm đều dứt, chân tính tất nhiên sẽ hiển lộ, đây chính là nguồn gốc của hai chữ "huyền bí". Tiên sinh Vương Dương Minh hiểu rằng tĩnh tọa dễ rơi vào tình trạng khô khan, nên đành phải bàn về công phu đạt đến lương tri. Và ngày nay, phương pháp khởi linh linh động của tôi vừa hay bù đắp cho căn bệnh khô khan đó, khiến cho phương pháp tĩnh tọa của Vương Dương Minh càng thêm hoàn thiện và sáng tỏ.

Tĩnh tọa thuộc âm, linh động thuộc dương, khi kết hợp như vậy sẽ đạt đến lương tri! Trong cuốn sách "Khởi Linh Học", tôi đã nói rằng linh động cũng là một công phu có được từ tĩnh tọa, khi vạn niệm đều dứt, chỉ còn một linh tồn tại, linh này bay khắp trời đất, thâm nhập vào mắt tai mũi lưỡi thân ý, phát sinh hoạt động dương khí, hoạt động này bù đắp cho sự khô khan của tĩnh tọa, từ đó đạt được cảnh giới cao nhất. Điểm linh động này có thể tự do điều khiển, điều mà tiên sinh Vương Dương Minh chưa từng nghĩ đến.

Đoạn thứ hai, tiên sinh Dương Minh bàn về lương tri, lý thuyết và quan điểm này hoàn toàn không có sai sót. Cần biết rằng "bản tính con người vốn không thiện không ác, có thiện có ác đều do ý thức tác động", lý thuyết này phản đối quan điểm của Mạnh Tử và Tuân Tử. Nghiên cứu đến cùng để biết nguồn gốc của sự vật, đây chính là tư tưởng vĩ đại của tiên sinh Dương Minh, thông qua tĩnh tọa, dứt bỏ tục niệm của trời đất, vượt thoát ánh sáng để đạt đến cảnh giới tâm lương tri, đây là lĩnh vực của bậc thánh nhân, không hề đơn giản. Tôi cũng cho rằng, lý do tiên sinh Dương Minh trở thành một bậc Nho thánh vĩ đại là vì ông là người tiên phong mở đường cho học giả, khai phá cảnh giới mới. Học thuyết này rất phù hợp với Phật pháp, Phật pháp là vô pháp, không ở thiện, không ở ác, đây mới chính là bản tính như như của Phật.

Tại sao tĩnh tọa lại có thể sinh ra sức mạnh huyền bí? Bởi vì tĩnh tọa là công phu của tâm, cũng chính là công phu của linh, khi nghiên cứu sâu về tâm linh vô tận, tự nhiên sẽ sinh ra sức mạnh huyền bí. Hơn nữa, tác giả đã có phương pháp khởi linh, những ai muốn tìm hiểu về thế giới tâm linh huyền bí có thể mạo hiểm bước vào con đường này. Khi đã có được công phu tinh nhất, tự nhiên sẽ đạt được trí tuệ thông suốt trời đất, đây chính là chữ "đắc" trong "định, tĩnh, an, lự, đắc". Đạt đến lương tri, ngoài lương tri là vô tri, những điều huyền bí trong đó quả thật người ngoài không thể biết được.

Một hôm, tôi ngồi nhắm mắt trong tĩnh lặng, tâm thần như đang ngồi trong thang máy, cứ thế rơi xuống trong khoảng không vô tận. Tôi cứ để mặc nó chìm nổi mà không kiểm soát. Bỗng trước mắt hiện lên một luồng hào quang, một vị thần tướng khổng lồ hiện ra trước mặt tôi. Vị thần tướng ấy đầu bốc lửa, mặt đầy phẫn nộ, một tay cầm thanh bảo kiếm khổng lồ, đôi mắt lồi như chuông đồng, chân cũng bốc lửa. Ngài trừng mắt nhìn tôi, rồi dùng kiếm đâm vào tim tôi. Tim tôi chảy máu và trống rỗng, muốn nôn nhưng không có gì để nôn. Chợt tôi nhớ ra rằng không thiện không ác, không vui không buồn là thể của tâm, còn có thiện có ác, có vui có giận là do ý thức khởi động. Nếu tôi kiểm soát được ý niệm thì sẽ không còn cảm giác gì nữa. Và tôi đã chứng minh được điều đó. Khi tôi tỉnh ngộ, cảm giác buồn nôn biến mất, vị thần tướng phẫn nộ khổng lồ không còn, lửa không còn, bảo kiếm cũng không còn, tâm thần tôi trong lúc tĩnh tọa không lên không xuống, không còn trống rỗng nữa.

Trong thiền định của Lư Thắng Ngạn, những cảnh giới huyền ảo xuất hiện nhiều vô kể, nếu ghi chép lại từng cảnh một có thể biên soạn thành một cuốn sách lớn. Tuy nhiên, phần lớn đều là những cảnh giới do ý thức sinh ra, không có gì là thật cả, nhưng trong đó cũng có những điều khai sáng, không hẳn là hoàn toàn vô nghĩa. Bởi vì thần tiên đã đi vào trong tâm thức của tôi, kể cho tôi biết tất cả về quá khứ và tương lai của mình. Và tất cả những điều chưa từng xảy ra ấy đều lần lượt được thực hiện trong trải nghiệm thiền định, đây không phải là một điều kỳ diệu sao?

Khi tĩnh tọa, hãy đặt tâm thần nơi hơi thở, quán chiếu lại bản thân nhiều lần để lương tri xuất hiện và ác niệm tiêu trừ.
Khi tĩnh tọa, không cần nghĩ ngợi điều gì, hãy buông bỏ tâm ý, không phân biệt sớm tối, đây chính là sự nghỉ ngơi lớn nhất.
Khi tĩnh tọa, nếu thấy thiên thần, hãy xem đó như sự khích lệ. Đừng chấp trước vào việc thấy thiên thần.
Khi tĩnh tọa, nếu thấy phẫn nộ thần, hãy tự chế ngự tâm, tự nhiên sẽ không lo lắng, không sợ hãi, an nhiên tự tại.

Tĩnh tọa là sự mở rộng của tâm linh, linh động là hoạt động của dương thần. Khi tâm linh sáng suốt, hoa trí tuệ tự nhiên nở rộ, từ đó sẽ thông suốt tất cả, không gì không biết. Tâm vốn vô cùng tận, sức mạnh của nó cũng vô cùng tận. Khi trí tuệ không còn rò rỉ, sáu đại thần thông cũng chẳng còn gì bí ẩn nữa.


### 26. Sức mạnh thần bí của cầu nguyện


Nhà văn Phùng Phùng đã từng tiết lộ trong tiểu thuyết dài của mình rằng, mỗi khi gặp khó khăn, ông thường leo lên ban công, đối diện với bầu trời xanh, thành kính chắp tay, quỳ gối xuống, ngước đầu nhìn trời và trút hết nỗi đau trong lòng lên thiên đường. Những lần cầu nguyện như vậy đôi khi kéo dài đặc biệt lâu. Ông kể rằng dường như cảm nhận được thượng đế đang lắng nghe mình nói chuyện, khiến cơ thể ông khẽ run lên. Ông cảm thấy linh khí của trời đã ban cho mình, thượng đế đã tiếp nhận và hứa sẽ giúp đỡ. Nhờ vậy, Phùng Phùng đã đạt được sự bình an, và mọi việc đều thành công ngoài mong đợi.

Ngoài ra, tôi đã từng chứng kiến một buổi đại hội truyền giảng của Cơ Đốc giáo tại sân bóng chày Cao Hùng. Một vị mục sư người Mỹ đứng trên bục giảng, dùng sức mạnh huyền bí của lời cầu nguyện để chữa bệnh cho mọi người. Lúc đó tôi mới học cấp hai, chen chúc giữa đám đông tín đồ. Số người đến nghe giảng rất đông, nhưng điều thu hút nhất chính là phần cầu nguyện sau buổi giảng. Ngài cầu nguyện cho người bệnh và hiệu quả xuất hiện ngay lập tức, chính sức mạnh tức thì này đã thu hút hàng nghìn hàng vạn tín đồ. Sau buổi giảng, vị mục sư giơ cao hai tay, bắt đầu cầu nguyện, người phiên dịch dịch từng câu, và đám đông bên dưới cùng đọc theo: "Cảm tạ Chúa, Hallelujah."

Mục sư nói: "Nguyện ánh sáng thiêng liêng của Chúa Jesus giáng xuống, lắng nghe tiếng kêu đau khổ của muôn người, bàn tay Người lau khô nước mắt của họ, xoa dịu vết thương của họ. Khi chúng con nhân danh Người, tâm hồn chúng con sẽ được tràn đầy vĩnh hằng, như rượu rót vào chén thánh, tràn ra ngoài, ân sủng vô cùng vô tận. Lời cầu nguyện thành kính của chúng con, Chúa ắt sẽ lắng nghe và tìm thấy tiếng nói của chúng con, hiển linh sức mạnh của Người, tạo nên phép màu vĩ đại. Hallelujah, tạ ơn Chúa, mọi lời cầu nguyện của chúng con đều nhân danh Chúa Jesus, Amen!"

Khi mục sư đọc một câu, chúng tôi ở dưới đọc theo một câu, đồng thời phải nói "Tạ ơn Chúa". Sau khi cầu nguyện xong, có người trong đám đông lên sân khấu làm chứng vì bệnh của họ đã khỏi. Điều khiến tôi ngạc nhiên nhất là một người câm, sống ở khu Kỳ Tân, được hàng xóm dẫn đến, đứng trên bục giảng, khóc lóc và hét lên: "Con vui quá, con vui quá."

Người hàng xóm nói: "Người câm này là hàng xóm của tôi, đột nhiên bị câm cách đây năm năm, tôi có thể làm chứng, và hôm nay nhờ cầu nguyện mà đã khỏi, đây là phép màu, đúng là một phép màu."

Ngoài ra còn có một bệnh nhân bại liệt từ nhỏ, bỗng nhiên nhờ sức mạnh của lời cầu nguyện mà được chữa lành, đi lại tốt trên sân khấu.

Trong buổi lễ kỳ diệu đó, tôi đã chứng kiến nhiều người lần lượt lên sân khấu làm chứng. Kể từ lần đó, tôi đã được chứng kiến thêm vài lần phép màu chữa bệnh bằng cầu nguyện, ví dụ như tại nhà thờ của chúng tôi - Hội Thánh Tân Hưng Cao Hùng, đã từng mời một mục sư người Nhật là ông Sato đến thăm. Ông ấy cũng dùng cầu nguyện để chữa bệnh cho mọi người. Lúc đó tôi đang làm giáo viên trường Chủ nhật, hiệu trưởng là ông Ngô Tân Đức, mục sư là ông Tô Thiên Minh. Năng lực của mục sư Sato cũng rất cao, đã có rất nhiều bệnh nhân lên sân khấu làm chứng ngay tại chỗ.

Cho đến nay, mục sư Tống Năng Nhĩ khi giảng đạo, sau buổi giảng bà cũng cầu nguyện cho người bệnh. Tôi chưa từng chính thức chứng kiến lời cầu nguyện của mục sư Tống Năng Nhĩ, nhưng nghe nói sức mạnh cầu nguyện của bà cũng rất vĩ đại và có sức lay động lớn. Thượng đế cũng lắng nghe lời cầu nguyện của bà, bà có năng lực đặc biệt về mặt này. Tống Năng Nhĩ là một nhà truyền giáo nổi tiếng đang sinh sống tại Mỹ, gần đây đã về nước giảng đạo.

Hôm nay, tôi thẳng thắn nói với độc giả rằng, đối với những người thật lòng thành tâm cầu nguyện, thượng đế sẽ lắng nghe lời cầu nguyện của chúng ta. Thật ra, tôi cũng là một người rất thích cầu nguyện. Tôi thường ở trong sân nhỏ của mình, thắp một nén hương dài, khiêm nhường quỳ gối, ngước mặt lên trời và cầu nguyện: "Chư thiên thánh thần, xin từ bi chiếu giám, xem xét tâm con, tâm con thanh bạch, không vướng bợn nhơ. Nếu có lỗi lầm, xin thương xót tội vô minh của Liên Sinh, và đồng cảm với tấm lòng chân thành của đứa con thơ. Nguyện cho Liên Sinh kiếp này mãi giữ vững đạo tâm, thân thể khỏe mạnh, độ mình độ người, cứu nước cứu đời, hợp với đại đạo trời người, vượt thẳng cảnh Phật, vĩnh viễn không thối chuyển." Lời cầu nguyện của tôi là trút hết mọi tâm sự không sót điều gì lên thượng đế. Điều kỳ lạ là thường có rất nhiều khó khăn nhờ vào sức mạnh của lời cầu nguyện mà được giải quyết dễ dàng. Đây quả là một sức mạnh không thể nghĩ bàn! Sức mạnh này đến từ trời, cũng đến từ chính mình, hai nguồn hợp nhất, tất cả đều thăng hoa.

Điều quan trọng nhất trong cầu nguyện là chữ "chân thật" và chữ "thành tâm". Nếu không chân thật, không thành tâm thì lời cầu nguyện đó sẽ không có chút sức mạnh nào. Hãy mở rộng tâm hồn, để mọi việc hiển bày trước chư thiên thánh thần! Lúc này, cảm động và bình an mà bạn nhận được sẽ vô lượng vô biên, và bạn sẽ đạt được sự mãn nguyện chưa từng có.

Thật lòng mà nói, khi tôi khóc đến đau đớn tột cùng, tôi đã từng thấy một vị thần từ trời cao bước xuống theo thang mây, cổng trời mở ra, Người lau khô nước mắt cho tôi.

Viết đến đây, lòng xúc động mạnh, làm một bài kệ:
*Làm một tên hề giữa nhân gian
Đau lòng thương hoa bị châm biếm
Lời lẽ không sạch tựa như ếch
Vẫn phải nhẫn nhịn trước lời đồn
Cầu nguyện lên trời trời thấu tỏ
Chẳng cần đáp trả những thị phi.*


### 27. Bí ẩn của thuật phong thủy


Trước khi viết bài này, tôi xin tiết lộ một bức thư.

*Kính gửi ông Lư,*

*Tuần trước khi về Đài Bắc, trên xe tôi có đọc tác phẩm "Địa Linh Huyền Bí" của ông. Nhờ đó mà tôi đã hiểu sâu sắc hơn những kiến thức phong thủy sơ sài mà tôi học được từ thầy tôi trong những lần dạo chơi xuân từ thuở nhỏ. Đồng thời, nó cũng gợi nhớ cho tôi về một bài viết trong Tạp Chí Không Quân cách đây vài năm. Bài viết kể về ông Hạ Công Quyền, một nhà ngoại giao xuất thân từ Không quân, khi đưa một số bạn Không quân du học Mỹ đi thăm lăng Washington. Tại đó, ông Hạ đã hết lời khen ngợi rằng ngôi mộ này chính là địa thế phong thủy tuyệt vời nhất theo thuật phong thủy của nước ta. Ông Hạ nói: "Phía sau có tựa, hai bên ôm vào, phía trước có mặt phản chiếu, giữa có nước bao quanh." Do bận việc nên tôi chưa đọc hết tác phẩm "Địa Linh Huyền Bí", nhưng thấy trong phần tôi đã đọc chưa đề cập đến cách nói này, nên xin đặc biệt nêu ra để ông tham khảo.*

*Tăng Quảng Hòa kính thư.*

🌟

Tại đây, tôi xin giải thích bốn câu nói của Hạ Công Quyền.

1. Phía sau có tựa - Điều này chỉ ra rằng ngọn núi phía sau ngôi mộ rất hùng vĩ. Nói chung, khi dựa vào một ngọn núi hùng vĩ, phú quý sẽ tự nhiên kéo dài, giống như quan chức ngồi trên ghế, tướng quân ngồi trên ngai, có chỗ dựa này thì không còn lo ngại phía sau.

2. Hai bên ôm vào - Điều này tượng trưng cho Long Hổ song sa trong thuật phong thủy của nước ta. Long Hổ song sa ôm lấy huyệt, đây chính là tướng có nhiều quý nhân phù trợ, tự nhiên vận may gặp quý nhân, thịnh vượng không ngừng.

3. Phía trước có phản chiếu - Đây chính là phía trước mộ có một ao nhỏ (minh đường), ao có nước, ánh nước lấp lánh phản chiếu những tia sáng đẹp đẽ về phía mộ, ánh sáng này liên tục, đó chính là phía trước có phản chiếu, tượng trưng cho sự quang minh.

4. Giữa có nước bao quanh - Ý nghĩa của nước bao quanh ở giữa này thật sâu xa, chính là ở giữa ao nhỏ nổi lên một gò đất, giống như đảo Quang Hoa ở hồ Nhật Nguyệt vậy, nói chung, giữa có nước bao quanh tức là có hàm ý thành tựu lớn.

Gác lại mọi chuyện khác không bàn, nước Mỹ lập quốc mới chỉ hai trăm năm, và tổng thống đầu tiên của Mỹ là Washington, Washington là quốc phụ của nước Mỹ, ngôi mộ của ông vô tình được chôn cất ở long huyệt đại phú đại quý, và nước Mỹ sau hai trăm năm đến nay đã trở thành một trong những cường quốc đặc biệt trên thế giới, đây cũng có thể coi là một sự trùng hợp ngẫu nhiên!

Nước Mỹ dựa vào địa lý, khai thác tài nguyên khoáng sản trong lòng đất, tận dụng nhân tài từ khắp nơi trên thế giới để phát triển khoa học, xã hội dân chủ và cởi mở tỏa sáng muôn màu, đã trở thành một nhà lãnh đạo thu hút sự chú ý của cả thế giới. Đây chính là kết quả của bốn yếu tố địa lý: phía sau có tựa, hai bên ôm vào, phía trước có phản chiếu, giữa có nước bao quanh!

Gần đây, có rất nhiều người mời tôi đi xem địa lý khắp nơi, nhưng một người khó có thể phân thân, tôi ngược xuôi không ngừng nghỉ giữa phong cảnh non nước của hòn đảo ngọc, nhận ra rằng Đài Loan thực sự là một hòn đảo vàng giữa biển khơi, là hòn đảo tiên độc nhất vô nhị trên thế giới, có thể nói là mảnh đất thanh khiết duy nhất mà thượng đế để lại. Từ những ngọn núi rồng, tôi quan sát khí đất, chỉ thấy ánh vàng tỏa sáng bốn phương, dằng dặc vô tận, vì vậy tôi cho rằng chúng ta vẫn phải tận dụng địa lý, Đài Loan đảo ngọc chính là con rồng từ trời, mang dáng dấp của vị chủ nhân chân chính.

Tôi cho rằng thuật phong thủy không chỉ mang lại phúc họa cho từng cá nhân và tạo phúc phần cho các thế hệ, mà còn tạo phúc lớn cho quốc gia. Từ nhỏ đến lớn, từ lớn đến nhỏ đều có những yếu tố liên quan, như một mắt xích nối tiếp mắt xích khác. Mọi sự việc đều có nguồn gốc, tất cả đều là nguyên nhân dẫn đến thái bình thịnh trị. Vì vậy, thuật phong thủy có thể dùng để xem xét vận mệnh quốc gia và con người, không phải là môn học tầm thường, sức mạnh huyền bí của nó không thể xem nhẹ.

Tôi nhớ trong sự nghiệp chống Thanh phục Minh của Trịnh Thành Công, có một vị tham mưu quân sự tên là Trần Vĩnh Hoa, tự Phục Phủ, người Đồng An, Phúc Kiến. Trịnh Thành Công từng khen ngợi ông là: "Phục Phủ chính là Ngọa Long của thời nay!" Trần Vĩnh Hoa này vốn là một bậc kì cựu trong thuật phong thủy, có tài "biết đất". Vào năm Vĩnh Lịch thứ 18, ông đã tự mình leo núi lội suối, đi khắp nơi khảo sát địa hình, địa chất. Sau khi trở về nghiên cứu kĩ lưỡng, ông ban hành chính sách đồn điền, kết hợp quân sự với nông nghiệp, phân chia những vùng hoang vu chưa khai phá cho quân đội đóng đồn khai khẩn.

Khi Trịnh Thành Công khai phá Đài Loan, chính quyền mới thành lập, trăm việc cần làm, cần rất nhiều lương thực. Trịnh Kinh kế vị, liên tiếp nhiều năm chinh chiến ở Kim Môn, Hạ Môn, Phúc Kiến, Quảng Đông, trong suốt thời gian đó nhu cầu về lương thực và vũ khí trong hai mươi năm không hề thiếu thốn, tất cả đều nhờ vào công lao của Trần Vĩnh Hoa, người am hiểu thiên văn địa lý và biết cách tận dụng địa lý.

Địa lý có ích không? Tất nhiên là có ích.
Khí đất và địa chất có quan trọng không? Tất nhiên là quan trọng.
Sinh tử của con người có liên quan đến địa lý không? Như máu thịt gắn bó, huyết mạch tương quan, tự nhiên bị chi phối một cách vô hình.
Xem người, xem trời, xem đất, cuối cùng mới có thể xem quốc gia và thế giới.
Thế giới vũ trụ trên dưới mười phương, không đâu là không có chân lý tồn tại, không thể bỏ qua điều gì!


### 28. Viên thuốc mười vị chảy về Tây


Nếu tôi không nói ra phương pháp này, e rằng rất ít người biết được. "Viên thuốc mười vị chảy về Tây" là một phép thuật vô hình. Khi sử dụng phương pháp này, chư Phật và thần linh vô hình có thể ban phúc cho sức khỏe con người, bảo hộ tín đồ không bị dịch bệnh, không bị bệnh tật quấn thân, được hưởng mười hương vị pháp. Có một người bạn trẻ kể: "Tại một ngôi chùa lớn nọ, chúng tôi dùng nước sôi cúng Phật, sau đó uống bát nước đó, lạ thay, bát nước trong vắt ấy lại có vị thuốc, người bệnh uống vào đều được chữa lành, thật là một phép màu."

Dùng nước sôi cúng Phật, uống vào có vị thuốc, và mỗi người khi uống đều cảm nhận vị khác nhau, có cả vị chua, ngọt, đắng, cay. Vậy bát nước sôi này có bí mật gì? Đó chính là phép "Viên thuốc mười vị chảy về Tây". Nước chú Đại Bi là phương pháp dùng nước chú của nhà Phật, dùng để từ bi với chúng sinh. Nước niệm hai mươi chữ là phương pháp của Thiên Đức Thánh Giáo, dùng hai mươi chữ "trung, thứ, liêm, minh, đức, chính, nghĩa, tín, nhẫn, công, bác, hiếu, nhân, từ, giác, tiết, kiệm, chân, lễ, hòa" để niệm chú vào nước, dùng để từ bi với chúng sinh. Đạo gia luyện nước thuốc, dùng nước giếng, đun sôi lên, cắm hương ở miệng ấm, sau khoảng một nén hương thì có thể uống được, đây là phương pháp nước thuốc của Đạo gia. Quả thật là kỳ diệu, một chén nước sôi chữa được các chứng bệnh lạ trong thiên hạ, nhiều triệu chứng đều có thể khỏi, bạn nói có kỳ lạ không.

"Viên thuốc mười vị chảy về Tây" là phương pháp cổ truyền từ Thần Nông Đại Đế. Thứ nhất, nó có thể trợ giúp sự hưng thịnh linh cảm của thần Phật. Thứ hai, bảo hộ địa phương không bị dịch bệnh. Thứ ba, với những chúng sinh cầu khỏi bệnh, có thể đạt được bình an về tâm linh và thể chất. 

Tác giả xin công bố phương pháp như sau:

1. Chọn mười loại dược liệu thượng hạng, đặt vào trong một cái hũ sành. Hũ sành này không nên quá lớn, dược liệu không cần nhiều, chỉ vừa đủ đầy hũ sành là được. Dược liệu không câu nệ loại nào, tuy nhiên, càng là thuốc quý, càng là thuốc có mùi thơm càng tốt. Nhớ rằng người đựng thuốc phải là vị trụ trì chùa, và các loại thuốc được dùng cũng không được tiết lộ.

2. Khi thực hiện phép này, nếu ở chùa thì làm ở giữa chính điện; nếu ở nhà thì làm ở giữa phòng khách. Việc thực hiện ở chùa là để có được sự linh ứng của chư Phật thần thánh trong tương lai, còn thực hiện ở nhà là để cầu cho gia đình bình an. Trước tiên phải tìm một người nam chưa lập gia đình, nhớ phải trai giới ba ngày, và thực hiện phép này vào lúc 11 giờ đêm trước ngày sinh của Thần Nông Đại Đế.

3. Đúng 11 giờ đêm trước ngày sinh của Thần Nông Đại Đế, đặt hũ sành lên ghế ở giữa chính điện, lúc này thắp hương trước bàn thờ thần Phật và cầu nguyện, có thể đọc lời cầu nguyện như sau:
*Viên thuốc mười vị chảy về Tây
Thần Nông cứu nạn chẳng lo thay
Tính trời thánh nhân đầy từ ái
Hóa thành kim đan giọt giọt bay.*

Lại đọc rằng:
*Khí chính sơn hà khắp đại thiên
Thuốc thang ban phát bệnh tiêu nghiêng
Thần Phật hóa thân xuống thăm viếng
Quán Âm tìm khổ tọa hoa liên.*

Lại đọc rằng:
*Ngày lành giờ tốt thần giáng xuống
Pháp thí pháp ban vị ngọt ngào
Nước dương liễu trong có hương vị
Từ nay vạn cầu vạn nghiệm linh.*

Sau khi cầu nguyện xong, người thanh niên mặc áo trắng, tay cầm gậy trúc xanh (phải cầm chắc), nhanh chóng bước lên, động tác dứt khoát một gậy đánh vỡ hũ sành, đập cho đồ sành vỡ tan tành, đây chính là biểu tượng của việc xua đuổi bệnh tà, không còn cần dùng thuốc nữa. Sau đó, người thanh niên dùng vải trắng gói các mảnh vỡ hũ sành và dược liệu lại, nhớ không được ngoái đầu lại, nhanh chóng ra khỏi cổng chính điện, chạy đến nơi có sông lớn kênh rạch, nên chọn chỗ nước chảy xiết, ném gói vải xuống nước, như vậy là hoàn thành.

4. Khi thực hiện pháp này, có một số điểm cần chú ý:

Thứ nhất - Phải đánh vỡ hũ sành chỉ bằng một gậy, nếu không vỡ thì phải đợi năm sau làm lại. Chỉ khi đánh vỡ bằng một gậy mới có hiệu nghiệm, nếu phải đánh hai gậy, bệnh của người bệnh sẽ trở nên phức tạp! Vì vậy nhất định phải đánh vỡ bằng một gậy, nếu không vỡ thì đợi năm sau làm lại.

Thứ hai - Khi chạy ra khỏi cổng chùa không được ngoái đầu lại, nếu ngoái đầu lại, điều đó thể hiện sự lưu luyến, như vậy người cầu khỏi bệnh, tuy bệnh có thể tạm thời thuyên giảm, nhưng vẫn sẽ tái phát, chứng tỏ không thể khỏi hoàn toàn.

Thứ ba - Tránh để người đang có tang hoặc phụ nữ sinh nở trông thấy, trong quá trình thực hiện pháp nên tránh những điều này.


### 29. Luận về điều tốt đẹp của pháp thuật Tiểu đạo


Tôi hiểu sâu sắc rằng, Đạo vốn không thể nói ra được, đó là diệu nghĩa của vô cực, vì không có văn tự nào có thể giải thích được, nên người đạt đến được rất ít. Tuy nhiên, khi diễn biến đến gốc rễ tiên thiên của thái cực, có âm dương hai chữ xuất hiện, Đạo từ vô hình hóa thành hữu hình. Người đời thường cho rằng tất cả pháp môn hữu hình đều là giả, nhưng người tu đạo không biết rằng, đây chính là công phu bước đầu mượn cái giả để luyện cái thật. Pháp hữu hình đều là giả, câu nói này không sai, nhưng dùng pháp giả để nuôi thân giả, dùng pháp giả để tu thân giả, không có pháp giả thì pháp thật cũng không tồn tại được! 

Phải biết rằng trong và ngoài tam giới, có hằng hà sa số thần tiên, các vị bay lượn trong không trung, đi trong sương mù, tâm thanh thản, sáng du ngoạn biển khơi, chiều nghỉ nơi cầu vồng cuối trời. Không phải mỗi vị thần tiên đều đã thấu hiểu được diệu nghĩa của vô cực, mà chỉ cần dùng thân giả tu đến mức ẩn thân không tung tích là được. Đạo chân chính rốt cuộc không thể nói ra được, bởi vì nói ra thì sẽ có thiên lệch, cho nên nói rằng: "Vô thừa, vô cực, vô thượng."

Thần tiên tu giả để đạt chân, nếu đắc được Tiểu đạo thì có thể mở cửa trời đất, tránh được kiếp sống chết, tùy ý biến hóa, ra vào cửa trời, du ngoạn mặt trời mặt trăng, gọi gió gọi mưa, sai khiến thiên binh thiên tướng, địa binh địa tướng, lục giáp lục đinh, lực sĩ hoàng kim. Hơn nữa còn có thể xuyên núi xuyên đá, phi hành ẩn thân, ngũ hành kim mộc thủy hỏa thổ đều có thể vận hành không trở ngại, thần tiên có nhiều thân biến hóa, có thể hóa thành hổ báo tê tượng, hóa thành thiên cầm địa thú, có thể ẩn nghìn quân vạn mã, lại có thể biến cứng thành mềm, biến mềm thành cứng, đao búa không thể làm thương tổn. Không chỉ bản thân có thể biến hóa, mà vạn vật cũng có thể biến, đây chính là đại pháp mượn vật thông thần, như biến đất thành nước, vào nước như đi trên đất bằng, vào lửa mà lửa không thể đốt cháy, lại có thể bay lên trên lửa.

Ngày nay, tôi thấy người đời đều thích bàn về "Đạo của Đại thừa lý tính", bàn về "thiền", bàn về "Mật pháp vô thượng", rồi sau đó đều nói rằng không thể nói, không thể bàn, chỉ học pháp thượng thừa. Thực ra, đây đều là những kẻ thích nói lời phô trương, không phải bậc thượng trí, lại muốn học việc của bậc vô thượng trí, ngay cả việc tu tập trong cuộc sống thường ngày cũng không làm được, mơ tưởng đạt được vô thừa, cuối cùng chỉ trở thành trò cười, không những không học được pháp thượng thừa, mà ngay cả pháp trung hạ thừa không thèm học cũng chẳng có, chỉ biết hô hào cứu người cứu đời, nhưng không cứu được người, không cứu được đời, khi thực sự gặp vấn đề, chỉ biết bó tay đứng nhìn mà thôi.

Viết đến đây, xin để lại một bài kệ:

*Buồn cười thế nhân thích bàn tiên,
Không lo thực tế lạc phàm điên,
Đại đạo không thang leo chẳng được,
Chỉ còn miệng lưỡi khiến người phiền.*

Tại sao tôi bàn về Tiểu đạo? Bởi vì tôi cho rằng pháp thuật Tiểu đạo cũng quan trọng như Đại đạo vậy. Tôn sùng pháp thuật Tiểu đạo không có nghĩa là từ bỏ căn bản Đại đạo, mà là hai bên hỗ trợ lẫn nhau. Bàn về "không" cũng bàn về "có", không thiên lệch về bên nào, tránh được việc được cái này mất cái kia. Nếu muốn học Đại thừa mà không có nơi bám víu, sẽ rơi thẳng xuống địa ngục, hoặc đạo chưa tu thành đã bị tiểu nhân hãm hại, đây chính là kết quả của việc không lo thực tế. Những điều tốt đẹp của pháp thuật Tiểu đạo nhiều kể không hết, hãy để tôi kể từng phần.

Thứ nhất, hỗ trợ hoằng dương Đạo pháp - Thông thường những đạo lý cao siêu phàm phu không thể hiểu được, thậm chí khi bàn về tính lý, bàn về có không, bàn về cơ dụng thiền, người đời có mấy ai thật sự hiểu được. Vì vậy, chỉ có thể dùng Tiểu đạo mới thông được, khiến mọi người tin vào thần linh, không dám làm điều sai trái, gieo căn huệ cho đời sau. Do đó, công hiệu của pháp thuật Tiểu đạo trong việc hỗ trợ hoằng dương Đạo pháp là to lớn nhất, khiến người ta dễ tin tưởng, không cần dùng đạo lý cao siêu để dọa người.

Thứ hai, cứu giúp người hoạn nạn - Pháp thuật Tiểu đạo chuyên cứu người giúp đời, và có hiệu nghiệm nhanh chóng, luôn hướng dẫn mọi người cách giữ thân tâm an lạc, từ bất an chuyển sang bình an, từ đó có thể cảm nhận được sức mạnh thần thông vô biên, khiến người ta dễ dàng phát khởi niềm tin. Vì vậy, sự hiệu nghiệm của pháp thuật Tiểu đạo khiến người ta dễ sinh lòng tin, trong khi đạo lý của Đại thừa khiến người ta khó phát khởi niềm tin, công dụng của nó là ở chỗ phổ biến cho những người có căn cơ thiện lành, không chỉ dành riêng cho một hai bậc thiện tri thức.

Thứ ba, gặp dữ hóa lành - Pháp thuật Tiểu đạo cũng là một phương pháp phòng thân, như xem bói, giao tiếp với thần linh, linh cảm, đều nhằm mục đích gặp dữ hóa lành. Người tu đạo biết tiểu thuật, mục đích không phải dựa vào đó để đắc đạo, mà là để phòng thân. Trước khi đắc đạo, nếu không có pháp thuật phòng thân, e rằng tiểu nhân sẽ dùng tà pháp hại mình, đạo chưa thành mà thân đã mất, như vậy thật không đáng. Vì thế, cần phải tu tập song song các pháp như giữ gìn sức khỏe, phòng thân, xem tướng đoán số cát hung, chuyển hung thành cát, ẩn thân trong hang động, và khi chưa đắc đạo, hãy dùng pháp thuật Tiểu đạo để cứu người, tu công tích đức, điều này đều có ích cho công hạnh tu tập của mình.

Thứ tư, phương tiện thiện xảo - Pháp thuật Tiểu đạo là phương tiện thiện xảo tạm thời để cứu độ thế gian. Nếu có người chỉ biết Phật lý Đại thừa mà không biết phương tiện thiện xảo, cũng là kẻ cố chấp không thông. Bởi vì môn đệ cầu cứu mà họ không biết cách giúp đỡ, như vậy không thể thu phục được mọi người. Nếu thông hiểu lý tột cùng của Đại thừa, lại thông thạo phương tiện thiện xảo, thông suốt mọi đạo lý trên trời dưới đất, đó mới thực sự là bậc đại trí. Đức Thế Tôn khi còn tại thế cũng giảng về phương tiện thiện xảo, và phương tiện thiện xảo có thể độ chúng sinh trong tam thiên đại thiên thế giới phát khởi niềm tin, từ niềm tin đó bước vào cửa Đại thừa, cửa tột cùng.

Xin viết một bài kệ:

*Pháp thuật Tiểu đạo trong đời sống
Hòa hợp tự nhiên lo thực tế
Phương tiện thiện xảo độ chúng sinh
Ánh sáng thiện lành chiếu cửa ngộ.*


### 30. Bí pháp mượn âm tướng


Ân sư Thanh Chân Đạo Trưởng, người thông thạo vạn nghìn phép thuật kỳ diệu, thường dạy tôi rằng: "Liên Sinh, trong thiên hạ tuy có vạn pháp, nhưng thực ra chỉ có một pháp, pháp ấy gọi là chính pháp tâm pháp. Vì vậy, vạn pháp chỉ cần phối hợp với tâm pháp, khi thời cơ đến, một pháp sẽ biến thành vạn pháp. Do đó mới có câu vạn pháp quy tông. Học tập pháp thuật, chỉ cần dùng trí tuệ thâm nhập vào ý nghĩa chân thật, tự nhiên vạn pháp sẽ quy về tâm ta, trở thành khí thế nuốt trọn sông núi, không ai địch nổi."

Tôi nhớ khi mới nhận được linh cơ, Diêu Trì Kim Mẫu đã hiện ra trên không và nói: "Liên Sinh, trong thế gian này, khí chính tà đan xen phức tạp. Tương lai khi con hoằng đạo, ắt sẽ gặp thử thách từ thiên ma - có kẻ ganh ghét, có người oán hận, lại còn có những ngọn lửa vô danh bừng cháy về phía con. Những kẻ muốn gặp con mà không được sẽ biến tình thương thành hận thù. Vì vậy, con phải đi cho ngay thẳng, ngồi cho đoan chính, lấy một điều chân chính để chống lại vạn điều tà vạy. Tâm không được nổi giận, phải cam tâm tình nguyện chấp nhận mọi sự sỉ nhục, đồng thời phải hết sức thận trọng, học một số phương pháp để tự bảo vệ mình, tránh bị kẻ xấu hãm hại."

Đạo trưởng Thanh Chân nói: "Đừng xem phương pháp mượn âm tướng là tà pháp. Thực ra, trong thiên hạ vốn không có tà pháp, cái gọi là tà pháp đều do tâm người xấu ác mà biến thành. Pháp mượn âm tướng có ích cho người tu đạo để tự bảo vệ, có ích cho người tu đạo để hiểu được cơ duyên linh nghiệm, có thể giúp người tu đạo tránh được nhiều phiền phức rắc rối. Giống như bậc thánh nhân trị việc, cũng cần đệ tử cùng hoàn thành thánh sự vậy. Nếu chỉ dùng sức một người để trị vạn sự trong thiên hạ thì làm sao thành công được!" Vì vậy, ân sư truyền pháp cũng đã truyền xuống phương pháp kỳ môn mượn âm tướng. (Do pháp này, người ngay thẳng dùng thì thành chính, kẻ gian tà dùng thì thành tà, nên phải giữ lại thần chú và phù lục, xin thứ lỗi không thể công khai hoàn toàn. Nếu muốn học pháp, trước phải tu tâm, tâm nếu ngay thẳng thì pháp mới có thể truyền.)

Đặc biệt công bố phương pháp mượn âm tướng như sau, ngoại trừ phần thần chú. Ý của tôi là để mọi người hiểu rằng trong thiên hạ thật sự có bí pháp này, không phải lời nói suông không có căn cứ.

Thứ nhất, khi hành giả tu luyện đến lúc linh quan bảy tấc chuyển động, hiện tượng thông linh sẽ xuất hiện. Vào lúc này, nếu không có chư Phật chư Thần có nhân duyên từ trời cao giáng xuống dẫn dắt tu hành, rất dễ xảy ra hiện tượng nguy hiểm. Đây chính là lúc cần tìm minh sư chỉ dẫn. Tu hành có minh sư thì tốn ít công nhiều hiệu quả, ngược lại sẽ tốn nhiều công sức mà hiệu quả không cao. Lúc này, nếu không có minh sư, cần cầu hộ pháp âm tướng để tránh ma xâm nhập. Phương pháp cầu hộ pháp âm tướng là trước hết phải tìm đá lưu ly ngũ sắc, có thể tìm thấy ở bờ biển hoặc ven sông lớn. Đá này chia thành năm màu, hiện lên đường vân, quấn quanh như mạng lưới. Cần biết rằng đá lưu ly ngũ sắc, nếu một viên có đủ năm màu là tốt nhất, nếu không thì mỗi viên một màu, tổng cộng năm viên cũng được.

Thứ hai, rửa sạch đá lưu ly ngũ sắc rồi dùng vải đỏ bọc lại. Nếu chỉ có một viên thì không cần phân biệt kích thước lớn nhỏ, nếu có năm viên thì kích thước phải đồng đều. Tìm một ngôi chùa lớn hoặc đền thờ nghĩa dân cũng được, nhưng không được dùng miếu thờ thần dân gian. Lúc này, đặt đá lưu ly ngũ sắc lên bàn thờ, dưới mỗi viên đá đặt một lá bùa đã vẽ sẵn, rồi thắp hương khấn nguyện như sau: "Đệ tử tên... nguyện tu tập Đạo pháp, hành đại đạo thiên hạ, phát huy điều thiện lớn lao, cứu quốc độ đời, thực hành nhân từ thiện lành, cứu độ vạn dân thiên hạ. Nay dùng tâm người hợp với tâm trời, chỉ e ngại tà ma xâm nhập, nên đặc biệt đến đây cầu xin các vị hộ pháp cao chân, cùng nhau kết thệ ước, tương trợ lẫn nhau, ngày sau công thành, cùng được liệt vào hàng chân tiên." Sau khi khấn nguyện như vậy thì niệm thần chú, người biết sử dụng pháp chỉ và bước khôi đạp đẩu thì tiếp tục bước chính dương cương và chính âm cương, rồi ban xuống pháp chỉ.

Thứ ba, sau khi khấn nguyện xong và ban xuống pháp chỉ, hãy yên lặng cầu xin linh ứng. Nếu được ý chỉ từ thượng thiên cho phép thì thật đáng mừng, nếu không thì phải tìm một ngôi chùa lớn khác để làm lại theo đúng phép. Khi đã nhận được ý chỉ từ thượng thiên cho phép, hãy cầm đá lưu ly ngũ sắc, cùng với tiền giấy cầu thọ đem hóa đốt, nhớ thiêu luôn cả lá bùa. Sau khi hóa đốt xong, đợi đá lưu ly ngũ sắc nguội rồi gói lại trong vải đỏ.

Thứ tư, thông thường đá lưu ly ngũ sắc sau khi hóa đốt sẽ xuất hiện những hình tượng kỳ lạ, có khi hiện ra khuôn mặt của Kim Cang nộ mục, có khi hiện ra hình đại thần cầm binh khí, cũng có khi hiện ra những linh thú kỳ quái như hổ báo sư tử. Tôi từng thấy viên đá lưu ly ngũ sắc của một vị trưởng lão tu Đạo, trên đá hiện rõ hình một con rồng vàng, và trên một viên đá khác lại có hình ảnh đồng tử đang lễ bái Quan Âm. Việc xuất hiện những hình tượng này cho thấy điều cầu xin đã được như nguyện, nếu không thì sẽ chẳng có gì hiện ra.

Thứ năm, nói chung người tu đạo thường mang đá lưu ly ngũ sắc bên mình để cầu mong hóa hung thành cát, mọi sự bình an. Đối với người có năm viên đá lưu ly, có thể chôn bốn viên còn lại theo bốn hướng Đông Nam Tây Bắc quanh nhà để ngăn ngừa tà khí xâm nhập, còn một viên đem theo bên mình để tự bảo vệ. Ngoài ra, nếu muốn thúc đẩy thành công một việc gì đó, cũng có thể dùng phương pháp này, nhẹ nhàng ném đá lưu ly ngũ sắc vào nhà người khác, thì việc đó sẽ có hy vọng thành công! Cũng có người thờ cúng đá lưu ly ngũ sắc, sớm tối thắp hương khấn nguyện.

Thứ sáu, đá lưu ly ngũ sắc chính là hiện thân của âm tướng, gặp việc gì cầu khấn đều linh ứng. Bất kì việc gì sắp xảy ra và diễn biến sau đó ra sao đều có thể biết trước thông qua sự báo tin của âm tướng, vô hình trung có thêm được nhiều trợ thủ đắc lực. Đồng thời âm tướng cũng có tác dụng cảnh báo, hễ có việc hung ác sắp xảy ra, đều có tin tức báo trước, người tu đạo thông linh đều có thể biết được. Hơn nữa, âm tướng còn có tác dụng hộ trì chính pháp, khi có tà linh xâm nhập, có thể chống đỡ được một phen.

Tuyên bố của Lư Thắng Ngạn: Phương pháp mượn âm tướng này thoạt nhìn có vẻ đơn giản, nhưng thực ra không nhiều người biết cách sử dụng. Phần lớn các thầy bói chỉ biết mượn quỷ binh, mượn linh đồng, mà không biết đến việc mượn âm tướng. Mượn âm tướng là chính pháp chân truyền, nếu dùng đại pháp để cầu thì ắt sẽ thành công. Điều quan trọng nhất là người mượn âm tướng phải là người thông linh, nếu không phải người thông linh thì không thể nhận được chỉ dẫn của âm tướng, và nếu không hiểu được chỉ dẫn của âm tướng thì dù học được phép này cũng vô ích.

Nếu lợi dụng âm tướng để làm điều xấu ác, trời tất khiển trách, năm sét đánh đỉnh đầu, vĩnh viễn đọa địa ngục, không được luân hồi, tội này rất nặng vậy.


### 31. Linh cảm trước khi chết


Khoa Triết Đại học Đài Loan một cô gái ký tên là "Huệ" gửi đến một lá thư, đầu tiên cô ấy nhắc đến thầy Dương Chính Hà, người thường giới thiệu sách tâm linh của tôi. Sau đó cô ấy kể về bạn trai Giang Trọng Sơn, sinh viên thực tập năm thứ bảy khoa Y Đại học Đài Loan. Bạn trai cô ấy đã mất, trước khi chết, cả cô và cha của người đã khuất đều có linh cảm.

Cô ấy viết: "Bạn tôi Giang Trọng Sơn, sinh vào giờ Dần ngày 28 tháng 2 năm 1952, hiện là sinh viên thực tập năm thứ bảy khoa Y Đại học Đài Loan. Năm nay, vào ngày 29 tháng 6 âm lịch, anh ấy rủ tôi đi câu cá. Tôi không thích câu cá vì đó là sát sinh, nhưng anh ấy hứa sẽ thả hết số cá câu được. Sáng sớm hôm đó, tôi nằm mơ thấy một điềm xấu, trong mơ tôi đứng bên bờ sông, đối diện là một ngọn núi, trên núi có một con đường dẫn thẳng lên đỉnh, lúc đó, tôi thấy trên đỉnh núi có một tảng đá lớn, trên đó khắc ba chữ "Tam Vong Nhân", trong mơ dường như có người cứ nói với tôi rằng sẽ có ba người chết, sẽ có ba người chết, nhưng tôi cứ lắc đầu không tin."

"Cha của Giang Trọng Sơn sáng sớm hôm đó cũng nằm mơ thấy nước lũ tràn ngập, có một người đang gào thét cầu cứu trong dòng nước. Tỉnh dậy, ông linh cảm điều chẳng lành nên vội gọi điện đường dài từ Tân Trúc đến Đài Bắc. Cuộc gọi đầu tiên đang nói chuyện thì bị ngắt, lần thứ hai gọi được thì tôi và Giang Trọng Sơn đã ra khỏi nhà. Chúng tôi đi cùng em họ và bạn học của Giang. Đến Tiểu Thô Khanh ở Tân Điếm, bắt đầu câu cá, đến khoảng 10 giờ, trời nóng, em họ của Giang Trọng Sơn cởi áo xuống nước bơi, bơi sang bờ bên kia, sau đó Giang Trọng Sơn cũng cởi áo xuống nước. Tôi định ngăn cản, nhưng họ đều biết bơi và đã từng bơi qua lại nhiều lần. Giang Trọng Sơn bơi đến giữa sông, bỗng nhiên tôi thấy anh ấy không thể bơi nổi, tôi hét gọi em họ ở bờ bên kia, em họ lập tức nhảy xuống nước cứu, nhưng khi bơi đến nơi thì anh ấy đã chìm. Một tiếng rưỡi sau, nhân viên cứu hộ từ Tân Điếm đến vớt anh ấy lên thì đã tử vong. Có một điều rất trùng hợp là hôm đó trời nóng, sông Tân Điếm có tổng cộng ba người chết đuối."

Cô ấy lại viết với tâm trạng đau buồn: "Khi còn sống, anh ấy không tỏ thái độ gì về việc tôi tin Phật, khi tôi nói về nhân quả luân hồi, anh ấy cũng không phản đối hay tán thành, chỉ nói là quá bận, còn trẻ. Ai ngờ được sinh tử là việc lớn, đâu thể chờ đợi, vô thường ngày mai, ai có thể biết trước? ... Ngày tang lễ, tôi mua "Kinh Phật Thuyết Phụ Mẫu Ân Trọng Nan Báo" để tặng mọi người, mong bù đắp những lỗi lầm trong đời. Nhưng khi nghĩ rằng sinh tử mỗi người tự chịu, không ai có thể thay thế, lòng tôi lại đau đớn không nguôi, ngày đêm suy nghĩ, không biết giờ linh hồn anh ấy về đâu? Bây giờ anh ấy ra sao? Tôi rất muốn biết."

Khi nhận được lá thư này, đúng lúc tôi đang viết cuốn "Sức mạnh huyền bí", tôi đã hồi âm và hy vọng cô ấy có thể trực tiếp tìm gặp sư phụ khai ngộ của tôi - bà Lâm Thiên Đại ở điện Từ Huệ Đường Thạch Bích, Hoa Liên. Còn về phần mình, do có việc cần phải tịnh tu ba năm, từ lâu tôi đã không thể phụng sự và giúp đỡ người khác được nữa, vì vậy trong thư hồi âm tôi cũng đã xin lỗi tất cả những người đã gửi thư đến.

Phần lớn mọi người đều có linh cảm trước khi chết. Một ngày trước khi Giang Trọng Sơn qua đời, bạn gái anh đã mơ thấy ba người chết trên núi ở đường quốc lộ Bắc Tân, và giấc mơ của cha anh Giang Trọng Sơn có thể nói là một linh cảm qua giấc mơ. Tuy nhiên, đó chỉ là những linh cảm trong mơ mà thôi. Ở Đức có một giáo viên trẻ, một hôm đang ngồi viết trong phòng làm việc, bỗng cảm thấy buồn ngủ, nên anh tựa đầu vào ghế nghỉ ngơi. Lúc này, anh thấy then cửa xoay động, cửa nhẹ nhàng mở ra, một cụ già ăn mặc như nông dân bước vào nhà. Cụ già đó không ai khác chính là cha anh đang sống ở nông thôn cách đó cả trăm dặm. Cha anh bước vào phòng làm việc, gật đầu mỉm cười với anh, rồi lật sách, ngồi xuống chiếc ghế trước mặt anh. Lúc này người giáo viên trẻ muốn cử động nhưng không thể nhúc nhích được, chỉ thấy cha mình mặc bộ quần áo làm đồng, trong túi áo trái có cắm một cây bút chì. Cha anh ngồi một lúc rồi đứng dậy, lại gật đầu với anh một lần nữa, kéo cửa và quay người bước đi.

Khoảng một phút sau khi cha anh bước ra khỏi cửa, cơ thể anh mới có thể cử động được. Anh đi đến kiểm tra cửa thì thấy cửa vẫn còn khóa từ bên trong, người ngoài không thể nào vào được. Hơn nữa cửa vẫn còn khóa, vậy chuyện vừa xảy ra có phải là ảo giác không? Tại sao bỗng nhiên anh lại buồn ngủ, rồi đột nhiên không thể cử động được, chỉ còn cảm giác mà không thể động đậy? Anh nhìn đồng hồ, mới chỉ là 10 giờ sáng, theo lý thì không thể buồn ngủ được!

Chiều hôm đó, một bức điện tín đến báo tin cha anh đang ở ngoài đồng thì bị đột quỵ qua đời. Anh vội vã về nhà và hỏi rõ thời điểm cha mất, đúng là vào khoảng 10 giờ sáng, và cha đang mặc bộ quần áo làm đồng. Khi tìm thấy bộ quần áo làm đồng của cha, trong túi áo trái quả nhiên có một cây bút chì.

Câu chuyện ngắn này là có thật, đó là một linh cảm về cái chết.

Theo tôi được biết, do sự ràng buộc của nhân quả, nên có thế giới luân hồi và linh hồn. Trước khi chết, con người thường phát ra một tín hiệu gấp gáp, tín hiệu này truyền đến người thân mà họ quan tâm. Người thân khi nhận được tín hiệu đặc biệt này sẽ có linh cảm hoặc dự cảm thông qua những giấc mơ huyễn. Còn về việc trong quá trình sống, vận mệnh con người bỗng xuất hiện điềm hung, những linh cảm như thế cũng có. Tuy huyền bí và khó hiểu, nhưng điều này thực sự tồn tại trong thế giới của chúng ta.

Tôi nói, tôi là một người có khả năng linh cảm. Tôi cho rằng đó là vì hoạt động tâm linh của tôi vượt trội hơn người thường. So với người bình thường, tôi gần gũi hơn với thế giới tâm linh, có thể giao tiếp với họ nhưng không bị họ kiểm soát. Tôi trở thành con người hiện tại là nhờ một cơ duyên và quá khứ kỳ diệu, những điều này đã thúc đẩy tôi viết sách về tâm linh.

Trước khi chết có linh cảm không? Nếu nghiên cứu kĩ, phần lớn đều có.


### 32. Âm dương học và khoa học


Khi chìm đắm trong nghiên cứu về khoa học tâm linh, tôi phát hiện ra rằng trong thời Trung Quốc cổ đại có một nhóm người được gọi là âm dương gia, và kiến thức họ nắm giữ chính là âm dương học. Môn học này bao trùm từ thiên văn trên trời đến địa lý dưới đất, thậm chí cả khoa học nhân văn, không thiếu một lĩnh vực nào. Trong lần đầu nghiên cứu về âm dương học, tôi nhận ra rằng hai chữ Âm-Dương thực sự là thuyết tương đối cổ xưa nhất của Trung Quốc, khám phá này khiến tôi vô cùng kinh ngạc và cảm thán. Tôi nghĩ: "Trí tuệ của người Trung Quốc vượt xa người nước ngoài, từ thời cổ đại nước ta đã có thuyết tương đối, chỉ là chưa được truyền bá và phát huy rộng rãi mà thôi. Tinh thần sáng tạo của người Trung Quốc là hàng đầu, nhưng tinh thần thực tiễn thì còn kém một chút, nếu không thì khoa học kỹ thuật của chúng ta đã không tụt hậu so với người khác. La bàn, thuốc súng, kỹ thuật in ấn đều là những phát minh cổ xưa nhất của nước ta! Phải nhanh chóng đuổi kịp người ta thôi, phải nhanh chóng đuổi kịp người ta thôi!"

Theo tôi hiểu, âm dương học là một quan niệm vô cùng vĩ đại, không phải là một loại huyền học, mà là một khái niệm rất khoa học, khái niệm khoa học này chính là phép nhị phân, một trong những quy luật của thuyết tương đối. Tuy nhiên, trong âm dương học còn có ý nghĩa sâu sắc hơn phép nhị phân, ý nghĩa này bao hàm mọi khái niệm khoa học, và tinh thần biến hóa vô cùng của nó nằm trong đó.

Hai chữ Âm-Dương là sự thống nhất của vũ trụ, là tinh thần Thái cực của Đạo gia Trung Quốc. Nói đến âm dương tức là nói đến vũ trụ, ẩn dụ lớn về không gian và thời gian vô tận, thậm chí vượt khỏi không-thời gian, vượt khỏi hiện tại, đó cũng là một môn học về tương lai! Vì hai chữ Âm-Dương bao hàm cả vũ trụ, nên về mặt nhận thức, mỗi khi chúng ta thấy một vật, đều có thể dựa vào tinh thần khoa học để phân định âm dương của nó.

Lấy ví dụ: Trời là dương, đất là âm; mặt trời là dương, mặt trăng là âm; ban ngày là dương, ban đêm là âm; nam là dương, nữ là âm; núi cao là dương, thung lũng thấp là âm; động là dương, tĩnh là âm... v.v. Vạn sự vạn vật trên đời đều có thể được phân chia theo phép nhị phân âm dương học. Dưới đây là phân tích chi tiết về phương pháp này:

Thứ nhất, phương pháp phân chia sáng tối -- Nói chung, khi gặp ánh sáng, ta gọi là dương, khi gặp bóng tối, ta gọi là âm. Vì vậy ban ngày được gọi là dương, ban đêm được gọi là âm; mặt trời là dương, mặt trăng là âm; do đó nơi ánh nắng chiếu vào trong nhà được gọi là dương đài [ban công], nơi ánh nắng không chiếu tới được gọi là âm địa. Nói chung, nhà ở nên cân bằng âm dương, sống trong nhà cân bằng sẽ bình an hơn, nếu chênh lệch quá nhiều thì hoặc là quá mãnh liệt, hoặc là âm khí nặng nề. Vì vậy, phép phân chia ánh sáng và bóng tối cũng là một phần của "học thuyết màu sắc".

Thứ hai, phương pháp phân chia động tĩnh -- Nói chung, trạng thái động là dương, trạng thái tĩnh là âm. Vì vậy không gian hoạt động của người sống là dương gian, không gian tĩnh lặng của ma là âm gian. Nước chảy là dương thủy, nước đọng là âm thủy. Núi tĩnh lặng nên thuộc âm. Từ sự phân chia động tĩnh này mà có điện dương và điện âm, và còn nhiều sự phân biệt khác nữa. Nếu lấy một gia đình làm ví dụ, bếp có lửa, là động, thuộc dương; phòng khách người thường đi lại thuộc dương; còn phòng ngủ người thường nằm nghỉ tĩnh lặng nên thuộc âm. Còn về phòng kho, những nơi không có sự chuyển động, đều thuộc âm. Vì vậy khi phân tích sự cân bằng động tĩnh, nhà ở sẽ được bình an, nếu chênh lệch quá nhiều cũng là điềm báo bất an. Do đó "động tĩnh học" có thể được ứng dụng thành "cơ khí luận".

Thứ ba, phương pháp phân chia to nhỏ cao thấp -- Chúng ta thường xem cái to là dương, cái cao là dương, còn cái nhỏ là âm, cái thấp là âm. Vì vậy núi cao trở thành dương, dòng nước trở thành âm, mặt trời là dương, trái đất là âm. Phương pháp phân chia này cần có hai sự vật cùng so sánh mới có căn cứ. Tương tự, trong một ngôi nhà, cách bài trí cũng phải hài hòa giữa to nhỏ cao thấp. Ví dụ khi chụp ảnh chân dung, nếu bức ảnh quá to mà người trong ảnh lại quá nhỏ thì sẽ mất cân đối. Do đó, sự hài hòa giữa to nhỏ cao thấp chính là "mỹ học" và "quan điểm nghệ thuật" trong học thuyết âm dương của vũ trụ.

Thứ tư, phương pháp phân tích tổng hợp -- Thực ra, trong phép nhị phân của âm dương học còn có những cách phân chia chi tiết hơn. Ví dụ, nam là dương, nữ là âm, nhưng rất hiếm khi có người nam thuần dương hay người nữ thuần âm. Vì vậy đàn ông cũng có biểu hiện tính âm, và phụ nữ cũng có biểu hiện tính dương. Cơ thể con người có 70% là nước, mà nước có tính axit (dương tính) và tính kiềm (âm tính). Từ đó có thể thấy "trong âm có dương" và "trong dương có âm" là một sự thật không thể phủ nhận. Cơ thể người có nhiệt độ (dương tính), có thành phần nước (âm tính), hai yếu tố này cân bằng với nhau để duy trì thân nhiệt ổn định. Nếu mất cân bằng tức là bệnh tật, bệnh tật chính là sự mất cân bằng, rõ ràng là do âm dương trong cơ thể mất cân bằng mà ra. Vì vậy, âm dương học cũng chính là y học hiện đại.

Thứ năm, phương pháp phân chia theo thuộc tính -- Tôi cho rằng nếu có được khái niệm âm dương học, sẽ rất có lợi cho khoa học, tuy nhiên không nên cứng nhắc, thiếu linh hoạt. Ví dụ như khi xét núi sông theo độ cao thấp thì núi là dương, nước là âm; còn khi xét theo động tĩnh thì núi là âm, nước là dương. Chúng ta cần xem xét dựa trên điểm xuất phát nào, như vậy mới không sai. Thậm chí với nguyên tử nhỏ bé nhất, ta cũng có thể xem hạt nhân nguyên tử là dương, điện tử là âm. Như vậy, âm dương học chẳng phải chính là khoa học vũ trụ hay sao?

Cuối cùng, tôi cho rằng khoa học hữu hình thuộc dương, trong khi khoa học tâm linh vô hình thuộc âm. Nền tảng của học thuyết âm dương được xây dựng trên sự hài hòa lẫn nhau, vì vậy khoa học và tâm linh học cần phối hợp một cách hoàn hảo, đó mới thực sự là cảnh giới "tâm-vật hợp nhất". Nếu không có sự hài hòa này, chiến tranh trên thế giới sẽ khó tránh khỏi. Con người hiện đại tôn sùng khoa học, coi nhẹ tâm linh học, kết quả là đánh mất tâm hồn con người, chỉ còn hưởng thụ vật chất mà đánh mất đi ánh sáng trí tuệ tinh thần của nhân loại.


### 33. Con mèo nhỏ ở Đại Thành


Vào một ngày hè, tôi nhận lời mời đến huyện Chương Hóa, xã Đại Thành để xem phong thủy hai ngôi mộ cho một người bạn họ Thái. Anh ấy tự lái chiếc Mercedes 280, còn bốn học trò của tôi là Liêu, Trịnh, Trương và Tăng thì đi xe du lịch theo sau. Hai chiếc xe đi qua Chương Hóa đến Khê Hồ, rồi từ Khê Hồ đến Nhị Lâm, từ Nhị Lâm đến Đại Thành. Đi theo con đường bên trái trường tiểu học Đại Thành xuống là đến một nơi gọi là Thất Tinh Pha, đây chính là khu nghĩa trang của người dân địa phương. Theo lời đồn của người dân Đại Thành, Thất Tinh Pha vốn là một vùng đất bằng phẳng, nhưng vào một đêm nọ cách đây vài năm, đất bỗng nổi gió xoáy, một lượng lớn cát bay từ nơi khác đến, chỉ sau một đêm đã biến thành một ngọn đồi lớn. Qua quan sát kỹ lưỡng của tôi, chất đất ở đồi này quả thật có nhiều cát.

Từ bên cạnh một ao nước lớn, đi đến phần mộ của cha họ Thái không xa lắm. Tôi bảo học trò đặt la bàn xuống rồi quan sát ngôi mộ và nói: "Ngôi mộ này nên dời đi, bởi vì Càn, Ly, Khảm, Khôn là bốn quẻ dương, còn Cấn, Tốn, Chấn, Đoài là bốn quẻ âm. Hướng âm cần bốn đường nước âm mới tốt, nếu gặp bốn đường nước dương sẽ xấu. Hướng dương cần bốn đường nước dương mới tốt, nếu gặp bốn đường nước âm sẽ xấu. Hiện tại quẻ đang đứng hướng dương, nhưng lại dùng nước âm, như vậy ở bên phải ắt sẽ xảy ra việc tổn hại nhân đinh (người chết), vẫn nên dời đi thì tốt hơn."

Ông Thái nghe tôi nói xong, gật đầu: "Đúng vậy, cách đây hai năm, một đứa con đang học đại học, về nhà tắm rửa, bị ngạt khí gas trong phòng tắm mà chết, đó là một việc vô cùng bi thảm, cho đến nay, mọi người vẫn còn nhớ mãi. Nó học hành giỏi giang, người phong nhã tuấn tú, giao thiệp rộng rãi, khi an táng, các bạn học của nó đều đích thân khiêng quan tài! Việc đã xảy ra rồi, hối hận cũng không kịp, chỉ mong các con khác không gặp chuyện gì nữa."

Tôi tiếp tục quan sát phần mộ của bà nội họ Thái. Ngôi mộ được xây dựng bên cạnh ao nước, có thế cục "cua lông xuống nước", phía trước mộ có một nửa được xây trên ao nước, phương hướng và cửa nước của thế cục này đều không có gì sai sót. Sau khi xem xong cách cục này, chúng tôi đi dạo quanh đó. Người bạn họ Thái muốn nhờ tôi chọn một mảnh đất cho cha anh ấy. Khi đi ngang qua một căn chòi tranh nhỏ, chúng tôi nghe thấy tiếng mèo kêu "meo meo" vọng ra từ bên cạnh chòi. Tất cả chúng tôi đều chú ý đến con mèo nhỏ đó, nó gầy gò và bé xíu, trông rất đáng thương. Nhưng khi vừa thấy ông Thái, nó lại tỏ ra đặc biệt thân thiết, lập tức chạy đến bên chân ông Thái, cọ qua cọ lại vào chân ông ấy, như thể rất quyến luyến không nỡ rời xa.

Sự xuất hiện của một con mèo nhỏ vốn chẳng có gì đặc biệt, nhưng con mèo cứ bám theo chúng tôi không rời, ông Thái đi đến đâu nó theo đến đó, kêu meo meo. Khi chúng tôi quay lại ao nước lớn, con mèo cũng theo ông Thái đến bên bờ ao, quãng đường này dài hơn một cây số. Bên bờ ao có vài cây to, trời hè nóng nực, chúng tôi nghỉ chân dưới bóng cây. Trong ao có bốn con trâu đang tắm, kêu "ụm ụm", lúc này con mèo cũng kêu lên, giọng buồn thảm. Tôi chú ý đến con mèo, đôi mắt nó chăm chú nhìn thẳng vào tôi, tôi nhận ra đôi mắt màu xanh trong vắt của nó, như thể có một ý thức muốn nói gì đó đang dâng lên.

Bất chợt, một cách vô thức, từ sự xúc động trong lòng, một ý nghĩ khiến tôi kinh hãi chợt dâng lên - liệu con mèo nhỏ này có lai lịch gì chăng? Thế là, tôi nhắm mắt cầu nguyện, và thấy được con mèo đáng thương ấy hóa thành một chàng trai trẻ, người thanh niên đã ngã xuống trong cơn giãy giụa đau đớn, linh hồn vẫn vương vấn quê nhà, đầu thai vào kiếp mèo, trải qua kiếp nạn nhỏ này rồi sẽ đầu thai sang cõi khác. Ý nghĩ này hiện ra trong lúc cầu nguyện như một sự thật hiển nhiên, làm sao tôi không kinh hãi cho được! Sau khi cầu nguyện xong, tôi khẽ thì thầm với con mèo: "Duyên hết thì tan, sao còn lưu luyến..."

Tất cả chúng tôi đều nhận thấy rõ ràng con mèo muốn đi theo ông Thái về nhà.
Ông Thái nói: "Nhặt được con mèo bên đường, có thể đem về nhà không?"
Không ai trả lời câu hỏi của ông ấy.

Tôi vốn định buột miệng nói "Đem về đi!", nhưng nói được nửa chừng thì dừng lại, bởi vì tôi hiểu đây là duyên phận, duyên phận không thể miễn cưỡng, hãy để mọi việc tùy duyên! Con mèo rồi sẽ có duyên kỳ ngộ của riêng nó, dù ông Thái muốn đem nó về, nhưng sau khi cân nhắc kĩ lưỡng, trong tâm trạng lưu luyến không nỡ, ông đành đặt nó xuống đất.

Con mèo cứ quấn quýt bên chân ông Thái, và ông Thái cũng bế nó lên đến ba lần, bế lên rồi lại đặt xuống, bế lên rồi lại đặt xuống, đây quả thật là vấn đề của duyên phận, vì sao những người khác trong chúng tôi không hề có ý muốn bế nó!

Liệu ý thức trong tâm tôi có đúng không? Tôi đã từng nhắm mắt cầu nguyện, dùng âm nhãn pháp để nhìn thấy quá khứ rõ ràng như tranh vẽ, tôi hy vọng điều này không phải sự thật, trời đất sao mà chật hẹp đến thế! Vì sao trong sự sắp đặt có chủ ý về thời gian, địa điểm, con người, một duyên phận tan vỡ lại nối tiếp một duyên phận tan vỡ khác. Bài viết này, sau khi trở về, tôi vẫn không muốn viết, nhưng tiềm thức cứ thôi thúc tôi phải viết ra, tôi vẫn mãi nhìn thấy đôi mắt của con mèo ấy, nghĩ đến thân hình gầy yếu của nó, từng bước từng bước đi từ bên căn chòi tranh đến bên cạnh ông Thái, và ông Thái không chút đắn đo bế nó lên, đó chính là duyên phận. Tôi muốn nói ra, nhưng lại không thể nói, và hôm nay, không biết con mèo ở Đại Thành ấy còn không?

Viết một bài kệ về việc này:
*Nhân duyên hôm nay hoa đang nở
Tất cả thực ra một tay gieo
Gặp gỡ chẳng hay ao nước trong
Ai nỡ cam tâm rơi bụi trần.*


### 34. Giấc mộng lớn ai giác ngộ trước


Khi viết đến đây trong cuốn "Sức mạnh huyền bí", bỗng nhiên tôi được một linh cảm, Thắng Ngạn mừng rỡ rạng ngời, bước ra khỏi phòng đọc sách, ngẩng đầu nhìn lên bầu trời, thốt lên: "Ta đã tỉnh giấc mộng lớn, ta đã tỉnh giấc mộng lớn, ha ha! Cuộc đời chẳng qua chỉ thế, cuộc đời chẳng qua chỉ thế!" Sự tỉnh ngộ bất chợt này khiến tôi thoát khỏi khí trọc trần gian, sinh ra một luồng khí thanh, như thể đang độc bước giữa mây trắng, nhìn xuống chúng sinh thiên hạ, và cảm thấy phiêu diêu thoát tục.

Đúng vậy, đời người trăm năm thoáng qua như chớp mắt, và việc tôi thay trời truyền chính pháp là điều biết không thể làm mà vẫn làm, tuy phải chịu muôn vàn tai ương nhưng có ai làm tổn hại được tôi một sợi tóc? Phiền não vốn do mình tự tìm, chi bằng học theo Đào Uyên Minh, thảnh thơi ngắm núi Nam. Nghĩ đến đây, lòng rộng mở, mọi oán hận hóa thành vô hình, danh lợi như phân đất, ân oán tựa cơn gió thoảng, đời người chẳng qua chỉ thế, dù có thêm trăm lần tai họa giáng xuống tôi cũng chẳng lay động, ha ha! Tôi đã vượt thoát khỏi cảnh khốn khó, tôi đã hiểu chân lý của vũ trụ càn khôn, tôi cuối cùng đã được tự tại vô ngại, đây mới là niềm vui chân thật, niềm vui vô tận. Giấc mộng lớn ai giác ngộ trước, giấc mộng lớn ai giác ngộ trước đây!

Lúc này tôi tự hỏi: "Lư Thắng Ngạn là ai? Một nhân vật nhỏ bé trong lịch sử, một bộ xương khô nơi hoang dã, một linh hồn cô độc trong cõi vô hình, một người chăn cừu đã dành trọn đời nỗ lực, một người theo thuyết hữu thần, hay cái tên Lư Thắng Ngạn này chẳng có chút ý nghĩa nào? Có lẽ vài chục năm sau, người ta sẽ thấy một bia mộ hết sức bình thường, khắc dòng chữ "Mộ phần cụ cố Lư công Thắng Ngạn", cỏ xanh mọc um tùm che khuất hai chữ Thắng Ngạn, người qua kẻ lại chẳng để tâm, đầu óc trống rỗng, khi ấy, trời xanh vẫn là trời xanh, đất vẫn là đất. Ha ha! Vậy Lư Thắng Ngạn là ai?"

Lúc này tôi tự hỏi: "Phải chăng Lư Thắng Ngạn là kiếp sau của Lư Sinh trong giấc mộng kê vàng? Lư Sinh ấy sau khi tỉnh mộng đã vào núi biệt tích. Còn Lư Thắng Ngạn này đã ngộ được cuộc đời ở tuổi ba mươi hai, không cần phải ngồi bên sông Vị học theo Khương Tử Nha câu cá nữa, cứ thuận theo tự nhiên, hân hoan thu xếp đồ câu vào núi sâu. Cũng không cần bắt chước Gia Cát Lượng, biết không thể làm mà vẫn cố làm, lúc lâm chung còn phải cầu sao, chí lớn chưa thành, khom mình đến chết. Ha ha! Khương Tử Nha đâu rồi? Gia Cát Lượng đâu rồi? Lư Sinh đâu rồi? Và Lư Thắng Ngạn này rồi sẽ về đâu?"

Tôi viết kệ rằng:
*Một giấc mộng lớn tựa nước trôi
Tranh danh đoạt lợi vẫn chưa thôi
Nhìn thấu thế tình thông nhân quả
Ngoảnh đầu bật cười tóc bạc rồi.*

Viết xong bài kệ này, khi nghĩ đến cuốn "Sức mạnh huyền bí" này vẫn còn nhiều bí pháp chưa được trình bày hết, thật ra không nên dừng lại ở đây. Tuy nhiên, trong các bí pháp có những điều thực sự không thể truyền bừa bãi. Nếu truyền bừa bãi sẽ để lại hậu họa không nhỏ cho đời sau, bởi lòng người cuối cùng chưa thể hoàn toàn thiện. Việc công bố tất cả đại pháp, đối với tôi, là tiết lộ hết thiên cơ, không giữ lại điều gì và hoàn toàn công khai, nhưng những kẻ xấu xa có chủ ý ắt sẽ lợi dụng điều này để lừa gạt người khác. Vì vậy tôi vẫn nên giữ lại một số điều thì tốt hơn, tránh việc xúc phạm khiến trời phẫn nộ. Dù tôi không sợ hãi điều gì, nhưng các vị tiên sư và đạo trưởng cũng có đôi chút e ngại. Cứ để mọi việc thuận theo tự nhiên vậy! Ha ha! Giờ đây tôi đã nhìn thấy mọi việc xa hơn, thông thoáng hơn, và vô cùng hạnh phúc.

Tôi luôn cho rằng, một con người sống giữa trời đất, chịu sự chi phối của ba yếu tố: thứ nhất là thiên cách, thứ hai là địa cách, thứ ba là nhân cách. Nói một cách đơn giản, thiên cách chính là nhân quả, địa cách chính là môi trường, và nhân cách chính là nỗ lực của con người. Ngày nay, muốn sống được phải dựa vào sự nỗ lực không ngừng của bản thân, đó chính là nỗ lực của con người. Còn việc phá vỡ nhân quả và vượt qua môi trường, tuy khó khăn, nhưng người có chí ắt làm được. Thắng Ngạn truyền pháp có thể phá vỡ nhân quả, vượt qua môi trường, đạt đến cảnh giới giấc mộng lớn ai giác ngộ trước. Đến được cảnh giới này, vạn sự buông bỏ, mọi thứ quay đầu thành không, mây trắng gió xanh, trời đất như hạt cải. Đến được cảnh giới này thì đạo của Lão Tử Trang Tử ẩn trong ngói đất phân đá cũng có thể lĩnh hội được ý nghĩa chân thật.

"Sức mạnh huyền bí" là tác phẩm thứ 26 của tôi, đã bước được 26 bước trên con đường này rồi. Có người mang đến 200.000 đồng muốn cải thiện cuộc sống cho tôi, tôi mỉm cười từ chối ngay. Có người muốn xây cho tôi một ngôi chùa và mời tôi làm trụ trì, tôi cũng từ chối ngay. Ở Ngũ Cổ, Đài Bắc, có người nhường cả một ngôi chùa cho tôi làm trụ trì, tôi cũng từ chối, bởi niềm vui đích thực của cuộc sống không nằm ở nhiều hay ít tiền bạc, và ngôi chùa của tôi ở ngay trong tâm. Không lo không có chùa, chỉ lo không có đạo! Một mình tôi tự tại tiêu dao, chùa ở trong tâm, đi đâu cũng mang theo, sao phải dùng ngôi chùa hữu hình để trói buộc chính mình chứ!

Hiện giờ tôi sống trong một căn nhà nhỏ hai phòng ngủ một phòng khách, ăn rau xanh đậu phụ, mặc đồng phục công vụ, ra đường đi xe đạp cũ, mỗi bước đạp xe là một câu niệm Phật, thật là vô lo vô nghĩ, hạnh phúc biết bao! Tôi không muốn ở nhà cao tầng, không muốn mặc gấm vóc lụa là, không ngồi xe sang trọng, không ăn sơn hào hải vị, chỉ mong có một chiếc chiếu cói, nằm dài trong sân nhỏ, ngắm nhìn tinh tú trên trời, đếm từng ngôi sao lấp lánh.

Giấc mộng lớn ai giác ngộ trước?
Vạn pháp vốn không pháp.
Lư Thắng Ngạn, ngươi là ai?


### 35. Sự tái hiện của tiềm thức


(Bức thư quý giá và kỳ lạ này được gửi từ đoạn phía Tây đường Tự Do, thành phố Bình Đông, người gửi ký tên Dục Trí, có căn duyên lớn.）

*Kính gửi tiên sinh Thắng Ngạn soi xét.
Sau khi đọc tác phẩm về linh học của thầy, tôi không khỏi hoan hỷ và ngưỡng mộ trước thành tựu của thầy. Tôi biết hiện nay thầy đang đóng cửa không tiếp khách, vì người đến thăm đông đảo, thư từ như bông tuyết, dù thầy có tâm Bồ Tát, nguyện lực Địa Tạng, lòng độ lượng như Di Lặc, chắc hẳn cũng không chịu nổi sự quấy rầy, nhất là những khó khăn từ người tò mò và sự quấy phá của kẻ xấu, tôi thực sự thông cảm hoàn cảnh của thầy. Ban đầu tôi thật không muốn chen chân vào đống thư từ để làm phiền việc tu tập của thầy, nhưng tôi có một vấn đề về tiềm thức kỳ lạ đã khiến tôi phiền não từ lâu, mãi không thể giải quyết, vô cùng khổ sở. Dù trên đời có nhiều bậc cao nhân, nhưng chỉ có thầy mới có căn huệ lớn như vậy.*

*Tâm thức của tôi là như thế này: Tôi có thể nhìn thấy rõ ràng những kiếp quá khứ của mình, biết rõ nhân duyên nào đã đưa mình tái sinh làm người, và làm thế nào để tái sinh - tất cả đều rõ ràng trong tâm trí. Đó là thực hay hư, là trò đùa hay không, thật khó mà khẳng định. Kể ra nghe như chuyện thần thoại, mơ hồ như giấc mộng. Nhưng nếu bảo là hư ảo, thì nó lại rõ ràng như "uống nước lạnh giữa trời đông, từng giọt thấm vào tận tim". Tôi vốn sinh ra đã có tư tưởng xuất thế, cả đời chưa từng gần gũi với người khác phái, về tiền bạc thì càng nhìn thông thoáng, sống chết không vướng bận, tư tưởng hoàn toàn tách biệt với việc mưu cầu danh lợi của người đời nay. Người khéo tôi vụng, người gian tôi thẳng, người xảo trá tôi chân thành, người tranh giành tôi nhường nhịn. Tôi đã chịu không ít thiệt thòi, cũng nhận không ít khinh miệt và sỉ nhục, nhưng tôi luôn thuận theo tự nhiên, giữ lòng thành kính, không để tâm, không so đo, không quan tâm. Bởi trong cõi mờ mịt, dường như có một thông điệp không ngừng nhắc nhở tôi rằng "rời khỏi một bước này, sẽ không có chỗ chết". Trong xã hội cá lớn nuốt cá bé, mạnh được yếu thua này, thật lòng mà nói, thái độ như vậy rất khó để cạnh tranh và tồn tại. Tôi có thể an nhiên tự tại, nhưng người khác thì không. Tiên sinh đã từng bị kẻ xấu hãm hại, nên tôi chỉ có thể chia sẻ kinh nghiệm này, mong rằng chúng ta cùng nhau khích lệ.*

*Điều tôi biết về nhân duyên kiếp sau như thế này: Kiếp trước tôi định cư tại một nơi (không biết là cảnh giới nào), không có hoa tươi cỏ đẹp, không có xe ngựa cung điện, không có các loại hương thơm vi diệu, không có cờ xí phướn lọng, không có thọ tưởng hành (không dám vọng đoán có hay không có thức), thân tâm tịch diệt, thế giới hiện tiền trước mắt, nội tâm tròn sáng như gương, mầu nhiệm quán sát thế giới, trùm khắp hư không, cảnh giới này không có sự phân biệt người và ta, nhưng mỗi cái đều tùy duyên tác dụng không ngăn ngại nhau, đã không có người và ta, tự nhiên không cần giao tiếp, rõ ràng trong tâm, thông suốt vô ngại. Không có văn tự, không áo không ăn không đi không đến, núi sông đất trời, mặt trời mặt trăng tinh tú, không gì không nằm trong bụng, gió mát mưa rơi, tùy tay vận dụng, tâm vi diệu tác dụng vi diệu, thanh tịnh vô vi, giải thoát tự tại. Đoạn văn này thường xuất hiện trong ý thức của tôi, phải chăng đó là thế giới mà bản thân từng trải qua? Không biết đó là cảnh giới gì?*

*Có người bảo với tôi (không biết là ai) rằng: "Cảnh giới của ngươi rất tốt, chỉ là chưa rốt ráo. Người kia đã thuận theo nguyện mà xuống rồi! Sao ngươi không xuống, một là để giúp thêm sức cho người ấy, hai là để giúp ngươi thành tựu." Tôi im lặng rồi gật đầu. Đoạn đối thoại này thực ra không phải là đối thoại, vì phải miễn cưỡng dùng văn tự nên tạm viết như vậy.*

*Thế là tôi để cho ái dục bùng cháy trở lại, khuấy động phiền não, cố ý phá hoại bản thể thanh tịnh, và dần dần mê muội. Đã mê muội thì dần dần hiện ra si mê, tuy vẫn còn có thể dùng trí tuệ để trò chuyện với người khác. Nhớ rằng bỗng có người nói với tôi: "Ngươi đã muốn đầu thai, nhưng chưa biết ngươi muốn làm người giàu có hanh thông hay người nghèo khổ khốn đốn." Tôi đáp: "Làm người bình thường hơi khổ một chút là được!" Thế là tôi đi đầu thai!*

*Đúng lúc sắp thụ thai, tôi mở con mắt trí tuệ quan sát và biết được rằng kiếp này sẽ nghèo khổ cơ cực, vất vả triền miên không có ngày ra, không hợp với ý nguyện của tôi, nên tôi lấy lại chánh niệm và rút lui. Lúc đó có người nói với tôi: "Người phụ nữ này đã đến kỳ thai nghén, nếu ngươi không hợp ý, chi bằng để nó trôi qua và đợi lần sau?" Tôi đáp: "Được." Rồi tôi thấy một nhóm quỷ nhỏ đứng bên cạnh người phụ nữ, chờ cơ hội xô ngã bà ấy, thai nhi chảy máu và chết, tôi biết đó là một bé trai. Đây là nhân duyên lần đầu tiên tôi không đầu thai thành công.*

*Tôi luôn ở trong chính định khi trò chuyện với người khác, vì biết rằng việc đầu thai không ảnh hưởng đến trạng thái tĩnh lặng và bất động của mình. Chẳng bao lâu sau, có người nói với tôi: "Người phụ nữ này đã được định sẵn là mẹ của ngươi, nay lại mang thai, ngươi nghĩ sao?" Có người bên cạnh đáp: "Thai này đã có người đầu thai rồi!" Người trước nói: "Không sao, bảo họ rời đi là được!" Rồi quay sang nói với tôi: "Thai này ngũ quan đoan chính, chỉ có điều thời trẻ sẽ vất vả khổ cực, thật chẳng có gì thành tựu, như chiếc thuyền con giữa sóng to gió lớn, không có ngày yên ổn, qua tuổi trẻ mới thuận lợi được." Tôi quan sát thấy đúng như vậy, bèn đáp: "Được thôi!" Người ấy nghe tôi trả lời như thế, không kìm được thốt lên: "Lành thay! Ngươi cứ đi không sao, dù sóng gió có cao, nhưng từ đây gặp hung hóa cát, chúng ta sẽ luôn bảo hộ không để ngươi lạc mất!" Tôi liên tục vái tạ. Trong không trung chợt ẩn chợt hiện, tôi thấy một đứa trẻ (không rõ trang phục) vui vẻ leo xuống thang, có người bên cạnh nói với tôi: "Đứa trẻ này là anh của ngươi." Tôi lại vái tạ lần nữa. Xoay mình đi xuống, trong lòng tràn đầy từ bi, hiền hòa, cung kính, trang nghiêm, mẹ tôi không hay biết tôi đã đến. Sự kết hợp của lục căn lục thức, cho đến khi ra khỏi thai mẹ, mở mắt nhìn thế giới bên ngoài, tai bắt đầu nghe được âm thanh, tất cả đều không quên, rõ ràng trong tâm.*

*Kính thưa tiên sinh Thắng Ngạn, đây là nhân duyên trước và sau khi tôi đầu thai, có thể làm chứng trước chư thần. Nếu không phải sự thật, thì chắc chắn tôi đã bị rối loạn thần kinh rồi. Tuy nhiên, tôi có thể nhớ rõ ràng nhân duyên ra đời của mình, tâm trí sáng suốt, biết được từ nhỏ, chỉ là cứ thắc mắc trong lòng và cho đó là ảo giác. May mắn có được cuốn sách tâm linh của thầy chỉ đường sáng tỏ, giúp tôi giải tỏa được những nghi hoặc về nhân duyên đầu thai, nếu không thì chắc tôi sẽ thắc mắc cả đời. Trong tâm tôi luôn sáng suốt minh mẫn, không hề tự ti, bình an thanh thản. Thầy đức hạnh cao thâm, chắc chắn có đại năng phá giải những khó khăn của tôi, giải tỏa nỗi thắc mắc khổ sở của tôi. Mong Thầy đừng bỏ mặc tôi, tôi vô cùng biết ơn.*

*Dục Trí kính thư.*

🌟

Câu trả lời của tôi cho bức thư này rất đơn giản, chỉ có mấy câu như sau:
Một, cảnh giới này ở cõi trung giới.
Hai, nhân duyên của anh không tệ, có thiện căn lớn.
Ba, đây không phải ảo giác, mà là sự hiển hiện ký ức tiền kiếp, hãy tự mình thận trọng hành động, cứu nước giúp người, lập chí hướng, để trở về cảnh giới thần linh cao hơn.
Bốn, ba năm sau, có duyên tự khắc gặp nhau.


### 36. Linh động chân thực


(Bức thư này được gửi từ đường Văn Xương, thành phố Tân Trúc, người ký tên là Di Đình. Việc ngồi thiền tạo ra linh động là một minh chứng cho trị liệu bằng tâm linh. Nếu tiếp tục tu đạo, ắt sẽ thành tựu lớn.)

*Kính gửi Thầy Liên Sinh.
Tôi từ lâu ngưỡng mộ đức độ của Thầy nhưng chưa được nghe lời chỉ dạy, lòng luôn thao thức. May mắn thay, vào tháng Ba âm lịch, tôi được đọc cuốn sách quý hiếm nghìn năm có một "Khởi Linh Học" và các sách tâm linh khác. Từ đó tôi học ngồi thiền không ngừng nghỉ. Vào ngày 27 tháng 3 âm lịch, tôi đặc biệt ngồi thiền khai mở linh cơ, quả nhiên đã xuất hiện hiện tượng linh động. Khi ngồi thiền đúng pháp, đầu lắc trước sau khoảng năm phút, hai tay chắp trước ngực với đầu ngón tay chuyển động lên xuống, ngày nào cũng như vậy. Tiếp đến ngày 11 tháng 4 âm lịch, tôi bắt đầu bước đầu tiên của luyện linh là "trúc cơ". May mắn được ơn trên linh ứng, Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn từ bi ban cho phép luyện thân, thật như mẹ hiền dạy con thơ, từ nông đến sâu: bụng không tốt thì luyện bụng, tay chân yếu thì luyện chạy bộ, khi đã thuần thục rồi thì chuyển sang bài mới.*

*Hiện nay, tôi đã dễ dàng và hoàn toàn từ bỏ được (sau nhiều lần thất bại) thói quen xấu hơn 30 năm uống rượu. Trước đây, tôi phải uống hai ly rượu mới ngủ được, lâu dần sinh nghiện. Sau khi bỏ rượu, tuy cơ thể tạm thời suy yếu khoảng một tuần, nhưng sau đó ăn uống dần dần tốt hơn, ngủ ngon hơn, sức khỏe hoàn toàn bình phục, mặt mày hồng hào. Nhân lúc có cảm xúc, tôi quyết định cạo đầu để thể hiện quyết tâm một lòng hướng về đạo, tu tập Phật pháp.*

*Vào ngày mùng 5 tháng 5, thiết nghĩ nhân dịp ngày khai thiên lập địa và lễ Đoan Ngọ một năm chỉ có một lần, dù biết năng lực mình còn non kém, tôi vẫn quyết tâm tu tập pháp môn cảm ứng. Từ ngày Đoan Ngọ trở đi, mỗi sáng 6 giờ, tôi ngồi thiền đúng pháp trong khoảng 45 phút đến 1 tiếng. Ban đầu luyện tập, ánh sáng vàng kim chợt hiện chợt ẩn, sau một tháng, ánh sáng vàng kim trước mắt đã ổn định. Tuy chưa thấy được mây trắng từ xa đến, tôi vẫn giữ tâm kiên định lâu dài, tinh tấn chuyên cần luyện tập, không dám cầu mong quá nhiều, chỉ thuận theo mệnh trời.*

*Tu tập pháp luyện thân là động, còn tu pháp cảm ứng là tĩnh. Mỗi sáng một tĩnh một động khiến thân tâm sảng khoái suốt ngày, còn hơn cả uống thuốc bổ. Nếu có thể tu tập suốt đời, dù không đủ phước duyên thành đạo, cũng chắc chắn đạt được sức khỏe dồi dào, trường thọ. Ngày sau nếu có thành tựu, đều là nhờ ân đức của Thầy ban cho. Tôi biết rõ sư phụ không thích nhận đệ tử, để tránh quấy nhiễu tâm thanh tịnh vô vi, nhưng những gì tôi đang tu tập đều từ những điều Thầy truyền dạy, làm sao có thể không bái dưới cửa Thầy để tôn sư trọng đạo. Nếu không sẽ trở thành kẻ bội nghĩa vong ân, đáng bị đọa địa ngục, làm sao dám mong cầu giải thoát sinh tử. Tôi năm nay 54 tuổi, xin viết tâm nguyện như sau:*

*1. Hướng về đạo - Vào tháng 3 năm 1972, tôi bái nhập môn phái Côn Lôn Tiên Tông (tại Đạo Viện Côn Lôn, Kiếm Đàm, Bắc Thị), theo học với sư phụ Thượng Diệu Hạ Chân (tên thế tục là cụ Lưu Bồi Trung, năm ngoái tháng 3 đã viên tịch ở tuổi 93). Khi mới vào cửa học đạo, tôi được học về lục thần thống nhất, thông tam tiêu (cửu chuyển, luyện tinh hóa khí, luyện khí hóa thần), công phu luyện khí cùng phương pháp dưỡng sinh trong sách của Sư Tôn đều có những điểm tương đồng kỳ diệu, rồi đến công phu tĩnh tam tài hợp nhất, chuyển hà xa (tu luyện ngoại tuyến tam sắc - đỏ, trắng, tím), v.v. Tất cả đều nhờ vào sự tự lực luyện tập chăm chỉ, tuy chỉ học được phần da lông nhưng thân tâm đã được lợi ích rất nhiều.*

*2. Tự giác - Bản tính thích yên tĩnh, nghiên cứu sâu sắc sự việc, thích vận động thể chất, chịu khó nhẫn nại, một đời bình dị cần kiệm tự túc, làm lợi cho mình và người. Tuy không có công đức lớn để tự an ủi, nhưng cũng không có lỗi lầm hại người lợi mình trái với thiên lý và lương tâm. Từ khi học đạo, thấu triệt rằng danh lợi và dục vọng đều như khói mây, thân tạm bợ khi đói lạnh được no ấm là đủ. Tham dục là đầu mối của vạn điều ác. Đi đúng đạo như nồi niêu điều hòa ngũ vị thành món ngon, con cháu đời sau vạn đời an lành. Trái đạo thì như nước dập lửa, thân bại danh liệt. Người tu đạo lấy tinh-khí-thần làm tam bảo, xem việc mất tinh thần như mất mạng. Về sinh lý đã học được đại pháp vững chắc như thành đồng vách sắt, về tâm lý một khi thấy nữ sắc, đã không phải vì cầu con thì từ tận đáy lòng tránh xa ba dặm! Nay không cầu danh, không tham lợi, không mê sắc, không duyên cờ bạc, không say rượu, thật như Võ thánh vượt năm ải, chém sáu tướng, thông suốt đại đạo.*

*3. Phát nguyện - Mùa đông năm ngoái, tôi đã mua từ Nhật Bản một máy chiếu tia tổng hợp đỏ, trắng, tím. Người bệnh không cần tiêm thuốc, uống thuốc hay phẫu thuật (ở Nhật, các bác sĩ Tây y ngại thiết bị này cướp mất việc làm nên đã có tuyên truyền ngược). Chi phí năng lượng mỗi ngày chỉ từ 30 đến 80 đồng, có thể chữa trị trăm bệnh và bảo vệ sức khỏe. Nguyên lý điều trị là các tia sáng này chiếu vào cơ thể người, tăng cường "khả năng kháng bệnh" trong cơ thể. Nếu khả năng kháng bệnh trong cơ thể mạnh mẽ thì trăm bệnh tự khỏi. Qua 40-50 năm thử nghiệm tại Nhật Bản, thiết bị này đã chữa khỏi tận gốc nhiều căn bệnh mà Tây y hiện đại cho là nan y như các loại ung thư, suy thận, chấn động não. Thậm chí còn có thể tái tạo xương ếch, tái sinh tinh hoàn gà thiến, cấp cứu các vết thương nặng trong ngoài, phục hồi các chức năng nội tạng suy yếu. Ngoài ra còn có tác dụng giảm đau, ngứa và các triệu chứng khác, thực sự có công hiệu cải tử hoàn sinh.*

*Từ xưa có câu "Cứu một mạng người, còn hơn xây tháp Phật bảy tầng", công đức thật lớn lao. Nay có thiết bị này trong tay, nếu được các lương y khéo léo vận dụng, muốn tích lũy công đức bên ngoài thì cơ hội cứu người luôn có. Tuy nhiên, lòng người không còn như xưa, cần phải có sự sáng suốt nhận biết trước, những trường hợp có thể cứu, có thể chữa và chữa được tốt thì mới nên ra tay giúp đỡ. Nếu không, gặp phải những người không thể cứu, không thể chữa, hoặc chữa không khỏi do nghiệp chướng, họ sẽ quay lại cắn một miếng, đó chính là tự chuốc họa vào thân. Như hiện nay tai nạn giao thông thường xuyên xảy ra, thấy người chết mà không dám cứu, chính là vì sợ bị quay lại cắn một miếng vậy.*

*Than ôi! Nghĩ đến vô số nạn nhân cần được cứu giúp, bệnh nhân đang rên xiết đau đớn chờ được cứu chữa trên thế gian này, nếu có được pháp cảm ứng trợ giúp thì có thể yên tâm thực hiện, việc làm sẽ đạt hiệu quả gấp bội.*

*Nguyện xin trời thương ban cho pháp cảm ứng cùng với sức mạnh của máy chiếu tia. Tôi nguyện suốt đời thuận theo thiên lý, thành tâm tuân theo đức của trời đất, không tiếc sức lực, đi khắp nơi tìm kiếm người gặp khó khăn cần được cứu chữa để hành đạo, tuyệt đối không vì danh, không vì lợi, chỉ cầu được giải thoát sinh tử, tiến thêm một bước đến quả lành. Nếu có nửa lời dối trá, xin chịu năm sét đánh vào đỉnh đầu.*

*Tại đây xin thề.
Đệ tử Di Đình kính thư.*

🌟

Nhận được thư này, viết hai bài kệ cảm thán rằng:

Bài thứ nhất:

*Khởi linh quan trọng ở chúng sinh
Quả đạo tự nhiên chớ tranh giành
Thiên ma giáng thế ưa đấu đá
Thành tâm nhẫn nại tụ tinh anh.*

Bài thứ hai:

*Hy sinh tiểu ngã lui về Bắc
Khai tông lập đức giữ quốc gia
Thiên lý rạng ngời thần cảm ứng
Thu phong thu vũ nở cúc hoa.*


### 37. Yoga thất trùng luân


(Thư này gửi từ đường Nhân Ái, thị trấn Trúc Đông, huyện Tân Trúc, người gửi ký tên Vân Tán, trong thư đề cập đến yoga bảy luân xa, đây quả là một bậc có đạo.)

*Xin Đại sư Thắng Ngạn minh giám.
Tôi đã mua toàn bộ các cuốn sách tâm linh của Đại sư, đọc đi đọc lại nhiều lần, thật sự là những tác phẩm tâm huyết vĩ đại, giải thích rất chi tiết về mối quan hệ âm dương mà người thường không thể hiểu được, đặc biệt là lộ trình từ khởi linh đến chứng đạo cũng được giải thích rất tường tận, chỉ là người đời có duyên pháp và kiên tâm để tham ngộ hay không mà thôi. Trong cuốn "Khởi Linh Học" của Đại sư, trang 44 có viết "Từ Hải để luân đi lên, từ Hải để luân tiến vào vòng Thổ luân, rồi từ vòng Thổ luân vào vòng Khí luân, rồi từ vòng Khí luân vào vòng Thiên luân, rồi từ vòng Thiên luân vào vòng Không luân, từ vòng Không luân thoát khỏi tam giới hỏa trạch (xuất thần)." Những tên gọi này chắc hẳn là những vị trí nào đó trong cơ thể người, tôi không có tài, chưa hiểu rõ vị trí của những tên gọi mà Đại sư đề cập, vì vậy không dám tùy tiện vận khí và vận linh.*

*Kính mong Đại sư vẽ một sơ đồ (cơ thể người) và chỉ rõ vị trí cùng tên gọi. Thêm nữa, thế giới Cực Lạc của Đại sư chỉ ẩn trong một hạt thóc, đệ tử chỉ biết mỉm cười, quả thật không hổ danh là bậc tôn sư linh tiên.*

*Sách "Khởi Linh Học" trang 159 có đề cập đến sư phụ Lưu Bồi Trung - đời thứ 13 phái Côn Lôn, chính là sư phụ của đệ. Đệ đã bái sư nhiều năm, chỉ tiếc là nghiệp chướng sâu nặng, bận rộn với công việc, không thể thường xuyên đến học hỏi. Nay thầy đã quy tiên, trở về cõi tiên, thật đau xót vô cùng. May mắn sư phụ đã truyền lại hai cuốn "Tiên Tông Bí Lục" và một cuốn "Lục Thần Lục Thông", thực sự là con đường sáng để tu đạo chứng quả. Nội dung có hình vẽ và giải thích chi tiết về các huyệt đạo, chỉ là tên gọi các huyệt đạo không hoàn toàn giống với của Đại sư, như ba đường phong thủy hỏa gồm có linh đài, nguyên thần, khí hải, âm kiều, vĩ lư, tiên cốt, giáp cốt, canh niên, ngọc chẩm, huyền quan và ý dẫn đường (thận). Đệ rất trân quý sách "Khởi Linh Học" của Đại sư, nhất định sẽ nỗ lực tu trì, nên mạo muội làm phiền xin Đại sư vẽ rõ sơ đồ cơ thể người và ghi chú tên các huyệt đạo, chỉ vì sợ tu trì sai lệch, nên đánh bạo viết thư quấy rầy, kính mong đừng trách tội.*

*Trong lúc rảnh rỗi, đệ thích vẽ thủy mặc. Nay may mắn được tham gia cuộc thi tuyển chọn tác phẩm toàn tỉnh tại Trung tâm Giáo dục Xã hội Chương Hóa, có hai bức tranh được chọn (Tùng Diên và Sơn Thủy), sẽ trưng bày công khai từ ngày 3 đến ngày 7 tháng 8 năm 65. Khi Đại sư có dịp đến Chương Hóa, kính mong ghé thăm và chỉ giáo. Kính chúc pháp hỷ.*

*Vân Tán kính bái.*

🌟

Tôi nhận được bức thư này và xin nói rõ một vài điểm như sau:

Thứ nhất, nói về mối quan hệ giữa trời và người, những gì kết hợp đều giống nhau - trời thì vô cùng vô tận và con người cũng vô cùng vô tận, đây là nói về "tâm", tức là "thiên nhân hợp nhất". Tuy nhiên, nếu con người bị gò bó trong một thân xác nhỏ bé, thì con người sẽ trở nên vô cùng nhỏ bé. Trong vũ trụ có các không luân, khí luân, thủy luân, hỏa luân, thổ luân... còn trong cơ thể con người có xương cốt, nhiệt độ, nước, hơi thở, tâm linh. Điều thú vị hơn nữa là nước chiếm 71% trên Trái đất, và nước trong cơ thể người cũng chiếm 71% tổng trọng lượng, vì vậy thân thể con người chính là một vũ trụ thu nhỏ. Nguyên lý của yoga thất trùng luân vẫn nằm trong sự "thiên nhân hợp nhất" này.

Thứ hai, về yoga bảy luân xa, trên thị trường có một cuốn sách giải thích rất chi tiết mà tôi đã từng đọc, đó là "Kundalini Yoga". Do đã có loại sách này trên thị trường nên tôi không tiện giải thích thêm nhiều. Ngoài ra, trong Đạo gia tu đạo cũng chỉ ra nhiều huyệt đạo trên cơ thể người, điều này có liên quan mật thiết với yoga bảy luân xa. Tuy nhiên, có thể hai bên dùng tên gọi khác nhau nhưng thực chất đều là một, không cần phân biệt quá rõ. (Bảy luân xa là: Hải để luân, Tề luân, Tâm luân, Hầu luân, Mi tâm luân, Đỉnh luân, Phạn huyệt luân.)

Thứ ba, có người nói Đạo chính là sự tĩnh lặng, cũng có người nói Đạo là sự vận động của khí cơ, một bên chủ tĩnh, một bên chủ động. Nhưng thực ra Đạo phải ở giữa động và tĩnh, chính là từ tĩnh tọa mà cầu được bát nhã (trí huệ), và trong sự linh động phát xuất từ trí huệ mà xuất thần (xuất thần ở đây chỉ xuất dương thần, không phải xuất âm thần). Về việc thần tiên chứng đạo, tôi không muốn nói cảnh giới này cao đến mức nào, tôi chỉ nói rằng, khi đạt đến xuất dương thần, được xem là chứng đắc Đạo thứ nhất.

Thứ tư, khi học yoga, có người cho rằng đó là pháp tu Tiểu thừa, không thể xem là Phật giáo Đại thừa. Thực ra, sau khi suy nghĩ lâu, tôi vẫn thấy rằng con đường tu hành phải bắt đầu từ việc tu chính mình, giống như ngọn nến, phải tự thắp sáng mình trước rồi mới có thể chiếu sáng cho người khác! Yoga và công phu Đạo gia Trung Hoa có mối liên hệ rất lớn với nhau, tại sao chúng ta không bắt đầu từ việc dưỡng sinh và rèn luyện thân thể, rồi sau đó mới độ khắp chúng sinh.


### 38. Người có bàn tay phát quang


(Bức thư này được gửi từ Vancouver, Canada, từ ông Tiêu Đôn. Có một hiện tượng kỳ lạ xảy ra với ông ấy - các nhà nghiên cứu từ phòng nghiên cứu về linh hồn của một trường đại học Mỹ đã chụp được hình ảnh đôi tay của ông, và đôi tay này có thể phát ra ánh sáng.)

*Thưa Lư tiên sinh! 
Xin thứ lỗi cho sự mạo muội khi tôi viết thư này. Bởi vì chúng ta quá xa lạ, và ngài có rất nhiều người ngưỡng mộ, tôi chỉ như một hạt cát giữa biển khơi, chắc chắn khó có thể nhận được sự chú ý của ngài. Tuy nhiên, kể từ khi Chủ tịch Hiệp hội Phật giáo Thế giới Vancouver, ông Lữ Lạc Cửu, và ông Phùng Công Hạ - thành viên ban quản trị, từ Đài Loan trở về đây, mang theo một số tác phẩm của ngài và kể về nhiều hiện tượng kỳ diệu mà họ đã chứng kiến, sau khi được nghe, tôi không thể kìm nén cảm xúc, nên phải cầm bút viết thư để bày tỏ tâm tình. Về việc bức thư này có thể làm tốn thời gian và tâm trí của ngài, kính mong ngài thứ lỗi vạn phần.*

*Tôi họ Tiêu tên Đôn, là người gốc Hoa sinh ra tại Canada, từ nhỏ đã buôn bán kiếm sống và biết chút ít tiếng Trung. Cha mẹ tôi đều là những Phật tử thuần thành. Tám năm trước, một ngày nọ, khi tôi đang ngồi trong phòng ăn chờ bữa cơm, bỗng nhiên trong tâm thức hiện lên một khoảng trống xa lạ, mọi vật xung quanh dần trở nên xa xăm, trên không trung xuất hiện một tòa cung điện tuyệt đẹp, tôi thấy Quan Thế Âm Bồ Tát quen thuộc, khoác áo cà sa trắng như tuyết, trang nghiêm thiêng liêng đứng trên mây, Ngài đón gió hướng về phía tôi, dùng cành dương liễu phất ba lần lên không trung. Từ đó, sau khi tỉnh lại (như vừa mơ giữa ban ngày), dường như linh khiếu của tôi đột nhiên được khai mở.*

*Một lần khác trong giấc mơ, tôi thấy một vị đạo nhân mặc áo xanh từ từ hạ thân xuống từ vách núi đá, sau khi tỉnh dậy, tôi đã hỏi ông Ngô Bội Lâm từ Hội nghiên cứu Phật Đạo Chính Thiện. Ông ấy cùng tôi nhập định quan sát và trả lời rằng: "Vị đạo nhân áo xanh chính là linh quang của Tổ sư Lữ Động Tân, linh quang của Ngài sẽ chỉ dẫn cho ông, giúp ông làm công đức cho nhà Phật." Sau hai lần kỳ lạ này, từ đó về sau, tôi càng ngày càng có nhiều tâm đắc về những việc thuộc cõi linh, và phát triển được giác quan thứ sáu. Một số việc trong tương lai hay chưa từng xảy ra, tôi đều có thể thấy trước hoặc dự đoán được, và những điều này đều linh nghiệm một cách khác thường.*

*Đối với một số bệnh nan y - ví dụ như chứng rối loạn thần kinh giai đoạn đầu, hoặc một số trẻ em bị chứng loãng xương bẩm sinh khiến bác sĩ cũng không thể giúp các em đi lại được, nhưng sau khi tôi chữa trị qua ảnh hoặc từ xa, mỗi ngày sáng tối tôi đều thầm tụng kinh chú trước ảnh của họ, khoảng ba tháng sau, phép màu đã xảy ra, họ đều khỏi bệnh. Đây thực sự là điều kỳ diệu, và những ví dụ như thế này nhiều không kể xiết.*

*Vì thế, sau khi Hội Phật giáo Thế giới Vancouver được thành lập dưới sự tài trợ và nỗ lực của ông Lữ Lạc Cửu, ông Phùng Công Hạ và những người khác, tôi cũng hân hạnh được làm một trong những thành viên ban quản trị. Mỗi Chủ nhật, ngoài việc mời các cư sĩ thuyết pháp, tôi còn tự nguyện tụng chú Đại Bi gia trì nước và dùng tay chữa bệnh cho các hội viên tại hội Phật giáo. Phòng nghiên cứu về tâm linh của một trường đại học Mỹ đã cử người đến chụp ảnh đôi tay của tôi trong lúc chữa bệnh, và họ phát hiện ra rằng đôi tay tôi tỏa ra ánh sáng mạnh mẽ.*

*Sau khi đọc nhiều cuốn sách tâm linh của tiên sinh, tôi đã hiểu sâu sắc rằng việc khai mở linh khiếu của người đang sống trên đời này thật không dễ dàng. Như tiên sinh đã nói, nếu không phải là nhân duyên từ kiếp trước còn đó, làm sao có thể được trời ưu đãi? Nếu không có tấm lòng đại từ đại bi, làm sao Phật tổ và chư thần thánh có thể ban cho ta những cơ duyên và cơ hội hiếm có như vậy! Tiên sinh từng nói, tất cả tôn giáo - Đạo giáo, Cơ Đốc giáo, Phật giáo, v.v... đều lấy việc cứu độ nhân sinh làm mục đích. Và người theo đạo Phật, khi làm việc thiện, không cầu danh, không cầu lợi, chỉ mong có thể độ khắp chúng sinh. Sự chân thành ngay thẳng và hành động từ bi của tiên sinh chính là phong thái của bậc quân tử đức độ. Tôi không dám nói là tình cờ mà tôi cũng có cùng tâm đắc với tiên sinh, chỉ có thể nói là có chút tương thông về mặt tâm linh mà thôi. Vì vậy, tôi mạo muội viết thư này, kính mong tiên sinh khi rảnh rỗi có thể chỉ dạy đôi điều. Ngày sau nếu có duyên, nhất định tôi sẽ đến Đài Loan để được nghe lời chỉ giáo.*

*Kính chúc Phật an.
Tiêu Đôn kính bái.*

🌟

Khi nhận được bức thư này, tôi chợt nhớ đến ông Lữ Lạc Cửu. Ông ấy đã từ Đài Bắc đến Đài Trung ba lần liên tiếp nhưng vẫn không tìm được tôi, bởi vì lúc đó tôi đã đóng cửa từ chối tiếp khách. Còn về lý do tại sao tôi từ chối tiếp khách, có rất nhiều nguyên nhân, không bàn đến thì hơn. Cuối cùng, tôi được mời đến diễn thuyết tại Viện Lập Pháp, không biết ông Lữ Lạc Cửu nghe tin từ đâu mà đích thân đến nghe. Sau đó, ông ấy đã mời tôi đến Vancouver, Canada để thuyết giảng về tâm linh học tại Hội Phật giáo Thế giới do ông làm chủ tịch. Khi tôi từ Đài Bắc định bắt xe về Đài Trung, có rất nhiều người đến ga tiễn, ông Lữ Lạc Cửu cũng vội vã chạy đến, chúng tôi trò chuyện một lúc, rồi cứ thế chia tay.

Bức ảnh của ông Tiêu Đôn rất chân thực, đó là ảnh chụp ánh sáng phát ra từ lòng bàn tay, ánh sáng không đều, rất sáng và có tính co giãn. Đây là một tấm ảnh về bàn tay có khả năng phát sáng. Hiện nay tại Mỹ, loại máy ảnh này đã được bán ra thị trường, có thể chụp được cường độ ánh sáng trên cơ thể người, có người phát ra ánh sáng mạnh, có người yếu hơn. Đây là bằng chứng về cường độ ánh sáng tâm linh. Có thể thấy trong tương lai, việc con người có khả năng phát sáng từ bàn tay sẽ không còn là điều gì kỳ lạ nữa, và những điều huyền bí này sẽ dần dần được giải mã.

Tôi luôn cảm thấy rằng mọi thứ trong cuộc đời đều phụ thuộc vào duyên phận, sự kết hợp của nhân duyên là điều rất quan trọng. Việc nghiên cứu về tâm linh học của tôi xuất phát từ tấm lòng chân thành. Nếu có người không tin, cứ để họ không tin! Sức mạnh của tôi chỉ đến được như vậy thôi, người tin thì tin, người không tin thì thôi, tin hay không là tùy ở bạn.

Tôi viết một bài kệ, tặng tiên sinh Tiêu Đôn:

*Văn hóa đại quốc năm nghìn năm,
Trời người tương truyền nhờ thánh hiền;
Trong ngoài bốn biển phục quốc vận,
Viết sách tâm linh cứu thế gian.*


### 39. Sách tâm linh khiến kẻ ác hối cải


(Bức thư này được gửi từ Đài Trung. Rất xin lỗi, tôi phải giấu tên thật của người viết và giữ bí mật suốt đời cho họ. Loại thư sám hối như thế này, tôi đã nhận được hơn vài trăm bức. Mong trời tha thứ tội lỗi cho những người này, và hy vọng sự hối cải của họ sẽ mang lại ánh sáng thiện lành cho nhân loại.)

*Kính xin đại pháp sư Liên Sinh minh giám.*

*Sau khi đọc tác phẩm vĩ đại của Ngài - những tác phẩm thay trời hành đạo, dù có bao nhiêu người từng ngưỡng mộ Ngài, tôi tuyệt đối không phải là kẻ theo đuôi người khác mà hô hào một cách mù quáng! Lòng ngưỡng mộ của tôi dành cho Ngài xuất phát từ sự tôn kính chân thành trong tâm. Trong cõi mênh mông này, nếu không nhờ sự chỉ dẫn của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi cùng chư Phật chư Thánh, dẫn dắt tôi quay về với Phật pháp, hướng thiện, tôi đã chẳng bao giờ đụng đến sách của Ngài, càng không thể tĩnh tâm đọc nó. Thế nhưng trong một khoảnh khắc tình cờ, tôi đã bị thu hút, mong muốn đọc một mạch cho hết, rồi còn ra ngoài mua thêm nhiều cuốn khác để đọc. Trước đây, tôi cho rằng kinh Phật hay sách thiện đều chẳng liên quan gì đến mình, chi bằng đọc nhiều sách dạy kiếm tiền còn hơn.*

*Thật kỳ lạ là, không biết nhờ sức mạnh linh thiêng nào mà sau khi đọc sách tâm linh, nội tâm tôi đã có sự thay đổi rất lớn. Nhìn lại những việc đã làm trong quá khứ, tôi cảm thấy tội lỗi sâu nặng. Tôi đã từng làm ba việc xấu liên tiếp. (Tôi chưa từng nói với ai, và cũng chưa bị pháp luật xét xử. Trước đây, tôi còn tự mãn vì không ai phát hiện ra). Tuy nhiên, khi đọc sách tâm linh, tôi chợt tỉnh ngộ, tự trách mình, nỗi dày vò trong tâm không thể nào diễn tả được. Ở nhà thờ Thiên Chúa giáo hay Công giáo có phòng xưng tội dành riêng cho người ăn năn, để họ có thể thổ lộ tâm tình và được người có trách nhiệm hướng dẫn. Tôi hy vọng một ngày nào đó có thể trực tiếp sám hối với Ngài và được chỉ dạy. Mục đích viết sách của Ngài là để dẫn dắt người khác làm điều thiện, và giờ đây tôi đã quyết tâm sửa đổi, một lòng hướng Phật, làm nhiều việc thiện. Mong rằng lời thỉnh cầu chân thành của tôi sẽ không bị Ngài từ chối!*

*Trước đây không phải tôi không tin Phật và luật nhân quả báo ứng, mà chỉ vì tôi đang mê muội không tỉnh ngộ. Tôi đã từng trải qua hai phép màu nhiệm của thần linh:*

*Thứ nhất, tôi từng sống ở ○○ (xin giấu tên địa điểm), cách đây vài năm có một trận lũ lụt ngày 12 tháng 6, đê điều bị vỡ, nước tràn vào, trời mưa không ngớt, mực nước càng lúc càng dâng cao, cả khu vực có nguy cơ bị nhấn chìm. Lúc đó vợ tôi đang sinh, mẹ vợ tôi đến giúp đỡ, bà lập tức tụng chú Đại Bi, khoảng hai mươi phút sau, tôi thấy những đám mây vốn dày đặc bỗng nhiên tan đi, cơn mưa lớn ngừng ngay lập tức, và mực nước cũng rút xuống.*

*Thứ hai, tôi từng làm việc tại một cơ quan (xin giấu tên), khi đó có một vị trí quản lý bị khuyết, nhưng đã có người được nội bộ chọn sẵn. Trong lòng tôi vẫn luôn mong muốn được nhận vị trí đó, dù thực tế đã quá muộn. Tuy nhiên, tôi đã thành tâm thành ý cầu xin thần linh phù hộ, và thần linh đã đáp lời. Kết quả là người đã được nội bộ chọn sẵn bỗng nhiên bị thay thế không rõ lý do, và cấp trên đã chủ động mời tôi đảm nhận vị trí quản lý đó. Một việc tưởng chừng không thể đã trở thành có thể.*

*Tôi thừa nhận mình cũng giống như đa số tín đồ, là người theo đạo Phật sùng tín, mắc phải những tật xấu giống nhau, chỉ biết ôm chân Phật khi gặp khó khăn mà thôi. Bình thường thì làm những điều xấu xa đằng sau lưng thần Phật, đến khi có chuyện xảy ra thì vội vã chạy đến chùa, thắp ba nén hương vái lạy cầu xin thần linh phù hộ phát tài, trừ bệnh, gia đình bình an... Rồi hứa sẽ dâng ba loại thịt hoặc năm loại thịt cùng rượu để tạ ơn... Chúng tôi, những kẻ ngu muội này đều nghĩ rằng chỉ cần dâng ba loại rượu thịt là có thể được thần linh phù hộ, thật ra nghĩ lại bây giờ mới thấy đó là việc làm ngây thơ và đáng buồn biết bao!*

*Sau khi được khai sáng từ tác phẩm vĩ đại của Ngài, kẻ hèn này sẽ không làm điều ác nữa, mà sẽ làm nhiều việc thiện để bù đắp tội lỗi đã phạm trong quá khứ, nghiêm túc nghiên cứu kinh Phật và thành tâm hướng thiện. Mẹ vợ tôi đã từng tự tay chép Bát Nhã Ba La Mật Tâm Kinh, Bạch Y Thần Chú, Thiên Thủ Thiên Nhãn Đại Bi Chú, Đại Sám Hối Văn, Quan Âm Bồ Tát Cứu Khổ Kinh, Quan Âm Linh Cảm Chân Ngôn, Vãng Sinh Tịnh Độ Thần Chú... Bà bảo tôi phải thành tâm tụng đọc, nhưng trước đây tôi đã từng dùng lời lẽ lạnh nhạt chế giễu và vứt sang một bên. Hôm qua, khi tôi nói với mẹ vợ rằng tôi sẽ bắt đầu thành tâm thành ý niệm Phật và nghiên cứu kinh, bà cụ vô cùng phấn khởi, và bản thân tôi cũng cảm thấy vô cùng an ủi.*

*Ngài từng dạy người ta thành tâm tin Phật và phát nguyện lớn. Từ nay về sau, kẻ hèn này sẽ làm theo lời Ngài chỉ dạy. Ngoài việc không làm điều xấu và tích góp nhiều phước lành, tôi xin phát nguyện rằng: Nếu sự nghiệp chưa thành, tôi sẽ làm những việc thiện nhỏ, ngày ngày không ngừng, tích thiện nhỏ thành thiện lớn. Nếu mai sau sự nghiệp có thành tựu, tôi sẽ giúp Ngài phát dương ánh sáng rực rỡ của đạo Phật vốn có ở Trung Hoa. Tôi cảm nhận rằng Phật giáo trước hết là để độ trời người, nhưng người thực sự hiểu Phật pháp lại quá ít (chỉ biết thắp hương cầu Phật phù hộ), và tác phẩm của Ngài chỉ giới hạn ở những người biết chữ, chưa được phổ cập rộng rãi, nên hiệu quả hoằng dương còn hạn chế. Sau này khi tôi có đủ khả năng kinh tế, nhất định sẽ thực hiện tâm nguyện của Ngài, để Ngài có thể truyền đạo, giúp ngày càng nhiều người tỉnh ngộ, thực sự lĩnh hội chân lý, ai ai cũng hướng thiện, nhà nhà đều có Phật, khiến nhiều người được cứu độ thành Phật, để đạt được mục đích tối thượng của trời là yêu điều thiện và đức hạnh. Tuy lúc này tôi như kẻ ăn mày phát nguyện lớn, nhưng với lòng thành và sự nghiêm túc của tôi, tương lai nhất định sẽ hoàn thành đại nguyện, tôi có niềm tin này.*

*Kính chúc Phật đạo phát huy rạng rỡ, phổ độ chúng sinh hướng thiện.*

*○○ thành tâm sám hối kính bạch.*

*Tái bút: "Tôi từng đến thăm vào tối ngày mồng sáu tháng tám, giữa cơn mưa phùn lất phất, nhưng chỉ thấy trên cửa dán thông báo rằng 'Thầy Lư đã chuyển nhà đi rồi, xin đừng làm phiền người thuê nhà, và cũng xin đừng làm phiền sự yên ổn của hàng xóm.' Tôi hiểu rằng trách nhiệm của Thầy rất lớn, cần chuyên tâm viết sách và tu trì, lại còn có kẻ xấu làm hại, nên tôi đã thấu hiểu đại nghĩa mà quay về!"*

🌟

Tôi viết kệ rằng:

*Đối diện trời đất thẹn dung nhan
Thắng Ngạn mong xây thiện đạo tràng
Mong đệ tử cùng đắc chân kiến
Tấm lòng thành thật chẳng dối gian.*

Trong những bức thư tôi nhận được, có những kẻ lưu manh hối cải, có cả những kẻ lưu manh đang bị quản thúc, có thư gửi từ nhà tù Đài Đông, cũng có cả những kẻ sát nhân, phần lớn họ đều vô cùng thành kính. Những bức thư sám hối này, tôi đều đọc xong rồi đốt đi, xem đó như một sự khích lệ và thước đo cho nỗ lực của bản thân. Còn những người trong thế gian, vẫn còn nhiều người không hiểu được sự tĩnh lặng và dụng ý trong tâm tôi, đây chính là ma chướng của tôi, nhưng hãy cứ để mọi việc thuận theo tự nhiên.

Viết đến đây, ngẩng mặt lên trời thở dài, tôi lập lời thề nguyện:
Nguyện dốc hết sức lực cả đời, đọc khắp kinh thư, đạt được trí tuệ vô thượng, nếu không, thề không thành Phật.
Nguyện hiến trọn mình để cứu người, cứu đời, cứu nước, phát tâm từ bi rộng lớn, nếu không, thề không thành Phật.
Nguyện độ hết thảy những kẻ ác đã chửi mắng, hủy hoại và đẩy tôi vào chỗ chết, nếu không, thề không thành Phật.
Nguyện này đời đời kiếp kiếp, luân hồi bất tận, chư Phật Bồ Tát chứng giám.


### 40. Linh hồn theo lời kể của nhân sĩ giới y học


Đây là một trải nghiệm mà nhiều bác sĩ phòng cấp cứu đã quá quen thuộc. Một bệnh nhân sau khi được tuyên bố đã chết nhưng bất ngờ tỉnh lại, có thể mô tả những gì xảy ra trong khoảnh khắc cơ thể họ không còn dấu hiệu sự sống - đôi khi kéo dài đến vài giờ đồng hồ. Theo một ghi chép thường được đề cập, bệnh nhân cảm thấy mình lao qua một đường hầm dài và tối, trong khi tai nghe thấy những âm thanh ồn ào. Đột nhiên, họ thấy mình tách khỏi thể xác và kinh ngạc nhìn xuống đội ngũ y tế đang cố gắng cứu sống mình từ trên cao. Họ nghe được những gì mọi người nói, cũng nhận biết được mọi việc đang diễn ra, nhưng không thể giao tiếp với bất kì ai. Chẳng bao lâu sau, sự chú ý của họ bị thu hút bởi những hiện diện khác trong phòng - những hồn ma của người thân bạn bè đã khuất, và họ giao tiếp với nhau bằng cách khác ngoài lời nói. Dần dần, họ bị thu hút bởi một "người ánh sáng" mờ ảo. Người này mời họ đánh giá lại cuộc đời mình và cho họ xem toàn cảnh những khoảnh khắc đáng nhớ trong quá khứ. Bệnh nhân muốn ở lại với "người ánh sáng" này, nhưng họ bị kéo trở về thể xác một cách miễn cưỡng và hồi phục.

◎ Các chuyên gia tiến hành nghiên cứu

Những trải nghiệm "cận tử" này từng bị cho là ảo tưởng và bị bỏ qua, nhưng hiện nay đang được một số bác sĩ tâm thần và nhà tâm lý học nghiêm túc nghiên cứu, nhằm tìm ra manh mối về những hiện tượng xảy ra vào thời điểm cận tử. Tiến sĩ Elisabeth Kübler-Ross, một nhà nghiên cứu tâm thần học về cái chết, đã tuyên bố rằng dựa trên hàng trăm câu chuyện như vậy, bà đã có được bằng chứng về sự sống sau cái chết. Mặc dù các nhà tâm lý học khác cho rằng Kübler-Ross đã quá dựa vào lời kể của những người hấp hối, nhưng quan điểm thẳng thắn của bà gần đây đã làm tăng sự quan tâm của giới học giả đối với các hiện tượng xảy ra ở ranh giới của cái chết.

Trong tám năm qua, trong số các trường hợp mà Kübler-Ross đã thu thập, điều gây ấn tượng sâu sắc nhất với bà là những bằng chứng về ý thức tách rời khỏi thể xác - nghĩa là những người không còn hơi thở, tim ngừng đập hoặc sóng não đã ngừng hoạt động vẫn có thể mô tả những gì đang diễn ra xung quanh họ. Hiện tại, bà đang đối chiếu từng trường hợp với hồ sơ y tế để chuẩn bị xuất bản một cuốn sách vào năm tới. Bà lập luận: "Nếu một phụ nữ đã được tuyên bố tử vong tại bệnh viện mà có thể kể chính xác có bao nhiêu người bước vào phòng và họ đã cứu chữa bà ấy như thế nào, thì đây không thể là ảo tưởng." Mặc dù có một số chi tiết khác nhau trong các ghi chép về trải nghiệm cận tử, nhưng Kübler-Ross cho biết, tất cả bệnh nhân của bà đều mô tả một số trải nghiệm chung: một cảm giác bình an sâu sắc, một cảm giác toàn vẹn về bản thân - ngay cả những người bị đứt chân tay trong tai nạn chết người cũng cảm thấy như vậy, và trải nghiệm được chào đón bởi những người thân yêu đã khuất. Bà nói, do những trải nghiệm này, "nhiều người trong số họ ghét cay ghét đắng nỗ lực tuyệt vọng của chúng tôi để hồi sinh họ. Cái chết là một cảm giác bình an và hy vọng, không ai trong số họ sợ phải chết thêm một lần nữa."

◎ Trải nghiệm đau đớn khi cận tử

Một bác sĩ khác phát hiện rằng trong số 50 người chết do tai nạn, bệnh tật và đột tử vì ngừng tim, họ có những trải nghiệm cận tử rất giống nhau. Theo nghiên cứu của bác sĩ Moody - người có bằng Tiến sĩ Triết học và Y khoa, nhiều bệnh nhân có trải nghiệm về sự nâng cao trí tuệ, và sau khi tỉnh lại, họ có hiểu biết bất thường về quy trình cấp cứu đã được thực hiện để cứu sống họ, khiến các bác sĩ vô cùng kinh ngạc.

Khác với Kübler-Ross, Moody không tuyên bố rằng đã có bằng chứng khoa học về kiếp sau. Tuy nhiên, ông thực sự tin rằng phần lớn những trải nghiệm cận tử không thể được giải thích một cách sơ sài là do ảo giác gây ra bởi các loại thuốc gây đau đớn. Ông nói rằng những câu chuyện này quá rõ ràng và quá giống nhau. Trong cuốn sách phổ biến của ông "Kiếp Sau", ông khẳng định: "Bức tranh về những sự kiện xảy ra vào lúc chết được thể hiện qua các ghi chép này rõ ràng phù hợp với những mô tả trong các tác phẩm cổ xưa và huyền bí mà bệnh nhân của tôi hoàn toàn không biết đến." Đặc biệt, Moody phát hiện ra rằng những trải nghiệm về sự tách rời khỏi thể xác, gặp gỡ với các linh hồn và tiếp xúc với "người ánh sáng" có sự tương đồng rất lớn với những mô tả trong "Tử Thư Tây Tạng".

Một nỗ lực khác nhằm tìm kiếm manh mối về kiếp sau được thực hiện bởi nhà tâm lý học Karlis Osis tại Viện Nghiên cứu Thể chất Xã hội Hoa Kỳ ở New York. Ông đã sắp xếp phỏng vấn qua máy tính với 877 bác sĩ, những người từng báo cáo về việc bệnh nhân của họ kể lại cảnh tượng khi cận tử. Phần lớn các bác sĩ này báo cáo rằng bệnh nhân sắp chết nhìn thấy những hồn ma thân thiện đến đón linh hồn họ. Ít nhất để thỏa mãn chính mình, Osis đã kết luận rằng những bệnh nhân bị tổn thương não do sốt cao hoặc bệnh tật báo cáo ít ảo giác hơn so với những người hoàn toàn tỉnh táo khi chết. Ngoài ra, ông còn cho rằng các loại thuốc giảm đau mạnh như morphine thực tế làm giảm tính nhất quán của những ảo giác này. Osis kết luận: "Giả thuyết về bệnh lý não bộ không thể giải thích được những ảo ảnh này, và cho đến nay, mô thức trải nghiệm sau khi hồi sinh dường như khá nhất quán."

◎ Chờ đợi khoa học chứng minh

Cho dù Kübler-Ross chưa chứng minh được quan điểm của mình, bà đã để lại những hiện tượng mà khoa học hiện đại vẫn chưa thể giải thích đầy đủ. Tiến sĩ Charles Garfield thuộc Viện Nghiên cứu Ung thư Đại học California nói: "Tôi hoàn toàn không đồng ý với quan điểm của Elisabeth. Bà ấy nói rằng những trải nghiệm của bà và tôi trong việc điều trị bệnh nhân hấp hối đã chứng minh đầy đủ về sự tồn tại của sự sống sau cái chết." Garfield còn nói thêm: "Tôi cũng không theo quan điểm của những người theo chủ nghĩa thực chứng khoa học cực đoan cho rằng những trải nghiệm này chỉ là những lời nói nhảm của bệnh nhân tâm thần, bởi vì tôi thực sự không biết chuyện gì đã xảy ra, nên tôi thà chấp nhận sự không rõ ràng này."


### 41. Đạo ắt thắng ma


Đại đức Lư Thắng Ngạn lại xuất bản thêm hai cuốn "Lời tự bạch của linh", sách của ngài thực sự có đóng góp không thể phai mờ trong việc thức tỉnh và giải mê cho đời, khiến cho nhiều người không tin vào quỷ thần và nhân quả báo ứng đều có thể tin rằng trên đời này thực sự có quỷ thần, và cũng có nhân quả báo ứng; đặc biệt là giúp những người không có tín ngưỡng tôn giáo cũng có thể chọn lựa một tín ngưỡng tôn giáo chân chính.

Như trước đây, nhiều đồng nghiệp trong tạp chí rất chú ý và quan tâm đến sách của ngài, bởi vì ngài cũng là người hành đạo, chúng tôi mong muốn thấy ngài thành công, không muốn thấy ngài thất bại, bởi vì chúng tôi vốn không có quan niệm phân biệt tông phái, giống như chúng tôi quan tâm và chúc phúc cho sự thành công của các tôn giáo chân chính khác vậy.

Sự quan tâm của các đồng nghiệp trong tạp chí đối với đại đức Lư Thắng Ngạn là có lý do.

Vào năm ngoái (1975), thầy Lư đã xuất bản cuốn sách tâm linh đầu tiên của mình - "Mạn đàm về linh cơ thần toán". Thầy thẳng thắn thừa nhận rằng trong xã hội này có không ít người có khả năng thông linh, nhưng họ thấy hay nghe được điều gì đều không nói ra, còn thầy ấy thì ngây thơ, viết ra tất cả không giữ lại điều gì. Chính vì sự ngây thơ này mà đáng được tôn kính. Phật từng dạy: "Ta không vào địa ngục thì ai vào địa ngục". Vì vậy, thầy Quách và thầy Lý thấu hiểu sâu sắc rằng có đạo ắt có ma, và đạo với ma là đối lập nhau, nên đã chủ động gửi tặng "Tạp chí Minh Đức" cho thầy Lư để làm tài liệu tham khảo cho việc "minh đạo".

Sau đó, thầy Lư lại xuất bản thêm một số cuốn sách, và trong sách của thầy không khó để nhận ra nguyên nhân thu hút ma quỷ.

Người tu đạo ai cũng biết rằng sắc tướng đều là ma, nên nhà Phật rất chú trọng phá trừ sắc tướng. Thầy Lư đã có tướng ngã mạn, tướng phân biệt đúng sai, và còn vướng vào tướng "hữu vi pháp" cùng tướng "lập tông phái", làm sao tránh khỏi ma nạn và thử thách?

Đã có sắc tướng ắt có ma chướng, làm sao tránh khỏi ma khốn? Thầy Lý trong lúc quan tâm, đã nghĩ rằng nếu có thể khuyến khích thầy Lư quy y cửa đức, có lẽ sẽ có lợi cho việc giải trừ ma chướng này, bởi vì "minh đạo" cần phải tự ngộ tự sáng, mới có thể vượt qua ma chướng.

Mùa thu năm ngoái, thầy Lý và tôi đi chơi Đài Trung, khi đi ngang qua khu Thái Bình, tôi chợt nhớ đến chuyện này, bèn đề nghị ghé thăm thầy Lư. Thầy Lý vui vẻ đồng ý, và chúng tôi đã lấy việc thỉnh giáo Đạo pháp làm cớ để làm quen với thầy Lư.

Kể từ đó, thầy Quách và thầy Lý thường nói chuyện với chúng tôi, rằng thầy Lư chắc chắn sẽ quy y đạo đức, và chỉ ra rằng mọi việc đều có nhân quả. Giữa "nhân" và "quả" có một sức mạnh của "duyên" đang kéo dài, như việc thầy Lư xuất bản sách tâm linh là nhân, tạp chí chúng tôi chủ động gửi tặng tạp chí cho thầy ấy là quả; việc thầy Lư gặp ma chướng là nhân, thầy Lý quan tâm đến thăm thầy là quả; việc tạp chí của chúng tôi giúp thầy Lư "minh đạo" là nhân, thúc đẩy sự hiểu biết của thầy về Thiên Đức Thánh Giáo là quả; việc thầy Lư được mời đến phòng họp thứ hai của Viện Lập Pháp diễn thuyết và quen biết với cụ Vương Đức Phổ là nhân, dẫn đến việc thầy quy y Thiên Đức Thánh Giáo là quả; tất nhiên giữa "nhân" và "quả" này có sức mạnh của "duyên" đang dẫn dắt, khi sức mạnh này được dùng vào việc tốt thì là thiện duyên, dùng vào việc xấu thì là ác duyên.

Qua một số cuốn sách tâm linh của thầy Lư, không khó để nhận ra tâm trạng của thầy, đây đều là những lời tự bạch đau khổ của một hành giả đang chịu ma khảo.

Gần đây, trong thư gửi cho tôi, thầy Lư viết: "Thắng Ngạn đã không còn sợ hãi trước ma khảo nữa." Điều này khiến nhiều đồng nghiệp trong tạp chí rất vui mừng. Chúng tôi xin kính cẩn nói thêm rằng, cao ngạo, đúng sai đều không phải là chân thật, tất cả pháp hữu vi đều là hư vọng, nay xin kính cẩn trích dẫn lời dạy của tôn sư Cổ Phật vô hình đã chỉ dạy thầy Lư như sau:
"Vì vậy, hãy giữ tâm hư vô, từ bỏ mọi tướng hữu vi, tận tâm làm tròn đạo làm người, thực hành đức trời, đây là con đường chính thống để đắc đạo, ngoài ra không còn gì để cầu cạnh."
"Sắc tướng đều là ma đạo, pháp hữu vi không phải là chính pháp."
"Khởi linh không bằng khởi tâm, tu linh không bằng tu tâm."
"Bên ngoài dùng hai mươi chữ để giữ thân, bên trong dùng sự phản tỉnh để khởi tâm."

Tôi tin sâu sắc rằng thầy Lư là một người có trí tuệ cao và đạo tâm kiên định. Với chính kiến và lòng dũng cảm, thầy đã phá bỏ được những rào cản giữa các tông phái tôn giáo. Do đó, chỉ cần thầy có thể "minh đạo", tôi tin rằng thầy nhất định sẽ chiến thắng được ma chướng. Chúng tôi xin chúc phúc cho thầy.

**(Hết.)**

---

---
# File: sach-tam-linh/040-thong-linh-bi-phap-thu.md
# Title: 040. Thông linh bí pháp thư
---

![image](/img/img_c87fcf7f5a509847676a3d584d4937bb.jpg)



## Thông linh bí pháp thư


🪷 Đại công khai Đạo pháp

Văn tập: 040
Xuất bản: 12/1982
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu


Mười tám đóa hoa sen ở Ma Ha Song Liên Trì
Đời người thật sự giống như mộng huyễn sao? Luân hồi như mây mù, luôn luôn hư huyễn và che chắn chân diện mục của nhân gian. Chỉ có bậc giác ngộ với khả năng thông linh mới có thể dùng huệ nhãn để nhìn thấu cái ban sơ của trời đất, thâm nhập hiểu rõ cái gọi là "nhân quả kiếp trước" và những diễn biến tâm linh của tương lai. Người tin thì vẫn tin, người không tin thì vẫn không tin, thế nhưng, bất kể có tin hay không thì bạn vẫn nằm trong số lí của trời đất, thứ quyết định vận mệnh của bạn.

Trong thiền định, tôi thấy được kiếp trước của mình, đương nhiên, kiếp trước của tôi không chỉ là một kiếp, mà tôi đã luân hồi hàng trăm kiếp rồi, còn kiếp sớm nhất thì cũng chẳng phải là cảnh giới cao quý gì cả, chỉ là một cảnh giới "tiểu tiên" mà thôi. Cảnh giới này chính là Ma Ha Song Liên Trì, cảnh giới này nằm quanh Tây phương Cực Lạc thế giới, nhưng vẫn chưa đến Tây phương Cực Lạc thế giới.

Ma Ha nghĩa là lớn, Song Liên Trì nghĩa là hai hồ hoa sen. Đương nhiên, đó là một nơi vô cùng vô cùng đẹp, các tiên trời ở đó mặc thần y màu cầu vồng, không vương chút bụi trần. Trong hồ sen cũng có hương thơm thoang thoảng kì diệu, có ánh sáng rực rỡ của ngọc lưu ly bao quanh nơi này. Tâm trạng vui vẻ là cảm giác chung ở đây, giống như là những cơn sóng tuôn trào ra từ tâm hồn của mỗi vị tiên trời. Hiện tượng này cũng giống như ở Tây phương Cực Lạc thế giới.

Ở Ma Ha Song Liên Trì có mười tám đóa hoa sen, mười đám đóa hoa sen phân thành chín và chín, trên mỗi đóa hoa sen có một vị đồng tử đứng ngay ngắn, đồng tử trượng trưng cho sự thuần khiết, có chín vị đồng tử hiện thân nam, chín vị đồng tử hiện thân nữ. Thật ra, cảnh giới này tồn tại đã lâu, thuộc về cảnh giới bất thối chuyển, hiện thân nam hay hiện thân nữ là tượng trưng cho số lý chứ không quan trọng nam nữ âm dương.

Trong thiền định, tôi trông thấy Liên Hoa Đồng Tử màu trắng tay cầm hoa sen trắng, Liên Hoa Đồng Tử màu vàng kim tay cầm hoa sen vàng kim, Liên Hoa Đồng Tử màu đỏ tay cầm hoa sen đỏ, Liên Hoa Đồng Tử màu đen tay cầm hoa sen đen, thậm chí là hoa sen phóng quang, ánh sáng rực rỡ lấp lánh, khiến cho thế giới ở nơi đây tự nó đã trở thành vương quốc hoa sen. Ngoài Tây phương Cực Lạc thế giới ra, Ma Ha Song Liên Trì này cũng là cảnh giới hạnh phúc có linh quang Phật Bồ Tát chiếu khắp. Thậm chí, cảnh giới này vốn là linh quang của Phật hóa hiện ra, là Phật Tổ Vô Tà Nhãn chuyển hóa.

Vì sao là cảnh giới bất thối chuyển mà vẫn chuyển thế làm người? Mười tám Liên Hoa Đồng Tử thuần khiết vì du lịch khắp thập phương Phật quốc, đã đến Quang Âm Thiên Giới, nên đã theo thiên nhân của Quang Âm Thiên Giới và thiên nhân của Tứ Thiên Vương Thiên cùng đến chuyển thế tại nhân gian giống như sao đổi ngôi vậy. Đó chính là bài thơ của Đỗ Công Bộ: [ ND: Đỗ Công Bộ, tức Đỗ Phủ, dưới đây là trích đoạn trong bài thơ "Tiễn Khổng Sào Phủ hết bệnh về chơi Giang Đông, cùng đi với Lý Bạch". ]

Vốn dĩ thân anh mang tiên cốt
Thế nhân nào biết được nguyên do
Tiếc anh một mực mong níu giữ
Phú quý mong manh như cỏ sương.

Mười tám vị Liên Hoa Đồng Tử này chính là vị có duyên với tôi kiếp trước, tìm tìm kiếm kiếm trong chốn nhân sinh, hợp tan dường như là định số, hữu duyên thì tự nhiên sẽ gặp nhau, vô duyên hay không có duyên thì cũng giống như phù dung sớm nở tối tàn. Giờ đây, sau khi tôi có được linh giác, tôi tĩnh lặng quan sát vạn vật đều tự thấy, người biết về định mệnh so với người bình thường thì thông suốt hơn. Cố nhiên, thiên tính vui vẻ hay âu sầu thì dường như đều tạo nên một nửa cuộc đời, nhưng, người có cái nhìn thông suốt điềm đạm thì cũng có thể coi là dòng suối mát của tâm hồn, gột rửa những muộn phiền của thế tục.

Giờ đây, tôi mới chỉ tìm được hai người mà thôi. Một người là Lâm Mặc Nhân tay cầm hoa sen màu vàng kim. Một người là Trần Tước Viên tay cầm hoa sen màu đen. Đây không chỉ là gặp người quen nơi đất khách, mà còn là cố nhân nơi tiên cảnh đã đến rồi. Niềm vui ấy là quá đỗi rõ ràng.

Trong cuốn sách này, tôi sẽ công bố một vài pháp môn tu hành. Một vài phương pháp tu hành trong cuốn sách này vốn là mật truyền, người có đức, người nhân từ, người trung hiếu thì học sẽ có được lợi ích lớn. Nếu là hàng gian trá tà đạo thì đừng học thì hơn, quỷ thần cấm chỉ, hơn nữa, sẽ còn xuất hiện những sự trừng trị nghiêm khắc vô hình nữa. Hãy nhớ kĩ, nhớ kĩ.

Seattle, Hoa Kì.

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Quan sát nguyên thần của mình


Trong quá trình tôi tu dưỡng chân tính, tôi đã từng chịu ma nạn muôn kiếp. Những cạm bẫy chết người lúc nào cũng bày ra dưới chân tôi. Thế nhưng, cuối cùng tôi đã đi qua những hang sâu tăm tối, vượt qua trùng dương trong cuồng phong bão táp, vào những lúc sợ hãi nguy cấp tôi đã có nơi nương náu, có được lòng nhân ái của trẻ thơ, cuối cùng đã không phụ ân huệ của cõi trời, cũng không phụ sự kì vọng của ân sư Tam Sơn Cửu Hầu.

Thường xuyên có những người tu đạo vì cái tên của tôi mà cảm thấy rất khó chịu. Họ cho rằng Lư Thắng Ngạn là tên tiểu bối nơi nào, chẳng biết bí mật của thiên tiên kim đan, cũng chẳng có kế nghiệp thầy, tự sáng lập ra Linh Tiên Chân Phật Tông, lẽ nào không khiến người ta cười đến chết. Họ vặn vẹo tôi thì tôi sẽ hỏi vặn lại họ.

"Anh có biết phương pháp quán nghiệm nguyên thần không?" - Tôi hỏi.
"Chưa từng nghe thấy."

"Con người chỉ biết nghi thức Nhương tinh lễ đẩu mà không biết quan sát nguyên thần của bản thân. [ ND: Nhương tinh lễ đẩu là lễ cúng dâng sao giải hạn. ] Giả dụ anh chưa luyện thành kim đan mà đại hạn đã đến trước thì anh làm sao? Cần biết rằng, mỗi một người đều tương ứng với một sao, nếu sao mờ tối thì nguyên thần của người này cũng sắp sửa rời khỏi thế gian rồi. Ý nghĩa của tu đạo nằm ở sự ngang bằng giữa thọ và thiên, chứng đạo thăng thiên, nhập trụ Phật quốc, không chịu luân hồi. Còn nếu như nguyên thần chưa có được cái khí tài hoa thanh tú, chỉ là tăm tối bẩn thỉu thì làm sao mà đắc được." - Tôi nói.

"Cho dù biết nguyên thần của mình tăm tối bẩn thỉu thì làm sao để giải trừ?"
"Đó chính là pháp quan sát quán thần Nhương tị." [ ND: pháp Nhương tị là pháp tránh tai cầu an. ]

Rất nhiều người tu đạo thường hay bị tôi hỏi câu này, họ không trả lời được phương pháp quan sát nguyên thần của bản thân. Tu nguyên thần của chính mình như thế nào còn quan sát không nổi thì chẳng phải là đáng buồn đáng thương sao? Còn có rất nhiều người xuất gia, bản thân niệm Phật cả đời cả kiếp, tịnh tọa thiền công, cả đời mong vãng sinh Phật quốc, nhưng nghiệp duyên liên lụy, tạp niệm chưa trừ, một tâm hóa thành mười tâm trăm tâm, tâm trở nên điên đảo, chưa vào Phật quốc mà ngược lại còn đọa âm phủ, việc này cũng có đó. Do vậy, quan sát nguyên thần của chính mình, hiểu được pháp Nhương tị là vô cùng quan trọng.

Bây giờ tôi tường thuật lại phương pháp quan sát nguyên thần như sau:
Vào thượng tuần hàng tháng, nhất định phải chọn ngày lẻ, chọn một ngày bầu trời không mây, mặt trời lên cao rất sáng đẹp, gió không mạnh, trước đó bản thân cần ăn chay 49 ngày, vào ngày hôm đó tắm gội, thời gian thì chọn đầu giờ Tị, Mùi, Ngọ. Phải nhớ đứng quay lưng về mặt trời, trước đó cần vẽ một tấm phù Quán thần đặt tại cái bóng ở trên mặt đất trước mặt mình. Sau đó, chính tâm thành ý niệm bảy biến chú Quán nguyên thần, hai mắt nhìn chăm chú vào phù Quán thần, khi niệm chú Quán thần, tay trái kết đẩu quyết, tay phải kết kiếm quyết, đọc bài vè rằng: "Thiên thanh địa thanh, nhật nguyệt giao minh, nguyên thần nhất hiện, bách sự phân minh, ngô phụng Thái Thượng Lão Quân luật lệnh sắc." Niệm xong bảy biến, nhìn chăm chú hồi lâu vào phù Quán thần, rồi ngẩng đầu nhìn trời.

Lúc này, trên bầu trời xuất hiện một vị thần, cao lớn từ đất đến trời, có đầu và tứ chi, đó chính là nguyên thần của mình đó. Hình thần này nếu hiện ra màu đỏ tía, đây là màu sắc của cát tường, thì học đạo chắc chắn thành tiên, làm trai chắc chắn hiển đạt, nhà cửa buôn bán chắc chắn kếch sù. Nếu hình thần hiện lên màu trắng thì luôn khỏe mạnh, không có bất kì tai họa ngoài ý muốn nào. Nếu hiện màu đen thì buộc phải chú ý, bởi vì màu đen nghĩa là có họa. Màu đen hiện ở nửa trên thì cha mẹ có họa, ở nửa dưới thì vợ con có họa, ở hai tay thì anh chị em có họa, nếu toàn thân đều là màu đen thì tai nạn của chính mình sắp đến rồi.
Quan sát như vậy, hiệu nghiệm như thần.

Tôi viết một bài kệ:

Quan sát nguyên thần rất phân minh
Tâm linh tu đạo mới an yên
Có hóa thân bên ngoài thân thật
Thiên đạo tự hợp thiên cơ tình.

Trong bản văn này có hai điểm cần chú ý:
Thứ nhất, chọn địa điểm cũng rất quan trọng, phải là nơi rộng rãi không có người. Yên tĩnh và an ninh.
Thứ hai, phù Quán thần phải đích thân được trao hoặc dạy, bởi vì có tác dụng phụ. Nếu phù Quán thần có sai sót thì dễ nhập ma cảnh.


### 02. Phương pháp tránh tai họa chết chóc


Viết quan sát nguyên thần xong, tự nhiên tôi nhớ đến Khổng Minh tiên sinh, năm xưa Khổng Minh giúp đỡ Hán Chiêu Liệt Đế (Lưu Bị) của nước Thục khôi phục lại Hán Thất. Tại Tà Cốc Khẩu, ngài ấy đã dùng pháp quan sát nguyên thần bí mật, bất ngờ phát hiện ra nguyên thần của mình không có đầu, giật thót mình kinh ngạc. Thế là, ở vùng Ngũ Trượng Nguyên, ngài ấy đã chọn đất lập đàn tế, dùng pháp "Lễ đẩu bản mệnh" để cầu an tránh tai. Đến ngày thứ sáu, vì cấp dưới Ngụy Diên bước vào báo cáo tình hình quân sự, vô tình đã đá phải đèn bản mệnh tinh làm đèn tắt, đến buổi tối hôm đó, Tướng Tinh liền đọa địa, biến thành sao băng hóa đá, Khổng Minh tiên sinh đã một mệnh quy tiên. Thế là, chưa chiến thắng được quân Tào, Thục Hán đã mất đi Khổng Minh, giống như tướng không đầu, tự nhiên chẳng có cách nào phục hưng.

Theo tôi được biết, có rất nhiều phương pháp tránh tai họa chết người, nhưng người truyền pháp này chính là Nguyên Thủy Thiên Tôn. Nguyên Thủy Thiên Tôn truyền pháp cho Đông Hoa Đế Quân, Đông Hoa Đế Quân truyền cho Hà Thượng Ông, Hà Thượng Ông truyền cho Khổng Minh.

Còn vì sao tác giả biết được pháp này, nguồn gốc là vì tôi thu nạp hai học trò, một người là Tạ Vinh Huy, pháp danh là Liên Đôn, một người là Kim Vĩnh Lệ, pháp danh là Liên Nhiên, hai người họ là vợ chồng. Một hôm họ có được ba cuốn sách Đạo chép tay nên đến thỉnh giáo tôi. Ba cuốn sách Đạo này là tổ truyền nhiều đời, vô cùng trân quý. Tôi vừa xem thì giật mình sửng sốt, thì ra là cuốn "Long môn độn giáp thiên thư của Nguyên Thủy Thiên Tôn". Tôi không có cuốn sách này, nhưng Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh đã sớm truyền pháp này cho tôi rồi, lại còn lần lượt ấn chứng từng cái một, nhãn tiền đại hiện quang minh. Đây là báu vật có nhiều tác dụng tuyệt vời, tác động lẫn nhau, nói tóm lại là biến hóa tinh vi, xuất thần nhập hóa. Tại đây, tôi đặc biệt tuyên bố như sau: truyền cho người tài đức có nhân duyên ba đời thì hợp với đạo trời, còn truyền cho kẻ vô lại thì coi như để lộ thiên cơ. Giờ đây tôi viết cuốn sách này để thế nhân biết có pháp Phật pháp Đạo, tôi có giấu đi một vài lời để chờ người có duyên có đức cùng ấn chứng, người vô duyên vô đức thì đừng học thì hơn.

Phương pháp tránh tai họa chết chóc như sau:
Nếu biết nguyên thần có màu đen thì lập tức chay tịnh thân tâm, ban đêm yên tĩnh đốt hương, lễ bái Bắc Đẩu Tinh Quân, nhanh chóng cầu sám hối. Sau khi lễ bái như vậy bảy ngày lại đi quan sát nguyên thần, nếu nguyên thần đổi thành màu trắng thì tự nhiên sẽ chuyển hung thành cát, có thể yên tâm. Nếu khí đen của nguyên thần vẫn chưa được loại bỏ, lại nhìn thấy trên đỉnh không có đầu, thì đây là điềm báo sắp có đại hạn. Nếu ngày quan sát nguyên thần là tháng dương năm dương, thì thời điểm chết là vào năm sau, tháng âm năm âm cũng vậy. Nếu là quan sát nguyên thần vào tháng âm năm dương hoặc tháng dương năm âm thì trong năm đó sẽ có tang.

Như vậy, mau chóng chuẩn bị lễ vật cho nghi thức cầu an. Ở nơi yên tĩnh trong nhà, xây dựng một căn buồng yên tĩnh hình vuông cao và rộng chín xích [ ND: 1 xích = 1/3 mét ]. Chọn một thẻ tre pháp hộ thân, một bức man thiên hoa cái, một thanh bảo kiếm hàng ma, một tấm gương chiếu toàn thân, bắt đầu tiến hành vào ngày mồng một, trai giới tắm gội, trên đầu quấn vải trắng, mặc quần áo đạo sĩ màu trắng, eo quấn thắt lưng màu vàng, chân đi giày trắng (giày vải), lấy đất ở năm phương mỗi phương một nhÔm, dùng phù Ẩn gói lại, đội trên đỉnh đầu, chân thành đi vào trong căn buồng.

Treo man thiên hoa cái lên trên trần của căn buồng, trong buồng bày một cái bàn, thắp lên một bát hương, đốt lên bảy chén đèn sao bản mệnh, thẻ tre pháp hộ thân, bảo kiếm hàng ma đặt trên bàn, kính chiếu thân treo trên cửa. Dùng 12 tờ giấy vàng, vẽ phù Ẩn dán thẳng bên ngoài cửa đi và cửa sổ, mỗi bên ba tấm phù. Rồi lại dùng 12 tờ giấy màu vàng vẽ phù Tị, dán thẳng bên trong cửa đi và cửa sổ, mỗi bên ba tấm. Phù Ẩn thì niệm chú Ẩn, phù Tị thì niệm chú Tị, cứ dán một tờ thì niệm một biến. Trong buồng ở góc phía tây nam đục một lỗ nhỏ, đồ ăn uống được đưa qua lỗ này.

Trong vòng một tháng khi tai họa sắp đến này, bạn bè không được đến thăm, để cho tâm tưởng của bản thân hoàn toàn tĩnh lại. Điều này có nghĩa là không khởi lên một suy nghĩ gì thì quỷ thần không biết. Mỗi ngày vào sáng trưa tối, mỗi buổi vận 81 hơi chân khí, niệm thầm chú Ẩn - Tị 49 biến, mỗi ngày chỉ được ăn chay hai bữa, khi khát thì uống nước lã, có thể uống phù Ẩn - Tị do mình tự vẽ. Ngồi tĩnh tọa như vậy, niệm hai câu chú Ẩn - Tị dũng mãnh và tinh tấn, đến khi đủ một tháng thì tay cầm thẻ pháp, lại quan sát nguyên thần, chắc chắn có thể thấy đầu của nguyên thần lại xuất hiện, nếu khí đen quanh thân vẫn chưa trừ bỏ được thì lại ngồi thêm bảy ngày, đến khi nào khí đen được loại bỏ thì mới dừng lại.

Sau đó, đem thẻ pháp, man thiên hoa cái, gương, kiếm, quần áo, giày… dùng một khúc gỗ nhỏ làm thành quan tài để đựng chúng. Trên một mảnh đất sạch ở hướng tây nam, đào một cái hố rồi chôn xuống, như thế là đã làm xong việc lớn.

Trên nguyên tắc mà nói, đoạn ở trên chính là pháp Ẩn - Tị [ ND: Ẩn là ẩn giấu, Tị là trốn tránh ]. Còn đoạn sau dùng quan tài gỗ nhỏ chính là pháp thế thân. Trước tiên dùng pháp Ẩn - Tị để khiến cho quỷ thần không tìm thấy bạn, sau đó dùng pháp thể thân để biểu thị rằng bạn đã yên nghỉ trong lòng đất rồi, như vậy Nam Cung sẽ ghi chú tên sinh, Bắc Đẩu sẽ loại bỏ tử tịch. Thế nhưng pháp này có thể vĩnh viễn bất tử được không? Nhục thể vĩnh viễn bất hoại được không? Không được, có thể giấu được quỷ thần một lúc chứ không thể giấu được vĩnh viễn. Nhưng chỉ cần là người tu đạo, tích lũy công hạnh, tế vật lợi người, thì có thể kéo dài tuổi thọ, được lên thiên đình, xếp vào hàng tiên.

Điểm quan trọng cần chú ý:

1. Thời gian làm pháp tránh tai họa chết chóc: cần chọn ngày tháng vào tháng đối cung với bản thân.

1. Phương pháp này cũng có thể dùng cho việc bế quan tĩnh tọa, mặc dù không có liên quan đến việc trốn tránh cái chết, nhưng có lợi ích lớn với việc kéo dài tuổi thọ, người tu đạo hoặc các đại sư xuất gia có thể ứng dụng.

1. Chú Ẩn: "Tiên thiên nhất khí, tiết chế vạn linh, viên quang nhất tráo, quỷ diệt thần linh."
Chú Tị: "Thiên Cương Tử Tinh, giáng bố chân khí, hộ ngã hựu ngã, nguyên thần an ninh."

1. Hai phù Ẩn - Tị là mật truyền. Người tu Phật có thể dùng chú Lục tự đại minh để thay thế.


### 03. Nuốt nhả cương khí quang minh hiển hiện


Vài năm gần đây, những người học Đạo gia tăng gấp bội, người tu Phật cũng tăng lên nhiều. Pháp của hai môn Phật - Đạo thật ra có rất nhiều chỗ tương thông nhau. Mặc dù Phật giáo là do Phật Thích Ca Mâu Ni sáng lập, nhưng Phật giáo cũng lấy tài liệu từ sự tồn tại dài lâu của đạo Bà La Môn, tổng hợp môn học Thần Tiên, rồi lại nghiên cứu pháp Bát nhã vô thượng cứu cánh tối thượng thượng nữa. Vì thế mới xưng Phật là Vô thượng chính đẳng chính giác. Còn như Đạo giáo, Đạo vốn là pháp môn vô thượng, nhưng có rất nhiều môn phái, mặc dù có cảnh giới quang minh không gì sánh bằng, nhưng người đến được cảnh giới này rất ít, trái lại còn bị hiểu lầm là phương thuật kiểu giang hồ mê tín. Kì thực, Đạo gia luyện khí là đạo công tịnh tọa của huyền môn chính tông, thần quang gom vào trong, diệu tướng trang nghiêm, sau khi nhập định, khiếu giác tự thông [ ND: lưu ý, "khiếu" ở đây là các lỗ. ], cũng hoàn toàn có thể bất tử bất hoại, tứ chi bách hài, đạo sung ở giữa, quang minh vô hạn.

Thời gian qua, Phật môn nói Đạo gia là bàng môn tà đạo, là tu hành ngoại đạo, thật ra nói một cách nghiêm túc là họ không hiểu "đạo" này, cần biết "đạo" này vốn là "đào chi yêu yêu, chước chước kì hoa". [ ND: hai câu thơ trong bài "Đào tơ" của Khổng Tử, nghĩa là đào tơ mơn mởn, chùm chùm nở rộ. ], vốn là mênh mông dào dạt vô cùng vô tận. Cái gọi là "đại chu thiên" là chỉ trời rộng lớn vô hạn, người tu đạo trình độ còn nông thì không thể đại điện cho "đạo" được. Đại chu thiên cũng không có một vật nào có thể biểu thị được, vô cực cũng có nghĩa là bất thối chuyển. Thiền tông thì lấy việc tịnh tọa làm pháp, Mật tông thì lấy niệm ấn làm pháp, Hiển tông thì lấy tịnh thổ làm nơi quy về, lấy niệm Phật bất loạn làm pháp. Các pháp tu Phật môn khác biệt nhau, nhưng cũng giống như trăm sông đổ về một biển, còn pháp Đạo gia thì hướng đến tự nhiên, nếu là chính đạo thì pháp môn đó thật sự là sâu không thể đo lường.

Có lẽ có người sẽ cho rằng, tên tiểu tử Lư Thắng Ngạn này "sùng Đạo chê Phật", thật ra không phải vậy, bởi vì thầy của tôi, ngoại trừ Thanh Chân Đạo Trưởng của Đạo gia và Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh ra thì các vị thầy khác đều là các tông sư của Phật môn. Các vị thầy quy y của tôi là Ấn Thuận đạo sư, Đạo An pháp sư, Lạc Quả pháp sư. Giới sư của tôi là Giác Quang pháp sư, Hiền Đốn pháp sư, Huệ Tam pháp sư. Từ đầu tới cuối tôi cảm thấy rằng, văn hóa Trung Hoa sâu rộng, hai môn Phật - Đạo rộng lớn như biển hồ. Dựa vào trí lực hữu hạn của tinh lực cả một đời người của nhân loại để mà nghiên cứu thảo luận hai chữ Phật - Đạo này, ngoại trừ khen ngợi ra, người có thể đạt đến công phu của cảnh giới cao sâu kì diệu thật sự là vô cùng ít ỏi, càng chẳng có cách nào biết loại suy để mà hòa nhập Phật và Đạo trong cùng một lò.

Có người thường hỏi tôi:
"Chỗ tương thông của Phật và Đạo nằm ở đâu?"
Tôi đáp:
"Hướng về định, hướng về tịnh. Đây là phương pháp tương thông."
"Định là định như thế nào, tịnh là tịnh như thế nào?"
"Ngồi yên tự nhiên, tâm an bình tịnh, không khởi một niệm, là thành việc lớn."
"Không khởi một niệm khó tới mức nào?"
"Vì có khó nên mới có dễ." - Tôi đáp.

Khi chúng ta tịnh tọa, cần thoải mái tự nhiên, ngồi một cách nhẹ nhàng ung dung, tạp niệm lung tung cũng không lưu tâm, dần dà, tạp niệm sẽ ít đi, tự nhiên cũng xem như một trong những bước tiến đến cảnh giới phía trước.

Đầu lưỡi đặt lên hàm trên, tự nhiên nước bọt sẽ trào ra trong miệng, quán tưởng bản thân mình chính là Bổn tôn Phật Bồ Tát với diệu tướng trang nghiêm, lỗ chân lông toàn thân đều tỏa ra kim quang lấp lánh, toàn thân được bao phủ trong ánh sáng vàng kim. Lúc này, dùng mũi hít đầy một hơi khí kim quang, nuốt vào trong bụng. Tiếp đó vận chuyển khí này đi qua vĩ lư [ ND: huyệt vĩ lư nằm ở khoảng giữa xương cùng và hậu môn. ], thẳng lên đến vùng nê hoàn [ ND: nê hoàn là vùng não ở ngay phía trên trán. ], đi xuống đến bảo bình. Sau đó lại hít vào một hơi cương khí, nuốt nước bọt trong miệng xuống, khí và nước bọt hòa lẫn với nhau tại cung hoàng đình. Lúc này trong tâm niệm thầm một biến Kim quang chú:
"Thiên địa huyền tông, vạn khí bản căn.
Nghiễm tu vạn kiếp, chứng ngô thần thông.
Tam giới nội ngoại, duy đạo độc tôn.
Thân hữu kim quang, tráo hộ ngô thân.
Thị chi bất kiến, thính chi bất văn.
Bao la thiên địa, dưỡng dục quần sinh.
Thụ trì nhất biến, thân hữu quang minh.
Tam giới thị vệ, ngũ đế ti nghênh.
Vạn thần triêu lễ, dịch sử lôi đình.
Quỷ yêu tang đảm, tinh quái vong hình.
Nội hữu phích lịch, lôi thần ẩn minh.
Thông tuệ giao triệt, ngũ khí đằng đằng.
Kim quang tốc hiện, phúc hộ chân nhân."

Phật gia tịnh tọa thì trong tâm niệm thầm pháp hiệu Bổn tôn Phật Bồ Tát hoặc trì chú ngữ của Bổn tôn, tay kết ấn giống với ấn mà Bổn tôn kết, quán tưởng và niệm lực cũng tập trung vào việc quán tưởng Bổn tôn. Đây chính là chú, ấn, niệm, ba thứ hợp nhất, cũng chính là tịnh tọa hợp nhất ba thứ thân, khẩu ý. Phật gia tịnh tọa, nếu dựa theo pháp Bổn tôn mà tu hành, tinh thần tập trung vào một niệm, thường xuyên vì được Phật Bồ Tát từ bi tiếp nhận nên đạt được đạo hạnh "ngã nhập", và như thế tiến nhập vào thế giới của Bổn tôn Phật, nương dựa và duy trì pháp này thì sẽ đạt đến cảnh địa bất thối chuyển.

Pháp nuốt nhả cương khí của Đạo gia, dần dần tăng thêm quang thể, quang thể càng biến càng to, đây chính là quang minh hiển hiện. Khi niệm Kim quang chú, nên kết thủ ấn, ấn này gọi là ấn hào quang. Ấn này dùng ngón tay giữa và ngón áp út của hai tay cong vào trong lòng bàn tay, ngón cái đè lên trên ngón giữa và ngón áp út, rồi ngón trỏ và ngón út của hai tay duỗi thẳng tựa lưng vào nhau.

Bất kể là tịnh tọa kiểu Phật gia cũng tốt, tịnh tọa kiểu Đạo gia cũng tốt, thật ra đều là tu luyện dưới "định" và "tịnh", chỉ là Đạo pháp thì liên thông với môn học về kinh mạch, dùng sự tuần hoàn của kinh mạch để bổ trợ mà thôi. Phật thì dựa vào Phật Bồ Tát làm nơi quy y, Đạo thì dựa vào Đại La Thiên làm nơi quy y, Đại La Thiên giả cũng chính là cảnh giới vô hạn thiên, cũng là bất thối chuyển, không khác gì Phật. Vì thế, Đạo cũng tức là Phật.


### 04. Người học Đạo phải tu hành tích đức


Kể từ khi mấy cuốn sách tâm linh của tôi xuất bản được vài năm, nhà tôi lúc nào cũng có khách không hẹn mà tới, thậm chí xa xôi tận châu Âu, châu Úc cũng đến. Trong số đó có không ít người muốn tu đạo, tôi vẫn luôn nhìn người mà biết được rằng, mặc dù người muốn tu đạo có nhiều, nhưng người có huệ căn khí lại rất ít, không chỉ người có huệ căn khí ít mà thậm chí người có nghiệp chướng sâu nặng, bị cái xấu xa ô uế đeo bám càng nhiều hơn. Tôi vừa gặp những người này thì thấy có một số người là yêu tinh ma quỷ chuyển thế, có một số người căn bản chính là quỷ quái, có một số người thì không từ một việc xấu xa nào mà không làm, và cũng có một số người ngây thơ đáng thương. Mặc dù họ đều muốn quy y học tập Đạo pháp, một bước lên trời, nhưng họ vọng tưởng và bám chấp, làm sao có thể học thành được?

Đôi khi, tôi đứng trên đỉnh núi, nhìn lên bầu trời tròn vành vạnh, trong xanh vạn dặm, đường chân trời ở phía xa xa bị che phủ bởi màn sương mỏng bàng bạc, núi xanh biếc đứng sừng sững, dòng nước xanh ngọc bích như sợi dây dài quanh co rất tự nhiên. Khi ấy, cảm xúc trong lòng tôi rất sâu, rất sâu, tôi giống như một cái chấm nhỏ đứng cô độc bỏ quên cuộc đời. Bầu trời ở trên đầu tôi, mặt đất ở dưới chân tôi, vì sao tôi không giữ cho riêng mình, cứ thế cưỡi gió bay đi, ngộ cảnh trong lòng tôi rộng lớn mênh mông, hà tất phải ở lại trần thế làm cản trở bước chân mình? Nhưng đôi khi tôi lại muốn trở về, mặc dù tôi đã ngộ được đạo chí cao giữa trời đất, nhưng hưởng thụ một mình, ôm giữ tâm linh mình đến khô cạn ư? Tôi vốn là người chí tình chí tính đầy nhiệt huyết, Đạo pháp vô cùng tinh túy vô cùng vi diệu này chẳng phải sẽ bị chôn vùi hay sao?

Nhưng những kẻ hạ sĩ phàm trần nhiều như thế, tôi cũng tự mình biết mình, tôi sẽ chịu đựng những cơn bão táp phỉ báng từ bốn phương tám hướng, chịu đựng những kẻ đố kị ác khẩu làm hại, chịu đựng sự quấy nhiễu của con người trần tục. Cái tâm thanh tịnh vô vi vốn có của tôi sẽ biến thành vui vẻ, đau đớn, hoài niệm, buồn đau, tôi đã biến thành một người có tình cảm, đây chẳng phải là đánh mất đi cái căn bản vốn có sao. Khi người ta lui tới chỗ tôi nhiều hơn, tự nhiên sẽ sản sinh ra rất nhiều sự chán ghét xấu bẩn, cho nên tôi phải chọn địa điểm an ninh và bình lặng, ngồi trong tịnh thất mà viết sách Đạo. Đây chính là nguyên nhân mà tôi chuyển tới sống tại Seattle, ở tại Linh Tiên Các viết sách.

Nơi tôi ở hiện tại nằm ở phía tây bắc của Seattle nước Mỹ, trên đỉnh của một dải núi, nhà có tầng hầm, bốn xung quanh là vườn hoa, đám đất này rộng khoảng một nghìn mét vuông, sống ở đây rất dễ chịu. Linh Tiên Các là một thư phòng ở trên tầng ba, cũng là chóp của căn nhà này, mở cửa sổ ra có thể nhìn thấy ngọn núi tuyết Mount Rainier, phong cảnh mê đắm lòng người. Điều hay nhất là, nhà ở tại Mỹ đều là các căn nhà đứng độc lập, phong cảnh không chỉ đẹp không sao tả xiết mà còn vô cùng yên tĩnh nữa. Ngoại trừ tiếng chim ra thì gần như đó là một thế giới không có bóng người. Mùa đông tới thì khá lạnh, nhưng mùa hè thì mát mẻ, có thể gọi đây là cảnh giới thanh lương. Tôi ở đây viết sách cũng có thể xem như đã tìm được nơi thích hợp rồi.

Còn nhớ năm xưa, ân sư bảo tôi rằng: "Phàm là người học Đạo, nên lấy sự thanh tịnh làm chủ đạo, thanh tịnh hành vi, thanh tịnh tâm, nếu tâm đoan chính thì lâu ngày, nhờ tâm mà có thể giao tiếp với thần, tự nhiên có thể thông thiên triệt địa, nhờ thế học Đạo có thể thành, Đạo có thể trở thành có ích cho ta. Bất kì sự việc gì đều có thể nhờ Đạo mà thành công. Còn người hiểu đạo và học đạo nhất định phải có đức hạnh, có thể truyền thụ thì phải là người có tâm yêu người yêu vật, tâm họ thanh tịnh thì mới có lòng nhân từ trung hiếu. Nếu tâm không thanh tịnh thì làm gì có diệu thuật diệu pháp. Đây là đạo lý rất phổ thông, nghĩ là có thể hiểu được."

Theo như tôi biết, người có tâm thuật bất chính hoặc người có tâm thù hận, hai loại người này không có tư cách học tập Đạo pháp. Người có tâm thuật bất chính thì luôn nói một đằng làm một nẻo, thiện ác bất phân, tâm luôn thiên lệch, nếu học Đạo pháp thì chắc chắn sẽ vì tâm niệm đó mà chiêu cảm và giao tiếp với ma, vì thế quỷ thần mới cấm chỉ loại người này học tập Đạo pháp. Ngoài ra, người có tâm thù hận cũng không thể học tập Đạo pháp, có tâm thù hận rồi thì sẽ đánh mất nhân tâm, người đã mất nhân tâm rồi thì ngay cả tư cách làm người cũng chẳng có, người ấy nếu có tu pháp thì sẽ bị tác dụng ngược, lớn thì thành ma, nhỏ thì biến thành ác quỷ, Đạo pháp chưa thành, ngược lại đã trở thành nghiệt chướng.

Cá nhân tôi không hề chủ trương lập ra "quy phạm đạo đức tu Đạo" hoặc "hành vi tu Đạo tiêu chuẩn" gì cả, mỗi địa phương có phong tục tập quán của địa phương đó, hợp với hành vi xã hội ở nơi đó. Hơn nữa những tiêu chuẩn và hành vi đạo đức này cũng sẽ thay đổi theo thời đại và thời gian. Nhưng vẫn có một chút là không thể thay đổi được, đó chính là tâm ái và tâm hận, đó chính là chí tính vốn có của nhân loại. Yêu là thiện, hận là ác, thiên tính này còn quan trọng hơn cả quy phạm đạo đức xã hội. Tôi trước sau luôn cảm thấy tình thân giữa cha mẹ con cái anh chị em, tình cảm bạn bè hồn nhiên, thậm chí tình yêu nam nữ đều là thiên tính vốn là thế, tình yêu sẽ trở thành tinh thần trọng nghĩa, nhân ái lương thiện, vui vẻ giúp đỡ người khác, mong cầu hạnh phúc và niềm vui lớn hơn cho toàn thể nhân loại, dâng hiến bản thân cho nhân loại, đó đều là những biểu hiện của tình yêu.

Người học Đạo cần tu hành tích đức, nghĩa là người học Đạo, ngay từ khi bắt đầu đã phải có được hành vi đoan chính, tích đức tu hành, tiêu trừ những nghiệp chướng đem theo từ kiếp trước, luôn giữ cái tâm yêu thương, khiến cho ma không thể nào lợi dụng. Nếu con người có tâm tính chí thành, cho dù có gặp phải biến động nào, cùng kiệt hay thông suốt, thành công hay thất bại thì cũng sẽ không thay đổi Đạo tâm.

Tôi viết một bài kệ:
"Tu đạo vốn là tu tâm địa
Nhân ái tự nhiên Phật ngợi ca
Hận thù vốn là nơi rắn độc
Tu thành mới xem thỏa ước mong."


### 05. Đạo cư thanh tịnh vân thủy thiên


Đạo gia tu Tiên thành đạo có Tam Thanh Tiên Cảnh, Tam Thanh ở đây chính là Thái Thanh Tiên Cảnh, Ngọc Thanh Tiên Cảnh, Thượng Thanh Tiên Cảnh. Tam Thanh Tiên Cảnh này đúng là Thánh vực thanh tịnh vô vi, thân chẳng có thân ấy, tâm chẳng có tâm ấy, thức chẳng có thức ấy, cứu cánh viên mãn, huệ trí vô lậu, hình thành nên thế giới cực lạc chí thiện. Để đạt đến cảnh giới này, tự nhiên cần quên đi mọi lo âu, cắt đứt với thế gian, chuyên tâm tu trì, tinh luyện thành thạo, thanh tịnh vô vi.

Người tu Đạo sống ở thành thị mà tu hành không hẳn là không thể, nhưng ở thành thị thì người thế tục vãng lai rất nhiều, chướng khí mù mịt, rồi ca múa nơi trần thế khiến tâm không thể nào tĩnh được, e rằng sẽ làm náo loạn tâm của Đạo nhân. Vì thế, người tu Đạo thông thường nên hoặc sống ở trên núi cao, hoặc sống trong rừng sâu yên tĩnh, hoặc sống ở chùa, hoặc sống ở miếu, nguyên nhân là để không bị các việc thế tục quấy rầy, không có sắc tướng quấy rầy tấm lòng của Đạo nhân, vì vô tướng nên vô nhiễm, vì vô nhiễm nên sẽ sớm đạt được sự thanh tịnh.

Có người học Đạo đến già, càng học thần sắc càng suy yếu, tâm tính nóng nảy, muốn thanh tịnh trái lại lại bị phiền não, muốn vui vẻ nhưng trái lại lại bị vọng tưởng, muốn không tranh đấu nhưng ngược lại lại bị hãm hại, càng học Đạo càng xa, không ngờ còn chẳng bằng phàm phu. Khi họ đến thỉnh giáo chỗ tôi, tôi đến nơi họ tu Đạo để xem thì lập tức hiểu ra, thì ra họ không biết tầm quan trọng về nơi ở của người tu Đạo. Đằng sau nhà ở của họ là khe núi, trước mặt có nước chảy đến thế hung hiểm, núi ở xung quanh lại không hề đẹp đẽ, đất đá lộn xộn lại có đỉnh nhọn. Người tu Đạo không biết kiến thức địa linh, làm nhiều gấp bội nhưng công thu được thì chỉ một nửa, làm sao có thể thành công!

Tôi bảo với họ: "Kiến thức về địa linh có bốn câu, sau lưng có điểm tựa, hai bên được bao bọc, trước mặt có sông hồ, trong hồ có gò nổi. Vì thế, chọn lựa đất tu Đạo là vô cùng quan trọng, phải chọn đất có núi bao quanh, có hồ nước đẹp, đất này còn phải tàng phong tụ khí, trên khoảnh đất này, xây chùa hoặc miếu, hoặc tịnh xá tịnh thất đều được, và phải nhớ là không được nuôi động vật, ngựa hoặc gia súc, gà chó lợn đều không được đến, động vật đều là loài tanh bẩn, sẽ làm hỏng khí của địa linh. Chùa để tu Đạo thật sự thì không giống với chùa để tham quan, người làm tạp vụ không được tự ý đi vào, như vậy tu Đạo mới có thể thành công."

Sau lưng có điểm tựa, nghĩa là đằng sau chỗ ở có khí của rồng bay tới, hai bên được bao bọc nghĩa là hai bên chỗ ở có núi bao quanh, giống như núi bọc lấy chỗ ở, trước mặt có mặt gương, có dòng nước uốn lượn như đai ngọc, hoặc có cảnh sắc hồ nước thiên nhiên. Trên mặt nước có gò nổi nghĩa là trên mặt hồ nước lại phải nổi lên một đụn cát hoặc đảo nhỏ, hoặc có hoặc có núi nhỏ làm thành bức chắn. Địa lý như vậy chắc chắn là tàng phong tụ khí, cái gọi là tàng phong tụ khí nghĩa là linh khí của đất này toàn bộ đều tập trung tại đây, địa linh nhân kiệt, đạo khí dày đặc. Người học Đạo có được mảnh đất đẹp kì diệu này cũng xem như là "đạo cư thanh tịnh vân thủy thiên" rồi.

Theo như tôi biết, giữa trời đất tràn đầy linh khí, các thầy xem phong thủy (thầy địa lý) còn gọi linh khí này là linh tử hoặc tá tử. Linh khí tồn tại ở một số nơi thì nhiều, một số nơi thì ít, giống như là nơi mà có núi bao quanh hồ nước đẹp thì linh khí nhiều, còn nơi có núi non sông nước bị phá hoại linh khí sẽ ít, nơi thanh tịnh nhiều linh khí, còn nơi hỗn tạp ít linh khí. Môn học về địa linh thật ra cũng chính là kiến thức về sự phân bố linh khí, tu hành ở nơi có linh khí quy tụ nhiều thì sẽ giúp ích nhiều cho việc đắc Đạo, tu hành ở nơi có linh khí ít thì tự nhiên sẽ không dễ mà có được thành tựu, đây cũng là đạo lý tự nhiên.

Tác giả đã sống ở nhiều nơi trên thế giới, được biết đến các chủng tộc, phong tục tập quán, phẩm đức, ngôn ngữ, tính cách của nhân loại, mặc dù có ảnh hưởng bởi hoàn cảnh của tình hình trong nước, nhưng con người xuất phát từ sự thai nghén của địa linh cũng không ít. Người sống ở Bắc Bán Cầu thì thuộc về thủy, da trắng, văn minh tương đối cao, cá tính tương đối ôn hòa. Người sống ở Nam Bán Cầu thì thuộc về hỏa, da đen, văn minh khá thấp, cá tính mãnh liệt. Còn người sống ở giữa thì da vàng, đứng ở giữa hai nhóm người kia. Đây là cách phân biệt một cách đại khái, đương nhiên trong đó cũng có ngoại lệ, nhưng những ngoại lệ đó cũng là do nhân tố địa lý.

Hoa Kì, Liên Xô, Canada, Bắc Âu là các nước đại diện cho Bắc Bán Cầu.
Nam Mĩ, Châu Phi, Đông Nam Á là các nước đại diện cho Nam Bán Cầu.
Ở giữa thì đại biểu là Trung Hoa Dân Quốc, Ấn Độ.

Chúng ta chia địa cầu ra làm hai nửa, có thể phát hiện thấy rất nhiều điểm tương hợp khéo léo. Ngũ hành luận pháp của Đạo gia là: phương bắc thuộc thủy, phương nam thuộc hỏa, phương đông thuộc mộc, phương tây thuộc kim, ở giữa thuộc thổ là cũng có tồn tại đạo lý của nó. Cá nhân tôi đã đến Nhật Bản để nghiên cứu địa lý Nhật Bản, cũng đã đến Châu Úc để nghiên cứu địa lý Châu Úc. Tôi phát hiện thấy người Nhật Bản sở dĩ có tinh thần hợp tác đặc thù của họ đều là nhờ tác động của địa lý. Châu Úc sở dĩ trở thành chốn bồng lai tiên cảnh cũng là vì địa lý tạo nên như vậy. Không thể coi thường môn học về địa linh được.

"Đạo cư thanh tịnh vân thủy thiên" nghĩa là đòi hỏi bạn tìm một tịnh phòng thật sự có trợ giúp đối với việc tu Đạo của bạn. Cho dù là ở trung tâm trần thế ồn ào cũng cần tìm ra được một nơi chốn yên tĩnh tương đối có nhiều linh khí, điều này vô cùng quan trọng. Linh Tiên Tịnh Xá mà hiện tại tôi đang mong muốn xây dựng cũng nằm ở phía đông Seattle nước Mỹ, một nơi gọi là quận Redmond, phía sau lưng có hướng long mạch đến, hai bên có bãi cát ôm vào, tàng phong tụ khí, trước mặt có một cái hồ lớn, bên hồ lại có núi, đất này lại thanh tịnh. Sự duyên dáng của phong cảnh nơi đây xung quanh chẳng có chỗ nào sánh bằng, cái đẹp về địa lý lại càng thuộc hạng thượng phẩm. Đất này thật sự là tiên cảnh chốn nhân gian, chính là "khóa hạc xưng thần phẩm, linh tiên đệ nhất gia".

Thật ra không chỉ là xây chùa, xây miếu, xây tịnh xá, xây tịnh phòng mới cần chọn đất tốt, mà thật ra xây dựng nhà ở bình thường cũng cần chọn đất tốt. Nhà ở chọn được đất tốt rồi thì con cái được thai nghén sau này cũng xuất sắc hơn người. Đạo lý giữa trời đất rất đơn giản rất bình phàm, nhưng mà càng bình phàm thì trái lại, nhân loại lại càng chẳng hiểu thấu được.


### 06. Diệu pháp Cửu phụng phá uế tịnh thủy


Phật môn có ba câu chân ngôn thanh tịnh như sau:
Chân ngôn tịnh khẩu nghiệp: Om suri suri maha suri susuri soha.
Chân ngôn tịnh thân nghiệp: Om sudori sudori sumoli sumoli soha.
Chân ngôn tịnh ý nghiệp: Om vajra dam haha ho.

Đạo môn cũng có ba câu chân ngôn thanh tịnh:
Chân ngôn tịnh khẩu nghiệp: "Ôm. Ngọc trì diên tịnh, la thiên khí ngưng, hổ bôn dị hương. Nhiếp."
Chân ngôn tịnh thân nghiệp: "Ôm. Tam hoa xung cốc, ngũ khí hỗn ngưng, nội ngoại chân bạch. Nhiếp."
Chân ngôn tịnh ý nghiệp: "Ôm. Đài quang doanh khiết, thần di linh đài, ứng biến thiên chân. Nhiếp."

Thông thường trước khi đọc tụng kinh điển hoặc làm pháp, để làm cho thân, khẩu, ý thanh tịnh, đều phải đọc ba câu chân ngôn này. Chân ngôn của Đạo môn có nhiều loại, nhưng ba câu mà tác giả đã viết ra là "lời ngắn ý sâu", tương đối thích hợp để ứng dụng. Chân ngôn của Phật môn là cách phát âm theo tiếng Phạn, ý nghĩa cũng tương đồng với Đạo môn.

Trong bản văn này, tôi đặc biệt chỉ ra một diệu pháp, diệu pháp này có thể thanh tịnh đàn thành, có thể thanh tịnh phòng ở, có thể thanh tịnh con người. Tu hành theo pháp này, tự nhiên thăng lên thiên giới, nếu vì nghiệp chướng sâu nặng thì cho dù chuyển thế làm người cũng sẽ được làm người phú quý song toàn, tướng mạo phi phàm. Cao quý thì làm vương hầu, nhà cao cửa rộng, trang nghiêm xinh đẹp, trí tuệ vô song.

Phương pháp tu trì như sau:
Đầu tiên dùng một chén nước lọc, hơ qua phía trên lư hương, sau đó đặt ở phía trước thần án, chắp tay cung kính niệm thần chú Cửu phụng phá uế: "Cẩn thỉnh cửu phụng phá uế, tinh tà diệt vong, thiên tướng thần sứ, kính hạ vân cương, tinh di đẩu chuyển, liễm diễm tam quang, thượng ứng cửu thiên, hạ ứng cửu địa, lôi công phích lịch, điện mẫu diêu chung, phong vân tế hội, bố mãn thiên không, càn khôn định vị, quỷ khốc thần công, vạn thần dực vệ, pháp tắc thành công. Cấp cấp như luật lệnh."

Sau đó tay phải mô phỏng kiếm quyết, tại hư không phía trên chén nước lọc, viết chữ:


![image](/img/img_d79afd0dd117dc8a9e2e1fc6c6097b4f.jpg)


Sau đó, miệng bí mật niệm chú: "Ôm. Nhược nhật la quân trá lợi sa ha. Cẩn thỉnh nhật cung thái dương úc nghi đế quân. Hàng bố chân khí nhập thần thủy."

Tiếp theo, lại dùng tay phải kết kiếm quyết, tại hư không phía trên
chén nước lọc viết chữ:


![image](/img/img_2412781841d971175dbac3fb394c9bec.jpg)


Sau đó, miệng bí mật niệm chú: "Thiên sát, địa sát, niên sát, nguyệt sát, nhật sát, thời sát, dương sát, âm sát, nhất thiết yêu tà quỷ túy, phùng sát tự sát."

Sau đó chắp tay hát rằng: "Cửu phụng bay lượn, phá uế thập phương, thiên nhân chỉ dẫn, xuất nhập phòng hoa, thượng triều cung điện, thân kiến ngọc hoàng, tất cả ô uế, mau tránh thật xa."

Tác dụng của chén nước pháp này không thể coi thường. Ví dụ như các chùa miếu quán đường thông thường bị tà ma ác linh bình thường chiếm giữ, chỉ cần dùng nước pháp búng ngón tay vẩy lên, niệm bốn câu kệ: "Tịnh thiên thiên tịnh, tịnh địa địa linh, tịnh nhân trường sinh, tịnh quỷ diệt vong." Chùa miếu quán đường này ban đầu là mảnh đất ô uế, lập tức sẽ trở thành nơi thanh tịnh để tu cho đúng. Chùa miếu quán đường thường bị các pháp sư tà ác đố kị, các pháp sư tà ác này sẽ xua ma quỷ đến tác quái, còn "cửu phụng phá uế tịnh thủy" chính là khắc tinh của tà ma ác linh, nước pháp này vô cùng hiệu nghiệm, không thể coi thường.

Hơn nữa, có một số nơi ở không bình an, ví dụ có một số ngôi nhà trong quá khứ từng có người chết thảm, oan hồn sống lâu trong ngôi nhà đó không chịu rời đi, ngôi nhà có hướng không hợp với người sống trong nhà, nhà rách nát tan hoang, v.v… Thậm chí có những người thiết kế kiến trúc tâm thuật quá xấu xa, cố ý làm tà thuật. Dùng "cửu phụng phá uế tịnh thủy", búng ngón tay vẩy nước trong nhà, ác linh tự nhiên sẽ rời đi, quang minh lại hiển hiện, có bị người ta làm tà thuật cũng không hiệu nghiệm, hướng nhà không hợp cũng tự nhiên được bình an. Pháp này là đại pháp, nghìn vàng cũng khó mà có được, vạn vàng cũng khó mà mua được, nguyên nhân chủ yếu là vì có Thái Dương Tinh Quân, Thái Âm Tinh Quân, Tử Vi Tinh Quân tam quang giáng xuống bao bọc.

Ngoài ra, người bình thường tu trì pháp "cửu phụng phá uế tịnh thủy", tu xong pháp này, uống luôn nước đó thì thân khẩu ý đều trở nên thanh tịnh, có thể tiêu trừ nghiệp chướng kiếp trước của bản thân, tiêu trừ vọng tưởng tham sân si, gia tốc sự tiến lên phía trước của bản thân, sẽ có hi vọng tu Tiên thành Phật. Người bình thường có bệnh, dùng cách uống "cửu phụng phá uế tịnh thủy" thì người bệnh nhẹ sẽ lập tức khỏi bệnh, người bệnh nặng thì cũng chuyển thành nhẹ. Ngoài những người có nghiệp chướng rất sâu nặng ra thì tất cả đều có thể biến hung thành cát, giống như nước chú Đại Bi của Phật môn vậy, sự hiệu nghiệm của nước thần giống như hình bóng luôn theo sát ta, thật sự là kì tích.

Tôi cảm thấy rất nhiều người học Phật hoặc người tu Đạo đều muốn tu trì diệu pháp tối thắng tối cao, pháp đã học mặc dù nhiều, nhưng đến cuối cùng không biết tu pháp nào mới là tốt nhất, thì cũng lại trở thành không biết làm thế nào. Thật ra, học pháp, điều quan trọng nhất là bền lòng, chỉ cần tu một pháp, bền bỉ duy trì, thì sẽ chẳng có chuyện không thành công. Cho dù có học nghìn kinh vạn điển, nhưng lại không  thể sử dụng cho bản thân mình thì nghìn kinh vạn điển cũng chỉ như mây khói thoảng qua trước mắt, cuối cùng chỉ là một đống rác rưởi mà thôi. Giả dụ có người tu trì theo pháp "cửu phụng phá uế tịnh thủy", ngày ngày đều tu, tháng tháng đều tu, năm này qua năm khác, và không gián đoạn, người này chắc chắn sẽ thăng lên thiên giới. Nếu có ý nguyện tái thế làm người thì người này kiếp sau cũng tự nhiên cũng là quý nhân cực phẩm.


### 07. Một biểu văn với tới chín tầng trời


Người và thần giao thiệp với nhau có bí pháp thông linh, chương sau của cuốn sách này sẽ đề cập đến. Nhưng trình biểu sớ văn, dùng văn tự để trình bày lên thiên thượng chính là một nghi thức, nghi thức phải trang nghiêm. Còn việc viết sớ văn thì cũng không có quy cách nhất định. Tác giả đặc biệt lựa chọn một cách thức tương đối chu toàn để cho người học Đạo cùng xem và tham khảo, dụng ý chính của sớ văn mọi người có thể tự xem chi tiết trong phần bổ sung.

Sớ văn như sau:
"Đạo do tâm học, tâm giả hương truyền, hương đốt trong lò, tâm ở trước trời, chân linh đợi mong, cờ tiên cao lớn, nay con bẩm báo, đến tận cửu thiên. Kính cẩn đốt đạo hương đức hương, vô vi hương, vô vi thanh tịnh tự nhiên hương, linh đài huệ hương, tam giới hương, tam cảnh hương. Rộng khắp cùng cúng dường thập phương nhất thiết Phật, thập phương nhất thiết Đại La Kim Tiên.
Phục văn.
Hoàng hoàng thượng đế, cánh cửa mở rộng lợi ích cứu tế, nghiêm sư hiển hách, tiếp dẫn con đường tu chính xác rõ ràng, người ngu kiền tâm, đại tạo chiêu hồi. Đồ nhi (tên)… là môn đệ của Linh Tiên Chân Phật Tông, hết sức lo sợ, rập đầu khấu đầu trăm lạy, thành kính kiền thành tấu thỉnh:

Tiên Thiên Đạo Tổ Nguyên Dương Thượng Đế.
Vô Vi Diệu Tướng Nguyên Thủy Thượng Đế.
Tam Thanh Thượng Thánh Thập Cực Cao Chân.
Phổ Thiên Tinh Đẩu Vạn Vạn Quần Chân.
Tam Nguyên Tam Phẩm Tam Quan Đại Đế.
Bắc Cực Tứ Thánh Chân Quân.
Linh Bảo Ngũ Sư Diễn Giáo Chân Quân.
Thái Huyền Thượng Tướng Hiển Hựu Chân Quân.
Huyền Đô Đại Pháp Sư Chân Quân.
Tam Thiên Đại Thánh Sư Chân Quân.
Linh Tiên Chân Phật Tông Phái Lịch Đại Tổ Sư.

Cổ kim truyền đạo truyền pháp hết thảy uy linh. Tam giới vạn linh thập phương thống trị.
Kinh sư, Đạo Tàng Chân Nhân.
Đạo sư, Thanh Chân Chân Nhân.
Độ sư, Liên Sinh Chân Nhân.
Tất cả chân hương, phổ đồng cúng dường.

Đồ nhi biết thiên thượng từ bi phù hộ, đạo sư diễn giáo, quảng dương linh tiên, phổ tế quần sinh, phàm thân thành tâm cầu thỉnh tất sẽ được thánh tâm rủ lòng che chở, con xin kính cẩn bẩm rằng: Nam Chiêm Bộ Châu, Trung Hoa Dân Quốc, Đài Loan Đài Trung …. (tên) tịnh sở thanh tu, phụng Phật đạo tu trì, kế thừa pháp dưới môn phái Linh Tiên Chân Phật Tông nghiêm chính. Phục vi tự thân bản mệnh, sinh vào … giờ, ngày… tháng… năm… tuổi... Bởi vì chiêu luyện tiên thiên nguyên thần của bản thân, cẩn thận lựa chọn ngày… tháng… năm…, thanh tịnh trai giới, lập đàn pháp sự, kính cẩn dâng hương hoa trà quả,   xin trình bày lên cõi thượng thiên, xin nương theo pháp chỉ của Liên Sinh Chân Nhân, sai phái thiên linh thần tướng hạ giáng phàm trần, giúp đồ nhi hành pháp, trên giúp huyền giáo, dưới giúp chúng sinh.

Cầu xin:
Chính khí của Thái Thượng ban bố khắp tam thiên, thả kim quang vạn đạo, giáng xuống tưới đẫm tam điền của đệ tử, nhiếp luyện hình thần, khai sáng phủ tạng, lệnh cho âm dương hòa hợp, long hổ khảm ly mà thành chân, diệu trung hợp diệu, thân ngoại hóa thân, triệu tướng lập tức tướng đến, triệu thần lập tức thần đến.

Kính mong tổ sư dìu dắt kẻ học sau, chỉ bảo tông phong.
Bách bái cẩn ngôn."

Bản sớ văn này có thể xem như là sớ văn quy y của Linh Tiên Chân Phật Tông, cũng có thể xem như là sớ văn truyền pháp của Linh Tiên Chân Phật Tông. Bởi vì người học Đạo, khi bắt đầu phải có một nghi thức dâng tấu chương đơn giản, thể hiện rằng bạn thật sự thành tâm đối với việc học, và cũng xem như là chính thức nhập môn làm đệ tử. Còn học Đạo là việc cả đời cả kiếp, là một việc vô cùng quan trọng. Cá nhân nửa đường tâm chán ý nản, nửa đường bỏ ngang, thậm chí không muốn tu Đạo, đó là việc của cá nhân đó. Ông tu ông được, bà tu bà được, sư phụ hướng dẫn nhập môn, còn việc tu hành nằm ở từng cá nhân, thành tựu ra sao chỉ có thể trách bản thân, không thể trách người khác.

Có người trong quá khứ muốn học tu Đạo, đã tìm đến tôi, vừa mở miệng ra đã hỏi: "Có thể một ngày đã học được thông linh không, có thể một ngày đã tu thành Đạo, đạt đến chân lý không? Tôi không có nhiều thời gian, tôi bận lắm."
Tôi bảo với anh ta: "Thông linh chỉ là một phương pháp tu Đạo, tu Đạo là việc cả một đời, Đạo nằm ở trong cuộc sống thường ngày, ăn mặc ở đi đứng nghệ thuật âm nhạc đều có Đạo, Đạo phải giữ được sự bền bỉ, không có Đạo nào thành chỉ sau một đêm cả."
Người đàn ông đó phủi phủi mũi rồi bỏ đi.
Loại người kiểu như vậy rất nhiều, loại người chỉ nóng được năm phút càng nhiều.

Khi đốt sớ văn sẽ hình thành một đường ánh sáng trắng trôi trong không khí, và sau đó có một vị Công Tào Thần mặc y phục màu đỏ rất diễm lệ vươn tay ra để nắm lấy đường ánh sáng trắng này, sau đó lần lượt đi lên từng tầng trời. Nếu là đốt chân hương, dùng sớ văn chân thành, nhất định sẽ có Công Tào Thần tiếp chỉ chuyển trình. Nếu tâm thần qua quýt, thái độ uể oải, nghi thức không chu đáo, thì sớ văn cũng như trò đùa, giấy đốt xong biến thành một đống tro đen mà thôi. Nếu tâm không cung kính kiền thành, không có chân tâm chân ý, thì đừng lãng phí tinh thần, cũng không cần phải quy y, càng không cần học Đạo, tránh khỏi sau này Đạo pháp chưa thành, ngược lại còn dẫn đến bị trời khiển trách.

Người học Đạo học Phật thông thường không chỉ quy y mới cần đốt sớ văn, học pháp thọ giới đều phải đốt sớ văn, hành pháp tác pháp đều phải đốt sớ văn, pháp hội cũng phải đốt sớ, người tu Đạo gặp chuyện khó giải quyết cũng có thể tấu lên thiên thượng, dùng pháp thông linh, pháp đốt sớ đều được, có thể sẽ có được gợi ý từ thượng thiên. Vì thế, lợi ích của việc dùng biểu văn đốt sớ là rất nhiều, nhưng những việc nhỏ như hạt vừng hạt đậu thì không cần thiết. Thiên thượng giới lo việc của thiên thượng giới, những việc thế tục của địa thượng giới thì đừng quấy rầy tới thần cõi trời phải xử lý, đó cũng là một trong những lễ tiết.

Cần nhớ rõ sớ văn phải viết ngày tháng năm, hơn nữa tốt nhất là áp ấn, dùng ấn của chùa miếu quán đường, nếu không thì dùng ấn của cá nhân, trước khi đốt thì đọc tụng trước Phật, hơ qua khói của lư hương. Cần nhớ kĩ, nhớ kĩ!


### 08. Chày kim cang bảo kiếm hàng ma


Người học Phật nhiều, người học Đạo cũng nhiều, nhưng người nghiên cứu "ma pháp" thì ít thấy.
Tôi từng hỏi một đại sư Phật giáo: "Ma là gì?" 
Ông ấy ậm à ậm ừ, hỏi một đằng trả lời một nẻo.
Tôi hỏi một tu hành giả Đạo gia: "Ma do đâu sinh ra?" 
Ông ta cũng không nắm được.

Tôi từng đăng tải một bài viết trên phụ bản Nhật Báo Đài Loan: "Từ tĩnh tọa thiền định nói chuyện tẩu hỏa nhập ma". Thật ra rất nhiều người đều hiểu bốn chữ "tẩu hỏa nhập ma", nhưng lại không biết tẩu hỏa nhập ma là như thế nào, là trạng thái tâm lý thế nào. Kì thực, ma có ngọn nguồn của ma, có thể biết được ngọn nguồn ấy thì mới có thể tìm được nguyên nhân thật sự của việc tẩu hỏa nhập ma, như thế mới có thể cứu chữa được. Còn các đại sư Phật giáo, Đạo giáo bình thường, hễ gặp tẩu hỏa nhập ma thì chỉ biết nói: "Thôi rồi, thôi rồi!" Biểu thị rằng tu hành thế là xong rồi, không có thuốc nào cứu được, họ không giải thích được ma là cái gì. Chỉ biết những chi tiết vụn vặn bề ngoài, nguyên nhân chủ yếu của nó thì không động chạm đến, vì thế vô pháp cứu chữa.

Theo tôi nghiên cứu và biết được thì "đạo cao một xích, ma cao một trượng", câu nói này thật sự không sai. Tôi bổ sung thêm một câu là "đạo tâm vừa khởi, ma tướng liền sinh", cái khó của tu Đạo chính là ở đây. Nhìn chung những thần ma bay trên trời, tinh linh, quái tà, yêu quái thật sự không phải là phàm phu bình thường có thể biến hóa ra được, mà chúng là biến hóa thân của một số người tu hành Phật - Đạo. Người tu Đạo mặc dù tu Đạo, mặc dù dựa theo chính pháp mà làm, cũng làm công đức, nhưng tâm họ chưa phục, ví dụ tâm đố kỵ chưa trừ bỏ được, tâm kiêu căng chưa trừ bỏ được, tâm tranh giành chưa trừ bỏ được, tâm ngạo nghễ chưa trừ bỏ được, tâm cuồng si chưa trừ bỏ được. Mà như thế thì, dù có tu hành cũng chưa thể nhập vào cảnh giới chính pháp, nơi họ đọa lạc chính xác là "ma giới", ngưu tầm ngưu mã tầm mã, cứ theo xu hướng ấy của tâm mà quy về ma cảnh. Đó chính là nguyên nhân sản sinh ra thiên ma. Giải thích đúng đắn về thiên ma chính là: "Người tu hành theo Phật - Đạo, nhưng có tâm thiên lệch bám chấp."

Nguyên nhân gây nên tẩu hỏa nhập ma mặc dù rất nhiều và phức tạp, nhưng theo tôi nghiên cứu, đại thể là có hai loại:
Thứ nhất, nghiệp chướng kiếp trước sâu nặng, người có nghiệp chướng nặng thì đại bộ phận đều có oan hồn kiếp trước theo thân để đợi cơ hội ra tay, người tu hành tu công phu thanh tịnh thì vào giây phút quan trọng nhất, những oan hồn này sẽ lần lượt hiện thân, thừa cơ xâm nhập vào trong thân của người tu hành, đây chính là "đoạt xá". Vì thế, người có nghiệp chướng nặng thì đừng có bắt đầu tu từ khởi linh và thiền định, nhất định phải tu tiêu nghiệp chướng trước, hoặc tu pháp Chày kim cang bảo kiếm hàng ma mà tác giả viết trong bản văn này.

Thứ hai, người tu Đạo nhất thiết phải trừ bỏ những mê hoặc danh lợi ở bên ngoài, những thứ cám dỗ và tập tính chưa bỏ được thì một khi gặp phải cám dỗ, tâm tự nhiên sẽ điên đảo, tập tính không có cách nào tự kiểm soát được, thế là biến thành những thói mê thích cực đoan, sự đố kỵ và thèm khát đều không thể được. Bởi chưa điều phục được tâm linh thì khi tĩnh tọa tu công, tâm một khi điên đảo thì thiên ma sẽ theo cái mà tâm bạn hướng đến, thừa cơ "đoạt xá". Sau khi chiếm được thân bạn rồi, thiên ma sẽ bám vào tâm bạn, các huyễn tướng sẽ liên tiếp xuất hiện, khiến bạn tự cảm thấy là mình đã đắc đạo rồi, tự cho rằng mình là thiên hạ đệ nhất, một mực mê muội vào trong đó, mê tới mức không biết đường trở về, cho dù cái chết cận kề thì cũng không tự ngộ ra được.

Người bị tẩu hỏa nhập ma, nghiêm trọng thì giống như hiện tượng tinh thần thất thường, không ăn không ngủ, có một số người thì trong miệng luôn lẩm bẩm tự nói, hành vi và lời nói việc làm mất đi trạng thái bình thường, đi đâu cũng tự xưng là người đắc đạo. Thêm nữa, vì ngạo tâm chưa trừ, tự cho mình "còn cao hơn Phật", cao siêu hơn cả Ngọc Hoàng Thượng Đế, thật ra trạng thái tâm thần gần như là vô tri, khiến người ta thấy tình cảnh đó mà sinh lòng thương hại.

Người bị tẩu hỏa nhập ma nếu tình hình nhẹ thì sẽ sinh ra hành vi và lời nói ưa thích cái gì đó thái quá, ví dụ như đặc biệt thích sạch sẽ, ám ảnh về việc sạch sẽ hơn người bình thường, cho rằng trên đời này không có cái gì là không bẩn. Hoặc có người thì ưa thích cô độc, hoặc có người thì ưa thích tức giận, hoặc có người thì thích ngoan cố, hoặc có người thích kiêu ngạo, hoặc có xu hướng thay đổi rất nhanh, v.v… Thiên ma đoạt xá là dựa vào tâm thái của người đó mà bám vào cái tâm ý đó, thần hồn điên đảo, đáng thương lắm thay!

Vì thế, người tu Đạo cần học pháp Chày kim cang bảo kiếm hàng ma, đạo lý nằm ở đây. Trước khi tĩnh tọa tu công cần làm pháp như sau:

Dùng hai tay kết hai thủ ấn Lôi đình [lôi đình là sấm sét]. Tay phải kết ấn Đình, ngón cái cong gập lại đè vào vết hằn ở giữa ngón út và áp út (giữa Tý và Hợi), rồi ngón trỏ, ngón giữa, ngón áp út và ngón út đều cong lại đè lên trên ngón cái. Nắm đấm làm thành thức hàng ma. Tay trái kết ấn Lôi, ngón cái tay trái cong gập lại, đè vào vết hằn ở chân ngón áp út (Tý), rồi ngón trỏ, ngón giữa, ngón áp út và ngón út cong lại đè lên trên ngón cái, nắm đấm làm thành thức hàng ma.

Đầu tiên chắp tay lại bắt đầu từ giữa hai lông mày tách ra, chạm vào hai tai, rồi hai vai, hai mạng sườn, đến tim, chạm vào hai eo, hai thận, hai hông, hai đầu gối. Sau đó, tay trái kết ấn Lôi, từ hổ khẩu [hổ khẩu là khoảng giữa ngón cái và ngón trỏ], lướt lên đến vai, rồi tay phải kết ấn Đình, từ vai trái lướt xuống đến hai eo. Nam trái nữ phải, chân dậm, niệm chú rằng: ***"Kim cang bảo kiếm hàng ma xử, lôi đình vạn quân thế như thiên, thiên ma tinh tà giai độn khứ, tâm hữu quang minh bất đảo điên. Cấp cấp phụng hộ pháp long thiên luật lệnh sắc."***

Theo như tác giả hiểu, học Phật tu Đạo tất sẽ có nạn ma, Phật Tổ ở dưới gốc cây bồ đề bị ba cô gái của Ma Vương mê hoặc mà không động tâm, chúa Jesus ở nơi đồng hoang 49 ngày bị Ma Vương dụ dỗ mà không động tâm. Đại đạo sắp thành thì ma tướng tất hiện, điều này là tự nhiên thôi. Hơn nữa, người tu Đạo quan trọng nhất là phải kiểm soát được tâm mình trước, tâm mình bất động thì đạo sẽ thành, tâm còn chạy lung tung thì là phàm phu. Thì ra chẳng phải thiên ma tìm đến bạn, mà là do tâm động thì cảm nhiễm thôi, nếu vô tâm thì cũng vô ma, còn có tâm thì sẽ nhiễm ma, đạo lý ấy nằm ở đây, không thể không biết.

Pháp Chày kim cang bảo kiếm hàng ma là pháp song tu Phật - Đạo, Bồ Tát Vi Đà, Kim Cang Nộ Mục, thiên ma khiếp sợ, chày hàng ma hộ trì tại thân thì không lo không sợ. Nhưng chớ để tâm gọi ma tới, cái này không phải trò đùa.


### 09. Khởi linh thần công đệ nhất pháp


Trong cuốn văn tập số 22 mà tác giả đã viết có một bài là "Khởi linh thần công đệ nhất pháp", và trong cuốn "Thông linh bí pháp thư" này cũng lại viết "Khởi linh thần công đệ nhất pháp", hai bài này chẳng phải là trùng lặp sao? Nhưng tôi nghĩ đến cuốn số 22 "Khởi linh học" xuất bản vào năm Dân Quốc 65, tác phẩm của sáu năm trước, người có "khởi linh học" cố nhiên là rất đông, nhưng người chưa đọc về pháp này cũng không ít. Bài viết này là trọng điểm tu hành khởi linh của Linh Tiên Chân Phật Tông, không thể không biết, vì thế trong cuốn sách này tôi đặc biệt nói rõ lại những điểm quan trọng.

Thế nào gọi là khởi linh? Khởi linh nghĩa là biến phàm phu thành người có linh giác, cũng có nghĩa là biến linh hồn thành có tri giác, quá trình này gọi là khởi linh. Pháp môn vận dụng tri giác của nguyên thần để tu hành chính là pháp môn tu hành của Linh Tiên Chân Phật Tông. Phương pháp này là phương pháp cảm ứng thù thắng, ai ai cũng có thể biết được thực sự có cảm ứng, thực sự có quỷ thần, nói theo cách rất gây sự chú ý của người ta thì là "xuất sắc vô song".

Khởi linh thần công đệ nhất pháp, trọng điểm như sau:
Thứ nhất, bất kì người nào muốn khởi động hoạt linh, điều kiện thứ nhất là phải có tín ngưỡng tôn giáo, người không có tín ngưỡng tôn giáo thì xin đừng tùy tiện thử nghiệm, người thành tâm linh động, kiên định thì không có chuyện không thành công. Nếu trẻ con muốn khởi linh, tôi khuyên họ hãy bỏ đi, bởi vì không có tín ngưỡng tôn giáo kiên định, không làm chủ được tinh thần thì rất dễ nhập ma. Nếu chỉ là thử nghiệm cho vui thì rồi sẽ rất hối hận, tôi khuyên họ cũng đừng như thế, bởi vì một chữ "chân thành" vẫn là nền móng của trời đất, là sự khởi đầu của vạn pháp, tất cả đều bắt đầu từ chữ "chân thành" này, như thế đã là thành công một nửa rồi. Nếu còn nghi hoặc thì vẫn là người không có đủ nhân duyên.

Thứ hai, khởi linh lấy hơi thở và ý niệm làm trọng, bất kì suy nghĩ nào cũng phải dừng lại, chỉ giữ lại suy nghĩ khởi linh, vạn pháp quy nhất, vạn niệm quy nhất, một niệm không khởi lên thì cái này cũng tức là cái chân cơ huyền diệu, sự xung kích của hoạt linh, sự xuất hiện của Phật tính đều nằm trong một niệm còn lại này, mà một niệm tức là vô niệm, vô niệm thì là chuyên nhất, một tiếng sấm rền, thần quang như linh xà chạy nhảy dữ dội, hễ được tiếp dẫn thì một cảm giác đến từ toàn thân, cứ như thế nguyên thần hoạt bát ở trên thân lưu động như mạch máu chảy, đều có thể cảm nhận được vô cùng rõ rệt, sự chuyển động của linh hồn này giống như con rắn bò đi khắp toàn thân.

Thứ ba, người muốn khởi linh, trước tiên phải chuẩn bị một căn phòng sạch sẽ, cũng giống như phòng thiền của Phật gia, có thể dùng thư phòng cũng được. Khởi linh không được ngồi trên giường, mà phải ngồi trên một chiếc ghế sạch sẽ đặt trong phòng, không cần phải chú trọng đến cách ngồi ra sao, không cần phải ngồi khoanh một chân, khoanh hai chân hoặc ngồi kiểu hoa sen mà có thể ngồi tùy ý, chú trọng đến sự tự nhiên thoải mái, làm sao để có thể ngồi được rất lâu là ổn. Trước đó cần tắm gội trai giới, cầm hương bẩm báo với thiên địa thần linh, thái độ trang nghiêm, không được làm một cách tùy ý qua loa, trai giới được ba ngày thì tốt, càng lâu càng tốt, về mặt tinh thần thì phải thành tâm, tuyệt đối không được đắc tội với thần linh cõi trời, nếu đắc tội thì các vị không thể trợ lực, mà thế thì cũng vô dụng!

Thứ tư, trong tịnh phòng châm hương, một nén hương hoặc ba, năm nén hương đều được. Tín đồ Phật giáo thì trong tâm có thể niệm thầm A Di Đà Phật, tín đồ Đạo giáo thì trong tâm có thể niệm thầm Diêu Trì Kim Mẫu, tín đồ Cơ Đốc giáo thì trong tâm có thể niệm thầm Jesus Christ, tôn giáo khác thì cũng như vậy mà suy ra. Phải nhớ hai tay cần chắp lại, chắp lại đặt trước ngực, hai mắt nhắm lại, hai chân chạm đất, nhất tâm hoàn toàn tập trung vào niệm thầm bốn chữ Thánh hiệu. Lúc này, bàn thờ thanh tịnh, tâm thông với trời, nếu cảm động khiến thiên thần hạ giáng thì thiên thần sẽ nhanh chóng tương trợ, và linh của bản thân ở hải để luân sẽ động đậy, giống như con gà nhỏ đang nứt vỏ, linh hồn trong sát-na sẽ bật tung ra, thần trí lúc này rất sáng sủa, và không cần phải sợ hãi, cứ để cho linh ấy tự chuyển động. Lúc này, lập tức tay múa may, chân giẫm đạp, đầu lắc tay vẫy, thân cũng chuyển động, cái này gọi là sáu cơn đại chấn động của tiểu chu thiên. Thần sắc không đổi, bàn thờ thanh tịnh, không nhiễm ác duyên, không chấp dị tướng, đây mới là chính đạo.

Thứ năm, khởi linh phải cần thời gian bao lâu, phần lớn thì mỗi lần khoảng năm mươi phút, cái này cũng thay đổi tùy theo mỗi người, mỗi người mỗi khác, có người vừa ngồi xuống, dựa theo pháp nhân duyên, chưa đến một phút là đã có được cảm ứng rồi. Cũng có người phải ngồi đến lúc thời giờ đến mới có cảm ứng, có người liên tục tĩnh tọa mười lần mới có được cảm ứng. Theo tôi nghiên cứu, người bình thường khi ngồi tĩnh tọa thì thường không thể tĩnh lại được, các suy nghĩ trong đầu cứ tuôn trào như sóng, mà đã như thế thì muốn cảm động thiên thần hạ giáng là vô cùng khó, ngược lại còn dễ vấp phải ma đạo. Nếu ở trước Phật Bồ Tát mà khởi linh, có minh sư bảo vệ thì tương đối sẽ không xảy ra sai lầm gì. Có một số người không dựa theo chính pháp, không thành tâm, Thiên long Hộ pháp chưa đến, ngược lại còn bị âm thần quấy nhiễu, như thế thì rất phiền phức. Hôm nay tôi giải thích rõ như vậy, nhấn mạnh thêm một lần nữa, rằng không được xem thường đây là trò chơi, như thế thì cực kì không tốt.

Thứ sáu, các tông sư Phật môn nhiều đời ngày xưa, công án thiền nhiều, Thiền tông cũng nói về tĩnh tọa, Thiền tông nói về nhất tâm bất động, pháp chân không cũng là không, không chấp vào một niệm. Nhưng mà ngày nay, Linh Tiên Chân Phật Tông của Lư Thắng Ngạn tôi và Thiền tông vừa khéo lại tương phản với nhau, mặc dù tương phản, nhưng mục đích là giống nhau, hoàn toàn là vì để người người có thể thành Phật tác tổ. Thiền là nói về định, nói về tĩnh, còn tôi nói về linh, nói về động, cái này giống như một biển lớn, những con sóng trên mặt biển chuyển động ghê gớm như vậy, nhưng mà đáy biển thì vẫn bình lặng như nước đứng yên. Những linh tính cuồn cuộn cũng như thế. Nếu hiểu được câu nói này của tôi thì chính là đồng đạo đồng môn.

Còn nhớ Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh từng chỉ thị cho tôi rằng: "Phật ta độ người, vốn có vô lượng pháp môn, thiền pháp mặc dù to nhỏ vi diệu, nhưng cũng có thể nói là phàm phu thế tục ngồi khô ba đời cũng chẳng đi đến đâu, thượng nhân rốt cục quá ít. Nay pháp môn Linh Tiên Chân Phật mới bắt đầu, thời cơ phổ độ Phật pháp đã đến, Liên Sinh, đừng quên "khởi linh thần công đệ nhất pháp" mà ta đã giao phó cho con, để chúng sinh ban đầu có được cảm ứng, phụng trì cả đời, sớm chứng bồ đề."

Có người hỏi tôi:
"Khởi linh ngoài cách làm như vậy ra, còn có câu chú gia trì nào nữa không?"
"Có chứ."
Chú rằng: "Linh Bảo Thiên Tôn, hộ thân nguyên thần, kích khai thiên linh, biến hồn hóa thần, cấp cấp luật lệnh nhiếp."

Cũng có người học khởi linh xong liền buông lơi, trên thực tế những người kiểu đó cũng rất nhiều, bởi vì khởi linh thì dễ, muốn tu "trúc cơ" thì cần ba năm, sau ba năm lại tu "thổ nạp tĩnh công" ba năm nữa, sau khi thành rồi thì lại tu pháp "nhập ngã ngã nhập biến thân" ba năm nữa, như thế là cần chín năm mới xem như là có được cái nền cơ bản. Nếu thành công "nhập ngã ngã nhập" thì tôi dám bảo đảm Diêm Vương tiểu quỷ đều không bằng, thiên quan thiên sứ cũng không dám coi thường nữa. Nguyên thần của chúng ta từ lâu đã thành tựu tượng của tổ sư huyền tổ rồi, thành cái thể của Phật Tổ kim quang rồi.
Nếu chỉ khởi linh mà không biết tu "đan nguyên tĩnh công" thì cũng vô dụng thôi.


### 10. Pháp thông linh thỉnh thần


Xưa nay quỷ thần trong thiên hạ
Tâm niệm đức triệu tự thần thông,
Thiên nhãn thấy được hư không giới
Thủ ấn kiệt xuất tự đắc xuân.

Bài kệ này là do thầy của tôi Thanh Chân Đạo Trưởng nói. Thầy tôi nói rằng: "Con người có thể thông linh thỉnh thần chủ yếu là do tu thành linh thể, linh thể và thần linh có cùng một nhân tử, vì thế có thể đạt được cảm ứng. Muốn thỉnh thần phải dựa vào đức hạnh và thần cách tương đương thì mới có thể cảm động tới thần linh ở thượng giới xuống để tương trợ." Ý trong lời dạy của thầy tôi thường xuyên động viên tôi, phẩm cách người tu đạo phải thanh cao, cá tính phải ôn hòa, đức hạnh phải tuân thủ, như vậy mới có thể triệu thỉnh được "cao linh". Ngược lại, phẩm cách thấp hèn, tâm địa hẹp hòi, vô công vô đức, cho dù có học được cách thông linh thỉnh thần thì cũng chỉ thỉnh được những loài quỷ linh tiểu tinh kém cỏi hổ thẹn mà thôi.

Ông Lý Hồng Hổ cảnh sát hình sự ở thành phố Đài Trung kể với tôi một câu chuyện rất thú vị. Ông ấy nói ở Lộc Cảng [ ND: một thị trấn ở huyện Chương Hóa, Đài Loan ] có một người tự xưng là Thái tiểu thư thông linh, dáng người phốp pháp, trên mặt đầy tàn nhang, tuổi tác cũng không còn nhỏ, nghe nói là không gả được cho ai. Có một lần, cô ta thông linh thỉnh thần, bất ngờ hét lớn: "Huyền Thiên Thượng Đế, ông lại đây cho tôi! Trì Phủ Thiên Tuế, ông cút đi cho tôi!" Lý Hồng Hổ thở dài nói với tôi: "Tôi chỉ nhìn một lần, lắc lắc đầu, lần sau mời tôi đi tôi đều không đi." Cảnh sát Lý cho rằng những thần mà để cho một bà cô xấu xí béo mập như vậy quát tới quát lui thì còn chẳng bằng người hầu, trên đời làm gì có chuyện như vậy, đây không phải bị bệnh thần kinh thì cũng là lừa đảo, những người bị cô ta hù dọa có trình độ hiểu biết quá thấp kém, thật sự tin rằng cô ta là Quan Thế Âm Bồ Tát, Quan Thế Âm Bồ Tát thì cũng không thể sai khiến những vị thần khác như nô tài như vậy được. Cảnh sát Lý còn nói: "Người tu Đạo tu muốn chết mới xưng thần nhập tiên được, kết quả là để cho một bà cô bị bệnh thần kinh sai khiến, có mà tu cái rắm."

Tôi cảm thấy, chúng ta không nên trách cảnh sát Lý đã nói những lời ác khẩu phê bình Thái tiểu thư, nhưng Thái tiểu thư đã để cho rất nhiều người tu Đạo có ấn tượng không tốt, nghe nói bụng dạ cô ta rất hẹp hòi, hơi một tí là nói cô ta kiếp trước là con gái của một đại đế nào đó, thỉnh linh triệu thần như gọi nô tài, trong thiên hạ này cô ta là to nhất, kiêu căng ngang ngược. Còn đối với việc có linh hay không thì càng bị người ta giễu cợt. Tác giả chưa từng gặp mặt Thái tiểu thư, chỉ nghe lời đồn, có lẽ cũng có sai sót. Nhưng cảnh sát Lý là một trong số những nhân chứng cho thấy Thái tiểu thư không biết nghi quỹ Đạo pháp, chỉ làm qua loa tùy tiện, tương lai chắc chắn sẽ phạm tội với trời. Tại hạ kém cỏi nay sống tại Seattle nước Mỹ, vốn dĩ bà cô này làm cái gì chẳng có dính dáng gì đến tôi, nhưng người tu Đạo vốn có lòng từ bi, khi đã biết rồi thì không có cái đạo lý không cứu.

Tôi đặc biệt nói rõ cách thông linh triệu thần chính xác như sau:

Thứ nhất, triệu thần từ cõi trời có nghi quỹ phức tạp, trong pháp môn Chính Nhất của Đạo gia [ ND: phái Chính Nhất ] có ghi chép đầy đủ. Trong Phật môn, khi cúng dường lên trên, kính mời chư Phật thọ cúng, vẫn phải chí thành làm theo nghi thức, đồng thời người làm tạp vụ không được đi vào tịnh đàn, vì sợ rằng sẽ có ô uế. Bởi vì nghi quỹ rất nhiều, nhưng đại để là giống nhau, không ngoài trai giới tắm gội, hết sức cung kính, bẩm báo lên bề trên, viết phù niệm chú để thỉnh linh cung nghênh cung tiễn, hành lễ đúng theo lễ nghi, đây là những cảnh tượng thường thấy Phật gia, Đạo gia hay dùng.

Thứ hai, giả dụ sự tình rất khẩn cấp, địa điểm cũng không phải ở trước đàn miếu chùa chiền, người thông linh cũng phải rửa tay súc miệng trước, thành kính hướng mặt lên không trung, dùng tay phải kết kiếm ấn viết lên hư không ba chữ "vân quỷ phi". Tay trái bấm vào chi giờ của ngày hôm đó, nếu ngày hôm đó là ngày Giáp thì bấm vào vị trí vết hằn của giờ Tí. Sau đó bật hơi thành tiếng: "Lôi đình hiệu lệnh, cấp như tinh hỏa, thập phương tam giới, khuynh khắc diêu văn, linh quan truyền tấu, luân niên trực nguyệt, bản nhật bản thời, thọ sự Công Tào, thông linh thổ địa, vấn ngô luật lệnh, hỏa tốc đáo lâm, hữu sự tương bẩm, cấp cấp luật lệnh." Sau đó lại dùng kiếm chỉ viết lên hư không ba chữ "Ôm hum hum", rồi lại niệm: "Công Tào cấp chí sô ha." Đợi Công Tào Linh Quan Thần đến rồi thì lần lượt thưa bẩm sự tình, như vậy là thành.

Thứ ba, nếu phụng thỉnh các vị cao nhân chân nhân ở Tiên Thiên Vô Cực thì chú ngữ để tuyên triệu như sau: "Tiên Thiên Vô Cực, Tổ Sư Pháp Ấn, Linh Quan Thiên Quân, Vô Tư Phạt Ác Vương Thiên Quân, Oanh Thiên Phích Lịch Trần Nguyên Sư, Kim Tiên Khảo Quỷ Khâu Nguyên Sư, Chung Thượng Tự Khởi Nhị Lôi Thần, Tiên Thiên Ngũ Lôi, Hậu Thiên Ngũ Tướng. Ôm hum tra li." Chí thành cầu nguyện như vậy, Thiên Quân chắc chắn đến, sau đó lại dùng miệng để thưa bẩm trình bày việc quan trọng, làm như vậy chắc chắn với tới cõi trời.

Theo thầy tôi nói: "Cảnh giới Thần Tiên chí cao vô thượng, phàm phu bình thường không thể trực tiếp tuyên chú mà gọi được, đại bộ phận đều phải do Công Tào, Linh Quan, Thiên Quân chuyển hộ lời trình. Có sự chuyển hộ lời trình thì mới là thông linh triệu thần chính xác. Các thần của địa thượng giới gọi là phân linh, có nơi thì gọi là phúc tôn, họ cũng có năng lực truyền bẩm lên cõi trời, cũng có thể tuyên triệu. Còn như các loài yêu ma quỷ mị thì thường giả danh thần thánh giáng kê giáng bút, xưng tiên tác tổ, những chỉ thị do các phi linh này truyền tới không chắc đã là cao chân lâm đàn thật sự, việc này phải phân biệt cẩn thận mới được. Cái khó của tu Đạo chính là khó phân biệt đó."

Nghe nói, hiện nay tương đối nhiều người tự xưng là thông linh, ở Nam Đầu [ND: một thành phố ở Đài Loan ] có một vị là Minh Sư tiên sinh, nói rằng thần nhìn thấy ông ta thì cũng phải quỳ xuống, còn vĩ đại hơn cả hoàng đế chuyên chế. Thái tiểu thư ở Lộc Cảng coi thần như nô tài. Lão tiên sinh ở Gia Nghĩa [ ND: một thành phố ở Đài Loan ] chỉ tay vào máy bay thì máy bay sẽ rơi xuống. Hồng đạo trưởng từ Hậu Lý chuyển đến Long Tỉnh thì nói rằng ông ta là con của Thông Thiên. Bọn họ tự đánh trống tự thổi kèn, đều nói mình rất vĩ đại. Ngoài ra, lão tiên sinh Lý Ngọc Giai của Thiên Đế giáo nói rằng ông ta là Giám Sát Thiên Quân đời cuối cùng ở thiên thượng chuyển kiếp, là người duy nhất tồn tại ở nhân gian, người khác đều là giả, chỉ có ông ta là thật. Lão tiên sinh Lý Ngọc Giai từng gặp tác giả một lần, khi đó ông ấy vẫn chưa lập ra Thiên Đế giáo, tại nhà của ông Hoàng Hựu Thanh, ông ấy đã thỉnh giáo tôi những chuyện về Thánh giáo Thiên Đức. Buổi tối, trên tầng cao nhất của khách sạn Lục Phúc, ông ta còn đặt tiệc chiêu đãi tôi và học sinh của tôi, người đến dự tiệc hôm đó có Trần Tước Hằng, Lâm Thông Nhân.

Tốt rồi! Tôi chúc phúc các vị, thượng thể thiên tâm, thiện chí vận linh, đừng tranh dài ngắn, thế là tôi vui rồi.


### 11. Thân ngoại hóa thân hiển thần thông


Truyền thuyết kể rằng có một vị cao tăng Phật môn, lúc bình thường biểu hiện rất xoành xĩnh dung tục, cũng chẳng cảm thấy có đạo hạnh gì cả. Người khác hỏi ông ta có thần thông gì, ông ta nhếch mép cười ngu ngơ một hồi, rồi chỉ nói rằng: "Thần thông, thần thông, chó rắm chẳng thông."

Đệ tử của ông ta kể với ông mỗi khi các tăng nhân khác có cảnh giới kì lạ của họ, ông ấy luôn nói một câu: "Không hẳn là có chuyện đó thật đâu." Các đồ đệ thấy thầy mình biểu hiện bình thường, tướng mạo thì mặt ngựa mắt chuột, hỏi ông ta Phật pháp thì ông ta luôn nói nghìn bài như một rằng: "Phật pháp phi pháp." Do vậy, các đồ đệ người thì bỏ đi, người thì tản mát, đến cuối cùng chỉ còn lại mười mấy đồ nhi nuôi dưỡng ông ta, còn ông ta thì vẫn chẳng bận tâm chuyện đó.

Mãi cho đến buổi tối trước khi ông ta sắp viên tịch, vào cùng thời gian đó nhưng ở các địa điểm khác nhau, vị trưởng lão đó đã hiện các thân khác nhau truyền "vô thượng thượng căn bản chân quyết" cho mười mấy đệ tử. Nói cách khác là, vào lúc trưởng lão sắp chia tay các đệ tử thì ông ấy mới biểu lộ thần thông lớn nhất, phân thành mười mấy thân, đồng thời thuyết pháp cho mười mấy đệ tử. Mãi đến khi các đệ tử vội vã trở về để làm hậu sự cho trưởng lão, mọi người cùng kể chuyện thì mới biết ai nấy đều gặp cảnh ngộ giống nhau, khi ấy mới biết trưởng lão là cao tăng có đạo, biểu hiện thô tục bên ngoài chẳng qua chỉ là che đậy diện mục vốn có mà thôi. Sau khi hỏa táng cho trưởng lão thì tự nhiên cũng có xá lợi toàn thân, khiến người ta không ngớt cảm thán.

Phương pháp thân ngoại hóa thân cũng gọi là thuật phân thân. Thuật phân thân so với nguyên thần xuất ra khỏi lỗ đỉnh đầu thì khó hơn, cảnh giới cao hơn. Nguyên thần của Hư Vân hòa thượng đến nội viện tại thiên cung nghe Di Lặc Bồ Tát giảng kinh, đó chỉ là nguyên thần xuất ra từ lỗ đỉnh đầu mà thôi, còn hóa thân bên ngoài thân là một thân thể biến thành hai thân thể, hoặc là vô số vô số thân thể. Pháp này là đồng thời luyện thân người và nguyên thần, cảnh giới này cao, người bình thường không có cách nào hiểu được. Ở đây cũng giống như Tôn Hầu Tử Tề Thiên Đại Thánh trong thần thoại Tây Du Kí, dùng tay bứt ra mấy sợi lông, hô một tiếng "biến", thế là biến thành hàng trăm hàng nghìn Tôn Hầu Tử, hô một tiếng "thu" là hàng trăm hàng nghìn Tôn Hầu Tử lại biến thành lông khỉ. Có điều, thủ thuật che mắt người khác và hóa thân bên ngoài thân thật sự thì lại khác nhau, thân ngoại hóa thân của cao tăng mới coi là chính tông.

Thầy tôi nói: "Nguyên thần là linh hồn, cũng là linh tử, có thể nói là chẳng vội mà vẫn nhanh, chẳng đi mà vẫn đến, thượng thiên nhập địa, biến hóa vô cùng. Nếu luyện nguyên thần đến mức thân thể và nguyên thần hòa lẫn với nhau mà thành một thành hai hoặc thành nghìn, thì cũng giống như tiếng vọng trong khe núi vậy."

Phương pháp luyện nguyên thần như sau:
Mỗi ngày, trước tiên phải chuẩn bị vẽ một tấm "phù luyện thần" để sẵn đến giờ Hợi hàng đêm thì dùng. Phàm mỗi khi vẽ phù thì nhất thiết phải tắm gội trai giới, khi vẽ phù phải yên tĩnh, đừng để người khác trông thấy. Đến buổi tối thì tắm gội, thay quần áo mới, sắp đặt hương án, đầu tiên niệm chú tịnh khẩu thân ý, sau đó khởi sư biến thần. Phù luyện thần là dạng thức nào, tôi nói một cách bí truyền như sau: "Kim quang chiếu định thần quang, tùy bút quy chuyển phù vị, hư lập vô cực, xuất tiên thiên khí, lập tức đặt bút trên giấy, vẽ liền một mạch một hơi xuống, trái phải thuận nghịch, thực vận một vòng Thái cực."

Đốt một lá phù luyện thần nuốt vào trong miệng, niệm rằng: "Tiên thiên vô cực nội, hậu thiên thái cực trung, ngã thụ thiên hoàng khí, biến hóa nhất chân không." Sau đó, người luyện nguyên thần bắt đầu tịnh tọa tập trung quán tưởng toàn thân mình từ từ bay lên, tiến nhập vào trong một vòng tròn thái cực, sau đó tất cả biến mất thành vô hình, tất cả không còn tồn tại nữa, ý thức cũng không còn tồn tại, cứ như thế sau một khoảng thời gian, khoảng thời gian này dài ngắn không cố định. (Tiến nhập vào trong vòng tròn thái cực rồi thì người sẽ biến thành trạng thái chân không.)

Đợi đến lúc bản thân hơi tỉnh lại, tập trung quán tưởng bản thân biến thành giống như tổ sư, trên đỉnh đầu có mũ vàng Ngũ Phật, đỉnh đầu phát ra hào quang, mặt mày hiền hậu, thân mình khoác tấm áo pháp y to rộng, tay kết ấn Như Lai Kim Quang, toàn thân trong suốt sáng rực, có các thần Hộ pháp ở không trung bảo vệ, đợi đến khi tập trung nhất tâm rất rõ rệt rồi thì lập tức niệm: "Chư thiên hộ pháp, thiên long hộ thần, kích khai thiên cổ, biến thần hóa thân nhiếp."

Chú luyện thần của Đạo gia và Phật môn hơi có sự khác biệt, của Đạo gia thì như sau: "Lãnh lãnh thanh thanh, xuất ngã nguyên thần, tam đài hộ ngã, ngã bẩm đài tinh, càn khôn nam bắc, nhật nguyệt tinh sinh, bắc đẩu chi hạ, cang thần khôi tinh, nguyên thần bản mệnh, hồn phách nhật thanh, thanh long thủ can, bạch hổ tỏa phế, chu tước chính vị, huyền võ thượng thăng, nguyên thần nguyên hiện, tốc xuất thiên môn, ngô phụng Linh Tiên Liên Sinh pháp chỉ sắc lệnh nhiếp."

Thầy tôi nói: "Nếu ở động phủ ngoại ô, mỗi đêm vào giờ Hợi, tắm gội thay quần áo mới, đứng ngoài trời ở dưới trăng sao, ở chỗ yên tĩnh không có người, sắp đặt một hương án hướng về phía tây, đầu tiên khởi sư biến thần, và đọc các chú thanh tịnh, sau đó niệm thầm bảy biến chú luyện thần, đốt một lá phù luyện thần, hòa vào nước sạch rồi uống, rồi quay về phía đông hít lấy một hơi khí và nuốt xuống, sau đó tĩnh tọa tập trung tư tưởng. Mỗi đêm uống một lá phù luyện thần, luyện 49 ngày là hoàn tất."

Theo như tôi biết, nguyên thần của con người nếu tiến nhập vào vòng tròn thái cực, toàn thân sẽ nhẹ nhàng bay bổng như chẳng có vật gì, và cũng giống như thân thể tứ chi đều phân tán ra, ý thức giống như rơi vào vực sâu vạn trượng, không có một thứ gì để có thể bám vào. Người bình thường khi đến được cảnh giới này, có người thì kinh hoảng chấn động, cho rằng chắc chắn là tẩu hỏa nhập ma rồi, có người thì la hét ầm ĩ, không chịu được sự vắng lặng bất thình lình, có người thì vừa nhập vào lập tức rút lại, giống như là vừa mới vào đã chết rồi. Thật ra chỉ cần bản thân mình chính tâm thành ý nhập vào vòng thái cực thì cũng giống như con thuyền đi trong đại dương mênh mông, giống như máy bay bay trên mây, càng đi càng thấy rộng, càng đi càng thấy sáng, không có gì đáng sợ cả. Tác giả thường ra ra vào vào vòng thái cực, đó là lỗ cửa để nguyên thần ra vào, người mới học không biết là như thế, cho rằng mình rơi vào trong vực sâu vạn trượng, chẳng giữ nổi một nhịp tim nữa, lo sợ rằng mình sắp chết đến nơi rồi. Thật ra nguyên thần thoát ra khỏi lỗ đỉnh đầu cũng không khác cái chết là mấy, nhưng "nguyên thần xuất khiếu" là chết giả, còn cái chết là chết thật, chỉ là như vậy mà thôi.

Phương pháp luyện nguyên thần, có người luyện xong 49 ngày, lập tức có thể ra vào vòng thái cực, mặc dù còn cách cảnh giới thân ngoại hóa thân rất xa, nhưng luyện nguyên thần là nền tảng, có được nền tảng rồi thì còn sợ không thành công sao? Phương pháp này cũng có người luyện không thành công, ví dụ như do thành ý của bản thân chưa đủ (tuyệt đối không được xem đây là trò chơi), hoặc là nghiệp chướng sâu nặng, không có cách nào dùng chú lực để khiến Tam Đài Tinh Quân bảo vệ được, những người như vậy, tôi khuyên họ tu nhiều pháp môn niệm Phật hơn, nhờ phương pháp niệm Nam Mô A Di Đà Phật mà tiêu trừ nghiệp chướng, tăng phúc huệ, Phật lực che chở mà đạt đến bỉ ngạn Tây phương tịnh thổ. Niệm Phật tu tịnh độ có cơ sở rồi thì lại tu pháp luyện thần xuất nhập vòng thái cực, biết đâu nguyên thần vừa xuất khiếu thì bất ngờ đến được Phật quốc để nghe Như Lai thuyết pháp. Còn nhớ trước kia có người lườm nguýt tác giả, nói Lư Thắng Ngạn tinh thần cuồn loạn rồi, đến Phật quốc nghe pháp sao mà dễ thế. Trên thực tế, chỉ cần tu luyện pháp luyện thần chính xác, xuất nhập vòng thái cực, linh hồn xuất khiếu, đến tây phương Cực Lạc thế giới nghe A Đi Đà Phật giảng kinh thì có gì là khó đâu!


### 12. Xem quá khứ vị lai cần có linh trí


Bấm ngón tay tính đếm một lúc, tôi tổng cộng đã chuyển nhà bảy lần. Ngôi nhà đầu tiên của tôi ở hợp tác thôn mới trên đường Lực Hành ở Đài Trung. Ngôi nhà thứ hai ở hẻm 337 đường Tiến Hóa. Ngôi nhà thứ ba ở đường Tinh Võ, ngôi nhà thứ tư ở đường Nghi Hân 2 ở phường Nghi Hân, ngôi nhà thứ năm ở cao ốc Lạc Quần trên đường Tiến Hóa, ngôi nhà thứ sáu ở biệt thự Tinh Võ trên đường Chấn Hưng. Lần thứ bảy thì chuyển nhà xa nhất, đó là đến Seattle nước Mỹ xa vạn dặm. Những ngôi nhà của sáu lần trước đều ở thành phố Đài Trung Đài Loan, chỉ có lần thứ bảy là chuyển đi xa nhất. Nhưng tôi vẫn muốn chuyển nhà nữa, mặc dù môi trường sống của ngôi nhà ở Seattle nước Mỹ rất tốt, vừa an ninh vừa xinh đẹp, thế nhưng trong lòng tôi, thành phố Hakodate ở Hokkaido Nhật Bản mới là chốn bồng lai tiên cảnh, tỏa ra khí chất thoát tục thanh cao.

Có người hỏi tôi vì sao lại chuyển nhà, thật ra chuyển nhà không phải là sở thích của tôi. Tôi bị dồn ép đến mức không chuyển nhà không được, bởi vì khi tôi sống ở một nơi nào đó lâu, người ta biết tôi là Lư Thắng Ngạn viết sách tâm linh liền lũ lượt kéo đến yêu cầu tôi xem bói, cứ thế lan truyền, mỗi ngày từ sáu giờ sáng trước cửa nhà tôi đã có khách đến rồi. Buổi sáng vừa mở cửa ra, khách muốn tôi xem bói đã ùn ùn như thủy triều kéo vào trong phòng khách. Phòng khách nhà tôi luôn rất rộng, nhưng vẫn không thể chứa được hết mấy trăm người. Vì tôi xem chuyện tâm linh rất linh nghiệm nên người ta càng đến càng đông, không có một ngày nào là giảm bớt, đây chính là lý do mà tôi không thể không chuyển nhà.

Phương pháp xem tâm linh của tôi là như thế này. Tôi đọc họ tên và địa chỉ của người hỏi một lần. Linh trong không trung liền triển khai công tác điều tra, rồi nhanh chóng thông báo cho tôi biết đáp án, quá khứ và tương lai của người này đều hoàn toàn được biết hết, người này vận mệnh ra sao, tình cảnh hiện tại khó khăn thế nào, thậm chí làm sao để giải quyết khó khăn. Nhờ có sự chỉ đạo của linh cảm trong không trung mà mọi thứ được giải quyết dễ dàng. Thật ra, linh giới chiếm đa số các chiều không gian, lớn thì đến mức độ vận mệnh của tinh cầu thập phương trong vũ trụ, vừa thì đến mức độ vận mệnh quốc gia, nhỏ thì là vận mệnh cá nhân, không có cái nào không nằm trong lòng bàn tay. Có thể biết năm trăm kiếp trước, năm trăm kiếp sau, có khó khăn gì thì chỉ cần nhìn xem linh của bạn có tốt hay không mà thôi.

Còn nhớ lúc tôi ở Đài Loan, có người đăng quảng cáo lớn trên báo, gọi "Đài Trung Lư Thắng Ngạn, Dân Hùng Liễu Tử Tiên, Thuận Thiên Phú Quý Thư Sinh" là thiên hạ tam đại thần toán, mà người đăng quảng cáo lại chính là Thuận Thiên Phú Quý Thư Sinh. Người này đăng quảng cáo như vậy có thể thấy dụng ý rất rõ ràng, biết rằng tiếng tăm của hai người trước rất lớn, muốn được "thơm lây", xem xem có thể nương nhờ tiếng thơm được không. Thật ra Thuận Thiên Phú Quý Thư Sinh là ai? Anh ta có một cái tên giả khác là Lục Thắng Linh, cái tên Lục Thắng Linh này đương nhiên lại là muốn gợi ra ấn tượng sai cho người khác mà thôi, thực tế người này là một thuật sĩ giang hồ chính cống, là cái hạng người vô vị cùng cực!

Trong nghề xem tử vi ở Đài Loan, xem tay, xem mặt, xem bát tự, sờ nắn xương, họ tên, ấn chương, bàn tính, nhật lịch, bốc quẻ, bói chữ, cân lạng… những người học chuyên thật sự không phải là không có, nhưng phần lớn là thể loại giang hồ dốt nát kém cỏi. Những mánh lới của những thuật sĩ giang hồ tôi đã thấy nhiều rồi, chỉ cảm thấy nực cười mà thôi. Hoàn toàn là những thủ pháp ma thuật lừa người ta là nhiều, những thứ đó không đáng tin tưởng. Theo như tôi biết, muốn thần tướng chuẩn xác thì phải là bách linh bách nghiệm mới được, chứ không phải là phó mặc cho vận khí, xem xác suất. Vì thế, để thật sự có thể biết quá khứ tương lai không phải là toán học phổ thông, mà là trí huệ linh cảm, mà trí huệ linh cảm này hoàn toàn phụ thuộc vào thánh linh của bốn chiều không gian trở lên, trí huệ của họ mới có thể biết được quá khứ tương lai. Còn xem tay, xem mặt, bát tự, v.v… là học về các dấu hiệu của vận mệnh quá khứ tương lai, học các dấu hiệu là hữu hình, học về linh cảm là vô hình, vô hình bao gồm cả hữu hình, đương nhiên vô hình là to lớn hơn, tất cả hữu hình là do vô hình diễn hóa mà ra.

Người khá nổi tiếng ở Formosa Đài Loan, ngoài tôi ra, còn có Liễu Tử Tiên ở Dân Hùng là một người mù đoán mệnh, và còn có một người mù đoán mệnh qua sờ nắn xương ở Quan Tây nữa. Liễu Tử Tiên là người dùng pháp "linh đồng nhĩ bão" chính cống, có nghĩa là phương pháp nhờ âm linh giúp đỡ thông báo. Còn người sờ nắn xương ở Quan Tây thì thật ra việc sờ nắn xương chỉ là mượn cớ ấn ấn bàn tay, chứ thật ra người đàn ông này cũng dùng pháp linh đồng nhĩ báo, một hình thức hoàn toàn giống như y như đúc với Liễu Tử Tiên, một nam một bắc, đúng là không phải là độc nhất vô song. Hai người họ đều là người mù, đều có cảnh ngộ không bình thường. Còn pháp linh đồng nhĩ báo chính là một trong những pháp linh trí. Người có thể vận dụng pháp linh đồng nhĩ báo, trong giới xem tử vi, thì nhất định phải kể ra đầu tiên, đây là điều mà không ai có thể phủ nhận được.

Ngoài ra, có người hỏi tôi có quen Lâm Vân tiên sinh không, tôi nói tôi không quen, nhưng tôi từng đọc bài báo có người viết về ông ta, nói rằng ông ta là truyền nhân của Mật tông Hắc giáo. Tôi đã thỉnh giáo một cao nhân Mật tông, người đó nói với tôi rằng: "Mật tông Hắc giáo là tông phái hại người, thuộc về thuật trù yểm, vì hành vi phẩm cách thấp hèn nên từ lâu ở Tây Tạng đã không còn tồn tại rồi. Mật giáo hiện tại có Hồng giáo, Hoàng giáo, Bạch giáo, Hoa giáo. Lâm Vân tiên sinh tự xưng là Mật tông Hắc giáo, thật ra ông ta không có kế thừa, Mật tông coi trọng nhất là sự kế thừa, không có kế thừa mà học Mật tông thì chính là kẻ trộm pháp đại nghịch bất đạo. Điều này ở chỗ chúng ta mà nói thì chúng ta không thừa nhận Mật tông Hắc giáo của Lâm Vân tiên sinh. Ngoài tự xưng là Hắc giáo, lại còn so sánh với Đại thủ ấn, Đại thủ ấn là thủ ấn số một của pháp Đại Viên Mãn. Hắc giáo thấp hèn, Đại thủ ấn thì vô cùng cao quý, ông ta đúng là làm xằng bậy. Tướng mạo của Lâm Vân là mắt lồi, nhiều nét hung tợn, không phải tướng thiện."

Tôi lại hỏi: "Bài báo nói ông ta rất linh, người tìm đến ông ta nhiều lắm?"
"Ông ta là người thông minh." - Cao nhân Mật tông nói: "Ông ta kết giao với người quyền quý, kết giao với ngôi sao điện ảnh ca nhạc, báo chí quảng cáo miễn phí, còn chuyện linh nghiệm hay không linh nghiệm thì theo xác xuất mà nói đương nhiên cũng có linh nghiệm, vả lại ông ta cũng đọc một ít sách, cũng đủ để hù dọa người ta đến ngơ cả mắt rồi. Ông ta có thể tự vấn tâm mình xem tình hình của ông ta hiện tại là do tự ông ta tạo nên hay là do quảng cáo thay ông ta tạo nên. Còn đạo hạnh của bản thân ra sao, việc này không cần phải tự mình lừa mình nữa."

"Ngài không thừa nhận ông ta ư?" - Tôi sửng sốt. Trong lòng nghĩ: "Chẳng lẽ đại sư ghen tị ư?"
"Cái này còn phải nói sao? Hắc giáo Tây Tạng từ lâu đã tan như sương khói rồi. Ông ta lật sách ra xem, tự xưng là Hắc giáo chỉ có một người, không có kế thừa, như thế chính là trộm pháp."

Tôi phỏng vấn cao nhân Mật tông, một vị thầy của nghìn vạn người, vào đúng lúc ngài ấy ở New York trong một pháp hội làm nghi thức quán đảnh minh pháp cho các đồ đệ. Tôi và Lâm Vân tiên sinh hoàn toàn là người xa lạ, hiển nhiên chưa thể nào nghe lời nói từ một phía mà đoán định được thị phi của ông ta.

Đối với linh trí thần toán thì tôi xác nhận, học phương pháp này có pháp "lộ thủy ngẫu tượng", "lộ hình khai tượng", "thúc thần cận hình", "khai hầu thổ ngôn", v,v… Luyện thành thục rồi thì lập tức gọi là lập tức đến, thông thấu quá khứ vị lai.
Trong cuốn sách này, tác giả đã suy xét rất lâu, không tiện viết ra phương pháp, vì nếu người xấu lợi dụng thì tội lớn không thể xá được.


### 13. Đôi điều về thuật trù yểm


Nhắc đến Mật tông Hắc giáo của Lâm Vân tiên sinh, tự nhiên tôi nhớ đến thuật trù yểm. Trong cách làm phép của người Tây Tạng, họ lấy những vật thường dùng trên người của quân địch hoặc kẻ thù, đặt trên bàn thờ thực thi phép thuật, rồi dùng pháp khí niệm chú ngữ, thế rồi quân địch hoặc kẻ thù trong một thời gian rất ngắn hoặc sinh bệnh, hoặc hoảng loạn thành điên, hoặc chết bất ngờ, thuật trù yểm như thế là thành công rồi. Mật tông Hắc giáo chính là những pháp sư lợi dụng thuật trù yểm để kiếm tiền.

Tác giả cũng biết một chút về thuật trù yểm, nhưng cả đời chưa từng hại người. Năm xưa, khi thầy tôi truyền pháp, để mở rộng sự hiểu biết cho tôi nên đã đặc biệt truyền thụ, muốn tác giả sau này nếu có đụng phải những loại thuật sĩ đó thì cũng có cách để phá trừ. Ví dụ, có người dùng mảnh gỗ để khắc thành hình người, hình người đó có mắt tai mũi miệng, trên người gỗ khắc họ tên và sinh thần bát tự. Người gỗ này đã được nhiệm chú trù yểm, sau đó chôn vào nơi bất kì ở trong nhà ở, lấy nồi cơm mà người đó nấu cơm hoặc cái nồi xào rau, hoặc miễn là cái nồi mà họ đã từng dùng, úp lên trên người gỗ rồi cùng chôn, cái nồi phải che đậy lên thân người gỗ. Hàm nghĩa ở đây là con người như con kiến bị nung trong nồi nóng, chết là chết chắc, muốn trốn cũng không trốn được. Một khi đã làm pháp này thì đối phương toàn thân phát sốt không thuyên giảm, xanh xao vàng vọt đến mức chết, nếu không thì cũng bất ngờ chết vì bệnh tim, ban đầu khi phát bệnh thì vô duyên vô cớ ngất xỉu, nếu mời bác sĩ kiểm tra toàn thân thì cũng không tìm ra bệnh, nếu lại kiểm tra kĩ càng hơn thì chỉ kết luận là não thiếu oxy mà chết thôi.

Có một cách để khiến phụ nữ yêu tha thiết vĩnh viễn mà người học thuật trù yểm nhất định sẽ biết, đó là pháp sư lấy một quả trứng gà lộn, đục một cái lỗ ở đầu nhọn của quả trứng rồi hút lòng trắng và lòng đỏ ra. Sau đó pháp sư dùng một chút máu từ ngón áp út tay trái của mình trộn lẫn với một ít gạo, bỏ chỗ gạo trộn với máu này vào trong vỏ trứng, đặt vỏ quả trứng gà này lên bàn cúng, niệm mật chú bảy lần, mỗi lần niệm một câu chú thì cầm quả trứng gà hơ qua đèn nhang một lần, hành động này biểu thị yêu cuồng nhiệt như lửa. Cuối cùng, đem quả trứng gà đi chôn ở nơi mà người con gái đó đi qua. Khi người con gái đó bước qua quả trứng gà này thì sẽ nảy sinh tình cảm, hơn nữa còn yêu điên cuồng, trở thành tình nhân vĩnh viễn.

Thầy phù thủy ở Malaysia có một loại pháp thuật rất kinh người. Thầy tôi nói, thầy phù thủy ở Malaysia chỉ cần lấy một ít nước mà một người nào đó đã tắm qua là đã có thể tùy ý muốn người này sống hay muốn người này chết, nói cách khác là toàn quyền sinh tử nằm trong lòng bàn tay của thầy phù thủy đó. Thầy tôi nói với tôi, nước tắm tượng trưng khí lực toàn thân của một người. Rồi thầy phù thủy kia dùng một cái chậu pháp khí trong đó chứa nước tắm, đun trên lửa, trong miệng thầy phù thủy niệm chú ngữ bí mật bảy lần, thì nếu người đó không kịp thời phá phép thuật, khi nước bị lửa bốc hơi hết, người đó chắc chắn sẽ kêu lớn một tiếng rồi vô duyên vô cớ mà quy về cõi âm.

Mọi người có còn nhớ Lý Tiểu Long, nhân vật chính của bộ phim kungfu Trung Quốc gây tiếng vang năm xưa không? Có một lần tôi đang ở Philippines, có một người nói với tôi, cái chết của Lý Tiểu Long chẳng phải không tìm ra nguyên nhân sao? Dùng doping chăng? Chết tại nhà của Đinh Bội à? Đinh Bội đã trở thành hung thủ sao? Thân thể của Lý Tiểu Long còn cường tráng hơn cả trâu, tất cả những điều này đều không phải là nguyên nhân. Lý Tiểu Long tiếng tăm lừng lẫy vang dội, đắc tội với "phù thủy Mã Lai", thầy phù thủy cao siêu này đã giáng bùa lên Lý Tiểu Long, khiến Lý Tiểu Long bỗng chốc hét lên một tiếng, rồi từ đó chết quay đơ. Thật sự có phải là như thế không, việc đã qua thì mọi thứ cũng đổi, muốn điều tra cũng chẳng biết phải điều tra từ đâu, nhưng cái chết của Lý Tiểu Long là một vụ án không có manh mối, nếu hỏi Đinh Bội e rằng ngay cả Đinh Bội cũng lắc đầu không biết.

Giả sử bạn sống ở Đài Trung, cũng đã từng đọc những bài tin tức của Liên Hợp Báo năm xưa, rằng ở hợp tác Thôn Mới có một pháp sư họ Lư, cùng họ với tác giả, tác giả cũng từng sống tại hợp tác Thôn Mới, nhưng tuyệt đối đó không phải là tác giả. Bởi vì người kia đã sáu, bảy chục tuổi rồi, đã nhai trầu rồi, vừa đen vừa gầy, ăn mặc luộm thuộm. Có một việc khiến người ta vô cùng lườm nguýt đó là, người này khi đi ra ngoài thì tiền hô hậu ủng đều là những cô gái trẻ trung xinh đẹp, tay cầm tay kéo, quàng vai bá cổ. Pháp thuật của ông ta rất mạnh, người phụ nữ mà ông ta muốn thì không ai thoát ra khỏi tay ông ta được. Lão già đó đi ra ngoài tản bộ thì đều có một bầy đàn hộ tống. Phóng viên của Liên Hợp Báo viết về chuyện này, không ngờ bị ông ta làm pháp, khiến vợ của phóng viên đó giống như bị bỏ bùa, làm gia đình anh ta tan nát. Lão pháp sư họ Lư kia tôi từng gặp một lần, phụ nữ trúng tà thuật của ông ta cũng từng tìm đến tôi để cầu giải cứu, tôi đã giải cứu được một cô tiểu thư ngân hàng họ Giang, một cô chủ cửa hàng thực phẩm họ Lý, một cô sinh viên đại học Đông Hải họ Hứa, ngoài ra còn có không ít những cô gái bị trúng tà thuật, thật sự là đáng sợ vô cùng.

Theo như điều sư phụ nói với tôi, giữa trời đất này không có gì kì lạ mà không thể xảy ra, quỷ thần vốn dĩ tồn tại ở trong không gian bốn chiều, nếu như bạn không tìm hiểu thì vĩnh viễn không biết đến sự tồn tại của họ. Nhưng nếu đã nhận thức được hoặc hiểu biết rồi, dùng pháp để triệu gọi, triệu thần sẽ có được trợ giúp, triệu quỷ thì sẽ có được ma thuật. Chú ngữ được sử dụng trong thuật trù yểm vốn là chú ngữ gọi quỷ gọi ma, tâm và ý tương thông, chú chính là ý nghĩ, nếu bạn nghĩ đến thì những con ma quỷ đó cũng tự nhiên sẽ đến. Thật ra, thuật trù yểm cũng là phương thuật "quỷ mê" thần bí, Tiên đạo Phật môn chính phái đối với kiểu tà ma ngoại đạo này đương nhiên không chỉ loại bỏ mà còn cực kì căm ghét. Nhưng người học tập chính pháp tự nhiên cũng cần hiểu ngóc ngách ngọn nguồn của tà ma ngoại đạo, gặp ma phải biết cách phá, nếu bản thân đôi khi sơ xuất mà nhập vào mê muội, chỉ một sai lầm trong suy nghĩ là nhập ma, thì lại càng phải biết cách phân biệt.

Có một câu chú rất linh ứng đối với việc phá ma, tôi đặc biệt viết ra như sau:

"Thiên địa chi vận
Nhật nguyệt chi tinh
Cương trấn tứ hải
Năng trảm ma tinh
Khu phân giải uế
Phóng đại quang minh."

Sau khi niệm chú ngữ này lại niệm ba tiếng Thường Thanh Tịnh Bồ Tát. Chú ngữ này là phiên dịch từ tiếng Phạn của các Lama ở Phật môn Mật tông Tây Tạng. Bất kể là thuật trù yểm lợi hại ra sao, tôi cảm thấy tà không thể thắng chính. Bất kể chúng ta học Phật hay học Đạo đều nên tu chính pháp, tuyệt đối đừng hiếu kì, một suy nghĩ sai là nhập vào ma pháp đó.


### 14. Thúc thần hợp nhất


Chúng ta đã học được pháp Quán thần rồi, nhưng vị thần này cực to lớn, đầu chạm trời, chân chạm đất, lớn rộng khắp từ trái sang phải, và rồi cũng sẽ dần dần tan biến đi. Để tu hành hình - thần hòa hợp, chúng ta phải luyện cách "thúc thần hợp nhất", nghĩa là phải luyện cho thần thu nhỏ lại cỡ bằng bản thân mình, sau đó hợp thành một, như vậy sẽ thành công pháp phân thân. Phương pháp tu hành thúc thần hợp nhất phải uống "phù thúc thần" bảy ngày, niệm "chú thúc thần" mỗi ngày bảy biến.

Hình thức của phù thúc thần là, phù này dùng giấy, giấy không cần phải giống nhau mà có màu sắc khác nhau, tùy theo:
• Người sinh vào giờ Hợi, Tí, Sửu, thuộc về thủy ở phương bắc Nhâm Quý, chức danh là Huyền Vũ, là một thần của Hắc Đế, thì dùng giấy màu đen vẽ phù.
• Nếu là mộc thuộc phương đông Giáp Ất thì là thần của Thanh Đế, dùng giấy màu lam để vẽ phù.
• Nếu người sinh vào giờ Dần, Mão, Thìn thì chức danh là Thanh Long, thần của Thanh Đế, dùng giấy màu xanh lá để vẽ phù.
• Nếu thiên can là Bính, Đinh thuộc về hỏa ở phương nam, là thần của Xích Đế, dùng giấy màu đỏ son chu sa để vẽ phù.
• Nếu sinh vào giờ Tị, Ngọ, Mùi thì chức danh là Chu Tước, là thần của Xích Đế, dùng giấy màu đỏ hồng để vẽ phù.
• Nếu thiên can là Mậu Kỉ thì thuộc về vị thần ở trung ương của Hoàng Đế, dùng giấy màu thạch hoàng để vẽ phù.
• Nếu người sinh vào thiên can Canh Tân, giờ Thân Dậu Tuất, chức danh là thần của Bạch Hổ ở phương tây, thì dùng giấy trắng vẽ phù.

Màu giấy của phù thúc thần là khác nhau tùy theo từng người, mỗi người theo màu sắc đó mà mặc quần áo, đừng nhầm lẫn. Trước tiên phải chuẩn bị xong phù, khi gọi nguyên thần đến, niệm một biến chú thúc thần, đốt một lá phù thúc thần, hòa vào trong nước táo tàu rồi uống, luyện như vậy bảy ngày, nguyên thần và bản thân sẽ có kích cỡ bằng nhau, tự nhiên sẽ có thể hình thần hợp nhất được.

Tắm gội sạch sẽ rồi đăng đàn, khởi sư biến thần, sắc lệnh viết trên giấy đỏ, triệu thần lâm đàn. Sau đó tùy bút di chuyển mà tạo nên phù vị, giả lập vô cực, hà một hơi khí tiên thiên vào đầu bút, rồi lập tức hạ bút viết trên giấy, trái phải thuận nghịch, vận chuyển một vòng thái cực tại cung trung tâm. Sau đó, thêm vào vận chuyển tứ tượng, hợp thành ngũ hành. Đây chính là "Thiên địa sinh nhất khí, phân thái cực âm dương, âm dương sinh tứ tượng, Xích Đế dưỡng khí, Hắc Đế thông huyết, Thanh Đế hộ hồn, Bạch Đế thị phách, Hoàng Đế trung chủ, vạn thần vô việt, cấp cấp phụng Trường Sinh Bảo Mệnh Thiên Tôn luật lệnh. Nhiếp."

Sau đó trong vòng thái cực lại thêm vào 24 vòng xoay, mỗi vòng xoay lại niệm 24 tiết khí rằng: "Lập xuân, vũ thủy, kinh trập, xuân phân, thanh minh, cốc vũ, lập hạ, tiểu mãn, mang chủng, hạ chí, tiểu thử, đại thử, lập thu, xử thử, bạch lộ, thu phân, hàn lộ, sương giáng, lập đông, tiểu tuyết, đông chí, tiểu hàn, đại hàn." Tiếp theo thêm tiên thiên vô cực ở trong, hậu thiên thái cực ở giữa, phảng phất hiện lên chân hình, xa xăm nghe chân tông."

Khi niệm chú thúc thần, tay trái kết đẩu quyết đặt trước ngực, tay phải kết kiếm quyết đặt ở hông, đứng thế đinh bộ, niệm chú bảy biến, đốt một lá phù hòa vào canh táo Tàu đỏ, hướng về phía đông hít vào một hơi sinh khí, nuốt vào trong bụng để lập tức đưa nước phù xuống đan điền. Niệm chú rằng: "Ngưỡng khởi tự kỉ nguyên thần tượng, đỉnh thiên lập địa kiến thần thông, đầu đái thiên quán thân trước tố, thủ trì quyết ấn túc vân trung, vận chuyển thiên hà triều thiên khuyết, biến hóa địa sát phó địa gian, năng dữ kỉ thể tương hỗn hình, hình thần giao luyện hóa tiên thiên. Thiên chi thanh, địa chi linh, thần hô khí, khí hô thần, ngã kim thọ trì hỗn nguyên pháp, pháp triệu tiên thiên nguyên thủy thần, tốc chí ngô tiền vi ngô dụng, như vi thệ ngôn thiên lôi phách. Cấp cấp như Hỗn Nguyên Lão Quân biến thần luật lệnh nhiếp."

Trên nguyên tắc mà nói, tu Đạo có thể tu đến thúc thần hợp nhất, nguyên thần và nhục thể của bản thân hợp thành một, thì mới xem là tu Đạo có thành tựu bước đầu. Nguyên thần này là vị chủ nhân thật sự sau này, nhục thân chôn xuống đất, nguyên thần sẽ thăng lên nhập vào trong đại khí rồi luyện thành Phật thành Tiên.

Người tu Đạo chúng ta, buổi đêm khi đi ngủ, đôi khi lỗ ở trên đỉnh đầu có một đường ánh sáng phát ra, sau khi phát ra thì trở thành hình tượng của bản thân, ánh sáng óng ánh, như một vật thể trong suốt, đó chính là nguyên thần. Bên cạnh đó, có một số thuật sĩ giang hồ, những hạng người xem quẻ đoán tướng mệnh, tự xưng là người tu Đạo, thật ra phần lớn là họ tu "tục đạo", chẳng hề khác với người thế tục bình thường, họ không biết đến pháp Quán thần, không biết pháp nuốt nhả cương khí, không biết đến khởi linh, không biết đến thân ngoại hóa thân, không biết đến xuất nhập thái cực, không biết đến thúc thần hợp nhất. Người tu Đạo như vậy thì nhục thể là nhục thể, nguyên thần là nguyên thần, hai thứ vẫn là hai, hoàn toàn nguyên vẹn là một tục thể phàm phu, thật sự làm người ta nực cười chết mất.

Hơn nữa còn có một số kê đồng chỉ là hạng phương tiện tâm linh trung gian, cũng tự xưng là tu Đạo, thật ra đó là cho quỷ thần nhập thân, chứ không hề là thúc thần hợp nhất. Thúc thần hợp nhất là nguyên thần và nhục thể của bản thân hợp làm một. Còn kê đồng mà cho quỷ thần nhập thân chỉ là quỷ thần mượn thân thể họ làm công cụ. Theo như tôi biết, kê đồng chỉ là công cụ của quỷ thần mà thôi, về cơ bản không có cách nào tự chủ được, bản thân kê đồng là người âm dương nửa người nửa quỷ, không có can hệ gì với tu hành tu Đạo cả. Nếu nói quỷ thần nhập thân là thúc thần hợp nhất thì khác nhau như trời với đất, về điểm này không thể không biết. Ngoài ra, lời của kê đồng vì sao không thể tin tưởng được? Thứ nhất, những linh gần với thế tục thì đại đa số là linh quỷ cấp thấp, lấy danh nghĩa là một vị Phật nào đó, vị Tiên nào đó, vị Thần nào đó giáng xuống, khuyên người ta điều tốt hoặc nói nhân quả, nếu không phải là đại ác thì cũng xem như là khuyên đời cứu thế, nhưng dù vậy, ta không được mê tín thái quá. Thứ hai, bản thân kê đồng cũng có ý thức tự ngã của họ tồn tại, nếu họ mở miệng nói ra, hoặc hạ bút viết chữ, không thể không hoài nghi là lừa tiền gạt sắc, chúng ta phải biết phân biệt thực hư, đừng cho rằng là Thần Tiên hạ giáng là có thể yêu ngôn hoặc chúng, làm xằng làm bậy.

Tu luyện pháp thúc thần hợp nhất, từ quán thần đến khi nguyên thần và bản thân kích cỡ bằng nhau, và nguyên thần ngày ngày hòa nhập làm một với thân thể của bản thân, cảm giác lúc này giống như bị điện giật vậy, rồi sau đó dần dần sẽ mất đi cảm giác này. Còn vận dụng nguyên thần ra sao đều hoàn toàn dựa vào tư tưởng, chúng ta có thể sử dụng nguyên thần lên trời xuống đất, thập phương pháp giới tự do đến đi, thậm chí có thể đến được vô thượng thượng thiên, phi tưởng phi phi tưởng xứ thiên, thậm chí vượt ra ngoài tam giới, trở thành Phật Bồ Tát, Đại La Kim Tiên. Những chuyện này đều không phải là việc rất khó đâu. Vô số kiếp về trước, tác giả đến từ Ma Ha Song Liên Trì ở gần Tây phương Cực Lạc thế giới, tương lai tự nhiên muốn trở về nơi cũ, trừ phi vì nghiệp duyên kiếp trước mà cần đi lại ở nhân gian vài lần nữa, còn không thì tôi đã nhìn thấu sự đời rồi, tôi tự thấy mình đã thờ ơ không màng đến công danh lợi lộc nữa, mỹ sắc mỹ cảnh ở nhân gian từ lâu đã hoàn toàn nhìn thấu rồi, nên Ma Ha Song Liên Trì tự nhiên chính là quê nhà của tôi.

Thập phương pháp giới, tự do đến đi, ý niệm khởi lên, thế như sấm nổ, một thân hai dụng, thân ngoại hóa thân, lên trời xuống đất, ngay trong tâm ta. Thúc thần như nhất, có chút thần thông, tục thế chẳng biết, đạo chưa từng thông, có ta có thần, chứng ngộ chân không, hoằng pháp khắp chốn, nhân duyên đại công."
Nhân duyên vĩ đại như thế, xem như là thập phương trên dưới đại phóng quang minh.


### 15. Khai tượng chân quyết (Cách thứ nhất)


Trước kia, tác giả giúp người ta làm khai quang điểm nhãn cho tượng thần, tôi đã dùng Tiên thiên vô cực chính pháp, "lấy kim quang chiếu định thần quang, tùy bút quy chuyển phù vị, giả lập vô cực, dùng tay trái bấm Tử Vi quyết, dùng thiên mục đối quyết viết Tử Vi húy vào hư không, Vũ Tiệm Nhĩ, lập tức quán đến Tử Vi thần tượng ở trong, mũi hít vào một hơi, nuốt xuống trung cung, vận khí hỗn nguyên, xuất một hơi khí tiên thiên, dưới ngòi bút, lập tức hạ bút điểm xuống, điểm ở giữa khiếu." [ ND: Tử Vi thần tượng được nói đến ở đây là Tử Vi Đại Đế, là con trưởng của Chu Văn Vương - Bá Di Khảo, sau khi chết được  phong làm Tử Vi Đại Đế. Tên húy của ông là Vũ Tiệm Nhĩ. ]

Chú ngữ khai quang như sau: "Thiên chi thần quang, địa chi thần quang, nhật nguyệt thần quang, khai nhãn quang quán thị thế giới, khai khẩu quang khai khẩu độ chúng, khai nhĩ quang văn thanh cứu khổ, khai tâm quang từ bi cứu thế, khai thủ chi nhiếp thụ hàng ma, khai thần túc phi hành vạn lí, khai kim thân hào hào phóng quang, đệ tử phụng Tiên thiên vô cực chính pháp, Tử Vi Đại Đế luật lệnh nhiếp, phụng thỉnh Thượng Thần giáng lai lâm." Tượng thần bằng gỗ, dùng Tiên thiên vô cực chính pháp thỉnh thần, rồi dùng chú khai quang lần lượt khai quang điểm nhãn, làm như thế thần minh nhất định sẽ giáng xuống, tượng gỗ cũng trở thành có linh tính, hộ quốc trấn trạch, mưa thuận gió hòa, hợp cảnh bình an.

Khai quang cho tượng thần, thông thường chỉ dùng gương khai quang và bút là được, nghi thức trang nghiêm long trọng, cúng phẩm là hương, hoa, đèn, trà, quả, đốt đàn hương. Quan trọng nhất là người khai quang phải tâm vô tà niệm, thành tâm thành ý, cái này tức là tâm thành tắc linh. Những tượng thần mà tác giả từng khai quang không biết số lượng là bao nhiêu nữa, chỉ biết rằng tinh thần thống nhất, thần nhất định giá lâm, ngoài điều này ra, không còn bí quyết nào khác nữa. Đôi khi, tượng thần không cần khai quang mà từ lâu đã giáng lâm vào bức tượng đó rồi, bởi vì người thờ cúng tâm địa kiền thành, cung kính hợp nghi thức, sớm tối dâng hương, dâng cúng trà quả, ngày ngày liên tiếp, thần thành không thỉnh cũng tự đến, ở đây không cần khai quang cũng tự có thần linh đến rồi. Đây là sự khắc họa rõ nhất về tâm thành tắc linh.

Ngược lại, có người thờ phụng thần thánh, trong nhà lại chẳng hề bình an, những tai vạ ngoài ý muốn liên tiếp xảy đến, chẳng thấy lành chỉ thấy dữ, vận hạn liên miên, nguyên nhân là đã thỉnh tà sư tà thần đến. Đạo lý này vô cùng đơn giản, chính sư chắc chắn thỉnh chính thần đến, tà sư chắc chắn thỉnh tà thần đến, cái này là niệm niệm cảm thông, là đạo lý ngưu tầm ngưu mã tầm mã. Lúc khai quang, tinh thần của pháp sư không thống nhất, tà ý tà niệm hoành hành, như thế thì, cho dù cúng phẩm có nhiều, nghi thức long trọng, mời pháp sư nổi danh thiên hạ đến thì cũng chẳng có tác dụng gì, chẳng bằng tự mình thắp ba nén hương, kiền thành niệm thánh danh, thì thần thánh lại đến.

Có một lần, tác giả đến nhà của một người bạn, nhà người bạn này gần đây mới thờ phụng một vị là Lữ Tổ Tiên Công, chính là Thuần Dương Tổ Sư Lữ Động Tân trong Bát Tiên. Tác giả mở nhãn xem, phát hiện ra vị thần này không phải là thần, mà là một con "ma rượu".
"Khi khai quang Lữ Tổ, anh đã mời vị pháp sư nào vậy, pháp sư đó có uống rượu không?"
"Ngày hôm đó không uống rượu." Bạn tôi lại nói: "Thế nhưng, ai cũng biết rằng pháp sư Trí Thông ở chùa Phổ Quang cái gì cũng bỏ, chỉ có rượu là không bỏ. Ông ấy có tửu lượng cao, cũng là một vị hòa thượng hiện đại, thí chủ mời ông ấy uống rượu thì ông ấy chẳng từ chối một ai."
Thì ra là như vậy, tôi thầm nghĩ. Tôi hỏi:
"Gần đây anh uống rượu có phải tửu lượng cũng tăng lên phải không, hơn nữa dần dần lại thích rượu nữa?"
Bạn tôi trầm tư một lúc rồi nói:
"Nếu anh không hỏi thì tôi cũng không cảm thấy gì đâu, nhưng điều anh hỏi thì đúng thật là như vậy. Gần đây trong các buổi giao tiếp xã giao, nâng rượu là phải cạn ly, hơn nữa, tôi cũng thấy tửu lượng tăng lên so với trước, trước kia ba chén xuống bụng là chóng mặt muốn say rồi, bây giờ uống liên tục mười chén, tám chén, gấp ba lần so với trước, mà chẳng cảm thấy say gì. Chà! Thật kì quái." - Mắt bạn tôi hấp háy, ánh lên một vẻ không bình thường.
"Vị… vị… vị… Lữ Động Tân Tổ Sư này khai quang có vấn đề sao?" - Nét mặt bạn tôi có phần hoảng hốt.
"Đúng vậy, vị này không phải Lữ Động Tân, mà là một con ma rượu chính cống."

Trụ trì của chùa Phổ Quang và tác giả là bạn tri kỉ, còn pháp sư Trí Thông thì tôi thật sự không quen biết. Sau vài lần hỏi thăm, thì ra khi Trí Thông chưa xuất gia đã làm phục vụ ở một quán rượu. Pháp sư Tâm Học trụ trì chùa Phổ Quang nói với tôi, Trí Thông không chịu quản thúc rèn luyện, vẫn luôn làm xằng làm bậy, làm bại hoại nề nếp của chùa. Người xuất gia mà một ngày từ sáng đến tối uống rượu cùng thí chủ thế tục. Trụ trì nói với một giọng điệu áy náy: "Chúng tôi chẳng có cách nào, chỉ hy vọng Phật Tổ từ bi."

Kết quả là, tôi phát hiện ra một chuyện rất kì lạ. Pháp sư Trí Thông biết tụng kinh, cũng làm khai quang điểm nhãn cho người ta. Việc tụng kinh của ông ta hoàn toàn là để siêu độ cho các vong linh, vì thế, dĩ niệm cảm niệm, xung quanh ông ta toàn là những con ma nát rượu. Tuy người bình thường không thể thấy, nhưng người thông linh sao có thể không biết chứ. Tiếp theo đó ông ta khai quang điểm nhãn cho tượng thần, điểm xong một vị thì một con ma rượu lại bám lên thân của tượng thần đó, điểm hai vị thì hai con ma bám lên thân của tượng thần đó. Làm cả buổi, những thần mà ông ta khai quang điểm nhãn lại thành ra chẳng có vị thần nào cả, toàn là một đám ma rượu.

Thế là, tôi lại phải dốc hết sức bình sinh ra lần lượt khai quang điểm nhãn lại từ đầu, lần lượt thỉnh chính thần giáng lâm, lần lượt mời lũ ma quỷ ra ngoài đường, tôi niệm rằng: "Thiên địa phong lôi thủy hỏa sơn trạch. Thập phương thích chương, toàn hữu quy chương, thiên cương thiên cương, tốc lợi thượng phương, ngũ phương tà ma, lập tức tiêu vong, phi thiên nhất hấp, vạn sự cát xương. Cẩn thỉnh thiên cương Tử Vi tinh, tốc giáng bản phương chân khí trương, quán nhập Phật tượng bố pháp lực, lệnh gia lệnh quốc quân an ninh."

Nói thật lòng, giả sử không phải là Lư Thắng Ngạn tôi có cái sự nhiệt tình ngu ngốc này để mà tạo phúc cho mọi người, khiến chính thần có thể giáng bố chân khí, thì tôi hà tất phải quản chuyện đây là chính thần hay là ma rượu chứ. Tôi ngày ngày tiêu dao, đầu đội khăn, thân khoác áo đạo sĩ trắng, tay cầm quạt lông, thân cưỡi hạc trắng, trong thiền định cưỡi mây lướt gió, thập phương pháp giới tôi đều ung dung mà đi bất kì đâu.

Bí quyết thật sự của khai quang tượng thần chẳng có gì khác, tâm thành tắc linh mà thôi!


### 16. Khai tượng chân quyết (Cách thứ hai)


Có một vị Thần Trời, thân cao vạn trượng, ba đầu sáu tay, đầu xanh râu đỏ, mặt đỏ, tóc đỏ, răng nanh trắng, ba mắt, con ngươi màu vàng kim, tay trái cầm chuông, tay phải cầm chày, tay trái nâng sơn hà, tay phải nâng xã tắc, tay trái mặt trời, tay phải mặt trăng, chân dẫm lên bánh xe lửa. Vị thần trời này là Thiên Cang Thần.

"Tí vận vĩ lư, phụ khí doanh.
Sửu quá thận đường, lâm khí bình.
Dần cư huyền xu, thái khí lộ.
Mão xuyên giáp tích, đại tráng thanh.
Thìn hợp đào đạo, quái khí hòa.
Tị thượng ngọc chẩm, can khí long.
Ngọ giao nê hoàn, cấu khí thái.
Mùi hàng minh đường, độn khí thông.
Thân tụ thiên trung, phủ khí thuận.
Dậu tồn trung hoán, quan khí xương.
Tuất đáo thần khuyết, bác khí cố.
Hợi quy khí hải, khôn đạo dong.
Thiên lệnh tiết vinh. Ngũ khí tương sinh.
Thái nguyên chân ất, thủ hộ hoàng đình.
Ngũ tạng lục phủ, nội ngoại trừng thanh."

Đoạn văn trên đây nói rõ về hình tượng của Thiên Cang Thần. Còn Khai tượng chân quyết cách thứ hai này viết về hình tượng của Thiên Cang Thần trước tiên chủ yếu để nói rằng, sau khi nguyên thần của bản thân dùng khai tượng chân quyết, thì cũng có thể biến hóa thành Thiên Cang Thần. Đoạn văn tiếp sau đây viết về pháp luyện công của bốn nhân tố thân người, thời giờ, bát quái, khí cơ. Cái này là một bản văn đại thiên cơ, trước nay chưa từng có người nào dám tiết lộ như vậy, bởi vì chỉ cần lĩnh ngộ được sâu sắc đoạn văn này, hiểu được sự vận hành của chu thiên trong đoạn văn này thì chính là một vị Đại La Kim Tiên tự do tự tại rồi. Đoạn văn này thực sự không thể coi thường.

Thần chú khai tượng như sau, tay trái kết đẩu quyết đặt trước ngực, tay phải kết kiếm quyết đặt tại hông, đứng nghiêm theo thế "đinh bộ", niệm chú 49 biến, sau đó uống phù Khai tượng nguyên thần. Chú rằng: "Thiên chi tinh, địa chi linh, thần linh tướng, tướng thân linh, ngô kim triệu, tốc hiện hình, điểm khiếu môn, biến thần linh. Cấp cấp phụng Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh luật lệnh nhiếp." Khai quang điểm nhãn cho nguyên thần của bản thân cần tổng cộng bảy ngày, bảy ngày này luyện xong, uống xong bảy lá phù, lập tức thấy một vị thần giống hệt với vị thần mà mình nghĩ đến. Nếu muốn vị thần này biến thành thần khác cũng được, hoàn toàn tùy vào suy nghĩ của bản thân, muốn biến thành ba đầu sáu tay thì biến thành ba đầu sáu tay, muốn biến ra Huyền Vũ Thượng Đế thì lập tức biến ra Huyền Vũ Thượng Đế, thậm chí muốn biến hóa thành Quan Thế Âm Bồ Tát thì sẽ thành Quan Thế Âm Bồ Tát, muốn biến hóa thành A Di Đà Phật thì sẽ là A Di Đà Phật.

Người bình thường đọc sách của tôi, thấy tác giả viết đến đây, có người chắc chắn sẽ không hiểu thấu được. A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát là Tây phương Tam Thánh, địa vị cao quý biết bao, làm sao mà một Đạo pháp nhỏ bé lại có thể biến thành các vị được. Nhưng những điều tôi kể ra ở đoạn trên, thật ra cũng là cái chỗ giải thích chính xác về thiên cơ, duy có cao tăng đại đức đã đến được cảnh giới này mới có thể biết được sâu sắc những gì tôi nói là không phải hư vọng giả dối.

Thần phù của ngày đầu tiên là phù Tụ hình, thần phù của ngày thứ hai là phù Xa hình, thần phù của ngày thứ ba là phù Thiên Đế, thần phù của ngày thứ tư là phù Thiên Cang, thần phù của ngày thứ năm là phù Đại Phương Minh, thần phù của ngày thứ sáu là phù Biến hóa, thần phù của ngày thứ bảy là phù Dụng linh.

Tôi cảm thấy trong các phương pháp tu hành Mật tông, có pháp Bổn tôn, pháp Bổn tôn này thật sự rất quan trọng, ví dụ như nguồn gốc của chúng ta là đến từ Phật bộ, chúng ta sẽ tu Phật bộ đó làm Bổn tôn. Nếu  nguồn gốc của chúng ta là Bồ Tát bộ thì chúng ta sẽ dựa vào Bồ Tát làm Bổn tôn. Nếu nguồn gốc của chúng ta là Kim Cang bộ thì chúng ta sẽ dựa vào Kim Cang bộ làm Bổn tôn. Nếu nguồn gốc của chúng ta là Thiên Vương bộ thì chúng ta sẽ dựa vào Thiên Vương làm Bổn tôn. Sau đó, lại từ trong các bộ này mà tìm một vị hợp ý với mình nhất để mà tu trì. Phương pháp như thế chính là pháp tu trì Bổn tôn.

Tu trì Mật giáo, đôi khi bản thân không có cách nào xác nhận mà biết được. Trong quá khứ từng có người ném hoa tươi để chọn Phật, họ tập hợp lại những bức tượng của các vị Phật, Bồ Tát, Thiên Vương, Lực Sĩ mà trong mắt họ, họ cảm thấy hợp ý, sau đó cầm một bó hoa tươi, nhắm mắt lại cầu nguyện, thành tâm khẩn cầu chư Phật cao nhân chân chân chỉ dẫn, sau đó tung hoa tươi lên không trung. Khi hoa tươi này rơi xuống đất, rơi trúng vị nào thì vị đó chính là Bổn tôn. Hoặc khi hoa tươi rơi xuống đất, khoảng cách đến vị nào gần nhất thì sẽ lấy vị đó làm Bổn tôn. Khi tu hành sẽ dùng chú ngữ của Bổn tôn làm chú ngữ chủ yếu nhất, dùng thủ ấn của Bổn tôn làm thủ ấn chủ yếu nhất, lấy ý chỉ của Bổn tôn làm ý niệm chủ yếu nhất của người tu hành. Như thế, tu hành tam mật thân - khẩu - ý thanh tịnh, tương lai tự nhiên sẽ tu thành Bổn tôn, không hai không khác với Bổn tôn. Đây chính là tu hành pháp Bổn tôn.

Khai tượng chân quyết cách thứ hai, quán tưởng chủ yếu nhất vẫn là dùng pháp Bổn tôn trước tiên, khi khai quang điểm nhãn cho nguyên thần của bản thân, bạn phải luôn luôn không được quên Bổn tôn của mình. Ví dụ, Bổn tôn mà bạn hợp ý nhất là Địa Tạng Vương Bồ Tát, bạn phải nghĩ nguyên thần của mình là Địa Tạng Vương Bồ Tát, đầu đội mũ vàng Ngũ Phật, tướng mạo trang nghiêm từ bi, một tay cầm tích trượng, một tay cầm ngọc quang minh, ngồi trên tòa hoa sen, toàn thân tỏa ra hào quang mây bảy sắc, trên đỉnh đầu có vòng tròn ánh sáng. Lại ví dụ Bổn tôn của bạn là Quan Thế Âm Bồ Tát, Bồ Tát có tướng mạo hiền từ viên mãn, trên đỉnh đầu có mây bảy sắc, tay cầm tịnh bình, khẽ vẩy cành liễu, chân dẫm lên mây cát tường, nếu mặc xiêm y màu trắng thì là Bạch Y Quan Âm, nếu cầm giỏ cá thì là Ngư Lam Quan Âm, nếu có nghìn tay nghìn mắt thì là Thiên Thủ Quan Âm, nếu ôm đứa trẻ con thì là Tống Tử Quan Âm, v.v… Quan Thế Âm Bồ Tát hiện thân nữ, nên tất nhiên sẽ trang điểm như diệu hạnh ngọc nữ, dung mạo duyên dáng đoan trang.

Nếu hiểu được khai tượng chân quyết cách thứ hai, đã biết thiên địa tạo hóa không khác biệt, đối với những đạo lý cao nhất của trời đất cũng xem như đã hiểu thấu rồi, thì tất cả pháp hữu hình hữu tướng cũng có thể vứt bỏ đi không cần dùng nữa, pháp tận cùng thiên hạ cũng là vô pháp, nguyên thần tùy theo ý thức mà biến hóa, muốn biến thành thần ba đầu sáu tay thì thoắt một cái đã biến thành thần ba đầu sáu tay rồi, lên trời xuống đất, thập phương pháp giới, tùy ý đến đi, tiêu dao tự tại làm sao.

Đến đây, tôi viết một bài kệ:

Ba đầu sáu tay là thần thông
Biến hóa muôn vàn mới biết - Không,
Pháp vốn vô pháp - kim cương đạo
Hóa thành mưa hoa tự trong tâm.

Đi thẳng con đường lớn, tầng tầng lớp lớp khác nhau, đạo vô thượng bắt đầu có thiên cơ.


### 17. Kính ma và nhốt ma


Trời đất rộng lớn không có chuyện kì lạ gì mà không có. Trong quan niệm của bạn có lẽ không hề có quỷ thần, cũng chưa bao giờ tin quỷ thần. Lấy ví dụ là tôi đây, tôi được nhận sự giáo dục đại học, học về khoa học công nghệ, thời đại khoa học, thế kỉ hạt nhân, chiến tranh vũ trụ, mà lại nói chuyện quỷ thần, chẳng phải là khiến thế nhân cười rơi răng ra không. Nhưng trong bóng tối âm thầm, thế giới vô hình không nhìn thấy được, dường như đã có định số, đã sắp xếp vận mệnh, đó là thế giới tâm linh, nói cách khác là thế giới của quỷ thần.

Nước Mỹ là một quốc gia có khoa học hưng thịnh, nhưng quan niệm về quỷ thần cũng đã bắt rễ sâu trong tâm trí con người, hơn thế nữa, ma quỷ ở đây quả thật là có phần ngang ngạnh khó bảo khó xử lý. Trong trường hợp của tôi, khi mới đến Seattle, chúng tôi đã mua một căn nhà cũ nhưng rộng rãi, chiếm diện tích khoảng bốn trăm bình [ ND: đơn vị diện tích thường dùng ở Đài Loan, 1 bình khoảng 3,3 mét vuông. ], đất xây dựng là hai trăm bình, tính cả tầng hầm thì tổng cộng có ba tầng, có ba cửa ra vào nhà, trước mặt có một cửa và đằng sau là hai cửa. Phía sau nhà ở có một cây hoa anh đào rất to, bên phải nhà ở là garage để xe, có thể chứa được bốn chiếc xe, xung quanh là cỏ cây hoa lá, khung cảnh vô cùng xinh đẹp. Nhà được lót thảm toàn bộ, có máy sưởi, đã được tu sửa lại toàn bộ giống như nhà mới vậy. Phòng làm việc và phòng ngủ của tôi ở tầng ba, nhà tôi ở phòng ngủ phía trước ở tầng hai, hai đứa trẻ thì ở phòng ngủ phía sau ở tầng hai.

Ngày đầu tiên khi dọn vào nhà mới, tôi đã an vị A Di Đà Phật và Địa Tạng Vương Bồ Tát mà tôi đã thỉnh từ Đài Loan đến đây. Ban đầu, tuần lễ đầu tiên tương đối không có chuyện gì, sau tuần lễ đầu tiên, đứa con trai nhỏ Lư Phật Kì vô duyên vô cớ lại đi tiểu ra máu, đưa đi khám bác sĩ thì là xuất huyết thận. Mấy ngày sau, đứa con gái nhỏ là Lư Phật Thanh cũng bị xuất huyết thận, bác sĩ chẩn đoán phải uống thuốc và tiêm, nhưng gần như đều vô hiệu. Càng tệ hại hơn là ngay cả nhà tôi Lư Lệ Hương cũng bị lây nhiễm bệnh xuất huyết thận. Theo cách nói của y học thì đó là do virus có tính lọc thâm nhập vào thận gây nên, hơn nữa liên tiếp ba người mắc bệnh. Tổng cộng chúng tôi đã tìm đến năm bác sĩ để chữa bệnh, một người là bác sĩ Thang Tuấn Kiệt, một người là bác sĩ La Hữu Thanh, bác sĩ Mật Đặc Sĩ ở bệnh viện nhi đồng Hoa Kì, bác sĩ Hàn Sinh chuyên khoa thận Thụy Sĩ, còn có bác sĩ Đặng đến từ Đài Loan. Kết quả là tình hình điều trị không được cải thiện, điều này thực sự khiến người ta không hiểu ra làm sao cả.

Cuối cùng tôi mới chú ý đến vấn đề của căn nhà, lẽ nào là vấn đề ma quỷ. Cá nhân tôi mặc dù tin quỷ thần, nhưng không bao giờ mê tín, thân thể có bệnh thì nhất định trước tiên phải mời bác sĩ khám, bác sĩ khám không được thì tôi mới ra tay trên phương diện tâm linh. Thật ra, vào ngày đầu tiên dọn vào ngôi nhà này, tôi đã biết trong nhà có hai con ma người Mỹ. Ngôi nhà này đã thay đổi bốn người chủ, hai người họ là chủ nhân thứ hai của ngôi nhà này, họ đã chết ở trong phòng vì tuổi già. Tôi dù biết rõ nhưng không hề nói thẳng ra, bởi vì trong ngôi nhà của tôi ở Đài Loan có rất nhiều ma, chúng tôi sống hòa thuận với nhau, và còn kính trọng giúp đỡ lẫn nhau nữa.

Hai con ma già người Mỹ này thường xuyên vào lúc chạng vạng tối hoặc lúc buổi trưa mới từ bên ngoài trở về nhà, Khi họ trở về, từ bên ngoài ngôi nhà cho đến cửa chính sẽ phát ra tiếng bước chân, nhà tôi thường xuyên nghĩ rằng bên ngoài có người đến, nhưng mở cửa ra thì chẳng có ai cả, trống huơ trống hoác. Đôi khi họ cũng tùy ý di chuyển đồ đạc, ví dụ rõ ràng bạn đã treo khăn mặt lên rồi, họ sẽ đem bỏ vào trong bồn rửa mặt, thỉnh thoảng họ cũng khua loạn đồ đạc lên. Địa Tạng Vương Bồ Tát mà tôi thờ cúng trong nhà thì thỉnh thoảng bức tượng sẽ chuyển động theo hồn ma, rõ ràng là khuôn mặt nhìn thẳng về phía trước thì thoắt cái quay sang phải, thoắt cái quay sang trái. Những việc này đều không hề gì cả, nhưng đáng ghét nhất là hai hồn ma già người Mỹ này không ngờ lại thích ăn máu tanh, nửa đời họ ăn thịt bò bít-tết, nên họ rất thích mùi máu tanh.

Theo tôi được biết, ác quỷ sẽ thích máu tanh, hai con ma già người Mỹ này chẳng phải là hạng ác quỷ sao. Còn hai đứa con nhỏ và nhà tôi chẳng phải đã bị hai con ma xấu xa này làm hại sao, xuất huyết thận, hai con ma xấu xa đã ra sức hút máu tanh, dùng lưỡi để liếm máu. Tác giả vẫn luôn có tính cách yêu thích hòa bình, nên trước tiên là tôn trọng họ, dùng những lời tốt đẹp để khuyên họ, nào ngờ hai con ma này lại cho rằng người ngoại quốc chúng tôi đến để chiếm nhà của họ, thậm chí khi tác giả đi tắm, họ còn kêu la gào thét với tác giả, giống như điên khùng, không thể nói lý được. Mãi sau này, khi các bác sĩ đã bó tay, tôi thì có lý nhưng mà nói họ không được, thế là, kính quỷ bất thành, chỉ có dùng cách nhốt họ lại.

Hai con ma già người Mỹ kia cho rằng người Trung Quốc dễ bắt nạt, thật ra họ không biết rằng Lư Thắng Ngạn không những không sợ ma mà thậm chí còn chuyên môn trị ma nữa, là lão tông chủ của ma. Ban đầu tôi khách khí là vì kính trọng các người là ma Mỹ, rượu mời thì không uống, thế thì chỉ có cách uống rượu phạt thôi. Đầu tiên, tôi dùng chày kim cang vận linh lực để đuổi hai bọn họ đi, hai bọn họ bị đuổi tới mức kêu la oai oái, hoảng hốt tháo chạy. Sau đó, tôi dùng "Cửu phụng phá uế tịnh thủy" vẩy khắp tầng hầm, tầng hai, tầng ba. Tiếp nữa, trên ba cửa ra vào, hai tay tôi kết "tỉnh ấn" (hai ngón trỏ chạm vào nhau, hai ngón út chạm vào nhau, ngón giữa và ngón áp út cong gập vào lòng bàn tay, hai ngón cái đè xuống), rồi tôi niệm chú rằng: "Nhất họa thành giang, nhị họa thành hải, tam họa Hoàng hà thủy nghịch lưu, tứ họa khu quỷ xuất môn, Thiên Ngục Lôi Thần, Địa Ngục Lôi Thần, Ngũ Lôi tề lâm, tỏa quỷ quan tinh, tù cấm quỷ thần." (Một nét thành sông, hai nét thành biển, ba nét thành nước sông Hoàng Hà chảy ngược dòng, bốn nét đuổi ma ra khỏi cửa, Thiên Ngục Lôi Thần, Địa Ngục Lôi Thần, Ngũ Lôi cùng đến, nhốt quỷ khóa ma, giam cầm quỷ thần.) Sau đó tác giả quát lớn một tiếng, phả "tỉnh quyết" về phía cửa ra vào, thế là, đối với linh giới mà nói thì cửa này đã biến thành sông lớn vạn dặm xa xôi rồi, hai con ma già người Mỹ kia đến cạnh sông khóc lóc thảm thiết, từ đó không có cách nào vào cửa được nữa.

Giả dụ không đuổi hai người họ đi, mà dùng cách thu bắt họ lại, thì phải niệm rằng:"Cẩn thỉnh Hỏa Tê Lôi Phủ Chu Thiên Quân, Địa Kì Thái Bảo Ôn Nguyên Soái, hỏa tốc vị ngô thu nhiếp lục thiên cang phong hạo khí, cửu sửu ngoại đạo yêu ma, dĩ cập nhất thiết hung thần ác sát, tận giai nhiếp nhập minh ngục trung, vĩnh viễn tù cấm bất hứa xuất nhiếp, ngô phụng Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh luật lệnh. Nhiếp!" (Kính cẩn thỉnh cầu Hỏa Tê Lôi Phủ Chu Thiên Quân, Địa Kì Thái Bảo Ôn Nguyên Soái, khẩn cấp giúp tôi thu nhiếp lục thiên cang phong hạo khí, cửu sửu ngoại đạo yêu ma, cùng tất cả hung thần ác sát, hút toàn bộ vào trong âm ngục, vĩnh viễn giam cầm không cho phép thả ra, tôi phụng Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh luật lệnh. Nhiếp!)

Đương nhiên, loài ma quỷ nếu không hại người, chúng ta có thể không cần dùng pháp nhốt ma. Như hai con ma già người Mỹ này thích ăn máu tanh, và cho rằng người Trung Quốc dễ bắt nạt nên hết lần này tới lần khác sỉ nhục chúng tôi, tác giả đã rất nhẫn nhịn, không thể không đuổi thẳng ra khỏi nhà. Từ đó họ lang thang ở bên ngoài, không làm được ác quỷ mà đã trở thành cô hồn dã quỷ rồi. Loài ma phần đông là không hại người, thậm chí có rất nhiều con ma ưa thích giúp người, nếu như có thể khéo dùng loài ma, biết được pháp "ngũ quỷ vận tài" thì có thể phát đại tài một cách rất đơn giản, làm ăn kinh doanh sẽ thịnh vượng gấp trăm lần. Trước kia tác giả sống tại Đài Loan, khi giúp người ta xem chuyện tâm linh, vẫn luôn luôn nhờ loài ma giúp đỡ một chân một tay, đó là sự vận dụng pháp "ngũ quỷ nhĩ báo".

Sau khi tôi đã dùng pháp nhốt ma thì bệnh xuất huyết thận của ba người nhà tôi tự nhiên khỏi, lại khỏe mạnh như thường.


### 18. Hút ma và chặn ma


Một vị thuyền trưởng của một thuyền buôn viễn dương từng có kì ngộ về tâm linh như sau:

Con thuyền buôn giữa đại đương đang vững vàng tiến về phía trước. Màn đêm buông xuống, ngoài âm thanh của tiếng tua-bin ra thì tất cả đều vô cùng yên tĩnh. Thuyền trưởng viết xong nhật kí, đọc sách một lúc, sau đó tắt đèn, chuẩn bị lên giường nghỉ ngơi. Bỗng nhiên, ông phát hiện ra trong một góc tối hình như có một đốm lân quang, lân quang đó từ từ rõ rệt hơn, không ngờ đó là một người trung niên mặt mũi rất rõ ràng. Người trung niên ấy nhìn trừng trừng vào thuyền trưởng dường như rất mệt mỏi. Thuyền trưởng rất kinh hãi, vội vàng bật đèn bàn lên cho sáng. Đèn vừa bật lên thì lân quang kia bị ánh sáng chiếu tản mất, người kia cũng biến mất. Nhưng khi thuyền trưởng lại tắt đèn thì người trung niên mệt mỏi kia lại xuất hiện. Thuyền trưởng nhìn kĩ càng cẩn thận người này, trong đầu không nghĩ ra người này là ai, hoàn toàn quá xa lạ. Thuyền trưởng chú ý đến tai phải của người này vẫn còn đeo một chiếc hoa tai nhỏ, nhưng người trung niên này vẫn là một người đàn ông, đàn ông đeo hoa tai thường rất ít gặp.

Thuyền trưởng lại bật đèn sáng lên, người đàn ông lại biến mất, đèn vừa tắt thì lân quang lại xuất hiện, cứ như thế hết lần này đến lần khác, hai bên nhìn lom lom vào nhau. Thuyền trưởng biết là mình đã gặp ma rồi, mặc dù cũng khá hoảng hốt, nhưng trong ánh mắt của đối phương dường như có một điều khẩn cầu, không thật sự là có ác ý. Thuyền trưởng thu hết can đảm hỏi hồn ma này rằng anh muốn tôi làm cái gì. Hồn ma đó im lặng không nói gì, chỉ đưa ngón tay chỉ về phía nam. Hồn ma đó đưa ngón tay hết sức chỉ về phía nam, lộ vẻ vô cùng khẩn cấp. Thế là thuyền trưởng lại hỏi, anh muốn tôi lái thuyền về phía nam à, lần này hồn ma bèn gật gật đầu, sau đó từ từ biến mất.

Con thuyền vốn dĩ đang chạy về hướng đông, thế nên khi thuyền trưởng ra lệnh cho thuyền đổi hướng, chạy về hướng nam, tua-bin và người cầm bánh lái đều không hiểu ra làm sao, phía nam là một cảng biển rất xa, căn bản là con thuyền này không có liên quan gì cả, cũng không phải là đích đến. Con thuyền tiến về phía nam khoảng nửa giờ, kì diệu thay, nó đã gặp một chiếc thuyền cứu nạn nhỏ, là một chiếc thuyền gặp nạn. Những gì còn lại chỉ là mấy người ở trên chiếc thuyền đã lênh đênh trên biển mấy ngày rồi, không có thức ăn cũng không có nước, trên thuyền chỉ có ba người một nam hai nữ, ba người này đều mệt mỏi rã rời, đã đến gần rìa cái chết rồi. Thuyền trưởng ra lệnh cứu người. Khi ba người này được cứu, một người phụ nữ trong số đó liền khóc lóc thảm thiết, nói rằng trên thuyền cứu sinh vẫn còn một người nữa, nhưng người đàn ông này đã chết rồi, người đàn ông ấy chính là chồng của bà ấy.

Khi thuyền buôn khiêng người đàn ông duy nhất bị chết lên thuyền, thuyền trưởng nhìn thấy mặt ông ta thì lập tức tim đập thình thịch, bởi vì cái khuôn mặt kiệt sức ấy chính là khuôn mặt đã hiện lên mấy lần trong phòng thuyền trưởng, và tai phải của anh ta đúng là có đeo một chiếc hoa tai vàng. Đây là nhật kí đường biển của vị thuyền trưởng, tên của thuyền trưởng đó là thuyền trưởng D.M.

Ngoài ta, ông Vu Định Ngọc lãnh sự tại Seattle Hoa Kì có một hôm vào lúc chạng vạng đến tệ xá của tôi làm khách. Ông ấy kể cho tôi một chuyện có thật:
Có một người phụ nữ Hoa Kiều xinh đẹp, ngoài bốn mươi tuổi, làm thuê cho một công xưởng may mặc, đã bị giết trong một vụ cướp vài ngày trước. Theo nguyên lý về linh học mà nói thì hồn ma chết do bạo lực sẽ ngưng tụ mà không tan mất. Còn người phụ nữ Hoa Kiều này bình thường chăm chỉ đi làm, chưa bao giờ đi muộn về sớm, là một người phụ nữ rất chất phác. Nghe nói sau khi chết, cái máy khâu của bà vô duyên vô cớ lại bất ngờ khởi động một hai lần.

Còn lạ hơn là, cuối tháng khi phát lương, thủ quỹ người Mỹ lần lượt đi đến từng bàn máy khâu để phát lương, đến trước bàn máy khâu của người phụ nữ bị giết đó, thủ quỹ người Mỹ nhất thời quên mất rằng bà ấy đã chết rồi, còn người phụ nữ bị giết kia thì ngồi sau chiếc máy khâu cười rạng rỡ, đưa tay ra, thủ quỹ người Mỹ thuận tay liền đặt tiền lương lên tay của bà ấy. Đến khi người thủ quỹ nhớ ra nhân viên kia mấy ngày trước đã bị giết chết rồi, quay đầu lại thì người phụ nữ đó đã biến mất, phong bì tiền lương thì đặt ngay ngắn ở trên bàn máy khâu. Kết luận cuối cùng là, cái bàn máy khâu đó cho đến bây giờ vẫn không có người nào dám ngồi vào.

Những chuyện về ma quỷ thì nhiều vô cùng, nhưng tính chân thực của chúng e rằng cần phải "chiết khấu" bớt. Có lẽ người đọc sẽ cảm thấy kì lạ, bản thân tác giả là một nhà linh học, thế thì vì sao ngược lại lại không tin chuyện ma quỷ. Còn tôi, lời giải thích của tôi là như thế này. Thế giới của ma quỷ là thế giới vô hình, không gian tồn tại của họ và không gian tồn tại của con người không hề nhất định là xung đột với nhau, cũng không mâu thuẫn với nhau. Vì thế, chuyện cảm ứng tâm linh thật sự không phải là không có, nhưng cũng không phải là thấy rất nhiều, ngược lại, cảm ứng linh giới thật sự đã bị những sắc thái không có thật được thêm thắt gán ghép vào để che đậy.

Vì thế, những chuyện ma quỷ cần phải được lần lượt khảo chứng mới có thể nhận định thật giả. Còn đối với phương pháp trị ma quỷ của Đạo gia thì cũng có pháp hút ma và bịt ma, nên dùng với tà ma ác quỷ, còn ma thiện có ích với con người thì có thể miễn.

Người thông linh, chỉ dùng kiếm chỉ hướng lên không trung viết chữ "nhiếp", sau đó hướng về hồn ma vẽ một vòng tròn, niệm chú rằng: "Thiên nhiếp địa nhiếp, địa nhiếp thiên nhiếp, Chu Ngạn Chu Ngạn, tốc giáng tốc nhiếp, hủy tà diệt tinh, thu trảm quỷ thần, cảm hữu cự nghịch, phong hỏa diệt hình nhiếp!"
Cũng có thể viết lên không trung một chữ "sát", sau đó hướng về hồn ma vẽ một vòng tròn, niệm chú rằng: "Thiên sát, địa sát, niên sát, nguyệt sát, nhật sát, thời sát, dương sát, âm sát, tai sát, kiếp sát, nhất thiết sát, nhất thiết hung thần, tà ma quỷ quái, phùng chú tự diệt, tự sát nhiếp!"

Thủ ấn của pháp hút ma có "gia ấn" [ ND: ấn gông, cùm ], có "tỏa ấn" [ ND: ấn khóa ], có "nữu ấn" [ ND: ấn cài nút ].

Thủ ấn dùng cho pháp chặn ma thì có "tắc ấn" [ ND: ấn bịt kín ], dùng hai ngón trỏ bắt chéo nhau, ngón cái tay phải đè lên ngón giữa, ngón áp út và ngón út, lòng bàn tay hướng ra ngoài, ngón cái tay trái đè lên ngón giữa, ngón áp út, ngón út, lòng bàn tay hướng vào ngực. Niệm chú rằng: "Đông Nhạc u âm, tường sắt vạn dặm, cẩn thỉnh Đại Đế, bịt kín cửa ngục."

Pháp hút ma và chặn ma có thể xem là phương pháp trị ma rất hữu hiệu, bình thường thì đa phần là không cần dùng đến, nhưng người tu Đạo thì nhất định cần biết, vì có Đạo tất có ma chướng, người tu Đạo nhất định cần dùng tới.


### 19. Đuổi ma không siêu thoát


Đạo gia trị ma dùng ấn Tứ tung ngũ hoành, tức là tay trái đặt ngang, tay phải dựng thẳng, lòng bàn tay trái hướng vào ngực, lòng bàn tay phải hướng ra ngoài, các ngón tay đặt chéo vuông góc với nhau, đó là ấn quyết Tứ tung ngũ hành. Ngoài ra, hướng lên không trung, dùng kiếm chỉ, viết một chữ "vũ" để bổ trợ, niệm chú rằng: "Đệ lục phụ tinh, Kim Mi Lão Quân, biến hóa vạn thiên, trảm quỷ vô sinh." Khi kết ấn Tứ tung ngũ hoành thì niệm chú: "Tứ tung ngũ hoành, lục giáp lục đinh, Vũ Vương trị thủy, Xi Vưu thí binh, tả huyền Nam Đẩu, hữu bối Thất Tinh, ngô kim đoạn hậu, bất hứa hồi sinh, đương ấn giả tử, nghịch ấn tắc vong, thiên phiên địa phúc, cửu đạo toàn thất, thiên đạo đoạn, địa đạo đoạn, nhân đạo đoạn, quỷ đạo đoạn." Rồi niệm rằng: "Ngân nha mãnh sứ Tân Hán Thần, hốt hỏa luật lệnh Đặng Bá Ôn, phi tiệp báo ứng Trương Nguyên Bá, đốc lôi chủ hỏa Tống Kí Kị, lôi công Giang Hách Xung, lôi mẫu Quý Văn Anh, phong bá Phương Đạo Chương, vũ sư Trần Hoa Thiên, vân lại Quách Sĩ Tú."

Dùng kiếm chỉ viết lên hư không một chữ "lôi" và niệm rằng: "Đô thiên Đại Lôi Công, phích lịch chấn hư không, lãnh lai thiên binh tướng, nghiêm kháng chư quỷ túy, cảm hữu ngoan cường giả, yêu ma hóa thanh phong, cấp cấp phụng Cửu Thiên Lôi Tổ Đại Đế luật lệnh."

Đạo gia trị ma cũng dùng ấn "song Thái Sơn", niệm chú rằng: "Nhiếp khởi Thái Sơn cao vạn trượng, phóng hạ bàn đà thạch vạn cân, Thái Sơn Đế Quân thiên quân lực, đả tận tà quỷ bất siêu thăng, cấp cấp như Thái Ất Chân Quân luật lệnh." Ấn "song Thái Sơn" thuộc về ấn Mật truyền, không phải do tự mình truyền là được, không thể tùy tiện kết ấn, về điểm này phải xin độc giả thứ lỗi. Chú "Phi kiếm trảm ma" như sau: "Thái Ất li cung trợ trảm tà, La Hầu Kế Đô trợ diệt tà, thiên tà vạn tà thượng thiết gia, phi kiếm trảm thủ yểm ni sa." Tay làm thành kiếm quyết chỉ lên không, niệm tiếp: "Ôm mễ thiên. Mễ địa. Trá lợi trá. Kim trá thăng. Nhiếp."

Từng có một lần, ban đêm vào giờ Tý, tác giả sau khi tắm gội trai giới, yên lặng ngồi xuống, chuyển hơi thở vào không trung, mắt nửa mở nửa nhắm, nhìn chăm chú vào chóp mũi, như vậy chính xác là mắt nhìn vào mũi, mũi nhìn xuống tim, nguyên thần ngưng tụ tại huyền quan khiếu, chính là lúc "nhất hạc xung thiên". Bỗng nhiên từ phương xa có hai con ma nhiếp không mà đến, nếu ma có thể nhiếp không mà đến thì hạng ma này cũng có một số đạo hạnh bất phàm.

Một con ma nói: "Ấy, đất này có một đạo nhân, đã ngưng khí cản trở lộ trình của chúng ta rồi."
"Vậy chúng ta đi đường vòng đi!" - Con ma kia nói.
"Không được, khí mà ông ta ngưng lại như một ngọn núi lớn, chúng ta đi vòng quanh núi thì thời gian không kịp mất."
"Vậy phải làm sao?"
"Hầy! Có gì không thể chứ, năm xưa một tay tôi từng khiến cho núi Hoa Sơn sụp mất một góc, mặt đất liên tiếp chấn động ba ngày. Cái người tu đạo bé nhỏ này có đức có năng gì chứ, xem xem có thể chặn được tôi một mình chẻ ngọn núi Hoa Sơn này không."
Hai con ma đó nhiếp không bay đi, trong nháy mắt đã đến trước mắt tôi.

"Hầy! Tôi cứ tưởng là ai, thì ra chính là Lư Thắng Ngạn viết sách tâm linh."
"Lư Thắng Ngạn truyền nhân duy nhất của Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, hiện nay cũng xem như là có thân phận của một tiểu giáo chủ, chúng ta bỏ qua đi! Đi đường vòng vậy!" - Con ma kia một mực khuyên người bạn đường của nó đừng hành động theo cảm tính.
"Đã là tiểu giáo chủ thì hôm nay không đọ sức một trận bất phân thắng bại không được, tôi là "phi thiên thần ma", rất nhiều thần cõi trời đều sợ tôi ba phần, huống chi là một tên phàm phu nhỏ bé, hôm nay lão phu nhất định bất tín tà, không tiêu diệt Lư Thắng Ngạn không được."

Ác ma đó hình dáng trông rất dữ tợn, hai mắt đỏ ngầu, lỗ đỉnh đầu mọc lên một cái sừng dài, răng nanh chĩa ra ngoài, hai tai nhọn hoắt, bàn tay có móng vuốt, trên lưng mọc ra đôi cánh, quả nhiên hắn có thể bay trên trời, hắn đưa tay đánh xuống đầu tôi. Tôi vội vàng tập trung tinh thần vào hai mắt, ngẩng đầu lên nhìn nắm đấm của nó, trong miệng niệm rằng: "Thần tiên dương dương vạn lý, kim quang hà thần bất phục, hà quỷ cảm đang chính khí, đáng chi tà quỷ diệt vong, cấp phụng Trung Thiên Tinh Chủ, Tử Vi Đại Đế luật lệnh sắc." Tôi niệm xong câu chú này, ánh mắt nhìn ra bên ngoài, nắm đấm kia dừng lại ở không trung, muốn rơi xuống nhưng không rơi xuống được. Hắn liên tiếp ba lần giơ nắm đấm để bổ xuống, nhưng cứ đến giữa lưng chừng thì bị một sức mạnh vô hình chặn lại, nắm đấm từ đầu tới cuối đều không giáng xuống được. Con ma bên cạnh liên tiếp nói đạo lý: "Đi thôi, bỏ qua đi, mau đi, mau đi."
"Phi thiên thần ma" đó giọng tức giận nói liên hồi: "Bố mày hôm nay có việc, nếu không thì làm gì có chuyện dễ dàng thế, lần sau lại tìm đến mày để tính sổ."
Nói xong, hai con ma bay lên không cùng đi mất.

Sau chuyện đó, tôi từng hỏi ân sư Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, ân sư nói: "Lai lịch của phi thiên thần ma thật sự cũng không tầm thường, hắn là một vị cao tăng đời Tống, thường ngày trì tụng Kinh Pháp Hoa, cả đời không có hành vi xấu xa, nhưng tính tình độc đoán, luôn tự cho mình là đúng, cho nên mọc ra một cái sừng dài, tai nhọn là vì thích nghe những lời nịnh hót, sau lưng mọc ra hai cánh là do hắn tu pháp, một mình chẻ núi Hoa Sơn nghĩa là "Hoa", những hình tượng biến hóa này đều do cảm ứng từ tâm tính khi hắn tu hành. Con không đếm xỉa gì đến hắn, như thế là đúng rồi, bởi vì cái hạng thần quỷ này đều là loại linh ngu dốt, không cảm hóa được, kiêu căng ngạo mạn, vĩnh viễn không chấm dứt. Nếu con đắc tội với hắn, hắn sẽ không so thắng thua thì không chịu được, hai mắt hắn đều đỏ ngầu cũng là vì do tâm đố kị cao độ. Sau  này hễ gặp nhân vật kiểu này thì bản thân hãy phớt lờ mới là đúng."
"Nếu con dùng pháp diệt thần thì sao?" - Tôi hỏi.
"Thế là rước thêm nghiệp chướng vào thân, oán thù đến khi nào hết." - Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh thở dài một hơi.

Bây giờ, cuối cùng tôi đã hiểu rồi, muốn tu hành pháp môn vô thượng là gian khó biết bao! Cao tăng triều Tống, cái tâm độc đoán chưa trừ bỏ, cái tâm thích nghe lời nịn hót chưa trừ bỏ, cái tâm đố kị chưa trừ bỏ, thì chính là "phi thiên thần ma", thật sự khiến người ta sợ hãi.


### 20. Bầy ma tiễn Liên Sinh


Một buổi chiều mùa hè ngày 15 tháng 6 năm 1982, đó là buổi hoàng hôn cuối cùng ở Đài Loan trước khi chúng tôi rời khỏi ngôi nhà ở Đài Trung, Đài Loan. Ngày hôm đó sắc trời âm u, mưa bụi trút xuống mù mịt, lòng người cũng giống như sắc trời vậy, có một cảm giác hiu quạnh rất khó mô tả dâng lên trong lòng. Sáng sớm ngày hôm sau chúng tôi sẽ phải đến sân bay quốc tế Đào Viên để lên chuyến bay lúc hơn 9 giờ của hãng hàng không Tây Bắc (Northwest Airlines), bay đến thủ đô Seoul Hàn Quốc rồi chuyển chuyến bay đến Seattle.

Các học trò ở Đài Loan của tôi rất đông, tín chúng cũng rất đông, độc giả lại càng đông. Bởi vì sách của tôi bán rất chạy ở trong và ngoài nước, nên những người đến tìm tôi nhờ giúp đỡ mỗi ngày có tới vài trăm người, những người muốn học Đạo pháp cũng nhiều vô số kể. Thế nhưng, ngoài những người chí thân ra, tôi không thông báo cho bất kì ai, rất nhiều tri kỉ và học trò thân thiết đều không biết, xin đừng trách tôi, bởi vì tôi không muốn mọi người đi tiễn tôi. Tôi còn không rõ về cảm giác đau buồn trong lòng tôi, cũng không muốn tạo nên sự náo động phô trương thanh thế ở sân bay. Vì thế, tôi âm thầm rời đi, rất xin lỗi mọi người, cảnh ly biệt rất đau lòng, nhưng ly biệt vẫn là để tương lai có ngày hội ngộ lần nữa.

Ở Seattle nước Mỹ, tôi sắp hoàn thành xong cuốn sách thứ 40 "Thông linh bí pháp thư", sau đó an tịnh tu luyện Đạo công ở mức độ cao hơn, đó là hai việc đại sự quan trọng nhất. Bởi vì ở Đài Loan, tôi không còn thừa một chút thời gian nào để tĩnh lặng ngồi viết sách, hoặc để định tâm xuống mà ngồi thiền. Các bạn có biết không? Mỗi ngày, ngôi nhà của tôi ở Đài Loan có hơn sáu chục cuộc điện thoại, cứ mười phút lại có người ấn chuông cửa đến tìm tôi, ngay cả lúc đêm hôm khuya khoắt cũng có người đến gõ cửa. Nghĩ mà xem, nếu tôi cứ tiếp tục bận rộn suốt ngày đêm như thế thì làm sao có thể tu chân ngộ đạo, làm sao có thể tiêu trừ nghiệp chướng cho rộng rãi chúng sinh!

Vào buổi chiều mưa bụi ngày 15 tháng 6, tôi tắm gội, ngồi tĩnh lặng cúng Phật xong, tôi cầm tịnh bình đi ra sau vườn, tôi dùng ấn quyết "tam sơn", niệm rằng: "Đại bàng Kim Sí Điểu, khoáng dã quỷ thần chúng, la sát quỷ tử mẫu, cam lộ tất sung mãn, om mutisaha om mutisaha om mutisaha." Cũng giống như trước đây, tôi dùng nước pháp cam lộ để bố thí cho tất cả âm hồn, tôi vẫn luôn làm như thế chưa từng gián đoạn.

Đúng lúc tôi đang vẩy nước pháp, đột nhiên, mặt đất nổi lên một trận gió lớn, cơn cuồng phong đó ào ào ập đến, khiến cho nước pháp mà tôi vẩy ra đều bị thổi bay ngược lại, khiến đầu và mặt tôi ướt đẫm nước pháp. Mặc dù hôm đó trời đổ mưa nhưng không hề có gió, trận cuồng phong này thật sự không hiểu là thế nào. Lúc cúng dường nước cam lộ, tôi đã nói trước: "Chư Thiên thánh linh, tôi là pháp sư Lư, ngày mai sẽ đi Mỹ, cảm tạ chư Thiên thánh linh những năm qua đã chiếu cố che chở tôi, đây là lần cúng dường nước pháp cuối cùng tại đây, xin bảo hộ cho tôi lên đường bình an, thuận lợi hoàn thành đại nguyện nhân từ tế thế." Tôi cúng dường nước pháp đã nhiều năm, các linh và tôi rất thân thiết, nhưng chưa bao giờ thấy mặt đất nổi gió lớn khiến cho nước pháp mà tôi vẩy ra lại làm tôi ướt hết cả đầu cả mặt như thế.

Bỗng dưng tôi nhìn về phía cánh đồng hoang vu phía sau vườn, bất ngờ phát hiện thấy khắp nơi đầy rẫy âm hồn, cái thanh thế ấy thật sự khiến người ta sửng sốt. Nhưng nói ra kể cũng kì lạ, mặc dù vạn linh tề tụ ở một chỗ nhưng lại yên tĩnh đến nỗi một cây kim rơi xuống đất cũng có thể nghe thấy âm thanh. Một con ma trong số đó cung kính nói với tôi: "Nước pháp bay ngược, một trận gió âm, mong pháp sư Lư đừng thấy kì lạ. Đó là nghi thức cáo từ của chúng tôi, chúng tôi hy vọng ngài mang theo nước pháp cúng dường chúng tôi, vĩnh viễn không quên bầy u linh chúng tôi đây. Nước pháp này cũng tự có thể bảo vệ cho ngài, một đời một kiếp, vĩnh viễn mãi mãi."

Lần này đến lượt tôi ngây người ra, tôi cố kìm nước mắt, nhất thời tôi không nói nên lời. Loài ma vẫn luôn có khả năng tiên tri tiên giác, ma có ngũ thông, họ nhìn trước được sự việc. Như lúc này đây, họ tụ tập mấy nghìn mấy vạn âm hồn cùng đến tiễn biệt tôi, tôi ấp úng nói hiền như Bụt: "Cảm ơn, vô cùng cảm ơn, tôi không biết phải nói gì cả, vô cùng cảm ơn."

Buổi chiều ngày 15 tháng 6 năm 1982, bầy ma đã biết trước được sự việc tôi sắp đi Mỹ, không ngờ đã tề tụ đến tiễn tôi, điều này thật sự khiến tôi quá đỗi cảm động, cảm động đến mức không còn biết nói gì hơn nữa.

Khi đến Mỹ rồi, giống như trước kia khi tôi còn ở Đài Loan, tôi đã sắp xếp một chỗ để cúng dường bố thí cho các linh hồn. Vào mỗi buổi chiều hàng ngày, tôi vẫn cúng dường, bố thí tịnh bình pháp thủy, tôi niệm: "Đại bàng Kim Sí Điểu, khoáng dã quỷ thần chúng, la sát quỷ tử mẫu, cam lộ tất sung mãn, om mutisaha om mutisaha om mutisaha." Mới đầu không có cảm ứng gì, sau đó tôi dùng niệm lực nên dần dần mới có hồn ma đến, một đồn mười, mười đồn trăm. Thì ra, phương pháp bố thí cho các linh hồn này có thể tiến hành ở nước ngoài, khiến cho quỷ thần trong thiên hạ đều tràn đầy pháp hỉ, đều có được lợi ích, đây đúng là điều thật sự bất khả tư nghì.

Phương pháp bố thí rộng khắp cho các linh hồn này vốn dĩ rất đơn giản, nhưng người bố thí nhất định phải có tâm địa thiện lương, nhất định phải kiền thành cung kính. Ví như bạn đem đồ đi giúp đỡ người khác nhưng thái độ không lễ độ, người bố thí kiêu căng tự mãn, thì người nhận bố thí cũng chưa chắc đã tiếp nhận, thế thì hiệu quả sẽ hoàn toàn ngược lại. Hơn nữa, việc bố thí cho linh hồn ngoài thiện tâm và cung kính ra, còn phải biết thủ ấn hóa thực và chú ngữ, có nghĩa là phải có sẵn năng lực "biến hóa thức ăn", nghĩa là năng lực biến nước bình thường thành nước cam lộ, bằng không, nước này vẫn không phải là nước pháp, thì dù có bố thí phổ hóa nhiều năm cũng không có lợi ích gì.

Loài ma không nhất định toàn là xấu xa, ngược lại, loài ma có một số rất đáng yêu và thân thiện, ma có lòng dạ ngay thẳng, bạn có ơn với họ, họ sẽ báo ơn bạn, bạn có thù với họ, họ sẽ báo thù bạn. Ngoài ra, ma cũng có ma thiện, cũng có ma hộ trì cho đạo tràng Phật giáo, người thông linh thân thiết với loài ma thì việc quá khứ tương lai, mặc dù không thể biết hết toàn bộ, nhưng những việc vụn vặt của nhân gian đại khái cũng có thể xem là nắm trong lòng bàn tay. Cho nên đạo đối xử với ma không nên hễ gặp là dùng pháp chế, ngược lại cần giúp đỡ họ, phổ độ họ, đó mới là diệu pháp tế độ tốt nhất.

Cả đời tôi thân thiết với loài ma, tôi phát hiện ra làm bạn với ma tốt hơn nhiều so với làm bạn với người, bởi vì nhân loại quá gian xảo, hễ không cẩn thận là bị trúng gian kế. Cả đời tôi đối đãi với người ta chân thành, nhưng cái mà người khác dành cho tôi ngược lại lại là giăng bẫy hãm hại tôi, tôi thật sự sợ lắm rồi. Cho nên, trước sau tôi đều cảm thấy rằng, làm bạn với người chẳng bằng làm bạn với ma. Sự chính trực của ma có thể làm thầy nhân loại.


### 21. Khác biệt giữa Lưu Bồi Trung và Thái Tao Kì


Có một người, ông Quan Xuân Hoa là một học giả sống tại Mỹ đến thăm hàn xá của tôi, ông ấy là học trò của thầy Lưu Bồi Trung. Thầy Lưu Bồi Trung là người sáng lập Côn Luân Tiên Tông, nay đã quy tiên. Tác giả lúc sinh thời vẫn chưa từng gặp mặt thầy Lưu Bồi Trung, nhưng trong một lần tĩnh tọa đã gặp ông ấy hiện lên ở giữa không trung. Học trò của thầy Lưu Bồi Trung rất đông, hơn nữa có rất nhiều học trò của thầy Lưu Bồi Trung đã quy y dưới pháp môn của tôi, chính thức học tập tâm pháp khởi linh.

Tôi đã nghe rất nhiều những lời đồn về thầy Lưu Bồi Trung, nói rằng ông ấy là Khâm Thiên Giám của triều Thanh, đã cải trang để cứu Quốc Phụ Tôn Trung Sơn. Khi cố tổng thống Tưởng Giới Thạch tạ thế, ông ấy cũng qua đời theo. Cũng có người đồn rằng trong quan tài của ông trống rỗng, ông ấy đã mượn đất để biến mất về núi Côn Luân rồi. Khi còn tại thế, những chuyện thần bí của ông rất nhiều, người ta nói rằng ngón tay ông có điện, giống như công phu điểm huyệt vậy, cách không nhất chỉ, người nào không tin ông ấy sẽ bị điện giật, toàn thân không thể cử động. Sau khi Lưu Bồi Trung tạ thế, rất nhiều học sinh vì tôn kính ông ấy, đã tạc tượng ông bằng gốm sứ, hàng ngày sớm tối dâng hương, lễ kính giống như Tiên Phật vậy.

Không còn gì nghi ngờ, từ bao lâu nay, đối với xã hội, những cống hiến thấu tình đạt lý của Lưu Bồi Trung có một mặt không thể gạt bỏ. Nói ví dụ như, ông ấy đã liên kết Đạo công và hành vi xã hội với nhau, học sinh của ông ấy bao gồm từ phần tử trí thức cho đến lưu manh du côn, đã trở thành một thể chế đạo đức vô hình mà hữu hiệu, những tài hoa dựa vào tổ chức này đã bảo hộ cho rất nhiều vụ kiện xã hội không thể tránh khỏi, hình thành nên một dòng thác ấm áp. Trên phương diện này, cá nhân tôi rất khâm phục thầy Lưu Bồi Trung, đặc biệt là một cách rất tự nhiên ông đã nghĩ đến tâm lý học của nhân loại hiện đại và phương diện thái độ tín ngưỡng, từ đó ông đã kết hợp lòng tôn sùng tín ngưỡng của cá nhân và tổ chức hoặc cơ cấu hệ thống tín ngưỡng của họ lại với nhau, kết quả nghiên cứu của các học giả tâm lý chính trị đã chứng tỏ phương diện này thật sự thành công.

Theo như tôi biết, phương thức tư tưởng của Đạo gia thông thường luôn tương đối độc đoán hoặc khó tiếp cận. Các nhà tôn giáo vẫn còn có cách nhìn thành kiến đối với sinh mệnh, đối với việc chấp nhận tông phái của người khác, cách họ bình luận đánh giá và phản ứng đều cho thấy họ cực kì thành kiến và hẹp hòi. Họ vốn có Đạo pháp cổ xưa và quan điểm đạo đức mà họ tự cho là đúng, tin chắc cái của mình mới là đúng, học thuyết và lý luận là số một, tiếp nhận và tôn trọng vô điều kiện thần tượng quyền uy trong con mắt của họ, không bao giờ khoan dung với các phần tử "dị kỉ" của các tôn giáo và tông phái khác. Đây chính là sự bám chấp mà Phật gia thường khuyên con người không được chấp vào.

Cho nên, trên phương diện hành vi của thầy Lưu Bồi Trung thì có thể nói là rất rộng lượng, nhãn quang của ông ấy nhìn xa trông rộng hơn nhiều so với hạng người thế tục. Mặc dù con người ông đã già, nhưng trên phương diện phân tích lý lẽ thì lại sắc bén và bình tĩnh như vậy, với đức độ, tài năng và học vấn sẵn có, đó là một cách làm có chiều sâu, bảo sao ông có thể thông hiểu đạo lý, chỉnh hợp thành hệ thống tín ngưỡng của chính mình. Với tấm lòng cởi mở, tự nhiên có phong thái như thế, vậy thì tất cả những học sinh của ông cũng sẽ tự nhiên tiếp thu những chỉ đạo của ông.

Ngoài ra, ông Quan Xuân Hoa cũng nhắc đến một người khác, người này chính là ông Thái Tao Kì. Ngược lại, với con người này thì tôi lại có quen biết, từng ngồi cùng bàn ăn cơm một lần. Tại buổi hội nghị lần thứ chín của Viện Lập Pháp, tôi đã diễn giảng "Cái nhìn đa chiều về vấn đề linh học", nên đã gặp mặt ông ta một lần. Người này vóc dáng rất gầy, tướng mạo kì dị, ngón tay dài và gầy, nói một câu không khách khí thì ba phần giống người, bảy phần giống ma, ông tự xưng là đại đệ tử của Phật Đà, là Đại Ca Diếp chuyển thế. Ông ấy cũng viết sách, nhưng trong sách dùng quá nhiều tiếng Ấn Độ, rất nhiều người sau khi đọc xong có phát biểu cảm tưởng bằng bốn chữ: "Chẳng hiểu gì cả."

Ông Thái Tao Kì tự mình lập nên một tổ chức gọi là hội nghiên cứu khoa học gì đó, đặt một cái tên gọi rất hay, nhưng việc mà họ làm là những trò giang hồ đoán mệnh giải vận. Nhưng mà ông ta cũng nhận học trò, tự xưng là có nhân duyên tiền kiếp với nhau, nói tiếng Ấn Độ mà ngay cả người Ấn Độ nghe cũng không hiểu. Càng "kì diệu" hơn là ông ta coi Shinji Takahashi là thầy, Shinji Takahashi tự xưng là Phật Đà chuyển thế. Học trò của tôi là tiến sĩ Tang Quảng Ân, giáo sư trường Đại Học Công Nghiệp Tokyo từng đến thăm người này, phát hiện ra Shinji Takahashi lòng dạ mưu mô, căn bản là một tên giang hộ bịp bợm người Nhật. Câu hỏi của tiến sĩ Tang, Shinji Takahashi không trả lời được. Ở Nhật Bản, danh dự của Shinji Takahashi rất tồi, bàn về đạo của ông ta thì cũng chẳng khác gì kê đồng. Còn Thái Tao Kì bản thân gắng gượng đưa đầu ra nhận giặc làm cha, lại còn tự nhận mình là đại đệ tử của ông ta, tự mình nhận là Đại Ca Diếp. Thế rồi Shinji Takahashi bỗng dưng ốm chết, ông ta tự cho mình là trung tâm, lòng dạ cũng mưu mô không khác gì.

Thái Tao Kì rốt cục có thành tựu gì? Ông ta nổi lên từ dân gian, là nhánh nhỏ của một tông phái, ở dân gian không có sự ủng hộ nào về mặt tinh thần và đạo đức, các mối liên hệ của ông ta nhỏ, đương nhiên thực lực cũng nhỏ. Mặc dù Thái Tao Kì tiếp thu những nghệ thuật thần bí của tôn giáo, cũng giữ gìn cẩn mật một vài tư tưởng và nguyên tắc hành động nào đó của bản thân, nhưng con người ông ta thích lời lẽ khoa trương, điều này phá hoại tính thần bí của chính ông ta. Những người thân tín ở tầng trên cao nhất cũng lần lượt sinh ra sự bất tín nhiệm, đặc biệt là ông ta không có một bộ phương pháp tu hành nào cả, khiến cho phương pháp tuyên truyền mông lung mịt mờ của Thái Tao Kì nhanh chóng bị tan rã, tự ông ta làm một kẻ sùng bái cá nhân, giống như học sinh trường mầm non vậy, hoàn toàn là làm việc theo cảm tính như kiểu tìm người gây sự.

Nói một cách thẳng thắn, ngày nay cho dù muốn giảng đạo thì cũng cần phải có sẵn tri thức đủ tầm cao và óc tư duy rõ ràng, thậm chí còn cần có năng lực tổ chức hiện đại, trong khi đó Thái Tao Kì lại dùng một phương pháp thành kiến một cách đầy bế tắc thì căn bản là sai lầm rồi. Cũng giống hệt như Shinji Takahashi tự cho rằng mẹ ông ta là Chuẩn Đề Bồ Tát chuyển thế, em gái ông ta là Quan Thế Âm Bồ Tát chuyển thế, bản thân ông ta là Phật Thích Ca Mâu Ni chuyển thế, hoàn toàn là một bầy quạ kêu, lu loa phụ họa. Nay Shinji Takahashi đã ngoài bốn mươi tuổi bỗng dưng vênh váo, làm sao để tự bào chữa cho bản thân đây?

Tâm linh của Thái Tao Kì thì bế tắc, có tính cuồng vọng ích kỉ, ngoan cố hùa theo một cách mù quáng, tùy tiện bài trừ kẻ đối lập, rất độc đoán, sắc bén một cách cực đoan, đánh mất tính tương tác với dân chúng, mất đi tính căn bản gốc gác, do vậy hội nghiên cứu ý thức khoa học của ông ta dần dần phát sinh lệch lạc, hành vi sa vào hẹp hòi, từ đó sinh ra những dấu hiệu nguy hiểm, cuối cùng sẽ đánh mất chính bản thân mình.
Đây là khác biệt giữa Lưu Bồi Trung và Thái Tao Kì.
Còn Linh Tiên Chân Phật Tông ngày sau chắc chắn sẽ phát huy rực rỡ, như mặt trời mặt trăng phổ chiếu khắp thập phương.


### 22. Linh Tiên Chân Phật Tông tôn sùng Cao Vương Kinh


Tác giả xin có lời khuyên người tu đạo nên trì một kinh một chú, một đời một kiếp mỗi ngày đều trì tụng không gián đoạn, bền bỉ trì tụng tất có linh ứng. Có người hỏi tôi, kinh nào tốt nhất, chú nào có công đức nhất, câu trả lời của tôi là: "Chỉ cần có duyên thì đó chính là thượng phẩm, kinh chú không phân biệt hơn kém, có thể niệm đến khi chuyển pháp luân thì đó là thành công." Do vậy, tôi cho rằng kinh điển Đại thừa và kinh điển Tiểu thừa đều có công đức, chú lớn và chú nhỏ đều có pháp lực, chỉ cần bạn "có công mài sắt" thì tất sẽ "có ngày nên kim". Công đức niệm kinh chú là bất khả tư nghì, chư Phật Bồ Tát dựa vào kinh chú để giúp cho chúng sinh trong thiên hạ, còn phàm phu thì dựa vào kinh chú để có sự chở che của Phật Bồ Tát.

Tôi biết, phàm là tụng kinh chú thuần thục đến khi tâm khẩu ý hợp nhất thì ngữ âm của kinh chú này sẽ hóa thành bạch quang xoay tròn, bạch quang từ trong miệng tỏa ra, từ đỉnh đầu tỏa ra, từ các lỗ chân lông trên khắp người tỏa ra, tạo thành một đường ánh sáng chói lọi, ánh sáng này cùng kết hợp với Phật quang của kinh chú thì Phật Bồ Tát sẽ có thể cảm thông đến kinh chú của người tu đạo. Bạch quang xoay tròn cũng chính là làm chuyển động pháp luân, người bình thường niệm đến khi pháp luân xoay chuyển thì có thể nói rằng người đó đã thoát khỏi cái vỏ phàm phu rồi, tương lai sẽ đến Tây phương cực lạc thế giới, liên hoa hóa sinh, vĩnh viễn không phải chịu khổ báo của luân hồi nữa, thành Phật thành Thánh, đạt được cuộc sống vĩnh hằng.

Việc niệm kinh niệm chú, chỉ cần chú ý rằng đó là kinh thật chú thật, không phải là kinh giả chú giả. Chỉ cần là kinh chú do Phật Tổ truyền lại, hoặc Tiên Phật thực sự dạy cho, thì đều có thể xem là kinh thật chú thật. Còn như kinh chú do phàm phu thế tục ngụy tạo ra thì không được niệm. Nếu đúng là do Tiên Phật truyền dạy thì có thể phụng hành tôn kính, nếu là do thế tục ngụy tạo thì có niệm cũng vô ích. Điểm này vô cùng quan trọng, tuyệt đối đừng để lãng phí thời gian quý giá, lãng phí tinh thần vào việc tụng kinh tụng chú giả.

Riêng "Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh" mà Linh Tiên Chân Phật Tông tôn sùng không phải do Phật Thích Ca Mâu Ni truyền dạy, mà đây là một bản "mộng thọ kinh", là một bản kinh điển được viết ra sau khi được một vị cao tăng đắc đạo đã chỉ điểm trong mơ. Bản kinh này thông qua trải nghiệm tâm linh của tôi thì thực sự là có sức mạnh siêu nhiên, hơn nữa còn là những chân ngôn ngộ đạo của một bậc cao tăng đắc đạo. Do vậy, tôi thấy nếu người người niệm "Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh" thì rất nhanh chóng sẽ có được linh cảm, hơn nữa còn có ích lợi lớn đối với việc ngộ đạo chân tu, tương lai cũng có thể đắc được vĩnh sinh đại đạo, thực sự là không hề thua kém kinh điển Đại thừa. Do vậy tôi muốn những người tu tập Chân Phật Tông người người đều trì tụng "Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh".

Các tu sĩ Phật môn ngày nay đều phê bình các loại kinh điển ngoại đạo và xếp là ngụy kinh, luôn chỉ tôn sùng những kinh điển do Phật Thích Ca Mâu Ni truyền cho đệ tử đã được kết tập. Còn đối với những kinh được truyền trong mộng, kinh "phi loan", kinh tự soạn, thì đại bộ phận đều không tin. Tuy nhiên, các tu sĩ Phật môn duy nhất đối với "Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh" được truyền trong mộng này thì không có bình luận bài trừ, hơn nữa họ còn cảm thấy kinh ngạc đối với bản kinh có nhiều Phật hiệu và nhiều hiện tượng linh dị như vậy. Tác giả có cảm hứng đối với kinh này, hơn nữa cảm thấy có nhiều niềm yêu thích hân hoan, cho rằng không thể thờ ơ với đại công đức như vậy, do vậy tôi đã đặc biệt cung kính cho in lại mấy vạn cuốn, không những để cho các đệ tử của Linh Tiên Chân Phật Tông trì tụng, mà thậm chí để phàm phu thế tục cũng có một cuốn trong tay, tương lai có thể chuyển hóa thế giới này thành cực lạc, thành tựu quang minh đại tịnh thổ.

Với mục đích lưu truyền rộng khắp, tôi đặc biệt ghi lại nguồn gốc và nguyên văn bản kinh này.

Nguồn gốc "Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh":

Ngày xưa vào thời Ngũ Đại [ ND: 5 triều đại xuất hiện vào khoảng giữa giai đoạn lịch sử khi nhà Đường suy tàn (năm 907) và sự thành lập nhà Tống (năm 960). ], có một vị quốc vương là Cao Hoan, làm tướng châu quận chủ, thích giết người. Có một vị quan thích bảo tạng tên là Tôn Kính Đức đã bị vu là phạm vào trọng pháp (kết quả khảo chứng sau này là do em trai của ông phạm pháp, nhưng Tôn Kính Đức phải chịu liên lụy), bị giam trong nhà lao đợi đến ngày chết. Trong thời gian này ông liên tục trì "Quan Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm", ngày đêm không ngơi nghỉ, rồi bất ngờ mơ thấy một tăng nhân nói rằng, ông trì kinh này không thể thoát chết, tôi khuyên ông trì "Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh" một nghìn biến, thì sẽ thoát được tội danh này. Kính Đức nói, nay trong giam cầm, làm sao có được kinh điển. Tăng nói, tôi sẽ đọc để dạy cho ông, ông viết lại trong khi ngủ thì sẽ không quên được. Thế rồi ông kiên tâm tụng niệm được 900 biến. Sau khi có văn bản án lệnh, sự việc cần trình lên để đóng dấu, vua lệnh đem ông ra chợ chém đầu. Kính Đức sợ hãi hỏi cai ngục xem chợ còn bao xa. Cai ngục nói hỏi làm gì. Kính Đức nói, buổi đêm mơ thấy một vị tăng bảo rằng tụng "Quan Thế Âm Kinh" một nghìn biến thì sẽ được miễn tội chết, nhưng tôi vẫn còn thiếu 100 biến nữa, xin đi chậm một chút, trên đường đi tôi sẽ niệm nhanh cho đủ số. Đến chợ, khi cai ngục tuyên chém, nhưng thân và đầu không bị tổn hại, đao thì gãy làm ba khúc. Trình báo sự việc lên vua, vua kinh ngạc hỏi ông đã dùng huyễn thuật gì mà có thể làm ra chuyện như vậy. Kính Đức nói, thực sự không có huyễn thuật nào cả, bởi vì trong ngục sợ chết nên đã trì tụng "Quan Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm", không ngờ mơ thấy một vị tăng đến dạy cho tụng "Cao Vương Quan Thế Âm Kinh" một nghìn biến mà có được phúc như vậy. Vua nói với Kính Đức rằng ông đã thắng vua rồi, ông có khác gì Phật. Vua gọi người cai ngục đến viết lại kinh này, lệnh cho mọi tội nhân và người bị xử tử mỗi người đều phải trì tụng một nghìn biến, rồi đem ra chém đầu để kiểm nghiệm, tất cả đều linh ứng. Do vậy vua đã hạ lệnh cho toàn dân khắp nơi trì tụng để có được quả phúc, truyền lại đến các đời sau được gọi là "Cao Vương Quan Thế Âm Kinh".

Nhờ có sự thật cảm ứng như vậy suốt từ xưa đến nay, do vậy tôi cẩn thận thuật lại khởi nguồn của kinh này, hơn nữa còn ghi chép lại những ứng nghiệm của kinh, để cho những người có trai tâm hướng thiện sẽ phần nào nghe theo lời khuyên này mà tụng niệm.

🌟

Muốn niệm "Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh", trước tiên tắm rửa sạch sẽ, phần nguồn gốc bản kinh không cần đọc, chỉ cần đọc toàn bộ phần nguyên văn. Nơi niệm kinh thông thường đương nhiên là ở Phật đường là tốt nhất, không có Phật đường thì đọc ở trong phòng đọc sách, nếu không có phòng đọc sách thì ở trong một góc của phòng ngủ, dọn lấy một chỗ giản tiện sạch sẽ (đừng đọc kinh ở nơi bất tịnh, sẽ mất đi tâm cung kính). Thắp lên một que hương, hoặc đốt đàn hương, nếu tất cả đều không tiện thì chắp tay cung kính niệm cũng có hiệu quả tương đương. Đứng chắp tay niệm, ngồi chắp tay niệm, quỳ chắp tay niệm, dùng pháp khí hoặc không dùng pháp khí, tùy theo ý muốn mà niệm, hoàn toàn không có quy định cứng nhắc.

Điều quan trọng nhất là tâm phải kiền thành, niệm thành tiếng cũng được, không niệm thành tiếng cũng được, không được suy nghĩ lung tung. Trì tụng "Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh", người có nguyện lực lớn thì mỗi ngày niệm 10 biến, sáng tối mỗi khóa niệm 5 biến, thậm chí càng nhiều càng tốt. Người có nguyện lực nhỏ thì mỗi ngày niệm 2 biến, sáng tối mỗi khóa niệm 1 biến. Khi gặp chuyện gấp thì cần thỉnh đại lực của Bồ Tát hỗ trợ, mỗi ngày tụng 100 biến, 10 ngày sẽ được 1000 biến, kiên trì thường niệm như vậy, tôi tin tưởng rằng cảm ứng sẽ luôn như hình với bóng, có cầu có ứng. Người càng có tín tâm kiên định thì càng có thể thành công, đây là đạo lý chắc chắn.

Năm xưa, tác giả tại một ngôi chùa nhỏ ở Đài Trung, Đài Loan lần đầu tiên nhìn thấy Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, đó là một cuốn kinh bìa cứng, tôi đã nói với vị trụ trì là muốn thỉnh cuốn kinh này, trụ trì là sư Thích Huệ Linh, là vị tăng xuất gia, có quan hệ thân tình đối với cha mẹ tôi. Sau khi tôi cầm cuốn kinh này về nhà thì lập tức có được giấc mơ, mơ thấy Quan Thế Âm Bồ Tát ngồi trên tòa hoa sen thuyết pháp, pháp tướng ngài trang nghiêm khiến người ta sinh tâm cung kính. Sau đó tôi cẩn thận đọc "Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh", đột nhiên có một mùi hương đưa đến, thơm như hoa. Khi đó tôi vẫn chưa biết tu đạo và khởi linh, sau sự việc này mới bắt đầu biết rằng ai có căn duyên tiền kiếp thì tất sẽ có hiện tượng như vậy.

Khi còn trẻ, tác giả học ngành trắc lượng, thường ra vào vùng núi sâu, ở nhờ tại nhà dân hoặc chùa miếu. Trước mỗi chuyến ra ngoài đi đo đạc, và sau khi trở về nhà, tôi thường cung kính đọc tụng một biến "Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh". Kể từ đó đến nay đã hơn 10 năm rồi, tôi không bỏ qua một ngày nào là không đọc. Về sau tôi ra nước ngoài du lịch, ở tại một khách sạn lớn, buổi sáng tôi hướng mặt về phía cửa sổ, hướng ra bên ngoài niệm "Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh". Đây là một trong những công khóa hàng ngày của tôi khi tôi đi du lịch. Tôi cho rằng làm như vậy sẽ tác động sâu đến tâm của tôi, tôi cũng cho rằng Quan Thế Âm Bồ Tát nhất định sẽ bảo vệ tôi, bởi vì tôi tin tưởng sâu sắc rằng chư Phật không vọng ngữ.


### 23. Quan Âm cứu tôi thoát nạn chết người


Vào buổi chạng vạng một ngày mùa xuân năm 1976, khi ấy tôi đang ở tại nhà mình ở phường Nghi Hân ở Đài Trung. Buổi chiều tối hôm đó vô cùng yên tĩnh, có hai học trò đến tìm tôi, một người là ông Phan Bách Lâm, một người là ông Tăng Mậu Tùng, hai người học trò này thần sắc hốt hoảng, tôi nghĩ rằng hai học trò này có khó khăn gì đó cần giúp đỡ, không ngờ khó khăn lần này không phải là họ, mà là chính tôi. Họ đến để thông báo cho tôi biết là tôi gặp phiền phức rồi.

Sự việc là như thế này. Mấy ngày trước, ông Phan đến bệnh viện thành phố Đài Trung để thăm bạn bị bệnh, tại lối đi trong bệnh viện đã gặp lại một thủ lĩnh xã hội đen hai năm nay chưa gặp, vị thủ lĩnh xã hội đen này cũng đến để thăm bệnh nhân. Hai năm trước, ông Phan vì quan hệ làm ăn nên đã thân thiết với đại ca xã hội đen này, nhưng họ cũng đã hai năm không gặp mặt nhau rồi. Trong lúc hai người tán dóc với nhau, ông Phan hỏi vì sao anh ta không kết hôn, đại ca thủ lĩnh cười đáp, chỉ là người khách quen trên hòn đảo này, cả đời lang thang phiêu bạt, không biết khi nào sinh mạng kết thúc, hà tất phải vì chuyện vụn vặt thế tục này mà liên lụy đến một người phụ nữ.

"Tôi đưa anh đi gặp thầy của tôi, để thầy chỉ điểm cho anh một chút nhé." - Ông Phan nhắc đến tôi, nhiệt tình nói.
"Thầy của anh là ai?" - Đại ca thủ lĩnh xã hội đen tò mò hỏi.
"Thầy tôi là Lư Thắng Ngạn, anh có quen biết không?"
"Là Lư Thắng Ngạn… Đại ca thủ lĩnh này trầm ngâm một lúc: "Không giấu gì ông, mấy ngày trước lẽ ra chúng tôi phải trừ khử con người này rồi, nhưng có hai người anh em bị tai nạn giao thông, nên thời gian đã đổi sang ngày mai, hôm nay tôi đến bệnh viện Đài Trung là để thăm hai người anh em này, ngày mai chúng tôi sẽ hạ thủ bên đường lúc ông ta tan làm."
"Tuyệt đối không được đâu." - Ông Phan cuống quýt. "Vì sao mấy người phải giết ông ấy? Vì sao thế? Vì sao thế?"
"Có người bỏ tiền ra mua cái mạng của ông ta, còn chúng tôi chỉ làm việc mà thôi." - Đại ca thủ lĩnh còn nói: "Người bỏ tiền kia nói, Lư Thắng Ngạn là một tên bịp bợm tội ác tày trời, lừa gạt tiền bạc của người ta, gian dâm với phụ nữ, trộm cướp lừa đảo, không từ một trò ác nào không làm, đối với loại người này, chết còn chưa hết tội, giết được ông ta rồi cũng xem như thay trời hành đạo, vì thế, chúng tôi vẫn tiếp tục vụ mua bán này, đồng thời người bỏ tiền cũng chi rất hào phóng."

Lúc này, Phan Bách Lâm hốt hoảng đến mức đầu tóc ướt rượt mồ hôi, ông ấy cố hết sức để can ngăn đại ca thủ lĩnh từ từ hẵng động thủ, đồng thời cố hết sức thay tôi làm sáng tỏ tin nhảm, thay tôi vỗ ngực quả quyết cam đoan, đồng thời mong đại ca thủ lĩnh nể tình nghĩa, hiểu cho đạo nghĩa bạn bè. Cuối cùng, đại ca thủ lĩnh mới nói: "Được thôi! Nể mặt ông bạn cũ nhiều năm nay, ngày mai tạm thời chưa giết, đồng thời hãy hẹn một thời gian cụ thể, tôi thử gặp người thầy Lư Thắng Ngạn này của ông xem sao, tôi muốn nói chuyện với ông ta." Đại ca thủ lĩnh này làm việc cũng không mập mờ, lập tức gọi mấy cú điện thoại, ngay tại chỗ đã dặn dò những người cấp dưới thu đao gươm về, việc ngày mai tạm ngưng.

Theo ông Phan Bách Lâm nói, người xuất tiền đã mời người động thủ ăn một bữa cơm tại Hồng Địa Chiên, khi ấy là Nam Viên Tửu Gia (hiện đang kinh doanh phòng khách, nằm ở giao lộ giữa đường Dân Tộc và đường Kế Quang ở Đài Trung). Ngoài ra cũng có một lần họ ăn cơm tại nhà hàng bên bờ biển Tây, đã nói rõ ràng rằng, móc mắt thì bao nhiêu vạn, chặt đứt cánh tay viết sách thì bao nhiêu vạn, chặt chân là bao nhiêu vạn, giết chết bằng đao võ sĩ thì sẽ trả tiền gấp bội. Mỗi người động thủ đều có một tấm ảnh của tôi để tránh ngộ sát. Tấm ảnh đó họ có được từ đằng sau bìa sách mà tác giả xuất bản. Tất cả đã được chuẩn bị ổn thỏa, chỉ đợi đến lúc động thủ mà thôi.

Tôi thừa nhận, khi tôi nghe được những tin tức này, trong lòng tôi vô cùng kích động, toàn thân tôi run lên, hết sức sợ hãi. Tôi nghĩ, cả đời tôi chưa bao giờ kết oán với người ta, cả đời ngay cả một lần đánh lộn cũng chưa từng có, sống làm người hiền lành, không dám đắc tội với ai. Tôi thừa nhận, tôi là một kẻ nhát gan mềm yếu, một người viết văn chương, một người thích tu đạo, cố nhiên tiếng tăm rất lớn, nhưng chưa từng lợi dụng điều này để bắt nạt người khác! Thật ra tiếng tăm lớn thì cũng chỉ là tiếng tăm lớn, không hề có thế lực gì, thì làm gì có chuyện không có việc ác gì là không làm chứ! Có thể thấy rõ được nỗi đau xót lớn lao trong lòng tôi.

"Người bỏ tiền muốn giết tôi là ai?"
"Là người lang thang hoang tàng Thái Kiến Vĩ, còn gọi là Thái Thìn Vệ."
"Là hắn ta!" - Tôi đã sớm đoán là hắn, nhưng rồi lại nghĩ không phải là hắn, bởi vì tôi không đắc tội với hắn ta, chỉ là khéo léo cự tuyệt việc sách nhiễu người khác của hắn mà thôi.

Một người thành công lớn nhất định sẽ có kẻ thù lớn, một người thành công nhỏ nhất định sẽ có kẻ thù nhỏ. Còn người không thành công thì nhất định không có kẻ thù. Tôi đã quên mất câu châm ngôn này là của vị danh nhân nào. Trước kia, tôi viết cuốn sách "Mạn đàm linh cơ thần toán", sách vừa xuất bản đã lập tức làm xôn xao cả Đài Loan, đạt kỉ lục tái bản hơn ba mươi lần, có khi một ngày đạt kỉ lục nhận được hơn năm trăm bức thư của độc giả. Thử nghĩ xem, danh tiếng lẫy lừng ấy, trong giới xuất bản mà nói, có thể xem như là người đầu tiên và cũng là người cuối cùng. Chỉ cần là người mua sách, người đọc sách, thậm chí rất nhiều người trước nay chưa từng có thói quen đọc sách, nghe người khác nói, cũng vội vàng đến hiệu sách để mua sách của tôi. Bởi vì một ngày có tới năm trăm bức thư của độc giả gửi đến, kì tích trong giới xuất bản, nên nhà xuất bản cũng nôn nóng muốn có sách mới. Thế là những cuốn sách tôi viết như "Giữa linh và tôi", "Mạn đàm về linh cơ thần toán", "Siêu giác của linh hồn", "Khởi linh học", những cuốn sách này được viết theo yêu cầu của độc giả, vì thế tiếng tăm tôi lẫy lừng như mặt trời, liệu có mấy người đạt đến được mức độ mà không ai là không biết.

Thái Kiến Vĩ kia, đọc xong thì tâm đố kị đã nổi lên, khi đó hình như hắn ta bày một sạp bán sách, thế là hắn ta xé tan tành sách của tôi, bồi thêm một đống lời lẽ thô tục điên cuồng chửi người ta, rồi hắn ta tổng hợp lại thành hai cuốn sách, một cuốn là "Thần thoại ma quỷ", một cuốn là "Yêu ma quỷ quái", trên bìa sách còn in dòng chữ cỡ lớn là "Lư Thắng Ngạn yêu ngôn hoặc chúng". Còn ghê gớm hơn nữa là khi hắn ta còn chưa ra sách, hắn đã đem bản thảo giấy đến hàn xá của tôi, tống tiền tôi 280.000 Đài tệ cho một cuốn sách đó. Đối với văn hóa du côn điên cuồng vì tiền như vậy, tôi đã đuổi hắn ra khỏi nhà, tôi một mực không thèm để ý đến loại người đó. Thế là, hắn ta đăng một bài quảng cáo tuyên truyền lớn trên báo, chẳng qua cũng là cái kiểu "Lư Thắng Ngạn yêu ngôn hoặc chúng", kiêm tuyên truyền sách của hắn. Nghe nói chính vì trên bìa sách có in ba chữ "Lư Thắng Ngạn", cho nên người khác đã mua sách của tôi tự nhiên về mặt tâm lý cũng muốn đọc cuốn sách bắt bẻ cái người họ Lư kia. Với cách hiểu như thế, bìa hai cuốn sách của hắn ta có ba chữ Lư Thắng Ngạn thật sự đã khiến hắn thu được bộn tiền sách.

Khi ấy, tôi đăng bài cho chuyên mục "Thế giới tâm linh" trên trang Nhật Báo Đài Loan, hắn ta đã viết thư đe dọa người biên tập rằng đừng có cho đăng những bài viết của Lư Thắng Ngạn nữa, nếu không sẽ giết người biên tập, người biên tập liên tiếp nhận được thư khủng bố. Tôi cũng thường xuyên nhận được thư khủng bố của hắn. Hai cuốn sách mà hắn viết, bản thân tôi cũng chưa đọc, nhưng những độc giả kể lại cho tôi nghe cũng đã đủ nhiều rồi, hoàn toàn là những lời chửi bới chua ngoa như mụ hàng tôm hàng cá, hắn ta có thể làm ra một trò hề ăn không nói có, chụp cái mũ "yêu ngôn hoặc chúng", "cách mạng tôn giáo", "tập hợp tà giáo" hết lên đầu tôi. Đương nhiên, công phu kích hỏa của hắn ta cũng không tồi. Cuộc sống của tôi và công việc phục vụ của tôi đều phải chịu rất nhiều phiền nhiễu. Thế nhưng, tôi vẫn không quan tâm đến hắn ta, độc giả thử nghĩ xem, tôi có thể đáp ứng sự bắt chẹt của hắn không?

Thái Kiến Vĩ là người thế nào? Dáng người thấp bé, hơi béo, ngoài bốn mươi tuổi, chưa kết hôn, từ nhỏ lang thang bên ngoài, có tính cách hơi lưu manh, đã vào tù mấy lần, là kẻ hoang tưởng tự đại. Nhật Báo Trung Ương đăng nhiều kì "Tiếng lòng của một tiểu thị dân", họ Thái kia đã viết một cuốn sách là "Dân thành phố khiêu chiến dân tỉnh lẻ", cuốn sách này đã bị Cục Thông Tin cho vào hồ sơ cấm (sau này, hai cuốn "Thần thoại ma quỷ" và "Yêu ngôn hoặc chúng" cũng bị cấm.) Có một lần hắn ta phải vào tù là vì bị nghi có dính líu đến tổ chức "Nhóm chào đón chúc mừng Tổng thống nhậm chức ở phương Bắc", lợi dụng cơ hội này để tống tiền các cửa hàng. Thậm chí, hắn ta còn sách nhiễu thị trưởng thành phố Đài Trung Tăng Văn Ba trước kia nhưng không thành, vì thế hắn ta bèn làm cuộc vận động bãi chức thị trưởng. Người từng bị hắn sách nhiễu, theo như tôi biết, ngoài thị trưởng thành phố Đài Trung Tăng Văn Ba ra, còn có tiền thị trưởng Trần Đoan Đường, thị trưởng đương nhiệm Lâm Bách Dong, tổng giám đốc đại khách sạn Kính Hoa Trần Kính Đường (người bị ông ta chỉ trích là đại vương trốn thuế). Ngoài ra còn có chủ nhiệm Trung Tâm Văn Hóa Đài Trung - ông Trần Vũ Hùng, Thái Kiến Vĩ đã uy hiếp ông Trần Vũ Hùng phải mời hắn làm cố vấn cho Trung Tâm Văn Hóa, mỗi tháng trả lương hai mươi nghìn tệ, bằng không hắn ta sẽ thủ tiêu Trần Vũ Hùng. Đây chỉ là những việc tôi biết, việc tôi không biết thì nhiều vô số. Trần Vũ Hùng (thi nhân Hoàn Phu) kể với tôi: "Con người này điên rồi, giống như một con chó dại, thấy người khác tử tế là hắn ta liền cắn. Đừng để ý tới hắn làm gì."

Đối với phần tử cặn bã của xã hội này, tôi vẫn luôn lựa chọn cách thức "lấy tĩnh chế động", về cơ bản là không quan tâm. Thế là hắn ta lại càng giả mạo con người Lư Thắng Ngạn tôi đây, ở thành phố Đài Trung, đoạn giao giữa đường Trung Hoa và đường Hồ Bắc bày ra một góc "xem tướng mệnh", thấy người đi qua là chèo kéo, tự xưng là Lư Thắng Ngạn ở đây, thậm chí kiêm luôn bán "xuân dược xuân tửu", hại tôi giải thích không xuể. Đối với phong cách vô lại này của hắn ta, đến cuối cùng tôi vẫn không mảy may để bụng, tôi cũng chẳng buồn nghe nữa.

"Hắn ta thật sự muốn giết tôi sao?" - Tôi đã tạo nên sự uy hiếp gì với hắn sao?
"Thật đó, nhưng thầy đã tránh được một lần tai nạn rồi, thầy đi gặp đại ca thủ lĩnh đi, người này muốn gặp thầy." - Phan Bách Lâm nói.
Tại nhà của ông Phan Bách Lâm, tôi đã gặp đầu đảng xã hội đen. Khi còn chịu quản huấn ở Lục Đảo [ ND: một thị trấn ở huyện Đài Đông ], vị thủ lĩnh này từng là lớp trưởng của phi tặc Cao Kim Chung. Chúng tôi gặp mặt nói chuyện, anh ta cho rằng tướng mạo tôi thiện lành, căn bản không phải là loại người không có việc ác nào mà không làm. Trong lúc nói chuyện, tôi muốn thủ lĩnh xã hội đen chú ý thấy rằng "trộm cướp cũng có đạo", trong xã hội đen cũng có thể giúp người hướng thiện, anh ta nghe rất cảm động. Thật ra, vị thủ lĩnh xã hội đen này tướng mạo cũng không phải là người bệ vệ mình đồng da sắt, để tóc húi cua, vóc dáng trung bình, những ngón tay có thể viết chữ rất đẹp, là cao thủ số một về đánh cờ tướng, suy nghĩ nhanh nhẹn, là một người thủ lĩnh tốt ngoài dự liệu. Buổi gặp mặt hôm đó, đi cùng anh ta đến không ngờ lại là một giáo viên nữ có tướng mạo xinh đẹp. Nghe nói phụ nữ theo đuổi anh ta rất đông, không thiếu gì những phần tử tri thức, giống như người giáo viên nữ kia, tốt nghiệp đại học sư phạm, có nghề nghiệp chính đáng, gia đình giàu có, nhưng mà nếu không phải người thủ lĩnh này thì nhất định không lấy chồng.

Đương nhiên, sau khi tôi gặp mặt thủ lĩnh xã hội đen một lần, đại ca thủ lĩnh đó cũng đến hàn xá của tôi mấy lần, giữa chúng tôi mặc dù đạo khác nhau đường khác nhau, nhưng anh ta cho rằng con người tôi đây đáng làm bạn, cũng thường xuyên đến thỉnh giáo tôi những vấn đề. Thế còn Thái Kiến Vĩ thì sao? Thái Kiến Vĩ chỉ là một người bạn bình thường của thuộc hạ của thủ lĩnh này mà thôi, vào những dịp lễ tết, Thái Kiến Vĩ vẫn phải tặng rượu tây thuốc tây cho thủ lĩnh.
Thủ lĩnh nói một câu "không được" thì Thái Kiến Vĩ này ngay cả rắm cũng không dám đánh một cái.

Trong sự việc này, tôi phải cảm tạ đại ca thủ lĩnh xã hội đen, chính nhờ một câu nói của anh ta mà cái mạng nhỏ bé này của tôi mới có thể giữ được, tới hôm nay có thể tiếp tục viết văn gặp gỡ cùng độc giả cũng là nhờ một câu nói của anh ta. (Danh tính của đại ca thủ lĩnh này tôi chưa từng tiết lộ, bởi vì nếu viết ra, e rằng không tiện, kính mong độc giả thứ lỗi.)

Trong cõi vô hình, tôi còn phải cảm tạ Quan Thế Âm Bồ Tát, rất nhiều sự sắp đặt khéo léo của Ngài đã giúp tôi thoát chết, ví dụ như:
Thứ nhất, tôi thu nhận ông Phan Bách Lâm làm học trò, không thu nhận ông ấy thì tôi đã chết rồi.
Thứ hai, hai người anh em gặp tai nạn giao thông, nên thời gian giết tôi đã bị kéo dài, nếu không xảy ra vụ tai nạn thì tôi đã chết rồi.
Thứ ba, Phan Bách Lâm và thủ lĩnh kia hai năm không gặp mặt, thế mà lại đụng đầu ở bệnh viện, nếu họ không chạm mặt nhau thì tôi đã chết rồi.
Thứ tư, trong lúc nói chuyện Phan Bách Lâm nhắc đến tôi, nếu không nhắc đến tôi thì bây giờ tôi chết chắc rồi.
Người phải chết thì không chết, trong cõi vô hình tự có định số, đó chẳng phải là Quan Thế Âm Bồ Tất đã cứu tôi thoát khỏi nạn chết người sao?


### 24. Tịnh thổ pháp yếu


Trong thiền định, tác giả đã thần du đến Tây phương Cực Lạc thế giới, gặp mặt Nam Mô A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, sâu sắc biết được nguyện lực hùng vĩ của Tây phương Cực Lạc thế giới, và mức độ thâm sâu uyên bác của pháp môn tịnh độ. Vì thế, thế giới này tự có thể hình thành nên một tôn giáo với cả thuận lợi khó khăn, cội nguồn của tông phái tịnh độ có thể chảy dài cũng là có nguyên nhân của nó.

Tôi biết diện tích của Tây phương Cực Lạc thế giới là rộng lớn vô hạn, đó là vô số những con sóng xanh làm chấn động tâm linh. Nơi mà tôi thần du qua có Tam Sơn, Điểu Y, Tây Động, Phúc Quang, Bảo Thăng, Liên Trì, Loa Nham, Thiện Quyển, Linh Cốc, v.v… thật sự là vàng son lộng lẫy, sóng biếc mênh mông. Những địa danh này, trong Kinh A Di Đà, Phật Thích Ca Mâu Ni đều chưa từng nhắc đến, đây là những nơi mà sau khi tôi thần du đến, tôi đã ghi lại tên địa danh. Phật Thích Ca Mâu Ni dùng Phật nhãn để quan sát mà biết được khoảng cách, mà biết được phạm vi, mà biết được sự khởi nguồn và khai phá của A Di Đà Phật, mà biết về cảnh quan và vãng sinh, mà biết cảnh sắc cực kì tráng lệ, mà biết A Di Đà Phật che chở chúng sinh.

Còn tôi, tôi biết Tây phương Cực Lạc thế giới có bốn mươi tám động thiên, có bảy mươi hai địa thiên, vẻ đẹp của cảnh trí ấy ở nhân gian không có gì sánh bằng, thậm chí cảnh sắc thiên đường ở Sắc Giới thiên cũng có chỗ không bì kịp, là một Phật quốc nhưng lại có sắc thái của thiên đường, cũng chẳng trách mà danh tiếng khắp thiên hạ. Vẻ đẹp của phong cảnh, những hang động kì diệu của linh cốc, thiên hoa ở hồ sen, không chỉ tĩnh mịch theo phong cách cổ xưa mà còn có những cây cầu hồ nước, càng có thiền vị tao nhã, cảnh sắc sông nước, phơ phất đàn hương.

Khi tôi thần du Tây phương Cực Lạc thế giới, tôi phải được một vòng ánh sáng xanh biếc chiếu vào, đó là gương trừ uế chiếu vào thân, giống như tắm gội vậy, chiếu từ đầu đến chân, như thế, nguyên thần cũng được thanh tịnh tinh khiết, dường như đã trở thành một con người khác, không phải con người, mà là Thượng Tiên. Bởi vì nhân loại thích ăn máu tanh, dục vọng đều thô tục, dùng gương trừ uế chiếu vào, loại bỏ nghiệp chướng của nguyên thần, có được cái thể thanh tịnh để vào cõi thanh tịnh.

Tôi biết, tâm linh vui vẻ mới là cực lạc chân chính, vì thế, thế giới Cực Lạc là niềm vui vẻ thuần tịnh của tâm linh, như tâm niệm chí thiện, như cảnh trí đẹp không sao tả xiết, như âm nhạc với âm thanh hòa nhã, như Phật âm nhất tâm bất động, như quang và linh vi tế. Tâm linh của thế giới này nối liền với nhau, những con sóng tâm linh duy trì một mức độ vui vẻ, giống như khi có một tin tức nhanh chóng sinh ra thì sẽ được lan truyền đến tâm của mỗi người một cách chắc chắc, tỉ mỉ và chặt chẽ. Tôi phát hiện ra những hàng cây thất bảo ở thế giới này là những cây cao lớn quý báu, có hoa màu hồng, đẹp đẽ lấp lánh đặc biệt. Những hàng cây thất bảo ở Tam Sơn, Loa Nham là nhiều nhất, bát công đức thủy ở hồ sen, hoa sen trong hồ sen hiện lên bảy màu sắc, mỗi đóa hoa sen đại biểu cho một Phật tử. Hoa quả phân thành chín màu sắc, chính là Cửu Phẩm Liên Hoa Sinh, rất đẹp đẽ. Vì thế, Phật tử tu trì thành quả có thể dùng độ sáng màu sắc của hoa sen mà phân biệt. Gốc của hoa sen tiếp với đất, hoa nở thấy Phật, tự tại tiêu dao.

Phật môn Tịnh độ tông, hiện nay các chùa ở Đài Loan phần lớn là Tịnh độ tông, bởi vì tu trì tịnh độ phổ cập đến tất cả chúng sinh, bất kể bạn là người có đại huệ căn hay là hạng người ngu si, chỉ cần bạn tin tưởng rằng có một thế giới gọi là Cực Lạc, thế giới này có vị Phật hiệu là A Di Đà Phật đã phát bốn mươi tám đại nguyện độ hết muôn dân trong thiên hạ. Bạn tin vào sự tồn tại của thế giới này, niệm tên Phật, hồi hướng nguyện vãng sinh, nếu tâm linh của Phật và bạn tương thông thì tự nhiên bạn sẽ vãng sinh về thế giới này.

Có người cho rằng, chỉ cần niệm Phật là có thể vãng sinh, như thế chẳng phải là quá đơn giản sao, điểm này tôi không tin. Thật ra niệm Phật không hẳn là dễ như vậy, càng là thứ dễ thì lại càng khó.
Trong kinh Phật có nói, chúng sinh phương nam cá tính ương ngạnh, bướng bỉnh khó độ hóa. Đúng vậy, bảo họ tin tưởng có thế giới Cực Lạc thì thật là khó lắm. Con người theo đuổi sự thỏa mãn dục vọng và danh lợi của thế tục, đối với tâm linh và tương lai, thế giới sau khi con người chết đi, thì họ thờ ơ. Bạn giáo hóa khuyên bảo họ rằng có thế giới Cực Lạc, họ có thể cười chúng ta là đồ điên, việc giáo hóa họ chưa thành mà rốt cục chỉ nhận về sự phỉ báng. Người có thể bền lòng tin Phật thì ít lắm.

Vả lại, trí huệ càng tăng trưởng, khoa học nhân loại càng phát triển, thì người ham thú chơi bời càng nhiều, chỉ mưu cầu hiện tại, hưởng lạc đời người, không còn ai chịu buông bỏ danh lợi, tu hành dưỡng khí, muốn họ niệm một tiếng Phật, họ đều coi thường hết cả. Vì thế, Tây phương Cực Lạc thế giới dù xinh đẹp, pháp môn tịnh độ dù tuyệt vời, những người không có duyên tiếp cận thì nhiều như cá diếc bơi trên sông, điều này chẳng phải quá đáng tiếc sao? Thật khiến người ta phải thở than.

Tác giả dựa theo Linh Tiên Chân Phật Tông để luyện linh, ra vào vòng thái cực, đích thân thần du Tây phương Cực Lạc thế giới, sẵn lòng vì A Di Đà Phật làm một nhân chứng rằng thực sự có cảnh giới này tồn tại. Không chỉ đệ tử Phật có thể tu pháp môn tịnh độ, người tu pháp môn khác hay tông phái khác cũng có thể tu pháp môn tịnh độ, thậm chí phàm phu thế tục cũng có thể tu pháp môn tịnh độ. Người người tu pháp môn tịnh độ, tương lai người người đều thăng lên Tây phương Cực Lạc thế giới, có hi vọng thành Phật.

Tu pháp môn tịnh độ có những điểm quan trọng như sau:
Niệm Phật nhất định phải duy trì sự bền bỉ, người kiên trì nhất định sẽ thành công, người có căn cơ tương đối sâu thì có thể trì thêm kinh A Di Đà và chú Vãng sinh. Còn người bình thường chỉ cần vào sáng sớm hoặc chiều tối, trước Phật thắp hương cúng nước sạch hoặc quả xanh, an định tinh thần lại, niệm từng tiếng Nam Mô A Di Đà Phật, có thể chắp tay, có thể đếm chuỗi hạt, mười lần, trăm lần, nghìn lần đều được, tùy thời gian của bạn mà quyết định, cái này đều tùy ý thôi. Niệm xong thì đọc thêm kệ hồi hướng: "Nguyện người cùng niệm Phật, cùng sinh cõi Cực Lạc, trên báo bốn ơn sâu, dưới cứu khổ tam đồ, thấy Phật thoát sinh tử, như Phật độ tất cả."

Ngoài việc kiên trì niệm Phật ra, tôi khuyên mọi người mỗi người mỗi nghề, cũng có thể thuận tiện mà niệm. Ví dụ thợ rèn mỗi lần đánh xuống một búa thì niệm một câu Phật, tài xế lái xe mỗi lần đi qua ngã tư thì niệm một câu Phật, bác sĩ khám cho một bệnh nhân thì niệm một câu Phật, người buôn bán bán được một món hàng hóa thì niệm một câu Phật, công nhân đóng xuống một cái đinh thì niệm một câu Phật, chạy xe cũng có thể niệm Phật, ngồi trên ô tô cũng có thể niệm Phật, đi bộ chạy bộ vào buổi sáng cũng có thể niệm Phật, lúc rỗi rãi có thể niệm Phật, lúc làm việc có thể niệm Phật, đi đứng ngồi nằm đều có thể niệm Phật. Như thế, người người niệm Phật, chẳng phải là vạn nhà thăng Phật, nhà nhà niệm Phật, nhà nhà cát tường sao.

Niệm Phật chỉ cần tập trung tinh thần về một chỗ, đó là cách thanh tịnh tâm linh đơn giản nhất. Tâm linh thanh tịnh cũng chính là tinh thần thống nhất và tập trung, như thế, cái duyên với Tây phương Cực Lạc thế giới đã được trồng xuống, chỉ đợi ngày khai hoa kết quả nữa thôi. Đợi đến khi niệm niệm thuần thục rồi, một câu Phật hiệu của bạn trực tiếp liên hệ được với Phật tâm của A Di Đà Phật, gắn bó chặt chẽ với nhau, cho đến ngày công thành viên mãn, cũng chính là ngày hoa nở thấy Phật.

Niệm Nam Mô A Di Đà Phật mười tiếng, trăm tiếng, nghìn tiếng xong, thỉnh thoảng có thể niệm thêm ba tiếng Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát và ba tiếng Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát, vì Quan Âm Thế Chí và A Di Đà Phật gọi chung là Tây phương Tam Thánh, người tu pháp môn tịnh độ cần sùng kính, vì thế cần cung kính niệm tụng. Công đức niệm Phật thật sự bất khả tư nghì, chỉ cần bền chí, tự có cảm ứng.


### 25. Kĩ thuật tập trung tinh thần


Tập trung tinh thần, thật ra chính là "thiền định". Tác giả đã đọc rất nhiều cuốn sách thiền, quá nhiều, quá đủ kĩ thuật, kiểu cần gì có đó, không tránh khỏi việc khiến cho người ta có cảm giác loạn đến hoa cả mắt. Có một số cuốn sách còn cố ý làm cho có một chút huyễn hoặc. Các sách vì thế không nhất quán với nhau. Thật ra trong những cuốn sách thiền này, có một số rất đáng để bị nghi ngờ và coi thường, bởi vì thiền định là hiện tượng bình thường, không có gì kì quái, hoàn toàn không có bí quyết bí mật nào để mà nói. Chỉ cần phải luyện tập lâu, còn giả dụ có người chỉ muốn lúc rỗi rãi thử một tí, thì đối với người này mà nói, thiền định không dành cho họ.

Lúc Phật Thích Ca Mâu Ni tại thế, Ngài đã cực lực khen ngợi và thúc đẩy thiền định. Phật Thích Ca Mâu Ni cho rằng thiền định có thể sinh ra trí huệ (đại bát nhã), có thể đạt đến ngộ cảnh, có thể đạt được quả vị vô thượng, hoàn toàn là thành tựu rõ ràng. Đối với người tu hành rất sâu khi ấy là Tu Bồ Đề thì Ngài càng tán dương. Tu Bồ Đề từng trong một lần thiền định lúc bị ốm, thiên môn mở ra, rất nhiều thiên nữ xinh đẹp từ không trung rắc hoa xuống, từng đóa hoa nhẹ nhàng bay bay rơi trên người Tu Bồ Đề, thiên quang từ thiên môn chiếu rọi lên người ông, tiên nữ ở cõi trời cưỡi mây cát tường hát những khúc hát êm tai để tán dương Tu Bồ Đề thiền định.

Tác giả từng có một lần thiền định, tiến nhập vào trong lửa địa ngục của thế giới âm phủ, Địa Tạng Vương Bồ Tát ngồi định trên tòa hoa sen, xung quanh có Diêm La và Tứ Ngục Đại Đế, cũng có cư sĩ xuất gia và tại gia, quỷ vương và các hạng quỷ. Tôi nhập vào trong lửa địa ngục, đầu tiên tôi cảm thấy nóng bỏng không thể chịu nổi, tiếp đó cảm thấy bứt rứt dị thường, choáng váng nặng nề như ngồi trên một con thuyền giữa mưa to gió dữ, cảm nhận toàn thân dần dần mất đi. Sau đó tôi từ từ niệm thầm Phật hiệu, dùng việc quán hơi thở để từ từ định thần lại, như vậy mới cảm thấy lửa địa ngục này biến thành cơn gió nhẹ mát mẻ, ngọn lửa lớn đáng sợ khi lướt qua mặt lại dễ chịu và mát mẻ không gì sánh bằng. Cuối cùng, lửa địa ngục dần dần hình thành nên một tòa hoa sen lớn màu đỏ xinh đẹp và mĩ lệ, còn tôi thì ngồi vững chắc ở trung tâm hoa sen. Tôi kính lễ Địa Tạng Vương Bồ Tát, kính lễ các vị ngục đại đế và tì kheo, cư sĩ tại gia, kính lễ các quỷ vương và các hạng quỷ. Tôi sâu sắc lĩnh hội được rằng nếu thiền định thành công thì lửa địa ngục sẽ hóa thành hoa sen đỏ, trong thiên hạ không có vật gì có thể làm hại được bạn, công phu thiền định là bất khả tư nghì.

Tập trung tinh thần là có thể tu tập đến một chữ "định", tâm tình sẽ không lên lên xuống xuống, không chạy tới chạy lui. Từ định sẽ sinh ra tĩnh, tĩnh tại thì sẽ sinh ra an, an thì sẽ đạt được trí huệ, mà trí huệ nghĩa là đắc, tất cả tương lai có thể dự báo được sẽ trình hiện ra trước mắt bạn, càng ngày càng đi sâu hơn vào mở mang tiềm lực, và thành tựu càng ngày càng cao, trở thành bậc tiên tri tiên giác đại trí huệ.

Làm sao để tập trung tinh thần, cần phải hoàn toàn tự nhiên, phải giữ sự tiến bộ liên tục, đừng có lúc thì tập cái này, lúc thì học cái nọ, lên lên xuống xuống. Một người sau khi tắm gội xong, tinh thần hoạt bát, hãy bình thản tĩnh lặng ngồi xuống, đừng nghĩ về thời gian, đừng nghĩ về những chuyện vụn vặt khác, bạn chỉ nhắm mắt lại để đếm hơi thở của bạn thôi, đây chính là quán hơi thở, tinh thần tập trung vào việc hít thở và số lần hít thở. Thành tựu lúc mới bắt đầu tương đối nhỏ, nhưng chỉ cần nhẫn nại đủ, chí tiến thủ mạnh mẽ, một ngày ngồi một lần, đếm hơi thở mỗi lần sau lại nhiều hơn lần trước, cứ từ từ như thế cũng có thể đi đến được bước thứ nhất của định.

Nói chung, công phu ngắn hạn thì không tu được việc quán hơi thở, chỉ riêng việc quán hơi thở thôi cũng có một số người không có cách nào định tâm được, không có sự nhẫn nại và chí tiến thủ đều là một trong những nguyên nhân thất bại. Một số người vừa đếm hơi thở thì những suy nghĩ hỗn tạp đã ùa đến, không có sự phát triển tiến bộ nào, không những không có lợi ích gì mà ngược lại, ngồi cũng không có cách nào ngồi tiếp được, kiểu người như vậy rất nhiều. Nhưng, nếu bạn có tín tâm rằng có thể định, tôi khuyên bạn tiếp tục duy trì tiếp. Tôi có lời thành thật khuyên bạn rằng, người có thể tu quán hơi thở mới có thể "trong loạn như định", là nhân tài chỉ huy, là lãnh tụ vĩ nhân, núi Thái Sơn có sụp trước mặt nhưng thần sắc vẫn không biến đổi chính là nói về những kiểu nhân vật này.

Tu tập trung tinh thần cũng có pháp nhìn hương, đó là trong phòng tối thắp lên một que hương, hai mắt nhìn chăm chú vào điểm đỏ ở trên đầu que hương, đừng nghĩ về điều gì khác, cứ như thế ngồi cho hết một que hương, đây cũng là một phương pháp tốt. Hương có mùi thơm của hương, có thể khiến cho con người ngửi hấy mùi hương mà sinh tâm cung kính. Một que hương trong phòng tối, thời gian cũng tương đối, làm đến đâu chắc đến đấy, đừng tham cầu cảnh giới, ngồi đến khi công phu đã đủ thì cũng có thể tập trung tinh thần.

Thành tựu nho nhỏ của pháp quán hơi thở và pháp nhìn hương chính là một điểm ở giữa hai mắt bắt đầu có cảm giác ngưng kết lại, cả người dường như dần dần đông đặc lại, biến thành một dạng sức mạnh, sức mạnh này giống như là có thể khiến cho bản thân hơi chóng mặt, khiến bản thân tạm thời mất đi tri giác, hoặc là thân thể đột nhiên nhẹ bẫng như không có vật gì, tiến nhập vào một đường hầm mà thời gian hoàn toàn dừng lại, dường như tất cả đều bất động, tất cả đều trống rỗng như không có vật gì, thế giới đều không tồn tại. Đôi khi cũng cảm giác rằng như rơi vào một cái hang không đáy, xoay tròn rồi lại xoay tròn, gặp hiện tượng này thì cũng đừng sợ hãi, đây không phải là bình tĩnh trong khủng hoảng, mà đây là tượng trưng cho việc có một chút thành tựu nhỏ. Chỉ cần qua được khoảng thời gian này là trước mặt liền xuất hiện thế giới xinh đẹp tỏa sáng rực rỡ. Cần có tâm kiên trì, bất kể hiện tượng có bành trướng hơn hay thu nhỏ lại đều không bận tâm, dù thế nào bạn vẫn cứ vững vàng mà tự nhiên ngồi tiếp, sẽ không chết đâu, nên hãy cứ yên tâm thoải mái, đừng lo đừng sợ.

Qua được cửa này, trước mắt sẽ xuất hiện một điểm ánh sáng, trong ánh sáng này sẽ xuất hiện huyễn ảnh của quá khứ. Thông thường những gì xuất hiện là những thứ mà trong lòng bạn mong muốn sẽ lần lượt hiện ra, chúng ta gọi là huyễn giác, huyễn thị và huyễn thính, đây là dòng chảy ngược của việc tập trung tinh thần. Cái gọi là ma xuất hiện để kiểm tra sự điên đảo đều sẽ phát sinh ở giai đoạn này. Người có định lực không đủ thì sẽ bị huyễn giác huyễn thị huyễn thính dẫn nhập vào con đường sai lệch. Giai đoạn này giống như nằm mơ vậy, người nằm mơ thân bất do kỉ, tự cho rằng mình là người trong mơ, cứ thế tiếp tục thì nguyên thần sẽ điên đảo như say như si vậy, cái này chính là tập trung tinh thần mà tẩu hỏa nhập ma. Thật ra, người tẩu hỏa nhập ma cũng không phải là ngoại ma, có người cho rằng ngoại ma quấy nhiễu, trên thực tế, những cái này đều là tâm ma của bản thân hiển hiện. Ví dụ người háo sắc thì chắc chắn sẽ có mỹ nữ hiện lên khảo nghiệm, người háo lợi lộc ắt có tiền hiện lên khảo nghiệm, người háo thần thông ắt các linh sẽ hiện lên khảo nghiệm, người háo thắng ắt hiện lên cuộc tranh đấu để khảo nghiệm. Những khảo nghiệm như thế, nếu không thể vượt qua cửa ải thì không phải do yếu tố đến từ bên ngoài, mà là bản thân đã không thắng được chính mình. Kẻ địch vốn dĩ của tẩu hỏa nhập ma lại chính là bản thân mình.

Muốn khắc phục tẩu hỏa nhập ma thì phương pháp duy nhất là "mặc kệ". Nếu nhìn thấy ác quỷ, mặc kệ; nếu nhìn thấy mỹ nữ, mặc kệ; nếu nhìn thấy vàng bạc châu báu, không động tâm; nếu nhìn thấy thần tiên dẫn đường, mặc kệ; nếu nhìn thấy ngai vàng, không động tâm. Phương pháp này chính là vô tâm, nếu vô tâm thì những cảnh tượng này sẽ tự nhiên biến mất không nhìn thấy nữa. Vô tâm thì sẽ không có gì mà nhiễm, vô nhiễm thì tất cả sẽ thoảng qua như mây khói, như hoa trong gương trăng trong nước mà thôi. Bạn lúc này vẫn ngồi vững giữa đại địa, lấy đâu ra những cảnh tượng như thế. Vì vậy hãy thận trọng! Thận trọng đó!


### 26. Minh tưởng và niệm lực


Muốn khắc phục tẩu hỏa nhập ma, trên phương diện rốt ráo, đó chính là vấn đề nhân quả. Cũng có nghĩa là, trong lúc sinh thời, đừng tạo nhân ác, nếu không tạo nhân ác, tỉ suất chịu phạt do nhân quả tiền kiếp sẽ vì không có ác duyên sản sinh mà có thể may mắn thoát khỏi tẩu hỏa nhập ma. Đối với thiện ác của nhân quả kiếp trước, trên cơ thể con người đều có kí hiệu, muốn biết nhân quả kiếp trước, nói thì bảo là đơn giản, nhưng thực tế nội dung rất rộng lớn và phức tạp.

Trên thực tế, khắc phục tẩu hỏa nhập ma khiến cho người tu đạo tôn trọng cuộc sống bình thường, không được tu luyện một cách đui mù, không được không ăn không uống, cũng không được không ngủ, bởi vì ăn uống là thức ăn cho thân thể con người, ngủ là thức ăn cho tinh thần, tu hành là thuận theo tự nhiên chứ không phải là làm trái với tự nhiên. Giống nữ đạo sĩ Phụng Tiên ở cung Kim Hạc ở Bản Kiều, Thổ Thành, do không biết chữ, không có học thức, bế quan 120 ngày, tự xưng là không ăn không uống. Phương pháp tu luyện như vậy, tự cho rằng mình đã chịu đói thành công thì chính là tu hành cao siêu rồi, thật ra chỉ là kê đồng ngồi chịu đựng thuật gây tê hôn mê, cái này trái với tự nhiên, căn bản là tự ngược đãi mình một cách thiếu hiểu biết. Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi dưới gốc cây bồ đề, từ lâu đã biết phương pháp nhịn đói đến chết này không dẫn tới đâu cả, hơn nữa phương pháp này còn rất dễ tẩu hỏa nhập ma.

Vì thế, để khắc phục tẩu hỏa nhập ma, nhất định phải hiểu rõ đạo lý tĩnh tọa, có kế hoạch đầy đủ kĩ càng, có sự chuẩn bị chu đáo, trước tiên phải hiểu thế nào là tẩu hỏa nhập ma, lí do bị tẩu hỏa nhập ma là gì, phương pháp ứng phó thích hợp là gì, còn như nữ đạo sĩ Phụng Tiên, bà ấy là bị thần đến nhập vào thân hay hồn ma đến nhập vào thân. Đến bản thân bà ấy còn không biết, đã bị thần quỷ mượn thân thể làm vật trung gian, điều này khác xa nghìn dặm so với tu đạo, hai điều này hoàn toàn không có liên quan gì đến nhau. Hồn ma ồn ào náo loạn, đem đến cho người tu đạo không phải cát tường may mắn, ngược lại lại là một dạng tai họa. Và hãy nhớ rằng người tu đạo có định lực tự kiềm chế chứ không phải là vật trung gian để cho linh giới khống chế. Điểm này vô cùng quan trọng, vô cùng quan trọng.

Định lực đủ để khắc chế tẩu hỏa nhập ma, và định lực này đến từ minh tưởng và niệm lực, tu trì Phật môn đều dựa vào định lực, còn minh tưởng và niệm lực kéo dài liên tục không ngừng chính là một công khóa lớn của tăng nhân xuất gia tu tập Phật môn. Muốn tiêu nghiệp chướng, tăng phúc huệ, vãng sinh Phật quốc, độ chúng sinh, nếu không có sức mạnh tâm lý chiến đấu lâu dài thì có được hiệu quả gì.

Thế nào là minh tưởng, tôi thử dùng một bài thơ mới để biểu đạt:
"Con đường đạo xa xăm mịt mờ
Một mình ta lẻ loi đơn độc
Lên đường đi tìm kiếm tương lai
Đã thấy bao phong cảnh mênh mông ruộng đồng suốt bốn mùa
Coi trời xanh như đất nước
Cắt những manh gió làm thành xiêm y
Hồ nước cũng có thể làm gương soi
An tĩnh quan sát bản thân"

Ví dụ khi tôi niệm "cam lộ thủy chân ngôn", lúc đọc "đại bàng Kim Sí Điểu", tôi minh tưởng trên đỉnh núi Tu Di, một con chim đại bàng màu vàng kim đang lượn vòng trên đỉnh núi, đôi cánh dang rộng, và khi nước cam lộ của tôi tung lên, hóa thành váng sữa cho chim đại bàng, hóa thành đồ ăn ngon của chim, thế rồi chim đại bàng trở về tổ của nó, không đi tìm thức ăn mà gây sát sinh nữa. Lúc đọc "khoáng dã quỷ thần chúng", tôi minh tưởng ở vùng núi non hoang dã, có rất nhiều những ngôi mộ xếp hàng, những hồn ma quỷ dại chưa luân hồi mà vẫn còn lang thang, họ khóc lóc thảm thiết, khi tôi vẩy nước cam lộ ra, giống như hạn hán lâu ngày gặp mưa, giống như người đói gặp đồ ăn ngon, khiến cho họ đều nhờ nước pháp mà được no nê. Lúc đọc "la sát quỷ tử mẫu", tôi minh tưởng ở những nơi âm u băng giá, những loài ma quỷ biến hình chạy nhảy tung tăng như cơn gió, những chiếc sừng nhọn dài dài cong cong, những bàn chân như chân gà, khi nước pháp tung ra khắp nơi, chúng có được ánh sáng, cũng có được những thức ăn có thể nuốt xuống bụng, ở thế giới này không còn thiếu thốn nữa mà được đầy đủ sung túc.

Khi vẩy nước cam lộ, tôi giống như cưỡi gió, chân dẫm lên mây màu nhiệm, bay lên giữa lưng trời, mang theo nỗi lòng Bồ Tát đầy thương xót chúng sinh, lo lắng săn sóc cho những linh hồn khác ngoài con người, tôi đứng sừng sững trong mây. Dưới bầu trời xanh, tôi không biệt này khác, đem tình thương ban trải đi khắp nơi. Lúc này, lửa ở miệng núi lửa và nham thạch đều đông đặc lại và mang sắc màu lạnh, biển cả với cuồng phong sóng dữ dần dần bình lặng như gương, cuộc sống của nhân loại được an ổn bình thường như năm tháng. Tất cả linh hồn không còn vết tích của đau khổ. Ngôn ngữ giàu hình tượng chính xác này đã thể hiện được chất và lượng của cảm xúc, cảnh giới này tự nhiên có cho có nhận.

Tu trì Phật môn Mật tông đã chứng tỏ tầm quan trọng của minh tưởng, "sau khi tĩnh lặng sẽ thấy được chính mình". Họ coi trọng pháp khí, coi trọng đạo tràng trang nghiêm, đầu đội mũ ngũ trí, thân mặc pháp y, cầm pháp khí, kết định ấn trí huệ, mắt nhắm lại là lập tức minh tưởng bản thân chính là Bổn tôn Đại Nhật Như Lai của Mật giáo Tỳ Lô Giá Na Phật. Nhờ vào tính chất đặc biệt của minh tưởng, lấy hư làm thực, đây là tự mình tạo ra cảnh giới, tạo nên sự hưởng ứng, cộng hưởng biến ảo trong không gian. Tính chất đặc biệt của sự biến ảo này lại kết tinh thành một điểm, đây chính là kĩ thuật tập trung tinh thần. Sau khi có được nền móng thâm hậu rồi thì từng bước hình thành nên khả năng minh tưởng ra hình dạng ổn định, không bị biến đổi, hễ nhắm mắt là lập tức suy nghĩ lẫn cảm giác đều là một vị Tỳ Lô Giá Na Phật mười phân vẹn mười.

Kĩ thuật tập trung tinh thần vốn dĩ là không nghĩ đến bất kì cái gì cả, nhưng không nghĩ về cái gì cả thì lại là "ngoan không" [ ND: nghĩa là chấp không, có cái không kiến vô tri vô giác ], dường như không có cách nào để người nào đó có thể không nghĩ gì cả. Thế nên, Mật giáo dùng cách minh tưởng thành Phật để tập trung, Thiền tông dùng cách đếm hơi thở để tập trung, Tịnh độ tông dùng cách niệm Phật để tập trung. Giả như Tịnh độ tông có thể trong lúc niệm Phật mà lại thêm minh tưởng hình tượng trang nghiêm của Phật, cứ tu trì theo cách như vậy thì cũng xem là Hiển Mật song tu. Tôi sửa một bài thơ thành thơ thiền như thế này: "Trăng sáng hoa khẽ bay trong sương, đêm nay ta muốn vào Phật môn, bảo tháp lung linh đắc chân đạo, biết dù minh tưởng cũng là không."

Trong truyện kể về Phật giáo thường nói đến nhân quả, có người thích vẽ ngựa, yêu ngựa, đến mức độ cuồng si, kết quả là sau khi chết thì đọa vào thai ngựa. Cũng có người thích mèo, yêu mèo quá mức bình thường, sau khi chết thì luân hồi thành mèo. Vì thế, minh tưởng thành Phật, tu trì đến mức không khác gì Phật, không sai lệch không bám chấp, thì tự nhiên thành Phật, đây đương nhiên cũng là nhân quả. Minh tưởng đến cuối cùng sẽ biến thành dạng định lực không thể kháng cự nổi, một số huyễn tưởng thô nhám xù xì sẽ bị phá trừ là điều không phải nghi ngờ, một số huyễn ảnh về tà ma đè pháp tướng của Tỳ Lô Giá Na Phật xuống thì cũng biến mất, thậm chí dù Dạ xoa bay trên trời, ma A tu la đến quấy nhiễu, một tiếng sư tử gầm của Phật môn cũng sẽ phá tan ma pháp. Minh tưởng và định lực quan trọng như thế.

Còn nhớ lúc mới tôi học niệm Phật, nửa đêm đột nhiên gặp ác mộng, bị dồn ép tới mức không còn cách nào nữa, thế là liền niệm một tiếng Phật hiệu, vừa niệm Phật hiệu thì tà ma liền rút lui, một lúc sau tỉnh lại, lúc này trong miệng vẫn còn lầm rầm niệm Phật hiệu! Sau này mới biết, khi bị dồn ép đến bước đường cùng, vào lúc cấp bách, cần nhất là chân thành, Phật hiệu lúc này là thật một trăm phần trăm, Phật hiệu và Phật tướng cảm ứng, Phật hiệu và Phật hoàn toàn giống nhau, và bản thân người niệm Phật cũng chính là Phật, Phật mà đến thì tà ma tự nhiên thối lùi và tản đi, tà không thể thắng chính, lúc này, ta chính là Phật, Phật chính là ta.

Nên hiểu thấu đáo một câu nói "Ai người niệm Phật?", "ai" ở đây chính là Phật, điều này không hề giả dối.

Minh tưởng chỉ cần có phương pháp chính xác, có thầy giáo chỉ đạo đúng đắn thì sẽ không có chuyện tĩnh tọa gặp nguy hiểm. Trừ phi tự mình không coi trọng những điều đó, phát sinh huyễn tưởng hoặc căn bản là tình trạng nghĩ ngợi lung tung, biến thành nhập ma nhập mê, bằng không tuyệt đối sẽ không tẩu hỏa nhập ma. Người học tập không được quá hấp tấp, một ngày đã muốn học xong thì là điều không thể. Giống như người ta cưỡi ngựa, thúc ngựa chạy nhanh thì tự nhiên sẽ đầy rẫy nguy hiểm. Vì thế, tu định lực minh tưởng có cái gọi là "tọa hướng", "lễ nghi", đều là những phương pháp nhất định phải nghiên cứu khi minh tưởng. Hơn nữa, điều mà tác giả nhấn mạnh nhất chính là nhân quả nghiệp chướng, coi trọng người tu trì nghiêm khắc tuân thủ giới luật và phẩm đức làm người, mục đích đương nhiên là để bảo đảm chắc chắn sự an toàn cho người tu trì.

Có được định lực rồi thì linh tính cũng xem như là cố định, hễ gặp phải những mê hoặc hay cảm giác kích thích thì phản ứng sẽ sáng suốt và hợp lý, sẽ không kích động mù quáng. Linh giới có quy tắc nhất định, không có quá nhiều những chuyện mới mẻ cổ quái kì lạ, phàm là điều gì trái với tự nhiên thì chưa chắc đã là cảnh giới cao nhất. Đối với mỗi sự việc cần phải biết bình tĩnh suy xét, hoặc không coi đó là điều gì ghê gớm cả. Như vậy thì cho dù phong ba bão táp như thế nào cũng đều có thể vượt qua, sẽ không có chuyện khó khăn không thể tiến bước. Cá nhân tôi còn có một công phu rất độc đáo, đó là điều tiết cho phù hợp, phương pháp này sẽ tạm để lại cho người có duyên đến tìm tôi thì tôi mới bằng lòng truyền thụ, bởi vì phương pháp này quá ư bất khả tư nghì, người bình thường không chắc đã có thể làm được.


### 27. Báo ơn cha mẹ và độ người âm


Năm xưa có được sự chỉ dạy của Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, tôi biết được rằng báo đáp công ơn cha mẹ và độ ma quỷ u minh cũng chính là một cách rất tốt để bản thân có được những lợi ích phong phú. Ở đây tức là "cha mẹ trong quá khứ, bảy đời được siêu thoát, cha mẹ hiện tại vĩnh viễn không đau ốm bệnh tật, bản thân và người khác có được nhiều lợi ích, bảo đảm lúc chết có được ân huệ mà vĩnh viễn xa rời ác đạo, cuối cùng là được hưởng hạnh phúc thường hằng."

Sử dụng pháp này, người chết có thể siêu thoát thoát khổ, người sống thì cuộc đời được hạnh phúc vui vẻ, những sinh mạng trong tứ sinh cửu hữu [ ND: tứ sinh là bốn loài thai sinh, thấp sinh, noãn sinh, hóa sinh; cửu hữu là chín cõi cư trú của chúng hữu tình ], chúng sinh quỷ thần của bát nạn tam đồ [ ND: bát nạn gồm nạn địa ngục, nạn ngạ quỷ, nạn súc sinh, nạn sinh lên cõi trời trường thọ, nạn sinh ở Uất Đan Việt, nạn điếc mù câm ngọng, nạn thế trí biện thông, nạn sinh trước Phật và sau Phật ], đều có thể có đủ lòng sám hối mà thoát khỏi biển khổ trầm luân. Báo đáp ơn cha mẹ là nghĩa vụ của kẻ làm con, hơn nữa, độ quỷ thần u minh tương đương với cơ sở để thành Phật, bất luận là công đức ra sao thì đây cũng chính là nêu cao đại bi tâm, là thiện duyên chí thiện.

Đệ tử Mục Liên của Phật Thích Ca Mâu Ni khi có được sáu đại thần thông, muốn dựa vào thần thông để độ hóa cho mẹ của ngài, nhằm báo đáp ơn dưỡng dục của cha mẹ. Mục Liên nhìn chăm chú vào dòng nước chảy, dùng pháp "thủy ảnh" mà thấy được người mẹ đã qua đời của mình đang sống trong đạo ngạ quỷ. Hình ảnh ở cõi ngạ quỷ là da và xương dựng đứng, bụng rất to, cổ gầy và dài. Mục Liên vận dụng thần thông để nhập vào cõi u minh này, dùng bát đựng cơm đưa cho mẹ ăn, người mẹ đưa tay ra cầm bát cơm, nhưng cơm còn chưa vào miệng thì đã hóa thành củi cháy, căn bản là không thể nào ăn được. Bởi vậy, Mục Liên khóc nức nở, tìm đến Phật Thích Ca Mâu Ni cầu thỉnh.

Phật Thích Ca Mâu Ni nói, người có tội căn nặng thì thần thông không thể cứu được, cho dù có là Thần Trời Thần Đất, tà ma, đạo sĩ ngoại đạo, Tứ Thiên Vương Thần cũng chẳng có cách nào siêu thoát được cho những ngạ quỷ này. Thế là, Phật Thích Ca Mâu Ni bảo Mục Liên tôn giả rằng, vào ngày mười lăm tháng bảy, dùng cơm trăm vị và ngũ quả, đổ đầy nước vào chậu, và những thứ thơm ngon ngọt ngào nhất trên đời như dầu mè, nến thơm,… để cúng dường đến chúng tăng và tất cả thánh chúng đại đức của mười phương. Sau đó, thỉnh tất cả chúng tăng và thánh chúng thập phương cầu phúc để cầu phúc giải thoát cho cha mẹ bảy đời của mình. Những đồ ăn được thọ thực cần đặt ở trước tháp Phật trước, sau đó mới phân phát cho chúng tăng và Thánh chúng.

Phật Thích Ca Mâu Ni nói, ngạ quỷ trong đạo ngạ quỷ cần phải dùng đến sức mạnh công đức của Tam Bảo, sức mạnh uy thần của chúng tăng mới có thể cứu độ. Do vậy, cúng dường tăng chúng thập phương, thỉnh cầu chúng tăng thập phương thay mình cầu phúc cứu độ cho cha mẹ bảy đời. Đây là một trong những phương pháp cứu độ. Do vậy, vào ngày Phật hoan hỉ là ngày 15 tháng 7 âm lịch, người làm việc hiếu thuận mong muốn cho cha mẹ hiện tại phúc thọ vẹn toàn, cha mẹ bảy đời đều được siêu thoát, sinh ra ở cõi trời thì cần phải cúng dường chúng tăng và Thánh chúng thập phương ở cõi trời này. Theo những gì tác giả được biết, tập tục phổ độ vào tháng bảy âm lịch ở khắp Trung Nguyên dùng thức ăn mặn và vật tanh hôi để cúng dường quỷ thần, việc này đã sai lệch rất nhiều so với chủ ý của Phật Thích Ca Mâu Ni. Phải nên dùng đồ ăn thanh tịnh, tụng kinh cúng Phật, sau đó dùng đồ ăn thanh tịnh phân phát cho chúng tăng đã cầu phúc thay cho cha mẹ mình, như vậy mới là cách làm đúng đắn.

Tác giả đặc biệt ghi lại pháp này như sau:

- Chúng tăng nghe tiếng rung chuông ba hồi, đến trước Phật, phân ra đứng thành hai hàng thẳng, sư phụ hoan hỉ dẫn khánh làm hiệu lệnh cho chúng tăng lạy Phật ba lần.

- Tiếp đó, khi sư phụ thấy người chủ pháp đã đến, thì lại gõ khánh ba lần nữa, đồng thời đánh trống chũm chọe ba hồi.

- Người chủ pháp lễ Phật ba lạy, thắp hương.

- Tiếp theo, chúng tăng hát bài tụng tán, lời tụng tán như sau: "Mục Liên khởi giáo, Thế Tôn tuyên dương, chén bát gom cơm lợi ích tồn vong. Thoát khổ về tây phương, diệu lạc vô cùng, việc làm hiếu thuận vĩnh viễn để tiếng thơm. Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát, Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát, Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát."

- Tiếp theo, lại xưng Thánh hiệu "Nam mô đại bi Quan Thế Âm Bồ Tát" ba lần. Người chủ pháp cầm bình nước nói: "Nước cam lộ từ cành liễu của Bồ Tát, có thể khiến một giọt hóa khắp thập phương, tiêu trừ hết mọi tanh hôi dơ bẩn, gia trì đàn tràng đều thanh tịnh."

- Sau đó, chúng tăng cùng niệm chú đại bi ba lần. Chủ đàn pháp vẩy nước sái tịnh ba vòng.

- Tiếp theo, lại xưng Thánh hiệu "Nam mô Vu Lan Bồn hội thượng Phật Bồ Tát".

- Tiếp theo là tụng kinh "Phật thuyết Vu Lan Bồn kinh". Tụng kinh xong thì tụng chú báo đáp cha mẹ như sau: "Nam mô mi li tô, tô pô ye so ha." Tổng cộng tụng 49 biến.

- Chủ đàn pháp lại tụng lời khấn nguyện: "Những người có chí hiếu thuận chúng con, tu hành nhân tịnh thổ, sám hối tiêu trừ ba tội chướng, báo đáp ơn cha mẹ, người sống được hưởng phúc thọ, người chết được siêu thoát, cùng sinh về cõi yên lành, độ hết tất cả oan thân."

- Cuối cùng là lạy Phật và xưng rằng: "Nhất tâm đảnh lễ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nhất tâm đảnh lễ Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Ma Ha Tát. Nhất tâm đảnh lễ Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát. Nhất tâm đảnh lễ thập phương pháp giới chư Phật. Nhất tâm đảnh lễ thập phương Bồ Tát Ma Ha Tát. Nhất tâm đảnh lễ Lan Bồn khởi giáo đại Mục Liên tôn giả."

- Lạy Phật xong lại niệm ba lần văn quy y: "Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sinh, thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm. Tự quy y pháp, đương nguyện chúng sinh, thâm nhập kinh tạng, trí huệ như biển. Tự quy y tăng, đương nguyện chúng sinh, thống lí đại chúng, tất cả vô ngại, hòa nam thánh chúng."

Nghi thức ở trên là tịnh đàn. Còn nghi thức dưới đây mới là "Thượng Lan Bồn cúng".

Hát bài tán thán: "Vừa khai lễ hội Lan Bồn, mở cửa phổ độ khắp nơi, cung nghênh Tam Bảo giáng lâm, an tọa trên đài sen quý, duy nhất ý nguyện thương xót, xin nhận tuyệt diệu hương trai. Nam Mô Trai Cúng Dường Bồ Tát Ma Ha Tát, Nam Mô Trai Cúng Dường Bồ Tát Ma Ha Tát, Nam Mô Trai Cúng Dường Bồ Tát Ma Ha Tát."

Người chủ đàn bạch Phật rằng: "Kính cẩn nghe pháp thân thường tịch, vốn không đến cũng không đi, diệu trí viên dung, thực chẳng phải Không cũng chẳng phải Sắc, khéo léo dừng bặt mọi đối đãi, biển giác bao la khó đo lường, chúng sinh bị che phủ bởi u mê, lâu nay rõ ràng chịu ảnh hưởng. Hôm nay chính là ngày chư Phật hoan hỉ, tăng chúng cũng tác pháp Tự tứ, vì cha mẹ bảy đời mà sắm sửa trăm vị thơm ngon, tuân theo nghi lễ đầy đủ tốt nhất, noi gương hiếu thuận của Mục Kiền Liên, dâng chén cơm thơm ngon ngọt lành, với phẩm chất Giác Vương, mong ban phát ánh sáng từ bi, thọ nhận cúng dường này."

Khi dâng cúng thì đọc: "Tam thân Như Lai, kính dâng Lan Bồn thượng cúng Tam Bảo."

Sau đó các vị Duy-na tăng lại niệm: "Các đấng Đại hùng xuất thế cùng đến thọ trai tại thành Xá Vệ mà chính pháp được lưu hành, cũng dự cúng dường trong nội cung của Vua Ba Tư Nặc. Phật tùy cơ mà hiện tướng phổ tế quần sinh. Hôm nay chúng con kính cẩn sắp lễ Lan Bồn, chí tâm đảnh lễ tỏ bày hiến cúng. Trên đài sen nghìn cánh, trong ánh sáng của trăm báu vật, đức Năng Nhân với 32 tướng tốt, bậc Đại Giác với 80 vẻ đẹp ở khắp mười phương pháp giới, quá khứ vị lai vô lượng Phật bảo, duy nguyện không từ bỏ từ bi, thương xót chúng sinh hữu tình, hôm nay xin nhận cúng dường này."

Tiếp theo là bài tụng cúng Phật, bài tụng cúng pháp, bài tụng cúng tăng.
Ở trước Phật, dâng cúng và xưng niệm Phật hiệu: "Nam mô Vu  Lan hội thượng Phật Bồ Tát, nam mô thượng trụ thập phương Phật, nam mô thường trụ thập phương pháp, nam mô thường trụ thập phương tăng, nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật, nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Phật, nam mô Quá Khứ Giá Hoa Định Tự Tại Vương Phật, nam mô Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Phật, nam mô Đa Bảo Như Lai, nam mô Bảo Thắng Như Lai, nam mô Diệu Sắc Thân Như Lai, nam mô Quảng Bá Thân Như Lai, nam mô Li Bố Úy Như Lai, nam mô Cam Lộ Vương Như Lai, nam mô A Di Đà Như Lai, nam mô Thế Gian Quảng Đại Uy Đức Tự Tại Quang Minh Như Lai, nam mô Phật Thuyết Lan Bồn kinh, nam mô Đại Từ Địa Tạng Vương Bồ Tát, nam mô Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát, nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát, nam mô quá khứ hiện tại tự tứ Bồ Tát Duyên Giác Thanh Văn tăng, nam mô đại hiếu Mục Kiền Liên tôn giả, nam mô lịch đại tổ sư Bồ Tát, nam mô Hộ Pháp Chư Thiên Bồ Tát, nam mô già lan thánh chúng Bồ Tát, nam mô tam giới thánh phàm u hiển tôn thần."

Tiếp theo, niệm biến thực chân ngôn, cam lộ thủy chân ngôn, phổ cúng dường chân ngôn. (Trong các quyển khóa tụng của Phật môn đều có, nên tôi không ghi ra đây nữa.)

Sớ văn thông thường sẽ viết như sau: "Nhờ đọc tụng những chương kinh điển đời này, thấy rằng tình cảm thật khó mà rũ bỏ, xin ý chỉ của thánh giáo Lan Bồn, dám đặt hết mọi suy nghĩ vào việc huân tu, mong độ con thuyền từ bi, bày tỏ tấm lòng thành. Chúng con hoàn toàn suy nghĩ mong sớm cắt bỏ trần duyên, từ bỏ tình thân, hoặc nghiêm phụ từ mẫu đã mất sớm, đột ngột thiếu mất tình nồng; hoặc cha mẹ vẫn còn sống nhưng luôn làm trái với lẽ thường, không làm những việc lợi mình lợi người, thường nhận không đồ bố thí của người khác, ngước lên xấu hổ, cúi xuống thẹn thùng. Nhưng khi nghĩ về cội nguồn, cha mẹ đã có ơn sinh thành, dạy dỗ với tấm lòng của một người thầy, cái gốc khởi nguồn là vô cùng, không thể đánh mất dòng dõi đã tích lũy nhiều kiếp, nên vẫn thành tâm phổ độ toàn bộ chúng sinh hữu tình của siêu pháp giới. Cho nên, xin giãi bày tâm can với tấm lòng thành, con gánh nước hái hoa dâng cúng, cung kính quy y pháp bảo, khắp trời khắp đất để lưu chảy ân đức, nhổ tận gốc khổ luân, tất cả đều tiến lên con đường giác ngộ. Vì thế, con đã chọn ngày… tháng… để tập trung hải chúng bước lên Thánh đàn, đọc tụng bảo điển. Lại nguyện ánh hào quang chiếu rọi để cõi Ta Bà khắp nơi đều được viên minh. Pháp hải mênh mông, chúng sinh hữu tình ở khắp trái đất đều được tắm đẫm, cha mẹ nhiều đời của chúng con đã trải qua nhiều kiếp có quan hệ thân thích làm thầy và làm bà con quyến thuộc, người sống được gia tăng phúc huệ, người chết thì được bước lên đài sen, khắp nơi được gia tăng duyên lành, lợi ích hằng hà sa số chúng sinh còn đau khổ. Càng mong tam môn yên tĩnh, hải chúng an hòa, hễ có bị cản trở thì mong mọi việc đều như ý. Dâng sớ lên cao, thỉnh Tam Bảo minh chứng."

Cuối cùng là hát bài tán thán và hồi hướng, như vậy mới được xem là hoàn thành nghi thức.

Tác giả nhận thấy rằng con người trong xã hội đã biến pháp hội Vu Lan Bồn vào mỗi dịp tháng bảy thành pháp hội cúng tế sát sinh động vật lớn để cúng dường quỷ thần, đồng thời những tăng đạo được mời đến chẳng qua chỉ là các thuật sĩ giang hồ bịp bợm, từ lâu họ đã làm tản mát hết các nghi quỹ Phật môn, vừa không thích hợp lại không trang nghiêm, đại hội phổ độ đã biến thành bữa liên hoan của bầy ma quỷ liên lụy đến nghiệp chướng, chỉ thấy tăng nạn sát sinh, khiến người thân quyến thuộc tăng thêm tội chướng, việc báo thân độ vong chưa thành, ngược lại đều đọa vào địa ngục tối tăm, đây thật sự là sai lầm lớn. Vì thế, tôi đặc biệt viết rõ nghi thức ra đây, đã chiếm tương đối độ dài của chương sách, mong rằng độc giả cũng đồng lòng với tôi, cùng dốc hết tâm lực vì việc báo thân độ âm.

Bây giờ tôi lại đặc biệt giải thích rõ như sau: pháp hội Vu Lan Bồn vào ngày mười lăm tháng bảy âm lịch hàng năm, hoặc chọn lấy một ngày hạ chí trong tháng bảy để cử hành. Đệ tử Phật dùng trăm vị thanh tịnh, ngũ quả, múc nước, chuẩn bị một cái chậu, dầu mè, tất cả vật dụng hàng ngày đặt vào trong chậu (dùng chậu mới) để cúng Phật, Bồ Tát, và chúng tăng đại đức trong thập phương. Có được công đức của Tam Bảo, uy thần lực của chúng tăng, cha mẹ kiếp này và lục thân quyến thuộc đều thoát khỏi khổ tam đồ. Nếu người vẫn còn cha mẹ thì cha mẹ sẽ được thân thể khỏe mạnh, phúc lạc trăm năm. Ngay cả cha mẹ bảy đời trong quá khứ cũng được sinh vào cõi người, trời, phúc lạc vô cùng. Phàm là đệ tử Phật tu hiếu thuận thì nên thường xuyên nghĩ nhớ đến cha mẹ, thậm chí là cha mẹ bảy đời, vào tháng bảy hàng năm thường làm những việc hiếu nghĩa để nhớ về cha mẹ thân sinh, vì họ mà làm Vu Lan Bồn, cúng Phật và tăng, nhằm báo ơn cha mẹ đã thương yêu nuôi dưỡng ta bao lâu nay. Trong pháp hội có thể tụng thêm kinh Bản Nguyện Địa Tạng Bồ Tát, buổi đêm sắp đặt lễ cúng Du Già Diệm Khẩu thí thực hoặc Mông Sơn thí thực, để bố thí rộng khắp cam lộ pháp thực, nhờ công đức này mà siêu tiến cử tổ tiên các đời, bạn bè thân thích, quyến thuộc và oan thân nhiều kiếp, cứu tế rộng khắp những loài ma quỷ lang thang cô độc không được thờ cúng, chỉ cầu mong họ nhanh thoát khỏi chốn u minh, sớm sinh về tịnh thổ, pháp giới hàm thức, cùng chứng Bồ Đề.

Tôi đã biết rất sâu. Chú báo ơn cha mẹ: "Nam mô mi li tô, tô pô ye so ha." Giả như trong tháng bảy, mỗi ngày trì tụng 49 biến, có thể báo ơn cha mẹ. Đây là một phương pháp rất thuận tiện cho con người tu trì. Bỏi vì pháp hội Vu Lan Bồn, nếu chỉ có một người một nhà làm thì không ai trang trải đủ chi phí, hợp sức của nhiều người lại để làm thì chi phí ít đi mà vẫn thu được lợi ích như thế. Nếu là gia đình nghèo không có cách nào để tham gia pháp hội Vu Lan Bồn được thì tôi khuyên họ mỗi ngày trì chú 49 biến, trong tháng bảy âm lịch ngày ngày đều hành trì, thì vẫn thành tựu báo thân vào độ âm. Đây cũng tức là vạn nhà sinh Phật, công đức vô cùng lớn.


### 28. Pháp thủy ảnh của Mục Liên tôn giả


Ở bài viết trước, tôi đã nói Mục Liên tôn giả dùng "pháp thủy ảnh" mà biết được mẹ mình đang sống trong đạo ngạ quỷ. Trong kinh điển chỉ nói rằng Mục Liên tôn giả đắc sáu đại thần thông, không hề nói đến ba chữ "pháp thủy ảnh". Độc giả có lẽ sẽ cảm thấy kì lạ, vì sao tác giả lại có thể biết được rằng Mục Liên tôn giả dùng pháp thủy ảnh? Tôi không chỉ biết Mục Liên Tôn giả dùng pháp thủy ảnh mà tôi còn thấy rõ những hành động và thái độ của Mục Liên tôn giả khi đó.

Mục Liên tôn giả đi đến bên một con suối nhỏ, ngài ấy ngồi dưới bóng râm của một cái cây, ngài ấy cứ ngồi yên lặng như thế, nhìn những chiếc lá khô trôi dập dềnh theo dòng nước, nước suối trong vắt, có thể nhìn thấy những hòn sỏi ở đáy suối. Những hòn sỏi trong huyễn ảnh của dòng nước chảy dường như đang nhảy múa, nước suối phát ra âm thanh róc ra róc rách. Ngày hôm đó trời rất xanh, ánh mặt trời hơi nóng, khiến người ta nghĩ đến sự mát lạnh của nước.

Mục Liên nhìn dòng nước chảy, nghĩ đến vấn đề của "chư căn", trong lòng có một cảm xúc rất sâu sắc. [ ND: chư căn là nói về năm cái "gốc" gồm tín, cần, niệm, định, huệ và tất cả thiện căn khác]. Ngài ấy biết rằng tu trì Phật pháp, mặc dù quảng đại uyên bác thâm sâu, nhưng mà là ta tu ta đắc, người tu người đắc, không thể thay thế lẫn nhau, thế nên cho dù gần như cha mẹ, anh em trai, chị em gái, vợ chồng cũng vậy. Có khi con cái ngộ đạo, nhưng cha mẹ thì vẫn đọa vào địa ngục, có khi người chồng đắc đạo, nhưng vợ thì vẫn đọa địa ngục, hoàn toàn không vì quan hệ mẹ con hoặc quan hệ vợ chồng mà một người đắc đạo, gà chó thăng thiên. Vì thế mà ông tu ông đắc, bà tu bà đắc, tu hành hoàn toàn là chuyện của mỗi người. Hơn nữa, càng rõ ràng hơn là, người thân ngược lại lại càng khó độ hóa, ví dụ như con ngộ đạo, khuyên mẹ mình tu trì, nhưng quan niệm của người mẹ lại là anh là do tôi sinh ra, lẽ nào tôi lại có cái đạo lý vô lý đó, thành tựu của anh có  lớn, đạo hạnh có cao thì vẫn là con tôi. Rồi chồng đắc đạo, khuyên vợ mình tu trì, quan niệm của người vợ là, anh là chồng tôi, đêm ngủ chung giường, cùng chung sống với nhau, cho dù anh rất tài giỏi thì cũng vẫn là chồng tôi, thế là lại lơ là với công phu tu trì. Đó chính là đạo lý người thân thì ngược lại càng khó độ hóa.

Mục Liên nghĩ đến đạo lý của "chư căn" này, tự nhiên nghĩ đến người mẹ của mình, thế là ngài bèn niệm chú báo ơn cha mẹ, ánh mắt nhìn chăm chú vào nước, trong sát-na liền nhập vào thiền định. Cần biết rằng nước suối vốn là một trong số "chư căn", nước suối nối liền với sông lớn, sông lớn nối liền với biển lớn, mặc dù là một dòng suối nhỏ bé, nhưng cuối cùng vẫn chảy vào đại dương mênh mông. Đại dương mênh mông chính là cái nguồn gốc của dòng suối nhỏ, sự thiền định của Mục Liên đã theo dòng nước chảy mà nhập vào sông lớn, theo sông lớn mà nhập vào biển lớn, theo biển lớn mà nhập vào địa ngục. Thế rồi ngài nhìn thấy mẹ mình đang sống trong đạo ngạ quỷ. Mục Liên lúc này vẫn đang ngồi dưới bóng cây, chỉ là dùng thiên nhãn của ngài để quán nước, trong nước liền xuất hiện mẹ của ngài. Mặc dù Mục Liên đắc đạo, nhưng mẹ của ngài vẫn sống ở trong đạo ngạ quỷ, giống như tiền thân của Địa Tạng Vương Bồ Tát là cô gái Quang Mục, mẹ của cô gái Quang Mục còn thảm hơn, bà đã đọa vào địa ngục vô gián.

Và thế là Mục Liên vội vàng muốn cứu mẹ mình ra khỏi đạo ngạ quỷ, cho nên mới sinh ra pháp hội Vu Lan Bồn. Tôi soạn ra ba điểm quan trọng của bản văn này như sau:

Thứ nhất, có người hỏi tôi, địa ngục ở đâu? Tôi đáp, địa ngục ở đáy của đáy biển. Địa ngục vốn là ở trong tâm của con người, theo tâm của con người mà địa ngục hình thành trước, sau đó thân này của bạn chết đi, linh hồn của bạn liền nhập vào địa ngục ở đáy của đáy biển, đây chính là vấn đề nghiệp duyên, cũng là vấn đề của "chư căn". Căn nguyên của mỗi một người và người khác đều không giống nhau, mẹ và con, vợ và chồng, đều chỉ là một duyên phận tạm thời cực kì ngắn ngủi trên thế gian mà thôi. Cho nên, dùng thiên nhãn để quan sát có thể nhìn được cha mẹ bảy đời, có thể nhìn được vợ chồng bảy đời, cũng có khi là thân duyên, có khi là nghiệt duyên, thật sự là không thể nói trước. Cho nên thiện duyên chính là đến để báo ơn, ác duyên chính là đến để báo thù, sinh được con trai cũng đừng vui mừng, kết thành vợ chồng cũng đừng hoan hỉ, ai biết được là thiện duyên hay ác duyên, ai biết được diễn biến tương lai ra sao, những gì thấy được trước mắt chẳng qua chỉ là giả tướng tạm thời, nhất thời hồ đồ thì kết quả là hối hận không kịp.

Thứ hai, địa điểm tổ chức thí thực cho quỷ thần, tốt nhất là chọn ở bờ biển, hoặc là bên cạnh sông suối nối liền với biển, đây là vấn đề về "đạo lưu". Tôi cảm thấy thứ nhất, đây là để tưởng nhớ Mục Liên tôn giả, thứ hai là các vong linh âm phủ trực tiếp nhận được lợi ích, suối nhỏ thông với sông nhỏ, sông nhỏ thông với sông lớn, sông lớn thông với biển lớn, biển lớn thông với cõi u minh, đây chính là "đạo lưu" đó! Giờ đây cuối cùng tôi đã hiểu, trước kia vào tháng bảy, tôi thường nhìn sóng biển, mỗi lần nhìn thấy có người từ trong sóng biển trồi lên, đó chính là một linh hồn của cõi u minh, từng tốp người từ trong biển đi về bờ. Nên nếu pháp hội thí thực tổ chức trên bãi biển thì những linh hồn này không cần phải lặn lội đường xa, sẽ nhận được cam lộ biến thành thức ăn của pháp sư, có được pháp lực của chư Phật, được uy thần của chúng tăng, như vậy cũng tiện lợi hơn một chút.

Thứ ba, giả dụ trong số độc giả có người biết pháp khởi linh, mà do luyện tập lại có được linh nhãn, có thể vào tháng bảy, muốn biết vong linh cha mẹ đã khuất kiếp trước đời này của mình ở đâu, có thể trì chú báo ơn cha mẹ, đi đến con suối nhỏ nối liền sông mà thiền định, thời gian nhất định phải sau giờ Ngọ. Khi thiền định, linh nhãn nửa khép nửa mở, chăm chú nhìn mặt nước, miệng niệm chú báo ơn cha mẹ, trong đầu có thể nghĩ đến hình ảnh của cha mẹ lúc còn sống. Nước sông suối ban đầu sẽ hơi sáng lên, sau đó dần dần hình thành nên một vòng tròn, trong vòng tròn tự nhiên sẽ thấy cha mẹ hiển hiện, nếu hình ảnh là gầy khô và bụng to thì là cha mẹ ở trong đạo ngạ quỷ, nếu hình ảnh ở trong tù thì là cha mẹ ở trong đạo địa ngục, nếu là dung mạo dữ tợn đáng sợ thì là đạo Atula. Nếu trong vòng tròn ánh sáng đó không hề có hình tướng cha mẹ thì xin chúc mừng, nếu không phải họ đã chuyển thế thì chắc chắn đã thăng lên thiên đạo hoặc liên bang Cực Lạc thế giới rồi. Pháp khởi linh của Linh Tiên Chân Phật Tông có thể nhờ vào linh thông để mà tu tập lục thông, đắc chứng lục thông thì tự nhiên cũng không khác gì tứ Thánh, có thể không phải chịu khổ luân hồi nữa. Tôi cảm thấy nhân quả là khổ, chúng sinh luân hồi thì lại càng khổ không sao chịu thấu, có thể nhập vào thiên đạo hoặc cảnh giới tứ Thánh mới có thể nói là vui vẻ sung sướng, cho dù có là vua ở nhân gian thì cũng vẫn là đau khổ. Về điểm này, đệ tử Phật không thể không biết.

Ngoài ra, đại sư Liên Trì từng chú giải "Vu Lan Bồn" rằng: "Thế nhân vào ngày mười lăm tháng bảy, thí thực cho quỷ thần, làm hội vu lan ăn chay, cái này cũng là sai. Nếu làm hội Vu Lan bắt nguồn từ Mục Liên, thì vào ngày mười lăm tháng bảy, chúng tăng giải hạ, bản thân được thoải mái, sau chín tuần tham học, người đắc đạo nếu vào ngày này mà tu cúng dường cho họ thì phúc sẽ gấp trăm lần, không phải là thí thực cho quỷ thần. Còn nếu thí thực quỷ thần mà bắt nguồn từ A Nan thì không giới hạn vào ngày mười lăm tháng bảy, dụng cụ sử dụng là cái hộc của nước Ma Kiệt Đà, không dùng chậu lan, đậy lại, thứ nhất là trên phụng Thánh hiền, thứ hai là dưới tế ngạ quỷ. Bi thương gào khóc thì có nhiều kiểu, nhưng mà làm sai thì cũng chỉ là giả mạo và ngu độn mà thôi." Đoạn trích này vốn được ghi trong sách "Vân thế pháp vựng" của đại sư Liên Trì.

Tôi viết bài kệ rằng:
Nguyên do pháp hội là đạo căn, báo đáp cha mẹ ơn sinh dưỡng.
Người còn phúc lạc càng tăng trưởng, người mất thoát khổ được siêu thăng.
Hàm thức sau này đều được lợi, nhân gian tam đồ khổ chúng sinh.
Gột rửa hết cấu uế thành tịnh, tất cả vượt lên khỏi trầm luân.


### 29. Địa Tạng và tôi là bạn đạo


Vài ngày trước, tôi rất nhớ bạn hữu ở Đài Loan. Sau khi làm xong công khóa, tôi kể với Địa Tạng Vương Bồ Tát những tâm sự trong lòng. Buổi tối ngày hôm đó, Địa Tạng Vương Bồ Tát liền hiển hiện trong mây. Tôi nhìn thấy Bồ Tát từ trong túi áo lấy ra một tờ giấy hình vuông cạnh dài sáu centimet, sau đó Ngài dùng hai tay gập rồi lại gập, không ngờ cuối cùng gập ra một bông hoa sen màu đỏ, hoa sen sống động như thật, đầy đủ từng cánh hoa sen, nhìn không ra đó là một bông hoa sen gấp từ giấy, hơn nữa bông hoa sen đỏ này dường như còn thoang thoảng hương thơm, thật sự là vừa kiều diễm vừa mỹ lệ.

Bồ Tát nhẹ nhàng thảy bông hoa sen xuống, hoa sen nhỏ từ từ biến thành to, to bằng cỡ bánh xe. Bồ Tát bảo tôi: "Theo nguyện lực của ngài, ngài có thể đạt được nguyện vọng, ngồi lên trên đóa hoa sen đỏ này, tất cả tự sẽ thành tựu." Thế là, trong ý thức mơ hồ, tôi nhìn thấy bạn hữu mà tôi muốn gặp, nhìn thấy những học trò mà mình nhớ nhung, tôi cảm thấy vô cùng hưng phấn, bởi vì ngồi trên bông hoa sen này, từng lời nói việc làm, nhất cử nhất động của họ đều sống động như ở ngay trước mắt. Tôi chỉ nguyện sau khi chết, chỉ cần có bông hoa sen đỏ đi theo tôi như thế này, thì cũng xem như là mãn nguyện rồi.

Địa Tạng Bồ Tát là vị đại Bồ Tát thứ hai mà tôi thỉnh về nhà để thờ phụng, vị Bồ Tát thứ nhất là Quan Thế Âm Bồ Tát, hai vị Bồ Tát đều có những chuyện thần bí. Vị Bồ Tát thứ hai được điêu khắc từ gỗ, lúc điêu khắc tôi vốn muốn làm cỡ nhỏ để đem theo người, nhưng chiều cao tới hai mươi centimet, mặc dù nhỏ hơn bức tượng thông thường cao hai mươi lăm centimet, nhưng khi mang theo người cũng hơi bất tiện, nên chỉ còn cách là đặt trên bàn thờ. Có người nhìn thấy tướng mạo của Bồ Tát thì đều nói, tướng mạo của tôi cực kì giống với tướng mạo của Bồ Tát. Thờ phụng Địa Tạng Vương Bồ Tát chưa được bao lâu thì Bồ Tát hiện kim thân cao lớn không gì sánh bằng, đầu đội mũ Ngũ Phật, tay cầm tích trượng, chân dẫm lên hoa sen, tay kia thì cầm chuỗi hạt quang minh, thân khoác áo cà sa, trang nghiêm khác thường. Sau khi tôi nhìn thấy vậy thì sinh tâm hoan hỉ, nên liên tục thờ phụng ngài bất li thân. Vì thế khi đến Mỹ rồi, tôi vẫn phụng thỉnh Ngài đến Mỹ.

Kể ra cũng kì lạ, không chỉ có mỗi vị Địa Tạng Vương Bồ Tát mà bản thân tôi thờ phụng tôi mới sinh tâm hoan hỉ, mà mỗi khi đến một ngôi chùa nào, nhìn thấy vị Địa Tạng Vương Bồ Tát, tôi đều sinh tâm hoan hỉ, ví dụ như Địa Tạng Vương Bồ Tát ở linh cốt tháp tại chùa Từ Thiện ở Đài Trung, như Địa Tạng Vương Bồ Tát được thờ phụng tại điện bên trái chùa Từ Minh ở Đài Trung, đều khiến tôi vừa nhìn thấy đã sinh tâm cung kính cúi chào. Còn có Địa Tạng Vương Bồ Tát ở Gia Nghĩa thì càng thần bí phi phàm. Ông nội của tác giả là Lư Xương, linh cốt của ông được thờ cúng tại chùa Từ Minh, linh hồn của ông nội Lư Xương thấy tôi phải chịu khổ chịu nạn, gia cảnh khốn cùng, thế là ông khẩn thiết thỉnh cầu Địa Tạng Vương Bồ Tát ở chùa Từ Minh, và Bồ Tát đã đồng ý giúp tôi, tôi mới có được chút thành tựu nhỏ bé ngày hôm nay. Đây cũng là ân từ đặc biệt của Địa Tạng Vương Bồ Tát.

Hiểu được những nhân quả này rồi, trong thiền định của tôi, tôi đã gặp được nguyện lực của Địa Tạng Vương Bồ Tát, mấy lần tôi tiến vào âm gian đều có thể biến lửa địa ngục thành lửa mát lành. Đích thân nếm trải cái khổ của địa ngục, nên tôi đã phát nguyện lực anh hùng, hy vọng có thể giúp ích cho các linh hồn ở trong địa ngục tam đồ khổ đạo. Và rồi, tôi đã hiểu ra tất cả, Địa Tạng Vương Bồ Tát là Bổn tôn của tôi, pháp tôi tu là pháp Địa Tạng, lời nguyện tôi phát ra là nguyện Địa Tạng, tôi nhập môn Địa Tạng, làm bạn Địa Tạng.

Điều tôi lĩnh ngộ được là: pháp môn Địa Tạng, trước là đại nguyện, sau là bi tâm, công đức hơn trời, liên thai hoa tọa, nhất vị viên âm,  bình đẳng giá hội, phổ siêu u minh, Thánh nhân tùy cơ, chứng sinh Cực Lạc.

Địa Tạng Vương Bồ Tát từng dạy tác giả một pháp kết giới.
Cái gọi kết giới cũng chính là pháp tịnh đàn của Đạo gia. Lấy một con dao mới, cúng trước tượng Bồ Tát, niệm 21 biến chú Đại Bi, sau đó dùng dao vẽ lên xung quanh của tịnh phòng hoặc chùa chiền, làm như vậy thì tà ma không thể vào. Lại dùng hạt cải trắng, cũng niệm 21 biến chú, rồi chôn hạt cải vào bốn xung quanh của chùa, tà ma cũng không thể vào được. Hoặc dùng tro sạch, hoặc chỉ ngũ sắc đều được, cách làm và công dụng hoàn toàn giống nhau.

Chỉ có cách làm của Linh Tiên Chân Phật Tông là khác, Địa Tạng Vương Bồ Tát nói, dùng tay phải làm kiếm quyết, dùng linh lực, niệm Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát, vừa niệm vừa vẽ, đi vòng quanh nơi kết giới, như vậy thì không cần dùng vật thay thế cũng vẫn là kết giới, tất cả tà ma đều không vào được, sức mạnh uy thần của Địa Tạng Vương Bồ Tát là cực lớn.

Địa Tạng Vương Bồ Tát từng dạy tác giả một pháp "phi không", có nghĩa là bạn muốn đến thiên giới nào thì có thể đi đến đó tùy ý muốn, nhưng không phải lúc khẩn cấp thì tuyệt đối không được dùng. Dùng chỉ ngũ sắc, buổi tối lúc đi ngủ, quấn chỉ vào năm đầu ngón tay, chỉ ngũ sắc này phải được niệm 21 biến chú Đại Bi, trước khi ngủ phải trải khăn trải giường mới, chăn mới, tắm gội, mặc quần áo mới, tốt nhất là thắp đàn hương ở trong phòng, dùng ngón tay đã quấn chỉ ngũ sắc hướng lên mây ở trên trời, vẫy năm lần, niệm năm câu Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát. Như thế khi nằm mơ, sẽ có mây ngũ sắc từ không trung hạ xuống, nhẹ nhàng đỡ bạn lên, rồi hướng về thiên giới mà bạn muốn đến. Vẻ đẹp của cảnh sắc cõi trời, sự thanh cao của Tiên chúng, sự kì diệu của núi sông ở nhân gian chẳng thể biết tới, nhân gian chẳng thể hình dung nổi, nhưng cần phải nhớ không được tham lam, tham niệm mà khởi lên thì pháp phi không bằng mây ngũ sắc này lập tức mất tác dụng, muốn sử dụng lại thì cũng không còn linh nữa.

Ban đầu khi tôi viết bản văn này, tôi không dự tính sẽ viết về pháp "ngũ sắc tường vân phi không", bởi vì pháp này là vô giá, người có thể vận dụng nó thì cũng giống như có được báu vật vô giá. Đồng thời tôi cũng e sợ rằng người thực hành pháp này quá nhiều sẽ quấy rầy thiên giới, như thế thì tôi lại còn vi phạm lỗi tiết lộ thiên cơ, đến lúc đó lại bị trời khiển trách. Nhưng rồi tôi nghĩ lại, dùng ngón tay ngũ sắc để gọi mây cũng cần dùng đến linh lực, người không biết pháp khởi linh thì sẽ không thể làm được. Hơn nữa, tâm vốn có tính hiếu kì, rất nhiều người chỉ là thử một lần xem sao, những người như thế thì cũng chẳng có cách nào thành tựu được. Trong số đó nếu có người có duyên, một ngày nào đó người ấy dùng thuật "ngũ sắc tường vân phi không" mà thành công thì người ấy nhất định có thể bền lòng hướng Phật, thay Phật môn tuyên dương hoằng pháp, chỉ cần diệu pháp ứng với căn cơ này có thể độ hóa một người thì công đức ấy cũng đã tự nhiều rồi, một người đắc độ thì vạn người được nhờ. Cho nên cho dù có liều lĩnh một phen nguy hiểm tôi cũng phải nói ra.

Nếu so sánh pháp kết giới của Phật môn và tịnh đàn của Đạo gia với nhau thì pháp của Phật môn có vẻ đơn giản hơn, còn pháp kết giới của Linh Tiên Chân Phật Tông thì lại càng là một cách sáng tạo độc đáo. Có lẽ đó là nhờ lòng từ bi của Địa Tạng Vương Bồ Tát. Tất cả các pháp đều phải lấy đại nguyện làm cơ sở, tôi rất mong muốn có thể trình bày hết lần lượt các pháp bí mật của Phật môn ra, để đem đến cho tất cả các đệ tử Phật toàn thế giới một sự hưng thịnh mới, dần dần tăng thêm ích lợi, từng bước phát triển, tiết lộ những viên ngọc quý còn ẩn giấu, khiến người người đắc thành tựu.


### 30. Linh Tiên tinh xá là đạo tràng trang nghiêm


Khi còn ở Đài Loan, tôi không tán thành xây dựng chùa chiền, bởi vì chùa ở Đài Loan đã đủ nhiều rồi. Hàng năm, số tiền tiêu tốn cho việc xây chùa đã rất khó xác định, số lượng chùa chiền đã vượt quá cả tổng số làng quê và thị trấn của cả nước. Hơn thế nữa còn có một làng quê nhỏ mà có tới năm ngôi chùa, năm miếu Đạo, con số này thật sự khiến người ta sửng sốt. Người có tri thức và kinh nghiệm thì cực kì lo lắng trước hiện tượng này, cho rằng các chùa ở Đài Loan không có cách nào xử lý theo lẽ công bằng tất cả tài sản của chùa, nên đã có những người mượn thần để vơ vét của cải. Thêm nữa, việc quản lý chùa chiền không kiện toàn, người quản lý lợi dụng ý thần để lừa người ta bằng những lời lẽ ma mị. Chùa trở thành các địa điểm tham quan, đã làm biến dạng và làm méo mó hình tượng của việc tu hành.

Vì thế, ở Đài Loan, Linh Tiên Chân Phật Tông không xây chùa, không có tổ chức, không có ngân quỹ, cái gì cũng không có, thứ duy nhất có đó là các học trò nhận tôi làm thầy, còn người thầy là tôi đây thì vẫn luôn để tùy duyên, khi các học trò nhận tôi là thầy thì tôi chính là thầy của Linh Tiên Chân Phật Tông, còn khi các học trò nhận tôi là "người ngu" thì tôi chính là "người ngu" của Linh Tiên Chân Phật Tông, tôi vẫn luôn tùy theo nhận định của học trò. Tôi chưa bao giờ tự nhận mình là một vị thầy vạn người chí tôn, không có cái vẻ cao ngạo của một người thầy. Cũng có thể nói thế này, khi các học trò thấy tôi không vừa mắt nữa thì tôi sẽ trở thành ông thầy cho họ chửi bới, vì thế, người thầy là tôi đây thật ra cũng không phô bày.

Sau khi đến Mỹ, tình hình trong nước ở Mỹ rất khác với Đài Loan. Thành phố Seattle ở bang Washington chỉ có một ngôi chùa của người Nhật Bản, chuyên để cho người Nhật lễ Phật hoặc dùng khi có các lễ cúng. Người Hoa ở Washington không ít, nhưng tinh thần tín ngưỡng của họ thì cũng ở trạng thái trống không. Có rất nhiều người Hoa, từ nhỏ đã xa nhà, gian nan tìm chỗ đứng, trong xã hội chủ nghĩa vật chất chỉ có tiền mới là vạn năng, do đó hễ nói đến tu đạo tu hành thì về cơ bản là họ không hề nghĩ tới. Tinh thần của họ là rỗng tuếch, khi buồn khổ, ngoài việc tìm đến những nơi vui chơi khuấy động để trút nỗi buồn ra, thì chính xác là họ đã biến thành động vật ngày ngày lê lết kiếm sống.

Cá nhân tôi nhận thấy điều này, tôi cảm thấy ở mảnh đất Mỹ này, xây chùa và đạo tràng là điều cần thiết, chùa là đất thanh tịnh. Thế là tôi dùng pháp phong thủy và tìm được khu vực Redmond, mua một mảnh đất. Nơi đó rất đẹp, có núi có hồ, chỗ dựa sau lưng có khí rồng tới, hai bãi cát bên trái phải đều tạo thành thế bảo vệ, thật sự là một đạo tràng trang nghiêm rất tự nhiên. Chúng tôi đã nộp đơn lên chính quyền tiểu bang để thành lập một tổ chức từ thiện, cung cấp nhiều nhất có thể những buổi giảng đạo về tinh thần tu hành, khéo léo từ chối sự chuyên quyền cá nhân. Về mặt xử lý tiền bạc, đạo tràng được xây dựng đơn giản trang nghiêm, giảm bớt những chi phí không cần thiết, thu nhận tài trợ để xây dựng thư viện cho Linh Tiên Tinh Xá, thành lập lớp bồi dưỡng tiếng Anh. Có thể tưởng tượng rằng Linh Tiên Tinh Xá này là một đạo tràng trang nghiêm ở hải ngoại.

Ở trung tâm là đại điện của chùa, là một tòa kiến trúc hai tầng, ở chính giữa tòa nhà có Quan Thế Âm Bồ Tát làm chủ tôn, bên trái phải là Hộ pháp Vi Đà tôn giả và Hộ viện Già Lan tôn giả. Khu điện ở hai bên là các phòng giảng kinh và nhà trọ cho khách. Ngoài ra, khu điện ở hai bên có thể cung cấp nơi tổ chức hội nghị hoặc các lớp học bồi dưỡng tiếng Anh, thư viện cũng nằm ở đó. Bước ra khỏi chùa, ở chính giữa là một con đường lớn, ngày thường là nơi xe ô tô ra vào hoặc nơi dừng đỗ xe, ở giữa chùa và con đường lớn là một quảng trường, có thể đánh quần vợt hoặc cầu lông, có thể vận động tập thể dục. Hai bên đường lớn, mỗi bên đều xây dựng bốn tòa nhà, trái phải đều có, tổng cộng là tám tòa nhà, đó là nhà ở của những người đã xây dựng nên Linh Tiên Tinh Xá, khi có khách từ nơi xa đến thì cũng có thể dùng làm nơi ở cho họ.

Cửa chính của đạo tràng Linh Tiên Tinh Xá trang nghiêm có đặt một tấm bia ở cửa, trên đó viết bốn chữ "Linh Tiên Tinh Xá". Tinh xá bốn phía đều có tường bao quanh, không bị bên ngoài làm phiền. Những mái ngói của tòa đại điện ở giữa được làm theo thiết kế của Nhà tưởng niệm Tôn Trung Sơn ở Đài Loan, trở thành kiểu cung điện. Quan Thế Âm Bồ Tát tọa tây hướng đông, tức là hướng tọa Thân vọng Dần. Trong Phật đường treo một bức phướn có chữ "Nam Mô Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát", thắp đèn quang minh thập phương, thắp đèn sáng liên tục, ngày đêm thắp đàn hương, dựa theo nghi thức Phật môn mà làm khóa lễ buổi sáng, khóa lễ buổi chiều, khóa lễ buổi tối, dùng các lễ phẩm thanh tịnh như trà, đèn, quả, đồ ăn để cúng dường. Tượng Phật Thích Ca, tượng A Di Đà, tượng Đại Thế Chí Bồ Tát, tượng Địa Tạng Vương Bồ Tát, đều được thờ phụng ở phía trước tượng Quan Thế Âm Bồ Tát, bởi vì tượng Quan Thế Âm Bồ Tát đặc biệt to lớn, do vậy phải để ở phía sau.
Chúng tôi theo nghi thức ngày ngày cúng dường, lòng dạ chân thành. Ở tinh xá này, vào ngày hai mươi mốt hoặc chọn ngày đẹp, người người có thể thanh tịnh giữ trai giới, đọc kinh điển Đại thừa, hoặc trì chân ngôn, hoặc niệm Phật, để tiêu trừ nghiệp chướng của kiếp trước.

Trước đây tôi nhận sự giáo huấn của sư phụ, sư phụ nói, tu trì Phật môn cũng có một môn là đạo tràng trang nghiêm, cần phải thuần thục nghi thức thì mới không có sai lầm, cần có đạo lý phân minh mới có thể chính - tà đều biết, cần quán chỉ định niệm thì tâm mới không đảo điên, cứ như thế thì Bồ Tát tự có thể gia hộ. Vì thế, đạo tràng trang nghiêm là một công khóa mới nhập môn, đạo tràng trang nghiêm, con người cũng sẽ trang nghiêm, không thể không biết điều này.

Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát có một tay cầm một tòa cung điện, cánh tay này gọi là "hóa cung điện thủ", nếu có người chuyên môn thi công chùa chiền, để cho đạo tràng trang nghiêm lợi ích quần sinh, thì những người này đời đời kiếp kiếp thường ở trong cung điện của Phật Bồ Tát, hơn nữa không bị thọ sinh trong "thai tạng". Theo như tôi biết, người có bàn tay "hóa cung điện thủ", tu trì đạo tràng trang nghiêm, thì có rất nhiều cơ hội được sinh vào thiên cung ở thiên giới, bởi vì trang điểm cho kim thân của Phật chính là trang điểm cho kim thân của chính mình, xây cung điện Phật chính là xây cung điện ở cõi trời cho mình, nên việc sinh ra ở thiên cung là điều không có gì phải nghi ngờ.

Tôi cảm thấy hôm nay tôi có thể ngồi yên tĩnh để viết cuốn sách này đúng là do Phật Bồ Tát đã tận lực an bài, giả sử ở Đài Loan, tôi bận rộn suốt ngày đêm, sẽ không có cách nào hoàn thành được những tác phẩm như vậy. Và việc xây dựng đạo tràng trang nghiêm như thế này cũng là chủ ý của Phật Bồ Tát, tất cả đều là định số, rất nhiều những điều trùng hợp khó lý giải. Nếu tôi đến Mỹ sớm hơn thì cũng không thành, không sớm không muộn mới là hoàn hảo nhất. Tôi tỉ mỉ hồi tưởng về mọi thứ đã qua trong cuộc đời mình, thật sự là bất khả tư nghì, giống như một giấc mộng, ngay cả thật giả tự mình cũng đều thấy hồ đồ rồi, nhưng sự thật là tất cả mọi thứ đều là thật.

Có lẽ tất cả chướng ngại đều là ý trời, nên tôi tới Seattle nước Mỹ xây dựng đạo tràng trang nghiêm của Phật Bồ Tát.


### 31. Tịnh tam nghiệp chỉ quán


Trong quá khứ tôi thường nói rằng người xuất gia không phải là để đầu trọc, điểm sẹo giới, ăn chay, mặc tam y là thành người xuất gia. Người xuất gia chân chính phải là ra khỏi ngôi nhà thế tục, đi vào ngôi nhà của Phật tổ thì mới gọi là xuất gia chân chính. Cũng có nghĩa là cái xuất gia của tâm chứ không phải là cái xuất gia của những biểu hiện bên ngoài. Tu đạo chân chính không phải chỉ là nói khơi khơi ngoài miệng mà còn là sự tu đạo của tâm, phải thật sự đi thực tiễn, nỗ lực thực hành. Ở đây xuất gia thật và xuất gia giả, tu đạo thật và tu đạo giả phân biệt ra sao, chỉ cần nhìn vào "tam nghiệp tịnh", tam nghiệp thanh tịnh thì chính là xuất gia thật và tu đạo thật, tam nghiệp không thanh tịnh chỉ có thể nói là xuất gia giả, hoặc là xuất gia nhưng chưa kiện toàn.

Xuất gia chưa kiện toàn là sự phô trương từ ngữ chuyên môn về mặt học thuật, còn thật ra họ chỉ là nhất tâm lưỡng dụng, do không hề chuyên tâm nhất trí nên không thể tiến vào sự sâu sắc của Phật học, mặc dù họ có liên hệ với Phật môn nhưng chỉ có thể xem như là xuất gia giả. Tôi viết như thế này, người xuất gia đừng tức giận, đây không phải là tôi cố ý phân định như vậy, bởi vì do có một từ là "cao tăng" nên phải có "thấp tăng" thấp hơn trình độ của cao tăng. Đây không phải là phỉ báng, mà là xuất gia chân chính mới có hàm ý của xuất gia, mới có hiệu quả của việc độ hóa thế nhân, đây là vấn đề "sử dụng triệt để".

Muốn tịnh tam nghiệp thì phải coi trọng "sử dụng triệt để", hoặc nhiều hoặc ít phải dựa vào trí huệ. Tác giả viết chương sách "Tịnh tam nghiệp chỉ quán" này vốn là một sự tu trì hoàn chỉnh, việc tu trì này tuyệt đối không phải là hưởng lạc, cũng tuyệt đối không phải là cực khổ, cần biết rằng khổ - lạc đều là vấn đề của tâm cảnh. Điều này không hề sâu xa khó hiểu, giả dụ bạn có thể đạt đến cảnh giới này thì chắc chắn sẽ biết lạc là từ trong khổ mà có, dù khổ nhưng thật sự lại là lạc, quả vị tương lai sẽ tương đối lớn, chứng được quả vị tịnh tam nghiệp rồi thì sẽ có càng nhiều hi vọng. Tôi mong rằng tất cả các đệ tử Phật có thể hoàn thành tu hành tịnh tam nghiệp, bởi vì đây là cái gốc căn bản để thành Phật, là nền tảng tu luyện của xuất gia và thành Phật.

Tu trì "tịnh tam nghiệp chỉ quán" nói về sử dụng triệt để, cách làm của tôi như sau: "Thứ nhất, phải có tín tâm kiên định, từ nội hướng ngoại, hoặc từ ngoại hướng nội, đó là việc tu trì của cá nhân, tự mình tịnh tâm lĩnh ngộ. Thứ hai, các viện Phật học phải có những người thầy giáo lương thiện tốt lành, có thể cung cấp diệu pháp làm sao để tịnh tam nghiệp. Các chùa Phật phải lấy tịnh tam nghiệp làm trọng, hoàn cảnh tu hành rất quan trọng, phải giải quyết những khó khăn của người xuất gia và những vấn đề giày vò tâm trí họ, khiến họ có thể hướng tam tâm thành nhất tâm. Thứ ba, phải tu tĩnh tọa chỉ quán, cái này đòi hỏi phải có cao tăng nhân tài đích thân chỉ bảo, không thể chỉ dựa mỗi vào sự mày mò của bản thân, bởi vì cao tăng là người từng trải, cần hướng dẫn người kém hơn, cùng gánh vác công việc cứu độ những linh hồn nhân loại của thế giới. Cái thời chỉ lo thân mình đã qua rồi, ngày nay Phật môn nên cùng với các tăng nhân có thành tựu hợp tác tương trợ lẫn nhau."

Tu trì từ ngoại hướng nội có phương pháp như sau:
Người xuất gia phát bồ đề tâm quảng đại, xin thề độ hóa tất cả chúng sinh, bản thân duy trì trai giới, trước tiên phải tịnh khẩu nghiệp, tịnh thân nghiệp, tịnh ý nghiệp, ba nghiệp này thanh tịnh rồi mới xem như là xuất gia thật. Sống trong căn phòng yên tĩnh, nhất định phải thường xuyên tắm gội sạch sẽ, mặc tam y sạch sẽ, tâm mình phải thu nhiếp vào tâm Phật, tuyệt đối không được nảy sinh những tình cảm khác. Trước khi muốn đến đạo tràng, nhất định phải dùng nước thơm để tắm gội, mặc quần áo sạch sẽ nhất để làm pháp sự. Khi rời khỏi đạo tràng, mặc quần áo bình thường thì cũng phải sạch sẽ mới được, điều này rất quan trọng.

Người xuất gia phải tắm gội hàng ngày, trước khi làm pháp sự, sau khi làm pháp sự, mỗi tối trước khi đi ngủ đều phải tắm gội. Quy định một khoảng thời gian nào đó bế khẩu không nói, hoặc tuyệt đối không nói lời lung tung, tất cả mọi đối đáp chào hỏi càng ít càng tốt, điều này có nghĩa là vào khoảng thời gian này không được có một sát-na nào nghĩ đến sự vụ thế tục, nếu ăn cơm đi ngủ cũng phải như vậy, không được để tâm tản mạn. Như thế, lấy việc mặc quần áo sạch sẽ là sự thanh tịnh của ý, lấy việc tắm gội thân thể là sự thanh tịnh của thân, lấy việc bế khẩu không nói là sự thanh tịnh của khẩu, đây là phương pháp tu trì từ ngoài vào trong.

Người tu hành thắp một nén hương trước tượng Phật, lúc này nên nhắc nhở bản thân rằng tất cả chư Phật và chúng sinh trong pháp giới, và thân tâm của ta là một, ở đây chỉ là chư Phật đã giác ngộ mới thành Phật, còn tất cả chúng sinh thì vẫn sống qua ngày trong sự mê muội, còn ta thì vì chúng sinh mà đến để tu hành, dẫn dắt chúng sinh ra khỏi con đường mê lầm. Và khi lạy Phật, đều phải liên tục nhớ như vậy. Thế rồi an tịnh ngồi xuống để tu pháp chỉ quán.

Tịnh tam nghiệp chỉ quán, niệm lực tập trung vào khói hương phất phơ, khói này hóa thành mây hoa thơm đầy ắp thập phương pháp giới, thổi đến từng thế giới Phật quốc, hóa thành vô lượng vô số cảnh tượng trang nghiêm, Bồ Tát đều vì vậy mà càng thêm trang nghiêm, Như Lai càng vì vậy mà đại chuyển pháp luân. Những đài hoa sen ánh sáng phóng tỏa ra ánh sáng nhiều màu sắc, âm nhạc của cõi trời đẹp đẽ kì diệu, giáng xuống mưa hoa, những y phục quý báu của thiên giới từng thứ đều sạch sẽ, diệu pháp tràn trề, mỗi một vị thần tiên đều mặc trên người y phục quý báu của cõi trời, hết vị này đến vị khác đều có diệu pháp đắc đạo của mình, những diệu pháp này đều trang nghiêm và quay tròn mãi mãi không dừng lại, tất cả đều chen nhau đến trước đài sen của Tam Bảo. Còn bản thân mình thì đang ngồi trước mặt Tam Bảo Phật, tu hành cúng dường lễ bái, giữa Phật và ta vô chướng vô ngại.

Tu tịnh tam nghiệp không hề chỉ là miệng tụng "tịnh tam nghiệp chân ngôn" là xong, mà càng phải làm với tâm ý kiên định mới được. Trước kia sư phụ hướng dẫn tôi, hễ phát hiện thấy tâm ý tán loạn, tạp niệm ùn ùn kéo đến thì lập tức dừng ngay bất kì việc gì, chạy vào phòng tắm, mở vòi nước, dùng nước lạnh dội lên đầu, hoặc dùng nước lạnh để tắm gội, sau khi tắm gội xong, tất cả tạp niệm sẽ theo nước lạnh trôi đi. Đây là một phương pháp rất hay, nhưng để xem bạn có làm hay không mà thôi.

Có người nói, cách tắm nước lạnh của Lư Thắng Ngạn thật sự là cao kiến, đây chính là tinh thần "học tập tín tâm". Muốn ép tạp niệm dừng lại là vô cùng không dễ dàng. Khuyên bảo thì dễ hơn nhiều so với áp chế, và chỉ dẫn theo đường vòng dễ hơn là nhìn thẳng vào vấn đề. Cách tắm nước lạnh là một cách chỉ dẫn theo đường vòng, đừng cho rằng đây là tài vặt vớ vẩn, thật ra nó lại có công hiệu lớn, có thể thật sự làm được cũng không phải là dễ, đây là kiến thức về vấn đề sử dụng triệt để.

Khẩu nghiệp không tu, kiếp sau mồm thối; thân nghiệp không tu, da thịt thối rữa; ý nghiệp không tu, biến thành lợn chó trâu. Đây chính là lời cảnh báo cho việc không tu tam nghiệp thân khẩu ý, mặc dù không có minh chứng, nhưng đây cũng là nhân quả để mà khuyên răn người đời!


### 32. Pháp phụng thỉnh Tam Bảo Chư Thiên


Khi Thánh linh từ trên trời hạ giáng, nếu là người có linh nhãn sẽ quan sát thấy giống như pháo hoa mỗi dịp lễ tết ở nhân gian, có khi là ánh lửa cháy rực bầu trời, có khi là ánh sáng chói chang rực rỡ, có khi là mưa hoa đầy trời, có khi là nhiều màu sắc đẹp đẽ. Theo như tôi biết, càng là thần cấp thấp thì màu sắc càng sặc sỡ và đậm, càng là thần thánh của thượng giới thì ánh sáng rất thuần rất sáng. Họ đến từ không trung để tiếp nhận cúng dường của nhân gian.

Các vị Phật Bồ Tát cao quý vốn là những vị đã thoát ly khỏi chướng ngại trần thế, cư ngụ tại thiên giới thanh tịnh hoặc ở pháp giới vượt ra ngoài tam giới. Thế gian nhơ bẩn không đáng để các vị đến, nhưng chư vị đều có tấm lòng từ bi, chỉ cần chí thành phụng thỉnh, ân cần gọi tên từng vị ba tiếng, hoặc có thể làm cảm động tấm lòng từ bi của chư vị, các vị sẽ vì bảo hộ và nhớ thương các chúng sinh thế tục mà nhất định sẽ đến nhân gian một chuyến.

Cá nhân tôi tu hành là tăng cường hướng nội để nghiên cứu sâu về tâm tính của mình. Về phương diện hướng ngoại thì tôi tìm kiếm bản thể của vũ trụ. Đối với phương diện nhân tình thế thái, tôi lại tương đối lơ là. Có nghĩa là tôi khá coi trọng hướng nội để tự kiểm điểm bản thân, tương đối coi trọng tri thức thực tiễn, còn đối với phương diện lễ nghi thì tôi khá e ngại. Nhưng đối với Phật môn, phụng thỉnh Tam Bảo Chư Thiên có lễ nghi nhất định, cái này có tính hệ thống, không thể xem nhẹ. Người học Phật mỗi lần dâng cúng dường hoặc pháp sự nhất định phải thỉnh Tam Bảo Chư Thiên. Vì thế tôi đặc biệt thuật lại từng việc trong pháp phụng thỉnh như sau:

"Nhất tâm phụng thỉnh, Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nhất tâm phụng thỉnh, Nam Mô Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật.
Nhất tâm phụng thỉnh, Nam Mô quá khứ vô lượng ức kiếp Thiên Quang Vương Tĩnh Trụ Thế Tôn.
Nhất tâm phụng thỉnh, Nam Mô quá khứ chín mươi chín ức Căng Già Sa Chư Phật Thế Tôn.
Nhất tâm phụng thỉnh, Nam Mô quá khứ vô lượng kiếp Chính Pháp Minh Thế Tôn.
Nhất tâm phụng thỉnh, Nam Mô mười phương hết thảy Chư Phật Thế Tôn.
Nhất tâm phụng thỉnh, Nam Mô mười phương pháp giới hết thảy Chính Trụ Như Lai."

Phụng thỉnh Phật thì niệm bài kệ rằng: "Pháp tính như Không chẳng thể thấy, pháp bảo thường trụ khó nghĩ bàn. Con nay tam nghiệp như pháp thỉnh, kính mong hiển hiện nhận thọ cúng."

"Nhất tâm phụng thỉnh, Nam Mô quan Thế Âm Bồ Tát.
Nhất tâm phụng thỉnh, Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát.
Nhất tâm phụng thỉnh, Nam Mô Tổng Trì Vương Bồ Tát.
Nhất tâm phụng thỉnh, Nam Mô Nhật Quang Bồ Tát, Nguyệt Quang Bồ Tát.
Nhất tâm phụng thỉnh, Nam Mô Bảo Vương Bồ Tát, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát.
Nhất tâm phụng thỉnh, Nam Mô Hoa Nghiêm Bồ Tát, Đại Trang Nghiêm Bồ Tát, Bảo Tạng Bồ Tát.
Nhất tâm phụng thỉnh, Nam Mô Đức Tạng Bồ Tát, Kim Cương Tạng Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát.
Nhất tâm phụng thỉnh, Nam Mô Di Lặc Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.
Nhất tâm phụng thỉnh, Nam Mô thập phương tam thế nhất thiết Bồ Tát.
Nhất tâm phụng thỉnh, Nam Mô Ma Ha Ca Diếp, vô lượng vô số đại Thanh Văn tăng."

"Nhất tâm phụng thỉnh Thiện Trá Phạn Ma Cù Bà Già Thiên Tử, hộ thế Tứ Vương, Thiên Long Bát Bộ, Đồng Mục Thiên Nữ, Hư Không Thần, Giang Hải Thần, Tuyền Nguyên Thần, Hà Chiểu Thần, Dược Thảo Thụ Lâm Thần, Xá Trạch Thần, Thủy Thần, Hỏa Thần, Phong Thần, Thổ Thần, Sơn Thần, Địa Thần, Cung Điện Thần, và thủ hộ pháp trường hết thảy thiên long quỷ thần và các quyến thuộc."

"Kính mong Thích Ca bổn sư, Di Đà từ phụ, Thiên Quang Vương Tĩnh Trụ Như Lai, thập phương tam thế nhất thiết Chư Phật, không rời bản tế, bình đẳng từ bi, mời đến đạo tràng, chứng con làm pháp, quảng đại viên mãn, hiển hiện đạo tràng, nhận con cúng dường. Quan Thế Âm Bồ Tát, với đại nguyện lực, xin đến trước con, thần chú gia trì, tiêu trừ tam nghiệp. Đại Thế Chí Bồ Tát, các vị đại Bồ Tát đẳng cấp Tổng Trì Vương, Ma Ha Ca Diếp các đại Thanh Văn, cùng khởi từ bi, xin mời giáng xuống. Phạn Thích Tứ Vương chư thiên bát bộ, thuận theo thỉnh cầu, giữ vững đạo tràng, ủng hộ Phật tử, đẩy lùi ma chướng, thị hiện cát tường, để con tu hành, không trái ý nguyện."

Phần trên là bài văn phụng thỉnh Tam Bảo Chư Thiên. Nói ra thì cũng rất kì lạ, lúc tôi đang viết bản văn này, tôi vừa viết vừa niệm, nhất tâm phụng thỉnh rất nhiều thần thánh, mũi tôi ngửi thấy mùi đàn hương ùa tới, mùi hương này không phải là hương thơm bình thường, ngẩng đầu lên thì trông thấy một vị Hộ Pháp Kim Giáp Thần đang giáng quang ngay trước mặt tôi. Tôi dùng ý thức để bẩm báo rằng vì viết bản văn này, tôi vừa viết vừa niệm, không ngờ đã làm kinh động đến đại thần giáng quang, thật sự rất áy náy. Đại thần đáp rằng: "Vì ngài viết văn phụng thỉnh Tam Bảo Chư Thiên nên tự nhiên cảm ứng mà đến thôi, chứ không thật sự là có việc gì khác, ngài kính cẩn viết, tôi đến để hộ trì thôi mà." Lúc này, tôi vô cùng sửng sốt, không ngờ viết bản văn này mà lại làm kinh động đến Kim Giáp Thần hạ giáng, đúng là ân cần phụng thỉnh ba lần ắt có cảm ứng giáng xuống.

Văn phụng thỉnh Tam Bảo Chư Thiên không phải là đã có thì không thể thay đổi, mà là có thể thay đổi tùy theo, lấy Phật Bồ Tát chủ đàn của pháp hội mà phụng thỉnh. Ví dụ trong bản văn này là lấy Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát làm chủ, như thế tự nhiên Quan Thế Âm Bồ Tát sẽ là đứng đầu tất cả các vị Bồ Tát. Thuận theo sự thay đổi tự nhiên của vị trí mà liệt kê kể tên các vị Phật Bồ Tát có quan hệ lẫn nhau, các vị tiếp theo thì có thể dùng tên gọi chung là được.

Trong quá khứ, tôi từng nhận lời mời đến Lâm Biên ở miền nam để tham gia một pháp hội long trọng. Pháp hội này mặc dù hình thức là Phật môn, những kinh điển được tụng là bảo điển Đại thừa, nhưng người chủ sự của việc tụng kinh được mời đến lại không phải tăng, không phải đạo, không phải tục, cũng không biết là người của phái nào tông nào. Người đó đọc văn phụng thỉnh Tam Bảo Chư Thiên thứ tự trước sau đảo lộn hết cả, ngay cả một số Nho sĩ lớn thời đầu nhà Thanh như Đình Lâm, Thuyền Sơn, Lê Châu cũng được kể tên. Phật môn bị nhập vào trong Nho học, chư Phật Bồ Tát lại được kể tên sau, trở thành đứng tên sau cùng. Đặc biệt là trong sớ văn chỉ nhắc đến tri thức và lòng nhân từ, sự trung thực, thẳng thắn theo đuổi thái độ khoa học, dường như là không có bằng chứng thì không tin, trở thành khoa học hóa tôn giáo.

Cuối cùng, văn phụng thỉnh Tam Bảo Chư Thiên đã trở thành văn phụng thỉnh linh hồn của các Nho sĩ, kéo cả một đám ma quỷ chướng khí mù mịt, có quỷ răng nanh chìa ra ngoài, có quỷ thì đầu to chân nhỏ, có quỷ thì một sừng nhiều sừng, có quỷ thì lưỡi dài quét đất, có quỷ thì nhiều tay nhiều chân, có quỷ thì kì hình dị thú. Trong lòng tôi vô cùng đau xót, văn phụng thỉnh Tam Bảo Chư Thiên này vốn rất có hệ thống và trang nghiêm, là cơ sở kinh nghiệm của Phật môn, phải rõ ràng và có trật tự, như vậy mới có sức mạnh cảm ứng cực lớn, chứ không phải là tùy tiện có thể đổi sang khoa học xã hội hoặc khoa học tự nhiên mới, một cách suy nghĩ mới mà rời xa ý chỉ ban đầu thì tự nhiên sẽ gay go to. Phật Bồ Tát chưa đến, ngược lại lại là yêu ma quỷ quái đến, thế thì sẽ biến thành hiểu biết sai lầm rồi.

Cá nhân tôi đối với học thức của Cố Đình Lâm, Vương Thuyền Sơn, Hoàng Lê Châu thì vô cùng tôn trọng, bởi vì cả đời họ đã hết sức cố gắng đề xướng việc thực học một cách hữu dụng triệt để nhất, cố gắng đẩy lùi cái tệ hại rỗng tuếch của đoạn kết trào lưu Dương Minh Học, khiến cho tư tưởng và văn hóa học thuật cận đại của Trung Quốc nổi lên công dụng khảo chứng. Thế nhưng liệt tên họ trong văn phụng thỉnh Tam Bảo Chư Thiên thì không biết là do khảo chứng của vị đại đức nào đã học theo và phát huy, đã làm ra một thứ ngô không ra ngô, khoai không ra khoai, khiến cho người ta chê trách, bởi vì Phật môn và các nhân vật khảo chứng đặt ngang hàng, đồng thời như thế đã đủ làm tổn hại đến hình tượng của tôn giáo, gây nên nhận thức sai về tín ngưỡng. Cần phải được làm sáng tỏ thêm về điều này.

Hiện nay, tri tính đang phát triển quá mức, nguy cơ mà văn hóa trọng tính tri thức đang đối mặt chính là sự uy hiếp lớn đối với nhân loại, hậu quả bất công này, con quái vật mà khoa học đã tạo ra - "bom hạt nhân", đã dần dần thoát khỏi sự kiếm soát của con người và quay ngược lại thôn tính nhân loại. Tôi cảm thấy tâm linh của nhân loại cần phải cởi mở, giá trị quan của tôn giáo cần được đề cao, Phật học trong văn hóa cần phải được phát triển cân đối, như vậy mới có thể khiến cho văn hóa nhân loại càng phong phú hơn. Không thể mở ra cánh cửa tri thức nhưng lại đóng mất cánh cửa học Phật được.


### 33. Công đức trì chú


Chú Đại Bi của Phật môn có nhiều tên gọi, ví dụ như "Quảng đại viên mãn", "Vô ngại đại bi", "Cứu khổ đà la ni", "Diên thọ đà la ni", "Diệt ác thú đà la ni", "Phá ác nghiệp chướng đà la ni", "Mãn nguyện đà la ni", "Tùy tâm tự tại đà la ni", "Tốc siêu thượng địa đà la ni". Chú Đại Bi được lưu truyền rộng rãi nhất, người thọ trì cũng nhiều nhất, linh cảm rộng lớn và sự bất khả tư nghì của câu chú này cũng rất vĩ đại.

Còn người trì chú, trước tiên phải coi trọng sự phát tâm, phát tâm sẽ trở thành nguyện vọng. Phát tâm quan trọng nhất chính là chúng ta phải đạt được huệ nhãn viên tịnh, trước tiên phải độ tất cả chúng sinh trầm luân, hơn nữa, độ chúng sinh không sinh ra sai lầm. Chúng ta càng cần hiểu rằng, mặc dù Phật môn có vạn vạn pháp, nhưng không nằm ngoài ba phần cốt yếu, đầu tiên là cầu trí huệ bát nhã thật sự, sau khi thành tựu trí huệ rồi thì lại vượt qua biển khổ sinh tử, đắc xuất thế thượng thượng giới định, cuối cùng mới xem là thành công, nhập vào tam đức niết bàn.

Hơn nữa, người trì chú, tất cả hành vi phải phù hợp, một là Quán cảnh giới bất tư nghì, hai là Phát bồ đề tâm, ba là Xảo an chỉ quán, bốn là Phá pháp biến, năm là Thức thông tắc, sáu là Điều thích đạo phẩm, bảy là Đối trị trợ khai, tám là Tri thứ vị, chín là Năng an nhẫn, mười là Ly thuận đạo pháp ái.

[ ND: Ở đây Tôn sư đang nói đến Thập thừa quán pháp:

1. Quán bất tư nghì cảnh: quán xét về cảnh không thể nghĩ bàn. Tức là quán trong một niệm tâm mà phàm phu khởi lên hàng ngày có đủ tất cả những gì của đời sống con người, tam đế nhất thể hóa lẫn nhau, là cảnh giới mầu nhiệm không thể nghĩ bàn.

1. Phát bồ đề tâm: khi hành giả nương vào sơ quán mà chưa thành công, thì đổi sang phát tâm bồ đề vô tác, vì cầu bồ đề cứu độ chúng sinh mà lập bốn thệ nguyện lớn.

1. Xảo an chỉ quán: khéo dùng chỉ quán làm cho tâm an trụ nơi bản tính chân thực.

1. Phá pháp biến: phá khắp các pháp, tức trừ diệt tâm chấp trước nơi tất cả các pháp.

1. Thức thông tắc: biết chỗ thông suốt, chỗ bít lấp. Tức là có khả năng quán biết rõ chỗ thông suốt, chỗ bít lấp, phân biệt rõ chỗ ưu, khuyết của tình thức.

1. Đạo phẩm điều thích: điều hòa việc tu đạo cho thích hợp. Tức quán xét 37 đạo phẩm để tùy theo tính chất năng lực của hành giả mà tu cho thích hợp.

1. Đối trị trợ khai: diệt trừ các chướng ngại để giúp cho việc tu đạo. Tức tu các thiện pháp thấp, gần gũi và cụ thể để giúp thêm cho việc tu đạo, tức mở ra Tam giải thoát môn để đối trị chướng ngại.

1. Tri thứ vị: biết thứ bậc. Tức không khởi tâm ngã mạn tự cho đã chứng tính vị, mà phải biết rõ giai vị tu hành của mình, nghĩa là khéo phân biệt và ý thức được sự tu chứng của mình đã tới đâu.

1. Năng an nhẫn: có khả năng chịu đựng. Tức đối với các chướng ngại bên trong cũng như bên ngoài, tâm không dao động, nhưng chịu đựng để thành tựu Phật sự.

1. Ly pháp ái: không mê đắm pháp. Tức diệt trừ tâm bám dính vào pháp chẳng phải là bồ đề đích thực để tiến vào bồ đề vị chân chính. ]

Tu Phật trì chú, kì thực là cần nhanh biết tất cả đạo pháp, có thể đạt được nhiều sự quán sát trí huệ để tiện lợi độ tất cả chúng sinh, bản thân có thể lên được thuyền pháp, vượt qua biển khổ sinh tử rồi từ giới đạt đến chân đế của định, vĩnh viễn nhập vào vô sinh niết bàn, khiến cho nhân tính của bản thân trở thành pháp tính, vĩnh viễn không chịu sự hạn chế của thời gian không gian, trở thành Quán tự tại vĩnh viễn tự tại.

Trì chú có thể có được đại công đức như vậy, bởi vì chú Đại Bi là do chư Phật nhiều như cát của chín mươi chín ức sông Hằng đã nói, để cho tất cả những người tu hành chưa viên mãn nhanh chóng được viên mãn, để cho những người chưa phát bồ đề tâm có thể nhanh chóng phát tâm, người chưa đắc ấn chứng nhanh chóng đắc ấn chứng, hơn nữa:
Người trì chú là Phật tương lai, xưng hiệu là Phật Thân Tạng, được chín mươi chín ức chư Phật tâm che chở bảo bọc.
Người trì chú là Quang Minh Tạng, tất cả ánh sáng của Như lai sẽ chiếu khắp lên họ.
Người trì chú là Từ Bi Tạng, vì chú lực tức là từ bi cứu khổ.
Người trì chú là Diệu Pháp Tạng, bởi vì bản thân chú lực chính là một loại pháp vi diệu.
Người trì chú là Thiền Định Tạng, bởi vì trong chú lực có ẩn tàng pháp vị tam muội.
Người trì chú là Hư Không Tạng, bởi vì thường dựa vào trí huệ tính Không mà quán sát chúng sinh. Người trì chú là Diệu Ngữ Tạng, bởi vì trì chú tức là ngôn ngữ vi diệu.
Người trì chú là Thường Trụ Tạng, tam tai bát nạn đều được tiêu trừ hết.
Người trì chú là Giải Thoát Tạng, thiên ma ngoại đạo đều không thể làm hại.
Người trì chú là Dược Vương Tạng, bởi vì chú lực có thể chữa bệnh của chúng sinh.
Người trì chú là Thần Thông Tạng, bởi vì có thể thần túc du hành đến mọi Phật quốc.

Tác giả trì chú, thời gian mặc dù không dài, nhưng cũng có lịch sử trên mười năm. Bốn năm trước, có một lần tôi trì chú cũng phát sinh kì tích. Tôi thường tu trì chú Đại Bi, tôi cũng thường niệm mười tiểu chú, chú Nhất tự kim luân và chú Biến tịnh thổ của Mật giáo tôi cũng thường xuyên tu trì. Ngày hôm đó, tôi ở Phật đường tại nhà mình, an tịnh lễ chư Phật Bồ Tát xong, tôi chắp tay ngồi yên, bắt đầu trì chú Đại Bi. Sau khi trì niệm bảy biến, tôi lại niệm chú Nhất tự kim luân. Sau đó, giống như cơn đại địa chấn, một tiếng sét vang lên, thân tâm của tôi từ từ biến thành hư không, cảm giác này là bản thân mình đã quên mất thân tâm của mình ở đâu. Sau đó, tôi đã trải qua một khoảng thời gian không biết là bao lâu, trong miệng vẫn còn niệm Nhất tự kim luân, trong tai vẫn nghe mật ngôn, nhưng vừa mở mắt ra thì lập tức có chút giật mình hoảng hốt, bởi vì ngay trước mắt tôi chính là Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật đang ngồi trên kim cương tọa.

Pháp thân Phật Tổ cao lớn tới tận mây, có mây cát tường che phía trên, toàn thân có kim quang tỏa ra từ các lỗ chân lông, pháp tướng trang nghiêm phi thường. Xung quanh Phật Tổ có Long Thiên Hộ Pháp, trong số đó tôi nhận ra rất rõ ràng là Diệu Âm Bồ Tát, Diệu Âm Bồ Tát này chính là vị Đại Bồ Tát thường xuyên hiển hiện để dạy tôi âm chuẩn của chú ngữ. Ngoài ra, trong không trung đầy ắp các thiên thần âm nhạc biết bay, ngồi phía trước đầy kín tất cả các Bồ Tát Thanh Văn, còn tôi thì đang quỳ ở phía trước Phật Tổ. Khi ấy, trong lòng tôi nghĩ, tôi vốn đang ngồi tại Phật đường trong nhà mình cơ mà, sao đột nhiên lại đến được Phật quốc nơi Phật Tổ đang cư trú chứ?

Phật Thích Ca Mâu Ni khẽ mỉm cười, phát ra pháp âm rằng:
"Chân không pháp tính như hư không.
Thường trụ pháp bảo khó nghĩ bàn.
Thân ảnh hiện lên trước pháp bảo.
Nhất tâm như pháp quy mệnh lễ."

Thế là, trong lòng tôi sung sướng không sao tả xiết, sự hưng phấn trong tâm không có lời nào nói hết. Tôi lễ Phật tám lạy, nhiễu quanh Phật ba vòng, tất cả đều làm một cách trang nghiêm cung kính. Làm xong, tôi lại quỳ trước Phật, Phật Thích Ca Mâu Ni lại phát ra pháp âm rằng:
"Năng lễ cần lễ tính không tịch.
Cảm ứng đạo giao khó nghĩ bàn.
Pháp vị của ta như ngọc đế.
Bên trong chú pháp đã hiện hình."

Thế là, tôi lại chắp tay đặt trước ngực, hướng về Phật Tổ lạy ba lạy. Thoáng một cái, tất cả đều biến mất, tôi lại ngồi ở trước Phật đường tại nhà mình. Khi ấy, nội tâm tôi trầm ngâm suy nghĩ, đó là sự khích lệ và gợi ý của Phật Tổ dành cho tôi. Bởi vì bốn năm trước, tôi đã phải chịu rất rất nhiều sự phỉ báng và khổ nạn, không chỉ có tà ma ngoại đạo muốn "ăn thịt" tôi, mà ngay cả trong Phật môn, những tu sĩ mà tôi có lòng trân trọng cũng khăng khăng bài trừ tôi, có thể nói tôi đã trở thành cái bia để mọi người bắn tên. Bất kể là họ dùng ngôn từ hay văn chương thì đều là kiểu ghét cay ghét đắng đến mức nghiến răng nghiến lợi, muốn đẩy tôi đến chỗ chết, thậm chí có đại mục sư Chu cũng nói, Lư Thắng Ngạn là đại sứ giả ma quỷ do quỷ Sa Tăng phái đến. Phật môn thì quở trách tôi là tà môn ngoại đạo, thuật sĩ giang hồ thì lại càng chửi bới một cách thiếu suy nghĩ, còn phần tử tri thức thì nói tôi là cách mạng tôn giáo.

Thật ra, việc tôi muốn truyền bá linh học của tôi chẳng hề có suy nghĩ trù tính gì cả, không phải vì danh, cũng không phải vì lợi. Rõ ràng là mạo phạm khiến nhiều người tức giận chứ nào có được cái danh gì? Tôi đóng cửa từ chối tiếp khách, đi thật xa ra nước ngoài, nào có được cái lợi gì? Tôi thuần túy chỉ biểu lộ rõ ràng những giải thích về chính nghĩa, chỉ rõ về xuất thế, nói chuyện nhân quả, giảng giải chân lý, kể về bản tính mà thôi, cũng tức là: "Chúng sinh vô biên thề nguyện độ, phiền não vô số thề nguyện đoạn, pháp môn vô tận thề nguyện học, Phật đạo vô thượng thề nguyện thành."

Tôi mong các học trò của tôi đều có thể niệm, có thể thuộc lòng thần chú Đại Bi viên mãn, bởi vì có thể diệt trừ rất nhiều tội chướng. Vì thế, chí tâm trì tụng, công đức vô tận. Pháp môn trì chú nhìn có vẻ đơn giản, nhưng thật ra cũng không phải dễ đâu. Trước tiên cần phải có lòng kiên trì, ngày ngày trì tụng không gián đoạn, cả đời cả kiếp không gián đoạn, ngữ âm của chú ngữ phải chính xác, phải có pháp sư cao minh hướng dẫn. Trì chú phải phát nguyện, bởi vì có nguyện lực rồi thì mới có công hạnh, hai cái này là nhân quả với nhau.


### 34. Pháp sám hối và pháp thanh tịnh


Tôi từng có một cơ duyên gặp mặt Hoạt Phật của Tây Tạng là ngài Dalai Lama. Tôi tỉ mỉ quan sát tướng mặt và lời nói, cử chỉ của ngài ấy. Tai của ngài mỏng và không có thịt, không có lỗ tai, mũi hẹp và nhọn, đeo mắt kính, khi nói chuyện thì có thói quen dùng tay đỡ cho mắt kính ở chính giữa, hơn nữa khi giảng đạo thì thân thể ngài hơi đung đưa sang hai bên, nói tiếng Anh rất chậm rãi, vai phải để lộ ra bên ngoài áo cà sa màu đỏ. Tôi chú ý bả vai ngài, mặc dù dày và đầy đặn nhưng rất rõ ràng là ở trên vai có dấu hiệu của bệnh ngoài da. Ngài Dalai Lama dùng vải đỏ để bọc kinh điển lại, khi giảng pháp thì cởi tấm vải đỏ ra, kinh điển chỉ là những tờ giấy, trên đó in đầy chữ Phạn.

Tôi chỉ nhớ Hoạt Phật Tây Tạng Dalai Lama nhắc đi nhắc lại rằng: "Phải sám hối, sám hối là pháp tu trì số một, sám hối là pháp thanh tịnh." Dalai Lama giảng rất nhiều, nhưng tôi chỉ nhớ một câu này.

Còn nhớ khi tôi sống tại ngôi nhà của tôi ở phường Tân Quang, quận Thái Bình, thành phố Đài Trung, Đài Loan, hàng xóm của tôi là Ấn Thuận Đạo Sư, và bên phải còn có một ngôi chùa gọi là Viện Sám Hối, trụ trì là một ni sư xuất gia. Từng có người bạn hỏi tôi:
"Trụ trì đó nhất định là trong quá khứ đã mắc sai lầm, bây giờ mới xuất gia sám hối nhỉ?"
"Không đúng."
"Vì sao không đúng?"
"Nghiệp mà Phật môn nói đến có nghiệp tạo ra trong kiếp quá khứ, hàm chứa rất rộng rất lớn, sám hối nghiệp tội không nhất định là phải có lỗi mới sám hối, mà là sám hối những lỗi lầm đã phạm phải trong kiếp quá khứ, vì nay đã hiểu rõ Phật lý nên mới muốn lần lượt sám hối tất cả."
"Những gì đã làm trong quá khứ chúng ta cũng không biết mà."
"Chính vì không biết nên sợ rằng chúng ta đã gây ra rồi, cho nên mới cần tu sám hối đó."

Thật ra, chúng ta có thể thử nghĩ mà xem, một đời một kiếp, có việc gì là không sai, Thánh hiền còn có những việc làm sai, có những lúc nói sai, huống hồ là phàm phu này nọ. Nếu mỗi người tự vấn tâm mình, trong thiên hạ, liệu có ai dám tự xưng rằng từng lời nói việc làm suy nghĩ đều hoàn toàn không có sai lầm? Vì thế, tu pháp sám hối chính là pháp số một để thanh tịnh nghiệp chướng. Đó cũng là vì sao trong kinh điển Phật giáo có bái Thủy Sám, bái Lương Hoàng Sám.

Tôi tĩnh tọa trong thiền định. Tôi từng quan sát rất tỉ mỉ ý nghĩ của con người, phát hiện ra mỗi khi con người nảy ra ý nghĩ thì trên đỉnh đầu liền bay lên một thứ gần giống như là "khối bọt khí", ý nghĩ mà phóng khoáng thì bọt khí sẽ to, ý nghĩ hẹp hòi thì bọt khí nhỏ; ý nghĩ bất định thì bọt khí sẽ vỡ, ý nghĩ mà định thì bọt khí sẽ bay lên; ý nghĩ tốt thì bọt khí giống như là ánh sáng, ý nghĩ xấu thì bọt khí sẽ có chất bẩn. Một số người tạp niệm quá nhiều, trên đỉnh đầu trôi nổi rất rất nhiều bọt khí nhỏ, người tu hành đắc đạo thì bọt khí ít, cho dù có bọt khí thì cũng là khí sáng và sạch. Đây chính là luận "bọt khí" mà tôi phát hiện ra.

Thêm nữa, ý nghĩ xấu càng đến càng nhiều thì những bọt khí chứa tạp chất cũng càng nhiều, khi ấy trên đỉnh đầu sẽ xuất hiện một đám khí đen. Còn người tốt thì nhiều ý nghĩ thiện, người tu trì rất tốt thì trên đỉnh đầu có một đám khí trắng, trở thành sự đối lập với đám khí đen. Khí đen bao trùm đỉnh đầu thì trong nhân quả báo ứng chắc chắn sẽ gặp quả xấu, khí trắng bao trùm đỉnh đầu thì trong nhân quả báo ứng chắc chắn sẽ có điều lành đáng chúc mừng, khí trắng càng tăng cường thì sẽ thành những vòng tròn ánh sáng như trên đỉnh đầu của Phật Bồ Tát. Vì thế, người tu hành tuyệt đối không thể tạo ác nghiệp. Không chỉ như vậy, người bình thường cũng cần phải có lựa chọn đúng đắn giữa tà và chính trong suy nghĩ của mình, sự khác biệt chỉ nằm trong một ý nghĩ này vô cùng quan trọng.

Phật môn vốn có văn đại sám hối như sau:
"Con và chúng sinh.
Vô thủy đến nay.
Vì do ái kiến.
Tính toán trong lòng.
Lại thêm bạn xấu.
Không biết tùy hỉ.
Một chút điều thiện.
Khắp cả tam nghiệp.
Tạo bao tội chướng.
Dù việc không lớn.
Tâm ác khắp nơi.
Ngày đêm liên tục.
Chẳng hề dừng dứt.
Che giấu lỗi lầm.
Không muốn ai biết.
Không sợ ác đạo.
Không thấy hổ thẹn.
Gạt bỏ nhân quả.
Đủ mọi loại tội.
Đều đã gây ra.
Thập ác ngũ nghịch.
Phỉ báng pháp, người.
Phá giới chay tịnh.
Phá hoại tháp chùa.
Trộm đồ của tăng.
Làm bẩn phạm hạnh.
Quấy nhiễu nơi ở.
Thức ăn của cải.
Nghìn Phật xuất thế.
Mà không sám hối.
Tội lỗi như vậy.
Vô lượng vô biên.
Vì thế hôm nay.
Tin tưởng nhân quả.
Mà thấy hổ thẹn.
Đã biết sợ hãi.
Phát lộ sám hối.
Đoạn tâm tương tục.
Phát tâm bồ đề.
Đoạn ác tu thiện.
Chăm ngẫm tam nghiệp.
Một chút điều thiện.
Niệm thập phương Phật.
Có đại phúc huệ.
Có thể cứu con.
Tu chân ngôn hành.
Cùng các chúng sinh.
Phát lộ trọng tội.
Cầu xin sám hối.
Mở ra kiến tri.
Chế ngự ngoại ma.
Tam nghiệp tinh tấn.
Tu nhân tịnh thổ.
Bỏ cả thân này.
Không còn hứng thú.
Quyết định đắc sinh.
A Di Đà Phật.
Cực Lạc thế giới."

Người tu sám hối niệm văn sám hối này, nếu thật tâm sám hối, tự nhiên sẽ sản sinh ra sức mạnh sám hối, có thể diệt trừ những tội chướng, nhưng nếu người sám hối chỉ làm hình thức lễ tiết vô nghĩa, thể hiện công phu bề ngoài, thì dù sám hối nghìn lần vạn lần cũng không có chút tác dụng gì.

Tác giả được ân sư chỉ dạy, biết được một pháp rất hay, nếu người thật sự sám hối muốn cầu thân tâm thanh tịnh, phải lấy một cái gương mới, ở trước gương niệm 21 biến chú Đại Bi đà la ni, sau đó dùng ngón tay tâm linh sắc nhiếp thanh tịnh. Chọn ngày mồng bảy âm lịch hàng tháng, dùng gương chiếu vào thân của người sám hối, chiếu vào đầu và tim ba lần, niệm: "Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát, thiên thủ hộ trì, thiên nhãn chiếu kiến, lệnh sám hối giả nội ngoại chướng duyên tịch diệt, tự tha hạnh nguyện viên thành."

Đối với người sắp chết, phương pháp này có công lực đặc biệt, bởi vì người có ác duyên phải đọa tam ác đạo, có thể nhờ pháp này mà được sinh vào cõi người; bởi vì người có thiện ác tương đương phải sinh vào cõi người có thể nhờ pháp này mà sinh vào cõi trời, pháp thanh tịnh này kì diệu không lời nào kể xiết.  Nếu người chết không gặp đúng ngày mồng bảy âm lịch thì có thể chọn ngày mồng một, ngày mồng bảy, ngày mười bốn, ngày hai mốt, ngày hai tám đều được, nhưng tốt nhất vẫn là ngày mồng bảy.

Phương pháp này không chỉ là pháp thanh tịnh, mà còn là diệu pháp chữa những bệnh do nhân quả. Từng có một người toàn thân không có chút sức lực, hoa mắt chóng mặt, lúc lạnh lúc nóng, đi khám tây y nhưng không tìm ra nguyên nhân, đi khám đông y nhưng uống trăm loại thuốc đều vô hiệu, đã khám bao nhiêu bác sĩ nhưng ai nấy đều bó tay. Cuối cùng anh ta tìm đến tôi, tôi vừa nhìn thì hóa ra có một linh hồn bà lão nhập trên người anh. Thế là tôi dùng pháp thanh tịnh ấn ở đầu và tim anh ta ba cái, đột nhiên anh ta hét lên một tiếng, từ đó về sau anh dần dần bình phục. Niệm chú Đại Bi đà la ni vào trong gương, đem gương này chiếu thì ma sẽ bỏ chạy. Chẳng trách trong kinh Phật có nói: Nếu trong nhà có người mắc bệnh nặng, trăm điều kì quái, quỷ thần tà ma, làm loạn cả nhà. Cần thường xuyên sắp đặt đàn tràng trước tượng  Thiên Thủ Thiên Nhãn Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát, chí tâm niệm Quan Thế Âm Bồ Tát, nếu tụng đủ nghìn biến, thì những chuyện xấu kể trên đều bị tiêu diệt, vĩnh viễn được yên ổn.

Năm xưa, ân sư cũng nói với tôi: "Liên Sinh, con sẽ phải chịu sự phỉ báng ác liệt nhất."
Tôi hỏi: "Làm sao để hóa giải?"
"Con hãy tạc một bức tượng Quan Thế Âm Bồ Tát, vị Bồ Tát hay hai tay chắp lại. Bởi vì Bồ Tát hay tay chắp lại để kính lễ, nên tất cả chúng sinh tất nhiên sẽ luôn cung kính mến yêu."
"Vị Bồ Tát này tên là gì?"
"Chính là Hợp Chưởng Thủ Quan Thế Âm Bồ Tát."

Sau này, đúng như lời của ân sư tôi, tôi đã phải chịu sự phỉ báng khủng khiếp như đào núi lấp biển vô cùng vô tận, nhưng tôi lại không tạc tượng Hợp Chưởng Thủ Quan Thế Âm Bồ Tát. Bởi vì quãng thời gian mà tôi phải chịu phỉ báng rất dài, ban đầu tôi rất buồn, về sau thì tôi thản nhiên tiếp nhận, đây chẳng phải là sự trơ lì, mà là bản thân tôi không hổ thẹn với trời đất chúng sinh. Bất kể như thế nào, tôi đã học được cách nhẫn nhục chịu đựng, cho dù những lời ác khẩu liên tiếp dồn dập tới mức muốn chết, nhưng tôi vẫn không chết, những sự phỉ báng này thì có gì đáng sợ chứ? Trái lại chỉ lãng phí nước bọt và bút mực của người ta thôi, chỉ khiến trong lòng tôi có đôi chút bất an mà thôi. Tôi thường nghĩ, đối với những người trù yểm tôi, tôi nên thỉnh cầu Bồ Tát hóa giải sự oán ghét trong lòng họ, hơn nữa, tôi lại càng muốn cầu xin Bồ Tát ban cho họ một trái tim nhu hòa. Tôi thường niệm "Brum hum", đây là chú ngữ Nhất tự kim luân, hi vọng hóa lời trù yểm thành công đức của tôi.

Khả năng là vì tôi không tạc tượng Hợp Chưởng Thủ Quan Thế Âm Bồ Tát để thờ phụng, cho nên ngoài việc tiếng tăm của tôi nổi lên như cồn thì tự nhiên cũng sẽ phải chịu những tai bay vạ gió. Do đó, tôi khuyên những người nổi tiếng, vào lúc cây to gặp gió to thì cần thờ phụng Hợp Chưởng Thủ Quan Thế Âm Bồ Tát, để tất cả chúng sinh khi nhìn thấy bạn thì đều ngưỡng mộ và cung kính với bạn, sẽ không đố kị bạn hoặc hãm hại bạn, để trong cuộc đời rối ren phức tạp này tránh khỏi phải chịu những tổn thương vô vọng.

Pháp sám hối đòi hỏi lòng chân thành, pháp thanh tịnh cũng đòi hỏi lòng chân thành, đối với sự phỉ báng cần phải biết "tâm bất động", người tu hành phải chịu phỉ báng là chuyện thường gặp, bởi vì nơi nào có người thì sẽ có thị phi đó!


### 35. Quán trí huệ thần thông


Còn nhớ đó là mấy kiếp trước, có Đại Phạm Thiên Vương thỉnh vấn tôi:
"Liên Sinh, vì sao lại tiết lộ pháp thần thông?"
Quan Thế Âm Bồ Tát ở gần đó khen ngợi nói:
"Đó là để thuận tiện lợi ích tất cả chúng sinh."
Tôi nói:
"Thần thông là hữu danh vô thể, vì thế, quán trí huệ thần thông chính là một niệm mà quán được mười, trăm, nghìn cõi giới, diệu pháp nằm ở một niệm, nghìn loại thần thông cũng là như thế, toàn bộ cũng tức là Không."
Quan Thế Âm Bồ Tát lại nói:
"Thần thông chính là tâm quán Không trong tướng mạo của đà la ni. Tướng mạo đà la ni chính là tâm đại từ bi, tâm bình đẳng, tâm vô vi, tâm vô nhiễm, tâm quán không, tâm cung kính, tâm khiêm nhường, tâm vô tạp loạn, tâm vô thượng bồ đề."

Phật môn không nói về duyên cớ của thần thông, bởi vì pháp thần thông không phải là mục tiêu của người tu trì, vì e rằng nói quá thiên lệch về pháp thần thông thì với người có căn cơ cao có thể hiểu được cảnh giới trí huệ đó, nhưng người căn cơ thấp thì sợ hãi hoặc nghi ngờ thần thông, lẫn lộn đầu đuôi, trái lại còn ngăn chặn chính pháp.

Nhưng chúng sinh ngày nay, mặc dù khoa học phát triển, nhưng từ lâu đã quên hẳn việc tu trì, tâm tham sân si đều nặng, động đến thân khẩu ý không gì ngoài danh lợi, tùy nghiệp mà nhận báo ứng, vạn kiếp nghìn sinh. Nếu không hiển thị thần thông thì không có cách nào xoay chuyển nhân tâm thói đời, nếu không dựa vào phương pháp thần thông thì sao có thể khiến họ lập tức tỉnh ngộ. Có pháp thần thông rồi mà thế nhân vẫn còn lúc thấy lúc quên, không có pháp thần thông thì thành quả cứu độ chúng sinh cũng tương đương với con số 0.

Người có thần thông, con mắt có công dụng chiếu sáng, trên có thể nhìn thấy ba mươi ba cõi trời của mười phương pháp giới, dưới có thể nhìn thấy âm ti địa ngục tam ác đạo, con mắt thần thông này cũng chỉ trong một ý nghĩ là có thể chiếu hiện. Còn tay có thể thành tựu tất cả diệu pháp, có sức mạnh đề bạt, có thể cứu độ tất cả chúng sinh, bàn tay thần thông này cũng chỉ trong một ý nghĩ là có thể chiếu hiện. Còn tai, có thể nghe tiếng kêu cứu khổ, lời nói bí mật cũng biết, lời nói rõ ràng cũng biết, đại pháp diệu pháp đều có thể nghe hiểu, và cũng chỉ trong một ý nghĩ là biết hết. Tâm niệm không rời xa trí huệ, có trí huệ chân thực, thông hiểu mọi cảm nhận. Còn người túc mệnh thì tâm hiện lên cảnh giới trí huệ, giống như bước vào ngôi nhà nhỏ, lần lượt từng cánh cửa đều được mở ra, quá khứ tương lai không có gì là không thể biết. Nếu muốn thần túc, có thể tu quán, chỉ cần ngồi thẳng suy nghĩ, nhập vào nguyên thần vi diệu là tự có thể chu du khắp tam muội, những cảnh giới thần kì đều có hình thể chân thực hiện lên, tất cả đều là thật.

Đối với người có thần thông thì duy có lậu tận thông là tương đối khó! Phải chuyên nhất chỉ quán an trụ trong pháp tính, khiến cho sự vắng lặng và chiếu soi đều hòa tan vào nhau, gọi là tâm bình đẳng, nếu cái trí huệ chưa hiển hiện do ba thứ mê hoặc che phủ, thì phải quán chiếu bản tính Không của thứ mê hoặc này, pháp tính vốn tịnh, không thể bị phá hỏng, gọi là tâm vô vi. Như thế thì trí huệ sẽ do tâm sinh ra, sản sinh ra trí huệ thần thông, tức  có thể gọi là vô ngại, mà đã vô ngại thì cũng tức là trí huệ không rò rỉ nữa. Ban đầu tu tướng, sau đó tu vô tướng, vượt ra khỏi tướng và vô tướng thì tự sẽ đắc lậu tận, đây chính là lậu tận thông.

Người thực sự đắc được sáu đại thần thông thì đã siêu phàm nhập Thánh rồi, không phải thường xuyên ngồi thiền định, cũng không thường xuyên làm pháp bát nhã, càng không phải cùng tiến hành công - hạnh, mà lúc này là tùy theo ý của mình mà tam muội. Tùy theo ý của mình mà tam muội nghĩa là không làm không ngồi, trải qua thiện ác cũng không ghi nhớ, không có nhân không có quả, phá vỡ nhân quả.

Tác giả nghiên cứu pháp khởi linh đã nhiều năm, hoàn toàn ý thức được rằng linh động là do thực thể siêu phàm, nhưng khéo vận dụng tinh thần thì tự mình có thể kiểm soát được, đến cuối cùng khi đạo hạnh đã sâu rồi thì linh động cũng có thể do tự mình, sự vận dụng khéo léo tâm thần của mình đều do tự mình khống chế. Phương thức cảm ứng đạo giao này là đầu tiên để cho "tha động", sau đó là "tự động". Mượn cảm ứng để củng cố tín tâm của người tu hành, cũng có nghĩa là trước tiên cho họ tín tâm trước, sau đó thúc đẩy năng lực tu trì. Theo cách này, pháp môn Linh Tiên Chân Phật Tông không thể không thị hiện sức mạnh cảm ứng thần thông ngay từ lúc bắt đầu, tiếp đó là biết được định số của quá khứ tương lai, ấn chứng diệu pháp tha tâm thông, rồi sau đó nhờ phối hợp với cảm ứng của cá nhân mà khiến chúng sinh có được Phật pháp gần gũi. Chúng sinh ngày nay rất nhiều phiền não, bệnh tật đeo bám, gia đình bất hòa, nghèo khổ chồng chất, cản trở đạo lộ tu hành. Vì thế, tôi ứng dụng pháp cảm ứng khởi linh để trừ bỏ vô minh của chúng sinh, trị ác bệnh của chúng sinh, tăng thêm ích lợi cho chúng sinh, hòa hợp tình cảm gia đình, độ chúng sinh như vậy, chúng sinh đều cam tâm tình nguyện hành trì, khiến người người đều thoát khỏi khổ luân, cùng đến được trí địa.

Trong kinh Phật có ghi chép, khi Phật Thích Ca Mâu Ni diễn giảng đại pháp, nếu không phải là do Phật bí mật phóng thần thông, thì là các vị đại Bồ Tát bí mật phóng thần thông, thế nên ánh sáng thần thông chiếu sáng khắp thập phương sát thổ, tam thiên đại thiên thế giới đều được ánh sáng phổ chiếu, toàn bộ đều trở thành thế giới màu vàng kim, thậm chí trên tới tận thiên cung, dưới tới long cung trong biển, cung điện của các vị thần đều chấn động, sông, hồ, biển lớn, núi Thiết Vi, núi Tu Di, thổ sơn, hắc sơn cũng đều chấn động lớn, ánh sáng của mặt trời mặt trăng và các vì sao đều biến mất. Và rồi trong đó có Bồ Tát thấy cảnh tượng hi hữu này, kì lạ chưa từng có, nhất định sẽ từ chỗ ngồi mà đứng dậy, hỏi Phật, những cảnh tướng thần thông này là do nguyên nhân gì.

Lấy kinh Phật để xem xét, lấy Phật Thích Ca Mâu Ni làm ví dụ, đây là một điểm cực kì đặc biệt của Phật điển, đâu đâu cũng chứng minh sự trông ngóng mỗi khi Phật Tổ diễn pháp, cũng có thể xem như là phần mào đầu. Vì thế, cảm giác của tôi là, bản thân Phật Tổ đã dùng thần thông làm phần mào đầu cho mỗi lần giảng pháp, điều này có thể thu hút được sức chú ý của người nghe, phương pháp này của Phật có lẽ là rất hữu ích, có công dụng của tính chất giáo hóa, có thể nhờ thần thông mượn cảnh tượng để tạo nên sức hấp dẫn ngay từ đầu cho việc thuyết giảng. Tôi không ngừng thường xuyên soi chiếu Phật điển, thường xuyên tự kiểm điểm bản thân, tôi sâu sắc cảm thấy cách làm của tôi không hề xa rời sự chí lí của Phật môn, bản thân đã hết lòng hết sức cam chịu mọi việc. Tôi lương thiện và lại còn phụng sự việc công, thế mà vì sao lại gây nên sự rối loạn và phê phán của giới tôn giáo chứ? Tôi cảm thấy thời kì dùng thần thông thiết lập tôn giáo dường như đã đến rồi, vì muốn chúng sinh lựa chọn thiện ác được mất để làm sự khuyên răn, Phật môn nên mở rộng cánh cửa phương tiện, thương xót lấy thiên hạ, thương xót cho vạn vật không có nơi sinh dưỡng. Pháp môn cảm ứng thần thông liệu có đúng thời gian đúng địa điểm hay không, liệu có giá trị kế thừa và phát triển hay không, là điều đáng để các đại đức Phật môn nghiên cứu bàn bạc, thần thông là một sự biểu hiện hình thái thời đại tương đối nổi bật.

Thật ra, Phật môn Mật giáo nhất định sẽ là vận mệnh hưng thịnh của tương lai, bởi vì khí thế của Mật giáo mang theo tư tưởng thần thông biến động bất ngờ và pháp thuật kì diệu, người lập ra giáo pháp này không né tránh kị húy nói đến thần thông, có một cách xử thế ứng thế hào hùng, kiêm hình tượng xót trời thương dân, sau này rất có khả năng sẽ kế thừa địa vị của Hiển giáo. Vì tôi có thể tiên tri tiên giác, và thực tế là người đầu tiên đề xướng cách thuyết pháp này, nên tự nhiên lại mạo phạm vào đại kị, khiến người ta nghiến răng nghiến lợi, muốn giết muốn hại. Nhưng tôi thì vẫn luôn dửng dưng, có một kiểu tinh thần là coi truyền thống lo lắng cho thiên hạ là trách nhiệm của mình, quả thật là người buồn vui vì đời, cũng là cái chí của quân tử. Trong tương lai, ý thức thần thông sẽ là phong cách cứu độ chúng sinh của Phật môn.


### 36. Trên đầu hóa Phật thủ


Trong những trải nghiệm kì quái của tôi, có một chuyện cũng vô cùng đặc biệt, đó là khi tôi đọc thấy Phật đích thân sờ đầu thọ kí cho người tu trì, tôi thực sự thấy vô cùng cảm động, cảm thấy việc này thật sự quá ư vĩ đại. Trong cảm giác về sự vĩ đại đó, tôi còn có niềm ước ao, đương nhiên rồi, một cách rất tự nhiên tôi cũng hi vọng bản thân mình có thể tu được đến khi chư Phật mười phương thấy tôi tinh tấn như vậy mà cảm động, và cũng đích thân hiển hiện sờ đầu thọ kí cho tôi.

Tôi cảm thấy việc "thọ kí" cũng tương đương với được Phật Bồ Tát điểm danh vậy, như một sự cổ vũ mà cũng như một sự thành tựu, có thể được chư Phật đích thân đến sờ đầu thọ kí thì đương nhiên bồ đề tâm sẽ không thối chuyển, tương lai đời đời kiếp kiếp không ở trong thai tạng, đời đời kiếp kiếp không rời xa chư Phật, thật là vinh quang biết bao!

Trải nghiệm sờ đầu thọ kí của tôi là như thế này. Có một lần, tôi nhập vào đại định kim cang tam muội, trong định xuất hiện một đóa hoa sen, hoa sen này trôi theo dòng dòng suối mà đến, bông hoa xoay tròn trôi theo dòng suối, lúc chậm lúc nhanh, có lúc thì trôi lướt như tên bắn, có lúc thì như thi nhân một mình nhẩn nha dạo bước. Đóa hoa sen đó là hư ảo, lúc ấy tôi có một ý nghĩ, đóa hoa này từ đâu mà đến, hoa đi tới nơi nào, lẽ nào chẳng đến từ đâu, chẳng đi về đâu, cuộc hành trình trước mắt vốn dĩ mịt mù chẳng thể đoán biết.

Không lâu sau, nước suối chảy vào một cái hồ, có một mùi thơm đặc biệt phảng phất thấp thoáng đâu đây, giống như một tấm lưới mỏng manh, và trong cái hồ này có rất nhiều hoa sen lộng lẫy xán lạn như gấm thêu, giống như những mảnh vàng đầy kín cả hồ, duyên dáng khác thường. Lúc này, tôi phát hiện thấy trên mỗi đóa hoa sen có một người đang ngồi, còn tôi thì cũng đang ngồi trên đóa hoa sen màu mận tím đang trôi đến theo dòng nước. Lúc này chỉ thấy trong không trung có một đám hoa đang rơi xuống, giống như được bắn tung ra vậy, có đủ các màu đỏ vàng xanh, trong đám hoa có một đài hoa sen lớn rất tráng lệ, ngồi trên đài hoa sen chính là Phật Thích Ca Mâu Ni. Đài hoa sen này bay lên không trung, ở ngay trên nền đám hoa, hình tượng ấy vô cùng nổi bật.

Lúc này một bầu không khí tĩnh lặng trang nghiêm, cao quý và cổ kính bao trùm, một hồ đầy "người hoa", bất kể là tăng đạo, bất kể là dân thường, có thể nói là ai nấy đều ngước nhìn đầy cung kính và ngưỡng mộ. Cái thiền ý ấy vượt lên trên tất cả âm thanh, trong tay của Phật Thích Ca Mâu Ni nâng một vị Hóa Phật, bỗng nhiên không rõ là hữu ý hay vô ý mà nét mặt Phật tươi cười. Lúc này, lòng tôi cũng mông lung và hoang mang, Phật Thích Ca Mâu Ni nói: "Nam Thiệm Bộ Châu có một người tu trì là Liên Sinh, sống với cái tâm chính trực như pháp, linh tiên pháp của người này đã khiến cho chúng sinh phát tâm vô thượng bồ đề, nay ta đặc biệt sờ đầu thọ kí."

Lúc này, Phật Thích Ca Mâu Ni vươn dài cánh tay, một tay xoa lên đầu tôi, tay kia đặt vị Hóa Phật lên trên đỉnh đầu tôi. Khi một cánh tay của Phật sờ đầu tôi, đầu tôi giống như nổ "oàng" một tiếng vang lớn, rồi đầu tôi giống như bắn tung ra, từ trong đầu tôi cũng nhô ra một cánh tay, vị Hóa Phật của Phật Thích Ca Mâu Ni nằm gọn trong cánh tay vươn ra từ trong đầu tôi. Hai tay tôi vốn đang chắp lại, ngồi trên hoa sen màu mận tím, và trên đỉnh đầu có một cánh tay vươn ra, nắm chắc lấy vị Hóa Phật mà Phật Thích Ca Mâu Ni ban cho, hình tượng ấy không bao giờ phai mờ, vĩnh viễn tôi không thể nào quên.
Phật Thích Ca Mâu Ni nói: "Thiện tai! Thiện tai! Đỉnh đầu hóa Phật thủ, bậc thiền định đệ nhất, sờ đầu thọ giới định, sẽ đi về pháp tính."

Tôi cung kính lễ bái Phật Thích Ca Mâu Ni, sau đó xuất ra khỏi đại định kim cương tam muội. Đây chính là trải nghiệm được Phật Thích Ca Mâu Ni sờ đầu thọ kí của tôi, hôm nay tôi viết ra đây mà vẫn còn cảm thấy sự việc vẫn còn vô cùng sống động trong tâm trí tôi. Trên thế giới này có vô cùng nhiều những cao tăng và Hoạt Phật tu trì, và cũng không biết có bao nhiêu cư sĩ cao cấp ẩn cư thoát ly thế tục. Trong con mắt của những cao nhân, trải nghiệm sờ đầu thọ kí của tôi đương nhiên chỉ là ngồi trong giếng mà quan sát mà thôi, trên đầu hóa Phật thủ của tôi là cái gì chứ. Đương nhiên tôi cực kì hi vọng được các cao tăng cao sĩ chỉ điểm, vì cá nhân tôi chỉ là đọc thấy trong kinh Phật nói về sờ đầu thọ kí, thật sự không biết thập phương chư Phật sờ đầu thọ kí cho những người tu trì là pháp sờ đầu như thế nào, chỉ hi vọng rằng những cao tăng cao sĩ đã từng được thập phương chư Phật sờ đầu thọ kí sẽ viết ra những trải nghiệm của bản thân để người bình thường biết được rằng lời của chư Phật thật sự không phải hư giả, có được ấn chứng rồi thì lại càng có thể thúc đẩy tâm tinh tấn tu trì.

Đối với thiền định, tôi có mấy điều tâm đắc, xin kể ra như sau:

Thứ nhất, quá trình phát triển của thiền định là một quá trình sinh trưởng, nó vốn có tính chất riêng của sinh mệnh vô cùng tận, không ngừng tiếp nhận ảnh hưởng của những kiếp trước, nhưng đồng thời cũng không ngừng sáng tạo thêm cái mới, không ngừng rũ bỏ nghiệp chướng, không ngừng tăng trưởng Phật trí, lại cũng không ngừng sản sinh ra những nhân quả mới trên nền nhân quả cũ, trong sự biến hóa đó liên tục tích lũy lại bản tính vững bền. Đó chính là quá trình biến hóa của thiền định, tôi tự cảm thấy cách nói như vậy là vô cùng thích hợp rồi.

Thứ hai, thiền định là sản phẩm kết tinh của hoạt động tâm linh cá nhân, có tính hệ thống đối với sự phát sinh lĩnh ngộ và tiếp nhận ảnh hưởng từ các kiếp quá khứ, là do tự ngã sinh ra và tự chủ, gốc rễ của nó nằm trong ngọn nguồn sinh mạng, liên tục phát triển cho đến sự khai hoa kết quả sau này. Nếu người tu trì chịu phản tỉnh và thành thật thì hoạt động tâm linh sẽ càng ngày càng cao cấp, năng lực tự sinh và tự chủ càng mạnh, sự kết tinh của nó cũng càng ngày càng quý giá. Ví dụ, tác giả đã công khai trải nghiệm "trên đỉnh đầu hóa Phật thủ" trước các độc giả, kinh nghiệm này được viết ra trong sách là rất hiếm, có thể xem như xưa nay chưa từng có, chỉ mong sau này còn có những người khác nữa.

Thứ ba, phương diện phát triển của thiền định rất rộng, sự lĩnh ngộ bên trong của nó rộng lớn như trời đất, trời rộng vô biên, thiền định cũng rộng vô biên như thế. Có một điểm đặc biệt quan trọng, đó là sự phản tỉnh càng tinh vi thì đối với phẩm cách và sinh mệnh của bản thân lại càng có sức mạnh phát tỏa ra, sinh mệnh dẻo dai, ý thức siêu hình càng mạnh. Chúng ta cần phải hướng ra ngoài để hấp thu trí huệ và kinh nghiệm trên phương diện này, chỉ có đạo lý cực kì tinh vi mới có thể khiến bản thân nâng cao lên đến được cảnh giới của Phật Bồ Tát. Ngồi thiền một cách lơ đễnh cẩu thả thì không sản sinh ra được sức mạnh, nếu lĩnh hội nhân sinh không đủ sâu, phương diện phát triển thiền định cũng sẽ rất có hạn.

Thứ tư, bất kể bạn là tăng nhân, cũng xin nghe tôi nói như thế này, có người tu thiện hạnh, có người trì mật chú. Tuy thế, nếu không tu hành thiền định chỉ quán, dĩ nhiên sau này nhân quả vẫn sẽ rất tốt, tướng mạo viên mãn, cầu gì được nấy, có được phúc báo của thiên nhân, nhưng mà, lơ là thiền định tam muội cực quảng đại, cực tinh vi này thì bạn vĩnh viễn vẫn chỉ loanh quanh trong nhân quả họa phúc mà thôi, bạn không có duyên với đại định kim cương tam muội, không có cách nào có được quả vị ở cảnh giới thượng phẩm của Phật Bồ Tát. Giá trị tu hành có sự khác biệt cao thấp giỏi kém, điểm này vô cùng quan trọng.

Thứ năm, càng nhập vào kim cương tam muội nhiều thì sức mạnh tự chủ càng mạnh, đặc tính sẽ càng rõ ràng, sức sống càng bền bỉ dẻo dai. Sự quấy nhiễu đến từ âm ma bên ngoài sẽ càng ngày càng yếu, cho đến mức độ mà âm ma không có cách nào quấy nhiễu được nữa thì thiền định xem như là đã chín muồi rồi. Nghiệp chướng kiếp trước toàn bộ đều đoạn trừ, đến được cảnh giới này đã xem như là siêu phàm nhập Thánh rồi. Ngược lại, tha lực càng mạnh thì lực tự chủ càng yếu, mặc dù có thiền định nhưng nếu bị ma quấy nhiễu thì cũng ngẩn ngơ chẳng hề biết.

Thứ sáu, thiền định tâm linh của con người đại thể bao gồm ba phương diện trí huệ, ý thức, Không quán. Ba nhân tố này trở thành sức mạnh đan xen lẫn nhau, nhưng sự mở rộng của thiền định thì mọi lúc đều chịu ảnh hưởng của môi trường sống thực tế. Vì vậy vì hoàn cảnh sống khác nhau, đối với mỗi loại nhân tố phiền não, kích thích, đau khổ của hoàn cảnh sống phải giảm nhẹ được chúng xuống mức độ thấp nhất, hơn nữa còn phải điều chỉnh cho cân bằng. Đối với mặt thiên lệch thì phải tu chính, nếu sai lệch về mặt ý chí và tình cảm thì cũng phải chú ý cân đối, hoàn cảnh khác nhau, tâm thái khác nhau, cần có người thầy tốt hướng dẫn từng cái mới có thể thành công.

Thứ bảy, muốn thúc đẩy tâm thiền định thì phải sửa cho đúng những chỗ bị thiên lệch, người hướng dẫn phải thuận theo tự nhiên mà dẫn nước vào kênh, giống như Đại Vũ khơi thông trị thủy vậy. phải khơi gợi cho người học thừa nhận giá trị của thiền định, chỉ ra phương pháp chỉ quán của họ đúng hay sai, từ cấp độ của cảnh giới và sự tự nhiên của tâm thái mà có thể nhìn rõ tinh thần của người tu trì.

Thứ tám, cần có niềm tin kiên định vào thắng lợi, có sự tinh tấn bền bỉ,  bởi vì thiền định là trải qua tôi luyện trong sự phấn đấu trường kì một đời một kiếp mà trưởng thành, chứ không phải là một ngày, một tháng hoặc một năm là có thể thành công. Đặc tính của thiền định chính là sự bền lòng, mặc dù huệ căn của mỗi người đều có sự khác biệt không giống nhau, nhưng có tâm bền bỉ là yếu tố cơ bản của thành công. Nếu thành công, lúc đó năng lực lĩnh ngộ sẽ cực kì đáng kinh ngạc, có thể khắc phục được hoàn cảnh khó khăn. Lúc đó hoàn cảnh khó khăn không có cách nào trói buộc được hành giả thiền định, vì thế cho dù là hổ dữ có đứng trước mặt thì tâm hành giả thiền định vẫn hiện lên ánh sáng cát tường, cũng có thể hóa hung ác thành tốt lành, khiến hổ dữ khuất phục mà rời đi.

Thứ chín, bởi thiền định là do tâm linh cá nhân khởi đầu, do vậy mỗi người đều có khuynh hướng và cảnh giới thiền định riêng, vào những thời kì khác nhau, hoàn cảnh khác nhau, minh sư khác nhau, dưới sự lĩnh ngộ khác nhau, kết quả thiền định của mỗi người tự nhiên sẽ khác nhau. Kinh nghiệm của bản thân tôi là, vào lúc tất cả ma nạn hóa thành vô hình, khi tất cả chướng ngại đều được quét sạch sẽ, ấy là lúc vinh quang của thiền chói lọi lóa mắt nhất, nhưng tới khi tất cả đều thuận rồi thì trái lại, biểu hiện lại rất phẳng lặng mờ nhạt. Mỗi khi trải qua một lần khảo nghiệm tất sẽ nâng cao thêm một bước, phương hướng thiền định cũng sẽ tự mình điều chỉnh và thích ứng.

Thứ mười, trí huệ của thiền phải tiếp nhận và tiêu hóa hai quá trình, khi lĩnh ngộ được chân lý thì phải ghi chép lại khi có thể, người có căn cơ, người có sự dẻo dai sẽ có được sự giúp ích hơn. Ngược lại, nếu tùy tiện đọc những cuốn sách về thiền mà không có cách nào tiêu hóa được chúng - những văn tự thiền cố làm ra vẻ huyền bí, thì trái lại sẽ nhập vào thiền ma, chẳng giúp ích gì cho thiền định chân chính.


### 37. Tâm là tấm gương sáng


Câu kệ "thân là cây bồ đề, tâm là tấm gương sáng" của thượng tọa Thần Tú nói về cái Có, còn câu "thân chẳng phải bồ đề, tâm chẳng phải gương sáng" của Lục Tổ Huệ Năng là nói về cái Không, cả hai người họ đều có sự vẻ vang của riêng mình, người trước là bậc thanh đức thuần phác, người sau thì chẳng hề nương dựa vào thứ gì.

Kì thực, nếu con người có thể tu trì đến khi "tâm là tấm gương sáng" thì có thể nói là đã chẳng phải phàm phu rồi, phải biết rằng sở dĩ tác giả có thể biết trời biết đất biết người biết linh chính là dựa vào "tâm là tấm gương sáng", đã có bản lĩnh "tâm là tấm gương sáng" thì đã có thần thông rồi. Thần thông này cũng chính là tha tâm thông, là túc mệnh thông, là thiên nhãn thông, là thiên nhĩ thông, trên trời dưới đất không gì là không biết, biết hết mọi thứ.

Khi một người đang thiền định, mở rộng hoàn toàn tâm mình, tâm giống như tấm gương sáng, thế rồi khi người đó chuyển niệm lực muốn gặp Thiên Đế của Đế Thích Thiên, Thiên Đế liền xuất hiện ở trong tấm gương sáng, muốn nhìn thấy tây phương Cực Lạc thế giới, tây phương Cực Lạc thế giới liền xuất hiện trong tấm gương sáng, muốn nhìn thấy cõi ngạ quỷ ở địa ngục thì ngạ quỷ địa ngục sẽ xuất hiện trong tấm gương sáng, tất cả hữu hình hữu tướng hữu âm hữu hành làm sao mà không thật chứ? Bất kể là một kiếp trước, mười kiếp trước, trăm kiếp trước của bản thân đều lần lượt hiện lên trong tấm gương, muốn thấy kiếp trước của người khác, quá khứ tương lai của người khác thì cũng lần lượt hiện lên trong tấm gương sáng. Đây chính là thần thông của thiên nhãn, thiên nhĩ, tha tâm, túc mệnh. Vì vậy, tâm linh hoàn toàn mở rộng chính là khi tâm cảnh hiện lên rõ rệt, tâm là tấm gương sáng chính là cảnh giới thần thông.

Đôi khi, vào lúc tâm linh hoàn toàn mở rộng, không hề có một ý nghĩ nào, thì những chỉ thị tâm linh của Phật Bồ Tát liền xuất hiện trong tâm gương, đây chính là bát nhã, chính là trí huệ. Trải nghiệm của tác giả là: tôi coi lòng bàn tay mình như tâm gương của mình, niệm lực của tôi nhớ đến một người nào đó, thế là trong lòng bàn tay liền xuất hiện hình dáng của người đó, nếu hỏi về vận mệnh của người này thì trong lòng bàn tay sẽ chỉ ra quá khứ tương lai của người này, các ngón tay sẽ tự động nhảy múa ra kí hiệu, từ đó mà tôi biết được người này vận mệnh tốt hay xấu,  tôi gọi phương pháp này là "gập ngón tay thần toán". Cá nhân tôi vận dụng phương pháp "gập ngón tay thần toán" mà tôi chưa chính thức công khai, vốn đã phục vụ chúng sinh trong thiên hạ suốt mười năm rồi, những điều sâu xa huyền diệu trong đó thật sự là nhiều vô cùng. Có người hỏi tôi, ngón tay thật sự có thể tự động nhảy múa sao? Tôi thật lòng thật sự nói rằng, tuyệt đối không phải là nói dối, hôm nay Lư Thắng Ngạn này thật lòng thật sự kể với độc giả không một lời nào giả dối, tất cả đều là thật, đặc biệt là thủ ấn của tôi, bất kể là Đại Viên Mãn hay Đại Thủ Ấn, đều là do Phật Bồ Tát mật truyền, Phật Bồ Tát sẽ nhân lúc tôi tĩnh tọa mà tự động làm cong gập các ngón tay tôi, hai tay biến hóa với các ngón tay tự động kết thành thủ ấn, thủ ấn của tôi hoàn toàn là đích thân Phật Bồ Tát hướng dẫn mà thành, không hề mảy may giả dối.

Sự lĩnh hội năm xưa và sự phấn kích khi viết sách đã làm dậy lên những cơn sóng cực lớn trên mọi phương diện của cả nền văn hóa tôn giáo cận đại, bởi vì đó là cảnh giới mà tôi đã trải nghiệm qua nhưng nhân loại chưa từng trải qua. Trong thời đại khoa học, tôi bị coi là kẻ kì dị quái đản không thể tin tưởng, có người còn hiểu lầm rằng thần kinh tôi có vấn đề. Còn tôi thì hết lần này tới lần khác sâu sắc phản tỉnh bản thân, đây chính là "tâm là tấm gương sáng" đó!


### 38. Pháp đà la ni


Pháp đà la ni chính là pháp chân ngôn, là do Phật thuyết, giờ đây, vì lợi ích tất cả chúng sinh, tôi đặc biệt thuật lại như sau:

Pháp vợ chồng hòa hợp:

Tất cả các cặp vợ chồng bất hòa trong thiên hạ, mười thì tới chín trường hợp là vợ chồng kết hôn vốn là kẻ thù của nhau do oan nghiệp kiếp trước, có người thì cả đời cãi nhau, có người thì đầu giường cãi nhau cuối giường làm lành, nhưng duyên chưa hết. Càng nghiêm trọng hơn là chạm mặt nhau là đỏ con mắt, nhìn nhau như kẻ thù, hận là không thể xẻ thịt lột da người đó. Đương nhiên cũng có vợ chồng là đến để đền ơn, do thiện nghiệp kết thành thì sẽ tương đối ân ái, nhưng vợ chồng ân ái được lâu dài cũng không nhiều, đại bộ phận là lúc mới đầu thì ân ái, nhưng về sau thì bất hòa.

Nếu gặp tình hình như vậy, vợ chồng bất hòa với nhau như nước với lửa, có thể lấy lông của chim uyên ương mỗi con một cái lông, đặt trước tượng Quan Thế Âm Bồ Tát để thờ phụng, mỗi ngày chắp tay thắp hương niệm chú Đại Bi đà la ni mười biến trăm biến bất kể số lượng, niệm cho đến khi đủ 1080 biến, lấy lông chim uyên ương mang theo người, thế thì tình cảm vợ chồng sẽ dần dần khôi phục, hai người cả đời thương yêu tương kính lẫn nhau.

Ngoài ra còn có một cách nữa, bởi vì lông uyên ương không dễ kiếm được, nên có thể lấy khăn tay mà vợ chồng đã dùng qua mỗi người một cái, ở bốn góc cùng thắt bốn cái nút chết, sau khi giặt sạch, cùng đem thờ cúng trước Quan Thế Âm Bồ Tát, niệm 1080 biến chú Đại Bi đà la ni, sau đó vĩnh viễn đem theo khăn tay bên mình, vợ chồng cũng sẽ yêu thương tương kính. Lông chim uyên ương có công hiệu lớn, nhưng nếu không thể tìm được lông chim uyên ương thì dùng khăn tay để thay thế cũng được.

🌟

Pháp trừ bỏ nỗi sợ:

Có rất rất nhiều người, người lớn hay trẻ con cũng đều như vậy, rất dễ sợ hãi, trẻ con hơi một tí là cho đi "thu kinh" [ ND: một hình thức gặp kê đồng làm pháp tâm linh để trẻ con hết sợ hãi ], người lớn thì cứ đến buổi đêm là hãi hùng khiếp vía, lo sợ bất an, tình huống người dọa người rất nhiều, ban đêm một mình không dám đi ngoài đường, tầng hầm ở ngay trong nhà cũng không dám xuống. Những người như vậy lấy một sợi chỉ trắng, thờ cúng trước tượng Quan Thế Âm Bồ Tát, niệm chú Đại Bi đà la ni 37 biến, sau đó thắt 21 cái nút trên sợi chỉ rồi đeo sợi chỉ trắng này trên cổ mình như đeo vòng cổ, như thế thì cái tâm sợ hãi sẽ tự động được tiêu trừ. Từ đây trẻ con sẽ không phải thu kinh nữa, đi đường ban đêm sẽ không sợ hãi nữa.

Pháp trì chú lên sợi chỉ trắng để phá bỏ nỗi sợ này còn có một công dụng khác nữa. Dùng sợi chỉ thắt nút đeo trên cổ thì người này quá khứ đã phạm vào những tội ác gì cũng có thể được giảm nhẹ hoặc tiêu trừ. Vì thế, pháp trì chú lên sợi chỉ trắng để trừ bỏ nỗi sợ này cũng là một trong những pháp để diệt tội.

🌟

Pháp phá bỏ bùa chú giáng đầu:

Khắp thiên hạ có rất nhiều pháp sư dùng pháp thuật tà ác, ví dụ ác pháp sư của Mật tông Hắc giáo, chú thuật trù yểm giáng đầu ở quần đảo Nam Dương, "tán ma pháp" ở vùng núi Đài Loan, chú thuật cúng tế của người Indian ở Mỹ, "phù A Lộ" ở Đại Lục Thượng. Pháp thuật mà các ác pháp sư này sử dụng đều là hại người. Phương pháp phá trừ của chúng ta cần phải xem họ dùng những tà vật nào, có pháp sư thì dùng mèo, dùng ếch nhái, dùng cá, dùng rắn, dùng rết, v.v…

Lấy một ví dụ để nói, nếu bị dùng mèo hạ bùa chú thì phải lấy một cái xương mèo đem đốt thành tro, dùng đất sạch trộn lẫn với tro xương mèo thành một đống, sau đó dùng đất này nặn thành một hình mèo, đem cúng trước tượng Quan Thế Âm Bồ Tát, sau đó lấy một con dao mới bằng thép không gỉ, cũng đem cúng trước tượng Quan Thế Âm Bồ Tát, chắp tay lại niệm một biến chú Đại Bi đà la ni, lấy dao cắt vào hình con mèo bằng đất một khúc, tổng cộng niệm 108 biến chú thì cắt 108 khúc. Làm theo cách này, người bị bỏ bùa lên mèo, nếu mắc phải bệnh hiểm nghèo thì tự nhiên sẽ dần dần bình phục.
Dùng ếch, rắn, cá, rết, muốn giải trừ những ác chú trù yểm hoặc bùa giáng đầu thì phương pháp làm cũng giống như với mèo.

🌟

Trừ oan gia đối địch:

Theo như tôi biết, nhân gian vốn là thế giới hỗn loạn bất an, tiểu nhân ở đâu cũng có, người có tâm địa hẹp hòi thì thích mưu hại người khác, những tính toán mờ ám tầng tầng lớp lớp, quân tử khó tránh khỏi bị hãm hại. Đặc biệt là phụ nữ có tướng mạo trán nhô cao, mặt phẳng, tướng giống đàn ông thì đều là tướng mạo của người phụ nữ có tâm ác độc nhất, họ có lòng dạ hẹp hòi, ngày đêm có tư tưởng mưu hại người khác, loại người này không thể không đề phòng.

Lấy đất sạch, hoặc bột mì, hoặc sáp, nặn thành hình tượng của đối phương, trên tượng đó viết bát tự ngày tháng năm sinh của đối phương, đem bức tượng này cúng trước Quan Thế Âm Bồ Tát, cũng dùng dao mới làm bằng thép không gỉ niệm chú Đại Bi đà la ni, niệm xong một biến thì đọc một lần tên của đối phương, rồi dùng dao cắt một phần vào bức tượng đối phương, tổng cộng niệm 108 biến, sau đó đem đám đất đó ném vào trong lửa để đốt.
Sau khi bạn làm pháp này thì đối phương rất nhanh chóng sẽ thay đổi cách nhìn về bạn, không những không làm hại bạn nữa mà ngược lại còn cực kì cung kính đối với bạn.

🌟

Trừ tai họa trong nhà:

Từng có một gia đình đêm hôm tới tìm tôi, kể cho tôi về tai họa trong nhà, người cha bị tai nạn giao thông nằm trong bệnh viện, chị gái thì gặp tai nạn máy bay, em trai bị u ác phải mổ, người mẹ bị bệnh tăng nhãn áp sắp mù, em gái thì tâm thần thất thường, cả nhà lớn nhỏ không mắc bệnh thì gặp họa, không trừ một ai.

Tôi bảo người đó rằng lấy cành cây lựu tổng cộng 1080 đoạn, ở hai đầu mỗi đoạn bôi mật ong, cứ niệm một biến chú Đại Bi đà la ni thì đốt một đoạn cành lựu, cứ như thế tổng cộng đốt 1080 đoạn cành lựu, tổng cộng niệm 1080 biến chú. Nói ra cũng rất kì lạ, người cha nhà đó vốn dĩ bị tai nạn hôn mê, thế mà rất nhanh đã tỉnh lại, người em trai cắt bỏ u ác cũng thuận lợi, người mẹ bị bệnh tăng nhãn áp cũng đã kiểm soát được rồi, càng kì lạ hơn là, em gái hoàn toàn khỏi bệnh, bản thân người đó bị bệnh đau đầu cũng không uống thuốc mà khỏi. Sự ảo diệu của pháp đà la ni thật sự là vô cùng vô tận. (Pháp này phải làm trước tượng Phật Bồ Tát.)

🌟

Pháp trị ma:

Trong nhà bình thường không thanh tịnh, nếu có linh vật quấy phá, hoặc trong nhà có ma tụ tập, muốn đuổi chúng ra khỏi nhà, lấy 77 khúc cây có mấu, mỗi khúc cây lại bôi mật ong lên đó, ở trước tượng Đại Bi Quan Thế Âm, niệm một biến chú Đại Bi đà la ni, rồi ném một khúc cây vào trong lửa đốt, niệm xong 77 biến thì cũng là đốt hết 77 khúc cây, từ đó trong nhà sẽ trở nên thanh tịnh, ma quỷ không dám đến nữa.

🌟

Thuật dùng ma:

Loài ma quỷ cũng có phân loại thiện ác, ma không nhất định đều là xấu, ma cũng có thần thông, ví dụ chính là pháp nhĩ báo, người theo nghề tướng mệnh nếu biết cách dùng ma chắc chắn sẽ linh nghiệm chuẩn xác, so với bát tự, tướng mặt, tướng tay, nắn xương, đoán chữ, bốc quẻ của thuật sĩ giang hồ thì càng linh ứng hơn, chắc chắn sẽ gây chấn động toàn thế giới, xa gần đều biết tên. Nếu không dùng năm thuật thần thông của ma mà muốn tướng thuật chuẩn thì đều là xấp xỉ tàm tạm mà thôi, còn muốn thông linh sâu thì không dùng đến ma không được.

Muốn sai khiến ma quỷ phải lấy một hoặc năm cái đầu lâu ở nơi hoang dã, ngũ quỷ tượng trưng cho ngũ quỷ thuật, rửa sạch, ngồi xuống trước Đại Bi Quan Thế Âm, sắp đặt hương án, cầu nguyện Đại Bi Quan Thế Âm, nó rõ rằng muốn dùng ma để giúp người, mỗi lần niệm bảy biến Đại Bi đà la ni, khi niệm chú thì phân thành thượng cúng và hạ cúng, thượng cúng là để cúng Quan Thế Âm Bồ Tát, hạ cúng là để cúng cho đầu lâu, cúng phẩm thì dùng các loại hoa thơm và đồ ăn thức uống, ngày ngày đều làm như vậy.

Đến ngày thứ bảy thì ma quỷ chắc chắn sẽ đến hiện thân, sẽ thấy trong giấc mơ ban đêm, hoặc thấy ở đầu giường, về sau vào ban ngày cũng có thể thấy. Cúng phẩm phải có hàng ngày không gián đoạn, có bất kì tin tức gì ma quỷ tất sẽ thông báo trước, ví dụ ngày mai có người nào đến xem tướng, cũng có thể dự đoán tiên tri. Người có thể sai khiến được ma quỷ thì đôi bên phối hợp với nhau, xem tướng mệnh không có chuyện không chuẩn. Người có thể dùng ma quỷ đến mức tinh vi thì chính là bậc tiên tri tiên giác.

Tác giả thừa nhận trong quá khứ có một quãng thời gian, tôi cũng là người sai khiến ma quỷ, ma quỷ để cho tôi sai phái, nhưng tôi cũng kính trọng bọn họ, vì thế mà việc xem tâm linh của tôi gây chấn động, một ngày khách đến xem tới trăm người nghìn người mà không có sai sót gì, không gì khác mà chính là nhờ pháp nhĩ báo của ma quỷ mà thôi. Đối với những người tự xưng là xem bói cực chuẩn là dùng quỷ thuật, là những chiêu trò giang hồ, tôi nhìn là biết ngay. Thuật tướng mệnh, tướng thuật dùng pháp sai khiến ma quỷ là cao cấp nhất, các pháp xem bói khác thì tôi cảm thấy chỉ là suy lý và quy nạp mà thôi. Thuật dùng ma quỷ chắc chắn sẽ khiến cho người ta giương mắt ra nhìn, bởi vì nhĩ báo của ma lợi hại đến mức tối qua bạn làm gì họ đều biết, trong lòng bạn nghĩ đến chuyện gì họ lại càng biết.

Về sau, Quan Thế Âm Bồ Tát chỉ thị cho tôi rằng, dùng pháp sử dụng ma quỷ lâu ngày không có ích lợi gì đối với việc tu trì của tôi, kiếp sau sẽ lại theo nhân quả, tôi sẽ chuyển thế thành đại lực quỷ vương, trở thành thủ lĩnh của tất cả ma quỷ, hoặc là trở thành đô giám sứ của ma quỷ lang thang. Thế là Bồ Tát ra chỉ lệnh yêu cầu sứ giả của Tứ Thiên Vương của Tứ Thiên Vương Thiên đi theo tôi, vì thế nên bây giờ tôi sai khiến không phải là ma quỷ mà là sứ giả của Tứ Thiên Vương. Đó là một trải nghiệm ngày xưa của tôi.

🌟

Pháp trừ bỏ cổ độc:

Trước kia ở Trung Quốc Đại Lục, ở khu vực Miêu Cương Vân Nam đều có người dùng cổ độc, đây cũng là một giáo phái, gọi là Tây Lạp Giáo. Cổ độc cần có một khoảng thời gian nhất định để phát tác, có khi là một năm, có khi là ba năm, phải lập tức uống thuốc giải độc mới có thể cứu được. Độc phát ra sẽ chết, sâu độc ăn vào tim thì cực kì đáng sợ. Các phần tử dã tâm vì muốn khống chế thuộc hạ nên thường xuyên sử dụng cổ độc, cái tâm ấy của họ thật sự đáng hổ thẹn, và cũng có những người phụ nữ dân tộc Miêu thích người Hán đã sử dụng cổ độc để kiểm soát đàn ông, tránh cho họ không thay lòng đổi dạ mà bỏ đi. Loại sâu độc nổi tiếng nhất là kim tuyến cổ, xà cổ, ngô công cổ.

Nếu bị cổ độc làm hại, mau lấy long não hương và an túc hương chia phần đều nhau, hòa vào một lít nước giếng rồi đem sắc cho đến khi chỉ còn nửa lít, sau đó cúng trước tượng Đại Bi Quan Thế Âm, niệm chú Đại Bi đà la ni 108 biến rồi uống, như thế cổ độc có thể được đẩy ra ngoài.

🌟

Trừ ma xung sát:

Có rất nhiều người mắc bệnh lạ, bác sĩ kiểm tra không tìm ra nguyên nhân, thì luôn luôn là do đã bị ma khí nhập vào người. Tôi biết không ít người mắc phải hiện tượng này, ví dụ như đưa tang đám ma lên đỉnh núi, sau khi trở về thì phát sốt không thuyên giảm, người tham gia tang lễ bị xung phạm thì đi khám sẽ không tìm ra nguyên nhân, còn người bệnh thì trong lòng khó chịu muốn chết, đau đớn muôn phần.

Cần mau lấy an tức hương đặt trước tượng Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát, niệm chú Đại Bi đà la ni 37 biến, niệm xong thì ở bên cạnh người bệnh đốt cho họ ngửi xông mũi, làm như vậy thì người bệnh rất nhanh chóng sảng khoái tinh thần, ma khí sẽ được giải trừ.
Phương pháp chữa trị căn bệnh này của thế tục là lấy chân hương sau khi trở về nhà thì cho vào trong nước để tắm gội. Có người thì dùng sợi gai và muối hạt đun lên với nhau để tắm. Nhưng những phương pháp này đều không bì được với phương pháp dùng an tức hương, làm được như thế thì càng nhanh chóng có hiệu quả.
Điều cấm kị của phương pháp này là cấm ăn thịt trong ba ngày, lưu ý khẩu nghiệp, không được mắng chửi lung tung.

🌟

Diệu pháp phụng thỉnh thiên thần:

Có nhiều người khởi linh, nhưng do sự liên hệ nghiệp chướng mà khởi linh đều không thấy gì, thiên thần không đến, vậy phải làm sao? Họ hỏi tôi, tôi dạy họ đến hiệu thuốc mua hai lạng ngưu hoàng, sau đó bỏ vào bình thủy tinh, đặt trước tượng Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát, niệm chú Đại Bi đà la ni 108 biến.

Mỗi lần khởi linh thì chạm bình thủy tinh đựng ngưu hoàng này lên trán, rồi quét một lượt khắp toàn thân, cánh tay và chân, thiên thần nhìn thấy sẽ nảy sinh tâm yêu thích mà đến. Và như thế, thiên thần sẽ theo lời thỉnh cầu của bạn mà xuống. Làm như vậy khởi linh nhất định sẽ thành công.

Nếu có người tự nhận là không hề có đức hạnh gì thì e là rất khó thỉnh thiên thần đến, có thỉnh họ cũng không đến, hoặc thỉnh cả buổi e rằng chỉ thỉnh được ma quỷ tới, dùng diệu pháp phụng thỉnh thiên thần này thì tất cả thiên thần đều nhìn thấy, trong lòng  hoan hỉ, chắc chắn sẽ đến.
Ngưu hoàng dùng làm pháp một lần có thể dùng lại nhiều lần.

🌟

Pháp và chú trừ ma:

Pháp và chú ngữ trừ ma của Phật môn rất nhiều, so với Đạo gia thì cũng tương đương, trong cõi vô hình đã có rất nhiều hiện tượng trùng hợp với nhau. Phần lớn ma thuộc về âm, do vậy mới gọi là âm ma, Đạo gia thì do Thái Dương Tinh Quân dùng ánh sáng mạnh để phá trừ ma, còn Phật môn thì do Nhật Quang Bồ Tát đến đến phá trừ. Ngoài ra, Đạo gia dùng Lôi quyết để phá ma, Phật môn dùng tiếng gầm sư tử để phá ma. Những phương pháp này thật ra không có sự khác biệt lớn, có thể thấy mặc dù Phật và Đạo không giống nhau, nhưng kì thực lại hiệu quả vi diệu như nhau.

Nhật Quang Bồ Tát có một chú ngữ là: "Nama buddha kunami, nama dharma mahati, nama samgha tayani, tirabuvi satvadam nama." Nếu ở trước Phật tụng một câu chú này, lạy Phật một lạy, thì Nhật Quang Bồ Tát sẽ hộ trì cho người này tu hành, phóng ánh sáng chiếu đến người này, tất cả ma chướng không thể xâm phạm, cũng có nghĩa là bạn đi đến nơi nào thì ánh sáng mặt trời cũng chiếu đến nơi đó, khiến cho ma không có chỗ trống nào mà nhập vào.

Theo như tôi biết, người bình thường nếu chê tu hành quá khó khăn, tốn thời gian tốn sức lực, cảm thấy chi bằng cứ yên yên ổn ổn mà đi làm một người giàu có là được rồi, thế nhưng chỉ cần sớm tối niệm ba biến chú ngữ của Nhật Quang Bồ Tát, hướng đến Phật lạy ba lạy, chỉ tu trì đơn giản như vậy, thì kiếp tương lai sinh ra sẽ có tướng mạo vô cùng đoan chính, hơn nữa còn có phúc và may mắn, quan vận hanh thông, hưởng tận phú quý. Nếu là phụ nữ thì chắc chắn sẽ xinh đẹp, quý thì làm hoàng hậu, trí huệ hơn người. Một chú ngữ đơn giản như vậy, mỗi lần lạy ba lạy đã có công đức lớn như vậy rồi. Người không tu cho kiếp này mà tu cho kiếp sau thì cớ sao mà không làm chứ.

🌟

Pháp loại bỏ đau đớn:

Tôi sâu sắc biết rằng đời người khổ nhiều hơn vui, sinh lão bệnh tử của đời người đều là tượng trưng cho cái khổ, đặc biệt là bệnh khổ, bệnh cũng là một trong những nghiệp chướng, bệnh toàn thân khiến cho thể xác phàm phu không có cách nào chống đỡ được, chỉ có thể rên la gào thét đến khi nào mới chấm dứt đây?

Có người hỏi địa ngục ở nơi nào? Thật ra nhân gian chính là địa ngục, dao và cưa ở bệnh viện đều có đủ cả, tách não, thông ruột, rửa dạ dày, cắt thận, đặt ống nội khí quản, thay tim, cắt phổi, lúc các bác sĩ y tá xôm vào để động thủ chẳng phải là địa ngục trần gian thì là cái gì? Lẽ nào đây là thiên đường trần gian sao? Lại còn có những ác bệnh không tên, khiến cho bạn sống chẳng được chết chẳng xong, người bệnh chữa trị lâu không khỏi, coi thường mạng sống của mình mà nhảy lầu chết, không muốn sống nữa vì bị đau khổ dày vò, những chuyện như vậy lâu nay vẫn thường nghe thấy.

Nguyệt Quang Bồ Tát có một câu chú là: "Samdheti tusutha ah jame ututha samkitha palautiyamejatha ututha kaulotitha kimotha svaha." Lấy sợi dây ngũ sắc, cúng trước Phật, tụng chú ngữ Nguyệt Quang Bồ Tát năm biến. Sau đó đem sợi dây ngũ sắc để ở chỗ đau nhức, hoặc buộc ở chỗ đau… như thế nỗi khổ đau nhức có thể được giảm nhẹ, thậm chí hoá thành vô hình. Lực từ bi và lực trong mát của Nguyệt Quang Bồ Tát khiến cho con người kinh ngạc. Bởi thế pháp loại bỏ đau đớn dùng chú lực của Nguyệt Quang Bồ Tát là tối cao, người tu trì không thể không biết.

🌟

Bùa hộ thân của Linh Tiên Chân Phật Tông:

Bùa hộ thân của Linh Tiên Chân Phật Tông là do tác giả tiếp nhận sự chỉ thị ngầm của Phật mà thiết kế ra, mặt trước in bốn chữ "Linh Tiên Tinh Xá", phía dưới là liên hoa tọa, mặt sau là Nhật Quang Bồ Tát, Nguyệt Quang Bồ Tát, Kim Mẫu sắc lệnh cho Lục Đinh Thiên Thần, Lục Giáp Thần Binh bảo vệ thân thể sinh mạng. Bùa hộ thân này đúc bằng đồng, cũng có người làm bằng bạc, lại cũng có người đúc bằng vàng, tất cả bùa hộ thân đều do tác giả dùng ba câu chú là Đại Bi đà la ni, Nhật Quang Bồ Tát chú cùng Nguyệt Quang Bồ Tát chú để gia trì, sau đó dùng linh chỉ sắc nhiếp, linh lực của nó có thể đạt đến cảnh giới bất khả tư nghì.

Cái này là để giúp chúng sinh giải trừ tất cả chướng nạn, trừ tất cả rủi ro bệnh tật đau khổ, thành tựu tất cả thiện pháp, rời xa tất cả nỗi sợ hãi. Người đeo bùa này cần thân tâm thanh tịnh, thọ trì thần chú, đồng thời cần truyền bá rộng rãi bùa hộ mệnh này, bùa hộ mệnh này lợi ích chúng sinh ba cõi. Người đeo bùa hộ mệnh này có thể loại trừ tất cả bệnh hiểm nghèo; người đeo bùa hộ mệnh này có thể không gặp tai nạn ngoài ý muốn; người đeo bùa hộ mệnh này có thể tránh được nạn đao binh; người đeo bùa hộ mệnh này tự có thể tránh ma, bùa này được rất nhiều uy thần canh giữ, thần lực bất khả tư nghì. Khi tôi chế tác ra bùa hộ mệnh này thì thiên nhân long thần đều tán dương, khen ngợi rằng bất khả tư nghì. Vì thế bùa hộ mệnh này có mật chú của chín mươi chín ức Hằng Hà sa chư Phật ở trong đó, nếu có người nào phỉ báng thì sẽ phải đọa vào ác thú, không có ngày thoát ra. Người nào nâng niu trân trọng bùa hộ mệnh này là tất cả chúng hội Bồ Tát, Kim Cang Mật Tích, Phạm Thích Tứ Vương, Thiên Long Quỷ Thần.

🌟

Tiền giấy của Linh Tiên Chân Phật Tông:

Tiền giấy của Linh Tiên Chân Phật Tông là do tác giả nhận được chỉ thị ngầm của Phật mà thiết kế ra, phân làm bốn loại:

Thứ nhất, Tiền Thất Phật có in Thất Phật Diệt Tội Chân Ngôn, là một trong mười tiểu chú, Thất Phật chân ngôn này là do bảy vị Phật nói, diệt tất cả tội lỗi, người tu trì tụng một biến, đốt một tờ tiền, nếu một lần đốt nhiều tờ tiền, một lần tụng nhiều biến chú, thì tất cả ác nghiệp đều được tiêu trừ.

Thứ hai, Tiền Như Ý có in phù hiệu của Lục Đinh Lục Giáp Thần, có hai đối tượng Như Ý làm thành một cặp, cái này là do Như Ý Luân Quan Thế Âm Bồ Tát hộ trì, sau khi đốt có thể được cát tường như ý, ánh sáng của ngọc như ý chiếu tới, là pháp tăng ích.

Thứ ba, Tiền Trừ Bệnh có in phù hiệu quang minh, nếu trong nhà gặp bệnh hiểm nghèo, xuất hiện liên tiếp những điều kì quái, quỷ thần tà ma làm loạn gia đình, thì sau khi đốt tiền trừ bệnh có phù hiệu quang minh, bách bệnh tự nhiên hàng phục, tiền này được Nhật Nguyệt Kim Mẫu hộ trì, tất cả bệnh hiểm nghèo đều bị tiêu diệt, đây là pháp tiêu tai.

Thứ tư, Tiền Hòa Hợp có in phù hiệu của hai vị Tiên Hòa Hợp, một nam một nữ, được dẫn dắt bởi hai vị Tiên Hòa Hợp. Duyên vợ chồng đã hết, thường xuyên cãi vã, đụng chân đụng tay, hơn nữa còn mưu hại lẫn nhau, trong nhà việc lớn nhỏ nội ngoại đều bất hòa, nam thì lăng nhăng, nữ thì ngoại tình, nếu chí tâm niệm thần chú Đại Bi đà la ni, cộng thêm đốt tiền Hòa Hợp thì cả nhà bình yên, người người hòa thuận, vợ chồng tương kính ân ái, tiền Hòa Hợp rất có hiệu quả.


### 39. Đại ôn dưỡng là pháp đan đỉnh


Trong cuốn sách "Khởi Linh Học", tôi từng nhắc đến chân lý của pháp đại ôn dưỡng, thực ra đại ôn dưỡng là cơ sở của tất cả Đạo công, không thể coi thường, vì thế trong cuốn sách này thật sự cần thiết phải trình bày chi tiết lại từ đầu. Tác dụng của pháp này chính là sự hồi chuyển của linh lực, cũng tức là sự luân hồi của linh lực, bởi vì sự luân hồi này sinh ra nhiệt độ, rồi lại vì nhiệt độ tăng cao mà hình thành nên khối cương khí vô hình ở bên trong. Khối chân khí này chính là công phu đan đỉnh của Đạo gia, thông thường người tu linh ở phần bụng đều có khí ấm, khí âm lạnh ở phần thân dưới đã được loại bỏ hết. Đây là một dấu hiệu rất tốt, ngoài khí lực khỏe mạnh ra thì đây cũng vẫn là cơ sở của thành Phật thành Tiên.

Hồi thứ nhất, ngồi xuống nên chọn song bàn, đơn bàn hoặc như ý tọa, để cho phần thân dưới vững chắc bất động là hay nhất, hai tay đặt vào hông, người luyện tập pháp này cũng phải có tâm bền bỉ, không cần phải gò bó vào bất kì giáo phái nào, không phải thỉnh thần, nhưng phải đập hai hàm răng vào nhau 36 lần để cho tinh thần tập trung thống nhất, hai mắt không cần quán tưởng, toàn bộ là công phu nội ngoại. Đầu tiên phải đặt lưỡi chạm hàm trên, để cho thiên tân ngọc lộ (tục gọi là nước cam lộ) tiết ra, thực ra chính là nước bọt của chính mình, đợi đến khi ngọc lộ đầy trong miệng rồi thì hít sâu vào một hơi khí, khí hít vào không đi qua phổi mà là đi vào thực quản vào dạ dày rồi vào đan điền. Phải nhớ kĩ một điểm quan trọng nhất, sau khi hít sâu khí vào thì cũng nuốt ngọc lộ vào theo để đè khối cương khí này xuống, đây là yếu quyết thứ nhất. (Cuốn "Khởi Linh Học" đã bỏ sót đoạn ghi chép này.)

Hồi thứ hai, sau khi hít khí vào, không được vội vàng thở khí ra, trước tiên phải giữ không để thở ra, thế rồi thân thể sẽ dao động sang hai bên trái phải, cần nhớ là không phải dao động theo hướng trước sau, cái gọi là thân thể dao động là phần thân trên dao động, đung đưa qua trái qua phải từ chỗ hai tay đặt ở giữa hông cho đến nửa thân trên, tốc độ dao động không nên quá nhanh, điều quan trọng nhất là nửa thân dưới phải vững như bàn thạch không mảy may cử động, chỉ có nửa thân trên dao động mà thôi. Trong thời gian tiến hành không được lấy hơi, lúc này sẽ mặt đỏ tía tai, nhiệt độ tăng cao, cho đến khi nhịn thở không nổi nữa thì chầm chậm thở khí ra, đây là một quá trình.

Hồi thứ ba, làm xong hồi thứ nhất và hồi thứ hai lại quay lại làm từ hồi thứ nhất. Công phu này xem ra có vẻ rất đơn giản, nhưng thật ra thành tựu của nó rất lớn. Đung đưa nửa thân trên trong kĩ thuật yoga là áp dụng pháp thận thủy, cũng là một trong những phương pháp làm vững chắc cái gốc. Công phu lâu ngày thì công lực càng sâu, vùng đan điền nóng lên giống như lửa trong lò lửa vậy! Mặc dù đây là một kĩ thuật nhỏ đơn giản nhất trong thiên hạ, nhưng cũng là bí mật huyền diệu mà vạn người không biết. Tôi công khai kĩ thuật này thực sự là đã tiết lộ chân cơ không được tiết lộ rồi. Bảo vệ cái gốc vững chắc chỉ có một cách, chính là "bão nguyên thủ nhất" [ ND: một kĩ thuật của Đạo gia, mục đích chính là để bảo vệ tinh khí thần của con người không bị hao tổn, thất thoát ra bên ngoài, có tác dụng kéo dài tuổi thọ, trường sinh bất diệt ], nâng khí đi lên, hóa thành những viên ngọc, kết thành xá lợi.

Đạo lý về cái gốc vững chắc này giống như nguyên lý của máy bơm quay tay vậy (máy bơm nước), lợi dụng sự nén của không khí khiến cho nước ngầm theo ống dẫn mà dâng lên, còn thân thể của chúng ta giống như máy bơm nước, huyết dịch và thận thủy là nước ngầm, sự hô hấp là khí áp, thân thể dao động cũng giống như quay tay để bơm nước vậy, và thế là thận thủy dâng lên, nửa thân dưới vốn dĩ lạnh và lỏng, vì hết lần này tới lần khác trải qua sự nâng lên mà phát sinh độ nóng, đây chính là chân lý của pháp đại ôn dưỡng. Tam bảo của Đạo gia - tinh khí thần có thể giữ chắc vốn chính là đạo thành Tiên.

Nói chung chúng sinh có thể tu được đến mức giữ được tinh huyết thì cũng tức là thần tiên bất lão ở nhân gian, có thể chứng đắc trường sinh bất lão. Phái đan đỉnh tu hành Đạo gia coi công phu xây dựng nền móng của pháp đại ôn dưỡng này là điểm then chốt đầu tiên.

Về nguyên tắc, tôi cho rằng công phu này của Đạo gia cũng là một trong những pháp bảo phá âm ma của Phật giáo Thiền tông. Tôi tin tưởng rằng niệm thức của Phật môn nếu phối hợp với Đạo công thì càng có thể phát huy rộng lớn, nếu có thể nội ngoại kiêm tu, thủ huệ và thủ mệnh, huệ mệnh song tu thì đây là một việc rất có ý nghĩa. Nếu người xuất gia cũng học tu pháp đại ôn dưỡng, tu trì lâu ngày thì tất nhiên tinh thần sẽ sung mãn, sẽ không để thất thoát nguyên tinh, thì tinh hoa tiềm tàng, lễ Phật tụng kinh, tu tĩnh thiền công tất nhiên chỉ cần làm ít mà công phu tăng gấp bội phần, sẽ không ảnh hưởng đến Phật tâm như như bất động, đây là tôi nói về kinh nghiệm của mình.

Pháp hít thở đại ôn dưỡng trước tiên là hít thở sâu, nhưng về sau thì không phải là hít thở sâu nữa, mà là hít thở tự nhiên, từ hữu hình đến vô hình, cho đến khi có thể ngồi chặn được huyết hà, đóng được cửa sinh tử thì mới xem như nền tảng đã vững chắc, linh khí lúc này chỉ có tăng lên chứ không bao giờ giảm bớt. Từng ngày từng ngày lấy khí của chân linh để tiếp lửa, công lực càng ngày càng sâu, khí chạy mười hai tầng lầu, tự có thể kết đan, đan này chính là tiên thiên xá lợi tử, là sự kết tinh thần khí của việc bế đoạn, chặn đứng huyết hà. Người xuất gia nếu không bị chảy nguyên tinh, nguyên dương [ ND: nguyên dương là cái gốc của dương khí trong thân thể con người, còn gọi là thận dương, chân dương, chân hỏa, lửa mệnh môn, lửa tiên thiên. ] thì chắc chắn sẽ có xá lợi, còn nếu nguyên dương chảy mất thì chắc chắn không có xá lợi, là cao tăng hay phàm phu chỉ cần nhìn là biết.

Người khởi linh tu pháp đại ôn dưỡng sẽ dễ dàng hơn người bình thường tu pháp này, mặc dù ngồi trên bồ đoàn có động tác giống nhau, nhưng sự dao động của thân thể có thể do linh đến mà gây ra, đặc biệt là linh lực vận động từ dưới hướng lên trên, toàn thân sẽ khởi lên sự rung lắc tự nhiên mà vi diệu, điều này càng có lợi cho sự xung kích khí huyết. Vả lại, thân thể hoạt động tự nhiên, tay cũng có thể phụ trợ với thân, trở thành nửa là thần lực nửa là nhân lực, thì tất cả tự có thể thành tựu.

Cá nhân tôi đánh giá pháp đại ôn dưỡng rất cao, nếu bền bỉ thực hành thì càng vào sâu sẽ càng tinh vi, giống như con người bình địa nổi dậy, tái tạo nên tương lai tươi sáng, đây là sự phát triển phong phú của tri tính. Đời người nhận được sự tưới đẫm này thật sự có thể nói là trời đất cảm động.

Tôi cải biên mấy câu thơ của Phạm Trọng Yêm: [ ND: nhà văn, tướng lĩnh, nhà chính trị thời Bắc Tống. ]
"Mây núi thăm thẳm
Sông nước mênh mang
Dưỡng ấm chân khí
Núi cao sông dài."


### 40. Một lời tuyên bố nhỏ


Có phóng viên Trang Chí Thân của một tờ báo nọ đưa tin, đã viết ra một bài báo thế này: Đài Loan gần đây có Phụng Tiên bế quan 120 ngày, và tập thể Gia Định Học Đồng nổi lên việc lên đồng viết chữ, đã gây nên sự chú ý trong xã hội. Thành phố Cao Hùng cũng có một nhân sĩ thông linh là Mi Thạch Kim, khởi đầu một phong cách riêng, có thể kiểm tra tâm linh về lành dữ của mỗi người, lại còn có thể múa bút làm thơ ngay tại chỗ, chỉ cho người ta đường đi đúng, đã có không ít người đến thỉnh giáo nhân sĩ này.

Mi Thạch Kim, hiệu là Bản Mộc, ba mươi tám tuổi, người Hán Khẩu, sau khi giải ngũ đã làm việc cho nhiều công ty, năm Dân Quốc 67 tình cờ gặp được kì duyên, sau khi phát đại nguyện thì lập tức thông linh. Ông ta có thể giao tiếp với các giới thần linh bằng ngữ âm, đối với chúng sinh thế tục thì dùng linh thơ để độ hóa. Người thỉnh giáo chỉ cần đưa ra một cái tên, bất kể có phải bạn bè hay không, trong vòng vài phút là ông ta có thể điều tra ra được những nghi vấn về nhân quả của người này, và dựa vào họ tên để làm thơ chỉ ra sai lầm của họ.

Trong những năm người này giúp đời, thường có người dò hỏi về nguồn gốc lai lịch của những nhân vật như đại sư Lư Thắng Ngạn, giáo sư Lâm Vân và Thái Triệu Kì. Mi Thạch Kim trả lời bằng linh thơ phân biệt sự tu trì của ba người này như sau:

Giáo sư Lâm Vân là truyền nhân duy nhất của Mật tông Hắc phái, tháng gần đây có mức độ tỏa sáng khá cao, khi xuất hành đều có các ca sĩ diễn viên nổi tiếng đi theo, họ cùng soi chiếu lẫn nhau nên ánh hào quang tăng trưởng.
Thơ rằng:
"Lâm" tông duy tôn thụ mật truyền.
"Vân" hải nhậm du linh tự phản.
"Khai" ngộ tinh hiểu hỗn độn thế.
"Khiếu" thông hoàn vũ thức vô biên.

Thái Triệu Kì là người dẫn chương trình của Hội nghiên cứu ý thức khoa học Trung Hoa Dân Quốc, viết cuốn sách "Hồi ức kiếp trước tôi theo Phật Đà", học giả đi theo rất nhiều, tiếng tăm lẫy lừng.
Thơ rằng:
"Thái" vô chân chỉ cơ bán tuyên.
"Triệu" nghiệp thi giáo sĩ thông thiên.
"Kì" tâm tùy duyên càn khôn chuyển.
"Đức" tính ứng thời độ vô biên.

Lư Thắng Ngạn là đại sư về linh học ở trong nước, viết sách rất phong phú, trước khi bế quan, người đến thỉnh giáo ông ta nhiều như cá diếc qua sông, tiếng tăm vang khắp cả nước.
Thơ rằng:
"Lư" sinh dạ bán phùng tiên giáo.
"Thắng" sự cộng cử hợp thiên điều.
"Ngạn" phẩm giai chất liên trung sinh.
"Chân" giả khởi dung tha nhân hiểu.

Mức độ linh nghiệm của ba bài thơ này ra sao, độc giả có thể tự mình kiểm chứng. Tin tức này do người bạn của tôi là ông Tiêu Thụ Sơn ở Thảo Đồn sau khi đọc xong đã cắt bài báo ra và gửi đến Seattle nước Mỹ cho tôi.

Tôi không quen ông Mi Thạch Kim, ông ta viết cho tôi bài thơ này tôi không có ý kiến gì, điều duy nhất tôi có ý kiến là trong bài báo nói tôi bế quan. Thật ra tôi đâu có bế quan, tôi chỉ di cư sang Mỹ, lúc rảnh thì đi đến Vancouver Canada. Nữ họa sĩ Bàng Huy, tiến sĩ Dương Nãi Ngạn, và nữ ủy viên lập pháp Dương Ngọc Lâm đều từng đến làm khách tại hàn xá của tôi. Ủy viên lập pháp Dương Ngọc Lâm là đại diện quốc gia chủ trì lễ tế Khổng Tử ở nước ngoài đầu tiên của nước ta, địa điểm ở San Francisco, lộ trình đi qua Seattle nên bà đã đặc biệt tặng tôi một bức quốc họa và tượng Khổng Phu Tử, chúng tôi cũng chụp ảnh chung làm lưu niệm, việc này có tấm ảnh làm chứng.

Trước mắt tôi tạm thời ở Mỹ, vùi đầu vào viết sách, sau khi hoàn thành cuốn sách số 40, tôi sẽ tiếp tục viết cuốn số 41. Viết sách tâm linh đặc biệt không dễ dàng, bởi vì xưa nay chưa từng có ai làm. Những lời giải thích của tôi cần phải chú ý đến nhiều phương diện, khó có thể chu toàn. Tôi đã cống hiến cho độc giả tất cả mọi hiện tượng không hề giữ lại điều gì, ngay cả tiền bạc cũng đã không thể so sánh với giá trị của nó rồi. Đây chính là cái chỗ chân thành tận tụy của cá nhân tôi, hi vọng trí huệ của Phật đạo tồn tại khắp trong tâm của độc giả, chứ không bị tôi độc chiếm cho riêng mình. Ở đây, tôi đặt tất cả hy vọng, niềm tin và giá trị vào đời sống kiếp này của mình, hi vọng đức tính và linh lực của tôi có thể kiến lập nên một thế giới giá trị.

Đối với giáo sư Lâm Vân, vì chưa từng gặp mặt, chỉ từ bài báo mà biết được một hai điều, có một bài viết trước đây nhắc đến một vị Mật tông trưởng lão đã cười vào mũi người này, vì thế tôi đã tỉ mỉ nghiên cứu nguyên nhân. Mật tông Hắc phái trước đây có tiếng tăm không tốt, còn thầy của giáo sư Lâm Vân là ai? Ông ta không có sự trao truyền, Mật tông vốn coi trọng sự truyền thừa kế tục, nếu không có truyền thừa thì chính là trộm pháp, thế nên vị nguyên lão Mật tông kia mới chửi cho giáo sư Lâm Vân một chặp. Tôi cảm thấy đáng tiếc thay cho giáo sư Lâm Vân, ông ta là học giả, phẩm cách học giả lại càng cần coi trọng tài hoa, tính tình càng cần coi trọng năng lực, không thể rêu rao khắp nơi, thể hiện khoe mẽ cá nhân, giở nhiều trò bịp bợm, ngược lại sẽ bị người ta ghét. Tác giả không tiện viết tên của nguyên lão Mật tông nọ ra đây, bởi vì ông ấy là một vị thuộc một phái Tạng giáo, địa vị rất cao quý.

Tôi cảm thấy giáo sư Lâm Vân giảng Phật giảng Đạo giảng nguyên lý bát quái, thậm chí giảng linh học, tự có khí phách góc cạnh oai phong riêng, giải thích cũng hợp tình hợp lý, có giá trị khách quan độc lập, điểm này đáng cho tôi kính phục. Nhưng ông ta nói đến Mật tông Hắc giáo, đây là một bước tính sai lầm lớn. Các lực lượng trong Mật giáo rất lớn, tất nhiên ông ấy sẽ phải chịu sự đả kích của các giáo phái khác, điều này có thể dự liệu được.
Còn người họ Thái kia thì còn kém giáo sư Lâm Vân xa lắm!


### 41. Dấu chân ngao du vạn dặm - Úc Châu tiểu kí


Ngày 9 tháng 8 năm 1981 tôi du lịch châu Úc, cùng đi với tôi có ông Lâm Vĩnh Mậu, tên tiếng Anh là Mike. Ông Lâm Vĩnh Mậu làm tổng đại lý thương mại đã đặt chân đi khắp thế giới, ông đã đi châu Úc không biết bao nhiêu lần, đi cùng với ông ấy thì mọi thứ ông đều thông thuộc.

Chúng tôi đi chuyến bay của hãng hàng không Cathay Pacific, quá cảnh ở Hongkong rồi bay thẳng đến Sydney Australia. Vừa đến sân bay quốc tế Sydney, máy bay đang dừng ở bãi đỗ thì đã có hai nhân viên kiểm dịch, mỗi người cầm hai bình xịt sát trùng, họ mở nắp bình sát trùng ra rồi xịt mù mịt khắp cả khoang hành khách của máy bay. Nghe nói đây là phương pháp phòng dịch đặc thù của cơ quan kiểm dịch Australia, họ tặng cho những người khách mới đến đây một món quà gặp mặt đầy hỗn loạn bất an.

Chúng tôi ở trong một khách sạn lớn là khách sạn Skye, nằm trên đường Park Road, thế nên tôi cứ thuận bước đi tới công viên. Mặc dù là mùa thu nhưng có lẽ do trùng vào mùa mưa nên cỏ mọc dày như tấm thảm nhung xanh mướt, những hàng cây lớn đung đưa những phiến lá xanh biếc, hơn nữa còn nở bung những chùm hoa hồng hồng vàng vàng tròn tròn như những búp bông bằng len, và còn có cả mùi thơm ngào ngạt quyến rũ trôi bồng bềnh bất định như tấm lưới mỏng, cứ thế khiến con người ta say mê. Trong công viên Sydney có ba pho tượng lớn, một là ngư dân, một là phụ nữ, một là nông dân, ở phía trên có giải thích ngư dân là nước, phụ nữ là lửa, nông dân là đất, ngầm ám chỉ rằng đây là những người tiên phong trên trái đất.

Nhà hát kịch Opera Sydney có kiến trúc nổi tiếng thế giới, mang một chút hình thù theo kiểu tôn giáo, vừa giống như cái mũ của các kị sĩ cổ đại, lại cũng giống như bông hoa tỏa ra nhiều cánh, nhìn từ xa thì lại trông giống như một con cá lớn đang bơi trên biển. Chẳng trách nó thu hút sự chú ý của người ta như vậy, bởi vì nó vừa chẳng giống cái gì mà cũng lại vừa giống mọi thứ. Nhà hát Opera Sydney nằm cạnh biển, nằm ở bờ đối diện với biển rộng xanh ngắt, giữa những con sóng mờ ảo. Những ô cửa kính đan chéo đẹp mắt, màu trắng hồng, xanh lục nhạt, đỏ thẫm và vàng mơ khiến tôi ngẩn ngơ ngắm nhìn, quả thực rất ngoạn mục, tòa kiến trúc này đúng là có một không hai trên thế giới.

Tôi chú ý đến tốc độ đi đường vội vã của người Úc, không ngờ chẳng có ai đi thong dong từ tốn cả, tiếng bước chân đi bộ gõ nhịp dồn dập, tiếng hít thở gấp gáp khiến tôi cảm thấy bầu không khí khẩn trương, cũng có rất nhiều người đi đường chạy băng băng vì đuổi theo tàu hỏa, đuổi theo thuyền, đuổi theo ô tô, còn kẻ giống như người khách du lịch mang dáng vẻ ngà ngà say như tôi đây dường như còn phải tránh để không chắn đường họ. Ở những góc phố mặc dù có những người hát rong lang thang nhưng chỉ lác đác dăm ba người nghe, chỉ có một mình tôi dừng bước, ngần ngừ thương cảm cho họ mà không nỡ bước đi, Mike nói với tôi: "Số tiền lẻ trong cái hộp đàn guitar đó chẳng đổi được một bữa ăn no."

Ở khu Chinatown giống hệt mọi khu người Hoa khác trên toàn thế giới có công ty sách báo Nghệ Phong, tôi lại phát hiện ra sách tâm linh của tôi nằm yên ắng trên giá sách, là bản tiếng Quảng Đông. Lúc tôi chưa đến Úc, theo như ông chủ của nhà in nói, những cuốn sách này từng gây xôn xao khắp Sydney, trên báo cũng tuyên truyền và bình luận rất nhiều. Tôi cũng không nói với ông ấy rằng tôi là tác giả của những cuốn sách này, chỉ có điều trong lòng tôi giống như có liên tiếp những ngọn đuốc sáng được thắp lên, đuốc cháy tới mức hai má của tôi nóng rực, đến mức độ toát ra một chút khí khái anh hùng, giống như là bản thân mình đột nhiên cao lớn lên, nhưng cái nhân vật đã gây náo động này sao vẫn một mình cô độc đi bộ trên con đường hoàng hôn ở Sydney vậy?

Từng có một buổi tối buồn tẻ, chúng tôi cùng đi xem cuộc sống về đêm của người Úc, đó là "Cầm Khu", dưới ánh đèn neon lập lòe có rất nhiều bóng dáng cao gầy đang đứng, đây là phạm vi thế lực của Cầm Khu. Khu vực này sực nức mùi thơm, không ngừng mê hoặc người qua lại, người có sức kháng cự yếu thì nhanh chóng trở thành người khách sa vào lưới nhện, đây chính là con sâu độc của xã hội hiện đại. Tôi nhìn những cặp mắt đong đưa quyến rũ, những khuôn mặt xinh đẹp nhưng hoang mang trống rỗng, những bộ âu phục màu hồng nhạt, những đôi chân thon dài đẹp đẽ nhưng tuyệt đối không lộ liễu, đó thật sự là vô cùng lộng lẫy. Còn chúng tôi chỉ là người qua đường, không phải là những người "làm việc khuya", chúng tôi không thể lạc bước vào trong chốn nóng bỏng này.

Đi hưởng thụ một bữa tối tao nhã vậy! Chúng tôi tìm đến một nhà hàng có không gian ấm cúng, thắp lên một ngọn nến sáng, nhìn ra ngoài cửa sổ là biển, bên dưới ban công là những con sóng vỗ lấp lánh ánh đèn, con thuyền mờ mờ ảo ảo tiến về phía trước như không khí như khói sương, những dải đèn màu phía xa xa nhìn giống như giăng lên bao nhiêu ý thơ, ly rượu nho hảo hạng ánh lên trong ánh đèn đêm, lại có thêm món hải sản tươi ngon, tất cả những thứ này khiến chúng tôi lại trở nên ngây ngất say sưa.

Từ Sydney bay tới Melbourne, tôi nhìn thấy một tấm biển quảng cáo thuốc lá có nội dung rất đối lập là "Thank you for not smoking" [ ND: cảm ơn vì không hút thuốc ], một tấm biển khác thì là "Too good to refuse" [ ND: Quá ngon để có thể từ chối ], tấm biển trước là cảm ơn bạn, xin đừng hút thuốc, tấm biển sau thì lại nói là thuốc ngon quá, khiến tôi chẳng thể nào từ chối được. Tấm quảng cáo đối lập nhau này là chiêu bài lớn của công ty thuốc lá, chưa bàn đến việc hút thuốc lá tốt hay xấu, nhưng chỉ xem biển quảng cáo này thì dường như đã khiến người ta không hút thử không được.

Chúng tôi ở tại khách sạn Naya rất gần khu Chinatown, vì thế việc ăn uống của chúng tôi rất dễ giải quyết, gần đó có cung điện nhà Hán, có vườn hoa nhà Minh, hay nhất là còn có khu vườn đá kiểu Nhật Bản.

Mục đích chuyến du lịch nước Úc lần này của tôi là muốn quan sát hoàn cảnh địa lý ở đây. Mặc dù Australia ở bán cầu nam, nhưng hoàn cảnh địa lý xa xôi, đất rộng người thưa, khu vực ở giữa là hoang mạc rộng lớn còn dân cư thì phân bố ở bốn xung quanh. Do hoàn cảnh địa lý đặc thù nên trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất, cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai đều không bị ảnh hưởng, và những phần tử cấu thành nên đất nước này vẫn luôn không tranh giành với thế giới, người dân ban đầu đến từ châu Úc, thổ nhưỡng cấu tạo từ đá trầm tích nên đất đai không hề màu mỡ, vì thế nước Úc phần lớn làm nghề chăn nuôi. Dân cư sinh sống tại đây không khó để gặp được những người nhà giàu mới nổi, bởi vì mức sống rất cao, chi phí cuộc sống khiến người ta kinh ngạc. Theo quan sát của tôi, bất kì thứ gì cũng đắt hơn ở các nước khác, hơn nữa chí phí sinh hoạt cao hơn chúng ta rất nhiều. Người phương đông chúng ta đến nơi này đông nhất là người ở bán đảo Đông Dương và người Hồng Kông.

Ở Melbourne tôi đã gặp một người bạn đại học cũ là Tiển Đồng Chính, anh ấy bảo tôi, người Úc luôn bế quan tự thủ, cuộc sống yên ổn, người dân hiền lành, không có bạo lực, nhưng thiếu tinh thần phấn đấu, cũng không cần phải nghĩ chuyện làm giàu ở đây, chết nơi đất khách quê người xa xôi, đời người cũng không có nhiều ý nghĩa lớn. Đồng thời người Úc cũng có sự kì thị chủng tộc, cùng điều kiện giống nhau nhưng người Úc dễ thăng chức, người ngoại lai bị loại trừ. Ở đây con người cạnh tranh với nhau cũng phải nỗ lực muốn chết, khó tránh cảm thấy nản lòng.

Mặc dù nước Úc cũng có sự hấp dẫn của nó, nhưng nó đã để lại cho tôi cảm giác mịt mù không chắc chắn. Cảnh sắc ở nước Úc mặc dù đẹp mê người giống như miền nam Trung Quốc, bốn mùa rõ rệt khiến con người thích thú say mê, nhưng mảnh đất thiên nhiên tinh thâm này không phải là nơi tôi có thể tuyên dương Phật pháp. Và như thế, nước Úc trong lòng tôi chỉ là một trạm dừng chân giữa đường của tôi, con người ở đó không thể ảnh hưởng được đến bao nhiêu mối liên tưởng trong đầu tôi.
Nước Úc, trong ấn tượng của tôi, chỉ là một đất nước nằm ở bán cầu nam.


### 42. Tuyển tập thư của học trò gửi đến


Vưu Ngân Thọ

Vừa mới chia tay ở sân bay, thế mà thoắt cái đã hơn nửa tháng trôi qua rồi, ở phương xa con xin kính chúc cả gia đình ân sư bình an!

Ngày 16 tháng 6, mặc dù thời tiết mát mẻ như thế, nhưng tâm trạng của mỗi người lại nặng trĩu, chia tay ân sư rồi không biết khi nào mới lại có thể gặp lại thầy, không thể kìm được những giọt nước mắt cay cay, ngày hôm đó con chẳng thể kiềm chế được nữa mà đã òa khóc.

Ân sư, thầy đã cho con một ngọn đèn sáng, khiến con thay đổi hướng đi của đời người, là bước ngoặt trong cuộc đời con. Trên hành trình cuộc đời mù mịt khó dự đoán này, vào những lúc không biết phải làm thế nào, thầy đã dang đôi tay đầy từ ái kéo con ra khỏi bóng đêm tối tăm để con không còn trầm luân nữa, khiến con nhận thức được sự tồn tại vĩnh cửu của ý nghĩa chân lý cuộc đời. Thầy trao cho con Đạo pháp, truyền cho con dựa vào thánh mà tu, ơn thầy sâu như cha mẹ tái sinh, con là người vinh hạnh nhất trong số các sư huynh đệ.

Sau này đệ tử sẽ luôn luôn cảnh giác lời nói và hành động của mình, kiền thành học Phật, tu trì học tập, không phụ sự dạy bảo của ân sư, để đền đáp công lao dạy dỗ của ân sư.

🌟

Trang Hoàng Du

Từ sau khi thầy đi, rất nhiều học trò đều không biết hoặc không hiểu rằng thực sự trong lòng thầy rất đau khổ. Mặc dù mỗi học trò đều nói phải làm sao để kiền thành tôn kính thầy, nhưng nếu trong số đó có một con sâu làm rầu nồi canh, không nghe theo những lời giáo huấn của thầy, vì thế đã làm tổn hại đến danh dự và uy tín của thầy, những tội này lại do thầy gánh vác, đây thật sự là sai lầm của chúng con.

Cái tâm của con người là thế nào? Như Phật Đà đã nói, "tâm quá khứ không thể đắc, tâm hiện tại không thể đắc, tâm vị lai không thể đắc", chúng sinh bây giờ chỉ biết nóng lòng cầu minh sư, tiếc là, cho dù gặp được minh sư, có được cái tâm đúng đắn rất quý giá, nhưng khi quay về thì lại quên mất, cuối cùng vẫn lại chạy theo mưu cầu danh lợi.

Chúng sinh ở biển Đông có lẽ phúc mỏng, không giữ được người thầy linh tiên anh minh, thầy đã rời xa chúng con, viết đến đây, trong lòng con cảm thấy thật bứt rứt, không kìm nén được sự sám hối và phản tỉnh.

🌟

Lại Danh Hương

Đã qua Tết Đoan Ngọ rồi, gia đình thầy có ăn bánh ú không? Cổ nhân nói "mỗi dịp lễ tết lại nhớ người thân bội phần", đúng là có cảm xúc mà bật ra thành câu thơ. Lúc ăn bánh ú, cả nhóm chúng con ở Đài Loan nhớ đến gia đình thầy, không biết tai mọi người có thấy nhột nhạt không?

Với nhận thức muộn màng, chúng con vĩnh viễn không thể theo kịp trào lưu, làm bất kì việc gì cũng đều luôn chậm chạp, khi chúng con bắt đầu ý thức được rằng phải xin thầy chỉ bảo và học pháp từ thầy thì thầy đã đi rồi, thầy đã đi xa không một chút vướng bận như vậy, không một chút ràng buộc như vậy, để lại cho học trò chúng con đây biết bao thẫn thờ và hoài niệm.

🌟

Liệu Kim Thành

Xa cách đã lâu, đến tận hôm nay con mới cầm bút viết thư thỉnh an thầy, vẫn mong thầy thứ lỗi. Cuộc sống ở Mỹ của thầy có được yên tĩnh nhàn nhã không? Chế độ phúc lợi xã hội toàn diện của một đất nước văn minh luôn khiến người ta cảm thấy vô cùng an toàn. Đi ra ngoài để quan sát và hiểu rõ hơn, đúng là đi vạn dặm đường tốt hơn đọc vạn quyển sách.

Lần này đệ tử du lịch châu Âu tổng cộng ba mươi lăm ngày, xuất phát từ trạm đầu tiên ở Hongkong, sau khi chuyển máy bay ở Bangkok thì dừng ở New Delhi Ấn Độ, sau đó đến Ruba ở Ả Rập, Athens ở Hy Lạp tham quan miếu thần, rồi đến thủ đô Vienna nước Áo, tiếp theo là Copenhagen ở Đan Mạch, Thụy Điển, hiện tại con đang ở Hamburg nước Đức. Con đi đến nơi nào cũng gặp được điềm lành, cảm ơn thầy đã ban phước làm chứng hôn cho con, khiến hai người chúng con được hạnh phúc an nhàn.

🌟

Từ Mạnh Mỹ

Con có rất nhiều lời muốn nói, nhưng lại không biết bắt đầu đặt bút viết thế nào, chỉ mong thầy có thể hiểu chúng con rất nhớ thầy. Còn nhớ ngày hôm đó là sinh nhật thầy, mọi người đều tụ tập cùng nhau để chúc mừng, nhưng nếu mà có thầy ở đó thì không biết sẽ vui mừng đến mức nào!

Vào thời khắc này, có lẽ thầy đang viết sách hoặc làm việc gì đó, kẻ làm học trò như con đây vẫn muốn nhấn mạnh rằng, mong thầy nhớ đến những học trò ngày xưa, đồng thời đừng quên hồi tưởng lại nơi mà chúng ta đã sinh ra và lớn lên.

🌟

Trịnh Dụ Tín

Khi thầy còn ở Đài Loan, thầy đã chăm lo cho cả nhà chúng con không khác gì người cha. Từ sau khi thầy đi Mỹ, mỗi ngày con đều cảm thấy sự trống trải mất mát, có một khoảng thời gian tâm lý không có cách nào cân bằng được. Bây giờ chúng con cũng chẳng có cách nào để nói và báo đáp, chỉ có thể làm hết bổn phận nỗ lực làm việc, trên phương diện tu trì thì tinh tấn không lười nhác, bây giờ cũng chỉ có cách cầu Phật che chở để sau này lại có duyên được ở gần nhau.

Ngoài ra, hy vọng bản thân thầy cũng trân trọng ngọc thể, chỉ cần cả nhà khỏe mạnh vui vẻ là đã khiến cho con an tâm rồi.

🌟

Giang Dụ Quần

Thầy có khỏe không? Từ sau khi thầy đi Mỹ, chúng con đều rất nhớ thầy. Sắp đến sinh nhật của thầy rồi, nhớ lại năm ngoái vào ngày sinh nhật thầy, mọi người vui mừng tụ tập nhau lại để cùng chúc mừng thầy, thật khiến người ta khó quên, quãng thời gian vui vẻ này không biết đến khi nào mới có thể lặp lại. Thầy ơi, con kính cẩn gửi đến tấm thiệp nho nhỏ này để biểu thị sự chúc phúc và tôn kính của con đối với thầy. Con chúc thầy sinh nhật vui vẻ.

Hôm nay con đã tốt nghiệp rồi, nhờ có Phật Bồ Tát bảo hộ và sự dạy dỗ của thầy cô và cha mẹ, với thành tích là người đứng thứ nhất, con đã thay mặt cho những học sinh tốt nghiệp đọc bài diễn văn chúc mừng. Thầy ơi, chắc chắn thầy cũng sẽ mừng cho con! Hy vọng thầy có thể cùng con hưởng niềm vinh dự này.

🌟

Trương Bích Châu

Bao nhiêu năm qua nhờ có sự hỗ trợ của thầy mà nhà xuất bản do học trò quản lý đã có thể trụ vững được lâu như vậy. Vui mừng biết tin thầy đang sống ở nước Mỹ xa xôi, tu luyện đạt đến trình độ càng cao hơn, lại còn chuyên tâm viết sách, đã đem những kinh nghiệm suốt mấy chục năm nay viết thành cuốn "Thông linh bí pháp thư", để cho người đời và tất cả học trò đều có được những gặt hái quý giá, nhờ sự dẫn dắt ấy mà hướng thiện, đồng thời hiểu rõ đạo lý của việc khởi phát linh học, đúng là một tin cực kì tốt lành.

Chỉ mong cuốn sách này tỏa ánh hào quang vạn trượng, đạt đến cảnh địa "truyền linh". Nhà xuất bản của con cũng đã bắt tay vào lên kế hoạch làm sao để mở rộng phát hành. Kính chúc thầy vạn sự như ý.


### 43. Thư của bố và những người khác


Bức thư thứ nhất:

Thắng Ngạn, Lệ Hương, Phật Thanh, Phật Kì, các con các cháu có khỏe không? Kể từ khi các con đi đến thế giới mới, vùng đất mới, mỗi ngày bố đều nhớ các con! Nhận được thư của các con bố rất vui mừng.

Seattle đứng thứ 5 trong số các thành phố đáng sống nhất ở Hoa Kỳ. Với lượng mưa hàng năm là 39mm, ít hơn một chút so với Boston, đứng thứ 18 về tổng thể, nhưng mưa thường xuyên hơn. Sau khi các con rời khỏi Đài Loan, thời tiết ngày ngày đều âm u và có mưa, có lẽ trời đất cũng thương xót cho nỗi đau khổ sinh ly của chúng ta nên đã khóc những giọt nước mắt đồng cảm.

Ngày 20 tháng 6, nhà ta chuyển đến nhà mới, rất nhiều học trò của con đều vì tình nghĩa mà đến giúp đỡ, tấm lòng nhiệt tình thật cảm động. Việc bán ngôi nhà cũ do mẹ con một tay thu vén, bố thấy bà ấy rất buồn, đồ đạc lại rất nhiều, trong tình hình suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay, việc mua bán không phải là dễ dàng. Trong ngôi nhà của con, mỗi ngày trung bình có hàng chục cuộc điện thoại, hỏi khi nào thì con từ Mỹ trở về, có thể nói là ai cũng hỏi một câu y hệt. Em trai Chiêu Dung của con thậm chí còn nghe thấy bên kia điện thoại cả nhà lớn nhỏ đều khóc thút thít rồi hỏi: "Thầy đi Mỹ rồi, có còn trở về nữa không?", khiến Chiêu Dung cũng ngây người ra, không dám gác điện thoại.

Sau khi các con đi, máy quay phim đã bị hỏng tiếng, không thể phát ra âm thanh vui vẻ nữa. Có thể lâu ngày không có ai sử dụng nên rất dễ hỏng hóc. Ngay cả con chó cưng cũng không buồn ăn uống nữa, nó đã gầy rộc đi, không còn hoạt bát như trước nữa. Bầy cừu của con đã mất đi người chăn dắt, hoang mang vô chủ. Hai người già này thì tựa cửa nhớ các cháu, nhớ nàng dâu hiền, và người chăn dắt vĩ đại. Nhìn những tấm bảng lưu niệm trong phòng khách nhà con, chẳng dễ mà có được chúng, nhìn vật lại nhớ người, con đã làm rạng danh tổ tông, đúng là phúc của gia đình.

Sau khi Phật Đà niết bàn không lâu, các đệ tử không ai bảo ai mà cùng kết tập, thuật lại chi tiết lời của Thế Tôn, gom góp tập hợp kinh điển. Các môn đồ của Chúa Jesus thì gặp khổ nạn mà từng người tản mát đi khắp nơi, lan truyền phúc âm của Chúa. Các học trò của con cũng vào ngày 15 tháng 5 âm lịch tập hợp tại Linh Tiên Tinh Xá tổ chức chúc mừng sinh nhật con, cử hành đại pháp hội cầu phúc chúc mừng sinh nhật, mặc dù thầy của họ đã ở một lục địa mới xa xôi vạn dặm nhưng cũng vẫn như ở ngay cạnh bên. Họ xướng lên tiếng Phạn và âm thanh cầu phúc thấu tới tận trời xanh, rồi nhờ sự tiếp dẫn của Bồ Tát mà bay xa vượt trùng dương để đến vùng trời nơi con đang ở, đây chính là lời chúc phúc từ tận đáy lòng của mọi người.

Mong con mãi mãi đừng quên tất cả mọi thứ ở hòn đảo xinh đẹp này, bầy con chiên trung thành của con mong mỏi con dành thời gian trở về Đài Loan, chỉ thị và hướng dẫn họ, truyền đạt những thanh âm tốt lành. Còn những sáng tác văn chương của con là đại sự nghiệp nghìn đời, đừng xao nhãng. Hãy nhắc hai đứa cháu ngoan ngoãn, vợ chồng tương kính như tân, thời gian như người đi đường, trời đất là lữ quán, đi đến nơi nào mọi người cũng sẽ nhớ các con. Chúc các con bình an hạnh phúc! Vạn sự như ý!

Nhĩ Thuận, Ngọc Nữ, Nghê Anh, Chiêu Dung thân ái.
7/7/1982

🌟

Bức thư thứ hai:

Thắng Ngạn, Lệ Hương, Phật Thanh, Phật Kỳ, nơi đất khách bình an!
Bố vừa nhận được văn kiện của Ủy ban văn hóa kiến thiết của Viện Hành Chính nói rằng, rất ngưỡng mộ ngài đã sáng tác rộng rãi và phong phú, thành tựu xuất sắc, có cống hiến đáng kể đối với sự phát triển và kiến thiết văn hóa văn nghệ. Nhằm biên tập mục lục các tác giả tác phẩm của Trung Hoa Dân Quốc, xây dựng hồ sơ, họ yêu cầu điền vào bảng tài liệu một bản và ba tấm ảnh, bảng tư liệu này bố đã điền, ảnh thì phải gửi bưu điện về đây, đây là một việc vô cùng có ý nghĩa, không thể mặc kệ.

Con đã nhận được tấm lụa có kí tên là quà sinh nhật cho con chưa? Ngày hôm đó, bố mở thư con gửi về ra, rất nhiều học trò đều ghi lại địa chỉ, ngoài ra còn có học giả Hồ Vĩnh Thanh của nhà in, luật sư Vũ Trung Sâm, Bành Hồng Cẩm Châu ở cung Hương Sơn Thánh Mẫu, còn có Ngô Hoành Chấn rất lịch sự gửi lời hỏi thăm sự bình an của con. Ngoài ra thì cái kẻ lưu manh sống nơi núi non hoang dã ở Đài Loan cũng đăng một bài quảng cáo và đăng gợi ý là lại chính thức rời núi, mỗi ngày hẹn gặp mười danh nhân để xem tướng, kết quả thế nào thì sống chết mặc bay, e rằng người đi tìm ông ta cũng lác đác như sao buổi sớm. Đối với thật giả, thế nhân lâu ngày rồi cũng sẽ nhìn ra và thấu hiểu cái công phu huênh hoang khoác lác của hắn ta lần này không hiệu nghiệm rồi. Muốn dựa vào sự thần toán nhạy bén để kiếm ăn ư, hắn ta cũng thật là suy nghĩ viển vông!

Ngày 28 tháng 7 có cơn bão Andy đổ bộ, miền trung được trời ưu ái nên đã bình yên vô sự, nhưng hàng rào bằng thép không gỉ của nhà Ấn Thuận Đạo Sư hàng xóm cũng bị thổi lật nhào, Ấn Thuận Đạo Sư lập tức gọi người đến sửa lại, hỏi ý kiến chúng ta có muốn cùng sửa hay không, đương nhiên là chúng ta vui vẻ đồng ý rồi.

Theo thống kê trong cuốn Giáo Dục Hoa Kì do bộ giáo dục Hoa Kì ấn hành, từ năm 1981 đến nay đã trao tặng danh hiệu Tiến sĩ cho tổng cộng 72.700 người, hiện tại mỗi năm có 3.300 người, trong đó ngành sư phạm chiếm nhiều nhất là 24.3%, ngành sinh vật chiếm 21.1%, ngành xã hội học chiếm 9.9%, ngành khoa học tự nhiên chiếm 9.5%, ngành tâm lý học chiếm 8.5%, ngành kĩ sư chiếm 7.7%,  các ngành khác chiếm 29%. Việc bồi dưỡng giáo dục cho Phật Thanh, Phật Kì phải từ từ, đừng vội vàng sốt ruột, mặc dù Phật Thanh Phật Kì đi học toàn đứng thứ nhất, nhưng không nên quá nôn nóng. Não bộ của những đứa trẻ người Hoa sinh ra tại Đài Loan đứng số một thế giới, tương lai phải xem hứng thú của chúng, để cho chúng tự phát huy sở trường.

Cuốn sách số 40 "Thông linh bí pháp thư" của con chắc sắp xong rồi nhỉ! Cuốn sách số 40 là một cột mốc lịch sử, như người Nhật thì chuộng tổ chức tiệc rượu để kỉ niệm xuất bản, từ lâu rồi bố đã nghĩ sẽ tổ chức một bữa tiệc rượu kỉ niệm xuất bản cho con, kết quả là đến bây giờ vẫn chưa thực hiện được dự định đó, thực sự là khiến người ta tiếc nuối. Các con ở Mỹ, hãy nhân cơ hội này mà rèn rũa luyện tập thân thể, ăn uống cho tốt, các con đã quen với cuộc sống sinh hoạt thường ngày chưa? Mọi người rất nhớ các con! Chúc các con khỏe! Hạnh phúc! Thân tâm vui vẻ!
Tất cả các học trò đều nhớ các con.

Nhĩ Thuận, Ngọc Nữ, Nghê Anh, Chiêu Dung thân ái.
4/8/1982


### 44. Đại học Washington và nhà sách Nam Thiên


Hồi mới đến Seattle nước Mỹ, có người hỏi tôi, ở Seattle có mua được sách của thầy hay không, tôi trả lời rằng e là không có!

Mặc dù ở New York, Los Angeles, Chicago, thậm chí ở Sydney Australia, London nước Anh đều thấy sách của tôi trưng bày trong hiệu sách, nhưng Seattle nhỏ hơn các đại đô thị thông thường ở Mỹ thì làm sao có thể bán sách của tôi chứ? Vì thế, khi tôi còn chưa biết chắc thì tôi luôn trả lời là e rằng không có đâu!

Một hôm, có giáo sư Chu Chính Hoa của Đại học Washington đến phỏng vấn tôi, ông ấy khẩn thiết giải thích cho tôi biết rằng sở dĩ ông ấy biết tôi là vì trong thư viện của Đại học Washington có những cuốn sách của tôi, không chỉ là một cuốn mà có tương đối nhiều. Không chỉ như thế, những cuốn sách này thường xuyên được mượn, là loại sách rất được ưa thích tại thư viện Đại học Washington. Ngoài ra, hàng xóm tôi có ông Trần Ngạn Lợi, ông ấy bảo tôi, ở trung tâm thành phố Seattle có nhà sách Nam Thiên, nhà sách Nam Thiên này cũng có bán sách của tôi. Kết quả là, tôi không thể không cảm thấy một cảm giác thân thiết mơ hồ đối với thành phố Seattle này.

Tiến sĩ Ngô ở Los Angeles, bà Thẩm Dẫn Hoa của hãng hàng không Trung Quốc Airlines, Bàng Huy ở Canada, thậm chí hai luật sư Henry và Dick người Mỹ, họ đều đem đến cho tôi tin tức đáng mừng là ở các nơi trên thế giới, chỉ cần là nơi có người ở thì sẽ có sách của tôi được trưng bày ở đó, ở những thành phố lớn lấp lánh ánh đèn, hay những nơi phố núi hoang vu ở hải đảo xa xôi, thậm chí ở cảng biển New Castle xa tít tắp ở phía bắc nước Anh, La Rochelle ở Pháp, Dortmund ở Tây Đức đều có sách của tôi được bày bán. Tôi thật sự là không thể ngờ! Những tác phẩm của tôi lại được truyền bá rộng lớn đến như vậy. Còn tôi thì chỉ lặng lẽ ở quê hương mình viết sách, chỉ là một kẻ vô danh tiểu tốt chưa bao giờ được coi trọng mà thôi.

Mấy ngày trước, bố tôi từ Đài Loan gửi thư đến nói, Ủy ban văn hóa kiến thiết của Viện Hành Chính có công văn nói rất ngưỡng mộ tôi đã sáng tác rộng rãi và phong phú, thành tựu xuất sắc, có cống hiến đáng kể đối với sự phát triển và kiến thiết văn hóa văn nghệ. Để biên tập mục lục các tác giả tác phẩm của Trung Hoa Dân Quốc, xây dựng hồ sơ, họ yêu cầu điền vào bảng tài liệu một bản và ba tấm ảnh. Bố tôi nói với tôi điều này là muốn tôi gửi về ba tấm ảnh, không thể mặc kệ chuyện này được.

Tôi cảm thấy, trước kia tôi sống ở quê nhà, mặc dù đã viết 39 cuốn sách, nhưng luôn luôn cực kì ít liên hệ với giới văn hóa và văn nghệ, không có biểu hiện cụ thể rằng tôi là người sáng lập cái gì cả. Tôi chỉ nghĩ là chăm chỉ viết, hy vọng có một ngày sẽ có người hiểu tôi, tôi cũng sâu sắc biết rằng tình yêu và niềm kì vọng của tôi đối với quê hương có phần tha thiết hơn người bình thường, cho dù hiện tại tôi đang ở nước ngoài, nhưng tôi vẫn giữ được cái tâm thái muôn thuở ấy, cho dù tôi nổi tiếng khắp thiên hạ thì tôi vẫn là tôi. Tôi sẽ không thay đổi hay thất vọng về cách người ta đối đãi với tôi, cho dù sự đối đãi của họ là thân thiết hay lạnh nhạt.

Tại Linh Tiên Các ở Seattle, trong căn gác xép cô độc ở tầng ba, tôi cẩn thận xem xét lại những điều huyền bí của linh giới. Tôi mong mỏi con người đừng coi thường sự tồn tại của thế giới tâm linh. Mục đích và tác dụng của việc tôi viết sách không chỉ là nói về tín ngưỡng, mà còn là chú trọng đến thực tiễn, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau. Tôi đưa ra cho họ thấy viễn cảnh tương lai sau cuộc đời mỗi con người, đưa ra một lời giải thích thiết thực hơn đối với đạo đức và ý nghĩa của cuộc sống, không khuyến khích ham muốn vật chất của con người, mà là thay đổi quan niệm về giá trị của thế nhân.

"Linh Tiên bí pháp thư" không phải là một cuốn sách phổ thông, trên thị trường, mặc dù có rất nhiều sách về tu đạo của Đạo gia, nhưng chỉ có một số ít là có thể đọc được và có tính thực tiễn. Phần đầu của cuốn sách này thiên về Đạo gia, còn phần sau thiên về Phật môn, bất kể là Phật môn hay Đạo gia thì đều có thể tu trì không mâu thuẫn nhau, tránh dẫn tới việc phê bình và phỉ báng ai cao ai thấp. Những gì được viết trong phần trước đều là những bí mật tương đối quý giá, những bí mật mà nếu không phải là đệ tử tâm đắc thì sẽ không truyền, đều nằm trong đó, nhưng có một số ấn phù tôi có giấu một chút, bởi vì chúng có mối liên quan trọng đại, nếu người xấu dùng thủ đoạn phi pháp để đi đường tắt, e là bản tính của họ không thay đổi, sẽ làm xằng làm bậy, vì thế tôi không thể không lựa chọn cách làm này. Giả sử độc giả thật sự có lòng thành, hi vọng các bạn đến tìm tôi, có thể truyền thì tôi sẽ truyền pháp cho bạn, không thể truyền thì vẫn cứ dừng ở đó thôi, đừng cho rằng tôi không đủ hữu hảo, cũng đừng cho rằng tôi quá ích kỉ, bởi vì nếu truyền cho không đúng người thì cũng vô cùng nguy hiểm. Đạo thuật trong Đạo pháp có sự tiết chế nhiều lớp, nếu dùng không đúng pháp thì sẽ làm tổn hại đến người khác, cũng làm tổn hại đến chính mình, lễ nghĩa có sai hỏng lại càng đắc tội với cao chân thập phương, đây thuộc về sai sót do thiếu hiểu biết, cũng là sai lầm vô ý.

Ngày nay, tôi phát hiện thấy rất nhiều người không hề quan tâm đến chân lý, cái này vô cùng nguy hiểm. Quan điểm linh học của tôi có lẽ là những ngôn luận mà một bộ phận người nào đó không thích, nhưng cái này cũng không hề gì, quan điểm linh học của tôi không hề dựa vào thần học để làm cơ sở, tôi hoàn toàn không áp đặt phương thức để kêu người ta phải tín ngưỡng tôn giáo đó, tôi cũng không đưa ra hệ thống đạo đức, chỉ là chứng minh rằng linh giới tồn tại là sự thật không còn gì nghi ngờ, sau này hãy để cho khoa học chứng minh. Bất kể độc giả tin tưởng cái gì, các bạn có thể nghi ngờ chất vấn, bởi vì khi nghi ngờ chất vấn thì có thể đi thực nghiệm và thực tiễn, dùng sự suy xét trung thực để biểu đạt lí do của ý chí. Giả sử bạn học cách tập trung tinh thần thì tôi sẽ không cần phải biện hộ cho những bài viết của tôi nữa, mọi người sẽ thừa nhận những gì tôi viết là không hề xuyên tạc, mà là chân lý.

Seattle là một thành phố có phong cảnh xinh đẹp, yên bình, gọn gàng sạch sẽ, rất trật tự và tốt đẹp. Linh Tiên Tinh Xá ở Mỹ đang trong quá trình lên kế hoạch xây dựng. Người tu đạo chúng ta phải học những ưu điểm và đạo đức tốt, như là siêng năng, tiết kiệm, trung nghĩa, ôn hòa, khiêm tốn, biết điều, hiếu học, kính trọng người tài đức, v.v… Đạo Phật của người Trung Quốc nhất định có thể sánh kịp với người nước ngoài, trí huệ của chúng ta cũng không thua kém gì những chủng tộc khác. Đó là mục tiêu lớn nhất của tôi khi xây dựng Linh Tiên Tinh Xá, tuyên dương Linh Tiên tông phong ở nước ngoài, chỉ mong địa vị quốc tế của chúng ta càng ngày càng tiến lên, để cho người nước ngoài biết người Trung Quốc cũng là một đất nước tiên tiến, cùng sánh vai sáng tạo ra thế giới đại đồng tốt đẹp này.

Tháng 1 năm 1983.
Seattle, Hoa Kỳ.

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/041-the-gioi-cua-con-mat-thu-ba.md
# Title: 041. Thế giới của con mắt thứ ba
---

![image](/img/img_32d2a03168a547ea2e2eb5efbe25619e.jpg)



## Thế giới của con mắt thứ ba


🪷 Nhìn thấu bí mật của vô hình

Văn tập: 041
Xuất bản: 02/1983
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


**Ý chí thiêng liêng của núi tuyết Rainier**

Đến giữa núi tuyết Rainier, núi xanh thung lũng biếc đều bị tuyết phủ kín, cả một thế giới mênh mông trắng xóa, những bông tuyết lả tả rơi, gió núi thật mát lành, không khí thật trong lành tinh khiết.

Tuyết chồng chất trên cây tạo thành những lớp dày đặc, nhìn xa vô số đỉnh núi, tất cả đều là những người khổng lồ trắng xóa, từng đám sương mù bay lượn, tạo nên khung cảnh như chốn tiên cảnh.

Trước mặt tôi, có một dòng suối róc rách chảy, vô số những bông tuyết bay lượn trên mặt nước, ngắm nhìn tuyết rơi, lắng nghe tiếng suối, lòng dâng lên nghìn mối xúc cảm.

Tôi một mình, rời xa mọi người, bước vào thung lũng sâu của núi tuyết Rainier, bởi trong lòng có một linh cảm mách bảo tôi: "Con hãy đơn độc bước vào chốn thâm sơn này". Thế là tôi không chút do dự, tuyết rất mịn và mềm, mỗi bước chân đều để lại dấu chân sâu hoắm, dù tuyết đọng trên mi mắt, ướt át, nhưng tôi vẫn vội vã bước đi, không biết đã bao lâu, dừng chân ngoái lại, tôi đã không còn thấy được lối về, chỉ còn những tia tuyết rực rỡ rơi xuống, tiếng suối chảy văng vẳng, những cây phủ đầy tuyết, và một con người cô độc giữa trần gian.

Lúc này, tôi như hóa thành một điểm nhỏ giữa vũ trụ bao la, ngẩng đầu nhìn lên bầu trời xám trắng, cúi xuống nhìn mặt đất, thấy một màu trắng tinh khôi vững chãi. Bỗng nhiên, tôi cảm thấy vô cùng cô độc, tất cả đều bị bỏ lại phía sau, ở quê nhà Đài Loan, cha mẹ tôi, bạn bè tôi, học trò tôi, liệu họ có thể tưởng tượng được không, một con người từng trải bao sương gió, một người đã viết bốn mươi cuốn sách, một người từng làm chấn động bốn bể, hôm nay lại cô độc bước vào thung lũng sâu của núi tuyết Rainier, để diễn giải điều gì đây?

Điều này thật khó diễn tả bằng lời, và ai có thể hiểu được tâm ý của con người này.

Lúc này, trong lòng tôi xúc động lạ thường, tiếng lòng vang vọng dào dạt, bỗng nhiên toàn thân tôi như bị điện giật, nguồn cảm hứng mãnh liệt ấy khiến tôi gần như ngạt thở, không thể thở nổi.

Tôi thấy bầu trời xám trắng từ từ mở ra, hiện ra một cánh cửa trong suốt, di chuyển sang hai bên trái phải, từ trên trời bỗng nhiên chiếu xuống một vòng ánh sáng vàng kim tròn xoe, ánh hào quang thiêng liêng và rực rỡ ấy rọi thẳng vào người tôi. Tia sáng này trông như ngọn lửa đang cháy, nhưng không hề nóng rực, trông như ánh sáng đang bay múa, nhưng lại chiếu thẳng vào người tôi. Tia sáng này xoay quanh thân thể tôi, như làn khói nhẹ nhàng của nén nhang vừa thắp, tôi cảm thấy nội tâm vô cùng sáng suốt, và tràn đầy ấm áp, tâm hồn tôi như hòa làm một với tâm hồn của trời, ánh sáng thần thánh trên trời và tâm hồn tôi, hòa quyện chặt chẽ làm một. Lúc này, cảm nhận được sự vi diệu của thiên đạo, chí nguyện đã được toại thành, trái tim vốn cô tịch giờ đã tràn đầy thánh linh, thật lòng mà nói, tôi suýt rơi nước mắt.

Trên trời xuất hiện ba vị thiên sứ, ba vị thiên sứ xếp thành một hàng, thân của các thiên sứ tỏa ra ánh sáng vàng kim rực rỡ, chói lọi, trên đầu đội vương miện vàng, thân kim sắc tỏa ra vẻ trang nghiêm dịu dàng. Thì ra ánh sáng vàng trên người tôi là do ánh sáng từ thân của ba vị thiên sứ chiếu rọi. Vị thiên sứ ở giữa nói với tôi: "Hãy đi truyền bá chân lý cho mọi người, và kêu gọi họ trở về nơi đây." Ba vị thiên sứ chỉ nói với tôi câu đó, rồi dần dần biến mất. Tiếp đó, ánh sáng vàng chiếu rọi trên người tôi cũng dần dần thu về trời, cánh cửa thiên môn mờ ảo kia lại khép lại, từng đám từng sợi tuyết che khuất cánh cửa thiên môn, bầu trời trong chớp mắt lại trở nên xám xịt, tất cả trở về cảnh vật ban đầu.

Đôi chân tôi chìm sâu trong tuyết, trên đầu, trên vai tôi là những giọt pha lê lớn nhỏ, vừa khẽ cử động thân mình, những giọt pha lê liền lăn xuống đất. Tất cả như một giấc mơ, nhưng quả thật không phải là mơ, tôi đang đứng giữa thung lũng sâu của núi tuyết Rainier, tận mắt nhìn thấy cánh cửa thiên môn mở ra, ba vị thiên sứ từ thiên môn bước xuống, tận tai nghe được giọng nói tuyệt diệu của thiên sứ: "Hãy đi truyền bá chân lý cho mọi người, và kêu gọi họ trở về nơi đây."

Phải chăng đây là ảo giác của tôi?

"Thiên môn mở ánh sáng vàng chiếu rọi, tiếng nói vi diệu tuôn chảy trong tâm", đây không phải là ảo giác, mà là một sự ấn chứng. Tông phái Linh Tiên Chân Phật của tôi không chỉ phát triển rực rỡ trong nước, mà còn vang danh ở nước ngoài, tinh hoa tâm linh lan tỏa khắp bốn phương, đây mới thực sự là độ tận tất cả chúng sinh, tôi sẽ tinh tấn nỗ lực vì điều này.

Chư Phật Bồ Tát cõi trời đã kỳ vọng nơi tôi như thế, đích thân mở cửa thiên môn, đích thân ban truyền pháp chỉ, làm sao tôi có thể tự mãn, có thể an nhiên trong giấc mộng đẹp?

Bỗng nhiên, tôi cảm thấy trách nhiệm của mình thật lớn lao, chợt nhận ra rằng mình phải tiếp tục viết sách, viết hết những điều mà thiên sứ muốn nói.

Vì thế, tôi tiếp tục viết về thế giới tâm linh của mình, dùng linh giác để cảm nhận "Thế giới của con mắt thứ ba", đây là cuốn sách thứ bốn mươi mốt, cũng là cột mốc thứ bốn mươi mốt, tôi sẽ tiếp tục viết, không ngừng nghỉ và sẽ tự sinh sôi nảy nở, tôi có thể cảm nhận được tông phái Linh Tiên Chân Phật sẽ trở thành ngọn sóng giữa đại dương mênh mông, đời thứ hai, đời thứ ba, sẽ trở thành chân lý tu trì cao quý và vĩ đại.

Từ tầng ba căn nhà của tôi ở Seattle, mở cửa sổ ra là có thể nhìn thấy núi tuyết Rainier, từ Linh Tiên Các có thể phóng tầm mắt ngắm nhìn núi tuyết Rainier, ngọn núi ấy, sừng sững hùng vĩ, quanh năm tuyết không tan, đôi khi bị một lớp sương mù dày đặc bao phủ, nhìn thấy núi tuyết, tôi lại nhớ về khoảnh khắc chân thực đó, núi non tuyết cây, tiếng suối róc rách, bầu không khí trong lành không một hạt bụi, tất cả đều là minh chứng.

Tất cả những điều này đều là sự thật, chân lý này là vĩnh hằng, cõi trời đã bắt đầu gọi, tôi là người tiên tri tiên giác, cũng là một nhân vật nhỏ bé thành tâm.

Tháng 3 năm 1983 tại Linh Tiên Các, Seattle, Hoa Kỳ.

Địa chỉ liên lạc của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn

**Sheng-yen Lu
**17102 NE 40th Ct.,
Redmond, WA 98052
U.S.A


### 01. Điện báo đến từ thiên đường


Mỗi lần khi tôi cảm thấy hoang mang bất lực, tôi đều thành tâm cầu nguyện với thần Phật, và mỗi lần như vậy, những vị thần trên trời đều đáp ứng lời cầu xin của tôi, biến nguy thành an. Tôi cảm nhận được rằng thế giới quang minh luôn rải ánh sáng xuống trái đất còn nhiều khiếm khuyết này.

Tôi đến Úc cùng với ông Lâm Vĩnh Mậu, chúng tôi đã đi thăm Sydney và Melbourne. Tôi ngưỡng mộ cách sống an nhiên, không tranh đua của người Úc trên hòn đảo xa xôi này.

Tuy nhiên, trên đường về tôi gặp phải một vấn đề khó khăn, một vấn đề mà tôi hoàn toàn không lường trước được, nguyên nhân là do sự bất cẩn của công ty du lịch.
Muốn đến Úc, nhất định phải có visa Hồng Kông.
Lúc đi, quá cảnh qua Hồng Kông để đến Sydney, chờ máy bay trong phòng quá cảnh thì không sao; nhưng lúc về, do không kết nối được chuyến bay nên buộc phải ở lại Hồng Kông một đêm, không thể ở trong phòng quá cảnh, vì vậy bắt buộc phải có visa Hồng Kông.
Nghiêm trọng hơn là, nếu không có visa Hồng Kông, sân bay quốc tế Melbourne hoàn toàn không cho phép bạn lên máy bay.

Vé máy bay do hãng hàng không Cathay Pacific bán ra, công ty du lịch đã sơ suất, hãng hàng không cũng sơ suất. Còn tôi, dù được du lịch Úc là một điều thú vị trong đời, nhưng không về được thì thật chẳng vui chút nào. Ở một đất nước xa lạ, lại không có quan hệ ngoại giao, biết than thở cùng ai? Biết kêu cứu với ai? Chúng tôi tìm đến hãng hàng không, trưởng đại diện Cathay Pacific tại Melbourne nói với chúng tôi: "Do quy định pháp luật, chúng tôi đành chịu." Ý nói rằng, không có visa Hồng Kông thì làm sao có thể bay đến Hồng Kông được?

Chúng tôi tranh luận dựa trên lý lẽ, lập luận của chúng tôi là: đã không có visa Hồng Kông thì các anh không nên bán vé máy bay này, việc tạo ra lỗi này, hãng hàng không cũng có phần sơ suất. Thực tế đúng là như vậy, muốn đến Úc, nhất định phải có cả visa Úc lẫn visa Hồng Kông, thiếu một không được. Vị trưởng đại diện đó bị dồn vào thế bí, cuối cùng nói với chúng tôi rằng, ông ấy sẽ gửi điện báo cho hãng hàng không Cathay Pacific ở Hồng Kông, bảo chúng tôi sáng sớm mai đến sân bay chờ phản hồi từ phía Hồng Kông.

Ông Lâm Vĩnh Mậu nói với tôi: "Có được lên máy bay hay không là việc của Cục Di trú Quốc gia, hãng hàng không cũng không thể quyết định được việc này, có vẻ như mọi chuyện đã tuyệt vọng rồi."

Đêm đó ông Lâm Vĩnh Mậu lo lắng đến mức không ngủ được, mắt đỏ hoe, suýt khóc.

Còn tôi, tôi rất bình tĩnh, trước khi ngủ, tôi liên tục niệm danh hiệu thần của mình, trong lòng cầu khẩn hết lần này đến lần khác, xin hãy xuất hiện phép màu! Xin hãy xuất hiện phép màu!

Trong chớp mắt, linh của Bồ Tát đã giáng xuống, Ngài giơ tay viết trên không trung bốn chữ vàng rực rỡ "thông hành vô ngại", thế là tôi lấy bút viết bốn chữ đó lên tờ giấy trắng, bỏ vào túi áo, tôi không nói chuyện này cho ông Lâm Vĩnh Mậu biết, và yên tâm đi ngủ.

Sáng sớm hôm sau, tại sân bay quốc tế Melbourne, chúng tôi quả nhiên nhận được một bức điện báo, nội dung viết rằng: "Đặc biệt cho phép ông Lư Thắng Ngạn và ông Lâm Vĩnh Mậu được lên máy bay đi Hồng Kông, visa của hai người này sẽ do hãng hàng không Cathay Pacific bảo lãnh." Chúng tôi thấy vậy vui mừng khôn xiết, ông Lâm Vĩnh Mậu liên tục kêu lên: "Không thể nào, không thể nào..."

Vì vậy, chúng tôi đã dùng bức điện báo này để qua được kiểm tra hộ chiếu của Cục Di trú, vào được phòng chờ rồi lên máy bay. Mọi thứ đã sẵn sàng, chỉ còn chờ bay về Hồng Kông. Nếu mọi việc suôn sẻ như vậy thì tốt biết mấy?

Nhưng màn kịch hay còn ở phía sau!

Ngay khi động cơ máy bay khởi động, một viên chức di trú vội vã nhảy vào khoang máy bay, ngăn cản máy bay cất cánh. Trong tay ông ta cầm một bức điện báo, đọc tên tôi, nội dung điện báo viết rằng: "Không cho phép ông Lư Thắng Ngạn lên máy bay đi Hồng Kông vì không có visa Hồng Kông." Bên dưới cũng có chữ ký của hãng hàng không Cathay Pacific.

Tôi thấy vậy hoảng hốt, viên chức di trú yêu cầu tôi phải xuống máy bay ngay lập tức, bởi vì máy bay sắp cất cánh.

Vì vậy tôi đã đưa ra yêu cầu với viên chức di trú: "Hãy trả lại visa Úc cho tôi, visa Úc của tôi đã bị thu hồi khi kiểm tra. Thứ hai, hành lý của tôi đang ở trong khoang máy bay, xin hãy lấy ra ngay lập tức. Thứ ba, xin hãy chi trả chi phí ăn ở hàng ngày cho đến khi visa Hồng Kông được cấp, bởi vì tôi đã hết tiền rồi."

Viên chức di trú cũng sững sờ, bởi vì ông ta không thể đáp ứng được ba điều này. Tôi cũng đưa ra bức điện báo đầu tiên, viên chức di trú xem xong, cũng trở nên bối rối. Tuy nhiên, ông ta vẫn công việc nào việc đó, dù thế nào cũng yêu cầu tôi xuống máy bay. Tình trạng giằng co kéo dài hai mươi phút, tất cả hành khách trên máy bay đều nhìn về phía chúng tôi.

Cuối cùng, cơ trưởng máy bay đến, ông là vị cứu tinh của tôi, ông mỉm cười tìm hiểu tình hình, xem hai bức điện báo, sau đó nói với viên chức di trú rằng ông sẽ chịu trách nhiệm bảo lãnh, ký tên cam kết trên giấy, rồi vỗ vai tôi. Đến lúc này viên chức di trú mới cười, nói với giọng đầy ngưỡng mộ: "Ông thật là may mắn quá."

Máy bay lướt êm vào trong tầng mây, tôi lấy tờ giấy trắng ra cho ông Lâm Vĩnh Mậu xem, trên đó chính là bốn chữ: "Thông hành vô ngại."

Ông Lâm Vĩnh Mậu đọc: "Thông hành vô ngại, quả nhiên là thông hành vô ngại."

Khi đến Hồng Kông, chúng tôi tìm hiểu nguồn gốc của bức điện báo đầu tiên, phía hãng hàng không Cathay Pacific ở Hồng Kông kiên quyết khẳng định không hề gửi bức điện báo "bất khả thi" như vậy, họ còn cho rằng bức điện báo đó là giả mạo. Họ tức giận nói rằng, nếu hãng hàng không chở một người không có visa đến một quốc gia nào đó sẽ bị phạt một khoản tiền rất lớn, đây là quy định của luật pháp quốc tế. Ngoài ra, vì sự việc này mà nhân viên của cả công ty du lịch và hãng hàng không sau đó đều bị kỷ luật. (Về việc họ bị kỷ luật, trong lòng tôi cảm thấy rất xin lỗi.)

Tôi tìm hiểu không ra kết quả, nên lại hỏi vị thần của mình.
Ngài chỉ mỉm cười, không trả lời.
Tôi nghĩ: Chắc chắn Ngài đã dùng thần lực của mình tác động lên người gửi điện báo, khiến người đó tạm thời bị thôi miên, và trong trạng thái vô thức đã gửi bức điện báo đó.
Đây chính là bức điện báo duy nhất đến từ thiên đường.


### 02. Ngôi nhà hiển hiện ánh sáng


Vào năm 1982 (năm Dân Quốc thứ 71), lúc 2 giờ sáng ngày 25 tháng 7 âm lịch, tại một ngôi nhà thanh nhã ở góc Tây Bắc Seattle, Hoa Kỳ, mọi người trong nhà đều đang say ngủ. Bỗng nhiên, trong cùng một khoảnh khắc, tất cả đèn điện trong nhà đều bật sáng, từ tầng hầm, phòng tắm, phòng ngủ, phòng khách đến nhà bếp, ánh đèn rực rỡ chiếu sáng như ban ngày.

Người đầu tiên tỉnh giấc là bà chủ nhà Lư Lệ Hương. Bà nhớ rõ tối qua đọc tiểu thuyết đến 12 giờ và đã tắt đèn phòng ngủ mới đi ngủ. Vì vậy bà khoác áo dậy, đi ra phòng khách, lần này bà kinh ngạc đến sững sờ, bởi vì đèn treo, đèn bàn đều sáng hết. Chúng ta có thể tưởng tượng được sự ngạc nhiên của bà - làm sao mà giữa đêm khuya không ai bật đèn mà đèn lại sáng hết được. Bà không dám đi tắt đèn, vội vàng quay về phòng ngủ của mình, trùm chăn kín đầu, không dám lên tiếng.

Còn tôi, tôi ngủ ở tầng ba, cũng bị ánh đèn đánh thức, phòng ngủ của tôi cũng sáng trưng, tôi cũng không hiểu chuyện gì xảy ra, rồi đi xuống lầu, đèn phòng khách sáng rực, đi xuống tầng hầm, tầng hầm sáng rực, phòng tắm sáng rực, nhà bếp sáng rực, đi vào phòng ngủ của bọn trẻ, một đứa chín tuổi, một đứa sáu tuổi, hai đứa trẻ vẫn đang say giấc, mà đèn phòng ngủ cũng sáng rực.

Lúc này tôi chợt nghĩ, hay là có trộm đột nhập vào nhà?

Nhưng không hề có dấu hiệu nào của việc trộm đột nhập cả, kết luận cuối cùng là: không ai bật đèn mà tất cả đèn trong nhà đều sáng lên giữa đêm khuya, thật kỳ lạ.

Tôi nhớ trước đây từng xem bộ phim "Sự tiếp xúc của thế giới thứ ba", nhớ rằng khi người ngoài hành tinh đến, cũng là vào một đêm khuya, tất cả đèn xe đậu bên ngoài nhà đều sáng lên, điều đáng kinh ngạc hơn là không ai bấm còi xe, nhưng tất cả còi xe đều kêu inh ỏi, sau đó mọi thứ trong nhà bay tứ tung, như thể trong khoảnh khắc đó, từ trường của trái đất hoàn toàn mất đi trật tự vốn có.

Nghĩ đến đây, tôi mơ hồ cảm thấy dường như có một sức mạnh nào đó trong ngôi nhà của mình. Tôi bước vào phòng thờ Phật, ngồi xuống trong yên lặng, dùng phương pháp đếm hơi thở để nhập vào kim cang tam muội. Lúc này, tôi phát hiện mình đang ở trên không trung của một ngôi chùa - đó là Cung Minh Đức. Phía trước cung đang diễn ra một pháp hội, thì ra là các đệ tử của Linh Tiên Tinh Xá trong nước đang tổ chức pháp hội Vu Lan tháng bảy. Sân chùa người đông như nêm cối, pháp tòa được trang hoàng trang nghiêm, còn đẹp hơn trước đây. Có một vị pháp sư, chính là thầy Tịnh Ngộ, đang kết thủ ấn hóa thực, còn tôi thì đang ở trên không trung phụ giúp pháp sư. Ngày hôm đó, người đông, linh hồn cũng nhiều. Tuy thân xác tôi đang ở Mỹ, nhưng nguyên thần của tôi đang ở trên không trung của Cung Minh Đức, tất cả tiếng tụng kinh tôi đều nghe rõ mồn một.

Tôi đã biết trước rằng vào ngày 25 tháng 7 âm lịch ở Đài Loan, các đệ tử của tôi sẽ tổ chức đại pháp hội siêu độ tại Cung Minh Đức. Họ đã gửi thư mời tôi về, nhưng ở Mỹ, việc xây dựng Linh Tiên Tinh Xá đang rất bận rộn, hơn nữa công việc viết sách cũng đang tiến hành, nên tôi chỉ trong lúc tụng kinh buổi tối, đặc biệt thêm vào chú Đại Bi và chú Vãng Sinh, và tụng kinh đặc biệt gia trì ba lần, cầu nguyện cho pháp hội được thuận lợi thành công.

Tuy nhiên, tôi không ngờ rằng đèn điện lại đột nhiên sáng hết vào nửa đêm, và khi tôi vừa ngồi thiền thì nhanh chóng nhập vào kim cang tam muội, nguyên thần như tia chớp bay đến không trung của Cung Minh Đức, dường như mọi thứ đã được sắp xếp sẵn. Trên không trung của Cung Minh Đức, mây lành vây quanh, hộ pháp bát bộ thiên long vây quanh, một bầu không khí an lành, tôi mỉm cười không ngớt chào hỏi các đệ tử của mình, nhưng họ đều không thấy không nghe được. Mũ Ngũ Phật của pháp sư rất trang nghiêm, tiếng tụng kinh rất có hiệu ứng, các đệ tử cúi mình theo nghi thức.

Trên không trung, tôi giảng giải cho các linh hồn về tâm từ bi, tâm bình đẳng, tâm vô vi, tâm vô nhiễm, tâm không quán, tâm cung kính, tâm khiêm hạ và tâm vô thượng bồ đề.

Sau đó, tôi kết ấn Đại viên mãn, dùng thần thông trí tuệ của ấn Đại viên mãn để gia trì Phật lực cho tất cả linh hồn, và bí mật truyền dạy pháp quy y và quán đảnh. Trong số đó, có nhiều linh hồn nhanh chóng lĩnh ngộ, đắc pháp hoa ý, và có thể mau chóng siêu thăng lên cảnh giới cao hơn.

Tuy nhiên, trong lòng tôi vẫn cảm thấy buồn, bởi vì trong số các đệ tử, không ai có thể nhìn thấy được tôi. Điều này cũng không có gì lạ, vì họ thường ngày bận rộn mưu sinh, không thể tĩnh tâm tu trì, ngũ nhãn lục thông đều chưa chứng đắc được, làm sao có thể hiểu được tấm lòng tha thiết của tôi.

Cuốn "Thông Linh Bí Pháp Thư" mà tôi viết ở Mỹ vốn là bảo vật tu trì vô giá, nếu tu tập theo bất kỳ phương pháp nào trong sách đều có thể chứng đắc quả vị. Tôi hy vọng họ đừng chỉ chú trọng vào "địa linh học" hữu hình hữu tướng. "Thông Linh Bí Pháp Thư" là học thuyết vĩnh hằng, còn "địa linh học" chỉ là phương tiện tạm thời của thế gian, điều này mong mọi người hiểu rõ, đừng đảo lộn thứ tự trước sau. (Chú thích: Trong số học trò chỉ có một người biết tôi đã về.)

Đêm 25 tháng 7, đèn trong nhà bỗng sáng rực lên, tôi hỏi Bồ Tát đây là ý gì?

Bồ Tát bảo tôi: "Tất cả đều có sự sắp đặt, hiển hiện ngôi nhà sáng rực để nguyên thần của con về Đài Loan giúp pháp hội, chỉ vậy thôi."

Trong lòng tôi vô cùng cảm tạ sự chỉ dẫn của Bồ Tát, trong cõi u minh, tất cả đều là sự sắp xếp khéo léo của Ngài, trong cõi u minh, mọi việc đều có định số, con người không cần phải tốn công suy tính để mưu cầu chiếm đoạt, "trong mệnh có gì ắt sẽ có, trong mệnh không có chớ cưỡng cầu."

Tại đây, tôi thành tâm cầu nguyện, tôi mong Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát, dùng nghìn tay nâng đỡ, dùng nghìn mắt soi thấu, giúp đỡ các học trò của tôi!


### 03. Lén lút đẩy một cái


Theo lý thuyết bát tự, trong bát tự có kiểu người "dễ thấy ma", đây là chỉ nguyên thần bị quan sát tấn công hoặc thực thần làm hại, trong tứ trụ thiếu ấn thụ [một thuật ngữ trong bát tự, chỉ vật sinh ra ta] mạnh mẽ hoặc tỷ kiên [tỷ kiên tức là cái gọi là "đồng với ta"] kiếp tài [đại diện cho anh chị em] để sinh thân, ngự địch. Bản thân sức mạnh cực kỳ yếu ớt, dương khí không vượng, một khi gặp xung phạm, liền dễ nhìn thấy âm vật.

Ngoài ra, tôi đã từng nói, một người dù dương khí sung mãn, nhưng cũng có lúc âm khí tăng lên, khi dương khí suy yếu, báo hiệu bệnh tật đến hoặc vận khí cực thấp, việc người này gặp quỷ thần là một điềm báo, cho thấy thọ mạng trong nhân gian sắp hết, hoặc có tai họa sắp đến.

Về việc có thể nhìn thấy quỷ thần, loại đặc biệt nhất chính là "tu đạo thiên nhãn", khi tu luyện đến mức khai nhãn thông, tự nhiên mọi việc, mọi quỷ thần linh vật, đều không thể thoát khỏi "con mắt thứ ba", những hiện tượng siêu nhiên càng trở nên bình thường như cơm bữa.

Ví dụ như tác giả, bát tự của tác giả rất nặng, bát tự thân vượng, có thể thấy quỷ thần, nhưng lại không lo không phiền, vạn sự như ý, thân tâm khỏe mạnh, vận xui vĩnh viễn không thể bám vào thân.

Trong số bạn bè người Mỹ của tôi, có một người tên là Winnie, vợ anh ấy tên là Malerey. Một lần, gia đình họ tổ chức "garage sale", tức là đem những đồ không cần thiết ra bày bán ở sân nhà, kiểu bán hàng này rất phổ biến ở Mỹ. Chúng tôi đến xem, vừa nhìn thấy mặt Malerey, trong lòng tôi lập tức có chút "bất an", bởi vì ấn đường của cô ấy tối đen, rõ ràng là có âm khí quấn thân, nếu không trừ được âm khí này, chắc chắn sẽ có tai họa xảy đến.

Nhưng tôi không thân với Malerey lắm, chỉ gặp vài lần, nên không tiện nói thẳng ra điều này.

Không lâu sau, tin tức truyền đến, Malerey hiện đang nằm trong bệnh viện, nguyên nhân là khi cô ấy xuống tầng hầm, lúc đi cầu thang không cẩn thận, bị trượt chân, ngã từ trên xuống dưới, gãy chân, hiện đang được bó bột tại bệnh viện.

Lúc đó tôi nghĩ trong lòng, khi một người có ấn đường tối đen, âm thần nhập thân, nguyên thần của người đó đã lung lay sắp đổ, lại bị quỷ linh lén lút "đẩy một cái", không chết là đã rất may mắn rồi.

Một ngày nọ, vợ chồng Winnie đến thăm, Malerey chống hai cây nạng, trong lúc trò chuyện, cuối cùng chúng tôi đã có câu trả lời: Hóa ra ngôi nhà của Winnie mới mua được hơn một năm, chủ nhà trước là một ông cụ già, ông rất chăm sóc căn nhà tỉ mỉ chu đáo, đây là một ngôi nhà gạch đỏ, và ông cụ đã qua đời ngay trong căn nhà này, sau đó các con trai của ông đã bán ngôi nhà cho Winnie.

Vợ chồng Winnie nói rằng, ngay khi họ vào căn nhà này, đã cảm thấy một bầu không khí kỳ lạ, và những người sống trong nhà thường xuyên cảm thấy mệt mỏi, đôi khi họ nhìn thấy những bóng đen di chuyển qua lại trong nhà, thường xuyên có tiếng gõ đập vang lên, ngay cả khi ngồi trên ghế sofa ở phòng khách, cả hai người đều cảm thấy có một bóng đen lướt qua trước mặt.

Thực ra chuyện này không chỉ xảy ra với vợ chồng Winnie, mà vợ chồng tôi cũng từng gặp phải. Khi nhà tôi mới chuyển đến Seattle, chúng tôi thuê một căn nhà trông rất mới (đã được sửa sang), rất rộng rãi, diện tích khoảng 660 mét vuông, hai người lớn và hai đứa trẻ ở thì quá đủ. Những khúc mắc trong chuyện này tôi đã viết trong cuốn "Thông Linh Bí Pháp Thư", kể về quá trình tôi đấu pháp với âm linh. Còn nhà tôi, Lư Lệ Hương, có một lần đi xuống tầng hầm, cũng ở cầu thang, phía sau có "người" thò tay ra đẩy một cái, khiến nhà tôi trượt chân ngã từ trên cầu thang xuống tận tầng hầm, đau đến mức chỉ có thể rên rỉ, nước mắt tuôn rơi, không khóc thành tiếng được, và tất nhiên cũng không thể tự đứng dậy.

May mắn là hôm đó tôi đang ở nhà, vội vàng đỡ nhà tôi dậy, lập tức bôi thuốc cao đặc trị bong gân và tiêu viêm của người Trung Quốc. Nhờ ơn phù hộ của chư Phật Bồ Tát, không bị gãy xương chân, chỉ bị trật gân, sưng đau trong một tuần rồi tự khỏi.

Nhà tôi thường hỏi tôi, nhà mình có ma không?
Tôi nói không có.

Thực ra làm sao tôi không biết, trong nhà này đúng là có hai "ma già Mỹ" trú ngụ. Sau đó tình hình trở nên quá đáng, tôi dùng chày kim cang Mật tông, không khách sáo đuổi hai ma già ra ngoài, hừ! Đừng tưởng người Trung Quốc dễ bắt nạt, gặp phải Lư Thắng Ngạn chuyên trừ ma quỷ này thì đúng là xui xẻo cho mấy ma già Mỹ.

Tôi nhận thấy ma quỷ ở Mỹ có một thói xấu, bản tính của chúng rất ngang ngược kỳ quặc, thích chơi khăm người khác, rồi đứng một bên cười hì hì, có tâm lý như trẻ con nghịch ngợm.

Ví dụ như khi người ta xuống cầu thang, "chúng" đặc biệt thích đẩy người ta một cái, mọi người đều nghĩ là do mình không cẩn thận bị ngã, nhưng thực ra đều là do "hồn ma" lén lút đẩy một cái. Ngoài ra, ma quỷ ở Mỹ đặc biệt thích "nhạc gõ", khiến căn nhà lúc chỗ này vang lên một tiếng, lúc chỗ kia vang lên một tiếng, như thể một buổi tiệc disco cuồng nhiệt vậy.

Có vẻ như ở Mỹ tôi không thể nào bình chân như vại, bởi vì trong quốc gia có chủ nghĩa vật chất phát triển cao độ này, một cường quốc có khoa học hạt nhân chinh phục không gian, được xếp vào hàng siêu cường trên thế giới, lại có ma quỷ quấy phá dữ dội hơn bất kỳ quốc gia nào.

Giờ đây dần dần có người biết tôi có thể thông linh với quỷ thần, không chỉ có thể thấy được quỷ thần, mà còn có sở trường đặc biệt trong việc xua đuổi ma quỷ, có vẻ như những vụ ma ám ở Mỹ cần đến người như tôi để trị "chúng" một phen.

Lén lút đẩy một cái là tâm lý của loại ma quỷ chuyên phá phách ở Mỹ, tôi sẽ dùng pháp chày kim cang Mật tông để đuổi chúng ra ngoài, sau đó dùng pháp tịnh thủy cửu phụng phá uế để thanh tịnh căn nhà, rồi gắn thêm bùa ngũ lôi, khiến "chúng" không dám bén mảng vào nhà nữa, chúng muốn cười, tôi sẽ khiến chúng phải khóc.


### 04. Tâm trẻ thơ thì gần với Đạo


Ngày 28 tháng 9 năm 1982, ngày này chính là ngày Nhà giáo, vào buổi sáng sớm, tôi nhận được một bức thư nhanh từ một cậu bé Đài Loan ở quê nhà. Cậu bé này tên là Giang Dụ Quần, khi còn ở quê nhà, cậu đã quy y với tôi. Cậu có gương mặt thanh tú, học tập đứng đầu toàn trường, có khả năng cảm ứng đặc biệt, có thể nói là một thần đồng.

Ví dụ: Nhà của Giang Dụ Quần ở đường Cẩm Nam, thành phố Đài Trung, còn nhà ngoại của cậu ở Bình Đông. Khi họ gọi điện thoại, bà ngoại hỏi Giang Dụ Quần rằng lúc này bà đang mặc áo màu gì, và Giang Dụ Quần dùng "siêu cảm ứng" của mình, lập tức trả lời đó là áo màu táo xanh, và đều đoán trúng từng lần một. Đối với những quỷ thần trong cõi hư không, cậu cũng có thể nhìn thấy từng vị một.

Tác giả đã từng hứa với Giang Dụ Quần rằng, trong tương lai nhất định sẽ giúp cậu vượt phàm nhập thánh, tiến lên tầm cao mới.

Giang Dụ Quần gửi cho tôi một bức thư và một tấm thiệp chúc mừng, viết như sau:

*Kính thưa thầy Lư:*

*Ngày Nhà giáo lại đến rồi, con chỉ gửi tấm thiệp mỏng manh này để bày tỏ lòng kính trọng vô hạn của con đối với thầy.*

*Trong kỳ nghỉ hè năm nay, con may mắn được vào học tại trường Hoài Ân, trường nằm trên núi Đại Độ, phong cảnh tuyệt đẹp, thật là một nơi học tập lý tưởng.*

*Điều không được hoàn hảo là ở quá xa nhà, đi lại mất nhiều thời gian, vì vậy trong thế giới vô hình, con xin thầy hãy cầu phúc nhiều cho con, con cảm ơn thầy.*

*Con cảm ơn những lời dạy bảo tận tình của thầy, con sẽ cố gắng học tập chăm chỉ hơn nữa, xin thầy gửi lời thăm hỏi Sư Mẫu, sư muội và sư đệ. Kính chúc Phật an!
Đệ tử Dụ Quần kính bái.*

Trên tấm thiệp còn viết như sau:

*Đường đời nhiều ngả, biển người mênh mông, giương buồm chờ bình minh. Thầy chỉ dạy ân cần, kim chỉ Nam trong lòng, ngưỡng nhìn đạo thầy cao vời, con xin cảm ơn thầy! Kính thưa thầy yêu quý, chúc thầy mãi mãi vui vẻ, hạnh phúc!*

Tôi thường có cảm nhận như vậy, "tâm trẻ thơ thì gần với Đạo", bởi vì tâm của trẻ con là chân thật, có "thật" mới có thể thể hiện bản thân một cách trung thực, có được "thuần chân", tâm ấy liền thiện, có được "thiện" thì mới không bị ô nhiễm, không bị mê hoặc bởi danh lợi thế tục, tinh thần có thể chân thiện, tu đạo mới có thể thực sự hòa nhập vào sinh lực, cái gọi là ngộ đạo không phải là thứ bên ngoài, mà là tinh thần chí chân chí thiện, và cái chí chân chí thiện này được thể hiện hoàn toàn trong một vẻ đẹp tự nhiên, vì vậy tâm trẻ thơ là một sự bộc lộ tự nhiên không gượng ép.

Tôi vẫn luôn phân chia quân tử và tiểu nhân như thế này, tâm trẻ thơ chính là quân tử, bởi vì tâm trẻ thơ là thuần phác, còn tâm già dặn là tiểu nhân, bởi vì hễ biểu hiện già dặn thì ắt có xảo trá, đây hoàn toàn là đặc tính về phẩm cách, chúng ta hãy suy nghĩ kĩ, phản tỉnh kĩ, ắt sẽ lĩnh ngộ được.

Trạng thái giác ngộ chân chính tuyệt đối không phải là sự xảo trá chồng chất của lý tính, mà là sự lĩnh ngộ chất phác và cảm tính. Có thể nói sau khi lĩnh ngộ được chân lý của cuộc sống, đó là một thế giới tinh thần được khai mở dựa trên đức hạnh và trí tuệ, cũng chính là làm cho cuộc sống trở nên thiện lương, tươi đẹp và có giá trị, đó là phẩm chất cao quý nhất của sinh mệnh.

Giác ngộ coi trọng phẩm cách hơn tài năng, coi trọng tính tình hơn năng lực.

Người ngộ đạo có thể đứng vững giữa trời đất mà không cần dựa vào bất kì thành tựu, sự nghiệp, thế lực hay địa vị xã hội nào, và được mọi người từ xưa đến nay kính trọng. Cái gọi là ngộ đạo chính là sự buông bỏ mọi nương tựa, để hiển lộ trực tiếp sự tôn nghiêm của nhân tính.

Trong thế giới của con mắt thứ ba của tôi, cảnh giới thần tiên là "cảnh giới cao quý nhất của sinh mệnh", thật đúng là "mây núi xanh xanh, sông nước mênh mang, khí chất thần tiên, núi cao sông dài."

Vậy khí chất thần tiên là gì?
Đó chính là tâm hồn thuần khiết của trẻ thơ!
Các vị ấy nơi cõi tiên, tận hưởng khí thanh bình, thưởng ngoạn vẻ đẹp của cảnh sắc, chơi đùa như trẻ nhỏ, lắng nghe những khúc nhạc du dương, và mọi dư âm đều là đức hạnh tinh khiết thuần thiện.

Nếu không dựa vào tâm thuần phác để tu đạo, mà hoàn toàn dựa vào địa vị lý tính để tu học, hậu quả của sự thiên lệch này là vô cùng đáng sợ. Sự già dặn ngày càng nặng nề, tâm hồn ngày càng khép kín, đối với con người thì gọi là xảo quyệt độc ác, nhưng đối với đạo thì đó là quái vật, tức là ma cảnh, tu đạo mà thành xảo quyệt độc ác chính là nhập ma.

Mục đích viết bài này là dành cho Giang Dụ Quần, mong Giang Dụ Quần giữ gìn được tâm hồn trẻ thơ cao quý nhất, đừng để sự thuần khiết bị ô nhiễm bởi thói quen thế tục. Điều quan trọng nhất là không giả dối không dối trá, bởi vì chỉ có tấm lòng chân thành mới đủ tư cách bước trên con đường tu đạo. Đồng thời cũng cần có tình cảm, có tình cảm mới có lòng từ bi, cũng cần có ý chí, có ý chí mới được trường tồn, từng bước phát huy sức mạnh của sinh mệnh, tương lai cứu đời giúp người, một cách tự nhiên, đồng tâm với trời đất, đồng đức với trời đất.

Dụng ý của việc viết bài này cũng là dành cho tất cả các đệ tử của Linh Tiên Chân Phật Tông. Mặc dù tôi đang ở Mỹ, cách xa vạn dặm, nhưng vẫn luôn quan tâm đến đời sống tu đạo của các bạn. Tu đạo là coi trọng phẩm cách tâm linh, chứ không phải tranh giành quyền lợi. Nếu không giữ được thuần chân ắt sẽ tiềm ẩn nguy cơ nhập ma.

Giống như pháp hội ở Minh Đức Cung lần này, các bạn đã liên lạc và xin chỉ thị trước, pháp hội đã diễn ra rất thành công, thật đáng mừng đáng vui. Nhưng sau pháp hội, không một tin tức điện báo nào, ba vị phụ trách đều im lặng không một tiếng động.

Đặc biệt là nhiều học trò mà tôi từng coi trọng, từ khi tôi sang Mỹ, bặt vô âm tín, không một chữ một lá thư nào, thật là kỳ lạ.

Chẳng lẽ từ khi tôi đi, các bạn đều đánh mất tâm hồn trẻ thơ, còn không bằng một đứa trẻ hay sao?


### 05. Thoát được sao xà hiết


Tôi từng nói rằng, trên thế giới này, có hai nơi ẩn cư mà tôi ngưỡng mộ, nơi thứ nhất là chùa Tousen ở thành phố Hakodate, Hokkaido, Nhật Bản. Còn nơi thứ hai chính là Seattle, Hoa Kỳ. Chúng có một điểm chung, đó là yên bình và tĩnh lặng, là chốn bồng lai tiên cảnh, đều là những thành phố nhỏ xinh đẹp và tự nhiên, là nơi mà tôi hằng mong ước trong lòng.

Tôi nhớ có lần đã hỏi Phật Bồ Tát: "Khi nào con sẽ đi ẩn cư?"
Phật Bồ Tát chỉ dạy con rằng: "Một ngày nào đó, khi con nhìn lên bầu trời và thấy ngôi sao xà hiết đến gần con, đó chính là lúc con phải ẩn cư."

Tôi lại hỏi: "Sao xà hiết là chỉ điều gì?"
Phật Bồ Tát đáp: "Xà hiết chính là một người phụ nữ, người phụ nữ này chuyên phá hoại con, ngôi sao này là học trò của con, nhưng lại là một ngôi sao phản nghịch. Khi cô ta đến gần con, sẽ gây tổn hại nghiêm trọng đến hình tượng của con. Cách duy nhất để tránh bị phá hoại là ẩn cư, khi con không còn là mục tiêu, cô ta sẽ không còn cách nào phá hoại, bởi vì muốn bịa đặt vu khống con, cô ta cũng cần có mục tiêu. Nếu con ẩn cư, sức sát thương của lời đồn tự nhiên sẽ tan biến vào hư vô, nghĩa là những lời đồn đại sẽ tự sụp đổ."

Nhiều học trò không hiểu tại sao trong lúc mọi việc đang "thuận lợi", tôi lại rời khỏi quê hương để đến ẩn cư ở Seattle, Hoa Kỳ, và tại sao trong thời điểm danh tiếng đang như mặt trời giữa trưa, tôi lại chọn rút lui. Bởi vì sau khi được Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh truyền dạy quán thiên văn thuộc Động huyền pháp, khi quan sát ngôi sao mệnh ở phương Tây của mình, tôi phát hiện ở phía trái xuất hiện một ngôi sao xà hiết cực nhỏ, nhớ đến lời dặn dò của Phật Bồ Tát ngày xưa, nên đành phải đau lòng rời xa tất cả các học trò.

Khi tôi nhìn thấy một ngôi sao xà hiết nhỏ ở phía trái ánh sáng của ngôi sao lớn phương Tây của mình trên bầu trời mờ ảo, nỗi buồn trong lòng tôi có thể thấu hiểu được. Quả nhiên lời Phật Bồ Tát không hề sai. Tôi tất nhiên biết cô ta là ai, cũng biết nhân quả tiền kiếp của cô ta, và càng biết rằng mình sẽ phải gánh chịu tiếng xấu thay cho người khác. Vì vậy tôi đành phải đau lòng ra đi, theo chỉ dẫn của Phật Bồ Tát: "Buông bỏ phương Nam duyên chúng sinh, phương Tây một bước lên mây trời, từ đây đêm mộng vô vi quốc, không để phong trần chạm đến mình". Bài thơ này là do Phật Bồ Tát đặc biệt chỉ dạy cho tôi khi tôi rời khỏi đất nước, các Ngài muốn tôi tránh xa ngôi sao xà hiết nhỏ bé này. (Tạm giấu tên ngôi sao xà hiết này.)

Ngôi sao xà hiết này, theo phép tính của Động huyền pháp, sẽ không tỏa sáng được lâu, nhưng cô ta đúng là học trò của tôi, bản tính hiếu thắng tranh đua, chuyên môn gây rối và khiêu khích, nữ nhân tướng nam, luôn luôn hung hăng áp đảo người khác. Hồ sơ kiện tụng của cô ta gồm: kiện chủ xưởng cũ, kiện bọn côn đồ, kiện công ty trang trí nội thất Tam Độ Không Gian, kiện công ty Hoa Hạ, kiện một công ty Đức... vân vân. Còn về những lần cãi vã với người khác thì có với công ty du lịch Ngụy Nhị Lang, với công ty gỗ Đài Đạt, với cụ già hàng xóm, với... Theo tôi được biết, do tính cách hiếu thắng và quyết không chịu thiệt, số lần cãi vã nhiều đến nỗi bản thân cô ta cũng không đếm xuể. Tôi từng khuyên nhủ cô ta, đừng kết oán với người, oan gia nên giải không nên kết, được tha thì nên tha, nhưng núi có thể dời mà bản tính khó đổi, cô ta vẫn cứ theo ý mình mà làm.

Điều tôi muốn thay đổi ở cô ta là tâm lượng quá hẹp hòi, tôi muốn dùng Phật pháp để khai thị cho cô ta trở nên khoan dung độ lượng, từ bi hòa thuận. Miệng lưỡi cô ta vừa nhanh vừa độc, tôi cũng muốn cô ta có thể nói những lời hòa nhã, không còn thường xuyên thốt ra những lời ác độc, hung hăng áp đảo người khác. Nhưng chỉ vì muốn thỏa mãn cái sướng nhất thời mà hoàn toàn hủy hoại danh dự người khác, đây là điều vô đạo đức.

Tuy nhiên, tôi đã hoàn toàn thất bại. Dù biết người này có lòng dạ như rắn rết, nọc độc vô song, nhưng tôi vẫn kiên trì dùng Phật pháp để khuyên dạy từ từ, hy vọng rằng một ngày nào đó họ sẽ thay đổi, tôi cứ mong đợi như vậy. Cho đến một ngày, chồng của cô ta phạm phải một sai lầm, sau khi sự việc bại lộ, chồng cô ta không thể trốn tránh trách nhiệm (là chuyện phá hoại đạo đức cá nhân), liền nghĩ rằng tôi là tấm bia đỡ đạn tốt nhất, bèn đổ hết trách nhiệm lên đầu tôi. Thực ra chuyện này tôi hoàn toàn không hay biết gì! Chồng cô ta dan díu với phụ nữ khác, lẽ nào còn phải qua tôi đồng ý hay sao? Nhưng điều đáng sợ là họ lại bảo rằng tôi là người mai mối. (Cả cô ta và chồng cô ta đều là học trò của tôi.)

Tôi thấy việc bị đổ oan cũng không sao cả, từ trước đến nay Phật Bồ Tát đều dạy tôi phải nhẫn những điều người khác không thể nhẫn được, tôi nghĩ mình cũng không cần phải giải thích nhiều, chỉ cần các học trò hiểu được con người của tôi là đủ rồi. Tuy nhiên, điều tồi tệ hơn là người phụ nữ này không thể chấp nhận bất kì ai có chút bất kính nào với cô ta, vì vậy cô ta đã dùng miệng lưỡi của mình, nói trắng thành đen, nói phải thành trái, đảo lộn đúng sai, ám chỉ bóng gió, vốn dĩ là chồng cô ta sai trái về đạo đức cá nhân, giờ lại lôi tôi vào cuộc, bảo rằng tôi cũng sai trái về đạo đức, đây thật là một oan ức to lớn. Như người Đài nói: "Nhìn thấy cái bóng đã bảo có thai", lại còn nói: "Vải trắng bị nhuộm thành đen". Những chuyện không có thật, từ miệng cô ta lại trở nên có hình có dạng, cứ như là thật vậy!

Tôi hỏi Phật Bồ Tát: "Con phải làm sao đây?" Nỗi oan ức trong lòng không thể nói ra, sự đau khổ có thể thấu hiểu được.

Phật Bồ Tát bảo tôi: "Duyên ở phương Nam đã hết, khi ngôi sao xà hiết xuất hiện, con hãy rời đi! Và những lời đồn sẽ biến mất theo sự ra đi của con, bởi vì khi mục tiêu không còn nữa, câu chuyện tự khắc chấm dứt, Đài Loan chắc sẽ không có Lư Thắng Ngạn thứ hai đâu!"

Và rồi, cuối cùng tôi đã hiểu ra, tôi kiên quyết thu xếp hành lý, lên đường đi về phương trời xa xăm, bày tỏ tấm lòng của mình. Đối với thành tựu của mình, tôi không hề lưu luyến, đối với rất nhiều học trò của mình, tuy có nhiều điều đáng tiếc, nhưng trên đời không có bữa tiệc nào không tàn, tôi là một người dũng cảm với đôi tay trắng và ý chí kiên cường, tôi có thể vứt bỏ mọi gánh nặng tình cảm, vứt bỏ tất cả ràng buộc, bước những bước dài, chạy cho những kẻ đặt điều về tôi đuổi theo, thử hỏi, khi tôi đã đi rồi, các người còn làm sao để bịa đặt thêm những lời đồn về tôi nữa?

Trong cuộc đời này, cuối cùng tôi đã thấu hiểu được sự đáng sợ của miệng lưỡi của người phụ nữ độc ác, chồng cô ta tuy là người khá ôn hòa nhân hậu, nhưng thường hay cãi vã, và đôi vợ chồng này quả thực là một cặp "bảo bối" hiếm thấy trong đời tôi, cũng coi như là một trải nghiệm mở mang tầm mắt.

Tôi hỏi chư Phật Bồ Tát: "Người có lòng dạ như rắn rết, lẽ nào không có quả báo gì sao?"

Chư Phật Bồ Tát bảo tôi: "Hãy để cái bụng của cô ta cọ xát mặt đất, để răng nanh cô ta sắc nhọn, để miệng cô ta chứa đầy nọc độc, để sự khiêu khích của cô ta biến hóa như rắn, để bản tính cô ta gặp vật gì cũng muốn cắn. Kiếp sau của cô ta sẽ là một con rắn hoa dài ngoằng, đây là do nhân quả tạo thành."

Nghe xong, tôi lặng người rơi lệ.


### 06. Quan Thế Âm Bồ Tát độ khắp mười phương


Tinh Xá Linh Tiên ở Seattle, Hoa Kỳ, có tôn tượng Quan Thế Âm Bồ Tát là vị Phật chính giữa đại điện, hai bên là Vi Đà Tôn Giả và Già Lan Tôn Giả, điện bên phải thờ Diêu Trì Kim Mẫu cùng chư tiên cõi trời, điện bên trái thờ Địa Tạng Vương Bồ Tát và Trà Cát Ni Tôn Giả.

Điện chính giữa thờ Quan Thế Âm Bồ Tát, bởi vì Quan Thế Âm Bồ Tát có nhân duyên lớn với tất cả chúng sinh trong thiên hạ.

Quan Thế Âm Bồ Tát chính là vị Phật quá khứ Chính Pháp Minh Như Lai, vì độ chúng sinh mà thị hiện thân tướng Quan Thế Âm Bồ Tát, thành tựu diệu công đức, có đầy đủ tâm đại từ đại bi, hiện ra pháp tướng nghìn tay nghìn mắt, soi thấu mười phương các pháp giới, dùng nghìn tay hộ trì chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh trong thiên hạ đều phát khởi tâm hướng về đạo, có thần chú Đại bi tâm Đà-la-ni viên mãn, có thể khiến người thoát khỏi đường ác, khiến người thoát khỏi bệnh tật, khiến người mau chứng đắc đạo pháp, sớm thành tựu địa vị Phật vô thượng.

Ba bức pháp tướng Quan Thế Âm Bồ Tát, Vi Đà Tôn Giả và Già Lan Tôn Giả tại Tinh Xá Linh Tiên được điêu khắc tại một cửa hàng tượng Phật trước Hội Quán Giáo Viên ở Đài Trung, Đài Loan, do học trò của tôi là Vương Thạch Lân phát tâm cúng dường. Sau đó, các bức tượng được vận chuyển bằng tàu container vượt đại dương đến Seattle, Hoa Kỳ. Khi chúng tôi thỉnh các bức tượng ra an vị, dù chưa khai quang, nữ thư ký người Mỹ của chúng tôi tên là Jone, gốc Na Uy, vừa nhìn thấy pháp tướng Quan Thế Âm Bồ Tát đã vô cùng xúc động, không kìm được nước mắt tuôn rơi, như gặp lại người thân mà khóc vì vui mừng. Cô thư ký này toàn thân run rẩy, nước mắt tuôn trào, như thể đang được khai mở tâm linh vậy.

Sau đó, Jone kể với chúng tôi rằng từ nhỏ cô đã có thể nhìn thấy Phật Bồ Tát, cha cô đã nói với cô: "Con chỉ cần đến nhà thờ thì Chúa Jesus mới có thể cứu con."

Nhưng Jone cho rằng vị Phật Bồ Tát mà cô nhìn thấy không phải là Chúa Jesus, mà là một vị thần khác, trong lòng cô tồn tại một vị thần khác, không phải là Chúa Jesus.

Khi cô nhìn thấy Quan Thế Âm Bồ Tát, cô bỗng khựng lại, bởi vì vị thần trong lòng cô chính là Quan Thế Âm Bồ Tát.

Sự thị hiện của Quan Thế Âm Bồ Tát là như vậy đó. Ngài đã biết trước là có duyên với cô ấy từ bốn mươi năm trước (khi nữ thư ký của chúng tôi mới hơn 50 tuổi), nên đã thị hiện cho cô ấy thấy, rồi bốn mươi năm sau mới hiện ra chân tướng để độ cô ấy. Thần lực như vậy, thần thông của số mệnh như vậy, quả thật có diệu dụng vô cùng, khiến người ta phải năm vóc sát đất mà cung kính đảnh lễ.

Tôn tượng Quan Thế Âm Bồ Tát mà chúng tôi điêu khắc là tượng đứng, đứng trên tòa sen, trên đỉnh đầu có tượng Phật Thích Ca Mâu Ni, tay trái cầm tịnh bình, tay phải cầm cành dương liễu, tướng mạo vô cùng trang nghiêm, mắt từ mày thiện, nét mặt tươi cười. Khi tôi bước vào Phật đường, linh giác của tôi mách bảo rằng, tuy cả ba tôn tượng đều chưa được khai quang điểm nhãn, nhưng linh quang của Bồ Tát đã sớm giáng xuống pháp tướng, vì thế vừa an vị xong đã có thể cảm ứng, tạo ra sức mạnh tâm linh, khiến nữ thư ký của chúng tôi khóc không ngừng, toàn thân run rẩy không thôi. Cô ấy nói: "Vị thần của Trung Quốc này mới chính là vị thần mà tôi nên tin theo, vị thần của Trung Quốc này trong tương lai nhất định có thể cứu độ người Mỹ, pháp lực của Ngài là vô cùng vô tận."

Tôi cá nhân cho rằng, việc Quan Thế Âm Bồ Tát cứu độ chúng sinh không mang tính địa phương mà là rộng lớn viên mãn, không giống như Cơ Đốc giáo hay Do Thái giáo tự xưng người Hebrew là dân được Chúa chọn còn những người khác là "người ngoại đạo", phân chia con người thành đẳng cấp. Việc Phật Bồ Tát phổ độ chúng sinh không phân biệt người da vàng, da trắng, da đen, không có chuyện dân được chọn hay không được chọn, không có đẳng cấp. Vì vậy, Phật pháp từ Ấn Độ truyền sang Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, càng nên truyền đến các nước phương Tây, có pháp phổ độ vi diệu như vậy mà không truyền bá thì chẳng phải quá ích kỷ hay sao.

Ban đầu, khi tôi muốn xây dựng đạo tràng Tinh Xá Linh Tiên tại Seattle, Hoa Kỳ, có một số đệ tử ở Đài Loan không đồng tình, tỏ ra thiếu hứng thú, cho rằng xây chùa cho người nước ngoài lễ bái thì chẳng có ý nghĩa gì.

Thực ra ý nghĩa này mới thật sự cao quý và vĩ đại, Phật pháp cần gieo hạt giống ở những nơi chưa có Phật pháp, điều này mới đúng với bản ý "độ khắp mười phương" của Phật. Phật pháp không phải là của riêng ai, cũng không phải của một vùng miền nào, càng không có sự phân biệt chọn lựa đặc biệt nào cả. Hãy nhớ rằng, Phật pháp vốn là của tất cả chúng sinh trong thiên hạ, chúng ta thương xót người phương Tây chưa được nghe Phật pháp, chẳng phải càng nên đi hoằng dương Phật pháp hay sao?

Tại Los Angeles, Hoa Kỳ, nơi người Hoa tập trung sinh sống, đã có chùa Bạch Tháp và chùa Tây Lai của Pháp sư Tinh Vân, có Thiền viện Quan Âm của bà Ngô Mai Ảnh, có chùa Pháp Quang; tại San Francisco đã có Vạn Phật Thành của Pháp sư Độ Luân; tại Vancouver, Canada đã có Hội Phật giáo Thế giới, và ngôi chùa mới xây của Pháp sư Tẩy Trần.

Để hoằng dương Phật pháp, bà Ngô Mai Ảnh đã đặc biệt đến thăm tác giả, và còn muốn xây dựng Chi nhánh Chicago của Thiền viện Quan Âm tại Chicago.

Còn về phần tôi! Tôi đã chọn Seattle, hiện tại ở Seattle hoàn toàn không có đạo tràng Phật giáo nào, chỉ có người Nhật có một ngôi chùa mà thôi, những người Trung Quốc khác muốn lễ Phật thậm chí còn không có chỗ, huống chi là người phương Tây.

Việc xây dựng Tinh Xá Linh Tiên tại Seattle, Hoa Kỳ, không chỉ tạo nơi tu tập cho người Trung Quốc trong khu vực Seattle, mà còn để người phương Tây có thể hiểu được sự vĩ đại của Phật pháp, không như giáo lý hẹp hòi của Thiên Chúa giáo, điều này mới thực sự phù hợp với ý nguyện độ khắp mười phương của chư Phật Bồ Tát.

Tôi thường cảm thấy, một số người có quan niệm về địa phương quá nặng nề, giống như cá bơi trong nước, làm sao hiểu được hoài bão lớn lao của chim bay trên trời!

Tôi gần như có thể thấy được tương lai huy hoàng của Tinh Xá Linh Tiên, một mảnh đất được ánh dương soi chiếu, một ngôi chùa như bảo điện vàng ngọc sừng sững, cảnh hồ núi hữu tình, tiếng chuông sớm tối ngân vang, tiếng tụng kinh sáng chiều thì thầm, pháp môn tu trì của Linh Tiên Chân Phật Tông giúp mọi người cảm ứng đạo giao, thành tựu pháp môn vi diệu vô thượng thượng.

Quan Thế Âm Bồ Tát thị hiện sức mạnh thần thông  của Ngài, ngay trong ngày đầu tiên an vị chưa khai quang mà đã khiến một người phương Tây xúc động rơi lệ vì hoan hỷ, Phật pháp của chư Bồ Tát chắc chắn sẽ được hoằng dương rực rỡ tại phương Tây, sức mạnh linh cảm của Quan Thế Âm Bồ Tát đang được truyền bá nơi phương xa đó.

Ngày mồng 10 tháng 8 âm lịch năm 1982, Bồ Tát chính thức được khai quang điểm nhãn, và còn có thêm nhiều thần tích xuất hiện.


### 07. Con ngựa số 4


Đi dọc theo đường cao tốc I5 về phía nam Seattle, tại lối ra 154A, có một địa danh gọi là Tukwila, nơi đây là trường đua ngựa lớn nhất bang Washington, trường đua ngựa cũng chính là nơi đánh cược ngựa, những cuộc đua ngựa này là để cá cược tiền.

Đấu trường ngựa rất rộng lớn, chỉ riêng bãi đỗ xe đã có thể chứa được hàng vạn chiếc. Trường đua có khán đài, đường đua giống như sân vận động trường học nhưng lớn hơn, ở giữa sân được trồng những bông hoa tươi đẹp và cỏ xanh. Người đến đây đủ mọi thành phần, thậm chí còn có cả phòng VIP, có người thuê phòng cả năm, ngày nào cũng đến đánh cược ngựa như đi làm vậy.

Trung bình ở đây mỗi ngày có chín cuộc đua, chia thành chặng dài và chặng ngắn, ngựa đua mỗi lượt đều thay đổi. Những người muốn đặt cược có thể xem ngựa trước (qua hàng rào sắt), trước khi cuộc đua chính thức bắt đầu, ngựa đã được đeo số, và người cưỡi ngựa sẽ dắt ngựa đi một vòng quanh sân, đây chính là lúc cần đến "Bá Lạc". [Bá Lạc là người nước Tần thời Xuân Thu, giỏi về xem tướng ngựa, ngày nay dùng để chỉ người tinh mắt, giỏi phát hiện nhân tài.]

Vé đặt cược tối thiểu là 2 đô la Mỹ, người mua sẽ chọn số. Nếu chỉ chọn một số mà trúng thì tiền thưởng sẽ cao hơn, có thể chọn tối đa bốn số, dĩ nhiên, nếu chọn bốn số mà trúng thì tiền thưởng sẽ thấp hơn.

Mỗi lượt đua có khoảng 11 con ngựa, con nào cũng khỏe mạnh, oai phong lẫm liệt.

Cuộc đua ngựa cũng giống như cuộc chạy đua của con người vậy, có điểm xuất phát và đích đến, ngựa chạy nhanh như gió, các kỵ sĩ khi thì đứng khi thì nằm sấp trên lưng ngựa. Điều khiến mọi người hồi hộp gay cấn không phải là việc con ngựa nào thắng thua, mà là việc tiền trong túi mình thắng thua. Người xem hò hét cố sức, nhảy lên vẫy tay, ai nấy đều phấn chấn tinh thần, mặt đỏ tía tai, tạo nên một khung cảnh náo nhiệt quên hết tất cả, cảm giác kích thích này nếu không tự mình trải nghiệm thì thật khó mà hiểu được.

Trần Sâm Long nói với tôi: "Thầy Lư ơi, thần toán của thầy chuẩn xác như vậy, muốn kiếm tiền quả là rất thuận tiện. Chúng ta muốn xây Tinh Xá Linh Tiên ở Mỹ, sao không nhờ Bồ Tát giúp đỡ, chỉ cho chúng ta biết con ngựa nào thắng thua, chúng ta chỉ cần đặt cược vài lần, chẳng phải sẽ có đủ chi phí xây dựng rồi sao?"

Thật lòng mà nói, cách kiếm tiền này tôi đương nhiên đã từng nghĩ đến, không phải bây giờ mới nghĩ, khi còn ở trong nước tôi đã nghĩ đến rồi, ví dụ như mua bán cổ phiếu phát tài, mua bán vàng phát tài, thậm chí mua vé số yêu nước phát tài.

Tuy nhiên, Bồ Tát không cho phép cách làm giàu không lao động mà có được, cờ bạc về căn bản là không thể được.

Nếu Bồ Tát phù hộ cho tôi phát tài bằng cách đánh bạc, thì hôm nay tôi, Lư Thắng Ngạn, đã sớm trở thành một trong những tỷ phú hàng đầu thế giới rồi. Có tiền thì việc gì cũng làm được, có tiền thì dù là kẻ xấu cũng được ngồi ghế trên, ai ai cũng phải nể mặt ba phần. Thực ra sức mạnh của các quốc gia trên thế giới chẳng phải cũng chỉ là sự phân chia giữa có nhiều tiền và ít tiền đó sao. Cho nên câu "có tiền mua tiên cũng được" quả thật không sai.

Bồ Tát ngự ở cõi trời, các Ngài không hiểu đạo lý "người cần áo đẹp, Phật cần kim trang". Các Ngài cho rằng tất cả mọi thứ hữu hình đều như mộng huyễn bào ảnh, đều là trăng đáy nước bóng trong gương, lâu đài giữa không trung, khi con người chết đi, hai tay trắng tay, tiền tài thế lực gì cũng không mang theo được. Vì vậy người tu hành chỉ cần đủ no ấm là được, không thể có những hưởng thụ dư thừa, có hưởng thụ dư thừa thì sẽ không muốn tu hành nữa. Do đó, việc muốn thắng bạc kiếm tiền không lao động mà có được là chuyện không thể nào.

Nguyên tắc này không thay đổi, dù là ở trong nước hay ở Mỹ cũng vậy.

Chỉ có một ngoại lệ duy nhất, đó là ông Trần Tước Viên. Ông Trần Tước Viên tu hành rất tinh tấn, đi đường hay ngồi xe đều không ngừng niệm Phật. Ngoài việc trì chú tụng kinh, ông còn giữ khẩu giới, mong muốn tu pháp vô thượng. Có một lần, để thử nghiệm năng lực tâm linh của mình, ông khẩn cầu chư Bồ Tát trên trời, chỉ một lần này thôi, duy nhất một lần, mong Bồ Tát cảm nhận được tấm lòng chân thành của đệ tử. Ông Trần Tước Viên hết sức cầu khẩn Bồ Tát, và Bồ Tát đã cảm động mà chấp thuận.

Trần Tước Viên mong Bồ Tát chỉ điểm cho biết con ngựa nào sẽ về nhất, và ông chỉ muốn thử một lần duy nhất, một là để thử nghiệm năng lực cảm ứng của mình, hai là để chứng minh lòng từ bi của Bồ Tát.

Ngày hôm đó, trong lúc ông đang nỗ lực niệm Phật, một chữ tỏa sáng rực rỡ xuất hiện, đó là chữ "tứ", chữ "tứ" màu bạc trắng, phát ra ánh sáng, ông ghi nhớ, rồi chữ "tứ" chợt biến mất.

Chúng tôi vui mừng khôn xiết, cùng nhau đổ xô đến trường đua ngựa. Đi cùng có Trần Tước Viên, Trần Sâm Long, Hồng Đĩnh Mậu và tôi. Chúng tôi chọn các số 3, 4, 9. Còn một số chưa chọn, nên lúc đó tôi cũng khẩn cầu Bồ Tát ban cho một con số. Tương tự, trước mắt tôi lóe lên một chữ "thất" màu bạc. Ôi! Tuyệt quá, chúng tôi dự đoán số 4 sẽ về nhất, và theo thứ tự các số sẽ là 4, 3, 9, 7.

Sau khi mua vé ngựa, tâm trạng mọi người vô cùng hồi hộp, lo lắng không yên, không biết Phật Bồ Tát có coi chúng tôi là những kẻ ngốc và cố tình đùa giỡn với chúng tôi không!

Chúng tôi cũng không dám đặt cược quá lớn, ông Trần Tước Viên đặt mười đô la Mỹ, ông Hồng Đĩnh Mậu cũng đặt mười đô la Mỹ, tôi không đặt, ông Trần Sâm Long cũng không đặt. Đây là một thử thách rất lớn, nhưng tôi rất tự tin vỗ vai ông Trần Tước Viên và nói: "Lần này chúng ta chắc chắn sẽ thắng."

Ý chí của tôi kiên định không lay chuyển.

Cuối cùng cuộc đua cũng bắt đầu, thứ hạng đầu tiên hiện lên màn hình huỳnh quang là 3, 4, 9, 1. Những con ngựa đua hết tốc lực, các số thứ tự cũng liên tục thay đổi, đám đông hò hét ầm ĩ, thật là khoảnh khắc căng thẳng. Sau vài giây phút hồi hộp, kết quả cuối cùng theo thứ tự là 4, 3, 9, 7. Ngựa số 4 đã vượt qua ngựa số 3, còn ngựa số 7 từ vị trí thứ năm đã vượt qua ngựa số 1 để về thứ tư. Thế là chúng tôi đi đổi vé ngựa, chỉ một lần này thôi, đã thắng được tám mươi đô la Mỹ.

Chúng tôi vui mừng khôn xiết khi thắng và không chơi nữa.

Nhưng ông Hồng Đĩnh Mậu sau khi thắng một lần, hứng thú nổi lên, lại đánh thêm một lần nữa và kết quả là thua.

Trần Tước Viên rất vui, tôi cũng rất vui, thần lực của Phật Bồ Tát không gì là không làm được, Ngài biết tất cả mọi việc, nhưng Phật Bồ Tát là bậc chân linh tối cao, Ngài không thể phù hộ cho chúng ta thắng mãi, cả những ham muốn riêng tư cũng được phù hộ. Ngài chỉ phù hộ cho: "Những bậc đạo sĩ chân tu có tấm lòng thiện lương."


### 08. Huyễn giác chân thực


Tờ báo Los Angeles Times, vào ngày 3 tháng 10 năm 1982, đăng một tin tức về một đứa trẻ bị mất tích, và bạn của bà nội đứa trẻ đã gọi điện cho một phụ nữ ngoại cảm tên Annie, nhờ bà cầu nguyện cho đứa trẻ bình an trở về.

Bà Annie, năm nay 59 tuổi, là một y tá đã nghỉ hưu, hiện đang ở nhà và thích vẽ tranh. Bà không quen biết đứa trẻ, cũng không quen biết gia đình của nó. Nhưng khi bà Annie cầu nguyện, một điều kỳ diệu đã xảy ra, bà tự thấy mình đi vào một căn nhà, tận mắt chứng kiến quá trình đứa trẻ bị kẻ xấu sát hại, và còn thấy tên tội phạm giấu thi thể đứa trẻ trong khe đá bên hồ.

Bà Annie gọi điện cho bà nội của đứa trẻ, nhờ bà chuyển lời đến cha của đứa trẻ, kể lại chi tiết những gì bà đã tận mắt chứng kiến. Sau khi nhận được bản đồ do chính tay bà Annie vẽ, người cha dẫn theo ba người thân đi tìm kiếm, và chẳng bao lâu sau đã tìm thấy thi thể đã bắt đầu phân hủy của đứa trẻ trong khe đá, nơi đó chỉ cách nhà khoảng bốn năm dặm, và từng là nơi hai cha con hay đến câu cá và bơi lội.

Tuy nhiên, vì nơi này nằm ở hướng ngược với hướng đứa trẻ mất tích nên đã bị bỏ qua.

Bà Annie không thể nào quên được cảnh tượng đã chứng kiến, và bà còn thấy tên tội phạm hiện đang ở San Francisco, lái xe lang thang tìm kiếm nạn nhân tiếp theo.

Theo xác nhận của đội điều tra hình sự thuộc Sở Cảnh sát hạt Madera, thi thể của đứa trẻ đã được tìm thấy đúng như bản đồ chỉ dẫn của bà Annie. Cảnh sát đã chuyển vụ án từ mất tích sang mưu sát và đang truy lùng thủ phạm dựa theo hình dáng kẻ sát nhân mà bà Annie đã mô tả.

Tiêu đề tin tức này là: "Cậu bé mất tích, cảnh sát bất lực, nhà ngoại cảm mô tả, tìm thấy thi thể."

Khi người ta đọc tin tức này, họ thường cảm thấy rất kỳ lạ. Có người cho rằng trên đời quả thật có những người và sự việc liên quan đến con mắt thứ ba, cũng có người nghĩ rằng có lẽ chỉ là trùng hợp mà thôi. Chỉ có tôi, tôi biết chắc chắn rằng đây là huyễn giác chân thực, một hiện tượng thường gặp ở những người có khả năng thông linh.

Khi bà Annie cầu nguyện cho đứa trẻ, "sóng cầu nguyện" của bà xuất hiện trong không gian, dần dần mở rộng và lớn lên. Sóng cầu nguyện này tùy thuộc vào công phu tu tập của người có khả năng thông linh mà mạnh hay yếu, lớn hay nhỏ khác nhau. Linh hồn của đứa trẻ cũng có tần số riêng, và khi linh hồn của đứa trẻ tiếp xúc với sóng cầu nguyện, cảm ứng đặc biệt của giác quan thứ sáu liền xuất hiện.

Giải thích của tác giả là: Bà Annie giống như một chiếc tivi, tâm trí của bà như màn hình huỳnh quang, sự tập trung tinh thần của bà giống như việc dò đài, còn tần số linh hồn của đứa trẻ như một đài phát sóng. Khi hai bên cảm ứng với nhau, màn hình tâm trí liền phát lại mọi tình huống trước và sau khi đứa trẻ qua đời, đây là sự tái hiện trực tiếp của hiện trường, không hề có bất kì sai sót hay nhầm lẫn nào.

Hơn nữa, có lẽ linh hồn đứa trẻ đã theo sát tên hung thủ, nên diện mạo của hắn hiện lên rất rõ ràng, thậm chí cả việc hắn đang lái xe lang thang ở San Francisco cũng có thể thấy rõ mồn một.

Theo tôi biết, mỗi người đều có sóng não, chỉ cần bà Annie tập trung tinh thần, bắt được sóng não của hung thủ, bà ấy có thể biết ngay hung thủ đang ở đâu mà không cần thông qua phản ánh trung gian của linh hồn đứa trẻ.

Công phu tu tập của các nhà thông linh mỗi người một khác, năng lực cũng khác nhau, có người có sóng cầu nguyện có thể đi vào từng tầng một của cõi trời, giao tiếp được với các bậc cao linh ở cõi trời, có người có sóng linh có thể bao phủ cả trái đất, nhưng cũng có người sóng linh yếu hơn, tức là đã xuất hiện chướng ngại và sự chênh lệch.

Phương pháp tu linh cũng rất đa dạng, có người mượn năng lực tôn giáo, có người mượn tĩnh tọa và sự tập trung tinh thần, có người mượn dược phẩm và phương thuật, cũng có một số người sinh ra đã có khả năng này.

Cho nên học vấn trong đó vô cùng thâm sâu, không phải chỉ vài lời đã có thể giải thích rõ được.

Về sự xuất hiện của con mắt thứ ba, nếu mượn năng lực tôn giáo để tu trì, sẽ có Phật nhãn, pháp nhãn, huệ nhãn, thiên nhãn, linh nhãn. Năm loại mắt này có đẳng cấp khác nhau, trong đó Phật nhãn cao nhất, gọi là "chân thực kiến", còn linh nhãn thấp nhất, gọi là "huyễn giác kiến". Nếu không mượn năng lực tôn giáo, cũng có thể mượn sự tập trung tinh thần và thiền định bằng dược phẩm, nhưng đều chưa thoát khỏi phạm vi huyễn giác.

Có lẽ nhiều độc giả sẽ hỏi tôi rằng, Lư Thắng Ngạn có năng lực tâm linh cao như vậy, tại sao chưa từng thấy báo chí đưa tin về việc Lư Thắng Ngạn giúp cảnh sát bắt tội phạm? Cũng chưa từng thấy cảnh sát hợp tác với Lư Thắng Ngạn để truy bắt tội phạm!

Thực ra, tôi không muốn nổi danh, đó là lý do nhiều năm nay tôi luôn đóng cửa từ chối khách và sống ẩn dật.

Ngoài ra, để tránh bị người khác quấy rầy, việc tôi sinh sống ở Mỹ cũng là cách để tránh xa những việc phàm tục, bởi vì tôi luôn muốn theo đuổi pháp môn thông linh cao hơn, và việc tu trì này cần có một môi trường yên tĩnh.

Khi còn ở trong nước, tôi từng gặp gỡ ông Lâm Vĩnh Hồng, người đã từng giữ chức Trưởng ty Cảnh sát Đài Trung và sau đó được điều chuyển làm Cục trưởng Cục Cảnh sát Hình sự. Ông Lâm Thiêm Cố, người từng là Chánh Thanh tra Sở Cảnh sát Đài Trung và sau này được bổ nhiệm làm Phó Trưởng ty Cảnh sát huyện Cao Hùng, càng là bạn thân của tác giả.

Ngoài ra, tôi cũng thường xuyên tiếp xúc với các sĩ quan cấp cao và cảnh sát hình sự trong ngành công an.

Từ những vụ án gây chấn động quốc tế cho đến những vụ án giết người nhỏ nhặt, tôi không thể nhớ hết mình đã giúp cảnh sát bao nhiêu việc. Trước mỗi lần sử dụng giác quan thứ sáu, tôi luôn dặn dò: "Xin đừng đưa tên tôi lên báo, tôi chỉ là một nhân vật nhỏ bé đứng sau hậu trường."

Tôi có thể thẳng thắn và mạnh dạn nói với độc giả rằng tôi đã tham gia giải quyết một số vụ án hình sự lớn, tuy không phải tất cả. Tôi chỉ đứng sau hậu trường, không dám để giới báo chí biết để tránh phiền phức. Thậm chí tôi còn được ủy thác từ Đài Loan sang tận Brazil để dùng sức mạnh tâm linh hỗ trợ phá những vụ án gây chấn động quốc tế.

"Huyễn giác chân thực" của bà Annie, người khác có thể thấy rất kỳ lạ, nhưng với tôi đó là chuyện hết sức bình thường. Tuy nhiên, dù trên thế giới có nhiều người có khả năng thông linh, nhưng người có năng lực như bà Annie cũng không nhiều.

Những người có khả năng thông linh cũng nên đứng ra để chứng minh rằng có một thế giới linh hồn thực sự tồn tại.


### 09. Tri thức và huệ nhãn


Tôi sâu sắc cảm thấy rằng, để nghiên cứu "thế giới con mắt thứ ba", cần phải có trí tuệ cao nhất, mà trí tuệ cao nhất đến từ kiến thức về khoa học tâm linh. Điều này tuyệt đối không phải mê tín. Hiện nay Liên Xô đang tích cực nghiên cứu khoa học tâm linh, và ở Mỹ cũng có các tổ chức đại học nghiên cứu về lĩnh vực này. Những nghiên cứu này không nhất thiết phải liên quan đến "thần linh".

Ở đây, tôi đọc được một tin tức trong nước, kể về một nữ pháp sư ở cung Kim Hạc tên là Phượng Tiên, đã nhập thất trong thời gian dài, không ăn không uống, sau khi xuất quan đã gây chấn động cả nước. Hơn nữa, nữ pháp sư còn có khả năng nhập đồng, hát "loạn đạn" [một dạng hí kịch ở khu vực Đài Loan và Mân Nam], kể "thần thoại".

Sau khi đọc xong tin tức, tôi thở dài một tiếng, lại thêm một trường hợp "làm bừa".

Nghe nói trình độ học vấn của nữ pháp sư chỉ là tiểu học, hoàn toàn không biết gì về kiến thức tâm linh học, mà chỉ biết để thần linh nhập vào, hoàn toàn phó mặc cho thần.

Thực ra ý nghĩa của việc nhập thất trong tôn giáo là trong thời gian nhập thất, nhờ vào "giới cấm túc" mà có thể tập trung tinh thần tu trì, như đọc Đại Tạng Kinh trong thời gian nhập thất, chuyên tâm thiền định, chuyên tâm trì chú tụng kinh hoặc chuyên tâm viết tâm đắc, hoặc tu trì một pháp môn Phật pháp nào đó, ngoài những điều này ra thì việc ăn uống sinh hoạt không khác gì người bình thường.

Còn pháp sư Phượng Tiên ở cung Kim Hạc, bà ấy đang làm cái trò nhịn đói nhịn khát, việc nhập thất của bà ấy chẳng thành tựu gì, chỉ là biểu diễn nhịn đói nhịn khát mà thôi, tôi không muốn phê bình việc nhịn đói nhịn khát của bà ấy là thật hay giả nữa.

Tôi chỉ muốn hỏi, nhịn đói nhịn khát ngoài việc gây chú ý và lấy lòng mọi người ra thì còn ý nghĩa gì nữa? Bà ấy có thể nhịn ăn nhịn uống một trăm ngày, ba năm, nhưng liệu có thể nhịn ăn nhịn uống cả đời được không?

Sau khi xuất quan thì vẫn phải ăn uống như thường.

Pháp sư Phượng Tiên chính xác là một nữ đồng cốt, và theo như báo chí đưa tin, khi nhập đồng, bà ấy còn tát một người đến "thăm hỏi", người này là ông Bao Đăng. Tội nghiệp ông Bao Đăng, vì đối phương là phụ nữ nên không dám đánh lại, đành phải chịu trận một cách oan uổng.

Tin tức còn đăng chữ lớn nổi bật rằng "Diêu Trì Kim Mẫu đánh Quan Âm".

Từ bài báo này, tôi có một số cảm nghĩ như sau:

Thứ nhất, những thứ tụ tập xung quanh pháp sư Phượng Tiên, mà pháp sư tự cho là thần nhập, thực chất không phải là thần, mà là một đám quỷ vật. Quỷ linh hay tinh linh rất thích dùng thuật mê hoặc chúng sinh, biểu diễn đao thương bất nhập, đi trên lửa đi trên dao, nhịn đói nhịn khát, tất cả đều thuộc loại này. Pháp sư Phượng Tiên nhập thất lâu như vậy, lãng phí thời gian quý báu của cuộc đời, thành quả chỉ là thành công không chết vì nhịn đói, loại thành công này có phải là tu đạo thành công không? Nhịn đói nhịn khát tính là đạo gì chứ?

Thứ hai, chư Phật Bồ Tát chân chính đều là bậc đại từ đại bi, không bao giờ tùy tiện ra tay đánh người. Chỉ có quỷ vật tinh linh, những linh hồn mang đầy dục vọng và tranh đấu huyết thực, mới có thói xấu ra tay đánh người. Hoặc có thể là do trong tiềm thức pháp sư Phượng Tiên cảm thấy bị thách thức, nên mượn cớ thần ý mà ra tay trước, công khai đánh người. Ông Bao Đăng bị đánh quả thật là đáng đời, một nữ đồng cốt không học vấn không hiểu biết gì, chẳng hiểu thế nào là nhân cách tôn nghiêm và kiến thức pháp luật.

Thứ ba, do trình độ học vấn của pháp sư Phượng Tiên quá thấp nên không thể cảm thông được với các vị thần linh cao cấp. Những linh hồn đến khải thị cho bà ấy chắc chắn chỉ là một đám quỷ vật ồn ào mà thôi. Hiện tượng này không chỉ xảy ra với một mình pháp sư Phượng Tiên, nhiều đồng cốt ở Đài Loan, do trình độ học vấn thấp nên không thể cảm ứng được với thần linh cao cấp, chỉ có một số quỷ linh mượn xác để đùa giỡn nghịch ngợm. Quỷ linh thường tự xưng là Phật này Phật nọ, Bồ Tát này Bồ Tát kia, Đại Tiên này Đại Tiên nọ. Tất nhiên, người bình thường nếu không có kiến thức về tâm linh học hoặc không có con mắt trí tuệ, tự nhiên không thể nhận ra đó là trò đùa của quỷ linh, và vì thế bị lừa gạt hoàn toàn.

Thứ tư, tôi cho rằng tín ngưỡng và mê tín là có sự khác biệt, tín ngưỡng dựa trên kiến thức và trí tuệ, còn mê tín thì mù quáng, thiếu lý trí.

Tệ hại nhất là người thường không có kiến thức về lĩnh vực này, rất dễ bị mê hoặc mà không hay biết. Sau này nếu mọi người đều nhập thất, toàn dùng phương pháp "nhịn đói nhịn khát", ai nấy đều ngồi đến choáng váng mê man, tẩu hỏa nhập ma đến mức trở thành da bọc xương, thậm chí chết đói, thì sẽ gây ra án mạng mất.

Tác giả nghiên cứu nguyên nhân hình thành đồng cốt, cũng từng tìm một số người luyện thành đồng cốt để thí nghiệm, phát hiện ra rằng đồng cốt cần có ý thức "tự thôi miên", khiến ý thức của mình rơi vào trạng thái nửa lơ lửng, sau đó linh vật từ không trung nhập vào trạng thái ý thức nửa lơ lửng này, hiện tượng này chính là linh và ta hợp nhất. Nếu ý thức của linh mạnh hơn "ta" thì sự nhập thể sẽ sâu hơn, loại nhập linh này tương đối thật. Nếu ý thức của "ta" mạnh hơn ý thức của linh thì dễ trở nên giả, nghĩa là chỉ là ý của bản thân đồng cốt, không phải ý của linh.

Có người nói rằng người làm đồng cốt đều là người có bát tự nhẹ, câu nói này có lý, bởi vì người có bát tự nhẹ, nguyên thần bị quan sát công kích và "thực thần tiết thân", nguyên thần lay động không vững, khó tự chủ, dễ thấy ma thấy quỷ.

Theo kinh nghiệm của tác giả, bát tự của bệnh nhân tâm thần đều là bát tự rất nhẹ, hiếm khi có ngoại lệ, cho nên đồng cốt là thành phần trung gian giữa bệnh nhân tâm thần và người bình thường, điểm khác biệt duy nhất là đồng cốt chỉ là dạng bệnh tâm thần tạm thời. Mời độc giả thử nghĩ xem, khi đồng cốt đang nhập, cách nói năng và hành vi hoàn toàn giống với bệnh nhân tâm thần, sự khác biệt rất nhỏ, không phân biệt kĩ thì không thể nhận ra, vì thế nhiều người lúc đầu đã coi những đồng cốt mới "lên đồng" như bệnh nhân tâm thần để điều trị.

Thông thường người ta gọi hiện tượng linh nhập là "thần nhập", nhưng tôi gọi "thần nhập" là "quỷ linh nhập", bởi vì các vị thần cao cấp không mượn "thân xác có dục" để nhập, trừ những trường hợp đặc biệt, những linh đến nhập vào thân đồng cốt tuyệt đối không phải là "linh cao", mà chỉ là những quỷ vật gần gũi với con người mà thôi, đây là phát hiện quan trọng sau nhiều năm nghiên cứu của tôi.

Còn về pháp sư Phượng Tiên, thực ra gọi bà ấy là pháp sư là đã nâng bà ấy lên quá cao rồi (không có pháp, làm gì có chuyện gọi là pháp sư), chỉ là một nữ đồng cốt bị quỷ linh mượn xác mà thôi, qua trò đùa ác này, tôi thấy rõ bà ấy đã lộ sơ hở.


### 10. Bộ mặt thật của "thần đánh"


Tôi nhớ đã từng thấy "thần đánh" tại một ngôi miếu lớn ở Đài Bắc, miếu ở Tùng Sơn, trong miếu này có rất nhiều người biết "thần đánh". "Thần đánh" là cách gọi quen thuộc của người dân Đông Nam Á, ở Trung Quốc hay Đài Loan thì gọi là "đả thần quyền".

Tối hôm đó, đèn trong miếu sáng rực, khói hương nghi ngút, xung quanh các cửa miếu dán đầy bùa chú, có người đánh trống, có người đánh chiêng, pháp sư đứng trước đàn tụng niệm thì thầm, dưới đàn có một khoảng đất trống đứng bảy người đàn ông cởi trần, mỗi người đều quấn trên trán một chiếc khăn thêu bát quái, còn xung quanh miếu là đám đông đứng xem náo nhiệt, tôi cũng là một trong số đó, tôi đứng dưới cột rồng, lặng lẽ chờ đợi xem "đả thần quyền", thông thường "đả thần quyền" có rất nhiều thế võ, rất đẹp mắt.

Tiếng chiêng trống càng lúc càng dồn dập, pháp sư hét lớn một tiếng rồi đốt bùa thỉnh thần, sau đó chỉ chỉ điểm điểm lên người bảy người kia, khói hương nghi ngút, không khí trang nghiêm khiến người ta phải kính cẩn.

Chỉ trong chốc lát, "sư công" đã nhập, sư công chính là thần, chỉ thấy bảy người bỗng nhiên run rẩy toàn thân, từ run nhẹ chuyển thành run mạnh, bảy người đồng loạt nhảy lên một cái rồi đứng tản ra.

Tôi quan sát kỹ, người ở phía Đông đứng một chân như gà vàng, tay chống gậy, rõ ràng là Tổ sư Lý Thiết Quải nhập; người phía Tây có dáng vẻ thong dong, hai tay đặt sau lưng, bước đi đều đặn, chân đạp theo thế thất bộ khôi cương, người khác không nhận ra là ai, nhưng tôi thì thấy rõ, đó chẳng phải là Tổ sư Lữ Động Tân là ai?

Người phía Nam thân hình cao lớn, đi thế cung tiễn bộ, tay giơ kiểu đại đao, một tay vuốt râu, chính là Quan Vân Trường trong Tam Quốc giáng lâm; người phía Bắc, vừa lên sàn đã làm thế xuất thủ của phái Thiếu Lâm, chính là Tổ sư Đạt Ma đến đây; còn ở giữa sân có ba người, một người là Lý Na Tra, dáng vẻ như trẻ con; một người là Dương Tiễn, oai phong của Nhị Lang Thần; người còn lại chỉ nhìn là biết ngay Tề Thiên Đại Thánh, hình dáng như khỉ, ai cũng nhận ra.

Bảy vị thần cùng lúc nhập vào người, bảy người "thần đánh" lần lượt tung ra các thế võ, bước chân tay chân vô cùng nhanh nhẹn, bảy người di chuyển qua lại, khi thì nhảy cao, khi thì cúi thấp, khi thì quét chân, hai vị thần gặp nhau, thỉnh thoảng chắp tay chào hỏi, có lúc lại như đùa giỡn đánh qua đánh lại vài chiêu, người xung quanh nín thở theo dõi, cảnh tượng này quả thật hiếm thấy, mỗi vị thần đều có những thế võ đặc biệt riêng, hoàn toàn khác nhau, đúng là tập bách khoa toàn thư của võ công Trung Hoa.

Xem một lúc, tôi có chút hứng thú, tôi tập trung tinh thần, niệm "Nhất tự kim luân chú", dĩ nhiên là không phát ra tiếng, mà chỉ lẩm bẩm niệm Kim Cang trong miệng, không ai để ý thấy tôi đang niệm chú như vậy. Đột nhiên bảy người "thần đánh" cởi trần kia, tất cả đều quay đầu nhìn về phía tôi, rồi lần lượt chạy đến trước mặt tôi, từng người chắp tay vái tôi một vái, tôi nhất thời ngớ người ra, không biết phải làm sao, vội vàng cũng chắp tay vái lại.

Một người vái xong, lại đến một người khác, bảy người chắp tay vái tôi, tôi cũng vội vàng chắp tay vái lại.

Ngước lên tôi thấy pháp sư đang nhìn tôi bằng ánh mắt kinh ngạc, những người xung quanh cũng nhìn tôi bằng ánh mắt kỳ lạ, lần này tôi thực sự ngượng quá, mặt đỏ bừng, vội vàng chạy ra khỏi đám đông.

Có lẽ độc giả sẽ nghĩ rằng, Lư Thắng Ngạn thật là kiêu ngạo quá, Lữ Động Tân, Lý Thiết Quải, Quan Vân Trường, Tổ sư Đạt Ma, Lý Na Tra, Dương Tiễn, Tề Thiên Đại Thánh đều vái chào Lư Thắng Ngạn, vậy Lư Thắng Ngạn là nhân vật nào chuyển thế vậy?

Tôi xin độc giả đừng hiểu lầm, nếu nói rằng tôi cao hơn cả chư thần chư thánh, tôi không dám.

Nhưng tôi dám mạnh dạn nói một câu rằng, bảy vị thần giáng lâm ngày hôm đó, đều không phải là thân thật của các vị tôn quý ấy giáng lâm, mà chỉ là những tinh linh "mượn danh" mà đến mà thôi.

Tôi vừa niệm chú, họ liền biết ngay, vì thế tất cả đều đến chào hỏi, tôi nhận ra họ, và họ cũng nhận ra tôi!

Thực ra, "thần đánh" phần lớn là do các tinh linh mượn danh nhập thân, đôi khi chỉ là trò của một đám quỷ quấy nhiễu tạo ra, về mặt văn thì là "cầu cơ" của các thánh giáo, về mặt võ thì là "đả thần quyền".

Có người hỏi tôi, "thần đánh" là thật hay giả?

Câu trả lời của tôi là vừa thật vừa giả.

Thật là, quả thật có người vốn không biết "võ công" gì cả, nhưng chỉ cần "sư công" nhập vào là có thể đánh ra một bộ võ công Trung Hoa, hiện tượng nhập thần này là hoàn toàn có thật, hiện tượng "cầu cơ" và đạo lý của "thần đánh" là như nhau, không thể nào giả tạo được, khi "thần đánh" cũng có hiện tượng khí công sung mãn đao thương bất nhập, đi trên lửa, xuyên kim, cách thức này rất dễ khiến người ta tin rằng "có thần", nhiều người đam mê điều này, vui thích không biết mệt mỏi.

Giả là, nếu không phải người có ngũ nhãn lục thông, người thường không thể nhìn thấy chân tướng, liệu những vị giáng cơ có thật sự là cao linh từ cõi trời không? Có thật là Phật A Di Đà phương Tây không? Có thật là Địa Tạng Vương Bồ Tát giáo chủ cõi u minh không? Có thật là Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn (Đế Thích) không?

Vì thế cái giả thì rất nhiều, cái thật thì rất ít, những vị giáng lâm chỉ là những vị thần đất có duyên gần với con người mà thôi, những vị "chân tiên" thực sự thì ghét sự ô uế của con người, bình thường sẽ không đến.

Tôi nghĩ rằng, chơi "thần đánh", thỉnh thoảng chơi một chút cũng được, giống như chúng ta vào ngày rằm tháng Tám, xem "thần ếch", đọc rằng: "Thần ếch ơi, linh thiêng linh thiêng, mời ngày rằm tháng Tám hãy đến nhập thân."

Người bị nhập thân sẽ nằm sấp xuống đất bắt chước dáng vẻ của con ếch, những người cầm hương đứng xung quanh tụng niệm, khi tinh thần tập trung, thần ếch sẽ nhập vào, nhảy tới nhảy lui, kêu ộp ộp, đây là một trò chơi thời thơ ấu, rất vui.

Tuy nhiên không nên chơi ở ban công tầng thượng, nếu thần ếch nhảy xuống dưới thì nguy to.

Ngoài ra, để cho họ tỉnh lại, chỉ cần phun một ít nước vào mặt là có thể tỉnh dậy.

Khi chơi "thần đánh" điều kiêng kỵ nhất là người đang có tang và phụ nữ mang thai, vì khí tang và khí thai đều mang theo sát khí, "thần đánh" sẽ mất hiệu nghiệm, điểm cấm kỵ này rất quan trọng.

Có linh giới hay không?

Tôi nói có, nếu ai bảo rằng hoàn toàn không có chuyện này, thì đó chỉ là vì họ chưa từng trải nghiệm mà thôi, trong thế giới vô hình còn có rất nhiều điều kỳ thú và lạ lùng nữa!


### 11. Bí pháp như cầu vồng


Độc giả Phan Duy Tân sống ở đường Ngưỡng Đức, Hồng Kông, đã viết cho tôi một lá thư, tôi xin đăng toàn văn như sau:

*Đại sư Lư Thắng Ngạn:*

*Đã ngưỡng mộ danh tiếng của ngài từ lâu, lòng vô cùng kính mến. Tôi họ Phan tên Duy Tân, là một Phật tử thuần thành, đã quy y với Pháp sư Tẩy Trần, tự nhận đời mình không có lỗi lầm gì lớn. Tuy nhiên, trời lại giáng họa lớn xuống đầu tôi. Vợ tôi Lâm Tịnh Phương, năm nay 35 tuổi, sinh vào giờ Thân ngày mồng 10 tháng 3. Mười hai năm trước chúng tôi kết hôn, sau khi cưới rất hạnh phúc, nhưng hai năm sau đó, vợ tôi bỗng nhiên thay đổi tính tình, đêm không ngủ được, ăn không biết mùi vị, khi thì la hét hoảng loạn, khi thì ủ rũ chán nản, lại còn coi tôi như kẻ thù, có lúc vô cớ muốn giết tôi, có lúc nằm ra đường diễn cảnh tự tử. Khuôn mặt xinh đẹp thanh tú của vợ tôi, qua mười năm bệnh điên hành hạ, tóc đã bạc trắng, mặt đầy nếp nhăn, giờ ai thấy cũng sợ, còn tôi thì sao! Mười năm đồng hành, sống không bằng chết!*

*Đã từng gặp vô số bác sĩ tâm thần nhưng đều vô hiệu, cũng đã cầu cứu các chùa tư, họ đều nói có người hại vợ tôi bằng "bùa ngải", nhưng điều trị cũng không có kết quả. Cuối cùng chúng tôi còn nhờ đến Đại sư Lâm Vân, Đại sư Lâm Vân nói do phong thủy, chúng tôi làm theo phương pháp của Đại sư Lâm Vân, kết quả không những không đỡ mà còn nặng hơn, la hét om sòm, hầu như không có phút nào yên ổn. Mười năm bệnh điên, tinh thần và tiền bạc tốn kém thật khó mà tính được. Ban đầu đã tuyệt vọng, nhưng bạn bè giới thiệu sách của ngài, đọc được vài cuốn, tôi thấm thía rằng ngoài ngài ra, trên thế gian này không còn ai có thể cứu được vợ tôi, vì thế viết thư cầu cứu ngài, mong Đại sư đừng chối từ, xin cứu giúp cả nhà chúng tôi.*

*Phan Duy Tân kính thư
Ngày 18 tháng 7 năm 1982.*

Khi nhận được lá thư này, tôi đang ở Seattle, Hoa Kỳ. Thư của anh ấy được một vị pháp sư chuyển đến cho tôi. Sau khi liên lạc được với anh ấy, tôi đã thiết lập một mật đàn tại phòng thờ nhà mình, sử dụng pháp Mật Tích Kim Cang, dùng hoa, quả, hương, trà, đèn cúng dường Mật Tích Kim Cang, tụng chú Đại Bi đà-la-ni 1080 biến, cách nhau đại dương, vạn dặm mây trăng, tôi kết đại thủ ấn tiêu tai.

Năm xưa Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sư truyền pháp cho tôi, đại thủ ấn tức tai gồm có một 108 thủ thế, phải làm liên tục không được gián đoạn trong quá trình biến hóa. Thủ ấn này tôi đã bí mật tu trong hai năm, 108 thủ thế biến hóa vô cùng, không giống như Đại sư Lâm Vân, lần nào cũng chỉ làm một thủ ấn cầu phúc chỉ để chụp ảnh lưu niệm.

Tôi rất nghi ngờ về hiệu quả của đại thủ ấn cầu phúc của Đại sư Lâm Vân, bởi vì đại thủ ấn cầu phúc tôi cũng đã âm thầm tu luyện nhiều năm, cũng có 108 thủ thế, cần phải biến hóa đủ 108 thủ ấn mới được coi là hoàn thành. Liệu Đại sư Lâm Vân có thực sự biết hay không, đó là điều đáng ngờ? Nếu chỉ có một thủ ấn mà gọi là đại thủ ấn cầu phúc thì thật sai lệch quá xa, và cũng đã xem thường đại thủ ấn cầu phúc rồi.

Khi tôi làm thủ ấn tiêu tai, ngay lập tức có ánh sáng đỏ lóe lên trên đầu ngón tay, các ngón tay, lòng bàn tay, mu bàn tay đều phủ đầy ánh sáng linh thiêng màu đỏ. Ánh đèn chiếu vào bản mệnh nguyên thần của Lâm Tịnh Phương, và ánh sáng linh thiêng như rắn phóng ra, lao về phía bản mệnh nguyên thần của Lâm Tịnh Phương. Một luồng khí đen quanh nguyên thần của Lâm Tịnh Phương bị ánh sáng đỏ ép lại, liền bắt đầu tan rã. Tôi phải làm pháp mỗi ngày một lần, mỗi ngày làm 108 thế thủ ấn tiêu tai.

Pháp Mật Tích Kim Cang khi thực hiện, hoặc là 21 ngày, hoặc là 49 ngày. Tôi dùng 21 ngày, mỗi ngày tụng chú Đại Bi đà-la-ni, thêm một biến chú Mật Tích Kim Cang, làm một lần 108 thế thủ ấn tiêu tai. Tôi nhận thấy, mỗi lần kết ấn, không cần phải suy nghĩ về cấu trúc thủ ấn nữa, dường như linh khí tràn đầy khắp thân, thủ ấn tự nhiên biến hóa vô cùng, như thể không phải là tôi đang kết ấn, mà là Bổn tôn Tỳ Lô Giá Na Phật đang hiện diện nơi đây.

Từng luồng từng luồng ánh sáng linh thiêng, như tia chớp màu đỏ, cũng như cầu vồng bay, từ Seattle, Hoa Kỳ bay qua Thái Bình Dương, bay qua Hawaii, bay qua Đài Loan, thẳng đến Hồng Kông, đến được thân thể của Lâm Tịnh Phương, khiến cho khí đen toàn thân Lâm Tịnh Phương tan biến, và ánh sáng linh thiêng màu đỏ phủ kín thân thể.

Một tháng sau, anh Phan Duy Tân lại gửi cho tôi một lá thư, trong thư có kèm theo một tấm séc ngân hàng HSBC Hồng Kông, trị giá 100 đô la Mỹ, thư của anh viết như sau:

*Kính gửi Đại sư Lư Thắng Ngạn:*

*Tôi vô cùng cảm tạ, vạn phần cảm tạ, mười tỷ vạn phần cảm tạ ngài. Tôi quỳ xuống, hướng về phía ngài, dập đầu cả trăm lạy, đời này kiếp này, tôi mãi mãi ghi nhớ ơn đức của ngài, vĩnh viễn không dám quên. Tôi thừa nhận tôi đã khóc, khóc một trận thật sảng khoái, mười năm rồi, tôi mong mỏi được vui vẻ ngắm nhìn bầu trời xanh, hôm nay cuối cùng tôi đã được cứu rồi. Vợ tôi, Lâm Tịnh Phương, hai tuần trước bỗng nhiên ngủ mê man, ngủ liền hai ngày hai đêm, khi tỉnh dậy tinh thần rất tốt, nói với tôi rằng mười năm qua như là một giấc mơ, giờ đây, tất cả đã qua rồi. Cô ấy bắt đầu nấu cơm giặt đồ, đi chợ, trò chuyện vui vẻ với tôi, ánh mắt mơ hồ đã biến mất, trở nên rạng rỡ hẳn lên. Đại sư ơi, ngài có biết không? Hai tuần nay, mọi thứ đều bình thường, hàng ngày đều tắm rửa, còn biết trang điểm nữa. Hàng xóm thấy sự thay đổi của cô ấy đều kinh ngạc, họ đều cho rằng trời có mắt. Đại sư, cảm ơn ngài, khi có dịp, tôi nhất định sẽ đích thân dẫn vợ đến tận nơi để tạ ơn!*

*Phan Duy Tân kính thư.
Ngày 28 tháng 8 năm 1982.*

Sau khi đọc thư, trong lòng tôi cũng cảm thấy được an ủi, Phật pháp vô biên, độ khắp chúng sinh, lại có thêm một minh chứng lớn. Trong bài viết ngắn này có nhắc đến Đại sư Lâm Vân, chỉ vì anh Phan đã từng cầu cứu ngài ấy, tuy không hiệu quả, nhưng tôi thông cảm rằng Đại sư Lâm Vân cũng là người rất bận rộn, không thể như tôi thiết lập mật đàn và thực hiện pháp mỗi ngày một lần.

Ngoài ra, đại thủ ấn cầu phúc quả thật có 108 thủ ấn biến hóa, tôi thấy "Thời báo Tuần san" đưa tin Đại sư Lâm Vân kết ấn trước đại chúng, tự xưng là đại thủ ấn cầu phúc, nhưng thủ ấn này có tổng cộng 108 thế, chưa thấy giải thích về điều này, chỉ sợ độc giả hiểu lầm đại thủ ấn cầu phúc chỉ có một thế như vậy, nên đặc biệt giải thích thêm.

Tôi dám tuyên bố rằng, đã có hơn một trăm bệnh nhân tâm thần được chữa khỏi bằng pháp Mật Tích Kim Cang, con số chính xác không thể nhớ hết, tất cả đều bình phục hoàn toàn. Tuy nhiên, nếu chư Phật Bồ Tát chỉ thị rằng "không thể cứu chữa", tôi sẽ không dám thực hiện pháp, bởi vì một số bệnh tâm thần là do nghiệp chướng nhân duyên sinh ra, liên quan đến nhân quả báo ứng. Nếu nghiệp chướng quá nặng mà tôi cứ ra tay cứu giúp từng người một, thì thế gian này sẽ chẳng còn nhân quả gì nữa, điểm này, đặc biệt mong độc giả thông cảm.


### 12. Nỗi nhớ là những lớp bí ẩn chồng chất


Aileen là một cô gái Mỹ xinh đẹp, cô ấy kể cho tôi câu chuyện sau:

Khi còn nhỏ, cô ấy sống ở vùng ngoại ô Philadelphia, có một cô bé hàng xóm cùng tuổi, họ rất thân thiết với nhau. Sau đó Aileen chuyển nhà đến Seattle ở vùng Tây Bắc, từ Philadelphia đến Seattle, đó là từ miền Đông sang miền Tây, cũng là một quãng đường xa nghìn vạn dặm, từ đó Aileen và cô bạn gái của mình mất liên lạc, cứ thế trôi qua năm năm, đến nỗi không còn nhớ nghĩ gì đến nhau nữa.

Một ngày nọ, Aileen đến cửa hàng bách hóa Zebra trên Đại lộ số 3 ở Seattle để mua sắm. Bỗng nhiên, không hiểu sao cô ấy chợt nhớ đến người bạn ở Philadelphia. Cảm giác nhớ nhung này đến rất mạnh mẽ, và cô có linh cảm rằng người bạn của mình chắc chắn đang ở đâu đó gần đây. Sau khi tìm kiếm khoảng mười phút, cuối cùng cô đã tìm thấy người bạn thân ở Philadelphia của mình tại tầng hai của cửa hàng bách hóa Zebra. Đã năm năm không gặp, cả hai đều vô cùng ngạc nhiên về cuộc hội ngộ này. Hóa ra người bạn của Aileen cũng đã chuyển từ Philadelphia đến Seattle được một năm trước khi họ gặp lại nhau.

Một câu chuyện khác là như thế này, một đồng nghiệp nữ của Aileen đã qua đời vì bệnh. Mặc dù họ làm việc trong cùng một công ty nhưng cách nhau vài phòng, chỉ chào hỏi xã giao, không thân thiết lắm. Tuy nhiên, Aileen không thể nào quên được người đồng nghiệp này trong tâm trí, điều này thật kỳ lạ, thỉnh thoảng bóng hình của người đồng nghiệp này lại hiện lên trong tâm trí cô, không sao xua đi được.

Trong một thời gian, cô ấy vô cùng lo lắng, ở nhà thì uể oải không còn sức sống, đi làm thì tâm trạng cũng bị ảnh hưởng.

Theo lý mà nói, Aileen và cô đồng nghiệp không thân thiết, công việc cũng ít liên quan, chẳng có thù oán gì, vậy mà Aileen lại cảm nhận được sự hiện diện của cô ấy, đặc biệt là khi ở nhà, cảm giác nhớ nhung càng mãnh liệt.

Cho đến một ngày nọ, khi Aileen dọn dẹp phòng chứa đồ trong nhà, tình cờ phát hiện một đôi giày da, và đôi giày này chính là của người đồng nghiệp nữ đó.

Hóa ra câu chuyện là như thế này, một năm trước, tại nhà của Aileen có tổ chức tiệc sinh nhật, người đồng nghiệp nữ đó cũng đến dự, hôm đó gót giày của cô ấy bị gãy, vì vậy đôi giày được cất vào phòng chứa đồ, và cô ấy được cho mượn một đôi dép lê để về nhà. Sau sự việc đó, người đồng nghiệp quên không nhắc đến, Aileen cũng quên luôn.

Giờ đây khi di vật của người đã khuất xuất hiện, Aileen hoảng sợ vội vàng đem đôi giày ra vứt đi, và điều kỳ lạ hơn là, ngay khi vứt đôi giày đi, nỗi nhớ cũng hoàn toàn chấm dứt, cô không còn nghĩ đến người đồng nghiệp đó nữa.

Aileen kể với tôi rằng, hai câu chuyện này chỉ là những kỷ niệm sâu đậm nhất trong cuộc đời cô ấy mà thôi, còn có rất nhiều những nỗi nhớ tương tự khác, và tất cả đều ứng nghiệm một cách kỳ lạ. Cô ấy có cả một kho chuyện để kể, vừa nói vừa giơ tay lên, một tay đặt lên ngực, một tay chỉ lên trời, thề rằng tất cả những gì cô kể đều là sự thật. Cô sợ tôi không tin, bởi có nhiều người không tin những điều Aileen nói, và hôm nay cô đến đây để hỏi tôi: "Tại sao vậy?"

Tôi giải thích với Aileen như sau: "Aileen là một người có sóng não phát triển đặc biệt, nghĩa là khả năng quét và dò tìm sóng não của cô ấy rất nhạy bén. Đây chính là cái mà người ta thường gọi là giác quan thứ sáu. Giác quan thứ sáu hơi khác với trực giác - giác quan thứ sáu thuộc về phương diện sóng não, còn trực giác là sự tổng hợp về mặt nhận thức. Hai khái niệm này thường bị nhầm lẫn trong các thuật ngữ về ý thức tinh thần."

Theo nghiên cứu của tôi về thế giới vô hình, tôi nhận thấy những người có giác quan thứ sáu đặc biệt nhạy cảm với duyên phận giữa người với người. Như trong câu chuyện đầu tiên của Aileen, khi duyên đã gần kề thì mới xuất hiện nỗi nhớ. Nghĩa là sóng não của Aileen đã dò được sự hiện diện của người bạn thân nhiều năm không gặp ở quanh đó, từ đó hình ảnh người bạn bắt đầu hiện lên trong tâm trí, và nỗi nhớ cứ liên tục xuất hiện.

Câu chuyện thứ hai cũng tương tự, di vật của người đã mất còn trong nhà, di vật tỏa ra linh khí, sóng não của Aileen đã cảm nhận được từ lâu, nhưng cứ không hiểu được nguyên nhân thực sự là gì, cho đến khi đôi giày được vứt đi, thì cảm giác đó tự nhiên biến mất. Vì vậy, về vấn đề giác quan thứ sáu và nỗi nhớ, câu trả lời của tôi là "khi duyên đã gần kề, nỗi nhớ sẽ hiện ra".

Bản thân tôi cũng có kinh nghiệm về điều này, khi tôi đang nhớ về một người bạn, có khi chuông điện thoại vừa reo lên, đúng là người đó gọi đến thật, hiện tượng này giống như câu "nhắc đến ai thì người đó tới, nhắc ma thì ma tới."

Thật là kỳ diệu, bản thân tôi cũng là người có khả năng cảm nhận rất nhạy bén. Khi tôi muốn có một chiếc đồng hồ Rolex vàng, tôi đã gặp ông Tạ - chủ tiệm đồng hồ Thời Mỹ Trai ở Đài Trung. Khi tôi nghĩ đến việc muốn có một chiếc nhẫn kim cương, phu nhân Cao Chí đột nhiên đến đưa chúng tôi đến tiệm trang sức Canaan. Cái tật của tôi là, khi tôi nghĩ đến điều gì, người khác sẽ mang đến cho tôi thứ đó. Thật đấy, cuộc đời tôi chẳng thiếu thốn gì, tôi nhớ gì, tôi yêu thích gì, những thứ đó đều sẽ hiện ra cho tôi, không hề giả dối, thậm chí còn phong phú hơn thế.

Ví dụ như tôi thường nghĩ, trong đời mình có thể đi du lịch khắp thế giới, và rồi ông Hoàng Triều Sơ mời tôi đi du lịch khắp nước Mỹ, ông Lâm Vĩnh Mậu mời tôi đi du lịch Úc, ngoài ra Nhật Bản, Đông Nam Á, châu Âu đều là do người khác mời tôi đi cả, tôi chẳng tốn một xu nào mà đã đi du lịch khắp thế giới, nếu không phải là kỳ tích thì là gì?

Tôi cũng rất thích Hokkaido Nhật Bản và Seattle Mỹ, thế là tôi có thể đến đó sinh sống. Tôi thường nghĩ, danh tiếng của mình sẽ vang xa khắp hải ngoại, và quả nhiên, điều đó đang được thực hiện từng ngày!

Đây cũng là điều nằm trong những suy nghĩ của tôi.

Khi viết văn, thần linh hướng dẫn của tôi đã chuẩn bị sẵn đề tài và những nội dung chính của bài viết, tôi chỉ cần cầm bút lên là có thể viết một mạch, không cần suy nghĩ nhiều, bút lướt như mây trôi nước chảy, vốn đã có "thần" rồi, không cần phải nói gì đến "thần bút" nữa.

Tôi nghĩ, không phải chỉ riêng tôi được trời phú cho năng lực đặc biệt này, trên thế giới có một bộ phận người đều có trải nghiệm về giác quan thứ sáu, chẳng hạn như cô "Aileen" cũng có những trải nghiệm như vậy.

Chỉ là nếu được rèn luyện thông qua việc "khởi linh", những trải nghiệm về giác quan thứ sáu này trong tương lai sẽ còn phi thường hơn nữa.

"Khởi linh" là nền tảng để tiếp cận thế giới linh (thế giới vô hình), với sinh lực mạnh mẽ đã phá vỡ giới hạn hữu hình của tri thức nhân loại. Tôi là người tiên phong, dẫn dắt tri thức nhân loại vào lĩnh vực vô hình, và điều này chắc chắn sẽ được chứng minh trong tương lai.


###  13. Thành phố hoàng hôn vàng óng


Một buổi chiều nọ, khi mặt trời nằm trên đường chân trời, những đám mây trên cao nhuốm màu vàng óng như vàng ròng, phản chiếu xuống khiến cả thành phố ngập tràn trong ánh kim, rực rỡ chói lọi, đẹp đẽ mê hồn. Đứng trên sườn đồi thoáng đãng này, tôi không khỏi thốt lên lời tán thưởng: Thành phố hoàng hôn vàng óng - một bức tranh thành phố tuyệt đẹp và yên bình.

Chính trong khoảnh khắc tuyệt đẹp ấy, một vị khách không hẹn trước đã đến. Ông ấy tên là Trần Thiêm Long, sáu mươi lăm tuổi, lái xe từ Saskatoon ở Canada đến tìm tôi. Ông ấy đã đọc sách của tôi và ngưỡng mộ mà tìm đến.

Ông ấy ngồi yên lặng trong phòng khách, chỉ đơn giản cho tôi biết tên tuổi, không nói thêm lời nào nữa, ông ấy chỉ yêu cầu tôi giúp xem tướng số về vận mệnh tương lai.

Tôi ngồi im lặng đối diện với ông ấy, cầu xin thần linh chỉ dẫn, cầm bút viết xuống: "Hoàng hôn thành phố vàng, tà dương chiếu chính môn".

Thế là tôi hỏi: "Nhà ông hiện tại hướng chính Tây phải không?"
Ông ấy mở to mắt, nhìn tôi: "Đúng vậy, ông Lư đã từng đến Saskatoon sao?"
Tôi trả lời: "Không, tôi thậm chí còn không biết Saskatoon ở đâu nữa."
Tôi tiếp tục viết lên giấy: "Kiểu cách Tây Ban Nha, bóng xanh ẩn hai người."

Tôi lại hỏi ông ấy: "Nhà ông là kiểu nhà Tây Ban Nha, bên ngoài sơn màu xanh lá, và trong nhà chỉ có hai người ở, có đúng không ạ?" 
Lần này ông ấy há hốc mồm, không thể khép lại được.

Tôi tiếp tục viết lên giấy: "Con cái gặp hung sát, xe, bệnh không sống nổi." rồi viết tiếp: "Nay đến hỏi tương lai, nhìn biển không tiếng vọng.

Trần Thiêm Long sáu mươi lăm tuổi đứng dậy, bước ra ngoài nhà, lặng lẽ nhìn ra tận chân trời nơi biển xa, mặt trời vừa lộ một nửa trên đường chân trời, một nửa chìm vào biển, hoàng hôn vẫn đẹp vô cùng!

Trần Thiêm Long nói với tôi: "Thưa ông Lư, sau khi đọc sách của ông, tôi không tin trên đời này có người có thể thần toán tinh vi đến vậy. Tôi mang tâm trạng nửa tin nửa ngờ đến tìm ông. Ông không quen biết tôi, cũng chưa từng đến nhà tôi. Còn việc tôi tìm được ông là nhờ nhờ bạn bè ở Đài Loan điều tra địa chỉ của ông ở Mỹ, và người bạn Đài Loan này cũng chưa từng đến Canada, không biết màu sắc và kiểu dáng nhà tôi."

Ông dừng lại một chút rồi nói tiếp:
"Về việc con trai tôi mất vì tai nạn xe hơi, con gái mất vì bệnh máu, điều này ông cũng đoán rất chính xác. Tuy nhiên, hai câu cuối ông viết, tôi không thể đồng ý, 'Nay đến hỏi tương lai, nhìn biển không tiếng vọng', như vậy chẳng phải quá bi quan sao? Mặc dù tôi mất cả con trai lẫn con gái, nhưng tôi vẫn còn vô vàn hy vọng với cuộc sống, tôi vẫn đang tìm cầu Phật pháp, điểm này ông lại không viết ra, đây là chỗ thiên cơ của ông không chính xác. Tôi theo Phật nhiều năm, ăn chay thanh tịnh nhiều năm, lẽ nào Phật Tổ không biết, mặt này ông không đoán ra được!"

Tôi im lặng không nói, trong lòng cảm thấy vô cùng ngạc nhiên. Thật lòng mà nói, nếu ông Trần này đã theo Phật nhiều năm, ăn chay nhiều năm, chư Phật Bồ Tát chắc chắn sẽ biết, và trong bài thơ hẳn phải có lời khen ngợi, không thể nào không hay biết gì.

Tôi cảm thấy kỳ lạ, nhưng nghĩ mãi không ra lý do, cảm thấy ngượng ngùng không biết phải làm sao, đối diện với một cụ già theo Phật nhiều năm, tôi thấy rất lúng túng và buồn lòng.

Tôi hỏi ông: "Thưa ông Trần, ông đã quy y với vị thầy nào?"
"Quy y ư? Ồ! Vị tiền bối của tôi là Hồng Phước Tinh, vị thầy điểm đạo của tôi là Đạo trưởng Nguyễn. Chúng tôi đã làm lễ đốt sớ tuyên thệ chính thức tại Phật đường riêng ở Canada, như vậy là có thể ghi danh trên thiên đường, xóa tên dưới địa ngục rồi."

"Trời ơi!" - Tôi nghĩ thầm trong lòng: "Đạo Nhất Quán Bạch Dương của thời Tam Kỳ Mạt Kiếp mà lại truyền được đến tận Canada, thật là ghê gớm quá."

Trần Thiêm Long hỏi tôi: "Ấn quyết khẩu quyết là pháp không truyền cho kẻ thứ ba được biết, làm sao ông lại biết được?"
"Ha ha ha! Có chuyện gì trên đời này mà Lư Thắng Ngạn tôi lại không biết chứ."

Tôi dạy Trần Thiêm Long khi về nhà hãy dỡ bỏ đèn Lão Mẫu phía sau tượng Quan Thế Âm Bồ Tát. Tôi lấy ra hai đóa hoa sen màu đỏ đưa cho ông ấy và bảo hãy cúng hai đóa sen đỏ này trước tượng Quan Thế Âm Bồ Tát, sáng tối tụng Đại Bi đà-la-ni chú mỗi lần ba biến. Sau khi tụng đủ 1080 biến chú Đại Bi, hồi hướng công đức cho con trai và con gái, rồi đem một đóa sen đỏ đến mộ con trai hóa, đóa còn lại đem đến mộ con gái hóa.

Như vậy, nhờ vào thần lực của chú Đại Bi, linh hồn của cả con trai và con gái sẽ phá được cửa địa ngục, được siêu độ vãng sinh.

Tôi lại dạy cho ông Trần Thiêm Long cách tu trì về sau, mỗi ngày tụng một kinh một chú, cách học ngồi thiền chính thống, cách hấp thu khí công, để đạt đến khí thần hợp nhất, phương pháp phúc huệ song tu. Lần này, cụ Trần Thiêm Long học rất nghiêm túc, cuối cùng đã lĩnh hội được bí quyết, vui mừng reo lên: "Quả nhiên chuyến đi này không uổng công, quả nhiên không uổng công!"

Khi chia tay, tôi tặng ông ấy bốn câu kệ, nhưng đã sửa hai câu cuối.

Hoàng hôn thành phố vàng,
Tà dương chiếu chính môn.
Kiểu cách Tây Ban Nha,
Bóng xanh ẩn hai người.
Con cái gặp hung sát,
Xe, bệnh không sống nổi.
Nay đến hỏi Phật duyên,
Tu trì xuân quang minh.


### 14. Ứng nghiệm sau bốn tháng


Ở Đài Loan, tôi không có ngày nghỉ. Mỗi ngày đều có hơn một trăm người cần tôi thần toán, những người này đều đã đăng ký trước. Về sau, người tìm đến càng nhiều hơn, mỗi lần đăng ký phải chờ đến hai tháng (trừ trường hợp khẩn cấp). Nhà tôi Lư Lệ Hương có công việc là đứng bên điện thoại, từ sáng đến tối không rời máy, vì trung bình mỗi ngày cũng có đến hai trăm cuộc gọi.

Tôi không hề đăng quảng cáo, càng không có tuyên truyền gì, nhưng khi vừa dọn đến địa chỉ mới, tin truyền từ một người đến mười người, từ mười người đến trăm người, đám đông tự nhiên vây quanh tôi. Mỗi ngày từ tám giờ sáng, khi tôi mở cửa ra, khách chờ bên ngoài ùa vào như thủy triều, chiếm kín cả phòng khách. Những người này đến từ đủ mọi tầng lớp, từ quan chức quyền quý cho đến người buôn gánh bán bưng, có thể nói là đủ hết. Ở trong nước, tôi đã phải chuyển nhà đến sáu lần, chủ yếu là để tránh đám đông, bởi vì quá nhiều người sẽ làm phiền hàng xóm, nhiều nhà hàng xóm phải dán giấy thông báo: "Lư Thắng Ngạn ở nhà bên cạnh, xin đừng bấm chuông lung tung." Xin độc giả hãy thử nghĩ xem, nếu hàng xóm còn không chịu nổi, thì bản thân chúng tôi làm sao chịu được. Mỗi khi gặp hàng xóm, tôi luôn phải xin lỗi, họ đều thông cảm nói: "Ông nổi tiếng như vậy, người ta tìm đến ông cũng không có gì lạ, mong ông đừng từ chối họ."

Mỗi ngày từ tám giờ sáng đến mười hai giờ trưa là thời gian tôi thần toán, nhưng không thể kết thúc đúng giờ như dự định, bởi vì ngoài những người đã đăng ký, còn có những khách không hẹn trước đến vì việc khẩn cấp, nên việc kéo dài đến một hai giờ chiều là chuyện bình thường. Tuy nhiên, tôi luôn khiến mọi người hài lòng khi ra về, không dám cẩu thả một chút nào, bởi thần toán là sự chỉ dẫn của các đấng cao linh, không phải như xem bói thông thường có thể nói bừa, vô trách nhiệm. Đây cũng là lý do khiến người ta truyền tai nhau, từ một người đến mười người, từ mười người đến trăm người, và người đến như thủy triều vậy.

Sau đó, tôi đã sống ba năm tại biệt thự Tinh Võ gần công viên nước Tân Cao - đây là nơi tôi ở lâu nhất, vì chỉ có một nhà hàng xóm duy nhất là Tinh Xá Hoa Vũ của Đạo sư Ấn Thuận. Phía trước có khoảng đất trống rộng rãi có thể đậu xe, phòng khách cũng rất rộng, nhưng khi người đông, xe cộ không còn chỗ đậu, phòng khách cũng không đủ chỗ chứa. Đã xảy ra vài lần khách hàng đánh nhau vì tranh cãi thứ tự đăng ký, còn chuyện cãi vã thì xảy ra thường xuyên. Việc có quá nhiều người luôn khó xử lý, đặc biệt là việc đăng ký do nhà tôi phụ trách, cô ấy cũng không biết phải làm sao. Những vấn đề tưởng đơn giản nhưng thực ra rất phức tạp. Có người ở xa phải bắt xe, có người từ nước ngoài phải kịp chuyến bay, người đã xếp hàng thì không cho người khác chen ngang, biết phải làm sao đây, ngay cả những quan chức có đặc quyền cũng phải ngồi xếp hàng như thường.

Ở trong nước, tôi sống trong không gian thời gian bận rộn như vậy. Ngày 16 tháng 6 năm 1982, tôi đáp chuyến bay của hãng Northwest Airlines cùng cả gia đình đến Seattle, Hoa Kỳ. Trước khi đi, tôi chỉ thông báo cho cha mẹ và một vài người bạn thân, những người khác đều không hay biết. Đến Mỹ là vì chư Phật Bồ Tát đã bảo tôi: "Đã đến thời cơ hoằng dương Phật pháp ở Mỹ, con có thể độ người phương Tây." Thế là tôi đã đến đây, đây là điều hoàn toàn không thể tưởng tượng được trong cuộc đời tôi, ngoài việc chu du thế giới, tôi còn định cư tại Mỹ.

Khi mới đến Seattle, tôi bị choáng ngợp bởi bầu không khí yên tĩnh nơi đây, cảnh đẹp thiên nhiên như một cõi tiên. Đương nhiên, đám đông trước cửa đã biến mất, không còn ai bấm chuông, không có khách đến thăm, ngay cả một con mèo cũng không có. Cảnh đường phố hàng ngày nhìn thấy đều vắng tanh, không một bóng người, không điện thoại, cả ngày không có lấy một cuộc gọi. Đúng như câu thơ: "Khúc hết người không thấy, trên sông núi xanh ngời." Thật là một cảm giác tuyệt diệu khó quên, từ ồn ào trở nên tĩnh lặng.

Toàn Seattle, thậm chí toàn nước Mỹ, đương nhiên không ai biết rằng có một nhân vật "thần toán đệ nhất" của Trung Hoa Dân Quốc là Lư Thắng Ngạn đang cư ngụ ở góc Tây Bắc Seattle. Ở Mỹ, sự xuất hiện của tôi giống như một giọt nước nhỏ rơi vào đại dương, không một tiếng động. Trong phòng khách, tôi thờ cúng kim thân Phật A Di Đà và Bồ Tát Địa Tạng Vương (thỉnh từ Đài Loan sang), tôi thắp hương hỏi chư Phật Bồ Tát: "Con sẽ làm gì trong tương lai?" Chư Phật Bồ Tát chỉ dạy rằng: "Bốn tháng nữa, con sẽ biết." Ý của chư Phật Bồ Tát là nói, sau bốn tháng, tự nhiên sẽ gây chấn động khắp nước Mỹ.

Người bạn đầu tiên đến thăm tôi là họa sĩ nổi tiếng Bàng Huy từ Vancouver, Canada (tôi đã cho cô ấy địa chỉ khi còn ở Đài Loan), sau đó cô ấy dẫn theo mẹ mình là ủy viên lập pháp Dương Bảo Lâm, và Tiến sĩ Dương Nãi Ngạn - cố vấn của Tổng hội Hoa kiều cùng những người khác đến thăm. Ngoài ra tôi còn có một học trò là Lại Văn Ngạn ở Vancouver, anh ấy rất vui mừng khi tôi đến Seattle và thường xuyên lái xe đến thăm.

Do việc tôi xin thành lập Linh Tiên Tinh Xá, các giáo sư Đại học Washington đã chú ý, và Giáo sư Chu Chính Hoa của trường cũng đến thăm. Các giáo sư khác cho tôi biết thư viện trường và Nhà sách Nam Thiên đều có sách của tôi. Tiến sĩ Giang Hàn từ Đại học Houston, khi về Đài Loan tìm tôi không gặp, nhưng lấy được địa chỉ của tôi ở Mỹ, nên đã dẫn theo một nhóm người từ Houston đến xem thần toán, và giờ đây Houston cũng đang xôn xao. Ở Los Angeles tôi có nhiều bạn hơn, những người đến thăm có bà Ngô Mai Ảnh từ chùa Quan Âm, pháp sư Thiền Lạc từ chùa Pháp Quang, Tiến sĩ Tần Cảng Hùng, bà Trương Học Ánh, các ông bà Tiêu Bính Vinh, Từ Thục Tuệ, Hồng Trạch Nhân, Thái Văn Trí.

Về phía Seattle, Tiến sĩ Thẩm ở Bellevue, bà Hồng ở Redmond, Tiến sĩ Lâm ở Tacoma và các kỹ sư từ nhà máy Boeing đều đến thăm, thậm chí cả người phương Tây cũng đua nhau tìm đến, khiến tôi vô cùng vui mừng và cảm kích. Vào tối ngày 17 tháng 10 năm 1982, nhà tôi lại bắt đầu bận rộn với điện thoại và sắp xếp lịch hẹn. Nước Mỹ rộng lớn hơn nhiều, từ Los Angeles bay đến chỗ tôi mất hai tiếng, từ Houston bay mất bốn tiếng, từ New York bay mất năm tiếng.

Chỉ dẫn của chư Phật Bồ Tát không hề sai lầm, tôi là người tiên phong trong lĩnh vực linh học, tại đất nước Hoa Kỳ này, tôi sẽ thắp lên vô vàn ánh sáng để chiếu rọi nhân gian.

Khoa học kỹ thuật hiện đại thay đổi từng ngày, từ khi vệ tinh nhân tạo bước vào lịch sử loài người, vũ khí hạt nhân tràn lan, gây ra những biến động và đột phá to lớn. Thế nhưng, tư tưởng của con người cùng đức tin tôn giáo và quan niệm nhân sinh lại như đang trôi nổi giữa bầu trời lạnh lẽo, không biết mình đang ở đâu?

Tôi tin sâu sắc rằng để hiểu được linh học, thực sự cần có một sự kiên nhẫn và kiến thức khoa học nhất định, hơn nữa nhất định phải đạt đến một trình độ nào đó và tự mình thực hành đạt chứng nghiệm. Tôn giáo truyền thống chỉ là bề mặt, linh học là sự đào sâu hơn của tôn giáo, là một dạng sức mạnh khởi nguồn duy trì tôn giáo và nhân sinh quan, có sức hấp dẫn của những biến đổi kỳ diệu mang tính chân-thiện-mỹ.


### 15. Giữa linh và chim


Nghe nói toàn nước Mỹ có khoảng 80 triệu mẫu đất hoang, trong khi diện tích rừng chiếm hơn 1 tỷ mẫu. Có thể nói lục địa Bắc Mỹ, khắp nơi đều là rừng rậm tươi tốt, với những cây cổ thụ cao vút tận trời. Như núi St. Helens mà tác giả đã từng giới thiệu, chỉ riêng đường mòn trong rừng đã dài tới 280.000 dặm. Khi ở trong đó, không thể thấy ánh mặt trời ở đâu, cứ ngỡ như đang thám hiểm ở châu Phi vậy.

Với những khu rừng hoang dã này, nước Mỹ trở thành thiên đường cho các loài động vật hoang dã và chim muông, từ các loài thú như dê núi, gấu xám, hươu nai, đến các loài chim như đại bàng, kền kền và nhiều loài khác sinh sống. Họ còn có Hiệp hội Bảo vệ Động vật, không cho phép săn bắn tùy tiện. Việc bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên thường được thể hiện qua dư luận, biểu tình và thậm chí cả kiện tụng.

Không chỉ trong rừng, các loài động vật và chim chóc đều được bảo vệ, ngay cả ở những vùng đồng bằng, thành phố và nông thôn, động vật và chim chóc cũng được tự do tự tại. Tôi từng đến công viên gần đập Ballard, nhìn thấy sóc, khi bạn gọi nó, nó sẽ đến gần, nếu bạn cho nó hạt lạc, nó sẽ đi theo bạn.

Đập nước Ballard nối vịnh Puget với hồ Washington, chim biển bay lượn khắp nơi và rất thân thiện với con người. Chúng bay lên bay xuống, khi bạn ném thức ăn lên, chúng sẽ nhanh chóng đớp lấy, thật đáng kinh ngạc về khả năng "bắt mồi trên không" của chúng. Tại Hồ Xanh (Green Lake), tôi còn thấy rất nhiều vịt nước bơi lội tự do, chúng không hề sợ bị người ta bắt để ăn thịt. Do con người đối xử tốt với các loài động vật và chim muông, nên chúng cũng tự nhiên thân thiện với con người, điều này đã trở thành một hiện tượng tự nhiên.

Ví dụ một buổi sáng sớm nọ, đối diện nhà tôi có một tòa nhà lớn màu đen, có hàng trăm con chim bay đến. Tôi không am hiểu về chim chóc, chỉ thấy lông của chúng màu nâu, kích thước bằng chim bồ câu. Chúng đang mổ những trái cây rơi từ cây cao xuống đất. Tôi đứng bên cửa sổ, ngắm nhìn khung cảnh tự nhiên này.

Lúc đó tôi chợt nảy ra một ý nghĩ: "Liệu mình có thể dùng sức mạnh tâm linh để điều khiển đàn chim này không?" Chúng có hàng trăm con, đang cúi đầu mổ trái cây, xung quanh không có người, cũng chẳng có xe cộ, không có bất kì yếu tố bên ngoài nào có thể khiến chúng hoảng sợ mà bay đi.

Thế là, tôi định tâm lại, hai mắt chăm chú nhìn đàn chim, miệng lặng lẽ tụng mật chú. Chỉ trong chốc lát, đàn chim hàng trăm con bỗng nhiên đồng loạt vỗ cánh bay lên, lượn một vòng trên không trung, rồi cùng nhau đáp xuống chỗ cũ. Sau đó lại đột ngột bay lên, lượn thêm một vòng nữa, rồi lại cùng nhau đáp xuống chỗ cũ. Cứ như thế lặp đi lặp lại nhiều lần, tổng cộng bay lên đáp xuống đồng loạt đến mười lần. Cảnh tượng bay lên đáp xuống đồng loạt này quả thật đẹp vô cùng.

Tôi mở cửa nhà, đi về phía đàn chim. Chim không sợ người, tôi đến gần đàn chim dưới gốc cây lớn và chú ý đến một con chim, trong bộ lông màu nâu của nó có xen lẫn vài sợi lông trắng. Tôi chăm chú nhìn nó, miệng lại lặng lẽ tụng mật chú, tôi đưa tay ra, tiếp tục không ngừng thi triển pháp thuật, tập trung hết sức tinh thần. Chỉ một lát sau, con chim xám trắng ấy quay đầu nhìn tôi, lắc đầu vài cái, kêu "cúc cu" hai tiếng, rồi bất ngờ bay lên, nhẹ nhàng đậu xuống lòng bàn tay tôi.

Dáng điệu của nó thật nhẹ nhàng, với đôi chân nhỏ xíu, đôi cánh khẽ vỗ "phập phập", đôi mắt linh động chớp chớp nhìn tôi. Trong khoảnh khắc ấy, mắt tôi đối diện với mắt nó, hai bên cùng nhìn nhau chăm chú. Tôi nhận thấy nó nhìn tôi với ánh mắt nửa nghi ngờ nửa tò mò và nghịch ngợm. Rồi nó cúi đầu xuống, mổ nhẹ vào lòng bàn tay tôi, sau đó đi một vòng trên tay tôi, rồi lại ngẩng đầu lên nhìn tôi.

Tôi nhận thấy chim là loài bay có linh tính cao, qua ánh mắt của nó, tôi biết nó rất thông tuệ, thông minh và có linh hồn, bởi vì mật chú tôi đang tụng chính là để thúc đẩy tâm thần của nó hành động theo ý muốn của tôi, nó có ý thức mới có hành động, và ý thức này là phối hợp với ý nghĩ của tôi.

Và khi tôi vừa ngừng chú ngữ, thả lỏng niệm lực, nó "phập phập" bay lên, lại nhập vào đàn chim kia, trong khi đàn chim vẫn đang mải mê mổ thức ăn!

Tôi nhớ mình có một người bạn "thông linh", hiện đang sống ở Anh quốc. Anh ấy tự nhận là lòng bàn tay có sức mạnh tâm linh, chỉ cần đưa tay sờ vào đầu một con gà, con gà đó sẽ lập tức buồn ngủ và lơ mơ. Khi anh ấy dùng tay để bắt cá dưới nước, con cá cũng sẽ choáng váng và bị anh ấy bắt ngay tức khắc.

Với khả năng đặc biệt này, khi bơi ở sông hay ở biển, anh ấy trở thành cao thủ bắt cá, không chỉ cá mà ngay cả tôm cũng không thoát được tay anh ấy. Theo như tôi biết, toàn thân anh ấy mang một nguồn điện, chỉ cần đưa tay ra là có thể làm cho đối phương bị "điện giật" về mặt tinh thần.

Có người nói đây là thôi miên, đúng vậy, đây chính là một dạng của thuật thôi miên.

Điều đặc biệt tôi muốn độc giả lưu ý là, Liên Xô - một quốc gia độc tài, với tham vọng thống trị địa cầu, hiện đang bí mật huấn luyện nhân tài trong lĩnh vực này. Họ tập trung một nhóm người có năng lực đặc biệt, tiến hành các thử nghiệm riêng lẻ và huấn luyện tập trung, sử dụng thôi miên tâm linh để "điều khiển từ xa" các nguyên thủ quốc gia thuộc thế giới tự do. Từ đó, các nguyên thủ này sẽ đưa ra những chỉ đạo và phán đoán sai lầm, tinh thần suy sụp, bị kẻ thù khống chế - quả thật là một điều vô cùng đáng sợ.

Chiêu này của Liên Xô dường như còn bí mật và đáng sợ hơn cả cuộc chạy đua vũ trụ và vũ khí hạt nhân. Vũ khí hữu hình thì có thể nhìn thấy được, còn vũ khí vô hình thì không thể thấy. Chúng ta chỉ biết rằng quốc gia duy vật này không chỉ "duy vật" đơn thuần, mà hiện nay còn huy động các nhà khoa học nghiên cứu về sức mạnh "siêu tâm lý", thành lập Hiệp hội Tâm linh "PTM". Chỉ khi Hiệp hội Tâm linh mời các nhà khoa học và nhân tài trong lĩnh vực này từ khắp nơi trên thế giới tham gia, các quốc gia khác mới biết được về những nghiên cứu bí mật của Liên Xô trong lĩnh vực này.

Tôi nghĩ rằng thôi miên và điều khiển từ xa trong tương lai sẽ không còn là những thuật ngữ huyền bí nữa. Bản chất các hiện tượng tâm linh của con người vốn có sức mạnh phi thường, chỉ là vì con người sống trong thế giới vật chất, đã lâu không sử dụng năng lực tinh thần vốn có của mình, nên sức mạnh khởi nguồn này do không thường xuyên được sử dụng mà dần dần tự nhiên biến mất.

Con người ngày nay không biết được sự vĩ đại của sức mạnh tâm linh, lại võ đoán cho đó là mê tín. Theo tôi, đây thực sự là một việc làm đảo lộn chính tà, ngu muội đến cùng cực.


### 16. Ghi lại việc gặp thần


Ông Trần Minh Phong sống ở Houston và là chủ khách sạn Brazos Bend Motel. Khi biết tôi đến Mỹ, ông đã bay 5 tiếng từ Houston đến Seattle để gặp tôi.

Ông kể cho tôi nghe một câu chuyện về việc gặp thần:

Cha của Trần Minh Phong làm việc tại nhà máy đường Đài Trung. Khi đó Trần Minh Phong còn là học sinh trung học, trong một kỳ nghỉ hè nọ, ông làm việc bán thời gian với nhiệm vụ canh gác đồn điền mía của nhà máy. Vào thời điểm đó, đồn điền mía của nhà máy thường xuyên có kẻ gian bòn rút mía, khiến nhà máy chịu không ít tổn thất, vì vậy nhà máy phải cử người canh gác.

Công việc canh gác chỉ đơn thuần là quan sát, một khi có sự cố lớn thì gọi điện liên lạc với bảo vệ nhà máy.

Một tối nọ, có hai kẻ xấu đến trộm mía và bị Trần Minh Phong phát hiện. Ông liền liên lạc với bảo vệ nhà máy. Bảo vệ đã bắt gọn hai tên này một cách dễ dàng và nhốt họ mấy ngày. Tuy nhiên, hai kẻ này không những không hối cải mà còn căm hận Trần Minh Phong vì đã phá hỏng việc của họ, và luôn tìm cách để trả thù, chỉ có điều Trần Minh Phong hoàn toàn không hay biết gì về điều này.

Một đêm nọ, Trần Minh Phong nhớ rất rõ, khoảng 1 giờ, anh đang một mình ôn bài học trong tâm trạng chán nản thì bỗng nhiên từ bầu trời phía Tây có rất nhiều sao băng rơi xuống, cảnh tượng vô cùng đẹp đẽ. Mưa sao băng khiến anh lập tức chạy ra cửa sổ. Anh thấy những vì sao băng rơi xuống ngay khu vườn mía trước chòi canh gác. Trong chớp mắt, từ vườn mía bốc lên một làn khói trắng, thứ không hẳn là khói mà cũng không hẳn là sương này dần biến thành một màu trắng xóa mênh mông. Điều kỳ diệu hơn nữa là trong màn trắng xóa ấy, dường như có bóng dáng gì đó đang lay động, chập chờn. Vì trách nhiệm của mình, Trần Minh Phong nghĩ có thể lại có người đến trộm mía, nhưng nhìn không rõ lắm, nên anh rời khỏi chòi canh, đi thẳng vào trong làn sương mù, và bóng dáng kia càng lúc càng trở nên rõ ràng hơn.

Hóa ra đó là một thiếu nữ mặc áo trắng, nhìn từ bên cạnh, tóc búi cao, dung mạo đoan trang, một tay cầm phất trần, một tay cầm một đóa sen đỏ, cô gái ấy đứng im lặng không động đậy, anh nhìn kỹ hơn, ôi! Thì ra người con gái này chỉ có nửa thân trên đang lơ lửng, không thấy nửa thân dưới.

Ban đầu Trần Minh Phong nghĩ rằng đây là ảo giác hay nhìn nhầm, cố tình quay đầu nhìn chỗ khác, rồi quay lại nhìn cô ấy, quả thật đúng là một thiếu nữ áo trắng xinh đẹp như hoa, chỉ có điều hoàn toàn đang lơ lửng trên không.

Trần Minh Phong cho rằng, thiếu nữ này nếu không phải thần thì là ma, vừa nghĩ đến ma, toàn thân không khỏi run rẩy, nổi da gà, khi nhìn lại cô ấy, cô ấy đã tan biến như khói mây. Trần Minh Phong nhìn kĩ lại lần nữa, quả thật đã biến mất trước mắt, thế là anh quay về chòi canh, trải qua một đêm không ngủ được. Sáng hôm sau, anh kể lại cho cha mình nghe, và cha anh biết một người có khả năng thông linh, vị này theo đạo Đạo giáo.

Vừa bước vào cửa, vị đạo trưởng thông linh này đã nói với anh (mà chưa cần nghe Trần Minh Phong và cha anh kể lại sự việc), người mà anh nhìn thấy đêm qua chính là một trong Bát Tiên, đó là Hà Tiên Cô, một trong Thượng Bát Động Thần Tiên.

Đạo trưởng dẫn Trần Minh Phong và cha anh đến điện sau, chỉ vào một trong số các tượng thần và nói: "Chính là tượng Hà Tiên Cô này đây." Trần Minh Phong nhìn kĩ, lập tức sửng sốt đến trợn mắt, bởi vì đó là tượng một thiếu nữ áo trắng, tóc búi cao, một tay cầm phất trần, một tay cầm đóa sen đỏ, y hệt như người mà anh đã thấy đêm qua, đúng là Người không sai. Nhưng, làm sao có thể như vậy được!

Thần tiên vốn là bậc chân như vô hình của linh giới, sao lại dễ dàng để phàm phu tục tử nhìn thấy được, đây quả thật là chuyện rất kỳ lạ.

Đạo trưởng thông linh mới nói: Trần Minh Phong mệnh chưa đáng chết, vì thế thần tiên mới hiện thân cứu anh.

Sự việc hóa ra là như thế này, hai tên côn đồ kia đã ấp ủ ý định trả thù từ lâu, và vào đêm qua, lợi dụng lúc trời tối gió cao, đã lén lút đến chòi canh, tay còn mang theo dao sắc để giết người, lần này không phải đến trộm mía nữa, mà là đến để giết Trần Minh Phong vì lòng căm hận. Khi họ đến chòi canh thì thấy bên trong không một bóng người, nhìn ra ngoài chỉ thấy một màu trắng xóa mênh mông, lúc này Trần Minh Phong đang được Hà Tiên Cô áo trắng dẫn đi xa khỏi chòi canh trong màn sương mù.

Không tìm thấy Trần Minh Phong, cơn giận của hai tên côn đồ cũng nguôi bớt, họ căm tức nói: "Thằng họ Trần may mắn thật." Rồi hai người khuất dần trong sương mù.

Trần Minh Phong và cha anh cảm tạ đạo trưởng rồi ra về.

Sau đó, họ nhờ người điều tra bí mật về hành tung của hai tên côn đồ đêm hôm đó, kết quả đúng như vậy. Thậm chí hai kẻ xấu còn dọa sẽ cho Trần Minh Phong một bài học, nói rằng trốn được một lần, không thể trốn được lần thứ hai, khiến anh hoảng sợ vội từ bỏ công việc canh gác.

Điều thú vị nhất là sau khi lớn lên, Trần Minh Phong vào học trường cảnh sát, sau đó thi đỗ thành cảnh sát hình sự, cuối cùng được thăng chức làm trưởng nhóm điều tra. Sau này anh quen biết một cô gái làm việc ở Ủy ban Kiều vụ và kết hôn. Nhờ mối quan hệ của vợ mà anh xuất ngoại, đến Houston mở khách sạn Brazos Bend Motel, làm ăn rất phát đạt, kiếm được không ít tiền. Anh kể với tôi rằng, khi làm cảnh sát đã học được môn nhu đạo, ở Mỹ anh cũng gặp vài tên côn đồ Mỹ cố tình quịt tiền và gây rối, anh đều dùng nhu đạo để chế ngự họ. Anh nói người Mỹ cũng là loại chỉ biết bắt nạt kẻ yếu, một khi gặp phải người cứng rắn thì cũng phải khiếp vía, liên tục kêu xin tha.

Câu chuyện thần tiên hiện hình cứu người, Trần Minh Phong không phải gặp ai cũng kể. Anh nói những người nghe câu chuyện này, người có tu dưỡng tốt thì mỉm cười bỏ qua, người tu dưỡng kém thì sẽ mắng bạn một câu "thần kinh", rõ ràng là chuyện thật mà bị người ta mắng "thần kinh" thì không đáng.

Vậy mà anh đã bay xa đến mười tiếng đồng hồ chỉ để kể cho tôi nghe câu chuyện gặp thần này.
Tôi biết rằng thần tiên đều có lòng từ bi, không có lòng từ bi thì mất đi căn bản làm thần tiên.
Thần tiên hiện hình cứu người quả thật là có thật.

Giống như Phật Thích Ca Mâu Ni giáng sinh để cứu độ thế gian, Chúa Jesus cũng là bậc thánh linh đầu thai chuyển thế để cứu độ chúng sinh, và qua các thời đại, rất nhiều cao tăng đã tái sinh làm người, tất cả đều vì chúng sinh trong thiên hạ.

Bản thân tôi trong suốt cuộc đời cũng đã thoát khỏi không ít tai ương tử nạn, tất cả đều nhờ chư Bồ Tát âm thầm hóa giải. Bồ Tát cứu người không để lại dấu vết, có người chỉ xem đó là sự trùng hợp ngẫu nhiên mà thôi.


### 17. Trải nghiệm thần bí về phiếm thần


Tôi thấy một tin trên tờ New York Times, tin đó nói rằng, vào cuối tháng 10 trong dịp Halloween (lễ Halloween của người Mỹ chính là lễ hội ma), bà Ruth - một phù thủy nổi tiếng ở New York sẽ tổ chức một buổi tiệc lớn, tất cả những người tham dự đều phải đeo mặt nạ ma quỷ, đồng thời bà Ruth sẽ triệu tập các vong linh từ thế giới tâm linh đến tham dự buổi tiệc long trọng này, để tạo thêm không khí ma mị cho ngày lễ. Dưới ánh nến trắng, tiếng ma kêu than, dưới ánh trăng đêm và ánh nến lung linh, tất cả những người tham dự sẽ có một đêm khó quên.

Phù thủy Ruth còn nói rằng, với bất kì ai tham dự buổi tiệc, bà có thể nhìn vào trang phục của họ để đoán được vận may của họ trong năm tới, bà hoan nghênh càng nhiều người tham dự càng tốt.

Lễ Halloween của Mỹ chính là lễ hội ma quỷ. Vào buổi chiều tối hôm đó, tất cả mọi người (cả người lớn lẫn trẻ em) đều đeo mặt nạ ma quỷ trông rất thật và đáng sợ. Có người hóa trang thành phù thủy, xấu xí già nua với chiếc mũi khoằm; có người hóa trang thành ma cà rồng, mặt tái nhợt, nhe nanh vuốt; có người hóa trang thành ma treo cổ, cổ dài lưỡi thè; có người bắt chước nhân vật "Người khổng lồ xanh" trong phim, toàn thân một màu xanh lá; có người hóa trang thành bộ xương; có người hóa trang với hình ảnh máu chảy từ bảy lỗ. Có vẻ như đủ loại ma quỷ đều xuất hiện, đây quả là một lễ hội rất kỳ lạ.

Vào ngày đó, trẻ em là phấn khởi nhất, nhưng cũng phải đề phòng bị dọa sợ, bởi vì muốn đi dọa người khác nhưng khi vừa mở cửa lại bị người ta dọa ngất mất. Bọn trẻ như một đám ma nhỏ, có thể đi gõ cửa nhà người khác và hỏi: "Cho kẹo hay bị phá phách đây?" Dĩ nhiên nhà nào cũng cho kẹo, chẳng ai muốn bị phá phách cả.

Trong dịp Halloween, tôi đặc biệt chú ý đến việc bà Ruth triệu hồn và đoán vận mệnh năm sau qua trang phục. Tôi cũng biết cách triệu hồn, phương pháp triệu hồn nằm ở "tâm tưởng", nhưng khả năng mỗi người một khác, hoàn toàn tùy thuộc vào công phu tu luyện của từng người. Tôi có một câu thần chú như sau: "Thiên viên địa phương, luật lệnh cửu chương, mật ngữ nam nam, đạt hư linh phương. Thập phương thượng  hạ, phụng triệu tức cản, vân trình thủy cảnh, đô tụ pháp đàn, tiên pháp ý chỉ, diệu pháp thành chương." Sau đó tụng mật chú, âm luật của mật chú này phù hợp với âm luật của linh giới, âm luật này chính là hiệu lệnh tập hợp của linh giới, các vong linh trong cõi linh hồn sẽ lần lượt đến. Bà Ruth cũng sử dụng phương pháp này.

Còn việc xem vận mệnh qua trang phục không phải là dùng linh nhãn để xem, đây chỉ là trò của các thầy phù thủy giang hồ, giống như trong nước có những thầy bói dùng lá đa để bẻ một mảnh cho người đến xem, rồi dựa vào chiều thuận nghịch của đường gân lá mà đoán vận mệnh tương lai của bạn.

Bà Ruth cũng vậy, việc đoán cát hung qua trang phục, trong giới giang hồ gọi là "phép chiết tinh" [phép bẻ sao].

Tín ngưỡng của bà Ruth là một dạng tín ngưỡng phiếm thần. Bà tin vào Thượng Đế, nhưng lại mượn danh Thượng Đế để triệu tập các vong linh, bà tiếp cận với vong linh và cũng tin vào vong linh, điều này đã biến thành tín ngưỡng phiếm thần. Bà cho rằng ngoài Thượng Đế ra, mặt trời có thần mặt trời, mặt trăng có thần mặt trăng, các chòm sao đều có thần, gió mưa sấm chớp cũng đều có thần, bà từng giao tiếp với những vị thần này và cũng nhận được sự chỉ dẫn từ họ.

Phương pháp của tôi hơi khác với bà Ruth, khi xem vận mệnh của người khác, tôi không xem qua trang phục, cũng không xem lá đa, càng không phải xem tướng tay, tướng mặt, xem xương, hay tám chữ. Tôi xem như thế này, tôi nhìn vào luồng khí sáng hiện ra trên đỉnh đầu của họ, tổ tiên Trung Quốc gọi là "nhìn khí", đây là phương pháp mà chỉ có người thông linh mới có được.

Tôi biết trong các ngôi chùa của người Trung Quốc đều có các vị cao chân từ cõi linh giới ở trong đó, các vị này đều có thể "nhìn khí". Khi người thiện lành vào chùa, trên đỉnh đầu hiện ra ánh sáng màu đỏ, gọi là "thiện quang". Khi người tu hành có đạo vào chùa, trên đỉnh đầu có ánh sáng màu trắng, gọi là "đạo quang".

Còn đối với bậc đắc đạo có quả vị vào chùa, trên đỉnh đầu có "kim quang", ánh sáng rực rỡ, lấp lánh, có màu hổ phách.

Những người có tâm địa hẹp hòi, âm mưu hãm hại người khác thì có ánh sáng màu xám, gọi là "mốc quang".

Nếu trên đỉnh đầu hiện ra màu tím tối, người này có tâm niệm tà vạy, chuyên học tà pháp, ánh sáng này gọi là "tà quang", tà quang cũng có khi hiện màu xanh lục.

Nếu trên đỉnh đầu người ta xuất hiện màu đen như mực, thì người này không còn là người nữa mà là "yêu ma", nếu là quỷ thì cũng là ác quỷ, ánh sáng này gọi là "yêu quang".

Những ánh sáng này, theo tâm niệm mà thay đổi độ sáng và sắc thái, cho nên nói rằng nếu ác quỷ làm điều thiện, ánh sáng đen cũng có thể biến mất.

Nếu ác quỷ tu đạo tu tâm, cho đến khi đạt được quả vị, ánh sáng đen sẽ biến mất, chuyển thành màu cam thì được gọi là quỷ tiên, ánh sáng không phải là bất biến, mà là một niệm thiện có thể dần sáng lên, một niệm ác thì ánh sáng dần mất đi.

Tôi thường khuyên những người có tâm địa không mấy trong sáng đừng vào chùa, bởi vì những người này có luồng khí màu xám trên đỉnh đầu. Không vào chùa thì nghiệp báo sẽ không đến nhanh như vậy, vì các bậc cao linh có thể nhìn thấu thiện ác của con người. Kẻ ác vào chùa cầu nguyện không những không được phúc mà còn rước họa vào thân. Đó chính là lý do tại sao có người đến chùa cầu phúc không những không được phúc mà còn gặp đại họa.

Vì vậy tôi thường khuyên mọi người: "Làm người phải có lòng khoan dung, không được có ý hại người, phải rộng lượng độ lượng, tâm địa phải quang minh chính đại." Nhưng những lời này của tôi chỉ như gió thoảng qua tai, bản tính khó đổi đến nỗi họ còn muốn "nuốt chửng" cả tôi.

Dùng "linh nhãn" tự nhiên có thể nhìn thấy quá khứ của một người, từ quá khứ lại có thể dự đoán tương lai, đạo lý nhân quả báo ứng là không bao giờ sai. Từ đạo lý của linh học, có thể phân biệt thiện ác chính tà, linh học còn là phương pháp ngộ đạo giữa trời đất, môn học vấn này chính là môn học vấn lớn nhất thiên hạ.

Cái tật của tôi chính là thật thà, luôn xem "người thiện" như tri kỷ, đối với "người ác" cũng đối xử tốt như vậy, bởi vì tôi nghĩ, khi họ ở chung với chúng ta lâu ngày, ít nhất cũng sẽ thay đổi đôi chút.

Tôi nhìn đỉnh đầu họ, sớm đã biết là một luồng khí xám, không phải người tốt, nhưng họ cứ khăng khăng muốn thân cận, tôi đành phải chấp nhận. Quả thật núi dễ dời mà tính người khó đổi! Kết cục của họ tôi đã sớm biết rồi, than ôi!

Thật đáng thương, thật đáng thương, biết làm sao để giúp họ tránh khỏi kiếp nạn sắp đến đây!


### 18. Mộng huyễn của đại sư xuất gia


Có một vị xuất gia đến nhà tôi, người khoác chiếc áo cà sa màu cà phê toàn thân, tuổi khoảng ngoài bảy mươi, dáng người gầy đen. Vừa nhìn thấy ông, tôi đã nhận ra đó là ai. Ông ấy ngượng ngùng nói với tôi rằng, ông từ Hawaii đến, chủ yếu để hỏi một việc, hỏi xong sẽ đi ngay, tuyệt đối không làm mất nhiều thời gian.

Vì tôi biết vị xuất gia này là ai nên đã rất cung kính trò chuyện với ông suốt một buổi chiều. Vị xuất gia này xứng đáng được gọi là đại sư, danh tiếng vang dội trong và ngoài nước, số lần ông chủ trì pháp hội quán đảnh giới Bồ Tát nhiều không đếm xuể.

Khi tôi xin phép viết thành bài, ông nói "được", nhưng nhất định phải giấu tên ông, đồng thời ông còn nói: "Nếu có ai nghi ngờ là tôi, tôi sẽ nói với họ rằng tuyệt đối không phải tôi."

Tôi hỏi ông: "Sao không thừa nhận?"
Ông nói: "Đây là nỗi khổ tâm, thưa ông Lư, khi một người bị danh hão trói buộc, chỉ còn cách là cố gắng hết sức bù đắp những thiếu sót của danh hão đó, biến nó từ hư thành thực, từ giả thành thật."
"Ông tìm được đến đây bằng cách nào?" - Tôi tò mò hỏi.
Đại sư đã nhờ một vị trụ trì ở Đài Loan, vị trụ trì đó tìm kiếm suốt một tháng trời, cuối cùng mới tìm được nhà của cha mẹ tôi, và cha mẹ tôi mới nói cho vị trụ trì biết rằng tôi đã chuyển đến Mỹ sinh sống.

Vị trụ trì này đã chạy đến điện Ngọc Hoàng, rồi chạy đến Lục Giáp ở Đài Nam, thậm chí cả núi Tiêm Bút ở Trúc Nam, mới tìm ra được như vậy, thật là vất vả quá.

Câu chuyện của đại sư xuất gia như sau:

Một ngày nọ, trong thiền phòng, đại sư ngồi thiền như thường lệ. Lúc ngồi thiền của đại sư hiếm khi có điềm lạ, nếu có điềm lạ, ngài sẽ lập tức đứng dậy khỏi chỗ.

Nhưng lần này hoàn toàn khác, khi ngài vừa ngồi xuống, cảm thấy chóng mặt hoa mắt, muốn đứng dậy nhưng đã không kịp nữa, tay chân như bị trói chặt, thậm chí thân thể như có nghìn cân nặng trĩu, không thể cử động. Cứ thế chìm dần chìm dần, đầu óc cảm thấy nặng trịch, ngay cả mí mắt cũng không mở ra được.

Đại sư cảm thấy thân thể ngày càng nhỏ lại, như thể đang chui vào một cái hang dưới đất, phải thu nhỏ thân thể mới chui vào được. Khi đại sư có cảm giác trở lại, bỗng nhiên phát hiện xung quanh mình đứng đầy những vị thần nhiều tay nhiều chân. Những vị thần này, toàn thân phủ đầy lông dài, tay chân đều dài, đầu to mắt lớn, nhe nanh trắng nhởn, đặc biệt khi tay chân cử động, đôi mắt trợn trừng, vô cùng đáng sợ.

Hình dáng của họ trông giống hệt các vị thần Kim Cang phẫn nộ trong Mật tông, chỉ khác là những vị thần này toàn thân đều phủ đầy lông, không có vòng hào quang trên đỉnh đầu. Đại sư nhìn quanh bốn phía, khắp nơi đều là những vị thần có hình dáng như vậy.

Điều đáng sợ hơn nữa là những vị thần tay chân dài này biết phép bay lượn, không biết từ đâu bắt được rất nhiều dã thú hình dạng kỳ quái, cắn từng miếng, xé từng mảnh mà ăn. Nhìn thấy họ ăn hết những con thú đó xong, vô số vị thần bao vây lại định ăn thịt đại sư xuất gia. Đại sư thấy đại họa sắp đến, chỉ còn cách niệm mật chú, đồng thời sợ đến toát mồ hôi. Khi tỉnh lại thì vẫn đang ở trong thiền phòng, chưa hề rời đi nửa bước.

Kể từ ngày hôm đó, cứ mỗi khi đại sư xuất gia vào thiền phòng, ngồi lên tọa cụ thiền định là thân thể lại càng lúc càng nhỏ đi, rồi đến một cõi giới kỳ lạ có nhiều tay nhiều chân, những vị thần ở đó vẫn cứ muốn ăn thịt ngài như thường lệ, khiến ngài luôn sợ đến toát mồ hôi.

Cứ như vậy, những giấc mộng thiền định kéo dài hơn một tháng, thân thể ngài ngày càng suy yếu, không biết phải làm sao, đành phải đi khám bác sĩ. Bác sĩ nói rằng khám không thấy có bệnh gì cả, kê đơn thuốc an thần uống cũng không có tác dụng.

Đại sư xuất gia biết Đại Thủ Ấn, ngài đã dùng ấn hàng ma của Đại Thủ Ấn nhưng không hiệu quả, niệm chú hàng phục ma cũng vô dụng. Đến một ngày, sau khi đã thử mọi cách đều không có kết quả, ngài đành phải cầu Phật, đốt năm loại danh hương.

Trong đêm khi ngủ say, bỗng nhiên có một tiếng nói lớn vang lên: "Hãy đi tìm Lư Thắng Ngạn sẽ biết, hãy đi tìm Lư Thắng Ngạn sẽ biết, hãy đi tìm Lư Thắng Ngạn sẽ biết."
Sau khi tỉnh dậy, ngài nhớ rất rõ, nhưng đại sư không biết Lư Thắng Ngạn là ai?
Mênh mông trời biển, biết tìm nơi đâu.

Đại sư tình cờ hỏi một vị tăng đang tạm trú trong chùa, vị tăng này lại biết và "À" một tiếng nói rằng: "Khi tôi còn ở Đài Loan, có đệ tử nhắc đến một người tên Lư Thắng Ngạn, ông ấy viết vài cuốn sách, nghiên cứu về linh học, bị giới tôn giáo cho là làm trái kinh điển, có người ủng hộ, có người phản đối, chuyện là như vậy đó."

Đại sư xuất gia đã có được thông tin về tôi, liền viết thư nhờ người tìm tôi, sau đó tự mình bay đến đây, vốn định giấu thân phận nhưng không ngờ bị tôi nhìn thấu ngay lập tức.

Đại sư xuất gia hỏi tôi: "Thưa ông Lư, xin hỏi đây là cơ duyên thiền định gì vậy?"

Tôi tập trung tinh thần, bấm ngón tay tính toán một hồi, mỉm cười nói với đại sư: "Xin chúc mừng đại sư, nghiệp chướng của ngài sắp được tiêu trừ rồi. Ngay cả nghiệp chướng từ kiếp trước cũng đã hiện ra, đây là một tin rất tốt. Khi nghiệp chướng tiền kiếp của một người hiển lộ, điều đó có nghĩa là nghiệp chướng đời này đã được tiêu trừ, nghiệp chướng tiền kiếp cũng đang dần dần được giải trừ. Đây chính là dấu hiệu của sự chứng đắc quả vị. Ngài đừng sợ chút nào, trong giai đoạn này hãy lấy bệnh làm pháp, khi ma chướng được trừ, tự nhiên sẽ đạt được cực lạc."

Đại sư im lặng suy nghĩ một lúc rồi nói: "Ngài không phải đang an ủi tôi đấy chứ! Lời ngài nói cũng có lý, nhưng những vị thần nhiều tay nhiều chân kia là gì vậy?"

"Đó không phải là thần, đó là nhện. Kiếp trước của đại sư là một con nhện, phép bay lượn chính là cách di chuyển bằng tơ nhện. Do kiếp trước là nhện nên đã ăn rất nhiều côn trùng ruồi muỗi, những nghiệp chướng này đang được hóa giải trong kiếp này, nên tự nhiên có những giấc mộng vương vấn. Ngài không hiểu ý nghĩa, nay tôi giải thích như vậy hẳn đã rõ."
"Quả đúng như vậy, những vị thần nhiều tay nhiều chân kia khi bay lượn, miệng phun ra ánh sáng trắng."
Đại sư xuất gia đã hoát nhiên đại ngộ.

Tôi nói với đại sư xuất gia rằng, thực ra những giấc mộng thiền định, chỉ cần kết ấn kết giới là có thể hóa giải được những ràng buộc từ kiếp trước, sao ngài không về thử xem. Đại sư xuất gia cảm tạ không ngớt rồi ra về. Không lâu sau, đại sư gửi một lá thư từ Hawaii đến, trong thư chỉ có vài dòng đơn giản: "Mọi việc đều đúng như tiên sinh dự đoán, những giấc mộng đã tiêu tan, một lời của tiên sinh chính là thầy của tôi."


### 19. Hiện tượng kỳ lạ của ảo giác đa tầng


Đây là một lá thư từ độc giả Trần Hồng Anh ở Chương Hóa, Đài Loan. Có thể nói lá thư này là đại diện cho nhiều trường hợp gặp hiện tượng ảo giác kỳ lạ. Xin công bố toàn văn bức thư như sau: (Thư này được chuyển từ nhà xuất bản.)

*Kính gửi Đại sư Lư,*

*Kể từ khi các tác phẩm của Ngài lần lượt được xuất bản, tôi đều cung kính đọc từng cuốn. Qua đó, tôi đã có được hiểu biết về kiến thức tâm linh, vô cùng biết ơn. Tôi đã nhiều lần tìm đến gặp Ngài, nhưng vì Ngài đang đóng cửa từ chối tiếp khách nên rất tiếc là không thể gặp trực tiếp được. Tuy nhiên, mới đây tôi đến nhà xuất bản mua sách mới của Ngài, đặc biệt nhờ nhà xuất bản giới thiệu. Được Ngài không chê, đồng ý để nhà xuất bản chuyển thư từ giúp tôi, tôi cảm thấy vô cùng hổ thẹn. Vì vậy tôi mới dám cầm bút viết thư này gửi đến Ngài, và mong Ngài hồi âm là phúc của tôi.*

*(1) Mặc dù tôi đã đọc tác phẩm của Ngài, nhưng chưa từng chính thức học khởi linh, tuy nhiên, tự nhiên có những chuyện không thể giải thích xảy ra trước mắt tôi, không biết là ảo giác hay sự thật? Thật kỳ lạ. Lần đầu tiên xảy ra là ở miếu Địa Mẫu ở quê nhà, lúc đó tôi đến thắp hương đầu xuân, khi ngước nhìn tượng thần, bỗng nhiên tôi thấy bát quái trong tay Địa Mẫu Nương Nương quay nhanh, khiến mắt tôi hoa lên, đầu óc choáng váng, bát quái của Địa Mẫu Nương Nương có thể xoay chuyển, thật là kỳ lạ.*

*(2) Tại nhà tôi có thờ một tượng Thiên Thượng Thánh Mẫu. Một hôm, khi tôi đang tĩnh tâm cầu nguyện, thoạt đầu tôi thấy một phụ nữ diện mạo xinh đẹp ngồi trên ghế rồng, dáng vẻ vô cùng trang nghiêm. Phía sau bà có hai vị thần tướng mặt đỏ mặt xanh đứng hầu, phía trước có một con hổ đá đang nhe nanh múa vuốt. Sau khi suy nghĩ lại, không biết đó có phải là Thánh Mẫu hiển linh, hai vị đứng sau là Thiên Lý Nhãn và Thuận Phong Nhĩ, còn phía trước là Hổ Gia, không rõ là thật hay ảo? Ngoài ra, năm ngoái tôi có mang về từ chùa một quyển Bạch Y Thần Chú của Quan Âm Đại Sĩ, tôi thành tâm tụng niệm hàng ngày. Sau đó, trong lúc đang tụng niệm, bên phải tượng Quan Âm Đại Sĩ hiện ra một bóng ma mắt to như chuông đồng, nhe răng cười lớn. Sau đó tôi đổi sang quyển khác cũng vậy, liên tiếp đổi nhiều quyển đều như thế, vì vậy tôi đã gác Bạch Y Đại Sĩ thần chú qua một bên, không tiếp tục tụng niệm nữa.*

*(3) Hiện tại tôi đang sống trong một căn nhà thuê, căn nhà này rất kỳ quái. Sau khi mặt trời lặn, tôi thường thấy trên cửa kính, thậm chí cả trên tường và giữa không trung có một nam một nữ hiện ra. Đây không phải là những cái bóng mờ ảo, mà rất rõ ràng và sắc nét, đến nỗi có thể nhìn thấy cả màu da và lỗ chân lông. Người phụ nữ có gương mặt rất đẹp, đường nét rõ ràng, tóc dài và chẻ ngôi giữa, khi cười có hàm răng rất đẹp, trông như người thật vậy. Nhà tôi vừa là nơi ở vừa kinh doanh thẩm mỹ viện. Thỉnh thoảng khi đang làm việc, họ sẽ kéo áo tôi, có lúc giúp tôi mở cửa đóng cửa (người khác có cảm nhận được nhưng không ai nhìn thấy). Họ không có ý dọa dẫm hay hại tôi, nhưng tôi nghĩ đã là nhà thuê, đã xảy ra chuyện như vậy thì tốt nhất là nên dọn đi. Tuy nhiên, vừa có ý định chuyển nhà, trong mơ đã có người cảnh báo tôi không được dọn đi, nếu dọn đi chồng tôi sẽ gặp tai họa. Nhưng tôi không tin chuyển nhà lại có thể gây tai họa, nên vẫn dọn đến Đài Trung, kết quả là chồng tôi gặp một tai nạn xe nghiêm trọng, xe hỏng hoàn toàn, may mà người chỉ bị thương nhẹ, từ đó tôi đành phải tin.*

*(4) Khi quay lại Chương Hóa, việc tìm nhà không suôn sẻ, hoặc là giá không phù hợp, hoặc là không thích hợp, nhà ở không lý tưởng, cửa hàng không lý tưởng, v.v. Trong khi đó, căn nhà cũ vẫn không thể cho thuê được (theo chủ nhà, tất cả những người đến xem nhà chỉ xem một lần rồi không có hồi âm), dường như cố tình chờ chúng tôi quay lại thuê. Cuối cùng, vì đã có lượng khách hàng cơ bản nên chúng tôi đã chuyển về lại chỗ cũ, và đôi nam nữ ma kia vẫn tinh nghịch phá phách như trước.*

*(5) Vào tháng 6 năm nay, tôi đến Hoa Liên để bái lạy Diêu Trì Kim Mẫu, đặc biệt đến thăm một người có khả năng thông linh. Qua lời giải thích của người thông linh, cặp nam nữ kia đã chết đuối trong một vụ lật thuyền, họ muốn nhờ tôi giúp siêu độ và nói rằng sau khi được siêu độ, họ sẽ giúp công việc kinh doanh của tôi phát đạt. Vì vậy vào ngày 2 tháng 7, tôi đã đến Hoa Liên làm lễ siêu độ, và ngay trong lúc làm lễ, tôi cũng nhìn thấy linh hồn của hai người đang lượn lờ trước bài vị. Ngoài ra, sau khi siêu độ xong, khi hai linh hồn nam nữ xuất hiện ở nhà, trước mặt họ lại xuất hiện một con rùa, đầu rùa duỗi rất dài, miệng há to, tôi không hiểu điều này có ý nghĩa gì?*

*(6) Khi còn học cấp hai, tôi rất thích vẽ, đặc biệt là có cảm tình sâu sắc với các bức tranh Bồ Tát, thường xuyên vẽ hình tượng các vị Bồ Tát. Mới đây, tôi đã vẽ một bức tranh Phổ Hiền Bồ Tát, đóng khung treo lên và lễ bái sớm tối. Tuy nhiên, để biết chắc Bồ Tát có giáng lâm cho tôi cúng dường không (trước khi vẽ, tôi đều tắm rửa sạch sẽ, vẽ với một lòng thành kính, cảm nhận được Bồ Tát ở bên cạnh), tôi cũng cầu xin Ngài ban cho một giấc mộng linh ứng. Kết quả đêm đó tôi mơ thấy ba con cá bơi lội tung tăng, phun ra ba tia nước nâng tôi lơ lửng giữa không trung, không biết giấc mộng này tốt xấu thế nào?*

*Hôm nay tôi viết lộn xộn một đống như vậy, làm phiền đến việc tu tập thanh tịnh của Ngài, trong lòng thật không an. Nhưng biết Ngài là bậc ôn hòa khiêm cung, là bậc quân tử hiền sĩ, chắc hẳn sẽ thông cảm cho một phụ nữ thế tục như tôi. Tại đây tôi xin cảm tạ tâm nguyện hoằng pháp từ bi của Ngài, và kính mong Ngài không tiếc chỉ giáo là may mắn cho tôi.*

*Kính chúc an khang.
Độc giả trung thành của Ngài, Trần Hồng Anh kính thư.
(Kèm theo thư có một tấm séc du lịch trị giá 10 đô la, xin dùng làm phí trả lời thư, kính mong Ngài vui lòng nhận cho.)*

Thư này, câu trả lời của tôi như sau:

(1 ) Bát quái của Địa Mẫu Nương Nương xoay chuyển, đây là hiện tượng chạm đến khởi linh xảy ra nhanh như điện chớp. Cái gọi là chạm đến khởi linh là việc xảy ra đột ngột, không qua bất kỳ nghi thức nào. Phần lớn những người có duyên với Phật hoặc người có căn cơ sẵn có từ trước, không cần phải qua phương pháp khởi linh mà vẫn có thể khởi linh được. Theo như tôi biết, có người do bị sét đánh mà khởi linh, có người do niệm Phật mà thấy hoa sen bay ra xoay tròn, những điều này đều là chạm đến khởi linh.

(2) Khi thấy hình ảnh Thiên Thượng Thánh Mẫu, Thiên Lý Nhãn, Thuận Phong Nhĩ và Thạch Hổ hiện ra, đó vừa là thật vừa là ảo. Cái gọi là "thật" là do có cảm ứng linh thiêng mà sinh ra, còn cái gọi là "ảo" là do tiềm thức tạo nên những cảnh tượng ảo ảnh.

Về thần chú Bạch Y Đại Sĩ, khi tụng niệm mà thấy bóng quỷ nhe răng hiện ra thì đừng tụng nữa, đó là vì không có duyên với thần chú này. Việc đời không nên miễn cưỡng, trong cõi u minh đều do một chữ duyên mà thôi, bạn có duyên với những thần chú khác, nhưng không phải là thần chú Bạch Y Đại Sĩ. Sau này khi tụng những thần chú khác, nếu thấy hiện tượng thân thiện thì đó chính là thần chú có duyên, càng tụng niệm tâm càng thanh tịnh.

(3) Có ma trong nhà không phải là điều đáng sợ. Thông thường, những linh hồn chết không lành (chết thảm) mới dễ hiện hình. Họ có điều cầu xin bạn nên tự nhiên sẽ không làm hại bạn. Nếu bạn giúp họ siêu độ với tấm lòng chân thành, họ chắc chắn sẽ đền đáp - việc làm ăn của bạn sẽ tự nhiên phát đạt. Đây là sự giúp đỡ qua lại giữa hữu hình và vô hình. Linh hồn trong cõi âm đều rất thẳng tính, có ơn trả ơn, có thù báo thù. Việc siêu độ cho họ là một công đức rất lớn.

Về tai nạn xe, không nhất định là do họ gây ra. Bởi vì với họa phúc của con người, những hồn ma trong cõi vô hình thường có khả năng tiên tri. Ma có ngũ thông nên có thể biết trước sự việc sẽ xảy ra, vì vậy mới cảnh báo cho bạn.

(4) Vì cặp nam nữ ma này đã có điều cầu xin bạn, nên khi người khác đến thuê nhà, họ sẽ khiến những người đó cảm thấy khó chịu. Việc căn nhà ở Chương Hóa chờ bạn quay lại ở là điều tất nhiên.

(5) Sau khi siêu độ xong, trước hình ảnh của đôi nam nữ xuất hiện một con rùa. Theo như tôi thỉnh vấn Bồ Tát, Ngài đã trả lời rằng: nhờ công đức siêu độ, hai linh hồn này sẽ được đầu thai, nhưng không thể lập tức đầu thai làm người. Do họ chết đuối nên lần đầu thai đầu tiên sẽ là rùa. Đây là điều mà đôi nam nữ đặc biệt hiển hiện để cho biết nơi họ sẽ đến trong tương lai.

Về vấn đề đầu thai, có thể nói là rất phức tạp. Được đầu thai làm rùa vẫn tốt hơn nhiều so với làm ma, họ nên cảm ơn bạn mới phải. Vì vậy, sự hiển hiện này là để bày tỏ lòng biết ơn.

(6) Một người có duyên với Phật, khi nhìn thấy tượng Bồ Tát mới sinh tâm hoan hỷ, đó là do nhân quả đời trước hoặc căn cơ tiền kiếp.

Một người có năng khiếu hội họa tự nhiên tâm tư tinh xảo hơn, với tấm lòng thành kính của bạn, tắm rửa sạch sẽ đôi tay, cung kính niệm tụng và vẽ tranh, tinh thần đó Bồ Tát đã sớm biết được, bức tranh này không cần khai quang, bởi vì mỗi nét vẽ đều là một lần khai quang, mỗi bức tranh đều có thần linh hiện diện. Ba con cá tung tăng bơi lội, phun ra những tia nước, nâng bạn lên không trung.

Đây là một giấc mộng rất tốt lành. Thứ nhất, cá vốn là biểu tượng của sự may mắn, nghĩa là mỗi năm đều dư dả. Thứ hai, cột nước chính là nguồn suối, suối tức là tiền tài, đây là biểu tượng của sự như ý.

Thứ ba, được nâng lên không trung là biểu tượng của quả vị, cho thấy việc tu hành đã có kết quả, thật đáng mừng đáng chúc.

Nhìn tổng thể thì cô Trần Hồng Anh có căn cơ sâu dày, đức hạnh đáng khen, tâm địa hiền lành, nếu biết vận dụng linh giác tu hành thì thành tựu tương lai không thể lường được, đặc biệt là khả năng linh thị của cô rất rõ ràng, đây chính là minh chứng cho tâm không tạp niệm.

Xin khích lệ như vậy.


### 20. Nói về thiên đường địa ngục


Ông Lâm và bà Lâm Hạnh Châu ở Burien đã mời tôi đến nhà thuyết pháp. Họ có bốn người con gái, trong đó con gái lớn nhất đang học tại Đại học Washington. Các cô ấy đã đề xuất chủ đề "Thiên đường và địa ngục".

Tôi nói với họ rằng thiên đường là có thật, địa ngục cũng là có thật. Bởi vì thiên đường và địa ngục hoàn toàn do tâm con người tạo ra, tâm người có thể tạo ra thiên đường, tâm người cũng có thể tạo ra địa ngục.

Tôi nói, nếu một người có tâm địa hiền hòa, họ sẽ cảm nhận được bình an hạnh phúc ở khắp mọi nơi. Dù họ sống trong hoàn cảnh nghèo khó, cuộc đời họ vẫn là thiên đường.

Ngược lại, nếu một người có tâm địa hẹp hòi và oán hận, dù họ có đầy đủ giàu sang thì vẫn sống trong tranh đấu đối địch ngày đêm không yên.

Cái gọi là thiên đường tự nhiên là một thế giới trong lành, là nơi những người có cùng một niềm tin, cùng một tâm nguyện, cùng một thiện tâm vãng sinh đến. Thiên đường cũng là thế giới được tạo thành bởi sức mạnh của duyên. Nói đến sự trong lành, những người ở đây đều có tầm nhìn rộng lớn, tâm địa rộng lớn, cách đối nhân xử thế rộng lớn, giống như thế giới Cực Lạc, cảnh giới thiên đường này chỉ có những tâm tư hoan hỷ tuần hoàn.

Cái gọi là địa ngục tự nhiên là một thế giới đục ngầu, khí trong sáng là thiên đường, khí đục tối tăm là địa ngục. Thế giới đục ngầu này tất nhiên chỉ thẳng vào lòng người. Có những người tâm tính đặc biệt hẹp hòi, thích tranh đấu, ưa thù hận sát phạt, thích tự kiêu, thì hình ảnh địa ngục hoàn toàn hiện ra. Trong địa ngục không có niềm vui, chỉ có đau khổ. Những người này, hôm nay ta trút giận, ngày mai người kia trút giận, tâm tính không một phút an bình.

Nói một cách đơn giản, thiên đường là trong, địa ngục là đục; thiên đường là hòa thuận, địa ngục là đấu tranh; thiên đường là nhân từ, địa ngục là hận thù.

Không cần phải hỏi ta thiên đường ở đâu, bởi vì ngay trong nhân gian đã có thiên đường địa ngục.

Ví dụ những người có số mệnh tốt, họ sinh ra ở Bắc Âu, sinh ra ở Úc, sinh ra ở thế giới tự do, đây được xem là biểu tượng của thiên đường trần gian, những nơi này con người được tận hưởng nhiều niềm vui của cuộc sống.

Ví dụ những người có số mệnh kém hơn, họ sinh ra ở Việt Nam, ở Hàn Quốc, ở Trung Đông, chịu nhiều đau thương từ chiến tranh, nhà tan người mất, vợ con ly tán, thậm chí phải lưu vong ra nước ngoài, cả đời chỉ biết chạy trốn.

Hãy thử nghĩ xem, không cần nói xa xôi, những người đang tận hưởng niềm vui sống, họ có biết được rằng, khi Việt Nam thất thủ, những con người như họ đã phải chạy trốn khỏi thế lực hung ác thế nào, người sống sót thì sống, kẻ chết thì chết, một miếng ăn, một thân thể lành lặn đều phải nhặt nhạnh từ bờ vực của cái chết, những người sống sót sau kiếp nạn ấy, há chẳng phải đã nếm trải hết nỗi khổ của địa ngục sao. Hiện tượng địa ngục trần gian này đến nay vẫn chưa kết thúc!

Trần gian nơi đâu cũng có thiên đường, trần gian nơi đâu cũng có địa ngục.
Còn về địa ngục nhổ lưỡi, địa ngục lột da, địa ngục núi đao...
Làm sao không có những hình ảnh địa ngục như thế chứ?

Các bạn hãy thử nhìn vào bệnh viện, phòng mổ trong bệnh viện chẳng phải là "địa ngục núi đao" hay sao, không chỉ nhổ lưỡi và lột da, mà còn cả ghép tim ghép thận, những địa ngục trần gian này cũng được xem là do nghiệp chướng tạo thành.

Tôi nói địa ngục do lòng người tạo ra, nếu tâm tính một người độc như rắn rết, thích mạnh mẽ ưa đấu tranh, tâm địa hẹp hòi hay ghen ghét, bề ngoài tuy là người nhưng bản chất đã như rắn rết, giống như tôi đã viết trong bài "Tránh được sao xà hiết" vậy, kiếp sau họ sẽ đầu thai thành rắn độc. Thực ra cảnh giới của rắn độc tự nhiên cũng là cảnh giới địa ngục, phải bò bằng bụng trên mặt đất, đấu tranh với đồng loại, xem mọi người mọi vật đều là kẻ thù, phải lén lút rình rập khi đối địch hay kiếm ăn.

Sống trong hang tượng trưng cho tâm của rắn, mãi mãi phải ở trong vùng đất tăm tối không thấy ánh mặt trời, hễ xuất hiện là người ta nhìn thấy hình dáng rắn liền giết nó, bởi vì nó vốn dĩ chẳng phải thứ tốt lành gì.

Thiên đường nơi trần gian chính là thế giới tự do, nơi con người được tận hưởng cuộc sống; địa ngục nơi trần gian chính là thế giới nô lệ, không có tự do, chiến tranh, nghèo đói, thậm chí tương tàn lẫn nhau.

Tôi dùng "con mắt thứ ba" để quan sát thế giới tâm linh, cõi Phật hay thiên đường là thế giới cực lạc, tràn đầy ánh sáng, bình an và lòng từ bi. Còn cõi người thì đứng giữa thiên đường và địa ngục, phía dưới cõi người là địa ngục giới, ngạ quỷ giới, súc sinh giới, atula giới, tất cả đều thuộc phạm vi địa ngục.

Tôi cảm nhận sâu sắc rằng, khi viết cuốn sách "Thế giới của con mắt thứ ba", mục đích chính là khuyên người làm thiện, nhưng lại khác với những bài văn cảnh tỉnh đời thông thường. Những bài văn cảnh tỉnh thường dùng ngụ ngôn, còn tôi hoàn toàn dựa vào sự tu tập của bản thân, khai mở giác quan tâm linh của mình để đi vào thế giới tâm linh. Đây không hề là ảo tưởng, mà là những ghi chép có thực về những trải nghiệm thực tế. Chỉ sau khi đã thấu hiểu tận cùng mới công khai, và chỉ sau khi tìm tòi kĩ lưỡng mới chứng thực được thế giới tâm linh quả thật tồn tại. Tôi không phải là bệnh nhân tâm thần, tôi sống bình thường như mọi người, không có gì khác biệt đặc biệt, thậm chí không vì danh vì lợi, việc viết hơn bốn mươi cuốn sách là thuận theo ý trời và tâm người.

Nếu có ai cho rằng Lư Thắng Ngạn nói dối, thử nghĩ xem, một kẻ nói dối mà nói dối trong hơn bốn mươi cuốn sách, thì chẳng phải tôi đã bị bệnh tâm thần rồi sao.
Tuy nhiên người tin thì tin, người không tin thì không tin, tôi chẳng bao giờ ép buộc.
Chỉ là tôi muốn nói với độc giả rằng: "Dù có đánh chết tôi, tôi vẫn khẳng định chắc chắn có thế giới tâm linh."

Tôi là người chính khí hạo nhiên, không cho phép thế lực xấu xa đè bẹp mình, đây không phải ảo giác, càng không phải tự mình tưởng tượng ra, mà là những trải nghiệm hoàn toàn chân thực. Tôi muốn hiện thực hóa những thiện quả của thiên đường, để trần gian tràn ngập tư tưởng thiên đường, thiên quốc ở trong lòng người, trách nhiệm của tôi là thay đổi lòng người hướng thiện.

Tôi muốn tu trì quả vị tiên Phật, rồi truyền phương pháp tu trì cho chúng sinh, tôi sẽ không keo kiệt, mà công bố hoàn toàn. Đạo lý tối thượng của nhân gian, ngoài thực hành ra, còn cần sự nỗ lực chung của mọi người, hợp lực mới đồng tâm, đồng tâm mới có phát triển.

Thiên đường và địa ngục đều có thật, tất cả đều do lòng người tạo ra. Mong rằng con người ở trần gian này, trong đường hầm thời gian tương lai, chỉ tạo ra thiên đường mà không tạo ra địa ngục. Người đọc sách của tôi, hãy thấu hiểu tấm lòng này.


### 21. Vài ý kiến dành cho Đại sư Lâm Vân


Trước tiên tôi muốn tuyên bố rằng, tôi không quen biết Đại sư Lâm Vân, tôi không có thành kiến gì với ông ấy, chỉ là sau khi đọc được một số bài báo trong nước cố tình đề cao Đại sư Lâm Vân, tôi mới biết đến ông ấy qua các bài viết đó. Sau khi đọc xong, ấn tượng sâu sắc, tôi mới nghĩ nên nói với ông ấy vài lời tâm huyết, hy vọng những lời chân thành này sẽ có ích cho ông ấy.

Thứ nhất, xin Đại sư Lâm Vân đừng dựa vào người phương Tây để tự nâng cao mình. Đại sư có một tấm ảnh chụp ông nâng ly chúc mừng cựu Phó Tổng thống Mỹ Agnew, và một tấm ảnh ông có mặt tại lễ nhậm chức của Tổng thống Reagan.

Những người không hiểu rõ thường bị ông làm cho choáng ngợp, nhầm tưởng rằng Đại sư Lâm Vân là bạn thân của Tổng thống Mỹ.

Thực ra cái tài chen vào các bữa tiệc với người phương Tây của Lâm Vân chỉ là "đuôi chó nối da báo", hay còn gọi là "cáo mượn oai hổ". Thực tế, Agnew và Reagan có lẽ chẳng biết ông ta là nhân vật thánh thần từ đâu chui ra, tuy nhiên phải công nhận tài luồn lách của ông ta không tồi, chen lên phía trước, nhanh chóng chụp tấm ảnh để dành sau này tuyên truyền, quả là có con mắt tinh đời.

Tôi nhớ có hơn 30 phóng viên của tờ New York Times đã cùng nhau viết lời khen ngợi về cuốn sách của tôi. Có một ứng cử viên tổng thống Mỹ đã nhờ người bạn Trung Quốc là cô Diệp đến tòa nhà Lạc Quần ở Đài Trung để mời tôi giúp vận động tranh cử. Nhưng tôi đã phản ứng rất lạnh nhạt. Là một người Trung Quốc, tôi có tư cách gì mà đi giúp ai đó tranh cử tổng thống, tôi hoàn toàn không quan tâm.

Cuối cùng vị ứng cử viên tổng thống đã mời tôi giúp đỡ ấy đã thắng cử với số phiếu áp đảo. Trong lễ nhậm chức, ông ta đích thân cử người mang thiệp mời đến tận nhà tôi, nhưng tôi vẫn không đi dự. Tôi đã chẳng giúp gì cho ông ta, vậy thì có tư cách gì mà đi dự tiệc mừng công và lễ nhậm chức của ông ta chứ.

Điều đáng cười nhất là khi Đại sư Lâm Vân đi gặp Dalai Lama, Dalai Lama không hề biết ông ta là ai. Để tạo ấn tượng sâu sắc với Dalai Lama, Lâm Vân vội vàng kết một ấn tự xưng là Đại Thủ Ấn để đảnh lễ. Dalai Lama mỉm cười hỏi: "Người này là ai vậy?" Lâm Vân vội vã tiến lên phía trước, trong khi Dalai Lama ngồi yên, Lâm Vân đứng phía sau với vẻ mặt cung kính như một gã hề, rồi lại chụp thêm một tấm ảnh nữa. Chúng ta có thể thấy rõ nụ cười gượng gạo trên gương mặt Dalai Lama, ngài biết Lâm Vân lại muốn mượn tấm ảnh này để tự quảng cáo cho mình.

Một hiện tượng kỳ lạ là sở thích của Lâm Vân là đi khắp nơi thăm viếng các nhân vật quan trọng và chụp ảnh lưu niệm với họ. Nhưng ngược lại, những nhân vật quan trọng đó lại rất hiếm khi đến thăm Lâm Vân. Chẳng phải điều này rất kỳ lạ sao? Tôi cho rằng một bậc đạo cao đức trọng không cần phải như bông hoa giao tế đi làm quan hệ công chúng. Lưu Bị ba lần đến lều tranh, Gia Cát Lượng mới chịu ra khỏi Long Trung, đằng này người ta không đến mời Lâm Vân, mà ông ta lại đi tìm người ta, thế thì còn ra thể thống gì nữa!

Khi tôi còn ở trong nước, tôi sống ẩn cư không tiếp khách, mỗi cuốn sách của tôi đều có thông báo "không tiếp khách". Những nhân vật quan trọng muốn tìm gặp tôi qua các mối quan hệ, tôi yêu cầu họ phải tự mình đến. Khách không hẹn trước, bất kể địa vị như thế nào đều phải hẹn ngày khác, thậm chí tôi còn làm cho không ít người tự xưng là "nhân vật quan trọng" phải sợ hãi bỏ đi. Tôi cho rằng tu đạo là quan trọng nhất, công danh lợi lộc trên đời đều là giả tạm, tôi có đạo, người khác phải đến cầu học nơi tôi, làm sao tôi có thể đi cầu cạnh người ta, cho dù là Tổng thống Mỹ đích thân đến, tôi cũng chưa chắc đã mở cửa đón tiếp. (Thư viện Quốc hội Mỹ đang lưu giữ bộ sách đầy đủ của tôi.)

Tuy nhiên, thưa Đại sư Lâm Vân, tôi xin hỏi ông, kiểu quan hệ công chúng này có lợi gì cho "đạo" của ông không?

Thứ hai, xin Đại sư Lâm Vân đừng mượn danh Mật tông Hắc giáo để tuyên truyền khắp nơi. Người tu Mật tông coi trọng nhất là "sư thừa", tức là đạo sư truyền pháp. Nếu không có đạo sư truyền pháp thì gọi là "đạo tặc", tội trộm pháp trong Mật tông bị trừng phạt rất nặng. Vậy Đại sư Lâm Vân kế thừa từ ai? Hoàn toàn không nói được. Ông ta tự nói rằng lúc 6 tuổi ở chùa Ung Hòa Cung Bắc Kinh, gặp nhiều vị Lama, 6 tuổi học pháp, quả là thần đồng, đó là lời nói không ai tin nổi.

Đại sư Lâm Vân tinh thông Mật tông Hắc giáo, đó chỉ là lời nói bừa của ông ta. Thực tế, tôi thấy lý thuyết của ông ta chỉ là kiến thức phổ thông của Mật tông, về những bí pháp thực sự của Mật tông Hắc giáo, ông ta chẳng đề cập được câu nào. Ông ta có thể lừa được người ngoài cuộc, nhưng muốn dọa người thì còn lâu!

Thực ra, Mật tông từ lâu đã không còn Hắc giáo, Hắc giáo đã sớm bị các phái chính thống của Mật tông ruồng bỏ, Hắc giáo là chỉ một nhóm pháp sư tà ác dùng bí pháp để nguyền rủa hại người. Còn Đại sư Lâm Vân muốn lợi dụng Hắc giáo để "dựng bảng hiệu", đây chính là lợi dụng sự thiếu hiểu biết của người đời, mang Hắc giáo ra để đối đầu với Hồng giáo, Hoàng giáo, Bạch giáo, Hoa giáo phải không? Rồi tự phong mình là giáo chủ Hắc giáo.

Tôi đã từng tìm thấy một cuốn sách nghiên cứu về Mật tông Hắc giáo tại thư viện ở Mỹ. Theo suy đoán của tôi, có lẽ Đại sư Lâm Vân đã đọc cuốn sách này từ trước, và muốn lợi dụng những điều liên quan đến Mật tông Hắc giáo để tự xưng mình là người kế thừa duy nhất của Mật tông Hắc giáo (không có sư phụ? Ai đã truyền Hắc giáo cho ông ta?), thật là vô căn cứ và khó hiểu! Có một bậc tiền bối trong Mật tông, chính là Đại Bảo Pháp Vương của phái Bạch giáo, khi còn sống ngài đã nói với tôi rằng: "Lâm Vân là người thông minh, nhưng ông ta thực sự đã làm cho Mật giáo trở nên đen tối. Nếu ai cũng như ông ta, tự nhiên xuất hiện xưng là giáo chủ thì truyền thống sư thừa của Mật tông sẽ hoàn toàn tan rã." Tuy nhiên, cả Đại Bảo Pháp Vương và tôi đều biết Lâm Vân đã có sự chuẩn bị, ít nhất ông ta đã đọc phần Mật giáo trong Đại Tạng Kinh.

Đáng chú ý là về những thủ ấn của Lâm Vân, những thủ ấn này đương nhiên là ông ta tự học qua sách vở. Như tôi đã đề cập trong chương "Bí pháp như cầu vồng" của cuốn sách này, thủ ấn có nhiều loại, dựa theo tác dụng phần lớn chia thành câu triệu, kính ái, tức tai, hàng phục, cầu phúc, tăng ích. Đại sư Lâm Vân thích nhất là chụp ảnh với thủ ấn cầu phúc, trong những tấm ảnh tôi thấy, ông ta chỉ làm mỗi thủ ấn đó, không có gì khác. Nhưng tôi phải nhắc nhở ông ta rằng, thủ ấn không phải chỉ có một tay, mà là sự biến hóa liên tục của 108 thức thủ ấn, cái thủ ấn chụp ảnh của ông ta đúng là thủ ấn để chụp ảnh thật, nhìn thì đẹp thật đấy nhưng chỉ có vẻ bề ngoài. Điều thú vị hơn nữa là, Đại Bảo Pháp Vương đã nói: Thủ ấn Mật tông chỉ được sử dụng khi tu luyện bí pháp trong đàn thành Mật pháp, kết thủ ấn phải tuân theo nghi thức quy tắc, việc Đại sư Lâm Vân tùy tiện kết thủ ấn chụp ảnh như thế thật là đang đùa cợt với người tu đạo, nghiêm trọng hơn là đang coi thường bí pháp.

Thú vị hơn nữa là Đại sư Lâm Vân có thể tùy tiện cười cợt truyền dạy đại thủ ấn cho nữ văn sĩ Tam Mao, việc này khiến một số pháp sư chân chính phải tức điên lên. Nói Đại sư Lâm Vân không biết Mật pháp thì ông ta tự xưng là người duy nhất kế thừa Hắc giáo, nói ông ta biết Mật pháp thì ông ta lại múa may đại thủ ấn như đang diễn tuồng rối. Xin độc giả hãy thử nghĩ xem, có vị đại sư nào lại tùy tiện kết thủ ấn để chụp ảnh, có vị đại sư nào gặp ai cũng dạy thủ ấn cho người ta. Xin hỏi Đại sư Lâm Vân, ngoài lớp học thêm phong thủy ra, ông còn mở lớp học thêm thủ ấn nữa sao, như vậy đâu còn giống người có "đạo", mà đã trở thành kẻ có "đạo tặc" rồi. (Thủ ấn Mật giáo, nếu không phải người được truyền pháp, tuyệt đối không được truyền.)

Thứ ba, Đại sư Lâm Vân hãy dựa vào chính mình, đừng dựa vào quan hệ thân quen hay những thứ khác. Nói đến điểm này, tôi thấy hơi khó viết tiếp, vì sợ làm bẩn ngòi bút của mình. Nếu Đại sư Lâm Vân chỉ giúp người ta xem chữ, xem tướng, phong thủy và bát quái thì chúng ta không có lý do gì để phê bình ông ta.

Nhưng khi ông ta đề cập đến linh học, Mật giáo thì đã trở nên không đúng chỗ, bởi linh học là một môn học thuật, còn Mật giáo là pháp tu đạo. Điều khiến Đại sư Lâm Vân nổi tiếng chính là việc xem tướng cho các ngôi sao điện ảnh như Hồ Ấn Mộng, Thang Lan Hoa và những người tương tự. Những ngôi sao này thích xem tướng, điều này ai cũng biết. Ông ta cũng có đủ bản lĩnh khiến những quý bà này tin phục, bởi dù sao Lâm Vân cũng cao tay hơn những thầy bói giang hồ thông thường một chút.

Có lẽ là duyên trời run rủi, cô Hồ Ấn Mộng đã tôn sùng ông ta vô cùng. Hồ Ấn Mộng, người đẹp của Lý Áo này, gặp ai cũng giới thiệu về "nhị ca" của mình. Kiểu quảng cáo từ một mỹ nhân như vậy quả là chiêu thức lợi hại nhất, thực sự khiến người ta phải ngoái nhìn.

Tuy nhiên chúng ta có thể tưởng tượng việc cô Phụng Phi Phi bái "Ông Hổ" cùng với việc Hồ Ấn Mộng tôn sùng Lâm Vân, hoàn toàn chỉ là vận may của một "thầy xem tướng số", có nghĩa là "Ông Hổ" của Hồ Ấn Mộng chính là Đại sư Lâm Vân vậy.

Có một điểm rất đáng ngờ là mọi người không gọi ông ta là Đại sư Lâm Vân thì cũng gọi là Giáo sư Lâm Vân.

Được rồi, danh xưng Đại sư thì có thể gọi tùy ý, nhưng chức danh Giáo sư không phải ai muốn phong cũng được. Xin hỏi, trường đại học nào đã trao cho ông ta chức vị Giáo sư? Trong số bạn bè tiến sĩ của tôi, có người vẫn chưa được làm giáo sư, chỉ mới giữ chức phó giáo sư. Khi tôi còn học đại học, trong trường có trợ giảng, giảng viên, phó giáo sư, giáo sư, thậm chí còn có "giáo sư danh dự", "giáo sư trọn đời",... Muốn thăng chức giáo sư phải có luận văn thăng hạng và phải qua kỳ thi.

Theo tôi được biết, Đại sư Lâm Vân từng ở Đại học Trung Văn Hồng Kông, sau đó đến các câu lạc bộ ở Đại học Hawaii, rồi đến Berkeley ở San Francisco. Được rồi, chúng ta hãy hỏi ông ta dạy gì? Dạy Bát quái? Dạy phong thủy? Bát quái tính mấy tín chỉ? Phong thủy lại tính mấy tín chỉ? Tôi không có ý coi thường Bát quái hay phong thủy, điều tôi muốn nói là ông ta không phải giáo sư chính thức của những trường đại học này, mà chỉ là giảng dạy thêm trong các câu lạc bộ ngoài giờ học, ông ta giảng bài bằng tiếng Trung, tiếng Anh vẫn không thông, còn cần người khác phiên dịch, và nghe nói những người đến học không phải người Hồng Kông thì cũng là người Đài Loan.

Một người không thể nói thông tiếng Anh mà lại được gọi là giáo sư, há chẳng phải là chuyện cười rụng răng sao. Hạng người như vậy có thể lăn lộn ở chốn giang hồ, nhưng đến học thuật cũng muốn lăn lộn thì tốt nhất nên sớm rút lui một cách đàng hoàng, danh chính ngôn thuận.

Ở đây lại có một điều đáng ngờ, đó là Đại sư Lâm Vân có thông linh không? Thực tế, ông ta hoàn toàn chưa thông linh, chưa đạt được ngũ nhãn lục thông, nhưng ông ta tự xưng có "linh cảm".

Linh cảm này vốn là thứ con người sinh ra đã có sẵn, ai ai cũng có, chỉ là ông ta dùng nó làm công cụ xem bói, rồi không may trúng mà thôi, thầy bói đều là chuyên gia về mặt này. Tôi thấy rằng linh học nên để những người thông linh trình bày thì mới phù hợp, người chạm còn chưa tới mà nói về linh học thì chỉ khiến người ta có cảm giác như nhìn hoa trong sương mù.

Tôi mong Đại sư Lâm Vân có thể thực sự khai mở linh giác, từ việc nói suông thành tiếp xúc thực sự, đừng chỉ nói miệng, mà hãy thực sự nhận thức được thế giới linh. Đây chính là mục đích và kỳ vọng của tác giả khi viết bài này, để tất cả những người ngưỡng mộ ông mỏi mắt mong chờ.


### 22. Sóng linh gặp sóng linh


Việc tiếp xúc với thế giới linh hồn không phải là chuyện thần thoại về những năng lực bẩm sinh đặc biệt, cũng không phải là những cảm giác mơ hồ hay linh cảm nửa thực nửa hư.

Điều duy nhất cần có là trên thân bạn phải có "sóng linh". Nghĩa là ngoài một thể xác hữu hình ra, bạn còn phải có một linh hồn vô hình, và linh hồn đó phải sống động, có khả năng cảm nhận được những linh hồn khác. Chỉ có như vậy mới được xem là tiếp xúc với thế giới linh hồn, mới có sự tiếp xúc thực sự giữa sóng linh với sóng linh.

Linh hồn không có hình thể, nhưng tồn tại trong không khí, trong các thế giới đa chiều. Nơi khí trong sạch là nơi của những linh hồn cao cấp, nơi khí ô trược là nơi của những linh hồn thấp kém.

Kiếp trước kiếp sau của con người có mối liên hệ mật thiết với thế giới linh hồn, nhưng khi đầu thai thành người, do bị giới hạn bởi thể xác nên quên mất kiếp trước và không biết được kiếp sau. Lý do con người phủ nhận sự tồn tại của thế giới linh hồn là vì "nhìn không thấy", "nghe không được", không cảm nhận được gì cả. Tuy đôi khi cũng có người dùng phương pháp khoa học để chứng minh và có những phát hiện, nhưng vẫn không thể giải thích được nguyên lý nguyên tắc căn bản.

Thỉnh thoảng, có xuất hiện một vài người có thể nhớ được chuyện kiếp trước, nhưng mọi người đều có tâm trạng vừa tò mò vừa hoài nghi.

Linh hồn tồn tại trong bầu không khí và khác biệt với không khí thông thường. Không khí có sự hiện diện của linh hồn có trọng lượng gấp đôi không khí bình thường, nghĩa là cùng một loại không khí, nhưng không khí có linh hồn chắc chắn nặng hơn không khí thông thường.

Linh hồn cũng phát ra ánh sáng, ánh sáng này ở linh hồn cao cấp thì mạnh mẽ và thuần khiết, còn ở linh hồn thấp kém thì yếu ớt và tạp nhiễm, nhưng đây là loại ánh sáng nằm ngoài tia cực tím và hồng ngoại, mắt thường của con người không thể nhận biết được.

Người có sóng linh, thường gọi là người thông linh, khi một linh hồn đến gần người thông linh, họ có thể cảm nhận được áp lực tụ lại trong không khí, người thông linh và linh hồn sẽ có sự "va chạm", cảm giác này không phải là nửa thực nửa hư mà là sự ma sát hoàn toàn có thật, tôi mô tả như sau:

"Giống như có làn khói tiến đến, nó có ý thức sống, nhạy bén gấp hàng trăm lần so với con người, cơ thể tôi đột nhiên có cảm giác phồng lên, như một quả bóng được bơm căng khí, rồi bỗng chịu một áp lực nào đó."

Người thông linh được rèn luyện lâu dài biết cách tiếp nhận thông điệp từ thế giới linh hồn, và họ cũng biết cách truyền đi thông điệp, đó chính là việc thu nhận và phát xạ.。

Tôi hiểu sâu sắc rằng hiện tượng linh hồn hiển linh là vô cùng hiếm, trừ phi thật sự cần thiết, linh hồn muốn hiển linh nhất định phải mượn vật chất mới có thể hiện hình, hơn nữa "linh hồn hiển linh thường mượn ý nghĩ của con người để hóa hiện". Bởi vì linh hồn muốn hiện ra cho đối phương nhận ra, đây là điều vô cùng quan trọng.

Vì vậy khi người thường tình cờ thấy thần thấy ma, đều giống như trí tưởng tượng của họ vậy, và đó cũng là lý do tại sao quỷ thần ở các nước trên thế giới không hoàn toàn giống nhau.

Tôi cho rằng con người tự nhiên cũng là một dạng "hiển linh của linh hồn", đặt linh hồn vào trong cái bình là thể xác, đến khi cái bình vỡ ra, đất trở về với đất, khí trở về với khí, đây chẳng phải là "hiển linh của linh hồn" là gì?

Người thông linh muốn giao tiếp với thế giới linh hồn có thể phát ra "tưởng niệm", nghĩa là trước tiên tập trung tinh thần, sau đó phát ra niệm lực mạnh mẽ, niệm lực có thể lên đến chín tầng trời, xuống đến chín tầng đất. Người có niệm lực càng mạnh, thiên thần tiên thánh cũng sẽ cảm ứng mà đến, còn người có niệm lực yếu thì chỉ tiếp xúc được với những linh hồn cấp thấp quanh mình. Hiện nay nhiều nhà đồng cốt chỉ có thể cảm nhận được các âm hồn, thỉnh thoảng cũng cảm nhận được thần tiên, nhưng rất hiếm, phần lớn đều là âm hồn.

Nếu thế giới linh hồn muốn tìm tôi thì rất dễ dàng, dù bạn không có "tưởng niệm", họ vẫn có thể tìm thấy bạn. Cho dù bạn đang viết văn, đang ăn cơm hay đang tắm, họ không quan tâm hoàn cảnh nào, đều có thể cho bạn biết có linh hồn đến. Lúc đó cảm giác như quả bóng được bơm phồng lên, và còn có một áp lực trong không khí, khiến bạn đột nhiên như bị đóng băng, bị đông cứng lại. Cảm giác này không hề nhẹ nhàng, thậm chí có thể va chạm vào bạn và làm bạn di chuyển bước chân.

Giữa linh hồn từ thế giới linh hồn và người thông linh cần phải có sự phối hợp với nhau. Ví dụ như khi tôi đang viết văn, nếu có linh hồn từ thế giới linh hồn đến tìm, thường sẽ ảnh hưởng đến cảm hứng viết văn của tôi. Tôi đã dặn dò họ, sau này khi tôi đang viết văn xin đừng đến quấy rầy. Sau khi đã phối hợp được như vậy, trừ phi có việc đặc biệt, họ sẽ không làm ảnh hưởng đến bạn.

Các linh hồn cao cấp trong thế giới linh hồn cũng có những cuộc hội họp, họ thường hiểu rõ hành động và suy nghĩ của con người. Họ đánh giá về tôi như sau: "Lư Thắng Ngạn là người có tâm hồn thẳng thắn, có gì nói nấy, thấy chuyện bất bình là muốn rút gươm tương trợ, có khí chất anh dũng. Nhưng bản tính lại mềm yếu, khi bị thua thiệt thì đành nhẫn nhịn. Điều duy nhất đáng khen là tính chân thật, luôn tìm kiếm sự chân thực, không giả tạo, ngoài ra điểm đáng quý nữa là 'không hại người', nhưng đối với những điều có hại cho chính đạo, ngòi bút của anh ấy lại như tiếng gầm của sư tử chính nghĩa."

Tôi đã tham dự một buổi hội họp của các linh hồn cao cấp, nơi đó như một cõi tiên, có những đốm sáng lấp lánh như những ngôi sao trong đêm đông, các linh hồn cấp cao dùng ánh sáng để thể hiện ý kiến, cường độ ánh sáng và số lần phát sáng giống như cách truyền tín hiệu bằng đèn pha trong hàng hải vậy.

Lúc thì lóe sáng, lúc thì rực rỡ, quả thực là cảnh tượng kỳ diệu mà con người không thể tưởng tượng được, khí thế hùng vĩ của nó càng không thể dùng bút mực nào tả xiết.

"Sóng linh gặp sóng linh" là sự thật nghìn vạn lần chính xác. Có "sóng linh" mới có thể tiếp xúc với thế giới linh hồn một cách chắc chắn và không sai sót. Giác quan thứ sáu muốn có được nhất định phải dựa vào "sóng linh", tiên tri tiên giác nhất định phải có "sóng linh", muốn thông suốt mọi việc trong thiên hạ cũng nhất định phải có "sóng linh".

Các phương pháp xem tướng số thông thường không có cách nào sánh được với "thần toán bằng sóng linh", đây cũng là lý do tại sao "linh cơ thần toán" đã gây chấn động toàn thế giới.


### 23. Chấp nhận thử thách


Có một kế toán viên tên Giang Tư Vinh sống ở bang Texas, thành phố Houston.

Vợ của ông họ Trương, một đêm nọ bà đột nhiên nằm mơ một giấc mơ rất kỳ lạ, bà thấy những đám mây ngũ sắc bay lượn trên trời, rồi có một người đứng trên mây, người đứng trên mây nói với bà Giang rằng: "Tôi chính là Lư Thắng Ngạn."

Sau khi tỉnh dậy, bà Giang kể lại giấc mơ kỳ lạ này cho ông Giang Tư Vinh, đồng thời cho rằng ông Lư Thắng Ngạn có thể sẽ đến Mỹ và họ sẽ sớm được gặp mặt.

Còn kế toán viên Giang Tư Vinh không tin vào giấc mơ này, cho rằng thật hoang đường, làm sao Lư Thắng Ngạn có thể đến Mỹ được chứ. Kế toán viên Giang Tư Vinh và vợ đều là cựu sinh viên Đại học Đài Loan, hai người cùng sang Mỹ du học.

Tôi rất thẳng thắn nói với độc giả rằng, trước khi tôi đến Mỹ, tôi hoàn toàn không quen biết ông Giang và vợ. Họ biết đến tôi là qua việc đọc sách của tôi, những cuốn sách của tôi cũng được bán ở các hiệu sách tại Houston. Một tuần sau giấc mơ của bà Giang, có người gọi điện báo cho họ biết rằng Lư Thắng Ngạn đang cư ngụ tại Seattle, Mỹ.

Sau khi liên lạc qua điện thoại, ông Giang Tư Vinh và vợ đã bay năm tiếng đồng hồ từ Houston đến Seattle để tìm tôi. Cần phải nói rõ rằng ông Giang Tư Vinh là người Gia Nghĩa, từ nhỏ đã học tập ở bên ngoài, được hun đúc bởi nền giáo dục khoa học, cả đời không tin vào quỷ thần, cho rằng thông linh hoàn toàn là chuyện hoang đường, linh cơ thần toán tuyệt đối không có thật.

Còn bà Giang thì có duyên với Phật nhiều hơn, bà cho rằng sống ở nước ngoài, có một chỗ dựa về mặt tinh thần thì vẫn tốt hơn là không có. Trên máy bay, bà Giang lấy sách của tôi đưa cho ông Giang, nhưng ông ấy chẳng thèm liếc mắt nhìn, chỉ đọc tạp chí "TIME" trên máy bay.

Tại tệ xá, Bồ Tát đã dùng bốn câu thơ để diễn tả vận mệnh của Giang Tư Vinh, từ khi sinh ra thuở nhỏ, cho đến khi du học nước ngoài, thậm chí đến lúc về già, phân tích rất thấu đáo về tình hình sự nghiệp và giao thiệp của ông, khiến ông Giang và phu nhân đều vô cùng kinh ngạc, tỏ vẻ hết sức sửng sốt.

Bà Giang nói: "Thưa thầy Lư, tôi không có ý định thử thách thầy, nhưng chồng tôi được đào tạo theo khoa học, ông ấy vốn không tin thần Phật, tôi mong thầy có thể cho ông ấy thêm nhiều điều bất ngờ nữa. Đồng thời, tôi cũng muốn chứng minh những điều thầy viết trong sách là đúng. Bây giờ tôi không nói cho thầy biết chúng tôi có bao nhiêu con, xin thầy hãy nói cho chúng tôi biết chúng tôi có bao nhiêu người con?"

Đối với kiểu thử thách trực tiếp mặt đối mặt như thế này, dù tôi đã trải qua rất nhiều lần, nhưng với tính tình nhút nhát của mình, tôi vẫn cảm thấy ngượng ngùng đỏ mặt. Tôi cầu xin Bồ Tát cho tôi chỉ dẫn rõ ràng, và Bồ Tát đã chỉ dạy rất minh bạch: "Vợ chồng ông Giang Tư Vinh theo số mệnh vốn có năm người con, nhưng hiện giờ chỉ còn bốn người." Tôi viết câu này ra, hai vợ chồng họ nhìn nhau không nói gì, chỉ gật đầu như ngầm công nhận.

Thử thách thứ hai là thế này, ông Giang viết ra địa chỉ nhà ở Houston và yêu cầu tôi mô tả vắn tắt.

Tôi nói: "Nhà của ông rất rộng rãi, nội thất bài trí vô cùng sang trọng, nếu tính theo diện tích Đài Loan thì gần một nghìn bình, môi trường xung quanh rất thanh nhã. Nhà ông có ba cửa, một cửa chính ít khi mở, một cửa dành cho khách ra vào, và một cửa sau, trên tầng có một cửa ra ban công nhưng cái đó không tính là cửa. Có sáu phòng ngủ."

Nghe tôi mô tả, hai vợ chồng họ liên tục gật đầu.

Thử thách thứ ba là thế này, ông Giang không chỉ làm kế toán viên mà còn kinh doanh nhiều ngành nghề, ông ấy viết ra một trong số đó là một motel [nhà nghỉ xe hơi] và yêu cầu tôi chỉ ra "làm ăn thế nào?"
Câu trả lời của tôi là: "Được."
Ông Giang lắc đầu nói: "Motel này rất tệ, sao có thể nói là được chứ?"

Vì vậy, tôi lại đặc biệt cầu xin chỉ dẫn: "Việc kinh doanh của nhà nghỉ xe hơi này vẫn còn khá, nhưng có quá nhiều cổ phần tham gia, về mặt nhân sự không ổn định, và đã trải qua một lần tái cơ cấu. Có vẻ không phải là kinh doanh không tốt, mà là sau khi kiếm được tiền lại tiếp tục mở rộng đầu tư, bên trong các cổ đông bất đồng ý kiến, tranh chấp liên miên, nên lợi nhuận mới không còn."

Ông và bà Giang rất khâm phục việc tôi biết được chuyện "tái cơ cấu", thực ra đó không phải là tài năng của tôi, mà là nhờ linh cảm của Bồ Tát, Bồ Tát trong một sát-na đã đi rồi lại về, cho tôi biết chuyện này.

Vợ chồng ông Giang Tư Vinh có rất nhiều câu hỏi, họ còn mang theo nhiều thắc mắc của họ hàng bạn bè, đồng thời thỉnh cầu khai quang cho hai tượng Quan Thế Âm Bồ Tát và một tượng Phúc Đức Chính Thần. Từ 8 giờ sáng cho đến 11 giờ 30 trưa, số câu hỏi không dưới 50 mà có khi lên đến 100 câu, họ đều rất hài lòng với những câu trả lời.

Sau đó, chúng tôi đến một nhà hàng tên Nghênh Tâ" ở đường số 8 để ăn trưa. Những món chúng tôi gọi gồm có súp cua, chả cá chiên, chả tôm chiên, thịt bò xào rau cải, cánh gà, đậu phụ mapo, v.v…

Ông Giang nói với tôi rằng, có người đã mời ông tham gia xây dựng một ngôi chùa ở Houston.
Do bản thân ông không mặn mà với việc tín ngưỡng thần Phật, nhưng sau chuyến đi này, tình hình có phần thay đổi, lần về này ông sẽ cân nhắc kĩ lại.
Còn tôi thì đang có kế hoạch xây dựng Linh Tiên Tinh Xá ở Seattle, Mỹ, ông cũng sẵn lòng giúp đỡ. Lần này, cơ duyên của ông Giang với việc hoằng dương Phật pháp dần dần chín muồi và ông cũng vui vẻ đón nhận.

Ngày hôm đó, mưa vẫn rơi lất phất ở Seattle.

Thời tiết ở Seattle thì lạnh lẽo và thường xuyên có mưa, ánh nắng mặt trời luôn trốn sau những tầng mây.

Tôi cảm thấy việc hoằng dương Phật pháp ở Seattle, nếu như được giống như cơn mưa Seattle như vậy thì sẽ được nhiều người ủng hộ, như những bông hoa trời rơi dày đặc tựa như dệt thành tấm lưới.


### 24. Đêm Sydney


Khi đọc "Duyệt Vi Thảo Đường Bút Ký", tôi hiểu được rằng các loại tinh khí quỷ quái muốn tu thân có ba phương pháp:

Phương pháp thứ nhất là tu luyện tĩnh tọa giống như con người, điều hòa hơi thở, luyện tinh khí thần của bản thân, như trong cuốn "Thông Linh Bí Pháp Thư" của tôi đã viết, chú trọng vào việc luyện hình biến thần qua Khảm Ly thủy hỏa long hổ, hấp thu tinh khí, thu nạp tinh hoa của nhật nguyệt, cuối cùng kết thành nội đan, còn gọi là xá lợi tử, sau đó dùng xá lợi tử để biến hóa nguyên thần, thoát xác hóa tiên.

Tuy nhiên, phương pháp tu luyện bậc nhất này, những tinh khí quỷ quái tầm thường không có tiên cốt và tiên duyên thì căn bản khó mà làm được. Đồng thời việc gặp được thần tiên chỉ điểm cũng không phải là điều mà hạng tầm thường có thể gặp được, cho nên trong số tinh quái có thể đắc đạo từ con đường này chỉ được một phần triệu.

Bậc thứ hai, rất nhiều loại tinh quái vì không có hình thể nên phải mượn vật thể để tu hành, vì vậy chúng nhập vào thân đồng cốt (người làm đồng), mượn vật thể để "nói điều thiện khuyên đời", đồng thời mượn dương khí để tu luyện bản thân. Vì thế đồng cốt tự xưng là được đại thần đại tiên nhập vào, nhưng thực ra đa phần là "tinh quái nhập thân". Một số miếu thờ thần Phật cũng có tinh quái nhập vào, mượn khói hương cúng bái của người đời, hấp thu bổ trợ, phối hợp trong ngoài, cũng có thể luyện thành đạo hạnh nhỏ.

Tuy nhiên, cách làm này, nếu thuận theo ý trời, không có gì quá đáng thì cũng không sao, nhưng nếu không thuận theo ý trời, làm bậy làm ẩu, lừa tiền gạt sắc, chẳng bao lâu sẽ có hình phạt của trời, nghĩa là những tinh quái này sẽ bị thượng thiên trừng phạt.

Bậc thứ ba, rất nhiều tinh quái thừa lúc người ta ngủ say để hút lấy tinh khí, cách hút của chúng là dựa vào khoảng giữa miệng và mũi của con người, giống như ong hút mật từ nhụy hoa vậy. Loại tinh quái trộm tinh khí này, ban đầu không gây hại gì cho con người, nhưng lâu dần, dù người đó ngủ nhiều nhưng tinh thần càng lúc càng sa sút, người càng lúc càng mệt mỏi, vì càng mệt mỏi nên càng muốn ngủ, càng ngủ tinh thần càng không phấn chấn, ngày càng lâu, nguyên thần tự tan rã, không thể dung hợp được.

Tôi đang ở Sydney, Úc, cùng đi với ông Lâm Vĩnh Mậu. Chúng tôi ở chung tại khách sạn Royal trên đại lộ Công Viên. Một đêm nọ, tôi chợt tỉnh giấc, nhìn về phía giường của ông Lâm Vĩnh Mậu và giật mình khi thấy có một người đang đứng trước giường ông ấy. Người này cao đến chạm trần nhà, mặc áo sơ mi hoa, và không phải ai khác mà chính là ông Lâm Vĩnh Mậu, nói cách khác, đó chính là nguyên thần của ông Lâm Vĩnh Mậu.

Nguyên thần ấy đứng yên một lúc, rồi cất bước chạy ra ngoài cửa. Tất nhiên, vì linh hồn là một dạng khí, nên muốn đi không cần phải mở cửa.

Mặc dù tôi và ông Lâm Vĩnh Mậu là bạn tốt, nhưng chúng tôi không thường xuyên gặp nhau, tôi cũng không hiểu rõ lắm về cuộc sống của ông ấy. Sáng hôm sau tôi hỏi ông: "Đêm qua ông ngủ có ngon không?"

Ông Lâm Vĩnh Mậu đáp: "Giấc ngủ là một trong những vấn đề lớn nhất trong đời tôi, tôi chưa có ngày nào ngủ được ngon hay ngủ được sâu cả, bình thường không thể ngủ ngon, mà hễ vừa ngủ được là bắt đầu mơ."
"Ông mơ thấy những gì?"
"Mỗi lần mơ, tôi đều thấy mình đi lang thang bên ngoài, đi đến những nơi rất xa xôi, nhìn thấy nhiều thứ kỳ lạ quái dị. Mỗi lần tỉnh dậy, lưng đau mỏi, đầu óc choáng váng, khổ không thể tả. Tôi đã đi khám bác sĩ, nhưng họ chẳng tìm ra bệnh gì, chỉ cho thuốc an thần hoặc thuốc ngủ, thế nhưng đêm nào cũng vẫn mơ như thường, ngày nào cũng mơ thấy mình đi rất xa. Chuyện này đã kéo dài mấy năm rồi."

Tôi nói với ông Lâm Vĩnh Mậu về việc tôi phát hiện linh hồn ông ấy "du ngoạn" mỗi đêm, đồng thời hứa với ông rằng khi chuyến đi kết thúc, tôi sẽ nghĩ cách chữa trị cho ông.

Theo như tôi biết, căn bệnh của ông Lâm Vĩnh Mậu ban đầu là do ảnh hưởng của loại tinh quái bậc ba, bị chúng hút mất tinh khí, và sau khi tinh khí tản mất, nguyên thần không thể dung hợp được, mỗi đêm nguyên thần tự động tản ra ngoài. Nói chung, mỗi khi nguyên thần tản ra, những điều gặp phải có cả tốt lẫn xấu, nhưng khi nguyên thần đã tản ra thì dễ bị tinh quái bắt nạt, nên dĩ nhiên ác mộng chiếm phần nhiều.

Lúc đó, tôi xem bói tương lai cho ông Lâm Vĩnh Mậu và biết rằng ông ấy sẽ có con trai, trong khi ông đã có hai cô con gái, đây là tin vui. Ngoài ra còn có một tin xấu là vào tháng 7 ông Lâm Vĩnh Mậu sẽ gặp một vụ kiện tụng. Về điểm này, ông Lâm Vĩnh Mậu chỉ mỉm cười không đồng ý cũng chẳng phản đối.

Ông nói rằng mình không tin, bởi vì ông Lâm Vĩnh Mậu chưa bao giờ kết oán với ai, làm ăn không nợ nần, là người nhân từ, cả đời giúp đỡ bạn bè, làm sao có thể dính vào kiện tụng được?

Đến tháng 7, ông Lâm Vĩnh Mậu tức giận đùng đùng chạy đến tìm tôi, một người quản lý họ Chu ở xưởng sản xuất túi da xuất khẩu của ông đã lén lút đem hàng hóa (thành phẩm) ra ngoài bán.

Ông Chu này trước đây từng kinh doanh một nhà máy nhưng bị phá sản, được ông Lâm giúp đỡ vốn liếng và mời làm quản lý. Ông Lâm là ân nhân của ông Chu, nhưng ông Chu lại coi ông Lâm Vĩnh Mậu là người hiền lành dễ lừa, và đã trở mặt phụ ơn.

Thế là ông Lâm Vĩnh Mậu kiện ông Chu tội "lừa đảo trộm bán", còn ông Chu phản kiện chủ mình tội "chiếm đoạt".

Đó chính là vụ kiện xảy ra vào tháng 7, từ vụ kiện này, tôi muốn khuyên mọi người rằng: "Cứu côn trùng chứ đừng cứu người", có khi bạn cứu giúp người ta, ngược lại bị chính người đó quay ra cắn mình một phát, thật là thảm.

Về tin vui: ông Lâm Vĩnh Mậu quả nhiên đã sinh được một cậu con trai.

Về chứng mất ngủ kiểu "linh hồn xuất du", trước đây ân sư Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh đã từng truyền dạy bí pháp cứu đời, thứ nhất là dùng phép phong bế cửa ra vào của linh hồn, thứ hai là an định hồn phách trong thân thể, tốt nhất là người mất ngủ nên tự tu tập huyền môn bí pháp, như vậy sẽ dần dần hồi phục bình thường.

Ân sư đã từng dạy tôi rằng, "linh hồn xuất khiếu" bình thường là nguyên thần của người tu đạo xuất du, đây là điều rất khó đạt được. Nhưng "nguyên thần xuất du" bất thường là một chứng bệnh không thể kiểm soát, trở thành một trạng thái bệnh lý. Cho nên "nguyên thần xuất du" hoặc thành tiên hoặc nhập ma, hãy thận trọng! Thận trọng!


### 25. Khích lệ kẻ mạo danh


Một học trò trong nước gửi cho tôi một bức thư, nội dung như sau:

*Thưa Thầy:
Trước hết con xin kính thăm Thầy. Thưa Thầy, con rất lấy làm tiếc phải báo với Thầy một tin không vui. Ông Hoàng Nguyên Khôn và ông Ngô ở Thảo Đồn cho biết hiện nay có người mạo danh Thầy, đi khắp nơi lừa đảo, tự xưng là Lư Thắng Ngạn chính hiệu, đi khắp nơi xem phong thủy, làm giải hạn, mỗi lần giải hạn thu phí đến mấy chục nghìn Đài tệ, nghe nói có trường hợp còn cao hơn thế.*

*Chúng con cảm thấy việc này gây tổn hại rất lớn đến danh dự của Thầy, không biết có nên có biện pháp gì không, như đăng báo cảnh báo hoặc kiện ra tòa để làm rõ. Tránh để mọi người hiểu lầm về Thầy. Đây là một việc rất quan trọng, kẻ mạo danh này thật quá đáng ghét...*

*Trịnh Tử Linh kính bái.
Ngày 21 tháng 10.*

Sau khi nhận được bức thư này, tôi có một vài cảm nhận như sau:

Thứ nhất, lá thư này không khiến tôi phẫn nộ, không khiến tôi bất ngờ, càng không khiến tôi kinh ngạc.

Ngược lại, tôi cảm thấy an ủi và có chút phấn khích, nói một cách nghiêm túc thì là vui mừng. Bản thân tôi có tài đức gì đâu mà được bậc hiền sĩ cao minh để mắt tới, lại còn mượn danh tính của tôi. Việc có người mạo nhận một cái tên nhỏ bé này chứng tỏ cái tên này khá hữu dụng, không đến nỗi bị người ta khinh thường hay nghe đến tên đã nhổ nước bọt xuống đất dẫm lên. Không ngờ cái tên của tôi lại có thể bán được với giá cao như vậy, động một tí đã cả chục nghìn, điều này chẳng phải đến cả đêm ngủ cũng phải lén cười sao?

Thứ hai, tôi muốn khích lệ người mạo danh tôi, kính mong quý vị học hỏi và rèn luyện cho tinh thông, tôi hy vọng quý vị sẽ còn giỏi hơn cả tôi, xin hãy trân trọng ba chữ "Lư Thắng Ngạn" được không! Bởi vì đã dùng ba chữ "Lư Thắng Ngạn" thì phải dùng cho tốt, dùng cho đúng, làm cho nó rạng rỡ thêm, điều này không chỉ có lợi cho quý vị mà còn có thể giải thích được với thiên hạ. Quý vị nhất định phải học thần toán, am hiểu mọi việc lớn nhỏ, học phong thủy và vận hạn hằng năm, thông thạo đến mức tinh vi tuyệt diệu, tốt nhất là cũng viết vài cuốn sách, gây tiếng vang lớn. Quan trọng hơn nữa là, ánh hào quang của quý vị phải vượt xa gã Lư Thắng Ngạn tầm thường trước kia, đừng lấy "Lư Thắng Ngạn tầm thường" làm chuẩn mực, hãy nỗ lực phấn đấu, không ngừng hoàn thiện, người đến sau nhất định phải giỏi hơn người đi trước.

Thứ ba, thực sự tôi không biết ý định mạo danh tôi của quý vị là gì?

Nhưng tôi luôn nghĩ theo hướng tích cực, tôi nghĩ chắc hẳn quý vị đã hiểu và ngưỡng mộ tôi, chứ quý vị đâu có đột nhiên đi mạo danh Lý Sư Khoa [một kẻ tội phạm giết người cướp của khét tiếng tại Đài Loan] phải không! Đã như vậy, tôi hy vọng sẽ không xảy ra những chuyện xấu hổ như lừa tiền lừa tình, nếu quý vị bị kiện tội lừa đảo, đừng quên rằng quý vị chính là Lư Thắng Ngạn, nếu bị kiện tội lừa tình, có cả con cái, quý vị cũng phải gánh chịu trách nhiệm, ăn uống và sắc dục là bản tính con người, hảo hán làm việc gì phải dám nhận việc đó, đừng bao giờ đẩy trách nhiệm cho tôi, đừng được đằng chân lân đằng đầu, nếu để tôi phải dọn dẹp tàn cuộc, tôi sẽ rất không cam tâm tình nguyện đâu.

Thứ tư, tôi hy vọng quý vị đừng học theo Dã Thảo Sơn Nhân, có lẽ quý vị không biết ông ta, ông ta cũng giống như quý vị, là một trong những người trước đây đã mạo danh tôi, nhưng ông ta quá kém cỏi, một mặt trốn ở phố Phúc Tinh bán nước âm dương và xem bói cho người ta, mặt khác lại thích ra mặt, động một tí là thích tống tiền "những người có máu mặt", trước đây người đòi bãi nhiệm Tằng Văn Pha là ông ta, người kiện Trần Kính Đường cũng là ông ta, mỗi lần bầu cử, ông ta đều tiên đoán số phiếu nhiều ít, chỉ toàn làm những trò lố để lên báo.

Ngoài ra còn có nhiều kẻ mạo danh khác, phần lớn đều không ra gì, làm ồn ào một thời gian rồi cũng chìm vào quên lãng. Tôi hy vọng quý vị, người đến sau này, đừng bao giờ học theo kiểu "học mót" của Dã Thảo Sơn Nhân, hãy thực sự làm nên danh tiếng để tôi được thấy, và cũng để tôi - người đã mang danh Lư Thắng Ngạn lâu nay được vui mừng. Biết đâu tôi sẽ về nước trao cho quý vị một tấm bằng khen để khích lệ.

Thứ năm, có một người mà quý vị tuyệt đối không nên học theo, đó chính là Đại sư Lâm Vân. Có lẽ quý vị sẽ thấy lạ, tại sao tôi lại nói như vậy? Bởi vì tính cách của Đại sư Lâm Vân hoàn toàn trái ngược với Dã Thảo Sơn Nhân - trong khi Dã Thảo Sơn Nhân thì tống tiền "người có máu mặt", thì Đại sư Lâm Vân lại luồn cúi nịnh bợ "người có máu mặt". Việc tống tiền hay nịnh bợ "người có máu mặt" đều là hoàn toàn không cần thiết.

Đại sư Lâm Vân thích chụp ảnh với những người quyền cao chức trọng, dùng họ để làm nổi bật bản thân như thể mình cũng rất vĩ đại, điều này thật khiến người ta phải buồn nôn. Đã mạo danh Lư Thắng Ngạn thì tuyệt đối đừng học cái kiểu "đuôi chó nối da báo", đi tìm người này người kia để chụp ảnh chung, cách nổi tiếng kiểu này không đáng học theo. Quý vị hãy tu dưỡng bản thân, trau dồi nội tâm, giữ phận làm người, "nhân vật lớn" tự khắc sẽ tìm đến quý vị, không cần phải là quý vị - một Lư Thắng Ngạn đi tìm người khác để chụp ảnh.

Khi có nhân vật lớn đến tìm, quý vị còn phải giữ thể diện, bắt họ phải đến cầu xin ba lần mới mở cửa, đây là quy củ của nhà họ Lư, tuyệt đối không được làm mất thể diện của mình. Dù Đại sư Lâm Vân nổi tiếng nhanh chóng theo cách đó, nhưng đó chỉ là hư danh phù phiếm, hãy nhớ rằng, điều này không bền vững, ông ta chỉ là người của thời thượng, giống như Lăng Ba vậy [diễn viên, nghệ sĩ ca kịch nổi tiếng người Trung Quốc], sau một thời gian nổi đình nổi đám rồi chắc chắn sẽ bị đẩy vào lãnh cung.

Thứ sáu, vì việc mạo danh của quý vị đã trở thành sự thật, tôi phải truyền đạt tính cách của mình cho quý vị. Thực ra đây không phải là tính cách, mà là tính khí cố chấp của tôi. Tôi là người rất cứng đầu, ghét cay ghét đắng đặc quyền, không biết nịnh bợ xu nịnh, thấy bất bình là phải ra tay giúp đỡ. Nếu có ai dựa vào đặc quyền tìm đến tôi, tôi nhất định không nương tay, "nhân vật lớn" cũng phải xếp hàng như thường. Tôi luôn đối xử bình đẳng với mọi người, trước đây khi còn ở trong nước, tôi cũng đã như vậy.

Tôi cho rằng chức quan to không phải là to, có "đạo" mới thực sự là to, nếu không có "đạo", dù có là Tần Thủy Hoàng sống lại đến đây, tôi cũng mời ông ta cuốn gói đi. Ngược lại, một người ăn xin có "đạo", tôi sẽ tôn kính tiếp đãi, mời họ làm thượng khách, đó chính là tính khí khó chịu của Lư Thắng Ngạn.

Này người mạo danh, có lẽ ông không ngờ tôi lại bàn luận về chuyện này nhiều đến vậy!

Nhưng ông đừng chê phiền phức, đây là vì thương sâu nặng mới răn dạy kĩ, quy tắc không nhiều, xin hãy thấu hiểu, lời ít tình nhiều, mong ông thông cảm, hãy tự lo liệu cho tốt, đừng giẫm vào vết xe đổ của người đi trước.


### 26. Buổi dạ hội tại phòng hòa nhạc


Vào lúc 10 giờ tối ngày 28 tháng 10, có tiếng chuông cửa vang lên, khiến tôi ngạc nhiên. Hóa ra đó là Lãnh sự Vu Định Ngọc từ Hội Hiệp điều Seattle đến thăm. Lãnh sự Vu Định Ngọc mang theo vài tấm vé và đi thẳng vào vấn đề: Đài truyền hình TTV Đài Loan đã tổ chức một đoàn biểu diễn văn nghệ Quang Hoa để thăm và an ủi bà con kiều bào, và họ sẽ đến Seattle biểu diễn đúng vào ngày sinh nhật của cố Tổng thống Tưởng.

Lãnh sự Vu nói: "Những vé vào cửa này đều phải mua, chỗ ngồi tốt nhất là mười hai đô la, hạng hai là tám đô la, xa nhất là bốn đô la. Tuy nhiên, tôi đã xin được vài vé miễn phí cho các bạn, chỗ ngồi hơi xa một chút, nhưng không sao cả, hy vọng các bạn cũng có thể đến thưởng thức."

Nói thật, đối với cái gọi là chương trình văn nghệ, có lẽ vì đã xem quá nhiều trên ti vi trong nước, hoặc có thể do không có sở thích, tôi luôn cảm thấy thiếu hứng thú.

Nhưng sau khi đến Mỹ, nghĩ đến việc họ từ xa xôi đến biểu diễn, hơn nữa Lãnh sự Vu còn xin được vé miễn phí cho chúng tôi, không thể phụ lòng tốt của người ta, nên đành phải lái xe đến đúng giờ. Địa điểm biểu diễn nằm trên đường phố trung tâm Seattle, tên đường là Olive Ave, đó là một phòng hòa nhạc vừa sang trọng vừa mang dáng dấp cổ kính. Vì đây là lần đầu tiên tôi đến phòng hòa nhạc nên đặc biệt chú ý đến cơ sở vật chất và cách bài trí.

Thì ra ghế hạng nhất ở tầng một, được bố trí theo kiểu bàn ăn dài, trên bàn có nến thắp sáng, phục vụ các món ăn kiểu Tây, ở rìa ngoài còn có khu vực ghế tròn đặc biệt, như kiểu phòng riêng, không khí rất trang nhã, có thể vừa thưởng thức tiết mục vừa dùng bữa.

Ghế hạng hai ở tầng hai, cũng có bàn nhưng là loại bàn dài thẳng hàng, không gian hơi nhỏ hơn, phục vụ cà phê và nước hoa quả.

Xa nhất là tầng ba, không chỉ xa mà còn cao, không có bàn, chỉ có ghế ngồi, giống như ghế rạp chiếu phim vậy, vì không có bàn nên cũng không có đồ uống phục vụ, tuy nhiên tầng ba có một ưu điểm là tầm nhìn rộng, có thể thấy toàn bộ khán phòng.

Trong toàn bộ phòng hòa nhạc đều được trải thảm, ấn tượng nhất là những chiếc đèn chùm lớn treo thẳng xuống từ trần nhà chạm khắc hoa văn, đèn chùm rất lớn và đẹp, trông giống hệt đèn cung đình Trung Quốc.

Khi ngồi xuống, tôi lại có một chút phiền não, bởi vì có một chiếc đèn cung đình chắn ngay tầm nhìn giữa tôi và sân khấu. Tôi nghĩ, thật là tệ quá, hôm nay đến đây là để xem chương trình biểu diễn của đài TTV, chứ đâu phải để ngắm đèn cung đình. Muốn đổi chỗ khác nhưng tầng ba đã kín chỗ, định đưa thẻ nhà báo ra, nhưng nghĩ lại đây là Mỹ, không biết thẻ nhà báo Đài Loan có dùng được không, tôi cứ đờ người ra nhìn chằm chằm vào chiếc đèn lớn.

Đúng lúc đó, có một giọng nói nhỏ như tiếng muỗi kêu: "Đừng lo lắng, những chiếc đèn này sẽ được kéo lên khi buổi diễn bắt đầu."

Khi nghe thấy vậy, lòng tôi vô cùng hân hoan, thì ra là vị Bồ Tát mà tôi ngày đêm cúng dường đã đến. Bồ Tát cũng đến xem đoàn văn nghệ Quang Hoa biểu diễn an ủi bà con kiều bào, thật là tuyệt vời. Có lẽ Seattle ở Mỹ quả thật hơi tĩnh mịch, đến nỗi Bồ Tát cũng phải cùng chúng tôi đi xem ca múa.

Quả nhiên, đúng giờ biểu diễn, bảy tám chiếc đèn chùm lớn từ từ được kéo lên, lên đến tận trần nhà của đại sảnh, lúc này tiếng vỗ tay vang dội. Lúc đó tôi cảm nhận được oai linh của Bồ Tát thật không thể nghĩ bàn, đặc biệt là khi tôi nhìn thấy chiếc đèn cung đình lớn nhất ở giữa, Bồ Tát ngồi trong đèn, vạn bảo trang nghiêm.

Trong ánh sáng tỏa ra từ đèn cung đình, mỗi một tia sáng đều có một vị Bồ Tát, đây là hàng nghìn tỷ hóa thân của Bồ Tát, từng vị Bồ Tát lại tỏa ra ánh hào quang trang nghiêm.

Trong khoảnh khắc ấy, tôi nghĩ, các diễn viên TTV đang biểu diễn ở đây, tất cả bà con kiều bào Seattle, họ làm sao biết được rằng, ngay trong giây phút này, tất cả đều đang được tắm gội trong ánh hào quang của Phật, đang được ân đức và sự bảo hộ của chư Phật Bồ Tát, đây là điều chưa từng có và vô cùng hiếm có.

Đoàn văn nghệ Quang Hoa lần này, trưởng đoàn là ông Hà Di Mưu, dẫn chương trình là ông Nghê Mẫn Nhiên và cô Hầu Lệ Phương, các diễn viên có các ông bà Trương Lưu Quỳnh, Diêm Hà Đình, Lý Lệ Hoa, Thái Cầm, Trần Vĩ Linh, Vạn Sa Lãng, Trương Đức Long, Nghê Mẫn Nhiên có nhiều tiết mục hài hước, Hầu Lệ Phương dẫn chương trình vững vàng, Diêm Hà Đình hôm đó bị cảm khan tiếng nên đã hát những bài cũ của Bạch Quang.

Đáng chú ý là giọng hát của nữ ca sĩ dân ca Thái Cầm, một bài "Đình viện thâm thâm" đã để lại ấn tượng sâu sắc với âm hưởng tuyệt vời. Thật lòng mà nói, đã lâu lắm rồi tôi mới được nghe một giọng hát trong trẻo và tuyệt diệu đến thế. Không có gì lạ khi khán giả đắm chìm trong giọng ca của cô, liên tục yêu cầu cô hát thêm. Không thể phủ nhận rằng, với phong cách giản dị, một bộ áo sơ mi quần đen, Thái Cầm đã lấn át ánh hào quang của nhiều ngôi sao lớn khác. Màn trình diễn tươi mới và thoát tục của cô được cả hội trường tán thưởng nhiệt liệt bằng những tràng pháo tay.

Có lẽ có người sẽ thắc mắc, chư Phật Bồ Tát cũng xem chương trình giải trí sao?
Lẽ nào chư Phật Bồ Tát cũng thưởng thức giọng hát của cô Thái Cầm? Tôi nói rằng, chư Phật Bồ Tát đã vượt thoát khỏi vòng luân hồi, các ngài có thể làm hoặc không làm bất cứ điều gì.

Chư Phật Bồ Tát vừa xuất thế vừa nhập thế, xuất thế nghĩa là "có làm", nhập thế nghĩa là "không gì không làm", các ngài có thể tự do ra vào bất cứ nơi đâu, không có bất kì điều cấm kỵ nào, các vị đại Bồ Tát chân chính đều như vậy, cũng là nhập gia tùy tục, các ngài dĩ nhiên có thể đến vũ trường, dĩ nhiên cũng có thể nhảy disco, nguyên nhân chính là vì các ngài đã thoát khỏi tâm thế tục, không bị sắc tình ràng buộc, đã không còn bị ràng buộc thì còn nơi nào không thể đến?

Tôi nhớ khi còn ở trong nước, tôi thích đi dạo ở đường Công Viên và đường Trung Hoa, khu chợ đêm ở đó rất nhộn nhịp, có người bán đồ ăn thức uống, có người biểu diễn võ thuật bán thuốc cao, có người bán quần áo, người đông như trẩy hội.

Đôi khi chư Phật Bồ Tát cũng đi dạo phố cùng tôi, các ngài cũng vỗ tay reo hò, dù cho trần thế có ô uế đến đâu cũng không làm ô nhiễm được tâm của chư Phật Bồ Tát. Nếu tâm của chư Phật Bồ Tát dễ bị ô nhiễm như vậy thì các ngài đâu còn là Phật Bồ Tát nữa.

Chư Phật Bồ Tát vì nhập thế nên nhập gia tùy tục, có như vậy mới độ được chúng sinh, chúng sinh cũng tự nhiên gần gũi. Nếu khoảng cách quá xa, Phật không trụ ở nhân gian, thì đạo lý tín ngưỡng này người đời không thể lĩnh hội và tiếp nhận được.


### 27. Viết cho Đạo trưởng Ngũ Bội Lâm


Khi đến Seattle, tôi rất muốn cúng dường chư Phật, nhưng ngoài tượng Phật A Di Đà và Địa Tạng Vương Bồ Tát mà tôi thỉnh từ Đài Loan sang, tôi không có gì khác. Sau đó tôi thấy trên báo Nhật Báo Thế Giới có thông báo của Hội Nghiên cứu Phật Đạo Chính Thiện, nói rằng họ có tặng ảnh chư Phật Bồ Tát, vì vậy tôi đã gửi thư kèm tem hồi đáp, mong muốn được cúng dường Tây phương Tam Thánh, tức là Phật A Di Đà, Quan Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát.

Rất nhanh tôi nhận được thư hồi âm, cùng với đó là một bức tranh Tây phương Tam Thánh, một bức thánh tượng Phật A Di Đà, một bức thánh tượng Quan Thế Âm Bồ Tát và một bức thánh tượng tổ sư Lã Thuần Dương. Kèm theo thư còn có danh thiếp của Đạo trưởng Ngũ Bội Lâm, trong đó ông cũng gọi tôi là Đạo trưởng, thì ra Đạo trưởng Ngũ Bội Lâm đã biết đến tôi từ lâu.

Đạo trưởng Ngũ điều hành Hội Nghiên cứu Phật Đạo Chính Thiện, có vẻ đã làm được rất nhiều việc và có những đóng góp to lớn trong việc hoằng dương Phật pháp và Đạo pháp, chẳng hạn như chủ trì lễ kỷ niệm 100 năm thành lập chùa Bắc Khê ở Marysville California, chủ trì lễ khai mạc Viện Phật Đạo Long Hổ Sơn ở Smyrna, thường xuyên tổ chức các buổi giảng đạo, liên kết với Viện Đạo học California, chủ trì việc cứu độ chúng sinh thông qua thẻ tâm linh của Lã Tổ Tiên Sư.

Sau đó, tôi lại thấy một tin tức trên báo, hóa ra từ những năm trước Đạo trưởng Ngũ Bội Lâm vốn theo Đạo trưởng Du Tự Tại ở Hồng Kông, nhưng hiện nay hai bên đã chia rẽ vì nhiều lý do, Đạo trưởng Du Tự Tại phát tờ rơi, chỉ trích nhiều điều về Đạo trưởng Ngũ Bội Lâm, trong đó có những lời nghiêm trọng như "ưa thích phụ nữ, giống như một người đàn bà sa đọa".

Theo báo cáo, Đạo trưởng Ngũ Bội Lâm đã kiện Đạo trưởng Du Tự Tại về tội phỉ báng, trong khi Đạo trưởng Du Tự Tại cũng đã kiện ngược lại Đạo trưởng Ngũ Bội Lâm. Cả hai bên đều yêu cầu bồi thường thiệt hại danh dự lên đến một triệu đô. Báo cáo còn cho biết Đạo trưởng Ngũ Bội Lâm cảm thấy danh dự bị tổn hại và vô cùng đau lòng.

Đọc tin tức này, tôi cảm xúc dâng trào, có vài lời không thể không nói, nên tôi viết ra như sau:

Thị phi ở thế gian thật hỗn loạn, khó phân biệt đúng sai, nhưng bậc thánh nhân làm việc chỉ cầu không phụ lương tâm của mình mà thôi. Tất cả những điều này, trời đất đều biết rõ. Như câu "mưu gian trong phòng tối, mắt thần sáng như điện", "công đạo phải trái tự có trong lòng người". Thắng thua trong kiện tụng nhất thời không thể chứng minh được sự trong sạch của mình. Vì vậy, đúng sai của người tu đạo nên để "trời phán xét". Nếu đã biết nhân quả mà vẫn phạm nhân quả, đó là tự mình làm hại mình, thực ra không cần phải đưa ra tòa án trần gian.

Khi một người nổi tiếng, lời phỉ báng cũng theo sau, chính trị gia không phải ngoại lệ, ngôi sao điện ảnh không phải ngoại lệ, thương nhân thành đạt không phải ngoại lệ, người tu đạo tuy đã thoát khỏi vòng trần tục, nhưng cũng không phải ngoại lệ.

Vì vậy, nơi nào có người, nơi đó có thị phi, đó là chân lý muôn đời.

Tôi khuyên Đạo trưởng Ngũ Bội Lâm hãy xem những lời phỉ báng như một hiện tượng bình thường, không cần để tâm. Có người phỉ báng nghĩa là họ còn coi trọng ngài. Trên thế gian này, không có bậc vĩ nhân thánh hiền nào không bị phỉ báng. Hãy nghĩ xem, ngay cả Khổng Tử của Trung Quốc, đã mất từ rất lâu rồi mà vẫn không tránh khỏi sự phỉ báng của con người, huống chi là người đời nay, càng khó tránh khỏi.

Tôi cho rằng người tu đạo là cô tịch, số lượng tín đồ nhiều hay ít không thể hiện được việc đắc đạo hay chưa đắc đạo. Bản chất của tu đạo là thanh tịnh, ngoài việc hoằng pháp cần thiết ra thì chỉ là âm thầm tu tập, lĩnh ngộ chân lý, bước vào cảnh giới thiên nhân, những điều này đều phải có được trong môi trường cô tịch mới thành tựu.

Người tu đạo thời xưa ẩn cư tránh đời, tu luyện trong hang sâu núi thẳm chính là vì lẽ đó.
Cho nên tu đạo phải bắt đầu từ cô tịch.
Không thể như Đạo trưởng Lâm Vân cứ phô trương xuất hiện, náo nhiệt phồn hoa, đó là đi ngược với đạo vậy!

Ngôi sao điện ảnh và người tu đạo là khác nhau, hễ dính vào con đường tu là đồng nghĩa với cô tịch, vì vậy nếu tín đồ có hiểu lầm thì cứ để họ đi, bởi người tu đạo vốn thanh tịnh, không phiền não, không cần phải ồn ào để thể hiện rằng mình đã lĩnh ngộ "chân đạo".

Người tu đạo nên biết rằng cõi người không phải là nơi ở lâu dài, danh lợi trần gian mỏng manh như mây trôi, đời người chẳng qua trăm năm mà thôi, rồi ai cũng phải ra đi với hai bàn tay trắng, việc theo đuổi danh lợi thật chẳng cần phải lội vào dòng nước đục này. Xuất gia tu đạo chính là rời bỏ nhà thế tục, bước vào nhà Phật đạo, đã có thể buông bỏ danh lợi thì cũng không cần so đo về tổn thương danh dự, dù có bị chửi là loài sâu bọ, tôi cũng chẳng màng, có bị mắng là súc sinh, tôi cười xong bỏ qua có sao đâu. Như người xấu nhổ nước bọt lên trời, trời nào có bị tổn thương gì, cứ an nhiên tự tại tiêu dao, trời cao đất thấp mặc ta bay bổng, tin ta thì đến, không tin thì đi, đó là duyên phận giữa người với người, cần gì phải miễn cưỡng, các người muốn mắng ta, cười chê tùy ý.

Thiên hạ ai ai cũng bám chặt lấy danh lợi không buông, có người thậm chí còn bám chặt lấy quyền thế, một khi mất đi quyền thế thì đau đớn không muốn sống, như thể sống không bằng chết vậy, cho nên những kẻ có quyền thế, khi mất đi quyền lực thường là một bi kịch lớn.

Tuy nhiên, chỉ có người tu đạo mới nhìn thấu được danh lợi, bởi vì nhìn thấu danh lợi mới được xem là tu thành chính quả, khi đã nhìn thấu danh lợi rồi, trên đời không một người một vật nào có thể trói buộc được ta, đây mới thực sự là việc lớn của bậc thượng nhân.

Từ sự việc của Đạo trưởng Ngũ Bội Lâm, tôi nhớ lại quá khứ của mình, tôi đã bị vu khống trong hai cuốn sách đen, bị giới văn hóa và tôn giáo chỉ trích mắng nhiếc, nhiều báo chí sách vở công kích, tin đồn bay khắp nơi, từ việc lớn như ông Lý Diệc Viên của Viện Nghiên cứu Trung ương gán ghép tùy tiện, nói tôi muốn cải cách tôn giáo hoặc có ý đồ khác, đến việc nhỏ như bị côn đồ tống tiền truy sát, thậm chí thấy tôi đi chơi với ai đó cũng lan truyền tin đồn quan hệ không bình thường.

Thành thật mà nói, những sóng to gió lớn mà tôi đã trải qua quả thật không phải tầm thường, người bình thường có lẽ đã bị tức chết rồi, nhưng chỉ có tôi là vẫn thản nhiên tự tại.

Tôi cứ viết sách của tôi, làm việc của tôi, những lời đồn thổi người ta nói sao cũng được, thậm chí viết sách chửi tôi, liên tục mắng nhiếc tôi, tôi có thể tu đến mức không chút xao động, ha ha.

Bậc linh cao trong linh giới nói với tôi: "Tu đạo cho đến lúc không còn lửa, thì gọi là thanh lương. Cõi thanh lương có tên gọi là vì thế, phàm người tu đạo còn có tính nóng tranh đấu, thì không thể đến được cõi thanh lương. Nếu người tu đạo còn có tính nóng, chỉ có thể đến cõi atula, nơi mọi người đua tranh hơn thua, so đo lẫn nhau, không bao giờ có được ngày yên ổn."

Kính gửi lời khuyên này đến Đạo trưởng Ngũ Bội Lâm và chính bản thân tôi.


### 28. Bóng đen của tòa nhà Mai Lý


Ở Hồng Kông có một tòa nhà nổi tiếng, tòa nhà này có lịch sử 139 năm, đó chính là tòa nhà Mai Lý, sẽ bắt đầu phá dỡ vào ngày 2 tháng 11 năm 1982.

Tòa nhà này nổi tiếng không phải vì là một công trình cổ, mà là vì nó được mọi cư dân Hồng Kông biết đến như một ngôi nhà ma ám, các pháp sư từng đến đây làm lễ đều có thể chứng thực điều này.

Tòa nhà Mai Lý tọa lạc tại đầu đường Hoa Viên, khu Trung Hoàn, Trung khu, đối diện khách sạn Hilton.

Tòa nhà Mai Lý đối với người dân Hồng Kông có giá trị hoài niệm vô hạn, bởi trong thời kỳ Nhật chiếm đóng Hồng Kông, tòa nhà này được dùng làm tổng bộ hiến binh, dưới quyền hành tàn bạo của đại đội trưởng Noma Kennosuke, không biết bao nhiêu thường dân lương thiện đã bị đánh đập tra tấn đến chết.

Sau chiến tranh, tòa nhà Mai Lý từng được dùng làm Cục Thẩm định Bất động sản. Theo lời Đại pháp sư Tẩy Trần thượng nhân - người từng làm pháp sự tại Cục Thẩm định Bất động sản - kể với tôi rằng, oan hồn trong tòa nhà Mai Lý rất nhiều, do đều chết thảm nên oán khí không tan, thường xuyên xuất hiện những hiện tượng kỳ lạ, vô cùng đáng sợ.

Oan hồn trong tòa nhà Mai Lý đã trở thành chuyện ai cũng biết, bất kể ngày đêm, các hồn ma đều có thể hiện hình, lơ lửng qua lại trên không trung.

Mỗi năm vào dịp Thanh Minh và Trùng Cửu, nhân viên tòa nhà Mai Lý đều phải làm lễ cúng lớn, với hy vọng an ủi được tất cả các oan hồn.

Theo tin tức báo chí đưa tin, công ty xây dựng phụ trách việc phá dỡ tòa nhà Mai Lý, vì nghĩ đến các oan hồn cõi âm, không muốn gây tội, nên đặc biệt tổ chức pháp sự siêu độ trong lúc phá dỡ, một là để báo trước, hai là cầu nguyện công việc được bình an.

Tòa nhà Mai Lý có một hành lang rất dài, hành lang tối tăm, là nơi hồn ma xuất hiện nhiều nhất. Nghe nói có một vị nam tước người Anh không tin vào chuyện tà ma, cố tình thả bước, đi tới đi lui trong hành lang, quả nhiên chẳng thấy một bóng ma nào. Thế nhưng, ngay khi ông ta vừa mở cửa bước vào nhà vệ sinh, một bóng người áo trắng đứng sẵn bên trong, hai mắt trừng trừng nhìn ông ta, khiến ông ta sợ đến mức tè ra quần.

Từ câu chuyện của tòa nhà Mai Lý, tôi xin đặc biệt nêu ra các điểm chính về khoa học tâm linh như sau:

Thứ nhất, linh hồn chỉ là một dạng khí, vốn vô hình, người thường khó có thể nhìn thấy được. Nhưng nếu linh hồn cố ý muốn hiện hình cho người ta thấy, nhất định phải "mượn thể", như nhập vào đồng cốt, hoặc "mượn khí", hấp thu khí từ người sống để tạo hình. Nếu không có điều này, linh hồn sẽ không thể hiện thân và tạo hình được. Hơn nữa, trạng thái mượn khí để tạo hình cũng giống như không khí vậy, không có thực thể, cũng mông lung hư ảo như khói như sương.

Thực ra người ta không cần phải sợ hãi làn khói sương này, nó cũng không đến mức gây hại cho ai, chỉ là con người từ nhỏ đã bị nhồi nhét tâm lý sợ hãi ma quỷ, thêm vào đó là ảnh hưởng từ phim ma, nên tự dọa mình, tự làm mình hoảng sợ đến ngã bệnh mà thôi. Ma vốn không hại người, mà người tự hại mình.

Thứ hai, linh hồn của người chết bình thường thường có khí tán loạn, việc tụ khí lại càng khó khăn hơn, vì vậy dù là nhà có người chết, nếu là chết bình thường thì hồn ma không thể tụ hình được, nên ở trong đó chắc chắn bình an vô sự.

Nếu người chết là tự sát, chết thảm, chết đột ngột, hoặc chết oan, vì không phải là chết tự nhiên nên sinh lực vẫn còn, linh hồn trong trạng thái căng thẳng và co rút, do đó dễ dàng trộm khí để hiện hình.

Bản thân tôi có mắt thần thông, mỗi khi ở khách sạn, chỉ cần nhìn một cái là có thể đoán được phòng đó có ai tự tử hay không, bởi vì người tự tử có oán khí rất nặng, nỗi đau đớn giãy giụa trước khi chết của họ, thường được oán khí tụ hình và tái hiện trên giường hoặc trong phòng tắm, tôi chỉ cần nhận biết trong phòng có luồng không khí đặc biệt nào tồn tại hay không là được.

Thứ ba, tòa nhà Mai Lý được dùng làm tổng bộ hiến binh, có rất nhiều người bị đánh đập đến chết, những linh hồn này là những linh hồn chết oan, oán khí của họ tự nhiên nặng hơn những nơi khác, việc linh hồn trộm khí để tạo hình tự nhiên tăng lên, vì vậy cơ hội để người ta nhìn thấy cũng tăng theo. Linh hồn muốn đầu thai chuyển thế, nhất định phải đầu thai, điều đó cần phải chờ đợi cơ duyên và thời cơ, trong đó liên quan đến vấn đề nhân duyên và báo ứng, cũng không phải đơn giản là có thể nói rõ được, mỗi một linh hồn đều có số mệnh của riêng mình, cũng giống như con người vậy, mỗi người đều có số mệnh của riêng mình, người người khác nhau, linh linh khác nhau.

Thứ tư, tôi khao khát hòa bình, không muốn chiến tranh, bởi vì chiến tranh mang đến hàng vạn hàng triệu linh hồn chết oan, những linh hồn này đều mang oán khí, khi oán khí của những linh hồn này đầu thai trở lại, khí bạo ngược của nhân loại càng thêm mãnh liệt, do vòng luẩn quẩn độc hại này, thế giới chỉ càng ngày càng tồi tệ hơn, cuối cùng vẫn kết thúc bằng sự báo oán lẫn nhau, những cuộc chiến tranh trong tương lai càng đáng sợ hơn, giống như sự diệt vong của toàn thể nhân loại vậy.

Cá nhân tôi cũng không tán thành án tử hình, bởi vì bắn chết một kẻ xấu, cũng giống như thế gian lại sinh ra thêm một kẻ xấu khác, vì những người bị hành hình đều mang oán khí, khi linh hồn mang oán khí này đầu thai chuyển thế, oán khí vẫn tồn tại, lớn lên vẫn là một kẻ xấu gây hại cho xã hội, cho nên câu nói "hai mươi năm sau lại là một trang hảo hán" không phải là lời an ủi, mà là sự thật.

Thứ năm, từ những điều trên, tôi đặc biệt viết sách tâm linh để khuyên đời, hy vọng thông qua sự tu trì của Linh Tiên Chân Phật Tông để thay đổi lòng người, mượn Phật lực, từ bi lực, thiện nguyện lực của chư Tiên Phật để cứu vớt tâm con người khỏi sự chìm đắm, để chân lý thiện lành và quang minh hiển hiện khắp nhân gian, chuyển hóa khí ác thành an lành, chuyển tà lý thành chính lý, chuyển u tối thành ánh sáng, chuyển tư lợi thành công ích. Đây chính là bản ý và tôn chỉ khi tôi sáng lập Linh Tiên Chân Phật Tông. Để tất cả mọi người nhờ thể nghiệm được cảm ứng của khởi linh, từ đó biết tu mà đạt được mục đích thay đổi lòng người, chuyển ác thành thiện.

Ý nghĩa việc tôi viết sách tâm linh là mượn sự đồng thuận của giới truyền thông và học thuật, thông qua sự chỉ dẫn của các bậc cao linh trên trời, thực hành tu trì, đưa ra những phân tích công bằng khách quan, từ đó phục hồi và thanh tịnh hóa nhân gian.

Tôi cho rằng đây là cuộc đời rất có giá trị, tôi sẽ tiếp tục viết mãi, tôi có lòng tin và kiên trì, trong số đông độc giả, nếu có một người hiểu được tâm ý của tôi, nhờ tu trì Linh Tiên Chân Phật Tông mà đắc đạo, thì việc tôi viết lách không ngừng nghỉ, khuyên răn ân cần này đã có được sự đền đáp và giá trị thực sự.


### 29. Mở thiên nhãn - Đại trí huệ (1)


Một đêm nọ, tôi đứng trên Linh Tiên Các quan sát bầu trời đầy sao. Đêm đó, trời trong xanh, những ngôi sao lấp lánh rải rác khắp bầu trời, vô cùng rực rỡ. Lúc này, làn gió sớm nhẹ nhàng phất qua, tạo cảm giác như muốn cưỡi gió bay đi, toàn thân như lơ lửng bay bổng. Quan sát các vì sao vào ban đêm, thích hợp nhất là khoảng thời gian từ 3 đến 4 giờ sáng, lúc này ánh sao đặc biệt sáng, mây mỏng sương trong.

Tôi quan sát ngôi sao mệnh cung của mình, rồi quan sát những ngôi sao xung quanh, phát hiện những sao xung chiếu đang dần dần rời xa, còn ngôi sao mệnh cung của mình thì cô độc giữa cuộc đời, tỏa ra ánh sáng xanh thẳm, cho thấy đây là khoảng thời gian bình yên nhất, một giai đoạn hoàn toàn không thị phi, không bị quấy nhiễu, một cảnh giới tĩnh tu tuyệt vời, tôi có thể vui vẻ nằm nghỉ, có thể thắp hương tụng kinh chú lâu dài, có thể yên ổn tu tập thiền công, có thể để nguyên thần xuất nhập các cửa huyệt, sống một cuộc đời tự tại vô ngại.

Sau khi quan sát ngôi sao mệnh cung của mình, tôi thấy ở chân trời xa xăm nhất xuất hiện một chòm sao mới, bỗng nhiên tôi rất vui mừng, bởi vì đó là chòm sao của một người bạn cũ. Hai năm trước, chòm sao này bị một lớp sương mờ bao phủ, vận mệnh của người ấy không thể phát triển, liên tiếp gặp khó khăn, nhưng hôm nay chòm sao đã tỏa ra ánh sáng trong trẻo, thật đáng chúc mừng.

Bỗng nhiên, tôi nghĩ đến Ma Ha Song Liên Trì ở thế giới Tây phương Cực Lạc, lúc này ánh mắt tôi bỗng tỏa ra hào quang vàng rực, thị giác đột nhiên chuyển thành thiên nhãn, bầu trời tròn xoe nhanh chóng lùi xa, tất cả các vì sao đều biến mất, hiện ra ngày càng rõ ràng chính là cảnh giới thanh tịnh của Ma Ha Song Liên Trì, nào là ngắm những gợn sóng xanh biếc, nào là ngắm hoa sen tỏa sáng, nào là ngắm làn gió đạo thơm lành, nào là ngắm cõi tịnh thổ vô biên, nào là ngắm tâm hồn thư thái, nào là ngắm sự vô tranh với đời, mười tám đóa sen ấy, đóa nào cũng rực rỡ lộng lẫy, cảnh đẹp cung trời ấy, khí thiêng lan tỏa khắp nơi, có màu hổ phách, có màu gỗ tử đàn, có màu ánh vàng, có màu lưu ly, đan xen rực rỡ, thật là cảnh giới không thể nào diễn tả được!

Thành thật mà nói, tôi đã chán ngán thế gian từ lâu và cảm thấy vô cùng mệt mỏi. Từ khi sinh ra đến nay, tôi đã bị định sẵn một cuộc đời đầy bất hạnh. Tôi luôn có một tấm lòng thiện lương, có thể nói rằng chưa từng cãi vã hay đánh nhau với ai. Thế nhưng, những sự việc và con người xung quanh khiến tôi thấy rằng lòng người sao lại đê tiện và ô uế đến thế. May mắn thay, tôi vẫn giữ được phẩm hạnh trong sạch, và nhờ sống giữa nhân gian mà vẫn giữ được thiện niệm, nên mới có được thiên nhãn.

Tôi muốn thấy cung trời nào, cung trời ấy liền hiện ra. Ví dụ như tôi muốn thấy Thiện Pháp Đường Thiên, Thiện Pháp Đường Thiên liền xuất hiện, muốn thấy Tha Hóa Tự Tại Thiên, Tha Hóa Tự Tại Thiên liền xuất hiện, muốn thấy Thiện Hiện Thiên, Thiện Hiện Thiên liền xuất hiện.

Có người hỏi tôi: "Làm sao để mở thiên nhãn?"
Tôi đáp: "Này bạn, hãy mở rộng tâm mình! Tâm không được hẹp hòi, tâm không được tà vạy, tâm không được độc ác, tâm không được ích kỷ, tâm không được thiên lệch, đó là điều kiện đầu tiên để có thiên nhãn."

Tâm phải rộng lớn, một tâm vô hạn bao trùm toàn bộ cõi trời, tâm phải mênh mông như bầu trời thì mới đủ tư cách có được thiên nhãn. Đáng tiếc thay người đời, một bên muốn có thiên nhãn, một bên tâm địa hẹp hòi, không dung nạp nổi một hạt cát một hạt bụi, tầm nhìn ngắn ngủi, tranh danh đoạt vị, tranh tài tranh thế. Những kẻ tâm địa hẹp hòi như vậy mà muốn có thiên nhãn, thật là như leo cây tìm cá.

Tâm không được tà vạy, tâm tà thì ý tà, niệm không trong không thuần, như sương mù che mắt, như cừu non lạc lối. Ý niệm không chính thì mắt sáng còn không có được, huống chi là thiên nhãn? Nếu kẻ tâm tà mà cũng có thiên nhãn, chẳng phải là chuyện đáng cười sao?

Tâm không được độc ác. Người có tâm độc ác cách xa thiên nhãn tám mươi vạn dặm, thực ra những kẻ như vậy sống trên đời này, ngay cả tư cách làm người cũng không có, lòng dạ như hổ lang, gan ruột như rắn rết, đã sớm đánh mất tư cách có "mắt người", muốn có thiên nhãn, đúng là mơ giữa ban ngày.

Tâm không được ích kỷ. Người có lòng ích kỷ nặng nề, chỉ vì bản thân, không đoái hoài đến sự sống chết của người khác, kẻ có tư tâm đã mất đi gốc rễ của Bồ Tát, không có tâm lợi người tế thế, tâm họ tự nhỏ hẹp, đã là tâm nhỏ, làm sao có được tâm trời?

Tâm không được thiên lệch. Chính niệm chính hành là chính tâm, ưa thích đường tắt là tâm thiên lệch. Điểm này vô cùng quan trọng, thiên nhãn chỉ có thể đạt được bởi người tu tập chân chính, không có đường tắt, người đi đường tắt không thể đắc thiên nhãn.

Để khai mở thiên nhãn, có chú thiên nhãn và phù khai thiên nhãn. Những phù và chú này, tác giả chưa từng dễ dàng truyền cho ai, cho đến nay cũng chưa từng truyền, bởi vì người có thể đắc được phù và chú này phải có đủ tư cách tâm trời trước. Nói cách khác, dù người này hiện tại chỉ là phàm phu, nhưng phải có phẩm cách của thiên tiên, như vậy khi truyền pháp sẽ lập tức đắc thiên nhãn.

Nếu không thì tất cả phải tu luyện từ đầu, ví dụ như dùng công phu thiền định, khai thông điểm nhãn quang trên và điểm nhãn quang dưới. Nếu chưa hợp với thiên tâm, chỉ có thể thấy mơ hồ mà thôi. Muốn thiên nhãn thấy được rõ ràng, nhất định phải có nhân tâm hợp với thiên tâm. Khi đạt đến cảnh giới này, muốn thấy cõi trời nào, cõi trời ấy lập tức hiện ra, hoàn toàn không giả dối.

Một người có linh thể, chỉ cần tập trung toàn bộ linh lực của cơ thể trong lúc tĩnh tọa vận công, tập trung vào ánh mắt, sẽ sinh ra những điểm sáng. Nếu những điểm sáng này tập trung lại thì sẽ tạo thành một hình ảnh phát quang, hình ảnh phát quang này ban đầu còn mờ nhạt, luyện tập lâu dần sẽ trở nên rõ ràng hơn, cần phải luyện đến mức khi nhắm mắt thấy ánh sáng, mở mắt cũng thấy ánh sáng.

Thực ra thiên tâm chính là tần số, nếu nhân tâm hợp với thiên tâm thì người khai mở linh nhãn chỉ cần tập trung linh lực vào ánh mắt, niệm lực thông với thiên tâm, cung trời sẽ hiện ra trên màn ảnh huỳnh quang, muốn thấy cung trời hoàn toàn không có khó khăn gì. Điều kiện thứ nhất là bạn tiếp nhận được tần số của thiên tâm, điều kiện thứ hai là tập trung toàn bộ linh lực vào đôi mắt, trong não sẽ tự nhiên hiện ra màn huỳnh quang của cung trời.

Tôi luôn cảm thấy điều kiện thứ hai tương đối đơn giản, bởi vì người có khả năng khai mở linh nhãn đã rất nhiều, chỉ cần công lực thiền định đủ sâu, sớm muộn gì cũng đạt được linh nhãn, đây là việc cần có bền tâm, lâu ngày tự thành.

Nhưng điều kiện thứ nhất thì vô cùng khó khăn, người đời nay, muốn tìm một người có phẩm chất tiên, có cốt cách tiên, mà người này lại chưa bị nhiễm tập khí nhân gian, quả thật là khó của khó, phần lớn mọi người, tuy có thiện niệm, nhưng lập tức bị ác niệm thay thế, cứ như vậy mà thay đổi thất thường, không lạ gì việc tìm một người có căn khí thiện lại khó hơn cả việc lên trời, muốn khai mở thiên nhãn, nói thì dễ nhưng làm thì khó.


### 30. Quán ánh sáng nội tại - Đại trí huệ (2)


Khi sư phụ Đạo gia của tôi là Thanh Chân Đạo Trưởng đang ẩn tu tại núi Liên Đầu, có một đêm, tôi vào thiền phòng bái kiến sư phụ, thấy sư phụ ngồi trong bóng tối, nhưng quanh thân thể ngài có một lớp hào quang bao phủ, cách thân khoảng một tấc, ánh sáng ấy lờ mờ, như tơ lại như lưới.

Sư phụ thấy tôi vào phòng, vội vàng đứng dậy, vừa đứng dậy thì ánh sáng liền biến mất.

Thanh Chân Đạo Trưởng nói: "Thân thể con người vốn có ánh sáng, Đạo gia gọi là nguyên thần sáng ngời, Phật gia gọi là Phật tính mà ai cũng có sẵn, đây là căn cơ bẩm sinh của mỗi người. Vì vậy việc tu hành của Đạo gia, mục đích cuối cùng chính là trở về thuần phác ban đầu. Người có thể trở về thuần phác ban đầu, tức là đã nhận ra con đường mình đến từ đâu, từ đó buông bỏ mọi duyên nhiễm của thế tục, để quay về nơi chốn ban đầu."

Sau đó, tôi gặp một người có khả năng tự phát sáng từ cơ thể, người này vốn không tu đạo, trình độ học vấn không cao, nhưng mỗi khi ngồi ở chỗ tối liền có ánh sáng tỏa ra từ thân thể, ai nấy đều lấy làm lạ, tôi cũng không hiểu tại sao. Về sau khi tôi tìm hiểu nhân quả tiền kiếp của anh ta, mới phát hiện người này là đom đóm chuyển thế, kiếp trước là đom đóm, kiếp này mang theo đặc tính phát sáng tái sinh. Một khi đã hiểu rõ nguyên do thì cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên, những trường hợp đặc biệt như tiền kiếp là đom đóm thật sự hiếm có.

Ngoài ra, cũng có một vị đại sư xuất gia có khả năng phát sáng, hiện nay số người biết ngài có thể phát sáng không còn ít nữa, nhưng ngài không thường biểu hiện, chỉ khi nào vui vẻ, thỉnh thoảng ngài mới phát sáng cho những người nghe kinh xem, mọi người thấy ánh sáng đều cảm thấy rất vui mừng, người được chứng kiến ngài phát sáng không phải chỉ một hai người, mà là rất nhiều.

Theo tôi được biết, vòng hào quang trên đầu của chư Bồ Tát không phải là đặc quyền riêng của chư Phật Bồ Tát, Đức Mẹ Maria, Đức Chúa Trời Jehovah, Chúa Jesus của phương Tây, thậm chí tất cả các thiên thần hiển linh đều có vòng hào quang, vòng hào quang này là biểu tượng của sự tôn quý tột cùng, thể hiện đạo hạnh và quả vị, chỉ cần là những linh hồn cao cấp có thần cách đều có vòng hào quang tỏa ra, không chỉ có vòng hào quang mà còn có thể phóng quang từ tất cả lỗ chân lông trên cơ thể.

Tôi thừa nhận, trong khoảnh khắc nguyên thần xuất khiếu, trên đỉnh đầu ở thiên khiếu sẽ xuất hiện một luồng ánh sáng của nguyên thần, phần lớn có màu tím nhạt, nếu là ánh sáng trắng mạnh mẽ thì công phu tu luyện của người đó quả thật phi thường.

Nguyên thần màu tím nhạt từ từ bay lên cõi trời, du ngoạn khắp mười phương pháp giới, đều có thể tự do tự tại.

Tôi cũng thừa nhận, khi tập trung linh lực vào ngón tay, tôi ra lệnh cho bút, sẽ có một luồng ánh sáng mạnh mẽ chiếu vào giấy bút, khiến giấy bút tràn đầy ánh sáng linh tính, ví dụ như khi tôi ra lệnh cho một tách nước sôi, luồng ánh sáng linh tính sẽ chiếu vào trong nước, khiến nước cũng trở nên có linh lực.

Ví dụ như khi chúng ta khai quang điểm nhãn cho Phật Bồ Tát, trước tiên phải dùng pháp chỉ thanh tịnh để tịnh hóa kim thân (tượng) Bồ Tát, sau đó mới cung thỉnh cao linh Bồ Tát giáng lâm pháp đàn thọ cúng dường.

Về pháp tu toàn thân phóng quang của Đạo gia, tôi đã từng viết trong "Thông Linh Bí Pháp Thư" rằng, đặt lưỡi lên vòm họng, nước miếng sẽ tự nhiên tiết ra trong miệng, quán tưởng bản thân chính là Bổn tôn Phật Bồ Tát với diệu tướng trang nghiêm, toàn thân mọi lỗ chân lông đều tỏa ra ánh sáng rực rỡ, khắp người được bao phủ trong hào quang.

Lúc này dùng mũi hít một hơi khí kim quang vào bụng. Sau đó vận chuyển luồng khí này qua vĩ lư, thẳng lên nê hoàn, xuống đến bảo bình, rồi hít thêm một hơi cương khí, nuốt nước miếng trong miệng xuống, khí và nước miếng hòa trộn tại hoàng đình cung. Lúc này trong tâm thầm niệm một lần chú kim quang: "Thiên địa huyền tông, vạn khí bản căn, quảng tu vạn kiếp, chứng ngã thần thông, tam giới nội ngoại, duy đạo độc tôn, thân hữu kim quang, tráo hộ ngã thân. Thị chi bất kiến, thính chi bất văn, bao la thiên địa, dưỡng dục quần sinh. Thọ trì nhất biến, thân hữu quang minh, tam giới thị vệ, ngũ đế tư nghênh, vạn thần triều lễ, dịch sử lôi thinh, quỷ yêu táng đảm, tinh quái vong hình, nội hữu tích lịch, lôi thần ẩn minh, thông tuệ giao triệt, ngũ khí đằng đằng, kim quang tốc hiện, phú hộ chân nhân."

Đạo gia nuốt nhả cương khí, từng lần một tăng thêm quang thể, quang thể càng lúc càng lớn, đó chính là ánh sáng hiển hiện.

Khi niệm chú kim quang, nên kết thủ ấn, ấn này có tên là ấn hào quang, cách kết ấn là hai tay đều cong ngón giữa và ngón áp út vào lòng bàn tay, ngón cái cong xuống nắm lên trên ngón giữa và ngón áp út. Sau đó duỗi thẳng ngón trỏ và ngón út của hai tay rồi áp sát vào nhau.

Tôi biết rằng, đây là cách tu pháp kim quang hữu hình của Đạo gia, nhưng tu hành cũng có cách vô hình, đó chính là tĩnh tọa và phản tỉnh, phản tỉnh tức là sửa đổi phẩm cách của bản thân, phải biết rằng, chỉ có công lực tu hành bên ngoài thì chưa đủ, càng cần phải có một trái tim quang minh có thể tỏa sáng, tập trung thiện niệm vào một khoảnh khắc tư duy, như vậy ắt sẽ xuất hiện ánh sáng linh tính.

Trong thế giới của con mắt linh, toàn bộ vũ trụ hữu hình đều là những thể ánh sáng, các ngôi sao đều có thể tự phát sáng, các hành tinh và vệ tinh cũng có thể mượn ánh sáng để phản chiếu, trong mắt tôi, mọi vật chất đều có ánh sáng, thân thể con người tất nhiên càng có ánh sáng nội tại, không chỉ thế giới hữu hình đều có ánh sáng, mà thế giới vô hình cũng tràn ngập ánh sáng linh diệu.

Những người không biết tu hành, thường là u ám không có ánh sáng, ích kỷ tư lợi, tranh danh đoạt lợi, chỉ lo cho bản thân, người khác sống chết đều không quản.

Hơn nữa, những kẻ đả kích người khác, âm mưu hãm hại, tâm địa xấu xa, không những không biết tu mà còn gây ra đủ thứ tội ác, những người như vậy trên đầu luôn tỏa ra khí đen.

Tôi khuyên mọi người, tâm địa phải quang minh chính đại, hành vi phải đoan chính, không có ý hại người, tận lực giúp đỡ người khác, mọi việc tùy duyên qua ngày, đối với người thiện thì khích lệ khen ngợi, đối với kẻ ác thì khuyên răn điều thiện. Nếu kẻ ác không tha cho ta, ta phải nhẫn một lần, nhẫn hai lần, nhẫn ba lần. Nếu thực sự không thể nhẫn được nữa, họ vẫn không biết hối cải, lúc đó có thể rút bảo kiếm Kim Cang Vương ra, phải biết rằng, trừ ác tức là hành thiện, khi đã nhẫn đến trăm lần mà kẻ ác vẫn còn hung hăng bức bách, thì không cần phải khách sáo với họ nữa.

Quán ánh sáng nội tại tức là phản tỉnh tĩnh tọa, tu sửa phẩm cách của bản thân, tập trung thiện niệm thì sẽ thành tựu.

Bản thân tôi luôn từ bi tế thế, nhưng sau trăm lần nhẫn nhịn, nếu có kẻ ác bức bách, tôi sẽ thỉnh Hộ pháp Kim Cang Vương Bảo Kiếm, lấy "trừ ác tức là hành thiện" mà mở cánh cửa của Nộ Mục Kim Cang.


### 31. Nghe âm thanh nội tại - Đại trí huệ (3)


Nhiều độc giả hỏi tôi: "Ở Mỹ, thần linh của Mỹ có nói tiếng Trung không?"

Tôi đáp: "Thần linh của Mỹ tất nhiên nói tiếng Anh, Chúa Jesus là người Do Thái, nói tiếng Hebrew, nhưng tất cả những điều đó đều không thành vấn đề. Trình độ tiếng Anh của tôi không được cao lắm, nhưng cũng biết được đôi chút, những từ ngữ chuyên môn và học thuật sâu thì tôi không thể nói được, nhưng những từ thông dụng thì tạm dùng được, thêm vào đó là luyện tập thì sớm muộn gì cũng sẽ thành thạo."

Tôi lại nói: "Cho dù không hiểu gì cả, thì vẫn có thể dùng tâm thông, tâm thông chính là âm thanh nội tại."

Cấu tạo bên trong cơ thể con người vô cùng tinh vi, trong cơ thể có rất nhiều âm thanh. Ngoài tiếng đập của tim ra, còn có tiếng nhu động của ruột, tiếng của khớp xương, tiếng máu chảy, tiếng thở, tiếng của dạ dày, tiếng của thận, tiếng của phổi. Cần biết rằng, các bác sĩ dùng ống nghe để biết được chỗ nào có âm thanh bất thường, từ đó kê đơn thuốc chữa bệnh. Việc nghe âm thanh nội tại này, bác sĩ chữa bệnh chính là dùng loại máy nghe chẩn đoán cơ thể này.

Người học tĩnh tọa, trước tiên phải bắt đầu từ việc lắng nghe "âm thanh nội tại", khi đã vào trạng thái tĩnh lặng, sẽ nghe được tiếng máu chảy trong cơ thể, nghe được tiếng tim đập và hơi thở, ai ai cũng có thể làm được.

Điều quý giá nhất là có thể nghe được âm thanh "hơi thở nội tại" của chính mình, và điều khó khăn nhất là nghe được âm thanh rung động của sóng não, tần số sóng não, sự phát xạ và tiếp nhận của sóng não. Tôi rất thẳng thắn nói với độc giả rằng, có thể biết được sự phát xạ và tiếp nhận của sóng não chính là nghe âm thanh nội tại.

Điều kỳ lạ là "âm thanh nội tại" không đi qua hai tai, khi Bồ Tát muốn nói với chúng ta điều gì, đều đi vào qua sóng não. Cho dù là tiếng Anh, tiếng Hebrew hay tiếng Latin, một khi đã qua sự lọc của sóng não, sẽ trở thành ngôn ngữ mà bạn có thể hiểu được. Đây chính là điều huyền diệu nhất, cũng là điều khó hiểu nhất.

Như thể trong đầu con người tự nhiên có một máy dịch, khi thần linh nước ngoài nói chuyện với bạn, thông điệp phát ra sẽ trở thành âm thanh mà bạn có thể hiểu được.
Tha tâm thông - một trong sáu thần thông của Phật môn, thực chất chính là nghe âm thanh nội tại vậy.

Người biết khởi linh, nếu học thiền định, trước tiên bắt đầu từ quán đếm hơi thở, khi tinh thần đã thống nhất thì gọi là "định", lúc đó có thể cảm nhận được nhịp tim, hơi thở, máu chảy, khớp xương, sóng não, dần dần, bạn có thể nghe được các vị thần linh bên ngoài đang nói chuyện với bạn từ bên trong cơ thể, nói chung đây đều là hiện tượng tốt, không cần phải kinh sợ.

Cái gọi là tẩu hỏa nhập ma, tức là tình trạng thần kinh thất thường, tự nhiên cũng là do âm thanh nội tại bị ma khống chế, những người thần kinh thất thường thường nghe thấy có người nói chuyện với họ, ngày đêm không ngừng, khiến người bình thường bị quấy nhiễu nghiêm trọng, và cuối cùng dẫn đến suy sụp tinh thần.

Nguyên nhân của tẩu hỏa nhập ma thực chất là do "tà tâm chiêu ma", tâm không ngay thẳng trước thì ma mới có kẽ hở để xâm nhập, việc học tĩnh tọa dẫn đến tẩu hỏa nhập ma, tĩnh tọa chỉ là ngòi nổ của tẩu hỏa nhập ma mà thôi.

Tác giả cho rằng, việc nghe âm thanh nội tại có thể tự do kiểm soát, vì vậy có thể phân biệt bình thường và không bình thường như sau:
Tha tâm thông - tự chủ, tâm chính, tự do.
Nhập ma âm - bị khống chế, tâm tà, không tự do.
Người tẩu hỏa nhập ma là người có hiện tượng sóng não rối loạn, không thể tự kiểm soát, liên tục bị âm thanh bên ngoài quấy nhiễu không ngừng, trường hợp nặng sẽ mất ngủ, suy nhược tinh thần, kêu trời gọi đất, thấy ma thấy quỷ. Cách duy nhất để chữa khỏi căn bệnh này là làm cho sóng não trở lại bình thường, giấc ngủ bình thường, thể lực hồi phục, không còn bị linh bên ngoài quấy nhiễu hay nhập vào nữa.

Cho đến ngày nay, chứng rối loạn tinh thần do tẩu hỏa nhập ma vẫn chưa có thuốc chữa, cách duy nhất là dùng thuốc an thần để làm họ bình tĩnh lại, các bác sĩ toàn kê đơn thuốc an thần, trường hợp nặng thì phải dùng điện giật.

Tác giả nhờ ơn sư phụ chỉ dạy, được truyền pháp Thượng yểm, pháp này chuyên trị rối loạn tinh thần và tẩu hỏa nhập ma. Số bệnh nhân tâm thần được tác giả chữa khỏi bằng pháp Thượng yểm nhiều đến nỗi phải dùng tàu hỏa để chở, nhờ vậy mà những người bị tẩu hỏa nhập ma cuối cùng cũng có ngày thoát khổ, thật là nhờ lòng từ bi của chư Phật Bồ Tát.

Theo tôi biết, khi có thể nghe được âm thanh nội tại, chỉ cần nghe được tiếng khớp xương là có thể biết được vận mệnh hiện tại của mình, tiếng khớp xương càng lớn thì vận mệnh càng tốt, tiếng khớp xương càng nhỏ thì vận mệnh càng kém. Muốn biết vận mệnh hiện tại tốt xấu thế nào, chỉ cần lắng nghe âm thanh nội tại của khớp xương, nếu vận khí tốt thì việc gì cũng có thể làm được, mọi thứ đều thành công; nếu vận khí không tốt thì nên thận trọng một chút sẽ tốt hơn.

Người khởi linh vận dụng linh lực vào sóng não, có thể nghe được âm thanh của sóng não trước tiên, ban đầu tạp âm rất nhiều, sau đó càng ngày càng rõ ràng, từ đó có thể tập trung. Muốn biết chuyện trên trời dưới đất, âm thanh nội tại có thể cho bạn biết, không có chuyện gì trong thiên hạ là không biết được, phương pháp tùy ý nghe được âm thanh nội tại này chính là thiên nhĩ thông và tha tâm thông.

Xin hãy ghi nhớ rằng trí tuệ lớn lao của việc nghe âm thanh nội tại này chỉ những bậc thượng căn mới có thể tu tập được. Những người hiểu biết nửa vời hoặc nghiệp chướng nặng nề đều không nên mạo muội, bởi vì nếu tẩu hỏa nhập ma thì không ai có thể cứu được bạn, thật là thảm khốc!
Bản thân tôi ở tận nước Mỹ, nước xa không thể cứu được lửa gần.

Điều đáng cười nhất là có một số người tự cho rằng mình đã được giáo dục khoa học, tự cho rằng khoa học là số một, còn những vấn đề tâm linh hay quỷ thần đều là chuyện hoang đường, chẳng tin gì cả.

Nhưng khi bản thân họ hoặc người thân trong gia đình gặp phải tình trạng tẩu hỏa nhập ma, sợ đến mức cuống cuồng chạy khắp nơi tìm thầy chạy thuốc, và khi mọi phương pháp y học đều bất lực, họ lại quay sang cầu cứu tôi. Tôi chỉ cần ra tay một cái là có thể chữa khỏi.

Những người tự cho mình được giáo dục khoa học, tự coi mình cao quý ấy, đến lúc này mới hiểu ra rằng "trên đời này không thiếu chuyện kỳ lạ". Vì vậy, nhiều nhà khoa học không dám coi thường trí tuệ lớn lao của học thuật tâm linh nữa, và lũ lượt tham gia vào các nhóm nghiên cứu.


### 32. Pháp xuất nguyên thần - Đại trí huệ (4)


Trước khi bài viết đi vào nội dung chính, tôi xin kể một câu chuyện có thật:

Khi tôi còn ở trong nước, nhận lời mời của một vị đại sư xuất gia ở miền Bắc, tôi đến thăm ngôi chùa nơi ngài trụ trì.

Vào buổi tối, khi tôi đang đứng sau chùa thưởng ngoạn cảnh "gió thổi lá reo", "khí chiều chìm núi", một chú tiểu báo tin trụ trì cho mời.

Đến tịnh thất của trụ trì, căn phòng rất tao nhã, có một bức tranh vẽ cảnh Đức Phật trước khi xuất gia cưỡi bạch mã vượt thành, một bức khác là bảo bối thư pháp của danh nhân tặng đại sư, ký tên là tiên sinh Trương Đại Thiên. Tịnh thất của trụ trì được bài trí đơn giản, một giường một bàn ghế học, một tủ sách, một bồ đoàn ngồi thiền, trên tường treo tranh, một bàn trà nhỏ và ghế tiếp khách, chỉ vậy thôi.

Tôi ngồi trên ghế tiếp khách, còn đại sư thì ngồi trên bồ đoàn.

"Thưa ngài Thắng Ngạn, tôi đã đọc qua những cuốn sách tâm linh của ngài," vị đại sư nói.
"Không biết đại sư có chỉ giáo gì?" - Tôi lịch sự đáp.
"Thật lòng mà nói, mong ngài đừng giận, hôm nay tôi mời ngài đến là muốn bàn với ngài một việc." - Đại sư rất lịch sự.
"Xin cứ nói thẳng."
"Những điều ngài viết, tôi không tin, vì vậy tôi mời ngài đến để xin ngài đừng viết về những vấn đề này nữa."
Đại sư nói thẳng vào vấn đề.
Nghe xong, tôi sững người.
Có chút không dám tin vào tai mình.

Đại sư tiếp tục nói: "Ngài nói ngài có thể xuất nguyên thần, đến thế giới Tây phương Cực Lạc nghe Phật thuyết pháp, điều này thật khó tin. Ngài dùng pháp xuất thần của Đạo gia mà lại đến được cõi Phật nghe kinh, điều này căn bản là không thể. Tôi là người xuất gia, năm nay 77 tuổi, xuất gia từ nhỏ, thiền định đã 60 năm, mới tu đến được cảnh giới thứ tư, cảnh giới thứ năm còn chưa đến được, huống chi là cõi Phật. Vậy mà ngài tuổi còn trẻ, công phu còn nông cạn, đã đến cõi Phật rồi về, chẳng phải là đại vọng ngữ sao?"

"Thưa đại sư..." - Tôi vừa định nói thì đại sư đã cắt ngang lời tôi.
"Người trẻ tuổi phải viết thật lòng, không tranh danh lợi, và phải tránh nói những lời hư dối. Tôi lo rằng một người tài như ngài mà phạm vào ngũ giới, tương lai sẽ đọa vào địa ngục vô gián."
"Đại sư mời tôi đến đây, là để cứu độ tôi."
"Đúng vậy, đó là lý do tôi đặc biệt tiếp đãi ngài, tôi cũng sẵn lòng thu nhận ngài làm đệ tử."

Tôi lặng lẽ lắng nghe những lời của đại sư, trong lòng vô cùng cảm khái. Dù sao những điều tôi viết quả thật quá táo bạo và khác thường, nhưng tôi luôn cố gắng tìm nhân chứng, địa điểm và sự việc cụ thể để làm bằng chứng. Thế mà khi nói sự thật như vậy vẫn bị hiểu lầm, tôi còn biết nói gì nữa.

Độ chúng sinh thật là khó quá.

Thấy tôi không nói gì, đại sư lại hỏi: "Ngài có tin rằng tôi có thể đến được cõi trời thứ tư không?"
"Tôi tin." - Tôi thấy đỉnh đầu đại sư tỏa ánh sáng đỏ, biết ngài là một cao tăng có đạo hạnh.

Đại sư nói với tôi: "Tôi có thể làm một chứng nghiệm cho ngài xem, tôi sẽ xuất nguyên thần lên cõi trời thứ tư, rồi mang một vật chứng về cho ngài xem, như vậy sẽ có bằng chứng để tin." Ngài giơ hai bàn tay không ra cho tôi xem.
"Được thôi! Xin mời đại sư đi trước." - Tôi lấy bút máy ra, vẽ một đường đen trên mặt đất.

Đại sư nhanh chóng nhập định bằng pháp quán tưởng, đỉnh đầu tỏa ánh sáng đỏ, tôi thấy nguyên thần của đại sư từ từ bay lên không trung. Lúc này, dù thân xác đại sư vẫn ngồi yên nhưng nguyên thần đã du hành đi xa. Nguyên thần của đại sư lướt đi như rồng bay, đến một nơi bỗng thấy phía trước có một con sông nước đen cản đường. Đại sư do dự một lúc, nói: "Con đường mây này ta đã qua lại nhiều lần, sao hôm nay lại xuất hiện một con sông trời nước đen này". Nhưng với đạo hạnh cao thâm của mình, ngài đặt chiếc tích trượng ngang qua mặt sông, hóa thành một cây cầu, và như thế đã vượt qua được con sông trời nước đen.

Đại sư đi vào cung trời cõi thứ tư, trực tiếp vào nội viện thiên cung, bái kiến Đại Phạm Thiên Vương, thong thả dạo bước trong đại điện thiên cung, thấy trên bàn thờ có một viên ngọc, tiện tay nhặt lấy, rồi rời khỏi nội viện thiên cung, lại vượt qua sông trời nước đen, trở về tịnh thất nơi chùa mà ngài trụ trì.

Nguyên thần nhập vào nhục thân của đại sư, chẳng bao lâu sau, đại sư hoàn toàn tỉnh táo.
Đi rồi về như vậy chỉ mất có mười bốn phút.
"Thưa ngài Thắng Ngạn, tôi đã lấy được một viên ngọc từ cõi trời thứ tư." - Đại sư tươi cười xòe hai bàn tay ra, nhưng nụ cười nhanh chóng đông cứng trên môi.
Trong tay ngài, rõ ràng là một cây bút máy.

"Sao lại là một cây bút máy? Cây bút này của ai vậy?" - Đại sư kinh hoàng hỏi.
"Của tôi." - Tôi đáp - "Trên bút có khắc ba chữ Lư Thắng Ngạn, mời ngài xem thử."
Quả nhiên, trên đó có khắc tên tôi bằng màu trắng, đúng là cây bút của tôi.

Đại sư chợt tỉnh ngộ, lại nói: "Thế còn con sông trời nước đen kia!"
Tôi chỉ vào vệt đen trên mặt đất, chính là đường thẳng mà tôi đã dùng bút vẽ trước đó.
Lần này đại sư im lặng rất lâu.
Sau đó đại sư mới nói: "Thì ra quả thật là có bản lĩnh thật, chúng tôi đã hoàn toàn hiểu lầm rồi. Nhưng mà, làm sao có thể như vậy được, làm sao có thể như vậy chứ!"

Đại sư lại nói: "Trước đây thật sự không biết, giờ đã biết rồi, nhưng lại không biết phải làm sao. Lần này tôi mời ngài đến đây, thực ra là vì nhận lời ủy thác của nhiều bậc đại đức xuất gia và tại gia, họ mong ngài từ bỏ việc viết lách. Giờ tôi đã hiểu ra, nhưng các vị đại đức ấy chưa chắc đã tin và thông cảm được, ngài hãy tự lo liệu cho mình."

Sau này tôi mới hiểu ra, vì những cuốn sách tâm linh tôi viết đã gây chấn động quá lớn, rất nhiều người đã đọc sách của tôi, khiến nhiều người trong giới tôn giáo cảm thấy bất an. Vì thế họ đã nhờ một vị đại sư mà tôi vô cùng kính trọng đứng ra thuyết phục tôi, hy vọng từ đó tôi sẽ ngừng viết, không còn bàn về những việc tâm linh nữa. Đó chính là lý do vị đại sư này mời tôi đến.

Chuyện quá khứ này, ban đầu tôi không muốn viết ra, nhưng khi viết về pháp xuất nguyên thần, lại nhớ về những chuyện xưa trong nước, một là vị đại sư đã viên tịch, hai là giới tôn giáo không còn phản đối mạnh mẽ như trước nữa, ba là bản thân tôi cũng đang ở nơi xa xôi nước ngoài, nên tôi đã kể lại mọi chuyện một cách thành thật.

Pháp xuất nguyên thần vốn là hữu danh vô thể, nhưng khi thoát khỏi những ràng buộc thường tình, nó lại trở nên vô cùng rộng lớn.

Ban đầu, nguyên thần chỉ du hành trong thân thể, giống như đang mơ vậy. Về sau, nguyên thần chỉ xoay vần ở đỉnh đầu, cũng chưa thể rời xa, nếu chỉ xoay vần ở đỉnh đầu thì đó là trạng thái như huyễn tựa thật.

Phải nhớ "ước hành thác sự", một niệm quán chiếu mười pháp giới, xem mười pháp giới như là một, thể hội rằng toàn bộ pháp giới đều không, bản thân đều giả, như vậy mới có thể đột phá đỉnh đầu.

Đây gọi là không thể nhận biết, không thể diễn tả.

Cái gọi là "ước hành thác sự" chính là "mật ngữ", tức là thỉnh chư Phật Bồ Tát thả thuyền pháp xuống, dùng pháp song chiếu để nhập vào cảnh giới bất tư nghì, như vậy mới có thể chứng nhập được.

Nói chung, pháp song chiếu nếu không có đại trí huệ thì không thể đạt được, bởi vì "nhất niệm thiên cảnh" là một loại mật thuyết, đã là mật thuyết thì người thường căn bản không thể hiểu được, chỉ có thể "dựa theo tướng" để giải thích một cách phiến diện, không thể diễn giải hết toàn bộ chân nghĩa.

Tác giả đã dùng một câu chuyện ở phần đầu bài viết này để giải thích, nhằm giúp độc giả hiểu rõ về cảnh tượng xuất thần.

Gần đây nghe nói giới khoa học cũng bắt đầu thí nghiệm về xuất thần, họ sử dụng phương pháp thôi miên, hoặc dùng thuốc tác dụng mạnh, để giúp thần thức du hành trong không gian, các nhà khoa học ngày càng chú trọng đến những hiện tượng tâm linh.

Nhưng tôi cho rằng ép buộc bằng thuốc chỉ là cưỡng bách thân tâm phân ly, không có chỗ dựa không có trí tuệ, không thể tự chủ, tuy có con đường nhưng không thể lập ra được một hệ thống lý luận mạnh mẽ, bởi vì mỗi người thấy mỗi khác, làm sao có thể đi đến kết luận chung?

Pháp xuất nguyên thần vốn là đại trí huệ, nếu như mọi người có thể thâm nhập kinh tạng, có thể dùng tâm quán hành, người tu ngày càng đông, có thầy có thể truyền thụ, chính pháp lập luận, có thể nói, nương theo pháp này cũng có thể vào cõi Phật, nương theo pháp này tự có thể lên cõi trời, ai ai cũng đều đạt được quả chứng.

Tôi biết trong nước có nhiều người đã tu đến cảnh giới này, cũng biết nước ngoài cũng tự có người có khả năng.

Khả năng xuất nguyên thần vốn là "sự giác ngộ vi diệu", dù đang ở cõi người, cũng như cõi Phật vậy, phiền não chướng ngại của thế gian dù vô biên vô tận đều có thể nhìn thấu, đây chính là "tâm tính tịch diệt, ảnh hiện mười phương."

Mong rằng chư độc giả chúng sinh lĩnh hội được đạo này.


### 33. Một sợi dây nối duyên phận vạn dặm


Chuông điện thoại nhà tôi ở Mỹ reo vang.

Người gọi đến tự xưng họ Tô, ông ấy nói với tôi rằng ba năm trước từng đến thăm nhà tôi ở Đài Trung, một tuần trước đã sang Mỹ, hiện đang ở thành phố Tacoma thuộc bang Washington, và bây giờ muốn đến thăm tôi ngay.

Vì vậy, tôi đã chỉ đường cho ông ấy, từ chỗ ông ấy lái xe đến nhà tôi mất khoảng một tiếng rưỡi, đi theo đường cao tốc đến lối ra 172, rẽ về hướng Tây khoảng mười phút, tìm đến ngã tư đường 75 và đường số 10 là đến tệ xá.

Hôm đó, trời rất lạnh, bên ngoài mưa phùn, nhiệt kế chỉ 2 độ, lúc chiều tối, trời xám xịt, ông Tô cùng anh trai và cha của ông ấy đến thăm, còn dẫn theo hai đứa trẻ, là con của anh trai ông ấy, cả hai đứa đều còn rất nhỏ.

Vừa gặp ông Tô, tôi không thể nhớ ra ông ấy là ai (tệ xá mỗi ngày có hàng trăm khách đến, không thể nhớ hết được, mong thứ lỗi), ông Tô viết ra tên của mình, họ Tô tên Huỳnh Phong, anh trai ông ấy tên là Tô Minh Xán, họ nhờ tôi xem tướng số.

Tôi nói: "Duyên phận của Tô Huỳnh Phong rất phức tạp, có dấu hiệu ly hôn xuất hiện."
"Tôi đã ly hôn một lần rồi." - Tô Huỳnh Phong nói.
"Duyên phận hiện tại của anh ở Mỹ." - Tôi nói.
"Ba ngày trước tôi mới đi xem mắt một lần."
Tô Huỳnh Phong hỏi: "Tôi có thể định cư ở Mỹ không?"
Tôi đáp: "Phải qua kỳ thi đã."
"Đúng quá, tôi đang chuẩn bị đi thi." - Cha và anh trai ông ấy đứng bên cạnh đều cảm thấy kinh ngạc vì sự chính xác.

Đến lúc này Tô Huỳnh Phong mới lấy từ trong túi ra một tờ giấy, đó là lá số mà tôi đã xem cho ông ấy hai năm trước, trên đó viết: "Duyên phận ở hải ngoại, hai năm sau gặp lại."

Ông ấy kể với tôi rằng, hai năm trước khi đến cho thầy Lư xem, thầy nói duyên phận của ông ấy ở Mỹ, và còn nói hai năm sau sẽ có duyên gặp lại. Lúc đầu nghe thấy vậy, Tô Huỳnh Phong hoàn toàn không tin, bởi vì ông ấy chưa từng nghĩ đến việc sang Mỹ, làm gì có duyên phận ở Mỹ? Làm sao có chuyện gặp lại tôi được?

Nào ngờ khoảng một tháng trước, anh trai ông ấy hợp tác với người khác kinh doanh nhà nghỉ và nhà hàng ở Tacoma, thế là cả nhà chuyển đến Mỹ sinh sống. Anh trai ông ấy lại giới thiệu cho ông một cô gái có phong thái đoan trang ở Mỹ, vì vậy Tô Huỳnh Phong mới từ Đài Loan bay sang Mỹ để xem mắt. Lúc này, Tô Huỳnh Phong mới nhớ ra lời đoán thần kỳ của tôi hai năm trước, tìm lại tờ giấy phê mệnh cũ, và quả nhiên hai năm sau chúng tôi đã gặp lại nhau ở Mỹ.

"Thật không thể tin được, chính xác đến vậy."
"Vâng, đúng thật." - Tôi nhìn lại bản phê mệnh hai năm trước, cũng ngẩn người.
"Ông Tô làm nghề gì vậy?" - Tôi hỏi.
"Tôi là bác sĩ."

À! Là bác sĩ, hèn gì ông Tô bác sĩ muốn định cư ở Mỹ nhất định phải qua kỳ thi, tất cả các bác sĩ từ nước ngoài đến Mỹ đều không thể hành nghề ngay, mà phải thi đậu mới được cấp lại chứng chỉ hành nghề.
Ở Mỹ, bác sĩ và luật sư là hai ngành nghề được mọi người kính trọng.

Lúc này, ông Tô Minh Xán cũng hỏi tôi về tình hình kinh doanh nhà nghỉ và nhà hàng của mình, những gì tôi đoán đều linh nghiệm lạ thường. Vì quá chính xác, nên cha của ông ấy cũng hỏi một số câu hỏi, hóa ra cha ông ấy là một Phật tử thuần thành, đã nhiều năm theo học kinh Phật với cư sĩ Lý Bỉnh Nam tại Phật Liên Xã và thư viện Từ Ân ở Đài Trung. Họ cũng thắp hương lễ bái Phật A Di Đà và Địa Tạng Vương Bồ Tát tại tệ xá.

Đối với hiện tượng "đoán linh nghiệm" này, có ba điều cảm nhận:

Thứ nhất, duyên phận nghìn dặm không có gì lạ, điều kỳ lạ là "duyên phận vạn dặm". Từ Đài Loan đến Mỹ xa xôi dường nào, vậy mà tôi dám đoán rằng duyên phận của Tô Huỳnh Phong ở Mỹ, thật là táo bạo, bởi vì Tô Huỳnh Phong quả thật chưa từng đến Mỹ, ngay cả trong mơ cũng không nghĩ rằng duyên phận sẽ ở nơi xa vạn dặm, nhưng lúc đó tôi đã chỉ ra như vậy, không trách Tô Huỳnh Phong lúc đầu lắc đầu không tin.

Thứ hai, một tháng trước, anh trai ông ấy là Tô Minh Xán mới chuyển đến Mỹ, trùng hợp hơn nữa là đến thành phố Tacoma thuộc bang Washington, chỉ cách chỗ tôi ở có một tiếng rưỡi lái xe, sự trùng hợp này mới ứng nghiệm với lời tiên đoán hai năm sau gặp lại.

Phải biết rằng nước Mỹ có hàng chục tiểu bang, từ New York bay đến Seattle mất năm tiếng, từ Trung tâm Không gian Houston bay đến Seattle cũng mất năm tiếng, từ Los Angeles bay đến Seattle cũng phải mất hai tiếng rưỡi. Cùng sống ở Mỹ, nếu không ở gần nhau thì cũng không thể nào gặp mặt được, vậy mà Tô Huỳnh Phong hai năm sau quả nhiên gặp lại, há chẳng phải là điều kỳ diệu sao.

Thứ ba, có rất nhiều ví dụ về sự ứng nghiệm của việc thần toán, nhưng vì chúng khá giống nhau nên không tiện viết dài dòng, chỉ chọn ra một vài trường hợp có tính đặc thù để giới thiệu, cũng để độc giả hiểu được những điều kỳ diệu của linh giới.


### 34. Thư của Trương Hoàng Minh và người khác


Một trong những học trò của tôi là Trương Hoàng Minh, gửi cho tôi một bức thư với nội dung như sau:

*Ân sư từ bi soi xét:*

*Đệ tử Hoàng Minh, hàng ngày đảnh lễ, cầu chúc Thầy nơi xa xôi thân tâm an lạc, vạn sự cát tường.*

*Thưa thầy, thầy là một con thuyền pháp lớn, là con thuyền từ bi. Với tấm lưới cứu độ chúng sinh, thầy đã vượt qua biển khổ nhân sinh. Tung lưới phía Đông, rồi phía Tây, rồi phía Nam, rồi phía Bắc, khắp tám phương, không ngừng nghỉ, phổ độ khắp thế giới, chịu đựng vất vả, thật là nhọc nhằn. Với tấm lòng từ bi, cứu độ chúng sinh khắp thiên hạ, hoằng dương chính pháp, khiến cho những kẻ u mê tăm tối được giác ngộ.*

*Hiện nay vượt biển xa xôi, vẫn luôn nghĩ đến chúng sinh, đến Seattle tiếp tục gánh vác trọng trách, phổ độ những người có duyên phương Tây, khiến chúng sinh đều được tắm trong ánh sáng Phật pháp, tiến tới thực hiện lý tưởng thế giới đại đồng.*

*Ngày xưa, thầy sinh ra trước tấm bản đồ thế giới, nhìn chăm chú vào bản đồ, yêu thích ánh sáng, đó là vì thầy sẽ mang ánh sáng đến cho thế giới.*

*Mỗi khi nghĩ đến ân sư chịu đựng mọi gian khổ, vì đại chúng mà giải tỏa khổ não và mê hoặc, ngày đêm vất vả, đệ tử phải cố gắng gánh vác, nhưng tiếc rằng năng lực có hạn, chưa thể hoàn hảo, thật là hổ thẹn. Chỉ có thể cố gắng hết sức, cảm ơn ân sư nhiều năm qua không mệt mỏi dạy dỗ, xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc.*

*Chia tay ở sân bay, lưu luyến không rời, các đệ tử nước mắt đầm đìa, mắt đẫm lệ nhìn nhau, thầy khóc, đệ tử cũng khóc, trời cũng mưa. Thời gian trôi thật nhanh, mây trắng vội vã trôi. Các sư huynh đệ gửi thư gửi điện, đều nhận được thư hồi âm chỉ dạy của thầy, đệ tử cũng vui mừng cho các sư huynh đệ. Khi đọc thư thầy, như được gặp ân sư, biết thầy mọi việc đều tốt, Phật Thanh và Phật Kỳ học hành tiến bộ, Sư Mẫu tăng được sáu ký, tất cả đều vui mừng vỗ tay chúc mừng.*

*Sư huynh Hồng đã gửi cuốn "Thông Linh Bí Pháp Thư" đến nhà xuất bản Thế Giới Doanh Nghiệp, sẽ sớm được xuất bản. Từ Mỹ đã gửi về nhiều loại pháp Đà-la-ni, các đệ tử lại được học thêm nhiều bí pháp mới, thật vô cùng cảm tạ thầy. Vào ngày sinh nhật thầy, mọi người đều đến chúc mừng, tụng kinh tiêu tai tăng thọ chúc mừng sinh nhật, gửi điện chúc mừng sinh nhật, số tiền mừng còn lại năm nghìn đồng đã được trao hết cho mẹ của thầy.*

*Năm nay pháp hội do sư huynh Trang Hoàng Du tổ chức, rất trang nghiêm và thành công viên mãn, số người tham dự ít hơn những năm trước. Cao Hùng và Gia Nghĩa đều vắng mặt, Đài Bắc chỉ có vợ chồng Lâm Khánh Minh đến, Chương Hóa thiếu một sư huynh là Lâm Thông Nhân. Pháp hội lần này trang thiết bị đầy đủ, lều trại cao ráo, cơm trưa và điểm tâm đều tự nấu tự bán, còn có quay phim tại chỗ, đệ tử lại tặng mọi người huy hiệu hoa sen xanh. Sau khi pháp hội kết thúc, mọi người cùng nhau dọn dẹp hiện trường. Rất cảm ơn ân sư đêm đến xuất thần quang lâm đạo tràng, độ cho tổ tiên của các thiện tín vãng sinh tịnh thổ, khiến cho hoa sen nở rộ từng đóa, mỗi chiếc lá đều thấy được Như Lai.*

*Hiện nay đệ tử nhờ phước đức của thầy, ra ngoài xem phong thủy hoặc ở nhà bói quẻ, đều rất chuẩn và linh nghiệm, điều kỳ diệu liên tiếp xảy ra, phép lạ rất nhiều, người đến như nước triều dâng. Tất cả đều nhờ công ơn của thầy đã nhiều năm nạp năng lượng cho cái "bình ắc quy" này của con, thật cảm tạ ân sư và thần lực gia hộ của chư Phật Bồ Tát.*

*Con làm việc hàng ngày, ngay cả đêm khuya đôi khi còn đi tuần ở nghĩa trang, vì vậy lá thư này hỏi thăm muộn, mong thầy tha thứ, lại tha thứ, và tha thứ thêm một lần nữa, hy vọng thầy không phiền lòng.*

*Đệ tử dự định hàng tháng cúng dường thầy, tấm lòng nhỏ bé, xin thầy vui lòng nhận cho. Thời gian qua bận rộn chạy ngược chạy xuôi, lâu không cầm bút, nếu trong thư có chỗ nào văn từ không thông, mong ân sư rộng lòng chỉ bảo.*

*Kính chúc Phật an.
Hoàng Minh cúi lạy.*

🌟

Về bức thư của Trương Hoàng Minh gửi đến, tôi xin giải thích một vài điểm như sau:

Thứ nhất, việc tôi đến Mỹ là theo chỉ dẫn của chư Phật Bồ Tát. Bởi chư Phật Bồ Tát đã từng dạy "tránh xa ngôi sao rắn độc", như đã đề cập trong phần trước của sách này. Người phụ nữ này còn độc ác hơn cả đàn ông, dùng chiêu thức "mưa hoa khắp trời" để phỉ báng. Tôi vốn không sợ, nhưng Bồ Tát bảo tôi phải rời khỏi vòng thị phi ngay lập tức, không cần phải gánh tội thay cho chồng của cô ta, lại còn phải chịu sự phỉ báng độc ác. Giờ đây tôi đã rời đi, không biết những lời đồn đại của cô ta sẽ tự biện minh thế nào.

Bồ Tát cũng dạy rằng, nếu người phụ nữ này còn tiếp tục hung hăng, có thể thỉnh cầu Mật Tích Kim Cang để trừ tận gốc cái ác.

Thứ hai, việc tôi đến Mỹ vẫn là theo chỉ dẫn của chư Phật Bồ Tát. Chư Phật Bồ Tát cho rằng Mỹ là một đạo tràng lớn, và chỉ dạy thành lập Linh Tiên Tinh Xá tại đây, Linh Tiên Chân Phật Tông ở Mỹ nhất định sẽ phát triển rực rỡ. Theo tôi được biết, Linh Tiên Chân Phật Tông không chỉ phát triển ở Mỹ, mà cuối cùng cả châu Âu, Nhật Bản và khu vực Đông Á đều sẽ quy y.

Thứ ba, sau khi pháp hội kết thúc một tháng, tôi vẫn chưa nhận được báo cáo kết quả pháp hội, cả ba vị đồng chủ trì đều chưa gửi thư.

Thực ra tôi không yêu cầu họ phải báo cáo gì cả, chỉ là tôi nghĩ, trước khi pháp hội các vị gọi điện xin chỉ dạy, sau khi pháp hội xong, đương nhiên phải có hồi báo, đây là phép lịch sự cần có, ba vị đứng tên đều là người lớn, không phải trẻ con, sao lại không hiểu điều này.

Tôi cho rằng, về mặt trong nước thì để Trương Hoàng Minh phụ trách Phật sự, sau này không cần gọi điện xin chỉ dạy hay hồi báo nữa, tránh được nhiều phiền phức, các sư huynh đệ cứ giúp đỡ anh ấy là được.

Việc in kinh sách và từ thiện cứu tế vẫn có thể tiếp tục tiến hành.

Thứ tư, một trong những điều tốt khi tôi ở Mỹ là không bị ai quấy rầy, có thể tận dụng thời gian triệt để, chuyên tâm viết lách, công phu thiền định cũng tiến bộ rất nhiều, giúp ích cho việc tĩnh tu của bản thân.

Chư Phật Bồ Tát cũng thường xuyên giáng lâm chỉ dạy, ở nơi đông người thì thị phi càng nhiều, quả thật là chân lý muôn đời.

Khuyên tất cả những người tu đạo, ở nơi tĩnh lặng tốt hơn là ở chốn ồn ào.


### 35. Tứ phương tăng ích pháp


Khi tôi ở trong nước, có một vị giáo sư thờ Phật cực kì kiền thành đến thăm. Ông ấy nói với tôi: 
"Thổ Địa Công không thể tin."
Tôi hỏi ngược lại ông ấy:
"Vì sao?"
"Miếu Thổ Địa Công ở đầu ruộng cuối ruộng đều có, thậm chí trong các cửa hàng, nhà nhà đều thờ cúng Thổ Địa Công, miếu Thổ Địa Công lớn nhỏ khác nhau, có một số miếu căn bản không hề trang nghiêm, tùy tiện dùng mấy viên gạch, một chút xi-măng thế là đã xây được một ngôi miếu, trong thiên hạ lấy đâu ra nhiều Thổ Địa Công như vậy, lẽ nào chỗ mà những thần đó sống còn rách nát hơn cả con người sao?"

Nghe lời ông ấy nói cũng có một vài đạo lý, nhưng sự thật không hoàn toàn như vậy. 
Tôi nói:
"Trong thế giới của linh là thiên kỳ bách quái, Thổ Địa Công sống trong nhà nát, nhưng vẫn có những người lạy hòn đá, lạy cái cây đó thôi!"
"Việc này giải thích thế nào đây?"
"Linh giới có một kiểu hiện tượng rất kỳ quái, là vì con người đã muốn cầu linh đến trước. Hòn đá ban đầu không có linh, là con người đã thờ hòn đá trước sau đó hòn đá mới có linh; cái cây ban đầu không có linh, là do con người thờ cái cây trước thì cây mới có linh khí. Thổ Địa Công cũng như vậy, con người thờ cúng Thổ Địa Công trước sau đó Thổ Địa Công mới chiêu cảm mà đến, thậm chí từ đây có thể suy rộng ra, con người cúng bái Phật Bồ Tát, Phật Bồ Tát vì chiêu cảm mà đến. Miếu có lớn nhỏ, có trang nghiêm có không trang nghiêm, thế nhưng đạo lý chiêu cảm là như nhau. Một người hoàn toàn không tin, linh của linh giới vì không có sự chiêu cảm cũng sẽ không chủ động đến thân thiết với người đó. Ngược lại, một người tin vào thần linh, cảm ứng của người đó sẽ càng ngày càng nhiều, bởi vì càng có sự chiêu cảm nên linh càng có thể đến thân thiết với họ."

Tôi lại nói:
"Linh giới có cao có thấp, có linh lực cao, có linh lực thấp, linh lực của Thổ Địa Công không cao, vì thế mà gửi thân vào miếu nhỏ không trang nghiêm, còn trong hòn đá, cái cây, núi sông, mầm mạ đều là các loài tinh linh, những linh này đều không nhất định sẽ hại người, có một số linh cũng giúp con người, ví dụ như Thổ Địa Công là một dạng linh giúp con người."

"Cách giúp người ra sao?"
"Có người kể rằng Thổ Địa Công có thể giúp người ta phát tài, nói rằng ở cửa nhà của những người giàu có luôn có mấy vị lão công công râu trắng ngày đêm vận chuyển vàng bạc châu báu đi vào cửa. Nếu ông tôn kính Thổ Địa Công, Thổ Địa Công cũng sẽ giúp đỡ ông, sẽ luôn khiến cho vận khí của ông nhiều lên, không bệnh không đau, nhiều phúc nhiều thọ."

"Ngài nói như vậy là thật hay giả đó?"
"Đương nhiên là thật rồi, tôi thường dùng một loại bí pháp để giúp người, phương pháp này chính là mỗi một người đều có linh tính của người đó, nếu linh tính này tương hợp với linh tính của Thổ Địa Công ở phương Đông thì thờ Thổ Địa Công ở phương Đông, chắc chắn được giúp ích, người có linh tính phương Tây thì thờ Thổ Địa Công phương Tây, người có linh tính phương Nam thì thờ Thổ Địa Công phương Nam, người có linh tính phương Bắc thì thờ Thổ Địa Công phương Bắc. Đây gọi là pháp tăng ích bốn phương."

Người tuổi chuột nên thờ Thổ Địa Công hướng Đông Nam. 
Người tuổi trâu nên thờ Thổ Địa Công hướng Đông Nam. 
Người tuổi hổ nên thờ Thổ Địa Công hướng chính Nam. 
Người tuổi thỏ [mèo] nên thờ Thổ Địa Công hướng Tây Nam. 
Người tuổi rồng nên thờ Thổ Địa Công hướng Tây Nam. 
Người tuổi rắn nên thờ Thổ Địa Công hướng chính Tây.
Người tuổi ngựa nên thờ Thổ Địa Công hướng Tây Bắc. 
Người tuổi dê nên thờ Thổ Địa Công hướng Tây Bắc. 
Người tuổi khỉ nên thờ Thổ Địa Công hướng chính Bắc. 
Người tuổi gà nên thờ Thổ Địa Công hướng Đông Bắc. 
Người tuổi chó nên thờ Thổ Địa Công hướng Đông Bắc. 
Người tuổi lợn nên thờ Thổ Địa Công hướng chính Đông. 
Ngũ Lộ Phúc Thần ai ai cũng có thể thờ không có gì kiêng kỵ.

Nếu không có miếu thờ, chỉ cần quay về phương hướng hợp với mình, rất kiền thành chắp tay cúi lạy, hoặc dùng hương, hoa, quả, đường để cúng đều được. Nói chung thần của linh thấp đa số là ăn cơm canh, dùng cơm và thức ăn để cúng cũng được. 

Tôi thường dạy người ta dùng Tứ Phương Kim và Như Ý Kim, Thất Phật Kim cùng đốt thì hiệu ứng càng lớn. Thất Phật Kim và Như Ý Kim đều được niệm qua chú Đại Bi đà-la-ni là pháp đà-la-ni tăng ích, Thất Phật Kim và Như Ý Kim ở cửa hàng Thành Ích số 55 đường Đại Nhân thành phố Đài Trung có bán. 

Bao nhiêu năm nay, tôi dạy người ta pháp này, rất nhiều người đã thu được lợi ích, nhưng xem ra chỉ có một mình tôi dạy người ta pháp này. Thổ Địa Công tuy là tiểu thần tiểu linh, nhưng đích thực có thể giúp người, rất có ích.

Sau khi tôi đến Mỹ, ở nước Mỹ có miếu Thổ Địa Công không?
Nước Mỹ có nhiều nhà thờ, cứ vài con phố là lại có một nhà thờ, thật ra nhà thờ cũng có linh ở đó, linh đó là do những tín chúng ở trong nhà thờ đó chiêu cảm mà đến. Tôi là một người thông linh, tự nhiên có thể nhìn thấy sự tồn tại của họ.

Nước Mỹ không có Thổ Địa Công, nhưng tôi y theo tập tục của Trung Quốc chúng ta, vẫn cứ là đi vào nhà thì lạy chủ đất (chủ nhân của linh của ngôi nhà), vốn dĩ là hai con ma già người Mỹ. Ban đầu hai con ma già người Mỹ này rất tức chúng tôi (phân biệt chủng tộc), sau đó trải qua một màn cúng tế lôi kéo (người có sữa tức là mẹ), họ cũng ngoan ngoãn vâng lời, mọi điều tôi cầu xin đều có thể thành hiện thực.

Có một lần, trong lúc cúng tế, tôi nhìn thấy một vị cụ già râu bạc đi vào hưởng đồ cúng, tôi vừa nhìn thấy thì kinh hoàng, sao mà Thổ Địa Công của Trung Quốc cũng di cư đến Mỹ rồi. Tôi nhìn kĩ hơn thì không nén nổi niềm thất vọng lớn, vẫn là cái người mũi cao mắt xanh, không ngờ là ông già Noel đã đến. 

Thế nhưng, pháp tứ phương tăng ích này ở nước Mỹ vẫn cực kì hữu hiệu, đúng là kỳ tích.


### 36. Tâm sự từ Seattle - Bút ký tu linh


🌟 Mưa Seattle

Mưa ở Seattle cứ muốn đến là đến, trước tiên là một đám mây kéo tới trên trời, rồi bầu trời tối sầm lại, những hạt mưa bụi cứ thế rơi xuống, mang đến cho người ta một cảm giác buồn man mác.

Đứng bên cửa sổ, những bông hoa trong sân trước nhà rực rỡ vô cùng, cỏ càng xanh hơn, những giọt mưa đập vào hoa, vào lá cây, khiến chúng không ngừng gật đầu.

Tôi rất thích mưa, luôn cảm thấy mưa là thông điệp từ trời, xoay vần rơi xuống, là trời đang quan tâm chăm sóc chúng ta, khiến trái tim những kẻ tha hương như chúng ta thêm kiên cường, không khỏi nhiễm một chút khí phách anh hùng.

Có người cho rằng, lúc mưa rơi luôn mang đến cảm giác thê lương, một chút mùi vị không muốn nhớ lại.

Nhưng đôi khi, khi tôi nhìn thấy dáng vẻ của những cành cây trong mưa, từng chùm hoa, và cỏ dại khắp nơi, dường như chúng mang một tinh thần chiến đấu để tồn tại như máu nóng của những liệt sĩ, khiến tôi cảm thấy ngọn lửa trong tim đang bùng cháy. Sao tôi không nhân lúc mưa rơi, để tâm hồn lắng đọng, đọc tụng kinh điển, lĩnh hội từng câu từng chữ. Dù mưa lại đến, nhưng tâm hồn không bị bất kì ranh giới nào ngăn cản, những cơn mưa rả rích đập vào cửa sổ, đập trên mái nhà, đập lên hoa cỏ, như thể đang đập vào trái tim ấm nóng của tôi.

Nghe nói Seattle là nơi chuyên có mưa phùn, và tần suất mưa nhiều nhất, cuối cùng tôi cũng đã trải nghiệm được điều này.

Nhưng tôi yêu những cơn mưa phùn, mong rằng những cơn mưa này chính là tư duy thiền của tôi, từng chút từng chút lĩnh hội, lĩnh hội vô tận, có thể tự độ và độ tha, đây mới thực sự là cảm giác "dịu dàng" của mưa hoa đầy trời.

🌟 Núi táo

Tôi đi cùng một số người lên một ngọn núi trên đảo. Bang Washington nổi tiếng nhất về táo, và trên ngọn núi của hòn đảo này, toàn là những cây táo mọc san sát nhau.
Cây chi chít những quả táo, tròn trịa đủ màu sắc, có quả màu trắng, có quả xanh nhạt, có quả hồng nhạt, đỏ thẫm, nhìn từ xa tưởng như những bông hoa, lại gần mới biết là táo.

Những cây táo được trồng rất ngay ngắn, như những người lính đang được duyệt binh, trông thật hùng vĩ.
Nghe nói núi táo rộng lớn này, năm nay táo được mùa, không có ai mua, nên ai muốn hái cũng được, chẳng ai hỏi han gì.

Thế là, mấy người lớn, người thì lắc cây, người thì trèo cây, bỗng chốc đều trở thành những đứa trẻ ngây thơ, và những quả táo lộp độp rơi xuống, như thể một cơn mưa táo đổ xuống, khiến lòng người rối bời.

Tôi thấm thía sâu sắc: "Đạo lý tu linh cũng vậy, mỗi người chúng ta sống giữa trời đất, không nên đắm chìm quá độ vào bất cứ điều gì, nhiều và tạp không bằng tinh tế, một màn sương mù rực rỡ đôi khi không bằng một đóa hoa chúm chím."
Có thể thấy rằng, táo được mùa quá cũng chẳng tốt.
Mọi thứ vừa phải, đó chính là cuộc đời hoàn hảo nhất.

🌟 Giờ phà

Để đến núi táo, phải đi phà, và để về từ núi táo cũng phải đi phà. Mỗi chuyến phà đều khởi hành đúng giờ, xe có thể lái thẳng lên phà.

Tôi là người cực kì coi trọng thời gian, có lẽ vì tôi hiểu được sự quý giá của thời gian tu tập ngắn ngủi trong đời người, không muốn trở thành kẻ "về muộn".

Ở Đài Loan, tôi có rất nhiều học trò. Một số người rất nghiêm túc giữ "đạo".
Có người thì lúc chặt chẽ lúc lơi lỏng, có người ban đầu rất tốt, nhưng qua một thời gian thì dừng bước.
Bề ngoài những học trò này đều tỏ ra tuân theo lời dạy của thầy, nhưng thực ra, không một việc làm nào của họ thoát khỏi được pháp nhãn của tôi.

Người nghiêm giữ "đạo" chính là người giữ đúng giờ giấc, họ chắc chắn sẽ bắt kịp chuyến phà.
Người khi chặt chẽ khi lơi lỏng, lúc thiện lúc ác, hoàn toàn phụ thuộc vào cơ duyên và vận may của họ.
Người dừng bước chính là người hoàn toàn không giữ đúng giờ giấc, dĩ nhiên không thể lên phà được, trở thành kẻ về muộn.

Phà đã rời bến, giữa tiếng còi tàu, tôi nhìn thấy bên kia bờ biển xanh thẫm, vài người không giữ đúng giờ đang vẫy tay, họ không còn cách nào đón kịp chuyến phà này nữa, chỉ mong họ có thể đón được chuyến sau.

Tôi nghĩ, nhiều người cứ lưỡng lự tiếc nuối và không nỡ vội vã lên đường, như vậy để làm gì chứ? Tôi thật tiếc, có những người đã chạm được đến bờ rồi lại rút lui, có những người đứng xa tít tắp, người có duyên trở thành người vô duyên, giờ phà sắp khởi hành rồi, mà những người về muộn vẫn chưa thấy bóng dáng đâu.

Tôi muốn nói với mọi người rằng, người tu đạo phải biết giữ đúng thời gian.

🌟 Bàn tay linh thiêng

Tại Phật đường ở Seattle, Hoa Kỳ, tôi thiết lập một mật đàn, chủ yếu để giúp mọi người tiêu tai giải nạn. Trên mật đàn có đặt các lá sớ từ trong nước, Hồng Kông, Mỹ, Canada và nhiều nơi khác.

Mỗi ngày, trong khóa tụng sớm tối, tôi nhất định tụng Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, Tâm Kinh, và các thần chú Phật giáo. Khi tôi đưa tay lên, linh khí từ không trung giáng xuống bàn tay tôi, và tay tôi tự động kết thành các ấn, đó là những thủ ấn Đại Viên Mãn của Mật tông, những thủ ấn này liên tục không ngừng.

Tôi vô cùng kinh ngạc, bởi vì những thủ ấn này khác với những gì tôi đã học trước đây. Cuối cùng tôi hỏi Ngài là ai?
Ngài trả lời: "Liên Hoa Sinh Đại Sĩ của phái Hồng giáo."
Kết quả là, tất cả chúng sinh trong mật đàn đều nhận được cảm ứng nhanh chóng và mạnh mẽ nhất.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là tổ sư của Mật tông Tây Tạng phái Hồng giáo. Tôi đã từng thấy pháp tướng của Ngài, tay phải cầm chày kim cang tượng trưng cho việc trừ bỏ nghiệp chướng, tay trái cầm tích trượng kim cang, phía trên có ba đầu lâu, ba đầu lâu này tượng trưng cho tham, sân, si. Đầu tích trượng chia làm ba nhánh tượng trưng cho tam giới: vô sắc giới, sắc giới và dục giới.

Một trong những học trò của tôi, Lâm Hồng Văn, thờ cúng Liên Hoa Sinh Đại Sĩ tại nhà.

Thủ ấn Mật tông của tôi vốn do Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh truyền dạy, nay lại được Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền thêm thủ ấn Đại Viên Mãn. Quả thật thành tâm cảm ứng, như hoa đỏ điểm xuyến lá xanh, như hoa nở đôi cánh, mưa pháp tràn đầy, rực rỡ tuyệt vời. Tại Seattle, Hoa Kỳ, công lực của tôi lại tiến thêm một bước dài.

Tôi cảm thấy rằng, dù là Hiển giáo hay Mật giáo, mục tiêu cuối cùng vẫn là một, không có sự phân biệt về hệ phái chính thống, những điều khác biệt chỉ là ở phương pháp tu tập mà thôi. Tôi là người thuộc phái duy mỹ chân chính, pháp môn nào có cảm ứng, tôi tu pháp môn đó, pháp môn nào có duyên, tôi tu pháp môn đó. Pháp danh của tác giả là Liên Sinh, và vị thầy chỉ dạy tôi lại là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, có thể thấy duyên phận thật sâu dày.

Tại đây, tôi tiếp nhận sự chỉ dạy của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.

🌟 Nửa đêm tỉnh giấc

Nửa đêm tỉnh giấc, tôi thường quên mất mình đang ở đâu. Đôi khi còn ngỡ mình đang ở nhà tại Đài Loan!

Suy nghĩ một lúc, nhìn căn phòng ngủ khác lạ, tôi mới nhận ra mình vẫn còn ở Seattle, chưa thể trở về.

Nửa đêm tỉnh giấc, một mình trong căn phòng tối, như rơi vào mạng lưới tư duy vô tận, khiến người ta cảm nhận được cuộc đời phù du như khói sương này, sao mà đáng thương, lại sao mà đáng cười đến thế. Nghĩ đến những lúc bị nhục, không khỏi nổi giận đùng đùng, nhưng rồi nghĩ đến những phút thảnh thơi, như làn sương bay bổng, và khi nghĩ về phương diện tâm linh, thì lại thuần khiết không thể xâm phạm.

Thật lòng mà nói, tự kiểm điểm cũng là một trong những công phu tu dưỡng, tự kiểm điểm có thể khiến cơn giận dần dần lắng xuống, đưa tâm tính trở về với lý tính, nhìn xa nhìn gần, càng thấy rằng nhiều phiền não vốn chẳng đáng để ý đến, mọi thứ đều có thể bỏ qua với một nụ cười, cứ để mọi thứ trôi đi thôi!

Vấn đề sinh tử trong tâm trí tôi không biết đã suy nghĩ bao nhiêu lần, ban ngày là sống, ngủ là chết, vốn dĩ cứ luân hồi như thế, sinh tử chỉ là chuyện trong chớp mắt, không phải chuyện xa xôi, cũng không phải chuyện đặc biệt gì, càng không phải là chuyện tuyệt vọng.

Con người có sinh ắt có tử, có tử ắt có sinh, đó là lẽ tự nhiên.

Luân hồi của cõi tâm linh khác với giáo lý của Cơ Đốc giáo, Cơ Đốc giáo chỉ có một lần sinh tử, vậy sinh từ đâu đến? Chết có phải là vĩnh viễn không?

Nửa đêm tỉnh giấc, tự nhiên lại có chút thiền ý, cũng có chút ý thơ, trên tất cả mọi hy vọng, tâm trí tôi là một khoảng trong vắt, nhìn thấu suốt mọi hiện tượng của cuộc đời. Tôi không để cái chết của mình rơi vào địa ngục đáng sợ, bị bóng tối nuốt chửng.

May mắn thay, tâm hồn tôi là ngọn đèn tỏa sáng, có hào quang, hào quang là một loại hương thơm, hương thơm là cõi Phật của ánh sáng, trên tất cả âm thanh, thiền ý đậm đà vô tận.

Ah! Tất cả mọi thứ trong đêm khuya đều mang lại cảm giác trang nghiêm và cổ kính.

🌟 Bật tắt máy sưởi

Khi mùa thu đến, Seattle phải bật máy sưởi, nhiệt độ ban đêm đã xuống dưới không độ, trên nóc xe đọng một lớp băng trắng xóa, mái nhà cũng phủ một màu trắng tinh khiết, loại màu trắng này thuần khiết và lấp lánh như pha lê.

Nghe nói tiền điện đã tăng giá, để tiết kiệm, tôi tắt máy sưởi khi không cần thiết. Trong nhà chỉ cần mặc thêm một lớp áo là có thể chịu được. Tôi tương đối không sợ lạnh, Phật Thanh và Phật Kỳ cũng không sợ lạnh, chỉ có Lệ Hương là sợ lạnh hơn, cô ấy khoác áo choàng vào trông như một con nhím đang nổi giận.

Nhưng rồi một hiện tượng kỳ lạ xảy ra. Tôi tắt máy sưởi đi, chỉ một lúc sau, máy sưởi tự động phát ra tiếng "ù" và bật lên, tôi lại tắt nó đi, nó lại tự động phát ra tiếng "ù" và bật lên. Cứ bật tắt như vậy, khiến tôi nghĩ lại là do "chủ đất" đang nghịch ngợm, chẳng lẽ hai linh hồn già người Mỹ này cũng cần máy sưởi để sưởi ấm tâm hồn của họ sao?

Trước đây tôi thường nói "lạnh thì mặc thêm áo", nhưng ở đây lại biến thành "lạnh thì bật máy sưởi".
Lạnh thì bật máy sưởi, đó là một hiện tượng tự nhiên, như tôi thường nói, đó chính là "Đạo".

Có người nói, hạt rụng tự nhiên từ cây chính là "Đạo", tôi nói "việc bật tắt máy sưởi" cũng là "Đạo". Đạo là điều bình thường, không làm người ta ngạc nhiên, cũng không phải là điều độc đáo lập dị. Như lên đồng không phải là Đạo, như bế quan nhịn đói không phải là Đạo, như mê hoặc quần chúng không phải là Đạo.

Đạo không phải là một cánh cửa cần phải mở, mà là điều tự nhiên luôn đồng hành cùng chúng ta, không bao giờ rời xa.

"Chủ đất" trong nhà không phải đang đối đầu với chúng tôi, họ cho rằng khi lạnh thì phải bật máy sưởi, đó mới là hiện tượng tự nhiên, Đạo không phải là chịu lạnh. Trong quá trình bật tắt này ẩn chứa nhiều đạo lý và học vấn lớn, vừa là triết học vừa là tâm linh học. Nhưng từ việc bật tắt máy sưởi này, tôi đã học được cách quan tâm đến người khác, làm cho trái tim họ cũng cảm nhận được mùa xuân ấm áp.

🌟 Đi dạo trên bờ biển

Seattle là một cảng thiên nhiên tấp nập, trên biển nổi lên nhiều hòn đảo, vịnh rộng và đẹp, mặt biển nhìn xa thật trong vắt, sóng biển và tiếng sóng vỗ liên tục dồn dập vào bãi cát.

Trong ảo giác của mắt nhìn, biển xa dường như cao hơn cả mặt đất, một màu xanh thẳm, như tấm vải tung bay trong gió, tỏa rộng đến tận chân trời, nhìn xa xa, không thấy được đường chân trời.

Tôi yêu biển xanh này, nó mang một cảm giác mênh mông vô tận. Cảnh biển luôn có những đường nét rõ ràng, tinh khiết và tự nhiên. Màu xanh hùng vĩ như một đàn tế của trời đất, nó thu nhận hết mọi ô uế của thế gian, xóa nhòa mọi hình tượng. Thành tựu vĩ đại này thật nổi bật và phi thường.

Sóng biển chứa đầy thi vị, là ai đang niệm Phật đó, chẳng trách nó bất sinh bất diệt, vượt qua ranh giới sinh tử, trở thành một thế giới tự do tự tại. Tiếng sóng biển là âm thanh dễ nghe nhất, tuy không phải là âm nhạc, nhưng mang đến cho người ta cảm giác nửa hư nửa thực như gió.

Tôi lấy làm lạ sao có nhiều người không đủ kiên nhẫn để học đạo như vậy, ngay cả sóng biển còn biết niệm Phật, tại sao họ lại không thốt nên được một lời.
Tôi niệm Phật trước sóng biển, dường như quên mất không biết ai đang niệm Phật?
Tôi hỏi sóng biển, sóng biển vẫn cứ rì rào không ngừng.
Nhặt lên một vỏ sò, lấp lánh như ngọc, tôi chợt nhớ ra, Phật pháp như biển cả, trong đó có vô số châu báu và ngọc trai quý hiếm, khiến người ta muốn khám phá. Tôi yêu biển, dù biển động hay biển tĩnh, đều chứa đựng thiền vị vô tận.

🌟 Halloween

Halloween là lễ hội ma quỷ của Mỹ, vốn rất náo nhiệt. Vào buổi tối, trẻ em đeo mặt nạ ma quỷ, đi từng nhà xin kẹo. Bọn trẻ nói: "Chúc mừng Halloween, cho kẹo hay bị ghẹo?" với một thái độ đe dọa tinh nghịch. Đây là ngày lễ vui nhất của trẻ em.

Vào Halloween, một số nơi có diễu hành hóa trang, với những trang phục kinh dị như phù thủy, người khổng lồ xanh, ma cà rồng, ma treo cổ, bộ xương... Những người tham gia dường như lập tức được đưa vào thế giới ma quỷ.

Ma quỷ có thực sự đáng sợ không?

Tôi không nghĩ như vậy. Tôi có rất nhiều bạn là những ma thật sự, phần lớn trong số họ là những quân tử nhã nhặn, chỉ một số ít là nghịch ngợm. Bản chất của ma vốn không có hình tướng, những hình ảnh đáng sợ kia hoàn toàn chỉ là sự tự kỷ ám thị và tưởng tượng đáng sợ của con người mà thôi, không nên tin là thật.

Khi còn ở Đài Loan, tôi được nhiều ma kính trọng. Không phải vì tôi cố tình nói tốt cho họ nên họ mới kính trọng tôi, mà là vì tôi coi họ như bạn. Ma không xảo trá, đó là đặc điểm thứ nhất. Ma thẳng thắn, đó là đặc điểm thứ hai. Ma có linh tính, đó là đặc điểm thứ ba. Ma có khả năng tu tập, đó là đặc điểm thứ tư. Với những đặc điểm này, con người không thể nào hơn được ma.

Đồng thời tôi biết rằng vì ma không có hình thể nên thuộc về cõi giới tâm linh, ma cũng có thần thông, vì thế mới có sự xuất hiện của "ma ngũ thông". Họ biết nhiều hơn con người, có thể nhìn xa, nghe rõ, biết lòng người, có thể phi hành trong không gian, biết được những việc sẽ xảy ra trong tương lai. Về những phương diện này, con người kém xa ma.

Tôi đã gặp nhiều kẻ xảo trá, với những hành vi tàn ác vô cùng, so với những "ác quỷ tâm địa xấu xa", họ còn đáng ghét gấp vạn lần. Con người không bằng ma là có lý do của nó.

Đừng nghĩ rằng ma là hư ảo, thế giới tâm linh cũng là hư ảo. Đối với những kẻ ngông cuồng, ma chính là người thầy tương lai của nhân loại. Con người cần được ma điều phục, kẻ ác phải được ma trị, đây là một sự lĩnh ngộ mới mẻ nhất.

🌟 Cây anh đào

Cành lá sum suê, tán xanh che phủ bầu trời, cây anh đào trong sân sau nhà sừng sững như thế. Thân cây chia làm ba nhánh chính, thật xinh đẹp, thân màu nâu cà phê ánh xám nâu, lá anh đào có kích thước vừa phải, đầu cuối nhọn, như vầng trăng non. Nhớ khi anh đào chín, những quả đỏ tươi treo lủng lẳng trên cành, ánh lên giữa màu xanh biếc, đẹp vô cùng, và khi anh đào chuyển màu nâu, vị ngọt ngào khiến người ta ăn mãi không chán. Khi anh đào ra nhiều quả, trông như những chùm hoa nở bung, điểm xuyết giữa lá xanh, như cây thông đỏ tháng mười hai, chỉ khác là lá cây thông đỏ có gai, còn cây anh đào thì không.

Trong lúc hái những quả anh đào, tôi chợt nhớ đến việc hoằng dương Phật pháp ở nước ngoài. Gần đây tôi đọc nhiều sách hơn cả khi còn ở trong nước, sự lĩnh ngộ cũng sâu sắc hơn. Tôi phải viết lên giấy, để những suy tưởng của mình như những quả anh đào điểm xuyết khắp bầu trời, bung nở tỏa sáng, để độc giả cũng được lợi ích.

Tôi muốn như một cây anh đào, đứng vững trên mặt đất, tán lá sum suê che phủ ánh nắng. Hàng nghìn hàng vạn quả anh đào trở thành hương vị Phật pháp của tôi. Tôi muốn có tư duy lôi cuốn, ánh mắt lôi cuốn, lời nói lôi cuốn, và một sức mạnh răn đe, để mọi người biết cảnh giác. Như khi tôi truyền bá tư tưởng của mình, kêu gọi kẻ ác buông đao đồ tể, biến đổi thành sứ giả của chính nghĩa. Hương vị Phật pháp là nước cam lộ, bố thí cho tất cả những người đang khát, và tôi muốn sinh ra nhiều quả anh đào hơn nữa, đỏ hơn, rực rỡ hơn, ngọt hơn, thơm hơn, đẹp hơn.

Tôi sẽ dùng pháp từ bi để hóa giải tai ương, tăng thêm lợi ích, hàng phục tà ác, được người kính yêu, tinh tấn tu trì. Lần lượt công bố những bài viết của mình, như cây anh đào, kết trái sum suê.

🌟 Mùa thu lá rụng

Có người nói, tuổi xuân tựa như lá rụng, bị gió thổi đi, chẳng biết về đâu?
Cũng có người nói, lá rụng là giấc mộng, những cụ già mang mộng đi nhặt lá rơi.

Thu đã về, sân trước sân sau nhà tôi, khắp nơi đều là những chiếc lá vàng, khi tôi đưa tay nhặt lên, tôi niệm một câu Phật, nhặt một chiếc lá thì niệm một câu Phật, nhặt mười chiếc thì niệm mười câu Phật, và lá rụng vô số, tôi cũng niệm Phật vô số vô số lần, ai mà đếm được có bao nhiêu chiếc lá rơi.

Sân trước có hai cây to, một cây phong lá đỏ (đặc biệt đỏ), một cây là cây thông Noel, sân sau cũng có hai cây to, một cây là cây mận, cây kia là cây anh đào. Chỉ riêng bốn cây này, lá rụng nhiều vô kể, khiến người ta ngày ngày nhặt lá như nhặt giấc mộng chẳng bao giờ hết, phải đợi đến khi lá rụng hết, cây trơ cành, và mùa đông mới thực sự đến, lúc đó gió mới đung đưa như chiếc xích đu trên đỉnh cây.

Hãy coi việc nhặt lá rụng như một bài tập vận động cúi người! Mỗi khi gió thổi qua, lá rơi xuống như bụi vàng, khi cây trơ trụi, mặt đất lại phủ đầy, những chiếc lá rụng này gợi nhớ biết bao người xa xứ.

Dù lá rụng đầy giỏ, nhưng nghĩ về quê nhà, lòng lại thấy trống vắng, mùa thu này, có bao nhiêu hương thơm?

🌟 Tuyết trên thảm cỏ

Thức dậy vào sáng sớm, nhìn ra ngoài cửa sổ, ôi! Thảm cỏ phủ một lớp trắng xóa, ngước nhìn lên bầu trời, những bông tuyết như những quả cầu len đang rơi xuống.

Mưa và tuyết luôn thay phiên nhau trong mùa đông, trên núi là tuyết, đồng bằng là mưa, đến khi trời rét đậm, cả trên núi lẫn đồng bằng đều là tuyết, lái xe ra ngoài đồng, những cây thông sam như những nhà sư đội mũ trắng, tạo nên một khung cảnh mới mẻ.

Ngẩng mặt lên, gần gũi với những bông tuyết mỏng manh như sa như lưới, thật tinh khiết, thật lạnh giá, dường như còn mang theo một mùi hương lạ!

Seattle nằm ở phía Bắc, có ngọn núi tuyết Rainier quanh năm không tan. Đến mùa đông, hoạt động thể thao ở đây không còn là lái thuyền ra biển nữa, mà là lên núi trượt tuyết. Hầu như nhà nào cũng có thuyền để đi biển vào mùa hè, và ván trượt tuyết để trượt tuyết. Khi tuyết rơi dày, người ta ra đường chơi tuyết và nặn người tuyết.

Nhìn thấy tuyết làm tôi nhớ đến lễ Giáng sinh cuối tháng 12, tiếng chuông Giáng sinh lanh lảnh và đêm bình an. Tất nhiên, đối với ngày lễ lớn của người phương Tây này, chúng tôi cũng phải nhập gia tùy tục, mua một chiếc tất lớn, giả làm ông già Noel, tặng quà của cha mẹ cho con cái.

Trong những ngày tuyết phủ trên thảm cỏ, tôi càng trân quý những đêm đông quý giá này. Lửa trong lò sưởi cháy rực rỡ, tiếng củi nổ lách tách, tôi ngồi thiền bên lò sưởi, hoặc thầm tụng những chú ngữ đã thuộc lòng, nhìn ngọn lửa và thực hành pháp Hộ Ma của Mật giáo. Mục đích chính của tôi là để thanh lọc bản thân, bởi vì lửa chính là trí tuệ, trí tuệ có thể thiêu rụi mọi phiền não. Tôi trì chú ngữ bên trên ngọn lửa.

Hộ Ma là một trong những pháp tu của Mật tông. Nói chung, đốt gỗ của cây ăn quả dùng để tăng ích, dùng gỗ có gai để câu triệu, dùng gỗ có hoa để kính ái, dùng gỗ đắng để hàng phục.

Tôi vừa trì chú Mật tông vừa thêm gỗ Hộ Ma, chư Phật Bồ Tát trên Mật đàn càng thêm trang nghiêm. Tôi cảm nhận được "cao linh" đã đến, Ngài đã quán đảnh cho tôi, tôi sẽ đạt được trí huệ cao thượng vô thượng, tôi có thể xuất thần, có thể phân thân, có thể gieo rắc hạt giống ánh sáng khắp mười phương. Dù tôi ngồi, nằm, đi hay đứng, tất cả đều hóa thành pháp bát nhã của đà-la-ni vô thượng.

Trong những ngày tuyết phủ trên thảm cỏ, sinh khí nơi đây dường như đã ngưng đọng, người đi trong tuyết bước đi thất thểu, bầu trời mang màu tuyệt vọng. Nhưng chỉ riêng sự trưởng thành của tôi, trong sự tĩnh lặng lại rực rỡ huy hoàng, trong sự tinh tấn càng thêm đột phá vượt bậc, không những không tuyệt vọng, mà còn tràn đầy sắc màu phong phú.

Trong khoảng thời gian này, tôi sẽ hoàn thành việc viết cuốn "Linh Tiên Phi Hồng Pháp" và "Dấu Vết Địa Linh Thần Tiên", đồng thời tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về pháp "diễm hỏa liệt đấu". Pháp này có thể thay đổi và tạo ra vận mệnh, là một sự lĩnh ngộ mới mẻ hơn mà tôi đạt được trong pháp Động Huyền. Có lẽ pháp "diễm hỏa liệt đấu" này xưa nay chưa từng có.

Tuyết, ở trong nước chỉ có trên núi Hợp Hoan là có một ít, núi Đại Đồn và Thất Tinh thỉnh thoảng cũng điểm xuyết đôi chút, tuyết khiến tôi liên tưởng, gợi lên nỗi nhớ nhung khôn nguôi.

Tuyết trên thảm cỏ thật tự nhiên và vĩnh cửu, khiến lòng người chạnh nhớ, là hình ảnh của phương Bắc, mùa đông không thể cưỡng lại, tuyết càng không thể cưỡng lại.

Hãy để tôi viết một bài kệ để tưởng nhớ:
Hoằng dương Phật pháp ở phương xa,
Tuyết rơi như hoa rộn khắp nhà.
Định tâm niệm Phật không là mộng,
Tuyết qua tinh tấn quả trổ ra.

(Nguyện cùng các đệ tử gắng công.)


### 37. Sự suy tàn của Cơ Đốc giáo


Một mục sư phương Tây đã học được phương pháp khởi linh từ một người Trung Quốc, và hiện nay phương pháp khởi linh này đang rất thịnh hành trong nhà thờ của họ, hoàn toàn thay thế cho những bài giảng đạo khô khan, nhàm chán.

Trong thời gian ở Mỹ, tôi nhận thấy người phương Tây có hai cái nhiều, một là nhà thờ nhiều, hai là trường học nhiều. Việc có nhiều nhà thờ không có nghĩa là có nhiều người theo tôn giáo, ngược lại, người phương Tây coi việc đi nhà thờ như một hoạt động giao lưu cộng đồng, biến nó thành nơi kết nối tình bạn. Thế hệ già của người phương Tây vẫn còn tin tưởng mãnh liệt vào Chúa, nhưng giới trẻ hầu như không mấy quan tâm đến điều này nữa.

Nền văn minh Cơ Đốc giáo đã trải qua giai đoạn nảy mầm, đạt đến thời kỳ cực thịnh, và sau thời kỳ cực thịnh, giờ đây đang ở trong giai đoạn suy yếu.

Các nhà thờ Cơ Đốc mới nổi phần lớn đều cố gắng tạo sự khác biệt để thu hút tín đồ trẻ, một số thậm chí còn hoàn toàn từ bỏ Kinh Thánh cũ để chuyển sang sử dụng Kinh Thánh mới của các nhà tiên tri mới. Tôi cảm thấy sức mạnh của Cơ Đốc giáo đã suy yếu đáng kể, nhà thờ không còn người chủ tương lai, đây là giai đoạn suy tàn đáng thương nhất.

Theo truyền thông, Kinh Thánh cổ xưa cũng đã xuất hiện phiên bản tóm tắt, khi phiên bản Kinh Thánh mới này ra đời, toàn thể giới tôn giáo đều chấn động, nhưng dù có chấn động đến đâu, Kinh Thánh vẫn có thể được sửa đổi, phẩm giá của Chúa đã sớm không còn, nhân loại từ lâu đã từ bỏ từng câu chữ trong Kinh Thánh.

Nhà văn Tùng Tô đã từng viết một bài "Sự suy tàn của phương Tây", ông nói: "Sử gia người Anh Toynbee trong cuốn 'Nghiên cứu Lịch sử' của mình, mặc dù cũng cho rằng mỗi nền văn minh trong xã hội loài người đều có giai đoạn sinh trưởng, trưởng thành và suy thoái, nhưng ông tin rằng trong số nhiều nền văn hóa của nhân loại, nền văn minh Cơ Đốc giáo Latin phương Tây là nền văn minh duy nhất còn sức sống trong thời hiện đại (thế kỷ 20). Nguyên nhân là vì tôn giáo trong nền văn minh Cơ Đốc giáo có sức thúc đẩy và tái sinh đối với nền văn minh nhân loại."

Quan điểm này của Toynbee thoạt nhìn có vẻ có lý, nhưng thực ra rất hời hợt. Lý thuyết của Toynbee vẫn dừng lại ở thế kỷ 17, 18, trong khi người phương Tây đã sớm giải phóng khỏi xiềng xích của thần quyền, sức tái sinh hoàn toàn không còn sức hấp dẫn, nền văn minh Cơ Đốc đã sớm đi vào trong mộ.

Niềm khao khát nương tựa vào Chúa và bước vào thiên đường dần dần tan vỡ, đặc biệt cuốn "Tại sao tôi không phải là một Cơ Đốc nhân" của Russell, càng thể hiện tiếng lòng chung của người phương Tây, trụ cột của nền văn minh Cơ Đốc đã sớm sụp đổ.

Sau cuộc Cách mạng Công nghiệp, nền văn minh hiện đại không ngừng đổi mới, triết học về sự tồn tại của con người đã có nền tảng vững chắc, các nhà triết học đã tuyên bố "án tử hình cho Chúa", từ đó làn sóng chống tôn giáo trỗi dậy, chủ nghĩa duy lý phát triển mạnh mẽ, khoa học công nghệ tiến nhanh, và nhiều thần thoại trong Kinh Thánh lần lượt sụp đổ.

Tùng Tô còn nói: "Tóm lại, vào thập niên 80 của thế kỷ 20, người phương Tây sống dưới bóng đen của chiến tranh hạt nhân, dưới mối đe dọa của 'bom nhiệt', trong đám mây u ám của thất nghiệp, lạm phát và suy thoái kinh tế, giá trị truyền thống đã mất, đời sống tinh thần hỗn loạn... Cuộc sống vốn dĩ là đại khổ đại bi, hư ảo si mê."

Nhà văn Tùng Tô đã chỉ ra rằng những người phương Tây đã đánh mất niềm tin và sự say mê với Cơ Đốc giáo chính thống, hiện nay đang tìm đến các tôn giáo phương Đông như Thiền, Phật giáo, triết học Lão Trang, bên cạnh đó các "tà phái" như Giáo hội Thống nhất cũng đang phát triển mạnh mẽ để tìm kiếm câu trả lời.

Sau khi đọc "Sự suy tàn của phương Tây" của Tùng Tô, tôi cảm thấy thương cảm cho người phương Tây.
Tôi nghĩ, ở phương Tây, đã đến lúc Linh Tiên Chân Phật Tông cần được phát triển rực rỡ. Linh học không phải là chủ nghĩa tôn giáo, không ai có thể từ bỏ nó, khi nhân loại tìm kiếm nguồn cội, điều này không có trong Cơ Đốc giáo, chân lý duy nhất chính là linh học.

Nhân loại đã bị giam cầm bởi tôn giáo từ rất lâu, những nhà tôn giáo luôn tự trói buộc mình, trong khi điểm tột cùng của tư tưởng Đạo gia chính là sự giác ngộ của linh (nguyên thần), trở về với bản chất thuần khiết ban đầu mới được coi là giải thoát, đạt đến cảnh giới tự tại của Phật. Mặc dù linh học không phải là tôn giáo, nhưng thông qua sự thấu hiểu chân lý, tự nhiên sẽ trở thành một nơi nương tựa của lý tính, do đó Linh Tiên Chân Phật Tông chính là một mục tiêu vĩ đại vang dội.

Nhờ vào phương pháp khởi linh của tôi, đã tạo nên một tác động lớn trong tôn giáo phương Tây, đây là một học thuật tiến bộ nhất và nguyên sơ nhất, có khả năng cảm ứng mạnh mẽ nhất và mang tính giáo hóa sâu sắc nhất.

Cảm ứng đến từ tâm linh của chính mình, không cần người khác làm chứng thay bạn, hay làm chứng thay Thần, mọi người đều là người làm chứng, mỗi người đều có linh dị riêng.

Linh Tiên Tinh Xá cuối cùng cũng sắp thành lập đạo tràng đầu tiên tại Mỹ. Mặc dù trong buổi điều trần có người phản đối, nhưng chúng tôi đã có giấy phép thành lập của chính quyền tiểu bang, một số cư dân cũng ủng hộ chúng tôi, chúng tôi cũng đã triển khai vận động hành lang, bạn bè và luật sư Mỹ đều chủ động giúp đỡ. Linh hồn (nguyên thần) mới chính là nguồn gốc chân lý của con người.

Các linh hồn cao cấp trong cõi hư không đều đến giúp đỡ, có vẻ như chúng ta được lòng người ủng hộ.

Cuốn sách tâm linh tập một "Linh Cơ Thần Toán" hiện đang được Giáo sư Chu Chính Hoa thuộc Đại học Washington dịch sang tiếng Anh. Không phải tôi nói, nhưng Linh Tiên Chân Phật Tông sớm muộn gì cũng sẽ gây chấn động khắp nước Mỹ, và sau đó sẽ lan truyền ra toàn thế giới.

Đừng nghĩ rằng tôi chỉ nói cho hay, cũng đừng nghĩ rằng tôi đang vẽ ra một lý tưởng quá đẹp đẽ. Tương lai tươi sáng của Linh Tiên Chân Phật Tông là trong trẻo và tốt đẹp.

Đó không phải là ảo ảnh, mà là cảm ứng của tôi, là tất cả những điều chân thật mà tôi biết, tôi có thể đếm được trên đầu ngón tay.

Tôi thường nghĩ rằng hy vọng của thế giới này phải được gửi gắm vào (nguyên thần) linh hồn, khi nhận thức được nguyên thần của chính mình, chúng ta có thể nhìn thấy trước thế giới tương lai của nguyên thần.

Môn phái Linh Tiên Chân Phật Tông của tôi là một hình tượng đại diện cho tinh thần vũ trụ.
Không phải là Cơ Đốc giáo, cũng không phải là tôn giáo thờ thần tượng phương Đông, mà là việc tự mình quan tâm đến nguyên thần của chính mình.


### 38. Pháp địa lý linh tiên 


Thanh Chân Đạo Trưởng nói: "Vẻ đẹp và xấu của núi sông là sự cảm ứng tự nhiên. Phép địa lý lấy lý làm chủ, vì vậy thành tựu học thuật và đọc sách cũng là một trong những bí quyết. Nhưng các nhà địa lý hiện nay thật giả dối! Thầy đào mộ và thủy quân mạo danh làm thầy địa lý, thầy đất cũng giả mạo làm thầy địa lý, kẻ không học vấn không có tài nghệ thì nhiều vô kể, môn học lớn về phong thủy bị kẻ tiểu nhân vô tri lạm dụng, vì vậy dù đất tốt còn nhiều trên thế gian, nhưng thầy giỏi ngày càng ít đi, thầy tầm thường nói sai lệch, khiến người ta lầm lạc, thật là thời đại cá mè một lứa."

Tác giả năm đó được Thanh Chân Đạo Trưởng chỉ dạy, Đạo trưởng bảo tôi đọc những sách sau đây:

Cẩm Nang Kinh của Quách Cảnh Thuần, Tuyết Tâm Phú của Bốc Ứng Thiên, Thổ Quy của Chu Công, Tướng Trạch của Thiệu Công, Hà Đồ của Phục Hy, Lạc Thư của Đại Vũ, Thái Cực Đồ của Chu Tử, Hoàng Cực Kinh Thế của Thiệu Tử, Thiên Địa Số của Khổng Tử, Phong Thủy Nghị Trạng của Chu Tử, Sưu Sơn Ký của Chu Tiên Đào, Thanh Nang Kinh của Xích Tùng Tử, Tróc Tùy Phú của Đào Sĩ Hành.

Ngọc Tủy Kinh của Trương Tử Vi, Thiên Ất Kinh của Điền Xá Ông, Âm Dương Chính Yếu của Lý Thuần Phong, Tam Cát Thủy Pháp của Cốc Nhất Thanh, Bích Ngọc Kinh Đồ của Lưu Giang Đông, Nhạc Đạo Ca của Dương Quân Tùng, Hắc Nang Kinh, Nghi Long Kinh, Hám Long Kinh, Tầm Long Pháp, am Thập Lục Long Mạch, Tam Thập Lục Huyệt Pháp, Đảo Trượng Pháp, Lập Chùy Phú, Thuyền Thương Vấn Đáp, Tầm Long Tam Ký của Tăng Văn Triển, Nang Kinh Thất Thiên của Lưu Khiêm, Bát Sa Kinh của Trần Á Hòa, Minh Đường Sa Pháp của Triệu Thanh Phủ, Long Tổ Kinh của Trương Thuyết, Tầm Long Nhập Thức Ca của Phạm Việt Phượng, Động Lâm Biệt Quyết, Kim Hàm Thập Truyền của Tạ Giai, Phủ Sát Yếu Lãm Hồng Nang Kinh của Tăng Cát Khê, Hải Để Nhãn của Lưu Bạch Đầu, Tam Bảo Kinh của Tạ Giác Trai, và nhiều tác phẩm khác.

Môn học địa lý, hiểu được bao nhiêu?

Tất nhiên, những tên sách và tên người mà tôi liệt kê ở trên chỉ là một phần nhỏ, từ xưa đến nay, môn học địa lý như một cây có trăm nhánh nghìn lá.

Kiến thức như biển rộng, mà thời gian của con người thì có hạn, trong một đời người, nếu có thể đọc hết và vận dụng được những cuốn sách kể trên, cũng chỉ có thể coi là "hiểu biết về địa lý" mà thôi. Còn muốn đạt đến mức độ "tinh thâm", nếu không phải là bậc đại thánh đại nho với trí tuệ siêu việt thì không thể nào đạt được, những kẻ phàm phu tục tử như chúng ta chỉ biết ngắm nhìn sách vở mà thở dài.

Ngoài ra, tất cả kinh sách về thuật phong thủy đều có thật giả, còn có sự phân biệt thuần túy và tạp nham, lại có người đời sau tùy tiện thêm bớt, những điều mới bịa đặt, những luận thuyết giả, mạo danh thánh hiền, thô thiển mà vọng chỉ, những tà thuyết chỉ đông nói tây, dần dần biến đổi và xen tạp.

Thanh Chân Đạo Trưởng nói: "Môn học địa lý, người đọc sách là để quan sát tính tình trong sách vậy. Xem khí thiêng của núi sông là để quan sát hình mạo vậy. Còn chân lý nằm ở chỗ có tình hay vô tình, hợp nhau hay trái nhau vậy."

Địa lý tốt — vua tôi đãi nhau, chủ khách thân thiết, anh em hòa thuận, tình hướng về nhau, tình yêu hòa hợp.

Địa lý xấu — xem nhau như kẻ thù, ghen ghét đố kỵ, thù hận phản nghịch, quay lưng xa cách, chẳng liên quan gì với nhau.

Núi sông địa lý cũng có tính tình, biết được tính tình của nó, quan sát sự hòa hợp hay trái nghịch, đó mới thật sự là người hiểu được phong thủy, đọc sách sống động, vận dụng sách linh hoạt, để quan sát tinh hoa núi sông do trời đất tạo nên, huyệt do trời thành, phúc do tâm tạo, lo gì không gặp được đất tốt.

Tác giả may mắn được cơ duyên tốt, được Đạo trưởng phái Thanh Thành đích thân truyền dạy "địa lý tiên pháp", sau đó lại học pháp thông linh, được Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh truyền thụ bí quyết thần tiên, biết rằng nhận biết đất vốn không có gì huyền bí, dùng huệ nhãn nhìn đất, trước xem thế, sau xem hình, thứ ba xem minh đường, thứ tư xét long hổ, thứ năm đối chiếu hướng núi.

Tiên sư từng bảo tôi rằng, người muốn cải vận, một là thiên đạo, hai là địa đạo, ba là nhân đạo, ba đạo hợp nhất thì gọi là "tự nhiên".

Thiên đạo là phương pháp tu tiên chứng ngộ, địa đạo là phương thuật phát tài thành đạt, nhân đạo là đạo lý làm người xử thế.
Thật ra, lý của ba đạo không có gì khác, vốn là trời bày tinh tú, đất chia địa vực, với huệ nhãn độc đáo của chúng ta, lo gì không thu phục được chim trời, bước theo thú đất.

Phương pháp của tôi không phân chia tam hợp tam nguyên, ngũ hành cửu cung, hay đại huyền không tiểu huyền không.
Bởi từ xưa đến nay người ta chuyên luận về hình, người đời Đường chuyên luận về sao, mỗi người một cách.
Còn tôi chuyên luận về "thần", chỉ cầu "có ứng có nghiệm".

Dù là "long, huyệt, sa, thủy, hướng", quan quỷ cầm diệu, minh đường thủy thành, đối án la tinh, thủy khẩu ứng lưu hay bất cứ điều gì khác. Chỉ cần "có ứng có nghiệm", bất kể dùng phương pháp nào, đều có thể nói là: "Tốt."

Hơn nữa, phép truyền của tiên sư không chỉ chuyên về thuận mà không có phá, còn có pháp phá và pháp giải để ý thần hòa hợp với núi sông, đây là tâm pháp thần tiên, hoàn toàn thuộc về thiên cơ.

Sau khi hoàn thành cuốn "Thế giới của con mắt thứ ba", tác giả sẽ tiếp tục viết không ngừng nghỉ, và để cứu độ nhân sinh, sẽ cho ra đời các cuốn sách như: "Linh tiên phi hồng pháp" và "Dấu tích thần tiên địa linh". Nhìn vào tình trạng thầy địa lý hiện nay tốt xấu lẫn lộn, một số người trình độ thấp cho rằng địa lý chỉ là mê tín, ngay cả thầy phong thủy cũng vội vàng cầm la bàn xem phong thủy cho người khác, phân biệt đông tây nam bắc còn không rõ, huống chi là bàn về lý khí núi non, thật đáng cười và đáng giận.

Tôi cảm thấy rằng trên thế giới này, phần lớn chân lý đã bị những kẻ giang hồ "thầy bói la bàn" thiếu học vấn làm cho rối loạn. Thường ngày không chịu đọc sách, khi thất nghiệp thì đi theo thầy xem phong thủy một lần, về nhà mua một cái la bàn, rồi tự xưng là thầy địa lý, từ đó chỉ dựa vào ba tấc lưỡi, nói năng bừa bãi, làm việc lung tung, nhiều người trong thiên hạ không biết gì nên bị lừa quay như chong chóng.

Hôm nay, nhận thấy điều này, tôi buộc phải viết cuốn "Dấu tích thần tiên địa linh", có thể coi như tiết lộ hết thiên cơ của "địa đạo", để độc giả có được kiến thức địa lý căn bản, không bị thuật sĩ giang hồ lừa gạt.

Cuốn sách này tuyệt đối không phải lời nói suông, là có dấu tích thần tiên, nhưng không phải thuật rừng rú, mong rằng người có được nó đừng xem thường.


### 39. Ở hải ngoại nghĩ về cuộc chiến bầu cử


Suốt đời tôi ít quan tâm đến chính trị. Dù có tiếng tăm và được nhiều người khuyên ra tranh cử, tôi chỉ mỉm cười không nói. Lý do chính là vì bất kì ngành nghề nào, miễn là có đóng góp cho xã hội và nhân loại, đều là biểu hiện của lòng yêu nước thương nhà. Ngoài việc thiếu nhiệt tình với chính trị, tôi thích viết lách và tu đạo, đây là hai sở thích suốt đời của tôi. Những điều này cũng có thể giúp tôi có một sự đóng góp cho xã hội và nhân loại. Ý tôi là, trong quãng đời làm người của mình, tôi đã không sống uổng phí.

Dù không mấy hứng thú với chính trị, nhưng do tác giả có tiếng tăm vang xa, nổi danh khắp trong ngoài nước với tài "linh cơ thần toán", giỏi quan sát khí sắc, nên có không ít chính trị gia tìm đến xin chỉ giáo. Tôi đều thẳng thắn đáp lời tùy theo hoàn cảnh. Do người đến xin chỉ giáo quá đông, tôi chỉ viết ra một vài nhân vật có tính đại diện, là người thật việc thật, để tuyên dương cho "thế giới tâm linh" và làm bằng chứng đáng tin.

🌟 Huyện trưởng Gia Nghĩa - Đồ Đức Mân

Trước khi được bầu làm Huyện trưởng, ông Đồ Đức Mân là Tổng cán sự Tổ 3 của đơn vị cấp tỉnh. Do ở Đài Trung nên thường xuyên đến chỗ tôi, chúng tôi là bạn thân nhiều năm, mỗi khi gặp tôi ông đều gọi tôi là "thầy". Một năm trước khi tranh cử chức Huyện trưởng, ông đến nhà tôi ở khu dân cư Nghi Hân và hỏi về tình hình cuộc bầu cử năm sau.

Tôi trả lời: "Ông sẽ làm Huyện trưởng vào năm sau nữa."

Đồ Đức Mân lúc đó rất bối rối, không hiểu sao năm sau có bầu cử mà phải đợi năm sau nữa mới làm Huyện trưởng, chẳng phải là sai sao. Trước mặt bạn cũ, ông không tiện nói ra, chỉ gãi đầu, lấy làm kỳ lạ. Vài tháng sau, chính quyền trung ương ban hành một chỉ thị: cuộc bầu cử Huyện trưởng và Thị trưởng năm sau sẽ hoãn lại một năm, đến năm sau nữa mới tổ chức, mỗi Huyện trưởng và Thị trưởng đều được gia hạn nhiệm kỳ thêm một năm.

Đồ Đức Mân gặp ai cũng nói: "Tôi là người phụ trách công tác bầu cử mà còn không biết, vậy mà thầy Lư đã biết trước là bầu cử sẽ hoãn một năm, thật kỳ lạ quá!"

Đến năm bầu cử, Đồ Đức Mân quả nhiên trúng cử làm Huyện trưởng Gia Nghĩa. Ông lập tức cử người mang đến một tấm biển, trên đó khắc bốn chữ "Tiên tri tiên giác". Lúc đó tôi vẫn còn ở trong nước, mỗi khi tôi đến Gia Nghĩa, Huyện trưởng Đồ đều mời tôi dùng cơm, dù bận rộn vẫn đích thân đón tiếp, khiến tôi - một người nhỏ bé này - cảm thấy rất vinh hạnh.

🌟 Huyện trưởng Vân Lâm - Hứa Văn Chí 

Trước khi làm Huyện trưởng, ông Hứa Văn Chí là Chủ nhiệm Ủy ban cấp huyện ở Gia Nghĩa. Có một lần tôi đến phòng khám của bác sĩ Lâm Chiêu Nam ở Gia Nghĩa thì ông Hứa Văn Chí và ông Tiêu Hiển Tông cùng đến thăm.

Hứa Văn Chí không nói rõ mục đích đến, chỉ mong tôi xem thử tiền đồ của ông ấy?

Tôi viết lên tờ giấy trắng bốn chữ: "Vân Lâm đắc chí". Xem xong, ông ấy vô cùng xúc động, nắm chặt tay tôi, im lặng hồi lâu. Tôi còn nói thêm rằng, trước khi bầu cử, ông sẽ có một chức vụ tốt hơn.

Quả nhiên, chính quyền trung ương ban lệnh, ông được vinh thăng làm Thư ký trưởng cấp tỉnh, cuối cùng ông đã quyết tâm tham gia tranh cử chức Huyện trưởng Vân Lâm. Trước cuộc bầu cử, ông cũng đến biệt thự Tinh Võ của tôi, và câu "Vân Lâm đắc chí" lại một lần nữa ứng nghiệm.

🌟 Huyện trưởng Đài Trung - Trần Canh Kim

Lần đầu gặp ông Trần Canh Kim là ở Đông Thế. Lúc đó tôi đang chu du khắp nơi và đang dùng bữa tại Khách sạn Kim Cương trên phố Đông Thế. Người giới thiệu tôi với ông là ông Lý Thiêm Tường, Trưởng phòng Cục Lâm nghiệp Đại Tuyết Sơn.

Tôi chỉ nói với Trần Canh Kim một câu: "Hãy nhanh chóng xoa dịu các thế lực địa phương."

Thực ra, lúc đó Trần Canh Kim đang công tác ở Đài Bắc, đã lâu không tiếp xúc với quê nhà. Khi ông về quê tranh cử chức Huyện trưởng, các thế lực địa phương đang có xu hướng chia rẽ. Chính nhờ một câu nói của tôi mà ông Trần Canh Kim chợt tỉnh ngộ, lập tức chú trọng vào mặt này và được tổ chức đề cử hỗ trợ tranh cử. Trong thời điểm cuộc tranh cử đang gay gắt, đối thủ của ông là ông Trần Chính Tông đặc biệt đến miếu Quan Thánh Đế Quân nhờ đồng cốt giáng bút. Ý chính của bài giáng bút là: Tổ tiên của Trần Chính Tông có đức độ, Trần Chính Tông có năng lực lớn, cuộc bầu cử này đương nhiên Trần Chính Tông sẽ được lòng dân.

Trần Chính Tông cho đăng bài giáng bút này lên báo và dán ở cửa văn phòng bầu cử để thông báo cho cử tri.

Ông Trần Canh Kim thấy vậy rất hoảng hốt, đặc biệt yêu cầu tôi tính toán lại kết quả bầu cử cho ông ấy. Sau khi tính toán kỹ lưỡng, tôi thấy Trần Canh Kim sẽ được 60% phiếu bầu, Trần Chính Tông sẽ được 40% phiếu bầu. Tôi cũng làm một bài thơ để an ủi ông Trần Canh Kim. Ông Trần Canh Kim như được báu vật, lập tức nhờ người đăng báo và dán bài thơ lên cửa văn phòng bầu cử, đối chọi với bài giáng bút của Quan Thánh Đế Quân của phe Trần Chính Tông.

Sau khi tin tức được đăng báo, nó đã gây chấn động lớn. Báo chí miền Nam Đài Loan đã đăng một bài viết với tựa đề "Lư Thắng Ngạn đối đầu với Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn", tác giả là ông Thực Vô Ngư. Trong bài viết, ông ấy nói rằng Lư Thắng Ngạn chỉ là giáo chủ của Linh Tiên Chân Phật Tông, chỉ là một phàm nhân, trong khi Quan Thánh Đế Quân là Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn, việc Lư Thắng Ngạn dám to gan thách thức Đế Quân là một cuộc chiến giữa người và thần. Nhưng thực tế, tôi xem tướng số hoàn toàn dựa theo chỉ dẫn của các vị thần linh cao cấp, tôi chưa bao giờ mê tín thần thánh, đồng thời vị Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn mà tôi tín ngưỡng vẫn là Đế Thích của Thiện Pháp Đường, danh xưng trong Đạo gia là Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn, Huyền Khung Cao Thượng Đế, không phải là Quan Thánh Đế Quân, cũng không phải là Huyền Linh Cao Thượng Đế mà kê bút giả mạo.

Đồng thời tôi biết rằng, Đế Thích của Thiện Pháp Đường là bất động bất luân hồi, tuy ở cõi Dục giới nhưng thực sự là hóa thân của chư Phật Bồ Tát. Kết quả của cuộc chiến giữa người và thần là Trần Canh Kim đã giành được 60% phiếu bầu, Trần Chính Tông được 40% phiếu bầu, Quan Thánh Đế Quân đã thua. Tôi đã thắng.

Dự đoán bầu cử, nói thắng là thắng, nói thua là thua, dù họ có mang cả Quan Thánh Đế Quân giả mạo ra, tôi cũng không sợ.

🌟 Thị trưởng Đài Trung - Lâm Bá Vinh

Ông Lâm Bá Vinh là hiệu trưởng trường trung học Lập Nhân. Tôi gặp ông tại nhà ông Lâm Hoành Mậu ở đường Trung Chính, thành phố Đài Trung. Ông Lâm Hoành Mậu và phu nhân đều là học trò của tôi. Ông Hoành Mậu điều hành nhiều doanh nghiệp như Toàn Cầu Enterprise, Lập Toàn Electronics và nhiều công ty khác. Ông Lâm Bá Vinh và Lâm Hoành Mậu là bạn thân. Ông ấy muốn tôi dự đoán tương lai cho mình?

Tôi đáp: "Nhường một lần, lần thứ hai sẽ là thị trưởng."
Ông ấy nói: "Tôi đã nhường một lần rồi."
"Đã nhường rồi thì chắc chắn sẽ là thị trưởng."
Trong cuộc tranh cử này, đối thủ là Tăng Văn Pha, quả nhiên ông ấy đã thắng lớn và đắc cử.

Sau khi Thị trưởng Lâm Bá Vinh đắc cử, ông đã mời tôi tham dự lễ nhậm chức. Tôi đến tòa thị chính sớm và nói với ông rằng khu vực hoa tròn lớn phía trước tòa thị chính nên được hạ thấp xuống, bởi vì khu vực hoa tròn này đã cản trở con đường phát triển của các đời thị trưởng Đài Trung, khiến họ không thể có những bước tiến xa hơn trong tương lai sau khi làm thị trưởng Đài Trung. Thị trưởng Lâm Bá Vinh gật đầu đồng ý.

🌟 Huyện trưởng Nam Đầu - Ngô Đôn Nghĩa

Chuyến thăm của ông Ngô Đôn Nghĩa đến gặp tôi là một tình huống đầy kịch tính. Nguyên do là đối thủ của ông Ngô Đôn Nghĩa, ông Dương Quốc Bình, đã đến gặp tôi trước. Lần đầu gặp Dương Quốc Bình, tôi thấy ông ấy chuẩn bị kỹ lưỡng, thần thái điềm tĩnh, tôi cho ông ấy 99 điểm, đây là một đánh giá rất cao. Dương Quốc Bình nghe vậy vô cùng đắc ý, và chụp với tôi một tấm ảnh.

Sau đó, Dương Quốc Bình đã nhờ phóng viên đăng bài phân tích và bức ảnh mà tôi đã cho ông ấy trên tạp chí Nam Cương Nhất Chu của huyện Nam Đầu. Khi người dân huyện Nam Đầu đọc được bài báo, nó đã gây chấn động khắp nơi. Tất nhiên, ông Ngô Đôn Nghĩa cảm thấy bất an, lo lắng, cảm thấy bị đe dọa và hoảng sợ, nên đã bí mật sắp xếp một cuộc gặp với tôi.

Vào một đêm khuya, ông Ngô Đôn Nghĩa và vị chủ nhiệm ủy ban đương thời đã lén lút đến thăm, vị chủ nhiệm ủy ban giả làm giáo viên trường học và nhất quyết không chịu xuất trình giấy tờ tùy thân. Ngay khi gặp Ngô Đôn Nghĩa, tôi thấy ông ấy người cao lớn, để đầu đinh, có khí chất mạnh mẽ nhưng thiếu tình cảm. So với Dương Quốc Bình thì có vẻ nhỉnh hơn một chút. Nếu Dương Quốc Bình gặp người khác thì chắc chắn thắng, nhưng khi đối đầu với Ngô Đôn Nghĩa thì phải đấu một trận quyết liệt. Sau khi tính toán kỹ lưỡng, quả nhiên Ngô Đôn Nghĩa thắng với cách biệt một điểm.

Lúc đó tôi viết: "Nắm chắc phần thắng trăm phần trăm, không sợ người khác được chín chín, hành động nhân nghĩa người khen ngợi, uy tín tự nhiên trấn Nam Đài." Ông Ngô Đôn Nghĩa vô cùng mừng rỡ khi thấy vậy, lập tức chụp chung một tấm ảnh, bức ảnh này sau đó được đăng trên Nam Cương Nhất Chu, và các báo toàn quốc cũng đưa tin rầm rộ một thời gian, tạo nên một sự kiện vô cùng náo nhiệt.

Sau này đã chứng minh, ông Ngô Đôn Nghĩa đã thắng, nhưng Dương Quốc Bình thật sự cũng không tệ, số phiếu ông ấy nhận được cũng rất cao, quả thực là "rất có khả năng". Trong đêm khuya Ngô Đôn Nghĩa đến thăm, có một tình tiết nhỏ, vị chủ nhiệm ủy ban đi cùng, giả làm giáo viên hỏi tôi: "Khi nào có thể thăng chức hiệu trưởng?"

Tôi tính toán một hồi, phát hiện người này vốn không có mệnh làm hiệu trưởng, tôi im lặng không nói.

Sau đó, ông ta lại nhắc đến một đứa con và nói với tôi: "Đứa trẻ này không thích học, không biết khi nào mới thi đỗ đại học?"

Tôi vừa tính toán xong liền giật mình, hóa ra kết quả cho thấy đứa trẻ này thông minh chăm chỉ, đã thi đỗ đại học từ lâu và hiện đang học đại học. Tôi nói cho vị chủ nhiệm ủy ban giả làm giáo viên biết, ông ấy thực sự cũng thầm phục.

Đêm hôm đó, họ quên mang máy ảnh theo, nên vị chủ nhiệm ủy ban đã phải gọi tạm một phóng viên đến chụp ảnh.

🌟 Thị trưởng Đài Nam - Trương Lệ Đường

Tôi xem tướng số cho Trương Lệ Đường, lúc đó ông ấy đã là thị trưởng rồi. Ông được giới thiệu qua luật sư Hoàng Thanh Hoa, cố vấn pháp lý của tôi, hai người là bạn học cùng khoa luật tại Đại học Trung Hưng. Thị trưởng Trương Lệ Đường hỏi về tương lai của mình?

Ông ấy là người rất thành tâm, và cũng quy y Mật tông Bạch giáo.
Tôi đáp: "Hai thật một hư."
Ông hỏi: "Hai thật một hư là gì?"
Tôi ấp úng một lúc, cuối cùng mới nói: "Đến lúc tự khắc sẽ biết."
Về sau đã chứng minh: làm Thị trưởng Đài Nam là một thật, giữ chức Phó Chủ nhiệm Ủy ban Nghiên cứu Khảo hạch Viện Hành chính là một thật, sau đó lại quay về làm Chủ nhiệm Ủy ban huyện Đài Nam, đây là "lùi bước", nên là một hư. Chỉ vậy thôi.

🌟 Câu chuyện về Trần Bá Thôn

Ông Trần Bá Thôn được đề cử ra tranh cử chức Huyện trưởng Chương Hóa, đối thủ của ông là ông Hoàng Thạch Thành.

Vào một đêm nọ trước cuộc bầu cử, phu nhân của ông Trần Bá Thôn đến thăm.

Tôi đã viết một bài thơ với ý nghĩa: "Khu vực Chương Hóa có nhiều phe phái phức tạp, cần phải tìm cách giải quyết từng việc một, ông Trần là người tốt, nhưng khó địch lại thế lực phe phái." Một người phụ nữ đi cùng liên tục hỏi tôi rằng liệu ông Trần Bá Thôn có mệnh làm huyện trưởng không? Ông ấy có đắc cử không? Tôi mỉm cười đáp: "Hãy về nghiên cứu kỹ bài thơ của tôi!" Người thông minh nghe qua là hiểu, cần gì phải ép người khác nói ra điều khó nói. Thực ra, tôi đã biết trước ông Hoàng Thạch Thành sẽ đắc cử.

Một lần khi tôi đang dùng bữa tại Khách sạn Kim Cương ở Đông Thế, cùng với ông Trần Canh Kim, Trưởng khoa Lý Thiêm Tường và những vị khách khác (trong đó có cả người vận động tranh cử cho Trần Bá Thôn), tôi đã khẳng định rằng trong cuộc đối đầu giữa Hoàng Thạch Thành và Trần Bá Thôn, Hoàng Thạch Thành sẽ là người chiến thắng.

Về sau đã chứng minh lời tiên đoán đó là đúng.

🌟 Câu chuyện về Hoàng Vũ Hùng

Ông Hoàng Vũ Hùng, người từng giữ chức Chủ nhiệm Ủy ban huyện Chương Hóa, có lần khi tôi du hành đến Chương Hóa, ông ấy đặc biệt mời tôi đến gặp.

Hoàng Vũ Hùng là người huyện Đài Nam, có khát vọng trở thành Huyện trưởng Đài Nam.

Sở thích của ông ấy là pha trà và sưu tầm ấm trà nhỏ. Trong lúc ông ấy pha trà, tôi ngồi xem tướng số cho ông, nhưng khi tính toán xong, tôi im lặng không nói được lời nào.

Ông ấy hỏi: "Thế nào?"
"Ngồi ba ngóng hai." - Tôi đáp.
"Ngồi ba ngóng hai chẳng phải là vô vọng sao?"
"Đúng là vô vọng."
Chúng tôi nhìn nhau mỉm cười, ông ấy bật cười ha hả, và cuối cùng đã được chứng minh, ngay cả đề cử cũng không có.

🌟 Lời bạt

Ngoài các cuộc bầu cử thị trưởng và huyện trưởng, tôi còn dùng linh cơ thần toán để xem cho phần lớn các ứng cử viên trong các cuộc bầu cử Ủy viên Giám sát, Ủy viên Lập pháp và Trưởng xã. Đối với các đại biểu tỉnh, đại biểu thành phố thì càng không cần phải nói, và số lượng đại biểu xã thị trấn thậm chí còn nhiều hơn nữa.

Tôi có rất nhiều bạn bè trong Quốc hội. Tôi được mời đến diễn thuyết tại Viện Lập pháp, tại Phòng họp số 9, với chủ đề "Những khía cạnh của vấn đề tâm linh", và sự kiện đó có thể nói là chưa từng có.

Về chính trị, tôi thực sự không có hứng thú, nhưng quả thật tôi có "năng lực tiên tri chính xác". Khi tôi ở trong nước, cứ mỗi kỳ bầu cử, tên tuổi của tôi lại được nhắc đến trên báo chí ngày càng nhiều, đây là một chương ngoài lề của việc tu đạo và nhìn khí.

À phải rồi, các Nghị sĩ Hứa Trương Ái Liêm và Tạ Sinh Phú, tấm biển thưởng họ hứa tặng tôi vẫn chưa gửi đến, không biết có phải đã nợ quá lâu nên quên mất rồi không.


### 40. Gợi ý từ một bức thư


Đây là một bức thư của học sinh Trần Chính Hùng từ Chương Hóa, trong đó có một số điểm mang tính gợi ý sâu sắc, tôi xin công bố toàn văn bức thư như sau:

*Thầy Lư kính mến:*

*Thời gian trôi nhanh quá, đã hơn bốn tháng kể từ khi thầy rời Đài Loan sang Mỹ. Thưa thật với thầy, trong suốt thời gian đó, con nhớ thầy từng ngày! Con đã định viết thư thăm hỏi thầy sớm hơn, nhưng vì lâu không cầm bút nên tư duy như đóng băng, thêm vào đó tính lười biếng sâu nặng, dẫn đến việc trì hoãn cho đến tận bây giờ. Mong thầy thứ lỗi cho sự thất lễ này.*

*Duyên phận cuộc đời thật huyền diệu, nhớ lại nhiều năm trước khi quy y dưới môn của thầy, thời gian trôi nhanh quá, đã hơn tám năm rồi. Trong khoảng thời gian đó, từ một người không có niềm tin tôn giáo, dần dần sinh khởi đức tin, và biến chuyển thành niềm tin chân thật như hiện nay. Tương lai dù hoàn cảnh có thay đổi thế nào, cũng không thể thay đổi được ý chí kiên định tu đạo này. Tục ngữ có câu: Trung thổ khó sinh, minh sư khó gặp. Con có thể nói là mình gặp được thời cơ tốt đẹp, nghìn năm khó gặp, trước đây mông lung không biết nên cũng chẳng sao, nay đã có minh sư, nhất định phải tu trì nghiêm túc, để không phụ chuyến đi này, đã vào núi báu, không muốn về tay không. Ngưỡng mộ núi cao, noi gương người hiền, tuy không thể đến được, nhưng lòng hướng về. Đời này nếu chưa tu được viên mãn, nguyện đời sau lại gặp được nhân duyên Phật pháp, đời đời hiểu biết tu hành, đời đời hành đạo Bồ Tát*

*Ban đầu khi học Phật, con không hiểu được công đức của việc lễ Phật tụng kinh, nên không thật sự chuyên tâm. Nhưng vô tình sư phụ đã nhiều lần chỉ dạy: trong kinh chú có báu vật, người kiên trì sẽ đạt được. Trong sách của thầy cũng nhiều lần nhắc nhở: mỗi ngày sớm tối niệm một danh hiệu Phật, tụng một đoạn kinh văn, trì một thần chú, làm một việc thiện, hoặc tọa thiền một lát. Sau khi suy nghĩ sâu sắc, con cảm thấy trong đó ắt có chân lý, nên đã bắt đầu tu trì theo. Sư phụ là hóa thân của thần nhân, trí tuệ như biển, dù công việc có bận rộn đến đâu, sớm tối vẫn nhất định làm công khóa lễ bái. Huống chi con chỉ là một phàm phu, càng phải gấp rút tinh tấn, nỗ lực gấp bội. Vì vậy hiện nay mỗi ngày sớm tối con dành ba mươi phút lễ Phật tụng kinh, với tinh thần vô cùng thành kính, không dám chút nào qua loa hay lười biếng. (Nội dung: chú Đại Bi, Tâm Kinh, Cao Vương Kinh mỗi thứ sáu lần, Ma Lợi Chi Thiên Kinh hai lần, Dược Sư Quán Đảnh Chân Ngôn ba trăm lần, Nam Mô Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư Phật một nghìn lần). Tu trì như vậy đã hơn ba năm, nguyện cầu chư Phật Bồ Tát gia hộ đạo tâm kiên cố cho đến cuối đời. Tục ngữ có câu: Không trải qua một mùa lạnh thấu xương, làm sao được hương hoa mai thơm ngát, nguyện cầu học Phật được thành Phật.*

*Theo học thầy nhiều năm, dần dần con ngộ ra triết lý nhân sinh, hiểu rằng cuộc đời cần phải lạc quan, phấn đấu, tu tâm và dưỡng tính. Hơn nữa, con vô cùng may mắn được thầy truyền đạo truyền pháp, hiểu được chân lý của cuộc đời, cùng một số phương thuật bí truyền (phù lục, pháp thuật, phong thủy). Vì biết phong thủy là một môn học sâu sắc của nhân gian, người không có trí tuệ lớn khó có thể thấu hiểu được tinh túy và học được trọn vẹn. Phong thủy ở nước ta đã lưu hành cả nghìn năm, ắt có đạo lý của nó, là một trong những pháp môn thay đổi vận mệnh hiệu quả nhất. Con may mắn được thầy chỉ dạy, nguyện suốt đời quyết tâm học thành, và lấy "chính tâm thành ý làm gốc, cứu người giúp đời làm tâm" làm kim chỉ nam.*

*Con chủ động từ chức vị trí ở ngân hàng, chuyển sang khảo sát phong thủy cho người khác, càng cảm thấy trách nhiệm nặng nề trên vai. Ngoài công khóa lễ Phật, con đã quyết tâm và nỗ lực nghiên cứu phong thủy. Thông thường đọc một cuốn sách mười lần cũng không có gì là lạ, để có thể lĩnh hội chân lý ẩn chứa trong đó. Tuổi đã đến bốn mươi, nhưng trí tuệ vẫn còn đần độn, tiến bộ có hạn.*

*Con tự xét thấy hiểu biết về thuật phong thủy vẫn chưa đạt đến cảnh giới tốt đẹp. Mỗi khi phục vụ cho người khác (xem đất), trong lòng vẫn không khỏi lo lắng, sợ rằng nếu có sai sót sẽ hại người hại mình, càng sợ làm tổn hại đến danh tiếng của ân sư. Thường khi đến một nơi, muốn chọn đất nào? Muốn chọn hướng nào? Lòng rất mơ hồ. Ân sư có nói trong sách: "Thế nào là hướng tốt, sinh vượng là vậy. Hướng tốt thu sinh vượng thủy lên đường, đẩy tử tuyệt thủy về kho." Cố lão cũng nói: "Phát đạt là do nắm được phép chọn hướng, suy bại là do mất phép chọn hướng" và "Nước có cát hung toàn ở việc lập hướng để thu nạp, đất không tuyệt người thì nước tuyệt người, nước không tuyệt người thì hướng tuyệt người." Từ đó có thể biết tầm quan trọng của thủy pháp và hướng pháp. Sách phong thủy thông thường đều giấu kín không nói, có cuốn chỉ nhắc qua sơ sài như chuồn chuồn đậu nước, không lạ gì chẳng ai hiểu được. Huống chi đạo phong thủy không chỉ là công phu sách vở, nếu không có minh sư lên núi chỉ dạy, điểm phá yếu quyết xem núi (loan đầu), trong lòng sẽ không bao giờ hiểu thấu.*

*Ân sư đã nhiều lần chỉ dạy trong sách: "Xem phong thủy không phải là trò đùa, cũng không phải nói suông, không phải học một năm nửa năm đã muốn dựa vào la bàn để kiếm sống... Quan trọng lắm! Quan trọng lắm! Học phải học cho tinh, học cho thông, học cho toàn, học cho thật..." Những lời tâm huyết của ân sư khiến người ta vô cùng biết ơn, học trò phải khắc ghi trong lòng, không nên tự mãn với hiện trạng, tự cao tự đại, mà càng phải nỗ lực theo đuổi tri thức ở cảnh giới cao nhất. Từ khi lễ Phật học đạo, càng thấy đời người ngắn ngủi, nên làm những việc có ích cho người khác. Như vậy mới có ý nghĩa, mới không uổng phí. Hiện nay học trò say mê nghiên cứu thuật phong thủy, một lòng một dạ muốn học cho giỏi (chính xác không sai), đáng tiếc là thiếu những bí kíp phong thủy chân truyền để nghiên cứu, sách vở trên thị trường thì muôn hình vạn trạng, nhiều như nước, nhưng cuốn nào cũng không đầu không đuôi, đúng sai khó phân.*

*Sư phụ là hóa thân của thần nhân, bậc minh sư của thời đại, thấu hiểu huyền cơ, thông tỏ tạo hóa. Mọi việc của học trò, như tính cách làm người, cách đối nhân xử thế, cũng như thành tựu tương lai, đều không thoát khỏi sự tính toán thần diệu của sư phụ. Tục ngữ có câu: Tướng giỏi không có binh yếu. Vì vậy, con thành tâm cầu xin sư phụ từ bi chỉ dạy, và nhân dịp du hành ở Mỹ, xin thầy dành thời gian viết tác phẩm "Bí Kíp Địa Linh Chân Truyền của Linh Tiên Chân Phật Tông" hoặc "Bảo Thư Địa Lý Thủy Hướng", bàn về long, huyệt, sa, thủy, hướng. Để cho các học trò Trần, Trương, Du có thể nghiên cứu sâu hơn về thuật phong thủy, dùng phép tiên chân chính phục vụ xã hội, mang phúc lợi đến cho người có duyên.*

*Gần đây đọc sách, tình cờ có một câu của Quản Tử nói rằng: "Suy nghĩ đi, suy nghĩ đi, rồi lại suy nghĩ thêm nữa, nếu suy nghĩ mà không thông, thì quỷ thần sẽ giúp cho thông." Học trò sẽ giữ vững tinh thần kiên định bất khuất này, từ sáng đến tối, nỗ lực không ngừng. Kết hợp với việc lễ Phật tụng kinh sớm tối, thành tâm cầu xin Phật Tổ khai ngộ, đồng thời tha thiết cầu xin ân sư không tiếc chỉ dạy, để sớm ngày thành tựu. Những lời ân cần dặn dò của ân sư vẫn còn bên tai, không dám quên một lời, sẽ suốt đời lấy đó làm khuôn phép. Những người được phục vụ và được lợi ích không phải là ít, phần lớn là nhờ an phúc thần phát, điểm này cũng đáng an ủi phần nào, đây cũng là vinh quang của ân sư.*

*Con vốn tính ngay thẳng, là người nói thật, thành tín đối với người, làm việc nghiêm túc, không dám nói dối lừa người, nhưng không giỏi giao tiếp, không biết nịnh hót, lại còn ghét cái ác như kẻ thù. Con luôn coi trọng tình cảm, ai có ơn với con, suốt đời không quên và luôn cố gắng báo đáp. Vì xuất thân từ gia đình nghèo khó, hoàn cảnh trắc trở, chỉ biết phấn đấu vươn lên, mong có thể thành đạt, đối với trời đất Phật Tổ thầy tổ và mọi người, lòng đều chân thành, không có ý đồ khác, xin trời đất chứng giám.*

*Ân sư thường nói "Đời người ngắn ngủi." Lại nói: "Con người không có ai hoàn toàn thiện cả" và "Có người ở đâu thì có thị phi ở đó" quả thật rất có lý. Con người cần học từ bi, học khiêm nhường, học độ lượng, học viên mãn, để đối phó với những vấn đề ngày càng phức tạp của cuộc sống. Học trò chỉ biết tu tâm dưỡng tính, lễ Phật tụng kinh, mỗi ngày làm một việc thiện, học trò sẽ luôn ghi nhớ, suốt đời tuân theo không đổi. Bức thư này viết lộn xộn, văn chương không hay, xin đừng chê cười.*

*Kính chúc Phật an.*

*Học trò Trần Chính Hùng kính trình.
Ngày 3 tháng 11 năm 1982.*

🌟

Bức thư này có ba điểm đáng suy ngẫm kỹ:

Thứ nhất, tôi thường khuyên người ta nên trì một danh hiệu Phật, tụng một loại kinh, niệm một chú, mỗi ngày làm một việc thiện, ngồi thiền một lần, và tự mình luôn thực hành điều đó. Nào ngờ một Phật, một kinh, một chú, một thiện, một thiền này, dần dần trở thành "kim cương tạng" của chính mình. Bất kể là kinh gì chú gì, chỉ cần niệm đến thuần thục, sẽ có thể chuyển động bánh xe pháp, bánh xe pháp một khi chuyển động, công lực sẽ tiến bộ vượt bậc. Có tâm kiên định bền bỉ mới là gốc rễ của việc tu đạo học Phật. Những người tu đạo học Phật nửa chừng bỏ cuộc rất nhiều, bởi vì những người này không có lòng kiên trì.

Còn có một loại người khác, giọng điệu ngạo mạn, họ nói họ không thể tu đạo nữa, hỏi họ vì sao? Họ nói nếu họ tiếp tục tu, sẽ còn cao hơn cả Phật Tổ, nên không thể tu đạo nữa. Nghe những lời ngông cuồng này, khiến tôi nhớ đến những bệnh nhân tâm thần trong bệnh viện tâm thần, bởi vì những người bị nhốt trong đó, chính là hạng người như vậy.

Thứ hai, Quản Tử nói: "Suy nghĩ đi, suy nghĩ đi, rồi lại suy nghĩ thêm nữa, nếu suy nghĩ mà không thông, thì quỷ thần sẽ giúp cho thông." Đây chính là sự chí thành có thể làm đá vàng phải mở. Lời của Quản Tử rất hợp ý tôi, thực ra phần lớn cảm hứng của tôi là do "quỷ thần khai thông". Cảm hứng viết sách của tôi phần nhiều đến từ sự thông báo của quỷ thần, ví dụ khi tôi nghĩ một vấn đề nào đó không thông, ban đêm ngủ, quỷ thần liền truyền câu trả lời vào trong tâm trí tôi, sáng hôm sau thức dậy thì đã hiểu rõ. Đây chẳng phải là minh họa tốt nhất cho câu "suy nghĩ đi, suy nghĩ đi, rồi lại suy nghĩ thêm nữa, nếu suy nghĩ mà không thông, thì quỷ thần sẽ giúp cho thông" hay sao.

Thứ ba, nói một cách đơn giản, học thuật địa linh chính là "môn học về dòng khí địa lý", kiến thức trong đó không hề đơn giản, người tu đạo không thể không biết. Nhưng nếu chỉ chú trọng vào việc sinh tài lợi lộc, thì sẽ rơi vào hạng người giang hồ bịp bợm. Nếu giúp người chọn điều cát tránh điều hung, giúp họ có được chỗ ở tốt để tu đạo, mới có thể gọi là thượng phẩm.

Giúp người tạo phúc phát tài tuy là việc tốt, nhưng nếu người được giúp lại dùng tiền tài vào việc xấu, há chẳng phải trở thành "nguồn tội" hay sao. Xét cho cùng, việc giúp người tạo phúc phát tài chỉ là trò chơi của thế gian mà thôi, cách xa đại đạo xuất thế tu hành chân chính tới tám mươi tám nghìn dặm.

Thuật địa linh quả thực là môn tuyệt học nghìn đời, trong tương lai tôi nhất định sẽ biên soạn một quyển bí kíp để cho các học trò đời sau tham khảo, nhưng mong rằng họ hướng đến thượng phẩm, đừng chỉ chạy theo việc phát tài mà thôi.


### 41. Cuộc đấu tranh của Linh Tiên Tinh Xá tại Mỹ - Cảm nhận từ phiên điều trần tại thành phố Redmond


Người phương Tây muốn xây dựng nhà thờ Tin Lành hay Công giáo trong nước, chỉ cần có địa điểm và kinh phí là có thể thực hiện dễ dàng. Do đó, các nhà thờ Tin Lành và Công giáo mọc lên khắp nơi, không chỉ ở thành phố hay nông thôn, mà ngay cả vùng núi hẻo lánh cũng có nhà thờ và các nhà truyền giáo phương Tây, vì vậy việc truyền đạo Tin Lành và Công giáo trong nước phát triển thuận lợi, số người theo đạo ngày càng đông.

Sau khi đến Mỹ, tôi bất ngờ phát hiện ra Seattle không có lấy một ngôi chùa của người Trung Quốc. Dù số lượng người Trung Quốc ở Seattle không nhiều bằng Los Angeles hay San Francisco, nhưng cũng không ít. Thế nhưng tôn giáo truyền thống của người Trung Quốc ở đây lại hoàn toàn không còn tồn tại, không có gì lạ khi người Trung Quốc thiếu chỗ nương tựa tinh thần, trở nên u uất, như bèo dạt không rễ, sự đầy đủ về vật chất làm sao bù đắp được sự trống rỗng về tâm hồn. Tôi thực sự không hiểu những người Trung Quốc này đã sống ở Seattle suốt cả trăm năm qua như thế nào?

Vì vậy, chúng tôi tập hợp một số đạo hữu, mua được hai mẫu đất tại Redmond, xin phê duyệt của chính quyền tiểu bang. Sau khi chính quyền tiểu bang Washington đã phê duyệt, chúng tôi nộp bản vẽ thiết kế và các giấy tờ cho chính quyền thành phố Redmond để Ủy ban Xây dựng của Redmond thẩm định. Rào cản đầu tiên chúng tôi gặp phải là phiên điều trần.

Hoa Kỳ, một quốc gia tự xưng là tự do dân ý, phiên điều trần là hiện tượng rất phổ biến. Việc có chấp thuận các công trình của chính phủ hay không phụ thuộc vào ý kiến của cư dân địa phương, vì vậy phiên điều trần là để lắng nghe ý kiến người dân. Cách làm việc của chính phủ không thể đi ngược lại ý dân. Nếu chính phủ không quan tâm đến ý kiến người dân, một mực làm theo ý mình, trong phiên điều trần, người dân nếu tập hợp được sức mạnh có thể phủ quyết cách làm của chính phủ. Phiên điều trần cũng có chủ tọa (như thẩm phán), có sự tham dự của cả quan chức chính phủ và người dân.

Ngày 9 tháng 11 năm 1982, lúc 7 giờ tối, thành phố Redmond tổ chức phiên điều trần về Linh Tiên Tinh Xá tại thư viện thành phố. Đêm đó trời rất lạnh, nhiệt độ là 0 độ C, trên nóc xe phủ một lớp băng. Tôi cùng với Trần Tước Viên, Trần Sâm Long, Trần Sâm Hà và luật sư người Mỹ Henry lái xe từ Seattle đến Redmond, quãng đường mất khoảng 40 phút. Trong đêm đông giá rét, hơi thở của mỗi người đều bốc thành khói trắng.

Nghe nói tin tức về việc tôi xây dựng ngôi chùa Trung Quốc tại Redmond, Washington đã gây chấn động cả thành phố Redmond. Lý do gây xôn xao là vì đây là đơn xin xây dựng chùa Trung Quốc đầu tiên kể từ khi thành phố được thành lập, điều chưa từng có ở Redmond và có lẽ cũng chưa từng có trong toàn tiểu bang Washington. Trong tâm trí người Mỹ, họ cho rằng Tin Lành và Công giáo là tín ngưỡng của đa số dân chúng Mỹ, giờ đây, tín ngưỡng thờ tượng của chùa Trung Quốc đang xâm nhập vào địa bàn của họ.

Họ có tâm lý chống đối và bài xích, trực giác cho rằng như vậy là ma quỷ đã xâm nhập vào thành phố Redmond, sự yên bình của thành phố sẽ bị phá vỡ, Đức Chúa Trời Jehovah và Chúa Jesus sẽ rất buồn, không những thế, cảm giác ưu việt đặc biệt của người phương Tây (lòng tự tôn của người da trắng) cũng sẽ bị dao động bất an bởi sự xâm nhập của ngôi chùa Trung Quốc.

Mặc dù là một đêm đông giá lạnh, nhưng thư viện thành phố Redmond đông nghịt người. Phía chúng tôi có tôi, ba anh em nhà họ Trần, luật sư Henry, người bạn Mỹ Andrew, và kiến trúc sư Brown.

Còn phía họ thì người đến không đếm xuể, khiến chúng tôi trông có vẻ lẻ loi; có hai viên chức thành phố tham dự; chủ tọa, nữ thư ký, và nhân viên ghi âm, tổng cộng ba người.

Cư dân thành phố Redmond tập trung đông đủ, không khí sôi động của "phiên điều trần" này quả thật không thể nào tả xiết.

Đúng 7 giờ, Ủy ban Xây dựng thành phố trước hết giải thích về khu vực xây dựng, trình chiếu bản đồ địa hình màu, chỉ ra vị trí dự định xây dựng và bản vẽ thiết kế, sau đó chính thức lắng nghe ý kiến.

Phía chúng tôi, người trả lời chính là kiến trúc sư Brown, bởi ông ấy am hiểu rõ các điều khoản pháp lý về thiết kế, luật sư Henry cũng giải thích về mục đích thành lập chùa, người bạn Mỹ Andrew thật nhiệt tình cảm động, anh ấy vừa từ Đài Loan trở về, vừa xuống máy bay đã vội vàng đến đây, lên sân khấu giới thiệu về chúng tôi, nói rất nhiều điều tốt đẹp.

Những ý kiến mà cư dân thành phố Redmond đưa ra, tôi tổng hợp như sau: (Hôm đó, mọi người giơ tay phát biểu, tranh nhau phát ngôn).

Có người nêu lên rằng, ban đêm ở thành phố Redmond rất yên tĩnh, nhưng chùa Trung Quốc thường thắp đèn suốt đêm, hơn nữa những ngọn đèn này rực rỡ muôn màu, tỏa sáng rực rỡ, liệu có phá vỡ sự yên tĩnh của màn đêm, khiến những người sống gần chùa không thể ngủ được không. (Tác giả nghĩ, gã này chắc đã từng đến chùa Long Sơn ở Đài Bắc.)

Có người nêu lên rằng, chùa Trung Quốc thường thắp nến, mặc dù thiết bị phòng cháy của thành phố Redmond khá tốt, nhưng cư dân ít khi xảy ra hỏa hoạn, việc đặt một ngôi chùa thắp nến ở thành phố Redmond liệu có vấn đề gì về an toàn không, đừng để cả thành phố Redmond bị thiêu rụi. (Ông này nghĩ chu đáo thật, hẳn đã xem phim Thiếu Lâm Tự bị thiêu.）

Có người nêu lên rằng, trong tương lai khi chùa tổ chức các buổi pháp hội hay lễ hội, chắc chắn sẽ có xe buýt lớn (đoàn hành hương) và xe hơi cá nhân đến, bãi đậu xe không đủ chỗ, giao thông trên đường sẽ bị tắc nghẽn, người ra vào chùa đông đúc, gây ảnh hưởng lớn đến giao thông, cư dân sống gần đó sẽ rất bất tiện khi đi lại, đồng thời sự hỗn loạn giao thông cũng sẽ đe dọa đến an toàn tính mạng. (Tôi thắc mắc sao ông ta biết chúng tôi có đoàn hành hương.)

Có người nêu lên rằng, chùa Trung Quốc rất cao lớn, sẽ chắn tầm nhìn "phong cảnh" của những người dân sống xung quanh và phía sau. Cần biết rằng, "phong cảnh" là một trong những nhu cầu thiết yếu của người Mỹ - nhà có "phong cảnh", tầm nhìn rộng thì giá cao hơn, không có "phong cảnh" thì dù giá rẻ cũng khó bán. Khi họ mua nhà, "phong cảnh" là điều kiện tiên quyết. Linh Tiên Tinh Xá của chúng tôi quả thật đã chắn "tầm nhìn" của vài hộ gia đình, nhưng điều kỳ diệu là, một trong những hộ gia đình sống gần nhất phía sau chùa đã đứng lên nói: "Tôi tin rằng những người phương Đông này sẽ là những người hàng xóm tốt của tôi."

Nhà tôi hoàn toàn bị Linh Tiên Tinh Xá chắn mất tầm nhìn, tôi là người ở gần nhất mà còn không nói gì, các người ở xa như vậy lại có nhiều ý kiến thế? (Người hàng xóm phía sau này là giáo viên, làm việc ở trường học, là người tốt bụng, đã lên tiếng ủng hộ chúng tôi, chúng tôi rất biết ơn.)

Có người nêu lên rằng, chùa Trung Quốc có lầu chuông và lầu trống, khi đánh lên thì vang tiếng leng keng ầm ầm, khi làm pháp hội lại còn dùng microphone, trong tương lai sẽ phát sinh tiếng ồn, phá vỡ sự yên tĩnh xung quanh, nếu vấn đề tiếng ồn xuất hiện, hàng xóm láng giềng sẽ không chịu nổi, vì vậy do vấn đề tiếng ồn, không thể cho phép xuất hiện ở thành phố Redmond yên bình, tốt nhất nên xây dựng trên đỉnh núi hoặc khu vực không có hàng xóm. (Về điểm này, chúng tôi không dự định xây lầu chuông trống, pháp hội hoàn toàn không dùng microphone, nên tất nhiên sẽ không có tiếng ồn.)

Có người nêu lên vấn đề xử lý nước thải, vấn đề xử lý nước bẩn; có người nêu lên vấn đề trồng cây, vấn đề cơ sở hạ tầng công cộng; có người nêu lên vấn đề nuôi chó nuôi mèo, tóm lại, những chuyện vụn vặt không ngờ tới đều được đem ra làm đề tài phản đối, khiến người ta cảm thấy nực cười.

Tất nhiên, cũng có người nêu ra "vấn đề tín ngưỡng", hỏi tại sao trong chùa không đặt ghế cho người tham dự ngồi, rồi lại đến vấn đề thờ tượng, liệu có ảnh hưởng đến đức tin của thế hệ trẻ thành phố Redmond không, có gây ra khủng hoảng tín ngưỡng cho thành phố Redmond hay không.

Nói một cách công bằng, tất cả những vấn đề mà người nước ngoài nêu ra đều có thể giải quyết được, tôi chỉ lo ngại căn bệnh xoáy vào chuyện vụn vặt của họ mà thôi.

Thật ra, đôi khi một việc rất đơn giản, họ lại làm cho nó càng ngày càng phức tạp. Người Trung Quốc chúng tôi đề cao hiệu quả, còn họ thì không, họ cứ lần lữa làm việc qua loa cho có lệ, kéo dài công việc mãi không xong, khiến người ta thực sự mất kiên nhẫn, nhưng cũng đành chịu thôi.

Theo tôi được biết, phiên điều trần phải tổ chức tới ba lần, sau đó thẩm phán mới đưa ra phán quyết cho phép xây dựng hay không. Nếu không được phép xây, chúng tôi có quyền kháng cáo. Nếu được phép xây, mà cư dân vẫn kiên quyết không đồng ý thì họ cũng có thể kháng cáo, tất cả kháng cáo đều phải có lý do chính đáng, và cư dân phải ký tên tập thể.

Nghe nói có một vị pháp sư xây chùa du lịch ở Los Angeles, gặp phải sự phản đối mạnh mẽ của cư dân xung quanh, đến nay vẫn còn đang bị treo đó chưa xây được.

Tâm lý tinh tế của người Mỹ thật kỳ lạ, họ thích can thiệp vào chuyện của người khác và hay thổi phồng vấn đề nhỏ thành to. Ví dụ như khi một con ngỗng chết không rõ nguyên nhân, họ cũng tổ chức "phiên điều trần về con ngỗng" để tìm ra thủ phạm. Người Trung Quốc chúng tôi sẽ cho rằng đây là việc làm của những người rảnh rỗi, quá nhàm chán. Nhưng họ lại làm việc này một cách sôi nổi và hết sức nghiêm túc.

Về việc thành lập Linh Tiên Tinh Xá Hoa Kỳ tại thành phố Redmond, cá nhân tôi rất có niềm tin và đang tiến hành công tác vận động theo nhiều hướng.

Mặt khác, chúng tôi phải phù hợp với lý tưởng của họ, giải đáp những hiểu lầm không đáng có, đồng thời tránh để họ nghĩ rằng chúng tôi đang xâm chiếm địa bàn tín ngưỡng của họ. Dù những công việc này không dễ dàng, nhưng với trí tuệ của người Trung Quốc, chúng tôi không sợ khó khăn, Linh Tiên Tinh Xá Hoa Kỳ nhất định sẽ được xây dựng thành công.


### 42. Lời kết. Cảm hoài


Khi viết thư cho bạn bè ở quê nhà, câu đầu tiên tôi thường viết là "Người ở Mỹ, nhưng lòng vẫn ở Đài Loan".

Dù ấn tượng về ngôi nhà xưa đã dần phai nhạt, nhưng mỗi người sống nơi đất khách đều có một nơi chốn gọi là "cội nguồn" trong tim. Tuy giữa chúng ta là cả một Thái Bình Dương mênh mông vô tận, thậm chí nghìn núi cách trở, nhưng khi về đêm, trong giấc mơ vẫn luôn có những giấc mộng viễn xứ.

Dù chỉ là một cây bút lông từ Đài Loan gửi sang, hay nghiên mực và mực tàu mà tôi thường dùng trước đây, hay những vật dụng nhỏ nhặt mà tôi vẫn dùng mỗi sáng khi tiếp những người đến cầu học, trong thâm tâm tôi vẫn luôn ngập tràn nỗi nhớ.

Khi môi trường có sự thay đổi lớn, tâm hồn con người cũng có những chuyển biến sâu sắc. Cứ đến những ngày lễ như Tết Đoan Ngọ, Tết Trung Thu, hay Trùng Cửu leo núi, tôi lại giật mình: "Ồ! Hôm nay là rằm tháng Tám âm lịch."
Đối phương trả lời: "Ừ nhỉ!" với giọng lạnh nhạt, chẳng coi đó là chuyện gì quan trọng.

Vào Tết Trung Thu, bánh trung thu ở quê nhà chất cao như núi. Trong thư cha viết có nhắc đến việc vài học trò đã đến nhà thăm và ở lại cùng mẹ tôi đón Tết Trung Thu, những điều này khiến tôi bồi hồi trong giây lát.

Ở nơi này, một mẩu bánh trung thu cũng không có, nghĩ đến thật não lòng. Trăng nơi đây trốn sau mây, gió lạnh thổi dọc con phố vắng không một bóng người. Tôi đứng bên cửa sổ, nhìn ra giữa phố vắng tanh, nhớ về những ngày đã qua, không bánh dẻo, không bánh trung thu, không một ai bên cạnh, còn gì là Tết Trung Thu nữa.

Thành thật mà nói, tôi không cảm thấy phiền muộn, tôi hiểu đây là do thay đổi môi trường. Ở đây đi dạo phố chẳng gặp được người quen, một mình qua lại, lái xe riêng của mình, nhìn qua cửa kính xe, Seattle thường hay mưa, ngồi trong xe, đôi khi co ro vì lạnh, tất cả những điều này đều chẳng liên quan gì.

Ngày tháng cứ thế trôi qua bình thường, mỗi ngày tôi đều đặn viết một bài, đây là công việc đáng an ủi của tôi ở nơi này. Mỗi ngày vừa thức dậy, tôi cầm bút và giấy, bắt đầu ghi chép những hoạt động giữa "linh và tôi".

Tôi không hối tiếc vì cuộc sống cô đơn này, ở một góc độ nào đó, sự tĩnh lặng của cuộc sống có lẽ là một tác động tích cực và cổ vũ lẫn nhau. Việc viết lách lâu dài, liên tục không ngừng, trở thành một thử thách rèn giũa ngòi bút của tôi. Âm thầm và bí mật, các tác phẩm của tôi lần lượt ra đời, điều này khiến tôi rất tự hào.

Đọc sách và tĩnh tọa là công việc hàng ngày của tôi. Đặc biệt là những điều đạt được trong lúc tĩnh tọa, mở ra một "thế giới phong cảnh" khác biệt. Hướng lên, có thể đạt tới cõi trời ngoài cõi trời; hướng xuống, có thể vào tận đáy địa ngục. Trời xanh mây trắng bao la, đẹp và tĩnh mịch, quả thực là cảnh đẹp thiên cung. Suối nước như bạc, tinh thần phấn chấn, sảng khoái lạ thường. Động thiên tiên cảnh trong lúc tĩnh tọa trở nên có thể chạm tới được. Dù địa ngục là nơi cực kỳ nguy hiểm, nhưng với tâm định không lo, tự nhiên cũng có thể thoát khỏi hiểm địa không lo âu. Tiếng gió ù ù, lục đạo luân hồi, quả thật cũng có ý nghĩa sâu xa của nó.

Đây là cuốn sách thứ bốn mươi mốt của tôi.
Tin tức cho biết, bốn mươi cuốn sách trước của tôi đều được Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ trân trọng lưu giữ.
Tác phẩm của một tác giả nước ngoài được Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ sưu tầm, điều này có ý nghĩa gì?

Tôi không cho rằng đây là thành công của mình, tôi chỉ nghĩ rằng, tôi đã cố gắng hết sức, mọi tràng vỗ tay và lời tán dương đều là thừa thãi, tôi không cảm thấy đặc biệt vui mừng, bởi vì tôi ghét nhất là những kẻ "vinh thân phì gia".

Nghiên cứu khoa học tâm linh không chỉ đơn thuần là một rổ kiến thức, mà là một điều vô tận, vô cùng vô tận. Dù dùng trí óc hữu hạn của con người để tìm hiểu cũng không thể nghiên cứu hết được, bởi vì học vấn của nhân gian chỉ như một hạt cát trên bãi biển tâm linh mà thôi.

Từng có những lúc tôi phải chịu đựng những đợt sóng tấn công dồn dập, nhưng phẩy tay từ bỏ việc nghiên cứu tâm linh không phải là điều tôi mong muốn. Dù đôi khi cũng cảm thấy chán nản, nhưng một khi nghĩ đến đây là chân lý vĩnh hằng, tôi liền nhẹ nhàng quên đi những lời chỉ trích của người khác, tiếp tục viết xuống những ghi chép nghiên cứu chân thật, quên đi cảm giác không thoải mái khi bị người khác bàn tán, và biến nó thành nhiệt huyết và yêu thích.

Sách của tôi đều là những cuốn sách bán chạy. Nếu không bán chạy thì làm sao có thể phổ biến rộng rãi trong và ngoài nước như vậy được. Mỗi cuốn sách đều được tái bản nhiều lần, vinh quang của sách bán chạy đều thuộc về những sách tâm linh này. Độc giả liên tục hỏi thăm khi nào sách mới được xuất bản. Chỉ cần tôi bắt tay vào viết là đã có nhiều nhà xuất bản tranh nhau xuất bản, khiến một kẻ ẩn cư nhỏ bé như tôi cũng cảm thấy vinh dự.

"Thế giới của con mắt thứ ba" là tác phẩm thứ hai được viết tại Hoa Kỳ. Tôi rất thích sự trong trẻo của cuốn sách này và mong muốn mang đến cho độc giả những thành quả tốt đẹp hơn nữa. Cuốn sách này kể về mọi thứ ở phương Tây, đặc biệt là những chuyện về linh hồn.

Tại Hoa Kỳ, khoa học tâm linh đang mở ra một viễn cảnh tươi đẹp. Với sự thành lập đạo tràng Linh Tiên Tinh Xá, công việc bắt đầu trở nên bận rộn, và nhờ sự gia hộ của chư Phật Bồ Tát, việc viết sách, xây chùa, sự nghiệp và tu tập tâm linh đều trở nên thuận lợi hơn.

Trong sách này có một bài viết "Vài ý kiến gửi đến Đại sư Lâm Vân", thực lòng mà nói, tôi không hề có thành kiến với ông ấy, tôi chỉ mong muốn ông ấy phát triển tốt hơn, ông ấy nên có khả năng tiến từ khởi linh đến thông linh. Ai cũng có thể nói về lý thuyết, sự khác biệt nằm ở chỗ thuyết giảng hay hoặc dở, và những lý thuyết của Đại sư Lâm Vân trình bày đã đủ rồi.

Nhưng tôi tha thiết mong ông ấy thực hành, phải thực sự có thiên nhãn thông và thiên nhĩ thông mới được, không thể chỉ dựa vào linh cảm (giác quan thứ sáu). Tôi mong Đại sư Lâm Vân thành công, chứ không phải chỉ dạy người ta xem phong thủy, bói toán mà thôi, thỉnh thoảng linh cảm trúng rồi đem ra tuyên truyền rầm rộ, như vậy chỉ trở thành một kẻ giang hồ học thuật cao cấp.

Nhớ rằng nhất định phải khởi linh, từ khởi linh đạt được linh giác, từ linh giác đạt được giác ngộ, như vậy mới có thể thực sự chạm được cõi linh, xin mời Đại sư Lâm Vân thử trải nghiệm cảm giác xuất thần, giao tiếp với những linh hồn cao cấp, thành tựu như vậy sẽ cao hơn hiện tại nhiều.

Mong rằng ông ấy cố gắng.

Khoa học tâm linh là một môn học hình thành một cách tự nhiên, khi thời điểm chín muồi đã đến. Ngoài việc giao tiếp, đây còn là chân lý về cuộc sống trước và sau khi chết. Mong rằng mọi người cùng cảm nhận được điều này, người có chí ắt sẽ thành.

Tháng 1 năm 1983 tại Linh Tiên Các, Seattle, Hoa Kỳ.


### 43. Phụ lục: Liên Sinh Hoạt Phật khai thị - Tu pháp cúng khói thành tựu có thể tâm tưởng sự thành


Bản văn này được trích từ Chân Phật Báo số 679, trang 2 "Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật khai thị"

Ngày 16 tháng 2 năm 2008 tại Seattle Lôi Tạng Tự.

Với lòng tôn kính, chúng ta kính lễ đến Liễu Minh Hòa Thượng, Sakya Chứng Không Thượng sư, Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16, Thubten Dhargye Thượng sư và Tam Bảo, Thượng sư trụ trì, Sư Mẫu, các vị Thượng sư, pháp sư, giáo thọ sư, giảng sư, trợ giảng, các đồng môn, và cả các đồng môn trên mạng Internet, tất cả các vị khách quý, gửi lời chào thiện lành đến tất cả mọi người.

Trước tiên để tôi nhắc đến một việc mới được đề cập đến bởi hội trưởng Tô, một vị khách mời. Thực sự là vị này không nói nhiều, nhưng ông ta đã gửi những lời chúc tốt đẹp nhất đến mọi người. Mặc dù hiện nay chúng ta đang sống ở Mỹ, nhưng những tâm tư của chúng ta mở rộng ra không chỉ ở Seattle này mà đến cả Đài Loan, và đến tất cả mọi người trên toàn thế giới. Ở Đài Loan, các ứng cử viên của đảng Lam và đảng Lục đang chạy đua cho vị trí tổng thống. Bây giờ ông Tô theo đảng Lam. Ở Seattle, cộng đồng người Hoa cũng như các đệ tử trong nhóm chúng ta ủng hộ cho cả hai đảng. Tôi có cả áo gilê màu lam và áo gilê màu lục, vì lý do này mà hôm nay tôi chẳng mặc một trong hai màu này. Thay vì đó thôi mặc cái áo gilê màu đen và trắng.

Dù sao, cho dù ở bất kì vị trí nào, một người nên quan tâm đến nguồn gốc nguyên quán sinh ra của mình cũng như nơi cư trú hiện tại. Trong tương lai, chúng ta nên làm những gì chúng ta có thể để đáp trả lại những cộng đồng đã nuôi dưỡng chúng ta. Gạt chính trị qua một bên, nếu một người có khả năng và có phẩm chất, chúng ta nên giúp người đó. Trong mắt của chư Phật, mỗi cá nhân đều bình đẳng. Bất kể là người đó thuộc về đảng nào, hy vọng của chúng ta là người đó có năng lực và có thể điều hành đất nước thật tốt. Hãy lấy ông Tô làm ví dụ, ông ta là giám đốc của một tổ chức thương mại và đang quản trị nó thực sự rất tốt.

Chúng ta vì thế nên bầu cho người nào có khả năng hành động vì lợi ích tốt nhất cho quốc gia. Năm nay nước Mỹ cũng có cuộc bầu cử tổng thống. Nguyên tắc này cũng được áp dụng ở đây. Chúng ta nên cố gắng hết sức để hoàn thành nghĩa vụ phục vụ chúng sinh. Đây là điều đầu tiên tôi muốn nói.

Thứ hai, tôi muốn nhắc đến việc mà Thượng sư Liên Bảo đã bàn luận lúc trước. Ông ấy đưa ra nhiều ví dụ về việc ông nghĩ "tình yêu" phụ thuộc vào cái gì. Tình yêu, thực sự, nên chẳng phụ thuộc vào cái gì cả. "Tình yêu" về cơ bản là không tồn tại. Ông ấy đã đúng khi nói rằng một người cần chuyển hóa "tình yêu vị kỉ" thành "tình yêu chan hòa". Nhưng trên thực tế, "tình yêu" không tồn tại thậm chí dưới trạng thái "chan hòa". Trong trạng thái đó, bạn đơn giản là làm mọi thứ với sự cố gắng tốt nhất của mình với lương tâm tốt. Đó là như thế đó. Có tình yêu nào ở đó để chúng ta nói về nó đây?

Tôi thích cái ý nghĩ sẽ nói chuyện với Thượng sư Liên Bảo và thông báo với ông ấy rằng tôi muốn hoán đổi vị trí với ông ấy. [ND: Sư Tôn đùa.] Tuy nhiên có những thứ mà ông ấy cho phép mình hưởng mà tôi thì không dám. "Tình yêu nhỏ", "tình yêu lớn", “tình yêu già" và "tình yêu trẻ" mà ông ấy nhắc đến sẽ dẫn dắt một người đi xa khỏi chư Phật. Nó chỉ dẫn người ta đến việc tạo ta một em bé. Chúng ta đều biết rằng Thượng sư Liên Bảo hơn 60 tuổi và người vợ mới của ông ấy mới ngoài 20 tuổi. Họ mới có một đứa con. Bạn sẽ cho rằng việc này đã đi quá xa khỏi chư Phật rồi? Mặc dù vậy, các đặc điểm khuôn mặt của đứa bé này rất đáng chú ý, và tôi hy vọng rằng trong tương lai cậu bé sẽ đưa ra lời nguyện hy sinh vì người khác.

Nếu đứa bé đến trước mặt tôi trong tương lai, tôi thậm chí không biết khi đó tôi đã bao nhiêu tuổi nữa. Tôi sẽ làm những gì tôi có thể để thực hành việc xuống tóc đi tu cho cậu bé. Như vậy thì sẽ rất gần với chư Phật rồi. (Sư Tôn cười lớn).

Bây giờ nói về Sư Mẫu. Lúc trước Sư Mẫu có chúc cho mọi người được may mắn trong năm con chuột. Từ "chuột" trong tiếng Trung (shủ) đồng âm với từ "đếm" (shù), Sư Mẫu chúc mọi người giàu có đến mức mọi người sẽ mệt mỏi gấp đôi vì việc đếm tiền. Sư Mẫu cũng chúc mọi người những giấc ngủ có điềm báo vận may và khả năng tỉnh dậy tự nhiên mà không mệt mỏi vào buổi sáng.

Hôm qua, Trần Truyền Phương, một đệ tử, đã đưa ra lời bình luận trêu đùa như sau:

"Mọi người trên thế giới này chẳng làm cái gì mà họ nói ra. Họ đều nói rằng họ biết tiền không thể được đem đến thế giới này và cũng không thể lấy đi khỏi thế giới này. Thế nhưng họ vẫn yêu tiền cho đến tận khi chết. Mọi người biết rằng đầu cơ vào chứng khoán là nguy hiểm. Thế nhưng họ vẫn liều và kết quả là tự buộc mình như những con cua lông Thượng Hải vậy. Đàn ông biết rằng bồ có thể là kẻ phá hoại gia đình. Thế nhưng họ vẫn tiếp tục lăng nhăng hết lần này đến lần khác. Chúng ta đều là những kẻ đạo đức giả! Và quan trọng nhất là, mọi người đều nói rằng Tây phương Cực Lạc là nơi tuyệt vời nhất để đến. Thế nhưng chẳng ai muốn đi đến đó cả."

Bởi vì bạn không thể đem tiền đến và lấy đi khỏi thế giới này, dường như chỉ cần có đủ cho một đời này thôi. Thế nhưng, con người yêu tiền hơn cả mạng sống của họ. Họ dành tất cả năng lượng để gom tiền nhiều và nhiều hơn nữa, và không bao giờ hài lòng. Điều này cũng đúng với tình dục. Mr. Sun đã ước gì bệnh gút của ông sẽ thuyên giảm, nhưng ông ấy cũng ước ông ấy gặp may mắn hơn với phụ nữ. (Sư Tôn cười). Hẳn là vợ ông ấy không có ở đây hôm nay. Mr. Sun có nhắc đến Song Xian-zheng, một đệ tử, người mà tôi cũng có nghe nói về những vụ việc tình ái trong quá khứ của ông ta. Thành ngữ Trung Quốc có câu: "Mỹ nữ có thể dắt anh hùng đến mộ của mình.” Quả thực những việc như vậy sẽ dẫn dắt một người rời xa khỏi chư Phật.

Hôm nay tôi truyền pháp cúng khói. Một lời giải thích đơn giản về thực hành pháp này không mất nhiều thì giờ lắm. Tuy nhiên, nếu tôi đi vào chi tiết, thì có khi mất đến vài tiếng đồng hồ, và chúng ta sẽ không thể kết thúc chương trình hôm nay đúng giờ.

Những người tu tập có những chướng ngại giống như người bình thường. Lúc trước Mr. Sun đã chúc là những điều ước của chúng ta sẽ thành hiện thực. Pháp cúng khói này sẽ giúp bạn đạt được ước nguyện. Nếu như không tịnh hóa đúng, những nghiệp quá khứ sẽ hiển lộ và cản trở sự thành công của bạn. Một hợp đồng kinh doanh sắp kí có thể đột ngột bị hủy. Một đám cưới cũng đột ngột bị hủy. Bạn có thể gần như chắc chắn trở thành tổng thống tiếp theo, nhưng vì lý do nào đó, cơ hội này vuột qua bạn.

Chướng ngại tồn tại giữa bạn và mục tiêu của bạn đến từ con người cũng như thế giới vô hình. Cái lực lượng thứ hai càng kinh khủng hơn. Chúng ta chịu sự chi phối của các lực lượng vô hình trong vũ trụ. Các kiếp trước của bạn, các mối quan hệ và liên kết mà bạn gắn vào trong đời này, những người bạn, kẻ thù và chủ nợ nghiệp quả của bạn, các nhân tố hữu hình và vô hình tồn tại, tạo ra những trải nghiệm hiện tại của bạn.

Thực hành pháp cúng khói này sẽ trợ giúp bạn tịnh hóa tất cả những chướng ngại hữu hình và vô hình này.

Để thực hành nghi thức này, thứ đầu tiên bạn cần là một cái lư hương. (Sư Tôn cầm cái lưu hương lên cho mọi người xem). Đây là cái lư hương nhỏ dùng cho cá nhân thực hiện. Để cho một nhóm người thực hiện thì dùng cái lư hương to hơn. Bạn có thể dùng lư hương hình chữ nhật cũng được, tùy vào bạn cúng cái gì. Thứ tôi có ở đây hôm nay là một cái lư hương dùng trong thực hành Kim Cương Thừa. Cái nắp sẽ được bỏ ra để bạn có thể để đồ cúng khói vào bên trong. Sau khi thắp hương, khói sẽ tỏa ra từ trên bề mặt. Khi khói bay lên, đọc các câu chú một cách chậm rãi, và thực hành quán tưởng cùng các bước còn lại của nghi thức.

Khói sẽ bay lên tới đâu? Đầu tiên, nếu bạn cúng cho chư Phật chư Bồ Tát, thực hành pháp này từ 5h - 9h sáng.

Nếu bạn cúng cho các kẻ thù, chủ nợ nghiệp, thực hành pháp này từ 5h-9h tối. Đây là thời gian bắt buộc.

🌟

Các quy tắc Mật giáo chỉ rõ các món đồ cần thiết để cúng khói

Đầu tiên là bột gỗ đàn hương.

Thứ hai là bột mì đã được rang trên chảo (không dùng dầu ăn). Đối với món này bạn có thể dùng bột sữa, bột gạo lứt, bột đậu phộng, bột đậu xanh, hoặc bột ngũ cốc.

Thứ ba là hỗn hợp đường nâu và đường trắng.

Thứ tư là các miếng vải nhỏ hình vuông đủ các màu đỏ, trắng, xanh lam, xanh lục và vàng. Thứ năm là một cái bật lửa hoặc que châm hương để đốt.

Lễ cúng đơn giản nhất có thể được thực hiện với bột mì, bột yến mạch, bột gạo lứt, kem sữa và sữa tươi. Bạn chỉ cần một chút xíu sữa tươi và kem sữa. Sau khi trộn những thứ này với nhau, để hỗn hợp khô, sau đó châm lửa và đốt nó.

Với cái lư hương chúng ta có ở đây, bạn có thể nặn đồ cúng thành miếng tròn. Đối với lư hương chữ nhật, bạn có thể nặn thành dạng que dài.

Trong quá trình làm các món đồ cúng này, chúng ta nên niệm "Om Ah Hum". "Om" để chuyển hóa đồ cúng thành kích cỡ lớn vô tận để lấp đầy vũ trụ; "Ah" để thanh tịnh đồ cúng; "Hum" để tăng cường pháp vị.

Bạn cũng nên niệm "Ram Yam Kham". "Ram" là lửa cháy; "Yam" là gió thổi bay đi khói được đốt ra; "Kham" phát tán khói đi khắp vũ trụ. Tôi nhắc lại, trong lúc chuẩn bị lễ cúng, hãy niệm "Om Ah Hum" và "Ram Yam Kham".

Khi bạn làm lễ cúng thực sự, hãy tạo thủ ấn Garuda. Thủ ấn này biểu tượng cho khói lan tỏa ra và bay lên tỏa khắp vào vũ trụ đang biến đổi. Nếu bạn cúng chư Phật chư Bồ Tát, đặt lư hương tại bàn thờ các vị Bổn tôn.

Nếu bạn cúng kẻ thù và chủ nợ tiền kiếp hoặc những ma quỷ và linh hồn gây chướng ngại, hãy đặt lư hương ở ban công nơi có không khí lưu thông. Bạn cần làm ở nơi có sự lưu thông khí tốt để khói có thể thoát ra ngoài. Ở nhà, bạn sẽ cần mở cửa sổ trong phòng thờ. Bạn cần khói bay lên và chiếm toàn bộ khoảng không.

Tương tự, như trong các thực hành thường xuyên của chúng ta, chúng ta sẽ thực hiện 7 bước nghi thức: Đại kính lễ, cúng dường Mandala, tứ quy y, chú 100 âm, tứ vô lượng tâm nguyện, và tương tự.

Tứ vô lượng tâm nguyện như sau:

"Nguyện cầu hết thảy chúng sinh được trải nghiệm hạnh phúc và mọi điều đem đến hạnh phúc, đây là lòng yêu thương vô lượng.
Nguyện cầu hết thảy chúng sinh được giải thoát khỏi khổ đau và những nguyên nhân đem đến khổ đau, đây là lòng từ bi vô lượng.
Nguyện cầu hết thảy chúng sinh được giải phóng khỏi đau khổ và luôn luôn hạnh phúc, đây là niềm vui vô lượng.
Nguyện cầu hết thảy chúng sinh được giải thoát khỏi tham lam sân hận và thực hành bình đẳng, đây là sự bình an vô lượng."

Sau khi hoàn thành 7 bước, quán tưởng bản thân biến thành vị Bổn tôn của pháp này. Bổn tôn của pháp cúng khói là Quan Thế Âm Bồ Tát Tứ Thủ. Câu chú của Quan Thế Âm Bồ Tát là "Om mani padme hum seh." "Seh" là chủng tự. Khi bạn kết thúc 7 bước mở đầu, khói đã tỏa lên cao rồi, bạn có thể thực hành cả quán tưởng và nghi thức. Nếu bạn ngồi trước bàn thờ, thực hiện quán tưởng khói ở trước chư Phật. Nếu bạn ở ban công, thực hành quay mặt ra ban công.

🌟

Lúc bắt đầu cúng khói, quán tưởng sự hóa hiện của Bổn tôn

Một vầng mặt trăng xuất hiện trong khoảng không ngay trước bạn, có chủng tự "Seh" trồi lên và nó chuyển hóa thành Quan Thế Âm Bồ Tát Tứ Thủ. Từ luân xa tim, chủng tự "Hum" màu xanh dương phóng ra và chuyển thành một cái móc bám vào Quan Thế Âm Bồ Tát Tứ Thủ (ở trên đỉnh đầu bạn) và kéo Ngài đi vào luân xa tim của bạn. Lúc này bạn chính là Quan Thế Âm Bồ Tát Tứ Thủ.

Tóm tắt lại, sau khi bạn làm xong 7 bước mở đầu, quán tưởng vầng mặt trăng cùng chủng tự "Seh" và sự biến hóa của nó thành Quan Thế Âm Bồ Tát Tứ Thủ ở trong không gian. Tiếp đó, quán tưởng chủng tự "Hum" từ trong tim bạn phóng ra một luồng sáng xanh dương để dẫn dắt và tiếp nhận Quan Thế Âm Bồ Tát Tứ Thủ ngự ở trên đỉnh đầu bạn rồi đi vào trong bông hoa sen ở trong tim bạn. Từ từ vị Quan Thế Âm Bồ Tát Tứ Thủ này phóng to ra thành cỡ người của bạn, trong chốc lát, bạn đã trở thành chính Quan Thế Âm Bồ Tát Tứ Thủ.

Sau khi trở thành Quan Thế Âm Bồ Tát Tứ Thủ bạn quán tưởng tính Không. Câu chú cho quán tưởng tính Không là: "Ôm sư-pa-wa, su-ta, sa-er-wa, ta-er-ma, sư-pa-wa, su-to-hằng." [Om sabhava suddha sarva dharma sabhava suddho ham]. Câu chú này biến đổi mọi thứ thành hư không. Bạn là Quan Thế Âm Bồ Tát Tứ Thủ ngồi trong hư không. Để làm mạnh mẽ thực thể này, niệm "Om mani padme hum" 108 lần.

Trong khi bạn đang trụ trong mênh mông của không gian hư không, quán tưởng khói bay lên từ lư hương và lấp đầy khoảng mênh mông của không gian này. Khói cũng biến thành những y áo tinh tế đẹp tuyệt vời, đồ ăn và thức uống, các công cụ, dụng cụ, nhà cửa, xe hơi, tủ lạnh và các đồ dùng điện khác. Tất cả các vật phẩm này xuất hiện trong quán tưởng của bạn: thức ăn, đồ dùng dụng cụ, quần áo lộng lẫy, và 5 loại cúng phẩm tinh tế. Bạn cũng có thể quán tưởng sự hiển thị của ngọc ngà châu báu lấp đầy hư không.

Lúc này, cúng những món đồ sinh ra từ khói này đến tất cả ma quỷ, linh hồn, kẻ thù và chủ nợ nghiệp, và các chúng sinh khác có sự lôi cuốn tiêu cực đối với bạn, để sau khi họ nhận những đồ cúng dường của bạn, bạn sẽ được để yên không bị chướng ngại cản trở nào. Việc làm của bạn như vậy là sẽ thành công. Tất cả các chủ nợ tiền kiếp của bạn, dù cho là hữu hình hay vô hình, sẽ được ảnh hưởng tích cực do việc cúng khói của bạn.

Vào lúc này, trong khi quán tưởng cúng dường, bật ngón tay 7 lần và niệm câu chú: "Ôm, ah-bu-la-ti, pu-ba-yê, sô-ha". Niệm câu chú này 7 lần đồng thời bật ngón tay. Niệm một lần thì bật ngón tay một lần. "Ôm, ah-bu-la-ti, pu-ba-yê, sô-ha". Bật ngón tay một lần. Lặp lại tổng cộng 7 lần.

Còn câu kệ hiến dâng thì sao? Nếu bạn cúng dường chư Phật và chư Bồ Tát thì bạn đọc:

"5 vật phẩm cúng dường tuyệt diệu này, con xin thành tâm dâng lên tất cả Chư Phật, Bồ Tát, Hộ Pháp và Chư Thiên thông qua cúng khói này".

Nếu bạn cúng cho kẻ thù và chủ nợ tiền kiếp thì bạn đọc:

"5 vật phẩm cúng dường tuyệt diệu này, con xin thành tâm trả lại cho quỷ ăn hương, …. , .. .., Long Vương, Long Nữ, Thần Núi, Thần Sông, Thần Biển và tất cả các chúng sinh chưa siêu thoát và chúng sinh đang chịu đau khổ. Cầu nguyện cho những khao khát của họ được thỏa mãn. Cầu nguyện các chúng sinh chưa siêu thoát được giải phóng khỏi sợ hãi và đau khổ. Cầu nguyện chư Phật của hiện thân toàn hảo ban phước cho con nhanh chóng đạt được chứng ngộ. Thậm chí nếu sức mạnh này vẫn chưa có được, cầu xin chư Phật ban phước cho con được thọ nhận, bất kể mọi chướng ngại, bằng phần thưởng của việc tu hành. Con thành tâm thực hành pháp tối thượng."

Cuối cùng, niệm Bách Tự Minh Chú (chú 100 âm) 3 lần. Thần chú này sẽ chữa mọi sai lầm trong quá trình thực hành. Tôi đã nói hết nghi thức cúng khói rất nhanh bởi vì nó là một thực hành ngắn.

🌟

Khi thực hành cúng lửa (Hỏa cúng) Homa, nhiều người tu tập bị xe cứu hỏa mời lên gặp. Hàng xóm có thể sợ cháy và thông báo với cục phòng cháy chữa cháy bởi vì cúng lửa sinh ra quá nhiều khói. Ngược lại, cúng khói là một giải pháp tốt hơn và phù hợp cho việc thực hành cá nhân cũng như thực hành nhóm.

Pháp cúng khói này xuất phát từ đâu? Trong chuyến đi Đài Loan lần cuối của tôi, tôi đến thăm phân đường địa phương là Hoa Liên và Đông Dương. Ở phân đường Đông Dương, tôi được yêu cầu dạy pháp này bởi vì nó có thể được thực hành bởi tất cả các đệ tử. Cúng lửa khó thực hành hơn nhiều bởi vì việc chuẩn bị đòi hỏi nhiều món đồ hơn cúng khói và có nguy cơ báo động tới phòng chữa cháy. Đây là lý do đằng sau pháp cúng khói.

Trong quá trình cúng khói, tạo thủ ấn Garuda. Vị Bổn tôn chính của pháp này là Quan Thế Âm Bồ Tát Tứ Thủ, nghi thức rất đơn giản, nhưng bạn cần chắc chắn rằng bạn có đầy đủ các món đồ được yêu cầu. Ví dụ 5 mảnh vải các màu sắc cho phép tất cả kẻ thù và chủ nợ nghiệp của bạn nhận được tất cả quần áo đẹp mà bạn cúng. Để cho những quần áo này đẹp và sang trọng, bạn phải có đủ 5 màu. Đừng quên hương làm từ gỗ đàn hương. Bao gồm trong lễ cúng khói là bột ngũ cốc (bột của 5 thứ hạt). Và vì sao đường trắng và đường nâu lại cần đến? Chúng cho phép các chủ nợ của bạn nếm được vị ngọt, từ đó sự oán hận và thù ghét của họ sẽ được hóa giải.

Tại sao bạn lại rơi vào sự nghiệp và hôn nhân? Tại sao danh tiếng của bạn lại bị tổn hại? Tại sao kinh doanh lại thất bại? Những việc này xảy ra bởi vì bạn có những chướng ngại cả ở thế giới hữu hình và vô hình.

Sau khi thực hành cúng khói, bạn sẽ làm hài lòng các kẻ thù nghiệp của mình bằng đồ ăn, quần áo, nhà cửa, phương tiện đi lại. Đối với phương tiện đi lại, để tôi dạy bạn điều này. Bạn có thể làm một cái xe Ferrari mini bằng giấy, đó là loại xe đắt tiền, và bạn để nó vào trong lư hương. Còn nhà cửa thì sao? Quán tưởng chúng càng rõ ràng càng tốt. Và quán tưởng vải ngũ sắc dệt vào nhau thành quần áo đẹp. Còn đồ ăn hãy quán tưởng vô số đồ ăn ngon lành xuất hiện trong khi cúng khói.

Thực hành cúng khói tới Chư Phật trong khoảng 5h-9h sáng và cho ma quỷ linh hồn trong khoảng 5h-9h tối. Trong trường hợp này, lư hương cũng phải đặt ở nơi không khí lưu thông để khói có thể từ từ tản ra trong khi bạn thực hành các bước của nghi thức gồm: đại kính lễ, cúng dường Mandala, tứ quy y, bốn lời nguyện vô lượng, Hộ Pháp bảo vệ, v.v...

Mục đích của việc niệm 4 lời nguyện vô lượng là để cho họ (ý nói đến ma quỷ và linh hồn) hạnh phúc và xoa dịu khổ đau, nhờ đó mà việc cúng của bạn sẽ được chấp nhận một cách hoan hỉ. Bạn cố gắng để cúng và đem đến cho họ sự thỏa mãn. Đó là "sự yêu thương, lòng từ bi, niềm vui và sự thanh thản". Bước quan trọng nhất là quán tưởng chính bạn là Quan Thế Âm Bồ Tát Tứ Thủ trước khi cúng. Mặc dù lư hương có thể nhỏ, hãy quán tưởng nó to bằng cả vũ trụ. Khi khói bốc lên, nó biến thành những đồ cúng dường tuyệt vời nhất, ngọc ngà châu báu kim cương lấp đầy tất cả không gian. Lúc này, kết ấn Garuda.

🌟

Ở đây có 2 câu chú khác nhau. Câu đầu tiên là câu chú theo tiếng Tây Tạng. Câu thứ hai là câu chú theo tiếng Hoa: "Ôm, ah-bu-la-ti, pu-ba-yê, sô-ha." Hai câu mantra xuất phát từ hai nguồn khác nhau. Tôi không thể nói rằng chỉ có một câu mới là đúng. Bạn niệm câu nào cũng được. Có phần búng ngón tay 7 lần. Số 7 tượng trưng cho sự hoàn thiện và viên mãn. Tất cả các kẻ thù và chủ nợ nghiệp đều hoàn toàn hài lòng.

Giờ để tôi kể về những việc đã xảy ra tại buổi quán đảnh pháp Kalachakra Vajrakilaya ở Malaysia. Tôi cảm thấy là tôi đã lỡ miệng nói một câu trong buổi lễ. Bởi vì chúng ta đang lo lắng về việc toàn cầu nóng lên, tôi đã giơ chày kim cang Kalachakra và nói, "Bởi vì toàn cầu nóng lên, chúng ta hãy yêu cầu Kalachakra kéo mặt trời và trái đất xa nhau ra một chút xíu."

Kết quả là bây giờ chúng ta đang gặp một vài vấn đề. Thầy Chang-ren ở Hội từ thiện Liên Quang Hồng Kông nói rằng Đại Lục vừa mới trải qua trận bão tuyết dữ dội nhất trong 50 năm qua. Nước Mỹ cũng đang có bão tuyết lớn ở rất nhiều khu vực.

Để tôi nói điều này, các lãnh đạo và đại biểu từ gần 100 quốc gia đã họp ở Bali để bàn về các giải pháp cho việc toàn cầu nóng lên. Họ tụ tập với nhau để tắm nắng, đọc sách, nhấm nháp chút cà phê, và vui đùa. Sau nhiều ngày họp và tiêu tốn rất nhiều tiền, kết quả cuối cùng là 5 từ này: "Không thể nhất trí được."

Còn tôi chỉ đơn giản là giơ cái chày kim cang lên và nói: "Mặt trời hãy đi ra xa trái đất một chút. Không quá xa nếu không các đại dương sẽ đóng băng!" Kết quả là, năm nay có quá nhiều tuyết như thế này.

🌟

Có rất nhiều lợi ích từ việc cúng khói. Bản thân tôi cũng thực hành cúng khói và mặc dù tôi gặp phải nhiều chướng ngại, chúng đều được giải quyết và mọi thứ đều tốt đẹp. Bạn không nghĩ là tôi cũng có rất nhiều trở ngại phải giải quyết sao? Nhiều lắm. Nhưng giờ thì mọi thứ đều ổn rồi. Tại sao? Chính là nhờ pháp cúng khói này.

Thông qua thực hành này, các vấn đề của bạn sẽ được giải quyết. Thêm nữa, giải pháp sẽ đến với bạn một cách rất khéo léo. Chướng ngại có thể ở ngay trước mắt bạn chặn đường đi của bạn, nhưng giống như xe hơi của điệp viên 007, bạn sẽ bay qua nó. Nếu xe của bạn rơi xuống biển, nó sẽ trở thành cái tàu ngầm. Khi bạn lo lắng, bạn sẽ biến thành một làn khói và biến mất. Không ai có thể tìm ra bạn. Pháp cúng khói có thể đem lại sức mạnh này.

Ngày nay mất bao nhiều thời gian để xin được cái thẻ xanh (thẻ cư trú tại Mỹ)? Tôi chỉ mất có 11 ngày! Nhiều năm trước, luật sư của tôi, ông Henry, nói với tôi rằng thời gian chờ đợi ngắn nhất là 3-4 tháng. Tôi có thẻ của mình trong 11 ngày.

Sau khi thực hành cúng khói, vị Garuda (Đại bàng Kim Sí Điểu - chim cánh vàng) đã đem hồ sơ của tôi đến Cục Nhập Cư. Hồ sơ của tôi vốn thực sự ở dưới cái chồng hồ sơ, nhưng nó đã (tự) bay lên và ở yên trên đầu chồng hồ sơ. Nhân viên nhập cư viết xuống một số mới trên cái đơn tiếp theo. Ok, thế là xong. Sau đó, một cách đầy bất ngờ, anh ta nhanh chóng gửi thư chấp thuận ngay trong đêm đó, vì tự cảm thấy rằng nó là việc tối quan trọng. Hồ sơ sau đó được gửi đến tôi bằng thư qua bưu điện thường. Tôi có được thẻ xanh trong vòng 11 ngày kể từ khi gửi đơn đăng kí. (Khán giả vỗ tay). Khi luật sư Henry nghe tin này, ông ta nói, "Tôi rất nghi ngờ việc này." Tôi đem thư chấp thuận và cái thẻ xanh cho ông ta xem. Khi nhìn thấy nó, ông ấy suýt thì ngã khỏi ghế. Điều này chưa từng xảy ra trước đây. Thật là có nhiều điều kì diệu.

Khi tôi đi đến buổi phỏng vấn quyền công dân, Thượng sư Lian-huo đi theo tôi. Những chúng sinh vô hình cũng giúp tôi. Nhân viên nhập cư hỏi tôi ai là Tổng thống Mĩ khi đó. Làm sao tôi lại không biết được chứ? Thậm chí đứa trẻ 3 tuổi cũng biết được đó là Bush. (Sư Tôn cười). Lúc đó là Bush cha, không phải Bush con. Bởi vì tôi không biết tiếng Anh, tôi đã trả lời là: "Bu Xi". Nhân viên này sửa lỗi của tôi và nói: "George Bush." Sau đó anh ta hỏi: "Thủ đô của nước Mĩ là gì?"

Tôi cũng biết câu trả lời là Washington D.C. Đúng không? Chúng ta có một phân đường ở thành phố đó. Tôi đã vật lộn một thời gian dài để xây Lôi Tạng Tự ở đó. Tôi không ngu đến mức nói đó là Philadelphia. Anh ta hỏi tôi một vài câu hỏi siêu dễ bởi vì anh ta biết là tôi không biết nhiều tiếng Anh. Cuối cùng anh ta bảo tôi viết một câu, và tôi viết "Tôi thích nước Mỹ." (Sư Tôn cười lớn.) Tôi đã luyện mỗi câu này trong suốt 3 tháng. Sao tôi lại có thể bối rối được? Bạn thấy đấy, thế là tôi có thẻ công dân ngay.

Vấn đề rắc rối là, mỗi khi tôi trở về từ chuyến đi nước ngoài, tôi luôn gặp rắc rối trong việc hiểu tiếng Anh của nhân viên hải quan. Thông thường người ta sẽ nghĩ đến những câu trả lời cho câu hỏi của họ, ví dụ như "Tôi đi Đài Loan, Nhật Bản, Malaysia,…" Đôi khi họ có thể hỏi tôi là tôi có đem theo 10 nghìn đô la Mỹ không. Việc này tôi có thể hiểu được bởi nó là tiền mà. Tôi trả lời: "Không có! Không có !"

Họ hỏi: "Ông có hoa quả không?"
"Không có! Không có!"
"Ông có súng không?"
"Không có! Không có! Anh có chứ tôi không có." (Sư Tôn cười lớn.)
Tôi chỉ có thể giao tiếp với họ bằng những câu tiếng Anh đơn giản như thế. Kết quả là, mỗi lần như thế nhân viên hải quan sẽ nói với tôi "Chào mừng đã trở lại" và đóng cái dấu vào thẻ của tôi (thẻ đồng ý nhập cảnh vào Mỹ).

Đúng là tôi đã tốt nghiệp đại học, nhưng suốt những năm học đại học của tôi, tôi rất ghét nhớ từ vựng tiếng Anh. Tôi thích học toán bởi vì nó không có nhiều cái phải học thuộc lòng. Đó là tại sao tôi biết rất ít từ tiếng Anh. Sư Mẫu thì biết nhiều từ tiếng Anh. Sau khi đến Mỹ, tôi bắt đầu xem ti vi để học tiếng Anh và sau đó đi đến quán bar.

Một lần một bartender hỏi tôi: "Ông đã kết hôn chưa?"
"Tôi đã kết hôn rồi." - Tôi bảo anh ta.
"Không tốt." - Anh ta đáp. (Sư Tôn cười to.)

Bây giờ mỗi khi xe hơi của tôi bị hỏng, tôi lái nó đến tiệm sửa xe và bảo họ: "Xe của tôi không tốt."
"Không tốt ở đâu?"
"Tôi không biết. Anh kiểm tra mọi thứ đi. Thay dầu và kiểm tra mọi thứ."
"Ông không biết ư?"
"Kiểm tra mọi thứ và thay dầu."

Đó là tất cả những gì tôi có thể nói. Sau đó anh ta sẽ giúp tôi kiểm tra mọi thứ. Tôi biết lái xe. Tôi biết đặt phòng khách sạn. Khi tôi đi ra sân bay, tôi sẽ nói: "Tôi muốn biết số ghế và thời gian máy bay bay? Và cổng mấy? Mấy giờ? Và số ghế của tôi." Miễn là tôi biết cách làm sao để có được thông tin cho ba vấn đề này là tôi có thể bay đi nước ngoài đến bất kì đâu.

Khi tôi đi nhà hàng, mặc dù tôi không thể đọc tiếng Anh, tôi sẽ nói: "Cái này, cái này, cái này." Tôi có thể nói: "Xúp, loại xúp nào, loại xúp trong ngày là loại nào? Tôi muốn xúp này." Sau đó tôi sẽ gọi món chính, bò, cá hoặc vịt. Chỉ một vài lựa chọn này thôi. Nếu mà tôi đã gọi xúp thì tôi không gọi salad. Nếu tôi không gọi món xúp, tôi sẽ gọi món Caesar salad.

"Loại nước trộn gì?"
"Ranch." [loại nước trộn salad rất phổ biến tại Mỹ]
Mỗi khi người phục vụ hỏi tôi về trứng, tôi sẽ nói "over easy - (quá dễ)" (Sư Tôn cười lớn.)
"Thịt bò nấu thế nào?"
Tôi sẽ nói "medium-well" (chín vừa tới). Sư Mẫu nói rằng tôi cần phải mím môi hơn nữa để người khác có thể hiểu tôi. "Medium-well" (Sư Tôn mím môi nói và cười lớn).
"Bánh mì lát loại nào? Bánh mì trắng?"
"Wheat (bánh mì nguyên cám)." Sư Mẫu nói rằng bánh mì nguyên cám (wheat) thì nhiều dinh dưỡng hơn bánh mì trắng (white). Rồi còn món "hash brown” (khoai tây chiên đến chín nâu).

Đây là cách tôi nhớ từ trong tiếng Anh. Tôi chuyển các từ sang dạng tiếng Hoa tiện lợi để giúp tôi nhớ chúng. Vì thế "hash brown" trở thành "ba brown hai-si" (hại chết brown) trong tiếng Hoa, và sau đó tôi đảo ngược nó lại để thành Hai-si Brown (hash brown). (Sư Tôn cười lớn). Khi bạn có thể nói những từ này đối với đồ ăn, quần áo, nhà ở, đi lại, bạn có thể sống sót tại Mỹ!

Cũng tương tự, mỗi tôi khi đến giờ đi ngủ, tôi sẽ nói: "Tôi muốn ngủ". Vì sao tôi nhớ cái từ "sleeping" này tốt đến thế được? Bởi vì đây là cách tôi chuyển nó sang tiếng Hoa, "si-zai-ping-ze-li" (chết ở trong cái chai). (Sư Tôn cười lớn). Đây là cuộc sống Mỹ của tôi. Đây là cách tôi dùng để giúp tôi học tiếng Anh.

Khi Sư Mẫu nói "banana (chuối)", Sư Mẫu nhìn thấy ghi chú của tôi bên cạnh cái từ này là "bai-nai-nai” (bộ ngực màu trắng). Tôi phải nghĩ đến "bộ ngực màu trắng" trước khi tôi có thể nhớ ra từ "banana".

Thế còn pineapple (quả dứa)? Pineapple sẽ trở thành "pa-lao-po (sợ vợ)". Thực lòng, tôi chưa từng bao giờ sợ Sư Mẫu cả. Tôi nói cho các đệ tử biết là Sư Tôn là người duy nhất trên thế giới không phải là "pineapple". Tôi luôn luôn nói điều này trước công chúng. Điều gì thực sự xảy ra ở nhà sau đó thì là vấn đề khác. (Sư Tôn đùa.)

Vì vậy, "tình yêu" mà Thượng sư Liên Bảo nói lúc trước không tồn tại. Về mặt ý thức tuyệt đối, tình yêu là thứ không tồn tại. Chúng ta chỉ có thể làm theo lương tâm. Đây là điều mà người tu hành làm. Tôn Trung Sơn nói về tình yêu quảng đại, Jesus nói về tình yêu quảng đại, nhưng tôi không nói về tình yêu quảng đại. Tôi đơn giản là nói về việc dùng lương tâm tốt nhất của chúng ta để đem lại lợi ích cho chúng sinh khác.

Hãy thực hành cúng khói và tất cả chướng ngại của bạn sẽ được giải quyết. Tôi đã có rất nhiều chướng ngại đã được giải quyết xong. Mỗi một kẻ thù hay chủ nợ nghiệp đều đến trước tôi chấp nhận đồ cúng của tôi và rời đi. Đây là một thực hành rất quan trọng.

Bằng cách cúng dường đến tất cả ma quỷ và linh hồn và kẻ thù chủ nợ nghiệp, tất cả chướng ngại trên còn đường của chúng ta sẽ lùi lại và biến mất. Bát Đại Bồ Tát, Chư Thiên và Long Vương sẽ xuống để bảo vệ và giúp đỡ bạn. Tôi hy vọng rằng sau khi tiến hành pháp này, mỗi người các bạn sẽ loại trừ tất cả chướng ngại và thành tựu trong tu tập. Cho dù bạn là một người tu hành tại gia, một nhà sư hay là ni, nếu bạn có bất kì lời khẩn cầu gì, hãy thực hành cúng khói.

Tôi cũng mời cộng đồng ở Seattle, nếu như có mong cầu gì ở chúng tôi, hãy nói cho chúng tôi biết, chúng tôi sẽ cố gắng hết sức để đáp ứng những mong muốn này. Và đối với cộng đồng Chinatown ở đây, miễn là họ nói cho chúng tôi biết mong muốn, chúng tôi sẽ cố hết sức để làm điều gì đó đối với việc đó. (Khán giả vỗ tay).

Điều quan trọng ở đây là, là một người thực hành tâm linh, đầu tiên là làm cho tất cả kẻ thù và chủ nợ nghiệp rút lui để bạn có thể đạt được thành công trong thực hành tâm linh. Đó là lời chúc phúc của tôi tới tất cả mọi người rằng mọi người đều được cát tường. Cầu mong mọi sự thịnh vượng ở bên bạn ngày và đêm, mọi lúc trong ngày. Cầu cho mọi lúc đều tốt lành.

Om mani padme hum. (Khán giả vỗ tay).

(Bài do Liên Hoa Thục Huệ ghi chép.)

**Tông Ủy Hội công bố nghi quỹ pháp cúng khói**

Trước tiên, thỉnh cầu Căn bản Truyền thừa gia trì: 

Đầu tiên quán Không, sau đó quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật trụ ở đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì tâm chú Liên Hoa Đồng Tử 7 biến, cầu nguyện tu pháp viên mãn.

Tiếp theo, làm quán tưởng tứ vô lượng tâm. Làm thủ ấn đánh thức (vỗ tay hai lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay). 

1. Chú thanh tịnh và An thổ địa chân ngôn.

2. Chú triệu thỉnh.

3. Đại lễ bái.

4. Đại cúng dường.

5. Tứ quy y.

6. Mặc giáp hộ thân.

7. Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (1 biến)

8. Chú Vãng sinh (7 biến)

9. Niệm kệ tứ vô lượng tâm:

Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.

10. Kết ấn và quán tưởng:

Ấn chắp tay hoa sen - hai tay trước tiên chắp lại, sau đó xoè ra như hoa nở, chỉ để hai ngón cái và hai ngón út chạm vào nhau. Đặt ấn trước ngực. (Ấn này là ấn thông dụng của tất cả chư Bồ Tát.)

Quán tưởng: Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời trong vạn dặm không mây, nguyệt luân từ biển dâng lên hư không, trong nguyệt luân có chủng tự màu trắng chữ "Seh", chữ "Seh" tỏa ánh sáng trắng.

(2) Trong nguyệt luân, chữ "Seh" xoay tròn, hóa thành Tứ Thủ Quan Âm.

(3) Lại quán tưởng từ trong tâm mình phóng ra một chữ "Hum" màu xanh, biến thành một cái móc, móc Tứ Thủ Quan Âm đến đỉnh đầu bạn, rồi đi vào hoa sen trong tâm mình, trong nháy mắt, chính mình biến thành Tứ Thủ Quan Âm.

11. Trì Bổn tôn Quan Thế Âm Bồ Tát tâm chú. 

Làm quán tưởng chuỗi hạt: Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cương, quán tưởng tay phải thành chày kim cương, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Quan Thế Âm Bồ Tát đến trước mặt mình.

Chú ngữ: Ôm ma-ni pê-mi hùm. (108 biến)

12. Làm cúng khói và quán tưởng:
Trì chú: Om Ah Hum (21 biến)
Ram Yam Kham (21 biến)

Kết ấn: thủ ấn đại bàng kim sí điểu, bay hướng lên trên. (Tượng trưng khói này bay đến tất cả mọi nơi trong vũ trụ, làm biến hóa.)

Quán tưởng: khói tỏa ra từ lò cúng khói phân bố khắp hư không. Sau đó quán tưởng toàn bộ khói tỏa ra biến thành năm món cúng tuyệt diệu, biến thành quần áo rất vi diệu, tất cả đồ ăn thức uống, quần áo, vật dụng, tất cả nhà cửa, xe cộ, tủ lạnh, máy móc, thất trân bát bảo đầy ắp hư không, tất cả những đồ dùng đều hiện ra trong quán tưởng của mình. Cúng dường tất cả khói tỏa ra đến tất cả quỷ thần và oan thân trái chủ gây chướng ngại cho ta, họ có được những cúng dường này thì sẽ rời khỏi ta. 

Trì chú: "Ôm a-pu-la-ti bu-pa-yê sô-ha." Niệm 1 biến thì búng ngón tay 1 lần. (7 biến)

13. Nhập Tam ma địa. (tùy ý mỗi người)
(Xin tham khảo thêm Cửu tiết Phật phong, quán nhập ngã ngã nhập, quán đếm hơi thở trong nghi quỹ Liên Hoa Đồng Tử tương ứng pháp.)

14. Trì thêm những tâm chú khác.

15. Niệm Phật. (3 biến)

Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)

16. Hồi hướng.
Nếu cúng Phật Bồ Tát thì niệm: 

Xin dâng cúng khói năm món vi diệu này. Dâng cúng chư Phật Bồ Tát, Kim Cang Hộ Pháp, Không Hành và chư Thiên.

Nếu cúng oan thân trái chủ thì niệm: Dâng cúng Thực Hương Thiên Vương Bất Đỗ Ca, Khẩn Na La Vương và quyến thuộc. Ngũ Kế Thực Hương Vương và đại chúng. Long Vương Long Nữ quyến thuộc chúng. Sơn thần Thủy thần Hà Hải thần. Tất cả mọi thân trung ấm. Tất cả chúng sinh đang khổ não.

Nguyện cho họ được viên mãn những điều ước nguyện vi diệu. Nguyện cho tất cả thân trung ấm được giải thoát khỏi sợ hãi và đau khổ.

Nguyện Phật thân báo thân được viên mãn. Nguyện chứng ngộ chính giác thật nhanh chóng. Dù không có năng lực này vẫn nương theo đó mà hành trì. Cũng xả bỏ tất cả, sinh về cõi lành không tỳ vết. Nguyện hành trì chính pháp vô thượng.

Nguyện con dùng công đức lực này, tiêu trừ tất cả chướng ngại. Bốn khổ lớn như sóng cuộn trào, nguyện cứu độ tất cả chúng sinh trong cõi Ta Bà.

Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. xin đem công đức này hồi hướng. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. Mong tất cả tai nạn tiêu tan. Uân!

17. Niệm Bách tự minh chú. (3 biến)

18. Đại lễ bái.

19. Chú viên mãn.

Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.

Thời gian tu pháp:

Cúng Phật Bồ Tát vào buổi sáng từ 5 giờ đến 9 giờ, cúng oan thân trái chủ vào buổi chiều từ 5 giờ đến 9 giờ.

Bột cúng khói cần có những nguyên liệu sau:

1. Bột đàn hương
2. Bột mì rang không dầu; có thể thêm một ít bột sữa, bột gạo lứt, bột đậu phộng, bột đậu và các loại bột ngũ cốc khác.
3. Phẩm vật cúng đơn giản nhất là bột mì, yến mạch, bột gạo lứt, bơ, sữa. Sữa và bơ chỉ cần cho một chút là đủ, trộn đều, đợi khô có thể đốt.
4. Đường đỏ và đường trắng trộn lẫn.
5. Vải màu đỏ, vải màu trắng, vải màu xanh dương, vải màu xanh lá, vải màu vàng, cắt thành những miếng vuông nhỏ.

Ghi chú:
1. Bùi nhùi hoặc que nhang, dùng để đốt.
2. Lò cúng khói dùng bánh bột cúng khói hình tròn, lò hương nằm thì dùng bánh bột cúng khói hình dài.

**(Hết.)**

---

---
# File: sach-tam-linh/042-linh-tien-phi-hong-phap.md
# Title: 042. Linh tiên phi hồng pháp
---

![image](/img/img_091d51dd9ec68b8e5b47b56867056244.jpg)



## Linh tiên phi hồng pháp


🪷 Phù lục bí truyền của Lư Thắng Ngạn

Văn tập: 042
Xuất bản: 03/1983
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu


**Phù lục chính là đại diện của thần tiên!**

Đỉnh cao của năng lực tâm linh về luyện pháp thì phù có thể bay, có linh có nghiệm. Cuốn sách này được đặt tên là “Linh tiên phi hồng pháp” vì lý do đó.

Khi tác giả còn trẻ, trong mộng đã được thần tiên dạy, được thụ giáo Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sư, sau đó lại học tiếp Đạo pháp phái Thanh Thành. Tôi đã nhận ra rằng, trong đạo của phù lục, ấn chứng tối cao chính là ở chỗ “chỉ có rất thành tâm, mới chắc chắn thành tựu”.

Sự tinh vi hay bí mật của pháp phù khi hạ bút vẽ chính là tâm - khẩu - ý hợp nhất, lúc đó sẽ có thể truyền thư thiên giới, có thể trừ tai họa, có thể cầu phúc, có thể trừ bệnh, có thể tu đạo, có thể tăng ích.

Hành giả tu tập phải thành kính, không được có tà tâm tà niệm. Diệt trừ được ba thứ độc tham sân si thì tất sẽ có được cảm ứng.
Người biết khởi linh thì sẽ gia trì và sắc lệnh được linh lực.
Người không biết khởi linh hãy dùng âm thanh “A” để ấn niêm vào đầu và đuôi phù. Đặt nét bút đầu tiên và nét bút cuối cùng thì niêm vào ấn này.

Giá trị của cuốn phù lục này không thể tính đếm hay so sánh được bằng tiền bạc.
Với hành giả giữ thiện tâm, ở đây tự nhiên có kho tàng vô giá, có thể đạt được khả năng tế thế cứu người, có thể sở hữu sức mạnh bất khả tư nghì, không thể nghĩ bàn.
Còn như người làm việc ác thì chớ cầu xin học, bởi sẽ chỉ nhận được vọng pháp [pháp không chân thật]. Phạm tội với trời chắc chắn sẽ bị trừng phạt, trong chốn địa ngục sẽ tự có tên vậy.

Nghĩ gì, nghĩ sao, quỷ thần đều biết rõ!
Phải luôn luôn nhớ!
Phải luôn luôn nhớ!

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-Yen Lu
**17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Tổng quan - Hình của thiên địa vạn vật


Vạn vật trong trời đất lớn vô cùng vô tận. Trên trời có nhật, nguyệt, tinh tú, dưới đất có núi, có sông, có biển. Bởi vì có âm dương nên có vạn vật, Bát Quái dựa vào Thiên, Địa, Lôi, Phong, Trạch, Thủy, Hỏa, Sơn để giải thích những đạo lý to lớn về “biến” và “bất biến”. Nói về phù lục thì đó chính là sự kết tinh của vạn vật trong trời đất, mang vạn vật biến trở thành biểu tượng phù.
Vận chuyển càn khôn, đó là phù lục.

Nguồn gốc lịch sử của phù lục đã có từ lâu. Từ thời xưa cổ, thời Hiên Viên Hoàng Đế thì phù lục đã tồn tại rồi, sau đó lại trải qua thời gian rất dài suốt mấy nghìn năm, nhiều thứ không còn thấy được do đã hoàn toàn bị diệt mất, chỉ còn nhìn thấy được những thứ vẫn tồn tại mà thôi.

Tác giả nhờ có nhân duyên kỳ lạ nên đã gặp được Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sư, trong mộng nhận được pháp phù, sau đó học Đạo pháp Thanh Thành, bước vào cửa Phật. Phát hiện ra trong phù lục thì ra chính là những ký hiệu của vạn vật trong trời đất. Trong phù có nhật, nguyệt, tinh tú, có núi, sông, biển, có thần, có người, quả là diệu pháp vô cùng. Dường như học pháp phù, thiên - địa - nhân đều nằm trong sự vận chuyển và kiểm soát như ở trong lòng bàn tay vậy.

Phù lục sở dĩ trở thành bị lãng quên khắp nơi như ngày nay, nguyên do vì ký tự của phù là ‘’mật tự pháp’’. Nếu không phải là người nghiên cứu sâu thì cơ bản sẽ không cách nào hiểu rõ ràng được, vì thế họ mới cười nhạo rằng “phù chỉ là sự mê tín nông cạn của một số người”. Thật là đáng tiếc!

Vốn dĩ “mật tự” nguyên là thiên cơ thần thuật, cực kì quan trọng. Trong pháp phù ẩn giấu kết cấu học của khoa học, lý luận hình thành của trời đất, tâm lý học của nhân loại, chân lý của thần linh, bao hàm đủ loại kiến thức và học vấn, có thể nói không có pháp nào có thể bao quát hết đại trí huệ, đại tri thức được như vậy.

Khi mới học phù lục, mọi người thường hay mang theo tâm lý coi thường, cho rằng chỉ là mẹo vặt của giang hồ cấp thấp. Tuy nhiên tới khi sau này thâm nhập sâu, họ sẽ càng cảm thấy rộng lớn, đến cuối cùng sẽ biết, không ngờ pháp phù có thể giúp thành Phật thành Tiên, là một trong những đại pháp để tu đạo, thực sự không thể coi thường được.

Chính là, một bút vẽ trời đất, một điểm thành vũ trụ, nhân duyên của tạo hóa trời đất, tất cả đều nằm trong phù lục.

“Linh tiên phi hồng pháp” là văn tập thứ 42 của tôi, là cuốn sách nghiên cứu về phù lục. Phù lục trong cuốn sách này ở ngoài không dễ tìm thấy, tất cả từng cái một tôi đã thử nghiệm qua, vô cùng linh ứng. Tôi đã tự mình thấy nhờ phù mà có thể nhập vào trung tâm vũ trụ, đi tới mọi nơi trên trời sông núi, nhờ pháp phù mà bay lượn khắp nơi, xuất nhập vòng thái cực, hiểu rõ được đại đạo của sinh tử thần nhân. Vì vậy để giúp mọi người có thể cảm được ý nghĩa của phù dễ dàng hơn, tôi tự tay vẽ ra hàng trăm trang phù nhằm giúp chúng sinh kết duyên.

Học giả nếu như trải nghiệm được nội hàm của pháp phù, một cách tự nhiên sẽ rất nhanh chóng hiểu được chân lý của trời đất, bất kể là tu Tiên hay thành Phật đều có thể dễ dàng đạt được. Khổng Phu Tử có câu: “Triều văn đạo, tịch tử khả hĩ” [Sáng nghe đạo, chiều chết cũng không hối tiếc] chính là như thế này đó.


### 02. Tổng quan - Thiên nhân hợp nhất pháp


Chúng ta thường nghe thuyết pháp “thiên nhân hợp nhất” [trời-người hợp nhất], nhưng rất ít người thực sự thực hành hợp nhất trời và người. Cái gì gọi là “thiên nhân hợp nhất”? Kì thực, “thiên nhân hợp nhất” chân chính, chính là vô hình đến giúp hữu hình, hữu hình đến giúp vô hình. Nói tóm lại chính là thần giúp người, người giúp thần, đây chính là thiên nhân hợp nhất. Do vậy việc học phù chính là việc học hợp nhất trời và người.

Vẽ phù có hoặc không có ứng nghiệm đều nằm ở việc có hoặc không có thần linh giúp. Phù có thần tiên giúp chắc chắn có phù quang, không có thần linh giúp thì không có phù quang, mà không có phù quang thì cũng giống như một tờ giấy bỏ đi mà thôi.

Thế nào là có thần giúp?
Điều kiện đầu tiên: biểu tượng phù không được vẽ sai. Bởi vì nhật, nguyệt, tinh tú, thần, nhân, quỷ đều có thuận tự. Một nét bút vẽ ra giống như kết nối nhân loại và thần linh, thiếu một chấm một nét đều không dễ có hiệu lực, thiếu một chấm một nét chính là không hoàn thành được thủ tục.

Ngoài điều kiện đầu tiên ra, điều kiện tiếp theo là người vẽ phải có lòng cung kính, phòng vẽ phù phải yên tĩnh sạch sẽ, thanh tịnh. Những đồ vật không thanh tịnh không được để trong phòng. Người vẽ phải không uống rượu hút thuốc, đôi khi thậm chí phải bỏ thịt ăn chay, quần áo phải gọn gàng, răng miệng thơm tho, lúc vẽ phải ngồi trang nghiêm, không được có một chút tà niệm hay ý nghĩ xấu nào. Phải được như nghi quỹ này mới có thể coi là trang trọng. Đầu tiên cần làm vậy, năng lực tinh thần sẽ tự có, lúc này cầu khẩn thì thần tiên sẽ tự nhiên giáng lâm mà giúp đỡ.

Tác giả lần đầu tiên học pháp, Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sư toàn là nửa đêm xuống. Tôi đã tắm rửa đánh răng từ trước, thần tiên cầm lấy tay tôi, từng bút từng nét dạy tôi. Linh của ngài vừa xuống thì cả căn phòng đều đầy hương thơm. Tôi luôn luôn lau chùi sạch sẽ những đồ vật bị bẩn từ trước để chuẩn bị đón thần tiên đến. Sau khi học và nghiên cứu một giờ đồng hồ, ngài sẽ lập tức rời đi, không bị ảnh hưởng đến việc ngủ vào buổi tối.

Cho đến tận hôm nay vẫn có người hỏi tôi việc này là thật hay giả. Câu trả lời của tôi là: “Trời đất chứng giám, cho dù có muốn lấy sinh mệnh của tôi, tôi vẫn mãi mãi nhớ rõ sự hướng dẫn và luyện tập vất vả lúc nửa đêm.” Việc này hoàn toàn không phải chỉ là những lời sáo rỗng.

Tôi đã hỏi thiên địa thần minh vì sao lại chọn tôi? Tôi có đạo đức gì, có năng lực gì? Ngài nói với tôi thế này: ‘’Người có lòng thành kính và tôn sùng, thần minh yêu thích. Người trọng nghĩa khinh tài, thần minh yêu thích. Người thuần khiết trung hậu, thần minh yêu thích.’’

Do vậy tôi cho rằng với người học pháp phù, nhất định phải có được lòng thành kính và thành khẩn, trọng nghĩa khinh tài, thuần khiết trung hậu. Như vậy, thần minh dù không thỉnh cũng tự nhiên giáng xuống. Nếu còn nghi ngờ, do dự tư lự, đùa giỡn coi thường, hay còn tâm mê lợi dục, hủy thần diệt đạo, say rượu đùa cợt, háo sắc tà dâm, bất khiết bất tịnh, ỷ mạnh hiếp yếu, gây sự bừa bãi, thì cho tôi được phép khuyên những loại người như thế nghìn vạn lần không nên tu học, nếu không lỗi lầm trong tương lai càng lớn, thực sự sẽ tạo ra càng nhiều ác mộng và thảm họa.

Thiên nhân hợp nhất, sau khi phù đã có quang khí của thần linh, tự nhiên phù sẽ có thần lực. Đốt phù xong thần lực sẽ phát huy lực cảm ứng “như như bất động”, thành được ý chỉ kỳ diệu bất khả tư nghì, không thể nghĩ bàn của pháp phù. Nghìn vạn lần xin đừng cho rằng đây là dấu hiệu dị thường, mà là dấu hiệu thần linh xác thực.

Vẽ phù mà không có thần lực thì phù không có hiệu nghiệm. Đây là nguyên nhân bởi yếu tố con người, và cũng là bởi vì không có thần tới giúp.

Người có linh lực chỉ cần nhìn phù được đốt cháy là có thể thấy một đường kim quang [ánh sáng vàng] hoặc bạch quang [ánh sáng trắng] lóe lên nhanh như rắn thần, đi vào cơ thể của người bệnh, lập tức những nơi bị bệnh xuất hiện tác dụng trị liệu. Giống như phù phi thiên, ánh sáng lóe lên nhanh như rắn thần, đi nhanh như tia chớp, như âm thanh của tiếng sấm vậy.


### 03. Tổng quan - Tâm thành tất linh


‘’Tâm thành tất linh’’, nói một cách khác, đó chính là “chỉ có rất thành tâm, mới chắc chắn thành tựu”. Thần tiên thường là vì cảm động mà đến giúp người. Nói chung thần tiên đều có sẵn lòng từ bi, đều phát đi nguyện lực lớn là cứu người cứu đời. Con người cũng vốn có thành ý cầu nguyện rồi, vì nếu không có việc gì thì họ đã không tới để cầu nguyện. Còn nếu như học mà biết cách phát phù triệu thỉnh thần, thần linh sẽ đến càng nhanh hơn, đạt được đạo lý “không thể không thành” của mọi sự sở cầu và mong muốn.

Có người từng hỏi tôi, ngoài ‘’thành tâm’’ ra, có cần phải niệm chú không? Vốn dĩ mọi phù đều có chú, phù chú vốn phối hợp đi liền với nhau. Nhưng khi tôi thỉnh sự chỉ dạy của Tam Sơn Cửu Hầu tiên sinh, ngài nói: “Trên bức phù vẽ vị thần nào, chỉ cần cung kính niệm tên của thần đó là có thể được rồi. Phù mà không có tên thần thì có thể cung kính niệm hồng danh chư Phật hoặc tên húy Thái Thượng Lão Quân là được. Xưng tán danh hiệu cũng có thể cảm niệm, công lực của chú cũng nằm ở cảm niệm, mặc dù niệm chú và xưng tán danh hiệu không giống nhau nhưng kì thực là có hiệu lực như nhau.”

Phù trong cuốn sách này ban đầu vốn có kèm theo câu chú. Sau này tôi cảm thấy phần lớn những người mới học không có cách nào vừa niệm vừa viết, vì vậy để giúp cho những người mới học có thể tập trung tinh thần thống nhất, tôi đã bỏ câu chú đi, đổi lại là đọc hồng danh Phật hoặc Thái Thượng Lão Quân lệnh là được rồi. Đây cũng là một pháp môn tiện lợi cực kì hiếm thấy, nghìn năm mới gặp. (Khi niệm nên niệm thầm.)

Thậm chí chỉ riêng linh lực của người thông linh cũng có thể độc lập chuyển vận, không cần dùng sự tương trợ của thần linh mà vẫn có thể khiến phù có linh quang. Nguyên do là vì người thông linh dùng năng lực của chính mình tập trung lại trên phù. Tuy vậy, người có năng lực như thế cũng không có nhiều.

Trong nhà tác giả có mật đàn, mỗi tối đều làm pháp giúp người. Có bốn người ở xa tận Hồng Kông đến cầu thỉnh giúp đỡ, có một người ở Sydney nước Úc, còn có bốn người đến ở trong nước [Đài Loan], trong đó thì có ba vị sống tại Mỹ. Tất cả những người này đều ở tại nhà của họ. Khi tôi làm pháp thì linh lực phải vượt qua đại dương, xa đến nghìn dặm, từ nước này bay qua nước khác, nhưng kỳ lạ là ai ai cũng đều khỏi bệnh, rất linh nghiệm.

Vốn là một cổ pháp tương đối phức tạp, vẽ phù có nghi quỹ riêng của nó. Bởi đây là một việc trang trọng, bạn phải chỉnh tề quần áo khi lên pháp đàn, thắp hương cầu nguyện lên trời đối với thần linh của phù đó trong việc đó.

Niệm Chú tịnh thủy như sau:
“Thái Ất nguyên quân, dĩ thanh dĩ trừng, lục hợp chi nội, cảm thụ linh minh, chư sinh vạn dân, hàm cảm đức tĩnh, thi pháp thành sự, đảo chi hữu ứng, tiện sái dương liễu, tích tích kim đan.’’

Niệm Chú tịnh mực:
“Tùng yên sử giả, vi ngô lao hình, tiết thao kiên trinh, trượng nhĩ công năng, ngọc bản tinh anh, tuyên minh trừng thanh, vi ngô truyền phù, vạn ứng vạn linh.’’

Niệm chú Tịnh bút:
“Sương hào ban quản, thần lực thiên điếu, huy sái tự như, lại dĩ khang ninh.”

Tiếp đó niệm Chú tịnh giấy:
“Bắc đế sắc ngô chỉ, trương trương giai thần sách, phi hành vạn lí khứ, hóa vi điện quang châu.”

Sau khi niệm Chú tịnh nước, tịnh mực, tịnh bút, tịnh giấy xong, lại niệm Chú vẽ phù:
“Nhất chi bút lai thủ trung kình, vạn thần hộ trú vạn thần linh, vạn ma thiên sát đô hồi tị, ngô phong Thái Thượng Lão Quân luật lệnh.”

Tiếp theo trên giấy vẽ toàn bộ hình phù, rẩy nước pháp lên, hoàn thành xong hết thì thắp hương tiễn thần.

Nói một cách tóm lược pháp vẽ phù là: mặc trang nghiêm đăng đàn, thắp hương cầu nguyện, sau đó tất cả giấy, bút, mực, nước đều được thấm đẫm mùi thơm của hương, tập trung tinh thần, lập tức vẽ phù, vẽ phù xong, hét một tiếng “A” vào đầu bút lông, lập tức ấn điểm ở đầu và cuối phù. Hoàn thành được nhanh chóng như vậy, cuối cùng là thắp hương tiễn thần.

Người thông linh lúc ấn điểm xong vào đầu và cuối phù, lập tức chuyển linh lực vào lòng bàn tay và ngón tay, dùng đầu ngón tay chuyển linh lực, linh quang chiếu vào giấy phù, làm như thế thì phù càng có nhiều hiệu lực.

Tôi luôn nghĩ rằng Thái Thượng có lòng từ bi sẵn có, trong cõi vô hình thực sự có tồn tại chư thiên thần thánh. Các ngài vì cứu chúng sinh mà sẽ chịu trách nhiệm. Chỉ cần thành tâm thành ý cầu thỉnh sẽ khiến các ngài cảm động, truyền xuống linh quang pháp lực vi diệu để cứu giúp chúng sinh trong thiên hạ.


### 04. Tổng quan - Thiện phù thiện thần hộ


Bạn có nhớ tác giả (là tôi) trong cuốn văn tập số 40 “Thông linh bí pháp thư”, có một đoạn giải thích rõ “phàm là người học đạo phải tích đức tu hành”.

Thầy Tam Sơn Cửu Hầu đã nói: “Phàm là người học đạo, phải lấy thanh tịnh làm chủ, hành vi cần thanh tịnh, tâm cần thanh tịnh. Tâm một khi đoan chính, trải qua thời gian, cùng với sự trong sáng của hành vi, thì tự sẽ thông với thần. Tâm một khi đã thông với thần, sẽ hiểu rõ chân lý trong thiên hạ, tự nhiên có thể thông thiên triệt địa. Học đạo như vậy tất sẽ thành công, đạo có thể trở thành tự dụng, bất kì sự việc nào cũng sẽ tự nhiên nằm trong đạo. Hơn nữa, ngộ đạo và học đạo, nhất định phải là người có đức hạnh.

Để có thể truyền dạy, người học cần có tâm nhân ái, yêu thương vạn vật, cái tâm thanh tịnh ngay từ đầu cũng phải có sự nhân từ, trung hiếu. Nếu tâm không thanh tịnh mà học đạo thì sẽ không có pháp thuật vi diệu nào cả. Đây là chân lý, không thể sai khác.”

Theo tôi được biết, thiện phù sẽ có thiện thần đến giúp đỡ, đều là linh quang thanh minh, đều là thanh tịnh vô vi. Ánh sáng mà thiện thần giáng xuống hầu hết là hồng quang, bạch quang và kim quang. Cảnh giới đó chính là thanh lương thiên giới không thể bàn cãi.

Giống như Tam Sơn Cửu Hầu tiên sinh, ngài đã là thần tiên của cảnh giới bất thối chuyển, phẩm chất tốt tự có, không cần phong thần, linh quang của thần tự nhiên đã đều có ở khắp mọi nơi. Kiểu niềm vui này mới là tự do chân chính. Tính cách của tác giả cũng như thế, thích sự tự do chân chính, không ràng buộc.

Khi sách tâm linh của tôi mới xuất bản, vì quá gây chấn động nên tôi đã phải chịu đựng bốn phương tám hướng những lời nói móc máy phỉ báng, chịu đựng những lời nói gây tổn thương và ác nghiệt của những kẻ ghen tị. Người thì nghi ngờ tôi có mục đích cá nhân, người thì nghi ngờ tôi ham cải cách tông giáo, người khác lại nghi ngờ tôi muốn khởi xướng tôn giáo. Thật đúng là những người thế tục, tâm địa hẹp hòi. Họ thật không biết rằng “thanh tịnh vô vi, vô câu vô thúc” mới là điều cao cả vĩ đại nhất.

Cá tính của tôi ngoài “vô câu vô thúc” [tự do không ràng buộc] ra thì còn “ghét cái xấu như ghét kẻ thù”. Đối với người tu đạo lương thiện tôi đặc biệt kính trọng. Còn người tu hành mà tà ác, hoặc người tu hành không theo chính đạo, tôi chỉ cần nhìn quang khí trên mặt người đó là biết ngay. Đối với những người này, tôi có trách nhiệm và nghĩa vụ chỉ ra lời cảnh báo và sửa sai.

Trong những người tu đạo có danh tiếng hiện nay, tôi đặc biệt chú ý đến quang khí trên mặt của một người. Vị này cũng đặc biệt thích giảng về khí, nhưng chỉ chú ý đến khí của người khác mà không chú ý đến quang khí trên mặt của chính mình.

Những người tu đạo chân chính thì nhãn cầu hạ xuống, khí ẩn vào trong, còn như “người đó” thì nhãn cầu lồi ra, khí lộ ra ngoài. Tướng này biểu thị tâm nôn nóng nông nổi của anh ta, về cơ bản là không có tâm thanh tịnh để tu khí.

Cái tướng nhãn cầu lồi ra ngoài không phải là thiện tướng. Ngược lại, đây là một kiểu xung tướng, biểu hiện sự kiên định sắc bén. Ánh mắt kiểu này hợp với chính trị gia và thương nhân - không hợp với tu đạo; hợp với công việc sinh nhai hối hả - không hợp với tu đạo thanh tịnh vô vi. (Đại Bảo Pháp Vương của Bạch giáo cũng đã từng nói như vậy.)

Lại quan sát khuôn mặt của “người đó”, khuôn mặt béo phì ú nụ hai hàng thịt theo như các cụ nói thì là “tướng người mặt thịt, tuyệt đối không phải loại lương thiện”. Kiểu mặt béo nhiều ngấn này trên mặt cũng thường có khí đen, loại khí đen ám khắp mặt này thực sự đáng chú ý.

Mật tông Hắc giáo vốn có nguồn gốc từ giáo phái ác tà của người Tạng tâm xấu, sớm đã bị người Tây Tạng xa lánh không theo. Có lẽ anh ta đã sử dụng tà pháp của Hắc giáo, khiến cho mặt của chính mình bị phủ đầy khí đen mà không biết. Việc này có khả năng lớn là như vậy, nếu như tiếp tục dùng hắc pháp của Hắc giáo, rất có thể không chỉ là mặt, mà toàn thân sẽ đều bị bao bọc trong khí đen. [Xin lưu ý đây không phải Mật tông phái mũ đen. Dòng Mật tông mũ đen vẫn là chính phái.]

Lại xem hành vi của anh ta, ngày đêm hối hả giúp đỡ người khác, thăm hỏi quan chức cùng những người nổi tiếng, ca sĩ minh tinh, xưng làm anh em để truyền dạy, diễn giảng khắp nơi. Việc này lại càng không giống người tu đạo, mà sự thực là mượn danh tu đạo để đi giao tế. Đây là pháp nhập thế, không phải là pháp xuất thế, ngắn gọn là anh ta đi kết duyên với chúng sinh, sử dụng duyên thế gian, đây lại cũng không phải là pháp tu đạo xuất thế.

Điều tôi e ngại là, dạng nhân tài như người này dù sao cũng hiếm gặp, chỉ tiếc rằng anh ta sẽ lầm lạc vào tửu-sắc-tài mà không có cách nào tự mình thoát ra được. Quang khí trên mặt đã ít khí tu đạo rồi, lại còn là quang khí của tửu-sắc-tài kiểu “mặt thịt, mắt lồi” thì anh ta nên dừng lòng tham, đừng nên quá khoe khoang hiếu thắng. Anh ta nên luyện “thiện quang thiền công” thì tự nhiên ánh mắt sẽ không sắc lẻm, nhãn cầu sẽ tự thu vào. Như vậy việc kết thiện duyên rộng khắp của anh ta cũng không còn là vấn đề gì nữa.

Cho phép tôi được khuyên “người đó” rằng đừng tu Mật tông Hắc giáo nữa, cần chuyển sang tu Bạch giáo mới đúng. Bạch giáo [chính giáo] có khí trắng, Hắc giáo có khí đen. Người đã có danh tiếng, phải tu có khí trắng như thế thì danh tiếng và thực tế mới tương hợp. Tôi thấy người đó luận giảng về khí rất có lý, nhưng tiếc là lại không tự xem xem mặt mình có khí gì.

“Người đó” nếu như tự dựa vào bản thân để tu pháp thông linh, thì thực sự sẽ có thể biến thần biến linh, sau này sẽ thành một người xuất chúng. Tới lúc tự mình sẽ có thể thể nghiệm những điều chí lý giữa trời đất, vô câu vô thúc, tự tại như Đại La Tiên. Chân chính là đạt đến chính pháp nhãn tạng Đại Bồ Tát.

Đây là hy vọng của tôi, cũng chính là sự tận tụy của tôi. Mau nhanh chóng tu pháp để tự mình có thể đạt thành tựu lớn, bằng không thì hào quang cũng chỉ là hư danh, đạo pháp bất thành, ngược lại sẽ tạo thành nghiệt chướng, đáng tiếc vô cùng.

Tu thiện pháp thì tự có thiện thần đến ban cho quang khí. “Người học đạo phải tích đức tu hành”, chính là “người học đạo ngay từ khi bắt đầu đã phải có hành vi đoan chính”. Tích đức tu hành, tiêu diệt nghiệp chướng kiếp trước, kiểm soát tâm ái, khiến cho ma không thể lợi dụng.

Người nếu có tâm chí thành, thì nếu gặp phải sự biến đổi vô thường huyễn hóa, cũng sẽ thông suốt được vấn đề thành bại. Họ cũng vẫn sẽ không thay đổi đạo tâm của mình. Đây chính là những nguyên lý thông thái - chân thực - chuẩn mực vậy.


### 05. Tổng quan - Tà pháp tinh linh trợ


Mở đầu cuốn sách tôi đã nhắc đến “người đó”, nhắc đến Mật tông Hắc giáo bí mật pháp, với chú thuật do một nhóm tà ma trợ giúp mới có thể sản sinh ra hiệu lực.

Theo những gì tôi chứng kiến gần đây, nhóm ma quỷ này tự nhiên vì hứng thú đến giúp đỡ “kẻ đó”, khiến cho việc hành pháp của anh ta có linh có nghiệm, thuyết phục được nhiều người tin theo Hắc giáo. Đây chính là “tà pháp tinh linh trợ “ [tà pháp được các tinh linh ma quỷ trợ giúp].

Theo tôi được biết, với những sự việc thần bí trong trời đất, quang khí phát sinh của chúng không hề giống nhau. Càng là thần linh cõi cao thì sắc thái càng đơn nhất và thuần khiết, càng là thần linh cõi thấp thì sắc thái càng lòe loẹt và hỗn tạp. Người làm tà pháp thì tự nhiên sẽ có sắc thái lòe loẹt tạp nham của thần linh cõi thấp đi theo. Chúng ta không thể phủ nhận rằng họ cũng có linh lực. Thế nhưng đừng nên để những quỷ thần này lợi dụng mà không biết.

Trong pháp phù cũng có rất nhiều tà phù, đều là nhờ tác động của quỷ thần mà có hiệu nghiệm. Người có tâm thuật bất chính hoặc người có tâm hận thù mà học những loại tà phù này, lợi ích có được chỉ là tà mà thôi. Không những tâm thuật bất chính, cuối cùng cũng không phân biệt thiện ác, sinh tâm thiên vị, ngày càng có thành kiến mà không tự biết. Bởi vì có chút xíu linh nghiệm mà tự dương tự đắc, cuối cùng chắc chắn sẽ có kết cục là sinh tâm niệm đồng cảm thành ma luôn. Pháp phù kiểu này nhất thiết không nên học, hãy nhớ lấy điều này!

Trong pháp phù có pháp “khiến người đẹp tự tìm đến”, cũng có pháp “khiến người đẹp cởi quần”, pháp “gặp gỡ trong mơ”, pháp “bí mật hòa hợp”, pháp “song tu tự hợp”, … Mật tông Hắc giáo có uy lực nhất về những pháp này. Đây đều là phạm vi của tà pháp. Học những “sex” phù này sẽ ngày càng nhiễm ma sắc mà không biết. Tác giả cũng biết loại pháp phù này, nhưng trước nay đều không dùng. “Người đó” có dùng pháp này hay không, tôi cũng không rõ lắm, hắn có biết không, tôi cũng không rõ.

Trong pháp phù cũng có “phù trộm cắp”, lén lút lấy cắp đồ vật, trộm đâu trúng đó. Càng phạm tới trời đất hơn là “phù giáng đầu”, giáng tà pháp lên thân người khác khiến tinh thần họ trở nên thất thường dẫn đến tử vong, nhẹ hơn thì mắc bệnh. Loại người có tâm thù hận này mà tu ác pháp, theo thời gian sẽ mất đi nhân tính, không còn tư cách làm người nữa. Tu pháp như vậy chỉ có phản tác dụng, lớn thì sẽ thành ác quỷ, nhỏ thì thành ác ma. Hơn nữa, người tu pháp này, sự thỏa mãn có được chỉ là ngắn ngủi, bởi tương lai luôn là “tà thì không thể nào thắng chính”, đến cuối cùng chính là làm pháp mà tự giết mình.

Trong sách của tác giả chỉ có phù thiện, còn phù ác đều bị loại bỏ vì e ngại người có tâm bất chính mà học thì tội lỗi của tôi lớn không kể xiết.

Tà phù cũng có tà lực giúp đỡ, thiên hạ rộng lớn, không có gì là không thể. Người học tà phù sau khi chết thì toàn thân chỉ có khí đen, thối bẩn không thể chịu được. Linh hồn này sẽ đọa vào địa ngục vô gián, hoặc vật lộn ở nơi đen tối, vĩnh viễn không có ngày thoát ra. Thật là hành động thiếu suy nghĩ đó!


### 06. Tổng quan - Tinh thần của phù lục


Pháp phù là một loại pháp tinh thần của cuộc sống, khởi đầu chỉ là thủ thuật nhỏ để trị bệnh, rồi từ từ biến đổi dùng cho nhiều việc khác. Tới cuối cùng pháp phù trở thành trái tim của con đường tu đạo thanh tịnh bất nhiễm, hiệu quả của nó không chỉ dùng được ở mỗi trần thế, mà còn có thể giúp được thành Phật thành tiên. Đây là phép tắc tu đạo thiên cổ bất biến, nghìn năm không đổi.

Trong pháp phù mà nói, có hàm chứa thiên địa trời đất đích thực, có thể linh hoạt điều chỉnh được tâm trí, có thể giúp trực giác của sinh mệnh trở nên minh xác rõ ràng. Trong đời sống còn có Tiên, Phật để có thể nương dựa. Quan niệm trên là tấm lòng Bồ Tát của Quan Thế Âm cứu thế, không dính chút ý niệm tà ác.

Tinh thần của phù lục là bảo tồn mật pháp cứu thế của những bậc thánh hiền từ thời cổ đại, truyền đi và phát dương cái tâm khoan hậu nhân đức. Hậu thế cũng noi gương các bậc thánh hiền, càng nên phát triển mạnh mẽ và thúc đẩy để ánh sáng của phù lục phủ chiếu khắp nơi, làm cho phù lục có linh có nghiệm. Những thiện quả này chính là sự từ bi.

Chúng ta, những học giả sau này, nên thảo luận, thâm nhập và nghiên cứu không gián đoạn, làm cho phù lục trở thành thứ đặc sắc nhất trong di sản văn hóa của người Trung Hoa, trở thành ý tưởng vĩ đại, quan điểm siêu việt, một loại tín ngưỡng vững chắc. Trên thế giới tỏa ra kết tinh ánh sáng của pháp phù, liên tục và hơn thế nữa kéo dài mãi mãi sự vĩ đại và siêu nhiên.

Phù dùng niệm lực để gia trì phù, cốt tủy là lực của định tâm, từ đó có thể thông đạt, truyền tin đến thiên đình, có thể trị bệnh trừ tà, lấy lòng nhân ái giúp người và cứu đời, bình trị thiên hạ giúp đời. Có thể dùng “sự trị sự” [dùng sự vật huyễn hóa để tác động, sửa trị các sự vật huyễn hóa]. Trên nền tảng “sự trị sự” đó sẽ hiện rõ lên sự công hiệu. Chính là Phật quang được phát ra trong sát-na nhờ công lực tu tập và công đức tích lũy của hành giả mà trong phù lục tự sẽ có linh quang, có thần lực, có thiền ý.

Không chỉ có vậy, trong phù lục cũng tự hàm chứa các hình ảnh ký hiệu súc tích biểu hiện tinh túy tóm gọn lại của thiên địa vạn vật, tự có ngôn ngữ [thông tin để thực hiện các hành động, mong muốn của hành giả]. Khi toàn bộ các yếu tố trên [linh quang, thần lực, thiền ý, hình ảnh ký hiệu súc tích, thông tin thực hiện] cùng gộp với nhau lại để phát huy, thì có thể đạt tới năng lực lưu xuất từ bên trong cảnh giới cao hơn nữa, tinh tế hơn nữa vậy .

Tu trì phù lục, gốc của người tu đạo, trong sự tinh tấn sẽ phát sinh ra cảm thụ rõ ràng thực sự. Tự cổ chí kim, phù lục luôn có khả năng phát triển lớn mạnh. Nếu ai có thể đạt tới mức độ thấu hiểu vi tế sẽ hoàn toàn phải há miệng ngạc nhiên.

Ở trong phù là một dạng “tri tính” đặc thù, có sự sáng tạo ra cảnh giới độc lập, hoàn chỉnh, và đưa con người tới được cảnh giới của thần linh. Thậm chí có thể đến được bên trong thế giới hoàn toàn bất thối chuyển, đạt được cảnh giới trí tuệ tròn đầy của trí huệ vô lậu - trí huệ giải thoát.

Phù lục là sự phối hợp của tiên thiên và hậu thiên, là sự phối hợp thiên nhân hợp nhất, là sự phối hợp giữa thần và người, không có sai sót. Hơn nữa, phù lục có tư tưởng niệm lực thanh tịnh sáng rõ, tinh thần thống nhất thông qua phương thức biểu đạt hợp lý. Điều này cho thấy pháp phù là tín ngưỡng hoàn toàn có cơ sở logic.

Con người thế tục cho rằng phù rất đáng sợ chỉ vì không hiểu công dụng của pháp phù. Họ không biết rằng pháp phù là kinh nghiệm cuộc sống chân thực. Đây cũng là do nguyên nhân chưa được tiếp xúc sâu với pháp phù.

Tác giả ngẫm thấy kết quả, tri thức trí huệ đều là từ pháp phù mà có được, tiên đoán biết trước cũng là nhờ pháp phù mà đạt được. Tôi tĩnh tọa thiền định thấy rằng, toàn bộ phù lục chính là một trong những tiên thiên hậu thiên đại pháp, quả thực vô cùng đáng ngợi ca.


### 07. Tổng quan - Nói về việc phá bỏ mê tín


Phù lục sở dĩ có thể biến thành mê tín là bởi vì những thuật sĩ giang hồ đã xúc phạm đến tính chất thần bí của phù lục, làm ra những trò lừa bịp.

Càng ngày càng có nhiều thần côn, kê đồng về cơ bản là chẳng biết phù lục là gì, chỉ lợi dụng thần ý trên giấy vàng mà nói năng bừa bãi để lừa bịp người ta. Không những không có nghi quỹ mà còn cực kì bất kính đối với Tiên Phật, sách bút vẽ bừa vẽ loạn, trở thành ra một bức phù vẽ quỷ thực sự. Thực tế việc này chỉ làm cho người ta thêm cay đắng, ghét hận mà thôi.

Đối với việc học phù một cách chân chính mà nói, trên hợp thiên cơ, dưới hợp dân tình, trời người hợp nhất, như vậy không gì sánh bằng, không có một chút “mùi” mê tín nào ở đây cả.

Tôi cười nhạo những kẻ mê tín, họ thực chất cũng chính là vô tri. Người hiểu biết chân chính sẽ không dám cả gan bình luận về điều họ không biết, bởi vì “tri chi vi tri chi”. [Đầy đủ là: Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã, tức là: biết thì biết là mình biết, không biết thì biết là mình không biết, ấy là thật biết - Luận ngữ, Khổng Tử.]

Người học khoa học thường bình luận cười nhạo sự vô tri của việc học tâm linh, bình luận cười nhạo sự mê tín của phù lục. Người học khoa học bình thường lúc vô sự thì không sao, chỉ tới khi gặp sự vụ nghiêm trọng thì mới “thử xem sao”. Nhưng cái tâm lý chỉ “thử xem sao” thì không kiện toàn.

Nếu cho rằng khoa học thực sự là vạn năng, những việc trong thiên hạ này khoa học đều có thể giải quyết được, nếu tin mê muội rằng khoa học là đệ nhất thiên hạ như thế, thì người nghiên cứu khoa học kì thực cũng xem như là người mê tín khoa học.

Trên thực tế, khoa học không thể giải quyết hết được mọi việc trong thiên hạ. Việc tâm linh vẫn cần có tâm linh giải quyết. Giữa vương quốc khoa học và giáo đường, các khái niệm dày đặc, nhưng giữa chúng đều không có mâu thuẫn. Lời mê tín sinh ra là do bởi vô tri, bởi vì “thế nhân vô tri”, do vậy mới có những lời mê tín.

Tác giả một đời này chỉ thích đạo, nghiên cứu sâu về thần tiên để học, có được phương pháp tâm linh, được thông linh, có thể đi tới nơi thiên thượng giới chư tiên.

Ngược lại, chúng sinh cõi trần tục rất nhiều người tự nhận mình là chuyên gia khoa học nhưng chỉ mê tín vật chất nhân sinh, mê tín máy móc đầu đạn hạt nhân, sát sao giữ chặt lấy những thứ đồ chơi hữu hình không buông, có người nói thần nói quỷ thì nhạo báng chế giễu. Kì thực những chúng sinh nhiều vô số kể như vậy mới là cả đời mê tín. Không biết chuyện trước khi sinh ra thế nào, chết đi sẽ ra sao, mù quáng thiển cận, thoạt nhìn đã thấy thật tội nghiệp.

Tôi thấy những người này cũng giống như ếch ngồi đáy giếng, không biết ngoài trời có trời, vẫn cho rằng khoa học vạn năng có thể thỏa mãn hết mọi ý muốn của con người. Thực sự hoàn toàn là một đám người vô tri đến đáng thương. Tác giả tội nghiệp cho những nhà khoa học mê tín chỉ ăn thức ăn khoa học, do vậy tác giả mới viết nhiều cuốn sách về tâm linh.

Mong rằng mọi người có thể ngộ ra rằng, đã có khoa học rồi, cũng cần phải có linh học nữa, đừng để bản thân biến thành người máy, tự cho rằng chết rồi là hết, chẳng còn thứ gì cả. Đời người như vậy thì còn có giá trị gì đâu, hãy mau tỉnh ngộ! Mau tỉnh ngộ! Đừng chần chừ nữa, những kẻ mê tín khoa học, có thể tỉnh lại rồi đó.

Tôi cũng có chút lời khuyên đối với thuật sĩ giang hồ và kê đồng. Đó là đừng cười cợt vào phù lục, xúc phạm đến văn hóa học thuật năm nghìn năm, cho dù lừa gạt được một lần cũng không thể lừa gạt được mãi mãi. Phải học bắt đầu từ đầu, hoàn toàn gột rửa tâm hồn, từ đây xây nên cơ sở tu đạo, đừng ti tiện hạ lưu, đừng lợi dụng thần tiên mà chuốc lấy ô danh. Giang hồ thuật sĩ hay kê đồng cũng nên mau mau tỉnh ngộ đi!


### 08. Tổng quan - Nói về việc phá bỏ bất tịnh


Có người nói, Lư Thắng Ngạn kêu người ta tu pháp phù thì tất cả bác sĩ chẳng phải là nên đóng cửa giải nghệ cho lành sao. Còn nữa, giấy phù không sạch sẽ, uống nước phù chẳng phải là không bệnh mà thành có bệnh sao. Những nghi hoặc kiểu này cũng thật có lý, tôi giải thích như sau:

Thứ nhất: khi chúng ta có bệnh, việc đầu tiên là cần tìm bác sĩ để trị liệu. Nếu chữa khỏi, chúng ta cảm ơn bác sĩ. Nhưng bác sĩ thực sự không phải toàn năng, có rất nhiều bệnh, bác sĩ kiểm tra không ra nguyên nhân của bệnh và chỗ nào mắc bệnh. Hoặc khi đã tìm bác sĩ nổi tiếng khắp các nước mà vẫn không chẩn đoán ra bệnh thì lúc này tại sao bạn không thử chuyển sang tìm đến liệu pháp tâm linh là phù lục?

Dù là bệnh chữa được hay bệnh không chữa được thì trong hoàn cảnh tuyệt vọng hãy thử hết mọi thứ có thể. Biết đâu đấy, với một chút phép tiên, căn bệnh kỳ lạ vừa uống phù xong đã thấy có hiệu quả. Tác giả đã có nhiều năm kinh nghiệm gặp những trường hợp kiểu này, nhiều không thể kể hết. Khi sử dụng liệu pháp tâm linh phối hợp với liệu pháp y học thì trường hợp thành công càng nhiều.

Các loại bệnh khác nhau ngày càng nhiều thì những ca bệnh khó chữa ngày càng nhiều. Lúc đó tâm linh liệu pháp càng cho thấy dấu hiệu chắc chắn của thần linh. Thành tâm tất linh nghiệm, điều này tuyệt đối đúng. Khoa học gia cũng không dám phủ nhận sức mạnh trên phương diện này.

Thứ hai: Phù lục không sạch ư? Nước thì dùng nước đun sôi, giấy đốt xong thành tro thì giấy cũng sạch rồi. Đem tro giấy bỏ vào nước khuấy đều, sau đó dùng một miếng vải sạch phủ lên miệng cốc, lọc hỗn hợp qua lớp vải. Lúc này nước sôi lại là nước sôi, tro giấy lại là tro giấy, đem tro vứt bỏ đi, uống phần nước lọc. Như vậy thì cái gì là không sạch?

Thực tế, đồ ăn thức uống không sạch sẽ gây ra bệnh, đây là điều ai cũng biết. Các quán ăn trong nước ta, một thùng nước đem rửa cả nghìn cái bát, đó là việc thường gặp, vậy mới là không sạch nhất. Còn nói về đạo của phù lục, dùng nước uống, dùng lửa đốt giấy, dùng vải tốt sạch để lọc, như vậy thì nói cái nào không sạch đây?

Tôi thực sự phản đối dùng tro hương, bởi vì tro hương là đất, hơn nữa cũng chưa từng nghe nói đến có thể lọc được. Đồng thời tro hương cũng không đúng với pháp của phù lục.


### 09. Phù của Kim Mẫu


(Kim Mẫu tổng phù)

Phù này là kim đan tổng phù của Tây Vương Kim Mẫu. Người uống vào, có bệnh hết bệnh, không bệnh thì khỏe thân.


<details>
<summary>Kim Mẫu tổng phù</summary>


![image](/img/img_9c2da71dcedf55eb23f7fc624c44b176.png)

</details>



### 10. Phù trị u nhọt trong miệng


(Trị khẩu sang phù)

Trong miệng dễ phát hỏa nóng sinh ra nhọt độc, uống phù này, lập tức sẽ lành.


<details>
<summary>Trị khẩu sang phù</summary>


![image](/img/img_d32a5580eee6a72cd4c71e7e4eb5f4b2.png)

</details>



### 11. Phù trị bệnh câm không rõ nguyên nhân


(Trị á ba tra vô nhân phù)

Bị câm không rõ nguyên nhân, phù này có thể cứu được.


<details>
<summary>Trị á ba tra vô nhân phù</summary>


![image](/img/img_e8525efcb32db4474aed9b51fed23b58.png)

</details>



### 12. Phù trị bệnh răng


(Trị nha bệnh phù)

Đau răng không phải do bệnh, mà đau tới mức khiến người ta muốn chết thì dùng phù này thường xuyên. Bệnh nha khoa nhẹ hơn, như sâu răng thì sẽ tự hết.


<details>
<summary>Trị nha bệnh phù</summary>


![image](/img/img_175ccb1debee950d6db1eb069788f05e.png)

</details>



### 13. Phù trị bệnh đau mắt đỏ


(Trị nhãn tinh hồng thũng phù)

Mắt bị đỏ và sưng lâu không hết, dùng phù này rất công hiệu.


<details>
<summary>Trị nhãn tinh hồng thũng phù</summary>


![image](/img/img_d49b1d31dfb34eebf44e412e4837b373.png)

</details>



### 14. Phù trị bệnh mắt


(Trị mục tật phù)

Tất cả các bệnh về mắt, đốt phù này hòa vào nước rồi rửa mắt rất tốt.


<details>
<summary>Trị mục tật phù</summary>


![image](/img/img_ed8b047af78a5b731af98e195b9b6533.png)

</details>



### 15. Phù trị ù tai


(Trị nhĩ ô phù)

Bị ù tai lâu không hết, uống phù này, lập tức hết ngay một cách kì diệu.


<details>
<summary>Trị nhĩ ô phù</summary>


![image](/img/img_1aa99db960e4d2e804f8921269824df5.png)


</details>



### 16. Phù trị tai điếc, nghễnh ngãng


(Trị nhĩ lung nhĩ tắc phù)

Trị tai điếc hoặc nghễnh ngãng, có hiệu nghiệm kỳ lạ, đừng chần chừ mà thử xem sao.


<details>
<summary>Trị nhĩ lung nhĩ tắc phù</summary>


![image](/img/img_e51f118fc6546cb90ca47f75fd1bcd2f.png)


</details>



### 17. Phù an thai


(An thai phù)

Phụ nữ trước kỳ sinh nở cần bảo vệ thai nhi. Nếu vị trí của thai không đúng, sử dụng phù (có hình giống như tử cung) này, sẽ thuận trở lại.


<details>
<summary>An thai phù</summary>


![image](/img/img_5ccf8aa08d1ff2dd3251e81b3becd903.png)

</details>



### 18. Phù thúc đẩy sinh con


(Thôi sinh phù)

Phù bát tự 8 chữ này là để thúc đẩy việc sinh con, sử dụng cùng với canh đương quy, lập tức có công hiệu.


<details>
<summary>Thôi sinh phù</summary>


![image](/img/img_d223ef2fb875dafc8b45635db83649f5.png)

</details>



### 19. Phù trị khó sinh con


(Trị nan sản phù)

Thai quá lâu, bị lưu sản, khó sinh, uống bùa này sẽ thuận ngay.


<details>
<summary>Trị nan sản phù</summary>


![image](/img/img_c1395b8f9cd7d75ad4b5b9bdd6936885.png)

</details>



### 20. Phù trị bệnh phụ khoa


(Phụ khoa tổng phù)

Phù thập tự 10 chữ này chuyên trị các bệnh phụ khoa, cực kì có công hiệu.


<details>
<summary>Phụ khoa tổng phù</summary>


![image](/img/img_0ae90c7283e77c1098f72b4eca113c7d.png)

</details>



### 21. Phù trị bệnh thần kinh


(Trị tinh thần bệnh tổng phù)

Phù này dùng cho các loại bệnh thần kinh, có thể giúp làm họ an định thần kinh trở lại bình thường, hiệu nghiệm cực kì.


<details>
<summary>Trị tinh thần bệnh tổng phù</summary>


![image](/img/img_2da315f82a57546d8d623249ccc61904.png)

</details>



### 22. Phù trị bệnh không tên, nan y khó chữa


(Trị nghi nan tạp chứng phù)

Rất nhiều loại bệnh không tên, không có liệu pháp chữa trị. Phù này chuyên trị các bệnh nan y khó chữa.


<details>
<summary>Trị nghi nan tạp chứng phù</summary>


![image](/img/img_3c292ad5e81a8e5322166fb0f73afbed.png)

</details>



### 23. Phù giúp trấn tĩnh


(Trấn định phù)

Những lúc hoảng loạn sợ hãi, tâm thần bất định, uống phù này có thể bình tĩnh trở lại.


<details>
<summary>Trấn định phù</summary>


![image](/img/img_74271e1d001ca85b3daf3bd0bab46008.png)

</details>



### 24. Phù trị tâm bệnh, tương tư


(Trị tương tư bệnh, tâm bệnh phù)

Bệnh tương tư, tâm bệnh cần có thuốc chữa tâm. Phù này hiệu nghiệm, lập tức trừ bỏ tương tư.


<details>
<summary>Trị tương tư bệnh, tâm bệnh phù</summary>


![image](/img/img_a8307321e7294179fd0fd44a1cdf3eb6.png)

</details>



### 25. Phù trị trầm cảm


(Trị tinh thần bất chấn phù)

Có người cả ngày cảm thấy hôn ám, buồn ngủ, tinh thần không phấn chấn, uống phù này sẽ giúp vui vẻ hơn.


<details>
<summary>Trị tinh thần bất chấn phù</summary>


![image](/img/img_ae46b74acb4aa22c65cc878c274b4e76.png)

</details>



### 26. Phù chữa viêm sưng, nóng sốt


(Tiêu nhất thiết viêm phù)

Phù này chữa các loại bệnh viêm sưng, nóng sốt.


<details>
<summary>Tiêu nhất thiết viêm phù</summary>


![image](/img/img_0f07eb12e22af58c1ed35c4aae23771a.png)

</details>



### 27. Phù trị côn trùng cắn


(Trị trùng giảo thương phù)

Mọi vết côn trùng cắn bị sưng đỏ, uống phù này lập tức sẽ đỡ dần.


<details>
<summary>Trị trùng giảo thương phù</summary>


![image](/img/img_ac5beccf1cf2284578f8e56bffe9029d.png)

</details>



### 28. Phù trị bệnh ngoài da


(Trị bì phu bệnh phù)

Phù tứ tự 4 chữ này có thể trị các bệnh về da liễu.


<details>
<summary>Trị bì phu bệnh phù</summary>


![image](/img/img_017c1d7ae7ba2df71e08b314a39840e6.png)

</details>



### 29. Phù trị ung thư


(Trị nham phù)

Ung thư là ác bệnh đứng đầu trong vạn bệnh, đốt phù này hòa vào nước uống sẽ có hiệu nghiệm.


<details>
<summary>Trị nham phù</summary>


![image](/img/img_78494ec4f2af6dbdc9a353c7368ea045.png)

</details>



### 30. Phù trị đau


(Trị thống phù)

Bị đau là khổ nhất, phù này chuyên trị đau. Đau đầu 9 điểm tại đầu. Riêng phù này là chữa đau ở eo lưng, 9 điểm eo lưng.


<details>
<summary>Trị thống phù</summary>


![image](/img/img_65cd41c63884510b034b9329b1ebfa7e.png)

</details>



### 31. Phù trị mọi kiểu trúng độc


(Trị nhất thiết trúng độc phù)

Phù này trị mọi loại trúng độc, hiệu quả không thể nghĩ bàn.


<details>
<summary>Trị nhất thiết trúng độc phù</summary>


![image](/img/img_ad8211278950e9cab6e60e2d08e0d9d4.png)

</details>



### 32. Phù trị tiêu chảy


(Trị đỗ tả phù)

Phù tứ tự 4 chữ này chuyên trị tiêu chảy, bụng dạ sẽ ổn lại.


<details>
<summary>Trị đỗ tả phù</summary>


![image](/img/img_030ca7628ce0174430d163f34d95eda2.png)

</details>



### 33. Phù trị nôn ói


(Trị ẩu thổ phù)

Phù ngũ tự 5 chữ này chuyên trị nôn ói, dùng để phòng (dùng trước) hay để điều trị (dùng sau) đều được.


<details>
<summary>Trị ẩu thổ phù</summary>


![image](/img/img_ab4a04bf1f08495b72417630596ff1c0.png)

</details>



### 34. Phù trị ho


(Trị khái thấu phù)

Phù tam tự 3 chữ này chuyên trị ho, công dụng diệu kỳ, cực kì quan trọng.


<details>
<summary>Trị khái thấu phù</summary>


![image](/img/img_9c4286e64564b06ae5a1392634e14b3b.png)

</details>



### 35. Phù trị bệnh dạ dày


(Trị vị bệnh phù)

Phù tứ tự 4 chữ này chuyên trị về bệnh dạ dày. Người có bệnh mãn tính, bị lâu ngày rồi thì có thể thử dùng xem.


<details>
<summary>Trị vị bệnh phù</summary>


![image](/img/img_6116d29792dd69fcffa3f358125be45b.png)

</details>



### 36. Phù trị đột quỵ não


(Trị não trúng phong phù)

Người bị đột quỵ não dẫn tới liệt nửa người, bán thân bất toại, dùng phù này có thể từ từ hồi phục.


<details>
<summary>Trị não trúng phong phù</summary>


![image](/img/img_25f2946cabc9927d6e8f93443ec09427.png)

</details>



### 37. Phù trị khó thở tức ngực


(Trị khí muộn hung tắc phù)

Nhiều người thường cảm thấy khó thở tức ngực, dùng phù này sẽ cảm thấy sảng khoái thư thái.


<details>
<summary>Trị khí muộn hung tắc phù</summary>


![image](/img/img_3c9578175e4e7fa5cdd2b97b0997c59c.png)

</details>



### 38. Phù cầm máu


(Chỉ huyết tổng phù)

Phù này giúp dừng chảy máu, đốt lên rồi uống sẽ có tác dụng.


<details>
<summary>Chỉ huyết tổng phù</summary>


![image](/img/img_853899ffab84d48fa33ac4ec12cf7048.png)

</details>



### 39. Phù trị thổ huyết


(Chỉ thổ huyết phù)

Nôn ra máu không khỏi, có thể vẽ phù 4 chữ này mà dùng, lập tức hết thổ huyết, da dẻ sẽ hồng hào trở lại.


<details>
<summary>Chỉ thổ huyết phù</summary>


![image](/img/img_739ab0db9a62dd1ecedb784d037fc8aa.png)

</details>



### 40. Phù làm tan máu bầm trong thân


(Hóa thể nội tích huyết phù)

Phù lục tự 6 chữ này giúp làm tan máu bầm, tích máu trong thân thể, công hiệu thấy ngay.


<details>
<summary>Hóa thể nội tích huyết phù</summary>


![image](/img/img_0b2061a53dedd5741a46055361684dcd.png)

</details>



### 41. Phù trị hen suyễn


(Trị khí suyễn phù)

Phù này chuyên trị hen suyễn, linh nghiệm thần kì.


<details>
<summary>Trị khí suyễn phù</summary>


![image](/img/img_893ea0b2266ef5a42fc89ebaee0ceef6.png)

</details>



### 42. Phù trị gai cột sống


(Trị cốt tích phù)

Các bệnh về xương đều dùng phù này, tác dụng giống như long cốt. (* Long cốt là tên một vị thuốc, còn gọi là phấn long cốt, hoa long cốt, thổ long cốt, chính là hóa thạch xương của một số động vật từ thời cổ đại như voi, tê giác, lợn rừng.)


<details>
<summary>Trị cốt tích phù</summary>


![image](/img/img_70661c7872f7129c6cfd1b0d3611dcb4.png)

</details>



### 43. Phù trị mộng tinh, suy thận


(Trị mộng tiết, thận khuy phù)

Phù này chính là công cụ hiệu nghiệm nhất, chuyên trị mộng tinh, suy thận.


<details>
<summary>Trị mộng tiết, thận khuy phù</summary>


![image](/img/img_6a5fdd4fe9ac4e6305293400df40974d.png)

</details>



### 44. Phù trị động kinh


(Trị điên giản phù)

Phù thất tự 7 chữ này chuyên trị động kinh, đã giúp vô số người khỏi bệnh.


<details>
<summary>Trị điên giản phù</summary>


![image](/img/img_eb003787b1c17e006c13b24c932798ac.png)

</details>



### 45. Phù trị sưng tấy đỏ


(Trị hồng thũng phù)

Phù này vẽ toàn bộ xong, dùng bút chấm 7 lần lên vết sưng đỏ ở người bệnh, đốt phù hòa vào nước uống, chuyên trị sưng tấy, không thể nghĩ bàn.


<details>
<summary>Trị hồng thũng phù</summary>


![image](/img/img_1816fccf37c613a2d7380247cd8e8929.png)

</details>



### 46. Phù trị thương hàn


(Trị thương hàn chứng phù)

Phù này vẽ một bức dán ở cửa phòng, còn một bức quay mặt ra hướng đông để dùng uống, bệnh thương hàn sẽ khỏi, cũng có thể uống để phòng ngừa bệnh.


<details>
<summary>Trị thương hàn chứng phù</summary>


![image](/img/img_4824f2e7c9b87f664d92c753de1fbb23.png)

</details>



### 47. Phù trị sốt rét


(Trị ngược tật phù)

Phù này chuyên trị sốt rét, vừa đeo bên mình, vừa dùng đem uống.


<details>
<summary>Trị ngược tật phù</summary>


![image](/img/img_85d44223644a897f967bacae86a08a33.png)

</details>



### 48. Phù trị cảm cúm


(Trị cảm mạo phù)

Người vừa bị cảm cúm vừa chóng mặt, uống vào sẽ thấy công hiệu ngay.


<details>
<summary>Trị cảm mạo phù</summary>


![image](/img/img_1dc548fa787b2842d9a904ff0add7de0.png)

</details>



### 49. Phù trị kinh phong, co giật ở trẻ em


(Trị tiểu nhi kinh phong tạp chứng phù)

Trẻ em mắc các chứng bệnh liên quan tới kinh phong, co giật, động kinh, có thể dùng phù này.


<details>
<summary>Trị tiểu nhi kinh phong tạp chứng phù</summary>


![image](/img/img_32d69efa1ec8cd18846f107b27b53c8a.png)

</details>



### 50. Phù chuyên trị kinh phong ở trẻ em


(Tiểu nhi kinh phong chuyên dụng phù)

Phù tam tự 3 chữ này chuyên dùng riêng cho trị chứng kinh phong ở trẻ em.


<details>
<summary>Tiểu nhi kinh phong chuyên dụng phù</summary>


![image](/img/img_7a13adf897702169e095041f86d4c1c3.png)

</details>



### 51. Phù trị khóc đêm ở trẻ em


(Trị tiểu hài dạ khốc phù)

Trẻ em đêm khóc nhiều ồn ào muốn chết, dùng phù này dán ở chân giường. Hôm sau sẽ yên tĩnh, đây là công cụ hiệu nghiệm nhất.


<details>
<summary>Trị tiểu hài dạ khốc phù</summary>


![image](/img/img_8c1542e71736e3333f5a69a28918ab8b.png)


</details>



### 52. Phù trị tè dầm ở trẻ em


(Trị tiểu hài niệu sàng phù)

Trẻ em ngủ đêm tè dầm khiến người lớn vô cùng phiền phức, uống phù này vào lập tức sẽ hết tè dầm.


<details>
<summary>Trị tiểu hài niệu sàng phù</summary>


![image](/img/img_80c082048232f7aa157a81cd2a5b174c.png)

</details>



### 53. Phù trị thấp khớp


(Trị phong thấp chứng phù)

Mọi bệnh về thấp khớp dùng phù này sẽ khỏi.


<details>
<summary>Trị phong thấp chứng phù</summary>


![image](/img/img_76547fdf332422344fd26085f05a6ea3.png)

</details>



### 54. Phù trị tiểu đường


(Trị thận tạng đường niệu bệnh phù)

Chứng bệnh tiểu đường uống phù này sẽ thấy có hiệu quả nhanh.


<details>
<summary>Trị thận tạng đường niệu bệnh phù</summary>


![image](/img/img_2b92a1217a33e824c3208d312e018d3d.png)

</details>



### 55. Phù trị nghiện rượu


(Trị tham tửu phù)

Phù này chuyên trị nghiện rượu, uống cùng nước rễ sắn dây (cát căn), càng có cảm ứng.


<details>
<summary>Trị tham tửu phù</summary>


![image](/img/img_973b57429425d0698e2682bea73142a5.png)

</details>



### 56. Phù trị say rượu, giúp mau tỉnh rượu


(Tửu túy tốc tỉnh phù)

Phù giúp người say rượu tỉnh cực nhanh. Hiệu lực lập tức.


<details>
<summary>Tửu túy tốc tỉnh phù</summary>


![image](/img/img_aef50ffac8f7307afdcbea6e7a10af89.png)

</details>



### 57. Phù trị bệnh hoa liễu


(Trị hoa liễu bệnh phù)

Phù này trị các bệnh hoa liễu, hơn nữa lại còn rửa sạch tâm giúp sám hối.


<details>
<summary>Trị hoa liễu bệnh phù</summary>


![image](/img/img_f32e9df5eb7bf86462d8c0a2c240ac1e.png)

</details>



### 58. Phù trị mơ ngủ ban đêm


(Trị dạ mộng phù)

Đốt phù này uống sẽ không mơ nhiều nữa.


<details>
<summary>Trị dạ mộng phù</summary>


![image](/img/img_a50b91baa22d543cf432788cdaa42206.png)

</details>



### 59. Phù tránh dịch bệnh


(Tị dịch bệnh phù)

Với các bệnh dịch phổ biến, mỗi ngày uống một lần, những bệnh này sẽ không bị nhiễm phải.


<details>
<summary>Tị dịch bệnh phù</summary>


![image](/img/img_afce70e067254584ce2f1b7fd19b0a9c.png)

</details>



### 60. Phù chống say sóng


(Bất vựng thuyền phù)

Khi đi tàu biển mang theo phù này sẽ không bị say nữa.


<details>
<summary>Bất vựng thuyền phù</summary>


![image](/img/img_5619cc46c6ed829a577038219e6fd3c9.png)

</details>



### 61. Hóa cốt phù


(Hóa cốt phù)

Làm tiêu hóa xương (mắc trong họng) không khó, viết phù này trên mặt nước, niệm chú sau:

“Oản hóa đông dương đại hải, yết hầu hóa vạn trượng thâm đàm, cửu long quy động, ngô phụng Thái thượng lão quân luật lệnh.”

Quay về hướng đông hít ba ngụm khí, thổi vào bát rồi uống.


<details>
<summary>Hóa cốt phù</summary>


![image](/img/img_f8e5a0dc59f6255496a8e2874144cc18.png)

</details>



### 62. Phù cai thuốc lá


(Giới yên phù)

Thích hút thuốc không ngừng được, uống phù này, nhìn thấy thuốc là thấy chán ghét.


<details>
<summary>Giới yên phù</summary>


![image](/img/img_fe5349cfb3e5d2ac7af92f47ff6986c7.png)

</details>



### 63. Phù trị mất ngủ


(Trị thất miên phù)

Người mất ngủ vẽ phù này để dưới gối, niệm: “Kết đế, kết đế, Tự Tại Tướng Quân tại thử “ 100 lần, tự nhiên sẽ ngủ ngon.


<details>
<summary>Trị thất miên phù</summary>


![image](/img/img_1476e077e62e34f2435241b5700f4c85.png)

</details>



### 64. Phù trị tay chân lạnh


(Trị thủ cước băng lãnh phù)

Mùa đông lạnh, mang theo phù này, tay chân sẽ không bị lạnh cóng.


<details>
<summary>Trị thủ cước băng lãnh phù</summary>


![image](/img/img_e4351d3b33493a00300689d5ae2e98ac.png)

</details>



### 65. Phù trị gái gú, cờ bạc


(Trị hiếu dã du, hiếu đổ phù)

Thích đến nhà thổ, thích đánh bạc, phù này đốt lên hòa vào nước uống, có thể quay đầu.


<details>
<summary>Trị hiếu dã du, hiếu đổ phù</summary>


![image](/img/img_4196b0183377fe4b09efe361ed88db0e.png)

</details>



### 66. Phù trị ác mộng


(Trị ác mộng phù)

Nếu gặp ác mộng, uống phù này sẽ chuyển thành cát tường tốt đẹp.


<details>
<summary>Trị ác mộng phù</summary>


![image](/img/img_bc96e8e05ac32497f8bf659d3faf8924.png)

</details>



### 67. Phù tránh dịch cho vật nuôi


(Trị lục súc ôn dịch phù)

Phù này dán vào chỗ ở của 6 loại vật nuôi (heo, bò, cừu, ngựa, gà, chó), bệnh dịch sẽ không phát sinh.


<details>
<summary>Trị lục súc ôn dịch phù</summary>


![image](/img/img_ea5c6b07679a751a43df572a9b55ea32.png)

</details>



### 68. Phù tránh hỏa hoạn


(Tị hỏa tai phù)

Khi có hỏa hoạn, nhanh chóng dán phù này, chú ý tới nguồn gây cháy, tự nhiên sẽ không có tai họa.


<details>
<summary>Tị hỏa tai phù</summary>


![image](/img/img_33e90c80b3ec472c3b784ef473d0e82f.png)

</details>



### 69. Phù trị quái thanh, quái hình


(Trị quái thanh quái hình phù)

Nghe thấy tiếng kỳ quái, nhìn thấy hình ảnh quái dị, dùng ngón tay vẽ phù này về hướng đó, sẽ giải được ngay.


<details>
<summary>Trị quái thanh quái hình phù</summary>


![image](/img/img_e925a563053015950fc1788f3a28e523.png)

</details>



### 70. Phù tránh đao binh - loại 1


(Tị đao binh kiếp phù chi nhất)

Để tránh đao binh cướp bóc, mang theo phù này trên người sẽ chuyển họa hại thành may mắn.


<details>
<summary>Tị đao binh kiếp phù chi nhất</summary>


![image](/img/img_d56f851842ad5c37395587464d65e97c.png)


</details>



### 71. Phù tránh đao binh - loại 2


(Tị đao binh kiếp phù chi nhị)

Phù này chính là dùng để tránh đao binh cướp bóc, phối hợp với Phật hiệu thì càng linh.


<details>
<summary>Tị đao binh kiếp phù chi nhị</summary>


![image](/img/img_a33e21c184eb11c2540ea900b10c2ccb.png)

</details>



### 72. Phù khiến chó thối lui


(Cẩu thoái phù)

Người đem theo phù này, chó nhìn thấy tự sẽ quay đầu bỏ đi.


<details>
<summary>Cẩu thoái phù</summary>


![image](/img/img_fea1f23d5023e79a702cb08c6664ba51.png)

</details>



### 73. Phù khiến người khác nể sợ


(Linh nhân úy cụ phù)

Mang theo phù này bên người, uy thế sẽ trấn áp, khiến người khác cảm thấy nể sợ.


<details>
<summary>Linh nhân úy cụ phù</summary>


![image](/img/img_ea19286a006b0fd58ced9f0438a0351d.png)

</details>



### 74. Phù hòa hợp vợ chồng


(Hòa hợp phù)

Phù hòa hợp vợ chồng, cả hai cùng uống.


<details>
<summary>Hòa hợp phù</summary>


![image](/img/img_76704795438d21f0f50c6c86e8a4e94a.png)

</details>



### 75. Phù hòa hợp nhân viên


(Viên công hòa hợp phù)

Nhân viên ở nơi làm việc bất hòa, dùng phù này đốt hòa vào nước, nhân viên uống sẽ thuận hòa trở lại.


<details>
<summary>Viên công hòa hợp phù</summary>


![image](/img/img_23d12b69d8c78a6fbd6eb4b83bdc4bb6.png)

</details>



### 76. Phù giảm cãi vã gia đình


(Trấn gia trạch khẩu giác phù)

Phù này trấn lại, làm yên những cuộc đấu khẩu giận dữ trong gia đình, chữ trắng nền đen, dùng để dán.


<details>
<summary>Trấn gia trạch khẩu giác phù</summary>


![image](/img/img_a8156b3c5831b5fc46a29abd50464ff3.png)

</details>



### 77. Phù đòi nợ


(Thảo trái phù)

Phù này có nhiều công dụng, đòi nợ hoặc khuất phục đối phương, đem theo sẽ có đại cát tường.


<details>
<summary>Thảo trái phù</summary>


![image](/img/img_b2de5a899b99e193a8f8612c679a04cc.png)

</details>



### 78. Phù trị khắc chồng


(Trị khắc phu phù)

Nếu vợ khắc chồng, ngày kết hôn mang theo phù này, sẽ thoát chết.


<details>
<summary>Trị khắc phu phù</summary>


![image](/img/img_c7f3d5e55206aa79712cac258270a27f.png)

</details>



### 79. Phù trị khắc vợ


(Trị khắc thê phù)

Nếu chồng khắc vợ, ngày kết hôn mang theo phù này, sẽ thoát chết.


<details>
<summary>Trị khắc thê phù</summary>


![image](/img/img_5241c34b0b27b52e868113f883ace26e.png)

</details>



### 80. Phù hòa hảo tình cảm


(Cảm tình hợp hảo phù)

Đây là phù hòa hảo tình cảm, vợ chồng cùng uống, nếu là gái làng chơi thì đừng dùng.


<details>
<summary>Cảm tình hợp hảo phù</summary>


![image](/img/img_b9dd9f6a144bd9bdd2973af0b600102e.png)

</details>



### 81. Phù tránh họa mồm mép


(Tị khẩu thiệt phù)

Mang phù này theo người có thể tránh họa khẩu thiệt, mồm mép, ăn nói nông cạn, bị hiểu nhầm và cãi vã.


<details>
<summary>Tị khẩu thiệt phù</summary>


![image](/img/img_2be0cec1a8bddfb3e8226cef6c684d1f.png)

</details>



### 82. **Phù kính ái**


(Kính ái phù)

Mang phù này theo người, ai nấy đều yêu mến.


<details>
<summary>Kính ái phù</summary>


![image](/img/img_0a3ec2c156b1ae49942c52d86f870860.png)

</details>



### 83. Phù cầu tài số 1


(Cầu tài linh phù chi nhất)

Phù này là một trong những loại linh phù cầu tài. Phù này phối hợp với Thất Phật Kim, Như Ý Kim đem đốt, thương nhân sẽ có được lợi nhuận lớn.


<details>
<summary>Cầu tài linh phù chi nhất</summary>


![image](/img/img_03d7b5d1fdec413c0ae78960e7a2fd81.png)

</details>



### 84. Phù cầu tài số 2


(Cầu tài linh phù chi nhị)

Phù này là một trong những loại linh phù cầu tài. Đốt phù này trước cửa tiệm, tiền sẽ như nước chảy vào.


<details>
<summary>Cầu tài linh phù chi nhị</summary>


![image](/img/img_e94d630029af4ca6b16a99b52baa9077.png)

</details>



### 85. Phù khởi công đại cát số 1


(Khai công đại cát phù chi nhất)

Là một trong những phù để khởi công may mắn, cát lợi. Dùng để dán vào máy móc hoặc nhà xưởng.


<details>
<summary>Khai công đại cát phù chi nhất</summary>


![image](/img/img_f54545c502354e1f1cb269dc014e1697.png)

</details>



### 86. Phù khởi công đại cát số 2


(Khai công đại cát phù chi nhị)

Là một trong những phù để khởi công may mắt, cát lợi. Dùng để dán vào cổng chính.


<details>
<summary>Khai công đại cát phù chi nhị</summary>


![image](/img/img_48e3c705fd68aea20d2ef085f515a05f.png)

</details>



### 87. Phù sinh con trai


(Sinh nam phù)

Toàn sinh con gái, không có con trai, phù này phụ nữ uống vào ngày sinh sẽ được con trai, rất có linh có nghiệm.


<details>
<summary>Sinh nam phù</summary>


![image](/img/img_a801090a6a254687d916a5268c8a5b3e.png)

</details>



### 88. Phù lái xe bình an


(Khai xa bình an phù)

Phù này đem theo người thì thượng lộ bình an.


<details>
<summary>Khai xa bình an phù</summary>


![image](/img/img_9aec325b0f9973c7a29bbecde68eb2e5.png)

</details>



### 89. **Phù thanh tịnh nước uống**


(Ẩm thủy thanh tịnh phù)

Nước uống không sạch, dễ sinh bệnh tật, phù này hòa vào nước, nước biến thành thanh tịnh. Ở nơi hoang vu hẻo lánh khi muốn sống sót có thể dùng phù này.


<details>
<summary>Ẩm thủy thanh tịnh phù</summary>


![image](/img/img_faf23ad586434565a7d64923b0cb7123.png)

</details>



### 90. **Phù hộ thân - Ngọc Hoàng Đại Đế**


(Ngọc Hoàng Đại Đế hộ thân phù)

Đây là phù hộ thân của Ngọc Hoàng Đại Đế.


<details>
<summary>Ngọc Hoàng Đại Đế hộ thân phù</summary>


![image](/img/img_78a02396af2fabc90adc62417f906947.png)

</details>



### 91. Phù quang minh định tâm


(Quang minh định tâm phù)

Trẻ con hiếu động không thích học hành, uống phù này sẽ thấy tác dụng kỳ lạ.


<details>
<summary>Quang minh định tâm phù</summary>


![image](/img/img_a9f9e1d173e671a275d2d2ccd1f2eb2d.png)

</details>



### 92. Phù trúng số


(Trúng tưởng phù)

Phù này mang theo lâu, chắc chắn trúng độc đắc, cực kì kì diệu.


<details>
<summary>Trúng tưởng phù</summary>


![image](/img/img_14293808c1f4c6891d8637ea28e64a39.png)

</details>



### 93. Phù đổ xúc xắc chắc chắn trúng


(Trịch đầu tất trúng phù)

Người đổ xúc xắc, tôi hô “điểm”. Mang theo phù này, mỗi lần hô tất sẽ trúng.


<details>
<summary>Trịch đầu tất trúng phù</summary>


![image](/img/img_2e52b3be88b739ef540e2b0d241b3b62.png)

</details>



### 94. Phù chống ma quỷ hút tinh khí


(Phòng quỷ nhiếp tinh khí phù)

Người khi tỉnh dậy mà cực kì mệt mỏi là do quỷ hút đi tinh khí. Phù này vừa uống, vừa đốt ở đầu giường, tinh thần sẽ tự có thể hồi phục.


<details>
<summary>Phòng quỷ nhiếp tinh khí phù</summary>


![image](/img/img_1bd037e953afa0b5431a0781432a34a8.png)

</details>



### 95. Phù thu trăm loại sát – hình khắc


(Thu bách sát phù)

Phù này thu lại trăm loại Sát, hình khắc bất lợi. Nơi nào có Sát, dán phù lên sẽ được đại cát, may mắn.


<details>
<summary>Thu bách sát phù</summary>


![image](/img/img_f08b7fb6a4b30d3c3f8eeaef39f666a8.png)

</details>



### 96. Phù chống tà


(Thoái tà phù)

Nếu bị tà theo, uống phù này, tà sẽ phải thối lui.


<details>
<summary>Thoái tà phù</summary>


![image](/img/img_52ebe9e85769497141496a1edfef1d64.png)

</details>



### 97. Phù trấn áp sát – Hổ Tinh Quân


(Hổ Tinh Quân áp sát phù)

Phù Hổ Tinh Quân trấn áp sát, hình khắc. Dùng để trấn trạch, dán ngoài cửa hướng ra ngoài sẽ gặp đại cát.


<details>
<summary>Hổ Tinh Quân áp sát phù</summary>


![image](/img/img_4bcb90b451759205af16e2fe9ace9ba0.png)

</details>



### 98. Phù đuổi quỷ


(Khứ quỷ phù)

Phù này dán trong phòng, ma quỷ tự biến đi.


<details>
<summary>Khứ quỷ phù</summary>


![image](/img/img_3c87a39790c4d601b28a63dcec907a3b.png)

</details>



### 99. Phù sấm sét


(Lôi hỏa phù)

Lôi hỏa phù này chuyên trị sói, ở Đại Lục (Trung Quốc) rất phổ biến.


<details>
<summary>Lôi hỏa phù</summary>


![image](/img/img_3a988b8887651dc26519ca5c34d77100.png)

</details>



### 100. Phù phá sát cho bé trai


(Nam đồng phá nhất thiết quan sát phù)

Phù này đem theo sẽ phá được mọi thứ liên quan đến sát, hình khắc bất lợi. Dùng riêng cho bé trai.


<details>
<summary>Nam đồng phá nhất thiết quan sát phù</summary>


![image](/img/img_8cb912fc4a0395aef58a785f72e50c85.png)

</details>



### 101. Phù phá sát cho bé gái


(Nữ đồng phá nhất thiết quan sát phù)

Phù này đem theo sẽ phá được mọi thứ liên quan đến sát, hình khắc bất lợi. Dùng riêng cho bé gái.


<details>
<summary>Nữ đồng phá nhất thiết quan sát phù</summary>


![image](/img/img_9f6e10941ba6ddeafad32eddd6c9bd6a.png)


</details>



### 102. Phù trảm tà ma


(Trảm tà phù)

Phù này cực kì lợi hại, dán ở trong nhà, có thể trảm (chém chết) toàn bộ tà ma, không nguy cấp thì không dùng.


<details>
<summary>Trảm tà phù</summary>


![image](/img/img_abcb5e0066cad3063fb308b2024179e3.png)

</details>



### 103. Phù loại bỏ hắc khí


(Thu hắc khí phù)

Trên mặt có khí đen, phù này sẽ hút hết khí đen đi.


<details>
<summary>Thu hắc khí phù</summary>


![image](/img/img_b7d942c3e4dadb43ec471d34ece75e5d.png)

</details>



### 104. Phù đi đêm tránh ma quỷ


(Dạ hành tị quỷ phù)

Đi đêm mà mang theo phù này, ma quỷ sẽ tránh xa.


<details>
<summary>Dạ hành tị quỷ phù</summary>


![image](/img/img_f532185c69ea1337989216be394bd95e.png)

</details>



### 105. Phù chống trộm vào nhà


(Tị lương thượng quân tử phù)

Phù này Trong nhà thường có trộm viếng thăm, vẽ phù này cúng trước thần, trộm sẽ gặp rắc rối và không tới nữa.


<details>
<summary>Tị lương thượng quân tử phù</summary>


![image](/img/img_68e0057b4645e91d1fefe0ee622bb734.png)

</details>



### 106. Phù tránh bị xung phạm


(Tị xung phạm phù)

Màu đỏ cho đám hỷ (đám cưới), màu trắng cho đám tang, nếu sợ xung phạm, mang phù này theo sẽ tránh được.


<details>
<summary>Tị xung phạm phù</summary>


![image](/img/img_d07114b3bf2519541a8c9bcfc74b0c99.png)

</details>



### 107. Phù giải xung phạm thổ thần


(Trị xung phạm thổ thần phù)

Trẻ con xung phạm đến thổ thần, đốt phù này cho uống sẽ lập tức giải được.


<details>
<summary>Trị xung phạm thổ thần phù</summary>


![image](/img/img_9d3be1e5a96ea65dbb23feecb7739b6e.png)

</details>



### 108. Phù giải xung phạm Bạch Hổ Tinh


(Trị xung phạm Bạch Hổ Tinh phù)

Xung phạm đến Bạch Hổ Tinh, uống phù này lập tức hóa giải được.


<details>
<summary>Trị xung phạm Bạch Hổ Tinh phù</summary>


![image](/img/img_02ae4eef86498fe8300304065c9eeccb.png)

</details>



### 109. Phù giải xung phạm Sao chổi


(Trị xung phạm Tảo Trửu Tinh phù)

Xung phạm với Sao chổi, uống phù này lập tức hóa giải được.


<details>
<summary>Trị xung phạm Tảo Trửu Tinh phù</summary>


![image](/img/img_426af3040a95c00cc09c30b9c0ea18ea.png)

</details>



### 110. Phù trị xung phạm Phi Ma Tinh


(Trị xung phạm phi ma tinh phù)

Trong Bát tự bị Thần sát Phi Ma Tinh xung phạm, uống phù này sẽ lập tức hóa giải được.


<details>
<summary>Trị xung phạm phi ma tinh phù</summary>


![image](/img/img_a72654a091b481973c5ba0107874b8a8.png)

</details>



### 111. Phù trấn mộ phần số 1


(An phần phù chi nhất)

Phù này trấn yểm ở đầu mộ phần, muốn nhánh nào của dòng họ phát đạt là tùy ý.


<details>
<summary>An phần phù chi nhất</summary>


![image](/img/img_9c40df37ed849935f35161325d48d4f3.png)

</details>



### 112. Phù trấn mộ phần số 2


(An phần phù chi nhị)

Nếu có thầy địa lý ác tâm, hủy hoại Minh đường thủy, phù này trấn trên bia mộ phần, sẽ chuyển xung thành cát.


<details>
<summary>An phần phù chi nhị</summary>


![image](/img/img_2fa8f8ffa51f4f76f0d06950f70e8dea.png)

</details>



### 113. Phù trấn trạch bình an


(Trấn trạch bình an phù)

Một trong những loại phù trấn trạch bình an. Phù này mang lại đại lợi cho tân trạch, nhà mới.


<details>
<summary>Trấn trạch bình an phù</summary>


![image](/img/img_4069caa4397b3e94f4e5771f455cb186.png)

</details>



### 114. Phù trị cột lớn chắn trước cửa


(Trị đại trụ đối môn phù)

Phía trước có cột lớn chắn ngay cửa, thích hợp dùng phù này để trấn.


<details>
<summary>Trị đại trụ đối môn phù</summary>


![image](/img/img_83a78fb0eafd494aba542f04442928f7.png)

</details>



### 115. Phù thanh tịnh nhà cửa


(Gia trạch tịnh phù)

Phù thanh tịnh nhà cửa, hóa phù hòa vào nước, rắc rải khắp nơi trong sảnh lớn, tự sẽ được bình an.


<details>
<summary>Gia trạch tịnh phù</summary>


![image](/img/img_7d156b62ad6ab51892c50e739a64857c.png)

</details>



### 116. Phù trấn trạch - Thất tinh


(Thất tinh trấn trạch phù)

Thất tinh trấn trạch, là một trong những phù bình an.


<details>
<summary>Thất tinh trấn trạch phù</summary>


![image](/img/img_0ff552bf56e81d65ac746d57f54e19fd.png)

</details>



### 117. Phù nhanh bán được nhà


(Thụ ốc cấp thành phù)

Cầu nhanh bán được nhà, đến miếu của Thổ Thần Công gần nhất đốt phù này sẽ được như ý.


<details>
<summary>Thụ ốc cấp thành phù</summary>


![image](/img/img_de1118a73d062c9f9331505ac03041af.png)

</details>



### 118. Phù động thổ


(Phá thổ phù)

Phù này dùng khi động thổ, sẽ đại thuận lợi.


<details>
<summary>Phá thổ phù</summary>


![image](/img/img_7f11f327def1107c548cabbbe0b62a92.png)

</details>



### 119. Tuế Đức trấn trạch phù


(Tuế Đức trấn trạch phù)

Đây là phù Tuế Đức trấn trạch. Có phù này không lo bị xung Thái Tuế.


<details>
<summary>Tuế Đức trấn trạch phù</summary>


![image](/img/img_745ee9fe59d7356c4985ef5a0f3cdc02.png)

</details>



### 120. Phù bảo vệ nhà mới khỏi tà thuật


(Tân ốc phòng ác thuật phù)

Đốt phù này ở chính giữa nhà mới, người khác dùng tà thuật làm hại đều vô hiệu. Dùng cùng với phù trấn Thổ thần bốn phương sẽ thấy hiệu lực lớn.


<details>
<summary>Tân ốc phòng ác thuật phù</summary>


![image](/img/img_b56f655880dcfffc888a77519643e32f.png)

</details>



### 121. Phù trấn Đông phương Thổ thần


(Tân ốc trấn Đông phương Thổ thần phù)

Dùng cho nhà mới, phù để trấn Thổ thần ở phương Đông, đốt ở hướng Đông.


<details>
<summary>Tân ốc trấn Đông phương Thổ thần phù</summary>


![image](/img/img_6bb8234c5f7a21081f0f705476cf0a76.png)

</details>



### 122. Phù trấn Tây phương Thổ thần


(Tân ốc trấn Tây phương Thổ thần phù)

Dùng cho nhà mới, phù để trấn Thổ thần ở phương Tây, đốt ở hướng Tây.


<details>
<summary>Tân ốc trấn Tây phương Thổ thần phù</summary>


![image](/img/img_a4eeffc9686fe07379a11b1d6d9bc085.png)

</details>



### 123. Phù trấn Nam phương Thổ thần


(Tân ốc trấn Nam phương Thổ thần phù)

Dùng cho nhà mới, phù để trấn Thổ thần ở phương Nam, đốt ở hướng Nam.


<details>
<summary>Tân ốc trấn Nam phương Thổ thần phù</summary>


![image](/img/img_e8eab248e2040e8d3ce660f62fd3adbb.png)

</details>



### 124. **Phù trấn Bắc phương Thổ thần**


(Tân ốc trấn Bắc phương Thổ thần phù)

Dùng cho nhà mới, phù để trấn Thổ thần ở phương Bắc, đốt ở hướng Bắc.


<details>
<summary>Tân ốc trấn Bắc phương Thổ thần phù</summary>


![image](/img/img_9d79db49825386aa20cbad09d8b8e3df.png)

</details>



### 125. Phù phong thủy bất bại


(Phong thủy bất bại phù)

Nếu có người có ý định xấu, chơi yểm tà ác với mộ phần, chôn phù này trong mộ, kẻ xấu đến sẽ gặp tai họa, phong thủy bất bại.


<details>
<summary>Phong thủy bất bại phù</summary>


![image](/img/img_e6741651262b1adad48843e45f711759.png)

</details>



### 126. **Phù làm nhà cửa hưng vượng**


(Phòng ốc hưng vượng phù)

Nếu nhà cửa không hưng vượng, an trí phù này sẽ được cực kì hưng vượng.


<details>
<summary>Phòng ốc hưng vượng phù</summary>


![image](/img/img_f315800ec264fc6bea75a72b91fce4fd.png)

</details>



### 127. **Phù chống ma quỷ ở cửa lớn**


(Đại môn tị tà phù)

Dán phù này ở cửa lớn, mọi ma quỷ đều không dám vào.


<details>
<summary>Đại môn tị tà phù</summary>


![image](/img/img_7555d49d24b68aadad2e2622e3df6229.png)

</details>



### 128. Phù trấn trạch của Lão Quân


(Lão Quân trấn trạch phù)

Đây là một trong những phù trấn trạch của Lão Quân.


<details>
<summary>Lão Quân trấn trạch phù</summary>


![image](/img/img_ff3ef30cd540e0b9195e3cbe5b420c67.png)

</details>



### 129. Phù chống rắn rết côn trùng


(Tuyệt xà trùng phù)

Trong nhà có côn trùng, rắn rết hay tới, dùng phù này. Lấy rượu Hùng Hoàng xịt, dán phù khắp mọi nơi, sẽ hết ngay.


<details>
<summary>Tuyệt xà trùng phù</summary>


![image](/img/img_8a5d1b9cac5b33bc3acd104fc1f43380.png)

</details>



### 130. Phù gửi thư mười pháp giới


(Truyền thư thập pháp giới phù)

Đây là một pháp phù gửi thông điệp truyền tin đi mười phương pháp giới cho các pháp sư tại gia.


<details>
<summary>Truyền thư thập pháp giới phù</summary>


![image](/img/img_c4d9983d9dac662ff2e12b3dead0f9cf.png)

</details>



### 131. Phù ngũ lôi chính pháp


(Ngũ lôi chính pháp phù)

Đây là ngũ lôi chính pháp phù, để an trạch, trấn áp Sát, hình khắc bất lợi, cực hiệu quả.


<details>
<summary>Ngũ lôi chính pháp phù</summary>


![image](/img/img_c9d66632d4298ac058ace80e4d5ad7b0.png)

</details>



### 132. Thất tự Cương phù


(Thất tự Cương phù)

Với phù thất tự 7 chữ Cương này, nếu có người dùng phù tà ác tới hại thì trước tiên uống phù này, sẽ không sợ bị hại nữa.


<details>
<summary>Thất tự Cương phù</summary>


![image](/img/img_83f1c34ec446d6f58dd854ed98ee422d.png)

</details>



### 133. Phù cầu Thành Hoàng


(Cầu Thành Hoàng phù)

Khi có việc gấp cầu Thành Hoàng, đốt phù này sẽ có cảm ứng tức khắc.


<details>
<summary>Cầu Thành Hoàng phù</summary>


![image](/img/img_a412528587c298c4d200bdacf33d893b.png)

</details>



### 134. Phù cầu Lữ Tổ


(Cầu Lữ Tổ phù)

Có việc khẩn cần cầu Lữ Tổ, đốt phù này, sẽ có cảm ứng rất nhanh.


<details>
<summary>Cầu Lữ Tổ phù</summary>


![image](/img/img_8b3db040905e5896eb3530c6838ee9a2.png)

</details>



### 135. Phù An ngũ doanh tướng quân


(An ngũ doanh tướng quân linh phù)

Phù này là linh phù của miếu thờ An ngũ doanh tướng quân, cực kì linh ứng.


<details>
<summary>An ngũ doanh tướng quân linh phù</summary>


![image](/img/img_511df3297b14a636c8810e57e2c3586b.png)

</details>



### 136. Phù khởi linh Chân Phật Tông


(Chân Phật Tông khởi linh phù)

Phù khởi linh của Chân Phật Tông.


<details>
<summary>Chân Phật Tông khởi linh phù</summary>


![image](/img/img_ef0bad93fd14e16adb0a48cb9fc8b736.png)

</details>



###  137. Linh phù Tu đạo thứ 1


(Tu đạo linh phù chi nhất )

Đây là linh phù tu đạo thứ 1, là phù thức của Tinh chủ Tử Vi Đại Đế (phối hợp với sách Thông Linh Mật Pháp tu trì).


<details>
<summary>Tu đạo linh phù chi nhất</summary>


![image](/img/img_bfb67ec8ba0c03d987e6f84cbcff3ada.png)

</details>



###  138. Linh phù Tu đạo thứ 2


(Tu đạo linh phù chi nhị )

Tu đạo linh phù thứ 2, là phù để luyện Bản mệnh nguyên thần.


<details>
<summary>Tu đạo linh phù chi nhị</summary>


![image](/img/img_b0141f5c3ae1aa904903f96bc2d33c50.png)

</details>



###  139. Linh phù Tu đạo thứ 3


(Tu đạo linh phù chi tam)

Tu đạo linh phù thứ 3, là phù thức của Thiên Cang Tinh Chủ.


<details>
<summary>Tu đạo linh phù chi tam</summary>


![image](/img/img_478f57e9d943829a6a3be87a2822c1ab.png)

</details>



###  140. Linh phù Tu đạo thứ 4


(Tu đạo linh phù chi tứ)

Tu đạo linh phù thứ 4, là phù thức của Thái Dương Tinh Chủ phù, tăng trưởng ánh sáng.


<details>
<summary>Tu đạo linh phù chi tứ</summary>


![image](/img/img_66fa609a1046ec53b09c88f7bbb0681a.png)

</details>



###  141. Linh phù Tu đạo thứ 5


(Tu đạo linh phù chi ngũ)

Tu đạo linh phù thứ 5, là phù thức của Thái Âm Tinh Chủ, tăng trưởng trí huệ.


<details>
<summary>Tu đạo linh phù chi ngũ</summary>


![image](/img/img_beddf3b96552511c98b18ea33e7b166f.png)

</details>



###  142. Linh phù Tu đạo thứ 6


(Tu đạo linh phù chi lục)

Tu đạo linh phù thứ 6, là phù thức tổng danh hiệu Dương Nhật Thần.


<details>
<summary>Tu đạo linh phù chi lục</summary>


![image](/img/img_ec5e52f533545423be4b783ea5ad8285.png)

</details>



###  143. Linh phù Tu đạo thứ 7


(Tu đạo linh phù chi thất)

Tu đạo linh phù thứ 7, là phù thức tổng danh hiệu Âm Nhật Thần.


<details>
<summary>Tu đạo linh phù chi thất</summary>


![image](/img/img_157986a05833d09cbddf1866511d8800.png)

</details>



###  144. Linh phù Tu đạo thứ 8


(Tu đạo linh phù chi bát)

Tu đạo linh phù thứ 8, là phù gọi thần, đốt xong thần sẽ đến.


<details>
<summary>Tu đạo linh phù chi bát</summary>


![image](/img/img_5d9cb0e361179eefa0cd53e8e276e3b7.png)

</details>



###  145. Linh phù Tu đạo thứ 9


(Tu đạo linh phù chi cửu)

Tu đạo linh phù thứ 9, kim quang phù, dùng lâu thân sẽ hiện kim quang.


<details>
<summary>Tu đạo linh phù chi cửu</summary>


![image](/img/img_634245a9971e7d9971b15621e71d8d1f.png)

</details>



###  146. Linh phù Tu đạo thứ 10


(Tu đạo linh phù chi thập)

Tu đạo linh phù thứ 10, là phù thức của Quan Thần.


<details>
<summary>Tu đạo linh phù chi thập</summary>


![image](/img/img_c739a03a7111f20bb8f2dea079140bc8.png)

</details>



###  147. Linh phù Tu đạo thứ 11


(Tu đạo linh phù chi thập nhất)

Tu đạo linh phù thứ 11, rút lại việc gọi thần.


<details>
<summary>Tu đạo linh phù chi thập nhất</summary>


![image](/img/img_05c06f1891cfe83f3e85f3ebdd5cfc62.png)

</details>



###  148. Linh phù Tu đạo thứ 12


(Tu đạo linh phù chi thập nhị)

Tu đạo linh phù thứ 12, phù biến hình hóa thành thần.


<details>
<summary>Tu đạo linh phù chi thập nhị</summary>


![image](/img/img_a5073c6db163edc50e122e90e83d23c1.png)

</details>



###  149. Linh phù Tu đạo thứ 13


(Tu đạo linh phù chi thập tam)

Tu đạo linh phù thứ 13, phù biến thần trong ngày thứ nhất.


<details>
<summary>Tu đạo linh phù chi thập tam</summary>


![image](/img/img_7a0521f5db50b94722b10e3637db437a.png)

</details>



###  150. Linh phù Tu đạo thứ 14


(Tu đạo linh phù chi thập tứ)

Tu đạo linh phù thứ 14, phù biến thần trong ngày thứ hai.


<details>
<summary>Tu đạo linh phù chi thập tứ</summary>


![image](/img/img_87e406608db6902c6819727f3efc3c1f.png)

</details>



###  151. Linh phù Tu đạo thứ 15


(Tu đạo linh phù chi thập ngũ)

Tu đạo linh phù thứ 15, phù biến thần trong ngày thứ ba.


<details>
<summary>Tu đạo linh phù chi thập ngũ</summary>


![image](/img/img_c16ac9c4c1b38503f3f7a1c7d7157708.png)

</details>



###  152. Linh phù Tu đạo thứ 16


(Tu đạo linh phù chi thập lục)

Tu đạo linh phù thứ 16, phù biến thần trong ngày thứ tư.


<details>
<summary>Tu đạo linh phù chi thập lục</summary>


![image](/img/img_092e316a28ed91a4cb338f9948d6cb41.png)

</details>



###  153. Linh phù Tu đạo thứ 17


(Tu đạo linh phù chi thập thất)

Tu đạo linh phù thứ 17, phù biến thần trong ngày thứ năm.


<details>
<summary>Tu đạo linh phù chi thập thất</summary>


![image](/img/img_0c3cd8d2b867af1bb2e6c4608680a0f8.png)

</details>



###  154. Linh phù Tu đạo thứ 18


(Tu đạo linh phù chi thập bát)

Tu đạo linh phù thứ 18, phù biến thần trong ngày thứ sáu.


<details>
<summary>Tu đạo linh phù chi thập bát</summary>


![image](/img/img_318e0ad69d337a3ca9f07aa4fbe23df4.png)

</details>



###  155. Linh phù Tu đạo thứ 19


(Tu đạo linh phù chi thập cửu)

Tu đạo linh phù thứ 19, phù biến thần trong ngày thứ bảy.


<details>
<summary>Tu đạo linh phù chi thập cửu</summary>


![image](/img/img_5b8aefe447be37b54832d91ef96a810c.png)

</details>



###  156. Linh phù Tu đạo thứ 20


(Tu đạo linh phù chi nhị thập)

Tu đạo linh phù thứ 20, là phù tiễn thần đi.


<details>
<summary>Tu đạo linh phù chi nhị thập </summary>


![image](/img/img_3637506c92377bb0224c04996e68c257.png)

</details>



###  157. Linh phù Tu đạo thứ 21


(Tu đạo linh phù chi nhị thập nhất)

Tu đạo linh phù thứ 21, là phù đem theo bên mình của người tu Đạo.


<details>
<summary>Tu đạo linh phù chi nhị thập nhất</summary>


![image](/img/img_2a553b95ef3b6a6b9e8a01817605e117.png)

</details>



###  158. Linh phù Tu đạo thứ 22


(Tu đạo linh phù chi nhị thập nhị)

Tu đạo linh phù thứ 22, là phù khai họng nói chuyện.


<details>
<summary>Tu đạo linh phù chi nhị thập nhị</summary>


![image](/img/img_8deb311c41d796a0cf09818d2a2228f3.png)

</details>



###  159. Linh phù Tu đạo thứ 23


(Tu đạo linh phù chi nhị thập tam)

Tu đạo linh phù thứ 23, là Ẩn phù hình.


<details>
<summary>Tu đạo linh phù chi nhị thập tam</summary>


![image](/img/img_729c9abec183e782db9e570d84788032.png)

</details>



###  160. Linh phù Tu đạo thứ 24


(Tu đạo linh phù chi nhị thập tứ)

Tu đạo linh phù thứ 24, là Tị phù hình.


<details>
<summary>Tu đạo linh phù chi nhị thập tứ</summary>


![image](/img/img_3728b3399281133f1898e674414b047e.png)

</details>



###  161. Linh phù Tu đạo thứ 25


(Tu đạo linh phù chi nhị thập ngũ)

Tu đạo linh phù thứ 25 là danh hiệu Lôi thần, viết vào lòng bàn tay, sẽ thành Chưởng tâm lôi.


<details>
<summary>Tu đạo linh phù chi nhị thập ngũ</summary>


![image](/img/img_01c5359b2246040467263d2f403bb2cc.png)

</details>



###  162. Linh phù Tu đạo thứ 26


(Tu đạo linh phù chi nhị thập lục)

Tu đạo linh phù thứ 26, phù này phá hết thảy các loại sát, hình khắc.


<details>
<summary>Tu đạo linh phù chi nhị thập lục</summary>


![image](/img/img_d2047fb6f97b616733d3a3921b7ed548.png)

</details>



###  163. Linh phù Tu đạo thứ 27


(Tu đạo linh phù chi nhị thập thất)

Tu đạo linh phù thứ 27, chính là phù thức phản quỷ.


<details>
<summary>Tu đạo linh phù chi nhị thập thất</summary>


![image](/img/img_22fb4f9ebe0126ed425ad0c203ed8fe5.png)

</details>



###  164. Linh phù Tu đạo thứ 28


(Tu đạo linh phù chi nhị thập bát)

Tu đạo linh phù thứ 28, là phù danh hiệu của Thiên Bồng Đô Nguyên Soái.


<details>
<summary>Tu đạo linh phù chi nhị thập bát</summary>


![image](/img/img_743e975c3159f27b87c3d2e15bf4328e.png)

</details>



### 165. Phù Tam Sơn Cửu Hầu


(Tam Sơn Cửu Hầu phù)

Tam Sơn Cửu Hầu dạy pháp, ba vòng ánh sáng xanh giáng hiện. Tam Sơn Cửu Hầu sắc hóa tiền giấy Chân Phật Tông là “Thất Phật Kim, Như Ý Kim, Hòa Hợp Kim, Trừ Tật Kim.”


<details>
<summary>Tam Sơn Cửu Hầu phù</summary>


![image](/img/img_0fe66b99940d2e3d3db9c074936b26fb.png)

</details>



### 166. Phù bay lên trời


(Phi thiên phù thức)

Chính là Linh Tiên Chân Phật Tông mật phù ngũ đạo (cực kì trân quý). Đây là phù thức để phi thiên, bay lên trời, xuất nhập mộng buổi đêm.


<details>
<summary>Phi thiên phù thức</summary>


![image](/img/img_c9e78b5f097be5789a83d06b9e7f386d.png)

</details>



### 167. Phù ngũ độn


(Ngũ độn phù thức)

Phù ngũ độn này mang theo người, người ta sẽ không biết là có mình tồn tại.


<details>
<summary>Ngũ độn phù thức</summary>


![image](/img/img_6563c568a0c309fccc10aae363dc2f7e.png)

</details>



### 168. Phù ngũ quỷ theo thân


(Ngũ quỷ tùy thân phù)

Mang theo và cúng tế phù này có thể biết được mọi họa phúc trong thời gian rất dài.


<details>
<summary>Ngũ quỷ tùy thân phù</summary>


![image](/img/img_964cdc4e6abc603fe74f6f968a2f9589.png)

</details>



### 169. Phù phát quang


(Phát quang phù)

Phù phát quang, dùng lâu thì thân sẽ phát ra ánh sáng, tăng trưởng trí huệ.


<details>
<summary>Phát quang phù</summary>


![image](/img/img_f2b31bbaff75d3f5a62fdf24c4fc8f87.png)

</details>



### 170. Phù chuyển luân xuất thế


(Chuyển luân xuất thế phù)

Phù này để trong quan tài, quỷ sai không nhìn thấy nên không bắt được, một thời gian sau sẽ tự chuyển luân xuất thế.


<details>
<summary>Chuyển luân xuất thế phù</summary>


![image](/img/img_bf2f8f1f6de5e2ec2085ba75706977d3.png)

</details>



### Phụ lục. Cầu phù như thế nào?


(Soạn bởi Bộ biên tập chỉnh lý của Tông Ủy Hội.)

Người muốn cầu phù, xin mời viết thư đến Chân Phật Mật Uyển - là nơi liên lạc với Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Trong thư xin nói rõ muốn cầu xin việc gì, nếu trong thư của Chân Phật Mật Uyển có chỉ thị gì đặc biệt, xin hãy làm đúng như chỉ thị trong thư.
Nói chung, khi nhận được phù, trước tiên cần cúng đàn thành, đốt sớ văn hoặc cầu nguyện. Chúng ta cầu phù, việc này không được coi thường, đầu tiên viết xong sớ văn, đại ý của sớ văn cần rõ ràng đơn giản, ví dụ:

Tên mình, nhà ở đâu, năm nay bao nhiêu tuổi, sinh ngày tháng năm nào, bây giờ mắc bệnh gì, xin cầu nguyện phù dùng để trừ bệnh này.  Nếu khỏi bệnh, xin nguyện sẽ làm gì để đáp lễ, vân vân.

Đây là sớ văn đơn giản nhất. Tại mật đàn, niệm một lần rồi đốt.
Không biết viết sớ văn thì đọc tên người bệnh hoặc người cầu xin phù, địa chỉ, sinh nhật, cầu xin loại phù này, phải nhất nhất báo cáo trước Phật.

Phù muốn có hiệu quả cần có ba điều kiện:
Có linh quang của Phật Bồ Tát gia trì.
Công lực của bản thân người vẽ phù.
Sự thành tâm của người cầu phù.

Những người có liên quan tới việc cầu phù, phải phát tâm, phải niệm Phật, trì chú hoặc đọc kinh, dựa vào lực của chú, của kinh mà tăng trưởng phúc phận, bởi vì nếu không đủ phước, phù cũng sẽ vô hiệu. Còn đối với nơi vẽ phù, nơi đàn thành cần phải trang nghiêm. Bất luận thế nào, tiến hành nhiều sự việc đều phải có quy tắc, đặc biệt là trong Mật giáo.

Cầu phù phải đọc Thượng sư tâm chú 1080 lần.
Có thể niệm chú ngắn cũng được. Chú ngắn là:
Om, guru lian-sheng siddhi, hum.
(Ôm, gu-ru, liên-sâng, sít-đi, hùm)

Vì sao phải đọc chú này? Bởi vì người cầu phù trước tiên cần có tâm kính trọng, có tâm kính trọng rồi, cầu phù mới có thể có được sự cảm ứng. Đây là đạo lý mà bất kì ai cũng phải biết.

Đồng thời, niệm chú này có thể cảm ứng thông linh với pháp thân của Liên Hoa Đồng Tử, Liên Hoa Đồng Tử (Liên Sinh Hoạt Phật) nhanh chóng có thể đến gia trì và hộ trì, tự nhiên có thể thành tựu mọi thứ.

Pháp phù là tương ứng pháp, trì chú cũng có thể (làm cho pháp phù) tương ứng. Thành tâm tất sẽ linh ứng. Nếu có bất kì câu hỏi nào đối với việc cầu phù và sử dụng phù, hoan nghênh thỉnh giáo nhân viên hoằng pháp của Chân Phật Tông. Phù lục không nên trực tiếp cắt ra để sử dụng, cần thỉnh thần linh phóng quang, gia trì mới có công hiệu.

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/044-phuc-ma-binh-yeu-truyen.md
# Title: 044. Phục ma bình yêu truyện
---

![image](/img/img_4664352c474819cad6cb0383dd7401d8.jpg)



## Phục ma bình yêu truyện


🪷 Hé lộ bộ mặt thật của Thiên Ma

Văn tập: 044
Xuất bản: 05/1983
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu


Để mở đầu cuốn sách này, tôi xin kể lại một câu chuyện cũ. Và đương nhiên đây là câu chuyện mà tôi đích thân trải qua.

Thời gian đó là vào khoảng lúc tôi tốt nghiệp đại học, tôi phục vụ trong đơn vị trắc lượng, khi ấy vẫn chưa gặp kì duyên. Địa điểm là tại một chợ đêm khu vực đường Công Viên ở Đài Trung. Đó là một buổi tối tôi đang đi dạo một mình. Đường Công Viên và đường Trung Hoa là nơi tập trung nhiều hàng quán rong, có hàng ăn vặt, có biểu diễn võ thuật để bán thuốc, có thầy bói đoán mệnh, có hàng bán quần áo, đồ trang sức, cái gì cũng có.

Khi đó tôi còn độc thân, chưa kết hôn, tự do tự tại, buổi tối nhàn nhã thỉnh thoảng tôi vẫn đi bộ loanh quanh.

🌟

Chính vào buổi tối kì lạ đó, tôi trông thấy một ông cụ tướng mạo đặc biệt thanh cao lui cui nơi góc phố. Trước mặt ông cụ trải ra một tấm vải đỏ, trên tấm vải bày một bộ bài, trước bộ bài có đặt một lư hương, trong lư hương có thắp một que hương đang cháy với làn khói nhẹ xoắn lơ thơ, mùi hương sực nức. Bởi vì ông cụ lom khom ở góc phố nên rất ít người chú ý thấy ông, ông cũng chẳng gọi khách qua lại, mặc dù đám người đông đi lại như dòng nước nhưng không ai buồn liếc mắt nhìn ông lấy một chút.

Tôi nhanh nhẹn tiến lên phía trước, rồi tôi cũng cúi lom khom. Ông đưa mắt nhìn tôi, tôi phát hiện ra đôi mắt ông ánh lên lấp lánh, cứ thế ông nhìn thẳng vào tôi từ khoảng cách rất gần.

Thế rồi ông nói:
"Chàng trai trẻ, muốn xem bói thì rút ba lá bài."

Tôi rút ra lá bài thứ nhất, đó là lá bài một vị thiên quan, đầu đội mũ quan màu đen, đứng trên một đám mây, bên cạnh có viết bốn chữ: "Trạng Nguyên thi đậu." Ông cụ nói: "Thật hay cho tấm bài Trạng Nguyên thi đậu, chàng trai trẻ, anh đã tốt nghiệp đại học rồi."

Tôi gục gặc đầu, rồi lại rút ra lá bài thứ hai, trên lá bài này có vẽ một cuốn kinh Kim Cang và một chuỗi tràng hạt, bên cạnh viết bốn chữ: "Tiên Phật đạo căn". Ông cụ ngẩng đầu lên, lại nhìn tôi một cái rồi nói: "Tôi nhìn không ra là chàng trai trẻ cũng thích tu đạo, anh có rất nhiều đạo duyên."

Tôi không nói gì. Bởi vì khi đó, tôi không hiểu thế nào gọi là tu đạo, cũng chưa từng đọc kinh Phật, tôi là một tín đồ đạo Cơ Đốc đã được rửa tội. Lời ông cụ nói không đủ để tin, nhưng tôi cũng không muốn bác lại cụ.

Tôi lại rút ra lá bài thứ ba, trên lá bài này có vẽ một vòng tròn, không có cảnh vật gì, cũng không có chữ gì hết. Ông cụ hét to một tiếng: "Quái lạ! Anh không giống người bình thường." Nói thực lòng, khi đó tôi bị ông cụ làm cho chết sững. Ông cụ nhìn tôi với vẻ mặt kì lạ, nói: "Tôi bói bài rất chuẩn và linh, lá bài vòng tròn này đã nhiều năm nay chưa có ai bốc trúng, người bốc được lá bài này căn bản không phải là người."

"Không phải là người, vậy thì là ma." - Tôi nói.
"Vòng tròn này là kí hiệu cho vô cực, là giới linh hồn, không phải ma thì tức là tiên."
"Xin cụ nói rõ hơn, tôi rõ ràng là người mà."
"Tôi đoán cho anh không được, anh đi đi, đừng tới làm phiền tôi nữa."

Ngoài bộ mặt kinh ngạc ra, ông cụ còn nhắm mắt lại và ngồi xuống, hoàn toàn phớt lờ tôi. Khi đó, tôi nghĩ trong lòng, ông cụ nói tôi không phải là người, vậy tôi là cái gì? Thật sự là không sao hiểu nổi.

Sự việc này tôi chưa từng nhắc đến trong rất nhiều cuốn sách về tâm linh của mình, bởi vì tôi muốn đợi đến khi tất cả thời cơ đều chín muồi thì tôi mới công khai lần lượt các mật pháp, lần lượt tiết lộ những sự việc trong quá khứ. Giống như đến cuốn văn tập số 40 "Thông linh bí mật pháp thư" tôi mới nói đến kiếp trước của tôi rằng tôi vốn là một đóa Liên Hoa Đồng Tử của Ma Ha Song Liên Trì.

Đến nay, lá bài bói của ông cụ xưa kia đã chuẩn rồi. Lá bài thứ hai nói tôi sẽ đi trên con đường tu đạo, lá bài thứ ba nói tôi không phải ma thì tức là tiên.

🌟

Bồ Đề Thụ - tạp chí Phật giáo hàng tháng nói rằng thứ tôi tu là ma đạo. Ông Chấp Sự ở Phật Giáo Liên Xã nói Lư Thắng Ngạn là đại ma đầu số một của Thiên Tự.

Thế còn lão tiền bối của Tiên Thiên Nhất Quán Đạo nói, Lư Thắng Ngạn là người "khảo ma" số một, phụng thiên mệnh xuống phàm trần. Khảo ma tức là chuyên môn đi đối phó với những người tu đạo, chuyên môn gửi ma đến người tu đạo để kiểm tra, là một vị quan phán quyết của cõi trời đã đắc thiên đạo.

Rồi mục sư Chu Đại của Cơ Đốc Giáo trong khi giảng đạo đã chỉ trích tôi là quỷ Satan. Ngoài ra, hiệp hội Siêu tâm lý cũng có người nói pháp tu đạo của Lư Thắng Ngạn là ma pháp, tu rồi sẽ tẩu hỏa nhập ma.

Tốt thôi, vẫn còn có rất nhiều chuyện chém gió thị phi nữa được lưu truyền nổi cuồn cuộn như bão. Còn bản thân tôi bây giờ sống tại Seattle nước Mỹ, nhàn nhã chẳng có gì làm, đành châm hương tịnh tọa, ngắm trăng nhìn sao, đôi khi tôi cùng đạo hữu nhâm nhi chén rượu, nói chuyện xưa nay. Khi nảy ra ý tưởng thì lại viết một chương sách, tất cả cái gì đến thì đến, cái gì đi thì đi. Trong khi tôi ngồi thiền, tôi đi vào đi ra các vòng tròn thái cực, giống như thần tiên đi chơi, thực sự là vô cùng vui vẻ.

Những gì tôi đã học được, cao nhất có thể đến Tây phương cực lạc thế giới, thấp nhất có thể đến u minh địa phủ. Bấm ngón tay thần toán có thể biết được nhân quả trăm kiếp là bần cùng hay phú quý. Khi tụ khí có thể thành cả một thế giới. Gọi quỷ nhờ thần tùy ý đến đi. Nhưng tôi ẩn hình đổi dạng, chọn sống ở nước ngoài, chỉ mong muốn được sống một cuộc sống tiêu dao tự do tự tại.

🌟

Những người tu đạo nói tôi là ma, tôi không phủ nhận, cũng không thừa nhận.

Tôi chỉ viết cuốn sách "Phục ma bình yêu truyện" để kể một chút về những khó khăn do ma chướng mà tôi đã gặp phải trong quá trình tu đạo của tôi. Tôi thường nói "đạo tâm vừa khởi, ma tướng liền sinh", đây không phải lời nói dối.

Tu đạo là những nấc thang lên thiên đường, làm người khó, lên thiên đường càng khó. Đường lên thiên đường vô hình, toàn bộ chỉ có dựa vào tâm mà tu. Độc giả đọc xong cuốn sách này là có thể biết Lư Thắng Ngạn là ma hay Phật, là quỷ hay tiên.

"Người người nói tôi là ma, không biết rằng tôi là kẻ thù của ma. Tu đạo nào phải là trò chơi, đối với người ngu tâm vọng tưởng thì lại càng không dễ." Tôi cảm thấy đáng tiếc cho những phàm phu tục tử toàn là những loại người ruột cong não rỗng vô giá trị. Cần biết rằng thế giới sinh sinh hóa hóa này vốn là một giấc mơ lớn nghìn vạn năm, thật bi ai! Thật thảm thương!

Tôi viết một bài kệ:
*Nguồn gốc yêu ma vẫn tại thiên
Tu tâm học đạo theo thánh hiền
Sinh sống xưa nay vốn vẫn vậy
Học pháp vẫn chỉ tròn và nghiêng.*

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Liên Hoa Đồng Tử tái thế


Có người nói những sách tâm linh mà Lư Thắng Ngạn viết đều là sách mê tín, sách mê tín này là hư huyễn không thật. Mặc dù viết thành sách có thể truyền cho đời sau nhưng không thể tin hết. Sách mà không đáng tin hết thì còn tệ hơn cả việc không có sách.

Cũng có người nói rằng những sự biến huyễn của thế gian tưởng là bình thường, nhưng nếu suy nghĩ kĩ thì cũng có những sự việc trùng hợp rất kì lạ. Sách tâm linh của Lư Thắng Ngạn viết chưa chắc đã là hư giả. Thế gian này có quá nhiều pháp thuật giả tạo, thế nhưng linh pháp thật sự thì con người lại chẳng tin.

Tôi nói, tin hay không tin thì cũng chẳng có can dự gì đến tôi. Miệng của chúng sinh chẳng phải lúc nào cũng giống nhau. Như bây giờ đây, sách tôi viết đúng là thiên thư, những chuyện tôi nói là chuyện trên trời, là chuyện về giới tâm linh.

🌟

Hơn 10 năm trước, khi tôi mới gặp được kì duyên, buổi đêm trong lúc nửa tỉnh nửa ngủ, tôi đã du lịch khắp thiên thượng. Một vị thần tiên chỉ một đồng tử tỏa bạch quang rực rỡ và nói rằng, vị này là Liên Hoa Đồng Tử, cũng là tiền thân của ngài. Mặc dù là tôi đang nửa tỉnh nửa ngủ, nhưng kí ức rõ ràng một cách kì lạ. Chuyện này tôi đã viết lại trong cuốn sách tâm linh đầu tiên của tôi, nhưng khi đó tôi vẫn chưa nói đến đạo hiệu của Liên Hoa Đồng Tử này.

Sau đó, tôi tự tay viết hồng danh của chư Phật Bồ Tát trên một tờ giấy hình chữ nhật màu đỏ rồi treo lên để thờ, ở góc dưới cùng bên phải tôi viết danh húy của Liên Hoa Đồng Tử, cạnh đó viết thêm Thiên La Thần, Địa La Thần. Rất nhiều học trò của tôi thấy vậy cũng đem đi photocopy để về thờ cúng. Cũng có người hỏi tôi Liên Hoa Đồng Tử này là thần thánh phương nào. Tôi vẫn luôn không nói lộ ra, chỉ khẽ cười nói, đến lúc sẽ tự biết.

Tôi không muốn nói thẳng ra chủ yếu là vì tôi không cho rằng tiền thân của mình là Liên Hoa Đồng Tử chuyển thế là điều gì lớn lao to tát. Bởi vì kiếp này đã là một người trong ngũ trược ác thế, kiếp trước cho dù đã từng là Đại La Kim Tiên xuống phàm trần, thì cũng vẫn là ô trược, tất cả vẫn phải tu lại từ đầu. Tu thành chính quả thì mới có gì để nói, không tu thành chính quả thì chỉ khiến người ta cười chê một cách hả hê rằng cho dù có là cốt tiên thì cũng chẳng bằng cốt chó, cốt lợn.

🌟

Cõi giới của Liên Hoa Đồng Tử ở gần Tây phương cực lạc thế giới, được gọi tên là Ma Ha Song Liên Trì, tổng cộng có mười tám vị Liên Hoa Đồng Tử, trên tay mỗi vị cầm hoa sen màu sắc khác nhau, chín vị hiện thân nam, chín vị hiện thân nữ. Cảnh giới này vốn là thế giới do Vô Tà Nhãn Như Lai hóa hiện ra, cao hơn nhiều so với các cõi trời thông thường, nhưng vẫn thấp hơn Tây phương cực lạc thế giới. Vị Liên Hoa Đồng Tử là tôi đứng trên hoa sen, tay cầm một bông hoa sen màu trắng, do vậy được gọi là Bạch Liên Hoa Đồng Tử, là vị đứng đầu trong tổng số mười tám vị Liên Hoa Đồng Tử.

Ở cõi giới này, cảnh trí tiên sơn, tiên thủy, tiên hoa, tiên điểu đều đẹp tươi khác thường. Ngoài cảnh đẹp tuyệt vời như vậy ra thì cũng có rất nhiều tiên nữ bay lượn, có người cầm phất trần, có người cầm gậy như ý, có người cầm tiêu, có người cầm quạt, tất cả đều diễm lệ không gì sánh bằng, ai nấy đều có tiên chất thanh cao tao nhã.

Giờ đây, toàn bộ mười tám vị Liên Hoa Đồng Tử ứng kiếp hạ phàm trần, thế gian mênh mông, sắc màu rực rỡ, đúng là họ đều có đạo căn, sẽ không thất tán. Nhưng trong cảnh phú quý có mấy ai hiểu được "tiền nhân hậu quả", thay vào đó lại tìm đến cái họa từ danh lợi sắc dục mà vĩnh viễn đời đời kiếp kiếp luân hồi không dừng. Số cùng mạng tận, họ đánh mất đi cơ hội trở về cõi trời, đánh mất bản tính. Ngay cả đến đạo căn vốn có cũng mất sạch chẳng còn. Trên chẳng học siêu hình độ thế, dưới chẳng biết cứu thế cứu người, tâm trí dù có thông với linh giới thì cũng trở nên mờ mịt, mặc dù có đạo duyên thì cũng bị cuốn vào quên lãng, không thoát khỏi những thứ vỏ bọc bề nổi thì vĩnh viễn khó mà trở về trời.

🌟

Tác giả may mắn được khai mở thiên khiếu, được tận mắt nhìn thấy nhân quả tiền kiếp, cảm thấy thế sự vô thường, chi bằng thực tu thoát sinh tử. Từ lúc được Thượng sư đích thân đến chỉ dạy, tôi liền dốc toàn sức lực để tu đạo. Sư phụ Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh mỗi tối đều đến dạy tôi một tiếng đồng hồ rồi lại đi, đến một cách vô hình, đi không lưu dấu vết, ngay cả cha mẹ và đồng nghiệp của tôi cũng chẳng hay biết.

Trong tu hành, tôi dựa vào ý thức thanh tịnh để tu đắc pháp "nhập ngã ngã nhập". Nó giống hệt như một tấm gương trí huệ to tròn, tiến nhập vào trong tâm Thượng sư của Kim Cang Bộ, toàn thân tỏa ra bạch quang thanh tịnh, tôi biết bạch quang thanh tịnh này chính là diệu tịnh quang, có thể hóa sinh thành hoa sen, hoa sen cũng là thuần bạch, cũng chính là diện mục vốn có của tôi. Tôi cứ như vậy mà tu hành, mỗi ngày một tinh tấn.

Trong quá trình tu hành tôi thường xuyên gặp ma chướng. Có thiên ma đố kị, có địa ma lừa bịp, có nhân ma hãm hại, đủ mọi loại ma chướng liên tục kéo đến. Cõi địa ngục, cõi người, cõi ngạ quỷ, cõi a tu la, thậm chí có cả những khảo nghiệm của đủ loại ma trên trời, những linh hồn trung ấm trên con đường hiểm trở cũng kéo đến, khiến tôi biết càng nhiều những khó khăn của tu đạo, nếu không phải là bậc trí giả đệ nhất thì chẳng có cách nào bền tâm chịu đựng được. Còn tôi vẫn nhất tâm bất loạn nhẫn nhục vượt qua. Nhằm kêu gọi mười tám đạo hữu xưa kia cùng trở về Ma Ha Song Liên Trì, vì tất cả những con người có đại thiện căn khắp thiên hạ, tôi viết sách tâm linh hết cuốn này tới cuốn khác, chủ yếu nhất là dẫn dắt những tâm hồn ô nhiễm trở thành tâm hồn thanh tịnh, rồi sau đó biến tâm thanh tịnh thành tâm bồ đề.

🌟

Người trong Phật môn của Liên Hoa Đồng Tử ít ai biết, người trong Đạo gia cũng không biết rằng chỉ có một cuốn Phật điển có ghi chép lại rằng cảnh giới này xếp hạng Tứ thánh, nhưng chưa phải là cao nhất. Đương nhiên so với quả vị những người tự gọi mình là Phật gì gì đó, Bồ Tát gì gì đó chuyển thế thì thấp hơn, tuy nhiên tôi là người thực sự biết được nhân quả tiền kiếp, tôi không dám vọng ngữ khoác lác rằng mình là Phật gì gì đó chuyển thế. Nhưng tôi thực sự là Liên Hoa Đồng Tử tái thế, chỉ là một Liên Hoa Đồng Tử nhỏ bé, cũng chẳng phải là Phật sống.

Đối với những người hỏi tôi, lúc đầu ông không nói, sau bây giờ mới nói? Tôi cho rằng đây là cơ duyên, bởi vì khi mọi thời cơ chưa đến thì nói ra sẽ có người cho rằng tôi cao ngạo. Giờ đây tôi không ở Đài Loan, ở Mỹ tôi cũng là người bán ẩn cư, tôi không biết người, người chẳng biết tôi. Hôm nay có người biết tôi là ai, nhưng đã chẳng thể tìm thấy tôi nữa rồi. Tôi chẳng mong nhận cúng dường và những lời tán dương đẹp đẽ. Tôi chỉ hy vọng người đọc sách tâm linh, bất kể là tin hay không tin, bất kể đã đắc đạo hay chưa đắc đạo, chỉ cần có duyên, phát tâm tu hành, đừng tỏ ra là thích lắm đấy nhưng rồi bỏ qua, thế là tốt rồi. Tuy nhiên độc giả cần nhớ:

Biến diệt vô thường như khói thoảng
Sự đời có gì chẳng hết duyên
Đều vì chúng sinh mê chấp nặng
Tha hương lưu lạc hãy nên dừng.


### 02. Hộ pháp tôn thần La Hầu La


Trong lúc tu trì định quán, tôi từng nhìn thấy thần hộ pháp của tôi, vị thần này là đầu người thân rồng, đầu rất quái dị, có bốn mặt, từ dưới lên trên tổng cộng có năm tầng, mỗi mặt có ba con mắt, răng nanh lộ ra ngoài, râu đỏ mặt xanh, một tay cầm chuông đầu rồng, một tay cầm cung tên. Tướng mạo rất uy mãnh, thể hiện trạng thái phẫn nộ.

Tôi từng hỏi Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh:
"Vị thần này tên là gì?"
"La Hầu La." - Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh nói: "Phẩm vị của vị thần hộ pháp này rất cao, vốn là linh quang của Phật chuyển thế, chuyên hộ trì Phật Bồ Tát và đạo tràng, không đâu là không có ngài hiện thân, sau này nếu con có muốn thờ phụng ngài thì chỉ cần dùng "bất động căn bản ấn", đọc chú ngữ Đại Kim Cang Luân bằng tiếng Phạn là ngài ấy sẽ đến."

🌟

Tác giả đã phụng thỉnh thần hộ pháp mấy lần. Đầu tiên sẽ thấy một ngọn lửa lớn cháy phừng phừng phẫn nộ, tái hiện cảnh thiên long nhe nanh giơ vuốt, sau đó sẽ nhìn thấy hai tay, chuông đầu rồng và cung tên, cuối cùng là toàn bộ cả đầu và thân đều hiển hiện, hai con mắt phẫn nộ khiến người ta nhìn vào là phải kính sợ, quả nhiên là ngài có mặt ở khắp nơi, cứ thỉnh là ngài đến.

Ngoài ra tôi cũng phát hiện thấy vị thần hộ pháp này vẫn có vô số vô tận các vị thần hộ pháp phân thân đi theo, mỗi lần ngài hiện thân là các vị đến chật kín cả bầu trời.

🌟

Tôi từng nghĩ thế này, chúa Jesus của Cơ Đốc giáo đã từng bị ma quỷ thử nghiệm, đến cuối cùng Jesus cho phép ma đi vào trong tâm của Judah, kết quả là Judah, một trong mười ba môn đồ của Jesus không ngờ đã bán đứng Jesus, cả thế giới cháy lên ngọn lửa ma quỷ, còn Jesus bị đóng đinh lên cây thập tự giá.

Phật Thích Ca Mâu Ni của Phật giáo từ sau khi đại giác ngộ từng bị Ma Vương Ba Tuần phái ba mỹ nữ tới khảo nghiệm. Trong khi hành đạo, ngài cũng bị những người như Ương Quật Ma La phỉ báng, thậm chí bị những kẻ như Đề Bà Đạt Đa phá hoại, v.v…

Từ đây có thể thấy rằng, đạo tâm vừa khởi, ma tướng liền sinh, trên thực tế, bản thân chúa Jesus của đạo Cơ Đốc hoặc Phật Thích Ca Mâu Ni đều phải chịu vô cùng vô tận khó khăn do ma quỷ gây ra, tu đạo càng cao thì ma càng lớn. Cũng như vậy, ma càng lớn thì cảnh giới cũng càng cao, bởi thế mà thánh nhân đã nói rằng lấy bệnh khổ làm thuốc tốt, lấy hoạn nạn làm tiêu dao, lấy che chướng làm giải thoát, lấy ma quỷ làm bạn pháp.

🌟

Có rất nhiều tôn giáo ngay khi vừa bắt đầu tu đạo đã dạy người ta cần phải phòng ngừa nạn ma quỷ như thế nào, làm sao để bảo vệ thân, làm sao dùng bia Kim Cang làm áo giáp, v.v… Tác giả khi mới tu đạo, căn bản là không biết có ma quỷ, nhưng trên thực tế, ma nạn mà tôi đã phải chịu là nhiều nhất.

Tôi dùng "thông tương tam quán" mới biết rằng thiên ma thích tôi nhất, không có lúc nào là không tìm cơ hội để làm tôi thoái lùi đạo tâm, bọn họ lợi dụng khi tôi tu hành tinh tấn đã biến hóa nên các pháp tướng, tranh thủ lúc tôi ngủ gọi tôi tới mức không thể nào tập trung được, tranh thủ lúc tôi nhận học trò đến phá quấy các buổi gặp gỡ đạo tràng của tôi.

Tất cả những sự việc này tôi đều biết, nhưng tôi sẽ chẳng thối lùi đạo tâm. Bởi vì tôi có một vị hộ pháp tôn thần vĩ đại La Hầu La. Ngoài ra, tôi đã tu thành công pháp "Hàng phục kim cang". Đây là do sau khi tu Liên Hoa Bộ xong thì tôi tu luôn "Kim cang thần biến". Nhờ đó, tâm của tôi là tâm Bồ Tát, tay của tôi là Kim cang thủ, do vậy tôi có thể "phục ma bình yêu".

🌟

Theo tôi được biết, Phật Thích Ca Mâu Ni vừa tu Phật vừa tu Uế Tích Kim Cang, Uế Tích Kim Cang chính là biến hóa thân của Phật Thích Ca Mâu Ni, nói cách khác Uế Tích Kim Cang cũng chính là Phật Thích Ca Mâu Ni. Phật Thích Ca Mâu Ni tu hạnh bồ đề mà thành tựu bổn tôn, tu Uế Tích Kim Cang mà thành tựu phục ma bình yêu.

Mặc dù tôi chỉ là một Liên Hoa Đồng Tử nhỏ bé chuyển thế, nhưng tôi đã chứng đắc "hạ trung siddhi", cảnh giới này là thiên cung tự do đi lại. Tôi còn chứng đắc "hạ thượng siddhi", có thể tự do trở về Ma Ha Song Liên Trì. Tôi lại chứng đắc "trung hạ siddhi", có thể tự do ra vào trung tâm của Tỳ Lô Giá Na Phật. Tôi lại chứng đắc "trung trung siddhi", hễ định tâm là lập tức có thể du lịch đến các cõi tịnh độ của chư Phật. Thể xác và tinh thần của tôi tự tại nhưng không đảo điên, tất cả đều dễ dàng. [ ND: siddhi: nghĩa là thành tựu ]

Kì thực, đã đến được cảnh giới này rồi thì "Phật hay ma cũng không phân biệt, quỷ và tiên cũng chẳng tách chia, sống và chết là chuyện bình thường".

Ba câu nói này của tôi, nếu có người tu đạo thực sự thể hội được, hơn nữa đã đắc chứng được lời này, thì người này cũng đã có được tâm ấn của Văn Thù Bồ Tát rồi, mọi cõi tịnh độ của Phật đều có thể đến, mọi pháp đều có thể thành tựu.

🌟

Tại Seattle nước Mỹ, có người hỏi tôi:
"Đại sư viết sách, có xu hướng thay đổi gì không?"
"Trước đây ở trong nước, tôi chuyên tu bồ đề tâm, bây giờ ở nước ngoài, tôi tu trì Kim cang thủ."
"Hai cái này có gì khác nhau?" - Người đó hỏi.
"Cái đầu là Bồ Tát, dùng tâm từ bi để giải quyết sự việc, là nhu. Cái sau là Kim Cang, là hàng phục ma quỷ để giải quyết sự việc, là cương."
"Cái nào hơn, cái nào kém?"
"Bồ Tát là bản tính như như của thế giới hoàng kim, Kim Cang là hộ tính như như của lưỡi gươm rực lửa, nghĩa là bát nhã không phân biệt trí huệ hơn kém cao thấp đó."

🌟

Tác giả nhờ có được sự bảo hộ của đại hộ pháp tôn thần La Hầu La mà tu trì, trong khoảng thời gian đó các ma nạn mà tôi gặp không chỉ là nghìn là vạn. Tôi mong rằng việc viết ra những tâm đắc tu trì của tôi có thể khiến cho chúng sinh trong thiên hạ đều có được lợi ích lớn. Đây chính là đại công đức của "phục ma bình yêu".

Liên Sinh bất kể tuổi tác, tu đạo hướng thiện, dù cho đức yếu vẫn phải chịu ma nạn, nhưng ý chí và tấm lòng vĩnh viễn không thoái chuyển, mọi duyên pháp đều có được, được tham khảo những sách bí mật nhất của thiên thượng để tu Bồ Đề Kim Cang. Nhưng vì vô tư nên tôi đặc biệt viết ra cuốn sách này, nhờ vào việc đốt lên ngọn lửa kim cang phẫn nộ để mà đốt cháy tất cả những gì tà uế.

Thần bất đức, thần bất chính, người có hành vi tà ác, tôi đều lấy thanh kiếm trí huệ mà đâm, không cần thiên đạo để tru, không cần địa pháp để diệt, chỉ dùng Kim cang huệ kiếm là có thể diệt trừ được vô hình.


### 03. Đạn kim cang tránh ma


Tiêu đề của chương này là "Đạn kim cang tránh ma", "đạn" này không phải là đạn trong từ "viên đạn", mà là đạn trong từ "đạn chỉ" nghĩa là búng ngón tay.

Pháp này là do Hàng Phục Kim Cang truyền thụ cho tôi. Không có bất kì cuốn kinh điển nào có ghi chép về pháp này, đây hoàn toàn là một pháp bí mật tối thắng, giá trị của nó không tiền nào có thể sánh bằng. Hôm nay tôi truyền pháp bí mật này ra, làm lợi ích cho mọi người tu đạo trên trời dưới đất.

🌟

Người tu hành, vào lúc nào sẽ dễ mất công hạnh nhất, vào lúc nào khó giữ kiểm soát nhất, đó chính là lúc ngủ.

Con người một khi đã ngủ thì sẽ bước vào một thế giới khác, lúc này tâm không dễ bị bó buộc, sẽ cho rằng mộng cảnh chính là thật, khởi tâm tham sân si, tất cả những hành vi trong mơ đều vì tác dụng của tiềm thức mà điên đảo vọng tưởng.

Ngoài ra, đối với người tu hành, ma sẽ lợi dụng khi đạo nhân đang ngủ mà đến để quấy nhiễu suy nghĩ, ma ở trong não, trong tâm của người tu đạo tùy ý tung hoành, phá hoại chính niệm. Lúc này, những tinh tấn tu hành ban ngày biến thành công lao đổ xuống sông xuống biển hết. Không chỉ công cốc mà có đôi khi còn tệ hại hơn cả một người bình thường.

Theo tôi được biết, một người phàm phu thế tục thì thiên ma sẽ chẳng lãng phí tinh thần để mà đi tìm anh ta gây phiền nhiễu, bởi vì người phàm phu thế tục không biết tu hành, suốt đời suốt kiếp trầm luân trong ác đạo, cho nên vốn dĩ họ cũng chính là quyến thuộc của ma rồi. Duy chỉ có người tu đạo muốn thoát khỏi tam giới, muốn tu thành tiên đạo, Phật đạo, muốn thoát ly khỏi sự khống chế của thiên ma, cho nên thiên ma mới thích tìm đến những người này để gây sự. Tác giả chính là một trong những nhân vật mà thiên ma thích nhất.

🌟

Khi tác giả mới tu hành, có một thiên ma tên gọi là Tì Na Dạ Xoa, tướng mạo của nó là có hai tai nhọn hoắt, có năm con mắt, tất cả đều nằm ở trên trán, miệng rất nhọn, lưng có hai cánh, có thể biến to thu nhỏ, toàn thân được bao bọc bởi một lớp quang khí như khói mù. Nó thường lợi dụng lúc tôi ngủ say liền đến phủ một lớp khói mù trước giường tôi, dùng cái miệng nhọn hoắt cắm vào lỗ mũi tôi, hít hết sạch khí mà tôi thở ra, còn nó thì sẽ nhổ ra khí đen bẩn để cho tôi hít vào, cứ lặp đi lặp lại như vậy.

Thiên ma Tì Na Dạ Xoa này là một loại thiên ma ăn trộm khí, người tu hành mà bị nó quấy nhiễu sẽ không bệnh mà hao mòn.

Hồi mới đầu tôi vẫn chưa ý thức được về điều này, về sau dần dần tôi mới nhận thấy, mỗi buổi sáng khi tỉnh dậy, chân tay đều không có sức lực, hoa mắt chóng mặt, rõ ràng là tôi đã ngủ rất nhiều rồi, nhưng thực sự là càng ngủ càng mệt mỏi, tinh thần khó tập trung, từ đầu tới chân đều không khỏe khoắn. Càng tồi tệ hơn là tự nhiên có cảm giác trống rỗng và cảm thấy cuộc sống vô vị. Ban ngày trì chú ngồi thiền nhưng suy nghĩ đều thất tán. Lúc này, tôi mới giật thót mình và thấy hoang mang.

🌟

Tôi vội vã niệm chú thỉnh thần, thắp một nén hương, có một vị là Kim Cang thần đạo đến. Đầu tiên là ngài ấy hiện hình vai của áo giáp, sau đó thì hiện nguyên hình tướng, toàn thân kim quang rực rỡ.

Vị Kim Cang thần này chắp hai tay lại, khi hiện thân thì đọc một câu Kim Cang Thủ Bồ Tát chân ngôn: "Om bua ru lan chưa li."

Tôi mới hỏi vị Hàng Phục Kim Cang này xem vì sao tôi lại tu thành hiện tượng như vậy, thần Kim Cang nói với tôi: "Đó là Tì Na Dạ Xoa trộm khí, nguyên khí mất đi, những tinh hoa tu hành của người tu đạo đều bị Tì Na Dạ Xoa lấy hết, thiên ma trộm khí này càng có được lợi thì càng không buông tha ngài. Còn người tu đạo thì mỗi ngày lại thất tán tinh hoa công hạnh, hơi thở yếu dần, tinh thần uể oải, vậy thì không thể nào tu hành được nữa."

Tôi hỏi:
"Làm sao để tránh?"
Hàng Phục Kim Cang đáp:
"Trước khi ngủ, mặc quần áo sạch sẽ, rửa tay súc miệng, đứng trước giường, chắp tay cung kính, niệm Kim Cang Thủ Bồ Tát chân ngôn: "Om bua ru lan chưa li" bảy biến, dùng tay phải búng ngón tay vào bốn góc giường.

Tôi bắt đầu mở linh nhãn ra xem, chỉ thấy ở nơi tôi búng ngón tay sinh ra một vệt ánh sáng vàng kim, bốn điểm kim quang càng lên cao càng lớn, thế rồi gặp nhau và xoắn vào với nhau, tạo thành một tấm chắn kim quang, giống như treo lên một tấm màn chống muỗi vậy, tấm màn chắn này vừa sáng vừa đẹp vừa rất thực.

🌟

Đêm đó tôi trốn trong "kim quang trướng", dùng linh nhãn nhìn ra bên ngoài.
Đến nửa đêm giờ Sửu [1-3h sáng], tôi nhìn thấy từ bên ngoài cửa sổ bay vào một lùm khói mù. Trong màn khói mù có một vật tướng mạo giống như tôi đã mô tả ở trên, nhưng lần này vừa đâm phải tấm màn kim quang thì cái đám khói mù đó liền thụt lùi lại, không có cách nào tiếp cận tới thân tôi được.

Nó lại đâm vào lần nữa thì lại bị đẩy lùi ra, cứ như vậy mấy lần, mới không còn cách nào khác đành luôn mồm nói "ghét, ghét" rồi bay ra ngoài cửa sổ đi mất.

🌟

Từ đó về sau, mỗi lần lên giường đi ngủ, tôi cứ y theo pháp "đạn kim cang tránh ma" này mà làm một lần, khi đi ngủ không lo sợ có ma đến quấy nhiễu nữa, đêm ngủ ngon lành, tinh thần vui vẻ, không còn sợ những tinh hoa tu hành bị thiên ma hút khí trộm mất nữa.

Tôi phát hiện ra rất nhiều người xuất gia hoặc người tu đạo gặp phải Tì Na Dạ Xoa trộm khí. Do vậy, người xuất gia hoặc người tu đạo không chỉ tu pháp không thành mà thân thể còn trở nên gầy yếu, ngũ quan thất sắc, tinh thần khô héo. Những người này phần lớn là gặp phải thiên ma trộm khí Tì Na Dạ Xoa.

🌟

Hôm nay tác giả viết cuốn sách "Phục ma bình yêu truyện", hơn nữa còn truyền pháp "đạn kim cang tránh ma", vẫn chính là vì tôi thương xót con người trong thiên hạ khi rất nhiều người phải chịu sự dày vò của loại ma này. Không có người nào biết cách phá giải.

Phương pháp này mặc dù đơn giản nhưng thế nhân lại không biết. Viết ra như thế này, tôi tin rằng Hàng Phục Kim Cang cũng sẽ không trách gì tôi. Còn nữa, Tì Na Dạ Xoa kia lại càng tức Lư Thắng Ngạn tôi đây muốn chết, bởi vì tôi đã phá hoại việc tốt của nó.


### 04. Bí mật viết chữ Phạn có thể trừ ma


Tôi nhớ từng xem một bộ phim Nhật, tên phim là "Quái đàm". Trong phim có một tình tiết mô tả một hòa thượng bị mù biết gảy đàn, âm thanh tuyệt diệu. Đột nhiên một đêm nọ, có thị vệ của một vị tướng quân đến mời ông đi gảy đàn cho tướng quân nghe, thế là vị sư phụ mắt mù kia trong đêm tối lập tức đến phủ tướng quân đánh đàn.

Lại có một ngày nọ, sư phụ mắt mù gặp một cao tăng, vị cao tăng này vừa nhìn thấy hòa thượng mắt mù thì đột nhiên sửng sốt, bởi vì cao tăng đã nhìn ra khắp mặt hòa thượng mắt mù toàn là âm khí, chỉ vài ngày nữa sẽ chết.

Cao tăng bí mật dò hỏi, nhờ đó mà biết được tướng quân kia đã chết trong một trận hải chiến ác liệt, thị vệ đến mời sư phụ mắt mù kia tới đánh đàn cũng là một hồn ma, đám người nghe đàn đông như núi như biển vốn chỉ là những linh hồn chết trong trận hải chiến năm xưa mà thôi. Sư phụ mắt mù bị dẫn đến phủ tướng quân nhưng ở đó vốn chỉ là một bờ biển mênh mông trống trải.

Và thế là hàng đêm, sư phụ mắt mù đến bãi biển đánh đàn cho những u linh nghe, âm khí trên người mỗi ngày một nặng, sẽ chẳng còn sống được trên cõi đời này bao lâu nữa.

Thế rồi cao tăng và u linh thị vệ kia đấu pháp. Cao tăng viết lên đầu, mặt, thân và tứ chi của sư phụ mắt mù kia dày đặc những chữ Phạn. Đêm khuya, u linh thị vệ đến, nhìn thấy trên toàn thân sư phụ, những chữ Phạn lấp lánh phát quang thì không dám hành động, nhưng phát hiện thấy chỉ có hai tai đã bị quên không viết chữ, thế là u linh thị vệ lấy ra một con dao cắt đứt hai tai của sư phụ rồi mới bỏ đi. Đây chính là nguyên nhân khiến sư phụ mắt mù lại còn thiếu mất hai tai.

🌟

Tác giả cũng có một trải nghiệm như thế này.
Đó là khi tôi còn đang sống tại tòa chung cư Nhạc Quần ở Đài Trung, khoảng thời gian đó tôi đóng cửa không tiếp khách, không gặp bất kì người nào. Có một vị giám đốc một ngân hàng tầm trung họ Chu, tên Thư Thông, ông có một đứa cháu trai tên là Duy Lương, bà nội của cậu đặc biệt yêu quý đứa cháu này. Bà nội luôn mang đứa cháu này bên mình, suốt từ lúc bé cho đến khi cháu đi học mẫu giáo.

Bỗng có một ngày, Chu Duy Lương bị sốt cao không đỡ, tình trạng diễn biến xấu tới mức cuối cùng miệng cậu bé không thể nói được nữa, hai mắt không thể mở ra, hai chân không thể đi lại, toàn thân mềm nhũn, ngoài tim vẫn còn đập ra thì toàn bộ cơ thể đã mất đi mọi hoạt động. Ông bà nội cuống lên đưa cháu tới bệnh viện thành phố Đài Trung, bác sĩ chẩn đoán là bị viêm não, đồng thời sau khi kiểm tra tình hình thì bác sĩ nói không cứu được nữa và từ chối cho nhập viện để chữa trị.

Bà nội của cậu bé có niềm tin kiền thành vào Phật, bà liền vội vàng đến các nơi để cầu thần bái Phật, nhưng tình hình vẫn không có gì khởi sắc. Cho đến khi một thầy bói nói với bà Chu là tại sao không thử tìm Lư Thắng Ngạn.

🌟

Người phụ nữ họ Chu vận dụng đủ mọi quan hệ, ngay cả đến người cố vấn pháp luật của tôi là cô Trần Hạnh Nga cũng được mời tới, thế nên tôi mới mở cửa tiếp khách.

Lúc đó tôi vừa trông thấy Chu Duy Lương liền nhìn ra ngay trên trán cậu bé có một vòng ánh sáng màu lục xám, điều này cho thấy cậu bé đã bị ma đến từ cõi atula ám vào thân. Phần thân dưới của con ma này hình chim, phần thân trên hình người, có hai sừng, một tay cầm đinh ba, nó chuyên thích mạng sống của trẻ em. Con ma này gọi là An La, quyến thuộc của nó đều là các linh hồn trẻ em.

Khi đó trong lòng tôi nghĩ rằng, đứa bé này mạng lớn, nếu không thì chỉ một tuần nữa, ánh sáng màu lục xám kia sẽ lan ra khắp toàn thân, linh hồn cậu bé sẽ rơi vào cõi Atula, vĩnh viễn không được siêu sinh, trở thành quyến thuộc của cõi ma xanh xám.

🌟

Tôi cầm cây hương, quán tưởng chữ Phạn, rồi đứng cách một khoảng, viết lên trên người của Chu Duy Lương dòng chữ "Thất câu chi đại minh đà la ni". Tôi cũng viết kín khắp toàn thân Chu Duy Lương. Sau khi viết xong, tôi lại vẽ ba tấm phù tịch ma, yêu cầu sau khi trở về nhà, mỗi tối đốt một lá phù hòa vào nước, dùng nước này chấm vào trong miệng là được.

Bà nội của Chu Duy Lương hỏi tôi:
"Có khỏi được không?" - Đôi mắt bà khẩn thiết, lộ vẻ đầy hy vọng.
Tôi đáp:
"Sẽ khỏi. Ba ngày sau cậu bé sẽ tỉnh lại."

Đứa bé mà bệnh viện thành phố Đài Trung từ chối chữa trị, đứa bé toàn thân đã mềm nhũn, đứa bé mà đã đi khắp nơi cầu thần hỏi quẻ cũng đều không có chút hy vọng nào, thế mà không ngờ tôi lại nói ba ngày nữa sẽ khỏi, chẳng phải tôi quá to gan rồi sao.

Mọi người nghe nói ba ngày sau sẽ khỏi thì vỡ òa vì vui mừng. Nhưng trong lòng họ cũng hoài nghi không biết có đúng như tôi nói không, tôi cũng chẳng biết phải nói sao nữa.

🌟

Đến buổi sáng ngày thứ ba, bà nội của Chu Duy Lương nghe thấy cậu bé mở miệng ra gọi một tiếng "bà ơi" đầu tiên, bà nội của Chu Duy Lương khóc òa vì sung sướng. Bà cảm động tới mức chạy đi khắp nơi thông báo tin tốt lành rằng cháu bà đã hồi phục rồi.

Bác sĩ trưởng của bệnh viện thành phố Đài Trung nghe được điều này thì cứ hỏi đi hỏi lại suốt là làm sao mà khỏi bệnh, rồi cứ liên tục lắc đầu, cho rằng đây là một kì tích. Bản thân Chu Duy Lương cũng được tôi nhận làm học trò, trên người cậu bé đã mang lá bùa hộ thân do chính tôi đặc biệt làm cho.

🌟

"Bí mật viết chữ Phạn có thể trừ ma" hoàn toàn không phải là điều gì kì quái, bởi vì chữ Phạn trong tiếng Ấn Độ là từ lúc thế giới mới hình thành, Đại Phạm Thiên Chủ từ trên trời hạ giáng, Đại Phạm Thiên Chủ đã dạy con người những chữ viết này, rất giống với những văn tự phù chú của Trung Quốc. Nếu là chữ Phạn thì trong đó có rất nhiều đại lực của thần, do vậy chữ Phạn có sức mạnh bất khả tư nghì.

Tôi nghiên cứu chân ngôn tu hành đã lâu, biết rằng chú là tâm ấn thành Phật của Phật, do vậy dựa vào chú sẽ có được cảm ứng thần thông. Ví dụ như "Thần biến kinh sớ", "Thiên thủ thiên nhãn Quán Tự Tại Bồ Tát tu hành nghi quỹ kinh", "Thất câu chi đại minh đà la ni kinh", "Hoa nghiêm sớ sao", "Hiền thủ bát nhã tâm kinh sớ", v.v…, các chú ngữ tiếng Phạn trong đó đều có công dụng rất lớn. Ví dụ như tiêu tai, tăng ích, kính ái, hàng phục, xuất thế gian, tôi đều vận dụng để mong cầu chứng đắc thánh quả.

Rất nhiều học trò của tôi chỉ biết rằng tôi hiểu pháp, nhưng không biết tôi dùng pháp ra sao. Giờ đây, tôi vì mọi người trong tương lai mà lần lượt viết ra hết, từng cái một không còn cất giấu nữa, tôi sẽ dạy mọi người về ý nghĩa gốc, để cho càng nhiều người biết được rằng có pháp môn giải thoát này, để cho chúng sinh đạt được tự tại, trừ diệt được phiền não bệnh khổ.


### 05. Bám chấp là đại ma


Sở dĩ Phật pháp vĩ đại là vì sự vô lượng vô biên, hay nói cách khác, Phật pháp chính là sự không bám chấp. Pháp môn trong Phật pháp rất nhiều, bất kể là khiếm khuyết hay toàn vẹn, bất luận là trên hay dưới, tất cả đều bao dung. Sự vĩ đại của tôn giáo này có liên hệ cực kì lớn với việc không bám chấp.

Lúc còn nhỏ, tác giả là một tín đồ đạo Cơ Đốc (đã được rửa tội). Sau này khi tôi tin Phật, tôi đã ngộ ra rằng hóa ra Jesus Christ cũng là một vị Bích Chi Phật (có tu trì, nhưng dùng phương pháp khác mà đạt được thành tựu của một vị đại thần). Thiên đường của thánh Jehovah là một trong số ba mươi ba cõi trời, Jehovah có địa vị là Thượng Đế.

🌟

Có một khoảng thời gian tôi cũng bí mật tu Đạo giáo, phát hiện ra các giáo pháp mà giáo phái Bà-la-môn của Ấn Độ dùng có nhiều điểm rất giống với Đạo giáo. Đồng thời, Phật giáo nguyên thủy hoặc giáo pháp của Mật tông Kim cương thừa cũng có tu những thứ như trừ bệnh tiêu tai, sống lâu tăng ích, thậm chí là cầu mưa, Long Vương, sấm sét, thái dương, thái âm, v.v… Không ngờ so với đạo thuật của đất nước tôi [Trung Quốc] cũng chỉ là các con đường khác nhau cùng dẫn đến một điểm đích. Tôi lĩnh ngộ ra rằng những chú ngữ trong Đạo giáo của đất nước tôi cũng chính là chân ngôn của Phật giáo, các phù mà Đạo giáo dùng cũng giống như các Phạn tự của Ấn Độ. Pháp "hộ ma" được dùng trong Mật tông cũng chính là pháp đốt hương của Đạo giáo.

🌟

Sau khi tác giả đắc chứng được pháp "xuất thần" thì có được một sự lĩnh ngộ rất sâu sắc, đó chính là "hữu pháp giai thông" [ND: mọi pháp tồn tại đều liên thông với nhau]. Do vậy, tôi cho rằng Phật pháp là không bám chấp nhất, hễ ai còn bám chấp thì phần lớn cũng chẳng đạt đến được ngộ cảnh này. Tôi viết một bài kệ cho sự chứng ngộ này như sau:

Phật giáo ngày nay đã chỉ ra
Nếu không bám chấp, hiểu chân như
Nếu còn công kích, người cười nhạo
Hoa cỏ cây lá vốn tiêu dao.

Tôi xem Phật giáo như cây cổ thụ, xem Đạo giáo như hoa, và xem Cơ Đốc giáo như cỏ. Bất kì tôn giáo nào cũng đều có phương pháp tu hành, cũng có các cảnh giới. Chúng ta có thể nghiên cứu về sự cao thấp trên dưới của các cảnh giới đó, nhưng không được bám chấp để mà phỉ báng, đây chính là cảm ngộ đặc thù nhất của tôi ngày hôm nay.

Trong cuốn "Thông linh bí mật pháp thư", tác giả có viết một chương sách là "Đánh ma không siêu thoát", viết về một vị "phi thiên thần ma", vị thần ma này vốn là một cao tăng của triều Tống, bình thời thường trì tụng kinh Pháp Hoa, cả đời không có hành vi ác nào. Nhưng vì tâm tính cao ngạo cổ quái, do vậy đã mọc lên một cái sừng, tai biến thành nhọn hoắt vì thích nghe những lời tâng bốc, trên lưng mọc ra hai cánh là do ông ta tu mà thành. Sư phụ của tôi nói, có rất nhiều người tu hành đều tự cho mình là luôn đúng, cứng đầu cứng cổ, hơn nữa còn tự cao tự đại, cả đời sống như vậy nên bám chấp rất nặng nề, về sau đều trở thành một dạng đại ma đầu.

🌟

Tôi hỏi: "Người tu hành vì sao lại thành ma?"
Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh đáp:
"Không chỉ có, mà còn có rất nhiều người tu hành trở thành ma. Hễ người nào có tâm bám chấp nặng nề, không có cách nào hòa nhập trong ngoài, không có cách nào phân biệt đúng sai, chấp một mà không biết hai, rất có thể sẽ đi vào ma đạo mà tự mình cũng không biết. Những người này ở trong vỏ ốc và xem đó là đạo tràng, không biết rằng bên ngoài trời vẫn còn có trời. Phàm là người lĩnh ngộ càng cao thì càng biết rằng gió không chặn được nước, mây không che được trăng. Do vậy Đạo giáo, Cơ Đốc giáo căn bản đều sẽ không phải là chướng ngại của Phật giáo, không chỉ không là chướng ngại mà còn là cái gì đến tự sẽ đến, cái gì đi tự sẽ đi."

🌟

Nhờ có kinh nghiệm và sự lĩnh ngộ này khiến tôi lại nhớ đến lão cư sĩ họ Lý giảng kinh ở Đài Trung, khoảng hơn mười năm trước đây tác giả thường tới nghe giảng kinh. Nói thật lòng, tôi thích nghe lão cư sĩ họ Lý giảng kinh, ông ấy giảng vừa tỉ mỉ vừa thấu triệt sắc bén. Với mỗi một câu kinh, ông thường dùng nhiều cách giải thích. Công đức giảng kinh của lão cư sĩ là vô cùng lớn. Ngay cả rất nhiều đại hòa thượng, có người xuất gia thành tựu, cũng ngưỡng mộ và khen ngợi những bài giảng về Phật học của lão cư sĩ họ Lý.

Nhưng trong những bài giảng kinh, lão cư sĩ họ Lý lại đặc biệt xem thường các vị thần linh của Đạo giáo, thậm chí ông còn chửi "Cửu Thiên Huyền Nữ",… Kì thực tôi cho rằng, Cửu Thiên Huyền Nữ là một trong những pháp chủ của Đạo giáo, địa vị rất cao quý. Diêu Trì Kim Mẫu trong Đạo giáo là Tây phương Nhất lão, so với Cửu Thiên Huyền Nữ thì địa vị còn cao hơn. Hai vị này không chỉ là thần tiên mà còn là tiên đứng đầu trong các vị tiên.

Chúng ta từ lâu sống trong tam giới, Thượng Đế, Thành Hoàng, Táo Thần là những vị trưởng quan của cõi giới nhân quả này, sao có thể bất kính với họ chứ?

Ngày nay giới Phật giáo có rất nhiều người bám chấp rằng họ là tín đồ Phật giáo chính tín, tự cho rằng Phật đều cao hơn bất kì vị thần nào, do vậy họ bất kính với mọi thần, cách nghĩ cách làm này về căn bản chính là bám chấp.

Tôi nhớ Ấn Quang đại sư thường nói: "Đối với quỷ thần, Phật, Bồ Tát trong trời đất, cần phải biết kính trọng." Đối với thần đạo ở cấp độ cơ bản nhất mà còn bất kính thì còn có thể kính Phật được không?

Lão cư sĩ họ Lý cái gì cũng đều tốt, chỉ có bám chấp là không tốt. Ông ấy chỉ chấp vào mỗi Phật Bồ Tát, còn đâu chửi hết thảy thần đạo trong thiên hạ. Cần biết rằng Phật Bồ Tát mặc dù rất cao, nhưng thần minh trong trời đất cũng có thiên nhãn. Mặc dù lão cư sĩ công đức rất cao nhưng lại không thể dung nạp và dung hòa. Tôi e rằng sau này ông ấy sẽ trở thành thiên ma thì thật là đáng tiếc. Bởi vậy cho đến hôm nay, tôi vẫn hoài niệm về ông ấy, muốn cứu ông ấy.

Tôi hy vọng lão cư sĩ họ Lý đừng chửi các vị thần tiên nữa. "Cho dù sau này ông có thành tựu được Phật Bồ Tát thì cũng không thể dùng phương thức như hiện tại là chửi mắng thần minh trong trời đất. Ông nói xem có đúng không?"


### 06. Ma ý thức khó chế ngự nhất


Tôi có một học trò cùng học đạo với tôi, người này họ Lâm, 40 tuổi. Có một đêm anh bất ngờ đến gặp tôi, ấp a ấp úng kể với tôi một sự việc khiến tôi vô cùng kinh ngạc, toàn bộ sự tình là như thế này:

Nhà anh Lâm có thờ cúng một vị Quan Thế Âm Bồ Tát, vị Bồ Tát này không biết là do ai tạc tượng, khoảng 4 năm trước tại một cửa hàng bán vật phẩm Phật giáo, anh đã mua về, và khoảng 1 năm trước thì anh mời người đến khai quang điểm nhãn.

Kể từ đó anh sớm tối dâng hương. Anh Lâm khi có thời gian thì cũng thắp đàn hương, rồi niệm "Quan Thế Âm Bồ Tát phổ môn phẩm". Anh là người có thiện căn, đã quy y người xuất gia, cũng theo tôi học đạo. Anh là người độc thân, đã lập lời thề rằng sẽ không lấy vợ.

🌟

Bỗng nhiên có một ngày, khi anh Lâm đọc xong Phổ môn phẩm, ngẩng đầu lên nhìn Bồ Tát thì giật nảy mình. Bởi vì Quan Thế Âm Bồ Tát sống động như thật bỗng dưng cười với anh một cái đầy tình ý. Dường như hai má của Bồ Tát còn ửng hồng, xiêm y rực rỡ của ngài còn bay bay nữa. Hơn nữa anh còn tự thấy rằng hình như chính anh cũng thích, và thế là trong lúc mơ màng, thần trí của anh giống như đã bay mất.

Từ đó về sau, mỗi lần thắp hương, anh chăm chú nhìn Bồ Tát là ý niệm lại sinh ra. Đôi mắt to tròn của Bồ Tát cứ dường như long lanh nhìn anh lả lướt.

Thế rồi anh cứ thế say mê đắm chìm trong sự mê huyễn giống như đang mơ chưa tỉnh lại vậy.
Mỗi lần anh ngẩng lên nhìn Quan Thế Âm Bồ Tát, thì lại cảm thấy đôi lông mày của Bồ Tát như chiếc lông vũ màu xanh ngọc, da thịt như tuyết trắng ngần, xiêm y như bay bay, cử chỉ duyên dáng yêu kiều, tướng mạo đầy diễm lệ, ánh mắt của Bồ Tát thì trong veo như nước và mang một vẻ đa tình đến mức khiến người ta rung động tâm tư.

Anh Lâm chỉ là một phàm phu tục tử, ngay lập tức bị ý nghĩ xấu xâm chiếm khiến anh như say như mê.

🌟

Một tối nọ, khi nửa đêm về khuya, anh Lâm bỗng nhìn thấy một người con gái thướt tha kiều diễm đi tới, ngạc nhiên sao đó chính là Quan Thế Âm Bồ Tát.

Bồ Tát nói với anh:
"Anh không chê tôi nghèo hèn thấp kém thì tôi nguyện cùng anh vui vẻ trên giường."

Một cách tự nhiên, anh Lâm không có cách nào kiểm soát được mình, thế là trong lúc nửa tỉnh nửa mê, hai người đã như đôi uyên ương quấn quít, chính là toàn bộ thân tâm đều quấn quít giao tình, trong đêm tối như vậy thì có ai biết được.

Sáng sớm hôm sau anh Lâm tỉnh dậy thì Bồ Tát đã biến mất không dấu tích, chỉ có một vệt nước dinh dính chứng tỏ rằng chuyện đêm qua không phải là mơ.

🌟

Kể từ đó, cứ cách một, hai đêm Bồ Tát lại đến, hai người lại cùng chung chăn gối, cùng thân mật bay bổng trong lạc thú.

Tịnh phòng tu đạo đã trở thành nơi hưởng thú an lạc, đôi uyên ương cùng bay xuống bay lên. Lúc mới đầu anh Lâm tự cảm thấy khoái lạc như thần tiên, nhưng về sau thì cảm thấy có gì đó không còn đúng nữa.

Mỗi buổi sáng anh đều cảm thấy hoa mắt chóng mặt, xương cốt đau mỏi, miệng ngáp liên tục, cho dù ban ngày nhưng rất buồn ngủ. Thỉnh thoảng anh ngủ trưa Bồ Tát cũng đến rồi làm cho anh tới mức tinh cùng lực kiệt.

Anh từng hỏi Bồ Tát:
"Bồ Tát là Tây phương Tam Thánh, vì sao lại như phàm phu thế này?"
Bồ Tát trả lời một cách lả lơi:
"Nghĩ làm gì, là duyên tiền kiếp mà thôi."

Đến lúc đó, anh Lâm thực sự không thể tự kiềm chế được cảm xúc của mình nữa. Việc đầu tiên anh làm là chạy đến tìm tôi, hỏi tôi xem việc này là thế nào, phải làm sao. Thế là tôi vội vã chạy tới nhà anh.

🌟

Vừa vào trong Phật đường ở nhà anh, tôi nhìn ngay đến bức tượng Quan Thế Âm Bồ Tát đó, quả nhiên bức tượng được điêu khắc với đôi mắt đong đầy ý tình, đôi má thì ửng hồng thanh xuân, miệng nhỏ xinh như trái anh đào, hai bầu ngực lộ ra một nửa, đúng là một bức tượng đầy ma mị.

Tôi nói:
"Anh thỉnh bức tượng này về thì cũng đã kêu gọi luôn cả ma ý thức về rồi, đây là anh tự tìm phiền phức. Đầu tiên là anh khởi động tà niệm nên ma đã tự đến ám vào tượng Quan Thế Âm Bồ Tát rồi."

Anh Lâm không ngừng hối lỗi, nét mặt đầy bối rối xấu hổ.

Tôi dùng "khởi âm nhãn pháp" để quan sát thì thấy con ma kia đang ở đó.
Tôi quát lên hỏi:
"Cô là ma phương nào đến? Dám giả mạo Quan Thế Âm Bồ Tát!"
"Liên Sinh, chuyện này ông không thể quản, cũng quản chẳng được đâu. Tâm sinh thì tôi sinh, tâm diệt thì tôi diệt. Anh Lâm với tôi có duyên nên tôi mới chủ động đến thân mật."

Ma nữ đó thực sự là có biết tôi, nhưng nó nói cũng có lý.

"Anh Lâm là học trò của tôi, tôi không quản thì ai quản. Nay tôi đã biết chuyện này, nếu tôi phụng thỉnh hộ pháp chư thiên thì cô khó mà thoát khỏi bị lôi hỏa thiêu trụi. Hôm nay cô tự rút lui đi! Tôi sẽ không làm khó cho cô."
"Không được." - Ma nữ đó nhướn đôi lông mày lên, mở to đôi mắt tròn: "Trừ phi anh Lâm kia thực sự tự mình tu cho thanh tịnh."
"Được thôi! Cô là con ma ý thức, tôi không tranh cãi với cô, tôi sẽ làm việc với anh Lâm."

🌟

Tôi bảo anh Lâm tới hàn xá của tôi, dạy anh pháp "Tam giải thoát môn".
Tôi đặt một chữ "Hum" tại cửa phòng, một chữ "Hum" ở dưới giường ngủ, một chữ "Hum" hóa thành nước đi từ miệng đi vào trong người.

Liên tiếp mấy đêm, ma nữ kia ở ngoài cửa thiết tha gọi, ban đầu thì cô ta dụ dỗ, sau đó thì cô ta nhục mạ, khi dụ dỗ thì cô thỏ thẻ nỉ non, khi nhục mạ thì cô thẳng tưng chửi rủa. Liên tục như thế suốt 49 ngày, sau đó ma nữ kia mới tự bỏ đi không còn tung tích.

Lần này khả năng kiềm chế của anh Lâm cũng không tệ. Bởi vì tôi đã bảo anh rằng nếu anh còn tự mình mở cửa, điều này cho thấy anh vẫn còn hoài niệm không quên sắc tướng, từ đó sẽ mất đi căn cơ học đạo, và cũng đừng đến tìm tôi nữa. Hơn nữa, sau khi chết anh sẽ chuyển thế sinh vào đạo súc sinh, tôi cũng sẽ không đủ sức cứu đâu.

🌟

Sau sự việc này, tôi đem tượng Quan Thế Âm Bồ Tát kia hơ qua ngọn lửa thanh tịnh, rồi khai quang điểm nhãn lại từ đầu, sau đó gửi đến cúng dường cho một ngôi chùa Phật.

Pháp tướng của vị Quan Thế Âm Bồ Tát này mặc dù thiếu trang nghiêm, có tướng mạo khá yêu kiều, cũng không rõ là do bàn tay ai điêu khắc ra, nhưng người xuất gia thì không được chấp vào hình tướng bên ngoài, người tu đạo cũng không nên chấp vào tướng. Mặc dù nhìn thấy là có tướng nhưng cũng là vô tướng, dáng điệu yêu kiều thì cũng chỉ là sự yêu kiều của hình tướng, nếu tâm không lay động thì làm gì có thiên ma?

Vì việc này, tôi viết một bài kệ:
"Đêm vắng sao xa ngắm trăng tròn
Tâm động ma tới cùng huyễn duyên
Muốn phá chỉ nhờ vào tâm định
Tu hành tiên đạo, nước tự ngon."

[ ND: Ý Sư Tôn của câu cuối là tu hành tiên đạo khi thành tựu thì nước nhạt bình thường cũng sẽ tự "trở thành", hoặc "cảm thấy" ngon ngọt ]


### 07. Ma ý thức là tâm ma


Rốt cục, ma ý thức là cái thứ gì? Kì thực ma này do tâm sinh ra, chính là "tâm ma". Nhìn chung, loại ma này là do tự tâm ta khởi động lên ý nghĩ nên đã chiêu gọi ma tới. Nếu tâm bất động thì ma không có gì để dựa vào nên một cách tự nhiên ma cũng sẽ bị diệt trừ. Người tu đạo cần phá bỏ tâm ma.

Có một bài thơ là "Tây Giang Nguyệt" như sau:
"Phú quý năm canh xuân mộng,
Công danh một đám phù vân.
Xương thịt này đây chẳng thật,
Ân ái trở thành hận sân.

Đừng đem gông vàng đeo cổ
Đừng lấy khóa ngọc trói thân
Thanh tâm quả dục thoát trần
Hạnh phúc đủ đầy ấm thân."

Bốn chữ "thanh tâm quả dục" ở đây vốn là cơ sở để thành Phật tu Tiên, nếu không thể làm được thì xin đừng làm đạo nhân nữa. Bởi vì người không làm được điều này sẽ làm mất mặt những người tu đạo chân chính, chân tu bất thành, lại thành giả tu. Một miền đất phong quang thanh tịnh bị làm cho trở thành ô yên chướng khí.

Trở lại chủ đề chính, bốn chữ nói trên xem ra rất dễ, nhưng kì thực lại rất khó, rất khó. Chính vì rất khó nên mới thể hiện sự trân quý của việc tu đạo. Tu đạo vốn là lên trời, thuộc vào việc đại sự đẳng cấp số một.

🌟

Học trò của tôi gặp phải ma ý thức không chỉ có mỗi mình anh Lâm, ngoài ra còn có một người họ Ngụy, một người họ Dư, chỉ là tình huống của hai người này không nghiêm trọng như sự việc của anh Lâm.

Họ kể với tôi rằng họ đều bền lòng hướng đạo, sớm tối trì tụng kinh chú. Có một khoảng thời gian tạp niệm cứ sinh ra mạnh mẽ, họ cũng thờ Quan Thế Âm Bồ Tát, thỉnh thoảng ngẩng đầu lên nhìn Bồ Tát, không ngờ lại khởi lên tạp niệm. Tà niệm ý thức này hễ sinh ra thì thực sự không có cách nào dừng lại được. Mặc dù miệng niệm kinh chú, nhưng trong đầu chỉ toàn nghĩ chuyện đâu đâu, muốn buộc tâm lại một chỗ nhưng không có cách nào tự mình khống chế được.

Họ cho rằng tình trạng này có lẽ chỉ xảy ra một ngày, nhưng thực tế không như vậy. Từ đó ngày nào họ cũng nghĩ như vậy, không lạy Bồ Tát nữa, không niệm kinh chú nữa thì lập tức không vọng tưởng. Nhưng hễ châm hương, lạy lạy niệm niệm thì tà niệm lại đầy ắp, căn bản là không có cách nào dừng lại được. Thế là họ thử tìm cách chặn đứng tà niệm, nhưng khi chặn đứng thì lại càng tệ hơn, họ lại càng nghĩ đến đủ thứ linh ta linh tinh, tất cả những gì họ nghe được, thấy được, những thứ mà họ từng làm khi còn trẻ thiếu kinh nghiệm đều được phản chiếu diễn biến ra trong đầu họ. Cuối cùng họ không còn cách nào để cưỡng ép nữa, chỉ có cách dừng không trì niệm kinh chú nữa, và cũng chỉ duy nhất không trì tụng kinh chú nữa thì ma ý thức mới không sinh ra.

Họ nói, họ cảm thấy trước mặt Bồ Tát mà có kiểu dục niệm như vậy thì là đại bất kính đối với Bồ Tát, nhưng nếu dừng tu trì thì cũng giống như đánh mất đạo tâm. Tu trì kinh chú cũng không tốt, không tu trì kinh chú cũng không tốt, họ không biết phải nghĩ ra sao nữa, không biết thế nào mới phải, vì thế mà họ đến hỏi tôi.

🌟

Tôi nói:
"Các anh vốn không phải vừa sinh ra đã tu đạo, do vậy lúc còn chưa tu đạo thì đã tạo ra bao nhiêu chướng ngại về dục vọng như thế này mất rồi. Các anh cũng vốn không sống ở trong núi, nên việc tiệc tùng chè chén cũng đã gặp chẳng ít. Mà bởi vì không thể trói mình nơi nhà tranh khe suối, cũng không thể sống trong núi suốt đoạn đời còn lại, thế nên không thể nào tránh khỏi những suy nghĩ trần tục. Do vậy có tà tư tà niệm như vậy cũng là điều bình thường. Nếu hoàn toàn không có tà tư tà niệm thì đã thành thánh nhân rồi, vì thế không cần phải cảm thấy xấu hổ, không cần phải buồn phiền. Việc tà niệm sinh ra vượt ngoài khả năng kiểm soát là quá trình mà mỗi người tu đạo đều phải kinh qua. Đây là ma chướng, không phải là tội, nên đừng sợ."

Tôi nói với họ hãy xem việc tà niệm sinh ra là một hiện tượng bình thường, đây là nguyên nhân của việc tu hành vẫn chưa hoàn thiện, đừng căng thẳng, cũng đừng sợ hãi.

Phương pháp xử lý tốt nhất là bốn chữ: "Hoàn toàn lờ đi." Căn bản là đừng chú ý đến nó, vẫn cứ tụng kinh của ta, trì chú của ta, tất cả cứ mặc kệ nó. Đừng có cảm giác xấu hổ, bởi vì điều này là bình thường. Khi tất cả đều mặc kệ nó thì thời gian qua đi, những suy nghĩ linh ta linh tinh này cũng chẳng có gì là mới hay lạ nữa, và nó cũng không ngăn được ta hướng về tâm Phật, và thế là nó sẽ từ từ nhạt đi.

Trì kinh chú, tạp niệm sinh ra, nếu không khổ não thì nhanh nhất là vài tháng, chậm nhất là vài năm, những suy nghĩ này sẽ từ từ nhạt đi, đến cuối cùng tạp niệm sẽ không sinh ra nữa. Kinh nghiệm của tôi là càng muốn khống chế nó thì sức phản kháng của nó càng mạnh. Chi bằng mặc kệ nó thì nó lại tự biến đi. Có niệm biến thành vô niệm, cảnh giới này chính là đã có thể phá ma.

🌟

Người tu đạo chuyên tâm tu đạo, tốt nhất là tránh liên quan đến tham lam lợi ích. Người có đạo tâm không mạnh thì đừng chấp vào sắc tướng. Nếu trên con đường tu đạo mà rơi vào những bẫy tửu sắc danh lợi, vẫn sống buông thả trong vòng xoáy phóng túng thì điều này là sai. Tu hành mà bị danh lợi tửu sắc tới làm phân tán thì cho dù sớm tối trì chú niệm kinh cũng chẳng có tác dụng gì. Do vậy tôi nói với họ rằng: "Thanh tịnh chính là tăng, vô dục chính là thánh."

🌟

Phương pháp của tôi chính là cách mà Lục Tổ Huệ Năng nói với Huệ Minh: "Con vì pháp mà đến, nếu có thể bằng mọi cách nhịn thở được, đừng khởi lên một suy nghĩ nào, thì ta sẽ nói cho con nghe."

Hồi lâu sau, Huệ Năng không nói một tiếng nào. Huệ Minh thì đã ngộ ra rồi.
Huệ Năng nói:
"Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, chính vào lúc đó, đó chính là bản lai diện mục của Thượng tọa."

Do vậy, đừng đi truy cứu về tà ý tà niệm, thường giữ tâm mình thanh tịnh, thì lâu dần, tự tính vốn có sẽ lần lượt hiển thị rõ ràng từ đầu tới cuối.

🌟

Trong "Đại sám hối văn" có lời rằng: "Tự tính chúng sinh, vốn dĩ thanh tịnh. Tuy nhiên, từ vô thủy qua bao nhiêu đại kiếp, cho đến ngày nay, chúng sinh vẫn cứ mê lầm vào bản ngã mà không tỉnh giác, vẫn xem là có ta có người. Bởi vì đã tính là có "ta" cho nên chính ta tự tạo duyên nghiệp. Vì cái căn trần tạo ra đã lớn nên ý thức âm mới nổi lên, buộc chặt và khuấy động tâm ta, cũng giống như truyền điện, mắt tai mũi lưỡi thân ý thanh tịnh, nhưng chỉ một suy nghĩ không ý thức được thì sẽ làm phản lại cả sáu thứ, trộm mất tài pháp của ta. Một khi thấy giặc thì giặc sẽ thiêu cháy dữ dội, phá hoại thành Niết Bàn, làm hại đến pháp thân, đốt cháy huệ mệnh."

Đây là cốt lõi ý thức thanh tịnh của chúng sinh, khi gặp phải hoàn cảnh ô nhiễm, khi học Phật học đạo chắc chắn những sự quấy nhiễu sẽ lần lượt xuất hiện. Nếu muốn loại bỏ thì mặc kệ nó, lâu dần nó sẽ tự đi. Mây tan sẽ thấy trăng sáng bội phần.


### 08. Pháp song thân dễ rơi vào ma đạo


Người tu trì Mật tông thường thích nói: "Hiển giáo không còn hưng thịnh là lúc Mật giáo bắt đầu, nội Mật ngoại Hiển." Nhưng theo như tôi biết, người tu hành Mật tông đã ngày càng nhiều, đây là thời kì mạt pháp, và Mật tông nổi lên là một hình thức hoàn toàn mới.

Mật tông vốn có một phương pháp tu hành gọi là pháp song thân, giống như pháp "Càn khôn hợp bao" của Đạo gia, cũng tương tự như Tố nữ kinh của hoàng đế, là một loại pháp tu hành. Vốn là một pháp tham thiền nhờ vào sự thần diệu của tính nữ, nhờ thuần dương chân hỏa bốc lên chạy khắp toàn thân mà tu luyện thành khả năng ngồi thiền bất động bất loạn. Lúc này toàn thân nhẹ nhàng thư giãn trong cảm giác mơ hồ rất lâu, cùng trời đất trao đổi khí với nhau, giống như một dạng tinh thần thiền định khi đạt đến ngộ giới hưng phấn. Nhưng kiểu nhẹ nhàng thư giãn này khác với việc quan hệ tình dục của phàm phu tục nữ.

Pháp song thân là ngồi im, không động không loạn.
Quan hệ giữa phàm phu tục nữ là vừa động vừa loạn.

🌟

Pháp song thân của Mật tông là pháp vô thượng du già đát-đặc-la [Anuttara yogatantra]. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, người sáng lập phái Nyingma, chính là người có tượng song thân được truyền lại. Sau này, tăng lữ của phái Nyingma tu pháp song thân đặc biệt nhiều, nhưng gần như toàn bộ họ đều tẩu hỏa nhập ma. Họ không phải là không động không loạn mà là vừa động vừa loạn, trở nên đắm chìm trong khoái lạc nam nữ, hình thành nên một biến tướng yêu ma huyễn hoặc. Thế là, tăng nhân Tsongkhapa vốn là người của Nyingma đã đổi sang mặc áo cà sa màu vàng, tự gọi tên là phái mũ Vàng [ Gelugpa ]. Ngài có hai đệ tử mà ngài rất hài lòng, đó chính là Dalai Lama và Panchen Lama. Lúc này, Tsongkhapa thay đổi việc thực hành pháp song thân thành quán tưởng tượng song thân.

🌟

Trong các dòng phái Mật tông, ban đầu có người cho rằng tu pháp song thân là pháp môn vô thượng du già, gọi mỹ nữ là Mẫu đát-đặc-la, gọi tắt là Phật Mẫu, có thể thông qua việc quán tưởng hợp nhất cùng bổn tôn mà tức thân thành Phật.

Nhưng một vài Lama của phái Nyingma đã dùng pháp song thân như một lời bào chữa, tổ chức những đại hội dâm loạn công khai, tạo nên một đường lối tu đạo méo mó xấu xa, rơi vào ma đạo, cuối cùng trở thành yêu ma huyễn vọng.

Theo những gì tác giả được biết, Bất Không Thành Tựu Như Lai có Phật Mẫu là Đa La Mã Cứu Độ Phật Mẫu, Kim Cang Thủ Bồ Tát có Phật Mẫu là Giang Đắc Mã Phật Mẫu, Trừ Cái Chướng Bồ Tát có Phật Mẫu là Ni Đắc Mã Phật Mẫu, Bảo Sinh Như Lai có Phật Mẫu là Phật Nhãn Phật Mẫu, A Súc Như Lai có Phật Mẫu là Mã Ma Ki Phật Mẫu, Di Lặc Bồ Tát có Phật Mẫu là Bổ Biệt Mã Phật Mẫu…. Các vị Phật, Bồ Tát khác đều có các vị Phật Mẫu khác nhau, từ đó mà có những bức tượng một cặp "song thân tu hành" trong pháp song thân của Mật tông.

🌟

Đạo gia cũng có phương pháp tu hành tương tự gọi là "thái âm bổ dương", nhưng may mắn là vẫn chưa tạo thành đại loạn. Tạo hình tượng Phật của Mật tông có rất nhiều tượng song thân, người không chuyên đều gọi là "hoan hỉ Phật" hoặc "hoan hỉ thiền". Thực tế, đây chính là quán tưởng pháp song thân bất động bất loạn của Mật tông.

🌟

Thời hiện đại ngày nay, pháp song thân vẫn bị tránh nói đến vì người ta cho rằng phương pháp này cũng chẳng thể tu đạt được.

Bởi vì có gái đẹp "tọa hoài bất loạn" [ND: gái đẹp ngồi lòng lâu mà tâm không loạn], vẫn trong như giá sạch như ngọc, thì từ xưa tới nay ở Trung Quốc chỉ có một người là Liễu Hạ Huệ thôi, còn đâu tất cả đều là những tín đồ "tọa hoài liền loạn".

Đây không phải là tôi nói để dọa mọi người sợ. Con người ngày nay căn cơ công phu không sâu không vững, người có thể ngồi tĩnh lặng, công phu thiền định tới mức độ "lư hỏa thuần thanh" [ ND: câu trong Đạo giáo, ở đây chỉ trình độ tu tập đã tới mức thuần thanh tịnh, không còn nhục dục ] không nhiều, trong nghìn vạn người cũng chẳng tìm nổi một người, cho nên người thường không có cách nào cưỡng lại được đủ kiểu mê hoặc của gái đẹp.

Không chỉ "tọa hoài đại loạn" mà rất nhiều người chỉ nhìn thôi cũng đã đại loạn rồi, đặc biệt là khi bị những xu hướng xấu của văn minh phương Tây tấn công với những phim ảnh sách tranh khiêu dâm, v.v… bất kì chỗ nào cũng có thể nhìn thấy nghe thấy mỹ sắc khêu gợi. Người muốn phá hoại công phu, muốn khuấy động người thiếu sức mạnh lại càng nhiều. Đừng nói đến việc tu đạo, làm một người bình phàm mà không loạn đã là vô cùng khó khăn rồi. Anh không đụng phải gái thì gái cũng tự tìm đến anh, đúng là một khi gái đã tấn công, muốn thoát cũng chẳng có đường thoát.

🌟

Trong số người tu đạo mà tôi biết có hai người vì tu pháp song thân mà rơi vào ma cảnh, một người ở phía Bắc là một lão cư sĩ nổi danh đã nhiều năm, công phu thiền định rất thâm hậu, nhưng những năm sau này đã thất tiết, nghe nói tu pháp song thân khiến cho chân dương bị mất hết, lưng dưới và đầu gối đều yếu và đau, đến nay thì bị trăm thứ bệnh hành hạ.

Người kia thì ở Đài Nam, là sư phụ của cư sĩ họ Trần, cũng tu pháp song thân, đồng tu với một nữ đệ tử khá xinh đẹp. Sau đó không ngờ nữ đệ tử kia mang thai, thực là khiến người ta tức cười muốn chết. Vốn dĩ là tu quán tưởng song thân thanh tịnh, pháp thanh tịnh vô thượng du già đát-đặc-la, lại biến thành pháp phu thê ân ái để có con cái nối dõi. Tu đạo như vậy không những không thành được thánh hiền, trái lại rơi vào đường núi, chẳng có cách nào hàng long phục hổ mà lại bị hổ ăn thịt, ai oán khóc than!

Cư sĩ Trần từng đưa cô gái kia đến gặp tôi, cô gái này xinh đẹp như hoa, quả nhiên đáng yêu rung động lòng người, bất kì người nào gặp cô cũng khó tránh được hồn phách đảo điên, khó trách người tu đạo muốn "tọa hoài đại loạn", sự việc phát sinh cũng là có nguyên nhân của nó cả. Sắc đẹp như miệng hổ, đạo nhân không thể vào.

Tôi viết một bài kệ như sau:
"Tiếc thay tu đạo Mật tông gia
Song thân gái đẹp xinh như hoa
Chỉ vì thiền quán tâm vẫn động
Phong lưu mấy chốc thành hoàng sa.*"

[ ND: ở đây có sự chơi chữ "hoàng" - màu vàng, trong tiếng lóng Đài Loan màu vàng là chỉ khiêu dâm, đồi trụy.]

🌟

Tôi không tán thành pháp song thân vì có hai nguyên nhân:
Dưới góc nhìn của người ngoài, về cơ bản họ không có cách nào hiểu sâu và đầy đủ được ý nghĩa của pháp này, và với cách phán đoán của người thế tục thì tu pháp song thân cơ bản là thuật tà ma ngoại đạo. Lại thêm có những tín đồ tâm thuật bất chính, giả danh là tu đạo nhưng thực sự là làm điều ác dâm, biến đạo tràng thanh tịnh tốt đẹp như vậy thành đại hội công khai nam nữ hoan lạc. Ví dụ một số tăng đồ của phái Nyingma có rất nhiều hành vi lầm lỗi sai lệch, đánh mất mục tiêu ban đầu, trở thành yêu vọng. Vốn dĩ là pháp giới vô chướng ngại thì biến thành toàn là ma chướng.

Thiên ma dựa vào sắc tướng để mê hoặc con người, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chính là đã bị Ma vương tam nữ tới mê hoặc. Sắc tướng thiên ma lợi hại như vậy, người tu đạo bình thường có sức mạnh đến mức nào mà có thể vọng ngôn nói là phá bỏ được. Trừ phi có lục căn thanh tịnh thực sự, nhưng trong nghìn vạn người thì cũng chẳng tìm được một người nào có lục căn thanh tịnh.

Tu pháp song thân, kết quả dễ đạt được nhất chính là gọi ma, bởi vậy hành giả tầm thường đừng nên tu.


### 09. Milarepa tôn giả có phải là ma không?


Tôi có một người bạn thân ở Hồng Kông học Mật tông, anh nhận quán đảnh ở Đài Loan, làm thầy giáo ở một trường học tại Hồng Kông, họ Cao. Anh đề cập đến tình hình đối nghịch như nước với lửa giữa hai tông phái Mật tông và Hiển tông, trong lòng anh rất buồn. Anh viết cho tôi một bức thư như sau:

"Đúng như sư huynh nói, thầy của đệ phát triển rất nhanh, tương đối khiến cho Hiển giáo cảm thấy bất an. Về điểm này đệ rất đồng ý. Không chỉ có thầy của đệ mà Mật pháp của các môn phái khác cũng nhận được sự đối xử như vậy. Các pháp sư Hiển giáo có thể thấu hiểu được Mật tông là rất hiếm, rất hiếm. Học Hiển giáo thành Phật cần phải trải qua ba đại a tăng tì kiếp, trong khi đó Mật tông có thể tức thân thành Phật, điều này chính là Phật nói. Pháp sư Hiển giáo có thể cho rằng không thể có khả năng này, Mật pháp làm gì có pháp nào nhanh như vậy, trong khi các pháp Hiển giáo thì chậm như thế, thành Phật đâu phải dễ, không thể nào nhanh như vậy mà có thể thành Phật được.

Hầy! Đệ cho rằng bọn họ hiểu lầm rồi, Hiển giáo làm sao hiểu được tâm ấn của Phật Tổ, trực chỉ nhân tâm, rằng người người đều có thể thành Phật, chính là câu nói "phóng hạ đồ đao, lập địa thành Phật". [ND: người làm việc ác chỉ cần quyết tâm bỏ ác hướng thiện là lập tức trở thành người tốt. Thiện tâm này không khác gì thiện tâm của Phật.]

Người người đều có Phật tính, có thể đốn ngộ để Phật tính hiển hiện thì người đó chính là Phật rồi. Cho dù là người theo Hiển giáo nhưng nếu có thể hiểu được đạo lý này thì cũng có thể tức thân thành Phật được! Cũng thế, bọn họ làm sao biết được nhiều người tuy học Mật pháp, nhưng trong đó rất nhiều pháp sư cả đời luyện Mật pháp lại vẫn không thể "tức thân thành Phật" được.

Pháp do Phật Tổ truyền lại, mọi pháp bình đẳng, mọi tông phái bình đẳng, không hai không khác, chỉ có con người dùng tâm phàm tục để phân biệt nhau mà thôi. Do vậy, học Hiển học Mật, tu đạo học pháp, sự thành tựu nhanh hay chậm nằm ở sự nhất tâm của con người, thành tâm và bền tâm mà thôi.

Hơn nữa, gần đây có một người giấu tên viết một cuốn sách bình luận về Mật tông, đệ có đọc một chút, thấy là đúng như trong giới luật Bồ Tát nói: "Như ba trăm mũi đao đâm vào tim." Người nói rằng Mật pháp là không đúng này rất tôn sùng Hiển giáo, nói rất nhiều điều không đúng về tôn giả Milarepa của Tạng Mật, nói rằng Milarepa là thiên ma, là đại ma vương thích ăn thịt, lại còn uống rượu, phá giới luật của Phật. Đệ đọc mà thấy rất đau lòng, lẽ nào tác giả này không biết rằng ở Tây Tạng đến cỏ cũng không có nhiều, nếu muốn ăn chay thì chỉ có tranh cỏ với trâu cừu mà ăn! Rồi nếu toàn bộ người Tây Tạng đều ăn cỏ thì trâu cừu ở nơi đó cũng chết đói mất, như vậy thì người Tây Tạng chẳng phải là đã phạm vào giới sát nặng số một đó sao. Giới sát bao gồm sát nhân, sát nghiệp, sát duyên….

Người theo Hiển giáo liệu đã từng nghĩ đến câu "tửu nhục xuyên tràng qua, Phật Tổ tâm trung lưu" chưa! [ ND: "rượu thịt đi qua ruột, Phật Tổ còn trong tâm", ý nghĩa của câu nói này là rượu thịt thì rồi cũng theo ruột mà tiêu hóa hết, trong tâm vẫn còn Phật mới là quan trọng. ]
Các pháp Đại thừa đều là như vậy. Ta quán tưởng tất cả là chay thì tất cả sẽ là chay, chay hay mặn đều là vật ở ngoài thân cả.

🌟

Từng có lần ở một thư viện Phật giáo, có một bác sĩ theo Hiển giáo nói lớn rằng Mật pháp là không đúng. Ông nói với rất nhiều người rằng: "Thiền tông là chính tông, có truyền thừa chân chính, là do Phật truyền cho Đạt Ma, từ Đạt Ma truyền tới Lục Tổ Huệ Năng, Huệ Năng truyền đến cho chúng ta, chúng ta đây mới là chính tông chính thống." Ông lại còn nói: "Truyền thừa Mật tông là giả. Đều là giả tạo, bọn họ đều là những kẻ siêu khoác lác, hoàn toàn không có căn cứ." Tiếp đó còn nói: "Giữa hai chân mày của Phật Tổ phóng ra ánh sáng của tướng bạch hào mới là chính tông. Còn Mật tông thì phóng ra ánh sáng gì, ánh sáng nào cũng chẳng đúng, thật là quá khoa trương."

Trong đám người nghe ông ta thuyết pháp, có một người trẻ tuổi cũng học Mật tông, rất có huệ căn, anh ta không nói gì, chỉ cười cười. Sau đó chúng đệ nói chuyện với nhau, lúc đó đệ mới biết rằng anh ấy là đệ tử trong pháp môn do Đại Bảo Pháp Vương trực tiếp truyền thừa, cũng gần giống với cảnh ngộ của sư huynh đó. Chúng đệ cùng nói với người quản lý thư viện đó rằng: "Cuốn sách "Bình luận về Milarepa" này không có tên tác giả, không có in tên nhà xuất bản, toàn toàn là một cuốn sách viết vớ vẩn thiếu trách nhiệm, hơn nữa, bất luận thế nào, Mật tông cũng là một trong tám vạn bốn nghìn pháp môn do Phật Tổ truyền lại.

Phật Tổ từng nói: Tất cả chú ngữ của quỷ thần đều không thể xem thường, đều là do Như Lai hóa thân mà nói ra. Do vậy phỉ báng Mật pháp cũng là phỉ báng một trong Tam Bảo, ông xem làm thế nào đây?" Người quản lý thư viện nghĩ một hồi rồi gom toàn bộ sách "Bình luận về Milarepa" lại, thật là... A Di Đà Phật.

Lư sư huynh, sư huynh là người hiểu Mật pháp, đương nhiên hiểu được tâm của sư đệ. Đệ đồng ý với điều mà sư huynh nói trong thư trước: "Mật pháp tương lai sẽ là ánh sáng vĩ đại và rực rỡ phủ khắp thế gian." Cách nói của sư huynh giống y hệt như những gì mà Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã nói. Đại Sĩ nói rằng: "Khi nào chim sắt bay trên trời, Mật pháp sẽ thịnh hành khắp thế gian!" Chim sắt này chính là máy bay đó."

🌟

Bức thư này rất dài, tôi chỉ chọn ra đại khái một số chi tiết thôi, và tôi đưa thêm giải thích như sau:

Bởi vì cách tu pháp của Hiển giáo và Mật giáo khác nhau, nghi quỹ khác nhau, cảnh giới khác nhau, nên sẽ xảy ra những tranh chấp và bài trừ lẫn nhau. Điều này từ lâu tôi đã nhìn ra rồi, nhưng đây cũng là hiện tượng bình thường thôi. Cá nhân tôi chưa bao giờ bài trừ Hiển giáo, tôi có quy y pháp sư Hiển giáo. Tôi cũng không bài trừ Mật pháp, tôi cũng nhận quán đảnh, cũng học Mật. Không chỉ như vậy, tôi cũng học Đạo giáo, tôi từng nói, tôi là "mì xào tổng hợp". Nhưng dù là nước hoa quả tổng hợp hay mì xào tổng hợp thì hương vị cũng chẳng thua kém gì tu pháp đơn lẻ. Tôi, Lư Thắng Ngạn, là người thực có những gì tôi đã thành tựu được, đã dung nạp được Chính Biến Tri, đạt được đại giác.

Tôi đã từng đọc truyền thuyết Milarepa, tôn giả Milarepa là một vị tôn giả thực sự đắc chứng. Người đắc chứng tất có cái ngộ của đắc chứng. Giống như ánh sáng trí huệ của bình minh, chiếu khắp đại thiên, lấp lánh tự tính, thiện ác vô nhiễm. Tác giả đã ngộ được chân đế, đã vào tới cõi phi thiên nhập thánh, cũng đã từng tham kiến Milarepa tôn giả, biết được ngài đã chứng bồ đề ra sao. Những con người phàm tục, không biết sự vĩ đại của các vị tôn giả Mật pháp, nói tôn giả Milarepa là Ma Vương. Nhưng tôi cảm thấy việc này cũng chẳng có vấn đề gì cả, đắc chứng thì vẫn là đắc chứng, người vọng ngôn thì cũng biến Phật thành ma, còn Milarepa tôn giả vẫn là một vị thánh giả một trăm phần trăm, sẽ chẳng vì những điều ồn ào của trần thế mà bỗng nhiên biến thành ma được.

🌟

Theo tôi được biết, cách tu của Hiển giáo và cách tu của Mật thừa, phương pháp và hình thức mặc dù khác nhau, nhưng mục đích cuối cùng của cả hai đều là thành Phật. Bởi vì mục đích giống nhau nên cổ vũ và học hỏi lẫn nhau chẳng phải là càng tốt hơn sao. Hà tất phải bài trừ nhau như nước với lửa vậy. Tôi thấy đây đều là do thiên ma cố ý phát tán những ma con ma cháu tự cao tự đại xuống, trốn trong tâm của mỗi người tu hành để mà tác quái.


### 10. Nhật kí bắt ma


Có một lần ngồi thiền, trước mắt tôi hiện lên vạn ánh hào quang, nhưng trong vạn ánh hào quang có một vệt khí đen xông thẳng lên trời, tôi lại dùng mắt nhìn thử, hóa ra là một con ma "Ô-ma-lặc-già" đang tác quái. Sau khi xuất định, tôi bấm ngón tay để thần toán một chút, rồi tôi nói với Sư Mẫu: "Sắp tới đây e rằng lại có chút phiền phức nhỏ rồi, cần chú ý cẩn thận."

🌟

Sáng sớm khoảng hai hôm sau, có vợ của một họa sĩ ở Thảo Đồn khẩn cấp gọi điện thoại cho tôi nói:
"Thầy Lư, đêm qua thầy có đến nhà tôi không?"
"Không có." - Tôi đáp.

Xin bạn đọc chú ý, ở đây không phải là người thật đến nhà, mà là ý nói nguyên thần (linh hồn) của tôi, tôi vẫn thường xuất pháp thần, thường xuất linh hồn ra ngoài để đi chơi, vợ của người họa sĩ kia hỏi chính là có ý này.

Tôi lại hỏi:
"Đêm qua tôi không đến, xảy ra chuyện gì sao?"
"Đêm qua ông chồng tôi nói là thầy đến, nhập vào người ông ấy để viết chữ, ồn ào tới mức cả đêm không ngủ được, một lúc nói cái này, một lúc lại làm cái nọ, mà thầy bảo không đến thì chắc chắn là ma nhập vào ông ấy rồi."
"Mau cảnh báo ông nhà." - Tôi thấy lo lắng.

"Ông ấy nói thầy Lư nhập vào người để viết chữ, nhưng tôi xem kĩ những chữ này thì không giống chữ của thầy, tôi nhắc ông ấy nhưng ông ấy không nghe. Ông ấy cho rằng chính là thầy đến, cũng có rất nhiều thần khác đến. Xin thầy mau đến cứu ông ấy, xin mau đến cứu ông ấy."

🌟

Lần này, tôi thực sự nhập định, nguyên thần bay lên giữa không trung, nhanh như chớp bay về phương nam, đến Thảo Đồn.

Tôi nhìn lướt qua đã thấy một vệt khí đen bay lên giữa không trung, chính là con quỷ mặt đen đó.
"Quỷ mặt đen, đừng hòng chạy." - Tôi hét to một tiếng.

Con ma "Ô-ma-lặc-già" vốn nhập vào người họa sĩ kia, vừa nghe thấy tiếng hét của tôi, nó ngẩng đầu lên. Vừa nhìn thấy tôi, nó lập tức rời khỏi người của họa sĩ, cũng bay vọt lên không trung, chạy trốn về phía bắc.

Lần này tôi không để nó chạy thoát, nguyên thần của tôi ở giữa không trung xoáy thành một vòng tròn, trông thấy thân thể mềm nhũn yếu ớt của họa sĩ kia từ từ hồi tỉnh, thế rồi tôi mới đuổi theo con quỷ kia.

"Ô-ma-lặc-già" chính là quỷ mặt đen, có khả năng tương đương với la-sát, là một trong những loại quỷ ăn thịt người, cũng chính là quỷ ăn tinh khí.

Nhân loại, trong tâm mỗi người có bảy giọt nước ngọt để điều dưỡng cho tinh thần tự tại. Nhưng khi bị "Ô-ma-lặc-già" nhập vào thì con quỷ này sẽ hít hết một giọt, khiến cho người ta đau đầu không ngừng. Nếu nó ăn mất ba giọt thì sẽ làm cho người ta trầm cảm tới mức tinh thần điên loạn, mà mất bảy giọt thì coi như người này chết rồi.

"Ô-ma-lặc-già" sống ở phương bắc, bình thường nó hay ám vào những cây to, nhưng có con thì không hại người mà lại nhận cúng dường của nhân gian nên được gọi là Đại Thụ Công.

🌟

Tôi đuổi theo một đoạn, sắp tới lúc có thể tóm được nó. Đột nhiên nó biến mất, không thấy đâu nữa. Tôi cẩn thận nhìn xung quanh, nơi đây chính là Hậu Lí [ ND: một thị trấn nhỏ ở Đài Trung, Đài Loan ], bên cạnh đường cao tốc có một ngôi miếu nhỏ, miếu nhỏ này là một cái cây to có tán xòe như cái ô, giống như tấm hoa cái, cực kì đẹp. Tôi cũng không tiếp tục truy đuổi nữa, mau chóng quay trở về.

Cách vài hôm sau, tôi nhờ một học trò của tôi lái xe đưa tôi đến Hậu Lí, tôi nói là để giúp người ta làm pháp thế thân, sẽ đem lông tóc móng tay chôn xuống một cái hố đào bên dưới một cây to.

Tôi đến Hậu Lí, xe đi lòng vòng một lúc thì tìm được ngôi miếu bên cạnh cây to như cái ô đó. Nhưng mấy học trò của tôi chỉ thấy: "Chỉ thấy cây xum xuê, chẳng thấy một bóng hình." Thế còn tôi lại nhìn thấy: "Nước từ tâm người lành, mê hoặc tình quê hương."

Lập tức tôi cầm lấy chiếc đinh bằng đồng, đi ra phía sau cây to, rồi bất ngờ đóng đinh lên cây. "Đại thụ vương công ô-ma-lặc-già" thét lên một tiếng, rồi đột ngột một trận gió nổi lên, lá trên cây rào rào rụng xuống rất nhiều. Học trò của tôi hét lên: "Nhựa cây chảy ra rồi."

🌟

Đêm đó, tôi mơ thấy mình đến một nơi, gió mát thổi vào người, một mùi hương lạ phả vào mặt. Đúng vào lúc kì quái đó, có một cụ già râu bạc chống gậy, bước đi loạng choạng đến trước mặt tôi. Đúng lúc tôi định hỏi cụ già nơi đây là nơi nào, nhưng lại thấy cụ già quẳng gậy đi, như muốn quỳ xuống.

Tôi vội vàng đỡ cụ dậy, cụ già râu bạc nói:
"Tôi chính là Thổ Địa Công ở thị trấn Hậu Lí, bởi vì con quỷ Ô-ma-lặc-già kia làm loạn chiếm nhà của tôi, nên tôi phải trốn đi sống tha phương. Hôm nay pháp sư bất ngờ đến đây, dùng đinh đồng đâm chết ô-ma-lặc-già, thế nên tôi đã được trở về nơi ở cũ, nay đặc biệt đến quỳ gối cảm tạ!"
"Ấy! Cụ không cần như vậy, việc này là trách nhiệm của tôi, không đáng nhắc tới."
Lão Thổ Địa Công cảm ơn rối rít, rồi mới từ từ rời xa, hóa thành cơn gió nhẹ bay đi mất.

🌟

Họa sĩ ở Thảo Đồn chính là người đã từng được tổng thống Tưởng Kinh Quốc triệu kiến, ông từng tặng tôi hai bức tranh, thư pháp của ông cũng rất nổi tiếng.

Thầy xem tướng nổi tiếng Thiết Bút Tử - Thiết tiên sinh, cũng vội vã đến thăm ông, nhưng khi đó, người họa sĩ đã hoàn toàn tỉnh táo. Tốt rồi. Họa sĩ hồi tưởng lại sự việc thì chẳng hiểu chuyện gì đã xảy ra, còn tôi cũng chẳng nói gì cả.

🌟

Ô-ma-lặc-già cải trang thành diện mạo của tôi, nhập vào kê đồng hoặc giáng linh xuống kê bút, không phải chỉ xảy ra có một lần. Theo tôi được biết, nó giả danh Lư Thắng Ngạn nhập vào kê đồng hoặc người khác để trộm tinh khí của người tổng cộng đã hơn 30 lần, còn những lần tôi không biết thì không rõ bao nhiêu lần nữa.

Bởi vì danh tiếng của tôi lớn như đại thụ, ma giới trên trời dưới đất đều biết. Những con ma này mạo danh tôi thực sự khiến cho tôi không thể nào phòng ngừa hết được. Ngoài cảm thán ra, tôi cần thức tỉnh người tu đạo chú ý, đừng để bị lừa.

Kì thực đều có thiên lý pháp lý tồn tại cả, làm sao có thể giả ngu giả điếc, tốt thì là tiên đạo, xấu thì là ma đạo, khó mà thoát được sự khảo nghiệm của thời gian.

Trong cõi vô hình, thiện ác đều có báo ứng. Cần phải phân biệt được thật giả, cần chúng sinh dùng tâm để phân biệt. Linh nhập vào thân để bói toán, là thần tiên thật thì quá hiếm, còn giả thì đặc biệt nhiều.


### 11. Ma tướng trong thiền định


Rất nhiều người trong lúc tu pháp, có lúc trong khi thiền định hoặc trong giấc mơ buổi đêm sẽ hiện ra rất nhiều hình tướng. Tôi có một học trò, mỗi lần anh ngồi thiền, trước mắt lại xuất hiện một con quỷ một sừng, tóc đỏ, mắt vàng lồi ra ngoài, phẫn nộ nhìn anh trừng trừng, khiến anh sợ toát mồ hôi, có một lần còn suýt chút nữa thì ngã từ trên ghế xuống đất.

Anh ta sợ tới mức toàn thân run rẩy tới tìm tôi. Tôi nói với anh, nhìn thấy bất kì hình tướng gì, bất kể là tướng thiện hay tướng ác đều không cần phải sợ hãi, tiếp tục ngồi xuống trì chú, những huyễn tướng này chắc chắn sẽ biến mất. Nhưng học trò này của tôi lá gan rất bé, hễ nhìn thấy mặt quỷ hung ác là hết lần này tới lần khác rụt lại không dám tiếp tục nữa.

Cuối cùng, tôi nói với anh rằng, anh hãy chuẩn bị một cây bút lông, chấm đẫm mực đen, nắm chặt cây bút lông ngồi thiền, hễ thấy mặt quỷ hiện lên thì vẽ một cái lên mặt nó để xem xem nó là cái thứ gì. Anh ấy làm theo như vậy, kết quả là tay phải của anh cầm bút lông, khi vẽ một cái thì không ngờ lại vẽ lên tay trái của chính mình, thế là trong lòng bàn tay trái có chữ XX to đùng.

🌟

Vì việc này mà tôi đã thỉnh giáo Phật Bồ Tát. Phật Bồ Tát trả lời rằng: "Việc này là do kiếp trước, tay trái của người này tích lũy nhiều nghiệp sát. Kiếp trước anh ta bị què tay trái, vốn là một đồ tể. Nhưng trong lòng vẫn muốn hướng Phật, có quy y pháp sư, cổ vũ Phật giáo bằng việc xây chùa, ấn tống kinh sách. Do vậy kiếp này anh ta được tiếp cận thiện tri thức, học tập đạo công thiền định, nhưng tay trái tạo sát nghiệp vẫn chưa hết, do vậy mới có mặt quỷ hiện lên để dọa và ngăn trở đạo tâm của anh ta. Đây cũng là oan nghiệp đeo bám. Nếu công phu trì chú đủ lâu thì oan nghiệp này sẽ tiêu tan, mặt quỷ sẽ tự bỏ đi."

Tôi kể lại với anh chỉ thị của Phật Bồ Tát, anh đột ngột tỉnh ngộ. Anh nói: "Chẳng trách không chỉ nhìn thấy mặt quỷ mà đồng thời cũng ngửi thấy mùi máu tanh nữa, mỗi lần trước khi nhìn thấy mặt quỷ thì đầu tiên sẽ nhìn thấy một bàn tay có dính vết máu mờ mờ, sau đó bàn tay này mới hóa thành mặt quỷ." Sau khi anh đã lĩnh ngộ được điều này, từ đó anh không còn sợ nữa, lại càng chăm chỉ trì chú hơn, công phu suốt một năm trời thì mặt quỷ kia cũng biến mất không thấy đâu nữa.

🌟

Trường hợp khi thiền định nhìn thấy các hình tướng là cực kì nhiều. Khi tôi mới học ngồi thiền, các hình tướng tôi nhìn thấy càng nhiều. Mẹ tôi cũng học ngồi thiền, mỗi lần đều nhìn thấy thần khẩu (ý bảo bà hãy trì chú nhiều hơn). Người trì trú tinh tấn trong số các đệ tử thì ai ai cũng đều thấy.

Nếu xuất hiện hung tướng thì nhìn chung là do nhiễm nghiệp ma mà sinh ra, nhưng đừng sinh tâm nghi hoặc, cũng không cần phải ngạc nhiên, nghiệp ma trước mắt sẽ tự động tiêu trừ, hãy hoàn toàn lờ đi mà nỗ lực tinh tấn, thời gian qua đi các hung tướng này có thể sẽ không còn gặp nữa.

Có người hỏi tôi, tập trung tinh thần vào việc niệm tụng, chăm chỉ cổ vũ thân tâm, không để cho mình lười biếng, vậy sao lại xuất hiện hung tướng? Tôi trả lời rằng, mỗi người thiền định, khi tiến gần đến thành tựu, chắc chắn sẽ có đủ loại ma chướng xuất hiện, chúng ta cần giữ định tâm không sợ hãi, cũng đừng nghi ngờ, đừng chấp vào tướng đó, dù có thấy cũng như không thấy, đừng để bị quấy nhiễu, tự nhiên ma tướng sẽ rời đi.

🌟

Trong thiền định cũng sẽ có thiện tướng xuất hiện, ví dụ như nhìn thấy Phật Bồ Tát trang nghiêm hiện ra kim quang, nhìn thấy các vị phi thiên tiên chúng của cõi trời, nhìn thấy phong cảnh diệu kì của Tây phương cực lạc thế giới, nhìn thấy thiên nữ rắc hoa, nghe thấy diệu pháp âm của Phật Bồ Tát, thậm chí nhìn thấy nhân quả ba kiếp của bản thân.

Cũng có người cảm thấy thân thể chính mình biến thành to cao lồng lộng, như một ngọn núi lớn đỉnh vươn tới tận trời. Hoặc thấy mình đến núi tiên, ăn các loại hoa quả thơm ngon, hoặc cảm thấy thân thể mình có thể bay qua biển, tiến nhập vào tiên cung nhiều lầu, hoặc ngồi trên đài hoa sen, khắp nơi đều là hoa sen. Hoặc nhìn thấy các loại ánh sáng màu sắc, hít vào đủ loại diệu quang. Ngoài ra có người tự cảm thấy răng rơi ra và tái sinh, tóc bạc biến thành tóc đen, thân thể sạch sẽ, trong suốt như ánh sáng. Các hiện tượng này đều là thiện tướng, cho thấy rằng các tội chướng từ vô thủy của bạn đã tiêu diệt hết rồi.

🌟

Thiền định có hung tướng là do nghiệp ma vẫn chưa diệt trừ hết. Từ hung tướng có thể tu đến khi có thiện tướng, nếu thiện tướng xuất hiện thì cho thấy tội chướng từ vô thủy đã hoàn toàn tiêu trừ. Nhưng cũng phải xem thiện tướng là hư huyễn, đừng tham luyến bám chấp, không thể vì để được thấy những thiện tướng này mà đi ngồi yên thiền định.

Cần biết rằng bất kể là tướng thiện hay tướng hung thì đều là do nghiệp duyên hóa hiện lên, đừng bám chấp vào nó, đừng khoe khoang, đừng chọn hay bỏ thì tự nhiên sẽ có cảnh giới cao hơn sản sinh ra.

🌟

Có một số pháp sư tu hành không nắm được những điều chính yếu, cả đời tu hành, nhưng bởi chưa trải qua việc "nghiệm thành hành tướng", chẳng bao giờ nhìn thấy cái gì cả, thế là hễ nghe có người nói nhìn thấy cái gì đó, là liền hét lớn "tẩu hỏa nhập ma" rồi, đây cũng là một kiểu phản ứng quái dị, là do bị thiên ma quấy nhiễu, nói tóm lại là cứ làm loạn cả lên.

Kì thực, không nhìn thấy cái gì cả là thể hiện việc tu hành của pháp sư đó vẫn chưa tiến nhập vào cảnh giới "nghiệm thành hành tướng". Có thể pháp sư đó cho rằng họ tu "vô tướng pháp", cho nên mọi hình tướng đều là yêu ma quái dị, câu nói này cũng không sai. Nhưng vô tướng pháp là quả của vô thượng bồ đề, là thành tựu cửu phẩm cực kì khó đạt được. Ngày nay, tôi từ hữu tướng tu đến khi vô tướng, tôi cho rằng hữu tướng cũng là pháp, xin các pháp sư đừng phỉ báng hữu tướng mới là phải đó.

🌟

Tác giả khi mới học chú ngữ, Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh nói, chú lực có lớn có nhỏ, các hình tướng (cảnh giới) hiện ra của nó không giống nhau, cần ta lĩnh hội được toàn bộ mới có thể độ được chúng sinh hạ phẩm, trung phẩm, thượng phẩm. Do vậy những gì mà tôi đã tu học có cả thần chú của quỷ thần, cũng có cả chú ngữ yết ma, có chú của chư Thiên, có chú của Kim Cang Thần, thậm chí là chú của chư Bồ Tát, chú ngữ của chư Phật.

Để độ cho chúng sinh thượng phẩm thì dùng chú của chư Phật Bồ Tát, độ chúng sinh trung phẩm thì dùng chú Kim Cang Thần, chú chư Thiên, độ chúng sinh hạ phẩm thì dùng chú của quỷ thần, để cho tất cả đều được thành tựu mà không bị thiếu sót mất ai.

🌟

Thầy của tôi, Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh là vị tổ sư vô hình vô tướng, nhưng vì hiển hóa mà đã hóa thân thành chín đỉnh núi, được phân chia bởi ba đường ánh sáng màu xanh lam, tôi đã vẽ lại hình ảnh này và được in trong cuốn "Linh Tiên Phi Hồng Pháp". Đây là một trong những hình tướng mà trong quá khứ tôi đã thu thập không tiết lộ ra. Thành tựu này cũng không phải là hạng tầm thường.


### 12. Thần quỷ tóc bạc xin quy y


Trong số rất nhiều học trò của tôi, có một học trò vô hình. Vì là không có hình tướng nên là phi nhân, và cũng là phi tiên. Bởi vì không phải là người không phải là tiên, nên tự nhiên nếu không phải quỷ thì là ma. Trong việc này cũng có căn nguyên, cũng xem như là duyên phận.

Vốn là trong một pháp hội siêu độ, tôi nhìn thấy phía đông nam có một cụ già tóc bạc bay tới. Tư thế bay lượn của cụ già tóc bạc này rất đẹp đẽ, không lù đù lờ đờ giống như loài ma.

Lúc đó trong lòng tôi thầm thốt lên: "Chà! Thực sự quá thần kì, quá đẹp đẽ." Cụ già tóc bạc, trong tay cầm một một thanh kiếm thất tinh, bay tới gần, lúc này tôi bắt đầu mới thấy cụ rất đáng sợ, mặt tái mét, hai răng nanh trắng ệch thò ra ngoài.

Cụ dừng lại trên không trung một lát, nhìn tôi trong pháp hội đang làm thủ ấn, sau đó mới từ từ bay xuống. Lúc này các loài ma quỷ nhìn thấy cụ hung ác liền lũ lượt trốn hết để tránh đường.

Tôi hỏi cụ già tóc bạc:
"Cụ là thần gì? Xin tiếp nhận cúng dường của chúng tôi."
Cụ già tóc bạc nói:
"Liên Sinh, tôi là thần quỷ tóc bạc, khi còn tại thế, tôi tu Thanh sĩ Mật tông, cũng chính là phái Hoa giáo như mọi người vẫn gọi. Tôi quy y Tát Già Ba đại sư, tu pháp Đại viên thắng huệ, nhưng vì vội vã nóng nảy nên tôi đã bỏ cuộc nửa đường. Sau khi qua đời được phong là thần tác chủ, tôi đã hiện về báo mộng cho một thần đàn, thần đàn đã cho điêu khắc tượng kim thân của tôi để thờ cúng, nhận hương hỏa của nhân gian."

"Chà! Không ngờ hóa ra lại là cao nhân tiền bối." - Tôi nói.
Cụ già tóc bạc tiếp tục nói:
"Về sau, tôi gặp một người tu đạo, người này nói rằng tôi không có thần cách, nên đã niệm chú cấm lên tượng kim thân của tôi, rồi tùy tiện quẳng tôi cho một tiệm điêu khắc, tôi không thể nhận cúng dường của nhân gian được nữa."
"Còn bây giờ thì sao?"
"Tôi đến đây để cầu xin pháp sư tìm lại tượng kim thân của tôi, giải chú cấm, tôi nguyện quy y Liên Sinh Thượng sư."
Nói rồi cụ liền quỳ xuống, hướng về tôi lạy một lạy, tôi vội vã đỡ cụ đứng dậy và liên tục nói:
"Không thể nhận cái lạy này, không thể nhận. Tát Già Ba đại sư là giáo chủ của Mật tông Hoa giáo, Liên Sinh tôi vô công vô hành, không dám nhận lạy, tôi đồng ý giúp cụ là được rồi."

🌟

Sau pháp hội, tôi lưu ý việc này trong lòng, tìm một buổi tối rảnh rỗi để đi đến tiệm điêu khắc kia. Tôi ở khu vực cửa kính trưng bày của tiệm điêu khắc tìm kiếm hồi lâu, vẫn không thấy kim thân của thần ma tóc bạc. Ở đó có Tế Công, Huyền Thiên Thượng Đế, Quan Công, Quan Thế Âm Bồ Tát, Thiên Thượng Thánh Mẫu, Na Tra Tam Thái Tử và các tượng thần, Phật phổ biến thông thường. Tôi hỏi thợ điêu khắc của cửa tiệm, họ lắc lắc đầu nói "không có". Tôi tìm đến chủ nhân của tiệm điêu khắc, ngay cả người chủ của cửa tiệm cũng không biết tượng thần nào tóc bạc trắng, cầm kiếm thất tinh. Lần này tôi rơi vào trong màn sương vạn dặm rồi.

Đúng vào lúc tôi chưa nghĩ ra cách nào thì vừa hay vợ của ông chủ tiệm trở về nhà, ông chủ hỏi bà nhà sự việc này. Bà ấy nghĩ một lúc rồi nói: "A! Có, hai năm trước, có một đạo giả cầm một bức tượng thần đến đây, nói rằng để chúng tôi tùy ý xử lý. Đúng là tượng đó có hình dáng như vậy, tôi tiện tay lấy giấy báo cũ gói lại, rồi cất vào nhà kho ở tầng trên.

Thế là tôi cùng với ông chủ đi vào nhà kho, tìm kiếm khoảng hơn mười phút mới tìm thấy trong một đống lớn tượng thần thiếu chân thiếu tay, quả nhiên đúng là một vị tóc bạc trắng như tơ, tượng thần có tướng mạo hung ác, mặt xanh răng nanh dữ tợn, tay phải cầm một thanh kiếm thất tinh. Thế là tôi trả giá để mua bức tượng, thỉnh về nhà, khai quang điểm nhãn lại từ đầu cho tượng, giải trừ chú cấm, trong lòng không giấu được niềm vui.

🌟

Đêm đó, thần quỷ tóc bạc tới gặp tôi, và một lần nữa tiếp nhận quy y chính thức. Thầy giáo tôi đây lại phải hỏi ngược lại lại học trò:
"Thế nào gọi là quỷ?"
"Tu sai pháp, chưa chứng ngộ, hành vi dị thường thì được gọi là quỷ."
"Thế nào gọi là thần?"
"Chỉ là thiện ma mà thôi."
"Thế nào gọi là ma?"
"Người chết rồi thì đều là ma."

Theo cách giải thích của thần quỷ tóc bạc thì các tượng thần thông thường nếu bị niệm chú cấm thì sẽ không thể nhận cúng dường của nhân gian được nữa, trong một năm chỉ có được một ngày là tự do bay lượn.

Từ lâu cụ đã biết đến lai lịch và quá khứ của tôi, thế là cụ liền chọn một ngày có pháp hội để đến thỉnh cầu tôi giải trừ chú cấm. Năm đầu tiên, cụ đã tìm đến một đại pháp sư khá nổi tiếng, cũng vào một pháp hội lớn, hy vọng đại pháp sư giải được giới hạn của chú cấm. Nhưng đại pháp sư kia đầu đội mũ Ngũ Phật, ngồi trên pháp tọa, thực sự lại chỉ là một pháp sư danh tiếng rởm.

Thần quỷ tóc bạc đến đó thì đại pháp sư kia chẳng nghe chẳng thấy gì, lại còn tự diễn như thật, tiếp tục lừa bịp thế nhân. Pháp sư đó lại còn đi diễn giảng khắp nơi, danh tiếng vang khắp cả nước nữa. Làm trò cả nửa ngày trời, hóa ra vẫn chỉ là một tục tăng hữu lậu đái dầm ban đêm mà thôi.

Thần quỷ tóc bạc đã chờ đợi một năm vô ích nên vô cùng tức giận. Đến năm thứ hai thì mới tìm được tôi.

🌟

Tôi đáp ứng yêu cầu của thần quỷ tóc bạc, tìm một ngôi chùa quen biết, kể với trụ trì về lai lịch của thần này, yêu cầu trụ trì thờ cúng ở một nơi bí mật tách biệt, không để cho tăng ni nhìn thấy hung tướng của thần này, tránh dẫn tới những thị phi phiền toái. Tôi vốn muốn thờ cúng thần này, nhưng thần nói không được, trên đời làm gì có lý nào sư phụ lại thờ cúng học trò.

Thần nói:
"Liên Sinh, tôi nói thật với ngài, tôi là quỷ."
Tôi nói:
"Không hiểu."
"Năm xưa, tôi tu Đại viên thắng huệ pháp, quá vội vã sốt ruột, nên tôi đã dùng máu của mình để cúng Phật. Bởi vì tôi cắt quá rộng nên máu chảy không dừng mà chết. Cuối cùng trong lòng tôi cảm thấy tức tối, tôi không làm việc thiện nữa mà chuyên uống máu bẩn. Giờ đây tôi sống nương nhờ chùa Phật, theo Địa Tạng Vương Bồ Tát, mong được Bồ Tát chỉ dẫn, thu về tâm ma, chuyển ma thành Phật, như vậy có thể chứng đắc."

Tôi chúc phúc cho thần quỷ sớm có ngày đắc chứng.


### 13. Thiên ma tâm pháp


Khi tác giả còn ở trong nước [Đài Loan], bởi vì là người tạo ra "linh tiên tâm pháp", là tông phái tu hành bắt đầu từ khởi linh để có được cảm ứng. Vì thế tôi bị rất nhiều các vị trưởng tông phái khác hiểu nhầm tôi là ngoại đạo tà môn, có một số vị trưởng tông phái còn nói tôi là "thiên ma chuyển kiếp", cố ý tự tạo lập tông phái, làm hỗn loạn đạo đức Phật giáo. Nói Lư Mỗ tôi là "hỗn thế đại thiên ma vương", người nào theo tôi học linh tiên tâm pháp sẽ biến thành ma cháu ma con tẩu hỏa nhập ma hết.

Đối với những lời bình luận phỉ báng này của các trưởng tông phái, tôi rất hiếm khi đi giải thích, cũng chẳng buồn đi giải thích, chỉ là tôi đi đường tôi, tôi qua cầu tôi, việc tu hành vốn có trong tâm tôi, chẳng có liên quan gì đến người khác. Tôi đã thực sự có những gì tôi chứng đắc được. Ngược lại các trưởng tông phái, những ai đã đắc chứng thì tự nhiên sẽ không có lời nào để nói, còn những kẻ nửa đêm lén tè bậy thì biểu hiện bên ngoài trang nghiêm nhưng trong lòng thì nhỏ nhen, thử nghĩ xem, thực sự khiến người ta cảm thấy kinh tởm cực kì. Kể cả tôi có là "hỗn thế đại thiên ma vương" thì tôi cũng vẫn quang minh chính đại hơn những người giả Phật giả đạo giả bộ bên ngoài là chính phái. Tôi không sợ nhìn thấy kim cang bảo kiếm dựa trời mà run, còn thực sự nên xử trảm những kẻ giả Phật đạo "mặt thiện tâm ác" này. Rồi sẽ tới lúc thời gian có thể nghiệm chứng từng người một.

🌟

Theo kinh nghiệm của tôi, trong cùng bất kì một tông phái, một pháp môn, một pháp nào cũng đều có người thành Phật, có người lại thành ma. Hiển giáo, Mật giáo, Đạo môn, tất cả đều giống nhau, tôn giáo nào cũng có cảnh giới tột cùng của nó, cái nào cũng có cửa phụ, cái nào cũng có hoàn hảo khiếm khuyết, cái nào cũng có tà có chính.

Lấy ví dụ Mật tông, Tạng mật phân thành bốn giáo phái:

- Thứ nhất là Hồng giáo, còn được gọi là dòng Cổ mật, tổ sư là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, cảnh giới cao nhất của phái này là pháp Đại Viên Mãn.

- Thứ hai là Bạch giáo, còn được gọi là Kinh tông, tổ sư là đại sư Marpa, cảnh giới cao nhất của phái này là pháp Đại Thủ Ấn.

- Thứ ba là Hoàng giáo, còn gọi là Tân mật, tổ sư là đại sư Tsongkhapa (vốn là một tăng nhân của phái Hồng giáo), cảnh giới cao nhất là pháp Đại Uy Đức Kim Cang.

- Thứ tư là Hoa giáo, còn gọi là Thanh sĩ Mật tông, tổ sư là đại sư Tát Già Ba, cảnh giới cao nhất là pháp Đại Viên Thắng Huệ.

Trong chương trước, tác giả đã ghi lại chuyện về thần quỷ tóc bạc chính là người đã tu hành pháp Đại Viên Thắng Huệ của phái Hoa giáo, vẫn chưa thành tựu mà lại thành ma đạo. Ngoài ra Tây Tạng còn có Bổn giáo (Đạo Bon), chính là một tên gọi khác của Hắc giáo, làm tà pháp, chuyên hại người, do vậy không được xếp vào trong số các tông phái chính đáng. Nay có người tên là Lâm Vân, giả xưng là truyền nhân duy nhất, đã gây ra nhiều vấn đề lung tung lộn xộn, thậm chí còn làm lớn tới mức lập ra phong thủy Mật tông, trở thành một hình tượng không đúng đắn. Tác giả đã từng chỉ ra cái đúng, mong ông ta sớm biết sai mà hối cải, tránh phải chịu khổ của địa ngục vô gián.

🌟

Dựa theo cách nói của thập pháp giới thì Phật giới là quang minh trong suốt, người mà tâm không nhiễm dù chỉ một sợ tơ mỏng thì chính là đạt đến cảnh giới cao nhất. Còn đối với mười thánh vị Bồ Tát, thì tâm chỉ còn một màn mây bụi cực kì nhỏ, cũng xem như là những hạt cát bụi vô minh, kiến hoặc vẫn chưa dứt. Nếu kiến hoặc và tư hoặc vẫn chưa hoàn toàn đoạn trừ thì là Bồ Tát tam hiền vị.

Nếu nhìn chung tâm lượng không thể hoàn toàn toàn vẹn viên mãn thì cũng nhập vào Hữu dư niết bàn, thì được gọi là Thanh Văn, Duyên Giác. Thanh Văn còn được gọi là Tự Liễu La Hán, tự mình thoát được sinh tử, nhưng không độ chúng sinh, tâm lượng quá nhỏ hẹp, thì không có cách nào để toàn vẹn viên mãn được. Ở trên chính là cảnh giới của Tứ thánh, là thành tựu chân tâm.

🌟

Còn như chuyên tu thiện nghiệp, công đức thành tựu nhờ quang minh thiện nghiệp thì chính là cảnh giới vui vẻ của chư Thiên. Còn cảnh giới của atula là ánh sáng của thiện nghiệp rất mãnh liệt, nhưng tâm tham vẫn chưa diệt trừ, nên tranh đấu không ngừng, tạo thành cảnh giới "có phúc mà không có đức".

Thế giới của con người thì thiện ác không khác nhau nhiều lắm, tỉ lệ tương đương, do vậy cõi người là nửa thiện nửa ác, là cảnh giới thị phi phức tạp. Mặc dù người tốt không ít, nhưng các thế lực ác thì cũng rất lớn mạnh.

Đạo súc sinh thì tham niệm mạnh nhất mà tạo thành cảnh giới này, do vậy mà trọng dục thiểu trí.
Đạo ngạ quỷ thì tâm sân hận rất nặng, cũng lại là cảnh giới không có thiện nghiệp.
Còn đối với đạo địa ngục thì hoàn toàn không có chút thiện nghiệp nào, quang minh mất sạch, làm toàn ác nghiệp, là cảnh giới phải chịu khổ chịu nạn. Sáu cảnh giới tầm thường này là do vọng tâm tạo nên.

🌟

Tuy nhiên, cảnh giới thiên ma của Cứu cánh thiên ma tâm pháp nằm ở đâu? Thiên ma rốt cục như thế nào thì mới biến thành thiên ma? Kì thực thiên ma cũng là cư sĩ, pháp sư, đại đức tu hành các pháp. Cảnh giới của họ mặc dù vẫn chưa thể so sánh với Phật Bồ Tát, nhưng tôi gọi cảnh giới của họ là "Thiên Phật", "Thứ Bồ Tát", "Thiên Ma". Cảnh giới của Thiên Ma gần như cao tương đương với Phật, Bồ Tát, chư Thiên, thành tựu của họ lại càng không phải là tầm thường.

Cơ Đốc Giáo xếp hạng quỷ thần là: Jehovah - Jesus - ma quỷ. Vị trí của ma quỷ chỉ xếp sau Jesus, tương đương với hàng thần thánh, thậm chí là đứng đầu thần thánh nữa.

Tôi sắp xếp Thiên Ma như sau:
Thiên Phật Thiên Ma --- thành tựu Phật pháp, nhưng vẫn còn một ít bám chấp.
[ ND: Chữ "Thiên" trong "Thiên Phật" ở đây là sai, lệch, trong ý nghĩa của những từ như thiên kiến, thiên vị…, không phải ý nghĩa "trời" ]

Thứ Bồ Tát Thiên Ma --- thành tựu đạo Bồ Tát, nhưng còn một ít tâm phân biệt.
[ ND: Chữ "Thứ" trong "Thứ Bồ Tát" ở đây có nghĩa là phụ, kém hơn, trong ý nghĩa của những từ như thứ yếu, thứ phẩm, thứ cấp… ]

Ma Thiên Thiên Ma --- thành tựu chư Thiên, nhưng còn một ít tâm bất bình đẳng.
Tôi thực lòng thực sự nói để chúng sinh trong thiên hạ được biết, tu hành của Thiên Phật Thiên Ma không khác gì so với Phật, tu hành của Thứ Bồ Tát Thiên Ma cũng không thua kém gì Bồ Tát. Thiên ma của Ma Thiên cũng thành tựu mọi niềm vui của chư Thiên.

🌟

Sự khác biệt giữa Phật và Ma giống như một tờ giấy trắng. Bất kì cảnh giới nào cũng đều có ma tồn tại. Do vậy tâm pháp của ma cũng không hề thấp kém hơn, ngược lại mỗi loại lại tự thành tựu một cảnh giới hoàn toàn mới. Ma cũng là một trong những kiểu tu hành thành tựu giả, hoàn toàn không thể coi thường. Thiên Ma muốn biến thành Phật thì chỉ cần buông bỏ ba loại tâm bám chấp, phân biệt, bất bình đẳng là có thể một cách tự nhiên chuyển từ "thiên" thành "chính". Nhưng việc tu thành tựu Thiên Ma cũng có nhân duyên của nó tồn tại, việc buông bỏ ba tâm kia xem ra thì dễ, thực tế cũng không đơn giản.

Có người cho rằng, Thiên Ma thì chắc chắn là chuyên môn làm việc xấu, kì thực đây là sai lầm chết người. Thiên Ma chỉ là tu hành vẫn chưa xong mà thôi, thậm chí có rất nhiều Thiên Ma cũng khuyến thiện. Hôm nay, tôi đã viết ra toàn bộ bộ mặt thật của Thiên Ma, không còn giữ trong lòng nữa, e là sẽ khiến cho các vị trưởng tông phái sửng sốt kinh ngạc, rồi lại đổ lỗi rằng đây là do Ma nói rồi.


### 14. Chiếc mũ của Thành Hoàng tôn thần


Người thân, bạn bè, bạn đọc của tôi ở trong nước đều biết rằng, Lư Thắng Ngạn tinh thông Kinh Dịch, không chỉ giỏi thực hành khoa tâm linh Đại Lục Nhâm [ND: lục nhâm là phép bói toán tính theo ngũ hành], mà buổi tối còn quan sát hiện tượng các vì sao mà biết được việc đại sự trong thiên hạ, nhìn núi sông địa lý là biết phong thủy hưng vượng, ngũ hành cửu tinh đều nắm vững trong đầu, không những có thể giải trừ cát hung họa phúc mà còn có thể cứu người trong những lúc nguy cấp khốn cùng, hiển hiện Tiên pháp, độ chúng sinh vô số.

Nhưng cũng có người cho rằng tôi bốc phét, được thôi, "trâu không phải để thổi, đầu xe lửa không phải dùng để đẩy" [ND: ý của câu nói này là giờ thì tôi nói thật đây này, vì trong tiếng Trung, từ "thổi trâu" là một từ tiếng lóng, có nghĩa là khoác lác, bốc phét], giờ thì hãy nghe tôi thuật lại chi tiết một câu chuyện có thực như sau đây.

🌟

Năm đó, tôi còn ngụ tại tòa nhà chung cư Nghi Hân ở Đài Trung, có một người từ Gia Nghĩa đến xin tôi đoán vận mệnh. Người này mở công ty xây dựng, họ Vương. Ông cùng vợ đến nhà của tôi.

Tôi nói:
"Tôi không đoán vận mệnh của ông được."
"Vì sao? Vận mệnh của tôi không bói chuẩn được sao?"
"Không phải không chuẩn, mà là vì chuẩn quá, do vậy tôi không bói."
"Ông nói thế là có ý gì, tôi đi rất xa từ tận Gia Nghĩa tới đây, từ sáng sớm đã lên đường, hơn nữa chúng tôi đã phải báo danh hai tháng trời mới đến lượt. Ông không bói, chẳng phải là cố ý gây khó dễ cho người ta sao." - Người khách có đôi chút tức giận.
"Nói vậy thì tôi chỉ còn cách nói thật, xin đừng tức giận."
"Hỏi hung không hỏi cát, xin cứ nói thật đừng ngại, tôi không cấm kị gì cả."

Tôi viết lên giấy một bài kệ rồi đưa cho ông ta đọc.
"Ngày nạn ma đến nhà
Bát vỡ, chủ thương vong
Không quá ba ngày sau
Người thân hết đau xót."
Ông đọc xong, thấy mông lung không hiểu ý nghĩa trong bài thơ, ông hỏi:
"Đây là tai nạn gì?"
"Tôi không dám giấu ông, sau ba ngày nữa ông sẽ chết."

Tôi nói xong, vợ chồng họ mặt mày biến sắc, còn những người xung quanh thì kinh hãi. Trước nay người xem bói chỉ đoán xem người ta lúc nào gì sẽ giàu, khi nào sẽ bị mất tiền, vợ chồng, gia đình có viên mãn không, hôn nhân tốt hay không tốt, con cái có mấy người, lúc nào thì quan vận hanh thông, sức khỏe thế nào ra sao, về già vận tốt hay không tốt. Chẳng có ai giống như tôi, vừa mở mồm ra là bảo người ta ba ngày sau sẽ chết, hơn nữa lại còn nói chắc như đinh đóng cột là chắc chắn sẽ chết, lại còn đưa ra hạn định ngày giờ là ba ngày, không hề có chút vòng vo nào.

🌟

Ông Vương nói với những người xung quanh:
"Chết mẹ nó chứ, thân thể tôi cường tráng thế này, ba ngày sau sẽ chết ư, tôi không tin. Lư Thắng Ngạn cái quái gì, tôi thấy ông ta đúng là đồ điên."

Tôi mặc kệ ông ta. Tôi nói với vợ ông rằng, ba ngày sau, nếu thực sự có nguy cấp, xin hãy gọi điện cho tôi, tôi sẽ dạy cho mọi người cách giải cứu, nếu không có pháp giải của tôi thì chắc chắn sẽ chết. Ông Vương lôi vợ của ông bỏ đi, ngay cả chào tạm biệt cũng không, chỉ nói một câu rằng: "Một tháng nữa tôi chắc chắn sẽ tới tìm ông."

Vì sao tôi lại phán đoán rằng ba ngày sau ông Vương sẽ chết, bởi vì trên người ông ấy đã bị quỷ ám vào, con quỷ đó nằm ở nơi cổ, qua một ngày nữa sẽ xuống đến tim, qua thêm một ngày nữa sẽ xuống đến bụng. Tôi thông linh với con quỷ này, quỷ nói: "Đây là nghiệp chướng kiếp trước, xin đừng cứu ông ta, ba ngày sau ông ta sẽ chết." Ma quỷ đến hại người cũng vì nghiệp chướng nên mới làm như vậy, chứ không hề tùy tiện hại người.

🌟

Đúng vào buổi sáng ngày thứ ba, trong lúc ăn sáng, con gái của ông Vương không cẩn thận đã làm rơi vỡ một cái bát. Ông Vương nổi giận đùng đùng, lôi con gái ra đánh cho một trận gần chết.

Đến buổi tối hôm đó, ông Vương hẹn một người bạn đến nhà nhậu nhẹt, chuẩn bị chuyển qua giờ Tí [ND: 11 giờ tối đến 1 giờ sáng hôm sau] thì cũng là sắp sang ngày thứ tư, do vậy phán đoán của tôi có phần sai rồi.

Vừa uống rượu được một lúc thì ông Vương bị đau bụng, cơn đau này rất dữ dội, khiến ông hét lên mấy tiếng, rồi đột nhiên ngã lăn ra đất, sắc mặt trắng bệch, đồng tử mắt không còn sáng, môi miệng thâm tím, móng tay biến thành màu xanh.

Bạn ông lập tức gọi bác sĩ tới, bác sĩ lắc lắc đầu, không tìm ra được nguyên nhân, lúc đó nhịp tim ông Vương cũng đã rất yếu, đưa tới bệnh viện cũng không tỉnh lại, đã phải dùng tới máy sốc tim nhưng ông vẫn bất tỉnh. Đường đường là một người rất cường tráng, nhưng vừa đau bụng một cái thì tứ chi cũng bất động luôn.

Bà Vương thấy tình hình không ổn, sự thể nguy cấp quá rồi nên đã vội vã gọi điện cho tôi.

Tôi nói: "Đừng hỏi nguyên nhân, bà mau tới miếu Thành Hoàng ở Gia Nghĩa, đưa ít tiền cho người quản lý, hướng đến Thành Hoàng Tôn Thần nói Lư Thắng Ngạn muốn mượn mũ của ngài để dùng một lát, rồi xin thỉnh mũ của Thành Hoàng xuống, sau đó đưa cho chồng bà đội ba lần, làm như vậy sẽ được cứu."

Bà Vương nghe xong lời dặn dò của tôi thì lập tức làm theo, khiến cho người quản lý miếu lẫn bác sĩ đều chẳng hiểu chuyện gì. Thế rồi sau khi đội mũ lên ba lần thì ông Vương liền đánh rắm mấy phát, thực sự khiến cho con quỷ không sao chịu nổi, từ thân ông thoát ra ngoài. Sắc mặt ông Vương chuyển thành màu vàng, nhịp tim từ từ bình thường, dần dần ông đã tỉnh lại. Cuối cùng thì đã thoát chết, ông đã được cứu rồi.

🌟

Một tháng sau, vợ chồng ông Vương lại đến Đài Trung, lần này không phải đến để lý sự, mà là đến để cảm tạ.

Mũ của Thành Hoàng Tôn Thần có thể trừ ma, đây đúng là chuyện không ai có thể tưởng tượng được! Thành Hoàng ở Gia Nghĩa là nghĩa phụ của tác giả. Khi còn nhỏ tôi khó nuôi nên đã được gửi đi làm con nuôi của Thành Hoàng. Còn Thành Hoàng ở Đài Trung là bạn tốt của tác giả, tôi có việc gì cầu đến ngài thì sẽ luôn được đáp ứng.

Thành Hoàng cũng có phân chia lớn nhỏ, Thành Hoàng của một đất nước là vị cao nhất, tiếp theo là thành Hoàng ở các thành phố, tiếp theo nữa là Thành Hoàng ở các tỉnh, cuối cùng là Thành Hoàng ở các huyện. Thành Hoàng Tôn Thần là một trong các vị của Thần Đạo, quản lý thổ địa bốn phương, cũng là chân Thần của linh giới, hưởng thụ hương hỏa của nhân gian.

Mũ của Thành Hoàng có nhiều linh khí tích tụ, người có bệnh mà đội lên đầu thì ma quỷ tức khắc phải tháo chạy.

Ở đây, tôi muốn đặc biệt giải thích một chút. Độc giả đừng cho rằng mũ của Thành Hoàng Tôn Thần có thể trừ ma, thế là người nào người nấy đều đi thỉnh về, lấy về, trộm về. Nếu không có chỉ thị của pháp sư, không được Thành Hoàng đồng ý, thì sẽ không có tác dụng lớn như vậy được, hoàn toàn không có chuyện mỗi người bệnh đội mũ lên ba lần là liền khỏi bệnh hết, xin mọi người đặc biệt lưu ý.

Tôi biết nếu tôi không đặc biệt giải thích như vậy thì mũ của Thành Hoàng trong cả nước này sẽ đều mất sạch không còn một dấu vết. Còn tôi thì chắc chắn sẽ bị đầu trâu mặt ngựa truy đuổi, còn Thành Hoàng Tôn Thần sẽ mắng tôi là: "Được lợi rồi lại còn bán đứng tôi, không xứng là bạn tốt!"


### 15. Mũ Ngũ Phật phá ma


Đúng lúc tôi viết chương sách "Chiếc mũ của Thành Hoàng Tôn Thần", đột nhiên mũi tôi ngửi thấy một mùi hương thơm nức, trong lòng tôi trào lên một cơn xúc động. Trước mắt tôi xuất hiện hào quang, nhưng tôi chỉ thấy bên dưới một áng mây đỏ có phần chóp màu tím có năm đóa hoa sen đung đưa bay đến. Có bông thì tỏa ra những tia sáng có màu sắc như sương tuyết, có bông thì lấp la lấp lánh như một tấm da cừu được may rất tinh xảo, có bông thì như một viên ngọc châu được gói ghém trong màn mây cát tường mờ ảo. Đúng là chỉ có Tiên, Phật cưỡi mây xuất nhập, phàm trần khó gặp được cảnh tượng này.

🌟

Hóa ra đóa hoa sen hiện ánh sáng trắng chính là Đông Phương Bất Động Phật, còn được gọi là A Súc Phật, tay ngài cầm chày kim cang.

Đóa hoa sen hiện ánh sáng màu vàng là Nam Phương Bảo Sinh Phật, tay cầm chuỗi hạt Mani.
Đóa hoa hiện ánh sáng đỏ là Tây Phương A Di Đà Phật, tay cầm hoa sen màu sắc diệu kì.
Đóa hoa hiện ánh sáng xanh lục là Bắc Phương Bất Không Phật, còn được gọi là Bất Không Thành Tựu Phật, luân thủ tương giao.
Đóa hoa hiện màu xanh lam là Trung Ương Tỳ Lô Giá Na Phật, hóa hiện ra nghìn luân thủ. Ngũ Phật ngồi trên hoa sen, hiện giữa không trung, hào quang vạn tia, thụy khí nghìn sợi.

Tôi vội vã chắp tay cung kính lễ Phật, cầu nguyện thầm trong lòng: "Hôm nay thấy Ngũ Phật cùng hiện lên, cảm thán cho nỗi khổ của thiên đạo tuần hoàn, thời gian thì trôi vụt qua như bay rồi cuối cùng là chết, con người sống trên thế gian này rốt cục nhằm mục đích gì đây? Là vì tranh danh đoạt lợi sao? Vô ích, những gì tranh giành được chỉ như một đụn cát. Là vì để ăn ngon mặc đẹp sao? Sự sung sướng này đâu có vĩnh hằng. Chi bằng tôi niệm Phật tu tâm, thiền định, tĩnh lặng, tập trung khí, học pháp thành tựu để phục ma, viết văn viết sách về thế giới quan vô biên giới. Trên thế gian này, người ta cho rằng tôi là kẻ mê tín ngu si, kì thực họ sao biết được tôi đã cùng trời đất vũ trụ hợp nhất."

🌟

Sau đó Ngũ Phật, mỗi vị đưa ra bốn chữ trong không trung, tôi nhìn được đó là:

1. Bao dung rộng lớn.

1. Liêm chính không tham.

1. Động tĩnh chăm tu.

1. Cứu tai trừ nạn.

1. Loại bỏ oán trách.

Sau khi chữ hiện ra, Ngũ Phật đột nhiên biến mất, tất cả chỉ còn không gian mênh mang, nhưng mùi hương thì vẫn còn vương vất.

🌟

Theo tôi được biết, năm vị Phật này cũng chính là năm vị trên mũ Ngũ Phật mà các pháp sư Phật giáo thường đội trên đầu. Mũ Ngũ Phật thường được đội khi các pháp sư làm pháp, mỗi lần trước khi làm pháp thì sẽ phải trai giới thanh tịnh, phụng thỉnh Ngũ Phật để thu nạp sự thanh tịnh cho mũ Ngũ Phật. Bởi vì Ngũ phương Ngũ Phật có sức mạnh đại uy thần, do vậy mũ Ngũ Phật cũng có sức mạnh hàng phục ma quỷ.

Khi pháp sư đội mũ Ngũ Phật trên đầu thì cũng tượng trưng cho Như Lai của năm phương đều đến trụ trên đỉnh đầu, cho phép pháp sư có thể đại diện cho pháp tướng và pháp lực của Phật, với đầy đủ sự trang nghiêm và uy lực. Lúc này pháp sư làm pháp có thể đem lại lợi ích cho chúng sinh trong thiên hạ, việc hùng biện, diễn giảng, dạy dỗ không còn chướng ngại.

Tôi biết các pháp sư chân tu ngộ đạo, chỉ cần thu hút được sức mạnh của Ngũ Phật vào mũ, thì chiếc mũ Ngũ Phật này cũng giống như chiếc mũ của Thành Hoàng Tôn Thần, có thể hàng phục mọi ma quỷ.

Nhưng nếu là tục tăng giả tu, vẫn chưa ngộ đạo, mà cũng đội mũ Ngũ Phật, thì cũng chỉ như diễn viên hát ca kịch đội mũ mà thôi. Khi biểu diễn các trò ma thuật mới đội lên thì chiếc mũ Ngũ Phật này tự nhiên chẳng có chút công dụng nào. Phụng thỉnh Ngũ Phật không đến, tục tăng làm pháp cũng chỉ như diễn kịch, bản thân họ cũng đã là ma đạo, làm sao có thể trừ ma phá ma. Do vậy muốn phá ma, thỉnh mũ Ngũ Phật, đội lên đầu ba lần, xem xem có linh hay không.

🌟

Cần biết rằng uy thần lực của Ngũ Phật hoàn toàn không phải là nhỏ bé, mỗi vị lại có rất nhiều Bồ Tát quyến thuộc.

Ví dụ bốn phía xung quanh A Súc Phật là Kim Cang Tát Đỏa Bồ Tát, Kim Cang Hỉ Tai Bồ Tát, Kim Cang Vương Bồ Tát, Kim Cang Ái Bồ Tát.

Xung quanh Bảo Sinh Phật là Kim Cang Bảo Bồ Tát, Kim Cang Uy Bồ Tát, Kim Cang Tràng Bồ Tát, Kim Cang Quyến Bồ Tát.

Xung quanh A Di Đà Phật là Kim Cang Pháp Bồ Tát, Kim Cang Kiếm Bồ Tát, Kim Cang Nhân Bồ Tát, Kim Cang Lợi Bồ Tát.

Xung quanh Thành Tựu Phật là Kim Cang Khí Bồ Tát, Kim Cang Ngữ Bồ Tát, Kim Cang Phụng Bồ Tát, Kim Cang Dược Xoa Bồ Tát.

Xung quanh Tỳ Lô Giá Na Phật có Kim Cang Ba La Mật Bồ Tát, Kim Cang Bảo Ba La Mật Bồ Tát, Kim Cang Pháp Ba La Mật Bồ Tát, Kim Cang Yết Ba La Mật Bồ Tát.

Đương nhiên, Ngũ phương Ngũ Phật cùng hai mươi vị Kim Cang Đại Bồ Tát vẫn còn có nhiều hơn nữa các vị đại Bồ Tát khác là quyến thuộc của họ, Tứ Nhiếp Bồ Tát và Bát Cúng Bồ Tát thậm chí có thể biến ra hàng trăm vị, đầy khắp hư không, pháp lực vô biên.

Cho đến nay, tác giả vẫn chưa dám đội mũ Ngũ Phật, chủ yếu là vì tôi vẫn tự tu tại gia, chưa xuất gia. Mặc dù tôi đã chọn được mảnh đất tốt cho việc chân tu, nhưng ngày hoàn thành tịnh xá vẫn chưa tới, do vậy tôi cũng chưa dám đội.

🌟

Linh Tiên tịnh xá này của tôi ở thành phố Redmond bang Washington nước Mỹ, địa lý của Linh Tiên tịnh xá là do tôi tự lựa chọn địa điểm. Phía trước mặt có một hồ lớn, có một ngọn núi nguy nga cao chót vót với những đỉnh núi nhấp nhô, giống như một con rồng thủy tinh sống động. Cây cối trên núi xanh thẫm ken dày, còn dưới chân núi là hồ nước lớn như mặt trăng. Vẻ đẹp của hồ nước này chính là màu xanh thúy biếc. Xung quanh vùng đất này là những vùng cát bảo vệ vô hình. Khi tôi còn chưa xây dựng tịnh xá thì nơi đây chỉ là một bãi cỏ mềm rộng lớn mọc đầy ngọn rau su su, rất nhiều ngựa tới đây ăn cỏ. Mảnh đất này mọc lên ba cây tùng cao lớn và khỏe khoắn, sau này chắc chắn sẽ xuất hiện ba nhân vật hậu thế nổi danh thế giới.

Tôi cho rằng vùng đất này còn tuyệt vời hơn cả núi Thiên Thai, thần kì hơn cả núi Vũ Di, sống động hơn cả núi Cửu Hoa, duyên dáng hơn cả núi Nga Mi, có "võ" hơn cả núi Võ Đang, diệu kì hơn cả núi Chung Nam, hùng dũng hơn cả núi Thái Sơn, xanh mướt hơn cả núi La Phù. Mặc dù hiện tại tác giả vẫn chưa có dịp đi qua những ngọn núi này, nhưng cũng đã "thần du" không ít lần.

Lôi Môn Linh Tiên này của tôi thực cũng không kém gì, thực sự là một thắng cảnh thiên hạ vô song, là vùng đất số một ở nước Mỹ. Tôi đề lời bình là: "Cưỡi hạc xưng Thần phẩm, Linh Tiên đệ nhất gia." Vạn cổ tinh anh đều ẩn thân ở vùng đất này. Tôi mong muốn sau khi đến tu hành ở trên mảnh đất này, tôi có thể đội mũ Ngũ phương Ngũ Phật trên đầu, Ngũ phương Ngũ Phật sẽ ban quán đảnh đại trí huệ cho Liên Sinh tôi, khiến cho đạo tâm của tôi vĩnh viễn kiên cố, giúp tôi thực sự cất cánh bay lên. Ngũ phương Ngũ Phật hiện kim thân để cho tôi nhìn thấy. Tôi cũng biết sức mạnh phục ma của mũ Ngũ Phật.

Tôi viết một bài kệ như sau:
"Ngũ Phật tự hiện ngọc hào quang
Tường vân liên đài thật đặc thù
Hàng ma chỉ nhờ kim cang lực
Lôi Môn Linh Tiên truyền chân thư."


### 16. Lửa đốt ma nhập


Năm đó, khi tôi còn sống ở tòa chung cư Lạc Quần ở Đài Trung, có một cô gái đến gặp tôi, người nhà của cô gái trẻ này cũng cùng tới. Cô gái đi một mạch đến trước mặt tôi, biểu hiện của cô rất kì quái, ánh mắt đầy vẻ hung ác, tay phải cô giơ ra nắm đấm, chậm rãi huơ vòng vòng, quay giống như là cái cối đá xay gạo vậy, miệng cô thì vẫn tự lầm bà lầm bầm.

Tôi hỏi người nhà đến cùng cô việc này là thế nào. Họ nói với tôi rằng, có một lần cô gái đến chùa xem bói cầu hồn (là kiểu viết chữ trên cát). Thừa lúc thầy bói nghỉ tay, cô đã nhất thời hiếu kì cầm lấy kê bút (là bút nhọn được làm từ gỗ cây đào), không ngờ kê bút tự nhiên chuyển động, viết ra một mạch rất nhiều bài thơ.

Người trong chùa đều vô cùng sửng sốt, cho rằng cô gái này có huệ căn, thế là họ đặc biệt mời cô năng đến chùa để xem bói. Suốt một tuần đầu tiên không có gì khác thường. Cho đến một ngày, có một vị thần hạ giáng, cô gái hỏi thần: "Làm sao để tôi báo đáp ơn của thần minh?" Không ngờ vị thần này lại trả lời: "Ta sẽ cưới cô làm vợ."

Người ngồi ghi chép lại ở bên cạnh nghe vậy cũng rất hoang mang, ở đâu ra kiểu thần minh "chuối" như vậy, thế là anh ta cứ đứng đơ ra bên cạnh. Ngược lại, cô gái không hề bận tâm, cô cho rằng thần minh nói đùa với mình.

🌟

Khoảng hai ngày sau, cô gái bỗng ngửi thấy một mùi hương, thần trí đột nhiên trở nên mịt mờ. Buổi tối đi ngủ cô cảm thấy mình xuất thần đi chơi, lúc thì cưỡi mây, lúc thì cưỡi sương, lúc thì mơ hồ cảm thấy có người nằm cạnh…

Mỗi lần cô ngửi thấy mùi hương này thì cô lại đưa tay phải ra, làm động tác vẽ vòng vòng như lúc xem bói, miệng thì niệm những chú ngữ mà mọi người nghe không hiểu gì. Người trong nhà cô kể lại với người ở chùa, người ở chùa cho rằng đây là "thần minh đang dạy cô xem bói". Nhưng tình hình càng ngày càng nghiêm trọng, cô gái bất ngờ không ăn không ngủ, lại còn nói rằng không bao lâu nữa, thần minh sẽ thực sự lấy cô làm vợ, cô cần đi cùng thần minh. Mãi cho tới lúc này, người nhà mới nhận ra là tinh thần cô gái đã không còn bình thường nữa, sắc mặt cô vàng vọt, xung quanh mắt thì thâm tím. Họ vội vã đưa cô tới bệnh viện tâm thần để chẩn trị, nhưng càng chữa càng tệ, tới mức cô còn đánh người ta. Họ cũng đã đi hỏi rất nhiều thầy bói, họ đều nói rằng là do nhân quả kiếp trước. Họ cũng cho cô uống nhiều loại nước bùa rồi nhưng vẫn không khỏi.

Lúc này, tay phải cô gái vẫn làm động tác vẽ vòng vòng như cối xay gạo, ánh mắt rất ác, miệng thì vẫn lầm rầm không ngừng.

Đột nhiên, cô nói với tôi: "Lư đại sư, xin ngài hãy tác hợp cho chúng tôi."
"Xin hỏi là ai?"
"Tôi không phải là người, tôi là thần, tôi vốn là Tân Nguyên Soái của Ngọc Hoàng Đại Đế." - Miệng cô gái đó phát ra giọng đàn ông.
"Nói láo, nếu là Tân Nguyên Soái thì là chính thần, làm gì có lý nào lại lấy con gái phàm trần làm vợ riêng, tôi không tin là Tân Nguyên Soái. Hãy rời khỏi người cô gái này thì mọi việc coi như xong, nếu không rời khỏi người cô gái này thì tôi sẽ dùng pháp để trị đó."
"Ông có pháp gì? Dám phá hoại chúng tôi à." - Cô gái đó cũng cao giọng, cánh tay phải thì vẫn cứ không ngừng "xay gạo".
"Dừng ngay tay lại, ở chỗ tôi đây không cần phải làm bộ làm tịch." - Tôi hét lớn.

Cô gái đột nhiên nghe lời, tay dừng lại, nhưng hai mắt vẫn nhìn một cách đầy tức tối.

"Pháp mà tôi dùng, hãy nghe cho rõ đây, tôi sẽ dùng pháp "phục ma hộ ma", là dùng lư hương mà tôi làm hỏa cúng và gỗ phục ma để trị ngươi."
"Ông dùng gỗ gì cơ?"
"Dùng gỗ đắng, là rễ của cây ma hoàng."

Lúc này, tên Tân Nguyên Soái giả này vừa nghe nói đến rễ cây ma hoàng thì toàn thân run rẩy, lảo đảo muốn ngã, nhưng cô gái thì lại chắp tay lạy lạy, nói: "Hôm nay mới gặp được minh sư, giữa chúng ta không có can thiệp vào chuyện của nhau, tôi đi là được."

Thế là, Tân Nguyên Soái giả kia vừa bỏ đi thì đôi chân cô gái trở nên yếu ớt tới mức phải nằm trên ghế sofa. Sau khi uống xong cốc nước, người nhà đưa cô về, nghe nói sau đó cô đã hoàn toàn bình phục, thật là may mắn.

🌟

Pháp hộ ma này vốn là một phương pháp của Mật tông, là phương pháp dùng gỗ hộ ma để đốt trong lư hương dùng để làm pháp.

Lửa đại diện cho pháp lực, ánh sáng và trí huệ của Phật.
Gỗ đại diện cho phiền não, khổ nạn, ma quỷ.

Pháp đốt lửa hộ ma thì tùy vào tác dụng khác nhau mà lựa chọn gỗ để đốt cũng khác nhau. Ví dụ muốn tăng ích thì dùng gỗ của cây ăn quả, muốn kính ái thì dùng cây hoa, muốn triệu tập thu hút người khác thì dùng cây có gai, muốn hàng phục thì dùng gỗ đắng. Khi truyền pháp này cho tôi, thầy tôi từng nói với tôi rằng, muốn phục ma thì không thể không dùng rễ cây ma hoàng.

Đốt rễ cây ma hoàng trong lư hương, một mặt trì chú, một mặt niệm tên họ của đối phương, thì ma sẽ bị lửa pháp này đốt, bị đốt cháy đen sì mà chết.

Tác giả đã từng dùng pháp này để chữa khỏi cho ba người bị ma nhập. Trong lư hương, bọn chúng đều không ngừng kêu la oai oái, cuối cùng đều hóa thành tro, trở thành cục than đen sì. Bởi vì con ma ám trên người cô gái này vừa nghe tôi nói đến rễ cây ma hoàng là lập tức thấy rõ rằng khi bị tóm đuôi của mình rồi thì, cắt đuôi bỏ đi là đại cát.

Tôi cho rằng con ma này xem như vẫn còn thông minh, biết nắm lấy cơ hội, thế là còn khá. Còn bình thường, có rất nhiều những con ma cố chấp không sợ chết, thường thích gây sự, muốn so võ công cao thấp, lúc đó mới biết tiến lùi. Nhưng rễ cây ma hoàng cũng chỉ phù hợp để chế ngự những con ma ám vào thân mà thôi, còn những thiên ma ở cấp độ cao hơn những con ma này thì vẫn không có cách nào khống chế được chúng.

Riêng Tân Nguyên Soái thực sự là một đại tướng ngự tiền của Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn, cùng với Đặng, Tân, Triệu, Trương hợp lại được gọi là Tứ Đại Nguyên Soái, phụng thỉnh mệnh lệnh phải tu Bộ Cương Đạp Đẩu, niệm chú vẽ phù. Khi tác giả học pháp cũng từng phụng thỉnh mệnh lệnh này. Tên giả Tân Nguyên Soái kia tưởng là lừa được pháp nhãn của tôi à, vẫn còn non lắm nhé!


### 17. Các loại ma nghiện


Giữa trời đất này, ma nghiện ở đâu đâu cũng có. Tác giả đọc sách, tình cờ đọc được bốn bài thơ Tây Giang Nguyệt.

"Bình Đế vong thân vì rượu độc
Bên sông Lý Bạch cũng tiêu đời (*)
Nước vô tình này xin đừng uống
Say rồi tâm ý đều u mê."

[ (*) ND: Lý Bạch là nhà thơ nổi tiếng của Trung Quốc. Ông cũng nổi tiếng với thú vui thích uống rượu. Có lần khi rượu say, ông đã nhảy khỏi thuyền để bắt cái bóng phản chiếu của mặt trăng trên sông mà bị chết đuối. ]

"Vĩ Sanh dưới cầu nước cuồn cuộn
Ngô quốc Tây Thi thật đáng thương
Tham luyến cành hoa rồi gặp họa
Duyên lành lại hóa thành ác duyên."

"Có tài có thế là anh hùng
Số chẳng gặp thời cũng uổng công
Thạch Sùng xưa kia giàu mà chết
Núi đồng chẳng cứu nổi Đặng Thông."

"Bá Vương tự vẫn tại sông Ô
Chu Du có chí vẫn đoản mệnh
Bao nhiêu mãnh tướng nơi trận tiền
Đều vì tranh đấu mà vong thân."

Bình Đế là Vua Bình (Lưu Diễn) của nước Tây Hán, vì ham rượu nên bị Vương Mãng dùng rượu độc hại chết. Còn Vĩ Sanh, theo truyền thuyết là anh chàng có hẹn gặp một cô gái đẹp ở dưới chân cầu, khi nước dâng lên cao, Vĩ Sanh không muốn thất tín, vì thế đã bị chết đuối. Vở Kinh kịch "Hội Lam Kiều" chính là diễn lại câu chuyện này. Bá Vương chính là Sở Bá Vương Hạng Vũ.

🌟

Hóa ra bốn bài thơ này là khuyên người ta đừng vì rượu, sắc, tài, khí mà trở nên mê lầm. Bốn thứ này vốn là những sự vật vô tình, nếu để tâm bị khuấy động bởi chúng thì thân tâm sẽ bị ma ám, đến chết vẫn không tỉnh ngộ ra.

Tôi có hai học trò. Một người tên là Trần Trọng Phi, một người tên là Liệu Thụy Khinh. Hai người này đại diện cho kiểu người nghiện rượu. Hai người này đều giỏi uống rượu, nhưng dù có uống giỏi thì cũng vẫn sẽ say. Mỗi lần say rượu thì mọi thói xấu xa đều bộc lộ ra hết, có khi thì vung nắm đấm, lật bàn đạp ghế, có khi thì la hét, hát hò oang oang, những lời nói thô thiển tục tĩu đều tuôn ra hết. Còn có một người nữa họ Trương, hiện sống tại viện dưỡng lão, bị bệnh nghiện rượu tới mức nói năng lung tung lảm nhảm. Người nghiện rượu hãy mau thức tỉnh.

Tôi có hai học trò nữa. Một người là Lâm Xung Nhân, một người là Nguyễn Tú Toàn. Hai người này chính là đại diện cho kiểu người nghiện sắc. Cần biết rằng việc tiêu khiển với thú vui sắc tình, phàm tâm bất tịnh thì sẽ thối lùi đạo tâm. Hỏa dục là ngọn lửa thiêu thân, khó kiểm soát nhất. Người tu đạo phải nhất tâm tu đạo, đoạn tuyệt phàm trần, thì những con ma nghiện kia tự nhiên sẽ rút lui bỏ đi. Nếu một người có hào quang thì các loại ma quỷ cũng không dám đến gần.

Lại nói, tiền nhiều như Thạch Sùng, nhưng cũng chính vì tiền nhiều quá mà rước họa. Đặng Thông có núi tiền cũng vô ích, cũng không thể cứu được ông khỏi chết đói. Bởi vậy, nhiều khi có tiền cũng vô ích. Quân tử yêu tiền, nên lựa chọn một cách khôn khéo vừa phải thì mới không mắc sai lầm. Tôi có hai học trò, một người là Lí Liên Lương, một người là Lâm Hồng Ngạo, hai người này chính là đại diện cho kiểu người nghiện thế lực đồng tiền. Cần biết rằng mặc dù có tiền thì tốt, nhưng cũng có thể làm hại đến cảm xúc. Nếu dùng tiền để bố thí thì vẫn có công đức. Nếu giữ khư khư tiền cho bản thân, không dùng vào việc tốt, thì đối với việc tu đạo của bản thân cũng không có lợi ích gì.

Lại nói về chữ "khí", lẽ tự nhiên người tu đạo càng cần phải trân trọng. Khi trời đất thuở sơ khai còn hỗn mang, khí đã vận hành tại đại tiểu chu thiên, nhờ có nguyên khí mà vạn vật mới có vận động, con người cần giữ được chân khí mới có thể giữ được mạng sống. Người tu đạo cần tu chính khí, chân khí, không phải là khí của sự sân hận giận dữ. Hãy nhớ rằng càng không được tranh đấu để gây hiềm khích chia rẽ. Trong số học trò của tôi có hai người đại diện cho kiểu thích tranh đấu gây hiềm khích lẫn nhau. Một người tên là Vương Lợi Đan, một người tên là Trang Danh Túc. Hễ động một tí là to gan muốn đánh người ta, mặc dù có khí khái anh hùng, nhưng đây cũng không phải là bản tính chân như của người tu đạo.

🌟

Tôi có lời khuyên các quý anh:
Uống rượu không nghiện là tốt nhất
Háo sắc không loạn là anh hào
Đồng tiền vô nghĩa xin đừng lấy
Nhẫn nhịn tha thứ họa tự tiêu.

Tôi biết rằng những con ma nghiện thường thừa lúc tâm người ta dao động liền ám vào, một khi đã mê muội rồi thì vĩnh viễn không thể tỉnh ngộ. Cho dù có chính nhân quân tử đến khuyên răn cũng không dễ dàng gì quay đầu. Tôi mở linh nhãn, những con ma nghiện mà tôi nhìn thấy là như thế này. Có con đầu rất rất to, có nhiều tay nhiều chân đều mọc tại vùng xung quanh đầu, chân tay đều dài và có lông cong như cái móc, có thể móc chặt lên thân người, khiến người ta vùng vẫy đấu tranh vẫn không thoát được.

Vạn sự vạn vật đều tồn tại ma nghiện, không chỉ là bốn thứ tửu, sắc, tài, khí mới có, ngay cả trong các tôn giáo cũng có các con ma nghiện tồn tại. Có rất nhiều người tu đạo đã đi lạc vào tà đạo, ma nghiện bám vào thân khiến họ thành ma luôn. Ví dụ cô gái trong chương truyện trước mà tác giả đã kể chính là như vậy. Tác giả cũng từng trông thấy một tín đồ Cơ Đốc giáo kiền thành, bởi vì cả ngày cả đêm không ngừng cầu nguyện mà nhập vào ma cảnh, trên đại lộ đã cao giọng hát thánh ca, gặp ai là chửi người đó tội lỗi, tự cho mình là chúa Jesus mượn thân thể anh để nói chuyện, chạy lên bục thuyết giảng để giật lấy micro của mục sư rồi lớn giọng hò hét.

🌟

Tôi cho rằng phàm là bất kì chuyện gì cũng cần giữ được đầu óc sáng suốt, dùng lý trí để phân biệt đâu là Phật đâu là ma. Cần dùng tâm để phân biệt cái gốc của chính tà, không thể cứ thế mê muội đi, không thể dừng lại được. Cũng giống như chơi mạt chược, cần phải nhận thức rõ chơi bài là không tốt, thế nhưng người ta vẫn thường tìm lí do tự bao biện cho bản thân là bị người khác khích bác dụ dỗ để mong thoát tội. Bất cứ sự việc gì cũng đều cần cố gắng nghiên cứu tìm hiểu, nhưng cần luôn giữ được khả năng phân tích rõ ràng, không được để mình mê muội mà không ngộ ra được.

Không mê không nghiện vào tửu, sắc, tài, khí, thì trong vạn người cũng chẳng tìm được một người. Còn ma thì lại càng lợi dụng bốn chữ này để mê hoặc làm chúng sinh trong thiên hạ đảo điên. Sự lợi hại của ma, cho dù bạn có dùng hết nghìn kiểu sức mạnh thì cũng tự động không thể làm gì được. Cho dù có là người thích tu đạo, nhưng bốn loại ma này không loại trừ được, thì vĩnh viễn không thể tu đạo đạt thành tựu được.


### 18. Thủ ấn mặc giáp hộ thân


Trong cuốn sách "Thông linh bí pháp thư", chương "Chày kim cang bảo kiếm hàng phục ma", tôi đã chỉ ra cách thực hiện pháp để hàng ma như sau:

Dùng hai tay để kết hai thủ ấn "lôi đình", tay phải kết "đình ấn", ngón cái cong lại đè lên ngón áp út ở vị trí đốt ngón tay thứ 10 [đếm đốt ngón tay bắt đầu từ ngón cái], còn ngón trỏ, ngón giữa, ngón út đều đè lên ngón tay cái, tạo hình dạng nắm đấm hàng phục ma.

Tai trái kết "lôi ấn", ngón cái cong lại, đè lên đốt ngón tay thứ 11 của ngón áp út, ngón trỏ, ngón giữa và ngón út đều cong lại đè lên ngón cái, tạo hình dạng nắm đấm hàng phục ma.

Đầu tiên chụm hai nắm tay lại ở vị trí giữa hai chân mày, rồi từ đó tách ra, chạm vào hai tai, rồi hai vai, hai be sườn, rồi đến hai ngực, chạm vào hai bên eo, hai bên thận, hai đùi, hai đầu gối.

Sau đó dùng "lôi ấn" của tay trái, bắt đầu từ lòng bàn tay phải quét một đường tới vai, tiếp đó lại dùng "đình ấn" của tay phải, từ vai trái quét một đường xuống đến hai eo.

Nam chân trái nữ chân phải, dậm chân xuống đất, niệm chú ngữ: "Kim cương bảo kiếm hàng ma xử, lôi đình vạn quân thế như thiên, thiên ma tinh tà giai độn khứ, tâm hữu quang minh bất đảo điên. Cấp cấp phụng hộ pháp long thiên luật lệnh."

Đây chính là pháp mặc giáp hộ thân của Đạo gia, cũng chính là một trong Ngũ Lôi Thiên Tâm Chính Pháp. Công hiệu rất lớn.

🌟

Các giáo đồ Thiên Chúa khi đi vào thánh đường thì chỉ đơn giản là quỳ xuống, dùng tay chấm vào nước thánh, rồi điểm vào đầu, vào giữa ngực, hai vai để vẽ thành hình chữ thập, hành động này biểu thị đã nhập thần và mặc giáp hộ thân. Kể ra cũng kỳ lạ, vì việc vẽ chữ thập này chính xác giống như cách làm của Phật giáo Mật tông.

Cách làm pháp Mặc giáp hộ thân của Phật giáo Mật tông như sau:
Tay kết Kim cang quyền ấn, hoặc chắp tay kim cang, niệm Kim Cang Thủ Bồ Tát chân ngôn.
Kim Cang Thủ Bồ Tát chân ngôn: "Ôm bua-ru lan chưa-li” bảy biến.

[Chú ngữ được phiên âm tiếng Việt để đọc lên chính xác theo bản văn tiếng Trung được sử dụng trong Chân Phật Tông.]

Đầu tiên chạm ấn vào trán (phía trên hai chân mày), tiếp đó chạm ấn vào họng, rồi chạm vào giữa ngực, rồi chạm vào vai trái, chạm vào vai phải. Tổng cộng là chạm vào năm vị trí, năm vị trí này rất quan trọng. Ấn pháp của tôi và các ấn pháp thông thường khác thứ tự có phần khác, nhưng hiệu quả thì hoàn toàn như nhau. Tín đồ Thiên Chúa giáo vẽ chữ thập, giống với cách làm của tác giả.

🌟

Phật giáo Mật tông cũng có một pháp "Ngũ ấn mặc giáp hộ thân" tương đối phức tạp, được dùng khi pháp sư làm pháp, tôi tóm lược như sau:

Ấn thứ nhất: hai tay chắp lại, gọi là "vị khai liên hoa thủ ấn". Chú ngữ là "tịnh tam nghiệp", ba câu chú để tịnh khẩu, tịnh thân, tịnh ý.
Ấn thứ hai: thủ ấn là "Phật đỉnh ấn", chú ngữ là "chú thỉnh Phật", dùng Nhất tự kim luân chú là được.
Ấn thứ ba: thủ ấn là "khai liên hoa thủ ấn", chú ngữ là "chú thỉnh Bồ Tát", dùng chú ngữ của Thiện nữ thiên là được.
Ấn thứ tư: thủ ấn là "tam cổ kim cang ấn", chú ngữ là "chú thỉnh Kim Cang", dùng Kim cang tâm chú là được.
Ấn thứ năm: thủ ấn là "nội tam cổ kim cang ấn", chú ngữ là "chú kim cang hỏa", dùng chú Đại Phạm Thiên là được.

Năm loại ấn và năm câu chú này, mỗi loại cũng chạm vào năm chỗ (đỉnh đầu, họng, giữa ngực, vai trái, vai phải), điểm ấn xong thì lại niệm ba tiếng "hum, hum, hum".

🌟

Vì sao cần tu mặc giáp hộ thân?
Bởi vì trong quá trình tu hành đều có các khó khăn do ma gây ra. Ma thích nhất là phá đám người tu hành. Do vậy pháp Mặc giáp hộ thân giống như các chiến binh thời cổ đại khi xuất chinh phải đeo bên mình một chiếc bia giáp để bảo vệ mình không bị đao kiếm đâm bị thương. Nói cách khác là, trước khi tu pháp cần phải tu mặc giáp hộ thân, dựa vào Phật lực bảo hộ, khiến ma không có cơ hội đến xâm nhập, như vậy việc tu đạo mới có thể thành công.

Lần đầu tiên tác giả tu mặc giáp hộ thân đã nhìn thấy một mạng lưới kim quang màu vàng từ trên trời chụp xuống, bao trọn lấy xung quanh bản thân.

Mỗi lần tu mặc giáp hộ thân thì cường độ sáng của kim quang màu vàng càng mạnh, tỏa sáng lấp lánh, diễm lệ khác thường, giống như một tấm lưới được thêu dệt đẹp đẽ. Nếu có gặp ma tới thì ma ở bên ngoài võng, còn tôi ngồi ở bên trong võng, bên ngoài võng cho dù có mưa gió bão bùng thì bên trong võng tôi vẫn không hề bị phiền hà gì.

🌟

Sau này, tôi tu mặc giáp hộ thân còn đặc biệt gia trì thêm chú Kim cang hỏa, thì tôi thấy tấm màn kim sắc cháy lên ngọn lửa mãnh liệt, ngọn lửa này không phải là lửa thường, có thể thiêu đốt mọi ma quỷ. Có Thiên ma dùng tay chạm vào thì tay đều bị cháy xém thành than đen, nổi giận lôi đình, nhưng vẫn chẳng làm gì được tôi. Chỉ có làm như vậy thì tôi mới không bị tẩu hỏa nhập ma.

Tôi cảm thấy những ma nạn mà tôi gặp phải khi tu hành thực sự là quá nhiều, sống chết chỉ trong chân tơ kẽ tóc. Không chỉ có Thiên ma đố kỵ, Địa ma (âm ma) bức hại, thậm chí là những loại ma ám vào thân cũng đến để làm hại tôi. Tôi đã phải chịu đựng hàng trăm hàng nghìn ma nạn, thực sự là đau khổ tới mức không lời nào mô tả được. Nhưng nhờ có ma nạn mà tôi càng ngày càng được mài giũa trở nên mạnh mẽ hơn, sinh tử đều gạt qua một bên, danh lợi đều không cần, con cháu đều chẳng quan tâm, thì tôi còn gì để mà sợ nữa. Vì chính nghĩa, tôi càng phải nỗ lực phấn đấu đến cùng, không sợ ma đến thử nghiệm, càng thử nghiệm tôi càng mạnh mẽ, nhờ đó mà đạo tâm vững như đá, vừa lạnh vừa cứng.

Tôi biết rằng Thiên ma đều biết có một người không sợ chết, người này chính là Lư Thắng Ngạn. Cho dù cả đời này có giày vò ông ta đến chết thì đến kiếp sau, sinh ra lại từ đầu, ông ta vẫn tu đạo, ông ấy đã liên tục tu hành nhiều kiếp rồi, thêm vài kiếp nữa thì sẽ được công đức viên mãn. Ông ấy chính là Liên Hoa Đồng Tử, là vị tôn giả tay cầm hoa sen trắng chuyển kiếp.

Truyền đạo lý tối cao của cõi trời đến thế nhân. Thân này ngồi trên hoa sen trắng, khí chất bao la khắp vũ trụ, đạo Phật nguyện tu cho đến cùng. Nhiều kiếp tu hành, khổ cực luôn có, thiên kinh địa vĩ, đã đều thông đạt, nghìn vạn pháp môn, đều nằm trong tâm, cứu tai giải nạn, phục ma trừ yêu, đây chính là trách nhiệm cả cuộc đời này của tôi.


### 19. Tam quy y và Tam hồng thủy


Khi tôi ở trong nước, có rất nhiều học trò đến quy y tôi làm thầy, rồi tu hành theo pháp của tôi. Đồng thời, tôi cũng nói rằng, nếu học trò của tôi cho rằng pháp của pháp sư khác hay hơn, thì vẫn có thể đi quy y pháp sư khác. Tôi không hạn chế học trò của tôi là ngoài tôi ra thì không được quy y pháp sư khác. Tôi hy vọng rằng mọi người cứ nỗ lực đi tìm pháp, tự nhận ra pháp mà mình có duyên nhất, thầy mà mình có duyên nhất, rồi cứ như vậy mà tu hành thì sẽ có được kết quả tốt hơn. Dựa vào thầy nào, dựa vào pháp nào đều là một dạng duyên phận.

🌟

Cái gọi là Tam quy y chính là “Nam-mô bút-đa yê" [ Namo buddha ye ], quy y tất cả chư Phật tôn kính khắp thập phương tam thế. Nói cách khác là "tự quy y Phật, giúp đỡ chúng sinh, thấu hiểu đại đạo, phát vô thượng tâm".

"Nam-mô đa-ma yê" [ Namo dharma ye ] chính là quy y tất cả các pháp tôn kính trong thập phương tam thế. Nói cách khác là "tự quy y pháp, giúp đỡ chúng sinh, thâm nhập kinh tạng, trí huệ như biển".

“Nam-mô sang-ga yê” [ Namo sangha ye ] chính là quy y một số tăng lữ tôn kính tu hành theo Phật trong thập phương tam thế. Nói cách khác là "tự quy y tăng, giúp đỡ chúng sinh, chỉnh lý đại chúng, không còn chướng ngại".

Sau khi tôi dạy Tam quy y cho học trò xong, tôi sẽ dùng tay phải làm kiếm quyết, tay trái làm tam sơn quyết để cầm tịnh bình, dùng kiếm quyết viết ba chữ "Hum, Hum, Hum" trên tịnh thủy. Lúc này, tịnh thủy này đã trở thành "Tam hồng thủy". [ND: Hồng là âm Hán Việt của cách viết âm "Hum" trong tiếng Trung.]

Tôi dùng Tam hồng thủy vẩy lên đầu mỗi đệ tử quy y, rồi tôi niệm: "Ta dùng nước cho con quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, quy y Liên Trì Hải Hội Chúng Bồ Tát." Tam hồng thủy này của tôi thực sự chính là nước quán đảnh trong Mật pháp, được gọi là ba pháp giải thoát để kết duyên.

Tam hồng thủy được gọi là pháp giải thoát ba tầng.

Tầng thứ nhất có thể nuôi dưỡng thiên thần, thiên thần nhận quy y, có được Tam hồng thủy thì cũng có thể giải thoát thành Phật.
Tầng thứ hai nuôi dưỡng con người, có thể nhờ đó mà kết duyên quán đảnh, từng bước tu hành thành Phật.
Tầng thứ ba có thể nuôi dưỡng quỷ chúng, Tam hồng thủy có thể giải thoát các loài ma quỷ thoát khỏi đau khổ, ban đầu sẽ trở thành đạo nhân, rồi tiếp đó tu hành thành Phật.
Do vậy mới gọi nước này là pháp giải thoát ba tầng.

🌟

Sau khi tôi thay các học trò làm Tam quy y, tôi dùng nước Tam hồng thủy để quán đảnh, như vậy các học sinh sẽ có được 36 thiện thần thay phiên nhau bảo vệ họ, nếu bắt đầu tập khởi linh thì nhờ có thiện thần bảo vệ nên bản tâm không bị loạn. Tuy nhiên nếu đã nhận Tam quy y rồi, đã được vẩy Tam hồng thủy rồi, mà không tu tập cho tốt, không cố gắng tinh tấn, ngược lại lại đi làm các việc xấu, thì coi như Tam quy y và Tam hồng thủy này nhận cũng như không, chẳng còn một chút tác dụng nào, 36 vị thiện thần cũng rời bỏ, so với phàm phu thông thường cũng chẳng khác gì. Những đệ tử làm việc xấu này cho dù đã nhận quán đảnh Tam hồng thủy rồi thì cũng vẫn là nhập vào ma đạo thôi.

🌟

Giờ đây, tôi sống ở nước ngoài, có rất nhiều người hỏi tôi rằng từ giờ về sau làm sao để quy y tôi. Tôi nói rằng nếu các bạn thực sự muốn quy y Chân Phật Tông, có thể chọn ngày mồng 1 hoặc 15 âm lịch hàng tháng, vào đúng 7 giờ sáng, quay mặt về hướng mặt trời mọc.

Trước đó cần tắm rửa sạch sẽ, tịnh khẩu, chắp tay cúng kính lạy ba lạy, miệng niệm rằng: "Nam-mô gu-ru pây. Nam-mô bút-đa yê. Nam-mô đa-ma yê. Nam-mô sang-ga yê. Liên Sinh Hoạt Phật chỉ dẫn. Quy y Chân Phật."

Tổng cộng niệm ba lần, chắp tay cung kính lạy ba lần. Sau đó gửi tên, địa chỉ nơi ở, tuổi của bạn, kèm theo một phong bì có dán sẵn tem hồi đáp, gửi đến địa chỉ thường trú của tôi như sau:

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu
17102 NE 40th Ct.
Redmond, WA. 98052
U.S.A

Sau khi nhận được thư của bạn, tôi sẽ ở trước Phật đường của mình, thay bạn đốt sớ bẩm báo, đồng thời tôi cũng đọc giảng về Tam quy y, dùng Tam hồng thủy vẩy lên hư không, làm như vậy, tâm thành tắc linh. Việc này sẽ thuận tiện cho những chúng sinh ở trong nước muốn cầu quy y. Sau đó tôi sẽ gửi chứng thư quy y đến cho bạn, đây là phương pháp quy y hàm thụ, cũng có công hiệu tương đương, thực sự là bất khả tư nghì.

🌟

Đệ tử nhận quy y cần phải nhận thức được rằng bản thân mình là sinh tử phàm phu, tội chướng sâu nặng, luân hồi lục đạo, khổ không kể xiết. Nay gặp được thiện duyên này, nên nỗ lực tu học Phật pháp, nếu có duyên với Hiển giáo thì mau chóng nhất tâm niệm Phật, cầu nguyện vãng sinh, thường niệm Nam mô A Di Đà Phật, Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát, Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát, Nam mô thanh tịnh đại hải chúng Bồ Tát. Cầu nguyện bản thân lúc lâm chung không gặp chướng ngại, A Di Đà Phật từ xa đến đón, nước cam lộ của Quan Âm vẩy lên đầu, đài sen vàng của Đại Thế Chí nâng bước con đi, trong một sát-na có thể rời xa ngũ trược, ôm trọn lấy con ngã vào hồ sen.

Nếu có duyên tu Mật giáo thì dựa vào Thượng sư của bốn dòng phái Hồng giáo, Hoàng giáo, Bạch giáo, Hoa giáo để tu pháp, hoặc dựa theo Đông mật, Đài mật để tu hành đều được. Bất kể là pháp Chuẩn Đề, pháp Kim Cang Tát Đỏa, pháp Lục Độ Mẫu, các pháp Quan Âm, pháp mạn-đà-la, đều có thể dựa theo nghi thức mà tu hành.

Phương pháp tu hành của Chân Phật Tông, Hiển giáo Mật giáo Linh pháp đều không nằm ngoài ba siddhi [ ND: Thành tựu ] thượng - trung - hạ, đều có thể tu trì, không cần có tâm phân biệt, cần có tâm bình đẳng, tất cả đều tùy theo duyên phận mà tu.

Nếu gặp pháp sư nào phê bình Chân Phật Tông hoặc phỉ báng Lư Thắng Ngạn, thì xin các đệ tử hãy lắng nghe và chỉ mỉm cười, tuyệt đối không được chống đối lại pháp sư đó. Phải biết rằng Chân Phật Tông là pháp môn phương tiện cảm ứng, pháp sư kia không biết được mục đích của nó nên tự nhiên sẽ phỉ báng thôi, việc này cũng là thay tôi tiêu nghiệp chướng, kệ cho ông ta móc máy, kệ cho ông ta phỉ báng.

Nhưng khi bạn theo pháp sư học pháp, nhất định cần học "chân pháp" của họ, cẩn thận đừng sơ xuất hoặc coi thường, hãy chỉ học những cái tốt của họ, cái xấu thì đừng học.

Pháp Tam quy y và Tam hồng thủy của tôi xem thì rất đơn giản, thực sự có thể khiến cho 36 thiên thần đến cảm ứng để bảo vệ không? Tôi biết, pháp giải thoát ba tầng xem thì rất đơn giản, nhưng pháp này là thực sự là dựa vào sự hộ trì của Thiên Long. Không chỉ bản thân có được thành tựu mà cha mẹ, tổ tiên, oan thân nhiều kiếp cầu vãng sinh tịnh độ cũng đều có được thành tựu. Các đệ tử không biết rằng, chỉ với mỗi pháp Tam hồng thủy này mà tôi đã tu được hơn 10 năm rồi đó.

Chữ "Hum" phát ra, cổng trời đã mở.
Chữ "Hum" phát ra, người được giác ngộ.
Chữ "Hum" phát ra, phá cổng địa ngục.


### 20. Ma sắc nhập tâm (Phần 1)


Ngày xưa có một vị cao tăng tên gọi là hòa thượng Ngọc Thông, tu hành 50 năm, nhưng vì đắc tội với một viên quan địa phương, nên viên quan địa phương kia bí mật lập mưu pháp hoại giới hạnh của ông. Quan cho gọi một cô gái lầu xanh xinh đẹp, lấy tên giả là Quan phu nhân, đến chùa của hòa thượng Ngọc Thông để thắp hương.

Buổi tối ở lại chùa, cô giả vờ bị đau bụng tới mức sắp chết, cần dùng phương pháp bí mật đặc biệt để chữa trị thì mới có thể khỏi được, đó là phải chạm rốn của một người đàn ông vào rốn của cô thì sẽ chữa khỏi.

Hòa thượng Ngọc Thông là người đàn ông duy nhất ở chùa này, vì từ bi nên đành chấp nhận lộ rốn ra để cứu cô. Nhưng cô gái lầu xanh này đã lao vào ôm chặt lấy hòa thượng, lộ ra thủ đoạn quyến rũ cáo già. Đáng thương cho hòa thượng Ngọc Thông, nhất thời không không chế được bản thân, đã bị ma sắc nhập tâm, thế là giới hạnh đã không giữ được nữa.

Viên quan địa phương gửi một bài thơ đến cho hòa thượng Ngọc Thông, có hai câu sau cùng là:
"Tiếc thay bao năm xá lợi tử,
Đã chảy hết vào hai cánh sen."

Hòa thượng Ngọc Thông vốn là một cao tăng ngộ đạo, nhưng vì ma sắc nhập tâm, một khi đã đánh mất sự cẩn trọng là rơi ngay vào ma đạo, cuối cùng ông bị ép tới mức không ngờ đã treo cổ tự vẫn.

🌟

Đây là một câu chuyện được truyền lại từ thời cổ đại. Cao tăng ngộ đạo đấu không lại được với ma sắc, trở thành một trò cười về tu hành suốt nghìn năm, đây là một sự đả kích sỉ nhục đối với người xuất gia chân tâm tu hành.

Tuy nhiên, độc giả thử nghĩ xem, bản thân hòa thượng Ngọc Thông có đạo hạnh của một cao tăng, việc tu hành của ông cũng đã đạt đến được thành tựu La Hán kim thân, ấy vậy mà cũng vẫn vô ích, thì nói gì đến bao kẻ phàm phu bình thường.

Mặc dù có tâm tu đạo nhưng hễ bị ma sắc nhập tâm thì bất cứ ai cũng bị đánh bại. Do vậy, tu sao cho bỏ được sắc tâm này là việc quan trọng số một của bất kì người tu đạo nào. Biết rõ là rất khó, nhưng nếu không phá được ma sắc này thì không có cách nào thoát khỏi cõi trời dục giới.

🌟

Nhân đây, tác giả cũng lại kể một câu chuyện khác.

Có một người đàn ông trung niên ngoài 40 tuổi, tu Đạo gia "chính nhất pháp môn", tại nhà của mình có một đạo tràng, tự lấy hiệu là Thanh Vân đạo trưởng, thỉnh thoảng vẽ phù, niệm chú, tụng kinh lễ sám cho người ta. Đạo trưởng sống thanh sạch, đọc khá nhiều sách.

Có một phu nhân được người ta giới thiệu đến cầu đạo trưởng làm tiêu tai giải nạn, sau khi tới lui vài lần thì cũng thành thân quen. Chồng của phu nhân này họ Du, sống tại thành phố Đài Trung, ông Du tuổi ngoài 50, nhưng bà Du thì mới 30 tuổi, chồng già vợ trẻ.

Vị phu nhân này tư sắc cũng chẳng tồi chút nào, có một bài văn thơ xa xưa để hình dung về bà như thế này:
"Lông mày như dáng núi mùa xuân, đôi mắt trong veo như ánh nước mùa thu, nét mặt phảng phất u uất giống như "Tây Tử phủng tâm", chợt khóc chợt cười tựa như Dương Phi năm xưa cắt tóc.

Tiếng đàn tì bà chẳng kêu, là một minh phi vẫn chưa rời khỏi quan ải. Điệu kèn lá nếu thành, sẽ phân minh được người con gái hoang dã mạnh mẽ hay hòa nhã. Trời sinh cho tư chất phong lưu, cho dù là tranh vẽ cũng chẳng thể diễn tả được hết."

Còn nữa: "Lông mày uốn cong tựa trăng non, má hồng như hoa đào mùa xuân, dáng vẻ đặc biệt diễm lệ như đóa hoa ưu tư, làn da sáng như ngọc trong lấp lánh. Nói chẳng hết vẻ đẹp yêu kiều, vẽ chẳng nổi nghìn nét xinh tươi!"

[ ND: "Tây Tử phủng tâm" nói về bệnh u uất của mỹ nữ, so sánh giống như Tây Thi khi xưa, lúc buồn rầu thường ôm tim nhíu mày nhưng vẫn đẹp tuyệt vời. ]

Thanh Vân đạo trưởng là một đạo nhân chân tu, giới hạnh rất tốt, nhưng cũng âm thầm khen ngợi, cảm thán trước vẻ đẹp của phu nhân này.

🌟

Có một hôm, phu nhân đến nói với đạo trưởng rằng cô có chuyện riêng muốn nói, nhưng phải đóng cửa phòng lại, không để cho người ngoài nhìn thấy. Thế là Thanh Vân đạo trưởng đóng cửa phòng lại, cũng đóng luôn cổng lớn bên ngoài, và cũng thắp hương tại đạo đường, cầm hương vái thần, sau đó chăm chú lắng nghe phu nhân tâm sự.

Phu nhân kia vừa thấy cửa phòng đã đóng liền lộ ra mục đích quyến rũ mê hoặc.
"Hằng đêm em đều chẳng ngủ được."
"Vậy cần đi khám bác sĩ mới được."
"Không, bởi vì em đến chỗ này rồi nên mới không có cách nào ngủ được đó." - Phu nhân kia õng ẹo lao vào ôm ấp.

Lúc này, Thanh Vân đạo trưởng âm thầm lo sợ, toát mồ hôi lạnh, hướng đôi mắt nhìn lên Thái Thượng Lão Quân ở trên thần đàn, không dám nhìn khuôn mặt của phu nhân.

Phu nhân kia bám chặt lấy Thanh Vân đạo trưởng, tay chân Thanh Vân đạo trưởng đều không biết đặt vào đâu. Tinh thần hoảng hốt, mũi thì ngửi thấy sực nức mùi nước hoa.

"Du phu nhân, tôi là người tu đạo." - Thanh Vân đạo trưởng nói một cách miễn cưỡng.
"Vậy xin hỏi chúng ta có duyên không?" - Cô nói một cách đầy hớn hở.

🌟

Thế rồi, phu nhân kia giở hết trò quyến rũ, đôi tay mềm như rắn cuốn, thân thể dán chặt lên người Thanh Vân đạo trưởng, một tay thì lúc mạnh lúc nhẹ liên tục vuốt ve tấm lưng của Thanh Vân đạo trưởng.

Lúc này, Thanh Vân đạo trưởng đã bị ma sắc nhập tâm, cũng không có cách nào khống chế được, bèn quay mặt lại, thế là miệng kề miệng thành hình chữ "lã".

[ ND: Chữ "lã" có hình hai chữ khẩu - cái miệng - ở cạnh nhau ].

Nhanh chóng hỏa dục nổi lên, tất cả nào là tu đạo, thủ giới, thủ pháp, chính niệm, thanh tịnh, toàn bộ đều ném bay ra khỏi chín tầng mây rồi. Không ngờ lại còn diễn ra trước mặt Thái Thượng Lão Quân và chư thần đạo, trong làn khói hương cuộn xoắn bay lên, hai người đã trở thành đôi uyên ương quấn quít. Chính ngay trước chư thần mà thành đôi uyên ương điên đảo.

Sau sự việc này, Thanh Vân đạo trưởng trong lòng vô cùng đau buồn, nhưng phu nhân kia vẫn thường xuyên đến, ông lại không thể kiềm chế được, và rồi cứ thế sống trong mâu thuẫn.

Có một ngày, ông đọc được sách của tôi bèn vội chạy tới tìm tôi. Tôi dạy ông cách thu dọn đạo tràng, mau mau chuyển nhà, chuyển đến một nơi hoàn toàn không ai biết, rồi an phận tu đạo giữ mình lại từ đầu.

"Tôi còn có thể tu đạo sao? Tôi đã phá giới rồi, tôi phải vào địa ngục." - Ông ta khóc một cách cay đắng, đầy sự chân tình.

"Người tu đạo nếu bị ma sắc nhập tâm, thực sự là giống như con thiêu thân vậy. Nghìn lần vạn lần đều không nên, nhất là những lúc cam go không giữ nổi mình. Nhưng người tu đạo rốt cục vẫn mang máu thịt của phàm phu, vẫn chưa thể bất động như thánh, vẫn luôn có lúc sảy chân, nếu vẫn còn biết hối hận và tỉnh ngộ thì xem như vẫn còn có đạo căn.

Sao ông không tu pháp Hàng phục Kim cang, để đánh bay nghiệp tội ma sắc này. Cần biết rằng nghiệp tội này nằm trong bốn nghịch tội nặng nhất, chính là giết Phật, làm thân Phật chảy máu, giết cha mẹ, giết thánh tăng hoặc thánh nhân. Mặc dù ông bị ma sắc nhập tâm, nhưng nếu thực lòng sám hối, chuyển qua chân tu pháp hàng phục, thì vẫn có thể cứu được. Bốn nghịch tội còn có thể tiêu trừ được, huống hồ là nghiệp sắc."

Thanh Vân đạo trưởng nghe lời tôi, thu dọn đạo tràng, rồi sau đó cũng không biết ông đi đâu.


### 21. Ma sắc nhập tâm (Phần 2)


Ở Đài Nam, Đài Loan, có một người là Hình đạo trưởng của Ngũ Liễu Tiên Phái, một rẽ nhánh của phái Long Môn, tu tập theo các pháp Đạo gia như "Kim tiên chính luận", "Tiên Phật hợp tông", "Linh Tiên chính lý", v.v… của Liễu Hoa Dương tổ sư và Ngũ Xung Hư đạo nhân. Việc tu hành của ông ta rất tốt, sắc diện tỏa sáng hồng hào, tự nói rằng mình đã đắc đạo pháp tam muội, tự thân đã đắc được bất lộ đan, có thể thỉnh thần gọi tướng bất kì lúc nào các ngài sẽ đều đến.

Về sau, ông tình cờ có được một cuốn sách mật, viết về "Tiểu thiên tinh pháp" của Đạo gia, trong đó viết rõ rằng lấy quả trứng đầu tiên của con gà mái lần đầu tiên đẻ trứng, lăn quả trứng này trên thân của người bị ốm bệnh hoặc bị ma xung phạm, đồng thời miệng niệm mật chú, thì có thể trừ khử được ma trên thân của người bệnh bằng cách thu bệnh hoặc ma vào trong lòng đỏ của quả trứng. Sau đó lại đem quả trứng này, chọn một mảnh đất tốt, chôn sâu xuống. Làm như vậy thì người bị bệnh hoặc bị ma nhập sẽ bình phục.

Hình đạo trưởng tu Ngũ Liễu Tiên pháp vốn đã đạt thành tựu cao, nên tiếp tục tu "Tiểu thiên tinh pháp" cũng thành tựu dễ dàng. Kể từ đó, ông dùng pháp Tiểu thiên tinh để hàng phục ma, cứu giúp người khắp nơi, và đã cứu được rất nhiều người.

Người ốm nằm trên giường, mặc một bộ quần áo mỏng, trong khi đó đạo trưởng dùng tay ấn giữ quả trứng và lăn qua lăn lại trên thân thể người bệnh. Đạo trưởng nhắm mắt, miệng đọc mật chú, quả nhiên vô số người đã khỏi bệnh.

Nếu chỉ đơn thuần là cứu người như vậy thì Hình đạo trưởng thực sự là có công đức cực kì lớn. Nhưng Hình đạo trưởng lại gặp phải ma sắc nhập tâm. Chỉ trong một lần tình cờ tâm dao động mà đã đánh mất đạo tâm, từ đó mà công hạnh tu đạo bao nhiêu năm đều đổ xuống biển hết. Tiểu thiên tinh phục ma pháp vốn là để phục ma, không ngờ ông lại bị "ma phục", bảo sao chẳng đáng tiếc đáng than!

🌟

Sự tình là như thế này:
Có một người đàn ông giàu có, có một vợ và hai thiếp (hai người vợ lẽ), họ đều sống riêng biệt. Người vợ lẽ thứ hai của ông bị bệnh đau đầu, biết đến tiếng tăm của Hình đạo trưởng nên mời ông đến nhà để chữa bệnh. Ai ngờ đâu Hình đạo trưởng vừa nhìn thấy cô vợ lẽ này, thấy cô xinh đẹp quyến rũ từ đầu đến chân, khắp thân thể thơm tho mềm mại, đôi lông mày cong cong thanh mảnh như núi non xa xăm, đôi mắt hút hồn sáng long lanh, gương mặt như đài sen, đôi môi chúm chím đỏ mọng như trái anh đào.

Lần này, Hình đạo trưởng đã gặp phải "oan gia đối đầu" mà vẫn không hay biết, vẫn cho rằng bản thân mình có định lực đủ lớn, có thể nhìn thấu mỹ sắc, cho dù có là nghìn người mặt hoa da phấn thì đều là ma quỷ cả.

Bởi Hình đạo trưởng một đời nghiêm túc giữ gìn giới luật, có thể nói là chưa từng gặp mỹ sắc, lần đầu tiên gặp phải tình huống này, trong lòng cũng tự cảm thấy lo lắng căng thẳng.

Ông cứ giống như trai trẻ phong lưu mới biết rung động say tình vậy. Hơn nữa cô vợ lẽ xinh đẹp kia lại chỉ mặc trên người bộ quần áo mỏng manh, nằm thẳng trên giường, Hình đạo trưởng do dự không dám tiến lên. Lúc làm pháp, vốn dĩ mắt cần nhắm lại, nhưng cũng không nhắm mắt nổi, tay run run, tay không nghe theo ý, không ngờ trứng gà cũng không giữ được mà cứ chạm lung tung.

🌟

Cô vợ lẽ đương nhiên cũng để ý được điều này, cô cố ý mở to mắt nhìn ông. Bốn mắt nhìn nhau, Hình đạo trưởng đã bị ma sắc nhập tâm, trong lòng ước ao được yêu cô, không muốn rời đi. Cô vợ lẽ xinh đẹp lại còn có phần dùng lời lẽ đưa đẩy dụ dỗ, lại dùng cánh tay lả lơi kéo lại. Cuối cùng, không ngờ Hình đạo trưởng cùng với cô vợ lẽ kia hai thành một cặp, tình đầu ý hợp, tình sâu ý đượm, sớm tối hoan lạc.

Diễn biến cuối cùng khiến người ta phải không ngớt thở dài. Hình đạo trưởng cũng chẳng tu đạo nữa, còn cô vợ lẽ của người đàn ông giàu có kia cũng vơ vét tiền bạc rồi cùng đạo nhân bỏ trốn, không biết đi đâu.

🌟

Tôi viết một bài kệ rằng:
"Không biết tu đạo đừng nói khoác
Vì một chữ sắc phí nhân sâm
Chữ tình nếu như hiểu thấu được
Mới chẳng hổ thẹn người phục ma."

Theo tôi được biết, sư phụ của Hình đạo trưởng là một vị đạo nhân tu Đạo gia Long Môn phái hoàn toàn chân chính, thành tựu tu rất cao, Hình đạo trưởng là đệ tử mà ông tâm đắc, nói ít thì cũng đã tu 20 năm.

Nhưng sức mạnh của "ma sắc nhập tâm" rất lợi hại, "Kim tiên chính luận", "Tiên Phật hợp tông", "Linh Tiên chính lý" không ngờ chẳng vượt qua nổi một chữ "sắc". Thật sự là quá bi thương.

Nếu như Hình đạo trưởng tu Ngũ Liễu Tiên Phái, không tiếp xúc với pháp Tiểu thiên tinh phục ma, cả đời này ông thanh tịnh tu hành thì có lẽ sẽ không gặp vấn đề gì. Thế nhưng ông ta lại học Tiểu thiên tinh phục ma pháp, ngược lại đã trở thành phương tiện chủ động tìm đến nghiệt duyên, thay vào đó, Tiểu thiên tinh phục ma pháp này đã hủy hoại nền tảng tu đạo cả đời của ông.

🌟

Đời này tác giả đã gặp rất nhiều người, biết rằng có một số thuật sĩ giang hồ cũng biết đến pháp Tiểu thiên tinh phục ma, nhưng những thuật sĩ giang hồ này cố ý bất lương, lợi dụng chính pháp của Đạo gia này để làm những chuyện mờ ám bỉ ổi vô liêm sỉ, dụ dỗ con gái nhà lành, lừa tiền gạt sắc. Do vậy, tôi cảnh cáo các quý cô đừng dễ dãi đi thử pháp này, bởi vì rất có khả năng đây là cái bẫy do những kẻ xấu ngụy trang bằng những lời hoa ngôn xảo ngữ để lừa tình lừa sắc.

Tôi cũng xin được khuyên tất cả những người tu đạo đừng đến gần nữ sắc, đừng dễ dàng tin vào định lực của chính mình. Mặc dù biết rõ rằng "nghìn người mặt hoa da phấn thì đều là ma quỷ cả", đều là những kẻ hút tinh khí của con người, là dao sắc vô hình, nhưng nhất thời đánh mất sự thận trọng thì chỉ còn hối hận cả đời.

Cái chúng ta cần học là tinh thần Đạo gia đầu đội trời chân đạp đất, chính trực, không tà ác, không nịnh nọt. Nếu vẫn luôn có tà tâm thì tuyệt đối đừng tu đạo nữa, trước tiên cần phải loại bỏ được tà tâm để tránh khỏi bị sa đọa vào những hành vi bại hoại, làm ô nhục tới thanh danh của Tiên gia đạo.

🌟

Còn nhớ Khổng Tử từng nói: "Thực, sắc, tính dã."

[ ND: Thực, sắc, tính dã: Nghĩa là ăn uống và sắc dục vốn là tính gốc căn bản, là sự ham muốn lớn của con người ]

Cố nhiên những thứ này là ham muốn rất lớn của con người, nhưng người tu đạo chính là cần tu để cho tâm ham muốn này hóa thành hư vô, có như vậy mới có thể chuyển hóa những ham muốn cá nhân này thành khí thuần dương của đại đạo quang minh. Ấy nhưng sự lợi hại của Thiên Ma vốn dĩ là do nó bám chặt vào tâm con người mà sinh ra, nó lợi dụng ham muốn lớn của con người mà đến để mê hoặc ta. Nếu qua được cửa này thì mới xem như là hảo hán vững chãi cương nghị, thẳng đường mà đi, không chút nhiễm tà.

Viết đến đây, tôi không thể kìm được mà phải quăng bút than trời!


### 22. Ma sắc nhập tâm (Phần 3)


Người xưa, khi hình dung về vẻ đẹp của người con gái thì luôn luôn là: "Đôi mắt phẳng lặng như mặt hồ nước mùa thu, đôi lông mày thanh mảnh cong cong như núi mùa xuân, mái tóc bồng bềnh như mây, đôi chân như gót sen, cặp môi nhỏ xinh căng mọng như trái anh đào, eo thon như cành dương liễu. Chưa cần biết đến mùi hương và sự ấm áp của cơ thể đã biết rằng đây là người con gái cực kì xinh đẹp diễm lệ."

Cần biết rằng người con gái có được những lời mô tả về sắc đẹp như thế này thì đều là những mỹ nữ nghiêng nước nghiêng thành, giống như Hán Cao Tổ nuông chiều Thích Cơ, Đường Thái Tông loạn luân với em dâu, Lã Thị nhà Hán và Võ Tắc Thiên nhà Đường suýt chút nữa thì đánh mất cả giang sơn. Triệu Phi Yến và Dương Ngọc Hoàn làm ô uế hỗn loạn cả hậu cung. Những nhân vật luôn tìm kiếm mĩ sắc này, dù thân là Hoàng Đế cao quý, nhưng cũng mê đắm vào sắc cho đến tận lúc chết.

"Sắc" vốn là một thứ đẹp đẽ, xinh xẻo, ngọt ngào, dịu dàng. Chúng sinh trong thiên hạ, người có thể thoát được sự yêu hoặc của sắc thì trong vạn người cũng chẳng có nổi một người. Và người tu đạo muốn phá được "ma sắc" chính là cần phải cắt đứt được sự yêu hoặc của tình dục, chặt đứt được "ma" trong cái tâm mê sắc, có như vậy mới giữ vững được đạo tâm, không chạy theo những con sóng xô bồ như chúng sinh phàm trần.

🌟

Năm xưa, khi tôi vân du ở Gia Nghĩa, có một cô gái trẻ xinh xắn đến gặp tôi. Cô thẹn thùng ấp úng, ngượng ngùng nói không nên lời, lắp bắp nói: "Thầy Lư, không biết con có nên nói hay không nữa?"
"Cô cứ nói đừng ngại."
"Con đến một ngôi chùa nọ để xem bói, hỏi chuyện hôn nhân của con khi nào sẽ tới?" - Cô gái trẻ này tuổi cũng đã 28, nhân duyên hôn nhân nhiều long đong lận đận, trong lòng rất sốt ruột, do vậy mới đi xem bói hỏi "thần".
"Nếu muốn có duyên hôn nhân tốt, trước tiên cần có thần duyên." - Thầy bói bảo cô.
"Thế nào gọi là thần duyên?" - Cô gái nghe không hiểu.
"Buổi tối một mình cô tới đây, thần sẽ nhập vào người tôi, thần sẽ cùng cô tạo nhân duyên trước. Sau đó, bởi vì cô đã có được thần duyên rồi, nên hôn nhân tốt của cô sẽ đến rất nhanh. Phương pháp này chính là như vậy."

Cuối cũng cô gái cũng hiểu ra. Thầy bói đó muốn cô gái tối khuya một mình đến tầng hầm của chùa, đi đến đó để đợi thần minh ban may mắn cho cô. Cô trở về nhà nói với người bạn đã đưa cô đi xem bói, không ngờ người bạn này, vốn cũng đã từng nhận được sự ưu ái của thần minh, thế nên lại càng khuyến khích cô chấp nhận phương pháp này. Người bạn đó nói với cô rằng, việc này là cùng với thần minh lập lời thề nghiêm túc, không phải là việc tùy tiện, người có thần duyên thì mới có thể gặp được kì duyên.

Cô gái hoang mang hỏi tôi, lẽ nào thần minh thực sự lại có kiểu duyên phận như vậy cùng với con người sao? Cô gái rất ngây thơ muốn tôi quyết định thay, giả sử tôi nói là được thì cô sẽ đi, tôi nói là không được thì cô sẽ không đi. Trong lòng cô cảm thấy e sợ, nhưng vì muốn hôn nhân tốt mau tới nên cũng chỉ còn cách chấp nhận kết duyên với thần minh trước.

Tôi nghe xong thì lập tức thay đổi sắc mặt, tôi đưa bàn tay ra đập xuống mặt bàn một cái khiến chén trà cũng bị đổ ra bàn, cô gái bị bất ngờ nên giật mình đánh thót một cái.

"Mẹ nó chứ, cái đám thầy bói chết tiệt này, cái lũ thần minh lưu manh này, làm tôi tức muốn chết, thực sự là làm tôi tức điên lên mất." - Tôi nghiến răng trèo trẹo: "Đúng là một lũ bất chấp luật lệ coi trời bằng vung, mẹ nó, ông trời ở đâu chứ? Không ngờ lại để cho cái lũ ma sắc này tồn tại trên đời để hủy hoại những mầm non ngây thơ, cái lũ chết tiệt này."

🌟

Lâu lắm rồi tôi không chửi người chửi thần, nhưng vừa nghe kể về thủ đoạn bẩn thỉu hạ lưu này, tôi không thể nhịn được mà phải chửi lớn lên. Giả sử thần minh thực sự gớm guốc như vậy thì còn là cái loại thần gì nữa, tôi có mà chửi vào mặt, nhổ vào mặt hắn. Cái loại này có mà là thần rùa môi giới gái điếm, đơn giản là cái loại rắm thối!

Tôi nghĩ, đó chắc chắn không phải là ý của thần, mà là ma sắc nhập tâm. Tên thầy bói kia nếu không phải là chủ ý của hắn thì là đã bị ma sắc ám vào người, chuyên môn hủy hoại những cô gái trẻ non tơ. Bình thường tôi đã không có ấn tượng tốt với thầy bói, những kẻ làm thầy bói đến cuối cùng cũng biến chất rất nhiều, phần lớn là mượn thần để thu tiền và mượn thần để lừa sắc, một mớ bừa bộn bẩn thỉu loạn cào cào.

Tôi nói với cô gái trẻ kia rằng, trên đời này làm gì có chuyện như vậy, đây là mánh khóe lừa đảo của lũ thần côn, trừ phi chính cô muốn đi để làm chuyện hoang đường điên rồ, chứ còn không bao giờ có chuyện như vậy. Tay thầy bói này buổi tối không có ai bầu bạn, muốn tìm "rau sạch" mà không mất một xu đây mà.

"Vậy con không đi nữa." - Cô gái trẻ mấp máy nói một cách tội nghiệp.
"Đương nhiên là không đi, đi thì chẳng khác gì cừu vào miệng hổ đó."

Sự việc này có bác sĩ Lâm là bác sĩ nhi khoa ở Gia Nghĩa biết rõ ràng tường tận. Muốn bắt lũ ma sắc, đám thầy bói hại người này, cần nhờ đến sự giúp đỡ của cảnh sát nữ (đồng thời cũng phải xinh đẹp), giả vờ bị mắc bẫy. Dùng nữ cảnh sát xinh đẹp làm mồi nhử để vạch trần thủ đoạn của những tay thầy bói háo sắc này, để xem xem bọn chúng còn dám làm hại người ta nữa không.

🌟

Có một bài thơ rằng:
"Nhà nhỏ liền vườn, màn trướng ẩn xuân
Cúi mày khẽ ngắm hồng nhan, gác cong xa ngắm màn thêu
Nửa sáng nửa tối, người và thần thấp thoáng
Xanh xanh đỏ đỏ, khắp trong chùa ngập tràn gió xuân."

Bài thơ này thực sự hay, đã nói thẳng ra hết việc lén lút quan hệ tình cảm nơi miếu thần. Nói một cách thẳng thắn, tôi không xúc phạm Thần đạo, những Thần, Phật bằng đất nặn gỗ đẽo này chẳng có tội lỗi gì cả, kẻ có tội chính là con người. Thầy bói chẳng tu đạo, chỉ là loại thầy bói không từ bỏ được tâm sắc, cuối cùng thì chẳng ai thoát được cửa ải ma sắc nhập tâm, sớm hay muộn chắc chắn sẽ xảy ra chuyện. Đúng là một đám trẻ ranh ngu dốt, mức độ lú lẫn còn tăng thêm ba cấp.

Ở Tây Tạng, các lama của Mật tông Hắc giáo (đạo Bon) có quyền lực, đối với mỗi gặp vợ chồng sắp cưới, trước khi kết hôn, cần phải dâng cúng người phụ nữ cho vị lama đại biểu cho Phật Bồ Tát để ông ta phá trinh. Bởi vậy mà tôi mới phản cảm ác liệt đối với Mật tông Hắc giáo như vậy, nguyên nhân chính là ở đây. Tu đạo là cần phải cắt đứt con quỷ tình đục, chặt bỏ tâm ma sắc. Phái Hắc giáo này (đạo Bon) không phải là tà giáo thì là cái gì?


### 23. Ma sắc nhập tâm (Phần 4)


Có một tay thầy bói chính tại một loan đường nọ [ ND: loan đường là một giáo phái tôn giáo khá thịnh hành trong tín ngưỡng dân gian Đài Loan. ], họ Quách, khá trẻ trung, mới khoảng 28 tuổi. Cái gọi là loan đường là để chỉ một dạng thánh đường dựa vào việc xem bói viết chữ để xin chỉ thị của thần tiên. Thầy bói chính là người cầm bút chim phượng hoàng để viết chữ. Khi thần giáng xuống, cây bút sẽ tự động nhảy nhót mà viết thành chữ, và sẽ có một người hoặc hai người giúp bên cạnh để viết ra, hoặc thơ, hoặc từ, hoặc văn chương. Hiện tại hình thức này ở Đài Loan vẫn còn rất nhiều.

Họ Quách kia đã trải qua huấn luyện, chính thức trở thành thày bói chính, phụng chỉ viết ra không ít sách, phần lớn là sách khuyên răn con người, phát hành rộng rãi, danh tiếng cũng tốt. Bản thân anh ta cũng tin thần bái Phật rất kiền thành, một lòng một dạ thay mặt Tiên Phật phục vụ. Bất kì khi nào vào ngày xem bói, anh ta đều trai giới tắm gội sạch sẽ rồi mới bước vào ngồi cạnh bàn cát, đợi để thỉnh thần thông qua kê bút. Mỗi lần thần tiên hạ chỉ cũng đều khích lệ khen ngợi anh ta.

Bên cạnh bàn cát, ngoài thày bói chính ra thì cũng có người xướng chữ, có người ghi chép lại, người ngồi ghi chép được gọi là bút sinh. Một hôm, bên cạnh bàn cát có một người mới đến để ghi chép, là một thiếu nữ trẻ tuổi, mặc một bộ xiêm áo phượng hoàng màu xanh da trời, mái tóc buông xõa bồng bềnh tự nhiên, trang điểm chỉnh tề, nét mặt dịu dàng, vẻ đẹp rạng rỡ, đôi mắt đầy thần thái hút hồn người khác.

Họ Quách vừa trông thấy thiếu nữ này đã bị vẻ đẹp của cô cuốn hút, thần hồn lâng lâng, tâm ý bay bổng. Vừa nghe cô cất giọng oanh vàng hát xướng, chỉ xíu chút nữa là anh chàng không cầm nổi bút nữa rồi.

🌟

Mấy hôm sau, họ Quách ngồi bên bàn cát, tay cầm bút gỗ, nguệch ngoạc viết ra mấy chữ lớn: "Thày bói chính họ Quách, có Tiên duyên chẳng sai, phải bế quan lần nữa. Bút sinh kia Nhã Phân, cũng có duyên huyền môn, phải đồng thời bế quan." Nhã Phân được nói đến ở đây chính là chỉ cô thiếu nữ xinh đẹp Vương Nhã Phân.

Có một loan sinh già tiến lên trước hỏi: "Anh Quách là dương, cô Vương là âm, vậy có cần phải phân phòng để bế quan không?"
Nhưng rồi lại nhìn thấy bút gỗ ngoáy tít như múa, thần chỉ thị rằng: "Tiên cảnh tịnh hư tuyệt dục trần, tâm phàm sao biết được thánh tâm, bên trong tự có huyền cơ ẩn, hai người bế quan tất chẳng sai."

Những loan sinh đương nhiên biết rằng âm dương có sự phân biệt, làm sao có thể ngồi cùng một phòng được. Nhưng chỉ thị của thần tiên là trong việc này có nhân duyên bí mật, không thể đem việc thánh nhập nhằng với suy nghĩ phàm tục được. Thế là họ cũng chỉ thị hành sự, ở trong phòng bế quan thắp đàn hương, thời gian ngồi bế quan là 7 ngày, sáng trưa tối ba bữa ăn sẽ do người trong chùa đưa vào qua một lỗ hở. Cô gái họ Vương có tính cách lãng mạn ngây thơ, thần tiên đã chỉ thị như vậy khiến cô tự nhiên vui vẻ cực kì. Cô cho rằng đây là nhân duyên kì ngộ, tự cho là tiên duyên chẳng phải chuyện thường.

Đến ngày bế quan thứ nhất, họ Quách nói với cô Vương: "Thời xưa có một vị tướng quân gặp được một tiên nữ, tiên nữ muốn gả cho tướng quân làm vợ, tướng quân nổi giận, cho rằng là tiên nữ thì sao có thể làm như vậy. Đến một ngày tướng quân bị bệnh, phải đi cầu cứu tiên nữ. Tiên nữ nói với tướng quân, lúc trước muốn gả cho chàng, là vì muốn dùng khí của tiên gia để bổ khuyết cho chàng, tướng quân lại cho rằng đó là dâm dục. Chàng không nghe theo, nay số phận đã tới, không cứu được rồi. Tướng quân hối hận thì cũng đã muộn, không cứu được mạng sống."

Ngày bế quan thứ hai, họ Quách nói với cô Vương: "Thần tiên có rất nhiều phương pháp để cứu người, con người thế tục không thể hiểu được. Tôi đã có chính khí của tiên gia, trong 7 ngày cô và tôi ở cùng nhau, cô phải có được thần khí này, sẽ giúp cô bỏ qua được 5 năm khổ tu, mà lại còn an tịnh nhàn nhã, trí nhớ tăng trưởng tràn đầy."

Cô Vương hỏi: "Phải làm sao để có được?"
"Phải gắn kết thể xác, tiên khí của tôi tự có thể đi vào trong cơ thể cô."

Cô Vương vẫn tin rằng điều này là thật. Thế là họ Quách ôm lấy cô Vương, cởi quần áo cho cô, trong làn khói đàn hương bay bay, trong phòng bế quan, cô Vương đã đánh mất trinh tiết của mình.

Họ Quách nói với cô Vương: "Tiên cơ không được để lộ ra." Còn nói: "Việc này là thần tiên hội tụ, chúng ta là bạn tiên cõi trời, đây là việc nên làm, tôi làm như vậy là để độ hóa cho cô." Thế nhưng cô Vương đã trở nên mê muội, vì tiên khí này mà suốt 6 ngày, tình cảm như mật ngọt, cô Vương giờ đây căn bản là không còn phân biệt được thật giả nữa rồi.

🌟

Cứ như thế, từ sau khi có được tiên khí, cho đến khi bụng của cô Vương cứ từ từ lớn dần lên, đến lúc cái bụng to như bụng của Di Lặc Bồ Tát, người thân mới truy cứu nguyên nhân. Tổ sư nó! Hóa ra chính là tên thầy bói chính giả lời của thần tiên để làm trò quỷ trong thời gian ngồi rèn luyện. Sau khi lộ ra, họ Quách khẩn thiết van nài, đền bù rất nhiều tiền hòng che giấu vụ lùm xùm này. Đường chủ của loan đường đã đuổi họ Quách ra khỏi cửa.

Những sách mà anh ta phụng chỉ viết ra từ ngày xưa, muốn thu hồi lại cũng chẳng thu hồi được, chúng là thật hay giả thì cũng không biết được. Những cuốn sách này vẫn có công dụng khuyên con người thế gian, cứ để cho chúng tiếp tục lưu hành vậy!

Nói thật lòng, những chuyện đồi bại giống như kiểu ở chốn loan đường này cần phải được đưa ra công chúng, để cho những thiếu nữ mê tín vô tri trong thiên hạ đừng sa vào trò lừa của đám thần côn. Muốn tin thì cần phải tin những điều hợp lý, những điều không hợp lý không hợp tình thì tuyệt đối cần phải phân biệt cẩn thận.

Theo tôi được biết, sức mạnh của ma sắc còn được biết đến là đệ nhất thiên ma, các hòa thượng già, đạo sĩ già, hễ bị ma sắc nhập tâm thì vẫn điên đảo như thường. Sắc không quyến rũ người thì người cũng tự mê mẩn, huống hồ tên tiểu tử trẻ tuổi như họ Quách kia, vừa gặp được cô Vương đã tự động ngã đâm đầu, đạo chẳng muốn tu, bói chẳng muốn xem. Cái tâm thanh tịnh của thần tiên đã hoàn toàn bị những người này làm cho ô uế lộn xộn, nhem nhuốc bẩn thỉu hết cả.


### 24. Ma sắc nhập tâm (Phần 5)


Một ngày nọ, có một tì kheo ni già đưa một tì kheo ni trẻ đến ngôi nhà nhỏ của tôi. Tôi trông ni cô trẻ mặc dù ăn mặc là người xuất gia nhưng không giấu được hình thể duyên dáng, gương mặt xinh đẹp, đặc biệt là đuôi lông mày đầy vẻ thanh xuân quyến rũ. Tôi nhìn kĩ hơn khuôn mặt của ni cô trẻ, trên chóp mũi có một đám khí đen, đôi mắt mặc dù rất đẹp nhưng bên cạnh tròng đen có sát khí màu đen.

Tôi nói với vị ni già, bệnh của ni cô trẻ này chính là ma sắc nhập tâm.
Vị ni già nói:
"Đại sư suy đoán chẳng sai, vậy phải làm sao để giải cứu?"

🌟

Sự tình hóa ra là như thế này. Lúc ni cô trẻ này 20 tuổi, bởi vì thất tình nên mới cạo đầu xuất gia, quy y vị ni già, cứ như vậy mà sống bình dị đơn sơ được 3 năm, mọi thứ đều an bình tĩnh lặng.

Hồi đầu năm, họ tới nhà một thanh niên mất mạng do tai nạn xe để làm Phật sự, sau khi trở về chùa liền phát hiện ra ni cô trẻ như bị mất hồn, đôi khi có hiện tượng tinh thần điên đảo kì dị. Đặc biệt là đến ban đêm, cô thường không ngủ, lẩm bẩm một mình, tinh thần và thể xác mỗi ngày một kiệt quệ.

Khi được hỏi nguyên nhân, lúc đầu ni cô trẻ cương quyết không nói thật, sau đó mới kể rằng, khi cô ngồi tụng kinh một mình trước linh vị của người thanh niên trẻ chết vì tai nạn, người trong tấm ảnh đó rất đẹp trai nho nhã, trong đầu cô liền thay đổi suy nghĩ, rằng nếu người thanh niên tướng mạo tuấn tú này không chết, còn mình vẫn chưa xuất gia, thì đây chính là một cuộc hôn nhân rất mĩ mãn rồi. Cứ tự mình nghĩ như thế rồi mặt cũng nóng bừng và đỏ ửng lên, rồi cũng không biết đã niệm kinh đến chỗ nào rồi nữa. Ai ngờ đâu chỉ một suy nghĩ này mà cô đã bị ma sắc nhập tâm rồi.

🌟

Sau khi về chùa, buổi tối cô vừa đi ngủ thì chàng thanh niên tuấn tú nho nhã này liền nhập mộng, ni cô trẻ quên mất mình là người xuất gia, chỉ còn biết rằng mình vẫn là một thiếu nữa đa tình. Mặc dù là trong mơ nhưng họ vẫn vuốt ve rất thân mật, rồi từ từ tiến tới quan hệ thể xác. Từ sau đó, chàng thanh niên tuấn tú kia mỗi đêm đều tới, khi lâu nhất thì cũng chỉ cách một đêm là lại tới.

Ni cô trẻ cũng tự biết như thế này là không tốt, vững tâm niệm Phật nhưng đều không có hiệu quả gì, trong lòng vô cùng mâu thuẫn. Ban ngày, cô tự cảm thấy mình có lỗi với những quy định trong sạch của Phật môn, phát lời thề sám hối, nhưng buổi đêm thì lại mê man trong sắc tình, mong chờ chàng thanh niên tuấn tú kia đến sớm một chút.

Cho đến thời điểm sự việc càng trở nên nghiêm trọng hơn, không chỉ trong mơ anh chàng mới đến, mà ngay cả ban ngày, ni cô trẻ cũng có cảm giác anh ta ở trong phòng, không có gió mà cửa vẫn chuyển động, đồ đạc tự động rơi xuống, có rất nhiều chuyện kì lạ, kể ra cũng chẳng kể hết được.

Vị ni già cũng phát hiện thấy có những sự việc kì lạ, nhưng chỉ thấy là đồ nhi của mình cả ngày lẫn đêm đều lơ nga lơ ngơ, không thiết ăn uống, tinh thần ủ rũ. Mời bác sĩ tới khám bệnh thì không tìm ra nguyên nhân của bệnh, cũng chẳng chữa được. Cầu Phật giúp đỡ, tụng kinh lễ sám, cũng không thu được chút hiệu quả nào. Chàng trai tuấn tú kia vẫn đêm đêm lại tới.

Vị ni già từ lâu đã đọc sách của tôi, biết đến danh tiếng của tôi, liền đưa ni cô trẻ đến hàn xá, xin tôi hóa giải. Không ngờ tôi vừa trông thấy ni cô đã nhìn ra sự việc, đây chính là ma sắc nhập tâm.

🌟

Tôi nói với hai vị ni cô rằng, theo như sự quan sát của tôi thì chàng thanh niên tuấn tú này đã mượn khí của ni cô trẻ để có thể luyện thuật "thái âm luyện hình", sau một thời gian dài có thể thành hình để hại người. Nếu tôi không loại bỏ anh ta thì thật thiếu trách nhiệm. Thế là tôi vẽ 5 lá "Tịnh minh ngũ lôi phù", rồi dán từng lá bùa vào cửa chính cửa sổ. Rồi tôi lại vẽ thêm một lá "Chính nhất trảm tà phù" và dán lên đầu giường của ni cô trẻ.

Sau đó hơn một tuần, vị ni già và ni cô trẻ lại cùng đến để cảm tạ. Theo như họ kể thì đêm đó, chỉ nghe thấy bên ngoài cửa có tiếng bước chân, nhưng không vào được trong phòng. Khi ngủ cũng không mơ, rất an bình. Đêm thứ hai, cửa sổ rung lắc, kêu hu hu, nhưng ni cô trẻ ngủ cũng không mơ gì. Đêm thứ ba, từ chỗ lá phù "chính nhất trảm tà" phát ra một đường ánh sáng trắng, chiếu thẳng ra ngoài cửa sổ. Kể từ đó suốt một tuần sau, mọi thứ đều yên ắng vô sự.

🌟

Tôi nói: "Lá phù Tịnh minh ngũ lôi này là do sư phụ của tôi là Thái Huyền chân nhân truyền cho. Thái Huyền chân nhân là một vị chân tiên đắc đạo, lá phù Tịnh minh ngũ lôi này không giống với những lá phù ngũ lôi thông thường.

Còn lá phù Chính nhất trảm tà là do Thanh Chân đạo trưởng truyền cho tôi, là bí mật trong bí mật, luôn luôn là kiếm thần rơi xuống, phù pháp bay lên, người âm tự nhiên sẽ sợ hãi chạy trốn, không dám quay trở lại nữa."

Tôi còn đặc biệt vào một căn phòng khác, nói với vị ni già rằng: "Tôi nói thực lòng, hãy để cho cô ấy hoàn tục đi."
"Đại sư đã biết rồi sao?"
"Đúng vậy. Từ lâu cô ấy đã có ý muốn hoàn tục rồi, cô ấy cũng đã từng cầu xin bà, nếu là người có duyên với cửa Phật thì sẽ không nhiễm bụi trần nữa. Một người thế tục, tuy nói là xuất gia, nhưng lại nghĩ đến những hân hoan ong bướm, đây là duyên thế tục, chi bằng để cho cô ấy đi đi! Đặc biệt là xem đuôi lông mày đa tình và khuôn mặt đào hoa của cô ấy, thì rõ ràng cô gái này đã kết duyên với trần thế, đã yêu nhiều lần rồi, bảo cô ấy vào cửa Phật để chết khô thì thực sự là khó lại càng khó. Chi bằng cứ để cho cô ấy trả những món nợ tình duyên, thì sẽ chẳng còn gây nên tội chướng nữa."
"Được thôi, vậy thì sẽ nghe theo lời đại sư."
Cuối cùng, tôi nghe nói ni cô trẻ này quả nhiên đã hoàn tục và kết hôn rồi.

🌟

Theo tôi được biết, muốn học Phật cũng phải có Phật duyên, học đạo cũng cần có đạo duyên. Bây giờ những người đến để muốn theo tôi học Phật học đạo chẳng dưới mấy nghìn mấy vạn người. Trong số những người này, phải thừa nhận rằng mọi người đều là thành tâm thành ý, muốn tìm kiếm đạo pháp, nhưng người có thể thực sự hiển hiện được uy linh lừng lẫy, không bị ma sắc hớp hồn thì trong vạn người cũng chỉ có được một, hai người mà thôi. Mặc dù biết rằng gái đẹp vốn cũng là một con dao đẹp, giết sạch những kẻ phong lưu trong thiên hạ, nhưng con người ta vẫn cứ háo sắc như thường. Có thể thấy là ma này vẫn lợi hại như thường.

Thiền sư Pháp Hải có một bài kệ rằng:
Mong khuyên thế nhân đừng mê sắc
Người mà mê sắc bị sắc mê
Thân tâm đoan chính thì tự khắc
Tà ác đâu thể quấy nhiễu đây?


### 25. Ma sắc nhập tâm (Phần 6)


Cần biết rằng thiên ma lợi hại, dùng sắc tình đến để hại người tu đạo, rất hiếm người tu đạo không bị bọn chúng đến để khảo nghiệm. Không thể coi thường hai chữ "sắc tình" này. Hai chữ này liên quan đến tất cả mọi người, đầu tiên là nhìn thấy sắc, sau đó là nảy sinh tình cảm trong tâm. Tình và sắc là tương sinh, cũng như tâm và mắt tương sinh lẫn nhau vậy.

Từ xưa đến nay, thực sự không thể đếm hết có bao nhiêu chính nhân quân tử đã bị sắc làm điên đảo, giống như một thành ngữ của Phật là "như hằng hà sa số". Hơn nữa có người còn cho rằng bản thân mình rất nhất tâm chuyên chú, thì lại càng là những kẻ trở thành "thánh phong lưu". Những người này tự cho mình là nhân vật phong lưu, nhưng lại là một đám phàm phu tục tử tự cho đầu vào thòng lọng.

Pháp sư Huệ Viễn thậm chí còn nói thế này: "Sắc và tình giống như nam châm được đặt vào trong tâm con người, hễ gặp phải người có tính "sắt" thì lại càng hút giữ chặt lại, không tách rời ra được nữa. Nam châm và sắt ở đây là những vật vô tình mà còn như vậy, huống hồ là một đám chúng sinh tự cho mình là hữu tình."

🌟

Tác giả nghiên cứu Phật đạo, đạo Phật là do Tây phương Thích Ca Mâu Ni Phật lập nên, tỏa ra ánh sáng đại trí huệ, ngài thuyết pháp 49 năm, Phật quang phổ chiếu khắp thập phương thế giới, trở thành thầy của trời người, hiện kim sắc liên hoa Phật quốc, độ hóa chúng sinh. Phật Tổ thành đạo dưới gốc cây bồ đề, Ma Vương Ba Tuần đã phái Ma Vương tam nữ dùng sắc tướng đến để dụ dỗ Phật Thích Ca Mâu Ni, kết quả là Phật vẫn không hề lay động, bởi vậy mà phá bỏ được ma sắc, trở thành giáo chủ cõi Ta Bà của Phật môn.

[ ND: Tây phương Thích Ca Mâu Ni Phật: Đây là tính trên bình diện tại mặt đất, từ Trung Quốc đi sang hướng Tây sẽ là Nepal - Ấn Độ bây giờ, nơi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chuyển pháp luân tại cõi Ta Bà. Vì vậy mới có chuyện Huyền Trang đi Tây Trúc thỉnh kinh. Còn nếu tính toàn bộ vũ trụ Phật giáo trong hư không, phương Tây là cõi tịnh thổ của đức A Di Đà Phật ]

Đạo gia được sáng lập bởi ông tổ của nguyên khí thuở sơ khai hỗn độn, trời đất đều là do nguyên khí tạo ra, nên còn được tôn xưng là Thiết Sư Nguyên Dương Thượng Đế, cũng chính là Thái Thượng Lão Quân. Lão Quân hóa thân như cát bụi ở khắp nơi, không thể đếm xuể. Vào năm Thương Thang Vương thứ 48, ngài đã dùng chân khí tinh khiết của mặt trời để hóa thành đơn hoàn, bay vào trong miệng của trinh nữ, ở trong thân thể của ngọc nữ hoài thai suốt 81 năm, cho đến tận năm Vũ Đinh thứ 9 mới ra đời. Lúc hạ sinh là ở dưới một gốc cây lý [cây mận], do vậy mới lấy tên của cây này làm họ, hơn nữa khi sinh ra thì tóc đều bạc trắng, do vậy người đời mới gọi là Lão Tử [ ND: Lão Tử tên thật là Lý Nhĩ, Lão Tử nghĩa là đứa trẻ già ].

Lão Tử tên là Nhĩ, tự là Bá Dương. Về sau này, Lão Tử cưỡi trâu đi khỏi Hàm Cốc Quan, để lại bộ Đạo Đức Kinh 5 nghìn từ, do vậy ngài còn có xưng hiệu là Đạo Đức Chân Quân. Đạo Đức Kinh 5 nghìn từ là chân ngôn tu tiên vô cùng tinh túy, trong đó đã chỉ thẳng việc "phá sắc tướng", phá sắc tướng ở đây cũng chính là phá bỏ ma sắc.

Người tu đạo chúng ta dựa vào Phật đạo mà tu trì, đều có Phật pháp và đạo phạm để mà tu hành theo. Nhưng trên đời này vẫn có phương pháp sai lệch về phía tà, phương pháp này chính là linh quỷ pháp, dùng những linh hồn ma quỷ yếu để ám vào người dương mà mê hoặc họ. Người có hành vi chính trực thì sẽ có ma thiện bám theo, vẫn có thể gọi là thiện. Nếu ma xấu đến ám vào thì hành vi sẽ sai lệch, bất chấp luân thường đạo lý.

Pháp linh quỷ mà tôi nói đến ở đây chính là việc xem bói lên đồng, dùng công cụ là ma quỷ nhập vào thân, phần lớn các thầy bói đến cuối cùng cũng đều đi vào con đường sai lệch hết.

🌟

Tôi lại có một câu chuyện rất chân thực như sau:
Có một quả phụ họ Hồng, chồng qua đời khi cô mới chỉ 25 tuổi, nhan sắc xuất chúng, thực sự là một biểu tượng sắc đẹp, khuôn mặt đầy vẻ đào hoa, xinh xắn như hoa phù dung, thân thể thon thả như cành dương liễu. Điều đáng quý nhất là tâm tính cô thanh khiết như ngọc, giữ gìn tiết hạnh, quyết chí như vậy, cô ấy cũng đã quy y tôi, sớm tối trì chú niệm kinh.

Có một lần, bạn cô đưa cô đến một ngôi chùa nọ để thắp hương, vừa hay có một thày bói đang hỏi thần. Cô cũng hiếu kì đến hỏi một vài chuyện.
"Tân duyên của cô Hồng sắp đến, không thể để lỡ." - Thần nói.
"Thế nào gọi là tân duyên?" - Cô Hồng hỏi lại.
"Cô giữ gìn trinh tiết quả phụ, thần và người đều ngưỡng mộ, do vậy thần đặc biệt ban cho một đức lang quân như ý, cùng cô kết thành một đôi, không được chống lại."
"Xin hỏi là khi nào?"
"Ba ngày nữa, ở dưới bảng thông tin xe buýt cô thường đi, có một người sẽ đến hỏi chuyện cô thì chính là người này, thời gian vào khoảng chính trưa giờ Ngọ."

Sau khi thầy bói hát xướng lên một khúc lộn xộn thì từ đầu tới chân run lên mấy cơn, nghĩa là thần đã lui đi rồi.

🌟

Cô Hồng trở về nhà, không tin vào chuyện kiểu này, cô vốn đã xác định thủ tiết với chồng, khuê môn nghiêm chỉnh mà nuôi dưỡng đứa con trai, giữ khuôn phép gia đình. Mặc dù có thần đạo nói như vậy, nhưng cô cũng không xem là việc quan trọng.

Đến ngày thứ ba, cô lại nảy sinh tâm hiếu kì, cô muốn biết thực sự sẽ có việc này hay không, và "đức lang quân như ý" này là ai.

Giờ Ngọ của ngày thứ ba, cô đứng dưới một bảng thông tin xe buýt, từ phía xa, cô nhìn thấy một nam thanh niên chạy xe máy đến, người thanh niên này đeo cặp kính mát, anh ta gật đầu chào cô, bỏ kính mát ra, thế là tất cả mọi chuyện đều rõ ràng rồi. Anh ta chính là tay thầy bói ở miếu Cửu Thánh.

Tay thầy bói này đưa tay ra kéo cô Hồng lên xe, cô Hồng sợ tái mặt, hai người cứ đùn đùn đẩy đẩy nhau dưới tấm bảng xe buýt, cho đến khi cô Hồng hét to lên thì anh ta mới dừng. Tay thầy bói trước khi bỏ đi còn văng ra một câu thô tục: "Bỏ mẹ cô, cô mà không nghe theo, tôi sẽ bỏ bùa cô, khiến cho thằng con trai cô cũng chết luôn."

🌟

Cô Hồng không ngừng lo lắng, chỉ còn biết chạy đến tìm tôi. Đương nhiên, vẫn là Lư Thắng Ngạn tôi giải nguy cho cô. Tên thày bói bảo bối này là cái thá gì chứ, đúng là cái đồ cặn bã trong miếu chùa, lũ sâu bọ của thế gian. Loại người này tới kiếp sau sẽ tái sinh trong đám phân thối ở nông thôn, làm loài dòi bọ trắng ởn bò lúc nhúc.

Những chương sách viết về ma sắc nhập tâm này không phải phiếm luận về chuyện xuân hoa thu nguyệt, mà trực tiếp chỉ thẳng ra ma sắc náo loạn tâm của người tu đạo đáng sợ như thế nào. Chỉ là phong lưu một chốc mà bất chấp danh tiết của đạo nhân. Làm một người tu đạo thì cần phải nam không mê sắc, nữ không hoài xuân, chí như vàng ròng, tâm như đá rắn. Khi có những chuyện kiểu này xảy ra thì tự sẽ có lòng trung thành tuyệt đối, cho dù có bị trăm phương mê hoặc thì cũng không đánh mất đạo tâm.

Đây chính là:
Tâm chưa dứt tình đừng hỏi đạo
Biển dục vẫn chìm chớ thiền chi.


### 26. Kim quang phục ma


Tôi có một tấm ảnh, tấm ảnh này do tiến sĩ Hạ Vĩnh Hàn ở New York trong lần về nước tham gia hội Quốc Kiến chụp cho tôi. Tiến sĩ Hạ viết thư gửi về nước tìm tôi, người nhà của tôi thông báo rằng tôi đang ở Seattle nước Mỹ. Thế là vào mùa đông năm 1982, ông cùng với vợ người Nhật và cô con gái út công chúa cưng của ông đã đáp máy bay đến Seattle.

Ông ấy chụp cho tôi một tấm ảnh chân dung, không ngờ sau khi rửa tấm ảnh này ra, liền nhìn thấy trong ảnh trán của tôi phóng ra một tia kim quang rất mạnh, khiến tiến sĩ Hạ lấy làm kinh ngạc. Lần đầu tiên tiến sĩ Hạ đến hàn xá của tôi, tôi nói với ông rằng: "Tiến sĩ Hạ, Viện bắc cực kim điện bát nhã của ông tổng cộng đang thờ cúng 21 vị Phật Bồ Tát."

Bản thân tiến sĩ Hạ là người sáng lập Hội liên hợp Đạo giáo Phật giáo. Chính ông cũng không rõ đã thờ cúng bao nhiêu vị bổn tôn, thế là ông lấy ra một tấm ảnh đại điện, lần lượt đếm từng bức tượng, không thừa không thiếu một vị nào, vừa hay đúng là 21 vị. Tiến sĩ Hạ và vợ mắt mở to miệng há hốc vì ngạc nhiên.

Điều khiến ông ta càng cảm thấy khó hiểu là tia kim quang phóng ra từ trán của tôi. Kì thực việc này cũng chẳng có gì kì quái, người tu đạo đã có đắc chứng thì trán sẽ hiện ra tam quang. Thứ nhất là tia sáng màu đỏ, là ánh sáng công đức tích tập được do tu thiện pháp, thứ hai là tia sáng màu trắng, là ánh sáng pháp lực do tu hành tinh túy thuần khiết, thứ ba là tia sáng màu vàng kim, là ánh sáng ánh sáng hoa sen do đã đắc chứng. Ánh sáng kia màu vàng kim, chụm lại thành một chùm, phóng ra từ trán, chiếu thẳng đến Tây phương cực lạc thế giới.

Không thể xem thường tia kim quang này, nó không phải là thép, cũng không phải là sắt, nhưng kim quang có thể hóa thành bảo kiếm, lẫm liệt như thần uy, kim quang bảo kiếm này không phải tôi luyện, không cần phải được luyện trong lò lửa, nhưng vẫn tỏa ra hào khí anh hùng oai nghiêm. Những tia sáng màu sắc tỏa ra là màu hồng từ trong vàng, những người nhìn thấy không ai là không cảm thán rằng thật là kì lạ tuyệt vời. Trong những tia sáng kim sắc của lưu ly còn có bông hoa sen nhỏ màu vàng kim nổi bồng bềnh, lấp la lấp lánh, tầng tầng lớp lớp, tỏa ra kim quang lấn át cả những vì sao, chiếu thẳng đến Tây phương cực lạc thế giới.

🌟

Từng có một lần, có một Thiên Ma đến. Khắp toàn thân Thiên Ma này đều là những tấm áo giáp, có hai đầu, mắt lồi ra, lưỡi rất dài, đứng trong không khí, miệng tuôn ra tiếng người, nói rằng:
"Ta đến hỏi ông để lấy bí pháp Thái Ất Kim Liên, nếu ông giao cho ta thì vạn sự đều tốt đẹp, nếu không giao cho ta, miệng ta sẽ phun ra lửa tam muội, thiêu cháy ông chết đi sống lại."
"Thái Ất Kim Liên bí pháp là do Thiên Hoàng Thượng Nhân truyền dạy, không được truyền bừa bãi, làm sao giao cho ngươi được?"
"Lư Thắng Ngạn, ông đừng có ỷ vào thế lực của Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, ta xem ông như đứa trẻ ba tuổi thôi."
"Ta không thể đưa được."
"Thật là không đưa?"
"Đương nhiên."

Thế rồi Thiên Ma đó quả nhiên miệng phun ra lửa, đốt thẳng về phía tôi. Thế là, tôi niệm thầm:
"Thúc tâm nhất xử thị thánh hùng
Thần thông hội thượng đệ nhất thông
Khai quang nhất đạo chiếu tứ tượng
Cần tu vạn niên như thiên long
Ngạch đầu khai xứ khả tán vụ
Cao cao đài khởi cấp như phong,
Nhất đạo kim tiễn xạ xuất hậu
Nhiễu biến tây phương Tu Di phong."

Trán tôi vừa mở ra lập tức phóng ra một đường kim quang, bay vào trong ngọn lửa cháy. Vừa xung kích thì hỏa lực của Thiên Ma lập tức rút đầu rút đuôi lụi mất.

Thiên Ma kia vừa nhìn thấy kim quang thì giật thót mình, nhận ra rằng đây là liên hoa quang, liền vội vã tìm đường lui, chạy một mạch tới hào sâu khe suối để ẩn thân, về sau không dám xuất đầu lộ diện nữa.

Thiên Ma này về sau đã gặp rất nhiều bạn ma của nó, đều nói rằng: "Lư Thắng Ngạn đã tu xuất ra liên hoa quang, không thể coi thường, không thể xem thường được." Nhưng rất nhiều thiên ma đều không tin, bởi vì trong giới Phật mà nói thì liên hoa quang chỉ có Phật, Bồ Tát mới có. Trong giới Đạo mà nói thì chỉ có Thiên Tiên, Kim Tiên mới có. Tên họ Lư kia là cái thá gì mà không ngờ lại có liên hoa quang, thế là đám ma chúng cũng đến để thử nghiệm, cố ý dụ tôi hiển lộ ra thần thông kim quang một lần nữa. Nhưng tôi không muốn khoa trương, cũng không cần thể hiện. Đây là "đả phá huyền nguyên đệ nhất quan", hoàn toàn không phải trò biểu diễn ma thuật rẻ tiền mà bất kì lúc nào cũng có thể hiển hiện được.

🌟

Có người hỏi tôi, làm sao để tu "Liên Hoa Quang"?
Tôi đáp:
"Niệm "Cao Vương Quan Thế Âm chân kinh" một vạn biến. Niệm Phật Mẫu Chuẩn Đề thần chú bảy vạn biến. Đây là pháp trước là để tiêu trừ nghiệp chướng tiền kiếp, sau là để khảo nghiệm đạo tâm của đệ tử xem có kiên cố hay  không, trước tiên là để cho ma sắc kiểm nghiệm, nếu không bị ma sắc đánh bại thì mới có thể học được."

Trong số các đệ tử của tôi, có một người rất có đạo duyên, nhưng đáng tiếc là anh ta cũng chẳng có cách nào thoát được cửa ma sắc này. Cầu đạo cầu pháp, khí tượng vạn nghìn, nhưng đức hạnh khó thành, làm sao đắc đạo. Tôi thấy anh ta đã chuẩn bị rất cực khổ, nhưng đáng tiếc là sắc tâm không bỏ, đã bị ma làm ô nhiễm rồi. Tôi khuyên anh ta kiếp sau lại đến vậy!

Vòng tuần hoàn của trời đất này nhanh như vậy, thế gian nhân loại thì chẳng lưu lại được lâu, tranh danh đoạt lợi cuối cùng chỉ có được nấm mồ, yêu thích sắc tình thì càng chẳng được lâu. Chi bằng đi tu chân thành tính, cho thân này trải nghiệm đại đạo giải thoát. Thế nhân cười tôi ngu si, tôi có phải là kẻ ngu si thật không thì cũng cười một cái, rồi tự do theo gió mà đi thôi.


### 27. Đại Bạch Tản Cái trừ ma chướng


Để bắt đầu chương này, tôi công bố một lá thư của một đệ tử nữ như sau:
Thưa thầy, con chào thầy.
Thời gian trôi qua thật nhanh, thầy xuất ngoại đến nay cũng đã 8 tháng rồi. Trong khoảng thời gian không dài cũng chẳng ngắn này, cuộc sống, sức khỏe, hoàn cảnh của thầy mọi thứ có được như ý không? Thực sự các học trò không ngừng lo lắng. Thầy cũng biết học trò luôn là một người sốt sắng, vẫn luôn cho là gọi điện thoại để thỉnh an thầy thì nhanh hơn là viết thư rất nhiều, do vậy con đã coi thường việc viết thư thỉnh an, xin thầy lượng thứ cho con nhiều nhiều.

Hồi tưởng lại năm ngoái, con vì bệnh tình liên miên mà phải nhập viện, sinh mạng đã rất gần với cái chết rồi, may nhờ có đại lực của Tiên Phật và thầy bảo hộ, mới khiến cho mạng sống này của con chuyển nguy thành an, như được tái sinh, thực sự khiến học trò ghi nhớ mãi trong lòng, vĩnh viễn chẳng quên.

Nhớ lại trước đây, mỗi lần học trò gặp khó khăn thì luôn luôn có thể đến gặp thầy để thỉnh giáo nhằm giải quyết khó khăn, nhưng nay thầy ở một đất nước xa xôi như vậy, khoảng cách không gian và thời gian khiến học trò chẳng có cách nào tìm đến thầy thường xuyên như trước được nữa để mà được ở bên cạnh thầy nghe chỉ bảo, dạy cách giải tỏa những băn khoăn của con. Mỗi lần nhớ đến đây, con luôn cảm thấy buồn vô hạn, thực sự ước gì có thể mãi mãi theo phục vụ bên cạnh thầy, giúp tu hành thêm tinh tấn để bước lên một trình độ mới.

Thầy ơi, thầy vẫn luôn từ bi hoài mong phổ độ quần sinh, đối với các học trò thì thầy lại càng bằng mọi cách có thể để chăm lo giúp đỡ, thực sự luôn khiến cho mọi học trò đều cảm kích vạn phần. Nay thầy ở nước Mỹ, lại càng vì việc hoằng dương Phật pháp mà dù ở đất nước đó vẫn nỗ lực bận rộn không ngừng, học trò ở đây càng chúc phúc cho thầy hóa đạo thành tựu ánh sáng vạn trượng, để quần sinh trong thiên hạ tất cả đều quy y, khiến vạn tượng sinh Phật, chúng sinh được nương nhờ.
Học trò La Ngọc Cầm.
Kính thư.

🌟

Bức thư này được gửi tới từ thị trấn Phong Nguyên tại thành phố Đài Trung, Đài Loan. Bức thư này khiến tôi nhớ lại toàn bộ những sự việc năm xưa đã cứu cô ấy. Cô ấy vốn bị một con ma chết đuối ở phía sau khu nhà cô ở ám vào người. Tôi gọi con ma chết đuối kia là "thủy ma", con ma này chết đuối tại một con sông lớn phía sau nhà cô.

Ban đầu, cô vô duyên vô cớ bị ốm, sốt cao không hạ, lúc đầu không chú ý, về sau bệnh tình trở nên nghiêm trọng mới tìm bác sĩ khám, bác sĩ cũng không tìm ra nguyên nhân. Tóm lại, đã khám mấy vị bác sĩ nhưng vẫn không có kết luận gì cả, bệnh cũng không khá lên. Sau khi bệnh tình giày vò cô nửa năm, mặt cô trở nên đen sạm, nhãn cầu trũng xuống, linh hồn thậm chí còn đi tới âm phủ, lúc thì thấy thần, lúc thì thấy quỷ.

Cuối cùng, cô được người thân đưa đến hàn xá của tôi, tha thiết cầu cứu, dù cô không thể quỳ nhưng vẫn miễn cưỡng quỳ xuống. Khi đó cô yêu cầu mau chóng được ban cho cái chết để không còn phải chịu đau đớn nữa. Khi đó, bác sĩ ở phòng khám ngoại khoa Anh Cát tại huyện Bắc Đồn [Thành phố Đài Trung] cũng nhận định rằng cô chín phần chết một phần sống, không thể cứu được nữa rồi. (Phòng khám ngoại khoa Anh Cát chẩn đoán là bị nhiễm độc tiết niệu.)

Chính vì thấy cô quỳ mọp xuống như vậy, trong lòng tôi vô cùng thương xót. Vốn dĩ thọ mệnh của La Ngọc Cầm đã hết từ lâu, việc này là do tôi bấm ngón tay thần toán nên sớm đã biết rồi. Tuy nhiên, cô lại quỳ như vậy, tôi hướng đến chư Phật nói, người này nếu phải chết thì cho thấy Lư Thắng Ngạn thật vô dụng, con cần phải chứng minh có thể phá được nhân quả về vận mệnh.

🌟

Khi đó, tôi đến nhà cô, ở phía trước và sau nhà ở của cô, tôi dùng ngón tay viết lên hư không "Đại Bạch Tản Cái chú luân", chú âm này dịch ra phiên âm trong tiếng Trung là:
"Ôm. Sa-ơ-oa, ta-tha-cha-tua, a-ni-ka, sư-ta, ta-ba-chưa, hùm, pây. Hùm, ma-ma-hùm-ni, sô-ha."

[ ND: Chú ngữ được phiên âm tiếng Việt để đọc lên chính xác theo bản văn tiếng Trung được sử dụng trong Chân Phật Tông. Nguồn gốc chú tiếng Phạn: Om sarva tathagato anika sitatapatra. Hum pei! Hum mama hum ni soha ]

Tôi biết rằng khi tôi làm như vậy thì con thủy ma kia cũng sẽ không có cách nào vào nhà được nữa, cũng không có cách nào ám lên người cô La Ngọc Cầm. Kể từ khi La Ngọc Cầm được người nhà đưa tới gặp tôi, rồi cô quỳ như vậy, tôi đã thề rằng cần phải đền bù cho cô thêm một số năm thọ mệnh nữa. Cô lại đến phòng khám Anh Cát, bệnh tình dần dần tốt lên rồi hồi phục hẳn.

Bác sĩ ngoại khoa ở Anh Cát cũng cho rằng đây là kì tích. Bác sĩ ở phòng khám ngoại khoa Anh Cát cũng từng đến làm khách tại hàn xá của tôi, sự việc này hoàn toàn là sự thật.

🌟

Nói thật lòng, tôi dùng pháp Đại Bạch Tản Cái để đối phó với bệnh ma, việc này là dùng dao mổ trâu giết gà, bởi vì Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu là Kim Cang Đỉnh Kế Đại Hồi Già Mẫu, là vị nghìn tay nghìn mặt nghìn mắt, vốn là Đại Bạch Mẫu vạn hình tướng cháy rực có một không hai, thống trị tất cả chúng sinh trong tam giới.

Uy lực của Đại Bạch Tản Cái tâm chú có thể khiến cho tất cả kẻ thù tự động rút lui, thiên ma tà ma cũng rút lui, hơn nữa còn có thể phá hủy tất cả lời nguyền giáng đầu, có thể nhờ A Di Đà Phật mà tăng thêm thọ mệnh, phá thiên, địa, thủy ba loại ma, phàm tất cả bệnh tình nguy kịch, giấc ngủ bất an, ma quỷ hiện hình, đều có thể phá bỏ được.

Tu trì pháp Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu có thể đạt được sự ưu ái yêu thích của nhật nguyệt tinh đẩu, ngoài ra còn được ban phúc cát tường. Có thể thọ trì, tụng chú, cúng dường, mang theo thân thì càng có nhiều công đức, khi mệnh chung được vãng sinh Phật quốc, không bị đọa vào lục đạo.

🌟

Tôi đặc biệt ghi ra đây cách tu trì pháp Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu như sau: (Dùng vải màu vàng viết Đại Bạch Tản Cái chú luân cúng dường.)

Quy y Liên Sinh Thượng Sư, quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng.
Nguyện chúng sinh vãng sinh Phật quốc.
Nguyện chúng sinh thoát ly khổ ách.
Nguyện chúng sinh tinh tấn đắc pháp.
Nguyện chúng sinh ác ma lui tán.

Lời tán tụng:
Pháp Không đều là bất trụ tướng
Mẫu Bạch Tản Cái thân màu trắng
Một đầu hai tay ba con mắt
Thân mặc thiên y đội bảo quán
Trên mỗi tay chân đều có mắt
Trái cầm tản cái, phải ban nguyện
Thế ngồi kim cang trên hoa sen
Ôm ben-da, sa-may-a.
Cha Hum Bam Hô, thân hợp nhất
Bởi từ chữ Ôm tỏa bạch quang.
Om A Hùm so ha. (niệm 3 biến)
Cúng dường. (dâng bát cúng)

Niệm Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu tâm chú như sau:
"Ôm. Sa-ơ-oa, ta-tha-cha-tua, a-ni-ka, sư-ta, ta-ba-chưa, hùm, pây. Hùm, ma-ma-hùm-ni, sô-ha."
Mỗi lần tu trì, niệm tâm chú này 108 biến.

Sau đó lại niệm hồi hướng:
Nhất thiết Như Lai vô thượng đỉnh
Hóa thân vi diệu hiện thiên vân，
Uy đức tự tại Bạch Tản Cái
Ngài xuất hiện đây con kính lễ
Pháp Bạch Tản Cái nguyện tu trì
Mau thành pháp quang, vô địch quang
Che chắn chúng sinh hàng thiên ma
Đều cùng bay về chư Phật địa.

🌟

Theo tôi được biết, khi tôi còn trẻ, tôi đã từng đến Thập Phương Đại Giác Tự ở Cơ Long [Keelung - Đài Loan] và được một vị tăng ban cho một lá phù hộ thân Đại Bạch Tản Cái, bên trong có tâm chú và kiên giáp chú, khi đó tôi chỉ biết rằng đây là một trong những thần chú hàng ma. Sau này tu tập Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu tâm pháp để đối trị với ma, có chữ Om của Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu làm tâm ấn, tuôn chảy ra ánh sáng đại quang minh màu trắng, ánh sáng này là bất khả tư nghì.

Tôi cầu nguyện Phật Mẫu từ bi hộ trì cho tất cả chúng sinh, cũng hộ trì cho các đệ tử của tôi, để cho tâm pháp của Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu và sức mạnh uy thần của pháp giúp hàng ma phục yêu. Tôi hy vọng chúng sinh có chí hãy tu trì pháp này, sẽ có được lợi ích lớn.


### 28. Pháp Lục Độ Mẫu trừ ma chướng


Chương này tôi cũng lại công bố một lá thư của đệ tử gửi đến.

Thầy Lư.
Xin chào thầy! Đầu tiên xin kính chúc thầy xuân mới hạnh phúc, mọi sự thuận tâm.
Con là một đệ tử còn khá xa lạ với thầy. Kể từ mùa hè năm ngoái con đã mang nợ tấm lòng từ bi của thầy. Tại tịnh xá Thái Bình, thầy đã ban quán đảnh quy y cho con, pháp lực đi vào trong thân con, nhưng khi đó con vẫn không có cảm giác gì. Đến khi thời tiết vào mùa thu thì con mới có hiện tượng nội công, thân thể sản sinh ra trạng thái linh động. Từ đan điền, chỗ hội âm, có một dạng năng lượng rung động, rung động tới cả tứ chi và xương cốt toàn thân, thỉnh thoảng sự rung động còn cực kì mãnh liệt, giống như sắp biến thành bay lên không vậy.

Khoảng một tháng sau, có một lão cư sĩ tập thiền nhiều năm nhìn thấy khi con tịnh tọa, thân thủ làm động tác kết ấn, thì cảm thấy rất khó hiểu, nên mới đặc biệt bắt mạch cho con, liền phát hiện ra trên người đệ tử có một dòng điện mãnh liệt, do ngón tay bắt mạch đã truyền điện đến khắp toàn thân ông, khiến ông ấy không ngớt kinh ngạc.

Từ đó, khi đệ tử khẽ đặt tay lên lòng bàn tay của người khác, dùng ý niệm để linh lực có thể truyền qua ngón giữa, ngón áp út đến lòng bàn tay của người kia, thì mỗi người đều cảm nhận được một chút phản ứng (nóng, lạnh, tê, như điện giật). Có một số người thậm chí sẽ từ chỗ hội âm sản sinh ra sự rung lắc, nhưng cũng có một số người thì cảm thấy cánh tay tê đi, thậm chí là toàn thân trở nên mất sức.

🌟

Đệ tử cũng mời những người có cảm ứng ngồi cách ba mét trước mặt đệ tử để tịnh tọa. Đệ tử kết thủ ấn (thủ ấn này là  do vô thức sinh ra, ngón trỏ của hai bàn tay hướng cong vào trong, đặt vào cạnh trong của ngón tay cái, còn ngón út, ngón áp út, ngón giữa của tay phải tay trái, thì đầu các ngón tay đều chạm vào đối xứng nhau, hướng ra ngoài, tạo thành hình dạng ba lớp tam giác trùng điệp, ngón út tạo thành lớp dưới, ngón áp út tạo thành lớp giữa, ngón giữa tạo thành lớp trên, đầu hai ngón tay cái chạm vào nhau). Đỉnh nhọn của thủ ấn chĩa thẳng vào đối tượng, dùng niệm lực để khiến cho linh có thể truyền sang đối phương, đối phương sẽ cảm nhận thấy toàn thân bị giật điện, hoặc nhìn thấy ánh sáng trắng, hoặc có dòng diện chạy trên thân, khiến cho thân của người có cảm ứng bị rung lắc, thậm chí có người còn nhìn thấy trong ánh sáng là pháp tướng của Lục Độ Mẫu.

Nếu là người có bệnh trong người thì chỗ bị bệnh phản ứng mạnh mẽ một cách đặc biệt, sản sinh ra tác dụng chữa trị bằng tâm linh. Có người chỉ làm một lần là bình phục, có người thì bệnh tình thuyên giảm.

Trước mắt, những hiện tượng mà đệ tử đã báo cáo, không biết có phải là bình thường không, xin thầy chỉ giáo. Đệ tử ăn chay được gần một năm, từ sau khi ở chỗ của thầy nhận quy y không lâu, bởi vì liên quan đến công việc mà con bị điều đến Đài Bắc. Trong một dịp tình cờ, con đã gặp được một hành giả yoga Ấn Độ (trường phái yoga Ananda Marga), học tập yoga (mantra) pháp, nhưng con vừa ngồi xuống thì xuất hiện thủ ấn linh động, ngay cả hành giả yoga này cũng cảm thấy rất khó hiểu, họ đều cảm thấy là vô cùng kì quái và kinh ngạc.

Thầy ở tận nước Mỹ xa xôi, đệ tử đã hỏi nhiều người, ai cũng không biết, không có nơi nào để hỏi lời khuyên. Con là  đệ tử được thầy chính thức ban quán đảnh quy y, tu hành chính pháp dưới pháp môn Linh Tiên Chân Phật Tông. Nay biết được địa chỉ mới của thầy tại Mỹ, nên con đặc biệt viết thư thỉnh giáo. Con kèm theo chi phiếu cho phí bưu điện gửi hồi đáp, xin thầy cho con mấy lời bình luận.

Đệ tử pháp hiệu Liên Ấm.
Tưởng Truyền Chấn kính thư.

🌟

Điều tôi muốn đặc biệt thông báo với Tưởng Truyền Chấn là, mọi việc của anh cho đến bây giờ tất cả vẫn bình thường. Khả năng tâm linh có thể chữa bệnh là một sự việc chân thực xưa nay, không có chút nào là giả cả. Có người nhìn thấy pháp tướng Lục Độ Mẫu trong ánh sáng, tôi nói để anh biết rằng, vào thời nhà Đường, Lục Độ Mẫu chính là công chúa Văn Thành, là một vị Phật Mẫu tay phải giữ thủ ấn từ bi. Còn có một vị nữa là Bạch Độ Mẫu, chính là công chúa Từ Trân của Nepal, tay phải kết tam xoa ấn. Lục Độ Mẫu và Bạch Độ Mẫu đều tượng trưng cho trí huệ vô song.

Thủ ấn mà tay anh kết chính là một trong những thủ ấn của Lục Độ Mẫu, anh đã dùng thủ ấn của Lục Độ Mẫu để chữa bệnh cho người khác bằng tâm linh, đương nhiên sẽ có công hiệu rất lớn. Đây không phải là chuyện nhỏ. Vị yogi Ananda Marga kia đã không hiểu rõ về trị liệu bằng linh tiên tâm linh.

Rất nhiều vị thầy Phật giáo cũng không hiểu linh tiên tâm pháp. Khởi linh chỉ là mức độ sơ cơ, là phương pháp tiện lợi dẫn dắt người ta gia nhập Phật môn, bởi vì có cảm ứng thì mới có thể khiến người ta tâm trí không thoái chuyển, việc tu trì sẽ được kiên định. Còn tôi dẫn dắt người ta quy y Phật lại dùng quán đảnh Tam hồng thủy, để cho người người đều có được pháp tam giải thoát. Cách làm pháp của tôi thì các vị thầy Phật giáo khác cũng chưa chắc đã hiểu được. Tuy nhiên, tôi thực lòng thực sự biết rằng, tôi đã được chính Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thọ kí quán đảnh, tôi có hoa Phật thủ trên đỉnh đầu, được chính Phật Thích Ca Mâu Ni thọ kí.

🌟

Các thầy Phật giáo khác không hiểu tôi, phàm phu thế tục lại càng không hiểu, có rất nhiều người xem tôi là "ma". Tôi là "ma" cũng được, là "Phật" cũng được, kì thực ma cũng là chúng sinh, những con ma này tương lai cũng là thân quyến của Phật, Phật vẫn cần độ hóa cho ma. Do vậy, tôi cũng chẳng sợ người khác xem tôi là ma, ma này của tôi nếu có thể dạy đạo cho người khác thành Phật thì đó mới là thành tựu vượt qua cả tông phái, công đức lớn khắp thập phương.

Anh Tưởng Truyền Chấn quy y tôi, tiếp nhận quán đảnh Tam hồng thủy, kết thủ ấn Lục Độ Mẫu, vậy thì tôi có trách nhiệm nói cho anh biết phương pháp tu trì Lục Độ Phật Mẫu, hơn nữa Bổn tôn của anh chính là Lục Cứu Độ Phật Mẫu, về sau anh nên tu trì theo pháp Bổn tôn này, tương lai nếu cứ tiếp tục tu trì bền vững thì nhất định sẽ có cảm ứng bất khả tư nghì, có thể cứu giúp được càng nhiều người hơn thoát khỏi bệnh tật khổ ách.

🌟

Pháp tu trì Lục Cứu Độ Phật Mẫu:
Tu trì pháp Lục Độ Mẫu, ban đầu có thể đến các chùa Mật tông để phụng thỉnh một bức pháp tướng Lục Độ Mẫu về nhà cúng dường, các chùa Mật tông thông thường đều có in pháp tướng của Lục Độ Mẫu.

Tịnh tọa trước tiên cần quán tưởng Lục Độ Mẫu rất trang nghiêm, ngồi trên tòa hoa sen, trên đỉnh đầu đội một chiếc mũ Ngũ Phật nhỏ, xung quanh mũ Ngũ Phật có gắn thêm rất nhiều đóa hoa nhỏ xinh xắn, tay trái cầm bông hoa sen mới nở nửa chừng, tay phải kết thủ ấn từ bi, toàn thân màu xanh lục sáng. Bên dưới tòa sen mà Bổn tôn ngồi có cuống sen, cần quán tưởng cuống sen này chạm vào đỉnh đầu của mình, cuống sen phóng ra luồng ánh sáng lớn, có ánh sáng chiếu vào trong thân tâm chính mình, tất cả bệnh tật đều được tiêu trừ, toàn bộ đều tan biến không còn dấu tích, tất cả ma nạn chướng ngại đều được tiêu diệt hoàn toàn.

Toàn thân chính mình giống như Bổn tôn, biến thành màu xanh lục tỏa sáng, trí huệ thần thông, pháp lực thù thắng, phúc thọ phú quý, tất cả đều thành tựu. Việc quán tưởng này có thể làm trước khi tu pháp, hoặc làm sau khi tu pháp đều được.

Trước khi tu pháp thì niệm chú Tứ quy y:
"Namo Guru pei.
Namo Buddha ye.
Namo Dharma ye.
Namo Sangha ye."

[ Nam-mô gu-ru pây. Nam-mô bút-đa yê. Nam-mô đa-ma yê. Nam-mô sang-ga yê ]

Tiếp theo niệm kệ sám hối:
"Quy y Tam bảo tịnh sám hối
Hết thảy nghiệp chướng đều tiêu trừ
Thánh phàm thắng hành đều tùy hỉ
Bồ đề đại tâm hằng hộ trì."

Kết thủ ấn Lục Độ Mẫu. Phát nguyện rằng:
"Nguyện chúng sinh có được mọi niềm vui và nhân duyên đưa đến niềm vui.
Nguyện chúng sinh được thoát ly khổ và nhân duyên của cái khổ.
Nguyện chúng sinh luôn được sống vui vẻ khỏe mạnh không còn khổ đau.
Nguyện chúng sinh chứng oan thân bình đẳng giác."

Đây gọi là Tứ vô lượng tâm, hay còn gọi là đại bồ đề tâm nguyện.

Lời thán rằng:
"Quy y Phật Mẫu Lục Độ tôn
An tọa đỉnh thượng bảo liên tọa
Lục quang chiếu khắp thân tâm con
Pháp lực tu trì đều như ý."

Trì tâm chú Lục Cứu Độ Mẫu:
“Ôm ta-ra tút-ta-ra tu-rê, sô-ha”

[ ND: Chú ngữ được phiên âm tiếng Việt để đọc lên chính xác theo bản văn tiếng Trung được sử dụng trong Chân Phật Tông. Nguồn gốc chú tiếng Phạn tham khảo: Om tara tuttara ture soha. ]

Trì chú này 108 biến. Sau đó quán tưởng ánh sáng quang minh thanh tịnh màu xanh lục, toàn thân trong suốt.

🌟

Tác giả được biết rằng, Lục Cứu Độ Mẫu bởi vì toàn thân màu xanh lục trong suốt, nên người tu trì để có được thân quang minh này thì không được hút thuốc, không được ăn năm loại thực phẩm có mùi hắc [ND: Ngũ tân: hành, hẹ, tỏi, nén, kiệu], bởi vì khói gây chướng ngại mờ mịt, còn năm thực phẩm mùi hắc gây chướng ngại cho thân thể, đặc biệt năm loại thực phẩm này cũng là mẹ của dục niệm, do vậy cấm hoàn toàn.

Không chỉ người tu trì pháp này cần cấm kị mà tu các pháp khác tốt nhất cũng nên cấm kị hút thuốc và năm loại thực phẩm này.


### 29. Nam mô Mật Đa Ngôn tôn giả


Tôi có một đệ tử nhí tên là Giang Dụ Quần. Trong giấc mơ, cậu liên tục nhìn thấy một vị thần linh khổng lồ, sau khi tỉnh dậy đã đặc biệt dùng giấy bút để vẽ lại và gửi cho tôi xem.

Vị thần này rất to cao, trên đỉnh đầu có nhật nguyệt, trên nữa có một cặp thiên long bay lượn vòng tròn, tóc màu đỏ tía bay bay trong gió, con mắt phẫn nộ, tai nhọn hoắt, miệng rộng nhe răng nanh, tổng cộng có sáu cánh tay, một tay cầm chày giáng ma, một tay cầm cung, một tay cầm tên, một tay cầm rìu, một tay cầm khiên, một tay cầm búa tròn như quả bí ngô, một chân bước lên trước, một chân nửa quỳ giẫm lên một con quỷ.

Tôi vừa nhìn thì nhận ra đây chính là Nam Mô Mật Đa Ngôn tôn giả, là một trong những vị thần hộ pháp của Mật tông, hóa ra vị thần này chính là vị thần hộ pháp của Giang Dụ Quần.

🌟

Căn cứ theo kinh điển Mật tông, hành giả Mật tông hoặc là người có duyên với Mật tông đều có thần kim cang bảo vệ, hễ gặp ma nạn thì thần kim cang sẽ lập tức bảo vệ. Đồng thời thần kim cang phần lớn là có kèm theo mật chú, do vậy mật chú có thể đẩy lùi oan ma, đây đều có nguyên nhân là do sự bảo hộ của kim cang thần.

Nói thật lòng, người đã thành tựu Thập Địa Bồ Tát vẫn cần dùng chú để bảo vệ bản thân, huống hồ là chúng sinh nhỏ bé như chúng ta.

Chúng ta, bất kể là Hiển giáo, Mật giáo, hay tu dạo, nhất tâm nhất ý học pháp, thì một là sợ tâm ma, hai là sợ ngoại ma, nhưng khi những con ma này đến thì nhất định cần có pháp để phá trừ.

Các vị đại đức thượng sư thông thường hay nói rằng hãy làm ngơ trước ma và phi ma, ma có đến thì cứ mặc kệ nó, Phật đến cũng mặc kệ, qua một thời gian dài thì tự sẽ không còn gặp chuyện ma nữa. Nếu sinh ra tâm sợ hãi thì chỉ càng làm cho những con ma mà bạn sợ đến nhiều hơn, do vậy không nảy sinh dù chỉ một ý niệm chính là bí quyết để hàng phục ma.

Cũng có cách nói khác là khi Phật Thích Ca Mâu Ni thành Phật, Ma Vương (vua của Tha Hóa Tự Tại Thiên), trong lòng đố kị, liền phái Ma vương tam nữ và một bầy ma nữ toàn thân lõa thể đến để quấy nhiễu Phật Thích Ca Mâu Ni. Khi đó Phật Thích Ca Mâu Ni niệm kim cang hàng ma chú, tay trái kết kì khắc ấn, tay phải búng ngón tay, tất cả ma nữ đều ngã lăn ra đất không gượng dậy được. Do vậy hàng ma kiêm cả ấn và chú, nhưng chú kim cang hàng ma thì uy lực mạnh mẽ nhất, bình thường không dùng thì tốt hơn.

🌟

Tôi biết Nam Mô Mật Đa Ngôn tôn giả là một trong những vị kim cang hộ pháp. Phàm là người có Phật duyên thậm thâm xuất thế thì đạo công càng sâu, ma chướng càng nặng, đây chính là cái gọi là "đạo cao một xích, ma cao một trượng".

Đệ tử Giang Dụ Quần bởi có kim cang hộ pháp của Mật tông, do vậy một cách tự nhiên giống như có duyên với Mật tông. Nếu con gặp ma, có thể trì tụng Bổn tôn hộ pháp thần của mình, khi đó Nam Mô Mật Đa Ngôn tôn giả tự nhiên sẽ đến để hộ trì cho con.

Nhưng, tôi muốn nói với các hành giả tu trì rằng ma cũng là một loại chúng sinh, mặc dù có pháp hàng ma, nhưng đừng tiêu diệt nó, bởi vì tiêu diệt ma rồi thì cũng xem như đánh mất bồ đề tâm.


### 30. Pháp Xích Tử Quan Âm


Chương sách trước tôi nhắc đến Nam Mô Mật Đa Ngôn tôn giả, hơn nữa vị tôn giả này vẫn luôn hộ trì cho Xích Tử Quan Âm. Ở đây có một nhân duyên. Hôm nay, trước tiên tôi công bố một bức thư của ông Giang Đông Hoàng, là bố của đệ tử nhí Giang Dụ Quần gửi đến như sau:

*Thưa thầy Lư,
Trong thư này đệ tử gửi kèm một tờ giấy vẽ hình ảnh vị thần mà Dụ Quần đã thấy trong mơ. Đệ tử không biết đây là vị thần thánh nào, chỉ còn cách làm phiền thầy tìm hiểu giùm cho. Vị này liên tục xuất hiện trong giấc mơ khi Dụ Quần bị ốm, sau khi khỏi bệnh thì cháu đã vẽ lại theo trí nhớ, không biết có đúng không?
(Thần này chính là Mật Đa Ngôn tôn giả.)*

*Ngoài ra còn một sự việc nữa. 11 giờ đêm ngày 14 tháng 11 âm lịch, đệ tử đưa Dụ Quần ra ngoài thì nhìn thấy trên bầu trời có một vị Quan Thế Âm Bồ Tát pháp tướng trang nghiêm, tay cầm hoa sen, vị Bồ Tát này mặt rất đặc thù.*

*Sau khi về nhà thì cháu lại vẽ lại hình ảnh của ngài, nhưng đệ tử hoàn toàn không để ý. Có một ngày, đệ tử và cháu trai Ngưỡng Thần đến một cửa hàng tạp hóa ở khu Quật Giang, Cao Hùng, thì tình cờ phát hiện thấy một vị Quan Âm rất giống với bức vẽ của Dụ Quần, nhưng vì giá quá cao nên đệ tử không có khả năng thỉnh về được. Sau đó anh rể họ Kinh đã bỏ tiền để mua và tặng cho Dụ Quần, đến nay đã khai quang điểm nhãn để thờ cúng tại nhà rồi.
Đây lại là một sự việc trùng hợp kỳ lạ nữa, xin thầy góp ý.*

*Học trò.
Giang Đông Hoàng kính thư.*

🌟

[Sư Tôn trả lời:]

"Thần Hộ pháp của Giang Dụ Quần là Nam Mô Mật Đa Ngôn tôn giả, hơn nữa nay đệ tử này còn thờ cúng Quan Thế Âm Bồ Tát, vậy nên giờ đây tôi biết được thêm là Bổn tôn của Giang Dụ Quần là Quan Thế Âm Bồ Tát. Do vậy trong chương này sẽ dạy cho con pháp Xích Tử Quan Âm. Pháp này con có thể mỗi ngày tu một lần, thành tựu sau này sẽ ngang ngửa với các kim cương thượng sư Mật tông. Pháp hiệu trong tương lai của con là Bát Diệp Liên Hoa Tạng Kim Cương Thượng Sư."

Còn pháp Xích Tử Quan Âm tu trì như sau:
Quy y Liên Sinh Thượng sư.
Nam-mô gu-ru pây. Nam-mô bút-đa yê. Nam-mô đa-ma yê. Nam-mô sang-ga yê.

[Chú ngữ được phiên âm tiếng Việt để đọc lên chính xác theo bản văn tiếng Trung được sử dụng trong Chân Phật Tông. Phạn ngữ: Namo guru peh. Namo buddha ye. Namo dharma ye. Namo sangha ye.]

Đầu tiên, dừng mọi vọng niệm, quán tưởng Phật tâm như gương sáng, tự tâm cũng thanh tịnh, dùng trí huệ quán chiếu tự tính, như vậy vọng niệm sẽ không sinh ra nữa.

Ngồi trước mặt Quan Thế Âm, hai tay chắp hoa sen, quán tưởng chính mình ngồi trên nguyệt luân hoa sen tám cánh, giống như đứa trẻ sơ sinh vậy, nét mặt khẽ cười ngây thơ, ban đầu là để hồi phục lại tâm ngây thơ của một đứa trẻ mới sinh. Hai tay chắp lại chính là ấn hoa sen chưa nở. Đầu tiên, từ tâm của xích tử [xích tử là đứa trẻ sơ sinh] sinh ra chân tâm, rồi lại sinh ra chính tâm, tiếp đó lại sinh ra tâm bình đẳng, rồi lại sinh ra tâm phát nguyện bồ đề.

Hãy nhớ trong quán tưởng có tám con chim khổng tước bay lượn xung quanh, tượng trưng cho niềm hoan hỷ khi Xích Tử Quan Âm xuất thế. Ngoài ra, sau lưng Xích Tử Quan Âm có vị hộ trì là Nam Mô Mật Đa Ngôn tôn giả, không sợ thiên ma đến làm hại. Cần quán tưởng hết tất cả những điều này.

Sau đó, trong quán tưởng nếu nhìn thấy chữ "Om" trong nguyệt luân ở trong tâm Quan Thế Âm Bồ Tát phóng ra ánh sáng trắng, bạn có thể hít sâu một hơi để hít ánh sáng trắng này vào, theo thời gian, khi ánh sáng trắng này trong người bạn nhiều lên, thì thân sẽ hiện lên như viên ngọc thủy tinh, trong suốt. Thời gian quán tưởng từ 10 đến 20 phút là được.

Sau đó tụng: “Ôm ma-ni pê-mê hum” [Om mani padme hum] là tâm chú của Quan Thế Âm Bồ Tát, tổng cộng 108 biến, tay có thể lần chuỗi hạt.
Tụng xong chân ngôn thì lại niệm:
*Với tâm Xích Tử xin phát nguyện
Đắc thành tự tại Quán Âm tôn
Phổ độ chúng sinh nhiều vô số
Đều được an trú nơi Phật địa.*

Mặc dù cách tu đơn giản nhưng rất có công hiệu, không được coi thường pháp này. Đây là thành tựu tột cùng của Bát Diệp Liên Hoa Tạng Kim Cương Thượng Sư.

🌟

Tác giả biết rằng Mật thừa truyền đến từ Tây Tạng gọi là Tạng mật, từ Tây Tạng truyền đến Nhật Bản rồi lại từ Nhật Bản truyền về thì gọi là Đông mật.

Mặc dù người tu hành Mật tông thì nhiều, nhưng người hoàn toàn hiểu rõ nguyên lý của Mật tông thì không nhiều. Có nhiều người chạy loạn lên tìm kiếm bên ngoài, không hiểu được rằng thực tu nội chứng mới là quan trọng.

Rất nhiều người cho rằng quy y Mật tông thì hôm nay đến pháp hội quán đảnh này để xin quán đảnh, ngày mai lại đến một nơi khác để xin quán đảnh. Hôm nay thì là pháp Bổn tôn này, ngày mai thì là pháp Bổn tôn kia. Mặc dù những gì học được thì nhiều nhưng chướng ngại lại càng nặng, như vậy thì ngược lại thành ra không tốt. Chi bằng thực tu một loại pháp, sau khi đã thông thạo một pháp rồi thì trăm pháp đều thông. Chỉ cần thực tu đến khi đắc chứng được một pháp thì ấn chứng trong tương lai tự khắc sẽ lần lượt hiển lộ.

Tôi có lời khuyên thế nhân, quán đảnh cần tìm thượng sư tốt để xin quán đảnh, nếu là pháp sư loạn cào cào thì cũng giống như dùng ngũ trược ác khí để quán đảnh cho chúng sinh mà thôi. Ngược lại, những chúng sinh đó thì chẳng có được sự thanh tịnh, lại thành ra từ đầu đến chân bị dội đầy nước phân. Những nghiệp tội, nhiễm bẩn không được loại trừ, ngược lại còn tăng thêm ô nhiễm.

Nói tới nói lui, bất kể là như thế nào, tu Mật tông cần phải dùng đến công phu ý lực kiên trì, thì ngoại chứng nội chứng đều đạt được, khi đó mới chính là một vị kim cương thượng sư chuẩn một trăm phần trăm.


### 31. Sự bại hoại của rắn và bọ cạp


Trong cuốn sách "Thế giới của con mắt thứ ba", trang 21, tôi đã viết một chương là "Tránh xa rắn và bọ cạp". Trong bản văn đó tôi đã tỉ mỉ thuật lại sự việc về một cặp vợ chồng đều bái tôi làm thầy. Tôi biết người phụ nữ này tính nết như rắn độc bọ cạp, nhưng tôi vẫn nhận bà làm đệ tử, vì tôi làm theo mục đích từ bi chúng sinh của Bồ Tát để mong cảm hóa bà ta. Sau đó, quả nhiên tôi đã nhận lại sự phỉ báng. Đây chính là đại ý của chương "Tránh xa rắn và bọ cạp". Trong bản văn, tôi kể rằng, dựa theo "động huyền pháp" bấm ngón tay tính toán thì chòm sao Xà Yết [ ND: Xà, Yết là tên gọi của hai chòm sao, đồng thời có nghĩa là rắn và bọ cạp ] này cũng sẽ không chiếu sáng quá lâu, đến nay quả nhiên đã ứng nghiệm rồi.

🌟

Nhân đây, tôi công bố một bức thư học trò gửi đến để chứng minh như sau:
Chào thầy Lư, chúc mừng năm mới.
Hôm nay là ngày mồng một đầu năm mới, vốn dĩ là một ngày khiến cho người ta tràn đầy niềm hy vọng, nhưng chúng con lại đang đối mặt với một tình huống vô cùng bi thảm. Bởi vậy nên chúng con đang trải qua những ngày Tết trong sự bất an và lo âu.

Đúng như những gì mà thầy đã đề cập đến về một "nữ xà yết tinh" trong cuốn sách "Thế giới của con mắt thứ ba", hôm nay thực sự đã được ấn chứng rồi. Chúng con rất hối hận đã không nghe theo lời cảnh tỉnh của thầy là cần phải cẩn thận mọi lúc mọi nơi.

Vợ chồng Lâm Thị vào ngày 6 tháng 2, lấy lý do con gái ở nước ngoài làm đám cưới nên đã lén trốn ra nước ngoài. Hai ngày trước đó, thị trường cổ phiếu liên tiếp hai ba phiên bán tháo lớn, bây giờ cả công xưởng cũng đã đóng cửa rồi. Cha của con bị họ làm liên lụy, bây giờ nợ nần khó tránh, khả năng sẽ vi phạm vào luật công cụ chuyển nhượng. Thân làm con cái như chúng con cũng buồn đến rơi nước mắt vì cha mẹ, tâm trạng này không có bút mực nào mô tả được hết.

Sự việc xảy ra đúng vào dịp xuân mới, vốn dĩ nhà nhà hoan hỉ, tâm tình vui vẻ, nhưng những gia đình, bạn bè, người thân có liên quan đến vợ chồng Lâm Thị đều phải gánh một món nợ lớn. Những nhân vật đã từng hô mưa gọi gió, uy phong bát diện, thì nay những kẻ phải chịu trách nhiệm đã kéo cả nhà trốn ra nước ngoài, còn những nhân công ở công xưởng thì tiền lương cũng phải thông qua sự đồng ý của cục tổng công đoàn xã hội của ủy ban huyện.

Bọn họ vẫn luôn tín Phật, tự cho mình là những nhà làm từ thiện, thế mà nay lại làm cái việc khiến người và thần đều phải phẫn nộ. Kiếp nạn này của cha con khó tránh khỏi lao tù, khả năng phải vào tù làm nghĩa vụ. Nhưng chúng con rất không cam lòng, thậm chí đã nghĩ đến chuyện báo thù. Thưa thầy, xin thứ lỗi cho chúng con đã có suy nghĩ như vậy, nhưng sự phẫn nộ này khó có thể tiêu tan. Từ nay trở đi chúng con nên làm thế nào, xin thầy chỉ rõ cho chúng con.

Xin gửi lời hỏi thăm đến Sư Mẫu và các em, chúc xuân mới vui vẻ.
Học trò.
Một người thầy đã biết tên. Kính thư.
(Con gửi kèm theo một trang báo, xin thầy xem qua.)

🌟

Nhận được bức thư và bài báo này, tôi thực sự buồn mất mấy ngày. Nó khiến tôi nhớ lại chuyện cũ cách đây 7 năm, tôi nhất thời phát khởi tâm bi mẫn khi thấy họ một ngày ba lần đến, tỏ ra rất kiền thành, thế nên tôi đã dùng hai pháp để giúp đỡ cho sự thịnh vượng của họ.

Một là pháp "nhật nguyệt trì quang minh", hai là pháp "liên hoa quan tỏa", hơn nữa còn nói rõ sau 7 tháng nữa họ sẽ phát đạt. Khi dùng pháp này, thì khi đó liền có ngay hai người đích thân đưa tiền cho họ mượn để vượt qua cửa ải khó khăn. 7 tháng tiếp theo quả nhiên doanh thu của họ từ 300 vạn mỗi tháng trở thành 1500 vạn mỗi tháng. Trong khoảng thời gian rất ngắn (khoảng một năm), họ đã kiếm được trên 60 triệu tệ, họ thực sự là hô mưa gọi gió, không ai ngăn cản được.

Đương nhiên, sau khi có tiền rồi, lời nói, hành vi, khẩu khí của họ đương nhiên đã khác so với khi xưa khi họ đến cầu tôi giúp. Không phải là một ngày ba lần, phải thừa nhận là họ vẫn có sự cung kính đối với tôi, nhưng phần nhiều là không như trước, trước đây một ngày tới ba lần thì nay trở thành một năm một lần. Cá nhân tôi cũng tự mình biết rằng giờ người ta có tiền rồi, xe thì mua hết cái này tới cái khác, ngay cả con cái cũng lái xe mới, tôi là thầy thì qua cầu rút ván là xong, chẳng còn giá trị sử dụng nữa.

🌟

Khi đó tôi chỉ có ba lời khuyên cho họ:
Một là, đừng dùng số tiền kiếm được mà tiêu xài bừa bãi vào việc xây dựng mở rộng nhà xưởng, tiền nợ phải trả thì mau trả lại, số tiền còn lại thì tiết kiệm để phòng những lúc cần đến. Câu nói này tôi nhấn mạnh đi nhấn mạnh lại.

Hai là, mau chóng tu Phật đạo làm từ thiện, bố thí công đức, in ấn kinh sách để tích lũy công đức để bổ sung cho những công đức mình còn thiếu, nhờ đó mà phú quý sẽ có được liên tiếp không dừng, những thiện nguyện đã đưa ra thì phải lần lượt thực hiện.

Ba là, đối với người khác đừng hợm hĩnh, đừng vọng tạo khẩu nghiệp, thân nghiệp. Cần phải dừng tham niệm, biết đủ mà hài lòng, cần biết điểm dừng. Mỗi ngày đừng quên thực hành khóa tu Phật, thành tâm lễ Phật, thì tự sẽ có thiện báo. Nếu không tương lai nhà xưởng sẽ rơi vào tay người khác.

Về sau, họ đã dùng số tiền kiếm được để xây dựng và mở rộng nhà xưởng. Rồi còn xây nhà riêng, trang trí cực kì sang trọng, mua về dàn âm thanh tốt nhất, phàm tất cả mọi thứ hưởng thụ được thì họ đều có hết. Nhưng ngôi nhà riêng này đều không hợp với tất cả địa lý. Họ thay đổi khu mộ của bố cũng không rõ đã nhờ thỉnh đến thầy địa lý nào. Tóm lại, người thầy là tôi đây từ lâu đã bị họ mau chóng đá ra ngoài rồi. Mặc dù vậy, tôi vẫn thông qua học trò là Trần Chính Hùng nói cho họ những lời cảnh báo này, nhưng người giàu thì tâm cao ngạo, những lời của tôi chỉ như gió thổi qua tai ngựa mà thôi.

🌟

Cặp vợ chồng này giàu có đến đỉnh điểm. Người phụ nữ yêu tinh bọ cạp này vì có tiền có thế, nên đã biến trở thành "một đại diện hình ảnh phụ nữ nổi tiếng", lên làm hội trưởng câu lạc bộ gì gì đó. Khi thành lập hội này thì phó tổng thống cũng đích thân đến dự, tiếng tăm trở nên lừng lẫy. Còn người thầy là tôi đây thì mặc dù ở nước ngoài xa xôi, nhưng đến cả một lá thư thông báo cũng không có, họ đã hoàn toàn quên sạch. Riêng người chồng của người phụ nữ này thì ăn no mặc ấm rồi sinh thói dâm dục, còn mua nhà riêng cho bồ nhí.

Kết cục cuối cùng càng kì lạ. Chuyện của ông chồng bị lộ ra, nhưng họ lại đổ trách nhiệm lên đầu tôi. Trời ạ! Một năm gặp mặt không tới một lần, giờ nồi cháy bắt tôi phải đền, cái thế giới gì thế này, rõ ràng như trời với đất, lẽ nào chẳng còn vương pháp đạo trời? Người thầy là tôi đây chỉ là một tên thầy cho người ta mắng chửi hay sao?

Cặp vợ chồng rắn và bọ cạp đó chẳng phân biệt trắng đen đúng sai, công khai phỉ báng ân nhân đã cứu mạng họ, thực sự họ đã làm một việc xấu xa không thể chấp nhận nổi, khiến cho tôi vô cùng đau lòng, buồn bã rời khỏi quê hương.

Tôi thỉnh thị Phật Bồ Tát, Phật Bồ Tát nói:
"Từ bỏ phương nam duyên chúng sinh
Một bước lên mây phương tây tiến
Mộng đêm từ nay chẳng vì nước
Thì chẳng còn tạo nên nhiễu phiền."

Bài thơ này là do Phật Bồ Tát dành cho tôi khi tôi rời quê hương, là Phật Bồ Tát muốn tôi tránh xa những lũ rắn và bọp cạp nhỏ mọn này. Hơn nữa chư vị còn chỉ thị rằng, người phụ nữ kia sẽ nhận được báo ứng, suốt cuộc đời bà sẽ "bụng bò dưới đất, răng nhọn chĩa ra, trong mồm ngậm độc, gây chiến như rắn, chính là một con rắn hoa ban dài ngoằng."

🌟

Kì thực, tác giả đã tu tập nhiều loại pháp của Phật đạo, thiên văn địa lý cũng tường tận, bản thân đã ấn chứng ngoại thành bát pháp và nội thành bát pháp, từ lâu đã tự tâm minh bạch, tự tại giải thoát. Tôi không những đã biết quá khứ tương lai, cũng có thể thay đổi nhân quả, thành bại của vợ chồng Lâm Thị từ lâu tôi đã nắm trong lòng bàn tay, từ đầu tôi đã muốn cứu họ. Tôi đã sớm biết tương lai sẽ xảy ra việc không tốt thế này, chỉ là tôi vẫn một lòng nhân từ, nhất thời không nỡ bỏ họ mà thôi.

Đây chính là:
"Một lòng từ bi thiện niệm
Hóa thành nước chảy hoa trôi
Thánh hiền khổ tâm một nỗi
Ai người có thể đếm đo."

Vợ chồng Lâm Thị, thiếu nợ thì phải trả tiền, lẽ trời rõ ràng, đừng cho rằng tạm thời trốn được thì có thể trốn được mãi. Tôi khuyên các người mau tu Bách tự minh chân ngôn của Kim Cang Tát Đỏa:
“Ôm, bên-da, sa-tô, sa-may-a. Ma-nu-pa-lay-a. Bên-da, sa-tô, tê-nô-pa-ti-tra. Tri-đố mê-ba-oa. Su-tô-thai-ô, mê-ba-oa. Su-pô-thai-ô, mê-ba-oa. A-nu-rắc-tô, mê-ba-oa. Sa-oa, sít-đi-mê-pô-ra-yát-sa. Sa-oa, ka-ma, sút-sa-mê. Chi-ta-mô, su-ri-rưn, ku-ru-hum. Ha ha ha ha hô. Ba-ka-uân, sa-oa, ta-tha-gát-ta. Ben-da, ma-mê-mun-sa. Ben-di, ba-oa. Ma-ha, sa-may-a, sa-tô. A. Hum. Pây.”

[ ND: Chú ngữ được phiên âm tiếng Việt để đọc lên chính xác theo bản văn tiếng Trung được sử dụng trong Chân Phật Tông. Phạn âm: Om vajrasattva. Samaya manupalaya. Vajrasattva tvenopatistha. Dridho me bhava.  Sutokayo mebhava. Supokayo mebhava. Anurakto mebhava. Sarvasiddhim me prayatsa. Sarvakarma sutsame tsitam shreyam kuru. Hum. Ha ha ha ha Hoh. Bhagawan sarva tathagata. Vajra mame muntsa. Vajri bhava mahasamaya sattva. Ah. Hum. Phat ]

Khi đọc chú ngữ trên sẽ có những công đức như sau:

1. Có thể tiêu trừ mọi nghiệp chướng đã tạo nên từ vô thủy đến nay.

1. Có thể dừng tất cả ác niệm, khiến ác niệm không còn tăng trưởng.

1. Có thể phá trừ tất cả phiền não.

1. Có thể tăng trưởng vô lượng vô biên phúc phận.

1. Có thể tạo ra đủ loại công đức, sau khi tu pháp xong mà trì thêm chú này thì có thể loại bỏ được mọi lỗi lầm trong lúc tu trì, cũng như bổ sung những thiếu sót.

1. Tùy nguyện sở cầu, đều được như ý.

🌟

Tôi nói các người đời này cần trì tụng Bách tự minh chân ngôn ngay, một là sẽ cứu được ông Lâm dừng ngay ác niệm, hai là cứu được bà Lâm không phải chịu báo ứng làm rắn độc. Mặc dù các người hại tôi chửi tôi, nhưng tôi vẫn cứu các người, và cũng chỉ có cách truyền pháp này cho các người thôi. Ai bảo tôi đã nhận các người làm học trò chứ. Nếu các người thực lòng sám hối thì có thể đến tìm tôi, tôi sẽ vẫn truyền pháp tu cho các người.

Trước hết tôi muốn các người hãy tu sám hối, các người chửi Phật chửi thầy thì xin hãy thường niệm:
"Ác nghiệp xưa nay con đã tạo
Đều bởi vô thủy tham sân si
Sinh ra đều bởi thân ngữ ý
Đã phạm thập ác ngũ vô gián
Và nghiệp tội như samaya
Vô biên vô lượng bao loại tội
Nay con hết thảy xin sám hối
Chư Phật thương xót hãy tiếp nhận
Đến khi thành Phật, đừng rời xa."
iệm chú sám hối:
"Om. Benza samaya sato. Ah."

Hãy mau tu hai pháp này, nếu không, các người sẽ không kịp cứu đâu, chắc chắn sẽ nhận lấy báo ứng. Hãy mau nghe lời thượng sư, bằng không sẽ chỉ còn biết khóc thôi, xin hãy nhớ rõ. Nhân quả báo ứng, thời gian sẽ trả lời, chẳng sai chẳng trật.


### 32. Bố vợ chuyển thế tại Điểu Tùng


Bố vợ của tôi là Lư Kim Thủy, qua đời năm 77 tuổi, tại thị trấn Thái Bình, Đài Trung, Đài Loan. Trước khi ông qua đời, tôi nhìn thấy linh ảnh Địa Tạng Vương Bồ Tát và bố vợ đến trước giường của tôi.

Bố vợ nói với tôi rằng, ông ấy đã nhận được "lệnh triệu tập", đương nhiên, tôi lập tức biết rằng việc này nghĩa là thế nào.

Tôi hỏi:
"Bố chuyển thế đến nơi nào?"
"Bồ Tát nói kiếp này bố thích đi du lịch, nên sẽ chuyển thế làm chim." - Bố nói với tôi.
"Chim? Chim là loài bay trên trời, sao có thể như thế được!"

Tôi quay qua hỏi Địa Tạng Vương Bồ Tát, Bồ Tát là Bổn tôn tu pháp của tôi, là Bổn tôn Bồ Tát mà tương lai tôi sẽ thành tựu, giữa chúng tôi rất thân thiết.

"Ông Kim Thủy là bố vợ của ngài, cả đời ông không phạm vào tội gì lớn, nhưng tu hành một chút cũng không có, mặc dù có tin thần, nhưng chỉ là lạy lạy mà thôi, ông ấy là người không thiện không ác, duy nhất thích chu du khắp nơi, dựa vào luật nhân quả thì tự nhiên ông sẽ chuyển thế làm chim thì sẽ là con đường đẹp nhất, không có gì miễn cưỡng, do vậy mới dựa vào tính cách của ông để mà chuyển thế." - Bồ Tát nói.
"Nhưng Lư Kim Thủy là bố vợ của tôi, Bồ Tát không thể nào để bố vợ của Lư Thắng Ngạn chuyển thế làm chim được! Tôi sẽ tu một pháp để giúp ông ấy."
"Người đã nhập âm, hồn bay phách tán, tất cả đã muộn rồi."
"Thực sự không có cách nào vãng sinh sao?"
"Đúng vậy." - Bồ Tát nói: "Trừ phi ngài bỏ ra một ít công đức mà ngài tự mình tu được cho ông ấy, thì ông ấy vẫn có thể chuyển thế làm người."
"Được thôi, tôi đồng ý." - Tôi nói.
"Bởi vì ngài đã cho phép, vậy thì chuyển thế làm người vậy."
"Địa điểm ở chỗ nào?"
"Điểu Tùng, thị trấn Điểu Tùng tại thành phố Cao Hùng, ở khu vực gần hồ nước trong. Bởi vì khi sắp chết ông ấy vốn muốn chuyển thế làm chim, nhưng vì ngài giúp ông ấy, nên chỉ có cách đưa ông ấy về tái sinh làm người tại thị trấn Điểu Tùng, như vậy cũng hợp được một chữ điểu."

Sau khi Bồ Tát nói với tôi những điều này, bố vợ tôi và Bồ Tát liền cùng nhau biến mất. Sáng ra, tôi đem sự việc này kể với nhà tôi là Lư Lệ Hương, cùng với ba anh em Trần Tước Viên, Trần Sâm Hà, Trần Sâm Long là bạn tốt của tôi. Ngoài ra còn có ông Vương Thạch Lân cũng biết chuyện này, bởi vì ông Vương vừa hay mới từ Đài Loan đến đây chơi.

🌟

Buổi chiều, theo giờ Đài Loan là sáng sớm, bố vợ tôi đã qua đời. Người nhà từ Đài Loan gọi điện đến, kì thực không những tôi đã sớm biết, thậm chí tôi còn biết sớm hơn họ một ngày, đặc biệt là tôi còn biết thêm là ông sẽ chuyển thế đến thị trấn Điểu Tùng ở thành phố Cao Hùng. Bố vợ tôi qua đời, sẽ tái sinh tại Điểu Tùng.

Vào buổi tối, tôi đến đại siêu thị mua rất nhiều hoa quả và đồ điểm tâm, rồi tại Phật đường trong nhà, tôi cùng Lệ Hương, Phật Thanh, Phật Kì, tất cả cùng niệm kinh, tụng kinh siêu độ, cầu Bồ Tát bảo vệ, để cho ông được tái sinh vào trong một gia đình người tốt, gặp được duyên Phật, sớm tu hành, sau này được vãng sinh đến Tây phương cực lạc thế giới Phật quốc, tránh phải chịu khổ trong lục đạo luân hồi. Đây là những hy vọng của chúng tôi.

Đối với bố vợ tôi, tôi có chút hối tiếc, bởi vì tôi là một người biết đại pháp, lẽ ra tôi nên đem đại pháp giao phó cho người thân, để người thân cũng có thể vãng sinh, không phải chịu khổ trần thế. Nhưng con người tôi lại cũng rất có cá tính, tôi vẫn luôn luôn để "tùy duyên", không miễn cưỡng người khác. Anh không đến cầu thì tôi cũng sẽ không nói, với bất kì ai cũng vậy. Tôi không có một chút xíu nào miễn cưỡng đối với việc tu hành học Phật. Cho dù có là người thân, nhưng họ không cầu đến tôi thì tôi cũng không nói. Đây là duyên phận, tất cả những nhân nhân quả quả này đều là duyên phận mà thôi.

🌟

Có hay không nhân quả báo ứng? Có hay không luân hồi? Sao lại không có chứ. Tôi cười những người "ăn cơm khoa học", và cả những người "mê tín khoa học", những người như thế sau khi chết đi, khi tất cả đều hiểu ra thì mọi thứ cũng đều muộn rồi.

Tôi thực lòng thực sự nói với số đông chúng sinh rằng thực sự có linh hồn, thực sự có nhân quả, thực sự có luân hồi, mọi người hãy mau tìm cầu minh sư, mau tìm cầu thượng sư, mau mau tu hành, đừng đợi chết đến nơi rồi mà vẫn không giác ngộ, đừng trách Lư Thắng Ngạn tôi sao cứ viết nhiều sách cảnh cáo như vậy. Đến lúc đó đừng đổ tội, than trời trách đất, trách người.

🌟

Tôi có một diệu pháp tiện lợi, bất kì ai đều thích hợp để tu trì. Pháp này gọi là "Tọa liên vãng sinh pháp". [pháp ngồi hoa sen vãng sinh]

Đầu tiên thỉnh một người biết làm thủ công bằng giấy, làm một đóa hoa sen thật đẹp, màu vàng kim, màu đỏ, màu trắng đều được, rồi cúng trước tượng Phật Bồ Tát. Mỗi ngày như pháp tu trì một lần.

Trước hết niệm:
“Namo Liên Sinh Thượng sư.
Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê.”

[Chú ngữ được phiên âm tiếng Việt mô phỏng khẩu âm của Liên Sinh Hoạt Phật Chân Phật Tông. Phạn ngữ: Namo guru beh. Namo buddha ye. Namo dharma ye. Namo sangha ye.]

Lúc này chắp tay lại là được. Tiếp đó tay kết ấn Kim cang samaya và niệm Tứ vô lượng tâm:
Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ.
Nguyện hết thảy chúng sinh chứng oan thân bình đẳng giác.

Rồi phát tâm rằng:
"Đệ tử tên là……………, từ nay tu học Tọa liên vãng sinh pháp, nhận Liên Sinh pháp sư làm Thượng sư, từ nay xin gần Tam Bảo, phát đại bồ đề tâm, thề nguyện cùng chúng sinh cùng chứng bồ đề."

Niệm chú:
“Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm.”

Lại niệm:
“Ôm a-mê-li-tưa-hây hùm-pây.”

Tam niệm:
“Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng.”

Lúc này người tu trì tĩnh tọa quán tưởng trước mắt hiện lên một vị A Di Đà Phật của Tây phương Cực Lạc thế giới, toàn thân màu đỏ, tướng mạo trang nghiêm, tay phải đưa xuống, tay trái cầm đài hoa sen. Rồi lại thấy A Di Đà Phật ném bông hoa sen này cho bạn, bản thân bạn liền một lòng một ý ngồi lên trên bông hoa sen. Chỉ trong sát-na, bạn đã bay đến Tây phương Cực Lạc thế giới, bay nhanh giống như một tia chớp lóe lên vậy, lập tức hoa nở thấy Phật, vẻ mặt A Di Đà Phật khẽ cười.

Lúc này, người quán tưởng có thể chắp tay niệm "Tọa liên vãng sinh chú" 108 biến.
Chú rằng: “Ôm bê-ma-ta-li hùm.”

Niệm xong thì hồi hướng:
"Con nguyện lúc lâm chung
Tận trừ mọi ràng buộc
Hoa sen mau xuất hiện
Vãng sinh trong sát-na."

Làm như vậy mỗi ngày một lần. Đến cuối cùng chắc chắn sẽ cát tường viên mãn.
Cần ghi nhớ điểm quan trọng nhất là, có thể dùng giấy bóng kính hoặc hộp thủy tinh để gói bông hoa sen lại, cúng trước Phật Bồ Tát, bình thường dùng vải sạch để lau bụi bám bên ngoài để giữ cho nó được luôn luôn sạch sẽ sáng bóng, đợi đến khi lâm chung thì nhờ người thân con cháu đem hoa sen đốt để có thể ngồi lên hoa sen mà vãng sinh.

🌟

Tác giả biết ở Gia Nghĩa, có một vị pháp sư đã lợi dụng pháp này, dùng giấy bìa carton để làm thành ghế ngồi hoa sen, sau đó để cho tín đồ ngồi lên, pháp sư liền niệm chú, đưa ngón tay chỉ và hét lên một tiếng: "Chi". Sau đó tín đồ bước xuống, ngay lúc đó ghế ngồi hoa sen được đem đốt, để biểu thị rằng người này đã có được một bông hoa sen rồi đó. Mỗi lần ngồi như vậy ông ta thu phí tới hàng vạn đồng, pháp sư này dùng cách này đã kiếm được một khoản tiền lớn, kết quả là giàu có khắp vùng.

Nhưng pháp "Tọa liên hoa vãng sinh" thực sự là không cần phải thỉnh pháp sư đến để làm pháp hộ, mà là tự mình có hằng tâm tu trì, lâu ngày công phu sẽ dày lên, vào lúc lâm chung hoa sen sẽ như lúc bình thường quán tưởng, hoa mở ra là thấy Phật đến, vô cùng nhanh chóng và cứ thế ra đi một cách chắc chắn. Việc này đã có ấn chứng, không phải là nói khoác.

Vị pháp sư ở Gia Nghĩa kia mặc dù rất khôn khi dùng phương pháp này, nhưng tín đồ lại thiếu mất công phu tu trì, tiêu rất nhiều tiền nhưng trong tâm không có hoa sen thì hoa này sẽ không vững bền, vẫn chỉ là hư huyễn không thể tin được. Chi bằng tự mình tu để có tác dụng chân thực và ổn định, thì sẽ tương đối chắc chắn và đáng tin hơn là pháp sư dùng phương pháp đốt hoa sen để kiếm tiền.

Còn tôi dạy mọi người tu pháp "Tọa liên vãng sinh", tôi dám bảo đảm rằng, chỉ cần có thể làm theo một cách bền bỉ liên tục, tôi nguyện bảo đảm rằng nếu bạn không thành Phật, tôi Lư Thắng Ngạn thề không thành Phật.

[ ND: Chú ngữ được phiên âm tiếng Việt để đọc lên chính xác theo bản văn tiếng Trung được sử dụng trong Chân Phật Tông. ]


### 33. Chân định không sợ yêu ma


Một người tu đạo, khi thực sự nhập định thì sẽ không sợ yêu ma đến quấy nhiễu. Người bị quấy nhiễu là vẫn chưa thực sự nhập định. Bởi vì hiện tượng "chân định" còn được gọi là "bí mật trang nghiêm", chắc chắn luôn có 36 thiên thần bảo vệ, các lỗ chân lông của người nhập định chắc chắn sẽ phóng ra kim quang [ ND: ánh sáng màu vàng kim ], trong mỗi một tia kim quang chắc chắn có một vị tôn hóa Phật. Trước sự vinh diệu nhường ấy, bầy ma nhìn thấy sẽ hoảng sợ khiếp đảm, sao còn dám đến để bắt nạt. Trừ phi công phu nhập định chưa tới thì mới có thể tẩu hỏa nhập ma, thần hồn điên đảo.

Khí của người nhập định sẽ tạo nên một ngọn núi cao khổng lồ, cứng như kim cương thạch bàn, những yêu ma thông thường cũng không thể nào đi qua được. Tất cả yêu ma đều chỉ ở xa xa mà không thể tiếp cận được.

🌟

Tác giả nhập định (Kim cang tam muội đại định), thứ tự thực hành như sau:
Bước một, trước tiên tôi tắm rửa sạch sẽ toàn thân, ngồi trước Phật lễ bái dâng hương. Trước khi lễ bái, tôi mặc áo cà sa đeo chuỗi hạt, khoác giới y, đội hồng quán [ ND: mũ miện đỏ ] tay phải cầm chày kim cang, tay trái cầm chuông kim cang. Sau đó dâng cúng, rẩy tịnh thủy, khiến cho pháp tọa và bản thân đều thanh tịnh. Sau đó lại lên pháp tọa và ngồi xuống.

Bước hai, trước tiên tôi quán tưởng Bổn tôn của mình là Địa Tạng Vương Bồ Tát, thân màu hồng, đầu đội mũ Ngũ Phật, đại minh lục tự chân ngôn, bờ vai cong tỏa ra ánh sáng lục sắc. Địa Tạng Vương Bồ Tát với cái nhìn từ bi, tướng mạo trang nghiêm không gì sánh bằng, thân mặc áo cà sa màu đỏ thẫm, trang trí thêm các loại trân bảo. Tay phải cầm cây trượng để phá cổng địa ngục, tay trái cầm chuỗi hạt thất bảo quang minh, ngồi trên nguyệt luân hoa sen, an trụ trước mặt tôi. Từ trán ngài phóng ra một đường kim quang bao chùm lấy tôi. Thế rồi, tôi tụng thánh hiệu Địa Tạng Vương Bồ Tát và chú ngữ chân ngôn của Bổn tôn.

Bước ba, lúc này Địa Tạng Vương Bồ Tát liền hóa thành hồng quán, nhập vào hồng quán, hồng quán phóng quang, từ trong hồng quán tuôn chảy ra cam lộ. Cam lộ này từ đỉnh đầu chảy xuống tới chân, khiến cho nội tâm tôi vô cùng cảm động. Cam lộ rửa sạch hết tất cả mọi nghiệp tội của tôi từ vô thủy đến nay. Tất cả nghiệp tội, bệnh tật, ma chướng của tôi đều được tiêu diệt hoàn toàn. Lúc này tôi như thánh giả, chỉ trong một sát-na là đã đạt được giải thoát tam muội.

Bước bốn, lúc này Địa Tạng Vương Bồ Tát thu nhỏ lại như một điểm ánh sáng mãnh liệt nhỏ bằng hạt gạo, từ lỗ trên đỉnh đầu của tôi đi thẳng vào trung mạch, rồi ngự tại tòa sen trong tâm thanh tịnh của tôi. Thế rồi tôi tụng thánh hiệu Địa Tạng Vương Bồ Tát và chân ngôn, lần tụng niệm này tất cả đều là kim cang niệm.

Bước năm, lúc này Địa Tạng Vương Bồ Tát lại từ từ phóng to ra, cho đến khi thân của Địa Tạng Vương Bồ Tát lớn bằng thân tôi, từ đó hai chúng tôi bí mật hợp nhất. Khi đã hoàn toàn hợp nhất rồi thì Địa Tạng Vương Bồ Tát chính là tôi, tôi chính là Địa Tạng Vương Bồ Tát. Địa Tạng Vương Bồ Tát và tôi hoàn toàn không khác biệt.

🌟

Ở mức độ bí mật trang nghiêm này thì tất cả đều thành tựu. Toàn thân tôi có thể phóng quang, to lớn như hư không, có thể hoàn toàn hợp với trời đất, khí toàn thân tỏa ra to lớn như núi Tu Di, nhấc mình là đến Tây phương cực lạc thế giới Phật quốc, du hành khắp thập phương pháp giới, có thể đi tới bất kì Phật quốc nào. Đồng thời có thể đi vào địa phủ, xuống đến tận địa ngục vô gián. Tôi tức là Địa Tạng Vương Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát tức là tôi, thành tựu tất cả Phật sự trang nghiêm, độ hóa vô tận hết thảy chúng sinh.

Nếu có yêu ma đến, vừa nhìn thấy cảnh tượng này thì con ma nào cũng thất kinh. Các loài có căn tính yếu kém thì rất nhanh chóng sẽ chạy trốn. Loài nào có thiện căn khí thì sẽ chắp tay cung kính, rồi tất cả đều tới quy y. Quy y "Vô thượng hồng quán kim cương bảo miện tôn giả Liên Sinh Thượng sư, quy y U Minh Giáo Chủ Địa Tạng Vương từ bi Bổn tôn, quy y chính giác tu hành linh tiên chư Đại Thánh, quy y bí mật trang nghiêm ngũ tạng thập nhị bộ đại mật pháp." Không chỉ là yêu ma không dám làm hại, mà đồng thời yêu ma cũng lại trở thành hộ pháp, chuyển thành hướng dẫn cho các yêu ma khác đến để tu chính pháp.

🌟

Những điểm nên chú ý khi tu "chân định":
Thứ nhất, người mới tu, chú ý không được động tâm, chế tâm quy về một chỗ, không động không loạn, nếu có vọng tưởng xuất hiện thì cần biết để không được chạy theo nó, nhưng cũng không được áp chế nó. Làm được như vậy thì lâu dần mới có thể kiểm soát tâm. Cần quán tưởng tất cả các tướng đều như mộng, như huyễn, như bong bóng ảo ảnh. Dừng lại tất cả mộng huyễn bào ảnh thì tự nhiên lục căn sẽ thanh tịnh.
Học giả cần biết rằng: trong tâm vô cảnh, trong cảnh vô tâm.

Thứ hai, người mới học, chú ý cần phải không khởi lên vọng niệm, chính vọng niệm sẽ dẫn dụ tất cả ma tới, có vọng niệm tất sẽ có phân biệt giữ hay bỏ, yêu hay ghét, và bám chấp vào đó. Cần biết rằng tất cả pháp đều không, ba tâm quá khứ, hiện tại, vị lai đều vốn không thể nắm bắt được. Nếu không khởi vọng niệm mới có thể đắc được.
Học giả cần biết rằng: trong tâm vô sự, trong sự vô tâm.

Thứ ba, "nhập định" chính là nhập vào cửa giải thoát. "Xuất định" chính là bước trên con đường bồ đề.

Đây là một quan niệm trọng yếu nhất. Nhập định là buộc lục hợp lại thành một tinh minh, là pháp môn vô thượng của việc tu hành, là đạo pháp giải thoát dùng tâm tính thanh tịnh không nhiễm bẩn của chính mình hợp nhất cùng pháp giới.

Xuất định là bồ đề đại đạo, không phải là phàm phu, mà là tam quán nhất tâm, từ việc tu mà trải nghiệm, thực hành vào trong cuộc sống thường ngày, dần dần không trụ trong sinh tử và niết bàn, bình thường vẫn giữ được tư tưởng về tự tính quang minh, giữ từng điểm sáng, trực tiếp chứng vô thượng chính đẳng chính giác viên chứng bồ đề, đây mới là viên giác nhất tâm.


### 34. Duy ngã độc tôn có phải ma không?


Thiền sư Hoàng Bách sau khi đắc chứng từng nói:
"Trong quốc nội Đại Đường không có thiền sư."
Còn tôi, sau khi đắc chứng, tôi cũng muốn nói:
"Trong đất nước Trung Hoa không có thiền sư."

Giả sử câu nói này được lan truyền rộng khắp, vậy thì không chỉ có nghìn người, mà hàng vạn người, tất cả các thiền sư trong và ngoài nước nhất định sẽ chửi vào mũi tôi, liên tiếp vừa chửi vừa đánh, rồi tận lực bút chê miệng trách mà chửi tôi. Còn tôi sẽ sứt đầu mẻ trán đến mức không bệnh mà chết là điều không còn gì phải nghi ngờ. Tôi vốn dĩ đã bị chỉ trích là "ma" rồi, bây giờ nếu lại thốt ra câu nói kiểu "chả có gì đáng để tôi phải quan tâm" này, dẹp toàn bộ pháp sư trong đất nước này qua một bên, thì thử nghĩ mà xem, tôi liệu còn có thể sống được không?

🌟

Nói thật lòng, Phật Thích Ca Mâu Ni khi mới hạ sinh đến nhân gian này, chân bước lên hoa sen, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất, câu đầu tiên đã nói: "Thiên thượng địa hạ, duy ngã độc tôn." Khi đó, nếu có pháp sư nào có mặt mà nghe được câu nói khoa trương tự đại như vậy, nhất thời ngọn lửa phẫn nộ bùng lên, thì hẳn là dám cả gan tàn ác, một gậy đánh cho Phật Thích Ca Mâu Ni chết luôn, thì ngày hôm nay Phật giáo này không biết sẽ do ai truyền lại, đại pháp này không biết sẽ do ai diễn giảng.

"Duy ngã độc tôn có phải là ma không?" Tôi có thể nói rõ ràng rành mạch với các độc giả rằng, có một số pháp sư chưa "đắc chứng", chỉ là giảng pháp đến mức hoa trời rơi rụng, lý luận thì có cả một đống lớn, những điều họ giảng thì nghe rất hay, rất đặc sắc. Nhưng thực sự họ chẳng có cái gì cả, cho dù có dựng nên cả một ngôi chùa hoành tráng đệ nhất thiên hạ, tín đồ cũng nhiều đệ nhất thiên hạ, thuyết pháp giảng Phật một ngày một lần, tiếng tăm địa vị cũng đệ nhất thiên hạ, mỗi lần tổ chức hội nghị Phật giáo toàn cuốc cũng đều là đệ nhất, ..v.v. Tập hợp được nhiều cái đệ nhất như vậy, nhưng thực sự lại chẳng có một tí "đắc chứng" nào, vậy thì, vị pháp sư "duy ngã độc tôn" này chính là ma một trăm phần trăm. Pháp sư chưa đắc chứng, mà chỉ có những thứ đệ nhất duy ngã độc tôn, thì tôi dám chỉ thẳng vào mũi của ông ta rằng, người này chẳng phải Phật, cũng chẳng phải là pháp sư, mà là "ma".

🌟

Mặt khác, mỗi vị pháp sư "đắc chứng" nhất định cần phải dựa vào thực tu ấn chứng mà có, khi đã hiểu rõ tự tâm rồi thì sẽ sản sinh ra cách nghĩ "duy ngã độc tôn", tự nhận ra đã đắc thực chứng, vượt ra khỏi tam giới, thì "duy ngã độc tôn" này chính là điều đương nhiên thôi. Do vậy thiền sư Hoàng Bách nói: "Trong quốc nội Đại Đường không có thiền sư." thì câu nói này không phải là trong mắt "chả có gì đáng để tôi phải quan tâm", mà chính là cảm nhận khi đã "đắc chứng".

Bản thân tôi cũng có cảm nhận rằng: "Trong đất nước Trung Hoa không có thiền sư." Tôi có thể nói như vậy, bởi vì hôm nay tôi cũng "đắc chứng", phàm là người đã đắc chứng đều có thể nói như vậy cả, "Tôi là thiền sư chân chính."

Những cảm tưởng dùng tư duy và nghiên cứu để mà viết ra thì không phải là "thực tu đắc chứng", mà chỉ là một mớ lý luận và nghiễm nhiên cho rằng chúng là "đắc chứng", những mớ lý luận này vĩnh viễn không thể nào so sánh được với "thực tu đắc chứng".

Thiền sư Hoàng Bách nói câu này không phải để chửi người ta, cũng không phải để sỉ nhục người khác, cũng không phải là trong mắt chẳng coi ai ra cái gì, mà chỉ là cảm ngộ của việc hiểu rõ tự tâm, đã đắc đại chứng ngộ của sự tu hành vĩ đại.

Ngay cả Phật Thích Ca Mâu Ni cũng đã nói: "Thiên thượng địa hạ, duy ngã độc tôn". Hôm nay tôi hy vọng người người đều có thể nói ra câu nói này, biểu thị rằng mọi người đều đã hiểu rõ tự tâm, đã là người đắc chứng, chứ không phải bắt chước là người ta thế này thế nọ thì mình cũng thế nọ thế kia. Nếu chưa phải là mình tự đắc chứng thì tất cả đều là vọng tưởng.

🌟

Tuy nhiên, cũng có một số người vẫn chưa "đắc chứng", mà đã tự nói mình "đắc chứng", cho rằng mình đã chính là Phật, phủ định sự "đắc chứng" của người khác, thì cách nhìn như vậy cũng chính là "ma".

Người tu hành vẫn chưa có được lực thì tuyệt đối không thể nói tự mình đã "đắc chứng", bởi vì một khi đã nghĩ như vậy thì mới là mắc phải bệnh "trong mắt chẳng coi ai ra gì". Chữ "ngạo" này vốn là hóa thân của "ma". Chưa thành Phật, đã thành ma, giữa Phật và ma, sự khác biệt cực kì nhỏ, vốn chỉ là một sợi tóc mỏng mảnh mà thôi.
Thực sự là không thể nói "đắc chứng" vậy, không thể nói vậy!

🌟

Tôi nói đến đây có lẽ cũng khiến độc giả cảm thấy rối rồi, bây giờ tôi sẽ giải thích tỉ mỉ như sau:

Thực tu đắc chứng --- Thiên thượng địa hạ, duy ngã độc tôn. Người này hiểu rõ tự tâm có thể thành Phật, chứng nhập tính Không, hiểu rõ ràng tất cả, hoàn toàn tuyệt đối có được trí huệ của thiên thượng địa hạ, thập phương pháp giới. Lúc này đã lĩnh ngộ ra rằng "thiền môn vô sư, vô sư là thiền", do vậy thiên hạ làm gì có thiền sư? Tự khắc có thể nói ra câu nói này, hơn nữa tôi bảo đảm người nói ra câu này mới được xem là người thực sự "đắc chứng". Người này là Phật, không phải yêu ma.

Chưa đắc mà nói đắc --- Người này cũng thường nói câu nói thiên hạ đệ nhất này. Nhưng không có cách nào bảo đảm tự mình chắc chắn thành Phật, tất cả chỉ là vọng niệm huyễn tưởng đuổi mây mắt bóng, vọng đoán cảnh giới của Phật Bồ Tát, dựa vào trí não để tư duy về tất cả mọi vấn đề, tự cho mình là đúng, phủ định tất cả mọi thứ của người khác, vẫn chưa chứng nhập tính Không mà vẫn "chém gió", không có hiện tượng đắc chứng thực tế, tự xưng là có linh cảm mơ hồ, thường xuyên nghi ngờ này nọ, thì cho dù có hư danh khắp thiên hạ, địa vị vô cùng cao, được gọi là đại sư, thì vẫn là yêu ma chính hiệu.

Cho phép tôi khuyên các đệ tử, tu hành Phật pháp, thực tu là số một, có một ngày không tu thì ngày đó chính là "ma", cần tinh tấn tu hành.

Không phải tôi kêu các bạn rằng các việc khác đều không làm nữa, mà là mỗi ngày hãy cố định thời gian thực hành công khóa, nhất định không được lơ là.

Và cũng đừng chém gió lý luận, lúc thì tu cái này, lúc thì tu cái nọ, không có một bộ công khóa tu hành chân chính, thì sau này tất cả đều chẳng đạt được kết quả gì, một chút hiệu quả cũng không có. Đó là điều đáng tiếc nhất.

Tôi không ưa nhất là kiểu người khi mới phát tâm thì mỗi ngày đều chăm chỉ tu tập, nhưng một thời gian sau thì chẳng còn tí nhiệt tình nào nữa, trở về diện mạo phàm phu ban đầu. Loại người này không có tư cách thành Phật.


### 35. Chân Phật Tông tôn sùng Cao Vương Kinh


Tác giả xin có lời khuyên người tu đạo nên trì một kinh một chú, một đời một kiếp mỗi ngày đều trì tụng không gián đoạn, bền bỉ trì tụng tất có linh ứng.

Có người hỏi tôi, kinh nào tốt nhất, chú nào có công đức nhất, câu trả lời của tôi là: "Chỉ cần có duyên thì đó chính là thượng phẩm, kinh chú không phân biệt hơn kém, có thể niệm đến khi chuyển pháp luân thì đó là thành công."

Do vậy, tôi cho rằng kinh điển Đại thừa và kinh điển Tiểu thừa đều có công đức, chú lớn và chú nhỏ đều có pháp lực, chỉ cần bạn "có công mài sắt" thì tất sẽ "có ngày nên kim". Công đức niệm kinh chú là bất khả tư nghì, chư Phật Bồ Tát dựa vào kinh chú để giúp cho chúng sinh trong thiên hạ, còn phàm phu thì dựa vào kinh chú để có sự chở che của Phật Bồ Tát.

🌟

Tôi biết, phàm là tụng kinh chú thuần thục đến khi tâm khẩu ý hợp nhất thì ngữ âm của kinh chú này sẽ hóa thành bạch quang xoay tròn, bạch quang từ trong miệng tỏa ra, từ đỉnh đầu tỏa ra, từ các lỗ chân lông trên khắp người tỏa ra, tạo thành một đường ánh sáng chói lọi, ánh sáng này cùng kết hợp với Phật quang của kinh chú thì Phật Bồ Tát sẽ có thể cảm thông đến kinh chú của người tu đạo.

Bạch quang xoay tròn cũng chính là làm chuyển động pháp luân, người bình thường niệm đến khi pháp luân xoay chuyển thì  có thể nói rằng đã thoát khỏi cái vỏ phàm phu rồi, tương lai sẽ đến Tây phương cực lạc thế giới, liên hoa hóa sinh, vĩnh viễn không phải chịu khổ báo của luân hồi nữa, thành Phật thành Thánh, đạt được cuộc sống vĩnh hằng.

Việc niệm kinh niệm chú, chỉ cần chú ý rằng đó là kinh thật chú thật, không phải là kinh giả chú giả. Chỉ cần là kinh chú do Phật Tổ truyền lại, hoặc Tiên Phật thực sự dạy cho, thì đều có thể xem là kinh thật chú thật. Còn như kinh chú do phàm phu thế tục ngụy tạo ra thì không được niệm.

Nếu đúng là do Tiên Phật truyền dạy thì có thể phụng hành tôn kính, nếu là do thế tục ngụy tạo thì có niệm cũng vô ích. Điểm này vô cùng quan trọng, tuyệt đối đừng để lãng phí thời gian quý giá, lãng phí tinh thần vào việc tụng kinh tụng chú giả.

🌟

Còn "Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh" mà Chân Phật Tông tôn sùng không phải do Phật Thích Ca Mâu Ni truyền dạy, mà đây là một bản "mộng thọ kinh", là một bản kinh điển được viết ra sau khi được một vị cao tăng đắc đạo đã chỉ điểm trong mơ.

Bản kinh này thông qua trải nghiệm tâm linh của tôi thì thực sự là có sức mạnh siêu nhiên, hơn nữa còn là những chân ngôn ngộ đạo của một bậc cao tăng đắc đạo. Do vậy, tôi thấy nếu người người niệm "Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh" thì rất nhanh chóng sẽ có được linh cảm, hơn nữa còn có ích lợi lớn đối với việc ngộ đạo chân tu, tương lai cũng có thể đắc được vĩnh sinh đại đạo, thực sự là không hề thua kém kinh điển Đại thừa. Do vậy tôi muốn những người tu tập Chân Phật Tông người người đều trì tụng "Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh".

🌟

Các tu sĩ Phật môn ngày nay đều phê bình các loại kinh điển ngoại đạo và xếp là ngụy kinh, luôn chỉ tôn sùng những kinh điển do Phật Thích Ca Mâu Ni truyền cho đệ tử đã được kết tập. Còn đối với những kinh được truyền trong mộng, kinh "phi loan", kinh tự soạn, thì đại bộ phận đều không tin.

Ấy vậy, các tu sĩ Phật môn duy nhất đối với "Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh" được truyền trong mộng này thì lại không có bình luận bài trừ, hơn nữa họ còn cảm thấy kinh ngạc đối với bản kinh có nhiều Phật hiệu và nhiều hiện tượng linh dị như vậy.

Tác giả có cảm hứng đối với kinh này, hơn nữa còn cảm thấy có nhiều niềm yêu thích hân hoan, cho rằng không thể thờ ơ với đại công đức như thế, do đó tôi đã đặc biệt cung kính cho in lại mấy vạn cuốn, không những để cho các đệ tử của Chân Phật Tông trì tụng, mà thậm chí để phàm phu thế tục cũng có một cuốn trong tay, tương lai có thể chuyển hóa thế giới này thành cực lạc, thành tựu quang minh đại tịnh thổ.

Với mục đích lưu truyền rộng khắp, tôi đặc biệt ghi lại nguồn gốc và nguyên văn bản kinh này như sau: (Bản kinh này cũng được ghi ra trong cuốn "Thông linh mật pháp thư".)

🌟

Nguồn gốc "Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh":
Ngày xưa vào thời Ngũ Đại [ ND: 5 triều đại xuất hiện vào khoảng giữa giai đoạn lịch sử khi nhà Đường suy tàn (năm 907) và sự thành lập nhà Tống (năm 960). ], có một vị quốc vương là Cao Hoan, một vi tướng làm chức châu quận chủ thích giết người. Có một vị quan thích bảo tạng tên là Tôn Kính Đức đã bị vu là phạm vào trọng pháp (kết quả khảo chứng sau này là do em trai của ông phạm pháp, nhưng Tôn Kính Đức phải chịu liên lụy), bị giam trong nhà lao đợi đến ngày chết.

Trong thời gian này ông liên tục trì "Quan Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm", ngày đêm không ngơi nghỉ, rồi bất ngờ mơ thấy một tăng nhân nói rằng, ông trì kinh này không thể thoát chết, tôi khuyên ông trì "Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh" một nghìn biến, thì sẽ thoát được tội danh này. Kính Đức nói, nay trong giam cầm, làm sao có được kinh điển. Tăng nói, tôi sẽ đọc để dạy cho ông, ông viết lại trong khi ngủ thì sẽ không quên được.

Thế rồi ông kiên tâm tụng niệm được 900 biến. Sau khi có văn bản án lệnh, sự việc cần trình lên để đóng dấu, vua lệnh đem ông ra chợ chém đầu. Kính Đức sợ hãi hỏi cai ngục xem chợ còn bao xa. Cai ngục nói hỏi làm gì. Kính Đức nói, buổi đêm mơ thấy một vị tăng bảo rằng tụng "Quan Thế Âm Kinh" một nghìn biến thì sẽ được miễn tội chết, nhưng tôi vẫn còn thiếu 100 biến nữa, xin đi chậm một chút, trên đường đi tôi sẽ niệm nhanh cho đủ số. Đến chợ, khi cai ngục tuyên chém, nhưng thân và đầu không bị tổn hại, đao thì gãy làm ba khúc.

Trình báo sự việc lên vua, vua kinh ngạc hỏi ông đã dùng huyễn thuật gì mà có thể làm ra như vậy. Kính Đức nói, thực sự không có huyễn thuật nào cả, bởi vì trong ngục sợ chết nên đã trì tụng "Quan Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm", không ngờ mơ thấy một vị tăng đến dạy cho tụng "Cao Vương Quan Thế Âm Kinh" một nghìn biến mà có được phúc như vậy.

Vua nói với Kính Đức rằng ông đã thắng vua rồi, ông có khác gì Phật. Vua gọi người cai ngục đến viết lại kinh này, lệnh cho mọi tội nhân và người bị xử tử mỗi người đều phải trì tụng một nghìn biến, rồi đem ra chém đầu để kiểm nghiệm, tất cả đều linh ứng. Do vậy vua đã hạ lệnh cho toàn dân khắp nơi trì tụng để có được quả phúc, truyền lại đến các đời sau được gọi là "Cao Vương Quan Thế Âm Kinh".

Nhờ có sự thật cảm ứng như vậy suốt từ xưa đến nay, do vậy cẩn thận thuật lại khởi nguồn của kinh này, hơn nữa còn ghi chép lại những ứng nghiệm của kinh, để cho những người có trai tâm hướng thiện sẽ phần nào nghe theo lời khuyên này mà tụng niệm.

Muốn niệm "Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh", trước tiên tắm rửa sạch sẽ, phần nguồn gốc bản kinh không cần đọc, chỉ cần đọc toàn bộ phần nguyên văn.

Nơi niệm kinh thông thường đương nhiên là ở Phật đường là tốt nhất, không có Phật đường thì đọc ở trong phòng đọc sách, nếu không có phòng đọc sách thì ở trong một góc của phòng ngủ, dọn lấy một chỗ giản tiện sạch sẽ (đừng đọc kinh ở nơi bất tịnh, sẽ mất đi tâm cung kính).

Thắp lên một que hương, hoặc đốt đàn hương, nếu tất cả đều không tiện thì chắp tay cung kính niệm cũng có hiệu quả tương đương. Đứng chắp tay niệm, ngồi chắp tay niệm, quỳ chắp tay niệm, dùng pháp khí hoặc không dùng pháp khí, tùy theo ý muốn mà niệm, hoàn toàn không có quy định cứng nhắc.

Điều quan trọng nhất là tâm phải kiền thành, niệm thành tiếng cũng được, không niệm thành tiếng cũng được, không được suy nghĩ lung tung.

Trì tụng "Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh", người có nguyện lực lớn thì mỗi ngày niệm 10 biến, sáng tối mỗi khóa niệm 5 biến, thậm chí càng nhiều càng tốt. Người có nguyện lực nhỏ thì mỗi ngày niệm 2 biến, sáng tối mỗi khóa niệm 1 biến. Khi gặp chuyện gấp thì cần thỉnh đại lực của Bồ Tát hỗ trợ, mỗi ngày tụng 100 biến, 10 ngày sẽ được 1000 biến, kiên trì thường niệm như vậy, tôi tin tưởng rằng cảm ứng sẽ luôn như hình với bóng, có cầu có ứng. Người càng có tín tâm kiên định thì càng có thể thành công, đây là đạo lý chắc chắn.

🌟

Năm xưa, tác giả tại một ngôi chùa nhỏ ở Đài Trung, Đài Loan lần đầu tiên nhìn thấy Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, đó là một cuốn kinh bìa cứng, tôi đã nói với vị trụ trì là muốn thỉnh cuốn kinh này, trụ trì là sư Thích Huệ Linh, là vị tăng xuất gia, có quan hệ thân tình đối với cha mẹ tôi.

Sau khi tôi cầm cuốn kinh này về nhà thì lập tức có được giấc mơ, mơ thấy Quan Thế Âm Bồ Tát ngồi trên tòa hoa sen thuyết pháp, pháp tướng ngài trang nghiêm khiến người ta sinh tâm cung kính.

Sau đó tôi cẩn thận đọc "Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh", đột nhiên có một mùi hương đưa đến, thơm như hoa. Khi đó tôi vẫn chưa biết tu đạo và khởi linh, sau sự việc này mới bắt đầu biết rằng ai có căn duyên tiền kiếp thì tất sẽ có hiện tượng như vậy.

🌟

Khi còn trẻ, tác giả học trắc lượng, thường ra vào vùng núi sâu, ở nhờ tại nhà dân hoặc chùa miếu. Trước mỗi chuyến ra ngoài đi trắc lượng, và sau khi trở về nhà, tôi thường cung kính đọc tụng một biến "Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh".

Kể từ đó đến nay đã hơn 10 năm rồi, tôi không bỏ qua một ngày nào là không đọc. Về sau tôi ra nước ngoài du lịch, ở tại một khách sạn lớn, buổi sáng tôi hướng mặt về phía cửa sổ, hướng ra bên ngoài niệm "Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh". Đây là một trong những công khóa hàng ngày của tôi khi tôi đi du lịch. Tôi cho rằng làm như vậy sẽ tác động sâu đến tâm của tôi, tôi cũng cho rằng Quan Thế Âm Bồ Tát nhất định sẽ bảo vệ tôi, bởi vì tôi tin tưởng sâu sắc rằng chư Phật không vọng ngữ.

🌟

Đặc biệt sau khi tôi đắc chứng, khi mới chuyển pháp luân, biết rằng "Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh" có công đức bất khả tư nghì vô lượng vô biên. Đó là do Đại Sĩ vì muốn tiện lợi độ chúng sinh mà thị hiện bản kinh điển này, với đầy đủ tất cả pháp tướng để phổ độ tất cả chúng sinh hữu tình, Hiển - Mật viên thông, có được đại trí huệ, thành tựu thân kim cang bất hoại.

Người niệm "Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh", lại niệm thêm lục tự đại minh chân ngôn "Om mani padme hum" 108 biến thì càng có thể tu quán tưởng pháp Quan Âm Tứ Thủ, lại càng được 36 thiên thần ngày đêm bảo hộ, tất cả quỷ thần không ai là không cung kính nghe lệnh. Thực sự là công đức vô lượng vô biên.


### 36. Phật pháp trị ma bệnh


Tác giả học Phật pháp, đắc được pháp Dược Sư Phật trị ma bệnh, nên đặc biệt công bố ra đây, hy vọng các bạn đồng tu trong thiên hạ trân trọng, cứu người cứu đời, công đức vô lượng.

Phật Dược Sư đầy đủ 32 tướng tốt, là giáo chủ của Đông Phương Lưu Ly Quang Thế Giới. Bình thường người tạc tượng thường chế tác Phật mặc áo cà sa, tướng mạo gần giống với Phật Thích Ca Mâu Ni, nhưng thân có màu xanh lam sáng, tay trái kết ấn cầm bát, bên trong bát đựng đầy cam lộ trị bệnh, tay phải cầm thanh quả trị ba loại độc, đặt trên đùi. Những tượng Phật Dược Sư ở Trung Quốc được làm là cầm bảo tháp cũng rất phổ biến.

🌟

Phật Dược Sư đã đưa ra 12 đại nguyện:
Đại nguyện thứ nhất, nguyện đến kiếp sau, khi đã đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, tự thân này tỏa sáng rực rỡ, chiếu rọi vô lượng vô số vô biên thế giới, dùng 32 tướng đại trượng phu, 80 vẻ đẹp trang nghiêm, để khiến cho tất cả chúng sinh hữu tình được như ta không khác.

Đại nguyện thứ hai, nguyện đến kiếp sau, khi đắc Bồ Tát, thân như lưu ly, trong ngoài trong suốt, không chút vẩn đục, quảng đại quang minh, công đức đồ sộ, an trụ thân lành, trong lửa trang nghiêm, vượt lên nhật nguyệt, u minh chúng sinh, đều được soi sáng, tùy theo ý thích, mà làm sự nghiệp.

Đại nguyện thứ ba, nguyện đến kiếp sau, khi đắc Bồ Tát, dùng vô lượng vô biên trí huệ phương tiện để khiến cho chúng sinh hữu tình đều có được vô tận những vật dụng họ cần, không để chúng sinh thiếu thốn thứ gì.

Đại nguyện thứ tư, nguyện đến kiếp sau, khi đã đắc Bồ Tát, nếu có chúng sinh nào đi vào tà đạo, ta đều khiến họ an trụ trong bồ đề đạo, nếu ai thực hành Thanh Văn, Độc Giác thừa, thì ta đều dùng Đại thừa để an trụ cho họ.

Đại nguyện thứ năm, nguyện đến kiếp sau, khi đã đắc Bồ Tát, nếu có vô lượng vô biên chúng sinh hữu tình ở trong pháp của ta, tu hành phạm hạnh, ta sẽ khiến tất cả đều không sai sót một giới luật nào, có đầy đủ tam tụ giới, còn nếu có người phạm lỗi, chỉ cần nghe danh của ta, là lại được thanh tịnh, không đọa vào ác đạo.

Đại nguyện thứ sáu, nguyện đến kiếp sau, khi đắc Bồ Tát, nếu chúng sinh nào, có thân yếu kém, mọi căn không đủ, xấu xí ngu si, mù điếc câm ngọng, chân cong lưng gù, bạch tạng cuồng điên, đủ loại bệnh khổ, nghe danh ta rồi, tất thảy đều được, đoan chính thông minh, mọi căn có đủ, không còn cực khổ.

Đại nguyện thứ bảy, nguyện đến kiếp sau, khi đắc Bồ Tát, có chúng sinh nào, bệnh tình đày đọa, không nơi nương tựa, không có thuốc thang, không người thân thích, khổ sở bần cùng, danh hiệu của ta, qua tai người đó, mọi bệnh đều khỏi, thân tâm an lạc, gia quyến đầy đủ, đều được sung túc, cho đến khi chứng, vô thượng bồ đề.

Đại nguyện thứ tám, nguyện đến kiếp sau, khi đắc Bồ Tát, nếu có nữ nhân nào vì trăm thứ xấu do làm thân nữ mà chịu áp bức đến mức căm ghét muốn từ bỏ thân nữ, thì chỉ cần nghe danh ta, thì tất cả đều được chuyển từ nữ thành nam, có đầy đủ các tướng trượng phu, cho đến khi chứng đắc vô thượng bồ đề.

Đại nguyện thứ chín, nguyện đến kiếp sau, khi đắc Bồ Tát, ta sẽ khiến cho mọi chúng sinh hữu tình thoát ra khỏi lưới ma, giải thoát tất cả mọi ràng buộc ngoại đạo, nếu có chúng sinh rơi vào rừng sâu của đủ loại ác kiến, thì đều được dẫn dắt để đến với chính kiến, dần dần ta sẽ khiến cho họ tu tập mọi hạnh Bồ Tát, mau chóng chứng vô thượng chính đẳng bồ đề.

Đại nguyện thứ mười, nguyện đến kiếp sau, khi đắc Bồ Tát, nếu chúng sinh nào, phạm vào vương pháp, bị trói đánh roi, giam chặt trong ngục, hoặc chịu hành hình, rồi bị vô số, tai nạn đày đọa, u sầu giày vò, thân tâm thống khổ, nếu nghe danh ta, nhờ vào phúc đức, uy lực của ta, đều được giải thoát, khỏi mọi ưu phiền.

Đại nguyện thứ mười một, nguyện đến kiếp sau, khi đắc Bồ Tát, nếu chúng sinh nào, đói khát cùng cực, vì tìm thức ăn, mà tạo ác nghiệp, nghe được tên ta, chuyển niệm thọ trì, trước tiên ta sẽ, đem thức ăn ngon, cho họ no đủ, sau dùng pháp vị, giúp họ kiến lập, an lạc đến cùng.

Đại nguyện thứ mười hai, nguyện đến kiếp sau, khi đắc Bồ Tát, nếu chúng sinh nào, nghèo không áo mặc, nóng lạnh và muỗi, ngày đêm giày vò, nghe được tên ta, chuyển niệm thọ trì, thì như mong ước, lập tức có đủ, mọi quần áo đẹp, đồng thời có được, trân bảo trang nghiêm, trâm hoa phấn hương, trống nhạc đủ loại, tùy ý mà chơi, đều được đầy đủ.

🌟

Bởi có 12 đại nguyện này của Phật, nên nếu để chữa trị các bệnh thông thường, thì lấy thuốc, hoặc nước sạch, hoặc dầu quả trám, thanh quả [quả trám xanh], hồng táo [loại táo nhỏ như táo ta, màu đỏ, thường dùng trong các món ăn hoặc bài thuốc Trung Hoa], trà, gạo, v.v… để cúng trước tượng Phật Dược Sư, kiền thành niệm tâm chú của Phật Dược Sư 1080 biến, quán tưởng Phật Dược Sư hạ giáng xuống đàn tràng, từ tâm ấn phóng quang gia trì cho các loại thuốc, sau đó uống sẽ bình phục.

Nếu muốn trị bệnh mãn tính khó chữa, thậm chí là các bệnh như câm điếc, thì lấy thuốc cho vào tịnh bình, viết một chữ "Hum" tiếng Phạn trên giấy, gấp thành hình vuông, rồi dùng mảnh vải lụa mỏng màu đỏ gói lại, dùng sợi tơ xanh đỏ để buộc, rồi đặt lên trên thuốc, phần dây tơ còn thừa thì thả ở ngoài bình, che miệng bình bằng mảnh lụa màu đỏ hoặc vàng, rồi dùng sợi tơ xanh đỏ quấn buộc lại. Sau đó đặt bình này vào tịnh phòng, nhập đàn đốt hương lễ Phật. Tay phải nắm lấy sợi tơ buông ra ở bên ngoài bình, kiên nhẫn tụng tâm chú Phật Dược Sư, quán tưởng Phật Dược Sư hạ giáng xuống đàn tràng. Đầu tiên ngài phóng quang gia trì vào chữ "Hum" bên trong bình, tiếp đó chữ "Hum" ở tâm của Phật Dược Sư lại phóng quang, chư Phật thập phương cũng phóng quang tương ứng, các luồng tia sáng cùng gặp nhau và hòa lẫn với nhau làm một.

Lúc này, tất cả chư Phật mười phương đều biến thành Phật Dược Sư. Tất cả chúng sinh và những người cầu nguyện trong thập phương lục đạo, hễ gặp được ánh sáng công đức này, thì mọi nghiệp tội đều được tiêu trừ, bệnh tật tự có thể hết và khỏi.

Pháp này nếu người nào có thể cắt bỏ ngoại duyên, dốc toàn tâm trì tụng tâm chú Phật Dược Sư, hơn nữa còn phát đại bồ đề tâm cứu độ tất cả chúng sinh bệnh khổ, mỗi lần trì tụng 1080 biến, trong một tháng, tu pháp ba đàn, tu trì lâu ngày công đức sâu dày, thì có thể cứu được rất nhiều rất nhiều người.

Người tu pháp này, nhờ có được cam lộ tưới đẫm toàn thân, khắp cả tứ chi, khiến tất cả bệnh tật tai ác được tiêu trừ trong một sát-na, thân tâm thanh tịnh tự tại, tự có thể chuyển biến thân này thành hóa thân của Phật Dược Sư.


### 37. Dòng truyền thừa pháp của tôi


Cho đến ngày hôm nay, tôi đã là một người đại triệt đại ngộ rồi. Tôi lĩnh ngộ được hai điểm. Thứ nhất, tôi là người tu hành chuyển thế nhiều đời, thứ hai, tôi là pháp sư thông suốt cả tam giáo [ ND: Cơ Đốc giáo, Đạo giáo, Phật giáo ]. Mỗi một kiếp sống của tôi, tôi đều khổ cực bội phần, hơn nữa mỗi kiếp đều gặp được kì duyên, mỗi kiếp đều có thần thông, mỗi kiếp đều thành lập tông phái tu pháp, mỗi kiếp đều cần độ hóa một số người. Mỗi đời mỗi kiếp của tôi đều có liên quan với phát bồ đề tâm và đại nguyện của tôi.

Kiếp này, ban đầu tôi tiếp xúc với đạo Cơ Đốc, trong thời gian học sơ trung và cao trung [ ND: tương đương cấp 2 và cấp 3 phổ thông ], mỗi ngày chủ nhật tôi lại đến giáo đường. Khi tôi 16 tuổi, tôi tu nghiệp tại trường Thánh Kinh Vạn Quốc và trường Thánh Kinh Thời Triệu. Vào mùa hè năm 16 tuổi, tôi được mục sư Khâu Dĩ Chính ấn chứng, tại giáo hội Trưởng Lão ở quận Tân Hưng thành phố Cao Hùng, dưới sự chủ trì của mục sư Tô Thiên Minh, tôi đã chính thức tiếp nhận lễ rửa tội của giáo hội Trưởng Lão.

Bởi tôi đã tốt nghiệp lớp sư phạm tại trường học chủ nhật, lại chính thức học tập tại lớp học chủ nhật của giáo hội, nên tôi đã được làm thầy giáo tại trường học chủ nhật. Hiệu trưởng của trường này khi đó là trưởng lão Ngô Tân Đức.

Trong tín ngưỡng của đạo Cơ Đốc, tôi là thầy giáo của lớp học nghiên cứu kinh thánh, do vậy các chương mục trong kinh thánh tôi đều thuộc lòng. Trong tín ngưỡng này, tôi từng đọc về thần quang của Jesus Christ. Tôi thực sự tin rằng Jehova và Jesus là thượng đế của một vương quốc trên thiên đường, người phương tây đều nhờ ân của các ngài cứu độ.

🌟

Sự tiếp xúc lần thứ hai của tôi là Đạo giáo. Khi đó tôi khoảng 25 tuổi, tình cờ tôi gặp nhân duyên kì lạ, chỉ trong một sát-na tôi đã hiểu rõ về nhân quả tiền kiếp. Thế là tôi chuyên tâm tu đạo, tôi bái Thanh Chân Đạo Trưởng của phái Thanh Thành tại núi Đại, thị trấn Tập Tập, huyện Nam Đầu làm thầy. Tôi học pháp thông linh, pháp địa linh, học đan đỉnh phù lục, lễ bái Diêu Trì Kim Mẫu Thiên Tôn. Dưới sự dẫn dắt của Thanh Chân Đạo Trưởng, tôi chính thức đạt được những thành tựu vượt trội và trở thành đạo trưởng.

Trong quá trình thực tu Đạo gia, tôi đã học ba bộ Thiên - Địa - Nhân của "Long môn độn giáp thiên thư", "Địa linh cửu tinh đại pháp", "Thanh Thành phái phù lục", "Ngũ lôi thiên tâm chính pháp", "Kim hoa chính tông", v.v……

Điều đáng nói đáng viết nhất là trong ba năm học Đạo này, tôi nhờ pháp thông linh mà đã nhận được ân của vị thầy vô hình là Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, tổng cộng ngài đã dạy mật pháp cho tôi suốt ba năm. Mỗi đêm linh của ngài sẽ giá lâm một tiếng, bởi vì Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh là vị thầy vô hình, rất nhiều mật pháp của tôi đều là do thầy truyền dạy, sự việc này là chân thực, là kì lạ, không bút mực nào có thể mô tả hình dung được. Do vậy, Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh là vị thượng sư truyền pháp mà tôi vĩnh viễn tôn kính suốt cuộc đời này của tôi.

🌟

Lần thứ ba, tôi tiếp xúc với Phật môn Hiển giáo vào khoảng năm tôi 27 tuổi, tại Phật Giáo Liên Xã Đài Trung, tôi đã quy y Ấn Thuận đạo sư. Đây là vị sư phụ đạo Phật đầu tiên của tôi. Về sau có duyên, căn nhà tôi ở tại quận Thái Bình vừa hay lại cùng một tòa nhà với tịnh xá Hoa Vũ của Ấn Thuận đạo sư, bên phải là tịnh xá Hoa Vũ, bên trái là nhà của tôi, xung quanh không có hàng xóm nào. Mỗi tháng tôi đến thăm sư phụ một lần, đó là khi tôi còn ở trong nước. Lần đầu tiên tôi quy y, mẹ tôi cũng cùng đến quy y.

Vị sư phụ đạo Phật thứ hai của tôi là pháp sư Lạc Quả, là vị pháp sư đến từ Hong Kong. Thầy cũng là trụ trì của chùa Phật Quang Tự tại Phổ Lí, tình cờ lại giảng Kinh Kim Cang tại Sa Lộc. Tôi nhận được lời giới thiệu của đại biểu quốc dân đại hội Khương Cát Phủ và đã chính thức quy y pháp sư Lạc Quả, địa điểm chính là ở Sa Lộc. Tôi đã từng đến qua đêm tại Phật Quang Tự, nhận giáo huấn của thầy, bái Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát. Tượng pháp tướng của Bồ Tát ở Hong Kong có một vị, ở Phổ Lí Phật Quang Tự có một vị, trên thế giới chỉ có hai bức tượng này.

Bởi do nhân duyên này, phương hướng đại điện của Phật Quang Tự tại Phổ Lí là do tôi dùng canh của địa linh pháp chủ để chọn. Trụ trì của chùa khi đó là Đạo Trung Sư, là sư huynh của tôi. Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát của Phật Quang Tự là pháp tướng Mật tông, nhưng Phật Quang Tự vẫn là truyền thừa Hiển giáo, cùng với Từ Thiện Tự ở Đài Trung có nhân duyên sâu đậm.

Sư phụ quy y thứ ba của tôi là pháp sư Đạo An, địa điểm quy y là ở Huyền Trang Tự trong khu hồ Nhật Nguyệt tại Nam Đầu. Pháp sư giảng tam quy y, lục độ ba la mật. Đêm đó có bữa cơm cúng trai ở lầu Hàm Bích tại hồ Nhật Nguyệt. Lúc mới quy y, pháp sư Đạo An không biết, hồi sau nghe nói tôi đến quy y, liền bảo: "Thật đúng là hay quá, quá hay rồi, người này tôi sớm đã nhận ra, tiếng tăm của anh ta như sấm bên tai." Tôi và pháp sư cười vang vui vẻ bắt tay nhau.

🌟

Năm Dân Quốc thứ 61 (năm 1972) là kỉ niệm 220 năm mở núi xây dựng Bích Sơn Nham Tự ở Nam Đầu (bởi tính từ năm Càn Long thứ 17). Trụ trì của Bích Sơn Nham Tự là pháp sư Như Học phát tâm truyền thụ hộ quốc thiên Phật giới hội, thế là vào ngày 17 tháng 4 khai đường truyền giới, tôi có được sự giới thiệu và đề bạt của pháp sư Thiền Minh nên đã đích thân tới để thọ Bồ Tát Giới.

Hòa thượng đắc giới là lão pháp sư Huệ Tam, tôi nhớ thầy nói rằng: "Bồ Tát lấy tôn chỉ là lợi tha."

Hòa thượng yết ma là lão pháp sư Hiền Đốn, tôi nhớ thầy nói: "Tu hành cần sám hối tất cả nghiệp tội trước, cần biến thập ác thành thập thiện, học tập giới pháp liên tục cho đến khi thành Phật."

Hòa thượng giảng dạy là lão pháp sư Giác Quang, tôi nhớ thầy nói: "Dạy về uy nghi thì có ba nghìn uy nghi, tám vạn hạnh nhỏ, tất cả đều không nằm ngoài đi, đứng, ngồi, nằm."

Trên tay trái của tôi có ba vết sẹo giới, xếp hàng rất thẳng thắn, đó là khi tôi 28 tuổi nhận Bồ Tát giới, ba vết sẹo Bồ Tát giới này đỏ đỏ nằm trên cánh tay tôi, giống như nằm trong tâm tôi, vĩnh viễn không thể nào quên.

🌟

Khi tôi 32 tuổi, tôi tiếp xúc với Phật môn Mật tông, trước đó tôi từng quy y Thiên Đức thánh giáo của thầy Tiêu Xương Minh, địa điểm là ở thôn mới Bích Hồ tại Nội Hồ, do lão tiên sinh Vương Đức Truyền chủ trì. Chính vào năm 32 tuổi đó, tôi đã có một cơ duyên được gặp Đại Bảo Pháp Vương Thượng Sư một lần, lại nhận được quán đảnh của Đại Tích Đỗ Ba thượng sư. Lần gặp mặt của tôi và Đại Bảo Pháp Vương là một sự việc trọng đại trong cuộc đời tôi, bởi vì trong lần gặp mặt này, Đại Bảo Pháp Vương đã nói về nhân quả của tôi, trực tiếp chỉ ra pháp lưu truyền thừa của tôi, cũng xem như là đốn khai thiên nhãn cho tôi rồi.

Có được tâm pháp Mật tông, tôi trực tiếp được Phật Thích Ca Mâu Ni thọ kí quán đảnh, trong cuốn "Thông linh bí mật pháp thư", trang thứ 153, tôi đã ghi chép lại kinh nghiệm kì lạ khi được Phật Thích Ca Mâu Ni thọ kí quán đảnh. Đồng thời, Địa Tạng Vương Bồ Tát cũng thường xuyên xuất hiện trong thiền định của tôi, hóa thành một điểm ánh sáng, tọa trên liên hoa tâm của tôi. Tôi đã quy y và quán đảnh không biết bao nhiêu lần. Tôi đã được Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu quán đảnh, được Hắc Tài Thần quán đảnh, được Ngũ Phật quán đảnh, được Địa Tạng Bồ Tát quán đảnh, được Dakini tôn giả quán đảnh. Những tâm pháp Mật tông mà tôi đã học được đều được sử dụng để đáp ứng những thỉnh cầu của chúng sinh, hiệu quả phi phàm.

Tiếp đó, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ lại giá lâm đến Mật đàn của tôi, chỉ dẫn cho tôi vận dụng thủ ấn Đại Viên Mãn. Tôi biết Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là kim cương ứng hóa thân của thân-khẩu-ý-tam mật của Phật A Di Đà, Quan Thế Âm Bồ Tát và Phật Thích Ca Mâu Ni, hiện kim cang lục đạo, xuất hiện tại thế gian này. Tôi đã đắc ba yoga, Bí Mật Chủ Kim Cang Thủ, Kim Cang Phật Mẫu, Phật A Đạt Nhĩ Mã, thọ vô thượng mật ngũ bộ tâm truyền đại pháp, đắc tất cả pháp yếu nội ngoại mật, chứng trí huệ Ngũ Phật.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ từ Ấn Độ vào Tây Tạng hoằng pháp, là vị tổ sư đời thứ nhất của Tạng mật. Tôi còn nhớ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ từng nói: "Ta chẳng đến cũng chẳng đi, duy nhất người nào tin vào ta, ta lập tức sẽ hiện lên trước mặt người đó mà thuyết pháp." Nay Liên Hoa Sinh Đại Sĩ không ngờ đã hiện lên trước mắt tôi, sao không khiến tôi hoan hỉ vui sướng khôn nguôi. Đồng thời, trong khi tôi nhập định, ngài Liên Hoa Sinh còn đội hồng quán cho tôi, ban cho tôi là Hồng Quán Kim Cương Bảo Miện Mật Hành Tôn Giả. Tôi tu pháp ngày ngày tinh tấn, ngoại bát thành, nội bát thành, lần lượt đắc chứng từng pháp. Đây là dòng chảy truyền thừa nửa đầu cuộc đời của tôi.

🌟

Tác giả sinh ra đúng vào thời mạt pháp, cho dù có thấu hiểu rõ nội tâm, biết sự việc tiền kiếp, cũng biết những sự kiện về sau, quá khứ vị lai đều biết, nhưng giáo nghĩa chân thực của đại pháp tu đạo đã chẳng còn ai hiểu nữa, tinh thần căn bản của bất kì tôn giáo nào cũng đã gần như cạn kiệt rồi. Chúng sinh muốn cầu đạo thì cũng có muôn pháp muôn nẻo, chính có tà có, rối rắm phức tạp. Tác giả đã kinh qua trên ba tôn giáo, đều thâm nhập tới cứu cánh, không còn phân biệt yêu ghét, giữ bỏ, chỉ còn phân biệt giữa cứu cánh và phi cứu cánh mà thôi. Tôi muốn các đệ tử hãy cố gắng từ cảnh giới phàm phu dần dần tu hành một mạch đến khi chứng Phật quả.

Chân Phật Tông là tông phái mà tôi thành lập tại kiếp này. Tác giả đã đem những cảm ứng sơ cơ của pháp khởi linh để đánh thức tín ngưỡng nơi con người, rồi lại truyền vô thượng viên đốn tâm pháp của thời kì mạt pháp, để chính pháp lại một lần nữa trụ thế, phổ độ chúng sinh. Tôi là một người thắp đèn, mỗi một cuốn sách tâm linh chính là một cuốn pháp thư đáp ứng thời cơ một cách thẳng thắn. Nhất tâm kính tín, tự có thành tựu.

Bản văn này là tóm tắt về dòng chảy truyền thừa của tôi.
Kí lục ngày 23 tháng 2 năm 1983.


### 38. Bí mật về sinh nhật của ngài Tôn Trung Sơn


[ND: Quý vị xin lưu ý, nội dung được đặt trong bối cảnh tại Đài Loan, người viết là người Đài Loan]

Bài viết của tiến sĩ Hạ Vĩnh Hàn.

"Trời phụ hộ dân ta, đã cho ra đời một người cha của đất nước - Ngài Tôn Trung Sơn, người đã lãnh đạo quần chúng, kiến lập Dân Quốc, khởi xướng chủ nghĩa Tam Dân, kế thừa chính giáo Khổng Tử của tư tưởng văn hóa Trung Hoa. Từ xưa đến nay, trong và ngoài nước, anh hùng thánh triết đâu chỉ có nghìn vạn người, nhưng người có thể so sánh với ngài thì chẳng có được mấy ai.

Cuộc đời của quốc phụ phong phú muôn hình muôn vẻ, có buồn có vui, có máu và nước mắt, có sự nghiệp cách mạng vĩ đại trang nghiêm, nhưng cũng có khía cạnh rất bí mật. Bản văn này nhằm mục đích thuật lại những điều còn nhiều khó hiểu về sinh nhật của ngài và tín ngưỡng sơ khai nhất của ngài, để cho mọi người có nhận thức và hiểu biết càng sâu sắc hơn về con người vĩ đại này.

Người bình thường đều biết rằng quốc phụ vào những năm tháng trưởng thành đã tin theo đạo Cơ Đốc, nhưng cũng có rất nhiều người biết rằng tổ tiên của quốc phụ là một gia tộc có truyền thống đạo Phật. Tuổi thơ của quốc phụ từng bái Huyền Thiên Thượng Đế và trở thành con nuôi của ngài, hơn nữa còn tuyên thề trước Huyền Thiên Thượng Đế là vĩnh viễn giữ bí mật về ngày sinh của mình cho đến khi trưởng thành, và cả cuộc đời quốc phụ vẫn luôn giữ chắc lời thề không đổi. Dân ta nếu tin rằng có thần linh, sẽ thấy rằng quốc phụ khi trưởng thành đã làm cách mạng kiến quốc, nhờ có sự bảo hộ của thần linh vô hình mà đã có được những cống hiến to lớn.

Khi quốc phụ còn tại thế, địa điểm mà ngài sinh ra, thời gian mà ngài sinh ra cũng là một bí mật đối với chính ngài. Ở đây có một vài nguyên nhân chắc chắn, rất đáng để thâm nhập nghiên cứu. Bởi vì khi quốc phụ tại thế, rất rất ít người trong nhóm đồng chí biết được về sinh nhật của ngài. Vào năm Dân Quốc thứ 14, sau khi quốc phụ qua đời, tôi vì vấn đề ngày mà đã tìm kiếm và hỏi han các đồng chí của quốc phụ trong suốt một khoảng thời gian tương đối dài.

Ông Đới Lý Đào nói: Khoảng vào giữa năm Dân Quốc thứ 5 và thứ 6, quốc phụ sống tại Thượng Hải, một buổi tối nọ có tổ chức hai bàn tiệc tại nhà riêng, chỉ có một số ít đồng chí tham gia. Sau khi mọi người ngồi vào chỗ, các đồng chí mới hỏi nguyên nhân mời khách, quốc phụ chỉ cười cười không đáp. Tôn phu nhân mới nói ngày này là sinh nhật của quốc phụ. Thế là mọi người liền nâng ly chúc thọ quốc phụ.

Ông Đới nói, khi quốc phụ còn tại thế thì chỉ có một lần này là tổ chức chúc thọ. Cho đến nay nhớ lại thì thực sự đây là một điều khó hiểu lớn không dễ gì giải đáp được.

Chúng ta có cần biết nguyên nhân của việc này nằm ở đâu không? Sau khi quốc phụ tạ thế, trong một số lần liên quan đến việc báo cáo về giai thoại cuộc đời quốc phụ tại Quảng Châu, ông Liệu Trọng Khải cho rằng rất đáng để nghiên cứu. Khi đề cập đến bí mật về sinh nhật của quốc phụ, ông Liệu Trọng Khải nói: Nguyên nhân quốc phụ chưa bao giờ để lộ ra sinh nhật của mình có liên quan đến việc sau khi quốc phụ ra đời, cha của quốc phụ là ông Tôn Đạt Thành, từng tìm một thầy bói xem tướng số đến, thầy tướng số nói rằng: "Đứa con này phi phàm, đại phú đại quý, có danh vị hoàng đế. Ngày sinh nhật cần phải giữ bí mật." Bởi vậy ông Đạt Thành mới đặt tên gọi ở nhà của quốc phụ là Đế Tượng, Đế Tượng này nghĩa là Con voi của hoàng đế.

Sau này, trong lòng ông Đạt Thành vô cùng bất an và lo sợ, nói cách khác là bởi vì trong nhà sinh ra một đứa con sau này sẽ làm vua, nếu như phúc đức tổ tiên không dày, e rằng sẽ xung khắc, hơn nữa nếu ngày tháng năm sinh bị nhà Thanh biết được thì cũng không có gì tốt lành. Do vậy khi quốc phụ 7 tuổi, ông đã đưa quốc phụ đến một ngôi chùa tại thôn Thúy Hanh, thỉnh Bắc Cực Huyền Thiên Thượng Đế trong ngôi chùa này bảo vệ cho quốc phụ khôn lớn, nhận Bắc Cực Huyền Thiên Thượng Đế làm cha nuôi, và vì bát tự Đế Tượng của quốc phụ mà đặc biệt bắt quốc phụ phát lời thề trước thần rằng, từ nay về sau không được đem ngày tháng năm sinh của mình nói cho người ngoài. Quốc phụ khi đó không hề do dự mà thề trước thần, đồng thời đã giữ trọn lời thề này. Do vậy, rất ít các đồng chí cách mạng biết được sinh thần bát tự của quốc phụ.

Mãi cho đến khi triều đình Mãn Thanh bị lật đổ, thành lập Dân Quốc, cuộc cách mạng của quốc phụ thành công, quốc phụ trở thành đại tổng thống lâm thời, thì quốc phụ mới không giữ bí mật về ngày sinh của mình nữa, thế nhưng đến khoảng giữa năm Dân Quốc thứ 5 và thứ 6, vẫn rất ít người biết về sinh thần bát tự của quốc phụ. Có thể thấy rằng quốc phụ cả đời làm sự nghiệp luôn trọng lời thề, luôn giữ lời thề như nhất. Có thể thấy rằng nếu chúng ta tin tưởng có thần linh, thần chắc chắn sẽ bảo vệ ta, công đức của Bắc Cực Huyền Thiên Thượng Đế cũng vô cùng oai phong và cao quý. "

🌟

Người viết bản văn này là tiến sĩ Hạ Vĩnh Hàn tại New York nước Mỹ, đã từng về nước tham gia cuộc họp mặt Quốc Kiến. Ở New York, ông đã xây dựng đạo tràng Bắc Cực Kim Điện Bát Nhã Viện. Biết tôi ở Seattle, ông đã đặc biệt đến tìm gặp, ngoài ra còn đưa cho tôi bản văn này, hi vọng tôi có thể xuất bản nó. Ông có chú thích thêm về Huyền Thiên Thượng Đế như sau:

"Huyền Thiên Thượng Đế Đại Thiên Tôn là phân linh của Vô Cực Hỗn Nguyên Giáo Chủ, còn Hỗn Nguyên Giáo Chủ là tổ sư của tam giáo (Nho, Đạo, Phật), hiệu là Tam Nguyên Đô Tổng Quản. Còn Huyền Thiên Thượng Đế là Cửu Thiên Du Dịch Sứ, Tả Thiên Cương, Hữu Viên Đại Tướng Quân, Trấn Thiên Trợ Thuận, Chân Vũ Linh Ứng, Phúc Đức Diễn Khánh, Nhân Từ Chính Liệt, Hiệp Vận Chân Quân, Trị Thế Phúc Thần.

Huyền Thiên Thượng Đế hiệu là Trị Thế Phúc Thần, Trấn Bắc Đại Tướng Quân, ngài du tuần khắp mọi cõi trời cõi đất, nắm giữ càn khôn thế giới, trợ giúp đại đạo thời mạt thế, hộ quốc hộ giáo. Không đành lòng trước ngũ trược ác thế, trước cảnh chúng sinh phải chịu nhiều khổ cực, nên ngài đích thân theo Ngọc Đế giáng linh, thống soái thiên chân vạn thánh, quan sát cảnh tỉnh chúng sinh dưới hạ giới, đại từ đại bi, đại thánh đại nguyện, nhân tâm tế thế, ban phúc trường thọ, tiêu tai cứu nạn, là vị đại thiên tôn độ thế xá tội.

Huyền Thiên Thượng Đế là hỗn nguyên hóa thân, là phân linh nhất khí chí tôn, giống như Thần Nông Đại Đế của thượng cổ Đại Đức Thượng Thánh, là thủy tổ của y dược ngũ cốc thức ăn ngày nay. Nhất khí hóa thân cũng như một vị quân chủ Đường Nghiêu đức cao thánh minh vĩ đại, vì chế độ pháp lệnh dân chủ của chính phủ quốc gia nhân loại ngày nay. Nhất khí cũng giống như Hoàng Thái Tử của Quốc vương Tịnh Lạc thời ngũ đại hậu Đường yêu thích học đạo, không thích vương vị, nên đã tu đạo tại núi Võ Đang thuộc tỉnh Hồ Bắc Trung Quốc, bái Diệu Lạc Thiên Tôn làm thầy, tu đạo 42 năm, ngộ chân thành đạo, thành tựu Đại Giác Kim Tiên của quả vị Vô thượng chính đẳng chính giác, ban ngày có thể bay lên trời. Ngọc Đế vô cùng ca ngợi công lao thành tích đức hạnh quả vị của ngài, giao cho trọng trách trấn giữ Bắc thiên du tuần chư thiên chư địa, ngoài ra còn phong làm Ngọc Hư Sư Tướng Huyền Thiên Thượng Đế Chân Võ Đang Ma Đại Thiên Tôn, còn có hiệu là Tế Thế Chân Nhân.

Gần đây, Minh Thành Tổ [ ND: Vị hoàng đế thứ ba của nhà Minh ], khi còn chưa hoàn thành đế nghiệp hoàng đồ, còn gặp phải rất nhiều khó khăn, đã thỉnh cầu Huyền Thiên Thượng đế linh ứng giúp đỡ, âm thầm trợ giúp ông thừa kế hoàng vị chính thống, bắt đầu thành lập đế nghiệp, dời đô về Nam Kinh, hiệu là Thánh Đức Hoàng Đế, đạt nhiều thành tựu về văn hóa, chính trị, quân đội, thiên hạ thái bình, công đức thành tích của ông rất huy hoàng. Sau đó, Minh Thành Tổ còn được Huyền Thiên Thượng Đế ban cho linh thị, rằng để kế vãng khai lai [ ND: tiếp tục kế thừa quá khứ và phát triển cho tương lai ], hoằng dương dân tộc Hoa Hạ văn minh [ ND: Hoa Hạ tên cũ của nước Trung Hoa ], lưu truyền tinh thần văn hóa vương đạo của văn hóa Hoa Hạ, nên Thành Tổ đã lệnh cho Trịnh Hòa (Tam Bảo Thái Giám) chế tạo nghìn vạn tàu thuyền, bảy lần thực hiện các cuộc hải trình hướng về phía Tây, đến các nước Đông Nam Á, Bắc Phi Châu, Hồng Hà, Vịnh Ba Tư, Ả Rập… để truyền bá văn hóa Hoa Hạ, đến nay vẫn là thuật hàng hải sớm nhất trong lịch sử thế giới. Chính việc truyền bá tinh thần vương đạo của văn hóa Hoa Hạ này mà ngày nay mới có Hoa kiều phân bố ở khắp Đông Nam Á và mọi ngóc ngách khác của thế giới.

Những thành tựu này đều là do Minh Thành Tổ, Trịnh Hòa Tam Bảo Thái Giám và mỗi đoàn thuyền đều thờ cúng thần linh Huyền Thiên Thượng Đế, nhờ vào sự bảo hộ của ngài mà có được. Hơn nữa, công đức chí đại chí cao của Huyền Thiên Thượng Đế Đại Thiên Tôn còn trực tiếp ảnh hưởng đến bảy con đường hàng hải cận thế giới, lần lượt phát hiện ra các lục địa thế giới, theo đó là các chủng tộc nhân loại, các cuộc di dân tự nhiên ở mỗi châu lục, tạo nên sự phát đạt và thành tựu về tri thức lịch sử hàng hải của nhân loại.

Từ hai triều đại Minh - Thanh đến Trung Hoa Dân Quốc, dân chúng nói chung tín phụng Huyền Thiên Thượng Đế, trong nước và hải ngoại khắp nơi đều thờ phụng Huyền Thiên Thượng Đế của Đạo giáo. Bởi vì Huyền Thiên Thượng Đế trưởng quản bắc thiên thất tinh, những người đi biển đều theo sao bắc cực mà đi. Công đức và đại nguyện của ngài luôn đi cùng với nhân loại thế giới, cùng vũ trụ càn khôn suốt nghìn vạn năm vô lượng kiếp, hơn nữa, công lao cứu thế của ngài có thế sánh với trời đất, như nhật nguyệt tỏa hào quang, ánh sáng chiếu tới đại thiên thế giới, bao kiếp cứu thế huy hoàng, huân công vĩ tích, giống như cầu vồng rực rỡ giữa ban ngày vậy.Ư

🌟

Lư Thắng Ngạn chú thích:

Bắc Cực Huyền Thiên Thượng Đế được thờ cúng tại các chùa miếu ở Trung Quốc cực kì nhiều, là vị thần tiên của Đạo giáo, tay phải cầm kiếm, trên kiếm có viết "Thất tinh kiếm", một ngón tay trái viết "Thông thiên chỉ", đầu đội mũ Võ Quan, để tóc dài, gọi là Lão Đế Da. Những vị được thờ cúng ở Mai Sơn, Gia Nghĩa thì có vị không có râu, một chân dẫm lên một con rắn, chân kia dẫm lên một con rùa, con rùa và rắn này là hộ pháp tướng quân của ngài. Một số bức tượng thông thường có mặt đen, cũng có mặt đỏ, và bức nào cũng đều có tướng rất uy mãnh.

Nơi thờ Bắc Cực Huyền Thiên Thượng Đế hương hỏa hưng thịnh nhất thuộc về Thọ Thiên Cung ở hang Tùng Bách tại Nam Đầu, Đài Trung, Đài Loan, các phân đường của cung này phân bố khắp toàn tỉnh, ngài giáng linh thông qua "thần kiệu" hoặc "kê đồng" là phổ biến nhất. Bởi ngài trấn thủ bắc cực, do vậy tinh kì [ ND: cờ sao ] của ngài có màu đen, trên đó viết Bắc Đẩu Thất Tinh, là một trong những pháp bảo để hàng ma.

Bắc Cực Huyền Thiên Thượng Đế thành đạo tại núi Võ Đang, có nhiều bản kinh điển được truyền thế, nổi tiếng nhất có ba bộ kinh:

1. Bắc Cực Huyền Thiên Thượng Đế Chân Võ kinh.

1. Huyền Thiên Thượng Đế kim khoa ngọc luật chân kinh.

1. Huyền Thiên Thượng Đế cứu thế chân kinh.


### 39. Phá Hắc giáo hắc pháp


Hồi đó, khi tôi còn đang truyền bá trên tạp chí, lúc tôi đọc thấy hai chữ "Hắc giáo", thật sự là tôi giật nảy mình kinh ngạc, bởi vì trong khắp thiên hạ này, không có nhiều người nhận thức được tâm pháp Mật tông (chân tri chân kiến), lại càng hiếm người có thể biết đến nguồn gốc, hoạt động và ảnh hưởng của Hắc giáo. Cá nhân tôi, bởi vì tôi là hành giả Mật Hành Tu Trì Hồng Quán Kim Cương Bảo Miện, từ sớm tôi đã có nhận thức sâu sắc đối với Hắc giáo. Đối với những người lợi dụng danh của Hắc giáo, tự cho mình là truyền nhân duy nhất của Hắc giáo, rồi lại thêm thế nhân vô tri, vẫy cờ hò hét, vì thế lại càng tạo ra nhiều nhầm lẫn, tôi thật sự cảm thấy buồn sâu sắc cho đám thế nhân vô tri. Còn những người phụ họa theo Hắc giáo, ủng hộ Hắc giáo thì thật sự cái tâm đó đáng chết.

🌟

Mật thừa phân ra làm ba bộ phận là Mật tông, Mật hành, Mật giáo, còn được gọi là truyền thừa bí mật của Phật và Phật, được truyền bởi những vị thầy có đủ tư cách, bởi vì là tâm tâm tương truyền nên được gọi là truyền thừa mật ý. Đây chính là Mật tông.

Mật hành là truyền thừa của Phật đối với Bồ Tát, tác giả thuộc về bộ phận này. Mật giáo thì mới là truyền thừa của tổ sư đối với phàm phu, hướng dẫn cho người người nhập Phật, tiến nhập Phật địa.

Mật thừa được khởi đầu bởi Bồ Tát Long Thọ, hoàn thành bởi Bồ Tát Long Trí. Khi Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế, Mật thừa hoàn toàn không khai tông lập vị. Sau khi Phật tịch diệt, Bồ Tát Long Thọ theo ý chỉ của Phật mà thuyết pháp, bắt đầu diễn xuất pháp Mật thừa trong Phật pháp, hiểu sâu sắc Kinh Lăng Nghiêm và pháp môn nội chứng viên thông.

🌟

Còn Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, vào ngày mồng 10 tháng 7 âm lịch, tại hồ Danakosha, Ấn Độ, đã hóa sinh từ hoa sen ngũ sắc, Quốc vương của Tây Ấn Độ là Indrabodhi, từ hoa sen trên biển đã bế ngài về, lập làm Thái tử. Sau này xuất gia, ngài bái thầy là Anan Tôn giả, chứng trí huệ Ngũ Phật. Sau đó, ngài đáp ứng lời mời của Quốc vương Tây Tạng là Trisong Detsen, đã từ Ấn Độ vào Tây Tạng, trở thành vị tổ sư đời thứ nhất của Tạng mật. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là người từ Ấn Độ đến Tây Tạng vào thời đại nhà Đường, nối tiếp pháp của Long Thọ Bồ Tát, sáng lập Hồng giáo [ ND: Nyingma - dòng Mũ Đỏ ] để giáo hóa dân tộc Tây Tạng, trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật. Hoàng giáo, Hoa giáo, Bạch giáo sau này đều từ đây mà ra, nghi quỹ rất nhiều, nhưng đều có pháp lưu truyền thừa, nên dù nhiều nhưng không bị hỗn loạn, đến ngày nay vẫn rất hưng thịnh không ngừng.

Tuy vậy, thế nào gọi là Hắc giáo, Hắc giáo vốn là một giáo phái bắt nguồn từ đạo Bà-la-môn của Ấn Độ, từ rất sớm đã truyền đến Tây Tạng, hoàn toàn không có liên quan gì đến Mật thừa của Phật giáo. Bà-la-môn vốn là đạo đa thần, cực kì mê tín, thấy mặt trời là lạy mặt trời, thấy mặt trăng là lạy mặt trăng, thấy núi lạy núi, thấy lửa lạy lửa, thấy cây cũng lạy cây, thấy đá cũng lạy đá, thậm chí thấy động vật súc sinh cũng bái lạy hết.

Trong đó, phái Hắc giáo chuyên môn lạy thần Trâu, trong nhà của các pháp sư của Hắc giáo đều thờ cúng thần Trâu, thần Trâu là giáo chủ của Hắc giáo, là tà môn trong số các tà môn. Hắc giáo vốn là một tôn giáo thờ phụng thần Trâu, sao có thể liên quan đến Mật thừa được, điều ảo diệu trong việc này thì người ngoài càng không thể biết được. Nay tôi lần lượt trình bày ở đây để phá bỏ tà môn này.

🌟

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ thương xót cho đám người của Hắc giáo mê tín thần Trâu này, để cứu độ đám chúng sinh bướng bỉnh hay làm om sòm này, Đại Sĩ đã hiển hóa thần thông nhập vào tam ma địa của Văn Thù Bồ Tát, sau đó làm xuất hiện một vị thần kim cang, chính là Đại Uy Đức Kim Cang, kêu những tín đồ Hắc giáo mê tính vào thần Trâu này hãy đi lạy Đại Uy Đức Kim Cang, nhờ Đại Uy Đức Kim Cang đến để cứu độ những người mê tín vào Hắc giáo này.

Hình tướng của Đại Uy Đức Kim Cang, ở trên cùng là Văn Thù Bồ Tát, ở giữa là mắt kim cang phẫn nộ, ở dưới là thần Trâu, tổng cộng có ba mặt, thần Trâu mọc ra hai chiếc sừng dài, mũi trâu, mắt trâu, miệng trâu, mọc ra nhiều tay, trên đầu trâu và thân trâu có treo nhiều đầu lâu. Đại Uy Đức Kim Cang thật sự thì không phải là thần trâu, đây là do Liên Hoa Sinh Đại Sĩ vì cứu những chúng sinh mê hoặc vào Hắc giáo mà cố ý hóa hiện ra hình tướng như vậy để độ hóa cho họ. Từ việc này có thể thấy sự thấp cấp và yếu kém của Hắc giáo, chỉ là một loại vô trí mê tín mà thôi.

Khi xưa Liên Hoa Sinh Đại Sĩ muốn độ hóa Hắc giáo, các pháp sư và tín đồ Hắc giáo cũng phản kháng, Liên Hoa Sinh biết vậy, chỉ có cách dùng phương thức khuyên răn, hóa sinh thành Đại Uy Đức Kim Cang đến đế giáo hóa Hắc giáo. Hắc giáo cũng có vận dụng đủ loại giới cấm, đủ loại lời thề để khống chế những tín đồ của mình, nghiêm khắc giới hạn tín chúng không được phản bội, đây là một kiểu cách làm của tà giáo. Còn lời thề của Hắc giáo là, người nào dám không tín phục, chắc chắn sẽ bị sừng trâu húc chết. Người đến quy y Hắc giáo đều phải phát lời thề.

🌟

Ngoài bái thần Trâu ra, một điểm đặc trưng của Hắc giáo là các pháp sư đều làm theo ác pháp, học một số thuật nguyền rủa chuyên môn hại người, do vậy hắc pháp hoàn toàn là chú thuật nguyền rủa. Hễ một lần làm ác pháp thì người thỉnh cầu nhất định cần phải cúng tiền cho pháp sư, pháp sư, pháp sư sẽ tùy theo số tiền nhiều hay ít mà tiến hành pháp thuật, những pháp này đều là hại người cả. Thử nghĩ mà xem, ngay cả pháp sư cũng đều hại người, tự trói mình trong kén, tâm vô tri ngày càng nặng, chỉ coi trọng tà pháp, vĩnh viễn không có ngày thấy Phật. Sự mê tín của Hắc giáo thật đáng thương, khiến người ta thật buồn thay. Pháp sư không hiểu tự tính, lại thêm đám tín chúng ngũ trược, đây chính là bộ mặt thật của Hắc giáo, thật là tội lỗi, tội lỗi.

Pháp sư Hắc giáo vốn dĩ thô tục không chịu nổi, hơn thế nữa, phàm là phụ nữ tin theo Hắc giáo, thì đêm đầu tiên sau đám cưới phải do pháp sư Hắc giáo phá trinh. Thậm chí, trong các miếu thờ thần Trâu của Hắc giáo cũng nuôi một đám kĩ nữ, chuyên môn hầu hạ các pháp sư Hắc giáo hưởng lạc. Việc nuôi một đám kĩ nữ trong chùa vốn bắt nguồn từ đạo Bà-la-môn mà có. Ở khu vực Ấn Độ rất nóng, nam nữ đều phát triển sớm, do vậy sắc dục rất nặng, các chùa của đạo Bà-la-môn đều có các kĩ nữ. Thế nhưng Hắc giáo lại còn xấu xa hơn nữa, không những nuôi kĩ nữ trong chùa, thậm chí ngay cả phụ nữ gia nhập Hắc giáo thì đêm đầu tiên xuất giá của họ cũng thuộc quyền sở hữu của pháp sư, thật đúng là tà môn.

Tác giả nghe nói trong cung Ung Hòa tại Bắc Kinh có bức Tứ Hoan Hỉ Phật, trước đây người đến tham quan chỉ cần lén đưa tiền cho người trong chùa thì họ sẽ đưa bạn đi xem, đó là một vị đầu trâu thân người, hai chân đều dẫm lên một mỹ nữ, trong tay lại ôm một mỹ nữ, đúng thực sự là gian dâm với mỹ nữ. Con quái vật đầu trâu này chính là sản vật của Hắc giáo, không phải là giáo chủ thần Trâu của Hắc giáo thì còn là ai nữa?

Có lẽ cũng sẽ có người nói rằng, Mật tông cũng có pháp song thân, kì thực, pháp song thân cũng là Hắc giáo ngoại đạo mới có. Tổ sư của Phật giáo vì độ hóa Bà-la-môn và Hắc giáo nên chỉ có cách đành chấp nhận như vậy. Ban đầu Duy Ma đại sĩ xác lập "bất đoạn dâm nộ si, diệc bất dữ câu" [ ND: không loại bỏ dâm nộ si, cũng chẳng sống cùng với dâm nộ si ] thì mục đích trước tiên để cho người ta hưởng lạc, sau đó lĩnh ngộ ra sự vô ích của dục, sau đó dừng dục thăng hoa, dựa vào trí huệ để cắt đứt dâm dục, chuyển thức thành trí.

[ ND: Một vài quý độc giả, hành giả cấp độ cao có thể hơi ngạc nhiên khi đọc đoạn trên, tuy nhiên xin quý vị lưu ý đoạn văn trên là ý kiến của Tôn sư khi ngài mới 39 tuổi (1983). Mặc dù đã thành tựu cực kì cao, nhưng lúc đó ngài còn chưa đạt tới các thành tựu vĩ đại cùng tột như thời kì về sau này. ]

Hắc giáo hắc pháp bị chính pháp quét sạch sẽ, vốn là một dạng quyền lực thiết lập cứu độ sơ cơ của Mật tông, Đại Uy Đức Kim Cang còn là hóa thân của tổ sư Phật môn.

🌟

Hắc pháp tà môn có thể tóm gọn lại thành ba đặc điểm:

1. Mê tín thần Trâu.

1. Làm ác pháp hại người.

1. Trọng dục vọng.

Tác giả cũng cảm thấy con người ngày nay căn cơ hời hợt, đối với Mật thừa căn bản là cũng không hiểu gì. Có người còn ăn theo tự gọi mình truyền nhân duy nhất của Mật tông Hắc giáo, truyền bá đến giới những người không có khả năng phân biệt thật giả chính tà, không có pháp lưu truyền thừa, kết quả là bảo Hắc giáo bất thanh tịnh này chính là Mật tông. Thế nhân không kiểm tra cho kĩ, bị mê hoặc mà còn không tự biết, do vậy tôi mới viết bản văn "Phá Hắc giáo hắc pháp" này để nói rõ mọi việc cho đúng.

Cần biết rằng "Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp, bách thiên vạn kiếp nan tao ngộ", tương lai của Mật tông sẽ phát triển rộng rãi, sẽ đạt tới những đỉnh cao, Phật quang sẽ phổ chiếu, phổ nguyện pháp giới hữu tình đều cùng chứng viên giác. Cá nhân tôi khi 32 tuổi đã quy y Mật tông, nhận quán đảnh mật hành, nhờ Thượng sư truyền pháp, chưa từng nói ra những thực tế thật sự về bí mật tu hành của bản thân, tôi chỉ nói rằng tôi kiêm tu Đạo và tu Phật mà thôi.

Tất cả hắc pháp tôi đều nghiên cứu để tham khảo, Hắc giáo hắc pháp cũng do Thượng sư truyền thụ giảng dạy toàn bộ cho tôi mà biết được. Những gì tôi đã học được là rất nhiều, tôi vì vai trò "Hồng Quán Kim Cương Bảo Miện Pháp Sư" tương lai mà bất kì pháp nào [ dù xấu hay tốt ] tôi cũng đều học hết để tham khảo.

Nay có người phụ họa theo Hắc giáo, tôi có trách nhiệm ra mặt để hướng dẫn và chỉ ra sai lầm, mong chúng sinh nhận biết được thật giả chính tà, đừng đảo ngược lại pháp luân, vậy là may mắn rồi..


### 40. Bình luận về việc Lâm Vân tham vấn Dalai Lama


Lâm Vân Đại Sư gặp Dalai Lama [Đạt Lai Lạt Ma] tại Hawaii, ông thỉnh giáo Dalai Lama một vấn đề. Lúc đầu Dalai Lama nghe không rõ Lâm Vân đang thì thầm điều gì, sau đó có người đứng bên cạnh phiên dịch, Dalai Lama cuối cùng mới hiểu ra đôi chút, rằng ông Lâm Vân hỏi rằng: "Có thể đồng thời tu trì tam mật được không?"

Lúc đó, Dalai Lama tự lẩm bẩm với chính mình một lúc, rồi mới trả lời rằng: "Người bình thường không có cách nào cùng lúc tu trì tam mật, phải làm từng bước một." Lâm Vân từ trong đám đông chen lên phía trước, vẫn muốn hỏi thêm, nhưng lại có người khác cũng chen lên trước, nên ông bối rối đứng lại, không biết làm gì hơn, có một cảm giác đau khổ vì bị cô lập.

🌟

Đối với câu hỏi của Lâm Vân Đại Sư dành cho Dalai Lama, người khác không thể nhận ra cái hay ở trong vấn đề này. Còn tôi thấy ngay ở đây có rất nhiều vấn đề, cần phải nghĩ cẩn thận, tự mình cũng có thể thấy được một đôi điều.

Một là, "Có thể đồng thời tu trì tam mật được không?" Câu hỏi này xuất phát từ miệng của Lâm Vân, đi vào tai của Dalai Lama, thực sự khiến người ta cảm thấy khá kì lạ. Bởi vì trong toàn bộ Mật thừa mà nói thì phàm là người nào học Mật thừa đều có thể trả lời câu hỏi này. Thế mà không ngờ nó lại xuất phát từ chính miệng của Lâm Vân Đại Sư, người tự xưng là truyền nhân duy nhất của Mật tông Hắc giáo, khiến chúng ta cảm thấy Lâm Vân này chẳng giống một đại sư Mật tông chút nào, nói thẳng ra là chẳng khác gì trẻ con mẫu giáo hỏi thầy giáo: "Thầy ơi con muốn xi xi." Trình độ của học sinh mẫu giáo này ngay cả đến tư cách làm lớp trưởng cũng chẳng có, mà e rằng còn chỉ mới là học sinh tiểu học vừa mới vào lớp, ngay cả đến việc "xi xi" cũng cần có thầy giáo giúp cởi quần xuống kéo quần lên.

Hai là, chúng ta cảm thấy rằng, nếu Lâm Vân Đại Sư hỏi một câu hỏi trẻ con như vậy, cho thấy Lâm Vân Đại Sư thực sự chẳng biết đã đạt đến được điểm nào trong Mật thừa. Nhưng việc này cũng khó trách, bởi vì giới học thuật cũng không có hành giả tu trì Mật thừa chân chính, minh tinh cũng chẳng có người nào là hành giả tu trì Mật thừa chân chính. Có được một vài chuyện hay, một số người đứng vẫy cờ ủng hộ, thì hành giả này cũng chỉ là người đứng ngoài Mật pháp quan sát mà thôi.

Người không có hiểu biết rõ ràng về Mật thừa, khi đọc qua một vài cuốn sách đã liền tự xưng là đại sư Mật tông mà nói thì cũng giống như người ngoài hành tinh ET xuất hiện thôi. [ ND: ET là viết tắt của Extra-Terrestrial, tên bộ phim khoa học viễn tưởng của Mỹ năm 1982, trong đó có một sinh vật ngoài hành tinh có tên là ET mắc kẹt trên trái đất. ] Mọi người sẽ chỉ hiếu kì mà ôm lấy nó, chứ không cảm thấy sự xấu xí của nó.

Có một vị hành giả Mật tông tu trì 10 năm, là đệ tử truyền thừa của pháp tự Norlha Hotogtu tại vùng tây Kham, đã nói rằng Lâm Vân căn bản không phải là Mật tông, nhưng Lâm Vân mở miệng là nói Mật tông, ngậm miệng là nói Mật tông, trong khi đó người thật sự là hành giả Mật tông thì sẽ chẳng có ai nói gì cả. Tôi nói với ông rằng, chính tại vì người tu Mật tông thật không nói gì nên mới để cho Lâm Vân giả Mật tông gây nên tiếng vang ầm ĩ như vậy.

Ba là, câu hỏi "Có thể đồng thời tu trì tam mật được không?", chúng ta cảm thấy thỉnh thị Dalai Lama về điều này dường như có "mùi" cố ý coi thường hoặc sỉ nhục Dalai Lama. Dalai Lama là trưởng môn của phái Hoàng giáo Tây Tạng, chúng ta có thể tưởng tượng, Dalai Lama nhất định cho rằng Lâm Vân đưa ra câu hỏi ấu trĩ này thực sự khiến người ta cảm thấy vô cùng kì cục, giống như một học sinh hỏi một giáo sư đầy một bụng tri thức rằng: "Một người có thể cùng lúc mở miệng ra nói ba thứ ngôn ngữ được không?"

Vị giáo sư này bị làm rầy rà đến mức không chịu được mà nói: "Một người bình thường không có cách nào đồng thời nói ba thứ tiếng được, cần nói xong một thứ tiếng rồi mới nói đến thứ tiếng thứ hai, rồi thứ ba."

Chúng ta tưởng tượng Lâm Vân không có chuyện gì đành kiếm chuyện mà nói, hoàn toàn nhàm chán và vô tri.

🌟

Hôm nay, tôi đặc biệt chỉ dẫn cho Lâm Vân Đại Sư ngài như sau:
Tam mật, thân khẩu ý, được phân ra "hữu hình" và "vô hình".

Thân bí mật là hóa thân công đức, người tu hành cần giữ không phạm thân nghiệp. Tu ngũ trí pháp, cho đến khi huyết mạch, lục phủ ngũ tạng toàn thân, phàm tất cả nhân quả da thịt của kiếp trước, những giết, cướp, dâm đều tẩy rửa sạch sẽ, hành giả thật sự bảo trì được sự thanh tịnh của thân, thì mới là hóa thân công đức của thân bí mật vô hình.

Khẩu bí mật là báo thân công đức, người tu trì cần giữ không phạm khẩu nghiệp. Tu thiệt thanh tịnh pháp, cho đến khi không còn ác khẩu, hai lưỡi, vọng ngữ, khỉ ngữ, đến cuối cùng trở thành ngôn ngữ, khí công, khí của toàn thân đều thanh tịnh, như vậy vĩnh viễn bảo trì được khẩu bí mật vô hình của báo thân công đức. Lâm Vân Đại Sư thích nhất là nói về khí, kì thực khí là khẩu bí mật vô hình, ngài cần thể hội cho tốt hơn.

Ý bí mật là pháp thân công đức, người tu hành cần giữ không phạm vào ý nghiệp. Tu chân huệ pháp quán tưởng để tiêu trừ ba thứ độc tham, sân, si. Toàn thân tâm, ý, khẩu đều hiển hiện quang minh, như vậy mới xem như bảo trì được pháp thân công đức của ý bí mật.

Tam mật nói đến ở trên là vô hình, là trọn vẹn nhất, là tận cùng của vấn đề nhất.

🌟

Còn như Lâm Vân Đại Sư hỏi Dalai Lama, đương nhiên tôi biết ông ấy hỏi về cái "hữu hình", đây là cách hỏi của dân ngoại hạng không chuyên.

Thân bí mật, tay kết thủ ấn, đi đứng ngồi nằm và tất cả các hành động đều là ấn khắc.
Khẩu bí mật, miệng tụng chân ngôn, tất cả các hành động đều có chân ngôn.
Ý bí mật, tâm trí quán tưởng Bổn tôn, tất cả hành vi đều dựa vào Bổn tôn làm chủ.

Câu trả lời của Dalai Lama rất có lý, một người chưa thành đạo thì cần từng bước tu trì tam mật, hết cái này đến cái kia, tu từng bước từng bước vững chắc như chân đạp đất, trước tiên là tu khẩu, xong đến thân, sau đó tới ý niệm, đến khi thực sự tam mật có thể hợp nhất cũng tức là đã "thành đạo".

Tôi cười Lâm Vân căn bản không hiểu Mật thừa, bởi vì tam mật có thể đồng thời tu trì cũng tức là đã "thành đạo". Phàm phu không có cách nào làm được như vậy, câu hỏi này của Lâm Vân Đại Sư thực sự là câu hỏi thừa thãi, chẳng có gì để nói đành cố kiếm chuyện để nói.

Có lẽ Lâm Vân Đại Sư cho rằng trong miệng niệm chú, tay đưa ra một cái thủ ấn, trong đầu quán tưởng một vị Phật, như vậy chính là "Tam mật hợp nhất" mà tu pháp rồi. Kì thực đó là "hữu chấp giả kiến", còn muốn "tam mật hợp nhất" thì phải như thế này mới được xem là "vô hình chân đắc":

Thân bí mật --- thân tâm hai phần, pháp nhiên bất động.
Khẩu bí mật --- chư Phật cảm ứng, đại truyền pháp luân.
Ý bí mật --- gia trì nội chứng, tự minh Phật tướng.

Đây mới là tu trì chân thực "Tam mật hợp nhất". Không phải miệng niệm chú, tay kết ấn, tâm quán tưởng, như vậy chính là "tam mật hợp nhất". Cần biết rằng, đắc chứng của thân bí mật là "lý cụ thành Phật", đắc chứng của khẩu bí mật là "gia trì thành Phật", đắc chứng của ý bí mật là "hiển hiện thành Phật". Để làm được như vậy cần từng bước, đến cảnh giới tối cao thì tự nhiên sẽ là "Tam mật hợp nhất".

🌟

Tôi muốn khuyến cáo Lâm Vân Đại Sư rằng, xin đừng nhắc lại chuyện khi ông 6 tuổi tại cung Ung Hòa học pháp nữa, bởi vì tu trì Mật tông nhất định cần có pháp lưu truyền thừa do thầy truyền dạy, nói cách khác là cần quy y Thượng sư, nhập đàn quán đảnh thọ pháp mới được xem là đệ tử Mật tông chính thức.

Không phải là đọc thêm mấy cuốn sách, đọc sách rồi học được vài cái thủ ấn, nắm được một ít thứ hỗn tạp nào là phong thủy, kinh dịch, đạo, rồi phụ họa thêm Hắc giáo hắc pháp là nghĩ có thể tự gọi mình là truyền nhân duy nhất của Mật tông Hắc giáo được. Cần phải chỉ ra Thượng sư của mình là ai. Mật tông không phải là tự một mình có thể tu được, mà cần quy y Thượng sư, có được Thượng sư truyền pháp mới có thể tu trì.

Do vậy Mật tông luôn luôn có thêm một phần nữa, đó chính là quy y Thượng sư. Bạch giáo có phái Karma Kagyu, Hồng giáo có phái Nyingmapa, đều có dòng truyền thừa pháp từ thầy, tuyệt đối không thể tự học tự tu được, đó chỉ là tu luyện một cách mù quáng. Bất luận là ông tu pháp gì, nhất định cần có pháp lưu truyền thừa từ thầy, hãy mau coi trọng việc quy y chính pháp đi.

Đặc biệt, người tu trì Mật thừa chân chính luôn luôn xem Ấn Độ giáo (đạo Bà-la-môn), Tạng giáo, Hắc giáo (đạo Bon) là các loại tà ma xấu xa, là tiểu thừa ngoại đạo. Ông không cần phải tự mình cam chịu hạ lưu, phụ họa theo Hắc giáo hắc pháp. Tác giả nói điều này là vì tôi vẫn luôn giữ vững tâm từ bi và tâm vô úy nên mới dốc lòng dốc sức khuyên đi khuyên lại như vậy, hy vọng ông cũng cùng quy về bồ đề đạo.

Trước mắt ông nên tu quảng đại cúng dường để mà cúng dường Thượng sư, Tam bảo, Kim cang, Hộ pháp. Hãy nhận thức được niềm vui khi quy y Thượng sư, nhờ vào quy y mà tu sửa cho đúng, dựa vào cúng dường mà sám hối, như vậy mới có thể rửa sạch những vọng nghiệp mà ông đã gây ra từ ngày xưa, từ đó tạo nên những bước chân vững chắc, đừng có nói năng lung tung hồ đồ nữa.

6 tuổi học pháp, xin đừng nhắc lại nữa, để tránh làm ô nhục đến sư môn Mật thừa.


### 41. Vài mẩu chuyện về Lâm Vân đại sư


Từ khu thôn mới Tứ Duy, quận Phố Tâm, thành phố Dương Mai, thuộc Đào Viên, Đài Loan, lão tiên sinh Tạ Thực Đoan đã gửi đến một bức thư, tôi đặc biệt công bố như sau:

Kính gửi Lư Đại Sư,
Tôi có thể nhận được lá thư tay của một vị Thượng sư một tông phái, thật là may mắn trong đời này của tôi, trong lòng tôi thật vinh dự, giống như cảm xúc trong quá khứ tôi từng được tổng thống Tưởng Công [ ND: Tưởng Giới Thạch ] triệu kiến vậy.

Tôi đã thử khởi linh, theo hướng dẫn thì cần nhịn ăn một ngày rồi cầu nguyện.

1. Lúc bắt đầu, hai chân tôi rung lên không ngừng.

1. Tiếp theo là hai tay tôi chắp lại cũng lắc với một lực rất mạnh.

1. Trong lúc hoàn toàn không có ý thức, tôi đứng dậy, thế là hai tay tách ra, lúc này chỉ có hai cánh tay là rung lắc.

1. Sức mạnh rung lắc này đến từ bên trong cơ thể, dường như càng rung lắc càng có "linh" của thần, nhưng người tôi thì hoàn toàn tỉnh táo, những hiện tượng này tôi vẫn mong được thỉnh giáo xem thế nào.

Ngoài ra, tôi đọc báo ngày hôm nay, thấy có một nhà báo viết bài về một người là Lâm Vân, đọc xong trong lòng tôi cảm thấy cực kì không vui. Tôi đã đặt ra rất nhiều dấu chấm hỏi. Là ông ta chứ chẳng phải ai khác, dẫu biết rằng ông ta vẫn cả đời gạt thế trộm danh, vô hình trung, tâm tư ông ta đã tự coi là một đại sư hóa thân, vì thế mà đọc xong tôi cảm thấy không vui, vậy nên cứ nhiều lời nói mãi.

Kính chúc đại sư pháp an.
Tạ Thực Đoan.

🌟

Ông Tạ Thực Đoan đã cắt bài báo kia gửi cho tôi, sau khi đọc xong, tôi chỉ cảm thấy rất buồn cười. Bây giờ tôi sẽ cầm cây bút, viết một vài mẩu chuyện về vị đại sư này, hãy xem thử một bộ mặt khác của ông ta.

Chuyện thứ nhất:
Con trai của tướng quân Hồ Liễn đến tìm tôi, người này phục vụ trong Đại Lục Thiết Kế Ủy Viên Hội, hỏi về bệnh của mẹ anh ta (tức Hồ Liễn phu nhân, bị bán thân bất toại).
Tôi bấm ngón tay để tính toán một lúc, tôi trả lời:
"Đã có người cầu nguyện cho bà ấy rồi, người này dùng tà pháp. Bệnh của phu nhân đã không thể chữa, xin hỏi người này là ai?"
Con trai của Hồ Liễn đáp:
"Lâm Vân."
"Ông ta nói có thể chữa khỏi sao?"
"Có thể." - Khẩu khí anh ta rất kiên định.
"Nay thì sao?"
"Đã chữa rất lâu rồi, nhưng chữa không khỏi."
"Sao không lại đến tìm ông ta?"
"Ông ta vừa thấy là không chữa được, nên đã cụp đuôi trốn mất rồi."

Tôi bảo với con trai của tướng quân Hồ Liễn rằng, Hồ Liễn phu nhân đã không còn cách nào kéo dài cuộc sống nữa, nhưng có cách để chấm dứt cuộc sống, không cứu được nữa. Con trai của tướng quân Hồ Liễn làm động tác kết một thủ ấn mà Lâm Vân Đại Sư đã dạy cho anh ta, hỏi tôi thủ ấn này có thể cứu được mẹ anh không. Tôi cười bảo anh rằng, đây là thủ ấn "kiếm cơm" thôi, ngay cả con kiến cũng chẳng cứu nổi.

🌟

Chuyện thứ hai:
Thành phố San Francisco nước Mỹ gặp mưa lớn núi lở, đã chôn sống giáo sư Hứa Giới Dục. Tôi đã từng bấm ngón tay để xem bói cho ông ta, ngũ hành nạp âm của ông Hứa thuộc thủy, nhà ông Hứa lại ở phía sau núi, thổ khắc với thủy, do vậy ông chết chắc không còn gì nghi ngờ. Khi ấy núi lở, giáo sư Hứa đã mất tích.

Có một người con gái của Trần tướng quân đã vội vã đến thỉnh giáo Lâm Vân Đại Sư.
"Giáo sư Hứa có tướng trường thọ, chắc chắn không chết." - Lâm Vân Đại Sư nói chắc như đinh đóng cột.

Hai ngày sau vụ núi lở, vẫn không thấy giáo sư Hứa xuất hiện, điều này chứng tỏ ông đã bị chôn sống trong đất rồi. Con gái của Trần tướng quân lại đi hỏi Lâm Vân.

"Đây… đây… đây là tai họa thiên nhiên, không có cách nào đoán được." - Lâm Vân ấp a ấp úng.
"Rốt cục là còn sống hay đã chết?"
"Chết. Chắc chắn chết."

Sự việc mất mặt này của Lâm Vân Đại Sư được lan truyền khắp trường đại học Washington, rất nhiều giáo sư cho rằng tên tiểu tử này lừa ăn lừa uống lừa ngủ, mặt dày như vậy, thế mà không ngờ vẫn khiến người ta dễ dàng cả tin vào ông ta, ai nấy biết chuyện đều lắc đầu cảm thán, rõ ràng thấy rằng ông ta "biến thuật cao minh" và giỏi tuyên truyền.

Con gái của Trần tướng quân nói:
"Bói toán như vậy thì trẻ con ba tuổi cũng biết."

🌟

Chuyện thứ ba:
Cũng lại là một phu nhân tướng quân đến tìm tôi. Bà nói:
"Lâm Vân bảo tôi, chỗ này cần đặt một tấm gương, chỗ kia cần treo một cái chuông đồng, kết quả là chẳng những bệnh không tốt lên mà ngược lại càng ngày càng nghiêm trọng. Chúng tôi chẳng nghĩ được cách nào nữa, chỉ còn biết đến tìm Lư đại sư cầu cứu. Thực sự, từ đầu đến chân tôi đau đớn muốn chết rồi. Đã treo gương, đã treo chuông, nhưng bệnh lại càng nặng thêm, Lâm Vân rốt cục có biết hay không biết đây, thật sự là có vấn đề."

Tôi dùng pháp "Dụng thần chế sát", rồi lại dùng lá phù thứ sáu của "Linh Tiên phi hồng pháp" để chữa cho bà hết đau. Quả nhiên bà đã khỏi. Phu nhân tướng quân cảm kích tôi không ngừng.

🌟

Mấy chuyện hài này của Lâm Vân Đại Sư thực sự nhiều như sao trên trời. Nếu tôi kể hết ra thì có thể viết tới cả trăm chuyện. Điều khiến tôi cảm thấy kì lạ là rất nhiều giáo sư, minh tinh, nhà báo, những người này liệu có phải đã bị tà thuật che mờ mắt hay không, sao lại có thể nhận thức không rõ ràng như vậy, hoặc có lẽ nào họ đều là những kẻ ngoại hạng không chuyên, cả đời theo sau ông ta mà tung hô.

Điều hài hước nhất là, ông ta nói mình thông qua linh thị của Phật, thế nhưng phong thủy tổ tiên của Lâm Vân Đại Sư lại có sai lầm. Hãy xem anh chị em của Lâm Vân, cả nhà lớn lớn nhỏ nhỏ nếu không kết hôn muộn thì cũng không kết hôn, không có ai ngoại lệ cả, bản thân Lâm Vân cũng không kết hôn, cả mấy anh chị em nhà ông ta đều như vậy. Lâm Vân Đại Sư từ sáng đến tối giảng phong thủy Mật tông, nhưng phong thủy tổ tiên của chính mình thì lại đầy lỗi, thực sự là chẳng có cách nào chữa được, không thể chữa, không dám chữa.

Tôi xin hỏi Lâm Vân Đại Sư, có vấn đề gì với phong thủy Mật tông của ngài vậy? Giả sử ngài vẫn không có biện pháp nào, tôi khuyên ngài mua một cuốn văn tập số 43 của tôi "Địa linh tiên tông" mà đọc thử, rồi trước tiên hãy thử giải quyết phong thủy tổ tiên của chính mình đã. Sau đó hãy cầm cuốn sách mà tôi viết để giảng nghĩa, sẽ đặc biệt giúp ngài xây dựng được phong thủy Mật tông cho mình đó.

🌟

Tôi thấy đến nay Lâm Vân Đại Sư vẫn tự cho mình là truyền nhân duy nhất của Mật tông Hắc giáo. Còn tôi đây với hiểu biết như một chuyên gia về Mật tông Hắc giáo lại vẫn không thể nhìn ra Hắc giáo hắc pháp của Lâm Vân Đại Sư nằm ở đâu?

Như "Khí", "Linh tử thuyết", "Đa nguyên duyên sinh luận", "Nhập thế giải", "Xuất thế giải", "Tam mật gia trì", "Đại minh lục tự chân ngôn", v.v… đều là những tiểu luận của Mật tông, vẫn còn pha tạp những lý luận của Đạo gia, những thứ này đối với người tu trì Mật tông mà nói đều là trò chơi vặt, chỉ lừa được những dân a-ma-tơ [ amateur ] ngoại hạng, không thể lừa được những chuyên gia, vậy xin hỏi Hắc giáo hắc pháp nằm ở đâu? Ông có biết Hắc giáo là tà giáo sùng bái thần Trâu không?

Tôi rất muốn viết một cuốn sách, tên sách chính là "Hắc giáo hắc pháp", để cho ông hiểu thêm một chút, Lư Thắng Ngạn vốn hoàn toàn không hề hàm hồ về Hắc giáo hắc pháp. Khi tôi 32 tuổi tôi đã nghiên cứu rất kĩ càng về Hắc giáo hắc pháp rồi. Điều này có thể khiến ông cảm thấy rất bất ngờ, bởi vì ông tưởng rằng Hắc giáo hắc pháp chỉ có mỗi mình ông biết, kì thực ông đã sai rồi. Đối với Hắc giáo (đạo Bon), những gì tôi đã tu trì học hỏi vượt xa ông rất nhiều [ học để biết, nhưng không sử dụng ]. Sau này ông đọc sách rồi, chắc chắn ông sẽ tin vào lời của tôi, xin lỗi ông, cái danh "truyền nhân duy nhất" này của ông có thể đổi thành "truyền nhân duy nhị" rồi đó. Nhưng Hắc giáo hắc pháp, tác pháp rất nhiều, nên tôi sẽ giấu kín một vài thứ trong sách viết, việc này cũng là bất đắc dĩ thôi.

Tôi nói cho ông biết, tôi là một người Mật hành tu trì chân chính với Hồng Quán Kim Cương Bảo Miện, là thiên hạ đại pháp Chính Biến Tri. Tôi chỉ ra cái sai của ông, đối với ông và đối với tôi đều có công đức, đây là tôi bí mật giúp ông, hãy nhớ kĩ, nhớ kĩ!


### 42. Hai mươi hai vị Phật nói như vầy


Hơn 3 giờ chiều, ngày 4 tháng 2 năm 1983, tôi ở nhà mình tại Linh Tiên Các tịnh tọa tham thiền. Khi tôi tịnh tọa tham thiền thì tôi đóng cửa lại, nếu có người đến thì cũng không vào trong phòng được. Tôi cũng kéo rèm cửa sổ lại, trong phòng rất tối.

Đột nhiên cả căn phòng sáng rực như được bật đèn. Ánh sáng kì lạ này giống như tơ như sợi, tôi nhìn thấy ghế ngồi hoa sen phóng quang, chuyển động lên xuống. Tôi đếm thử bên dưới, không ngờ có 22 tòa sen, ánh sáng của những tòa sen này làm cho cả căn phòng sáng rực rỡ như ban ngày.

Hóa ra, 22 tòa sen này là các vị Phật Bồ Tát từ Đài Loan đến nước Mỹ để nhận pháp hội cúng dường tại Linh Tiên Tịnh Xá, trước ngày tổ chức pháp hội một ngày, các vị đã đều đến đây thị hiện liên quang.

Tôi tán thán: "Thật ngoạn mục, thật thần kì, thật là thần thông vĩ đại."

🌟

Phật Bồ Tát đều để lại những câu kệ tâm linh:
Phật quang chiếu sáng Linh Tiên Các
Pháp hội Karma hiện quần anh [ ND: Pháp hội Karmarpa ]
Trì chú thủ ấn đều có lực
Tham ngộ cưỡi sen đến Phật kinh.

Thanh yên tràn ngập Linh Tiên Các
Ngày đêm tu đạo giữa đất trời
Xuất nhập cảnh giới đều lão luyện
Còn biết năm sau gặp vân thiên.

Kì lạ lạ kì Linh Tiên Các
Nơi đây vi diệu ít ai hay
Tiên nhạc phiêu du theo sợi nắng
Biết rằng Liên Sinh cưỡi hạc bay.

Hoa sen bồng bềnh Linh Tiên Các
Khoảnh khắc ngao du khắp đông tây
Độ hóa nhân gian ba nghìn chuyến
Trải nghiệm thế gian chín trăm thu.

Cây quý thất bảo Linh Tiên Các
Pháp vụ đời này cần chăm lo
Trai giới lễ Phật thường trì chú
Trừ yêu phục ma quét bụi trần.

Nhàn nhã an yên Linh Tiên Các
Mây nước tuyệt thắng tự ngâm du
Trăng sao đều dừng nơi Bích Lạc.
Bảy đại châu lục lướt mây đi.

[ ND: Theo Đạo giáo, tầng trời cao nhất có tên gọi là Bích Lạc. ]

Ánh sáng mơ ảo Linh Tiên Các
Viết sách làm thơ chẳng vướng trần
Xuân đến đại địa hoa dâng Phật
Từ nay sóng đời chẳng đảo điên.

Thần khí hào sảng Linh Tiên Các
Nhân gian cũng có được cảnh tiên
Lầu này thông đến tam thiên giới
Tục khách vướng đàn sẽ chẳng dung.

🌟

Khi đó tôi chắp tay lạy Phật, trong lòng vừa cảm thán vừa hoan hỉ, tôi vội vã thỉnh thị Phật lý.

Một vị nói: "Bốn câu hoàn toàn không cần nói."
Một vị nói: "Thiên ma ngoại đạo nên chém đầu."
Một vị nói: "Mê ngộ hai cửa chỉ một đầu."
Một vị nói: "Tam tạng huyền cơ chẳng thiếu gì."

Lại có một vị nói với tôi:
"Liên Sinh, những bài viết của ngài có lúc là ánh mắt Bồ Tát từ bi cúi nhìn, nhưng có lúc là ánh mắt phẫn nộ của Kim cang uy mãnh, ác liệt như sư tử hổ dữ giương móng vuốt, và rồi ma đạo liền bị bắt sống, không loài nào thoát mạng. Lại như Đại Uy Đức Kim Cang, tay cầm Ỷ thiên hàn bảo kiếm, uy phong lẫm liệt, vạch trần hết những đám ma đạo này ra cho chúng sinh được thấy."

"Con đã sai rồi sao?" - Tôi chắp tay cung kính hỏi.
"Tất cả đều hợp với chính đạo, nhưng cũng còn một chút vi trần."

"Như thế nào?"
"Ngài chỉ trích lão cư sĩ họ Lý chửi Thần chửi Tiên cũng không sai, chỉ trích sự cố chấp của ông ấy cũng không sai. Nhưng ông ấy giảng kinh Phật đã nhiều năm, đã dẫn dắt được nhiều chúng sinh quy y Phật, công quả của ông ấy cũng không ít, cũng coi như là một phần tử của Liên Trì Hải Hội. Công lao này cũng đáng để bỏ qua cho ông ấy được. Ông ấy cũng là người có quả vị, ngài chửi ông ấy, cơn giận này của ông ấy sẽ lớn như núi Tu Di, do vậy mà ngài còn vương bụi trần."

"Vậy con không nói nữa là được."
"Thậm chí cho dù nếu cư sĩ họ Lý không có quả vị, nhưng nhiều học trò của ông ấy là người có quả vị, những học trò này sẽ vì việc ngài phê bình thầy giáo của họ mà cả đời này sẽ sinh tâm tức giận lớn như núi Tu Di, trên một góc độ thì cũng giống như phát tâm phẫn nộ. Đây chẳng phải là tự hiện mê ảnh, ai nấy đều phá tan tâm hướng đạo thành Phật sao?"

"Khai thị có lý, vậy con cần làm sao?"
"Viết thêm một chương "Hai mươi hai vị Phật nói như vầy" là được rồi.


### 43. Pháp hội kì tích


Tôi còn nhớ pháp hội lần đầu tiên tại tịnh xá Linh Tiên ở Tukwila.
Ngày 5 tháng 2 năm 1983, Tukwila tại Seattle có được một ngày thời tiết đẹp vô cùng hiếm có, mặt trời vừa to vừa sáng, bầu không khí u ám của mùa đông lạnh lẽo bị quét sạch sẽ. 10 giờ sáng, hội trường pháp hội của tịnh xá Linh Tiên tại Mỹ đông đúc với dòng người đổ về ào ào như mây như gió. Ở Washington mà nói thì cảnh tượng này rất hiếm thấy, bởi vì pháp hội lần đầu tiên tổ chức tại tịnh xá Linh Tiên tại Mỹ còn khá mới mẻ, thế nhưng đã rất thu hút mọi người, có thể nói là một sự kiện lớn không ngờ tới.

Những quần áo và vật phẩm cầu phúc của pháp hội này xa nhất là được gửi tới từ Đài Loan theo đường hàng không, là đồ của ông Giang Đông Dần, ông Trịnh Dụ Tín, ông Vưu Ngân Thọ, v.v… Kiện vật phẩm đầu tiên được gửi đến từ Los Angeles là của cả gia đình Thái Lâm Mỹ Liên.

Những người đầu tiên gửi đồ tới từ Houston là các ông Hoàng Ngọc Đường, Giang Tư Vinh, Trương Tam Chi. Người đầu tiên vội vã đến từ Vancouver, Canada là ông Lại Văn Ngạn. Người đầu tiên nhanh chóng đến từ San Francisco là ông Triệu Chiêu Minh.

Tóm lại, đại chúng tham gia pháp hội cầu phúc này tổng cộng có hơn trăm người, có thể nói rằng cảm giác lúc đó là người đông như núi như biển. Bởi vì lần đầu tiên tổ chức pháp hội mà đã có được thành tích như vậy, trong lòng tôi cảm ơn sâu sắc Bồ Tát từ bi đã linh ứng thập phương, thời cơ để phổ độ chúng sinh ở phương Tây đã đến rồi!

🌟

Pháp hội lần này dâng cúng lên Tây phương cực lạc thế giới A Di Đà Phật, Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát, Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát, Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn, Nam mô Vi Đà Tôn Giả, Nam mô Già Lan Tôn Giả.

Ngoài ra, vào buổi chiều ngày 4 tháng 2, đúng lúc tôi tịnh tọa tham thiền, đã có rất nhiều cao linh từ hư không hạ giáng, hóa ra đó là 22 vị Tiên Phật của Đài Loan cùng đến nước Mỹ để trợ giúp pháp hội tại tịnh xá Linh Tiên có nhiều linh cảm. Tiên Phật từ phương xa đến khiến mọi người cảm động rơi nước mắt.

Pháp hội do tôi làm người chỉ đạo trung tâm, bên trái có Trần Tước Viên, bên phải có Trần Sâm Hà, đốt sớ, cầu nguyện, bố thí, cúng dường, thủ ấn, tất cả đều được tiến hành theo nghi quỹ.

Kinh chú mà chúng tôi đã trì tụng gồm có:

1. Quan Thế Âm Bồ Tát Phổ môn phẩm.

1. Thiên Thủ Thiên Nhãn Đại Bi Tâm đà-la-ni.

1. Cao Vương Quan Thế Âm chân kinh.

1. Quan Thế Âm Bồ Tát đại cứu khổ chân kinh.

1. Bát Nhã Ba La Mật Đa tâm kinh.

Trong khi niệm Phật, tôi đã sử dụng đại thủ ấn của phái Karma Kagyu - Tạng giáo (phái Mật tông Bạch giáo). Trong khi tôi diễn hóa lần lượt từng thức từng thức của đại thủ ấn, tôi nhìn thấy Di Lặc Bồ Tát của cung trời Đâu Suất hạ giáng, ngài đội lên đầu tôi mũ Ngũ Phật màu dỏ. Tôi nhìn thấy bảy Đại Nguyện Vương dùng pháp thủ kì diệu sắp xếp gọn ghẽ mọi cúng phẩm, biến hóa cúng phẩm, khiến cho vật phẩm cúng dường đầy khắp các thiên cung.

Tôi thay cho chúng sinh chân thành phát lộ lòng sám hối mọi ác nghiệp đã tạo ra trong quá khứ, cầu nguyện chư Phật Bồ Tát đại chuyển pháp luân hiển minh chính pháp, cầu nguyện ban phúc cho chúng sinh tiêu tai giải ách, cầu nguyện Bồ Tát thường trụ thế gian làm lợi ích chúng sinh, cầu nguyện Phật Bồ Tát thương xót chúng sinh, tiếp nhận chúng sinh, độ tất cả những người cố chấp kém cỏi, để Phật pháp phổ độ khắp chúng sinh hữu tình ở phương Tây.

Trong khi niệm phật, tôi dùng đại thủ ấn để nhập vào tâm của chư Phật, đốn ngộ vào cảnh giới thành Phật, phóng chiếu sức mạnh tâm linh từ bi của Phật đến thập phương thế giới. Trong một sát-na, toàn bộ kì tích đều hiển hiện ra. Tâm pháp vô thượng của lần thiền định đại thủ ấn này đã khiến cho những chúng sinh cầu phúc trực giác lĩnh ngộ được quang minh của Phật pháp.

🌟

Trực giác của Trần Tước Viên lĩnh ngộ được bản tâm của Thanh Trừ Tai Kim Cang, toàn thân hóa thành màu xanh, tay tạo thủ ấn Thanh Trừ Tai Kim Cang, dùng linh lực nhập vào trong tâm của những chúng sinh cầu phúc, khiến họ đạt được giác ngộ khởi linh, dùng sức mạnh tinh thần để khiến chúng sinh đắc được diệu trí huệ ngộ đạo.

Nữ sĩ Lý Hạnh Châu có mặt tại pháp hội đã cảm nhận được Phật lực bao trùm, khiến bà chắp tay cung kính kiền thành, tự động gập người lạy Phật tám lạy. Cả đời bà chưa từng cúi đầu tới sát chân để lạy như vậy. Nhưng linh lực của Phật Bồ Tát đã giáng lên thân thể bà, khiến đầu bà tự động cúi chạm mặt đất, đầu muốn ngẩng lên nhưng không thể ngẩng lên được. Với từng động tác chậm rãi, bà lạy Phật Bồ Tát một cách đầy chuẩn mực. Sau việc này bà kể với chúng tôi, đó là linh lực của Phật Bồ Tát giáng lên người bà, bà hoàn toàn bị động khi làm như vậy. Bà vô cùng vui sướng, cho rằng đây là kì tích.

Nữ sĩ Đồ Mãn Muội ở tại pháp hội đã cảm nhận được linh lực của Phật Bồ Tát đi vào trong tâm mình, hai tay bà tự động lạy Phật không ngừng. Cũng vì linh lực này mà toàn thân bà rung lắc liên hồi, những người nhìn thấy vậy đều tặc lưỡi kinh ngạc. Rất nhiều người chắp tay thầm cầu nguyện, Phật Bồ Tát liền nhập vào tâm họ. Chỉ trong một sát-na, ai nấy đều linh động, ai nấy đều khởi linh, ai nấy đều có cảm ứng. Pháp hội này thật sự là một pháp hội có cầu tất ứng, thật sự là một pháp hội có nhân duyên lớn.

🌟

Tôi hóa ra nước chú Đại Bi, vẩy lên từng y áo vật phẩm, có tai tiêu tai, có ách giải ách, ban phúc cát tường, trường thọ tăng ích. Lúc này, chư Phật Bồ Tát cùng phóng quang hòa quện, biến hóa thành một biển ánh sáng, quán đảnh cho từng người tham gia pháp hội và từng vật phẩm tượng trưng cho mỗi người tham gia. Những nguyện cầu của chúng sinh đều được Phật Bồ Tát lần lượt gia trì thành hiện thực. Người nào đang đau ốm thì đến ngày hôm sau đều khỏi.

Pháp hội lần đầu tiên được tổ chức tại tịnh xá Linh Tiên ở Tukwila nước Mỹ thật sự đã tạo ra liên tiếp kì tích. Linh quang của Phật Bồ Tát hiển hiện lại càng chỉ dẫn cho chúng ta thêm tín tâm độ chúng sinh trong tương lai, một tương lai chắc chắn, vô cùng, đầy tính quang minh.Một pháp hội thần tích khiến ai ai cũng đều có cảm ứng - đây là một khởi đầu cứu độ mới mẻ nhất, chân thực nhất mà xã hội phương Tây đã gặp được.

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/046-hanh-gia-o-seattle.md
# Title: 046. Hành giả ở Seattle
---

![image](/img/img_cca4e4bc463c199b6c290eb29762fc7d.jpg)



## Hành giả ở Seattle


🪷 Phép tắc sinh mệnh của huyền học

Văn tập: 046
Xuất bản: 08/1983
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


**Đạo của thần, ma, người là như nhau**

Vào mùa xuân năm 1983, tôi đã thỉnh được "Pháp yếu tu trì đơn giản của pháp Chuẩn Đề" từ đại A Xà Lê Kim cương Phổ Phương, tông trưởng phái Mật Tông Tổng Trì Tự. Do tôi biết rằng, pháp Chuẩn Đề là pháp môn độc bộ của Mật Tông, cũng là một trong những Mật pháp thù thắng. Mật hiệu của Chuẩn Đề Phật Mẫu là Tối Thắng Kim Cang, còn gọi là Hàng Phục Kim Cang. Pháp này thù thắng trong mọi việc, không gì không như ý, có thể hàng phục tất cả thiên ma ngoại đạo, pháp này có công đức pháp lực vô biên, người tu có thể đạt được thân ánh sáng viên mãn.

Tôi tu Mật nhiều năm, được thầy truyền dạy nhiều loại Mật pháp, chuyên tu "con mắt thứ ba". Phật Thích Ca Mâu Ni trong thiền định của tôi đã xoa đỉnh thọ ký, công nhận tôi là Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh A Xà Lê Tôn Giả. Do đã minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử, tâm nhãn khai mở, nên tôi viết sách tâm linh để làm Phật sự độ đời.

Pháp Chuẩn Đề, tôi từng bảo người khác đi học, nhưng bản thân tôi lại chưa được thọ quán đảnh pháp Chuẩn Đề. Mãi đến mùa xuân năm 1983, nhờ cư sĩ Viên Dân ở Hồng Kông giới thiệu, tôi mới có được pháp bản "Pháp yếu tu trì đơn giản của pháp Chuẩn Đề" từ đại A Xà Lê Kim Cang Phổ Phương. Từ đó, tôi bắt đầu tinh tấn tu trì pháp Chuẩn Đề ở Seattle, Mỹ, và được thọ nhận những khai thị quý báu từ Thượng sư Phổ Phương.

Lần đầu tiên nhập thiền định, tôi đã thấy kim thân của Chuẩn Đề Bồ Tát hiện ra giữa hư không, ba mắt mười tám tay, thân màu vàng trắng, trang nghiêm với các chuỗi vòng ngọc, khoác thiên y màu trắng, ngồi trên tòa sen. Mười tám cánh tay của Ngài kết những ấn khác nhau, có tay kết ấn thí vô úy, có tay kết ấn thuyết pháp, các tay còn lại đều cầm pháp khí. Khi Chuẩn Đề Bồ Tát vừa hiện kim quang, trụ ở không trung đối diện tôi, nét mặt tươi cười, từ bi hiền hòa. Các tay kết ấn và cầm pháp khí, mười tám cánh tay đều phóng ra mười tám luồng hào quang, những luồng hào quang này chiếu rọi khắp thân tôi, tạo thành sự quán đảnh giao thoa.

Bỗng có tiếng trong không trung ngâm rằng:
*Thị hiện phổ khắp Chuẩn Đề tôn,
Mật pháp thù thắng trang nghiêm thân;
Liên Sinh tu trì chứng đạo này,
Thuyết pháp vi diệu kim cang trân.*

Lúc này, thiên nữ rải hoa khắp trời đất, hương thơm ngào ngạt lan tỏa khắp nơi, mùi hương thơm ngát thật là chưa từng có, thật chưa từng có. Tôi tu Mật pháp đã nhiều năm, nhưng lần đầu tiên tu pháp Chuẩn Đề đã có được hiện tượng như vậy, có thể thấy "công đức của pháp này thật lớn lao, chắc chắn sẽ đạt được vô thượng chính đẳng chính giác".

Ngay từ đầu cuốn sách này, tôi đã lấy việc tu pháp Chuẩn Đề làm một khởi đầu. Bởi vì đây là một chứng nghiệm lớn trong quá trình tu trì của tôi ở Seattle, Mỹ. Pháp Chuẩn Đề quả thật có cảnh giới phi phàm, như bài kệ tán thán pháp Chuẩn Đề của Bồ Tát Long Thụ: "Chuẩn Đề công đức tụ, tịch tĩnh tâm thường tụng, tất cả các đại nạn, không thể hại người này, trên trời và nhân gian, thọ phúc như Phật vậy, gặp được ngọc như ý, nhất định đắc vô thượng." Trong đó một câu "thọ phúc như Phật vậy", thật là vinh quang biết bao!

Mùa xuân nước Mỹ thực sự lại về trên Seattle, bầu trời một màu tím trắng, như ánh sáng thuần khiết vĩnh hằng lan tỏa khắp nơi, tôi ngước nhìn vịnh Seattle, biển xanh như tấm vải đang phất phơ nhẹ nhàng, màu núi xanh biếc, vô cùng xinh đẹp. Green Lake nằm ở phía Đông Bắc Seattle, khi mùa xuân về, những người Mỹ sống thoải mái đó đều tập trung về đây, chơi thuyền buồm, chèo thuyền, đủ kiểu người nằm trên bãi cỏ, tắm nắng ấm áp, trẻ em đung đưa xích đu, những nghệ sĩ đường phố cũng đến, họ đàn guitar, hát dân ca, lắc lư nhảy múa. Nam nữ già trẻ, tíu tít ra vào.

Vợ chồng học trò Trang Hoàng Du từ Đài Loan vừa qua Mỹ thăm tôi, tôi dẫn họ ra bờ hồ. Sau khi nhìn thấy cảnh tượng, họ có cảm khái: "Ôi! Cuộc sống của họ thật biết hưởng thụ quá, họ đang lãng phí thời gian. Còn người chúng ta thì có trách nhiệm, những việc chúng ta làm thì dài lâu và gấp gáp." Về sự nhàn nhã của người phương Tây, có thể nói họ đã mở rộng tầm mắt. Lúc đó tôi nghĩ: "Cùng sống trên một Trái đất mà lại có những phong tục sống khác biệt đến thế, cùng là con người mà lại phân chia màu da chủng tộc, cuộc đời này thật kỳ diệu làm sao!"

Tuy nhiên, tôi nhìn người phương Tây cũng là "người", nhìn người phương Đông cũng là "người". Tôi không phân biệt Đông Tây, bởi Phật pháp vốn bình đẳng không hai, huống chi "đạo của thần, ma, người là như nhau", vậy tại sao tôi phải chỉ độ người phương Đông mà loại trừ người phương Tây? Ở Mỹ, tôi cũng nhận học trò người Mỹ, người Mỹ cũng là con người, tôi thương họ không hiểu đạo lý "ngày tháng qua mau, mạng cũng giảm dần", nên tôi truyền pháp tu của mình cho họ, mong rằng Phật pháp của Linh Tiên Chân Phật Tông ngoài việc dạy họ an thân, còn dạy họ an tâm. Thậm chí tôi muốn họ thành Phật, và họ đã trở thành những người theo tôi.

Danh tiếng của tôi đã lan rộng khắp nước Mỹ, người phương Tây tự động tìm đến tôi, mỗi ngày tôi làm việc rất bận rộn. Tuy người phương Tây và người phương Đông có màu da, chủng tộc khác nhau, nhưng năng lực mà Phật ban cho tôi lại giống nhau. Tôi không dùng chiêm tinh, cũng không dùng bất kì phương pháp xem tướng nào, nhưng đã khiến những người đến gặp tôi ai nấy đều kinh ngạc, thán phục. Thậm chí nhiều người phương Tây nói: "Chỉ cần một lời của Thượng sư Lư, con sẽ xuống tóc, theo Thượng sư đi tu." Phép tính toán thần kỳ của tôi đã khiến người phương Tây cảm động rơi lệ.

Người phương Tây là như vậy, họ cần nhìn thấy chứng cứ, tôi cho họ thấy thần tích, và thế là họ tin. Bất kể là mục sư Tin Lành hay linh mục Công giáo, thậm chí cả những người độc thần giáo cứng nhắc nhất, họ đều ngồi trên chiếu đất trong căn nhà nhỏ của tôi, lặng lẽ lắng nghe tôi thuyết pháp.

Người Tây Tạng có một câu: "Lạp đắc thụy mễ xảo nan kỳ ca." Câu này có nghĩa là "Đạo của thần, ma, người là như nhau." Đây là một câu nói rất chân thật, và bản thân tôi chính là người thể nghiệm sự thật của câu nói này.

Khi còn ở trong nước, có người cho rằng tôi là thần, bởi vì có "thần thông", cũng có pháp lực không thể nghĩ bàn, họ xem tôi là Phật, xem tôi là tiên trời tối cao. Nhưng tôi nói với mọi người rằng, tôi không phải vậy, tôi chỉ là một con người bình thường có xương có thịt, chỉ là tôi tu Phật pháp, biết được tất cả pháp môn vi diệu, thành tựu tất cả pháp lực, "diệu ứng dụng" và "diệu thành tựu" một cách tự nhiên vô vi mà thôi, điều này là hoàn toàn chân thật không hư dối.

Cũng có người nói tôi là "yêu ma quỷ quái", nói tôi là thiên ma giáng thế. Các tạp chí Phật giáo đăng bài liên tục, khi tôi đọc những tạp chí này, giống như đang đọc những bài viết "không liên quan đến mình" vậy. Họ nói thiên ma nhập vào thân tôi, khiến tôi vô tình có được pháp lực của thiên ma, và thiên ma đã giả danh Phật, khiến tôi tin sâu không nghi ngờ, cả đời làm tay sai cho thiên ma. Vị tác giả này có kiến thức Phật học không tồi, nhưng tôi cho rằng, tôi là người dùng lý trí để phân tích sự việc, bản thân tôi không bao giờ mê tín, dù là Phật hay ma, hễ xa rời "chân" và "thiện", tôi đều không tin. Đồng thời tôi kiên định giữ vững đàn thành "tín ngưỡng chân thiện" của mình, không bị mê hoặc. Cho nên khi vị đại thiện tri thức kia nói thiên ma nhập vào thân tôi, nếu quả thật như vậy, thì ma này cũng là hóa thân của Phật, có gì phải sợ.

Nói thật lòng, với tư cách là một đại thiên ma, tôi thực sự đã đạt được tự tại. Có lẽ có người sẽ nói đó chắc chắn là thiên ma của Đại Tự Tại Thiên, nhưng thực ra không phải vậy. Sự tự tại của tôi đã đạt đến trình độ "đạo của thần, ma, người là như nhau". Tôi có thể độ thần thành Phật, cũng có thể độ ma thành Phật, và càng có thể độ người thành Phật, đạo lý của nó không khác nhau; thần, ma và chúng sinh vốn là một, làm gì có ba? Giống như ngày nay, người phương Tây và người phương Đông, có gì khác biệt? Tất cả đều là con người, lẽ nào người phương Tây lại không thể tu hành thành Phật?

Trong mắt tôi, thần, ma và người đều có thể thành Phật, người phương Đông và người phương Tây đều có thể thành Phật. Nếu tu học đại pháp của tôi, tự nhiên sẽ thành Phật, không chút nghi ngờ. Nếu chỉ có tâm phân biệt, tâm phân chia cao thấp, tự mình giới hạn bản thân trong một phạm vi nhỏ hẹp, tự vẽ ra ranh giới, đến cả một Trái đất nhỏ bé cũng không thể vượt qua được, những người như vậy tự giam cầm chính mình, làm sao còn hy vọng thành Phật? Thật là ngu muội đến cực điểm.

Tôi nói: "Nếu người tu Phật pháp, thành tựu tất cả pháp, pháp pháp bình đẳng, ai ai cũng thành Phật." Thần tu Phật pháp, ma tu Phật pháp, cũng đều như vậy. Điều đáng ghét nhất là, tự cho mình là chính phái, phê phán người khác là ma, chỉ có mình mới là Phật, thật như tiếng chim khách kêu quạ gáy, ồn ào chết người.

Tôi nói với mọi người một chân lý: "Đạo của thần, ma và người là như nhau."

Tháng 8 năm 1983 tại Linh Tiên Các, Seattle, Hoa Kỳ

512 Strander Blvd. Tukwila, WA 98188 U.S.A.

Địa chỉ mới của Thượng sư:
17102 NE 40th Ct.,
Redmond, WA 98052
U. S. A.


### 01. Bí mật chuyển thế của Hoạt Phật


Giáo sư Mason dạy tại một trường đại học ở Anh (Malet St), cùng với họa sĩ Paug Yi và nhà điêu khắc Chung Hoành nổi tiếng người Canada, ba người họ cùng đến gặp tôi. Họ hỏi tôi một câu hỏi rất huyền bí, đó chính là bí mật về sự tái sinh của các vị Hoạt Phật Tây Tạng.

Giáo sư Mason đeo kính, mặc vest màu xám chuột, trông như một học giả già. Thái độ hoài nghi của ông là đúng đắn, nhưng cuối cùng, ông đã nở nụ cười thán phục trước tư tưởng học thuật của tôi, và rồi trở nên kính trọng tôi hết mực. Vị giáo sư cố chấp này cuối cùng đã từ bỏ thành kiến của mình.

**Câu hỏi đầu tiên của Giáo sư Mason là tại sao chỉ có Tây Tạng mới có thuyết về sự tái sinh của các vị Hoạt Phật?**

Tái sinh và đầu thai là hiện tượng tự nhiên của mỗi con người và mọi chúng sinh trong lục đạo, vì vậy thuyết tái sinh vốn là một hiện tượng huyền bí diễn ra trong vũ trụ tự nhiên, không có ngoại lệ nào.

Tuy nhiên, các vị Hoạt Phật Tây Tạng có nguyện lực độ hóa chúng sinh, người Tây Tạng tin rằng các ngài có thể tái sinh trở lại trần gian để hoàn thành những ước nguyện còn dang dở. Các vị Hoạt Phật là người tu trì Phật pháp, khi đã có được sức mạnh của sự tiến hóa và giác ngộ, các ngài có thể tự chủ được việc tái sinh đầu thai của mình, đây là lý thuyết chính và hiện tượng thực tế về thuyết tái sinh của các vị Hoạt Phật Tây Tạng.

**Làm sao chứng minh được sự tái sinh và đầu thai bằng sự thật?**

Khi một vị Hoạt Phật viên tịch mà chí nguyện chưa hoàn thành, các ngài đều có thể chỉ rõ kiếp sau sẽ sinh vào thời gian và địa điểm nào, những điềm báo nào sẽ xuất hiện. Thị giả của Hoạt Phật hoặc những bậc đại trí sẽ đi tìm đứa bé này. Đây là việc có thể tìm thấy dấu hiệu. Khi có được những dấu hiệu như vậy, họ sẽ trộn lẫn pháp khí của vị Hoạt Phật với các pháp khí khác để cho đứa bé nhận ra, thậm chí còn nhận ra cả thị giả kiếp trước. Chỉ khi xác nhận được những "dấu hiệu" này, đứa bé mới được công nhận là "hóa thân của vị Hoạt Phật".

**Tại sao chỉ có các vị Hoạt Phật mới nhớ được tiền kiếp, còn chúng ta thì không?**

Tôi nói, là một người nghiên cứu về tâm linh học, tôi biết rằng nhờ vào một loại tri thức siêu việt mà có thể biết được ký ức tiền kiếp. Thuyết luân hồi không phải là chuyện hoang đường. Ví dụ như có một vị Lama tái sinh ở châu Âu, vừa mới sinh ra đã nói tiếng Tây Tạng. Không ai ở châu Âu hiểu được đứa trẻ này nói gì, cuối cùng mới phát hiện ra đó là tiếng Tây Tạng. Hiện nay đứa trẻ này đang theo một vị Hoạt Phật tu đạo, đây là một bằng chứng rất tốt. Đứa trẻ sinh ra ở châu Âu, chưa từng học tiếng Tây Tạng mà lại biết ngôn ngữ của kiếp trước, đây chính là dấu hiệu của ký ức tiền kiếp trong luân hồi.

Chúng sinh thông thường không thể biết được việc của kiếp trước và kiếp sau, đó là vì họ chưa học được loại trí tuệ siêu việt này. Giai đoạn tiến hóa của người thường chỉ chú trọng vào đời này, phạm vi tâm linh bị giới hạn trong kiếp này, không thể bước vào "không gian thứ tư", "không gian thứ năm" hay thậm chí không gian đa chiều. Đó là vì chúng sinh phàm phu sống trong thế giới vật chất với tâm ý xao động, quên đi việc tu tập tâm linh, nên tự nhiên không thể hiểu được việc của kiếp trước.

Câu trả lời này rất đơn giản: Hoạt Phật suốt đời không theo đuổi sự an nhàn của thể xác, mà chỉ chuyên tâm tu tập tâm linh. Khi đã có được trải nghiệm tâm linh sâu sắc, tự nhiên sẽ vượt lên trên chúng sinh phàm phu thông thường.

**Tại sao không để cho tất cả chúng sinh đều có ký ức tiền kiếp?**

Đây không phải là vấn đề linh mệnh của vũ trụ, mà là vấn đề nhân quả nhân duyên của chúng sinh. Ký ức tiền kiếp chính là túc mệnh thông trong sáu thần thông, không tu tập thì tự nhiên không thể có được. Trong chúng sinh, chỉ có số ít người được tu tập pháp này mới có ký ức tiền kiếp, đây là do tu tập mà có được, không liên quan đến linh mệnh của vũ trụ.

Ông có biết hiện nay có những vị nào là Hoạt Phật tái sinh trong vũ trụ linh mệnh không?

Tôi nói với họ rằng tôi biết tất cả. Tôi lấy ví dụ về phái Karma Kagyu của Phật giáo Tây Tạng. Kể từ thời nhà Tống, đại thành tựu giả Tilopa từ Ấn Độ đã truyền xuống "Thiền định Đại thủ ấn vô thượng tâm pháp", trải qua các vị tôn giả Naropa, Marpa, Milarepa, Gampopa, từ vị Đại Tích Đỗ Ba tôn giả đời thứ nhất truyền đến tôn giả Pema Tönyö Nyinje đời thứ mười hai. Tôi nói rằng đây chính là dòng truyền thừa của các vị Hoạt Phật, đây là dòng truyền thừa Hoạt Phật của phái Karma Kagyu.

Một dòng truyền thừa Hoạt Phật khác của phái này là Đại Bảo Pháp Vương (Karmapa), đã truyền đến đời thứ 17. Thân phận Hoạt Phật của các ngài thường được xác định qua việc công nhận lẫn nhau. Ví dụ như thân phận tái sinh của đại tôn giả Đại Tích Đỗ Ba đời thứ 12 được Đại Bảo Pháp Vương đời thứ 16 xác định. Còn Đại Bảo Pháp Vương đời thứ 16 được đại tôn giả Đại Tích Đỗ Ba đời thứ 11 xác định thân phận.

Ngoài ra, phương pháp xác định sự tái sinh của các vị Hoạt Phật trong các phái Hồng giáo, Bạch giáo, Hoàng giáo và Hoa giáo của Tây Tạng phần lớn đều như vậy.

**Mật tông Hắc giáo là gì? Hắc giáo có Hoạt Phật không?**

Hắc giáo vốn có tên là Bon giáo, là tôn giáo nguyên thủy thờ thần bò của Tây Tạng trước khi Mật tông truyền vào. Đây là một nhánh tà giáo và là tín ngưỡng mê tín của các bộ tộc nguyên thủy. Hắc giáo không phải là Mật tông, vì vậy trong hệ thống chính thống của Mật tông không có tên gọi Hắc giáo.

Người hiện đang cổ xúy cho Hắc giáo là Lâm Vân. Hoạt Phật phải có dòng truyền thừa và cần được thẩm định, tất cả những điều này Hắc giáo đều không có. Lâm Vân, do nghiên cứu Hắc giáo và thấy có cơ hội, đã tự xưng là người truyền thừa duy nhất của Mật tông Hắc giáo. Khi người khác hỏi ông ta có phải là Hoạt Phật tái sinh hay không, ông ta tỏ vẻ bí ẩn, tự nói rằng trên ngực có một nốt ruồi, không dám thừa nhận cũng không phủ nhận, tương đương với việc mặc nhiên công nhận. Điều này dễ khiến người ngoài hiểu lầm rằng Mật tông có một phái Hắc giáo, và hiểu lầm Lâm Vân là một vị Hoạt Phật tái sinh. Người này không có pháp thống truyền thừa của Mật tông, một lòng một dạ theo đuổi tà giáo nguyên thủy, tự nhận là người truyền thừa duy nhất của Hắc giáo, chỉ là lừa gạt thế nhân mà thôi.

Khi tôi 32 tuổi, tôi cũng đã từng nghiên cứu về pháp thuật của Hắc giáo, vì vậy trên đời này, những người có thể phá giải được pháp thuật Hắc giáo có lẽ không còn nhiều, và tôi là một trong số đó. Tôi cười và nói với họ rằng, Lâm Vân nói ông ta có một nốt ruồi ở ngực, nhưng tôi có đến ba nốt ruồi ở ngực, nhiều hơn Lâm Vân hai nốt, tôi là anh cả, còn ông ta là em út. Mọi người nghe tôi nói xong đều phá lên cười.

**Tiên sinh tự biết mình là hóa thân của Liên Hoa Đồng Tử, không biết có bằng chứng gì không?**

Bất kì bậc tiên tri tiên giác nào cũng phải có trí tuệ và dấu hiệu siêu phàm của riêng mình. Tôi biết được nhân quả kiếp trước, được ghi chép trong quyển sách tâm linh đầu tiên, trong đó có sự chứng kiến của bà Lâm Thiên Đại người đã khai ngộ cho tôi và bà có biệt danh là A Nha, đây là những chứng cứ rất tốt, còn có ông Lý Thiên Tứ cũng có mặt lúc đó. Đây là những người làm chứng cho dấu hiệu này, hiện nay cả ba người đều còn sống.

Ngoài ra, khi về nhà, tôi nằm trên giường vào ban đêm, trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê, đã tận mắt chứng kiến cảnh giới tiền kiếp, tai tôi trực tiếp nghe được sự chỉ dạy của Phật, điều này cũng được ghi chép trong quyển sách tâm linh đầu tiên "Mạn đàm linh cơ thần toán". Tôi có những người làm chứng cho việc tận mắt thấy "dấu hiệu", cũng như có sự thật về việc thông linh và trực kiến. Thế rồi, việc viết sách tâm linh cho đến nay đã được bốn mươi sáu quyển, tất cả đều chứng minh một trí huệ chưa từng có.

Tôi nói rằng dấu hiệu và trí huệ chính là bằng chứng. Mỗi vị Hoạt Phật tái sinh đều có dấu hiệu và trí huệ để chứng minh, không phải là điều hư vọng bịa đặt, điểm này vô cùng vô cùng quan trọng.

Giáo sư Mason, họa sĩ Paug Yi và nhà điêu khắc Chung Hoành rất hài lòng với lời giải thích của tôi, họ cho rằng đây là cuộc gặp gỡ hiếm có trong đời. Paug Yi hiện đang tu tập thiền định, vốn là học trò của giáo sư Nam Hoài Cẩn, mẹ cô ấy chính là dân biểu Dương Bảo Lâm.

Cảnh giới của Liên Hoa Đồng Tử chính là mười tám đóa sen tuyệt đẹp trong Ma Ha Song Liên Trì, cảnh giới này vốn được hóa hiện từ linh quang của Phật Tổ, là cảnh giới bất thoái chuyển. Phàm phu thế tục làm sao có thể hiểu được sự siêu việt phi thường của cảnh giới này! Tri thức của thế giới phàm tục làm sao có thể vượt qua được trí huệ của cảnh giới này! Không trách được phàm phu thế tục chỉ biết luân hồi chuyển thế trong lục đạo, mãi mãi trôi nổi chìm đắm, không có ngày xuất thế.


### 02. Chân tướng của Bất Động Minh Vương 


Trong thời gian ở Seattle này, tư duy và sự tiến bộ của tôi thật đáng kinh ngạc. Nhờ cuộc sống yên bình và có quy củ mà tư duy của tôi trở nên nhạy bén hơn, tôi có thể tập trung "tiêu điểm" để khám phá những cảnh giới vô hình, rộng mở và rõ ràng hơn so với khi còn ở trong nước. Tôi đã thu thập được một số bí mật lớn thuộc về thiên cơ, và sẽ lần lượt trình bày trong những tác phẩm sau này.

Gia đình họ Hồng sống ở Bellevue đã mời tôi đến nhà thuyết pháp. Ngôi nhà của họ được xây dựng sau một sườn đồi, có bãi cỏ xanh rộng rãi, mái ngói đỏ tường trắng, trông rất tươi sáng đẹp đẽ. Phòng khách được bài trí gọn gàng và trang nhã, có một tủ gỗ cao cấp đặt ở góc tường, chủ nhà rất chú trọng đến màu sắc và ánh sáng, có đèn bàn và những chiếc đèn treo lộng lẫy, đây quả là một gia đình vừa cao thượng vừa mang khí chất phú quý.

Tôi ngồi trên một chiếc ghế sofa lớn, vừa uống xong chén trà thơm. Tôi thấy ở cửa chính có một làn sương mờ, nó từ từ quấn quanh và di chuyển về phía phòng khách. Thị giác của tôi đã thay đổi, khi tôi quan sát kĩ càng, tôi nhận ra rằng làn sương mờ này thực ra không phải là sương mờ, mà là những tia lửa đỏ và ngọn lửa đang cháy. Tôi không hề sợ hãi, tôi tập trung dùng "con mắt thứ ba" để nhìn kỹ hơn, và thấy rằng trong ngọn lửa có hình tượng của một vị thần.

Vị thần này có mái tóc xoăn màu đỏ rực, đôi mắt lồi ra đầy phẫn nộ, mặt tròn, miệng rất to, răng nanh bên phải nhọn hoắt chĩa xuống dưới, răng nanh bên trái nhọn hoắt chĩa lên trên, tay phải cầm một thanh kiếm chĩa mũi lên trời, tay trái xòe năm ngón đẩy về phía trước. Từ đỉnh đầu, hai mắt, hai tai, miệng, lỗ mũi và khắp các lỗ chân lông trên cơ thể đều phun ra ngọn lửa màu đỏ rực, trông giống như một người đang bốc cháy vậy. Sau đó, vị thần này dần dần di chuyển trong phòng khách, đến trước tủ gỗ lớn thì biến mất.

"Ông Hồng, nhà có điện thờ Phật không?" - Tôi hỏi.
"Không, trước đây ở Đài Loan thì có, từ khi qua Mỹ, tuy có ý định lập một điện thờ Phật, nhưng cứ trì hoãn mãi đến giờ, vẫn chưa thờ Phật, đối với một đệ tử Phật là điều rất thất lễ."
"Nhưng mà, trong nhà ông có một vị thần đang hiện diện, ông có biết không?"
"Không, tôi có thờ cúng gì đâu, sao lại có thần?" - Ông Hồng giật mình kinh ngạc.

Tôi kể lại tất cả những gì mình vừa thấy khi bước vào phòng khách cho ông Hồng nghe. Ban đầu ông Hồng tỏ ra vô cùng kinh ngạc, sau đó lắc đầu với vẻ mặt hoang mang. Ông gọi bà Hồng đến và kể lại sự việc, bà Hồng cũng tỏ ra bối rối và hoang mang không kém, không hiểu được những điều tôi đang nói.

Nhìn thấy chủ nhà như vậy, trong lòng tôi cũng không khỏi nghi hoặc, phải chăng chính mình đã nhìn nhầm? Không thể nào, đặc biệt là những gì tôi vừa thấy, không chỉ đơn thuần là ảo giác mờ nhạt, mà là sự thấy biết chân thật. Rõ ràng là thần đạo vì sự có mặt của tôi mà cố ý hiện hình cho tôi thấy. Khi thần đạo muốn hiện hình cho ta thấy, dù họ sử dụng phương thức nào, nguyên lý vẫn luôn như nhau.
"Ông bà có thể nghĩ kĩ lại xem?"
"Không có, thật sự là không có."

Đến lúc này, tôi cũng không biết phải làm sao. Đúng lúc đó, con trai cả của ông Hồng từ ngoài trở về, ông Hồng lại kể chuyện này cho con trai mình là Hồng Minh Lượng nghe. Hồng Minh Lượng là sinh viên tốt nghiệp Đại học Stanford, vừa nghe xong liền nói: "À, có rồi, năm ngoái khi đi qua Tokyo Nhật Bản, tôi có đến chùa Quan Âm ở Asakusa để tham quan lễ bái, tiện thể ghé các sạp hàng gần đó mua về một tượng thần, chưa mở ra, cứ nhét trong ngăn kéo của tủ gỗ lớn."

Hồng Minh Lượng mở tủ gỗ lớn ra, mở cửa ngăn kéo, lấy ra một hộp giấy, kích thước khoảng sáu tấc, mở nắp hộp ra, cả bốn người cùng nhìn vào bên trong, đó chính là một tượng thần Kim Cang Bất Động Minh Vương mạ vàng, tay cầm kiếm, toàn thân phun lửa phẫn nộ.

Ông bà Hồng sáng mắt lên, lập tức vô cùng xúc động, vô cùng khâm phục con mắt thứ ba của tôi. Tuy nhiên, tôi chỉ nói rằng đây là chuyện rất bình thường thôi. Bởi vì đối với tôi, những chuyện liên quan đến việc nhìn thấy linh khí như thế này nhiều không đếm xuể, bản thân tôi cũng không lấy làm ngạc nhiên. Tôi nói với họ rằng Bất Động Minh Vương không phải là thần của Nhật Bản, mà là một trong Bát Đại Minh Vương của Kim cương thừa Mật tông, chỉ là vì Đông mật của Nhật Bản phát triển mạnh hơn và thờ phụng nhiều hơn. Ở Nhật Bản có hàng trăm đạo tràng Đông mật, trong đó có rất nhiều đạo tràng thờ phụng Bất Động Minh Vương Kim Cang Hộ Pháp. Sau khi nghe tôi nói xong, ông bà Hồng quyết định thờ phụng Bất Động Minh Vương Kim Cang Hộ Pháp Thần.

Tôi nói với gia đình ông Hồng rằng, hôm nay tôi đến Mỹ để truyền bá Mật pháp Đại thừa trực chỉ nhân tâm, bao gồm đại pháp tọa thiền thông minh để kiến tính thành Phật, cùng tất cả tâm ấn bí mật của chư Phật, từ phương Đông truyền sang phương Tây, giúp người phương Tây hiểu được chân tướng Phật pháp, nâng cao phúc âm thiên quốc của họ lên một tầng nữa để thành tựu tự tính thành Phật, là tự mình chấm dứt sinh tử, chứ không phải nhờ vào ơn Chúa cứu độ. Pháp của tôi là đại pháp thuần túy, là chính pháp nhãn tạng. Chính vì là chính pháp nhãn tạng nên người đời theo đạo thế tục khó có thể thấu hiểu. Con người thời đại này căn cơ nông cạn, việc tôi đến Mỹ là để truyền pháp từ Đông sang Tây, lưu lại đại pháp này trong thế giới phương Tây, chỉ e rằng đại pháp thất truyền mà thôi.

Khi tôi còn ở Đài Loan, tôi có rất nhiều pháp sư đồng tu, cũng như những đệ tử hiện đang quy y dưới môn phái của tôi. Với khả năng của mình, tôi có thể nhìn thấy linh khí dao động trên thân thể họ. Tôi biết rất nhiều pháp sư vô cùng đố kỵ và hoàn toàn ghét bỏ, bài xích tôi. Tuy nhiên, cũng có nhiều pháp sư sinh lòng kính ngưỡng đối với tôi. Họ chia thành hai phe: một phe thực sự hiểu biết về tôi, biết được năng lực của tôi và thân cận với tôi; phe còn lại không hiểu về tôi, nhìn tôi bằng ánh mắt nghi ngờ và đố kỵ với danh tiếng của tôi. Đệ tử của tôi cũng vậy, rất nhiều người quy y theo tôi không phải vì mong muốn đạt được "pháp tọa thiền thông minh" hay "minh tâm kiến tính", mà là hy vọng tôi có thể ban cho họ tài lộc và địa vị. Những đệ tử thế tục như vậy cũng rất nhiều, họ mong tôi chỉ dạy cách làm giàu, để có được cuộc sống sung túc và hưởng thụ tốt hơn. Họ bỏ gốc theo ngọn mà đi theo tôi, đối với đại pháp chấm dứt sinh tử chân chính lại tỏ ra thờ ơ.

Tất nhiên, những đệ tử ham cầu danh lợi này, tôi cũng có thể nhìn ra được họ hoàn toàn không có "linh khí", họ sẽ từng bước từng bước đi vào bóng tối và rời bỏ tôi. Trên danh nghĩa là đệ tử của tôi, nhưng thực chất là những kẻ hèn hạ đê tiện cùng cực. Tôi thường dùng con mắt tâm linh để quan sát học trò của mình, nhìn xem "linh khí" quanh thân họ, những sắc màu biến hóa đó, điều này rất thú vị. Rõ ràng là đệ tử này đang nói dối trước mặt tôi, tuy tôi vẫn mỉm cười nhìn họ, nhưng trong lòng lại thở than: "Anh thật đáng thương, thật sự quá đáng thương."

Tôi nói với gia đình ông Hồng rằng, mỗi người đều có Phật tính, mỗi người đều có vị Bổn tôn để tu trì của riêng mình. Chỉ cần thực sự có thể tu trì pháp Bổn tôn của mình, tinh tấn không ngừng theo chính pháp, tự nhiên tâm tục và dục vọng sẽ dần dần giảm đi cho đến khi không còn, lúc đó sẽ phát sinh được năng lực đặc biệt này. Năng lực này có thể giúp đỡ người khác, đạt đến chính đạo, chứ không phải mượn năng lực này để tham cầu cúng dường.

Các đệ tử và pháp sư trong nước làm sao biết được rằng tôi có thể nhìn thấy tất cả thiên cung, có thể thấy thế giới Tây Phương Cực Lạc, có thể thấy thế giới Đông Phương Lưu Ly Quang, có thể thấy Ma Ha Song Liên Trì, tôi sớm đã có thiên nhãn thông, thậm chí tất cả thần quỷ đi trên mặt đất, tôi đều nhìn thấy được. Tôi cũng nhìn thấy hào quang trên thân của nhiều pháp sư, có người là danh xứng với thực, nhưng cũng có người mang nhiều vết nhơ. Tôi nghĩ, bản thân họ đã có những hành vi ô uế, chắc họ phải tự hiểu được điều đó, tôi không muốn viết ra pháp hiệu tu hành của họ, trừ phi là tình trạng thực sự quá tệ, lúc đó tôi mới không ngừng đưa ra những lời cảnh báo, với hy vọng họ sẽ thực sự đi theo chính đạo.

"Chúng tôi phải cung kính thờ cúng Bất Động Minh Vương như thế nào?"
"Hãy trì chú một cách thành kính và tinh tấn, tự nhiên ngồi tĩnh tọa, chuyển động tâm luân, hợp nhất với thiên tâm. Bất Động Minh Vương tôn giả này chắc chắn sẽ phóng ra ánh sáng ngọn lửa màu đỏ chiếu định các bạn, tất cả nghiệp chướng của các bạn sẽ bị thiêu đốt và tiêu tan, Ngài sẽ hộ trì người cúng dường cho đến khi thành Phật. Nếu các bạn theo bước chân của tôi, đến một ngày nào đó, khi tâm nhãn các bạn khai mở, tự nhiên sẽ nhìn thấy được hào quang trắng toàn thân của tôi."


### 03. Đại sư đã chết


Mở đầu bài viết này, trước tiên xin kể một giai thoại của ngày xưa.

Vào thời Tống Thần Tông tại vị, có một vị danh nho họ Tô tên Thức, tự là Tử Chiêm, hiệu Đông Pha Cư Sĩ, người Mễ Sơn, Mễ Châu, Tứ Xuyên. Sau khi một bước thành danh thiên hạ đều biết tiếng, ông được phong làm Hàn Lâm Học Sĩ, dưới trướng của Tể Tướng Kinh Công Vương An Thạch. Cư sĩ Đông Pha thiên tư cao, xem qua là nhớ, xuất khẩu thành chương, trong số các danh sĩ qua các đời, ông có phong thái thoát tục của Lý Thái Bạch, lại có sự mẫn tiệp thông tuệ, phản ứng nhanh nhạy của Tào Tử Kiến.

Có người khen ngợi Tô Đông Pha rằng: "Ngâm thơ viết phú việc nào cũng thông, đùa vui đoán đố chuyện gì cũng rành, nếu chẳng phải Khổng Tử tái thế, ắt hẳn là Nhan Tử đầu thai." Có thể thấy được tài hoa của con người ấy.

Tô Đông Pha có một người bạn trong giới Phật giáo là Thiền sư Phật Ấn, thực ra tài năng của Thiền sư Phật Ấn còn phi phàm hơn nữa. Có một giai thoại như thế này:

Cư sĩ Đông Pha và Thiền sư Phật Ấn ngồi thiền đối diện nhau.
Sau một lúc tĩnh tọa, Cư sĩ Đông Pha hỏi Thiền sư Phật Ấn:

"Tôi ngồi thiền như thế nào?"
"Tuyệt lắm, vô cùng trang nghiêm, giống như Phật Tổ ngồi thiền vậy." - Thiền sư Phật Ấn khen ngợi Tô Đông Pha.
Tô Đông Pha vừa vui mừng vừa phấn khích.

Thiền sư Phật Ấn hỏi lại Tô Đông Pha:
"Vậy tôi ngồi thiền như thế nào?"
"Giống như một đống phân trâu vậy." - Tô Đông Pha cố ý chế giễu Thiền sư Phật Ấn.

Tuy nhiên, sau khi nghe lời của Tô Đông Pha, Thiền sư Phật Ấn không hề tức giận, ngược lại còn mỉm cười nhẹ nhàng và cúi đầu cảm ơn Tô Đông Pha sâu sắc. Sau đó, Tô Đông Pha đi khắp nơi kể lại chuyện mình đã chọc ghẹo được Thiền sư Phật Ấn. Khi tin này đến tai em gái của Tô Đông Pha, cô ấy nói với cư sĩ Đông Pha rằng: "Huynh đã thua rồi, Thiền sư Phật Ấn mới là người thắng cuộc."

Tô Đông Pha không hiểu, vội vàng hỏi tại sao?
"Thiền sư Phật Ấn khi ngồi thiền nhìn huynh như Phật, đó là vì trong tâm Thiền sư có Phật, nên thấy huynh ngồi thiền như Phật ngồi thiền. Còn huynh khi ngồi thiền, thấy Thiền sư như đống phân trâu, đó là vì trong tâm huynh có đống phân trâu, nên nhìn Thiền sư thành phân trâu. Như vậy không phải là thua rồi sao?"

Lần này, ngược lại chính cư sĩ Đông Pha cảm thấy vô cùng xấu hổ, không còn mặt mũi nào, muốn độn thổ cho xong.

Cư sĩ Tô Đông Pha vốn là một Phật tử thông thạo Phật pháp, được hun đúc bởi Phật pháp, điều này thể hiện rõ qua những bài văn có phong cách siêu thoát của ông. Tuy nhiên, Thiền sư Phật Ấn còn là một bậc cao tăng với đức hạnh và học vấn đều xuất chúng. Cư sĩ Đông Pha chỉ nghiên cứu Phật pháp mà chưa thực hành, trong khi Thiền sư Phật Ấn không chỉ thấu hiểu Phật pháp mà còn đem ra thực hành trong đời sống hằng ngày, tự nhiên cao siêu hơn cư sĩ Đông Pha một bậc.

Tiêu đề của bài này là "Đại sư đã chết". Vậy vị đại sư này là ai? Tôi nói đó chính là "tôi", bởi vì hôm nay tôi nhận được một cuộc điện thoại đường dài, người đó nói với tôi rằng: "Sau khi nghe quá nhiều lời phỉ báng, con nghĩ rằng Đại sư Lư Thắng Ngạn đã chết rồi, hình tượng Đại sư Lư Thắng Ngạn trong lòng con đã vỡ tan, đã chết rồi."

Tôi lặng lẽ nghe cuộc điện thoại đó, rồi giống như Thiền sư Phật Ấn, tôi cảm ơn người đó.

Bởi vì tâm của người đó đã chết. Do tâm đã chết nên "Đại sư đã chết".

Tôi đã chết chưa? Đã biến mất khỏi trái đất chưa? Một vị đại sư thâm nhập Mật pháp đã chết rồi sao? Thật là:
*”Thái thượng nhân gian mây nước xa xăm
Tiên đồng tiên nữ xếp hàng nghênh đón
Mây tía cờ lọng cưỡi mây bay đi
Rời xa nhân gian đến chín tầng trời
Bốn biển ngợi khen âm thanh chúc tụng
Ngũ Nhạc cùng than núi rừng thương xót
Từ nay nhân gian mất một kì tài
Đi hết Tam giáo trở về chốn xưa.”*

Kể từ khi tôi rời khỏi đất nước, tin đồn bắt đầu lan truyền:

Ngài Tam Sơn Cửu Hầu đã bị thượng thiên trừng phạt, linh thần của Ngài đã bị phân tán dần cho đến khi hoàn toàn diệt vong. Từ đó, danh hiệu Tam Sơn Cửu Hầu vĩnh viễn biến mất, không còn xuất hiện trong nhân gian nữa. Điều tôi muốn nói với độc giả là, Tam Sơn Cửu Hầu chính là danh hiệu của một vị Đại La Kim Tiên tối cổ tối cao. Trên thế gian này (chỉ cõi người), chưa từng có ai biết được chân diện mục thật sự của Ngài. Tôi cũng xin thành thật thưa với chúng sinh khắp thiên hạ rằng, trên thế gian này, chỉ có một người biết được lai lịch của Tam Sơn Cửu Hầu, người đó chính là Lư Thắng Ngạn. Nếu tôi tiết lộ lai lịch của Tam Sơn Cửu Hầu, chắc chắn sẽ gây chấn động lớn cho chúng sinh trong lục đạo trên trời dưới đất, tất cả người trong giới Phật đạo đều sẽ kinh hãi thất sắc. Thử nghĩ xem, đây không phải là tôi cố ý làm ra vẻ huyền bí, tôi đảm bảo không chỉ kinh ngạc, mà còn khiến nhiều người ngất xỉu. Tôi xin nói một câu thật lòng nhất, nếu Tam Sơn Cửu Hầu thực sự bị trừng phạt, thì tất cả các cõi trời đều sẽ không còn tồn tại, ngay cả ngai vàng của Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn cũng sẽ sụp đổ tan tành, bởi vì Tam Sơn Cửu Hầu là pháp của các pháp, vua trong các vua, đã đắc vô thượng chính đẳng chính giác và không còn chịu luân hồi nữa.

Tôi chỉ muốn nói rằng, Tam Sơn Cửu Hầu là một vị Đại La Kim Tiên chưa từng lộ diện, còn cao cấp hơn cả Ngũ Lão của Đạo giáo là Đông Hoa Đế Quân, Diêu Trì Kim Mẫu, Thủy Đức Chân Quân, Hỏa Đức Chân Quân và Hoàng Lão - năm vị thần của ngũ phương ngũ khí. Tôi chỉ nói ví dụ như vậy thôi. Còn về diện mạo thật, không cần phải nói, không thể nói được. Nếu nói ra, tất cả người trong giới Phật đạo sẽ kinh hoàng đến ngất xỉu, tôi sẽ phải chịu tội tiết lộ thiên cơ.

Nhiều người đồn đại rằng sự diệt vong của Tam Sơn Cửu Hầu có liên quan đến Lư Thắng Ngạn. Thậm chí có người còn nói rằng, ngay cả Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn cũng vì đã dạy dỗ tên đồ đệ nghiệt súc Lư Thắng Ngạn này mà phạm phải thiên điều, hiện giờ bị giam cầm, ngày ngày khóc lóc thảm thiết; Lư Thắng Ngạn, tên đồ đệ nghiệt súc này, đã khiến Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn bị giam trong thiên lao, nên tội ác của Lư Thắng Ngạn thật là tày trời.

Lời đồn này còn hoang đường hơn nữa. Phải biết rằng Diêu Trì Tây Vương Mẫu, vì ngự ở phương Tây nên còn được tôn xưng là Diêu Trì Kim Mẫu, bởi phương Tây thuộc Kim. Vị Tây Vương Kim Mẫu Thiên Tôn này là một trong năm linh khí của trời đất, là một trong Ngũ Lão của Đạo giáo, địa vị vô cùng tôn quý, ngay cả tiểu thần tiểu tiên muốn diện kiến chân dung của Ngài cũng rất khó khăn. Hai chữ "Kim Mẫu" có ý nghĩa là Kim Cương Phật Mẫu, là vị Đại Thiên Tôn cứu độ chúng sinh trong lục đạo, là bậc tôn quý nhất trong các tiên. Tất cả các pháp, tất cả tiên thần, đều do Kim Cương Phật Mẫu phong tấn, Ngài là bậc Đại Thiên Tôn thanh tịnh minh giác. Thẳng thắn mà nói, ngay cả Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn đối với Ngũ Lão còn phải kính trọng ngang hàng, làm sao linh khí của Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn lại có thể bị giam trong thiên lao? Hơn nữa, như tôi đã nói, Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn vốn là chân khí của phương Tây, bản lai diện mục của Ngài vốn vô hình vô tướng, muốn bắt cũng không bắt được, muốn giam cũng không giam được, xin hỏi làm sao có thể giam trong thiên lao? Ai có thể giam được Ngài?

Có người nói rằng Đại sư Lư Thắng Ngạn đã chết, ông ấy cũng đã phạm thiên điều. Thôi được, đây đúng là nói bậy. Hiện nay tôi đang thiết lập đạo tràng Linh Tiên Tinh Xá tại Hoa Kỳ, sách và pháp bản được giáo sư Đại học Washington giảng giải, đệ tử người Mỹ Karin D. Sreenway chấp bút phiên dịch, có rất nhiều người Mỹ đến quy y. Tôi luôn dùng bình đẳng quán để độ chúng sinh, Linh Tiên Chân Phật Tông là tông phái mang tính toàn cầu, không chỉ giới hạn trong một đảo quốc mà thôi, pháp độ sinh của tôi sẽ hoằng dương khắp thế giới, khiến đại pháp độ tận thiên hạ, đây là ý chỉ của chư Phật Bồ Tát, cũng là ý chỉ của tôi. Đương nhiên, trong tương lai tôi vẫn sẽ về nước, trở về nơi đã nuôi dưỡng tôi khôn lớn, đây chính là "lá rụng về cội".

Ở nước ngoài, tôi nào biết hưởng phúc là gì? Tất cả mọi việc đều vì hoằng dương Phật pháp, hằng ngày tĩnh tọa thiền công, tiếp nhận linh quang gia trì của Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ và chư Phật Bồ Tát, mỗi ngày viết tâm đắc, chỉ dạy người Mỹ cách lễ Phật tu pháp.

Cuộc sống của tôi ở đây rất cần kiệm, vừa phải viết sách, vừa phải hồi âm thư từ, lại còn phải trả lời thư quy y từ xa (do người trong nước gửi thư xin quy y), tôi bận rộn hàng ngày, người quy y càng nhiều, tôi càng bận, nhưng công khóa tu trì thì không hề quên, một lòng một dạ nỗ lực tinh tấn. Gần đây có lời mời từ châu Âu, lại phải sang châu Âu giảng dạy, làm như vậy mà cũng phạm thiên điều, không biết đã phạm điều mấy chương mấy? Có thể chỉ rõ hơn không? Để tôi tự động lên trời trình diện.

Đại sư Lư Thắng Ngạn đã chết rồi sao? Tôi xin thành thật nói với độc giả rằng, tôi đã tu thành "cầu vồng bất diệt", sẽ tái sinh, sẽ trở lại, vĩnh viễn bất tử.


### 04. Lời tiên tri cho giới tự nhiên


Có một nhà chiêm tinh đăng quảng cáo lớn trên báo, ông tiên đoán rằng Tổng thống Reagan của Mỹ sẽ vẫn nắm chắc chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1984. Ông còn nói rằng với khả năng quan sát khí của mình, trước đây khí của Tổng thống Reagan không ổn định, nhưng hiện tại đang tỏa sáng rực rỡ. Đồng thời, ông cũng tiết lộ rằng mình đã biết trước về vụ ám sát nhằm vào Reagan. Nhà chiêm tinh này còn nói thêm, nếu khí của Tổng thống Reagan không thay đổi giữa chừng thì chắc chắn sẽ đắc cử, nhưng nếu có thay đổi thì mọi chuyện chưa thể nói trước. Tin hay không tùy bạn.

Đọc tin tức này, tôi thấy những kẻ giang hồ mê tín loại này chuyên dùng trò bịp bợm để lừa người, vừa muốn danh vừa muốn lợi, lại một lần nữa lừa gạt độc giả, thật là đáng ghét tột cùng.

Trước thì nói Tổng thống Reagan chắc chắn sẽ đăng quang trong cuộc bầu cử năm 1984, sau lại nói nếu khí có thay đổi thì chưa chắc đắc cử. Xin hỏi độc giả, vị thầy chiêm tinh này đang nói những gì vậy? Có phải là say rượu nên nói những lời điên khùng, lúc nói này lúc nói nọ. Dù đắc cử hay không đắc cử thì ông ta cũng đều nói trúng. Vị thầy chiêm tinh này là ai, tôi không cần nói, độc giả cũng biết là ai, vẫn là cái bộ dạng ấy thôi.

Bản thân tôi chẳng hề quan tâm ai sẽ làm tổng thống. Cho dù Tổng thống Reagan có đích thân đến thăm tôi, như tôi đã nói, tôi chưa chắc đã tiếp kiến ông ấy, tại sao vậy? Lý do rất đơn giản, tôi xem Tổng thống Reagan là người đáng thương nhất trên đời. Ông ấy phải sắp xếp gặp gỡ các nhân vật quan trọng của các nước, sắp xếp phát biểu trên truyền hình, sắp xếp ngân sách, sắp xếp vận động cho cuộc bầu cử tiếp theo, sắp xếp nhân sự, sắp xếp tình hình thế giới. Xung quanh ông ấy luôn có nhân viên an ninh, vì những người tâm thần muốn tính sổ với ông ấy, người thất nghiệp muốn tính sổ với ông ấy, những người bị cắt giảm ngân sách muốn tính sổ với ông ấy, trước Nhà Trắng thường xuyên có người biểu tình. Còn nữa... v.v…, một người mất đi cả thời gian và tự do như vậy chính là người đáng thương bậc nhất thiên hạ. Vì thế, tôi không tiên đoán ai sẽ làm tổng thống.

Chỉ có một lần là ngoại lệ, đó là do mối quan hệ của bố tôi. Thân phụ tôi là ông Lư Nhĩ Thuận, khi phục vụ trong Hải quân Tả Doanh, có một sĩ quan Nhật Bản là ngài Nakasone Yasuhiro làm cấp trên trực tiếp của bố tôi. Hai người rất thân thiết với nhau và trở thành bạn thân nhiều năm. Sau đó, ngài Nakasone Yasuhiro trở về Nhật Bản phát triển sự nghiệp chính trị, lần lượt giữ các chức vụ quan trọng như Trưởng Cơ quan Phòng vệ, Bộ trưởng Công Thương, Tổng Thư ký đảng Dân chủ Tự do và nhiều chức vụ khác. Cách đây 12 năm, theo lời nhờ của ngài Nakasone Yasuhiro, bố tôi đã hỏi tôi về tương lai của ông ấy. Lúc đó tôi đã trả lời rằng ông ấy chắc chắn sẽ trở thành Thủ tướng, nhưng phải đợi 12 năm nữa.

Tuy nhiên, ông Nakasone Yasuhiro tỏ ra không đồng tình hay phản đối, lúc đó ông dự đoán rằng mình chắc chắn sẽ trở thành Thủ tướng trong vòng 5 năm. Khi tôi nói 12 năm, ông ấy tỏ ra không hài lòng lắm. Không chỉ ngài Yasuhiro không hài lòng, mà ngay cả bố tôi cũng cho rằng 12 năm là quá lâu, không thể nào. Bố tôi đã từng công tác tại Nhật Bản và thảo luận về vấn đề này với ngài Yasuhiro.

Tuy nhiên, đường công danh thăng trầm biến đổi, đâu phải như ý muốn, người tính không bằng trời tính, tôi tiên đoán 12 năm tức là đúng 12 năm không sai. Sự thật này đã được tôi viết trong cuốn sách "Địa Linh Dấu Tiên", trang 71, có thư của bố tôi làm bằng chứng. Hiện nay ngài Nakasone Yasuhiro đang sử dụng nghiên mực do thân phụ tôi là ông Lư Nhĩ Thuận tặng. Ngài Nakasone Yasuhiro nhậm chức Thủ tướng vào ngày 25 tháng 11 năm 1982, tính từ lúc tôi đoán số mệnh cho ông ấy đến lúc đó đúng 12 năm. Sự chính xác như vậy tôi cũng không lấy làm lạ, bởi những gì tôi tiên đoán đều sẽ thành hiện thực.

Tuy nhiên, tôi tuyệt đối không tiên đoán gì cho Tổng thống Reagan cả. Cho dù ngài Nakasone Yasuhiro có nhắc đến tôi khi gặp Reagan, hay Reagan có đích thân tìm đến tôi, tôi cũng chỉ mỉm cười với ông ấy và nói: "Hãy cố gắng hết sức nhé! Tận lực mà làm thôi! Thưa ngài, tôi sẽ không nói gì với ngài đâu, tôi chẳng hề quan tâm đến chuyện bầu cử của ngài, thắng hay thua cũng vậy. Mong rằng cái miệng méo mó của ngài sẽ lại mang đến may mắn, chúc ngài mọi điều tốt đẹp." Tôi sẽ mời Tổng thống Reagan uống một chén trà Đông Đỉnh sản xuất trong nước, rồi mời ông ấy ra về, xin lỗi, đã đến giờ tôi tọa thiền rồi, người ngoài (bất kì ai) không được quấy rầy, Tổng thống Reagan cũng không ngoại lệ.

Tiên Sinh Tam Sơn Cửu Hầu nói với tôi: "Tốt lắm. Bầu cử hay không đều là chuyện thế tục. Nhãn thông và khả năng thấu thị của con đã phát triển vượt bậc, có thể thấy được cả trăm năm, năm trăm năm về sau. Con mắt thứ ba của con không chỉ thấy được cõi người, mà còn thấy được cả Tây phương Cực Lạc, lên đến vô số cõi Phật, xuống đến địa phủ u minh. Con đương nhiên có thể thấy được những cuộc tranh chấp giữa các quốc gia, thấy được thiên tai, nhân họa, tử vong, động đất và đủ loại tai ương. Tuy con có một thời thơ ấu gian khổ, nhưng nguyên thần của con sẽ được ta đánh thức, ta sẽ kể cho con về tiền kiếp và từng tầng tiền kiếp của con. Cuối cùng con sẽ sáng lập đại pháp ở nhân gian, khiến mọi người hiểu được pháp và tu trì, con sẽ đi khắp thế giới, và kết quả cuối cùng là thành công cứu độ được rất nhiều người. Sau đó con sẽ vào cõi tịch diệt an lạc, chờ đợi thời cơ chuyển thế và cứu độ tiếp theo."

Tiên Sinh Tam Sơn Cửu Hầu lại nói: "Liên Sinh, trong cung điện tương lai của con là một đại điện màu vàng và trắng, có một vị thần vũ trụ màu xanh là thần hộ mệnh của con, trên bốn bức tường của đại điện ghi chép tâm ấn chú ngữ của tất cả chư Phật và tám nghìn ức Phật thành đạo, có vô số trang sức trang nghiêm không đếm xuể, khiến cho điện đường của con càng thêm trang nghiêm, pháp lực của con không phải tầm thường, đây là thành tựu tất địa từ việc con tu đạo gian khổ và chịu đựng đủ loại sóng gió."

Tiên Sinh Tam Sơn Cửu Hầu chỉ ra một đoạn trong Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh: "Sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni nhập diệt, vào thời mạt pháp, sẽ có một loại yêu ma tràn ngập thế gian, hành tung bí hiểm, ẩn giấu gian tà, lừa đời dối danh, hoặc tiên đoán tai ương, hoặc bói toán họa phúc, giả dạng thiện tri thức, mỗi người tự xưng đắc pháp Bồ Tát, hoặc khoe khoang thần thông, mê hoặc kẻ vô tri, hăm dọa lừa gạt, không việc gì không làm. Ta lo sợ chúng sinh đời mạt pháp mê mờ bản tâm, bị những yêu tà này mê hoặc, tiêu hao hết của cải, nên ta dạy các tì kheo, tùy phương khất thực, để xả bỏ tâm tham. Chỉ vì nuôi dưỡng thân mạng, không tham cầu vọng động, để thành tựu đạo quả Bồ đề, khiến các tì kheo biết thân như huyễn, ngộ được thế gian vô thường, chỉ tạm trú nhân gian, du hành tam giới, như khách qua đường, đời này nếu xong, sẽ không trở lại, tu trì như vậy mới không hổ thẹn là đệ tử Phật chân chính. Những kẻ muốn cầu lợi dưỡng, mượn pháp phục của ta, giả dạng tăng ni, buôn bán Như Lai, nói lời quái dị hành động kỳ lạ, đều tự xưng là Nhất thừa Phật pháp, lại phỉ báng các tì kheo xuất gia chân chính trì giới đầy đủ là đạo Tiểu thừa, tự xưng là Bồ Tát Đại thừa. Khiến cho vô lượng chúng sinh sinh lòng nghi hoặc, cho rằng chính giáo là Tiểu thừa, không đáng noi theo, từ đó vọng sinh phỉ báng, bỏ chính theo tà, một người mù dẫn đám mù, đều đọa vào địa ngục vô gián, không có ngày giải thoát, nói lời yêu tà, hại người hại mình, thật đáng sợ thay!"

Sau khi đọc bản dịch văn bản này, chúng ta có thể thấy rằng nhà chiêm tinh này đang làm những việc lừa dối thế gian, tiên đoán tai ương, bói toán họa phúc, và còn khoe khoang thần thông, mê hoặc người vô tri. Hơn nữa, người này còn tự xưng là Bồ Tát Đại thừa, giả dạng tăng ni. Tôi nhận ra rằng hắn chính là kẻ mượn danh tinh linh, học vài trò ma thuật giang hồ hắc đạo, nói lời dối trá lừa gạt thế gian, làm những điều kỳ quái để mê hoặc người đời.

Tiên Sinh Tam Sơn Cửu Hầu tuy đã đập tan cái tâm thế tục của tôi và khai mở con mắt thứ ba cho tôi, nhưng Ngài muốn tôi hiểu rằng thế gian vô thường, con người chỉ tạm trú ở nhân gian, là khách lữ hành trong tam giới mà thôi. Hãy nhìn thông suốt, nhìn cho nhạt nhòa, điều duy nhất cần làm nghiêm túc là nỗ lực tinh tấn không ngừng. Không chỉ tinh tấn không ngừng, mà còn phải tu trì chính pháp. Tôi trước tiên thọ giới Bồ Tát của Hiển giáo, sau đó thọ Mật giới của Mật tông, kiêm tu Đạo pháp. Người thật sự giữ giới, tu trì chính định, mới có thể đắc được đạo quả vô thượng.

Tôi sẽ không đi tiên đoán ai sẽ trở thành tổng thống Mỹ vào năm 1984, những chuyện vặt vãnh như thế này, đối với những kẻ thích phô trương mê hoặc người khác, đây chính là cơ hội tốt để hùng biện như hoa sen nở, thu hút thêm tín đồ và kiếm lợi từ của cúng dường của chúng sinh. Còn tôi thì sao? Ngày ngày tinh tấn thiền công, đã sớm thoát khỏi sự trói buộc của danh lợi thế tục, đã sớm đạt được tự tại, ai trở thành tổng thống Mỹ thì có liên quan gì?

Ngoài ra, tôi cũng không nói bừa về tai ương, mọi người đều có tâm sợ hãi tai ương, việc nói bừa về tai ương chính là cách làm của kẻ tà, nhằm mong một bước thành danh thiên hạ. Cho dù có tai ương, đó cũng là do con người tự chuốc lấy, tôi thấu hiểu nhân quả tuần hoàn, muốn không có tai ương, cần con người có thiện niệm trước, nếu có thiện pháp, tai ương tự khắc tiêu tan. Pháp của tôi là pháp tự nhiên, không có những lời tiên tri vĩ đại hay những dự ngôn gây chấn động về cái chết của toàn nhân loại, hoặc là ngày tận thế của trái đất. Tôi dùng con mắt thứ ba của trí tuệ bình đẳng, quan sát các vì sao trong thiên hạ, biết mọi việc lớn nhỏ trong trời đất, tuy biết nhưng chỉ mỉm cười bỏ qua, những điều này chẳng qua chỉ là "tiểu thuật nhân quả" mà thôi, không đáng bàn luận.

Lời tiên tri của tôi cho giới tự nhiên chỉ đơn giản là: "Mọi người hãy thực tu và chứng đắc! Chỉ khi có thực tu chứng đắc mới được gọi là viên thông. Nếu không, đó chỉ là lời nói suông. Sự biến hóa của giới tự nhiên không nằm ngoài hai chữ 'nhân quả'."

(Tác giả không có thiện cảm với bất kì tổng thống Mỹ nào. Trong cuốn "Châm ngôn của người thành công" xuất bản tháng 2 năm 1975, trang 263, phần "Bàn về thành bại của Nixon", tôi có ấn tượng đặc biệt xấu về Nixon, thậm chí ví ông ta như một con chuột.)


### 05. Linh Tiên Các là phòng bế quan của tôi


Sau bảy ngày đến Mỹ, tôi và gia đình đã chuyển đến một ngôi nhà mới. Ngôi nhà ban đầu có màu nâu, đã qua ba chủ nhân sinh sống, chúng tôi là chủ nhân thứ tư và đã sơn lại từ màu nâu thành màu xanh lá, tạo cảm giác tươi mới. Tính cả tầng hầm thì ngôi nhà có ba tầng, tầng hầm không có vách ngăn, toàn bộ được trải thảm và có một phòng giặt cùng các thiết bị vệ sinh. Phía trên tầng hầm là phòng khách lớn và nhà bếp khi bước vào, cả hai phòng đều rất rộng, bên trái lối vào có hai phòng ngủ và một bộ thiết bị vệ sinh.

Điều đáng nói là, bãi cỏ ở mặt trước, sân sau và hai bên đều rất rộng lớn. Trong sân sau có một cây anh đào to, còn ở bên trái bãi cỏ lớn có một nhà để xe. Nhà để xe này có thể xây thành một căn phòng, nhưng chúng tôi không cần nên để trống hoàn toàn. Có một người làm kinh doanh xây dựng muốn mua nhà để xe của chúng tôi để cải tạo thành một căn nhà mới, đã thương lượng với chúng tôi nhưng không thành công.

Chiếc xe của chúng tôi là loại vừa, đậu trên nền xi măng ở giữa bãi cỏ, khu vực xi măng này có thể đậu được sáu chiếc xe. Những ngôi nhà xung quanh khu vực này đều có kiến trúc khác nhau, vô cùng đẹp mắt, các bãi cỏ và vườn hoa luôn giữ được vẻ tinh khiết và tươi đẹp với muôn màu sắc rực rỡ, có thể nói cứ mỗi bước đi là lại thấy một tác phẩm nghệ thuật được chăm chút tỉ mỉ.

Tầng trên của phòng khách là Linh Tiên Các, có một cầu thang trải thảm màu nước biển dẫn thẳng lên trên. Tôi cảm thấy ngôi nhà của mình nằm ở vị trí cao nhất trên sườn đồi này. Phía sau dốc xuống, phía trước dốc xuống đến một con đường lớn, bên trái dốc xuống đến Cầu Sắt Phi Mã, bên phải cũng dốc xuống. Tóm lại, ngôi nhà màu xanh lá của tôi có thể nhìn bao quát ra bốn phía, là một ngôi nhà độc lập trên sườn đồi.

Linh Tiên Các là thư phòng ở tầng trên cùng, gọi là "Các" vì nó ở vị trí cao nhất, được chia thành hai phần. Phía trước là thư phòng, nơi thờ phụng Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát (Đại Bi Mật Chủ), Phổ Hiền Bồ Tát (Kim Cang Tát Đỏa Mật Chủ), và một vị Hoa Thiên Nữ Thần. Thư phòng là nơi tôi viết sách, mỗi ngày tôi ghi chép tâm đắc tu đạo lên giấy, đóng thành tập và cho xuất bản. Phần sau của Linh Tiên Các là phòng ngủ kiêm phòng ngồi thiền, giường trải toàn màu be, chỗ ngồi thiền trải thảm màu xanh lá, gối ngồi màu xanh vàng, trên treo một tấm gương cổ Đại Phạm Thiên, ở giữa trang trí đồ hình đàn tràng tứ phương, mũ Ngũ Phật của tôi đặt phía trên, pháp khí có chuông kim cang, chày kim cang, dây kim cang, bình kim cang và các pháp khí thông thường khác. Đây là nơi chính tôi ngồi thiền tu học Mật pháp.

Thư phòng có một cửa sổ nhìn ra phía trước, cảnh quan xung quanh vô cùng hùng vĩ, dọc theo con đường kéo dài về phía Đông có nhà cửa, cây cối xanh tươi, xa hơn nữa là những ngọn núi cao chót vót nhô lên, nhìn chếch về bên trái là núi tuyết Rainier. Cửa sổ phía Nam đối diện thẳng với núi tuyết Rainier, mỗi đêm, cửa sổ này là một bức tranh tuyệt đẹp, có thể nhìn thấy tháp Space Needle của Seattle, những ánh đèn lấp lánh từ những ngôi nhà trên sườn đồi, có nơi tập trung thành cụm, có nơi thưa thớt, như những vì sao trong đêm lạnh. Cửa sổ phía Đông nhìn ra một con đường ngang, có thể thấy được vài hộ gia đình ẩn mình trong tán cây xanh um, với bầu trời xanh ánh tím.

Cuộc sống của tôi ở đây, ngoài việc tiếp khách ra thì phần lớn thời gian đều ở yên tĩnh trong Linh Tiên Các. Tại Linh Tiên Các, tôi chỉ làm ba việc: viết sách, ngồi thiền và ngủ nghỉ. Ba công việc này đã chiếm hầu hết thời gian của tôi ở Mỹ. Mỗi ngày tôi đều có giờ giấc cố định để viết sách, ngồi thiền và ngủ nghỉ, rất hiếm khi thay đổi. Trong gần một năm ở đây, tôi rất ít khi ra ngoài, tối nào cũng ở nhà, ban ngày ngoài việc ký phát séc ra thì phần lớn thời gian đều ở Linh Tiên Các. Đôi khi tôi cảm thấy, ngoài việc tiếp khách ra thì mình giống như một vị pháp sư đang bế quan. Linh Tiên Các của tôi, ngay cả người nhà cũng không được tự tiện vào, họ thường để đồ vật cần gửi cho tôi ở đầu cầu thang, đến khi tôi lên lầu mới tự lấy lên. Linh Tiên Các chính là phòng bế quan tu đạo của tôi, chỉ là tôi không dùng giấy niêm phong lại mà thôi.

Tôi biết rằng, trên thế giới này có rất nhiều hành giả tu đạo sống ẩn tu một mình, họ trú ngụ trong những ngôi chùa trên đỉnh núi cao, vào phòng bế quan khổ tu. Phần lớn phòng bế quan là những căn phòng nhỏ kín, không có âm thanh lọt vào, cũng không thể nhìn thấy cảnh vật bên ngoài. Khi hành giả vào trong, cửa sẽ được đóng kín lại, dán niêm phong bên ngoài, ghi rõ thời gian bế quan, thức ăn phần lớn được đưa vào qua một ô cửa nhỏ.

Thông thường, hành giả bắt đầu từ thời gian bế quan ngắn, rồi dần dần kéo dài thêm. Vì thế có người bắt đầu từ bảy ngày, rồi hai mươi mốt ngày, rồi ba tháng, rồi một năm, rồi ba năm, rồi mười năm, thậm chí cả đời không ra khỏi phòng bế quan cho đến khi già chết trong đó.

Bế quan là một sự rèn luyện, cũng là một niềm tin, và hơn nữa là một pháp tu. Thông thường, hành giả không có lý do gì để rời khỏi phòng bế quan, đó là sự mài giũa tự tính. Trong không gian nhỏ bé ấy, mọi đời sống vật chất đều mất đi, chỉ còn tồn tại đời sống tinh thần. Tôi cho rằng khi hành giả tu trì bế quan, theo quy luật của sinh mệnh, do sự mất đi của đời sống vật chất, tinh thần sẽ đi vào trạng thái tập trung, năng lực về mặt tinh thần sẽ được khai phát, giá trị của năng lực này không phải là điều mà phàm phu thế tục có thể tưởng tượng được.

Tôi biết một số bậc cao nhân tu hành thanh tịnh, để thấu hiểu được năng lực tinh thần, cần phải từ bỏ âm thanh trần tục, sắc tướng trần tục, duyên trần tục, và vị trần tục. Chỉ khi ở trong phòng bế quan, sự tiến bộ mới nhanh chóng. Do đã thể nghiệm được pháp chính định tam muội, nên họ an vui với việc bế quan tu hành, cả đời không muốn xuất quan cho đến khi thành Phật. Đạo lý này, nếu không phải là người tu hành thì mãi mãi không thể hiểu được.

Tôi nói rằng, Linh Tiên Các là phòng bế quan của tôi, tại đây tôi tu trì tất cả các Mật pháp, thấu tỏ hết thảy tâm ấn, thấu tỏ hết thảy thiên cơ, thành tựu hết thảy các pháp. Nhờ đó, tâm đã khai mở, mới hiểu được rằng tất cả phép tắc của sinh mệnh chính là như vậy, có thể tự tại tự như trong mười phương trên dưới.

Những gì tôi có đã đủ phong phú rồi, dù là ban ngày hay khi trời dần tối. Có khi mùa xuân đến, cây anh đào sau nhà nở đầy những bông hoa trắng nhỏ li ti, ong bay lượn trong mùa phấn hoa; có khi là mùa thu đông, ngày đêm đều lạnh, tôi sẽ đắp thêm một tấm chăn len khi ngủ, vì tôi vốn không quen với không khí nóng. Bất kể lúc nào, tôi, một hành giả ở Seattle này, đều thắp lên một lư hương, khói trắng cuồn cuộn bay lên.

Giờ đây, tôi xin chia sẻ một vài tâm đắc nhỏ về việc tu pháp tại Linh Tiên Các như sau:

Trong phòng bế quan, khi viết sách tự nhiên không rời chỗ ngồi, khi ngồi thiền cũng không rời chỗ ngồi, ngay cả khi ngủ cũng không rời chỗ ngồi. Tư thế ngồi giúp tâm dễ tĩnh lặng hơn, còn khi đứng thì tâm dễ động. Ngoại trừ việc ăn uống và vệ sinh, phần lớn thời gian nên ngồi chứ không nên đứng. Nguyên lý là khi ngồi thiền thì khí tụ, còn khi đứng thì khí không tụ. Tôi biết rằng, nếu bế quan tu pháp đúng cách, ắt sẽ có cảm ứng, có cảm ứng tức là có chứng đắc.

Khi tu pháp bế quan Mật tông, ngày vào phòng nên chọn sau hoàng hôn, còn ngày xuất quan nên chọn lúc trời vừa sáng, tượng trưng cho "phá tối thấy sáng". Hành giả cần phát tâm đại bồ đề, tự nghĩ rằng không phải chỉ tu để riêng mình thành Phật như Tiểu thừa, mà là tu để độ hết thảy chúng sinh trong thiên hạ. Với tâm niệm như vậy, sẽ được chư Phật Bồ Tát gia trì. Trong lúc bế quan cũng sẽ có ma cảnh đến quấy nhiễu, tất cả những hiện tượng này nên không để tâm đến. Nếu tu pháp bế quan mà không có chứng cứ cảm ứng, hoặc là tu sai pháp hoặc là nghiệp chướng sâu nặng, nên cầu minh sư chỉ điểm, rồi bế quan lần nữa, cho đến khi có chứng cứ cảm ứng, và tự biết công phu có tiến bộ mới được.

Không được học nhịn đói, đó là tà pháp của ngoại đạo. Nhịn đói không phải là chứng cứ chứng đắc. Các vụ án đồng cốt thiên cung tự giam và pháp sư Phượng Tiên ở Thổ Thành trong nước [Đài Loan] đều không phải là phương pháp căn bản. Dù chết đói hay không chết đói cũng không phải là chứng cứ chứng đắc. Vào phòng bế quan là để tu pháp, nếu bụng trống rỗng thì làm sao tu pháp được?

Linh Tiên Các giống như phòng bế quan của tôi vậy. Tôi đến nơi này mật tu các pháp, pháp pháp thành tựu, được Liên Hoa Sinh Đại Sĩ hiển quang gia trì, Kim Cang Hộ Pháp bảo vệ khắp nơi, thật là một cõi trời trang nghiêm tịch tĩnh trong các cõi trời.


### 06. Thăm dò tâm linh và quán đảnh từ xa


Nhờ cuộc sống yên tĩnh tại Linh Tiên Các, tôi đã thực hiện nhiều cách "thăm dò tâm linh" theo nhiều hướng khác nhau. Ví dụ như tôi dùng phương pháp linh thể phi hành để đến châu Âu, đến Hồng Kông - viên ngọc phương Đông, và tất nhiên thường xuyên qua lại giữa Mỹ và Đài Loan. Tôi đã đến Nepal, dãy Himalaya, viếng thăm cung điện Potala và tu viện Sera ở Tây Tạng. Tâm linh của tôi là một dạng linh thể phi hành được tung ra, không chỉ du hành trên Trái đất mà còn bay đến cả Mặt trăng, sao Hỏa, sao Thổ, thậm chí đến những thế giới xa xôi vô tận. Đó chính là hành trình tâm linh của tôi.

Khi tôi bắt đầu tĩnh lặng trong thiền định, giống như động cơ máy bay đang khởi động, và khi tôi đạt đến trạng thái tam muội kim cang đại định, "thông tin tâm linh" trở thành một dạng phóng chiếu. Tôi nói rằng, vũ trụ ẩn chứa trong tâm tôi, có thể đến bất cứ nơi đâu, và điều đó xảy ra trong tích tắc, không cần tốn nhiều thời gian, tất cả đều rõ ràng trong tâm, không có gì là không hiểu được.

Khi quan sát tình hình gần đây của Linh Tiên Chân Phật Tông, đương nhiên số người quy y rất đông, nhưng việc tu trì của Linh Tiên Chân Phật Tông là tự do tự tại, không có kỷ luật nghiêm ngặt nào, họ muốn quy y thì quy y, muốn chửi tôi thì chửi tôi. Có một số ít đệ tử tu trì nghiêm túc, tôi đều nghe được tiếng tụng kinh trì chú của họ. Nhưng cũng có một số ít kẻ hại đàn, khiến đa số đệ tử Linh Tiên Chân Phật phải xấu hổ, họ vẫn sống trong cảnh ăn chơi trác táng, cờ bạc rượu chè, luân xa trong tâm họ đã rất lâu không còn chuyển động, đôi khi tuy có khởi lên thiện niệm, nhưng chỉ là một thoáng hiện ra rồi lập tức bị những ý nghĩ đen tối che lấp.

"Những đệ tử đáng thương, thật là một lũ người thiếu văn minh chưa khai hóa."
Tuy nhiên, kẻ biếng nhác thì cứ biếng nhác, đa số đệ tử vẫn giữ đúng bổn phận, nghiêm túc giữ giới luật của Phật, tinh tấn tu trì.

Tôi đã từng dùng "linh thể phi hành" để đến một quốc gia rất xa xôi, phải vượt qua hai đại dương để đến thăm một người bạn già tu Mật tông. Vị bạn già này không chỉ tinh tấn tu trì vào ban ngày mà còn miệt mài không nghỉ vào ban đêm. Tôi thấy ông ấy thật sự quá mệt mỏi, quá vất vả, may mắn là có Kim Cang Hộ Pháp luôn giúp đỡ ông ấy, nếu không chắc sẽ không chịu nổi.

Khi tôi chăm chú quan sát ông ấy, dường như ông ấy có cảm nhận được, ông ấy là một trong những người có năng lực. Vì thế, tôi biết rằng trong tương lai gần, sẽ có một vị tông sư Hoạt Phật đến thăm nơi này, đồng thời sẽ gặp gỡ một số tín đồ và tổ chức một buổi hoằng pháp nhỏ tại đây.

Vị Hoạt Phật tông sư này cũng là một trong những bậc tông sư mà tôi kính ngưỡng. Tất nhiên, tôi rất vui mừng cho người bạn già của mình, việc Hoạt Phật đến hoằng pháp tại nơi của ông ấy quả là một điều hết sức đáng mừng, và giới truyền thông bên ngoài cũng chưa hay biết gì về việc này. Sau khi xuất định, tôi liền viết một bức thư cho người bạn già tu Mật tông của mình, tôi nói với ông ấy, nhờ ông ấy giúp đỡ, xin thỉnh cầu tông sư ban cho tôi một mình được quán đảnh từ xa. Người bạn già tu Mật tông của tôi là bạn thân của tông sư Hoạt Phật, tôi tin rằng chỉ cần ông ấy mở lời, việc này chắc chắn sẽ thành công.
Người bạn tu Mật tông hồi âm, hứa với tôi "nhất định sẽ làm theo".

Đồng thời, điều kỳ lạ là người bạn tu Mật tông của tôi không hiểu sao tôi lại biết được sẽ có một vị Hoạt Phật tông sư đến thăm ông ấy trong ba ngày, dù tôi ở tận Seattle, Mỹ, cách xa hai đại dương, mà lại có thể đưa ra yêu cầu như vậy. Trong thư hồi âm, ông ấy tỏ ra vô cùng kinh ngạc, cho rằng thật không thể nghĩ bàn.
Nghi thức quán đảnh từ xa được tiến hành đúng như dự định.
Dùng nước hương thanh tịnh rảy vào ảnh của tôi.
Dùng tay ấn gia trì quán đảnh. Tụng mật chú. Kết thủ ấn.

Vào lúc đó, tôi đang ngồi thiền tại Linh Tiên Các, trong khoảnh khắc, tôi nhìn thấy từ phía Tây Nam có mây quang minh nhanh chóng bay đến. Trong trạng thái tam muội kim cang đại định, tôi thấy vị Lama Hoạt Phật, Ngài hóa thành Đại Ô Kim Kim Cương Trì, rồi lại hóa thân thành Phật Thích Ca Mâu Ni, sau đó hóa thành chư Phật mười phương năm hướng, rồi biến thành những pháp điển trân bảo của mười phương ba đời, các vị Kim Cang Hộ Pháp đến trước mặt tôi, tụ tập xoay vần, hóa thành ánh sáng ngũ sắc. Trong ánh sáng có mưa cam lộ rót vào đỉnh đầu tôi. Đỉnh đầu tôi tê dại một lúc rồi lan tỏa khắp toàn thân. Tâm nguyệt liên hoa của tôi nở ra, trong hoa sen có một mật tự (chữ Phạn) tỏa ra ánh sáng vốn có, ánh sáng ngũ sắc và ánh sáng tự thân hợp làm một. Tất cả nghiệp chướng từ đời quá khứ của tôi đều hóa thành nước đen, chảy ra từ các lỗ chân lông trên toàn thân, tẩy sạch không còn. Tôi trở nên quang minh tự tại, đạt được đại ngộ, từ đó thân tâm khinh an, phúc huệ tăng trưởng, lực gia trì quán đảnh của Hoạt Phật Thượng sư vĩnh viễn không tán mất. Tôi đã nhận được lực quán đảnh từ xa của Hoạt Phật Thượng sư, đây lại là một sự chứng nghiệm vô cùng to lớn.

Tôi biết rằng với tâm bồ đề của mình, cùng với tâm bồ đề của vị Hoạt Phật, có thể giải hành tương ứng, tâm đồng tâm có thể tương ứng, tâm đồng tính có thể tương ứng, tâm đồng trí có thể tương ứng. Đây là phương pháp rốt ráo nhất. Pháp của tôi là pháp niệm niệm khai mở tri kiến Phật, rất khác với cách các pháp sư thông thường đi vào tri kiến chúng sinh. Phương pháp quán đảnh từ xa của Hoạt Phật Thượng sư chính là phương pháp dùng sức niệm trì để phi hành, có điểm tương đồng với phương pháp linh thể phi hành.

Để kỷ niệm Hoạt Phật Thượng sư đã làm lễ quán đảnh từ xa cho tôi, tôi viết một bài kệ ghi lại:

*Chuyển thế Hoạt Phật Kim Cương Trì,
Mật hành nhân thiên đại đạo sư,
Vô lượng quang minh thành tự tại,
Con ở trước Ngài ba khởi thỉnh.*

*Công đức thù thắng uy lẫm liệt,
Pháp môn kim cang độc nhất tôn,
Diệu hạnh Không Mẫu đại pháp lực,
Tẩy sạch ô uế con nhiều đời.*

*Thân tâm đều hóa tướng Thích Ca,
Ngữ âm tâm ấn thập nhị chi,
Tất cả cứu cánh kiêm viên mãn,
Không Hành quán đảnh trước chí tôn.*

*Ban con pháp ký nói chân đạo,
Từ tâm biến hóa tựa Quan Âm,
Đại ân đại đức nay kính nhớ,
Con nguyện hoằng giáo lợi ích lớn.*

Thành tựu mà tôi đạt được ở Seattle ngày hôm nay, tôi tin rằng đã vượt gấp ba lần so với thành tựu ở trong nước. Tôi đã từ bỏ tất cả những gì thuộc về thế tục, từ bỏ cuộc sống phồn hoa, từ bỏ bạn bè thân hữu, từ bỏ những ngày tháng thân thiết với đệ tử, từ bỏ những bước chân thảnh thơi trong nước. Mặc dù những đổi thay trong cuộc sống đã từng khiến tôi rơi vào thế giới cô đơn mênh mang, nhưng cuối cùng tôi đã lĩnh ngộ được lợi ích của "sự cô độc về tâm linh". Tôi không hề "mất mặt", mà ngược lại còn vượt xa hơn nữa, tôi dùng sức tu trì lớn nhất để tu tập cảnh giới cao nhất.

Trong thiền định, sinh lực của tôi nhờ vào ảnh hưởng của sức mạnh tinh thần mà càng thêm kiên cường, mỗi một pháp bản đều trải qua sự tu trì và nghiên cứu tỉ mỉ, tôi đặt mình vào trạng thái trong sáng, tôi có thể mỉm cười, tôi viết hết những tâm đắc tu trì của mình vào sách, tôi sẽ không vì một vài "con ngựa hại đàn" của Linh Tiên Chân Phật Tông mà buồn phiền, bởi vì tất cả những điều này, người nên đến chắc chắn sẽ đến, người nên đi chắc chắn sẽ đi, bề ngoài tuy lạnh nhưng tâm vẫn ấm, các đệ tử nên thấu hiểu tâm ý của tôi mới phải.

Linh thể sẽ tự động rời khỏi thân xác mà đi, đó chính là cái chết. Nhưng "linh thể du hành" thì khác, đó là sự kiểm soát của sức mạnh tinh thần, không cần lo lắng, bởi vì nếu tôi bay đi, chắc chắn sẽ bay về, tôi là ánh cầu vồng, cái chết đối với tôi, chỉ là sự thay đổi hình dạng mà thôi.


### 07. Siêu độ của hành giả


Khi tôi đi qua đường Alula, hai bên đường là những nghĩa trang rộng lớn. Nghĩa trang của người Mỹ theo kiểu chôn sâu, chỉ có bia mộ nhô lên khỏi mặt đất. Xung quanh khu mộ được trồng đầy cỏ xanh và những cây cổ thụ cao vút, thảm cỏ được cắt tỉa phẳng phiu và xanh mướt, trông giống như một công viên.

Khi nhìn thấy nghĩa trang, tôi không khỏi cảm khái. Dù cái chết là điều tất yếu, nhưng khi thể xác con người được chôn vùi dưới đất, và một người bạn biến mất khỏi mặt đất, trong lòng vẫn không tránh khỏi một chút buồn thương. Bản thân tôi không bao giờ sợ chết, bóng ma của cái chết cũng chẳng đáng sợ. Đối với một người hiểu được chân lý và không sợ chết, cái chết cũng giống như giấc ngủ, linh thể sẽ vĩnh viễn rời đi. Có người nói, thể xác là chiếc áo của linh hồn, khi đã cũ, đã rách, không còn dùng được nữa thì phải vứt bỏ.

Tôi đã từng siêu độ cho các linh hồn người Mỹ, cũng đã từng cúng dường cho họ. Hầu như mỗi chiều tà, với tư cách là một hành giả, tôi đều phải thực hiện pháp ban rải cam lộ, để cho những linh hồn đang mê lạc này được một chút thỏa mãn - khát có nước uống, đói có thức ăn, tâm hồn trống rỗng được viên mãn. Vào ngày mồng một âm lịch hàng tháng, tôi đều tụng kinh, gọi từng linh hồn đến nhận sự cúng dường và Phật pháp của tôi.

Trong mỗi lần tụng kinh hàng tháng, tôi có thể cảm nhận được sự hiện diện của họ. Họ có thể là những người ngay ngắn có trật tự và lễ phép, hoặc cũng có thể là một đám quỷ dữ ồn ào hỗn loạn. Tôi không chỉ "cảm nhận" được họ, đôi khi khi mở con mắt thứ ba, tôi còn thấy được đủ loại hình dạng của họ. Có người rất dịu dàng, có người lễ phép, có người thì phóng túng, có người thì thô bạo, thậm chí có người còn vô lại nữa. Tóm lại, người đời trăm kiểu thì ma quỷ cũng trăm kiểu, dương gian và âm gian có gì khác nhau đâu, ma quỷ phương Đông là vậy, ma quỷ phương Tây cũng thế.

Có một lần, tôi niệm thần chú, thần chú như thế này: "Om Ah Hum. Âm thanh chung của vũ trụ chính là tiếng tụng kinh Phạn ngữ, ta triệu thỉnh, hỡi những vong linh đang lang thang giữa hai cõi âm dương! Hãy lắng nghe thật kĩ, ta tụng niệm thần chú, hãy đi theo sau. Không nghe được tiếng sóng biển, không nghe được tiếng lá cây xào xạc, không nghe được tiếng gió nhẹ thổi, không nghe được tiếng nước chảy của sông suối, các ngươi ơi! Có thể tìm kiếm thật kĩ, thần chú của ta sẽ dẫn dắt các ngươi, vượt núi băng đèo, tìm được bến bờ nương tựa. Phải biết rằng! Đây là thế giới hư ảo, chỉ có thần chú của ta mới có thể dẫn dắt các ngươi, đến tận quê nhà xa xôi."

Thần chú tiếp tục vang lên, khói hương lượn lờ, như từng linh hồn nhảy múa, bay lên cao, bay lên cao, lan tỏa đến từng tầng không gian. Quả nhiên, nén hương này đã triệu gọi đến một hồn ma của kẻ chết vì rượu. Y uốn éo thân mình, nhảy múa lắc lư, chân run rẩy, toàn thân bất an.

"Ngươi tên là gì?"
"Tabo." - Con ma rượu nói, không phải "taboo". Tên ma rượu này vẫn còn biết đùa, bởi vì "taboo" có nghĩa là cấm kỵ, cấm đoán, nếu vậy thì y không được uống rượu nữa.
"Ngươi ở khu mộ nào?"
"Qua đường 85, đi vào phía trước, hàng thứ bảy, vị trí thứ hai." - Tên ma rượu lại nói: "Grand Master có thể tìm thấy tên của tôi."

Vì vậy, tôi dùng thủ ấn của Mật pháp cứu độ trung ấm để siêu độ cho y. Tất nhiên tôi cũng lái xe đến đường 85, đó là một nghĩa trang nhỏ, lá rụng khắp nơi vì đang là mùa thu, chỉ cần một đêm gió thổi là lá rụng nhiều đến mức không thể nhặt hết, không thể quét sạch. Tôi dùng tay gạt đám lá trên ngôi mộ thứ hai ở hàng thứ bảy, trên bia rõ ràng ghi tên: "Tabo". Phía dưới là "1935-1979". Đây là một người khá trẻ, chỉ sống được hơn bốn mươi tuổi, mất vì uống quá nhiều rượu.

Mỗi khi tôi tụng kinh siêu độ, đôi khi tôi đốt hai nén hương, đôi khi đốt ba nén hương. Khi thắp nén hương thứ hai, tôi niệm chú, ý nghĩa như sau: "Om Ah Hum. Đây là âm thanh của vũ trụ, những ai nghe được tiếng tụng kinh Phạn ngữ này, hãy đến trước mặt ta, phải biết rằng mọi sự trên đời đều vô thường, hoa có nở có tàn, thời gian cứ thế luân hồi không ngừng, thiếu nữ xinh đẹp rồi cũng sẽ trở thành bà lão nhăn nheo, người sống ở kiếp này, kiếp sau đều hóa thành đầu lâu, chỉ có ngôn ngữ chính pháp của âm thanh vũ trụ của ta là tồn tại mãi mãi. Hãy lắng nghe cho kĩ, đây là ngôn ngữ chính pháp của ta, ta là Kim cương Thượng sư đã thực sự đắc đạo, ta dùng đại pháp siêu độ của ta, có thể khiến các ngươi được an nghỉ vĩnh hằng, đừng còn phiêu dạt giữa hai cõi âm dương nữa, hãy mau quay về! Hãy mau quay về!"

Lần triệu thỉnh này của tôi, một thiếu nữ tóc vàng xinh đẹp đã xuất hiện, đôi mắt xanh to như hai viên ngọc lam tỏa ra ánh sáng mê hoặc, tuổi xuân của cô tỏa ra hương thơm của mùa xuân, tươi mới, xinh đẹp và kiều diễm, ôi! Khiến mọi người đàn ông đều muốn ôm lấy thân hình ấy, eo cô mềm mại, làn da trắng như tuyết, mái tóc vàng như cánh đồng lúa mì đong đưa trong gió, tất cả mọi thứ đều khiến người ta mơ màng.
"Cô tên là gì?"
"Kitty." - Giọng thiếu nữ rất đỗi buồn bã.
"Vì sao mà qua đời?"

"Tôi đã từng có một cuộc tình rất đẹp, một người tình phong lưu đã từng ôm ấp thân thể mảnh mai của tôi, tuổi xuân của tôi đã khiến anh ấy say đắm. Tuy nhiên, người tình phong lưu ấy cũng để ý đến một thiếu nữ ở thị trấn bên cạnh, cô ấy cũng nổi tiếng với nhan sắc hiếm có của mình. Anh ấy rời bỏ tôi, thay lòng đổi dạ, say đắm người khác đến mức không thể tự thoát ra được. Vì thế tôi đau lòng tuyệt vọng, để thoát khỏi nỗi đau khổ ràng buộc của thế gian, tôi tìm đến một dòng suối có thể chôn vùi thân xác, bước vào chỗ sâu, và vĩnh viễn không quay về nữa. Dù người tình của tôi biết tình yêu tôi dành cho anh ấy sâu đậm đến thế nào, nhưng anh ấy chỉ xúc động nhất thời, vẫn cứ sống cuộc sống đôi lứa cùng cô ấy. Tôi là một linh hồn mãi mãi đau buồn."

Sau khi nghe câu chuyện chi tiết của linh hồn thiếu nữ này, trong lòng tôi không khỏi xót xa. Tôi bắt đầu tụng đại mật chú của pháp siêu độ trung ấm, tiếng niệm thì thầm của tôi hòa quyện với làn khói hương bay lên, rồi dùng ấn pháp chỉ của Đại thủ ấn, tôi tụng chú rằng:

"Hãy để ta dẫn dắt vượt qua vùng nước mênh mông vô tận, từ suối nối với sông, sông chảy ra hồ, hồ thông với biển, không bao giờ có lối thoát. Hãy để ta dùng Mật pháp của nước, giải thoát sự giam cầm của nước, thoát khỏi sự tĩnh lặng của thủy giới, vươn lên mặt đất, để linh hồn của ngươi có duyên với cát bụi đại địa. Xin hãy dùng âm thanh vũ trụ của ta cúng dường, dùng sức mạnh cảm thông tâm linh của ta, ta chỉ dẫn tiếp tục tiến bước, trở thành linh hồn vui vẻ và tôn quý, hãy đi đầu thai! Hãy đi đầu thai! Hành trình tương lai cũng là một quá trình rèn luyện lâu dài, sẽ mãi mãi đứng vững vàng."

Tôi nhìn thấy toàn thân linh hồn thiếu nữ Kitty đã khô ráo hơi nước.
Trên tay nàng xuất hiện một đóa hoa.
Nàng sẽ đi đầu thai với duyên phận với đất mẹ, trước khi đi đã gật đầu với tôi ba lần, đưa tay ra, muốn tôi hôn tay nàng, tôi vui vẻ làm theo.

Công việc siêu độ vẫn tiếp tục được thực hiện mỗi tháng một lần, việc hóa thực cũng được tiến hành hàng ngày. Phần lớn linh hồn người Mỹ đều đơn giản và thiếu hiểu biết, tôi phải giải thích nhiều lần họ mới có thể lĩnh hội được. Những linh hồn lang thang này, không lên được thiên đường, cũng không được đầu thai luân hồi! Tôi nhìn xuống họ, cố gắng hết sức để cứu độ họ, đây là một trong những công việc độ hóa của tôi.

Có người nói rằng, việc độ hóa như vậy quá ít và quá bận rộn, sao không tổ chức theo nhóm, dùng pháp hội để làm. Đúng vậy, chúng ta sẽ làm như thế, nhưng khi mọi việc chưa đi vào guồng, tôi vẫn tiếp tục thực hiện Mật pháp này từng ngày một, độ được người nào hay người đó, đây cũng là một cái duyên. Tất cả những linh hồn được triệu thỉnh đến, ngửi mùi hương mà đến, sẽ ngày càng nhiều thêm, rồi có ngày, dùng cả tàu hỏa chở cũng không hết, đây là một trong những nhiệm vụ siêu độ của tôi.


### 08. Kiểm soát cảm xúc rối loạn


Hành giả tu trì vốn là để lĩnh ngộ cõi mộng của cuộc đời, tìm về một tấm chân tâm nguyên sơ.

Đức Phật từng có một ví dụ rằng, có một người, trong y phục của mình vốn có buộc một viên ngọc như ý, viên ngọc này có pháp lực muốn gì được nấy, nhưng anh ta không nhận ra báu vật.

Người này rất nghèo khổ, suốt ngày phải đi xin ăn, quả thật là khốn cùng. Tuy nhiên, viên ngọc ấy vẫn luôn gắn với thân anh ta. Một ngày nọ, anh ta gặp được một người biết nhận ra báu vật và nhắc nhở anh, giải thích về diệu dụng của viên ngọc, có thể tùy tâm như ý, muốn gì được nấy, nhờ đó mà trở nên giàu có. Lúc ấy mới ngộ ra viên ngọc không phải từ bên ngoài mà có, tưởng là được nhưng thực chẳng được gì, vốn là thứ vẫn luôn có sẵn, chỉ là lúc mê muội không nhận ra mà thôi.

Ẩn dụ này như sau:
Chân tâm là viên ngọc quý.
Người nhận ra của báu là người truyền Phật pháp.
Cuộc đời là một cuộc truy đuổi hư vọng.

Phật Đà lại dạy: "Chân giác của bản tính vốn không phải là cảnh giới bị soi chiếu; do vốn sẵn có công dụng diệu minh, không rơi vào năng sở, nay vô cớ thêm cái sáng vào trên chân giác, liền chuyển diệu minh thành sự vô minh của năng minh, lấy chân giác làm sở minh vọng giác. Do vọng mà lấy thể tính của chân giác làm cảnh tướng được thấy, sinh ra vọng năng của năng kiến, thế là ở trong chỗ vốn không giống khác, chợt thấy vạn tượng bao la, các loại sai biệt, rõ ràng thành khác. Lại trong muôn nghìn sai biệt, theo loại mà lập thành giống, một khác một giống, hiển bày lẫn nhau, do đó lại lập nên cõi chúng sinh không giống không khác, mê loạn rối ren như vậy, nương nhau làm duyên, từ vọng cảnh dẫn phát vọng tâm, vọng tâm lại phân biệt vọng cảnh, xoay vần lo nghĩ, lo nghĩ đã lâu, tự sinh nhiễm đắm trần niệm, khiến tâm thủy đục ngầu, rối rắm không rõ, càng lún càng sâu."

Đoạn văn này hoàn toàn giải thích về nguyên nhân và hậu quả của vọng niệm rối ren không rõ, nói một cách đơn giản, hành giả tu trì nếu không thể thoát ly vọng niệm, chính là "nhập ma".

Hành giả tu trì trong quá trình tu tập từng bước, phải giữ một tâm thanh tịnh sáng suốt, dù thế nào cũng không được để vọng cảnh mê hoặc. Tôi biết không ít người có khởi đầu rất tốt, nhưng khi cảnh giới vừa xuất hiện, do thiếu sự chỉ dạy và rèn luyện của minh sư, liền đuổi theo cảnh giới, như người nằm mơ vậy, cảnh giới như mộng, người tu trì đuổi theo cảnh giới, chính là đuổi theo cảnh mộng, đó là bóng hoa trong gương, trăng dưới nước, hư vọng không thực, phát triển quá nhanh, sẽ không thể tự kiềm chế, không thể tự kiềm chế, chính là "nhập ma".

Nhiều người nói với tôi rằng có người do tu tập phương pháp tọa thiền Nhân Thị Tử ["Pháp Tĩnh Tọa Nhân Thị Tử" là một cuốn sách về tĩnh tọa do Tưởng Duy Kiều biên soạn và được xuất bản vào đầu thời Dân Quốc.] mà bị ma nhập.
Cũng có người kể rằng ở một ngôi chùa nọ, trong khóa tu Phật thất [một tập thể gồm nhiều người cùng tu tập niệm Phật trong thời gian 7 ngày tại tự viện], có người niệm Phật đến nỗi la hét như điên.
Thậm chí có cả tín đồ Thiên Chúa giáo, vì quá nhiệt tâm cầu nguyện, đã gặp phải ảo cảnh và bị ma nhập.
Tôi nói, đây là hiện tượng tất yếu phải có.

Có người dễ bị ma nhập, có người không, đây là điều định sẵn từ khi sinh ra, việc học tĩnh tọa, niệm Phật, cầu nguyện chỉ là ngòi nổ mà thôi. Tôi từng nói, theo lý thuyết bát tự, trong bát tự có kiểu "dễ thấy ma", đây là do nguyên thần bị quan sát công kích hoặc thực thần tiết thương, tứ trụ thiếu ấn thụ hoặc tỷ kiên kiếp tài mạnh mẽ để sinh thân, ngự địch. Bản thân sức lực yếu ớt, dương khí không vượng, hễ gặp xung phạm liền dễ nhìn thấy âm linh.

Theo cách nói thông thường thì đó là "bát tự thấp". Những người như vậy khi tu trì cần phải đặc biệt thận trọng, bởi họ dễ sinh ảo giác, rồi sau đó rơi vào mê hoặc, chấp mê không tỉnh, đó chính là "nhập ma".

Người tu trì càng tu phải càng sáng suốt, chứ không phải càng ngày càng "rối loạn cảm xúc". Việc càng ngày càng "rối loạn cảm xúc" tự nhiên là do thể xác và thể linh không thể hoàn toàn tự kiểm soát và phối hợp tốt với nhau, sự nóng vội của thể linh càng dễ khiến thể xác bất an. Về nguyên tắc mà nói, người tu trì trong trạng thái không ăn hoặc không ngủ rất dễ rơi vào cảnh giới ma mị.

Tôi thường xuyên kêu gọi như sau: Tất cả những người tu trì phải giữ cho đầu óc tỉnh táo sáng suốt, tự kiểm soát cảm xúc của mình, sinh hoạt đời sống phải bình thường, ăn uống điều độ, ngủ nghỉ đầy đủ, tuyệt đối không được nhịn ăn nhịn uống, thức đêm tu luyện một cách mù quáng. Bởi vì khi không tuân theo quy củ, trong tình trạng nguy hiểm và cảm xúc bất ổn, sẽ sinh ra sự bất an cực độ, dẫn đến nhập ma.

Tôi yêu cầu người tu trì phải duy trì cuộc sống bình thường, điểm này vô cùng vô cùng quan trọng.

Có một người bị nhập ma, sau khi được tôi chữa trị tỉnh lại, anh ta kể cho tôi tình hình như sau:

Trong một lần tu hành, linh hồn anh ta rời khỏi thể xác và bay đi, không chỉ có thể du ngoạn tự do mà còn muốn đến đâu là đến đó. Vì thế, anh ta đâm ra mê đắm cách bay lượn của linh thể này, mỗi lần ngồi thiền đều phải bay đi bay lại như vậy mới chịu thôi. (Đây là thần túc thông.)

Có một lần, anh ta bay đến một cõi thiên tiên, thấy một nhóm thiên nữ xinh đẹp đang múa, anh ta đem lòng say mê một trong số các thiên nữ đó, không nỡ quay về. Vẻ đẹp của vị thiên nữ ấy khiến anh ta - người đang tu tập thần túc thông - phải thần hồn điên đảo, mê muội không biết đường về. Anh ta đi theo thiên nữ, hưởng thụ tất cả trong thiên cung, hoàn toàn chìm đắm trong mê muội, không thể tự kiểm soát được bản thân.

Còn ở cõi người, cha mẹ anh ta thấy anh ta ngồi trong phòng tĩnh, thân nghiêng một bên, miệng lẩm bẩm nói toàn những lời tình cảm viển vông. Khi gọi dậy, anh ta nửa tỉnh nửa mê, không ăn không ngủ, chỉ la hét nhảy múa lung tung, trả lời không đúng trọng tâm, nói năng lộn xộn.
Mời bác sĩ đến tiêm thuốc uống thuốc, chỉ ngủ được một lúc, yên tĩnh một chốc rồi lại tiếp tục như cũ.
Hỏi thần linh, thần bảo là phạm âm, uống nước phù chú cũng không có tác dụng. (Được gọi là điên vì tình.)

Cứ như vậy, một gia đình vốn yên bình đã trở nên xáo trộn, cả nhà rơi vào một thế giới đáng sợ. Còn vị hành giả kia, đang chìm đắm trong ảo cảnh với tiên nữ, ngày đêm hưởng thụ không ngừng! Anh ta hoàn toàn không muốn quay về, vui quên cả lối về, mê chấp sâu nặng!

Cha mẹ theo đạo Phật, mời thầy xuất gia đến xem, nhưng chẳng thấy được căn nguyên, chỉ nói:
"Nhập ma rồi, tu hành nhập ma rồi, không cứu được nữa."

Vì là con một nên cha mẹ anh ta nghe vậy thì khóc lóc thảm thiết. Từ đó không còn muốn lễ Phật nữa, đem tất cả tượng Phật, lư hương, kinh sách, mõ, tràng hạt đốt sạch bằng một mồi lửa, tin Phật mà đến nông nỗi này thì tu hành làm gì nữa, thôi không tu nữa. Cuối cùng họ mời tôi đến, tôi dùng pháp hoàn hồn và hoàn hồn quyết mới rước được linh thể quý giá của anh ta trở về nhập vào thể xác, sau đó linh thể và thể xác dần dần thích ứng với nhau, rồi trở lại bình thường.

Từ hiện tượng này, ta có thể phân tích một số điểm như sau:
Thứ nhất, nhập ma đều có nguyên nhân của nó.
Thứ hai, không thể tự kiểm soát chính là nhập ma.
Thứ ba, tĩnh tọa, niệm Phật, cầu nguyện chỉ là ngòi nổ của việc nhập ma, nguyên nhân chủ yếu nhất là không thể tự kiểm soát. Do đó, tất cả những người tu trì phải giữ đầu óc tỉnh táo sáng suốt, có khả năng tự kiểm soát bản thân, đây mới là yếu tố hàng đầu để không bị nhập ma. Đồng thời phải duy trì cuộc sống bình thường, nhìn nhận mọi ảo cảnh như là ảo cảnh, không để bị mê hoặc.

Tôi đang ở Seattle, Hoa Kỳ, xin tuyên bố với chúng sinh thiên hạ như sau: "Các bậc tôn giả đại giác ngộ đều đã trải qua sự thử thách lớn của thiên ma. Muốn đi sâu vào thế giới thiền định viên thông, cần phải nỗ lực chuyên cần học cách tự kiểm soát. Phải biết đó là ma thì mới không bị ma mê hoặc. Người tu hành phải có khả năng nhận biết ma. Những ai quy y theo tôi, nhờ có Kim cang Hộ pháp gia hộ, tự nhiên có thể tránh được sự quấy nhiễu của thiên ma, không gặp ma sự. Hãy mau mau quy y Kim cương Thượng sư để cầu được chính pháp vô thượng!"


### 09. Bói toán và chiêm tinh


Trường Đại học Washington ở Seattle, bang Washington có hai vị giáo sư nổi tiếng, một vị là Giáo sư Chung Lộ Thăng, một vị là Giáo sư Đào Trúc Sinh. Giáo sư Chung từng là tổng biên tập "Tuyển tập văn học cổ kim" của báo Quốc Ngữ, với nền tảng Quốc học được mọi người ngưỡng mộ; Giáo sư Đào là một tài năng nghệ thuật, một bậc thầy hàng đầu về nhạc cụ. Hai người cùng đến nhà tôi để hỏi về tương lai.

Trên tờ giấy trắng, tôi viết một cách tự nhiên cho mỗi người một bài thơ, những bài thơ này đã mô tả hết mọi điều trong quá khứ, hiện tại và tương lai của họ. Ngoài việc há hốc mồm kinh ngạc, hai người đều thầm phục trong lòng. Kết quả của việc bói toán không được tiết lộ trong bài viết này, bởi vì liên quan đến quyền riêng tư cá nhân, đứng trên quan điểm đạo đức nghề nghiệp, không tiện viết ra. Tuy nhiên, chuyến viếng thăm của hai vị giáo sư có thể tóm gọn trong bốn chữ: "Tâm phục khẩu phục".

Người Mỹ tìm đến tôi, dĩ nhiên tôi không viết thơ Trung Quốc nữa. Tôi nói chuyện trực tiếp với người phương Tây, họ hỏi, tôi đáp. Những điều tôi nói khiến họ vô cùng kinh ngạc, reo hò ầm ĩ, phấn khích không thôi, bởi vì rất nhiều chuyện không thể nói ra với người ngoài, tôi đều có thể nói trúng phóc chỉ trong một câu. Ví dụ, tôi chưa từng đến nhà họ, nhưng tôi có thể mô tả chính xác diện mạo ngôi nhà, thậm chí còn nói đúng màu sắc của nó (nhà người Mỹ thường có nhiều màu). Tất nhiên họ tin lời tôi, vì có khi họ phải lái xe vài tiếng đồng hồ mới đến được chỗ tôi, nên không thể nào tôi đã từng đến nhà họ được. Điều còn kinh ngạc hơn nữa là tôi có thể biết họ đã làm gì đêm qua, khiến một số người Mỹ tin đến mức không thể hoài nghi. Còn về cuộc đời của họ, tôi cũng kể ra từng chi tiết, họ chỉ biết tròn mắt, dang hai tay và thốt lên: "Trời ơi, chính xác quá!"

Tôi không chỉ xem cho họ về hiện tại, mà còn có thể đoán biết về ông nội của họ, thậm chí còn đoán được ông nội họ đã cưới bao nhiêu vợ. Nếu người phương Tây không tin đến mức chết đi sống lại thì tôi cũng không tin, nhưng tôi có sự tự tin đó. Hiện nay những đệ tử người Mỹ của tôi, sau khi được tôi đoán quá chính xác, họ đều thật sự chân thành theo tôi làm học trò, gặp tôi là lập tức năm vóc sát đất làm lễ.

Tôi thấy rằng để hoằng dương Phật pháp ở phương Tây, không thể bắt đầu bằng "thuyết giảng" hay "kêu gọi ầm ĩ". Người phương Tây rất thực tế, bạn phải có một phương pháp mà họ có thể nhìn thấy được, và họ cần phải "thực sự tin tưởng" thì mới có cách. Họ phải thấy được năng lực của bạn, biết rằng bạn thực sự có khả năng, thì mới chịu tin phục, nghĩa là cần phải có "bằng chứng". Giống như một số pháp sư đến Mỹ, chỉ độ được những người Trung Quốc vốn đã ở đây, người phương Tây không thấy được "thần thông" của pháp sư, họ sẽ chẳng có lý do gì để tin vào Phật pháp cả.

Có ông Hào Thi, mới gặp tôi lần đầu, đã muốn quy y theo tôi.
Tôi nói: "Ông từ từ hẵng quy y."
"Tại sao vậy?" Ông ấy không hiểu vì sao tôi không nhận ông.
"Bởi vì qua việc chiêm đoán, tôi biết ông sắp quy y theo một vị thầy yoga đến từ Ấn Độ. Ông có duyên với vị ấy trước, sau đó mới có duyên với tôi. Duyên của chúng ta ở phía sau, nên tôi chưa nhận ông quy y. Đợi khi ông rời khỏi vị thầy yoga đó rồi hãy đến quy y với tôi, lúc đó tôi sẽ truyền pháp cho ông."
"Tôi sẽ gặp một vị thầy yoga sao?" - Hào Thi ngạc nhiên hỏi.
"Đúng vậy."

Khoảng hai tháng sau, Hào Thi lại đến tìm tôi và nói rằng những gì tôi đoán đều đã thành sự thật, bây giờ ông ấy đang theo học một vị sư phụ yoga người Ấn Độ, ông ấy rất vui mừng vì lời tiên đoán của tôi đã ứng nghiệm. Đồng thời tôi cũng biết rằng, một ngày nào đó khi Hào Thi rời khỏi vị sư phụ yoga đó, duyên thầy trò giữa chúng tôi mới thực sự bắt đầu, vì vậy ngay từ đầu tôi không muốn nhận ông ấy làm học trò ngay, bởi vì đó là do duyên phận vậy!

Thực ra mà nói, hiện nay tôi không chỉ có khả năng của "con mắt thứ ba", mà còn có khả năng biết trước thấy trước, đây là "năng lực siêu phàm" tự nhiên phát sinh từ việc tu trì Phật pháp của tôi. Khi còn ở trong nước, tôi đã nổi tiếng nhờ khả năng này, mỗi ngày phục vụ cho hai trăm người. Dĩ nhiên, lúc đó tôi cũng phải chịu đựng nhiều lời phỉ báng vô tình và tàn nhẫn từ mọi phía, phải chịu đựng đủ loại lời ác và sự bức hại. Tuy nhiên, khả năng này, trong nước như thế nào thì ở nước ngoài cũng vậy, trong quá trình tu trì của tôi, hiện tại còn tăng thêm nhiều năng lực không thể nghĩ bàn như vậy, mạnh hơn lúc ở trong nước gấp ba lần, năng lực hiện giờ không thể nào so sánh được với trước kia, đã đạt đến cảnh giới mà "Thiên nhãn, Túc mệnh, Thần túc, Tha tâm, Thiên nhĩ, Lậu tận" gần như đều bao gồm đủ cả, thông được một pháp thì thông được trăm pháp, đắc được một pháp thì đắc được trăm pháp.

Thành thật mà nói, về "bói toán và chiêm tinh", tôi chưa từng học qua. Đối với Tử Vi Đẩu Số, Hoàng Cực Số, tôi chỉ biết sơ lược, còn về xem tướng tay, xem tướng mặt, xem xương, Bát Quái, xem trọng lượng, thần số, tử vi và những thứ tương tự, tôi cũng chỉ biết một chút đại khái mà thôi.

Thật ra năng lực thực sự của tôi nằm ở việc tôi tu học Phật pháp, có thể sai khiến quỷ thần, rất nhiều thông tin đều do quỷ thần báo cho tôi biết. Tôi tự nhận phương pháp của mình là "thuật thông linh", phương pháp này không chỉ có thể biết được vận mệnh của trời đất vũ trụ, vận mệnh tương lai của nhân loại, mà còn có thể tính toán và biết được những điều nhỏ nhặt như nhân quả đời trước. Đây chính là Túc mệnh thông trong lục thông, có thể biết được năm trăm kiếp về trước và năm trăm kiếp về sau. Tất nhiên, những người chưa từng gần gũi tôi hoặc không hiểu về tôi sẽ không thể nào tin rằng trên đời có năng lực như vậy, và sẽ đưa ra những lời phỉ báng. Tuy nhiên, tôi cũng hiểu rằng, sự phỉ báng cũng là hiện tượng bình thường, bởi vì phần lớn người đời vốn là kẻ vô minh, còn người như tôi chỉ là thiểu số trong thiểu số.

Phật Thích Ca Mâu Ni khi còn tại thế từng dạy: "Chiêm tinh, bói toán, đoán mệnh, tiên tri, tất cả đều là những dị tướng của ngoại đạo tu hành, người học Phật chân chính nên tránh xa."

Câu nói này cho thấy sự ngăn cấm của Đức Phật đối với việc chiêm tinh bói toán và đoán mệnh tiên tri. Theo như tôi được biết, Phật Đà có hai ý nghĩa về vấn đề này.

Thứ nhất, Thế Tôn không muốn mọi người mê đắm vào chiêm tinh bói toán và đoán mệnh tiên tri, bởi vì khi đã mê muội những điều này, công phu tu tập Phật pháp sẽ bị lệch hướng.

Thứ hai, chiêm tinh bói toán, đoán mệnh tiên tri là những phương diện bên ngoài của Phật pháp, có thể không liên quan gì đến Phật pháp, nên về căn bản đều nằm trong danh sách bị cấm. Ngay cả khi học Phật xong, đắc được lục đại thần thông cũng bị cấm tuyên dương, huống chi là chiêm tinh bói toán, đoán mệnh tiên tri, những thứ như vậy.

Tuy nhiên, sau khi học được chính đạo Phật pháp và đắc chứng, thần thông tự nhiên sẽ lộ ra, và những gì tự nhiên hiển lộ này không thể ngăn cấm được. Vì vậy, Phật Thích Ca Mâu Ni cũng từng dạy rằng: "Sự hiển lộ tự nhiên của thần thông Phật pháp, tất cả đều do duyên phận mà có. Nếu có thể độ hóa chúng sinh hoặc giảm bớt nỗi khổ của chúng sinh thì có thể sử dụng, nhưng không được mưu cầu lợi ích cho bản thân, không được dùng vào mục đích chính trị, không được phô trương kỳ dị mê hoặc và hại chúng sinh. Thần thông có thể cứu độ người, nhưng cũng dễ khiến người mê muội."

Tôi cho rằng, bói toán và chiêm tinh đều là những môn học lớn, đặc biệt là thiên văn học càng là kiến thức không thể xem thường trong đời sống con người. Bói toán và xem tướng số không chỉ là môn học về quy nạp mà còn là môn học về các ký hiệu. Những môn học này vốn có chiều sâu học thuật, nếu nghiên cứu sâu thì sẽ thấy khó lường được, thậm chí có thể suy luận về nhân quả đời trước, để làm bằng chứng cho Phật pháp. Còn "thuật thông linh" lại càng là thứ vô hình, đây là một tầng học thuật sâu hơn những môn học bề mặt, là cảnh giới cao hơn, thuộc loại thần thông vô hình. Theo cách nói của thế tục thì đó là "quỷ thần mách bảo", phương pháp này người phương Tây khó có thể tin được.

Ngày nay, tôi đang ở phương Tây, người phương Tây đến quy y với tôi, tôi phải cho họ thấy bằng chứng. Nếu không cho họ thấy bằng chứng, họ sẽ hoàn toàn không tin Phật pháp. Để dẫn dắt họ tin Phật, phương pháp duy nhất là trực tiếp dùng Tha tâm thông để khiến họ tin phục, từ đó dần dần hướng dẫn họ đi vào con đường chân chính.

Việc tôi dùng bói toán và chiêm tinh chỉ là công cụ để hoằng dương Phật pháp.
Nơi nương tựa thật sự vẫn là Phật.
Bởi vì trên thế giới này, người có thể lĩnh ngộ được như vậy, tôi đã là thiểu số trong thiểu số, chính là một trong những người có thể hoàn toàn chính biến tri và giác ngộ.


### 10. Bước đầu tiên của pháp Than thi


Từng có một người diễn giảng pháp yoga Than thi của ông ta. Ông ta nói dùng pháp Than thi có thể đi xuyên qua ba lớp tường. Tuy ông ta giảng pháp Than thi, nhưng lại chưa nói ra cách làm pháp thật sự của pháp Than thi. Nhưng mà linh khí của ông ấy xuyên qua ba lớp tường thì cũng đã đủ khiến cho một số phàm phu ngưỡng mộ mà không hề biết vì sao lại như vậy.

Thật ra, nguyên lý của pháp Than thi là như sau:

Sơ tĩnh — Than thi tức là "giả chết". Tư thế của nó là hai tay duỗi, hai chân duỗi, nằm ngửa nhìn trời, tay chân đều hơi cong một chút, tức là tứ chi tay chân hơi cong. Miệng hơi mở ra, giống như là trạng thái chết nhưng chưa có người xử lý. Tư thế này trong thuật yoga gọi là "thi thể bày ra". Mục đích của than thi chính là yêu cầu bất động. Tôi từng nói, nếu con người từ sáng đến tối làm việc không nghỉ, nhục thể và linh thể đều bận bịu không ngừng, loại người này không có cách nào tập trung sức mạnh tinh thần được, trên phương diện của linh sẽ không có cách nào thành tựu được. Chỉ có ở trong trạng thái bất động mới có thể nhận thức được sự trưởng thành của linh. Cho nên than thi chính là đạt đến một trạng thái và khả năng của sơ tĩnh.

Tự tại — Nhờ thân tâm thả lỏng của pháp Than thi mà bước vào bên trong cảnh giới không nghĩ gì cả. Tuy nhiên, cảnh giới không nghĩ gì cả này chính là cảnh giới tự tại rất khó đạt đến. Cảnh giới này đâu chỉ là ba bức tường ngăn, cho dù cả thế giới vũ trụ thì trong một giây cũng có thể đến được. Cần biết rằng từ sơ tĩnh đến tự tại là sự buông lỏng hoàn toàn của nhục thể, linh lực thay thế cho tất cả sức mạnh khác. Hoạt động của linh lực đâu chỉ dừng lại ở ba bức tường mà thôi. Cảnh giới cao nhất của pháp Than thi là thân ta chính là vũ trụ, vũ trụ chính là thân ta.

Tôi cảm thấy con người trên thế giới này, rất nhiều người đều rất đáng thương và vô tri, họ chỉ biết đến xã hội vật chất mà không biết đến thế giới tinh thần, cho dù người này rất giàu có, mặc âu phục vào thì giống như một con người kiểu mẫu, giống như một thân sĩ tôn quý, còn phu nhân của họ thì cũng có cách ăn mặc với phục sức hạng nhất, bề ngoài nhìn vào thì rất rạng ngời và quyến rũ. Nhưng trong con mắt của tôi, tôi nhìn thấy thế giới tinh thần của họ chỉ là quả trứng tròn. Tôi nhìn thẳng vào bên trong những bộ quần áo đẹp bóng bẩy đó là một khối thịt thối bốc mùi khiến người ta buồn nôn. Thật ra trong con mắt của tôi, họ là đám người đáng thương nhất tội nghiệp nhất.

Ở Seattle, có một phu nhân họ Lý, có thể xem là một người khá giàu có trong số những người Trung Quốc, lái một chiếc xe vừa to vừa sang trọng, mặc quần áo sang và đắt tiền nhất. Bà ấy cũng kinh doanh công xưởng, trong mọi bữa tiệc, bà ấy rất được quan tâm, luôn luôn nhìn người khác ở dưới mũi của mình. Rất hiển nhiên, bà ấy cũng nghe đến tên tuổi của tôi được lan truyền ở đây, thế là bà ấy tìm cơ hội đến gặp tôi, tuy nhiên tôi cố ý cho bà ấy vấp phải sự khước từ. Tôi lấy cớ là bận việc, liên tiếp từ chối ba lần. Tôi muốn cho những kẻ "gối thêu hoa" vật chất và trần tục này nhận thức về sự tôn quý của thế giới tinh thần. [Gối thêu hoa là từ lóng, để chỉ người chỉ có vẻ bề ngoài mà không có học thức tài năng.] Làm nhụt cái thói cậy có tiền mà ngạo mạn của bà ấy, sau đó tôi mới bằng lòng dạy Phật pháp cho bà ấy. (Ở bất kì ngóc ngách nào của thế giới đều có những nhân vật trần tục như vậy.)

Hôm nay tôi có một cảm ngộ đặc biệt, người học Phật pháp không chỉ hiểu Phật lý, cũng phải đi thực hiện Phật lý đó. Và mỗi người nhập Phật môn chân chính phải tự mình nỗ lực thực hiện, cố gắng tiến bộ. Và Phật pháp cơ bản nhất chính là cầu đắc môn tịnh tu, như vậy mới có thể đạt được đại tự tại chân chính. Những phương pháp này phàm phu thế tục không hiểu, thân sĩ và thục nữ lại càng không hiểu, giai cấp người có tiền sống trong hư giả càng không thể hiểu được.

Bước thứ nhất của pháp Than thi là như sau:

Tưởng tượng chính mình đã chết rồi. 
Trước tiên bắt đầu từ hít thở, hít thở chậm và yếu, cho đến khi không nghe được âm thanh của hơi thở nữa thì mới thôi.
Chân hoàn toàn mất đi tính đàn hồi, không có chỗ nào dùng sức, hai chân mất đi tác dụng.
Hai tay mềm và lỏng ra, mọi sức lực đều tiêu biến, cơ thịt của chân tay đều đã lỏng ra rồi, không còn một chút căng nào. Tay không có lực, chân không có lực, cơ thịt đều không còn tác động gì, giống như những vòng thép quấn xung quanh cái thùng gỗ đã bị đứt rồi, từng mảnh gỗ nhỏ của cái thùng gỗ đều rời rạc ra.

Sau đó, các bộ phận bên trong thân thể là dạ dày, thận, bàng quang, phổi, tim, gan, v.v… đều không cần có công dụng hoặc tác dụng gì nữa, toàn bộ đều biến thành trạng thái dừng hẳn. Cổ cũng không được tùy ý xoay chuyển, cứ để nó gục xuống một cách tự nhiên. Mắt cũng nhắm tự nhiên, tất cả ánh sáng đều ở bên ngoài mí mắt. Tai cũng bịt lại, tất cả âm thanh trong vũ trụ cũng không nghe thấy một tí gì, không nhìn thấy. Cơ miệng cũng phải thả lỏng, biểu hiện của bộ mặt có thể dùng một chữ để đại diện, đó chính là "chết". Toàn bộ tâm trí tiến nhập vào trạng thái chân không.

Cách làm pháp Than thi, về mặt vật lý thì khá dễ dàng, nhưng về mặt tâm lý thì tương đối khó khăn. Nói cách khác là, về biểu hiện bên ngoài thì ai ai cũng có thể làm được rất giống, nhưng than thi về mặt tâm lý thì lại không dễ dàng. Những quý ông quý bà bình thường ngày ngày đều soi tiền, có thể dừng dứt những dục vọng của họ thì chẳng thể nào nhanh được, đây cũng là đạo lý dễ hiểu. Nhìn chung, tâm của người văn minh, mỗi ngày đều có thói quen khẩn trương bận rộn, muốn chế ngự ma chướng của tâm này không hề dễ dàng.

Chúng ta có thể học tập những con rùa trong ao phóng sinh, những con rùa đó cứ nằm im trốn trong một xó của cái ao, dường như là chúng nằm im không hề động đậy, im lặng giữ khí như trạng thái chết, đây chính là pháp Than thi của đạo trường sinh. Ta lại xem hình dáng của con hạc, nó đứng một chân trong rừng rậm, cái tướng bất động này, nó có thể đứng im rất lâu rất lâu, đây cũng chính là đạo im lặng giữ khí. Ta lại nhìn con mèo, thân thể nó cuộn tròn lại với bộ dạng uể oải, hai mắt lim dim nằm dưới nắng, cái bộ dạng tất cả thân tâm đều thả lỏng, chính là bề ngoài của pháp Than thi.

Phải nhớ, tâm lý không được căng thẳng lo lắng, gạt bỏ hết những suy nghĩ và chuyện thế tục, biến thành trạng thái tất cả đều lờ đờ uể oải. Có một số người không cách nào không nghĩ, vậy thì chỉ còn cách là nghĩ đến hình chữ của tâm chú của Phật Bồ Tát, nghĩ đến những chữ Phạn phóng ra ánh sáng, ánh sáng lam màu xanh lam, ánh sáng đỏ màu đỏ, ánh sáng trắng màu trắng, các loại ánh sáng, cực kì sáng, cho dù là như vậy thì cũng là rất có sức mạnh rồi. Sau cùng, tốt nhất là khiến tất cả ánh sáng này hoàn toàn biến mất không thấy nữa, như vậy mới có thể thật sự hưởng thụ được trạng thái thân tâm hoàn toàn thả lỏng và đạt đến đại khoái lạc chưa từng có.

Cần biết dùng pháp Than thi mới xuyên qua được ba lớp tường, công phu này có thể xem là dở tệ. Tác giả từng vận dụng pháp Than thi để vào âm gian địa ngục. Cần biết rằng pháp Than thi là bước thứ nhất của thiền định tâm, công phu đến mức sâu rồi thì nội tâm và ngoại cảnh có thể hợp nhất, căn bản chính là một hiện tượng tan vào hư không, quên luôn bản thân mình, tứ chi giống như cỏ cây vậy, lửa có thiêu hay dao có chém thì căn bản là chẳng có cảm giác gì. Ánh sáng chiếu vào bên trong, trong thân trong suốt óng ánh, tự nhiên không còn chuyển động gì. Lúc này chỉ có hồn, phách, linh, niệm, tinh thần, nếu những thứ này có thể tập trung vào một chỗ thì tự nhiên trong ánh sáng hư không mười phương rộng mở, tất cả trở thành vô ngại, muốn vào địa ngục Hữu gián, địa ngục Vô gián, địa ngục A tì đều chẳng khó khăn gì, đến đi tự do.

Tôi từ địa ngục Vô gián đi đến địa ngục A tì, gặp một Quỷ Vương. 
"Dựa vào gì mà tới?" - Quỷ Vương hỏi.
"Dựa vào nguyện lực." - Tôi đáp.
"Dựa vào pháp gì?"
"Pháp Than thi mà tới đây." - Tôi đáp.
"Pháp Than thi chỉ là pháp thả lỏng thân tâm, có khả năng gì mà đến được đây chứ?" - Quỷ Vương không tin.
"Tôi có tâm không sinh không diệt, là chân tâm diệu giác bản minh, tuy là pháp Than thi, thế nhưng đã chứng đắc quả Tu Đà Hoàn, đã đoạn trừ tất cả nội trong tam giới, cho nên cũng có thể đến nơi này." - Tôi nói.
"Ngươi tên gì?"
"Liên Sinh." - Tôi đáp.
"Ồ! Ngài là Liên Sinh, thì ra là người phụng trì Địa Tạng Vương Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn đà-la-ni, tay cầm diệu liên hoa màu trắng, là hành giả kim cang vương bảo giác, bậc tôn giả đội hồng quán thánh miện hạ sinh, vậy thì tự nhiên có thể đến, đúng là tự nhiên có thể đến." - Quỷ Vương trở nên hết sức vui vẻ và mừng rỡ.

Tôi có ý nguyện vào địa ngục, là vì vào địa ngục độ chúng sinh cõi u minh chứ không phải bị bắt vào địa ngục. Người bị bắt vào địa ngục không phải là hành giả, mà là chúng sinh điên đảo không thanh tịnh.


### 11. Chỉ dẫn của tượng thánh


Buổi sáng ở Seattle, ánh nắng vàng rực rỡ chiếu xuyên qua cửa chính, và vào lúc hoàng hôn, nó lại rọi qua những cành cây anh đào vào căn bếp nhà tôi. Dù là sáng hay chiều, trong khu dân cư yên tĩnh trên đồi này, chẳng thấy bóng người, không nghe một tiếng động, không có tiếng rao bán ồn ào của chợ sớm, không có tiếng nước suối róc rách, chỉ thỉnh thoảng vọng lại một hai tiếng chim hót, đó là âm điệu tự nhiên từ những cây to nơi đồng hoang.

Không khí vô cùng trong lành, có thể tưởng tượng được, không có ruồi, không có muỗi, không có gián, không có chuột, trên thảm cỏ xanh không có kiến, một môi trường như thế, còn gì để nói nữa.

Mỗi ngày vào sáng sớm và hoàng hôn, tôi cung kính thắp hương trầm trước bàn thờ trong phòng khách, thành kính làm công khóa sáng và tối của mình. Chính giữa mật đàn của tôi thờ giáo chủ cõi Tây phương Cực Lạc A Di Đà Phật, bên phải thờ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát, bên trái thờ giáo chủ cõi u minh Địa Tạng Vương Bồ Tát. Tôi dùng tượng Tây phương Tam Thánh để trang nghiêm đàn tràng của mình, mật đàn được trang hoàng bằng vòng hoa sen nhiều màu tạo thành hình tròn, như những chữ Phạn tỏa ra ánh sáng nhiều màu, hai bên đều có pháp khí Kim cang Hộ pháp, chính giữa đàn đặt chuông kim cang, chày kim cang, kinh chú Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm để trấn giữ đàn này, trong đàn có nhiều người cầu bình an, dùng giấy trắng ghi thông tin của họ, đặt yên trong đàn.

Mỗi ngày, công khóa của tôi đại khái như sau:

Thứ nhất, tôi trì niệm chú triệu thỉnh "Ôm pê-cha sa-ma-ya cha", niệm vô số biến cho đến khi thấy chư Phật Bồ Tát hiện đến mới thôi.

Thứ hai, tôi làm đại lễ bái. Một lạy mười phương ba đời tất cả chư Phật (dùng ấn lạy Phật), hai lạy tất cả chư Bồ Tát Ma Ha Tát (dùng ấn hoa sen nở), ba lạy chư vị Hộ pháp Kim cang thần chúng (dùng ấn chắp tay kim cang), bốn lạy (dùng ấn bình đẳng) một cúi đầu, lễ kính mười phương tất cả thánh thần tiên Phật các thánh linh.

Thứ ba, tôi trì tụng chú tứ quy y: "Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê." Tụng ba lần và lễ ba lạy.

Thứ tư, tôi quán tưởng đại cúng dường. Cúng dường trà, hương, đèn, hoa, quả và các phẩm vật khác.

Thứ năm, tôi tụng Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh hai biến, tùy theo điều cầu nguyện mà có lúc tụng thêm các kinh chú khác.

Thứ sáu, tôi quán tưởng thánh tượng A Di Đà Phật, thấy trên đỉnh đầu của A Di Đà Phật có ánh sáng trắng chiếu xuống tôi, nơi cổ họng có ánh sáng đỏ chiếu xuống tôi, nơi tim có ánh sáng xanh lam chiếu xuống tôi, tôi đi vào trong tâm của A Di Đà Phật, ngồi trên tòa sen, rồi niệm tâm chú A Di Đà Phật: "Ôm a-mi-tê-wa sê" 108 biến.

Thứ bảy, tôi thấy Quan Thế Âm Bồ Tát ngồi trên tòa sen an trụ ngay trước mặt tôi, từ trong bình báu phóng ra một đường hào quang trắng như thủy ngân, hào quang này theo một đường cong, từ đỉnh đầu tôi rót thẳng vào khắp thân thể, khiến tất cả nghiệp chướng đời quá khứ của tôi đều chuyển thành khí đen, thoát ra ngoài qua các lỗ chân lông, tan biến vào trong không khí, toàn thân tôi trở nên thuần trắng. Tôi liền niệm tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát: "Ôm ma-ni pê-mi hum" tổng cộng 108 biến.

Thứ tám, tôi thấy Địa Tạng Vương Bồ Tát ngồi trên tòa sen, một tay cầm tích trượng, một tay cầm viên minh châu, đầu đội mũ Ngũ Phật, kim thân hóa thành một điểm ánh sáng, từ đỉnh đầu tôi đi vào tâm tôi, ngồi trên tòa sen trong tim tôi, thân Địa Tạng Vương Bồ Tát dần dần lớn lên, cho đến khi bằng với thân tôi thì dừng lại. Lúc này tôi kết ấn tay Địa Tạng Vương, miệng tụng Địa Tạng Vương Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn": "Ôm pẩn-la-mô lin-thô-lin sô-ha." tổng cộng 108 biến.

Thứ chín, nhập định, tĩnh tọa.

Thứ mười, sau khi xuất định, liền làm hồi hướng: "Nguyện người cùng niệm Phật, cùng sinh cõi Cực Lạc, trên báo bốn ơn sâu, dưới cứu ba đường khổ, thấy Phật thoát sinh tử, như Phật độ tất cả." Cầu chúc Liên Sinh và các đệ tử thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành, giúp cho mọi việc Liên Sinh hỏi đều linh nghiệm, mọi việc làm đều có cảm ứng. Con và chúng sinh trong pháp giới, cùng quy y Thượng sư Phật pháp tăng, vì độ sinh phát tâm từ bi hỷ xả, nguyện thân khẩu ý như Bổn tôn thành tựu.

Thứ mười một, hóa thực cho đại bàng Kim Sí Điểu, chúng quỷ thần hoang dã, La Sát Quỷ Tử Mẫu và các vị khác.

Thứ mười hai, lại làm đại lễ bái. Ba lạy một cúi đầu. Xuất đàn.

Mỗi ngày sáng tối tôi đều làm công khóa như vậy, đây là công khóa do chính tôi sắp xếp, khác với công khóa sáng tối thông thường của Hiển giáo, cũng có đôi chút khác biệt so với pháp tu trì công khóa sáng tối thông thường của Mật tông. Tuy nhiên, mỗi ngày sau khi hoàn thành công khóa sáng tối như vậy, không phải là đối phó hay hình thức, mà thật sự đạt đến trạng thái thân tâm đều định. Mỗi lần nhập định đều có thể đạt được tam muội đại định, bất cứ việc gì sắp xảy ra với tôi trong tương lai, đều có phúc thần đến báo cho tôi biết, ba mươi sáu vị phúc thần luôn luôn bảo hộ, chư vị Hộ pháp Kim cang tràn ngập khắp hư không, tôi đã đạt được Đại thủ ấn và Đại viên mãn.

Tôi xin thành thật nói rằng, trong thời gian ở Seattle, Hoa Kỳ, linh quang của Tổ sư đời thứ nhất của Hồng giáo Mật tông Tạng mật - Đại Sĩ Liên Hoa Sinh đã luôn từ bi chỉ dạy tôi, và công khóa sáng tối của tôi chính là pháp tu được sắp xếp dưới sự hướng dẫn của Ngài.
Tôi hỏi: "Đại Sĩ đến như thế nào?"
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ dạy: "Ta không đến đi, chỉ cần người nào tin ta, ta liền hiện trước người đó để thuyết pháp."

Một số diệu pháp Mật tông của tôi chính là do Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền cho, và dĩ nhiên, tôi cũng đã được Ngài quán đảnh.

Dĩ nhiên, ngoài công khóa hàng ngày, tôi còn tọa thiền tại Linh Tiên Các và tu tập các pháp khác, ví dụ như: pháp Chuẩn Đề Phật Mẫu, pháp Đạt Ma Tổ Sư, pháp Bạch Tản Cái Phật Mẫu, pháp Ngũ Phật gia trì, pháp Văn Thù, pháp Tứ Thủ Bát Thủ Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm, pháp Phổ Hiền, pháp cưỡi hoa sen, pháp Tịnh độ, pháp Hoàng Hắc Bạch Tài Thần, pháp đại bảo lâu các Tam Phật, pháp Kim Cang Tâm, pháp Bạch Độ Mẫu, pháp Lục Độ Mẫu, pháp Đại Phật Đảnh, pháp Dược Sư, pháp Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, pháp năm trăm La Hán, pháp Liên Hoa Đồng Tử, pháp Tứ gia hành, pháp Trường Thọ Phật, pháp Ngũ Kim Cang, pháp 21 Độ Mẫu, pháp ba Bổn tôn, pháp Tứ Thiên Vương, pháp Trà Cát Ni, pháp Đại Hắc Thiên... v.v.

Trong mỗi lần tu pháp, những cảnh giới kỳ diệu của tôi càng ngày càng nhiều, càng ngày càng cao và càng thêm tự tin. Công khóa hàng ngày đã đưa tôi vào một cõi giới không thể nghĩ bàn. Tôi tin rằng nếu không có căn cơ to lớn bẩm sinh hoặc đã trải qua nhiều thử thách lớn, không có kiến thức hay trí huệ phong phú thì không thể bước vào cảnh giới này. Ví dụ như tôi đã tận mắt thấy được hình ảnh Phật A Di Đà, thấy được ba đường hào quang, thấy được hình tướng Bồ Tát Quan Thế Âm, thấy được ánh sáng trắng như thủy ngân hóa ra từ tịnh bình, thấy được đại quang minh của Bổn tôn Địa Tạng Vương Bồ Tát đi vào tâm tôi. Tôi tiếp nhận sự khai thị và chỉ dẫn, rồi dùng pháp của mình để thực hành trên mặt đất. Tuy thân tôi an tĩnh ở Seattle, nhưng còn việc gì mà không thể biết? Tôi đã có thể tự chủ, làm chủ sinh tử, đã đạt được giải thoát, chân thân bất tử, sinh mệnh vô tận. Tôi muốn làm chứng thực sự cho sự thật của Phật pháp.

Lúc bình minh, tôi thắp hương làm công khóa. Buổi tối, tôi cũng thắp hương làm công khóa. Từng ngày từng ngày trôi qua, từng ngày từng ngày trôi qua, có lẽ rồi cũng sẽ từng năm từng năm trôi qua. Tại Linh Tiên Các, tôi có thể nhìn thấy nhiều mái nhà của người phương Tây, nhìn thấy những ngọn núi hùng vĩ, phóng tầm mắt xuống con đường dài, trong khoảnh khắc tĩnh lặng, tôi cũng nghĩ đến chúng sinh ở nơi xa xôi, học trò của tôi hiện đang tản mác khắp nơi, có mặt ở mọi nơi trên thế giới, nếu họ có thể hiểu được, nhất định phải học cách đi đến đích đến của sự thành Phật, ngoài việc tu dưỡng tâm linh, mỗi người đều nương theo pháp Bổn tôn mà tu học, ngày qua ngày, năm qua năm, tự nhiên sự chứng đắc sẽ trong tầm tay.

Số mệnh gian khó, vất vả mới chính là đá thử vàng của bản thân.
Số mệnh hưởng phúc, vui sướng thì không thể kiên tâm hướng về Phật.

Tôi viết kệ rằng:
*Cầu nguyện chư Phật gia trì lực,
Đệ tử kiên tâm học tọa liên;
Quán xét phúc phận đều phế vật,
Hạt giống nở hoa đầy giác viên.*

Bài kệ này, khuyến khích các đệ tử.


### 12. Học tập lại học tập


Rất lâu rất lâu về trước, Phật Thích Ca Mâu Ni và tôn giả A Nan đối đáp tại tinh xá Kỳ Đà Lâm, Phật Thích Ca Mâu Ni từ nhục kế trên đỉnh đầu phóng ra ánh sáng bách bảo vô úy, trong ánh sáng hiện ra nghìn cánh sen, trong mỗi đóa sen đều có Hóa Phật ngồi, tuyên thuyết thần chú tối thượng vô thượng. Thần chú này là vua của tam muội.

Phật Thích Ca Mâu Ni hỏi A Nan tại tinh xá Kỳ Đà Lâm.
"Tâm ở chỗ nào?"
"Tâm ở trong thân." - A Nan đáp.
"Không đúng."

"Tâm ở chỗ nào?" - Phật Thích Ca Mâu Ni lại hỏi.
"Tâm ở ngoài thân."
"Cũng không đúng."

Tâm ở chỗ nào?" - Phật Thích Ca Mâu Ni hỏi lần thứ ba.
"Không ở trong, không ở ngoài, vậy thì ở giữa trong và ngoài."
"Càng không đúng."

"Tâm ở chỗ nào?" - Phật Thích Ca Mâu Ni lại hỏi.
"Tâm ở trong tự nhiên." - A Nan lần này tưởng rằng mình đã trả lời đúng.
Nào ngờ, "Vẫn sai."

Cuối cùng, Phật Thích Ca Mâu Ni mới dạy: "Tâm ở trong là nhục tâm, tâm ở ngoài là không tâm, tâm ở giữa là vọng tâm, tâm ở tự nhiên là vô tâm. Tất cả những tâm này đều là hư vọng không thật, là tâm do nhân duyên hòa hợp mà sinh, khi nhân duyên phân tán thì không còn. Còn chân tâm vốn có chính là diệu giác minh thể của mười phương chư Phật, vốn đều ở trong Như Lai tạng, tịch nhiên thường chiếu, không sinh không diệt, không đến không đi. Tu hành thành Phật không phải là đuổi theo vọng tâm, mà là hiển lộ chân tâm vi diệu của Như Lai. Vốn dĩ diệu giác minh thể của mười phương chư Phật mới chính là tâm chân như."

Từ cuộc đối đáp giữa Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và tôn giả A Nan, tôi cảm nhận được hương vị triết học rất đậm đà trong cuộc đối thoại này, không chỉ vậy, nó còn vô cùng thâm sâu. Phật học là đạo lý cực kỳ thâm diệu, trong việc "chinh phục tâm, phân biệt vọng" và "luận kiến hiển chân", quả thực không phải là việc làm qua loa đại khái, mà là việc tinh tế vi diệu không thể nghĩ bàn, qua đoạn đối đáp này, chúng ta có thể thấy được trí huệ vô tận của Phật Thích Ca Mâu Ni.

Còn nữa, trong cuộc đối đáp giữa vua Ba Tư Nặc và Phật Thích Ca Mâu Ni còn có một ý cảnh khác.
Phật hỏi vua Ba Tư Nặc: "Hiện nay ngươi vẫn khỏe mạnh, nhưng thân thể này là vĩnh viễn bất hoại, hay là ngày càng suy tàn?"
"Từ khi có thân thì đều biến đổi và hoại diệt."
"Làm sao biết được?" - Phật Thích Ca Mâu Ni hỏi.
"Thuở thiếu niên, da dẻ mịn màng tươi trẻ, đến tuổi thanh niên, khí huyết cường tráng, nay đã về già, dung nhan khô héo, tinh thần mê muội, già nua lụ khụ, đó chính là bằng chứng." - Vua Ba Tư Nặc đáp.

"Dung mạo già đi như thế nào?"
"Mỗi người đều có thể nhận thấy dung mạo của mình thay đổi, từ trẻ đến già, dung mạo càng ngày càng đổi khác. Một hai ngày không thấy gì, mười hai mươi ngày cũng chẳng cảm nhận được, nhưng thực ra vẫn âm thầm biến chuyển. Cứ mỗi mười năm tính là một giai đoạn, sự thay đổi diện mạo ấy thật đáng kinh ngạc. Thực tế là năm này qua năm khác đều thay đổi, tháng này qua tháng khác đều có biến đổi, thậm chí ngày này qua ngày khác cũng đều thay đổi, chỉ là bản thân không để ý mà thôi. Từng sát-na với sát-na, từng niệm với niệm, đều có sự biến đổi."

Đoạn đối thoại này khiến tôi vô cùng chấn động, tôi có thể soi gương, có thể lấy ảnh ra so sánh, mười năm trước là một dáng vẻ như thế nào, mười năm sau lại là một dáng vẻ ra sao, mười năm trước còn như quả mận xanh non, nhưng mười năm sau, tất cả đều như đã chín mọng. Người gầy đã trở nên mập ra, thân hình mảnh mai đã trở nên đẫy đà, tóc đen đã điểm vài sợi bạc, mí đơn đã thành mí kép, đó chính là dấu vết của thời gian năm tháng. Ôi! Thời gian thật kỳ diệu và trôi qua nhanh quá, nỗi cảm thán này vừa là một nỗi buồn, vừa là một sự bất lực vô nghĩa!

Hôm nay, tôi - một hành giả ở Seattle nói rằng, chúng ta cần phải tinh tấn hết lòng! Nỗ lực lắng nghe Phật pháp được giảng dạy, đọc kinh điển, tư duy để thấu hiểu, quy y, học hỏi pháp của bậc minh sư. Hiểu biết nhiều là điều cần thiết, nhưng ngoài hiểu biết nhiều ra, còn phải thực tu một cách vững chắc, chỉ nghe, chỉ đọc, chỉ hiểu thôi vẫn là vô ích, tất cả những điều này nhất định phải thực tu mới có lợi ích, như vậy mới là hành động sáng suốt.

Tôi có một người bạn tu hành gửi thư kể với tôi rằng, về phương diện tu trì, anh ấy để mọi việc tự nhiên, khi tâm trạng tốt thì tinh tấn một chút, khi tâm trạng không tốt thì dừng bước, cứ dừng như vậy có khi đến ba bốn tháng. Tôi khuyên anh ấy rằng, tâm trạng vốn là sự sinh diệt của vọng tâm, phải phá trừ tâm trạng không tốt này đi, phải dùng tâm chân như để tu trì, tinh tấn hàng ngày mới là điều đúng đắn, một ngày đánh cá ba ngày phơi lưới, thái độ như thế là không được, phải giữ vững ý niệm tinh tấn hàng ngày, như vậy mới là một sự bảo đảm cho việc tu hành thành công, đây là ý niệm mà người tu trì cần phải có.

Tôi có một người bạn khác, anh ấy rất nghiêm túc muốn tu hành, và cũng là một giáo sư đại học. Cứ khi gặp vấn đề gì, anh ấy liền chạy đến tìm tôi để hỏi, lúc hỏi này lúc hỏi kia, ghi chép của anh ấy có đến hàng chục cuốn, đây quả là một vị giáo sư "hiểu biết nhiều". Tuy nhiên ngoài việc đó ra, vị giáo sư này cứ mỗi ngày chỉ nghĩ về các vấn đề, suy ngẫm về các vấn đề, tìm cách lĩnh hội Phật lý, đây là chỉ tìm cách hiểu vấn đề mà quên mất tầm quan trọng của việc thực tu. Bản thân dù có hiểu rõ Phật lý, nhưng không có sức mạnh của sự tu trì, thì cũng giống như đã chuẩn bị đầy đủ nguyên liệu, định nấu một món ăn ngon, nhưng lại không có lửa để nấu, chỉ đẹp mắt mà không ăn được, đây là một chướng ngại do thiên lệch về một phía.

Nói thật lòng, trong quá trình tu tập ở Seattle, tôi chưa từng có một ngày lơi lỏng, tôi hoàn toàn theo đuổi cả tri thức và thực tu. Những Phật sự khác liên quan đến tu trì cũng đều được thực hiện đúng thời khóa. Tôi biết rằng, đời người rất ngắn ngủi, thân thể con người rất mong manh, chỉ cần gặp một cú va chạm mạnh, thân xác máu thịt này rất dễ bị hủy hoại. Mặt trời lặn về Tây, gió đêm nổi lên, một ngày lại trôi qua, và ta lại già thêm một ngày.

Tội nghiệp thay cho một số người, họ lớn tuổi hơn tôi, về mặt hiểu biết Phật lý thì kém xa tôi, về mặt thực tu thì hoàn toàn không có gì, mặc dù ban đầu họ cũng theo tôi, khởi tâm phát nguyện một chút, nhưng rồi cái tâm tu trì đó đã bị vứt lên tận chín tầng mây. Giờ đây họ đắm chìm trong rượu, sắc, tiền, khí. Chân đã lún trong bùn lầy, gần như ngập đến đầu rồi. Điều kỳ lạ hơn nữa là họ tìm lý do để hưởng thụ, đợi ba năm nữa rồi tu, đợi năm năm nữa rồi tu, đợi mười năm nữa rồi tu, đợi già rồi tu, việc tu trì mà cũng dùng chữ "đợi", đến khi tuổi già sức yếu, mái đầu xanh đã bạc, đầu óc mê muội chân bước run rẩy, xin hỏi phải nhờ người dìu đỡ, lúc bấy giờ, còn tu được gì nữa? Thật đáng thương, thật đáng thương thay! Trong con mắt thứ ba của tôi, màu sắc linh quang trên thân họ, từ vàng chuyển thành xám rồi thành đen, trong tương lai không còn nghi ngờ gì nữa, vì sự mê muội của họ, sẽ đọa vào đường súc sinh, vĩnh viễn không có ngày ra.

Ở Seattle, tôi tiếp tục công việc của một hành giả, tiếp tục quy y với sư phụ, tiếp nhận quán đảnh ở cấp độ cao hơn, sống một cuộc sống thanh tịnh và tuân theo đạo lối của mình. Tôi cho rằng chuyến đi Mỹ này rất đáng giá, ít nhất là tất cả những "tạp âm" đã không còn nữa, kể cả những lời phỉ báng từ một số người trong nước. Tôi chỉ đang đi về một đích đến đã biết trước, trong tương lai tôi sẽ đội vương miện vinh quang mà Phật ban tặng, tôi sẽ bay lên không gian vô tận. Cái chết chỉ là sự từ bỏ cái vỏ thân xác hôi thối này, để trở về biển chân như của mười phương chư Phật.

Phật học sâu như biển.
Thời gian trôi quá nhanh.
Thân này không độ trong đời này.
Biết đến bao giờ mới độ thân?


### 13. Màu sắc của linh hồn


Tôi được mời đến một công ty có quy mô khá lớn, tên công ty là West Coast, và chủ tịch kiêm giám đốc điều hành của công ty là Jimmy Jay. Công ty này có nhà hàng riêng, sản xuất các sản phẩm nhôm và có chi nhánh ở nhiều quốc gia trên thế giới. Người phụ trách mời tôi đến chủ yếu vì nghe danh tiếng của tôi (do người của công ty Boeing giới thiệu), và muốn tôi dùng con mắt thứ ba để xem xét các cán bộ của ông ấy.

Người đầu tiên đứng trước mặt tôi là một quý ông da trắng tóc vàng với phong thái thanh thoát. Ông tự giới thiệu tên là Steve Hammick, giữ chức tổng giám đốc của công ty. Tiếng Anh của ông rất chuẩn, với đôi chân dài, đứng trước mặt tôi cao hơn tôi cả một cái đầu. Chúng tôi bắt tay nhau, và tôi quan sát linh khí trên người ông (màu sắc của linh hồn), là một màu hồng tươi sáng tỏa ra bốn phía, ánh mắt ông mang vẻ không ổn định và hơi kiêu ngạo.

Sau khi ông ấy đi khỏi, tôi nói với Jimmy Jay rằng: "Tổng giám đốc của ông là một 'công tử hào hoa' điển hình, tâm địa tốt, nhưng chỉ bỏ ra một nửa công sức cho công việc. Anh ta không lo lắng cho sự nghiệp của ông đâu, chỉ quan tâm đến việc vui chơi hôm nay thôi, và rất giỏi thay đổi bạn gái."

Jimmy Jay ngậm tẩu thuốc, mỉm cười và nói: "Mọi điều anh nói đều đúng cả. Anh ta là thành viên câu lạc bộ công tử, vui vẻ là bản tính của anh ta, hay thay đổi bạn gái, hiện tại có khoảng bảy người đấy! Tuy nhiên, tôi đánh giá cao tấm lòng tốt của anh ta. Dù không nghiêm túc với công việc, nhưng anh ta có quan hệ tốt với mọi người, không ăn cắp đồ, không phản bội chủ. Anh chàng này chỉ có được những ưu điểm đó thôi."

Người thứ hai xuất hiện trước mắt tôi là một phụ nữ ăn mặc gọn gàng, khoảng ngoài năm mươi tuổi, trên mặt có một vài nếp nhăn được che đi bằng phấn trang điểm, mắt màu xanh nhưng hơi ánh xám, tóc vàng nhưng đã điểm bạc đôi chút. Bà ấy gật đầu chào tôi với một nụ cười nhẹ, khi cười lộ ra lúm đồng tiền, có thể thấy hồi trẻ bà ấy từng là một mỹ nhân. Bà mặc áo màu xanh lá có nơ, quần jean. Jimmy Jay cho tôi biết đây là thư ký của ông ấy, tên là Anya. Tôi quan sát linh khí trên người bà ấy, màu trắng nhưng pha chút xám.

Tôi nói: "Đây là một phụ nữ rất đứng đắn, vì thế linh khí của bà ấy có màu trắng, nhưng bà ấy đang sống không hạnh phúc, trong màu sắc linh hồn của bà ấy pha lẫn màu xám u sầu, điều này báo hiệu có chuyện không may xảy ra. Ông có thể tin tưởng vào lời nói và hành động của bà ấy, và giao phó công việc cho bà ấy một cách yên tâm, nhưng sao không giúp bà ấy thoát khỏi nỗi buồn đó?"

Jimmy Jay nói: "Nhận xét của anh thật đáng kinh ngạc, bà ấy quả thực là một người tốt, nhưng nỗi buồn của bà ấy không thể xóa bỏ được, tuần trước chồng bà ấy vừa mới qua đời vì tai nạn xe."

Người thứ ba bước vào cũng là một phụ nữ, tên là Ari, kế toán của công ty. Cô ấy rất xinh đẹp với những đường nét thanh tú. Vừa bước vào, cô đã tự nhiên ngồi xuống trước bàn làm việc lớn của Jimmy Jay. Cô mặc quần jean, áo sơ mi hoa, má ửng hồng, chào tôi một tiếng "Hi" rồi bắt đầu trò chuyện với Jimmy Jay. Tôi quan sát linh khí trên người cô ấy, màu sắc là hồng đào, cho thấy cuộc sống khá lãng mạn, nhưng trong màu hồng đào đó có hai vết nứt. Quan sát kỹ hơn, tôi phát hiện trong màu sắc của cô ấy lấp lánh những sắc thái dao động không chân thành và giả dối. Qua linh khí cho thấy, người phụ nữ xinh đẹp này mới thực sự là một nhân vật nguy hiểm, sự giả dối và làm màu của cô ta đều là giả tạo. Sau khi phát hiện điều này, tôi cân nhắc có nên báo cáo với chủ của cô ta hay không, bởi vì sự tồn tại của một nhân vật nguy hiểm như vậy chắc chắn sẽ gây ảnh hưởng và xâm hại đến công ty. Nếu nhận định của tôi không sai, Ari có tính phá hoại, nếu nắm giữ quyền hành về kế toán của công ty, chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của toàn công ty.

Sau khi cô ấy rời đi, tôi nói với Jimmy Jay: "Xin lỗi vì phải nói điều này với ông, nhưng đây là vấn đề nghiêm trọng, Ari này là một nhân vật nguy hiểm, bề ngoài cô ta cười, nhưng trong lòng lại chứa đầy oán hận, cô ta có những dao động không chân thành. Đồng thời cuộc sống của cô ta quá lãng mạn, có hai vết nứt, cho thấy cô ta đã từng có hai thai nhi, nhưng giờ không còn nữa, không còn ở trên đời này nữa, ông nên đặc biệt chú ý đến cô ta."

Sắc mặt Jimmy Jay trở nên xúc động, ông nắm tay tôi: "Cảm ơn! Master, ngài đã nhìn thấu tất cả, cô ấy quả thật đã có hai thai nhi, một của chồng cũ, một là của tôi. Nhưng cả hai đều đã bị phá bỏ." Ông ấy nói rất chân thành: "Tuy nhiên, cô ta chỉ nhăm nhe tài sản của tôi, lại còn thông đồng với giám đốc đối ngoại của công ty tôi, người tên là Walker, hai người họ đã làm những trò mờ ám về tiền bạc và hàng hóa. Chuyện này tôi đã sớm nhận ra, nhưng vẫn chưa có bằng chứng cụ thể. Ari là người tình của tôi, tôi thấy rất mâu thuẫn, không biết phải làm sao?"

Tôi nói: "Việc xâm phạm là điều tất yếu, tôi đã dự đoán nhiều lần và chưa bao giờ sai. Theo tôi, ông nên dứt khoát như dao chém tơ rối, đừng đắm chìm trong tình cảm nữa."
Ông ấy nói: "Được."
Tôi hỏi: "Còn Walker thì sao?"
"Anh ta đi công tác, sang châu Âu rồi."

Người tiếp theo bước vào là giám đốc sản phẩm, tên là Reagan, trùng hợp là trùng tên với Tổng thống Mỹ Reagan. Anh ấy là một người rất nỗ lực và nhiệt huyết, tóc đen, có cha là người Ý, mẹ là người Mỹ, đôi mắt màu xám đen, tính tình hiền lành. Linh khí tỏa ra từ anh ấy là màu xanh dương, mạnh mẽ và đầy sinh lực. Là một chàng trai ba mươi tuổi chăm chỉ và có chí tiến thủ, tôi luôn ngưỡng mộ người thanh niên này.

Tiếp theo bước vào là một trưởng nhóm, một dạng người đốc công, tên tôi tạm dịch là Baite, khoảng ngoài bốn mươi tuổi, tóc xoăn, màu tóc nửa đỏ nửa xám, giọng nói khàn đục. Người này mặc áo ngắn tay, lông tay thô và xám, phía dưới mặc quần công nhân có dây đeo, một tay thì đung đưa, tay kia cho vào túi quần, ống quần thì rộng thùng thình. Anh ta không giống một công nhân, vì trên quần áo làm việc không hề có chút bụi bẩn nào, lại còn đi đôi giày da bóng loáng.

Baite bắt tay với tôi, chúng tôi nói chuyện về thời tiết ở Seattle, đồng thời tôi quan sát linh khí trên người anh ta. Gã này toàn thân phủ đầy khí màu xám, và màu xám này còn thể hiện sự bất ổn, những dao động không chân thành, giống như những con sóng xám xịt vậy.
Tôi đã nói với Jimmy Jay.

Jimmy Jay nói: "Trưởng nhóm này có thể nói là một gián điệp của công đoàn cài vào công ty chúng tôi, mọi động tĩnh ở đây đều do một mình anh ta báo cáo lại cho công đoàn. Lần biểu tình công nhân trước đây cũng do anh ta cầm đầu. Ông biết đấy, ở một đất nước tự do dân chủ như Mỹ, có lợi cũng có hại, công đoàn và người lao động đứng chung một chiến tuyến, người lao động có chút bất mãn là công đoàn đã thay mặt họ đứng ra, hai bên lao động và chủ doanh nghiệp tốn tiền tốn của kiện tụng ra tòa, đây là hiện tượng tất yếu của xã hội tư bản. Có công bằng hay không ư? Khó nói lắm. Nhưng ông nói đúng, làm sao anh ta có thể thành thật với tôi - một ông chủ được! Anh ta là thủ lĩnh của công nhân, là người của công đoàn. Mọi điều phối công nhân đều do anh ta xử lý, miễn là người lao động bình tâm tĩnh khí thì mọi chuyện đều OK."

Sau đó, tôi đã xem linh khí của rất nhiều người nữa, và lần lượt phân tích cho Jimmy Jay nghe. Kết luận của tôi rất chính xác, có thể nói là chính xác đến không thể tả. Tôi đã nói trúng phóc tất cả những trải nghiệm, suy nghĩ và hành vi của mọi người mà tôi quan sát được. Đối với tôi, đây là chuyện rất đơn giản. Nhưng đối với người thường, họ sẽ cho rằng điều này là không thể - làm sao có thể vừa gặp mặt đã nói được về quá khứ của người ta. Đây chính là quán khí của con mắt thứ ba, mà thực chất quán khí là nhìn màu sắc của linh hồn.

Tôi từng quan sát khí trên người một học trò của mình, khí của anh ta đục ngầu, đó là khí của súc sinh. Tôi lặng lẽ để ý hành vi của người học trò này, thì ra anh ta đang làm những việc súc sinh. Khi gặp mặt anh ta, tôi chỉ nhẹ nhàng nhắc nhở một hai câu. Nhưng anh ta không thể hiểu ý của tôi, pháp âm của tôi đã không thể lọt vào tai anh ta nữa.
Kiếp sau, làm lợn đi!
Chỉ vì linh sắc của ngươi đã biến thành linh sắc của lợn.
Tỉnh hay không tỉnh, là ở chính ngươi.


### 14. Ý đồ và hành vi


Trong toàn bộ hành trình tu hành của đời người, có lúc chúng ta ở trong môi trường quang minh, có lúc lại ở trong thung lũng tối tăm, chỉ dựa vào một chút Phật quang chỉ dẫn. Người tu hành đương nhiên không thể hoàn toàn không gặp sóng gió, đặc biệt là tu hành là việc lớn nhất của đời người, chúng ta kính Phật lễ Phật học Phật, nhưng chắc chắn sẽ gặp những kẻ xấu phỉ báng Phật và hãm hại chúng ta. Không những thế, ma quỷ thường theo sát người tu hành, thừa cơ xâm nhập tạo nên vô số ma cảnh. Chúng ta chỉ có thể giữ vững đạo tâm, một lòng một dạ tiến về phía trước, cho đến khi đạt đến cảnh giới chứng đạo, cầu chúc cho nhau tu hành an lành cát tường.

Tôi cho rằng, tất cả con người đều bình đẳng như nhau, tôi chưa bao giờ phân biệt đối xử với bất kì ai. Khi nhìn nhân loại trên thế giới, bất kể chủng tộc, màu da hay tín ngưỡng của họ là gì, chỉ cần họ đến trước mặt tôi, tôi đều xem họ bình đẳng như nhau, không có cái gọi là tâm phân biệt. Tuy nhiên, tôi chỉ chú trọng đến ý đồ và hành vi của họ. Con người vốn dĩ bình đẳng như nhau, nhưng chính ý đồ và hành vi đã tạo nên những cảnh giới khác nhau. Có rất nhiều người tuy muốn tu hành, đến trước mặt tôi, nhưng tâm của họ không những chính họ khó kiểm soát, mà tôi cũng không thể kiểm soát được. Tôi biết họ đang đi về phía vực thẳm, nhưng không thể kéo được những con lừa lạc lối này lại.

Tôi mong mỏi rằng, tất cả những người tu hành chỉ có thể cùng sánh vai tiến bước, khích lệ lẫn nhau, nhắc nhở lẫn nhau, cùng chăm sóc cho nhau. Tuy nhiên, khi có người dừng bước không đi nữa, khi có người lạc vào đường tà, có người rời bỏ chính đạo, thậm chí có người làm điều ác, khi ý đồ và hành vi của họ hoàn toàn sai trái, sau khi chúng ta đã kêu gọi họ trong thời gian dài, chúng ta đành phải rời xa những người này, chỉ đau lòng vì ma quỷ đã nuốt chửng tâm họ.

Ở đây, tôi mong muốn mọi người tuân theo bát chính đạo của người tu đạo, những hành giả đi theo bát chính đạo này chính là những người bạn đồng hành tốt của chúng ta. Vốn dĩ chúng ta không có cái nhìn phân biệt cao thấp, nhưng khi ý đồ và hành vi có sự sai lệch, chúng ta cần phải kêu gọi, xin hãy tuân theo bát chính đạo này:

Thứ nhất, phải có chính kiến - người tu hành phải hiểu chân lý về khổ, tập, diệt, đạo, dùng mắt để quan sát thế giới này, hiểu được ý nghĩa chân thật của tứ đế pháp, sáng tỏ kim cang tam muội, y theo tứ đế pháp mà tu, thấu hiểu triệt để chân lý của tứ đế, y giáo tinh tấn tu tập, thông suốt tất cả, viên thông như vậy, chính là chính kiến.

Thứ hai, phải có chính tư duy - đã hiểu được chính kiến, ta tư duy tỉ mỉ, cần thu về suy nghĩ và sinh khởi quán sát, đạt đến vọng tưởng hoàn toàn dứt tuyệt, thân tâm đều quên, tất cả tư duy hữu lậu đều tiêu vong, trí tuệ chân chính có thể tăng trưởng, khiến cho nó luôn sáng tỏ không tối, đây chính là tư duy chân chính, đây chính là chính tư duy.

Thứ ba, phải có chính ngữ - Tất cả khẩu nghiệp hoàn toàn không còn, dùng lời nói của trí tuệ chân chính để trừ bỏ khẩu nghiệp, mỗi lời nói mỗi hành động đều là chính ngữ, không nói những lời phi lý. Cần biết rằng âm thanh là pháp duyên sinh, tướng của âm thanh tuy hư vọng không thực, nhưng tính thường chân thật, là thể diệu giác minh, bí mật và vô hình vô tướng. Chỉ cần tu chính ngữ, trì pháp chân ngôn, liên tục không ngừng, không có lời phi lý, đó chính là chính ngữ. Chính ngữ này là một trong bát chính đạo, người tu hành phạm đạo này rất nhiều, tuy là lời nói vô tâm, nhưng vì cầu lợi cho miệng lưỡi, do vô minh mà phạm khẩu nghiệp. Vì vậy, chuyển khẩu nghiệp thành chính ngữ, chính là chuyển khẩu nghiệp trong tam mật tu hành thành khẩu mật, đây chính là chính ngữ.

Thứ tư, phải có chính nghiệp - Người tu hành phải nhận thức rõ rằng tất cả mọi thứ trên thế giới này đều là "không sắc bất nhị", sinh vốn là bất tịnh, thân cũng là bất tịnh, tất cả mọi thứ đều là bất tịnh, sinh tử của con người cũng là không, xương trắng hóa thành tro, theo gió mà hóa thành không, có được trí tuệ chân thật như vậy mới có thể trừ bỏ tất cả tà hạnh của thân, thân không chạm vào tất cả tà hạnh, đây chính là giữ giới hạnh, người tu hành cần biết, đây chính là chính nghiệp. Ngoài việc giữ giới hạnh, cần biết thân là tất cả ấn của Như Lai, chuyển thân nghiệp thành thân mật đạt được đại dụng viên mãn, đây chính là chính nghiệp.

Thứ năm, phải có chính mệnh - Một người tu hành, ngoài việc thanh tịnh thân khẩu ý tam nghiệp của mình ra, cần phải dùng chính pháp để tu hành, dùng chính pháp để tu hành chính là chính mệnh, thân cận bậc Thượng sư chân chính, cung kính lắng nghe lời dạy của chính Phật pháp, nương theo Phật pháp mà tu học, quan sát sự huyễn diệt của lục trần, tu tập diệt tận định, nếu có một ngày, pháp trần hoàn toàn tiêu trừ, tất cả diệu pháp tánh hiện tiền, được ấn chứng, đây chính là chính mệnh.

Thứ sáu, phải có chính tinh tấn - Bất kể là bậc đại trí tuệ, hay là người có căn cơ thấp kém, khi đã biết chính pháp ở trước mặt, đều phải an trụ nơi tĩnh lặng, thân ngồi ngay thẳng, thời thời khắc khắc không ngừng dụng công, loại công phu tinh tấn này chính là chính tinh tấn, cho đến khi đạt đến cảnh giới đột nhiên khai ngộ, mới được gọi là đại vô ngại, tinh tấn như vậy tự nhiên là chính tinh tấn. Đây chính là dùng trí tuệ chân chính, phát khởi nỗ lực tinh tấn vậy.

Thứ bảy, phải có chính niệm - Tôi thấy rằng đạo của chính niệm là như thế này, chúng ta là người tu hành, tự biết tứ đại đều không, ngũ uẩn cũng chẳng có, thường ngày tự biết tất cả đều là không tịch, tất cả đều là hư không, tất cả hiện tượng đều là không tính bản minh, nghĩ như thế, liên tục không dứt, chính là chính niệm. Cần biết rằng chính niệm này là diệu pháp của Đại thừa, là vô thượng pháp, nhân tướng pháp tướng tứ tướng, tất thảy đều là không tướng, trong từng niệm, quay về với bản giác, đó chính là chính niệm.

Thứ tám, phải có chính định - Chính định là thiền định chân chính, là thiền định thanh tịnh, chính là nhập Tam ma địa. Bản thân tôi rất coi trọng thiền định chân chính, dùng pháp tọa thiền, hai mắt nhìn vào một điểm ở đầu mũi, tâm thu về một chỗ. Sau khi vào định, dùng trí huệ chân chính để đoạn trừ mê hoặc, nhiếp tâm quán chiếu, phiền não hoàn toàn dứt sạch, khi tâm khai mở, tất cả hóa thành ánh sáng. Pháp này tôi đã viết trong cuốn sách "Tọa Thiền Thông Minh Pháp", chiếu sáng mười phương, tiêu diệt tất cả các lậu hoặc. Đạt được thiền định như vậy gọi là chính định, được đại tự tại vậy.

Bát chính đạo này là giới luật mà mỗi hành giả tu trì đều phải giữ gìn. Theo lý mà nói, việc hành giả tu trì phải giữ bát chính đạo này là vô cùng khó khăn. Người thường trong cuộc sống phàm trần cuồn cuộn này, muốn giữ được tám pháp chính đạo này không phải là điều mà người bình thường có thể làm được. Nói về các đệ tử của tôi, tôi mong mọi người giữ gìn bát chính đạo này, thể hội bát chính đạo này, nghiêm tu bát chính đạo này, như vậy mới thực sự là đạo hữu, nếu không thì cách xa lắm vậy!

Bản thân tôi đã dạy từng học trò tại Seattle, Hoa Kỳ về bát chính đạo. Trước đây khi tôi nhận đệ tử ở trong nước, do bận rộn nên không có thời gian giải thích nhiều. Tuy có nhiều đệ tử quy y nhưng người được nghe giảng về bát chính đạo này không nhiều. Thân phận của đệ tử rất phức tạp, có người thực sự tu tập, có người chỉ mang danh suông, thời gian cứ thế trôi qua từng phút từng giây. Trong số học trò của tôi, nhiều người còn chưa bắt đầu tu hành, thậm chí có người còn thụt lùi. Phải biết rằng! Thời gian của đời người không nhiều, từ thiếu niên đến thanh niên, từ thanh niên đến trung niên, từ trung niên đến tuổi già, từ già đến chết, chỉ trong chớp mắt là đến. Việc được nghe và hiểu Phật pháp vốn đã khó, nghe hiểu rồi mà tu hành cũng rất khó, tu hành rồi mà giữ được tinh tấn lâu dài còn khó hơn, người tu hành muốn giữ được bát chính đạo này lại càng khó, những điều này, đều rất khó khăn! Tuy nhiên, nếu tu hành mà không khó, làm sao có thể là việc lớn nhất thiên hạ được.

Tất cả ý đồ và hành vi của tôi ở Seattle, Hoa Kỳ đều tuân theo bát chính đạo này để thực hiện - chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tấn, chính niệm, chính định. Kỷ luật của tôi ở đây chưa từng lơi lỏng, mỗi tối thứ bảy, học trò trong và ngoài nước đều tụ họp, tôi thị phạm pháp tu hằng ngày, các Phật sự khác cũng được tổ chức đúng thời khóa, không phải ai cũng dễ dàng trải qua những ngày như vậy, đây là một sự rèn luyện nghiêm khắc. Tôi truyền cho mỗi người một pháp, tu trì nghiêm túc tất nhiên sẽ có thành tựu, đây là pháp tu chuyên chú, mỗi người đều có công khóa cố định hằng ngày, như vậy sẽ dễ thành tựu hơn.

Tôi mong các học trò trong nước không chỉ mang danh học trò suông, mà phải thực sự tu trì. Tôi sẽ viết ra tất cả các pháp của mình từng cái một, như các sách "Phục Ma Bình Yêu Truyện" và "Tọa Thiền Thông Minh Pháp", đều là những pháp mà tôi chưa từng nói ở trong nước, đều rất quý báu và khó được nghe. Đây là tâm đắc lớn trong tu trì của tôi ở nước ngoài, cũng là ấn chứng lớn của tôi. Chỉ trong những thời khắc tĩnh lặng của chính niệm mới có thể đạt được sự cảm ngộ về chính định như vậy. Tu trì quả thực là thanh tịnh và không phiền não, tôi mong mọi người giữ gìn bát chính đạo này.


### 15. Quy y cần tôn kính thầy


Nhiều người cảm thấy rất lạ khi pháp hiệu của Thượng sư Lư Thắng Ngạn là Liên Sinh, và tất cả các đệ tử của ngài đều có chữ "Liên" đứng đầu pháp hiệu. Chẳng phải điều này rất kỳ lạ sao? Theo thông lệ, chữ đầu trong pháp hiệu của sư phụ và đệ tử thường khác nhau, ví dụ như khi tôi quy y với Đạo sư Ấn Thuận, pháp hiệu của tôi là Huệ Ngạn, khi quy y với Pháp sư Lạc Quả, pháp hiệu là Đạo Ngạn, v.v...

Thực ra, việc tôi đặt pháp hiệu có cùng chữ đầu cho cả thầy và trò có ba lý do:

Thứ nhất, quả vị ngang bằng. Tôi mong muốn tất cả đệ tử tu hành đạt được cảnh giới quả báo giống như tôi, ai ai cũng có thể vãng sinh về thế giới Liên Trì.

Thứ hai, đạo pháp gần gũi. Việc tôi đặt pháp hiệu của đệ tử giống với pháp hiệu của mình không phân biệt, đạt được cảnh giới đạo pháp không phân chia, chúng ta là một thể Tam Bảo, càng thêm thân cận, pháp của Thượng sư trực tiếp truyền cho đệ tử, mọi người đều thấm nhuần lợi ích của pháp, không phân biệt thân sơ, tất cả đều được lợi ích.

Thứ ba, thầy trò như một nhà. Tôi vốn đã có suy nghĩ như vầy, nếu đệ tử tu hành đạt được diệu pháp, đôi khi trò còn giỏi hơn thầy, vượt xa thầy, tôi mong muốn việc tu hành của học trò, người người đều vượt hơn tôi, vì vậy tôi đặt pháp hiệu giống với mình, thể hiện thầy trò như một nhà, với ý nghĩa càng thêm gần gũi.

Đồng thời, tôi là một vị Thượng sư hoàn toàn không có vẻ trịnh trọng của Thượng sư, mọi việc đều thoải mái. Còn các đệ tử của tôi xem tôi như một người bạn, từ trước đến nay đều quen với sự thoải mái đó. Cũng chẳng phân biệt được ai là thầy, ai là trò. Tôi cũng chẳng có uy nghiêm gì, cũng không ra lệnh điều khiển, mọi việc đều tùy duyên, tôi là một vị Thượng sư như vậy đấy.

Tuy nhiên, đối với thầy của mình thì lại khác, mỗi khi gặp thầy, tôi nhất định xem như gặp Phật vậy, quỳ hai gối xuống, đầu chạm đất, hai tay dang ra, thực hiện lễ ngũ thể đầu địa, dùng lễ nghĩa của đệ tử để cung kính Thượng sư. Đồng thời, nếu thầy ở gần, tôi sẽ tự mình mang phẩm vật đến cúng dường Thượng sư, nếu ở xa, tôi cũng gửi lễ vật qua đường bưu điện để cúng dường Thượng sư. Đây là phép tắc tôn sư của riêng tôi.

Đối với thầy của mình, tôi luôn tưởng nhớ, một ngày là thầy, cả đời là cha, trong tất cả các pháp sự sớm tối, đều nhớ đến thời khắc quy y với thầy, và đặc biệt trân quý những pháp mà thầy đã truyền dạy.

Phật pháp vốn coi trọng lễ nghi, vì vậy trong văn hồi hướng phát nguyện của Bồ Tát Mã Minh có "Sự Sư Pháp Ngũ Thập Tụng", nói về nghi lễ học trò cung kính thầy như thế nào. Tôi viết ra đây, tôi nghĩ, những gì có thể làm được thì hãy cố gắng làm, những gì không làm được thì tùy duyên. Hãy xem "Sự Sư Pháp Ngũ Thập Tụng" nói những gì? Đệ tử quy y phải làm thế nào mới đúng với bổn phận của người quy y.

"Sự Sư Pháp Ngũ Thập Tụng", giải thích như sau: (Pháp bản này trích từ Tổng Trì Tự.)

Tác giả là Bồ Tát Mã Minh.
Người giảng giải là Thượng sư Phổ Phương.
Người kính ghi là Viên Dung.
Phần giải thích trong văn này là theo thiển ý của người viết.

Điều thứ nhất: Trong mười phương thế giới, tất cả chư Phật ba đời, thường xuyên cung kính đảnh lễ bậc Thượng sư trong ba thời.

Giải thích: Đệ tử phải lễ bái và tưởng nhớ Thượng sư ba thời trong ngày (sáng sớm, giữa trưa, hoàng hôn), cung kính như lễ bái Phật vậy.

Điều thứ hai: Khởi tâm cung kính tối thượng, chắp tay dâng hoa, rải hoa lên mandala, đầu mặt đảnh lễ chân Thượng sư.

Giải thích: Dâng hoa cúng dường đàn thành, cung kính đảnh lễ Thượng sư bằng nghi thức ngũ thể đầu địa.

Điều thứ ba: Dù vị thầy là tại gia hay mới thọ giới cụ túc, nếu đặt kinh tượng trước mặt thì phải dứt mọi nghi báng.

Giải thích: Bất kể thầy là người tại gia hay xuất gia, hoặc mới thọ giới cụ túc, miễn là trước Phật tượng và kinh điển, đều phải cung kính, không được khởi tâm nghi ngờ hay phỉ báng.

Điều thứ tư: Nếu đệ tử xuất gia thường phụng sự với tâm thanh tịnh, khi thầy đã ngồi phải đứng dậy đón tiếp, chỉ trừ lúc đang lễ bái.

Giải thích: Đối với thầy phải phụng sự với tâm thanh tịnh, biết phép nhường chỗ ngồi.

Điều thứ năm: Thầy và trò phải xem xét lẫn nhau về khí chất. Nếu không quan sát trước, cả hai đều mắc tội vượt qua phép tắc.

Giải thích: Trước khi bái sư phải quan sát kĩ vị thầy, xem có thể theo học được không, thầy cũng phải để ý xem đệ tử có thể dạy dỗ được không, nếu không, cả hai đều phạm lỗi không đúng pháp, đều là tội cẩu thả.

Điều thứ sáu: Nếu thầy hay nóng giận không từ bi, tham ái phù phiếm, ngạo mạn tự khoe khoang, không nên chọn làm thầy.

Giải thích: Người dễ nổi giận, không có tâm từ bi, tham lam ham hư danh, kiêu ngạo tự đề cao, những vị thầy như vậy không nên quy y, vì thế trước khi quy y, phải xem xét kỹ tính cách của thầy.

Điều thứ bảy: Có giới hạnh, nhẫn nhục, từ bi và trí tuệ, tự trọng và không nịnh bợ quanh co, thông hiểu các nghi quỹ bí mật, thông thạo các luận nghị.

Giải thích: Người có tâm đại từ bi, có đại trí tuệ, giữ gìn giới luật, biết tự trọng, không nịnh hót quanh co, thông đạt tất cả các pháp, mới là một vị Thượng sư tốt, vì vậy khi chọn thầy phải chú ý điều này.

Điều thứ tám: Thông đạt chân ngôn tướng, sự nghiệp mandala, chứng đắc mười chân như, các căn đều thanh tịnh.

Giải thích: Thông đạt tất cả các pháp, chứng đắc quả vị thập địa Bồ Tát, lục căn thanh tịnh, không còn phiền não, đây mới là một vị Thượng sư tốt.

Điều thứ chín: Nếu người cầu pháp khinh thường phỉ báng thầy, tức là phỉ báng chư Như Lai, thường gặp nhiều khổ não.

Giải thích: Đệ tử cầu pháp không được phỉ báng Thượng sư, chửi Thượng sư giống như chửi Phật, chắc chắn sẽ gặp nhiều khổ não.

Điều thứ mười: Do tăng thêm ngu si mà nhận lấy quả báo hiện tiền, bị ác tinh chi phối, bệnh nặng trói buộc.

Giải thích: Phỉ báng Thượng sư là rất ngu si, sẽ nhanh chóng nhận lấy quả báo, ác thần trên trời nhập tâm, ắt mắc bệnh nặng, không được giải thoát.

Điều thứ mười một: Luật vua ép bức, rắn độc cắn đốt, oán tặc nước lửa tai nạn, quỷ thần quấy phá.

Giải thích: Phỉ báng Thượng sư, ắt phạm vương pháp, bị độc vật làm hại, thủy tai hỏa tai trộm cướp đều đến, tất cả ác quỷ thần thường gây tai nạn.

Điều thứ mười hai: Những tỳ na dạ ca thường gây chướng ngại, từ đó mạng chung, liền đọa ác đạo.

Giải thích: Phỉ báng Thượng sư, tự có ác thần đến giáng tai họa, sau khi chết sẽ vào ba đường ác, tức là địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.

Điều thứ mười ba: Không được khiến A Xà Lê sinh chút phiền não, nếu ngu si trái nghịch ắt đọa vào ngục A Tỳ.

Giải thích: Đệ tử phụng sự thầy không được khiến thầy có một chút phiền não, nếu trái ý thầy, phản bội thầy sẽ đọa vào địa ngục A Tỳ.

Điều thứ mười bốn: Chịu đủ cực hình khổ sở, nói ra thật đáng sợ, do phỉ báng A Xà Lê, mãi mãi phải ở trong đó.

Giải thích: Địa ngục A Tỳ là địa ngục khổ nhất, do phỉ báng thầy mà phải chịu nỗi khổ kinh hoàng vô tận như vậy.

Điều thứ mười lăm: Vị A Xà Lê là người hoằng trì tạng chính pháp, vì vậy phải một lòng thờ kính, không được sinh tâm khinh mạn.

Giải thích: Với bậc Thượng sư hoằng trì chính pháp, đệ tử phải một lòng phụng sự. Nếu có tâm khinh mạn sẽ phạm các tội nặng đã kể trên.

Điều thứ mười sáu: Thường xuyên phụng sự và cúng dường A Xà Lê, phát khởi tâm tôn trọng, nhờ đó trừ được chướng não.

Giải thích: Hết lòng cúng dường và tôn trọng Thượng sư, nhờ ân đức gia trì của thầy mới có thể diệt trừ chướng ngại và phiền não.

Điều thứ mười bảy: Với thầy phải vui lòng bố thí, không tiếc thân mình, huống chi tài vật.

Giải thích: Đệ tử ngay cả thân mạng cũng có thể hy sinh, huống chi là của cải, người thích bố thí sẽ được phúc báo.

Điều thứ mười tám: Tu hành vô lượng kiếp, khó chứng quả Như Lai, nay trong một đời này, A Xà Lê ban cho.

Giải thích: Người tu hành nếu chưa gặp được Thượng sư thì không thể tu thành Phật quả. Vì vậy, Thượng sư truyền pháp, giúp đệ tử tu thành Phật, công đức này đều do Thượng sư ban cho.

Điều thứ mười chín: Hộ trì giới thệ sâu xa, cúng dường chư Như Lai, cung kính A Xà Lê, cũng như tất cả Phật.

Giải thích: Phụng sự thầy là lời thệ nguyện ban đầu khi mới vào cửa đạo, cũng quan trọng như cúng dường chư Phật.

Điều thứ hai mươi: Vật yêu quý nhỏ nhặt, nhất là những báu vật, cầu bồ đề vô tận, thành tâm dâng tất cả.

Giải thích: Thượng sư là Tam Bảo hợp nhất, dùng những vật tốt nhất để phụng sự, sẽ được công đức vô lượng vô biên.

Điều thứ hai mươi mốt: Cúng dường Phật và A Xà Lê, niệm niệm thường tăng trưởng, là ruộng phúc tối thắng, mau chứng quả bồ đề.

Giải thích: Cúng dường Thượng sư, cúng dường Phật, là ruộng phúc tối thắng, mau chóng chứng đắc quả bồ đề.

Điều thứ hai mươi hai: Người cầu pháp như vậy, đầy đủ giới nhẫn công đức, không dối gạt với thầy, sẽ đạt trí kim cang.

Giải thích: Đối với Thượng sư hết lòng cung kính phụng sự, có tính nhẫn nại, không giả dối, chắc chắn sẽ đạt được trí huệ kim cang của Như Lai.

Điều thứ hai mươi ba: Nếu giẫm lên bóng thầy, mắc tội như phá tháp, ngồi giường và đồ dùng, cưỡi xe thầy cũng vậy.

Giải thích: Không được giẫm lên bóng của Thượng sư, không được ngồi trên giường của thầy, không được dùng những vật dụng thường ngày của thầy, tất cả đều có tội.

Điều thứ hai mươi bốn: Hãy vui vẻ lắng nghe, lời thầy dạy bảo ban, nếu mình không làm được, thì hãy tâu thật lòng.

Giải thích: Hãy vui vẻ tiếp nhận lời dạy của Thượng sư, nếu không làm được thì có thể khéo léo trình bày tình hình.

Điều thứ hai mươi lăm: Do nương vào thầy nên mọi việc đều thành tựu, được an vui sinh thiên, sao dám trái lệnh thầy.

Giải thích: Nhờ Thượng sư truyền pháp, đệ tử mới có thể thành tựu tất cả pháp, Thượng sư là ruộng phúc vô thượng, đệ tử không được trái lệnh.

Điều thứ hai mươi sáu: Của cải thầy như mạng mình, kính yêu người thầy kính như thầy, quyến thuộc thầy như người thân, phụng sự không được lười biếng.

Giải thích: Giữ gìn của cải cho Thượng sư như giữ mạng mình, không được phung phí. Kính trọng những người được Thượng sư kính trọng, kính trọng quyến thuộc của Thượng sư, không được lơ là.

Điều thứ hai mươi bảy: Không nên ở trước thầy che đầu hoặc đi xe, duỗi chân tay chống hông, tùy tiện ngồi nằm.

Giải thích: Trước mặt Thượng sư phải giữ phong thái trang nghiêm, không được có những hành vi thất lễ như gác chân hay chống nạnh.

Điều thứ hai mươi tám: Nếu có việc phải ngồi, không được duỗi hai chân ra, luôn giữ các oai nghi, thầy đứng dậy phải đứng theo.

Giải thích: Oai nghi là điều đệ tử Phật phải có, khi ngồi không được duỗi chân ra cho thoải mái, khi Thượng sư đứng dậy phải lập tức đứng dậy theo.

Điều thứ hai mươi chín: Khi thầy đi kinh hành, không nên bước theo sau, phải đứng nghiêm một bên, không được khạc nhổ bừa bãi.

Giải thích: Trên đường thầy thường đi, nên đứng nghiêm trang một bên để cung kính đón tiếp. Khi thầy ho hay sổ mũi, cũng không được sinh tâm ghê tởm.

Điều thứ ba mươi: Trước mặt thầy không được thì thầm nói chuyện riêng, cười đùa với người bên cạnh, ca múa hát xướng.

Giải thích: Trước mặt thầy, không được nói chuyện riêng tư, tất cả những hành vi không trang nghiêm đều phải loại bỏ.

Điều thứ ba mươi mốt: Khi được lệnh ngồi hoặc đứng, đều phải an tường cung kính. Khi đi trên đường hiểm trở, phải dẫn đường đi trước.

Giải thích: Đối với chỉ thị của Thượng sư, đều phải an tường cung kính. Khi đi trên đường nguy hiểm, phải tự mình dẫn đường cho Thượng sư.

Điều thứ ba mươi hai: Không được đứng trước mặt thầy với dáng vẻ mệt mỏi, bẻ khớp ngón tay kêu răng rắc, dựa vào cột hay tường.

Giải thích: Trước mặt Thượng sư phải giữ tinh thần sảng khoái, không được có vẻ uể oải, phải ngưng mọi động tác nhỏ nhặt, không được dựa người vào cột hay tường.

Điều thứ ba mươi ba: Khi giặt quần áo, rửa chân, tắm rửa và các việc tương tự, phải báo cho thầy biết trước, không để thầy nhìn thấy.

Giải thích: Giặt quần áo, tắm rửa, rửa chân phải báo Thượng sư trước, không để Thượng sư nhìn thấy.

Điều thứ ba mươi tư: Đối với tên thầy, không được gọi tùy tiện. Nếu có người hỏi đến, chỉ nên cho biết một chữ pháp danh.

Giải thích: Không được tùy tiện gọi tên của Thượng sư, khi có người hỏi thì chỉ nên cho biết pháp hiệu.

Điều thứ ba mươi lăm: Khi thầy sai phái việc, phải chăm chú lắng nghe. Đối với việc được giao, ghi nhớ không quên.

Giải thích: Thường xuyên sẵn sàng nghe theo sự sai phái của Thượng sư, ghi nhớ những việc Thượng sư giao phó và nỗ lực hoàn thành.

Điều thứ ba mươi sáu: Khi cười, ho hay ngáp, phải lấy tay che miệng. Có việc cần thưa, phải cúi mình nói nhỏ nhẹ.

Giải thích: Khi muốn cười, ngáp hay ho, đều phải dùng tay che miệng. Khi có việc cần thưa, phải cúi mình cung kính.

Điều thứ ba mươi bảy: Nếu người nữ tại gia, đến nghe pháp với tâm thanh tịnh, chắp tay giữ oai nghi, chuyên chú nhìn mặt thầy.

Giải thích: Người nữ nghe pháp, phải giữ phong thái trang nghiêm đứng đầu, hai tay chắp lại, tinh thần chuyên chú.

Điều thứ ba mươi tám: Nghe xong phải phụng trì, từ bỏ tâm kiêu mạn, như cô dâu mới về, cúi đầu với vẻ e thẹn.

Giải thích: Khi Thượng sư truyền pháp, người nữ phải tỉ mỉ phụng trì, không được tự cao tự đại, như cô dâu mới về nhà chồng, cúi đầu học pháp.

Điều thứ ba mươi chín: Đối với đồ trang sức, không còn sinh ưa thích, điều không thuận với thiện, đều nên nghĩ xa rời.

Giải thích: Người nữ học pháp, phải xa rời phù phiếm, không sinh tâm ưa thích vật trang sức thế tục, những gì không thiện lành, đều phải nghĩ cách xa rời.

Điều thứ bốn mươi: Luôn ngưỡng mộ đức của thầy, không nên dòm ngó lỗi nhỏ, tùy thuận sẽ được thành tựu, tìm lỗi chỉ hại mình.

Giải thích: Học theo đức hạnh của thầy, nếu thầy có lỗi nhỏ, không nên phóng đại hay tô vẽ thêm. Phải biết tùy thuận theo thầy mới có thành tựu, nếu phóng đại lỗi của thầy, chính mình ngược lại không thành tựu được trong việc học pháp, sinh tâm khinh mạn, tự hại mình.

Điều thứ bốn mươi mốt: Thuyết pháp độ đệ tử, mandala Hộ Ma, ở chung thành với thầy, không chỉ thị chớ làm.

Giải thích: Tất cả mọi Phật sự đều phải làm theo ý của thầy, không có chỉ thị của thầy thì không được làm.

Điều thứ bốn mươi hai: Của cải và vật phẩm có được từ việc thuyết pháp, phải dâng cúng toàn bộ lên thầy, tùy thầy cho phép mới được sử dụng.

Giải thích: Thu nhập từ việc giảng kinh thuyết pháp truyền pháp đều thuộc về Thượng sư, chỉ khi được Thượng sư cho phép thì mới được sử dụng.

Điều thứ bốn mươi ba: Đồng môn và pháp quyến không nên nhận làm đệ tử, cũng không được nhận sự cung kính phụng sự trước mặt thầy.

Giải thích: Truyền thừa pháp thống không được lộn xộn, những người cùng bái một vị Thượng sư không được làm thầy trò của nhau, đây là pháp thống.

Điều thứ bốn mươi tư: Khi dâng lễ vật lên thầy, phải dùng hai tay dâng cúng. Khi thầy ban tặng, phải cung kính nhận trên đỉnh đầu.

Giải thích: Khi dâng vật phẩm lên Thượng sư, phải dùng hai tay cung kính. Khi Thượng sư ban cho vật gì, cũng phải dùng hai tay cung kính đưa lên đỉnh đầu mà nhận.

Điều thứ bốn mươi lăm: Tự chuyên tu chính hành, thường ghi nhớ không quên. Nếu người khác không đúng như pháp, dùng lời ái ngữ chỉ dạy.

Giải thích: Đệ tử Phật phải chuyên tâm tu tập công khóa, không ngừng nghỉ. Những việc không hợp giới luật, không được làm, không được cố ý tìm lỗi của Thượng sư.

Điều thứ bốn mươi sáu: Nếu thầy có dạy bảo, mà do bệnh không làm được, phải lễ phép thưa trình, như vậy không có lỗi.

Giải thích: Lời dạy của Thượng sư phải tuân theo từng điều một, nếu vì bệnh mà không làm được, phải uyển chuyển giải thích, như vậy mới không có lỗi.

Điều thứ bốn mươi bảy: Thường khiến thầy hoan hỷ, xa lìa mọi phiền não, phải siêng năng thực hành, sự nhiều nên không thuật.

Giải thích: Tất cả mọi việc làm đều phải thường xuyên khiến Thượng sư hoan hỷ, mọi việc phiền não đều phải giúp Thượng sư giải quyết, nỗ lực thực hành, cung kính cúng dường, phụng sự Thượng sư không được lười biếng. "Sự sư pháp" còn rất nhiều, nên không thể nói hết.

Điều thứ bốn mươi tám: Kim Cang Như Lai, đích thân tuyên thuyết như vậy, cùng những giáo lý khác đã chỉ rõ, nương theo thầy sẽ được thành tựu.

Giải thích: Phật dạy như vậy, nương tựa vào Thượng sư sẽ đạt được đại thành tựu.

Điều thứ bốn mươi chín: Nếu đệ tử thanh tịnh, đã quy y Tam Bảo, phải trao "Sự sư pháp", trước hết bảo học thuộc.

Giải thích: Phàm đệ tử đến quy y, phải bảo họ thuộc nằm lòng "Sự sư pháp", không được phạm sai.

Điều thứ năm mươi: Kế đó truyền Mật giáo, khiến thành pháp khí chân chính, mười bốn giới căn bản, đều phải khéo thọ trì.

Giải thích: Sau khi đệ tử quy y và quán đảnh, lại truyền Mật pháp, khiến họ trở thành người tu tập chân chính. Mười bốn giới căn bản của Mật tông cũng phải được truyền dạy để họ thọ trì và trở thành hành giả kim cương thiện xảo.

"Sự Sư Pháp Ngũ Thập Tụng" này là những nghi quy mà đệ tử Phật môn cần phải giữ đối với bậc Thượng sư. Sau khi tôi đọc thuộc "Sự sư pháp", đối với tất cả các vị Thượng sư của mình, tôi cũng phải phụng sự cúng dường như vậy, nỗ lực thực hành đến cùng. Bởi vì tất cả Mật pháp của tôi, nếu không có Thượng sư truyền pháp, làm sao tôi có thể tu trì viên mãn?

Hiện nay đệ tử của tôi ngày càng đông, ở Seattle, Hoa Kỳ, pháp tràng cao vút, để khiến pháp môn được hoàn thiện hơn, tôi mong các đệ tử trong và ngoài nước cùng nghiên cứu "Sự Sư Pháp Ngũ Thập Tụng", biết lễ kính Thượng sư và đồng môn, không được biết pháp mà phạm pháp. Tuy tôi tùy thuận các đệ tử, nhưng Kim cang Hộ pháp thần đều ngày đêm hộ trì, những ai coi thường không như pháp, đều sẽ nhận quả báo rất lớn, lúc đó, tôi cũng không thể cứu độ được.


### 16. Những chuyện về kiếp quá khứ


Có một cặp vợ chồng già ở Chicago, cùng với người con trai hơn 30 tuổi, đã bay đến Seattle để tìm gặp tôi. Ông cụ nói với tôi qua điện thoại rằng: "Nghe danh tiếng của Ngài, chúng tôi có một việc muốn nhờ Ngài giúp đỡ." Thế là chúng tôi đã hẹn thời gian và họ đã bay đến. Hóa ra cả gia đình họ đã di cư sang Mỹ từ nhiều năm trước, chỉ biết nói tiếng Quảng Đông và tiếng Anh, còn tiếng Phổ thông chỉ nói được một chút. Sau khi họ đến, theo thông lệ tôi thắp hương lễ Phật, cầu xin chư Bồ Tát chỉ dạy.

Cặp vợ chồng già hỏi về con trai họ. Người con trai này có dáng người cao lớn, da trắng, tướng mạo đường hoàng, trông rất tuấn tú. Chỉ có điều từ khi bước vào nhà, anh ta không hề nói một lời nào, nhiều lắm chỉ là mím chặt môi và gật đầu. Họ ngồi vây quanh tôi. Tôi tập trung tinh thần, bình thản đưa tay ra, miệng khẽ niệm thần chú, đồng thời niệm tên của người thanh niên ấy, anh ta tên là Paul Đinh, một cái tên hoàn toàn theo kiểu phương Tây.

Khung cảnh lúc này rất yên tĩnh, nhưng đối với người đang hỏi thì có chút căng thẳng và bất an, bởi vì những lời tôi nói ra phải đáp ứng được vấn đề của họ. Tôi chẳng biết gì cả, họ là những người bạn mà tôi mới gặp lần đầu tiên trong kiếp này, gọi là bạn thì có vẻ thân mật quá, thực ra họ là những người hoàn toàn xa lạ! Tuy nhiên tôi phải lập tức biết được quá khứ, tương lai và mọi điều về họ.

Tôi viết lên giấy rằng Paul Đinh là một học giả quản trị doanh nghiệp, đã có bằng tiến sĩ, quá khứ của anh ấy rất hiển hách và vinh dự. Cặp vợ chồng già xem những gì tôi viết, vô cùng vui mừng, bởi vì con trai họ quả thật đã có một quá khứ hiển hách và vinh dự như vậy, điều này khiến họ cảm thấy vô cùng tự hào.

Tuy nhiên, Paul Đinh vẫn không nói gì, cũng không có biểu cảm gì, chỉ nghiêm túc nhìn tôi viết. Tôi tiếp tục viết trên giấy rằng, cách đây ba năm, Paul Đinh đã bị thu hút bởi một tác phẩm nghệ thuật bằng kim loại trong một cửa hàng đồ cổ, đó là một tượng Phật tượng trưng cho sự giác ngộ trong thế giới tâm linh của nhân loại, tác phẩm nghệ thuật này là hình một người cưỡi voi trắng, được chế tác rất tinh xảo, Paul Đinh đã lưu giữ pho tượng Phật này trong phòng làm việc của anh ấy.

Paul Đinh lúc này mở to mắt, cuối cùng cũng lên tiếng: "Thưa ông Lư, làm sao ông biết được những điều này?" - Anh quay sang nhìn cha mẹ: "Có phải ba mẹ đã kể cho ông Lư qua điện thoại?"
"Không có." - Cặp vợ chồng già đồng thanh: "Tuyệt đối không có."

Tôi nhìn anh ta với một nụ cười "tôi biết hết rồi".
Anh hỏi: "Thưa ông Lư, ngoài những điều này ra, ông còn có thể nói gì về tôi nữa không?"
Tôi nói: "Thưa anh Đinh, anh là người tái sinh."
"Người tái sinh, điểm này tôi không hiểu." - Paul Đinh nói.
"Trong kiếp trước, anh từng là một nhà sư xuất gia tại núi Nga Mi. Do núi Nga Mi là tịnh độ của Phổ Hiền Bồ Tát, các ngôi chùa ở đây đều thờ phụng Phổ Hiền Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát chính là vị Bồ Tát đại hạnh cưỡi voi trắng. Cần biết rằng Phổ Hiền Bồ Tát là vị Như Lai nhiều như cát sông Hằng, là Pháp Vương Tử của các đời chuyển kiếp, có 'Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm' lưu truyền. Tôn tượng của Ngài luôn cưỡi voi trắng sáu ngà, Phổ Hiền dùng nhĩ thức, tùy niệm phân biệt, phát ra ánh sáng trí huệ, chiếu soi khắp muôn loài, đạt đại tự tại, là vị Đại Bồ Tát viên thông đệ nhất."

"Đúng, đúng, đúng." - Cặp vợ chồng già vội nói: "Con trai duy nhất của chúng tôi bây giờ không quan tâm đến gì nữa, địa vị, danh lợi, hôn nhân gì cũng không cần, chỉ muốn tu đạo thôi, suốt ngày trốn trong phòng đọc sách, lạy tượng Bồ Tát mà nó mua về, ngay cả công việc tốt cũng bỏ đi, rồi cứ tụng kinh gì đó?"

Paul Đinh bình thản hỏi tôi: "Thưa ông, ông nói tôi là người tái sinh, có bằng chứng gì không?"
"Công phu tu hành của anh rất tốt, người tái sinh có nhiều dấu ấn khác nhau, trước ngực anh có một chùm lông trắng, xoắn từ phải sang trái thành hình xoắn ốc, đó chính là bạch hào tướng quang của việc xuất gia tu hành, đó chính là dấu ấn xác thực của anh."

Paul Đinh lập tức cởi áo ra, quả nhiên ở chính giữa ngực có một chùm lông, cũng màu trắng. Bình thường Paul Đinh cũng rất lấy làm lạ không biết chùm lông ngực này từ đâu ra, người phương Tây ai cũng có lông ngực, còn người Trung Quốc thì hiếm lắm mới có. Hơn nữa anh chưa từng để ý hình dạng của chùm lông, giờ nhìn kỹ thì quả thật nó xoắn từ phải sang trái. Lúc này, cả cặp vợ chồng già và Paul Đinh đều kinh ngạc đến sững sờ, trong lòng vô cùng thán phục.

Thì ra sự việc là như thế này: Trong một lần tình cờ, Paul Đinh ghé vào một cửa hàng đồ cổ, thấy trong dãy tác phẩm nghệ thuật có một tượng Bồ Tát cưỡi voi trắng sáu ngà. Vừa nhìn thấy, dường như pho tượng có một sức mạnh kỳ lạ thu hút toàn bộ tâm trí anh. Vị Bồ Tát trên lưng voi trắng với đôi mắt khép hờ như nhìn thấu tâm can anh, tạo nên một cảm giác thân thiết chưa từng có, khiến anh bị day dứt sâu sắc. Pho tượng Phật này có một sức hút đặc biệt với anh. Anh không thể không mua nó về, rồi thờ phụng trong phòng làm việc. Điều kỳ lạ là vừa thờ phụng xong, anh tự nhiên cúi người lễ bái, ngay cả bản thân anh cũng không hiểu được hành động của mình.

Anh có một người bạn học theo đạo Phật, anh mời người bạn này đến xem đó là tượng Phật gì, người bạn căn cứ vào con vật cưỡi mà nhận ra đó là Phổ Hiền Bồ Tát. Người bạn cũng tặng anh một cuốn Kinh Pháp Hoa, anh bắt đầu tụng kinh, một mình lặng lẽ thắp hương và ngồi thiền trước tượng Phổ Hiền Bồ Tát. Không ai dạy anh điều gì cả, nhưng việc ngồi thiền của anh rất thuần thục, vừa đọc kinh là đã thuộc làu, như thể đã từng học qua. Anh bắt đầu cảm thấy danh lợi, tiền bạc, địa vị, hôn nhân, con cái đều là không, không màng gì nữa mà từ bỏ tất cả, ngay cả công việc cũng nghỉ luôn. Anh dồn toàn bộ tâm sức để tin Phật, tu trì và lĩnh ngộ, tất cả những thay đổi và hành động này đều là do những việc làm từ kiếp trước của anh.

Tuy nhiên, vấn đề xuất hiện khi cặp vợ chồng già cảm thấy con trai mình hành xử không phải phép, họ đã bỏ công nuôi dạy cho con lấy được bằng tiến sĩ, vậy mà giờ không chịu làm việc, không chịu lập gia đình, suốt ngày chỉ lạy Phật, liệu có vấn đề gì không? Do nghe danh tiếng của tôi nên họ vội tìm đến gặp mặt. Con trai họ tưởng tôi chỉ là một thầy bói giang hồ, nên miễn cưỡng bị lôi đến Seattle.

Paul Đinh hỏi rất nhiều về phương pháp tọa thiền, rồi quỳ xuống ngay tại chỗ, bái tôi làm thầy. Tôi đặt pháp danh cho anh là Liên Luân, chính thức nhận vị tiến sĩ quản trị doanh nghiệp này làm đệ tử. Tại chỗ, tôi truyền cho anh pháp Kim Cang Thủ bí mật chủ và năm bộ đại pháp tâm truyền của Vô thượng mật. Tôi dặn Paul Đinh khi về nhà phải tu tập pháp Kim Cang Thủ và năm bộ đại pháp tâm truyền của Vô thượng mật vào những giờ cố định mỗi ngày. Tuy nhiên vẫn phải quay lại làm việc, bởi đây là một xã hội rất thực tế, người theo đạo Phật phải hiếu thuận với cha mẹ, tu tập theo giờ giấc nhất định, đây là cách không bỏ bê cả hai phía, vừa lo tu hành, vừa lo cơm áo, còn chuyện kết hôn hay không thì tùy theo duyên phận.

Cha mẹ anh thấy tôi dặn dò như vậy, vô cùng cảm kích.

Thực ra, kiếp trước của Paul Đinh là trụ trì một ngôi chùa ở lưng chừng núi Nga Mi. Anh hoàn toàn có thể sống một cuộc đời thanh tịnh và thiêng liêng. Anh có đủ tư cách để tiếp tục con đường tu hành, có thể thích nghi với cuộc sống có kỷ cương, giới luật nghiêm ngặt và thời gian tọa thiền dài. Tuy nhiên, vì tôi phải cân nhắc đến cách sống trong xã hội hiện thực và mong mỏi của cha mẹ anh, nên không thể không dặn dò anh như vậy.

Về sự việc này, tôi có rất nhiều cảm xúc:

Niềm tin tu trì không có hai chữ "cái chết", tôi đã sớm bước qua cánh cửa của cái chết để thấu hiểu đạo lý của luân hồi và bất tử. Chúng ta - những người tu hành đã đi một chặng đường rất dài, không chỉ dừng lại ở đất nước mình sinh ra, mà còn vượt qua nhiều đất nước khác, phân tán khắp nơi trên thế giới để thực hiện sứ mệnh cứu độ.

Nếu tôi không đến Mỹ, sẽ không thể gặp được vị hành giả tái sinh từ núi Nga Mi này, anh ấy không thể trở thành học trò của tôi, tôi không thể làm thầy của anh ấy, và pháp Kim Cang Thủ, năm bộ đại pháp tâm truyền của Vô thượng mật của tôi cũng không thể truyền cho anh ấy. Tất cả đều là duyên phận đã định. Con người tuy nhỏ bé, nhưng lại có thể có duyên phận lớn lao như vậy, đây thực sự là duyên, là duyên không thể chia cắt.

Paul Đinh là người tái sinh của một vị trụ trì chùa núi Nga Mi, vậy mà sau khi đầu thai lại sang phương Tây lấy được bằng tiến sĩ quản trị doanh nghiệp, quả thật khó tưởng tượng. Còn tôi, đang sống yên ổn ở Đài Loan, lại vì duyên phận tình cờ mà đến phương Tây, để độ hóa "người tái sinh" này.


### 17. Động thổ Linh Tiên Tinh Xá


Đạo tràng Phật giáo duy nhất ở thành phố Redmond đã chính thức động thổ khởi công vào lúc 10 giờ sáng ngày 8 tháng 5 (năm 1983). Chúng tôi đã chọn ngày động thổ từ trước, nhưng một tuần trước ngày động thổ, trời mưa liên tục, gió to mưa lớn. Những người quan tâm đến việc này đã gọi điện hỏi cục khí tượng, họ trả lời rằng ngày 8 tháng 5 sẽ có thời tiết âm u mưa gió. Nghe tin này, mọi người đều rất lo lắng, thậm chí có người đề nghị nên đổi ngày động thổ sang ngày khác.

Tuy nhiên, 10 giờ ngày 8 tháng 5 là ngày giờ do Bồ Tát chỉ dạy, làm sao có thể thay đổi dễ dàng được. Nhưng nếu gió to mưa lớn, đất bùn lầy lội, không có chỗ che mưa để cúng tế thần đất thì mọi việc sẽ rất bất tiện. Đến 8 giờ sáng ngày 8 tháng 5, trên trời vẫn còn một mảng mây đen, may mắn là không mưa. 9 giờ mọi người lên một chiếc xe lớn xuất phát, từ góc Tây Bắc Seattle, qua Green Lake, rồi theo cao tốc I5 rẽ vào lối ra 168, đi qua hồ Washington, thẳng đến Linh Tiên Tinh Xá ở thành phố Redmond.

Khi đến đạo tràng, đã là 9 giờ 40 phút. Điều khiến mọi người ngạc nhiên hơn nữa là mọi thứ đã được sắp xếp gọn gàng. Đúng 10 giờ, khi cầm chiếc xẻng buộc dải lụa đỏ lên đào đất, mây đen tan biến, mặt trời bỗng ló ra tươi cười, ôi! Thật là một ngày nắng đẹp rạng rỡ. Chúng tôi đã đào đất mang tính tượng trưng ở trung tâm và bốn góc đạo tràng, làm lễ cúng bái và đốt vàng mã theo phong tục Trung Hoa. Trần Tước Viên, Trần Sâm Long đều đến, các đệ tử người Mỹ cũng có mặt. Mọi người đều niệm "Om mani padme hum" (Lục tự đại minh chân ngôn), cầu mong Quan Thế Âm Bồ Tát phù hộ cho đạo tràng này được xây dựng thành công, mọi việc như ý, thuận lợi và viên mãn. Câu tâm chú "Om mani padme hum" này của Bồ Tát vang vọng khắp đạo tràng.

Cá nhân tôi tôn kính Quan Thế Âm Bồ Tát nhất, kinh điển được tông phái Linh Tiên Chân Phật Tông tôn sùng nhất là Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. Tôi đã từng tụng Bạch Y thần chú, Quan Âm linh cảm chân ngôn, Đại bi tâm Đà-la-ni chú. Khi bắt đầu tu Mật, tôi cũng bắt đầu từ pháp Quan Âm. Đặc biệt pháp Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm của Mật tông cũng là một trong những đại pháp căn bản của Mật tông.

Để kết duyên với mọi người, tôi xin giới thiệu sơ lược về pháp Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm như sau:

Thứ nhất, thắp hương, cúng dường, đại lễ bái.
Thứ hai, Tứ quy y.
Thứ ba, Tứ vô lượng tâm.
Thứ tư, kết ấn Kim cang samaya, tụng chú triệu thỉnh, thỉnh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát.

Thứ năm, quán tưởng Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát. Bồ Tát này có mười một mặt, ba mặt phía trước là mặt Bồ Tát, ba mặt bên trái là mặt phẫn nộ, ba mặt bên phải là mặt nửa Bồ Tát nửa quỷ, một mặt phía sau là mặt cười hiểm ác, trên đỉnh là một mặt Phật. Đây đại diện cho năm bộ, trên cùng là Phật bộ, phía trước đại diện Bảo bộ, Bồ Tát kiêm quỷ đại diện Liên Hoa bộ, cười hiểm ác là Yết Ma bộ. Khi quán tưởng cần dùng thức thứ chín (Amala thức) để tương ứng, như vậy mới có thể tương ứng.

Thứ sáu, trì chú, trước tiên tụng toàn bộ Đại bi chú bảy lần, sau đó tụng tâm chú của Đại bi chú "Ôm xi-ten-tô man-tô-lô pa-thô-yê sô-ha" vô số lần. Tay kết ấn mở liên hoa kim cang samaya.

Thứ bảy, nhập định.
Thứ tám, hồi hướng. Đại lễ bái.

Trên đây là pháp tu đơn giản của Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát, hành giả tốt nhất nên quy y, nhận quán đảnh, sau đó được Thượng sư chỉ dạy tỉ mỉ.

Có người đã hỏi tôi về nguồn gốc của Quan Thế Âm Bồ Tát. Tôi nói rằng, trong đời quá khứ, Quan Thế Âm Bồ Tát đã sớm tu hành thành Phật, danh hiệu là Chính Pháp Minh Như Lai. Mật tông Tây Tạng còn nói rằng, Quan Thế Âm Bồ Tát là hóa thân của Phật A Di Đà. Do thấy vô lượng chúng sinh chìm đắm trong biển khổ sinh tử, mãi không nghĩ đến tu hành, mê muội trong các cảnh giới thế gian mà không tỉnh ngộ, nên Phật A Di Đà đã rơi lệ thương xót. Giọt nước mắt bên phải hóa thành Quan Thế Âm, giọt nước mắt bên trái hóa thành Bạch Độ Mẫu.

Quan Thế Âm Bồ Tát rốt cuộc là thân nam hay thân nữ? Thật ra khi đã đến Tứ Thánh giới thì không còn phân biệt nam nữ nữa. Trước thời nhà Đường, tượng Quan Thế Âm Bồ Tát không có tượng nữ thân, mãi đến sau thời nhà Đường mới có tượng nữ thân, việc thị hiện nữ thân không gì khác hơn là để thể hiện lòng từ ái của người mẹ. Ba chữ Quan Thế Âm có ý nghĩa chân thật là: "Quan sát âm thanh của thế nhân niệm danh hiệu Bồ Tát mà tùy xứ cứu độ vậy."

Rốt cuộc Quan Thế Âm Bồ Tát có bao nhiêu hình tượng? Theo như tôi biết, do Bồ Tát đại bi thị hiện, cứu độ chúng sinh khắp nơi nên hình tượng của ngài không thể đếm xuể. Những hình tượng phổ biến nhất có: Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm, Hương Sơn Hội Thượng Quan Thế Âm, Thiên Trúc Linh Sơn Quan Thế Âm, Phổ Đà Sơn Thượng Quan Thế Âm, Triều Vân Động Lý Quan Thế Âm, Nam Hải Ngạn Biên Quan Thế Âm, Bắc Hải Hà Đầu Quan Thế Âm, Tọa Liên Tống Tử Quan Thế Âm, Phong Ba Lãng Thượng Quan Thế Âm, Bản Thảo Linh Sơn Quan Thế Âm, Hoa Hóa Ngư Lam Quan Thế Âm, Bạch Y Tố Hiện Quan Thế Âm, Tử Trúc Lâm Trung Quan Thế Âm, Tăng Phúc Minh Vương Quan Thế Âm, Ngũ Luân Pháp Thủy Quan Thế Âm, Ngũ Thập Tam Tham Quan Thế Âm, Thất Thập Nhị Nguyện Quan Thế Âm, Tam Thập Lục Nguyện Quan Thế Âm, Tằng Tằng Diệm Diệm Quan Thế Âm.

Ba mươi ba ứng thân là: Dương Liễu Quan Âm, Long Đầu Quan Âm, Trì Kinh Quan Âm, Viên Quang Quan Âm, Du Hý Quan Âm, Bạch Y Quan Âm, Liên Ngọa Quan Âm, Thác Kiến Quan Âm, Thí Dược Quan Âm, Ngư Lam Quan Âm, Đức Vương Quan Âm, Thủy Nguyệt Quan Âm, Nhất Diệp Quan Âm, Thanh Cảnh Quan Âm, Uy Đức Quan Âm, Diên Mệnh Quan Âm, Chúng Bảo Quan Âm, Nham Hộ Quan Âm, Năng Tĩnh Quan Âm, A Nậu Quan Âm, A Ma Đề Quan Âm, Diệp Y Quan Âm, Lưu Ly Quan Âm, Đa La Tôn Quan Âm, Nghêu Sò Quan Âm, Lục Thời Quan Âm, Phổ Từ Quan Âm, Mã Lang Phụ Quan Âm, Hợp Chưởng Quan Âm, Nhất Như Quan Âm, Bất Nhị Quan Âm, Trì Liên Quan Âm, Sái Thủy Quan Âm. Ba mươi ba vị Quan Âm này đều có những câu chuyện thị hiện được truyền lại, tên gọi được đặt theo câu chuyện, đây là ba mươi ba ứng hóa thân của Quan Thế Âm tùy duyên hiển hiện.

Ngoài ra, Mật tông còn có nhiều danh hiệu Quan Thế Âm Bồ Tát khác: Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm, Thánh Quan Âm, Hồng Quan Âm, Xích Tử Quan Âm, Mã Đầu Quan Âm, Thập Nhất Diện Quan Âm, Chuẩn Đề Quan Âm, Như Ý Luân Quan Âm, Đại Bi Quan Âm, Đại Từ Quan Âm, Sư Tử Vô Úy Quan Âm, Đại Quang Phổ Chiếu Quan Âm, Thiên Nhân Trượng Phu Quan Âm, Đại Phạm Thâm Viễn Quan Âm, Tứ Tý Quan Âm, Bát Tý Quan Âm, Đa La Quan Âm, Tứ Diện Quan Âm, Tỳ Câu Chi Quan Âm, Viên Mãn Ý Nguyện Minh Vương Quan Âm, Kế La Sát Nữ Quan Âm. Trong Kinh Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh còn có: Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm.

Tác giả vẫn luôn xem Quan Thế Âm Bồ Tát như là giáo chủ của cõi Ta Bà, bởi vì lòng đại từ đại bi của Ngài thực sự gần gũi nhất với việc cứu độ nhân loại. Tôi đã nhận được ân đức sâu dày nhất từ Quan Thế Âm Bồ Tát. Khi tôi khoảng hơn hai mươi tuổi, tôi bị bệnh mắt (mắt phong hỏa), nhiều năm không khỏi. Tôi chuyên tâm trì tụng Bạch Y Đại Sĩ thần chú, trong mộng có một bà lão đến ban thuốc, đắp lên mắt tôi, hai mắt cảm thấy mát mẻ, từ đó, ngày qua ngày dần khỏi, tự nhiên bình phục.

Tôi thờ phụng một tôn tượng Quan Âm có bình tịnh thủy bị gãy, tôi đã dùng chuỗi hạt trắng để treo vào tay cầm bình tịnh thủy bị gãy đó. Ngay trong ngày hôm đó, tôi được thấy Bồ Tát hiển hiện, ngồi trên hoa sen nổi giữa biển. Sau đó, tôi gặp tai nạn xe cộ, bị xe đâm văng người lên không trung, rồi ngã xuống bị thương chân, nhưng sau đó chân tự nhiên lành hẳn. Khi nhìn lại tượng Quan Thế Âm Bồ Tát, toàn bộ kim thân của Ngài xuất hiện những vết nứt, từ đầu đến tòa sen không chỗ nào không có vết nứt. Quan Thế Âm Bồ Tát bảo với tôi rằng, vì tôi cúng dường Ngài, nên Ngài đã dùng kim thân của mình để thay tôi chịu tai nạn xe này. Lành thay, Bồ Tát, dùng thân vỡ nát của mình để đổi lấy cái chết của tôi, thật là ân đức lớn lao.

Sau đó, tôi tụng Kinh Cao Vương Quan Thế Âm hàng ngày, trong kinh có câu: "Diệt được khổ sinh tử, tiêu trừ các độc hại", tôi tin tưởng không chút nghi ngờ. Lúc đó có một nhóm côn đồ, thấy tôi nổi tiếng, muốn tống tiền, tôi không chịu, bọn chúng tụ tập đông người định hại mạng tôi, may mắn Bồ Tát hiển hóa, chỉ dẫn quý nhân gặp tên thủ lĩnh côn đồ để hóa giải. Việc này tôi đã ghi lại trong "Thông Linh Bí Pháp Thư", cúng dường phụng thờ Quan Thế Âm Bồ Tát đã giúp tôi chuyển họa thành phúc, bệnh tật được khỏi, đây là sự thật tôi đã trải qua, làm sao không biết được sự cảm ứng từ lòng từ bi và đức độ lớn lao của Ngài. Vị đại Bồ Tát cứu khổ cứu nạn như vậy, ai có thể hết lòng hết dạ tôn kính phụng thờ thì thật có phúc.

Tông phái Linh Tiên Chân Phật tôn sùng Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, đạo tràng Linh Tiên Tinh Xá tại Redmond đã được thiết lập, tông phong của Quan Thế Âm Bồ Tát lan tỏa khắp thế giới phương Tây, "Om mani padme hum" - Lục tự đại minh chân ngôn này sẽ cứu độ thế giới phương Tây.


### 18. Vong hồn người Việt Nam cầu cứu độ


Vào lúc 3 giờ chiều ngày 12 tháng 5 năm 1983, vợ chồng Tào Nhân Kiệt đến gặp tôi để xin quy y và quán đảnh. Tào Nhân Kiệt vốn là một lãnh đạo kiều bào Việt Nam, làm kinh doanh nhà máy xí nghiệp, là một thương gia giàu có ở Sài Gòn. Trước khi Việt Nam thất thủ, ông có sự nghiệp lẫy lừng một thời. Nhờ có người bạn Mỹ cảnh báo, vài ngày trước khi đất nước thất thủ, vợ chồng con cái ông đã phải bỏ lại tất cả để bay ra nước ngoài tạm lánh, không ngờ từ đó phải định cư hẳn ở hải ngoại. Khi vừa rời đi, ông còn đang xây dựng hai nhà máy dưới tên mình, đây là một trang sử thăng trầm của gia đình họ Tào.

Tào Nhân Kiệt cũng có một lịch sử phấn đấu ở Seattle, ban đầu bắt đầu từ công việc bán thời gian, sau đó thi đỗ vào Công ty máy bay Boeing, em trai ông cũng thi đỗ làm dược sĩ, rồi điều hành hiệu thuốc và cửa hàng, vô cùng vất vả. Ông ấy nói với tôi rằng, trong cuộc đời mình, ông đã trải qua những lúc giàu nhất, nghèo nhất, hưởng thụ và khổ cực. Quan Thế Âm Bồ Tát cũng đã hiển linh cứu độ cả gia đình họ, ông vẫn còn người thân ở Việt Nam chưa đi được. Giờ đây, tốt xấu đều đã trải qua, ông muốn quy y Phật môn, chuyên tâm tu tập, ông đã nhận ra rằng, giàu nghèo khổ vui, tất cả đều là không.

Sau khi vợ chồng Tào Nhân Kiệt nhận quy y quán đảnh, họ nói với tôi rằng ở Seattle có khoảng ba mươi nghìn người Việt Nam cần được Phật pháp cứu độ. Ông ấy biết chữ Việt Nam và muốn dịch sách của tôi sang tiếng Việt để tất cả người Việt Nam có thể đọc được. Đây là một việc rất tốt nên tôi nhanh chóng đồng ý với họ. Vợ chồng Tào Nhân Kiệt còn nói rằng, ở phố Tàu Seattle, qua cầu vượt, có một ngôi chùa của người Việt Nam, không biết chúng tôi đã từng đến chưa? Khi nghe vậy, tôi rất ngạc nhiên, hóa ra người Việt Nam có một ngôi chùa ở đây, lập tức cảm thấy phấn khởi, thế là vợ chồng Tào Nhân Kiệt lái xe chở tôi cùng vợ con đi thăm viếng ngôi chùa Việt Nam này.

Ngôi chùa này vốn là một ngôi nhà của người nước ngoài được mua lại và cải tạo, tầng trên thờ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, tượng Phật này được chế tác từ Đài Loan, tầng dưới là phòng ăn và nơi ở, ngoài trời có một tượng Bạch Y Quan Âm Bồ Tát, cả tượng Thích Ca Mâu Ni Phật và Bạch Y Quan Âm Bồ Tát đều khá lớn. Vị trụ trì là một tu sĩ Việt Nam, đã sang Vancouver, Canada, nghe nói ở Vancouver cũng có một ngôi chùa Việt Nam do thầy ấy trụ trì. Bình thường ít người đến lễ Phật, chỉ có thứ Bảy, Chủ nhật mới có người Việt Nam đến lễ Phật, khi có pháp sư đến thì cũng giảng kinh thuyết pháp, ngôi chùa do một người trẻ tuổi trông coi.

Trên lầu, chúng tôi dâng hương đảnh lễ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, và cũng dâng hương đảnh lễ Bạch Y Quan Thế Âm Bồ Tát. Ngay đối diện tượng Thích Ca Mâu Ni Phật có thờ một bức tranh Địa Tạng Vương Bồ Tát, phía dưới bức tranh có nhiều bài vị của người Việt Nam, điều kỳ diệu là các bài vị đều hướng về Thích Ca Mâu Ni Phật, chúng tôi cũng thắp hương và lễ bái. Xuống tầng dưới, chúng tôi thấy một quả chuông lớn treo ở đó, điều bất ngờ là quả chuông này được làm tại Tây Đồn, Đài Trung, Đài Loan, có thể thấy ngôi chùa Việt Nam này có nhân duyên sâu sắc với đất nước chúng tôi, nghe nói các tu sĩ đã sang học Phật pháp ở các tu viện nước ta, đây là một vinh dự lớn. Sau khi lễ Phật xong, chúng tôi cũng lên đường về, lúc này đã là 6 giờ chiều theo giờ Seattle.

Vào đêm hôm đó, sau 11 giờ, tôi đã đi ngủ thì bỗng nhiên bị một làn gió âm thổi tới làm thức giấc. Tôi mở mắt ra nhìn, trước giường tôi xuất hiện từng lớp từng lớp khói hương màu xanh lục đậm, chậm rãi bốc lên, tràn ngập cả căn phòng. Ba gương mặt u hồn hiện ra trong làn khói xanh ấy, họ không biểu lộ cảm xúc gì. Một người là đàn ông có khuôn mặt già nua nhăn nheo, hai người còn lại là thanh niên, một nam một nữ. Cả hai người trẻ đều có diện mạo xinh đẹp, đặc biệt là cô gái có vóc dáng mảnh mai và đôi mắt to đẹp. Ba người lặng lẽ di chuyển trong làn khói xanh lục. Họ nhìn tôi, tôi nhìn họ, thật là một khoảnh khắc kỳ diệu.

Tôi nghĩ, nếu là người khác gặp phải tình huống này, có lẽ đã sợ chết khiếp, tim đập loạn xạ, la hét om sòm, nhưng tôi vẫn rất bình tĩnh nhìn ba vị này. Ba vị không phải người phương Tây, cũng không phải người Đài Loan, mà chính là người Việt Nam. Đúng rồi, đó là ba hồn ma người Việt Nam đã lặng lẽ theo tôi về nhà sau khi tôi đi thăm ngôi chùa Việt Nam hôm nay. Ba linh hồn di chuyển theo làn ánh sáng xanh, khiến những tia sáng xanh khi thì tụ lại thành vòng tròn, khi thì tỏa ra, khi thì cuộn lên, nhưng tôi vẫn nhìn thấy rất rõ ràng.

Ba vị gật đầu với tôi, tôi cũng gật đầu lại. Tôi biết họ không có ác ý.
Giữa chúng tôi không thể nói chuyện được. Tôi không biết tiếng Việt.
Nhưng tôi bắt đầu dùng ngôn ngữ của cõi linh để trò chuyện với họ.
"Có chuyện gì không? Tôi có thể giúp gì cho quý vị?"
"Chúng tôi biết ngài là Thượng sư, có khả năng giúp chúng tôi."
"Nói tôi nghe xem."
"Xin hãy siêu độ cho chúng tôi, xin hãy siêu độ cho chúng tôi, chúng tôi rất đau khổ, chúng tôi rất đau khổ."
"Chiều mai các vị hãy đến nhé! Bây giờ tôi đã rất mệt rồi, được không?"
"Được." 
Họ làm cho làn khói xanh lục đậm nhảy múa một lúc, như thể đang thở vậy, tôi chăm chú nhìn làn sáng ấy, dần dần tan biến đi, cho đến khi không còn thấy rõ hình dáng nữa. Tôi ngẩn ngơ nhìn ba vị rời đi, rồi mới nhắm mắt lại, dần dần chìm vào giấc mơ, và ngủ say không tỉnh giấc.

Ngày 13 tháng 5 năm 1983, đúng vào ngày mùng 1 tháng 4 âm lịch nước ta, lúc 4 giờ chiều, tôi bảo nhà tôi chuẩn bị hai phần cúng phẩm. Một phần đặt cúng tại đàn thành Mật giáo của chư Phật Bồ Tát, gồm có trái cây, mì, nước và trà. Một phần đặt trong bếp, tạm kê bàn để thiết lập đàn tràng Địa Tạng âm linh. Trước tiên, tại đàn tràng Phật Bồ Tát, tôi tu một thời pháp Quan Âm và một thời pháp Tịnh độ. Sau đó, tôi ngồi trước đàn tràng Địa Tạng âm linh, nhìn chăm chú ba vị u hồn, rót rượu ba lần, thắp hương và đèn dầu lên, tôi nhìn thấy ba linh hồn người Việt Nam ấy.

Tôi lẩm bẩm tụng chú, ý nghĩa của thần chú này như sau: "Hỡi những linh hồn đau khổ! Xin hãy lắng nghe sự dẫn dắt của Thượng sư, cuộc đời vốn chỉ là một giấc mơ, một sự hư không, xin đừng chấp vào khổ cho là khổ, đừng chấp vào vui cho là vui, đừng điên đảo chao đảo. Xin hãy giữ vững ý chí của mình, bước đi những bước chân đúng đắn, từng sát-na đạt đến bất tử. Theo làn hương dẫn dắt của tôi, hãy thăng lên cảnh giới cao hơn! Đừng mê đắm ảo giác ngắn ngủi này, hãy thăng lên! Hãy thăng lên! Buông bỏ tất cả mọi khổ não phiền muộn, theo sự dẫn dắt của thần chú của tôi, đi vào, đi vào."

Tôi tụng Địa Tạng Vương Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn.
Tôi tụng chú vãng sinh.
Tôi tụng "Tây phương Cực Lạc thế giới ba mươi sáu vạn tỷ mười một vạn chín nghìn năm trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật".

Tôi lắc chuông kim cang, dùng âm thanh du dương của tiếng chuông để dẫn dắt họ. Ba u hồn ở cõi trung ấm, ngay trong lúc tôi toàn tâm toàn ý hành pháp, có một luồng ánh sáng chiếu vào tâm họ, họ theo hướng ánh sáng tiến lên, tiến lên. Làn khói xanh lục đã tan biến, giờ đây, họ đã thoát khỏi làn khói xanh lục ấy, thoát khỏi nỗi sợ hãi cô đơn, thoát khỏi sự mê muội thiếu niềm tin, đạt được ánh sáng trong tâm. Cuối cùng tôi chỉ còn lại một niềm tán thán, tán thán lòng từ bi của Địa Tạng Vương Bồ Tát, tán thán Phật Bồ Tát pháp lực vô biên, tán thán lòng từ bi thiện nguyện vô tận của Mật pháp.

Hướng về trung ương, tôi đảnh lễ chư Phật của bộ Trung ương, chư Phật của bộ Kim Cang phương Đông, chư Phật bộ Bảo phương Nam, chư Phật bộ Liên Hoa phương Tây, chư Phật bộ Yết Ma phương Bắc. Địa Tạng Vương Bồ Tát ngự trên tòa sen trong tâm tôi, phóng quang tiếp độ ba vong linh người Việt Nam, tôi thấy ba vong linh hoan hỷ theo ánh sáng mà đi. Trong lòng tôi nghĩ, đây chính là duyên phận! Duyên phận với người Việt Nam.

Vợ chồng Tào Nhân Kiệt đến quy y và nhận quán đảnh.
Tào Nhân Kiệt sẽ dịch sách tâm linh của tôi để độ hóa tất cả người Việt Nam, sách của tôi đã có bản tiếng Nhật, tiếng Anh và tiếng Việt rồi.
Chùa Phật giáo Việt Nam, Mật pháp của tôi lại kết được thiện duyên này, thật là tốt lành thay!


### 19. Suy tưởng lúc đêm khuya


Ngày 15 tháng 5 năm 1983 là Chủ nhật, đây là ngày bận rộn nhất của tôi vì có rất nhiều người muốn quy y và nhận quán đảnh, tôi đều sắp xếp vào ngày này. Từ Vancouver, Canada có ông Lôi Đức, ông Ngũ Phong, ông Chẩn Tam Nguyên, ông Chẩn Đắc Thắng, cô Hoàng Thiếu Lan và nhiều người khác đã lái xe suốt ba tiếng rưỡi đồng hồ để đến quy y và nhận quán đảnh. Ở Mỹ, có cả gia đình ông Vương Tiểu Bình và những người khác. Vào buổi tối hôm đó, người nghe danh đến nghe Phật pháp đông như trẩy hội, cả phòng khách chật ních người. Tôi bận rộn từ sáng đến tận mười rưỡi tối mới giải tán, thật là một pháp duyên thù thắng.

Đầu hè ở Seattle, thời tiết rất dễ chịu với nhiệt độ ôn hòa, không khí trong lành, và điều kỳ lạ nhất là mãi đến 10 giờ tối mặt trời mới lặn xuống biển. Khói hương từ mật đàn tỏa bay lên không trung, và sau khi mọi người đã ra về hết, mang lại cho tôi một cảm giác vô cùng tĩnh lặng.

Cuối cùng thì mặt trời cũng đã lặn xuống biển cảng Seattle, tôi không thể nói là "lặn xuống núi", bởi vì phía Đông Seattle là núi, phía Tây là biển cả, nên khi hoàng hôn, mặt trời lặn xuống biển chứ không phải núi. Màn đêm buông xuống, tôi đứng bên cửa sổ phía Nam của Linh Tiên Các, nhìn về hướng núi tuyết Rainier, nơi hàng nghìn hàng vạn ánh đèn đang lấp lánh.

Ánh đèn thành phố Seattle sáng lên từng ngọn một, như những ngọn đèn dầu cúng Phật. Tôi nghĩ đến những người vừa nhận quán đảnh ở đây, giờ đang lái xe với tốc độ cao trên đường cao tốc I5, nhanh chóng trở về nhà mình.

Đứng bên cửa sổ, tôi thầm cầu nguyện cho tất cả những người đã quy y và nhận quán đảnh, mong cho họ như những vì sao, mãi mãi tỏa sáng trên bầu trời, như những viên ngọc quý phóng hào quang. Mong sao việc tu trì của mọi người vang lên như tiếng sóng biển, phát ra những lời tán thán, và như từng ngọn đèn, tỏa ánh sáng hết mình để chiếu rọi mặt đất đen tối này. Đêm nay thật đẹp, đêm Seattle lấp lánh những ánh vàng.

Tôi nhớ về những người đã quy y và nhận quán đảnh trong ngày, tôi đã cẩn thận truyền cho từng người pháp Quan Âm của tông phái Chân Phật Linh Tiên, pháp của tôi như thế này:

Thứ nhất, thắp hương, cúng dường, lễ Phật.

Thứ hai, tu pháp tứ quy y. Quy y Thượng sư, quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng. Thần chú là: "Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê."

Thứ ba, thỉnh mời Quan Thế Âm Bồ Tát. Dùng niệm danh hiệu của Ngài, quán tưởng hình tượng của Ngài, hoặc quán tưởng pháp khí tịnh bình, vận dụng các loại niệm lực để thỉnh mời.

Thứ tư, Quan Thế Âm Bồ Tát hiện thân, rõ ràng minh bạch, từ tịnh bình cam lộ của Quan Thế Âm Bồ Tát phóng ra ánh sáng trắng, đi thẳng vào đỉnh đầu, chuyển hóa tam nghiệp của mình - khẩu nghiệp, thân nghiệp, ý nghiệp - thành thanh tịnh, biến tam nghiệp này thành tam mật, đây chính là "bí mật trang nghiêm" của hành giả Mật tông.

Thứ năm, niệm tâm chú của Quan Thế Âm Bồ Tát: "Ôm ma-ni pê-mi hùm", từ 108 biến đến 1080 biến. Khi trì tâm chú này, chính mình chính là Quan Thế Âm Bồ Tát.

Thứ sáu, nhập định, định vào một. Tu trì theo pháp tọa thiền thông minh.

Thứ bảy, hồi hướng phát tâm và lễ Phật.

Ngoài ra, tôi còn truyền dạy một số pháp mặc giáp hộ thân để giúp tất cả đệ tử được bảo hộ và phòng tránh ma chướng. Tôi mong mỏi tất cả đệ tử có thể nương tựa vào một pháp, tinh tấn tu trì, để ai ai cũng được chứng đắc. Khi chứng đắc, tự nhiên sẽ thượng hạ hợp đức, trên thì hợp với diệu tâm bản giác của chư Phật mười phương, đồng thể với Phật, cùng một từ lực, có thể vận dụng vô duyên đại bi để phổ độ chúng sinh. Dưới thì hợp với tâm tính của chúng sinh trong lục đạo mười phương, có thể cùng chúng sinh đồng ưu phiền, cùng bi ngưỡng.

Tất nhiên, tôi biết rằng chúng sinh trên địa cầu hiện tại như đang sống trong thời kỳ đen tối của thời mạt pháp. Tất cả chúng sinh như những con muỗi bị nhốt trong một chiếc bình kín, cùng bay đi bay lại, kêu vo ve ồn ào không ngừng nghỉ. Có những người chỉ biết theo đuổi vinh hoa phú quý, lại có những kẻ mượn danh tu Mật tông để chạy theo quyền quý phú hào, bám víu quan hệ, tham cầu danh lợi. Những chúng sinh như vậy, làm sao hiểu được rằng tất cả mọi thứ đều do tâm thức biến hiện, và có mấy ai thực sự thấu suốt được điều này?

Đêm Seattle thật đẹp làm sao.
Bầu trời đêm Seattle càng đẹp tuyệt vời hơn nữa.

Thật ra, tôi đã nhận được sự ưu ái đặc biệt từ trời cao, và cả sự ưu ái đặc biệt từ các vị tông trưởng tiền bối, để có thể nhận thức được bản lai diện mục của vũ trụ. Đáng thương thay loài người, đừng nghĩ rằng thế giới của loài kiến quá nhỏ bé, bởi vua kiến tự cho mình là "thiên hạ chỉ có mình ta", nó không biết đến sự tồn tại của các thế giới khác, tự mãn với chính mình, tự cho rằng tất cả kiến thợ đều là thần dân của nó. Loài muỗi cũng vậy, chúng sống tự mãn trong không gian của riêng mình, cũng tự cho rằng mình thông thái vô song. Con người đáng thương cũng như vậy, tự cho rằng mình là sinh vật cao đẳng nhất trong một Thái Dương hệ. Thực ra có hàng tỷ Thái Dương hệ, đối với loài người mà nói, đây quả thực là một con số thiên văn, và ngoài con người ra, có không biết bao nhiêu sinh vật cao cấp hơn con người.

Thế giới của loài kiến không biết đến sự tồn tại của thế giới loài người, thế giới loài người không biết đến sự tồn tại của thế giới thần Phật, đây là sự vô minh ngang nhau trong vũ trụ. Có thế giới nào nhỏ bé hơn thế giới của loài kiến không? Tôi nói là có, các nhà khoa học đã nhìn thấy qua kính hiển vi một thế giới vi khuẩn còn nhỏ bé hơn, cần biết rằng thế giới vi khuẩn cũng có sự khác biệt về chủng loại, cũng có chiến tranh, cũng có ngày và đêm, và còn có cả những quy luật sinh tồn của riêng chúng. Thế giới vi khuẩn không biết đến thế giới kiến, thế giới kiến không biết đến thế giới loài người, thế giới loài người không biết đến thế giới thần Phật, đây đều là những sự vô minh ngang nhau.

Cần biết rằng, vi khuẩn cũng có mặt trời mặt trăng, có nguyên tử dương âm, có neutron, có ion.
Cần biết rằng, kiến cũng có mặt trời mặt trăng, có nguyên tử dương âm, có neutron, có ion.
Cần biết rằng, thế giới loài người cũng có mặt trời mặt trăng, có nguyên tử dương âm, có neutron, có ion.

Vũ trụ này rốt cuộc lớn đến đâu? Giới trí thức trong thế giới vi khuẩn vĩnh viễn không biết được, giới trí thức trong thế giới loài kiến vĩnh viễn không biết được, giới trí thức trong thế giới loài người cũng vĩnh viễn không biết được, nhưng giới trí thức ở bất kì thế giới nào cũng tự cho rằng mình biết hết mọi thứ, điều này chẳng phải rất đáng thương sao? Mà còn rất đáng cười nữa. Tôi nói rằng, linh hồn của tôi đã từng bay đến những hành tinh ở các thế giới khác, mọi người đều nói Lư Thắng Ngạn phát điên, thực ra tất cả những gì Lư Thắng Ngạn nói đều là sự thật, chỉ là do sự vô minh của đám trí thức này mà thôi. Việc loài người chúng ta thăm dò phạm vi vũ trụ trong mười phương trên dưới cũng giống như việc giới trí thức trong thế giới vi khuẩn thăm dò phạm vi vũ trụ trong mười phương trên dưới, đều là những sự vô minh ngang nhau. Điều tôi muốn nói với tất cả nhân loại là, loài người chúng ta cũng đang sống dưới kính hiển vi của Phật, các Ngài tồn tại trong một không gian khác, giống như cách chúng ta nhìn xuống sự tự mãn của vua kiến vậy.

Mọi người hãy thử nghĩ xem, khi Đức Phật đang nhìn xuống tổng thống Reagan đang huênh hoang thị uy, giống như cách chúng ta nhìn xuống một con kiến chúa đang chỉ huy đám kiến thợ vận chuyển thức ăn, lúc này trong tâm Đức Phật sẽ có cảm giác và cảm khái gì, và trong mắt Phật, tổng thống Reagan là gì?

Trong không gian thời gian vô cùng vô tận này, vũ trụ siêu lớn bao gồm vũ trụ trung cấp, vũ trụ trung cấp bao gồm vũ trụ nhỏ, vũ trụ nhỏ bao gồm vũ trụ vi tế, tất cả mọi thứ đều được cấu tạo từ những hạt nhỏ, có cái gọi là hạt nguyên tử, có cái gọi là tế bào, electron quay bên ngoài chính là mặt trời mặt trăng, proton, neutron chính là trái đất, từ thế giới nhỏ bé đến thế giới to lớn, có thể nói không can thiệp lẫn nhau, nhưng chỉ có những người có trí tuệ siêu việt mới có thể hiểu được điều này (không phải chỉ trí thức), như tôi, tôi chính là người duy nhất nhận thức được sự vô tận của vũ trụ.

Loài người chỉ có thể dùng một loại "sức mạnh của tâm niệm" để siêu việt, mới có thể giao tiếp với toàn bộ thế giới thần Phật, mới có thể bước vào thế giới của các Ngài. Hôm nay tôi đã không ngừng giải thích về năng lực siêu việt vĩ đại này, chẳng lẽ giới trí thức vẫn không thể hiểu được sao? Thật kỳ lạ thay!


### 20. Tâm sự của người khác


Theo tư tưởng của Đức Phật, mỗi người tu hành đều phải đoạn trừ dục niệm, bởi dục niệm là gốc rễ của mọi phiền não. Sự hình thành của chúng sinh trong lục đạo thế gian là do có dục niệm mới hình thành, sinh rồi tử, tử rồi sinh liên tục không ngừng, dục vọng của hai tính mới khiến cho chúng sinh trong lục đạo thế gian này tiếp tục nối tiếp.

Dục niệm là gốc rễ của phiền não, cũng là gốc rễ của tiến hóa, hơn nữa là gốc rễ của văn minh, và tất nhiên cũng là gốc rễ của mọi nỗi đau khổ do ham muốn không đạt được, đương nhiên cũng là gốc rễ của chiến tranh. Sinh mệnh của con người bắt nguồn từ dâm dục, và chỉ những ai đoạn trừ được dâm dục mới được coi là thanh tịnh phạm hạnh.

Phật Thích Ca Mâu Ni lại dạy rằng, nếu chưa đoạn trừ được "dâm niệm", dù cho người đó đã thông đạt được Phật lý thâm sâu, trong quá trình tu hành chỉ cần khởi lên một niệm dục vọng, cảnh dục sẽ tùy theo đó mà sinh khởi. Khi những cảnh dục này đan xen xuất hiện, sẽ phá hoại giới thể vốn đã tu trì rất tốt, như vậy ắt sẽ xảy ra việc phạm giới. Hành giả như thế, nếu muốn hàng phục ma chướng, đó là điều không thể, tương lai ắt sẽ đọa vào ma đạo.

Phật Thích Ca Mâu Ni dạy rằng, người tu hành không được khởi tâm dâm dục, cũng không được phạm giới dâm dục, đây là pháp thanh tịnh đệ nhất mà chư Phật trong quá khứ và hiện tại đều tu tập. Đức Phật đã ví dụ rằng, một người hành dâm mà muốn tu thành đạo, giống như nấu cát đá trong nồi cơm vậy, dù có nỗ lực tu hành đến đâu cũng là uổng công vô ích.

Ở Seattle, có một vị cư sĩ cao niên đến tìm tôi, vị cư sĩ này có một người bạn tốt có chí tu hành, nghiên cứu sâu Phật pháp, có chí tu trì thiền định. Ông ấy muốn nhờ vị cư sĩ giới thiệu để được quen biết với tôi, tôi đồng ý và nói rằng gặp mặt rồi sẽ nói.

Lần đầu gặp mặt, ông ấy đến thăm tệ xá, người này là người có phúc báu lớn, dáng người phúc hậu, hai tai rủ dài xuống, đôi mắt tràn đầy trí tuệ, kiếm được không ít tiền, kinh doanh nhiều cửa hiệu, còn đầu tư bất động sản ở địa phương này, tính tình cũng rất tốt, nhiệt tâm hoằng dương Phật pháp, có thể nói là một vị thiện tri thức vừa làm kinh doanh vừa học Phật.

Tuy nhiên, tôi nhìn thấy trên người ông ấy có một luồng khí màu xám xen lẫn đỏ trắng, đây là hạt giống dâm dục, trong người ông ấy có cơ dâm, trong tâm có dâm niệm, giống như ngọn lửa cháy trên khúc gỗ ẩm ướt, tỏa ra ánh sáng xanh lục mờ ảo, đây là điều tôi quan sát được bằng con mắt thứ ba.

Lần đầu gặp mặt, tôi không tiện nói thẳng, chỉ trò chuyện sơ lược về đạo lý nhà Phật, và về nhân duyên học Phật trước đây của ông ấy.

Lần thứ hai, tôi thông báo cho ông ấy về buổi pháp hội của chúng tôi và mời ông ấy đến. Kết quả là ông ấy viện cớ bận công việc nên không thể đến.

Lần thứ ba, tôi thông báo cho ông ấy về buổi pháp hội của chúng tôi và mời ông ấy đến. Kết quả là ông ấy viện cớ sắp phải đi xa.

Sau đó, trong một lần thiền định, tôi nhìn thấy một hình ảnh kỳ dị, đó là một vị thần quỷ La Sát đi trên mặt đất, đang há miệng to nuốt chửng một người, và người đó không phải ai khác, chính là vị thương nhân học Phật kia. Sau khi xuất định, tôi cảm thấy đây không phải là điềm lành, tôi tìm đến vị cư sĩ cao niên, gấp rút tìm ông ấy. Gọi điện thoại đi thì người không có ở đó, thì ra ông ấy đã ly hôn với người vợ cũ, vừa mới tái hôn và đang đi du lịch trăng mật.
Điều này đã chứng thực tâm niệm dâm dục trong lòng ông ấy.

Nửa tháng sau, tin truyền đến rằng ông ấy lái xe trên đường cao tốc và bị một chiếc xe tải đối diện đâm phải, ông ấy bị kẹt chết trong ghế lái.
Điều tôi thấy trong thiền định về việc La Sát nuốt chửng ông ấy đã được chứng thực.

Sau khi ông ấy qua đời, một người đối tác đầu tư với ông ấy, họ Lữ, là một tín đồ Cơ Đốc giáo, đã đến gặp tôi và hỏi rằng, một người tu Phật tinh tấn như vậy, một người tự xưng là cư sĩ Phật giáo, đã in và phát tặng rất nhiều kinh sách, gặp ai cũng giảng Phật pháp, tại sao lại bị xe đâm chết, chẳng lẽ Phật Tổ không phù hộ cho ông ấy sao?

Ông Lữ nghi ngờ hỏi tôi: "Nghe nói ông ấy cũng đã từng đến chỗ thầy, chẳng lẽ thầy không thấy được vận mệnh của ông ấy sao, thầy không thể ra tay cứu ông ấy sao?"

Còn tôi, tôi chẳng thốt nên lời. Là một người tu học Mật pháp, đã được Phật Thích Ca Mâu Ni sờ đầu thọ ký, được ban tặng danh hiệu Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư, một bậc Mật hành tôn giả, hôm nay chỉ biết câm nín. Ngoài việc lắc đầu ra, tôi không muốn giải thích gì thêm. Người đời, có ai biết được rằng, lời dạy thanh tịnh đệ nhất của Như Lai chính là tâm không sinh dâm niệm, thân không khởi dâm hành. Hiện nay có rất nhiều người, bề ngoài thì lễ bái Phật, cũng làm một chút từ thiện cứu tế mùa đông, cũng tham gia xây chùa, in một ít kinh sách tặng người, gặp ai cũng chắp tay, cũng cạo đầu trọc lóc, mở miệng là Phật, khép miệng cũng là Phật, mạo xưng thiện tri thức, nhưng một khi rơi vào "hố dâm" thì không thể tự thoát ra được, việc lễ Phật bề ngoài chỉ là để cho mọi người thấy, tu hành như vậy làm sao được Phật gia hộ?

Thành thật mà nói, trong quá trình tu tập, bản thân tôi cũng tự nhiên gặp những người phụ nữ vô cùng kiều diễm, đẹp như tiên nữ; cũng gặp phải những cảnh quyến rũ trăm bề, không thể tự chủ. Tuy nhiên, trong những lúc như say như mê, không thể làm chủ bản thân đó, tôi luôn bừng tỉnh quay đầu, những thử thách như vậy quá nhiều. Có một lần, năm người phụ nữ xinh đẹp cùng lúc thi triển mê hoặc, nếu không phải tôi có định lực tuyệt vời, có lẽ đã bị họ xoay như chong chóng. Thoát ra khỏi mê hoặc, giống như vừa tỉnh cơn ác mộng, có hối hận có tiếc nuối, may mắn trong tâm tôi có ánh sáng bách bảo vô úy, vội vàng tránh xa, nếu không đã phạm vào đại giới căn bản của Phật pháp. Tôi thấy rằng có quá nhiều người đạo tâm yếu ớt, đạo lực không đủ, đạo tâm không vững, không chịu nổi sự mê hoặc của sắc đẹp, tự nhiên trở thành món điểm tâm trong miệng dạ xoa la sát.

Con mắt thứ ba của tôi rất nhạy cảm, đã đạt đến mức có thể đọc được suy nghĩ của người khác, tôi hoàn toàn hiểu được người khác đang nghĩ gì, bất kì ai giả vờ trước mặt tôi đều vô ích. Càng hiểu rõ những điều này, tôi chỉ thấy sự đáng sợ của con người, ngay cả trong số học trò của tôi cũng có người bề ngoài nói lời tâng bốc, nhưng sau lưng lại phỉ báng tôi như rắn độc, nguyên nhân chính là vì tôi không đáp ứng được điều họ cầu xin. Ngay từ cái nhìn đầu tiên, tôi đã hoàn toàn hiểu được đa số người đang nghĩ gì, đó chính là con mắt thứ ba đặc biệt, nhưng liệu tôi có nên nói ra sự giả tạo của họ ngay trong lần gặp đầu tiên không?

Thể sinh mệnh vốn có ánh sáng, loại ánh sáng này được phát ra từ điện trong cơ thể con người. Mỗi người đều có ánh sáng khác nhau, có màu vàng kim, màu trắng, màu đỏ, màu xanh, màu xám, màu nâu, v.v... và cũng có những màu pha trộn giữa hai màu, ví dụ như màu đỏ có thể chia thành đỏ tươi, đỏ thường, đỏ nhạt, đỏ rực lửa, hồng phấn, v.v... Tất nhiên cũng có những màu thuần khiết và những màu pha trộn nhiều màu khác nhau. Những màu sắc này liên tục thay đổi theo ý niệm và hành vi của con người, về hình dạng thì chia thành ba loại: có người nhìn như ánh sáng, có người nhìn như khói, có người nhìn như mây. Có loại thì đứng yên, có loại thì rung động.

Có người nói rằng những gì Lư Thắng Ngạn nói có lẽ không đúng sự thật. Tôi xin thành thật nói với mọi người rằng, trong mắt mọi người, ánh sáng mặt trời là một màu hay nhiều màu? Mọi người thấy ánh sáng mặt trời thực sự là một màu vàng nhạt, nhưng khi chiếu qua lăng kính, ánh sáng mặt trời tách thành bảy màu đỏ, cam, xanh lam, xanh lục, vàng, chàm, tím. Thực ra không chỉ có bảy màu, giữa các màu này còn có những màu trung gian, thậm chí còn có những tia hồng ngoại, tia cực tím mà lăng kính không thể phân tách và mắt thường không thể nhìn thấy được. Còn có những tia X khó hiểu hơn nữa, trong không gian còn tồn tại tia alpha, tia beta, tia gamma, v.v... Những gì mắt thường con người có thể thấy được thực sự rất hạn chế, nhưng trên cơ thể con người thực sự có ánh sáng, không thể vì không nhìn thấy ánh sáng trên cơ thể con người mà phủ nhận sự tồn tại của nó. Thực tế, trong vũ trụ này là một thế giới phức tạp của các thể ánh sáng, lấy ví dụ về ánh sáng mặt trời, ánh sáng mặt trời không phải một màu mà là sự tổng hợp của vô lượng màu sắc, đây là một cách giải thích phù hợp với khoa học.

Đối với tôi, tôi không muốn nhìn thế giới một cách xấu xí, cũng không muốn thấu hiểu suy nghĩ của từng người. Hiện tại tôi cố gắng tránh sử dụng con mắt thứ ba, tốt nhất là tôi cũng giả vờ như một kẻ khờ khạo, không biết gì cả, không hiểu gì cả, khi người khác hỏi, tôi chỉ biết câm lặng.

Biết trước mọi việc là một nỗi đau, nhưng có ai hiểu được nỗi đau đó của bạn, khi bạn biết rõ người khác nói một đằng nghĩ một nẻo, làm sao có thể nghiêm khắc chỉ trích họ được. Vì vậy! Tốt nhất là im lặng lắc đầu không biết.

Tâm sự của người khác, đừng cố tìm cách "giải mã" nữa.


### 21. Đừng đợi đến già mới học đạo


Tôi có một đệ tử nữ họ Phan, hơn ba mươi tuổi, đã quy y và quen biết tôi khoảng bảy năm, sau khi quy y chúng tôi gặp nhau khoảng bảy lần, cô ấy chỉ đến thăm tôi mỗi năm một lần, và chỉ vào những dịp sinh nhật của tôi mới quay về thăm thầy. Đệ tử Phan có dung mạo thanh tú, nói năng khéo léo, để lại ấn tượng sâu sắc cho nhiều học trò.

Sau khi tôi đến Mỹ, đệ tử Phan gọi điện cho tôi, cô ấy nói toàn thân đều là bệnh, nào là phẫu thuật nào là châm cứu, còn trẻ tuổi mà đã bị lao phổi, ở cổ họng và lưng đều có u cứng, sợ rằng là bệnh nan y. Vì thế cô ấy xin được đến Mỹ một lần, muốn thực sự học một số pháp, trước khi chết, muốn được nương tựa vào Phật, bù đắp những thiếu sót.

Lúc đó, trong lòng tôi có một nỗi cảm khái, quy y đã bảy năm, chưa từng nghĩ đến việc học pháp tu pháp, đợi đến khi bệnh tật đến thân mới nhớ ra tầm quan trọng của Phật pháp, liệu có kịp không? Đệ tử Phan xin được visa du lịch, quả nhiên đã đến tận Seattle để cầu pháp, cô ấy viết một lá thư trình lên tôi, nay xin công bố toàn văn như sau:

*Sư phụ:*

*Con xin cảm ơn sự yêu thương và chăm sóc của thầy trong nhiều năm qua. Ân từ mà thầy ban cho, con sẽ khắc cốt ghi tâm, mãi mãi ghi nhớ trong lòng. Giờ đây con đã biết kiếp này khó mà báo đáp, cũng không có khả năng tạ ơn, chỉ còn cách mang ơn thầy mà thôi.*

*Hiện giờ con chỉ còn một mình cô đơn, thật sự là không còn người thân thích, không có ai để nương tựa, mọi việc đều phải tự lo liệu. Trước đây nhờ có nhan sắc, con còn được nhiều người vui vẻ thân cận và giúp đỡ, nào ngờ tuổi còn trẻ mà nghiệp chướng lại nặng nề đến thế, bệnh tật đã ghé thăm con, khiến dung nhan con già nua, giờ đây thân không tự chủ, thể lực có hạn, không còn phấn chấn được nữa. Đôi khi con cảm thấy mình không còn sống được bao lâu nữa, vô cùng đau đớn vì số phận mình sao mà bạc bẽo đến thế. Uổng công những năm trước đã quy y sư phụ, hiểu được thân người khó được, muốn tu tập thì lại vì hoàn cảnh bận rộn mà cứ trì hoãn mãi, đợi đến khi có thời cơ mới tu, nhưng giờ đây thân thể yếu ớt khó chống đỡ, muốn tu hành mà không biết có muộn quá không, e rằng chưa kịp tu thành thì đã phải đến địa ngục điểm danh.*

*Thưa sư phụ, con biết bề ngoài thầy nghiêm nghị nhưng trong lòng rất từ bi, từ trước đến nay đều không ghét bỏ con - một đệ tử vô dụng với trí tuệ kém cỏi này. Vì vậy con một lòng nghĩ đến việc cầu pháp, mong thầy từ bi thương xót, có thể cứu mạng con, chỉ dạy và cứu giúp con, nên con đã mạo muội đến quấy rầy thầy. Thực ra, trong thế giới rộng lớn này, con không còn chỗ dung thân, con chẳng hề oán thán điều gì, tâm đã tĩnh lặng như nước hồ thu, nếu không có sự hiện diện của thầy trên thế gian này - vị cứu tinh duy nhất của con, ngọn đèn Phật pháp duy nhất tỏa ánh sáng chiếu rọi chúng sinh, là tia hy vọng cuối cùng trong đời con - thì con đã tự kết liễu từ lâu rồi. Việc con còn sống đến ngày hôm nay, mạng sống vô dụng này, hoàn toàn là nhờ ơn cứu độ của thầy, ân tình này cao hơn trời, sâu hơn biển, không thể nào diễn tả được.*

*Thưa sư phụ, sau này thầy sẽ còn bận rộn hơn nữa, cứu độ nhiều chúng sinh hơn, mỗi ngày phải trả lời quá nhiều thư từ, không bao giờ trả lời hết được, mỗi ngày càng có nhiều người tìm đến, người thì cầu thầy chữa bệnh, người thì cầu thầy truyền pháp quán đảnh, người thì cầu thầy giải đáp khó khăn. Vì vậy, khi con học được pháp rồi, sau khi về con chỉ gửi thư thăm hỏi sức khỏe thầy, không dám làm phiền đến tu hành thanh tịnh của thầy nữa, cũng xin thầy không cần hồi âm cho con.*

*Thưa sư phụ, đệ tử mạnh dạn khẩn cầu sư phụ, hôm nay đến Mỹ là một cơ hội hiếm có, kính xin sư phụ chỉ dạy cho con nhiều phương pháp tu trì, pháp môn minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử và những điều về vận mệnh kiếp này và kiếp sau của con, có lẽ lần này con đi rồi, từ đây không thể gặp lại mặt sư phụ nữa. Dĩ nhiên, con còn hy vọng hơn nữa là trong quãng đời cuối cùng này, con tu tập được tinh tấn, ngày sau vãng sinh, ở thế giới Tây phương Cực Lạc, lại được gặp sư phụ, được ở bên cạnh thầy nghe kinh học đạo, như vậy thì còn gì tuyệt vời hơn.*

*Thưa sư phụ, con biết thầy rất bận, lại còn tịnh tu ở Linh Tiên Các, con lại không biết cách nói chuyện, đôi khi hỏi những câu rất ngây ngô, đôi khi rất nông cạn, con tự thấy rất xấu hổ vì trí tuệ kém cỏi, kính xin sư phụ đừng chê cười, đừng trách phiền, con hoàn toàn xuất phát từ tận đáy lòng, vạn phần thành kính thỉnh cầu. Đệ tử thành tâm thành ý nhất tâm tam bái thỉnh cầu, con sẽ mãi mãi ghi nhớ những Mật pháp này, nghiêm túc trong những tháng ngày sắp tới, thực sự học được đạo vãng sinh.*

*Đệ tử Lan kính thư.*

Tôi nói với cô ấy rằng, tự tính của chúng ta vốn là một loại "tinh minh", và phàm phu có tính của lục căn, từ tính của lục căn biến thành lục trần, trở thành có sinh có diệt. Nếu có thể đưa lục căn này trở về "tinh minh", đó chính là trở về nguồn cội, như vậy sẽ không sinh không diệt.

Vì thế, tôi truyền Mật pháp lâm chung của A Di Đà Phật cho cô ấy, tôi xin kính cẩn ghi lại pháp bí mật như sau:

Người tu dùng tư thế nằm, không phải là nằm ngửa, mà là nằm nghiêng bên sườn phải, chính là thế nằm cát tường. (Người bệnh dùng cách này.)

Quán tưởng thắng cảnh của Tây phương Cực Lạc thế giới, tốt nhất là đặt tranh vẽ Tây phương Cực Lạc thế giới ở ngay bên trên chỗ nằm, tưởng tượng nơi mình ở biến thành cảnh giới của Cực Lạc quốc, có hàng cây thất bảo, nước tám loại công đức, v.v… cảnh giới này đều tưởng tượng ở trong đầu. 

Và tưởng tượng chính mình thành Bổn tôn A Di Đà Phật. Quán tưởng khuôn mặt của mình là A Di Đà Phật, thân thể mình đang ở tư thế sư tử nằm ngủ của A Di Đà Phật, toàn thân tỏa ánh sáng, tất cả viên mãn. (Tay kết ấn thiền định.)

Khi thở khí ra, nghĩ nó thành màu đen, khi hít khí vào, nghĩ nó thành ánh sáng trắng. Làm như thế 21 lần.

Trong tâm niệm thầm tâm chú căn bản của A Di Đà Phật: "Ôm a-mi-tê-wa sê". Niệm chú này vô số biến, khiến cho thân khẩu ý của chính mình tam nghiệp chuyển thành tam mật, tam mật hợp lại thành một.

Nằm là thân mật, miệng niệm chú là khẩu mật, quán tưởng Bổn tôn Phật cảnh là ý mật, Bổn tôn như thế là ta, ta chính là Bổn tôn, tự nhiên sẽ thành tựu.

Tu pháp như vậy là pháp tu tinh tấn mà người bị bệnh sắp chết nên tu, đây là sự che chở của nguyện lực từ bi của A Di Đà Phật. Hồi hướng niệm rằng: "Nguyện con lúc lâm chung, trừ hết mọi nghiệp chướng, gặp được Phật Di Đà, tiếp dẫn liên hoa sinh."

Khi mới bắt đầu thực hành pháp này, vẫn phải tôn kính Thượng sư truyền pháp.

Trong số đệ tử của tôi, có rất nhiều người giống như đệ tử Phan, tuy họ quy y với tôi nhưng hoàn toàn không biết phương pháp tu trì, những đệ tử quy y này thực sự không như pháp, không biết pháp. Quy y chỉ là một danh xưng trống rỗng, quán đảnh cũng chỉ là một danh xưng trống rỗng, vừa gặp tôi, câu đầu tiên đã là "Thưa thầy, gần đây việc làm ăn của con không tốt." "Thưa thầy, có pháp đặc biệt nào giúp con phát tài lớn không?" Khi nghe những lời này của đệ tử, lòng tôi đau xót vô cùng. Trong lòng đệ tử, Mật pháp họ cần chỉ là pháp phát tài. Mỗi ngày, có rất nhiều đệ tử từ Đài Loan gọi điện cho tôi, trung bình một ngày bốn cuộc. Có đệ tử đi bán bảo hiểm, cầu pháp nhất định thành công; có đệ tử bán đất không được, cầu pháp bán được đất; có đệ tử làm ăn không tốt, cầu pháp làm ăn phát đạt hơn; có đệ tử mơ mộng hão huyền, cầu pháp trúng ngay vé số quốc gia. Những cuộc gọi như vậy không đếm xuể, mà người cầu pháp tu trì thành Phật thì ít ỏi vô cùng, những đệ tử này, thật đáng thương thay, đáng thương.

Có những đệ tử còn kỳ lạ hơn, đợi đến già mới học đạo, nói để mười năm nữa rồi tính! Đợi hai mươi năm nữa khi không còn hưởng được phúc nữa rồi tính! Đợi đến khi tóc bạc trắng, răng lung lay rồi tính! Giống như đệ tử Phan vậy, lúc còn trẻ, xinh đẹp như hoa, dáng vẻ yêu kiều, không hưởng lạc lúc này thì còn đợi đến bao giờ? Tu Phật pháp là việc của người già! Nào hay ma bệnh vừa đến, chỉ một tháng đã khiến một đóa hoa xinh đẹp trở nên tàn úa. Thời gian chớp mắt trôi qua, ngay cả mạng sống cũng không giữ được, tu hành còn kịp nữa không? Những người này thật đáng thương thay, đáng thương.

Điều tôi muốn nói với độc giả là đừng đợi đến già mới học đạo, vì mộ cô đơn toàn là của người trẻ tuổi. Trong đời người, gặp được một vị thầy chân chính không dễ, được thầy truyền pháp càng không dễ dàng. Phải nghe pháp, nghe pháp rồi phải tu pháp, tu pháp rồi phải giữ vững tâm hướng về đạo, nỗ lực tinh tấn không ngừng nghỉ. Tôi từ bi thương xót chúng sinh đáng thương, nhưng những người đọc bài văn này rồi lại để gió thổi qua tai, thật nhiều như cát sông Hằng, vẫn phải nói lại câu cũ: đáng thương thay đáng thương, những người này bao giờ mới quay đầu?


### 22. Ý kiến của học trò


Đệ tử Hoa Ngọc ở Đài Bắc gửi cho tôi một bức thư, bày tỏ một số ý kiến của cô ấy. Những ý kiến này đáng được công bố trong sách, vì vậy tôi ghi lại như sau:

*Thượng sư kính yêu,
Đệ tử Hoa Ngọc xin thỉnh an và thăm hỏi Thượng sư.*

*Thượng sư hoằng dương Linh Tiên Chân Phật Tông tại Mỹ quả thật phi thường, công đức vô lượng, đệ tử thành tâm ngưỡng mộ.*

*Kính thưa Thượng sư, hôm nay đệ tử xin thành thật thưa với thầy, cách đây tám năm, đệ tử đã vô cùng ngưỡng mộ thầy, đã hết sức cố gắng muốn được gặp Thượng sư, nhiều lần tìm đến Đài Trung, nhưng lúc đó Thượng sư đã đóng cửa không tiếp khách, mỗi lần đều không thể gặp được, không có cơ hội diện kiến Thượng sư một lần, đành phải buồn bã ra về.*

*Trong suốt thời gian này, con luôn nhớ về thầy. Cho đến một ngày tám năm sau, tức là vào tháng Tư năm ngoái, khi con đang ở trong giai đoạn mất tinh thần nhất và hoang mang nhất, bỗng nhiên con nảy ra ý định muốn thử xem có thể gặp được thầy một lần không. Nhờ sự giúp đỡ của mẹ thầy mà con mới chính thức được kết nhân duyên với thầy. Trời xanh cuối cùng cũng không phụ lòng người, hôm nay con có diễm phúc được quy y với thầy, thật vô cùng cảm kích. Từ nay về sau con nhất định sẽ tu hành tinh tấn, phụng sự thầy, hoàn thành tâm nguyện cả đời của con.*

*Thưa thầy, hiện con đang làm việc tại một công ty với thành tích khá tốt. Công việc của con là phụ trách bán hàng và phát triển. Trong công ty có hơn trăm người, con là nữ nhân viên duy nhất. Con có năng lực cao, được sếp trọng dụng, và thành tích của con đứng đầu công ty. Ngoài việc chăm chỉ làm việc, con xin thổ lộ với thầy một bí mật, đó là con rất thành tâm thực hành pháp cúng Thổ Địa. Mỗi lần con cầu nguyện Nam Sơn Phúc Đức Thổ Địa đều rất linh nghiệm. Con thường xuyên đến cầu nguyện với Ngài và kết quả thật sự rất thuận lợi. Hiện nay, con chỉ biết làm nhiều việc thiện, in nhiều kinh sách, tinh tấn tu tập, dùng lòng thành kính của mình để báo đáp sự che chở của chư Phật Bồ Tát và các vị thần thiện.*

*Hôm kia, con nghe nói ở Thạch Bài có pháp sư Thịnh Lưu, biết xem tướng và xem nhân quả. Đồng nghiệp của con muốn đến gặp cho nên con đi theo. Kết quả thật đáng thất vọng. Con cho ông ta điểm số là "trứng vịt - 0 điểm". Bởi vì đây là một pháp sư "miệng kim cương" của Vượng La Tử Tiên, ông ta toàn nói chuyện đời thường, chỉ trích người khác, còn bàn chuyện chính trị, nói năng bừa bãi. Chỉ cần thấy cách ông ta phát biểu ý kiến một cách thiếu thận trọng, không có ý tứ oai nghi của pháp sư, con đã biết đây là một vị tục tăng. Lúc thì chửi này, lúc thì mắng kia, ông ta nhìn cái gì cũng không vừa mắt, như thể chỉ có mình ông ta là người tốt, còn thiên hạ đều là người xấu, hoàn toàn là một người tự cao tự đại và hẹp hòi. Khi pháp sư Thịnh Lưu biết con là đệ tử của Thượng sư, ông ta kinh ngạc đến nỗi suýt run cả người, liên tục hỏi tại sao con lại bái thầy làm sư phụ. Ông ta nói cũng thường xem sách của thầy, cuối cùng còn bảo vì con quy y với thầy nên ánh mắt lộ vẻ ngoại đạo, nói đến mức như thể con thật sự bị ma ám vậy, suýt nữa thì con tức chết ngay tại chỗ.*

*Pháp sư Thịnh Lưu xem tướng số của con và nói rất nhiều, nhưng không có điều gì đúng cả, hoàn toàn sai lệch. Con liên tục gợi ý và nhắc nhở ông ta, nhưng ông ta quá chậm hiểu, phản ứng rất đần độn. Ông ta còn nói con sẽ "chết bất đắc kỳ tử", thật là vô lý, con không tin những lời nói vô căn cứ đó của ông ta. Con đã nói ngay tại chỗ rằng, con tu Phật pháp, làm gì có chuyện chết bất đắc kỳ tử, con cũng không sợ chết, cho dù có chết bất đắc kỳ tử thì cũng là số mệnh, không oán trời trách người, con hiểu Phật pháp nên không sợ chết. Bên cạnh pháp sư có một đệ tử của ông ta nói với con rằng, pháp sư xem tướng số chưa bao giờ sai cả, nhưng theo con thấy, những người này có thể là một cái bẫy. Con thường nghe Thượng sư dạy phải tôn kính người xuất gia, nên con vẫn cung kính đảnh lễ ông ta và cúng dường ba trăm đồng tiền hương hỏa.*

*Sau khi rời khỏi đó, con có một kết luận, không biết đúng hay không, vị pháp sư Thịnh Lưu này, bề ngoài là pháp sư Phật giáo, nhưng khoác áo cà sa để làm chuyện của kẻ giang hồ, không có chút lòng từ bi, giống như con hổ đội lốt cừu vậy. Nhìn thấy trong giới Phật giáo có những vị pháp sư ô uế như vậy, thật là điều bất hạnh cho cửa Phật.*

*Thưa Thượng sư, con vô cùng kính ngưỡng thầy, tuyệt đối không chấp nhận được việc những người không hiểu thầy lại phỉ báng thầy. Bởi vì con không muốn thầy bị tổn thương, nên trong phạm vi khả năng của mình, con đều tranh luận có lý lẽ để lấy lại công bằng. Thưa Thượng sư, xin thầy tha thứ cho tính thẳng thắn của đệ tử, con không hề có động cơ ý đồ. Có một câu, không biết nên nói hay không, cuối cùng con vẫn quyết định nói ra, chỉ mong Thượng sư thông cảm cho tấm lòng thành của học trò, nếu có nói sai, xin thầy hãy xem như lời nói ngây thơ của trẻ con.*

*Sau khi đọc "Thế Giới Của Con Mắt Thứ Ba", con thấy có một bài là "Vài ý kiến dành cho đại sư Lâm Vân". Về con người này, người có chút thông minh đều nhìn ra được, xung quanh ông ta phần lớn là những ngôi sao nâng đỡ, đó chỉ là một loại "kỹ thuật quảng bá qua ảnh chụp". Ông ta thích chụp ảnh, thích làm màu, tùy tiện bắt ấn này ấn kia để phô trương. Với kiểu người thích phô trương, khoe khoang tài ăn nói như vậy, làm sao có thể ngồi xuống tu tâm thanh tịnh, tu thiền mật tam muội được. Vị đại sư Lâm Vân này chẳng qua chỉ là một kẻ ba phải ham danh tiếng mà thôi. Ông ta không phải là người tu đạo, thực chất chỉ là "nghệ sĩ giang hồ", chỉ biết diễn trò. Đối với việc tu đạo mà nói, ông ta đã tổn phước rất nhiều, tương lai thế nào, trời tự có an bài, chắc chắn là không thể chứng đắc được. Chúng ta thực sự không cần phải lo lắng cho ông ta. Thầy có lòng tốt cho ông ta vài lời khuyên, đó là lòng từ bi của Thượng sư muốn độ ông ta, nhưng có lẽ ông ta hoàn toàn không tiếp nhận, ngược lại, ông ta còn có thể trách thầy là nhiều chuyện.*

*Trước đây khi đọc sách của Thượng sư, con luôn thấy thầy bị phỉ báng, bị công kích, nhưng chưa từng thấy thầy phản kích. Tuy nhiên trong "Thế Giới Của Con Mắt Thứ Ba", con thấy thầy đã khổ tâm chỉ bảo Lâm Vân, đừng trộm pháp, đừng phạm đại giới căn bản của Mật tông. Theo con thấy, chuyện của Lâm Vân là việc của ông ta, mặc kệ ông ta có vào địa ngục hay sống chết thế nào. Thượng sư còn rất nhiều người cần độ, không thiếu một "nghệ sĩ giang hồ" như ông ta, cứ để ông ta đen tối đi!*

*Kính thưa Thượng sư, đây chỉ là thiển ý của đệ tử, có lẽ Thượng sư đang gánh vác trọng trách, có nghĩa vụ phải đứng ra phá trừ tà giáo, hoặc độ hóa ông ta, điều này con không được rõ. Con chỉ mong Thượng sư đừng giận con, con biết đệ tử phải tuân theo ý chỉ của Thượng sư. Nhưng con biết thầy có tấm lòng từ bi, luôn độ lượng bao dung, xin thầy tha thứ cho tính nóng vội thẳng thắn của con, đệ tử thành tâm cầu xin Thượng sư gia trì quán đảnh, xin thầy chỉ dạy thêm.*

*Đệ tử Hoa Ngọc cung kính chắp tay.*

*17/4/1983*

Về bức thư của Hoa Ngọc, tôi có một vài điểm cần giải thích như sau:

Thứ nhất, pháp lễ bái Thổ Địa Công được thiết lập dựa trên pháp thần tiên, dựa vào từ trường sinh mệnh của chính mình để kết duyên với thổ địa phúc thần, khiến phúc thần đến trợ giúp, đây là một loại Mật pháp. Pháp này là pháp thế tục, cũng là một phương pháp không thể không dùng trong thế giới hiện thực. Theo thiên địa có ba mươi sáu vị phúc thần, ba mươi sáu vị phúc thần này vốn là hộ pháp thần của người tu Phật, người học Phật nếu biết pháp tương ứng của ba mươi sáu phúc thần, tự nhiên có thể vạn sự như ý, việc gì cũng thành công. Pháp lễ bái Thổ Địa Công chính là pháp tương ứng với thần phúc thần thổ địa, đã được đăng trong cuốn "Thế Giới Của Con Mắt Thứ Ba".

Thứ hai, tôi không quen biết pháp sư Thịnh Lưu. Nhưng tôi đã từng nhập định quán tưởng về ông ta, đối với một vị pháp sư như vậy, tôi thực sự không thèm bình luận, ông ta còn chưa đủ tư cách để được nhắc đến trong sách của tôi, bởi vì tầm cỡ của ông ta, trong mắt tôi, chẳng qua chỉ là một thầy bói hạng ba ở vỉa hè mà thôi! Viết về ông ta chỉ phí giấy mực, làm bẩn mắt độc giả. Chỉ là tôi cảm thán rất sâu sắc, trong giới Phật giáo, những kẻ bại hoại như thế không ít, không trách được Phật pháp không được phát dương. Pháp sư Thịnh Lưu, người như tên gọi, là kẻ "thịnh hành trong đám hạ cửu lưu", tên này chết đi chắc chắn sẽ đọa vào địa ngục A Tỳ, vĩnh viễn không được siêu sinh. Đừng tưởng tôi đang chửi ông ta, tôi chửi ông ta là để "sửa vận" cho ông ta, nếu không ông ta sắp gặp vận rủi rồi.

Thứ ba, bài viết "Vài ý kiến dành cho đại sư Lâm Vân" được đăng trong "Thế Giới Của Con Mắt Thứ Ba", chỉ là tôi nhắc nhở ông ta một chút, hy vọng ông ta có thể sớm tỉnh ngộ. Trong bài viết đó, vì chỉ là nhắc nhở nên tôi chưa đề cập đến những vấn đề về Hắc giáo. Hiện tại tôi quyết định công khai tất cả những điều về Hắc giáo, Hắc pháp, bởi vì Hắc giáo vốn là tôn giáo nguyên thủy của Tây Tạng, một tín ngưỡng mê tín hoàn toàn không liên quan đến Mật tông Tây Tạng. Đối với người học Phật, đây là điều không thể nhầm lẫn. Ý định ban đầu của tôi là không muốn ông ta mượn danh nghĩa Mật tông, cũng không muốn ông ta cổ xúy tà giáo, chỉ là nhắc nhở sơ qua. Nhưng vì ông ta luôn tự xưng là đại sư Mật tông, lại tôn thờ một Hắc giáo thờ Thần Bò như báu vật. Cách làm này đã làm mê hoặc tất cả mọi người, những người không hiểu Mật tông còn tưởng Hắc giáo thật sự là Mật tông!

Tôi thực sự có trách nhiệm, bởi vì tôi là Hộ pháp của Phật, trong thiên hạ, những người hiểu về Hắc giáo Hắc pháp không nhiều, nếu tôi không nói thì ai sẽ nói? Việc viết ra tất cả về Hắc giáo Hắc pháp, phá trừ Hắc giáo Hắc pháp, chính là gánh vác gia nghiệp của Như Lai, chính là trách nhiệm của Kim cang Hộ pháp, không chỉ cứu độ người trong thiên hạ, mà còn như Đại Uy Đức Kim Cang cứu độ những đệ tử bị mê hoặc. Hôm nay, nếu tôi không cứu Lâm Vân, thì còn ai sẽ từ bi với ông ta?


### 23. Mật tu pháp Chuẩn Đề


Trong bài viết đầu tiên, tôi đã viết về việc được quán đảnh Chuẩn Đề Phật Mẫu và tu tập pháp Chuẩn Đề tương ứng, người hướng dẫn tôi chính là Thượng sư Phổ Phương. Thượng sư Phổ Phương là vị Thượng sư tích cực nhất trong việc hoằng dương pháp Chuẩn Đề ở Đài Loan.

Thượng sư Phổ Phương đã sưu tầm tất cả tài liệu về việc tu trì Chuẩn Đề Phật Mẫu qua các thời đại, giới thiệu như sau:

Thời Chu - Phật Thích Ca Mâu Ni.

Thời Tần - Bồ Tát Long Thụ viết một bài kệ tán thán Chuẩn Đề: Chuẩn Đề công đức tụ, tĩnh lặng tâm thường tụng, tất cả các đại nạn, không thể phạm người này, trên trời và nhân gian, thọ phúc như Phật vậy, gặp được ngọc như ý, ắt được vô đẳng đẳng.

Thời Đường - Bồ Tát Kim Cang Trí dịch "Phật Thuyết Thất Câu Chi Phật Mẫu Chuẩn Đề Đại Minh Đà La Ni Kinh".

Thời Đường - Bồ Tát Thiện Vô Úy dịch "Thất Câu Chi Phật Mẫu Tâm Đại Chuẩn Đề Đà La Ni Pháp" và "Thất Câu Chi Độc Bộ Pháp".

Thời Đường - Bất Không Kim Cang dịch "Thất Câu Chi Phật Mẫu Sở Thuyết Chuẩn Đề Đà La Ni Kinh" và "Thất Câu Chi Chuẩn Đề Đà La Ni Niệm Tụng Nghi Quy".

Thời Đường - Tôn giả Địa Bà Ha La dịch "Phật Thuyết Thất Câu Chi Phật Mẫu Tâm Đại Chuẩn Đề Đà La Ni Kinh".

Thời Liêu - Đạo Điện đại sư viết "Hiển Mật Viên Thông Thành Phật Tâm Yếu Tập".

Thời Tống - Thiên Tức Tai Kim Cang dịch "Phật Thuyết Đại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương Kinh".

Thời Minh - Tạ Vu Giáo viết "Chuẩn Đề Tịnh Nghiệp".

Thời Minh - Dao Đĩnh viết "Chuẩn Đề Tâm Yếu".

Thời Minh - Viên Liễu Phàm, tác giả "Liễu Phàm Tứ Huấn", suốt đời tu trì pháp Chuẩn Đề.

Thời Thanh - Hoằng Tán viết "Trì Tụng Chuẩn Đề Chân Ngôn Pháp Yếu".

Thời Dân Quốc - Pháp sư Từ Hàng tu trì pháp Chuẩn Đề.

Thời Dân Quốc - Pháp sư Tịch Quang quyên góp khắc thần chú Chuẩn Đề và pháp yếu trì tụng quán tưởng, hoằng dương pháp Chuẩn Đề.

Thời Dân Quốc - Pháp sư Trí Quang tu pháp Chuẩn Đề và hoằng dương pháp Chuẩn Đề.

Thời Dân Quốc - Pháp sư Phổ Lực tu pháp Chuẩn Đề và hoằng dương pháp Chuẩn Đề.

Nhật Bản - A Xà Lê Seiyu Kiriyama viết "Chuẩn Đề Thiên Nhật Hành Tập Yếu". Hiện nay người Nhật rất thịnh hành pháp Chuẩn Đề.

Tại Đài Loan - Đại Kim Cang A Xà Lê Phổ Phương tại Đài Loan tích cực hoằng dương, có tín chúng khắp nơi trên thế giới.

Thực ra, trước khi được Thượng sư Phổ Phương chỉ dạy, tôi đã từng giới thiệu nhiều đệ tử vào môn phái Tổng Trì để học pháp Chuẩn Đề, đồng thời bản thân tôi cũng tu tập pháp Chuẩn Đề. Pháp Chuẩn Đề này tôi đã bí mật tu trì từ rất lâu trước khi xuất ngoại. Nói một lời thật lòng, trong số đệ tử của tôi, đã có hơn trăm vị sở hữu kính đàn Chuẩn Đề, và những kính đàn này đều do tôi quán đảnh. Theo linh thị, tôi biết Chuẩn Đề Phật Mẫu và Linh Tiên Chân Phật Tông có duyên rất sâu. Trong số đệ tử thờ phụng kính đàn rất nhiều, và những người thờ phụng Phật Mẫu như Trang Hoàng Dụ, Trần Khâm Bảo và nhiều người khác cũng có đàn thành Chuẩn Đề Phật Mẫu. Trong quá khứ, trước khi được Thượng sư Phổ Phương quán đảnh, dựa theo linh thị, tôi cũng đã có pháp tu trì (Chuẩn Đề Phật Mẫu), pháp này tôi đặc biệt ghi chép lại để thỉnh giáo chư vị Kim cương Thượng sư.

Pháp tu trì Chuẩn Đề Phật Mẫu như sau:

1. Dâng trà cúng.
2. Cúng hoa, quả, thực phẩm chay, v.v., ngũ cúng hoặc bát cúng.
3. Thắp hương.
4. Đại lễ bái Phật. Lễ thứ nhất là lễ Thập phương Phật, dùng ấn tháp Phật. Lễ thứ hai là lễ chư Bồ Tát, dùng ấn hoa sen. Lễ thứ ba là lễ Hộ pháp Kim cang, dùng ấn tam xoa xử. Lễ thứ tư là cúi đầu, dùng ấn Bình đẳng.
5. Tụng chú Tứ quy y: "Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê" ba lần.
6. Trì chú mặc giáp hộ thân phòng ma: "Ôm bua-rua lan chưa-li" bảy lần. Ấn vào đầu, cổ họng, tim, vai trái, vai phải.
7. Quán tưởng khuôn mặt từ bi của Chuẩn Đề Phật Mẫu với con mắt thứ ba trí huệ, phóng quang chiếu định. Tay kết ấn thuyết pháp. (Do tác giả đã khai mở thiên nhãn, mỗi lần tu pháp Chuẩn Đề đều thấy Chuẩn Đề Phật Mẫu trụ trên không trung, khuôn mặt từ bi của Ngài có con mắt thứ ba trí huệ ở phía trên giữa hai mắt, con mắt thứ ba này phóng ra một tia kim quang chiếu thẳng vào thiên tâm ở giữa hai mắt của tôi, như vậy, ánh sáng mắt chiếu định ánh sáng mắt, khiến mỗi lần tôi tu trì một lần pháp Chuẩn Đề, công lực lại tăng thêm, mỗi lần tu công lực lại tăng thêm một lần, đây chính là bí mật lớn của việc khai thiên nhãn.)
8. Trì tụng tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu: "Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. Bu-lin." Tụng 108 biến, khi có nhiều thời gian, tôi tụng 1080 biến, khi thời gian ít, tụng 108 biến. Đây là tâm chú của Chuẩn Đề Phật Mẫu, tâm chú là tinh hoa của chú dài, nên ngắn hơn, chú dài thêm vào phần tán tụng ca ngợi, công đức của chú dài và tâm chú không có gì khác biệt.
9. Tụng thêm "Phật Thuyết Thất Câu Chi Phật Mẫu Tâm Đại Chuẩn Đề Đà La Ni Kinh".
10. Tôi nhập định như pháp, vào Tam ma địa của Tỳ Lô Giá Na Phật.
11. Sau khi xuất định thì hồi hướng, phát tâm bồ đề.
12. Đại lễ bái Phật xong thì xuất đàn.

Trước khi nhập định, tác giả thường dùng pháp đếm hơi thở, có khi cũng dùng pháp quán tưởng, lần lượt đi vào chính định (Tam ma địa định), nhập vào biển đại viên kính trí, biển tính Tỳ Lô, định nơi Tỳ Lô Giá Na Phật Tam ma địa. Lúc này tự thân đã hóa thành ánh sáng, hoàn toàn hòa nhập, đây chính là tự thân quang minh như hư không. Trong Mật giáo, đây được gọi là hội quy Tỳ Lô tính hải na-già đại định, thân ánh sáng biến mất, chính là đại không tam muội, hay còn gọi là thắng nghĩa không định.

Trong thời gian ở Seattle, tôi tuyệt đối không dám lơi lỏng việc tu trì pháp Chuẩn Đề, mỗi ngày đều mật tu.

Tại sao Chuẩn Đề Bồ Tát và Linh Tiên Chân Phật Tông có duyên với nhau sâu sắc như vậy, tôi cho rằng điều này có nguyên nhân lớn, thông thường đàn thành Chuẩn Đề Phật Mẫu ở chính giữa, tám phương đều có tám vị Đại Bồ Tát vây quanh bảo hộ, tám vị Đại Bồ Tát này là quyến thuộc của Chuẩn Đề Phật Mẫu, danh hiệu của tám vị Đại Bồ Tát là Quan Thế Âm Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Kim Cang Thủ Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Trừ Cái Chướng Bồ Tát, Địa Tạng Bồ Tát.

Độc giả hãy mở "Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh" hoặc "Thông Linh Bí Pháp Thư" phần "Linh Tiên Chân Phật Tông Tôn Sùng Cao Vương Kinh", trong đó có niệm Bát Đại Bồ Tát, tám vị Đại Bồ Tát này chính là: Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát, Nam mô Di Lặc Bồ Tát, Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát, Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát, Nam mô Kim Cang Thủ Bồ Tát, Nam mô Diệu Cát Tường Bồ Tát, Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát, Nam mô Địa Tạng Bồ Tát.

Trong số này chỉ có tên của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát và Diệu Cát Tường Bồ Tát là khác nhau. Tuy nhiên, theo hiểu biết của tôi, Diệu Cát Tường Bồ Tát vốn chính là danh hiệu khác của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. Tám vị Đại Bồ Tát được thỉnh cầu trong "Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh" hoàn toàn giống với tám Đại Bồ Tát quyến thuộc của Chuẩn Đề Phật Mẫu, như vậy chẳng phải "Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh" là bộ kinh điển được Linh Tiên Chân Phật Tông tôn sùng có duyên rất lớn hay sao.

Tôi xin nói như thế này, trong "Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh", toàn bộ đều là thánh hiệu của chư Phật Bồ Tát, trong đó có Phật bộ, Bảo bộ, Liên Hoa bộ, Kim Cang bộ, Yết Ma bộ. Năm bộ này bao gồm tất cả. "Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh" này, tuy rất ngắn gọn, nhưng thực chất là đại tập hợp tâm chú của thánh hiệu Phật, ai có duyên tụng đọc được, pháp môn tâm chú này chính là một đại nhân duyên của khắp thiên hạ!

Ngoài ra, pháp Chuẩn Đề cũng tổng nhiếp ngũ bộ, thủ ấn và pháp khí của pháp này tổng nhiếp hai mươi lăm bộ đại mandala, Chuẩn Đề Phật Mẫu có mười tám loại công đức thành Phật, đây là mười tám pháp bất cộng thế gian. Tâm chú Chuẩn Đề này là vua tam muội trong pháp giới bí mật tạng, tuy là độc bộ mật pháp, nhưng thông suốt ngũ bộ mật pháp thù thắng.

Trong cuộc đời hành giả của tôi ở Seattle, Hoa Kỳ, tôi đã truyền pháp Quan Âm trước, rồi truyền pháp A Di Đà Phật, thứ ba truyền pháp Địa Tạng Bồ Tát, sau cùng truyền pháp Chuẩn Đề Phật Mẫu, ngoài ra còn nhiều pháp khác nữa, thật là pháp duyên thù thắng, pháp duyên pháp tràng cao vời dựng lập ở phương Tây.


![image](/img/img_a98be4b9e821c4b2455a56043cbb17c2.png)



### 24. Lời thề của đệ tử ở Hồng Kông


Đây là một bức thư từ đệ tử Liên Hàn của Linh Tiên Chân Phật Tông ở Hồng Kông. Hiện nay, đệ tử của Linh Tiên Chân Phật Tông đã lan rộng khắp thế giới, có đạo tràng ở Bỉ thuộc châu Âu và cả ở Malaysia. Mỗi ngày đều có thư xin quy y và quán đảnh từ các nơi như Úc, Đông Nam Á, Nam Mỹ, Nhật Bản, châu Âu và các nơi khác.

Các đệ tử ở Hồng Kông mời tôi đến Hồng Kông hoằng pháp, bởi hiện nay số người muốn quy y Linh Tiên Chân Phật Tông ở Hồng Kông có đến hàng nghìn người, và đây chỉ là con số ước tính thấp nhất.

Bài viết này là về sự tu trì và lời thề nguyện của Liên Hàn ở Hồng Kông, rất đáng được tiết lộ.

*Thượng sư tôn kính!*

*Chào thầy. Con là đệ tử Liên Hàn ở Hồng Kông. Nếu Thượng sư còn có ấn tượng, có lẽ Thượng sư sẽ nhớ rằng Liên Hàn đã đến thăm Thượng sư mà không báo trước vào mùa thu năm 1980. Lúc đó con thật đường đột, xin Thượng sư tha thứ, lượng thứ cho con. Với lòng thành kính suốt nhiều năm, lần đầu tiên con đến Đài Loan tìm gặp Thượng sư, trải qua nhiều gian nan, tìm kiếm khắp nơi, sau hơn một tháng trắc trở, con mới được diện kiến Thượng sư lần đầu tiên, trong lòng vừa mừng vừa tủi. May mắn nhờ lòng từ bi của Thượng sư, ban cho con lời khai thị, khai mở tâm si mê của đệ tử, và còn tự tay ban cho con Kinh Cao Vương, dạy bảo cách tu trì khi về Hồng Kông, ân đức như vậy, con nguyện suốt đời không quên. (Sau này con trì tụng Kinh Cao Vương được khoảng 800 lần, liền tránh được một tai họa lớn, sự linh ứng nhanh chóng như vậy, đều là nhờ ân đức của Thượng sư ban cho).*

*Vào mùa thu năm 1981, đệ tử đã đến Đài Loan lần thứ hai để thăm Thượng sư một lần nữa. Con đã gặp được đại sư huynh Trương Hoàng Minh, được ngài không chê, cho biết rằng Thượng sư sẽ chính thức mở đàn thu nhận đệ tử vào tháng 11. Vì vậy, sau khi trở về Hồng Kông, con đã làm thủ tục xin đến Đài Loan lần nữa, vượt qua mọi khó khăn, may mắn được chấp thuận. Vào ngày 22 tháng 11 (một ngày vô cùng hoan hỷ và trang nghiêm), cùng với nhiều người quy y khác, con được ân sư từ bi chính thức thu nhận làm đệ tử Linh Tiên Chân Phật Tông.*

*Đệ tử từ thuở thiếu niên đã thích Phật pháp, chín năm trước khi đến Hồng Kông đã đi khắp nơi cầu đạo tìm thầy. Sáu năm trước mới có duyên đọc được sách tâm linh của Thượng sư, kinh ngạc như được đọc thiên thư. Vừa đọc xong một cuốn, lập tức quay lại hiệu sách mua hết tất cả tác phẩm của Thượng sư, đọc ngày đọc đêm, quên ăn quên ngủ. Từ đó kiên định niềm tin không lay chuyển, nhận định rằng pháp tu trì của Linh Tiên Chân Phật Tông chính là pháp môn Đại thừa cứu độ nghìn năm khó gặp. Vô cùng may mắn trong đời này được gặp diệu pháp chính pháp thuận tiện như vậy, cơ duyên lớn như trời, nào dám bỏ lỡ, đúng là "đời này thật may mắn"! Điều càng cảm thấy may mắn hơn nữa là đời này kiếp này được gặp hóa thân của Liên Hoa Đồng Tử - vị đại đạo sư vĩ đại của Linh Tiên Chân Phật Tông thân hành giáng thế, đích thân thuyết pháp độ chúng sinh rộng khắp, thật là chúng sinh may mắn, đệ tử may mắn! (Đệ tử viết đến đây, không kìm được nước mắt tuôn rơi, tâm tình vừa mừng vừa tủi.)*

*Đệ tử nghiệp chướng sâu dày, việc tu trì tiến bộ không rõ rệt, lại gặp nhiều chướng ngại. Nhiều năm qua con đã trì tụng thần chú Đại Bi, Thất Phật chân ngôn, Kinh Cao Vương, chú Lăng Nghiêm, thần chú Chuẩn Đề và chú Lục tự đại minh. Con luôn chú trọng giới luật, mỗi lời nói việc làm đều không dám phạm lỗi, không bao giờ lừa dối xảo trá, không biết nịnh hót, không phóng đại dọa nạt để trục lợi. Thường ngày con tự nguyện giúp người tụng kinh lễ sám, cầu nguyện giải trừ tai ách, thành lập hội phóng sinh, khuyên người hướng thiện, tin nhân quả và dạy người tu pháp. Tất cả hành trì đều nhằm để bản thân trở thành một đệ tử tin Phật chân chính, một đệ tử Linh Tiên Chân Phật không làm nhục môn phái. Kính xin ân sư huệ nhãn soi xét, trông xuống minh giám.*

*Ba năm trước, đệ tử đã long trọng lập lời thề trước Phật: "Con nguyện mãi mãi không thoái chí, tận hết khả năng độ khắp chúng sinh, siêu độ u minh. Khuyên người hướng thiện, cứu khổ phò nguy, tế độ nhân sinh. Dốc hết sức lực, không từ gian khổ, dù vạn lần chết cũng không lùi bước. Nếu con trái đạo lý, phản bội lời thề, nửa đường thoái chí, tham đắm phú quý vinh hoa, xin chịu thiên lôi trừng phạt, chịu hình phạt địa ngục!" Lời thề nguyện này do con tự phát, luôn ghi khắc trong tâm, thúc giục bản thân tinh tấn tu trì, nỗ lực sớm thực hiện đại nguyện này.*

*Sự ngu si của chúng sinh thật vô cùng đáng thương, đặc biệt là chúng sinh ở Hồng Kông, nơi dân cư đông đúc, phồn hoa đô hội, những làn sóng đục của trần thế đã nuốt chửng tất cả mọi người nơi đây. Ai ai cũng sống trong cảnh say đắm mộng mị, chạy theo lợi danh, lừa lọc lẫn nhau, không từ thủ đoạn, gây hấn và sát hại lẫn nhau, thật không thể nói hết! Độ chúng sinh không phải dễ dàng, đặc biệt là ở Hồng Kông càng khó hơn. Những sách thiện thông thường khuyên người làm việc thiện nay đã khó phát huy hiệu quả. Tín ngưỡng tôn giáo ở Hồng Kông thì đa dạng phức tạp, có chính có tà, người ta tin theo đủ kiểu nhưng không có pháp tu trì chân chính. Hiện nay, pháp môn tu trì sẵn sàng dốc sức cứu độ chúng sinh khắp thiên hạ chính là Linh Tiên Chân Phật Tông. Chỉ có đại pháp Linh Tiên Chân Phật mới có được sự tu trì của Phật pháp chính thống, lại còn có hiệu quả thiết thực trong đời sống. Vì vậy, người Hồng Kông hoàn toàn bị năm chữ "Linh Tiên Chân Phật Tông" làm chấn động, tin rằng chỉ có đại pháp Linh Tiên Chân Phật mới cứu được người Hồng Kông.*

*Khi luyện linh, đệ tử cố gắng đạt đến trạng thái "vô niệm", tâm tĩnh lặng đến độ không còn một niệm sinh khởi, lúc đó càng cảm nhận được sức mạnh linh động dâng trào. Sự tĩnh lặng của tâm và sự linh động tỷ lệ thuận với nhau, phản ứng nhanh chóng như cắm cọc thấy bóng. Tâm càng tĩnh thì linh càng động. Như Thượng sư đã dạy: "Thiền là nói về 'định' nói về 'tĩnh', còn ta nói về 'linh' nói về 'động', giống như đại dương vậy, mặt biển sóng vỗ dữ dội, nhưng đáy biển lại tĩnh lặng như nước, nguồn linh tính cũng như vậy, đây là diệu pháp vô vi mà hữu vi...". Đệ tử thâm tâm tán thán chân lý bất di bất dịch này, thật là vĩ đại biết bao!*

*Gần đây, đệ tử được đọc bốn cuốn sách mới của Thượng sư: "Thông Linh Bí Pháp Thư", "Thế Giới Của Con Mắt Thứ Ba", "Linh Tiên Phi Hồng Pháp" và "Địa Linh Dấu Tiên", như được đọc thiên thư, quả thật là báu vật hiếm có của thế gian, vô cùng quý giá. Đệ tử đã chọn học trước những pháp phù hợp với mình như pháp nuốt nhả cương khí, pháp thần thủy cửu phụng phá uế, pháp kim cang bảo kiếm chày hàng ma và pháp Đà-la-ni thông thường. Ngoài ra, pháp phù được ứng dụng rộng rãi, ở Hồng Kông những tà sư dùng pháp phù giáng bùa ngải, hầu như ngày nào cũng nghe thấy, nhiều không đếm xuể, nay đại pháp Linh Tiên Chân Phật Tông vừa ra đời, những tà sư đó không còn đường trốn tránh, không thể hại người nữa. Trong bốn cuốn sách này, đệ tử tìm khắp mà không thấy một pháp nào thích hợp cho cá nhân tu trì để siêu độ u minh. Theo thiển ý của đệ tử, khi trục tà, nếu có thể dùng pháp phù kết hợp với pháp siêu độ thì sẽ càng hoàn hảo hơn, bởi vì tà linh cũng cần được độ hóa, trừ tà là lợi cho người, siêu độ là lợi cho ma, người ma đều được lợi, càng thêm viên mãn. Suy nghĩ này của đệ tử có thể hoàn toàn là do vô tri, nhưng đệ tử xuất phát từ lòng thành, rất mong Thượng sư có thể truyền dạy đại pháp siêu độ (đại pháp siêu độ dành cho cá nhân tu trì).*

*Thật ra không chỉ khao khát được Thượng sư truyền dạy pháp này, đệ tử đã nghĩ ngợi suốt nhiều năm, mơ ước khắc khoải, thậm chí không tiếc công sức tìm đến Thượng sư, tất cả đều không ngoài mục đích tìm cầu chân lý, cầu thầy truyền pháp. Có được minh sư mới có thể tu tập vạn pháp, mới có được khả năng độ mình độ người, nói suông nghĩ viển vông đều vô ích. Chúng con vô cùng hy vọng Thượng sư có thể đến Hồng Kông độ chúng sinh. Ở Hồng Kông, số đệ tử cầu quy y lên đến hàng nghìn người, tin rằng không chỉ có từng đó. Hiện nay, những người muốn sang Mỹ cầu thầy để được quán đảnh cũng có đến hàng trăm người. Thượng sư phát đại nguyện từ bi, phổ độ chúng sinh khắp toàn cầu, việc đến Hồng Kông độ chúng là điều sẽ xảy ra một ngày nào đó, không phải là ảo tưởng, mà là tâm nguyện của đệ tử.*

*Đệ tử tu tập con mắt thứ ba đã được hai năm, thường xuyên ngồi thiền đến trạng thái vô niệm (trong mỗi giờ ngồi thiền, chỉ đạt được ba, năm lần vô niệm, mỗi lần chỉ khoảng một, hai phút). Con cảm thấy trước mắt có vòng sáng lơ lửng. Kính xin Thượng sư từ bi chỉ dạy pháp tu trì linh nhãn, con vô cùng thành kính, trăm lạy thỉnh cầu.*

*Tràn đầy kỳ vọng, cầu xin Thượng sư từ bi.
Kính chúc Phật an.
Đệ tử Liên Hàn trăm lạy.
25/5/1983*

Thư của đệ tử Liên Hàn ở Hồng Kông rất thành kính. Để thuận tiện cho việc tu hành của chúng sinh, tôi đặc biệt tiết lộ hoàn toàn đại pháp siêu độ u minh của Linh Tiên Chân Phật Tông (pháp cá nhân tu trì), như sau:

Muốn tu pháp siêu độ, trước hết phải có đàn thành Địa Tạng Bồ Tát, cúng dường Địa Tạng Vương Bồ Tát, đồng thời đặt chuông kim cang, chày kim cang, thừng kim cang, bình cam lộ (bình kim cang) bên trong, cúng dường Địa Tạng Vương Bồ Tát, tất cả đều như pháp, có thể cúng một, ba, năm, tám món cúng phẩm, tóm lại tất cả đều như Địa Tạng Vương Bồ Tát ngự trong đàn thành vậy. Trước khi hành pháp, tắm rửa thanh tịnh thân thể rồi vào đàn, thay trà, dâng cúng phẩm dâng hương, tất cả đều tiến hành theo nghi thức.

Lễ Phật vẫn là ba lạy một khấu đầu.
Lạy thứ nhất là lạy mười phương Phật, dùng ấn tháp Phật.
Lạy thứ hai là lạy chư Bồ Tát, dùng ấn hoa sen.
Lạy thứ ba là lạy Hộ pháp Kim cang, dùng ấn chày tam xoa.
Thứ tư là khấu đầu, dùng ấn bình đẳng.
Tụng chú Tứ quy y: "Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê."
Tụng chú mặc giáp hộ thân: "Ôm bua-rua lan chưa-li" bảy lần. Ấn vào đầu, cổ họng, tim, vai trái, vai phải.

Tiếp đến là điểm rất quan trọng này, hành giả quán tưởng để thỉnh mời Địa Tạng Vương Bồ Tát đến, trong tâm phóng quang chữ "Om" ba lần, Địa Tạng Vương Bồ Tát đến trụ nơi đỉnh đầu ta, đi thẳng vào tim ta, rồi biến hóa thành cùng kích thước với ta không hai không khác. Sau khi Địa Tạng Vương Bồ Tát biến thành chính mình rồi, tụng chú Địa Tạng Vương Bồ Tát: "Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha." Tụng chú này 108 biến, lúc này ta đã là Địa Tạng Vương Bồ Tát, Bổn tôn tức ta, ta tức Bổn tôn. Nhập định vào Tam ma địa của Địa Tạng Vương Bồ Tát, khi đó Địa Tạng Vương Bồ Tát phóng quang làm tất cả pháp.

Bổn tôn thỉnh mời vong linh cần siêu độ đến trước mặt, Bổn tôn dùng ấn kim cang tam samaya nâng viên minh châu trong tay.
Ánh sáng của minh châu chiếu về phía u linh, nghiệp chướng của u linh được tiêu trừ. Tụng chú Địa Tạng Vương Bồ Tát 108 biến.
Ánh sáng của minh châu lại chiếu về phía u linh, u linh thoát khỏi khổ của ba đường ác. Tụng chú Địa Tạng Vương Bồ Tát 108 biến.
Ánh sáng của minh châu chiếu lần thứ ba về phía u linh, u linh tùy ý vãng sinh cõi người, cõi trời hoặc cảnh giới cao hơn. Tụng chú Địa Tạng Vương Bồ Tát 108 biến.

Đến đây, có thể trì tụng thánh hiệu Địa Tạng Vương Bồ Tát, cũng có thể trì tụng Kinh Địa Tạng, hoặc trì tụng chú vãng sinh. Với pháp siêu độ này, nếu có ảnh của người cần siêu độ, có thể dùng ảnh để quán tưởng thỉnh mời u linh đến. Nếu không có ảnh, chỉ biết tên họ, cũng phải niệm tên họ để thỉnh mời u linh đến.
Pháp này chia làm hai đoạn, đều là yếu quyết.
Trước hết thỉnh mời Bổn tôn đến, rồi biến thành Bổn tôn. Đây là đoạn thứ nhất.
Thỉnh mời u linh đến, siêu độ họ. Đây là đoạn thứ hai.
Sau khi làm pháp xong, xuất định. Hồi hướng, phát tâm bồ đề, đại lễ Phật, xuất đàn.

Tác giả đã đắc nội chứng, có thể nói đã minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử, nhập Tam ma địa của Địa Tạng Vương Bồ Tát, nghĩa là thân mình biến thành Địa Tạng Vương Bồ Tát, có thể siêu độ chúng sinh tội khổ, dùng ánh sáng thanh tịnh viên minh của chư Phật, dùng dòng chảy pháp ngũ trí, khiến u linh thoát khỏi sinh diệt, pháp này không khác gì Địa Tạng Vương Bồ Tát đích thân siêu độ, người học không thể không biết.

Ngoài ra, phép tu trì con mắt thứ ba, đợi có duyên sẽ truyền sau.


### 25. Đệ tử Brunei cầu quy y


Đệ tử Trần Kính Nguyên của tôi, pháp hiệu Liên Tham, có ba vị thầy quy y. Tôi đã bảo anh ấy học pháp Chuẩn Đề, vì vậy anh ấy quy y với đại Kim cang Thượng sư Phổ Phương của phái Mật Tông Tổng Trì. Sau đó anh ấy lại quy y với pháp sư Thánh Nghiêm, và anh ấy cũng là đệ tử của Linh Tiên Chân Phật Tông. Đệ tử Trần Kính Nguyên nhiệt tâm học Phật, từ khi phát tâm cho đến tu trì chưa từng giảm sút chút nào, luôn dốc hết tâm sức để hoằng dương Phật pháp. Vì vậy anh ấy đã tự lập "Nơi lưu thông sách thiện Liên Bang", địa chỉ liên lạc là số 8, ngách 3, ngõ 6, đường Thực Tiễn, Thạch Bài, Đài Bắc.

Trần Kính Nguyên đi từ nghe nhiều đến suy nghĩ, từ suy nghĩ đến giác ngộ. Anh ấy đã tự mình biên soạn tập sách nhỏ "Văn khuyên tin Phật", còn có tên là "Cứu cánh của nhân sinh, nhân sinh của cứu cánh", từ tập một đến tập năm. Tôi vô cùng khâm phục tinh thần nỗ lực không ngừng của anh ấy, cũng như việc đã dốc hết sinh mệnh và tài lực của mình vào việc hoằng dương Phật pháp. Mỗi cuốn sách của anh ấy đều in phát hành hơn 30.000 bản, đây là một con số đáng kinh ngạc. Trong tập năm, anh ấy viết: "Chúng ta có thể mượn sự diễn giải của linh học để khuyến hóa nhân tâm một cách thuận tiện và thiết thực hơn, đồng thời nhận thức được bản lai diện mục của tính linh, gỡ bỏ lớp áo 'thần bí'. Việc nghiên cứu linh học chắc chắn là một pháp môn phương tiện vừa nguyên sơ nhất, vừa tiến bộ nhất của việc học Phật. Một niệm thiện ác trong tâm người chính là sự lựa chọn của linh giác, nguyện cho chúng sinh thời mạt pháp có thể từ sự giác ngộ của tính linh mà bỏ ác hướng thiện, để tái tạo thế giới quang minh của Phật giáo nhân gian."

Do sự hoằng dương Phật pháp mạnh mẽ của đệ tử Trần Kính Nguyên, pháp sư Thánh Nghiêm cũng đã viết thư khích lệ anh ấy: "Về việc tiếp dẫn đại chúng trong xã hội tin tưởng và học tập Phật pháp, chắc chắn sẽ đạt được hiệu quả to lớn, những người đang thật tâm nghiên cứu và tu tập Phật pháp có thể đạt được nhận thức đúng đắn về những đạo lý căn bản trong Phật giáo." Chính nhờ sự hoằng pháp của anh ấy mà ở vùng xa xôi như Brunei cũng có Phật tử được sự khai ngộ sâu sắc từ anh ấy. Dưới đây là một lá thư của một Phật tử học Phật ở Brunei tên Ngụy Sĩ Cường viết cho Trần Kính Nguyên:

*Thưa thầy Kính Nguyên!
Sau khi đọc cuốn "Thế Giới Của Con Mắt Thứ Ba" của Thượng sư Lư, tôi đã có những lĩnh hội tương tự như "linh hồn xuất du" hay nghe "âm thanh nội tại của khớp xương". Nhưng tôi xin bắt đầu từ việc tu tập thiền ngủ của tôi, thật ra tôi đã tu tập pháp này gần hai năm rưỡi rồi. Tôi nghĩ người học Phật ít nhiều đều bị nghiệp lực ràng buộc. Khi tôi tu tập thiền ngủ của Thượng sư Lư, tu tập đúng pháp, có lúc thân thể cảm thấy như bị đè nặng nghìn cân, có lúc cảm thấy ngạt thở, hoặc sau lưng thường có từ lực mạnh mẽ hút chặt, muốn lật ngược thân thể lại, nhưng tôi không quan tâm đến điều gì cả. Đôi khi tôi bỗng cảm thấy toàn thân phiêu bồng bay bổng, cảm giác rất thoải mái, có lúc như đang du hành trong không gian, cứ thế bay lên cao mãi, càng cảm thấy thoải mái và vui sướng hơn, nhưng rồi đột nhiên lại trở về và thiếp đi. Có khi trong tâm thành kính niệm A Di Đà Phật mới được ba tiếng đã chìm vào giấc ngủ. Sau một thời gian, khi thức dậy mỗi khớp xương đều phát ra tiếng động.*

*Khi tôi liên tục lắc lư hai tay và vai, các khớp xương phát ra tiếng liên tục, không biết có giống với "âm thanh nội tại của khớp xương" mà Thượng sư Lư đề cập trong sách hay không. Từ "âm thanh nội tại" này có thể đoán biết vận mệnh, thật là kỳ diệu. Tôi cũng không muốn phân biệt âm thanh nội tại tốt hay xấu, thà để tự nhiên sẽ được tự tại hơn. Tôi nghĩ, pháp của Thượng sư Lư quả thực là kỳ diệu nhất thiên hạ, xa vời không thể với tới. Tôi hy vọng việc "linh hồn xuất du" của mình là bình thường, loại xuất du này không phải thường xuyên có, dường như còn có thể tự chủ, nó chỉ mang lại cho tôi sự thoải mái mà không có cảm giác "đêm không ngủ yên". Việc "nguyên thần xuất du" bình thường, thành tiên thành Phật đương nhiên là tốt nhất, không bình thường sẽ rơi vào cảnh ma, sau khi chết sẽ trở thành quyến thuộc của ma, điều này còn đau buồn hơn cả việc không thể chấm dứt sinh tử.*

*Trong thư trước, tôi đã đề cập đến việc muốn quy y với Thượng sư Lư. Tôi nghĩ vì Thượng sư đang ở Mỹ nên có lẽ kiếp này tôi không có duyên, nhưng qua thư của thầy, tôi được biết có thể quy y qua thư từ. Được quy y với Thượng sư một cách thuận tiện như vậy thật là tốt quá, từ nay tôi sẽ phải tụng thêm chú tứ quy y.*

*Qua cuốn "Thế Giới Của Con Mắt Thứ Ba", được biết tin tức gần đây của Thượng sư, trong lòng tôi vô cùng hoan hỷ. Nếu tôi được quy y với Thượng sư, chắc ngài sẽ nhớ rằng ở một góc của thế giới này, tại Brunei có một đệ tử, và trong lúc ngài "linh hồn xuất du" sẽ đến xem xét việc tu trì của đệ tử. Từ nay, tôi sẽ tinh tấn tu hành nghiêm túc hơn, xin thầy gửi thư giới thiệu tôi được quy y thọ giới, tôi thành tâm thành ý mong đợi. Kính chúc Phật pháp hoằng dương.*

*Ngụy Sĩ Cường kính bái.
30/4/1983*

Lá thư này chủ yếu là để cầu xin quy y, vì vậy trong bài viết này, tôi sẽ giải thích quy y là gì. Nhiều người đã hỏi tôi rằng, chỉ cần học Phật thôi, quy y hay không quy y thì có gì khác biệt? Không quy y có được không? Tôi trả lời như sau: "Tốt nhất là nên quy y, bởi vì quy y giống như việc đăng ký nhập học vậy. Có đăng ký rồi thì Thượng sư mới truyền Phật pháp cho bạn. Do đó, khi đã coi trọng việc Thượng sư truyền pháp, bạn mới có Phật pháp để tu tập, mới có minh sư chỉ dạy, điều này đương nhiên rất quan trọng. Không quy y đồng nghĩa với việc không đăng ký, như vậy chỉ là dự thính mà thôi, không thể đi sâu được."

Đệ tử của Linh Tiên Chân Phật Tông là đệ tử tứ quy y, nghĩa là ngoài tam quy y còn thêm quy y Thượng sư. Pháp tứ quy y này, tôi xin giải thích như sau:

Thứ nhất, Na-mô gu-ru pây [Namo guru beh] (quy y Thượng sư) - Thượng sư có nghĩa là bậc thầy vô thượng, đã viên mãn tu trì nhiều pháp môn, tinh thông tất cả giáo luật, đã có tâm đắc và khai ngộ về tất cả pháp môn, đã nhập vào Tỳ Lô tính hải, được Phật ấn chứng, thêm vào đó còn được Căn bản Thượng sư ấn chứng mới đủ tư cách gọi là Thượng sư. Thượng sư chính là A Xà Lê, có thể truyền pháp. Khi bạn quy y Thượng sư, Thượng sư sẽ truyền pháp cho bạn, giúp bạn thực sự được lợi ích, còn đệ tử phải phụng sự Thượng sư, xin hãy xem "Sự Sư Pháp Ngũ Thập Tụng". Thượng sư từ bi với đệ tử, đệ tử cung kính Thượng sư, Thượng sư khai đàn truyền pháp, là nhất thể Tam Bảo, đệ tử phải cung kính đúng nghi lễ. Học Phật pháp mà không biết quy y thì sẽ không có Thượng sư truyền pháp cho bạn. Nói chung, trong Phật pháp thì Thiền tông, Mật tông, Luật tông, ba tông này coi trọng Thượng sư nhất. Còn Linh Tiên Chân Phật Tông là sự tổng hợp của ba pháp tu Thiền tông, Mật tông và Đạo gia, đương nhiên tất cả đệ tử đều phải quy y Thượng sư. Mật tông thậm chí còn quy định, nếu không có Căn bản Thượng sư, không quy y Thượng sư thì không thể tu Mật pháp, vì tu cũng như không tu, bị xem là trộm pháp, đây là phạm đại giới samaya. Và Linh Tiên Chân Phật Tông kế thừa từ ba pháp Thiền, Mật, Đạo, đương nhiên là cần phải quy y, nếu không cũng được xem như trộm pháp.

Thứ hai, Na-mô pút-ta yê [Namo buddhaya] (quy y Phật) - Quy y Phật nghĩa là quy y tất cả chư Phật trong mười phương ba đời. Mục đích tu hành của chúng ta là để thành Phật, Phật là bậc đạo sư của chúng sinh. Đã muốn thành Phật, tương lai cùng nhập vào Tỳ Lô tính hải, hòa làm một với chư Phật mười phương, tự nhiên phải quy y trọn đời kiếp này. Lấy Phật làm kim chỉ nam, lấy Phật làm tấm gương, tự nhiên phải cung kính lễ bái, tôn kính đúng nghi lễ.

Thứ ba, Na-mô ta-mô yê [Namo dharmaya] (quy y pháp) - Quy y pháp nghĩa là suốt đời nỗ lực học tập những giáo pháp do Đức Phật truyền lại, quy y pháp trong mười phương chính là quy y Phật pháp. Pháp tối thượng vô thượng chính là tự chủ sinh tử, minh tâm kiến tính, cùng chuyển pháp luân, phát tâm bồ đề rộng lớn. Những Phật pháp này là để cứu độ chúng sinh thoát khỏi luân hồi lục đạo, nhập vào cảnh giới của bốn thánh, giải thoát tất cả phiền não của kiếp người, chứng đắc Phật tính, vượt qua bể khổ. Tinh tấn tu trì Phật pháp chính là hướng đi nỗ lực để quy y tất cả pháp trong mười phương ba đời.

Thứ tư, Na-mô sâng-kya yê [Namo sanghaya] (quy y tăng) - Quy y tăng nghĩa là quy y tất cả chư vị Thượng sư tăng bảo đã đắc Phật pháp trong mười phương ba đời, bởi vì tất cả Phật pháp đều do các ngài giảng dạy, truyền thừa và hướng dẫn. Chính các ngài giúp chúng ta tự chủ sinh tử, minh tâm kiến tính, vì vậy chúng ta phải cung kính quy y tất cả chư vị Thượng sư truyền pháp trong mười phương ba đời, bởi các ngài là đạo sư của chúng ta.

Quy y Phật cho đến khi thành Phật. Quy y pháp, tu pháp viên mãn. Quy y tăng, kính lễ đạo sư. Pháp tứ quy y này vốn là một trong Tứ gia hành của Mật tông Tây Tạng, tất cả đều lấy pháp tứ quy y làm nền tảng. Người chưa quy y mà học Phật pháp, do chưa có Thượng sư chỉ thẳng chân tính vốn thanh tịnh, muốn tu đạt lĩnh ngộ kiến tính mà tự mò mẫm xa xôi thì uổng công tiến bước, không biết phương hướng, không được giải thoát.


### 26. Quỷ thần và tôi


Tại Vancouver, Canada, đã có nhiều người biết tôi đang ở Seattle, Hoa Kỳ để truyền pháp quy y và quán đảnh của Linh Tiên Chân Phật Tông. Số đệ tử đến thọ nhận quy y và quán đảnh ngày càng đông. Mỗi Chủ nhật, từng đoàn xe chở người đến tham dự nghi thức quy y Linh Tiên Chân Phật Tông và nghi thức kết duyên quán đảnh. Tôi truyền cho mỗi người tâm chú và thủ ấn căn bản, mong các đệ tử mới tinh tấn tu trì pháp môn thù thắng này.

Ngày 23 tháng 5 năm 1983, lại có một nhóm người đến thọ nhận quy y và quán đảnh, trong đó có các vị Liêu Thụy Thanh, Giang Mẫn Tuệ, Hùng Mỹ Linh và một số người khác. Trong số họ có một người tên là Hoàng Thiếu Lan, người Đài Sơn, biết nói tiếng Quảng Đông, chỉ biết một chút tiếng phổ thông. Hoàng Thiếu Lan này là một nhân vật đặc biệt, có thể nghe được tiếng nói của quỷ thần. Khi tôi nhìn Hoàng Thiếu Lan, thấy trên gương mặt cô ấy có âm khí, hóa ra cô ấy là người đã được ban cho khả năng nghe được âm thanh nhờ tụng niệm Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thường ngày cô ấy hay ở cùng với quỷ thần, nên trên gương mặt cũng vương một chút âm khí. Cô ấy kể cho tôi nghe một câu chuyện có thật.

Một lần nọ, cô ấy đi dã ngoại bên bờ sông phía Nam Vancouver, là khu vực dành cho dã ngoại. Tại một nơi khá vắng vẻ có tụ tập một bầy ma, cô ấy nghe được họ đang trò chuyện.
"Có một người tên Lư Thắng Ngạn, đang truyền Phật pháp ở Seattle." - Một con ma nói.
"Hà! Tôi biết người này từ lâu rồi."
"Ông ta đã minh tâm kiến tính chưa?" - Một con ma hỏi.
"Chúng ta cùng đi quấy phá ông ta, không phải sẽ biết ngay sao."
"Đúng, đúng, đúng..." - Bầy ma nhao nhao phụ họa.

Đúng lúc bầy ma đang ồn ào, trên không trung hiện ra một vị thần. Cô Hoàng Thiếu Lan mô tả vị thần đó có đỉnh đầu tỏa hào quang ngũ sắc, hình dáng một bà lão, mặc áo thần bảy màu, bay lượn trên không, nghe cô Hoàng Thiếu Lan mô tả, tôi biết đó là Không Hành Mẫu.

"Này, mọi người đừng ồn ào nữa." - Không Hành Mẫu nói.
Bầy ma thấy Không Hành Mẫu đến, đều chắp tay cung kính.
"Ta đã nghe hết những gì các ngươi nói rồi, các ngươi định quấy phá Thượng sư Lư phải không?"
"Chúng tôi sẽ kéo cả bọn đến, một đứa chui vào đầu ông ta, làm cho ông ta chóng mặt hoa mắt; một đứa chui vào mắt, làm cho ông ta tối tăm mù mịt; một đứa chui vào tai, làm cho ông ta điếc đặc; một đứa chui vào cổ họng, làm cho ông ta câm không nói được; một đứa vào tim, làm cho tim ông ta suy nhược; một đứa chui vào bụng, làm cho ruột ông ta tiêu chảy; một đứa nhập vào tay, làm cho tay ông ta không nhấc lên được; một đứa nhập vào chân, làm cho ông ta đi lại khó khăn. Chúng ta thử ông ta như vậy, xem ông ta có phải là vị Thượng sư chân chính không, có đạo hạnh gì không?"
"Không được." - Không Hành Mẫu nói.
"Tại sao không được? Chẳng lẽ chúng tôi thử một chút cũng không được sao?"
"Ấn kim cang quyền mà Thượng sư Lư kết có một luồng hào quang đỏ mạnh hơn bất kỳ vị Thượng sư nào, hào quang này người, súc sinh, quỷ thần đều không thể chống đỡ được một đòn. Vì vậy khi ngài kết ấn kim cang quyền, nhất định sẽ kết bên trong cà sa, không để lộ ra ngoài. Các ngươi đến tìm ngài, ngài chắc chắn sẽ biết. Nếu tay ngài kết ấn kim cang quyền, con ma bám vào tay và con ma bám vào tim sẽ là những kẻ đầu tiên bị đánh trúng, hai con ma này nhất định sẽ bị thương nặng, không một ma tiên nào có thể cứu được, ngay cả ta là Không Hành Mẫu cũng không thể cứu được."
"Nếu vậy thì chúng tôi không đi quấy phá nữa."
"Tốt nhất là đừng đi, đây là lời khuyên chân thành của ta." - Không Hành Mẫu nói. 
Nói xong, Không Hành Mẫu liền biến mất. Bầy ma cảm thấy chán nản, cũng lần lượt giải tán.

Sau khi đến Seattle, ngay cả bầy ma ở Vancouver, Canada cũng biết được, và Không Hành Mẫu hộ pháp cũng đã kịp thời ngăn chặn hành động nông nổi của bầy ma này. Tôi biết loài ma vốn thích làm theo ý mình, có một số ma thích phá phách, chúng đều thích thử thách đạo hạnh của người tu hành. Người tu hành không hay biết, thường bị nhiều loài ma quấy nhiễu mà không tự biết, đây cũng là một việc rất phiền phức. Đối với những loài ma này, tốt nhất là đừng chủ động trêu chọc, bởi vì ma rất khó đối phó, một khi đã trêu chọc thì sẽ bị dính chặt không dứt, giống như kẹo dính vậy, dính vào rồi thì vĩnh viễn không thể gỡ ra được, đặc biệt là những con ma lì lợm, đã bám thì bám mãi không thôi, rất phiền phức.

Tất nhiên, ấn kim cang quyền chỉ được sử dụng khi không còn cách nào khác, khi kết ấn kim cang quyền xong, sẽ có một luồng hào quang đỏ tỏa ra, vì vậy phải kết ấn và xả ấn bên trong cà sa để tránh vô tình làm tổn thương người khác. Khi không mặc cà sa cũng phải dùng vải bọc tay lại, không để hào quang đỏ tỏa ra. Đây là cách làm thông thường. Nhưng nếu trước tiên kết ấn lưới kim cang, lấy lưới kim cang chặn bên ngoài, kim cang quyền làm bên trong, thì không còn phải sợ gì nữa. Đối phó với loài ma vẫn nên tránh dùng kim cang quyền, bởi vì ma thẳng tính, một khi đã kết oán thì rất khó hóa giải, chúng lại đông đảo, tốt nhất là đừng trêu chọc, đương nhiên mọi việc dĩ hòa vi quý.


### 27. Cao Vương Kinh khiến tù nhân an tâm


Trước tiên, tôi xin chia sẻ một lá thư từ độc giả:

*Thượng sư Lư, xin chào thầy!*

*Khi cầm bút viết lời xưng hô này, tôi không kìm nén được cảm xúc bồi hồi, bởi thầy đã hiện diện trong cuộc sống của vợ chồng tôi nhiều năm qua. Từ cuốn sách đầu tiên cho đến hơn bốn mươi cuốn hiện nay, vợ chồng tôi không bỏ sót cuốn nào. Mặc dù khoảng bốn năm trước, ông Trương Đại Mưu đã từng nhắc đến việc có thể giới thiệu thầy để mọi người được biết nhau. Nhưng chồng tôi vẫn nghĩ rằng thầy đã quá bận rộn, không tiện làm phiền, chỉ cần tiếp tục đọc tác phẩm của thầy là có thể giải đáp được nhiều thắc mắc về Phật pháp. Thế nên chúng tôi âm thầm chưa từng đến thăm thầy, cũng chưa từng viết thư thăm hỏi, hôm nay lần đầu tiên trực tiếp xưng hô với thầy (vợ chồng tôi quen gọi như vậy), tôi tin thầy sẽ hiểu được tâm trạng này.*

*Khi chúng tôi đang ở trong thuận cảnh, vẫn kiên trì tu tập, và ngay cả hiện tại khi gặp khó khăn cũng không thay đổi, đây là lời dạy của thầy, và còn mong cầu tinh tấn hơn nữa. Tôi tin rằng mọi tai ương đều có nhân quả, có lẽ đây là ý tốt của Bồ Tát, dù gặp nhiều trắc trở liên tiếp, nhưng không cảm thấy quá buồn, vì đã thấu hiểu rằng nỗi khổ trong cuộc đời là không thể tránh khỏi.*

*Tôi nhớ khi cuốn "Thông Linh Bí Pháp Thư" vừa xuất bản, chồng tôi đã mua được trước tôi, nhưng chỉ một ngày sau đã vào tù. Tôi vội vàng gửi cuốn sách này vào và đánh dấu trang 89. Chồng tôi, người đã bị hiểu lầm, đã nghiêm túc tu tập trong tù. Anh ấy như được thấm nhuần cam lộ, siêng năng tụng một nghìn biến Cao Vương Quán Thế Âm Chân Kinh trong tù. Anh ấy nói rằng trong hoàn cảnh này, lòng biết ơn đối với tâm cảnh của thầy thực sự không thể diễn tả bằng lời. Phật thật từ bi, anh ấy cũng có nhiều cảm ứng xuất hiện trong tù.*

*Hiện nay, anh ấy tùy duyên giới thiệu sách của thầy, tùy duyên độ hóa những người đồng cảnh ngộ, với tâm chuộc tội như vậy, để tìm được chút an tâm, biến mọi tai ương thành trí tuệ, đây hoàn toàn là công đức độ hóa của Thượng sư Lư! Vô cùng biết ơn. Trong quá trình tu tập, cũng xuất hiện nhiều điều không hiểu, đã từng gọi điện hỏi học trò của thầy là ông Trịnh, nhưng chưa gặp được. Sau đó nhờ bà Trịnh giới thiệu ông Vưu Ngân Thọ ở Phong Nguyên, ông Vưu nhiệt tình giải đáp thắc mắc của tôi, và còn nhờ ông ấy giới thiệu mà tôi có thể thuận lợi quy y chính thức vào Linh Tiên Chân Phật Tông, trở thành đệ tử của Linh Tiên Chân Phật Tông, nguyện ước cả đời đã thỏa! Mong Thượng sư không chê, ban cho gia trì, xin kính lạy ba lạy từ xa.*

*Ban đầu tôi trì tụng thần chú Bạch Y, sau đó thêm Thất Phật diệt tội chân ngôn, Tâm Kinh, chú Đại Bi, Phổ Môn Phẩm, Kinh Ma Lợi Chi Thiên và Quan Âm linh cảm chân ngôn. Hiện nay khóa tụng sáng tối của tôi là Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, chú Đại Bi, chú Hư Không Tạng, chú vãng sinh, và khi tọa thiền thì thầm niệm Thất Phật diệt tội chân ngôn. Tôi xin hỏi Thượng sư Lư, có pháp tu nào phù hợp hơn cho tôi không? Tôi đã từng tọa thiền theo phương pháp trong "Khởi Linh Học", rất may mắn là vừa ngồi thiền đã nhanh chóng có cảm ứng. Hiện nay tôi đã kết được nhiều thủ ấn và ghi chép lại từng cái một, sự biến hóa thật không thể nghĩ bàn, đúng như Thượng sư đã nói "đúng là tuyệt đỉnh". Chồng tôi hiện ở trong tù không tiện tọa thiền, nhưng càng chuyên cần đọc tác phẩm của thầy và làm khóa tụng sáng tối (gần giống như tôi), lại sợ có điều gì sai sót, xin Thượng sư chỉ dạy.*

*Cuối cùng, mong Thượng sư từ bi gia trì, tôi xin chờ tin vui.
Kính chúc gia đình an lành.
Đệ tử Hồng kính bái.
21/04/1983*

Theo như tôi quán chiếu trong tâm linh thì đây là một gia đình rất thiện lương, cả nhà đều tu tập Phật pháp. Tuy nhiên, gia đình học Phật không phải là sẽ luôn được như ý. Những việc trong đời đều vướng mắc nhân quả báo ứng từ nhiều đời, chuyện không như ý chiếm đến tám chín phần mười. Chồng của chị ấy vào tù vì vướng pháp luật về chứng từ trong kinh doanh, may mắn là không oán trời trách người, vẫn giữ được bản tâm, tiếp tục tu Phật không ngừng, thật sự là điều rất đáng quý.

Tụng Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh có công đức vô thượng, điều này tôi đã xác nhận. Đừng vì cho rằng kinh này không phải do Phật thuyết mà phê phán nặng nề, thực ra kinh này có gì để phê phán đâu, bên trong toàn là danh hiệu Phật, phê phán tức là phỉ báng Phật, phỉ báng Phật sẽ phải đọa vào địa ngục A Tỳ.

Họ đã trì tụng rất nhiều kinh chú nhưng vẫn chưa thoát khỏi những khó khăn thực tế về tài chính. Phải chăng điều này cho thấy Phật pháp không linh nghiệm? Không phải vậy, mà là vì họ chưa biết trong Mật tông có những pháp tu thực tiễn như pháp Bạch Tài Thần, pháp Hoàng Tài Thần, pháp Hắc Tài Thần. Việc tu tập những pháp này không chỉ đơn thuần để phát tài, mà trong lúc hồi hướng phải phát nguyện rằng, sau khi phát đại tài sẽ dùng tài sản đó vào việc hoằng dương Phật pháp, để chính pháp chân thật nhờ sự hỗ trợ của tài vật mà được phát triển rộng rãi. Công khóa hàng ngày của họ đã rất đầy đủ rồi, tôi sẽ hướng dẫn thêm cho họ, nhưng tôi muốn dạy họ thêm một phương pháp tu Hoàng Tài Thần.

Tôi đã từng đề cập đến pháp tu Hoàng Tài Thần và Hắc Tài Thần trong cuốn "Tọa Thiền Thông Minh Pháp", tuy nhiên chưa được chi tiết lắm. Hôm nay tôi sẽ chuyên luận về pháp Hoàng Tài Thần, cách thực hành có đôi chút khác biệt so với phương pháp trong "Tọa Thiền Thông Minh Pháp" và sẽ được trình bày chi tiết hơn.

Phương pháp tu trì pháp Hoàng Tài Thần như sau:

1. Chỉnh trang y phục và vào đàn thành (dùng một cái đĩa có đáy sâu, đặt tiền ở dưới đáy, phía trên tiền đổ đầy gạo thành hình núi, cắm ba nén hương đã thắp lên trên gạo).
2. Cúng dường. Dâng năm cúng phẩm gồm hoa, hương, đèn, trà, quả hoặc tám cúng phẩm. Đặt đĩa gạo phía sau các cúng phẩm.
3. Thắp đàn hương.
4. Lễ Phật. Thứ nhất lễ thập phương Phật, kết ấn tháp Phật. Thứ hai lễ chư Bồ Tát, kết ấn hoa sen. Thứ ba lễ Hộ pháp Kim cang thần, kết ấn chày tam xoa. Thứ tư cúi đầu, kết ấn bình đẳng.
5. Tụng chú Tứ quy y: "Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê" ba lần.
6. Trì chú mặc giáp hộ thân phòng ma: "Ôm bua-rua lan chưa-li" bảy lần. Ấn vào đầu, cổ họng, tim, vai trái, vai phải.
7. Hành giả ngồi thẳng lưng, quán tưởng trên ba nén hương cắm trên gạo, khói quyện bay lên, hóa thành một vị Hoàng Tài Thần trong tư thế ngồi, thân màu vàng, ngồi bán già, chân phải buông xuống, ngón chân cái bên phải sưng đau. Hình tướng của Hoàng Tài Thần là một đầu hai tay, đội mũ Ngũ Phật bằng ngọc quý, mặt hiện tướng phẫn nộ, tay phải cầm một viên bảo châu (hình như quả bưởi), tay trái ôm một con chuột phun châu báu.
8. Lúc này hành giả đã quán tưởng xong Hoàng Tài Thần, kết ấn chắp tay kim cang trên đỉnh đầu, tụng "Ôm ah hùm sô-ha" ba lần. Triệu thỉnh Ngũ phương Ngũ Phật trụ trên không trung phía trên Hoàng Tài Thần, mỗi vị phóng ra ánh sáng ngũ sắc chiếu vào Hoàng Tài Thần. Lúc này phải tụng chân ngôn quán đảnh: "Ôm hùm chân-sưa-ya" ba lần.
9. Do được Ngũ phương Ngũ Phật quán đảnh, quán tưởng ngón chân cái bên phải của Hoàng Tài Thần hết sưng đau, Hoàng Tài Thần nở nụ cười.
10. Tụng tâm chú Hoàng Tài Thần: "Ôm chân-pa-la cha-lâng cha-na-yê sô-ha" 108 biến.
11. Lại quán tưởng con chuột phun tài bảo há miệng, phun ra vô số vàng bạc châu báu, rơi xuống núi gạo, núi gạo hóa thành núi vàng bạc châu báu, mọi điều cát tường viên mãn, cả núi tràn đầy.
12. Tiễn Hoàng Tài Thần theo làn khói hương mà đi, hoặc trở về bản xứ.
13. Hồi hướng: "Nguyện được đại tài rồi, lại thí pháp tài."
14. Đại lễ bái Phật, xuất đàn.

Theo kinh nghiệm tu tập của tôi, những vị Tài Thần đều là thần của sự giàu có, có thể ban phúc cho hành giả. Tuy nhiên, các vị thần giàu có cũng có những nỗi khổ riêng, ví dụ như Hoàng Tài Thần bị đau ngón chân cái bên phải, Hắc Tài Thần bị nóng ở tim, Bạch Tài Thần bị đau đầu. Chúng ta chỉ cần thỉnh Phật pháp để giúp các ngài được thân tâm an lạc, các vị Tài Thần sẽ ban phúc lành cho chúng ta. Tuy nhiên, điều tôi muốn mọi người lưu ý là việc hồi hướng phát nguyện rất quan trọng, khi kiếm được nhiều tiền không nên tham lam vô độ, phải biết tri túc thường lạc, dùng tiền dư ra để cúng dường Tam Bảo. Bởi vì pháp tu Hoàng Tài Thần và các vị Tài Thần khác cũng là phương tiện trong Phật pháp để độ thế nhân.


### 28. Ấn chứng linh hồn xuất du


Linh hồn xuất du có thật không? Tôi nói rằng điều này là thật, bởi vì nó giống như giấc mơ, nhưng còn rõ ràng hơn giấc mơ một chút. Hiện tượng linh hồn xuất du là một trạng thái nằm giữa mơ và tỉnh, xin hãy suy ngẫm kĩ những lời tôi nói dưới đây, có lẽ độc giả sẽ hiểu được.

"Giấc mơ có thật không?"
Giấc mơ là thật, bởi vì chắc chắn có hiện tượng mơ, đương nhiên là thật.
Giấc mơ cũng là giả, bởi vì cảnh mơ hư ảo không thật, tự nhiên là giả.

Tôi xin nói với bạn một điều rất đáng ngạc nhiên: Khi tất cả chúng sinh không bị giấc mơ kiểm soát, mà ngược lại có thể kiểm soát được giấc mơ, đó chính là "linh hồn xuất du".

Ở đây, tôi xin tiết lộ một bức thư:

*Thượng sư Lư:*

*Ngày 11 tháng 4, tức ngày 28 tháng 2 âm lịch, chúng con có một pháp hội lớn kéo dài ba ngày tại khu vực Bắc Đầu, đúng vào ngày viên mãn, em gái con cũng đến tham dự và mang theo pháp tướng Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư mà Thượng sư đã ban tặng. Con xin cảm ơn Thượng sư về tất cả.*

*Pháp tướng của Thượng sư phúc đức viên mãn, trang nghiêm như Phật, con xin chúc mừng Thượng sư ngày ngày tinh tấn, đạt được đại thành tựu, phổ độ mười phương thế giới.*

*Khi em gái con chưa đến địa điểm pháp hội, chúng con có nói chuyện qua điện thoại về Thượng sư. Thượng sư rất quan tâm đến chúng con, và còn ban tặng ảnh pháp tướng, khiến chúng con vô cùng hoan hỷ. Qua điện thoại, con đã kể cho em gái nghe về giấc mộng sáng sớm ngày 14 tháng 3 (tức ngày 30 tháng Giêng âm lịch).*

*Đó là một nơi con chưa từng đến và cũng không biết là nơi nào. Con và một số người vô tình bước vào một ngôi chùa nguy nga tráng lệ. Khi con đang thắp hương ở đại điện, nghe thấy mọi người nói: "Nhanh lên! Sau khi thắp hương xong hãy đến thỉnh giáo Thượng sư." Thế là con theo mọi người vào trong phòng, ôi! Thì ra Thượng sư Lư đang ngồi ở đó, với pháp tướng trang nghiêm lần lượt khai thị cho từng đệ tử đến trước mặt. Con vô cùng hoan hỷ (vì đã lâu mới được gặp lại) vội vàng tiến lên, quỳ trước Thượng sư, nói: "Đệ tử đảnh lễ Thượng sư" rồi lạy một lạy. Thượng sư đích thân nói với con: "Phật pháp vô biên, thân ta ở Mỹ nhưng tâm ở Đài Loan." Nghe xong câu nói đó, con tỉnh giấc. Ôi! Thì ra là một giấc mơ! Nhưng lời Thượng sư nói trong mơ con nghe rất rõ ràng, một mình ngẫm nghĩ ý nghĩa trong đó, nhớ về những lời dạy của Thượng sư ngày trước. Qua điện thoại con nói với em gái rằng, chúng con đều được Thượng sư ban tặng pháp tướng, mà con còn được nghe pháp ngữ của Thượng sư nữa! Nhờ ơn Thượng sư ban cho pháp ngữ, hôm nay lại được ban tặng pháp tướng, vui mừng khôn xiết, xin cảm tạ nhiều lần, đảnh lễ rồi lại đảnh lễ.*

*Vào đầu tháng 2, khi đi dạo ở phố sách Nam Lộ Trùng Khánh, con tình cờ thấy cuốn "Thế Giới Của Con Mắt Thứ Ba" và mang về nhà đọc. Con cũng đã chuyển khoản đặt trước sách "Linh Tiên Phi Hồng Pháp" và các sách khác tại Nhà sách Học Hải. Mặc dù Thượng sư đã rời xa chúng con, không thể ngày ngày thân cận thỉnh giáo nữa, như đứa trẻ mồ côi mất mẹ, lúc đầu cảm thấy hoang mang. Sau đó con tự nói với mình rằng không thể cứ mãi dựa vào Thượng sư, phải "tự độ", nhưng đáng buồn là nói thì dễ mà thực hiện thì khó, bởi vì chúng sinh nghiệp nặng, huệ căn quá nông. Tuy nhiên, được đọc từng tác phẩm vĩ đại của Thượng sư, thật là vui sướng vô cùng. Khi đọc những tác phẩm này, con tưởng như có Phật quang gia trì, những lời chỉ dạy ân cần của Thượng sư hiện ra trước mắt.*

*Hiện tại trong công phu tu tập, con chỉ biết làm đến nơi đến chốn, giữ bổn phận, hàng ngày thành tâm tu pháp, lễ Phật trì chú, thường niệm Phật không ngừng, đọc nhiều kinh sách để hiểu và lĩnh hội Phật pháp. Giờ đây con chỉ mới hiểu được một phần rất nhỏ trong biển Phật pháp mênh mông, như múc nước biển bằng đấu có khi cũng cạn, nguyện đời đời kiếp kiếp hành Bồ Tát đạo.*

*Ngày 16 tháng 4, khi đọc cuốn "Địa Linh Dấu Tiên" ở dòng cuối trang 4, con thấy Thượng sư viết "thân ở Mỹ nhưng tâm ở Đài Loan." Ôi! Con đã chứng thực giấc mơ của mình không hư giả, xúc động vô cùng, không kìm được nước mắt tuôn rơi. Lần này, con sẽ cùng nhiều sư huynh sư tỷ hân hạnh được sang Mỹ thăm viếng Thượng sư và rất phấn khởi, chỉ mong trong thời gian ngắn ngủi ấy, được nghe nhiều pháp ngữ của Thượng sư, thế là mãn nguyện và tràn đầy pháp hỷ.*

*Kính chúc Phật an!
Liên Cục đảnh lễ.
21/4/1983*

Ghi chú: Ở Vancouver có một ông Phùng Phùng, tác giả cuốn "Tiếng Chuông Nửa Đêm" do nhà xuất bản Hoàng Quan phát hành, là người rất chính trực, hết lòng hộ trì Phật pháp, có những năng lực siêu nhiên kỳ lạ, là một đại hộ pháp của Phật giáo.

Sau khi nhận được bức thư này, tôi có một vài điều cần giải thích:

Thứ nhất, "linh hồn xuất du" là một phương pháp tôi thường xuyên rèn luyện, khi xuất phát giống như tên lửa phóng đi, khi trở về nhập thân, vùng thiên tâm cũng có một cảm giác mở ra khép vào, hiện tượng của tôi là lực nhập thân rất mạnh, khiến tôi tỉnh giấc ngay lập tức. Do thường xuyên "linh hồn xuất du" nên có nhiều cơ hội thị hiện trong mộng, nếu ai đã luyện thành huệ nhãn cũng chắc chắn có thể nhìn thấy tôi. Những điều này đều có thể chứng thực, khi đệ tử nghe được pháp ngữ của Thượng sư trong mộng, sau đó mở sách của tôi ra, thấy rõ ràng tôi cũng viết như vậy, đây chính là sự chứng thực.

Thứ hai, "linh hồn xuất du" đôi khi là đi vào thế giới đa chiều, thậm chí có thể đi vào đường hầm thời gian, tiến sâu hơn vào không gian năm độ, sáu độ, bảy độ, tám độ, chúng ta có thể thấy thời đại hồng hoang thượng cổ, có thể thấy được tình trạng hủy diệt của Trái đất. Tôi thấy từ bên trong Trái đất phun trào những dòng dung nham cuồng nộ, nuốt chửng tất cả mọi thứ, bản thân Trái đất như một vũ công điên cuồng nhảy múa "disco", không có thứ gì còn nguyên vẹn, sóng biển dâng cao tận trời, thậm chí cuốn theo cả mây trên bầu trời, lửa dữ dội nhất, bùng cháy từ tâm Trái đất, lịch sử nhân loại đều bị hủy diệt, biển hóa thành núi cao, núi cao lại biến thành biển, không một ai trong nhân loại có thể trốn thoát thảm họa này. Trái đất vỡ nát, phân thành nhiều mảnh vỡ, nền văn minh nhân loại như những con kiến dưới chân người khổng lồ, không còn hang để ẩn náu, ngay cả mặt trăng cũng rơi xuống, nó không còn là vệ tinh của Trái đất nữa, nó trôi dạt và lảng tránh những mảnh vỡ của Trái đất, đến những hành tinh khác để làm vệ tinh. Sự diệt vong của Trái đất, đối với toàn vũ trụ mà nói, không có quá nhiều biến động và chấn động, như một tia lửa lóe lên, chỉ trong khoảnh khắc đã hoàn tất. Ôi Trái đất, Trái đất, vốn đến từ "không", giờ lại trở về "không", không có lịch sử, không có sự sống, thậm chí không ai biết nó đã từng tồn tại hay chăng? Thưa độc giả, đây là những gì tôi thấy về sự hủy diệt của Trái đất trong tương lai. Tôi còn biết nói gì nữa đây, khi ấy tôi, tồn tại trong một thế giới thiên thể khác, chỉ có một loại người là người thực sự bất tử, chỉ có người vận hành được "linh hồn" mới là người bất tử.

Thứ ba, "Phật pháp vô biên", câu nói này quả thật chính xác. Điều khiến tôi cảm thán nhất là Phật pháp không chỉ đơn thuần là một tôn giáo trên bề mặt Trái đất, mà nó phải vượt thoát khỏi mọi tông phái, vượt thoát khỏi Trái đất, vượt thoát khỏi nhân loại, vượt thoát khỏi thần thánh. Chỉ có Phật pháp mới có thể thể hiện được ánh hào quang của cảnh giới vĩ đại và siêu việt như "hội tụ quy về Tỳ Lô tính hải". Đây là một môn học vô cùng vô tận, các nhà khoa học không thể dùng nghiên cứu hữu hình để so sánh với Phật pháp. Tôi thường chê cười những nhà khoa học này, tự mãn giống như ếch ngồi đáy giếng, kêu ộp oạp, gọi Phật pháp là mê tín, thật là những kẻ vô tri, cũng là một hiện tượng kỳ quặc của thời đại văn minh.

Thứ tư, ông Phùng Phùng, khi tôi còn ở trong nước đã nghe danh tiếng của ông, và cũng đã đề cập đến ông trong các tác phẩm của mình. Tôi cũng đã đọc cuốn "Tiếng Chuông Nửa Đêm" của ông. Giữa chúng tôi, ông biết có tôi, tôi biết có ông, khi tôi đến Seattle, ông đã thấy tôi trong linh thị, và tôi cũng đã thấy ông trong linh thị. Chúng tôi chưa từng gặp mặt trực tiếp. Nhưng chúng tôi đã là những người bạn rất tốt từ lâu. Khi có người từ Vancouver đến, tôi nhờ họ chuyển lời thăm hỏi đến ông, và ông cũng nhờ người gửi lời chào tôi. Chúng tôi là "bạn trong tâm tưởng", hiện ông đang viết một cuốn sách lớn về tiểu sử của một vị đại sư Phật giáo. Ông biết hoàn cảnh của tôi, tôi cũng biết mọi điều về ông, tuy chưa gặp mặt, nhưng giữa tâm linh với tâm linh, cần gì phải gặp mặt, chúng tôi "tâm thông" với nhau. Ông Phùng Phùng là người rất thật thà, sống ẩn cư, ăn mặc thoải mái, không câu nệ tiểu tiết, cuộc sống giản dị, ăn chay, tự lo liệu mọi việc, thiên nhãn của ông tu luyện rất tốt, những gì ông nhìn thấy đều rất chính xác. Tôi tin rằng trong tương lai, hai vì sao lưu lạc này cuối cùng sẽ gặp nhau, tỏa sáng một tia hào quang của Phật pháp.


### 29. Lời của hành giả


Bài viết này là do hai đồng môn kim cang viết cho tôi, đây là cảm nhận đọc sách của họ:

Thứ nhất:

Về bài "Ma Ha Song Liên Trì", đệ rất vui mừng khi thấy huynh đã tìm được tiên cảnh bạn đạo, cảm xúc rất sâu sắc.

Về bài "Nuốt nhả cương khí quang minh hiển hiện", pháp nuốt kim quang, đệ từng nghe qua và cũng đã từng luyện tập, nhưng không được chi tiết và rõ ràng như lời giải thích của huynh. Mãi đến nay đệ mới biết đây là pháp quang thể tụ tập ánh sáng hiển hiện. Về ấn hào quang của chú kim quang, đệ đã tìm kiếm ấn quyết này suốt một năm mà không được, nên đệ chỉ biết chú kim quang mà không hiểu ấn hào quang, chỉ biết luyện tập quán tưởng hấp thu kim quang vào thân và phóng kim quang bao phủ toàn thân để bảo hộ. Giờ đây đệ sẽ tu trì theo như những gì huynh đã viết, xin cảm tạ sự chỉ dạy của huynh. Vì sách là do huynh viết, đệ xin huynh khai thị thêm về ấn khế của ấn hào quang.

Bài "Cửu phụng phá uế tịnh thủy pháp" thật tuyệt vời, có sự tương đồng tuyệt diệu với pháp cờ Lục tự đại minh chân ngôn của Mật tông. Do gần đây đệ có pháp hội của Hoạt Phật nên việc làm cờ chân ngôn bị trì hoãn, đệ sẽ treo cờ chân ngôn trong nhà, và theo phương pháp của huynh, thực hành "Cửu phụng phá uế tịnh thủy pháp". Nhờ pháp này mà đệ đã học được pháp của huynh, xin cảm tạ!

Bài "Thân ngoại hóa thân hiển thần thông", đệ đã sớm biết huynh có bản lĩnh như vậy, có khả năng thông thiên triệt địa. Nhưng lần đầu tiên được nghe về pháp "vòng tròn Thái cực", đệ đã học thêm được một trí tuệ mới, thật là huyền diệu, chưa từng được nghe, thật lợi hại. Bài "Trên đầu hóa Phật thủ", ôi, thật không thể tưởng tượng được, thật tuyệt vời, đây là điều mà tất cả người tu đạo trên thiên hạ đều không thể nghĩ tới. Lư huynh ơi, huynh đã đạt đến cảnh giới như thế. Không chỉ phàm tăng bình thường, mà ngay cả cao tăng đương đại, ẩn sĩ, cũng không thể sánh được với đạo hạnh của huynh. Dù có người đạt đến cảnh giới này, họ cũng sẽ vì vấn đề thiên cơ, hoặc vì phàm phu vĩnh viễn không tin nên không nói ra. Người có thể đạt đến cảnh giới cao như vậy, tin rằng không nhiều.。

Các pháp khác như pháp quán nguyên thần, pháp thu thần, chân quyết khai tượng... nhiều không kể xiết. Hơn chín phần mười là những pháp đệ chưa từng nghe qua, lần này thật sự được mở rộng tầm mắt. Cũng cảm ơn huynh đã viết ra. Nhờ vậy tiểu đệ cũng thu được nhiều lợi ích, thật sự rất cảm tạ huynh. Có một số pháp đệ không dám tu trì, vì đó là pháp của huynh, không có sự cho phép và chỉ dẫn thêm của huynh, không dám tu tập một cách khinh suất.

Ở đây, đệ xin thỉnh giáo huynh về kĩ năng xem nhà. Trình tự tu pháp của Linh Tiên Chân Phật Tông là khởi linh, trúc cơ, thổ nạp, tĩnh công, nhập ngã, ngã nhập, biến thân... Khoảng hai năm trước, đệ đã từng khởi linh, hiệu quả là ngón tay hơi nóng và rung động, thời gian khởi linh khoảng bốn mươi phút. Sau đó do áp lực công việc nặng nề, thêm vào đó là nghiệp chướng vô hình từ nhiều đời. Sau này có duyên học Mật tông, đệ đã thật thà niệm Phật tụng kinh trì chú, tự thanh tẩy nghiệp lực. Đệ sẽ sớm tĩnh tọa trở lại, chuyên cần tu Mật pháp và khởi linh, cũng như tu tập theo một số pháp mà huynh đã chỉ dạy.

Sau khi đọc nhiều tác phẩm của huynh, đệ thấy nhận định từ một năm trước của mình quả không sai, cảnh giới của huynh thực sự rất cao, thế mà huynh vẫn quy y và nhận quán đảnh. Thành thật mà nói, đệ không nên đem huynh ra so sánh với Hoạt Phật, nhưng đệ xin nói thẳng, đệ cảm thấy thành tựu của huynh trong thời đại ngày nay, ít người có thể sánh bằng, ít nhất thì huynh và Hoạt Phật cũng ngang bằng nhau. Đặc biệt là những đạo pháp mà huynh biết, Hoạt Phật còn chưa biết đến, do đó cảnh giới của huynh... Thôi! Đệ không nói nữa, huynh cũng hiểu mà.

Thứ hai:

Đồng môn kim cang vô cùng ngưỡng mộ việc Thượng sư xây dựng đạo tràng và hoằng dương Phật pháp tại Seattle, Hoa Kỳ. Tuy nhiên, về việc viết cuốn "Phục Ma Bình Yêu Truyện" lại có những quan điểm và nhận xét khác nhau.

Rất nhiều Mật pháp, tất cả các tổ sư đều giữ kín không truyền, đó chính là "Phật pháp khó biết". Theo truyền thuyết, Mật pháp chỉ được Thượng Vương Phật giảng một lần trong vô lượng kiếp quá khứ, và trong thời Hiền kiếp thiên Phật, chỉ có Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật đích thân giảng lại một lần, còn chín trăm chín mươi chín vị Phật khác từ xưa đến nay chỉ tự mình biết mà không nói ra.

Kim Cương thừa, tôi đã đọc rất nhiều sách của các vị Thượng sư, như Thượng sư Lưu Duệ Chi ở phương Nam. Thượng sư Trần Kiện Dân ẩn tu ở Nepal, sau đó sang Mỹ. Thượng sư Âu Dương ở phương Bắc. Thượng sư Ngộ Quang ở chùa Trúc Khê, Đài Nam. Thượng sư Phổ Phương ở Sĩ Lâm, Đài Bắc. Thượng sư Cống Cát ở Cống Cát Tinh Xá. Thượng sư Pháp Xưng ở Liên Hoa Tinh Xá... Pháp bản của các ngài đều rất súc tích, thường chỉ truyền cho từng người hoặc số ít người, chứ không giảng dạy Mật pháp trực tiếp cho đại chúng, vì sợ phạm vào giới căn bản không được nói ra (đại giới samaya).

Trong cuốn sách "Phục Ma Bình Yêu Truyện", có một số Mật pháp mà các đồng môn kim cang cho rằng không thể tiết lộ, nhưng nay Thượng sư Lư đã công khai tất cả, khiến nhiều đồng môn vô cùng lo ngại. Bởi những điều này vốn không thể nói ra, đó là đại giới căn bản của Mật tông, từ trước đến nay chưa ai dám phạm. Thế mà giờ đây, Thượng sư Lư lại công khai tất cả không giữ lại điều gì, điều này đã gây chấn động và khiến tất cả các môn phái Kim Cương thừa kinh ngạc, đó là điều tất yếu.

Tuy nhiên, tôi nói với họ rằng, Thượng sư Lư không phải là một vị Thượng sư bình thường, hành động của ngài khác với các Thượng sư thông thường, ngài viết sách liên tục không ngừng, ngài đầy nhiệt huyết, tinh thần tinh tấn và nghiên cứu sâu về Phật pháp của ngài, hiểu biết tất cả các pháp môn trên đời, trong mọi việc đều khác với người thường.

Tôi đã đọc kĩ các tác phẩm của Thượng sư, từ cuốn thứ nhất đến cuốn thứ bốn mươi tư, và biết rằng Thượng sư là người không giấu giếm điều gì, luôn nói hết những gì mình biết. Dù có phạm vào đại giới căn bản không được nói ra của Mật tông, Thượng sư vẫn cứ nói. Bởi vì Thượng sư được Phật Thích Ca thọ ký, được Liên Hoa Sinh Đại Sĩ trực tiếp truyền thừa, được Đại Bảo Pháp Vương quán đảnh, nên tôi biết chắc rằng Thượng sư là bậc phi phàm trong những bậc phi phàm, điều này là có nguyên do của nó.

Trong các đồng môn, chúng tôi đều thấy rõ những hành vi của Lâm Vân, đó hoàn toàn là Mật tông giả, nhưng không ai dám lên tiếng. Chỉ có Thượng sư Lư dám cất tiếng gầm sư tử, một sự can đảm mà người thường không thể có được. Trong cửa Mật tông, chỉ có một vị Thượng sư như vậy thì Mật pháp mới hưng thịnh. Tôi có một câu không dám nói, nhưng bây giờ tôi cũng nói ra, đó là: "Tổ sư Liên Hoa Sinh thật sự đã tìm đúng người." Mật tông trong tương lai muốn hưng thịnh trên thế gian, chỉ có nhờ Thượng sư Lư dám nói ra, thì mới có thể phát triển trong xã hội. Tất cả các Thượng sư đều không nói vì "bí mật không tiết lộ", vậy làm sao Mật pháp có thể phổ biến? Hôm nay, Thượng sư Lư đã dám liều phạm đại giới samaya của Mật tông, hy sinh bản thân, hoằng dương Mật giáo, đây mới thực sự là hành động của một bậc Thượng sư vĩ đại, sẵn sàng vào địa ngục và đồng cam cộng khổ với chúng sinh.

Gần đây có rất nhiều Thượng sư Mật tông Tây Tạng thuộc phái Bạch giáo đến Đài Loan, phái Hoàng giáo cũng đến, thậm chí cả phái Hoa giáo cũng đến truyền pháp Thời Luân Kim Cang. Sách của Thượng sư Lư viết tại Mỹ được xuất bản đúng thời điểm, đây là lúc Mật tông thực sự hưng thịnh, là ngày Kim Cương thừa của chúng ta được ngẩng cao đầu. Thậm chí các vị pháp sư Hiển giáo cũng bắt đầu âm thầm học Mật pháp, có một vị pháp sư Hiển giáo nổi tiếng, sau khi đọc sách của Thượng sư Lư, đã lén lút học Mật pháp, tự tu và chứng đắc. Trước đây ông rất phản đối Mật tông, vậy mà giờ đây lại học Mật tông, không còn chỉ trích Mật tông nữa, đây cũng là một công đức lớn của Thượng sư!

Pháp Bạch Tản Cái Phật Mẫu, pháp Lục Độ Mẫu, pháp Xích Tử Quan Âm, pháp cưỡi tòa sen vãng sinh, trong đó tôi đã tu hai pháp đầu, nhưng hai pháp sau thì chưa từng nghe qua, mong Thượng sư chỉ dạy. Pháp Xích Tử Quan Âm tôi thấy rất hay, pháp cưỡi tòa sen vãng sinh lại càng là đại pháp phù hợp với thời điểm và hoàn cảnh hiện tại, nhờ đó có thể độ hóa được nhiều người hơn nữa, thật là pháp duyên thù thắng, hiếm có quý báu.

Sau khi đọc 6 bài viết về "Sắc ma nhập tâm", quả thật là những kiến giải tinh tế và sâu sắc. Trên thế giới này, không còn ai dám viết và nói thẳng những điều như vậy nữa. Việc có thể trình bày từng điều một, cảnh tỉnh mọi người về hành vi của họ, quả thật là bậc Thượng sư trong các Thượng sư. Nếu 6 bài viết này được mọi người hoằng dương rộng rãi, thì những đồng cốt tà đạo tự nhiên sẽ biến mất, không còn dám lừa gạt thế nhân nữa. Đây là nhận định của tôi, công đức của Thượng sư thật như trời cao.

Mười bảy năm trước, tôi là đệ tử được trực tiếp truyền thừa từ Đại Bảo Pháp Vương Thượng sư. Pháp Vương từng nói rằng tôi có thực chất của một vị Thượng sư, nhưng không có danh xưng Thượng sư. Nay đọc được tác phẩm lớn của Thượng sư Lư, mới biết trên người còn có người, trên trời còn có trời. Nhớ lại Thượng sư Pháp Xưng cũng từng thỉnh giáo Thượng sư, có thể thấy về mặt danh phận tôi là sư huynh của Thượng sư, nhưng thực ra cũng phải cầu Thượng sư khai thị, mong sư đệ từ bi. Tôi có một yêu cầu, nếu Thượng sư trong định gặp được Đại Bảo Pháp Vương Thượng sư, xin hãy thay tôi vấn an ngài. Đây là yêu cầu của tôi, xin nhớ cho, đây là điều mà sư huynh yêu cầu sư đệ làm, dù thế nào cũng phải thực hiện.

Tôi tin rằng trong tương lai chắc chắn sẽ có nhiều tà ma ngoại đạo gây phiền phức cho Thượng sư. Phải biết rằng, Thượng sư đã công khai những điều bí mật không được phép tiết lộ của Mật pháp, những đồng môn kim cang hiểu được Thượng sư thì không sao. Nhưng những người không hiểu Thượng sư vẫn sẽ có những lời phê bình, đây là điều tất yếu. Thực ra, chúng tôi đã sớm biết Thượng sư là đệ tử của Đại Bảo Pháp Vương, nhưng Thượng sư không nói nên chúng tôi cũng không tiện đề cập. Sau đó Thượng sư còn được Đại Tích Đỗ Ba Tôn Giả, Thượng sư Lý Đình Quang, Thượng sư Phổ Phương quán đảnh gia trì, chúng tôi đều biết cả. Nhưng những người không hiểu Thượng sư vẫn sẽ cho rằng Thượng sư mạo danh Thượng sư mà sinh bực tức, tuy nhiên Thượng sư luôn không e sợ trước tất cả, điều này chúng tôi đều hiểu rõ. Chúng tôi sẽ làm chỗ dựa tinh thần cho Thượng sư, đừng sợ hãi điều gì, hãy xem "Mật pháp hưng thịnh" là trọng trách lớn lao trong tương lai!

Phật giáo Hiển tông tự nhiên càng không hiểu được Thượng sư, các tông phái khác lại càng không hiểu Thượng sư hơn nữa. Thượng sư chắc chắn sẽ gặp phải những đợt tấn công dữ dội như cuồng phong bão táp, còn chúng tôi chỉ có thể an ủi Thượng sư rằng đừng sợ hãi, hãy tin rằng Thượng sư là bậc thông đạt Mật pháp, tự có long thiên hộ trì gìn giữ, chúng tôi đã lo lắng quá nhiều rồi.

Trong quyển "Phục Ma Bình Yêu Truyện", phần "Kim Cang Tát Đỏa bách tự minh chân ngôn", có một chữ bị in sai, đó là ở trang 135, dòng đầu tiên, năm chữ cuối cùng, trong đó có một chữ "ga", phát âm đáng lẽ phải là "wa" mới đúng. Tôi tin rằng đó là lỗi của nhà in, và khi kiểm tra không để ý. Thần chú này rất quan trọng, hễ có sai sót nhất định phải tuyên bố, nếu không những người đọc sách của Thượng sư, học theo âm chú trên sách, kết quả sẽ bị sai, như vậy sẽ rất phiền phức. Việc này đặc biệt nghiêm trọng, không được phép tái phạm, đây là lời thành thật của tôi.

Về việc của vợ chồng họ Lâm, tôi không quen biết họ, nhưng việc họ phỉ báng sư phụ cũng như phỉ báng Phật, đây là một tội phạm giới rất nghiêm trọng. Hai vợ chồng họ có thể sẽ không được tái sinh làm người trong muôn kiếp. Họ đương nhiên không biết được mức độ nghiêm trọng của vấn đề này, phàm phu thế tục không hiểu được sự vĩ đại của Thượng sư Mật tông, xem Thượng sư như một vị thầy bình thường, những đệ tử như vậy không nên thu nhận. Sau này Thượng sư cần phải xem xét kĩ càng rồi mới thu nhận đệ tử, bởi vì như vậy sẽ làm tổn hại nghiêm trọng đến thanh danh của Thượng sư, điều này là không như pháp. Nhưng trên đời lại có những đệ tử như vậy, những đệ tử này thật là đáng thương vì quá vô tri.

"Ở Trung Hoa không có thiền sư", câu này rất hay. Nhưng vì người khác không hiểu được ý của thầy, sẽ gây nên sóng gió, sau này hãy cố gắng đừng viết như vậy nữa. Bởi vì chỉ có "bậc đã chứng ngộ" mới biết được, thiên hạ làm gì có thiền sư? Thầy viết như vậy, những vị thiền sư không tự hiểu rõ lòng mình, lại sẽ chỉ trích thầy.

Thượng sư đã thông đạt cả Đạo giáo, Hiển giáo, Mật giáo, còn tôi chỉ được một pháp Mật giáo, vẫn đang trong quá trình tu chứng. Sư đệ là bậc Thượng sư, bậc thánh triết trời ban, quả thật là bậc thánh triết trời ban.


### 30. Thành tựu Yết Ma


Nay xin công bố một bức thư:

*Kính gửi Thượng sư Lư:*

*Từ khi toàn thể gia đình Thượng sư sang Mỹ, con rất nhớ thầy, không biết khi nào mới được gặp lại, cách xa vạn dặm, chỉ còn biết chờ duyên đến mà thôi.*

*Ở Đài Loan, không có tin tức gì về Thượng sư, khi rảnh rỗi chúng con thường đến cửa hàng Thành Ích, chỗ bà Trịnh, để mua sách Thượng sư viết ở Mỹ về đọc, nhờ đó mà biết được tình hình gần đây của cả gia đình thầy. Quả thật, khi Thượng sư ở Seattle, đời sống tinh thần có thể yên tĩnh hơn, không bị nhiều người nhàn rỗi quấy rầy, tự nhiên sách cứ liên tục được xuất bản, điều này thật đáng mừng. Bình thường, Thượng sư giúp đỡ cả gia đình chúng con rất nhiều, công đức to lớn của thầy, đời này kiếp này mãi ghi nhớ trong tim, cảm ơn không hết, không biết làm sao báo đáp ơn thầy. Thượng sư như vị Bồ Tát sống trong lòng chúng con, cứu khổ cứu nạn, việc gì cũng có thể giúp người thoát khỏi nguy nan, hễ gặp khó khăn, ý nghĩ đầu tiên hiện lên chính là Thượng sư. Mong Thượng sư đừng trách con có tâm ỷ lại nặng nề, thật sự Thượng sư là bậc thần toán đệ nhất, tạo nên những điều kỳ diệu.*

*Năm ngoái, sau khi dùng phù an thai, vào ngày 21 tháng 9 con đã sinh một bé trai bình an (tên là Nghi Lâm). Đúng như Thượng sư đã tiên đoán là sẽ sinh được con, và là con trai, thật cảm ơn thầy! Gia đình thêm một niềm vui, và con cuối cùng cũng đã trút được tảng đá lớn trong lòng, có thể báo cáo với bố mẹ chồng rồi. Vì Thanh Lương là con một nên trách nhiệm của con rất lớn. Dưới sự tiên đoán của Thượng sư, không có điều gì là không chính xác. Giờ đây hai đứa bé rất đáng yêu, con gửi kèm ảnh để Thượng sư xem.*

*Phật Thanh và Phật Kỳ chắc đã lớn lên nhiều rồi! Con nhớ Phật Thanh rất hiểu chuyện, còn Phật Kỳ rất năng động, có vài cái răng sâu đen đen, cười lên trông thật dễ thương. Thưa Thượng sư, từ nhỏ con đã rất nhút nhát, hay lo nghĩ, giờ làm mẹ cũng vậy, đọc sách mới biết Thượng sư có phương pháp giải tỏa, xin Thượng sư chỉ dạy.*

*Trong lòng con có rất nhiều chuyện, xin Thượng sư dành chút thời gian giúp con giải đáp, con vô cùng cảm ơn! Cả nhà con đều rất nhớ Thượng sư! Kính chúc Thượng sư bảo trọng. Kính chúc Phật an!*

*Đệ tử Dung kính bái!
10/04/1983*

Những lá thư như vậy rất nhiều, ở đây chỉ trích đăng một lá thư để làm bằng chứng. Theo Mật tông mà nói, đây chính là thành tựu Yết Ma. Đối với người tu hành, thành tựu Yết Ma chỉ là một "tác dụng phụ", không phải là mục đích tu hành, chúng ta có thể thỉnh thoảng giúp đỡ người khác bằng cách dùng chú ngữ Yết Ma. Đây cũng là một phương tiện để tiếp dẫn chúng sinh quy y Phật môn, nhưng không được đắm chìm trong pháp Yết Ma.

Tất cả những người có chí tu hành, phải lấy thành Phật làm mục tiêu hàng đầu, còn pháp Yết Ma sẽ tự nhiên có được, không cần phải chuyên tâm học hỏi, điều này rất quan trọng.


### 31. Nền tảng Phật pháp của Linh Tiên Chân Phật Tông


Cho đến nay, Linh Tiên Chân Phật Tông chỉ duy trì danh xưng là một pháp môn tu hành giữa tôi và nhiều học trò. Chúng ta không có tổ chức, sống rải rác khắp nơi trên thế giới, đạo tràng chân chính mới bắt đầu được thiết lập ở Mỹ. Thật lòng mà nói, tôi không muốn biến nó thành một tổ chức, tôi chỉ mong Linh Tiên Chân Phật Tông là một pháp môn tu trì vô tướng, để mỗi người đều nhận được một phần Phật pháp chân chính và hữu ích, để thoát sinh tử, để minh tâm kiến tính, để hành bồ đề đạo, người người tu hành, người người thành Phật. Bản thân tôi bắt đầu tu từ Đạo giáo, nên mỗi học trò phải cung kính Tam Thanh Tổ sư của Đạo gia, cũng phải tôn kính chư thần tiên trên trời, và tôn kính các vị thần cai quản nhân quả. Đặc biệt là đối với Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh và Thanh Chân Đạo Trưởng. Không được vì tu pháp khác mà quay lại phỉ báng Đạo môn. Thực ra Đạo gia thâm sâu khôn lường, không vào cửa Đạo thì không biết được "chu thiên di hợp", chớ vì Phật môn phê bình ngoại đạo mà cho rằng đó là Đạo gia, khi Phật Thích Ca Mâu Ni phê bình ngoại đạo, Ngài chỉ đề cập đến Bà La Môn giáo và các tạp giáo khác ở Ấn Độ, chứ không phải Đạo gia Trung Quốc. Tôi là bậc Đạo trưởng tôn quý.

Đối với Hiển giáo, bản thân tôi đã tu tập hơn mười năm và thọ Bồ Tát giới. Các đệ tử Linh Tiên Chân Phật cũng có thể tu theo Tịnh Độ tông hoặc các tông phái khác, mỗi người nương theo pháp sư tu hành. Chúng tôi cho rằng các tông phái Hiển Mật đều bình đẳng, các pháp môn đều bình đẳng, chỉ vì căn cơ mỗi người khác nhau nên có tám vạn bốn nghìn chúng sinh tu tám vạn bốn nghìn pháp môn. Chúng tôi vẫn luôn tôn kính lễ bái tất cả pháp sư Hiển giáo trong Phật môn. Trong Hiển giáo, tôi là một ưu bà tắc thọ Bồ Tát giới. Cuối cùng tôi nương theo Mật tông, tu pháp Mật tông là chuyển tam nghiệp thành tam mật, cũng là pháp bí mật trang nghiêm, đại viên cảnh trí. Đệ tử Linh Tiên Chân Phật Tông phải cung kính lễ bái Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, Ngài là Tổ sư đời thứ nhất của Tạng mật. Sau khi bản thân tôi được bí mật quán đảnh, nhập Tỳ Lô tính hải, rồi truyền pháp cho các đệ tử, trở thành Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư.

Mặc dù Linh Tiên Chân Phật Tông không có tổ chức, nhưng có rất nhiều người quy y, tín đồ trải khắp thế giới. Tôi muốn mọi người ghi nhớ ba điểm:

Thứ nhất, Linh Tiên Chân Phật Tông là pháp môn kết hợp tu tập cả Đạo giáo, Hiển giáo và Mật giáo, ra đời để đáp ứng thời đại, là pháp môn bất nhị [chỉ đạo lý quan sát vạn vật cần thoát khỏi cách nhìn đối đãi hai bên cực đoan mới có thể đạt được chân thực] thích hợp nhất cho người hiện đại tu hành. Pháp duyên thù thắng, tương lai còn hứa hẹn nhiều điều.

Thứ hai, người có chí hoằng dương Linh Tiên Chân Phật Tông phải có đủ tư cách của một Thượng sư. Thân phận Thượng sư có hai loại: Một là được Căn bản Thượng sư công nhận là Thượng sư. Hai là thực sự đã "minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử" trong quá trình tu trì, được Bổn tôn công nhận, được chư Phật Bồ Tát Bổn tôn hiển hiện và công nhận là Thượng sư. (Điều này phải thật sự chính xác, nếu nói dối sẽ đọa vào đại A Tỳ địa ngục, vĩnh viễn không được siêu sinh.)

Người được Thượng sư công nhận cũng phải tu trì Đạo giáo, Hiển giáo, Mật giáo nhiều năm, qua quan sát thực sự biết pháp, tu pháp, ngộ pháp, có chứng nghiệm thực sự mới có thể làm thầy dạy người, nếu không sẽ làm hỏng danh tông, ngược lại bị đọa lạc, cũng vào đại địa ngục A Tỳ.

Thứ ba, đã quy y Căn bản Thượng sư thì các Thượng sư khác không được nhận những sư huynh đệ trước đây làm đệ tử, để tránh rối loạn truyền thừa. Điểm này phải nhớ kĩ, rất quan trọng.


### 32. Tôi sẽ viết "Hắc giáo Hắc pháp"


Tôi sẽ viết "Hắc giáo Hắc pháp" - Vạch trần lời nói dối của "người thừa kế duy nhất" của "tà giáo".

Sau khi hoàn thành "Hành giả ở Seattle", cuốn sách tiếp theo của tôi, tập 47 trong tuyển tập của tôi, sẽ có tên là "Hắc giáo Hắc pháp", với tiêu đề phụ là "Quả báo cuối cùng của chú thuật ngoại đạo".

Lý do tôi viết "Hắc giáo Hắc pháp" là vì có một người tự xưng là "người thừa kế duy nhất" của "Hắc giáo", khiến giới truyền thông hoàn toàn bị lừa dối. Liệu giới truyền thông có biết rằng, giữa trời đất này, người thực sự hiểu rõ "Hắc giáo" duy nhất chính là Lư Thắng Ngạn. Còn vị tiên sinh kia chẳng qua chỉ là treo đầu dê bán thịt chó, mượn danh Hắc giáo để phô trương, lừa gạt người khác mà thôi. Lý thuyết của ông ta toàn là những luận điểm nhỏ nhặt về Mật tông, không có chút nào là bản chất thực sự của "Hắc giáo". Dựa trên ý thức về công lý, tôi buộc phải công bố toàn bộ "Hắc giáo Hắc pháp" ra thế gian, để tất cả độc giả hiểu rõ về Hắc giáo chân chính, không để kẻ đó tiếp tục lợi dụng truyền bá, dẫn người vào con đường tà của Phật pháp, nhận tà làm chính, đảo lộn đen trắng, lừa dối chúng sinh thiên hạ.

Ở đây, tôi xin nêu quan điểm của hai vị đại sư Mật tông chân chính:

Vị Hoạt Phật của Bạch giáo Thrangu Rinpoche khi đến hoằng dương Mật tông trong nước, đã thăng tòa thuyết pháp tại điện Viên Thông Bảo của chùa Từ Minh. Có người hỏi về Mật tông Hắc giáo của một người nọ là gì? Vị Hoạt Phật đã trả lời như sau: Trong Tạng mật, Mật tông có bốn truyền thừa, một là Hồng giáo (Nyingmapa cổ phái), hai là Hoàng giáo, ba là Bạch giáo (Kagyupa), bốn là Hoa giáo. Còn về Hắc giáo, hoàn toàn không liên quan đến Mật tông, Hắc giáo là tôn giáo mê tín nguyên thủy vốn có ở Tây Tạng trước khi Liên Hoa Sinh Đại Sĩ từ Ấn Độ sang Tây Tạng. Sau này, do Mật tông hưng thịnh ở Tây Tạng, Hắc giáo đã dần tan biến vào khoảng thời nhà Đường. Hắc giáo không phải là Mật tông, và việc người này tuyên truyền mình là người thừa kế duy nhất, e rằng có động cơ khác. (Thrangu Rinpoche chính là đệ tử của Đại Bảo Pháp Vương thuộc Bạch giáo.)

Ngoài ra, có một vị Thượng sư Kim Cương thừa của Mật tông, sống ở Đài Bắc trong nước, chính là Thượng sư Âu Dương, khi ông đến Seattle, Hoa Kỳ, có người hỏi ông về Mật tông Hắc giáo của một người nọ, vị Thượng sư Kim cương thừa Âu Dương này lắc đầu liên tục, xua tay liên tục. Ông nói với người hỏi rằng, xin đừng nhắc đến tên người này trước mặt tôi, hắn chỉ là kẻ xuyên tạc, mượn danh Mật tông để phô trương, hắn biết gì về Hắc giáo đâu, một tên tiểu tử hỗn loạn, chỉ cần nhắc đến tên hắn đã thấy buồn nôn rồi.

Bây giờ, quay lại nói về việc tại sao tôi biết về "Hắc giáo Hắc pháp". Nguyên do là thế này: Tôi bắt đầu tiếp xúc với Mật tông từ năm 32 tuổi, và bắt đầu nghiên cứu cũng như thực hành Mật pháp. Trong việc học Mật tông, điều quan trọng nhất là truyền thừa quy y và quán đảnh, vì vậy tôi đã thọ nhận cả quán đảnh quy y và đại quán đảnh bí mật. Việc tu tập Mật tông của tôi được ghi chép trong hai cuốn sách "Phục Ma Bình Yêu Truyện" và "Tọa Thiền Thông Minh Pháp". Do thầy hướng dẫn tôi là bậc tông sư Tạng mật một đời, trực tiếp hay gián tiếp, tôi đã biết được rất nhiều về Hắc pháp của Hắc giáo. Đây là duyên phận trời ban, tôi thấu hiểu sâu sắc cơ duyên của Hắc giáo Hắc pháp, có lẽ đã đến lúc phải vạch trần Hắc giáo Hắc pháp. Đây là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng.

Sau đó, trong thời gian ở Seattle, vị Tổ sư đời thứ nhất của Tạng mật đã thị hiện vào ngày mùng 10 tháng 7, ngày sinh của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, ngài ngồi trên đài sen vàng, giáng lâm nơi mật đàn của tôi. Ngài đích thân hướng dẫn tôi cách tu Mật. Tiếp đó, Ngài truyền thụ cho tôi toàn bộ Hắc giáo Hắc pháp vốn đã thất truyền, giúp tôi hiểu rõ hơn về nguồn gốc của Hắc giáo, những chú thuật của họ, cách họ hại người, cách hóa giải, và quả báo tương lai của người hành pháp này. Lúc đó tôi không hiểu dụng ý, hóa ra là để tôi thâm nhập Hắc giáo Hắc pháp, rồi sau đó viết sách phá trừ tà thuyết của Hắc giáo.

Hóa ra người đầu tiên phá trừ Hắc giáo chính là tổ sư đời thứ nhất của Tạng mật Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nhập Tam ma địa của Văn Thù Bồ Tát, hóa hiện ra Đại Uy Đức Kim Cang để giáo hóa tín đồ của Hắc giáo. Đại Uy Đức Kim Cang chính là Ngưu Đầu Kim Cang, nguyên nhân chính là vì Hắc giáo tôn thờ thần Trâu làm tổ sư. Hiện nay, tôi là người thứ hai sau Liên Hoa Sinh Đại Sĩ phá trừ Hắc giáo Hắc pháp. Tôi công khai toàn bộ bí mật của Hắc giáo Hắc pháp để thế nhân phán xét ai là chính, ai là tà. Trên đời này, người có thể viết về Hắc giáo Hắc pháp, ngoài tôi ra, e rằng không thể tìm được người thứ hai.

Mật tông sẽ hưng thịnh trong tương lai, ngoài truyền thừa Tạng mật ra, còn có truyền thừa Đông mật (do Đại sư Không Hải, tức Đại sư Hoằng Pháp) truyền sang Nhật Bản. Ngoài ra còn có truyền thừa Trung mật, từ Ấn Độ truyền sang Trung Thổ, chính là truyền thừa của ba vị đại A Xà Lê Kim Cang Trí, Thiện Vô Úy và Bất Không. Học Mật tông đều phải coi trọng truyền thừa quán đảnh, chưa quy y chưa quán đảnh mà học được gọi là trộm pháp, không chỉ phạm giới căn bản của Mật tông, mà còn phạm tội vọng truyền Mật pháp. Những giới căn bản này, kẻ kia đều đã phạm cả, lại tự xưng là "Đại sư Mật tông" thật là hỗn loạn, tự xưng là "người thừa kế duy nhất của Hắc giáo" càng là vọng ngữ của vọng ngữ. Hắc giáo đã sớm tan biến, hơn nữa Hắc giáo vốn không phải là Mật tông, sao dám tự xưng là đại sư Mật tông? Hắc giáo không có truyền thừa, tại sao lại tự xưng là "người thừa kế duy nhất"? Người sáng mắt nhìn một cái là biết ngay, tôi không cần phải nói nhiều. Kẻ kia thường nói học Mật pháp từ năm 6 tuổi, vậy đã thọ quy y và quán đảnh chưa? Thượng sư là ai? Ai truyền cho ngươi quán đảnh A Xà Lê?

Có kẻ thường khoe khoang về Đại Thủ Ấn, thật là buồn cười, chỉ đọc sách rồi bắt chước lung tung, không hiểu "động tác phân giải", thật là hỗn loạn. Điều đáng thương là, trên thế gian này có không ít tông phái Mật tông có truyền thừa, Mật giáo đang dần dần phát triển rực rỡ. Nhưng giới truyền thông lại đi tuyên truyền về Mật tông giả, người truyền thừa giả. Điểm này mọi người không nói ra, nhưng khi gặp một người chính khí hiên ngang như tôi, thì phải vạch trần bộ mặt thật của họ, Mật tông có nhiều vị Hộ pháp Kim cang thần phẫn nộ, làm sao có thể dung túng cho Hắc giáo tà ác tiếp tục tồn tại.

Tôi viết cuốn "Hắc Giáo Hắc Pháp" là xuất phát từ tâm chính nghĩa, để trừ ma đen tà ác, phá tà hiển chính. Xin tất cả độc giả hãy chú ý, đây là tác phẩm quý hiếm độc nhất, gây chấn động toàn thế giới.

Nay xin liệt kê những nội dung chính của cuốn "Hắc Giáo Hắc Pháp" như sau:

Thứ nhất, nguồn gốc và sự suy tàn của Hắc giáo (tên gốc là Bon giáo).
Thứ hai, việc Hắc giáo thờ phụng thần Trâu.
Thứ ba, quyền xâm phạm trinh tiết của các thiếu nữ của pháp sư Hắc giáo.
Thứ tư, về các nữ tì trong đền của Hắc giáo.
Thứ năm, những thủ đoạn lừa gạt của pháp sư Hắc giáo và lý luận của họ.

Thứ sáu, cách thực hành Hắc pháp của Hắc giáo, các loại công cụ và chú thuật. Tôi sẽ viết ra vài chục phép, nhưng phải giấu đi một phần quan trọng, vì sợ kẻ xấu lấy được sẽ bắt chước làm theo. Tôi còn lo sợ một người nào đó, khi biết tôi viết cuốn "Hắc Giáo Hắc Pháp", sẽ cầm sách của tôi đi diễn giảng để "ra vẻ", không khéo lại lấy cuốn "Hắc Giáo Hắc Pháp" của tôi làm luận văn tiến sĩ của mình, khiến tôi không biết nên khóc hay cười nữa.

Thứ bảy, quả báo tương lai của việc sử dụng Hắc giáo Hắc pháp. Điểm này đặc biệt quan trọng, vì việc sử dụng Hắc giáo Hắc pháp hoàn toàn dựa vào yêu ma tà linh, mê hoặc xâm nhập tâm trí. Người học Hắc pháp đã bị tà ma tà tuệ xâm nhập, tự xưng là người thừa kế duy nhất của Hắc giáo, truyền bá tà dâm, phá hoại truyền thừa của Mật tông. Không những thế, người đời nay căn cơ nông cạn, vốn muốn tu hành chân chính nhưng lại trở thành ma nghiệp, cuối cùng biến thành quyến thuộc của ma. Họ và đệ tử của họ, sau khi mạng chung, nhất định sẽ trở thành dân ma. Những quả báo này tôi cũng sẽ liệt kê từng điều một. Đây là vì chúng sinh thời mạt pháp, giúp chúng sinh tu tập chính định chân chính, nhận ra đâu là chính, đâu là tà, tuệ nhãn viên minh mà không bị ma ám.

Tôi dùng Thiên nhãn quan sát, thấy một người trong Tam ma địa khởi lên tâm niệm thích được nổi danh, từ đó chăm chỉ theo đuổi danh lợi, tham cầu giao du với các ngôi sao, chính trị gia và giáo sư, biết rằng gần gũi ba hạng người này là cách dễ dàng và nhanh chóng nhất để nổi danh. Lúc này Thiên ma thấy thời cơ đã chín muồi, lập tức phái tinh linh nhập vào thân người đó, ban cho y trí tuệ tà ma, khiến y vì danh lợi mà đi khắp nơi diễn thuyết biểu diễn, tự xưng là có thể quan sát được khí, không coi trọng thực tu mà chỉ coi trọng giao tế, mượn danh Hắc giáo, vọng xưng Mật tông, tự nhận là người thừa kế duy nhất. Những kẻ như vậy, trong thiên hạ chỉ có tôi nhìn thấu được họ một cách rõ ràng, và chỉ có tôi mới có thể cứu họ.

Cuối cùng, tôi xin khuyên một lời, đừng bao giờ mê muội không tỉnh ngộ. Cuốn "Hắc Giáo Hắc Pháp" này của tôi viết ra không phải để hại mà là để cứu các vị. Lẽ nào các vị thực sự không biết sự tà ác của Hắc giáo hay sao? Sấm sét quán đảnh, pháp môn rộng mở, đừng tự trói mình như tằm kéo kén, vĩnh viễn không thấy được mặt trời Phật, hãy mau mau quy y Mật tông có truyền thừa, trở thành một pháp sư thấu tỏ chân tính, đây là tấm lòng cứu độ chân thành của tôi. Hãy mau sám hối, mau quay đầu.

Tháng 8 năm 1983 tại Hoa Kỳ.
512 Strander Blvd.
Tukwila, WA 98188
U.S.A.


### 33. Phụ lục 1: Thư gửi Thượng sư Lư Thắng Ngạn của Khải Luân - một đệ tử Mỹ


*April 8, 1983*

*Dear ShiFu,*

*How can I express to you my heart’s love? When you spoke of the Formless my heart cried with bliss. For, dear Teacher, therein lies my joy, my life, my all.*

*As the days and weeks go on, the more and more I feel my life to be not my own. There is no seeking to be done, only abidance in the Formless beyond words. Everything else is but an expression, a manifestation, of That! Through your grace I will mature as that one Reality. In this I am unsurmountedly grateful.*

*Dear ShiFu, I have no other desire than to do whatever you want. I ask for nothing. Please take me and allow me to do your will. For your will, dear Teacher, is Buddha’s Will. I’m surrendering my all to you. I am surrendering my all to Buddha. You know best what I need to do and learn in order to fulfill my dharma, my destiny. Teach me whatever I am supposed to know. You know better than I my purpose for being here. All I know is what keeps me from dissolving into the Formless. It is the cry of souls in bondage, that’s what. And my own soul cries out to rescue them. For I can not rest until all souls are at peace, have realized their Higher Self. Until then I will keep coming back. So to find you, dear ShiFu, brings joy to my heart, because it is through your grace that my human weaknesses will be overcome and our dharma fulfilled. I say our dharma, because we want the same thing and have the same mission.*

*Dear ShiFu, many teachers have I had before you, but I have never accepted initiation from any. Only with you have I accepted initiation. For I knew in my heart that through your wisdom, power, light and love I would mature in realization of Tao and be able to be of service in this world.*

*So many human frailties I have picked up however. So much pride, vanity, and selfishness. Therefore, be harsh on me, whip me if it will help, put me on severe austerity if it will help—anything to set me free to worship and serve Thee—without any ego involvement.*

*My ego creeps up in even the questions I ask you. I feel unworthy of your grace and yet ever grateful for it. For it will be through your grace, nothing of my own doing, that I will reach my highest potential. And that is how it should be.*

*Cremate my ego. Purify my soul. Whatever is needed to be one with Thee. My life is in your hands, for there is no other way.*

*Open to whatever you give or take away,*

*Your devotee,*

*Lian Chin*

🌟

Ngày 8 tháng 4 năm 1983

Kính thưa Sư Phụ,

Con biết phải diễn tả tình yêu trong tim con thế nào đây? Khi Sư Phụ giảng về cảnh giới vô tướng, tim con đã rơi lệ trong niềm hỷ lạc. Bởi thưa Thầy kính yêu, trong đó chứa đựng niềm vui, cuộc sống và tất cả của con.

Theo thời gian trôi qua, con càng cảm thấy cuộc đời này không còn là của riêng con nữa. Không cần phải tìm kiếm gì, chỉ an trú trong cảnh giới vô tướng vượt ngoài ngôn từ. Mọi thứ khác chỉ là biểu hiện, là hiện tướng của cảnh giới đó! Nhờ ân đức của Thầy, con sẽ trưởng thành trong thực tại duy nhất ấy. Con vô cùng tri ân điều này.

Kính thưa Sư Phụ, con không còn ước muốn nào khác ngoài việc làm theo ý Thầy. Con không cầu xin gì cả. Xin Thầy nhận lấy con và cho phép con thực hiện ý chỉ của Thầy. Bởi ý chí của Thầy, thưa Thầy kính yêu, chính là ý chỉ của Phật. Con xin dâng hiến tất cả cho Thầy. Con xin dâng hiến tất cả cho Phật. Thầy biết rõ nhất điều gì con cần làm và học để hoàn thành pháp của con, định mệnh của con. Xin hãy dạy cho con những điều con cần biết. Thầy hiểu rõ hơn con về mục đích con có mặt ở đây. Tất cả những gì con biết là điều gì ngăn cản con hòa tan vào cõi vô tướng. Đó chính là tiếng khóc của những linh hồn đang bị trói buộc. Và linh hồn con cũng khóc than để cứu độ họ. Bởi con không thể an nghỉ cho đến khi tất cả các linh hồn đều được bình an, đều nhận ra được Chân Ngã của họ. Cho đến lúc đó con sẽ tiếp tục tái sinh. Vì vậy được gặp Thầy, kính thưa Sư Phụ, mang lại niềm vui cho tim con, bởi nhờ ân đức của Thầy mà những yếu kém của con người con sẽ được vượt qua và pháp của chúng ta sẽ được viên thành. Con nói pháp của chúng ta, bởi chúng ta mong muốn cùng một điều và có cùng một sứ mệnh.

Kính thưa Sư Phụ, trước khi gặp Thầy con đã từng theo học nhiều vị thầy, nhưng chưa bao giờ con chấp nhận nhận pháp từ ai cả. Chỉ với Thầy con mới chấp nhận nhận pháp. Bởi con biết trong tim rằng thông qua trí tuệ, năng lực, ánh sáng và tình thương của Thầy, con sẽ trưởng thành trong sự chứng ngộ Đạo và có thể phụng sự cho thế gian này.

Tuy nhiên con đã mang lấy quá nhiều yếu đuối của con người. Quá nhiều kiêu ngạo, phù phiếm và ích kỷ. Vì vậy, xin Thầy hãy nghiêm khắc với con, đánh đập con nếu điều đó giúp ích, bắt con khổ hạnh nghiêm ngặt nếu điều đó có ích - bất cứ điều gì để giải thoát con để con có thể tôn thờ và phụng sự Thầy - mà không có bất kì sự can thiệp nào của bản ngã.

Bản ngã của con len lỏi ngay cả trong những câu hỏi con đặt ra với Thầy. Con cảm thấy không xứng đáng với ân đức của Thầy nhưng vẫn luôn biết ơn vì điều đó. Bởi chính nhờ ân đức của Thầy, không phải do công của con, mà con sẽ đạt được tiềm năng cao nhất của mình. Và đó là cách nó phải như vậy.

Xin hãy hỏa thiêu bản ngã của con. Thanh lọc linh hồn con. Bất cứ điều gì cần thiết để được hợp nhất với Thầy. Đời con trong tay Thầy, bởi không còn con đường nào khác.

Sẵn sàng đón nhận bất cứ điều gì Thầy ban cho hay lấy đi.

Đệ tử của Thầy,
Lian Chin.


### 34. Phụ lục 2: Bài thơ của Quan Thế Âm Bồ Tát gửi cho Thượng sư Liên Sinh thông qua một nữ giáo viên người Mỹ


Dear child of Buddha’s light,
Through this body form I am able
To write to you again
Doing so brings great joy to my heart
For so dear are you to me
For the dharma you are spreading
For the devotees you are reaching
For the souls you are healing.

Dear child,
Much good shall you do here in the West
Yet be prepared for changes in your
traditional ways of seeing things
For the West has yet to learn proper
protocal and humility

The western mind is determined to
have things done his or her own way
Much more so than the eastern mind.
The western mind is just now beginning
to see possibilities beyond what can
be understood intellectually
Most are still imbedded with skepticism
and ignorance
But some are tired and want to find a new way
a better way
a way out of despair and discontinuity.

These are the ones you will touch most.
These are the souls to be healed.
These are the devotees to teach.
The United States is built around institutions.
People will want to set up institutions around you.
But in so doing they will distort and misuse
the teachings
For the teachings are too simple, too clear
too complete to fit within the
frameworks of an Institution.
They don’t need to be put in institutions,
but rather in mans heart.
They don’t need to be talked about,
only lived.
They are to be experienced,
not intellectualized about.
And oh, how westerners love to intellectualize,
rationalize, and argue.
Such people will not get far with you however;
for there will be nothing to attach to
they will try to get a reaction from you
but will not succeed
they will think you simple-minded and ignorant
And you love only to smile and serve them tea.

Other people will want to associate with you
To be close to you
For their own self-gain
In order to exhalt their ego
to feel important and self-righteous.

Dear one, I realize you know all this already
I only want you to know that I love you
and will see to it that the mass public
does not make a mockery of the teachings
the transmission, the power.
This will be prevented by living the very simple life
you are now
The West puts great value on material possessions
and will try to get you living like a king
You are king through remaining very ordinary.
Through this body form called Lian Chin
I will be helping you disseminate the teachings
Into proper channels.
For this body/mind form knows the ways of the West
Is very acquainted with the type of people
who will take an interest in the teachings.
I am delighted to have the opportunity to
be with you in this body form
And I hope to be able to work through many others
also.
Much will be accomplished.
First my body/mind form needs to be prepared
for the intensity of its mission
This preparation you make possible dear One
You catalyze this body form’s realization/purification.
As you do so many other souls.
This body form’s nerve system can only take so much
right now
So I must stop writing for now.

Ever Your Very Self,
Guan Yin

🌟

Hỡi đứa con của ánh sáng Phật,
Thông qua hình tướng này Ta có thể
Một lần nữa lại viết cho con
Điều này mang lại niềm vui lớn trong tim Ta
Bởi con quá đỗi thân thương với Ta
Vì Pháp mà con đang truyền bá
Vì những đệ tử mà con đang tiếp độ
Vì những linh hồn mà con đang chữa lành.

Hỡi đứa con thân thương,
Con sẽ làm được nhiều điều tốt đẹp ở Tây phương
Nhưng hãy chuẩn bị đón nhận những thay đổi
trong cách nhìn truyền thống của con
Bởi phương Tây vẫn chưa học được cách
tôn kính và khiêm nhường đúng đắn
Tâm thức phương Tây luôn quyết tâm
làm mọi việc theo cách riêng của họ
Khác xa với tâm thức phương Đông.

Tâm thức phương Tây giờ mới bắt đầu
thấy được những khả năng vượt xa những gì
có thể hiểu được bằng tri thức
Phần lớn vẫn còn đắm chìm trong hoài nghi
và vô minh
Nhưng có những người đã mệt mỏi và muốn tìm một con đường mới
một con đường tốt đẹp hơn
một lối thoát khỏi tuyệt vọng và đứt đoạn.
Đây là những người mà con sẽ chạm đến nhiều nhất.
Đây là những linh hồn cần được chữa lành.
Đây là những đệ tử cần được dạy dỗ.

Hoa Kỳ được xây dựng quanh các tổ chức.
Người ta sẽ muốn lập ra các tổ chức quanh con.
Nhưng làm như vậy họ sẽ bóp méo và lạm dụng
giáo pháp
Bởi giáo pháp quá đơn giản, quá rõ ràng
quá trọn vẹn để có thể đặt vào
khuôn khổ của một Tổ chức.
Chúng không cần được đặt trong các tổ chức,
mà cần được đặt trong tim người.
Chúng không cần được bàn luận,
mà cần được sống.
Chúng cần được trải nghiệm,
không phải để lý luận.
Và ôi, người phương Tây thích lý luận biết bao,
hợp lý hóa, và tranh cãi.
Tuy nhiên những người như vậy sẽ không thể đi xa với con;
bởi sẽ không có gì để bám víu
họ sẽ cố gắng kích động phản ứng từ con
nhưng sẽ không thành công
họ sẽ nghĩ con đơn giản và ngu dốt
Và con chỉ mỉm cười và mời họ trà.

Những người khác sẽ muốn kết giao với con
Để được gần gũi con
Vì lợi ích cá nhân của họ
Để tâng bốc cái tôi của họ
để cảm thấy quan trọng và tự cho mình là đúng.
Người thương yêu, Ta biết con đã hiểu tất cả điều này
Ta chỉ muốn con biết rằng Ta yêu thương con
và sẽ đảm bảo rằng đám đông
không biến giáo pháp thành trò đùa
sự truyền thừa, năng lực.
Điều này sẽ được ngăn chặn bằng lối sống giản dị
mà con đang sống
Phương Tây đề cao vật chất
và sẽ cố khiến con sống như một vị vua
Con là vua khi vẫn giữ được sự bình thường.

Thông qua hình tướng này mang tên Lian Chin
Ta sẽ giúp con truyền bá giáo pháp
Qua những kênh phù hợp.
Bởi hình tướng thân/tâm này hiểu rõ cách thức phương Tây
Rất quen thuộc với những kiểu người
sẽ quan tâm đến giáo pháp.
Ta rất vui được có cơ hội
ở bên con trong hình tướng này
Và Ta hy vọng có thể làm việc thông qua nhiều người khác nữa.
Nhiều điều sẽ được hoàn thành.
Trước tiên hình tướng thân/tâm của Ta cần được chuẩn bị
cho cường độ của sứ mệnh
Việc chuẩn bị này con làm được, hỡi Người thương yêu
Con là chất xúc tác cho sự chứng ngộ/thanh lọc của hình tướng này.
Như con đã làm cho rất nhiều linh hồn khác.
Hệ thần kinh của hình tướng này chỉ có thể chịu đựng được một mức độ
vào lúc này
Nên Ta phải dừng viết... tạm thời.

Mãi mãi là Chân Ngã của Con,
Quan Âm

**(Hết.)**

---

---
# File: sach-tam-linh/054-mat-tong-yet-ma-phap.md
# Title: 054. Mật tông Yết Ma pháp
---

## Mật tông Yết Ma pháp 


🪷 Đại công khai Mật pháp cứu đời

Văn tập: 054
Xuất bản: 10/1984
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


**Nhân duyên tôi viết "Mật tông Yết Ma pháp"**

Yết Ma - ý nghĩa của pháp. Yết Ma A Xà Lê là vị Thượng sư theo nghi quỹ Phật pháp để làm các pháp sự như thọ giới, sám hối. Ngoài ra, Yết Ma pháp chính là các pháp của Mật tông như tiêu tai, tăng ích, kính ái, hàng phục, nhiếp triệu.

Khi bắt đầu viết cuốn sách này, trước tiên tôi giải thích hai chữ "Yết Ma" như trên. Việc viết cuốn sách này cũng có nhân duyên lớn. Sau khi viết xong cuốn "Giữa Phật và Ma", một đêm nọ, khi tôi đang ngồi thiền tại Chân Phật Các, nguyên thần của tôi từ từ bay lên, đến một vùng đất tôi chưa từng đặt chân đến, đó là Sri Lanka, nguyên thần của tôi đi vào một hang động trên vách núi.

Hang động này sâu thẳm tối tăm, bên trong quanh co uốn lượn với nhiều lối đi, nhưng điều thu hút tôi lại là một luồng ánh sáng tinh khiết như tia chớp. Nguyên thần của tôi đi vào tận cùng hang động, lúc này ánh sáng rực rỡ như mặt trời, gần như xuyên thấu cả vách đá, cả hang động sáng bừng, ánh sáng chiếu khắp vũ trụ, tràn ngập trời đất. Khi nhìn kĩ, tôi thấy nguồn sáng đó lại chính là một quyển sách, bìa sách rất cũ kĩ, chữ viết bên trong tôi không đọc được, tuy nhiên trong đầu tôi chợt lóe lên linh cảm, đây không phải chữ Phạn (tiếng Ấn Độ) mà là kinh Phật viết bằng tiếng Pali.

Nguyên thần của tôi lật mở ký ức kiếp trước về văn bản tiếng Pali, và nhanh chóng tôi đã hiểu được trọng tâm của quyển sách này. Văn tự trong sách này vốn rất thâm thúy khó lường, cũng không dễ hiểu, bởi vì đây là một trong những quyển Tạng kinh (Tạng kinh thời xưa nhất được chia thành tiếng Phạn và tiếng Pali), là kết tinh vĩ đại của tri thức nghìn đời.

Vì vậy, mỗi tối khi ngồi thiền, tôi đều bay đến hang động sâu thẳm ở Sri Lanka, tại nơi tĩnh lặng nhất tràn ngập ánh sáng, dưới những tia vàng rực rỡ, tôi chăm chú nghiên cứu quyển sách này. Điều kỳ diệu hơn nữa là quyển sách này có Kim Cang Thần bảo hộ, mỗi lần tôi đến, các vị Kim Cang Thần hộ pháp đều khác nhau, tất cả đều là những vị Kim Cang Lực Sĩ tay cầm chày kim cang. Khi thấy tôi đến, các Ngài đều lui sang một bên, ngày đêm cung kính bảo hộ, và tôi được an tâm đọc quyển kinh Pali này trong ánh hào quang rực rỡ. Tên của quyển sách này chính là "Yết Ma".

Thật là một điềm lành linh thiêng! Tôi đã học được tâm yếu trong sách, những bí pháp huyền diệu nhất, những giáo pháp thiêng liêng nhất, hiểu được cách sử dụng tất cả các pháp bí mật. Tôi không khỏi cảm thán! Làm sao người đời thế tục biết được rằng trên thế gian này vẫn còn tồn tại một pháp bảo như thế này chôn sâu trong hang động dưới lòng đất, đây quả thật là một pháp ích thuần tịnh!

Tôi - Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư - đặc biệt được mười phương chư Phật chiếu sáng, mang trong mình sứ mệnh cao cả, dựng cao cờ pháp, rải khắp mưa pháp cam lộ để cứu độ chúng sinh mười phương. Tông phái Chân Phật Tông của tôi quả thật là một pháp duyên thù thắng kỳ diệu, chứa đựng pháp lực vô cùng, là tông phái thiêng liêng tồn tại muôn đời, là pháp thí của đại trí huệ (bát nhã) thông suốt trời đất, là nơi chúng sinh nên quy y.

Yết Ma là đệ nhất nghĩa đế. Cũng là đại Mật pháp cứu độ thế gian.

Hôm nay, pháp mà tôi trình bày trong sách này chính là Yết Ma pháp, lấy Bất Không Thành Tựu Như Lai làm Bổn tôn. Bất Không Thành Tựu Như Lai là một trong Ngũ Phương Phật, chủ trì Yết Ma Bộ, là chủ tôn của nguyệt luân phương Bắc trong Mandala Kim Cương Giới, mật hiệu là Tất Địa Kim Cang và Thành Tựu Kim Cang.

Do việc tu pháp có thể giải trừ phiền não của chúng sinh, thành tựu tất cả đại nguyện, không bao giờ "không thành" nên mới gọi là Bất Không Thành Tựu Như Lai. Vị Như Lai này còn được gọi là Khai Phu Hoa Vương Như Lai, nhờ vào vạn hạnh đại bi của Ngài mà chúng sinh đều có thể đắc quả bồ đề. Pháp tướng của Bất Không Thành Tựu Như Lai là: "Tướng định tĩnh lặng, Pháp thân sắc vàng, một tay nắm góc y, tay kia kết ấn thí vô úy."

Yết Ma pháp có thể nói là con đường thoát khổ được vui, là chiếc bè báu dẫn đến giác ngộ. Khi tôi mở lại ký ức kiếp trước, bỗng nhiên hiểu được ý nghĩa thực sự của văn bản Pali, duyên pháp này quả thật quá sâu dày, chỉ trong một sát-na đã hiểu tất cả. Tôi mong rằng những hành giả tu tập hãy kiên định vĩnh hằng! Bất kì người tu hành nào, dù phải trải qua nghìn vạn thử thách của ma chướng, cũng đừng đánh mất đạo tâm, bởi vì Đạo là có thật, chỉ cần làm được việc khó làm, nhẫn được điều khó nhẫn, nhất định sẽ chứng đắc bồ đề, có thể cứu độ chúng sinh.

Hôm nay, tôi là người đã đạt được đại chứng ngộ về "giải thoát quán". Tính thường hằng của tôi là bình đẳng và không tịch, tôi không vì danh lợi mà làm những việc điên đảo, tôi đã sớm thấu triệt tướng sinh diệt trong từng sát-na. Thần thái tâm an là tâm bồ đề thường hằng của tôi. Những gì tôi đạt được là cuộc đời có giá trị vô thượng, cảnh giới đó tự nhiên vượt trên cả khuôn vàng thước ngọc.

Yết Ma pháp trong sách này bao gồm các pháp lớn nhỏ, hoàn toàn liên quan mật thiết đến con người, đây là pháp cứu độ thế gian. Tuy khác với tông chỉ của Vô thượng mật và Đại thủ ấn, nhưng tu tập Yết Ma pháp cũng có thể đạt được thiện căn sâu dày, phúc báo cực thịnh, công đức cứu người lại vô cùng to lớn, cũng có thể từ đây mà nhập môn rồi đạt được những bí mật vô thượng.

Tôi viết một bài kệ:
*Đại nguyện thấu trời thuyết mọi pháp
Thong dong nguyên thần quán Phật kinh
Đi học Yết Ma muôn vạn dặm,
Nghìn ma vạn ma tại đây dừng.*

Địa chỉ liên lạc của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn

**Sheng-yen Lu
**17102 NE 40th Ct.,
Redmond, WA 98052
U. S. A.


### 01. Tâm yếu của năm pháp đại bí mật


Năm pháp đại bí mật của Mật tông tức là tiêu tai, tăng ích, kính ái, nhiếp triệu, hàng phục.
Nghi quỹ trong những pháp này vô cùng phức tạp, tôi đặc biệt thuật lại những điểm quan trọng như sau: 
Thời gian tu pháp, tất cả đều hoàn thành bảy ngày tu, từ ngày mồng 1 đến ngày mồng 8 tốt nhất là tu pháp tiêu tai, ngày mồng 9 đến ngày 15 nên tu pháp tăng ích, ngày 16 đến ngày 23 nên tu pháp kính ái và pháp nhiếp triệu, ngày 24 đến cuối tháng nên tu pháp hàng phục. [Ngày tháng ở đây thông thường sẽ theo Âm lịch.] Lên lịch thời gian như vậy dựa theo sự diễn hóa của mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao để sắp xếp, có liên quan tới thiên văn và lực từ trường.

Pháp tiêu tai:
Người làm pháp quay mặt về hướng Bắc, còn Phật đàn quay mặt về hướng Nam, mặc pháp y màu trắng, khi mặt trời xuống núi thì mới làm pháp, hoa quả cúng cũng phải chọn màu trắng để cho phù hợp, quán tưởng Bổn tôn cũng là màu trắng, phóng ánh sáng cũng là màu trắng, dùng ánh mắt từ bi và tư thế ngồi để làm pháp, âm thanh niệm chú không chậm không nhanh, và tâm từ bi niệm chú, có nghĩa là âm thanh trong và đều đặn.

Pháp tăng ích: 
Người làm pháp quay mặt về hướng Đông, còn Phật đàn quay mặt về hướng Tây, mặc pháp y màu vàng, chọn một giờ cát tường là có thể làm pháp, hoa quả cúng tất cả đều phải chọn màu vàng, quán tưởng Bổn tôn cũng là màu vàng, phóng ánh sáng cũng là màu vàng, thời gian cũng chọn lúc mặt trăng mới mọc là tốt nhất, dùng mắt kim cang để nhìn xung quanh, khi tu pháp phải dùng tâm vui vẻ, tâm hân hoan, âm thanh trì chú ngắn gọn trong sáng.

Pháp kính ái, pháp nhiếp triệu: 
Người làm pháp quay mặt về hướng Tây, còn Phật đàn quay mặt về hướng Đông, mặc pháp y màu trắng, người tu pháp quỳ trên đầu gối, hai chân tựa vào nhau, mông không chạm đất, thời gian chọn giờ lành sau buổi đêm, có thể mặc pháp y màu vàng hoặc màu đỏ, hoa quả cúng đều dùng quả dưa tươi màu đỏ, quán tưởng Bổn tôn là màu đỏ, phóng ánh sáng cũng là màu đỏ, âm thanh niệm chú là từng chữ nhanh và dứt khoát, từng chữ đều có lực.

Pháp hàng phục:
Người làm pháp quay mặt về hướng Nam, còn Phật đàn quay mặt về hướng Bắc, mặc pháp y màu xanh hoặc màu đen cũng được, hoa quả cúng là hoa quả màu xanh hoặc màu đen, thời gian tu pháp là chính giữa ngày [tức 12 giờ trưa] hoặc buổi tối khi trăng lên cao [tu dưới ánh trăng]. Pháp hàng phục này có hai kiểu thân ấn, một kiểu là chân phải đứng thẳng, chân trái đứng hơi cong, chân phải biểu thị chính mình, chân trái biểu thị đối phương; kiểu còn lại là dùng chân phải dẫm lên lưng chân trái, dùng tư thế ngồi xổm để tu pháp, mông không chạm đất, tương tự cũng có ý nghĩa là dẫm lên đối phương. Quán tưởng Phật và phóng quang là màu xanh đen, mặt thì nhướn mày và liếc mắt, răng cắn vào môi trên, làm thành tướng phẫn nộ, tương ứng với tâm phẫn nộ, âm thanh niệm chú là bật ra từng tiếng phẫn nộ.

Ở trong hang động tại Sri Lanka, tôi đã đọc được về Yết Ma bằng tiếng Pali, chuyên môn nói về năm pháp đại bí mật để cứu đời này. Đương nhiên chúng ta biết pháp tiêu tai có thể tránh được tất cả tai nạn ngoài ý muốn, ví dụ các tai họa về đất, nước, lửa, gió, hoặc lái xe đi lại, oán thù giữa người với người, thậm chí bệnh tật, đều có thể sử dụng pháp tiêu tai.

Công đức thượng phẩm của pháp tăng ích có thể ngao du đến thiên cung và trở thành tiên, công đức trung phẩm là có thể được trường thọ, tất cả đầy đủ sung túc, giống như vua ở nhân gian, công đức hạ phẩm là có thể đắc thành tựu, có thể được các điều lành, gia tăng của cải tài nguyên, tất cả đều đầy đủ, đây là lợi ích của pháp tăng ích.

Pháp kính ái, pháp nhiếp triệu có thể được người người kính ái, có thể thu hút triệu gọi thiên thần hạ phàm gian, có thể đắc cái nhìn bình đẳng, người tu trì pháp này giống như trăng sáng chiếu hồ nước, cũng giống như hoa sen không nhiễm bụi trần, khi công đức viên mãn tự nhiên thăng lên cõi trời, trí huệ của mỗi người đều viên mãn, quang minh thường chiếu, có Thần Phật bảo hộ, tương lai bồ đề viên mãn, tất cả thành tựu.

Pháp hàng phục có thể nói là hàng phục độc long, ác thú, thiên ma, tà quỷ, tà nhân, tà giáo, đệ tử xấu. Đây chính là pháp tru của Mật tông, hầu hết hễ tu pháp này thì đối phương nhất định sẽ cảm ứng, thân tâm bất an, hoặc gặp tai nạn, hoặc bệnh hoặc chết. Nhưng là Thượng sư chân chính thì không thể tu pháp này, chỉ là thỉnh thoảng dùng để cảnh cáo, khiến đối phương phát ra một chút thiện niệm hối cải, sau đó Thượng sư tu pháp tiêu tai để tiêu tai thay cho đối phương.

Người đọc được cuốn sách này của tôi đúng là có Phật duyên lớn như trời, các bạn phải đảnh lễ, đảnh lễ Thượng sư, Phật, pháp, tăng. Hôm nay tôi đem năm pháp đại bí mật này để thanh tịnh ba nghiệp (khẩu nghiệp, thân nghiệp, ý nghiệp) của chúng sinh, vì lợi ích của chúng sinh trong thiên hạ mà đem năm pháp đại bí mật này giảng giải kĩ càng tỉ mỉ hết toàn bộ.

Tôi ngồi trên tòa hoa sen được trăm loại báu vật trang sức, giảng giải chi tiết về năm pháp đại bí mật này để chúng sinh ai nấy đều được lợi ích, người người thành Phật. Tôi là bậc tôn giả thượng lạc đại tự tại, Đại Nhật Như Lai ở trên đỉnh đầu tôi, Ngũ Phật Đông Tây Nam Bắc đều hiện thân, đó là A Súc Phật dũng mãnh, là Bảo Sinh Phật thù thắng nhất, là A Di Đà Phật từ bi nhất, là Bất Không Thành Tựu Phật vô thượng pháp, đều là các vị vô thượng trên đỉnh đầu tôi.

Tôi biến hiện thành Kim Cang Tâm Bồ Tát, Kim Cang Thủ Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Quan Thế Âm Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát, Mã Đầu Minh Vương, Phật Nhãn Phật Mẫu, Hàng Tam Thế Minh Vương… Tôi nhập vào Tam ma địa của các thánh tôn, học được tất cả các pháp Yết Ma, có thể vận dụng tất cả pháp bí mật, tùy duyên độ chúng sinh, tâm tôi đã bất động, là làm Kim Cang Liên Hoa Tâm, đỉnh đầu tôi hiện ánh sáng rực rỡ là làm Kim Luân Nhất Tự Vương, tôi là bạch y tôn Liên Hoa Đồng Tử phóng hào quang.

Luôn luôn nhớ chúng sinh, luôn muốn độ chúng sinh, hoàn toàn dùng tâm đại từ bi để trụ thế thuyết pháp, tôi dùng năm pháp bí mật để diễn hóa ra vô lượng pháp đà-la-ni, mỗi pháp đều là mật pháp đại cứu thế. Có thể trừ tám vạn bốn nghìn loại phiền não, có thể diệt tâm trần tục của người thế tục trong thiên hạ, khiến người người đều là những ngôi sao tuyệt đẹp trên bầu trời. 

Năm tâm pháp đại bí mật này có công năng vô cùng tận, hy vọng người người coi trọng. 

Tôi viết một bài kệ: 
*Năm đại mật pháp phóng Phật quang,
Nhật nguyệt tinh huy quang sáng chói
Nay có Liên Sinh đến giáo thị,
Nhân gian tịnh thổ được bay lên.*


### 02. Thành tựu vô thượng của Ngũ Phật


Tôi, Hồng Quán Thánh Miện Kim Cang Thượng Sư Liên Sinh Tôn Giả, đã từng thọ nhận đại quán đảnh của năm dòng pháp trí huệ từ Ngũ Phật. Tôi đã nhập vào đại mandala Kim Cương Giới, đại mandala Kim Cương Giới này được giới thiệu như sau:
1. Trung ương là Tỳ Lô Giá Na Phật - xung quanh có bốn vị Bồ Tát, đó là Kim Cang Ba La Mật Bồ Tát, Bảo Ba La Mật Bồ Tát, Pháp Ba La Mật Bồ Tát, Nghiệp Ba La Mật Bồ Tát.
2. Phương Tây (phương trên) là Quán Tự Tại Vương Phật tức A Di Đà Phật - xung quanh có bốn vị Bồ Tát: Kim Cang Pháp, Kim Cang Nhân, Kim Cang Ngữ, Kim Cang Lợi.
3. Phương Đông (phương dưới) là A Súc Phật - xung quanh có bốn vị Bồ Tát: Kim Cang Thủ, Kim Cang Vương, Kim Cang Ái, Kim Cang Thiện Tai.
4. Phương Bắc (phương phải) là Bất Không Thành Tựu Phật - xung quanh có bốn vị Bồ Tát: Kim Cang Quyền, Kim Cang Hộ, Kim Cang Nha, Kim Cang Nghiệp.
5. Phương Nam (phương trái) là Bảo Sinh Phật - xung quanh có bốn vị Bồ Tát: Kim Cang Tạng, Kim Cang Tràng, Kim Cang Quang, Kim Cang Tiếu.

Sự bố trí đại mandala Kim Cương Giới của năm vị Phật này chính là như vậy, thêm vào đó là Tứ Môn Kim Cang khóa, chuông, dây, móc câu, cùng với tám đại cúng dường hoa, hương, đèn, hương xoa, ca, vũ, tràng hoa, trò chơi, như vậy là hoàn chỉnh đại mandala Kim Cương Giới.

Tôi đã được đại quán đảnh của năm dòng pháp trí huệ, tức là đã đắc pháp trí thành tựu của tất cả Như Lai, có thể nói tất cả sự nghiệp của Như Lai đều thành tựu viên mãn không chướng ngại. Tôi đội mũ Ngũ Phật, khoác pháp y, tay phải cầm chày kim cang, tay trái cầm chuông kim cang, trong thiền định, thần quang của tôi xuất hiện trên trán. Từ thần quang cầu làm tất cả pháp, đây là tâm pháp cực kì bí mật.

Lần thứ nhất, trước tiên kết ấn đại trí quyền, biến hiện Tỳ Lô Giá Na Phật, niệm chân ngôn: "Ôm pô-rư-la tua-tu-chung."
Lần thứ hai, tiếp tục kết ấn xúc địa, biến hiện A Súc Phật, niệm chân ngôn: "Ôm a-chi-chu pi-yê."
Lần thứ ba, tay phải kết ấn ban nguyện, biến hiện Bảo Sinh Phật, niệm chân ngôn: "Ôm la-tan-na sô-ha tan-lua."
Lần thứ tư, hai tay kết ấn pháp giới định, biến hiện A Di Đà Phật, niệm chân ngôn: "Ôm lu-chi-sư-pô la-la-rưa chi-li."
Lần thứ năm, tay phải kết ấn thí vô úy, biến hiện Bất Không Thành Tựu Phật, niệm chân ngôn: "Ôm a-mu-ka-xi-ti ưa."

Cần biết rằng, đây là pháp cực bí mật vô thượng, pháp Ngũ Phật này là Mật pháp vô thượng chỉ dành cho Kim cương Thượng sư tu học. Từ pháp Ngũ Phật này có thể đạt được thân kim cang, ngữ kim cang, tâm kim cang. Do sự hợp nhất của ba thanh tịnh thân, khẩu, ý, Kim cương Thượng sư liền ngồi trên tòa sen, biến thành Như Lai của Kim Cương Giới. Ta chính là Phật, Phật chính là ta, tất cả hào quang trang nghiêm chiếu sáng, tất cả Phật pháp đều có thể thành tựu.

Pháp Ngũ Phật này là mật pháp vô thượng đệ nhất của Yết Ma.
Đại thần biến này còn gọi là trò chơi thần thông.

Hành giả tu pháp, tự thân nâng lên, cùng với tất cả chư Phật đều ngồi trên tòa sen để đạt đến cảnh giới hợp nhất, cảnh giới này chính là cảnh giới pháp giới đồng thể, lý sự vô ngại.

Người tu trì Ngũ Phật vô thượng mật, cuối cùng có thể đạt được chính giác, thân tâm không tán loạn, công đức viên mãn như ánh trăng rằm, không một chút khiếm khuyết hay thiếu sót, hành giả đạt được đại bồ đề mà thành Phật. Trì tụng chân ngôn của Ngũ Phật có thể đắc được trí huệ đại bồ đề bình đẳng quang minh, đạt được thân kim cang bất hoại, chứng đắc samaya thành tựu. Nhập vào tất cả kim cang Tam ma địa, có thể nhiếp thọ chúng sinh, tự thân trở thành bậc thầy của trời người, thậm chí đạt được vô lượng thọ bình đẳng quang minh, có thể vì chúng sinh mà thuyết pháp Đại thừa, lợi ích chúng sinh khắp thiên hạ, ban cho chúng sinh phúc lành cát tường.

Tôi biết rằng thành tựu vô thượng của Yết Ma chính là pháp Ngũ Phật. Hành giả tu pháp trước tiên phải chuyển thức thành trí, chuyển hóa tất cả những hạt giống hữu lậu trong A-lại-da thức thành Đại viên kính trí. Phải loại bỏ vọng chấp của thức thứ bảy. Những thứ như ngã si, ngã kiến, ngã mạn, ngã ái của thức thứ bảy đều chuyển thành bình đẳng trí. Cần phải thanh tịnh thức trước, chuyển thành trí rồi, tu pháp Ngũ Phật này tự nhiên có thể tức thân thành Phật, đây chính là đại pháp chuyển ngũ thức thành ngũ trí để thành Phật.

Tất cả chi tiết của pháp này phải do Kim cương Thượng sư chân chính truyền thụ, đây chính là năm bộ đại pháp tâm truyền, chính là pháp Ngũ Phật. Hành giả nếu được thành tựu, ngay đời này sẽ là Kim cang Thượng sư.

Người tu trì năm bộ đại pháp tâm truyền mà đạt được thành tựu đã đến cảnh giới chân như, bên ngoài phóng quang chiếu soi chúng sinh không chướng ngại; bên trong gom tụ tâm tính của tất cả chúng sinh và Như Lai, trùm khắp mọi nơi, thành tựu vô thượng này có thể dùng mười hai chữ để giải thích: "Công đức viên mãn, thường trụ bất biến, thân tâm dung thông." Cái gọi là năm bộ chính là Phật bộ, Kim Cang bộ, Bảo bộ, Liên Hoa bộ, Yết Ma bộ, và pháp Ngũ Phật thống nhiếp tất cả Mật pháp của mười tám hội (Du Già thập bát hội), vì vậy tu trì pháp Ngũ Phật mà đạt được thành tựu tức là tương ứng với sự hòa hợp tụ tập của các pháp.

Hôm nay, tôi là Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư, vì sao vậy? Đó chính là sự tương ứng lớn của việc đắc năm bộ đại pháp tâm truyền. Tôi là chính giác thánh trí, dùng kim cang trí để ngồi trên tòa kim cang, đã nhập vào tất cả kim cang Tam ma địa, đã thông đạt tất cả giáo pháp của các bậc thánh hiền, nhưng vẫn trụ nơi tâm bồ đề và không xả bỏ việc chuyển pháp luân độ chúng sinh.

Tỳ Lô Giá Na Phật, A Súc Phật, Bảo Sinh Phật, A Di Đà Phật, Bất Không Thành Tựu Phật đại diện cho năm dòng pháp trí huệ. Năm vị Phật này lại hóa hiện đủ loại thần thông biến hóa, riêng Tỳ Lô Giá Na Phật đã hóa sinh ba mươi bảy vị sứ giả xuất hiện, mỗi vị đều mang biểu tượng riêng để lợi ích cứu độ trời người. Tất cả các pháp chính là Yết Ma, xuất thế hay nhập thế đều là ánh sáng cát tường chiếu khắp.

Tôi viết kệ rằng:
*Năm bộ tâm truyền đại pháp sâu,
Thần thông biến hóa bay trong mộng;
Đèn pháp không tắt tôi trao truyền,
Ghi chép kinh điển đến nghìn thu.*


### 03. Bí mật kéo dài tuổi thọ của Hàng Tam Thế


Ngày xưa, có người hỏi tôi, có thể tính được tuổi thọ hay không?
Tôi đáp: 
"Có thể."
Người đó ngay tại chỗ yêu cầu tôi tính tuổi thọ của ông ta. 
"Phải không kinh sợ thì tôi mới trả lời."
Người đó nói: 
"Tôi không sợ, ngài cứ nói thẳng đừng ngại, tôi không hề sợ hãi cái chết."
Tôi đáp:
"3 năm."
Ông ta trở về nhà, buồn rầu chán nản, con cái ông hỏi ông lý do, ông nói tuổi thọ chỉ còn 3 năm, con cái nghe thấy vậy thì tức giận, đến chỗ tôi chỉ trích tôi dữ dội, tôi im bặt không biết nói gì.
Từ đó, tôi không xem tuổi thọ cho người ta nữa. Chỉ là, đối với những người có tuổi thọ cực ngắn, tôi đều dạy họ pháp bí mật để kéo dài tuổi thọ.

Pháp này phải thờ cúng Hàng Tam Thế Minh Vương. Hàng Tam Thế Minh Vương là một trong năm đại Minh Vương, có ý kiến cho rằng ngài là hóa thân của Đông phương A Súc Phật, có ý kiến khác nói ngài là chủ thần của Bà La Môn giáo, là hóa thân của Shiva. Pháp tướng của Hàng Tam Thế Minh Vương là bốn mặt, tám tay, có tướng hung bạo màu đen đại phẫn nộ, thông thường chân trái dẫm lên Đại Tự Tại Thiên, chân phải dẫm lên Thiên Phi Ô Ma. Bốn mặt của ngài thì mặt trước màu xanh, mặt phải mặt vàng, mặt trái màu lục, mặt sau màu đỏ. Râu tóc ngài đều có màu đỏ, để lộ răng sắc nhọn. Cánh tay trái phải thứ nhất kết ấn Hàng Tam Thế Minh Vương giữ trước ngực, tay phải thứ hai cầm chày, tay phải thứ ba cầm mũi tên, tay phải thứ tư cầm kiếm. Tay trái thứ hai cầm chuông, tay trái thứ ba cầm cung, tay trái thứ tư cầm dây thừng.

Người tu pháp này phải kết thủ ấn Hàng Tam Thế Minh Vương. 


![image](/img/img_179892256d1201c80da5f88a2303b9a8.png)


Trong đầu quán tưởng pháp tướng của Hàng Tam Thế Minh Vương, đầu tiên ngồi kiết già, nhắm mắt, hai tay kết ấn đặt trước ngực, đầu tiên quán tưởng một nguyệt luân ở không trung, trong nguyệt luân hiện ra năm cái chày kim cang, và năm chày này càng biến càng to, sau đó biến thành Hàng Tam Thế Minh Vương. Quán tưởng lúc này phải sáng tỏ rõ ràng, đến khi tất cả mọi quán tưởng đều rõ ràng rồi thì lại trì chân ngôn kim cang thọ mệnh là:
"Ôm pô-rư-la yu-sai sô-pô-ha."
Phải trì chân ngôn này 1080 biến. 

Niệm chú xong lại quán tưởng các lỗ chân lông khắp toàn thân Hàng Tam Thế Minh Vương chảy ra cam lộ, những cam lộ này từ trong khoảng không trước mặt rơi xuống, trút vào trong người của hành giả Mật tông, từ đỉnh đầu đi vào thân tâm, khiến thân tâm được chắc khỏe. Hành giả Mật tông lúc này giống như trạng thái nhập Tam ma địa.

Sau khi xuất định, dùng chắp tay kim cang (thủ ấn tam xoa xử) đặt trên đầu, niệm:
"Ôm chân pô-rư-la yu" 7 biến.
Ấn vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, đủ năm chỗ. Chắp tay kim cang trở về trán rồi giải ấn. Ngay khi giải ấn thì quán tưởng chính mình đã mặc áo giáp, giống như kim cương bất hoại, tất cả những tai nạn nguy hại đến sinh mạng đều rời bỏ mình mà đi, tất cả cái chết bất ngờ đều không xảy ra trên người mình.

Căn cứ theo trước tác của pháp sư Huệ Niên có nói:
"Công đức chủ yếu của tu tập pháp Hàng Tam Thế Minh Vương là hàng phục. Đặc biệt là hàng phục thiên ma. Nếu trì tụng chân ngôn của vị Minh Vương này thì ma giới vô lượng vô biên lập tức sẽ khổ não ốm sốt, phàm là các quyến thuộc của các ma có ý định đến quấy nhiễu người tu hành, khi nghe được chân ngôn của vị Minh Vương này thì đều không thể tiếp tục gây trở ngại, hơn nữa còn trở thành tôi tớ cho người tu hành.

Ấn khế của vị Minh Vương này có uy lực giống như chân ngôn, mọi ma muốn gây chướng ngại, nếu nhìn thấy thủ ấn này thì sẽ lập tức tránh xa. Ngoài điều này ra, tu tập pháp của vị Minh Vương này còn có được những công đức như đánh thắng trận, trừ bệnh, được người ta kính yêu…"

Pháp sư thông thường đều biết Hàng Tam Thế Minh Vương là dùng để hàng phục, người tu pháp có thể đánh thắng trận, trừ bệnh, được người ta kính yêu, nhưng lại không biết Hàng Tam Thế Minh Vương có thể kéo dài tuổi thọ, bởi vì đánh thắng trận rồi, chắc chắn không chết, có thể trừ bệnh thì ắt có thể kéo dài tuổi thọ. Đây là bí mật lớn mà khi tôi tiến vào trong tâm của A Súc Phật đã biết được, thì ra Hàng Tam Thế Minh Vương có Tam ma địa của từ bi tam muội kim cương trường thọ. 

Muốn được trường thọ, kéo dài tuổi thọ, tu pháp Hàng Tam Thế Minh Vương, chỉ cần tiến vào Tam ma địa kim cương trường thọ thì nhất định có thể kéo dài tuổi thọ, đắc kim cương bất hoại.

Trọng điểm của pháp này nằm ở cam lộ ánh sáng rơi ra từ xung quanh thân của Hàng Tam Thế Minh Vương, và hành giả Mật tông có được cam lộ ánh sáng này trút vào người, có thể tiêu trừ bách bệnh, có thể không còn tai nạn, trừ hết bệnh tật. 

Khi cam lộ ánh sáng giống như mưa sao băng rơi xuống, hành giả Mật tông giống như được tắm trong ánh sáng Phật, có cảm giác hòa tan, có cảm giác vô cùng kiên cố, như thế là tương ứng.

Từ sớm tôi đã tu tập pháp Hàng Tam Thế Minh Vương, dùng lò Hộ Ma, đốt than trong lò, đốt hương hoa, dùng 21 thẻ gỗ Hộ Ma, tụng chân ngôn Hàng Tam Thế Minh Vương rồi lần lượt bỏ vào lò đốt, thế rồi tôi dùng pháp quán tưởng chữ Ah, phụng thỉnh Hàng Tam Thế Minh Vương đến nhận cúng dường lửa. Tôi dùng triệu thỉnh, khi tập trung niệm lực đến cực điểm, Thượng sư của tôi đã giúp tôi chụp một tấm ảnh "niệm lực hỏa", bỗng nhiên ở trên lửa Hộ Ma hóa ra một vị Hàng Tam Thế Minh Vương khá rõ nét, đây là một sự việc có thật khi tôi tu tập Hàng Tam Thế Minh Vương. 

Pháp Hàng Tam Thế Minh Vương có thể kéo dài tuổi thọ, ít người biết, nhưng tôi thì biết. Đặc biệt là cách tu pháp Hàng Tam Thế Minh Vương, nếu có thể tu vào đúng sinh  nhật của mình thì càng có thể đắc kim cương bất hoại, sẽ có linh nghiệm lớn.

Đề thêm một bài kệ để ghi nhớ:
*Pháp Hàng Tam Thế muốn tinh thông
Quán tưởng cam lộ phải rõ ràng
Hễ nhập trường thọ Tam ma địa
Ma bệnh tai ương đều dẹp tan.*


### 04. Bảo châu như ý của Bạch Y Đại Sĩ


Từ rất lâu trước đây, tôi đã tu luyện một thần chú, đó chính là thần chú Bạch Y Đại Sĩ được lưu truyền rộng rãi nhất, nguyên văn thần chú như sau:
"Nam mô đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn quảng đại linh cảm Quan Thế Âm Bồ Tát. Nam mô Phật. Nam mô pháp. Nam mô tăng. Nam mô cứu khổ cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát. Tan-chi-tô, ôm, ka-la-fat-tô, ka-la-fat-tô, ka-hua-fat-tô, la-ka-fat-tô, la-ka-fa-tô, sô-ha. Thiên la thần. Địa la thần. Nhân ly nạn. Nạn ly thân. Nhất thiết tai ương hóa vi trần. Nam mô Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật."

Do tôi tin tưởng thần chú này nên đã kiên trì trì tụng và có vô số cảm ứng. Sau này khi tôi đi sâu vào mật pháp, tôi biết được Bạch Y Đại Sĩ trong Mật tông cũng có tôn hiệu rất lớn, đó là Liên Hoa Mẫu Tam Muội Thượng Thủ Minh Phi.

Tuy nhiên, chân ngôn Bạch Y Đại Sĩ trong Mật tông khác với chân ngôn Bạch Y Đại Sĩ thông thường, chân ngôn Bạch Y Đại Sĩ của Mật tông có một số điểm tương đồng với phần đầu của chú Đại Bi, tôi đặc biệt cung kính ghi lại như sau: "Na-mô la-ta-nam-ta la-yê-yê. Na-mô a-li-yê. Pô-lô-chê-ti sua-pô-lua-yê. Pu-thi-sa-tua-pô-yê. Mô-hưa-sa-tua-pô-yê. Mô-hưa-cha-lu ni-cha-yê. Ôm. Chê-chư-wây. Chê-chư-ni. Chê-chư-chê-chư-chê-chư. Chê-lu-cha-wây li-yê sô-ha."

Tuy hai thần chú này khác nhau, nhưng theo tôi biết, công lực thì như nhau. Tôi biết thệ nguyện của Quan Âm Bồ Tát quá sâu rộng, có thể nói là tùy cảm ứng hiện, theo tiếng cứu khổ. Thần chú của Quan Thế Âm Bồ Tát quá nhiều, hành giả có thể tùy ý chọn một trong số đó, tự nhiên đều có cảm ứng lớn, không thể phân biệt này kia.

Tôi nghiên cứu sâu về Bạch Y Đại Sĩ và phát hiện ra rằng chỉ riêng hình tượng Bạch Y Đại Sĩ và ấn khế đã có nhiều điểm khác nhau trong các kinh điển. Ví dụ có vị tay trái cầm hoa sen, tay phải kết ấn ban nguyện của Đại Bạch Y Quan Âm. Trong kinh "A Lợi Đa La Đà-la-ni", phẩm "A Lỗ Lực", Bạch Y Quan Âm tay trái cầm dây, tay phải cầm tráp bát nhã. Lại trong kinh "Bất Không Quyến Sách Thần Biến Chân Ngôn", Bạch Y Quan Âm tay phải giơ cao lòng bàn tay, tay trái cầm hoa sen chưa nở. Trong kinh "Nhất Tự Đỉnh Luân Vương" thì có vị tay trái kết ấn ban nguyện, tay phải cầm bảo châu. Phổ biến nhất là vị tay phải cầm tịnh bình, tay trái cầm cành dương liễu.

Tôi biết rằng vị Bạch Y Quan Âm tay phải cầm tịnh bình, tay trái cầm cành dương liễu thì thiện xảo trong việc chữa bệnh, tầm thanh cứu khổ.

Tuy nhiên, vị Bạch Y Quan Âm tay phải cầm bảo châu, tay trái kết ấn nguyện lại là vị khiến cho người được như ý viên mãn.

Tôi đã từng nhập vào "Đại thừa vô biên liên hoa biến hóa kim cang Tam ma địa", tại nơi đó, tôi đã biết được Mật pháp bảo châu như ý của Bạch Y Đại Sĩ. Người tu trì pháp này, chỉ cần một tháng là có thể đạt được đại phú quý.

Trước tiên phải cúng dường Bạch Y Quan Âm tay phải cầm bảo châu, tay trái kết ấn ban nguyện, hành giả ngồi an tường trước tượng Bồ Tát. Dùng hai tay chắp lại, để mười đầu ngón tay không chạm vào nhau, hơi cong lại, như hình hoa sen. Ấn này có thể kết thành chắp tay hoa sen, chắp tay hoa sen này có thể đại diện cho Bồ Tát bộ.


![image](/img/img_1ea036cb096d1a0526477aece8f44ab4.png)


Quán tưởng hình tướng của Bạch Y Đại Sĩ, trên đầu đội mũ miện hoa sen, thân khoác thiên y báu màu trắng, bảo châu như ý và ấn ban nguyện, hãy quán tưởng rõ ràng từng chi tiết. Lúc này, có thể vận dụng niệm lực, khiến cho bảo châu như ý phóng ra một tia hào quang màu vàng mạnh mẽ, chiếu vào lòng bàn tay chắp tay hoa sen của mình. Và tia hào quang vàng đó, trên thủ ấn của mình biến thành một viên bảo châu như ý màu vàng, tất cả mọi mong cầu về vàng bạc châu báu đều từ bảo châu hiện ra, mình muốn gì thì biến hiện ra thứ đó, vô cùng viên mãn, vô cùng phong phú và rõ ràng minh bạch. Khi kết thúc quán tưởng, lập tức trì tụng thần chú Bạch Y Đại Sĩ 108 biến, hoặc 21 biến, hoặc 49 biến đều được.

Điểm chính của pháp này: bảo châu như ý phóng ra ánh sáng màu vàng, thủ ấn của hành giả tiếp nhận ánh sáng vàng đó, biến thành bảo châu màu vàng, rồi biến hoá thành các loại châu báu. Đây là phần quán tưởng quan trọng nhất.

Pháp bảo châu như ý của Bạch Y Đại Sĩ này là do tôi - Hồng Quán Thánh Miện Kim Cang Thượng Sư nhập vào Tam ma địa của Bạch Y Đại Sĩ mới được biết, nên vô cùng quý giá. Tuy pháp tu nhìn qua rất đơn giản, nhưng nếu tôi không viết ra thì ai có thể biết được bí mật vô thượng ở trong đó.

Bạch Y Đại Sĩ là một trong nhiều hóa thân của Quan Thế Âm Bồ Tát, sự thị hiện của ngài vô cùng trang nghiêm và từ bi, khiến người nhìn thấy tự nhiên sinh tâm cung kính. Ngài khoác áo trắng, điểm tô châu báu, ngày 19 tháng 2 âm lịch là ngày vía của ngài, ngày 19 tháng 6 là ngày thành đạo, và ngày 19 tháng 9 là ngày xuất gia. Bồ Tát luôn quan tâm và sẵn sàng giúp đỡ tất cả chúng sinh đang chịu khổ nạn. Tu pháp Bạch Y Đại Sĩ như ý bảo châu vào ba ngày này chắc chắn sẽ được cát tường như ý.

Ở đây, tôi muốn đặc biệt lưu ý độc giả rằng, tất cả mọi pháp tu của Kim cương thừa đều phải quy y với Thượng sư, và chỉ sau khi được Thượng sư quán đảnh chỉ dạy mới được tu trì. Hơn nữa, tất cả các pháp tu Kim cương thừa đều phải tụng tứ quy y, làm đại lễ bái, dâng đại cúng dường, tu mặc giáp hộ thân, tất cả các pháp lớn nhỏ đều phải thêm bốn phần hành trì tụng niệm này mới được.

Tứ quy y, đại lễ bái, đại cúng dường, mặc giáp hộ thân đã được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong các sách tâm linh của tôi, mời độc giả tự tìm đọc.

Viết một bài kệ về Bạch Y Đại Sĩ:
*Bạch Y Đại Sĩ người tán dương
Nghe tiếng cứu khổ độ thiện lương
Mật pháp như ý thật vi diệu
Trang nghiêm thần lực tỏa đàn tràng.*


### 05. Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Vương chân ngôn được Phật xoa đầu


Tôi đã được Phật Thích Ca Mâu Ni xoa đầu thọ ký. Vì sao tôi được Phật Thích Ca Mâu Ni xoa đầu thọ ký? Bởi vì tôi đã tu trì Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Vương chân ngôn.

Ngày nay, hành giả Mật tông muốn được chư Phật quán đảnh xoa đầu thọ ký cần phải y theo phương pháp của tôi mà thực tu. Tôi xin thành thật nói với mọi người rằng, pháp Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Vương chân ngôn có thể khiến được Phật xoa đầu thọ ký.

Tuy nhiên, việc lập đàn tu trì pháp này rất đặc biệt và cũng rất khó, tôi đã từng nói qua một lần trong cuốn sách "Hắc Giáo Hắc Pháp", nay đặc biệt xin ghi chép lại:
Cách xây dựng đàn tràng là hình bát giác, chu vi một trượng sáu thước, chọn nơi tàng phong tụ khí, đào sâu xuống đất năm thước, lấy đất ở độ sâu năm thước đó, trộn với chiên đàn hương, trầm hương, huân lục hương, phong chỉ hương, thanh mộc và các loại khác, hòa với nước, phết khắp mặt đất đàn tràng (để thanh tịnh đàn tràng).

Ở giữa đàn thành, dùng vàng, bạc, đồng, gỗ làm thành bốn đóa hoa sen, trong mỗi đóa sen đặt một bát, trong bát đựng nước sương tháng Tám. Trong nước có đặt cánh hoa. Ngoài ra lấy tám mặt gương tròn, đặt ở tám phương, chiếu soi lẫn nhau. Bên ngoài gương đặt mười sáu đóa hoa sen và mười sáu lư hương. (Cách bày trí hoa sen và lư hương.)

Trên tường xung quanh bên ngoài đàn thành, treo danh hiệu và thần chú của chư Phật Bồ Tát. Bên trong treo tất cả pháp tướng của mười phương ba đời chư Như Lai và thánh tượng của tất cả Bồ Tát, các tượng Phật Bồ Tát bao gồm Lô Xá Na Phật, Thích Ca Mâu Ni Phật, Tỳ Lô Giá Na Phật, Di Đà Phật, Di Lặc Tôn Phật, A Súc Phật, Bảo Sinh Phật, Bất Không Thành Tựu Phật, cùng với tượng của các đại Bồ Tát. Ngoài ra bên trái phải an trí Kim Cang Tạng Bồ Tát, điểm này rất quan trọng. (Cách bày trí trang nghiêm pháp tướng.)

Ở cửa ra vào của đàn thành, hai bên trái phải an trí Hỏa Đầu Kim Cang, Thanh Diện Kim Cang, Tứ Đại Thiên Vương, Vi Đà Hộ Pháp, Bát Đại Kim Cang Minh Vương, Đế Thích Thiên Vương hoặc Sơ Thiền Thiên Chủ. Cuối cùng còn phải dùng tám mặt gương treo lên trên không, khiến gương trong đàn và gương trên không chiếu rọi lẫn nhau, tạo thành vô cùng vô tận. (Cách an trí Hộ Pháp Kim Cang và pháp thiên chuyển luân phản chiếu của gương.) 

Hành giả Mật tông sau khi bày trí đàn tràng xong, phải học thuộc chú Lăng Nghiêm, tổng cộng 427 câu. Thần chú này được gọi là "chú vương", do Phật Thích Ca Mâu Ni vì cứu A Nan Tôn Giả mà từ nhục kế trên đỉnh đầu phóng ra ánh sáng vô úy trăm báu, trong ánh sáng xuất hiện hoa sen nghìn cánh, trên hoa sen có một vị Như Lai ngồi, vị hóa Phật này chính là Đế Thù La Thi. Lại xuất hiện vô số Bồ Tát nội mật và thần Kim Cang nhiều như cát sông Hằng, tràn đầy hư không. (Toàn văn chú Lăng Nghiêm rất dài, không đăng tải ở đây, xin tự tìm đến chùa để xin.)

Phương pháp tu trì như sau:

Tụng chú Lăng Nghiêm vào khoảng 4 giờ sáng. Vào 4 giờ sáng, tắm rửa thanh tịnh thân thể rồi vào đàn, đốt các loại danh hương, chí thành đảnh lễ chư Phật Bồ Tát, sau đó đi nhiễu quanh đàn tụng chú, trước tiên tụng một lần hoặc ba lần toàn văn chú Lăng Nghiêm, rồi tụng tiếp chú Lăng Nghiêm ngắn (tâm chú):


![image](/img/img_9e6aac9f80502aed66a1bd2c9c310f45.png)


"Ta-chư-tha. Ôm. A-na-li. Pi-sưa-thi. Pinh-lua-pa tu-lua-thua-li. Ban-thua ban-thua-ni. Pa-tu-lua pang-ni-ban. U-…. - tâu-lu-uâng-ban. Sô-ha."

Có thể trì tụng chú ngắn 108 lần. Sau khi tụng chú xong, ngồi tĩnh tọa, kết ấn Bát Đại Phật Đảnh.

Lúc này quán tưởng nguyệt luân của thập phương chư Phật phóng ra bảo cái, từng bảo cái một chiếu rọi trong ánh gương, hình thành vô số tầng lớp tán lọng trắng lớn, di chuyển tán lọng trắng lớn này đến phía trên đỉnh đầu của mình, khiến thân tâm trở nên trong sáng như lưu ly. Phép quán tưởng này cần phải tu tập mỗi ngày, từng chi tiết phải rõ ràng minh bạch.

Tu tập pháp này trong 21 ngày, đến khi đạt được trạng thái "thân tâm trong sáng" nhập định, thập phương Như Lai sẽ đồng thời xuất hiện tại nơi gương chiếu giao hội, thập phương chư Phật sẽ hiện tay Phật, xoa đầu thọ ký cho hành giả Mật tông. Thậm chí người có nhân duyên lớn với Phật, người đời trước từng tu hành, người có căn khí lanh lợi, chỉ cần tu trì pháp này trong 100 ngày sẽ lập tức chứng đắc quả vị Tứ La Hán. Vì vậy pháp này cũng là một trong những đại pháp vô thượng mật.

Tu tập pháp này không chỉ được Phật xoa đầu thọ ký, mà còn khiến cho bất kì loại thiên ma nào cũng không thể đến hãm hại, vĩnh viễn không còn ma sự, bởi vì được bảo cái Đại Phật Đảnh hộ trì, tất cả đều được cát tường như ý, tất cả các độc cũng vĩnh viễn không thể xâm phạm, hành giả Mật tông có tám vạn bốn nghìn vị Kim Cang Thần thường xuyên bảo hộ.

Các pháp sư Hiển giáo không kết thủ ấn, không quán tưởng bảo cái xoa đầu, không nhập Tam ma địa, chỉ trì chân ngôn Đại Phật Đảnh Lăng Nghiêm Vương cũng đã có công đức rất lớn, cũng được chư thần hộ trì, huống chi là kết ấn, lại quán tưởng, nhập Tam ma địa, chắc chắn Phật sẽ đến xoa đầu thọ ký, tương lai nhất định thành Phật không nghi ngờ gì.

Tôi được chư Phật xoa đầu khai đỉnh, tôi có "trên đầu hóa tay Phật", nhận được sự phó thác của Phật, nhiều người tu đạo thấy vậy sinh tâm đố kỵ lớn, thực ra cũng không cần phải đố kỵ tôi, tôi dạy mọi người tu trì pháp Đại Phật Đảnh Lăng Nghiêm Vương chân ngôn, ai ai cũng sẽ được chư Phật đến xoa đầu thọ ký, chỉ cần thành tâm thực tu mật pháp tôi dạy, mười người tu, mười người thành, trăm người tu, trăm người thành, nghìn người tu, nghìn người đắc.

Điểm trọng yếu của Mật pháp này nằm ở việc bố đàn, đặc biệt là phần gương chiếu giao hội chính là bí mật của pháp thiên chuyển luân, hoa sen nghìn cánh. Nếu bày đàn đúng cách, chư Phật Bồ Tát chắc chắn sẽ giáng lâm đi dạo trong đàn khi hành giả cúng dường. 

Tôi viết một bài kệ:
*Đàn thành bát quái như một đình
Gương chiếu giao nhau Phật hiện hình
Xoa đỉnh tâm linh cùng ứng hiện
Thân như lưu ly lên thiên đình.*


### 06. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật trừ bệnh quỷ thần


Danh hiệu tiếng Phạn của Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật rất dài, tên Ngài là Bhaisajyaguru-Vaidury Aprabha-raja-tathagata). Đức Phật này là vị Đại Y Vương Phật, cõi tịnh thổ của Ngài là cõi Lưu Ly Quang, vô cùng vi diệu và trang nghiêm. Trong Kinh "Dược Sư Như Lai Bản Nguyện Công Đức" có đoạn ghi: "Phật bảo Văn Thù Sư Lợi, từ đây đi về phương Đông, qua khỏi mười hằng hà sa cõi Phật, có thế giới tên là Tịnh Lưu Ly, Phật hiệu là Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, khi còn hành đạo Bồ Tát, Ngài đã phát mười hai đại nguyện, khiến cho tất cả chúng sinh đều được như ý nguyện."

Đại nguyện thứ bảy của Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật là: "Trừ tất cả bệnh tật cho chúng sinh, khiến thân tâm an lạc, chứng đắc vô thượng bồ đề." Do có đại nguyện này nên Dược Sư Phật có thể chữa lành mọi loại bệnh tật.

Dược Sư Phật có rất nhiều hình tượng, trong Kinh "Nghi Quỹ Trì Tụng Dược Sư": "Như Lai tay trái cầm bình thuốc, tên là ngọc vô giá, tay phải kết bảo ấn, thân khoác áo cà sa, ngồi kiết già an tọa trên đài sen." Khi tôi ở trong nước đã thấy nhiều tượng Phật, có vị cầm ngọc vô giá, có vị cầm bảo tháp ngũ sắc, có vị cầm bình thuốc.

Pháp lớn nhất của Dược Sư Phật là "Thất Phật Dược Sư Ngũ Đàn Tu Pháp", là một trong bốn đại pháp của Mật tông Đài Loan, bản thân tôi hiểu biết về pháp bí mật vô thượng này.

Tôi cảm thấy rằng trong cuộc sống con người, sinh, lão, bệnh, tử, khổ là điều không thể tránh khỏi. Ngày nay dù khoa học phát triển, y học tiến bộ, nhưng bệnh viện vẫn mọc lên khắp nơi, số lượng bệnh nhân không những không giảm mà các căn bệnh lạ còn ngày càng nhiều, khiến các bác sĩ bó tay. Tất cả đều do nhân quả nghiệp duyên trói buộc. Trong đó, xuất hiện rất nhiều "bệnh quỷ thần", tức là những căn bệnh không thể chẩn đoán, bác sĩ không thể chữa trị, trăm thầy không khỏi. Vì những căn bệnh vô hình này (bệnh quỷ thần), tôi đặc biệt dạy mọi người tu trì pháp chân ngôn quán đảnh Dược Sư.

Pháp chân ngôn quán đảnh Dược Sư chuyên trị "bệnh quỷ thần". Tôi đã từng áp dụng pháp này và thấy hiệu quả rõ rệt. Nay tôi xin công khai đại pháp Mật tông này như sau: Trước tiên, trong Phật đường ở nhà mình, thờ một tôn tượng Dược Sư Phật, làm một bức tràng phan dài 49 thước, may bằng vải ngũ sắc, viết lên đó "Đông Phương Tịnh Lưu Ly Thế Giới Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật", treo bên phải Dược Sư Phật.

Trước khi tu pháp, phóng sinh 49 sinh vật, như 49 con chim, hoặc 49 con cá, hoặc 49 con rùa, hoặc 49 con bất kì loài sinh vật nào. Lấy 49 cây nến, xếp thành bảy tầng, thắp sáng, cúng dường trước Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật, dâng lễ phẩm chay, đảnh lễ, trong lễ phẩm đặc biệt cúng dường sợi chỉ ngũ sắc, sợi dây ngũ sắc này phải hơ qua khói hương 49 lần. Sau đó cúng trước Phật. Ngồi yên trước Dược Sư Phật, kết ấn Dược Sư pháp giới định ấn.


![image](/img/img_a78b05d81138a2cce10b6b08ef97e825.png)


Kết định ấn này dưới rốn. Sau đó quán tưởng, quán tưởng pháp tượng trang nghiêm của Dược Sư Phật đứng ở phía trước mặt, bình thuốc trên tay, hoặc ngọc vô giá, hoặc bảo tháp ngũ sắc, phóng ra ánh sáng ngũ sắc. Năm màu sắc này là đỏ, vàng, trắng, xanh dương, xanh lá, từng tia sáng một chiếu vào sợi chỉ ngũ sắc đang cúng dường, từng tia sáng một chiếu rọi lên sợi chỉ ngũ sắc. Điểm quán tưởng này cần phải rõ ràng sáng tỏ.

Khi tất cả quán tưởng đã rõ ràng, lấy một sợi chỉ ngũ sắc, trì tụng Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật quán đảnh chân ngôn một biến. Tổng cộng lấy 49 sợi chỉ ngũ sắc, mỗi sợi trì tụng 49 biến, mỗi lần trì tụng một biến thì thắt một nút, tổng cộng có 49 nút. Dược Sư quán đảnh chân ngôn như sau: "Na-mô ba-ga-fa-ti. Pinh-sa-sưa. Chuy-lu-pi liêu-li. Pô-la-pô. Hưa-lua-tu-yê. Pinh-sa-sư. Pinh-sa-sư. Pinh-sa-sưa. San-mây-chê-ti. Sô-ha."

Sau khi làm xong pháp này, buộc chỉ ngũ sắc lên thân bệnh nhân, nếu ở tay thì buộc vào tay, nếu ở chân thì buộc vào chân, hoặc các vị trí khác, hoặc không rõ bệnh ở đâu thì có thể đeo như đeo bùa hộ thân vậy.

Mỗi ngày trước Dược Sư Phật, tụng "Kinh Dược Sư Như Lai Bản Nguyện Công Đức" một hoặc ba lần, tụng đến 49 lần. Tất cả bệnh tật và tội chướng đều được tiêu trừ. Khi pháp này được thực hành, trí tuệ sẽ tăng trưởng, thọ mạng được kéo dài, không gặp tai ương, thân tâm thường được an ổn, các bệnh do quỷ thần gây ra lập tức được đoạn trừ.

Ngoài ra, do mười hai đại nguyện của Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật, Ngài hóa hiện mười hai vị Yết Ma Thần. Mười hai vị thần tướng này được gọi là Dược Sư Thập Nhị Thần Tướng, tượng trưng cho sự hộ trì trong mười hai thời khắc ngày đêm, nên trên đầu các vị đều đội mũ 12 chi. Mười hai vị thần tướng của Dược Sư Như Lai này vây quanh Dược Sư Phật theo mười hai phương hướng, cùng với hai vị thị giả của Dược Sư Như Lai là Nhật Quang Bồ Tát và Nguyệt Quang Bồ Tát, khi thỉnh mời cũng phải niệm danh hiệu của các ngài.

Bản thân tôi đã dựa vào pháp này để cứu độ rất nhiều chúng sinh mắc bệnh vô danh (bệnh quỷ thần), quả thật pháp đến thì bệnh trừ. Ngoài ra, khi uống thuốc theo toa bác sĩ, có thể cúng dường thuốc trước Dược Sư Phật, tu pháp tương tự, dùng ánh sáng ngũ sắc chiếu vào thuốc là được, sau đó uống vào sẽ có hiệu quả.

Trên thế giới này, dù y dược có phát triển, bác sĩ có đông đến mấy, con người vẫn phải khuất phục trước bệnh ma. Nếu ai mắc phải bệnh do nhân quả, bệnh vô hình, bệnh quỷ thần, bệnh không thể chữa, bệnh không thể chẩn đoán, hãy thành tâm cầu nguyện Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật! Trọng điểm của pháp này nằm ở quán tưởng ánh sáng ngũ sắc chiếu rọi.

*Đông phương Lưu Ly tôi từng đến
Mật pháp chỉ dạy hết u mê
Danh hiệu Dược Sư trấn tự nghiêm
Pháp này vừa xuất chúng sinh cầu.*


### 07. Ma Lợi Chi Thiên trừ buồn ngủ


Rất nhiều rất nhiều đệ tử nói với tôi họ không thể nào ngồi thiền được, mỗi lần ngồi thiền là cơn buồn ngủ ập tới, ngồi thiền thành ngủ gật. Cơn buồn ngủ này rất lợi hại, đầu gục xuống, mí mắt không mở ra được, toàn thân mềm nhũn, thậm chí miệng còn ngáy, miễn cưỡng xốc tinh thần lên một chút nhưng chẳng được mấy giây đã lại mơ mơ màng màng rồi.

Tôi dạy họ ưỡn thẳng lưng, uy mãnh một chút, ngồi thẳng một chút, nhưng chẳng mấy chốc con sâu ngủ đã bò lên người, toàn thân lại mềm nhũn ra. Tôi lại dạy họ hãy ngủ một giấc trước, tỉnh dậy thì ngồi thiền, nhưng có người vẫn không làm được, tỉnh dậy ngồi thiền nhưng vừa ngồi thiền đã lại muốn ngủ, chính là cảm giác ngày hè mê man chỉ muốn ngủ, dường như là ngủ mãi cũng không đủ. Ngồi thiền ngủ gật, căn bệnh này thật sự quá lớn.

Tôi dạy một người ngồi thiền, anh ấy ngồi rất lâu, tôi nghĩ công phu của anh ấy rất sâu, có thành công lớn. 
Anh ấy ra khỏi chỗ ngồi, tôi hỏi anh ấy có cảm nhận thế nào. 
Anh ấy rất xấu hổ, mặt đỏ lựng, ngại ngùng nói: "Tôi ngủ mất rồi."

Bây giờ tôi chỉ còn cách dạy mọi người một phương pháp loại trừ cơn buồn ngủ, pháp này chính là Ma Lợi Chi Thiên trừ buồn ngủ. 
Người tu trì thờ tượng Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát. Hình tượng của ngài có hai tay, sáu tay, tám tay. 
Hình tượng hai tay như sau: "Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát có hình dáng như thiên nữ, ngồi trên tòa hoa sen, hoặc đứng hoặc ngồi, đủ thứ trang nghiêm cực kì đoan chính. Tay trái cầm một chiếc quạt trời, tay phải buông xuống, mở năm ngón tay ra thành ấn ban nguyện."

Tướng ba mặt sáu tay như sau: "Tướng Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát thân màu vàng kim như diêm phù đàn, sáng như mặt trời, đầu đội mũ miện bảo tháp, trong mũ miện có một vị Phật là Tỳ Lô Giá Na Phật, mặc thiên y màu đỏ, tất cả vòng tay, khuyên tai, đai báu, chuỗi ngọc hết sức trang nghiêm. Có tám tay ba mặt ba mắt, tay trái cầm cuộn thừng, cung, nhánh cây vô ưu, sợi dây; tay phải cầm chày kim cang, trâm, móc, tên. Khuôn mặt chính giữa là tướng thiện, mỉm cười, màu vàng sẫm, mở mắt, môi đỏ như son, dũng mãnh tự tại; khuôn mặt trái là tướng lợn, xấu xí và phẫn nộ, miệng nhe răng nanh, mặt màu xanh, nhíu mày, thè lưỡi, ai nhìn thấy cũng khiếp sợ; khuôn mặt phải màu đỏ sẫm, đứng hoặc ngồi trên xe lợn vàng, "ngựa" kéo xe cũng là lợn vàng."

Vị Ma Lợi Chi Thiên này đã xuất hiện rất nhiều trong sách tôi viết. Tôi cảm thấy vị Bồ Tát này có tồn tại nhân duyên lớn với Chân Phật Tông, Bồ Tát này có sức mạnh đại thần thông tự do ẩn hình. Ngài vốn là quyến thuộc của Đế Thích Thiên, thường đi theo mặt trời, chạy trước mặt trời nhanh như tên, đi tuần tra khắp thiên hạ, hộ trì tất cả đệ tử Phật. 

Bà La Môn giáo cũng tôn sùng Ma Lợi Chi Thiên, gọi là Ma Lợi Chi Đề Bà, tâm chú của ngài là: "Nam-mô san-man-tô mô-thua-nam ôm ma-li-chi sô-ha."

Bồ Tát này là một vị thần đại chiến đấu. Người tu trì pháp Ma Lợi Chi Thiên có thể đánh thắng trận, có thể giống như vua sư tử tất thắng, dũng mãnh vô địch, cho nên cũng có thể khắc phục được cơn buồn ngủ vặt vãnh, tôi xưng tán Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát là một vị Dương Uy Kim Cang, đây là tôn xưng mà tôi dành cho Bồ Tát.

Người tu trì tay kết ấn Ma Lợi Chi Thiên hộ trì.


![image](/img/img_ef56c5f6ffbd87e362d6089271a03627.png)


Tức là hai tay chắp lại, hai ngón cái đưa vào trong lòng bàn tay của hai tay. Trước tiên niệm tâm chú Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát 7 biến, ấn vào năm vị trí trán, họng, tim, vai trái, vai phải, thủ ấn trở về đến trán, chưa buông thủ ấn.

Lúc này lập tức quán tưởng hình tượng của Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát, sau khi hình tượng rõ ràng thì biến thành ánh sáng của mặt trời chiếu đến trán nơi mình đang giữ thủ ấn, chính mình cảm nhận được sự phổ chiếu của ánh sáng mặt trời, biến thành uy vũ như một chiến sĩ xuất chinh, cũng tức là Dương Uy Kim Cang hoà quyện với ánh sáng.

Lúc này thủ ấn chạm vào trán xong thì giải ấn. Sau đó niệm tụng chân ngôn Ma Lợi Chi Thiên trừ buồn ngủ 108 biến: "Tan-chi-tha yi-ti-mi-ti chi-ti-pi-cha-na tan-di-pô-thô-chi sô-ha". Tu trì pháp này chỉ cần bảy lần thì hiện tượng ngồi thiền ngủ gật sẽ dần dần giảm bớt, từ đây về sau ngồi thiền cũng sẽ không buồn ngủ nữa, đây chính là Mật pháp trừ buồn ngủ của Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát.

Pháp này chính là mượn ánh sáng của Đại Nhật Như Lai để chiếu vào trong lỗ đỉnh đầu của mình, khiến cho hình thần của chính mình cũng có uy vũ sáng ngời của Đại Nhật Như Lai, khiến tất cả hiện tượng hôn trầm đều quy về không, còn chính mình cũng biến thành Dương Uy Kim Cang.

Người tu trì theo pháp này không những có thể loại trừ buồn ngủ mà người thông thường dùng thuật nguyền rủa hoặc bùa ngải để hại bạn cũng sẽ bị mất tác dụng, người khác không những không hại được đến bạn mà cũng không thể lừa gạt bạn, tất cả oan gia không thể thừa cơ lợi dụng. Người tu trì pháp này có được lợi ích lớn như vậy.

Đệ tử của Chân Phật Tông có rất nhiều người tu mật pháp Ma Lợi Chi Thiên ẩn hình, mật pháp ẩn hình và mật pháp trừ buồn ngủ tuy khác nhau nhưng đều có công dụng tuyệt vời như nhau, đều là sức mạnh mật pháp của Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát. Tôi cảm thấy Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát và chúng ta có nhân duyên lớn, tôi có sự ưa thích với vị Bồ Tát này. Tu pháp Ma Lợi Chi Thiên, cộng thêm tu mười nghiệp thiện, muốn sinh về cõi trời này thì sẽ sinh về cõi trời Ma Lợi Chi Thiên.

Xin chớ coi thường cõi trời Ma Lợi Chi Thiên, cõi trời này cũng là thiên giới bất hoại, là thiên giới bất nhị được diễn hoá từ thập kim cang tâm nhập vào Thánh vực không biến đổi. 

Tôi viết bài kệ như sau:
*Một lòng sinh về Ma Lợi Thiên
Ánh sáng uy vũ không giới hạn
Mật pháp tan trong cảnh u tịch
Pháp nhãn chỉ thấy khói cát tường.*


### 08. Chú thuật của Hạ Lợi Đế Mẫu


[Chú thích của người dịch: Hạ Lợi Đế Mẫu chính là Hariti. Trong các văn bản khác trong Chân Phật Tông còn được dịch là Ha Lê Đế Mẫu, Ha Lợi Đế Mẫu. Có những tên gọi khác nhau là vì việc dùng Hán tự đồng âm khác nhau để phiên âm chữ Hariti, các Hán tự đồng âm này lại có chữ Hán Việt khác nhau.]

Pháp này, tôi cho rằng là một trong những pháp của Hắc giáo (Bon giáo), bởi vì tu trì chú thuật Hạ Lợi Đế Mẫu tuy có lợi ích rất lớn trong đời này, nhưng đối với việc thành Phật thì hoàn toàn vô ích.

Người tu pháp này có thể thỏa mãn mọi ước nguyện trong đời này, ví dụ như tài phú, danh lợi, mỹ nữ, v.v... Tuy nhiên, chỉ cần quay về với thiện đạo thì ở đời sau vẫn có thể tu trì Vô thượng mật, pháp này là một bí mật tối thượng trong các pháp nhập thế. Hôm nay, tôi viết ra pháp này không phải để người ta tu trì, mà là để cho mọi người biết có một Mật pháp như vậy.

Hạ Lợi Đế Mẫu còn được gọi là Quỷ Xanh hoặc Hoan Hỷ Mẫu, hay Ái Tử Mẫu. Nguyên là một người nữ tu luyện thành Độc Giác [một mình giác ngộ] từ thời cổ, có năm trăm người con, chuyên ăn tinh khí của chúng sinh. Dung mạo của bà đẹp như tiên nữ, nhưng bản tính vốn là một nữ quỷ vô cùng hung ác đáng sợ. Hạ Lợi Đế Mẫu chuyên ăn tinh khí của chúng sinh. Để giáo hóa bà, Phật Đà đã tốn không ít công sức, đem đứa con út của bà giấu dưới bát sắt, đến khi Hạ Lợi Đế Mẫu trở về, không thấy con yêu dấu, kinh hoàng điên loạn. Lúc này, Phật mới giáo hóa bà: "Ngươi có năm trăm đứa con, còn thương tiếc một đứa con nhỏ này, trong khi người đời chỉ có một vài đứa con, ngươi ăn tinh khí của họ, người đời sẽ ra sao?" Như vậy, Hạ Lợi Đế Mẫu chợt tỉnh ngộ lỗi lầm trước đây, mới cải tà quy chính.

Hình tướng của Hạ Lợi Đế Mẫu là dáng thiên nữ, vô cùng xinh đẹp, thân màu trắng hồng, mặc thiên y bảo phục, đầu đội vương miện có đeo hoa tai, đeo vòng tay bằng xà cừ trắng, dùng các loại chuỗi vòng trang nghiêm thân thể, ngồi trên đài báu, chân phải buông xuống, bên cạnh đài báu có thể vẽ hai đứa trẻ đứng hai bên, tay trái ẵm một đứa trẻ trong lòng, tay phải cầm quả cát tường.

Tại sao tôi khuyên mọi người đừng tu pháp này là bởi vì khi tu pháp này phải hết sức cẩn thận, Hạ Lợi Đế Mẫu sẽ hiện thân trong mộng, sau khi hiện thân vài lần mới có thể xem như quan hệ mẹ con hoặc anh em với bà, nữ tu thì xem như mẹ con hoặc chị em. Nhưng nam giới tu pháp này thường bị sắc đẹp của Hạ Lợi Đế Mẫu mê hoặc, nếu hành giả bị Hạ Lợi Đế Mẫu mê hoặc, trong mộng có ý đồ không trong sạch, Hạ Lợi Đế Mẫu cũng không từ chối, như vậy vị hành giả Mật tông này đời sau ắt sinh vào nhà của Hạ Lợi Đế Mẫu, trở thành một lính quỷ.

Do vì Hạ Lợi Đế Mẫu quá xinh đẹp, hành giả nam tu pháp này khó tránh khỏi việc động tâm, một khi trở thành lính quỷ thì rất khó thoát ra, hơn nữa người tu trì pháp này không được tu trì các Kim Cang pháp khác, bởi vì tu Kim Cang pháp sẽ phá vỡ chú thuật của Hạ Lợi Đế Mẫu, từ đó chú thuật của Hạ Lợi Đế Mẫu sẽ không còn linh nghiệm nữa. Trọng điểm của pháp này là ở chỗ thề nguyện với nhau, nếu kết làm mẹ con thì khi con gặp khó khăn, mẹ ắt sẽ giúp đỡ. Nếu kết làm chị em thì cũng vậy, tất cả mọi cầu nguyện đều được như ý, lợi ích đời này vô cùng phong phú. Tà pháp của Hắc giáo, có người chuyên tu chú thuật của Hạ Lợi Đế Mẫu vì sẽ được danh lợi, lại được mỹ nữ vui vẻ yêu mến, ở nhân gian sẽ đạt được tất cả những gì mình muốn, đó chính là lợi ích của việc tu pháp này.

Hành giả cúng pháp tượng của Hạ Lợi Đế Mẫu ở phương Tây, còn người tu pháp thì hướng mặt về phương Đông, mỗi ngày ba thời dâng cúng hương hoa thực phẩm thượng hạng, ba thời là chỉ sáng, trưa, tối. Hành giả kết ấn triệu thỉnh Hạ Lợi Đế Mẫu.


![image](/img/img_711b31c7a35a0549e7a2b2b81a2e6b8b.png)


Lòng bàn tay phải ôm mu bàn tay trái, ngón trỏ tay phải dựng thẳng, dùng ngón cái và ba ngón còn lại ôm lấy bàn tay trái. Như vậy là ấn đã kết thành.

Hành giả quán tưởng thân mình biến thành một đứa con trong lòng Hạ Lợi Đế Mẫu, trước tiên quán tưởng Hạ Lợi Đế Mẫu xuất hiện, rồi toàn thân mình hóa thành những điểm sáng, đi vào trong đứa bé của Hạ Lợi Đế Mẫu, đứa bé này tên là Bili. Quán tưởng như vậy là được Hạ Lợi Đế Mẫu ôm ấp trong lòng. Hành giả nam của Mật tông thì Billi là nam, hành giả nữ của Mật tông thì Bili là nữ. Sự quán tưởng này là hết sức quan trọng.

Sau khi mọi quán tưởng đã rõ ràng, hành giả xả ấn, tay lần tràng hạt, tụng tâm chú của Hạ Lợi Đế Mẫu: "Ôm nu-nu-ma-li ha-ri-ti sô-ha." Chú này tụng 1080 biến. Nếu cúng dường đúng pháp, quán tưởng đúng pháp, trì chú đúng pháp, chỉ cần tụng đến 100.000 biến chú ngữ, vị tiên nữ Hạ Lợi Đế Mẫu này sẽ hiện thân trong mộng, sau khi hiện thân khoảng mười lần, hành giả Mật tông sẽ kết thành mẹ-con trai hoặc chị-em trai với Hạ Lợi Đế Mẫu (nếu là nữ thì kết thành mẹ-con gái hoặc chị-em gái).

Mỗi khi cầu nguyện một điều, chỉ cần thỉnh mời tu pháp một lần, Hạ Lợi Đế Mẫu sẽ ban cho như nguyện. Pháp gia trì này rất đơn giản, ví dụ như lấy một ly nước, tụng 108 biến chân ngôn vào nước, cầu nguyện được yêu thương, cho đối phương nữ uống, đối phương nữ sẽ sinh lòng yêu mến. Vật được gia trì bao gồm quần áo, trái cây, nước lọc, đồ uống v.v... Người tu trì pháp này có thể giúp người khác làm việc, cầu phúc cho người, vợ chồng cũng được viên mãn, còn có thể giải trừ kiện tụng thị phi, sinh con trai con gái đều được như ý, có thể trừ ác mộng, cũng có thể chữa bệnh v.v...

Người tà tu Hắc giáo, nếu tu trì chú thuật Hạ Lợi Đế Mẫu, nam giới sẽ có rất nhiều mỹ nữ vây quanh, đây là do sự tương hút lẫn nhau, đây là hiện tượng đặc biệt nhất của việc tu pháp này, nữ giới tu pháp cũng sẽ có nhiều nam thanh niên tuấn tú vây quanh. Còn về tài bảo có được thì phải tiêu xài hết, nam nữ tốt nhất không nên kết hôn, bởi vì người đã kết hôn, Hạ Lợi Đế Mẫu sẽ không hiện thân, người tích trữ tiền bạc ắt sẽ mất thành tựu. Quan trọng hơn nữa là, người tu pháp này không được nói cho ai biết, đây là pháp nhập thế bí mật.

*Pháp nhập thế này kỳ diệu thay
Nhưng cách cõi Phật xa vời vợi
Trọng điểm nằm ở lời thề nguyện
Không sai một ly mới mong thành.*


### 09. Hạt giống trí huệ của Hư Không Tạng Bồ Tát


Người tu tập Mật tông là người có căn cơ lớn, trí tuệ của họ chắc chắn phi phàm. Tuy nhiên, có nhiều người căn cơ chậm lụt, mới bước vào cửa Mật, không thể nhanh chóng lĩnh hội được ý nghĩa bí mật, muốn tu trì mà không biết bắt đầu từ đâu, lại không nắm được trọng điểm. Những người này do nghiệp chướng đời trước, nên trí tuệ không thể sâu rộng, tu pháp gặp nhiều khó khăn.

Khi gặp những đệ tử như vậy, tôi dạy họ tu tập "Pháp trí tuệ Hư Không Tạng", trước hết giúp bản thân khai mở trí tuệ, tăng cường trí nhớ, nghe được kinh văn thì chỉ cần qua tai mắt một lần là có thể ghi nhớ trong tâm, vĩnh viễn không quên.

Mật hiệu của Hư Không Tạng Bồ Tát là Khố Tạng Kim Cang. Vị đại Bồ Tát này thường trú ở Hương Tích thế giới. Hư Không Tạng nghĩa là trí tuệ sâu rộng, bao la như hư không. Ngài trú ở cõi hư không, không những thấu đạt tất cả nghĩa bí mật, mà còn dùng tâm đại bi cứu độ chúng sinh.

Vị Hư Không Tạng Bồ Tát này trong Kim Cương giới và Thai Tạng giới, ở trong mandala Kim Cương giới chính là Kim Cương Bảo Bồ Tát, là một trong mười sáu vị của Hiền kiếp, được xếp ở hành lang ngoài phương Nam. Trong mandala Thai Tạng giới, ngài đứng đầu Viện Hư Không Tạng.

Kinh Hư Không Tạng có nói: "Nếu có người muốn đạt được trí tuệ, muốn được mọi người kính yêu, muốn có giọng hát hay, muốn đạt được địa vị đế vương và bách quan, muốn có đủ loại tài sản và quyến thuộc viên mãn, đồng thời sau khi làm điều thiện, có thể nổi danh thiên hạ, thì phải thường xuyên niệm danh hiệu của vị này, nhất định sẽ được như nguyện."

Hình tượng của Hư Không Tạng Bồ Tát: "Đầu đội mũ Ngũ Phật, tay phải cong lại, cầm kiếm, kiếm tỏa hào quang, tay trái đặt bên hông, nắm tay cầm hoa sen, trên hoa sen có bảo vật như viên ngọc. Hư Không Tạng Bồ Tát có thân màu trắng, ngồi trên đài sen màu xanh.

Người tu trì pháp này, trước tiên cúng dường Hư Không Tạng Bồ Tát, đầu tiên ở trước tượng Bồ Tát, trì văn trì chân ngôn của Hư Không Tạng Bồ Tát: "Na-mô a-ka-sa-ga-ba-ya ôm a-li ka-ma-li mô-li sô-ha." Chú này thường ngày trì tụng trước tượng, cần trì đủ 1 triệu biến.

Sau đó, chú ý ngày nhật thực hoặc nguyệt thực, nếu gặp ngày nhật thực hoặc nguyệt thực, lấy hương hoa và thức ăn cúng dường Hư Không Tạng Bồ Tát, lại dùng một ly nước lọc cúng dường, ngồi yên trước tượng, tay kết ấn Hư Không Tạng: Hai ngón trỏ dựng thẳng lên, chạm vào nhau tạo thành hình bảo châu, hai ngón cái tựa vào nhau, các ngón còn lại đan chéo vào nhau.


![image](/img/img_79f01d8ca32dcc06c4de76593365f23e.png)


Quán tưởng: Hãy hết sức tỉ mỉ quán tưởng hình tượng của Hư Không Tạng hiện ra trong không trung phía trước mặt. Tiếp đó quán tưởng hào quang (màu trắng) từ bảo kiếm của Hư Không Tạng, bùng cháy như ngọn lửa dữ dội, phóng ra một luồng kiếm hỏa, tạo thành hình cầu vồng, bay vào trong nước cúng dường.

Rồi quán tưởng trên hoa sen có viên bảo châu, cũng tỏa ra một luồng hào quang trắng, luồng hào quang này cũng bắn vào trong ly nước.

Hào quang từ bảo kiếm chính là "ánh sáng kiếm trí huệ" để phá trừ nghiệp chướng ngu muội từ nhiều đời, chặt đứt mọi ràng buộc của nghiệp đen. Còn hào quang của bảo châu chính là "ánh sáng quả trí huệ" để tăng thêm hào quang trí huệ cho hành giả Mật tông, có ý nghĩa "vững chắc không quên".

Kết thúc quán tưởng hai ánh sáng này.

Tiếp tục trì tụng chân ngôn Văn Trì của Hư Không Tạng Bồ Tát:
"Na-mô a-ka-sa-ga-ba-ya ôm a-li ka-ma-li mô-li sô-ha."
Trì chú này 108 biến.

Sau khi trì chú xong, lấy nước cúng dường, quán tưởng hình ảnh nhật thực nguyệt thực vào trong nước, điều này tượng trưng trong nước có ánh sáng kiếm trí huệ, ánh sáng quả trí huệ, ánh sáng mặt trời, ánh sáng mặt trăng, sau đó uống một hơi. Rồi cầu nguyện hợp nhất với Hư Không Tạng Bồ Tát.

Trong quá khứ, có một người trực tiếp đến gặp tôi, phủ phục xuống đất ba ngày, cầu xin tôi truyền dạy mật pháp. Tôi quan sát thấy tâm thành của anh ta là đủ, nhưng trí tuệ không đủ, vẻ mặt đần độn, nói năng thì ấp úng, thậm chí lộn xộn không đầu không đuôi. Tuy nhiên, thương xót lòng thành kính của anh ta, nên tôi cũng nhận làm đệ tử.

Tôi dạy anh ta chú Hư Không Tạng từng chữ một, anh ta vừa đọc vừa quên, phải mất nguyên hai tuần mới thuộc được câu chú này. Thế là, tôi dạy anh ta mỗi ngày trì tụng 1000 biến. Anh ta không hề lười biếng, mỗi ngày trì từ 3000 đến 5000 biến không chừng, cho đến khi đủ 1 triệu biến. Cuối cùng tôi mới dạy anh ta thủ ấn, quán tưởng và những điều khác. Bí mật dặn dò anh ta tu pháp để chứng đắc.

Thật lạ kỳ, sau khi anh ta tu trì pháp hạt giống trí tuệ của Hư Không Tạng Bồ Tát, tổng cộng tu được bảy đàn, vẻ đần độn trên gương mặt hoàn toàn biến mất, đôi mắt vốn không có thần thái bỗng trở nên sáng ngời, tướng ngu muội không còn nữa, thay vào đó là tướng mạo thông tuệ, điều kỳ lạ nhất là nói năng không còn ấp úng nữa, trở nên rõ ràng mạch lạc, đặc biệt là trí nhớ tốt đến mức như một phép màu tái sinh.

Tôi biết, trên đời có rất nhiều người bị chứng mất trí nhớ (suy giảm trí nhớ), nhiều người bẩm sinh đã đần độn, dù cố gắng học hành chăm chỉ, nhưng khả năng hiểu và nhớ đều không đủ, học đến chết mệt mà hiệu quả chẳng được bao nhiêu, thời gian quý báu cứ thế trôi đi, vậy mà vẫn không học được tốt. Vì những người này, xin mọi người hãy tu trì pháp hạt giống trí tuệ của Hư Không Tạng Bồ Tát để tăng trưởng tuệ căn.

Xin viết một bài kệ, ghi rằng:
*Căn cơ Mật pháp chẳng tầm thường,
Trí tuệ rạng ngời mới đắc thành
Cần có kiếm quang nhật nguyệt hiện,
Một ngọn đèn soi tỏa ánh dương.*


### 10. Đồ Cát Ni thề nguyện kỳ lạ nhất


Khi viết "Mật tông Yết Ma pháp" đến phần về tôn giả Đồ Cát Ni, tôi chợt nhớ về lời thề nguyện kỳ lạ của vị tôn giả này.

Thực ra tôn giả Đồ Cát Ni không phải là Phật, cũng không phải là Bồ Tát, càng không phải là bậc Độc Giác, mà là một loại quỷ vật vô cùng hung ác. Ngài có bốn vị thị giả, tất cả đều là quỷ đại hung ác. Ngài du hành khắp mười phương thế giới, thức ăn của Ngài chính là người, Ngài là ác quỷ chuyên ăn thịt người gặm xương, số người Ngài đã ăn nhiều đến nỗi chất thành một ngọn núi lớn.

Vào thời Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế, Đồ Cát Ni hung bạo nhất trong việc ăn thịt người. Phật Đà đã mời một vị Kim Cang hộ pháp của Phật môn, cũng là một đại ác quỷ (đã bỏ ác theo thiện), đến bắt Ngài. Sau một trận chiến, Đồ Cát Ni bị đưa đến trước mặt Phật Đà. Phật Đà dạy bảo Ngài một hồi, bảo từ nay về sau không được ăn thịt người nữa. Nhưng vì Đồ Cát Ni đã quen thói ăn thịt người, không thể thay đổi được, cuối cùng Phật Đà đành phải đồng ý cho Ngài chỉ được ăn người đã chết, không được ăn người còn sống.

Tôn giả Đồ Cát Ni, từ khi được Phật Đà giáo hóa, đã cải tà quy chính, hộ trì Phật pháp. Tôn giả có một túi vải đeo trên lưng, bên trong chứa rất nhiều vàng bạc châu báu là của đi khắp thiên hạ trộm được. Vì vậy vị tôn giả này là Đại Phú Quý Tôn Giả. Những ai trì pháp Đồ Cát Ni, khi Đại Phú Quý Tôn Giả vừa mở túi ra, vàng bạc châu báu liền được trao cho hành giả. Do đó, tu pháp Đồ Cát Ni là con đường tắt nhanh nhất để đạt được phú quý.

Do có quá khứ như vậy nên khi tu pháp Đồ Cát Ni, điểm trọng yếu nằm ở thệ nguyện, tức là mỗi lần tu pháp đều phải hồi hướng: "Tôn giả Đồ Cát Ni! Xin hãy nhanh chóng từ trên trời ban xuống tài phú cho tôi, tôi nguyện sau khi chết sẽ hiến dâng thân thể của mình cho ngài thọ dụng, bao gồm cả não tủy và máu huyết."

Khi tôn giả Đồ Cát Ni nhận được sự cúng dường và hiểu rõ thệ nguyện của bạn, theo nguyên tắc có qua có lại, ngài sẽ ra lệnh cho bốn vị thị giả mang của cải đến cho bạn. Dĩ nhiên, bạn có thể trúng được đua ngựa, thắng lớn khi đánh bạc, trúng vé số, hoặc nhặt được tiền, được người khác tặng tiền, gặp cơ duyên tốt phát tài lớn, tiền chính đáng lẫn tiền bất ngờ đều đến. Nhưng đừng quên rằng, thệ nguyện của bạn là sau khi chết sẽ hoàn toàn hiến dâng thân thể của mình, hiến dâng cho Đồ Cát Ni thọ dụng.

Tu trì pháp Đồ Cát Ni không phải dễ dàng, bởi vì người tu pháp, nếu phụng sự tôn giả đúng cách, sẽ được đại phú quý, nhưng nếu phụng sự không đúng cách, ngược lại sẽ gặp đại họa. Theo tôi thấy, với chư Phật Bồ Tát, người thường có chút thất lễ, chư Phật Bồ Tát thương xót chúng sinh vô tri, sẽ không trách phạt. Nhưng phụng sự Đồ Cát Ni thì khác, nếu có một chút bất kính nào, tai họa sẽ giáng xuống ngay, đây là điều cấm kỵ nhất của người tu pháp, thệ nguyện không bền thì phú quý cũng không bền, đây là điểm đặc biệt nhất của pháp này, người không có lòng kiên trì, tuyệt đối không nên làm.

Tu trì pháp Đồ Cát Ni, trước tiên phải cúng dường một tôn tượng Đồ Cát Ni và bốn vị thị giả. Đồ Cát Ni có mặt xanh nanh nhọn, bốn vị thị giả có mặt đỏ nanh nhọn. Đồ Cát Ni hai tay trái phải đều cầm bàn tay người và chân người, đứng trên tảng đá, tư thế bay lên, trên lưng đeo một túi phú quý. Bốn vị thị giả đứng hai bên, tay trái mỗi người cầm một đĩa đựng máu người, lè lưỡi ra như đang liếm máu. Tay phải mỗi người đều nắm một túi phú quý.

Khi cúng dường tu pháp, mỗi lần đều phải có rượu, tay kết ấn Đồ Cát Ni.


![image](/img/img_82e91e03a9ff0c08497e6e36469c77a3.png)


Ấn này rất đơn giản nhưng cũng rất đặc biệt, đó là đưa tay trái ra như đang nâng đĩa, sau đó lè lưỡi liếm một cái vào lòng bàn tay, biểu thị ý nghĩa liếm máu. Khi kết ấn và lè lưỡi liếm máu, lập tức quán tưởng rằng thứ mình đang liếm chính là máu.

Sau đó, ngồi yên quán tưởng miệng túi phú quý của tôn giả Đồ Cát Ni mở ra, bên trong có rất nhiều vàng bạc châu báu đổ ra, một phần đổ vào tay bạn, một phần đổ phía trước bạn, biểu thị sự vô cùng phong phú. Bạn muốn gì thì quán tưởng túi phú quý đổ ra thứ đó.

Sau khi quán tưởng xong, tay cầm tràng hạt, trì tâm chú Đồ Cát Ni: "Ôm thu-chi-ni xi-li hùm." Chú này tụng 108 biến hoặc 1080 biến. Tụng xong, hồi hướng phát nguyện: "Nhờ ơn đại gia hộ của tôn giả Đồ Cát Ni, được tất cả tài sản chính đáng và bất ngờ, được tất cả đại phú quý. Nguyện sau khi thân này qua đời, não tủy và máu cùng toàn thân, xin cúng dường tôn giả."

Theo tôi được biết, trong Mật tông Yết Ma pháp, để cầu tài lộc thì pháp của tôn giả Đồ Cát Ni là đặc biệt nhất, cảm ứng cũng nhanh chóng nhất, hơi giống như pháp "ngũ quỷ vận tài", thông qua mọi cơ duyên để ban cho đại tài phú. Nhưng Đồ Cát Ni vốn là do đại ác quỷ biến hiện, luôn hành động theo thệ nguyện, nếu cúng dường không đúng phép thì sẽ gặp tai ương, Ngài chẳng quan tâm hành giả Mật tông là nhân vật thế nào.

Tôi đích thân hiểu rõ tất cả bí mật cúng dường của Mật pháp Đồ Cát Ni này, đặc biệt tuyên bố như sau: Pháp này tu học không hề đơn giản, cách cúng dường rất đặc biệt, nếu không có Kim cương Thượng sư chân chính chỉ dạy, xin đừng tùy tiện thực hành, nếu làm bừa sẽ gặp đại họa. Ngoài ra xin tuyên bố thêm: "Tất cả mọi Mật pháp đều phải quy y Thượng sư, thọ nhận quán đảnh chân chính từ Thượng sư. Nếu không quy y, cũng không được quán đảnh thì không được học Mật pháp một cách vọng động. Không những uổng công mà còn mắc tội. Điểm này phải ghi nhớ kĩ càng, mọi người hãy đi tìm một vị Thượng sư chân chính để quy y!"

Viết một bài kệ dâng tôn giả Đồ Cát Ni:
*Pháp Đồ Cát Ni ban hữu duyên
Thệ nguyện lạ kỳ bậc nhất tiên
Cúng dường bền chí chăm tu trì
Tài lộc bất ngờ đến tự nhiên.*


### 11. Pháp La Hán thường được thanh tịnh


Tôi luôn cảm thấy rằng, mọi thứ trên thế gian này đều gắn liền với phiền não. Chết yểu là phiền não, sống lâu cũng là phiền não, không có con là phiền não, có con cũng phiền não, không tiền thì phiền não lớn, có tiền cũng phiền não như vậy, không quyền lực là phiền não, có quyền lực cũng là khổ, tất cả bệnh tật càng là khổ, còn quan hệ giữa người với người, không có gì là không phiền não lo âu.

Nếu có người giác ngộ rằng tất cả mọi thứ trên đời đều là khổ, tất cả đều là phiền não, muốn tu hành một mình, cùng với tất cả chúng sinh trên đời đoạn tuyệt mọi nguồn gốc phiền não, muốn tiêu diệt hết thảy nghiệp tội, nhập tam muội kim cang đại định, đắc quả bồ đề, đạt được đại trí tuệ có thể thực sự nhìn thấu thế gian, có đại uy đức, vĩnh viễn được giải thoát, được thọ ký từ mười phương chư Phật, người như vậy có thể tu pháp La Hán.

Thật ra La Hán, tên tiếng Phạn là Arhat, có nghĩa là hoàn toàn diệt trừ phiền não. La Hán được xếp vào hàng Tứ Thánh, có tư cách nhận sự cúng dường cao nhất của chư thiên và nhân loại. Tu hành đến quả vị La Hán thì không còn bị phiền não của sinh tử nữa. Trong kinh Phật có nói: "Tiếng Phạn A La Hán, dịch là Vô Học, nghĩa là đã đoạn tận sinh tử, không còn gì để học, Vô Sinh là đoạn tận mê hoặc của thấy và nghĩ, không cần phải luân hồi trong tam giới nữa, được chư thiên và nhân loại cúng dường, có thể trừ hết tất cả phiền não, đắc tam minh lục thông, có vô lượng công đức, nhờ tu pháp thần thông có thể tự kéo dài tuổi thọ, có thể trụ ở nhân gian, hộ trì chính pháp."

Hôm nay, tác giả truyền dạy pháp La Hán, có thể tu trì pháp một vị La Hán, cũng có thể tu trì mười sáu vị hoặc mười tám vị hoặc năm trăm vị, tùy theo ý nguyện của hành giả Mật tông, nhưng công đức đều như nhau.

Tôi xin trình bày pháp tu trì của tôn giả Ba Cổ Lạp:

Tôn giả Ba Cổ Lạp có tám trăm vị La Hán thuộc hạ, trú tại Nam Chiêm Bộ Châu, hộ trì Phật pháp tại vùng đất này.

Hành giả cúng dường tượng La Hán, ngồi trên tảng đá, tay phải nắm quyền đánh một con hổ, hoặc tay phải đè một con hổ, đầu tròn, trên đỉnh đầu có vầng trăng, mặc y phục La Hán, để hở ngực. Cũng có người nói tôn giả Ba Cổ Lạp này chính là Phục Hổ La Hán, tôi khẳng định đúng là Phục Hổ La Hán.

Tu trì tất cả Mật pháp, không quên tứ quy y, đại cúng dường, đại lễ bái, mặc giáp hộ thân.
Thắp hương danh hương.
Kết ấn La Hán tinh tấn: Hai tay ôm vào nhau, chỉ có ngón trỏ tay phải dựng đứng, chỉ lên không trung.


![image](/img/img_5699446f364bdd47cc6bff887a73d5e4.png)


Quán tưởng: Kim thân và thần thái của La Hán Phục Hổ, trong tim ngài có một điểm, hóa thành một điểm ánh sáng xanh lam, chiếu vào tim mình. Do ánh sáng xanh chiếu rọi, toàn thân mình trở nên trong suốt màu xanh, như thủy tinh xanh vậy. Lại quán tưởng toàn thân màu xanh của mình hóa thành một điểm sáng, bay lên, bay lên, dần dần bị ánh sáng xanh từ tim La Hán hút vào trong tim ngài, rồi dừng lại. Phương pháp quán tưởng này gọi là quán tưởng "ngã nhập", tức là tự thân hóa thành ánh sáng, đi vào trong tim La Hán.

Do quán tưởng "ngã nhập" và kết ấn tinh tấn, tức là "phản nhiễm hoàn tịnh". An trú trong tâm La Hán thì sẽ có vô lượng vô biên công đức không thể nghĩ bàn. Nói một cách đơn giản, một hành giả Mật tông thường trú trong tâm La Hán, không những tự tiêu trừ nghiệp chướng của mình, diệt sạch tất cả tai nạn bệnh tật sinh ra từ địa thủy hỏa phong không, mà còn có thể hàng long phục hổ, chế ngự các ngoại đạo, tiêu diệt yêu ma, tất cả quỷ thần đều đến quy phục.

Thường trú trong tâm La Hán chính là thường được thanh tịnh.

Sau khi xuất định, tiếp tục trì chú La Hán:
"Tê-ya-tha. Ôm. Mô-ni mô-ni ma-ha-mô-ni. Sa-wa-sâng-kya. Pa-lia-pu-la-ka. Sô-ha." Trì chú này 108 biến hoặc 1080 biến. Tu trì pháp La Hán cũng có thể cúng dường và tu theo pháp tướng của mười đại đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni, bởi vì mười đại đệ tử cũng chính là mười vị La Hán, danh hiệu tôn quý của mười đại đệ tử như sau:

Thứ nhất, Đại Ca Diếp — Đệ nhất về khổ hạnh. 
Thứ hai, A Nan Đà — Đệ nhất về đa văn.
Thứ ba, Xá Lợi Phất — Đệ nhất về trí tuệ. 
Thứ tư, Tu Bồ Đề — Đệ nhất về thấu hiểu tính không.
Thứ năm, Phú Lâu Na — Đệ nhất về thuyết pháp. 
Thứ sáu, Mục Kiền Liên — Đệ nhất về thần thông.
Thứ bảy, Ca Chiên Diên — Đệ nhất về luận nghị. 
Thứ tám, A Na Luật — Đệ nhất về thiên nhãn.
Thứ chín, Ưu Ba Ly — Đệ nhất về trì giới. 
Thứ mười, La Hầu La — Đệ nhất về mật hành.

Tu trì pháp La Hán là một trong những pháp tu trí tuệ, có tác dụng đối trị phiền não và ngu si. Tất nhiên, khi thường xuyên thực hành quán tưởng "ngã nhập" như vậy, dần dần khi giác ngộ, sẽ tự hiểu được chân lý viên mãn thường hằng, vốn dĩ tất cả đều thanh tịnh, Phật và chúng sinh không có gì khác biệt, chỉ là sự phân biệt giữa nhiễm ô và thanh tịnh mà thôi. Nếu chấp trước vào phiền não thì trong Phật pháp, đó là điều đáng thương nhất.

Hơn nữa, để đạt được công phu "ngã nhập", đây là thiền công thượng thừa, có thể tham khảo trong sách "Vô Thượng Mật và Đại Thủ Ấn". Pháp "ngã nhập" này chính là Như Lai thanh tịnh thiền, có thể gọi là "nhất hạnh tam muội", đây là tâm yếu đại pháp, không thể xem thường, đây là cảnh giới tối thượng của tất cả căn bản tam muội. Hôm nay tôi đem pháp La Hán này kết hợp với "Vô Thượng Mật và Đại Thủ Ấn" giảng giải, cũng chính là hy vọng chúng sinh có thể lĩnh ngộ được tự tâm vốn thanh tịnh.

Thường được thanh tịnh, xin viết một bài kệ hay:
*Phải biết chốn nào là cố hương
Muốn trừ phiền não chẳng tầm thường
Phật và Bồ Tát ban cho chỗ,
Mật pháp diệu hành mời nếm ngay.*


### 12. Hỏa Đầu Kim Cang giải uế khí


Tôi biết có nhiều người sau khi tham gia tang lễ trở về nhà liền bị xung phạm, hoặc đã trúng tà, có người thì ngay tại chỗ đã bị từng cơn nóng lạnh, nghiêm trọng hơn là có người bị ngất ngay tại chỗ. Thậm chí không cần tham gia tang lễ, tham gia tiệc cưới cũng có hiện tượng này, người như vậy thì tang sự hay hỷ sự đều kiêng dè, không dám tham gia.

Càng tồi tệ hơn là có một số người, không tham gia đám cưới đám tang, nhưng vô ý đang đi trên đường thì có đội rước đám ma đi qua, nhìn thấy một cái là chóng mặt, chân bủn rủn, trở về nhà thì đổ bệnh. Loại người này không chỉ như vậy, ngay cả nhìn thấy máu cũng bị như thế, cũng không thể vào phòng sinh đẻ, cũng không thể đến bệnh viện, những điều cấm kỵ của họ nhiều lắm lắm.

Những vị nghiên cứu tướng mệnh tử vi đẩu số gọi những người này là có bát tự thấp, tức là sức chống cự của pháp lực không đủ kiên cường, hễ có uế khí xâm phạm là trúng tà ngay.

Người bị xung phạm nhẹ thì bị ốm mấy ngày rồi sẽ không sao, người bị xung phạm nặng thì có người thân thể hư thoát, thảm hơn nữa là bị âm linh để mắt đến, khiến họ nói năng lảm nhảm, tinh thần thất thường, đều có cả.

Vì sao tang sự hỷ sự, đám ma đám cưới lại tương đối dễ xung phạm, tôi nói để mọi người biết đạo lý này, bởi vì khi một người chết đi, người thân ở cõi âm sẽ đến đón linh hồn của người chết này, tức là âm linh tụ họp, cho nên đây là lý do mà nơi có tang lễ thì có khí âm nhơ bẩn rất nặng.

Với đạo lý tương tự, nam nữ kết thành vợ chồng, đây là việc lớn của đời người, âm linh của tổ tiên ở âm gian hầu hết đều biết con hoặc cháu của họ đã kết hôn rồi, cũng sẽ tụ tập đến chúc mừng một phen. Ở dương gian, đây là ngày đại hỷ của đôi bên nam nữ, tương tự, linh hồn của tổ tiên họ cũng sẽ về nhà để chúc mừng, cũng là ngày tụ hội lớn của âm linh.

Người như vậy phải tu một pháp, pháp này chính là pháp Hỏa Đầu Kim Cang giải uế khí, bình thường tu pháp Hỏa Đầu Kim Cang giải uế khí, hễ gặp xung phạm, tay kết ấn Hỏa Đầu Kim Cang.


![image](/img/img_c4e9ac49f70c79fcc09b2941116050fa.png)


Miệng niệm chú, thì sẽ nhanh chóng giải được xung phạm. Người tu pháp này, bất kì nơi nào cũng có thể đi, không có một chút cấm kỵ nào, đi lại không gặp trở ngại, thậm chí ma quỷ thông thường đụng phải bạn thì đều sẽ tránh xa bạn. Bởi vì Hỏa Đầu Kim Cang là vị Đại Kim Cang Thần quét sạch bất tịnh.

Hỏa Đầu Kim Cang là một trong năm vị Đại Kim Cang của Đài mật, tên tiếng Phạn của ngài là Ucchusma, không những có thể quét sạch bất tịnh mà còn có thể loại bỏ yêu tinh, ác quỷ, rắn độc, v.v… làm hại. Nơi có loài rắn hay ra vào, tu pháp Hỏa Đầu Kim Cang rồi thì rắn không dám vào. Ngoài ra người tu pháp này, vì khí dương cương đầy đủ, người mang thai tu pháp này sẽ chuyển thai nữ thành thai nam, cho nên người tu pháp Kim Cang có sinh đẻ thì đều là bé trai.

Hỏa Đầu Kim Cang là dựa vào quán tưởng nội hỏa toàn thân, thần quang ngưng tụ bên trong, hình thành lửa trí huệ, dùng phương pháp hỏa quang tam muội để đắc chứng, thành tựu Kim Cang Thần. Người tu trì phải thờ cúng Hỏa Đầu Kim Cang, vị Kim Cang Thần này có tượng hai tay, tượng bốn tay, tượng sáu tay, tượng tám tay. Tượng của ngài có hình đại phẫn nộ, mắt đỏ, toàn thân màu xanh đen, tỏa ra ngọn lửa. Tượng bốn tay thì tay phải ở trên cầm kiếm, tay phải ở dưới cầm cuộn thừng, tay trái ở trên cầm gậy, tay trái ở dưới cầm chày ba cổ, pháp khí đều phóng ra ánh sáng của ngọn lửa lớn.

Người tu trì nhập đàn, kết ấn Hỏa Đầu Kim Cang, quán tưởng Hỏa Đầu Kim Cang toàn thân là ánh lửa, ánh lửa ở trên đầu kết thành ánh sáng của tam muội chân hỏa. Sau đó, ngọn lửa sáng chói này cháy về hướng chính mình, chính mình giống như đặt ở trong tam muội của ánh lửa sáng rực. Lúc này đặc biệt nghĩ đến khí tà uế của chính mình bị hỏa quang tam muội đốt cháy, hóa thành khí đen, từ các lỗ chân lông trên khắp toàn thân thoát ra, bản thân trở nên vô cùng nhẹ nhõm và thanh tịnh.

Quán tưởng xong xuôi, tay cầm chuỗi hạt, niệm:
"Xiêu-li xiêu-li ma-ma-li-ma-li xiêu-xiêu-li sô-ha."
Câu chú này tổng cộng niệm 108 biến hoặc 1080 biến.
(Ngày tốt nhất để tu pháp có thể chọn ngày "thất xích".)

Theo như tôi biết, tu trì pháp này rồi thì hễ gặp tà uế, miệng tụng 3 biến hoặc 7 biến chân ngôn, tay kết ấn Hỏa Đầu Kim Cang, chạm ấn vào trán một cái là có thể bảo vệ được bản thân. Nếu là đuổi tà thì tung ấn về phía trước, đánh ra, chân phải dậm một cái, âm khí sẽ tản ra chạy trốn.

Trọng điểm của tu tập pháp này cũng nằm ở quán tưởng, hỏa quang tam muội đốt thân mình, đốt tất cả khí âm uế thành khói đen, từ các lỗ chân lông bài trừ ra ngoài. Chú thích thêm là pháp này cũng là một Mật pháp để hóa trừ dâm niệm, con người có dâm niệm thì tịnh thân nhập đàn, tu pháp Hỏa Đầu Kim Cang trừ uế, quán tưởng lửa trí huệ nổi lên đi vào, đốt cháy dâm niệm thành khói đen và bài trừ ra ngoài. Thật ra dâm niệm cũng là một trong những suy nghĩ tà uế, nếu phối hợp pháp này với sự kiểm soát hô hấp, thì sau khoảng 10 hơi thở, hóa dâm niệm thành khói đen và bay tản đi. 

Nếu thường sinh con gái, muốn có con trai, tu pháp Hỏa Đầu Kim Cang trừ uế là tốt nhất, bởi vì một khi loại bỏ được khí âm ám muội thì sẽ trở thành khí dương cương, hồn nữ bị nhiễm tạp âm khí không dám đầu thai, tự nhiên sẽ sinh nở bé trai. Nhưng nếu đã mang thai 5 tháng mà tu pháp này thì không còn kịp nữa, bởi vì khi đó thai nhi đã định hình rồi. Người tu pháp này cũng có tác dụng bảo vệ thai, đây là mật pháp vô cùng hữu dụng.

Tôi viết một bài kệ ca ngợi Hỏa Đầu Kim Cang:
*Ánh sáng lửa này rất mát lành
Trí huệ trừ uế được quang minh
Loại bỏ vết nhơ có thể định
Người tu pháp ấy hóa hữu tình. *


### 13. Liên Hoa Đồng Tử là Đại Phúc Kim Cang


Ngày trước tôi đến một nhà hàng để ăn cơm, nhà hàng đó là một đệ tử của tôi mở. Đệ tử của tôi làm một thống kê, mỗi lần tôi đến ăn cơm ở đó thì lợi nhuận thu được của ngày hôm đó tăng gấp ba lần so với ngày thường. Đệ tử đó của tôi không tin, liên tục thống kê mười lần, kết quả là hết sức kỳ diệu, lần nào cũng tăng gấp ba, cuối cùng anh ấy mới thán phục. Tóm lại, tôi đi đến nhà hàng của anh ấy ăn cơm, khách hàng của ngày hôm đó nhất định sẽ ngồi kín chỗ, thu nhập tăng gấp ba, không giả một chút nào.

Hiện tượng này không chỉ ở nhà hàng mà bất kì nơi kinh doanh nào mà tôi đến thì việc kinh doanh chắc chắn sẽ đặc biệt tốt, hơn nữa còn tốt cực kì, chủ tiệm chỉ có ngoác miệng cười ha ha.

Hơn mười năm trước, tôi có một biệt hiệu là "Tặng Tiền Đồng Tử". Những người làm kinh doanh hễ nhìn thấy tôi đến là liền kêu lên "Tặng Tiền Đồng Tử" đến rồi. Thật ra, đối với những đệ tử dựa vào tôi, đương nhiên tôi bình đẳng chúc phúc họ, đây là duyên phận giữa người với người, không miễn cưỡng một chút nào, muốn đến thì đến, muốn đi thì đi, tất cả tùy ý đến, tất cả tùy ý đi.

Một Thượng sư chứng đắc thì xung quanh sẽ có rất nhiều thiên long bát bộ và rất nhiều quỷ thần bảo hộ, từng lời nói từng hành động của họ đều có Hộ pháp hộ trì. Bản thân Liên Hoa Đồng Tử Lư Thắng Ngạn Kim cương Thượng sư ở nhân gian đã có đại phúc như vậy để đi giúp đỡ con người, huống chi là Pháp thân tự tại Liên Hoa Đồng Tử Tôn Giả ở Tây phương Cực Lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì, vì thế tu trì Liên Hoa Đồng Tử kim cương pháp tự nhiên cũng có thể có được tăng ích, cho nên Liên Hoa Đồng Tử là Đại Phúc Kim Cang.

Liên Hoa Đồng Tử kim cương tương ứng pháp cũng chính là Thượng sư tương ứng pháp, Thượng sư cùng tất cả pháp giới chư Phật là một thể, Thượng sư là thể tính thân khẩu ý hợp nhất của thập phương tam thế chư Phật, là nguồn gốc của tám vạn bốn nghìn loại pháp. Đệ tử Chân Phật Tông là quy y một vị Thượng sư có đầy đủ truyền thừa, căn bản, phẩm đức. Người quy y đều có phúc báo rất lớn, vì Liên Hoa Đồng Tử là Đại Phúc Kim Cang.

Người tu trì pháp này, đầu tiên là thờ phụng tượng Thượng sư.
Nhập đàn, kết thủ ấn Liên Hoa Đồng Tử. Tay trái là ấn cầm hoa sen, tay phải là ấn thuyết pháp.


![image](/img/img_41fede4d25d6caf68f50b16bb8f0e26e.png)


Tĩnh tọa điều hòa hơi thở, quán tưởng Mi tâm của Liên Sinh Kim cương Thượng sư phóng ánh sáng trắng chiếu đến Mi tâm của chính mình, sau đó họng phóng ánh sáng đỏ chiếu đến họng của chính mình, tim phóng ánh sáng lam chiếu đến tim của chính mình. Sau khi ba ánh sáng chiếu xong, đặc biệt quán tưởng chuông kim cang và chày kim cang trên tay Thượng sư toàn là ánh sáng vàng kim lấp lánh, tự cảm thấy chuông kim cang và chày kim cang của Thượng sư lắc rung, phóng ra ánh sáng báu màu vàng kim. Và ánh sáng báu này chiếu lên thân của mình, khiến toàn thân mình cũng tỏa ra ánh sáng báu màu vàng kim, giống như quanh thân Phật Thích Ca Mâu Ni tỏa ra hào quang bách bảo vô úy màu vàng kim. Lúc này, người quán tưởng có thể nghĩ đến tay trái mình kết ấn cầm hoa sen và hoa sen này là một đóa hoa sen màu vàng kim, trên hoa sen hóa hiện ra thứ mà mình muốn, những thứ như vàng bạc tài bảo.

Tất cả quán tưởng xong, tay cầm chuỗi hạt, niệm tâm chú căn bản của Liên Hoa Đồng Tử: "Ôm ah hùm gu-ru-pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-sâng sit-đi hùm." [Om ah hum guru beh ahasasamaha liansheng siddhi hum] Mỗi lần tu thì niệm tâm chú này 108 biến hoặc 1080 biến, hoặc cố gắng tụng nhiều. Tụng đến khi chủng tử của chú [chữ Hum] nở hoa thì nhất định có cảm ứng. 

Hôm nay, tôi đặc biệt vì những đệ tử quy y cầu pháp mà lập ra pháp tiện lợi để quán đảnh quy y cách không từ xa.

Chọn ngày mồng 1 hoặc 15 Âm lịch. 
Vào sáng sớm, quay mặt về hướng Đông (hướng mặt trời mọc), chắp tay cúi ba lạy, niệm: "Na-mô gu-ru pây. Lư Thắng Ngạn Thượng sư chỉ dẫn. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê." Niệm 3 biến. 

Gửi họ tên, tuổi, địa chỉ, gồm cả cúng dường quy y (tùy ý) đến địa chỉ liên lạc ở Mỹ của Lư Thắng Ngạn Kim cương Thượng sư. Sau khi Thượng sư nhận được thư nhất định sẽ tiến hành quy y, sẽ gửi chứng thư quy y, thế là có thể dựa vào Kim cương Thượng sư chân chính để tu trì Phật pháp, trở thành đệ tử Phật chân chính, tương lai nhất định thành Phật. Đệ tử của Chân Phật Tông ở phân đường trên toàn thế giới là đông nhất, đây là: 
*Liên Hoa Đồng Tử giàu có nhất,
Chúng sinh quy y chẳng ồn ào.
Đời này Phật pháp tuyệt diệu nhất.
Các môn ngoại đạo cùng hướng về.*


### 14. Sự kỳ diệu của Già Văn Đồ [Camunda]


Trước đây, tôi từng đọc một bài viết kể về một dị nhân trong giang hồ có thể thi triển một loại kỳ thuật. Ví dụ có một người bị u bướu ở cổ, vị dị nhân này chỉ cầm một vật, hướng về cái u, lẩm bẩm niệm chú, vẽ vài đường. Sau đó đi đến một cái cây bên cạnh, cũng lẩm bẩm niệm chú với cái cây, vẽ vài đường. Lạ thay, người bị u bướu kia, cái u của họ dần dần co nhỏ lại và biến mất. Điều kỳ lạ là, cái cây đó lại nhô lên một cục, như hình cái u.

Pháp này gọi là pháp chuyển di.

Trong Kinh Thánh của Cơ Đốc giáo cũng ghi chép một sự kiện kỳ lạ, Chúa Jesus chữa bệnh cho một người bệnh tâm thần, trong thân thể người bệnh ấy có ẩn chứa một con quỷ. Chúa Jesus ra lệnh cho con quỷ phải đi ra, con quỷ không còn cách nào khác đành phải ra, rất nhanh chóng, quỷ từ thân thể người bệnh tâm thần đi ra, nhập vào một đàn heo, đàn heo liền phát điên, chạy nhảy xuống vực thẳm mà chết, còn người bệnh tâm thần thì được khỏi bệnh.

Cách chữa bệnh như vậy, thực ra cũng là pháp chuyển di.

Tôi đã từng nói, dùng pháp chuyển di để chữa bệnh, hiệu quả rất to lớn, người biết được pháp chuyển di không nhiều, đặc biệt là những người có niệm lực, khi áp dụng pháp chuyển di, trăm lần đều hiệu nghiệm. Pháp chuyển di có hiệu quả đối với bệnh tâm thần, đối với u bướu, độc tố, những khối bất thường và bệnh ngoài da còn hiệu quả hơn nữa. Bản thân tôi đã từng dùng pháp chuyển di để chữa bệnh cho nhiều người, kết quả là vừa làm pháp thì bệnh liền khỏi, hiện tượng này giống như phép màu vậy.

Trong pháp Yết Ma bằng tiếng Pali có pháp chuyển di, Mật pháp này gọi là pháp Già Văn Đồ, tôi xin trình bày chi tiết như sau:

Để tu trì pháp Già Văn Đồ, chỉ cần thờ phụng tượng Phật là được. Bảy ngày trước khi tu pháp, phải ăn chay, kiêng tất cả đồ mặn, tức là giữ trai giới bảy ngày, đốt trầm hương cúng Phật trước bàn thờ. Sau đó kết ấn, ấn này chính là ấn Già Văn Đồ:


![image](/img/img_ef59330df4dbd99fc437bac4802fba60.png)


Ấn Già Văn Đồ rất đơn giản, chỉ cần đưa tay trái ra, hơi cong năm ngón tay như đang nâng một vật, đặt trước ngực, và vật được nâng đó chính là đầu lâu.
Thông thường người tu pháp hay dùng sọ người để làm pháp, nếu không có sọ người thì dùng bất kì xương nào cũng được, đặt xương đó lên trên ấn Già Văn Đồ.

Khi quán tưởng, tưởng tượng đầu lâu hoặc xương trong tay biến thành khối u của bệnh nhân, hoặc bướu, hoặc dị vật, hoặc bệnh ngoài da, v.v… Sự quán tưởng này phải thật rõ ràng minh bạch. Sau khi quán tưởng xong, trì chân ngôn: "Ôm chưa-wân-thu i-li-mi-li sô-ha." Trì chú này 21 biến, hành giả gõ răng 21 lần, rồi kim cang niệm [niệm thầm] âm "Sát" 21 lần. Lúc này bệnh nhân tiến lên phía trước, nếu bệnh nhân là nam, hành giả Mật tông dùng tay trái cầm xương, chạm vào chỗ bệnh một lần, nếu bệnh nhân là nữ, hành giả Mật tông dùng tay phải cầm xương, chạm vào chỗ bệnh một lần. Hành giả Mật tông miệng không ngừng kim cang niệm âm "Sát", sau đó đem xương này chôn vào đất sạch, hoặc cầm xương vẽ vài đường lên thân cây. Cách trước là chuyển khối u vào lòng đất, cách sau là chuyển khối u vào thân cây. Như vậy, khối u của bệnh nhân sẽ tiêu mất, ngày qua ngày co nhỏ lại rồi biến mất.

Một trong những điểm quan trọng của pháp này là trước mỗi lần hành pháp, hành giả Mật tông phải cúng dường trầm hương chìm nước trước Phật trong bảy ngày, tức là mỗi ngày đốt trầm hương chìm nước cúng Phật ba thời sáng trưa tối, trong bảy ngày. Hành giả Mật tông cũng phải giữ trai giới bảy ngày.

Lấy đầu lâu là tốt nhất, nếu không có thì các xương khác cũng được. Dĩ nhiên xương người không dễ tìm, có thể thương lượng với thân nhân của người quá cố để mượn, hoặc thương lượng mượn từ các chùa có linh cốt tháp. Cứu người khỏi bệnh khổ còn hơn xây tháp bảy tầng. Nếu không có xương người thì có thể dùng xương động vật khác thay thế cũng được.

Điểm quan trọng thứ hai của pháp này là, quán tưởng với xương là biến linh vật của xương thành khối u của bệnh nhân, nghĩa là quán tưởng khối u của bệnh nhân chuyển lên trên xương, đây chính là sự chuyển di của niệm lực. Sau khi chuyển di rõ ràng rồi, tiếp tục trì chân ngôn chuyển di của Già Văn Đồ.

Điểm quan trọng thứ ba của pháp này là, trì chân ngôn chuyển di 21 biến, rồi tiếp tục niệm âm "Sát" không ngừng, chỉ cần niệm trong miệng, không cần phát ra tiếng, dùng xương chạm vào chỗ bệnh, nam bên trái nữ bên phải, giữ âm "Sát" không ngừng, nhanh chóng chôn xuống đất hoặc chuyển qua thân cây, như vậy là hoàn tất, pháp này có hiệu nghiệm rất thần kỳ.

Bản thân tôi đã biết pháp bí mật này từ lâu, và cũng từng dùng pháp này để chữa bệnh cho người khác. Điều kỳ lạ là pháp này có hiệu quả 100%. Khi pháp này đạt đến mức linh nghiệm nhất, thậm chí có thể mở khóa, điều này nghe còn thần kỳ hơn nữa, thực ra là dùng niệm lực để mở khóa. Hành giả Mật tông quán tưởng một chìa khóa, đặt vào lỗ khóa, miệng trì chú Già Văn Đồ 21 biến, dùng tay đẩy cửa, thầm niệm chữ "Khai", cửa sẽ tự động mở ra, đây là pháp niệm lực mở khóa.

Thông thường khi tu luyện thành công pháp chuyển di, công dụng rất lớn, cả đời không gặp tai họa, không có loại nguyền rủa nào có thể xâm nhập, người khác dùng bùa ngải cũng không hại được, bởi vì hành giả Mật tông có thể chuyển đi chuyển lại, không ai có thể nắm bắt được nguyên thần thật của họ, mà không nắm bắt được nguyên thần thật thì vĩnh viễn không thể hại được họ.

Viết một bài kệ để ghi nhớ pháp này:
*Pháp Già Văn Đồ bệnh hóa cầu vồng
Bảy đại cúng dường là thần công
Đều nhờ niệm lực cùng linh vật
U bướu tiêu tan thành nắng trong.*


### 15. Văn Thù vãng sinh pháp


Đối với vấn đề chay mặn, có rất nhiều người từng đến hỏi tôi, cũng sôi nổi có ý kiến. Có người chủ trương người tu Phật pháp nhất định phải ăn chay, phái ăn chay này tổng kết lại có ba điểm quan trọng:
1. Thịt động vật chính là thịt chúng sinh, ăn thịt là ăn chúng sinh, không từ bi.
2. Thịt động vật mang ý thức độc, ăn vào sẽ làm ô nhiễm tâm thức, cũng sẽ sinh ra dục niệm.
3. Uống rượu ăn thịt là hạt giống của địa ngục, không thể vãng sinh.

Những thứ mặn bao gồm tất cả động vật và thực vật ngũ tân [năm loại cây gia vị], ngũ tân này tức là: tỏi, hành lá, hẹ, hành tím, hành tây. Người học Phật không chỉ bỏ ăn mặn mà còn phải bỏ ăn ngũ tân, bởi vì trong ngũ tân có rất nhiều kích thích tố, thức ăn đó sẽ khiến cho con người không ngừng nổi lửa dâm, ăn sống cũng thế. Có dâm niệm rồi thì càng ngu dốt làm bừa, tạo các nghiệp ác.

Thế nhưng trong các đệ tử Phật cũng có người chủ trương không kiêng kị chay mặn.
Ví dụ Mật tông dùng rượt thịt để cúng Phật, hơn nữa hành giả Mật tông không kiêng chay mặn. Người theo phái này chủ trương như sau:
1. Trong miệng dù ăn thịt, trong tâm không hẳn là ăn thịt. Tuy uống rượu ăn thịt, nhưng tâm thường thanh tịnh.
2. Người ăn chay, ăn cơm ăn rau uống nước, trong đó cũng có vô lượng sinh mệnh, chúng sinh nhỏ bé, cũng khó tránh nghiệp tội.
3. Mật pháp có pháp đặc thù để độ động vật vãng sinh, làm pháp rồi thì tức là từ bi, hồn quy về hồn, thịt quy về thịt.

Rất nhiều đệ tử của tôi hỏi tôi, chủ trương của Lư Sư Tôn thế nào? Tôi đáp: Đây là duyên phận thôi! Cư sĩ tại gia học Phật, đối với những người phải đi làm ăn ở bên ngoài mà muốn hoàn toàn giữ trai giới thật sự là có rất nhiều bất tiện. Trai giới và không trai giới cần phải xem người này phát tâm hay chưa phát tâm, phải xem duyên phận của cá nhân.
Có người phát tâm giữ trai giới, ăn chay cả đời, tôi không phản đối.
Có người chủ trương ăn thịt không hề gì, tôi cũng không phản đối.
Có người khi đến lúc thì sẽ từ từ giảm bớt thịt, trước tiên nhịn ăn thịt bò, sau đó nhịn ăn thịt cừu, cuối cùng ngay cả thịt bình thường cũng không ăn, đây là tự động nhịn ăn, đây cũng là duyên phận.

Trong pháp Yết ma tiếng Pali, có một pháp rất đặc thù, đây là pháp bí mật độ súc sinh vãng sinh của Mật tông. Tôi từng nói, Thượng sư Mật tông ăn cơm chính là Hộ Ma, Thượng sư ăn cơm trước tiên quán tưởng, phàm là thức ăn thể rắn, quán tưởng chúng lớn như núi Tu Di, phàm là thức ăn thể lỏng, quán tưởng chúng sâu như biển lớn. Đây là trên cúng thập phương tam thế chư Phật, dưới cúng từ bi lục đạo chúng sinh. 

Nếu trên bàn có món ăn mặn thì trước tiên tu pháp độ những linh hồn sinh vật này vãng sinh, để không khiến người khác thấy kỳ quái mà đánh giá, hành giả Mật tông có thể không kết thủ ấn, nhưng thủ ấn giải thoát vãng sinh này như sau:


![image](/img/img_05c38e5c2ea12f7aebcbc8e4d916d8e9.png)


Trước tiên trong đầu quán tưởng kết thủ ấn. Quán tưởng kết thủ ấn xong rồi lại quán tưởng trong tim mình có chủng tử chữ Hum phóng ra ánh sáng trắng, chiếu đến thịt súc sinh, hoàn toàn tiêu trừ nghiệp chướng của súc sinh này, khiến chúng thoát khổ được vui. Sau đó tiếp tục quán tưởng thịt này tụ thành một hình, nếu là thịt bò thì thành hình con bò, thịt cừu thành hình con cừu, thịt gà thành hình con gà, thịt cá thành hình con cá, lần lượt gà vịt bò cừu cá đều vì đã được tiêu trừ nghiệp chướng mà linh hồn bay vào không trung, vãng sinh thế giới Cực Lạc.

Lúc này hành giả Mật tông dùng kim cang niệm tụng chú Văn Thù vãng sinh: "Ôm a-pây-la-hùm khan-cha-la sô-ha." Tổng cộng trì chú này 7 biến. Như vậy là hoàn tất tu pháp, có thể cầm đũa mà ăn thịt súc sinh này. 

Tôi biết có một số người ăn chay, ăn chay lâu ngày sẽ coi thường người ăn mặn, tâm lý này bắt nguồn từ tư tưởng "ăn chay vô tội, ăn mặn có tội". Bản thân mình ăn chay sẽ thường chê cười người ăn mặn, như vậy dần dần sẽ sinh tâm ngạo mạn. Vì thế người ăn chay trường, tự mình ăn chay nhưng không được phê bình người khác ăn mặn, đó là để dừng cái tâm ngạo mạn.

Cá nhân tôi không phản đối ăn chay trường, nhưng cũng không phản đối ăn mặn. Thượng sư chân chính có năng lực giết chết động vật, lại có năng lực đưa linh hồn của động vật đã giết chết đến tây phương Cực Lạc thế giới, có một số việc sát sinh là giết mà không vì chính mình, mà là vì cứu người mà giết, như vậy thì không có tội.

Ở New York có một đệ tử làm việc trong bếp của một nhà hàng gửi thư đến kể với tôi, mỗi ngày anh ta phải cắt rất nhiều sinh vật để nấu xào rán, cứ sát sinh không ngừng như vậy thì phải làm sao? Tôi dạy anh ta pháp Văn Thù vãng sinh này, lợi dụng quán tưởng, thủ ấn, chú ngữ để siêu độ những sinh vật này trước rồi sẽ tính tiếp. Đệ tử này ngoài kỹ năng làm việc trong nhà bếp ra thì không thể làm công việc gì khác.

Tuy nhiên, nếu mang tâm tư lợi mà sát sinh thì đó là phạm giới, đây cũng là giới lớn của Mật tông. Sát sinh và không sát sinh, ăn chay và ăn mặn này, đạo lý trong đó đều là sự khác biệt rất nhỏ, giả sử có thể phân biệt được thì cũng xem là có một ngộ cảnh rồi. Ngoài ra, người tu chứng khai ngộ và người chưa tu chứng khai ngộ, giữa hai người này cũng có sự khác biệt, những điều này cũng rất quan trọng.

Viết bài kệ để ghi nhớ bài viết này:
*Sắc thái chay mặn khá hỗn mờ
Ông nói bà nói đều có lý
Nay tôi thuật lại vãng sinh pháp
Độ hóa tất cả đến Tây phương.*


### 16. Pháp Lục Độ Mẫu dễ tương ứng


Lục Cứu Độ Mẫu, trong Mật tông Tây Tạng, là một vị Đại Bồ Tát cứu độ thế gian. Những người tu theo Mật tông Tây Tạng, đặc biệt là nhiều hành giả nữ, đều tu trì pháp Lục Độ Mẫu. Ngài ngự trên tòa sen trắng, theo lời thề gốc của ngài, là hóa thân từ giọt nước mắt bi mẫn của Quan Thế Âm Bồ Tát (Avalokitesvara) khi ngài thương xót chúng sinh, vì vậy ngài là hiện thân của lòng từ bi tột cùng.

Pháp tướng của Lục Độ Mẫu là một mặt hai tay, hai tay đều cầm hoa sen, thân màu ngọc bích, thanh tú tuyệt trần. Chân phải của ngài duỗi xuống, biểu thị sẵn sàng ứng cơ cứu độ chúng sinh, pháp tướng của ngài như người mẹ hiền, luôn sẵn sàng cứu độ con cái của mình. Tay phải của ngài tựa trên đầu gối phải, lòng bàn tay hướng ra ngoài, kết ấn ban nguyện và cầm hoa sen, biểu thị nguyện ước ban tặng hoa sen cho khắp thiên hạ.

Tay trái cầm hoa sen nở rộ, trên đó lại có hai đóa sen, một đóa chưa nở, một đóa nở một nửa, tất cả đều biểu thị sự nương tựa vào lời nguyện của Phật pháp trong ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai. Lục Độ Mẫu đội vương miện Ngũ Phật nhỏ trên đầu, được trang hoàng bằng châu báu, toát lên vẻ cao quý trang nghiêm phi thường, thân tỏa ánh hào quang cầu vồng, đẹp đẽ phi thường.

Trong Mật tông Tây Tạng, Lục Độ Mẫu có 21 hóa thân. Bạch Độ Mẫu và Lục Độ Mẫu được gọi là chị em. Ngài là một vị Đại Bồ Tát đáng được người tu Mật tông tôn kính, là vị dễ thân cận nhất, cũng dễ được tương ứng nhất. Có người cả đời chuyên tu pháp Lục Độ Mẫu và đạt được trí tuệ lớn. Chúng sinh chỉ cần chí thành chí kính niệm danh hiệu của ngài, trì tâm chú Lục Độ Mẫu, tu hành tự nhiên sẽ đắc quả.

Người tu Mật pháp không được quên tứ quy y, mặc giáp hộ thân, tứ vô lượng tâm, đại lễ bái, đại cúng dường, đây là những điều phải làm hoặc tụng niệm trong mỗi lần tu pháp. Sau khi vào mật đàn, làm xong những điều trên, có thể kết thủ ấn, tay phải lòng bàn tay hướng ra ngoài là ấn ban nguyện, tay trái lòng bàn tay hướng vào trong là ấn cầm sen.


![image](/img/img_63877988a14dc74e926f205b21f91621.png)


Khi quán tưởng, trước tiên quán tưởng tòa sen màu trắng, di chuyển đến đỉnh đầu của mình tại Phạn huyệt, phóng tỏa ánh sáng trắng vào khắp thân thể, trừ khử tất cả bệnh tật nghiệp chướng từ vô thủy đến nay, tất cả ma nạn chướng ngại đều được tiêu trừ không còn sót lại, đó chính là ánh sáng trắng của Bổn tôn Lục Độ Mẫu, tiêu trừ hết nghiệp chướng nhiều đời, dù là xuất thế gian hay nhập thế gian, tất cả trí tuệ thần thông, phúc lộc thọ v.v... đều có thể đạt được, tất cả đều thành tựu.

Tiếp đến quán tưởng Lục Độ Mẫu hóa thành một điểm ánh sáng thanh tịnh, từ huyệt đỉnh đầu đi vào, đến tâm của mình (trên hoa sen trong tâm). Cuối cùng quán tưởng Lục Độ Mẫu ngồi trên hoa sen trong tâm mình, bản thân hợp nhất với Bổn tôn, đạt đến ý nghĩa "nhập ngã" hòa nhập, mình trở thành Bổn tôn, nhập vào Tam ma địa của Bổn tôn.

Sau khi quán tưởng xong, tay lần tràng hạt, tụng tâm chú Lục Độ Mẫu: "Ôm ta-rê tu-ta-rê tu-rê sô-ha" 108 biến hoặc càng nhiều càng tốt.

Cuối cùng, dùng pháp minh điểm nội hỏa, khiến Lục Độ Mẫu trong tâm mình phóng ra ánh hào quang cầu vồng, hào quang này được tạo thành từ sự bùng cháy của nội hỏa, đạt đến trạng thái hợp nhất Tam ma địa. Lúc này trong đại định tĩnh tọa, nếu đạt đến cảnh giới hợp nhất, chính là nhập Tam ma địa, đây tức là trở lại biến thành Bổn tôn, tướng đẹp quang minh.

Pháp Lục Độ Mẫu vốn là pháp từ bi nhất, thì ra là pháp dễ tương ứng nhất, bản nguyện của ngài lấy lợi tha làm trọng, vì vậy hai tay đều cầm hoa sen, trong đó có hoa sen chưa nở, nở một nửa và nở toàn bộ, biểu thị rằng ai ai cũng có thể thân cận và tu học pháp này. Nếu tu học theo pháp này, thì lục độ vạn hành, tất cả nhân quả đều được bao hàm trọn vẹn, tất cả Phật pháp thông một là thông tất cả.

Tu trì pháp Lục Độ Mẫu có ba điều thù thắng sau:
1. Chuyển hóa tự tâm, đạt đến tâm từ bi cứu độ thế gian, chuyển thành tâm bồ đề bất sinh bất diệt.
2. Từ đây minh tâm kiến tianh, tịnh độ chính là cõi Thường Tịch Quang.
3. Tất cả phúc huệ thế gian đều có thể thành tựu, trước nương vào tướng mà được phúc báo thế gian, sau lìa tướng mà được tịnh độ xuất thế gian.

Tôi cho rằng, chư Phật Bồ Tát đều phổ độ chúng sinh, tu bất kì pháp nào cũng có công đức như nhau, nhưng nguyện lực của Lục Độ Mẫu là một pháp từ bi đặc biệt. Vị Bồ Tát đại từ bi này, những kẻ làm điều ác (ngoại trừ phản thầy là đại nghịch bất đạo), đều có thể quy y học pháp này, và đều được cứu độ. Nói chung, ngoại trừ kẻ phản bội thầy và những người nghiệp chướng quá nặng không thể cứu độ, những người khác đều được cứu độ, đây chính là nguyện lực của Lục Độ Mẫu.

Người tu pháp Lục Độ Mẫu, cuối cùng sẽ được mật hiệu là Chính Pháp Kim Cang và Thanh Tịnh Kim Cang. Nguyên do là vì đã quán sát các pháp, được tự do tự tại, ban tặng tất cả công đức cho chúng sinh, giúp nhiều người thoát khỏi biển khổ, đạt được an lạc, tu pháp đến cực điểm, tỏa sáng vô cùng đẹp đẽ.

Ở đây còn có một điều bí mật, những ai muốn kiếp sau được xinh đẹp, tu pháp Lục Độ Mẫu sẽ được xinh đẹp. Chúng ta có thể quán tưởng thân vô lượng quang của Lục Độ Mẫu, tướng bạch hào giữa chân mày, đủ bảy màu báu, tỏa ra tám vạn bốn nghìn loại ánh sáng, ngồi trên hoa sen trắng, tay cầm hoa sen đỏ, dung nhan trang nghiêm đẹp đẽ như vậy, thật hiếm có trên đời.

Xin viết một bài kệ:
*Thân xanh như ngọc trong như băng
Nghìn sen tỏa sáng thoảng hương lắng
Pháp thân rạng rỡ đẹp nghiêm trang
Tu pháp này thông ba cõi thăng.*


### 17. Đại Phạm Thiên Vương có bí mật có con


Thái Lan có một vị thần rất nổi tiếng, đứng tại trung tâm thành phố Bangkok, chính là Thần Bốn Mặt. Và vị Thần Bốn Mặt này và vị Phật Bốn Mặt chính là Đại Phạm Thiên Vương.

Chủ ý của Đại Phạm Thiên là thanh tịnh, ngài là chủ thần trong Bà-la-môn giáo, cũng là chúa tể sáng tạo ra trời đất. Trong Phật giáo, Đại Phạm Thiên Vương này chính là thiên chủ của cõi Sơ thiền Sắc giới thiên. Thần Bốn Mặt của Thái Lan nổi tiếng thiên hạ, thật ra cũng chính là Đại Phạm Thiên Vương nổi tiếng thiên hạ.

Đệ tử của tôi là cư sĩ Lâm Trung Bôi đi Thái Lan cũng đặc biệt thỉnh về một bức pháp tướng của vị Đại Phạm Thiên Vương này, thờ cúng ở trong mật đàn của tôi. Nói chung, Đại Phạm Thiên là chủ của thiên giới, có thể nói là cha của chúng sinh, khi vị trời này vui, thế giới loài người sẽ cực kì yên ổn, khi vị trời này tức giận, thế giới sẽ có rối loạn, chúng sinh cũng sẽ không yên. Nghe nói Đại Phạm Thiên Vương lúc vui lúc giận chi phối những biến động và tai nạn lớn của đời người.

Trong kinh Đại Nhật có ghi chép pháp tướng của ngài là: "Đại Phạm Thiên Vương đội mũ miện, ngồi trên bảy cỗ xe, bốn mặt bốn tay. Tay phải thứ nhất cầm hoa sen, tay phải thứ hai cầm chuỗi hạt, tay trái thứ nhất cầm gậy, tay trái thứ hai làm ấn chữ Om (tức là ấn cát tường)."

Nhưng hình tượng của vị Phật Bốn Mặt của Thái Lan là bốn mặt tám tay, pháp tọa cũng hơi khác. Vị mà tôi thờ cúng trong nhà ngồi trên pháp đài, một chân buông xuống, còn pháp tọa của Phật Bốn Mặt thì cũng có khi là cưỡi voi, không cố định giống nhau.

Trong pháp Yết ma bằng tiếng Pali, tôi đọc được một bí mật, điều bí mật này là: "Chúng sinh vốn được hóa sinh ra từ một ý nghĩ một hơi thở của Đại Phạm Thiên Vương, ngài là cha của chúng sinh, vì thế, phàm là người cầu con trai con gái, phải tu trì pháp của Đại Phạm Thiên Vương, trì chân ngôn Đại Phạm Thiên Vương, quán tưởng Đại Phạm Thiên Vương, kết thủ ấn Đại Phạm Thiên Vương thì sẽ có được con."

Theo như tôi biết, Đại Phạm Thiên Vương có 15 vị quỷ vương, chuyên môn hộ trì pháp này, danh xưng của các vị đó như sau: 1. Di Thù Ca Quỷ; 2. Di Già Vương Quỷ; 3. Khiên Đà Quỷ; 4. A Ba Tất Ma La Quỷ; 5. Ma Chí Ca Quỷ;  6. Ma Tri Ca Quỷ; 7. Diêm Mê Ca Quỷ; 8. Ca Mê Ni Quỷ; 9. Ly Bà Địa Quỷ; 10. Phú Đa Na Quỷ; 11. Man Đa Nan Đề Quỷ; 12. Xá Cửu Ni Quỷ; 13. Kiến Thứ Ba Ni Quỷ; 14. Mục Khư Man Đồ Quỷ; 15. Lam Ba Quỷ.

Tu trì pháp này cần thờ cúng Đại Phạm Thiên Vương, và viết tên của 15 vị quỷ vương ở xung quanh Đại Phạm Thiên Vương, dâng lên món ăn ngon, hoa thơm tươi đẹp, đèn quang minh và sữa để cúng dường.
Trong đó, người cầu con phải cúng hạt cải.

Tu pháp như sau:
Tu trì pháp này tốt nhất là vào giờ Tý ngày 15 tháng 8 âm lịch hoặc ngày 15 của các tháng âm lịch khác. Phụ nữ phải tắm gội thay quần áo, dâng lên tất cả cúng dường, lễ bái Đại Phạm Thiên Vương, xưng niệm tên của Đại Phạm Thiên Vương 15 vị quỷ vương, mỗi vị xưng 3 lần. Người tu trì nhập đàn, tay kết ấn Đại Phạm Thiên Vương. 

Ấn Đại Phạm Thiên Vương là:


![image](/img/img_e81e514626c7aaa6892ebcf9c69ec0e2.png)


Tức là tay trái ngón cái và ngón trỏ làm thành vòng tròn, các ngón tay khác thì giơ thẳng, giữ thủ ấn cao hơn vai mình. Tay phải cầm vài hạt cải để lên đỉnh đầu mình ở trong tóc.

Lúc này lập tức quán tưởng pháp tướng của Đại Phạm Thiên Vương, tướng mạo trang nghiêm như Phật, mỗi tay trái phải đều cầm pháp khí, biểu thị dựa theo pháp của ngài có thể đắc thành tựu viên mãn, có thể được như ý nguyện.

Lại quán tưởng tim của Đại Phạm Thiên Vương phóng ra ánh sáng màu lam rất mạnh chiếu vào những hạt cải, hạt cải biến thành một bé trai hoặc bé gái mà mình kỳ vọng. Và bé trai hoặc bé gái này hóa thành ánh sáng màu lam, lại đi đến trên hạt cải trên đỉnh đầu mình, từ lỗ đỉnh đầu đi vào trong thân thể mình. Quán tưởng này cực kì quan trọng.

Quán tưởng xong xuôi thì lập tức thôi kết thủ ấn, niệm: "Tan-chi-tha. A-ka-lua. Ka-ninh-na. Ka-ka-ninh. Bô-lâu-li-chư-li. Ka-bô-li. Bô-li-bô-li. Pu-li-pu-li. Lua-cha-mi. Xiêu-lua-pi. Chưa-lua-pi. Bô-thua-ni. Sha-ni. Bô-lua-hưa. Na-yi. Mi-na-yi. Sô-ha." Niệm chú này 49 biến.

Tu trì pháp này, nam nữ không có con cầu con thì đều được như ý nguyện.

Thật ra Đại Phạm Thiên Vương cũng là một vị thiên thần mãn nguyện tài phúc, một người có thể giành được sự yêu thích của Đại Phạm Thiên Vương thì chắc chắn sẽ được Đại Phạm Thiên Vương ban phúc, may mắn cũng sẽ lớn giống như của cõi trời.

Phật Bốn Mặt Đại Phạm Thiên Vương của Thái Lan nổi tiếng thế giới, chủ yếu nằm ở linh cảm của ngài. Như hiện tại, thành phố sòng bài Las Vegas ở Mỹ có một sòng bài đặc biệt đặt một vị Đại Phạm Thiên Vương Bốn Mặt đến đến trấn thủ cổng chính của sòng bài, cho rằng Đại Phạm Thiên Vương có thể ban may mắn cho họ.

Thế nhưng đó là sự vô tri của con người thế tục, sòng bài thờ phụng Đại Phạm Thiên Vương, giả sử Đại Phạm Thiên Vương tức giận thì Las Vegas kia coi như xong rồi. Người thế tục không cách nào hiểu được mục đích của Đại Phạm Thiên Vương - thiên chủ của Sơ thiền này.

Để tôi viết một bài kệ tặng Đại Phạm Thiên Vương:
*Phạm Vương Bốn Mặt ở Thái Lan
Sơ thiền thiên chủ pháp thành tựu
Tiên cảnh mỹ cảnh người vui sướng
Có pháp cầu con khỏi buồn phiền.*


### 18. Phật Thích Ca Mâu Ni là Bổn tôn tiêu nghiệp


Phật Thích Ca Mâu Ni là giáo chủ của Phật giáo. Bốn chữ "Thích Ca Mâu Ni" có nghĩa là bậc thánh sinh ra trong dòng họ Thích Ca, ngài đản sinh vào ngày mồng 8 tháng 4 dưới cây Vô Ưu trong vườn Lâm Tỳ Ni.

Phật Thích Ca Mâu Ni, tên là Tất Đạt Đa [Siddhartha]. Khi thành đạo ngài 35 tuổi, trước tiên độ cho năm anh em Kiều Trần Như, sau đó độ cho ba anh em Ca Diếp, rồi tiếp tục độ cho nhiều vị quốc vương và đệ tử khác. Ngài thường qua lại thuyết pháp giữa các nước Ma Kiệt Đà, Câu Tát La và Tỳ Xá Ly. Vào khoảng 80 tuổi, ngài nhập Niết bàn dưới hai cây sa la bên bờ sông Bạt Đề.

Trong Yết Ma pháp bằng tiếng Pali, tôi được biết Phật Thích Ca Mâu Ni vốn là vị Vua Công Đức Bạc Già Phạm Ứng Chính Đẳng Giác, tức là giáo chủ của thế giới Ta Bà. Trong Mật pháp, Phật Thích Ca Mâu Ni lại chính là Bổn tôn sám hối tội chướng tiêu nghiệp chướng, đây là điều bí mật mà nhiều đệ tử Phật môn không biết.

Có rất nhiều người xuất gia và đệ tử Phật môn biết nhiều phương pháp tiêu nghiệp chướng, nhưng họ không biết rằng thần chú của Phật Thích Ca Mâu Ni lại chính là bí mật lớn để tiêu trừ nghiệp tội cực nặng. Phần lớn đệ tử chỉ biết giáo chủ Phật giáo khi còn tại thế đã truyền lại Phật pháp kết tập thành mười hai bộ Tam Tạng kinh điển, là kho tàng văn hóa phương Đông, mà không biết đến bí mật lớn này.

Phật Thích Ca Mâu Ni, trong hai bộ mandala của Mật giáo, ở Thai Tạng Giới lấy Thích Ca Mâu Ni làm chủ tôn, còn ở Kim Cương Giới thì đứng cùng với Bất Không Thành Tựu Phật. Theo "Kinh Đại Nhật" có viết: "Thích Ca Mâu Ni, toàn thân màu vàng ròng, đầy đủ hào quang của ba mươi hai tướng tốt, khoác cà sa màu kiền-đà, ngồi trên hoa sen trắng, Ứng thân thuyết pháp."

Trong Yết Ma pháp bằng tiếng Pali, tôi được biết Phật Thích Ca Mâu Ni có rất nhiều pháp bí mật, trong đó bí mật lớn nhất chính là tiêu nghiệp chướng. Có rất nhiều người hỏi tôi phương pháp nào tiêu nghiệp chướng tốt nhất, vì có quá nhiều pháp tiêu nghiệp chướng nên rất khó trả lời ngay được, thế nên tôi đành trả lời thẳng là tu pháp Thích Ca Mâu Ni Công Đức Vương!

Pháp này, tôi xin trình bày chi tiết như sau: 

Hai tay kết ấn Phật Thích Ca Mâu Ni: Ngón cái, ngón giữa và ngón út dựng thẳng lên trên không. Ngón trỏ và ngón áp út cong vào lòng bàn tay, hai tay chắp lại.


![image](/img/img_2778373c19bfd1af335ba0c7a0c8442a.png)


Vào đàn, ngồi yên kết ấn quán tưởng. Phật Thích Ca Mâu Ni ngự tại chính giữa phía trước, thân sắc vàng ròng, tay phải ấn đất, tay trái kết định ấn, trên định ấn nâng bát chứa đầy cam lộ, thân khoác tam y của người xuất gia, tướng mạo viên mãn trang nghiêm, hào quang trong suốt, thân thể như lưu ly, ngồi trên tòa sen trắng trong ánh sáng cát tường nhập định.

Lúc này quán tưởng nước cam lộ trong bát cam lộ hóa thành một luồng ánh sáng trắng, bay lên không trung, tạo thành một vòng cung rồi hạ xuống nơi mình đang tĩnh tọa, ánh sáng trắng từ đỉnh đầu rót vào, khiến mình ngồi yên trong vùng ánh sáng trắng bao phủ.

Do được ánh sáng trắng quán đảnh, nghiệp chướng màu đen từ khắp thân thể tuôn ra, tan biến vào không khí, quán tưởng như vậy có thể tiêu trừ tội chướng của vạn kiếp trong quá khứ.

Kết thúc quán tưởng. Sau đó trì tụng đại chân ngôn tiêu nghiệp của Phật Thích Ca Mâu Ni 108 biến.

Chân ngôn như sau: "Na-mô na-ta-la-sư-chi-ni. Ta-tha-ưa-tô-yê. A-la-hưa-ti san-meo-chi san-mây-thua-yê. Ta-ninh-tha. Ôm la-ta-ni la-ta-ni. Su-la-ta-ni. La-ta-nu-na pô-wây-mô-hưa. La-ta-na chư-la-ni. La-ta-na san-pô-wây. Sô-ha."

Mỗi khi tu pháp này, tụng 49 biến hoặc 108 biến. Tu pháp như vậy có thể tiêu trừ tội chướng của vạn kiếp.

Ngoài ra, có nhiều người thích nhờ tôi xem nhân quả ba đời, muốn hỏi để biết rõ về tiền kiếp của mình. Tuy nhiên, tôi xin nói với mọi người rằng, người tu trì pháp Thích Ca Mâu Ni Công Đức Vương này, chẳng bao lâu có thể đạt được túc mệnh thông, những tiền kiếp của mình sẽ hiện ra rõ ràng trước mắt, như xem phim vậy, lập tức hiểu rõ nhân quả tiền kiếp, nhờ tu pháp này mà tiền kiếp của mình sẽ sáng tỏ.

Chúng ta là đệ tử Phật, hiểu về Phật Thích Ca Mâu Ni như sau: "Phật hiệu còn có Nhân Tịch Mặc, là thái tử của nước Ca Tỳ La Vệ [Kapilvastu] thời Ấn Độ cổ đại, phụ thân tên là Tịnh Phạn [Śuddhodana], mẫu thân tên là Ma Da [Maya Devi], vì cầu chân đạo mà xuất gia. Ngài đản sinh vào năm 623 trước Công Nguyên, xuất gia năm 29 tuổi, thành đạo năm 35 tuổi, thuyết pháp khoảng 45 năm, giảng kinh hơn 300 hội, độ vô số trời người, nhập diệt khoảng năm 543 trước Công Nguyên, thọ 80 tuổi."

Người xuất gia ngày nay, do đã từ bỏ gia đình thế tục nên đã bước vào nhà của Pháp Vương, từ bỏ họ tục để mang họ Thích của Đức Thế Tôn. Đây là điều mà pháp sư Đạo An thời nhà Tấn đã đề xướng, và trong "Kinh A Hàm" cũng có nói: "Bốn dòng sông đổ về biển, không còn tên sông nữa; bốn họ xuất gia, đều gọi là dòng họ Thích." Đây chính là lý do vì sao đệ tử của Phật Thích Ca đều đổi sang họ Thích.

Điểm trọng yếu của pháp này nằm ở ánh sáng trắng của nước cam lộ, tương đương với sự quán đảnh của Phật Thích Ca Mâu Ni. Dùng ý nghĩa tối thượng của Phật quả, từ đỉnh đầu đi vào thân mình, có thể khiến công đức trở thành viên mãn. Đây đương nhiên là pháp bí mật tiêu trừ nghiệp chướng lớn nhất.

Tôi viết bài kệ:
*Nghiệp chướng còn vương kiếp hiện tiền
Khiến lòng nhân thế lạnh như băng
Dạy tu Mật pháp Thích Ca Phật
Nguyện ước luân hồi thảy viên thành.*


### 19. Pháp chân ngôn Nhân Vương hộ quốc


Khi tôi còn ở trong nước, Thượng sư của tôi từng chủ trì pháp hội Nhân Vương hộ quốc tiêu tai, và tôi đã từng ở bên cạnh phụ giúp. Thượng sư của tôi phụ trách bộ Mật đàn, nên tôi hiểu rất rõ về pháp này.

Thượng sư nói: "Pháp hội Nhân Vương hộ quốc tiêu tai là Mật pháp của Phật pháp để hộ trì quốc độ. Bởi kinh Phật có dạy rằng, nếu đời sau có các quốc vương kiến lập chính pháp, hộ trì Tam Bảo, tu pháp hội Nhân Vương hộ quốc tiêu tai, thì Pháp Vương sẽ khiến năm phương Bồ Tát - tức là Đông phương Kim Cang Thủ Bồ Tát, Nam phương Kim Cang Bảo Bồ Tát, Tây phương Kim Cang Lợi Bồ Tát, Bắc phương Kim Cang Dược Xoa Bồ Tát, Trung ương Kim Cang Ba La Mật Đa Bồ Tát - giáng lâm hộ trì quốc độ, khiến tất cả tai nạn đều xa lìa."

Thượng sư lại nói: "Ban đầu, vào thời nhà Đường, Bất Không Tam Tạng tụng chân ngôn Nhân Vương hộ quốc, từng khiến người đương thời nhìn thấy Tỳ Sa Môn Thiên Vương dẫn đầu thiên binh giáng hạ. Vào thời đó, hoàng đế đã hạ lệnh, trên mỗi tòa thành lầu đều thờ phụng pháp tướng của Thiên Vương, dạy người dân dâng hương lễ bái."

Thượng sư lúc đó bảo tôi: "Pháp này là đại pháp hộ thế, khi quán tưởng, cần biến thân mình thành Kim Cang Ba La Mật Đa Bồ Tát, ngồi trên hoa sen trắng, thân màu vàng kim, các chuỗi dây đeo quý báu trang nghiêm khắp thân, đầu đội mũ báu Ngũ Phật, ấn tướng là hai lòng bàn tay đối nhau, hai ngón út co vào lòng bàn tay, hai ngón cái mỗi bên đè lên hai ngón trỏ thành vòng tròn. Thủ ấn đặt trước ngực."


![image](/img/img_aaec7cb8763b9d9f86a9d4fc00df982b.png)


Khi đã biến thân mình thành Kim Cang Ba La Mật Đa Bồ Tát, liền triệu thỉnh ngũ phương Bồ Tát giáng lâm. Trước đàn, đặt bản đồ quốc gia, năm vị Bồ Tát hóa thành năm đám mây ngũ sắc, bảo hộ quốc độ, phương Đông là mây xanh, phương Nam là mây đỏ, phương Tây là mây trắng, phương Bắc là mây đen, trung ương là mây vàng, năm đám mây cát tường này bảo hộ trên toàn bộ lãnh thổ quốc gia." Thủ ấn và quán tưởng được thực hiện đồng thời. Khi xả ấn thì tụng chân ngôn Nhân Vương hộ quốc:

"Na-mô la-ta-na ta-la-yê-yê. Na-mô a-li-yê phây-lu-chưa-na-yê. Ta-tha-pua-tô-yê a-la-hưa-tưa. San-meo-san-mây-thua-yê. Na-mô a-li-yê. San-man-tô pa-la-na-yê. Mu-tơ sa-ta-pô-yê. Mô-hưa-sa ta-pô-yê. Mô-hưa-ka-lu-ni-ka-yê. Ta-ni-yê-tha. Chư-rang-na pô-la-ni-bi. Ưa-cha-yê-chuy-sư. Pô-la-ti pô-na-pô-ti. Sa-pô mây-thua pô-lu-chư-tơ. Uy-ua pa-li-ni sư-pa-ninh. Zen-pi-la nu-la-pô-ưa-xi. Ti-li yê-thưa-pô. Pa-li-ni sư-pa-ninh. Mu-tơ-chư-tua san-rưa-na-ni. Sa-pô-pi sai-ka bi-sưa-chi-tơ. Ta-mô sua-ưa-la san-pu-tơ. A-mu-ka sư-la-pô-ninh. Mô-hưa san-man-tô pa-na-la-pu-mi. Niê-li-yê-tơ. Wây-yê-chê-la-nu. Pa-li-pô la-pô-ni. Sa-pô-xi-thua. Na-mô sai-chi-li-ti. Sa-pô-mu-tơ sa-ta-pô. San-rưa-na-ni. Pô-ưa pô-tơ. Mây-thua-mơ-tơ. A-la-nai ka-la-nai. A-la-nu ka-lai-nai. Mô-hưa-pô-la. Chư-rang. Pô-la-mi-tơ sô-ha."

Theo cách thực hành pháp này, tất cả nghi quỹ đều trang nghiêm long trọng. Vị Thượng sư hành pháp trước khi thực hiện cần tắm rửa thay y phục, mặc pháp y mới, và phải ăn chay giữ giới bảy ngày. Nghiêm khắc hơn nữa, toàn quốc đều phải ăn chay một tuần. Tâm của Thượng sư là khởi tâm đại bi nguyện độ thoát vô biên chúng sinh.

Đặc biệt các vật phẩm cúng dường phải thanh tịnh thơm tho. Trước tiên tụng "Nhân Vương Hộ Quốc Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh", sau đó kết thủ ấn quán tưởng, cuối cùng mới trì chân ngôn. Chân ngôn phải tụng 108 biến.

Thượng sư của tôi đặc biệt dặn dò như sau: Mật đàn của pháp hội Nhân Vương hộ quốc tiêu tai, ngoài việc thờ phụng Kim Cang Ba La Mật Bồ Tát ở chính giữa, bên trái phải thờ Đế Thích Thiên (Ngọc Hoàng Đại Đế), bên phải là Phạm Ma Thiên. Ngoài ra ở bốn mặt, phối cúng mười sáu vị thiện thần.

Tên của mười sáu vị thiện thần là: Trì Quốc Thiên Vương, Tăng Trưởng Thiên Vương, Tồi Phục Độc Hại Thiện Thần, Tăng Ích Thiện Thần, Sư Tử Uy Mãnh Thiện Thần, Dũng Mãnh Tâm Địa Thiện Thần, Nhiếp Phục Chư Ma Thiện Thần, Năng Cứu Chư Hữu Thiện Thần, Ly Nhất Thiết Bố Úy Thiện Thần, Cứu Hộ Nhất Thiết Thiện Thần, Tỳ Sa Môn Thiên Vương, Quảng Mục Thiên Vương, Bạt Trừ Tội Khổ Thiện Thần, Năng Nhẫn Thiện Thần, Hoan Hỷ Thiện Thần, Trừ Nhất Thiết Chướng Nạn Thiện Thần.

Điểm trọng yếu thứ nhất của pháp này là thường tu kết hợp cả Hiển và Mật. Về phần Hiển giáo là tụng đọc "Kinh Nhân Vương Hộ Quốc Bát Nhã Ba La Mật Đa", còn phần Mật giáo thì cần quán tưởng quốc thổ cùng với năm đám mây cát tường, đồng thời kết ấn Nhân Vương hộ quốc. Có thể thỉnh 108 vị pháp sư Hiển giáo, còn Thượng sư Mật giáo thì ba vị hoặc năm đến bảy vị.

Điểm trọng yếu thứ hai là pháp này thường được tu tập theo nhóm, hiếm khi tu một mình. Khi trì chú, cần chú ý những chỗ cần nhấn mạnh, phải tụng với âm cao ở những chỗ cần nhấn mạnh như "chống ngoại xâm", "phát ra sấm sét". Còn những chỗ cần tụng trầm thì phải tụng với âm thấp như "tiêu tai giải nạn", "hóa thành bình an".

Pháp Đại Du Già trong Mật pháp không chỉ tu tập phước báu nhỏ nhoi cho cá nhân, mà là để đạt được đại tự tại, vượt thoát sông sinh tử. Không những thế, còn có thể cứu quốc độ dân, nhiếp hóa chúng sinh trong cõi Ta Bà. Đại Mật pháp vô thượng như vậy mới thực sự là báu vật kim cương, mới chính là đại bi nguyện cứu quốc độ dân.

Để tôi viết thêm một bài kệ:
*Thập lục thiện thần hộ thánh thành
Kim Cang Ba La độ nhân gian
Pháp này đại mật hợp chúng lực
Núi sông lãnh thổ thề trả hoàn.*


### 20. Dược Xoa Đại Tướng ẩn thiên nhãn


Trong Yết ma pháp bí mật, có một phương pháp chuyên tu luyện thiên nhãn thông, đây là một pháp môn vô cùng giá trị, được gọi là pháp thần thông thiên nhãn của Dược Xoa Đại Tướng. Trước đây, nhiều người đã hỏi tôi làm thế nào để tu luyện thiên nhãn thông? Tôi chưa từng chính thức trả lời, hôm nay gặp được nhân duyên lớn, tôi sẽ công khai hoàn toàn pháp môn bí mật này trong cuốn sách này.

Theo đó, có mười hai vị Dược Xoa Đại Tướng, là những vị Yết ma thần được hóa hiện để đáp ứng mười hai đại nguyện của Dược Sư Như Lai. Mười hai vị Yết ma thần này có pháp lực thần thông không thể nghĩ bàn, và lời thề nguyện năm xưa là:

"Bạch Thế Tôn, chúng con nay nhờ oai lực của Phật Đà, được nghe danh hiệu Dược Sư Như Lai, không còn sợ hãi đường ác. Chúng con cùng nhau, đồng một tâm nguyện, cho đến trọn đời, quy y Tam Bảo, thề nguyện gánh vác tất cả chúng sinh, tạo lợi ích an vui."

Các đệ tử Phật thông thường đều biết rằng mười hai vị Dược Sư Thần Tướng là những vị hộ pháp thần của mười hai thời trong ngày đêm, trên đầu đội mũ mười hai chi, là những vị thần tướng cứu độ nhân gian. Nhưng tôi lại biết rằng, Dược Xoa Đại Tướng tuần du thiên hạ, thần thông biến hóa vô cùng to lớn, đặc biệt người tu thiên nhãn thông cần phải biết bản địa của Dược Xoa Đại Tướng chính là mười hai vị Đại Bồ Tát, tu thiên nhãn theo cách này dễ thành tựu nhất.

Muốn tu pháp này, cần phải cúng dường tượng Dược Xoa Đại Tướng, không cần phải cúng dường cả mười hai vị, chỉ cần cúng một vị, tay cầm pháp khí là mâu thương. Trước tượng Dược Xoa Đại Tướng này, thiết lập đàn tràng vuông vức, trên đàn cúng bốn bình mật ong, cùng với các cúng phẩm như hương thoa, hương bột, hương đốt và các phẩm vật khác.

Ở phía trước đàn vuông bốn hướng, đặt thêm một lò Hộ Ma, trong lò đặt than củi, đốt các loại hương liệu danh tiếng trong đó, rồi lại bỏ hạt cải vào lò đốt để cúng dường.

Khi ngồi thiền quán tưởng, tay phải kết ấn Dược Xoa Đại Tướng: Tay phải nắm lại thành quyền, ngón cái cong vào lòng bàn tay, bị ngón giữa, ngón áp út và ngón út đè lên, còn ngón trỏ thì uốn cong như móc câu, đây chính là thủ ấn của Dược Xoa Đại Tướng.


![image](/img/img_b6ee58286538fc4b18ca1246a6a23d71.png)


Sau khi kết thủ ấn thì quán tưởng, mâu thương mà Dược Xoa Thần Tướng cầm trong tay phóng ra một đạo hào quang trắng, lấp lánh như rắn, chớp như điện quang, chiếu thẳng vào con mắt thứ ba của mình, tức là vị trí thiên tâm. Đạo hào quang này lóe sáng liên tiếp mười hai lần, mỗi lần đều như tia chớp xuyên vào con mắt thứ ba của mình.

Ý nghĩa của sự quán tưởng này là dùng pháp khí mâu thương để khai mở con mắt thứ ba của mình, đây chính là pháp khai thiên nhãn.

Sau khi quán tưởng như vậy xong, liền tụng chú:
"Na-mô put-ta-yê. Na-mô ta-mô-yê. Na-mô sâng-kya-yê. Na-mô pa-la-han mô-yê. Na-mô yin-ta-la-yê. Na-mô chưa-chu-nan. Mô-hưa-la-tu-nan. Ta-chư-tha. Sư-li-sư-li. Mi-li mi-li chi-li. Mô-hưa-chi-li. Chien-thua-li. Mô-hưa chien-thua-li ta-lua-mi-chư. Mô-hưa ta-lua-mi-chư. Tan-thu chuy-choen-ti. Ha-ha-ha-ha-ha. Sư-sư-sư-sư-sư. Hu-hu-hu-hu-hu. Han-luy-tan-mi chuy-than-mi. Chưa-chưa-chưa-chưa. Chư-chư-chư-chư. Chu-chu-chu-chu. Chan-thu-sưa-pô-lua. Sư-chê-la. Sư-chê-la. Wa-ti-sưa-tha-sư. Pao-ka-fan sâng-sân-ơ-yê. Sô-ha."

Trì tụng thần chú này 108 biến, mỗi lần tụng xong một biến trước lò Hộ Ma thì đốt một hạt cải, tụng đủ 108 biến thì đốt 108 hạt cải.

Pháp này có cách tu tập bao gồm cúng dường nước và cúng dường lửa. Về cúng dường lửa Hộ Ma, cần phải có Thượng sư chân chính hướng dẫn vì nghi thức Hộ Ma khá phức tạp. Nếu có thể thành tâm kiên trì tu trì pháp này, cho đến khi Dược Xoa Đại Tướng hiện thân. Bất kể Ngài hiện thân như thế nào, Dược Xoa Đại Tướng đều sẽ hỏi hành giả Mật tông: "Ngươi cần gì?". Hành giả Mật tông không nên cầu xin điều gì khác, chỉ cầu xin con mắt thứ ba là đủ. Dược Xoa Đại Tướng sẽ đưa tay xoa nhẹ thiên tâm của bạn, bạn sẽ đột nhiên cảm thấy có một tia sáng như điện chiếu vào, lúc đó là đã thành tựu con mắt thứ ba.

Nếu thiên nhãn đã khai mở, sẽ vô cùng lợi ích cho việc tu tập về sau, vì có thể thấy được những điều người khác không thể thấy. Thấy được tất cả quỷ thần, biết được mọi cử chỉ hành động của người khác, không việc gì có thể giấu được thiên nhãn. Khi tu thiên nhãn đến mức vi diệu nhất, có thể thấy được tất cả thiên cung, thậm chí cả những cảnh tuyệt diệu của Tây phương Cực Lạc thế giới đều thu vào tầm mắt.

Hành giả Mật tông khi đắc thiên nhãn, có thể nói là tự tại vô ngại, đoạn trừ phiền não của thế gian, đã được giải thoát, đạt đại thành tựu, bởi vì đã có được con mắt sáng suốt, tất cả đều rõ ràng minh bạch.

Khi viết bộ Yết ma pháp này, tôi đã nhận được sự ủng hộ lớn lao từ chư Phật Bồ Tát, đây là một nhân duyên lớn để Bạch Liên Hoa Đồng Tử cứu độ thế gian, có thể nói là đã gieo trồng một thiện căn to lớn như vậy cho chúng sinh hữu tình nơi trăm nghìn cõi Phật. Trong tất cả Mật pháp mà tôi giảng dạy đều không rời ba pháp "Ấn - Chú - Quán", nhưng điều quan trọng hơn là người tu phải thực hành để chứng đắc. Tất cả các pháp đều cần có lòng kiên trì, tất cả các pháp đều cần có Thượng sư chỉ dạy, từng bước thấu hiểu, từng bước hành trì theo nghi quỹ. Tu tập như vậy, chắc chắn sẽ có chư Phật Bồ Tát và Dược Xoa Minh Vương hiện thân, có thể đạt được thần thông tự tại giải thoát.

Yếu nghĩa của Mật pháp này không rời ba điểm chính:
Thứ nhất, phải hiểu rõ nghi thức và nghi quỹ cung thỉnh.
Thứ hai, phải hiểu rõ mục đích tu pháp là để chấm dứt sinh tử.
Thứ ba, phải hiểu rõ có những lợi ích gì, tập trung vào một mục tiêu.

Tôi viết kệ rằng:
*Dược Xoa Đại Tướng được lưu ly
Thiên nhãn chiếu hiện Yết ma kỳ
Tu pháp tại điện hoa rực rỡ
Sớm tối hiện thân đến hỏi thăm.*


### 21. Bí quyết của pháp hàng phục


Trong pháp Yết ma văn bản tiếng Pali có giải thích tỉ mỉ kĩ càng rất nhiều bí quyết của pháp hàng phục, nhưng tôi đã ngẫm nghĩ rất lâu rất lâu, những pháp hàng phục này thật sự không tiện công khai trên sách. Pháp hàng phục này tôi chỉ truyền dạy cho Kim cương Thượng sư của Chân Phật Tông, các đệ tử quy y khác chưa đạt đến cảnh giới của Thượng sư thì không tiện học, cũng không tiện truyền.

Hiện nay, Chân Phật Tông đã có nhiều vị Kim cương Thượng sư đứng ra truyền pháp, tương lai Thượng sư Chân Phật Tông sẽ càng nhiều, sẽ có trên 200 vị Kim cương Thượng sư. Các vị Kim cương Thượng sư này là do tôi - Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư, trao chứng thư Acharya, ở bên ngoài đảm đương trọng trách truyền pháp. 

Do e sợ pháp hàng phục bị lưu manh lợi dụng, cho nên tôi không tiện truyền ra ngoài, nhưng trong bản văn này, tôi giới thiệu sơ lược một chút: "Pháp hàng phục, hành giả quay mặt về hướng Nam, còn Kim Cang Thần quay mặt về hướng Bắc. Thân ấn thông thường là chân phải đứng thẳng, chân trái hơi cong, chân phải đại diện cho chính mình, chân trái tượng trưng cho đối phương. Còn thân ấn thứ hai chính là dùng chân phải dẫm lên chân trái, thế ngồi xổm, quán tưởng chân phải là chính mình, quán tưởng chân trái là đối phương."

Ở trước tượng Bổn tôn Kim Cang Thần, thiết lập đàn thành hình tam giác nhọn, mặc pháp y màu xanh đen, dâng hoa quả màu xanh đen. Người tu pháp dùng tướng phẫn nộ để tu pháp, tức là môi dưới bặm lên môi trên, mắt liếc xéo và giương uy phẫn nộ, tu pháp từ ngày 24 cho đến cuối tháng, mỗi kỳ tu là bảy ngày. Tu pháp hàng phục thật ra không phải là hại người, mà là hàng phục độc long ác thú và hạng người xấu thầy xấu, rồi sau khi những người này hàng phục rồi, Thượng sư Mật tông lại tu pháp tiêu tai. 
Chú âm của pháp hàng phục là âm phá hoại "Hùm. Pan. Cha."

Tôi giới thiệu một loại thủ ấn nhập đàn như sau, đây là ấn hàng phục thôi phục.


![image](/img/img_c39b4c415456f68f20ef9593f658f98d.png)


Tay trái túm vào mép áo cà sa, tay phải đè lên mặt đất, đây là ấn hàng phục thôi phục, còn gọi là xúc địa kỳ khắc ấn, đây là một thủ ấn bí mật mà năm xưa Phật Thích Ca Mâu Ni dùng để hàng phục ba nữ thiên ma.

Quán tưởng pháp này là khi tay trái túm vào áo cà sa, tay trái túm vào áo cà sa tức là đại diện cho pháp chỉ quyền uy, còn tay phải duỗi năm ngón tay, hành giả Mật tông quán tưởng đối phương bị niệm lực nhiếp triệu đến trước mặt, sau đó thu nhỏ đối phương lại thành người tí hon, nhỏ như cây đinh dài ba đốt ngón tay, nằm bên dưới lòng bàn tay ở trước pháp đàn. Hành giả Mật tông đối diện với đối phương bằng vẻ mặt phẫn nộ, sau đó dùng sức mạnh vỗ bàn tay phải xuống, giống như là đập đối phương đã bị lôi đến trước mặt cho đến chết. Năm xưa Phật Thích Ca Mâu Ni đã dùng xúc địa kỳ khắc ấn để mà đập như vậy, tức là đã đập cho ba nữ thiên ma ngã lăn ra đất không dậy nổi, không bò nổi. 

Bí quyết của pháp hàng phục có ba:
1. Chú âm. Từng chữ của chú âm đều là âm thanh phá hoại, người niệm phải dùng tâm phẫn nộ để niệm tụng, phải giống như cuồng phong bão táp, vừa nhanh vừa tức giận, gây chấn động. Âm thanh phải là bán âm, tức là vừa nhanh vừa sắc, như là "Hùm hùm hùm. Pan pan pan. Cha cha cha. Uân uân uân". Tôi không truyền toàn bộ câu chú, đợi đệ tử Chân Phật tu trì đến cảnh giới Thượng sư thì tôi sẽ truyền toàn bộ câu chú.

2. Quán tưởng. Quán tưởng của pháp hàng phục, đầu tiên là biến chính mình thành Kim Cang Thần Tướng. Thứ hai là nhiếp triệu đối phương đến trước mặt mình, biến đối phương thành người tí hon như cây đinh dài ba đốt ngón tay. Thứ ba mới là dùng pháp để khắc phục họ. Quán tưởng này đều là dùng niệm lực để làm. Chính mình là Bổn tôn Kim cang, nhiếp triệu đối phương đến, một bàn tay đập cho đối phương bị thương hoặc chết. Hàng phục ác long ác thú là dùng pháp này, đối phó với ác nhân chỉ cần khiến cho họ bị thương nhẹ mà thôi.

3. Thủ ấn. Hai loại thân ấn và một loại thủ ấn đòi hỏi phối hợp quán tưởng và thủ ấn. Với thân ấn mà nói, tự mình quán tưởng chân phải dẫm lên chân trái, tức là chính mình áp đảo đối phương. Chân phải đứng, chân trái cong, là chân phải khuất phục chân trái, có nghĩa là chính mình khuất đối phương. Đại bộ phận Kim Cang Thần đều là chân dẫm lên kẻ địch, đè cho kẻ địch không thể thở được, thế là xong. Còn bàn tay kết ấn thôi phục đập xuống đất, khi đập xuống thì đừng quá mạnh, vì đối phương nhận được cú đập này có khả năng sẽ bị đập chết, dùng pháp phải cẩn thận.

Ngoài ra, pháp hàng phục có rất nhiều mật pháp của pháp khí, ví dụ: pháp chày Yết ma, pháp chày chữ thập, pháp móc lưỡi rìu, pháp kim cang, pháp gậy, pháp kích ba chấu, pháp ngọn giáo, pháp khóa, pháp kiếm kim cang, pháp thừng kim cang, pháp lửa kim cang, pháp quyền kim cang, v.v… Những pháp khí Mật giáo với dụng cụ đặc biệt này đều có pháp đặc thù, hầu hết đều dùng để hàng phục thôi phục, một vị Kim cương Thượng sư chân chính nhất định phải hiểu rõ.

Trong cuốn sách này, tôi đều đã giấu đi chú dài, chú ngắn, tâm chú của pháp hàng phục, bởi vì tôi sợ rằng kẻ lưu manh có được pháp này sẽ đi ứng dụng. Đương nhiên Kim Cang Thần Tướng không thể dựa theo pháp chỉ để đi giúp đỡ kẻ ác làm pháp, nhưng có rất nhiều người học tà pháp, ví dụ Hắc giáo (đạo Bon), thì sẽ rất dễ dàng mời yêu ma quỷ quái đến hại người. Yêu ma quỷ quái đến hại người, đối với người bình thường mà nói, đã đủ nhiều rồi. Thế giới này là thời đại đen trắng đảo điên, vàng thau lẫn lộn, Hắc giáo bị Liên Hoa Sinh Đại Sĩ hàng phục nhưng hiện tại lại tự xưng là Mật tông. Chao ôi! Buồn thay!

Viết một bài kệ vậy!
*Chính tà đen trắng lắm thị phi,
Phật Tổ Thiên Ma trắng và xám,
Thượng sư hàng phục may có pháp
Chỉ mong tà ma biết thuận quy.*


### 22. Hoa sen hiện trong Song Liên Trì


Một buổi chiều nọ, sau khi rửa chân, tắm rửa sạch sẽ, tôi thắp đàn hương và trang nghiêm ngồi trước tượng Phật Bồ Tát. Rất nhanh chóng tôi đi vào một trạng thái vi diệu, có một vầng nhật luân từ không trung hạ xuống, tôi cảm thấy niềm hoan hỷ tràn ngập khắp thân, từ thân phóng ra ánh sáng vàng vi diệu như lưới.

Ánh sáng của vầng nhật luân này hút tôi vào trong đó, và tôi ngồi trong vầng nhật luân, như thể nhật luân và tôi hợp làm một, tôi an tọa trong một vùng ánh sáng, diệu tướng biến khắp thân, hành trì Phật pháp thậm thâm. Trong thiền định, nhờ vào sức mạnh của ánh sáng vàng, tôi được đưa đến thế giới Ma Ha Song Liên Trì bên ngoài tam thiên đại thiên thế giới. Nơi ấy vô cùng rộng lớn và thanh tịnh, có vô số châu báu kỳ diệu trang nghiêm cõi giới đó, muôn loại hương hoa tỏa khắp nơi. Bạch Liên Hoa Đồng Tử ngự trên tòa cao, treo tán lọng, hương thơm ngào ngạt, chung quanh có thiên long hộ pháp, chư thiên rải hoa mandala đến cúng dường.

Lúc này, chư thiên thấy Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư đến, đều từ chỗ ngồi đứng dậy, cùng nhau dâng hoa trời cúng dường. Trăm nghìn nhạc trời đồng thời tấu lên. Lúc này, trên không hiện ra các cõi Phật trong mười phương, từ mỗi cõi Phật trong mười phương hiện ra trăm nghìn ức đại từ tôn, đại từ tôn phát ra âm thanh lớn: "Nguyện Liên Sinh Kim cương Thượng sư, tại thế giới Ta Bà, độ hóa khắp tất cả chúng sinh đau khổ, đều khởi tâm từ bi bình đẳng, lấy chúng sinh làm niệm, diễn thuyết diệu pháp, nói diệu quang minh."

Lúc này, tại Ma Ha Song Liên Trì có mười tám đóa đại liên hoa nở rộ, và bên cạnh mỗi đóa đại liên hoa lại có năm trăm đóa sen, trên mỗi đóa sen có một đồng tử đứng, trong tay đồng tử lại cầm hoa sen. Trong cõi hoa sen này, có một đóa sen đỏ được thiên long dẫn đường, đến trước mặt tôi, đứng yên bất động, đồng tử trên hoa sen mặt như trăng rằm, chắp tay cung kính lễ tôi, nói rằng: "Sẽ đến phụ tá Bạch Liên Hoa Đồng Tử."

Thấy và nghe được như vậy, tâm tôi vô cùng hoan hỷ, bèn đáp: "Ngài là Hồng Liên Hoa Thượng Sư."

Vào lúc đó, tất cả chư Phật Bồ Tát, mười tám vị Đại Liên Hoa Đồng Tử, cùng tất cả thiên long đại chúng đều vô cùng hoan hỷ, tán thán chưa từng có. Họ cho rằng mười tám vị Đại Liên Hoa Đồng Tử ở cõi trời, với thân ứng báo của các ngài, cũng cùng nhau cứu độ chúng sinh ở cõi người, khiến cho chúng sinh đều đắc chính giác; khiến chúng sinh đều cầu chính pháp; khiến chúng sinh đều có thiện hữu; khiến cõi người có đạo tràng trang nghiêm; khiến chúng sinh đều được tương ứng; khiến từng chúng sinh thành Phật, cùng quy về Liên Sinh Phật địa.

Khi tôi từ Ma Ha Song Liên Trì xuất ra, từ nhật luân hạ tọa, xuất định, trong vòng một tuần sau đó, Hồng Liên Hoa Thượng Sư tìm đến, vừa gặp mặt như gặp người quen vậy. Tôi truyền dạy cho ngài đủ loại Mật pháp, ngài vừa học liền hiểu, vừa học liền thông, tương lai ngài sẽ trở thành một trong những vị Thượng sư, đây là một điềm báo lớn. Chân Phật Tông sẽ có 200 vị Thượng sư, những vị Thượng sư này đều đến từ cõi hoa sen ở Ma Ha Song Liên Trì.

Tôi cảm thấy, để đảm nhận vị trí một vị Thượng sư không phải là chuyện dễ dàng. Thứ nhất phải hiểu rõ túc mệnh của mình, phải tái hiện tất cả những gì đã tu học trong đời trước. Thứ hai phải tầm cầu chính pháp trong đời này. Thứ ba phải cầu pháp và thông đạt pháp; cuối cùng mới là chuyển pháp luân truyền pháp.

Hôm nay, Chân Phật Tông do Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư chuyển pháp luân trước tiên, các vị Thượng sư khác lần lượt theo sau. Những người tu trì pháp tương ứng Kim Cang Liên Hoa Đồng Tử là những chúng sinh có duyên phúc lớn, họ cung kính tu trì chính pháp, tin sâu cảnh giới Ma Ha Song Liên Trì, cúng dường Thượng sư, tôn trọng chính pháp, nhờ thiện căn ấy sẽ được sinh về thế giới Ma Ha Song Liên Trì.

Người tu trì pháp tương ứng Kim Cang Liên Hoa Đồng Tử sẽ được Kim Cang Dược Xoa cùng năm trăm quyến thuộc chư đại Bồ Tát thường xuyên đến hộ trì.

Người tu trì pháp tương ứng Kim Cang Liên Hoa Đồng Tử sẽ được thượng thủ Biện Tài Thiên, vô lượng chư thiên, Đại Cát Tường Thiên Nữ và chư quyến thuộc, cùng thần trên mặt đất, thần hoa quả, thần rừng, thần cây, thần sông núi, v.v... đều đến thủ hộ.

Người tu trì pháp tương ứng Kim Cang Liên Hoa Đồng Tử thậm chí tất cả quỷ thần đều đến ủng hộ, như quỷ tóc vàng, quỷ hút tinh khí, quỷ dũng mãnh, quỷ vai rộng, quỷ chuột sói, quỷ mương nhỏ, quỷ tức tối, quỷ tuần đêm, hết thảy các quỷ không những không làm hại hành giả, mà còn đến thủ hộ hành giả, khiến hành giả không gặp tai nạn nào khác.

Người tu trì pháp tương ứng Kim Cang Liên Hoa Đồng Tử uy đức như mặt trời mọc, hành giả thường có đại quang minh chiếu sáng khắp nơi, không chỉ như đại nhật xuất hiện, đồng thời hồ sen lớn ở thế giới Tây phương Cực Lạc cũng tỏa ánh sáng vi diệu như mặt trời, tất cả hoa sen đều nở rộ.

Pháp tương ứng Kim Cang Liên Hoa Đồng Tử của Chân Phật Tông cần được truyền bá rộng rãi trong thế gian này. Tất cả các vị Thượng sư và đệ tử đã quy y và thọ quán đảnh nên biết rằng nếu tu trì pháp này lâu dài sẽ có thể khai mở và diễn giảng các pháp môn khác, có thể tự lợi và lợi tha. Pháp này là đại pháp công đức vô biên, có thể tiêu trừ tất cả tội nghiệp, trừ các ác mộng, tất cả tà đạo yêu quái đều xa lánh, trong đời này tương ứng nhanh nhất.

Pháp Kim Cang Liên Hoa Đồng Tử được giải thích chi tiết trong sách "Linh Tiên Kim Cang Đại Pháp". Hành giả cần chú ý đến thủ ấn, chú ngữ và quán tưởng. Người tu pháp phải loại bỏ tạp niệm, chú tâm lắng nghe và hoằng pháp. Khi thấy Thượng sư diễn thuyết đại pháp tối thắng quang minh này, hãy xem như Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư đang an tọa nơi đây, sẽ được tất cả thiện báo, thảy đều viên mãn.

Viết một bài kệ về "Hoa sen hiện trong Song Liên Trì":
*Tây phương Cực Lạc còn có cõi
Ma Ha Song Liên càng siêu việt
Liên Hoa Đồng Tử đại pháp cứu
Tu trì phổ biến vạn vạn năm.*


### 23. Cát Tường Thiên Nữ đại cát tường


Theo mô tả của pháp sư Tính Khoan về cảnh tượng của Cát Tường Thiên như sau: "Vị thiên này được dịch sang tiếng Hán là Ma Ha Thất Lợi, Cát Tường Thiên Nữ, Công Đức Thiên, Bảo Tạng Thiên Nữ, v.v... Đây là một nữ thần có khả năng ban phúc đức cho chúng sinh. Theo "Kinh Kim Quang Minh" phẩm "Công Đức Thiên" ghi lại, Cát Tường Thiên trong đời quá khứ, vào thời Bảo Hoa Công Đức Hải Lưu Ly Kim Sơn Chiếu Minh Như Lai, đã gieo trồng các căn lành. Vì vậy, hiện nay ngài có thể khiến cho vô lượng trăm nghìn chúng sinh nhận được niềm vui ở bất kì nơi nào ngài nghĩ đến, nhìn đến hay đi đến. Nếu tín đồ có thể trì tụng Kinh Kim Quang Minh, cúng dường chư Phật, và dùng hương hoa, hương thơm, mỹ vị để cúng dường Cát Tường Thiên, đồng thời trì niệm danh hiệu của ngài và cúng dường đúng pháp, thì tín đồ đó sẽ được phúc báo về của cải vật báu."

Theo "Kinh Danh Hiệu Đại Cát Tường Thiên Nữ" có ghi: "Vị thiên này có mười hai danh hiệu là: Cát Khánh, Cát Tường, Liên Hoa, Nghiêm Sức, Cụ Tài, Bạch Sắc, Đại Danh Xưng Liên Hoa Nhãn, Đại Quang Diệu, Thí Thực Giả, Thí Ẩm Giả, Bảo Quang, Đại Cát Tường."

Theo truyền thuyết, cha của ngài là Long Vương Đức Xoa Ca, mẹ là Ha Lợi Đế Mẫu, và Tỳ Sa Môn Thiên được cho là anh trai của Cát Tường Thiên Nữ. Ngài có dung mạo tuyệt đẹp, thường trú tại Tối Thắng Quốc, ban phúc đức cho tất cả chúng sinh. Cát Tường Thiên Nữ bạch Phật: "Bạch Thế Tôn, ở thành Hữu Tài của Bắc phương Tỳ Sa Môn Thiên Vương, cách thành không xa có một nước tên là Diệu Hoa Phúc Quang, trong đó có một cung điện thù thắng được tạo thành từ bảy báu, bạch Thế Tôn, con thường trú tại nơi đó."

Thì ra, Cát Tường Thiên Nữ đã từng phát lời nguyện rằng: "Phàm ai cung kính Thế Tôn và thường niệm đến ta, ta sẽ hồi hướng cho họ, khiến tất cả chúng sinh đều được an vui, đối với y phục, vật dụng sinh hoạt, vàng bạc, thất bảo, trân châu, lưu ly, san hô, hổ phách, bích ngọc v.v... đều không lo thiếu thốn."

Hình tướng của vị thiên này thân hình đoan chính, màu đỏ trắng, có hai tay và đeo các chuỗi vòng ngọc, vòng xuyến, bông tai, thiên y, mũ báu. Tay trái cầm báu vật như ý, tay phải kết ấn ban nguyện, hoặc ngồi hoặc đứng. Vị thiên này ở trong mandala Thai Tạng Giới, trong viện Hư Không Tạng, hầu cận bên cạnh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát.

Để tu trì pháp này, trước tiên lấy một tấm lụa do người con gái chưa lập gia đình dệt ra, dài một trượng bốn thước [khoảng 4,25m]. Ở giữa vẽ tướng Cát Tường Thiên Nữ, bên trái vẽ tướng Phạm Ma Thiên tay cầm gương báu, bên phải vẽ tướng Đế Thích Thiên, phía sau vẽ núi báu, trên trời vẽ mây năm màu cát tường, trên mây vẽ voi trắng sáu ngà, vòi voi phun ra các loại báu vật, rót xuống không trung phía trên Cát Tường Thiên Nữ.

Người tu trì pháp này, trước tiên cúng dường Cát Tường Thiên Nữ, dùng bát cúng, ngũ cúng để cúng dường, mật đàn cần phải thanh tịnh. Khi tu pháp phải tắm rửa sạch sẽ rồi vào đàn, dâng lễ cúng dường, ngồi thẳng lưng, tay kết ấn Cát Tường Thiên: Hai tay chắp lại, để rỗng lòng bàn tay, duỗi thẳng hai ngón trỏ và ngón giữa, hai ngón áp út hơi cong, hai ngón cái và hai ngón út dựng thẳng và chạm vào nhau.


![image](/img/img_bcc174d62558acd8d4cb94e38d72d41a.png)


Kết ấn Cát Tường Thiên, nếu muốn cầu tiền bạc châu báu, chỉ cần quán tưởng các báu vật từ vòi voi rơi vào lòng bàn tay mình. Nếu muốn trừ mọi tai họa, lấy 1080 cành lựu quết mật ong, mỗi cành trì một biến chú, dùng lửa vàng mã đốt, trì 1080 biến cho đến khi 1080 cành cháy hết thì tai họa được trừ, không cần kết ấn. Cầu châu báu và trừ tai họa đều phải trì chú.

Chú ngữ như sau: "Pô-li fu-lâu-na. Chưa-li san-man-tô. Ta-sưa-ni. Mô-hưa bi-hưa lua-ka-ti. San-man-tô. Bi-tô-ni na-ka-ti. Mô-hưa ka-li-pô-ti. Pô-bô-mi sa-bô-tua-hâu. San-man-tô. Xiêu-pô-li-fu-li. A-yê-na ta-mô-ti. Mô-hưa bi-gu-pi-ti. Mô-hưa mi-lưa pô-sâng-chi-ti. Xi-ti-xi. San-pô chi-xi-ti. San-man-tô a-tô. A-nâu pô-lô-ni."
Cầu châu báu, tụng chú 108 biến; cầu trừ tai họa, tụng chú 1080 biến.

[Lưu ý: sau này Sư Tôn đã truyền thụ tâm chú của Cát Tường Thiên Nữ như sau: Ôm ma-ha sê-li-ya sô-ha.]

Tôi nghĩ rằng việc cầu xin Đại Cát Tường Thiên Nữ ban phước lành không phải là điều khó, bởi vì Đại Cát Tường Thiên ở bên cạnh Tỳ Sa Môn Thiên ở phương Bắc, rất gần với thế giới loài người, nên dễ dàng được cảm ứng. Một điều đặc biệt khác là Đại Cát Tường Thiên Nữ rất yêu thích sự thanh tịnh, mật đàn của ngài phải thật sạch sẽ, không được có bất kì vật dơ bẩn nào, pháp tướng và pháp khí không được ô uế, ngay cả vải vẽ tượng cũng phải do người con gái chưa lập gia đình dệt ra, thì mới có thể "bố quang", bố quang nghĩa là giáng xuống.

Tôi nghĩ rằng Đại Cát Tường Thiên Nữ phù hợp hơn cho phụ nữ tu trì, không thực sự phù hợp với nam giới, bởi vì vị thiên nữ này hiện thân là nữ giới, có dung mạo phi phàm và tâm thanh tịnh, nam giới tu pháp dễ phạm giới. Tôi giải thích đặc biệt như vậy là vì những người tiếp nhận đạo pháp, mỗi người nên tu pháp theo căn cơ của mình, và pháp Đại Cát Tường Thiên Nữ phù hợp hơn cho phụ nữ tu trì. Sau khi tu trì pháp này, dung mạo sẽ vượt trội hơn nghìn vạn người, đây là pháp tốt đẹp, không chỉ có châu báu, mà còn được dung mạo xinh đẹp, cả đời không gặp tai họa, đây chẳng phải là pháp có lợi ích lớn hay sao?

Pháp môn bí mật nhanh chóng này, khi người nữ tu trì pháp Đại Cát Tường Thiên Nữ, tất cả đều được tốt lành. Tôi cũng có một phương pháp có thể biến vải lụa thông thường thành vải thanh tịnh nhất. Bởi vì người thời nay rất khó tìm được tấm lụa do người con gái chưa lập gia đình dệt ra, nên Cát Tường Thiên Nữ đã truyền dạy cho tôi một mật pháp, có thể biến vải bình thường thành vải thanh tịnh, sau đó mới thỉnh họa sĩ vẽ lên để cúng dường.

Pháp này vừa là pháp tăng ích vừa là pháp tiêu tai, Đại Cát Tường Thiên Nữ vốn là nữ thần đắc đạo rất sớm, từng theo Chiếu Minh Như Lai học Phật pháp, có công đức lớn, nên Cát Tường Thiên còn được gọi là Công Đức Thiên.

Tôi viết một bài kệ tán thán:
*Cầu tài làm thiện thêm công đức
Thiên nữ thiên y đẹp rạng ngời
Như tranh cúng dường tùy ý nguyện
Nữ nhân tu hành gặp nữ tiên.*


### 24. Tôi thường dạy chú vãng sinh


Bác gái của tôi là người xuất gia, khi còn sống, bác đã xuất gia tại Thiên Tự ở Tân Hóa, Đài Nam. Bác rất chăm chỉ trì chú vãng sinh, bởi vì bác tin rằng trì chú vãng sinh chắc chắn sẽ vãng sinh.

Trong Phật giáo lan truyền rộng rãi một câu chuyện. Vào thời kỳ Thiên Gia, núi Lư Sơn có một vị là Trân thiền sư, khi nhập định, ông đã nhìn thấy mấy trăm người cùng lên một chiếc thuyền pháp đi về phía Tây, Trân thiền sư yêu cầu những người ở trên thuyền pháp thất bảo nhân tiện chở ông ấy đến Tây phương. Nhưng người trên thuyền nói Trân thiền sư tuy đã giảng được Kinh Niết Bàn, có định lực bất khả tư nghì, nhưng Trân thiền sư lại chưa trì tụng Kinh A Di Đà và chú vãng sinh, cho nên không thể chở ông ấy cùng về Tây phương được. 

Vị Trân thiền sư này nghe vậy, sau khi xuất định, lập tức dừng giảng kinh, ngày đêm chuyên tụng Kinh Di Đà và niệm chú vãng sinh. Khi niệm chú vãng sinh được 20.000 biến thì trong thiền định nhìn thấy thần nhân gửi đến một tòa hoa sen màu trắng, đồng thời còn nói rằng, nếu pháp sư thọ chung viên tịch thì hãy ngồi trên tòa sen này vãng sinh đến nước Tây phương Cực Lạc A Di Đà Phật. Trân thiền sư liền biết công lực của Kinh A Di Đà và chú vãng sinh lớn như vậy, quyết định vãng sinh.

Vào lúc Trân thiền sư thọ chung, mọi người cũng nghe thấy trong không trung có thiên nhạc vang lên, khắp phòng tỏa hương thơm, mấy tháng không hết, Trân thiền sư đã vãng sinh rồi.

Chú vãng sinh có lợi ích gì? Nếu có người thường niệm chú vãng sinh, tụng đủ 200.000 biến, thì sẽ có hạt mầm của Phật sinh ra trong tim, nếu trì 300.000 biến, A Di Đà Phật sẽ thường trụ trên đầu người đó, ngày đêm đều bảo vệ người đó được an ổn, lúc lâm chung tự nhiên vãng sinh Phật quốc. 

Cá nhân tôi khi tu trì Mật pháp độ âm, triệu thỉnh linh hồn người ngoại quốc đến trước đàn cúng của tôi, tôi thường trì chú vãng sinh, rồi thường dạy u linh niệm chú vãng sinh. Những u linh này niệm chú vãng sinh rồi nhất định sẽ cảm động A Di Đà Phật đến tương ứng, sẽ vãng sinh Tây phương Cực Lạc thế giới.

Tu trì pháp vãng sinh, tôi dạy mọi người như sau:
Trước tiên thờ cúng Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật, pháp tướng của ngài tốt nhất là một tay cầm hoa sen. A Di Đà Phật trong Kim Cương Giới là vị Phật của phương Tây, trong Mật giáo, ngài là một trong ngũ trí thuộc hệ Đại Nhật Như Lai, trú trong tam muội Tây phương Diệu quan sát trí. Trong Thai Tạng Giới ngài ở phía Tây của viện Trung Đài Bát Diệp. Bốn đại Bồ Tát của ngài là Kim Cang Pháp, Kim Cang Lợi, Kim Cang Nhân, Kim Cang Ngữ. Tây phương Cực Lạc thế giới có bốn tịnh thổ lớn, cửu phẩm liên hoa sinh, có cảnh hai mươi lăm Bồ Tát đến nghênh đón, là một Phật quốc tịnh thổ rất thù thắng.

Tôi dạy người ta tu pháp vãng sinh vô cùng giản tiện, mọi người có thể tay kết thủ ấn mãn nguyện, tức là tay trái nắm vào áo cà sa, tay phải duỗi thẳng, lòng bàn tay ngửa lên trời.


![image](/img/img_87a6e65b1402d98b85be801b76e4d9cb.png)


Hành giả Mật tông trước tiên quán tưởng bảo tướng trang nghiêm của Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật, sau đó tinh thần tập trung vào đài hoa sen trên tay của A Di Đà Phật. Nếu bạn thích đài hoa sen màu đỏ thì quán tưởng đài hoa sen màu đỏ phóng quang; nếu thích đài hoa sen màu trắng thì quán tưởng đài hoa sen màu trắng phóng quang; nếu thích đài hoa sen màu vàng thì quán tưởng đài hoa sen màu vàng phóng quang, dựa theo màu sắc hoa sen mà mình thích để quán tưởng.

Sau đó tiếp tục quán tưởng đài hoa sen đó bay lên không, từ trên tay của A Di Đà Phật bay đến trên tay phải của mình, trở thành hoa sen tương lai của chính mình, và đài hoa sen trên tay mình phóng quang.

Quán tưởng hoàn tất, liền sau đó trì chú vãng sinh:
"Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê. Tô-tây-ya-tha. A-mi-ni-tô pô-pi. A-mi-ni-tô si-tam pô-pi. A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê. A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô. Ka-mi-ni ka-ka-na. Chê-tô ka-ni sô-ha." 
Tổng cộng trì chú 108 biến. Sau đó là nhập thiền định.

Tôi cảm thấy nếu có người tu trì pháp này, một ngày hai lần hoặc một lần, liên tục và không gián đoạn, tất cả chúng sinh nhất định có thể vãng sinh đến nước A Di Đà Phật. Nếu muốn quy mệnh A Di Đà Phật, phải thường niệm danh hiệu hoặc trì tâm chú của A Di Đà Phật, hoặc tu Di Đà đại pháp, hoặc tu đại mật pháp chú vãng sinh mà tôi viết ra. Y theo thề nguyện của Phật thì rất dễ vãng sinh Tây phương Cực Lạc thế giới tịnh thổ.

Tôi cảm thán, A Di Đà Phật có pháp đại thuận tiện như vậy, một người tu một người đi, vạn người tu vạn người đi, tiếc thay chúng sinh sao lại không tin. Hôm nay tôi - Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư ở tại đây, thay Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật làm một minh chứng lớn, Di Đà đại pháp, Di Đà vãng sinh pháp, Di Đà cưỡi hoa sen pháp đều là những pháp rất có công lực. Một người tu Mật, chỉ tu Tứ gia hành, sau đó tu Thượng sư tương ứng, cuối cùng tu Di Đà vãng sinh pháp, duy trì một ngày tu pháp một lần, vào ngày họ mệnh chung, chắc chắn vãng sinh, nếu không vãng sinh, Thượng sư Lư Thắng Ngạn tôi đây chịu trách nhiệm. Tôi đã liều mình đưa ra lời thề nguyện phân thân xả cốt mà nói như vậy, lẽ nào chúng sinh không tin sao?

Trí tính của A Di Đà Phật không sinh không diệt, bên trong chiếu bảo tướng của các pháp, bên ngoài chiếu căn cơ của chúng sinh, công đức của ngài vô lượng vô biên, ban lợi ích cho tất cả chúng sinh. 

Viết một bài kệ:
*Tây phương Cực Lạc hồ hoa sen,
Trí huệ vô biên như biển lớn,
Pháp bao tiện lợi người ngợi khen
Chuyên tu vững chắc là chính đạo.*


### 25. Liên Sinh Thượng sư khai thị tâm yếu (1)


Nhiều người hỏi tôi: "Trong thế giới hiện tại, đâu là thật đâu là giả? Kể cả việc tu hành cũng vậy, có những người tự nhận mình đắc đạo, nhưng thực ra họ chưa thấu đạo, không hiểu đạo, và đa số người đời đều mù quáng tin theo. Một số người khác lại xem những tướng giả của mới khởi linh như là chân đạo, như vậy vừa hại mình hại người, phải làm sao đây? Lại có những người không hiểu rõ phương pháp tu hành, vậy làm sao họ có thể tu tập? Do đó chúng tôi xin hỏi Liên Sinh Thượng sư, tu hành đến trình độ nào mới được gọi là chứng đắc?"

Bản thân tôi biết rằng, trong thế giới này có rất nhiều bậc cao nhân, nhiều người tu luyện đã đạt đến cảnh giới rất cao, và mỗi người tu đạo đều có phương pháp tu luyện khác nhau. Chỉ riêng Phật pháp đã có tám vạn bốn nghìn pháp môn mà vẫn chưa bao quát hết, còn có nhiều pháp môn khác mà người đời không biết đến. Tuy nhiên, bất kể là phương pháp tu hành nào, nhất định phải tu luyện đến mức thật sự có thể tự chủ sinh tử, minh tâm kiến tính mới được gọi là đắc đạo. Thế nào là tự chủ sinh tử? Đó là tự tại như như, muốn sinh thì sinh, muốn tử thì tử, muốn đến thì đến, muốn đi thì đi, đó chính là Như Lai "bất lai bất khứ". Thế nào là minh tâm kiến tính? Đó là khi chân tâm của mình hiển hiện, thấu tỏ tất cả, thực sự chứng ngộ chân tính, chứ không phải là giả tính của ý thức.

Tôi cũng cho rằng, một người tu đạo, có chứng đắc hay không, chỉ cần soi xét lương tri lương năng của mình là biết được. Cái tâm mà bạn tu luyện được đã ấn chứng với thiên tâm, ánh sáng mà bạn tu luyện được đã đi vào trong ánh sáng của bản thức vũ trụ, hòa nhập với nhau, ấn chứng lẫn nhau, hợp thành một thể. Đây chính là điều mà Phật pháp gọi là "nhập Tỳ Lô tính hải, nhập các hội ánh sáng chư Phật, được ánh sáng của mười phương chư Phật và của chính mình hòa hợp làm một". Điểm này vô cùng quan trọng. Tử quang mà bạn tu luyện được đi vào trong Mẫu quang, sự tương ứng này chính là sự ấn chứng vô lượng vô biên, hoàn toàn rõ ràng minh bạch trong tâm của chính mình.

Bản thân tôi chính là "Đại Trì Minh Kim Cương A Xà Lê trong hải hội chư Phật". Khi tôi đi vào trong biển ánh sáng của chư Phật Bồ Tát, tất cả đều rõ ràng minh bạch, quá khứ, hiện tại, vị lai, tất cả đều thông suốt, cũng có nghĩa là tâm đã hoàn toàn thấu tỏ, đây chính là minh tâm kiến tính, đây chính là tự chủ sinh tử, đây chính là sự chứng đắc thấu suốt tất cả, chứng đắc này không phải chỉ có một chút cảm ứng nhỏ là có thể gọi là chứng đắc.

Chứng đắc nghĩa là bạn đã thành Phật, bạn chính là Phật, Phật chính là bạn, sự đại triệt đại ngộ này không phải là tự cao tự đại, mà là điều xác thực. Thực ra, người đạt được ấn chứng như vậy mới đủ tư cách làm Thượng sư, cũng chính là Hoạt Phật, nếu chưa đạt đến cảnh giới này thì không thể tự xưng là Hoạt Phật.

Hiện nay trong đời thường có nhiều Thượng sư chưa đạt đến cảnh giới này, vậy tại sao họ lại tự xưng là Thượng sư? Nếu vị Thượng sư đó hiểu được phương pháp tu hành, thông đạt nghi quỹ Mật tông chân ngôn, nhiệt tâm hoằng dương Phật pháp, biết rõ tất cả nghi quỹ truyền pháp, đôi khi, vị Đại Trì Minh Kim Cương Thượng sư đã chứng đắc có thể truyền quán đảnh cho người như vậy làm Thượng sư, vì thế Thượng sư được chia thành bốn cấp bậc:

1. A Xà Lê - biết nghi quỹ, hành trì theo niềm tin, nhưng chưa thấu hiểu sự dung nhập.
2. Đại A Xà Lê Da - đã thấu hiểu giáo lý.
3. Kim Cương A Xà Lê - dùng trí tuệ để thành tựu tất cả Phật sự.
4. Đại Trì Minh Kim Cương A Xà Lê Da - nhập Tỳ Lô tính hải, đắc vô thượng trí, hoàn toàn đắc tâm kim cương.

Vì vậy, Thượng sư có người được Thượng sư nhân gian sắc phong, có người tự mình nhập Tỳ Lô tính hải được chư Phật hải hội quán đảnh sắc phong, hai loại này đều có sự khác biệt.

Hòa thượng Lư Thắng Ngạn Liên Sinh - Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư là bậc đã thực sự nhập vào Tỳ Lô tính hải "Thái Hư Thanh Không Quang Minh Hải", hoàn toàn đạt được minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử, và thanh tịnh vô nhiễm. Do đó, Thượng sư Lư Thắng Ngạn với tư cách là Đại Trì Minh Kim Cương A Xà Lê, là một vị Kim cương Thượng sư chân chính, đã đắc được tâm pháp đại bí mật của tất cả chân ngôn mật tạng, không phải người thường có thể đo lường được, cũng không phải người trí tuệ kém cỏi có thể dò biết được. Vì vậy, Chân Phật Tông do Liên Sinh Thượng sư truyền thừa ngày nay là đại chính pháp, đại chính tông, đại chính phái duy nhất trên thế giới, cũng chính là đại minh pháp, vô thượng tông, vô đẳng đẳng phái.

Số chúng sinh đã được Liên Sinh Thượng sư truyền pháp quán đảnh không thể đếm xuể, và sau khi được Liên Sinh Thượng sư truyền thụ Mật pháp, cũng có rất nhiều vị được truyền quán đảnh Thượng sư. Chân Phật Tông có chứng chỉ Thượng sư, đã cấp phát cho rất nhiều vị, họ có thể truyền tất cả Mật pháp, truyền giới luật, giải thích tất cả giáo tướng và sự tướng Hiển Mật. Những vị Thượng sư này đã được quán đảnh A Xà Lê.

Trên thế gian này, quả thật có rất nhiều người tu đạo giả, và một số người tu đạo giả cũng tự xưng là đắc chứng, nhưng mắt cá với ngọc trai rất dễ phân biệt, kim cương thật với kim cương giả cũng rất dễ nhận ra, vàng thật với vàng giả đều rất dễ phân biệt. Như một vị Thượng sư chân chính nhất định phải thông hiểu các nghi quỹ rộng lớn, và bản thân đã đắc chứng, được truyền thừa chính thống, tất cả pháp sự đều tương ứng. Nếu là người giả đắc chứng, Thượng sư giả, chỉ cần vài ba câu là bị nhận ra ngay, dù có cố che giấu đuôi cáo thế nào cũng không giấu được.

Tôi mong rằng các độc giả hãy phân biệt kĩ càng giữa Thượng sư thật và giả, mọi người cũng cần phải chú ý đến những kẻ lừa đảo tiền bạc và sắc dục, những kẻ này thường mạo danh tông phái, dùng tên giả, lừa gạt mọi người quay như chong chóng, lãng phí thời gian tu hành một cách vô ích, hoặc dùng các pháp ma quỷ để lừa người, tất cả những điều này đều phải đặc biệt chú ý, đừng để bị mắc lừa.

Cần phải tìm một vị Kim cương Thượng sư chân chính, được truyền thừa chính thống, Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Đại Trì Minh A Xà Lê chính là một vị Thượng sư đã đắc chứng, chúng sinh nương tựa suốt đời sẽ có hy vọng thành Phật.


### 26. Liên Sinh Thượng sư khai thị tâm yếu (2)


Có người hỏi, sự khác biệt giữa Hiển giáo và Mật giáo là gì? Tại sao Mật giáo lại đặc biệt thù thắng như vậy?

Nói một cách đơn giản, Phật giáo Đại thừa có thể chia thành Hiển giáo và Mật giáo. Theo lời Phật Thích Ca Mâu Ni, giáo pháp có lớn nhỏ nông sâu, dựa vào giáo pháp mà khởi hành, những lời dạy hiển lộ rõ ràng gọi là Hiển giáo. Còn theo lời Đại Nhật Như Lai, giáo pháp tức thân thành Phật, chỉ rõ chân ngôn, được bí mật truyền thụ trong đời sau, không ghi chép trong kinh điển, đó chính là Mật giáo.

Từ rất lâu về trước, Bồ Tát Di Lặc hỏi Phật: "Ngoài giáo pháp của ba thừa ra, còn có pháp nào khác không?" Thế Tôn đáp rằng: "Ta có Nội pháp bí mật của đại tam muội da, nương theo pháp bí mật này tu hành, có thể khiến hành giả Đại thừa mau chóng thành Phật." Vì vậy, pháp môn bí mật này chính là chỉ các pháp của Mật giáo.

Theo như tôi được biết, Mật tông thực ra chính là tông phái tu luyện Yoga, lịch sử của nó có từ trước thời Phật Thích Ca Mâu Ni, khoảng 6000 năm rồi. Những tông phái Yoga này cũng chia thành nhiều phái, khá phức tạp, trong đó có Yoga Chân ngôn, Yoga Kiền thành, Yoga Đại trí, Yoga Dung nhập, Yoga Luyện thân, Yoga Quân Đồ Lợi. Còn kinh "Du Già Thập Bát Hội" toàn bộ do Phật Tỳ Lô Giá Na thuyết giảng, Bồ Tát Kim Cang Thủ đích thân được truyền thừa, sau đó truyền pháp cho Long Mãnh, rồi truyền pháp cho Long Trí. Vào thời Khai Nguyên nhà Đường, ba vị Đại A Xà Lê là Kim Cang Trí, Thiện Vô Úy, Bất Không đã hoằng dương hơn 1600 quyển kinh Mật tông.

Mục đích chính của Mật tông chính là nương theo pháp môn Đà-la-ni chân ngôn khẩu mật trong tam mật, tu trì diệu hành của ngũ tướng tam mật. Muốn thấu hiểu sâu sắc giáo tướng của Mật tông, có thể nghiên cứu kĩ các kinh điển sau: "Đại Nhật Kinh", "Đại Nhật Kinh Sớ", "Đại Nhật Kinh Nghĩa", "Kim Cương Đỉnh Kinh", "Kim Cương Đỉnh Kinh Nghĩa Quyết", "Kim Cương Đỉnh Kinh Phát Bồ Đề Tâm Luận", "Vô Úy Thiền Yếu", "Thập Trụ Tâm Luận", "Biện Hiển Mật Nhị Giáo Luận".

Vì sao Mật tông thù thắng nhất? Bởi vì mười tám hội của Yoga Bí mật vốn là đại pháp vi tế khó lường, căn bản không thể đo đếm được. Trong đó có "Vô tướng pháp", "Mật ấn pháp", "Hộ Ma lư đàn pháp", "Thiên Phật pháp luân pháp". Chỉ cần nương theo thân khẩu ý tam mật tinh tấn tu hành thì có thể đắc thành tựu, đó là nhân sâu quả xa vậy.

Trong "Phật Đỉnh Kinh" có nói rằng: "Từ Đà-la-ni này, sinh ra tất cả chư Phật trong mười phương, hàng phục các ma, chế ngự ngoại đạo, ngồi trên hoa sen báu, chuyển đại pháp luân trong vi trần, có thể sờ đầu thọ ký trong mười phương." Điều này nói rõ sự thù thắng của chân ngôn, lại nói: "Vô thượng Pháp Vương có đại Đà-la-ni, tên là Viên Giác, tuôn chảy ra tất cả thanh tịnh chân như, bồ đề, niết bàn và ba-la-mật, để giáo hóa chư Bồ Tát." Đây chính là sự thù thắng của đại Đà-la-ni.

Khi Phật Thích Ca Mâu Ni đang trong thời kỳ độ chúng sinh, Ngài đến gặp một vị vua và khuyên vua học Phật. Vua đáp rằng: "Học Phật pháp quá khổ, nếu có pháp môn nào có thể tức thân thành Phật thì mới muốn học." Phật Thích Ca Mâu Ni đã biết vua là người có căn cơ Mật tông, nên truyền Mật pháp cho vua. Vua lập tức minh tâm kiến tính và thành Phật. Lúc đó, Phật Thích Ca Mâu Ni dạy đại chúng rằng: "Căn cơ Hiển giáo và căn cơ Mật giáo là khác nhau, đây là sự khác biệt lớn về nhân duyên." Phật độ chúng sinh tùy theo căn cơ, tùy duyên ứng hóa, nghĩa là tùy theo nhân duyên của mỗi người mà truyền pháp khác nhau. Tuy nhiên trong tất cả các pháp môn, đương nhiên Mật pháp thù thắng nhất là đại Mật pháp vô thượng.

Về nguyên tắc, Mật tông được chia thành ba loại chính là Trung mật, Đông mật và Tạng mật. Trung mật là dòng truyền thừa của ba vị Đại A Xà Lê Kim Cang Trí, Thiện Vô Úy và Bất Không khi các ngài truyền Mật pháp tại Trung Hoa. Đông mật là khi Đại sư Không Hải của Nhật Bản sang Trung Quốc học pháp với A Xà Lê Huệ Quả, rồi trở về Nhật Bản hoằng dương Mật pháp tại núi Cao Dã [Koya], đây là dòng truyền thừa Đông mật. Còn về Tạng mật, đó là chỉ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ hoằng dương Mật pháp tại Ấn Độ. Sau đó ngài được vua Tây Tạng thỉnh mời đến Tây Tạng, hoằng dương Mật pháp, phá trừ đạo Bon vốn có ở Tây Tạng, tức là Hắc giáo, từ đó Mật tông mới từ Ấn Độ truyền sang Tây Tạng. Mật tông Tây Tạng chia thành bốn tông phái lớn là Hồng giáo, Bạch giáo, Hoàng giáo và Hoa giáo. Pháp của Hồng giáo lấy pháp Đại Viên Mãn làm thù thắng nhất, pháp của Bạch giáo lấy pháp Đại Thủ Ấn làm thù thắng nhất, pháp của Hoàng giáo lấy pháp Đại Uy Đức Kim Cang làm thù thắng nhất, pháp của Hoa giáo lấy pháp Đại Viên Thắng Huệ làm thù thắng nhất.

Về nguyên tắc, "chân ngôn bí tạng" vốn là do chư Phật truyền thừa cho nhau, không phải người thường có thể hiểu được. Muốn học được pháp này, nhất định phải quy y một vị Kim cương Thượng sư chân chính, được trực tiếp truyền thừa, mới có thể nhận được ấn chứng "liên hoa bồ đề". Thời đại hoằng dương tôn giáo đã đến, hiện nay chúng sinh cũng rộng cầu Mật pháp, đây là thời đại hoằng dương Mật pháp. Tuy nhiên khi tôn giáo muốn hoằng dương, tà pháp nhất định sẽ xuất hiện quấy phá, vì vậy Hắc pháp lại xuất hiện. Người học Mật pháp ngày nay cần phải nghiên cứu phân biệt đại đạo chính tà, phân biệt được Mật tông chân chính và Hắc giáo giả mạo, để người học Mật về sau không lạc vào đường tà.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ năm xưa đã phá trừ Hắc giáo ở Tây Tạng, ngày nay Hắc giáo lại mạo danh Mật tông. Dù cho Tu La Ma Vương có thần thông dời núi lật biển cũng không thể thay đổi được lịch sử Liên Hoa Sinh Đại Sĩ phá trừ Hắc giáo ở Tây Tạng năm xưa. Đặc biệt là vị Thượng sư minh nhãn Kim Cương Thượng Sư Hồng Quán Thánh Miện, diễn bày đại Mật pháp, không nói nhị thừa, dùng ngòi bút chính nghĩa vạch trần sự tà ác của Hắc giáo (đạo Bon). Chúng sinh có muốn mê tín mà không tìm về chính đạo chăng?

Kim Cương Thượng Sư Hồng Quán Thánh Miện Lư Thắng Ngạn Liên Sinh Tôn Giả hiện nay thị hiện thân kim cang trượng lục [Trượng lục, trong Phật giáo, là chỉ chiều cao tiêu chuẩn của thân hóa Phật, khoảng một trượng sáu thước, quy đổi sang đơn vị đo lường hiện đại khoảng 5,33 mét. Thuật ngữ này cũng thường được dùng để chỉ tượng Phật hoặc thân Phật.] an tọa trên biển tính kim cang, hóa thân trên đài sen bách bảo, thị hiện nghìn tay nghìn pháp, chuyển đại pháp luân Vô thượng mật và Đại thủ ấn, hiện nay pháp Đại thừa đã truyền xuống, thiên hạ đều kinh động, thế nhân đều đến quy y, quần ma cũng nhảy múa, pháp môn Yoga tam mật qua sự tuyên thuyết của tôi như vậy, hy vọng một số người học Tiểu thừa hôm nay sẽ phát lộ sám hối, người học tà pháp Hắc giáo sẽ phát lộ sám hối. Đây là đại tương ứng của pháp đại vi diệu, tôi là người truyền ngọn đèn pháp mạch của Yoga đại giáo.


### 27. Liên Sinh Thượng sư khai thị tâm yếu (3)


Rất nhiều người hỏi tôi, tu theo Chân Phật Tông thì cách bày đàn như thế nào, phương pháp bày đàn của Mật tông là gì? Nhiều người muốn thiết lập mật đàn, nhưng không biết cách bố trí?

Tôi xin trả lời như sau:
Mật đàn tốt nhất nên đặt trong phòng nhỏ thanh tịnh, nên chọn nơi tàng phong tụ khí để thiết lập đàn. Cái gọi là nơi tàng phong tụ khí là nơi có hai bức tường làm "sa thủ", bức tường đối diện với đàn thành không được có cửa sổ hay cửa ra vào, bức tường đặt đàn phải vững chắc, phía trên không có lỗ hổng, phía dưới cũng không có lỗ hổng, như vậy khí sẽ không bị thất thoát.

Tượng Phật trên mật đàn, đương nhiên lấy Bổn tôn của mình làm chính, ví dụ nếu tu pháp Quan Âm, thì lấy Quan Thế Âm Bồ Tát làm chủ tôn của mật đàn, nếu tu pháp Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, thì có thể thờ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ làm chủ tôn. Tượng Phật có thể được chạm khắc bằng gỗ, đất, vàng, đồng đều được, nếu dùng tranh giấy cũng được, dùng tranh vẽ hải hội của chư Phật Bồ Tát cũng rất tốt. 

Có một số cách thờ cúng trên mật đàn hơi khác nhau:
Có người thờ cúng chú ngữ (chú luân), đây gọi là pháp Mandala.
Có người thờ cúng thủ ấn và pháp bảo, đây gọi là Samaya Mandala.
Có người thờ cúng tượng Bổn tôn Phật hoặc Bổn tôn Kim Cang, đây gọi là Yết Ma Mandala.
Có người thờ cúng nhiều hơn, là tranh vẽ hải hội của chư Phật Bồ Tát, tất cả Kim Cang, đây gọi là đại Mandala.

Cá nhân tôi cho rằng, về mặt thờ cúng nên lấy Bổn tôn của mình làm chủ tôn. Ở bên phải có thể thờ tượng của Thượng sư truyền thừa của mình, ở bên trái có thể thờ một vị Kim cang Hộ pháp, như vậy vừa đủ ba vị. Số lượng Phật Bồ Tát thờ cúng nên dùng số dương tốt hơn, như một, ba, năm, bảy vị. Bên phải mật đàn có thể đặt kinh điển, còn bên trái có thể đặt tháp.

Về cúng phẩm được chia thành ngũ cúng và bát cúng. Ngũ cúng chính là hoa, hương, đèn, trà, quả. Bát cúng là dùng tám bát hoặc cốc, bày trước tượng Phật, từ phải sang trái. Bát thứ nhất đặt một vỏ ốc biển; bát thứ hai đặt một quả; bát thứ ba đặt bột hương; bát thứ tư đặt một ngọn nến; bát thứ năm cắm ba nén trầm hương không đốt; bát thứ sáu, nếu theo Hồng giáo, đặt năm bông hoa trắng, nếu theo Bạch giáo, đặt năm bông hoa đỏ (có thể dùng hoa thật hoặc hoa nhựa); bát thứ bảy đựng nước thơm (nước tắm, tức là nước sạch thêm bột xà phòng); bát thứ tám đựng nước sạch hoặc nước sôi.

Bát cúng có thể bày thành một hàng hoặc hai hàng. Nếu bày hai hàng, hàng trước dùng để cúng Phật Bồ Tát, hàng sau dùng cho hành giả quán tưởng biến hóa. Hoa, trầm hương, vỏ ốc biển nếu không đặt ngay ngắn, có thể đặt gạo ở dưới bát. Cúng phẩm cần thay hàng ngày là: trái cây, nước thơm, nước sạch hoặc nước sôi. Các cúng phẩm khác có thể thay khi nào muốn thay cũng được. Phía trước bát cúng, đặt thêm lư hương và lư đốt trầm hương, hai bên đặt đèn.

Nói chung, tình hình bày trí mật đàn cơ bản như vậy.

Thượng sư Mật tông giải thích ý nghĩa của bát cúng: hai loại nước tượng trưng cho nước công đức; hoa tượng trưng cho bố thí; hương tượng trưng cho trì giới; đèn tượng trưng cho nhẫn nhục; bột hương tượng trưng cho tinh tấn; quả tượng trưng cho thiền định; vỏ ốc biển tượng trưng cho như ý; hương đứng tượng trưng cho trí tuệ.

Khi cúng dường, điều quan trọng nhất cũng là quán tưởng. Hãy biến một hàng cúng phẩm thành một mặt phẳng, rồi biến thành nhiều như núi, tràn đầy khắp vũ trụ mười phương. 
Bài tán cúng dường là:
*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kỳ diệu bao công đức
Nguyện cùng chúng sinh chứng bồ đề.*

Sau khi hoàn tất quán tưởng cúng dường, tụng chú gia trì:
"Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi."

Theo hiểu biết của tôi, một người muốn cầu đời sau giàu sang, chỉ cần biết cách thiết lập mật đàn, biết cách quán tưởng cúng dường, tụng chú cúng dường, người đó đời sau chắc chắn sẽ được giàu sang, đây là nhân quả của đầy đủ tám cúng phẩm, bởi vì chỉ cần có cúng dường, chắc chắn sẽ được giàu sang.

Ngoài ra có người hỏi tôi, ngoài tám cúng phẩm này, còn cần cúng dường gì nữa không? Điều này tùy thuộc vào từng vùng khác nhau. Trước đây, Mật giáo còn cúng dường sữa, sữa đặc, bơ sống, bơ chín, bơ tinh chế, mật ong, v.v… Còn nếu chúng ta muốn thể hiện sự tôn kính đặc biệt, có thể cúng dường mật ong, sữa bò, bánh, kẹo, v.v… Đôi khi có thể dâng cúng những món quý giá mà mình ưa thích, không chỉ là thức ăn, thậm chí cả những đồ trang sức quý giá mà mình ưa thích, đều có thể cúng dường.

Sự cúng dường mà các Thượng sư Mật tông coi trọng nhất là cúng dường tâm và cúng dường sinh mạng. Dâng hiến trọn vẹn trái tim và thời gian sống của cả một đời mình cho chư Phật Bồ Tát, đó là sự cúng dường quý giá nhất.

Các Thượng sư của Mật tông đã hiến dâng toàn bộ cuộc đời của mình. Vì độ chúng sinh, các ngài từ bỏ những niềm vui riêng, chịu đựng mọi khổ đau, giúp tất cả chúng sinh đạt được an lạc và định tâm, xóa bỏ phiền não của chúng sinh, trừ nghiệp chướng cho chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh trong thiên hạ đều được giải thoát, nhanh chóng chứng đắc quả vị Phật Bồ Tát. Đây là sự cúng dường sinh mạng thù thắng nhất, là sự cúng dường tâm vĩ đại nhất.

Người tu trì pháp cúng dường sẽ đạt được thành tựu vĩ đại như thế, đây là đại pháp thù thắng nhất của Mật tông. Dòng truyền thừa Chân Phật Tông có rất nhiều bí mật vô thượng, có thể thực sự cứu độ chúng sinh, điều này đã được các Thượng sư bảo chứng. Chỉ cần mọi người tu tập theo từng bước, đạt được tương ứng, chứng nhập Tam ma địa, bảo đảm tu tập vững vàng sẽ thành tựu vững vàng, có thể tức thân thành Phật!

Mọi người hãy thực tu theo thứ tự, tôi bảo đảm rằng tất cả sẽ đạt được thành tựu, nhất định không uổng công.


### 28. Liên Sinh Thượng sư khai thị tâm yếu (4)


Tại sao phải tu tập pháp tương ứng Thượng sư?
Tu tập pháp tương ứng Thượng sư sẽ mang lại những công đức gì?
Pháp tương ứng Thượng sư có quan trọng không? Pháp tương ứng Thượng sư có lợi ích gì?

Tôi đã từng nói, tu hành của Chân Phật Tông bắt đầu từ bốn pháp gia hành, tiếp theo là pháp tương ứng Thượng sư, sau đó tu pháp Bổn tôn, rồi tu pháp Kim cang, cuối cùng mới tu Vô thượng mật, đây là thứ tự thành tựu trong tu tập. Vì tu tập theo trình tự như vậy mới là phương pháp tối ưu, nếu không sẽ là vượt cấp. Việc vượt cấp, ngoại trừ những người có căn cơ đặc biệt lớn, tất nhiên sẽ đánh mất tính nguyên tắc của pháp tu, một khi đánh mất tính nguyên tắc, đương nhiên không thể đi sâu, tự nhiên sẽ không thể tu thành tựu được.

Mười bốn giới luật chính của Mật tông, điều thứ nhất là không tôn kính thân khẩu ý của Thượng sư. Tôi giải thích như sau: Vì Thượng sư đại diện cho Phật truyền pháp, là Tam Bảo hợp nhất, Mật giáo coi Thượng sư là quy y đầu tiên, thường ngày xem Thượng sư như Phật. Vì vậy, đệ tử trước khi quy y, cần phải tìm hiểu kĩ về Thượng sư, tránh trường hợp quy y rồi lại hối hận, dẫn đến không tôn kính thân khẩu ý của Thượng sư. Đã quy y rồi thì phải tôn kính, coi trọng Thượng sư, như vậy mới có công đức, mới có thành tựu trong Phật pháp. Nếu phỉ báng, sẽ phạm vào điều thứ nhất trong "Mười bốn đại giới căn bản của Mật giáo", sẽ đọa vào địa ngục kim cang.

Mật tông đặc biệt coi trọng dòng truyền thừa và rất coi trọng Thượng sư, đặc biệt là khi Thượng sư đã có gia trì, tất cả đệ tử nhờ nhận được sự gia trì của Thượng sư mới có thể đạt được đại thành tựu. Vì bản thân Thượng sư là một vị thầy đã chứng đắc, nên sự gia trì của Thượng sư giống như sự gia trì của Phật. Mục đích của việc tu tập pháp tương ứng Thượng sư là để nhận được lực gia trì của Thượng sư, lực gia trì của Thượng sư chính là lực gia trì của Phật, không có sự phân biệt nào giữa hai lực này.

Chính vì vậy, mỗi hành giả Mật tông đều phải tôn kính Thượng sư của mình, có niềm tin vào Thượng sư của mình, chỉ có tu tập như vậy mới được tương ứng. Nếu có lòng nghi ngờ, thì ngay từ khi quy y đã là sai lầm, đó là do không hiểu tầm quan trọng của sự truyền thừa trong Chân Phật Tông, do không hiểu biết về Mật tông, đây là phạm vào giới luật đầu tiên, vô cùng quan trọng, vô cùng quan trọng.

Người sáng lập và là Căn bản Thượng sư của Chân Phật Tông chính là Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Đại Trì Minh A Xà Lê, vốn là hóa thân của Bạch Y Chủ Tôn Liên Hoa Đồng Tử từ Ma Ha Song Liên Trì ở Tây phương Cực Lạc giáng sinh xuống trần gian, là vị Bồ Tát tái sinh theo nguyện lực để độ chúng sinh. Pháp thân của Liên Sinh Thượng sư chính là Bạch Y Chủ Tôn Liên Hoa Đồng Tử, về căn bản không có sự phân biệt. Các đệ tử tu pháp tương ứng Thượng sư nếu muốn vãng sinh Tây phương, hãy hồi hướng vãng sinh Tây phương, khi mạng chung chắc chắn sẽ được sinh về Tây phương, bởi vì Ma Ha Song Liên Trì chính là Tây phương Cực Lạc. Muốn sinh về Tây phương, tu trì pháp tương ứng Thượng sư chắc chắn sẽ vãng sinh Tây phương. Liên Sinh Thượng sư và Tây phương A Di Đà Phật về căn bản có nhân duyên chặt chẽ sâu sắc, không có sự khác biệt.

Tu tập pháp tương ứng Thượng sư sẽ mang lại công đức vô lượng! Không chỉ nhận được sự gia trì từ linh quang của Thượng sư mà còn có thể vãng sinh về Tây phương Cực Lạc, đây chẳng phải là công đức không thể nghĩ bàn, vô lượng vô biên hay sao? Về nguyên tắc, Liên Sinh Thượng sư đã tu trì chứng đắc, bình đẳng không hai với Phật, Liên Hoa Đồng Tử còn thị hiện vô lượng vô biên ứng hóa thân, thông suốt tất cả Vô thượng mật của Mật tông, thấu hiểu tất cả đại trí tuệ nhập thế gian và xuất thế gian, có thể nói là đã viên thông cả Hiển giáo lẫn Mật giáo. Vì vậy, tu pháp tương ứng Thượng sư, chỉ cần đạt được tương ứng với Thượng sư, nhất định sẽ khai mở trí tuệ ngay lập tức, nhất định có thể biện tài vô ngại như Thượng sư, thành tựu thân kim cang bất hoại, đầy đủ đại quyền năng và đại thần thông giống như Thượng sư. Người tu pháp chỉ cần tương ứng với Thượng sư, đương nhiên tất cả tai nạn sẽ được tiêu trừ, mọi nhu cầu về ăn mặc đều đầy đủ, ra ngoài luôn bình an tốt lành, thường được thiện thần ủng hộ, thậm chí có thể biết trước mọi điềm lành dữ sắp xảy ra, tất cả tai ương và bệnh tật đều xa lánh. Đây là lợi ích của việc tu pháp tương ứng Thượng sư.

Tu tập pháp tương ứng Thượng sư, cầu tiêu trừ tai nạn thì tai nạn được tiêu trừ, cầu trường thọ thì được trường thọ, cầu con cái thì có con cái, cầu tài lộc thì được tài lộc (xem bài viết "Liên Hoa Đồng Tử là Đại Phúc Kim Cang"), có thể nói, tất cả lợi ích thế gian đều có thể đạt được. Tu tập pháp tương ứng Thượng sư, tất cả quỷ thần khi nhìn thấy như thấy chính Thượng sư vậy, đều kính trọng hành giả Mật tông đang tu pháp, bởi vì tất cả quỷ thần đều tôn kính Thượng sư.

Tại sao công đức và lợi ích của Liên Sinh Kim cương Thượng sư lại lớn như vậy? Bởi vì Liên Sinh Kim cương Thượng sư nhận lệnh từ Phật Tỳ Lô Giá Na, đáp ứng sứ mệnh quan trọng của Phật A Di Đà ở Tây phương Cực Lạc, giáng sinh xuống nhân gian. Ngài khai mở pháp môn phương tiện Hiển-Mật, sáng lập pháp thành tựu bồ đề của Chân Phật Tông, công bố pháp Vô thượng mật và Đại thủ ấn cho thế gian, tùy duyên ứng cơ, phổ độ chúng sinh.

Do đã chứng ngộ nhân quả của đời trước, khai mở con đường lớn, đầy đủ mọi thần thông trí tuệ, không chỉ hàng phục ma quỷ yêu tinh, mà còn có thể truyền bá rộng rãi pháp Vô thượng mật, đây chính là sự chứng ngộ chân thực của Liên Sinh Thượng sư, và cũng vì điều này mà thu hút người xuất gia khắp thiên hạ cùng đến quy y.

Đệ tử cung kính Thượng sư và cúng dường Thượng sư đều là điều cần thiết. Bởi vì ý nghĩa của Thượng sư chính là bậc thầy vô thượng, cũng chính là vị Hoạt Phật đã minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử, Thượng sư chính là danh xưng của Hoạt Phật vậy. Đệ tử kim cương tán thán Thượng sư: "Tự tính tam thân vốn viên thành, phi hữu phi vô vô sở trụ, pháp nhĩ thường hằng như hư không, Liên Sinh Thượng sư con lễ tán."

Bất kì đệ tử nào của Chân Phật Tông đều phải tu trì pháp tương ứng Thượng sư, đều phải thờ cúng tượng của Thượng sư. Bởi vì Liên Sinh Thượng sư là vị Kim cương Thượng sư đã thực sự tu chứng, cũng là Phật bản lai của Liên Hoa Đồng Tử. Ngài là đại bi tùy duyên khắp pháp giới, là tâm quang biến hiện không chướng ngại, quảng đại viên mãn đắc tự tại, và còn là vô sinh vô diệt thường tịch quang.


### 29. Liên Sinh Thượng sư khai thị tâm yếu (5)


Từng có nhiều đệ tử hỏi tôi, trước đây khi đọc kinh Phật, kinh Phật đều dạy người ta phải nhẫn nhục, nhẫn nhục cũng là ba la mật, ngày nay đến quy y Chân Phật Tông, thấy Thượng sư độ chúng sinh, tận tâm khuyên bảo, từ bi hỷ xả, phát đại nguyện Bồ Tát. Nhưng đôi khi, thấy Thượng sư viết bài, lại như sấm sét nổi lên, lại như "Kim Cang nộ mục", đối với bọn tiểu nhân xấu xa không hề nhân nhượng, lần lượt vạch trần tất cả, khiến bọn tiểu nhân kinh hãi, từ đó đám tiểu nhân vây quanh công kích Thượng sư, thực là vô cùng hỗn loạn, tại sao Thượng sư phải để ý đến những kẻ vô tri nhỏ nhen này?

Đối với câu hỏi này, tôi xin trả lời như sau: Các tông phái Phật giáo, nếu tu trì theo Hiển giáo, chỉ có khuyên bảo chúng sinh, đối với những kẻ tiểu nhân xấu xa như vậy, nhiều nhất chỉ là tránh xa họ, không để ý đến họ, lánh xa họ, tất cả sự sỉ nhục đều không quan tâm. Công phu nhẫn nhục đã đến mức thuần thục, có thể để nước bọt người khác phun vào mặt mình tự khô, người ta nhổ nước bọt vào mặt, vẫn để nó tự khô, thậm chí công phu nhẫn nhục của Phật giáo khi đã thuần thục, xả thân nuôi hổ, cắt thịt cho chim ưng ăn đều là chuyện bình thường.

Tu trì theo Hiển giáo, lấy nhẫn nhục làm đầu, dù sao kẻ ác không tin, pháp sư chỉ mỉm cười bỏ qua, có kẻ ác đến bắt nạt, thì hãy nhẫn nhịn! Cười nhạo, chế giễu, đánh giết, cứ để họ làm. Đây chính là quan điểm nhất quán của Hiển giáo Phật môn, dù bị bắt nạt lớn đến đâu, cứ nhẫn nhục là xong.

Tuy nhiên, Mật tông Phật giáo khác, bởi vì Mật tông có pháp môn hàng phục, đối với chúng sinh lương thiện, vui vẻ đi độ hóa họ, nhưng nếu có những người nửa tin nửa ngờ, thì dùng thần thông kỹ pháp để cảm hóa họ tin Phật, đương nhiên gặp những kẻ không nói lý lẽ, thì dùng pháp hàng phục để chế ngự họ, và khi gặp những pháp sư tà ác, bọn thần côn hung bạo, thì phải hiện ra tướng phẫn nộ "Kim Cang nộ mục" để độ họ.

Trong quá khứ, khi tôi chưa khai ngộ, tôi viết các bài với tâm "nhẫn nhục" thuần túy, chịu đựng những sự sỉ nhục lớn nhất thiên hạ mà không hề lên tiếng. Nhưng sau khi khai ngộ thông qua Mật pháp, con người tôi hoàn toàn thay đổi, trở thành người có thể dùng sức mạnh Kim cang tương xứng để hàng phục và độ thoát đối phương tùy theo mức độ ma lực của họ, giúp họ từ mê quay về giác ngộ. Tôi đã hiểu thấu đáo về tướng chúng sinh. Những kẻ đại ác này, chỉ dùng khuyên bảo thì không thể nào khiến họ nghe theo được, có những kẻ hung ác nếu không dùng sự phẫn nộ và quở trách thì không thể độ hóa được họ. Pháp hàng phục này chỉ có trong đại Mật pháp, hoàn toàn xuất phát từ tâm từ bi, tuân theo lời dạy của Phật Thích Ca Mâu Ni, rất có lợi ích đối với những kẻ tà ác nhỏ nhen, tuyệt đối không phải là sự biến hóa của tâm thích ghét cá nhân của Thượng sư.

Lòng từ bi độ chúng sinh và phát nộ quở trách độ chúng sinh, nhìn qua có vẻ là hai việc khác nhau, nhưng thực ra là cùng một đạo lý lớn. Tuy nhiên, tuyệt đối không được sử dụng một cách bừa bãi, có người chưa khai ngộ, hành xử bừa bãi, dùng cảm xúc làm việc, đây chính là phát tâm sân hận, một niệm tức giận, cũng là tà đạo. Nếu là phát nộ quở trách mà nguyên do là để chúng sinh tin phục, thì điều này có công đức. Tức giận phát nộ và từ bi phát nộ, hai điều này khác nhau, điểm này cần phải đặc biệt chú ý.

Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư độ tất cả chúng sinh, dùng ba pháp:
Thứ nhất, là pháp "Tự tính" — Bản thân tôi tu tập bắt đầu từ tất cả nền tảng cơ bản, tức là bắt đầu từ con số 0. Chứng đắc của tôi không phải tự nhiên mà có. Độc giả hoặc đệ tử đọc sách của tôi sẽ biết được quá khứ, hiện tại, tương lai của tôi. Tôi đã từng bước thực tu mà đến. Đời quá khứ của tôi, mặc dù có một số căn cơ, nhưng vẫn luôn làm gương, đây là giáo pháp "Tự tính" của tôi, khiến đệ tử của mình học theo tấm gương của tôi. Năm xưa, Phật Thích Ca Mâu Ni giáng sinh xuống nhân gian, cũng là pháp "thân giáo Tự tính", từ xuất gia tu đạo đến thành đạo, cũng trải qua muôn vàn gian khổ. Đức Phật ở nhân gian, cũng dùng pháp "thân giáo Tự tính" để làm tấm gương cho đệ tử Phật.

Thứ hai, là pháp "Từ bi" — Nhiều đệ tử đều biết, tôi thường rơi lệ vì chúng sinh trong thiên hạ, khi diễn thuyết tại Viện Lập Pháp cũng rơi lệ, nước mắt tôi rơi không biết bao nhiêu lần, thường khi ở mật đàn, niềm bi thương dâng lên từ tận đáy lòng, nước mắt tuôn rơi như mưa, khóc cho đệ tử của mình hoặc chúng sinh. Tôi viết ra những quyển sách chân thực, thành tâm thành ý không ngại phiền hà mà chỉ dạy lặp đi lặp lại, đây là cách thuyết pháp độ chúng sinh của Hiển giáo, như người mẹ hiền, hiện tướng Bồ Tát, tự mình thuyết pháp giáo hóa, cho đến khi đệ tử khai ngộ mới thôi, đây là giáo pháp từ bi của tôi.

Thứ ba, là pháp "Kim cang" — Trong pháp Mật tông, có pháp Kim cang thần, pháp Kim cang Minh vương, pháp Phẫn Nộ Minh Vương. Bởi vì trong chúng sinh, có những kẻ cứng đầu khó độ, tính cách cương cường, đặc biệt là những pháp sư sở hữu ma lực tà pháp, họ là những người khó độ và cứng đầu nhất. Nhưng những chúng sinh cứng đầu khó độ này không thể bỏ mặc, những kẻ ác này cũng là một phần của chúng sinh! Vì vậy, chư Phật Bồ Tát vì loại chúng sinh này, đành phải hiện ra tướng đại phẫn nộ để độ hóa họ, đối phương hung dữ, ta còn hung dữ hơn đối phương, loại mật pháp độ chúng sinh này chính là pháp Kim cang.

Như đại thiên ma, tà thần, ác quỷ, bạn đối xử với chúng bằng lòng từ bi, chúng sẽ không thèm để ý đến bạn, thậm chí còn gây rối lớn cho bạn. Phương pháp duy nhất chính là Kim cang hàng phục, có được pháp Kim cang mới có thể độ được những kẻ cực kỳ hung ác, chính vì đạo lý này, tôi cầm bút để hàng phục.

Đây chính là, mưa pháp từ trời rơi xuống một cách không thiên vị, không riêng tư, người thiện cần độ hóa, kẻ ác cũng cần độ hóa, trong đó không bỏ sót một chúng sinh nào. Đối với người thiện, dùng từ bi; đối với kẻ ác, dùng hàng phục, như vậy mới phù hợp với diệu lý của Phật. Trong Phật pháp có hàng nghìn hàng vạn vị Kim cang thần tướng, đều là những vị hộ pháp lớn của Phật môn, bản tính Kim cang là uy mãnh, các loại tà ma thấy đều bỏ chạy, không ai không bị hàng phục.

Bản thân tôi tu tập pháp Kim cang khai ngộ, vì vậy dùng pháp Kim cang độ chúng sinh, phúc lành mà chúng sinh nhận được nên bình đẳng, đây chính là nhìn chúng sinh một cách bình đẳng. Nếu tôi chỉ độ người thiện mà không độ hóa kẻ ác, để mặc kẻ ác chửi mắng, thì tôi còn được gọi là Kim cương Thượng sư gì nữa!


### 30. Liên Sinh Thượng sư khai thị tâm yếu (6)


Phạm vi của Vô Thượng Mật là gì? Xin thỉnh Thượng sư giải thích về Vô Thượng Mật được không?

Cái gọi là Vô Thượng Mật chính là cảnh giới vô thượng nhất khi tu tập Mật tông. Xét về mặt tín ngưỡng, nó không nằm ở các hình thức nghi lễ bên ngoài, mà nằm ở pháp bí mật trong tự thân.
Tất cả các nghi thức chỉ được gọi là Ngoại Hộ Ma.
Vô Thượng Mật được gọi là Nội Hộ Ma.

Mật tông là một tông phái coi trọng Ngoại Hộ Ma và Nội Hộ Ma. Vì vậy, nói chung các Thượng sư Mật tông sẽ không truyền dạy Nội Hộ Ma ngay lập tức cho một đệ tử mới quy y, mà nhất định phải từng bước một, trước tiên dạy cách lễ Phật, cách cúng dường, cách quán tưởng, cách trì chú, cách gia trì, và khi cúng dường phải theo mọi nghi quỹ, cách tu pháp Hỏa cúng (pháp Hộ Ma), đây đều là những nghi quỹ tu tập Mật tông.

Có Hoạt Phật dạy đệ tử mỗi lần tu trì, chỉ riêng việc tụng chú đã phải mất hơn ba tiếng đồng hồ, chuyên dạy cách nhóm lửa, cách dùng thủ ấn để đặt nhiên liệu hoặc gỗ Hộ Ma. Có rất nhiều hành giả Mật tông, pháp môn tu tập hàng ngày chỉ là pháp Ngoại Hộ Ma, tức là tất cả các nghi quỹ lớn nhỏ bề ngoài mà thôi. Mỗi ngày tu pháp, chỉ là tu trì những thứ này, mà đối với Vô Thượng Mật thực sự thì không hề biết đến.

Vô Thượng Mật thực sự không phải là sự tu trì bề ngoài, mà là bí mật về việc tức thân thành Phật, nghĩa là làm thông suốt hoàn toàn ba mạch trong cơ thể - mạch trái, mạch phải và mạch giữa, biết được phương pháp vận chuyển khí trong ba mạch của cơ thể, sử dụng minh điểm nội hỏa để khơi dậy chuyết hỏa trong cơ thể. Khi chuyết hỏa này lần lượt đi qua bảy luân xa, lên đến luân xa cao nhất ở đỉnh đầu, thậm chí khi chuyết hỏa này đi vào vũ trụ, đạt được sự tương ứng lớn với chư Phật Bồ Tát, phương pháp này được gọi là Nội Hộ Ma, tức là nội hỏa. Người có thể đạt được pháp nội hỏa chính là đã bước vào phạm vi của Vô Thượng Mật. Cái gọi là yoga bảy luân xa thực chất là các đám rối thần kinh và nơi tiết ra hormone trong cơ thể con người. Khi nội hỏa đi qua các luân xa, sẽ sinh ra những cảnh giới rất kỳ diệu.

Khi nội hỏa đi lên, đi qua bảy luân xa, nó sẽ tạo ra một tác động nhất định ở từng vùng cụ thể. Trong đó, luân xa có tác dụng Pháp thân được gọi là luân xa Pháp thân; luân xa có tác dụng báo thân được gọi là luân xa Báo thân; luân xa có tác dụng Hóa thân được gọi là luân xa Hóa thân; luân xa có tác dụng thượng lạc được gọi là luân xa Thượng lạc. Người tu tập Vô Thượng Mật là người hiểu được bí mật của pháp Vô Thượng Mật, người đạt được ấn chứng của Vô Thượng Mật chính là Hoạt Phật. Bất kì hành giả Mật tông nào, sau khi hoàn thiện tất cả các pháp tu Ngoại Hộ Ma, đều có thể tu tập Vô Thượng Mật. Điều này giống như sự rèn luyện của người lính, đi từ ngoài vào trong. 

Tôi đã viết cuốn sách "Vô Thượng Mật và Đại Thủ Ấn", trong sách này, tôi nhấn mạnh thiền định để sinh ra minh điểm nội hỏa, rồi giải thích làm thế nào để phối hợp chú và hơi thở trong quá trình vận chuyển. Sử dụng phương pháp chỉ quán để đạt đến thượng lạc, bao gồm các phương pháp tu tập như bất động, quang minh, ly xá, mộng du, trung ấm, khai đỉnh, phá mê, thường lạc ngã tịnh, v.v…, những phương pháp này chính là tâm đắc trong quá trình tu tập Vô Thượng Mật của tôi.

Thực ra, Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Lư Thắng Ngạn Liên Sinh Tôn Giả đến cứu độ thế gian có nhân duyên nhất định, gánh vác sứ mệnh thiêng liêng làm rạng rỡ truyền thống Mật thừa vô thượng. Cần biết rằng trong thời đại hiện nay, tinh hoa của Hiển giáo đã dần dần giảm xuống chỉ còn lại cặn bã, Phật pháp không còn thu hút sự chú ý của người đời, phong tục tập quán ngày càng thực dụng, con người cá lớn nuốt cá bé, các quốc gia đấu tranh lẫn nhau, hành vi phá hủy chùa chiền và tượng Phật liên tiếp xảy ra, thiên tai và biến động địa lý ngày càng nhiều, có thể nói vận trời đã bất thường, mưa nắng không phân biệt, những căn bệnh kỳ lạ ngày càng nhiều. Tranh chấp giữa con người trở nên vô lý, lúc này, ma quỷ khắp thiên hạ xuất hiện, thế gian trở thành thiên hạ của ma giáo, đen bị nói thành trắng, trắng bị nói thành đen, yêu ma quỷ quái hoành hành khắp nơi, người xuất gia không còn giống người xuất gia, phụ nữ cũng không giữ đạo làm vợ, khi lạnh không lạnh, khi nóng không nóng. Và chính vào lúc này, tôi gánh vác trọng trách lớn lao phát dương Mật giáo, muốn Mật giáo hưng thịnh để cứu đời.

Khi tôi mới chứng đắc, có người thấy Chân Phật Tông hóa thành ngọn lửa, đỏ rực cả bầu trời, cũng có người thấy thiên thần giáng xuống cúng dường Thượng sư. Khi Thượng sư thuyết pháp, đỉnh đầu hiện ánh sáng vàng, trên trời có hoa tươi rơi xuống, và trên không xuất hiện ánh cầu vồng ngũ sắc, có nhiều thiên thần và hộ pháp đứng lắng nghe. Khi ngồi thiền định, nhiều người thấy xung quanh Thượng sư có cờ phướn, lọng che, có nhiều thiên nhân vui vẻ ca múa dưới những tràng phan đó.

Nhiều người bị bệnh được Thượng sư gia trì đều khỏi hẳn; người gặp hoạn nạn được Thượng sư gia trì đều giải thoát khỏi mọi tai ương; tất cả những điều chưa biết đều được giải đáp tường tận. Thượng sư là hóa thân của Như Lai ba đời, tất cả kinh giáo đều thông hiểu tường tận, và đều có thể truyền dạy, tất cả thần thông trí tuệ đều vô thượng, được tất cả Như Lai khen ngợi, vì vậy tất cả hiền nhân trong cõi người đều năm vóc sát đất kính lễ Thượng sư.

Trên thế giới hiện nay, không có nhiều người hiểu được Vô Thượng Mật, còn tôi là người thực sự đạt được, và là người nói lời chân thật. Mật pháp nằm trong tay tôi, bất kể là Nội Hộ Ma hay Ngoại Hộ Ma, tất cả Mật pháp đều chứa trong lòng tôi. Người đời ngày nay muốn tìm một vị Thượng sư chân chính, cần phải mở to mắt, đừng nhìn trắng thành đen, đen thành trắng. Như Hắc giáo độc ác ở Tây Tạng, những pháp tà ác cũng mạo danh là Mật tông, trong khi Mật tông và Hắc giáo vốn như nước với lửa, làm sao có thể để giáo pháp tà ác đó lẫn lộn vào được.

Thượng sư kế thừa sau Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, là vị Kim Cang Phẫn Nộ thứ hai phá trừ Hắc giáo.


### 31. Liên Sinh Thượng sư khai thị tâm yếu (7)


Mối quan hệ giữa Kim Cang Đại Uy Đức và Thần Trâu của Hắc giáo là gì?
Đại Uy Đức Kim Cang có oai lực và công đức gì?
Làm thế nào để tu pháp Đại Uy Đức Kim Cang?

Đại Uy Đức Kim Cang là một trong năm Đại Kim Cang, tên tiếng Phạn là Yamantaka, có nghĩa là hàng phục các loài ma, các tên gọi khác là Địch Trị Tử Vong, Thánh Yamantaka Uy Nộ Vương, Hàng Phục Diêm Ma Tôn, và nhiều tên gọi khác.

Đại Uy Đức Kim Cang thường thấy ở Nhật Bản có sáu mặt, sáu tay, sáu chân, cưỡi trâu nước màu xanh. Một hình tượng khác có ba mươi hai đầu, ba mươi sáu tay, được gọi là Đại Uy Đức Kim Cang thập tam tôn.

Mật hiệu của Đại Uy Đức Kim Cang là Uy Đức Kim Cang, là hóa thân phẫn nộ của Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi. Do toàn thân có màu xanh đen, thân hình đặc biệt to lớn và toàn thân bốc lửa, mang hình tướng cực kỳ phẫn nộ, nên có thể hàng phục tất cả ác ma độc long, đoạn trừ mọi chướng ngại, khiến tất cả ác ma nhìn thấy đều sinh lòng sợ hãi. Vị này trong Mandala Thai Tạng Giới được đặt ở bên trái Bồ Tát Bát Nhã trong viện Trì Minh.

Kinh Phật ghi lại như sau: "Toàn thân màu xanh đen, tóc dựng đứng bốc lửa, mang hình tướng phẫn nộ, khuôn mặt chính phía trước, há miệng cười lớn, bốn nanh đều lộ ra, bên trái và phải mỗi bên một mặt, trên đỉnh đầu có ba mặt, răng trên cắn xuống dưới, sáu tay sáu chân, hai tay chính phía trước, bắt chéo vào trong, ngón giữa chụm thẳng lên; một tay bên phải khuỷu mở, cầm gậy buông xuống nghiêng về phía phải, một tay giơ lên, khuỷu tay thẳng, cầm kiếm hướng vào thân; một tay bên trái khuỷu mở và buông thẳng xuống, cầm bánh xe nghiêng về phía trái; một tay giơ lên cầm đinh ba hướng vào thân. Mặc lụa màu xanh, hai đầu bay lên, váy da báo, không đội mũ, ngồi trên tòa đá hoặc ngồi trên trâu xanh hoặc đứng, ba chân bên phải buông xuống, chân đeo vòng, đầu gối và ống chân đều lộ ra, tai đeo vòng ngọc." Đây là hình tượng của Đại Uy Đức Kim Cang.

Hơn nữa, trong "A Tì Già Lỗ Ca Nghi Quỹ Kinh" viết: "Tượng Yamantaka, sáu mặt sáu tay chân, thân đen bụng như sói, phẫn nộ cầm đầu lâu tóc, mặc váy da hổ, cầm nhiều loại binh khí, trông vô cùng đáng sợ, mắt đỏ hình dạng hung ác, ba mắt làm đặc điểm, tóc dựng đứng như ngọn lửa, hoặc có màu khói đen, cưỡi trâu nước."

Tượng Đại Uy Đức Kim Cang mà tôi từng thấy là pháp tướng của Mật tông Tây Tạng, đầu mọc hai sừng trâu lớn, toàn thân đeo đầu lâu, hình tượng đứng, nhiều tay nhiều đầu, vô cùng phẫn nộ và uy vũ.

Do sự kiện Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đến Tây Tạng truyền Mật pháp, trong khi trước đó Tây Tạng vốn tin theo tà pháp Hắc giáo, nên Mật giáo và Hắc giáo vốn như nước với lửa. Điểm này có thể đọc trong "Lược sử Ứng hóa của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ" trang 43: "Vua mời Đại Sĩ tranh luận với Hắc giáo, Hắc giáo không thể thắng. Vì thế Hắc giáo đã bị dập tắt...". Trong "Lược sử Ứng hóa của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ" đã trình bày rất chi tiết về việc Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã phá trừ Hắc giáo như thế nào.

Hơn nữa, do người dân Tây Tạng mê tín Hắc giáo rất sâu, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chỉ có thể tận dụng tâm lý mê tín Thần Trâu của người Tây Tạng, hóa hiện Đại Uy Đức Kim Cang để thu hút tâm lý tôn thờ Thần Trâu của dân Tạng, mà Đại Uy Đức Kim Cang thực ra không phải là Thần Trâu của Hắc giáo, đây là một trong những phương pháp ứng biến tùy thuận của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.

Vì người Tây Tạng tin thờ Thần Trâu và Hắc giáo, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã sử dụng hình dạng trâu của Đại Uy Đức Kim Cang để thu hút tín đồ Hắc giáo chuyển sang tu Mật tông, đây thật là một dụng tâm sâu sắc.

"Lược sử Ứng hóa của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ" ghi chép chi tiết việc Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đại chiến với Hộ pháp đại ác của Hắc giáo là Gia Ô Nạp Trát, khiến sứ giả đại ác của Hắc giáo quy y Mật giáo, Đại Sĩ ban pháp danh Đóa Kiết Hữu Uy.

Vua Tây Tạng thời đó đã cung thỉnh Liên Hoa Sinh Đại Sĩ và Bả Đắc Tát Đỏa để phá trừ Hắc giáo, trước tiên mở trường quốc học, khiến người Tạng học tiếng Phạn và Hiển giáo. Cuối cùng, việc phá trừ Hắc giáo thành công, Vua Trisong Detsen tuyên bố: "Hắc giáo là ngoại đạo, ra lệnh trục xuất ra khỏi biên giới, quân dân không được học tập, ai vi phạm lệnh này sẽ bị trừng phạt ngay lập tức." Đoạn văn này được đăng tải ở trang 40 của "Lược sử Ứng hóa của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ".

Vì vậy, Hắc giáo và Mật tông hoàn toàn như nước với lửa.
Hắc giáo hoàn toàn không phải là Mật tông.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ ở Tây Tạng, đã dùng hình tượng Đại Uy Đức Kim Cang để chuyển hóa niềm tin vào Thần Trâu của Hắc giáo của người Tây Tạng, đây chính là mối liên hệ nhỏ giữa Đại Uy Đức Kim Cang và Hắc giáo.

Người tu pháp Đại Uy Đức Kim Cang, nên trước tiên tu pháp Văn Thù Bồ Tát, bởi vì Văn Thù là căn bản của Đại Uy Đức Kim Cang, đây là một tâm hai hóa thân của Bồ Tát Văn Thù, là cách dễ thành tựu hơn. Nếu tu pháp Văn Thù đến mức thuần thục, lúc này vì "gốc vững đạo sinh", tự nhiên sẽ có duyên phận rất lớn với Đại Uy Đức Kim Cang, khi tu tiếp pháp Kim Cang, tự nhiên sẽ nhanh chóng có được sự tương ứng.

Để tu trì pháp này, cần học "chuyển pháp", tức kết ấn giáo lệnh luân của Đại Uy Đức Kim Cang, chân phải đứng, chân trái co nâng lên xoay tròn, từ tâm phẫn nộ biến thành tướng phẫn nộ. Công đức của pháp này rất lớn, khiến mọi kẻ thù người ác không thể làm hại, tất cả quỷ thần đều phải nghe lệnh.

Nói chung, việc thi triển pháp Kim Cang đều nhằm hàng ma trừ ác, khiến kẻ thù người ác không thể làm hại, đặc biệt thần lực của pháp Đại Uy Đức Kim Cang khiến các ma sợ hãi, pháp lực và giáo lệnh của pháp này được xem là đệ nhất. Người tu pháp này cũng nhất định thành Phật, vì vậy phái Hoàng giáo xem pháp Đại Uy Đức Kim Cang là pháp tối thượng.

Tôi viết một bài kệ, tán rằng:
*Uy đức như trời cao xanh thẳm
Phẫn nộ tóc đỏ ngọn lửa dài
Giáo lệnh vừa ban oai nghiêm mạnh
Mật pháp cửa Phật được tung bay.*


### 32. Liên Sinh Thượng sư khai thị tâm yếu (8)


Có rất nhiều người tu theo Hiển giáo, trước khi quy y với tôi, đều hỏi tôi rằng, họ đã niệm Phật nhiều năm, mong được vãng sinh về Tây phương Cực Lạc thế giới của Đức Phật A Di Đà, bây giờ họ muốn quy y theo Chân Phật Tông của tôi, không biết có xung đột không, liệu môn phái Chân Phật Tông của Thượng sư có thể vãng sinh về cõi Tịnh độ của Đức Phật A Di Đà không?

Tôi nói, Chân Phật Tông cũng có đại pháp vãng sinh về Tây phương Cực Lạc thế giới, pháp này gọi là "Di Đà Mật pháp"; Di Đà Mật pháp là pháp mà cả Hiển giáo và Mật giáo đều tu trì, hoàn toàn chú trọng vào nhất tâm bất loạn, về phương diện này, vẫn vãng sinh về Tây phương Cực Lạc thế giới. Ngoài ra, nói thẳng thắn, "Liên Hoa Đồng Tử Kim Cương tương ứng pháp" nếu tu trì đến thành tựu, cũng vãng sinh về Tây phương Cực Lạc thế giới. Bởi vì thế giới của Liên Hoa Đồng Tử chính là Ma Ha Song Liên Trì của Tây phương Cực Lạc thế giới, vốn nằm trong Tây phương Cực Lạc thế giới. Liên Hoa Đồng Tử này đến từ Phật quốc của Phật A Di Đà ở Tây phương, và cõi Phật tối hậu của ngài vẫn là Tây phương Cực Lạc thế giới.

Pháp tu vãng sinh, giống nhiều khác ít, có người nhất tâm trì niệm thánh danh, nhất tâm là có thể vãng sinh, Phật A Di Đà sẽ đến tiếp dẫn khi lâm chung.

Pháp tu của Thiền tông cũng dựa vào nhất tâm bất loạn, chú trọng vào tu thiền định, cầu minh tâm kiến tính, tự tâm sáng tỏ hoặc tự quán bản tính Di Đà, ta chính là Di Đà, Di Đà chính là ta, tâm này là Phật, Phật chính là tâm này, cũng có thể đạt được thành tựu.

Ngoài ra, người tu tập Vô thượng mật, nhờ vào sự biến hóa của tự tâm hòa nhập với Phật quang, đó chính là đại pháp tức thân thành Phật.

Có nhiều người hỏi tôi, vãng sinh về Tây phương Cực Lạc thế giới cũng có những cảnh giới khác nhau sao? Tôi nói đương nhiên là có, vì trình độ tu tập khác nhau nên cảnh giới vãng sinh cũng khác nhau. Tôi đặc biệt liệt kê như sau:
1. Phàm Thánh Đồng Cư — Hoàn toàn dựa vào niệm Phật, được Phật A Di Đà tiếp dẫn vãng sinh, đây là cảnh giới mang nghiệp vãng sinh.
2. Phương Tiện Hữu Dư — Đã niệm Phật và tịnh hóa nghiệp, được Phật A Di Đà tiếp dẫn vãng sinh, đây là cảnh giới tịnh nghiệp vãng sinh.
3. Thực Báo Trang Nghiêm — Đã niệm Phật và tu thiền định, đây là cảnh giới kiến tính phát quang, thấu hiểu tự tính.
4. Thường Tịch Quang — Đã tu trì Vô thượng mật, đạt đến cảnh giới tức thân thành Phật, thật sự thành tựu Phật tính.

Vì vậy, việc tu trì mật pháp của Chân Phật Tông và Hiển giáo hoàn toàn không xung đột, không có sự phân biệt nào. Chân Phật Tông của chúng ta không chỉ có thể niệm Phật, cầu nhất tâm bất loạn, mà còn có thể niệm Phật tịnh nghiệp, hơn nữa còn có thể tu trì thiền định, phát khởi ánh sáng trí tuệ. Thêm vào đó là sự tu luyện Vô thượng mật, có thể tức thân thành Phật, dễ dàng đạt được thượng phẩm thượng sinh ở Tây phương Cực Lạc thế giới, và không cần phải ở trong cõi Phàm Thánh Đồng Cư nữa.

Sự tiếp dẫn của Tây phương Cực Lạc thế giới được chia thành bốn cõi, chín phẩm liên hoa sinh. Điều này là do căn cơ của chúng sinh, mỗi người khác nhau, có người căn cơ lanh lợi, có thể tu Vô thượng mật, có người căn cơ chậm lụt, chỉ có thể dạy pháp niệm Phật đơn giản. Tuy nhiên, niệm Phật tự nhiên cũng là một trong những phương tiện tu trì, và mục đích cuối cùng vẫn là Vô thượng mật để thành Phật, đây mới là niết bàn rốt ráo chân chính.

Tuy nhiên, các phương pháp tu tập của Chân Phật Tông cũng có những cảnh giới riêng, mỗi pháp đều khác nhau, hoàn toàn tùy thuộc vào tâm nguyện bổn tôn của mỗi người mà đạt được những thành tựu khác nhau.

Ví dụ, có người chuyên tu Liên Hoa Đồng Tử Kim Cương tương ứng pháp", không tu bất kì pháp nào khác, khi người đó lâm chung, nhất tâm bất loạn, chắc chắn sẽ vãng sinh về Ma Ha Song Liên Trì ở Tây phương Cực Lạc thế giới, thành tựu quả vị Liên Hoa Bồ Tát, đây là chuyên tâm thành nhất niệm, nhất niệm thành nhất tâm, nhất tâm vãng sinh, nhất định thành tựu, Ma Ha Song Liên Trì đã nở ra một đóa sen, bạn tu tập theo phương pháp này sẽ đạt được quả vị vĩ đại như vậy.

Nếu có người chỉ muốn tu pháp Yết Ma thì người đó sẽ đạt được thành tựu Yết Ma, có thể giúp đỡ người khác, có thể cứu người, tu tất cả các pháp đều có cảm ứng, được mọi người kính trọng, như đã mô tả trong sách này, đủ loại Yết Ma pháp, vừa tu liền thành, vừa tu liền tương ứng, giúp đỡ được nhiều người, nhận được phúc báo lớn.

Nếu có người chỉ tu pháp chư Thiên, chư Thiên có lời thề riêng của chư Thiên, dựa vào lời thề gốc này, cũng có thể vãng sinh về cõi chư Thiên, khi lâm chung, sẽ là thăng thiên thành tiên, tiên nhân đều dựa vào lời thề gốc mà thăng thiên, mỗi một thiên cung có lời thề và đặc tính riêng của thiên cung đó, tu pháp chư Thiên sẽ có đặc tính này.

Về việc tu pháp Bổn tôn, thực chất là dựa vào đặc tính của chính bạn để tìm kiếm đặc tính của Bổn tôn phù hợp. Khi đặc tính của bạn và đặc tính của Bổn tôn hòa hợp, tự nhiên sẽ dễ dàng thành tựu tương ứng, có thể vãng sinh về cõi tịnh thổ của Bổn tôn. Điều này tùy thuộc vào căn duyên của bạn từ đâu đến, mà tu luyện Bổn tôn tương ứng, với mong muốn trở về nơi căn duyên của mình. Vì vậy, pháp Bổn tôn là yếu tố hàng đầu trong việc tu hành của hành giả Mật tông, dù tu thêm bất kì pháp nào khác, pháp Bổn tôn không thể ngừng lại, đây là pháp tu không được từ bỏ trong suốt cuộc đời, nhằm thành tựu cõi tịnh thổ của Bổn tôn.

Khi đạt đến cảnh giới hóa quang, có thể tu luyện để du hành khắp mười phương cõi Phật, đây chính là trú ở mười phương cõi Phật. Cảnh giới tu luyện này là cảnh giới của bậc Thượng sư, có duyên với mười phương chư Phật, có thể đến bất kì cõi Phật nào tùy ý, tự do tự tại, muốn đến đâu thì đến đó.

Cảnh giới cao nhất là "tức thân thành Phật", tự mình đã thành Phật, hoàn toàn không bị ràng buộc, như như bất động, trong cảnh giới này là điều không thể nghĩ bàn, không thể nói, cũng là bất khả tư nghì, không phải con người có thể tưởng tượng được, thậm chí bản thân có thể biến thành một cõi Phật tịnh thổ, điều không thể nói này tôi lại đã nói ra một chút rồi.

Người tu tập Hiển giáo, sau đó tu Chân Phật Tông, hoàn toàn không có điểm nào không hợp nhau, không chỉ vậy, còn hiểu rõ mọi tình cảnh của Tây phương Cực Lạc thế giới, dễ dàng vãng sinh hơn, và cảnh giới vãng sinh còn cao hơn. Chân Phật Tông của tôi có thể khiến người căn cơ lanh lợi lẫn chậm lụt đều được thân tâm an lạc, vì vậy trong tất cả các giáo phái là giáo phái số một, đây là pháp duyên thù thắng nhất trong đời này.


### 33. Liên Sinh Thượng sư khai thị tâm yếu (9)


Tại sao Chân Phật Tông là thù thắng nhất?
Tại sao Chân Phật Tông đáng để chúng sinh quy y và tu trì?
Chân Phật Tông đại diện cho điều gì?

Tôi nói, Phật giáo chia thành hai giáo: Hiển giáo và Mật giáo.
Trong Hiển giáo, lại có sự phân chia giữa Đại thừa và Tiểu thừa. Phật giáo Tiểu thừa chỉ Câu Xá Tông và Thành Thật Tông. Các tông phái của Đại thừa có Tịnh Độ Tông, Luật Tông, Hoa Nghiêm Tông, Duy Thức Tông, Bát Nhã Tông, Thiền Tông, Pháp Hoa Tông.

Mật giáo là một nhánh của Phật giáo Đại thừa, Mật tông Tây Tạng lại chia thành bốn giáo: Hồng giáo (phái Nyingma), Bạch giáo (phái Kagyu), Hoàng giáo (phái Gelug), Hoa giáo (phái Sakya). Mật giáo được hoằng dương ở núi Thiên Thai chính là Thai mật hoặc Đường mật. Mật giáo được Không Hải thượng nhân - Hoằng Pháp đại sư hoằng dương tại Nhật Bản là Đông mật.

Những tông phái Đại thừa và Tiểu thừa này của Phật giáo, vào thời đại của Phật Thích Ca Mâu Ni, không có sự phân biệt tông phái như vậy, mà đến sau này, người truyền pháp thiên về việc tuyên dương một pháp nào đó, đặc biệt chú trọng vào pháp đó, hình thành nên hình thức tông phái, như Thiền Tông thiên về thiền, Luật Tông thiên về giới luật, chỉ đơn giản như vậy thôi.

Hôm nay tôi hoằng dương Chân Phật Tông, điều này có ý nghĩa đặc biệt, vì bản thân tôi đã tu hành hơn mười năm, đã bái nhiều vị thầy, Phật Thích Ca Mâu Ni đã xuất hiện trong thiền định, ban cho tôi quán đảnh thọ ký, nói rằng trong tương lai nhất định sẽ thành Phật. Tôi cũng đã thăng lên cõi trời Đâu Suất, gặp Bồ Tát Di Lặc, Bồ Tát Di Lặc và chư vị tổ sư đã ban tặng mũ miện đỏ thiêng liêng, tôi trở thành "Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Đại Trì Minh Lư Thắng Ngạn Liên Sinh Mật Hành Tôn Giả". Tông phái của tôi được Phật Thích Ca Mâu Ni và chư Phật Bồ Tát phó thác, nghĩa là được trực tiếp phó thác bởi chư Phật Bồ Tát. Với sự thọ ký trực tiếp từ Phật Thích Ca Mâu Ni và việc được Bồ Tát Di Lặc ban tặng mũ miện đỏ, tôi đã trực tiếp thừa kế từ cõi Phật, chuyển thế từ hoa sen, đến khắp thế giới để hoằng dương giáo pháp cứu độ. Vì có mối quan hệ đặc biệt này, Chân Phật Tông đương nhiên là thù thắng nhất.

Trong thế giới hiện nay, Chân Phật Tông xứng đáng để chúng sinh quy y, học pháp, không chỉ vì pháp duyên thù thắng nhất, mà còn có những đặc điểm riêng biệt:
"Chân" — là tối thượng, là sự tổng hợp của tất cả các tông phái, là sự xuất hiện của tự tính và hợp nhất với cái tối thượng.
"Phật" — là chính giác, là sự giác ngộ và giải thoát cao nhất của tam muội, là tâm pháp tối thượng của Mật tông Phật giáo.

Tông phái của tôi không phải là tông phái của số ít người, nó mang lòng thành kính của Cơ Đốc giáo, lời dạy về hành thiện của Đạo giáo, phương pháp tu luyện tự tính, để đạt đến chính giác của Phật. Vì thế, Chân Phật Tông trong toàn thế giới, là bao dung, là sự truyền dạy đặc biệt của đại pháp, không phải tầm thường, là ngọn đèn sáng của thế kỷ này.

Chư Phật Bồ Tát ca ngợi Chân Phật Tông, công nhận là đệ nhất trong các giáo pháp, năng lực độ hóa vô lượng vô biên, là Phật pháp vừa phương tiện vừa thâm sâu, là con đường chân lý vĩ đại dẫn đến cõi Phật thanh tịnh. Tông phái này có thể giải thoát tai kiếp và phiền não, chuyển hóa tất cả pháp hữu lậu thành vô lậu, chuyên trừ ba độc tham, sân, si; và Chân Phật Tông còn có pháp Yết Ma vi diệu, có cầu ắt có ứng, mọi điều cầu nguyện đều như ý. Người học và tu trì Chân Phật Tông, cao nhất có thể thành Phật, thấp nhất cũng được lên cõi trời, đạt quả vị và tuổi thọ dài lâu như cõi trời. Vì là "tức thân thành Phật" nên không cần đến cõi Phàm Thánh Đồng Cư để tu luyện, mà lập tức thành Phật, chân thật không sai, nhất định thành tựu.

Chân Phật Tông là pháp môn huyền diệu như vậy, nên mọi người hãy tìm đến minh sư, quy y Thượng sư, lấy pháp của Chân Phật Tông làm pháp, lấy Thượng sư của Chân Phật Tông làm Thượng sư nương dựa, trước tiên học nghi quỹ, sau đó tụng chân ngôn, cuối cùng học pháp Nội tu.

Chúng sinh trong thế giới hiện tại đều rất đau khổ, vừa tham lam, vừa sân hận, vừa ngu si, tâm vọng cùng với vọng niệm, những gì tự mình làm không ngoài tội lỗi, không ngoài nghiệp chướng, bản thân không có phúc đức nhưng lại oán trách chư Phật Bồ Tát không từ bi. Không chỉ vậy, tự mình không có pháp, lại tự cho mình là giỏi, tự nhận là sáng suốt, mở miệng liền phỉ báng. Phước báu mỏng manh, phỉ báng lại nhiều, những người như vậy cần phải mau chóng tỉnh ngộ sám hối, nhanh chóng buông đao đồ tể xuống, vẫn có thể lập tức thành Phật, chỉ cần quy y Chân Phật Tông, nhận được quán đảnh gia trì của Thượng sư, nghiệp chướng từ nhiều đời sẽ được tiêu trừ, cũng sẽ mở được tuệ nhãn, phước báu cũng tăng thêm, tu pháp được đại thành tựu.

Hôm nay, tôi thiết lập Chân Phật Tông là trực tiếp thừa kế từ Phật Thích Ca Mâu Ni, có trí tuệ Mật pháp vô thượng rất sâu sắc. Công đức của tông phái này là vĩ đại nhất, có đại trí tuệ, hoàn toàn là sự tu luyện lý trí, sự hoằng dương trong tương lai sẽ chiếu sáng như mặt trời, tất cả đệ tử quy y đều là Pháp Vương tử, Phật tử. Chân Phật Tông này như tiếng sấm pháp của mặt trời đã vang lên, làm cho mầm mống trong tâm người trưởng thành. Pháp môn của tôi chính là vô lượng pháp môn, nghĩa của tôi chính là vô lượng nghĩa. Chỉ khi nương tựa vào pháp môn vĩ đại như vậy, chúng sinh mới đạt được chân đế.

Chân Phật Tông của tôi nguyên là một pháp môn Phật pháp thiện xảo cứu thế đạt đến sự thâm sâu trong thời kỳ Phật pháp suy hoại. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ khi khai thị cho hậu thế, đã từng tiên tri và ghi lại tên của tông phái này cùng danh hiệu của vị Kim Cương Thượng sư, cất giấu ở nhiều nơi trong đất, nước, lửa, gió, không. Đây là nhân duyên ứng hóa xuất thế của vị Thượng sư cứu thế, đây là nhân duyên, cũng là định mệnh từ kiếp trước.

Ngày nay, Chân Phật Tông và Thượng sư Lư Thắng Ngạn đã hoàn toàn thấu hiểu nguồn gốc kinh điển nghi quỹ của hai giáo, cùng câu chuyện gốc của chư vị Bồ Tát Mật thừa, đã sớm hợp nhất với đấng tối cao, đã thực sự chứng đắc. Từ nay về sau, vị Maha Pandhita này sẽ chu du bốn biển, để giáo hóa, phổ độ chúng sinh.


### 34. Liên Sinh Thượng sư khai thị tâm yếu (10)


Có rất nhiều đệ tử không thể tĩnh tâm trong lúc ngồi thiền, khi tu pháp, vọng niệm bay đầy trời, ai cũng hỏi tôi phải làm sao?
Câu trả lời của tôi là: "Đừng quan tâm đến nó, hãy buông bỏ tất cả, chỉ khi buông bỏ mới có thể nhập thiền."

Tuy nhiên, câu nói "đừng quan tâm đến nó", "buông bỏ tất cả" của tôi quá sâu sắc, tôi cần phải giải thích rõ hơn.

Lấy tôi làm ví dụ. Khi tôi muốn nhập vào trạng thái trong lúc tĩnh tọa, chỉ trong một sát-na là có thể làm được, tính bằng giây thôi, trong một sát-na một ý niệm, linh thức của tôi đã trụ vào cảnh không, đi vào bản thức của vũ trụ, nhận được đại quán đảnh từ chư Phật mười phương, đây là niềm hỷ lạc vĩnh hằng. Trong một sát-na, thế giới người và cõi Phật đã thông nhau, vì vậy tôi là người "tức thân thành Phật".

Tại sao tôi có thể làm được như vậy, vì tôi đã "buông bỏ" tất cả.

Tôi thành thật, chân thành nói với mọi người rằng, tôi của ngày hôm nay không còn là tôi của ngày xưa nữa, tôi của ngày hôm nay đã là Phật đã thành tựu. Phật này đã hiểu rõ tất cả, tự do tự tại, không đến cũng không đi. Trong khoảng trời đất này, không có một chút phiền não nào, cũng không có một chút lo lắng nào, không có một chút đau khổ nào, cũng không có một chút hoang mang nào, đó chính là sự buông bỏ hoàn toàn.

Tất cả những thứ bên ngoài thân đều đã buông bỏ, ví dụ như ăn, mặc, ở, đi lại, giáo dục, giải trí của tôi. Những quyền lực, địa vị, danh tiếng, tiền bạc của tôi, tôi đều bình thản, tự do để chúng đến, tự do để chúng đi. Tôi đối với sinh mệnh cũng như vậy, nếu ngày mai tôi chết, hôm nay tôi cũng không hoảng hốt, tôi đã giữ thái độ rằng sự tồn tại của sinh mệnh không quan trọng đối với tôi.

Nói thẳng thắn hơn, cho dù ngày mai, những người thân thiết nhất của tôi đều chết sạch, ngày mai, tôi cũng qua đời, hôm nay tôi cũng không hoảng hốt, cho dù hiện tại đang sống, phút sau đã chết, tôi vẫn cười hề hề. Đây chính là tôi đã phá vỡ và buông bỏ hoàn toàn cửa ải sinh tử. Thiên tai địa biến, người thân đều chết hết, kể cả bản thân tôi cũng kết thúc, tôi cũng không nhíu mày. Tôi tu luyện đến nay, không chỉ buông bỏ vật ngoài thân, mà ngay cả vật trong thân cũng buông bỏ như nhau. Ha ha!

Có người nghĩ rằng, phỉ báng Lư Thắng Ngạn, thậm chí kiện Lư Thắng Ngạn, chà đạp Lư Thắng Ngạn, ông ấy chắc chắn sẽ bất an, nhưng họ đã sai, bởi vì một người buông bỏ tất cả, ngay cả sinh mạng còn không quan trọng, thì danh dự là gì, danh dự danh dự, còn không bằng mây khói thoáng qua. Tôi tu hành đến mức độ này, nếu có kẻ xấu, ép tôi ăn phân, tôi cũng sẽ ăn một cách ngon lành.

Một hành giả chân chính, khi tu luyện đến mức thấu triệt, tư tưởng "mọi sự như như" sẽ xuất hiện. Tôi hiện giờ cũng vậy, đánh tôi cũng tốt, mắng tôi cũng tốt, giết tôi càng tốt, đã buông bỏ tận gốc rồi, tôi chẳng cần gì nữa, giữa trời đất này căn bản không có chuyện gì đáng sợ, đáng e ngại, đáng khiếp hãi, đáng phiền não.

Buông bỏ này là gì? Chính là "không để một sợi tơ nào vướng trong tâm".

Tôi nói với mọi người, chúng sinh khi tĩnh tọa, tại sao tạp niệm bay đầy trời, vọng niệm không ngừng, đó chính là vì không buông được. Không buông được nên tạp niệm vọng tưởng không dứt, tham thiền như vậy sẽ không thể nhập vào trạng thái đúng đắn.

Đệ tử của tôi thường xuyên viết thư kể về phiền não của họ, những phiền não này đến từ chính bản thân họ hoặc người thân của họ. Có người phiền não vì nghèo khó, không có tiền; có người phiền não vì không có con cái hoặc con cái không ngoan; có người phiền não vì thân thể có bệnh tật, không bình an; có người phiền não vì gia đình không viên mãn; có người phiền não vì nghề nghiệp; có người phiền não vì danh lợi địa vị, v.v. Những người có loại phiền não này, nếu học tham thiền tĩnh tọa, vừa ngồi xuống, nỗi khổ não liền khởi lên, cắt không đứt, càng gỡ càng rối, đây chính là căn bệnh chung của phàm phu thế tục.

Người có phiền não chính là người không thể nhìn thấu, không thể hiểu thấu, không thể buông bỏ. Trước tiên phải học cách nhìn thấu, hiểu thấu, buông bỏ, ngay cả một ý niệm cũng không nên giữ lại. Một số người nói rằng môi trường tĩnh tọa không tốt, quá ồn ào, không có chỗ, đây cũng là không buông bỏ được. Người tu hành chân chính, ngay cả trên xe buýt cũng có thể nhập thiền định, đi bộ trong chợ cũng có thể nhập thiền định, bởi vì họ đã hiểu thấu tất cả, mọi môi trường đều trở nên Không.

Có những người còn ngu si hơn, bản thân không tin nhân quả, cũng không tin Phật, lại ngu muội vô tri, hoang mang không định hướng, thấy người khác ngồi thiền cũng muốn ngồi thiền, họ chỉ muốn thử một lần, nhưng khi thử thì rắc rối lớn xảy ra, bị nhập ma, kêu trời gọi đất cũng vô ích. Những người này thật tệ hại nhất, vì họ thậm chí không biết một chút đạo lý về tu hành thiền định mà đã bắt đầu bắt chước, kiểu ngồi thiền như vậy đương nhiên sẽ bị nhập ma.

Buông bỏ là gì? Đó chính là không để bất kì sự việc nào làm động tâm, cũng chính là cảnh giới như như bất động. Tôi biết rằng, đây là một điều rất khó khăn, nhưng trong thứ tự và giai đoạn tu hành, trước tiên phải buông bỏ môi trường bên ngoài, sau đó buông bỏ cái tôi bên trong. Trước hết, hãy cô lập bản thân về mặt thời gian, sau đó là hòa hợp hoàn toàn về mặt không gian, không trụ tâm vào quá khứ, không trụ tâm vào tương lai. Không gian hoàn toàn bị phá vỡ, ngã kiến cũng biến mất, môi trường biến mất, thân thể biến mất, khi tất cả đều được buông bỏ, tự tính sáng suốt rộng lớn sẽ hiện ra, đưa ta vào một cảnh giới cao hơn trong giai đoạn tu hành.

Muốn đắc đạo, muốn chứng chân, cần phải buông bỏ. Hôm nay, tôi - Thượng sư Lư Thắng Ngạn - hoàn toàn không vướng bận, tự tại thong dong, dù cho khoảnh khắc tiếp theo có là cái chết, cũng không sợ hãi, không e ngại, dù cho trời sập, đất nứt, Thái Sơn sụp đổ trước mặt, vẫn cười hề hề, hoàn toàn không sợ, hoàn toàn không e ngại.

Muốn tĩnh tọa tham thiền, trước tiên phải học buông bỏ. Buông được thì tạp niệm vọng tưởng sẽ không còn, buông không được thì vẫn là phàm phu thế tục, chỉ đơn giản vậy thôi.


### 35. Từ cảm ứng Phật thất đến đồng tu Mật pháp


Sống tại số 245 đường Trung Sơn, thành phố Gia Nghĩa, Lại Bách Toàn là một Phật tử thuần thành, pháp danh Đức Giới. Ông đã quy y Chân Phật Tông. Trước đây, ông đã tham gia nhiều lần "Phật thất" và có nhiều cảm ứng. Nay tôi tiết lộ thư của ông và bình luận thêm. Lại Bách Toàn là kỹ sư tại Cục Điện Tín Gia Nghĩa.

*Thượng sư Lư huệ nhãn minh giám!*

*Đã cách biệt nhiều năm, từng được Thượng sư từ bi chỉ dạy, đến nay chưa dám quên dù chỉ một khoảnh khắc. Hân hoan được biết Thượng sư đã chứng đắc Phật trí, thâm nhập biển Phật tính, diễn thuyết đại pháp âm. Niềm vui và cảm giác thân thuộc tự nhiên dâng trào trong tâm, giống như Thượng sư đã từng đến thăm nhà chúng con, đến tận Phật đường của kẻ hèn này, và từ bi hơn nữa là đã chọn đất mai táng cho người cha quá cố, tất cả những trải nghiệm này thật sống động và gần gũi, vững vàng và chân thật, tự nhiên mà không gượng ép.*

*Anh em nhà kẻ hèn này, may mắn được kết pháp duyên với Thượng sư, chẳng phải là duyên từ kiếp trước sao! Cả gia đình chúng con tin Phật, học Phật, niệm Phật, trên con đường cầu pháp, cùng nhau khuyến khích, thảo luận, trao đổi, chia sẻ tâm đắc. Từ trí tuệ bát nhã của Hiển giáo đi vào, từ chỉ - quán -giới - định - huệ khởi hành, rồi quay về ứng dụng trong cuộc sống hàng ngày, và làm thế nào để tỉnh thức phát tâm lớn thực hành cuộc sống trung đạo theo tinh thần Trung Quán, để hợp thời hợp lẽ, viên dung cả thế gian và xuất thế gian. Vì thế mà có thể nhanh chóng lĩnh hội yếu chỉ tinh túy của Phật pháp.*

*Nói thẳng ra, những cuốn sách tâm linh mà Thượng sư viết cách đây bảy, tám năm vẫn chưa thể khiến chúng con tâm phục! (Từ góc độ Phật lý mà nói, thực sự có một phần không hòa hợp. Bởi vì, giữa đó có pha trộn và đề cập đến các lý thuyết khác như Đạo gia, mệnh lý, phong thủy địa lý), Phật lý được nói đến cũng khá đơn giản và có phần mơ hồ không rõ ràng (chỉ thuần dùng ý thức thông linh làm ví dụ, có dấu hiệu rơi vào vòng lẩn quẩn của thức thần trong cảnh thức mang chất liệu và ý thức độc ảnh). Nhưng, cho đến nay sau khi đọc liên tiếp nhiều tác phẩm lớn của Thượng sư: "Tọa Thiền Thông Minh Pháp", "Hành Giả ở Seattle", "Phục Ma Bình Yêu Truyện", "Sự Chứng Ngộ của Thượng Sư", "Hắc Giáo Hắc Pháp", "Linh Tiên Kim Cang Đại Pháp", đặc biệt khi đọc "Linh Tiên Kim Cang Đại Pháp", kẻ hèn thực sự phải trợn mắt kinh ngạc trước sự đột phá và tiến bộ thần tốc của Thượng sư! Cách diễn đạt và truyền tải ý nghĩa tâm linh trong sách (thấm nhuần văn tự bát nhã), âm hưởng của lòng từ bi và đại nguyện ẩn giữa dòng chữ (chứng đắc Bình đẳng tính trí nhập Đại viên kính trí của thực tướng bát nhã pháp ý) hiện rõ trên trang giấy, khiến kẻ hèn cảm động phấn khích không thể kìm nén, không thể không thốt lên lời tán thán và đảnh lễ Thượng sư. Ngưỡng mong sự từ bi và che chở của Thượng sư, sự rưới tắm của cam lộ ngày càng tăng không giảm.*

*Kẻ hèn tài sơ học cạn, lại mang nghiệp tội sâu nặng. Từ khi bắt đầu tin Phật đến nay, tuy thường có nhiều cảm ứng linh nghiệm, và từng trong vài lần pháp hội Phật thất, đã tận mắt nhìn thấy cõi liên hoa thanh tịnh với hoa sen to như bánh xe, du ngoạn qua ao bảy báu, vượt qua cầu chín khúc, và trong thiền quán niệm Phật, cảm nhận được sự xoa đầu từ bi của Phật A Di Đà và Quan Âm Thiên Thủ trên đài sen vàng, nhờ đó mà được Sám Công thượng nhân từ bi khen ngợi, đích thân truyền Ngũ giới. Từ đó, càng thêm dũng mãnh tinh tấn, vào tháng 12 năm 70, cũng thọ giới Bồ Tát tại gia, trong thời gian đó, sự đột phá trong việc tìm hiểu và tư duy quán chiếu Phật lý, có thể nói đã thưởng thức sâu sắc niềm pháp hỷ của thiền duyệt thâm sâu.*

*Nhưng tập khí sâu dày khó trừ, nghiệp nặng chướng sâu, đến nay, vẫn y như xưa, không có chút thành tựu nào. Tuy biết rằng tất cả các pháp hữu vi đều như mộng huyễn bóng ảnh, không nên chấp vết trụ tướng mà khởi tâm phiền não. Nhưng vẫn tự cảm thấy lãng phí thời gian, và có hiện tượng tâm đạo thoái chuyển. Từng có lúc cảnh giới "linh minh vũ trụ", "tịnh thổ quang minh" ấy đã không còn xuất hiện nữa.*

*Tự vấn lòng mình, con hoàn toàn tự tin có ý chí chiến đấu như một sư tử chúa, cùng với định lực và lòng kiên trì vững chắc, và cũng có sự thể ngộ trực tiếp về Như Lai tạng tính giống như tất cả chúng sinh. Nhưng tiếc thay vẫn còn những tình cảm thế gian khó buông bỏ (tự làm tự chịu), và không có tấm lòng triệt để quên mình vì pháp mà buông bỏ tất cả. Nên thường tự nhủ "chí không đạt được, là do không nghĩ đến vô thường", đau lòng xót xa, ngẩng mặt nhìn trời rơi lệ. Con hổ thẹn tự trách, gắng sức cầm bút, táo bạo tự tiến cử mình với Thượng sư, không lượng sức mình, ngưỡng mong Thượng sư thấu rõ tấm lòng thành khẩn của chúng con! Chỉ cầu xin Thượng sư từ bi thương xót mà ban cho quán đảnh quy y, gia trì thần lực, chỉ dạy con đường sáng của chính tri kiến trong việc tu hành. Con như kẻ hành giả què quặt đi không vững, khát khao sự nâng đỡ từ bi và gia hộ của Thượng sư; cũng như đất khô hạn mong mỏi mây mưa, tâm tình bày tỏ với Thượng sư trong lá thư này tuôn trào không thể kìm nén, phải chăng đây cũng là pháp duyên từ đời trước!*

*Con xin dùng trạng thái tĩnh định, quán không của cảnh giới tâm linh thanh tịnh để chờ đợi sự quán đảnh gia trì từ Thượng sư. Con cũng xin với tấm lòng khẩn thiết chân thành, cầu xin Thượng sư ban cho tâm pháp, mong Thượng sư đừng xem thường kẻ hèn này. Con sẽ càng tinh tấn dũng mãnh hơn để đạt được thành tựu về sự, thành tựu về lý, thành tựu viên dung vô ngại giữa sự và lý, để báo đáp chúng sinh, ân sư và chư Phật dù chỉ một phần nhỏ. Nghìn lời vạn ý, hóa thành một sức mạnh vững chắc của pháp ý lực, kính xin Thượng sư mãi vì chúng sinh mà trụ thế, thường chuyển pháp luân, và không nhập vào biển niết bàn tịch tĩnh!*

*Nam Mô A Di Đà Phật
Hành giả thường hổ thẹn Lại Đức Giới kính bái.*

Lá thư "xin quán đảnh quy y" này tràn đầy tâm tình của hành giả, có thể xem là sự bộc lộ tiếng lòng. Tôi đã từng nói trước đây, sách tôi viết giống như việc đào kênh đào, dùng phương pháp dẫn dắt, bắt đầu từ nền tảng căn bản nhất là khởi linh, dần dần hướng người ta vào chính tín. Cách viết này, trước là lớp sơ cấp, lớp trung cấp, cuối cùng mới là lớp cao cấp thành Phật. Bản thân tôi có sự kiên nhẫn bền bỉ này, từng bước một, không đạt mục đích thì không bao giờ dừng lại, đây là tâm ý khổ tâm độ hóa chúng sinh của tôi.

Lại Bách Toàn đã tham gia nhiều lần Phật thất, mỗi lần Phật thất đều có cảm ứng, nhìn thấy thánh cảnh của cõi liên hoa, và được Thiên Thủ Quan Âm xoa đầu, đây đều là những cảnh giới thù thắng tuyệt vời. Một người có được cảnh giới như vậy, có thể thấy duyên Phật của anh ấy sâu dày như thế nào, đã sớm nhận được tâm tương ứng do cõi Phật ban cho.

Phật thất, còn gọi là đả Phật thất.
Thông thường, các chùa thiết lập đạo tràng, làm Phật sự trong bảy ngày, trong bảy ngày này chuyên tâm niệm A Di Đà Phật, có người niệm một cây hương, có người niệm nhiều cây hương, có hương đi kinh hành, có hương giữ im lặng, sinh hoạt rất quy củ, đều gọi là Phật thất. Còn có loại chuyên tâm niệm Quan Thế Âm Bồ Tát gọi là Quan Âm thất, chuyên tâm niệm chú Vãng sinh gọi là Vãng sinh thất, tất cả những pháp hội này đều có thể gọi là Phật thất.

Phật thất có công năng "đắc minh chứng trong kỳ hạn", thường trong bảy ngày chuyên tâm niệm Phật, mỗi người tham gia, do tinh thần tập trung, sẽ xuất hiện những điềm lành cảm ứng, nhiều hiện tượng huyền diệu không thể tưởng tượng sẽ xuất hiện.

Có những người tham gia, trong tiếng niệm Phật, được tiếp dẫn đến thế giới Tây phương Cực Lạc, đạo tràng Phật thất biến thành hải hội nơi hồ sen Tây phương, được trực tiếp nghe Phật khai thị.

Có những người tham gia, trong tiếng niệm Phật, nhìn thấy nhiều hoa sen, từng đóa một hiện ra, to như bánh xe, như trong Kinh A Di Đà đã mô tả.

Có những người tham gia, trong tiếng niệm Phật, nhận thức rõ ràng minh bạch rằng chư Phật Bồ Tát thực sự đã đích thân đến đạo tràng, và để lại dấu ấn, thậm chí còn xoa đầu thọ ký cho những người tu hành chân thành, việc xoa đầu thọ ký này đều rõ ràng minh bạch.

Có những người tham gia, trong tiếng niệm Phật, đột nhiên hiểu ra chân lý của cuộc đời, cảnh giới ngộ sâu sắc, có cảm giác tâm khai ngộ sáng tỏ.

Trước đây, một người bạn đạo của tôi, vào ngày cuối cùng của khóa Phật thất, đang đứng niệm Phật, ông ấy đã cao tuổi, bỗng nhiên thấy A Di Đà Phật trước mặt trở nên sống động, ném đài sen vàng trong tay ra, và người bạn đạo hét lớn: "Phật đã đến, đài sen đến đón tôi rồi." Trong khoảnh khắc, ông đứng yên mà viên tịch. Ngay trong tiếng niệm Phật của ngày cuối cùng mà vãng sinh, ai nấy đều nói phước báu thật lớn, trong tiếng niệm Phật, đứng yên mà ra đi, đây là cách vãng sinh phi thường nhất, là cái chết bậc nhất.

Tham gia Phật thất là sự quy chuẩn hóa việc tu hành, về hình thức bên ngoài có một sức ràng buộc, bảo bạn trong bảy ngày này không nghĩ đến điều gì khác, hãy chuyên tâm niệm Phật tu hành! Do sự chuyên chú, những hiện tượng huyền diệu cảm ứng sẽ xuất hiện, đây là đạo lý tất yếu.

Chư Phật Bồ Tát hiển hiện trong Phật thất cũng là tùy thuận theo tâm của người niệm Phật mà thị hiện các loại thân, khiến chúng sinh thấy được thân Phật. Đạo lý là, khi chúng sinh giảm bớt vọng niệm riêng tư, tâm thanh tịnh như nước, Phật liền hiện ra trong đó. Có người không thấy được Phật là vì tâm tư dục quá nặng, vô minh quá sâu, nên trí tuệ không thể hiện tiền, tâm ô trược, dù có Phật Bồ Tát cũng không thể hiện ra được.

Vô minh mà Phật giáo nói đến, thực ra vô minh chính là tư dục hỗn độn, tư dục hỗn độn chính là bóng tối. Trí tuệ chính là ánh sáng, ánh sáng chính là cảnh giới giác ngộ, cảnh giới giác ngộ chính là tâm thanh tịnh. Có rất nhiều người không thể thấy được Phật vì họ có vô minh, khi có vô minh, phiền não liền nhiều lên, do phiền não mà trở nên si mê hơn. Quá nhiều si mê thì không có trí tuệ, mãi mãi không thể đạt được tương ứng, muốn thấy Phật, phải học thanh tịnh tâm, dừng hết tham sân si, như vậy mới có thể thấy được.

Việc lễ Phật, niệm Phật trong Phật thất chính là loại bỏ từng suy nghĩ hỗn loạn trong tâm trí. Trong thời gian này, không tiếp xúc điều gì cả, không đọc báo, không xem ti vi, không gặp người thân bạn bè, cấm nói chuyện, cấm phát ra tiếng, không xuống núi, thậm chí tất cả công việc riêng tư, nhớ nhung người thân, hoài niệm quá khứ, hồi ức tốt xấu, vọng niệm muôn hình vạn trạng, tất cả đều biến mất.

Như vậy, thân tâm hàng phục, bên ngoài kềm chế thân, bên trong kiềm chế tâm, một khi tâm thần tĩnh lặng, tất cả hiện tượng huyền diệu sẽ xuất hiện, đây chính là tương ứng.

Lá thư này của Lại Đức Giới khiến tôi cảm thấy Chân Phật Tông trong tương lai cũng cần phải có những thời khắc đồng tu Mật pháp. Chúng ta cần tìm ra một khoảng thời gian để cùng nhau tu tập Mật pháp, không phải chỉ một người tu trì, mà là tập hợp nhiều đệ tử cùng tu trì, sức mạnh tập thể của "chúng niệm" này mạnh hơn sức mạnh tu trì của một người. Ví dụ như tập trung quán tưởng một vật, đây là một loại huấn luyện đặc biệt, giúp mọi người tập trung sức mạnh ý niệm, khiến "vật" đó có thể nhanh chóng hiện ra trong quán tưởng.

Chúng ta cùng trì chú, khiến thần lực của chú đạt đến cõi Phật, thấm vào tâm chúng sinh, thấm vào ý thức chung của chúng sinh, chuyển thức thành trí, và sức mạnh tập thể của chú lực sẽ mạnh mẽ hơn, tất cả điều cầu nguyện sẽ lần lượt hiển hiện như ý.

Chúng ta kết ấn chung, hợp nhất tất cả thân thành một đại thân, trở thành ấn chính xác nhất, giúp khế nhập cõi Phật, đạt được ấn thân Phật.

Đồng tu Mật pháp cũng rất quan trọng, Chân Phật Tông trong tương lai phải nỗ lực thực hành theo hướng này, điều này rất có ý nghĩa. Đó là tập hợp thân của mọi người thành một thân, tập hợp ý niệm của mọi người thành một niệm, tập hợp ấn của mọi người thành một ấn, giúp tất cả chúng sinh cùng lên bờ giác, cũng giúp các đệ tử có thể đắc chứng đúng kỳ hạn, chứng minh đạt được nguồn đại đạo này.

Tôi viết một bài kệ:
*Thay Phật tập hợp cùng tu trì
Tất cả bí mật hóa nhân luân
Sớm đến bờ giác thành một nhà
Chúng sinh hóa độ đạt vô biên.*


### 36. Kỹ sư điện nói như vầy


Đây là một bức thư từ học giả kỹ sư, ông ấy đưa ra một số quan điểm, mong rằng độc giả cùng nghiên cứu.

*Thượng sư Lư minh giám!*

*Viết thư này làm phiền Thượng sư, cảm thấy rất đường đột, trong lòng càng thêm bất an, nhưng ước muốn viết thư cho Thượng sư đã vấn vương trong tâm trí hơn ba năm qua, bên cạnh lời xin lỗi, chỉ mong được thông cảm! Nếu Thượng sư cho rằng giữa tôi và ngài chưa có duyên kết nối, xin đừng bận tâm, gác bỏ bức thư này cũng được. Tôi sẽ tiếp tục sớm tối thắp hương cầu nguyện trước Quan Âm Bồ Tát. Đến khi duyên phận đã đến, sẽ lại cầu xin Thượng sư chỉ dạy.*

*Hơn ba năm trước, tôi đã đọc được tác phẩm về linh học của Thượng sư tại hiệu sách, sau đó luôn để ý đến việc xuất bản các tác phẩm của Thượng sư, và đọc rất kĩ lưỡng. Nhờ được Thượng sư khai thị, khiến quan niệm nhân sinh của tôi trong hai ba năm qua đã thay đổi rất lớn, ngay cả đồng nghiệp trong công ty, bạn bè, thậm chí vợ tôi đều cảm thấy tôi đã thay đổi. Đúng vậy, đối với sinh tử, vật chất, tiền bạc danh lợi đều nhìn nhận nhạt nhòa hơn, đối với nhân tính trong xã hội hiện nay - đặc biệt là thế hệ trẻ, thực sự cảm thấy chán nản và buồn bã.*

*Mặc dù tôi là kỹ sư điện tử và đã làm việc trong ngành hơn mười năm, nhưng tôi chưa bao giờ mù quáng tin vào khoa học, tôi luôn thích phân tích và nghiên cứu mọi hiện tượng trong tự nhiên. Vài tháng trước, tại một hội thảo của "Hiệp hội Kỹ sư Năng lượng", một nhà khoa học đã đề cập đến vấn đề "năng lượng âm" trong bài thuyết trình chuyên đề của ông. Ông gọi tất cả vật chất trên trái đất và trong vũ trụ là năng lượng dương, và gọi cõi linh giới, cảnh giới của thần tiên Phật Tổ là năng lượng âm.*

*Năng lượng dương có cơ sở trong vật lý học, bởi vì tất cả vật chất đều được cấu tạo từ nguyên tử, và proton cùng electron trong nguyên tử ở trạng thái cân bằng không biểu hiện năng lượng, nhưng một khi bị tác động bởi ngoại lực thì có thể giải phóng năng lượng. Ông nói rằng, khi năng lượng âm bị năng lượng dương va chạm, nó sẽ nhảy vào ranh giới của năng lượng dương. Do đó, chúng ta có thể thấy một số hiện tượng từ cõi linh giới, như những thứ thuộc loại ma quỷ, thần linh. Sự tồn tại của thế giới thần linh là hoàn toàn khoa học, chứ không phải mê tín.*

*Đồng thời, nhà khoa học này gọi thần tiên là "con người" thế hệ thứ nhất trong vũ trụ, và loài người hiện nay trên Trái đất là thế hệ thứ hai được tạo ra bởi thế hệ thứ nhất, và tất cả quy luật trong tự nhiên là những chương trình được viết bởi thế hệ thứ nhất. Con người thế hệ thứ hai, dưới sự hướng dẫn của thế hệ thứ nhất, có thể sẽ tạo ra con người thế hệ thứ ba. Sự phát triển của khoa học hiện nay, sự phát minh của máy tính, việc sử dụng và cải tiến người máy chính là một khởi đầu......*

*Lập luận của nhà khoa học này khiến các kỹ sư có mặt cảm thấy rất thoải mái, một số người chỉ xem đó như câu chuyện giải trí. Nhưng trong lòng tôi lại nhen nhóm khát khao tìm hiểu, liên tục suy nghĩ, tìm kiếm bằng chứng và câu trả lời. Tôi luôn tin vào khả năng siêu việt của Thượng sư, tất cả những gì Thượng sư đã chứng nghiệm về cõi linh giới, nhưng tôi không thể chứng minh sự tồn tại của nó thuộc dạng năng lượng âm hay trạng thái khác. Nếu có thể dùng thực nghiệm để chứng minh rằng hình thức năng lượng âm chính là hình thức tồn tại của cõi linh giới, vậy thì nghiên cứu về linh học chẳng phải sẽ gần hơn với phương thức nghiên cứu hiện đại sao? Chẳng phải sẽ dễ dàng hơn để phá vỡ những tư tưởng mê tín khoa học sao? Giúp mọi người có nhận thức đúng đắn về cõi linh giới, chắc chắn sẽ tạo tác động tích cực đến sự thay đổi bản chất con người. Thế giới vật chất - phương diện năng lượng dương, và cõi linh giới - phương diện năng lượng âm hỗ trợ lẫn nhau, phối hợp hài hòa, địa ngục sẽ có ngày trống rỗng! Về điều này, Thượng sư có thể cho ý kiến không?*

*Kính chúc Phật an!
Chu Thu Diệu kính bái.
Địa chỉ: Phòng 531, Lầu 6, Tòa 25, Vịnh Dầu Đường, Cửu Long, Hồng Kông.*

Bức thư này được viết bởi một kỹ sư điện tử, những người quan tâm nghiên cứu về năng lượng âm hoặc những ai đang nghiên cứu lĩnh vực này, có thể liên hệ với kỹ sư Chu để cùng nghiên cứu. Có lẽ trong tương lai không xa, con người sẽ dùng kiến thức khoa học thực sự để chứng minh nguồn gốc của sức mạnh vô song - năng lượng âm. Nghiên cứu này được gửi gắm cho tập thể trí tuệ nhân loại, cùng nhau đoàn kết, tiến về con đường rộng lớn dẫn đến một cõi tịnh thổ.

Con người ngày nay, do trào lưu khoa học và sự cạnh tranh khoa học dữ dội, tôi đã nhận thấy hiểm họa. Bởi vì nhân loại đang đứng trước nguy cơ bị khoa học lật đổ! Hướng nghiên cứu khoa học đang ẩn chứa một làn sóng ngầm hủy diệt nhân loại, giữa hai thế lực cực mạnh, bề ngoài tưởng chừng đã dẹp yên sóng gió, nhưng thực tế khó lòng dự đoán được cuộc khủng hoảng nhân loại hiện tại. Khoa học càng phát triển, vũ khí hủy diệt nhân loại càng nhiều, khi xung đột gay gắt đến mức không thể cùng tồn tại, đó chính là lúc toàn thể nhân loại bị đẩy vào cảnh diệt vong.

Ngày nay khoa học đã tạo ra những gì? Tạo ra những điều "vi phạm tự nhiên", dù đã mang lại nhiều lợi ích to lớn cho nhân loại, nhưng lợi hại đều hiện rõ, những sai lầm nghiêm trọng hiện tại đã đến mức nguy hiểm nhất, khiến lòng người khắp thế giới bất an không thể yên ổn. Bởi vì sức mạnh khoa học, những vũ khí có thể hủy diệt Trái đất như bom nguyên tử, bom hạt nhân, bom neutron đã được chế tạo từ lâu, chỉ là chưa có ai nhấn nút kích hoạt mà thôi.

Tập thể trí tuệ khoa học đã phát triển đến mức đặt cược vận mệnh và hạnh phúc của toàn nhân loại vào canh bạc lớn nhất, liệu đây có thể gọi là lý trí không? Có thể gọi là khoa học không? Trào lưu tư tưởng của nhân loại cần phải coi trọng cả khoa học nhân văn lẫn khoa học tự nhiên, bước đi trên con đường chân lý phát triển cân bằng. Sự phát triển của văn minh tâm lý cũng cần được tiến hành đồng thời, một chiếc chìa khóa tâm linh có thể mở ra cánh cửa chân lý. Nghiên cứu khoa học vật chất cần có định hướng đúng đắn, nếu không toàn thể nhân loại sẽ bị hủy diệt bởi bàn tay ma quỷ của khoa học!


### 37. Người thân nơi đất khách


—— Ghi lại chuyến thăm của bảy vị Chủ tịch tỉnh và thành phố

Khi bảy vị Chủ tịch tỉnh và thành phố đến thành phố Seattle và vừa xuống máy bay, thư ký Hội Điều phối Sự vụ Bắc Mỹ Cố Trúc Sơn tiến lên phía trước, hỏi Chủ tịch tỉnh Gia Nghĩa Đồ Đức Kỳ: "Chủ tịch có biết Thượng sư Lư Thắng Ngạn không?"
"Biết chứ, đương nhiên là biết, ông ấy là thầy của tôi mà!" - Chủ tịch Đồ trả lời đầy phấn khích.
Thư ký Cố đưa số điện thoại của tôi cho Chủ tịch Đồ Đức Kỳ.

Sáng sớm ngày hôm sau, Chủ tịch Đồ đã gọi điện thoại đến.
Tôi nói: "Tôi là Lư Thắng Ngạn."
"A! Tôi là Đồ Đức Kỳ, đã lâu lắm rồi không được nghe giọng nói của thầy, thật tốt khi được nghe giọng nói của thầy, thật tốt khi được nghe giọng nói thầy."

Chủ tịch Đồ lặp đi lặp lại những lời như vậy khiến tôi vô cùng xúc động, tôi không thể nói nên lời. Chủ tịch Đồ nói với tôi qua điện thoại rằng chuyến đi Mỹ lần này là để tham dự hội nghị thị trưởng thế giới, nước chúng tôi cử bảy vị chủ tịch tỉnh và thành phố tham dự, nhân tiện thăm hỏi kiều bào. Ngoài ra, cả bảy vị chủ tịch đều biết Thượng sư, và muốn cùng đến nhà tôi để trò chuyện.

Lúc này, tôi nghĩ trong lòng, tôi chưa từng đến thăm bảy vị chủ tịch tỉnh và thành phố, đặc biệt là họ đến từ xa, khách từ phương xa đến, lại là những người bạn cũ, họ lại không quen thuộc với Seattle, làm sao có thể để các vị chủ tịch phải tự mình đến. Vì vậy, chúng tôi hẹn nhau, tôi sẽ đến khách sạn Sheraton nơi họ đang lưu trú.

Tôi đến khách sạn Sheraton, không phải một mình, mà cùng với mẹ tôi (mẹ tôi vừa đến chơi), vợ tôi Lư Lệ Hương, Thượng sư Trần Tước Viên, Trần Sâm Long, Trần Sâm Hà, chúng tôi lái một chiếc Lincoln và một chiếc Chevrolet, rầm rộ đến gặp đoàn các vị chủ tịch.

Tại tầng trệt khách sạn Sheraton, các vị chủ tịch đang đợi chúng tôi, chúng tôi bắt tay nhau thật chặt. Ôi, đã bao lâu không gặp nhau? Có chút thay đổi rồi, dạo này thế nào? Chúng tôi gặp nhau như người thân trong gia đình, và Chủ tịch Đồ khi nhìn thấy tôi, liên tục gọi "thầy ơi, thầy ơi".

Điều này khiến tôi nhớ lại những ngày xa xưa, rất lâu rồi, khi đó Chủ tịch Đồ vẫn chưa trở thành chủ tịch! Một buổi tối, tại nhà của Phó Chủ tịch Đảng bộ tỉnh Quách Triết, hôm đó trời rất lạnh, mọi người quây quần ăn lẩu, tôi từng thở dài nói: 
"Bây giờ chúng ta quây quần ăn lẩu, nhưng mười năm sau, người làm chủ tịch sẽ làm chủ tịch, người làm quan to sẽ làm quan to, còn tôi, có thể sẽ phiêu bạt tới chân trời góc biển."
Quách Triết cười: 
"Không sao, góc biển cũng là thiên đường, hữu duyên vẫn sẽ gặp lại nhau." 

Tối đó chúng tôi uống rượu mạnh, mỗi người đều tràn đầy tình cảm nồng ấm. Mà quả thật, giữa người với người chính là duyên phận, ngay cả ở xứ người đất khách, cũng có thể gặp được người thân, chúng tôi thích gọi Chủ tịch Đồ Đức Kỳ là "Huyện lão gia", Huyện lão gia tuần du đến Mỹ giống như Thành hoàng Gia Nghĩa đi tuần vậy.

Chủ tịch thành phố Cao Hùng Hứa Thủy Đức có bàn tay rộng, bắt tay rất chặt, diện mạo thông minh và oai vệ.

Thị trưởng thành phố Gia Nghĩa Trương Bác Nhã là một nữ thị trưởng, bà nói: "Tôi đã đọc rất nhiều sách của thầy, tôi là độc giả của thầy." Trương Bác Nhã rất trẻ, mặc trang phục màu nhạt, toát lên vẻ thanh lịch và quý phái.

Chủ tịch tỉnh Đài Đông mang nụ cười trên khuôn mặt, thuộc tuýp người điềm đạm.

Tôi cũng bắt tay với các vị chủ tịch tỉnh và thành phố khác, và chúng tôi đều trao đổi vài câu thăm hỏi.

Tôi đã trò chuyện riêng với Chủ tịch Đồ Đức Kỳ đến tận hai giờ sáng. Khi chúng tôi định ra về vì đã khuya, chủ nhà nói rằng ông không hề mệt và liên tục mời chúng tôi ngồi lại thêm, nói rằng: "Hiếm có mà! Hiếm có dịp được gặp nhau." Tôi biết họ phải tham dự nhiều cuộc họp, như Hiệp hội Trung Quốc Tự do, Hiệp hội Kỹ sư Trung Quốc, tiệc đón tiếp của Hoa kiều, các buổi tiệc quảng bá ở hải ngoại, và họ hiếm khi có thời gian nghỉ ngơi.

Trong cuộc trò chuyện, tôi cảm nhận được sự khoáng đạt của Chủ tịch Đồ. Ông vẫn rất giỏi ăn nói và có cái nhìn rất thấu đáo về cuộc đời. Ông nói: "Cảnh giới của cuộc đời, chỉ cần dùng một tâm thái khác để hòa hợp với thế gian, sẽ có một cảnh giới và ý nghĩa khác biệt. Tâm thái khác biệt này chính là hai chữ 'Vân Thủy' [mây nước]."

Thực ra tôi chính là một người sống cuộc đời "vân thủy", mây không ngăn nước, nước không ngăn mây, cuộc sống của tôi là "nhẹ nhàng dễ dàng, thuận theo tự nhiên", dù ở trong nước hay nước ngoài, tôi vẫn sống những ngày tháng hạnh phúc của mình, bất kì việc gì, vật gì đều không ảnh hưởng đến cuộc sống của tôi, tôi trở nên hoàn toàn tự do tự tại. Sự tự nhiên như nước của tôi chính là biểu hiện rõ ràng của sự sống động, cuộc sống chính là tu hành, mang theo ý nghĩa của sự dạy dỗ bằng hành động.

Chúng tôi đã xây dựng đạo tràng Chân Phật Tông tại Seattle, Hoa Kỳ. Chủ tịch Đồ cho rằng điều này có ý nghĩa to lớn.

Trong lần gặp gỡ người thân nơi hải ngoại này, chúng tôi cảm nhận được rằng "vạn sự đều do nhân duyên hòa hợp mà sinh khởi, tất cả các pháp hữu vi đều do nhân duyên hòa hợp mà sinh, mọi sự vật trong thế gian này đều do nhân duyên hòa hợp mà sinh khởi." Sự thấu hiểu này chính là nơi đạt đến giác ngộ, cũng chính là nơi đạt đến chứng ngộ!

Chủ tịch Đồ tặng cho mỗi người một chiếc cà vạt, chúng tôi không có gì để tặng cho Chủ tịch Đồ, chỉ mang theo vài món quà lưu niệm từ Seattle để tặng ông.

Sự gặp gỡ giữa người với người là để rồi chia xa.
Những người đã chia tay, chắc chắn sẽ gặp lại nhau.
Tôi nói, chỉ cần có duyên, những người có duyên với nhau nhất định sẽ gặp lại.


### 38. Người không giữ chữ tín thì không có chỗ đứng


Ngày 13 tháng 6 năm 1984, tôi nhận được một lá thư gửi từ San Francisco, Hoa Kỳ. Người này có tên tiếng Anh là "SANNY LAM". Dưới đây là nội dung bức thư của cô ấy:

*Kính gửi Thượng sư Lư,*

*Tôi là người Quảng Đông, sinh ra ở Hồng Kông, đã sống ở Mỹ hơn 16 năm. Trình độ tiếng Trung của tôi còn hạn chế, văn phong không được trôi chảy, mong Thầy thông cảm.*

*Tôi bắt đầu đọc tác phẩm của Thầy từ ba năm trước, khi được một nhà tướng số nổi tiếng giới thiệu. Lúc đó tôi mới biết Thượng sư là bậc cao nhân, và sau khi đọc sách của Thầy, tôi càng kinh ngạc nhận ra Thầy như một vị thần tiên. Cách đây bốn, năm năm, tôi từng tham gia lớp học phong thủy của một vị thầy nọ, trong đó chín trên mười học viên là những người giàu có từ Đài Loan sang Mỹ, thậm chí có cả người nổi tiếng như Thang Lan Hoa cũng tham gia lớp học.*

*Về mặt này, cách đối xử tất nhiên là khác nhau. Đối với những người nổi tiếng và giàu có cầu xin chỉ giáo, chỉ trong hai ba ngày là vị thầy đó đã đến tận nơi quan sát phong thủy, xem tướng, truyền động lực, và dạy các phương pháp tránh tà khí, truyền thụ tất cả. Tuy nhiên, tại buổi tiệc cảm ơn thầy, tôi đã trúng giải nhất trong trò rút thăm may mắn. Giải nhất là "đặc quyền được mời vị thầy đến nhà xem phong thủy, chỉ điểm miễn phí". Nhưng sau buổi tiệc, mỗi lần tôi đặt lịch hẹn đều bị từ chối với lý do bận việc. Tôi đã đặt lịch nhiều lần, chờ đợi hơn ba năm, đến nay tôi đã bán nhà rồi mà vẫn chưa có may mắn được vị thầy đó ban cho một buổi xem phong thủy.*

*Tôi biết Thượng sư Lư sớm tối chăm chỉ tu tập Mật pháp nên hiếm khi rảnh rỗi, nhưng vì việc của tôi khẩn cấp nên đã viết thư làm phiền Thầy, kính mong Thầy thông cảm.
.....................
Kính chúc bình an!                                           
Lâm Nhạn Linh chắp tay.*

Cô Lâm Nhạn Linh này cũng là người trong giới truyền hình, trước đây cô ấy cũng từng làm việc trong lĩnh vực truyền hình. Về tính xác thực của lá thư này như thế nào, có nhân vật, có thời gian, có địa điểm, có diễn biến sự việc, các bạn đọc có thể cảm nhận từ nội dung bức thư, tôi cũng không cần phải chú thích thêm, mọi người đọc xong sẽ tự hiểu.

Tuy nhiên, trong bài viết ngắn này, tôi muốn giải thích sơ qua về câu "người không có chữ tín thì không có chỗ đứng". Tôi nhớ từ rất lâu về trước, sư phụ của tôi đã nói với tôi rằng, phải biết rằng con người muốn đứng vững giữa trời đất, hoàn toàn chỉ dựa vào một chữ tín mà thôi, trời đất và con người đều phải giữ chữ tín.

Sư phụ của tôi giải thích như sau: "Trời là nói về chữ tín. Tín của trời là sự tuần hoàn của bốn mùa xuân hạ thu đông, là sự luân chuyển qua lại giữa ngày và đêm, là mặt trời mặt trăng lên xuống đối nhau, là sự đối lưu của không khí, là 365 ngày một năm, có trật tự có mực thước, đó chính là tín của trời. Còn tín của đất, núi sông đại địa đều có quy luật vận hành riêng, nước chảy trong khe, cây mọc trên núi, núi sông quấn quýt, đất đai có sự nuôi dưỡng của nó, trồng đậu thì mọc đậu, trồng dưa thì mọc dưa, trồng gì được nấy, trong đất có dầu, đào lên được dầu, trong đất có khoáng sản, đào lên được khoáng sản, trong đất có nước, đào lên được nước, nên giếng dầu ra dầu, giếng nước ra nước, trong sa mạc cũng có ốc đảo xanh tươi. Đó chính là tín của đất. Còn về con người, nếu không có chữ tín, vạn sự không thành, người không có chữ tín thì không đứng vững được, sự nghiệp gia đình cũng không thành. Tín là chủ của ngũ thường, tín thuộc hành Thổ trong Ngũ Hành, Thổ là nền tảng của Ngũ Hành, không có Thổ thì Kim Mộc Thủy Hỏa đều không tồn tại. Còn người học Phật tu đạo, nếu không biết giữ chữ tín, tâm sẽ không định, ý khó giữ được, tuy muốn học đạo nhưng đạo nhất định không thành tựu, cho nên làm người, tuyệt đối không thể thiếu chữ tín."

Mặc dù "tín" chỉ là nền tảng của đạo làm người, nhưng người không có chữ tín thì không có chỗ đứng. Chúng ta là người tu đạo, lấy sự vững vàng của nhân đạo để phù hợp với thiên đạo, lấy thiên đạo để phù hợp với Phật đạo. Nếu ngay cả nhân đạo còn không vững, thì Phật đạo chắc chắn không thành. Dù miệng nói hay đến đâu, vẫn chỉ là hư vọng, vẫn chỉ là giả dối.

Một người không có chữ tín, nếu không quyết tâm thay đổi cách sống của mình, dù tài trí thông minh đến đâu, miệng nói hay ho đến mấy, vẫn chỉ là lâu đài trên cát, không có năng lực thực sự. Sự lừa dối này cũng chỉ là hiện tượng nhất thời mà thôi. Lâu dần, sơ hở sẽ lộ ra hết, đuôi cáo cũng không thể thu vào được nữa. Dù ăn nói như hoa sen nở cũng chỉ là hư vọng mà thôi!

Khi nói về chữ tín với người khác, chúng ta không nên phân biệt đối xử, dù là với người có địa vị cao, với đại gia giàu có, với người dân thường, hay với những người lao động bình dân, đều phải đối xử công bằng như nhau. Bởi vì tất cả chúng sinh đều có Phật tính, mỗi người đều là Phật tử của Tây Thiên, không thể thiên vị người này, coi nhẹ người kia, làm mất đi nền tảng của chữ tín.

Về việc vị đại sư nọ không giữ chữ tín, tôi không muốn tốn công bút mực để chỉ trích phê bình việc này, nhưng đây là một cơ hội giáo dục tốt. Tín là mẹ của tất cả công đức, đạo cần có tín mới thành, người cần có tín mới đứng vững, tất cả đệ tử của Chân Phật Tông cần ghi nhớ điều này! Hãy ghi nhớ.


### 39. Các kiểu cúng dường


Người tu Mật tông cần biết phương pháp cúng dường. Người học Mật pháp, tay kết ấn, miệng thầm niệm "Om Ah Hum", cúi người lạy xuống, chính là dùng thân, khẩu, ý tam nghiệp để cúng dường Thượng sư và chư Phật Bồ Tát.

Cúng dường trong Mật tông có nhiều loại:
1. Nội cúng dường, sử dụng pháp Kapala để cúng dường.
2. Ngoại cúng dường, ngũ cúng, lục cúng, thất cúng, bát cúng, thập lục cúng, tam thập thất cúng, mandala cúng, v.v... đều thuộc loại này.
3. Mật cúng dường, còn gọi là tâm cúng dường, làm việc thiện để cúng dường, công đức cúng dường, cúng dường qua hành vi của Bổn tôn.
4. Tài cúng dường, tức là tài thí (bố thí của cải), người cúng dường, thượng sư, tài vật, thấu hiểu nghĩa Không mà cúng dường.
5. Cúng dường lửa, dùng hương thơm đốt gỗ Hộ Ma, là phương pháp cúng dường để tiêu trừ nghiệp lực và phiền não.
6. Cúng dường bằng nước, dùng nước trong để thanh tịnh nghiệp, là phương pháp cúng dường để tiêu trừ nghiệp lực và phiền não.

Cúng dường mang ý nghĩa thể hiện lòng chân thành, đồng thời thể hiện khả năng buông bỏ và bố thí, biểu thị sự coi trọng pháp của Thượng sư, nhờ công đức này, việc tu pháp mới được tương ứng.

Về phương diện cúng dường, có một lá thư đã khiến tôi vô cùng xúc động.

*Kính thưa ân sư tôn kính, chào Thầy.
Đã nhận được chỉ dạy của Thầy.*

*Con xin cảm ơn ân sư vì những kỳ vọng sâu xa đối với Tín Pháp Đường, khiến đệ tử vô cùng hổ thẹn. Vì năng lực của đệ tử quá thấp kém, nghiệp chướng quá nặng, tiến bộ quá chậm, lòng thì muốn mà sức không đủ, e rằng sẽ làm phụ lòng mong đợi. Nhưng dù thế nào, đệ tử cũng sẽ tận tâm tận lực cống hiến trọn đời mình để báo đáp ân sư và chư Phật Bồ Tát.*

*Con cảm ơn ân sư đã ban cho đệ tử bài kệ về pháp tu "nhiệt tức", giúp đệ tử hiểu được một số chân lý. Đệ tử sẽ trân trọng, và khẩn cầu ân sư trong tương lai khi thích hợp ban cho chỉ dẫn kịp thời, để đệ tử sớm thành tựu, sớm thực hiện tự độ độ tha, đó là nguyện vọng lớn nhất!*

*Các đệ tử ở đây vô cùng mong mỏi ân sư có thể đến Hồng Kông để kỷ niệm sinh nhật, chúng con sẽ vô cùng vinh hạnh và hạnh phúc! Hiện tại, các sư huynh ở đây đã tự nguyện phát tâm cúng dường ân sư đến Hồng Kông hoằng pháp với số tiền hơn 13 nghìn đồng, dùng cho tất cả chi phí ăn ở và thuê địa điểm pháp hội trong thời gian ân sư đến Hồng Kông. Các sư huynh tự nguyện phát tâm cúng dường ân sư đến hoằng pháp với lòng thành kính sâu sắc. Đã xuất hiện một số trường hợp vô cùng cảm động:*

*Như sư huynh Chu Quan Sâm (Liên Thiên), khoảng 50 tuổi, độc thân, làm tạp vụ trong ngành xây dựng, lương tháng chỉ có 1.300 đô la Hong Kong (mỗi tháng sau khi trả tiền thuê nhà đắt đỏ và tiền ăn uống, hầu như không còn gì). Lần này để cúng dường ân sư đến Hong Kong hoằng pháp, anh tự nguyện đóng góp 1.000 đô la. Đệ tử đã nói với anh ấy rằng Thượng sư rất quan tâm đến đời sống kinh tế của các đệ tử, và bảo anh không nên quá gượng ép bản thân. Anh ấy nói: "Mỗi tháng ngoài việc gửi tiền về cho mẹ ở Đại Lục, tôi luôn nhớ đến Thượng sư, tôi muốn cúng dường hết sức mình! Bởi vì 'không có mẹ, làm sao có thân mạng'? 'Không có Thượng sư, làm sao có huệ mạng'?" Câu nói này của anh ấy thật cảm động, khiến đệ tử vô cùng khâm phục! (Sư huynh Liên Thiên ăn chay nhiều năm, làm việc chân tay vất vả nhưng tinh thần rất tốt.) Lại như Giản Mạn Diễm (Liên Sĩ), Thái Kiện Minh (Liên Dĩ), Thái Kiện Huy (Liên Nhân) là ba mẹ con, Liên Dĩ và Liên Nhân đều đang học trung học, cả gia đình chỉ dựa vào một mình Liên Sĩ làm công việc lao công để nuôi sống gia đình và chi trả học phí cho hai con. Tiền lương ít ỏi, gánh nặng rất lớn, phải thuê một căn phòng nhỏ để ở (chỉ đủ chỗ cho một chiếc giường nhỏ hai tầng và một cái bàn học) thực sự là "nhà vỏ ốc" vậy, chỉ cách nhà hàng xóm bằng một tấm ván gỗ!*

*Ngoài việc thường ngày cúng dường Thượng sư, lần này để cúng dường Thượng sư đến Hong Kong hoằng pháp, họ đã tự nguyện đưa ra tới 3.000 đô la! Khiến đệ tử vô cùng cảm động, chị ấy nói: "Từ khi ba mẹ con chúng tôi quy y Thượng sư vào tháng 6 năm ngoái, chúng tôi đã bắt đầu tích góp số tiền này, mong Thượng sư đến Hong Kong cứu độ chúng sinh!" Đệ tử đã từng vì câu nói này mà cảm động đến nỗi phải lẻn đi khóc thầm, đây cũng chính là tâm nguyện của đệ tử! Về sau, dù đệ tử và vợ đã nhiều lần can ngăn Liên Sĩ (chúng con không dám nhận tiền của chị ấy) nhưng đều không thành. Sau đó đệ tử đồng ý nhận hộ 500 đồng, nhưng chị ấy vẫn không chịu, nhất định phải nhận hết, sau nhiều lần "đùn đẩy", cuối cùng chị ấy đồng ý để đệ tử nhận hộ 1.000 đồng, mới tạm giải quyết được. (Liên Sĩ nghèo khó, thường hay đau ốm, đều không có nhiều tiền để chữa trị. Đệ tử vốn không có quyền ngăn cản các sư huynh cúng dường Thượng sư, đây là công đức của họ. Nhưng trường hợp này hơi đặc biệt, đệ tử không dám nhận hộ nhiều tiền như vậy mà không có sự đồng ý của ân sư. Nhưng ngược lại, đệ tử can ngăn chị ấy mà không xin phép ân sư trước, cũng không biết đúng hay sai? Nếu lần này làm không đúng, xin ân sư chỉ ra và tha thứ!)*

*Từ những ví dụ trên, có thể thấy việc ân sư đến Hong Kong hoằng pháp là niềm phấn chấn và khích lệ to lớn đối với các sư huynh Chân Phật Tông ở Hồng Kông, đủ thấy sự vĩ đại của ân sư và tình cảm sâu sắc mà thầy mang lại.
............. 
Kính chúc Phật quang phổ chiếu!
Đệ tử Liên Hàn chắp tay.*

Nhận được lá thư này, tôi cũng cảm thấy vô cùng xúc động. Cần biết rằng mục đích lớn nhất của việc cúng dường Thượng sư là để đối trị lòng keo kiệt, tham lam. Cúng dường Thượng sư, nhận được sự gia trì của Thượng sư là một phương pháp tu phước. Có một bài kệ nói rằng: "Người bố thí, đối tượng nhận bố thí và vật bố thí, trong ba đời không có gì để được, chúng ta an trụ trong tâm tối thắng, cúng dường tất cả chư Phật mười phương."

Nếu một người có thể bình đẳng cúng dường lên trên và bố thí xuống dưới, đây là công đức đệ nhất của cúng dường bố thí. Nếu cảm nhận kĩ, một người phát tâm cúng Phật một ngọn đèn, một ly nước, một nén hương, một bữa cơm, công đức này tuy nhỏ nhưng tâm bồ đề phát ra là chân thành, điều này sẽ trở thành "nhân nhỏ quả lớn". Phải biết rằng ý niệm cúng dường xuất phát từ tâm, đây là sự liên kết giữa nhân quả, tâm cúng dường này nhất định sẽ nảy mầm, trở thành mầm đạo, sẽ phát triển, và kết quả, trở thành quả Phật.

Vì vậy, phát tâm cúng dường là quan trọng nhất, phát tâm chân thành, chính là "cúng dường bằng tâm".

Cá nhân tôi rất quan tâm đến đời sống kinh tế của tất cả các đệ tử. Trong số đệ tử của tôi, có những người là tỷ phú, nói họ giàu có sánh ngang một quốc gia cũng không quá đáng, có đảo riêng, có tàu, có máy bay, doanh nghiệp trải khắp toàn cầu. Tuy nhiên, trong số đệ tử của tôi cũng có những người rất nghèo khó, mỗi ngày lo lắng ba bữa ăn, không trả nổi tiền thuê nhà, nghèo đến mức không có áo che thân, có nữ đệ tử thậm chí phải bán thân để sinh sống. Tôi quan tâm đến cuộc sống của các đệ tử của mình, tôi mong muốn các đệ tử của tôi có thu nhập chính đáng, mọi người đều thoát khỏi thân phận nghèo, không bị tiền bạc làm phiền não. Tôi ngày ngày thời thời cầu nguyện cho đệ tử của mình, hy vọng các đệ tử được an lạc, giải thoát khỏi mọi đau khổ và phiền muộn.

Khi đệ tử cúng dường theo lòng thành, tôi luôn không tính toán. Cúng dường nhiều, tôi không tỏ vẻ vui mừng; cúng dường ít, tôi không hiện sự giận dữ. Cuộc đời tôi chỉ có hai chữ "tùy ý", nghĩa là tùy theo ý của mọi người. Trong đời này, tôi chưa từng quy định số tiền cụ thể, khi tôi giúp đỡ người khác, hoặc khi họ đến quy y với tôi, tôi chưa bao giờ ấn định mức phí. Pháp hội cầu phúc, pháp hội siêu độ, đăng ký tham dự, tất cả đều tùy ý.

Đối với người giàu có, khi bố thí tài vật, nên giữ tâm cứu độ, tâm cứu giúp thế gian, không nên mang tâm danh lợi. Bố thí như vậy là bố thí từ bi, là thực hành bố thí vô úy, vì đã bố thí, tự nhiên sự giàu có sẽ trở lại, công đức rất lớn. Người nghèo khó, dù tiền bố thí ít, nhưng dù nhiều hay ít tiền, tâm thành kính phát ra là như nhau, công đức cũng lớn như nhau, không có sự phân biệt, điều này là quan trọng nhất. Vì vậy, Thượng sư hy vọng sau này khi đệ tử làm việc thiện, không phân biệt tiền nhiều hay ít, chỉ xem tâm phát ra có chân thành hay không mà thôi.

Đệ tử ở Hồng Kông, người tuy nghèo nhưng chí không nghèo, thậm chí nghèo mà vẫn có thể bố thí, thật đáng khâm phục, đây là an trụ tâm tối thắng, chư Phật Bồ Tát chắc chắn sẽ ban phúc, phát tâm bồ đề, có công đức lớn. Tuy nhiên, tôi mong rằng, tất cả đệ tử hãy lượng sức mà làm, lượng sức mà cúng dường, đừng miễn cưỡng bản thân, bởi vì miễn cưỡng bản thân, làm khổ chính mình, cũng không phải là điều Thượng sư mong muốn, mọi người nên hiểu rõ tâm ý của tôi.

Ý định của tôi là:
Người giàu có thể bố thí lớn. Cúng dường lớn.
Người bình thường bố thí bình thường. Cúng dường nhỏ.
Người nghèo bố thí bằng tâm ý. Cúng dường bằng ý.
Tất cả đều có công đức.


### 40. Tiếng lòng của người cầu quy y


🌟 Thứ nhất:

Kim cương Thượng sư Lư Thắng Ngạn trên cao minh giám!

Kẻ hèn Ngũ Quốc Hiền, có duyên đọc tác phẩm "Siêu giác của linh hồn" của thầy tại Hồng Kông cách đây 6 năm. Sau khi đọc, tôi cảm thấy lòng dâng trào cảm xúc, đây thực sự là tác phẩm hiếm có từ xưa đến nay, tâm trạng phấn khởi, thán phục rằng trên đời lại có cuốn sách kỳ diệu như vậy. Sau đó, tôi đã sưu tầm sách của Thượng sư, và hiện nay tôi có hơn 30 quyển.

3 năm trước, tôi có duyên du lịch Đài Loan và đã hy vọng được gặp Thượng sư một lần, nhưng tiếc là không có duyên gặp được, lòng cảm thấy nuối tiếc.

Mấy năm trước, cả gia đình tôi đã chuyển đến Vancouver, Canada. Mới đây, khi đến thư viện của Hội Phật giáo Thế giới ở Vancouver, tôi vui mừng phát hiện nhiều sách mới của Thượng sư đã được xuất bản. Trong cuốn "Thế giới của con mắt thứ ba", tôi được biết Thượng sư Lư đã chuyển đến Seattle, Hoa Kỳ. Tôi vui mừng khôn xiết khi biết nơi ở của Thượng sư chỉ cách Vancouver có 3 giờ lái xe. Lần này tôi nhất định sẽ đến kết duyên, để thỏa nguyện ước bao năm qua.

Bản thân tôi không giỏi khen ngợi, nhưng đối với các sách tâm linh của Thượng sư, tôi chỉ có thể nói một câu: khiến tôi khâm phục, kính trọng đến mức năm vóc sát đất. Đối với cảnh giới siêu việt, khí phách vô úy, và sự thấu hiểu Phật lý của Thượng sư, tôi càng thêm kính ngưỡng từ tận đáy lòng. Trên trời dưới đất, chỉ có duy nhất Thượng sư mà thôi.

Hiện nay, tôi cũng có một câu chuyện kỳ lạ, vô cùng xác thực, đó là về cha vợ tôi, ông Trương Chương.

Cha vợ tôi, ông Trương Chương, sinh tại Huệ Châu, Quảng Đông, vào ngày 23 tháng 10 năm Kỷ Hợi, năm nay đã 86 tuổi. Suốt đời ông hiếm khi đau ốm, luôn tràn đầy sinh lực, ông có khả năng quan sát thiên văn, xem địa lý, trong nhà thờ cúng Quan Thế Âm Bồ Tát. Truyền thuyết khi ông chào đời là cửa nhà đóng kín, chỉ có mẹ ông và ông lúc mới sinh, không có bà đỡ, ngay khi ông vừa chào đời, mẹ ông đã ăn chay trường.

Khi còn trẻ, ông thường ngủ trên tảng đá ở vùng quê, mỗi lần thức dậy, ông đều bị một sức mạnh vô hình di chuyển đến nơi khác để ngủ. Có lần ông lên núi khảo sát địa hình, tình cờ nghỉ ngơi trong hang, một con hổ đi vào, nằm cùng, họ sưởi ấm cho nhau, hổ không làm hại ông. Ông biết rõ quá khứ và tương lai của bất kì ai, có thể cho người khác biết thời điểm sinh tử của họ, mỗi khi ông ngủ, nhiều người nhìn thấy ánh sáng tỏa ra từ cơ thể ông, khả năng chữa bệnh của ông cũng rất xuất chúng. Linh hồn ông thường xuyên du hành, từng đến nơi Quan Thế Âm ở Nam Hải, từng lên thiên đình, và từng du hành khắp địa ngục.

Tôi từng mang sách tâm linh của Thượng sư đến hỏi cha vợ tôi về sự tích của Thượng sư, ông ấy nói lai lịch của Thượng sư có nền tảng sâu dày, là bậc đại trí tuệ chân chính, những điều viết trong sách đều là sự thật. Thượng sư mang trọng trách, đã công khai bí mật của thế giới linh tiên, là người đến để cứu độ chúng sinh.

Kẻ hèn này tài mọn, căn cơ nông cạn, đạo hạnh chưa đủ, sống mơ hồ trên đời. Hiện nay nhờ duyên may hội tụ, đã tìm được bậc minh sư hiếm có trong thiên hạ, tất nhiên không cam tâm đứng sau người khác, kính cẩn lo sợ, viết thư cầu xin Thượng sư mở lòng từ bi. Xin thương xót nhìn xuống, thu nhận làm đệ tử của Chân Phật Tông.

Kẻ hèn tự biết việc này là quá cao đối với mình, nhưng mong Phật độ người có duyên. Tự biết mình thấp kém, nhưng may mắn tự nhận thấy mình làm người thật thà, còn có một tấm lòng chân thành theo đuổi chân lý vũ trụ. Tôi sinh tại huyện Vân Phù, Quảng Đông, tốt nghiệp ngành Xây dựng Dân dụng tại Đại học Bách khoa Hồng Kông, làm thanh tra ông trình.

Kính chúc Phật đạo ngày càng thịnh vượng, Chân Phật Tông sớm được phát huy rạng rỡ tại Mỹ và Canada.

Ngũ Quốc Hiền chắp tay.

🌟  Thứ hai:

Thượng sư Lư Thắng Ngạn, chào thầy!

Trước tiên cho phép tôi kính chúc Thượng sư sức khỏe dồi dào, tâm trạng vui vẻ.

Tôi tên Lưu Quốc Cẩn, sinh năm Quý Mùi tại Indonesia. Nhìn lại chặng đường dài của cuộc đời, tôi đã đi được hơn nửa hành trình, nhưng luôn cảm thấy bận rộn vì mưu sinh. Đúng lúc tôi đang hoang mang, may mắn thay tác phẩm lớn của Thượng sư đã đến tay tôi, nhờ đó, cuộc sống của tôi có được phương hướng cũng như niềm tin, và con đường đời trở nên có ý nghĩa để theo đuổi.

Gia đình tôi cũng là một gia đình điển hình tin Phật thờ thần. Nhớ lại thời thơ ấu, tôi thường thay mẹ thờ cúng, trong nhà có một bàn thờ Phật nhỏ. Mẹ cũng cho tôi biết, ngay khi tôi vừa chào đời đã được dâng cho Quan Thế Âm Bồ Tát. Tuy trong lòng tin vào sự hiện hữu của Thần Phật, nhưng trên thực tế, tôi chưa từng cảm nhận được sự có mặt hay vắng mặt của Thần Phật, tôi nghĩ đây là duyên phận.

Sau đó, vào năm 1980, tôi quen biết một vị sư phụ Đạo giáo tên là Viên Thiên Phong. Ông là một Đạo trưởng của Hội Đạo Giáo, từng giảng dạy Đạo pháp ở các khu vực Việt Nam, Thái Lan, Malaysia và Singapore. Viên Thiên Phong tự nhận mình có quan hệ thân thiết với Trương Thiên Sư đời thứ 64.

Sư phụ Viên dạy tôi học một loại pháp, chính là pháp "Người tung xúc xắc tôi gọi điểm" trong tác phẩm "Linh Tiên Phi Hồng Pháp" của Thượng sư (trang 125). Học pháp này cần phải tu luyện trong 3 năm mới thành. Mỗi ngày trước khi đi ngủ phải bắt ấn và tụng chú bảy lần, tu luyện được khoảng 2 năm thì lấy bùa chú ra thử dùng.

Pháp được thực hiện trên một chiếc bàn dài khoảng 3 mét, sư phụ Viên và tôi ngồi đối diện nhau, ông tự lắc xúc xắc, rồi đặt lên mặt bàn, tôi thầm tụng chú một lần, sau đó trong tâm nghĩ đến số điểm mình cần, không cần nói ra. Kết quả thử 10 lần, có 9 lần đúng, 1 lần sai. Đến năm thứ ba, lại thử lần nữa, cũng được 9 lần đúng, 1 lần sai.

Không lâu sau đó, sư phụ Viên mắc bệnh và qua đời tại bệnh viện, việc tu luyện pháp phù của tôi chỉ đạt đến trình độ 9 đúng 1 sai, rồi không tiến triển thêm.

Tuy nhiên, từ khi tiếp xúc với sư phụ Viên, tôi mới thực sự nhận ra rằng pháp lực chắc chắn tồn tại, và khi có pháp lực, tất nhiên phải có sự hiện diện của Thần Phật, đây là mối quan hệ nhân quả. Bởi vì những hiện tượng phát sinh từ việc sử dụng pháp lực hoàn toàn không thể giải thích bằng lý thuyết duy vật, mà chỉ có thể giải thích bằng huyền học.

Ví dụ, sư phụ Viên có pháp di chuyển vật, hai người mỗi người cầm một quân mạt chược, mặt quân mạt chược khác nhau, sau khi ông tụng chú, mở tay hai người ra xem, thì hai quân mạt chược trong tay đã được hoán đổi cho nhau. Ông có thể dùng tờ 100 đồng đi mua đồ, ông đọc "chú che mắt", đối phương sẽ nhìn tờ 100 đồng thành tờ 1.000 đồng, và còn thối lại cho ông hơn 900 đồng. Sư phụ Viên cười hề hề, bảo đối phương nhìn kĩ xem là bao nhiêu tiền, đối phương nhìn lại, vẫn thấy là tờ 1.000 đồng, đến khi sư phụ Viên thu "chú che mắt" lại, tờ tiền mới biến trở lại thành 100 đồng, khiến người bán hàng cũng cảm thấy khó hiểu.

Tôi đã tận mắt chứng kiến rất nhiều pháp thuật của sư phụ Viên, từ đó mới thực sự nhận thức được rằng sự tồn tại của Thần Phật là có thật. Nay đọc được tác phẩm lớn của Thượng sư Lư, cùng với phiên bản hải ngoại "Tuyển tập Kim Cang Nộ Mục", trong lòng tôi đã sớm tìm kiếm pháp Mật tông, muốn quy y Chân Phật Tông. Tôi muốn tu pháp kim cang Tứ Thiên Vương, không biết tôi có duyên tu pháp này hay không.

Thượng sư Lư, trong lá thư này, tôi tự xưng là "tôi", bởi vì tôi chưa quy y Thượng sư, nên không thể tự xưng là "đệ tử". Việc tôn xưng "Thượng sư Lư" là vì tác phẩm vĩ đại của Thượng sư đang hướng dẫn tôi bước những bước lớn, tiến về phía trước trên con đường hướng Phật, hướng Đạo.

Kính chúc Phật an.
Lưu Quốc Cẩn kính thư.

🌟  Thứ ba:

Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Lư Thắng Ngạn Thượng Sư tôn kính!
Chào thầy!

Trước tiên, xin hãy tha thứ cho sự quấy rầy đường đột của kẻ hậu sinh. Kẻ hậu sinh là một hành giả tu tập rất chăm chỉ và tinh tấn. Khi đọc xong những tác phẩm vĩ đại mới xuất bản của Thượng sư như "Thế giới con mắt thứ ba", "Hàng ma bình yêu truyện", "Tọa thiền thông minh pháp", "Hành giả ở Seattle" và nhiều tác phẩm khác một cách say mê quên ăn quên ngủ, lòng tôi vô cùng xúc động, đặc biệt như sóng trào dâng mãnh liệt. Trong tâm có một tiếng gọi mạnh mẽ và khẩn thiết thúc giục bản thân: hãy mau cầm bút, hãy mau viết thư, vị đại minh sư mà bạn tìm kiếm nhiều năm qua đang ở trước mắt, xin đừng chờ đợi nữa, xin đừng do dự nữa, đại pháp đã được nghe, thiên thư đã được đọc, cơ duyên đã đến, sao không mau mau quy y. Thưa Thượng sư Lư, dù Ngài ở tận bờ Tây Thái Bình Dương, tận Seattle nước Mỹ, còn kẻ hậu sinh ở bờ Đông Thái Bình Dương, nhưng tâm con đã sớm bay đến bên cạnh tâm Ngài, mong mỏi được Ngài chỉ dạy và dẫn dắt.

Thượng sư Lư, từ nhỏ kẻ hậu sinh này đã có cảm giác thân thiết sâu sắc với Phật pháp. Con đã tự ngồi kiết già từ khi còn nhỏ, với tư thế ngồi tự nhiên, cảm nhận tự tính, và trong đời này nhất định phải tu thành chính giác, đoạn tuyệt luân hồi, độ khắp chúng sinh. Điều kỳ lạ hơn là, trong giấc mơ, con đọc được những kinh văn Phạn ngữ mà bình thường không hiểu, một số chú ngữ đều đọc lên trôi chảy. Ngoài ra, khi tọa thiền, tay con cũng tự động kết ấn, và trong lúc ngồi yên, thân thể cũng hơi bay lên, đây là những cảm ứng nhỏ của con.

Bởi vì muốn độ tất cả chúng sinh, muốn chúng sinh cùng đến cõi Phật, việc này đâu phải dễ dàng! Nếu bản thân chưa thể chứng đắc quả vị Thập địa Bồ tát, chưa đoạn tất cả phiền não, chưa đạt được sáu căn thanh tịnh, chưa thông tất cả pháp môn, chưa đạt được biện tài lớn, thì căn bản không có tư cách nói đến việc độ chúng sinh. Vì vậy, để thực hiện đại nguyện của Đức Thế Tôn Như Lai Phật Tổ, độ hết thảy chúng sinh vãng sinh thế giới Phật quốc, chúng con là những đệ tử, trước tiên phải tu thành chính giác, và việc tu thành chính giác này nhất định phải có sự chỉ dạy của Thượng sư.

Con thành tâm hy vọng Thượng sư không chê con thô thiển mà chấp nhận cho con được quy y, chấp nhận kẻ hậu sinh này làm đệ tử nhập thất của Ngài, chấp nhận kẻ hậu sinh này trở thành đệ tử truyền thừa của Chân Phật Tông. Trong lòng kẻ hậu sinh vô cùng xúc động, dưới tâm trạng phấn khởi, đã viết lá thư này gửi đến vị Thượng sư mà con kính trọng nhất - Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư, thành tâm hy vọng Thượng sư sẽ không từ chối kẻ hậu sinh này, dù cách xa nghìn dặm, mà ban cho đệ tử sự gia trì và quán đảnh không ngừng.

Kính tặng Thượng sư một bài kệ:
Nhập thế xuất thế chuyển pháp luân
Biển khổ từ hàng luôn dẫn lối
Nghìn xưa khai mật lập pháp điển,
Vạn đời truyền tụng từ bi tâm.

Kẻ hậu sinh Âu Dương Kiện Minh chắp tay.


### 41. Bồ Đề Đường ở Canada giảng kinh


Ngày 29 tháng 7 năm 1984, tôi được mời đến phân đường Bồ Đề Đường của Chân Phật Tông tại Vancouver, Canada, để chủ trì lễ khai quang và buổi giảng kinh.

Tên đầy đủ của phân đường này là LING SHEN JEN FOO CHUNG POO TEE TOWN, được thành lập vào tháng 5 năm 1984. Trụ trì của Bồ Đề Đường là cư sĩ Lại Văn Ngôn, tại Vancouver, Canada, cư sĩ Lại là đệ tử quy y đầu tiên, ông đã đến Đài Loan quy y cách đây vài năm, khi tôi chưa xuất ngoại. Sau khi tôi đến Seattle, Hoa Kỳ, cư sĩ Lại thường xuyên dẫn tín đồ đến quy y và nhận quán đảnh.

Do diện tích lãnh thổ Canada rất lớn, đệ tử khắp Canada cũng rất đông, phân bố rải rác, nên việc tập trung rất khó khăn. Ở phía Đông, tại Toronto, cũng có rất nhiều đệ tử, trong tương lai Toronto cũng cần có một phân đường, mỗi tuần tổ chức một buổi pháp hội đồng tu, để tất cả đệ tử có thể giao lưu học hỏi và kết nối với nhau, giúp ích cho việc hoằng dương Phật pháp.

Tại Bồ Đề Đường Vancouver này đã quy tụ không ít đệ tử, có nhiều đệ tử từng đến Seattle nghe tôi giảng về "Tâm yếu tu trì Mật pháp", vì vậy họ đã có khái niệm rất sâu sắc về pháp Mật tông, và cũng đang tu trì hàng ngày.

Đầu tiên, tôi nói với các đệ tử của mình rằng hai chữ "Bồ Đề" chính là "Giác Đạo", Giác là giác ngộ, Đạo là Phật đạo, khi giác ngộ được đạo lý chân chính của Phật, thì gọi là bồ đề. Người tu trì Mật pháp của Chân Phật Tông chính là phát tâm cầu đạt đạo chính giác thành Phật.

Ngoài ra, trong Phật pháp có "bồ đề phần", là ba mươi bảy pháp môn tu tập thánh đạo cơ bản mà Đức Phật đã khai thị từ Đạo đế trong bốn đế, pháp môn này là ba mươi bảy đạo phẩm, tức pháp Ba mươi bảy bồ đề phần. Vì vậy, Thượng sư có kỳ vọng rất lớn đối với Bồ Đề Đường ở Canada.

Tôi thuyết pháp tại Bồ Đề Đường, hy vọng rằng pháp duyên tối thượng và thù thắng này sẽ được lan tỏa rộng rãi, khiến tất cả đệ tử có niềm tin kiên định bất biến để tu tập mỗi ngày, dưới đại nguyện nhiệm màu của chư Phật Bồ Tát, luôn là thiện hữu của nhau và không chán bỏ. Mọi người hãy nỗ lực, trước tiên hãy tiêu trừ tất cả nghiệp chướng đời trước, xóa bỏ hoàn toàn mọi khổ đau sinh lão bệnh tử của nhân gian, sau đó xa lìa tất cả tai ương và hoạn nạn, khiến bản thân trở thành tướng đẹp trang nghiêm. Ba độc không còn, năm trí tuệ tràn đầy, viên mãn tất cả ba la mật, kết quả cuối cùng là minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử, đạt được tự tại hoàn toàn, đầy đủ ngũ nhãn lục thông, chứng đắc vô thượng chính đẳng chính giác.

Tôi giảng kinh tại Bồ Đề Đường ở Canada, trước tiên tôi giảng về pháp bát cúng. Các ý nghĩa của tám loại cúng dường, pháp đầu tiên được truyền tại Bồ Đề Đường là pháp ốc báu như ý, pháp ốc báu như ý này là một Mật pháp rất kỳ lạ và đặc biệt, hiện nay trên thế gian không nhiều người biết đến, các đại hòa thượng xuất gia và các Thượng sư Mật giáo đều không biết về kho báu Mật pháp vi diệu này.

Pháp ốc báu như ý này vốn là một pháp bí mật cực kì quan trọng của Phật Thích Ca Mâu Ni, được Phật Thích Ca Mâu Ni trực tiếp truyền cho Liên Sinh Kim Cương Thượng Sư, và chỉ có Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Mật Hành Tôn Giả mới có pháp ốc báu như ý này. Đây là pháp bí mật lớn mà không vị pháp sư hay Thượng sư nào biết đến.

Các đệ tử của Bồ Đề Đường được nhận pháp bí mật lớn này là một phúc phần vô cùng to lớn, ai nấy đều hân hoan nhảy múa, vui mừng khôn xiết, họ cho rằng hôm nay lần đầu tiên nghe kinh mà đã nhận được "báu vật Mật tông" như vậy. Từ giờ, cuộc đời đã có giá trị và ý nghĩa, đây là điều nghìn vàng khó mua, vạn bạc khó cầu.

Tôi nói, pháp vô thượng tối cao tối thượng này trong thiên hạ vốn rất khó cầu, muốn kiến tính thành Phật, nhập thẳng vào biển tính Tỳ Lô là điều vô cùng quý giá và khó nghe được, và Thượng sư của tôi thuyết đại Mật pháp trong thế gian, thời gian cũng không dài lắm, tuổi đời con người rất nhanh sẽ hết, hôm nay tôi đã 40 tuổi rồi, đời người có được bao nhiêu lần 40 tuổi, nhìn thì rực rỡ huy hoàng, nhưng cơ hội thực sự khó gặp, tất cả đệ tử phải nắm bắt cơ hội, trân quý thời gian, nếu không sẽ không kịp nữa. Hôm nay đánh mất cơ hội nghe Mật pháp, kiếp sau phải trải qua trăm nghìn vạn triệu kiếp, e rằng cơ hội sẽ rất hiếm hoi.

Ở giữa Bồ Đề Đường thờ phụng mandala 53 vị Phật, 53 vị Phật này chính là từ "Kinh Quán Dược Vương Dược Thượng Nhị Bồ Tát". Phía trước mandala là tượng Phật Thích Ca Mâu Ni và Bồ Tát Quan Thế Âm, ngoài ra còn có tượng Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, tượng Phật Mẫu Chuẩn Đề và tượng Hoàng Tài Thần, cùng với tượng Thượng sư, v.v…, tất cả đều vô cùng trang nghiêm.

Các đệ tử tín đồ của Bồ Đề Đường Canada, một số đệ tử đã có những chứng nghiệm khá lớn, có người đã biết chuyện đời trước, có người nhìn thấy chư Phật Bồ Tát, có người tiền kiếp là thánh tăng tái thế, có người khi thiền định biết thân mình bay bổng, có người khi tu trì ngửi thấy từng đợt hương thơm kỳ lạ, có người nhìn thấy nhiều loại ánh sáng, những hiện tượng này đều rất tốt, có thể xem như một sự thúc đẩy và khích lệ.

Trong ngày thuyết pháp đó, tôi nhìn thấy trên không trung cũng có "ánh hào quang từ đỉnh đầu Phật tụ hội", có Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát hiện đến, có A Di Đà Phật từ không trung giáng xuống, có sơn thần, địa thần, thủy thần, không thần đến nghe pháp, tất cả đều vô cùng hoan hỷ, cung kính phụng hành, có sức uy thần lớn lao.

Tôi nói, tất cả chúng sinh đều có Phật tính, tôi là Thượng sư của chúng sinh có duyên, vì tôi đã chứng biết, nên sẽ đem tất cả kiến thức truyền đi tiếp, tôi là Phật đã thành, các bạn là Phật chưa thành, chư Phật quá khứ cũng tu như vậy, ngộ như vậy. Vì thế, ngày nay đệ tử Chân Phật Tông cũng phải tu như vậy, ngộ như vậy. Tương lai sẽ thành Phật, người người thành Phật, người người chứng đắc.


### 42. Đại pháp hội tại Philippines


Thượng sư Trần Tước Viên và tôi, khi đến sân bay Manila Philippines, bên trong sân bay đã có đường chủ Liên Quang Đường ở Philippines đang đợi, người đi cùng chúng tôi từ Hồng Kông đến Philippines là Trần Thiến Di (Liên Cung). Vừa ra khỏi hải quan Manila, bên ngoài sân bay lại là hàng nghìn hàng vạn người chào đón, họ cầm những dải vải đỏ, trên đó viết chữ vàng thể hiện ý chào mừng, rồi lập tức tặng hoa, cổ Thượng sư Trần Tước Viên và tôi đều đeo đầy những vòng hoa.

Tôi cảm thấy Philippines rất nồng nhiệt, và tình cảm nồng hậu của người Philippines cũng rất nồng nhiệt. Trên đại lộ Hoàng Hôn ở thủ đô Manila này, chúng tôi nhìn thấy hoàng hôn rất đẹp và rực đỏ, những xe hoa đầy đường phố, đây lại là một lần nữa chứng kiến đặc trưng của đất nước này.

Tại Manila, bên cạnh phố người Hoa có Liên Quang Đường thuộc Linh Tiên Tinh Xá, tôi đã thuyết ba thời pháp tại đây, mỗi thời đều chật kín người, ngay cả hành lang cũng đứng đầy người. Tôi truyền đầu tiên là "Đại tâm yếu thành Phật của Mật tông", tiếp theo truyền "Nghi quỹ tu trì hàng ngày", thứ ba truyền "Vận động bảy luân xa". Trước mỗi lần truyền pháp, tôi đều quán đảnh gia trì cho những người muốn quy y.

Trụ trì Liên Quang Đường, đệ tử Liên Thủ Liêu Hiền An, là hành giả tu Mật nhiều năm, trong Phật đường thờ toàn là chư Phật Bồ Tát Mật tông. Mỗi lần có Hoạt Phật đến Philippines đều do Liên Thủ tiếp đón, ông cũng là đệ tử quy y đầu tiên của Thượng sư Đại Bảo Pháp Vương thứ 16 tại Philippines. Đệ tử Liên Thủ còn mời một họa sĩ vẽ tranh sơn dầu vẽ cho tôi một bức tranh sơn dầu, thật là chân thực sống động, vẽ rất tuyệt.

Tại Liên Quang Đường tôi đã thuyết ba thời pháp, người quy y rất đông, có nhiều người từ thành phố Baguio đi xe đến, xa hơn nữa có người từ thành phố Cebu đi máy bay đến, tất cả họ đều là nhìn thấy tin đăng trên báo mà tìm đến.

Điều đáng nói là, bảy đệ tử từ Viên Âm Đường thuộc Linh Tiên Tinh Xá ở quốc gia Brunei mới độc lập, do Liên Văn Ngụy Sĩ Cường dẫn đầu đã đáp máy bay đến Philippines. Họ cũng tham gia pháp hội tại Liên Quang Đường. Các đệ tử Brunei vội vã đến Philippines để gặp tôi, đây là một cảnh tượng cảm động. Họ không quản vất vả bay ba tiếng đồng hồ đến Philippines, mang theo những lời tâm sự ghi âm của tất cả đệ tử Brunei, khiến tôi vô cùng xúc động. Tôi cũng mong mỏi họ mỗi người hàng ngày tu trì, đúng kỳ hạn chứng đắc, làm một Phật tử chân chính. Tôi khuyến khích các đệ tử Brunei rằng tôi chắc chắn sẽ đến Brunei, và tôi tuyệt đối không bỏ rơi các đệ tử ở quốc gia Brunei. Các đệ tử Brunei rất chân thành, thành kính và có thực tu.

Lần này tôi đến Philippines cũng vì điện mới xây của Đại Đạo Huyền Đàn mà đến, là để xem phong thủy cho Đại Đạo Huyền Đàn, bởi vì Bảo Sinh Đại Đế khi cầu cơ đã yêu cầu mời tôi đến.

Ghi chép bài thơ cầu cơ của Bảo Sinh Đại Đế như sau:
Đại điện báo trước hai mươi năm
Đạo nơi đất linh có thâm uyên
Mau mời Liên Sinh tôn giả đến
Người thần đều là trời định duyên.

Bảo Sinh Đại Đế ở Philippines đã cho ra văn cầu cơ, yêu cầu tôi đến Philippines khảo sát phong thủy địa lý của Đại Đạo Huyền Đàn, đây cũng là một lý do mà tôi không thể từ chối. Vì vậy, ngoài việc khảo sát địa lý, tôi cũng đã thuyết pháp một lần tại giảng đường mới xây của Đại Đạo Huyền Đàn. Pháp hội lần này đã tập hợp hơn 100 tín đồ, chủ đề của tôi là "Linh và Đạo", từ việc khởi linh nói đến đạo của Tam Thanh Tổ Sư, người nghe pháp đều vô cùng xúc động, họ nói rằng: "Chúng tôi đã tin Đạo cả đời, nhưng chưa từng được nghe pháp cao sâu và khéo léo như vậy."

Sau khi thuyết pháp tại Đại Đạo Huyền Đàn, đám đông không giải tán, họ vây quanh tôi, mọi người đều xin chỉ dạy về yếu nghĩa của pháp chân thật, một số người hy vọng tôi giúp họ giải thoát khỏi bệnh tật trong cơ thể. Ngay tại chỗ, tôi chắp tay lạy trời, trong khoảnh khắc, trời đất rung chuyển, trên không trung xuất hiện một con rồng xanh, rồng xanh há miệng phun ra một chậu nước, tôi bảo mọi người mang nước ra ngoài, khiến những người uống "nước rồng xanh", người bệnh nhẹ lập tức khỏi hẳn, người bệnh nặng ngay lập tức giảm nhẹ, trong chốc lát, mọi người đều chắp tay lạy trời, tạ ơn trời. Mọi người đều quy y.

Đại Đạo Huyền Đàn là một đàn tràng Đạo giáo, khi vào cổng chính là Điện Tam Thanh Tổ Sư - Ngọc Thanh, Thái Thanh, Thượng Thanh, phía trên là điện thờ Tổ sư, trên cùng là Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn. Do sự hoằng pháp của Đại Đạo Huyền Đàn, chùa Quan Âm Philippines và miếu Diêu Trì Kim Mẫu Philippines đều cử người đến mời tôi đến các ngôi chùa này thuyết pháp, nhưng vì thời gian có hạn nên tôi chỉ nhận lời mời của một ngôi chùa Mật tông, đó là Từ Uy Mật Uyển, trụ trì ban đầu là Dương Mai Sinh, là đạo tràng do Thượng sư Từ Uy để lại.

Thượng sư Từ Uy là truyền thừa Hồng giáo của Mật tông, Từ Uy Mật Uyển thờ phụng pháp tướng của Thượng sư Norlha thuộc Hồng giáo, lấy Quan Âm Tứ Thủ, Lục Độ Mẫu và Liên Hoa Sinh Đại Sĩ làm ba Bổn tôn. Điểm đặc biệt nhất của Từ Uy Mật Uyển là trong toàn bộ Mật Uyển thờ phụng pháp tướng của 21 Độ Mẫu, tổng cộng có 21 tôn tượng, mỗi tôn tượng đều trang nghiêm, tượng điêu khắc tinh xảo, vô cùng thu hút.

Tại Từ Uy Mật Uyển, tôi đã lên pháp tọa, tất cả đệ tử truyền thừa Hồng giáo đều đến quy y và cầu quán đảnh, mỗi người đều cung kính đảnh lễ, nước quán đảnh từ đầu đến tay, mọi người đều hứng lấy "tam Hum thủy", dùng miệng hút vào, đây là một khoảnh khắc vô cùng vĩ đại, tất cả các đệ tử của Từ Uy Mật Uyển đều quy y Chân Phật Tông. Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Lư Thắng Ngạn Mật Hành Tôn Giả, tại Từ Uy Mật Uyển Philippines, đã thu nhận hàng trăm đệ tử cùng một lúc, nếu tính cả các đệ tử của Liên Quang Đường và Đại Đạo Huyền Đàn, riêng tại Philippines, đã có vô số đệ tử của Chân Phật Tông.

Tại Từ Uy Mật Uyển khi truyền quán đảnh tứ quy y đã là 9 giờ tối, nhưng theo yêu cầu của các đệ tử, tôi đã lập tức khai thị về "Mặc giáp hộ thân khi mặc quần áo" và "Mặc giáp hộ thân trong giấc mơ" của Mật tông, khiến các đệ tử nghe pháp ngay lập tức nhận được lợi ích lớn, những lợi ích này là vô cùng thù thắng chưa từng có, mọi người đều cúi đầu đảnh lễ.

Trong thời gian tôi hoằng pháp tại Philippines, điện thoại của Liên Quang Đường thuộc Linh Tiên Tinh Xá liên tục đổ chuông không ngừng, trụ trì Liên Thủ nói: "Chúng tôi đều không dám nhấc máy, vì ai cũng muốn mời Thượng sư, tất cả chùa miếu đạo tràng khắp Philippines đều muốn Thượng sư đến thuyết pháp, nhưng thời gian của Thượng sư có hạn, không thể sắp xếp đến được, nên chúng tôi đành không nghe điện thoại, hy vọng lần sau Thượng sư đến, thời gian sắp xếp dài hơn, để tín đồ Philippines đều có thể cùng nhận được lợi ích của pháp, đây là mong mỏi của các đệ tử Philippines."

Tôi đã nói, học tập Mật pháp của Chân Phật Tông chính là tức thân thành Phật, nhưng tất cả phải nương tựa vào Thượng sư mới có thể đạt được thành tựu lớn, bởi vì Thượng sư có vô lượng đại uy thần lực. Ngày nay, pháp của Chân Phật Tông là pháp do Thượng sư ban cho, khi đã quy y Thượng sư, cần phải tu trì Liên Hoa Đồng Tử Kim Cang tương ứng, như vậy việc học Phật tự nhiên sẽ có thành tựu lớn.

Pháp duyên ở Philippines rất thù thắng, pháp hội đồng tu của các đệ tử Philippines cũng rất thù thắng. Dù là Đạo, Hiển hay Mật, pháp pháp đều bình đẳng, nơi nơi đều có thể thấy tính, cũng nơi nơi đều có thể thành Phật. Trong tương lai không xa, Chân Phật Tông sẽ là một tông phái lớn trên toàn thế giới. Ngày nay chúng sinh có duyên mới có được pháp duyên thù thắng như vậy, hy vọng các đệ tử cùng nhau cố gắng.

**Đại sư Linh học Lư Thắng Ngạn**

Lịch trình hoằng pháp tại Philippines hôm nay

【Thông tin từ Liên Quang Đường thuộc Linh Tiên Tinh Xá tại thành phố này】: Vị sáng lập Chân Phật Tông, Thượng sư Lư Thắng Ngạn đã khởi hành từ Linh Tiên Tinh Xá tại Seattle, Hoa Kỳ vào ngày mùng 4 tháng này, đến Nhật Bản lúc 5 giờ 45 phút chiều. Ngài sẽ lưu lại Nhật Bản 5 ngày và sẽ gặp Thủ tướng Nhật Bản Nakasone Yasuhiro, sau đó rời Nhật qua Hồng Kông, dự kiến đến Philippines vào lúc 6 giờ chiều hôm nay (ngày 11) bằng chuyến bay của hãng hàng không Cathay Pacific.

Thượng sư Lư Thắng Ngạn sinh năm 34 Dân Quốc (1945) tại huyện Gia Nghĩa, Đài Loan. Ngài tốt nghiệp kỹ sư ngành Địa chất tại Học viện Công nghệ Trung Chính. Ngài là một nhân vật kỳ lạ đã chuyển từ Cơ Đốc giáo sang Đạo giáo rồi Phật giáo, với các tác phẩm gây tiếng vang trong và ngoài nước như: "Mạn đàm linh cơ thần toán", "Khởi linh học", "Siêu giác của linh hồn", "Thông linh bí pháp thư".

Các tác phẩm hiện nay của Ngài chú trọng vào thực hành tu chứng, như "Tọa thiền thông minh pháp", "Chứng ngộ của Thượng sư", "Linh Tiên kim cang đại pháp", "Vô thượng Mật và Đại thủ ấn", "Một chút thiền vị", "Mật tông Yết Ma pháp"... và nhiều tác phẩm khác đang được viết và sẽ tiếp tục xuất bản. Tác phẩm "Địa linh dấu tiên" của tác giả là một học thuật phong thủy chân thực, trình độ phong thủy học của Ngài vô cùng thâm sâu khó lường do được truyền thụ chân truyền từ Đạo trưởng Thanh Chân thuộc phái Thanh Thành. Lần hoằng pháp tại Philippines này có thể nói là một duyên phận đặc biệt sâu sắc.

(Đăng trên Nhật báo Liên Hợp, Philippines)

**Thượng sư Lư Thắng Ngạn đến Philippines**

Thông báo lịch trình đại pháp hội

【Thông tin từ Đại Đạo Huyền Đàn Philippines】: Vị sáng lập Chân Phật Tông, Thượng sư Lư Thắng Ngạn, sinh năm 34 Dân Quốc tại huyện Gia Nghĩa, Đài Loan, tốt nghiệp kỹ sư ngành Địa chất tại Học viện Công nghệ Trung Chính. Ngài vốn là tín đồ Cơ Đốc giáo nhiệt thành, sau chuyển sang Đạo giáo, nhờ được truyền thụ chân truyền môn phong thủy từ Đạo trưởng Thanh Chân thuộc phái Thanh Thành, đã viết tác phẩm "Địa linh dấu tiên", với nhiều chứng tích thực tế đáng tin cậy. Hiện nay Ngài đã trở thành một nhân vật kỳ lạ trong Phật giáo, đang sống tại Seattle, Hoa Kỳ, nơi Ngài đã xây dựng Linh Tiên Tinh Xá, một đạo tràng trang nghiêm, chuyên tâm tu pháp tại thành phố (REDMOND). Mặc dù Ngài sống ẩn danh, nhưng đã được chư Phật Bồ Tát ban tặng mũ miện đỏ, trở thành Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Mật Hành Tôn Giả. Lần này, theo lời mời của Phó Chủ tịch Hội đồng Quản trị đạo tràng là ông bà Trương Giác Thịnh, Ngài đến Philippines hoằng pháp, đã khởi hành từ Linh Tiên Tinh Xá ở Seattle, Hoa Kỳ vào ngày 4 tháng 7, trước tiên đến Nhật Bản và gặp Thủ tướng Nakasone Yasuhiro, sau đó qua Hồng Kông, đã đến Philippines vào lúc 6 giờ chiều ngày 11 tháng 7 bằng chuyến bay của hãng Cathay Pacific, và đã gặp gỡ toàn thể đạo hữu của Liên Quang Đường thuộc Linh Tiên Tinh Xá tại đây. Thượng sư Lư Thắng Ngạn hiện đã ấn định vào ngày 14 tháng 7 (thứ Bảy), lúc 2 giờ chiều, tại Đại lễ đường của Đại Đạo Huyền Đàn mới, sẽ tổ chức đại pháp hội hoằng pháp, kính mời các giới kiều bào đến tham dự.

(Đăng trên Nhật báo Liên Hợp, Philippines)


### 43. Thuyết pháp tại Tín Pháp Đường Hồng Kông


Thượng sư Trần Tước Viên và tôi cuối cùng đã đến Hồng Kông, đó là vào giữa tháng 7 năm 1984. Do vấn đề visa Hồng Kông nên chúng tôi chỉ có thể quá cảnh Hồng Kông, mà quá cảnh Hồng Kông nghĩa là phải rời đi trong vòng 48 giờ.

Ở Hồng Kông, Chân Phật Tông có vạn đệ tử, có một Tín Pháp Đường, tuy nhiên, trong 48 giờ này, thật khó khăn cho vị đường chủ, ông không thể thông báo tin tức về việc tôi đã đến Hồng Kông. Đường chủ cùng vài người thân cận đã đến sân bay đón, đặc biệt giải thích với tôi rằng, trong vòng 48 giờ, thực sự không thể sắp xếp cả thuyết pháp lẫn tổ chức pháp hội được.

Ở đây, tôi xin gửi lời xin lỗi đặc biệt đến tất cả các đệ tử đang mong đợi. Do phải khởi hành gấp rút, tôi không kịp làm visa Hồng Kông, tôi chỉ có hộ chiếu thường trú nhân Mỹ (bìa trắng), chỉ có visa quá cảnh, nên thời gian lưu lại Hồng Kông chỉ có hai ngày, trừ đi thời gian ngủ nghỉ, chỉ còn lại vài giờ đồng hồ mà thôi. Tuy nhiên, vẫn có hai đệ tử từ Đài Loan đã bay đến Hồng Kông để gặp tôi, một người là ông Trần Chính Hùng, một người là ông Hứa Thanh Tuấn.

Lần này đến Hồng Kông, có một việc đặc biệt quan trọng cần làm, tôi đã chọn một đệ tử tại Hồng Kông để trao vị Kim Cương A Xà Lê, đó là Thượng sư Lưu Dị Vinh, Thượng sư Lưu là đường chủ Tín Pháp Đường Hồng Kông, ông cũng là một người có căn cơ, thường ngày nghiêm trì giới luật, tinh tấn tu pháp, làm việc nghiêm túc, nỗ lực tinh tấn trong việc đắc chứng trong kỳ hạn. Ông luôn khiêm tốn, có nhiều tâm đắc về quán Không và dung nhập, người có thể dung nhập tức là đạt Tam ma địa, ông đã có thể nghiệm về dung nhập, tôi đã đặc biệt truyền dạy pháp bí mật cho ông, giúp ông chứng ngộ trực tiếp, vì vậy đã trao cho ông vị trí Kim Cương A Xà Lê.

Tôi và Thượng sư Trần Tước Viên đến Hồng Kông, và ngay tại pháp đường này, đã làm lễ quán đảnh cho vị tân Thượng sư.

Tại Tín Pháp Đường, tôi đã thuyết một bài pháp. Tôi nói: "Con người sống trên đời này, tất cả đều là khổ, danh lợi địa vị quyền lực đều là phù du biến ảo, sinh tử là việc lớn nhất, cái chết vô thường đến rất nhanh chóng. Là một hành giả Mật tông, phải tinh tấn tu trì theo thứ tự tu hành của Mật tông, đầu tiên phải quy y, kế đến là phát tâm bồ đề, rồi nương vào pháp Bổn tôn, tu trì thiền định nội tâm, cuối cùng tâm không còn ràng buộc, thân cũng an định, mọi cái thấy của ta đều là cái thấy của Phật, như như bất động, nhất tâm bất loạn, trong sự quán chiếu tâm thanh tịnh, tất cả đều là tự tính của Phật."

Tôi nói, tâm yếu của Mật tông, sự tu trì hiện diện trong ăn, mặc, ở, đi lại, tắm rửa, ngủ nghỉ, nghĩa là trong mọi công việc hàng ngày, đều không rời bỏ sự tu trì, ngay cả khi đi ngủ vào ban đêm, cũng giữ vững tâm mình không lỏng lẻo, chỉ cần thời cơ chín muồi, sẽ đạt được đại giải thoát.

Trong bài thuyết pháp, tôi đã nói với tất cả các đệ tử về phương pháp tu luyện trong ăn, mặc, ở, đi lại, tắm rửa, ngủ nghỉ, những pháp này đều là những phương pháp thiện xảo nhất. Trong Mật pháp có cái gọi là Hoan hỷ pháp, Phẫn nộ pháp, Cầu tài pháp, Đắc quyền pháp, Hàng ma pháp, Y bệnh pháp, Trường thọ pháp, Cúng dường pháp, những pháp nhập thế này, cũng không gì khác hơn là phương tiện thiện xảo để độ người và khơi dậy niềm tin mà thôi.

Tôi nói, khi đã làm Thượng sư, tự biết thân ta chính là thân Phật, tâm ta chính là tâm Phật, đối với những lời phỉ báng của người đời, phải biết rằng pháp này vốn là tâm thế gian, không thể đi cảm nhận nó, ngược lại phải đi cứu độ họ, thương xót họ. Bởi vì họ tự chuốc lấy khổ đau, muốn được lợi ích, ngược lại gặp phải tổn hại, chúng ta phải xem như chưa thấy, nghe như chưa nghe, ngược lại phải đi cứu giúp độ hóa họ.

Về nguyên tắc, Phật pháp đều là lợi ích cho chúng sinh, có thể nói tùy duyên mà thuyết pháp, thuyết giáo. Đối với người có căn cơ nông cạn nhất, thị hiện tượng pháp của bản thân Phật để thu hút họ; nếu là người có căn cơ trung bình, liền thuyết giảng pháp Hiển giáo, dạy về từ bi, năm giới, mười thiện, sáu ba la mật; nếu là người có căn cơ lớn, liền thuyết đại bí mật vô thượng; đối với người ác, liền hiện Kim Cang phẫn nộ tướng, dùng để điều phục người ác; nếu là người thiện, liền là Bồ Tát hiện tướng đoan chính trang nghiêm, đây cũng là các tướng khác nhau được thị hiện của Phật pháp để độ thế.

Tôi nói, nội hỏa minh điểm là quan trọng nhất, cầu pháp trong thân là cốt yếu, tĩnh tọa thiền định đều nằm trong nội hỏa minh điểm này, đặc biệt là hồng điểm hóa thành nội hỏa, từ nội hỏa phát ra ánh sáng, từ ánh sáng thoát ra thiên khiếu, tử quang gặp mẫu quang, chính là nhập vào biển tính Tỳ Lô, nhập vào Tam ma địa, lúc này như bánh xe, biểu thị quả đức viên mãn vậy.

Thân là thân Phật, tâm là tâm Phật, trong cuộc sống hàng ngày luôn luôn quán như vậy, Phật vốn không hai, đây là đại bí mật quan trọng để thành Phật.

Tại Tín Pháp Đường ở Hồng Kông, tôi đã vận dụng pháp Mãn Nguyện Đồng Tử để ban cho tất cả các đệ tử có mặt ai ai cũng có thể thỏa mãn tâm nguyện của mình, mỗi người cầu xin một tâm nguyện, được Thượng sư đích thân gia trì quán đảnh, giúp tất cả các đệ tử có mặt đều có thể hoàn thành tâm nguyện của mình.

Lúc này, tôi quan sát trên không trung, trên không xuất hiện năm đóa sen, phương Đông là sen màu xanh, phương Tây là sen màu vàng kim, phương Nam là sen màu đỏ, phương Bắc là sen màu trắng, trung tâm là sen màu vàng. Những đóa sen này an trụ bất động, tướng đẹp quang minh, hình tướng của hoa sen như cầu vồng, tỏa ra năm màu ánh sáng, trên không có âm thanh như tiếng Phạm âm.

Và ở trên đóa sen màu vàng ở chính giữa, có một đồng tử ngồi. Tôi nhìn kĩ, hóa ra đó chính là Mãn Nguyện Đồng Tử. Mãn Nguyện Đồng Tử là con út của Ha Lợi Đế Mẫu, lời thề nguyện của ngài là ban phúc bảo hộ, phụ giúp mẫu thân Ha Lợi Đế Mẫu ban phúc cho tất cả chúng sinh khắp thiên hạ. Hóa ra trong tâm tôi đã triệu thỉnh Mãn Nguyện Đồng Tử, dùng tâm mình biến hóa thành mười vạn đóa hoa hồng để cúng dường Mãn Nguyện Đồng Tử ở cõi trời, và Mãn Nguyện Đồng Tử đã đến.

Mãn Nguyện Đồng Tử tướng đẹp viên mãn, trên đầu búi ba búi tóc, dùng các loại chuỗi vòng ngọc trang nghiêm thân thể, trang nghiêm ngồi trên tòa sen, lòng bàn tay trái cầm quả cát tường, bàn tay phải buông xuống, đó là ấn Mãn Nguyện. Tôi thấy thế vô cùng hoan hỷ.

Tôi cúi đầu đảnh lễ Mãn Nguyện Đồng Tử, dùng bình quán đảnh, quán đảnh cho từng đệ tử đến tiếp nhận quán đảnh, sau đó dùng bàn tay phải gia trì ban cho đại mãn nguyện. Lúc này trên không trung cũng xuất hiện Diêu Trì Kim Mẫu, Diêu Trì Kim Mẫu hiển hiện hào quang lớn, mưa hoa rơi xuống khắp nơi, hào quang chiếu soi từng chúng sinh.

Lúc này tất cả các đệ tử đều vô cùng xúc động, ai nấy đều nước mắt đầm đìa, khóc nức nở, và tiếng khóc này là sự chân thành đan xen giữa buồn và vui, là sự bộc lộ của con tim. Diêu Trì Kim Mẫu đã đến, mọi người đều khóc, linh khí tràn ngập Tín Pháp Đường, ánh nước mắt của mọi người hòa quyện, đan xen tạo thành một khung cảnh hết sức cảm động, giữa người và thần, người và Phật, thầy và trò, đều là một sự xúc động lớn lao.

Tôi viết một bài kệ để ghi nhớ:
*Tâm cúng hồng hoa mười vạn vạn,
Mãn Nguyện Đồng Tử nguyện mở lòng
Người nghèo ban phúc đại cát tường
Người bệnh chữa lành đại chấn động
Giữa Tín Pháp Đường Kim Mẫu giáng,
Tâm linh hóa sen ánh lung linh.*

Ghi chú: Tín Pháp Đường Hồng Kông đã đổi tên thành Hồng Kông Lôi Tạng Tự
Địa chỉ: Lầu 31, Tân Bảo Trung Tâm, số 10 đường Ngũ Phương, Tân Bồ Cương, Cửu Long, Hồng Kông
Điện thoại: 23888987


### 44. Tu luyện ở đền Minh Nhật Hương tại núi Thiển Gian


Ngày 8 tháng 7 năm 1984, tôi đến thăm Đền Minh Nhật Hương [Asuka Jingu] ở núi Thiển Gian [Asama], Nhật Bản. Người mời tôi chính là chủ tịch Kadokawa Haruki, và Đền Minh Nhật Hương là ngôi đền do một mình Kadokawa Haruki tự bỏ tiền xây dựng, gồm bảy điện lớn, bao gồm ngự tọa phòng, đại điện, thần điện, lục giác đình, v.v…

Núi Thiển Gian ở Nhật Bản cách Tokyo khoảng 4 giờ đi xe, có thể đi tàu đến Karuizawa rồi chuyển sang xe hơi để đến nơi. Khu vực này là cao nguyên Thiển Gian, một vùng núi suối nước nóng nổi tiếng, cũng là khu biệt thự nổi tiếng của người giàu có. Tại Nhật Bản, đây là khu biệt thự phong cảnh hàng đầu, với độ cao 1.100m, chân núi phần lớn là rừng cây lá kim.

Tôi đi bộ trên những con đường nhỏ giữa núi non, nhận thấy tên đường rất độc đáo và thú vị, có Đường Không, Đường Nguyệt, Đường Tinh, Đường Hoa, Đường Điểu, Đường Lâm, Đường Hồng, v.v… Từ đó có thể thấy núi Thiển Gian là một nơi đẹp đẽ và tinh tế đến nhường nào, sự tĩnh lặng và tiếng chim hót nơi đây đã để lại ấn tượng sâu sắc cho tôi.

Và tôi bình lặng ở tại Đền Minh Nhật Hương, tôi không biết tiếng Nhật, và trong thời gian này, ngoài chủ tịch Kadokawa Haruki, tôi còn quen biết thêm Sagawa Koji, Tokutome Yoshiaki, Ikeda Takeshi, Kumorin Masatsugu, Osugi Akihiko, Uchino Hideo. Trong số đó, Uchino Hideo đã từng học tiếng Trung Quốc, vì vậy, về mặt ngôn ngữ, Uchino Hideo đảm nhận vai trò phiên dịch.

Chủ tịch Kadokawa Haruki mời tôi lên núi Thiển Gian đến Đền Minh Nhật Hương, không nói cho tôi biết mục đích của ông là gì, tuy nhiên ngay khi tôi đến Đền, tôi đã hiểu tất cả.

Ngày đầu tiên, tôi tĩnh tâm ngồi thiền trước một tảng đá lớn trên đỉnh núi. Tôi ngồi thiền trong thời gian dài, và nhìn thấy nhiều ánh sao trên bầu trời, ánh sáng tỏa xuống trần gian. Tôi nhìn thấy nhiều binh sĩ kỵ mã thời cổ đại Nhật Bản mặc áo giáp, đó là những hồn ma của các chiến binh đã khuất, họ tụ tập trong thung lũng và khe núi. Trong cảnh thiền định, các vị thần trời đứng trên không trung, còn dưới trần gian nơi núi xanh thung lũng sâu, các chiến binh âm hồn tụ tập. Tôi tĩnh tâm ngồi thiền và kể lại tất cả những gì mình nhìn thấy cho chủ tịch Kadokawa, ông ấy nói: "Cái nhìn của Thượng sư hoàn toàn chính xác, bởi vì ngày mai chính là buổi lễ cầu siêu cho các âm hồn."

Vào ngày thứ hai, lễ tế thần rất trang nghiêm, lễ cầu siêu cũng vô cùng long trọng. Việc triệu thỉnh thần linh và các âm hồn đều dùng chuông lắc, và dùng phất trần làm bằng giấy quét ba lần ở bên trái và bên phải. Tôi chú ý quan sát các lễ vật, có cá, rượu, trái cây, gạo, hoa. Trình tự của buổi lễ gồm triệu thỉnh, tụng niệm, thanh tịnh, dâng cúng, múa kiếm, và dùng lá cây buộc giấy trắng để cầu nguyện. Tôi ngồi thiền ở hàng ghế đầu tiên, có thể thấy rõ mồn một mọi sự đến đi của thần linh và hồn ma.

Tôi nhìn thấy một vị tướng cưỡi ngựa, trên lưng đeo tên, tay cầm cung, vươn tay rút ra một mũi tên, đặt tên lên dây cung, bắn ra một mũi tên lấp lánh ánh vàng. Vị tướng đó rất uy vũ, tôi nhìn thấy bốn chữ lớn "Võ Điền Tín Huyền" [Takeda Shingen] trên lá cờ của các tướng khác.

Sau buổi lễ, tôi đã đề cập với chủ tịch Kadokawa về bốn chữ "Võ Điền Tín Huyền". Chủ tịch Kadokawa Haruki vô cùng kinh ngạc, và đã xác nhận những gì tôi nhìn thấy. Ông nói: "Thượng sư Lư Thắng Ngạn quả xứng đáng là một vị tiên nhân hiện đại của Trung Quốc, cũng chính là vị tiên nhân vĩ đại nhất thế giới, bởi vì những người được cúng tế hôm nay chính là các tướng sĩ đã khuất dưới trướng của tướng quân Takeda Shingen." Lúc đó, tất cả người Nhật có mặt tại hiện trường đều vô cùng khâm phục khi tôi nói ra tên Takeda Shingen, ai nấy đều kinh ngạc.

Vào buổi tối hôm đó, chủ tịch Kadokawa và tôi cùng nhau đi vào Lục Giác Đình, tĩnh tâm ngồi thiền. Trong trạng thái thiền định, tôi nhìn thấy Thần Vũ Thiên Hoàng, Nhật Bản Vũ Tôn, Thiên Vũ Thiên Hoàng, và Thanh Long. Khi tôi nói ra những cái tên này, Kadokawa Haruki lập tức sững sờ, bởi vì tất cả những cái tên này đều có liên quan đến ông. Ông tiết lộ với tôi một bí mật rằng những cái tên này chính là những cái tên đã xuất hiện hết lần này đến lần khác trong giấc mơ của ông. Chủ tịch Kadokawa Haruki đã nói với mọi người: "Việc mời được Thượng sư Lư chính là bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời tôi."

Vào một buổi chiều, tôi cùng với chủ tịch Kadokawa bước vào một ngôi đền thờ thần. Ngôi đền này chưa từng được mở cửa và không cho phép người khác vào, chỉ có tôi và chủ tịch Kadokawa là những người duy nhất được vào đền. Khi vừa bước vào, bên trong tối đen như mực, cuối cùng chúng tôi mới nhìn thấy bên trong đền chỉ có một chiếc hộp gỗ. Tôi nhắm mắt lại để thiền định, và nhìn thấy dải Ngân Hà, thấy các vị thần của Ngân Hà đều là những vì sao lấp lánh xếp thành hàng, và cả Ngân Hà cùng các vì sao đều nằm trong chiếc hộp gỗ đó. Từ đó tôi cuối cùng đã hiểu ra, thần của Đền Minh Nhật Hương thực ra là thần của hệ Ngân Hà, và là mối liên hệ rất trực tiếp. Ngôi đền Minh Nhật Hương kết nối trực tiếp với hệ Ngân Hà, có nghĩa là thần của hệ Ngân Hà trực tiếp cai quản Đền Minh Nhật Hương.

Mỗi đêm tôi đều thiền định tại Lục Giác Đình, một tòa đình lục giác được xây dựng ở giữa hồ nước, có sáu góc, nước hồ rất trong lành. Khi trăng lên, ánh trăng chiếu xuống mặt hồ, lấp lánh lung linh. Tôi đã tu luyện tại Lục Giác Đình ở Đền Minh Nhật Hương trên núi Thiển Gian, tại đó, tôi cảm nhận được sự mát lạnh của đêm như nước, vẻ đẹp thanh thoát của không gian, sự trầm tư của đền thờ Nhật Bản, cùng một cảm giác siêu nhiên đặc biệt.

Tôi đã giúp chủ tịch Kadokawa giám định một bức tượng Quan Âm làm bằng đá, phần trên cùng là hình rồng, có hai vị nữ thần phi thiên, bên phải là Bà Số tiên nhân, bên trái là tiên nhân cầm phất trần, ở giữa là tượng Quan Âm, và phần đế bên dưới là năm vị Kim Cang Thần dùng tay nâng đỡ tòa sen. Tôi nói rằng đây là sản phẩm của Mông Cổ và Cam Túc, từng được một vị Lama cúng dường, ngôi chùa của vị này có tên gọi là Tháp Tháp Mộc.

Điều kỳ lạ là, những lời tôi nói đã được chứng thực bởi nghiên cứu của một chuyên gia về đá, vị chuyên gia đó cũng đã nói rằng, đá khắc tượng Phật này có xuất xứ từ vùng Mông Cổ và Cam Túc. Bản thân tôi chưa từng nghiên cứu về đá, nhưng với khả năng thông linh, tôi có thể nói ra ngay lập tức, khiến tất cả người Nhật có mặt đều kinh ngạc đến mức lè lưỡi ra mà không thể thu lại được. Chủ tịch Kadokawa Haruki đã nói với mọi người rằng, cho đến nay trên thế giới, chỉ có Thượng sư Lư mới có thuật thông linh thần kỳ như vậy, thật không thể tưởng tượng được.

Tại Đền Minh Nhật Hương ở núi Thiển Gian, Nhật Bản, tôi đã cẩn thận truyền thụ bí pháp Cửu tiết Phật phong cho chủ tịch Kadokawa Haruki và những người Nhật khác. Họ đều rất vui mừng và nghiêm túc tu luyện. Trong số đó, có vài người đã nhanh chóng đạt được đại tương ứng, khiến tất cả đều cảm thấy kỳ diệu. Đặc biệt có một cô gái tên Eiko đã lập tức khai mở khả năng thông linh.

Tôi rất thích môi trường tự nhiên của núi Thiển Gian, đặc biệt là ngọn núi ấy, hùng vĩ giống như núi Phú Sĩ, với sương sớm trắng xóa đan dệt những giấc mộng huyền ảo, tiếng chim hoang dã, âm thanh róc rách của dòng nước, không khí trong lành, cùng những cây du, cây thông và cây bạch dương xanh tươi đến mức đáng kinh ngạc.

Tôi thấy trong các dòng suối ở núi Thiển Gian có rất nhiều cá, và điều đáng ngạc nhiên là những con cá này là cá hồi. Dòng suối tràn đầy linh khí, cá cũng tràn đầy linh tính, và Đền Minh Nhật Hương núi Thiển Gian được xây dựng giữa khung cảnh đó. Người Nhật có thói quen thờ cúng thần linh là trước tiên cúi người chào, sau đó vỗ tay hai tiếng, rồi lại cúi người. Trước khi thờ cúng, họ dùng nước suối núi rửa tay, sau đó súc miệng. Bên trong đền không có tượng thần mà có một tấm gương tròn. Khi làm lễ cúng tế, trước tiên phải đánh trống, mọi người đều mặc trang phục màu trắng, người chủ lễ đều đội mũ tăng (giống như chiếc mũ của các võ sĩ thời xưa).

Tôi nhận thấy linh khí ở nơi đó đặc biệt mạnh mẽ. Tên gốc của núi Thiển Gian là Thiển Gian Bạch Căn Hỏa Sơn. Trong quá khứ, núi lửa đã từng phun trào, nuốt chửng toàn bộ các làng mạc xung quanh. Có một địa điểm tên là "Quỷ Áp Xuất" [Công viên núi lửa Onioshidashi], nơi vẫn còn lưu giữ các hóa thạch của ngôi làng bị chôn vùi sau vụ phun trào núi lửa. Khu vực danh thắng có suối nước nóng Kusatsu, phố cổ Karuizawa Ginza và khu trượt tuyết Sugadaira Kogen - những cảnh đẹp và khu vui chơi nổi tiếng.

Linh khí hùng mạnh của Đền Minh Nhật Hương núi Thiển Gian ở Nhật Bản thực chất là đạo tràng nhân gian của các vị thần Ngân Hà. Chính tôi đã tiết lộ bí mật lớn này. Trong tương lai gần, chủ tịch Kadokawa Haruki sẽ đến thăm Seattle, Hoa Kỳ, và hai bên sẽ có cuộc giao lưu lớn. Giữa chúng tôi có một sự nhận thức và đột phá to lớn - từ rất rất lâu trong tiền kiếp, chúng tôi đã là những người bạn thân thiết không thể tách rời.


### 45. Lý tưởng và tinh thần của Chân Phật Tông


Tôi đã đến Mỹ hơn 2 năm, 2 năm qua, giống như đã trải qua 20 năm vậy, Chân Phật Tông phát triển rất nhanh chóng, nhưng cũng rất gian khổ. May mắn nhận được sự gia hộ của chư Phật Bồ Tát, vượt qua mọi chông gai, cuối cùng đã có thành quả, hiện ra trước mắt thế nhân, đây là điều đáng mừng đáng vui.

Seattle Lôi Tạng Tự của Chân Phật Tông tại Mỹ, sau hơn bảy lần điều trần, cuối cùng đã được phép thành lập. Chúng tôi đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức hết lần này đến lần khác, vượt qua hết lần này đến lần khác, sự kỳ thị của người khác đạo, sự chối bỏ của các mục sư, sự cố tình gây khó dễ của luật sư đối phương, những phiền toái và khó khăn thực tế khi xây dựng một ngôi chùa Chân Phật Tông tại xứ người, thực sự không thể nói cho người ngoài hiểu được, nhưng chúng tôi không bao giờ nản lòng, mang theo lý tưởng và tinh thần, cuối cùng đã thực hiện được công việc xây dựng chùa đầy thách thức này.

Giờ đây, chúng tôi càng có thêm niềm tin, càng có thêm triển vọng, người khác đạo không còn kỳ thị, các mục sư không còn chối bỏ, ngay cả luật sư đối phương cũng ngưỡng mộ chúng tôi và thậm chí còn chúc mừng. Chúng tôi thấm thía một câu nói rằng: khó khăn là mẹ đẻ của thành công đối với những người có chí hướng. Tương lai hoằng dương Phật pháp rất tươi sáng, chúng tôi cần có sự gánh vác lớn lao.

Bản thân tôi, Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Lư Thắng Ngạn Liên Sinh Tôn Giả, là tông chủ của Chân Phật Tông, là vị Thượng sư hướng dẫn. Những ai đã đọc sách của tôi đều hiểu rằng tôi là một Kim cương Thượng sư đã tập hợp các tôn giáo khác nhau và rèn luyện trong một lò lớn để đạt được chứng ngộ. Chân Phật Tông là tông phái mới nhất, không nhằm thay đổi Đạo giáo hay Phật giáo, mà là tông phái phù hợp cho người hiện đại tiếp thu và thực hành. Ngược lại, chúng tôi là sự tiếp nối của Phật giáo, là người phát triển Phật giáo, nghiên cứu Phật pháp và chứng minh Phật pháp, dùng Phật pháp để giải thích đạo. Chúng tôi đứng trên lập trường của sự hiểu biết để tìm ra ý nghĩa thực sự của đời người.

Về tinh thần, chúng tôi dạy con người loại bỏ phiền não vô minh, loại bỏ sự mê vọng của cuộc sống. Chúng tôi nhấn mạnh sự phản tỉnh nội tâm và làm thiện ở bên ngoài. Làm thiện ở bên ngoài chính là không làm các điều ác, thực hành tất cả điều thiện, sự phản tỉnh nội tâm chính là sự tu luyện của Mật tông, kết hợp tự lực với tha lực, để đạt được lý tưởng thành Phật, và lý tưởng thành Phật này chính là trụ cột tinh thần vĩnh cửu của Chân Phật Tông.

Chúng ta đều biết, trong lời dạy của Phật Thích Ca Mâu Ni thường đề cập, sau khi Phật nhập diệt 1500 năm sẽ là thời đại mạt pháp, thời đại mạt pháp ma mạnh pháp yếu. Tuy nhiên, để hộ trì chính pháp, nhất định phải có người có tâm đại bi, người có sự gánh vác lớn, mới có thể trong thời kỳ mạt pháp phục hưng điều suy thoái. Ngày nay, Chân Phật Tông chính là dùng hương vị pháp Đại thừa vô thượng để cứu vãn chính pháp không bị đọa lạc, Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư chính là người thực hành thành Phật, dùng tâm vô úy để độ chúng sinh.

Để thực hiện lý tưởng này, tất nhiên là vô cùng khó khăn. Một mặt, thời kỳ mạt pháp này là thời kỳ của chủ nghĩa thực dụng, ánh mắt của người đời đều hướng ra bên ngoài, mọi người đều theo đuổi danh lợi, địa vị, tiền bạc, còn người phản tỉnh nội tâm thì ít. Mặt khác, có người chỉ tuyên truyền Phật pháp mà không có sự nương tựa chân thật, không thể khởi lên niềm tin. Vì vậy, tôi bắt đầu từ việc tu tập thực tế, chuyên tâm dạy tất cả mọi người thực tu thực chứng, sử dụng thực tu thực chứng để chứng minh rằng Phật là niềm tin lý trí chứ không phải mê tín. Từ đó, sẽ có nhiều người hơn đến quy y cửa Phật, nghiêm túc tu trì, và cuối cùng chứng đắc quả Phật.

Tôi cảm thấy trách nhiệm cá nhân của mình vô cùng to lớn, gánh nặng cũng rất nặng nề. Bản thân tôi không có nền tảng gì, cũng không có sự hỗ trợ của tập đoàn tài chính nào, nhưng lý tưởng và tinh thần mà tôi nương tựa chính là lý tưởng và tinh thần của chư Phật Bồ Tát. Tôi không có tham vọng gì, tôi chỉ học pháp, tu pháp, đạt được Tam ma địa của sự hòa nhập, đã đạt được sự chứng ngộ tương ứng, kiến chứng Phật pháp, và thực sự có được thành tựu.

Chân Phật Tông và Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư kết hợp thành một thể thống nhất, lời dặn dò của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ "kính sư, trọng pháp, thực tu" chính là chủ trương và bước đi nhất quán. Tôi muốn thế nhân hiểu rằng, tu pháp là điều có lợi cho nhân loại, người tu pháp là người có tầm nhìn xa trông rộng.

Tôi mong mỏi các đệ tử Chân Phật Tông hãy gánh vác trách nhiệm, mỗi người đều là Pháp Vương tử, nhận thức giá trị của việc quy y Thượng sư và tu pháp, để Phật pháp có thể đóng góp to lớn nhất trong việc chuyển hóa nhân tâm, đây là con đường tốt nhất để độ chúng sinh.

**(Hết.)**


---



<details>
<summary>Mục lục </summary>


</details>

---
# File: sach-tam-linh/056-mat-giao-dai-vien-man.md
# Title: 056. Mật giáo đại viên mãn
---

![image](/img/img_371bc6b5a513ee4944b46aaaaf3ac3d2.jpg)



## Mật giáo Đại Viên Mãn


🪷 Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chân truyền, đại công khai pháp vô thượng của Hồng giáo

Văn tập: 056
Xuất bản: 02/1985
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu


Mật tông Tây Tạng đệ nhất pháp
Đây là một cuốn "mật thư" hiếm có khó tìm trên toàn thế giới.
Cuốn sách này nói về sự ra đời của pháp Đại viên mãn, pháp số một của Mật tông Tây Tạng. Pháp này không chỉ là bí mật trong bí mật, mà còn là gốc rễ không truyền.

Tôi, Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư đã viết ra bí mật không truyền này, đây là một việc hi hữu nhất trong thiên hạ, là việc thù thắng nhất trong thiên hạ, là thời điểm Mật tông hưng khởi, là bồ đề tâm của Kim Cang Thủ Bồ Tát hóa hiện tại ba đời. Nếu như tôi không phải là một vị Kim Cang Bí Mật Chủ thì cũng không dám viết ra pháp vô thượng này.

Tôi viết về "Mật tông Tây Tạng đệ nhất pháp" cũng là có nhân duyên. Bởi vì "Mật tông Tây Tạng đệ nhất pháp" không có một vị Thượng sư nào dám truyền bừa, dám viết ra, dám tùy ý giảng, bởi vì đây là "bí mật". Nói một cách nghiêm túc, có một số Kim cương Thượng sư vẫn không hiểu pháp Đại viên mãn, chỉ biết về tên gọi của nó, còn lại, rất nhiều người không biết nghi quỹ và tâm yếu tu pháp. Hôm nay tôi đã viết ra cuốn sách này, có thể lập tức chứng minh truyền thừa của Thượng sư Lư Thắng Ngạn là chân thực có một không hai, là ấn kí chân truyền của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.

Viết cuốn sách này là có nhân duyên lớn:
Khi tôi ngồi thiền tại Chân Phật Mật Uyển ở thành phố Redmond nước Mỹ, sau khi đã nhập vào tam ma địa, tôi thấy thân thể của chính mình biến thành cao lớn đến mức lấp đầy cả hư không, tay trái của tôi nắm lấy mặt trời (nhật luân), tay phải nắm lấy mặt trăng (nguyệt luân), lúc này hai vầng mặt trăng mặt trời phóng tỏa quang minh, khắp vũ trụ thập phương thế giới đều được chiếu tới ngập tràn ánh sáng, trở thành thế giới tịnh thổ đại quang minh. Việc tay nắm mặt trăng mặt trời phóng tỏa ánh sáng chiếu khắp thế gian ở đây chính là điềm cực lành về việc sắp có vô thượng pháp xuất thế.

Đúng vào lúc này, tất cả mọi ranh giới hư không đột nhiên tràn ngập âm thanh của trống đại pháp, tiếng trống mang theo pháp ý, tiếng trống đại pháp vang vọng khắp trời đất này bất ngờ đã làm những cây khô trên mặt đất đều nhú mầm non, tất cả rừng cây hoa cỏ đều hiện lên xanh mướt, khắp nơi hoa nở, quả chín đầy cành, trong chốc lát hiện lên một cảnh tượng xum xuê tươi tốt phồn thịnh. Điều này tượng trưng cho việc sau khi đại pháp ra đời, chúng sinh đều được gia trì, có đại pháp rồi thì có thể tu hành, chúng sinh đều có thể nương dựa vào mà đạt được chứng ngộ.

Trong thiền định, Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư đã được Liên Hoa Sinh Đại Sĩ trực tiếp truyền thụ Mật pháp, đồng hóa được cả Đạo - Hiển - Mật, tất cả kinh điển Hiển giáo, nghi quỹ Mật giáo, tất cả pháp nghĩa cứu cánh, thành tựu vô thượng, Đại viên mãn đệ nhất pháp, toàn bộ đều có được khẩu quyết kế thừa từ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Có thể nói, tất cả tam nghiệp kim cang thân ngữ ý đều được chuyển thức thành trí [ ND: bát thức hữu lậu trở thành tứ trí vô lậu ], thậm chí hoàn toàn chứng được pháp thân, ứng thân, báo thân và trở nên viên mãn. Chính vì có được sự đắc chứng này mà tôi lập tức biết bản thân mình là Nam Mô Pháp Thân Thường Trụ Tam Tế Nhất Như Liên Hoa Đồng Tử, Nam Mô Báo Thân Thanh Tịnh Tướng Hảo Vô Luận Liên Hoa Đồng Tử, Nam Mô Ứng Thân Biến Hiện Yết Ma Vô Lượng Liên Hoa Đồng Tử.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ hiện thân trong thiền định của Liên Sinh Thượng sư, thọ kí quán đảnh cho Liên Sinh Thượng sư, ngoài ra còn nói: "Liên Sinh Kim cương Thượng sư sau này sẽ viên chứng Phật thổ của Tây phương Cực lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì, tương lai chúng sinh đều nhờ vậy mà được độ hóa. Tướng trang nghiêm của Liên Sinh Thượng sư chính là phẩm hạnh như một với Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Thuyết pháp không chỉ lợi người lợi trời, ngay cả những người học Tiểu thừa cũng đều quy y. Liên Sinh Thượng sư đánh trống đại pháp, thổi loa đại pháp, chúng sinh được độ nhiều tới mức sau này sẽ được xưng là có một không hai."

Trong thiền định, tôi thấy chính mình tay nắm vầng mặt trời mặt trăng, trăm hoa đua nở, biết rằng thời cơ chuyển pháp luân của mình đã đến rồi. Hơn nữa, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ còn nói: "Đã đến lúc công bố pháp Đại viên mãn với thiên hạ rồi.", thời cơ Mật pháp phổ độ chúng sinh đã đến, không thể giữ nó trong bí mật nữa, nếu vẫn dạy trong bí mật thì chúng sinh sẽ mất đi cơ hội này, sẽ lại đọa lạc, vĩnh viễn khó được độ.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói: "Ngài là bậc Bí Mật Chủ, hãy mau cứu chúng sinh."
"Chúng sinh vô tri, không có cách nào độ cả." - Tôi đáp.
"Ngài buông xả lời thề thì thế gian lập tức sẽ bất tịnh." - Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chất vấn.
"Tôi không buông xả lời thề, cần thuyết pháp vô thượng." - Tôi đáp.

Chính vì nhân duyên bản thân là Kim Cang Bí Mật Chủ, nay tôi mới hạ bút viết ra "Mật tông Tây Tạng đệ nhất pháp". Tôi biết, tất cả chư Phật của thập phương thế giới đều đã phóng quang chiếu tới thế gian này, đã chuẩn bị vô lượng vô tận những con thuyền đại pháp. Tôi cũng biết, bởi sự hiển hiện hào quang của Thượng sư đã kinh động đến toàn bộ thiên, địa, nhân, tam ma, chúng bắt đầu phóng ra "tướng tam độc", kêu gọi những người có tâm đen tối đến để hãm hại Thượng sư, Thiên ma lãnh đạo chúng sinh làm điều ác, không màng nhân quả, làm điên đảo trắng đen đúng sai, chúng sinh Ta Bà nếu không tu hành chính pháp thì sẽ bị những lời nói ngon ngọt biểu hiện ra bên ngoài của chúng lôi kéo đi vào địa ngục.

Thiên ma vô cùng hung ác, tranh đấu sát phạt, quấy nhiễu chính pháp, dâm dục bừa bãi, dụ dỗ hành giả Mật tông xa rời chính hành, lúc này chúng sinh không hiểu, do vậy tâm đều mê loạn, không đi vào con đường đúng đắn. Đạo tràng yên bình sẽ bị gây rối loạn, đại địa chấn động, con người trở nên đầy lo lắng sợ hãi.

Hôm nay, tôi cần bắt đầu viết ra "Mật tông Tây Tạng đệ nhất pháp". Nếu như hôm nay tôi không viết thì rất có lỗi với Liên Hoa Sinh Đại Sĩ người đã dạy tôi. Hôm nay nếu tôi không viết thì pháp Đại viên mãn này không biết đến năm nào đời nào mới có thể tái hiện.

Hôm nay tôi đã viết ra, đó là chuyện đại sự của thế gian, là sự việc quan trọng bậc nhất trong nhân gian, là sự thật vĩ đại chưa từng có của Mật tông. Và Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư Liên Sinh tôn giả sẽ là ánh sáng cầu vồng xuyên suốt thế giới, vĩnh viễn tiềm tàng đại quang minh bất diệt.

Từ khi tôi ra đời cho đến hôm nay đến nước Mỹ hoằng pháp, tất cả đều nằm trong những bài kệ dự đoán của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.

Trong "Kim cương đỉnh du già kinh" có mấy câu như sau:
"Nay con xin quy mệnh
Du già đại giáo chủ
Khai diễn một Phật thừa
Ba Mật tạng Như Lai
Không gì so sánh bằng
Tối thượng tối đệ nhất
Chỉ Phật Bất Cộng Trí
Tương ứng thành Phật môn
Vì khiến ai giác ngộ
Viên thành pháp thân tịnh
Bạc Già Phạm ba đời
Thành tựu nhờ pháp này
Vì thế các Như Lai
Kính lễ như lý pháp."

Trong cuốn sách "Mật giáo Đại viên mãn", có quán đảnh giáo pháp bất khả tư nghì. Nếu có người thừa nguyện muốn đạt thành tựu mà nhận được quán đảnh thì cần phải nghiên cứu học tập kĩ càng, có chỗ nào không hiểu thì cần phải thỉnh giáo một vị Kim cương Thượng sư chân chính. Nếu giác ngộ được cánh cửa kho báu thậm thâm bí mật này, nên dạy lại cho người khác, để thu hút được nhiều người hữu duyên hơn nữa, khiến cho người người có thể viên mãn thọ trì pháp Đại viên mãn của Mật giáo này. Đây là sự chuyển pháp luân thánh giáo viên mãn của giáo chủ Linh Tiên Chân Phật Tông.

Nếu có người tin tưởng rằng pháp duyên như thế này là rất khó gặp được, hiểu sự thù thắng vô thượng của Mật tông Tây Tạng đệ nhất pháp, Liên Sinh Thượng sư là bậc đại trì minh kim cương acharya viên chính, muốn quy y Liên Sinh Thượng sư, có thể chọn ngày mồng 1 hoặc 15 âm lịch, vào sáng sớm, hướng về phía đông chắp tay lại đảnh lễ ba lạy, niệm 3 lần: "Namo guru bei, Thượng sư Lư Thắng Ngạn chỉ dẫn, namo buddha ye, namo dharma ye, namo sangha ye". Sau đó gửi tên họ, ngày tháng năm sinh, địa chỉ nơi ở, cúng dường tùy ý đến địa chỉ của Liên Sinh Thượng sư, thì lập tức sẽ nhận được quán đảnh quy y từ xa, như vậy là sẽ có được truyền thừa của Linh Tiên Chân Phật Tông.

(Chú thích: cách phát âm các chú ngữ có trong sách, dựa vào cách phát âm của Thượng sư làm chuẩn.)

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Cổ Phật ban sơ nhất lần đầu chuyển pháp luân


Đại viên mãn là pháp số một của Mật tông Tây Tạng, nhưng là do vị nào đưa ra? Điều tôi muốn nói với độc giả là, pháp Đại viên mãn không phải do con người truyền xuống, mà là do tâm ấn của Như Lai truyền xuống. Có thể có được pháp Đại viên mãn do tâm ấn của Như Lai truyền xuống thì gọi là "truyền thừa tâm ấn Như Lai".

Vị Cổ Phật ban sơ nhất truyền pháp này chính là "Bà Tiên". Chỉ có duy nhất Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư là hiểu được tên gọi "Bà Tiên" này, hiện tại, các Kim cương Thượng sư và pháp sư Phật giáo trong khắp thiên hạ không có mấy người biết được tên gọi Bà Tiên của vị Cổ Phật ban sơ nhất, vô cùng ít người biết. Còn Bà Tiên Như Lai chính là đại diện cho Kim Cương Trì tôn giả quyền uy vĩ đại của Hồng giáo Mật tông (Nyingmapa).

Kim cương Thượng sư của Nyingmapa không biết Bà Tiên Như Lai, ở đây không phải tôi cố ý dọa cho mọi người sợ, bởi vì vào buổi ban sơ nhất Bà Tiên Như Lai truyền pháp, người có được truyền thừa Như Lai tâm ấn, ngoài Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật ra gần như không có một ai khác. Do vậy ít người biết được về truyền thừa Bà Tiên Như Lai tâm ấn đại diện cho vị tôn giả đại quyền uy của pháp Đại viên mãn.

Trò chơi thần thông đại bi của Bà Tiên Như Lai có thể nói là không thể đo lường, có thể hiển hiện ở tất cả các cõi Phật của mười phương, thần thông của Bà Tiên Như Lai được xưng là "ngũ thân nhậm vận trì minh", "ngũ thân nhậm vận trì minh" cũng có nghĩa là pháp Đại viên mãn.

Như Lai "ngũ thân nhậm vận trì minh" vốn dĩ có thể nhậm vận tại Phật hải hội chúng bất khả tư nghì, vốn dĩ là sự hiển hiện của bản quang vô vi nhậm vận đại bi tự tại nội chứng trí. Pháp Đại viên mãn không biểu thị thuyết pháp bằng ý nghĩa câu từ, vốn dĩ pháp Đại viên mãn là Bà Tiên Như Lai không thuyết mà trở thành thuyết. Chỉ cần người tiếp nhận Như Lai tâm ấn hiểu được mật ý trong ý nghĩa ấy, chứng đắc được ý nghĩa không điên đảo, thì công đức của pháp Đại viên mãn lập tức không khác biệt.

Rốt cục Như Lai tâm ấn là gì? Thì ra đó là Bà Tiên Như Lai trong bất khả tư nghì thế giới đã ứng hóa biến hiện ra vô số hóa thân tùy theo các đối tượng, chỉ cần hành giả Mật tông phù hợp với sáu tướng hóa thân Mâu Ni thì chính xác sẽ là người của truyền thừa Đại viên mãn Như Lai tâm ấn. Đây chính là truyền thừa Như Lai tâm ấn mà vị Cổ Phật ban sơ nhất Bà Tiên Như Lai lần đầu tiên truyền, người có được truyền thừa này chính là Thích Ca Mâu Ni Phật.

Theo tôi được biết, Bà Tiên Như Lai đại quyền uy tôn giả có công đức như sau:
Thứ nhất, có đầy đủ mọi đại thần thông từ vô thủy đến nay, gọi là đại uy đức, du già 37 quảng thích đại uy lực.

Thứ hai, tên gọi Bà Tiên Như Lai chứa đựng trong hạt giống trí tuệ của tất cả chúng sinh, con người thế gian chưa từng biết đến tên gọi này, tất cả chúng sinh đều không biết, do vậy đây là pháp thân bao hàm toàn bộ vô lượng thế giới, bởi vì không thể biết đến, do vậy mà là vô cùng tận.

Thứ ba, Bà Tiên Như Lai là vô nhiễm tối thắng của tối thắng, do vậy ngài là đệ nhất thanh tịnh, có thể giải thích là tam luân tịnh, hay còn gọi là tối thâm bí mật thanh tịnh.

Thứ tư, có đầy đủ mười loại trò chơi thần thông. Mười loại trò chơi thần thông này được ghi chép lại trong kinh Hoa Nghiêm, một là Xả thiên thọ (từ chối hưởng phúc ở trên trời), hai là Hiện thụ sinh (thai sinh ở nhân gian), ba là Hiện đồng tử (biến hiện ra Liên Hoa Đồng Tử), bốn là Hiện xuất gia (hành giả giữ giới thanh tịnh), năm là Lạc khổ hạnh (khổ thế nào cũng có thể vui vẻ tiếp nhận), sáu là Hướng bồ đề thụ (dựa vào việc tu pháp để cho con người thấy), bảy là Hiện hàng ma (có đại pháp lực hàng phục tất cả ma), tám là Hiện lạc tịch tĩnh thành vô thượng giác (giác ngộ minh tâm đắc chứng), chín là Chuyển pháp luân (độ chúng sinh), mười là Nhập niết bàn (an trụ trong thế giới tự như). Kì thực, mười loại trò chơi thần thông này chính là sự thị hiện ở nhân gian của Thích Ca Mâu Ni Phật, vốn dĩ một trong những hóa thân của Bà Tiên Như Lai chính là Thích Ca Mâu Ni Phật.

Thứ năm, tổng trì của tổng trì, còn gọi là vô tận, và biện tài của biện tài cũng là vô tận.

Thứ sáu, mọi phiền não đều đoạn tận, thành tựu hết thảy mọi loại trí huệ.

Thứ bảy, hết thảy mọi trí huệ, như có như không, như sự như lý, chính là cảnh giới này.

Thứ tám, hàng phục hết thảy ma quỷ, hơn nữa không gặp phải ma.

Thứ chín, chuyển pháp luân tuyệt diệu, độ chúng trời người.

Thứ mười, mười phương Phật thổ đều thành tựu trang nghiêm.

Công đức của Bà Tiên Như Lai vốn là vô lượng vô tận, hôm nay tôi viết ra mười đại công đức này chẳng qua cũng chỉ là lấy ra một hạt cát từ trong ngọn núi lớn mà thôi, hoặc cũng giống như lấy một giọt nước biển từ trong đại dương mà thuật lại mà thôi, tóm lại, công đức của Bà Tiên Như Lai - vị Cổ Phật ban sơ nhất căn bản là bất khả thuyết, có nói cũng là vô tận.

Phật Thích Ca Mâu Ni đã có được truyền thừa Như Lai tâm ấn của Bà Tiên Như Lai mới có thể thuyết pháp tại thế giới Ta Bà, thuyết giảng các pháp Hiển giáo Mật giáo, chỉ ra ba bộ "Điều Phục, Khế Kinh, Đối Pháp", trên phương diện chân ngôn Mật giáo, thì có "Tác Mật, Hành Mật, Mật Ứng". Tại thế gian, Phật Thích Ca Mâu Ni đã tuyên thuyết hai mươi mốt nghìn Điều phục tạng, điều phục đối trị phiền não tham dục. Tuyên thuyết hai mươi mốt nghìn Khế kinh tạng, điều phục đối trị phiền não sân hận. Tuyên thuyết hai mươi mốt nghìn Đối pháp tạng, điều phục đối trị phiền não ngu si. Sau đó tuyên thuyết hai mươi mốt nghìn Đệ tứ tạng, điều phục đối trị phân đều cho tam độc.

Người đầu tiên chuyển pháp luân của pháp Đại viên mãn chính là Bà Tiên Như Lai thần thông nhậm vận, vị Cổ Phật ban sơ nhất. Pháp Đại viên mãn ngày nay đã được người Tây Tạng gọi là "Nội tục bộ tam du già", cũng chính là "Nội thừa sinh khởi, viên mãn, Đại viên mãn", âm tiếng Phạn là "Maha, Anu, Ati" tam tục bộ.

Liệu Liên Sinh Kim cương Thượng sư có được truyền thừa Bà Tiên Như Lai Tâm Ấn không, tôi xin nói là có. Bởi vì ở Seattle nước Mỹ, tôi đã ngồi thiền suốt hai năm, tự mình đã hiểu tất cả, tiền kiếp của tôi là Nam Mô Kim Cương Bất Sinh Bất Diệt Liên Hoa Đồng Tử hóa thân hạ sinh tại nhân gian, từ lâu đã thành tựu bậc Chính Giác, từ lâu đã chứng Ngũ Phật Trí, từ lâu ở Ma Ha Đại Song Liên Trì đã có thế giới lưu ly thanh tịnh của vô thượng Phật thổ siddhi. [ siddhi: thành tựu ]

Tôi tiếp nhận sự phó thác của A Di Đà Phật, vì chúng sinh từ vô thủy đến nay mà hạ sinh ở nhân gian, chúng sinh vũ trụ lưu chuyển trong biển khổ sinh tử, không biết rằng thoát li là quan trọng nhất, vẫn cứ chịu trói buộc trong phiền não, tất cả phải chịu đau khổ của thai sinh, noãn sinh, thấp sinh, hóa sinh, tham sân si bủa vây lấy thân, lục đạo luân hồi không dừng dứt. Bởi thế mà tôi đã nắm trọng trách Như Lai giao phó, tán dương pháp vô thượng bồ đề, vận dụng tất cả trí huệ của Ngũ Phật, dùng Mật pháp vô thượng để điều phục chúng sinh, cứu giúp tất cả chúng sinh xuất li khỏi biển khổ, đến với cảnh giới Ma Ha Song Liên Trì ở Tây phương Cực lạc thế giới.

Sự ra đời của tôi từ lâu đã được ghi chép công khai, hơn nữa còn có nhiều thông tin lạ lùng, đợi đến khi tôi già sắp chết, đến lúc viên tịch tôi sẽ nói, hiện tại vẫn chưa thể nói ra, bất khả thuyết.

Hai năm tịnh tọa thiền định tại gác Chân Phật ở Seattle hoàn toàn giúp tôi thâm nhập sâu rộng, tôi tiến nhập vào trong đại định tam muội rất sâu, đã biết hết tất cả quỹ đạo bí mật, có được sự tu học toàn vẹn hoàn hảo, đã nhận Như Lai tâm ấn, được Thích Ca Mâu Ni Phật sờ đầu gia trì, tức thân đắc pháp Đại viên mãn, nhận được đại quán đảnh năm dòng chảy trí huệ của Ngũ Phương Phật, được ban Hồng Quán Thánh Miện, trở thành Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư Đại Trì Minh Liên Sinh Mật Hành Tôn Giả. Tôi có được ý chỉ bí mật của Mật tông là như vậy.

Đồng thời, trí huệ đã hiện tiền, giống như ăn trái cây vậy, chỉ cần đưa tay hái là được. Hôm nay, đệ tử quy y tôi đều là Pháp vương tử, khẳng định là sẽ thành tựu vô thượng bồ đề. Người mới học hoặc hành giả tu Mật pháp lâu năm cần phân biệt kĩ càng một vị Kim cương Thượng sư chân chính, rồi sau đó nương dựa vào thầy thì mới có thể đi trên đại đạo bồ đề chân chính, mới tìm được quả vị đắc chứng.


### 02. Kim Cương Thủ Bồ Tát chuyển pháp luân lần thứ hai


Khi Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni Phật nhập niết bàn tại gốc cây sala, ngài đã từng thọ kí chân ngôn vô thượng, trong đó có nói: "Chủ của pháp Lăng Già, Kim Cương Thủ hóa hiện." Ý nghĩa ở đây là trong đời tương lai có Kim Cương Thủ Bồ Tát xuất hiện, sẽ phát huy giáo pháp Nội thừa vô thượng, truyền thụ pháp Đại viên mãn.

Theo như tôi biết, có ba sự ghi chép chính về việc Kim Cương Thủ Bồ Tát hóa hiện để truyền thụ pháp Đại viên mãn như sau:

Có một vị Quốc vương, phát hiện ra trong kho ở trong cung của mình có một cái tráp quý bằng vàng. Bên trong cái tráp vàng này có một cuốn kinh điển vô cùng bí mật được viết bằng ngọc lưu li hòa tan, trong đó có một bộ "Kim Cương Thủ bổ sở cương ba", trong đó có một bài là "Diện kiến Kim Cương Bồ Tát phẩm". Vị Quốc vương này đã y theo "Diện kiến Kim Cương Bồ Tát phẩm" này mà tu hành, sau khi tu trì liên tục suốt sáu tháng, quả nhiên Kim Cương Thủ Bồ Tát hiện lên trong không trung, gia trì cho Quốc vương, giải thích đủ mọi nội dung và đạo lý trong bộ kinh. Do vậy, vị Quốc vương này liền tiếp tục hoằng dương pháp Đại viên mãn trong vương quốc của ngài. Đây là đoạn ghi chép thứ nhất về việc Kim Cương Thủ Bồ Tát hóa hiện truyền thụ pháp Đại viên mãn.

Đoạn ghi chép thứ hai như sau. Đương thời, có một vị hành giả là Ngũ Cụ Thù Thắng tu hành trên núi Ma La Da, luôn luôn nhớ đến Phật. Trong lòng rất cảm thán, cho rằng Thế Tôn nay đã như mặt trời khuất núi rồi, ánh sáng trên thế gian này từ nay sẽ không còn xuất hiện nữa, ai sẽ đến trừ tận bóng đêm của thế gian đây! Hành giả này ở trên đỉnh núi 23 lần khóc sướt mướt, khóc tới mức sông núi đổi màu, nhật nguyệt không còn sáng nữa.

Thế là, Như Lai mới đích thân đi thỉnh Kim Cương Thủ Bồ Tát. Ngay sau đó, Kim Cương Thủ Bồ Tát liền hiện thân trên đỉnh núi Ma La Da, truyền dạy cho ông toàn bộ "Kinh mật ý tập". Kim Cương Thủ Bồ Tát cũng từng ở phía tây xứ Orgyen hóa thân thành Cực Hỉ Kim Cương để diễn thuyết khẩu quyết Bí Mật Cát Tường và Đại viên mãn, và các pháp như Mẫu Nữ Tục. Vì vậy, ở xứ Orgyen này đã tiếp tục hoằng truyền pháp Đại viên mãn.

Đoạn ghi chép thứ ba như sau. Pháp Đại viên mãn này từng được hoằng truyền ở thiên giới, cũng từng được hoằng dương tại 33 cõi trời, rất nhiều thiên thần đều tu trì pháp Đại viên mãn này.

Ban đầu có một thiên thần tên là Hiền Hộ, con cả của thiên thần này tên là Khánh Hỉ Tạng, là con trai của một thiên thần có đại trí huệ. Khánh Hỉ Tạng không thích chơi bời, chỉ thích tu pháp trong sự suy ngẫm tĩnh lặng, hoặc trì tụng mật điển.

Con trai Khánh Hỉ Tạng của thiên thần từng có rất rất nhiều điềm báo tốt lành. Thiên đế cũng khen ngợi anh ta rằng "hiểu rõ hết mật nghĩa của chư Phật chính là Pháp Vương tử chân chính, sau này cũng có đại pháp lực để chế ngự thiên ma, thanh tịnh tất cả hắc ám vi tế nhất, ánh sáng của thánh giáo đã xuất hiện rồi, đã có đại pháp vô năng thắng thì có thể hoàn toàn giải thoát khỏi phiền não của lục đạo luân hồi rồi, đây là có được trí huệ vĩ đại nhất."

Vì những điềm lành như vậy, tam thế Như Lai lại đích thân khuyên thỉnh Kim Cương Thủ Bồ Tát. Kim Cương Thủ Bồ Tát ở trong kim cương quang minh phương đông sinh ra từ Kim Cương Bí Mật Như Lai, ở trong bảo quang minh phương nam sinh ra từ Kim Cương Bảo Như Lai, ở trong liên hoa tích tập thế giới phương tây sinh ra từ Kim Cương Liên Hoa Như Lai, ở trong thanh tịnh thành tựu quang minh phương bắc sinh ra từ Thành Tựu Quang Minh Như Lai, ở trong Tỳ Lô Giá Nha Như Lai tại trung ương sinh ra từ trong tâm của Tỳ Lô Giá Na Phật. Đây chính là Kim Cương Thủ Bồ Tát hóa sinh từ Ngũ Phật, Kim Cương Thủ Bồ Tát có đầy đủ Ngũ Phật Trí.

Kim Cương Thủ Bồ Tát xuất hiện tại Cung Tôn Thắng tại 33 cõi trời. Lúc này, Thiên Đế và Khánh Hỉ Tạng đem ô lọng, khiên giáp được chế tạo bằng đủ loại vàng bạc châu báu cùng cúng phẩm của cõi trời đến cúng dường Kim Cương Thủ Bồ Tát. Kim Cương Thủ Bồ Tát bèn dựa theo "Vương quyền kim bình viên mãn quán đảnh" truyền thụ cho Khánh Hỉ Tạng mười khẩu quyết biến hóa và bảy pháp y tha, ngũ đại khẩu quyết, rất nhiều tục bộ khẩu quyết, trong sát-na diễn thuyết Đại viên mãn, lần lượt đều truyền thụ cho Khánh Hỉ Tạng con trai của thiên thần.
Vì thế mà pháp Đại viên mãn được hoằng dương tại 33 cõi trời.

Có bài kệ ghi lại việc này như sau:
"Vô nhị diệu trí bí mật nghĩa
Vô tác vô vi bản thành Phật
Đại trung quán đạo là tên gọi
Để đến thuyết giảng cho hội chúng."

Trong cuốn sách "Vô thượng mật và Đại thủ ấn", chương 26, tôi từng viết một bài về "Kim Cương Thủ Bồ Tát chân ngôn pháp". Trong đoạn ấy tôi đã viết thế này: "Trong chương sách này có ẩn chứa thiên cơ vĩ đại, người hữu duyên sẽ biết, người vô duyên thì không thể biết. Trong chương sách này có ẩn chứa huyền cơ vĩ đại, là đại bí mật của hết thảy Mật pháp, người có thể biết cũng chính là người có phúc phần to lớn như trời."

Tôi giải thích Kim Cương Thủ Bồ Tát như thế này, Kim Cương Thủ Bồ Tát hẳn là Pháp Vương tử số một của mọi Như Lai, là bồ đề tâm của thập phương tam thế nhất thiết Như Lai, cũng chính là "tăng thượng chủ tể" người nắm giữ mọi bí mật của Như Lai, chính là thị hiện quyền lực của Chấp Kim Cương Bí Mật Chủ.

Tôi từng nói, khi xưa Thích Ca Mâu Ni Phật thọ kí, hơn nữa người thọ kí tương hợp chính là Kim Cương Thủ Bồ Tát, cũng chính là Kim Cương Thủ Bồ Tát đã có được bí mật nghĩa tối thắng. Xưa kia khi Thế Tôn viên tịch đã nói: "Từ nay về sau, ta sẽ không còn ở nhân gian thị hiện nữa, 28 năm sau, tại 33 cõi trời có thánh giáo rất thù thắng sẽ ra đời và phát triển, đó là sự hoằng dương của pháp Đại viên mãn, tại một góc của Nam Thiệm Bộ Châu ở phương đông cũng có một đất nước sẽ truyền pháp Đại viên mãn. Người chủ nhân truyền pháp Lăng Già này chính là hóa hiện của Kim Cương Thủ Bồ Tát."

Pháp Đại viên mãn - pháp số một của Mật tông Tây Tạng, nếu là truyền thừa nhận được từ Kim Cương Thủ Bồ Tát chuyển pháp luân lần thứ hai thì được gọi là truyền thừa Trì Minh.

Theo Mật tông Tây Tạng, các vị tổ sư nhiều đời của phái Nyingmapa được biểu hiện như sau: đời thứ nhất là A Đạt Nhĩ Mã Phật, đời thứ hai là Tỳ Lô Giá Na Phật, đời thứ ba là Ngũ Phương Ngũ Kim Cương, đời thứ tư là Thích Ca Mâu Ni Phật, đời thứ năm là Kim Cương Thủ Bồ Tát, đời thứ sáu là Cách Nãi Bố Đạo Nhĩ Cực Kim Cương, đời thứ bảy là Tạ Nhĩ Tốn Ha Kim Cương, đời thứ tám là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ…

Đời thứ ba trở về trước chính là khi Phật pháp còn chưa đến thế gian, pháp Đại viên mãn chính là Như Lai tâm ấn, cũng chính là trò chơi nhậm vận thần thông khi vị Cổ Phật ban sơ nhất là Bà Tiên Như Lai lần đầu chuyển pháp luân. Đến khi Kim Cương Thủ Bồ Tát có được bí mật nghĩa, pháp Đại viên mãn được hoằng dương ở Ấn Độ, nói cách khác là trước đời thứ bảy, pháp Đại viên mãn chỉ lưu truyền tại Ấn Độ mà thôi.

Đến đời thứ tám, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ mới đến đến Tây Tạng, sáng lập ra Phật giáo Tây Tạng (Lạt Ma giáo), là phái Nyingmapa cổ xưa nhất, phá trừ tập tục xấu của Thần giáo Tây Tạng (Hắc giáo). Do vậy, chương tiếp theo của cuốn sách này được đặt tên là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền pháp Đại viên mãn lần thứ ba.

Tôi (Liên Sinh Thượng sư) là người số một hiểu rõ nhất về Kim Cương Thủ Bồ Tát, là một thượng thủ trong số những người giải được tam mật. Tôi biết rõ nhất về Kim Cương Thủ Bồ Tát, cũng giống như Kim Cương Tát Đỏa, do vậy tôi cũng có được đại quán đảnh của truyền thừa Trì Minh.


### 03. Liên Hoa Sinh chuyển pháp luân lần thứ ba


Tại Mỹ, tôi thiền định hơn hai năm, người dạy cho tôi pháp Đại viên mãn của Mật giáo chính là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ thật sự đã hiện thân trong thiền định của tôi, truyền thụ cho tôi các pháp vô thượng, do vậy, trong truyền thừa của phái Nyingmapa, tôi trực tiếp nhận được truyền thừa từ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.

Ở nước Mỹ, tại đạo tràng Linh Tiên Chân Phật Tông có một bức tượng kim thân của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đến từ Tây Tạng, làm bằng đồng, phải bốn người mới có thể nhấc nổi, bức tượng này được chuyển từ Tây Tạng đến Hồng Kông, sau đó lại từ Hồng Kông vận chuyển theo đường biển đến Mỹ. Bức tượng kim thân Liên Hoa Sinh Đại Sĩ này là do một đệ tử ở Hồng Kông tặng.

Chân Phật Mật Uyển của cá nhân tôi cũng có một bức Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, là đệ tử Liên Bái của tôi trông thấy tại một nhà in Mật Tông nên đã thỉnh mua về để tặng cho tôi thờ cúng, cũng làm bằng đồng, cao khoảng một thước. [ ND: khoảng 33cm ] Hai bức Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đều vô cùng trang nghiêm.

Theo Mật tông Tây Tạng, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ được truyền rằng ngài là ứng hóa thân kim cương tam mật hợp nhất "thân Thích Ca, ngữ Di Đà, tâm Quan Âm". Liên Hoa Sinh Đại Sĩ được sinh ra khoảng 8 năm sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni nhập niết bàn, vào ngày 10 tháng 7 âm lịch, hóa sinh tại hoa sen ngũ sắc trên biển Đạt Lạt Quách Khiếu tại tây Ấn Độ. Quốc vương của tây Ấn Độ là Ân Trướng Ba Điệt đích thân đi ra biển ôm đứa bé ở trong hoa sen vào, lập làm Thái tử.

Trong "Liên Hoa Sinh Đại Sĩ ứng hóa sử lược" có ghi lại: "Liên  Hoa Sinh Đại Sĩ, sinh tại tây Ấn Độ, phía đông bắc có biển sinh ra nhiều hoa sen, ở giữa có một bông sen to bằng một người ôm, có vương thần ra hái hoa thì trông thấy hoa đã tách ra thành tám cánh, bên trong lộ ra một bé trai, tướng tốt quang minh đang ngồi xếp bằng ngay ngắn." Đó chính là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ hóa sinh từ hoa sen.

Theo Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, có ba nhân duyên khiến ngài hóa thân tại tây Ấn Độ:

1. Quốc vương tây Ấn Độ khi ấy là Ân Trướng Ba Điệt không có con, vì muốn khiến cho chúng sinh biết nhân quả, khởi lên niềm tin đúng đắn, do vậy ngài hóa thân ở trong hoa sen.

1. Vì cứu độ lục thú hữu tình mà hóa thân thành vị kim cương trong lục đạo, khiến chúng sinh đắc tức thân giải thoát.

1. Ấn Độ khi đó quỷ đông người ít, Tây Tạng lại lắm thần đạo ác quỷ, để Mật giáo thuận lợi độ hóa không thể không hóa thân tại vùng ấy, đồng thời cũng là đến để giúp cho Vua Tây Tạng Trisong Detsen.

Khi ấy, vua Ân Trướng Ba Điệt mới vừa trông thấy Liên Hoa Sinh Đại Sĩ liền hỏi cha mẹ của cậu là ai. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đáp rằng:
"Trí huệ sáng tỏ ấy là cha.
Từ bi hoan hỉ ấy là mẹ.
Không sinh không diệt ấy là đất.
Nội ngoại trong suốt ấy là tâm.
Không chấp có không ấy là cơm.
Hàng phục vọng niệm ấy là chỗ."
Đây là bài kệ đầu tiên của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.

Trong thời gian Liên Hoa Sinh Đại Sĩ làm Thái tử, có một hôm, Kim Cương Tát Đỏa hiện thân trong cầu vồng ngũ sắc, nói với Thái tử:
"Ngài là giáo chủ, không phải chính vương."

Vì vậy, Thái tử mới đi về phương nam, đến A Điên Địa Cát Quýnh ở trong hang động tu hành, nhận quán đảnh của Kim Cương Tát Đỏa, học hết Ngoại bát thành pháp và Nội bát thành pháp, cùng pháp trường thọ bất sinh bất diệt đều đạt thành tựu.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ học thông thạo Ngũ Minh, các loại học vấn đều vẹn toàn.
Đại Sĩ cùng Ti Tả học tập thiên văn, địa lý, âm dương ngũ hành.
Đại Sĩ cùng Trạc Bất học tập y thuật.
Đại Sĩ cùng Cổn Khiết Thất học tập các loại ngôn ngữ Ấn Độ.
Đại Sĩ cùng Cát Mã học tập điêu khắc, dệt nhuộm, hội họa, các loại tài nghệ sửa chữa và chế tạo.
Đại Sĩ cùng thầy Trát Ba Hải Điệt học tập vô thượng Mật thừa.
Đại Sĩ thọ giới ở chỗ của tôn giả Cổn Cao, Trì Địa Phật Mẫu đến tặng cho áo cà sa, thập phương Phật hiện thân gia trì khen ngợi, tôn giả Ca Diệp cạo đầu cho Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.

Trong quá trình tu hành, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã trải qua nhiều việc nhiều thầy, vì mục đích tiện lợi độ chúng sinh, nên cái gì ngài cũng học, đặc biệt là ở những nơi như Ấn Độ, Nepal, Cổ Tháp Bà, chăm chỉ tu thiền định, đắc Tam Ước Ca. [ ND: Trong cuốn "Khái quát nguồn gốc và sự phát triển giáo phái" có ghi chép: Kim Cương Thừa Mật tông vô thượng du già bộ được phân thành Maha, Anu, Ati Tam Ước Ca, trong đó Ati Tam Ước Ca được gọi là vô thượng Đại viên mãn. ] Thậm chí Bí Mật Chủ Kim Cương Thủ, Kim Cương Phật Mẫu, A Đạt Nhĩ Mã chư Phật đều hiện thân, truyền thụ vô thượng mật ngũ bộ tâm truyền đại pháp, chứng đắc Ngũ Phật trí, đắc pháp thân cứu cánh, tinh thông pháp Đại viên mãn.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đến Tây Tạng độ hóa là để đáp ứng lời mời của Vua Tây Tạng Trisong Detsen. Khi ấy Tây Tạng muốn xây một ngôi chùa, nhưng lần nào cũng gặp ma thần phá hoại. Vua liền hỏi Tịch Hộ đại sư: "Tình hình thế này phải làm sao đây, chẳng lẽ công đức của ta không đủ?"

Tịch Hộ đáp: "Thần là người tu bồ đề tâm, chỉ biết pháp tịch tĩnh, không biết pháp hàng phục, pháp hàng ma cần có pháp lực uy mãnh thì mới có thể khống chế kẻ địch. Nay Ấn Độ ở xứ Kim Cương Tọa có một người Orgyen tên là Liên Hoa Sinh, là hóa sinh từ hoa sen, biết Ngũ Minh, đắc thành tựu, phá được mọi ma, Bát bộ Thiên long là thị giả của ngài ấy, tất cả thiên ma trông thấy đều tháo chạy, ngài ấy đã hàng phục rất nhiều ma chúng, nếu thỉnh người này đến thì chắc chắn chư ma sẽ không thể làm hại.

Trên đường đi đến Tây Tạng, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã thu phục tất cả thiên ma ở xứ Tạng và Hộ pháp đại ác của Hắc giáo, tất cả đều ổn định trong chính pháp. Ngài đến Hồng Nhai, tu pháp để trấn áp những chùa viện ở đây, xây dựng Chùa Nhậm Vận. Ba vị đại sư đã khai quang cho Chùa Nhậm Vận là Tịch Hộ Acharya, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, Vi Ma La Mật Đa La, ba lần tung hoa, có rất nhiều sự tích thần biến hiếm thấy.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ ở Tây Tạng truyền pháp, chính là để truyền pháp luân "Đại viên mãn A Để du già đẳng nội tục bộ tam du già". Truyền thừa này chính là truyền thừa khẩu nhĩ Bổ đặc già ca. [ ND: Bổ đặc già ca (pudgala) nghĩa là chúng sinh thường tới lui qua lại nơi các nẻo luân hồi. ]

Vị Phật thứ hai ở xứ Orgyen, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói: "Ta sẽ đem pháp Đại viên mãn, giáo pháp bất khả tư nghì, viết trên giấy vàng của kinh thư, bí mật chôn vào trong đất nước lửa gió không khí để truyền pháp Đại viên mãn này cho hậu thế, phát nguyện gửi gắm dặn dò, nhờ dấu vết ấy mà ấn chứng. Trong các đời tương lai sẽ có thành tựu giả Liên Hoa Đồng Tử thừa nguyện mà đến, sẽ mở ra cánh cửa kho tàng của ngũ luân cất giấu trong đất nước lửa gió này, để độ hóa càng nhiều hơn những Bổ đặc già ca có nghiệp chướng. Truyền thừa này chính là Truyền thừa khẩu nhĩ Bổ đặc già ca."

Theo tôi được biết, từng có nhiều Thượng sư nhận được truyền thừa khẩu nhĩ Bổ đặc già ca, trong số những Thượng sư này, Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư Liên Sinh Mật Hành Tôn Giả là tu hành giả tiếp theo có được đại trí huệ, vốn là hóa thân chân chính của Liên Hoa Đồng Tử, được Liên Hoa Sinh Đại Sĩ hiện thân gia trì quán đảnh và truyền thụ pháp Đại viên mãn, truyền thừa Như Lai tâm ấn, truyền thừa Trì Minh, truyền thừa Khẩu Nhĩ đều được viên mãn thọ trì.

Tôi lĩnh ngộ pháp Đại viên mãn, để truyền pháp luân của Thánh giáo viên mãn này, tôi sẽ bộc lộ tất cả trí huệ chính giác viết ra trong sách, để khắp các cõi trời đều có thể thấy được ánh sáng của mật pháp.

Hỉ Kim Cương trong hư không tán thán:
"Tự tính của tâm đã thành Phật
Tâm không sinh diệt như hư không
Giác ngộ chân nghĩa tính bình đẳng
Buông bỏ mong cầu ấy là tu."

Hôm nay, người đọc được cuốn sách này đúng là có đại pháp duyên, tất cả trí huệ đều nằm ở trong cuốn sách này. Nếu tu trì có thể đạt thành tựu Đại viên mãn, đạt đến cảnh giới giác ngộ chính là đại bình đẳng. Đó chính là ngọn nguồn của tất cả trí huệ, cuốn sách này là hào quang vĩ đại của Mật pháp phổ hiện khắp thế gian.


### 04. Liên Sinh Thượng sư đại chuyển pháp luân


Tại Mỹ, mỗi ngày thứ bảy, vào buổi tối lúc 8 giờ, ở chỗ của Liên Sinh Thượng sư có rất nhiều người đến tham gia pháp hội đồng tu. Sau khi pháp hội đồng tu kết thúc, Liên Sinh Thượng sư sẽ tranh thủ thuyết pháp. Đối với những người tu Mật tông ở đây mà nói thì bởi vì tu học đúng đắn, có người đã tức thân đạt đại thành tựu, ví dụ như tiến sĩ Chung Lộ Thăng, ông ấy vừa mới quy y Thượng sư có truyền thừa đúng đắn đã lập tức có được chứng nghiệm đại thành tựu.

Vì sao Mật pháp của Liên Sinh Thượng sư lại là Mật pháp đúng đắn? Bởi vì đó là do Liên Hoa Sinh Đại Sĩ hiển hiện kim thân và chân truyền, đương nhiên Liên Sinh Thượng sư truyền Mật pháp, phàm những ai học tập cùng Liên Sinh Thượng sư thì đều có được đại thành tựu.

Vì Liên Sinh Thượng sư được Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chân truyền, lại có được sự cho phép của các vị Thượng sư các đời trong dòng truyền thừa, trong toàn bộ vũ trụ khắp cả mười phương đều công nhận ngài là Thượng sư trong số các Thượng sư, là vị Kim cương Thượng sư chân chính. Nhờ có chân truyền của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ mà các đệ tử đều học được chân pháp, một cách tự nhiên, các đệ tử của Linh Tiên Chân Phật Tông đều có được tương ứng, điều này hoàn toàn chính xác, không có một chút nào giả dối.

Từ Như Lai tâm ấn của vị Phật nguyên thủy là Bà Tiên Như Lai, đến Trì Minh tâm ấn của Kim Cương Thủ Bồ Tát, đến Khẩu Nhĩ tâm ấn của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, đây chính là truyền thừa liên tục. Hôm nay, truyền thừa của Liên Sinh Kim cương Thượng sư từ vị Cổ Phật ban sơ nhất đến Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chạm đầu thọ kí, truyền thừa này chính là không gián đoạn, thật sự có sức mạnh gia trì to lớn, là Mật pháp chính xác số một trong thiên hạ, phàm là đệ tử quy y thì đều sẽ có được sức mạnh gia trì của truyền thừa này, có được lực gia trì của Thượng sư chân truyền.

Trong thời đại ngày nay có đầy rẫy Mật pháp giả và Thượng sư giả. Có người cho rằng đi một chuyến đến Tây Tạng thế là biến thành Thượng sư rồi, có người cho rằng làm chân chạy việc vặt cho mấy ông Phật ở Tây Tạng, học được mấy chiêu thế là biến thành Thượng sư rồi. Thật ra Thượng sư chân chính phải là sau khi có được truyền thừa Mật pháp đúng đắn thì mọi thứ phải dựa theo sự chỉ dạy của Thượng sư mà tu học, có được sự khai ngộ đích thực, minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử, người học Mật như vậy mới có tư cách để xưng là Thượng sư.

Cá nhân tôi có thể nói như vậy là vì từ đầu tới cuối, tôi tu học Mật pháp đều luôn hoàn thành từng bước từng bước một. Tôi từ thấp học đến giữa, từ giữa học đến cao, tôi có thể nói rằng tôi không bỏ phí một ngày nào. Tôi đã học toàn bộ Mật pháp, hôm nay mới có tư cách để viết ra pháp Đại viên mãn này, tôi từ đầu tới cuối đều hiểu thấu, tôi từ Mật pháp cơ bản học đến Mật pháp số một cao nhất.

Ngày nay, rất nhiều người muốn học Mật tông nhưng không tìm được một vị thầy chân chính, không tìm được Mật pháp chân chính. Tôi xin nói với các độc giả, trên thế giới này, người có được truyền thừa chân chính chính là Liên Sinh Kim cương Thượng sư, có được sức mạnh gia trì của truyền thừa chân chính rồi thì mới có thể khiến người ta tức thân đắc đại thành tựu, mới có thể học Mật pháp chân chính, mới có thể nhận được chỉ đạo đúng đắn và toàn vẹn.

Liên Sinh Thượng sư sau khi có được sự chân truyền chân chính của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, cũng giống như Đại sư Tsongkhapa của Tây Tạng, đã vô cùng đau lòng khi chính pháp lụi bại, đầy rẫy pháp Mật tông giả, đầy rẫy thầy giả, xuyên tạc giáo lý Phật giáo. Thậm chí có một số Thượng sư giả chỉ muốn làm đầy lợi ích của bản thân, không có bồ đề tâm và trí huệ, không những không phát huy được Phật pháp mà còn dùng những lời xằng bậy để hủy diệt Phật pháp. Tôi vì từ bi thương xót sự trầm luân của chúng sinh, không thể không cất lời hiệu triệu, hy vọng có thể vận dụng trí huệ vô thượng của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ để viên mãn tất cả mật nghĩa của tâm yếu Đại thừa Tiểu thừa, viết ra một thứ tự đúng đắn để tu pháp Mật tông.

Liên Sinh Thượng sư sáng lập Linh Tiên Chân Phật Tông, hoàn toàn không phải để tự lập nên một tông phái đặc thù riêng biệt, mà là để nêu cao Phật pháp, chư thiện phụng hành, không bài xích những tông phái khác, cũng không loại bỏ những pháp khác, mà là dựa vào phương tiện thiện xảo để xây dựng tất cả chính pháp. Linh Tiên Chân Phật Tông này chính là trợ duyên cho Phật pháp, Đạo pháp, thậm chí là bất kì tôn giáo nào.

Tôi biết, trên đời này có rất nhiều người mê muội. Sống chết của con người vô thường và nhanh chóng, bị luân hồi trong lục đạo luân hồi thật sự không phải là chuyện hư cấu, những người tham sân si thì càng khó thoát luân hồi trong tam ác đạo. Mỗi người cần hiểu rõ ý nghĩa của đời người, cần phải biết chán ghét sinh tử luân hồi, đừng để sinh tử tóm lấy, vĩnh viễn chìm nổi nổi trôi. Do vậy, xuất ly khỏi biển khổ sinh tử là kiến địa chân thực của người tu đạo, mục đích của tu đạo chính là niềm hỉ lạc tuyệt diệt của sự giải thoát Đại viên mãn tối thắng. Tôi thường khuyên nhủ chúng sinh rằng cần có được tâm xuất ly, cần phát bồ đề tâm, cần thề nguyện thành Phật, cần chăm chỉ tu pháp, cần học chính định, cần đoạn trừ tất cả phiền não sinh tử.

Ý nghĩa quan trọng của việc tôi dạy pháp là:

1. Khiến tất cả Phật pháp đều có thể viên dung, không đối nghịch với nhau, viên mãn tất cả mọi pháp.

1. Ứng nghiệm những lời Phật từng nói, người người đều đích thân có được chứng nghiệm.

1. Dùng trí huệ mở mang để khiến mỗi người hiểu được những tâm yếu mật nghĩa của kinh điển.

1. Tiêu trừ nghiệp chướng kiếp trước, biến đen thành trắng, có đại quang minh, mau chóng đạt viên mãn. Trong đó cần từ từ ngộ ra mục đích của tính tướng, trí huệ đạt đến tính Không.

Từ trước khi gặp Liên Hoa Sinh Đại Sĩ hiển hiện, Liên Sinh Thượng sư sớm đã nhận quán đảnh của nhiều vị Thượng sư, cũng đã học tập Mật tông hơn mười năm rồi, Liên Sinh Thượng sư cũng đã tiêu tốn vô số tâm huyết, có thể nói là đã phải chịu vô số đau khổ và những sự tôi luyện rất lớn. Tôi triệt để tiếp nhận các pháp tu trì mới có thể làm cảm động tới Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, khiến ngài hiện thân truyền thụ Mật pháp, có thể thấy rằng sự chịu đựng đau khổ và tôi luyện là cơ sở để đạt đại thành tựu.

Hôm nay, vào thời đại chính pháp suy bại, huệ mệnh Phật pháp đang ở trong sự gào rú của cuồng phong này, Liên Sinh Thượng sư tượng trưng cho sức mạnh trụ cột vững vàng, tượng trưng cho mặt trời của Mật pháp xuất hiện trong màn sương mịt mù, xua tan tất cả bóng đêm, muốn cứu vãn thế giới u ám này cần phải có đại pháp môn này của Liên Sinh Thượng sư.

Hôm nay, Liên Sinh Thượng sư đã đạt được quả giác ngộ, tất cả Mật pháp đều đã hoàn toàn hiển minh, viên chứng tất cả các pháp, sau đó truyền tất cả các pháp, đây chính là một đại Thượng sư chân chính có đầy đủ mọi phẩm hạnh. Đại truyền thừa chân chính của Thượng sư lại là chân truyền của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, có những cảm giác vi diệu nhất, có bồ đề tâm kiên cố nhất.

Bánh xe pháp đã bắt đầu chuyển động rồi.

Pháp luân số một của Mật tông Tây Tạng đã bắt đầu chuyển rồi. Pháp Đại viên mãn vô thượng mật sẽ phổ hiện khắp thế gian. Đại viên mãn là pháp tối cao số một, là pháp đại thù thắng của thù thắng, là quán đảnh tuyệt hảo, tuyệt đối quan trọng và mấu chốt, biểu lộ Không nghĩa, là pháp môn tức thân thành Phật. Mong những người yêu thích và hữu duyên mau chóng nhận quán đảnh quy y, chỉ cần làm theo sự chỉ dạy đúng đắn của Liên Sinh Thượng sư, nỗ lực tinh tấn, nhất định có thể đạt đến cảnh giới thắng lợi viên mãn, đến được thành tựu Phật quả của Liên Hoa Đồng Tử.

Vì pháp luân được chuyển bởi Liên Sinh Kim cương Thượng sư có đầy đủ trí huệ, đầy đủ phúc đức và truyền thừa tối vô thượng của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, một vị Thượng sư như vậy là một Thượng sư thù thắng. Liên Sinh Thượng sư gia trì cho các đệ tử, các đệ tử ngày ngày tu pháp không gián đoạn, đệ tử như vậy tương lai nhất định sẽ đạt đại thành tựu, dễ dàng có được bồ đề diệu quả tức thân thành Phật.

Đại pháp luân Đại viên mãn do Liên Sinh Kim cương Thượng sư vận chuyển.


### 05. Cự Luận và Atisa tôn giả


Có người thấy Liên Sinh Thượng sư đội mũ vàng, mặc áo vàng, cảm thấy rất mới lạ, cho rằng bởi Liên Sinh Thượng sư đã có truyền thừa trực tiếp từ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ thì lẽ ra phải thuộc về phái Nyingmapa, vậy thì nên đội mũ đỏ, mặc áo đỏ, chứ sao lại mặc áo vàng, đội mũ vàng. Sự hoài nghi này rất có lý, do vậy trong bài viết này, tôi sẽ kể ra nguồn gốc của nó.

Trước khi Tây Tạng thành lập Phật giáo, có một tôn giáo gọi là Bổn Ba giáo (Hắc giáo), tổ sư là Hiền Nhiễu Di Ba, luôn dùng chú thuật để hiển hiện những việc kì bí, sát sinh hại mệnh, có rất nhiều tín đồ người Tây Tạng. Người có pháp lực lớn thì có thể biến kẻ thù thành động vật, có thuật làm mưa đá, có thuật biến thành ma, có thuật bay trên không, v.v… đủ loại huyễn thuật làm xằng làm bậy.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ vào Tây Tạng bèn hàng phục Hắc giáo, điều phục họ trở thành người thân thích, do vậy trong bài Khải Thỉnh Tụng của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ có câu "tiêu tan Bổn giáo đầy ám muội". Tôi cũng từng nói, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chính là người đầu tiên phá trừ Hắc giáo, còn tôi là người thứ hai phá trừ Hắc giáo, đây gọi là "thượng hạ cổ kim tương đồng".

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ điều phục chúng ma, diệt trừ Hắc giáo vào khoảng năm 747 sau công nguyên, vào thời đại của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, Tây Tạng hoàn toàn không có sự phân biệt giáo phái, Phật giáo đại hưng thịnh, Ấn Độ có rất nhiều người xuất gia, họ không ngừng tiến vào Tây Tạng, vua Tây Tạng cũng phái Truân Di Tam Bố Trá đi Ấn Độ du học, dịch sách tiếng Ấn Độ sang tiếng Tạng.

Tới tận năm 971 mới phân tách ra cựu giáo (Nyingmapa) và tân giáo (Gelugpa), trước năm 971 là thời kì tiền hoằng pháp, sau năm 971 là thời kì hậu hoằng pháp.

Thời kì cựu giáo, vì Phật pháp hoằng dương rất nhiều, người bình thường không có cách nào tiêu hóa được, hơn nữa Lama Hồng giáo cũng dần dần mắc nhiều sai lầm, trở thành hình thức mê hoặc ngông cuồng. Lúc này, vua Tây Tạng bèn mời vị Đại Đức người Ấn Độ là Atisa tôn giả đến Tây Tạng. Căn cứ theo truyền thuyết Tây Tạng thì Atisa tôn giả là hóa thân của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.

Khi Liên Hoa Sinh Đại Sĩ ở Tây Tạng, ngài từng nói: "Sau khi ta đi, Phật pháp Tây Tạng sẽ trở nên xáo trộn, khi ấy nếu có người hiện thân tì kheo đem ngũ giới thập thiện quy y Tam Bảo, phát bồ đề tâm đến để dạy con người, thì đó chính là hóa thân của ta."

Atisa tôn giả vào Tây Tạng, quả nhiên đã dùng ngũ giới thập thiện và khuyên con người phát bồ đề tâm để giáo hóa con người, vì vậy người Tạng công nhận Atisa tôn giả là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ hóa thân và trở lại. Atisa tôn giả đương nhiên là một vị đại Thượng sư đã đắc chứng, thật ra ngài uyên bác thông tuệ lý luận của hai phái Hiển Mật, pháp Đại viên mãn và tất cả Mật pháp ngài đều biết, Atisa tôn giả biết thứ mà Hồng giáo Tây Tạng thiếu mất chính là giới luật, hơn nữa Lama của Hồng giáo lại thích hưởng lạc, mặc sức hưởng thụ thanh sắc, tất cả đều không đúng.

Bởi vậy, sự dạy dỗ của Atisa nhấn mạnh vào ngũ giới thập thiện, chú trọng giới luật. Ngài đã đem phương diện tư tưởng này viết thành cuốn "Đạo Cự Luận", phân loại tất cả Phật pháp Hiển Mật thành "Tam Sĩ Đạo". Đây chính là sự cống hiến của Atisa tôn giả cho Phật giáo Tây Tạng, các nhân sĩ Phật giáo khi ấy đều kính trọng ngài. Ngài xây dựng tu viện Ganden tại Tây Tạng, người đời sau cũng gọi là phái Ganden.

Theo tôi được biết, phái Ganden là Hồng giáo cải cách, được lãnh đạo bởi Atisa tôn giả, còn Hoàng giáo sau này (Gelugpa) chú trọng giới tì kheo và đạo lí tam thừa của Hiển giáo, là Đại sư Tsongkhapa người sáng lập Hoàng giáo đã tham khảo và nghiên cứu Đạo Cự Luận của Atisa tôn giả mà viết ra cuốn "Bồ đề đạo thứ đệ quảng lược nhị luận", giải thích phương pháp tu học tam sĩ đạo. Do vậy, Hoàng giáo của Đại sư Tsongkhapa thật ra là bắt chước theo phái Ganden của Atisa tôn giả.

Người hiện đại lẫn lộn hai phái này, cũng có người gọi Hoàng giáo là phái Ganden, có người nói phái Ganden là Hoàng giáo, thật ra phái Ganden chỉ là lấy tên gọi của tu viện Ganden, có sớm hơn cả phái Hoàng giáo của Đại sư Tsongkhapa.

Tiếp theo bàn đến phương diện trang phục. Có người cho rằng trang phục của Hồng giáo là màu đỏ, Bạch giáo là màu trắng, Hoàng giáo là màu vàng, đây chỉ là những lời đồn đại sai lầm. Bởi vì Mật tông Tây Tạng bất luận là giáo phái nào, ai không có địa vị thì đều mặc màu đỏ tía, người có địa vị thì mới mặc màu vàng. Về sự khác biệt của mũ thì chỉ có người của Hoàng giáo đội mũ vàng, còn ba phái khác thì đều đội mũ đỏ. (Ngoài ra mũ Pháp vương mà phái Kagyupa đội lại có màu đen.)

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ muốn tôi mặc áo vàng, đội mũ vàng, đó là có nguyên nhân.
Thứ nhất, các Lama thông thường ở Tây Tạng mặc pháp y màu đỏ tía, mặc đồ màu đỏ có điểm thêm màu vàng kim là cao hơn một bậc. Người có địa vị cao nhất thì mặc đồ màu vàng, do vậy Liên Hoa Sinh Đại Sĩ muốn tôi mặc đồ màu vàng, đồ màu vàng là mang ý nghĩa cao nhất, biểu thị là tôi trực tiếp kế thừa vinh dự mà Liên Hoa Sinh Đại Sĩ trao cho tôi.

Thứ hai, tôi từng nhận quán đảnh của Hoàng giáo, cũng chính là do Lama Thubten ở cung Ung Hòa truyền pháp cho Thubten Dorje Thượng sư, Thubten Dorje Thượng sư truyền pháp cho Thubten Qimo Thượng sư, và tôi chính là Thubten Qimo Thượng sư, Thubten Qimo là pháp danh Hoàng giáo của tôi. Do vậy, tôi lại càng có tư cách để đội mũ vàng, mặc áo vàng, đây là một điều rất thật.

Thứ ba, bản thân tôi có truyền thừa Hoàng giáo, nên một cách tự nhiên tôi có thể đội mũ vàng, mặc áo vàng, đặc biệt là tôi có nghiên cứu rất sâu về Đạo Cự Luận của Atisa tôn giả hóa thân của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Mặc dù tôi đã tu Thứ Tự Sinh Viên của Ngũ Đại Kim Cương, nhưng tôi cũng đã tu Thứ Tự Cửu Thừa, đắc Tối quang minh kim cương tạng thừa, đây là pháp Đại viên mãn của Phật tính thừa, Trí huệ thừa - pháp số một của Tây Tạng.

Bốn giáo phái Mật tông Tây Tạng là "Hồng, Hoàng, Bạch, Hoa", sự hình thành nên mỗi phái đều có điểm đặc sắc riêng, nhưng bốn giáo phái này chẳng qua là phương tiện thiện xảo, có thể nói là tùy phương cởi trói. Tôi cho rằng "kiến tu hành quả" [ ND: kiến giải, tu hành, hành vi, kết quả ] là không khác gì nhau, hành giả đạt đến điểm tận cùng thì cũng không còn phân biệt bốn giáo phái nữa. Nói cách khác là, đạt đến cứu cánh địa rồi thì không những bốn giáo phái không tồn tại mà ngay cả Phật pháp cũng không tồn tại nữa.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ hiển hiện trong thiền định của tôi (với bài kệ tán thán):
"Sớm đắc thành tựu thậm thâm là Liên Sinh
Áo vàng mũ vàng được trời người kính ngưỡng
Như Lai tâm ấn chứng hiện Đại Trì Minh
Lập tông phái truyền pháp chúng sinh đều lễ kính."

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói:
"Liên Sinh, công phu nội chứng Đại viên mãn là phát lộ thời cơ rồi đó!"
Tôi nói: "Xin nghe lệnh thầy."
"Nyingma, Galug, Kagyu, Sakya cùng chung một nguồn gốc, không nên có sự phân biệt."
Tôi nói: "Đã biết, đã biết."

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói, pháp Đại viên mãn này sớm đã thất truyền ở Ấn Độ, trong tiếng Ấn Độ gọi là "A Để Ma Ha San Để Du Già", tại Tây Tạng cũng ít người biết đến, tại Nepal, tại Tây Khang chỉ có số ít Thượng sư biết thôi. Ngày nay, muốn có thể tức thân thành Phật, muốn có thể từ pháp giới nhiếp quy sắc thân, từ sắc thân xuyên vào pháp giới thì buộc phải có vô thượng mật Đại viên mãn. Lư Thắng Ngạn Kim cương Thượng sư Liên Sinh Mật Hành Tôn Giả viết ra tâm yếu của pháp Đại viên mãn này để cho Phật pháp không diệt vong, chúng sinh nên hoan hỉ cảm thán, đây là pháp duyên khó gặp đó!


### 06. 18 bộ Đại viên mãn pháp


Một hôm, lúc vừa chập tối, tôi đi vào Phật đường, thắp ngọn đèn dầu, châm mấy que hương, thay đồ cúng, tôi làm cúng dường, sau đó ngồi an tịnh trước Phật Bồ Tát, dùng việc điều tiết hơi thở khiến tâm linh dần dần trở nên bình tịnh.

Tất cả đều vô cùng tĩnh lặng, cánh cửa vào Phật đường đóng lại, mặc dù thời tiết lạnh nhưng bên trong Phật đường thì lại ấm áp. Trong Phật đường lặng gió, khói hương lờ lững mềm mại bay lên. Thời khắc này chính là thời khắc mỗi ngày tôi tu luyện, vào lúc này tôi đều nhập vào tam ma địa - kim cương tam muội đại định.

Tôi tiến nhập vào trong tâm của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, thế rồi Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đưa tôi bay lên không trung, tất cả mọi thứ đều ở phía dưới chúng tôi, chúng tôi bay đi rất nhanh. Tôi trông thấy dãy Himalaya ở phía trước, tôi trông thấy Lạc Hà, dòng sông ở Lhasa, tôi trông thấy những cung điện rất to lớn, nhưng Liên Hoa Sinh Đại Sĩ không đưa tôi đi vào cung điện mà là đến một nơi là Kim Mộ Tháp bên cạnh một ngôi chùa, thế rồi chúng tôi đi vào trong tháp.
Bên trong tháp hoàn toàn không có ánh sáng lọt vào, là một hang động.

"Ngài đã là một Lama rồi, không chỉ là một Lama mà còn là một vị đại Lama có thân phận cao quý nhất."
"Tôi không hiểu gì cả, Liên Sư." - Tôi hết sức lo lắng.
"Ngài đã có thể hiểu tất cả mọi thứ rồi, Liên Sinh."
"Tất cả những thứ này không phải là trí tưởng tượng của ngài đâu, một đứa trẻ có trí tưởng tượng phong phú cũng không thể ghi chép lại sâu sắc như vậy. Cuộc đời của ngài chính là truyền kì của thế kỉ này, chỉ là thiên bẩm của ngài khác, trách nhiệm của ngài khác mà thôi." - Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói.
"Sẽ chẳng có ai tin đâu."
"Để đến sau khi ta truyền thụ cho ngài 18 bộ Đại viên mãn pháp thì sẽ có người tin, cho dù là người không tin thì cũng sẽ cảm thấy vô cùng kinh ngạc, cảm thấy không thể hiểu nổi."
"Đây là chủ ý của Liên Sư sao?"
"Không phải là chủ ý, mà là nhân duyên như vậy."

Tôi ở trong hang động ở Kim Mộ Tháp học tập 18 bộ Đại viên mãn pháp, do Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đích thân quán đảnh cho tôi. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ như thái dương, còn tôi giống như một ngôi sao nhỏ, ngón tay của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ giống như có dòng điện chạy vòng quanh, và lúc quán đảnh thì giống như có luồng điện tinh tế nhất, giống như chớp lóe đi vào các vị trí bộ phận trong thân tôi, tạo thành những luồng khí dao động, thần thức của tôi giống như cơn gió run rẩy trong sự kích động mạnh mẽ.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói: "Về biểu hiện bề ngoài, quán đảnh là một kiểu nghi thức, nhưng quán đảnh đích thực chính là dòng điện, cũng có nghĩa là một sự chấn động, ta dùng dòng điện đi vào tâm linh của ngài, khiến tâm linh của ngài sản sinh ra chấn động giống như của ta, đây chính là ý nghĩa của quán đảnh."

Liên Hoa Sinh còn nói với tôi như thế này, kinh thư thật sự của pháp Đại viên mãn có 18 bộ, nếu muốn học những pháp này thì phải nhận được quán đảnh 18 bộ kinh. Có người chỉ nhận mỗi quán đảnh Huyễn hóa mật tạng cũng đã cần tới ba ngày. Ngoài ra, quán đảnh Bát dụ cũng cần ba ngày, chỉ riêng giải thích truyền đạt kinh nghiệm cũng phải tiêu tốn hai tuần lễ, và vì thế để quán đảnh toàn bộ 18 bộ kinh thư thì phải cần vài năm. Tôi nghe mà ngẩn người ra không nói nên lời.

Tuy nhiên, khi Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nó và ngài ấy quán đảnh, ngón tay của ngài phóng ra nghìn vạn dòng điện đơn lẻ, có nghĩa là quán đảnh 18 bộ pháp Đại viên mãn đều nằm cả trong đó, khi phóng ra quán đảnh thì cũng đem một cá thể Lư Thắng Ngạn nhỏ bé phân thành nghìn vạn cá thể nhỏ hơn nữa, như thế nghìn vạn quán đảnh phóng vào nghìn vạn cá thể, và như thế là quán đảnh xong.

Tôi đã tiếp nhận đại quán đảnh nghìn vạn cá thể 18 bộ Đại viên mãn pháp của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, thật không ngờ chỉ trong một sát-na đã hoàn thành. Tôi biết pháp số một của Mật tông Tây Tạng là vô thượng pháp của phái Nyingmapa Tây Tạng, đó là một pháp vi diệu và hiếm có nhất, chính là Mật tam thừa Cửu thừa thứ đệ mà phái Nyingmapa truyền, là A Để du già. Đó chính là đại đạo pháp tối thượng tối thâm tối diệu.

18 bộ Đại viên mãn pháp này, ngoài dành riêng cho các đại Lama của phái Nyingmapa ra thì căn bản là trên thế giới này chẳng thể tìm ra người nào có thể có, đây là mật pháp vô thượng của vị Phật thứ hai xứ Orgyen Ấn Độ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Hôm nay, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền thụ đại mật tâm pháp độc nhất vô nhị cho Lư Thắng Ngạn, đồng thời còn dặn dò cần làm rạng rỡ truyền thống, một lần độc nhất tôi có được đại quán đảnh 18 bộ pháp, toàn bộ quán đảnh đều đã được thực thi trên người tôi, chỉ dạy kĩ lưỡng cho tôi, đây thật sự là lợi ích pháp cho cả thiên hạ, quả thật khiến tôi cảm động tột bậc.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói rõ bốn tâm yếu:

1. Tâm yếu Bỉ Mã.

1. Tâm yếu Lạt Ma.

1. Tâm yếu Không Hành.

1. Tâm yếu Thậm Thâm.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói bốn đại tâm yếu này thông suốt 18 bộ Đại viên mãn pháp. Hơn nữa, bốn bài giảng tâm yếu này chính là do bản thân Liên Hoa Sinh Đại Sĩ và Trí Huệ Hải Vương Phật Mẫu cùng kết tập lại, sau đó chôn giấu trong năm kho tàng lớn là đất nước lửa gió không ở khắp trong thập phương vũ trụ, đợi đến lúc gặp người có duyên mở ra các kho tàng thì mới có thể có được pháp bốn đại tâm yếu này.

Ở Tây Tạng đồn rằng có đại sư Vô Cấu Quang ở trong một hang động tại Khâm Phổ, vùng Samye Tây Tạng đã lấy được bốn loại tâm yếu, bởi vậy ông đã tu luyện đạt đại thành tựu. Còn tôi, trong lúc tôi nhập vào kim cương tam muội đại định, tôi đã được Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đưa đi, vào trong Kim Mộ Tháp ở Tây Tạng, tất cả đều do Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền thụ, đây chẳng phải là được sủng ái mà lo sợ sao, căn bản là chưa từng có việc đại sự hiếm có và kì lạ như vậy!

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ dạy bảo rằng, "triệt thiết" trong tiếng Tạng là "thanh tịnh không", còn "tha cát" trong tiếng Tạng là "nhậm vận hiển". Ở đây chính là câu "sắc bất dị không, không bất dị sắc, cũng tức là không bất dị hiển, hiển bất dị không, không tức là hiển, hiển tức là không" trong Tâm Kinh. Đại Sĩ đã giảng cho tôi tường tận tỉ mỉ toàn bộ về phương diện này.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói rõ rằng một pháp giới chân thực vốn là thanh tịnh bản nhiên, căn bản là chẳng có ma, cũng chẳng có chúng sinh, đó là thế giới ẩn giấu ánh sáng thanh tịnh không, cũng không có chính tà, cảnh giới này là thế giới tâm bất giác. Nhưng vì có sự vọng động của tâm nên mới có nhân quả, có nhân quả thì lại có thiện ác, trở thành có sự phân biệt âm dương, sinh diệt cũng trở thành liên tiếp không ngừng. Vạn tượng cũng biến đổi phức tạp không ngừng. Bởi vậy Không chính là nguồn gốc. Hiển chính là sự thị hiện trong cõi hồng hoang mênh mông
Thành Phật thành Thánh tức là phản vọng quy chân, chuyển thức thành trí, Không - Hiển vô ngại.

Tại Kim Mộ Tháp, tôi đã học ba hạng Thành tựu bồ đề phần, hạng thứ nhất là Khắc kì thủ chứng, hạng thứ hai là Mệnh chung lên ngôi, hạng thứ ba là Trung ấm chuyển thành. Và pháp Đại viên mãn là hạng thứ nhất Khắc kì thủ chứng, là thượng pháp tối thượng.


### 07. Quán đảnh Ngũ trần hi hữu nhất


Liên Hoa Sinh Đại Sĩ từng đưa tôi đến tham quan một đại điện cổ kính. Đại điện cổ kính này rất đẹp, hơn nữa vào lúc ấy, có âm thanh tiếng ốc biển thổi tới, kèn đồng của đại điện cũng gióng lên, rất nhiều rất nhiều Lama Tây Tạng mặc tăng y màu đỏ nâu, nối tiếp nhau đi vào chỗ ngồi. Họ lắc chuông, âm thầm tụng kinh, khói hương trong đại điện ngưng tụ thành màn sương dày đặc. Những tăng nhân ấy đều là người Tây Tạng với nước da đỏ nâu. Trong âm thanh dồn dập Phạn âm này, bầu không khí thật sự là vô cùng thành kính.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ lại đưa tôi vào trong Kim Mộ Tháp, ngài ban cho tôi một quán đảnh đặc biệt nhất, quán đảnh đó chính là quán đảnh Ngũ trần.

Ngũ trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc. Bởi vì năm yếu tố này có thể làm ô nhiễm chân lý, do vậy chúng được gọi tên là Ngũ trần. Ngũ trần làm biến đổi ngũ dục, sắc là chỉ sắc tướng xinh đẹp, thanh là chỉ âm thanh uyển chuyển, hương là chỉ mùi hương thơm tho, vị là chỉ vị giác ngon miệng, xúc là chỉ sự tiếp xúc dễ chịu, chính là năm loại ham muốn chính, khiến nhân tâm khởi lên tham niệm.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chỉ ra rằng, ngũ căn nhãn nhĩ tị thiệt thân là sở duyên của cảnh, cũng chính là ngũ cảnh. Trong tam giới, Dục giới có sắc thanh hương vị xúc, sơ thiền thiên của Sắc giới thì không còn hai cảm giác hương và vị, từ nhị thiền thiên trở lên thì ngũ cảnh đều không còn, chỉ còn mỗi ý thức mà thôi.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền thụ quán đảnh Ngũ trần của pháp Đại viên mãn như sau:
Thứ nhất, quán đảnh Sắc - Thượng sư dùng một miếng thạch anh, bên trong miếng thạch anh có ánh sáng ngũ sắc, bảo đệ tử hai mắt nhìn chăm chú vào miếng thạch anh, khiến cho ánh sáng ngũ sắc biến thành cầu vồng, rồi lại biến cầu vồng thành đại quang minh tạng, bí mật thành công ở đây là phải đích thân truyền ngay trước mặt. (Ở đây có bí mật rất lớn.)

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói rất rõ ràng rằng quán đảnh Sắc có sử dụng mỹ nữ để thử nghiệm, khi truyền quán đảnh Sắc, mỹ nữ sẽ nhảy múa trước mặt người tu hành, động tác toàn thân nóng bỏng khiêu gợi, còn người tu hành thì mặc dù mắt trông thấy nhưng tâm không thấy, xem sắc tướng của mỹ nữ như hư vô, hoàn toàn hiểu rõ và không động tâm, thậm chí cùng với mỹ nữ ôm ôm ấp ấp nhưng đều có thể không chút động lòng. Đó là quán đảnh Sắc trần.

Tôi biết tượng Phật Mật tông có rất nhiều bức tượng song thân Phật, song thân Kim Cương Minh Vương. Những bức tượng song thân Phật và song thân Kim Cương Minh Vương này, ý tứ hàm súc gốc là trừ bỏ hết quán đảnh Sắc trần của sắc cảnh, chứ không phải là hình ảnh dâm ô. Ở đây là cảnh giới khác nhau do vậy cách nhìn nhận khác nhau, quán đảnh Sắc trần có thể khiến cho nhãn căn thanh tịnh.

Thế nhưng quán đảnh Sắc trần, nếu không có Thượng sư hướng dẫn thì tuyệt đối không thể làm bừa, không được tùy tiện tìm một mỹ nữ đến múa may trước mặt bạn vì cũng muốn tu quán đảnh đảnh Sắc trần, làm thế thì sẽ trúng chất độc của Mật pháp.

Thứ hai, quán đảnh Thanh - Thượng sư miệng niệm Phạn chú, tay lắc chuông kim cương, sau đó dùng pháp chỉ gõ vào cái bàn, có tiếng binh binh, pháp chỉ tạo thành bởi gỗ cứng, hàm ý ở đây là thanh trần thanh tịnh.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chỉ ra rằng, có một số Thượng sư khi làm quán đảnh Thanh thì đầu tiên là phát ra âm thanh đẹp đẽ nhất trên đời cho bạn nghe, tiếp đó lại để cho âm thanh của tiếng nước chảy gột rửa, như vậy tức là biểu thị dòng nước thanh tịnh đã gột sạch hoàn toàn thứ âm nhạc lả lướt, đó là nhĩ căn thanh tịnh.

Thứ ba, quán đảnh Hương - Thượng sư chuẩn bị hai vật thơm - thối, một cái là hương thơm dị thường, một cái là tanh hôi dị thường, lần lượt để cho đệ tử ngửi, cứ như thế cho đến khi cái thơm không còn thơm nữa, cái thối không còn thối nữa, đã mất đi cảnh giới của hai thứ thơm thối, trở thành tị căn thanh tịnh. Đó là quán đảnh Hương.

Hàm ý của quán đảnh Hương rất sâu sắc, chỉ cần tu hành có được quán đảnh Hương thì sẽ không còn chấp vào thơm thối nữa, đây là tị căn thanh tịnh.

Thứ tư, quán đảnh Vị - Thượng sư cầm một thứ rất cay (quả ớt), đầu tiên là làm tê lưỡi, sau đó kêu đệ tử nếm trăm vị, trăm vị đều trở thành chẳng có cảm giác gì cả, đó là thiệt căn thanh tịnh.

Thứ năm, quán đảnh Xúc - tay của Thượng sư cầm hai vật thô và mịn, chạm vào huyệt đạo toàn thân, đồng thời niệm Phạn văn gia trì, đây là quán đảnh Xúc.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ giải thích rằng, pháp song thân ban đầu là sự tu luyện quán đảnh Xúc, vốn là dùng ý niệm để làm, khiến cho thủy hỏa tương giao, thủy là chỉ bồ đề tâm nguyệt dịch, hỏa là chỉ chuyết hỏa. Nhưng hữu hình hữu tướng thì tượng trưng cho thân thanh tịnh của quán đảnh Xúc.

Trên phương diện này, rất khó để giải thích rõ ràng, vốn là trình độ của đệ tử chưa tới thì tuyệt đối không thể truyền thụ, bởi vì truyền thụ rồi thì rất có khả năng phản tác dụng. Trước đây Lama của phái Nyingmapa Tây Tạng tu Đại viên mãn ngũ trần quán đảnh, dùng quán đảnh sắc và quán đảnh xúc, bèn tìm đến mỹ nữ để ôm ôm ấp ấp, để biểu thị sắc thanh tịnh và xúc thanh tịnh của bản thân, không ngờ sắc không những chẳng thanh tịnh, xúc cũng chẳng thanh tịnh. Tu pháp song thân "Viên đốn khiết chứng, Sắc Không bất nhị, Tự tâm như như" nào có dễ dàng như thế. Ngược lại, lại đi vào địa ngục.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói:
"Thánh nhân song thân phi hữu."
"Phàm nhân song thân thị hữu."
"Thánh nhân song thân phi không."
"Phàm nhân song thân thị không."

Ở đây đây căn cơ của con người khác nhau, đốn ngộ và tiệm ngộ cũng khác nhau, căn hành cũng khác nhau. Đối với pháp song thân và tượng Phật song thân mà nói, nếu người nào hiểu được thì nói là biết, nếu người nào không hiểu thì vẫn là lỗ tai ngu muội, xin mọi người hãy nhận thức rõ bốn câu nói của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói: Quán đảnh Ngũ trần là con đường thành Phật của tu hành pháp Đại viên mãn, và mỗi hành giả Mật tông muốn tức thân thành Phật thì nhất định cần phải nhận được quán đảnh Ngũ trần thanh tịnh này. Trên phương diện này, sự lĩnh ngộ ở bề ngoài là không đủ, nhất định cần phải có được ngũ đại nhãn nhĩ tị thiệt thân thật sự thanh tịnh, tất cả chúng sinh không biết bản thân vốn là ngũ trần tịnh diệu, trái lại lại hướng ra bên ngoài để cầu đạo giải thoát, đây chính là bỏ gốc lấy ngọn, trèo cây tìm cá, pháp Đại viên mãn chính là dẫn dắt sức mạnh của ngũ đại căn này mà thành Phật.

Ngũ căn thô của chúng sinh chính là cảnh giới của chúng sinh.
Ngũ căn vi tế của Phật Bồ Tát chính là cảnh giới của Phật Bồ Tát.
Ngũ căn thanh tịnh vi diệu rồi thì chính là đắc chứng.

Thật ngạc nhiên,  giữa mê và ngộ không ngờ lại được phân biệt như vậy. Ngũ trần tịnh diệu của Phật là ngộ, ngũ trần thô trọc của chúng sinh chính là mê. Khởi điểm của Phật và chúng sinh là giống nhau, chỉ vì mê ngộ mà khác biệt, hơn nữa còn khác biệt rất lớn, xin hãy chú ý nhận thức rõ phương diện này.

Tôi (Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư) đã có được quán đảnh Ngũ trần, đó là do Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đích thân truyền thụ, quả thực là bất khả tư nghì. Tuy nhiên, hôm nay nếu có Thượng sư thật sự có được pháp này, khi đọc thấy tôi viết chương sách "Quán đảnh Ngũ trần hi hữu nhất" này, nhất định từ nay sẽ tâm phục khẩu phục, bởi vì học pháp Đại viên mãn vốn dĩ là lấy quán đảnh Ngũ trần để dẫn dắt, do vậy sẽ biết rõ và thừa nhận rằng Thượng sư Lư Thắng Ngạn quả nhiên đã có được Đại viên mãn tâm yếu, ngay cả các đại Thượng sư từng học qua Cát Ma tâm yếu cũng phải cúi rạp mình xuống đất mà tán thán, quả thật là quá hi hữu.


### 08. Pháp hóa cầu vồng và bảo tọa


Ở trước mặt tôi, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ biến hiện pháp hóa cầu vồng. Thì ra điểm khởi đầu của pháp hóa cầu vồng này là một điểm ở vùng tim. Ánh sáng cầu vồng bảy sắc ấy từ trong tim tuôn trào ra, chuyển động xoay thuận theo chiều kim đồng hồ, ngoài cùng là màu đỏ, trong cùng là màu lam, ở giữa là xen lẫn các màu vàng, cam, lục. Ánh sáng cầu vồng khi biến hiện pháp hóa cầu vồng này đã bao trùm toàn thân, thật sự là bảy sắc hiếm có.

Tôi chăm chú quan sát Liên Sư biến hóa thành cầu vồng, rồi lại nhìn lên bầu trời, thấy xuất hiện Quan Âm Tứ Thủ, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Phẫn Nộ Kim Cang và Phật Mẫu Diệp Hưng Tha Gia. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ lúc này biến hóa cầu vồng thành nghìn bánh xe ánh sáng, quang minh biến chiếu, tràng phan phướn lọng, báu vật trang nghiêm, ánh sáng cầu vồng của Liên Sư là hào quang xoay tròn phóng tỏa ra từ vùng tim.

Trong khoảng thời gian này, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền thụ cho tôi pháp Tiên nhân tọa, Sư tử tọa, Tượng tọa, Kim sí điểu tọa, Kim cương tọa. Ngoài năm đại tọa pháp này thì ngài còn dạy tôi các tọa pháp khác nữa, mỗi lần tu tọa pháp đều có thể an trụ trong mạch khiếu khác nhau, bởi vì các mạch khiếu này có liên quan tới sự tuần hoàn chân khí của pháp Đại viên mãn.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ giải thích như sau: chư Phật Bồ Tát thành đạo, vì thành đạo nên có bảo tọa, pháp bảo tọa là pháp tọa của hết thảy Phật Bồ Tát.

Pháp thiên nhân tọa - phân thành hai loại, một loại là thiên y tọa, một loại là thảm len tọa. Thiên y tọa là dùng thiên y để phủ lên ghế ngồi, còn thảm len tọa là dùng sản phẩm dệt len phủ lên ghế ngồi. Tu trì pháp này thì tay ấn lên huyệt mạch ở vùng hông.

Pháp sư tử tọa - cái giường mà Phật Đà ngồi gọi là sư tử tọa, bởi vì sư tử được xem là vua của muôn thú, Phật Đà khi tại thế chiếm vị trí cao nhất tôn quý nhất, do vậy lấy sư tử để so sánh với giường ngồi của ngài. Nhưng cũng có rất nhiều Phật Bồ Tát dùng sư tử để làm pháp tọa của họ, ví dụ như Đại Nhật Như Lai, Văn Thù Bồ Tát, Pháp Giới Hư Không Tạng Bồ Tát đều dùng sư tử dũng mãnh làm pháp tọa. Rồi Nhất Tự Kim Luân Phật Đỉnh cũng lấy bảy con sư tử làm ghế ngồi, mật tu sư tử tọa pháp cần phải dùng tay ấn vào mạch khiếu ở đỉnh đầu.

Tượng tọa pháp - dùng voi để làm bảo tọa pháp, A Súc Phật, Kim Cương Tạng Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát đều tu trì tượng tọa pháp mà đạt thành tựu. Tu trì tượng tọa pháp cần an trụ trong mạch khiếu của hơi thở ra vào, như vậy mới có được thành tựu.

Kim sí điểu tọa pháp - trong Mật pháp có Kim sí điểu vương pháp, còn gọi là Ca Lâu La, là tên một loại chim ở Ấn Độ. Loài chim này thường sống trên bốn loại cây đại thụ trên thế giới, thức ăn của nó là rồng, lần lượt được Hư Không Tạng Bồ Tát và Bất Không Thành Tựu Như Lai dùng kim sí điểu tọa pháp làm bảo tọa pháp của các ngài, mạch khiếu của pháp này là điểm vào cánh tay.

Kim cương tọa pháp - pháp này là tọa pháp khi Phật thành tựu đẳng chính giác dưới gốc cây bồ đề Bodh Gaya ở nước Magadha. Các Thượng sư thông thường cho rằng kim cương tọa là pháp tọa đặc biệt của Phật Thích Ca Mâu Ni, các vị khác đều không thể dùng, còn Liên Hoa Sinh Đại Sĩ cũng đã giải thích rõ về mạch khiếu của kim cương tọa pháp, nhưng trong cuốn sách này, xin thứ lỗi cho tôi không thể tiết lộ.

Bảo tọa pháp thường tu nhất là liên hoa tọa. Có pháp hoa sen tám cánh và hoa sen nghìn cánh, chìa khóa thành công của pháp này là mạch khiếu ở phía dưới luân xa rốn, chỗ mà Đạo gia gọi là vị trí đan điền. Tôi tiết lộ một bí mật lớn, vốn dĩ nút thắt của ruột là cánh của hoa sen, ruột của người thế tục không ngờ lại là liên hoa tọa của Phật Bồ Tát.

Tôi viết đến đây, có lẽ vẫn còn có rất nhiều hành giả Mật tông đọc không hiểu, tôi giải thích như sau:
Người tu Mật pháp, muốn có thần túc thông thì chỉ có tu bảo tọa pháp mới có thể đắc được. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ hiển hiện, chỉ dạy cho tôi tu bảo tọa pháp, dạy cho tôi tư thế ngồi và tay cần phải đặt vào mạch khiếu thế nào, như thế thì khi nguyên thần xuất nhập đều có bảo tọa nắm giữ, bởi vì nguyên thần có bảo tọa nắm giữ nên đương nhiên có thể tùy ý ngao du khắp trên trời dưới đất, thập phương Phật quốc đều có thể đến được.

Pháp bảo tọa còn có bàn thạch tọa, điểu thú tọa (bao gồm ngựa, công, trâu, dê, ngỗng, ma), thậm chí lấy núi Tu Di làm bảo tọa.

Pháp hóa hiện bảo tọa của pháp Đại viên mãn là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ mật truyền cho Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư, theo lời của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, pháp bảo tọa này, các Kim cương Thượng sư trong thiên hạ không có mấy người có thể hiểu được, cũng có nghĩa là ngay cả rất nhiều Hoạt Phật (Rinpoche) căn bản đều không biết. Hôm nay, chính vì Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã truyền pháp bảo tọa, và sau khi tôi có được pháp này, tôi mới biết hóa thân cầu vồng vốn dựa vào pháp bảo tọa làm nền tảng.

Tôi viết ra cách tu pháp liên hoa tọa như sau:
Dùng hoa sen tám cánh để quán tưởng. Dùng hoa sen cắt bằng giấy cúng dường trước Phật đàn, tùy theo sở thích của bản thân mà chọn màu sắc để dâng cúng.

Hai tay an trụ ở đan điền, tức là vị trí dưới rốn bốn lóng ngón tay, lập tức quán tưởng toàn thân mình từ chỗ đỉnh đầu da thịt từ từ phân tách, để lộ ra đầu lâu xương cốt trắng toát, từ đầu đến cổ, từ cổ đến thân, hai tay, hai chân (cách quán tưởng này tương tự như quán bạch cốt). Khi quán tưởng chính mình biến thành một khối xương trắng, ngồi trước mặt Phật Bồ Tát, lúc này lập tức quán tưởng hoa sen giấy màu đỏ bay vào vị trí dưới rốn bốn đốt ngón tay của mình, hoa sen phóng to ra và di chuyển xuống phía dưới, giữ chặt lấy xương trắng của chính mình.

Quán tưởng rõ ràng rành mạch như vậy rồi thì liền sau đó trì chú:
"Ôm ya-ma-rua-ni chu-uân-ti-yê sô-ha." 108 hoặc 1080 biến.

Trì chú xong, lập tức dùng hơi thở ra vào đi vào đan điền, dùng hơi thở để thổi bùng lên Chuyết hỏa, quán tưởng Chuyết hỏa thành hoa sen tám cánh màu đỏ, nhập vào Tam ma địa hoa sen tám cánh.

Tu thành công pháp bảo tọa hiển hiện rồi thì khi xuất nguyên thần, có pháp tọa giữ nguyên thần lại, ánh sáng mênh mang, hoa nở rực rỡ, lao thẳng đến điểm đến. Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư hôm nay xuất nguyên thần đến những nơi to lớn như rặng tuyết sơn Himalaya, nhanh chóng chỉ trong một hơi thở là đi, trong một hơi thở là về, đến thập phương Phật quốc cũng như thế. Đây chính là dựa vào tu hành pháp bảo tọa hiển hiện, còn nếu không có pháp bảo tọa hiển hiện thì đại bộ phận những người nói rằng có thần túc thông đều là giả!

Nếu có Kim cương Thượng sư thật sự đắc được pháp này thì khi đọc được tôi viết về pháp hóa cầu vồng và pháp bảo tọa chắc chắn cũng phải tán thán, thì ra Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư đã đắc được pháp bảo tọa. Pháp bảo tọa này không thể tùy tiện truyền tùy tiện nói, đây đều là những bí mật to lớn đó! Hôm nay, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền thụ pháp Đại viên mãn số một của Tây Tạng cho Lư Thắng Ngạn, còn Lư Thắng Ngạn rốt cục có lai lịch ra sao? Liên Hoa Đồng Tử là gì? E rằng không chỉ đơn thuần như vậy đâu!

Tôi dự tính trong tương lai không xa, muốn tìm vài người đệ tử có đủ tư cách để truyền thụ cẩn thận pháp bảo tọa, vì tôi dùng tay để điểm vào mạch khiếu của họ, khiến họ có thể bùng lên ngọn lửa hừng hực, sau đó tụ hỏa thành hình, hóa thành bảo tọa.

Chân Phật Tông toàn thế giới cũng trở thành nơi bảo tọa bay lượn, siêu nhân hiện đại có thể bay tới bay lui, niềm vui vô tận, là đệ nhất pháp, đó chính là thần túc thông.


### 09. Đại viên mãn "Lập đoạn"


"Triệt tức" trong tiếng Tạng chính là "Lập đoạn", ý nghĩa cũng chính là bản tịnh.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói:
Một người đạt đại giác ngộ thật sự vốn là không nhiễm một hạt bụi, không đến không đi, là hoàn toàn thanh tịnh, đó là pháp thân vốn thanh tịnh, chính là bản tịnh.

Ý nghĩa của bản tịnh không phải là tu Chỉ quán", cũng không phải là tu Vô tưởng định, lại càng không phải là Tứ thiền bát định", không phải là Tham thoại đầu của thiền, cũng không phải là "ai là người tham niệm Phật".

Người đạt được bản tịnh chính là Đại viên mãn, đứng tách biệt khỏi mọi tình hình chính tà, diện mục bản lai thanh tịnh hoàn toàn hiển hiện bộc lộ ra.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói: "Những điều này các Phật tử đều biết, nhưng không biết phải bắt đầu từ đâu!"
"Đúng vậy! Phải bắt đầu từ đâu đây?"
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói: "Đó chính là chỗ mà một vị minh sư cần truyền dạy, hôm nay, ta sẽ truyền lại cho ngài."
"A! Tôi hiểu rồi, thì ra đây chính là kiến địa chân thực."

Cuối cùng tôi đã tu đắc "Triệt tức", trong sát-na đã hiểu tự tính, thập phương Phật quốc sát thổ đều hiện lên trước mắt.

Trong việc này có một vài huyền cơ, tôi giải thích như sau:
Tất cả các pháp nhiễm tịnh, trên nguyên tắc đều là tâm pháp giới vô chướng ngại. Việc này làm sao để lĩnh hội được? Ở đây cần dựa vào trí huệ quan sát. Trí huệ quan sát này là biết tất cả mọi pháp chính là tâm tự tính của chính mình, sau này thành tựu huệ thân thì càng không phải do người khác, mà là do chính mình tự giác ngộ.

Trong pháp giới vô chướng ngại, tất cả pháp nhiễm tịnh đều từ tâm này mà ra, hơn nữa, toàn bộ mọi thứ không gây chướng ngại lẫn nhau, tất cả mọi căn trần đều là pháp giới vô chướng ngại. Pháp này không lấy tên gọi, nên gọi là "phổ nhãn pháp".

Điểm khởi đầu của việc này là trước tiên phải khởi lên quán tưởng, quán tưởng cho đến khi có hình tướng xuất hiện ở trước mặt, sau đó lại dùng "trí huệ Không" để tịnh trừ sự xuất hiện này, như thế là có thể biến thành đại dụng bất khả tư nghì, có được đại dụng rồi thì trong chốc lát có thể đốn nhập Phật quả, khi đốn nhập Phật quả thì đó chính xác là Lập đoạn "ngôn vong lự tuyệt". [ ND: cắt đứt, ý niệm và lời nói tan biến vào chính nó ]

Pháp "Triệt tức" tu được rồi thì đó là ngôn vong lự tuyệt, tất cả đều sáng tỏ rõ ràng, bất kể là đi đứng ngồi nằm đều ở trong sự uy nghi, thường thấy cảnh giới bất khả tư nghì. Cảnh giới bất khả tư nghì này vốn là bản tính vốn như thế. Loại bỏ được mọi ngu muội thì tất cả đều hiển lộ ra.

Trong giới định huệ, giới ở đây là chấm dứt ác hành, định là cố định tâm một chỗ, huệ là phá vọng chứng chân. Nói một cách đơn giản là, trì giới là thanh tịnh tâm được an, tâm an thì có thể đạt được định, đạt định thì có thể quán chiếu phân minh mà sinh ra trí huệ. Trong giới định huệ giải thoát tri kiến nói rõ: "Nhất giới, nhì định, tam huệ, tứ giải thoát, ngũ giải thoát tri kiến, năm điều này gọi là ngũ phần pháp thân. Giới là để phòng thân tránh ác, định khiến tâm không loạn, huệ phá vọng chứng chân, giải thoát là rời xa trói buộc và chứng đắc niết bàn, giải thoát tri kiến tức là trí huệ khởi lên từ niết bàn." Tam học này chính là tam vô lậu học.

Khi tôi đắc được "Triệt tức", lập tức tôi nhập vào thế giới vô lượng quang minh, thật sự không thể tưởng tượng được, Tôi có thể phân biệt được 12 ánh sáng, 12 ánh sáng này chính là "vô lượng quang, vô biên quang, vô ngại quang, vô đối quang, diễm vương quang, thanh tịnh quang, hoan hỉ quang, trí huệ quang, bất đoạn quang, nan tư quang, vô xứng quang, siêu nhật nguyệt quang."

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ giảng giải cho tôi như sau:
Vô lượng quang biểu thị tính vô thời gian của "Lập đoạn", vô biên quang biểu thị tính vô không gian của "Lập đoạn", vô ngại quang là tổng hợp của vô lượng vô biên, vô đối quang là không có tướng đối lập, còn diễm vương quang biểu thị chân lý tuyệt đối của "Lập đoạn", thanh tịnh quang biểu thị "Lập đoạn" vô tham, hoan hỉ quang biểu thị "Lập đoạn" vô sân, trí huệ quang biểu thị "Lập đoạn" vô si, bất đoạn quang biểu thị sự vĩnh hằng của "Lập đoạn", nan tư quang và vô xứng quang biểu thị địa bất động của "Lập đoạn", siêu nhật nguyệt quang biểu thị sự siêu thắng của "Lập đoạn".

Trong sát-na, tôi thấy mình ngồi trên tòa hoa sen, còn xung quanh tòa hoa sen của mình cũng có nghìn nghìn vạn vạn các tòa hoa sen khác. Tôi nhìn những tòa hoa sen ở xung quanh, thì ra cũng là mình ngồi ở đó. A! Thì ra là mỗi tòa sen có một ta, đó chẳng phải là có nghìn nghìn vạn vạn Liên Hoa Đồng Tử trong chốc lát đã thành tựu Phật đạo, giống như Liên Hoa Đồng Tử có trăm nghìn triệu thân, giờ đây trăm nghìn triệu thân Liên Hoa Đồng Tử, mỗi thân đi tiếp dẫn chúng sinh nhiều như vi trần.

Tôi thấy nhật nguyệt ở trong tòa hoa sen của tôi, núi Tu Di cũng ở trong tòa sen của tôi, Tứ thiên hạ, Tứ thiên vương, 33 Thiên, Dạ ma thiên, Đâu suất thiên, Lạc biến hóa thiên, Tha hóa tự tại thiên, Phạn thế thiên, v.v… tất cả đều ở trong tòa sen của tôi. Tam thiên đại thiên thế giới viên quang quả nhiên đều ở trong tòa sen của tôi, và tòa sen này quả thật là vô lượng vô biên.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói: "Thành rồi."

Tôi đã hiểu rõ ràng rồi, đây chính là sự bất khả tư nghì to lớn của pháp giới vô ngại. Hôm nay cuối cùng tôi đã hiểu, sự tức thân thành Phật của chư Phật chỉ có các vị Phật với nhau mới hiểu, ngay cả Bồ Tát và thánh giả La Hán cũng không chắc có thể thông đạt. Do vậy, Mật giáo Đại viên mãn vốn là Phật Phật tương truyền chứ không truyền sự giảng giải đi nơi khác. Người thượng thánh mới có thể học được pháp Đại viên mãn, người bình thường chỉ có thể học Hiển pháp. "Bất khả thuyết" của Phật Thích Ca Mâu Ni thì ra là chỉ điều này.

Trên phương diện tu trì "Lập đoạn", đầu tiên cần có giữ ý niệm rằng trí huệ cũng không phải là đến từ bên ngoài, mà đây chính là "trí huệ bồ đề bát nhã, thế nhân vốn tự có sẵn", người người đều có Phật tính, chúng sinh vốn dĩ là Phật, đương nhiên trí huệ cũng từ tự tâm mà ra. Phật từng dạy A Nan "hãy tự cháy, chớ không phải là người khác đốt cháy", quy y kì thực cũng là tự quy y.

Một người khi đã ngộ được "Lập đoạn" thì đã chứng tỏ được "tự tâm quang minh", quang minh một khi xuất hiện thì có thể hàm chứa toàn bộ đại thiên thế giới, toàn bộ vũ trụ, cái tôi cá nhân nhỏ bé hoàn toàn dung nhập vào trong cái vô ngã, cùng dung nhập và kết hợp thành một thể.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói: "Nay ta truyền cho ngài "triệt tức", tất nhiên là có nhân duyên."
"Thỉnh Đại Sĩ khai thị!"
"Đó là muốn mượn ngòi bút của Liên Sinh Thượng sư để thị đạo kiến tính. Đây là Trí Độ Bồ Tát Mẫu, xem phương tiện là cha, dùng vô số phương tiện để khai thị cho chúng sinh."

"Phổ nhãn vô ngại pháp giới quán pháp", lại cộng thêm giới định huệ tam học, liên tục cho đến khi đạt đến ngôn vong lự đoạn, khi tự tâm quang minh xuất hiện, phổ chiếu tam thiên đại thiên thế giới thì chính là lúc đã tu trì thành tựu"triệt tức". Pháp bí mật tới ngày hôm nay như vậy coi như là có thể tìm thấy lại được dòng truyền từ xa xưa, hôm nay nếu như tôi không viết ra thì ai sẽ viết ra đây?

Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư giáo chủ của Linh Tiên Chân Phật Tông giải thích rõ "phổ nhãn tam học", trong đó cũng có bộ phận bí mật không thể nói ra, cần phải đích thân truyền thụ. Chúng sinh nhìn ra một vị Kim cương Thượng sư chân chính thì đích xác ấy là chỗ dựa của chúng sinh.


### 10. Đại viên mãn "Nhậm vận"


"Thoát cát" tiếng Tây Tạng có nghĩa là "Nhậm vận".
Một hành giả Mật tông đắc được Phật tính kim cương, hiển hiện quang minh, từ từ thân hòa tan vào pháp giới, thân hòa tan vào pháp giới này chính là "Nhậm vận".

Khi Liên Hoa Sinh Đại Sĩ hướng dẫn cho tôi về "Nhậm vận" đã từng dùng sự biến hóa để chỉ cho tôi thấy. Đại Sĩ đứng trước mặt tôi, tay vung một cái, bên trái bên phải mỗi bên đều xuất hiện một vị Đại Sĩ, tổng cộng là có ba vị Đại Sĩ, ba vị Đại Sĩ lại vung tay một cái ở phía trước và sau, trước mặt ba vị Đại Sĩ ban đầu lại xuất hiện thêm ba vị Đại Sĩ nữa, sau lưng ba vị Đại Sĩ ban đầu lại xuất hiện thêm ba vị Đại Sĩ nữa. Trong chốc lát cả bầu trời đều đầy kín Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.

Tình huống này khiến tôi nghĩ đến Tôn Hành Giả trong Tây Du Kí. Tôn Hành Giả lấy một nhúm lông khỉ, thổi một hơi khí, mỗi chiếc lông liền biến thành một Tôn Hành Giả, hình dáng cử chỉ đều giống hệt Tôn Hành Giả nguyên gốc, hơn nữa vẫn có thể nhậm hành, làm những việc độc lập.

Thật ra, "Nhậm vận" chính là "hóa thân bên ngoài thân" của Đạo gia. Nhưng quá trình tu hành "Nhậm vận" kì thực là từ "triệt tức" mà ra, thân từ từ hòa tan vào pháp giới. Tôi lấy một so sánh, ví dụ chúng ta thường dùng cát để cho vào bình, nhưng miệng bình lại rất nhỏ, chỉ có thể để một hạt cát đi qua thôi. Đây chính là cái đồng hồ cát đo thời gian, lộn ngược bình lại, hạt cát nhỏ từ đỉnh chảy xuống, chảy vào bên kia. Tình huống này tượng trưng cho thân từ từ hòa tan vào pháp giới.

Đến khi thân hòa tan vào pháp giới rồi thì sẽ biến thành "nhậm vận đốn siêu". Pháp môn nhậm vận hóa thân bên ngoài thân rất khó dùng trí tưởng tượng của người bình thường để tưởng tượng ra, pháp môn này không phải do chân sư truyền thụ thì không thể nhận thức và hiểu rõ được. Do vậy, nhậm vận hóa thân bên ngoài thân này căn bản là không thể nói ra, nói ra sẽ khiến người ta châm biếm phỉ báng.

Bởi thế, kinh Kim Cang có một câu như thế này: "Như Lai nói cho người phát tâm Đại thừa, vì người phát tâm tối thượng thừa mà nói", đại pháp nhậm vận này, người chưa có nhân duyên đủ chín thì căn bản là không có cách nào hiểu nổi, cũng là điều bất khả thuyết.

Trong một đêm, Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư cùng lúc nhập vào trong mơ của rất nhiều đệ tử, mà các đệ tử này lại sống ở khắp nơi trên thế giới, có người ở Brazil, có người ở Đông Nam Á, có người ở châu Âu, có người ở Canada, đây là nhậm vận một thân phân thành nhiều thân, đây gọi là pháp môn nhậm vận của Đại viên mãn.

Khi tôi viết đến đây, trong lòng tôi cảm thấy tôi nói như vậy, không biết mọi người có tin hay không? Nhưng Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã thật sự nói với tôi rằng: "Liên Sinh, viết ra những cuốn sách này chính là mục đích sống của ngài, ngài sống ở thế gian, sinh tồn tại thế gian, lí do duy nhất chính là để viết ra, truyền bá hoàn toàn pháp bí mật. Thế nhân có thể sẽ chế giễu ngài, đả kích ngài, thậm chí nói là ngài lừa đảo, nói ngài là thần côn, ngài sẽ phải chịu ma nạn rất lớn, thế nhưng đừng nản lòng, nhiệm vụ độ thế mới chỉ vừa bắt đầu thôi, một vị Hoạt Phật chân chính phải có khả năng chịu đựng được tất cả."

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói:
"Nhậm vận là xuất hiện dựa trên tần số rung động chung, cần biết rằng, tần số của rung động giống như bức xạ của tim, chỉ cần cùng tần số giao tiếp với một người khác thuộc về bình diện tiếp nhận, người đó có thể cảm nhận được sự tồn tại của ngài. Bởi vì tần số của hành giả Mật tông rất rộng, khi bao trùm toàn bộ không gian trái đất, người trong thiên hạ, rất nhiều người đồng thời nhận được tần số của ngài, đều có thể đồng thời mơ thấy ngài."

Nghìn sông có nước, sẽ có nghìn trăng trên sông.
Hàng chục nghìn máy thu thanh có thể nhận các chương trình phát sóng từ cùng một đài phát thanh.
Đây chỉ là cách giải thích ở một lớp bề ngoài mà thôi.

Thì ra bên trong còn có một lớp giải thích sâu hơn nữa, khi tần số rung động kết tinh với các hạt vật chất nhỏ thì có thể tạo thành sinh vật có hình có tượng. Pháp nhậm vận sẽ sản sinh các tần số rung đông, tần số này sẽ kết tinh với các hạt vật chất siêu nhỏ, tạo ra một hình tượng mới, như vậy là có thể hiển hiện. Điều này đã giải thích rõ bí mật về sự ra đời của nhân loại và đủ loại luân hồi, pháp đoạt xá của hành giả Mật tông và thừa nguyện lại đến của Phật Bồ Tát.

Tôi, Lư Thắng Ngạn chính là tần số của Liên Hoa Đồng Tử phóng xạ ra, kết tinh với các hạt vật chất mà sinh ra. Đó là nhậm vận của Liên Hoa Đồng Tử, tôi vì thế giới này mà đến, trên thực tế là vì hoằng dương Phật pháp chân chính mà đến, những tai họa ở trước mắt tôi sẽ luôn là nhiều vô số, đó là ma kiếp trùng trùng, nhưng càng là ma kiếp trùng trùng thì tinh thần của tôi lại càng siêu tự nhiên, càng siêu phàm.


### 11. Đại viên mãn "Quán tinh"


Khi Phật Thích Ca Mâu Ni thành Phật, thành bậc Đẳng Chính Giác, có một đoạn ghi chép như sau:

Thái tử Siddhartha [Tất Đạt Đa ]  khi ấy ngồi dưới cây bồ đề, dụng tâm cầu giải thoát, có dụng tâm từ "dục lậu" đến cầu giải thoát, cũng dụng tâm từ "hữu lậu" đến cầu giải thoát, lại càng dụng tâm từ "vô minh lậu" đến cầu giải thoát. Dụng tâm như vậy đến khi đến được cảnh giới giải thoát chân chính thì từ từ thân hòa tan vào pháp giới, lập tức đạt được trí huệ giải thoát.

Thái tử Siddhartha biết rằng mình đã hoàn toàn hiểu rõ về cuộc đời này rồi, nhiệm vụ của kiếp này cũng đã rõ rồi, ngọn cờ đại pháp của Phật giáo cần được dựng lên trên thế giới này, đến nay tất cả đã thành rồi, sau khi đắc được trí huệ giải thoát thì từ nay sẽ không còn chuyển thế luân hồi nữa.

Chính vào lúc ấy, khi ba phần tư buổi đêm đã trôi qua, đến phần tư cuối cùng của buổi đêm, ở phương đông xuất hiện một ngôi sao sáng, Thái tử Siddhartha lúc này nhìn thấy sao sáng trong đêm, lập tức nảy sinh trí kiến, ngôi sao sáng tỏ, tâm quang trong trẻo, trong sát-na đã đắc được A nậu đa la tam miểu tam bồ đề. Vào lúc Thái tử Siddhartha khai ngộ, buổi đêm vẫn còn tĩnh mịch, tất cả chúng sinh vẫn đang chìm trong giấc ngủ, còn chưa tỉnh giấc.

Thái tử Siddhartha nói bài kệ:
"Đêm dài bốn phần đã quá ba
Còn một phần cuối hiện sao sáng
Chúng sinh chưa dậy chưa làm việc
Là lúc Đại thánh vô thượng tôn
Đã diệt mọi khổ đắc bồ đề
Hết thảy trí huệ của thế gian
Trước Phật Nhiên Đăng đã thọ kí
Thích Ca Mâu Ni ấy là tên."

Vào lúc ấy, Phật Thích Ca Mâu Ni đã đắc trí huệ giải thoát, tất cả thiên cung, ma cung, thiên tiên và chúng sinh giới đều xuất hiện cảnh giới đại quang minh, ngay cả núi Thiết Vy ở địa ngục cũng sáng bừng. Uy lực thành Phật ấy khiến toàn bộ vũ trụ trên dưới thập phương đều khai sáng, thậm chí toàn bộ cây trên thế giới chỉ trong một sát-na đều ra hoa kết quả, trong hư không hoàn toàn thanh tịnh, mọi phương đều trong vắt và hiển hiện lên thật rõ ràng.

Sau khi tôi đọc xong đoạn ghi chép viết về "thành tựu đẳng chính giác" này, trong lòng tôi xúc động vô hạn. Sau khi Phật Thích Ca ngộ đạo, bánh xe pháp của Phật giáo nhờ trí huệ của ngài đã khai mở ra tám vạn bốn nghìn pháp môn, và số người tiếp nhận được sự chỉ đạo của tư tưởng Phật giáo không thể nào ước tính được. Phật Thích Ca Mâu Ni lãnh đạo thế nhân hướng đến cảnh giới chí thiện, quả thật là đại công đức, đại trí huệ không gì sánh bằng. Trí huệ này thật sự là trí huệ đại bồ đề bát nhã, trí huệ đại bồ đề bát nhã này còn cần phải có người hiền tiếp tục phát huy.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói với tôi: "Phật Thích Ca Mâu Ni trong đêm tối thấy sao sáng mà kiến tính thành Phật. Người đời nghĩ rằng nhìn thấy một ngôi sao ở phương đông, không ngờ giữa đêm nhìn thấy sao sáng mà lại có thể ngộ đạo, thế thì hành giả Mật tông ai ai cũng có thể vào lúc tảng sáng, là lúc sau ba phần tư của buổi đêm, đi nhìn ngôi sao ở phương đông này, mọi người sau khi nhìn thấy ngôi sao ở phương đông này rồi thì chẳng phải sẽ thành Phật hết sao!"
"Đương nhiên không phải." - Tôi đáp.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ dạy tôi như sau:
Pháp Đại viên mãn chỉ ra rằng, ngôi sao phương đông mà Thái tử Siddhartha nhìn thấy là thiên tinh ở trong chính thân mình, hơn nữa thiên tinh này chính là ánh sáng, cần biết rằng người giác ngộ sẽ phát sinh trí huệ giống như nhìn thấy sao trời vậy, đó mới là sự ngộ đạo chân chính. Sao trời mà Phật Thích Ca Mâu Ni khi ấy nhìn thấy cũng là ngôi sao trí huệ trong chính bản thân ngài, nhưng e rằng nói ra thế nhân cũng không hiểu, chỉ có tạm nói là ngôi sao phương đông mà thôi!

Trong sự đắc chứng pháp Đại viên mãn, ngôi sao này là "một pháp giới thật, không hiển lộ ra thì cũng vẫn sáng". Ngôi sao trời này là đã nhìn thấy rồi thì vĩnh viễn sáng ngời, sẽ không bao giờ bất ngờ tiêu biến mất.

Muốn chứng minh ngôi sao phương đông mà Thái tử Siddhartha đã nhìn thấy chính là bản tính của chính mình, điều này không khó, bởi vì Thái tử Siddhartha trước khi muốn nhìn thấy sao trời thì trong khi tu trì pháp Đại viên mãn, đầu tiên phải "sinh nhãn sinh trí sinh ý", rồi từ đây mới "sinh minh sinh quang sinh huệ". Như vậy là Thái tử Siddhartha đã có được định tâm, thanh tịnh tâm, vô cấu tâm, vô phiền não tâm, nhu nhuyễn tâm.

Bởi vì đã có được định tâm tịch tĩnh, thế nên thanh tịnh, thế nên vô cấu, thế nên vô phiền não, thế nên nhu nhuyễn. Và bởi vì thật sự biết vô minh, rồi tập hợp vô minh, rồi diệt vô minh, vô minh diệt hết thì sẽ thành đạo, và thế là sao trời liền xuất hiện.

Phật Thích Ca Mâu Ni giữa đêm nhìn thấy sao sáng mà thành đạo, một số pháp sư trên đời đều cho rằng, quả nhiên vào lúc trời sắp sáng, bầu trời đêm ở phương đông mọc lên một ngôi sao, thế là Phật Thích Ca Mâu Ni lập tức đốn ngộ mà thành  Phật. Trên thực tế, khi Phật Thích Ca Mâu Ni còn chưa ngộ đạo, từ lâu đã nhập vào tịch định, sao trời mà ngài nhìn thấy là huệ quang, đó là đại thiên tinh "sinh minh sinh quang sinh huệ", chứ không phải là một đốm sao nhỏ treo ở trên không trung.

Cảnh giới "Quán tinh" của pháp Đại viên mãn vốn dĩ ai ai cũng có, nhưng trong quá tình tu trì, phương diện công đức còn có nông sâu, phương diện trải nghiệm thì có dày mỏng, phương diện chứng ngộ thì có cao thấp, vì thế có người vẫn còn vi trần, có người thì quang minh trong trẻo.

Tôi thuật lại ngắn gọn về Đại viên mãn "Quán tinh" mà Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chỉ dạy như sau:
Vô minh là phiền não của kiếp quá khứ từ vô thủy, vốn là sự tổng hợp của ngu si cùng mê muội mờ mịt. Vô minh dẫn tới hành động mù quáng, chúng sinh bị luân hồi trong thế gian, do vậy chính là gốc rễ của sinh tử.
Cần phải phá bỏ vô minh thì thiên tinh sẽ hiển lộ ra.

Người tu trì dựa vào pháp "đại than thi", [ ND: thi trong từ thi thể, pháp này dựa vào quán tưởng thi thể nằm trải ra ] nằm ngửa trên giường, trước tiên quán tưởng đến ánh sáng của thiên tinh nằm tại vị trí thiên tâm, sau đó thiên tinh này vận chuyển đến mắt, khiến cho "sinh nhãn", tiếp đó lại di chuyển đến tim, khiến cho "sinh quang", tiếp đó lại di chuyển đến đan điền, khiến cho "sinh ý". Thiên tâm, tâm, đan điền này chính là ba điểm tập trung của người vận khí, ba vị trí thiên tinh tụ quang di động.

Hành giả Mật tông chỉ cần tập trung tinh thần, giữ ý niệm về thiên tinh ở ba nơi thiên tâm, tâm, đan điền. Sau khi làm được điều này hồi lâu, sắc thân và pháp giới hòa thành một. Pháp này cũng có thể sử dụng tư thế ngồi kiết già, tinh thần tập trung, nhẹ nhàng dùng tâm trí để giữ ý niệm về ánh sáng của thiên tinh đang vận chuyển. (Bên trong cũng có rất nhiều khẩu quyết, nhưng không tiện tiết lộ hết ra trong sách.)

Hôm nay, Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư đã hoàn toàn thấy rõ thập phương Phật thổ, điều này không phải là chỉ nói suông, mà hôm nay sách tôi viết ra không phải viết vì bản thân, mà là viết vì chúng sinh, giữa Phật và chúng sinh vốn không có gì khác biệt, chỉ có sự phân biệt mê-ngộ mà thôi.

Tôi nói để mọi người biết nhé! Mặc dù khi tu pháp thiên tinh này, đầu tiên sẽ hiển lộ ở bên trong, nhưng vốn không phải ở bên trong, cũng không phải hiện lên bên ngoài, lại càng không phải là ở giữa, chỉ cần tu đến một điểm lí tưởng vừa khéo thì sẽ hoàn toàn rõ ràng. Hãy còn quá sớm để giải thích trước.

Pháp Đại viên mãn là pháp số một của Mật tông Tây Tạng, vì vậy Sakya Chứng Không Thượng sư từng nói thế này: "Đại viên mãn của Nyingmapa - Ati du già không phải là một pháp tu đơn giản bình thường, căn bản đây chính là Trí huệ thừa, không phải là người có đại trí huệ thì không có cách nào tu được, không có nơi bắt đầu, bởi vì đây là Phật tính thừa mà!"


### 12. Đại viên mãn "Cầu vồng pháp thân biến"


Phần lớn hành giả Mật tông đều biết, thành tựu chí cao tột cùng vi tế của tu hành chính là hóa thân cầu vồng của pháp Đại viên mãn. Trên phương diện này có ba đại thành tựu:
Loại thứ nhất, tên tiếng Tạng gọi là "Giai lỗ tức cổ", có nghĩa là  thành tựu Pháp thân cầu vồng.
Loại thứ hai, tên tiếng Tạng gọi là "Giai lỗ pha thanh", có nghĩa là thành tựu Trường thọ cầu vồng.
Loại thứ ba, tên tiếng Tạng gọi là "Giai lỗ đức bối", có nghĩa là thành tựu Xá lợi toàn thân.

Pháp thân cầu vồng là khi mệnh chung, toàn bộ thân thể của mình biến thành một dải cầu vồng, bay cao lên mãi, dung nhập vào pháp giới rồi biến mất, đó là hóa ánh sáng cầu vồng đắc chứng pháp thân, hợp làm một với ý thức vũ trụ tối thượng.

Khi Đại Bảo Pháp Vương thứ 16 hỏa táng, có ánh sáng cầu vồng từ lò hỏa táng bay lên, lên đến không trung thì hiện lên ánh sáng của cầu vồng mây ngũ sắc, còn trái tim của ngài thì không thiêu được, đó là xá lợi tim. Pháp thân cầu vồng cũng có khi chỉ lưu lại một ít lông tóc móng tay, còn những thứ khác hóa thành cầu vồng và tan đi.

Trường thọ cầu vồng là do người tu tập pháp hóa cầu vồng [ quyết định ] không nhập niết bàn, do vậy nhìn biểu hiện bên ngoài thì vẫn là sắc thân, thật ra bên trong thân thể, linh hồn và thể xác đều trở nên tuyệt diệu rồi, có thể nói là trong ngoài đều thấu triệt, cũng giống như hư không, thân thể có thể hóa thành ánh sáng cầu vồng, nhưng tự do tự tại, có thể trường thọ vô số kiếp, có thể biến hóa nhậm vận. Thượng sư của tôi và Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, đã trụ trong tuổi thọ vô số kiếp, cũng không nhập niết bàn, họ đều đã đắc chứng Trường thọ cầu vồng.

Xá lợi toàn thân ở đây là không hóa thành ánh sáng cầu vồng, chỉ là thân thể thu nhỏ lại, khi hỏa táng, thân thể biến thành những viên đá óng ánh có ánh sáng. Cũng có người toàn thân rung lên không ngừng, rồi sau đó vô số hạt xá lợi tuôn ra. Thành tựu như vậy cũng rất vĩ đại, thành tựu xá lợi toàn thân và thân hóa thành viên đá óng ánh phát quang đều là những biểu trưng của sự thành tựu.

Ba đại thành tựu Pháp thân cầu vồng, Trường thọ cầu vồng, Xá lợi toàn thân là bình đẳng, không có phân biệt đẳng cấp. Ở đây chỉ là do sự thề nguyện khác nhau. Lấy Pháp thân cầu vồng mà nói thì hợp nhất cùng vũ trụ tối thượng cũng tương đương với nhập niết bàn. Nhập niết bàn rồi thì sẽ ít trở lại độ chúng sinh, thế nên Trường thọ cầu vồng là không nhập niết bàn, với lời thề nguyện đời đời kiếp kiếp độ chúng sinh. Còn xá lợi toàn thân với những viên ngọc, đá lấp lánh là sự khác biệt trong tu pháp mà thôi. Ba loại đại thành tựu này là bình đẳng, không khác biệt, đều là đại thành tựu Cầu vồng pháp thân biến.

Tu trì Cầu vồng pháp thân biến của Đại viên mãn hoàn toàn cần dựa vào sự chỉ dẫn của một vị đại trì minh kim cương acharya [ a-xà-lê ] chân chính, dùng chân trí để giáo hóa đệ tử, tất cả thành tựu trong tương lai đều nằm ở thân tâm chính mình, không cần phải hướng ra bên ngoài để tìm kiếm. Phương pháp tu chứng được gọi là "lí sự viên dung bất nhị pháp môn". "Lí" là gì? "Lí" chính là đạo lí. Chúng ta cần hiểu đạo lí của pháp Đại viên mãn, ví dụ tính Không và trí huệ, hai thứ hỗ trợ lẫn nhau, không thể rời xa lẫn nhau. tính Không và trí huệ vẫn là bản tính của chư Phật, hiểu rõ tính Không và trí huệ thì trước tiên phải hiểu từ "lí", tất cả đều cần Thượng sư giảng giải rõ ràng. Giống như vị Phật nguyên thủy Bà Tiên, thể tính của ngài là ở khắp hư không, bao phủ pháp giới, căn bản là bất khả thuyết, nhưng bất khả thuyết thì cũng không thể không nói, nói ra thì cũng vẫn là một chữ "lí".

Trên phương diện "sự" mà nói, dù đã hiểu rõ đạo lí, nhưng lại không tu, thì đây là nói suông, chỉ nói lí mà không có sự tu trì, như vậy thì không thể thành Phật. Nói lí càng hay, càng cao, càng tuyệt vời thì cũng chẳng khác gì cả một mớ lời nói vô ích, nếu không làm thì cũng sẽ không có thành tựu. Ví dụ lấy tôi để nói, Thượng sư Lư Thắng Ngạn nếu bản thân chỉ nói "lí", chỉ biết viết sách, nói suông mà không làm, thì Thượng sư tôi đây chính là Thượng sư giả. Do vậy, đã hiểu được đạo lí rồi, cộng thêm nỗ lực tu trì, thì đây chính là lí sự viên dung bất nhị pháp môn.

Hôm nay, Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư trên phương diện "lí" đã hoàn toàn hiểu rõ thấu triệt, trên phương diện "sự" cũng đã tu trì đạt tương ứng, nội hỏa toàn thân sáng rực, khí hóa thành hỏa, hỏa có thể biến thành quang, tự thân chính là hư không cảnh, cũng là thành tựu trường thọ cầu vồng. Bởi vì lời thề nguyện của tôi quá lớn, lớn tới mức đời đời kiếp kiếp không nhập niết bàn, nhất định phải đời đời kiếp kiếp độ chúng sinh.

Bí mật trong bí mật của "Cầu vồng pháp thân biến" là bắt đầu từ quán tưởng (phương pháp căn bản nhất). Đầu tiên là đi nhìn mặt trời mọc ở trên biển, khi mặt trời lên tới ngang mặt nước thì ghi nhớ vào trong đầu màu vàng kim, màu đỏ và nhiều màu sắc, minh tưởng chữ "Ah" trong mặt trời, cần nhớ rõ như vậy! Chữ Phạn "Ah" là thông suốt mọi chủng tử tự, bất kì vị Phật nào cũng đều hiển hiện trong chữ Ah. Đây là một đại bí mật.

Trong Mật giáo Đại viên mãn, chủng tử tự và quán tưởng vô thượng quyền uy đại bí mật pháp hóa thân cầu vồng là chữ Ah tiếng Phạn.

Khi đạt được thành tựu này, trong không trung sẽ có thiên nhạc tiếng Phạn hát rằng:
"Chư Phật từ bi thừa nguyện bay
Từ nay sử dụng Đại viên mãn
Cứu lấy chúng sinh ban đại pháp
Tùy bệnh đưa thuốc đến các nhà
Tùy theo phiền não mà đối trị
Giải từ mê lầm đạt giải thoát
Pháp đã ban ra mau tu học
Tỳ Lô Giá Na bồ đề tâm."

Bài kệ tiếng Phạn này được hát lên rất đẹp đẽ và vui tai, lại thêm hàm nghĩa sâu xa ở trong đó. Ý nghĩa dường như có vẻ rất bình thường, nhưng trong cái bình phàm có cái bất phàm, ở đây vốn là tinh nghĩa dương cao đại giáo ứng thế, đồng thời phát huy được sự uyên thâm của bát nhã. Pháp Đại viên mãn vốn là bí mật không truyền, nay bí mật được cất giấu này đã được mở rộng ra rồi, đây không chỉ là ân huệ của hành giả Mật thừa mà còn là công đức vô lượng đối với hằng hà sa số các pháp môn tu đạo.

Viết đến đây, trong lòng tôi rất đau buồn, tôi cảm thấy những con người vô tri của thế gian chiếm đa số, thật sự là tội căn và nghiệp chướng đều rất nặng rồi. Hôm nay, đại pháp được mở ra rộng rãi, có thể xem là thời đại hưng thịnh của Mật pháp, tận tai nghe Thượng sư chân chính truyền pháp, có được đại pháp bản bí mật như vậy cùng với sự chỉ rõ những sai lầm mê lạc như vậy, căn bản là trong quá khứ chưa từng có. Đây là điều cực kì quý giá.

Tôi cảm thấy tôi viết nhiều sách, nhận được sự bồi dưỡng hết lòng của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Đại Sĩ không bỏ rơi chúng sinh, việc tôi viết sách có ý nghĩa vô cùng trọng đại. Trí huệ của pháp Đại viên mãn có thể xem là "trí huệ tổng trì", là đệ nhất tối vi diệu, có thể loại trừ đủ loại trọng tội, khiến mọi chúng sinh thoát khỏi sinh tử, mau chóng chứng niết bàn pháp lạc.

Tại đây, tôi đặc biệt tuyên bố lần lượt từng bí mật vô thượng của pháp Mật giáo Đại viên mãn này, là đại pháp số một của Tạng mật, điều này là cực kì trân quý, là hiếm lạ phi thường. Hi vọng người người có thể coi trọng, pháp Đại viên mãn này là ngọn đèn sáng đẩy lùi bóng đêm, là con thuyền thoát khỏi biển khổ, là đại nhật, là Phật quang phổ chiếu. Những bí mật vi diệu mà Như Lai đã nói này thật sự có thể coi là thắng nghĩa vô tận trong Tạng môn ảo diệu Đại viên mãn.


### 13. Đại viên mãn "Nhiếp đới"


Tôi biết, tại một địa phương là Derge Yihun ở vùng Kham, Tây Tạng có một vị Lama phái Nyingmapa tên là Sonam Rinchen, ông vốn là một nhà điêu khắc tượng Phật, sau này có được nhận thức sâu sắc hơn về điêu khắc tượng Phật, ông bèn xuất gia làm Lama. Trong khi tu pháp, ông đã thấy Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền thụ cho ông pháp Đại viên mãn, thế rồi ông âm thầm tu "Lập đoạn đốn siêu".

Vị Lama này tu trì rất lạ lùng. Ông không kết mật đàn, cũng không bày cúng dường, lại càng không dùng đến quán tưởng, đồng thời cũng không trì chú. Vị Lama này chỉ thường xuyên hát bài hát tiếng Phạn trong miệng, hai mắt thường nhìn lên không trung. Ở đây có tồn tại một điều bí ẩn.

Khi Lama Sonam Rinchen viên tịch, thân thể đột nhiên thu nhỏ lại, chỉ còn chừa một ít lông tóc, còn cả người thì tiêu biến vào trong không khí. Lúc này, trong không trung có bài ca tiếng Phạn, trên bầu trời cũng xuất hiện cầu vồng.

Các vị Lama đứng xung quanh đều vô cùng kinh ngạc trước thành tựu của ngài. Thân phận của vị Lama này không cao, có thể nói là tên chẳng được nhắc đến trong kinh truyện, nhưng thật sự lại tiêu dao tự tại, không có một chút bám chấp nào, chân lý của pháp Đại viên mãn quả nhiên là bất khả tư nghì.

Thật ra, hành động hai mắt thường nhìn lên không trung này của vị Lama chính là "kết liễu đàn" trong hư không vũ trụ, lấy hư không trả về hư không, chính là cúng dường, có đàn tế ở trong hư không vũ trụ rồi thì dùng hư không làm cúng dường, đây chính là ý quán tưởng. Bài ca tiếng Phạn chính là chú, thường xuyên hát bài ca tiếng Phạn tức là trì chú. Pháp dung hợp thân tâm này đâu có chỗ nào kì quái nữa, chỉ là phương pháp ngộ chứng khác nhau mà thôi, sự nông sâu của công phu đã phô bày sự khác biệt cao thấp.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ cũng đã giải thích rõ phương pháp tu trì này, chính là "Nhiếp đới".
Hư không tức là hư không.
Hư không tức là một.
Hư không tức là tất cả.

Xin những người tu tập hãy nhận thức được ba câu nói này, hư không tức là hư không (tương đương với không có gì). Hư không mặc dù là vô cùng vô biên, nhưng trong toàn bộ hư không mà nói liệu có phải là một "cái" hư không không, nghĩa là tương đương với một. Lại nghĩ tiếp, hư không vốn là vô cùng vô tận, đương nhiên hư không là bao hàm tất cả rồi.

Do vậy, ta có thể suy rộng ra là, tất cả Phật là tất cả con người, tất cả con người là tất cả Phật, một nhiếp một, buộc vào thành một. Tôi giải thích như sau: tôi đã gặp một vị Phật, trong quán tưởng, tôi nhiếp rút vị Phật này vào trong tâm của tôi. Rồi tôi lại gặp một vị Bồ Tát, tôi lại nhiếp rút vị Bồ Tát này vào trong tâm của tôi. Tôi lại thấy một vị La Hán, tôi lại nhiếp rút vị La Hán này vào trong tâm. Lúc này, trong tâm của tôi có Phật, Bồ Tát, La Hán, nhưng tôi lại nhiếp rút La Hán vào bên trong Bồ Tát, rồi lại nhiếp rút La Hán, Bồ Tát vào bên trong Phật. Cách "Nhiếp đới" như vậy chính là pháp Nhiếp đới của pháp Đại viên mãn.

Lama Sonam Rinchen thì Nhiếp đới núi vào trong hư không, nhìn thấy biển, liền Nhiếp đới biển vào trong hư không, nhìn thấy tất cả mọi vật tốt đẹp bèn Nhiếp đới vào trong hư không.  Đây là thấy tất cả bụi trần thì đều Nhiếp đới vào trong hư không. Đến cuối cùng, vị Lama này cũng Nhiếp đới chính mình vào trong hư không luôn.

Ở đây cũng giống như gương và gương đối chiếu nhau, cái gương ở phía đông Nhiếp đới cái gương ở phía tây, rồi cùng đi vào trong cái gương ở phía nam, mặc dù có một chút khó hiểu nhưng cũng không phải là khó giải thích.

Pháp Nhiếp đới của Đại viên mãn là Nhiếp đới tất cả vào một, rồi lại Nhiếp đới một vào hư không, mà hư không thì tức là tương đương với hư không, Lama Sonam Rinchen chính là đã đắc chứng theo cách này. Tôi cho rằng điều này hành giả Mật tông cần phải tự mình lĩnh hội, cần chuyên tâm tu luyện, sau một thời gian dài tự nhiên sẽ hiểu và tỉnh ngộ. Mỗi một người học có thể học pháp tụ quang Nhiếp đới trước, luyện tập tụ quang Nhiếp đới hồi lâu thì quang minh tụ hội, tâm tuệ sẽ khai sáng, quang minh tự hiển, tất cả tự tính sẽ tự bộc lộ ra.

Hành giả Mật tông chúng ta biết đạo lý "một tức là tất cả", "tất cả tức là một". Đây chính là nghĩa rộng của pháp Nhiếp đới Đại viên mãn. Tu hành một pháp có được tương ứng rồi thì có thể tương ứng mọi pháp, cũng có nghĩa là có đầy đủ tất cả tương ứng pháp rồi.

Vị Lama kia tu pháp Nhiếp đới là đã biết rằng thân người chỉ là hình tướng giả, biết rằng sắc vốn là không, đã biết tịch chiếu chân lý. Bởi tu pháp thành tựu mới có thể khiến toàn bộ thân thể là không, khi đắc chứng thì bản thể và tác dụng đều vô chướng ngại, không tướng hữu tướng đều dung nhập.


### 14. Đại viên mãn "Địa bộ"


Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền thụ pháp Đại viên mãn "Địa bộ" như sau: Địa bộ chính là kiên lao. [ND: kiên lao nghĩa là kiên cố, vững chắc]

Hành giả tu trì pháp Đại viên mãn cần phải đạt đến kiên lao địa ở phần dưới của thân thể mình. Đây là nền móng của pháp Đại viên mãn, vô cùng bí mật và trọng yếu.

Một hành giả đắc kiên lao địa Đại viên mãn thì sự tu trì của bản thân sẽ giống như đại địa sâu 16 vạn do tuần đến cảnh giới kim cương luân toàn bộ đều kiên cố vững chắc.

Thành tựu Địa bộ đại địa có nghĩa là thổ địa vô cùng phì nhiêu, sông suối ao hồ trên mặt đất và mọi cây cối đều sinh trưởng xanh mướt, tất cả mọi rễ củ lá mầm đều vô cùng đáng yêu, đất đai có hương vị, vì thế sản sinh ra sự rực rỡ xinh đẹp, đất đai có thể làm lợi ích cho tất cả chúng sinh hữu tình, có thể khiến mọi người an ổn vui sướng, tất cả chúng sinh đều có được thân tâm vui vẻ.

Cần biết rằng cúng dường Địa bộ cũng là vô hạn, tất cả vàng bạc đồng sắt ngọc thạch hổ phách, kim cương châu báu, có chứa ở trong đất đai đều là vô hạn, tất cả cúng dường đều đến từ Địa bộ. Tất cả người tu hành có thể có được quang minh, khí lực, dũng mãnh, dung nhan đoan chính vẫn là vì có Địa bộ phì nhiêu, mới có thể khiến cho tất cả chúng sinh đạt được an lạc.

Một hành giả Mật tông chỉ cần tu trì pháp Đại viên mãn Địa bộ thì trong các đời tương lai vô lượng trăm nghìn na-do-tha đa kiếp sẽ vĩnh viễn sinh ở cõi trời, thường xuyên được hưởng niềm hạnh phúc siêu thắng diệu kì, nhờ thành tựu của pháp Địa bộ mà tất cả chư Phật đều có thể gặp được, rất nhanh chóng đắc được "A nậu đa la tam miểu tam bồ đề", vĩnh viễn không chịu khổ địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.

Pháp Đại viên mãn Địa bộ có thể thấy được chân thân của Phật, có thể đạt được tất cả nguyện vọng, vì Địa bộ là duyên cớ phong phú nhất, tất cả của cải châu báu đều có thể có được.

Trong lúc Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền thụ cho tôi pháp Địa bộ từng dùng ngón tay điểm vào Địa bộ của tôi, hơn nữa còn dùng chú để gia trì cho Địa bộ, do vậy mà hiển hiện sự kiên cố của Địa bộ, khiến Địa bộ chứng minh đắc lợi. Thì ra pháp Địa bộ Đại viên mãn có cái lợi ích như vậy, trong Địa bộ hiện lên tối thắng vương cung tỏa ánh sáng vàng kim, tất cả uy quang vô lượng, có được pháp ích cực lớn.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ gia trì cho tôi như sau: "Tan chu tha. An shua ni. Ji li sa cha ni shu pi. Ta li ha ha su su. Ou lu. Pha sua. So ha."

Huyệt Địa bộ mà Liên Hoa Sinh điểm vào là huyệt Tam lí, huyệt Tam lí nằm ở vị trí xương ống chày thẳng xuống ba ngón tay ngang, tức là một ngón tay ngang trên bờ ngoài của xương chày.

Còn có một huyệt nữa cũng cần điểm vào, là ấn vào huyệt Tam âm, ngón cái tay phải ấn lên huyệt Tam âm ở cẳng chân bên phải trong hai phút, đến khi cảm thấy buốt, tê, trướng thì tức là hiệu quả rất tốt. Sau đó dùng ngón cái tay trái ấn lên huyệt Tam âm ở cẳng chân bên trái (huyệt này nằm mặt trong của cổ chân cách đỉnh xương mắt cá trong 4 ngón tay ngang).

Thật kì lạ, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ vừa điểm ấn như vậy, vừa đả khí, sau đó lại gia trì Phạn chú, bản thân tôi cảm thấy thân thể liên tục khuếch trương ra, tôi to lớn như núi Tu Di ngồi vững chãi trên mặt đất, tự cảm thấy mình trở thành chúa tể vũ trụ, núi sông hồ biển đều ở dưới chân tôi, mây lơ lưng ở vùng hông tôi, địa cầu giống như một đóa hoa sen giữ chặt thân thể khổng lồ của tôi.

Cái cảm giác ấy thật sự là bất khả tư nghì, toàn bộ địa cầu trở thành một tòa hoa sen, còn tôi thì ngồi lên chính tòa hoa sen ấy, sừng sững trở thành một vị Phật.
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói: "Chân và đất tương ứng."
Tôi đáp: "Tạo hóa nhất điểm thông."
"Kiên cố là nền móng."
"Chuyển hóa là thần lực." - Tôi nói.

Tôi viết những điều này dường như là quá huyền bí quá thần diệu, địa cầu làm sao lại trở thành hoa sen được? Còn bản thân sao có thể biến hiện thành núi Tu Di, ngồi ngay ngắn trên tòa hoa sen? Quả thật khiến người ta khó mà tưởng tượng nổi. Trên thực tế, việc khó tưởng tượng nổi vẫn còn ở tiếp sau đây. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói, vũ trụ này trên dưới thập phương vốn là sự hóa hiện của vị Phật nguyên thủy, nếu con người biết Mật pháp Đại viên mãn và Địa bộ kiên cố tương ứng, hành giả Mật tông có thể biến thân thành núi Tu Di, có thể tương ứng cùng đại địa, nhập thẳng vào cảnh giới kim cương luân, điều này không phải là thần bí mà chỉ là vì người thế tục vô tri thôi.

Người có được pháp Đại viên mãn Địa bộ có thể nhập vào trong tâm của địa cầu, đi xuyên qua không chướng ngại, chỉ cần Địa bộ tương ứng thì chính là đạt đến cảnh giới như vậy.


### 15. Đại viên mãn "Thủy bộ"


Liên Hoa Sinh Đại Sĩ dạy tôi pháp Đại viên mãn "Thủy bộ" như sau:
Ngày xưa, có vị Phật từng dạy pháp Thủy bộ, vị Phật này xưng là Thủy Thiên Phật. Tên gọi Thủy bộ nghĩa là thanh tịnh.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói:
"Thích Tôn lúc tại thế đã từng so sánh như thế này, nước sạch trong suốt tinh khiết là bản chất của nước, còn thế gian có rất nhiều thứ vẩn đục, như đất cát bụi bặm ô uế, giả dụ bỏ một ít những thứ bẩn vào trong nước sạch, nước vốn dĩ ban đầu trong sạch liền trở thành bẩn, như thế, hai thứ trộn lẫn vào với nhau, tất cả sẽ trở thành một tướng hỗn độn, nhân gian bây giờ chính là tướng ngũ trọc như vậy. Đối với mỗi người mà nói, con người vốn dĩ có bản tính thanh tịnh, thế nhưng bản tính của nước, do lục căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý bị ô nhiễm, nên tính chất vốn thanh tịnh của nước đã trở thành vẩn đục bất minh."

Thủy Thiên Phật dạy chúng sinh pháp Thủy bộ Đại viên mãn là như sau. Trước tiên quán tưởng Thủy bộ trên thân thể chúng ta, ví dụ như nước mắt, nước mũi, nước bọt, mồ hôi, nước tiểu, máu, v.v… những thứ là nước trong thân thể con người này thật ra đều có tướng hỗn độn không sạch sẽ, không có gì là tinh khiết. Ngộ ra được rằng thủy tính của thân thể con người hoàn toàn là vẩn đục, cần mau nghĩ tìm đạo giải thoát.

Sau đó lấy một chậu nước sạch, suy nghĩ rằng nước sạch này có thể thanh tịnh như vậy, và nước biển ở thế giới bên ngoài kia cũng thanh tịnh sạch sẽ, nước của thân thể mình và nước của thế giới tự nhiên thì có gì khác nhau, đây chẳng phải là thanh trọc dù khác, nhưng tính chất của nước thì giống, thủy tính cần phải bình đẳng như một.

Đến khi lĩnh ngộ được nước mắt, nước mũi, nước bọt, mồ hôi, nước tiểu, máu… đều cùng một một dòng chảy nguồn của Tỳ Lô tính, là nhất vị lưu thông, là tính thủy chân không, là tính Không chân thủy, tất cả nội thủy ngoại thủy vốn như một, vốn không có sự khác biệt, vì quán chiếu thấy như vậy mà ngộ ra, đó là thành tựu pháp Thủy bộ của Đại viên mãn vô thượng.

Tôi vì suy nghĩ tìm tòi pháp Thủy bộ của Đại viên mãn này mà đi ra ngắm biển, biển và nước trong người tôi tương giao lẫn nhau, cả người tôi giống như được tắm mình trong nước biển. Tôi biết trong nước biển có rất nhiều rất nhiều thứ, nước biển có sự tươi sáng của tình bằng hữu và sự yên bình, có sự hiểu biết và trí huệ. Thật ra tôi đã nhận thức rõ ràng, nhân loại chẳng qua chỉ là một bộ phận của nước biển chứ không phải là toàn bộ, mà chỉ là một bộ phận nhỏ bé mà thôi. Ở trong nước biển này không ngờ có sự quy tụ của toàn thể nhân loại, có sự lưu luyến của nhân loại, có sự tuyệt vọng của nhân loại, còn có những vết thương lịch sử. Nước biển từng bị mặt trời bốc hơi, hơi nước lên đến không trung thì biến thành mây, rồi mây trở nên nặng trĩu, biến thành nước mưa rơi xuống, tưới đẫm đại địa, sông ngòi suối khe ao hồ lại vận chuyển nước này chảy ra biển nơi đầu nguồn của nước.

Sinh mạng chính là những đứa con của biển, ai bảo là không phải chứ. Biển chính là trái tim của tự nhiên, giống như công năng của trái tim của con người chúng ta vậy. Đan xen lẫn nhau, liên quan tới nghìn vạn loại hình thức. Nước là dòng chảy của thức nhân quả, là hoàn mĩ nhất.

Trong lúc tôi ngắm biển, hoàn toàn hòa tan vào trong nước biển hoàn mĩ, cái tự ngã ban đầu trôi lững lờ rồi biến mất. Vào thời khắc dung hợp làm một, hoàn toàn là ánh sáng trí huệ, là đốn siêu, là hài hòa, là đồng cảm và thương xót thế nhân. Trong ánh sáng trí huệ vĩnh hằng, căn bản chính là vạn vật dung hợp làm một, đó là tính chất vui vẻ trang nghiêm.

Viết đến đây, tôi nói một cách rất nghiêm túc rằng, sinh tử luân hồi chính là hiện tượng của biển, niết bàn tịch diệt cũng là hiện tượng của biển, cái huyễn là hiện tượng của biển, cái thật là hiện tượng của biển, khổ nạn là hiện tượng của biển, giải thoát cũng là hiện tượng của biển, căn bản không hề khác biệt. Tôi đã lĩnh ngộ ra rằng: khi thâm nhập ở trong thiền quán, quá khứ, hiện tại, tương lai mà tôi đã thấy sự hoàn mĩ hơn nhiều so với trong tưởng tượng. Trong cảnh giới này dường như chỉ có từ bi, khoan dung, cảm thông, đồng tình và yêu thương.

Trong ngộ cảnh của pháp Thủy bộ, chính là hành động cầm hoa mỉm cười của Phật, chính là tâm ấn trầm tĩnh không nói một câu, cũng vô cùng tao nhã, không thể nói ra và khó mà suy nghĩ được, có thể nói là sự tổng hợp của từ bi và sự nhìn xa trông rộng. Trong ngộ cảnh của pháp Đại viên mãn Thủy bộ này, một sát-na cũng dài như một triệu năm, tâm ấn cầm hoa của Phật cũng tự nhiên giống như thủy quán, các vũ đài mọi sắc mọi tướng đều chảy vào trong biển lớn.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ điềm tĩnh mỉm cười ấm áp. Tay phải của ngài cầm chày kim cương, tay trái cầm thiên linh cái [ ND: đầu lâu ], có lẽ là một sự trêu chọc. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ tượng trưng cho rất nhiều bộ mặt, tất cả đều tổng hợp trên khuôn mặt ngài, còn những giáo thị của ngài đối với Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư hoàn toàn nhìn rõ sự hư vinh và tạm thời của nhân tính.  Ngài yêu thương loài người sâu sắc, muốn Thượng sư kế thừa tinh thần của ngài, dốc hết tâm sức để độ hóa rộng khắp. Ôi! Dứt khoát là thế, dứt khoát là thế…..

Khi tôi đang ngồi xếp bằng, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ dạy tôi ngửa bàn tay trái lên, đặt tự nhiên ở trước bụng dưới, ngón cái tay phải dùng lực ấn vào huyệt Nội quan ở cẳng tay trái (huyệt Nội quan nằm ở giữa hai gân khoảng hai ngón tay ngang phía trên cổ tay). Đầu tiên ấn xuống một lúc, sau đó lại lấy bàn tay phải áp vào ngực trái mát-xa từ trên xuống dưới hai trăm lần.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ hướng thẳng vào tâm thất của tôi để đả khí.

Tôi nhập thiền định.
Tôi phát hiện thấy chính mình nhập thẳng vào trong nước biển, xung quanh là một thế giới kì diệu. Tôi trông thấy một vị Bồ Tát, thì ra là Long Thọ Bồ Tát, và nơi đó chính là Long Cung. Tại Long Cung, tôi được đọc những cuốn kinh sách Phật giáo quý giá được cất giấu ở đây, những kinh sách Phật giáo này đều chưa từng xuất hiện ở nhân gian, chỉ được cất giấu kĩ tại Long Cung, thế nhân không thể thấy.

Tôi dựa vào pháp Đại viên mãn Thủy bộ tiến nhập vào nước biển sâu, tiến vào Long Cung, thế rồi đắc được tất cả bí mật thâm sâu từ kinh sách Phật giáo ở Long Cung. Những sách quý chứa những bí mật thâm sâu này chỉ có Long Thọ Bồ Tát biết, tôi biết, và những hành giả Mật tông vận dụng được pháp Đại viên mãn Thủy bộ là biết. Tôi cảm thán! Những kinh sách Phật giáo ở thế gian không ngờ chỉ bằng một phần nghìn của kinh sách Phật giáo ở Long Cung mà thôi. Kinh sách Phật giáo ở Long Cung bao gồm những bài thuyết pháp của mười vạn chư Phật, không phải chỉ là mỗi pháp của Thích Tôn, thảo nào kho tàng sách Phật ở Long Cung gấp nghìn lần ở nhân gian.

Pháp Thủy bộ Đại viên mãn ban đầu là đem nước ở trong thân thể chính mình, sự tuần hoàn của tim tương ứng với sự tuần hoàn của nước biển, sau đó từ sự tuần hoàn của nước biển tương ứng với sự tuần hoàn của Tì Lô pháp tính hải. Nước được quán tưởng ở đây nhất quán không khác biệt, hỗn độn và sạch sẽ là như nhau không khác biệt. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ trong khi truyền đại mật pháp cho tôi, giúp tôi đả thông quan khiếu. Những gì tôi đạt được ở trong Kim Mộ Tháp ở Tây Tạng có thể xem là độc nhất vô nhị. Trong pháp Thủy bộ này có rất nhiều khẩu quyết, cần phải truyền thụ trực tiếp, những pháp này căn bản là trên biểu hiện bề ngoài không thấy được, rất nhiều Thượng sư Mật tông đều không biết. Thành tựu của Hồng Quán Thánh Miện Thượng sư trực tiếp kế thừa từ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, một chút một điểm đều không vô căn cứ, khiến cho khắp thiên hạ đều nghe biết được pháp bí mật này mà có được đại hỉ lạc.


### 16. Đại viên mãn "Hỏa bộ"


Liên Hoa Sinh Đại Sĩ giải thích khi ngài ứng hóa để đi học pháp, ngài đến một ngôi chùa để cầu pháp, ngôi chùa ấy gọi là Khách Giác Vương Chân Lợi, trụ trì của chùa là Phật Mẫu Lệ Kết Uổng Ma Thả. Liên Sư đi cầu pháp nhưng cửa không mở, bên cạnh cửa có một nữ thị giả tên là Cốt Mã Lợi ngồi trên một tảng đá ở ngoài cửa.

Liên Sư thỉnh Cốt Mã Lợi đi vào trong thông báo với Phật Mẫu Lệ Kết Uổng Ma Thả. Nhưng thị nữ cơ bản là không quan tâm, Liên Sư nhất quyết muốn đi vào, kết quả là khiến cho thị nữ tức giận, thị nữ cầm một cây đao chém sát thương vào bụng Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Nhưng bụng của Liên Sư vừa bị thương thì từ trong bụng xuất hiện hình tượng của Ngũ Phương Phật.

Cốt Mã Lợi thất kinh, biết rằng đây là người có tu, lập tức nhận lỗi, đồng thời hỏi đạo: "Một người thành Phật còn có lửa sân hận không?"
Liên Sư nói: "Người thành Phật tuyệt đối không còn lửa sân hận, tôi đến đây chỉ là muốn cầu pháp của Phật Mẫu mà thôi."

Thế là thị giả dẫn Liên Hoa Sinh Đại Sĩ vào trong gặp Lệ Kết Uổng Ma Thả Phật Mẫu. Khi ấy, Phật Mẫu đang ngồi trên tòa hoa sen nhật nguyệt luân, thân hiện tướng bánh xe đủ nghìn nan hoa, quang minh biện chiếu, tràng phan cờ lọng, các loại bảo vật trang nghiêm. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ tiến lên trước lễ bái Phật Mẫu, đồng thời xin được học tất cả pháp yếu nội ngoại mật.

Lệ Kết Uổng Ma Thả Phật Mẫu ban cho Liên Hoa Sinh Đại Sĩ quán đảnh Tất cả Phật hiện tiền kim cương Lama, rồi sau đó quán đảnh Mã Vương Phật Hàng Ma Phẫn Nộ Tôn. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ kể với tôi, Mã Vương Phật Hàng Ma Phẫn Nộ Tôn này chính là Đại viên mãn "Hỏa bộ".

Mã Vương Phật giáo thị như sau, người nhiều phẫn nộ giống như ngọn lửa hừng hực, những ngọn lửa phẫn nộ này tập trung lại thì đốt cháy cả rừng công đức, có nghĩa là tiêu hủy sạch sẽ toàn bộ thiện căn của rừng công đức, cuối cùng thiêu hủy cả hạt giống trí huệ.

Người tu pháp Hỏa bộ cần yên lặng quán tưởng hỏa tính của bản thân. Khi lửa chưa khởi lên thì tứ chi và xương cốt mát mẻ dễ chịu, nhưng một khi ngọn lửa phẫn nộ được châm lên thì giống như người điên loạn, một người tức giận cũng giống như người điên chẳng có gì khác biệt, bởi vì toàn thân phát hỏa, nóng nảy bất định, những ngọn lửa xấu này là chủng tử của A tu la.

Tu Đại viên mãn Hỏa bộ vốn là dùng nội hỏa của bản thân để làm tác dụng quán tâm, đem toàn bộ nộ hỏa của bản thân tụ tập vào trong đan điền, khiến nội hỏa ngưng lại ở bên trong, hướng ra ngoài có thể làm tác dụng hàng ma, là Mã Vương Phật Hàng Ma Phẫn Nộ Tôn, hướng vào bên trong thì thành lửa trí huệ, dựa vào tu luyện quán tưởng lửa trí huệ đan điền chính là sự tu luyện Đại viên mãn Thủy bộ.

Tu luyện phương diện này hoàn toàn không phải là sân hận, mà là sự ứng dụng Hộ pháp và trí huệ. Sự tiến nhập của hỏa quang tam muội là thiện quán Hỏa bộ, ngoài việc có thể hàng phục ma oan ra còn có tác dụng thần quang trí hỏa. Ngọn lửa mát mẻ này cháy ở trong bản thân ta khác với lửa sân hận, chảy nối liền chân tính Như Lai ấn giấu trong thập phương, đốt sạch hết phiền não, ở lưng nhen lên ngọn lửa đại giác, đây chính là đại tu luyện của pháp Đại viên mãn Hỏa bộ.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ dạy rằng, thân thể con người có nhiệt độ, nhiệt độ chính là hỏa, tất cả dục niệm cũng là do tà hỏa mà khởi lên, nếu luyện tà hỏa thành chính hỏa, nghĩa là dục hỏa hóa thành trí huệ hỏa thì như thế là viên mãn pháp Hỏa bộ.

Theo như tôi biết, Bất Động Minh Vương - một trong ngũ đại Minh Vương của Mật giáo, theo Đông Mật ghi chép thì Ngũ Đại Minh Vương tức là: ở giữa là Đại Thánh Bất Động Minh Vương, phía đông là Hàng Tam Thế Minh Vương, phía nam là Quân Đồ Lợi Dạ Xoa Minh Vương, phía tây là Đại Uy Đức Minh Vương, phía bắc là Kim Cương Dạ Xoa Minh Vương. Bất Động Minh Vương có lời thề rằng: "Người nào thấy ta mà phát bồ đề tâm, người nào nghe thấy tên ta mà bỏ ác tu thiện, người nào nghe ta nói sẽ đắc được đại trí huệ, người biết được tâm ta thì tức thân thành Phật." Còn tôi cho rằng, ánh sáng sau lưng Bất Động Minh Vương sáng chói như thế lực của Ca Lâu La, có vô lượng quang thân, có ánh sáng trên đầu. Cá nhân tôi từng nghĩ thế này, Bất Động Minh Vương tượng trưng cho đại thành tựu của pháp Đại viên mãn Hỏa bộ, đặc biệt là tôi từng tu tập "Để lí tam muội da Bất Động Tôn Uy Nộ Đại Minh Vương niệm tụng bí mật pháp", nên lại càng có được chứng nghiệm như vậy.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ biến hiện ra hiện tướng Hỏa bộ pháp phẫn nộ kim cương, cũng là quá khủng khiếp rồi, quanh thân ngài lửa cháy bừng bừng, không trung có một con chim lớn tóm lấy một con rắn xanh, đầu đội mũ năm đầu lâu, tay phải cầm chày kim cương, tay trái cầm bọ cạp độc phổ ba, thân trên có rắn quấn, thân dưới treo sọ người, cưỡi trên voi lớn, hai chân dẫm lên nam nữ thiên ma, hiện lên tướng cực kì phẫn nộ.

Khi tôi tu pháp Đại viên mãn Hỏa bộ, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ dùng ngón cái tay trái tay phải ấn lên trên huyệt Thái dương của tôi để truyền khí vào trong hai phút.

Sau đó, ngón cái tay trái tay phải lại ép lên hai huyệt Phượng trì, và cũng truyền khí vào trong hai phút (huyệt Phượng trì nằm ở giữa vùng hõm ở sau gáy).

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ dạy tôi rằng, dùng cẳng tay trái đặt trước ngực, lòng bàn tay úp xuống, sau đó, tay phải ấn chặt vào huyệt Khúc trì của tay trái (huyệt Khúc trì nằm ở cơ khớp xương), ấn vào huyệt Khúc trì cũng kéo dài hai phút.

Lập tức quán tưởng lửa cháy bừng bừng quanh thân, hóa thành một đốm lửa màu đỏ, từ đỉnh đi vào, đến cổ, đến ngực, đến bụng, đến bắp đùi, đến cẳng chân, từ lòng bàn chân chảy ra ngoài, cứ quán tưởng tuần hoàn như vậy.

Tôi làm pháp tu quán như thế, rồi tiến nhập vào một tam ma địa kì diệu. Tôi hóa thân thành một con rồng lớn màu đen, bay trên không như sấm chớp, thân rồng có hỏa quang tam muội bao quanh, móng vuốt duỗi ra như dao sắc, trên lưng mọc ra bảy cây trâm kim cương sắc nhọn, đầu rồng cũng mọc ra một cái sừng ngọc, toàn thân có vảy giáp màu đen. Con rồng đen này ngoài việc trông rất khác thường ra thì nó còn có hai cái đầu, một cái đầu mang vẻ mặt hân hoan, một cái đầu thì cháy bừng bừng phẫn nộ. Tôi vừa nhập vào tam ma địa này thì lập tức biến thành hắc long kim cương thần tiên kì quái như vậy.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói: "Hỉ Nộ Nhị Kim Cương là Cụ Lợi Ca La."
Tôi hỏi: "Nguyên cớ gì?"
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói: "Trước kia, Cụ Lợi Ca La Minh Vương và một vị Đại Ma Vương đấu pháp, Đại Ma Vương có một thanh bảo kiếm, nhưng Cụ Lợi Ca La Minh Vương cũng biến thành một con rồng đen, toàn thân quấn chặt lấy bảo kiếm của Đại Ma Vương, dùng nộ khẩu nhai gọn bảo kiếm, nhai vỡ nát bảo kiếm. Đó là đại pháp lực của Cụ Lợi Ca La Minh Vương. Bây giờ ngài dùng pháp Hỏa bộ cũng biến hiện thành rồng đen của Cụ Lợi Ca La Minh Vương, có thể thấy ma kiếp trùng trùng của ngài trong tương lai sẽ phải dựa vào đại pháp lực để phá trừ."

Nhờ có Liên Hoa Sinh Đại Sĩ ấn chứng, tôi đã biết đời này của tôi có ma kiếp trùng trùng, tôi là Hỉ Nộ Nhị Kim Cương, vừa tu pháp Hỏa bộ Đại viên mãn thì đã hóa hiện thành con rồng đen nhai vỡ bảo kiếm, chẳng trách ma quỷ mà tôi phải hàng phục nhiều như vậy. Mặc dù tôi có sức mạnh uy thần, có thể phá trừ hàng phục thiên ma quỷ thần, nhưng thiên ma quỷ thần khắp nơi cũng trăm phương nghìn kế muốn gia tăng mưu hại tôi, chỉ mong lúc sinh thời, tôi cũng được như Liên Hoa Sinh Đại Sĩ hàng phục được những thiên ma hắc giáo ở vùng đất Tây Tạng.

Pháp Đại viên mãn Hỏa bộ chính là pháp hàng phục.
Trên nguyên tắc là dùng ngoại hỏa để hàng phục lửa của ma, dùng nội hỏa để làm lửa trí huệ. Đây cũng là phép tu trì đức huệ hợp nhất.

Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư có tướng hỉ lạc từ bi, cũng có tướng quả cảm dũng mãnh, đó là pháp Đại viên mãn Hỏa bộ.


### 17. Đại viên mãn "Phong bộ"


Cá nhân tôi có ấn tượng rất sâu sắc đối với Tây Tạng, những cao nguyên hoang dã vô biên bát ngát, những rặng núi, đỉnh núi hoang vu, trùng điệp kéo dài liên miên đến tận chân trời, có núi cao, có vực sâu, và chỉ có ở nơi vực sâu thì mới có rong rêu và một vài loài thực vật. Ở những hồ nước gió không thổi được tới, mặt hồ lấp lánh ánh sáng và có vết tích của chim nước và các loại bèo rong. Các ngôi chùa ở Tây Tạng cũng trùng trùng điệp điệp, rộng lớn giống như viện bảo tàng, như một con thú khổng lồ nằm phục dưới chân núi cao. Mọi lúc mọi nơi đều có thể thấy cờ phướn bay bay và những mái vòm màu vàng kim của các chùa chiền.

Vào những ngày trời trong, bầu trời là một sắc tím mênh mông bát ngát, giống như một cái ô tự nhiên vô biên vô tận che kín toàn bộ cao nguyên Tây Tạng này. Bầu trời vô cùng đẹp đẽ.

Vào những ngày Tây Tạng có gió, con người thường cảm thấy khá phiền toái, da dẻ và khuôn mặt luôn luôn bị gió cát tấn công, ai nấy toát lên vẻ già nua với rất nhiều nếp nhăn nhúm. Những cơn gió cát mãnh liệt của Tây Tạng giống như những chiếc roi da quất lên da thịt của con người. Điều này khiến tôi nghĩ đến thị trấn Tây Tự ở huyện Bành Hồ ở Đài Loan, thị trấn Tây Tự này là quê hương của ông nội tôi Lư Xương. Mỗi khi tới mùa đông là gió cát ở Tây Tự bắt đầu ra uy, con người đi lại trong gió là do gió đẩy người đi, nếu đi ngược gió thì không thể tiến lên được bước nào, đặc biệt là gió cát thổi vào chân, chân sẽ đau buốt. Mùa gió ở Tây Tạng và mùa gió ở Bành Hồ không ngờ lại rất giống nhau.

Nghe nói, đỉnh núi Potala ở Lhasa khi trời trong thì đẹp như tiên cảnh, còn khi sương phủ mịt mù thì, khi gió bão thì cát và đất có thể có thể xé rách da thịt và khuôn mặt con người.

Một mình tôi ở trong Kim Mộ Tháp ở Tây Tạng học tập pháp Đại viên mãn, khi học đến Đại viên mãn "Phong bộ" thì tôi liên tưởng đến gió ở Tây Tạng và gió ở Bành Hồ. Ấn tượng sâu sắc nhất về Tây Tự không ngờ cứ trở đi trở lại trong tâm trí tôi, Miếu Thánh Đế ở Tây Tự, biển ở Tây Tự, cá ở Tây Tự, Tây Tự cũng có những ngày tôi đi câu cá, còn có cả những ruộng khoai tươi tốt ở sườn núi, nhưng ấn tượng sâu sắc nhất vẫn là gió ở Tây Tự Bành Hồ.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ dạy tôi Phong bộ như sau:
Rất lâu trong quá khứ, có một vị là Vô Lượng Thanh Phật giáng thế, thứ ngài truyền dạy chính là Đại viên mãn Phong bộ. Trong thế giới mà nhân loại chúng ta sinh tồn và trong căn tính sinh tồn đều có sự tác động của gió. Theo những gì mà Vô Lượng Thanh Phật truyền thụ thì vũ trụ và con người đều là do phong lực vô minh vọng duyên chuyển biến và tác động mà có. Vũ trụ chịu sự lưu động của gió mà biến đổi, còn thân thể con người cũng là sự lưu động biến đổi của gió, đây là khởi điểm của Đại viên mãn Phong bộ.

Thậm chí Vô Lượng Thanh Phật còn nói thế này, con người đang sống cũng tựa như sự tồn tại của một khối khí, một hơi thở chính là thứ căn bản nhất của sự sống con người. Nếu con người mất đi hơi thở này thì sẽ chết. Tất cả hành động đi đứng ngồi nằm của con người có cái nào không phải là nhờ vào hơi thở này. Nếu chúng ta muốn nhấc một vật nặng thì trước tiên đều phải hít vào một hơi khí, dùng khí được giữ lại trong người này để nhấc vật nặng, nhấc vật nặng xong thì cũng thở hắt ra một hơi, đây đều là nhận lấy sự cổ động của gió.

Nhờ quan sát sự giao động của gió mà biết được rằng, thân tâm cho đến những bộ phận vi tế nhất ở bên trong đều chịu sự ảnh hưởng của gió, còn vũ trụ bên ngoài cũng chịu ảnh hưởng của gió, có thể nói rằng bản chất của nó là không khác, hoàn toàn là tính chất chung của gió.

Tôi cảm thấy Đại viên mãn Phong bộ rất giống với tâm yếu Kagyu mà Đại Bảo Pháp Vương thứ 16 mật truyền, tâm yếu Kagyu là do Thượng sư Karmapa truyền cho tôi, tôi là một trong số ít đệ tử nhận được mật truyền này. Ở đây đã giải thích được về pháp quán tưởng hơi thở vào ra từ mũi, khí đi vào là màu trắng, khí đi ra là màu đen, tập trung tinh thần vào hơi thở ra vào, trong Phong bộ đạt được nội minh, khi đạt đến đắc chứng, thế giới nội minh và thế giới ngoại chiếu trở thành thế giới quang minh màu trắng, có thể nói là một miền trỗng rỗng yên tịnh, một hồi lâu ngưng tụ Phong bộ trong tam ma địa sẽ phát sinh trí huệ và đoạn trừ mê hoặc, tự nhiên có thể đạt được vô lậu.

Phong bộ của Đại viên mãn thật ra chính là pháp luyện khí, luyện khí công của người bình thường, dưỡng khí của Đạo gia, luyện khí của yoga, khí và ý của pháp Đại Thủ Ấn hoặc nhiều hoặc ít đều có liên quan đến Đại viên mãn Phong bộ. Trên phương diện này, trong cuốn sách "Vô thượng mật và Đại thủ ấn", tôi đã từng viết rất rõ ràng tỉ mỉ tường tận rồi, đặc biệt là trong cuốn sách "Đại thủ ấn chỉ quy", tôi đã viết về khí cực kì chi tiết, toàn vẹn đầy đủ, tất cả những điều này đều được các Thượng sư Mật tông xem là Vô thượng mật, những bộ phận rất sâu được mật truyền nhìn chung là không dễ dàng thấy được.

Pháp Đại viên mãn này của tôi có thể nói là pháp duyên vô thượng trong trời đất, rất nhanh chóng có thể viên mãn tư lương phúc đức trí huệ, rất nhanh chóng viên đốn mười loại ba la mật, siêu vượt ba đại a tăng kì kiếp của không gian và thời gian, đời này có thể tức thân thành Phật. Tôi, Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư hết lòng hết dạ khuyên mọi người rằng điều này có thể nghiệm thành hành tướng, nhất định có thể kiến tính thành Phật. Những pháp này của tôi đều là chính pháp, là đại mật pháp vô thượng, nếu bỏ lỡ lương duyên như vậy thì trong đời này, e rằng sẽ chẳng thế có được lần nữa, rất quan trọng đó! Rất quan trọng.

Khi tôi tu luyện Đại viên mãn Phong bộ, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã điểm huyệt giúp đỡ tôi rất nhiều, từ huyệt Thái dương đến huyệt Thính hội, đến huyệt Ế phong, đến huyệt Phượng trì, đến huyệt Kiên cốt, đến huyệt Khúc trì, đến huyệt Hợp cốc, đến huyệt Hoàn khiêu, đến huyệt Huyết hải, đến huyệt Âm lăng, đến huyệt Tam âm. Dọc toàn thân tôi từ đầu đến chân đều thông khí.

Mỗi khi điểm vào một huyệt đều có thủ ấn thân thế, có nghĩa là để cho chân khí thật sự đi qua, hơn nữa nhờ có Liên Sư dùng đại lực hỗ trợ thông khí qua được các nút thắt, dòng nội khí dự phòng trào lên mãnh liệt tạo thành hiện tượng chân khí thượng xung cuồn cuộn, hòa quyện mạnh mẽ. Ở phương diện này cần chú ý khi chân khí nhất loạt thông xuống đến huyệt Dũng tuyền ở gan bàn chân thì phải đồng thời thở khí, để có thể phòng ngừa khí dội lên trên, tránh phát sinh chuyện ngoài ý muốn.

Trong khi khí vận chuyển, tôi nhập định vào một tam ma địa, tam ma địa này rất kì lạ, tôi biến hiện thành một người già, tóc bạc trắng, toàn thân có màu đỏ thẫm, trên đầu đội mũ kim cương, mặc áo giáp chiến đấu, tay phải cầm cờ, cờ này có viết một chữ "phong".

Sau sự việc này tôi mới biết đó là Phong Thiên Thần, Phong Thiên Thần này trong tiếng Phạn Ấn Độ gọi là Bà Căn, vốn là tám phương trời và một trong mười hai cõi trời. Trong đạo Bà la môn Ấn Độ thì Phong Thiên Thần là thần cách của gió biến hóa ra, chủ quản gió của thế giới, khi thần này phẫn nộ thì bão táp, cuồng phong, gió xoáy, khi thần này tĩnh tại thì thân thể khinh an, vũ trụ điều hòa.

Trong Mật giáo, Phong Thiên Thần ở trong mandala Thai Tạng Giới, nằm ở phía tây bắc bên ngoài kim cương viện, ở trong mandala kim cương giới thì chiếm vị trí phía tây ngoại viện. Về hình tượng của ngài thì trong nghi quỹ Hộ Ma Kim Cương Đỉnh Du Già có viết: "Phong Thiên ở phía tây bắc cưỡi mây, mặc giáp trụ, tay phải cầm cây giáo dài một chấu, trên cây giáo có cờ màu đỏ, có hai thiên nữ hầu hạ."

Khi Liên Hoa Sinh Đại Sĩ hướng dẫn tôi pháp Đại viên mãn Phong bộ, ngài đặc biệt giảng giải cực kì rõ ràng rằng Vô thượng mật và Đại thủ ấn tâm pháp cũng là pháp Đại viên mãn Phong bộ. Bốn phái Mật giáo Hồng, Hoàng, Bạch, Hoa giáo ban đầu về mặt tu pháp thì đại để là giống nhau, ở Tây Tạng bốn phái này cũng hòa hợp lẫn nhau, hơn nữa không hề có hiện tượng đả kích lẫn nhau. Nhưng Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói với tôi, tương lai của bốn phái Tạng mật về mặt truyền thừa đã trở nên cực kì hỗn loạn rồi, sau này sẽ xuất hiện rất nhiều hiện tượng công kích, đó cũng là một định số, định số này trong tương lai cũng sẽ từng bước từng bước thành hiện thực.


### 18. Đại viên mãn "Không bộ"


Kinh Kim Cang có giải thích hay nhất về "Không bộ". Trong đó có một bài kệ như sau:
"Nếu do sắc thấy ta,
Do âm thanh cầu ta,
Người ấy hành tà đạo
Không thể thấy Như Lai."

Trong bản Kinh Kim Cang tiếng Phạn còn có bốn câu:
"Nên quán pháp giới tính
Tức pháp thân chư Phật,
Pháp tính phi thức cảnh
Tự chứng thấy Như Lai."

Pháp Không bộ này vốn là quán không, là tất cả mọi pháp đều không, có nghĩa là tất cả toàn bộ từng li từng tí đều hoàn trả về tính Không chân như không một chút thất thoát rò rỉ nào. Tâm yếu lớn khi tu pháp này ngược lại lại là vô niệm vô quán vô trụ, chỉ là an trụ trong chính định của tất cả tướng không, tiêu diệt tất cả mọi pháp.

Khi lục căn sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp đã hoàn toàn mất đi, lục căn đã là không, còn cảnh giới này là phản vọng quy chân, là vượt ra khỏi sinh tử. Trong Tâm Kinh đã giải thích rõ "quán chiếu thấy ngũ uẩn đều không", vì như vậy mà ánh sáng đến đại diện cho Tam Bảo, quang minh và tự tính giao hòa lẫn nhau không tách biệt, thân tâm hoàn toàn thanh tịnh, đây cũng chính là "Không quán của nhất tâm tam quán".

Còn tính Không biểu thị như thế nào, căn bản là "không sinh không diệt không bẩn không sạch không tăng không giảm". Cá nhân tôi nhận thức được rằng, sau khi khiến cho nhận thức của con người chuyển thức thành trí, thức thứ nhất đến thức thứ tám này hoàn toàn thanh tịnh rồi thì đã tiến gần đến sự thành Phật, sự hoàn toàn thanh tịnh của thức thứ tám này chính là "an trụ minh không tam ma địa", đây là thành tựu vô thượng của pháp Không bộ.

"Triệt tức" của pháp Đại viên mãn chính là tính Không.
"Thoát cát" của pháp Đại viên mãn chính là trí huệ.

Từ chỗ trụ ở Không, ứng vào mọi pháp, rời bỏ mọi tướng, lĩnh ngộ được đạo lý của chân không, tu pháp nhưng không pháp nào có thể đắc, nghĩa là trước tiên nhiếp tâm nội chứng, biến thành "ở trong tướng mà rời xa tướng", "ở trong Không mà rời xa Không", không nhiễm mắc vào vạn cảnh, sâu sắc đạt được sự vi diệu của chân không vô tướng, nhưng đích thực là "chân tính thường tự tại".

Pháp Đại viên mãn Không bộ này, nếu người tu trì trụ trong "minh không tam ma địa", đến lúc hoàn toàn ngộ ra thì có thể xem như là "cùng rời xa không - hữu", hoàn toàn đạt đến cứu cánh.

Cũng có người nói tính Không không có thật, kì thực pháp Không bộ là Phật pháp tối thượng thừa, là tự tính tức Phật.

Chỉ cần trong sự tu pháp quên hết pháp, hơn nữa cũng quên luôn cả bản thân, hoàn toàn khế hợp cùng với pháp thân, thì đây chính là sự thành tựu Không bộ, tu trì tự tính là quan trọng hàng đầu, vô thượng chính đẳng chính giác chính là pháp Không bộ của Đại viên mãn.

Ngày xưa, khi Thích Tôn tại thế, Phật khen ngợi Tu Bồ Đề tôn giả là "giải Không nghĩa đệ nhất". Thứ mà Tu Bồ Đề tu trì chính là pháp Không bộ của Đại viên mãn. Tâm yếu của Tu Bồ Đề chính là "tứ đại đều là giả, ngũ uẩn cũng chẳng có, tất cả đều không tịch, cần biết khởi điểm của thân người cũng là không, bởi vì thân người là không nên pháp cũng là không, do nhân không mà chứng đắc được pháp không, đó chính là thế giới không tướng của hoa trong gương trăng trong nước, chỉ là giấc mộng huyễn trăm năm của nhân gian mà thôi, do vậy càng biết rằng vạn tượng liên kết với nhau trong thập phương thế giới đều quy về là một giấc mộng Nam Kha, vẻn vẹn chỉ có hiện tượng ngắn ngủi tạm thời mà thôi, còn chân tính của nó vẫn là không tịch."

"Chứng Không nghĩa" của Tu Bồ Đề là:
Nhân không.
Pháp không.

Tính Không vốn sáng tỏ, nhập vào trong Như Lai Tạng, viên chiếu pháp giới. Không chấp vào thân người, cũng không chấp vào tướng, ngay cả đến tướng không cũng không chấp vào, hoàn toàn không chịu ảnh hưởng của hiện tượng sinh diệt vô căn cứ, hoàn toàn không chướng ngại, giác tính vốn có chính là giác tính của Phật.

Phương diện tu trì này đầu tiên là quán chiếu sự biến đổi sinh diệt của lục đạo chúng sinh, hoàn toàn là liên tục không ngừng dứt, và sau khi chúng ta quan sát chúng sinh tướng ở trên đời và biết rằng đời người như một vở kịch, đời người như giấc mộng, cũng biết tất cả chỉ là hiện tượng tạm thời ngắn ngủi mà thôi, do đó liền có thể lĩnh ngộ được tính Không, thường xuyên tu quán tập định như vậy thì thân tâm chẳng mấy chốc sẽ tiêu trừ được nghiệp của hàng trăm nghìn kiếp, trong sát-na có thể giác ngộ nhập vào Như Lai tạng tâm, và liền có được tự tính như như. Đây chính là "đời người hư vọng không thực, mượn pháp tu trì chân tính, bí mật vô hình vô tướng, hoàn toàn minh bạch chí lí".

Có nhiều đệ tử nói với tôi rằng những lời Thượng sư nói họ đều biết, nhưng Sắc thật chẳng dễ mà quán thành Không. Trên thực tế vẻ đẹp của sắc thân kì thực mới là thứ không sạch sẽ nhất, bên trong nhục thân thật sự chẳng có thứ gì sạch sẽ cả, như xương, như máu tanh, như phân nước tiểu, như lông tóc, như da thịt, chẳng có cái nào sạch sẽ, sau khi chết thì cũng tanh hôi như thế. Có đệ tử mang sắc tâm nặng cần phải xem mỹ sắc như một đống xương trắng, nếu thấy mỹ sắc thì cũng giống như nhìn thấy xương trắng vậy, thế thì sắc tâm sẽ không khởi lên nữa, và như thế sẽ trở thành sắc không bất nhị, đây tức là "Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc".

Sắc Không bất nhị, không niệm cũng không, đó là "vô sinh pháp nhẫn".

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ bí mật dạy cho tôi tu pháp Đại viên mãn Không bộ, mặc dù tất cả là không, nhưng vẫn cần mượn thiền định để bắt đầu, thu gom toàn bộ tất cả hữu tâm định vào trong một cảnh giới minh không, tạo nên công đức, trong sự suy nghĩ tĩnh lặng đạt đến cảnh giới nhất tâm, đến được không cảnh tịch chỉ.

Ở đây có: "Trong Phật pháp, nên ngồi kiết già ở nơi yên tịnh, thân thẳng ngay ngắn, hai tay kết định ấn, nhắm mắt, đầu lưỡi chạm vào vòm họng, điều khiển tâm an trụ, không để phân tán."
"Hơi thở có bốn thứ, một là gió, hai là khí, ba là ngưng, bốn là thở."
"Đếm hơi thở để giữ ý, ý cùng theo hơi thở không tản mát, chỉ quán song vận, hoàn không nhập tĩnh."

Trong khi Liên Hoa Sinh Đại Sĩ dạy tôi pháp này, ngài chưa truyền chân khí qua huyệt đạo của tôi, chỉ dạy tôi một câu chân ngôn: "Om sapuawa suta sawatama sapuawa piasutohang humhum pay."

Trong ngộ cảnh pháp Đại viên mãn Không bộ, tôi từng nhập vào tam ma địa của Nhất Tự Kim Luân Phật Đỉnh, thì ra Nhất Tự Luân Vương Phật Đỉnh là bản tính của Đại Nhật Như Lai và Thích Ca Mâu Ni Phật, trong Nhất Tự Kim Luân còn phân ra thành Đại Nhật Kim Luân và Thích Ca Kim Luân.

Trong "Thành Phật nghi quỹ kinh" có viết: "Nhất Tự Kim Luân biến thân thành thân Kim Cương Luân Vương Biện Chiếu Như Lai, quần áo và trang sức của ngài như mặt trăng thuần khiết, có mọi tướng tốt, toàn thân trang nghiêm, đầu đội kim cương bảo quán, trang sức bằng những vòng bánh xe, có đầy đủ bảo vật trang nghiêm, giữ đại ấn trí quyền, hoặc đại ấn ngũ trí quyền.

Nhất Tự Kim Luân có chú:
"Brum hum."
"Buaru om."
"Om brum."

Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư nhập vào Như Lai tam ma địa của Nhất Tự Kim Luân, đã được nếm thử hết pháp vị của tính Không, Đại Phật Đỉnh có nước cam lộ, nước cam lộ này chính là tính Không, bản tính của Đại Nhật Như Lai, bản tính của Thích Ca Như Lai, chính là nước cam lộ tính Không.

Pháp Không bộ này không hề có pháp, tất cả các pháp đều là mượn, muốn đạt được thiền định thậm thâm vô thượng mật này nhất định cần phải có Kim cương Thượng sư chân chính bí mật chỉ dạy, bằng không người bình thường không có cách nào đi được đến cảnh giới vô thượng như vậy, vẫn là phải có Thượng sư đích thân truyền thụ. Đây là đại bí mật không có cách nào nói ra được.


### 19. Giảng lợi ích của Đại viên mãn (1)


Có đệ tử hỏi tôi:
"Pháp của Thầy sao mà viết mãi không hết vậy?"
"Đúng vậy." - Tôi đáp. "Pháp của tôi có nghìn nghìn vạn vạn, đến nay những gì tôi đã viết chẳng qua chỉ là một phần nghìn vạn mà thôi, tôi có viết cả đời cũng không viết hết."
"Sao mà có tới nghìn vạn pháp bí mật chứ?"

Phật pháp vốn là vô cùng vô hạn, vô lượng như hư không, tám vạn bốn nghìn thứ bệnh thì có tám vạn bốn nghìn pháp để đối trị, pháp sinh ra từ trong hư không, đương nhiên là vô cùng vô tận. Bây giờ tôi cứ liên tục viết ra, cho dù cả đời này, hay mười đời, hay trăm đời, thì cũng không viết hết. Do vậy, mỗi ngày tôi đều chăm chỉ viết sách, hy vọng có thể dựa vào một phần nghìn vạn pháp này để làm lợi ích cho trời người.

"Làm sao mà Thầy biết được nhiều mật pháp như vậy?"
"Một người đã đắc chứng thì trí huệ cũng vô lượng như hư không, cũng là vô cùng vô hạn, tất cả pháp đều tự nhiên lưu lộ, ví dụ tôi trụ trong Hư Không Tạng tam ma địa thì sẽ biết được pháp của Hư Không Tạng, trụ trong A Di Đà Phật tam ma địa thì sẽ biết được pháp của A Di Đà Phật, trụ trong Hỉ Lạc Kim Cương tam ma địa thì sẽ biết được pháp của Hỉ Lạc Kim Cương, trụ trong Liên Hoa Sinh Đại Sĩ tam ma địa thì sẽ biết được đủ loại mật pháp của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ."

"Thầy từng trụ trong tam ma địa nào?"
"Tam ma địa của tất cả Phật Bồ Tát của thập phương tam thế hầu như tôi đều đã từng trụ (định) vào rồi, do vậy tôi hiểu rõ tất cả mọi pháp, vô lượng như hư không, tôi ghi trong lòng nghìn nghìn vạn vạn mật pháp, những pháp này cả đời cũng không viết hết. Gần đây tôi cũng muốn viết về pháp của Đạo gia, nếu mà viết về pháp của Đạo gia thì cũng chẳng có điểm dừng, tôi cũng ghi trong lòng cả nghìn vạn pháp của Đạo gia, nhưng cũng còn chưa động bút nữa!"
"Chà! Thầy thật là bất khả tư nghì."

"Bất luận là nói thế nào, thời gian của tôi vĩnh viễn không đủ, dù mỗi ngày tôi đều chẳng có lúc nào rảnh rỗi. Tôi ở Mĩ đã gần ba năm, chẳng ra ngoài đường, chẳng xem bộ phim nào, chẳng xem ti vi, một chút tiêu khiển cũng không có, cuộc sống của tôi là thiền định và viết sách, chính là thiền định và viết sách đã khắc họa cuộc sống ba năm nay của tôi. Những khổ cực như vậy chính là vì lợi ích cho trời người, nếu như tôi không viết ra, tôi chết đi rồi thì chúng sinh phải làm sao đây?"

"Pháp Đại viên mãn có lợi ích gì?"
"Đại viên mãn - pháp số một của Mật tông Tây Tạng, được nói đến trong nhưng kinh điển bí mật được cất giữ là pháp có công đức số một, đáng tiếc là từ sau khi Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền pháp, ngài đã cất giấu pháp Đại viên mãn này trong đất nước lửa gió không khí, hy vọng gặp người hữu duyên lấy được chúng ra. Đến nay, ở Tây Tạng, nghe nói pháp Đại viên mãn đã thất truyền rồi, không có nhiều người biết pháp này, biết pháp này nhưng chưa gặp được người có đại căn khí thượng thánh thì cũng không được tùy tiện truyền, do vậy, pháp Đại viên mãn đã thất truyền rồi. Thật ra, nếu có người biết về pháp Đại viên mãn, hơn nữa còn bí mật tu pháp Đại viên mãn, có được đắc chứng, thì lợi ích cũng lớn vô cùng. Ở trong đất nước của vị đại thánh nhân này tuyệt đối không có kẻ nào dám đến xâm phạm, cũng có nghĩa là không có họa binh đao. Ở tại quốc gia này, vì có người bí mật tu pháp Đại viên mãn và đắc chứng, những thay đổi kì quái của tinh tú cũng sẽ bị loại trừ sạch sẽ, ví dụ như họa nước, họa lửa đều sẽ không xuất hiện, bão cũng sẽ chuyển hướng, những bệnh dịch lưu hành đều sẽ tiêu diệt, những hiện tượng chết bất đắc kì tử của con người cũng sẽ giảm thiểu, không gặp những tai họa sương giá mưa đá, trong nước không có yêu tinh quỷ mị, yêu tinh quỉ mị đều chạy thật xa, đất nước này sẽ trở nên mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an."

"Nói như vậy thì, nếu tu trì pháp Đại viên mãn đắc chứng ngộ, có thể cứu nước cứu dân."
"Đúng vậy, điều này cũng đã được ghi chép lại trong một số kinh điển, ví dụ như "Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni kinh", "Tô Bà Hô Đồng Tử kinh", "Thất Phật thần chú kinh", "Bảo tạng đà la ni kinh", v.v… Người tu pháp Đại viên mãn mà đạt được thành tựu có thể nói là đại thánh nhân, đại thánh nhân có rồng trời hộ trì, tất cả thiện thần sống ở quốc thổ và vùng trời mà đại thánh nhân cư trú tự nhiên những tai họa bệnh tật hay binh đao cũng đều tiêu tan biến mất, do vậy nếu có người tu trì pháp Đại viên mãn đắc chứng, đất nước ấy tự nhiên sẽ tránh xa được đủ loại tai họa và trở ngại."

"Có phải ai ai cũng có thể tu pháp Đại viên mãn không?"
"Pháp Đại viên mãn phải là người có căn khí thượng thánh mới có thể tu chứng, không phải là pháp mà ai ai cũng có thể tu được, hơn nữa ở đây có rất nhiều các điểm mấu chốt còn đang ẩn kín, nhất định cần có Thượng sư đích thân hướng dẫn mới có thể tu đắc. Do vậy khi tôi viết ra pháp này, tôi chỉ viết ra những phần cốt yếu, thông thường những khẩu quyết chi tiết thì không có cách nào viết đầy đủ từng cái một được. Điều này cần xin mọi người lượng thứ, bởi vì ở đây có rất nhiều thứ mà không có cách nào dùng bút để viết ra được, do vậy đại pháp cần phải đích thân truyền, không thể học chỉ bằng đọc sách."

"Xin hỏi Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền pháp Đại viên mãn cho thầy rồi còn truyền thụ cho ai nữa không?"
"Liên Hoa Sinh Đại Sĩ quán đảnh và truyền thụ cho tôi pháp Đại viên mãn ròng rã suốt một năm. Ở đây tôi chỉ biết Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền pháp cho một mình tôi, còn có truyền cho người nào khác không thì tôi không biết, có thể có, cũng có thể không có."

Nếu như cô đọng pháp Đại viên mãn số một vào trong vài câu nói thì tôi sẽ nói như sau:
Đây là Phật thừa đệ nhất thiên hạ, tối thượng vô thượng.
Nhập vào pháp môn này và đắc chứng, chắc chắn đời này thành Phật.
"Triệt tức" là định, tức là Tính Không.
"Thoát cát" là huệ, tức là Trí huệ.

Nếu dùng cách so sánh mà nói thì Tính Không là gốc, là Đại nhật, còn Trí huệ là ánh sáng của Đại nhật. Pháp Đại viên mãn này là tổng hợp của tất cả Phật pháp, hoàn toàn là đạo lý định huệ song vận. Ở đây không phải là báo thân xuất tam giới, cũng không phải là thành tựu thân trung ấm, mà là đời này có thể thành Phật.

Theo như tôi biết, có một vị Hoạt Phật cũng mật tu pháp Đại viên mãn, vị ấy chính là Chương Gia Du Hí Kim Cương người đã viết "Bài ca tri kiến", là Chương Gia Quốc sư, sư phụ của Hoàng đế Ung Chính. Ông ấy từ chỗ của Cách Tải Hoạt Phật ở chùa Cát Đà học được pháp Đại viên mãn, từ đó mật tu pháp Đại viên mãn, "Bài ca tri kiến" của ông chính là được viết ra khi ông thấu đáo triệt để, người "trong nghề" như chúng tôi chỉ cần đọc là biết, đó là tâm yếu của pháp Đại viên mãn. Cách Tải Hoạt Phật truyền pháp cho Chương Gia Quốc sư, việc này được ghi chép trong "Cát Đà Tự Chí". Chùa Cát Đà ở huyện Bạch Ngọc vùng Kham Tây Tạng. Đáng tiếc là Chương Gia Quốc sư không tìm được một người có đại căn khí, do vậy, pháp Đại viên mãn của Chương Gia Quốc sư đã không có truyền nhân.

Trong một năm, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã bí mật truyền thụ pháp Đại viên mãn cho Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư. Giờ đây, tôi cũng phải tìm người để bí mật truyền thụ, đệ tử có chí muốn học pháp phải là bậc thượng thánh mới được, cần muốn tức thân thành Phật, muốn cứu nước cứu dân, không học "A để ma ha san để du già" thì pháp này cũng sẽ thất truyền ở khắp mọi nơi.

Giờ đây, Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư có pháp Đại viên mãn, thật sự là sự thù thắng đệ nhất thiên hạ của Linh Tiên Chân Phật Tông.


### 20. Giảng lợi ích của Đại viên mãn (2)


Liên Hoa Sinh Đại Sĩ kể về quá khứ của chính ngài, nói rằng quá trình bản thân ngài học pháp, ở một nơi có tên gọi là Thưởng Lãng Nhược Nhĩ, có một tòa tháp tên là Calaca. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ ở trong bảo tháp này tu luyện năm năm, ở trong bảo tháp này mà phát bồ đề tâm.

Vì nguyên nhân phát bồ đề tâm, trong không trung liền có Kim Cương Tát Đỏa cưỡi voi quý hiện thân, tay phải cầm chày, tay trái cầm chuông, truyền thụ cho Liên Hoa Sinh Đại Sĩ pháp Ma ha du già. Pháp Ma ha du già này vốn là "Phật quán tưởng", cũng chính là một trong những tâm pháp của pháp Đại viên mãn, quán tưởng toàn bộ đất nước lửa gió không khí thành cung điện của Phật, tất cả chúng sinh đều là Phật, thậm chí tất cả noãn sinh, thấp sinh, hóa sinh, thai sinh đều coi là Phật, tất cả âm thanh đều là Phật ngữ mật ý, tất cả ý niệm đều là Phật tâm. Còn Kim Cương Tát Đỏa truyền cho Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chính là 18 pháp của Ma ha du già.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói với tôi, Liên Sinh Kim cương Thượng sư đã phát đại bồ đề tâm, vì thế đã làm cảm động tới Liên Hoa Sinh Đại Sĩ khiến ngài hạ giáng hiện thân, truyền dạy pháp Đại viên mãn. Việc này cũng giống như bản thân ngài năm xưa đã làm cảm động tới Kim Cương Tát Đỏa khiến ngài hiện thân truyền pháp.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ phát bồ đề tâm, Kim Cương Tát Đỏa cảm động mà hiện thân.
Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư phát bồ đề tâm, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ cảm động mà hiện thân.
Ở đây đều có nhân duyên với nhau.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ hướng dẫn chuyển thức thành trí như sau:
Một người tu trì, thường thường là vì nghiệp chướng sâu dày mà cản trở mọi sự thâm nhập vào chính định, những người như vậy cần thường xuyên tưởng niệm: "Từ vô thủy đến nay, liên tục cho đến ngày hôm nay của kiếp này, có thể nói ta đã ở trong biển khổ sinh tử luân hồi chuyển thế rất nhiều kiếp rồi, những nghiệp chướng mà ta đã gây ra cũng rất nhiều rồi, đó là một việc vô cùng đau khổ. Đến ngày hôm nay, vẫn không thể hiểu rõ tất cả tiền nhân hậu quả, vẫn chưa chứng ngộ cảnh giới chân thực của Phật pháp, trong quá trình tu hành hôm nay vẫn xuất hiện rất nhiều hoàn cảnh khó khăn, có người căm thù ta, có người ghen ghét ta, có người hại ta, có người quấy nhiễu ta, nhưng ta hãy xem chúng là những nghiệp chướng kiếp trước, đừng để chúng làm ta hỗn loạn, tất cả đều không cần để ý đến, lại càng xem chúng như sự trợ duyên để thành đạo, khiến bản thân càng dũng cảm thẳng tiến, mọi sự quấy nhiễu đều không nghe không thấy, như thế có thể loại bỏ nghiệp chướng, tiến nhập vào thiền định sâu hơn, tự tính tỏa sáng, kiến tính thành Phật."

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói: "Thường xuyên ghi nhớ như vậy thì sẽ tiêu được nghiệp chướng."
Tôi nhớ đến rất nhiều người viết thư cho tôi đều oán trách thế này: "Ông Trời thật quá bất công, thiên hạ này làm gì có công lý, Phật cái gì, Thần cái gì, đều là lừa gạt người ta. Cả đời tôi làm người thanh bạch, đã làm không ít việc thiện, cả đời hành thiện, thế mà không ngờ lại gặp phải ác báo, nhân quả cái gì, luân hồi cái gì, đều là các chiêu trò lừa bịp của các nhà tôn giáo, kẻ xấu làm bao nhiêu việc xấu mà chẳng thấy báo ứng, trái lại còn được hưởng phúc, còn người tốt làm bao nhiêu việc tốt, trái lại lại phải chịu ức hiếp, rõ rành rành là đen mà lại nói thành trắng, rõ rành rành là trắng mà lại nói thành đen, tôi chẳng tin Phật nữa, chẳng tin Thần nữa, ông Trời ơi, người xấu vì sao không chết hết, còn người tốt thì từ đầu tới cuối đều bị người ta đè đầu cưỡi cổ."

Những bức thư kiểu này nhiều vô cùng, tôi đọc xong, trong lòng cảm thấy rất buồn. Có một số người gửi thư đến với nỗi oán hận cao ngút trời, đều trách Phật không tốt, Thần không tốt, chửi trời hận đất, trong số đó có một người già trước đây một lòng tín Phật, bị trụ trì của một ngôi chùa nọ lừa gạt toàn bộ tiền tích góp cả một đời, khi viết thư khiếu nại tôi, ông tự xưng là "ông già hận Phật". Ông ấy cả một đời tôn kính Phật niệm Phật, kết quả là bị trụ trì chùa Phật lừa hết cả của cải tiết kiệm một đời, bảo sao ông ấy không hận, thế nên ông tự xưng là "ông già hận Phật".

Tôi cũng nghĩ đến chính mình, bản thân tôi hơn mười năm trước, Phật Bồ Tát ban cho tên của tông phái là Linh Tiên, nay bản thân không thể dùng tên này vì đã bị người khác chiếm dụng mất rồi. Nếu tôi là một người bình thường thì sao có thể không tức đến mức thổ huyết mà chết chứ, tên của tông phái bị chiếm mất, Phật Bồ Tát làm ăn được cái gì chứ, tôi tu trì đã hơn mười năm rồi, cũng đã xưng tên của tông phái hơn mười năm, cuối cùng ngay đến một cái tên cũng không giữ được, chẳng phải là quá đáng thương sao.

Thế nhưng, bản thân tôi nghĩ, đó là vì nghiệp chướng của tôi nặng quá, nhân quả kiếp trước của bản thân quá dở tệ, người khác căm thù tôi, lừa gạt tôi, hăm dọa tôi, chửi tôi, giết tôi, quấy nhiễu tôi, đó là nghiệp chướng của bản thân đó! Do vậy, để tiêu trừ những nghiệp chướng này, tôi cần nghĩ thông suốt tất cả, buông bỏ tất cả, thế rồi dũng cảm tiến lên trước, trái lại càng hăng hái tích cực tuyên dương Phật pháp.

Không chỉ có thế, tôi càng cần phải độ hóa cho họ, bởi vì chúng sinh đều là Phật, người tốt là Phật, người xấu cũng là Phật, người chửi tôi là Phật, người giết tôi cũng là Phật, nếu có Phật duyên thì tương lai đều tự xem như là Phật, đây là suy nghĩ không phân biệt, người chửi tôi giết tôi sau này cũng đều có thể thành tựu Phật đạo. Đó là cảnh giới của tôi.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ dạy cho tôi như sau:
Người chửi ngài giết ngài, trong đời tương lai của họ, vì nhân duyên chửi ngài giết ngài, chắc chắn sẽ đầu thai ở quanh ngài, trở thành người thân thiết nhất của ngài, còn ngài trong đời tương lai chắc chắn sẽ lại xuất hiện để độ chúng sinh. Như vậy, họ vừa có được sự cảm hóa của ngài, nếu nhất niệm thành thiện, niệm niệm tại Phật, thì tương lai chắc chắn sẽ thành Phật.

Do vậy, người chửi ngài giết ngài chắc chắn trong tương lai sẽ thành Phật là điều không có gì phải nghi ngờ.
Đây là suy nghĩ không phân biệt, là tâm niệm Đại viên mãn cao nhất.

Tôi có được sự giáo thị và khai thị của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, lòng tức giận liền lắng xuống, thật sự là khoan khoái vô cùng. Vừa nghe tiếng chửi tôi giết tôi thì tôi đã vô cùng vui vẻ và thoải mái, lí do là vì người chửi tôi, người giết tôi sau này nhất định sẽ thành Phật.

Lợi ích của pháp Đại viên mãn không ngờ có thể khiến cho người chửi tôi giết tôi cũng có thể thành Phật, như vậy thì mới có thể xưng là pháp Đại viên mãn chứ.

Trong "Tối thắng tổng trì kinh", "Lâu các đà la ni" đều ghi chép lại rằng, viết chú đà la ni vào trong tượng Phật, trong tháp, trên cờ phướn tràng phan, trên vách núi, trên đồng hồ, trên chuông, v.v… nếu có chúng sinh nhìn thấy, nghe thấy, hoặc có gió thổi qua, thì những chúng sinh ấy cũng có thể tiêu trừ được mọi nghiệp chướng, tương lai của họ cũng nhất định sẽ thành Phật, bởi vì công đức của đà la ni là lớn nhất.

Thậm chí ngũ nghịch tội rất nặng là làm thân Phật chảy máu, giết cha mẹ, giết hòa thượng và acharya [ a-xà-lê ], phá tăng nhân thuyết pháp, giết thánh nhân, nghiệp báo nặng như vậy cũng sẽ vì công đức của đà la ni mà được hóa giải tiêu trừ, do vậy công đức của Mật giáo là số một.

Người tu trì pháp Đại viên mãn không hề xem ma là ma, cũng không hề xem chúng sinh là chúng sinh, mà là xem ma là Phật, cũng xem chúng sinh là Phật, quan niệm trong thân tâm tất cả là Phật, đất nước lửa gió không khí đều là cung điện Phật, mọi ma là Phật, mọi ma đều không thể làm hại ta, cho dù chúng có làm hại thì tương lai cũng chắc chắn sẽ thành Phật.

Tôi tu trì pháp Đại viên mãn, tự biết rằng người chửi tôi, giết tôi trong tương lai cũng chắc chắn thành Phật, vì đời tương lai của họ chắc chắn sẽ được độ hóa, việc có lợi ích cho trời người này khiến trong lòng tôi sinh ra niềm vui sướng lớn lao, Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư là đại bi tôn giả.


### 21. Giảng lợi ích của Đại viên mãn (3)


Liên Hoa Sinh Đại Sĩ từng tu luyện ở một nơi gọi là "Sitocha", đó là một nơi hiếm thấy dấu chân người, không chỉ có nhiều yêu ma quỷ mị mà còn có rắn độc và thú dữ, đám rắn độc và thú dữ đều kéo tới bao vây muốn ăn thịt Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Tuy nhiên Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã tu thành tựu pháp Đại viên mãn, thân thể như ánh sáng huyễn hóa, rắn độc cắn vào cũng giống như cắn vào một vật ảo, không thể cắn vào thực thể, còn động vật giơ móng vuốt sắc nhọn ra nhưng cũng không túm được đến thực thể, bởi thế Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã tránh được sự độc hại của rắn độc và mãnh thú.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói: "Tu pháp Đại viên mãn, tất cả mọi điều có hại đều không thể chạm tới thân." Người tu trì pháp vô thượng Đại viên mãn biết thế giới này như huyễn, đời người như huyễn, tất cả sinh lão bệnh tử như huyễn. Người tu trì đạt tới khả năng hóa thành ánh sáng có thể loại trừ tất cả độc hại trên thân mình, tỉ dụ có người của giáo phái Ngũ Độc sử dụng độc cũng không thể làm hại được một người tu hành như vậy. Còn đối với tất cả bệnh tật: bệnh do ma quỷ, bệnh động kinh, bệnh điên, bệnh ngoài da, bệnh phù, bệnh phong thấp, bệnh nhiệt nóng, bệnh đau xương, các loại bệnh ở đầu, bệnh thân, bệnh tay, bệnh chân, bệnh lục phủ ngũ tạng,… trăm nghìn vạn loại bệnh đều không thể đến thân. Bởi vì tu trì pháp Đại viên mãn đến cuối cùng thì không gì chạm được tới thân, vì thân đã hóa thành ánh sáng, do vậy có thể cách xa tất cả nghiệp chướng.

Theo như Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chỉ cho tôi, tu trì pháp Đại viên mãn có rất nhiều lợi ích:

1. Tất cả bệnh tật không thể chạm tới thân của hành giả Mật tông, đây là niềm hạnh phúc vững chắc nhất, nếu có bệnh tật thì lập tức biến hóa bệnh tật thành ánh sáng của sao băng, tiến nhập vào trong vũ trụ, biến hóa thành không có gì. Hơn nữa, những bệnh tật này vốn sinh ra bởi những nghiệp chướng kiếp trước, khi vừa xuất hiện thì cũng giống như sao băng, lập tức biến mất.

1. Hành giả Mật tông tu trì pháp Đại viên mãn sẽ có được tướng mạo viên mãn trang nghiêm, trên mặt tỏa ra thiện quang, tướng mạo trông như Bồ Tát, chúng sinh vừa trông thấy sẽ sinh lòng kính yêu, thậm chí xương cốt bên trong thân thể không xơ cứng, da dẻ sẽ bóng láng, gương mặt rạng ngời như ánh sáng mặt trời, chan chứa sự yêu thương, tất cả đều viên mãn.

1. Hành giả Mật tông tu trì pháp Đại viên mãn, tất cả mọi tai bay vạ gió đều không dễ phát sinh, cho dù có người hãm hại cũng sẽ có quỷ thần bí mật bảo vệ, có thiên long kim cương thần bí mật bảo vệ, không để cho những tai vạ bất ngờ xảy ra đối với hành giả Mật tông, vô hình trung tự nhiên hóa giải tiêu biến, tất cả những lời nguyền rủa của thầy bà kẻ ác đều không thể xâm phạm đến thân. Cho dù có đủ loại khổ ách kéo đến thân, nhưng chỉ có thể lòng vòng ở quanh thân của người đó, rồi biến mất hết, kẻ xấu hãm hại cũng không thể đến gần.

1. Pháp Đại viên mãn không chỉ khiến cho những tai vạ bất ngờ của bản thân có thể tiêu biến mà còn có thể cứu người nguy cấp, giúp người nguy nạn. Niệm lực của hành giả Mật tông chỉ cần đặt lên thân của người nào thì tai họa của người đó cũng sẽ được dịch chuyển và tiêu biến. Ví dụ có ác long quỷ thần quấy nhiễu chúng sinh, hành giả Mật tông cũng không sợ, chỉ cần niệm lực đặt vào khu vực nào, khu vực đó cũng sẽ trở thành quang đãng, có thể nói hễ muốn làm việc gì thì đều có thể làm được việc đó.

1. Người tu trì pháp Đại viên mãn tức thân thành Phật. Nếu hành giả Mật tông không muốn thành Phật, thì đời đời kiếp kiếp làm Hoạt Phật đắc đại thành tựu, đời đời kiếp kiếp không xa rời từ bi hỉ xả của đại Bồ Tát, đời đời kiếp kiếp thừa nguyện trở lại để độ chúng sinh, tất cả hữu tình nhìn thấy nghe thấy đều sinh lòng cung kính.

1. Trí huệ của pháp Đại viên mãn là đại trí huệ viên mãn tối vô thượng, tất cả tài bảo mà một người muốn có cũng có thể tùy ý có được không thiếu thốn, người tu trì tự nhiên sẽ hiểu rõ tất cả kinh luật luận, có được đầy đủ tất cả mọi công đức.

Tôi biết đến những lợi ích lớn lao của pháp Đại viên mãn này thì vô cùng thán phục, thì ra pháp Đại viên mãn này còn vượt qua cả Tạng thừa quang minh tối thượng trên cả Cửu thừa, vừa ẩn giấu Phật tính trí huệ, bao gồm cả các mức độ tâm yếu rộng lớn, trung bình và giản lược, là trí kiến tự nhiên. Tôi sâu sắc biết rằng tâm pháp của những gì mà Tổ sư Đạt Ma của Thiền tông (Đông phương đệ nhất Tổ) và Lục tổ Huệ Năng đã tu tập có điểm tương đồng với pháp Đại viên mãn, phàm ai tu học dựa theo pháp Đại viên mãn thì đều có đại tu chứng, có đại thần thông.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói:
"Một người tu tập pháp Đại viên mãn thường xuyên tưởng nhớ thập phương Như Lai, hết thảy Bồ Tát của thập phương tam thế, tâm trụ trong hư không, hoàn toàn ở trong cái tâm chăm chú ngừng suy nghĩ, tu tập rất nhiều tịnh pháp bí mật, tất cả hữu hình quán thành huyễn, phát đi nguyện vọng quảng đại, đến khi tất cả đều thành tựu rồi thì cũng có thể biến hóa thành huyễn, sau khi biến thành huyễn hóa thì tự mình có thể độ hóa chúng sinh huyễn hóa."

Tôi viết một bài kệ:
"Lợi ích quần sinh Đại viên mãn
Hữu tình hữu duyên kính phụng hành
Nhập thế xuất thế đều thắng lợi
Hạnh phúc yên ổn ích lợi tăng."


### 22. Giảng lợi ích của Đại viên mãn (4)


Còn nhớ mỗi lần tôi tu trì, trước tiên tôi luôn luôn quán tưởng vũ trụ là không, thân mình là huyễn, khiến thân mình biến mất, ý thức của mình hoàn toàn không còn, và chính vào lúc này, chân tính mới hiển lộ.

Khi Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chỉ dạy cho tôi, ngài dùng tay điểm lên các huyệt đóng trên toàn thân tôi, không gì khác ngoài mục đích khiến tôi sớm nhập vào tính Không, pháp điểm huyệt đóng này thật sự là một sự việc kì diệu lớn lao. Cuối cùng tôi đã hiểu rồi, thì ra sự thành tựu hay không thành tựu của tu pháp, nếu không có Kim cương Thượng sư chân chính chỉ dạy thì không thể đạt được. Đặc biệt là khi tu pháp cao nhất, chỉ có Kim cương Thượng sư là người hiểu rõ tất cả những điểm mấu chốt và thần diệu.

Tu trì giống như một người leo núi, cứ leo mãi, đến khi sắp tới đỉnh cao nhất rồi, nhưng toàn thân đã mệt mỏi, bỗng nhiên có một người với sức mạnh vô cùng đẩy cho bạn từ sau lưng, thế là bạn leo lên được tới đỉnh cao số một thiên hạ. Người đẩy lưng cho tôi này là vị Phật thứ hai xứ Orgyen -  Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, là vị tổ sư số một của Tạng mật, đương nhiên đó là một vị Kim cương Thượng sư chân chính rồi.

Một người tu trì pháp Đại viên mãn có được đắc chứng, có thành tựu vô cùng bất khả tư nghì, có thể vận dụng đủ loại tu trì để giúp đỡ người khác.

Ví dụ như đệ tử của họ chỉ cần được họ quán đảnh, dù tâm tư không thể quán không, nhưng luôn luôn nghĩ về Thượng sư, mỗi lần tu trì đều nghĩ về Thượng sư, cho đến khi mọi ý niệm thành thục rồi thì sẽ đạt được sự tương chiếu của ánh sáng Đại viên mãn, nghiệp chướng được tiêu trừ. Tương lai vị thầy này lên đến địa nào thì đệ tử của họ cũng có thể lên được địa đó, điều này trở thành sự đồng thể đồng linh đồng quang giữa thầy và đệ tử, không hai không khác.

Các đệ tử luôn nhớ về thầy, thành tựu cao nhất của họ chính là thành tựu của thầy, thầy thành tựu cái gì thì đệ tử sẽ thành tựu cái đó, thầy đắc Đại viên mãn thì trò cũng đắc Đại viên mãn. Trung Quốc xưa kia có câu thành ngữ là "một người đắc đạo, gà chó lên trời", câu này nói rằng một người tu đạo đắc thành tựu thì gà chó cùng bay lên trời, giống như một người thành Phật thì cửu huyền thất tổ đều được siêu sinh hết.

Đến nay, Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư đã đắc thành tựu Đại viên mãn, chỉ cần đệ tử luôn luôn nhớ về thầy, luôn quán chiếu như thế, tu tập như thế, đệ tử cũng có thể có được ánh sáng Đại viên mãn, sẽ có được đại thành tựu. Đó là đạo lý một người đắc đạo, tất cả đệ tử đều siêu sinh.

Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư đã đắc thành tựu hóa thân cầu vồng của pháp Đại viên mãn, và trong số các đệ tử của Thượng sư cũng có rất nhiều người có được ánh sáng Đại viên mãn, tôi đặc biệt chứng minh rõ như sau:

Có một đệ tử không có tiền để mua tượng sứ tạc hình Thượng sư để thờ cúng, thế là anh ta mua một ít đất nặn, rồi dùng dao khắc ra một hình tượng Thượng sư rất rất nhỏ (không hẳn là giống), thế rồi anh ta đặt bước tượng Thượng sư bằng đất nặn cúng tại pháp đàn rất thô sơ của mình, mỗi ngày anh đều quán tưởng tụng chú và xem bức tượng đất nặn như vị thầy thật sự.

Cứ tu trì như vậy một thời gian dài, mỗi ngày nhắm mắt lại, hình ảnh bức tượng đất nặn ghi dấu ấn trong đầu. Không lâu sau, anh trông thấy bức Thượng sư đất nặn rõ ràng trên đỉnh đầu có ánh lửa xuất hiện, là ngọn lửa xuất hiện từ đỉnh đầu của Thượng sư. Anh ta nhìn thấy thế thì vô cùng kinh ngạc. Vào buổi tối hôm đó, anh nhìn thấy Thượng sư đến, chạm đầu thọ kí cho anh, anh bay cao lên tận hư không, đến Tây phương Cực lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì, trông thấy pháp thân Liên Hoa Đồng Tử màu trắng.

Theo tôi được biết, trong khi tu pháp, nhìn thấy trên đầu bức tượng sứ hình Thượng sư xuất hiện ngọn lửa, hoặc quanh thân của Thượng sư có lửa, hoặc là toàn thân rực sáng, đó đều là sự tương ứng với ánh sáng Đại viên mãn của Thượng sư. Rất nhanh chóng, Thượng sư sẽ sờ đầu thọ kí cho đệ tử, đưa đệ tử bay vào hư không, đi du lịch khắp thập phương Phật quốc. Đó là thành tựu số một của việc tu trì pháp Thượng sư tương ứng. Chỉ cần có được sự tương ứng như vậy thì thành tựu sau này của Thượng sư cũng chính là thành tựu tương lai của đệ tử, Thượng sư có thể đến chỗ nào thì đệ tử cũng có thể đến chỗ đó, hai hợp làm một, không có sự khác biệt.

Lại có một đệ tử khác, anh ta thờ cúng pháp tướng của Thượng sư tại pháp đàn, nhưng pháp tướng của Thượng sư không có tòa hoa sen, anh ta tự động lấy một tòa sen gắn vào bên dưới bức pháp tướng của Thượng sư, rồi đóng vào trong khung thủy tinh, thờ cúng tại pháp đàn. Anh ta cảm thấy làm như vậy thì Thượng sư sẽ càng trang nghiêm hơn, thế là mỗi ngày anh tu pháp quán tưởng, trải qua thời gian nhiều năm.

Có một lần, anh nhìn thấy tòa hoa sen phía dưới pháp tướng của Thượng sư biến thành một đám mây khói, là mây bảy sắc cầu vồng, còn Thượng sư thì giống như ngồi trên mây khói, ngồi trên đám mây bảy sắc cầu vồng. Anh lại nhìn thấy đám mây khói này bao bọc lấy cả Thượng sư, pháp tướng và tòa hoa sen đều biến thành khói, anh ta vô cùng sửng sốt. Thế rồi đêm đó, Thượng sư đến nói với anh rằng việc tu pháp của anh đã có tương ứng rồi, sau này anh sẽ là thiên chủ của một đất nước trên thiên thượng giới, có thọ mệnh vạn vạn tuổi tại thiên thượng giới.

Người đệ tử này nhìn thấy tòa hoa sen của Thượng sư hóa thành mây khói, lại nhìn thấy Thượng sư hóa thành mây khói, nhưng không nhìn thấy ánh sáng, đây cũng là hiện tượng tương ứng của pháp Thượng sư tương ứng. Mây khói là đại diện cho thiên thượng giới, tương lai của người đệ tử này có thể làm tiên chủ.

Lại có một đệ tử khác, anh ta không có tiền để mua một bức tượng sứ hình Thượng sư để thờ, nhưng anh có xin một bức ảnh thiên tâm phát quang (bức ảnh này là do tiến sĩ Hạ Vĩnh Hàn vô tình chụp được). Anh bèn đem bức ảnh Thượng sư thiên tâm phóng quang thờ ở pháp đàn.

Người đệ tử này tu pháp Thượng sư tương ứng, đã lâu vẫn chưa tương ứng, như vậy suốt hai năm, chẳng hề có cảm giác gì. Khi tu pháp, anh chuyển ánh sáng từ thiên tâm phát quang của Thượng sư thành một vòng tròn chiếu đến trán của mình, cứ quán tưởng như vậy và tu như vậy. Cho đến một ngày, khi anh phát hiện thấy ánh sáng trên trán của Thượng sư chiếu đến trán của mình, bỗng nhiên có hơi thở ấm áp, một chút ấm, một chút nóng, và toàn thân mình dường như cũng tỏa nhiệt nóng lên, hỏa ở đan điền của anh đi lên, hỏa ở thiên tâm của Thượng sư tỏa hơi ấm đi xuống, hai khối nhiệt này hòa vào nhau hợp làm một.

Người đệ tử này vào đêm hôm đó mơ thấy Thượng sư bảo anh đã có tương ứng rồi. Đệ tử này cảm ứng thấy rất nhiều rất nhiều phúc thần thường đến bảo vệ, có quỷ thần đến trước mặt nghe lệnh. Anh dùng tất cả thần chú để gia trì cho nhiều người đều vô cùng viên mãn và hiệu nghiệm, tất cả những gì anh mong cầu đều được như ý. Anh cũng biết rằng sau này sẽ có thể thăng lên cõi trời, có được sự kính ái của thiên nhân.

Ba ví dụ trên đều là những sự tương ứng chân thực.

Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư là vị Kim cương Thượng sư đã đắc pháp Đại viên mãn, có pháp môn tiện lợi bất khả tư nghì để độ hóa chúng sinh. Chúng sinh chỉ cần tu pháp Thượng sư tương ứng, trì tâm chú của Thượng sư, niệm niệm luôn nghĩ về Thượng sư thì tự sẽ có sức mạnh bất khả tư nghì xuất hiện, mong cầu việc gì đều có thể có được, tùy theo ý muốn, tự có thể siêu phàm nhập thánh.

Đây chính là lợi ích của pháp Đại viên mãn, Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư do được Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chân truyền pháp Đại viên mãn, truyền thừa của Thượng sư do Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chân truyền, đó là chuyện xưa nay chưa từng có, cũng là điều bất khả tư nghì số một trong thiên hạ.

Hôm nay, nếu có người tín thọ phụng hành, tu một trong các loại Mật pháp, thế thì đệ tử của Thượng sư có thể xem như là khắp nơi thành tựu ánh sáng của trí tuệ và phước lành, chuyển đại pháp luân vô thượng số một trong thiên hạ.


### 23. Giảng lợi ích của Đại viên mãn (5)


Rất nhiều đại pháp trong Mật tông đều dạy hành giả Mật tông tại nhân gian tu tập phương pháp bí mật của bồ đề đạo, có một số người tu tập thành thục thì tự nhiên có thể tự tiếp thành Phật, không cần phải đến lúc lâm chung có Phật đến tiếp dẫn vãng sinh. Nhưng người chưa tu tập thành thục thì không thể trực tiếp thành Phật, cần phải học tập mật pháp Trung ấm siêu độ. Mật pháp Trung ấm siêu độ này kì thực chính là "trung ấm vấn độ", tên tiếng Tạng là "bardo thödröl" [ ND: Giải thoát thông qua sự nghe trong cõi trung ấm ]

Đại ý của pháp này là, một vị Kim cương Thượng sư đắc chứng sẽ ghé môi vào cạnh tai người chết, chỉ dạy cho linh thức của họ đừng tán loạn, chỉ dạy cho linh thức quán tưởng mật pháp mà được độ. Thứ hai là nếu thi thể người chết không ở gần đó, lấy vật mà người chết thường dùng, trước tiên gọi linh thức của người chết đến, sau đó dạy cho linh thức diệu pháp thượng thừa, khiến cho linh thức của người chết không phân tán, siêu thoát nghiệp lực và chướng ngại, như thế thì có thể được cứu.

Mật pháp cứu độ trung ấm này bao gồm:

1. Phụng thỉnh chư Phật Bồ Tát che chở.

1. Thỉnh cầu bảo vệ vượt qua con đường trung ấm nguy hiểm.

1. Nhắc nhở về sáu loại cảnh giới trung ấm.

1. Bảo vệ để không cho những nỗi sợ ảnh hưởng.

Thời cơ để thực hiện cứu độ này có thể vào lúc hành giả Mật tông sắp chết nhưng chưa chết, mau chóng phụng thỉnh Kim cương Thượng sư chỉ dẫn, tiến nhập vào cảnh giới thực tướng quang minh. Cũng có thể vào lúc sau khi hành giả Mật tông đã lâm chung, triệu thỉnh làm pháp, hướng dẫn cho linh thức của người đó tiến vào cảnh giới thực tướng quang minh. Thời cơ cuối cùng là hành giả Mật tông đã thâm nhập vào cảnh giới trung ấm, sản sinh ra vọng tâm, Kim cương Thượng sư chân chính trước tiên cần đóng chặt lại thai môn của người chết, khiến cho linh thức của người chết không thể đi ra từ thai môn thấp kém, sau đó, Kim cương Thượng sư lại làm pháp khiến cho linh thức của người đó mau mau tỉnh lại để có thể được cứu vớt.

Theo như tôi biết, một người chết đi, linh thức của họ ở trong thân thể xương thịt khoảng ba tới bốn ngày mới có thể thoát ra khỏi thân thể, trong khoảng thời gian này thì họ giống như ở trong một cảnh giới hôn trầm hoảng hốt, cảnh giới này so với mơ thì còn sâu hơn, dễ đánh mất bản tính hơn. Do vậy Mật pháp cứu độ trung ấm (bardo thödröl) cực kì quan trọng. Vào những thời cơ này cần thức tỉnh linh thức của người chết, khiến người chết nhận thức được tâm tính của bản thân cần hướng về bản thể quang minh, hợp với bản tính chân trí của pháp giới, và nhận thức được rằng không thể đi theo ánh sáng mê hoặc nhiều màu sắc, tự nhiên có thể đến được bỉ ngạn, đến được kim cương trì địa viên mãn!

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói với tôi, hành giả Mật tông tu chứng được pháp Đại viên mãn thì đại thần thông là bất khả tư nghì, người ấy chỉ cần tưởng niệm về hình tượng của người chết thì người chết lập tức có thể thoát khỏi bị đọa vào tam ác đạo, sự tưởng niệm này giống như ánh mặt trời chiếu lên những giọt sương trên cỏ khiến chúng bốc hơi mà bay lên vậy.

Hành giả Mật tông tu Đại viên mãn gia trì tâm chú viên mãn lên đất cát rồi sau đó tung đám đất cát này lên trên mộ của người chết thì linh thức của người chết lập tức có thể siêu thăng lên cõi trời, không chỉ có thể lên trời mà thậm chí lập tức có thể đến được Tây phương Cực lạc thế giới tịnh thổ.

Áo cà sa của hành giả Mật tông tu Đại viên mãn nếu khoác lên thân người chết thì người chết không nhập vào tam ác đạo, chắc chắn vãng sinh đến thiên thượng giới, nếu khoác lên thân người bệnh thì nghiệp chướng của người bệnh sẽ được giảm nhẹ, cũng rất dễ khỏi bệnh, bệnh có thể trở nên tốt đẹp hơn.

Đôi mắt của hành giả Mật tông tu pháp Đại viên mãn nhìn thấy người nào thì những người đó sẽ sinh ra Phật duyên, tương lai của họ cũng nhất định sẽ thành Phật, bởi vì những người bị nhìn thấy này do đã được "vô cấu tịnh quang" chiếu tới, nhãn quang của hành giả Mật tông Đại viên mãn có công đức như vậy.

Sự hít thở của hành giả Mật tông Đại viên mãn, khí thở ra là màu trắng, phàm tất cả phàm phu nếu hít vào hơi thở của hành giả Mật tông Đại viên mãn thì nghiệp chướng cũng tự nhiên tiêu trừ, có bệnh tự sẽ giảm nhẹ, tương lai chắc chắn sẽ có Phật duyên, và cũng chắc chắn có thể thành Phật. Đó là vì tiêu trừ hết thảy nghiệp chướng, kiếp sau đến được nơi có Phật pháp, nhờ tu trì mà chứng ngộ được tịnh thổ Phật quốc.

Hành giả Mật tông Đại viên mãn uống hết nửa chén trà, nửa chén trà còn lại cũng giống như nước cam lộ, nếu có người uống nửa chén trà này thì tất cả nghiệp chướng đều có thể tiêu trừ, trên thân tỏa ra hương thơm, Phật duyên gia tăng, có bệnh hết bệnh, lập tức có được lợi ích lớn, tất cả tai nạn không phát sinh trên thân người này, sau khi chết cũng không vào tam ác đạo, tuyệt đối vãng sinh Phật quốc.

Người thân của hành giả Mật tông Đại viên mãn gồm cha mẹ, vợ, con cái, anh chị em trai gái, v.v… cũng sẽ được diệt trừ hết thảy nghiệp tội, mười ác nghiệp và năm nghịch tội cũng đều tiêu trừ. Người nào đời này có tu trì thì vãng sinh Phật quốc tịnh thổ, người nào chưa tu trì thì kiếp sau đến được đất nước có Phật pháp.

Hành giả Mật tông Đại viên mãn là mặt trời, là không khí, là nước, khiến người chết sống lại, khiến người không tin Phật trở thành tin Phật, khiến người không thể vãng sinh thành tựu vãng sinh, khiến người nghiệp chướng nặng tiêu trừ hết mọi nghiệp chướng, hễ làm điều gì thì đều chắc chắn thành tựu.

Trong quá trình tôi tu trì pháp Đại viên mãn, bỗng có một hôm, tôi cảm thấy chính mình đang ngồi trên một con chim công, trên thân mọc ra bốn cánh tay, tay phải thứ nhất cầm bông hoa sen nở, tay phải thứ hai cầm quả cụ duyên, tay trái thứ nhất cầm quả cát tường, tay trái thứ hai cầm lông đuôi chim công. Thân tôi biến thành màu trắng, mặc thiên y màu trắng, đầu đội mũ miện, đeo chuỗi ngọc, khuyên tai, vòng tay, con chim công tôi ngồi lên có màu vàng kim, và trên lưng chim công là đài hoa sen tám cánh.

Tôi hỏi Liên Hoa Sinh Đại Sĩ:
"Duyên này là thế nào?"
Đại Sĩ trả lời tôi rằng:
"Đó là Ma Ha Ma Du Lợi, là Đại Khổng Tước Minh Vương."

Tôi biết Khổng Tước Minh Vương là biến hóa thân của Thích Ca Mâu Ni Phật, mật hiệu là Phật Mẫu Kim Cương. Trong "Khổng Tước Minh Vương Kinh" có viết: "Tì kheo Cát Tường xuất gia, không lâu sau, ông đi chặt củi, bị một con rắn màu đen cắn vào ngón chân, tì kheo Cát Tường vừa trúng độc rắn thì toàn thân tím đen, miệng sủi bọt sắp chết. Khi ấy, Phật bảo A Nan tôn giả dùng chú Đại Khổng Tước Minh Vương để đi giải cứu, và rồi kết quả của việc dùng chú Đại Khổng Tước Minh Vương là rắn độc không dám đến gần, tất cả ác nhân ác chú đều không thể làm hại."

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói với tôi, Đại Khổng Tước Minh Vương chuyên môn tức tai, trừ nạn, trừ bệnh, diên mệnh. Bây giờ tu pháp Đại viên mãn thì lợi ích lớn lao cũng là tức tai, trừ nạn, trừ bệnh, diên mệnh, đồng thời có thể cứu độ trung ấm, độ vong, do vậy mà ngài biến hiện thành Đại Khổng Tước Minh Vương nhằm hiển thị công đức lợi ích giáo hóa chúng sinh của vị này.

Thì ra năng lực cứu độ của pháp Đại viên mãn thật sự là thật không phải là giả. Hành giả Mật tông tu Đại viên mãn không chỉ giải thoát cho bản thân, cho dù gặp phải người cực kì xấu xa cũng sẽ có sức mạnh gia trì bí mật, khiến người đại ác đó cũng được độ. Tôi biết trên đời này, có biết bao người có căn cơ thấp kém, duyên xấu nghiệp xấu với sức ngăn trở rất mạnh, nhưng đối với lớp người có nghiệp chướng thấp kém cực sâu pháp Đại viên mãn cũng có thể từ từ hướng dẫn họ, bởi vì Đại viên mãn chân thực và rõ ràng, vì pháp này có sức mạnh công đức vô thượng, có được một lần gia trì thì có thể chuyển xấu thành tốt.

Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư là Kim cương Thượng sư chân chính, là Thượng sư của các Thượng sư. Hôm nay độc giả gặp được Thượng sư thiện tri thức, nghe học Phật pháp, trở nên gia tăng niềm hứng thú, đó chính là nhân duyên của thiện pháp, chúng sinh tìm cầu diệu pháp thật sự là không có pháp nào cao hơn pháp này.


### 24. Giảng lợi ích của Đại viên mãn (6)


Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chỉ thị cho tôi "bí mật ngữ" như sau:

"Om" - nghĩa là vô tướng, đại diện cho tên gọi chung của tất cả. Hóa ra một chữ "Om" này đã tượng trưng cho tất cả vũ trụ rồi, là tên gọi chung của vạn công đức, "Om" cũng chứa đựng tất cả toàn bộ mọi ý nghĩa. Trong Mật tông mà nói thì "Om" cũng có ý nghĩa của sự dung nhập và quy y quy mệnh ở trong đó.

Đạo Bà La Môn ở Ấn Độ dùng chữ "Om" để đại diện cho ba vị đại thần Vishnu, Shiva, Brahma, và ba vị đại thần này chính là tượng trưng cho vũ trụ.

Người tu Mật pháp hiểu rằng vũ trụ vốn không, vì chữ "Om" đại diện cho sự không tịch của vũ trụ, trước tiên nhờ chữ "Om" có âm thanh mà tiến vào chữ "Om" không có âm thanh,  và rồi đạt đến bên trong cảnh giới vũ trụ và ta hoàn toàn hợp nhất. Hành giả Mật tông nhìn lên bầu trời xanh, vũ trụ hóa thành một chữ "Om", và hành giả Mật tông nuốt lấy chữ "Om" này, thế rồi hợp nhất. Nhờ quan sát chữ "Om", sau đó dung nhập vào chữ "Om" mà có thể rời xa nhân gian thế tục, loại bỏ sự chấp vào nhân - ngã, chứng đắc Vô ngã và Không.

Chữ "Om" này trong Hiển giáo viết cách phát âm là "Án", thật sự là một "không tướng" trọn vẹn nhất, trong chữ "Om" này có sẵn tam thân là pháp thân, ứng thân, báo thân.

"Ah" - chữ này là có uy lực nhất, có thể xem là Phật Mẫu của chư Phật đó! Thậm chí chữ "Ah" này là chủng tử tự chung của chư Phật, từ chữ "Ah" này sinh ra chư Phật Bồ Tát. Vì sao lại nói như vậy? Bởi vì chữ "Om" là "Không tướng", còn chữ "Ah" có ý nghĩa là "thái sơ" nghĩa là sự khởi đầu tuyệt đối. "Ah" chính là sự khởi đầu của tất cả, có chữ "Ah" rồi thì mới có sự ra đời của Phật Bồ Tát, bất kể là Kim Cương Giới hay Thai Tạng Giới thì đều bắt đầu từ hiện tượng "không tướng" đến "thái sơ". "Thái sơ" này là bất sinh bất diệt, chữ "Ah" tượng trưng cho sự khởi đầu tuyệt đối của vũ trụ, và tượng trưng cho sự bất sinh bất diệt của sự khởi đầu tuyệt đối ấy.

"Ba la mật đa tâm kinh" nói "bất sinh bất diệt", "bất tăng bất giảm", "vô tướng vô bất tướng", "bất cấu bất tịnh", "vô nhãn nhĩ tị thiệt thân ý", "vô sắc thanh hương vị xúc pháp", "vô sắc thọ tưởng hành thức", chính là chỉ chữ "Ah", vốn là hiện tượng của vũ trụ "thái sơ".

Hành giả Mật tông cần biết, chữ "Om" biểu thị là Không, chữ "Ah" biểu thị là Một, người tu pháp từ Một vũ trụ thái sơ làm thành quán pháp của tâm, cuối cùng mới dung nhập vào trong không tướng Không của vũ trụ, nhờ chữ "Ah" này mới có thể hiển hiện được diện mạo của chư Phật.

"Hum" - ý tứ hàm súc của chữ này chính là "nở hoa", có nghĩa là hiển tự tính và đạt đến thành tựu Đại viên mãn. Chữ "Hum" này có công đức vô lượng vô biên bất khả tư nghì, có một dạng sức mạnh đại uy đức phổ độ tất cả chúng sinh, tượng trưng cho đại trí huệ, thân kim cương bất hoại, đại quyền uy, đại thần thông.

Nói tóm lại, chữ "Hum" này mang ý nghĩa thành tựu viên mãn. Hoa nở, quả kết, độ chúng sinh, là biểu tượng của Phật đỉnh.

Tôi giải thích như sau: chữ "Hum" tượng trưng cho tu trì viên mãn, nhờ có thành tựu của tu trì viên mãn mà đạt đến chữ "Ah" của "hiển tự tính mà thành Phật Bồ Tát", từ sự thành tựu chữ "Ah" mà dung nhập vào trong chữ "Om" của vũ trụ, chữ "Om" này chính là niết bàn tịch tĩnh.

Ba chữ Om Ah Hum có ý nghĩa như vậy.

Cũng có người giải thích như thế này, Kim cương thừa tối thượng cũng chính là Đà la ni tạng, tất cả mật pháp đều được sinh ra từ chữ "Om" tĩnh tịch của vũ trụ, sau khi chảy ra và thay đổi thì trở thành nghìn dòng vạn sông, và chữ "Om" này là bí mật tạng tổng trì.

Ngày nay, pháp Đại viên mãn là bí mật tạng tổng trì vô thượng, cũng chính là pháp môn tổng trì, bất kì một pháp nào cũng đều xuất phát từ pháp Đại viên mãn mà ra, do vậy pháp Đại viên mãn là tam tạng thập nhị bộ, là mẹ của mọi sự thành tựu Phật.

Pháp Đại viên mãn có lợi ích lớn lao vô thượng, là nguồn gốc thành tựu của chư Phật.

Tôi đặc biệt giải thích lại như sau:
"Om" - chân như.
"Ah" - Như Lai.
"Hum" - tự tính. (ngũ trí)

Thì ra Phật và chúng sinh không hai không khác, Phật không tăng lên, chúng sinh cũng không giảm bớt, chỉ là thế nhân lạc đường nhiều kiếp, từ lâu đã quên mất diện mục vốn có, người giác ngộ là Phật, khi vẫn còn mê vọng thì là chúng sinh. Tôi cảm thấy chúng sinh thật đáng thương, luân hồi lục đạo, chịu mọi giày vò, khổ não bao vây, tâm không có khoảnh khắc vui sướng nào, không ngơi không nghỉ, tranh danh đoạt lợi, mê muội mỹ sắc, vĩnh viễn không hài lòng, những chúng sinh như vậy nên tỉnh ngộ đi thôi, nghĩ mà xem, cần phải tỉnh ngộ! Cần phải tỉnh ngộ đó!


### 25. Giảng lợi ích của Đại viên mãn (7)


Trong mấy chương trước tôi đã giải thích rõ, bởi tôi đã tu pháp Đại viên mãn, do vậy phàm là người giết tôi, người chửi tôi, trong đời tương lai cũng sẽ cùng có duyên với pháp Đại viên mãn, sớm muộn cũng sẽ có được lợi ích của Mật pháp, tương lai của người ấy nhất định thành Phật.

Cần biết rằng lợi ích của pháp Đại viên mãn này có kể ra cũng là bất tận, người tu trì đắc chứng có được pháp thân an lạc, nghĩa là căn bản không còn phiền não nữa.

"Người đã tu pháp Đại viên mãn này tồn tại ở khắp nơi chốn, tính bao dung của họ là vô hạn, dường như trong mỗi một người một vật đều có hình bóng của họ tồn tại. Điều này không phải là huyễn tưởng, mà là một mạng lưới pháp thân, họ hoàn toàn xem con người trong thiên hạ đều là tay hoặc chân của mình, những con người ấy chẳng qua là sự hoán chuyển của bản thân mà thôi."

Tôi nói như vậy, người bình thường không có cách nào hiểu được, tuy nhiên, bậc Kim cương Thượng sư đắc chứng đương nhiên hiểu được ý nghĩa chân thực trong đoạn văn trên của tôi. Bản thân ta ở đây bao gồm người ta coi là kẻ thù, hạng người hèn hạ, đệ tử phản bội, người hạ lưu vô sỉ. Sự ra đời của một bậc thánh giả không chỉ là phải nghiêm khắc, phải thành thực với chính mình, phải đối diện với bản thân, tiêu trừ thù hận, không chỉ là những điều này, mà quan trọng hơn là phải yêu thương kẻ thù, phải cứu người hèn hạ, tha thứ cho đệ tử phản bội, cứu độ người hạ lưu vô sỉ. Vì sao vậy? Bởi vì tương lai của những người này sẽ nhờ bạn mà thành Phật.

Một người tu Mật pháp, ban đầu có thể đơn thuần, có thể trúc trắc, nhưng sau khi trải qua một khoảng thời gian thì sẽ trở nên chặt chẽ hơn, thuần thục hơn. Nhưng muốn đạt đến Đại viên mãn thì vẫn còn một khoảng cách rất dài. Sự đại từ đại bi bề ngoài hoàn toàn không đại diện cho sự đại từ đại bi tâm linh, và sự đại từ đại bi chân chính mới là Đại viên mãn.

Đại viên mãn này không chỉ là người tu pháp phải nhận thức được, hoặc đi sâu vào phân tích, hoặc nắm bắt được những tri giác trong thiền xem có phải là thuần tịnh tự nhiên hay không, hoặc là nắm bắt được những cảnh tượng chớp nhoáng về động thái sinh mệnh ở trong thiền định, mà ý vị thật sự còn vượt ra khỏi sự tưởng tượng, là hoàn toàn mới mẻ, con người và vũ trụ này đều thuộc về "tự ngã", đó là pháp tính chân chính.

Thì ra:
"Người coi là kẻ thù" là chính mình.
"Hạng người hèn hạ" là chính mình.
"Đệ tử phản bội" là chính mình.
"Người hạ lưu vô sỉ" là chính mình.

Đương nhiên pháp Đại viên mãn là uy lực không gì sánh bằng, thì ra, trong tất cả pháp tính vũ trụ đều bao gồm hình bóng của chính mình, không ngờ pháp Đại viên mãn khiến cho hành giả Mật tông dùng đại từ đại bi chân chính để ứng phó tất cả mọi sự tình, chân lý thực ra chính là Đại viên mãn.

Chúa Jesus trong đạo Cơ Đốc có một câu nói chưa nói ra, cũng không kịp nói, câu nói này chính là "Yêu kẻ thù của anh. Này hỡi Juda kẻ phản bội ta! Sau này ngươi cũng sẽ trở thành thần."

Cuối cùng tôi đã hiểu bí mật chân lí của vũ trụ. Từ khi mới học Mật pháp đến khi thành tựu, đại sự tu hành của tôi đã chứng minh được tất cả, tâm linh của tôi và tâm của Như Lai đã hoàn toàn khế hợp, sự khế hợp này khiến tôi giật mình, thì ra tu hành đúng đắn không ngờ lại là như vậy, thì ra chính quả bồ đề là như vậy, thì ra tâm ấn chư Phật là như vậy. Đó căn bản là một cảnh giới không có phiền não không có hận thù.

Có đệ tử của tôi vô cùng lo âu về chuyện tên của tông phái bị chiếm đoạt mất, tôi cười ha ha và nói: "Cho dù tên gọi Linh Tiên Chân Phật Tông bị người ta chiếm mất thì cũng có gì đâu, cho dù Linh Tiên Chân Phật Tông đi đời hết thì cũng có làm sao đâu! Cho dù đệ tử toàn thế giới phản bội hết thì cũng có làm sao đâu!"

Tôi cười lớn ha ha, đệ tử của tôi đều trố mắt ra hỏi: "Thầy làm sao vậy?"
Tôi nói: "Phật pháp tối thượng thừa là vô thượng chính giác, là pháp tính tương thông, thầy đã hiểu bí mật vô thượng của Đại viên mãn, đã biết tất cả mọi pháp đều là chân như, còn tất cả vũ trụ và con người đều là sự hóa hiện của chân như, tại pháp tính cao nhất đều là tương thông. Tên tông phái và đệ tử của thầy chẳng qua chỉ là diễn biến huyễn tướng tạm thời mà thôi, dù mất đi tên của tông phái hay mất đi các đệ tử cũng không sao cả. Người chiếm mất tên tông phái của thầy và các đệ tử phản bội sau này cũng sẽ có được lợi ích, cho dù là người giết thầy, người chửi thầy, thì tương lai của họ cũng có được lợi ích lớn lao, đó mới là Đại viên mãn đó! Bởi vậy, tên tông phái bị chiếm mất, đệ tử phản bội thầy vẫn là điều đáng chúc mừng mới phải!"

Pháp Đại viên mãn là cam lộ của cõi trời, căn bản là không có phiền não, luôn được an vui. Nguyện lực và đại từ đại bi của Đại viên mãn là khế hợp với nhau.

Người tốt tự bản thân có thể thành Tiên thành Phật, không cần phải độ hóa. Trái lại, người xấu, có giết có chửi, kiếp sau sẽ lại có duyên ở cùng, quả báo không xa, nhất định sẽ được độ thành Phật. Chỉ có một loại người tương đối "vô duyên", đó là những người không giết không chửi và cũng hoàn toàn không tin không học.


### 26. Giảng lợi ích của Đại viên mãn (8)


Chủ tôn của hai bộ mandala Mật pháp là Tỳ Lô Giá Na Phật, tức là Đại Nhật Như Lai, ý nghĩa của ngài chính là đại quang minh biện chiếu. Đại Nhật Như Lai chính là Đại Nhật giáo chủ của Mật tông "Đại Nhật Kinh" và "Kim Cương Đỉnh Kinh". Hình tướng của ngài có "Đại Nhật Trí pháp thân" và "Đại Nhật Lý pháp thân". Cõi tịnh thổ mà ngài sáng lập được gọi là Đại Nhật Cung Trung Tọa.

A Di Đà Phật có ý nghĩa là vô lượng quang minh, bởi tì kheo Pháp Tạng đã đưa ra 48 đại nguyện, sau khi thấy hai trăm mười tỉ cõi Phật thì ngài đã hấp thụ tinh hoa của các cõi Phật, sáng lập nên một cõi Phật cực lạc. A Di Đà Phật thành Phật trong mười kiếp, chúng sinh được ngài cứu độ là nhiều nhất, phân thành cửu phẩm liên hoa, dựa vào quang minh vô lượng và thọ mệnh vô lượng chân thực làm chính giác, cứu độ chúng sinh.

Cõi tịnh thổ mà ngài sáng lập nằm ở phía tây của Trung Đài Bát Diệp Viện (Thai Tạng Giới), Kim Cương Giới nằm ở phía tây của bánh xe Ngũ giải thoát, cũng chính là tây phương diệu quan sát trí tam muội. Bổn tôn của Liên Hoa Đồng Tử vốn là cảnh giới của Tây phương Cực lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì, do vậy người tu pháp Thượng sư tương ứng và đã có được cảm ứng lập tức có thể vãng sinh đến Tây phương Cực lạc thế giới thường tịch quang tịnh thổ.

A Súc Như Lai là bất động, ý nghĩa là không phẫn nộ. Về sự thành Phật của ngài có thể tìm đọc "A Súc Phật Quốc Kinh", Phật quốc tịnh thổ mà ngài sáng lập là cảnh giới diệu hỉ ở phương đông, A Súc Phật được xưng là Thiện Khoái giáo chủ và Diệu Lạc giáo chủ, cõi tịnh thổ nằm ở phía đông.

Cõi tịnh thổ của A Súc Như Lai nằm ở phía đông, do vậy cũng có người cho rằng, ngài ấy và Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai ở cõi tịnh thổ Lưu Ly thế giới ở phương đông là dị danh đồng thể [ cùng là một nhưng tên khác nhau ]. Trong Mật tông, pháp cúng dường Dược Sư Như Lai và A Súc Phật là giống nhau. Thề nguyện của A Súc Như Lai và thề nguyện của Thiên Cổ Lôi Âm Như Lai là giống nhau.

Bảo Sinh Như Lai nghĩa là bình đẳng, cõi tịnh thổ của ngài ở phía nam, là một vị đại giáo chủ của Bảo Bộ, xung quanh ngài có bốn vị Bồ Tát là Kim Cương Bảo, Kim Cương Quang, Kim Cương Tràng, Kim Cương Tiếu, ở phía nam ngài xây dựng Bảo Bộ tịnh thổ Phật quốc, ở cùng trong tam muội với Bảo Tràng Như Lai.

Bất Không Thành Tựu Như Lai vì có thành tựu đại nguyện nên không bao giờ đánh mất ý vị, do vậy mới xưng là Bất Không Thành Tựu Như Lai. Sau khi ngài thành Phật được xưng là Tất Địa Kim Cương hoặc Thành Tựu Kim Cương, Bất Không Thành Tựu Như Lai sáng lập tịnh thổ Phật quốc ở phía bắc.

Bất Không Thành Tựu Phật có vạn hạnh đại bi nên còn được gọi là Khai Phu Hoa Vương Như Lai, lí do là ngài có thể khiến chúng sinh đều đắc được quả bồ đề.

Trên đây là năm phương tịnh thổ của Ngũ Phật.

Tôi còn nhớ trong bài tụng Đà la ni năm chữ có bốn câu thế này:
"Nguyện lực của chư Phật
Hiện thành bao điều thánh
Ngay tại chính chỗ ngồi
Đã thành bậc chính giác."

Cần biết rằng pháp Đại viên mãn này là cỗ xe thần thông thành Phật đại bất khả tư nghì, không chỉ có thể đến được tỉ tỉ cõi Phật mà còn có thể tạo nên cảnh giới Phật. Đây là pháp thành tựu bản tính, thành tựu Kim cương tất địa. Ý của tôi muốn nói rằng người đã hoạch chứng được pháp Đại viên mãn thì người bình thường không thể tưởng tượng được sao họ có thể sáng lập nên một cõi tịnh thổ Phật quốc trong "viên viên quả hải". [ ND: viên viên quả hải là cụm từ xuất hiện trong "Hiển Mật viên thông", ý nói về biển của vô thượng viên mãn thánh giác quả đức, biển là sự so sánh để chỉ mức độ sâu rộng không biên giới. ]

Hành giả Mật tông chứng đắc pháp Đại viên mãn có thể xây dựng nên cõi Phật quốc tịnh thổ của chính mình giống như Ngũ Phật. Việc này thật sự không phải là điều mà một người bình thường có thể hiểu được. Đây nhất định phải là Kim Cương Bí Mật Chủ Kim Cương Thủ Bồ Tát mới có thể hiểu được đạo lý trong đó, cũng chỉ có Bồ Tát có liên hoa nhãn mới hiểu được sự thâm thúy ở đây.

Người chứng ngộ pháp Đại viên mãn này không ngờ có thể xây dựng Phật quốc tịnh thổ, trên phương diện này, xin mời những người có trí tuệ bác học suy nghĩ kĩ càng tỉ mỉ, pháp Đại viên mãn này đích thực là pháp môn đại như ý, không những bản thân có thể thành Phật mà còn vì tâm ấn bí mật đại bất khả tư nghì khiến cho chúng sinh đều có thể thành Phật. Đại viên mãn, đại thần thông, vô thượng pháp như vậy, thế nhân trong nhiều kiếp tu trì làm sao gặp được vị Kim cương Thượng sư chân chính để truyền dạy được đại pháp vô thượng như vậy đây!

Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư nhờ có Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền dạy pháp Đại viên mãn, trong đó có rất nhiều khẩu quyết bí mật, nhưng không có cách nào lần lượt viết ra trong sách được, điều này mong độc giả đại đức lượng thứ. Nếu có người đã đắc được Thượng sư tương ứng, Bổn tôn tương ứng, Kim cương pháp tương ứng, sau đó đến cầu Đại viên mãn pháp tương ứng, thì tôi sẽ truyền dạy cho. Và nếu tương ứng với pháp Đại viên mãn rồi thì tức là trở thành Đại trì minh kim cương acharya, là đại Thượng sư của Thượng sư, là vô thượng nhất.


### 27. Nghi quỹ quán tu Bổn tôn A Di Đà Phật


Có rất nhiều đệ tử truyền thừa muốn tôi viết phương pháp quán tu A Di Đà Phật. Tôi biết Di Đà đại pháp này, rất nên phổ truyền phổ tu. Vì vậy tôi đặc biệt ghi ra nghi quỹ quán tu Bổn tôn A Di Đà Phật như sau:

Trước khi tu pháp, đầu tiên cần làm đại lễ bái, đại cúng dường, niệm chú tứ quy y, làm mặc giáp hộ thân.
Niệm tứ vô lượng tâm: "Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, guyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, nguyện mọi chúng sinh chứng oan thân bình đẳng giác."

Sau khi ngồi vào chỗ, trì một biến chú quán không: "m sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng."
Tĩnh tọa quán không.

Từ trong hư không xuất hiện thế giới Cực Lạc trong tam thiên đại thiên thế giới, thế giới Cực Lạc là trang nghiêm nhất. Người tu pháp mà có biểu đồ hải hội Tây phương Tam Thánh của A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát thì quán tưởng biểu đồ hải hội của Tây phương Tam Thánh ở trong không trung.

Trong sát-na, tự thân biến thành Quan Thế Âm Bồ Tát, một mặt bốn cánh tay, toàn thân màu trắng trong suốt như thủy tinh, gương mặt vui vẻ, đầu đội mũ Ngũ Phật, mặc thiên y đeo chuỗi ngọc, nhiều trang sức quý báu. Hai tay chắp lại, nâng bảo châu màu xanh, tiếp đó, tay phải cầm tràng hạt thủy tinh, tay trái cầm hoa sen trắng. Thế rồi hoa sen trắng từ từ phóng to lên đến mức lớn vô hạn, rồi A Di Đà Phật ngồi trên đó, A Di Đà Phật ngồi kiết già, lục đạo phụ mẫu oan thân quyến thuộc tất cả hữu tình đều vây quanh nhiều vòng xung quanh tòa hoa sen. (Đây là quán tưởng bản thân biến hóa.)

Lúc này, quán tưởng A Di Đà Phật ở trong hư không đối diện với ta, ngài ngồi trên hoa sen nghìn cánh, khuôn mặt và toàn thân màu đỏ, tay kết định ấn, trên định ấn có bình bát nhỏ, trong bát có chứa đầy cam lộ, thân khoác áo cà sa ba mảnh, phóng tỏa vô lượng ánh sáng, bên phải là Quan Thế Âm Bồ Tát màu trắng, bên trái là Đại Thế Chí Bồ Tát màu xanh, hai vị Bồ Tát hầu hạ thân hơi xoay hướng về A Di Đà Phật, tay kết ấn cúng dường và ấn liên hoa, biểu thị ý nghĩa trợ giúp. Xung quanh có thập phương Lama, chư Phật Bồ Tát, Kim Cang Phật Mẫu Hộ Pháp vây quanh nhiều lớp. (Đây là quán tưởng biến hóa trong hư không.)

Bí quyết tự thân biến hóa ở đây là đầu tiên biến thân mình thành Quan Âm Tứ Thủ, tiếp theo, từ hoa sen trắng của Quan Âm Tứ Thủ lại biến chính mình thành A Di Đà Phật ngồi trên hoa sen trắng. Lúc này kiên định lòng tin của bản thân, quyết tâm thành tựu A Di Đà Phật.

Niệm một biến Bài văn bảy chữ:
"Trong tất cả thập phương thế giới.
Tất cả thầy, người trong ba đời.
Con đem thân ngữ ý thanh tịnh.
Xin lễ khắp nơi chẳng thiếu sót.
Phổ Hiền hạnh nguyện uy thần lực.
Phổ hiện tất cả trước Như Lai.
Một thân tái hiện thân phàm trần.
Con xin lễ khắp Phật trần gian.
Trong một cõi trần bao vị Phật.
Bồ Tát hiện diện ở khắp nơi.
Vô tận pháp giới đâu cũng thế.
Lòng tin với Phật đều tràn đầy.
Từ trong tất cả biển âm thanh.
Diệu ngôn vô tận đều phổ khắp.
Đến hết mọi kiếp đời tương lai.
Ngợi ca công đức Phật như biển.
Đem muôn hoa đẹp diệu kỳ nhất.
Nhạc vui phấn thơm cùng ô lọng.
Tối thắng trang nghiêm thực như thế.
Con xin cúng dường các Như Lai.
Y phục đẹp đẽ thơm tho nhất.
Hết hương lại thắp nến và đèn.
Tất cả diệu kỳ và cao quý.
Con đều cúng dường các Như Lai.
Tâm con thắng giải và rộng khắp.
Niềm tin vững chắc nơi chư Phật.
Đều nhờ Phổ Hiền hạnh nguyện lực.
Cúng dường rộng khắp các Như Lai.
Con xưa đã tạo bao ác nghiệp.
Đều vì vô thủy tham sân si.
Đều sinh ra từ thân ngữ ý.
Nay con tất cả đều sám hối.
Thập phương tất cả mọi chúng sinh.
Những người có học hay vô học.
Tất cả Như Lai và Bồ Tát.
Tất cả công đức đều tùy hỷ.
Tất cả ngọn đèn khắp thập phương.
Những vị Bồ Tát mới thành tựu.
Nay con hết thảy đều khuyên thỉnh.
Mong truyền vô thượng diệu pháp luân.
Hết thảy lễ tán cúng dường phúc.
Thỉnh Phật trụ thế chuyển pháp luân.
Tùy hỷ sám hối mọi thiện căn.
Hồi hướng chúng sinh và Phật đạo."

Niệm xong bài văn bảy chữ, quán tưởng trong tâm mình có chữ "Seh" tiếng Phạn phóng tỏa ánh sáng trắng. Còn A Di Đà Phật trong không trung từ tâm phóng ra ánh sáng chữ "Seh" màu đỏ, từ trên cao chiếu xuống, hai luồng ánh sáng đỏ và trắng hòa lẫn vào nhau. Ánh sáng này chạm tới thì nghiệp chướng của bản thân mình và tất cả chúng sinh đều được tiêu trừ, quyết tâm thành Phật.

Trì chú của A Di Đà Phật: "Ôm a-mi-đê-wa sê" 108 biến.
Trì tâm chú vãng sinh của A Di Đà Phật: "Ôm bê-ma-ta-li hum" 108 biến.

Lúc này lại ngồi tĩnh lặng thiền định, cẩn thận quán tưởng chữ "Seh" màu đỏ trong tâm A Di Đà Phật, từ lỗ mũi bên phải của Phật đi ra, rồi lại đi vào lỗ mũi bên trái của chính mình cho đến khi gặp chữ "Seh" trong tâm của chính mình thì hòa lẫn vào nhau, phóng tỏa đại quang minh. Lại quán tưởng chữ "Seh" ánh sáng trắng từ trong tâm của mình cũng từ lỗ mũi phải của mình đi ra, sau đó đi vào lỗ mũi trái của Phật, rồi đi đến thẳng chữ "Seh" tại tâm của Phật, hai chữ hòa nhập làm một, và thế là bản thân và A Di Đà Phật đã trở thành một thể không hai không khác.
(Quán tưởng chính mình và A Di Đà Phật không hai không khác.)

Nhập định, không khởi lên bất kì suy nghĩ nào, bản thân cũng tức là A Di Đà Phật.
Sau khi xuất định, hồi hướng, đại lễ bái.

Đây là nghi quỹ quán tu Bổn tôn A Di Đà Phật trong Tạng mật. Quán tu như vậy lâu ngày tự sẽ trở nên thành thục, đi đứng ngồi nằm đều không xa rời A Di Đà Phật, đây cũng là đại bí mật thành Phật.

Pháp quán tu A Di Đà Phật của Linh Tiên Chân Phật Tông như sau:
Thờ biểu đồ hải hội tây phương Tam Thánh A Di Đà Phật hoặc tượng kim thân A Di Đà Phật đều được.
Trước tiên làm đại lễ bái. (đứng)
Kết ấn cúng dường, dâng cúng dường. (ngồi)
Niệm chú tứ quy y: "Namo guru bei, namo buddha ye, namo dharme ye, namo sangha ye."
Kết thủ ấn chày ba chấu đặt trên đỉnh đầu, niệm "Om buaru lan chuali" bảy biến. Chạm vào đầu, họng, tim, vai trái, vai phải, trở về đỉnh đầu giải ấn.
Niệm tứ vô lượng tâm. (hai tay kết định ấn)

Quán không. Trong hư không hiện lên A Di Đà Phật thân và mặt màu đỏ, khoác áo cà sa, ngồi kiết già trên tòa hoa sen nghìn cánh, hai tay kết định ấn nâng bình bát có chứa đầy cam lộ, ánh mắt từ bi nhìn chúng sinh. Quán tưởng cam lộ trong bình bát trong tay A Di Đà Phật hóa thành ánh sáng trắng bay lên thành một đường vòng cung rót tới lỗ trên đỉnh đầu của hành giả Mật tông, thấm đẫm toàn thân khiến thân thể hành giả trở thành màu trắng trong suốt như thủy tinh, nghiệp chướng hoàn toàn tiêu trừ. (Hoặc hoa sen trên tay phóng quang chiếu dội tới hành giả cũng được.)

Trì tâm chú căn bản của A Di Đà Phật: "Om amitewa seh" 108 biến.
Tiếp theo quán tưởng A Di Đà Phật hóa thành một điểm ánh sáng đỏ đi vào từ lỗ trên đỉnh đầu của hành giả Mật tông, thuận theo trung mạch mà đi xuống, khi đến tim của hành giả Mật tông thì ngồi trên tòa hoa sen trong tim của hành giả Mật tông. Lúc này, A Di Đà Phật từ từ phóng to lên, to đến khi bằng đúng hành giả, hành giả lập tức biến thành A Di Đà Phật, A Di Đà Phật cũng biến thành hành giả, hai người nhập khít chặt chẽ, không có sự khác biệt nào.
Nhập định, không khởi lên suy nghĩ, nhất tâm bất loạn, nhập vào trong tam ma địa của A Di Đà Phật.

Sau khi xuất định, tụng kệ tán thán:
"Lời nguyện trang nghiêm tịnh an lạc,
Cứu khắp chúng sinh nơi trọc thế.
Tây phương tiếp dẫn chứng vô sinh,
A Di Đà Phật con kính lễ."

Hồi hướng:
"Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi cực lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu khổ tam đồ.
Thấy Phật thoát sinh tử,
Như Phật độ tất cả."

Đại lễ bái. Rời khỏi đàn thành.

Giả dụ có người trì xong tâm chú, muốn niệm thêm kinh A Di Đà và niệm thêm Phật hiệu thì đều có thể tùy ý, ở đây hoàn toàn không quy định cứng nhắc. Nghi quỹ này đơn giản hơn nghi quỹ của Tạng mật, nhưng công đức cũng to lớn không kém, người tu trì chắc chắn thành Phật.


### 28. Nghi quỹ phóng sinh của Linh Tiên Chân Phật Tông


(Bản văn này do Liên Nguyện ở Uy Đức Đường tại Malaysia biên tập.)

Người chủ pháp đứng ở giữa, những người tham gia đứng hai bên trái phải và phía sau, người chủ pháp mặt hướng ra biển hoặc hồ.

Niệm "Om buarulan chuali" làm bia giáp hộ thân. (7 biến, chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, trở về đỉnh đầu giải ấn)

Hát bài tán tụng:

"Dương liễu tịnh tủy vẩy khắp tam thiên,
Tính Không bát đức lợi trời người,
Pháp giới rộng lớn không ranh giới,
Diệt trừ tội chướng,
Ngọn lửa hóa hồng liên.
Nam mô Thanh Lương Địa Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư Liên Sinh Bồ Tát. (3 lần)"

Tụng chú:
Om benza samaya za. (triệu thỉnh)
Om benza amilita wanchali hanam hanam hum pay. (tịnh địa)
Namo samanta buddha nam om duruduru devi soha. (an thổ địa)
Namo surupuaye tathayetaye tachutha, om surusuru polosuru soha. (Cam lộ thủy chân ngôn - 7 biến.)
Om sitanto mantolo patoye soha. (Chú đại bi - 21 biến.)
Om mani padme hum seh. (Chú Quan Âm - 21 biến.)
Om ah hum guru bei ahasasamaha liansheng siddhi hum (Thượng sư tâm chú - 108 biến.)

Người chủ pháp đọc thủy văn để khải thỉnh:
"Nước cam lộ từ cành dương liễu của Bồ Tát
Có thể khiến một giọt phủ khắp thập phương
Tiêu trừ hết thảy mọi tanh hôi ô uế
Khiến cho đàn tràng này đều được thanh tịnh.
Dâng hoa thơm, mời hoa thơm, nam mô nhất tâm phụng thỉnh khắp hư không mọi pháp giới thập phương tam thế thường trụ Thượng sư Tam Bảo."

Người chủ pháp đọc bài văn:
"Các Tổ sư truyền đời của Linh Tiên Chân Phật Tông, thập phương tam thế Thượng sư Tam Bảo, Quan Thế Âm Bồ Tát, các vị Đại sĩ, v.v… Duy nguyện từ bi chứng trí hộ niệm. Nay có mọi chúng sinh trên cạn dưới nước bay trên không trung, do người ta giăng lưới đánh bắt mà phải vào cửa tử. Các đệ tử của Linh Tiên Chân Phật Tông phát tâm từ bi, học hạnh Bồ Tát, xin chuộc lại thân mệnh của chúng, phóng thả cho chúng bay xa. Thuận theo kinh điển Đại thừa, thay cho sám hối, chuyển thành quy y Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư Liên Sinh Bồ Tát, xưng mật chú và thuyết 12 nhân duyên. Nhưng vì những giống loài này tội chướng sâu nặng, thần thức hôn mê, không thể hiểu biết, nay nương nhờ pháp thâm sâu mà thỉnh cầu Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư Liên Sinh Bồ Tát uy đức gia trì, khiến chúng khai ngộ, sớm được giải thoát. Các đệ tử Linh Tiên Chân Phật Tông biết chúng nhiều đời nghiệp nặng, phải đọa vào đạo súc sinh, nay vì chúng mà hướng về Thượng sư Tam Bảo bày tỏ tội lỗi, chúng cũng hết sức chân thành mà cùng sám hối.

Mọi người cùng niệm:
"Xưa kia đã tạo bao ác nghiệp
Đều bởi vô thủy tham sân si
Sinh ra bởi vì thân ngữ ý
Nay cầu sám hối trước Thượng sư
Xưa kia đã tạo bao ác nghiệp
Đều bởi vô thủy tham sân si
Sinh ra bởi vì thân ngữ ý
Nay cầu sám hối trước chư Phật.
Xưa kia đã tạo bao ác nghiệp
Đều bởi vô thủy tham sân si
Sinh ra bởi vì thân ngữ ý
Xin được sám hối mọi tội căn.
Tội sinh từ tâm tâm ân hận
Nếu tâm diệt rồi tội cũng vong
Tâm vong tội diệt hết thảy không
Như thế gọi là thực sám hối."

Tụng chú sám hối:
"Om benza samaya suto ah. (21 biến)
Lipo lipo kio kio te tolanite nialate pilinite muahuachate chenlinchante soha. (7 biến)
Om sawapipo nahenan wachilaye soha. (7 biến)"

Người chủ pháp truyền thụ quy y:
"Namo guru bei. Quy y Thượng sư không đọa ác đạo.
Namo buddha ye. Quy y Phật không đọa địa ngục.
Namo dharma ye. Quy y pháp không đọa ngạ quỷ.
Namo sangha ye. Quy y Thánh hiền không đọa súc sinh.

Phật tử chúng bay quy y các vị Tổ sư truyền đời Linh Tiên Chân Phật Tông, từ nay về sau xưng Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư Liên Sinh Bồ Tát làm thầy, và không quy y ngoại đạo tà chúng."

Mọi người cùng tụng:
"Nam mô thọ mệnh tự tại, Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư Liên Sinh Bồ Tát. Om ah hum.
Nam mô tâm tự tại, Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư Liên Sinh Bồ Tát. Om ah hum.
Nam mô tài tự tại, Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư Liên Sinh Bồ Tát. Om ah hum.
Nam mô nghiệp tự tại, Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư Liên Sinh Bồ Tát. Om ah hum.
Nam mô sinh tự tại, Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư Liên Sinh Bồ Tát. Om ah hum.
Nam mô nguyện tự tại, Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư Liên Sinh Bồ Tát. Om ah hum.
Nam mô giải tự tại, Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư Liên Sinh Bồ Tát. Om ah hum.
Nam mô như ý tự tại, Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư Liên Sinh Bồ Tát. Om ah hum.
Nam mô trí tự tại, Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư Liên Sinh Bồ Tát. Om ah hum.
Nam mô pháp tự tại, Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư Liên Sinh Bồ Tát. Om ah hum.

Các Phật tử đã quy y Thượng sư và Tam Bảo rồi, nay ta vì các người mà nói 12 nhân duyên, sinh tướng diệt tướng, nay các người đã biết pháp sinh diệt, ngộ được pháp bất sinh diệt, cần sống rốt ráo, cần sống thanh tịnh, cần sống tự tại, một khi đã rốt ráo rồi thì tất cả đều rốt ráo, một khi đã thanh tịnh thì tất cả đều thanh tịnh, một khi tự tại rồi thì tất cả tự tại, cùng với chư Phật chứng đại niết bàn. Cái gọi là vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sinh, sinh duyên lão tử, ưu sầu khổ não.

Cái gọi là vô minh diệt tức là hành diệt, hành diệt tức là thức diệt, thức diệt thì danh sắc diệt, danh sắc diệt thì lục nhập diệt, lục nhập diệt thì xúc diệt, xúc diệt thì thọ diệt, thọ diệt thì ái diệt, ái diệt thì thủ diệt, thủ diệt thì hữu diệt, hữu diệt thì sinh diệt, sinh diệt thì lão tử ưu sầu khổ não diệt. Vô minh vô tính vốn là thể bất động của chư Phật.

Các người cố chấp, vọng khởi vô minh, giống như con mắt bị bệnh, nhìn thấy hoa trong hư không mà lập tức biết được, vô minh lập tức bị diệt. Phật tử, ta lại vì các người mà nói bốn thề nguyện lớn, khiến các người nghe thấy mà nương dựa vào Thượng sư phát nguyện tu hành, các người hãy chăm chú lắng nghe."

Phát nguyện:
"Chúng sinh vô biên thề nguyện độ,
Phiền não vô tận thề nguyện dứt,
Pháp môn vô lượng thề nguyện học,
Phật đạo vô thượng thề nguyện thành.
Tự tính chúng sinh thề nguyện độ,
Tự tính phiền não thề nguyện dứt,
Tự tính pháp môn thề nguyện học,
Tự tính Phật đạo thề nguyện thành.

Xưng tán danh hiệu Như Lai:
"Các đệ tử. Ta vì các người mà xưng tán danh hiệu cát tường của Như Lai, có thể khiến cho các người vĩnh viễn rời xa khổ tam đồ bát nạn, thường xuyên làm Phật tử chân tịnh của Như Lai.

Nam mô Đa Bảo Như Lai.
Nam mô Bảo Thắng Như Lai.
Nam mô Diệu Sắc Thân Như Lai.
Nam mô Quảng Bác Như Lai.
Nam mô Li Bố Úy Như Lai.
Nam mô Cam Lộ Vương Như Lai.
Nam mô A Di Đà Như Lai.

Hỡi các Phật tử, bảy vị Như Lai này vì thề nguyện lực đã cứu giúp chúng sinh, xưng danh hiệu của các ngài ba lần thì nghìn đời xa rời đau khổ, chứng đạo vô thượng. Chỉ mong các người sau khi được thả ra, vĩnh viễn không bị ác ma nuốt gọn, không bị lưới bắt, giữ được hết thọ mệnh, sau khi chết đi, nhờ sức mạnh uy đức của Thượng sư Tam Bảo mà vãng sinh tùy theo ý nguyện, giữ giới tu hành, hiểu biết Phật pháp, làm theo Bồ Tát chuyển hóa chúng sinh, rồi nguyện phóng sinh. Các đệ tử bồ đề hạnh nguyện, niệm niệm tăng minh, thường cứu hộ chúng sinh như mình mong muốn, được sống an lạc, gặp A Di Đà Phật chứng vô sinh nhẫn, phân ra làm những vị Phật ở cõi trần trong vô tận kiếp tương lai quảng độ chúng sinh, hơn nữa còn giúp những người lạ hồi tâm hướng thiện, cùng đắc giải thoát, cùng chứng chân thường."

Hát bài kệ tán thán:
"Thai sinh noãn sinh thấp sinh hóa sinh nhiều kiếp mê muội, nay quy y Thượng sư Tam Bảo, phát bồ đề, tránh khỏi nạn lồng nhốt lưới bắt, biển rộng trời cao, theo Phật sinh về tây thiên.
Nam mô Sinh Phật Giới Bồ Tát Ma Ha Tát, Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật.
Nam mô Tây phương Cực lạc thế giới đại từ đại bi A Di Đà Phật."

Om amitewa ayo siddhi hum. (Nhiễu quanh chỗ để đám sinh linh ba vòng.)
Om ah hum guru bei ahasasamaha liansheng siddhi hum. (Khi trì Thượng sư tâm chú thì đem tất cả sinh linh thả xuống biển xuống hồ, con nào bay trên không trung thì thả lên không trung, cho chúng được tự do đi.)

Hồi hướng:
"Công đức phóng sinh rất thù thắng,
Phúc đức vô biên đều hồi hướng
Mong mọi chúng sinh đang mê lầm
Mau đến cõi Phật vô lượng quang."

(Phóng sinh vốn là một trong những hạnh nguyện đại bi, có ý vị từ bi và đồng thể đại bi của chư Phật, là một việc làm đáng để Phật tử noi theo. Nghi quỹ phóng sinh không có gì khác ngoài bốn phần nghi thức chính là khởi thỉnh, sám hối, quy y, niệm Phật, và trong tiếng tụng chú niệm Phật thì thả sinh linh đi. Nghi thức này có thể khiến cho đời tương lai của sinh linh có được nhiều phúc báo lớn lao, người phóng sinh cũng có được phúc nhiều vô lượng, sinh linh được phóng sinh cũng có được phúc nhiều vô lượng. Bản văn nghi quỹ này có thể phổ biến rộng rãi, người người phóng sinh, sinh linh và chúng sinh phúc thọ vô lượng, có công đức rất rất lớn, giống như Bồ Tát vậy.)


### 29. Cuộc sống trên đất Mỹ của Liên Sinh Thượng sư


Rất nhiều rất nhiều độc giả gửi thư đến hỏi tôi về cuộc sống nơi đất Mỹ ra sao. Còn tôi, rất hiếm khi tôi trả lời về điều này trong thư, do đó, tôi chỉ mượn những bài viết ngắn này để thuật lại tất cả việc tôi ở Mỹ để đáp tạ sự quan tâm của độc giả.

Trên thực tế, người dân sống tại Mỹ hiện nay dành sự thiên vị rất lớn cho những người "lắm tiền". Với phương tiện hiện đại hóa, tiền bạc vẫn là chìa khóa để mở ra các cánh cửa, nhưng Liên Sinh Thượng sư đến Mỹ để ẩn cư tu pháp và và viết sách, chú trọng vào chất lượng tâm linh, chứ không phải để hưởng phúc tại vương quốc đô-la.

Có người nói, thầy ở Mỹ sáng lập Linh Tiên Chân Phật Tông như thế là phát tài rồi. Tôi cười, nói với độc giả này rằng, tôi ẩn cư đóng cửa viết sách, rất nhiều tư tưởng tâm linh được kích thích và phát khởi, ngoại tệ không có nhưng trái lại, "tài năng ngoại" lại được khơi dậy.

Khổ thì có khổ, nhưng cuộc đời viết văn lại vì thế mà tràn đầy nét đẹp, cho đến nay tôi đã viết được 77 cuốn sách. [ Ghi chú của người dich: đến tháng 7 năm 2021, Liên Sinh Hoạt Phật đã viết 284 cuốn sách. ] Tôi cho rằng tinh thần nỗ lực viết sách của tôi cũng bền bỉ như sự tinh tấn tu pháp của tôi, là cân bằng và toàn vẹn. Trong thời gian tôi ở Mỹ, viết sách và tu pháp đã chiếm hết gần như toàn bộ cuộc sống của tôi. Đây là cuộc sống nề nếp của tôi tại nơi đất khách Hoa Kì.

Nói rất thật lòng, cuộc sống ở nơi đất khách Hoa Kì của tôi khổ cực hơn cuộc sống ở trong nước. Tôi ăn những đồ ăn đơn giản. Tôi từng kể có đệ tử ở Mỹ cúng dường rau xanh, số rau xanh này là siêu thị bán ế, là hàng đã quá thời hạn tươi ngon, nên bán rẻ lại cho đệ tử ở Mỹ, rồi đệ tử ở Mỹ chuyển thành cúng dường cho Sư Tôn, do vậy mà rau tôi ăn không phải tốn tiền, đều là đồ cúng dường. Tôi rất hài lòng với những đồ ăn này, bởi vì có thể tiết kiệm được thì tiết kiệm thôi! Rau rẻ nhưng vẫn đủ dinh dưỡng, những loại rau này tôi lại rất thích ăn, thỉnh thoảng cũng có cả khoai lang nữa!

Quần áo của tôi thì được mua từ cửa hàng đồ cũ, quần hay áo đều thế, ngay cả Âu phục cũng thế, một bộ Âu phục cũng chỉ có hai đô la Mỹ, xấp xỉ 80 Đài tệ. Cửa hàng đồ cũ là nơi tôi đến để mua quần áo mặc thay đổi. Có đệ tử Đài Loan đến Mỹ, tôi cũng đưa họ đến cửa hàng đồ cũ để mua quần áo, thật sự là rất rẻ. Tôi mặc quần áo mà người khác đã mặc qua, việc này không phải là để tôi lấy lòng thiên hạ, mà là tôi bẩm sinh đã tiết kiệm, cuộc sống của tôi không coi trọng hưởng thụ vật chất, do vậy tất cả đồ tôi mặc đều là hàng "second hand". Đừng xem thường những đồ trong cửa hàng second hand, có nhiều món cũng đẹp cực kì.

Xe mà Liên Sinh Thượng sư lái nghe nói là xe "quốc dân" rẻ nhất nước Mỹ. Lúc đầu tôi không biết đó là loại xe quốc dân rẻ nhất, mãi cho đến một hôm, có một đệ tử lái xe Bentley đến thăm, cười và nói với tôi: "Thầy lái chiếc xe này thì không thích hợp rồi!" Tôi hỏi: "Vì sao vậy?" Anh ta trả lời: "Đây là xe quốc dân rẻ nhất nước Mỹ đó!" Tôi nghe xong có hơi đỏ mặt, nhưng chỉ một lát thì tôi đã nghĩ một cách thông thoáng. Quan niệm của tôi là, cuộc sống giàu sang hay bần cùng, hoàn cảnh dù khác nhau, nhưng ở trong cấp độ của mình, tôi nhận thấy về đời sống vật chất thì tôi thua người khác, nhưng về mặt tinh thần, tôi là người có tâm linh phong phú, không ai có thể so sánh được.

Seattle nằm ở phía tây bắc của nước Mỹ, thiên về hướng bắc, mùa mưa rơi vào mùa thu và mùa đông, khí hậu khá lạnh, băng giá tuyết rơi là điều thường thấy, thế nhưng bấy lâu nay tôi cũng chưa từng mở máy sưởi, bởi vì máy sưởi tốn điện đáng kinh ngạc. Trong nhà tôi giống như cái tủ lạnh, có đệ tử từ phương xa đến học pháp xuýt xoa cảm thán rằng nhà của thầy còn lạnh hơn cả khí hậu của Seattle. Thế nhưng tôi vẫn không sợ lạnh, không bật máy sưởi có hai điều tốt, thứ nhất là luyện tập pháp linh nhiệt của bản thân để chống lại cái lạnh, thứ hai vẫn là tiết kiệm điện tiết kiệm tiền.

Tôi từng nói ba năm nay tôi không gọi điện thoại về nước, không phải vì không có gì để nói, mà là không nỡ vì gọi một cuộc điện thoại ba phút mà mất tới 400 đồng Đài tệ. 400 đồng Đài tệ này tôi có thể mua giấy mua bút, viết được rất nhiều chữ đó! Ba năm nay, tôi chưa đi xem một bộ phim nào, cũng không còn cuộc sống âm nhạc và khiêu vũ. Tôi cảm thấy những ngày sống trên đất Mỹ đơn điệu này, tôi hoàn toàn giống như một tăng nhân khổ hạnh, tràn đầy ý vị khổ tu và thiền định sâu hơn.

Trong quãng thời gian sống cực kì tiết kiệm này, tôi từng đi xem một chiếc máy ghi âm, giá tiền thấp nhất khi đó là 47 đô la Mĩ, khoảng 1800 Đài tệ. Tôi nhìn ngắm, rồi sờ thử nó, không nỡ mua, cuối cùng hạ quyết tâm mua nó. Đó là lần bỏ tiền ra mua đồ sung sướng nhất trong cuộc sống tại Mỹ của tôi, rất đáng để tôi ghi nhớ và kỉ niệm. Rất nhiều độc giả muốn tôi ghi âm lại chú ngữ, nhưng họ không biết rằng cuộc sống trên đất Mỹ của tôi ngay cả một chiếc máy ghi âm cũng không có.

Thời gian sống trên đất Mỹ, có đệ tử đến muốn chụp ảnh cùng thầy để lưu niệm, nhưng anh ta không biết rằng trong nhà của Liên Sinh Thượng sư, ngay cả một chiếc máy chụp ảnh cũng không có!

Cuộc sống của tôi mộc mạc giản dị hơn người bình thường.
Thói quen chăm chỉ tằn tiện của tôi đã được bồi dưỡng từ nhỏ, tôi đã quen với cuộc sống của người nghèo. Thời học cấp hai, cấp ba, tôi đã bắt đầu kiếm tiền để bù vào học phí. Mùa hè nghỉ hè tôi đều ra ngoài làm công kiếm tiền, do vậy, tôi biết một đồng một hào đều không dễ gì có được. Tôi có tính cách chịu thương chịu khó, tôi chính là một người thầy như vậy đó.

Ba năm di cư đến Mỹ, cuộc sống của tôi là cần cù tiết kiệm. Một vị thầy như tôi đây cuộc sống giản đơn, rất có quy tắc, ngày ngày tu pháp, ngày ngày viết sách, với nhịp sống chất phác và ý chí kiên nghị, trong cảnh giới tiến sâu vào thiền định, tôi đã thoát khỏi những khuôn mẫu cũ, tạo nên sức sống mới mạnh mẽ.

Trong ba năm ở Mỹ, từ trong cuộc sống gian nan khốn đốn, tôi lại một lần nữa tôi luyện bản thân, cuộc sống vật chất của tôi đầy gian khổ, nhưng trên phương diện tinh thần thì biển rộng trời cao, tự do tung hoành, tôi cảm nhận được rất nhiều điều hấp dẫn mê say, có thể nói là thần khí, nội tâm, ý cảnh đều vô cùng siêu xuất.

Đương nhiên, đệ tử ở các nước trên thế giới vẫn liên tục gửi cúng dường, tôi đều để dành toàn bộ số tiền cúng dường này để dùng vào những lúc cấp thiết, và tôi vẫn sống những ngày tháng giản tiện của tôi. Tôi tương đối hà khắc với bản thân mình, nhưng đối với khoản tiền nên tiêu thì tôi vẫn hào phóng, ví như tiền làm việc thiện, tiền bố thí, tiền cứu tế đói nghèo, tiền công ích, tôi đều không tiếc.

Tôi chưa bao giờ yêu cầu các đệ tử phải cúng dường cho Sư Tôn bao nhiêu tiền, hay người quy y phải đưa cho Sư Tôn bao nhiêu tiền phí quy y, tham gia pháp hội phải nộp chi phí bao nhiêu, hỏi việc Sư Tôn cần phải bao nhiêu tiền, tất cả tôi đều tùy ý, và cũng để mặc mọi người tùy ý. Người giàu thì bố thí nhiều, người nghèo thì bố thí ít, tôi đều trân quý từng đồng từng hào của mọi người, tiền sẽ được sử dụng khéo léo vào việc thích hợp chứ không phải để cho thầy hưởng lạc.

Tiền thu được từ mỗi lần pháp hội đều được gom vào quỹ xây dựng Linh Tiên Tịnh Xá, thầy không lấy một đồng một hào nào. Cuộc sống tại Mỹ của Liên Sinh Thượng sư do bởi không hưởng lạc nên đương nhiên không cần phải tiêu tiền, không cần phải tiêu tiền thì cần tiền để làm gì?

Có người cho rằng Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư xây dựng tổng hội Lôi Môn Linh Tiên Tịnh Xá của Linh Tiên Chân Phật Tông, đương nhiên quyền tài sản của ngôi chùa này chắc chắn là thầy sẽ nắm giữ rồi, như thế thì thầy chắc chắn là một vị thầy giàu có rồi. Thế nhưng mọi người nghĩ sai rồi, tôi xây dựng nên Lôi Môn Linh Tiên Tịnh Xá, bản thân tôi không giữ chức trụ trì, chức trụ trì là do Thượng sư Trần Tước Viên đảm nhiệm, đó là ý của tôi. Tôi muốn Thượng sư Trần Tước Viên chịu trách nhiệm toàn bộ sự vụ của tông phái ở nước Mỹ và toàn thế giới. Đương nhiên quyền tài sản của ngôi chùa Lôi Môn Linh Tiên Tịnh Xá đều do Thượng sư Trần Tước Viên sắp xếp, ông ấy là một Thượng sư có thể tin cậy được. Tôi giao tất cả quyền lực cho ông ấy.

Còn Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư vốn dĩ là một người thoải mái tự tại, tôi không thích nhất là sự ràng buộc vật chất, đối với danh lợi cũng chưa bao giờ quan tâm, đối với tiền bạc cũng không quyến luyến, tôi chỉ thích chấp vào "minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử" mà thôi. Thứ mà tôi cần lo liệu là thân của tôi là thân của Phật, tâm của tôi là tâm của Phật, thân tâm của tôi chính là chùa, mọi người tu được pháp Thượng sư tương ứng thì chính là đã tạo nên, mở rộng và biểu hiện được lĩnh vực tinh thần của thầy rồi. Thầy không lo không có chùa, chỉ lo không có đạo mà thôi!

Bản thân Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư không đảm nhiệm chức trụ trì của Lôi Môn Linh Tiên Tịnh Xá, mà thầy chỉ là tông chủ của Linh Tiên Chân Phật Tông, chức tông chủ này không hề có yếu tố vật chất nào cả, không phải là Thượng sư giàu có, không phải là Thượng sư có quyền uy, không phải là Thượng sư có địa vị, không phải là Thượng sư quan cao, không phải là Thượng sư bợ đỡ. Có thể nói, tông chủ của Linh Tiên Chân Phật Tông chỉ là một cái tên trên danh nghĩa mà thôi, tất cả đều không có, đều là không, tôi chính là một vị tông chủ Thượng sư như vậy đó.

Trên lĩnh vực tinh thần, tuyên dương Phật pháp là một sứ mệnh, nắm bắt được những tâm đắc từ tinh hoa tồn tại trong khu rừng Mật pháp um tùm, nghiêm cẩn viết sách truyền pháp, cuộc sống thanh bạch thuần khiết, cá tính chất phác mộc mạc, trong điềm tĩnh có khí phách hiên ngang, bên trong chất chứa lòng từ bi cao cả để sáng tạo sống động hồn nhiên những chuyện văn chương thiên cổ. Còn vị Thượng sư là tôi đây luôn cẩn thận tỉ mỉ, mạnh mẽ dám nghĩ dám làm.

Cuộc sống của tôi, sách tôi xuất bản, bất kể người ta tán dương cũng được, châm biếm và phỉ báng cũng được, tôi cũng vẫn là một vị Thượng sư như thế, dùng phương thức tả thực để truyền đạt triết lý sống của bản thân. Tôi không giỏi xử lý những sự vụ thông tục của thế gian, cho nên chỉ có thể biểu hiện sự tinh tế sâu sắc trên phương diện tinh thần.

Ba năm di cư đến Mỹ, tôi không tiêu uổng phí một hào nào. Tiền tôi tiêu gần như bằng không, không mặc quần áo mới, không ăn quà vặt, không giải trí tiêu khiển, không gọi điện thoại, tất cả mọi thứ đều không tiêu xài. Những ngày tháng ở ẩn không có mùi vị của vật chất. Bởi vì cấm tiệt cuộc sống vật chất khiến tôi minh tâm kiến tính, cuối cùng tôi đã ngộ ra "gương mặt thân quen" bất khả tư nghì. Đó là chứng ngộ của Thượng sư. Thượng sư đã "thoát xác" như vậy đó, biến hóa thành con rồng có thể làm mưa làm gió.

Đệ tử của Linh Tiên Chân Phật Tông cần hiểu được tâm của thầy, cần kính sư, trọng pháp, thực tu, ai nấy đều đi từ sám hối tới tiêu nghiệp chướng, từ hiểu được chân lý đến thực tu tương ứng, nhờ tương ứng mà nhập vào tam ma địa, đi trên con đường vĩ đại chân chính của đời người. Đến khi ai ai cũng đắc chứng, người người đều là Thượng sư, đây chính là kì vọng lớn nhất của tôi, kì vọng đệ tử Chân Phật Tông lan tỏa ánh hào quang của thầy.


### 30. Biên tập những ứng nghiệm


[Ghi chép của một số đệ tử]

1. Ngày 10 tháng 6, thầy tự tay ban tặng, ngày 15 tháng 6, đệ tử đã nhận được. Đệ tử khẳng định chắc chắn là nhờ bài kệ mà thầy đã ban cho nên bệnh của Tạ Lệ Châu nhiều nhất là 30 ngày sẽ bình phục. Trên thực tế thì ngày 10 tháng 7 ở Bệnh viện đa khoa Cựu chiến binh Thạch Bài cô ấy đã được xuất viện rồi. Có người hỏi con khi ấy vì sao lại khẳng định chắc chắn mà trả lời không hề suy nghĩ gì rằng 30 ngày sẽ khỏi bệnh. Con nói: "Đạo hạnh của thầy Lư cao tới mức người bình thường không thể nào tưởng tượng nổi đâu."
(Khúc Quốc Khiêm)

1. Mấy tháng trước nhận được thư của thầy, Hán Thành (Liên Ông) sư huynh đưa cho đệ tử Hồng (Liên Nguyên) đọc qua. Chúng con gặp nhau tại một tiệm cà phê, đột nhiên ngửi thấy một mùi thơm chưa từng thấy có trên đời, không biết từ nơi nào bay tới, khiến cho đệ tử chúng con vô cùng vui sướng. Thầy muôn phần từ bi, chỉ vừa nhắc đến tên thầy thì đã có hương thơm lạ bay đến rồi, ai nấy tinh thần đều phấn khởi.
(Lý Hồng Hướng)

1. Một buổi tối sau khi con bắt đầu tu được khoảng hai tháng, trong giấc ngủ con mơ thấy thầy mặc y phục thường ngày quá bộ đến nhà con, thầy đến xem phong thủy nhà con, chỉ điểm cho con rất rõ ràng, đệ tử cảm thấy thầy đúng là chân thực, không phải hư giả, không khác gì một vị Phật.
(Lý Hồng Hướng)

1. Năng lực vĩ đại của thầy khiến con rất đỗi kinh ngạc. Đúng vào tối ngày 15 tháng 8 (âm lịch), con đang ở trên tầng thượng ngắm trăng, con cùng bà xã vừa ngắm trăng vừa trì Thượng sư tâm chú, ấy thế mà thật sự nhìn thấy thầy xuất hiện trong quầng ánh sáng của mặt trăng, khuôn mặt vô cùng rõ nét. Bà xã và con đều nhìn thấy rất rõ ràng, hình ảnh ấy xuất hiện khoảng hai mươi phút, hình ảnh thầy hiện ra là hình pháp tướng, đội mũ miện và ngồi trên hoa sen.
(Thẩm Gia Kính)

1. Thầy quả thật là quá thần kì. Đúng vào ngày nhận được chỉ thị của thầy, nhà con đã trở về. Anh ấy đã thay đổi trở nên vô cùng vui vẻ hòa nhã, đối xử với con như trước đây, đồng ý với con từ nay sẽ cắt đứt quan hệ với người phụ nữ kia, xây dựng lại gia đình đã tan vỡ. Con lập tức đến Đài Trung thỉnh về một bức tượng sứ hình Thượng sư, thầy là ân nhân của cả gia đình con, nhà con cũng đã đồng ý quy y thầy, tất cả đều quá ư là viên mãn.
(Tô Ti)




### 31. Lựa chọn của bậc trí giả


Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư đã theo đuổi chân lý bao lâu rồi? Thật ra, từ khi tôi hiểu chuyện đến nay, tôi đã khao khát tìm tòi chân lý. Khi còn theo đạo Cơ Đốc, tôi biết giảng kinh, tôi làm thầy giảng dạy trường học Chúa nhật, đó chính là theo đuổi chân lý. Về sau tôi học Đạo giáo, cũng là với mục đích tìm hiểu chân lý, cho đến khi quy y Phật môn Hiển giáo, quy y Phật môn Mật giáo, quy y rất nhiều các giáo phái rẽ nhánh nhỏ không hề phân biệt, tất cả đều là vì tôi muốn tìm tòi chân lý. Nếu như lần lượt liệt kê ra các vị sư phụ  của tôi thì e rằng cũng phải tới hơn trăm người. Chỉ cần sư phụ là người đắc được một số chứng lượng là tôi sẽ đi bái thầy học đạo.

Nói ra thì khiến người ta khó tin, cái tâm tìm cầu chân lý này của tôi vẫn luôn luôn tiến tới không dừng lại. Lúc còn nhỏ tuổi thì tôi thử nghiệm đủ loại pháp, tìm tòi mọi phương diện, ngày ngày tinh tấn không ngừng thì mới có được vinh dự là một Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư của ngày hôm nay.

Nói thật lòng, sự vẻ vang này không phải một hai năm mà có được, không phải tự dưng bất ngờ rơi xuống, mà là tôi đã thật sự bỏ tâm huyết cả một đời mới có được. Con người tôi đây nỗ lực vô cùng, đối với sự kiên trì theo đuổi chân lý, tôi đã giữ được sự tinh tấn bao năm như một ngày, tinh thần tu pháp và tinh thần viết sách của tôi là hai quỹ đạo song song, độc giả muốn hiểu được nghị lực tinh thần của tôi thì có thể từ việc đọc sách của tôi mà thấy được cuộc đời nỗ lực phấn đấu này của tôi.

Tôi không hề thích làm thầy thiên hạ. Có một quãng thời gian rất dài, tôi tự biết mình "chân lý chưa đắc, đạo quả chưa viên", bản thân chưa có được chứng ngộ chân thực. Khi ấy có rất nhiều người muốn quy y tôi, tôi đều khéo léo từ chối. Mấy năm gần đây tôi mới thu nhận đệ tử, không ngờ, tôi vừa bắt đầu thu nhận đệ tử thì nay đã có sáu mươi nghìn đệ tử từ khắp nơi trên thế giới đến quy y.

Trước kia tôi không thu nhận đệ tử, gần đây mới thu nhận, là vì sao? Bởi vì tôi đã thật sự có được chứng đắc, đích thực đã đắc chứng tự chủ sinh tử, minh tâm kiến tính. Tôi tự biết rằng mình đã hiểu thấu chân lý rồi, hơn nữa, tự thân chính là chân lý, tôi đã hiểu, nhưng tôi cũng không thể giấu giếm để tư lợi cho mình, tôi muốn lan truyền "chân lý", truyền pháp luân chân lý, Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư tôi đây không phải là hư danh, mà thực sự là người đã thấu triệt và đắc chứng.

Hôm nay, rất nhiều pháp sư, Thượng sư, tì kheo, tì kheo ni đến quy y tôi, tôi không hề lên mặt ngạo mạn, bởi vì bản thân tôi cũng bắt đầu học pháp từ lúc rất tầm thường nhỏ bé cho đến khi là Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư ngày hôm nay chính là nhờ có tinh thần thực tu.

Ngày nay, rất nhiều trí giả đến quy y tôi học pháp, tiếp nhận quán đảnh truyền thừa Linh Tiên Chân Phật Tông. Tôi cũng vì thế mà yêu cầu mọi người cần chú trọng thực tu, dựa trên tinh thần tinh tấn nỗ lực, đừng tính toán cần bao nhiêu năm mới khai phá ra chân lý, cứ nỗ lực cho đến khi thực sự có được đắc chứng. Như vậy thì tôi truyền pháp, chuyển pháp luân mới có thể từ đời này sang đời khác cho đến khi chúng sinh đều thành Phật.

Trong bài viết ngắn này, tôi xin công bố một bức thư "Lựa chọn của trí giả" để chứng tỏ bậc trí giả đã học qua nhiều pháp môn đều đến quy Linh Tiên Chân Phật Tông.

"Lư Sư Tôn kính yêu, pháp tọa soi xét!

Cung kính ngưỡng mộ thầy đã hơn 10 năm, tắm đẫm trong những bài học tâm linh của thầy, mỗi ngày đọc một cuốn sách lại phát sinh thêm nhiều niềm vui và lòng biết ơn vô hạn. Tâm linh của đệ tử từ lâu đã chìm đắm trong biển trí huệ vô tận của thầy, chỉ tiếc là đệ tử ngu dốt, vẫn không sao hiểu thông và thấu triệt Mật pháp chân chính, do vậy mà nay, dưới sự thỉnh cầu quy y Thượng sư, khẩn cầu Thượng sư chỉ dẫn cho đệ tử sớm đắc chứng quả.

Đệ tử tên là Hề Đại Phủ, từ nhỏ đã thích Ngũ Thuật, đã bái Khổng Nhật Xương môn. Năm Dân Quốc 60 thì quy y Thiên Đức Thánh giáo, vị thầy khai sáng là thầy Ngô Tính Chính, cũng từng bái kiến thầy Vương Địch Khanh, thầy Mao Bá Kì, thầy Lưu Bội Bân, và thầy Lý Ngọc Giai, cũng từng đoạt học bổng Nhâm Tí của thầy Vương Đức Phổ.

Tục ngữ nói, một tin một ngờ, khi niềm tin bắt đầu thành thật thì đệ tử thường tự hỏi, ta từ đâu đến? Vì sao lại đến? Ai bảo ta đến đây? Mục đích là gì? Chết rồi thì đi về đâu? Nhưng cứ tự hỏi suốt hơn 10 năm mà vẫn không có câu trả lời chắc chắn. Nên lập đức, lập ngôn, lập công để cầu tên tuổi bất diệt, hay là nghiên cứu sâu về sinh tử để trực siêu tam giới?

Đệ tử từng học về số mệnh, tử vi, tử bình và bốc dịch, nhưng luôn cảm thấy quá nhiều tinh sát, không biết phải chọn cái nào. Hơn nữa, sự việc mà mình thật sự muốn biết thì không có cách nào giải thích một cách chắc chắn và đưa ra cách hóa giải cho người khác, những điểm thật sự tinh vi thì trái lại, mình lại không có năng lực. Châm cứu và y dược cho dù giải trừ được sự đau đớn của thân thể nhưng sự khổ não và oan nghiệt của tâm linh thì cũng không biết xoay sở ra sao.

Học địa lý phong thủy thì khó quá, hơn nữa các nhà và học phái phong thủy lại mâu thuẫn lộn xộn. Xem tướng mặt, xem tay thì vẫn luôn là tùy theo ý mình mà nói, đến Khổng Minh còn có sai lầm với Mã Tắc huống hồ các thầy lang giang hồ ở phường chợ. Đọc những cuốn sách của Sư Tôn như "Thế giới con mắt thứ ba" và "Linh cơ thần toán", thật sự khiến cho những người theo Ngũ Thuật tán thán, bái phục, ngưỡng mộ, Ngũ Thuật trong chốc lát đã trở thành thứ tài vặt thấp kém.

Đệ tử thường nghe người cha quá cố của mình nói: "Nam sợ đi sai đường, nữ sợ gả sai chồng." Đệ tử tuổi tác cao lên, mặc dù đã dùng hết tinh lực để theo đuổi chân lý, tri thức, nhưng biển kiến thức mênh mông, tuổi xuân qua đi, đời người như điện, còn những cuốn sách đầy bụi giống như đống giấy vụn chất đầy trên giá sách, tri thức quá nhiều, trái lại chúng giống như một đám hỗn độn, vướng víu mâu thuẫn không rõ ràng, đệ tử phải bắt đầu từ đâu đây? Vẫn quanh quẩn ở ngã tư đường thế này! Trong thời đại tri thức bùng nổ này, thời đại Mật pháp công khai, người không tin thì vẫn dứt khoát nhắm chặt mắt, nhưng kệ họ! Người thành tín thì lại bị đám thành quả trí tuệ lòe loẹt làm cho hồ đồ, trở nên lúng túng không biết phải làm sao, phải bắt đầu từ đâu, từ nhiều mục tiêu trở thành chẳng có mục tiêu.

Hiện đệ tử đang làm việc tại Viện nghiên cứu khoa học Trung Sơn, tham gia vào công việc kiểm soát chất lượng xử lý và ứng dụng máy vi tính, mặc dù công việc rất bận bịu nhưng cuộc sống có thể coi là ổn định. Công việc nghiên cứu chủ yếu là kiểm tra số liệu, viết quy cách kiểm tra và sổ tay kiểm tra chất lượng, tìm một số vấn đề để nghiên cứu viết báo cáo và viết chương trình máy tính. Nói thật lòng, đệ tử hết sức ngưỡng mộ sự tự do tự tại của thầy, có thể chú tâm vào sự tu trì pháp, tự do làm sao, thanh cao tao nhã làm sao, phóng khoáng làm sao, làm công việc độ hóa thế nhân khắp nơi, lợi ích trời người. Chỉ mong đệ tử có một ngày có thể được tự do phóng khoáng giống như Liên Sinh Kim cương Thượng sư, hoặc giống như tôn chủ Tiêu Công của phái Nhất Khí hưng thịnh đi khắp nơi độ hóa.

Đệ tử quy y Thánh giáo Thiên Đức, cũng từng chữa bệnh tâm linh cho người ta, được thầy Vương Địch Khanh dạy cho "Châm cứu vô hình học" và danh ngôn, và thầy Ngô Tính Chính tặng cho tháp Vạn Phật Bách Bảo Lung Linh và hoa sen xanh, đây là nhân duyên gì? Xin thầy khai thị.

Kính chúc cát tường như ý.
Đệ tử Hề Đài Phủ kính thư."

Hề Đài Phủ này là một bậc trí giả, trí giả cũng tới quy y Linh Tiên Chân Phật Tông. Đúng vậy, ngày nay là thời đại tri thức bùng nổ, chỉ riêng các môn các phái tôn giáo đã khiến cho người ta hoa mắt chóng mặt rồi, con đường nào mới là đúng, đây là việc đáng để chúng sinh nghiên cứu sâu, việc này đòi hỏi nhãn quang chính xác.

Tôi muốn mọi người trước hết hãy quan sát rõ ràng, đừng hùa theo một cách mù quáng, cần nhận ra một vị Kim cương Thượng sư chân chính, đừng để cho các Thượng sư giả lừa bịp. Theo những gì tôi học được, chỉ cần mỗi ngày đều tu, có tâm bền bỉ, nhất định sẽ tiêu nghiệp chướng, tăng phúc huệ, tương lai người người thành Phật, điều này tôi có thể đảm bảo, bởi vì tôi đã thật sự đạt được nó.


### 32. Thượng sư tu pháp cứu độ


Trước tiên, tôi xin công bố một bức thư của một đệ tử người Mỹ tên là Liên Tư.


![image](/img/img_e37c14830b7108fdfef9954cf5cc1437.jpg)



Phiên dịch ra như sau:

"Thưa thầy Lư,
Đệ tử muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến thầy vì nhờ sự giúp đỡ của thầy mà đệ tử đã khỏe lại. Gần như ngay khi nói chuyện với thầy trên điện thoại thì đệ tử đã bắt đầu bình phục rồi.

Tất cả những ma quỷ mà đệ tử nhận thấy gần một năm nay đã tiêu biến, và thay vì cảm thấy yếu ớt và sợ hãi, đệ tử đã tìm được sức mạnh và sự bình an mới.

Mọi thứ dường như đã trở về đúng trật tự, và sự thiền định của đệ tử đã trở nên tốt hơn và vẫn tiếp tục tốt hơn. Đệ tử đã nhìn thấy ánh sáng rực rỡ mạnh mẽ và chư Phật Bồ Tát.
Xin thầy hãy nhận lấy lòng cảm tạ vô hạn và biết ơn sâu sắc của đệ tử.
Kính mến,
Demi."

Đệ tử nữ người Mỹ tên là Liên Tư này chính là người bạn thân của tiến sĩ Hoàng Trạch Hi (Liên Quảng) ở New York. Họ từ New York đến Seattle để nhận quán đảnh quy y.

Đệ tử nữ người Mỹ tên Liên Tư này khi chưa nhận quán đảnh quy y từng nghiên cứu và học tập đạo pháp của phái Nội Đan của Đạo gia. Cô ấy tu tập hàng ngày, tinh tấn vô cùng, cô ấy luyện tới mức toàn thân đỏ rực như lửa, toàn thân trông giống như bếp lò vậy, da dẻ đỏ lên từng vùng từng vùng, mặt mũi cũng đỏ, tỏa ra ánh sáng, giống như một đứa trẻ sơ sinh đỏ hỏn vậy.

Lần đầu tiên gặp Liên Tư, tôi đã rất khen ngợi cô ấy, cho rằng cô ấy tu rất tốt, chỉ là cô ấy không biết đến công phu thả lỏng. Bởi vì người tu pháp nhất định cũng cần phải biết pháp thu công, nếu không nội hỏa toàn thân sẽ trở nên nóng bỏng đến mức đáng kinh ngạc.

Sau đó, Liên Tư tu pháp càng gia tăng tinh tấn, kết được nội đan, và rồi huyễn tướng xuất hiện. Mới đầu cô ấy không hiểu đạo lý "không giữ không bỏ", nhập vào trong huyễn tướng, bị huyễn tướng quấy nhiễu, sau đó mới thông báo cho tôi. Sau khi tôi biết được thì lập tức tu pháp hàng phục giúp Liên Tư, giải từ tất cả chướng ngại do tâm lý sản sinh ra, giải cứu được sự khốn đốn của cô ấy.

Nói về pháp hàng phục này, nó là một trong những nghi quỹ rất sâu, có thể nói rằng người thông hiểu toàn bộ "lớn, nhỏ, tính, tướng, luật, mật" mới có thể tu mật pháp này, mới là người hiểu cách phân biệt rõ ràng, thông suốt không có gì phải nghi ngờ. Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư có sự khảo sát tỉ mỉ đối với chính tà tinh thô, hơn nữa còn khế hợp với khả năng cứu độ của một người rèn luyện công phu, như vậy mới có biện pháp để hàng phục ma huyễn tướng, mới có biện pháp để thực thi công việc cứu độ.

Tôi đây là một bậc pandita - bậc trí giả vĩ đại với kiến thức uyên bác, là Đại Trì Minh Kim Cương Acharya, hoàn toàn không phải là tự mình xưng danh hiệu, mà tôi đã thật sự ấn chứng Tam giáo Hiển - Mật - Đạo. Hơn nữa tôi đã bay lên nội viện của Đâu Suất Thiên Cung, được đích thân Di Lặc Bồ Tát sắc phong danh hiệu.

Nhân duyên của tôi cực kì lớn, vì độ chúng sinh mà thị hiện ở nhân gian, giúp chúng sinh biết nhân quả mà khởi lên chính tín, không chỉ độ người mà còn độ thần độ trời độ ác ma, tất cả đều được thuận lợi độ hóa, đó là đại pháp duyên khó gặp, thập phương Như Lai gia trì ca ngợi.


### 33. Có Thượng sư nói như vậy


Sau khi tôi (Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư) đã viết rất nhiều sách Mật pháp, tự nhiên đã gây nên cơn chấn động lớn trong Mật tông. Người tu Mật pháp cũng trở nên nhiều hơn, đệ tử quy y tôi mỗi ngày một tăng lên, nay đã đông tới mấy vạn người. Tôi không chỉ khiến những người tin tưởng tôi đến quy y mà cũng khiến cả những người không tin đến quy y tôi. Đương nhiên cũng có rất nhiều vị Kim cương Thượng sư tán đồng với tôi.

Tôi đưa ra một bức thư để làm chứng như sau:

"Kính Sư Tôn soi xét:
Kể từ tháng 7 âm lịch năm nay, trước sau đã mấy lần đệ tử nghe có người hỏi đệ tử về chuyện của Lư Thắng Ngạn. Họ đều là những người mà đệ tử không quen biết, chỉ là người lạ đã từng gặp ở các pháp hội ở chùa hoặc các buổi giảng tọa Phật pháp. Một người hỏi đệ tử: "Chị có biết Lư Thắng Ngạn không, anh tôi chuyên đọc sách của ông ấy." Đệ tử trả lời rằng chưa từng nghe qua. Sau đó lại có một người hỏi: "Em trai tôi luôn đọc sách của Lư Thắng Ngạn, chị có biết người này không?" Đệ tử nghĩ trong đầu, người này là thần thánh phương nào mà nổi danh đến vậy.

Có một hôm, nghe một người nói, bạn của anh ta bảo thầy Lư Thắng Ngạn có thể quán đảnh từ xa. Khi ấy đệ tử cười ha ha, nghĩ trong lòng rằng người này sành điệu gớm, dùng cả một "kiểu phương thức quán đảnh rất hiện đại" như vậy cơ đấy. Nhưng đệ tử chỉ nghĩ trong đầu, không nói ra khỏi miệng, vẫn là do đệ tử giữ giới luật, đối với những người cùng theo Phật môn thì không dám mở miệng phê bình. (Đệ tử đã thọ Bồ Tát giới.)

Người ấy hỏi Phổ Lực Kim cương Thượng sư: "Có kiểu quán đảnh từ xa không?" Phổ Lực Kim cương Thượng sư nói: "Có."
Người đó lại hỏi: "Nghe nói nguyên thần của Lư Thắng Ngạn có thể bay về Đài Loan, hơn nữa đúng là có người nhìn thấy ông ấy, việc này có thật không?"
Phổ Lực Kim cương Thượng sư nói: "Có thể, việc này có thể làm được."

Sau đó, có một hôm, đệ tử đang đứng ở cổng chùa Lâm Tế, có một phụ nữ đi vào, nói rằng em trai của bà ấy học nấu món chay, đệ tử mời bà vào chùa bái Phật, rồi tặng cho em trai của bà ấy hai cuốn sách về món chay và phương pháp chữa bệnh bằng rau quả. Kết quả là người phụ nữ này lại hỏi đệ tử: "Chị có biết Lư Thắng Ngạn không?" Trong lòng đệ tử chấn động, lại Lư Thắng Ngạn, bà ấy kể em trai bà ấy vì đọc sách của thầy mà mới tin Phật và ăn chay.

Lần này, đệ tử nghĩ đệ tử phải tìm hiểu một chút về thầy xem thầy là một người thế nào. Thế là đệ tử hỏi em trai của người phụ nữ kia có thể cho đệ tử mượn pháp bản của thầy để xem một chút được không. Bà ấy lấy ra rất nhiều sách, đệ tử nói đệ tử không muốn đọc sách, chỉ muốn tham khảo và nghiên cứu pháp bản thôi, thế là bà ấy đi vào và tìm cho đệ tử, đệ tử đọc thì thấy đó là "Thượng sư tương ứng pháp". Đệ tử giở ra đọc, khi ấy trong lòng đệ tử nhiệt huyết sục sôi. Trời ơi! Pháp và lí nói ra một cách tỉ mỉ rõ ràng như vậy, đây không phải là năng lực và trí tuệ của một người bình thường có thể làm được, mà đây đích thực là một vị Kim cương đại trì minh Acharya chân chính mà đệ tử mơ ước bấy lâu.

Kể từ khi đọc xong "Thượng sư tương ứng pháp", đệ tử ngày ngày suy nghĩ, trong lòng hối hận vô cùng, vì sao khi thầy còn ở Đài Loan, đệ tử đã không có duyên gặp gỡ, nay vị Phật chân chính đã rời xa, đã đến đất nước khác độ người ta rồi. Vẫn may, lúc này có thể xin được quy y dưới pháp môn vẫn chưa muộn, ân đức lớn lao ban cho quy y và từ nay dẫn dắt tu đến chính quả này của thầy muôn kiếp đệ tử không thể lãng quên.

Đệ tử đã đọc qua những cuốn sách mà thầy viết, có năm cuốn, đã hiểu sâu hơn về thầy. Tục ngữ nói "khuyên bảo hết nước hết cái", đệ tử gọi thầy là "khổ bút truyền tải bi tâm".
Với mong muốn mở ra cánh cửa trí tuệ của chúng sinh và dẫn dắt con đường giác ngộ và thành Phật.
Khai mở pháp bí mật vạn kiếp khó gặp, từ tâm thành tựu Phật chủng hằng hà sa kiếp.

Ân huệ của thầy ngày hôm nay không chỉ phổ biến rộng khắp ở Linh Tiên Chân Phật Tông, đệ tử càng vì chúng sinh tương lai mà dâng lên tâm cúng, thành kính muôn phần, rập đầu bái lạy thầy.

Đệ tử không phải người giỏi viết văn, vẫn luôn sợ viết thư, hôm nay biên thư nếu có chỗ nào không ổn, mong thầy rộng lòng tha thứ. Nay đệ tử có việc này cầu Thượng sư: Một, đệ tử từng cầu Bồ Tát rằng "kiếp này thoát li luân hồi, không còn có kiếp sau nữa", bây giờ tâm nguyện này chuyển sang thỉnh cầu thầy: "Giúp con đời này, tu được đắc chứng, có đủ năng lực độ sinh." Hai là, có một hôm, tụng kinh xong, đệ tử bất chợt phát tâm nguyện, liền viết ra lời thề nguyện như sau:

Nguyện âm thanh của con vang khắp nơi khắp chốn.
Nguyện ai nghe được âm thanh của con chấm dứt ngu si và đắc trí huệ vô thượng.
Nguyện tai mắt của con sáng rõ tinh tường để nghe được âm thanh kêu khổ của vô lượng vô biên chúng sinh.
Nguyện tất cả chúng sinh mà con trông thấy bằng lòng giải thoát đau khổ mà tâm trở nên mềm mại từ bi.
Nguyện tất cả chúng sinh mà con trông thấy có thể ghi nhớ mọi đau khổ đã phải chịu trong kiếp quá khứ, khôi phục kí ức để mà chăm chỉ tu Phật pháp.
Nguyện giúp Địa Tạng Vương Bồ Tát quét sạch địa ngục, chúng sinh địa ngục thành tựu chính giác.
Mong thầy đồng ý gia trì giúp tâm nguyện của con sớm đạt thành tựu.
Kính chúc cát tường.
Đệ tử Liên Mính cung kính đảnh lễ.
28/10/1984"

Trước tiên, tôi ban pháp hiệu cho đệ tử này là Liên Mính.
Bức thư này nhắc đến Phổ Lực Kim cương Thượng sư. Tôi có biết Phổ Lực Kim cương Thượng sư, ông ấy có một khuôn mặt vuông vuông chữ điền, diện mạo đoan chính, đeo một cặp mắt kính, ông tốt nghiệp Học viện Viên Minh Lăng Nghiêm Chuyên Tông Thượng Hải, cũng là trụ trì một giảng đường Đại thừa. Phổ Lực Kim cương Thượng sư là một Thượng sư chính khí lẫm liệt, vẫn luôn là một trong những Thượng sư mà tôi kính ngưỡng.

Phổ Lực Kim cương Thượng sư cho rằng quán đảnh từ xa là có thể, cho rằng xuất nguyên thần là có thể, bởi vì Phổ Lực Kim cương Thượng sư hiểu về khả năng vô tận của Mật pháp. Cần biết rằng một Thượng sư chân chính có ba đại thành tựu: thứ nhất là thành tựu cưỡi hư không du hành, thứ hai là thành tựu nhiếp triệu tạng hành, thứ ba là thành tựu Bổn tôn đại quang minh. Có được ba loại thành tựu này rồi thì quán đảnh từ xa và xuất nguyên thần đều là việc dễ như trở bàn tay. Còn nếu không biết đến khả năng dao quán [ quán đảnh từ xa ] và xuất thần thì Thượng sư đó nhất định là không hiểu về Mật pháp, và cũng có khả năng là một Thượng sư giả. Phổ Lực Kim cương Thượng sư tán đồng khiến tôi rất khâm phục.

Đệ tử Liên Mính viết về quá trình cô ấy quy y, từ lúc không tin trở thành tin, viết rằng sau khi cô ấy đọc "Thượng sư tương ứng pháp" thì nhiệt huyết sục sôi, sau khi đọc sách thì đã biết mọi thứ về thầy. Trên thực tế, tôi nói thẳng thắn rằng, tôi là một người chân thành vô tư. Cả đời này tôi không có bí mật nào không thể công khai, những điều mà tôi viết là sự thật chân thực. Ngay cả việc bản thân tôi bị công kích tôi cũng không che giấu, sự nghèo khó khốn cùng của bản thân tôi cũng không giấu diếm.

Nguyện lực của Liên Mính là lời nguyện của Quan Thế Âm Bồ Tát, là lời nguyện của Địa Tạng Bồ Tát, tôi cực kì vui mừng ca ngợi, cô ấy là người có nhân duyên từ kiếp trước, sau cùng chắc chắn sẽ thành Phật, nguyện lực của cô ấy sẽ hóa thành cam lộ, cúng dường chúng sinh trong thiên hạ, rộng rãi kết duyên lành.

Sách mà tôi viết, người đọc sách, bất kể nghiệp chướng nặng hay nhẹ, nhân duyên kiếp trước sâu hay nông, người gặp được sách, người đọc sách, người quy y, nhất định thành Phật. Bởi vì tùy duyên nhiếp thụ, tất cả pháp đều là con đường trung đạo sáng tỏ diệu kì thì đều có rất nhiều lợi ích, mọi người hãy phát bồ đề tâm đi!


### 34. Tổng thống Ronald Reagan tranh cử tổng bộ gửi thư cho Thượng sư Lư Thắng Ngạn


Tôi từng kể rằng tôi từng nhận được thư mời dự lễ nhậm chức của Tổng thống Hoa Kỳ, nhưng tôi không tham dự vì tôi không phải là một nhân vật chính trị, cũng không phải là đặc phái viên gì cả, lại càng không phải là một nhà lãnh đạo tôn giáo. Trên thực tế Lư Thắng Ngạn chỉ là một người tu hành ẩn dật, một nhân vật nhỏ bé viết ra trên sách một số pháp tu hành bí mật bất truyền mà thôi.

Mỗi lần nước Mỹ bầu cử tổng thống lại có người đến nhà tôi hoặc gửi thư đến nhờ tôi giúp tổng thống Mỹ tranh cử, một là gửi tiền ủng hộ, hai là vận động mọi người ủng hộ. Về tiền bạc, tông chủ Linh Tiên Chân Phật Tông tôi đây bản thân không giàu có, tôi cũng có một ít tiền tiêu vặt, cá nhân tôi thì không keo kiệt, nên một chút tiền nhỏ thì tôi đương nhiên có thể ủng hộ, nhưng tôi không cần tên của tôi phải được nêu ra.

Tiếp nữa, đúng thực là tôi có rất nhiều nam nữ đệ tử người Mỹ, họ theo tôi học pháp, tôi chỉ dạy họ tu hành thành Phật, không có dạy cái khác. Tôi cũng nói một vài lời khen đối với tổng thống Reagan, nhưng đệ người Mĩ chưa chắc đã nghe theo lời tôi để mà lựa chọn Reagan, họ thậm chí còn phản bác lại tôi rằng: "Reagan vì vận động tranh cử mà chạy khắp nơi, tiêu toàn tiền công quỹ, đi máy bay thì là máy bay quân đội, ông ấy nên ngồi hàng không dân dụng mới phải." Những lời bình luận kiểu như thế này rất nhiều.

Một người bạn Mỹ của tôi cũng là bạn của Trung Hoa Dân Quốc, là lão Bỉ Đức Sâm, trước đây từng dạy nông lâm tại Đại học Đài Loan và Đại học quốc gia Trung Hưng, bộ trưởng Bộ Nông Lâm hiện nay là học trò của ông. Lão Bỉ Đức Sâm đã về hưu, học sinh ở Đài Loan của ông ấy là đông nhất, ông ấy rất quan tâm đến Đài Loan, đặt rất nhiều kì vọng vào việc tổng thống Reagan có trúng cử hay không. Đương nhiên là ông ấy hi vọng Reagan sẽ trúng cử, lão Bỉ Đức Sâm từng giữ chức người phụ trách ở Bộ Nông Nghiệp, là quan chức nước Mỹ thế hệ trước. Chính phủ nước ta có rất nhiều quan to biết đến ông ấy, ông ấy ngày ngày cầu nguyện cho tổng thống Reagan.

Lần này tổng thống Reagan tranh cử vào tổng bộ cũng có gửi một bức thư đến Thượng sư Lư Thắng Ngạn, lá thư gửi đi từ Nhà Trắng ở Washington DC Hoa Kỳ. Đương nhiên tôi vui lòng giúp đỡ, tôi sẽ dùng hết khả năng nhỏ bé của mình, mặc dù tôi không phải là một nhân vật chính trị, tôi cũng không thích nhất là chính trị, nhưng người ta có thư gửi cho bạn thì bạn cũng nên nói một tiếng.

Reagan đã trúng cử rồi, không biết liệu có lại gửi đến một lá thư mời nhân vật nhỏ bé là tôi đây đến tham gia buổi lễ nhậm chức của ông ấy không. Cho dù lần này cũng lại gửi thư đến thì tôi là một người tu trì ẩn cư, tôi không biết xã giao nơi chính trị, tôi thật không thể xuất hiện ở nơi đó, do vậy tôi vẫn sẽ luôn vắng mặt.

Nguyên văn bức thư như sau:


![image](/img/img_f862720798493cd5669646c9d73aaf91.jpg)






![image](/img/img_83d390e35083eb78a125ad71efdd1781.jpg)



Bức thư tổng tống Reagan gửi cho Thượng sư Lư Thắng Ngạn được dịch ra như sau:

"Ông Lư thân mến,
Hôm nay tôi viết thư để yêu cầu sự giúp đỡ của ông.
Bởi ông và tôi phải có hành động nhanh chóng để đảm bảo rằng mọi thứ mà chính phủ Reagan gìn giữ sẽ không bị đánh bại trong cuộc bầu cử năm 1984 này.

Đặc biệt là, tổng thống Reagan đang đối mặt với nguy cơ bị mất đại đa số ghế ngồi trong thượng nghị viện do Đảng Cộng Hòa kiểm soát trong phần còn lại của thế kỉ này.

Và tôi muốn báo với ông một cách đơn giản nhất có thể điều này nghĩa là gì --- Ronald Reagan không thể tiếp tục phục hồi tương lai của đất nước nếu không có sự ủng hộ và dẫn dắt của đại đa số ghế ngồi trong nghị viện.

Nếu chúng tôi mất thượng nghị viện, chúng ta có thể sẽ quay trở về với chính sách lạm phát nhiều con số, sự tăng thuế khổng lồ, sự phòng hộ quốc gia thiếu hụt - tình hình chính trị gây nguy hại đối với đất nước tương tự như thời chính phủ Carter.

Tôi biết ông đồng ý rằng chúng ta không được để điều này xảy ra. Và tôi nhấn mạnh "chúng ta" bởi vì đây phải là một nỗ lực chung.

Theo đó, tôi đã được tổng thống Reagan yêu cầu chủ trì một đội đặc nhiệm tổng thống Cộng Hòa đặc biệt được lập ra để đảm bảo rằng ông ấy sẽ có được đại đa số ghế thượng nghị viện.

Tôi chỉ mong rằng ông có thể thấy được tầm quan trọng của thượng nghị viện đảng Cộng Hòa đối với tương lai của đất nước này giống như ông Reagan hàng ngày vẫn thấy được điều đó từ bàn làm việc của Nhà Trắng.

Và tôi đang đề nghị ông, vì tổng thống của ông và đất nước của ông, mà cân nhắc lập tức gia nhập hội viên của đội đặc nhiệm này.

Chi tiết về hội viên của đội đặc nhiệm được đính kèm ở đây. Và như ông sẽ thấy, trở thành hội viên không phải là tham gia một cách hời hợt. Nó sẽ đòi hỏi sự đầu tư suy nghĩ, thời gian và tiền bạc từ phía ông.

Riêng tôi đã chấp nhận lời đề nghị chủ trì đội đặc nhiệm tổng thống đảng Cộng Hòa năm 1984 bởi vì cuộc cầu cử tới đây sẽ là cơ hội tốt nhất của chúng ta để tiếp tục xây dựng lại đất nước này.

Một lần nữa, tôi nhấn mạnh rằng sự tham gia của ông là rất cần thiết ngay lúc này. Đối với một số người, cuộc bầu cử dường như vẫn còn rất xa, nhưng vài tháng tới sẽ là cơ hội tốt nhất của chúng ta để đảm bảo đa số ghế thượng nghị viện đảng Cộng Hòa cho tổng thống Reagan năm 1984.

Ngay lúc này đảng Cộng Hòa chúng ta đang kiểm soát thượng viện chỉ bằng một biên độ mỏng với năm phiếu.

Chúng ta đã mất 26 năm ròng lựa chọn 55 nghị sĩ đảng Cộng Hòa để giành được sự đa số hẹp, và mất hai năm khổ cực để duy trì nó. Trong khi đảng Dân Chủ chỉ cần sáu ghế trong cuộc bầu cử 1984 này để giành được nó từ tay chúng ta.

Thành thật mà nói, tỷ lệ cược chống lại chúng ta. Và chúng ta sẽ không bao giờ có thể tiếp tục con đường đi tới sự thịnh vượng trừ phi ông và những người khác nói cùng nói "Ok, tôi sẽ gia nhập".

Đó là vì sao tôi đề nghị ông trở thành hội viên của đội đặc nhiệm bằng cách gửi đi $120 trong một lần thanh toán hoặc trả góp $10 trong 12 tháng.

Tương lai của nước Mỹ trong vòng 20 năm tới nằm trong tay người điều khiển thượng nghị viện năm 1984.

Tôi hy vọng và cầu nguyện rằng tổng thống Reagan và tôi có thể nhờ cậy vào sự gia nhập đội đặc nhiệm của ông. Công việc nghiêm túc cần phải được thực hiện ngay bây giờ để bảo toàn đa số thượng viện của chúng ta.

Thân mến,
Thượng nghị sĩ Richard G. Lugar
Chủ tịch

Tái bút: Bằng chứng xác thực công nhận ông là thành viên của lực lượng đặc nhiệm Tổng thống Reagan là một trong những sự công nhận có một không hai. Xin hãy đọc cuốn thông tin đính kèm để xem chi tiết và tham gia ngay hôm nay. Xin cảm ơn."


### Phụ lục 1: Thứ tự sinh khởi và Thứ tự viên mãn


Bản văn này trích từ tuyển tập Khai thị của Lư Thắng Ngạn "Bài ca của Hoạt Phật" tập 1.

Mật giáo có hai trật tự. Một cái là Thứ tự sinh khởi, một cái là Thứ tự viên mãn. Thứ tự sinh khởi là sự tu hành tam ma địa giữa Bổn tôn, Thượng sư, Không hành và bạn. Thứ tự viên mãn thì thuộc về sự tu hành tâm, khí, mạch, minh điểm ở bên trong thân thể, cái này thì trong Mật giáo mới có.

Hôm nay, chúng ta nghe pháp sư Liên Cần kể về quá trình học tập Chân Phật Mật Pháp của ông ấy. Đầu tiên, ông ấy nói sau khi thực tu Chân Phật Mật Pháp đã có cảm nhận rất hay, đây là một việc rất chính xác. Bởi vì sau khi bạn thực tu Chân Phật Mật Pháp, Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp trong hư không đều vì bạn triệu thỉnh mà tới gia trì cho bạn. Và rồi trong quá trình gia trì, bạn sẽ có một sự cảm ứng, chính là hiện tượng tương ứng, thì cái cảm giác rất hay đó sẽ sinh ra.

Trong Mật pháp được phân ra hai trật tự. Một cái chính là Thứ tự sinh khởi, một cái là Thứ tự viên mãn. Trong trạng thái của Thứ tự sinh khởi, bạn sẽ khởi lên cảm giác rất hay, nhìn chung mà nói thì cảm giác này có thể phát sinh trên thân thể, nhưng cũng có thể tiêu biến ngay trên thân thể bạn.

Vì sao vậy? Bởi vì chỉ cần bạn rút lui hoặc mất lòng tin thì cảm giác này sẽ từ từ không còn nữa. Đây là vấn đề của nhân duyên. Bạn luôn luôn giữ vững mối quan hệ với Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp, luôn luôn vô cùng khăng khít, giới samaya không bị phá vỡ, thì cảm giác này sẽ tồn tại vĩnh viễn. Cái cảm giác này là vĩnh viễn tồn tại. Bổn tôn, Thượng sư, Hộ pháp lúc nào cũng ở bên cạnh bạn. Thế thì vì sao có thể mất đi? Bởi vì giới samaya không còn nữa. Bạn không liên tục triệu thỉnh các vị, tự nhiên các vị sẽ bỏ đi, sẽ lui đi. Thượng sư, Bổn tôn, Không hành đều rời xa.

Thế thì vì sao nghiệp chướng vẫn chưa tiêu trừ? Ví dụ như bạn kinh doanh không thuận lợi, gia đình, bản thân, đủ thứ vận số vì sao lại không tốt? Kiểu hiện tượng này mỗi người đều sẽ gặp phải, có người thì luôn luôn rất thuận lợi, nhưng có người thì lại có những sự biến hóa vô thường, hoàn toàn không hề vì cảm nhận tốt mà tất cả vận mệnh đều thay đổi, đều trở nên tốt đẹp. Bởi vì trong việc này có liên quan đến nhân quả, nghiệp chướng của bạn, có một số nhân duyên ở trong đó.

Bởi vậy, khi hành giả còn đang khổ, cần phải chăm chỉ nghiêm túc hơn để vượt qua được cái khổ này, không thể vì chịu khổ mà thoái lùi đạo tâm. Nhìn chung mà nói, rất nhiều người đều vì phải chịu khổ, cho rằng trước đây không tu hành vẫn tốt, sau khi tu thì lại phải chịu khổ, thế là thối lùi đạo tâm, ở đây chính là nghị lực của bạn chưa đủ, vẫn còn chưa hiểu được mối liên hệ nhân quả, nghiệp chướng và những thứ khác. Tu hành có tiến có lùi, đây cũng là một hiện tượng tự nhiên, vậy phải làm sao để tu hành mà không từ bỏ đây? Ngoài ra còn có một cảm nhận nữa, đó là cảm nhận ở trong Thứ tự viên mãn, so với cảm nhận của Thứ tự sinh khởi thì còn sâu hơn nữa.

Bình thường Hiển giáo tu hành chỉ tu đến Thứ tự sinh khởi, khi xong Thứ tự sinh khởi rồi thì hy vọng Phật Bồ Tát đến tiếp dẫn, Bổn tôn, Không hành, Hộ pháp, Thượng sư và các sư phụ của bạn đến tiếp dẫn vãng sinh. Nhưng Thứ tự viên mãn thì khác, pháp này thuộc về sự tu hành tâm và khí, chỉ có trong Mật giáo mới có.

Tối qua tôi đã nói qua về Thứ tự viên mãn, tu hành con đường này là bạn phải đưa năm loại khí chính, năm loại khí phụ và khí thứ yếu, toàn bộ đều tiến vào trung mạch, cần tập trung những loại khí này ở trong tâm luân, điểm quan trọng nhất chính là khiến cái thân thô vật chất này từ từ tan ra và trở thành ánh sáng, chỉ còn lại ánh sáng và khí của tâm. Điều này chỉ trong sự tu tập Thứ tự viên mãn mới có. Chỉ cần khí đi vào trung mạch, cảm nhận của bạn sẽ hoàn toàn khác, cảm nhận này thuộc về chính bản thân chứ không phải đến từ bên ngoài.

Vừa nãy pháp sư Liên Cần có nói, cảm giác khi tu Chân Phật Mật Pháp của ông ấy rất hay, cái cảm giác ấy là đến từ bên ngoài, chứ không phải là do tu khí mà sinh ra. Cảm giác đến từ bên ngoài chính là đến từ sự gia trì của Bổn tôn, Thượng sư, Không hành trong hư không gia trì, là những cảm nhận mà bạn thấy được. Nhưng giả sử bạn không có Thứ tự sinh khởi, chỉ tu Thứ tự viên mãn thôi có được không? Không được, bạn muốn tu Thứ tự viên mãn thì nhất định cần phải có sự gia trì của Thượng sư, Bổn tôn, Không hành thì mới có thể tu được.

Do vậy, Mật giáo chúng ta tu hành phải tu Thứ tự sinh khởi trước, sau đó mới tu Thứ tự viên mãn, cần phải theo thứ tự. Bởi vì chưa có được sự gia trì của Thượng sư, Bổn tôn, Không hành thì giả sử tu Thứ tự viên mãn, khí không thể đủ để đi vào trung mạch, hơn nữa bản thân khí này cũng không phải là khí trí huệ. Buộc phải có Thượng sư, Bổn tôn, Không hành gia trì cho bạn, chuyển biến thân khẩu ý của bạn thành thanh tịnh thì mới có được khí trí huệ.

Sau khi khí trí huệ này đi vào trung mạch thì bạn mới có thể đạt được sự thông suốt của trung mạch, sau khi khí di chuyển thông suốt trong trung mạch thì khí đến tâm luân, sau đó bắt đầu từ tâm luân phóng quang, từ từ khiến thân thể vật chất thô của bạn tan ra, chỉ còn lại khí và thức, như vậy bạn mới có thể thành Phật.

Khí trí huệ đi vào trung mạch chắc chắn sẽ có những cảm nhận còn hay hơn nữa, cái cảm giác ấy là do chính bản thân bạn sinh ra. Đầu tiên là cảm giác đến từ bên ngoài do Thượng sư, Bổn tôn, Không hành đem đến cho bạn, sau đó biến thành những cảm nhận do chính bản thân bạn sinh ra.

Thành Phật không phải là sau khi được Thượng sư, Bổn tôn, Không hành gia trì cho bạn mà bạn sẽ có thể thành Phật, mà là gia trì cho tâm và khí của bạn, bạn có thể tự mình vận chuyển, dựa vào tâm và khí của chính bạn mà thành Phật. Bí quyết thành công ở đây thì sau này tôi sẽ từ từ nói.

Đối với Thứ tự viên mãn thì thuộc về tính Không, còn Thứ tự sinh khởi thì vẫn còn ở trong trạng thái Có, vẫn ở trong sự đối lập. Thứ tự sinh khởi là sự tu hành samaya giữa Bổn tôn, Thượng sư, Không hành và bạn. Thứ tự viên mãn thuộc về sự tu hành khí, mạch, minh điểm bên trong thân thể của bạn, chuyển hóa vật chất của thân thể thành ánh sáng, thành tâm, thành khí, từ đó thành tựu Phật quả.

Do vậy có hai loại cảm nhận. Một loại cảm nhận, là khi bạn mới tu các nghi quỹ trong Chân Phật Mật Pháp, có Thượng sư, Bổn tôn, Không hành gia trì cho bạn, cảm nhận của bạn sẽ rất hay, đây là loại cảm nhận thứ nhất. Loại cảm nhận thứ hai là khi khí của bạn đi vào trung mạch, hoặc khí tập trung ở tâm luân, sinh ra chuyết hỏa, hòa tan minh điểm và sản sinh ra ánh sáng đại lạc, thứ cảm giác ấy sẽ không bao giờ biến mất, đó là cảm giác của Thứ tự viên mãn.
Hôm nay tôi giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.


### Phụ lục 2: Vận chuyển đất nước lửa gió như thế nào?


Bản văn này trích từ tuyển tập Khai thị của Lư Thắng Ngạn "Bài ca của Hoạt Phật" tập 2.

Tu hành Mật giáo là biến nước thành thanh tịnh, biến lửa thành ánh sáng, biến đất thành kiên cố, biến gió thành sự lưu chuyển, vận chuyển. Lưu chuyển, vận chuyển chính là làm thông tất cả kinh mạch, từ đó mà sản sinh ra ánh sáng thanh tịnh, như vậy có thể chứng minh tính Không.

Hôm nay chúng ta nghe pháp sư Liên Hân nói về sự tu hành tâm tính.
Cũng có thể nói rằng lục đạo luân hồi là do bản thân tạo nên, hoàn toàn là do tự bản thân sản sinh ra. Các loại tu hành đều dựa vào tâm của chính mình để tạo nên các hạt giống trong tương lai.

Bà ấy nhắc đến đất nước lửa gió, bà ấy nói đến nước, nước này ở trong thân thể con người, thuộc về một trong tứ đại. Tu hành Mật giáo cũng dựa theo tứ đại này mà tu.

Thế còn ngọn nguồn sau cùng của tứ đại vẫn là nằm ở tâm. Vừa nãy mới nói rằng chỉ cần động lên một suy nghĩ, nước mắt của bạn liền chảy ra, nước bọt của bạn liền nhiễu ra, minh điểm dịch thể tiết ra, tất cả đều có thể chảy ra, đó mới chỉ là một tâm niệm khởi lên mà thôi.

Trong kinh Phật có nhắc đến: trong địa ngục có nơi gọi là địa ngục đại hàn, còn có địa ngục đại nhiệt. Cái gọi là địa ngục đại hàn có liên quan đến nước, địa ngục đại nhiệt có liên quan đến lửa. Đại hàn, đại nhiệt và địa ngục vô gián đều có liên quan đến đất nước lửa gió trong thân thể bạn.

Thật ra, trong tu hành Mật giáo, phần chính hành cũng không có chỗ nào đặc biệt cả, thực chất vẫn là dùng tâm của bạn để kiểm soát đất nước lửa gió của chính bạn.

Ví dụ nói về đất. Nói về hành giả dựa vào đất thì thứ nhất, đầu tiên là anh ta cần kiên cố đạo tâm của bản thân, đó chính là đất. Đất này là gì? Đạo tâm của bạn cực kì kiên cố thì đó chính là đất. Đất là cái gì? Đất chính là tính kiên cố, chủ yếu là tính vững chắc.

Tiếp theo là nước. Hành giả Mật giáo tu nước này, ban đầu là nước vẩn đục, nước bị ô nhiễm, sau cùng sẽ trở thành nước thanh tịnh. Thế rồi sử dụng nước thanh tịnh này để làm pháp dùng nước làm thanh tịnh ý, thanh tịnh khẩu, thanh tịnh tâm. Hành giả Mật giáo trong khi tu hành, đất ở trong thân chính là đạo tâm kiên cố, và tâm thanh tịnh chính là nước.

Tiếp theo là lửa, lửa là cái gì? Lửa chính là ánh sáng. Bạn châm lửa thì sẽ sinh ra ánh sáng. Bản thân lửa này mà nói thì lửa ở trong thân thể bạn sản sinh ra ánh sáng, ánh sáng này dùng để làm gì? Bản thân lửa chính là ánh sáng, vậy thì cũng có nghĩa là ánh sáng của tâm, tất cả mọi sự đi đứng hành động đều từ ánh sáng, ánh sáng này chính là lửa.

Thế còn gió là gì? Trong Mật giáo của chúng ta thường nhắc đến tu gió. Bản thân gió chính là một dạng vận chuyển, vận chuyển bên trong thân thể bạn. Tu khí này đến lúc trở nên nhẹ vô cùng, trở thành một dạng dòng chảy pháp, khí này chính là một dạng pháp lưu, ngọn nguồn của khí chính là tâm. Chúng ta thường nói tâm và khí hợp nhất, tu gió trong Mật giáo chính là tu tâm. Vậy thì khí là cái gì? Khí chính là tâm. Mặc dù bản thân gió chuyển động ở bên trong thân thể bạn, nhưng gió đến để vận chuyển đất, vận chuyển nước và vận chuyển lửa hoàn toàn do tâm điều khiển.

Tu hành Mật giáo là biến nước thành thanh tịnh, biến lửa thành ánh sáng, biến đất thành kiên cố, biến gió thành lưu chuyển, vận chuyển, lưu chuyển vận chuyển chính là làm thông tất cả kinh mạch, từ đây sản sinh ra ánh sáng thanh tịnh, như vậy thì có thể chứng được tính Không.

Do vậy, khi nãy chúng ta nói về nước, lúc ta buồn thì nước mắt chính là nước, khi bạn thèm ăn thì nước bọt chính là nước, khi bạn thèm "yêu" thì chất bài tiết ra chính là nước. Nước này vốn dĩ là một thứ thanh tịnh giống như bản thân Phật, Như Lai, chỉ là bị kèm thêm cảm giác thèm "yêu" chi phối, nếu như trừ bỏ được sự thèm "yêu" này thì đó chính là Như Lai.

Những thứ giống nhau, cùng là nước, cùng là lửa, cùng là đất, cùng là gió, nhưng tùy vào bạn vận chuyển chúng thế nào mà thôi. Do vậy, bạn có thể vận chuyển đất nước lửa gió thì bạn có thể chứng được tính Không. Bạn không thể vận chuyển được đất nước lửa gió thì bạn chính là phàm phu tục tử.

Cái gọi là thiên đường và địa ngục, chúng ở đâu? Thiên đường chính là khi bạn có thể vận chuyển được đất nước lửa gió, còn nếu bạn không thể vận chuyển được đất nước lửa gió thì chính là địa ngục.

Do vậy, trong địa ngục có địa ngục đại hàn chính là nước, địa ngục đại nhiệt chính là lửa. Thân thể cảm nhận một cách mạnh mẽ đủ loại tổn thương chính là địa ngục của gió. Bạn phải chịu chó sắt cắn, bị trâu sắt cày, hoặc bị nhốt trong tường đồng vách sắt thì đó chính là địa ngục của đất. Những thứ có tính chất tương tự sẽ diễn hóa mà ra.

Bởi thế, Phật tính của Như Lai có thể hiển hiện thành thiên đường, cũng có thể hiển hiện thành địa ngục, cũng có thể hiển hiện sự thanh tịnh, cũng có thể hiển hiện sự ô trọc, đạo lý chính là ở đây.
Om mani padme hum.

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/063-bi-mat-trong-chan-phat-mat-phap.md
# Title: 063. Bí mật trong Chân Phật Mật Pháp
---

![image](/img/img_3b457c47991f5643623a5dc41a021561.jpg)



## Bí mật trong Chân Phật Mật Pháp


🪷 Pháp bản trân quý của Chân Phật Tông

Văn tập: 063
Xuất bản: 03/1986
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


Đây là một cuốn sách tinh hoa của trí huệ vô thượng, có tên là "Bí Mật trong Chân Phật Mật Pháp".
Trong cuốn sách này tiết lộ những bí mật vĩ đại của vũ trụ từ xưa đến nay, chính là đại pháp để chứng ngộ chân lý, nhờ cuốn sách này có thể trực tiếp thành Phật tác Tổ.

Đây là pháp bản vô cùng trân quý của Chân Phật Tông. Pháp bản chính là nghi quỹ tu pháp, từ pháp căn bản nhất là "Đại lễ bái" cho đến "Vô thượng mật". Pháp bản này sẽ giải thích tỉ mỉ, đầy đủ và sâu sắc nhất. Chân Phật Đại Pháp hiện khắp thế gian, độ hóa tất cả chúng sinh, đây là "chân cơ tối cao của Phật pháp".

Về nguyên tắc, đây là một cuốn sách giải thích chi tiết về thực hành Mật tông. Do chữ "Mật" trong Mật tông vốn có nghĩa là không truyền bá. Tuy nhiên, hôm nay đạo lớn rộng mở, Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư kế thừa Kim Cang Thủ Bồ Tát, đã trình bày rõ ràng hết thảy những "bí mật trong bí mật", đây quả là điều hiếm có từ xưa đến nay.

Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Hoạt Phật có danh hiệu là: "Tây Phương Liên Trì Hải Hội, Ma Ha Song Liên Trì, Thập Bát Đại Liên Hoa Đồng Tử, Bạch Y Thánh Tôn, Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư, Chủ Kim Cương Chân Ngôn Giới Bí Mật Chủ, Đại Trì Minh Đệ Nhất Thế Linh Tiên Chân Phật Tông, Lư Thắng Ngạn Mật Hành Tôn Giả." Liên Sinh Hoạt Phật được Phật Thích Ca Mâu Ni thọ ký, được Bồ Tát Di Lặc ban tặng mũ miện đỏ, được Phật A Di Đà phó thác, được Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền dạy Mật pháp, vì vậy Chân Phật Đại Pháp là pháp môn Mật tông chân thật nhất, Liên Sinh Hoạt Phật là vị Hoạt Phật chân chính. Ngay cả các Hoạt Phật Tây Tạng cũng đến quy y, đến cầu pháp, quả thật là bậc tôn giả có uy quyền tối thượng.

Việc xuất bản cuốn "Bí Mật trong Chân Phật Mật Pháp" này sẽ được chư Phật cùng tán thán. Khi pháp bản trí huệ vô thượng này được công bố, sẽ chiếu sáng cho chúng sinh đời sau, mở ra con đường giác ngộ cho lục đạo luân hồi. Những chúng sinh có duyên trong đời này không cần phải trải qua ba a-tăng-kỳ kiếp nữa, chỉ cần quy y Liên Sinh Hoạt Phật, được pháp bản bí mật trong Chân Phật Mật Pháp, tu hành theo thứ tự, tự nhiên sẽ chứng nhập Tam ma địa, chắc chắn thành Phật.

Trong cuốn sách này, tôi sẽ giải thích đặc biệt về các pháp quán hành, giải thích các phương pháp tương ứng, hướng dẫn đặc biệt về thủ ấn, cách phối hợp chân ngôn với thiền ý. Thông qua tu hành thanh tịnh, hoàn toàn giải thoát để đạt đến vùng đất Thánh thanh tịnh.

Tôi sẽ giải thích chi tiết về bản chất của thiền định, đồng thời sẽ hướng dẫn phương pháp để loại bỏ tạp niệm và đi vào trạng thái định trong quá trình tu trì, giải thích cách thức thần thông được hình thành, và cuối cùng đạt đến các giai đoạn giải thoát hoàn toàn. Trong đó bao gồm các phương pháp thực hành, điều hòa hơi thở, quán hành, thủ ấn, đẳng trì, du già v.v.

Những người tu trì "Bí mật trong Chân Phật Mật Pháp" này, khi bước vào cảnh giới thần thông, chắc chắn sẽ đạt được tám đại tự tại, tám đại tự tại này là: có thể biến thân nhỏ như hạt bụi; có thể biến thân to như núi Tu Di; thân thể nhẹ nhàng có thể bay vào hư không; có thể đến bất kỳ nơi nào kể cả thiên cung; mọi điều mong muốn đều có thể đạt được; có thể phân thân vô số biến hóa vô tận; có pháp lực vô thượng đệ nhất; và hợp nhất với ý thức tối thượng của vũ trụ.

"Bí mật trong Chân Phật Mật Pháp" có thể nói là tổng quan về phương pháp thực tu. Đây là kết quả của sự chỉnh lý của Liên Sinh Hoạt Phật, hoàn toàn là sự tuôn chảy tự nhiên từ tâm pháp của Thượng sư. Tôi đã đem tất cả đại pháp của Mật tông, dưới con mắt pháp của mình, tiến hành cô đọng, loại bỏ những phần rườm rà trùng lặp, dung hòa những điểm khác biệt giữa các tông phái, sáng tạo ra phương pháp tu mới, đưa về chân như, phù hợp hơn với người hiện đại. Kết quả của sự tổng hợp và rèn luyện này chính là pháp tu "thân kim cang bất hoại".

Tôi nhận thấy gần đây các tông phái tôn giáo mọc lên như nấm sau mưa, đây là phản ứng tự nhiên sau khi vật chất phát triển cực độ và tinh thần trở nên trống rỗng. Mật tông Đông mật và Tạng mật tuy đều tỏa sáng rực rỡ, nhưng vẫn chỉ dừng lại ở việc giảng lý thuyết trên bề mặt, không thể thực tu các nghi quỹ chân chính. Cảm nhận được điều này, tôi đã trích lọc tinh hoa của Hiển giáo và Mật giáo, ghi chép lại mọi kiến giải chân thật, chắt lọc những điều tinh túy vào trong sách. Đây là cách tiếp cận sâu sắc nhất, không thiên về lý thuyết mà hoàn toàn hướng dẫn thực tu.

Số đệ tử của Chân Phật Tông hiện đã đạt đến năm triệu người. Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Hoạt Phật đã dung hợp tất cả những điều bí mật và trình bày trọn vẹn trước thế nhân, khiến cả thế giới kinh ngạc và kính ngưỡng. Những thần thông kỳ diệu của Liên Sinh Hoạt Phật đã khiến các nhà văn các nước tranh nhau phiên dịch giáo lý của Ngài. Khi các bản dịch được xuất bản bằng nhiều ngôn ngữ, cảnh tượng cả thế giới quy y sẽ sớm xuất hiện.

Việc tôi tuyên thuyết "Bí mật trong Chân Phật Mật Pháp" này, chính là đem chân tướng của chân lý vũ trụ hiển bày hoàn toàn, tương đương với sự tuyên thuyết chung của tất cả chư Phật trong mười phương ba đời, quả thật là:
Hoa trời rực rỡ.
Đất trổ sen vàng.

Đệ tử Chân Phật Tông, ai ai cũng nghiên cứu học tập "Bí mật trong Chân Phật Mật Pháp". Những ai muốn học Chân Phật Đại Pháp, hãy nhanh chóng đến quy y, đây là cảnh giới lớn giữa trời đất, nơi chúng sinh thể hội sự quay trở lại nguyên trạng, giản dị chất phác như xưa, là pháp môn rộng độ trời người không sót một ai.

Lành thay! Lành thay! A Di Đà Phật.

Địa chỉ liên lạc của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
**Sheng-yen Lu**
17102 NE 40th Ct.,
Redmond, WA 98052
U. S. A.


### 01. Chân Phật Đại lễ bái pháp


Pháp Tứ gia hành của Mật tông gồm có Đại lễ bái pháp, Tứ quy y pháp, Cúng dường mandala pháp và Kim Cang Tâm Bồ Tát pháp. Bốn pháp này là pháp căn bản của việc học Mật tông, giống như nền móng của tất cả các pháp, cũng chính là móng của ngôi nhà vậy.

Ở Tây Tạng, những người mới nhập môn Mật giáo đều phải học Tứ gia hành pháp, và mỗi pháp môn đều quy định phải thực hành 100.000 lần. Sau khi hoàn thành bốn gia hành này mới được tu các Mật pháp khác, nếu không e rằng sẽ sinh ra các ma chướng, dễ đi vào đường tà.

Có rất nhiều người học Mật tông không muốn học pháp Tứ gia hành, cho rằng đó là pháp nhỏ, nhưng họ không biết rằng pháp Tứ gia hành chính là nền tảng của đại pháp, có ích lợi rất lớn trong việc tiêu trừ nghiệp chướng và tăng trưởng phúc tuệ, không thể xem thường và bỏ qua.

Rất nhiều người hỏi rằng pháp Tứ gia hành là tu cả bốn pháp cùng lúc, hay tu hai pháp, hoặc chỉ tu một pháp. Câu trả lời của tôi là, hoàn toàn tùy thuộc vào thời gian của mỗi người, không có quy định cứng nhắc nào cả. Người có nhiều thời gian thì tu cả bốn pháp cùng lúc, người ít thời gian thì chỉ tu một pháp.

Đại lễ bái của Chân Phật Tông hơi khác với Mật tông thông thường, tôi chia Đại lễ bái thành ba loại, đó là Đại lễ bái toàn thân phủ phục, Đại lễ bái ngũ thể đầu địa và Đại lễ bái quán tưởng.

Thủ ấn Đại lễ bái có bốn loại:
Phật kham thủ ấn — là lễ bái thứ nhất, đảnh lễ chư tôn trong Phật bộ. Nghĩa là chắp hai tay lại, mười đầu ngón tay chạm vào nhau, lòng bàn tay hơi khum, tạo thành hình như kham thờ Phật.
Liên hoa thủ ấn — là lễ bái thứ hai, đảnh lễ chư tôn trong Bồ Tát bộ (Liên hoa bộ). Nghĩa là hai ngón cái và hai ngón út chạm vào nhau, ba ngón còn lại xòe ra, như hình hoa sen đang nở.
Kim cang thủ ấn — là lễ bái thứ ba, đảnh lễ chư tôn trong Kim cang bộ. Nghĩa là hai tay chắp vào nhau, mười ngón tay đan chéo, như hình chữ thập của chày kim cang, đó chính là thủ ấn kim cang.
Thủ ấn Bình đẳng — là lễ bái thứ tư, tức là thủ ấn cúi người khấu đầu. Nghĩa là ngón trỏ giơ thẳng chạm vào không trung, ngón cái song song với mặt đất và chạm vào nhau, ba ngón còn lại đan chéo song song tạo thành thủ ấn bình đẳng. Thủ ấn bình đẳng là sự đảnh lễ bình đẳng đối với Phật bộ, Bồ Tát bộ, Kim cang bộ, Hộ pháp bộ và chư Thiên bộ.

Đại lễ bái toàn thân phủ phục là theo cách của Tây Tạng. Đó là nằm sấp toàn thân xuống đất. Cách lễ bái này thường cần có đệm lễ bái hoặc chiếu cỏ trải sẵn trên đất để tránh bị thương.

Khi thực hiện bất kì đại lễ bái nào, trước hết quán tưởng Thượng sư và Tam Bảo ở phía trước. Bản thân mình (hoặc cùng với người thân, hoặc quán tưởng người thân đến), cùng nhau lễ bái. Trước tiên đặt thủ ấn lên đỉnh đầu, có ánh sáng trắng chiếu vào đỉnh đầu (thanh tịnh tất cả thân nghiệp). Kế đến đặt thủ ấn nơi cổ họng, có ánh sáng đỏ chiếu vào cổ họng (thanh tịnh tất cả khẩu nghiệp). Sau đó đặt thủ ấn nơi tim, có ánh sáng xanh chiếu vào tim (thanh tịnh tất cả ý nghiệp). Khi thân khẩu ý tam nghiệp đã thanh tịnh, đưa thủ ấn trở lại đỉnh đầu chạm một cái rồi xả ấn. Thân cúi xuống, hai tay duỗi thẳng, đẩy về phía trước, toàn thân nằm sấp xuống đệm lễ bái, sau khi lễ xong, lập tức chạm một cái rồi đứng dậy, không được nằm lâu trên đất, đây chính là Đại lễ bái toàn thân phủ phục.

Còn Đại lễ bái ngũ thể đầu địa là cách lễ Phật theo kiểu Trung Quốc, không phải nằm sấp toàn thân xuống đất, mà chỉ hai đầu gối chạm đất, hai lòng bàn tay úp xuống đất, lòng bàn tay hướng lên trên. Cách lễ bái này cũng dùng bốn thủ ấn, nhưng không nằm sấp toàn thân. Đây là vì khi ra ngoài, hoặc đến các chùa khác, không có đệm lễ bái hay chiếu cỏ, nếu nơi nào cũng thực hiện đại lễ bái toàn thân, e rằng lòng bàn tay, trán và thân thể sẽ bị thương.

Đại lễ bái quán tưởng là do Liên Sinh Hoạt Phật của Chân Phật Tông sáng tạo. Khi chúng ta cùng nhau tu tập, nơi chốn chật hẹp, người đông, không thể để tất cả mọi người đứng lên thực hiện pháp Đại lễ bái vì không gian không đủ. Do đó mọi người ngồi xuống, vẫn kết thủ ấn, ấn vào đầu, cổ họng, tim, đến tim thì lập tức quán tưởng toàn thân đảnh lễ trước Phật, sau đó đưa thủ ấn trở lại đỉnh đầu rồi xả ấn, đây chính là cách thuận tiện của Đại lễ bái quán tưởng.

Đại lễ bái quán tưởng có rất nhiều lợi ích, ví dụ như khi chúng ta ngồi trên xe, trên máy bay, muốn tu một đàn pháp, đương nhiên không có chỗ để thực hiện pháp Đại lễ bái, nên chúng ta ngồi ngay ngắn trên ghế, trước tiên quán tưởng chư Phật trên không trung phóng quang, rồi quán tưởng mình kết thủ ấn, lần lượt ấn vào đỉnh đầu, cổ họng, tim, quán tưởng mình đảnh lễ Phật, sau đó đưa ấn trở lại đỉnh đầu rồi xả ấn. Thậm chí đối với phụ nữ mang thai, bụng to không thể toàn thân phủ phục, cũng không thể ngũ thể đầu địa, tự nhiên có thể vận dụng Đại lễ bái quán tưởng.

Trong số đệ tử của Chân Phật Tông, có người trước đây bị máy móc cắt đứt ngón tay, có người sinh ra đã khuyết tật. Theo quy định của Mật tông, những người này không thể kết thủ ấn, tư thế ngồi không đẹp, nghiệp chướng sâu nặng, không đủ tư cách tu Mật tông. Nhưng Liên Sinh Hoạt Phật đã phá bỏ quy định phân biệt đối xử với người khuyết tật này, tôi cho rằng ai cũng có thể tu Mật tông. Thủ ấn có thể quán tưởng ra, pháp Đại lễ bái cũng có thể tu bằng quán tưởng.

Pháp Đại lễ bái của Chân Phật Tông chính là pháp Đại lễ bái toàn thân phủ phục, pháp Đại lễ bái ngũ thể đầu địa và pháp Đại lễ bái quán tưởng.

Thông thường khi tu một đàn pháp, trong pháp Đại lễ bái có bốn thủ ấn, ba thủ ấn đầu tiên có cách lễ bái giống nhau, còn thủ ấn cuối cùng là thủ ấn Bình đẳng cúi người khấu đầu.

Có người chuyên tu Đại lễ bái pháp, một lần lễ hai mươi mốt lạy, hoặc bốn mươi chín lạy, hoặc một trăm linh tám lạy, hoặc vài trăm lạy. Loại Đại lễ bái này có thể dùng Phật kham thủ ấn, liên tục lễ bái, xem tất cả chư Phật Bồ Tát và chư tôn đều là Phật, không ngừng lễ bái, càng nhiều càng tốt.

Có rất nhiều đệ tử hỏi tôi, bản thân họ tin Phật nhưng người thân không tin, làm sao để người thân có duyên với Phật? Tôi thích trả lời như thế này, hãy quán tưởng người thân không tin Phật của mình đang ở bên cạnh, dùng ánh sáng của Phật chiếu vào họ, sau đó cùng họ lễ Phật.

Đây cũng là một trong những pháp Quán tưởng lễ Phật. Niệm niệm thay người không tin Phật lễ Phật, lâu dần, trong tâm người không tin Phật sẽ gieo được mầm Phật, tự nhiên sẽ sinh ra duyên với Phật.

Trọng điểm của Đại lễ bái pháp vẫn nằm ở quán tưởng, khi đặt thủ ấn lên đỉnh đầu, chư tôn phóng ánh sáng trắng (thân nghiệp thanh tịnh), khi đặt thủ ấn nơi cổ họng, chư tôn phóng ánh sáng đỏ (khẩu nghiệp thanh tịnh), khi đặt thủ ấn nơi tim, chư tôn phóng ánh sáng xanh (ý nghiệp thanh tịnh). Thủ ấn trở về đỉnh đầu rồi xả ấn, sau đó thực hiện đại lễ bái.

Điểm quan trọng nhất của pháp Đại lễ bái là tiêu trừ nghiệp chướng. Khi chư Phật Bồ Tát phóng quang chiếu soi, chính là để tiêu trừ nghiệp chướng nhiều đời. Khi nghiệp chướng nhiều đời được tiêu trừ, tu hành mới có thể đạt đến thanh tịnh, tự thân mới có thể phóng quang, và khi tự thân có thể phóng quang thì mới có hy vọng thành Phật.

Pháp Đại lễ bái có thể chế ngự tâm kiêu mạn ngã chấp. Tôi cho rằng điều này cũng rất quan trọng, bởi vì khi chúng ta phủ phục đảnh lễ chính là học tập lòng thành kính và khiêm hạ, ý nghĩa là để diệt trừ ba độc tham, sân, si. Cần biết rằng người tu đạo, chỉ cần có chút thành tựu nhỏ là dễ sinh tâm kiêu ngạo, ý thức tự mãn tự đại hoàn toàn bộc lộ, thấy người khác cao hơn mình liền đố kỵ, động một tí là muốn so đạo hạnh với người khác. Vì vậy người học Phật trước tiên phải lễ Phật, học tập lòng thành kính. Phủ phục đảnh lễ chính là để chế ngự tâm kiêu mạn ngã chấp này.

Pháp Đại lễ bái là một phương pháp vận động thể chất, trong quá trình thực hành, kết hợp với các động tác của cơ thể, trở thành động tác yoga với hơi thở và điều khí. Loại vận động thể chất này, khi thực hiện đến mức đổ mồ hôi, thậm chí có thể chữa bệnh, điều này có thể giải thích một cách hợp lý. Từ xưa, pháp Đại lễ bái của Tây Tạng được xem là "pháp lễ Phật khắc kỷ, khổ thân, điều hòa thân thể", điều này cũng có nguồn gốc của nó.

Pháp Đại lễ bái có thể tiêu trừ nghiệp chướng, có thể kết duyên với Phật, có thể chế ngự tham sân si, học tập lòng thành kính, lại còn là pháp yoga phù hợp với vận động cơ thể. Tôi mong rằng đệ tử Chân Phật Tông không được xem thường pháp Đại lễ bái, lời tôi nói tuy đơn giản nhưng đạo lý rõ ràng, nếu thực hành sẽ có công đức to lớn.

Phật pháp bao la tinh vi, nhưng cũng phải từng bước thực hành mới có thể đạt đến "vô thượng". Pháp Đại lễ bái tuy không phải pháp thù thắng nhất, nhưng cũng là pháp tinh tế vi diệu.
Tôi xin viết một bài kệ ghi lại:
*Mê mải bên ngoài là thế tục
Kiểm điểm nội tâm mới ngộ ra
Pháp Đại lễ bái là hồi tâm
Tiêu nghiệp cung kính có lợi ích.*


### 02. Chân Phật Tứ quy y pháp


Có một đệ tử nội mật của Dudjom Rinpoche đến quy y Chân Phật Tông.
Tôi hỏi: "Dudjom Rinpoche đã dạy cho anh pháp môn gì?"
"Pháp Tứ quy y" - Anh ấy đáp. Tôi lắc đầu tỏ vẻ không tin.
"Đúng là pháp Tứ quy y đấy, Dudjom Rinpoche nói rằng, tu trì pháp Tứ quy y một triệu biến chính là đại pháp." - Vị đệ tử mới quy y trả lời tôi một cách kiên định như vậy.

Từ đây có thể thấy tầm quan trọng to lớn của pháp Tứ quy y - một trong bốn pháp gia hành.

Pháp Tứ quy y của Chân Phật Tông được trình bày chi tiết như sau:
Tiến vào mật đàn. Chiêm ngưỡng pháp tướng hoặc tượng của Thượng sư.
Trước tiên quán tưởng hình dáng Thượng sư, từ thiên tâm phóng ra ánh sáng trắng, chiếu vào thiên tâm của hành giả; từ cổ họng phóng ra ánh sáng đỏ, chiếu vào cổ họng của hành giả; từ tim phóng ra ánh sáng xanh, chiếu vào tim của hành giả.

Hành giả chắp tay cung kính niệm: "Nam mô Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Hoạt Phật." Mỗi niệm một lần, lạy một lạy. 
Niệm Tứ quy y chân ngôn:
"Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê."
Na-mô gu-ru pây — quy y Kim cương Thượng sư.
Na-mô pút-ta yê — quy y Phật.
Na-mô ta-mô yê — quy y pháp.
Na-mô sâng-kya yê — quy y tất cả thánh hiền mười phương.

Trước tiên niệm ba lần, sau đó quán tưởng Thượng sư và chư tôn Tam Bảo hiện ra trên không trung, hòa nhập vào nhau, hóa thành ánh sáng ngũ sắc rực rỡ, ánh sáng ngũ sắc này rót vào đỉnh đầu hành giả, tràn đầy toàn thân. Tự cảm nhận tất cả nghiệp chướng, ác nghiệp, bất tịnh nghiệp, tội nghiệp đều hóa thành khí đen, thoát ra qua các lỗ chân lông, bản thân trở nên trong sáng thuần khiết, thân tâm an lạc, tràn đầy phúc huệ.

Sau đó lại niệm chân ngôn Tứ quy y 108 biến, hoặc 1000 biến. Tùy ý niệm nhiều hay ít, càng nhiều càng tốt.

Sau khi niệm xong chân ngôn Tứ quy y, cần niệm văn phát bồ đề tâm: "Đệ tử (tên) từ nay quy y Thượng sư Tam Bảo, cho đến khi thành tựu bồ đề, vĩnh viễn không thoái chuyển, tất cả thiện căn lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh nhanh chóng thành tựu Phật đạo." (niệm 3 lần)

Trì tụng các thần chú khác:
Trì tụng tâm chú Liên Sinh Hoạt Phật: "Ôm gu-ru lién-sâng sit-đi hum" 108 biến hoặc 1000 biến.
Trì tụng tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ: "Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê" 108 biến hoặc 1000 biến.
Trì tụng tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát: "Ôm ma-ni pê-mi hùm" 108 biến hoặc 1000 biến.
Trì tụng tâm chú A Di Đà Phật: "Ôm a-mi-đê-wa sê" 108 biến hoặc 1000 biến.
Trì tụng tâm chú Lục Độ Mẫu: "Ôm ta-rê tu-ta-rê tu-rê sô-ha" 108 biến hoặc 1000 biến.

Sau khi trì tụng các thần chú gia trì xong, tụng văn hồi hướng: "Liên Sinh Hoạt Phật gia trì lực, Tam Bảo phóng quang trừ nghiệp chướng, con và chúng sinh thành Phật đạo, đều cùng vãng sinh Cực Lạc quốc."

Đại lễ bái. Xuất đàn.

Trong pháp Tứ quy y Chân Phật này, điểm trọng yếu nằm ở ánh sáng ngũ sắc rực rỡ, chính là phần quán tưởng sau khi niệm xong ba lần chân ngôn Tứ quy y. Thượng sư và chư tôn Tam Bảo xuất hiện trên không trung, xoay chuyển hòa nhập vào nhau, biến thành ánh sáng ngũ sắc rực rỡ, sau đó rót vào đỉnh đầu hành giả, tất cả nghiệp chướng của hành giả hóa thành khí đen, thoát ra qua các lỗ chân lông. Phần quán tưởng này là quan trọng bậc nhất.

Điểm trọng yếu của pháp Tứ quy y này chính là ở Thượng sư. Trong Mật tông, pháp Tứ quy y đặt Kim cương Thượng sư ở vị trí đầu tiên, bởi vì Kim cương Thượng sư là tổng trì của chư tôn Tam Bảo. Chúng sinh nhờ có sự truyền pháp của Kim cương Thượng sư mới có thể thực sự hiểu được Tam Bảo. Vì vậy, chúng sinh nhờ quy y Kim cương Thượng sư mới có Mật pháp để tu học, và cũng nhờ nương tựa vào Kim cương Thượng sư mới có thể được Thượng sư Tam Bảo cứu độ.

Tu trì pháp Tứ quy y là củng cố lòng tin của chính mình đối với Thượng sư Tam Bảo.
Tu trì pháp Tứ quy y là kết duyên vĩnh viễn với Thượng sư và Tam Bảo, mãi mãi có duyên với chư Phật Bồ Tát.
Tu trì pháp Tứ quy y là tiêu trừ tất cả nghiệp chướng nhiều đời.
Tu trì pháp Tứ quy y là nhận được gia trì của Thượng sư Tam Bảo.
Tu trì pháp Tứ quy y là bước đầu phát tâm bồ đề của chính mình.

Thông thường các vị Hoạt Phật Tây Tạng khi bắt đầu dạy người trì chú, đều dạy chân ngôn Tứ quy y, niệm chân ngôn Tứ quy y một triệu biến để củng cố nhân duyên tin Phật của chính mình. 

Tôi viết một bài kệ cho pháp Tứ quy y Chân Phật:
*Một pháp quy y nghiệp tiêu trừ,
Có duyên với Phật pháp ắt thành;
Chớ làm người tục trong nhân thế,
Phát tâm bồ đề độ chúng sinh.*


### 03. Chân Phật Đại cúng dường pháp


Hành giả Mật tông mỗi lần tu pháp, nhất định phải dâng cúng dường, trong pháp Tứ gia hành, đây chính là pháp cúng dường mandala.

Liên Sinh Hoạt Phật từng nói: “Con người thế gian, nếu muốn có được phúc báo lớn nhất thì phải cúng dường Thượng sư, Tam Bảo, Kim cang, Hộ pháp. Bởi vì nguyên do là cúng dường biểu thị sự cung kính của hành giả, cung kính Tam Bảo vô thượng, nên có thể có được sức mạnh che chở của Thượng sư và Tam Bảo, và có được phúc báo vô cùng.”

Trước kia pháp sư Thích Huệ Linh từng nói với tôi:
Trước Phật cúng hoa — đời sau xinh đẹp phi phàm, tướng mạo anh tuấn.
Trước Phật cúng hương — đời sau thân thể thơm tho.
Trước Phật cúng đèn — đời sau trí tuệ siêu việt, quang minh vô tận.
Trước Phật cúng trà — đời sau tài phúc vô tận, nguồn tài nguyên không dứt.
Trước Phật cúng quả — đời sau ăn uống không phải lo nghĩ, có dư thừa.

Liên Sinh Hoạt Phật nói: “Một người nếu muốn có được phúc báo lớn nhất của nhân gian, đời sau trở thành quốc vương của nhân gian, hoặc thành người giàu có nhất, chỉ cần người đó học được pháp Chân Phật đại cúng dường thì sẽ được thành tựu như vậy. Chỉ tu trì mỗi pháp Chân Phật đại cúng dường thì đã có thể có được phúc báo vô cùng tận.”

Pháp cúng dường mandala của Mật tông như sau:

Hành giả tiến vào mật đàn thì ngồi xuống, hai tay kết ấn cúng dường. Trước tiên đặt một ít gạo lên lòng bàn tay trái.

Kết ấn cúng dường — Hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau, hai ngón út đan chéo nhau (đều là tay phải ở ngoài). Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út. 

Quán tưởng núi Tu Di trong vũ trụ ở chính giữa, bốn cõi trời đông tây nam bắc ở xung quanh núi Tu Di, và ở phía đông tây của núi Tu Di có mặt trăng mặt trời. 

Lại quán tưởng gạo trong tay mình biến thành thất trân bát bảo, đầy ắp cả núi Tu Di và bốn cõi trời đông tây nam bắc. Quán tưởng tất cả trân bảo đều dâng cúng chư tôn.

Thế rồi niệm bài kệ cúng dường:

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kỳ diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Trì thêm chú cúng dường: 

Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.

Niệm xong chú cúng dường thì nâng thủ ấn lên trên, ấn vào thiên tâm một cái. Khi giải ấn thì có thể trực tiếp tung gạo lên không trung. Như vậy được xem là đã hoàn thành pháp cúng dường mandala.

Liên Sinh Hoạt Phật từng dạy mọi người bí mật của pháp Chân Phật đại cúng dường. Ví dụ chúng ta cúng dường một ngọn đèn, thắp đèn sáng lên, nhập đàn tay kết ấn cúng dường. 

Đầu tiên nghĩ đến ngọn đèn dầu này ở trong đầu, sau đó từ một ngọn đèn dầu hóa thành một hàng, sau đó đèn dầu lại biến hóa thành một mặt phẳng, thậm chí biến hóa thành mười phương trên dưới cả vũ trụ đều đầy ắp đèn dầu thắp sáng. 

Quán tưởng chư tôn tiếp nhận cúng dường đèn dầu sáng của bạn. Trong tâm niệm thầm chú cúng dường, sau đó đưa thủ ấn chạm vào thiên tâm rồi giải ấn. 

Ví dụ chúng ta cúng dường một bông hoa, nhập đàn tay kết ấn cúng dường, đầu tiên nghĩ đến bông hoa này ở trong đầu, rồi quán tưởng hoa biến thành một hàng hoa, rồi từ một hàng lại biến thành một mặt phẳng hoa, thậm chí là mười phương trên dưới cả vũ trụ đều đầy ắp hoa. Quán tưởng chư tôn trong vũ trụ, mỗi vị Phật đều cầm một bông hoa của bạn trên tay, đầy ắp cả bầu trời vũ trụ. Trong tâm niệm thầm chú cúng dường rồi chạm thủ ấn vào thiên tâm, sau đó giải ấn.

Đây chính là từ một biến thành nhiều, lần lượt hóa hiện như mây, như biển. Kết quả là đủ loại cúng dường vô tận, một lần Chân Phật đại cúng dường như thế này là thù thắng vi diệu nhất, thanh tịnh và kỳ diệu nhất, quảng đại vô tận nhất. Đương nhiên là phúc báo có được cũng vô cùng vô tận.

Chân Phật Tông chúng ta bày bát cúng là: vỏ ốc nhỏ, trái cây, phấn thơm, đèn, ba que đàn hương, năm bông hoa đỏ, nước tắm, nước sạch, bày từ phải sang trái. Còn ngũ cúng là hoa, hương, đèn, trà, quả. Hai kiểu này đều được.

Thật ra theo như trong kinh Phật, nghi thức cúng dường rất phiền phức, và cúng phẩm cũng có nhiều loại, có cái gọi là năm món cúng, bảy món cúng, tám món cúng, hai mươi bảy món cúng, ba mươi bảy món cúng. Mỗi loại bảo vật đều xem là cúng phẩm, ví dụ pháp luân cũng là một bảo vật, trân châu cũng là một bảo vật, cây lạ cũng là một bảo vật, voi quý cũng là một bảo vật. Tôi cho rằng chỉ cần là thứ mà bạn cho là có giá trị thì đều có thể biến hóa để dâng lên cúng Phật. 

Có đệ tử hỏi tôi là không có thứ gì quý hiếm để cúng dường Phật, phải làm sao? Tôi trả lời như sau, đây là bí mật trong bí mật của Chân Phật đại cúng dường. Khi chúng ta thiếu những món đồ thật để cúng Phật, chúng ta cũng có thể kết ấn cúng dường, rồi nghĩ ra những thứ tốt đẹp nhất, những thứ mà chúng ta nhìn thấy trên đường, hoặc là những thứ nhìn thấy trong nhà người khác, đều có thể ghi nhớ vào trong đầu chúng ta. Chúng ta cũng biến hóa một thành nhiều, nhiều hóa thành vô tận, rồi cũng cúng dường chư tôn trong vũ trụ. Trì thêm chú cúng dường, sau đó giải ấn. Cũng vẫn sẽ có công đức to lớn.

Có ba trọng điểm của pháp Chân Phật đại cúng dường, tức là thủ ấn, chân ngôn, quán tưởng. Kì thực điểm chính yếu thật sự vẫn là tâm cung kính. Chúng ta một lòng biến hóa cúng phẩm thành vô lượng vô tận, tự nhiên phúc phần có được cũng vô lượng vô tận, cho nên nhất tâm quán tưởng là quan trọng nhất.

Pháp Chân Phật đại cúng dường là mật pháp để có được phúc vô lượng.
Pháp Chân Phật đại cúng dường là mật pháp để có được sức mạnh gia trì của Thượng sư và Tam Bảo.
Pháp Chân Phật đại cúng dường là mật pháp Kim cang Hộ pháp hộ thân.
Pháp Chân Phật đại cúng dường là từ cúng dường Phật Bồ Tát mà sản sinh ra tâm bố thí, sau đó chuyển thành bố thí chúng sinh, là đại mật pháp để phát bồ đề tâm quảng đại.
Pháp Chân Phật đại cúng dường là từ cúng dường mà có được sự che chở của chư tôn, từ sự che chở đó lại có được thành tựu.

Hoạt Phật Tây Tạng cho rằng pháp cúng dường mandala phải tu tập 100.000 biến, thậm chí nhiều hơn, đây cũng là khóa trình mà mỗi hành giả Mật tông phải tu. Ngoài ra, cúng dường Thượng sư cũng chính là biểu thị sự tôn kính, lòng hoan hỷ và không rơi vào việc “cầu xin suông” (hoặc có điều thỉnh cầu, hoặc cầu nguyện, đều phải cúng dường để biểu thị một chút tâm ý). 

Bởi vì Thượng sư là đại diện cho Phật, pháp, tăng. Chúng ta đi theo Thượng sư mới có thể tu hành học pháp, cho nên cúng dường Thượng sư là cực kì quan trọng. Thượng sư chân chính sẽ không tham cúng dường, tất cả cúng dường đối với Thượng sư, Thượng sư sẽ dùng thái độ “lấy của chúng sinh, dùng cho chúng sinh” để mà xử lý, dùng vào việc hoằng dương Phật pháp, phổ độ chúng sinh.

Pháp Chân Phật đại cúng dường là một Mật pháp tôn kính, gần gũi, phụng sự, từ đó mà có được lực gia trì che chở, có được lực gia trì che chở rồi thì tu bất kì mật pháp gì cũng đều đắc thành tựu, không có lực gia trì che chở thì tu bất kì mật pháp gì cũng đều sẽ không sản sinh sức mạnh. 

Tôi viết một bài kệ:
*Cúng dường là tâm mềm mại nhất
Kiền thành tự sẽ đến địa đầu
Vô cùng vô tận đại phúc báo
Hiện lên thù thắng chẳng lo âu.*


### 04. Chân Phật Kim Cang Tâm pháp


Một trong Tứ gia hành của Mật giáo là Kim Cang Tâm Bồ Tát pháp.
Pháp này là pháp quan trọng nhất trong Tứ gia hành, được xem là một trong những khóa tu bắt buộc của Mật thừa. Cần trì tụng Bách tự minh chú của Kim Cang Tát Đỏa đủ 100.000 biến.
Kim Cang Tâm Bồ Tát pháp có hai ý nghĩa lớn:
Có thể tiêu trừ sạch sẽ tất cả tội chướng từ vô thủy đến nay.
Có thể khiến hạnh nguyện của hành giả Mật tông kiên cố như kim cương.

Liên Sinh Hoạt Phật từng nói như thế này: "Lai lịch của Kim Cang Tâm Bồ Tát không phải tầm thường, nguyên là thân dung hợp biến hóa của Ngũ Phật, là ánh sáng trắng thanh tịnh vĩ đại. Đây là thân biến hóa của vị sứ giả vĩ đại nhất của Mật thừa, trong đó ẩn chứa ý nghĩa vô cùng thâm sâu. Có người chỉ lấy Kim Cang Tâm Bồ Tát làm Bổn tôn tu pháp, từ đó mà đạt được tâm lớn của Bồ Tát, tâm lớn của Bồ Tát kiên cố bất hoại, như kim cương vậy."

Liên Sinh Hoạt Phật nói: "Trong 52 địa vị Bồ Tát của Đại thừa, Bồ Tát ở địa vị thứ 51 được gọi là Đẳng Giác, sự giác ngộ này ngang bằng với Phật, cho nên nhìn lại Pháp vân địa thứ 10 đã có thể gọi là Phật, danh hiệu chính là Kim Cang Tâm Bồ Tát."

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, Kim Cang Thủ Bồ Tát được xem là vị tổ thứ hai của Mật thừa, Kim Cang Thủ Bồ Tát chính là Kim Cang Tát Đỏa, trong đó có mối quan hệ đồng thể dị danh với Kim Cang Tâm Bồ Tát.

Nhiều người xem thường pháp Tứ gia hành, cho rằng đó là pháp nhỏ, nhưng theo như tôi biết, pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát chính là đại pháp, không những là đại pháp, mà còn là vô thượng pháp.

Có rất nhiều đệ tử Mỹ quy y các vị Hoạt Phật Tây Tạng đến gặp tôi, họ nói với tôi rằng họ đã tu pháp được tám đến mười năm, và pháp cao nhất mà họ tu chính là Kim Cang Tâm Bồ Tát pháp.

Và đệ tử quy y của tôi là Đạt Thừa Rinpoche - Hoạt Phật đời thứ 10 của Hồng giáo Tây Tạng, nói với tôi rằng, phần lớn các đệ tử Mỹ khi mới học pháp, nhất định phải cho họ tu Tứ gia hành trước, và pháp cao nhất chính là Kim Cang Tâm Bồ Tát pháp, vì thế các đệ tử Mật tông người Mỹ đều tụng chú Bách tự minh của Kim Cang Tát Đỏa.

Pháp Chân Phật Kim Cang Tâm trình bày như sau:

Vào đàn, đại lễ bái.
Trước tiên ngồi xuống chắp tay niệm: "Nam mô Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật." 3 biến.
Niệm chú Tứ quy y: "Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê." 3 biến.
Niệm kệ Tứ vô lượng tâm (1 biến).
Nguyện cho tất cả chúng sinh đầy đủ niềm vui và nhân của niềm vui, đó là từ vô lượng.
Nguyện cho tất cả chúng sinh thoát khỏi khổ và nhân của khổ, đó là bi vô lượng.
Nguyện cho tất cả chúng sinh mãi mãi ở trong an lạc không khổ, đó là hỷ vô lượng.
Nguyện cho tất cả chúng sinh bỏ yêu ghét, trụ nơi bình đẳng, đó là xả vô lượng.

Niệm chân ngôn phát tâm bồ đề:
"Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm." (3 biến)

Niệm kệ và chú sám hối:
Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối.
"Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah." Chú này có thể niệm vô số biến.

Sau khi niệm chú xong, có thể dùng nước Đại bi chú hoặc nước chú Quân Đồ Lợi Minh Vương, hướng về bốn phương Đông Nam Tây Bắc, dùng tay búng vẩy nước, và tự mình cũng uống một chút nước Đại bi chú hoặc nước chú Quân Đồ Lợi Minh Vương, biểu thị Đông Nam Tây Bắc Trung tất cả đều thanh tịnh. (Nước Đại bi chú hoặc nước chú Quân Đồ Lợi Minh Vương cần phải niệm chú sẵn để dùng.)

Kết thủ ấn: Tay phải nắm lại, hướng vào trong, ngón cái đè lên ngón trỏ. Tay trái nắm lại, hướng ra ngoài, ngón trỏ đè lên ngón cái. Đặt trước ngực.

Quán Không.

Quán tưởng Kim Cang Tâm Bồ Tát hiện ra trên không trung, thân Bồ Tát màu trắng, đội mũ Ngũ Phật, khoác thiên y và váy xếp, thân được trang nghiêm bằng các loại bảo vật, ngồi trên tòa sen tám cánh và nguyệt luân, tay phải kết phẫn nộ ấn cầm chày kim cang ở trước ngực, tay trái kết phẫn nộ ấn cầm chuông kim cang ở bên đùi trái. Xung quanh ngực có vòng tròn bách tự minh chú bao quanh, vòng chú này tỏa ánh sáng trắng rực rỡ xoay vần.

Ánh sáng trắng lớn này bay lên không trung, tạo thành một vòng cung, rót vào đỉnh đầu của hành giả Mật tông và lan tỏa khắp toàn thân. Toàn thân hành giả cũng tỏa ra ánh sáng lớn, tất cả nghiệp chướng và ý niệm xấu ác trong thân hóa thành khí đen, thoát ra từ các lỗ chân lông trên toàn thân. Lúc này toàn thân hành giả trở nên trong suốt sáng ngời, đạt được đại thiền lạc.

Tụng Bách tự minh chú Kim Cang Tâm 21 biến: (Khi tụng chú không kết thủ ấn)

Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha
Chư-chô mê-pa-wa
Su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân
Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya
Sa-tô ah hùm pây.

Sau khi tụng xong 21 biến Bách tự minh chú Kim Cang Tâm, quán tưởng Kim Cang Tâm Bồ Tát hóa thành một điểm ánh sáng trắng, đi vào đỉnh đầu của hành giả Mật tông và nhập vào tâm, thân khẩu ý của Kim Cang Tâm Bồ Tát chính là thân khẩu ý của hành giả Mật tông, hai bên hợp làm một, hoàn toàn hòa hợp, hành giả Mật tông biến thành Kim Cang Tâm Bồ Tát.

Vào thời khắc quan trọng nhất này, nếu hành giả Mật tông thật sự có thể để thân tâm hoàn toàn "buông bỏ", chắc chắn sẽ có tư tưởng tối thượng thâm nhập vào thân thể hành giả, đó chính là sự hợp nhất hoàn toàn giữa ý thức tối cao của vũ trụ với ánh sáng tâm của chính mình. Đây là đại tương ứng vi diệu không thể diễn tả bằng lời, cũng là không thể nói ra, một trạng thái bất nhị mà chỉ người thực chứng mới có thể thấu hiểu, và chỉ những ai đạt được sự tương ứng như vậy mới thực sự chứng ngộ.

Sau khi xuất định. Hồi hướng:

Liên Sinh Hoạt Phật truyền thụ đại mật pháp.
Kim Cang Tát Đỏa biến hóa Kim Cang Tâm.
Cả hai dung hợp đích thực đại tương ứng.
Tội chướng tiêu trừ chân chính đắc thanh tịnh.

Đại lễ bái Phật, xuất đàn.

Hôm nay, tôi thật lòng nói với mọi người rằng, pháp môn Tứ gia hành này, nếu học được trọn vẹn và đạt được sự tương ứng hoàn toàn, tôi cho rằng đã đạt được quả vị Bồ Tát Đẳng Giác. Đây chính là điều kỳ diệu của Chân Phật Mật Pháp. Tuy Tứ gia hành là pháp căn bản của Mật tông, nhưng thực sự là nền tảng vĩ đại của Mật thừa nghìn đời. Tôi cho rằng, chỉ cần Tứ gia hành đạt được sự tương ứng, thật sự đại tương ứng, thì chính là Kim Cang Tâm Bồ Tát.

Pháp Kim Cang Tâm Chân Phật là bí mật lớn để tiêu trừ tội chướng từ vô thủy.
Pháp Kim Cang Tâm Chân Phật có quả vị là Đẳng Giác, vượt qua Pháp vân địa thứ mười.
Pháp Kim Cang Tâm Chân Phật là pháp Tứ gia hành, cũng là pháp Bổn tôn.

Điểm trọng yếu của Pháp Kim Cang Tâm Chân Phật là quán tưởng ánh sáng trắng lớn đi vào, khí đen thoát ra. Quan trọng nhất là sự thành tựu vô thượng khi Kim Cang Tâm Bồ Tát hợp nhất với chính mình, tôi viết một bài kệ:
*Trong pháp gia hành có thắng cảnh
Như tên bay nhanh nhẹ tội chướng
Quán không hợp nhất thật tuyệt diệu,
Kim Cang Tát Đỏa Bách tự minh.*


### 05. Liên Hoa Đồng Tử Kim Cương tương ứng pháp (1)


Liên Hoa Đồng Tử Kim Cương tương ứng pháp chính là Thượng sư tương ứng pháp.
Bởi vì Liên Hoa Đồng Tử chính là Liên Sinh Hoạt Phật.

Điều này phải nhắc lại từ quyển sách tâm linh đầu tiên của Thượng sư Lư Thắng Ngạn:
"Trong cõi mênh mông, tôi cảm nhận một cách hết sức rõ ràng rằng đây là cảnh giới hư ảo của vũ trụ. Tôi được một sức mạnh nào đó dẫn dắt, du hành qua cảnh giới hư ảo của thái hư. Tại nơi đó, tôi thấy rất nhiều chư Phật Bồ Tát, các Ngài cùng tôi cúi đầu chào nhau, nhưng không có vị nào tôi quen biết. Tôi thấy từng đóa hoa sen to như bánh xe, hoa sen có nhiều màu khác nhau, trên mỗi đóa hoa sen đều có một đồng tử đứng, mỗi đồng tử đều cầm hoa sen với màu sắc khác nhau. Tôi thấy từ không trung có bậc thang buông xuống, xung quanh đứng đầy kim giáp thần, khói mây lan tỏa khắp nơi. Tôi thấy lầu các, được chạm khắc vô cùng tinh xảo, ánh sáng từ vàng bạc lưu ly tỏa chiếu khắp nơi. Tôi thấy hai cây cột, đứng sừng sững giữa trời mây, có người nói thầm bên tai tôi rằng, một cột là núi Côn Lôn, một cột là núi Tu Di..."

Đây là một đoạn mô tả từ bài viết "Vân du huyễn cảnh trong vũ trụ" của cuốn sách "Mạn đàm linh cơ thần toán", được viết hơn mười năm trước, xảy ra khi tôi hai mươi lăm tuổi.

"Tôi thấy từng đóa hoa sen to như bánh xe, hoa sen có nhiều màu khác nhau, trên mỗi đóa hoa sen đều có một đồng tử đứng, mỗi đồng tử đều cầm hoa sen với màu sắc khác nhau." Đoạn văn này chính là chỉ rõ Liên Hoa Đồng Tử.

Khi tôi đã hiểu rõ tất cả, tôi mới biết rằng bản thân mình là hóa thân của Bạch Liên Hoa Đồng Tử, điều này không hề giả dối chút nào, bởi vì tôi nhìn thấy rất rõ ràng, minh bạch, nên tôi mới phát đại nguyện: "Phân thân xả cốt độ chúng sinh".

Tiền kiếp của tôi cần được xâu chuỗi như sau:

Ngũ Phương Phật — Phật Nhãn Phật Mẫu — Liên Hoa Đồng Tử — Liên Sinh Hoạt Phật.

Liên Sinh Hoạt Phật là hóa thân của Thập Bát Đại Liên Hoa Đồng Tử Bạch Y Thánh Tôn, còn Bạch Liên Hoa Đồng Tử là hóa thân của Nhất Thiết Phật Nhãn Đại Kim Cang Cát Tường Nhất Thiết Phật Mẫu Tâm Tôn, và Phật Nhãn Phật Mẫu chính là hóa thân của Ngũ Phương Phật.

Trong Thượng sư tương ứng pháp của Chân Phật Tông, Thượng sư có bốn thân.
Thứ nhất, Chân thân — như người mẹ hư không giới, chúng sinh thỉnh mời Chân thân Thượng sư.
Thứ hai, Pháp tính thân — như người mẹ hư không giới, chúng sinh thỉnh mời Pháp tính thân Thượng sư.
Thứ ba, Báo tính thân — như người mẹ hư không giới, chúng sinh thỉnh mời Báo thân Thượng sư viên mãn.
Thứ tư, Ứng tính thân — như người mẹ hư không giới, chúng sinh thỉnh mời Ứng hóa thân Thượng sư đại bi vô ngại.

Cũng có thể nói như sau;
Chân thân — Ngũ Phương Phật.
Pháp tính thân — Phật Nhãn Phật Mẫu (Vô Tà Nhãn Như Lai).
Báo tính thân — Liên Hoa Đồng Tử.
Ứng tính thân — Liên Sinh Hoạt Phật.

Liên Hoa Đồng Tử chắc chắn đang hiện diện tại Ma Ha Song Liên Trì ở Tây phương Cực Lạc thế giới. Chỉ vì muốn giúp Tây phương Cực Lạc thế giới Phật A Di Đà hoằng dương Phật pháp mà ngài mới giáng sinh xuống trần gian, do đó mà cõi người mới có Liên Sinh Hoạt Phật Thượng sư Lư Thắng Ngạn. Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật, qua nhiều nhân duyên, được các bậc thầy dạy dỗ, và còn được đích thân Phật Thích Ca Mâu Ni thọ ký, được Phật A Di Đà ủy thác, được Bồ Tát Di Lặc ban tặng mũ miện đỏ, được Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền dạy mật pháp. Đây là một pháp duyên lớn, là thời đại Liên Hoa Đồng Tử cứu độ chúng sinh, giáng mưa pháp lớn, thổi loa pháp lớn, đánh trống pháp lớn, diễn pháp nghĩa lớn.

Trong thế giới này, Liên Sinh Hoạt Phật đã tạo ra sáu bánh xe pháp lớn gây chấn động, và những bánh xe này đã bắt đầu xoay chuyển. Liên Sinh Hoạt Phật đã đích thân nhập vào Tỳ Lô tính hải, chứng đắc tất cả, thành tựu vô thượng.

Liên Sinh Hoạt Phật chính là: "Thành tựu vô thượng, được Phật thọ ký, đảm trách Phật sự, có đại pháp lực, thấu tỏ tất cả, điều phục tâm chúng sinh, tướng tốt trang nghiêm, xuất thế nhập thế đều tự tại vô ngại, bậc thánh hiền vô song, hóa thân vô số, biến khắp hư không, đại ấn tính Không, viên mãn hóa thân, bản thể Phật tính, thiện xảo hiển hiện, chỗ nương tựa của chúng sinh, từ bi bất nhị, kim cương bất hoại, công đức như biển, thuyết pháp độ chúng, nhiếp phục tất cả mê lầm, ban trí tuệ cho chúng sinh, hiển bày nghĩa chân thật, thuyết chân đế, ma không thể chống lại được."

Bởi vì Liên Sinh Hoạt Phật là chân thật như vậy, tức là một Kim cương Thượng sư đã thực sự chứng đắc. Hơn nữa, khi các đệ tử đã tu xong Tứ gia hành, cần phải tu tập Thượng sư tương ứng pháp. Đây là đại pháp đặc biệt nhất của Chân Phật Tông, liên kết chặt chẽ với Liên Sinh Hoạt Phật, đạt được tương ứng thì có thể vãng sinh về Tây phương Cực Lạc thế giới, Ma Ha Song Liên Trì.

Pháp tương ứng Thượng sư trong Mật thừa là Lục Mật, khi tu học Mật thừa, đây là cấp độ thứ hai, mọi người đều phải tu tập, cho nên ai cũng cần phải thờ tượng Thượng sư. Tượng Thượng sư đại diện cho Ngũ Phương Phật, Phật Nhãn Phật Mẫu, Liên Hoa Đồng Tử, Liên Sinh Hoạt Phật.

Khái niệm về pháp tương ứng Thượng sư là, Thượng sư và tất cả chư Phật trong pháp giới là một thể, Thượng sư là thể tính hợp nhất thân khẩu ý của chư Phật trong mười phương ba đời, là nguồn gốc của tám vạn bốn nghìn pháp môn. Đệ tử Chân Phật Tông quy y Thượng sư với đầy đủ truyền thừa, căn bản, và đức hạnh, quy y tất cả chư Phật Bổn tôn thánh chúng trong mười phương ba đời. Quy y chư Bồ Tát, pháp môn vô thượng, chư Hộ pháp thánh chúng.

Pháp tương ứng Thượng sư là pháp quan trọng hàng đầu.
Có được sự tương ứng với Thượng sư rồi mới có được sự gia trì tương ứng của từng pháp trong tương lai.
Đây chính là nguồn gốc và tầm quan trọng của pháp tương ứng Thượng sư.


### 06. Liên Hoa Đồng Tử Kim Cương tương ứng pháp (2)


Sau đây xin trình bày chi tiết toàn bộ quy trình của pháp tương ứng Thượng sư như sau:

Tịnh thân nhập đàn.

1. Niệm chú thanh tịnh

Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.

2. Niệm chú triệu thỉnh

Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)
Ôm pê-cha sa-ma-ya cha. (3 biến) 
(Tùy chọn một trong hai chú này.)

Triệu thỉnh chư Phật Bồ Tát chư tôn và Hộ pháp (niệm thánh danh của chư Phật Bồ Tát chư tôn, Hộ pháp trong đàn thành của mình).

Hoặc chắp tay cung kính niệm: "Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện chư chúng sinh được an lạc. Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn tràng, nguyện chư chúng sinh lìa chư khổ. Nam mô thập phương tam thế nhất thiết chư Phật, nguyện chư chúng sinh thường từ hỷ. Nam mô Tam tạng Thập nhị bộ chính pháp, nguyện chư chúng sinh xả phân biệt. Nam mô thập phương tam thế nhất thiết thánh hiền tăng, nguyện chư chúng sinh đắc chính giác. Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Lư Thắng Ngạn Liên Sinh Hoạt Phật, nguyện con cùng lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa."

3. Đại lễ bái

Một bái thập phương Phật. Hai bái chư Bồ Tát. Ba bái Hộ pháp Kim cang. Bốn bình đẳng một cúi đầu. (Theo nghi thức Đại lễ bái Chân Phật.)

4. Cúng dường mandala (có thể ngồi, dựa theo pháp Đại cúng dường Chân Phật)

5. Niệm chú Tứ quy y (3 biến)

Na-mô gu-ru pây — quán tưởng Thượng sư hiện tiền.
Na-mô pút-ta yê — quán tưởng Phật Tổ hiện tiền.
Na-mô ta-mô yê — quán tưởng pháp bản phóng tỏa ánh sáng.
Na-mô sâng-kya yê - quán tưởng không trung hiện ra vô số thánh hiền cùng phóng quang.

6. Tu pháp mặc giáp hộ thân

Kết ấn chắp tay kim cang, đặt trên đỉnh đầu. Niệm chân ngôn Bồ Tát Kim Cang Thủ: "Ôm bua-rua lan chưa-li." (7 biến), sau đó ấn chạm vào thiên tâm, cổ họng, tim, vai trái, vai phải, rồi quay lại chạm đỉnh đầu một lần nữa trước khi giải ấn.

Yếu quyết của pháp này là, khi vừa giải ấn, lập tức quán tưởng Bồ Tát Vi Đà Hộ Pháp Thiên Tôn hoặc vị Hộ pháp Kim cương khác mà mình thờ phụng, biến hóa thành bốn thân. Một vị đứng trong không trung phía sau lưng mình, một vị đứng trong không trung phía trước mặt mình, một vị đứng trong không trung bên trái mình, một vị đứng trong không trung bên phải mình, đang bảo vệ hành giả đang tu pháp ở chính giữa.

7. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (1 biến, 3 biến hoặc nhiều hơn)

Đây là bản kinh được Chân Phật Tông tôn sùng.

8. Cầu thỉnh Liên Hoa Đồng Tử (tay kết thủ ấn Liên Hoa Đồng Tử)

Tự tính liên hoa pháp tính thân
Tay phải thuyết pháp trái cầm hoa
Hóa thân biến khắp nghìn vạn cảnh
Thiên y bảo sức diệu trang nghiêm
Một thân đắc chứng Đạo Hiển Mật
Truyền thừa dung hợp trân quý nhất
Chân Phật Mật Pháp dạy chúng sinh
Phổ độ quần sinh không bỏ sót.

9. Đầu tiên quán Không. Sau đó quán tưởng:

Quán tưởng một hồ lớn, sáng chói như gương, ở giữa hồ hiện lên một ngọn núi cao, trên đỉnh núi có một tòa sen, và Liên Sinh Hoạt Phật Thượng sư đang ngồi trên tòa sen đó, giống như chân dung của Thượng sư, tướng mạo trang nghiêm viên mãn như Phật, thân tỏa ánh sáng trăm báu, bên phải Thượng sư có chư Phật mười phương quá khứ, bên trái có tất cả Bồ Tát, thánh hiền tăng, và các vị tổ sư nhiều đời trùng trùng vây quanh, dưới pháp tọa có Tứ Đại Thiên Vương và quỷ thần hộ pháp.

Lại quán tưởng vị trí thiên tâm của Thượng sư, chữ "Om" tiếng Phạn phóng ra một luồng ánh sáng trắng mạnh mẽ, chiếu vào thiên tâm của hành giả, đây là ánh sáng của đại viên kính trí, khiến cho ngũ uẩn và thức thứ tám của hành giả hóa thành vô hình. Ở cổ họng Thượng sư, chữ "Ah" tiếng Phạn phóng ra một luồng ánh sáng đỏ mạnh mẽ, chiếu vào cổ họng hành giả, chuyển hóa tất cả tham tính dục niệm của hành giả thành vô hình, biến thành ánh sáng của đại trí huệ. Ở tim Thượng sư, chữ "Hum" tiếng Phạn phóng ra một luồng ánh sáng xanh lam mạnh mẽ, chiếu vào tim của hành giả, điều phục si tính của hành giả, chuyển hóa si tính thành vô hình.

Thứ ba, quán tưởng Thượng sư và chư Tam Bảo chư tôn cùng phóng ra ánh sáng ngũ sắc chiếu khắp toàn thân hành giả, và tội chướng ác nghiệp của hành giả, tất cả nghiệp chướng từ vô thủy, đều hóa thành khí đen, thoát ra qua các lỗ chân lông, tan biến trong không khí, từ đó toàn thân trở nên thuần trắng trong suốt phát sáng, đạt được khinh an.

10. Trì tâm chú Thượng sư (Liên Hoa Đồng Tử)

Ôm a hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lián-shâng sit-đi hùm.
(Buông thủ ấn, đếm chuỗi hạt, 108 biến hoặc 1080 biến.)

11. Làm Cửu tiết Phật phong (cách dùng hơi thở dừng ý niệm, chương sau sẽ trình bày)

Làm nội hỏa minh điểm (pháp ôn dưỡng đan điền và tích tụ ý niệm, chương sau sẽ trình bày)

1. Nhập tĩnh hoàn toàn (nhập Tam-ma-địa): (thời gian không phân dài ngắn)

"Ánh sáng của hành giả, tỏa ra khỏi thân thể, nhập vào biển tính Tỳ Lô." (ngã nhập)
"Đại quang minh của vũ trụ, nhập vào thân thể hành giả, hai luồng ánh sáng gặp nhau, hợp thành một." (nhập ngã)
Đạt đến Tam ma địa là viên thông và ấn chứng, có thể đạt được minh thể diệu giác, có thể trùm khắp pháp giới, hành giả được bao bọc trong lớp vỏ ánh sáng ẩn mọi dấu vết, tịnh hóa thân tâm, như hoa sen, nhập vào tạng tâm Như Lai, đắc mật pháp vi diệu, ngộ được chân thường, đắc chiếu minh kim cang tam muội, tất cả đều thấu suốt rõ ràng, chuyển bánh xe pháp, đắc nguyên minh chân kiến.
Tam ma địa là ánh sáng chiếu rọi lẫn nhau, tất cả đều khai mở thông suốt, rõ ràng minh bạch, là đại tương ứng.

1. Sau khi xuất định, gia trì các tâm chú khác: (số biến tự quyết định)

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)

14. Niệm Phật

Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)

1. Hồi hướng

Cung kính Liên Sinh Thánh Tôn pháp.
Một phái Chân Phật giúp chúng sinh.
Niệm chú sinh về Song Liên Trì.
Thập bát Liên Hoa đến hóa sinh.
Bí mật vô thượng và hiếm có.
Nay con tu trì cúng dường hết.
Phát lời thề nguyện trong thâm tâm
Mong con sớm đăng Phật địa này.

Và:
Thỉnh cầu Thánh Tôn gia trì lực.
Ban cho quán đảnh liên hoa sinh.
Quảng đại viên mãn đắc tự tại.
Độ mình độ người đến Phật quốc.

Và: (cùng hồi hướng)

Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. xin đem công đức này hồi hướng. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. 
Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. (Giơ chày kim cang vẽ một vòng tròn, vòng tròn tỏa ra ánh sáng lửa.)
Mong tất cả tai nạn tiêu tan. (Giơ chày kim cang, dùng lực chỉ về phía bóng tối, hét một tiếng "Uân", bóng tối biến thành ánh sáng. Làm như vậy 2 lần.) 

16. Niệm chú viên mãn

Ôm bu-lin. Ôm bu-lin. Ôm bu-lin.

17. Đại lễ bái

Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Xuất đàn. Cát tường viên mãn.

🌟

Pháp tương ứng Thượng sư là pháp tu mà mỗi đệ tử Chân Phật Tông đều phải thực hành. Hôm nay, tôi đã viết ra đầy đủ những điểm chính và bí mật của pháp tu này, đây là do tôi đã thấu hiểu rằng, tôi chính là chúng sinh, chúng sinh chính là tôi, giữa tôi và chúng sinh, không hai không khác, vì vậy tôi đã phát khởi tâm đại từ bi, hoàn toàn không giữ lại điều gì.

Thủ ấn Liên Hoa Đồng Tử: Tay phải kết ấn thuyết pháp, ngón cái đè lên ngón giữa tạo thành vòng tròn, ba ngón còn lại duỗi thẳng hướng lên trên, lòng bàn tay hướng ra ngoài, đặt trước ngực. Tay trái kết ấn cầm hoa sen, ngón cái và ngón trỏ chạm nhau tạo thành vòng tròn, ngón giữa và ngón áp út co vào lòng bàn tay, ngón út duỗi thẳng, lòng bàn tay hướng vào trong, đặt trước ngực.

Trong việc tu trì Mật tông, từ pháp tương ứng Thượng sư đến pháp Kim cang vô thượng mật, hầu như mỗi một pháp tu đều không thể thiếu những thủ tục đầu tiên như Đại lễ bái pháp, Cúng dường mandala pháp, Tứ quy y pháp, Mặc giáp hộ thân pháp, vì vậy hành giả phải ghi nhớ kỹ những mật pháp này, linh hoạt vận dụng, và hầu như tất cả đều phải sử dụng.

Pháp tương ứng Thượng sư và bất kì loại mật pháp nào vốn đều là linh hoạt. Không có quy trình cứng nhắc, nhưng để cho người đời sau có phương thức tu tập, nên mới thiết lập pháp bản thích hợp, đây cũng là nguồn gốc của pháp bản.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, thành tựu của pháp tương ứng Kim cương Liên Hoa Đồng Tử cũng chính là thành tựu của Phật Nhãn Phật Mẫu cùng Ngũ Phương Phật. Vì vậy, pháp của Chân Phật Tông là thù thắng đệ nhất trên thế gian.


### 07. Liên Hoa Đồng Tử Kim Cương tương ứng pháp (3)


Liên Hoa Đồng Tử Kim Cương tương ứng pháp chính là Thượng sư tương ứng pháp. Trong phần quán tưởng, cũng có thể quán tưởng như sau: Thượng sư ban đầu trụ trong không trung đối diện với hành giả, phóng ánh sáng chiếu vào hành giả, sau đó Thượng sư thu nhỏ lại, thu nhỏ thành một điểm sáng cỡ hạt gạo, điểm sáng cỡ hạt gạo đó di chuyển đến đỉnh đầu hành giả, rồi từ đỉnh đầu đi theo trung mạch đi xuống tâm của hành giả, ngồi trên hoa sen trong tâm do hành giả hóa hiện.

Quán tưởng vị Thượng sư nhỏ cỡ hạt gạo này, dần dần lớn lên, lớn cho đến bằng thân thể hành giả thì dừng lại.
Thượng sư phóng ánh sáng.
Tức hành giả phóng ánh sáng.
Hành giả và Thượng sư hoàn toàn hòa nhập làm một. Không hai không khác.
Đây chính là chân nghĩa của pháp tương ứng Thượng sư.

Chúng ta biết rằng vị tổ sư Tạng mật - Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã dạy tất cả đệ tử phải "kính sư, trọng pháp, thực tu". Việc tu tập pháp tương ứng Thượng sư cũng có thể nói là tinh thần quan trọng của câu nói này.

Thượng sư trong Mật tông là bậc tôn quý đệ nhất, hành giả tu Mật tông đối với vị Căn bản Thượng sư của mình chỉ có lòng tôn kính, không được có chút xem thường nào. Bởi vì Mật tông là nói về sự truyền thừa từ thầy, nếu không tôn kính Căn bản Thượng sư, đến mức phỉ báng, thì tất cả mật pháp đã nghiên cứu tu học sẽ mất đi chỗ nương tựa, trở nên hoàn toàn vô dụng.

Điều này có thể thấy khắp nơi trong kinh điển Mật thừa, ví dụ:
Kinh Đệ Nhất Vô Thượng Sư Lợi nói: "Không phân biệt tất cả Như Lai Sư, ai phỉ báng Kim Cương Acharya tức là phỉ báng tất cả Như Lai Phật, sẽ thường gặp khổ não lâu dài."
Kinh Bát Nhã Bát Không nói: "Gây chướng ngại cho Guru, tội nghiệp này bốn lực sám hối cũng không thể tiêu trừ."
Kinh Kim Cang Trướng: "Người có hai lòng, không cung kính thầy sẽ mắc bệnh ác trong máu, chết thảm rơi xuống địa ngục."
Kinh Hóa Võng nói: "Kẻ phỉ báng Acharya, người này không thấy mộng; kẻ phỉ báng Thượng sư, tâm bị yêu ma khống chế. Người trí tuệ vĩnh viễn tránh xa kẻ có hành vi sân hận."
Kinh Toản Thạch Kim Cang Tinh nói: "Nếu phỉ báng Acharya, nghìn kiếp không ăn không ngủ chuyên cần học Kim cương thừa, cũng sẽ đọa vào ngục kim cang."
Kinh Kim Cang Kiếm nói: "Không phỉ báng Kim cương sư, Guru là tất cả chư Phật; không buông lỏng tâm trí tuệ, phải luôn luôn chú tâm."
Còn nhiều ví dụ khác nữa, không thể liệt kê hết.

Ý nghĩa là: nghiệp tội của đệ tử khi phỉ báng Thượng sư là một việc cực kỳ nghiêm trọng, phỉ báng Thượng sư cũng giống như phỉ báng tất cả các Như Lai Phật, trong đời này sẽ gặp phải nhiều khó khăn, đau khổ và quả báo xấu.

Bất kể thời gian hay địa điểm nào, vĩnh viễn không được làm cho Thượng sư bất an về thân tâm, nếu cố ý làm cho Thượng sư không an về thân tâm, loại nghiệp tội này, cho dù nỗ lực cầu sám hối cũng không thể tiêu trừ được. Người làm cho Căn bản Thượng sư không an về thân tâm sẽ chịu những khổ đau nghiêm trọng, thậm chí mất mạng, sau khi chết sẽ đọa vào địa ngục kim cang.

Người phỉ báng Căn bản Thượng sư sẽ mắc những căn bệnh quái lạ, sẽ đọa vào địa ngục kim cang!

Người phỉ báng Căn bản Thượng sư sẽ không được bình an ngay cả trong giấc mơ, người phỉ báng Căn bản Thượng sư là do yêu ma đến khống chế tâm họ, những người có trí tuệ đều nên tránh xa loại người nổi giận với Thượng sư này.

Nếu phỉ báng Căn bản Thượng sư, "nghìn kiếp không ăn không ngủ", tức là trong thời gian nghìn kiếp, không ăn, không ngủ nỗ lực tinh tấn học pháp trì chú, cũng vẫn không thể đạt được thành tựu. Ngược lại, càng học càng gần địa ngục kim cang. Đây không phải là cầu thành tựu, mà là cầu địa ngục.

Đối với Kim cương Thượng sư, không được phỉ báng! Phải luôn chú ý hành vi của mình, vì một khi phỉ báng rồi, tất cả thành tựu sẽ tan thành mây khói.

Đệ tử muốn đạt được thành tựu, nhất định phải tuân thủ giới luật Mật tông "Sự sư pháp ngũ thập tụng", "Mười bốn đại giới căn bản của Mật tông", và hết lòng tôn kính Thượng sư.

Ngày nay, Chân Phật Tông có Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Hoạt Phật, là vị Đại Trì Minh Kim Cương Acharya chân chính, là hóa thân của Liên Hoa Bồ Tát Kim Cương được Thích Ca thọ ký, Di Đà phó thác, Di Lặc đội mũ miện, đến để độ hóa ngũ trược ác thế, cả cuộc đời của Liên Sinh Hoạt Phật chính là vì nhân duyên lớn lao của Chân Phật Tông mà xuất hiện trên thế gian. Liên Sinh Hoạt Phật trước hết đạt được giải thoát tự tại rồi mới độ hóa chúng sinh đạt giải thoát tự tại.

Liên Sinh Hoạt Phật sinh vào giờ Ngọ, ngày 18 tháng 5 năm 1945 (năm Dân Quốc thứ 34), sinh tại một trại gà bên bờ sông ở vùng Hậu Hồ, huyện Gia Nghĩa, tỉnh Đài Loan.

Liên Sinh Hoạt Phật trước tiên học Đạo giáo, sau đó học Hiển giáo, cuối cùng mới học Mật giáo, chính là sự viên chứng Đạo-Hiển-Mật, đã theo học 21 vị thầy, thông hiểu tất cả pháp thế gian và xuất thế gian, ngay trong đời này đã đạt được sự tương ứng lớn với Bổn tôn, chứng nhập biển tính Tỳ Lô, đạt vô thượng bồ đề.

Liên Sinh Hoạt Phật có vô số trước tác, hiện tại thuyết giảng pháp đại thừa vô thượng cho tất cả chúng sinh trên thế gian. Ngài được Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đích thân truyền dạy pháp Đại viên mãn. Ngay cả các vị Hoạt Phật Tây Tạng cũng thân hành đến quy y học pháp. Ngài là đại Thượng sư trong các vị Thượng sư. 

Viết một bài kệ ghi lại:
*Thế gian hung ác cũng thê lương,
Hoạt Phật học pháp nếm mọi khổ,
Hôm nay truyền dạy đại mật pháp,
Chỉ mong người hướng về thái dương.*


### 08. Nói kĩ về pháp Mặc giáp hộ thân


Pháp Mặc giáp hộ thân chính là pháp phòng ma. 
Tục ngữ nói: "Đạo cao một xích, ma cao một trượng; đạo cao một trượng, ma ở trên đầu."
Liên Sinh Hoạt Phật nói: "Ma vĩnh viễn ở xung quanh bạn."
Có người cho rằng xung quanh Liên Sinh Hoạt Phật chắc chắn không có ma, thật ra nói thế là sai rồi, xung quanh tôi toàn là ma, chúng ngày ngày giờ giờ chờ đợi thời cơ để muốn tấn công tôi. Ma có ma vô hình, cũng có ma nhập thân người, biến hóa thành ma hữu hình. Thậm chí có rất nhiều người bị ma cưỡng ép mà họ cũng không tự biết.

Ma vô hình không đấu nổi tôi. Thế là chúng nhập vào trong tâm của một số người, hoặc nhập vào trong tâm đệ tử, sau đó cưỡng ép họ để họ ra sức công kích tôi. Chỉ là tôi là người đã đắc chứng ngộ, nên tôi vẫn sống một cách tự nhiên như thường, có khi tôi còn chẳng buồn để ý đến họ, hơn nữa còn chờ đợi thời cơ để cứu độ họ, ngay cả ma cũng độ hóa. Trong lời thề nguyện của tôi, ma cũng là một trong số chúng sinh, ma cũng là đối tượng để tôi cứu độ, vì thế, Liên Sinh Hoạt Phật chuyên môn độ hóa ma quỷ.

Nói chung, khi sắp đắc chứng ngộ, ma sẽ đến quấy nhiễu. Và người chăm chỉ tu pháp, ma cũng rất thích đến quấy nhiễu. Vì thế, hành giả Mật tông tu hành đều phải tu pháp Mặc giáp hộ thân, dùng pháp Mặc giáp hộ thân để bảo vệ chính mình tu pháp. Pháp mặc giáp hộ thân rất quan trọng, rất quan trọng, trong Mật pháp của Chân Phật Tông, gần như mỗi một pháp đều phải tu mặc giáp hộ thân.

Vào lúc nào thì ma thích tìm đến người để quấy nhiễu nhất?
Tôi cho rằng, ngoài lúc tu pháp ra thì chính là lúc ngủ, sau đó chính là khi có đám cưới hoặc đám tang.
Đám cưới — linh của tổ tiên sẽ tham dự hôn lễ của con cháu đời sau, vì thế âm khí nặng.
Đám tang — linh của tổ tiên sẽ đến đón linh hồn của con cháu đời sau, vì thế âm khí nặng.
Ngoài ra, có một loại người mà xung quanh họ có oan linh theo thân, khi người này đi gặp bạn bè, đôi khi oan linh đó cũng sẽ thừa cơ quấy nhiễu bạn bè, như vậy cũng có khả năng bị ma nhập.

Có người đi vào chùa làm lễ, trở về thì bị quấy nhiễu, bởi vì trong chùa là chùa Phật nhưng thật ra đã trở thành chùa ma, cho nên pháp mặc giáp hộ thân không tu không được.
Hành giả khi tu trì phải tu, bình thường trước khi ngủ cũng phải tu (đạn kim cang tránh ma), tham gia đám tang cũng phải tu, trước khi đi vào chùa cũng phải tu, đôi khi đi thăm người ốm và đi gặp bạn bè cũng phải tu, tu chỉ có lợi, không có hại, hãy thận trọng! Thận trọng!

Nói kĩ về pháp Mặc giáp hộ thân như sau:
1. Trước tiên chắp tay kim cang, hai tay chắp lại, các ngón tay đan chéo nhau, đặt trên thiên tâm.
2. Niệm Kim Cang Tát Đỏa chân ngôn: "Ôm bua-rua lan chưa-li." (7 biến)
3. Trước tiên ấn vào thiên tâm một cái, sau đó ấn vào họng, tiếp theo ấn vào tim, tiếp theo ấn vào vai trái, sau đó ấn vào vai phải, rồi thủ ấn trở về thiên tâm. Ấn ở đây tức là chạm vào.
4. Khi trở về thiên tâm thì giải ấn.
5. Giải ấn xong, lập tức quán tưởng Kim cang thần được thờ cúng tại Mật đàn, hoặc Kim Cang Tát Đỏa, hoặc Vi Đà Hộ Pháp Thiên Tôn Bồ Tát, tay cầm pháp bảo hàng ma, kim thân biến hóa thành bốn thân, một vị ở trước mặt hành giả, một vị ở sau lưng hành giả, một vị ở bên trái hành giả, một vị ở bên phải hành giả. Quán tưởng như vậy là quan trọng số một. Quán tưởng này chính là bí mật trong bí mật của pháp Mặc giáp hộ thân.

Pháp Mặc giáp hộ thân của Đạo giáo là pháp Tứ linh phòng ma, trong cuốn sách "Đạo Pháp Truyền Kỳ Lục" trang 140, tôi từng viết ra pháp này. Ngoài ra còn có pháp Thập nhị bát tú phòng ma thì càng trùng trùng điệp điệp bảo vệ người tu đạo, đây là pháp phòng ma cực kì chặt chẽ. 

Ngoài ra, phòng ma lúc ngủ cũng rất quan trọng, trong cuốn sách "Vô Thượng Mật và Đại Thủ Ấn" tôi có viết về pháp "Đại thủ ấn giấc mộng", pháp này cũng chính là để phòng ma.

Nói rõ về pháp Mặc giáp hộ thân khi ngủ như sau:
1. Đi ngủ nằm tư thế cát tường — nằm nghiêng bên phải để ngủ, tim ở phía trên. Tư thế ngủ này giống sư tử.
2. Niệm thầm Thượng sư và Bổn tôn — niệm Thánh hiệu của Thượng sư, tưởng niệm Thượng sư đến gia trì. Hoặc tưởng niệm chính mình biến thành Bổn tôn đang ở tư thế nằm, tưởng niệm Bổn tôn đến gia trì.
3. Trì chú — trì tâm chú Thượng sư hoặc chú Bổn tôn 7 biến hoặc 49 biến. Trì chú không thành tiếng, chỉ niệm trong tâm.
4. Quán tưởng — quán tưởng họng của mình phóng ra một đường ánh sáng đỏ mãnh liệt, chiếu vào không trung, ánh sáng đỏ mãnh liệt này giống như tấm màn che chắn chính mình, tức là bản thân ngủ trong ánh sáng đỏ.
Đây chính là bí mật trong bí mật của pháp Mặc giáp hộ thân khi ngủ.

Đây chính là:
Quán thân mình nằm kiểu sư tử, như Phật niết bàn.
Quán thân mình nằm kiểu sư tử, thân đỏ biến mất.
Quán thân mình nằm kiểu sư tử, không nhiễm bụi trần.

Kì thực, thủ ấn của pháp Mặc giáp hộ thân đương nhiên không chỉ là chắp tay kim cang. Thủ ấn chắp tay kim cang chỉ là ấn chung của các Kim cang thần.

Nếu chúng ta dùng thủ ấn Đại Uy Đức Kim Cang thì trì chú Đại Uy Đức Kim Cang và quán tưởng Đại Uy Đức Kim Cang. 
Nếu chúng ta dùng thủ ấn Thượng Lạc Kim Cang thì trì chú Thượng Lạc Kim Cang và quán tưởng Thượng Lạc Kim Cang.
Nếu chúng ta dùng thủ ấn Hỷ Kim Cang thì trì chú Hỷ Kim Cang và quán tưởng Hỷ Kim Cang.
Nếu chúng ta dùng thủ ấn Thời Luân Kim Cang thì trì chú Thời Luân Kim Cang và quán tưởng Thời Luân Kim Cang.
Nếu chúng ta dùng thủ ấn Uế Tích Kim Cang thì trì chú Uế Tích Kim Cang và quán tưởng Uế Tích Kim Cang.

Đương nhiên, các vị Kim Cang của Đông mật, thậm chí Tứ Đại Thiên Vương, ví dụ: Bất Động Minh Vương, Hàng Tam Thế Minh Vương, Quân Đồ Lợi Dạ Xoa Minh Vương, Kim Cang Dạ Xoa Minh Vương, Khổng Tước Minh Vương, Mã Đầu Minh Vương, Bộ Trịch Minh Vương, Vô Năng Thắng Minh Vương, Đại Nguyên Soái Minh Vương, Ngũ Đại Lực Hống Minh Vương. Các bộ trời và các bộ quyến thuộc. Chỉ cần hành giả có duyên với vị Kim cang Hộ pháp nào thì đều có thể phụng thỉnh vị đó bảo vệ trong pháp Mặc giáp hộ thân.
Và pháp Mặc giáp hộ thân của vị đó cũng tương tự, chỉ là thủ ấn, chú và quán tưởng khác nhau mà thôi. 

Pháp Mặc giáp hộ thân cũng là pháp ứng dụng linh hoạt, bất kì một pháp nào cũng đều phải ứng dụng linh hoạt. 
Liên Sinh Hoạt Phật nói, hành giả Mật tông tu pháp Mặc giáp hộ thân rồi thì từ trong ý thức vũ trụ sẽ xuất hiện một vị Kim cang Hộ pháp thần, vị Kim cang Hộ pháp thần này sẽ luôn luôn bảo vệ hành giả tu pháp, bảo vệ tất cả công việc, cũng có thể biến hóa, luôn luôn có thỉnh là đến.
Nếu hành giả thường xuyên phụng thỉnh thì Kim cang thần sẽ là thần bảo vệ tôn quý.
Nếu hành giả không thường xuyên phụng thỉnh thì Kim cang thần sẽ bỏ đi, và ma hung ác sẽ thừa cơ mà đến.

Quán tưởng Kim cang là quán tưởng bí mật của bí mật, mỗi hành giả Mật tông đều phải quen thuộc pháp này. Mọi lúc chúng ta có Hộ pháp Kim cang bảo vệ thì nếu ma có đến cũng sẽ phải quay về, ma sẽ ngã lăn xây xẩm mặt mày, phải chạy trốn.

Bởi vì Liên Sinh Hoạt Phật là Thánh Vương phá ma, cho nên có thể tự do tự tại, bao nhiêu ma nạn đều bị Liên Sinh Hoạt Phật khéo léo hóa giải. 

Viết một bài kệ:
*Phật có muôn phương ma mười phương
Nhiều như sao trời ẩn đàn tràng
Mọi lúc cần phải tu Hộ pháp
Nhập ma khó giải phí công lao.*


### 09. Nói kĩ về pháp Cửu tiết Phật phong


Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng: "Trước khi nhập tĩnh, thực hành pháp Cửu tiết Phật phong là phương pháp điều khiển hơi thở dừng ý niệm, mang lại lợi ích rất lớn. Đây là tâm đắc lớn, thể nghiệm lớn trong việc tu trì Mật pháp."

Khi thực hành pháp Cửu tiết Phật phong, tốt nhất là dùng ý niệm để kiểm soát hơi thở ra vào ở hai lỗ mũi. Nếu thực sự không làm được, có thể dùng ngón áp út nhẹ nhàng ấn lên lỗ mũi, ví dụ khi hít vào bằng lỗ mũi phải thì dùng tay ấn lỗ mũi trái, khi hít vào bằng lỗ mũi trái thì ấn lỗ mũi phải, hai tay luân phiên thực hiện, tập luyện từ từ. (Khi thở ra qua lỗ mũi phải thì tay ấn lỗ mũi trái, khi thở ra qua lỗ mũi trái thì tay ấn lỗ mũi phải.)

Tuy nhiên, tôi vẫn luôn nghĩ rằng, sử dụng ý niệm để kiểm soát hơi thở ra vào ở hai lỗ mũi mới không làm ảnh hưởng đến "nhập tĩnh" vì có quá nhiều chuyển động của tay. Việc dùng ý niệm kiểm soát hơi thở ra vào ở hai lỗ mũi ban đầu không dễ, nhưng nếu luyện tập lâu dài, cũng sẽ trở nên dễ dàng.

Khi thực hành pháp Cửu tiết Phật phong, có thể quán tưởng trước mặt hành giả có một ánh sáng lớn (ánh sáng trắng). Hoặc quán tưởng gương mặt của Bổn tôn ngay trước mặt hành giả, mặt đối mặt. Ánh sáng trắng phát ra từ lỗ mũi của Bổn tôn. Cả hai cách quán tưởng này đều có thể sử dụng.

Sau đây xin trình bày chi tiết về pháp Cửu tiết Phật phong:

Hành giả ngồi yên, hai tay kết định ấn. Trước tiên quán tưởng toàn thân mình trong suốt như gương, toàn thân sáng bóng như lưu ly, trong thân có ba mạch thẳng đứng, song song với nhau, ba mạch này chính là mạch trái, mạch phải, mạch giữa, như những ống dẫn vậy. Mạch trái thông với lỗ mũi trái, mạch phải thông với lỗ mũi phải, mạch giữa thì trên to dưới nhỏ, đầu trên hình loa kèn đến đỉnh đầu, không thông với bên ngoài. Còn đầu dưới của ba mạch gặp nhau tại điểm cách rốn bốn lóng tay.

Hành giả tiếp tục quán tưởng, trước mặt có ánh sáng trắng lớn hoặc Bổn tôn phát ra ánh sáng trắng từ lỗ mũi.

(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền (chỗ giao nhau), sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen.
(2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền (chỗ giao nhau), sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen.
(3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền (chỗ giao nhau) rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen.
(4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như tiết thứ 2).
(5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như tiết thứ 1).
(6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như tiết thứ 3).
(7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như tiết thứ 3).
(8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như tiết thứ 1).
(9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như tiết thứ 2).

Đây chính là cách luyện tập pháp Cửu tiết Phật phong. Thực ra, pháp Cửu tiết Phật phong này chỉ có ba tiết thôi. Chỉ là thứ tự thay đổi đảo ngược mà thôi, tuy nhiên việc đảo ngược thứ tự này là có mục đích, chính là để rèn luyện sức mạnh ý chí và sức mạnh ý niệm, có ý nghĩa rèn luyện rất quan trọng.

Xin giải thích tâm yếu bí mật như sau:
1. Pháp Cửu tiết Phật phong là "phương pháp dừng ý niệm bằng ý niệm". Đối với chúng ta - những người thế tục thông thường, tạp niệm rất nhiều, việc đi vào trạng thái tĩnh lặng ngay lập tức (không suy nghĩ, không khởi niệm) về cơ bản là không thể. Vì vậy, cần phải sử dụng "ý niệm" đơn nhất để ngăn chặn những tạp niệm phức tạp. Sử dụng ý niệm, lúc thì lỗ mũi trái, lúc thì lỗ mũi phải, lúc thì cả hai lỗ mũi, lúc thì ánh sáng trắng, vào trong cơ thể là ánh sáng đỏ, khí thở ra là khí đen, chín tiết biến đổi này, sự tập trung vào hơi thở ra vào, sẽ ngăn chặn được tạp niệm. Tinh thần của hành giả hoàn toàn tập trung vào một ý niệm biến đổi của chín tiết Phật phong.

Trong quá khứ có rất nhiều đệ tử hỏi tôi "Làm thế nào để loại bỏ tạp niệm?" Tôi trả lời họ, "dùng niệm để dừng niệm", trước khi ngồi thiền hãy thực hành pháp Cửu tiết Phật phong, dùng sự tập trung vào một ý niệm để phá tan tạp niệm.

2. Pháp Cửu tiết Phật phong là pháp tiêu nghiệp vĩ đại. Chúng ta quán tưởng Bổn tôn và ánh sáng trắng trước mặt, một hơi hít vào chính là hít vào tịnh quang, biến thành ánh sáng đỏ là để làm sạch nghiệp bất tịnh bên trong cơ thể, sau đó tuần hoàn một vòng, đưa tất cả khí uế tạp (khí đen) ra khỏi cơ thể. Cứ như vậy, chín tiết hô hấp thu nạp thở ra chính là bí mật trong bí mật của mật pháp tiêu trừ nghiệp chướng. Một hành giả thành tâm thực hành "thu nạp ánh sáng trắng, thở ra khí đen", tu tập lâu dài, bản thân sẽ hóa thành ánh sáng thanh tịnh, hòa hợp với ánh sáng lớn của ý thức vũ trụ, đó chính là sự chứng đắc từ việc phá vỡ "cái tôi".

3. Pháp Cửu tiết Phật phong là pháp nhập tĩnh. Nói chung, đối với hành giả có đủ công lực, chỉ cần làm xong pháp Cửu tiết Phật phong, tâm thần sẽ tập trung vào một điểm, có thể tụ khí ngưng thần, nhập vào thiền định, lập tức đi vào Kim cang tam muội, xa lìa mọi huyễn tưởng, an trụ trong Tam ma địa, đi vào trong tính Không, đây chính là thậm thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa, cũng chính là hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa, thấy rõ năm uẩn đều không.

Đối với hành giả Mật tông đã chứng đắc, người phát tâm bồ đề lớn, cách quán tưởng của họ khác với người thường:
Khí hít vào là khí đen, biến nghiệp của chúng sinh thành khí đen, do hành giả thay thế gánh chịu.
Khi vào trong cơ thể biến thành ánh sáng đỏ, chuyển hóa nghiệp của chúng sinh thành ánh sáng đỏ, đập tan nghiệp đen để cứu độ.
Khí thở ra là ánh sáng trắng, hồi hướng công đức đến chúng sinh, quảng độ chúng sinh không bỏ sót.
Đây chính là hành Bồ Tát đạo, phát tâm bồ đề, lòng đại từ đại bi của hành giả Mật tông chân chính.


### 10. Nói kĩ về pháp Nội hỏa Minh điểm


Pháp Nội hỏa Minh điểm vốn đã được viết trong cuốn sách "Vô Thượng Mật và Đại Thủ Ấn". Để cho độc giả dễ tu học, trong bản văn này, tôi một lần nữa giải thích kĩ càng.

Chúng ta ngồi thiền bằng tư thế Tỳ Lô thất chi tọa, điều hòa hơi thở cho thật đều.
Tỳ Lô thất chi tọa chính là thế ngồi của Đại Nhật Như Lai. Trọng điểm là:
Thẳng ngực, thu cằm về.
Lưỡi chống lên hàm trên.
Mắt nhìn vào một vật.
Hai tay giữ cân bằng.
Hai chân ngồi thế hoa sen. Không làm được thế hoa sen thì có thể ngồi tùy ý. Cũng có tác dụng cân bằng thân tâm. 

1. Đầu tiên quán tưởng ra ba mạch của chính mình, mạch trái mạch phải và trung mạch. Tại nơi ba mạch gặp nhau (dưới rốn bốn lóng tay) có một nửa bên trái chữ Ah mảnh như sợi tơ. 


![image](/img/img_42ef212580e03b0a2e30b8e82050dbcc.png)


Nếu không quán tưởng được chữ Phạn thì cũng có thể nghĩ đến một chấm đỏ. Ban đầu nửa chữ Ah nhỏ như sợi tơ này, một chấm đỏ, rất nhỏ, có hình dạng hơi run rẩy. 

2. Quán tưởng chấm đỏ nhỏ này là điểm khởi nguồn (lực sinh mệnh) của tính mạng con người chúng ta, có thể gọi là linh thức, tất cả những người tu đạo đều gọi là nguyên tố sinh mệnh hoặc linh tố sinh mệnh.

3. Dùng cách hít thở hoàn toàn, hít khí đi vào từ hai lỗ mũi, đi vào mạch trái phải, dùng ý khiến cho khí đi đến chỗ ba mạch hội tụ, có nghĩa là dùng khí để thổi lên chấm nhỏ màu đỏ này, ý nghĩa ở đây giống như quạt lửa. Nguyên lý của nó chính là nguyên lý thổi lò luyện cháy để đốt vật.
(Hít thở hoàn toàn chính là hít thở mảnh, hít thở chậm, hít thở dài, một lần hít vào khoảng sáu nhịp, một lần thở ra cũng sáu nhịp, hít thở cho đến tận đan điền.)

4. Sau mỗi lần hít thở hoàn toàn, phải quán tưởng gió thổi chấm đỏ, và chấm đỏ càng ngày càng đỏ, chấm đỏ biến to ra và cũng nóng hơn. Khi thở khí ra phải quán tưởng khí đen đi ra. 
(Một lần hít, một lần thở gọi là một hơi thở.)

5. Mười hơi thở như vậy, quán tưởng ngọn lửa đến tề luân.

6. Lại mười hơi thở nữa, xung quanh tề luân hoàn toàn ấm nóng.

7. Lại mười hơi thở nữa, khiến cho các bộ phận ở dưới cơ thể toàn bộ đều ấm nóng.

8. Lại mười hơi thở nữa, quán tưởng ngọn lửa đi theo trung mạch đến tâm luân, xung quanh tâm luân ấm nóng.

9. Lại mười hơi thở nữa, quán tưởng ngọn lửa đi theo trung mạch đến hầu luân, xung quanh hầu luân ấm nóng.

10. Lại mười hơi thở nữa thì đến mi tâm luân, xung quanh mi tâm ấm nóng.

11. Lại mười hơi thở nữa thì đến đỉnh luân, xung quanh đỉnh luân ấm nóng.

Pháp Nội hỏa Minh điểm này chính là pháp Linh nhiệt, cũng là pháp Đan điền của Đạo gia Đan Đỉnh phái, chỉ là cách dùng ý niệm ở trong những pháp này khác nhau, thật ra nguyên lý là giống nhau.

Tâm pháp bí mật trong bí mật của nó là như sau:

1. Quán tưởng chấm đỏ nhỏ ở đan điền, dùng lò luyện hít thở hoàn toàn để thổi chấm đỏ nhỏ này, đây hoàn toàn là một tác dụng của ý niệm. Chúng ta thử nghĩ cách đánh lửa của người xưa, họ ra sức dùi, vì ma sát sản sinh nhiệt, và do nhiệt đạt đến điểm bốc cháy mà lửa trên khúc gỗ sẽ bốc lên. Cách đánh lửa này và khí thổi linh thức là nguyên lý hoàn toàn giống nhau.
Vì thế, ban đầu tu pháp Linh nhiệt, một ngày phải ngồi thiền sáu lần, tức là phải rất siêng đánh lửa, khiến linh nhiệt sinh ra, chỉ cần linh nhiệt sinh ra rồi thì mỗi ngày có thể tu ba lần hoặc hai lần là được. 

2. Tu pháp Nội hỏa Minh điểm không được nôn nóng, đây là một việc chậm nhưng tinh tế, quán tưởng rất kĩ, hít thở rất chậm, làm từng bước từng bước, tu luyện một cách chắc chắn như vậy, linh nhiệt nhất định sẽ sản sinh. Có được linh khí rồi, chúng ta tu luyện nhiệt này hóa thành lửa, chính là nội hỏa, nội hỏa này sẽ làm bốc hơi minh điểm, khiến bồ đề tâm nguyệt dịch rơi xuống, hòa tan vào cùng minh điểm. 
Trong Phật giáo nói: "Kết xá lợi."
Trong Đạo giáo nói: "Kết nội đan."

3. Tu pháp này quan trọng nhất là bền lòng. Không có sự bền lòng thì mọi thứ khác miễn bàn. Có đệ tử hỏi Liên Sinh Hoạt Phật phải tu bao lâu thì linh nhiệt mới có thể sinh ra? Liên Sinh Hoạt Phật đáp: việc sinh ra linh nhiệt nội hỏa này do thể chất của mỗi người khác nhau, và thời gian cũng khác nhau. Tôi lấy ví dụ để chứng minh, có người linh tố rất "hoạt" [sống, linh hoạt], bản thân là người nóng (dư hỏa chưa tàn), vì thế hễ châm lửa là cháy. Có một số người thì bản thân linh tố của họ rất "hư" [rỗng, hư nhược], giống như tro tàn vậy, đòi hỏi thời gian tu luyện dài thì mới có thể tro tàn lại cháy được!

Linh nhiệt và Nội hỏa Minh điểm chính là nguồn gốc của thiên cơ.
*Linh khí có thể hóa mặt trời
Đệ tử Chân Phật mau thực hành
Khi lửa bùng lên hiện thắng cảnh
Trong điều bí mật có chân tình.*


### 11. Bí mật lớn về pháp Bổn tôn


Nguyên lý lớn nhất của Mật tông là "Bạn chính là Phật".
Cũng có nghĩa là "Bạn chính là Bổn tôn."

Lời cực kỳ quan trọng mà Liên Sinh Hoạt Phật muốn nói với mọi người là:
"Nếu bạn tu Phật A Di Đà làm Bổn tôn, bạn chính là Phật A Di Đà. Nếu bạn tu Bồ Tát Quan Thế Âm làm Bổn tôn, bạn chính là Bồ Tát Quan Thế Âm. Nếu bạn tu Bồ Tát Địa Tạng Vương làm Bổn tôn, bạn chính là Bồ Tát Địa Tạng Vương. Nếu bạn tu Chuẩn Đề Phật Mẫu làm Bổn tôn, bạn chính là Chuẩn Đề Phật Mẫu. Nếu bạn tu Hoàng Tài Thần làm Bổn tôn, bạn chính là Đa Văn Thiên Vương. Nếu bạn tu Liên Hoa Sinh Đại Sĩ làm Bổn tôn, bạn chính là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Nếu bạn tu Phật Dược Sư làm Bổn tôn, bạn chính là Phật Dược Sư. Nếu bạn tu Liên Hoa Đồng Tử làm Bổn tôn, bạn chính là Liên Hoa Đồng Tử."

Đây là bát đại Bổn tôn pháp của Chân Phật Tông.
Mà Liên Hoa Đồng Tử Kim Cương tương ứng pháp cũng là một trong những pháp Bổn tôn.

Tôi thật sự muốn nói với mọi người rằng, học Phật là để thành Phật. Tu pháp Bổn tôn chính là biến thành Bổn tôn.
Vì vậy, nguyên lý lớn nhất của Mật tông là: Bạn chính là Phật.
Cần biết rằng Mật tông lấy pháp Bổn tôn làm trung tâm của tất cả các pháp, mỗi người tu chỉ có một Bổn tôn duy nhất, không thể dùng hai hoặc ba Bổn tôn.
Hành giả Mật tông trong đời này, chỉ có thể nhất quán chuyên tu một pháp Bổn tôn, đây là lý do phải nhất tâm hòa nhập với Bổn tôn mới có thể biến hóa thành Bổn tôn.

Pháp Bổn tôn là vĩnh viễn không thay đổi trong một đời, Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng: "Pháp Bổn tôn là pháp tu hành suốt đời không thay đổi, ngày ngày đều phải tu, còn các pháp khác, chỉ tu khi cần thiết, là những pháp hỗ trợ, ví dụ như pháp Yết Ma, pháp Kim Cang Minh Vương, v.v… đều là pháp phụ trợ."

Có người hỏi Thượng sư, nếu chỉ tu một pháp Bổn tôn, liệu các Phật Bồ Tát khác có cảm ứng không?
Liên Sinh Hoạt Phật đáp: "Chỉ cần Bổn tôn với bạn có cảm ứng, các Phật Bồ Tát khác tự nhiên cũng sẽ cảm ứng đạo giao với bạn, đây là đạo lý thông một pháp thì thông vạn pháp, cũng chính là điều Thượng sư thường nói, một cửa nghìn cửa, nghìn cửa một cửa."

Ngày nay, có người tham gia pháp hội đồng tu, mang về "nghi quỹ pháp hội đồng tu", rồi ở nhà bắt chước làm theo, mỗi ngày chọn một vị Bổn tôn để tu, hôm nay tu Phật A Di Đà, ngày mai tu Bồ Tát Quan Thế Âm, ngày kia đổi sang Chuẩn Đề Phật Mẫu. Tu kiểu này là không đúng, khi chúng ta tu ở nhà, chỉ có thể tu pháp Bổn tôn của chính mình mà thôi.

Pháp Bổn tôn của mình phải tu hàng ngày ở nhà. Còn việc tham gia pháp hội đồng tu, mỗi tuần thay đổi một vị Bổn tôn, đó là một hình thức tập luyện tăng cường, cũng là một loại trợ tu, và hơn nữa là sức mạnh niệm lực chung. Pháp hội đồng tu cần thay đổi một vị Bổn tôn mỗi tuần vì mỗi người có Bổn tôn khác nhau.

Tôi biết một phái của Hồng giáo, tất cả đệ tử quy y, nam đệ tử đều nhất loạt lấy Liên Hoa Sinh Đại Sĩ làm pháp Bổn tôn. Nữ đệ tử đều nhất loạt lấy Lục Độ Mẫu làm pháp Bổn tôn. Ngoài hai vị Bổn tôn này ra, không còn pháp Bổn tôn nào khác, quy định nghiêm ngặt như vậy, tuy phạm vi quá nhỏ, nhưng lại có thể khiến mọi người nhất tâm.

Còn Chân Phật Tông có tám đại Bổn tôn pháp, phạm vi như vậy đã đủ rộng, đây là vì nhằm độ rộng rãi nhiều chúng sinh hơn.

Có hành giả hỏi tôi, khi tu pháp Bổn tôn đã tương ứng, tiếp theo là tu pháp Kim cang, vậy pháp Bổn tôn có cần tu nữa không? Liên Sinh Hoạt Phật đáp: "Dù cho pháp Bổn tôn đã tương ứng, có thể tu pháp Kim cang rồi, nhưng vẫn phải tu pháp Bổn tôn mỗi ngày, pháp Kim cang chỉ là pháp phụ trợ mà thôi. Pháp Bổn tôn trong suốt cuộc đời này, vĩnh viễn không thể từ bỏ, hãy ghi nhớ kĩ! Ghi nhớ!"

Cần biết rằng, nếu Bổn tôn tương ứng với hành giả Mật tông, bạn chính là Bổn tôn, Bổn tôn chính là bạn, cũng có nghĩa là thân khẩu ý của bạn chính là thân khẩu ý của Bổn tôn. Điều này cần phải luôn luôn tỉnh giác rõ ràng.

Bạn cũng có thể hiểu như sau:
Nhà — là điện Phật trang nghiêm của Bổn tôn.
Cha mẹ, người thân, anh chị em — là quyến thuộc của Bổn tôn.
Lời nói — là thần chú, pháp ngữ mà Bổn tôn tụng.
Ý thức — hoàn toàn là tâm niệm của Bổn tôn.
Đất, nước, lửa, gió, không — hoàn toàn là công đức của Bổn tôn.
Bất kì tư thế nào — đều là thủ ấn của Bổn tôn. Phù hợp với hạnh nguyện của Bổn tôn.

Kết quả của việc này là, "đêm đêm nằm ngủ với Phật, sáng sáng cùng nhau thức dậy", thường xuyên tu tập như vậy, suy nghĩ như vậy, dần dần, giữa bạn và Bổn tôn sẽ không còn khoảng cách, hòa làm một, hoàn toàn hợp nhất vào cảnh giới nhất tâm bất loạn. Trong cảnh giới như vậy, mọi lời nói hành động đều giống hệt Bổn tôn, học Bổn tôn sẽ trở thành Bổn tôn, đây chính là pháp thành Phật vững chắc nhất, nhanh nhất, cảm ứng mạnh nhất, và có thể nhanh chóng tương ứng.

Ý niệm lớn nhất của hành giả, vẫn là "Bổn tôn chính là ta".

Có quá nhiều quá nhiều đệ tử hỏi về Bổn tôn. Phải biết rằng đệ tử quy y Chân Phật Tông mỗi ngày một nhiều hơn, đã gần đến con số năm triệu người, ai ai cũng hỏi về Bổn tôn, và Thượng sư phải trả lời năm triệu lần, các đệ tử hãy nghĩ xem, tôi đã bận đến choáng váng rồi.

Việc chọn Bổn tôn hoàn toàn dựa vào đặc tính của hành giả, có thể nói là dựa vào tâm tính của hành giả. Hoặc là dựa vào lời nguyện mà hành giả đã phát, điều quan trọng là hành giả cảm thấy gần gũi nhất, có duyên nhất! Đó chính là Bổn tôn của bạn.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, mỗi hành giả, thực ra có thể tự mình chọn Bổn tôn để tu pháp, cũng dựa vào đặc tính, tâm tính, lời nguyện, sự gần gũi để chọn Bổn tôn. Chúng ta không nên dùng cách tung hoa hay rút thăm để quyết định, bởi vì tự mình chọn Bổn tôn, tự mình xác nhận Bổn tôn thì ý nghĩa của điều này càng sâu sắc hơn.

Tám đại Bổn tôn pháp của Chân Phật Tông, dựa theo lời nguyện của chư Phật Bồ Tát, có pháp chỉ như sau:
Phật A Di Đà — Rộng độ trời người, bao gồm cả người nhanh nhẹn lẫn người ngu độn, bốn mươi tám đại nguyện, tất cả đều vì độ hóa chúng sinh.
Bồ Tát Quan Thế Âm — Vị có tâm tính đại từ đại bi nhất. Quán Tự Tại.
Bồ Tát Địa Tạng Vương — Thân ở địa ngục, chuyên độ ác đạo, có tâm tính đại nguyện.
Chuẩn Đề Phật Mẫu — Tâm tính thanh tịnh trong sáng, thành tựu tất cả sự nghiệp.
Đa Văn Thiên Vương (Hoàng Tài Thần) — Tâm tính Hộ pháp, vị Minh Vương hộ trì, phúc báo lớn nhất.
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ — Có tâm tính của Bồ Tát, kiêm cả tâm tính Kim cang, giáo chủ truyền pháp.
Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật — Mười hai đại nguyện, cứu tế bệnh khổ và tất cả nỗi khổ sinh tử luân hồi.
Liên Hoa Đồng Tử — Tịnh thổ Ma Ha Song Liên Trì, Đại Phúc Kim Cang, cõi nước an lạc thân tâm, có đại trí huệ.

Tám vị Bổn tôn chính này, hành giả Mật tông có thể tự chọn dựa vào tâm tính và lời nguyện của mình hoặc chọn vị Bổn tôn mà mình cảm thấy có duyên nhất.

Nếu thực sự mơ hồ chưa thể xác định Bổn tôn, lúc đó mới nên viết thư hỏi Thượng sư, hãy nhớ rằng nếu muốn hỏi Thượng sư, tốt nhất là tự mình đến gặp, hoặc gửi kèm ảnh chụp gần đây, để Thượng sư quan sát và chọn ra vị Bổn tôn phù hợp hơn, giúp tu pháp sớm tương ứng. 

Xin viết một bài kệ để tán thán Bổn tôn:
*Thường ngày ngộ được hương thiền vị,
Bổn tôn đâu phải ở ngoài ta;
Tâm hương cũng chính Bổn tôn hương,
Một nén dâng lên đến tịnh thành.*


### 12. A Di Đà Phật Bổn tôn pháp


Bây giờ xin trình bày chi tiết về quy trình tu quán A Di Đà Phật Bổn tôn pháp của Chân Phật Tông như sau:

1. Nhập đàn niệm chú thanh tịnh.

2. Niệm chú triệu thỉnh. Triệu thỉnh chư vị Hộ pháp.

3. Chân Phật đại lễ bái pháp.

4. Chân Phật đại cúng dường pháp. (có thể ngồi)

5. Chân Phật tứ quy y pháp.

Niệm chú tứ quy y 3 biến: Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê.

6. Mặc giáp hộ thân pháp.

7. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (1~3 biến)

8. Hai tay kết định ấn: Ngửa hai lòng bàn tay, chồng lên nhau, ngón cái và ngón trỏ của hai tay chạm vào nhau tạo thành vòng tròn. (đặt dưới rốn)

Hoặc kết ấn căn bản: Hai tay trước tiên đan vào nhau như nắm đấm, dựng thẳng hai ngón giữa chạm vào nhau tạo thành vòng tròn. (đặt trước ngực)

9. Kết ấn quán tưởng: Trước tiên quán Không. Trong hư không hiện ra A Di Đà Phật thân hình màu đỏ, khoác cà sa, ngồi kiết già trên đài sen nghìn cánh, hai tay kết định ấn, nâng bát đầy cam lộ, mắt từ bi nhìn chúng sinh. Quán tưởng bát trong tay A Di Đà Phật, cam lộ trong bát hóa thành nước cam lộ ánh sáng trắng, nâng lên, tạo thành hình vòng cung, rót vào đỉnh đầu của hành giả mật tông, khiến toàn thân hành giả trở nên trong suốt như pha lê trắng, nghiệp chướng hoàn toàn tiêu trừ. (Hoặc đóa sen trong tay Phật phóng ra ánh sáng trắng chiếu vào hành giả cũng được.)

10. Tụng chú căn bản A Di Đà Phật: "Ôm a-mi-đê-wa sê." (108 biến) Khi tụng chú tay lần chuỗi hạt.

11. Cửu tiết Phật phong.

12. Quán tưởng A Di Đà Phật hóa thành một chấm đỏ, từ đỉnh đầu của hành giả đi vào, theo trung mạch đi xuống đến tim của hành giả, an tọa trên đài sen trong tim của hành giả, lúc này A Di Đà Phật dần dần phóng to lên, đến khi bằng với hành giả, hành giả tức là A Di Đà Phật, A Di Đà Phật tức là hành giả, hai thân hòa hợp làm một, không có sự khác biệt.

13. Nhập định. (Không sinh một niệm, nhất tâm bất loạn, nhập vào Tam ma địa của A Di Đà Phật.) Tay kết định ấn.

14. Xuất định. Tụng tán:

Tịnh nguyện trang nghiêm an lạc lợi,
Phổ tế trọc thế chư hữu tình;
Tây phương tiếp dẫn chứng vô sinh,
A Di Đà Phật con kính lễ. (Chỗ này có thể thêm niệm Phật trăm lần nghìn lần.)

15. Hồi hướng: 

Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

16. Đại lễ bái Phật. Xuất đàn.

🌟

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, diệu pháp "chú, ấn, quán tưởng" của Phật A Di Đà mà tôi đã viết ra không hề phức tạp, chỉ cần hành giả thực hành theo trình tự trong thời gian dài sẽ trở nên rất thuần thục, mỗi lần vào đàn tu pháp sẽ thành thạo dần, thậm chí có thể lĩnh hội được tâm yếu bên trong, thực sự nhập vào Tam ma địa.

Hiện nay trên thị trường có rất nhiều pháp tướng của Phật A Di Đà, có vị ngồi trên đài sen hai tay kết định ấn, nâng bát. Có vị Phật A Di Đà đứng, tay cầm đài sen. Có vị hai tay kết ấn ban nguyện, trong tư thế tiếp dẫn, và còn nhiều kiểu khác nữa.

Quán tưởng này là linh hoạt:
Nâng bát đầy cam lộ: "Quán tưởng cam lộ hóa thành ánh sáng trắng rót vào đỉnh đầu qua thiên khiếu."
Tay cầm đài sen: "Quán tưởng hoa sen hóa thành ánh sáng trắng chiếu vào hành giả."
Hai tay kết ấn ban nguyện: "Quán tưởng ánh sáng trắng từ tướng bạch hào giữa chân mày A Di Đà Phật xoay tròn, bay lên không trung, tạo thành hình cung, chiếu vào đỉnh đầu qua thiên khiếu, lan tỏa khắp toàn thân tạo thành ánh sáng."

Liên Sinh Hoạt Phật nói: "Quán tưởng trong Mật pháp rất linh hoạt, điều quan trọng nhất là tập trung tâm niệm vào một vị A Di Đà Phật."
Sau phần Cửu tiết Phật phong, nếu ai muốn tiếp tục tu nội hỏa minh điểm cũng được.
Nếu sau khi tụng xong Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, muốn tụng Kinh A Di Đà cũng được.

Về phần hồi hướng, nếu muốn thay người khác tu pháp, có thể thêm câu: "Công đức tu pháp lần này, xin hồi hướng cho người nào đó, giúp họ vãng sinh cõi Phật, hoặc sớm kết duyên Phật, hoặc quay về điều thiện, v.v…" Hồi hướng cũng cần vận dụng linh hoạt, không cần cứng nhắc theo một khuôn mẫu không đổi.

Liên Sinh Hoạt Phật từng viết trong cuốn sách "Mật Giáo Đại Viên Mãn", trang 141, về nghi quỹ tu pháp Bổn tôn A Di Đà Phật của Tạng mật. Pháp của Tạng mật này khá phức tạp, cần tụng bảy bài văn và có quán tưởng biến hóa. Một số đệ tử khó học được, vì vậy, tôi đặc biệt viết ra "Trình tự tu pháp A Di Đà Phật của Chân Phật Tông" đơn giản hơn, cả hai đều có năng lực pháp và công đức như nhau. Hành giả có thể đối chiếu lẫn nhau.

Có Hoạt Phật Tây Tạng cho rằng, đại mật pháp dễ đạt thành tựu nhất, vững chắc nhất, và nhanh chóng thành Phật nhất vẫn là mật pháp A Di Đà Phật.

Tôi cho rằng, câu nói này rất đúng, bởi vì bốn mươi tám đại nguyện của A Di Đà Phật không phải tầm thường, Tây phương Cực Lạc thế giới tiếp dẫn chúng sinh cả linh lợi và ngu độn, pháp niệm Phật của Tịnh Độ tông, chỉ cần nhất tâm cầu vãng sinh, hoặc nhất tâm niệm Phật cầu A Di Đà Phật từ bi tiếp dẫn, chỉ cần lúc lâm chung niệm Phật bảy ngày là thành tựu.

Tôi cho rằng, "tín niệm vãng sinh" của Tịnh Độ tông là một con đường tắt trực tiếp vãng sinh. Còn một hành giả quán tu học mật, sâu hơn Tịnh Độ tông, tu mật pháp A Di Đà này, sẽ thành tựu bản tính Di Đà, ta tức Di Đà, Di Đà tức ta, là tâm là Phật, là Phật là tâm, không gì không thành tựu.

Liên Sinh Hoạt Phật nhận thấy rằng, trong tất cả sự cứu độ của chư Phật, ở thế giới Ta Bà nhân gian, Phật A Di Đà đứng hàng đầu. Gần như những đứa trẻ ba tuổi cũng biết niệm câu "A Di Đà Phật". Hào quang của Phật A Di Đà có thể chia thành: "Vô lượng quang, Vô biên quang, Vô ngại quang, Vô đối quang, Diệm vương quang, Thanh tịnh quang, Hoan hỷ quang, Trí huệ quang, Bất đoạn quang, Nan tư quang, Vô xứng quang, Siêu nhật nguyệt quang." Tây phương Cực Lạc thế giới có cảnh giới tam phẩm cửu sinh.

Tôi từng thấy pháp tướng của Phật A Di Đà:
A Di Đà Phật tì kheo Pháp Tạng.
A Di Đà Phật kết pháp giới định ấn.
A Di Đà Phật tiếp dẫn ban nguyện.
A Di Đà Phật đội mũ miện.
A Di Đà Phật thân pha lê đỏ.
A Di Đà Phật tư duy năm kiếp.
A Di Đà Phật cầm đài sen.
A Di Đà Phật ba mặt sáu tay. (Vị này rất hiếm gặp, xuất phát từ Kinh Đại Giáo Vương Du Già.)

Phật A Di Đà trong Mật giáo là một trong năm trí huệ của Đại Nhật Như Lai, sinh ra Tây phương diệu quan sát tam muội. Trong Thai Tạng Giới, ngài ở phương Tây của viện Trung Đài Bát Diệp, trong Kim Cương Giới, ngài ở phương Tây của Ngũ Giải Thoát Luân. Ngài làt trí huệ phương tiện của Như Lai.

Trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ nói: "Thân Phật Vô Lượng Thọ, như trăm nghìn vạn ức màu vàng diêm phù đàn của cõi trời Dạ Ma, thân Phật cao sáu mươi vạn ức na-do-tha hằng hà sa do-tuần. Tướng bạch hào giữa chân mày xoay về bên phải uốn lượn, như năm núi Tu Di, mắt Phật như bốn biển lớn, xanh trắng phân minh rõ ràng, toàn thân các lỗ chân lông đều tỏa ánh sáng."

Tôi cho rằng, đệ tử Chân Phật Tông, nếu tự chọn Bổn tôn, có thể chọn A Di Đà Phật, bởi vì sự cứu độ của Ngài rộng lớn nhất, Pháp thân của Liên Sinh Hoạt Phật Liên Hoa Đồng Tử chính là Liên Hoa Bồ Tát của thế giới Tây phương Cực Lạc. Điều huyền diệu bên trong thực sự không thể nói hết. 

Đặc biệt ghi lại kệ:
*Di Đà mật pháp cứu độ sâu,
Không phân khôn đần phàm với tăng;
Bốn tám đại nguyện rộng cứu kiếp,
Thế giới Ta Bà vạn đời tôn.*


### 13. Quan Thế Âm Bồ Tát Bổn tôn pháp


Bây giờ xin trình bày chi tiết về quy trình tu quán Quan Thế Âm Bồ Tát Bổn tôn pháp của Chân Phật Tông như sau:

1. Nhập đàn niệm chú thanh tịnh.

2. Niệm chú triệu thỉnh. Triệu thỉnh chư vị Hộ pháp.

3. Chân Phật đại lễ bái pháp.

4. Chân Phật đại cúng dường pháp. (có thể ngồi)

5. Chân Phật tứ quy y pháp.

Niệm chú tứ quy y 3 biến: Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê.

6. Mặc giáp hộ thân pháp.

7. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (1~3 biến)

8. Kết ấn:

Chắp tay hoa sen - Trước tiên chắp hai tay lại, sau đó mở ra như hoa nở, chỉ để hai ngón cái và hai ngón út chạm vào nhau. (Đây chính là ấn chung của tất cả các vị Bồ Tát.)
Ấn Quan Âm - Hai tay nội phộc (đan vào nhau), chỉ có ngón cái tay phải dựng thẳng.
Ấn Bạch Y Quan Âm - Hai tay nội phộc, hai ngón trỏ dựng thẳng hướng lên trời, không chạm vào nhau.

Do Quan Thế Âm Bồ Tát có rất nhiều hóa thân nên có nhiều ấn khác nhau, vì vậy Chân Phật Tông dùng ấn chắp tay hoa sen làm ấn chung của Quan Thế Âm Bồ Tát. Ấn được đặt trước ngực.

9. Quán tưởng: (tùy theo hình tượng Quan Âm mà bản thân bạn thờ cúng), hãy quán tưởng nơi tim mình hóa thành nguyệt luân, từ nguyệt luân phóng ra một luồng ánh sáng trắng bay lên không trung, biến thành một vị Tự Tính Quan Âm, Tự Tính Quan Âm có thân màu trắng, mặc thiên y, trang sức bảo châu chuỗi vòng, Quan Thế Âm Bồ Tát ngồi trên đài sen, trang nghiêm từ bi, phóng ra vô lượng ánh sáng trắng tinh khiết. Có thể quán tưởng Lục tự đại minh chú vây quanh Bồ Tát và tỏa ánh sáng.

(theo pháp khí quán đỉnh)

Nếu Quan Âm tay cầm minh châu — minh châu hóa thành một luồng ánh sáng trắng, tạo thành một đường cong, chiếu rót vào hành giả.
Nếu Quan Âm tay cầm quyển kinh — quyển kinh hóa thành một luồng ánh sáng trắng, tạo thành một đường cong, chiếu rót vào hành giả.
Nếu Quan Âm tay cầm hoa sen — hoa sen hóa thành một luồng ánh sáng trắng, tạo thành một đường cong, chiếu rót vào hành giả.
Nếu Quan Âm tay cầm tịnh bình — cam lộ trong tịnh bình hóa thành một luồng ánh sáng trắng, tạo thành một đường cong, chiếu rót vào hành giả.
………………

10. Tụng tâm chú:

Tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát: "Ôm ma-ni pê-mi hùm." (108 biến)
Tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát: "Ôm ma-ni pê-mi hùm sê." (108 biến)
Hai câu chú này có thể dùng thay thế cho nhau, chọn một trong hai. Khi tụng chú tay lần chuỗi hạt.

11. Cửu tiết Phật phong và nội hỏa minh điểm.

12. Quán tưởng Quan Thế Âm Bồ Tát hóa thành một điểm ánh sáng trắng nhỏ, đi vào đỉnh đầu của hành giả, theo trung mạch ngồi trên đài sen trong tim hành giả, sau đó phóng lớn bằng với thân thể hành giả. (Hai thân hợp nhất, hành giả chính là Quan Thế Âm Bồ Tát, Quan Thế Âm Bồ Tát chính là hành giả, không hai không khác.)

13. Nhập định. 

Không suy nghĩ, không vọng niệm, nhập vào Tam ma địa của Quan Thế Âm Bồ Tát. (tay kết định ấn)

14. Xuất định. Tụng tán:

Chính pháp minh Như Lai hóa thân Bồ Tát
Đắc thành tự tại đại từ Quan Thế Âm
Tỏa khắp thế gian Lục Tự Đại Quang Minh
Phật quang dẫn dắt chúng sinh đến Phật thổ.
(Tại đây có thể thêm niệm thánh hiệu Quan Âm Bồ Tát trăm lần nghìn lần.)

15. Hồi hướng:

Nguyện đem tịnh quang tiêu nghiệp chướng
Đắc thành tự tại Quan Âm tôn
Phóng đại từ quang đến giúp đời
Người người nương dựa đại bi tôn.

1. Đại lễ bái Phật. Xuất đàn.

🌟

Trọng điểm của pháp này vẫn nằm ở phần quán tưởng, cần biết rằng hình tướng của Quan Thế Âm Bồ Tát là nhiều nhất, danh xưng cũng nhiều nhất, vì vậy có ba mươi ba ứng hóa thân Bồ Tát, những danh xưng thường gặp có: "Thánh Quan Âm, Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm, Như Ý Luân Quan Âm, Mã Đầu Quan Âm, Thập Nhất Diện Quan Âm, Chuẩn Đề Quan Âm, Bất Không Quyến Sách Quan Âm." Ngoài ra còn có ba mươi ba thể tướng của Quan Âm, biến hóa vô cùng tận.

Chúng ta là người tu pháp, hãy dùng pháp khí mà Ngài cầm trong tay để quán tưởng hóa quang, nếu không có pháp khí, thì có thể thủ ấn của Ngài hóa quang.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, bất cứ ai có thể tính đại từ bi đều có thể tu Bổn tôn Quan Thế Âm Bồ Tát. Có người cho rằng pháp Quan Thế Âm Bồ Tát chỉ thích hợp cho phụ nữ tu, thực ra không phải vậy, bởi vì pháp Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát bao gồm năm bộ mật pháp, rất vĩ đại siêu việt, nam nữ đều có thể lấy làm Bổn tôn.

Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát có năm bộ mật pháp như sau:

1. Như Lai tiêu tai pháp: tay Hóa Phật, tay cầm phất trần trắng, tay cầm dương liễu, tay cầm kích giáo, tay thí vô úy, v.v…

2. Kim Cang điều phục pháp: tay cầm kim luân, tay cầm cung điện, tay cầm bảo kiếm, tay cầm chày kim cang, tay cầm bát báu, v.v…

3. Bảo bộ tăng ích pháp: tay cầm ngọc như ý, tay cầm kinh báu, tay cầm hoa sen xanh, tay cầm cung báu, tay cầm hoa sen trắng, v.v…

4. Hoa sen kính ái pháp: tay chắp hoa sen, tay cầm bảo ấn, tay cầm gương báu, tay cầm vòng ngọc, tay cầm hoa sen đỏ, v.v…

5. Yết Ma câu triệu pháp: tay cầm tên báu, tay cầm mây ngũ sắc, tay cầm chuỗi hạt, tay cầm móc sắt, tay cầm loa báu, v.v.

Thông thường tu năm pháp tiêu tai, điều phục, tăng ích, kính ái, câu triệu, tôi sẽ kể cho mọi người một bí mật trong bí mật, chỉ cần trong lúc quán tưởng, tay cầm các pháp khí như trên.
Hành giả Mật tông tay cầm pháp khí để làm pháp.
Quán tưởng điều muốn thực hiện, từ pháp khí của hành giả Mật tông phóng ánh sáng, chạm đến người đó, hoặc việc đó, như vậy sẽ có thể tùy tâm mong muốn, khiến tất cả đều viên mãn như ý. Tôi sẽ giải thích kĩ một lần nữa, khi hành giả đang tu pháp Bổn tôn, phần quán tưởng là từ pháp khí trong tay phóng ánh sáng, chiếu tới một người nào đó hoặc một việc nào đó, tâm nguyện của mình sẽ được thành tựu.

Ví dụ hành giả muốn chữa bệnh cho người khác, hành giả tay cầm cành dương liễu, tu pháp cho đến phần quán tưởng, hình dung người bệnh đứng trước mặt hành giả, dùng cành dương liễu phẩy nhẹ qua người họ, hoặc cành dương liễu hóa thành ánh sáng trắng chiếu rót vào họ, đây chính là pháp tiêu tai chữa bệnh.

Cách tu pháp như vậy, chính là trong toàn bộ pháp Bổn tôn thêm vào mật pháp giúp đỡ người khác. Đây là cách vận dụng linh hoạt mật pháp, vô cùng quan trọng. Đây chính là bí mật trong bí mật vậy.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, Quan Thế Âm Bồ Tát có bản tính đại từ bi, việc cứu độ chúng sinh của Ngài không thể đo lường được, lưu truyền rộng rãi nhất, có danh xưng đẹp đẽ là Nhà Nhà Quan Thế Âm. Mật hiệu của Ngài là Chính Pháp Kim Cang, Thanh Tịnh Kim Cang, là một vị đại Bồ Tát tự tại nhất.

Quan Thế Âm Bồ Tát ở thế giới Tây Phương Cực Lạc đứng hầu bên trái của Phật A Di Đà, phụ trách hỗ trợ Phật A Di Đà trong các việc thuộc về từ bi. Quan Thế Âm Bồ Tát trong mandala Thai Tạng Giới trụ ở phương Tây Nam của viện Trung Đài Bát Diệp, là vị trí chủ của viện Quan Âm. Trong mandala Kim Cương Giới, Ngài là Kim Cang Pháp Bồ Tát.

Liên Sinh Hoạt Phật nói: "Trong bài viết ngắn này đã tiết lộ bí mật lớn của phương pháp Mật tông, hành giả có thể suy nghĩ kĩ, pháp của Mật tông đều cần được áp dụng linh hoạt, chỉ cần có sự tương ứng, tất cả đều viên mãn."

Xin viết một bài kệ đặc biệt:
*Quan Âm Bồ Tát pháp chu toàn
Tâm cực từ bi lệ tuôn rơi
Thiên thủ mật pháp đại ứng nghiệm
Độ sinh rộng khắp nghìn vạn năm.*


### 14. Địa Tạng Vương Bồ Tát Bổn tôn pháp


Bây giờ xin trình bày chi tiết về quy trình tu quán Địa Tạng Vương Bồ Tát Bổn tôn pháp của Chân Phật Tông như sau:

1. Nhập đàn niệm chú thanh tịnh.

2. Niệm chú triệu thỉnh. Triệu thỉnh chư vị Hộ pháp.

3. Chân Phật đại lễ bái pháp.

4. Chân Phật đại cúng dường pháp. (có thể ngồi)

5. Chân Phật tứ quy y pháp.

Niệm chú tứ quy y 3 biến: Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê.

6. Mặc giáp hộ thân pháp.

7. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (1~3 biến)

8. Kết ấn:

Ấn căn bản Địa Tạng Vương — Hai tay nội phộc, hai ngón giữa dựng thẳng hướng lên trời, không chạm vào nhau. (đặt trước ngực)
Ấn Địa Tạng nâng ngọc — Lòng bàn tay phải ở trên, lòng bàn tay trái ở dưới, hai lòng bàn tay úp ngược vào nhau. Ngón út của bàn tay trái, đặt vào giữa ngón cái và ngón trỏ của bàn tay phải. Ngón cái của bàn tay trái đặt vào giữa ngón út và ngón áp út của bàn tay phải. (Ấn này còn có tên là ấn Kim cang bộ tam muội da), khi kết ấn xong, có thể đặt tại luân xa rốn.
(Cả hai ấn đều có thể sử dụng. Pháp hội đồng tu sử dụng ấn Địa Tạng nâng ngọc.)

9. Quán tưởng: Trước tiên quán Không, trong hư không, trước tiên xuất hiện một vòng ánh sáng màu trắng, trong vòng ánh sáng hiện ra một vị Địa Tạng Bồ Tát đầu đội mũ ngũ Phật, mặc áo cà sa, toàn thân màu trắng, hai tay nâng ngọc minh châu (bảo châu), ngồi trên đài sen.

Tiếp đến quán tưởng bảo châu phóng quang tạo thành hình cung, đi vào đỉnh khiếu, chiếu rót vào hành giả, khiến toàn thân hành giả thanh tịnh.

Thứ ba quán tưởng Địa Tạng Vương Bồ Tát hóa thành một điểm ánh sáng trắng, đi vào từ đỉnh đầu hành giả, ngồi trên đài sen trong tâm, rồi thân dần dần lớn lên, trở nên lớn bằng với thân của hành giả. (Hai bên hòa hợp hoàn toàn, Địa Tạng Bồ Tát chính là mình, mình chính là Địa Tạng Bồ Tát, không hai không khác.)

10. Tụng chú:

Địa Tạng Vương Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn: "Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha." (108 biến)
Địa Tạng Vương Bồ Tát tâm chú: "Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha." (108 biến)
(Chú trước dùng để tiêu nghiệp, chú sau dùng trong Bổn tôn pháp. Cả hai chú đều có thể sử dụng. Pháp hội đồng tu cũng sử dụng chú trước.)

11. Cửu tiết Phật phong và nội hỏa minh điểm.

12. Nhập định. (Nhập vào Tam ma địa của Địa Tạng Vương Bồ Tát, hai tay có thể kết định ấn.)

1. Xuất định. Tụng tán:

Lời thề Địa Tạng sâu như biển
Địa ngục chưa sạch không thành Phật
Lợi ích trời người Đại Bồ Tát
Độ hết chúng sinh chứng bồ đề.

(Chỗ này có thể niệm thêm Thánh hiệu Địa Tạng Bồ Tát.)

14. Hồi hướng:

Nguyện lấy Địa Tạng làm Bổn tôn
Độ hết chúng sinh cõi u minh
Ngày ngày đều hành Bồ Tát pháp
Minh châu chiếu sáng hóa vạn đèn.

15. Đại lễ bái Phật. Xuất đàn.

🌟

Liên Sinh Hoạt Phật nói, Địa Tạng Vương Bồ Tát Bổn tôn pháp có năng lực đại pháp siêu độ tổ tiên, đây chính là bí mật lớn của vị này trong quá trình tu pháp.

Khi hoàn thành quán tưởng ở tiết thứ chín, lúc này "Bổn tôn tức ta, ta tức Bổn tôn" do đó, triệu thỉnh linh hồn tổ tiên của mình đến trước đàn. (Triệu thỉnh vong linh tổ tiên cũng có thể lập bài vị vong linh, sử dụng hình ảnh tổ tiên khi còn sống để tưởng niệm).

Hành giả Bổn tôn tay nâng bảo châu sáng rực rỡ.
Ánh sáng của bảo châu chiếu rọi đến vong linh, làm tiêu trừ nghiệp chướng của vong linh. Niệm tâm chú, 108 biến.
Ánh sáng của bảo châu lại chiếu rọi đến vong linh, giúp vong linh thoát khỏi khổ đau của ba đường ác. Niệm tâm chú, 108 biến.
Ánh sáng của bảo châu lần thứ ba chiếu rọi đến vong linh, giúp vong linh theo ý niệm mà sinh vào cõi trời, người hoặc cảnh giới cao hơn. Niệm tâm chú, 108 biến.

Hành giả Mật tông thực hiện xong pháp này, tiếp theo là tiết thứ mười một, Cửu tiết Phật phong và nội hỏa minh điểm, nhập Tam ma địa.

Liên Sinh Hoạt Phật nói: "Địa Tạng Vương Bồ Tát là một vị đại Bồ Tát được Phật Thích Ca Mâu Ni đặc biệt căn dặn tại cung trời Đao Lợi. Ngài có hóa thân là thân Phạm Vương, thân Đại Tự Tại Thiên, thậm chí là thân Thanh Văn, thân Phật, cho đến thân Diêm Ma. Ngài có pháp lực vô cùng bất khả tư nghì và nhiều hóa thân bí mật."

Các danh xưng của Địa Tạng Bồ Tát gồm: "Kim Cang Nguyện Địa Tạng, Kim Cang Bảo Địa Tạng, Kim Cang Bi Địa Tạng, Kim Cang Trụ Địa Tạng, Phóng Quang Địa Tạng, Đỉnh Thiên Hà Địa Tạng, Hộ Tán Địa Tạng, Diên Mệnh Địa Tạng, Mâu Ni Địa Tạng, Tán Long Địa Tạng, Phá Thắng Địa Tạng, Bất Hưu Tức Địa Tạng." Pháp khí mà Ngài cầm trong tay đều khác nhau.

Tôi đặc biệt viết một bài kệ ca ngợi Địa Tạng Vương Bồ Tát:

*Địa Tạng cứu độ khắp trời cao
U minh âm gian dựng cờ báu
Đại nguyện to lớn tựa hư không
Kính lễ cúi đầu đốt hương lành.*


### 15. Chuẩn Đề Bồ Tát Bổn tôn pháp


Bây giờ xin thuật lại chi tiết Chuẩn Đề Phật Mẫu Bồ Tát Bổn tôn pháp của Chân Phật Tông như sau:

1. Nhập đàn niệm chú thanh tịnh.

2. Niệm chú triệu thỉnh. Triệu thỉnh chư vị Hộ pháp.

3. Chân Phật đại lễ bái pháp.

4. Chân Phật đại cúng dường pháp. (có thể ngồi)

5. Chân Phật tứ quy y pháp.

Niệm chú tứ quy y 3 biến: Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê.

6. Mặc giáp hộ thân pháp.

7. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (1~3 biến)

8. Kết ấn:

Ấn căn bản Chuẩn Đề Phật Mẫu — Ngón út và ngón áp út đan nội phộc, hai ngón giữa dựng thẳng chạm vào nhau, hai ngón trỏ đặt vào lưng của hai ngón giữa, hai ngón cái tựa vào nhau. (Giữ ấn trước ngực.)

Ấn căn bản thứ hai của Chuẩn Đề Phật Mẫu — Trước tiên chắp hai tay lại, dựng hai ngón trỏ lên, hai ngón cái tựa vào nhau, lòng bàn tay khum lại tạo khoảng rỗng ở giữa là thành thủ ấn. (Giữ ấn trước ngực.)

Ấn thuyết pháp Chuẩn Đề Phật Mẫu — hai tay ngón cái đè lên ngón giữa tạo thành vòng tròn, ba ngón còn lại dựng thẳng, lòng bàn tay hướng ra ngoài là thành thủ ấn. (Giữ ấn trước ngực.)

1. Quán tưởng:

Đầu tiên quán Không. Trong hư không xuất hiện Chuẩn Đề Phật Mẫu màu vàng nhạt, là một vị Đại Phật Mẫu có 3 mắt 18 cánh tay, đầu đội mũ miện, trên mũ miện có một vị Hóa Phật. Phật Mẫu khoác thiên y màu trắng, vai và cánh tay đeo trang sức. 18 cánh tay cầm nhiều loại pháp khí, từ phải qua trái thuận theo chiều kim đồng hồ lần lượt là: bảo tràng như ý, hoa sen, lu nước, dây thừng, bánh xe, vỏ ốc, bảo bình, hộp bát nhã, mũ đội đầu, ấn căn bản, chày kim cang, móc câu, rìu, thiên diệu quả, chuỗi tràng hạt, kiếm trí huệ, thí vô úy ấn. Hai tay kết ấn căn bản, nên tổng cộng có 18 tay. 

Chuẩn Đề Phật Mẫu thân sắc màu vàng trắng, 3 mắt 18 cánh tay, đầu đội bảo quán Hóa Phật, trang nghiêm xuất hiện và trụ tại hư không trước mặt hành giả Mật tông.

Quán tưởng con mắt ở thiên tâm của Chuẩn Đề Phật Mẫu phóng ra một đường ánh sáng trắng cực mạnh chiếu dội đến thiên khiếu của hành giả, khiến toàn thân hành giả thanh tịnh thuần bạch.

Lại quán tưởng con mắt thứ ba ở thiên tâm của Chuẩn Đề Phật Mẫu chiếu mạnh đến thân tâm của hành giả, ở vị trí con mắt thứ ba liên tục hết sức quán tưởng. (Nếu ai muốn có được con mắt thứ ba thì phải quán tưởng cho đến khi có cảm giác tê tê ở thiên tâm.)

1. Tụng chú: (giải ấn và lần chuỗi hạt)

Chuẩn Đề Phật Mẫu tâm chú: "Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha." (108 biến)

Chuẩn Đề Phật Mẫu chú dài: "Na-mô sa-tô-nan. San-meo-san-bu-thô. Chuy-chư-nan. Ta-chi-tha. Ôm chưa-li chu-li chuân-thế sô-ha." (108 biến). 

Hai câu chú trên có công đức tương đương nhau, tùy chọn một trong hai.

1. Cửu tiết Phật phong và Nội hỏa Minh điểm.

1. Nhập định. Thiền định nhập vào Chuẩn Đề Phật Mẫu tam ma địa. Tay kết định ấn.

1. Xuất định tụng tán:

Đức Đại Thánh Chuẩn Đề, thương xót ở thế gian, thành tựu hết các cõi, nay con cung kính lễ.
Đức Đại Từ Chuẩn Đề, nay con là Bổn tôn, phúc trì biển công đức, nay con cung kính lễ.
Đức Đại Lực Chuẩn Đề, lành thay Minh Trì Vương, hàng phục các ma nạn, nay con cung kính lễ.
Đức Đại Phúc Chuẩn Đề, như ý vô đẳng đẳng, như có được mani, nay con cung kính lễ.

1. Hồi hướng:

Mong con định huệ chóng viên minh.
Con mắt thứ ba mong sớm đắc.
Trang nghiêm Bổn tôn đại tịnh thổ.
Nguyện cùng chúng sinh thành Phật đạo.

1. Đại lễ bái Phật. Xuất đàn.

Cát tường viên mãn.

🌟

Liên Sinh Hoạt Phật nói:

Chuẩn Đề Phật Mẫu chính là Thất Câu Tri Phật Mẫu, cũng có người gọi là Chuẩn Đề Quan Âm hoặc Thiên Nhân Trượng Phu Quan Âm. Hàm nghĩa của hai chữ Chuẩn Đề chính là thanh tịnh không gì sánh bằng. Bởi vì ngài là mẹ của các vị trong Liên Hoa Bộ nên có tôn xưng là Phật Mẫu, là mẹ của bảy trăm ức tôn Phật Bồ Tát. 
Bởi vì Phật Mẫu có mười tám cánh tay, lại có ba con mắt, cho nên pháp lực ngài uy mãnh, mật hiệu là Tối Thắng Kim Cang.
Chuẩn Đề Phật Mẫu có hai Long Vương làm thị giả, đứng phục vụ bên dưới tòa hoa sen, chính là Nan Đà Long Vương và Bạt Nan Đà Long Vương.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng bí mật của Chuẩn Đề Phật Mẫu nằm ở trong con mắt thứ ba của Phật Mẫu, hành giả Mật tông muốn tu con mắt thứ ba thì nhất định phải quán tưởng con mắt thứ ba của Phật Mẫu phóng đại tịnh quang màu trắng chiếu vào con mắt thứ ba của mình (vị trí thiên tâm), cho đến khi vị trí thiên tâm của mình bị tê.

Tu trì lâu ngày sẽ phát hiện thấy thiên tâm của mình xuất hiện ký hiệu của thiên nhãn. Phàm là người tu luyện thành tựu, dùng thiên nhãn thông quan sát thì không gì là không nhìn thấy, không gì là không biết, nghìn dặm vạn dặm đều nằm trong thiên nhãn. Đây là bí mật trong bí mật về con mắt thứ ba của Chuẩn Đề Phật Mẫu.

Mười tám cánh tay của Chuẩn Đề Phật Mẫu nói lên rằng Chuẩn Đề Phật Mẫu có mười tám loại công đức thành Phật, đây là mười tám bất cộng pháp, cũng là biểu hiện bí mật của Chuẩn Đề Phật Mẫu, bao hàm đạo lý vi diệu rất sâu. 

Trong bộ Đại Trí Độ Luận từng kể ra 18 bất cộng pháp là:

1. Thân vô thất [tâm không mất].

1. Khẩu vô thất [khẩu không mất].

1. Niệm vô thất [suy nghĩ không mất].

1. Vô dị tưởng [không nghĩ điều kỳ quái].

1. Vô bất động tâm [không còn tâm lăng xăng lộn xộn].

1. Vô bất tri dĩ xả [không còn vô tri, hiểu cách xả bỏ].

1. Dục vô lậu [không còn dục vọng].

1. Tinh tấn vô lậu [thường xuyên tinh tấn].

1. Niệm vô lậu [ý thanh tịnh].

1. Huệ vô lậu [đầy đủ trí huệ].

1. Giải thoát vô lậu [đạt thành tựu giải thoát].

1. Giải thoát tri kiến vô lậu [có đầy đủ nhận thức về giải thoát].

1. Nhất thiết thân nghiệp tùy trí huệ hành [tất cả thân nghiệp đi theo trí huệ].

1. Nhất thiết khẩu nghiệp tùy trí huệ hành [tất cả khẩu nghiệp đi theo trí huệ].

1. Nhất thiết ý nghiệp tùy trí huệ hành [tất cả ý nghiệp đi theo trí huệ].

1. Trí huệ tri quá khứ thế vô ngại [trí huệ biết rõ đời quá khứ mà không có trở ngại nào].

1. Trí huệ tri vị lai thế vô ngại [trí huệ biết rõ đời tương lai mà không có trở ngại nào].

1. Trí huệ tri hiện tại thế vô ngại [trí huệ biết rõ đời hiện tại mà không có trở ngại nào].

Chuẩn Đề Phật Mẫu có tám đại Bồ Tát là quyến thuộc, chính là Quán Tự Tại Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Kim Cương Thủ Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Trừ Cái Chướng Bồ Tát, Địa Tạng Bồ Tát. Ở đây lại có thêm bí mật, tám đại Bồ Tát này chính là tám đại Bồ Tát phụng thỉnh trong Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (Diệu Cát Tường Bồ Tát trong Cao Vương Kinh chính là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.)

Liên Sinh Hoạt Phật nói, Chuẩn Đề Phật Mẫu là diệu pháp vô thượng, nếu biết cách sử dụng mười tám loại pháp khí để làm pháp thì hành giả cầu tiêu tai, trị bệnh, tăng ích, như ý, kính ái, hòa hợp, hàng phục, trừ ma đều sẽ vô cùng viên mãn. Khi tu pháp nếu có pháp khí có thể tay cầm pháp khí phóng quang chiếu vào người và việc. Nếu không có pháp khí, có thể quán tưởng pháp khí mà Chuẩn Đề Phật Mẫu cầm trên tay phóng quang chiếu vào. Đây chính là bí mật trong bí mật. Chuẩn Đề Phật Mẫu tổng nhiếp năm bộ hoặc hai mươi lăm bộ, cho nên thủ ấn của Chuẩn Đề Phật Mẫu cũng liên thông với thủ ấn của rất nhiều Phật Bồ Tát, điểm này cũng rất nhiều người không biết. 

Hiện nay người gắng sức hoằng dương pháp này nhất là Yasuo Kiriyama Acharya, có truyền lại cuốn “Nghìn ngày làm pháp Chuẩn Đề”. Tại Đài Loan có Phổ Lực Kim cương Thượng sư và Phổ Phương Kim cương Thượng sư là cực lực truyền bá pháp Chuẩn Đề.

Đặc biệt viết một bài kệ:

*Tiêu nghiệp chí tôn Đại Chuẩn Đề
Minh tâm kiến tính đại bí mật
Con mắt thứ ba đắc tự chủ
Là đại thọ ký của Như Lai.*


### 16. Hoàng Tài Thần Bổn tôn pháp


Tu trì Bổn tôn Hoàng Tài Thần của Chân Phật Tông có chút khác biệt.
Ở trước khi tượng Hoàng Tài Thần, cần chuẩn bị một chiếc đĩa sạch, đặt tiền ở đáy đĩa, bên trên phủ đầy gạo, rồi cắm ba nén hương đã thắp vào gạo, sau đó mới bắt đầu tu pháp.

Dưới đây là chi tiết pháp Bổn tôn Hoàng Tài Thần của Chân Phật Tông:

1. Nhập đàn niệm chú thanh tịnh.

2. Niệm chú triệu thỉnh. Triệu thỉnh chư vị Hộ pháp.

3. Chân Phật đại lễ bái pháp.

4. Chân Phật đại cúng dường pháp. (có thể ngồi)

5. Chân Phật tứ quy y pháp.

Niệm chú tứ quy y 3 biến: Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê.

6. Mặc giáp hộ thân pháp.

7. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (1~3 biến)

8. Kết ấn:

Ấn căn bản của Hoàng Tài Thần — Hai tay chắp hờ, trước tiên mở hai ngón trỏ sang hai bên, sau đó bắt chéo hai ngón giữa song song với mặt đất, hoàn thành ấn. (đặt trước ngực)
Ấn chung của Hoàng Tài Thần — Hai tay nắm thành nắm đấm, ngón cái của cả hai tay đều nắm phía trong, hai ngón trỏ của tay trái và tay phải duỗi ra, móc vào nhau. (đặt trước ngực)
Ấn kim cang của Hoàng Tài Thần — Tức là chắp tay kim cang, hai tay chắp lại, các ngón tay đan chéo giống hình chùy. (đặt trước ngực)
(Ba ấn trên đều có thể sử dụng, tùy ý chọn một. Khi đồng tu thì chọn ấn kim cang của Hoàng Tài Thần.)

9. Quán tưởng: 

Quán tưởng khói từ ba nén hương trên đĩa gạo cuộn lên, biến hoá thành một vị Hoàng Tài Thần tư thế ngồi, thân Hoàng Tài Thần có màu vàng, ngồi bán già, trên đầu đội mũ miện vàng, mũ miện được trang trí đầy đá quý, khuôn mặt ngài tròn, dáng dấp phú quý nhưng hơi uy nghiêm, trên người đeo chuỗi đá quý, tay phải cầm một vật báu, giống hình quả bưởi, tay trái ôm một con chuột nhả ra châu báu.

Tiếp tục quán tưởng ngón chân cái bên phải của Hoàng Tài Thần buông xuống bị sưng lên, rất đau.

Lúc này trong tâm niệm "Ôm ah hùm sô-ha" ba lần, sau đó triệu thỉnh năm vị Phật từ hư không đến.
Quán tưởng năm vị Phật trên không trung, ngự phía trên Hoàng Tài Thần, mỗi vị phóng ra năm tia sáng, quán đảnh Hoàng Tài Thần.
Lúc này niệm "Ôm hùm chân-sa-a" tức là chân ngôn quán đảnh, niệm ba lần.
Do năm vị Phật ngự trên không trung quán đảnh cho Hoàng Tài Thần, ngón chân cái bên phải của Hoàng Tài Thần hết sưng đau, khuôn mặt Hoàng Tài Thần hiện nụ cười. Lúc này, miệng chuột nhả châu báu mở ra, nhả lên đĩa gạo, núi gạo biến thành núi vàng. Lúc này có thể quán tưởng tất cả những điều mình mong cầu từ miệng chuột nhả châu báu mà xuất hiện.

10. Tụng chú. (giải ấn, lần chuỗi hạt)

Chân ngôn Hoàng Tài Thần: "Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-yê sô-ha." Chân ngôn này niệm tổng cộng 108 lần hoặc nhiều hơn.

11. Cửu tiết Phật phong và nội hỏa minh điểm.

12. Nhập định. 
Chỉ nhẹ nhàng đưa ý niệm theo Hoàng Tài Thần ẩn vào làn khói lành, bay lên không trung phía Bắc, tất cả đều nhẹ nhàng, thoải mái.

13. Xuất định. Tụng tán:

Bắc Phương Thiên Vương phúc dồi dào
Ban cho vô số mọi tài bảo
Giờ đây tất cả đều viên mãn
Nhờ Hộ Pháp trụ nơi cửa Phật.

14. Hồi hướng:

Nguyện cùng Hộ Pháp thăng Bắc Thiên
Dâng lễ cúng dường vào thánh vực
Có được tài phúc vĩnh viễn hưởng
Rồi thí pháp tài giúp chúng sinh.

15. Đại lễ bái Phật. Xuất đàn.

Cát tường viên mãn.

🌟

Liên Sinh Hoạt Phật nói: Hoàng Tài Thần thực chất là hóa thân của Đa Văn Thiên Vương. Đa Văn Thiên Vương chính là một trong Tứ Đại Thiên Vương Hộ Thế, còn được gọi là Tỳ Sa Môn Thiên Vương, là Hộ pháp ánh sáng của nhà Phật, đồng thời cũng là vị thần đại thiện ban phúc và tài bảo. Đa Văn Thiên Vương cư ngụ ở phương Bắc của Tứ Thiên Hạ, các thị giả của ngài đều là Dược Xoa và La Sát.

Hình tượng thông thường của Đa Văn Thiên Vương là tay trái cầm một bảo tháp, bảo tháp này có thể phun ra mọi báu vật. Hoàng Tài Thần chính là hóa thân của Đa Văn Thiên Vương, trong Mật tông Tây Tạng, bảo tháp biến thành chuột nhả châu báu, đây chỉ là sự thay đổi về hình tượng, thực chất Hoàng Tài Thần chính là Đa Văn Thiên Vương.

Vị Thiên Vương này là người giàu có nhất, được Kiên Lao Địa Thần nâng đỡ hai chân, Lam Bà và Tỳ Lam Bà là hai Dạ Xoa, hỗ trợ hai bên Địa Thần, là vị Thiên Vương giàu có và vĩ đại luôn trấn giữ ở phương Bắc.

Pháp Bổn tôn Hoàng Tài Thần được xếp vào một trong tám vị Bổn tôn của Chân Phật Tông, điều này có lý do. Tôi cho rằng trong Chân Phật Tông, đệ tử giàu có không ít, nhưng những đệ tử nghèo khổ cũng rất nhiều. Những đệ tử nghèo khổ hy vọng rằng Thượng Sư có thể ban cho một pháp môn để giúp họ thoát khỏi cảnh nghèo khó.

Vì vậy, tôi đã suy nghĩ rất lâu, cũng cân nhắc rất nhiều. Tôi biết rằng Đa Văn Thiên Vương của phương Bắc chính là vị trời giàu có nhất trong thiên giới, đồng thời là người hộ trì Phật pháp và hay giúp đỡ những người nghèo khổ nhất. Hơn nữa, Đa Văn Thiên Vương vốn là một vị Thiên Vương vô cùng bí ẩn, cũng là một Thiên Vương có nhân duyên biến hóa to lớn.

Vì lý do đó, tôi đã đưa Đa Văn Thiên Vương (Hoàng Tài Thần) vào danh sách tám vị Bổn tôn, hy vọng dựa vào lực đại phúc của Đa Văn Thiên Vương để thúc đẩy pháp vụ của Chân Phật Tông, truyền bá khắp thế giới, giúp mọi người đều có thể nhận được sự cứu độ của Chân Phật, hoàn thành nhiệm vụ phổ hóa Phật pháp.

Điểm trọng yếu của pháp Bổn tôn Hoàng Tài Thần này là quán tưởng, so với các pháp Bổn tôn thông thường thì phức tạp hơn một chút, mỗi lần quán tưởng cần phải rõ ràng. Đầu tiên quán tưởng Hoàng Tài Thần, sau đó quán tưởng năm vị Phật ở trên không trung (hình dạng của năm vị Phật có thể giống nhau), năm ánh sáng từ trên chiếu xuống làm phép cho Hoàng Tài Thần, ngón chân cái bên phải của Hoàng Tài Thần hết sưng đau, miệng chuột nhả châu báu mở ra, vàng bạc châu báu chất thành núi. Tất cả những quán tưởng này đều phải rõ ràng.
Triệu thỉnh năm vị Phật cần phải niệm chân ngôn để triệu thỉnh.

Khi quán tưởng năm luồng ánh sáng quán đảnh cho Hoàng Tài Thần xong cần phải niệm chân ngôn quán đảnh.

Trong đó còn có một bí mật, sau khi hoàn thành quán đảnh Hoàng Tài Thần, có thể tiếp tục quán tưởng năm luồng ánh sáng cũng quán đảnh cho chính mình, như vậy nghiệp chướng được tiêu trừ, bệnh đau cũng giảm bớt, còn có thể nhận được phúc báo lớn, đây cũng là một trong những bí mật trong bí mật. Tiếp theo là tụng chú, tụng tâm chú Hoàng Tài Thần.

Theo tôi được biết, hiện tại Chân Phật Tông khu vực Đài Loan của Trung Hoa Dân Quốc có Thượng sư Vưu Ngân Thọ, đã nhận được sự ban phúc và gia trì từ Hoàng Tài Thần. Thượng sư Vưu Ngân Thọ cũng đã được Hoàng Tài Thần thọ ký. Nếu Thượng sư Vưu Ngân Thọ mãi mãi giữ đạo tâm không thối chuyển, hành xử chính đáng, làm việc chân chính, và truyền bá Chân Phật Mật Pháp từ đầu đến cuối, trong tương lai chắc chắn sẽ nhận được sự bảo hộ của Hoàng Tài Thần, luôn luôn dồi dào tài lực để lợi ích trời người.

Vì Bổn tôn Hoàng Tài Thần, tôi viết một bài kệ:
*Một đầu hai tay thân màu vàng
Cầm chuột tài bảo ngồi tòa quý
Vui mừng thiên hạ giàu sung túc
Đệ tử Chân Phật nguyện hộ trì.*


### 17. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ Bổn tôn pháp (1)


Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là vị thầy gốc truyền thừa tôn quý của Liên Sinh Hoạt Phật.
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ xuất hiện trong thiền định của Liên Sinh Hoạt Phật, dẫn Liên Sinh Hoạt Phật đến một hầm mộ vàng, truyền dạy đại pháp tối thượng của phái Nyingma, chính là pháp Đại Viên Mãn. Vì vậy, Liên Sinh Hoạt Phật đã nhận được chân truyền từ Đức Liên Hoa Sinh.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói với Liên Sinh Hoạt Phật: "Liên Sinh Kim Cương Thượng Sư trong tương lai sẽ viên chứng Phật thổ Tây phương Cực Lạc Ma Ha Song Liên Trì, nhờ đó vô số chúng sinh sẽ được độ hóa. Tướng trang nghiêm của Liên Sinh Thượng Sư chính là đức bất nhị của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Thuyết pháp không chỉ lợi lạc trời người mà ngay cả những người học theo Tiểu thừa cũng đều quy y. Liên Sinh Thượng Sư đánh trống pháp lớn, thổi loa pháp lớn, số lượng chúng sinh được độ sẽ nhiều vô song trong tương lai."

Đại pháp mà Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền cho Liên Sinh Hoạt Phật chính là: "Ati Maha Shanti Yoga". Chi tiết về đại pháp này có thể xem trong tác phẩm "Mật Giáo Đại Viên Mãn" của Liên Sinh Hoạt Phật.

Vì Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là vị Thượng sư gốc của Liên Sinh Hoạt Phật. Do đó, các vị Hoạt Phật Tây Tạng từ khắp nơi trên thế giới đều bay đến Chân Phật Mật Uyển ở thành phố Redmond, Hoa Kỳ để quy y học pháp. Nhiều vị Hoạt Phật Tây Tạng đã quy y Liên Sinh Hoạt Phật, cầu xin Ngài ban cho pháp vô thượng.

Vì vậy, pháp Bổn tôn Liên Hoa Sinh Đại Sĩ này vô cùng quý giá. Trước khi liệt kê chi tiết về pháp này, xin kính ghi lại danh hiệu của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ: "Nam mô Kim Cang Bất Sinh Bất Diệt Liên Hoa Sinh Đại Sĩ."

Đại Sĩ vốn đã thành Đẳng Chánh Giác, chứng ngộ năm trí Phật. Phương tiện độ sinh hết thảy đều đầy đủ. Có thể thỏa mãn mọi nguyện, lợi lạc tất cả chúng sinh. Năm vị Phật Mẫu của Ngài là Mandarava, Kala Siddhi, Shakya Devi, Tashi Khyidren, Yeshe Tsogyal, các vị này hoặc sinh ở Ấn Độ, hoặc sinh ở Nepal và Bhutan, hoặc sinh ở Tây Tạng, đều là thị hiện phương tiện, giúp Thượng sư ứng hóa, điều phục chúng sinh, tiếp nối Tam Bảo. Đại Sĩ thông suốt Hiển Mật, không phân chia hai ngả, tất cả giáo nghĩa rốt ráo trong kinh hiển và mật thừa, thành tựu vô thượng. Ngài thâm nhập tâm ấn khẩu quyết của Phật Thích Ca Mâu Ni, chân truyền huyết mạch. Tất cả ba nghiệp kim cang thân khẩu ý, ba thân Pháp Báo Ứng, bí quyết chứng đắc, cùng với bốn pháp tức tăng hoài tru, phương tiện độ sinh, hết thảy đều viên mãn.

Đại Sĩ viên chứng thành tựu vô thượng của Vô Lượng Thọ Như Lai, tất cả tướng trang nghiêm y chính trong bốn loại tịnh thổ, thân sĩ đức bất nhị, dấu tích tướng lưỡi rộng dài trùm khắp, và số lượng chúng sinh được nhiếp thọ, tất cả đều như trong các kinh A Di Đà Phật đã ghi chép rộng rãi.

Để độ hóa chúng sinh có bản tính ác độc, cũng như những chúng sinh phỉ báng và nghi sợ, Đại Sĩ được sinh ra từ ánh sáng màu đỏ phát ra từ nhục kế của Đức A Di Đà Phật.

Giáo pháp của Đại Sĩ lan tỏa khắp sáu đại không ngăn ngại, trong một pháp giới chân thực, trong thái hư. Pháp thường hằng tự nhiên, lợi lạc tất cả hữu tình, cho đến tận cùng tương lai, danh tiếng vang khắp vô lượng thế giới. Báo thân và Ứng thân của Ngài biến khắp các cõi nước nhiều như vi trần. Người thấy thân Ngài liền phát tâm, người nghe danh Ngài liền khởi tín, người nghe âm thanh Ngài liền khai ngộ, người biết tâm Ngài liền thành Phật.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là ứng hóa thân kim cang của tam mật tam thánh hợp nhất: "Thân Phật Thích Ca, ngữ Phật A Di Đà, tâm Bồ Tát Quan Âm". Đại Sĩ sinh vào ngày mồng mười tháng bảy âm lịch, tám năm sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni nhập niết bàn, hóa sinh từ hoa sen năm màu trong hồ Dhanakosa ở Tây Ấn Độ. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ từ Ấn Độ đến Tây Tạng hoằng pháp, là vị tổ khai sáng của Mật tông Tây Tạng.

Nam mô Pháp thân thường trụ, ba đời như một, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Nam mô Báo thân thanh tịnh, tướng hảo vô song, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Nam mô hóa thân biến hiện, Yết Ma vô lượng, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.

Kính ghi bài tụng khởi thỉnh Liên Hoa Sinh Đại Sĩ như sau:

Pháp thân Phổ Hiền Kim Cương Trì thứ sáu. Tát Đỏa Bà Già Thích Ca đại tôn sư. Hỗ chủ Vô Lượng Thọ Phật quán tự tại. Trước Liên Sư nhất quán kính khởi thỉnh.
Thể tính thân là chủ Diễm Ma kỳ diệu. Thể tính ngữ là tiếng Mã Minh tự tại. Thể tính ý là Heruka chân thật. Trước Thượng sư tôn quý như ý kính khởi thỉnh.
Công đức thù thắng oai trấn Heruka. Chủ thể Yết Ma thân Kim Cang Đồng Tử. Diệu mẫu Không hành chủ tôn viên mãn chủ. Trước Thánh tôn đại lực kính khởi thỉnh
Thân sắc biến hiện tướng tĩnh thiện phẫn nộ. Ngữ âm vi diệu đầy đủ mười hai chi. Tâm trí duyên niệm viên mãn không chướng ngại, trước Không hành vô thượng thắng tôn kính khởi thỉnh.
Ban thọ ký tương lai và chỉ kho pháp ẩn. Từ tâm hộ niệm hành giả như con yêu. Bi mẫn Diêm Phù chỉ dạy phó chúc tâm tử. Trước hóa thân đại ân chí tôn kính khởi thỉnh.

Ngày nay, chủ tôn của Chân Phật Mật Uyển ở thành phố Redmond Hoa Kỳ chính là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, và chính điện của Lôi Tạng Tự thờ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ được thỉnh từ Nepal. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chính là vị Căn bản Thượng sư tôn truyền của Liên Sinh Hoạt Phật. Hiện nay, các vị Hoạt Phật Tây Tạng đến quy y Liên Sinh Hoạt Phật là do Liên Hoa Sinh Đại Sĩ căn dặn Liên Sinh Hoạt Phật, và Liên Sinh Hoạt Phật chính là bậc chủ bí mật của chân ngôn kim cang, là đấng nương tựa vĩ đại của chúng sinh trong tương lai. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ và Liên Sinh Hoạt Phật không hai không khác.

Trong thời đại ngày nay, Liên Sinh Hoạt Phật xuất hiện trên đời với một nhân duyên lớn, nguồn gốc của Liên Sinh Hoạt Phật và nguồn gốc của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là giống nhau. Liên Sinh Hoạt Phật đến từ Ma Ha Song Liên Trì ở Tây phương của Phật A Di Đà. Và Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã viên chứng thành tựu vô thượng của Phật A Di Đà, nên nguồn gốc của hai vị là ngang bằng nhau.

Người học Phật nên lắng nghe lời dạy của Bổn sư, tự quán xét tâm mình để tu pháp, quy y Chân Phật, tôi sẽ hiện ra trước mặt họ và giảng giải cho họ về bí mật trong Chân Phật Mật Pháp.


### 18. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ Bổn tôn pháp (2)


Bây giờ xin thuật lại chi tiết Liên Hoa Sinh Đại Sĩ Bổn tôn pháp của Chân Phật Tông như sau:

1. Nhập đàn niệm chú thanh tịnh.

2. Niệm chú triệu thỉnh. Triệu thỉnh chư tôn Bồ Tát.

Đặc biệt khởi thỉnh Liên Hoa Sinh Đại Sĩ: "Nam mô Pháp thân thường trụ tam tế nhất như Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Nam mô Báo thân thanh tịnh tướng hảo vô song Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Nam mô Hóa thân biến hiện Yết Ma vô lượng Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Đệ tử (tên), thành tâm thành ý, nhất tâm tam bái thỉnh."

3. Chân Phật đại lễ bái pháp.

4. Chân Phật đại cúng dường pháp. (có thể ngồi)

5. Chân Phật tứ quy y pháp.

Niệm chú tứ quy y 3 biến: Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê.

6. Mặc giáp hộ thân pháp.

7. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (1~3 biến)

8. Kết ấn:

Ấn căn bản Liên Hoa Sinh Đại Sĩ: Tay phải ở trên, lòng bàn tay hướng xuống, ngón cái và ngón giữa tạo thành vòng tròn. Tay trái ở dưới, lòng bàn tay hướng lên, ngón cái và ngón giữa tạo thành vòng tròn, hai tay cách nhau một khoảng, tạo thành ấn căn bản Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. (đặt ngang ngực)

Ấn thân Thích Ca của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ: Hai tay chắp lại, hai ngón trỏ và hai ngón áp út cong vào lòng bàn tay, chỉ còn lại ba ngón khác chạm vào nhau, dựng thẳng hướng lên không trung. (đặt ngang ngực)

Ấn kim cang của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ: Hai tay trước tiên bắt chéo quay lưng vào nhau, hai ngón út móc vào nhau, dựng thẳng hai ngón trỏ chỉ chéo lên không trung, hai ngón cái mỗi bên ấn lên hai ngón giữa và ngón áp út tạo thành vòng tròn, tạo thành ấn. (đặt ngang ngực)

(Ba ấn nêu trên đều có thể sử dụng chung. Nhưng trong pháp hội đồng tu của tông phái chúng ta, sử dụng ấn kim cang của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.)

9. Quán tưởng: 
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đội mũ báu, thân màu hồng nhạt, tay phải cầm chày kim cang, cổ tay trái kẹp gậy đinh ba, ngồi kiết già trên nguyệt luân hoa sen, an trụ trong không gian đối diện, tay trái giữ thiên linh cái, trong thiên linh cái có chứa báu vật và cam lộ. Quán tưởng nước cam lộ hóa thành ánh sáng trắng, tạo thành một hình cung, chiếu rót vào hành giả. Đại cam lộ này sẽ tiêu diệt hết thảy nghiệp tội, bệnh khổ, ma chướng của hành giả, đạt được đại tự tại.

Lại quán tưởng Liên Hoa Sinh Đại Sĩ thu nhỏ như một điểm sáng cỡ hạt gạo, từ đỉnh đầu, theo trung mạch, đi đến hoa sen trong tim của hành giả, an tọa trên tâm liên hoa của hành giả.

Lại quán tưởng thân Liên Hoa Sinh Đại Sĩ dần dần lớn lên, lớn đến mức bằng thân của chính mình (hành giả), hòa hợp chặt chẽ, không hai không khác, chính mình biến thành Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chính là mình.

10. Tụng tâm chú. (buông ấn, lần tràng hạt)

Tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ: "Ôm ah hùm ben-za gu-ru pê-ma sit-đi hùm sê."
(Số lần tụng tâm chú tùy theo thời gian của mình, 108 biến hoặc hai, ba vòng tràng hạt hoặc nhiều hơn.)

11. Cửu tiết Phật phong và nội hỏa minh điểm.

12. Nhập định. 

Ngồi thẳng lưng, thu về tâm ý, không khởi một chút vọng niệm, không nghĩ gì cả, tất cả đều không, cũng chính là tâm tính thanh tịnh của mình, hòa nhập và hợp nhất với ánh sáng của pháp giới. Đây chính là tự chủ sinh tử, trực chứng cảnh giới vô thượng chính đẳng chính giác. Tâm tính của mình và tâm tính của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ ngang bằng nhau, đó là đệ nhất nghĩa đế — Tam ma địa của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.

13. Xuất định. Tụng tán:

Liên Sư tổng trì đại quang minh
Vị đại Tổ sư thỉnh là đến
Ánh sáng chiếu rọi tâm chúng sinh
Bồ đề đại tâm mãi hộ trì.

14. Hồi hướng:

Mong đem đại nguyện tu hành này
Mau thành đại giác Liên Hoa Sinh
Cả hai hợp nhất không phân biệt
Quảng độ chúng sinh đến Phật địa.

15. Đại lễ bái Phật. Xuất đàn.

Cát tường viên mãn.

🌟

Liên Sinh Hoạt Phật biết rằng, rất nhiều hành giả Mật tông Tây Tạng đều lấy Liên Hoa Sinh Đại Sĩ làm Bổn tôn tu hành. Phần lớn nam hành giả thích chọn Liên Hoa Sinh Đại Sĩ làm Bổn tôn, nữ hành giả thích chọn Lục Độ Mẫu làm Bổn tôn.

Thực tế, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chính là bậc đại thành tựu giả viên mãn cả bi lẫn trí, chính Ngài đã sáng lập Mật tông Tây Tạng. Pháp tu Bổn tôn Liên Hoa Sinh Đại Sĩ vốn có công đức vô lượng vô biên không thể nghĩ bàn. Có thể đạt được đại trí tuệ, thành tựu thân kim cang bất hoại.

Liên Sinh Hoạt Phật biết rằng pháp tu Bổn tôn Liên Hoa Sinh Đại Sĩ sẽ sinh ra đại uy đức. Bởi vì đại bí mật của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nằm trên Pháp thân kim cang. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ có kim cang tính, nghĩa là có thể chế ngự các ngoại đạo, có thể tiêu diệt yêu ma, tất cả quỷ thần đều phải nghe lệnh của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.

Năm xưa khi Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đến Tây Tạng, tín ngưỡng nguyên thủy của Tây Tạng (đạo Bon) Hắc giáo - một tà giáo thực hành ngũ độc, giết trẻ tế thần và dâm loạn - đang hoành hành dữ dội. Nhưng Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã thị hiện thân kim cang và tính kim cang, phá trừ Hắc giáo ở Tây Tạng, từ đó thiết lập nên Mật tông Tây Tạng.

Vì vậy pháp Liên Hoa Sinh Đại Sĩ có công đức vô lượng vô biên. Nếu có yêu ma quấy phá, chỉ cần tu pháp Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, dùng ấn kim cang của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ phóng ánh sáng đỏ chạm đến, yêu ma lập tức tan tác bỏ chạy, không dám quấy nhiễu người lành nữa.

Thân kim cang của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là: toàn thân màu đỏ, đầu đội mũ năm sọ người, tay phải cầm chày kim cang, tay trái cầm bọ cạp độc, trước ngực quấn một con rắn khổng lồ, lại đeo chuỗi vòng cổ gồm năm mươi mốt đầu người, thân khoác váy da hổ, hai chân mỗi bên đạp lên hai yêu ma, trên đỉnh đầu Liên Sư là con dơi khổng lồ bay trên trời, toàn thân Liên Sư tỏa ra ngọn lửa đại phẫn nộ. Đây chính là tướng phẫn nộ của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.

Vì vậy, bí mật của pháp Bổn tôn Liên Hoa Sinh Đại Sĩ có thể trừ bệnh, có thể sống lâu, có thể có đầy đủ áo quần thực phẩm, có thể được phúc báo lớn, có thể tiêu trừ tất cả các tai ương chín nạn, tất cả tai họa bất ngờ không xảy ra, vận nhà đại cát tường, có thể nói cầu con được con, cầu tài được tài.

Trong đó, bí mật lớn nhất là kim cang tính hàng phục ma quỷ, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là vị kim cang có pháp tru diệt, vì vậy Ngài có thể phá trừ Hắc giáo ở Tây Tạng, sáng lập Phật giáo Tây Tạng Lama giáo.

Liên Sinh Hoạt Phật biết rằng, thời đại hiện nay chính là lúc yêu ma hoành hành, ma mạnh pháp yếu, quan trọng nhất là cần có vị Thượng sư chân chính xuất hiện, hoằng dương mật phát chân thật của Phật, mật pháp sẽ hưng thịnh lớn! Đây là để đối trị sự đen tối của thời đại này.

Chân Phật Mật Pháp sẽ hưng thịnh lớn, đây là điều Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã tiên đoán từ lâu. Đệ tử Chân Phật Tông đã có năm triệu người. Và Liên Sinh Hoạt Phật chính là vị Đại Trì Minh Kim Cang Acharya chân chính.

*Đại pháp truyền thừa ban áo kim
Hồng Hoàng Bạch Hoa Hoàng mới nhất
Hoạt Phật bốn phái đều quy y
Chân Phật Mật Pháp bay cao ngất.*


### 19. Dược Sư Phật Bổn tôn pháp


Bây giờ xin thuật lại chi tiết Dược Sư Phật Bổn tôn pháp của Chân Phật Tông như sau:

1. Nhập đàn niệm chú thanh tịnh.

2. Niệm chú triệu thỉnh. Triệu thỉnh chư tôn Hộ pháp.

3. Chân Phật đại lễ bái pháp.

4. Chân Phật đại cúng dường pháp. (có thể ngồi)

5. Chân Phật tứ quy y pháp.

Niệm chú tứ quy y 3 biến: Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê.

6. Mặc giáp hộ thân pháp.

7. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (1~3 biến)

8. Kết ấn:

Ấn pháp giới định Dược Sư Phật: Tay trái ở dưới, tay phải ở trên, hai ngón cái chạm vào nhau, giống như ấn thiền định của Phật A Di Đà. Cần quán tưởng trên lòng bàn tay có bát, trong bát chứa diệu dược của mười hai đại nguyện. (đặt dưới rốn)

Ấn căn bản Dược Sư Phật: Hai bàn tay nắm lại như nắm đấm đan vào nhau, hai ngón cái song song dựa vào nhau. (đặt trước ngực)

Ấn ngũ sắc quang Dược Sư Phật: Hai tay tách nhau, tay trái lòng bàn tay mở ra, ngửa lên trên, ngón cái đè lên ngón trỏ. Tay phải lòng bàn tay mở ra hướng về phía trước, ngón cái đặt hướng vào lòng bàn tay. (đặt trước ngực)

Trong ba ấn trên, có thể tùy chọn một trong số đó, chỉ có pháp hội đồng tu mới sử dụng ấn ngũ sắc quang Dược Sư Phật.

9. Quán tưởng: 

Trước tiên quán Không, từ trong hư không hiện ra một vị Dược Sư Phật, hình tướng của Dược Sư Phật giống như Phật A Di Đà, cũng đầy đủ 32 tướng tốt, nhưng thân của Ngài màu xanh dương, hai tay kết ấn thiền định, cầm một chiếc bát, trong bát chứa đầy cam lộ chữa bệnh, Ngài ngồi trên đài sen.

Tiếp theo quán tưởng từ tâm của Dược Sư Phật phóng ra ánh sáng xanh dương lớn, ánh sáng xanh dương này chiếu rọi và tràn vào hành giả, đi vào từ đỉnh đầu của hành giả, thân thể hành giả chuyển thành toàn thân màu lưu ly trong suốt, tất cả nghiệp chướng, túc nghiệp và bệnh tật hoàn toàn tiêu trừ.

(Nếu muốn chữa bệnh cho người khác, có thể quán tưởng bát trong tay Đức Dược Sư Phật phóng quang, lên cao hạ xuống, chiếu vào thuốc, nước sạch hoặc thức ăn mà hành giả đã chuẩn bị trước cho bệnh nhân sử dụng. Hoặc là chiếu vào quần áo của bệnh nhân. Nghĩa là ánh sáng xanh dương lên xuống, chiếu vào thức ăn hoặc quần áo của bệnh nhân, thức ăn hoặc quần áo có thể đặt trước mặt hành giả, trước đàn pháp.)

(Trong pháp chữa bệnh của Tạng mật có cách sử dụng hai sợi dây đỏ và xanh lá tạo thành vòng tròn, cho ánh sáng xanh dương của Dược Sư Phật chiếu vào, sau đó buộc dây đỏ xanh lá lên tay người bệnh, để người bệnh đeo, như vậy bệnh có thể được chữa khỏi.)

Thứ ba, quán tưởng từ tâm của Dược Sư Phật phóng ra ánh sáng xanh dương lớn, và từ tâm của hành giả cũng phóng ra ánh sáng xanh dương, hai luồng ánh sáng gặp nhau trong không trung, hợp làm một, trong khoảnh khắc, hành giả cũng biến thành Dược Sư Phật, Dược Sư Phật trong không trung và Dược Sư Phật là hành giả không hai không khác, đều thành Bổn tôn.

10. Tụng tâm chú: (buông thủ ấn, lần chuỗi hạt)

Tâm chú Dược Sư Phật: "Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha." 108 lần hoặc 1080 lần.

11. Quán tưởng viên mãn: Quán tưởng Dược Sư Phật và các vị khác đều từ không trung phóng đại quang minh ngũ sắc, chiếu rọi tất cả chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh trăm bệnh tiêu trừ, thân tâm tự tại, đều có nhân duyên với Phật đến tu pháp. Và bản thân mình biến hiện thành Dược Sư Phật, lợi ích tất cả hữu tình, cứu độ chúng sinh.

12. Cửu tiết Phật phong và nội hỏa minh điểm.

13. Nhập định. Thân tâm thanh tịnh tự tại, nhập vào Tam ma địa của Bổn tôn Dược Sư Phật.

14. Xuất định. Tụng tán:

Mười hai đại nguyện mong ước chúng sinh hằng trụ thế
Ánh sáng xanh lam chiếu thế nhân mãi được trường sinh
Tối thượng thù thắng thành tựu Dược Sư Quang Vương Phật
Chúng con lần lượt đảnh lễ quy y dưới chân ngài.

 (Chỗ này có thể thêm niệm Nam mô Dược Sư Phật trăm lần nghìn lần.)

15. Hồi hướng:

Gia trì tu pháp đạt thành tựu
Trăm bệnh tiêu trừ phúc huệ tăng
Mong cùng Bổn tôn hợp làm một
Chúng sinh thế giới được an vui.

16. Đại lễ bái Phật. Xuất đàn.

Cát tường viên mãn.

🌟

Hoạt Phật Liên Sinh cho rằng, Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật là Đại Y Vương Phật, là vị cứu độ hết thảy chúng sinh thoát khỏi bệnh khổ, nguyện lực và hạnh nguyện của Ngài rất lớn, cõi tịnh thổ của Ngài nằm ở phương Đông núi Tu Di, chính là Đông phương Tịnh Lưu Ly thế giới, là nơi vi diệu và trang nghiêm. Hành giả Mật tông tu pháp Bổn tôn Dược Sư, không chỉ có thể cứu độ người đời và chúng sinh, mà còn có thể vãng sinh về tịnh thổ của Bổn tôn, tức thân thành Phật.

Bí quyết chữa bệnh của Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật chính là phóng ra ánh sáng xanh trắng, chạm vào quần áo và thức ăn của tất cả bệnh nhân, đây là bí mật trong bí mật để cứu giúp người bệnh.

Thực ra mật pháp Bổn tôn Dược Sư Phật không chỉ để chữa bệnh mà thôi, mà còn có thể hàng phục ma chúng, đẩy lùi các oán địch. Pháp tu vĩ đại nhất của Dược Sư Phật là pháp tu năm đàn Thất Phật Dược Sư. Đây là một trong bốn đại pháp của Đài mật, năm đàn này gồm có: ở giữa là Đại Thánh Bất Động Minh Vương, phương Nam là Quân Đồ Lợi Dạ Xoa Minh Vương, phương Bắc là Kim Cang Dạ Xoa Minh Vương, phương Đông là Hàng Tam Thế Minh Vương, phương Tây là Đại Uy Đức Minh Vương. Đây là đại pháp vô thượng, là đại pháp cứu quốc cứu dân.

Dược Sư Phật còn có mười hai thần tướng của Dược Sư, mười hai vị thần tướng này đều hành động theo luật lệnh của Dược Sư Phật. Tu pháp Bổn tôn này có thể điều khiển mười hai thần tướng, nên pháp lực vô cùng lớn.

Thị giả và quyến thuộc của Dược Sư Phật còn có Nhật Quang Bồ Tát, Nguyệt Quang Bồ Tát, Quan Âm Bồ Tát, Thế Chí Bồ Tát, Văn Thù Bồ Tát, Bảo Đàn Hoa Bồ Tát, Vô Tận Ý Bồ Tát, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát v.v… có thể nói là vô cùng trang nghiêm.

Hành giả Mật tông tu pháp Bổn tôn này cần phát mười hai đại nguyện của Dược Sư:
1. Nguyện cho thân mình và thân người đều rực rỡ quang minh.
2. Nguyện oai đức cao vời khai ngộ chúng sinh.
3. Nguyện khiến chúng sinh được thỏa mãn những điều mong cầu mà không thiếu thốn.
4. Nguyện khiến tất cả chúng sinh an trụ nơi Đại thừa.
5. Nguyện khiến tất cả chúng sinh hành phạm hạnh, đầy đủ ba tụ giới.
6. Nguyện khiến tất cả người khuyết tật được các bộ phận đầy đủ.
7. Nguyện trừ tất cả bệnh tật của chúng sinh, khiến thân tâm an lạc, chứng đắc vô thượng bồ đề.
8. Nguyện chuyển thân nữ thành thân nam.
9. Nguyện khiến các hữu tình giải thoát khỏi sự trói buộc của thiên ma ngoại đạo, rừng rậm tà kiến ác kiến, dẫn dắt họ vào chính kiến.
10. Nguyện khiến chúng sinh giải thoát khỏi những tai nạn do vua ác, kẻ cướp gây ra.
11. Nguyện khiến chúng sinh đói khát được thức ăn thượng hạng.
12. Nguyện khiến những người nghèo túng không có áo mặc được y phục tốt đẹp.

Liên Sinh Hoạt Phật viết bài kệ tán thán Dược Sư Phật:
*Đại pháp phổ truyền không nghi hoặc
Danh tiếng Chân Phật thời thịnh hưng
Chư tôn đều có pháp ứng báo (thân)
Xưa nay cứu đời Đại Y Vương.*


### 20. Nói kĩ về pháp Bổn tôn


Pháp Bổn tôn là pháp vô cùng quan trọng. Nó chính là pháp mà hành giả Mật tông phải phụng hành cả đời, không bao giờ được từ bỏ, ngay cả khi tu đến mức Bổn tôn hiện ra, đích thân ban cho hành giả đại quán đảnh, đại gia trì, đại thọ ký, đại tương ứng. Nếu hành giả tự cho rằng đã tương ứng với pháp Bổn tôn rồi, từ đó chuyển sang tu pháp khác và từ bỏ pháp Bổn tôn, thì đó là sai lầm to lớn.

Đối với những người đã đạt được tương ứng với pháp Bổn tôn, nếu muốn thêm vào việc tu pháp Kim Cang hoặc pháp Yết Ma, thì cần phải tìm thời gian riêng để tu thêm. Tôi đặc biệt nhấn mạnh với mọi người nhiều lần rằng: "Pháp Bổn tôn, đời đời không được từ bỏ."

Bất kỳ mật pháp nào, hầu như đều cần bước vào đàn tràng và niệm thần chú thanh tịnh, niệm thần chú triệu thỉnh, nghi thức Đại lễ bái Chân Phật, nghi thức Đại cúng dường Chân Phật, nghi thức Tứ quy y Chân Phật, pháp mặc giáp hộ thân, tụng Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. Bảy phần này có thể nói là động tác cơ bản của tất cả các pháp, cũng chính là điều cần thiết cho mọi pháp tu, khi làm pháp nhất định phải thanh tịnh, triệu thỉnh, lễ bái, cúng dường, quy y, hộ thân, tụng kinh. Nếu thiếu một trong bảy phần này, nghi thức sẽ bị khiếm khuyết, vì vậy bảy phần này là điều cần thiết cho tất cả các pháp, không nên sơ suất hay bỏ qua.

Thủ ấn mật pháp của Chân Phật Tông có một số điểm khác biệt so với thủ ấn được truyền thụ trong Mật tông thông thường. Những thủ ấn mà Liên Sinh Hoạt Phật lĩnh hội chính là bí mật về thân thể của chư Phật Bồ Tát và chư tôn, đây là một loại "thân mật". Thủ ấn do Liên Sinh Hoạt Phật giảng dạy thực sự có thể thâm nhập vào "thân mật", nghĩa là có thể hoàn toàn dung hợp "thân mật" giữa chư tôn và hành giả, trở thành thân ấn vô thượng.

Quán tưởng của Chân Phật Tông chính là "ý mật" của chư tôn. Liên Sinh Hoạt Phật yêu cầu mọi người trước tiên phải quán Không, có thể từ không hiện ra chữ Phạn "Ah", chữ Phạn của "Ah" là: ཨཱཿ, sau đó từ chữ Ah xoay tròn hiện ra Bổn tôn. Hoặc trực tiếp từ hư không hiện ra Bổn tôn. Nhiều đệ tử viết thư nói: quán tưởng không rõ ràng. Tôi cho rằng, hành giả nên thường xuyên xem pháp tướng của Bổn tôn, in hình dáng của Bổn tôn vào trong tâm trí, rồi thường xuyên quan sát gương mặt của Bổn tôn, cũng in gương mặt ấy vào trong tâm trí, lâu dần quan sát pháp tướng, in sâu vào tâm trí, khi nhắm mắt lại, hình ảnh sẽ hiện ra rất rõ ràng, điều này cần phải công phu, về phương diện quán tưởng, luyện tập lâu ngày tự có bí quyết hay. Quán tưởng Bổn tôn này chính là bí mật của ý niệm trong đó, ý mật của chư tôn kết hợp với ý mật của chính mình, đây chính là sự dung hợp của quán tưởng vô thượng.

Thần chú của Chân Phật Tông, đương nhiên lấy cách phát âm được truyền miệng từ vị Căn bản Thượng sư làm chuẩn, tại sao nhất định phải do Thượng sư truyền miệng? Nói một cách đơn giản, thần chú được Thượng sư truyền miệng mới có được lực gia trì chân thực của Thượng sư, mới có thể cùng Chân Phật Mật Pháp của Liên Sinh Hoạt Phật tạo ra sự cộng hưởng và hòa hợp.
Nếu miệng tụng Phạn ngữ cổ, thì đương nhiên không phải là Chân Phật Tông.
Miệng tụng Phạn ngữ hiện đại, thì đương nhiên cũng không phải là Chân Phật Tông.

Tụng bằng tiếng Indonesia, tiếng Thái, tiếng Tạng, tiếng Quảng Đông hoặc bất kì ngôn ngữ địa phương nào, hầu hết đều có sự lệch lạc, tất nhiên cũng lệch xa khỏi Chân Phật Tông.

Âm của thần chú rốt cuộc ai đúng ai sai? Trên dãy Himalaya có hàng trăm phương ngữ, người nào cũng nói mình đúng, người khác sai? Phạn âm cổ có thực sự đúng không? Có vẻ cũng không hẳn, bởi vì người Ấn Độ cổ đã chết hết từ lâu, Phạn âm cổ mà người hiện đại khôi phục qua khảo chứng, rốt cuộc có thể cổ đến mức nào, thật đáng nghi vấn.

Bởi vì Liên Sinh Hoạt Phật đã thân chứng cảnh giới thông qua việc trì tụng chân ngôn của mình cho nên chú âm truyền miệng của Liên Sinh Hoạt Phật chính là sự tiếp nối của chứng đắc. Nói cách khác, tôi đã thân chứng, vì thế bạn học theo cách phát âm của tôi đương nhiên sẽ không có sai sót, và chắc chắn sẽ nhận được sức mạnh bí ẩn của sự gia trì từ Thượng sư. Đây là ngữ mật của chư tôn thông suốt với ngữ mật của Thượng sư, rồi lại thông suốt với ngữ mật của các hành giả khác, tạo thành một dòng chảy liên tục. Làm cho chuyết hỏa thăng lên, minh điểm thăng lên, đây chính là bí mật của chân ngôn vô thượng, âm thanh thần chú rung động bên trong.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, Cửu tiết Phật phong và nội hỏa minh điểm, đều có thể coi là động tác chuẩn bị để nhập Tam ma địa. Người ít thời gian có thể chỉ thực hiện Cửu tiết Phật phong, hoặc chỉ thực hiện nội hỏa minh điểm. Khi có đủ thời gian thì mới thực hiện cả hai phần. Như pháp nội hỏa minh điểm, không nhất thiết chỉ thực hành khi tu pháp Bổn tôn, trong ngày thường khi có thời gian rảnh đều có thể thực hiện, đây là một pháp có thể tu tập riêng biệt. Còn Cửu tiết Phật phong có thể thực hiện trước khi nhập Tam ma địa, điều này giúp nhập định dễ dàng hơn, đây là tâm đắc rất quan trọng của Liên Sinh Hoạt Phật. Cũng là tâm đắc sau nhiều năm tu trì của tôi.

Pháp nhập Tam ma địa, tôi sẽ trình bày chi tiết trong chương tiếp theo.

Về phần tụng tán và hồi hướng, đây là những phần linh hoạt. Tụng tán chính là những lời ca ngợi dành cho chư Phật Bồ Tát, còn hồi hướng cũng mang tính linh hoạt, có nghĩa là "con nguyện...". Tụng tán có thể tùy theo ý của mình, hồi hướng giống như phát tâm bồ đề, con nguyện thành Bổn tôn, rồi cứu độ chúng sinh, v.v... Có thể tự sáng tạo, hoặc tuân theo kệ của Thượng sư cũng được, không có quy định cứng nhắc.

Bí mật tối thượng của pháp Bổn tôn là: Khi bản thân đã tu thành Bổn tôn, tức là Phật, phía trên là quá khứ Phật, phía dưới là vị lai Phật. Và quá khứ Phật, hiện tại Phật, vị lai Phật hòa quyện làm một. Đây gọi là "thụ cùng tam thế nhất thời", lại phá vỡ không gian thành "hoành biến thập phương nhất thể", khái niệm này chính là lòng bi mẫn đồng thể để độ khắp chúng sinh, nỗi khổ của chúng sinh chính là nỗi khổ của mình, với sự giác ngộ vô thượng chính đẳng chính giác như vậy, pháp Bổn tôn là dễ thành tựu nhất.

Hôm nay Liên Sinh Hoạt Phật đã hoàn toàn công khai khẩu quyết và trình tự tu trì của Chân Phật Mật Pháp, đây là một cú sốc lớn đối với toàn thế giới, bởi Chân Phật Tông là vô cùng thù thắng, và chỉ có như vậy, mật pháp mới có thể phổ cập đến tất cả chúng sinh, và chỉ có như vậy, mật pháp mới có thể được hoằng truyền rộng rãi trên toàn thế giới.

Đây là một nhân duyên lớn vô cùng đặc biệt.


### 21. Nói kĩ về pháp nhập Tam ma địa


Tam ma địa còn được gọi là Tam muội, Tam ma đề, Tam ma đế, Tam ma để, Tam ma địa hoặc Tam muội địa v.v. Dù tên gọi là gì thì cũng đều biểu thị việc an trú tâm vào một cảnh, ý nghĩa là tâm không tán loạn.
Vì vậy nhập Tam ma địa chính là nhập định.
Tu hành của Mật giáo, dựa theo phương pháp tam mật, tu tập nhập vào Tam ma địa của Bổn tôn, đó chính là pháp Tam ma địa.

Cho đến ngày nay, vẫn còn nhiều đệ tử không hiểu nhập Tam ma địa là gì, vì vậy Liên Sinh Hoạt Phật đặc biệt trong chương này, lại một lần nữa chỉ dẫn.

Tôi nhớ trong cuốn sách "Chỉ Dẫn Đại Thủ Ấn", trang 58, tôi đã viết một bài "Đại Thủ Ấn và Tam ma địa". Tôi nói rằng muốn định thì phải nhập tĩnh, từ cánh cửa nhập tĩnh để đi vào cảnh giới định. Nhập tĩnh nghĩa là tạp niệm giảm bớt, tư tưởng trở nên thuần nhất, tất cả những yếu tố phức tạp bên trong và bên ngoài giảm xuống mức thấp nhất, thậm chí không còn nữa, đây chính là trạng thái điềm đạm hư vô.

Tức là đã đạt đến trạng thái "chặt chẽ miên mật", tâm và hơi thở hợp nhất, dường như có dường như không, hư vô mờ ảo. Vào lúc này, cảm giác vô cùng kỳ diệu, thân nhẹ như mây, hoặc như khí, hoàn toàn nhẹ nhõm mà bay bổng, có người tự cảm thấy bản thân đã biến mất không còn nữa. Cảnh giới này hoàn toàn chỉ có thể tự trải nghiệm mà không thể diễn tả bằng lời, văn tự không thể nào mô tả được một phần vạn trong đó.

Có rất nhiều phương pháp nhập định, Liên Sinh Hoạt Phật dạy mọi người nhập định bằng pháp Cửu tiết Phật phong, hoặc nhập định bằng pháp nội hỏa minh điểm, đều là những phương pháp rất tốt. Cũng có người dùng pháp đếm hơi thở để nhập định, pháp quán tưởng hình ảnh để nhập định, pháp thủ đan điền để nhập định, pháp trì chú để nhập định, pháp thư giãn để nhập định hoặc pháp chỉ quán để nhập định... Bất kể là phương pháp nào để nhập định, tất cả đều vì một mục đích, đó là nhập Tam ma địa.

Tại sao nhập Tam ma địa lại quan trọng đến vậy? Liên Sinh Hoạt Phật nói với mọi người rằng, người đã nhập Tam ma địa, tư tưởng và ý niệm được thanh lọc thêm một bước nữa, chuyển thức thành trí ngay lúc đó, biến hóa thành Bổn tôn ngay lúc đó, ánh sáng tương ứng với ánh sáng ngay lúc đó, thậm chí tức thân thành Phật cũng ngay lúc đó. Nhập Tam ma địa chính là đích đến của việc tu pháp, chúng ta tu tập tất cả các pháp đều là để nhập Tam ma địa.

Pháp nhập Tam ma địa không phải là điều có thể thành tựu chỉ sau một lần, mà phải trải qua một năm, vài năm, hàng chục năm, thậm chí cả đời. Có người rất nhanh, có người cả đời mà chưa từng đạt đến trạng thái nhập định. Có một vị xuất gia cao tuổi đã nói với tôi rằng, ông ấy tu hành cả đời, từ lúc trẻ đến già, chưa từng nhập Tam ma địa, có thể thấy pháp nhập Tam ma địa không phải là điều dễ dàng. Nếu nó dễ thì mọi người trên thế gian đã thành Phật hết rồi, đã không cần phải luân hồi trong lục đạo, mãi chịu khổ trong cõi người.

Tâm đắc của Liên Sinh Hoạt Phật là, theo phương pháp Cửu tiết Phật phong nhập Tam ma địa là một cách nhập môn vừa thuận tiện vừa thực tế. Các đệ tử không ngại gì mà không tu tập lâu dài phương pháp này.

Cảnh giới Tam ma địa vốn là cảnh giới không thể diễn tả, là sự thâm nhập vào trí tuệ, thâm nhập vào ánh sáng, thâm nhập vào Bổn tôn, thâm nhập vào ý thức vũ trụ, chúng ta chỉ có thể nói đó là hoàn toàn phá vỡ bản thân, biến đổi thành trạng thái không còn một tư tưởng một ý niệm, hoàn toàn hợp nhất với vũ trụ.

Cảnh giới hợp nhất giữa tự ngã và vũ trụ (Bổn tôn) như vậy thật vĩ đại, không thể diễn tả, vĩ đại, không thể diễn tả, hoàn toàn không thể nói ra được. Tôi không thể mô tả, nên chỉ có thể dùng hai cụm từ "vĩ đại" và "không thể diễn tả" để bao hàm tất cả mọi ngôn từ.

Việc có nhập Tam ma địa hay không, tự mình biết rõ, đó không phải là điều mơ hồ không rõ ràng, mà là điều chắc chắn tự mình có thể cảm nhận được, và cảm nhận đó là sâu sắc và không thể nào quên.

Khi đó hành giả Mật tông, tự thân cũng hóa thành ánh sáng, hoàn toàn ẩn mất, đây chính là "ánh sáng tự thân như hư không", chư Phật phương trên phương dưới đều hóa thành ánh sáng, thế giới cũng hoàn toàn hóa thành ánh sáng, chính mình cũng hóa thành ánh sáng, ba ánh sáng hợp nhất, chính là hòa nhập vào biển ánh sáng pháp giới.

Khi đã nhập vào biển ánh sáng pháp giới, thì tự thân và chư Phật mười phương hợp thành một thể. Cảnh giới này chính là cảnh giới Bát nhã ba-la-mật đa Tâm Kinh của Quán Tự Tại Bồ Tát, chính là một đại Không tính tự tại, cũng chính là điều Kinh Kim Cang nói: "Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng."

Trụ trong Đại không tam muội định, Thắng nghĩa không định, Tỳ Lô tính hải na già đại định, Đại lạc chân không tính định, chính là thành tựu lớn của việc nhập Tam ma địa. Trong cảnh giới này chính là vô tu vô chứng. Đó là cảnh giới cực kỳ thâm sâu của không có một pháp nào để tu, cũng không có Phật nào để chứng.

Thời gian nhập Tam ma địa kéo dài bao lâu, hoàn toàn tùy thuộc vào thói quen của hành giả, trước tiên từ trong chữ Phạn Ah mà xuất hiện, sau đó quay trở lại cõi Ta Bà, an tường xuất định.

Liên Sinh Hoạt Phật nói: "Pháp nhập Tam ma địa chính là mục đích của việc tu pháp, khi nhập Tam ma địa, hóa thân thành ánh sáng, đó chính là chuyển thức thành trí, tất cả những thành tựu lớn được hiển lộ trong đại không tam muội định, nguyên lý tức thân thành Phật của Mật giáo chính là ở trong đó. Tất cả hành giả tu Mật của Chân Phật Tông cần phải lĩnh hội thật tốt bản văn này, tu tập lâu dài, tự khắc sẽ có cảnh giới chứng ngộ."


### 22. Ứng dụng pháp Yết Ma (1)


Tu pháp Tứ gia hành của Chân Phật Tông cho đến tương ứng, tiếp đến tu pháp Thượng sư tương ứng cho đến tương ứng, sau đó tu pháp Bổn tôn cho đến tương ứng. Tôi tin rằng vị hành giả này đã có được "pháp lực".

Người có "pháp lực" thì có thể "hành pháp" để cứu đời độ người. "Làm pháp" cứu người cứu đời này chính là pháp Yết Ma của Mật tông.

Về nguyên tắc, pháp Tứ gia hành, pháp Thượng sư tương ứng, pháp Bổn tôn đều là mật pháp để tự giải thoát cho chính mình, tự cứu độ chính mình, ý nghĩa nằm ở "tu hành đắc độ".

Còn pháp Yết Ma là để cứu giúp người đời, độ chúng sinh, là tu tập công đức làm việc thiện.

Thông thường pháp Yết Ma của Mật tông chia "làm pháp" thành "tiêu tai", "tăng ích", "kính ái", "hàng phục", "nhiếp triệu" v.v... Theo cá nhân tôi, thực ra tất cả mật pháp đều là linh hoạt ứng dụng, và pháp Thượng sư tương ứng, pháp Bổn tôn thậm chí pháp Tứ gia hành đều có thể biến thành pháp Yết Ma. Điểm then chốt nằm ở việc hành giả có biết ứng dụng hay không. Một hành giả có trí tuệ và thông minh, không chỉ trong tu hành, bản thân xa lìa khổ đau đạt được an lạc, mà còn có thể cứu người thân và những người khác thoát khổ được vui, không chỉ tự mình đạt được bồ đề, mà còn có thể dạy người khác đạt được bồ đề.

Cần biết rằng mật pháp là sống động, các pháp "lớn", "nhỏ" đều thông với nhau, vì vậy pháp tự tu và pháp Yết Ma cũng thông với nhau. Nếu độc giả thể hội thật kỹ càng quyển sách này thì sẽ hiểu được rằng, hết thảy các pháp tu đều có thể là tự tu, cũng đều có thể là Yết Ma, trong một sát-na liền hoàn toàn hiểu rõ.

Pháp Yết Ma chính là "làm pháp", hành giả nhờ vào việc làm pháp và do có pháp lực nên có thể khiến cho ước nguyện của mình và người khác được thành tựu.
Nhờ vào việc tu trì pháp Yết Ma mà có thể được như ý về tiền tài.
Nhờ vào việc tu trì pháp Yết Ma mà có thể được như ý về con cái.
Nhờ vào việc tu trì pháp Yết Ma mà có thể được như ý về trường thọ.
Nhờ vào việc tu trì pháp Yết Ma mà có thể được như ý về hôn nhân.

Lợi ích của việc tu trì pháp Yết Ma có thể nói là vô tận, ví dụ như trừ bệnh, đạt trí tuệ, cầu công danh, trừ quỷ mị, hàng phục người ác, tiêu nghiệp chướng, cầu thần thông, cầu sức khỏe, tiêu chướng ngại, triệu thỉnh quỷ thần, trấn sát trừ uế, cầu bồ đề, cùng tất cả những điều mong cầu, không gì là không được như ý mãn nguyện.

Tu trì pháp Yết Ma có được công đức như vậy. Một hành giả Mật tông, nếu có được pháp lực liền có thể tu tập pháp Yết Ma, thứ nhất là để cứu người độ đời, thứ hai là tự mình cũng tích lũy thiện công đức, kết duyên rộng rãi. Ngoài ra cũng có thể nhờ vào nhân duyên của pháp Yết Ma mà độ chúng sinh phàm phu vào cửa Phật. Mà pháp Yết Ma thực ra cũng là một phương tiện độ chúng sinh, không thể xem thường.

Trong cuốn sách "Mật Tông Yết Ma Pháp", Liên Sinh Hoạt Phật đã viết về thời gian và nghi quỹ làm pháp, nay xin trình bày chi tiết các điểm trọng yếu của nghi quỹ Yết Ma pháp như sau:

Thời gian tu pháp Yết Ma đều lấy bảy ngày làm viên mãn, con số bảy chính là con số viên mãn.

Tức là từ mùng một đến mùng tám là tốt nhất để tu pháp tiêu tai - bao gồm trừ bệnh, chữa bệnh, tai nạn v.v...

Từ mùng chín đến rằm là tốt nhất để tu pháp tăng ích - bao gồm tài lợi, công danh, thi cử, sự nghiệp v.v...

Từ mười sáu đến hai mươi ba là tốt nhất để tu pháp kính ái, pháp nhiếp triệu - bao gồm hôn nhân, duyên phận, hòa hợp, quan hệ nhân tế, cầu tự v.v...

Từ hai mươi bốn đến cuối tháng là tốt nhất để tu pháp hàng phục - bao gồm trấn sát trừ uế, hàng phục quỷ mị, khuất phục kẻ địch v.v...

Nghi quỹ đàn pháp như sau:

Pháp tiêu tai - Người làm pháp quay mặt về hướng Bắc, đàn pháp quay về hướng Nam. Thân mặc pháp y màu trắng, đợi khi mặt trời lặn mới làm pháp, phẩm vật cúng dường nên dùng màu trắng, quán tưởng Bổn tôn màu trắng, phóng hào quang màu trắng, dùng từ bi nhãn, ngồi tu pháp, trì chú âm không nhanh không chậm, dùng tâm từ bi trì chú, thanh tịnh điều hòa.

Pháp tăng ích - Người làm pháp quay mặt về hướng Đông, đàn pháp quay về hướng Tây, thân mặc pháp y màu vàng, có thể làm pháp vào thời điểm cát tường, phẩm vật cúng dường nên dùng màu vàng, quán tưởng Bổn tôn cũng màu vàng, phóng quang cũng màu vàng, dùng kim cang nhãn nhìn khắp xung quanh, khi tu pháp phải dùng tâm hoan hỷ, âm trì chú phải đơn giản và mạnh mẽ.

Pháp kính ái và pháp nhiếp triệu - Người làm pháp quay mặt về hướng Tây, đàn pháp quay về hướng Đông. Hành giả khi tu pháp phải quỳ thẳng đầu gối, hai chân khép lại, mông không chạm đất, chọn thời gian cát tường vào cuối đêm, có thể mặc pháp y màu vàng hoặc đỏ, phẩm vật cúng dường màu đỏ, quán tưởng Bổn tôn màu đỏ, phóng quang cũng màu đỏ, âm trì chú phải dứt khoát rõ ràng từng chữ một, từng chữ một đều phải mạnh mẽ.

Pháp hàng phục - Người làm pháp quay mặt về hướng Nam, đàn pháp quay về hướng Bắc, thân mặc pháp y màu xanh hoặc có thể màu đen, phẩm vật cúng dường màu xanh đen, thời gian tu pháp chọn vào giữa ngày hoặc giữa đêm. Hành giả chân phải đứng thẳng, chân trái hơi co, chân phải tượng trưng cho bản thân, chân trái tượng trưng cho đối phương và gia quyến. Một cách khác là dùng chân phải đạp lên mu bàn chân trái, tư thế ngồi xổm, mông không chạm đất, cũng có nghĩa là đạp lên đối phương, quán tưởng Phật và phóng quang là màu xanh đen, mặt nhướng mày liếc xéo, răng cắn môi trên, hiện tướng phẫn nộ, tương ứng với tâm phẫn nộ, âm trì chú là giọng phẫn nộ.

Tu tập pháp Yết Ma và dùng pháp Yết Ma để cứu người độ đời là điều rất đáng mừng, nhưng phải ghi nhớ không được làm bừa, bởi vì làm bừa sẽ mang tội rất lớn. Ví dụ như pháp hàng phục, nếu không tự tin có thể cứu độ được người bị hàng phục thì đừng nên thực hiện. Người tu tập pháp từ bi thì không dùng pháp hàng phục, vì vậy dù Liên Sinh Hoạt Phật biết rõ sự lợi hại của pháp hàng phục nhưng chưa từng thực hiện. Tôi xét đến vấn đề nhân quả báo ứng dây dưa không dứt, nên chỉ tu pháp từ bi, không tu pháp hàng phục.

Liên Sinh Hoạt Phật biết rõ tất cả các loại pháp Yết Ma lớn nhỏ có đến hàng trăm loại, nhưng dù là pháp Yết Ma nào, tâm pháp quan trọng nhất là: "Quán tưởng cảnh giới của tất cả chúng sinh đều là ảnh tượng của tâm, cũng chính là tất cả do tâm tạo, cần hiểu rằng ngoài tâm không có một pháp nào, chỉ cần tâm niệm vừa động, tất cả đều có thể thành tựu."

Vì vậy "nghĩa lý vạn pháp duy tâm", tất cả các pháp đều có một cảnh giới chân thật, dùng tâm lực để chuyển hóa, liền có thể chứng minh tất cả các pháp bình đẳng, nương theo tâm này nên được thành tựu.

Liên Sinh Hoạt Phật có được tâm lực và niệm lực như vậy, nên việc tu pháp chính là gia trì, tu Yết Ma pháp chính là gia trì thành tựu. Nếu chúng sinh cầu xin Liên Sinh Hoạt Phật gia trì, đây chính là bản giác cầu nguyện của họ có thể tương thông với phương tiện Yết Ma pháp đồng tu trì, và công đức vốn có của chúng sinh sẽ nhanh chóng hiển hiện. Điều này là do sự gia trì của Thượng sư khi tu Yết Ma pháp, khiến chúng sinh cảm ứng được pháp lực và thành tựu tất cả điều cầu xin. Đây chính là nhân duyên cảm ứng giữa đôi bên, phân tích nhân duyên cảm ứng có ba:
Pháp lực Yết Ma của Liên Sinh Hoạt Phật.
Nguyện lực cầu xin của chúng sinh.
Công đức lực vốn có của chúng sinh.

Ba yếu tố này hợp làm một, chúng sinh có lòng tin, được gia trì thành tựu bởi đại bi lực của Hoạt Phật, trong một niệm liền tiến vào cảnh giới thành tựu Yết Ma không thể nghĩ bàn.

Liên Sinh Hoạt Phật, hiện nay trong Chân Phật Mật Uyển, ngày ngày cầu nguyện cho chúng sinh khắp thiên hạ, đây chính là phát tâm bồ đề, là tu hành Yết Ma, là nương theo nhân hành mà chứng quả, tương lai sẽ đạt được quả đức viên mãn, đạt đến cảnh giới bất sinh bất diệt, đây chính là đại viên mãn độ chúng sinh và chuyển pháp luân.

Ban đầu tôi định viết ra tất cả các pháp Yết Ma lớn nhỏ trong cuốn sách này, nhưng thực tế quá rườm rà và trùng lặp. Hiện nay, mọi người có thể lĩnh hội bản văn này, rồi đọc kỹ cuốn "Mật Tông Yết Ma Pháp", trong đó đã bao hàm rất nhiều pháp yếu, trọng điểm nằm ở quán tưởng, từ ý niệm sinh ra lực, từ lực nhập tướng thành đạo, biến chuyển vô cùng, cơ duyên khởi thì sinh, thành tựu pháp đều nằm trong đó!

Viết một bài kệ ghi lại:
*Yết Ma pháp thù thắng viên mãn,
Tất cả pháp lực là tự tính;
Khởi niệm nhanh chóng lại ẩn mật,
Trời người khó đo lường cảnh giới.*


### 23. Ứng dụng pháp Yết Ma (2)


Bản văn này nói về một số bí quyết quán tưởng, ví dụ như sau:
1. Bản thân tin Phật, quy y Liên Sinh Hoạt Phật, nhưng người thân không có ý kiến gì, để giúp người thân tăng trưởng nhân duyên với Phật, có thể tu pháp như sau:
Dùng pháp nhiếp triệu pháp.
Quán tưởng người thân cùng mình lễ Phật, đứng thành một hàng.
Bổn tôn phóng quang màu đỏ chiếu vào người thân của mình, toàn thân người thân biến thành màu đỏ. 

Khi trì chú có thể niệm: "Ôm ma-ni pê-mi (tên người) tốc tín Phật hum." 108 biến hoặc nhiều hơn.
Đây là pháp tu Quan Âm Bồ Tát Bổn tôn, nếu tu các Bổn tôn khác thì dùng chú của Bổn tôn đó. Nếu không tu pháp Quan Âm thì có thể dùng chú Địa Tạng.

2. Người khác mắc nợ, cố tình không trả. Để khiến người mắc nợ trả tiền, có thể tu pháp hàng phục:
Quán tưởng người mắc nợ đến trước mặt mình.
Bổn tôn phóng ra ánh sáng màu xanh đen, chiếu vào người mắc nợ. Lúc này người mắc nợ lấy từ trong túi xách ra số tiền đã nợ, cung kính trả lại cho hành giả Mật tông.

Khi trì chú có thể niệm: "Ôm chưa-li chu-li chuân-tí lệnh XXX khiếm trái tốc hoàn sô-ha." 108 biến hoặc nhiều hơn.
Đây là cách trì chú của người tu pháp Chuẩn Đề, các Bổn tôn khác cũng tương tự.

3. Bạn có một người bạn bị u bướu lớn trên người, hành giả thấy thương xót và từ bi muốn chữa trị cho họ, có thể dùng pháp tức tai:
Quán tưởng người bạn đến trước mặt hành giả.
Bổn tôn phóng ra ánh sáng màu trắng, chiếu đúng vào chỗ u bướu của người bạn, mỗi lần ánh sáng chiếu vào, u bướu nhỏ đi một chút, chiếu nhiều lần, u bướu tan biến, hoàn toàn lành bệnh. Đây là cách quán tưởng của hành giả Mật tông.

Khi trì chú có thể niệm: "Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây. Xin cho khối u của (tên người) được lành. Sô-ha." 108 biến hoặc nhiều hơn.
Đây là cách trì chú của người tu pháp Dược Sư Phật Bổn tôn, các Bổn tôn khác cũng tương tự.

4. Bạn tự mở một cửa hàng, hoặc bạn bè mở một cửa hàng, việc kinh doanh không tốt, để giúp cửa hàng làm ăn phát đạt, có thể dùng pháp tăng ích:

Khi quán tưởng, hãy tưởng tượng toàn bộ cửa hàng ở trước mặt hành giả.
Bổn tôn trụ trên không trung phía trên cửa hàng, phóng ra ánh sáng màu vàng, chiếu khắp toàn bộ cửa hàng, khiến cả cửa hàng biến thành màu vàng kim rực rỡ. Thậm chí có thể quán tưởng người người ra vào cửa hàng, tạo thành cảnh tấp nập đông đúc.

Khi trì chú có thể niệm: "Ôm chân-pa-la cha-lâng cha-na-yê lệnh (tên cửa hàng) đại phát lợi thị. Sô-ha."
Đây là cách trì chú của người tu Hoàng Tài Thần Bổn tôn. Các Bổn tôn khác cũng tương tự.

5. Vợ chồng bất hòa, gia đình cãi vã, gia đình không viên mãn, vợ chồng ngoại tình, gia đình đang bên bờ vực tan vỡ, đây là một bi kịch lớn của đời người, có thể tu trì pháp kính ái:

Quán tưởng người chồng và người vợ đều đến trước mặt hành giả.
Bổn tôn phóng ra ánh sáng màu đỏ, chiếu vào người chồng và người vợ. Cả hai đều hiện ra vẻ mặt vui vẻ. Lúc này lại quán tưởng hai người hòa nhập vào nhau, người chồng và người vợ hợp thành một người, rồi tan biến đi.

Khi trì chú có thể niệm: "Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê xin cho (tên) và (tên) gia đình viên mãn. Sô-ha." 108 biến hoặc nhiều hơn.

Đây là cách trì chú của người tu pháp Địa Tạng Bổn tôn. Các Bổn tôn khác cũng tương tự.

6. Nếu có người vợ chồng kết hôn nhiều năm không có con, hành giả động lòng thương xót họ, muốn cầu nguyện cho họ sớm sinh quý tử, có thể tu trì pháp nhiếp triệu:

Quán tưởng hai vợ chồng đều đến trước mặt hành giả.
Bổn tôn phóng ánh sáng màu đỏ, chiếu vào hai vợ chồng. Bổn tôn lại phóng ra luồng sáng thứ ba, trong ánh sáng hiện ra một bé trai hoặc bé gái, đứa bé được người vợ bế trong tay. Hai vợ chồng nở nụ cười hạnh phúc trên gương mặt.

Khi trì chú có thể niệm: "Ôm a-mi-tê-wa lệnh (tên) và (tên) sớm sinh quý tử sê."

Đây là cách trì chú của người tu pháp A Di Đà Phật Bổn tôn. Các Bổn tôn khác cũng tương tự.

7. Nếu hành giả muốn có một chiếc xe tốt để thuận tiện đi lại, có thể tu trì pháp tăng ích:

Quán tưởng pháp khí như ý của Bổn tôn phóng ra ánh sáng màu vàng, ánh sáng này chiếu vào trước mặt mình, từ trong ánh sáng hiện ra một chiếc xe nhỏ, chiếc xe dần dần lớn lên, to bằng xe thật y hệt. Có thể quán tưởng kiểu dáng và nhãn hiệu xe. Khiến tâm mình sinh hoan hỷ.

Khi trì chú có thể niệm: "Ôm chưa-li chu-li chuân-tí lệnh (tên) sớm được xe tốt. Sô-ha."

Đây là cách tu pháp của Bổn tôn Chuẩn Đề Phật Mẫu. Các Bổn tôn khác cũng tương tự.

Hôm nay Liên Sinh Hoạt Phật đã viết ra bí mật trong bí mật của Yết Ma pháp. Yết Ma pháp là pháp linh hoạt ứng dụng, tất cả quán tưởng và trì chú đều sống động, chỉ cần có pháp lực, tất cả quán tưởng (ý niệm) đều trở thành sự thật, đây chính là sự thành tựu Yết Ma của Mật pháp.


### 24. Ứng dụng pháp Yết Ma (3)


Trong bài viết này, tôi đã đặc biệt giới thiệu các vị trong "Mật Tông Yết Ma Pháp". Các đệ tử đã tu đến mức tương ứng với Bổn tôn pháp, nếu muốn cứu độ thế gian, có thể thiết lập mật đàn tạm thời trong bảy ngày, thỉnh các vị giáng lâm, tu trì theo trình tự Mật pháp, ắt sẽ đạt được thành tựu Yết Ma cực kỳ bí mật.

🌟 Hàng Tam Thế Minh Vương

Hàng Tam Thế Minh Vương là một trong Ngũ Đại Minh Vương, là thân phẫn nộ của Phật A Súc Bệ phương Đông. Trong Kim Cương Giới mandala, ngài còn là thân phẫn nộ của Kim Cang Tát Đỏa. Trong Thai Tạng Giới mandala, ngài ở góc Tây Bắc của viện Trì Minh.
Muốn biết chi tiết về vị tôn này, có thể đọc "Môn Cực Thâm Mật của Hàng Tam Thế".
Tôi hiểu sâu sắc rằng, Hàng Tam Thế Minh Vương có một tam ma địa kim cương trường thọ của từ bi tam muội.
Muốn cầu pháp trường thọ, có thể tu pháp Hàng Tam Thế Minh Vương.

🌟 Bạch Y Đại Sĩ

Vị Bạch Y Đại Sĩ này là một trong nhiều hóa thân của Quan Thế Âm Bồ Tát, trong đó có một vị, tay trái kết ấn ban nguyện, tay phải cầm bảo châu, chính là Liên Hoa Mẫu Tam Muội Thượng Thủ Minh Phi.

Vị này xuất phát từ "Bồ Đề Tràng Nhất Tự Đảnh Luân Ngũ Kinh".
Liên Sinh Hoạt Phật từng nhập vào Đại thừa vô biên Liên Hoa Biến Hóa Kim Cang tam ma địa, biết được vị Bạch Y Đại Sĩ cầm bảo châu này có mật pháp như ý bảo châu.
Muốn cầu pháp như ý có thể tu pháp Bảo Châu Bạch Y Đại Sĩ.

🌟 Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên

Ma Lợi Chi Thiên là quyến thuộc của Đế Thích Thiên, thường đi theo Nhật Thiên, chạy nhanh phía trước. Ngài là vị Bồ Tát có đại uy quang, cũng có thần thông lực tự do ẩn thân, được gọi là thần chiến đấu hoặc thần hộ pháp của nhẫn thuật. [Ninja Nhật Bản]

Vị Ma Lợi Chi Thiên này có đại thần thông, có nhân duyên đặc biệt với Chân Phật Tông, thường xuyên hộ trì đệ tử tu pháp.

Nếu có người bị kẻ ác bắt nạt, người có chướng ngại khi tu pháp, thỉnh cầu Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên, tất cả đều có thể đạt được thành tựu vô thượng.

Liên Sinh Hoạt Phật tiết lộ cho mọi người một bí mật trong bí mật, mật hiệu của Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên chính là Chiến Uy Kim Cang!

🌟 Hư Không Tạng Bồ Tát

Hư Không Tạng Bồ Tát, trong Kim Cương Giới mandala, là một trong mười sáu vị của Hiền kiếp, ngự ở hành lang phía Nam. Trong Thai Tạng Giới, ngài là thủ tọa của viện Hư Không Tạng.

Bồ Tát này thường trú ở thế giới Hương Tập, trí huệ sâu rộng như hư không nên được gọi là Hư Không Tạng. Tôi biết mật hiệu của Hư Không Tạng Bồ Tát là "Khố Tạng Kim Cang". Hư Không Tạng Bồ Tát là hai cánh cửa bí mật gồm đủ phúc đức và trí huệ. Xuất phát từ Kinh Hư Không Tạng, phẩm Hư Không Tạng trong Kinh Đại Tập, Kinh Bát Đại Bồ Tát Mandala, v.v…

Tu tập pháp Hư Không Tạng Bồ Tát có thể đạt được "trí huệ", "trí nhớ", "công danh", v.v.

🌟 Tôn giả Trà Cát Ni

Trong "Mật Tông Yết Ma Pháp", tôi có ghi chép về vị này.

Nhưng vị này nhất định phải được truyền thụ trực tiếp, tức là phải do Liên Sinh Hoạt Phật đích thân chỉ dạy.

Trà Cát Ni là vị quỷ vương mang túi phú quý, chuyên ăn thịt người.

Người tu pháp này phải phát thệ nguyện, tương lai sẽ dâng sắc thân cho quỷ vương ăn, hơn nữa pháp tu rất đặc biệt, nếu tu trì đúng cách, có thể đạt được đại phú quý.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, nếu không phải bất đắc dĩ, đừng tu pháp này.

🌟 Hỏa Đầu Kim Cang

Vị này xuất phát từ "Kinh Uế Tích Kim Cang", và Hỏa Đầu Kim Cang thực ra chính là Uế Tích Kim Cang.

Công năng của vị này là quét sạch các loại âm khí bất tịnh, lời thề gốc của ngài chính là nuốt hết tất cả vật bất tịnh.

Tu trì đúng pháp sẽ không sợ bất kỳ vật uế tạp nào, có thể đến được những nơi như đám tang, nhà xác, bệnh viện, nghĩa trang. Đặc biệt là với những người sinh nhiều con gái mà muốn sinh con trai, pháp Hỏa Đầu Kim Cang là hiệu quả nhất.

Vị này được ghi chép trong Kinh Lăng Nghiêm và Kinh Ô Sô Sắt Ma Minh Vương.
Nếu gặp âm tà quấy nhiễu, xung phạm hoặc muốn cầu con trai.
Có thể tu pháp Hỏa Đầu Kim Cang.

🌟 Bồ Tát Văn Thù

Trong Thai Tạng Giới, Bồ Tát Văn Thù ngự ở vị trí Tây Nam của viện Trung Đài Bát Diệp, là chủ tôn của viện Văn Thù. Trong Kim Cương Giới mandala, ngài ngồi ở vị trí thứ nhất phía Bắc trong số mười sáu tôn của Hiền kiếp.

Bồ Tát Văn Thù còn là vị chuyên chưởng quản cánh cửa trí huệ, là vị Bồ Tát đệ nhất về trí huệ.
Ngài có các danh hiệu như Văn Thù Sư Lợi, Văn Thù Bảo Lợi, Diệu Cát Tường, Diệu Âm, Phổ Thủ, Kính Thủ.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, Bồ Tát Văn Thù có đại bí mật, thành tựu vô thượng cao nhất của ngài vốn là Phật, pháp của ngài rộng lớn vô biên, là thầy của chư Phật.

Trong "Mật Tông Yết Ma Pháp" có pháp vãng sinh Văn Thù, pháp này không khuyến khích sát sinh, mà là mượn pháp lực của Bồ Tát Văn Thù để siêu độ chúng sinh.

Pháp này là pháp vãng sinh Văn Thù đặc biệt, đem lại nhiều thuận tiện và giải thoát cho những người làm việc ở nhà hàng khi tu trì mật pháp, đây cũng là một bí mật tối thượng.

🌟 Cát Tường Thiên Nữ

Vị thiên nữ này ở trong Thai Tạng Giới mandala, trong viện Hư Không Tạng, đứng hầu bên cạnh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát.

Cát Tường Thiên Nữ được ghi chép trong nhiều kinh điển như "Kinh Tối Thắng Vương", "Kinh Kim Quang Minh", "Kinh Công Đức Thiên" và các kinh khác.

Phạn ngữ là Mahasri, tức là Đại Cát Tường Thiên Nữ, hay còn gọi là Công Đức Thiên. Bản thệ nguyện của ngài là: "Trước đây, ta đã ở nơi Bảo Hoa Công Đức Hải, Lưu Ly Kim Sơn, nơi có Chiếu Minh Như Lai, bậc Ứng Cúng Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Thế Tôn, gieo trồng các thiện căn. Do vậy, nay ta tùy theo nơi chốn, khiến cho tất cả chúng sinh đều được an vui, về y phục, thức ăn, vật dụng sinh hoạt, vàng bạc, thất bảo, trân châu, lưu ly, san hô, hổ phách, bích ngọc, đều không lo thiếu thốn."

Pháp này thích hợp cho nữ giới tu trì, tu trì pháp này, dung mạo sẽ vượt trội ngàn vạn người, một đời không gặp tai họa, là pháp tức tai đại cát tường, lợi ích rất lớn.

Đại Cát Tường Thiên Nữ có thệ nguyện với thế gian, nữ giới tu pháp này cảm ứng rất nhanh, có thể trừ hết mọi tai họa.

Kết luận:

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, chư Phật Bồ Tát và chư tôn đều rất từ bi, đều có thể tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng phúc huệ. Các vị thuộc bộ Minh Vương chủ yếu hộ trì Phật pháp, đều có đại uy năng của Kim Cang hàng phục. Các vị thuộc bộ Thiên phần lớn đều là cầu như ý cát tường. Còn các vị thuộc bộ Quyến thuộc, mỗi vị đều có bản thệ riêng, chỉ cần tu trì theo bản thệ của các ngài, đều có thể đạt được thành tựu Yết Ma tương ứng.

Pháp Yết Ma rất nhiều, nhưng hành giả cần biết một mà suy ra ba, phải biết vận dụng linh hoạt, tam mật hợp nhất, thành tâm tu trì, nhất định sẽ cảm ứng nhanh chóng, đây chính là cảnh giới chân thật của Chân Phật Mật Pháp.


### 25. Ngũ Đại Kim Cang pháp


Pháp Ngũ Đại Kim Cang này là cấp độ thứ tư trong việc tu tập Mật pháp.
Tôi cho rằng Phật pháp vốn bình đẳng, bất kì pháp nào cũng có thể kiến tính, tức là đều có thể thành Phật. Nhưng trong quá trình tu tập, có những pháp đơn giản hơn và có những pháp thâm sâu hơn. Ngũ Đại Kim Cang pháp là đại pháp thâm sâu hơn, không phải là phải tu cả năm pháp Kim Cang, mà chỉ cần học được một trong những pháp Kim Cang đó, tu đến tương ứng, thì việc thành Phật không còn nghi ngờ gì nữa.

Năm đại pháp Kim Cang của Mật tông Tây Tạng là: Hỷ Kim Cang, Thượng Lạc Kim Cang, Uế Tích Kim Cang, Thời Luân Kim Cang, Đại Uy Đức Kim Cang.

Năm đại pháp Kim Cang của Đông mật Nhật Bản là:
Trung ương là Đại Thánh Bất Động Minh Vương.
Phương Đông là Hàng Tam Thế Minh Vương.
Phương Nam là Quân Đồ Lợi Dạ Xoa Minh Vương.
Phương Tây là Đại Uy Đức Minh Vương.
Phương Bắc là Kim Cang Dạ Xoa Minh Vương.

Pháp Ngũ Đại Kim Cang do Mật giáo Trung Quốc-Đài Loan truyền lại, chỉ khác với Đông Mật ở một điểm: Kim Cang Dạ Xoa Minh Vương ở phương Bắc được thay bằng Ô Sắt Sa Ma Minh Vương. Ô Sắt Sa Ma Minh Vương chính là Uế Tích Kim Cang.

Năm vị Đại Kim Cang Minh Vương này, thực chất là thân phẫn nộ biến hóa từ Đại Nhật Như Lai, A Súc Phật, Bảo Sinh Phật, A Di Đà Phật và Bất Không Thành Tựu Phật. Năm vị Phật hóa thân thành năm Đại Kim Cang. Năm Đại Kim Cang này hóa thân để hộ trì Tam Bảo, hàng phục quần ma và giáo hóa chúng sinh, ý nghĩa vô cùng quan trọng, vì vậy còn được gọi là Giáo Lệnh Luân hóa thân.

Liên Sinh Hoạt Phật nói: "Thực ra, khi tu tập Chân Phật Mật Pháp đến cấp độ thứ tư, không chỉ giới hạn ở ngũ Đại Kim Cang pháp là hóa thân của Ngũ Phương Phật. Liên Sinh Hoạt Phật còn biết nhiều pháp Kim Cang khác như Ngũ Đại Lực Hống Minh Vương, Ái Nhiễm Minh Vương, Câu Lợi Ca La Minh Vương, Khổng Tước Đại Minh Vương, Mã Đầu Minh Vương, Vô Năng Thắng Minh Vương, Đại Nguyên Soái Minh Vương, Thắng Tam Thế Minh Vương, Bộ Trịch Minh Vương, v.v…"

Tu tập pháp Kim Cang Minh Vương thực chất cũng tương đương với tu tập Phật, bởi vì Kim Cang Minh Vương vẫn là hóa thân của Phật. Chỉ là hình tượng của ngài trông oai vũ, đáng sợ và trang nghiêm, tượng trưng cho sự phẫn nộ vô cùng, hoàn toàn dùng trí huệ quang minh để hàng phục tất cả ác ma và chướng ngại.

Kim Cang Minh Vương hiện thân phẫn nộ chính là để ủng hộ Tam Bảo.

Tôi cảm nhận sâu sắc rằng, trong ba nghìn đại thiên thế giới này, không chỉ là thế giới của con người, mà ngay cả thế giới của chư thiên, vẫn còn rất nhiều người hoặc thiên thần có tâm kiêu mạn và cố chấp, như các vị ở cõi trời Ma Hê Thủ La, Đại Tự Tại Thiên, có nhiều thiên thần kiêu mạn không chịu tuân theo lệnh của Phật. Vì vậy, để hoằng dương Phật pháp, không thể không biến từ bi hỷ xả thành thân Kim Cang oai vũ, phẫn nộ để thi hành giáo lệnh của Phật pháp.

Chính vì Thiên Ma gây chướng ngại, vì để điều phục bầy ma mà chư Phật ba đời mới hóa hiện thành tướng Kim Cang phẫn nộ. Kim Cang phẫn nộ này chính là để hàng phục bốn loại ma trên thế gian, với pháp tướng hùng mạnh oai vệ có thể khiến các loài quỷ dữ yêu ma thấy mà sinh lòng sợ hãi, trói buộc tất cả những người hoặc thiên ma ngoan cố, thiêu sạch mọi uế vật hóa thành thanh tịnh. Oai lực của pháp Kim Cang Minh Vương này đều rất phi thường.

Đệ tử Chân Phật Tông nếu tu tập Ngũ Đại Kim Cang pháp sẽ được Kim Cang Minh Vương ủng hộ. Nếu có thể mỗi ngày tu tập một lần Kim Cang pháp, Kim Cang Minh Vương sẽ hiển hiện kim thân, thề nguyện ủng hộ hành giả, không rời khỏi bên cạnh hành giả, bảo vệ tất cả môi trường sống của hành giả.

Thậm chí tất cả những suy nghĩ của hành giả, Kim Cang Minh Vương đều biết đều thấy rõ, có thể soi thấu những ý nghĩ của hành giả để hành động, âm thầm giúp hành giả đạt được thành tựu lớn, đây chính là đại công lực của Kim Cang Minh Vương. Khi hành giả tự thân có thể đi vào kim cang tâm, tức là biến thân thành Kim Cang Minh Vương, thì sự biến hóa của năm Đại Kim Cang, tám Đại Minh Vương chính là hóa thân khác của năm Phật tám Bồ Tát, tu trì đến tương ứng, thành Phật là điều không còn nghi ngờ gì nữa.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng: "Đệ tử Chân Phật Tông, khi đã tu tập đến cấp độ thứ tư, nếu bản thể tự tính của mình có kim cang tâm, kim cang tính, thì nên chọn một pháp Kim Cang Minh Vương để tu trì, nhằm hộ trì và thực hành giáo lệnh Phật pháp, cũng chính là hộ trì Chân Phật Tông. Nếu là đệ tử có tâm tính từ bi, hãy chọn một pháp để tu, sẽ có thể hàng phục được ngã si, ngã kiến, ngã mạn, ngã ái của chính mình."

Tôi ban đầu dự định công bố tất cả các pháp Kim Cang trong cuốn sách này, nhưng, thực tế việc công bố tất cả các pháp Kim Cang trên sách không mang lại lợi ích lớn cho người học thông thường, và cuốn sách này cũng không thể chứa đựng hết tất cả, vì vậy chỉ có thể tinh giản, tôi đem những pháp Kim Cang Minh Vương đã từng đăng trong các cuốn sách tâm linh khác của tôi, viết lại chi tiết trong cuốn sách này. Những pháp Kim Cang Minh Vương này là những pháp được Chân Phật Tông coi trọng hơn, việc có thể một lần nữa trình bày tỉ mỉ về khẩu quyết tâm yếu là điều vô cùng quý giá.

Tôi nói rằng, trong Chân Phật Mật Pháp, khi tu tập đến mức tương ứng với năm Đại Kim Cang pháp, hành giả đã có đại pháp lực, có thể hàng phục tất cả ác ma và người tà ác, toàn thân tỏa sáng, mọi việc như ý cát tường, với đức hạnh và oai lực vĩ đại này, có thể thành tựu tất cả pháp sự. Đệ tử đạt đến cảnh giới này có thể được liệt vào hàng Thượng sư, là Thượng sư cấp một của Chân Phật Tông, Thượng sư của Chân Phật Tông được phân thành sáu cấp.


### 26. Bất Động Minh Vương Kim Cang pháp


Bất Động Minh Vương Kim Cang là một trong các vị Kim Cang Minh Vương được Chân Phật Tông coi trọng nhất, cũng là đại pháp của Chân Phật Mật Pháp. Pháp này phải nhận quán đảnh đặc biệt mới có thể tu trì.

Nay tôi thuật lại chi tiết pháp Bất Động Minh Vương Kim Cang như sau:

1. Nhập đàn, niệm chú thanh tịnh.

2. Niệm chú triệu thỉnh, triệu thỉnh các vị Hộ pháp. 

Đặc biệt triệu thỉnh Bất Động Minh Vương:
Upala hoa hiện Kim Cang
Khắp trời lửa Hum hóa linh quang
Thiên kiếm giơ lên ma chém đứt
Trừ chướng ngại đến chẳng nề hà
Tối thắng bất động hàng phục lực
Uế tà mười phương đốt sạch bay
Thánh Tôn không cần pháp điều hòa
Quảng đại viên mãn cõi cát tường.
Nam mô Trung Ương Đại Thánh Bất Động Minh Vương Tôn Giả. (3 lần)

3. Chân Phật đại lễ bái pháp.

4. Chân Phật đại cúng dường pháp. (có thể ngồi)

5. Chân Phật tứ quy y pháp. 

Niệm 3 biến chú tứ quy y: Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê.

6. Mặc giáp hộ thân.

7. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (1 - 3 biến)

8. Kết ấn:

Bất động kiếm ấn: ngón trỏ và ngón giữa tay phải giơ thẳng lên không, ngón cái, ngón áp út và ngón út gập vào trong lòng bàn tay, ngón cái đè lên ngón út và áp út. Sau đó, ngón trỏ và ngón giữa tay trái cũng giơ thẳng lên không, ngón cái, ngón út và áp út còn lại bọc lấy ngón trỏ và ngón giữa tay phải. Hai lòng bàn tay quay vào nhau, đặt trước ngực. Đây là bất động kiếm ấn của Bất Động Minh Vương, có đại thần uy.

Mặt của hành giả Mật tông, môi dưới bặm lên môi trên, hai mắt liếc xéo, hiện hình dáng uy nộ.

9. Quán tưởng: 

Trước tiên tưởng niệm trên hoa sen trong tim mình có một chữ Hum (tiếng Phạn), chữ Hum trong tim mình hóa thành Bất Động Minh Vương. Bất Động Minh Vương có một mắt trợn, một mắt hé, miệng ngậm chặt, lộ răng nanh, răng trên chúc xuống dưới, răng dưới chĩa lên trên, vẻ mặt phẫn nộ, quanh thân bốc lửa. Tay phải ngài cầm thanh kiếm giơ lên không, tay trái cầm chặt sợi dây thừng kim cang, hiện ra trong lửa của chữ Hum, tướng ngồi trên tảng đá.

Nghĩ đến ánh lửa xung quanh Bất Động Minh Vương trong không trung và ánh lửa từ tâm mình chạm vào nhau. Cũng tức là lửa kim cang của tự thân và lửa kim cang của Bất Động Minh Vương không hai không khác. Tự thân biến hóa thành Bất Động Kim Cang Minh Vương.

(Tâm yếu làm pháp) Nếu là làm pháp hàng phục thì lập tức nghĩ đến tà ma ở phía trước bên phải. Hành giả Mật tông giơ cao bất động kiếm ấn quá đầu, tay trái nắm chặt tay phải, tay phải dùng sức tuốt bảo kiếm ra, cần dùng đại lực để khua kiếm, đâm về phía tà ma. Hét to một tiếng "Pan". Cách làm này sẽ đâm chết hoặc quét sạch tà ma, bầy ma sợ hãi mà tháo chạy. Phải có đại uy thần lực.

10. Trì Bất Động Minh Vương Kim Cang tâm chú. (Tay chạm vào trán và giải ấn, lần chuỗi hạt.)

"Ôm. A-chưa-la-ka tan-pu-thua-chư si-ka. Hùm hùm. Khưa-yi khưa-yi. Y-than-sê-li. Ma-ha-li-pi sha-sư-cung. Chi-li pu-cung." 108 biến hoặc nhiều hơn.

11. Cửu tiết Phật phong và pháp nội hỏa minh điểm.

12. Nhập định. 

Hỏa quang của Bất Động Minh Vương cháy khắp toàn thân mình, chính mình ở trong lửa, không cảm thấy nóng mà cảm thấy mát mẻ. Không còn suy nghĩ, nhập vào Tam ma địa của Bất Động Tôn Giả. 

13. Xuất định tụng tán:

Người thấy thân ta phát bồ đề tâm
Người nghe tên ta đoạn ác tu thiện
Người nghe ta nói đắc đại trí huệ
Người biết tâm ta tức thân thành Phật. 
Nam mô Trung Ương Đại Thánh Bất Động Minh Vương Tôn Giả Ma Ha Tát. (3 lần)

1. Hồi hướng:

Bát đại đồng tử là quyến thuộc
Uy lực kim cang mãi không ngừng
Hàng phục tứ ma tham sân si
Hộ trì Phật pháp cứu tam đồ.

15. Đại lễ bái Phật. Rời khỏi đàn. 

Cát tường viên mãn.

🌟

Liên Sinh Hoạt Phật nói: "Bất Động Minh Vương Tôn Giả là thân phẫn nộ do Đại Nhật Như Lai biến hóa ra khi hàng phục tất cả ác ma, vừa là một vị tôn giả biến hóa của Trừ Cái Chướng Bồ Tát. Chiếm vị trí trung tâm trong số Ngũ Đại Minh Vương (theo Đông mật), là vị đứng đầu trong số Ngũ Đại Minh Vương của Đông mật. Hình tượng Bất Động Minh Vương thường thấy là hai tay, thân màu xanh đen, hai mắt trợn và xếch, nghiến chặt răng, tay phải giơ kiếm, tay trái cầm sợi thừng kim cang, xung quanh thân xuất hiện ngọn lửa màu đỏ cháy hừng hực, ngồi trên tảng đá to, dũng mãnh cường tráng."

Kiếm kim cang của tay phải không những có thể đâm chết tà ma, mà còn có thể đoạn trừ phiền não và ngu si của chính mình.

Thừng kim cang của tay trái có thể trói chặt tất cả ác quỷ, và còn có thể trói chặt tâm vượn ý mã của chính hành giả.

Lửa kim cang xung quanh thân có thể đốt hết tất cả ô uế, hơn nữa còn có thể đốt sạch nghiệp chướng của hành giả.

Mật hiệu của Bất Động Minh Vương Tôn Giả là Thường Trụ Kim Cang, trong mandala Thai tạng giới đứng ở vị trí đầu mút trái của viện Trì Minh.

Bất Động Minh Vương Tôn Giả có tám đại đồng tử làm quyến thuộc, chính là Huệ Quang Đồng Tử, Huệ Thiện Đồng Tử, A Nậu Đa Đồng Tử, Chỉ Đức Đồng Tử, Điểu Câu Bà Nga Đồng Tử, Thanh Tịnh Tì Kheo Đồng Tử, Quan Yết La Đồng Tử, Chế Tra Ca Đồng Tử.

Muốn hiểu rõ hơn về Bất Động Minh Vương Tôn Giả, có thể đọc Thắng Quân Nghi Quỹ, Đại Nhật Kinh, Để Lý Tam Muội Da Bất Động Tôn Uy Nộ Vương Sứ Giả Niệm Tụng Pháp, Bất Động Sứ Giả Đà-la-ni Bí Mật Pháp, Thập Quyển Sao, Giác Thiền Sao, v.v… 

Bí quyết tu tập pháp Bất Động Minh Vương Kim Cang là:

Thủ ấn — Bất Động Minh Vương kiếm ấn phải kết thẳng và có lực, có dáng vẻ rất uy võ, tay trái nắm lại phải cực kì có lực, tay phải tuốt kiếm ra phải uy mãnh, tinh thần hăng hái đâm về phía ác ma, phối hợp với chú âm là "Pan". Âm "Pan" này chính là âm sát thương và phá hoại. Rút kiếm có lực, chú âm uy võ, chính là bí quyết, bầy ma sẽ sợ mất vía.

Quán tưởng — đại hỏa quang của Bất Động Minh Vương Tôn Giả và đại hỏa quang trong tim mình hợp nhất với nhau, tự thân biến thành Bất Động Minh Vương, đây là quán tưởng hợp nhất.

Quán tưởng tà ma ở bên phải, hoặc là kẻ thù ở bên phải, là cách quán tưởng khi tác pháp. Bất động kiếm ấn lúc này phải giơ cao quá đầu, rút kiếm ra phải có lực. Liên Sinh Hoạt Phật vẫn cho rằng đối phó với kẻ địch, hàng phục oan địch, dùng kiếm Bất Động Minh Vương có sức sát thương cực lớn, kẻ địch cũng thật sự đáng thương, vẫn nên nhẫn nhịn điều mà người khác không thể nhịn, mang lòng từ bi, nhường cho kẻ địch một con đường sống. Phải ngẫm nghĩ năm lần bảy lượt khi làm pháp này, đừng hành động không suy nghĩ.

Liên Sinh Hoạt Phật nói: "Kẻ địch làm ác, tự sẽ có báo ứng trời định, chỉ là đến sớm hay đến muộn, phúc họ hưởng hết rồi thì họa sẽ đến lập tức, không cần phiền đến hành giả Mật tông dùng đến thành tựu của pháp hàng phục."

Trì chú — Bất Động Minh Vương Kim Cang tâm chú, việc trì niệm phải từng chữ từng chữ rõ ràng, từng chữ phải ngắn và đanh, có lực, là chú âm dạng uy võ. Nhất là chữ "Pan" cuối cùng, phải giống như tiếng gầm lên giận dữ, như tiếng sư tử gầm, khiến tà ma đổ sụp và tan tác. 

Có hai vị Bất Động Minh Vương Kim Cang trong Chân Phật Mật Uyển, một vị là được chuyển từ Tây Tạng đến Nepal, từ Nepal lại đến Hồng Kông, từ Hồng Kông lại vận chuyển đến nước Mỹ. Vị kia là do con trai của nữ sĩ La Ngọc Cầm tận tay điêu khắc và tặng cho tôi thờ cúng. 

Viết một bài kệ, ca ngợi rằng:
*Hỏa quang viên minh như nắng sớm
Ngồi ngay bàn thạch chói uy nghiêm
Trung ương Minh Vương hộ Chân Phật
Bừng lên bóng tối hóa lưu ly. *


### 27. Uế Tích Kim Cang pháp


Pháp Uế Tích Kim Cang là một trong những đại pháp được Chân Phật Tông trân quý.
Sau đây xin trình bày chi tiết về pháp tu trì Uế Tích Kim Cang:

Hành giả Mật tông tu trì pháp này trước tiên dùng một khúc gỗ trầm hương, điêu khắc thành hình một chiếc chày kim cang, nửa trên của chày kim cang gắn mặt người, nửa dưới cũng gắn mặt người, đặt chày kim cang trong tháp Phật, cúng dường tu pháp.

1. Nhập đàn tụng chú thanh tịnh.

2. Tụng chú triệu thỉnh. Triệu thỉnh chư Phật Bồ Tát và chư vị Hộ pháp. Đặc biệt triệu thỉnh Uế Tích Kim Cang.

Nhai hết mọi bất tịnh là thần thông.
Chân võ lực sĩ đại uy hàng phục chúng ma.
Đại quyền thần vương công đức lực vô thượng.
Uế Tích Kim Cang nhất tâm tam phụng thỉnh.

3. Chân Phật đại lễ bái pháp.

4. Chân Phật đại cúng dường pháp. (có thể ngồi)

5. Chân Phật tứ quy y pháp. 

Niệm 3 biến chú tứ quy y: Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê.

6. Mặc giáp hộ thân.

7. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (1 - 3 biến)

8. Kết ấn:

Ấn căn bản Uế Tích Kim Cang — Đầu tiên uốn ngón áp út và ngón út tay phải vào lòng bàn tay, dùng ngón cái đè lên. Sau đó đưa ngón áp út và ngón út tay trái từ phía sau luồn qua "vòng tròn tạo bởi ngón áp út, ngón út và ngón cái tay phải", rồi dùng ngón cái tay trái đè lên. Ngón giữa của hai tay thẳng đứng chạm vào nhau, ngón trỏ của hai tay duỗi thẳng chếch lên, là thành ấn. (đặt ấn trước ngực)

Ấn công đức bản Thích Ca — Ngón cái, ngón giữa, và ngón út, ba ngón này đều dựng thẳng lên, chạm vào nhau, ngón trỏ và ngón áp út đều cong vào lòng bàn tay, hai tay chắp lại, là thành ấn. (đặt ấn trước ngực)

9. Quán tưởng: 

Trước tiên quán tưởng trong hư không, hiện ra một vị Phật Thích Ca Mâu Ni, từ trái tim ngài phóng ra ánh sáng màu xanh lam rực rỡ, hướng lên trên đến chính giữa đỉnh đầu. Trong ánh sáng xanh lam rực rỡ đó biến hóa thành Uế Tích Kim Cang Đại Quyền Thần Vương Phật với ba mặt, tám cánh tay, chín mắt. Tóc màu đỏ, thân màu xanh lam, tay màu đen, mặt màu xanh lục, tướng phẫn nộ. (Hình tướng có thể tham khảo pháp tướng Uế Tích Kim Cang Đại Quyền Thần Vương Phật do Chân Phật Tông ấn hành.)

Tiếp theo quán tưởng, hành giả Mật tông từ trái tim mình phóng ra ánh sáng xanh lam lớn, và trên không trung, Uế Tích Kim Cang Đại Quyền Thần Vương Phật, từ trái tim ngài cũng phóng ra ánh sáng xanh lam lớn chiếu xuống, hai luồng ánh sáng gặp nhau giữa không trung, hòa nhập vào nhau. Hành giả Mật tông phát ra một tiếng "Ầm", biến hóa thành Uế Tích Kim Cang Đại Quyền Thần Vương Phật ba đầu tám tay. Hành giả và Kim Cang không hai không khác.

10. Trì chú Uế Tích Kim Cang: (buông ấn, lần chuỗi hạt)

Trước tiên niệm: "Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Nam mô Hóa Thân Thích Ca Mâu Ni Phật, Nam mô Uế Tích Kim Cang Đại Quyền Thần Vương Phật." (10 lần)
Thần chú: "Ôm chu-ru tô-lan hùm rưa." 108 lần hoặc nhiều hơn.

11. Cửu tiết Phật phong và nội hỏa minh điểm.

12. Nhập định. Nhập Uế Tích Kim Cang Đại Quyền Thần Vương Phật Tam ma địa.

1. Xuất định tụng tán:

Là đại Kim Cang hiện mười phương
Hóa giải tai họa thành cát tường
Trừ hết ô uế tự phóng quang
Vết tích tà ma đều quét sạch.

1. Hồi hướng:

Nguyện tu pháp Uế Tích. Thực hành theo lời thề. Đạt đến cảnh tương ứng. Bảo hộ khắp chúng sinh.

1. Đại lễ bái Phật. Xuất đàn.

Cát tường viên mãn.

🌟

Liên Sinh Hoạt Phật nói: "Đối với pháp tu trì Uế Tích Kim Cang, để đạt được tương ứng, thường ngày cần tu pháp cúng dường, và phải trì niệm chú Uế Tích Kim Cang đủ 300.000 biến. Sau đó, chọn đêm trăng tròn (ngày rằm âm lịch), lấy chày kim cang từ trong tháp Phật ra, dùng một chiếc bát đồng thanh tịnh, đổ đầy nước sạch, đặt chày kim cang ở giữa bát, dâng lên các phẩm vật cúng dường tốt nhất, đốt loại hương thơm nhất, rồi trì chú suốt đêm. Lúc này, hành giả có thể thấy chày kim cang và nước thanh tịnh phát ra ánh sáng. Hoặc chày kim cang bắt đầu biến hóa thành các vật khác hoặc Thần hoặc Phật. Tiếp tục trì chú, hành giả có thể thấy chày kim cang bay lên khỏi mặt nước, cách mặt nước ba thước, năm thước, bảy thước cho đến một trượng, v.v… Lúc này, hành giả tu pháp Uế Tích Kim Cang cần lập tức đảnh lễ sám hối tất cả tội nghiệp trong quá khứ, phát tâm bồ đề rộng lớn, nguyện tất cả đều được như ý, thực hành tất cả pháp đều được thành tựu, và phát nguyện độ chúng sinh."

Chày kim cang bay lên khỏi mặt nước chính là dấu hiệu tương ứng trong tu pháp, đáng mừng đáng vui, có hy vọng thành Phật, chắc chắn sẽ thành tựu.
Cầu mong tất cả đều được cát tường như ý, tất cả đều có thể thực hiện được, đây là khoảnh khắc vĩ đại nhất.

Phương pháp tu trì Uế Tích Kim Cang, chỉ cần để ánh sáng xanh lam chạm đến người hoặc vật, khi hồi hướng đặc biệt cầu nguyện nói rõ, sẽ có kết quả xuất hiện, điểm này chính là bí mật trong bí mật của phương pháp tu trì.

Uế Tích Kim Cang, tên Phạn ngữ là Ucchusma, có rất nhiều tên gọi khác nhau, như Hỏa Đầu Kim Cang, Bất Hoại Kim Cang, Bất Tịnh Kim Cang, Thọ Xúc Kim Cang v.v...

Uế Tích Kim Cang xuất phát từ Kinh Uế Tích Kim Cang, xuất phát từ Kinh Lăng Nghiêm, xuất phát từ Kinh Ucchusma Minh Vương. Công đức của ngài vô cùng lớn lao, có thể chữa bệnh tiêu tai, được mọi người kính mến, ngăn ngừa mọi tai nạn xảy ra, đạt được phúc báo lớn, hàng phục nhiều oán địch, quét sạch tất cả vật bất tịnh, tất cả tà ma ác quỷ không dám đến xâm phạm.

Uế Tích Kim Cang là khí dương cương, nên có một công đức đặc biệt, đó là chuyển thai nữ thành thai nam, tu pháp Uế Tích Kim Cang, cầu con trai sẽ được con trai, bởi vì có khí dương cương tồn tại, khí âm không thể xâm nhập, nên chắc chắn là con trai. Pháp này tôi đã từng viết trong cuốn sách "Mật Tông Yết Ma Pháp".

Uế Tích Kim Cang vốn là từ tâm của Phật Thích Ca Mâu Ni, hóa sinh từ ánh sáng xoay trái. Còn có một đoạn ghi chép là:

"Ucchusma bèn ở trước Như Lai chắp tay đảnh lễ dưới chân Phật và bạch Phật rằng, con thường nhớ trong kiếp xa xưa, bản tính đa tham dục, có một vị Phật xuất thế, tên là Không Vương, nói rằng người đa dâm sẽ thành đống lửa dữ dội, dạy con quán sát khắp thân thể tứ chi, các luồng khí lạnh nóng, ánh sáng thần kỳ ngưng tụ bên trong, chuyển hóa tâm đa dâm thành ngọn lửa trí huệ, chư Phật đều gọi con là Hỏa Đầu. Con nhờ sức tam muội hỏa quang mà thành A La Hán, tâm phát đại nguyện, khi chư Phật thành đạo, con làm lực sĩ đích thân hàng phục ma oán."

Từ đoạn ghi chép này, chúng ta có thể hiểu rằng, lửa tà dâm nếu được tu luyện, có thể biến thành hỏa quang tam muội của trí huệ, đó chính là ý nghĩa của tu đạo, biến ngọn lửa dục vốn có thành ngọn lửa trí huệ, Uế Tích được chứng đắc, vốn là nhờ nội tu minh điểm nội hỏa mà nhập vào Tam ma địa hỏa quang tam muội.

Ở phía bên phải Chân Phật Mật Uyển, ở vị trí cao nhất là Mandala Kim Cương Giới, tiếp theo là Uế Tích Kim Cang Đại Quyền Thần Vương Phật. Uế Tích Kim Cang Đại Quyền Thần Vương Phật trong Chân Phật Tông là vị thần Kim Cang được tôn quý nhất, khi Liên Sinh Hoạt Phật truyền pháp Kim Cang cho đệ tử, Uế Tích Kim Cang là vị đầu tiên.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, những đệ tử tu tập pháp Kim Cang đạt được tương ứng mới đủ tư cách trở thành Thượng sư của Chân Phật Tông, vì đã tương ứng với pháp Kim Cang thì chắc chắn sẽ thành Phật không còn nghi ngờ gì. 
Viết một bài kệ:
*Tinh thông hỏa quang sớm nổi danh,
Trong Chân Phật Tông trấn đạo tràng;
Công đức trong đó thật khó đếm,
Tam muội tỏa chiếu ánh hào quang.*


### 28. Thượng Lạc Kim Cang đại pháp


Thượng Lạc Kim Cang đại pháp là một trong những đại pháp mà Chân Phật Tông coi trọng.

Pháp này vốn là đại pháp trân quý nhất của Mật tông Bạch giáo, pháp này tu trì rất phức tạp, phải được Thượng sư giải thích tâm yếu khẩu quyết rất rõ ràng mới có thể tu trì.

Thượng Lạc Kim Cang đại pháp vốn được viết trong cuốn sách "Linh Tiên Kim Cang Đại Pháp", bây giờ tôi chỉnh lý lại từ đầu. Xin ghi rõ trình tự tu pháp như sau:

1. Nhập đàn niệm chú thanh tịnh.

2. Chú triệu thỉnh. Triệu thỉnh chư vị Hộ pháp.

3. Chân Phật đại lễ bái.

4. Chân Phật đại cúng dường. (có thể ngồi yên tại pháp tọa)

5. Chân Phật tứ quy y. 
Niệm chú tứ quy y 3 biến: Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê.
Sau đó niệm thêm:
Quy y Mật giáo Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư, Mật Hành Tôn Giả Tổng Nhiếp Tam Bảo Liên Sinh Hoạt Phật.
Quy y chư Phật ngũ luân tổng thể, vũ trụ bản thức.
Quy y Tam Tạng Thập Nhị Bộ chính pháp.
Quy y tăng già thánh giả tự cổ chí kim đã chứng Bồ Tát nhiều như hư không giới.

6. Mặc giáp hộ thân.

7. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (1~3 biến). 

8. Kết ấn:
Ấn giao bão [vòng tay ôm] của Thượng Lạc Kim Cang: tức là tay trái tay phải ôm vào nhau, hai ngón tay cái đặt song song với nhau, ngón trỏ tay phải, ngón trỏ tay trái, ngón giữa tay phải, ngón giữa tay trái, ngón áp út tay phải, ngón áp út tay trái, ngón út tay phải, ngón út tay trái theo thứ tự đan vào nhau ôm chắc, thế là thành ấn. Giữ ấn trước ngực.

9. Quán tưởng:
Đầu tiên quán không.
Chú quán Không: "Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng.”
Tưởng tượng trong hư không có chữ "Pang" hiện ra ánh sáng, xoay tròn hóa thành hoa sen tám cánh ngũ sắc tuyệt đẹp, hoa sen hiện ra nhật luân, trên nhật luân ở bên phải hiện ra một vị Phật Mẫu, bên trái hiện ra tướng uy mãnh một vị Đại Tự Tại Thiên. 
Nhật luân lại hiện ra chữ "Hum" phóng tỏa ánh sáng ngũ sắc, triệu thỉnh sự gia trì của chư Phật mười phương, ánh sáng ngũ sắc của chữ "Hum" và ánh sáng công đức trí huệ của chư Phật cùng đi vào trong chữ "Hum", biến thành một chiếc chày kim cang năm chấu. Trung tâm của chày kim cang năm chấu này lại có một chữ "Hum" phóng tỏa ánh sáng chiếu khắp toàn thế giới, tất cả chúng sinh đều biến thành hình tượng các vị phẫn nộ, sau đó chúng sinh cũng đều tiến vào trong ánh sáng của chữ "Hum".
(Liên Sinh Hoạt Phật nói: quán tưởng này là dựa trên mandala của Thượng Lạc Kim Cang mà biến hóa ra. Ánh sáng công đức của chư Phật tiến vào trong chữ "Hum", chúng sinh cũng đi vào trong chữ "Hum", biểu thị Phật tức là chúng sinh, chúng sinh tức là Phật, chúng sinh đều có Phật tính, ở đây có sự tồn tại của ý vị đồng thể đại bi.)

Sau đó quán tưởng chữ "Hum" biến thành Thượng Lạc Kim Cang. Màu sắc của Thượng Lạc Kim Cang là màu xanh da trời, một đầu hai tay, tay trái cầm chuông kim cang, tay phải cầm chày kim cang, hai tay đan vào nhau thành vòng ôm. Đầu của Thượng Lạc Kim Cang là buộc tóc, trên tóc có cắm một cái chày Yết ma, chày này bên trái có nửa nguyệt luân, được trang trí thêm bằng mani châu báu, đầu của Thượng Lạc Kim Cang lại đội mũ năm đầu lâu, trước ngực ngài treo năm đầu người còn nhỏ máu tươi, tai đeo khuyên tai, tay đeo vòng tay, cổ và ngực đều đeo chuỗi xương người. Xung quanh eo ngài quấn váy da hổ, chân phải duỗi ra trong bộ dạng đá, chân trái dẫm lên Đại Tự Tại. Mặt có hình dạng phẫn nộ.
(Đây là hình tượng của Thượng Lạc Kim Cang trong mandala Tạng mật.)

Sau đó quán tưởng Phật Mẫu, Phật Mẫu có một đầu hai tay, tóc nửa búi nửa xõa, đầu cũng đội mũ năm đầu lâu, cổ cũng đeo năm mươi cái đầu người còn nhỏ máu tươi, tay phải cầm một con dao, tựa vào vai trái của Thượng Lạc Kim Cang, tay trái cầm sọ người đựng đầy máu tươi đổ vào trong miệng của Thượng Lạc Kim Cang, cúng cho Thượng Lạc Kim Cang uống, chân trái cũng để tư thế đá, chân phải cong lại đặt trên eo của Thượng Lạc Kim Cang. Hai vị cùng trụ trong ngọn lửa trí huệ quang minh bốc cháy. Quanh thân Thượng Lạc Kim Cang và Phật Mẫu đều dùng chuỗi vòng bằng xương người để làm trang nghiêm cho mình. Thượng Lạc Kim Cang và Phật Mẫu đều hiện ba con mắt uy quang, tướng phẫn nộ. 
(Đây là hình tượng Phật Mẫu trong mandala Tạng mật.)

Sau đó quán tưởng bốn phương có hoa sen bốn cánh, trên mỗi bông hoa sen lại hiện lên nhật luân, trên nhật luân hiện lên thi thể người chết, trên thi thể người chết này có Không Hành Mẫu đứng. Đông phương là Trát Cách Ni Không Hành Mẫu màu xanh lam nhạt, bắc phương là Lạp Mỹ Không Hành Mẫu màu lục, tây phương là Kiên Giáp Duyên Hách Không Hành Mẫu màu đỏ, nam phương là Nhữ Bỉ Ni Không Hành Mẫu màu vàng. Tay trái các vị đều cầm thiên linh cái đựng đầy máu tươi giữ trước ngực, cổ tay trái ôm lấy kachangka, tay phải cầm dao giơ lên, chân phải duỗi chân trái cong, tư thế giống như Thượng Lạc Kim Cang, ba con mắt tỏa uy quang, tướng phẫn nộ.
(Đây là hình tượng của Thượng Lạc Kim Cang, Tứ Phương Không Hành Mẫu trong mandala Tạng mật.)

Sau đó quán tưởng trong tim của Thượng Lạc Kim Cang có hoa sen tám cánh ngũ sắc, trên nguyệt luân, ở trung tâm chày Yết Ma có nhật luân, trên nhật luân hiện ra chữ "Hum" màu lam, xung quanh chú tự này có ánh sáng. Trong cung tọa pháp hình tam giác trong thân Phật Mẫu hiện ra chữ "Pang" màu đỏ, xung quanh cũng có ánh sáng của chú tự, nhật luân hoa sen trong tim Đông phương Trát Cách Ni Không Hành Mẫu màu lam nhạt là chữ "Mang", Bắc phương Lạp Mỹ Không Hành Mẫu màu lục là chữ "Tang", Tây phương Kiên Giáp Duyên Hách Không Hành Mẫu màu đỏ là chữ "Pang", Nam phương Nhữ Bỉ Ni Không Hành Mẫu màu vàng là chữ "Lang".
(Những chữ này đều là chữ Phạn.)

Sau cùng quán tưởng chữ "Hum" trong tâm của Thượng Lạc Kim Cang phóng tỏa ánh sáng, triệu thỉnh chư Phật mười phương và Thắng Lạc Phật Phụ Phật Mẫu cùng giáng lâm, những ánh sáng này từ đỉnh đầu đi vào trong thân tâm của người tu trì.
(Ánh sáng của Thượng Lạc Kim Cang làm đại quán đảnh.)
(Ngực của Thượng Lạc Kim Cang treo năm mươi chiếc đầu người máu tươi biểu thị năm mươi chữ cái tiếng Phạn, dùng chuỗi đeo bằng xương người biểu thị lục độ viên mãn, mũ năm đầu lâu biểu thị thể tính của Ngũ Phật, máu tươi biểu thị cam lộ, thiên linh cái biểu thị bảo bình, những thứ này đều có ý nghĩa tượng trưng, người học pháp nên biết.)
Quán tưởng chữ Phạn:


![image](/img/img_832f3b602d98745bb89aab1abcb83ae6.png)


10. Trì chú: (buông thủ ấn, lần chuỗi hạt)
Thượng Lạc Kim Cang tâm chú: "Ôm sưa ha-ha hùm hùm pây." 108 biến hoặc nhiều hơn.
Phật Mẫu tâm chú: "Ôm pan-cha mai-rưa-cha yê hùm hùm pai." 108 biến hoặc nhiều hơn.

11. Cửu tiết Phật phong hoặc tĩnh lặng quán tưởng:
Đầu tiên quán tưởng tề luân của chính mình có hoa sen bốn cánh, hoa sen này màu đỏ, trong hoa hiện ra một làn khói hương, trong làn khói hương xuất hiện chữ "Hum" màu lam đi lên từ mạch phải của ba mạch, rồi từ lỗ mũi phải đi ra ngoài, khi vào đến không trung thì hiện ra đàn thành của Thượng Lạc Kim Cang. Rồi Thượng Lạc Kim Cang lại phóng quang chiếu đến chúng sinh mười phương thế giới, tất cả chúng sinh nghiệp tội đều tiêu biến. Sau đó đàn thành của Thượng Lạc Kim Cang lại hóa thành chú tự ánh sáng, lại từ lỗ mũi trái đi vào mạch trái, sau đó đi vào trong hoa sen màu đỏ ở Tề luân, vận chuyển tuần hoàn như vậy bảy lần.
(Quán tưởng này có ý nghĩa giống như Cửu tiết Phật phong.)

12. Nội hỏa minh điểm và nhập Tam ma địa:
Đầu tiên chuyết hỏa đi lên, đến Tề luân, đốt cháy chú tự màu đỏ, sau đó đưa chuyết hỏa đi lên đến vùng tim, đốt cháy chú tự màu lam ở Tâm luân, sau đó lại đưa chuyết hỏa đi lên đến Hầu luân, đốt cháy chú tự màu đỏ ở Hầu luân, sau đó lại đưa chuyết hỏa đi lên đến Mi tâm luân, đốt cháy chú tự màu trắng. Lúc này chuyết hỏa đã cháy khắp toàn thân, đốt cháy tất cả tội chướng mà hành giả đã phạm phải từ vô thủy đến nay, toàn bộ đều thanh tịnh sạch sẽ. Lúc này ánh sáng của chư Phật mười phương thế giới lại trút vào trong thân hành giả, công đức trí huệ của chư Phật mười phương thế giới biến thành công đức trí huệ của chính mình, nước cam lộ từ đỉnh đầu đi vào, khiến thân tâm chính mình duy trì được trạng thái đại lạc vĩnh hằng. Nước cam lộ này đi thẳng đến Tề luân, sản sinh ra đại lạc vô hạn. Đây chính là đại tương ứng của Thượng Lạc Kim Cang đại pháp.
Tất cả quán Không, nhập Thượng Lạc Kim Cang Tam ma địa. (nhập định)

13. Xuất định, niệm chú gia trì: 
Đông Không Hành Mẫu tâm chú: "Ôm chia-cưa-yi-ni yê hùm hùm pây."
Bắc Không Hành Mẫu tâm chú: "Ôm la-mây hùm hùm pây."
Tây Không Hành Mẫu tâm chú: "Ôm chien-chia-lô-hai hùm hùm pây."
Nam Không Hành Mẫu tâm chú: "Ôm ru-pi-ni-yê hùm hùm pây."
Tâm chú của bốn Không Hành Mẫu, mỗi tâm chú trì 21 biến. (Tay lần chuỗi hạt.)

14. Tụng tán:

Bạch giáo chủ tôn Naropa.
Milarepa, Gampopa.
Hồng Quán Thánh Chủ Liên Sinh giả.
Các vị Thượng sư đại cát tường.
Tất cả chư Phật đại từ bi.
Cam lộ quán đảnh đại thượng lạc.
Tu trì Mật pháp không gián đoạn.
Từ đây chúng sinh đều thành Phật.
Kính lễ uy đức Thượng Lạc Tôn.
Thanh tịnh tự tại Kim Cang Vương.
Pháp duyên tối thắng đại thành tựu.
Tăng trưởng công được đẹp mỹ miều.

15. Hồi hướng:

Nguyện con mau đắc đại thành tựu.
Nhờ Thượng Lạc Tôn được an tường.
Phổ độ tứ sinh các hữu tình.
Cùng lên tối thượng cực lạc thổ.

16. Niệm Bách tự minh chú 3 biến.

17. Đại lễ bái Phật. Rời khỏi đàn thành.

Cát tường viên mãn.

Liên Sinh Hoạt Phật nói: "Chân Phật Tông coi trọng Thượng Lạc Kim Cang đại pháp, đại pháp kiểu này vốn không công khai. Nhưng Liên Sinh Hoạt Phật từ bi chúng sinh thiên hạ nên mới công bố để độ hóa và cứu giúp khắp nơi. Chúng sinh cần biết rằng, Chân Phật Tông là đại tông phái vô thượng của trời người trong đời này, pháp duyên là vô cùng thù thắng và khó có được."

Đại pháp này có đủ loại tâm yếu chi tiết, phải thật sự được Kim cương Thượng sư tường thuật tỉ mỉ, chỉ mong chúng sinh học tập kĩ lưỡng, người người thành Phật, thành tựu đại tịnh thổ của Thượng Lạc Kim Cang. 



### 29. Vô Thượng Mật Bộ thành tựu pháp


Tạng mật phái Hồng giáo, pháp môn tối cao là pháp Đại Viên Mãn. Tổ sư khai sáng là Liên Hoa Sinh tổ sư.
Tạng mật phái Bạch giáo, pháp môn tối cao là pháp Đại Thủ Ấn. Tổ sư khai sáng là Marpa tổ sư. Ở Ấn Độ là Tilopa tổ sư.
Tạng mật phái Hoàng giáo, pháp môn tối cao là pháp Đại Uy Đức Kim Cang. Tổ sư khai sáng là Tsongkhapa tổ sư.
Tạng mật phái Hoa giáo, pháp môn tối cao là pháp Đại Viên Thắng Huệ. Tổ sư khai sáng là Sakya tổ sư.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, những đại pháp của bốn phái Tạng Mật này đều là đại pháp của Vô Thượng Mật Bộ, cũng chính là Maha yoga, Anu Yoga, Ati Yoga. Được gọi là Thứ tự sinh khởi, Thứ tự viên mãn, Đại Viên Mãn, đây là đại pháp thành Phật của Mật tam thừa.

Về mặt ý nghĩa thì được phân ra thành Vô Thượng Mật Yếu, Vô Thượng Tổng Trì Chi Nghĩa, Tổng Trì Chi Tổng Trì Mật Trung Mật.

Pháp thành Phật của Vô Thượng Mật Bộ này, đương nhiên cần có sự chỉ dạy tỉ mỉ của Căn bản Thượng sư, đây là đại pháp tối hậu của giai đoạn thứ năm trong tu hành của Chân Phật Tông.

Liên Sinh Hoạt Phật đã viết "Vô Thượng Mật và Đại Thủ Ấn", "Hướng dẫn Đại Thủ Ấn", "Mật Giáo Đại Viên Mãn", ba cuốn sách này đều giảng giải về pháp thành Phật của Vô Thượng Mật Bộ.

Chân Phật Tông có đại pháp tối cao chính là pháp thành Phật của Vô Thượng Mật Bộ. Muốn tu chứng đại pháp này, nhất định phải bắt đầu từ việc tương ứng với pháp Tứ gia hành, sau đó tương ứng với pháp Thượng sư tương ứng, tiếp theo là tương ứng pháp Bổn tôn, rồi tu tập tương ứng pháp Kim cang, cuối cùng mới có thể tu tập pháp thành Phật của Vô Thượng Mật Bộ.
Đây là tu tập theo thứ tự, sẽ không có sai sót.
Nếu không tu tập theo thứ tự, dễ phạm sai lầm.
Việc thành Phật này là chân tính bất sinh bất diệt, trải qua ngộ, tu, trì, chứng mới có thể đạt được Phật tính chân thật này, đây là cảnh giới vô thượng tối cao.

Cảnh giới vô thượng của Chân Phật này vốn không thể diễn tả bằng lời, tạm viết ra như sau:
Diệt thức quy về tính, nhiếp dụng quy về thể, tất cả đều không.
Ánh sáng tự tính và ánh sáng pháp giới hợp làm một.
Đệ nhất nghĩa đế.
Việc thành Phật này trước tiên là minh tâm, sau đó kiến tính, tiếp đến chứng thực tướng, rồi chứng Pháp thân, cuối cùng thành Phật là giác hành viên mãn.
Trước hết tự tính thanh tịnh, tất cả vạn sự vạn vật chúng sinh bình đẳng thanh tịnh.
Sinh tử có thể tự chủ, nghĩa là nhân quả của sinh tử có thể tự chủ.
Tiến tới giai đoạn tự mình không trụ sinh tử, cũng không trụ niết bàn, mà trụ trong bồ đề.

Phật tính này chính là Chân Phật, nghĩa tính không vô sinh của các pháp, tất cả các uẩn đều không có, thanh tịnh viên mãn trang nghiêm, rộng độ chúng sinh không sót một ai. Cũng chính là chân tính như như bất động, làm tất cả mà không vì gì cả, đầy đủ tất cả công đức, ánh sáng bồ đề chiếu khắp tất cả.

Đây là khẩu quyết Chân Phật: Trước tiên là vô niệm, an trụ trong Tam ma địa của Bổn tôn, loại bỏ tất cả tướng, tiêu diệt tất cả các pháp. Kế đến là vô tướng vô tác, trong tam muội, lìa tất cả tướng, tất cả pháp cũng diệt. Cuối cùng là không trụ, không được mất, không yêu ghét, không giữ bỏ phân biệt, không có tương đối, cũng không có tuyệt đối, tính hoàn toàn bình đẳng, chứng được chân tướng của trung đạo, thức biến thành không, Chân Phật hiển hiện.

Mục đích hiển hiện Chân Phật chính là tự độ độ tha, tự giác giác tha, giác hành viên mãn.

Đối với tất cả cảnh giới bên ngoài, không phân biệt, không yêu ghét, không chấp giữ hay buông bỏ, tâm an trụ trong bình đẳng. Quá khứ, hiện tại, tương lai cũng hòa làm một, an trụ trong bình đẳng.

Hành giả Mật tông, nội minh cũng không phân biệt, không yêu ghét, không chấp giữ hay buông bỏ, tâm an trụ trong bình đẳng, không và huyễn là một. Cuối cùng là trong ngoài hòa làm một, đạt được tâm ý thanh tịnh vô cấu.

Ở đây có một bài kệ:
Chư Phật như trăng sáng
Trôi trên vùng hư không
Chúng sinh tâm như nước
Tĩnh lặng hiện bồ đề.

Ánh sáng tự tính và ánh sáng pháp giới hợp làm một, chính là Chân Phật.

Trong quyển "Vô Thượng Mật và Đại Thủ Ấn", Liên Sinh Hoạt Phật đã giảng giải chi tiết về pháp tu Vô Thượng Mật, bao gồm pháp linh nhiệt, pháp nhất duyên thiền định, pháp Đại Thủ Ấn, pháp chỉ quán, pháp Thượng Lạc, pháp bất động, Đại Thủ Ấn tu mộng, Đại Thủ Ấn quang minh, Đại Thủ Ấn ly xá, Đại Thủ Ấn khai đỉnh, Đại Thủ Ấn phá mê, Đại Thủ Ấn thường lạc ngã tịnh... Đây chính là pháp thành Phật của Vô Thượng Mật Bộ, là tâm pháp bí mật tối thượng để đạt đến thực tướng thành Phật.

Liên Sinh Hoạt Phật cũng đã giảng giải chi tiết trong cuốn sách "Mật Giáo Đại Viên Mãn" về các pháp Đại Viên Mãn lập đoạn, nhậm vận, quán tinh, hồng nghê pháp thân biến, nhiếp đới và năm bộ đại pháp truyền tâm, đây cũng là tâm pháp bí mật vĩ đại để đạt đến thực tướng thành Phật.

Pháp thành Phật của Vô Thượng Mật Bộ này là bí mật tối thượng trong các bí mật của Chân Phật Tông, cần phải được Căn bản Thượng sư giảng giải tỉ mỉ, chỉ dẫn cẩn thận, tu chứng pháp này mới có thể thành tựu rốt ráo, chứng đắc Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác.


### 30. Liên Sinh Hoạt Phật dạy chúng sinh thành Chân Phật


Việc xuất bản cuốn "Bí Mật Trong Chân Phật Mật Pháp" này chính là sự xuất hiện của pháp bản vô cùng trân quý của Chân Phật Tông. Sự ra đời của cuốn sách này chính là ánh sáng vĩ đại của Đại Nhật Như Lai, chiếu khắp thế giới Ta Bà. Không chỉ các đệ tử Chân Phật Tông được lợi ích lớn lao, mà còn làm chấn động cả trời đất.

Cuốn sách này bắt đầu từ pháp căn bản nhất là pháp Tứ gia hành đến pháp tối thượng là Vô Thượng Mật, những khẩu quyết bí mật trong bí mật này thật không thể nghĩ bàn, khiến người ta kinh ngạc, là sự xuất thế của Chân Phật Mật Pháp vô cùng trân quý, thật là điều hiếm có trong những điều hiếm có.

Ngày nay, Liên Sinh Hoạt Phật đã công khai viết ra những khẩu quyết tâm yếu của Chân Phật Mật Pháp trong sách, đây là tác phẩm rốt ráo nhất, rất ít người có thể thẳng thắn và rốt ráo hơn Liên Sinh Hoạt Phật. Nhiều vị Hoạt Phật Tây Tạng đều đến đảnh lễ và cầu pháp từ Liên Sinh Hoạt Phật, vậy Chân Phật Tông chẳng phải là tông phái thù thắng nhất thiên hạ sao?

Liên Sinh Hoạt Phật đã được công nhận là vị Kim cương Thượng sư chân chính, là sự hạ sinh của Liên Hoa Bồ Tát chân chính, là bậc vô thượng trong các bậc vô thượng, là bậc đại Thượng sư trong các vị Thượng sư.

Trình tự tu pháp trong cuốn "Bí Mật Trong Chân Phật Mật Pháp" này chính là tâm đắc tu chứng thành Phật của Liên Sinh Hoạt Phật. Nghi thức tuy nhìn có vẻ đơn giản bình thường, nhưng mỗi một trình tự đều có khẩu quyết tâm yếu, hơn nữa cần phải có vị Thượng sư chân chính giảng giải tường tận, truyền đạt kinh nghiệm và chỉ dẫn.

Trong Ngũ Đại Kim Cang pháp và Bát Đại Minh Vương pháp, Liên Sinh Hoạt Phật không liệt kê tất cả các pháp trong sách, bởi vì nếu liệt kê đầy đủ sẽ thành một bộ sách dày hàng nghìn trang. Tôi chỉ viết ra ba Kim Cang pháp, chỉ cần học và đạt được tương ứng với một trong ba pháp thì cũng thành tựu Kim Cang pháp, đặc biệt ba Đại Kim Cang pháp này là đại mật pháp được Chân Phật Tông trân quý nhất.

Pháp thành Phật của Vô Thượng Mật Bộ vốn có trong ba cuốn sách "Vô Thượng Mật và Đại Thủ Ấn", "Hướng Dẫn Đại Thủ Ấn" và "Mật Giáo Đại Viên Mãn". Trong cuốn sách này, tôi chỉ viết ra khẩu quyết tâm yếu, đây là chuyển Pháp thân, chuyển Báo thân, chuyển Ứng thân, thậm chí cả hồng nghê pháp thân biến. Văn tự trong đó rất súc tích, toàn là tâm pháp tối thắng, là đại yếu của nội giác để thành Phật trong khoảnh khắc.

Tại sao tôi viết "Bí Mật Trong Chân Phật Mật Pháp"? Bởi vì số lượng đệ tử Chân Phật đã lên đến hàng triệu người, người tu tập rất đông, căn cơ khác nhau, nghi thức tu pháp mỗi người một khác. Tôi viết cuốn sách này với mong muốn thông qua trình tự nghi quỹ để hướng dẫn tất cả đệ tử đi vào cảnh giới tu pháp thực tế, làm sáng tỏ những điều ẩn mật vi diệu, giải thích lặp đi lặp lại chính là hy vọng mọi người sinh khởi tri kiến chân thật. Cũng mong rằng với sự xuất bản của cuốn sách này, Chân Phật Mật Pháp sẽ thực sự nhập thế một cách phổ biến, giáo hóa chúng sinh thực sự thành Chân Phật, đây chính là tiếp nối huệ mệnh của Phật, dẫn dắt mọi người đến chỗ vi diệu, cùng nhau sinh khởi tâm tin Phật, niệm Phật, tu pháp, thành Phật.

Liên Sinh Hoạt Phật dạy chúng sinh thành Chân Phật, trước tiên phải quy y Kim cương Thượng sư, phải quy y Phật, phải quy y pháp, phải quy y tăng. Đây là Tứ quy y, Tứ quy y này chính là chỗ nương tựa của chúng sinh, cũng chính là sự đăng ký học tập Chân Phật Mật Pháp.

Chúng ta phải tuân theo giới luật, giữ gìn năm giới và thực hành mười thiện.
Thân - không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm.
Khẩu - không nói dối, không nói thêu dệt, không nói lời ác độc, không nói đâm thọc.
Ý - không tham lam, không sân hận, không tà kiến.

Chúng ta phải vững vàng tuân thủ "Sự sư pháp ngũ thập tụng", "Mười bốn đại giới của Mật giáo". Chúng ta phải kính sư, trọng pháp, thực tu.

Người học Phật cần phải thanh tịnh hóa ba nghiệp thân, khẩu, ý. Tu tập Chân Phật Mật Pháp chính là chuyển tam nghiệp thành tam mật, tam mật này chính là trang nghiêm bí mật thân, khẩu, ý, sự trang nghiêm bí mật này cần phải tu hành. Ý thành quán tưởng, thân thành thủ ấn, khẩu thành chân ngôn, chính là dùng quán tưởng, thủ ấn, chân ngôn để tu hành thành Phật.

Đệ tử Chân Phật Tông tu tập Bổn tôn pháp chính là miệng tụng chân ngôn của Bổn tôn, ý quán tưởng Tam ma địa của Bổn tôn, tay kết thủ ấn của Bổn tôn. Điều này thể hiện thân thể đồng với Bổn tôn, miệng đồng với Bổn tôn, ý niệm đồng với Bổn tôn, từ đó đạt được tương ứng với Bổn tôn, tức thân thành Bổn tôn. Đến giai đoạn cuối cùng của tu hành, sẽ có chuyển Ứng thân, chuyển Báo thân, chuyển Pháp thân, thực sự ba thân hợp làm một thân, chính là hạnh nguyện viên mãn.

Liên Hoa Đồng Tử cũng chính là Liên Hoa Bồ Tát, Ngài phóng một đạo hào quang, thế giới Ta Bà liền có một vị Liên Sinh Hoạt Phật. Hiện nay, Liên Sinh Hoạt Phật đã đến thế gian, kết duyên lớn nhất với chúng sinh ở thế giới Ta Bà. Liên Sinh Hoạt Phật từ thế giới Tây phương Cực Lạc, từ Ma Ha Song Liên Trì đến đây, cũng phát đại nguyện: "Địa ngục chưa trống thề không thành Phật, phân thân xả cốt độ chúng sinh". Tu trì Chân Phật Mật Pháp của Liên Sinh Hoạt Phật cũng sẽ đạt được đại thành tựu như tám đại Bổn tôn vậy.

Tu pháp Bổn tôn Liên Hoa Đồng Tử, mật hiệu là Đại Phúc Kim Cang, tu pháp này không những tương ứng với Thượng sư, đồng thời cũng là pháp phúc đức nhất. Về pháp xuất thế thì đạt được thành tựu của Liên Hoa Bồ Tát, về pháp nhập thế thì cho dù là học hành, kinh doanh, công danh, địa vị, phú quý, hoạnh tài, hôn nhân, con cái, sức khỏe đều có thể đạt được thành tựu viên mãn nhất, làm bất cứ việc gì cũng đều vượt trội hơn người.

Chân Phật Mật Pháp có thể được quy y và tu tập bởi bất kì người theo tín ngưỡng tôn giáo nào, dù là người xuất gia hay cư sĩ, dù là người khỏe mạnh hay khuyết tật, dù thuộc tầng lớp xã hội nào cũng đều có thể tu tập, dù ăn chay hay không ăn chay đều có thể tu tập được, đây chính là điểm thù thắng nhất của Chân Phật Mật Pháp.

Liên Sinh Hoạt Phật dạy chúng sinh thành Chân Phật, Ngài đầu tiên học Đạo giáo, sau đó học Hiển giáo, cuối cùng học Mật giáo. Ngài nhận ra rằng bất kì pháp môn nào cũng có thể thành Phật, và đã thông đạt cả Đạo, Hiển, Mật. Ngài cảm nhận được rằng Chân Phật Mật Pháp là con đường tắt tốt nhất để thành Phật, do đó Ngài tích cực hoằng dương Chân Phật Mật Pháp.

Hiện nay, Liên Sinh Hoạt Phật đã chứng ngộ trong tu hành, và để giáo hóa chúng sinh, Ngài lại thị hiện Chân Phật Mật Pháp, mong rằng chúng sinh sớm tiêu trừ nghiệp chướng, sớm minh tâm kiến tính, sớm được tự tại sinh tử, sớm được tức thân thành Phật. Do có sự chứng đắc của Liên Sinh Hoạt Phật, nên biết chắc rằng Chân Phật Mật Pháp có thể thành Phật, vì vậy đã ban bố khắp thiên hạ, mong rằng mọi người quy y, ai ai cũng tu hành, cùng nhau thành Phật. Ngày nay ở khắp nơi trên thế giới, mọi góc cạnh đều thành lập phân đường Chân Phật, tại các phân đường tổ chức pháp hội đồng tu hoặc thuyết pháp, xuất bản tạp chí, hoằng dương Chân Phật Mật Pháp, chính là đề xướng Phật pháp thuần chính, đề xướng nhân gian tịnh thổ và liên hoa tịnh thổ của Ma Ha Song Liên Trì, đây chính là nguyện vọng của Liên Sinh Hoạt Phật.

Khi Liên Sinh Hoạt Phật đắc chứng quả vị, trong không trung vang lên lời tụng rằng:
Vạn tay Kim Cang đã hình thành, truyền thừa Chân Phật nghìn đèn sáng
Ba chuyển pháp luân hợp bốn giáo, Liên Sinh truyền pháp tối thượng thừa
Viên mãn tương ứng bền lâu mãi, hòa nhập tâm Phật biển quang minh
Sinh ra hoa sen nghìn vạn đóa, khắp các biển hồ đẹp lung linh.

Tu tập Chân Phật Mật Pháp bắt đầu từ quy y, từng cấp độ một của việc tu học, Chân Phật Mật Pháp của Liên Sinh Hoạt Phật quả thật đồng nhất với ánh sáng của mười phương chư Phật, không có gì sai khác, người tu trì tương ứng có thể hòa nhập vào đại quang minh của mười phương chư Phật, sắc thân hoàn toàn không còn.

Khi tức thân thành tựu, có thể thâu tóm cả ba mươi ba tầng trời, siêu việt đứng trên ba mươi ba tầng trời, đại quang minh hiển hiện nơi tự thân chính là thần thông tự tại đại viên mãn.

Tôi cảm thấy rằng, chúng sinh trong thế gian này, nếu bỏ lỡ cơ duyên một lần nữa, sẽ không còn cơ hội, phải ngồi đợi hàng nghìn năm trong thế giới tối tăm, vì vậy hãy mau quy y, hoan nghênh quy y, hoan nghênh học pháp, cùng nhau phát tâm bồ đề vô thượng.

Pháp môn vô thượng bí mật trong Chân Phật Mật Pháp này đã được viết ra, vốn là sự hóa hiện của tâm đại bồ đề vô lượng vô số của Như Lai, Chân Phật Tông là tối thượng trong tối thượng, hiếm có nhất trên thế gian, người có được cuốn sách này là bậc đại pháp duyên, khó gặp được trong thời thịnh thế.
Tán thán thay! Tán thán thay!
Mười phương chư Phật cùng hiện tướng lưỡi rộng dài tán thán, ngợi khen chưa từng có.


### 31. Liên Sinh Hoạt Phật trả lời khách hỏi (1)


**Hỏi: Tại sao khi Liên Sinh Hoạt Phật truyền dạy Mật pháp, lại đặt tên tông phái này là Chân Phật?**

Đáp: Truyền thừa trong Mật tông rất quan trọng, vì vậy về nguyên tắc, các vị Thượng sư Mật tông có ba loại truyền thừa:
Loại thứ nhất - Từ Kim Cang Như Lai truyền qua các đời Thượng sư đến vị Thượng sư của mình. (dòng truyền dài)
Loại thứ hai - Từ một vị Bổn tôn hiện ra truyền đến vị Thượng sư của mình. (dòng truyền ngắn)
Loại thứ ba - Đặc biệt do địa, thủy, hỏa, phong, không hiện ra, truyền thụ Mật pháp đặc biệt. (dòng truyền tôn quý)

Do Liên Sinh Hoạt Phật đã nhận được dòng truyền dài từ phái Hoàng giáo và Bạch giáo của Tạng mật, nhận được dòng truyền ngắn từ phái Hoa giáo, nhận được dòng truyền tôn quý từ phái Hồng giáo, vì vậy, tông phái của Liên Sinh Hoạt Phật chính là Mật pháp chân chính đã được truyền thừa, Liên Sinh Hoạt Phật truyền dạy Mật pháp chân chính, mọi người quy y học tập Mật pháp chân chính, tương lai khi thành Phật sẽ thành "Chân Phật".

Vì vậy Liên Sinh Hoạt Phật đặt tên tông phái này là Chân Phật Tông. Bởi vì tất cả đều là "Thật".

**Hỏi: Khi học chân ngôn, chúng ta có thể đọc theo sách hoặc đọc theo băng ghi âm không?**

Đáp: Đọc theo sách và đọc theo băng ghi âm đều là những phương pháp hỗ trợ học tập. Cần biết rằng, chân ngôn trong sách và chân ngôn trong băng ghi âm đều là chân ngôn thật, nhưng nếu người tu học chưa quy y vị Thượng sư đó thì sẽ không có "năng lực gia trì của dòng truyền thừa", vì vậy khi học chân ngôn, điều quan trọng nhất là phải đọc âm chú do Thượng sư truyền dạy cho bạn, hoặc âm chú do Thượng sư viết trong sách, hoặc âm chú do Thượng sư ghi âm.

Có những người học đọc chân ngôn nhưng thiếu "năng lực gia trì của dòng truyền thừa". Như vậy chỉ như vẹt học nói, có âm mà không có tâm.

Tất cả chú âm vẫn phải lấy chú âm của Thượng sư của mình làm chính. Bởi vì dù bạn có học được âm Phạn cổ chính xác nhất, nhưng không có "năng lực gia trì của dòng truyền thừa" thì cũng bằng không.

**Hỏi: Chân Phật Tông có khác với các tông phái Mật tông thông thường không? Chân Phật Mật Pháp có đặc điểm gì?**

Đáp: Chân Phật Tông quả thật có chút khác biệt so với các tông phái Mật tông thông thường. Do Liên Sinh Hoạt Phật đã thấu hiểu nhân quả ba đời, chứng ngộ rằng Pháp thân của mình chính là Bạch Liên Hoa Đồng Tử ở Ma Ha Song Liên Trì tại Tây phương Cực Lạc thế giới. Không chỉ chứng ngộ mà còn thân chứng, vì vậy tịnh thổ của Chân Phật Tông chính là tịnh thổ Ma Ha Song Liên Trì. Điều này khác với các tông phái Mật tông khác.

Chân Phật Mật Pháp có pháp tương ứng Liên Hoa Đồng Tử (pháp tương ứng Thượng sư), đây là điều mà các tông phái Mật tông khác không có, đây là một trong những đặc điểm lớn nhất của Chân Phật Mật Pháp.

Về việc độ chúng sinh rộng khắp, Liên Sinh Hoạt Phật đã phát đại nguyện độ chúng sinh, vì độ chúng sinh mà nguyện thân tan xương nát, nguyện vào địa ngục, vì vậy dám viết Mật pháp thành sách, chỉ thẳng tâm yếu, nói ra những điều bí mật sâu xa, đây là biểu tượng thù thắng nhất, cũng là đặc điểm của Chân Phật Mật Pháp.

Chân Phật Tông và Chân Phật Mật Pháp nhờ có Liên Sinh Hoạt Phật nên mới có những đặc tính khác biệt đặc biệt như vậy.

**Hỏi: Khi học Chân Phật Mật Pháp lẽ ra phải bắt đầu từ bốn pháp gia hành, từng bước tu tập lên cao, nhưng tại sao Liên Sinh Hoạt Phật đôi khi lại yêu cầu đệ tử mới quy y thờ tượng của Thượng sư và tu pháp tương ứng Thượng sư trước?**

Đáp: Trình tự học Chân Phật Mật Pháp như sau:

Pháp Tứ gia hành - Pháp tương ứng Thượng sư - Pháp Bổn tôn - Pháp Kim cang - Vô thượng mật.

Đôi khi, Liên Sinh Hoạt Phật trực tiếp yêu cầu đệ tử bắt đầu từ pháp tương ứng Thượng sư, điều này có lý do của nó, trước hết là vì căn cơ của đệ tử đó rất tốt, có thể trực tiếp tu pháp tương ứng Thượng sư. Hơn nữa, Chân Phật Mật Pháp của tôi thực ra đã dung nhập pháp lễ bái, pháp tứ quy y, pháp cúng dường mandala vào trong pháp tương ứng Thượng sư.

Nói rõ hơn, Liên Sinh Hoạt Phật có nhân duyên đặc biệt với pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát trong pháp Tứ gia hành, Liên Sinh Hoạt Phật chính là Kim Cang Tâm Bí Mật.

Đệ tử Chân Phật Tông chúng ta tu pháp, mỗi ngày một lần tu, bắt đầu từ pháp tương ứng Thượng sư, thường ngày có thể thêm tu một gia hành hoặc hai gia hành, khi có thời gian thì tu cả bốn gia hành cùng lúc. Tu trì như vậy, tương đương với việc hợp tu pháp Tứ gia hành và pháp tương ứng Thượng sư.

Đây chính là đại từ bi của Liên Sinh Hoạt Phật!

**Hỏi: Khi học Mật tông, ngay từ đầu phải được quán đảnh quy y, quán đảnh từ xa của Liên Sinh Hoạt Phật cũng rất đặc biệt, có thể giải thích cụ thể được không?**

Đáp: Về vấn đề này, tôi đã viết một bài viết trong cuốn sách "Linh Tiên Kim Cang Đại Pháp" trang 193, với tiêu đề "Ý nghĩa thực sự của quán đảnh từ xa".

Vị Kim cương Thượng sư có thể thực hiện quán đảnh từ xa cần phải có ba loại thành tựu: thứ nhất là thành tựu du hành trong không trung, thứ hai là thành tựu triệu thỉnh ẩn thân, thứ ba là thành tựu đại quang minh của Bổn tôn.

Vị Kim cương Thượng sư đã đạt được ba thành tựu lớn này chính là đã đạt được thành tựu từ Thứ tự sinh khởi trở lên. Liên Sinh Hoạt Phật có thể điều khiển Không Hành Mẫu, mang nước quán đảnh bay đến nơi ở của các đệ tử, bất kể đệ tử đang làm việc gì đều có thể nhận được sự quán đảnh vô cùng chân thực.

Có rất nhiều vị Kim cương Thượng sư cho rằng quán đảnh từ xa không đúng nghi quỹ, rất có thể họ chỉ là những vị Kim cương Thượng sư bình thường, chưa đạt được thành tựu gì, chỉ biết nghi quỹ, những điều khác chưa hiểu hết, do năng lực bản thân chưa đủ nên đã đố kỵ với thành tựu của người khác.

Thực ra quán đảnh từ xa là pháp chân thật, cũng là pháp phương tiện, là một trong những đại pháp độ sinh rộng khắp. Đây chính là phương tiện thiện xảo của lòng đại từ đại bi của Liên Sinh Hoạt Phật.

**Hỏi: Cần có những điều kiện gì mới được gọi là Thượng sư? Và Thượng sư có những cấp bậc nào?**

Đáp: Thượng sư là một địa vị rất tôn quý.

Thứ nhất, phải gia nhập hải hội chư Phật, được quán đảnh Acharya . Tu trì tất cả các pháp đã đạt được tương ứng. Được Căn bản Thượng sư ấn chứng làm Thượng sư.
Thứ hai, tự mình nhập vào Tỳ Lô tính hải, được Tổ sư các đời ấn chứng, chư Phật Bồ Tát ấn chứng, được thọ ký rất chân thực thì có thể làm Thượng sư.

Kim cương Thượng sư nói chung được chia làm bốn cấp:
Acharya — Chỉ biết nghi quỹ sự tướng, nương theo tín tâm mà hành trì, là Thượng sư sơ cấp.
Đại Acharya — Thông đạt cả sự tướng và lý tướng, là Thượng sư trung cấp.
Kim cương Acharya — Lý và trí đều thông suốt, là Thượng sư thượng cấp.
Đại trì minh Kim cương Acharya — Đã đạt vô thượng trí, thành tựu tất cả, là Thượng sư vô thượng.

Theo như Kinh Đại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương đã nói về sáu loại Acharya:
(1) Vị đã thông đạt tất cả các phần của mandala, cùng với tất cả chân ngôn ấn quyết của chư tôn, thành tựu quán hành, và được truyền pháp quán đảnh.
(2) Vị đã vượt qua thuận nghịch bát tâm, chứng được cảnh giới tịch nhiên.
(3) Vị đã đạt được tâm chủ tự tại, giác ngộ bản tâm vốn không sinh.
(4) Vị đã sinh khởi tâm cực vô tự tính, được nhập vào hải hội mandala như trên.
(5) Vị đứng đầu trong số những người thông đạt tam mật, như Kim Cang Tát Đỏa.
(6) Tỳ Lô Giá Na.

Hôm nay tôi xin thẳng thắn nói với mọi người, Liên Sinh Hoạt Phật của Chân Phật Tông đương nhiên là bậc đứng đầu trong số những người thông đạt tam mật, là Kim Cang Thủ Bồ Tát, là Kim Cang Mật Chủ, đã nhập vào biển đại quang minh của Tỳ Lô Giá Na, là bậc minh tâm kiến tính, tự tại sinh tử, là Đại Trì Minh Kim Cang Acharya.

Nói một cách đơn giản, nếu không thực sự đạt được đại chứng ngộ, làm sao các vị Hoạt Phật Tây Tạng lại quy y với Liên Sinh Hoạt Phật! Vì vậy, theo Liên Sinh Hoạt Phật chính là có đủ điều kiện chân chính để thành Phật, đó chính là Chân Mật Pháp đúng đắn. Tôi muốn các vị Thượng sư của Chân Phật Tông hãy tự trân trọng mình, Liên Sinh Hoạt Phật quán đảnh cho mọi người làm Thượng sư sơ cấp là để mọi người đạt được trí huệ vô thượng, đạt được tất cả thành tựu, có như vậy mới là Tỳ Lô Giá Na, mới là Kim cương Thượng sư chân chính của Chân Phật Tông.


### 32. Liên Sinh Hoạt Phật trả lời khách hỏi (2)


**Hỏi: Là phàm phu thế tục, không có pháp nhãn, chúng tôi làm sao phân biệt được vị nào là Kim cương Thượng sư chân chính, vị nào là Thượng sư giả mạo?**

Đáp: Do tất cả mật pháp của Mật tông đều là những pháp bí mật tự chứng của chư Phật Bồ Tát mười phương, nên tất cả khẩu quyết tâm yếu đều phải do Kim cương Thượng sư chân chính đã chứng ngộ truyền thụ.

Bước đầu tiên khi học Mật tông chính là quy y với Kim cương Thượng sư đã chứng ngộ chân chính. Bởi vì trong Kinh Mật Tục có nói: "Tất cả mật pháp, nếu không được Thượng sư trực tiếp truyền thụ, người tu sẽ không đạt được thành tựu, người học sẽ phạm tội trộm pháp." Vì vậy khi học Mật tông, nhất định phải quy y rồi mới được học, nếu không sẽ là trộm pháp.

Người thế tục không thể phân biệt được vị nào là Thượng sư chân chính, vị nào là Thượng sư giả mạo? Hôm nay Liên Sinh Hoạt Phật dạy mọi người quan sát như sau:

Đặc điểm của các Thượng sư giả mạo — không giữ giới luật nhà Phật, hành xử bừa bãi, không tuân thủ bất kì giới luật nào. Không có tâm từ bi, thích nổi giận, tâm sân hận đặc biệt nặng, oán trời trách người, lòng sân không dứt. Tham cầu sự cúng dường của đệ tử, mở miệng là đòi tiền, không bao giờ thấy đủ. Bản thân đặc biệt kiêu ngạo, đối xử với người rất ngạo mạn, không có chút từ ái nào. Không phân biệt phải trái, xa rời chính trực, ngược lại còn làm điều xấu xa tội lỗi.

Những vị Thượng sư như vậy, hoàn toàn không có tướng đức hạnh, chắc chắn là Thượng sư giả mạo không còn nghi ngờ gì.

Đặc điểm của các Thượng sư chân chính — có đầy đủ ba trí tuệ là hiểu biết sâu rộng, thực tu và chính tư duy. Thượng sư chắc chắn đã chứng đắc đôi khi sẽ thể hiện pháp lực một cách không chủ ý. Thượng sư chân chính tính tình hòa nhã, gặp bất kì trắc trở nào cũng kiên nhẫn chịu đựng, làm việc có đầu có cuối. Đối với đệ tử của mình, biết tùy căn cơ mà giáo hóa, giúp đệ tử dần dần đạt được thành tựu. Thượng sư chân chính khi nhận cúng dường không đòi hỏi tiền bạc bừa bãi, cũng không định giá, tất cả mọi pháp sự đều tùy tâm, tất cả vì chúng sinh, vì hoằng dương Phật pháp, không thể định giá, không vì lợi dưỡng. Thượng sư chân chính tinh thông sự tướng và nghi quỹ của tông phái, thông suốt tất cả giáo lý Hiển Mật. Thượng sư chân chính có đại trí tuệ, thông đạt tất cả mật pháp. Thượng sư chân chính có đầy đủ đức hạnh cả trong lẫn ngoài.

Đây là đức tướng của Thượng sư chân chính, vị Thượng sư như vậy là Thượng sư thật.

Liên Sinh Hoạt Phật từng dạy: "Khi chúng sinh chọn Thượng sư để quy y, trước tiên phải quan sát đặc điểm của Thượng sư, nếu phát hiện là giả mạo thì đừng quy y, tránh bị Thượng sư giả mạo lừa gạt. Thượng sư giả không những tự lừa dối mình mà còn lừa người khác vào địa ngục, đây là bi kịch đáng thương nhất của trời người. Nhưng, nếu chúng ta gặp được một vị Kim cương Thượng sư chân chính, phải nắm lấy cơ hội tốt không để vuột mất, lập tức quy y nhận quán đảnh, tiếp nhận truyền pháp từ Kim cương Thượng sư chân chính, bắt đầu kính Sư, trọng pháp, thực tu, chân tâm tu học mật pháp đúng đắn, để mong đạt được thành tựu chân chính."

Việc phân biệt Thượng sư thật và Thượng sư giả là điều quan trọng nhất.

**Hỏi: Sự tướng trong Mật tông là gì, Chân Phật Mật Pháp có những sự tướng nào?**

Đáp: Tu học Chân Phật Mật Pháp đương nhiên phải thực tu, và phạm vi thực tu chính là sự tướng.

Chẳng hạn như lập đàn thành, cúng dường chư tôn, kết ấn niệm chú, bốn lần nghi quỹ, quán tưởng chư tôn, mandala đều nằm trong phạm vi sự tướng.

Trong đó:
Thứ tự sinh khởi là pháp hữu vi. Thứ tự viên mãn là pháp vô vi. Thứ tự sinh khởi lại chia thành gia hành, giản tu, chính hành, quảng tu v.v.
Về mặt pháp sự chia thành bốn loại lớn là tức tai, tăng ích, nhiếp triệu - kính ái, hàng phục.
Sự tướng cần phải hiểu rõ cách ứng dụng tất cả pháp khí, hiểu rõ tất cả thủ ấn, quán tưởng, trì chú. Hiểu rõ tất cả trình tự tu pháp.

Chúng ta (Chân Phật Mật Pháp) đương nhiên cũng phải lập đàn thành. Tuy nhiên, Liên Sinh Hoạt Phật đã cân nhắc đến việc có rất nhiều đệ tử quy y không thuận tiện, có người là do năng lực không đủ, có người là do hoàn cảnh không cho phép. Những người có điều kiện thì chỉ cần thờ tượng hoặc pháp tướng của Thượng sư, tất cả đều làm pháp đơn giản, tu pháp xong có thể cất tượng hoặc pháp tướng vào nơi sạch sẽ. Có người thậm chí không thể thờ tượng và thắp hương, chỉ có thể dùng quán tưởng lập đàn trong không trung, quán tưởng Thượng sư hoặc chư tôn trong không trung, sau đó mới y pháp tu trì.

**Hỏi: Trong giới Phật giáo, các tông phái thường có hiện tượng công kích lẫn nhau, và Chân Phật Tông chắc chắn cũng sẽ bị công kích, Liên Sinh Hoạt Phật có quan điểm gì về việc này?**

Đáp: Phàm là người học Phật, khi học một tông phái nào đó thường tự cho mình là đúng, còn người khác là sai, từ đó sinh ra hiện tượng công kích lẫn nhau. Điều này giống như câu chuyện người mù sờ voi, mỗi người đều không ngừng tự nói theo cách của mình.

Thực ra cửa Phật rộng lớn vô lượng, tất cả đều là tùy duyên thuyết pháp nên mới có các pháp môn khác nhau, con người chỉ cần tu học một pháp môn, pháp nào cũng có thể thành Phật, không có chuyện đúng sai tốt xấu. Người học Phật nếu chấp trước rằng mình đúng, người khác sai, rồi công kích lẫn nhau, đó chính là sự chấp trước ngu muội, chứng tỏ vẫn chưa chứng ngộ thông đạt.

Chân Phật Tông của Liên Sinh Hoạt Phật, với xu hướng là một tông phái mới, đã có hàng trăm nghìn đệ tử quy y tu học, số người học tập Chân Phật Mật Pháp cũng ngày càng tăng. Trong đó có cả các tăng Hiển giáo và các vị Hoạt Phật Tây Tạng nghe danh mà quy y, đây là pháp duyên thù thắng phổ cập tứ chúng.

Trong tình thế như vậy, tự biết không tránh khỏi bị công kích, dù nghĩ đến điều này không khỏi xót xa, nhưng vì có thể gieo trồng thiện căn cho tất cả chúng sinh, được vô lượng thắng quả, khai mở tam tuệ, mau chóng thành Phật. Dù tan xương nát thịt cũng không tiếc.

**Hỏi: Khi học Chân Phật Mật Pháp, cần giữ thái độ như thế nào để có thể đạt được thành tựu, và phải tu trì ra sao để có được tiến bộ vượt bậc?**

Đáp: Về nguyên tắc có ba điểm quan trọng:

Thứ nhất, kính trọng Thượng sư và tuân thủ giới luật Mật tông - Người tu học Mật tông đều biết rằng, Thượng sư truyền thừa là nền tảng để đệ tử đạt được thành tựu, tất cả thành tựu của đệ tử đều do Căn bản Thượng sư ban cho. Thường ngày đệ tử xem Thượng sư như Phật, kính trọng thân khẩu ý của Thượng sư truyền thừa, tu trì nhất định sẽ nhanh chóng được cảm ứng.

Mỗi đệ tử quy y cần đọc kĩ "Sự sư pháp ngũ thập tụng" và "Mười bốn đại giới căn bản của Mật giáo". Như vậy sẽ hiểu rằng, kính trọng Thượng sư như Phật là bước đầu tiên đúng đắn trong việc tu trì Mật tông. Vì thế, tu trì pháp tương ứng với Thượng sư chính là tin rằng "Thượng sư là Phật", học tập để mình hoàn toàn giống với Thượng sư, không có gì khác biệt, đó chính là tương ứng.

Thứ hai, khi học Chân Phật Mật Pháp, phải tu tập theo thứ tự - Có một số đệ tử cho rằng Tứ gia hành pháp, Thượng sư tương ứng pháp, thậm chí cả Bổn tôn pháp, Kim Cang pháp đều là pháp nhỏ, họ muốn ngay từ đầu đã tu trì đại pháp Vô thượng mật. Họ không biết rằng trong quá trình tu pháp, ma chướng rất lợi hại, có người tuy đủ tín tâm và tinh tấn nhưng ma chướng vẫn rất mạnh, sự thử thách của ma rất dữ dội, muốn một bước lên trời thật là vô cùng nguy hiểm.

Thậm chí có một số đệ tử bị mê hoặc bởi thần thông, vừa mới bắt đầu học pháp đã muốn có thần thông. Do đó ma biết được và nhanh chóng cho họ cảm ứng. Khi có cảm ứng, họ chấp trước cho là thật, vọng tưởng điên đảo, nhanh chóng rơi vào ma cảnh. Lúc thì Quan Thế Âm Bồ Tát trở thành chị gái của họ, lúc thì A Di Đà Phật là anh trai của họ, lúc thì Ngọc Hoàng Đại Đế là người hầu của họ. Cái xoáy nước này sẽ kéo thẳng họ xuống địa ngục.

Vì vậy học pháp phải bắt đầu từ pháp căn bản, trước tiên tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng phúc huệ. Khi nghiệp chướng được tiêu trừ, có được phúc huệ thì ma chướng mới không sinh khởi. Tứ gia hành pháp chính là mật pháp căn bản để sám hối các tội, tiêu trừ ma oán, tăng trưởng phúc huệ. Theo ý kiến cá nhân của tôi, Tứ gia hành pháp là mật pháp quan trọng hàng đầu.

Thứ ba, phải phát tâm bồ đề - Chúng ta thường phát nguyện: "Nguyện cho chúng sinh đầy đủ niềm vui và nhân của niềm vui, nguyện cho chúng sinh thoát khỏi khổ đau và nhân của khổ đau, nguyện cho chúng sinh thường trụ trong an lạc không đau khổ, nguyện cho chúng sinh chứng được bình đẳng giác giữa oán thân." Đây chính là phát tâm bồ đề. Cần biết rằng mục đích học Phật là để tự mình thành Phật, khi thành Phật rồi thì phải độ chúng sinh.

Tâm bồ đề này chính là tâm báo đáp "bốn ơn sâu", tâm từ bi cứu độ chúng sinh, tâm thành Phật của chính mình, tâm thay chúng sinh chịu khổ...

Học tập Chân Phật Mật Pháp chính là phải phát tâm bồ đề, phát tâm chân thật thì sẽ có đại thành tựu, phát tâm không chân thật, học pháp không tu tâm, sẽ thành ma. Vì thế tu học Chân Phật Mật Pháp mà không có tâm bồ đề, cũng không có tâm từ bi, chỉ có tâm tranh danh đoạt lợi, càng tu càng giống ma, càng tu càng thành ma.


### 33. Liên Sinh Hoạt Phật trả lời khách hỏi (3)


**Hỏi: "Mười bốn đại giới căn bản của Mật tông" là gì? Xin Hoạt Phật có thể giảng lại được không?**

Đáp: Trước đây tôi đã từng trình bày chi tiết trong các tác phẩm, hôm nay để cho các đệ tử ghi nhớ sâu hơn, tôi sẽ trình bày lại một lần nữa.

Điều 1: Thân khẩu ý không cung kính đối với Thượng sư.

Điều 2: Không tuân thủ quy tắc và lễ nghi Hiển-Mật.

Điều 3: Khởi tâm oán hận và tranh giành đối với anh em huynh đệ kim cương đồng tu.

Điều 4: Đánh mất lòng từ bi, đố kỵ với niềm vui của chúng sinh.

Điều 5: Ngại khó mà không độ chúng sinh, đánh mất bồ đề tâm.

Điều 6: Phỉ báng kinh điển Hiển-Mật không phải do Phật thuyết.

Điều 7: Dạy Mật pháp khi bản thân chưa được quán đảnh làm Thượng sư và chưa có đủ uy tín.

Điều 8: Làm tổn hại người khác, tự làm khổ bản thân là không như Phật.

Điều 9: Thiên vị giữa Không và Hữu, không học tâm Không.

Điều 10: Làm bạn bè với kẻ phỉ Phật phá pháp và làm hại chúng sinh.

Điều 11: Khoe khoang pháp thù thắng mà quên mất ý nghĩa sâu xa.

Điều 12: Không nói Mật pháp chân thật, gây trở ngại và phá hoại thiện căn của người khác.

Điều 13: Pháp khí và tài liệu Mật pháp không hoàn thành.

Điều 14: Phỉ báng tự tính trí huệ của nữ giới.

**Hỏi: Trong Mật tông, nhiều pháp tướng đều là hình tượng song thân của Kim Cang và Phật Mẫu trong tư thế ôm nhau, và cũng có truyền xuống pháp song thân, nhưng tại sao Liên Sinh Hoạt Phật không đề cập đến pháp này?**

Đáp: Tôi hiểu rằng pháp song thân là đại pháp vô thượng của Mật tông, Kim Cang là "phi hữu", Phật Mẫu là "phi không". Tuy nhiên, pháp này từ xưa đến nay đều bị người đời phỉ báng.

Pháp song thân là sự tuần hoàn của điện tử âm dương, là đại pháp thông đạt khí hỏa. Đây là cách giải thích rõ ràng hơn của tôi.

Tuy nhiên, người đời nay không hiểu được pháp này, và dưới góc độ đạo đức thông thường thì hoàn toàn không thể chấp nhận được. Đối với người không hiểu biết, đây đơn thuần là tà uế, làm sao có thể là Phật pháp?

Đồng thời tôi biết rằng, nếu có một số đệ tử tâm địa bất chính, bên ngoài tự xưng tu pháp nhưng thực chất là hành dâm uế, chỉ một niệm sai lầm là rơi xuống địa ngục. Pháp này người thành tựu thì ít mà kẻ đọa địa ngục thì nhiều, đương nhiên sẽ bị phỉ báng.

Liên Sinh Hoạt Phật hiểu rõ về pháp song thân, nhưng vì muốn cứu độ chúng sinh nên không bàn đến pháp này. Tuy pháp này là một trong vô lượng pháp môn, nhưng chỉ là một loại mật pháp mà thôi, nên không bàn đến.

**Hỏi: Xin Liên Sinh Hoạt Phật có thể giảng giải cho đệ tử về sự phân biệt màu sắc của chư tôn và màu sắc trong tác pháp không?**

Đáp: 
Trung ương là Phật bộ - ánh sáng màu trắng.
Phương Đông là Kim Cang bộ - ánh sáng màu xanh dương.
Phương Nam là Bảo bộ - ánh sáng màu vàng.
Phương Tây là Liên Hoa bộ - ánh sáng màu đỏ.
Phương Bắc là Yết Ma bộ - ánh sáng màu xanh lục.

Phần tác pháp:
Tức tai pháp - Bổn tôn phóng ánh sáng trắng chạm đến.
Tăng ích pháp - Bổn tôn phóng ánh sáng vàng chạm đến.
Kính ái và nhiếp triệu pháp - Bổn tôn phóng ánh sáng đỏ chạm đến.
Hàng phục pháp - Bổn tôn phóng ánh sáng xanh dương chạm đến.

Ánh sáng của tam quang gia trì là: Thiên tâm ánh sáng trắng, Hầu luân ánh sáng đỏ, Tâm luân ánh sáng xanh dương. Liên Sinh Hoạt Phật dạy: Màu trắng là nền tảng của các màu sắc, Phật cần tu tập bạch thiện pháp mới có thể đạt được thành tựu rốt ráo nhất, đây chính là chủ tôn trung ương vậy.

Vì vậy cảnh giới Pháp thân của Liên Sinh Hoạt Phật là Bạch Liên Hoa Đồng Tử, chủ tôn của mười tám vị Liên Hoa Đồng Tử.

**Hỏi: Hoạt Phật là gì? Ý nghĩa thực sự của Hoạt Phật là gì?**

Đáp: Ở Tây Tạng gọi là Hotogtu chính là Hoạt Phật, ý nghĩa thực sự là "bậc thành tựu". Ý nghĩa ban đầu là "minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử", hoặc còn gọi là "người lại đến".

Nói chung Hoạt Phật là chỉ người đã thành tựu.
Ở Tây Tạng, có rất nhiều "người lại đến" chuyển thế, vì vậy ở Tây Tạng có đặc biệt nhiều Hoạt Phật, đây là hiện tượng không thể nghĩ bàn.
Thực ra ở các vùng khác cũng có nhiều vị Hoạt Phật chuyển thế, chỉ là việc họ tái sinh chuyển thế không được nhiều người biết đến, nên danh tiếng không lớn.

Liên Sinh Hoạt Phật tự nhiên cũng là "người lại đến", bởi vì chính là hóa thân của Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử, hơn nữa nhờ được Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đích thân truyền thụ chân nghĩa của Mật pháp, khiến cho các vị Hoạt Phật Tây Tạng đến quy y học pháp, các Hoạt Phật Tây Tạng và đệ tử quy y đều công nhận là bậc Đại Hoạt Phật trong các vị Hoạt Phật.

Về nguyên tắc mà nói, nếu chư Phật, Bồ Tát, La Hán, Thanh Văn từ cõi trời giáng sinh xuống nhân gian để độ chúng sinh, kiếp này là bậc thành tựu, đã giải thoát tất cả phiền não, tự chủ sinh tử, minh tâm kiến tính thì chính là Hoạt Phật chân chính không có gì phải nghi ngờ.

**Hỏi: Tại sao mỗi một pháp, khi đến cuối cùng, đều phải nhập định, nhập Tam ma địa?**

Đáp: Theo cảm nhận cá nhân tôi, mục đích cuối cùng của Phật pháp không gì khác hơn là giải thoát, nhưng giải thoát nhất định phải có trí huệ bát nhã, vậy trí huệ này từ đâu mà có? Trí huệ chính là từ định mà ra.

Vì vậy, mỗi lần tu pháp, nhất định phải nhập định. Tu định trở thành pháp môn rốt ráo cuối cùng của người tu hành. Liên Sinh Hoạt Phật dạy rằng, thực ra ấn quyết, quán tưởng, chân ngôn, các thứ, tất cả đều là để chuẩn bị cho việc nhập định (nhập Tam ma địa), có nhập định (nhập Tam ma địa) thì tu pháp mới được xem là hoàn chỉnh.

Phương pháp tu định (nhập Tam ma địa) có rất nhiều, có thể tham khảo cuốn sách "Hướng Dẫn Đại Thủ Ấn". Về phương diện này, cần phải tùy theo căn cơ của chúng sinh mà kê toa cho đúng bệnh, có thể nói phương pháp nhập định là vô lượng vô biên. Pháp tu của Liên Sinh Hoạt Phật là từ pháp tu Cửu tiết Phật phong và nội hỏa minh điểm để đi vào Đại Thủ Ấn quang minh định.

Cũng có người phân chia như sau:
Túc nghiệp nhẹ - tu Đại Thủ Ấn quang minh định.
Nghiệp sân nặng - tu thi đà lâm.
Nghiệp si nặng - tu chuyết hỏa nội hỏa minh điểm.
Nghiệp tham nặng - tu Yết Ma pháp nhập định.

**Hỏi: Học tập Chân Phật Mật Pháp sẽ có những thành tựu nào?**

Đáp: Chỉ cần Chân Phật Tứ gia hành được tương ứng, đời sau có thể làm quốc vương hoặc đại phú quý trong nhân gian, cao nhất có thể vãng sinh thiên cung làm Tiên Vương.

Chỉ cần Thượng sư tương ứng pháp được tương ứng thì có thể vãng sinh Tây phương Cực Lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì, liên hoa hóa sinh, tương đương với quả vị Liên Hoa Bồ Tát.
Chỉ cần Bổn tôn pháp được tương ứng thì có thể vãng sinh tịnh thổ Bổn Tôn, hóa thân thành từng vị Bổn tôn.
Chỉ cần Kim Cang pháp được tương ứng thì có thể thành tựu Kim Cang Vương, đầy đủ đại uy đức, hộ pháp Kim Cang.
Chỉ cần Vô thượng mật được tương ứng thì tức thân thành Phật rồi!

Chân Phật Mật Pháp chính là chính pháp của Phật môn, là tâm yếu chứng ngộ của Liên Sinh Hoạt Phật. Do đó, tất cả chúng sinh, chúng sinh trong mười pháp giới, đều có thể quy y nhận quán đảnh để học tập. Mỗi người theo thứ tự mà học, ắt sẽ có thành tựu lớn, đây không phải lời nói suông, chỉ xem người ta có tâm kiên trì và tinh tấn hay không. Tu học Chân Phật Mật Pháp cần phải coi trọng cả lý trí và tinh tấn, nhất định sẽ có thành tựu. Những điều không hiểu, cần hỏi thỉnh bậc Thượng sư chân chính, tu trì suốt đời, từng bước từng bước mà đi, ắt có ngày sẽ đến đích.


### 34. Liên Sinh Hoạt Phật trả lời khách hỏi (4)


**Hỏi: Mối quan hệ giữa đạo Bà La Môn và Phật giáo Mật tông như thế nào? Tại sao cho đến nay, vẫn có người chỉ trích Mật tông là đạo Bà La Môn?**

Đáp: Thực ra đạo Bà La Môn là tôn giáo cổ xưa của Ấn Độ. Khi Phật Thích Ca Mâu Ni lúc đầu xuất gia học đạo, từng theo học với sáu vị tiên nhân của đạo Bà La Môn.

Sau đó chỉ có thể tu khổ hạnh đến Tứ Thiền Thiên, cuối cùng Phật Thích Ca Mâu Ni rời bỏ việc tu khổ hạnh, dưới cội bồ đề bên bờ sông Ni Liên Thiền đã ngộ đạo. Sau đó mới sáng lập ra Phật giáo.

Chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang và chư thiên trong Phật giáo phần lớn đều là sự chuyển hóa từ đạo Bà La Môn, đây là sự thật không thể phủ nhận. Do lịch sử Mật tông đã có từ rất lâu đời, và đã tồn tại từ thời cổ đại tại Ấn Độ, với rất nhiều phái khác nhau. Yoga có nghĩa là tương ứng, trong đó có Kundalini Yoga, Chân ngôn Yoga, Trí huệ Yoga, Luyện thân Yoga, Dung nhập Yoga, Tín hành Yoga, v.v…, tất cả đều có mối liên hệ mật thiết với Phật giáo cổ đại.

Mật tông Tây Tạng được truyền từ Ấn Độ sang Tây Tạng trong khoảng thế kỷ VII đến VIII. Lúc bấy giờ tại Tây Tạng thịnh hành tín ngưỡng thần giáo nguyên thủy mê tín (Hắc giáo), với các nghi lễ tà ác như giết trẻ sơ sinh tế thần, chú thuật ngũ độc, chú thuật sát nhân, gây mưa đá và nhiều loại tà thuật độc ác khác, khiến người Tây Tạng căm phẫn nhưng không dám lên tiếng. Có thể nói ma quỷ hoành hành.

Sau đó Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đến Tây Tạng, hàng phục Hắc giáo, chế ngự tất cả loài ma, chân chính hoằng dương Phật giáo Đại thừa, đây chính là nguồn gốc của Phật giáo Lạt Ma Tây Tạng.

Trước khi Mật tông được truyền vào, tà giáo nguyên thủy của Tây Tạng chính là Đạo Bon, còn được gọi chung là Hắc giáo, thông thạo chú thuật, dùng phép thuật sát hại người và gây mưa đá, bị chính giáo Tây Tạng nghiêm cấm.

Việc Mật tông bị chỉ trích là đạo Bà La Môn là có nguồn gốc của nó, bởi vì Phật giáo từ thuở ban đầu cũng đã pha trộn một số tư tưởng của đạo Bà La Môn, chư thiên và chư Phật Bồ Tát trong Phật giáo Mật tông phần lớn cũng là sự chuyển hóa từ đạo Bà La Môn, pháp tu yoga của họ cũng có một phần từ pháp môn yoga của Ấn Độ giáo, có lẽ vì thế mà Mật tông bị chỉ trích là đạo Bà La Môn.

**Hỏi: Tạng mật có Tứ gia hành, vậy Đông mật có Tứ gia hành không?**

Đáp: 

Tứ gia hành của Tạng mật (Bạch giáo, Hồng giáo):
Pháp Tứ quy y.
Pháp Đại lễ bái.
Pháp cúng mandala (Đại cúng dường).
Pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát.
Tứ gia hành của Đông mật:
Mười tám khế đạo.
Mandala Thai Tạng Giới.
Mandala Kim Cương Giới.
Pháp Hộ Ma.

Trong Chân Phật Mật Uyển của Liên Sinh Hoạt Phật có hai bức tranh mandala Thai Tạng Giới và Kim Cương Giới, và còn có một lò Hộ Ma vũ trụ bàn. Đối với Tứ gia hành của Đông mật, Liên Sinh Hoạt Phật đã tu tập từ rất sớm, và thấu hiểu tường tận mọi điều về Đông mật.

**Hỏi: Ngoài việc đề xướng Chân Phật Mật Pháp, Liên Sinh Hoạt Phật có quan điểm gì về Tịnh Độ tông?**

Đáp: Những năm đầu, Liên Sinh Hoạt Phật cũng tu tập pháp môn Tịnh Độ, nói thẳng ra thì cho đến tận bây giờ, Liên Sinh Hoạt Phật vẫn không ngừng trì niệm thánh hiệu. Cần biết rằng, Tịnh Độ tông do Đại sư Huệ Viễn sáng lập, là pháp môn tiện lợi đại chúng hóa, chỉ cần trì niệm thánh hiệu đến nhất tâm bất loạn, sức mình hòa hợp với sức nhiếp thọ của Phật thành một thể, thì có thể vãng sinh Tây phương tịnh thổ.

Pháp môn niệm Phật vãng sinh này có phương pháp tu tập đơn giản, ai cũng dễ học. Nhưng thực ra để đạt đến nhất tâm bất loạn cũng không dễ dàng, nhất tâm bất loạn này chính là lục căn thanh tịnh, nghiệp diệt huệ viên, hội quy pháp giới, cũng chính là công phu "định".

Trong cuốn "Bí Mật Trong Chân Phật Mật Pháp" này, Liên Sinh Hoạt Phật cũng dạy người trì niệm Phật hiệu, tùy tâm trì niệm thánh hiệu của Bổn tôn của mình, quán tưởng hình tượng Bổn tôn, miệng tụng thánh hiệu, tay kết ấn Bổn tôn, đây chính là "tam mật". Cách trì niệm Phật hiệu hợp nhất tam mật như vậy, đến khi đạt nhất tâm bất loạn, tức là thành tựu thượng phẩm.

Tôi cho rằng Tịnh Độ tông trì niệm đến nhất tâm bất loạn, chính là định. Khi công phu tam mật thuần thục, cũng chính là định.

Thiền tông cuối cùng cũng là định, vì vậy các tông phái của Phật môn, dù đi nhiều con đường khác nhau nhưng cuối cùng đều về một đích.

Cá nhân tôi đề xướng Chân Phật Mật Pháp, nhưng không hề bài xích các tông phái khác, ngược lại còn cảm thấy nó hòa hợp hơn với các tông phái, Liên Sinh Hoạt Phật đề xướng Hiển-Mật viên thông, thậm chí là Đạo-Hiển-Mật viên thông. Ánh sáng của Chân Phật Mật Pháp của tôi còn rực rỡ hơn cả ánh sáng vốn có, bởi vì sự trụ thế của Chân Phật Tông có thể nói là một đại kỳ duyên hiếm có trong vạn kiếp. Người đời nay nên khéo nắm bắt cơ duyên tốt, nhanh chóng quy y nhận quán đảnh, đừng để lỡ cơ hội thành Phật.

Đây là "thậm thâm vô thượng vi diệu pháp, trăm nghìn vạn kiếp khó gặp được".

**Hỏi: Xin hỏi Liên Sinh Hoạt Phật, pháp Phowa có phải ai cũng tu được không? Sau khi khai mở lỗ đỉnh đầu nghe nói nó sẽ liền lại, và pháp Phowa có thật sự làm giảm tuổi thọ không?**

Đáp: Đỉnh đầu của tôi, cách từ chân tóc đo vào khoảng tám đốt ngón tay có một lỗ lõm, lỗ lõm này chính là đỉnh khiếu. Xương ở đỉnh khiếu của tôi đã tách ra, tạo thành một lỗ lõm tự nhiên, lỗ lõm này đi thẳng xuống, có thể đạt đến vùng tim, rồi xuống đến đan điền. Khi tôi viên tịch, chỉ cần đưa nguyên tố sống của sinh mệnh xông lên đỉnh khiếu là thành Phật.

Lỗ thông đỉnh khiếu trên đỉnh đầu của tôi có kích thước bằng một đồng tiền đồng thông thường, khi dùng tay nhấn vào chỉ có da và lỗ lõm, không có xương. Đây chính là chứng minh Liên Sinh Hoạt Phật đã khai mở đỉnh khiếu.

Pháp Phowa chính là pháp khai mở đỉnh khiếu, tôi cho rằng ai cũng có thể tu tập được. Người đã khai mở đỉnh khiếu chắc chắn sẽ vãng sinh Tây phương, bởi vì đỉnh khiếu là thiên lộ duy nhất nhanh chóng trực tiếp để vãng sinh. Nguyên tố sống của sinh mệnh chỉ có thoát ra từ đỉnh khiếu thì mới có thể sinh về cõi trời, nếu thoát ra từ những nơi khác sẽ là con đường luân hồi lục đạo.

Nếu pháp Phowa khai đỉnh được khai mở nhờ sự giúp đỡ của Căn bản Thượng sư, mà đệ tử không tiếp tục tu tập pháp Phowa một cách nghiêm túc, thì lỗ đỉnh đầu sẽ liền lại. Bởi vì sự khai mở của Căn bản Thượng sư chỉ là tạm thời, xương đã được khai mở sẽ khép lại, nhưng nếu tự mình tu tập để khai mở, dựa vào tự lực để khai mở, thì sẽ bền vững và không bị mất đi.

Một số hành giả Mật tông cho rằng thường xuyên tu tập pháp Phowa sẽ giảm tuổi thọ, điều này là do nguyên tố sống của sinh mệnh thường xuyên vận chuyển đến đỉnh khiếu, khi đột nhiên có một tiếng động mạnh, nó sẽ xuất ra khỏi đỉnh khiếu, nếu xuất ra mà không quay về, tức là tử vong. Vì vậy có người chủ trương pháp Phowa cần phải kết hợp tu tập với pháp trường thọ.

Pháp Phowa được ghi chép trong cuốn sách "Vô Thượng Mật và Đại Thủ Ấn".

**Hỏi: Nghe nói nguồn gốc của Liên Sinh Hoạt Phật là Liên Hoa Đồng Tử, và Ma Ha Song Liên Trì do Vô Tà Nhãn Như Lai hóa hiện, Vô Tà Nhãn Như Lai lại chính là danh xưng khác của Phật Nhãn Phật Mẫu, xin hỏi nguồn gốc của Phật Nhãn Phật Mẫu là gì?**

Đáp: Người nghiên cứu Mật pháp cần hiểu rõ ba loại Bộ Mẫu, ba Bộ Mẫu này như sau:

Phật Bộ - lấy Phật Nhãn Phật Mẫu làm Bộ Mẫu.
Liên Hoa Bộ - lấy Bạch Y Quan Thế Âm Bồ Tát làm Bộ Mẫu.
Kim Cang Bộ - lấy Mang Ma Cơ Bồ Tát làm Bộ Mẫu.

Phật Nhãn Phật Mẫu là Bộ Mẫu đứng đầu của Phật Bộ, nguồn gốc của Ngài chính là hóa thân của Đại Nhật Như Lai và Thích Ca Mâu Ni Phật, tôn hiệu của Ngài là Nhất Thiết Phật Nhãn Đại Kim Cang Cát Tường Nhất Thiết Phật Mẫu Tâm Tôn, ánh sáng từ bi của Ngài chiếu khắp mọi nơi, nên mới gọi là Phật Nhãn Tôn vậy.

Nguồn gốc của Phật Nhãn Phật Mẫu chính là nguồn gốc của Liên Hoa Đồng Tử. Nguồn gốc ấy chính là Đại Nhật và Thích Ca.


### 35. Liên Sinh Hoạt Phật trả lời khách hỏi (5)


**Hỏi: Chúng tôi đã hiểu được ý nghĩa tu hành của Chân Phật Tông và Chân Phật Mật Pháp, giờ chúng tôi muốn quy y Chân Phật Tông, nhận được truyền thừa của Chân Phật Tông, vậy chúng tôi phải quy y như thế nào?**

Đáp: Muốn quy y Liên Sinh Hoạt Phật, nhận được truyền thừa của Chân Phật Tông, có hai cách:
Đến quy y trực tiếp - tức là trước tiên liên lạc hẹn thời gian, từ khắp nơi trên thế giới, bay đến Chân Phật Mật Uyển ở thành phố Redmond, Seattle, Mỹ, để được Liên Sinh Hoạt Phật đích thân quán đảnh quy y.

Sau khi quy y quán đảnh, Liên Sinh Hoạt Phật sẽ trao chứng thư quy y, pháp tướng của Căn bản Thượng sư và pháp bản tu trì, như vậy là đã nhận được truyền thừa.

Quy y bằng thư - Do đệ tử trải khắp mọi ngóc ngách trên thế giới, người mới muốn đến quy y trực tiếp với Liên Sinh Hoạt Phật không phải dễ dàng. Vì vậy, đệ tử muốn quy y chỉ cần vào sáng sớm 7 giờ ngày mùng một hoặc rằm âm lịch, hướng về phía mặt trời mọc, tụng chú Tứ quy y ba lần: "Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê. Liên Sinh Hoạt Phật chỉ dẫn. Quy y Chân Phật."
Tụng ba lần lạy ba lạy. (Ngày mùng một hoặc rằm, một lần là đủ.)

Tại Liên Sinh Hoạt Phật, vào mỗi ngày mùng một và rằm, Chân Phật Mật Uyển sẽ cử hành nghi thức quán đảnh từ xa để quán đảnh cho những đệ tử không thể đến trực tiếp.

Sau khi làm xong nghi thức tại nhà, đệ tử chỉ cần viết thư, ghi rõ họ tên thật, địa chỉ, tuổi, kèm theo một ít cúng dường Phật tùy tâm, trong thư ghi chú là "xin quán đảnh quy y". Sau đó gửi đến Chân Phật Mật Uyển ở Mỹ. Sau khi Liên Sinh Hoạt Phật nhận được thư, sẽ gửi cho mọi người chứng thư quy y và pháp tướng của Thượng sư, đồng thời chỉ định bắt đầu tu từ pháp nào. Đây cũng chính là nhận được truyền thừa của Liên Sinh Hoạt Phật.

Địa chỉ của Chân Phật Mật Uyển:

Sheng-yen Lu
17102 NE 40th Ct.
Redmond, WA 98052
U. S. A.

**Hỏi: Sau khi nhận được truyền thừa của Liên Sinh Hoạt Phật, chúng tôi phải tu pháp như thế nào? Thời gian nào là tốt nhất để tu? Mỗi ngày nên tu mấy lần? Trong những trường hợp đặc biệt không thể tu pháp thì phải làm sao?**

Đáp: Sau khi nhận được truyền thừa của Liên Sinh Hoạt Phật, cần phải thiết lập đàn Mật pháp (xem sách "Thế Giới Bên Hồ"), sau khi thiết lập đàn thành xong, bắt đầu tu pháp theo thứ tự, có thể tu theo pháp bản "Bí Mật trong Chân Phật Mật Pháp", mỗi khi bước vào một cấp độ mới, trước tiên phải xin Thượng sư quán đảnh gia trì, sau đó mới tu.

Thời gian tu pháp do mình tự chọn, đương nhiên phải tìm thời điểm rảnh rỗi nhất trong ngày, mỗi ngày tu một lần hoặc hai lần đều được, hoàn toàn tùy thuộc vào thời gian của mình.

Thời gian tu pháp trong đàn thành dài ngắn, một pháp nếu nhanh thì hai mươi phút có thể kết thúc, nếu chậm thì năm mươi phút có thể kết thúc, đây là kinh nghiệm của Thượng sư.

Trong những trường hợp đặc biệt như đi du lịch, tham gia tour du lịch theo đoàn, sống tập thể (trong quân đội) v.v…, khi không thuận tiện tu pháp, có thể chỉ trì tụng Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh hoặc chân ngôn chú ngữ, không cần phát âm thành tiếng, niệm thầm là được, điều này tùy theo sự thuận tiện của mỗi người mà trì tụng.

Đối với đệ tử không thuận tiện thiết lập đàn Mật pháp, có thể thiết lập đàn tạm thời khi tu pháp, chỉ cần lấy pháp tướng của Thượng sư ra là có thể tu pháp, hoặc quán tưởng đàn ở trong hư không, đây đều là pháp tiện lợi.

Đệ tử có thể thiết lập đàn Mật pháp nên thờ pháp tướng Thượng sư. Bởi vì pháp tướng Thượng sư có công đức thù thắng, là tổng trì của tất cả Mật pháp, là chủ của ngũ luân tổng pháp, là chủ của Mật pháp.

Đệ tử Chân Phật Tông tu pháp, tuyệt đối không nên suốt ngày trốn trong mật đàn từ sáng đến tối, từ tối đến sáng, không ngủ không nghỉ để tu trì. Cư sĩ tu pháp, mỗi ngày chỉ cần năm mươi phút, bình thường cũng phải giống như người bình thường, đi làm thì đi làm, đi học thì đi học, không nên để người khác thấy kỳ lạ, nghĩa là ngoài cuộc sống thường ngày ra, chúng ta chỉ thêm năm mươi phút tu pháp học Phật. Chỉ vậy thôi.

**Hỏi: Khi tu tập Chân Phật Mật Pháp, có cần ăn chay không?**

Đáp: Đệ tử quy y Chân Phật Tông có người xuất gia, có tì kheo, tì kheo ni, họ giữ giới luật của người xuất gia nên đương nhiên phải ăn chay.

Đệ tử quy y Chân Phật Tông có cư sĩ tại gia, người tại gia khi ra ngoài, việc ăn chay quả thật có điều bất tiện, cho nên khi tu tập Chân Phật Mật Pháp, ăn chay hay không ăn chay là tùy theo ý nguyện của mỗi người.

Tuy nhiên, dù thế nào đi nữa, không được sát sinh để ăn. Nghĩa là chúng ta không được giết sinh vật đang sống. Muốn ăn thì có thể mua về ăn được.

Các hành giả Mật tông Tây Tạng không ăn chay, điều này là do môi trường địa lý, Tây Tạng là vùng du mục, rau củ lúa gạo không phát triển được, chỉ có thể ăn thịt, vì vậy Phật giáo Tây Tạng không cấm rượu thịt.

Vấn đề ăn chay hay không ăn chay hoàn toàn tùy thuộc vào ý nguyện của mỗi người, cũng có thể thay đổi theo hoàn cảnh của mình. Ví dụ khi xuất gia thì ăn chay, khi về già cảm thấy ăn mặn không tốt thì cũng có thể chuyển sang ăn chay, đây là sự chuyển biến của cá nhân.

**Hỏi: Kế hoạch độ thế trong tương lai của Liên Sinh Hoạt Phật là gì?**

Đáp: Tôi xin thành thật nói với mọi người rằng, sự giáng sinh của Liên Hoa Đồng Tử xuống nhân gian chính là vì một nhân duyên đại sự, viết sách để lưu lại giáo pháp cho thời này, tùy duyên viết tác phẩm, giáo hóa chúng sinh.

Từ Cơ Đốc giáo, Đạo giáo, Hiển giáo, Mật giáo, lần lượt tầm sư cầu đạo, đến nay đã minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử, thuyết pháp ở đời, phổ độ chúng sinh. Pháp độ thế của tôi là viết sách để phá mê hoặc của chúng sinh, đánh trống pháp lớn, gióng chuông pháp lớn, dựng cờ pháp lớn, lập chỉ ý Chân Phật.

Tôi thuyết pháp, lớn nhỏ vô số, thực hành lời thề của Kim Cang Tát Đỏa, chính là vị chủ bí mật của Kim Cương Chân Ngôn Giới. Hoàn toàn thấu hiểu tác Mật, tu Mật, du già Mật, Vô thượng du già.

Tôi thực hiện pháp độ vong - dùng thần lực đại thủ ấn bất khả tư nghì và công lực mật chú mạnh mẽ, khiến cho thần thức thân linh hiển hiện và được giải thoát nhanh chóng.
Tôi thực hiện pháp cầu phúc - vượt thoát lĩnh vực vật chất, hiển lộ thần thông vi diệu và rộng lớn, khiến người cầu phúc được mãn nguyện, đạt thành tựu lớn, chúng sinh hoan hỷ.

Tương lai sau khi hoàn thành việc viết sách, tôi sẽ từ bỏ tất cả. Từ bỏ danh, từ bỏ lợi, nghĩa là từ bỏ hoàn toàn vợ, tài sản, con cái, bổng lộc. Ngay cả họ tên của mình cũng từ bỏ, Chân Phật Tông cũng từ bỏ, vị trí tông chủ cũng từ bỏ, danh hiệu Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư cũng từ bỏ, Liên Sinh Hoạt Phật cũng từ bỏ, tất cả đều từ bỏ hết. Lúc đó, tôi sẽ trở thành một ẩn sĩ phiêu bạt bốn phương. Phật pháp không rời pháp thế gian, tôi sẽ đi đây đó, nếu gặp người hữu duyên, sẽ tùy duyên thuyết pháp, độ họ, nếu gặp người vô duyên, chỉ mỉm cười mà thôi, tự tại qua lại trong cõi Ta Bà, đó gọi là tùy duyên độ chúng sinh. Khi thời điểm đến, tôi sẽ ẩn tích, không còn xuất hiện trong nhân gian nữa. Đời này "Tây Phương Liên Trì Hải Hội, Ma Ha Song Liên Trì, Thập Bát Đại Liên Hoa Đồng Tử, Bạch Y Thánh Tôn, Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng sư, Chủ Kim Cương Chân Ngôn Giới Bí Mật Chủ, Đại Trì Minh Đệ Nhất Thế Linh Tiên Chân Phật Tông, Lư Thắng Ngạn Mật Hành Tôn Giả" sẽ thực sự viên tịch.

Đất trở về với đất.
Khí trở về với khí.
Vạn pháp trở về với tính Không.

Và trong cõi người, Chân Phật Mật Pháp vẫn tiếp tục được lưu truyền, danh hiệu Liên Sinh Hoạt Phật này không chỉ là một đời giáo chủ, mà sự truyền thừa này sẽ thành tựu nhiều nhân vật hiếm có tuyệt thế, được vạn đời tôn sùng, đây chính là "sự phó thác ân cần" của truyền thừa này.

**(Hết.)**

---

---
# File: sach-tam-linh/067-tieng-long-cua-nguoi-quy-y.md
# Title: 067. Tiếng lòng của người quy y
---

## Tiếng lòng của người quy y


🪷 Trải nghiệm của đệ tử mười phương

Văn tập: 067
Xuất bản: 11/1986
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


**Truyền bá hạt giống bồ đề**

Đây là hành trình hoằng pháp của tôi, quyển sách thứ 67, nấc thang thứ 67.

Quyển sách này có đôi chút khác biệt so với những quyển trước, nhan đề là "Tiếng lòng của người quy y", cũng chính là "Trải nghiệm của đệ tử mười phương". Quyển sách này là tóm tắt của toàn thể đệ tử, là sự bộc lộ tâm ý của đại chúng đệ tử.

Để cứu độ thêm nhiều chúng sinh, tôi đương nhiên coi trọng "quan hệ duyên khởi" của các đệ tử. Tiếng lòng của bất kì đệ tử nào cũng sẽ ảnh hưởng đến tiến trình độ thế. Tôi và các đệ tử có mối quan hệ mật thiết với nhau, nên những gì được ghi chép trong quyển sách này bao gồm muôn điều, không chỉ thấu hiểu chân lý nhân sinh, chỉ dạy thực hành, mà còn phân tích tâm đắc tu trì từ tương ứng đến vô thượng chính đẳng chính giác.

Trong sách, tôi sẽ dùng văn tự để dẫn dắt đại chúng đi trên con đường giác ngộ quang minh, tỏa ra ánh sáng vô hạn để soi rọi bóng tối trùng trùng của nhân gian.

Từ trong trải nghiệm của các đệ tử mười phương, tôi xác định được phương châm độ thế cần có, từ đó nắm bắt được phương hướng giác ngộ người đời, thể ngộ được tất cả điều chân chính thiện lành, làm sáng tỏ Phật lý đúng đắn. Cách viết như thế mới có thể thực sự phúc huệ song tu, giải hành tương ưng.

Trải nghiệm của đệ tử mười phương được trích từ thư gửi đến của nhiều đệ tử, chắt lọc những trải nghiệm và tâm tình quan trọng, biên tập thành sách. Mỗi bài tâm tình đều có thêm lời chú giải của tôi, cách viết như vậy khiến pháp không cô lập, có "tâm" có "tiếng", là một nhân duyên rất đặc biệt, cũng là một quyển sách rất hay.

Tôi mong rằng nhờ nhân duyên từ quyển sách "Tiếng lòng của người quy y" này, với phương tiện độ sinh của nó, có thể dẫn dắt đại chúng hướng thiện, không chỉ làm tịnh hóa tâm họ, mà còn khiến chúng sinh lần lượt quy y Chân Phật, ai ai cũng tu trì theo Chân Phật Mật Pháp, ai ai cũng thành tựu, ý nghĩa như vậy thật sâu xa biết bao!

Tôi tự cảm thấy, sau bao năm học Phật, bao năm viết văn, sau khi giác ngộ, tinh thần của một hành giả đã hoàn toàn hiển lộ. Hiện nay, tôi chỉ có tâm đại bồ đề, tâm đại bồ đề này bao hàm đại bi vô úy, đại trí vô tư, tất cả của tôi, dường như hoàn toàn "không vô", những gì tôi có, chỉ là hai chữ "bố thí".

Liên Sinh Hoạt Phật đương nhiên có Phật có pháp, nhưng tôi không phải đi sở hữu Phật pháp mà là đem Phật pháp ban cho chúng sinh khắp thiên hạ. Tôi là một hành giả chân chính, tôi sở hữu khí phách bao la vô biên, những bước chân vững chắc đi đến cảnh giới chân tri chân kiến, đối với việc độ hóa chúng sinh cũng có đại hạnh mang tính nguyên tắc, tất cả những điều này đều nhằm thực hiện sự truyền bá hạt giống bồ đề.

Đương nhiên, trong cuộc đời này, nỗi nhục của tôi cao như núi, lời phỉ báng sâu như biển, nhưng, tất cả những điều này đã khiến tôi sinh ra tâm trắc ẩn, sinh ra tâm đồng cảm, và hơn nữa là tâm bố thí. Trong tu hành cá nhân, tôi đã sớm chuyển hóa sự nhục nhã và phỉ báng thành pháp lạc của mình.
Tôi sẽ thực hiện:
Đại bi vô úy.
Đại trí vô tư.

Qua trải nghiệm của đệ tử mười phương, tôi nhận ra rằng những nỗ lực khai phá và truyền pháp của mình thực sự đã có chút thành quả, hiển hiện trước đại chúng một cách thông suốt và khoáng đạt. Mặc dù vẫn còn nhiều trở ngại từ nhiều phía, nhưng tôi chỉ cảm thấy hành nguyện luôn ở trong tâm, không bao giờ nản lòng, chỉ cần "hành", không màng đến "danh".

Trong "Tiếng lòng của người quy y", những gì tôi viết ra đều dựa trên nền tảng đại bồ đề tâm. Tôi dạy các đệ tử, ai ai cũng học tập con đường trung đạo của hành giả. Không khúm núm nhưng cũng không kiêu ngạo, có cảnh giới chớ mừng, không cảnh giới chớ lo. Tâm chí khoáng đạt và rộng mở, không xa lánh người đời, nhưng cũng không nhập thế lẫn với bụi trần. Tất cả đều rõ ràng minh bạch, tất cả đều được ánh sáng bồ đề chiếu rọi.

Trên thế giới này, có vô vàn chuyện kỳ quái khác thường, chúng ta phải dùng tâm không phân biệt để nhìn nhận.
Trên thế giới này, có rất nhiều chuyện oán thân yêu ghét, chúng ta phải dùng tâm bình đẳng để đối trị.
Trên thế giới này, có rất nhiều phiền não được mất, chúng ta phải dùng tâm đại tự tại để đối trị.
Nhìn thấu, buông bỏ, tự tại chính là "thiền".

Đương nhiên, Liên Sinh Hoạt Phật có mười hai vạn đệ tử, đạo tràng hoằng pháp trải khắp toàn thế giới, nhưng, những thành quả nhỏ bé này vẫn chưa đủ. Những hạt giống bồ đề tương lai này vẫn cần dựa vào sự hoằng dương truyền bá của tất cả đệ tử, tiếp tục phát triển, phát huy rạng rỡ.

Trải nghiệm của đệ tử mười phương cũng chính là trải nghiệm của "bạn, tôi và họ", mỗi người chúng ta đều đã đi qua những trải nghiệm này.......

Viết một bài kệ để ghi nhớ:
*Liên Sinh Hoạt Phật được người tin tưởng
Đệ tử mười phương đầy khắp giang hồ
Tiếng lòng tuôn chảy giữa muôn dòng chữ
Nở ra hoa sen đắc được chân như.*

Tháng 12 năm 1986 tại Chân Phật Mật Uyển, thành phố Redmond, bang Washington, Hoa Kỳ.

Thông tin liên lạc của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn:

**Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U. S. A.


### 01. Truyền nhân của Mật pháp vô thượng


Ân sư tôn kính nhất!

Hôm qua trong cuộc điện thoại đường dài, được nghe giọng từ ái của ân sư, vì quá vui mừng, con lúng túng trong lời nói, kính mong ân sư đừng để tâm.

Từ khi từ biệt dung nhan từ bi của ân sư, con không lúc nào không nhớ đến, tâm tư luôn vương vấn, không giây phút nào không ở bên cạnh ân sư. Tất cả những gì ân sư và sư mẫu đã ban cho, con thực sự không thể dùng lời để diễn tả lòng biết ơn, chỉ xin hết đời này dùng thân khẩu ý nhất tâm cúng dường! Con tuyệt đối không phụ lòng mong đợi của ân sư.

Hôm qua ông Đắc Long đến Hồng Kông thăm và muốn trò chuyện với con. Sau cuộc nói chuyện, con vô tình nhận ra rằng cảnh giới của mình đã cao hơn nhiều, có thể phân biệt được thật giả, đúng sai, rõ ràng trong tâm, đây là trí tuệ mà ân sư đã ban cho! Con cũng đối xử với ông Đắc Long một cách viên dung, không bao giờ tranh cãi và luôn đối đãi lễ phép. Có lẽ ông ấy là một hòn đá thử vàng cho con! Qua sự so sánh thực tế này, con càng hiểu rõ trí tuệ mà ân sư ban cho cao siêu và quý báu đến nhường nào, không gì sánh được! Sau khi ông Đắc Long ra về, con xúc động không thể kiềm chế, rơi lệ tạ ơn ân sư...
(Chúng sinh đáng thương, ai hiểu được cảnh giới của ân sư lại cao siêu tuyệt đối như vậy.)

Chúc mừng pháp hội truyền pháp của Kim Cang Đường ở New York viên mãn thù thắng, Phật quang của ân sư chiếu khắp!
Một lần nữa đệ tử khấu đầu tạ ơn ân sư ban cho đại phúc huệ, thành tâm mong mỏi ân sư, sư mẫu và gia đình quang lâm Hồng Kông.

Xin viết hai bài kệ, cúi mong ân sư từ bi chỉ dạy.

(Một)

*Thánh Tôn từ bi vĩ đại
Sự khai thị của "tâm pháp vô thượng"
Như thể đánh thức ký ức đã quên lãng của con!
Hóa ra tất cả đều là những người quen cũ!
A! Thì ra là vậy, thì ra là vậy
Sau khi khai ngộ, buồn vui đan xen
Bởi vì "con chính là Phật!"*

(Hai)

*Vui không phải vui, buồn không phải buồn
Đâu còn phân biệt ta với người nơi cõi trần;
Chẳng phải tĩnh, chẳng phải động
Không có không gian cũng chẳng có thời gian.*

Kính chúc:
Pháp luân thường chuyển, Phật quang phổ chiếu.
Đệ tử ngu muội Thượng sư Liên Hàn chí thành đảnh lễ.
09.08.1986.

🌟

Bức thư này do Thượng sư Liên Hàn viết.

Thượng sư Liên Hàn đã nhiều lần đến Chân Phật Mật Uyển ở thành phố Redmond để tu học. Tôi đã truyền dạy cho ông ấy "tâm pháp vô thượng" chân chính. Tâm pháp vô thượng này chính là pháp môn trực tiếp dẫn dắt hành giả Mật tông đạt đến tức thân thành Phật.

"Vô thượng" nghĩa là không có gì cao hơn pháp này nữa.
Đây là từ "vô sinh nhẫn" đạt đến cảnh giới thực tướng hiện tiền, giác tính rộng lớn khắp mười phương, tiến vào "tịch diệt nhẫn", thấy mười phương Như Lai tràn đầy khắp hư không.

Ở phương diện hữu hình, tâm pháp vô thượng này hấp thu dòng pháp của tất cả Như Lai trong pháp giới từ đỉnh đầu, hiển hiện nguyệt luân thanh tịnh, bản thân trở thành pháp thân Như Lai nguyên sơ, tương ứng với nhất thiết trí trí.

Tên tổng thể của tâm pháp vô thượng là Đại Nhật.
Tên Như Lai của tâm pháp vô thượng là Phổ Hiền.

Bí mật vô hình của tâm pháp vô thượng này cần được Liên Sinh Hoạt Phật trực tiếp truyền dạy, và vô cùng bí mật, đây chính là tâm ấn trực tiếp của Như Lai Thích Ca Mâu Ni.

Liên Sinh Hoạt Phật sở hữu tâm pháp vô thượng, sở hữu tâm ấn vô thượng của Phật Thích Ca Mâu Ni, bởi vì tôi là truyền nhân của Mật pháp vô thượng, người đạt được tâm pháp vô thượng này chính là truyền nhân của Mật pháp vô thượng.

Trên thế giới này, trong vô vàn chúng sinh, có nhiều pháp sư tự cho rằng pháp của mình là lớn nhất, pháp của mình là cao nhất, thực ra họ không hiểu được Mật pháp vô thượng.

Tôi muốn chúng sinh lĩnh hội được rằng "tự tâm" vốn đầy đủ vô lượng công đức, không bị mê hoặc bởi tất cả pháp sinh diệt. Nếu đạt đến cảnh giới như vậy thì có thể hiển hiện hư không tạng tính!

Một người thực sự đạt được hư không tạng tính chính là truyền nhân của Mật pháp vô thượng.
Hôm nay tôi nhìn vô vàn chúng sinh, thực sự có lòng thương xót.
Chúng sinh đáng thương ơi! Có bao nhiêu người có thể hiểu được?


### 02. Tư tưởng của quán vô ngã


Kính Liên Sinh Sư Tôn minh giám!
Chào Sư Tôn, nhớ thầy nhiều!
Đệ tử Liên Tư, Liên Tung chắp tay đảnh lễ Thượng sư. Om mani padme hum.

Chúng con dâng lên cúng dường tịnh tài tháng 8, thay mặt tất cả đệ tử tu pháp của Chân Phật Tông cúng dường Sư Tôn.

Thay mặt tất cả tổ tiên nhiều đời, chúng sinh ở địa ngục, ngạ quỷ và vong linh không nơi nương tựa của các đệ tử Chân Phật Tông, đăng ký tham gia đại pháp hội siêu độ do Hoạt Phật chủ trì.

Chúng con không cầu công đức, nếu có công đức, chúng con xin hồi hướng tất cả công đức cho tổ tiên nhiều đời của Chân Phật Tông, chúng sinh trong sáu đường và các vong linh không nơi nương tựa.

Thưa Sư Tôn! Thời gian trôi qua nhanh như bóng câu qua khe cửa, nếu chúng sinh không thể dành một chút thời gian để tu pháp tu tâm, thì sống trên đời này còn ý nghĩa gì?

Om ah hum guru beh ahasasamaha liansheng siddhi hum.
Kính chúc Phật an!
Liên Tư - Liên Tung chắp tay.
26.07.1986.

🌟

Bức thư này được gửi từ Singapore.
Hai đệ tử này thay mặt các đệ tử khác cúng dường, thay mặt tổ tiên của các đệ tử đăng ký tham gia pháp hội siêu độ. Họ nói không cầu công đức, không cầu bất cứ điều gì.

Đây là không vì bản thân, quên đi cái tôi của mình - vô ngã, trong đó có tư tưởng của quán vô ngã, phù hợp với một trong ba pháp ấn là "chư pháp vô ngã" ấn.

Trong "Kinh Kim Cang" có nói:
"Nếu Bồ Tát còn tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sinh, tướng thọ giả, tức chẳng phải là Bồ Tát."
"Bạch Thế Tôn, tại sao Bồ Tát không thọ nhận phúc đức? Này Tu Bồ Đề, Bồ Tát tạo các phúc đức không nên tham đắm, vì thế nói là không thọ nhận phúc đức."
"Này Tu Bồ Đề, nếu phúc đức là thật có, Như Lai đã không nói phúc đức nhiều. Chính vì phúc đức là không, nên Như Lai mới nói phúc đức nhiều."

Ba câu nói trên trong "Kinh Kim Cang" đáng cho tất cả đệ tử suy nghĩ kĩ, tôi xin giải thích ngắn gọn, súc tích ba điểm:
Thứ nhất, làm một vị Bồ Tát, trước tiên phải học "vô ngã".
Thứ hai, Bồ Tát không tham đắm phúc đức.
Thứ ba, "không" của phúc đức, lớn hơn "có" của phúc đức. Phúc đức vốn "không", nếu "có", thì không phải là phúc đức.

Hành giả Mật tông cần biết rằng, tư tưởng quán vô ngã này chính là nguồn gốc của tu pháp, tôi có thể nói rằng, tất cả cảnh giới mầu nhiệm của "ranh giới không sinh" vốn phát sinh từ vô ngã. Tôi luôn nhấn mạnh, dòng pháp quang minh của mười phương Như Lai muốn đi vào thân hành giả, điểm then chốt để dòng pháp quang minh kết hợp với tự tính ẩn tướng chính là hai chữ "vô ngã".
"Ngồi quên chính mình".
"Không tự giác".
"Không hình không tướng".

Hành giả Mật tông chỉ cần thực sự đạt đến cảnh giới vô ngã, tự nhiên sẽ có ánh sáng quang minh thù thắng đổ vào trong tự tính, và chúng ta có thể từ trong tình thức, hoàn toàn đưa ánh sáng này ra, làm cho nó trở nên rực rỡ, tự nhiên có thể hòa nhập vào biển ánh sáng pháp giới, gặp gỡ tất cả chư Phật trong ba đời mười phương.

Nói về Ngoại pháp, không cầu tất cả công đức, tất cả công đức hồi hướng cho chúng sinh.
Nói về Nội pháp, cần buông bỏ tối đa tất cả trần lao tạp niệm, trong tự tính có một điểm ánh sáng tinh khiết, dần dần hình thành nguyệt luân sáng trong, dòng pháp quang minh của mười phương Như Lai đổ vào, hòa quyện với nhau, tự thành biển ánh sáng pháp giới.

Tôi cảm thấy vẫn còn rất nhiều đệ tử không hiểu được vô ngã, họ vẫn còn ích kỷ, chỉ làm việc vì phúc đức của chính mình.
Pháp sự chỉ là vì tư lợi.
Không thật sự độ chúng sinh.
Những đệ tử như vậy, đương nhiên sẽ không bao giờ trở thành Bồ Tát, bởi vì "Kinh Kim Cang" đã chỉ rõ, Bồ Tát không thể có tướng ngã. Bồ Tát không tham đắm phúc đức.

Đệ tử mà tướng ngã nặng nề, tu pháp sẽ không đạt được tương ứng, bởi vì tâm tham lam nặng nề, trần cảnh tạp niệm quá nhiều, quá nhiều vọng tưởng, dòng pháp ánh sáng của mười phương Như Lai sẽ không đổ vào thân, như vậy rất khó có lúc tương ứng.

Tam Luận Tông của Phật giáo thực ra chính là "vô tướng tông", đây là pháp Đại thừa vô tướng, đạo lý trong "Kinh Bát Nhã" nói cũng bắt đầu từ tư tưởng quán vô ngã.


### 03. Tiếng lòng của người "thường nhìn lên trời"


Kính thưa Sư Tôn, Sư Mẫu.
Sau khi đọc xong "Hình bóng Phật quang", con lại không nhịn được mà phải viết thư. Sư Tôn đã nhìn thấy "nguyệt quang luân" tại Lôi Tạng Tự vào ngày 22 tháng 3. Con cùng với Liên Hoa Lan Hương, Liên Hoa Bản Nguyên cũng đã nhìn thấy vầng hào quang của mặt trăng vào tháng 3 (con quên mất ngày), lúc 11 giờ đêm, mặt trăng sáng trong vô cùng, xung quanh là vòng hào quang bảy sắc (màu rất nhạt) giống như cầu vồng vậy. Con phải cảm ơn Sư Tôn đã dạy con "thường nhìn lên trời", một là giúp tâm hồn rộng mở, hai là còn được thấy những cảnh tượng kỳ diệu.

Con đã mang theo một bình nước Đại Bi từ Lôi Tạng Tự về Đài Loan cho gia đình và bạn bè uống. Kết quả là từ Seattle → Dallas → New Orleans → Dallas → Amarillo → Dallas → Los Angeles → San Francisco → Tokyo → Taipei. Ngày 13 tháng 3 trở về Đài Loan, trải qua 10 lần lên xuống máy bay, đều bị hải quan kiểm tra. Chồng con hỏi: "Họ có vấn đề gì vậy?" Họ nói: "Có phản ứng kim loại." Khiến cả người con bị kiểm tra, con vội vàng uống cho họ xem và nói với họ: "Chỉ là nước thôi!" Mười lần đều bị mở ra kiểm tra, làm cho nắp bình bị nứt. Về đến nhà, nghĩ rằng nước tốt như vậy nên chia cho nhiều người uống, con đã đổ một chai nhỏ vào Trang Nghiêm Đường và pha loãng thành một thùng lớn, để chia sẻ với các sư huynh sư tỷ.

Trong sách, Sư Tôn nói Liên Hoa Công Ích nghe thấy tiếng rồng ngâm, nghĩ lại con thật ngốc đến buồn cười, trong thời gian pháp hội, con ở ngay cạnh Long Thần, chỉ cần mở cửa sổ là có thể nhìn thấy Long Thần, vì trong phòng bật lò sưởi, cảm thấy ngột ngạt, muốn mở cửa sổ cho thoáng khí, vừa mở cửa sổ liền nghe thấy âm thanh rất lớn, "xiu xiu" như tiếng bão đi qua, nhưng nhìn kĩ thì lá cây hoàn toàn không động đậy, tất cả đều im lặng, hóa ra đó là tiếng rồng ngâm.

Pháp hội tháng 2, diện kiến Sư Tôn, con hỏi Sư Tôn: "Nghe nói Đài Loan sẽ có động đất lớn, có đúng không ạ?" Sư Tôn lập tức tính toán linh cơ, trả lời: "Cấp sáu, rất lớn đấy!" Sư Tôn còn bổ sung: "Không sao đâu, không có thiệt hại lớn." Quả nhiên vào tháng 5, liên tiếp xảy ra động đất lớn, cao nhất một lần là "cấp sáu", kết quả không có thiệt hại gì lớn. Trước đó con đã dặn dò người thân bạn bè, họ đồng loạt gọi điện nói "chuẩn quá". Các quốc gia khác động đất cấp năm, cấp bảy là có nhà cao tầng sập, con nghĩ chắc chắn là do Sư Tôn đã gia trì cho đất nước quê hương của mình.

Ngày mùng 7 tháng 7, Dagchen Rinpoche đến Đài Loan, trong ba ngày 7, 8, 9, con đã đưa ngài cùng với một vị hoạt Phật khác là Gyalsay Tulku (vị hoạt Phật đã sống ở Ấn Độ 23 năm) đi tham quan Cố Cung Đài Bắc, Ân Chủ Công, Đài tưởng niệm Trung Chính, Đài tưởng niệm Quốc Phụ. Trên xe taxi, con trò chuyện với tài xế, con nói: "Anh thật may mắn, có hoạt Phật ngồi trên xe anh." Sau đó con nói về một số chuyện tái sinh của các hoạt Phật, cuối cùng con nói với anh ấy rằng, các Hoạt Phật Tây Tạng cũng là đệ tử của Hoạt Phật Đài Loan chúng ta - Lư Thắng Ngạn. Anh ấy nói trước đây từng đọc sách của Lư Thắng Ngạn, con bảo anh ấy tiếp tục đọc, cũng có thể viết thư xin quy y. Khi xuống xe, anh ấy không lấy tiền, con kể chuyện "không lấy tiền" cho hai vị Hoạt Phật, hai vị Hoạt Phật vô cùng phấn khởi. Hai vị Hoạt Phật càng thêm kính yêu Sư Tôn.

Kính chúc cát tường!
Liên Hộ chắp tay.
15.07.1986.

🌟

Đệ tử Liên Hộ chính là đệ tử Lâm Ngọc Trân ở Đài Loan.
Bất Động Minh Vương hiển hiện kim thân chính là do máy ảnh của cô ấy chụp được.
Tôi thường gọi cô ấy là "người thường nhìn lên trời".

Tại sao tôi lại gọi Liên Hộ là người thường nhìn lên trời? Bởi vì bản thân tôi cũng thường nhìn lên bầu trời xanh, tôi cho rằng việc thường nhìn lên bầu trời xanh chính là học hỏi tấm lòng của trời, tấm lòng của trời rộng lớn vô biên, có lúc quang đãng, cũng có lúc mưa gió u ám. Nhưng dù là trời đẹp hay trời xấu, phía trên tầng mây u ám kia vẫn luôn là "bầu trời xanh quang đãng".

Thường nhìn lên trời là một kiểu tham ngộ của thiền, tham ngộ về mây, tham ngộ về trời. Trong thế gian này, mọi việc đời không thể hoàn toàn như ý muốn, cũng có nhiều điều bất ngờ xảy ra. Hạnh phúc thực sự trong cuộc sống hóa ra chỉ là vấn đề của quan niệm, đẹp và xấu, thiện và ác, đúng và sai, tốt và xấu, cao và thấp, vui và buồn... Hóa ra tất cả đều là "hai mặt của một thể".

Thường nhìn lên trời có thể tham ngộ huyền cơ, có thể viên mãn mọi việc.
Tôi nói với Liên Hộ rằng chúng ta nên thường xuyên nhìn lên trời, mọi việc ở nhân gian đều nhiều biến đổi, nhưng dù có thay đổi thế nào, dù may mắn hay không may mắn, chúng ta cần học cách có tâm hồn rộng mở, không để những điều đó tạo thành phiền não trong tâm trí mình.
Trời chính là ta.
Ta chính là trời.
Thường nhìn lên trời này chính là một cảnh giới rất khoáng đạt, dù là trời âm u, là ngày mưa, tóm lại, đó vẫn là một bầu trời tuyệt diệu!

Tôi viết một bài thơ hiện đại "Bầu trời xanh":
*Trời vốn bất động
Mây mưa hay nắng gió
Ngẫm kĩ suy ra,
Chính là muôn trạng của tâm hồn.*

*Trời xanh thật đẹp
Trời âm u cũng đẹp
Học cách quan sát sâu sắc
Sẽ thấy "trời vốn bất động".*

Tôi muốn mọi người thưởng thức bài thơ hiện đại mà tôi viết này, hãy cảm nhận ý nghĩa "trời vĩnh viễn bất động, ngày nào cũng là ngày đẹp trời, ngày nào cũng là ngày tốt lành".

Nước chú Đại Bi, vì sao lại có phản ứng kim loại?
Đây thực sự là một phép màu kỳ diệu không thể tưởng tượng!

Cần biết rằng Liên Sinh Hoạt Phật tay trái nắm lấy góc áo cà sa, tay phải kết ấn tam cổ nhỏ, tụng một biến tâm chân ngôn chú Đại Bi, hướng về bình nước, tay phải làm bảy lần, quán tưởng Quan Thế Âm Bồ Tát lấy cành dương liễu nhúng vào nước trong bình tịnh thủy, từ không trung rải xuống ba lần, ánh sáng trắng nhập vào trong bình nước.

Quán chư tôn trong Phật bộ gia trì nước chú Đại Bi, nhanh chóng khiến hành giả Chân Phật thân nghiệp thanh tịnh, tội chướng tiêu diệt, phúc huệ tăng trưởng.
Quán chư tôn trong Liên Hoa bộ gia trì nước chú Đại Bi, nhanh chóng khiến hành giả Chân Phật ngữ nghiệp thanh tịnh, mọi người thuyết pháp, độ hóa chúng sinh, âm thanh uyển chuyển.
Quán chư tôn trong Kim Cang bộ gia trì nước chú Đại Bi, nhanh chóng khiến hành giả Chân Phật ý nghiệp thanh tịnh, chứng đắc khai ngộ, ánh sáng chiếu rọi lẫn nhau, nhanh chóng giải thoát phiền não.

Khi tôi cầu nguyện nước chú Đại Bi, chư Phật Bồ Tát đã hiển hiện phép màu phóng quang vĩ đại, khiến trên trời dưới đất đều tỏa ánh sáng rực rỡ, chiếu khắp ba nghìn đại thiên thế giới.

Do nước chú Đại Bi này có năng lực gia trì như vậy, tự nhiên có thần lực mạnh mẽ, nước thường sau khi được gia trì không ngờ biến thành nước có phản ứng kim loại.

Những người uống nước chú Đại Bi sau đó nhận được hiệu quả tốt vô cùng nhiều. Đây là sự cung kính mười phương pháp giới, thanh tịnh tam nghiệp của chính mình, cũng có công năng bảo hộ, tất cả thiên ma, người ác, tà thuật, không có kẽ hở nào để quấy nhiễu, bệnh tật cũng có thể tiêu trừ.

Nước chú Đại Bi uy quang hiển hách.


### 04. Đại danh cũng là rỗng tuếch


Xin Thượng sư minh giám!

Nhiều vị Hoạt Phật Rinpoche từ Tây Tạng đến quy y Sư Tôn Hoạt Phật, con nghĩ rằng đây là điều tất yếu, bởi Thượng sư là hóa thân của Tổ sư Liên Hoa Sinh, đương nhiên khi họ gặp Thượng sư cũng giống như gặp được Liên Hoa Sinh Đại Sĩ vậy. Đồng thời Thượng sư là Bạch Liên Hoa Đồng Tử giáng trần, là vị Hoạt Phật chân chính, có lòng từ bi của Bồ Tát Quan Thế Âm, có sự cứu độ của Đức Phật A Di Đà, có đại trí tuệ của Bồ Tát Hư Không Tạng và Văn Thù, chứng đắc đại tự tại của Như Lai Phật Tổ, hơn nữa còn có tinh thần tự nguyện hy sinh để cứu độ chúng sinh, vì vậy là chủ nhân bí mật của cõi Kim Cang Chân Ngôn, là Pháp Vương, và hơn thế nữa là nơi nương tựa của người đời.

Gần đây, đệ tử trong lúc thiền định đã nhìn thấy đại danh của Sư Tôn được liệt kê trong danh sách những vĩ nhân thế giới, và cũng thấy Sư Tôn xuất hiện trên các đài phát thanh và truyền hình để thuyết pháp. Con biết Sư Tôn không cần danh tiếng, càng không thích phô trương, nhưng Phật pháp đã lan tỏa rộng khắp đến mọi nơi trên thế giới. Danh hiệu Thượng sư, Hoạt Phật, Pháp Vương tự nhiên đã theo đại pháp lực mà thấm sâu vào lòng mọi người, điều này là tự nhiên, không phải nhờ vào danh tiếng của ngôi sao hay tổng thống mà có được, mà là từ ánh hào quang của Phật pháp sinh ra, là sự tỏa sáng tự nhiên của ánh sáng.

Về mặt tu trì, con đã đạt được tương ứng Tứ gia hành và tương ứng pháp tương ứng Thượng sư, được thấy Thượng sư cùng Liên Hoa Sinh Đại Sĩ cùng đến phóng quang gia trì và truyền dạy Mật pháp.

Gần đây, ngoài việc tu pháp Bổn tôn, đệ tử còn song song tu pháp nội hỏa minh điểm, sử dụng phương pháp hô hấp hoàn toàn để hấp thu năng lượng sống từ không khí và ánh sáng của chư Phật Bồ Tát để thổi bùng điểm lửa đỏ nhỏ của mình. Mỗi khi hít vào một hơi thở, điểm lửa đỏ nhỏ này dần dần phình to như quả cầu lửa, lớn như mặt trời, đan điền và những nơi quả cầu lửa đi qua đều bừng bừng đỏ rực, vật chất trong cơ thể bị đốt cháy và nổ tung. Ban đầu hơi sợ hãi, nhưng rất nhanh chóng, những khí đen bị nổ tung đều được thở ra ngoài cơ thể, và lúc này những gì con hít vào lại là năng lượng ánh sáng từ toàn bộ dải ngân hà đổ vào. Khi quả cầu lửa lên đến thiên tâm và luân xa đỉnh đầu, sự bùng nổ không còn nữa. Lúc này, ánh sáng đỏ và ánh sáng trắng lóe sáng từ thiên tâm, chiếu vào trong dải ngân hà bao la. Điểm lửa đỏ nhỏ này biến thành lửa mặt trời, thật huyền diệu không thể nghĩ bàn.

Vào tối thứ Bảy tuần trước, anh trai con là Dương Dụ Hà, con và một số bạn bè đã dùng bữa tối tại một nhà hàng ở Chicago, chúng con ngồi quanh bàn tròn lớn và trò chuyện về Phật pháp, trong đó nhiều người rất tò mò về Thượng sư. Đệ tử đã kể về cách Thượng sư gặp được duyên kỳ lạ, từ một người Cơ Đốc hữu bình thường mà bước vào con đường đạo Phật. Và cũng kể về việc Thượng sư đã phải đối mặt với những kẻ đố kỵ, thiếu trí tuệ, tham lam và mất trí như thế nào khi họ phỉ báng, vu khống và hãm hại Người.

Tiếp đó, con đã kể về việc mình đã đến diện kiến Thượng sư và chính thức quy y Chân Phật Tông như thế nào. Con nói rằng con biết chắc chắn Thượng sư Lư là một vị Thượng sư đã thực sự chứng đắc, không chỉ vậy, vào thời điểm đó (năm 1984) con đã biết rằng Thượng sư Lư là một vị Hoạt Phật chân chính từ cõi trời giáng trần, vì thế con muốn quy y thầy, và rồi vào tháng Giêng năm 1985, con đã được Thượng sư đích thân ban quán đảnh, chính thức trở thành đệ tử của Chân Phật Tông. Ngay sau khi quán đảnh, con đã đạt được quán đảnh tương ứng.

Sau buổi trò chuyện này, mọi người đều mong muốn được gặp Thượng sư Hoạt Phật. Thượng sư hiện đã thành lập Kim Cang Đường ở miền Đông New York và tại khu vực miền Trung Hoa Kỳ ở Chicago này, con tin rằng cũng có không ít đệ tử Chân Phật Tông. Nếu tại miền Trung Chicago có một phân đường, không chỉ các đệ tử có thể cùng nhau tu tập, mà đồng thời cũng có thể tập trung sức mạnh để hoằng dương Chân Phật Mật Pháp, không biết ý kiến của Thượng sư thế nào?

Con đã viết lộn xộn vài điều, thực ra còn nhiều vấn đề về tu pháp chưa được thỉnh giáo, nhưng lại e ngại chiếm dụng quá nhiều thời gian quý báu của Thượng sư, nên xin dừng bút tại đây, sẽ trình bày sau.

Kính chúc Phật an!
Liên Yêu chắp tay.
28.07.1986.

🌟

Đệ tử Liên Yêu là một lưu học sinh thời kỳ đầu, hiện đang sinh sống tại Chicago.

Tôi rất thẳng thắn nói với đệ tử của tôi rằng: Danh tiếng cũng chỉ là hư không.
Bản thân tôi tự thấy mình không phải thánh hiền, và tôi rất ngu muội, tôi chỉ là một phàm phu rất nhỏ bé mà thôi. Như danh xưng Hoạt Phật là do các đệ tử tôn kính đặt cho tôi.
Pháp Vương cũng là danh xưng do các đệ tử dành tặng cho tôi.
Thượng sư là do chư Phật Bồ Tát ban tặng, và cũng là sự ban tặng đặc biệt của các bậc thầy trên thế gian.
Thực ra, tôi chẳng có gì cả.

Đệ tử Liên Yêu thấy nhiều vị Hoạt Phật Tây Tạng đến quy y Liên Sinh Hoạt Phật, tên của thầy được liệt kê trong danh sách những vĩ nhân thế giới, và nhiều tôn hiệu được gắn cho thầy, cho rằng đó là thực chất xứng danh.

Tôi thành thật nói với mọi người rằng, tôi thực sự là một người rất ngốc nghếch, đôi khi phản ứng rất chậm chạp, không làm tốt được việc gì, có rất nhiều việc tôi đều không thể đảm đương nổi. Tôi không phải là một bậc trí giả mà là một kẻ ngu dốt chính hiệu, tôi có bản tính chất phác thật thà. Chỉ là khi tôi bắt đầu bí mật tu trì Mật pháp, tôi chỉ biết thực hành từng bước một, tu tập mỗi ngày, không bao giờ gián đoạn, giống như cách tôi viết văn vậy (dù việc viết văn vẫn có lúc gián đoạn), nhưng việc tu tập Mật pháp chưa từng bị gián đoạn, tôi chỉ là một hành giả chân chất như vậy.

Sau này, tôi đã ngộ ra rằng, "một pháp chính là nhiều pháp, nhiều pháp chính là một pháp", hiểu được rằng Mật pháp không cốt ở số lượng nhiều, mà điều quan trọng là có thể thực hành hay không. Từ sự tu hành một pháp, tôi đã tương ứng sâu sắc, khai ngộ trí tuệ của một pháp, từ đó có thể đại triệt đại ngộ, khiến thân khẩu ý thanh tịnh, và lập tức hiểu được ý nghĩa của nhiều pháp.

Tôi hiểu rằng khi tôi biến hóa thủ ấn, thủ ấn của tôi đã biến thành thủ ấn của chư tôn, đi vào dòng chảy pháp của vũ trụ, hư không không thể đo lường được.

Tôi thầm mỉm cười, những danh vị như Hoạt Phật, Pháp Vương, Thượng sư, đều có thể bỏ qua một cách nhẹ nhàng, thậm chí tông chủ, tôi cũng có thể khạc nhổ vào nó.
Quả vị đều chỉ là một cái tên rỗng tuếch.

Tôi hoàn toàn không muốn xuất hiện trên đài phát thanh hay đài truyền hình. Tôi - một hành giả Mật tông khờ dại này, thực sự không hề mong muốn nổi danh lừng lẫy trong cõi người. Tất cả những điều này đến một cách tự nhiên, rồi cũng sẽ đi một cách tự nhiên, tất cả đều trở về hư không, tôi tự biết rằng danh tiếng lớn cũng chỉ là hư vô mà thôi!

Trong quan niệm của tôi, tôi đã vượt qua danh vị, tôi nhìn chúng sinh bằng cái nhìn bình đẳng, thậm chí tôi xem động vật và thực vật cũng bình đẳng như tôi. Bất kể tôi ở nơi đâu, tất cả đều bình đẳng và viên mãn, tôi không có những khát vọng thái quá. Tôi mong tất cả đệ tử hiểu được tâm cảnh của tôi, tôi chỉ là một người khờ khạo, chỉ hiểu được một pháp, hàng ngày tu tập theo pháp, dần dần loại bỏ mọi che chướng trong tâm, một phàm phu nhỏ bé mà thôi.

Đệ tử Liên Yêu học tập pháp minh điểm nội hỏa, thu năng lượng ánh sáng từ ngân hà, cần hiểu rõ pháp tâm vô lượng, phải dùng tâm thanh tịnh tối đa để nhận được dòng pháp quang minh của Như Lai Tạng gia trì công đức lực tam mật thân khẩu ý, đồng thời phải nguyện cho tất cả chúng sinh hữu tình cũng đều nhận được dòng pháp quang minh của Như Lai Tạng. Không chỉ bản thân thọ dụng, mà cũng mong người khác được thọ dụng.

Đệ tử Liên Yêu trong tương lai cứu độ chúng sinh, khuyên nhủ độ hóa chúng sinh quy y Chân Phật phải từ bi đối với sự vô minh của tất cả chúng sinh hữu tình, bởi vì họ đang chìm đắm trong biển sinh tử mà không tỉnh ngộ, hoàn toàn do tâm vọng sinh phân biệt, nên khi độ chúng sinh phải có tâm từ bi, trước tiên cần tự mình giác ngộ, tự mình không mê hoặc, không mê lầm đối với tất cả pháp sinh diệt, như vậy mới có thể hiển lộ được hư không tạng tính của chính mình.

Viết một bài kệ ghi lại:
*Danh tiếng vốn dĩ là hư không
Nên nhìn tất cả đều bình đẳng
Thủ ấn viên mãn hay pháp quý
Tiến tới hay lùi đều tự nhiên
Nội hỏa minh điểm ngộ tự tính
Chính là từ bi hư không tạng.*


### 05. Phóng quang và gia trì


Kính thưa Sư Tôn và Sư Mẫu:
Om mani padme hum. Đệ tử Liên Hoa Tùng Hùng nhờ Thượng sư Vưu Ngân Thọ mang thư này, kính chào Sư Tôn và Sư Mẫu.

Trước tiên, xin Sư Tôn và Sư Mẫu nhận đảnh lễ ba lạy từ cả gia đình đệ tử. Cảm tạ Sư Tôn phóng quang gia trì, giúp đệ tử trong quá trình tu pháp đều được như nguyện, viên mãn cát tường. Cảm tạ Sư Tôn gửi giấy chứng nhận quy y cho phu nhân của đệ tử, cảm tạ Sư Tôn phóng quang gia trì, giúp con trai thứ hai của đệ tử là Thái Trấn Long năm nay thi đỗ vào trường học mong muốn như nguyện.

Có một vài điểm cảm ứng, kính mong Sư Tôn khai thị:

1. Trong ngày con trai thứ hai của đệ tử tham gia kỳ thi tuyển, đệ tử đã đi cùng đến trường thi. Khi đang trì chú tâm chú Thượng sư, đệ tử bỗng nhiên nhìn thấy Sư Tôn ngự trong không trung, đầu đội mũ Ngũ Phật, ngồi trên đài sen, phóng ra một luồng ánh sáng trắng chiếu vào phòng thi của con trai đệ tử. Đệ tử vô cùng hoan hỷ, nghĩ rằng với sự phóng quang gia trì của Sư Tôn trong kỳ thi này, con trai nhất định sẽ đỗ, và quả nhiên đã như nguyện.

2. Trong pháp hội siêu độ tại Tổng đường Đài Trung, Đài Loan năm nay, đệ tử trì niệm thánh hiệu A Di Đà Phật, bỗng nhiên nhìn thấy A Di Đà Phật giáng lâm, thân tỏa ánh hào quang bách bảo, ánh sáng đỏ tràn ngập khắp trời đất. Đức Phật đứng trên đài sen trắng, viền có ánh sáng tím, thật đẹp đẽ, thật trang nghiêm. Bên trái có Quan Thế Âm Bồ Tát đứng, toàn thân tỏa ánh sáng trắng. Sau đó con nhìn thấy ông nội của con, không nói gì, chỉ mỉm cười nhẹ, ngồi trên một đóa sen trắng nhỏ, theo A Di Đà Phật từ từ bay lên trời cao.

Rõ ràng hơn, Sư Tôn xuất hiện trên không trung trước mặt đệ tử, Sư Tôn hiện tướng xuất gia, trang trọng và nghiêm trang, khiến đệ tử vô cùng vui mừng. Pháp hội này dưới sự hướng dẫn của Thượng sư Vưu Ngân Thọ và Thượng sư Liêu Ngọc Tồn diễn ra rất suôn sẻ, đặc biệt là Sư Mẫu quang lâm đàn tràng, khiến các đệ tử đều tràn đầy pháp hỷ.

Hiện tại cả gia đình đều muốn quy y Sư Tôn, kính xin Sư Tôn ban cho chứng thư.
Kính chúc cát tường viên mãn!
Đệ tử Liên Hoa Tùng Hùng chắp tay.
15.08.1986.

🌟

Liên Hoa Tùng Hùng sống tại Đài Bắc, Đài Loan.

Nhiều người thích hỏi tôi, tại sao Thượng sư Hoạt Phật có thể tùy cơ ứng hiện? Tôi thường giải thích như sau: hành giả Mật tông, nhắm mắt lắng tâm, tự tâm sẽ có một điểm linh tính trong sáng tỏa ra ánh sáng trắng, ánh sáng trắng này có thể hình thành một vầng trăng, khi vầng trăng đã thành sẽ có một nguồn lực chân thật chứa đựng trong ánh sáng trắng đó.

Ánh sáng trắng này theo tác dụng giao lưu, từ tâm điểm tỏa ra khắp lỗ chân lông trên cơ thể, khiến mười phương đều hiển hiện ánh sáng lớn, nếu ánh sáng lớn này có pháp tính tương đồng với ánh sáng lớn của chư Như Lai trong mười phương, sẽ làm kinh động chư Như Lai mười phương, không khác gì với Phật.

Trong pháp giới, bản thể và tha thể, mỗi cái đều khởi lên sự giao lưu, liên tục không ngừng, đây chính là cảnh giới thực tướng thấu triệt nguồn cội, tự nhiên có thể lan tỏa khắp trời đất.

Trong pháp giới, bản thể và tha thể không còn phân biệt, tức là đột phá tất cả mọi kiến giải về nội ngoại, ta và người không khác, chỉ cần cầu nguyện liền có thể tương ứng ngay với Thượng sư Hoạt Phật.

Trong pháp giới, Thượng sư Hoạt Phật do đã chứng đắc tâm Niết bàn, thấu suốt vạn pháp, nhập vào biển ánh sáng Tỳ Lô Giá Na, tự có thể tùy cơ ứng hiện, chiếu sáng khắp tất cả.

Sự phóng quang của Thượng sư Hoạt Phật là: "Hào quang rực rỡ, tràn ngập khắp trời, có thể trừ mọi chướng ngại, mọi bệnh tật, mọi khổ não của chúng sinh, giúp đệ tử nhanh chóng chứng đắc bồ đề."

Sự gia trì của Thượng sư Hoạt Phật là: "Dùng tâm thanh tịnh gia trì tất cả chúng sinh hữu tình, khiến pháp tính vốn thanh tịnh của chúng sinh như hoa sen không nhiễm ô, tự hiển lộ công đức lực tam mật."

Viết một bài kệ:
Tùy hỷ công đức bách bảo quang
Tùy duyên ứng cảm liên hoa tạng
Tự tâm chúng sinh vận thanh tịnh
Tự tại tương ứng đều thấm nhuần.

Có người nói, khi bước vào biển Phật pháp, phải lấy niềm tin làm gốc; khi vượt qua biển khổ sinh tử, phải lấy giới làm bè tre. Khả năng phóng quang và gia trì của tôi đều có niềm tin và có bằng chứng. Bất kì đệ tử nào, chỉ cần chuẩn bị tâm thanh tịnh, bước vào cảnh giới quên mình hoàn toàn, tự nhiên sẽ nhận được sự phóng quang gia trì của Thượng sư Hoạt Phật. Cảnh giới này còn được gọi là tam muội, vượt thoát thời gian và không gian.
Một kỳ thi nhỏ, Thượng sư Hoạt Phật cũng phóng quang gia trì.
Một pháp hội lớn, Thượng sư Hoạt Phật cũng phóng quang gia trì.

Tôi xin nói với mọi người, biển lớn không từ chối dòng nước nhỏ, vì thế mà có thể trở nên vĩ đại. Sự phóng quang gia trì của Thượng sư Hoạt Phật không có phân biệt lớn nhỏ, cao thấp; những vương công quý tộc sống trong cung điện nguy nga có thể nhận được ánh sáng của Thượng sư thì tất nhiên những đệ tử sống trong ngõ hẻm nhà tranh, ăn uống đạm bạc cũng đều nhận được ánh sáng của Thượng sư.

Pháp hội siêu độ tại Tổng đường Đài Loan đã nhận được sự gia trì của Thượng sư Hoạt Phật, tràn đầy pháp hỷ, cảm ứng liên tục. Lá thư này chỉ là một trong nhiều lá thư của các đệ tử gửi đến, đặc biệt được chọn ra để làm minh chứng. Trong tương lai, khi Tổng đường Đài Loan được xây dựng, sẽ tỏa ra hào quang rực rỡ, chiếu sáng khắp thế giới.


### 06. Thượng sư vẫy phất trần


Kính gửi Liên Sinh Hoạt Phật!

Con sợ chiếm dụng quá nhiều thời gian quý báu của Hoạt Phật nên cố gắng viết ngắn gọn. Mục đích con viết thư này là để đệ tử Liên Hoa Hồng Tài cùng phu nhân Liên Hoa Lệ Âm đặc biệt kính tạ ơn sâu dày gấp mười hai vạn lần của ân sư, tấm lòng từ bi và Phật pháp vô biên.

Ngày 16 tháng 6 năm 1986, đệ tử bị đột quỵ tim. Dưới sự theo dõi chặt chẽ của bác sĩ, đệ tử được nhanh chóng đưa vào phòng cấp cứu của một bệnh viện Công giáo ở Buffalo tiểu bang New York. Bác sĩ trực ngay khi nhìn thấy kết quả điện tâm đồ từ bệnh viện tư nhân của con lập tức tiến hành các biện pháp cấp cứu khẩn cấp. Lý do là theo chẩn đoán của nhiều bác sĩ, con bị bệnh tim đột phát, có thể ngừng thở và tử vong bất cứ lúc nào.

Điều phi thường kỳ diệu đã xảy ra sau mười hai giờ con nhập viện. Lúc 1 giờ 40 phút đêm ngày 17, con nhìn thấy rõ ràng minh bạch Liên Sinh Hoạt Phật và Thượng sư Liên Đĩnh đang hội ý với chư Phật Bồ Tát cõi trời, quyết định việc "đi" hay "ở" của đệ tử Liên Hoa Hồng Tài.

Chư Phật Bồ Tát chỉ định thời điểm tử vong là 4 giờ đêm ngày 17, nhưng hai vị Thượng sư đã xuất hiện cứu giúp, chỉ ra rằng con là đệ tử quy y của Liên Sinh Hoạt Phật, vì thế, Quan Thế Âm Bồ Tát mới đồng ý cho con được tiếp tục sống.

Đây là những điều con thấy nghe rõ ràng trong trạng thái hấp hối.
Đúng 4 giờ, trên giường bệnh, con cảm nhận được toàn thân rung động.

Đúng 6 giờ, con nhìn thấy Liên Sinh Hoạt Phật đội mũ tăng hình tam giác, trên đỉnh mũ có vòng hào quang trắng tỏa ra, thân mặc pháp y màu vàng, tay phải cầm phất trần, tay trái cầm chày kim cang, từ xa đã vẫy phất trần, rải nước màu vàng, đi đến bên giường con. Đồng thời, Thượng sư Liên Đĩnh cũng xuất hiện, thân mặc pháp y màu vàng, tay phải cầm chày kim cang, tay trái cầm chuông kim cang, pháp khí tỏa ánh sáng trắng, theo sau Hoạt Phật.

Trải qua sự chăm sóc tận tình của hai vị Thượng sư, bệnh tim của con bắt đầu biến mất vô hình. Mặc dù con ở trong phòng cấp cứu suốt ba ngày, dưới sự chăm sóc đặc biệt 24 giờ, sau ngày thứ năm, dưới ánh mắt kinh ngạc của bác sĩ và y tá, con đã rời khỏi bệnh viện mà không còn bất kì triệu chứng bệnh nào. Đây là sự thật không thể chối cãi, đội ngũ y tế làm sao có thể hiểu được rằng đây chính là lòng từ bi của hai vị Thượng sư tôn quý vĩ đại và chư Phật Bồ Tát.

Trong lúc bệnh, con đã có rất nhiều điều thấy nghe và cảm ứng, con sẽ trình bày đầy đủ tại Tịnh Tâm Đường ở Toronto trong buổi pháp hội đồng tu ngày Chủ nhật, để kể cho các huynh tỷ đồng môn nghe, chứng minh sự linh hiển của Liên Sinh Hoạt Phật và chư Phật Bồ Tát cùng Phật pháp vô biên.

Kính xin được một lòng cảm tạ. 
Kính chúc Hoạt Phật Phật an!
Đệ tử Liên Hoa Hồng Tài - Liên Hoa Lệ Âm cùng khấu đầu.

🌟

Đệ tử này là Liên Hoa Hồng Tài của Tịnh Tâm Đường Toronto, Canada.

Liên Sinh Hoạt Phật từng nói thế nào là Hoạt Phật? Hoạt Phật chính là "nhập Phật tam muội da".
"Nhập Phật tam muội da" là một cảnh giới vô cùng kỳ diệu, cảnh giới này về căn bản không có hình tướng, đó chính là điều tôi thường giải thích là cảnh giới kết hợp giữa tự tính và pháp lưu của chư Như Lai mười phương.
Hoạt Phật là bản tính và Phật tính tương hợp.
Chúng sinh là bản tính và tình cảm tương hợp.

Đệ tử quy y Liên Sinh Hoạt Phật thực sự có những cảm ứng đặc biệt. Phần lớn đệ tử sau một thời gian tu tập bắt đầu có sự tự nhận thức, và khi đạt đến trạng thái tương ứng với Thượng sư mới có thể chứng minh triệt để sự vĩ đại vô biên của Mật pháp.

Như từ "điểm sáng" chuyển hóa thành "nguyệt luân", cảnh giới "nguyệt luân" được biểu thị bằng thủ ấn, được tụng bằng chân ngôn, được giữ vững bằng ý, dùng công đức lực của tam mật để nuôi dưỡng căn bản. Chỉ cần phát tỏa ra bên ngoài thân thể là cảnh giới phóng quang, đây cũng chính là cảnh giới cảm ứng ban đầu của Tỳ Lô Giá Na Như Lai.

Chúng ta cần hiểu rằng, thể tính hoàn hảo của một Hoạt Phật được tôi luyện hoàn toàn từ sự chịu đựng và lao nhọc, Liên Sinh Hoạt Phật luôn hết mức khoan dung đệ tử, hết lòng cứu độ đệ tử, nhẫn nhịn mọi khuyết điểm của đệ tử, luôn giơ cao phất trần để xóa tan nghiệp chướng và trần cấu của tất cả đệ tử, nhờ vậy mà Chân Phật Tông mới ngày càng thuần mỹ.

Tôi là một vị Thượng sư vẫy phất trần, việc cứu độ Liên Hoa Hồng Tài có lẽ là một sự kiện tình cảm, nhưng giữa thầy trò ẩn chứa lý tính và Phật pháp. Sự nghi ngờ của thế nhân là không thể tránh khỏi, nhưng chúng ta phải nhận rõ sự thật và phải có lòng thành thực sự.

Trong thời gian sắp tới, tôi sẽ phóng đại quang minh chiếu soi thế gian, thường xuyên xuất hiện để độ hóa chúng sinh.

Liên Sinh Hoạt Phật chính là Tỳ Lô Giá Na Đại Như Lai, là Kim Cang Tát Đỏa Bồ Tát, dòng truyền thừa Chân Phật Tông này sâu xa và vĩ đại, sự truyền thừa tôn quý vĩ đại của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ sẽ mãi mãi phổ hiện trong thế gian, tỏa ra ánh hào quang vĩ đại khắp thế giới.


### 07. Sự bất động của Bất Động Minh Vương 


Sư Tôn Liên Sinh, Om mani padme hum!

Đệ tử Liên Hoa Cơ Diệu vừa trở về từ đoàn hành hương Vancouver, chuyến đi đến Phật địa kéo dài năm ngày, mục đích của đệ tử là đi lễ Phật và tìm hiểu thủ tục xuất gia. Sau đây là trải nghiệm của đệ tử.

Trước khi khởi hành, Sư Tôn đến Vancouver hoằng pháp, và con đã có một giấc mơ. Trong mơ, Sư Tôn và một nhóm đệ tử chúng con đang ở cùng nhau, bỗng nhiên Sư Tôn bước vào một căn phòng để tìm một người nào đó. Khi mở cửa, có một vị lão hòa thượng lao ra, tay cầm dao, như muốn giết hại Sư Tôn. Các đệ tử nhìn nhau ngơ ngác, không ai tiến lên bảo vệ Sư Tôn. Sư Tôn chỉ cười lớn đối diện với vị hòa thượng đó, hòa thượng liền bỏ dao xuống và bỏ chạy mất.

Đệ tử cảm thấy rất áy náy trong lòng, tại sao con lại không bảo vệ Sư Tôn? Giấc mơ này có ý nghĩa gì? Giấc mơ này con chỉ kể cho Thượng sư Liên Trí nghe mà thôi.

Vài ngày sau, con đi hành hương đến Phật địa, vị trụ trì đến đón nhóm chúng con, tổng cộng mười bốn người, chỉ có con là trẻ nhất, vị trụ trì tìm đến con đầu tiên và hỏi:
"Con tên là gì?"
"Lư Cơ Diệu." - Con trả lời.
Thầy hỏi tiếp: "Có phải chữ 'Lư' của Lư Thắng Ngạn không?"

Con không trả lời. Trong lòng nghĩ, hóa ra vị sư trụ trì đã biết Sư Tôn của con. Nhưng con nhớ lại Thượng sư Liên Trí ở Vancouver đã dặn con rằng, khi đến Phật địa hành hương, đừng nhắc đến ba chữ Lư Thắng Ngạn. Sau đó vị pháp sư lại hỏi con về tuổi tác, công việc, đến từ đâu, ông ấy cứ nhìn con rất lâu, còn những người bạn đồng hành khác thì ông ta hoàn toàn không hỏi han gì.

Tối đó, trong buổi nghe kinh đầu tiên, vị trụ trì lại một lần nữa nhắc đến tên của Sư Tôn, nói rằng Sư Tôn là người tự xưng Pháp Vương, tự xưng Hoạt Phật, thực ra chỉ là một tiểu ma, là con quỷ bị Không hành mẫu khống chế, giống như Milarepa vậy, ông ta còn nói rằng ông Tam Sơn Cửu Hầu là Monkey Demon (quỷ khỉ).

Con vừa nghe kinh vừa cảm thấy lo lắng, tâm trí rối bời. Tại sao vị trụ trì lại chỉ trích Sư Tôn như vậy? Con chỉ đến đây để hành hương lễ Phật, không hề có ác ý nào với nơi này. Con chỉ là đệ tử của Sư Tôn, và con còn phải ở đây thêm vài ngày nữa. Lúc này con niệm "Om mani padme hum" trong tâm, nhớ đến ngọn đèn dầu trong bát cúng khi tu pháp tượng trưng cho nhẫn nhục, nên con đã chuyển hóa những lời chỉ trích về Sư Tôn thành sự nhẫn nhục, dâng cúng lên chư Phật Bồ Tát.

Bài học đầu tiên của con là học nhẫn nhục.
Con không những không có ác ý với vị trụ trì, mà còn học được nhẫn nhục từ ngài. Ngài là người xuất gia lạy Phật, Sư Tôn con cũng là người lễ bái cùng một vị Phật. Vũ trụ này bao la vô tận, đương nhiên có thể dung chứa cả vị trụ trì và Sư Tôn Liên Sinh.

Từ trước đến nay, con đọc sách của Sư Tôn, đã khám phá nhiều chân lý và pháp môn tu hành, con đã học được rất nhiều, trong lòng luôn biết ơn lòng đại từ bi và sự gia trì vô hình của Sư Tôn. (Viết đến đây, nước mắt con đã tuôn rơi, mỗi khi nghĩ đến Sư Tôn, mắt con đều ướt đẫm.)

Ở lại vài ngày, không có gì bất thường, chỉ là thường xuyên có người giám sát, không cho con đi lại tự do, bắt con mỗi ngày phải đến đại Phật đường tụng kinh, từ 4 giờ sáng đến 10 giờ tối, ngoài thời gian ăn cơm và nghe kinh ra, đều là niệm Phật, còn con tự đọc "Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh", tụng "Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh", buổi tối quán tưởng thủ ấn tu Mật pháp, con không muốn để người khác biết con tu Mật tông.

Mỗi tối sau khi tu pháp xong, con cũng tu pháp mặc giáp hộ thân, quán tưởng bản thân ngủ trên tòa sen trong trái tim của A Di Đà Phật, và nhanh chóng chìm vào giấc ngủ bình an. Mỗi ngày con đều gặp vị pháp sư trụ trì, con vẫn chắp tay đảnh lễ ngài, trong tâm niệm chân ngôn Lục tự đại minh. (Ở Phật địa, Sư Tôn đã nhiều lần đột ngột xuất hiện trong tâm của đệ tử.)

Nói đến đây lại là một nhân duyên khác, hai vị đệ tử của pháp sư trụ trì đến Canada thuyết pháp, chúng con - đệ tử Chân Phật Tông, đã bỏ tiền bỏ sức để tổ chức pháp hội cho họ, con còn tự làm phiên dịch cho họ và thu tiền cúng dường từ những người đến nghe pháp để cúng dường họ. Con nghĩ lúc đó, tất cả các đệ tử Chân Phật Tông đều không biết rằng thầy của hai vị pháp sư này lại chính là người phỉ báng Sư Tôn của chúng con, thật là một tội lớn, một trò cười lớn trong vũ trụ nhân gian.

Trong lần cuối cùng nghe pháp sư trụ trì giảng pháp, ngài đã viết lên bảng một câu "Nhẫn nhục chính là chính pháp của Phật", con đã đối lại câu trên là "Tự quán ánh sáng phá trừ hồng trần".
Chuyến hành hương này, con đã học được không ít điều.

Con nhớ lại giấc mơ trước khi hành hương, vị lão hòa thượng trong mơ chẳng phải chính là sự việc pháp sư trụ trì phỉ báng Sư Tôn sao (trong mơ vị lão hòa thượng muốn dùng dao sát hại Sư Tôn), thật là kỳ diệu!

Kính chúc viên mãn cát tường!
Đệ tử Liên Hoa Cơ Diệu ba lạy đảnh lễ.

🌟

Bức thư của Liên Hoa Cơ Diệu rất dài, tôi cố gắng tóm tắt nó, và đã ẩn tên của pháp sư trụ trì, ẩn tên chùa, ẩn tất cả. Đoạn trải nghiệm này, tất nhiên không chỉ là trải nghiệm của Liên Hoa Cơ Diệu mà còn là trải nghiệm của nhiều đệ tử khác, thậm chí là trải nghiệm của nhiều đệ tử khi đến các ngôi chùa khác nhau. Liên Hoa Cơ Diệu ở Canada.

Bức thư này khiến tôi nhớ đến một câu nói:
"Khi người ta hiểu lý sẽ không nổi giận, khi không hiểu lý thường hay nổi giận."

Tôi thường suy nghĩ về những đạo lý này, tôi là người thường xuyên bị người khác hiểu lầm, tuy nhiên, tôi luôn đối diện với thực tế, từng bước tự xét lại mình, tìm ra lý do, sự hiểu lầm của người khác đối với tôi tất nhiên có nguyên nhân của nó, và tôi nỗ lực để gột rửa những oan ức của mình.
Nhưng, đối với những lời phỉ báng vô lý của người khác, tôi không quan tâm.

Phật Thích Ca Mâu Ni nói:
"Một người thực sự giác ngộ thì khen chê vinh nhục sẽ không làm lay động tâm họ!"

Tôi ngưỡng mộ bài kệ quý báu của Bất Động Minh Vương:
"Chữ Phạn trên tâm nguyệt, biến thành lửa đại trí, phiền não sở tri chướng, thiêu đốt khiến tận diệt, thành lửa sinh tam muội, chướng hết lửa cũng tắt, vầng trăng sáng trong trẻo, trên đó quán chữ Phạn, chữ biến thành kiếm trí, kiếm biến Bất Động tôn, phấn chấn tính phẫn nộ, trùm khắp cả pháp giới, lưỡi kiếm mang lửa trí, phá tan tất cả ma, quỷ Tỳ Na Dạ Ca, đều đau đớn ngất lịm, chúng sinh nghe tiếng này, hoảng sợ mà chạy trốn, quy y nơi Tam Bảo, lửa độc ác bất thiện, bị dập tắt không còn, lại triệu tập tam thừa, như thiên long bát bộ, trừ bỏ tâm phân biệt, lệnh biến thành một thể, cùng trụ trong tam muội, trong tâm mình tự đốt, các pháp do duyên sinh, mười phương thế giới Phật, tiến thành đại hỏa tụ, uy nộ thắng công đức, dũng mãnh không ai sánh, vô biên chư Như Lai, phụng sự thân Bổn tôn, lại có sáu mươi vạn, hằng sa câu chi Phật, nhờ Bổn tôn chỉ dạy, thành vô thượng bồ đề, vô lượng các loài rồng, thường cúng dường hầu hạ, hành giả vừa nhớ đến, tính công đức Bổn tôn, những kẻ gây chướng ngại, không ai không bị phá, nơi hành giả cư trú, ma quỷ đều tránh xa, Bổn tôn lại hiện thân, phụng như Bạc Già Phạm, đắc thành Tam ma địa, đại Bồ Tát cùng trụ."

Trong bài kệ này, "phiền não sở tri chướng, thiêu đốt khiến tận diệt", đây là công dụng của lửa đại trí, tôi hiểu rõ chân lý của Đại Thánh Bất Động Minh Vương, sự bất động của Bất Động Minh Vương, và "dũng mãnh không ai sánh" đều là điều tôi nỗ lực học tập, đây là điều vô cùng vĩ đại, vô cùng quý báu.

Tôi thường nghĩ, lửa đại trí của Bất Động Minh Vương đang cháy bừng, và những lời phỉ báng của người đời giống như thêm củi vào lửa đại trí, khiến ngọn lửa này càng thêm mạnh mẽ.
Những lời phỉ báng này, tôi đã bất động tâm.
Không chỉ bất động, mà còn giúp cho bản thân tinh tấn hơn.

Hoằng pháp độ chúng sinh, bất kể làm việc gì, một khi gặp phải lời phỉ báng, không thể tự thương hại, tự than thở, tôi tự nhận thấy chỉ cần mình đã dốc toàn lực, dù lời phỉ báng cao như núi, sâu như biển, tôi biết rằng điều này cũng có ý nghĩa, là điều đáng giá.

Bởi vì, tôi thấu hiểu sâu sắc tâm bất động của Bất Động Minh Vương.


### 08. Nhận thức rõ Chân Phật đến quy y


Kính thưa Thượng sư Lư.
Con xin thỉnh cầu Thượng sư  làm lễ quán đảnh quy y cho con.
Họ tên: Tiêu Vĩ Minh.
Địa chỉ: 2744 Alice Ct. Fremont, CA 94539
Tuổi: 37 tuổi.

Con từng theo học với một vị đại sư nọ, nhiều điều trong giáo lý của ngài khiến người ta khó hiểu. Nhìn những bạn học cùng lớp đều là những người có trình độ học vấn cao, và những đồ trang trí trong các cửa hiệu của người Trung Quốc đều là Mật pháp do vị ấy truyền. Tại sao Thượng sư không đứng ra khai ngộ cho những người vô tội này, phải chăng là vì duyên pháp chưa đến?

Con nhận ra rằng việc theo học vị ấy, cộng với sự tìm tòi của bản thân, chỉ là những Mật pháp bề ngoài. Muốn hiểu được những bí ẩn bên trong, có lẽ con đã đi không đúng đường. Con đã đọc tác phẩm của Thượng sư từ lâu, hôm nay là một cơ hội, con xin thỉnh cầu sự chỉ dẫn của Thượng sư, xin quy y Chân Phật Tông để giải tỏa nghi vấn của mình, từ đó thức tỉnh những người vô tội tương tự khác.
Đệ tử cầu xin quy y Tiêu Vĩ Minh kính bái.
21.07.1986.

🌟

Bức thư này được gửi từ bang California, Hoa Kỳ.
Đây là một trong những lá thư đại diện của đệ tử của một vị đại sư nọ, xin quy y Liên Sinh Hoạt Phật.
Số người rời bỏ vị đại sư nọ rồi đến quy y Liên Sinh Hoạt Phật đã không thể đếm xuể, nhiều không đếm xuể.

Tất cả những ai từ vị đại sư nọ đến quy y Chân Phật Tông, tôi đều dạy họ trước tiên tu pháp Yoga sám hối bảy chi của Thai Tạng giới.
Bước vào mật đàn.
Quỳ xuống cung kính niệm:
Từ vô thủy đến nay. Trôi lăn trong sinh tử.
Phóng túng thân khẩu ý. Tạo tác các ác nghiệp.
Nay trước đại thánh tôn. Tận tâm mà sám hối.
Nguyện rủ lòng gia trì. Ta người đều thanh tịnh. (3 lần)

Quán tưởng Liên Sinh Hoạt Phật hiện thân trong không gian, ngồi trên hoa sen trắng, tỏa ánh sáng trắng, chiếu rọi vào bản thân. Và từ các lỗ chân lông của mình tỏa ra khí đen rồi tan biến.
Kết ấn thoa phấn thơm.
Quán tưởng thân mình trang nghiêm như chư Phật Bồ Tát Kim Cang.
Định tâm tĩnh tọa, nhập tam muội chính định.

Đây chính là bước vào tổng thể pháp giới chân chính, vô chất vô hình, hoàn toàn loại bỏ sạch sẽ tất cả những pháp giả hỗn tạp đã học trong quá khứ. Yoga sám hối này vốn là một luồng tịnh khí của Liên Sinh Hoạt Phật, trên kết nối với trí quang của Đại Nhật Như Lai, dưới thông với bản tính của tất cả chúng sinh, trở thành nền tảng nơi Chân Phật nương tựa.

Yoga sám hối này làm ba lần, tự nhiên thanh tịnh quang minh, vượt thoát trần tướng, hoàn toàn tiêu trừ luồng khí đen trong thân từ quá khứ, tất cả vô minh cũng sẽ biến mất, thoát khỏi sự bao phủ của khí đen, hiển lộ trí quang chân chính.
Loại bỏ chướng ngại của khí đen trước.
Sau đó tu pháp Tứ gia hành của Chân Phật Tông.

Cần biết rằng, ánh sáng trắng tinh khiết vốn là ánh sáng trong suốt của Liên Sinh Hoạt Phật, hoàn toàn không chướng ngại, tràn đầy mười phương, danh xưng này chính là "pháp giới sinh thân". Hành giả mới quy y, khi nhập định, tay có thể kết ấn Liên Hoa Đồng Tử, quán tưởng mình đội mũ miện Ngũ Phật, trang nghiêm với chuỗi vòng ngọc và tràng hoa, thân khoác pháp y thanh tịnh sáng rỡ, ngồi trên tòa sen, đó chính là "pháp giới sinh thân".

Ở đây, tôi thực sự có Mật pháp chân chính, tôi đến đi tự tại, không đến cũng không đi, tâm pháp vô thượng nằm trong tâm tôi. Tất nhiên, tôi biết rằng trên thế giới này cũng có nhiều người đang mượn danh Mật tông để truyền bá những Mật pháp giả. Tuy nhiên, bất kể người đó có danh tiếng lớn thế nào, địa vị cao ra sao, tài sản nhiều ra sao, chỉ cần nền tảng của họ là giả thì không thể tồn tại mãi được, sớm muộn gì người ta cũng sẽ nhìn thấy bộ mặt thật của họ.

Thế giới loài người này vốn là thế giới mê hoặc, tôi mong mọi người đều có lý trí và trí tuệ. Thật vậy, nếu chúng ta không dùng lý trí để suy xét, thực tế chúng ta đã vô tình bị lừa dối mọi lúc mọi nơi. Cuộc sống con người rất ngắn ngủi, thời gian vô cùng quý giá, nếu bản thân lại bị lừa gạt bởi Mật pháp giả, truyền thừa giả, thì đó thực sự là một điều vô cùng đau buồn. Đôi khi, Liên Sinh Hoạt Phật thường rơi lệ, khóc thương cho sự vô minh của chúng sinh trên thế gian.

Tính đối lập giữa thật và giả là có thể nhìn ra dễ dàng. Chúng ta có nghi thức quán đảnh quy y chân chính, Liên Sinh Hoạt Phật cũng có nhiều sư phụ quy y chân chính, bao gồm cả Hiển giáo và Mật giáo, đây là truyền thừa chân chính. Hơn nữa, còn có nhiều vị Hoạt Phật Tây Tạng đến quy y Liên Sinh Hoạt Phật.

Vì vậy, chúng sinh cần có nhận thức sâu sắc, phát huy tối đa lý trí của mình, nhận rõ Chân Phật để quy y. Chân Phật Tông có Mật pháp chân chính, chỉ cần bạn nỗ lực tu tập, chắc chắn sẽ có thành quả, tương lai Chân Phật Tông sẽ nở rộ như cành lá hoa đơm.


### 09. Cùng bước lên con đường giác ngộ đến quy y


Kim cương Thượng sư Lư Thắng Ngạn!

Kính chào thầy. Xin thầy thứ lỗi vì con đã nhiều lần làm phiền đến sự tu hành thanh tịnh của thầy. Con thực sự là một trong những độc giả trung thành của các sách tâm linh của thầy. Những vài chục cuốn sách tâm linh mà thầy đã viết, con hầu như đã sở hữu tất cả. Lúc rảnh rỗi, con thường xuyên đọc đi đọc lại, càng đọc càng thấy thú vị, đọc trăm lần vẫn không chán, nói chung là yêu thích không muốn rời tay, và con còn ghi chép, sao lại những điểm tinh túy trong sách vào sổ tay. Thượng sư đã khai mở trí tuệ vô thượng cho con, công khai chỉ ra những phương pháp bí mật nghìn đời không truyền, thực sự là vị cứu thế vĩ đại trong thời mạt pháp, độ hàng nghìn hàng vạn chúng sinh u mê trên thế gian, công đức vô lượng vô biên, như Phật Thích Ca Mâu Ni tái thế. Từ lâu con đã khâm phục sâu sắc trong lòng, xúc động rơi lệ, năm vóc sát đất cúi đầu đảnh lễ thầy.

Chúng sinh đau khổ ở khắp nơi trong thời mạt pháp, được gặp minh sư như thầy đến thuyết pháp trực tiếp, chỉ rõ con đường cho người mê lạc, cùng bước lên con đường giác ngộ, thật là phúc báu ba đời. Con đã lầm vào tà giáo mười năm trước, sau khi đọc sách của thầy, con đã giác ngộ ngay lập tức, lập tức thoát ra, quy y Phật môn, đến nay đã được mười năm. Thường ngày con sáng tối lễ Phật tại nhà, vào các dịp Phật đản, con đến chùa tham gia lễ Phật tụng kinh sám hối, năm 1979 đã thăm Phật Quang Sơn, năm 1983 thăm Thánh địa.

Gần đây, con đã ghi lại những hiểu biết về nghiên cứu Phật lý của mình, một phần tham khảo từ kinh Phật, một phần lấy từ lời dạy trong sách của thầy, và đã thu âm trực tiếp vào băng ghi âm, mỗi bộ có năm, sáu cuốn, tổng cộng ghi được năm, sáu mươi cuốn, và đã phân phát cho các ngôi chùa như một hình thức bố thí pháp. Gần đây, con còn tổ chức Hội Niệm Phật Liên Trì tại chùa Triều Giác ở địa phương, sau khi niệm Phật xong, con giảng về Phật lý. Con cũng in thuyền pháp A Di Đà Phật tổng cộng mười triệu tờ, cúng dường cho các chùa, cố gắng khuyên mọi người niệm Phật.

Con đã từng tu tập pháp khởi linh, chỉ mười phút đã có kết quả, khi học phù lục phi hồng pháp cũng đã thành công. Nếu không có sự chỉ dạy Chân Phật Mật Pháp của Thượng sư, con vẫn còn là người ngu dốt. Ân đức lớn lao của Thượng sư khiến con ghi nhớ mãi không quên, từ lâu con đã có ý muốn quy y Thượng sư Hoạt Phật, nhưng không có duyên.

Tối nay tại chùa Triều Giác, con gặp nhiều bạn đạo, họ nói rằng Thượng sư đã cho họ quán đảnh quy y và thu nhận làm đệ tử. Trước đây con thường cho những người này mượn sách của Thượng sư để đọc, khai ngộ cho họ, giờ đây họ đã trở thành đệ tử của Thượng sư, thật đáng hổ thẹn khi bản thân con đến nay vẫn chưa được Thượng sư quán đảnh quy y, thật vô cùng tiếc nuối!

Con tha thiết mong Thượng sư thấu hiểu tấm lòng thành khẩn của con, có thể ban quán đảnh cho con, con nguyện chân thành quy y Thượng sư làm thầy, và kính xin Thượng sư ban tặng một bức pháp tướng để con thờ phụng theo đúng pháp, nghìn lần mong Thượng sư không phụ lòng mong đợi của con.

Họ tên: Trần Tiên Nga. 
Sinh nhật: năm Kỷ Mùi.
Địa chỉ: Indonesia, đảo Java, thành phố Cirebon, đường Bắc Thái Địa An, số 49.

Kính thư cùng kính chúc Phật quang phổ chiếu, thánh thọ vô cương.
Đệ tử Trần Tiên Nga thành kính chắp tay.
Đêm 06.08.1986

🌟

Lá thư này được viết bởi một Phật tử người Indonesia 68 tuổi, bà là một vị Bồ Tát thường xuyên bố thí pháp và tài.

Vị lão Bồ Tát này đã 68 tuổi, nếu theo câu "người sống đến bảy mươi xưa nay hiếm", thì bà đã ở tuổi xế chiều! Nhưng bà vẫn đến xin quy y quán đảnh, điều này cho thấy bà có duyên lớn với Chân Phật Tông.

Tôi thường nói, cuộc đời con người là ngắn ngủi và hư ảo, nếu muốn đời này không trôi qua vô ích, nhất định phải quy y tu hành, nỗ lực tinh tấn.

Có một bài thơ rất hay:
Cát múc lên bằng tay sẽ chảy qua kẽ ngón,
Thời gian quý báu cũng vậy,
Nó lặng lẽ trôi đi khỏi thân ta,
Vì vậy, bạn phải tận dụng tốt thời gian quý báu còn lại.

Đối với người tu hành, tinh tấn tất nhiên là quan trọng, nhưng việc tu tập pháp mặc giáp hộ thân cũng rất quan trọng, bởi vì khi một lòng chuyên tâm dụng công vào pháp thân, ta thường lơ là việc bảo vệ nhục thân, và các loại ma ở cõi trời hoặc cõi đất sẽ nhân cơ hội này tấn công nhục thân.
(Thiên ma và địa ma đều có thần thông con mắt thứ ba.)

Tôi rất coi trọng pháp mặc giáp hộ thân, người tu pháp phải khoác áo giáp kim cang lên thân, sau đó dùng thủ ấn kim cang ấn vào năm vị trí, quán tưởng thân mình phát ra lửa, khi giải ấn lại quán tưởng Kim Cang Thần đứng ở bốn phương trước sau trái phải bảo vệ hành giả Mật tông tu pháp. Nhờ vậy, tất cả thiên ma địa ma vốn muốn quấy phá, nhìn thấy đều kinh hãi và bỏ chạy tán loạn.
(Pháp mặc giáp hộ thân, tham khảo cuốn "Bí mật trong Chân Phật Mật Pháp".)

Trong thời đại ngày nay, có người ca ngợi tôi là Phật Thích Ca Mâu Ni tái thế, nhưng cũng có người chỉ trích "Lư Thắng Ngạn này thật sự đáng ghét quá".

Tuy nhiên, tôi hiểu rằng, ngay cả Phật Thích Ca Mâu Ni với nhân cách siêu việt cũng từng phải chịu nhiều ma nạn và vu khống. Vì vậy, một vị Bồ Tát chân chính phải nhẫn nhịn tất cả nghịch cảnh, đối với chúng sinh giữ tâm bình đẳng không lay động, như đại địa.

Đệ tử quy y cần ghi nhớ luôn luôn phải tu tập pháp mặc giáp hộ thân phòng ma, học cách giữ thân tâm bất động.


### 10. Ánh sáng ngũ sắc cát tường cứu hộ


Liên Sinh Hoạt Phật kính yêu. A Di Đà Phật!
Cảm tạ Sư Phật đại lực cứu hộ, hiển hiện sức mạnh thần thông to lớn bất khả tư nghì mà lại không để lộ dấu tích.

Hôm trước, vợ đệ tử là Liên Đồng đã sinh nở, hạ sinh một bé gái, đột nhiên băng huyết, máu chảy ồ ạt, nhau thai trôi ra ngoài, tình trạng nguy kịch khiến các bác sĩ, y tá hốt hoảng. 

Lúc này Liên Đồng rất bình thản, cô ấy quán tưởng Liên Hoa Đồng Tử, và trong lòng niệm: "Đệ tử Liên Đồng có nạn, cúi mong sư phụ khẩn cấp cứu hộ." Trong sát-na, máu chảy chậm lại và ngừng chảy, bác sĩ và y tá cũng cho rằng đã cấp cứu thành công và rất vui mừng.

Em bé được đưa ra khỏi phòng đẻ, y tá yêu cầu đệ tử đi theo cô ấy lên tầng năm, đồng thời còn nói cho đệ tử biết là em bé bị chân dài chân ngắn, phải điền vào đơn khuyết tật.

Đệ tử nghe xong thì rất khó chấp nhận sự thật này, bởi vì một tháng trước khi em bé ra đời, khi Liên Đồng cung kính tụng tâm chú Liên Hoa Đồng Tử, từng nhìn thấy một đường ánh sáng trắng từ trên cao chiếu vào bên trong tháp xá lợi. Ngoài ra, trên đỉnh bức pháp tướng của Sư Phật còn phóng tỏa năm tia sáng cát tường chiếu đến hành giả. Con gái đệ tử là Từ Khiêm, Từ Ưu cũng nhìn thấy ngọn đèn cúng màu đỏ biến thành màu hồng, điềm lành liên miên. 

Điềm lành như vậy, sao mà em bé vừa ra đời, suýt chút nữa đã lấy mất mạng của Liên Đồng, lại là một em bé bị chân dài chân ngắn bẩm sinh, thật sự khiến trong lòng đệ tử rất buồn, nghĩ thế nào cũng không thể hiểu nổi. Vì thế đệ tử trở về nhà thắp hương bẩm báo với Sư Tôn, cầu nguyện Sư Tôn phù hộ cứu giúp.

Đến ngày thứ tám, đưa Từ Hương trở về nhà, so sánh hai chân thì hai chân dài như nhau, không hề có sự khác biệt nào. Lẽ nào y tá phụ sản đều không có mắt, đệ tử nghĩ mãi mà không thông, cuối cùng, đệ tử tin tưởng sâu sắc vào sức mạnh thần thông không để lộ dấu tích của Sư Phật, quá từ bi, quá thần kỳ rồi! Đôi chân khuyết tật không ngờ đã biến thành bình thường. Khó tưởng tượng một cách không thể tưởng tượng nổi!

Đệ tử tu pháp của Sư Phật, khí chạy trong người, có thể đánh được một bài quyền thuật, đã đánh cho huấn luyện viên trưởng Trần Nam Quang của Thái Cực Quyền của Trần phái xem. Hơn nữa dùng khối chân khí này không ngờ có thể giúp người ta chữa trị tâm linh, và đã ba lần hiệu nghiệm.

Tu pháp của Sư Phật sao lại có cảm ứng đến vậy. Giờ đây đệ tử cầu nguyện vãng sinh tịnh thổ, còn quyền thuật và chữa trị tâm linh chỉ là phương tiện độ người mà thôi, cúi mong Sư Phật khai thị.

Kính chúc pháp an.
Đệ tử Liên Hữu khấu đầu cúi lạy.
14.08.1986.

🌟

Bà xã của Liên Hữu là Liên Đồng sinh đẻ bị băng huyết, nhưng lập tức dừng chảy máu. 
Em bé chân dài chân ngắn, cũng đã điền vào đơn khuyết tật rồi, khi đưa về nhà thì chân lại bình thường.
Những việc này đều phải cảm kích Phật Bồ Tát thường xuyên cứu giúp.

Nhìn thấy ánh sáng trắng từ phía trên chiếu vào trong tháp xá lợi, đây là một loại pháp ấn minh. Phần đông hành giả Mật tông, khi ở tại pháp giới sinh tâm, thường quán tự thân mình có ánh sáng trắng, tinh khiết và sáng sủa, lần lượt quán ánh sáng từ tâm tỏa hướng về tứ chi, tỏa đi khắp mười phương pháp giới. Còn một đường ánh sáng trắng chiếu vào bên trong tháp xá lợi chính là ánh sáng từ trong tâm chính mình tuôn ra khắp mọi nơi, chiếu vào bên trong tháp xá lợi.

Ánh sáng cát tường ngũ sắc là bạch quang, hồng quang, lam quang, hoàng quang, lục quang. Đây cũng là hành giả Mật tông ở trong pháp giới định, tay kết ấn móc Như Lai, ấn móc Như Lai là hai tay đan nội phộc, ngón trỏ tay phải giơ ra tạo thành hình cái móc. Trước tiên quán tưởng ánh sáng tự tâm - tịnh quang màu trắng, từ đỉnh đầu tuôn ra, ánh sáng tuôn ra khắp mười phương.

Niệm chú nhiếp triệu: "Na-mô san-man-tô mô-thua-nam. A-sa-mô-ta-la. Pô-la-ti-hưa-ti. Ta-tha-ưa-tang-chuy-sưa. Mao-ti-chua-li-yê. Pô-li-pu-la-ka. Sô-ha."
Dùng thủ ấn móc ba cái. 

Thế rồi Ngũ Như Lai lập tức xuất hiện trong hư không, cũng tức là trên đỉnh của bức tượng Thượng sư sẽ xuất hiện năm đường ánh sáng, năm đường ánh sáng này bay lên hư không sẽ hóa thành Ngũ Phương Như Lai, Ngũ Phương Như Lai ở trong hư không biến thành ánh sáng cát tường ngũ sắc, tức là trắng đỏ lam vàng lục. Nếu ánh sáng cát tường ngũ sắc có thể hút vào trong thân mình, đó là nhiếp triệu Như Lai tính quang chảy về tâm mình, tâm mình và Như Lai tính quang hòa làm một thể.

Trong mấy bài viết, tôi đều nhiều lần nói rõ về ánh sáng phóng ra, đó là vì muốn tất cả đệ tử hiểu được tầm quan trọng của quán tưởng ánh sáng. Chỉ cần hành giả Mật tông làm quán tưởng ánh sáng, tự mình trong lúc nguy cấp tĩnh tâm quán tưởng, Sư Tôn hoặc Ngũ Phương Phật có thể lập tức hiển hiện trong hư không, cũng tương đương với nghe được lời cầu nguyện của bạn, lập tức sẽ đưa tay cứu hộ, ánh sáng cát tường ngũ sắc lập tức chiếu đến.

(Trong thủ ấn Mật tông, năm ngón tay đều có tên riêng, ngón út gọi là địa, ngón áp út gọi là thủy, ngón giữa gọi là hỏa, ngón trỏ gọi là phong, ngón cái gọi là không.)

Liên Sinh Hoạt Phật nói với mọi người, thủ ấn cũng có thể phóng quang, phóng tỏa khắp mười phương, nếu gặp chướng ngại, lập tức dùng niệm lực phối hợp với ánh sáng để phá bỏ, cũng tức là hiện ra ánh lửa rực cháy xuyên thấu, đây chính là sức mạnh hàng phục vĩ đại của Mật tông.

Người có thể nhìn thấy dòng chảy ánh sáng thì chắc chắn có điều huyền diệu sẽ xảy ra.


### 11. Cảm ngộ thọ giới Bồ Tát


Thượng sư kính yêu!

Con mong đợi được gặp Liên Dung, tưởng rằng chị ấy sẽ đến, không ngờ chị ấy lại không đến, cảm thấy không khỏi tiếc nuối. Ngày đặt vé máy bay cũng rất khó thay đổi, kết quả là con chỉ có thể ngày ngày ở lại Lôi Tạng Tự, gần như ăn hết đồ trong chùa. Những ngày còn lại này, thực sự cảm thấy một ngày dài như một năm. Hiện tại Lôi Tạng Tự, người đi nhà trống, càng ngày càng vắng vẻ, may mắn là con có thể tận dụng tốt khoảng thời gian trống trước khi rời đi này để tự suy ngẫm và xem xét lại bản thân.

Năm ngoái trước khi chia tay, Thượng sư đã tự mình tiễn chúng con, khi xe vừa rẽ lên con đường bên sườn đồi của Lôi Tạng Tự, chúng con có thể nhìn thấy bóng lưng của Thượng sư đang chậm rãi bước lên bậc thang, quay trở lại cổng chùa, lúc đó khóe mắt không biết từ lúc nào đã ướt đẫm. Cảm giác năm nay giống như đang mơ, đến như trong mơ, rồi lại trở về như trong mơ, nhìn thấy Thượng sư cũng như đang lâng lâng vậy, tuy nhiên, rõ ràng biết tất cả đều là hư không, vậy tại sao vẫn còn cảm giác buồn bã!

Con kiểm điểm hành vi của mình trong một năm qua, lòng dạ vẫn còn đang học cách mở rộng, việc tu tập pháp chưa hoàn toàn tinh tấn, đối với người vẫn còn tâm phân biệt, làm việc thiện chưa thể triệt để hoàn toàn... Tóm lại, con đánh giá điểm hạnh kiểm của mình còn thấp, giờ đây con xin bày tỏ sám hối với Thượng sư, vẫn cố gắng khích lệ bản thân, mong rằng trong tương lai, mình có thể từng bước từng bước cải thiện.

Lần này tham dự pháp hội, điều khiến con đặc biệt vui mừng xúc động là được cùng với nhiều sư huynh sư tỷ đồng môn cùng nhau thọ giới Bồ Tát từ Liên Sinh Hoạt Phật. Con luôn hướng đến việc noi gương hạnh nguyện từ bi tự lợi lợi tha của Bồ Tát, cũng rất sẵn lòng tuân thủ giới luật nghiêm ngặt của Bồ Tát, suốt đời thực hành không đổi thay. Trong đó, đối với những thiếu sót của bản thân, con nhấn mạnh việc chú trọng vào giới đại vọng ngữ thứ ba, giới nói lỗi tứ chúng thứ sáu và các phương diện tu trì này, luôn nhắc nhở bản thân:

Luôn giữ tâm khiêm tốn, nếu có ai đánh mắng, vẫn an nhiên không sân hận, còn dùng tâm từ bi hồi hướng công đức để tu nhẫn nhục.
Không dùng sở trường của mình để khoe khoang, không dùng điều thiện của mình để phô trương, không dùng tài năng của mình để kiêu ngạo với người.
Thấy lỗi lầm của người nên bao dung và giữ thể diện cho họ, thấy người có chút sở trường đáng học, điều thiện nhỏ đáng ghi nhận, hãy buông bỏ cái tôi mà noi theo, và còn ca ngợi rộng rãi.
Lễ kính đồng môn, rộng kết thiện duyên.

Đệ tử chân thành cảm tạ Liên Sinh Hoạt Phật đã truyền dạy giới Bồ Tát, để không phụ lòng ân đức của Thượng sư, Liên Hoàn nguyện suốt đời giữ gìn giới luật, bảo vệ không quên, nêu gương mẫu cư sĩ tại gia trong cửa Phật.

Đệ tử tự đặt kỳ vọng cao cho bản thân, nguyện noi theo hạnh nguyện từ bi của chư Bồ Tát, không sợ lao khổ, không tránh khó khăn, tu tập lục độ vạn hành, lấy bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định năm độ làm phương tiện, lấy trí tuệ làm cứu cánh. Trong đó, lợi tha không tham là bố thí, điều phục thân tâm cầu thanh tịnh là trì giới, thường ở vị trí khiêm tốn không chấp ngã là nhẫn nhục, thấu hiểu nghĩa pháp sâu xa không gián đoạn là tinh tấn, vọng tâm không khởi là thiền định, không chấp không đắm tất cả tướng là trí tuệ. Từ bi hỷ xả, tùy duyên cứu giúp chúng sinh, nỗ lực hết mình vì lợi ích chúng sinh. "Nguyện bản thân tu trì không ngừng nghỉ, cuối cùng thông đạt được tính không, bi trí song vận, chứng quả bồ đề chân chính." Trạng thái đó giống như Hư Không Tạng Bồ Tát với "trí huệ như hư không, trí huệ như cát sông Hằng, tinh tấn dũng mãnh, như gió lốc... an trú nhẫn nhục vững như núi Tu Di vậy.

Liên Hoàn viết một đống chữ dài, mục đích chỉ là để bày tỏ với Thượng sư lòng thành kính và niềm vui khi thọ giới.

Con không thể đích thân đến gặp Thượng sư để chào tạm biệt, xin Thầy thứ lỗi! Xin cho con được từ biệt thầy qua lá thư này!

Kính chúc Phật an!
Đệ tử Liên Hoàn cung kính chắp tay.
05.09.1986.

🌟

Liên Hoàn chính là Thẩm Diệu Quyên, sau khi gửi lá thư này, cô đã bay từ Seattle trở về Alaska, chính là vùng đất Alaska quanh năm bị tuyết phủ, núi đóng băng!

Liên Hoàn đã tham gia vào lễ truyền thụ giới Bồ Tát của Chân Phật Tông, và đích thân nhận được sự truyền giới từ Thượng sư. Giới Bồ Tát này vốn là giới luật dành cho hành giả phát tâm lớn, tu hạnh lớn. Theo "Phạm Võng Kinh" phẩm "Tâm địa Bồ Tát", giới tướng gồm mười giới trọng và bốn mươi tám giới khinh, đây là giới Bồ Tát xuất gia; nếu theo "Ưu Bà Tắc Giới Kinh" phẩm "Thọ giới" thì gồm sáu giới trọng và hai mươi tám giới khinh, đây là giới Bồ Tát tại gia.

Những gì Liên Sinh Hoạt Phật truyền trao chính là "Bồ Tát Giới Ưu Bà Tắc Kinh Giới Bản", sáu giới trọng là:
1. Giới sát sinh.
2. Giới trộm cắp.
3. Giới đại vọng ngữ.
4. Giới tà dâm.
5. Giới mua bán rượu.
6. Giới nói lỗi tứ chúng.
Hai mươi tám giới khinh khác, xem trang 172 trong "Phật Quang Lược Ảnh" (do nhà xuất bản Học Hải phát hành).

Ý nghĩa của giới là ngăn sai ngừa ác, điểm ba vết giới trên thân chính là để thường xuyên cảnh tỉnh bản thân, không chỉ việc ác không được làm mà ngay cả ý nghĩ xấu cũng không được phép có. Có giới không chỉ có thể ngăn ác làm thiện, hành giả trong tâm bình an, ngẩng lên cúi xuống không hổ thẹn, có thể tu hành trong tâm trong sáng.

Giới luật của Chân Phật Tông, trước hết phải giữ:
Mười đại giới căn bản của Mật giáo.
Sự sư pháp ngũ thập tụng. [50 điều về cách hành xử giữa thầy và trò]
Năm giới.

Nếu bản thân cho rằng mình đã nghiêm túc tuân thủ giới luật, giới hạnh trang nghiêm, giới đức thơm ngát, thì có thể tiến thêm một bước thọ trì giới Bồ Tát, và có thể đến Lôi Tạng Tự để đích thân thọ giới Bồ Tát. Giới Bồ Tát là giới luật của Đại thừa, cần giảng giới, có nghi thức thọ giới chính thức, cần đốt hương để điểm giới, vì vậy đệ tử Chân Phật Tông muốn thọ giới, nhất định phải đích thân đến để trực tiếp thọ nhận.

Những đệ tử không thể đích thân đến Mỹ để thọ giới có thể đợi sau vài năm, khi Liên Sinh Hoạt Phật chu du khắp thế giới, vân du bốn biển, gặp mặt rồi sẽ được đích thân truyền thụ.

Giới luật của Chân Phật Tông chúng ta cũng giống như giới luật của Đức Phật, lấy thiện căn trì giới để trang nghiêm thân người của hành giả, mỗi người đều như viên bảo châu trong suốt trắng ngần. Do giới ngăn chặn ác hành nên có thể định tâm vào một chỗ, do định tâm vào một chỗ nên mới có thể phá vọng chứng chân. Đó chính là trì giới thanh tịnh, tâm an được định, quán chiếu rõ ràng, đây chính là tam học giới định huệ.

Đệ tử Chân Phật Tông chúng ta, không chỉ giữ giới luật, mà còn phải thực hành mười thiện, sau khi làm việc thiện đều phải hồi hướng, khi hồi hướng có thể tụng:
Tất cả thiện nghiệp đã tu được, lợi ích tất cả các chúng sinh
Nay con xin đem hồi hướng hết, trừ khổ sinh tử đến bồ đề.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, có lẽ chúng ta có thể che giấu lời nói và hành động của mình trước mắt người thường, nhưng không thể che giấu trước lương tâm mình và đôi mắt của thiên thần. Bởi vì trên thân người, do sự suy nghĩ mà sinh ra quang khí, người có nhân cách kép có thể lừa gạt được người thường nhưng không thể lừa gạt được đôi mắt thiên thần. Quang khí trong trắng được ban cho đệ tử có giới hạnh thanh tịnh, quang khí đục ngầu dành cho hành giả không giữ giới đúng đắn. Người chỉ chú trọng vẻ bề ngoài hoặc giả vờ làm ra vẻ không phải là người thật sự giữ giới.

Trước khi thọ giới Bồ Tát, chúng ta cần suy nghĩ thật kĩ, nên suy xét cẩn thận về việc mình có thể giữ được giới điều nào và không thể giữ được giới điều nào, hãy tự nhìn lại quá khứ của mình, chỉ cần thực sự giữ giới, không giả tạo, thì mới có thể tham gia vào tất cả nghi lễ thọ giới Bồ Tát.

Khi đã thọ giới Bồ Tát, chính là đại Bồ Tát.

Liên Sinh Hoạt Phật, vào lúc nửa đêm, đích thân đốt hương điểm giới cho các giới tử, chúng ta tụng "Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật", chư Phật Bồ Tát chứng giám, chúng ta đều là Phật, đều là Bồ Tát, được ban giới điệp, giữ giới sẽ chứng quả.


### 12. Sự biến hóa của đất nước lửa gió không


Kính thưa Thượng sư Lư tôn kính nhất! Xin chào thầy. Đệ tử ít học, viết thư không được trôi chảy, lại làm phiền đến việc thanh tu của Thượng sư, xin thầy thứ lỗi.

Đệ tử quy y Thượng sư chưa đầy một tháng, lần đầu tiên tu trì đã thấy ánh sáng màu cam, lần thứ hai thấy ánh sáng màu tím, sau khi tu trì vài đàn, thân thể như bị điện giật, cảm thấy linh khí tràn đầy.

Vào buổi tối ngày Đức Phật đản sinh (lễ Vesak), trong lúc tu trì, bắt đầu thấy nhiều điểm sáng của chư Bồ Tát bay qua.
Thấy Thượng sư ngồi trên đài sen, giữa những đám mây.

Đột nhiên lũ quét bùng phát, nước và đá bay khắp trời, dường như đã trôi qua rất lâu, lũ quét biến thành một hồ nước tĩnh lặng, trong hồ có ba ngọn núi rất cao, Thượng sư ngồi trên đài sen ở đỉnh ngọn núi giữa, đang thuyết pháp giảng kinh. Hoa sen và cá vàng trong hồ đang lắng nghe kinh, tất cả đều an bình.

Tiếp đến, đài sen của Thượng sư từ từ bay lên bầu trời, vào trong mây, lúc này đệ tử đứng trước mặt Thượng sư, Thượng sư tỏa ra ánh sáng vàng rực rỡ, chiếu rọi đệ tử, luân xa tim của đệ tử tỏa sáng, ánh sáng của Thượng sư chiếu vào con, trong tim con có Thượng sư.

Kết quả là đài sen của Thượng sư bay đến trước mặt đệ tử, đệ tử thấy Thượng sư đội mũ Ngũ Phật, năm vị Phật tỏa ra những tia sáng vàng, Ngũ Phật biến thành ánh sáng màu vàng kim rực rỡ, sau khi đệ tử đảnh lễ Ngũ Phật, Thượng sư bỗng nhiên biến thành một vị Bồ Tát thân vàng, vị Bồ Tát thân vàng này càng lúc càng lớn, bao trùm cả hư không, chính là Đại Nhật Như Lai với tay kết ấn ngũ trí.

Ít lâu sau, đệ tử nghĩ rằng đêm đã khuya rồi nên mới xuất định, nhưng thân thể vẫn ngồi yên không lay động, thân thể tràn đầy linh khí, như bị điện giật, cứ như vậy suốt 45 phút, thân thể rất nóng, cổ họng hơi khàn, nhưng tất cả đều tỉnh táo tự nhiên, cảnh giới trong định hiện ra rõ ràng từng chi tiết.

Cầu xin Thượng sư Hoạt Phật khai thị.
Đệ tử Liên Hoa Quán Thăng đảnh lễ.
17.06.1986

🌟

Thư của Liên Hoa Quán Thăng được gửi từ Malaysia.

Lần đầu tiên thấy ánh sáng màu cam - là ánh sáng của lớp thấp nhất trong tam muội của Tỳ Lô Giá Na Như Lai tầng dưới.

Lần thứ hai thấy ánh sáng màu tím - là ánh sáng của lớp cao nhất trong tam muội của Tỳ Lô Giá Na Như Lai tầng trên.

Thấy Thượng sư ngồi trên đài sen, giữa những đám mây, đột nhiên lũ quét bùng phát - đây là biểu tượng cho động lực của pháp luân được truyền thụ giữa Thượng sư và hành giả, lũ quét bùng phát, nước và đá bay khắp trời chính là một dạng vận chuyển, và sự truyền dẫn này chính là "phong đại".

Thấy lũ quét biến thành một hồ nước tĩnh lặng, hoa sen và cá vàng trong hồ đang lắng nghe kinh - đây là Thượng sư đang triển khai truyền pháp, đây là khai pháp tướng nghĩa, nếu thiếu pháp tướng nghĩa này thì vạn sinh vạn vật không thể sinh sôi, hồ này chính là biểu tượng cho "thủy đại".

Thấy trong hồ có ba ngọn núi rất cao, Thượng sư ngồi trên đài sen ở đỉnh ngọn núi giữa - đây là biểu tượng cho nền móng của các pháp, ba ngọn núi này chính là đại địa, cũng chính là nền tảng nâng đỡ chúng sinh, nếu không có nền móng này, tất cả chúng sinh và các pháp sẽ không sinh khởi, đây là biểu tượng cho "địa đại".

Thấy Thượng sư tỏa ra ánh sáng vàng rực rỡ, chiếu rọi đệ tử, luân xa tim của đệ tử tỏa sáng — đây tượng trưng cho sức mạnh ánh sáng thanh tịnh hoàn toàn sắc tướng, ánh sáng quét sạch mọi chướng ngại và nghiệp đen, từng lớp bụi bặm của sắc tướng được loại bỏ, khiến luân xa tim tỏa sáng, đây là ẩn dụ cho "hỏa đại".

Thấy Thượng sư bỗng nhiên biến thành một vị Bồ Tát thân vàng, vị Bồ Tát thân vàng này càng lúc càng lớn, bao trùm cả hư không, chính là Đại Nhật Như Lai với tay kết ấn ngũ trí — điều này tượng trưng cho thân thọ dụng của Thượng sư đã thành tựu Tỳ Lô Giá Na Như Lai, tay kết ấn ngũ trí, toàn thân màu vàng, ngồi kiết già trên đài sen, đầu đội mũ Ngũ Phật, mặc thiên y trắng, trang nghiêm với chuỗi vòng ngọc, oai nghi đầy đủ, xung quanh có vô lượng vô tận quyến thuộc vây quanh bốn phía. Điều này tương đương với hư không, chính là bao hàm địa thủy hỏa phong, vạn hữu cùng tồn tại, không chướng ngại lẫn nhau, tính không này cũng là nơi nương tựa cuối cùng của địa thủy hỏa phong, vì vậy được ví như "không đại".

Samaya Tam ma địa của Liên Hoa Quán Thăng có thứ tự như sau:
Phong đại — Chuyển pháp luân — Cửu tiết Phật phong.
Thủy đại — Dẫn dắt ban đầu để thông pháp — Tam muội nhập pháp.
Địa đại — Pháp giới sinh — Đắc hữu bí mật.
Hỏa đại — Quang quang tương chiếu — Dung nhập bình đẳng.
Không đại — Diệu tướng trang nghiêm — Đắc vô bí mật.

Liên Sinh Hoạt Phật giải thích và phân tích những điều này nhằm giúp hành giả Mật tông hiểu rõ diệu tướng và diệu hạnh của ngũ đại, học hỏi bí quyết nhập Tam ma địa. Trước hết phải buông bỏ tâm thức, chính là "trong không một vật ẩn chứa vô tận", những ý nghĩa này đều rất sâu sắc.

Đối với hành giả Mật tông, khi đối diện với sự hành trì chân chính, điều quan trọng nhất là thực hành nghiêm túc, phải loại bỏ mọi chướng ngại, thực sự đi vào trong đó. Trong quá trình này có sự biến hóa của địa thủy hỏa phong không, khi bạn có thể cảm nhận được, dù nhỏ bé như chúng ta cũng có thể rộng lớn như bầu trời.

Khi hành giả Mật tông đạt đến trạng thái vô hạn, trời còn gì để nói nữa!


### 13. Quy y tôn giả Đại Giác


Kim cương Thượng sư Lư Thắng Ngạn, kính chào thầy!

Bởi vì biết rằng trên thế giới này đã xuất hiện bậc Đại Giác, nếu không quy y bậc Đại Giác thì quy y ai?

Bản thân con từ nhỏ đã có duyên sâu với Phật, và đã nghiên cứu Phật lý cho đến nay. Con vô cùng kính ngưỡng tinh thần và nghị lực viết sách dạy pháp của Thượng sư.

Trước đây, khi chưa đọc sách của Thượng sư, con đã giảng kinh tại nhiều chùa chiền, tự viện. Sau khi đọc tác phẩm của Thượng sư, con cảm thấy những điều con giảng rất hợp với những điều Thượng sư viết, khiến tâm con vô cùng hoan hỷ.

Trong thiền định, con đã từng thấy sự tương ứng khi Thượng sư xuất hiện, con tự cảm nhận mình có duyên "không tịch" với Thượng sư, nay con tha thiết cầu xin Thượng sư ban cho con quán đảnh quy y, để có mối duyên chân thật giữa thầy và trò.

Vài năm trước, con đã đến nhiều thành phố lớn ở Mỹ để truyền pháp, Phật pháp con giảng dạy là kiến thức có được từ sách vở của Thượng sư. Khi đó ở Mỹ, con dạy Mật pháp Tứ Diện Phật, vừa tịnh tu vừa giảng dạy Mật pháp Tứ Diện Phật, đi khắp nước Mỹ.

Hiện nay con đang ở bang Johor, Malaysia, đã xây dựng một tịnh thất tu hành, mặt hướng Đông tọa Tây, là một công trình độc lập, không gian rất rộng rãi, con có rất nhiều học trò, tịnh thất của con có tên là "Nội Nghiêm Công Đức Thánh Đường". Con ước mong tịnh thất này có duyên được đón Liên Sinh Hoạt Phật, Tông chủ Chân Phật Tông thế giới đến chỉ dạy.

Con chỉ học Phật pháp sơ sài, tự biết thân người khó được, nên suốt hành trình tìm kiếm chân lý, con mong Hoạt Phật luôn tỏa sáng, nếu không có thầy chỉ dạy, tâm sẽ uổng công lao nhọc.

Đệ tử viết thư này cầu xin quy y, trong tương lai con sẽ đích thân đến Mỹ đảnh lễ Liên Sinh Hoạt Phật, cầu xin khai thị.

Kính chúc độ chúng sinh vô lượng!
Đệ tử Trương Chứng Kiều kính bút.
23.07.1986.


🌟

Đại đức Trương Chứng Kiều này là trụ trì của "Nội Nghiêm Công Đức Thánh Đường". Ông có rất nhiều đệ tử, là một cư sĩ đại đức giảng kinh.
Nhưng ông nói: "Trên thế giới đã xuất hiện bậc Đại Giác, nếu không quy y bậc Đại Giác thì quy y ai?"

Ngày nay, có rất nhiều trụ trì chùa viện đến quy y Liên Sinh Hoạt Phật, đây là sự thù thắng của Chân Phật Mật Pháp, pháp duyên này như chiếc lọng trắng lớn che chở toàn thế giới.

Vậy "Nội Nghiêm Công Đức" là gì?
Tôi nói đó là: "Công đức viên mãn của sự trang nghiêm nội tâm."

Trong Chân Phật Mật Pháp được giải thích như sau:
Cúng hoa — Tâm chư Phật giống như đóa hoa đang nở, đóa hoa nở này tượng trưng cho "vạn đức mật vận", là công đức viên mãn của chư Phật. Dùng hoa cúng dường Như Lai chính là trang nghiêm tâm của chính mình.

Cúng hương — Hương là một loại tính giới của thể, dùng hương cúng dường Như Lai là trang nghiêm "giới thể" của chính mình, thể hiện sự trang nghiêm của tướng bên ngoài. Sự trang nghiêm bên ngoài dẫn đến sự trang nghiêm bên trong, trong ngoài hợp nhất, đạt được "năm phần pháp thân trang nghiêm".

Cúng đèn — Ánh sáng của chư Phật chính là trí tuệ trong tâm, dâng tất cả ánh sáng cúng dường Như Lai sẽ nhận được sự chiếu sáng khắp nơi, ánh sáng giao lưu với nhau, thực sự chiếu rọi bờ bên kia của trí tuệ, bản tính trí tuệ vốn có sẽ hiện ra, bộc lộ "công đức trang nghiêm của trí tuệ nội tâm".

Cúng trà — Trà vốn là nước thanh tịnh, thể hiện sự nuôi dưỡng, là pháp tính. Dâng trà cúng Phật chính là mười phương Như Lai ứng hóa vào thân ta, dùng nước thanh tịnh của pháp tính để gột rửa khí bất tịnh của chính mình, trở thành pháp tính thân, vô cấu thân, đó chính là trang nghiêm pháp tính.

Cúng quả — Dùng sự viên mãn rộng lớn của thực phẩm vi diệu thể hiện một sự viên thành. Đây là thắng vị thiền ý, trong đó có nghĩa lý rất sâu sắc. Bố thí thực phẩm và quy y chư Phật, đạt được thiện quả đều nằm trong đó, tượng trưng cho sự viên thành vô hạn của vị pháp nuôi dưỡng, là một loại quả của công đức trang nghiêm nội tâm.

Năm loại cúng dường này có thể tham khảo pháp đại cúng dường được mô tả trong cuốn "Bí Mật Trong Chân Phật Mật Pháp" để tu học. Năm cúng dường thực chất là năm ba-la-mật, tu tập lâu dài, sự tướng sẽ chuyển hóa thành lý tướng, trở thành pháp tính thanh tịnh của "nội nghiêm công đức".

Liên Sinh Hoạt Phật có vô lượng "nội nghiêm công đức". Đó là:
Công đức lực vốn có từ tiền kiếp.
Nguyên lực của pháp giới vũ trụ.
Lực gia trì của chư Như Lai mười phương.
Ba lực này hợp nhất, hoàn toàn dung hợp, không phân biệt, chính là biển Phật trang nghiêm vô lượng của dòng pháp mười phương, chính là pháp lực của Tỳ Lô Giá Na.

Sự giác ngộ này, chính là: tôn giả Đại Giác, tất cả vô ngại, diệu dụng vô tận.


### 14. Phân biệt chính tà đến quy y


Kính bạch Liên Sinh Thượng sư:

Xin Thượng sư tha thứ cho sự ngu muội của đệ tử, đã chần chừ mãi đến hôm nay mới quyết tâm xin quy y. Thực ra, cách đây hơn hai năm, khi đệ tử thờ phụng pháp tướng của Thượng sư đã nhận được cảm ứng ngay, lẽ ra phải không chút do dự làm thủ tục quy y mới đúng. Con nghĩ, có lẽ vì anh em đệ tử nghiệp chướng sâu nặng, hoặc duyên với Thượng sư chưa đến, nên trong hơn hai năm qua, vẫn luôn là đệ tử chưa bước vào cửa của Thượng sư. Trong hai năm này, con đã đọc nhiều tác phẩm ghi lại những sự kiện thị hiện kỳ diệu của Thượng sư khi hoằng dương Phật pháp ở hải ngoại, trong lòng vô cùng xúc động và chấn động, quyết tâm không còn do dự nữa, chỉ có Mật pháp của Thượng sư mới là chính pháp, mới thực sự là đại đạo có thể cứu độ vô số chúng sinh trên thế gian.

Mười năm trước, sau khi đệ tử trải qua một biến cố không may, con cảm thấy cuộc sống trở nên vô vị. Sau vài năm chịu đựng sự dằn vặt đau đớn, vận mệnh của đệ tử đã có bước ngoặt. Trong một cơ duyên tình cờ, dưới sự dẫn dắt của người thân, con đã quy y vào một môn phái Đạo giáo. Giáo phái này, khi Thượng sư còn ở Đài Loan, chắc hẳn đã từng nghe nói đến. Họ đưa ra khẩu hiệu "Cứu độ chúng sinh thiên hạ...", người lãnh đạo tự xưng là "...". Đệ tử phải quỳ lạy, dập đầu hành đại lễ với sư tôn, sư mẫu, và thần linh mà họ tôn thờ là "Đấng Chí Tôn của vũ trụ...". Sau khi quy y vào môn phái này, đệ tử đã cống hiến toàn tâm, toàn thân để phụng sự, thậm chí không tiếc dâng hiến rất nhiều tiền bạc, và còn bị người thân, bạn bè xem như người khác biệt mà cắt đứt quan hệ.

Sau đó, mỗi ngày đệ tử đều kiền thành tọa thiền, tụng kinh theo phương pháp được truyền dạy, nhưng không hề có một chút cảm ứng nào. Đệ tử cứ nghĩ là do mình căn cơ kém cỏi, phải cố gắng nhiều hơn. Cứ thế trải qua ba năm tu đạo như một tín đồ thuần thành, đệ tử bắt đầu nảy sinh nghi ngờ, nhưng không ai có thể giải đáp thắc mắc trong lòng con. Mặc dù nhiều đệ tử cũng sinh lòng nghi vấn, nhưng hoàn toàn không ai dám đặt câu hỏi, vì mọi người đều thực sự tin rằng bên cạnh mỗi tín đồ đều có "đồng tử giám sát", báo cáo từng lời nói việc làm của mình cho người lãnh đạo.

Hai anh em đệ tử trong giáo phái vừa xử lý công việc giáo vụ, vừa được phân công chăm sóc đời sống sinh hoạt của sư tôn, sư mẫu, từ sáng đến tối, hết sức thận trọng, không có việc gì là không tận tâm tận lực, không dám chút lơ là (trở thành những người gần gũi nhất). Nhưng một ngày, đã xảy ra một sự việc khiến đệ tử như sét đánh giữa trời quang.

Đệ tử đã đem khoản phụ cấp hàng tháng bỏ vào hòm cúng dường trong điện thờ, đây là lời thề của đệ tử, thần Phật đều chứng giám.

Đệ tử cũng tin rằng "đồng tử giám sát" ắt biết được hành động của đệ tử, và sư tôn chắc chắn cũng biết.

Sau một thời gian dài, đệ tử trong một lúc vô tình đã nghe được cuộc đối thoại giữa sư tôn và sư mẫu, họ hoàn toàn không tin rằng đệ tử đã bỏ toàn bộ khoản phụ cấp thêm vào hòm cúng dường.

Khi ấy, sự chấn động của đệ tử không phải là nhỏ. Không ngờ một tấm lòng chân thành lại đổi lấy sự sỉ nhục. Sư tôn có tha tâm thông, sao lại không tin đây là sự thật? Lúc đó, trái tim đệ tử như bị vạn mũi kim đâm, cả người như rơi vào hầm băng.

Sau nhiều lần suy nghĩ, đệ tử hiểu rằng tất cả đều là trò lừa bịp. Nếu tiếp tục, không những công đức không thành mà còn không biết sẽ tạo bao nhiêu nghiệp tội. Đệ tử quyết tâm rời khỏi giáo môn này, mang theo lòng oan ức, thưa với thần linh rằng, nếu đệ tử vì rời khỏi giáo môn mà chết không bình thường, đệ tử cũng sẵn sàng chấp nhận. Không lâu sau, chúng con đều xin nghỉ dài hạn, rời khỏi giáo môn và từ đó không quay lại.

Con nghĩ rằng sư tôn, sư mẫu và tất cả các đệ tử chắc hẳn đến nay vẫn không hiểu lý do tại sao hai anh em đệ tử không quay trở lại. Con nhớ sư tôn từng nói với người khác rằng nếu chúng con rời khỏi giáo môn, không quá ba tháng, chắc chắn sẽ gặp điều bất trắc. Nhưng thực tế đã chứng minh, đã hơn hai năm trôi qua, chúng con vẫn sống rất tốt.

Chính vì những sự việc đã xảy ra như trên, tâm đạo của con đã sa sút vô cùng, từ đó không dám dễ dàng tham gia bất kì tổ chức tôn giáo nào, chỉ thắp hương lễ Phật mà thôi. Sau đó, con lại đọc các tác phẩm của Thượng sư, biết được Thượng sư đã ra nước ngoài hoằng dương đại Mật pháp. Người thân, bạn bè đều nhấn mạnh rằng chỉ có đại pháp của Thượng sư mới là chính pháp. Tại sao chúng con lại lạc vào đường tà, gây nên vết thương lớn trong tâm hồn như vậy? Chỉ đành nói là do nghiệp chướng sâu nặng hoặc duyên phận chưa đến.

Đệ tử giúp người thân an vị tượng của Thượng sư, chúng con cùng nhau thắp hương đảnh lễ, bỗng nhiên cảm nhận từ tượng Thượng sư truyền đến một luồng nhiệt, từ đỉnh đầu chúng con trực tiếp rót xuống, khiến toàn thân cảm thấy như được tắm trong gió xuân, ấm áp, an lành như được ánh dương buổi sớm chiếu rọi. Đệ tử và người thân vô cùng hoan hỷ, biết rằng đó là Thượng sư từ bi hạ quang gia trì, ngay tối hôm đó, anh trai con đã mộng thấy tôn dung từ bi của Thượng sư.

Theo lời anh trai kể lại, anh thấy Thượng sư mặc thường phục, bên cạnh đứng một đồng tử, anh trai vội muốn quỳ lạy, nhưng thấy Thượng sư khoát tay ngăn lại, chỉ nhẹ nhàng vuốt lên trán anh, biểu thị sự tán thưởng.

Giờ đây con đã quyết tâm xin được quy y, cuối cùng con cầu xin Thượng sư từ bi ban cho pháp tương ứng Thượng sư để làm pháp tu cho hai anh em đệ tử từ nay về sau.

Kính chúc Phật an!
Đệ tử Chấn X, Tố X chắp tay đảnh lễ.
04.07.1986.

🌟

Đối với lá thư này, tôi không bình luận gì. (Tôi đã ẩn tên giáo phái, tên sư phụ và tất cả các tên khác.)
Nhưng tôi đã cho họ quy y và truyền quán đảnh từ xa.

Đã có rất nhiều người trước đây quy y vào giáo môn này, rồi quay lại quy y với Liên Sinh Hoạt Phật. Và hai đệ tử này thậm chí lại là những người hầu cận thân cận nhất!

Trong bài viết này, Liên Sinh Hoạt Phật muốn thảo luận với mọi người về ý nghĩa của chính pháp!
Tôi nói, người tu hành chính pháp chính là đại sĩ, mà đại sĩ chính là Bồ Tát.
Chỉ có người tu tập chính pháp mới đạt được chính quả.

Có chính kiến mới có chính pháp. Chính kiến chính là cái nhìn đúng đắn, cũng chính là đối với nhân quả, sự lý, pháp bốn đế, ba pháp ấn, v.v… hoàn toàn tin nhận hiểu biết. Có được chính kiến, đối với sự lý mới có nhận thức đúng đắn, như vậy mới có thể ngộ nhập chính pháp.

Đại giác ngộ của Liên Sinh Hoạt Phật là Tam Miểu Tam Bồ Đề, cũng chính là từ việc tu trì chính pháp đến Chính Đẳng Chính Giác, là một sự giác ngộ thực sự bình đẳng.

Liên Sinh Hoạt Phật ngày nay dựa theo giáo pháp của Như Lai, cũng chính là giáo pháp của chân lý, để tuyên thuyết cho chúng sinh, đó cũng là nền tảng của chính pháp. Do tôi thấu suốt chính pháp, giác ngộ chân lý, thâm sâu rộng lớn và hàm chứa vạn đức, nên viết sách, làm rõ diệu pháp của thế gian và xuất thế gian, đồng thời đoạn trừ phiền não, tích tụ trí tuệ, chứng đắc chính quả, diệt tận không tịch, thực sự có lý tột cùng, nên được gọi là bậc Đại Giác tôn giả chân chính và bình đẳng phổ biến.

Những người tu hành chính pháp của chúng ta cần có sáu đại nguyện lực:
Chúng sinh vô biên thề nguyện độ.
Pháp môn vô biên thề nguyện học.
Bồ đề vô biên thề nguyện chứng.
Phúc trí vô biên thề nguyện tập.
Như Lai vô biên thề nguyện làm.
Phiền não vô biên thề nguyện đoạn.

Lợi ích của chính pháp không phải là ích kỷ, mà là bình đẳng lợi ích cho bản thân, người khác và tất cả chúng sinh trong pháp giới, chỉ có pháp môn như vậy mới là chính pháp.

Hành giả của Chân Phật Mật Pháp phải quán chiếu bản thân rộng lớn viên mãn, tu tập đến mức thanh tịnh không nhiễm ô, trong sáng tinh khiết; không những thế, còn phải quán tưởng tất cả chúng sinh trong vũ trụ, mỗi người đều viên mãn sáng suốt, như trăng tròn, toàn bộ đều tỏa sáng Phật tính vốn có của mình.

Đây chính là chuyển pháp luân chính pháp, mỗi một chúng sinh trong pháp giới đều tỏa ánh sáng trí tuệ, chiếu rọi lẫn nhau, ánh sáng trí tuệ phát triển mạnh mẽ, chân tính thực sự hiển lộ trọn vẹn.

Nhờ vào sức mạnh Yết Ma của hành giả Chân Phật, chuyển bánh xe chính pháp, ngay thân này liền biến thành Kim Cang Tát Đỏa, và Kim Cang Tát Đỏa chính là biểu tượng của chính pháp.


### 15. Cảnh giới hư vô lúc ẩn lúc hiện


Thượng sư kính yêu!

Thời gian trôi thật nhanh, thoáng chốc đã mấy tháng trôi qua, trong khoảng thời gian này, Thượng sư và gia đình có được bình an không? Đệ tử đã nhận được thư hồi âm của Thượng sư, tấm lòng quan tâm thể hiện trong thư khiến đệ tử vô cùng biết ơn.

"Nghiệp chướng sẽ tiêu trừ" là lời tiên đoán Thượng sư dành cho con, quả thật chính xác tuyệt đối, lời Phật không hề sai. Căn bệnh nghiệp chướng của đệ tử đã hoàn toàn bình phục, bệnh đau lưng đã biến mất!

Trước đây phải đi bốn giờ đồng hồ, giờ đây chỉ cần hai giờ là đến nơi, bước chân nhẹ nhàng nhanh nhẹn, cơ thể cũng không dễ mệt mỏi, trước kia là người bệnh, ngày nay khỏe mạnh, trước sau khác hẳn nhau, đệ tử xin đặc biệt đảnh lễ Thượng sư và tổ sư Liên Hoa Sinh, một lần nữa xin kính cẩn đảnh lễ.

Vào khoảng 10 giờ sáng ngày 16 tháng 5, đệ tử thực hành pháp tương ứng Thượng sư, nhập vào Tam ma địa, trì niệm tâm chú Thượng sư, khoảng vài chục lần thì dần dần đi vào cảnh giới sâu và rộng, Thượng sư xuất hiện trong hư không, đệ tử cảm thấy tất cả lỗ chân lông đều mở ra, mắt phải bất giác rơi lệ, mắt trái cũng bất giác rơi lệ, nước mắt tuôn đầy mặt đầy má, tâm trạng lúc đó vừa bi thương vừa biết ơn, bi thương vì nghiệp chướng sâu nặng, biết ơn vì được Thượng sư gia trì.

Tiếp đó nhanh chóng đi vào cảnh giới sâu rộng, cảm thấy thân thể dần dần bay lên trong hư không, rất xa rất cao, cứ thế bay lên cao mãi, đến cảnh giới hoàn toàn hư vô mờ ảo, tất cả đều là hư vô, khoảng 20 phút sau, mới dần dần xuất định. (Cảnh giới này chưa từng có, thân tâm nhẹ nhàng tự tại.)

Trong một hai tuần qua, đệ tử cũng tu tập kỹ thuật Đại Thủ Ấn, trong đó có pháp đảo ngược luân hồi, sau khi luyện tập cảm thấy khí lực dồi dào, tinh thần sảng khoái, đi lại nhẹ nhàng, làm việc thoải mái và hiệu quả. Đệ tử nghĩ rằng trong nhiều kỹ thuật, pháp này có hiệu quả đặc biệt, đối với con hiệu quả thấy ngay tức thì.

Viết thư đến đây, con cũng nên dừng bút, vì Thượng sư còn hàng triệu lá thư đang chờ hồi đáp, con vô cùng cảm ơn Thượng sư đã đọc thư, vô cùng cảm ơn Thượng sư đã gia trì.

Kính chúc cát tường!
Đệ tử Liên Hoa Hải Tuyền kính lạy ba lần.
10.06.1986.

🌟

Liên Hoa Hải Tuyền là đệ tử ở Singapore.

Làm sao để tạo ra cảnh giới hư vô mờ ảo? Trước tiên cần phải rửa sạch hoàn toàn mọi ô uế trong tâm, nhờ vào luân xa tim tỏa ánh sáng thanh tịnh, thiêu rụi cấu uế trong tâm, tức là loại bỏ hoàn toàn thọ tưởng hành thức, trong một khoảnh khắc, cả hai mắt đều không tự chủ mà tuôn rơi nước mắt.

Nước mắt tuôn chảy chính là biểu hiện của việc rửa sạch cấu uế trong tâm, được thải ra qua đôi mắt.

Khi tất cả lỗ chân lông mở ra, đó chính là lúc dòng pháp ánh sáng vũ trụ từ không trung giáng xuống, ánh sáng từ chính bản thân mình lần lượt tỏa ra từ các lỗ chân lông, lúc này tất cả cấu uế trong cơ thể được bài tiết ra ngoài và hoàn toàn tiêu trừ.

Cấu uế trong tâm.
Cấu uế trong thân.
Cả hai loại cấu uế trong thân và tâm đã được bài tiết ra qua đôi mắt và các lỗ chân lông.
Như vậy, cấu uế trong thân và tâm không còn tồn tại trong bản thân nữa, ngay lúc đó liền trở thành thân pháp giới, tự nhiên đi vào cảnh giới sâu rộng, nhờ vào sức thu hút của ánh sáng vũ trụ, thân thể tất nhiên dần dần bay lên trong hư không, lúc này chỉ thấy pháp tính mà thôi, bao trùm khắp nơi, đi vào cảnh giới hoàn toàn hư vô mờ ảo.

Trong cảnh giới này:
Địa luân chính là đầu gối của mình.
Thủy luân chính là rốn của mình.
Hỏa luân chính là tim của mình.
Phong luân chính là giữa hai chân mày của mình.
Không luân chính là đỉnh đầu của mình.

Đây là pháp ngũ luân thành thân của Chân Phật Mật Pháp, phương pháp quán tưởng để đi vào cảnh giới hư vô mờ ảo. Lúc này trong hư không, trên đỉnh đầu mình, hiện ra cảnh tượng hào quang tròn rực rỡ, chính là hào quang đỉnh đầu của mình. Hào quang đỉnh đầu này được hóa hiện từ diệu tướng của Không luân, cũng chính là tổng quang của dòng pháp hội tụ từ chư Phật, còn gọi là trăm loại ánh sáng thanh tịnh, là vòng đại quang minh của trăm ánh sáng chiếu khắp.

Trong cảnh giới hư vô mờ ảo, thân mình đã hóa thành Đại Nhật Như Lai, đầu đội mũ Ngũ Phật, tay kết ấn trí quyền, mặc thiên y trắng nhiều lớp, hóa hiện hoa sen trắng lớn khắp mười phương cảnh giới, vây quanh mình thành vòng tròn, trở thành cảnh giới Đại Nhật Như Lai thường trụ bất động thuyết pháp.

Liên Sinh Hoạt Phật đã giải thích cảnh giới hư vô mờ ảo rất chi tiết. Đệ tử Liên Hoa Hải Tuyền chỉ cần học được pháp quán ngũ luân, rồi chuyển hóa bản thân tức thân thành Phật trở thành Đại Nhật Như Lai, đó chính là cảnh giới tương ứng đạt được từ tu tập.

Cơ thể khỏe mạnh, nghiệp chướng bệnh tật tiêu trừ.
Bước đi nhẹ nhàng, vạn sự tự tại.
Chỉ cần đạt được sự tương ứng, tự nhiên sẽ có được tất cả những điều này.
Kỹ thuật đảo ngược luân hồi giúp phát triển luân xa đỉnh đầu.


### 16. Pháp tướng Thượng sư cũng phóng quang


Kính thưa Thượng sư:

Con cảm ơn Thượng sư đã gửi tặng pháp tướng. Mặc dù con biết rằng giữa hình tướng xuất gia và chưa xuất gia của Thượng sư không có gì khác biệt, nhưng khi nhìn thấy pháp tướng xuất gia của Thượng sư, con vẫn không kìm được nước mắt, xúc động khôn xiết. Thượng sư vì độ chúng sinh cõi người và cõi trời, thị hiện tướng xuất gia cho chúng sinh thấy, thề nguyện vô cùng tận, trong khi con vẫn còn đang chìm trong năm trược. Từ nay con chỉ còn cách nỗ lực tu tập gấp bội để sớm có khả năng tự độ và độ người, không phụ lòng khổ tâm và kỳ vọng của Thượng sư.

Con xin một lần nữa cảm ơn Thượng sư đã tu pháp gia trì cho mẹ con. Vào lúc đó, con cũng đã gửi một tấm pháp tướng Thượng sư cho mẹ con để thờ phụng và quán tưởng. Vì phòng ngủ và phòng thờ đều ở tầng hai, khi mẹ con đang cầm pháp tướng Thượng sư chưa đóng khung, bưng trên tay đi lên cầu thang, bỗng nhiên thấy từ khóe mắt trong pháp tướng Thượng sư phóng ra một luồng ánh sáng lớn cực kì mạnh mẽ, và kéo dài rất lâu.

Ngoài ra, mẹ con tạm thời đặt pháp tướng Thượng sư trên bàn trong phòng ngủ. Tối hôm đó, khi chưa chìm vào giấc ngủ, mẹ con vô tình nhìn thấy quạt điện phát ra ánh sáng vàng rực rỡ. Khi nhìn kĩ hơn, hóa ra không phải quạt điện phát sáng, mà là pháp tướng Thượng sư đang phóng hào quang, chiếu vào quạt điện và phản chiếu lại. Mẹ con nói rằng pháp nhãn Thượng sư phóng quang, ánh sáng di chuyển từ khóe mắt đến tròng mắt.

Kể từ khi mẹ con nhìn thấy pháp tướng phóng quang, từ ngày đó trở đi, sức khỏe của bà dần dần khỏe hơn mỗi ngày. Điều này cũng khiến bà càng thêm tin tưởng, chuyên cần tu tập Mật pháp, tinh tấn trì tâm chú và phát tâm sau này sẽ in ấn sách thiện để tặng cho mọi người. Tuần trước, con gọi điện về nhà, mẹ con rất vui mừng kể cho chúng con nghe về phép màu cảm ứng này. Chúng con tin rằng mẹ con có duyên rất sâu với Liên Hoa Đồng Tử, vì vậy chúng con khuyên bà niệm tâm chú Thượng sư thật nhiều.

Kính chúc Phật an!
Liên Hy. Liên Miểu.
29.07.1986.

🌟

Liên Hy và Liên Miểu, hiện đang sống ở bang Texas, Hoa Kỳ.

Đây là một lá thư chứng minh hiện tượng pháp tướng Thượng sư cũng phóng quang. Những câu chuyện phóng quang tương tự rất nhiều, bài viết này chỉ lấy một lá thư làm bằng chứng mà thôi.

Gần đây, Liên Sinh Hoạt Phật đến Vancouver thuyết pháp, đệ tử đã chụp được hai tấm ảnh phóng quang; đến New York thuyết pháp, đệ tử cũng chụp được hai tấm ảnh phóng quang; tại pháp hội siêu độ năm Bính Dần (1986), lại chụp được nhiều tấm ảnh phóng quang. Hiện nay, chỉ cần có pháp hội là có hiện tượng phóng quang kỳ diệu, thật là pháp duyên quá thù thắng, pháp duyên quá thù thắng.

Tất cả những bức ảnh phóng quang này đều do các đệ tử dùng máy ảnh chụp, Liên Sinh Hoạt Phật cả đời không chơi máy ảnh, cũng chưa từng cầm máy ảnh chụp một tấm nào, bản thân tôi cũng không biết rửa ảnh. Những bức ảnh phóng quang này không phải do cùng một người chụp, mà đến từ những quốc gia khác nhau, những người khác nhau, những chiếc máy ảnh khác nhau.

Nhiều đệ tử đề xuất với tôi rằng, sau khi sưu tập đầy đủ ảnh phóng quang sẽ xuất bản một cuốn tuyển tập ảnh phóng quang Chân Phật Tông, mỗi bức ảnh sẽ ghi chú rõ địa điểm, thời gian, người chụp, nhân duyên, kèm theo một bài thơ do Liên Sinh Hoạt Phật sáng tác để phát hành, một cuốn tuyển tập ảnh phóng quang như vậy chắc chắn sẽ gây chấn động toàn thế giới, chấn động giới tôn giáo, chấn động giới khoa học. Tôi thấy đề xuất này rất hay, một cuốn sách chứng cứ xác thực như vậy, một cuốn sách chân thật, sẽ gây chấn động cho toàn nhân loại trên thế giới, làm rung động lòng người khắp thế giới, những người không tin Phật, không tin thần, một khi thấy ảnh phóng quang, tất cả sẽ quy y Chân Phật, như vậy, cuốn tuyển tập ảnh phóng quang Chân Phật Tông này quả thật rất có ý nghĩa và giá trị.

Thành thật mà nói, Liên Sinh Hoạt Phật thực sự là một người thực tu, là người thực sự hành động trong thực tế. Những hiện tượng phóng quang này không phải để mong cầu người khác công nhận giá trị của Liên Sinh Hoạt Phật, cũng không phải để một lòng một dạ tìm kiếm lời khen ngợi của người khác đối với Hoạt Phật, mà chỉ đơn giản là khi thân tâm thanh tịnh, nhập vào Tam ma địa, thì tự nhiên biểu hiện ra mà thôi. Giá trị của nó chính là như vậy, rất đỗi bình thường.

Tôi nói rằng:
Dù thế gian công nhận,
Hay thế gian không công nhận,
Tôi vẫn cứ phóng quang.

Liên Sinh Hoạt Phật tin rằng, khi chúng ta sống trên thế gian này, để thực hiện công việc thiêng liêng là cứu độ chúng sinh, chúng ta chỉ nên tập trung toàn tâm toàn ý vào công việc của mình, không cần quan tâm đến việc người khác như thế nào, phải hoàn thành nhiệm vụ một cách viên mãn, chỉ đòi hỏi ở bản thân, không cần người khác công nhận giá trị của mình.

Tuyển tập ảnh phóng quang Chân Phật Tông trong tương lai gần, chắc chắn sẽ được xuất bản, bởi vì phóng quang chính là một bằng chứng, những hiện tượng phóng quang tương tự xuất hiện hết tấm này đến tấm khác, khi chúng ta nhập vào Tam ma địa, chúng ta thực tu, chúng ta nhất định có thể phóng quang, chúng ta không phải cầu sự biểu hiện, mà là khéo vận dụng pháp lực của mình, thực hiện sự hoằng hóa một cách thỏa đáng và hoàn thiện, hướng dẫn chúng sinh quy y về cõi Phật chân chính.

Không chỉ Liên Sinh Hoạt Phật có thể phóng quang.
Tượng và pháp tướng của Liên Sinh Hoạt Phật cũng đều có thể phóng quang.
Đây là sự quán chiếu của áo giáp kim cang trong Chân Phật Mật Pháp.


### 17. Hình ảnh Liên Hoa Đồng Tử và chúng hội


Hồng Quán Thánh Miện Liên Sinh Sư Tôn!

Đệ tử Liên Bào trước tiên xin hành đại lễ năm vóc sát đất trước Sư Tôn. Vào ngày mùng 10 tháng 7 âm lịch, khi cùng tu pháp Liên Hoa Sinh Đại Sĩ tại Viên Chứng Đường, sư huynh Liên Huyên khai thị rằng hải hội đồ (mandala) của Liên Hoa Đồng Tử đã xuất hiện trên không trung.

Hải hội đồ hiển hiện với Sư Tôn ngồi ở chính giữa, mười bảy vị Liên Hoa Đồng Tử khác phân ra hai bên trái phải, phía sau Sư Tôn có một đồng tử thiện ác đứng mỗi bên, phía trên đỉnh đầu Sư Tôn là Quan Thế Âm Bồ Tát, bên trên nữa là Địa Tạng Vương Bồ Tát, tiếp trên là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, và trên cùng là A Di Đà Phật. Hai bên còn chật kín các Kim Cang Hộ Pháp, bao gồm Ngũ Đại Kim Cang, Bát Đại Minh Vương, Hộ Thế Tứ Thiên Vương, mỗi vị đều phóng hào quang chiếu khắp pháp hội đồng tu của Chân Phật Tông, gia trì tất cả đệ tử, giải tỏa những xiềng xích đã trói buộc thân thể từ vô thủy đến nay. Đây thực sự là phúc báo lớn lao của các đệ tử.

Vào ngày 13, 14, 15 âm lịch, đệ tử cùng với phu nhân Liên Hoa Nguyệt Thiềm, Liên Thuyền, Liên Hiền, Liên Phác và khoảng tám người khác, tu pháp tại Phật đường của Liên Hoa Côn Luyện, nhằm siêu độ cho các vong linh. Chúng con rảy nước pháp, gạo đã được gia trì, đốt tiền vãng sinh, tụng chú vãng sinh cho các vong linh. Hải hội đồ của Liên Hoa Đồng Tử lại xuất hiện giữa không trung, Liên Hoa Đồng Tử lần lượt khai thị Phật pháp cho các vong linh, chỉ dẫn cách tu tịnh niệm Phật, cách vãng sinh.

Vào tối ngày 15 âm lịch, khoảng 11 giờ rưỡi, chúng con thấy vầng sáng xuất hiện quanh mặt trăng. Nhờ đã đọc cuốn sách "Một thoáng Phật quang" của Sư Tôn, con biết đây chắc chắn là điềm lành báo hiệu sự xuất hiện của chư Phật Bồ Tát. Sau đó, qua sự xác nhận của Liên Hoa Mi Thanh, con biết đó chính là hải hội đồ khổng lồ của Liên Hoa Đồng Tử, hai bên trái phải mỗi bên có năm vị Đại Bồ Tát, trùng trùng vây quanh, vô cùng trang nghiêm.﻿

Sau đó, khi hải hội đồ biến mất, một đóa sen trắng lớn hiện ra, bên ngoài trắng bên trong đỏ, một đóa sen lớn mà ngay cả những người phàm mắt thường cũng có thể nhìn thấy. Thật quá vi diệu! Thật không thể nghĩ bàn! Thật khiến người ta khao khát! Đây đúng là ánh sáng vĩ đại chiếu rọi thế gian! Kính xin Sư Tôn từ bi khai thị về cảnh giới đã nêu trên.

Kính chúc đại chuyển pháp luân, đại phóng quang minh.
Đệ tử Liên Bào chắp tay đảnh lễ.
21.08.1986.

🌟

Vị Liên Bào này là Liên Bào đến từ Singapore - ông Nghiêm Vĩnh Năng.
Tại sao hải hội đồ Liên Hoa Đồng Tử lại xuất hiện?
Bởi vì Liên Sinh Hoạt Phật đã sớm tu chứng được năm pháp quán đại bí mật.

Thứ nhất, pháp quán samaya siêu phàm nhập thánh - dòng pháp lưu thuộc địa luân của chư Phật từ dưới tòa của mình dâng lên, dòng pháp lưu trí lực của chư Phật từ bầu trời giáng xuống, hai dòng pháp lưu va chạm và hợp nhất tại đan điền trong cơ thể, thành tựu ánh sáng đại nguyệt luân thanh tịnh, tức là chứng đắc samaya thân.

Thứ hai, pháp giới sinh thân biến hóa vô cùng - dòng pháp chư tôn của ý thức vũ trụ thấm nhập qua đỉnh đầu của hành giả, đi qua đan điền xuống đất, từ đất tỏa ra bốn phương, mở rộng tám hướng, biến thành pháp tọa của chư Phật, pháp tọa này lại bay lên hư không, trở thành dòng pháp lưu của chư tôn, rồi lại quán đảnh cho hành giả, cứ thế tuần hoàn không ngừng, cho đến khi hành giả trở nên trong suốt rực rỡ, không còn chướng ngại, tức là chứng đắc pháp giới sinh thân biến hóa vô cùng.

Thứ ba, thân chuyển pháp luân cứu độ chúng sinh — dòng pháp lưu của chư tôn quán đảnh vào thân mình, từ đất tỏa ra bốn phương, mở rộng tám hướng. Chúng sinh trong vũ trụ xuất hiện trước sau pháp tọa của mình, và từng dòng pháp lưu lần lượt quán đảnh các chúng sinh, trong khi từ mi tâm, cổ họng, tim trong thân mình phóng ra ba luồng ánh sáng lớn chiếu soi chúng sinh, chúng sinh nhận được ánh sáng này. Cứu độ chúng sinh như vậy chính là Kim Cang Thủ Bồ Tát, chứng đắc thân chuyển pháp luân cứu độ chúng sinh.

Thứ tư, thân phòng ma của Kim Cang Hộ Pháp — dòng pháp lưu của chư tôn đi vào từ đỉnh đầu của mình, rồi đi vào đất, chúng sinh trên mặt đất nhận được sự gia trì của ba luồng ánh sáng, nhưng chúng sinh không thể phối hợp với dòng pháp lưu, ba luồng ánh sáng này sẽ hóa thành thần Kim Cang, đứng trên đỉnh đầu của chúng sinh, bảo vệ và phòng chống các loài ma, ba luồng ánh sáng hóa thành thần Kim Cang, tay cầm pháp khí kim cang, chứng đắc như vậy, chính là thân phòng ma của Kim Cang Hộ Pháp vậy.

Thứ năm, thân bất động tự tại trong dòng pháp lưu — Hành giả Mật tông, sự quán đảnh qua lại của dòng pháp lưu, cần phải tự mình phối hợp một cách tự do, thường xuyên thực hành bí mật, bất kể thân ở trong môi trường nào, đều phải hiểu rõ như như bất động, đồng thời vận dụng và quán chiếu dòng pháp lưu một cách tự tại, và bản thân chứng đắc bản tính như như bất động, đây chính là chứng đắc thân bất động tự tại trong dòng pháp lưu vậy.

Năm pháp quán đại bí mật này là sự chứng đắc thân samaya siêu phàm nhập thánh, pháp giới sinh thân biến hóa vô cùng, thân chuyển pháp luân cứu độ chúng sinh, thân phòng ma của Kim Cang Hộ Pháp, và thân bất động tự tại trong dòng pháp lưu. Việc chứng đắc năm thân này thành tựu âm thanh pháp tuôn chảy không ngừng, ánh sáng pháp sâu rộng vô tận, cảnh giới đại không, động tĩnh như một, giống như con quay xoay không ngừng nhưng tâm điểm của nó vẫn hoàn toàn bất động.

Hải hội đồ Liên Hoa Đồng Tử xuất hiện trong khoảng không vũ trụ, chính là sự thành tựu của cõi siddhi (cõi Phật) của Liên Hoa Đồng Tử, thành tựu này gồm có truyền thừa chư tôn, Bồ Tát, Kim Cang các pháp, đại quang minh, bất động, chính là đại thành tựu của năm pháp quán đại bí mật!

Vầng hào quang nguyệt luân tượng trưng cho hải hội đồ Liên Hoa Đồng Tử.
Đóa sen lớn trắng đỏ có thể nhìn thấy bằng mắt thường tượng trưng cho sự thành tựu viên mãn của Bồ Tát.

Liên Sinh Hoạt Phật của Chân Phật Tông có pháp duyên quá thù thắng, đã làm chấn động toàn thế giới, đây là sự truyền thừa chân chính của dòng pháp vũ trụ.


### 18. Giới luật của xuất gia


Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Hoạt Phật kính yêu!
Om mani padme hum.
Namo guru beh. Lư Thắng Ngạn Liên Sinh Hoạt Phật chỉ dẫn.
Namo buddhaya.
Namo dharmaya.
Namo sanghaya.

Kính chào Thượng sư!

Vào ngày 31 tháng 7 năm 1986, đệ tử nhận được "Chứng chỉ quy y thọ giới" mà Thượng sư gửi đến, cùng với thư hồi âm viết tay của Thượng sư và pháp tướng của Thượng sư, đệ tử Liên Hoa Kim Phong vô cùng vui mừng! Có thể thật sự chính thức gọi Thượng sư là "Thượng sư". Danh xưng này khiến tất cả đều viên mãn, tự nhiên, thường lạc ngã tịnh.

Trước khi đệ tử mua được cuốn sách "Một thoáng Phật quang" (đệ tử mua vào ngày 16 tháng 8 năm 1986), như đệ tử đã đề cập trong lá thư xin quán đảnh quy y viết cho Thượng sư vào ngày 11 tháng 7 năm 1986, đã có nhắc đến "tâm con đã xuất gia", nên đệ tử luôn suy nghĩ về vấn đề tinh tấn trì giới, tâm thường xuyên suy ngẫm về giới Bồ Tát xuất gia, cũng như tất cả giới luật liên quan đến giới luật xuất gia.

Đệ tử đã tìm thấy trong:
Cuốn sách "Mạn đàm linh cơ thần toán (phần 1)", chương "Quy y và thọ Bồ Tát giới". (Chú thích: Nhà xuất bản Đại Đăng Văn Hóa, trang 72).
Cuốn sách "Sự chứng ngộ của Thượng sư", chương "Pháp tu bát quan trai giới". (Chú thích: Nhà xuất bản Đại Đăng Văn Hóa, trang 44).
Cuốn sách "Pháp ngữ Chân Phật", chương "Truyền thụ giới Bồ Tát". (Chú thích: Nhà xuất bản Đại Đăng Văn Hóa, trang 22).
Cuốn sách "Một chút thiền vị", chương "Hoàn thành nguyện xuất gia". (Chú thích: Nhà xuất bản Đại Đăng Văn Hóa, trang 58).

Ngoài những giới luật căn bản này, còn có:
"Sự sư pháp ngũ thập tụng".
"Mười bốn đại giới căn bản Mật giáo".
"Ngũ giới".

Tất cả những điều này đều là những gì đệ tử phải tuân thủ. Trên đây là những giới luật đệ tử đã tìm thấy trong sách, và cũng biết rằng việc tuân thủ tất cả giới luật là nền tảng của việc phát tâm bồ đề.

Hiện tại đệ tử, trong cuốn sách "Một thoáng Phật quang", được biết rằng Thượng sư đã chính thức xuất gia tại Chân Phật Mật Uyển vào ngày 19 tháng 3 năm 1986 (ngày mùng 10 tháng 2 âm lịch).

Sau khi đọc xong cuốn sách "Một thoáng Phật quang", đệ tử vô cùng xúc động, đệ tử đã bàn với mẹ là Dương Nghi Đắc, xin mẹ cho phép đệ tử xuất gia, mẹ rất đồng ý và chấp thuận lời thỉnh cầu của đệ tử.

Dù lời nguyện xuất gia của Thượng sư như thế nào, lời nguyện của đệ tử cũng giống hệt như Thượng sư vậy.

Như trong cuốn sách "Một chút thiền vị", Thượng sư đã đề cập:
Người xuất gia còn có bốn nguyện, đây là bốn đại nguyện mà Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni Phật đã phát khi xuất gia:
Nguyện thứ nhất, nguyện cứu độ chúng sinh khỏi cảnh khổ đau.
Nguyện thứ hai, nguyện trừ bỏ phiền não chướng ngại của chúng sinh.
Nguyện thứ ba, nguyện đoạn trừ tà kiến của chúng sinh.
Nguyện thứ tư, nguyện độ chúng sinh thoát khỏi vòng luân hồi khổ đau.

Vì vậy đệ tử phát tâm theo Thượng sư, cũng giống như theo Đức Thế Tôn vậy, nên đệ tử với tất cả chân tâm và lòng thành, cầu xin Thượng sư truyền thụ giới xuất gia, giới Bồ Tát xuất gia, cùng tất cả giới luật liên quan mà đệ tử cần phải tuân thủ.

Nghĩ đến lễ xuống tóc xuất gia, nghĩ đến "công đức của Pháp như dòng nước trôi qua". Như trong cuốn sách "Cảnh trời riêng bên hồ", Thượng sư đã đề cập:
Nước chính là công đức,
Trôi đi không bao giờ quay lại.
.......

Cuốn sách "Cảnh trời riêng bên hồ" là cuốn sách mà đệ tử yêu thích nhất và trân quý nhất. Đó là cuốn sách mà đệ tử luôn suy ngẫm, đọc đi đọc lại không biết chán, ngược lại, mỗi lần đọc lại càng làm cho đệ tử thêm phong phú, thêm tinh tế trong tư duy tâm linh và niềm vui thiền định, vô cùng vô tận......

Thực ra, đệ tử rất thích tất cả các cuốn sách của Thượng sư, từ "Linh cơ" đến "Phật quang" đến "......", thậm chí đệ tử yêu thích cả những pháp bản vô tận trong tương lai, chỉ tiếc là đệ tử không thể đặt chữ "nhất" vào mỗi cuốn sách mà đệ tử yêu thích.

Đầu sau khi cạo tóc trông có khó coi hay không, nhưng đệ tử nhớ đến Kinh Kim Cang có câu "vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng", tự nhiên cũng không còn quan tâm nữa.

Cầu chúc Liên Sinh Hoạt Phật, Chân Phật Tông Hoạt Phật tỏa ánh hào quang sáng chiếu khắp thế gian.

Liên Hoa Kim Phong tại thành phố Edmonton cung kính chắp tay.
17.08.1986

🌟

Lá thư này được gửi từ tỉnh bang Alberta, Canada.
Liên Hoa Kim Phong là đệ tử mới quy y, nhưng đã phát tâm bồ đề lớn.
Lá thư này là lá thư tiêu biểu cho việc phát khởi tâm xuất gia. Gần đây khi Liên Sinh Hoạt Phật vừa xuất gia, đã có hơn một trăm đệ tử gửi thư muốn theo tôi cạo tóc xuất gia.

Phát khởi tâm xuất gia là việc rất tốt, nhưng cần phải hiểu rõ ý nghĩa của việc xuất gia trước, xuất gia chính là ra khỏi ngôi nhà phiền não, bước vào ngôi nhà của Phật môn, cũng có nghĩa là từ bỏ cuộc sống của người tại gia để tu tập hoàn toàn tịnh hạnh của sa môn. Đệ tử của Chân Phật Tông không bị ép buộc phải xuất gia, việc xuất gia hay không, hoàn toàn tùy thuộc vào nhân duyên của các đệ tử, khi nhân duyên chín muồi, mới có thể xuất gia được.

Người xuất gia phải thọ trì hai loại giới luật: "Thập giới" và "Cụ túc giới".

Cụ túc giới là giới mà tỳ kheo, tỳ kheo ni phải thọ trì, là cấp độ cao nhất trong các giới giải thoát. Tỳ kheo có 250 giới, cụ thể là 4 Ba-la-di, 13 Tăng tàn, 2 Bất định, 30 Xả đọa, 90 Ba-dật-đề, 4 Đề-xá-ni, 100 Chúng học, 7 Diệt tránh, tổng cộng là 250 mươi giới.

Liên Sinh Hoạt Phật thấu hiểu sự vĩ đại của việc xuất gia, nhưng tâm cảnh của Ngài vẫn luôn là nhìn thấu, buông bỏ.

——

Tâm hồn như khoảng không nơi chân trời.
Để mặc mây trắng cuộn trôi,
Trăng sáng đến rồi đi,
Vĩnh viễn không lưu lại một vết tích nào.
Không còn luyến tiếc cõi trần,
Nội tâm tĩnh lặng bất động,
Chỉ có từ bi hỷ xả,
Nhẹ nhàng bay về niềm vui thiền định nơi cõi Phật.

Giới luật xuất gia chính là tự cầu "nội minh", nguyên tắc để tâm hồn an định.


### 19. Chân Phật Tông trân quý nhất


Ân sư từ bi minh giám! 

Kể từ khi đệ tử quy y và thọ nhận quán đỉnh, đệ tử đã tham gia tu tập pháp tương ứng Thượng sư tại Bổn Sư Đường của Thượng sư Khâu Hồng Cảng, và đã có một số tâm đắc. Nay đệ tử xin trình lên Sư Tôn để được chỉ dạy.

Đệ tử tự suy ngẫm rằng Chân Phật Tông do Sư Tôn sáng lập thuộc về pháp tu thượng thừa. Mặc dù lấy Mật tông làm chủ đạo, nhưng khi nghiên cứu và thể hội sâu sắc, thực sự là sự dung hợp của năm tông phái lớn, đó là Mật tông, Thiền tông, Đạo giáo, Nho giáo và Tịnh Độ tông. Trong khi cánh cửa rốt ráo để thoát khỏi tam giới được chia làm ba, đó là Thiền, Mật và Đạo, nhưng cảnh giới tối cao của ba pháp môn này thông nhau và hợp nhất làm một.

Nho giáo và Tịnh Độ là những trợ lực để đạt đến cứu cánh, nay năm tông phái lớn hợp nhất chứng Không môn, như hổ thêm cánh vậy!

"Thiền chính là cuộc sống, Phật chính là chúng sinh". Trong vạn sự vạn vật, đều thấm đẫm thiền cơ, chờ đợi bậc thượng trí thượng giác thể hội.

Tu Mật chân tính hiển hiện, thân, ngữ, ý tam mật hợp nhất, hít vào thanh tịnh thở ra uế trược đạt thanh tịnh, minh tâm kiến tính chính là Bổn tôn.

Lão Tử nói: "Đạo khả đạo, phi thường đạo." Chính là chí đạo vô thượng giải thoát sinh tử luân hồi.

Khởi linh là: khí thông mạch luân gây chấn động, linh khí tuần hoàn pháp luân chuyển, thủy hỏa tương tế xá lợi kết, ngũ đăng hội nguyên tối thượng trân.

Nho giáo: tứ duy bát đức đều phải giữ, chính đại quang minh tham thiên tâm, chính khí thường tồn trong vũ trụ, tà ma nghe thấy đều khiếp kinh.

Tịnh Độ thực sự tâm khẩu nhất, niệm niệm Di Đà và Quan Âm, tiêu nghiệp tăng tuệ thực tế nhất, cửu phẩm liên đài thường tụng kinh.

Nay viết một bài kệ, để ghi nhớ:
*Vô thượng Chân Phật siêu bí mật, tham thiền chứng chân được thọ ký;
Mật hạnh tu trì tự tính hiển, trong lò đan đỉnh xá lợi trồng.
Học Nho thân tâm thanh tịnh an, Tịnh Độ niệm Phật thực tế nhất.
Nay năm đại tông chứng Không môn, Như Lai truyền thừa chúng sinh giúp.*

Kính chúc phóng đại quang minh!
Liên Hoa Quang Minh khấu đầu.
17.6.1986.

🌟

Lá thư này do Liên Hoa Quang Minh viết, gửi từ thành phố Cao Hùng, Trung Hoa Dân Quốc.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, học tập tu hành pháp, bất luận là tông phái nào, chỉ cần thể xác và tinh thần, tâm trời và tâm mình đạt đến cảnh giới thần hóa, thì đây chính là cảnh giới tương ứng xác thực. Đương nhiên, trong quá trình tu hành, có từng lớp từng lớp cảnh giới, nếu không phải người đã trải qua thì rất khó phân biệt tỉ mỉ.

Mật tông tu hành, lúc bắt đầu vẫn dùng ý thức. Ý thức này chính là quán tưởng, đến khi ý thức hoàn toàn tiêu diệt, Không trí mới có thể hiển lộ ra, Không trí xuất hiện mới tính là hiểu được pháp giới chân tính.

Tu hành Tịnh Độ, lúc bắt đầu vẫn dùng niệm Phật, còn ý thức đặt trong sự quán tưởng Phật, đến khi tâm khẩu như một, nhất tâm bất loạn, tự tính mới có thể hiển lộ, từ sự hiển lộ của tự tính mới tính là bước vào thế giới Cực Lạc của Tịnh Độ.

Tu hành Thiền tông, lúc bắt đầu vẫn dùng định. Không có văn tự, không có phương pháp, tự mình tham thiền về Niết bàn diệu tâm, chính pháp nhãn tạng, hiển hiện trong mọi cơ duyên thiền trong cuộc sống, đạt đến minh tâm kiến tính, từ đó bước vào cảnh giới đại giác thù thắng.

Tu hành Đạo gia, trước nhất là bắt đầu từ mệnh, tu luyện tinh thần và khí để đạt đến nguồn gốc của trường sinh bất lão, từ pháp vô vi tu đến pháp tịch diệt thần hóa, mà pháp tịch diệt của Phật chính là pháp vô vi của Đạo, ở điểm cao nhất này, Phật và Đạo vẫn thông nhau.

Nho giáo bắt đầu từ hành vi, thực hành đạo đức, dùng tâm mình hợp với tâm trời, là sự giáo hóa lớn về hành vi từ bi hỷ xả của con người, thực hành lâu dài, tự nhiên có thể thăng thiên.

(Người trong thế giới này thường là tự cho mình đúng, tin vào Tịnh Độ thì chỉ trích Thiền tông và Mật giáo; tin vào Mật tông thì chỉ trích Tịnh Độ tông hoặc các tông phái khác; tin vào Thiền tông thì muốn chửi Mật tông... Đa số những người này là những người lấy mình làm trung tâm, họ không hiểu rằng năm ngón tay duỗi ra có dài có ngắn, mỗi ngón có chức năng riêng, nhưng nguồn gốc của chúng đều xuất phát từ cùng một nơi.)

Liên Sinh Hoạt Phật đã đọc một câu trong Kinh Hoa Nghiêm: "Mọi pháp trên đời đều như ảo ảnh, nếu có thể hiểu rõ tâm mình thì sẽ không bị ngoại vật lay động."

Nghĩa là tất cả các tông phái đều là ảo ảnh, biết rõ tâm mình là hiểu rõ ràng pháp giới chân tính.
Người có thể hiểu được pháp giới chân tính mới thực sự có đại giác, hiểu rõ chân lý, và không bị lay động.

Thật ra, Chân Phật Tông cũng là ảo ảnh, hành giả Chân Phật mượn ảo ảnh của ý thức để tu tập cái thật của Không trí, cho đến khi hiểu được pháp giới chân tính mới tính là khai ngộ.

Tông tông phi tông, pháp pháp phi pháp.
Người khai ngộ, nhất định hiểu rằng: Đâu có tông! Đâu có pháp!

Phật Thích Ca Mâu Ni dạy: "Này các tỳ kheo, khi chấp trước, tức là bị ác ma trói buộc; khi không chấp trước, tức là giải thoát khỏi ác ma."

Liên Sinh Hoạt Phật, đối với tất cả các tông phái trên đời, đôi mắt trong sáng, thấu suốt tất cả.


### 20. Xuất bản sách tâm linh bằng tiếng Bồ Đào Nha


Sư Tôn từ bi minh giám!
Đệ tử Liên Dung xin kính chào và thăm hỏi sức khỏe Sư Tôn!

Do sự trùng hợp không may về mặt nhân sự, lịch trình đã định trước đành phải tạm hoãn, sư tỷ Liên Hà cũng đang tổ chức lễ đính hôn vào ngày pháp hội siêu độ năm Bính Dần, vì vậy cả ba người đều không thể đi được. Mọi việc tùy duyên, không ép buộc, chỉ hơi tiếc một chút. Hiện tại đạo hữu ở Brazil đang lên kế hoạch để năm sau có nhiều người hơn đến thăm Lôi Tạng Tự, thực hiện hành trình trí tuệ khó quên trong đời.

Lần này dù đệ tử không thể thực hiện chuyến đi, nhưng trong tâm vẫn đồng thời làm quán tưởng, quán tưởng pháp hội thù thắng viên mãn. Như những lần trước, quán tưởng khi Sư Tôn thuyết pháp, ánh sáng trí tuệ tỏa ra, và nghĩ đến tấm lòng khổ tâm của Sư Tôn trước mỗi pháp hội, thay thế chúng sinh gánh vác nghiệp chướng, nguyện sư phụ con trụ thế lâu dài, chuyển bánh xe pháp lớn, là bậc đạo sư vĩ đại đầy trí tuệ và từ bi của một thời đại trời người.

Cuốn sách "Sự chứng ngộ của Thượng sư" đã được dịch xong, chỉ còn cách gửi qua đường bưu điện, kính mong Sư Tôn xem qua, chỉnh sửa những chỗ không phù hợp, đệ tử sẽ không ngừng cải thiện và sửa chữa.

Trong quá trình dịch này, có thể nói là con có rất nhiều cảm xúc, khó diễn tả bằng lời, nhiều lần xúc động không ngừng, và đã có thêm một tầng hiểu biết sâu sắc hơn về bản chất con người. Đệ tử kính ngưỡng đại nguyện của Sư Tôn, đời đời kiếp kiếp ở lại cõi người cho đến khi tất cả chúng sinh đều thành Phật mới thành Phật, cũng như cuộc đối thoại giữa thầy và Liên Hoa Sinh Đại Sĩ: "Đại sư đang ở đâu?" "Mười phương chúng sinh đều là thân của ta, mọi nghiệp chướng khổ não của mười phương chúng sinh, đều do ta thay thế gánh chịu, há chẳng phải mười phương chúng sinh đều là thân của ta sao?" Đệ tử chỉ cảm thấy nguồn cảm xúc này nên chảy vào tâm của tất cả chúng sinh, sau những mệt mỏi và bận rộn, chỉ mong tất cả chúng sinh đều có cơ hội nuôi dưỡng một sự tư duy triết học, nếu nói Phật pháp cứu độ thế gian, chi bằng nói đó là triết lý nhân sinh, viên mãn và vô lậu, bao gồm tất cả, vượt trội hơn tất cả, có thể giải quyết mọi phiền não của chúng sinh, hướng đến tối thượng, đạt đến vĩnh hằng.

Việc dịch cuốn sách này cần phải cảm ơn sự giúp đỡ từ nhiều phía, trong đó bao gồm sự khích lệ của Sư Tôn, sự trợ giúp của thần linh trong cõi vô hình, và sự giúp đỡ của các sư tỷ trong việc thu thập tài liệu. Có những từ vựng mà đệ tử đã suy nghĩ rất lâu, lại tình cờ tìm thấy khi vô tình bật ti vi, đang chiếu "Phóng sự về Tây Tạng", đệ tử nhờ đó cũng thấy được nghi thức Đại lễ bái của người Tây Tạng. Sư tỷ Liên Hoa Huệ Mẫn với tâm hồn thanh cao như hoa lan, đã nhiều lần tìm kiếm tài liệu cho đệ tử trong báo chí và tạp chí, như chú thích chi tiết về khăn khata, và trong cuốn "Phật pháp là gì" của Tiến sĩ Trương Trừng Cơ có liệt kê nhiều tác phẩm của ông, trong đó có đề cập đến "
"Tiểu sử Milarepa" và "Mười vạn bài đạo ca của Milarepa". Bản dịch của đệ tử về Milarepa và bản dịch của Tiến sĩ Trương có chút khác biệt, vì vậy, đệ tử đã sắp xếp và sửa chữa bản thảo đã chỉnh sửa, với hy vọng rằng những người có duyên khi đọc sẽ hiểu rõ ngay lập tức.

Cuốn sách tiếp theo mà đệ tử chuẩn bị dịch là "Một chút thiền vị", một cái tên sách chứa đựng trí tuệ tuyệt vời! Đệ tử đang cố gắng đặt mình vào vị trí của người phương Tây hoàn toàn không có kiến thức Phật học, thêm vào một số chú thích với hy vọng dễ hòa nhập và hợp lý. Những chú thích này phần lớn tham khảo từ các tác phẩm khác của Sư Tôn, được sắp xếp lại, một số được lấy từ tạp chí, như chú thích về Pháp thân: sự nhân cách hóa của pháp, toàn bộ nội hàm của đời sống đều là pháp, không có bản ngã, dục vọng và đối lập. Đã là nhân cách hóa của pháp, đương nhiên thân thể gọi là Pháp thân. Vì vậy, chư Phật Bồ Tát đều có Pháp thân, kim cang bất hoại thân, pháp giới sinh thân, hết một báo thân này, hết một đời này, thành tựu cuộc sống vĩnh hằng độ chúng sinh.

Đệ tử kính xin Sư Tôn chỉ dạy đúng đắn về bất kì chỗ nào không phù hợp trong bản dịch. Brazil nằm trong khu vực nói tiếng Latin, ở vùng xa xôi Nam Mỹ, trình độ văn minh không cao, còn khó nghe được Phật pháp hơn cả ở châu Âu và Mỹ, mọi thứ đều phải tự mình mò mẫm và trải nghiệm, ngay cả trong việc tu tập cũng vậy, chỉ có thể trao đổi tâm đắc giữa những người đồng môn với nhau, khi không hiểu, chỉ biết than thở vô vọng, không khỏi ghen tị với những đệ tử bên cạnh Sư Tôn, có môi trường và điều kiện học Phật ưu việt, nhưng hy vọng Phật pháp sẽ dần dần bén rễ và phát triển tại Brazil, lan tỏa khắp dân tộc này - một dân tộc có đức tin nhưng cũng mang chút mê tín.

Đệ tử đã lĩnh hội được đạo lý tối thượng về "nhất", nhìn người phương Tây và các dân tộc khác như một, chúng sinh là một, một chính là chúng sinh, nhân loại là một, trái đất là một.

Liên Dung ngày ngày cầu nguyện chư Phật Bồ Tát, mong ánh sáng Phật khai mở trí tuệ linh diệu của chúng sinh, và Liên Dung cần phải tinh tấn tu học, phải luôn tự cảnh tỉnh mình, dùng thời gian quý báu đang trôi qua để tìm kiếm ý thức vĩnh hằng và tối thượng.

Liên Dung kính hỏi thăm sức khỏe Sư Tôn.
Đệ tử Liên Dung chắp tay kính lạy.
18.09.1986.

🌟

Lá thư này được gửi từ Liên Dung ở thành phố São Paulo, Nam Mỹ Brazil.

Kèm theo thư là bản dịch tiếng Bồ Đào Nha của cuốn sách tâm linh — "Sự chứng ngộ của Thượng sư". Đây là cuốn sách tâm linh của Liên Sinh Hoạt Phật, và là cuốn sách đầu tiên được xuất bản bằng tiếng Bồ Đào Nha.

Ở Brazil Nam Mỹ đã có nhiều người phương Tây thuộc dân tộc Latin quy y Chân Phật Tông. Tôi tin rằng khi sách tiếng Bồ Đào Nha được xuất bản, sẽ thu hút người dân tộc Latin đến quy y Chân Phật, tu tập Chân Phật Mật Pháp.

Liên Dung đã dịch xong pháp bản bằng tiếng Bồ Đào Nha.
Việc hoằng dương Phật pháp của Liên Dung thực sự phi thường, không thể nghĩ bàn, cô ấy là đại diện tiêu biểu trong các đệ tử về tinh tấn hoằng pháp, truyền bá rộng rãi Chân Phật Mật Pháp đến dân tộc Latin.

Liên Sinh Hoạt Phật trong quá khứ thường nói với mọi người: "Chúng ta phải tôn kính và nỗ lực với sự nghiệp Như Lai, phải có tinh thần tận tâm trong tu tập và hoằng pháp."
Liên Sinh Hoạt Phật mỗi ngày đều phải tu tập một lần, không bao giờ ngừng nghỉ.
Liên Sinh Hoạt Phật mỗi ngày đều viết sách hoằng pháp, không bao giờ ngừng nghỉ.

Tôi xin nói với mọi người, những bậc đại thành tựu ngày xưa, để đạt được tương ứng, thường tự cấm túc hoặc nhập thất, thậm chí ăn rất ít thức ăn, và nguyện trước Phật: "Nếu không thành tựu, sẽ không đứng dậy." Họ đem lời nguyện thưa trước Phật, để duy trì lời nguyện của mình, tu tập nghiêm túc, kết quả đạt được đại thành tựu.
Tu tập là như vậy.
Hoằng pháp cũng là như vậy.

Một khi chúng ta là đệ tử Chân Phật Tông, dù gặp bất kì khó khăn nào trên hành trình cuộc sống, nhất định phải nhận rõ mục tiêu, kiên trì đến cùng, cho đến khi độ tận chúng sinh mà không còn sót một ai, tôi mong mọi người đều có niềm tin kiên định như vậy.
Tôi viết một bài thơ hiện đại, như sau:
*Các dân tộc thế giới đều là một,
Không phân biệt, bình đẳng bồ đề,
Hoằng pháp cần phổ cập khắp mọi quốc gia,
Như cành lá sum suê, trăm hoa cùng nở.*

*Chân Phật Mật Pháp phát huy tiềm lực,
Phật pháp nhất định sẽ là phương tiện cứu độ thời mạt pháp,
Để cung cấp những điều cần thiết cho cuộc sống,
Mang lại lợi ích cho nhân loại.*

*Hãy phát huy sức mạnh tối đa của hành giả,
Chỉ cần nỗ lực hết mình,
Thành quả sẽ thu hoạch được,
Mọi người đều đốn ngộ Phật lý trong đó.*

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, đệ tử Chân Phật phải vượt qua quan niệm chủng tộc, nhìn nhận các dân tộc trên thế giới bằng tâm cứu độ bình đẳng không phân biệt, chúng ta kiên quyết tinh tấn, hoằng dương Chân Phật Mật Pháp, đây là một niềm hoan hỷ, là ánh dương rạng rỡ trong cõi nhân sinh.
Đệ tử Chân Phật, cùng nhau tinh tấn, cùng nhau thực hành.


### 21. Cầu nguyện của tăng chúng Thái Lan


Kính gửi Thượng sư Liên Sinh:

Đọc được tác phẩm vĩ đại của Thượng sư, lòng con vô cùng xúc động. Trí tuệ trong văn chương của thầy làm rạng rỡ chính pháp, là ngọn đuốc sáng suốt trong thời mạt pháp, cứu vớt những linh hồn chìm đắm. Thầy thị hiện theo nguyện lực, hóa độ vô lượng chúng sinh, chúng con cảm thấy vui mừng sâu sắc.

Tuy nhiên, danh tiếng đến đâu, phỉ báng theo đến đó. Chúng con thấu hiểu sâu sắc tâm trạng của Thượng sư khi phải chịu đựng những tổn thương và sỉ nhục. Cổ đức có nói: "Lời sai lầm như mây che khuất mặt trời, lời ngọt ngào như gió thấm vào da thịt". Chúng con chân thành mong muốn thầy thành công, và xin kính cẩn dâng lên lời góp ý nhỏ bé để Thượng sư tham khảo:

1. Thượng sư có lòng cứu độ thế gian tha thiết, tính cách thẳng thắn cởi mở, hành vi trong sạch chân thật, tất cả đều thể hiện rõ qua ngôn từ. Nhưng trong thời mạt pháp này, ma mạnh pháp yếu, chúng sinh cứng đầu ngu muội, không chỉ cần "kim cang nộ mục" [ánh mắt kim cang giận dữ] mà còn cần "Bồ Tát đê mi" [Bồ Tát mắt nhìn lim dim, hiền từ], từ bi thương xót chúng sinh tội khổ. Vì sách pháp của Thượng sư đã được dịch ra nhiều ngôn ngữ, lưu truyền rộng rãi trên thế giới, Thượng sư vốn thẳng thắn bày tỏ, nếu có phê bình, liệu có thể xem xét nhiều phương thức và chiến lược khác nhau không? Bởi ai cũng có lòng tự tôn, nếu Thượng sư viết quá thẳng thắn sẽ khiến kẻ cùng đường liều lĩnh, sinh ra oán khí.

2. "Thái Sơn không từ chối bùn đất nên có thể trở nên vĩ đại, sông biển không chọn lọc những dòng suối nhỏ nên có thể trở nên sâu thẳm". Mong Thượng sư có thể dùng đức để cảm hóa những người có ý kiến khác biệt hoặc phản đối, biến đối lập thành đồng thuận, biến tà thành chính, để sức mạnh hoằng hóa trở nên rộng lớn. Chúng con, những tăng chúng này, trong thời mạt pháp này, khi chính pháp suy tàn, khi thật giả lẫn lộn, lo lắng như lửa đốt, vừa tự tu tự ngộ, tịnh hóa thân tâm, vừa rộng làm lục độ. Ở Thái Lan cũng không thiếu những người tu hành chân chính, mong Thượng sư đừng phê bình tăng chúng quá nhiều, vì nếu tuyên truyền những điều tiêu cực, e rằng những người chưa bước vào cửa Phật hoặc những người mới học Phật sẽ mất đi đạo tâm. Nhìn từ đại cục bảo vệ thánh giáo và phục hưng Phật pháp, cầu mong Thượng sư viết nhiều hơn về giáo nghĩa, hoằng dương đại pháp, liệu có thể che giấu điều xấu, phát huy điều tốt nhiều hơn, sẽ có lợi hơn cho việc tiếp dẫn chúng sinh.

3. Thanh danh của Thượng sư lan tỏa khắp nơi, khiến bầy ma kinh hãi, thư từ đến như tuyết rơi, người quy y đông như nước chảy. Biển rộng sông dài, cát bùn đều hòa vào. Xin Thượng sư cảnh giác về ngôn hành của các đệ tử, khuyên họ giữ giới luật nghiêm túc. Nếu có đệ tử hư vọng, xin hãy mời ra khỏi môn phái. Thượng sư thu nhận đệ tử, tiếp dẫn chúng sinh, cần phải thận trọng.

Cảnh giới của Thượng sư cao siêu, rỗng rang sáng suốt, không có chướng ngại. Chúng con tuy là phàm phu ngu muội, nhưng thật lòng mong Thượng sư chuyển bánh xe pháp, hoằng hóa rộng rãi, ngọn đèn chân lý mãi rạng ngời, cứu độ tất cả chúng sinh, khiến chính pháp trường tồn. Vì vậy, chúng con không quản tài hèn trí cạn, dám bày tỏ lòng thành thật.

Mong ánh hào quang từ bi của Thượng sư chiếu khắp muôn nơi.
Kính chúc ân đức vô lượng.
Tăng chúng Viện Viên Thông Giác cung kính đảnh lễ.
08.09.1986.

🌟

Lá thư này được gửi từ Viện Viên Thông Giác ở tỉnh Bắc Lâm, Thái Lan. Đây là bức thư được cùng viết bởi tăng chúng của Viện Viên Thông Giác, bức thư này thật sự có giá trị và ý nghĩa!

Thư này được gửi từ tăng chúng Thái Lan, tôi cũng đồng cảm sâu sắc với lời cầu nguyện của các tăng sĩ Thái Lan.

Liên Sinh Hoạt Phật ban đầu có kỳ vọng quá cao đối với tăng chúng, nên khi thấy đời sống sa đọa của các tăng ni, tôi cảm thấy vô cùng ghê tởm, vì vậy, lời phê bình của tôi có phần cực đoan, chắc chắn sẽ tạo ra những hiệu ứng không tốt. Thực tế, trong tăng chúng, những người tu hành chân chính cũng rất nhiều, chúng ta không thể lấy một cây sào đánh đắm cả một thuyền người, che giấu điều xấu, phát huy điều tốt, hoặc viết lách giữ đạo trung dung, đó mới là đạo lý đúng đắn.

Tôi cũng biết rõ đạo lý "đầy tràn sẽ tổn hại, khiêm tốn nhận được lợi ích". Những tác phẩm ban đầu của Liên Sinh Hoạt Phật quá sắc bén, nổi tiếng quá mức, năng lực quá cao, cũng dễ gây ra sự đố kỵ. Tôi cũng hiểu rằng, cần phải ẩn cư một cách thích hợp, ẩn cư mới mang lại lợi ích cho việc tĩnh tu. Liên Sinh Hoạt Phật đã nhiều lần chuyển nhà, nhiều lần đóng cửa từ chối khách, đều là để thích nghi với cuộc sống xã hội, thậm chí chuyển đến Mỹ, cũng là để sống cuộc đời ẩn sĩ.

Bản thân tôi có tính thẳng thắn và nhìn thấu con người quá rõ, vì nhìn thấu quá rõ, không biết giấu giếm, nên mới có những lời phê bình. Thực tế, đối với người và việc cần phải có một giới hạn, một sự tiết chế, như vậy mới là thích hợp. Con người sống trên đời, nếu có thể không quá so đo tính toán, sẽ sống thoải mái và hạnh phúc hơn.
Đối với thế gian cũng như vậy.
Đối với tăng chúng lại càng phải như vậy.

Hiện nay, tôi đã trở thành một thành viên của tăng chúng, trong Mật giáo, tôi là Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Hoạt Phật; trong Hiển giáo, tôi đã cạo đầu thành pháp sư Thích Liên Sinh, chính thức xuất gia. Vì kỳ vọng của tôi đối với tăng chúng, tôi không khinh thường tăng chúng, nên tôi mới xuất gia làm tăng!

Tăng chúng Thái Lan mong tôi răn dạy ngôn hành của các đệ tử, kêu gọi giữ giới luật, điều này cũng rất đúng đắn, bởi vì trong số các đệ tử, nếu không giữ giới luật, cũng sẽ bị người ngoài chỉ trích. Trước đây chỉ trích tăng chúng, giờ đây các đệ tử vẫn như vậy, đây là điều rất đáng hổ thẹn!
Lời cầu nguyện của tăng chúng Thái Lan dành cho tôi, tôi chân thành tiếp nhận.

Và Liên Sinh Hoạt Phật cũng nguyện cầu cho các đệ tử, mong rằng đệ tử Chân Phật Tông sẽ giữ vững giới luật khi quy y ban đầu: Ngũ giới, Thập thiện, Sự sư pháp ngũ thập tụng, Mật giáo mười bốn đại giới, hy vọng đồng môn thông thuộc giới luật, ghi nhớ trong tâm, tu hành bình ổn, thực tu và kính thầy, mới có thể đạt được sự lĩnh ngộ.
Phân biệt rõ phải trái.
Tu trì chính pháp.
Như vậy mới là pháp khí.


### 22. Sự linh nghiệm của pháp tướng trang nghiêm


Sư Tôn kính yêu!

Sau khi quy y, con trì tụng tâm chú Thượng sư, tu pháp tương ứng Thượng sư. Con bất ngờ có linh cảm về những sự việc sắp xảy ra, tâm trạng trở nên thoải mái lạc quan. Con thực sự biết ơn Sư Tôn đã truyền pháp, mang đến cho đệ tử rất nhiều khích lệ và niềm tin, đồng thời cũng giúp con giác ngộ và quyết định con đường tương lai của mình.

Sư Tôn gửi đến một bức pháp tướng trang nghiêm, đệ tử thành tâm cúng dường, bất ngờ xuất hiện những phản ứng kỳ diệu. Vợ con vốn không có tín ngưỡng tôn giáo, gần đây cũng siêng năng thắp hương lễ bái vì quá linh nghiệm. Giữa bạn bè, hàng xóm láng giềng, ai nghe nói đến khi gặp khó khăn đều hướng về pháp tướng Sư Tôn gieo quẻ thỉnh chỉ, hỏi về tài lộc, con cái, tuổi thọ, duyên phận, tất cả đều vô cùng linh nghiệm. Thậm chí hỏi về bệnh tật cũng có hiệu quả kỳ diệu. (Một ví dụ chữa bệnh, sau khi đệ tử tu pháp tương ứng Thượng sư, trong một lần cầu nguyện, con đã trình bày tất cả với Sư Tôn, khẩn cầu chữa trị, và bệnh đã khỏi.)

Mười một năm trước, đệ tử mê tín vào thuyết vô thần, thường tranh luận với người khác đến đỏ mặt tía tai. Cho đến khi 25 tuổi, con nhìn thấy hiện tượng không gian linh dị, đã có hai lần xuất hồn. Một lần con thấy cả một đoàn người mặc trang phục cổ, có ngựa quý, kiệu xe, tất cả được trang trí bằng vải màu xanh, hai vị âm thần dẫn đường và quỳ xuống đón con. Con thấy đó là hiện tượng âm gian, kinh hãi vô cùng, vội vàng né tránh bỏ chạy, trong chớp mắt tất cả biến mất không còn dấu vết.

Lần khác, con đến một nơi dường như quen thuộc, nhưng lại không nhớ ra. Con thấy một thị trấn nhỏ với bối cảnh chợ cổ, tất cả những gì con nhìn thấy đều là hồn ma. Một số hồn ma nhìn thấy con đến liền tránh xa như có điều e ngại, còn những ma không kịp tránh thì cúi đầu chào con. Khung cảnh này rất rõ ràng.

Đệ tử trong một lần bệnh nặng, nằm viện nửa tháng, phải phẫu thuật, trong lúc mê man, con nhìn thấy muôn vàn chư Phật Bồ Tát lấp lánh khắp trời, cùng với âm thanh mõ gỗ trong trẻo. Sau khi xuất viện, con chủ động tìm đến Phật giáo, cũng tìm hiểu một số môn phái của Đạo giáo, nhưng những điều họ nói, họ luận không thể thuyết phục được đệ tử. Thậm chí với một số môn phái giang hồ, đệ tử cũng tham gia quan sát, như bói toán tướng số, môn phái bí mật rất nhiều, ít người ngoài biết đến, con đã nhìn thấy mặt lừa đảo, và cũng học được cách phân biệt chiếc mặt nạ thật giả của bọn lừa đảo giang hồ.

Hiện nay ở Singapore, con đã tìm thấy Viên Chứng Đường, cũng tìm thấy Sư Tôn, và tìm lại chính mình, thật là xúc động quá, đệ tử từ nay không còn phải hoang mang nữa.

Kính chúc Phật an!
Đệ tử Liên Hoa Đằng Phong kính bái.
15.08.1986.

🌟

Lá thư này được gửi từ Singapore.
Đoạn đầu nói về sự linh nghiệm của pháp tướng trang nghiêm, đoạn sau nói về nhân duyên tin Phật.

Thực ra, mỗi khi Liên Sinh Hoạt Phật gửi đi một pháp tướng, hoặc khai quang tượng Thượng sư, đều sử dụng Chính báo ngũ luân pháp, nghĩa là, trước tiên phải tập trung tinh thần, dùng nội hỏa thiêu đốt năm luân xa, đưa bản thân vào trạng thái thân và cảnh đều tiêu tan, đây là một hiện tượng không tịch, trong cảnh giới viên minh không tướng rộng lớn vô biên đó, dòng pháp lưu toàn thân dồn dập chảy đến ngón trỏ và ngón giữa của bàn tay phải, thông qua ngón trỏ và ngón giữa, pháp lưu trực tiếp rót vào tượng Thượng sư và pháp tướng trang nghiêm, khiến tượng Thượng sư và pháp tướng trang nghiêm này sinh ra pháp tính. Pháp tính này mắt thường tuy không nhìn thấy, nhưng lại có ánh sáng và năng lượng, chính là đặc trưng của dòng chảy pháp mang tính chung của năm luân xa.

Nói chung, khi tượng Thượng sư và pháp tướng trang nghiêm đến tay đệ tử, và đệ tử cung kính cúng dường, sẽ tạo ra một điểm tụ của ngũ luân pháp lưu. Do đệ tử tu tập pháp tương ứng Thượng sư, môi trường được hình thành, và nhờ ngũ trí mà ngũ luân xoay chuyển.

Khi ngũ trí làm xoay chuyển ngũ luân, pháp lưu sẽ tạo ra pháp lực, và người thờ cúng tượng Thượng sư cùng pháp tướng trang nghiêm sẽ cảm nhận được sự linh nghiệm của pháp lực.

Khi hỏi về tài chính, con cái, tuổi thọ, duyên phận, tất cả đều vô cùng linh nghiệm. Đối với những người cầu xin chữa bệnh, nhờ vào pháp lưu ngũ luân tạo ra pháp lực, họ tự nhiên cũng nhận được hiệu quả chữa trị kỳ diệu từ pháp lực thần bí. Hiện tượng này trong Mật tông chính là chư Phật mười phương, mỗi vị đều dùng pháp lưu thanh tịnh của mình, cùng nhau hỗ trợ động lực nguyên bản của pháp tướng trang nghiêm. Nếu hành giả Mật tông có thể tự mình tu luyện để đạt được trí lực tương ứng, sẽ cảm nhận được rằng chư Phật mười phương thực sự hiện diện trong pháp tướng trang nghiêm, đó là pháp tính viên mãn, là sự hòa hợp giữa chư Phật mười phương và pháp tướng trang nghiêm.

Theo Liên Sinh Hoạt Phật biết, người thờ cúng tượng Thượng sư và pháp tướng trang nghiêm được trải nghiệm sự linh nghiệm như vậy không phải hiếm gặp, không chỉ gây chấn động hàng xóm láng giềng mà còn gây chấn động toàn thị trấn, toàn thành phố, thậm chí còn hơn thế nữa, danh tiếng vang xa, đã có người xây dựng đền Liên Hoa Đồng Tử, hương khói thịnh vượng, bách linh bách nghiệm.

Liên Hoa Đằng Phong tự nói đã xuất hồn hai lần, theo tôi biết, tiền kiếp của Liên Hoa Đằng Phong là một vị quan chức âm phủ có lai lịch, chính là sứ giả Âm Hỏa Thánh Tôn, hai lần xuất hồn đều nhìn thấy cảnh tượng kiếp trước, thấy chư Phật Bồ Tát khắp trời, nghe tiếng mõ gỗ, đây là có duyên với Chân Phật, hy vọng anh ấy tu tập tốt, thực sự thành Phật.

Mỗi khi Liên Sinh Hoạt Phật gửi đi một pháp tướng trang nghiêm, đều đặc biệt sử dụng pháp chính báo ngũ luân.
Thờ cúng tượng Thượng sư, thờ cúng pháp tướng trang nghiêm đều có hiệu nghiệm kỳ diệu.
Tin tưởng và có bằng chứng.
Ánh sáng mà Liên Hoa Đồng Tử tỏa ra khắp mười phương chính là ánh sáng vĩ đại phát ra từ mười phương Như Lai.


### 23. Sách thơm ơi sách thơm


Lư Sư Tôn tôn kính!
Thưa Thượng sư, con chào thầy.

Vài tháng trước đệ tử đã nhận được pháp tướng quý báu của Phật A Di Đà do Sư Tôn gửi tặng, con vô cùng biết ơn! Gần đây chúng con đã mua nhiều tác phẩm mới của Sư Tôn. Con cảm thấy điều ý nghĩa nhất trong cuộc đời chính là được đọc sách của Sư Tôn. Con đã từng nói với Liên Hoa Dục Trí rằng: "Chúng ta thật may mắn và có phúc, được nhặt được những viên ngọc mani mà Sư Tôn đã gieo rắc." Liên Hoa Dục Trí nói: "Sự vĩ đại của Sư Tôn khiến tôi xúc động đến rơi nước mắt."

Nhớ lại tám năm trước, khi đệ tử lần đầu mượn về cuốn sách tâm linh của Thượng sư, con đặt nó trên bàn thờ trong phòng khách, lúc đó cả phòng khách tràn ngập mùi hương trầm (khi ấy không có ai thắp hương trầm cả). Đứa con trai nhỏ của con tìm kiếm nguồn của mùi hương, cậu bé mở cuốn sách của Thượng sư ra và ngạc nhiên gọi con: "Mẹ ơi! Mùi hương trầm phát ra từ cuốn sách này!" Thật kỳ diệu! Cả gia đình chúng con may mắn được ngửi thấy hương thơm từ sách của Thượng sư.

Nhờ hương thơm từ sách, khi con quỳ gối chắp tay niệm danh hiệu Bồ Tát Quan Thế Âm, bàn tay con tự động kết thành thủ ấn Bồ Tát, vô cùng tuyệt diệu, cảm ứng thù thắng.
Hiện nay khi tu pháp, khí đã đọng lại ở thiên tâm, ấn đường phát sáng, con đã hiểu được sự tuần hoàn của khí.

Nhờ mùi hương trầm từ sách mà chúng con đã kết duyên với Phật pháp, chúng con cầu xin Thượng sư thường xuyên gia trì cho chúng con.

Kính chúc pháp an!
Đệ tử Liên Hoa Tuyết Phân kính bái!
12.06.1986.

🌟

Lá thư này được gửi từ Malaysia.

Đã từng có người đến hiệu sách để mua sách, anh ta đứng trước tủ sách, ngửi thấy một mùi hương trầm nồng đậm, vì vậy anh ta lần lượt ngửi từng cuốn sách, thử từng cuốn, những cuốn sách khác đều không có mùi, chỉ có một cuốn sách tỏa ra mùi hương trầm, khi nhìn tên sách, đó là cuốn "Sự chứng ngộ của Thượng sư". Thật không ngờ cuốn "Sự chứng ngộ của Thượng sư" lại tỏa ra mùi hương trầm. Nhờ mùi hương trầm từ cuốn sách, anh ta đã đến quy y Liên Sinh Hoạt Phật.

Ngoài ra, còn có câu chuyện về một chủ hiệu sách đến quy y còn kỳ diệu hơn. Hiệu sách của ông đã đóng cửa tắt đèn, ông đang chuẩn bị lên lầu đi ngủ, bỗng nhiên phát hiện trong hiệu sách có ánh sáng lớn lóe lên, ông cũng ngửi thấy một mùi hương trầm, ông nghĩ rằng đèn chưa tắt hết.

Khi trở lại hiệu sách, ông nhận ra đèn đã tắt hết, nhưng trong đống sách có một cuốn sách đang phát sáng, tỏa ra ánh sáng bạc trắng, lấp lánh. Ông bước đến gần, ánh sáng bạc trắng từ từ biến mất. Ông nhanh chóng cầm cuốn sách lên, sách tỏa ra mùi hương trầm, khi nhìn tên sách, đó chính là: "Bí mật trong Chân Phật Mật Pháp". Đây là lý do thực sự khiến chủ hiệu sách này đến quy y.

Có nhiều người, vì sách của Thượng sư có mùi hương trầm, đã đến quy y Thượng sư.
Có nhiều người, vì sách của Thượng sư phát sáng, đã đến quy y Thượng sư.
Có nhiều người hơn nữa, vì mơ thấy quy y Thượng sư, khi tỉnh dậy đã đến quy y Thượng sư.
Chuyện này là sao?

Liên Sinh Hoạt Phật trong ánh sáng đại viên kính trí, lặng lẽ chuyển bánh xe pháp, nhờ vào sự phát tỏa của ánh sáng năm trí huệ, mười phương vũ trụ đều liên kết với nhau và tràn đầy khắp mười phương. Khi gặp chúng sinh có duyên, tức khắc một niệm kết duyên, từ sách tỏa ra hương trầm, từ sách phát ra ánh sáng.

Niệm vô niệm của Liên Sinh Hoạt Phật bao hàm tất cả các pháp duyên, hương trầm từ sách, ánh sáng từ sách đều là tùy cơ khởi dụng.
Nhờ vào công đức tam mật của Liên Sinh Hoạt Phật, ngũ luân xoay chuyển, tùy cơ khởi dụng, tiếp nhận tất cả chúng sinh có duyên đến quy y, đây chính là sự huyền diệu của Yoga vô thượng.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, khi tu học Phật pháp, chúng ta cần có lòng tin, bởi Phật pháp thực sự là pháp môn huyền diệu của Yoga vô thượng. Dù đang đối mặt với nghịch cảnh, chúng ta không nên nản lòng, chỉ cần không tuyệt vọng, mười phương Như Lai sẽ có cảm ứng đến khích lệ, cuối cùng giúp ta phát huy được ánh sáng trong tâm.
Đây chính là những ngọn đèn huyền diệu của Phật pháp.

Viết một bài thơ "Sách thơm ơi sách thơm":
*Hương trầm bỗng tỏa lan,
Biểu thị sự tiếp dẫn tự nhiên,
Thở khẽ và tìm kiếm
Hóa ra là mùi sách thơm của Thượng sư.*

*Sách thơm ơi sách thơm
Bỗng có ánh hào quang xuất hiện lan tỏa khắp nơi,
Chiếu rọi vào lòng người,
Phát huy sức mạnh viên mãn và huyền diệu.*


### 24. Đại nguyện thay chúng sinh chịu khổ chịu bệnh


Kính thưa Thượng sư Thắng Ngạn.
Về việc: Phát nguyện trọn đời thay chúng sinh chịu khổ chịu bệnh, và theo chân Thượng sư hình thành một "biển công đức gánh bệnh khổ" (tương tự như ngân hàng máu), để Thượng sư có nhiều nguồn lực giúp chúng sinh tiêu trừ nghiệp nặng.

Đệ tử đã ấp ủ tâm nguyện này suốt mấy tháng qua. Sau khi cân nhắc kĩ lưỡng, con quyết tâm viết thư trình bày, mong dùng lời thề nguyện này làm món quà mừng thọ, hàng năm tự động chúc mừng Thượng sư.

Hiện con xin chia thành ba phần: Động cơ, Thỉnh cầu và Phương hướng tu trì, lần lượt báo cáo như sau:

I. Động cơ phát tâm:

Những năm gần đây, trên báo chí thường thấy đưa tin về các thảm kịch gia đình, chẳng hạn như:

⑴ Con cái thiểu năng trí tuệ hoặc mắc bệnh bẩm sinh, không thể tự chăm sóc bản thân, cần người chăm sóc chuyên nghiệp vô thời hạn. Không chịu nổi áp lực kinh tế, người thân đã đẩy họ từ tầng cao xuống, tử vong trong tình trạng thảm thương.

⑵ Cha mẹ hoặc người thân bị đột quỵ, liệt, không thể di chuyển, phải do con cái chăm sóc vô thời hạn. Không chịu nổi áp lực về kinh tế và thời gian, thậm chí đã dùng búa lớn đánh chết họ.

Những sự việc như vậy thật không nỡ đọc hết. Xét về nguyên nhân, là do cơ sở phúc lợi chưa hoàn thiện, dân số quá đông, và kinh tế các gia đình thông thường đều eo hẹp. Người mắc bệnh bẩm sinh đã nhận nghiệp báo từ ác nghiệp, còn người thân chăm sóc lại giết họ, tạo thành ác nghiệp khác, từ đó hình thành vòng luẩn quẩn "vì ác nghiệp khởi ác nghiệp", thực sự cần phải phá vỡ vòng luẩn quẩn ác nghiệp này.

II. Động cơ phát tâm thứ hai:

Đệ tử sinh không gặp thời, gặp phải thời kỳ đại động loạn ở Trung Quốc, mang quan niệm Nho sĩ rất mạnh, từng lấy thiên hạ làm trách nhiệm của mình. Hơn ba mươi năm trước, vợ con ly tán, đệ tử rời xa gia đình quê hương không vì lý do nào khác ngoài việc tìm kiếm lý tưởng cứu đời. Nay nhờ Thượng sư dẫn dắt, chuyên tâm hướng Phật, nhưng tuổi đã già, thật hổ thẹn với kiếp luân hồi này, không có gì cống hiến. Tự biết ngày tháng không còn nhiều, không đủ sức khỏe để làm công việc thực tế, điều có thể làm chính là phát tâm nguyện này, thay người khác chịu bệnh khổ để tiêu trừ nghiệp chướng cho họ.

Điều mong cầu không phải là tức thân thành Phật, chỉ mong khi vãng sinh, không hổ thẹn với lương tâm, chỉ thế thôi, chỉ thế thôi!

III. Thỉnh cầu:

Kính mong Thượng sư cho phép đưa đệ tử vào hệ thống chịu thay bệnh thay khổ. Nếu có ai mang định nghiệp mà đáng được chịu thay, nhằm tránh vòng luẩn quẩn ác nghiệp, xin tự động để đệ tử chịu thay khổ thay bệnh cho họ. Đệ tử sẽ chuyên tâm tinh cần tu pháp, hy vọng tích lũy được công đức để dùng vào việc chịu thay bệnh thay khổ.

IV. Phương hướng tu trì:

Đệ tử sẽ chuyên tâm chuyên ý hồi hướng theo hướng này. Một mặt dùng viết văn để hoằng pháp bằng văn tự, mặt khác dùng chịu thay bệnh thay khổ để đóng góp thiết thực cho cuộc đời. Cả hai đều là pháp cúng dường.

Nếu đệ tử không thoái đạo tâm, chuyên tâm thực hiện pháp cúng dường này, có lẽ cũng phần nào tương ứng với mục đích chuyển thế đến cõi Ta Bà này của Thượng sư, điều này không thể biết trước.

Tha thiết mong Thượng sư thành toàn tâm nguyện của đệ tử.
Kính chúc từ an.
Đệ tử Liên Lại đảnh lễ.
20.06.1986.

🌟

Lá thư này được gửi từ Hồng Kông, chính là do Thượng sư Liên Lại viết.
Ông đã phát một đại nguyện: "Đại nguyện thay chúng sinh chịu bệnh chịu khổ".

Thượng sư Liên Lại đã nhận ra căn bệnh phổ biến của con người hiện đại, chỉ biết ích kỷ, thiếu tình thương, cũng thiếu sự kiên nhẫn, nhưng tinh thần của chư Phật Bồ Tát là từ bi đối với chúng sinh. Liên Lại đã tự nguyện chủ động phát nguyện thay chúng sinh chịu bệnh chịu khổ, đây là loại đại nguyện mà người thường rất khó thực hiện được.

Đây không chỉ là không được gây tổn hại cho người khác, không chỉ là phải nhẫn nhịn lẫn nhau, mà còn phải thay người khác chịu khổ đau và bệnh tật, đây là sự phát triển từ "yêu bản thân" thành "yêu chúng sinh".

Khi nhận được lá thư này, tôi cũng vô cùng xúc động.
Để thay chúng sinh chịu bệnh chịu khổ, cũng có phương pháp tu trì Mật tông —
Vào mật đàn. Ngồi ngay ngắn.
Niệm chú: "La-ru pô-ua-tua sa-bô-ta-mua."
Đây là chú thanh tịnh đại địa.
Niệm chú: "Ôm sa-bô-sa-bô su-thua sa-bô-ta-mua."
Đây là chú gia trì sự tịch tĩnh của đại địa.
Bản thân hòa nhập vào đại địa. (quán tưởng)
Niệm chú: "Ôm bô-rư-lu-ti-sưa-cha hùm."

Hãy quán tưởng tất cả chư Phật từ trong chính định đứng dậy, bay vào không gian, trên bầu trời của đại địa hiển hiện biển ánh sáng vĩ đại.
Hành giả Mật tông đứng thẳng, chắp tay, hướng về biển ánh sáng vĩ đại, thực hiện pháp đại lễ bái.
Miệng tụng: "Con kính dâng thân mình, cúng dường các Như Lai, để thay thế chúng sinh, chịu khổ và chịu bệnh, con nay hiến thân mình, nguyện tất cả Như Lai, hộ chúng sinh đại địa."
Tiếp theo tu trì pháp Bổn tôn, dùng Bổn tôn Kim Cang Thủ phóng ánh sáng (ánh sáng trắng), chạm vào đối tượng cụ thể cần chịu thay.
Cát tường viên mãn.

Viết một bài thơ hiện đại để ghi lại việc này:

Đại nguyện thay chúng sinh chịu khổ chịu bệnh

*Nguyện ước dưới ngọn đèn đơn độc
Chỉ mong hóa thành nghìn vạn ngọn đèn.
Bộ râu dài của Thượng sư Liên Lại
Phất phơ như tư tưởng thần tiên.
Đồng hành cùng người đời,
Đồng hành cùng đại địa,
Từ bi chính là không phân biệt ta người.*

*Giữa cơn mưa phùn gió lạnh tịch mịch,
Tôi phải cất tiếng gọi thật to, cất tiếng gọi thật to.*

*Bước đến tuổi già rồi,
Cuối cùng đã nhớ đến cõi nhân gian!
Rất muốn học tập ánh sáng của Đại Nhật,
Như cưỡi một con tuấn mã bay vút qua vũ trụ,
Xuyên qua lòng người,
Đến được mọi góc khuất đầy mạng nhện.*

(Ghi chú: Thượng sư Liên Lại, ông để râu, râu không đen không trắng, là màu xám, là giáo sư Đại học Hồng Kông, mang quốc tịch Canada.)


### 25. Tiếng lòng của người chặt ngón tay


Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Hoạt Phật!

Đệ tử cầu xin quy y và quán đảnh, đã vào ngày mùng 1 quỳ hướng về phương Đông, cầu xin Liên Sinh Hoạt Phật chỉ dẫn, quy y Chân Phật, và tụng chú quy y.

Từ hơn mười năm trước, mỗi khi Thượng sư xuất bản sách mới, con đều đọc, cảm thấy vô cùng xúc động và hoan hỷ, vì vậy mỗi khi đến hiệu sách, con đều hỏi: "Có sách mới của Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn không?" Mỗi khi gặp bạn tâm giao, con đều nhắc đến pháp lực vô biên của Hoạt Phật và những thánh tích độ người khi ngài giáng thế. Đệ tử quảng truyền việc Hoạt Phật cứu đời, không cầu chi, không vì điều gì, chỉ dùng hết khả năng của đệ tử nhắc nhở mọi người nên học Phật, nên làm điều thiện, chỉ đơn giản hết lòng mà thôi.

Khi mua và đọc xong cuốn sách "Bí mật trong Chân Phật Mật Pháp" do Hoạt Phật viết, đệ tử đã khóc, khóc vì vừa buồn vừa vui, vô cùng xúc động. Cầm pháp tướng trang nghiêm của thầy trong sách, đệ tử đã đảnh lễ một lần nữa trước pháp tướng, vừa lạy vừa khóc. Hoạt Phật ơi! Người đời không thể hiểu được tâm trạng của đệ tử lúc này, con sâu sắc tin rằng, trên thế gian này không ai từ bi hơn Hoạt Phật.

Con khóc và đảnh lễ vì hai lý do:

Thứ nhất, bởi vì bây giờ con hiểu rõ hơn rằng ân đức của Hoạt Phật thật vĩ đại và vô cùng vị tha, thầy hiển hiện khắp nơi để cứu đời độ người, nhưng thường xuyên phải chịu sự chỉ trích và phỉ báng từ những người ích kỷ và đố kỵ. Tuy nhiên, những người chỉ trích và phỉ báng đó nên tỉnh ngộ, bởi vì Hoạt Phật là bậc giác ngộ, có cảnh giới thực sự, tỏa ánh sáng mười phương, là cơ hội nghìn năm khó gặp, họ nên hối cải và quy y Chân Phật. Tất cả pháp sư và Thượng sư đều nên quy y Chân Phật, nếu tiếp tục không phân biệt đúng sai, thực sự là trời đất khó dung.

Thứ hai, đệ tử là người đã chặt ngón tay (ngón trỏ và ngón giữa bên phải). Đệ tử hiểu rõ nghiệp chướng của mình sâu nặng, khi đi học pháp ở mọi nơi đều bị khinh thường, biển khổ vô biên. Trong Mật tông, người chặt ngón tay không thể quy y, vì không thể học thủ ấn, thực sự cảm thấy vô cùng đau khổ. Nhiều Thượng sư đều nói rằng, người chặt ngón tay nghiệp chướng sâu nặng, không được học Mật pháp. Nhưng Hoạt Phật đặc biệt gỡ bỏ điều cấm kỵ này, nói rằng người chặt ngón tay vẫn có thể học Mật tông, dùng quán tưởng để kết ấn. Vì vậy đệ tử đã khóc, khóc vì cuối cùng mình có thể tu tập Mật tông, rồi lại nghĩ đến vận mệnh gập ghềnh của mình, giờ đây gặp được minh sư, càng khóc nức nở.

Hoạt Phật, lòng ngưỡng mộ của đệ tử đối với thầy không thể diễn tả hết bằng bút mực, không thể nói hết bằng vài lời vài chữ. Giờ đây đã quy y Chân Phật, mong thầy chỉ dạy đệ tử học Phật. Con không phải là nhân vật lớn, nhưng nếu nói về Phật pháp, con có tấm lòng chân thành, hàng ngày con lễ Phật, hàng ngày con niệm Phật không thua kém ai.

Kính xin chỉ dạy. 
Kính chúc mang phước lành đến vạn dân, lập tông cho muôn đời.
Đệ tử Liên Hoa Văn Hùng quỳ lạy.
10.06.1986.

🌟

Đây là tiếng lòng của một đệ tử chặt ngón tay quy y.

Tôi dạy những người chặt ngón tay này khi tu pháp hãy niệm: "Nguyện tất cả Như Lai, lấy tính Bồ Tát gia hộ con; Nguyện tất cả Như Lai, ban cho con quán đảnh kim cang bảo; Nguyện tất cả Như Lai, vì con chuyển pháp luân; Nguyện tất cả Như Lai, vì con làm sự nghiệp kim cang."
Niệm chú:
"Ôm bô-rư-la u."
Quán tưởng thân mình hóa thành pháp tướng trang nghiêm nhất của tất cả Như Lai.
Quán tưởng thủ ấn trong không trung lần lượt biến hóa.
Sau đó tu tập theo pháp bản "Bí mật trong Chân Phật Mật Pháp".

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng học tập Phật pháp không có đẳng cấp, khi Phật Thích Ca Mâu Ni truyền dạy Phật pháp luôn phá bỏ giai cấp. Lúc bấy giờ ở Ấn Độ, quan niệm giai cấp kiên cố không thể phá vỡ, chia làm bốn đẳng cấp lớn, nhưng Phật pháp đã phá bỏ đẳng cấp, Phật pháp là bình đẳng không phân biệt. (Bốn đẳng cấp: Bà-la-môn, Sát-đế-lợi, Phệ-xá, Thủ-đà-la.)

[Hệ thống 4 đẳng cấp trong xã hội Ấn Độ cổ đại được gọi là Varna. Đây là một hệ thống phân chia xã hội dựa trên nghề nghiệp và vai trò trong xã hội, bao gồm:
Brahmin (Bà-la-môn): Tầng lớp đứng đầu, bao gồm các giáo sĩ, thầy tu và học giả. Họ được coi là những người có tri thức và tinh thần, có nhiệm vụ truyền bá và bảo tồn các kinh sách tôn giáo.
Kshatriya (Sát-đế-lợi): Tầng lớp cai trị và chiến binh. Họ là những người đứng đầu triều đình, quý tộc và quân đội. Nhiệm vụ của họ là bảo vệ đất nước và duy trì trật tự xã hội.
Vaishya (Phệ-xá): Tầng lớp thương nhân, nông dân và thợ thủ công. Đây là những người đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, sản xuất và buôn bán.
Shudra (Thủ-đà-la): Tầng lớp thấp nhất, bao gồm những người lao động, người hầu và tá điền. Họ phục vụ cho ba đẳng cấp trên và làm các công việc nặng nhọc, vất vả.

Ngoài ra, còn có một tầng lớp nằm ngoài hệ thống Varna được gọi là Pariah (hay Dalit), còn gọi là "người không thể chạm tới". Họ bị coi là những người thấp kém nhất, làm những công việc bị xã hội khinh miệt như dọn vệ sinh, xử lý xác chết. Dù đã bị chính phủ Ấn Độ bãi bỏ về mặt pháp luật, nhưng hệ thống đẳng cấp này vẫn còn tồn tại trong một số khía cạnh của đời sống xã hội ở Ấn Độ.]

Mật tông có nguồn gốc từ Ấn Độ, và các giới luật của nó vô cùng nghiêm ngặt, phân biệt đối xử với người khuyết tật, cho rằng họ mang nghiệp chướng sâu nặng và không được học Mật pháp. Nhưng thời đại ngày nay đã thay đổi, hệ thống đẳng cấp ở Ấn Độ đã cần phải bị phá bỏ từ lâu. Đối với người khuyết tật, chúng ta cần phải đồng cảm và quan tâm hơn. Người có thân tâm khỏe mạnh nên giúp đỡ những người có điểm yếu và thiếu sót, đây là đạo đức công cộng hiện đại mà mỗi người nên có.

Người khuyết tật thường đặc biệt nhạy cảm với khiếm khuyết của mình, do đó họ phải chịu đau khổ vô cùng, thậm chí tuyệt vọng với cuộc sống, tâm lý tự ti quá nặng nề, đánh mất niềm tin rất nhiều. Như vậy, họ đã đủ đáng thương, trong khi Mật tông là một nhánh của Phật pháp, việc người khuyết tật không được phép tu tập Mật pháp tất nhiên là một tập tục lỗi thời.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng chim chóc thú vật đều có Phật tính, nếu học Phật vẫn có thể thành Phật, người khuyết tật là con người đường hoàng chính đáng, làm sao có thể không được học Mật tông?

Giới luật của Mật tông cũng cần phải được sửa đổi theo sự thay đổi của không gian và thời gian. Bởi vì thời đại đã khác, Chân Phật Tông của chúng ta càng phải chào đón người khuyết tật đến tu tập Chân Phật Mật Pháp, Liên Sinh Hoạt Phật đảm bảo ngày ngày tu tập vẫn có thể vượt thẳng đến cõi Phật, tức thân thành Phật.

Vì tôi phá bỏ tập tục lỗi thời, đương nhiên cũng có một số Thượng sư muốn chỉ trích phỉ báng tôi, nhưng tôi nắm giữ chân lý, những lời chỉ trích phỉ báng đó căn bản không đáng sợ chút nào.


### 26. Giấc mơ lạ sau khi thọ giới


Kính gửi Kim cương Thượng sư.

Chào thầy! Con xin một lần nữa cảm ơn sự gia trì của Thượng sư, giúp cho phu nhân của con Liên Hoa Hạnh Linh có thể thuận lợi vào làm việc tại bưu điện.

Lần này được cùng với sư huynh Hoàng Ngọc Đường đến tham dự pháp hội siêu độ, có diễm phúc được lắng nghe Sư Tôn khai thị thuyết pháp và truyền dạy pháp rung cây tiền chưa từng được nghe qua, có thể nói là pháp duyên thù thắng, cơ hội hiếm có trong đời người. Thêm vào đó còn được thọ Bồ Tát giới, quen biết Thượng sư Liêu Ngọc Tồn đồng hương (quê gốc ở Đại Thảo Phố, Mỹ Sơn, Gia Nghĩa), có thể nói là thu hoạch rất phong phú. Đặc biệt từ khi thọ giới, cuộc sống càng thêm cẩn trọng, chỉ sợ thân, khẩu, ý có điều phạm giới, con đường tu đạo quả thật trách nhiệm nặng nề, đường đạo xa vời.

Sau pháp hội này, vào ngày 31 tháng 8, đệ tử cùng với Hoàng Ngọc Đường và những người khác đã thọ Bồ Tát giới. Đêm đó khi trở về khách sạn nghỉ ngơi, đệ tử đã có một giấc mơ kỳ lạ. Đệ tử không hiểu ý nghĩa của nó nên một lần nữa xin thỉnh giáo Sư Tôn. Giấc mơ này rất rõ ràng và kỳ lạ, nhưng cũng rất đáng sợ, diễn biến như sau:

Trong một màn đêm tối đen, có hai người mặc đồ đen, trang phục giống như ninja, sử dụng phi tiêu, ném từ trái sang phải. Những phi tiêu bay như sao băng, nhắm thẳng vào mặt đệ tử. Trong ý thức, đệ tử cảm thấy hai ninja này muốn giết đệ tử. Đệ tử né tránh qua lại, nhưng hai ninja này vẫn liên tục ném phi tiêu.

Trong tình huống khẩn cấp, đệ tử bỗng nhiên ngã xuống, và sau khi ngã, đột nhiên thấy hai tay mình, mỗi tay đang nắm chân của một đứa trẻ nhỏ trắng trẻo mập mạp. Khi ninja đuổi theo, lại ném phi tiêu, đệ tử chỉ còn cách giơ đứa trẻ lên để tránh phi tiêu, vô cùng căng thẳng.

Ngay lúc đó, hai ninja tiến lại gần, áp sát rất gần, hai ninja rút kiếm samurai, đúng là khoảnh khắc sinh tử, và không xa xuất hiện một người, thực ra đệ tử chỉ nhìn thấy nửa thân trên, đầu trọc, ngực trần, xương sườn lộ ra từng cái một, rất giống một vị tăng khổ hạnh, hoặc là một trong 18 La Hán. Đúng lúc hai ninja vung kiếm định đâm tới, đột nhiên cả hai đứng bất động, đứng chết trân tại chỗ, hóa ra vị La Hán kia không biết từ phía sau đã bắn ra thứ ám khí gì, khiến cả hai ninja đứng im, máu tươi bắt đầu chảy từ miệng, mắt vẫn trừng trừng nhìn đệ tử, dần dần ngã xuống chết.

Đệ tử không thấy vị La Hán đã cứu mình tiến đến, vị La Hán ấy vẫn luôn xuất hiện ở đằng xa phía trước, lúc này đệ tử mới giật mình tỉnh giấc, nhìn ra trời đã sáng. (Đệ tử và đứa trẻ trắng trẻo mập mạp đều không bị thương, chỉ là hoảng sợ.)

Đối với giấc mơ kỳ lạ này, đệ tử chỉ đoán là liên quan đến nghiệp chướng, mong được Sư Tôn khai thị.

Kính chúc cát tường như ý.
Đệ tử Liên Hoa Kiến Thịnh chắp tay.
12.09.1986.

🌟

Lá thư này được gửi từ Houston, Texas, Hoa Kỳ.

Sự phân tích của tôi về giấc mơ lạ này như sau:
Hai ninja — Hai ninja này không vô cớ tìm người để giết, chắc chắn có mối thù hận sâu sắc. Hai ninja chính là nghiệp chướng từ tiền kiếp của Liên Hoa Kiến Thịnh, luôn theo sát, chờ đợi cơ hội hành động, với mục đích tấn công đối phương.

Đứa trẻ trắng trẻo mập mạp — chính là giới Bồ Tát. Cần biết rằng thọ giới giống như "bảo vệ trẻ sơ sinh". Phải bảo vệ sự an toàn của trẻ sơ sinh, không để bị va chạm hay tổn thương, thường xuyên hộ trì giới luật, như chăm sóc trẻ sơ sinh, theo dõi sự phát triển và khỏe mạnh của nó, không để giới Bồ Tát yểu mệnh giữa đường, giới Bồ Tát cần được trông nom thường xuyên.

La Hán — chính là biểu tượng của Phật. La Hán chính là A La Hán, ý nghĩa thực sự là sát tặc, ứng cúng, bất sinh. Sát tặc không phải là giết người, mà là giết kẻ trộm phiền não. Ứng cúng thể hiện vị ấy xứng đáng nhận sự cúng dường cao nhất của chư thiên và nhân loại. Bất sinh chính là không còn chịu nỗi khổ của vòng luân hồi sinh tử.

La Hán có đầy đủ tam minh lục thông, theo lệnh của Phật Đà, dùng sức thần thông của mình để bảo vệ chính pháp, hộ trì các đệ tử đã thọ giới Bồ Tát.

Các vị La Hán dưới trướng Phật Thích Ca Mâu Ni bao gồm: Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Ca Diếp, Ca Chiên Diên, Câu Hy La, Ly Bà Đa, Chu Lợi Bàn Đà Già, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lư Phả La Đọa, Ca Lưu Đà Di, Kiếp Tân Na, Bạc Câu La, A Sưu La Đà, v.v.

Ngoài những vị La Hán này còn có nhiều vị La Hán khác chưa nhập diệt, họ cư trú tại Đông Thắng Thần Châu, Tây Ngưu Hạ Châu, Bắc Câu Lư Châu, Nam Diêm Phù Đề, hoặc ở trên trời trong núi, mỗi vị đều bảo hộ Phật pháp tại khu vực của mình.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, Liên Hoa Kiến Thịnh có nghiệp chướng từ kiếp trước, sau khi thọ giới Bồ Tát, nghiệp chướng kiếp trước hóa thân đến gây rắc rối, và vị La Hán đại diện của Phật là Bạt Ni La Tôn Giả để bảo hộ đệ tử đã thọ giới đã vội vàng đến cứu anh ấy, Bạt Ni La Tôn Giả với xương sườn lộ ra trên ngực.

Bài viết về giấc mơ kỳ lạ sau khi thọ giới này rất có ý nghĩa.
Giới như trẻ sơ sinh, dễ thọ khó giữ.
Người giữ giới, Phật ắt hộ trì.
Nghiệp chướng tiêu trừ, tất cả thanh tịnh, nhất định thành tựu.


### 27. Trang Nghiêm Đường và Diệu Hoa Đường


(Trang Nghiêm Đường ở Đài Bắc là một đạo tràng được Liên Sinh Hoạt Phật trân quý nhất, thường xuyên tỏa ánh hào quang. Vào ngày 24 tháng 6 năm 1986, trong buổi lễ mừng sinh nhật ngày 18 tháng 5 âm lịch của Liên Sinh Hoạt Phật, Ngài đã dùng hào quang ngũ sắc gia trì cho các đệ tử, và ngay khoảnh khắc đó, một tấm ảnh quý giá ghi lại được hào quang ngũ sắc. Trang Nghiêm Đường sẽ kết nghĩa chị em với Đại Quán Đường ở bang Johor, Malaysia, và trong tương lai, Trang Nghiêm Đường chắc chắn sẽ trở thành trung tâm liên lạc của Chân Phật Tông trên toàn thế giới.)

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, ngoài Trang Nghiêm Đường ở Đài Bắc, các phân đường ở những nơi khác cũng thường xuyên được hào quang của Liên Sinh Hoạt Phật giáng lâm chiếu sáng. Hiện nay xin đưa ra hai bức thư làm bằng chứng:

Kính gửi Sư Tôn Lư, Om mani padme hum. 

Pháp hội siêu độ tổ tiên và oan thân trái chủ của lễ Trung Nguyên năm Bính Dần đã kết thúc viên mãn vào ngày 24 tháng 8. Những người tham dự và tổ tiên được siêu độ đều rất vui mừng và mãn nguyện.

2000 cân gạo mua cho pháp hội này đã được dùng để cúng dường cho trại trẻ mồ côi, viện người khuyết tật, viện dưỡng lão, và những người già neo đơn do ủy ban thành phố giới thiệu, tất cả đều nhân danh "Quỹ Từ Thiện Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn".

Kèm theo thư này là danh sách người quy y và những bức ảnh ánh sáng gia trì của chư Phật Bồ Tát mà đệ tử đã chụp được trong buổi hộ trì pháp hội, cùng với một báo cáo chứng kiến của sư huynh Lâm Quốc Khánh. Tại đây, chúng con vô cùng cảm tạ Sư Tôn đã ban ánh sáng linh thiêng đến gia trì pháp hội, và đã dùng Mật pháp cứu độ trung ấm để giúp tất cả tổ tiên vãng sinh về Ma Ha Song Liên Trì.

Trong pháp hội này đã xuất hiện nhiều điều kỳ diệu, nay xin báo cáo với Sư Tôn và cung cấp thư chứng kiến như sau:
Đường Chủ — nhìn thấy nghìn vị Phật phóng quang gia trì.
Lâm Quốc Khánh — nhìn thấy Liên Hoa Đồng Tử (Liên Sinh Hoạt Phật mặc  áo hải thanh) quang lâm hội trường, dùng Mật pháp cứu độ trung ấm, để độ các vong linh vãng sinh. (Lâm phu nhân cũng nhìn thấy Hoạt Phật, cả hai đều quy y lần này.)
Trác Ưu Cận — nhìn thấy tổ tiên (ông nội) đến trước mặt cô ấy, nhìn thấy nửa thân trên.
Diệp Trung Hùng — nhìn thấy nhiều gương mặt người xuất hiện trên không trung của hội trường để tham gia pháp hội.
Ngô Tú Anh — nhìn thấy tổ tiên của cô lần lượt hiện ra, và chữ "Diệp" của nhà họ Diệp hiện ra trước mắt.
Kha Tú Hà — nhìn thấy tổ tiên, hình ảnh rất rõ ràng.
Ngô Từ Ngân — nhìn thấy ánh sáng đỏ từ đàn thành chiếu đến toàn bộ hội trường, ánh sao phủ khắp không gian.
Dương Thục Mai — được linh quang bao trùm, đứng trước đàn tràng diễn hóa thủ ấn.

Trong pháp hội, nhiều người không kìm được xúc động mà rơi nước mắt, thật vô cùng thù thắng, cảm tạ Sư Tôn và chư Phật Bồ Tát đã gia trì.

Kính chúc Phật an!
Liên Mính chắp tay. Liên Huyên ghi chép
03.09.1986.

(Đính kèm: Thư của ông Lâm Quốc Khánh)

Kính gửi Đại Thánh Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư.

Con xin tán thán lòng từ bi và thần lực linh nghiệm của Thượng sư, con đã được tham dự pháp hội siêu độ Trung Nguyên tổ chức tại Diệu Hoa Đường vào ngày 24 tháng 8, trong pháp hội con đã cảm nhận được nhiều điều thù thắng đặc biệt, nên viết thư này để báo cáo.

Đệ tử đã ngưỡng mộ Thượng sư từ lâu, nhưng vẫn đứng ngoài cửa (chưa quy y), mãi đến 10 ngày trước con mới lấy hết can đảm dẫn theo vợ đến Diệu Hoa Đường đăng ký, thỉnh cầu Thượng sư thu nhận cho quy y.

Vì ban đầu không có ý định tham dự pháp hội, lại không hiểu rõ về tiến trình pháp hội, nên trong lúc lễ bái con đã thấy nhiều cảnh tượng kỳ lạ, vô cùng kinh ngạc, tất cả đều được ghi lại dưới dạng ghi chú như sau:

1. Trước buổi pháp hội, khi đang lễ bái trong Phật đường, con đã cảm nhận được ánh sáng đỏ tràn ngập khắp Phật đường.

2. Khi dựng pháp đàn, lúc lễ bái Phật A Di Đà, con cảm nhận được xung quanh Phật có một vùng ánh sáng vàng kim.

3. Khi con đứng trước bài vị, tụng niệm thánh hiệu và tâm chú Đại Nhật Như Lai, Đại Nhật Như Lai bỗng nhiên phóng quang, từ hào quang tròn phía sau hiện ra nhiều hóa Phật, mỗi vị đều đưa tay ra tiếp dẫn các vong linh.

4. Con đã thấy Thượng sư Liên Sinh quang lâm pháp hội hai lần. Lần thứ nhất, gương mặt hiện rất rõ ràng, mặc hải thanh màu đen (phu nhân con cũng nhìn thấy); lần thứ hai, mũ miện đỏ hiện rõ hơn, cũng mặc hải thanh màu đen, xuất hiện ở góc chéo phía trên của Đại Nhật Như Lai, và điều càng thù thắng hơn là Đại Nhật Như Lai bỗng bay đến gương mặt của Thượng sư, khiến diện mạo của Thượng Sư đột nhiên biến thành gương mặt của Đại Nhật Như Lai.

5. Nhìn thấy một cái lò, lửa Hộ Ma đang cháy, lửa ấy bỗng hóa thành hoa sen đỏ của mũ miện Thượng sư.

6. Khi mọi người cùng pháp sư xướng lên thánh hiệu A Di Đà Phật, những thánh hiệu này đi vào từ đỉnh đầu, bất ngờ trước ngực con xuất hiện ánh sáng đỏ xung thẳng lên đỉnh đầu, khi xung đến cổ họng tự động phát ra thánh hiệu Nam mô A Di Đà Phật, hòa nhập với tiếng tụng của mọi người. (Lúc đó con chỉ đang niệm thầm.)

7. Nhìn thấy Địa Tạng Vương Bồ Tát.

8. Phu nhân con nhìn thấy một vị pháp sư mặc hải thanh màu đen, tay cầm cờ vàng, đang tiếp dẫn một nhóm các vong linh đội mũ nhọn trắng, mặc áo trắng.

9. Xuất hiện một thành lũy góc cao chót vót, Đại Nhật Như Lai phóng ánh sáng xanh phá hủy, hiện ra rất nhiều u linh màu đen, lúc này trên không trung hiện ra một bàn tay lớn, tay nâng đĩa lưu ly trong suốt, đựng tất cả các vong linh.

10. Nhìn thấy Quan Thế Âm Bồ Tát ntừ không trung bay đến, vô cùng nhanh chóng tuyệt diệu, tay phải cầm cành dương liễu rải cam lộ khắp nơi.
………

Đệ tử từng học Mật pháp.

Khi lễ bái vận khí cúng dường chư Phật, ánh sáng vàng kim xung lên từ đỉnh đầu, hóa thành hoa sen vàng nghìn cánh, trong hoa sen sinh ra một viên ngọc tròn sáng màu vàng trắng, cúng dường vô tận vô lượng thế giới, vô tận vô lượng chư Phật.

Đệ tử ở nhà thờ cúng một tôn tượng Đại Nhật Như Lai, một tôn tượng Bất Động Minh Vương, một tôn tượng Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, một tượng đồng Liên Sinh Thượng Sư.

Hiện nay đệ tử chỉ có thể nói với người rằng: Hồng Quán Thánh Miện Liên Sinh Kim Cương Thượng Sư là Thượng sư của con, thế là nguyện đã thành!

Kính chúc tông môn rạng rỡ. Chúng sinh sớm lìa khổ được niềm vui không khổ.
Lâm Quốc Khánh - Trần Nguyệt Trinh.

Trang Nghiêm Đường sẽ là trung tâm liên lạc của thế giới, hào quang Phật pháp lan tỏa khắp nơi.
Diệu Hoa Đường thần tích liên tiếp, thường xuyên phóng quang, tiếp dẫn độ chúng sinh.

Những điều này đều vô cùng thù thắng. Trong tương lai, Liên Sinh Hoạt Phật có kế hoạch tập hợp các tấm ảnh phóng quang của Chân Phật Tông trên toàn thế giới để xuất bản một cuốn sách "Liên hoa phóng quang", với phụ đề là "Tuyển tập ảnh phóng quang của Chân Phật Tông thế giới". Khi cuốn sách này được xuất bản, nó sẽ càng thể hiện sự thù thắng của Chân Phật Tông, được chư Phật Bồ Tát mười phương cùng hộ trì.

Viết một bài kệ ghi lại: (bài kệ này có tên của bốn Phật đường)
*Nhập Phật Tam Muội ắt thấy quang,
Nhìn vào thanh tịnh Diệu Hoa đường;
Trang Nghiêm thù thắng trong tỉnh thức,
Chân Phật tương lai có Đại Quán.*


### 28. Niềm tin trúng thưởng


Thượng sư Lư Thắng Ngạn, Phật an!

Phật tử Liên Hoa Đạt Dương, được hồng ân của Liên Sinh Hoạt Phật thu nhận làm đệ tử quy y, vô cùng cảm kích. Phật tử ngày đêm tinh tấn tu tập công khóa, cuối cùng đã nhận được phước trời.

Singapore mỗi thứ Bảy, Chủ nhật đều có đua ngựa, quay số chữ Vạn. Vào ngày 10 tháng 8 này, con đã trúng giải nhất, trúng chữ Vạn (ở địa phương gọi là bốn số), tức là bốn con số, mua chỉ với rất ít tiền, nhưng tiền thưởng rất lớn. Đây là cảm ứng của việc quy y Hoạt Phật mà được phước trời, ánh sáng của Hoạt Phật quả thật chiếu soi nhân gian. Có được phước trời như vậy, con nhất định sẽ theo lời dạy của Thượng sư, càng tinh tấn tu tập công khóa, con tin rằng người thành tín ắt sẽ được chư thiên ban phúc.

Đệ tử chọn bốn con số này là có nhân duyên, bốn số đó là 6-9-1-0. Đệ tử đã trở thành đệ tử quy y của Chân Phật Tông vào ngày 9 tháng 6 năm nay, ngày 9 tháng 6 này là ngày ghi trên giấy chứng nhận quy y, và lệ phí quy y cúng Phật của đệ tử là gửi 10 đồng. Đệ tử bỗng nảy ra ý tưởng, đem ngày tháng trên giấy chứng nhận quy y cộng với lệ phí cúng dường thành 6-9-1-0, không ngờ lại trúng giải nhất.

Điều trùng hợp hơn nữa là, đệ tử ghi nhớ ngày 9 tháng 6 là ngày vui mừng lớn khi quy y, trong một tháng rưỡi của trò chơi quay số chữ Vạn, đã có hai lần xuất hiện 6-9-1-0, một lần xuất hiện 6-9-6-9, tất cả những điều này đều là những điều kỳ diệu xảy ra sau khi nhận được giấy chứng nhận quy y.

Do đệ tử thất nghiệp, ở nhà không có việc làm, số tiền trúng thưởng lần này có thể thanh toán hết tiền nợ thuê nhà, tiền điện nước, bố thí cho các tổ chức từ thiện, cúng dường Hoàng Tài Thần, Tứ Thủ Quan Âm, cúng dường Thượng sư, v.v.

Đệ tử đã có được "niềm tin trúng thưởng", biết rằng Liên Sinh Hoạt Phật quả nhiên pháp lực khắp nơi, ánh sáng chiếu soi nhân gian, trong tương lai không xa, đệ tử sẽ đích thân đến Chân Phật Mật Uyển để cầu quán đảnh, cầu gia trì, cầu đại trí tuệ, con tin rằng ngày này sẽ đến rất nhanh.

Kính chúc Phật an!
Công đức viên mãn thù thắng!
Đệ tử Liên Hoa Đạt Dương kính bái.
13.08.1986.

🌟

Đệ tử Liên Hoa Đạt Dương sống tại Singapore.

Về chuyện trúng thưởng, thực ra Liên Sinh Hoạt Phật không muốn nhắc lại, chỉ vì đã có quá nhiều đệ tử trúng giải nhất, muốn kể cũng không thể kể hết.

Hơn nữa, trúng giải nhất dường như không liên quan gì đến học Phật. Mà học Phật chính là học tinh thần Phật pháp, để thực hành, để phát huy tâm thiện, mỗi ngày làm những việc có ích.

Cá nhân tôi không mong muốn mọi người mê mải vé số, mọi người đoán số để theo đuổi phúc báo từ việc trúng thưởng. Tuy nhiên, nếu phúc đến tâm linh, thỉnh thoảng mua một lần, tôi không nỡ khiển trách.

Quan niệm đúng đắn là học Phật là để kiềm chế tham, sân, si. Chuyên tâm vào việc tu dưỡng, rèn luyện bản thân, đó mới là tu hành. Còn về phước báo từ trời thì đừng nghĩ đến, hãy để nó đến một cách tự nhiên, đừng bỏ gốc lấy ngọn, đừng cố ý theo đuổi.

Chân Phật Mật Pháp có pháp Tài Thần, là để hành giả không có nỗi lo về sau này.
Đại pháp chỉ của Chân Phật Mật Pháp là cầu sự tĩnh lặng của thân tâm.
Nếu đệ tử Chân Phật Tông chỉ học pháp Tài Thần, hàng ngày mê mải trúng giải nhất, thì đó chính là sa đà vào rượu chè cờ bạc, là giặc bên ngoài, tình dục tham lam là giặc bên trong, lòng tham là hố không đáy, không thể kiềm chế, cứ tiếp tục như vậy là một sai lầm lớn.

Đệ tử có khuynh hướng này cần đặc biệt chú ý, nó có thể gây ra hiện tượng tâm lý bất thường, nếu che mờ lý trí, đắm chìm trong đó sẽ đánh mất lý tính và có thể dẫn đến những hành động thiếu sáng suốt.

Hành giả Chân Phật Mật Pháp cần phá trừ tham chấp:
Cần kết ấn Hàng Tam Thế Minh Vương.
Trì chú: "Ôm pô-ka-fan mô-rư-la-hùm pha-cha." 108 biến.

Quán tưởng tâm mình vĩnh viễn hiển hiện bản tính hỷ lạc vi diệu, được người đời tôn kính, loại trừ được tâm tham không bao giờ dứt.

Tuy nhiên, nếu đệ tử Chân Phật thực sự gặp khó khăn, bị tiền bạc làm phiền não, tôi mong họ tu pháp tăng ích, và trước Phật phát đại nguyện phải bố thí pháp tài, không được tham lam vô độ!

Sám hối, tùy hỷ, khuyên thỉnh phúc,
Của cải sung túc trời ban cho;
Tất cả viên mãn ba-la-mật,
Lại nhập thiền định đủ bi trí.

Tu hành hoàn thiện là không thiên về bất kì phía nào, đi trên con đường trung đạo. Chúng ta phải luôn tự xét mình, tự kiểm điểm, lòng dạ rộng mở, loại bỏ mọi tạp niệm, đối diện với chân ý của Phật, nỗ lực thực hành, thuận theo Phật lý mà hành động, đó là đúng đắn.


### 29. Lĩnh hội pháp vị trong sách


Liên Sinh Thượng sư, kính chào thầy. Đệ tử những ngày gần đây đang đọc tác phẩm "Chấn động lớn của thiền" của thầy.

Ngay khi con đang suy ngẫm về bài viết "Nghìn vị Phật hiện đang ở đâu" trong sách có đề cập đến cuộc đối đáp giữa cậu học trò và thiền sư, trong tâm con xuất hiện những lĩnh hội như sau:
Tâm có nghìn nghìn pháp. Đều liên quan lẫn nhau. Bỏ nghìn không một hiện. Pháp ở trong tâm thấy.
Cuộc đời vốn vô thường. Bao nhiêu chuyện vướng víu. Dụng tâm không chấp trước. Trong thiền biết số trời.
Hãy từ từ đừng vội vã, thuận theo đại đạo tự nhiên đi, nghìn thế giới Phật có bạn có tôi, thế giới của bạn và tôi có nghìn Phật, tiếng tiếng lời lời nói không hết, tịch diệt chứng đạo cùng tôi đi.

Con xin viết tiếp những tâm ngữ của những ngày gần đây, kính mong Thượng sư xem qua:
Ha ha cười vang một tiếng ha, mọi việc đều tan trong nụ cười, gạt bỏ bụi trần rời trần cấu, hoa sen tự mọc vốn tự nhiên.
Trong tâm có kiến địa phân biệt tâm thiện ác, tri kiến dùng để đoán định cái nào là lời giải thích đúng đắn.
Không chấp không trước không nhân ngã, trên tòa sen không có Phật ngồi.
Một lòng cầu thanh tịnh, buông bỏ bụi trong bụi, thanh tịnh là pháp môn, ta vốn không nơi trú.
Thời gian tốt đẹp tạo nên, vô tâm chính là tất cả.
Từng đóa sen xanh từ đài sen sinh ra, bước vào nhân gian diễn trò tương lai, một màn vũ điệu ngộ vô sinh, ngoảnh đầu lại chỉ thấy tuổi tác tăng.
Vạn sự đều nằm trong tự nhiên, không cố tạo tác tự nhiên làm.

Gần đây, con đã có sự lĩnh hội về quán tưởng và cảm ứng, việc quán tưởng của cá nhân con rất dễ dàng hợp nhất với Thánh Tôn. Nhưng đó chỉ là một dòng chảy trong tâm linh, mắt không thể thấy, tai không thể nghe, và những câu pháp này luôn luôn trôi chảy trong tâm, những câu pháp này rất mầu nhiệm, có pháp vị:
Giữa người với người có khác nhau, nhân duyên khác nhau không thể giống, khi giác ngộ nhận ra vô ngã, đồng và bất đồng là như nhau.
Một lòng cầu thanh tịnh, thanh tịnh hiển tự thân, gột rửa mọi uế tạp, hòa nhập vào biển lớn.

Quán diện mạo của ta, chiếu Pháp thân của ta, ngồi trên đài sen báu, ánh sáng chiếu lẫn nhau, một ánh sáng một thế giới, một thế giới có một nguyện, ba nghìn công đức viên mãn, thường trú cảnh giới tối thượng, trong đó một đại nguyện, chính là đi cùng thầy.
Đừng khởi nhiều ý nghĩ, bỏ vọng bỏ suy tư, khi tất cả viên mãn, cần gì phải tự giác.

Vốn không muốn làm phiền thời gian quý báu của Sư Tôn, nhưng rồi con vẫn làm vậy, một là muốn xin Thượng sư hiểu rõ quá trình tu tập của con, hai là mong Thượng sư chỉ dạy thêm. Và xin gửi lời hỏi thăm Thượng sư Liên Hương. Cảm ơn thầy!

Kính chúc Phật an!
Đệ tử Liên Tinh kính bái.
17.09.1986.

🌟

Bức thư này được gửi từ San Francisco, Hoa Kỳ.
Liên Tinh có cảnh giới và sự lĩnh hội rất cao, thật đáng mừng đáng khen.
Trong đó có pháp môn quán tâm.

Hành giả Mật tông, khi tu pháp môn quán tâm có thể kết ấn chắp tay kim cang, trước tiên quán tưởng pháp lưu của chư Phật quán đảnh.
Tiếp đến quán tưởng lực của mình và lực của Sư Tôn hợp nhất thành một thể.
Tay kết ấn trói kim cang.
Dùng ấn này vỗ vào ngực mình ba lần, sau đó giải ấn trên đỉnh đầu.
Trì chú: "Ôm bô-rư-la-man-thu ta-la-cha." (ba lần)
Quán tưởng tim mình biến thành điện Phật, với núm vú phải và trái biến thành cửa trái phải của điện Phật, thân mình không còn thấy nữa, hóa thành đỉnh điện Phật.
Thủ ấn, chú ngữ, quán tưởng này, ba yếu tố hợp nhất. Nếu thực hiện liên tục ba lần, đó chính là bí mật trong bí mật, có thể phá vỡ tâm tự khép kín của chúng sinh.

Liên Sinh Hoạt Phật dạy Liên Tinh, khi thân mình hóa thành điện Phật, có thể quán tưởng trong hư không có một vầng trăng, trong vầng trăng có một đóa sen trắng, trên đóa sen trắng có một chữ Phạn "Hum", chữ "Hum" xoay tròn liền hóa thành Sư Tôn Bạch Liên Hoa Đồng Tử, ngồi trên đài báu, trang nghiêm tướng đẹp.

Lúc này, quán tưởng Bạch Liên Hoa Đồng Tử bay vào điện Phật của mình, ngồi trên pháp tạa thất bảo trong điện Phật, đây chính là pháp lưu của Thượng sư chảy vào tâm bạn, thực sự là tương ứng Thượng sư. Thông thường, hành giả Mật tông khi ở trong cảnh giới này tự đóng cửa lớn của điện Phật lại, để cho pháp lưu của Thượng sư thấm nhuần và đối lưu trong tâm mình, đây chính là hòa hợp làm một, là sự hòa tan của Phật lực vậy.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng sự lĩnh hội pháp vị của Liên Tinh đã đạt cảnh giới ngày càng cao, tương lai nhất định sẽ là trụ cột lớn của Chân Phật Tông, đặc biệt truyền cho anh ấy quán đảnh pháp môn quán tâm biến hóa điện Phật.

Đây là đệ tử đầu tiên của tông phái học tập pháp môn quán tâm.
Hãy tận tâm học tập.
Tận tâm nảy mầm đâm rễ.
Làm cho đại pháp Phật môn được hoằng truyền.
Tỏa ra ánh hào quang vĩnh hằng độ thế.


### 30. Chân thành có thể cảm ứng


Kính thưa ân sư từ bi.
Ân sư nói rất đúng, tất cả Mật pháp đều được vận dụng linh hoạt, chỉ cần hành giả Mật tông có lòng chân thành thì các pháp đều thông với nhau, các thần chú đều có sự tương ứng.

Vào tháng tư năm nay, đệ tử đã đến Anh Quốc để giúp đỡ con gái nuôi, vì con gái nuôi dường như bị một nhân tố kỳ lạ quấy nhiễu. Nơi cô ấy ở là một bệnh viện thời Thế chiến thứ hai, nghe đồn bệnh viện này có rất nhiều người đã chết, nên tòa nhà này rất bất thường, từ rất lâu đã có lời đồn là không sạch sẽ.

Đệ tử và chị họ Liên Bi đã cùng nhau đến sống trong căn nhà đó. Đệ tử trước tiên treo lên Man thiên hoa cái, sau đó thực hiện đại pháp ngũ quỷ và ngũ phá của ân sư cho con gái nuôi, rồi tụng chú thanh tịnh chú, pháp cúng dường đại mandala, pháp tứ quy y, pháp mặc giáp hộ thân, tụng chú Đại bi chú một lần, tâm chú Thượng sư tâm chú 108 lần, chú vãng sinh 3 lần, quán tưởng tất cả các oan hồn được cứu độ vãng sinh, cuối cùng mới hồi hướng.

Đệ tử tu pháp đơn giản mà trang nghiêm, giống như cách bình thường tu pháp, nhưng với sự tu tập chân thành đã tạo ra năng lực siêu độ không ngờ. Ân sư ơi! Đệ tử thật xúc động, nhưng không biết dùng từ ngữ nào trên thế gian này để ca ngợi sự vô biên của Phật pháp, oai lực siêu việt của Chân Phật Mật Pháp.

Khi đệ tử tụng chú vãng sinh, quán tưởng trong lúc tu pháp, chị họ nhìn thấy ân sư hiện ra trong hư không, thân tỏa ánh sáng vàng rực rỡ, ngồi trên một đóa sen lớn trắng như mây tuyết, và phía trên ân sư có ba vị Phật cùng hiện ra, tương tự ngồi trên những đóa sen khác màu nhau, cũng phát ra ánh sáng vàng tuyệt đẹp.

Chị họ Liên Bi nhìn thấy ân sư vừa đưa tay ra, vô số chấm đỏ nhỏ như phấn hoa tỏa ra, những chấm đỏ nhỏ này dần dần lớn lên hóa thành từng đóa sen hồng. Những đóa sen bay lên bay xuống đẹp tuyệt vời, mỗi đóa sen đều mang theo một oan hồn, những oan hồn này đều chắp tay, gửi lời cảm tạ sâu sắc nhất đến chư Phật và ân sư trong hư không. Và trong chớp mắt, chư Phật và ân sư đều biến mất, các oan hồn cũng không còn nữa.

Thưa ân sư, ngài nói cảnh tượng này thật cảm động biết bao. Ân sư ở tận nước Mỹ, vẫn có thể hóa thân đến Anh Quốc cứu độ những linh hồn tử trận đáng thương, ân sư quả thật là Phật Tổ tái thế, không hề hư dối. Đệ tử may mắn được quy y ân sư, nếu không chăm chỉ tu thân tu pháp thật là phụ lòng ân đức sâu dày của ân sư, không biết đời sau có còn cơ duyên như vậy nữa không.

Còn những kẻ ngốc nghếch công kích phỉ báng ân sư đến khi nào mới thức tỉnh? Nguyện rằng những kẻ phỉ báng sớm ngày quay đầu. Hai người bạn có mặt tại hiện trường lúc đó đã ngay lập tức muốn quy y ân sư, bởi họ cũng cảm nhận được linh lực của ân sư, thán phục chưa từng có.

Sau khi tu pháp quán tưởng, căn nhà hoàn toàn yên tĩnh, mọi sự quấy nhiễu không còn xuất hiện nữa, con gái nuôi đã trở lại bình thường. Đệ tử đã lưu lại Anh Quốc hơn ba tuần mới về Malaysia. Đệ tử rất vui mừng về sự thành công của pháp sự lần này, nhiều người thân và bạn bè đều biết chuyện, sẽ có thêm nhiều người đến quy y ân sư.

Cuối cùng kính chúc ân sư pháp an!
Đệ tử Liên Áo đảnh lễ.
12.09.1986.

🌟

Đây là câu chuyện có thật của Liên Áo từ Malaysia đến Anh Quốc giúp người tu pháp. Bức thư này giải thích rằng Mật pháp là pháp được vận dụng linh hoạt, một chú tương đương với tất cả các chú, pháp pháp đều thông với nhau.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, chí thành ắt sẽ cảm ứng. Đã có quá nhiều đệ tử đều đã có sự cảm ứng.

Hành giả Mật tông cần hiểu rằng pháp lực có tính hấp thu lẫn nhau.
Sức mạnh của bản thân rất có hạn, hành giả Mật tông cần phải tiếp nhận lực lượng từ bên ngoài trong quá trình tu pháp mới có thể phát triển thành pháp lực vô cùng, sự kết hợp giữa tự lực cộng với tha lực này, để rồi gia trì cho người khác, chính là hấp thu lẫn nhau của Mật tông.

Một hành giả Mật tông chí thành, trong khi tu pháp quán tưởng, cần thể hội bản thể tức không, sẽ tạo ra tính hấp thu lẫn nhau, hòa nhập lẫn nhau thì thành Pháp thân.

Liên Áo có thể dùng lòng chí thành để cầu nguyện, trì tụng Thượng sư tâm chú, bản thân tiếp nhận sức gia trì của Thượng sư, sức gia trì của chư Phật, liền cảm triệu được pháp lưu của các pháp và Thượng sư. Lúc này pháp lực được thực hiện đương nhiên ngang bằng với pháp lực của Thượng sư và chư Phật, loại gia trì u linh này thể hiện pháp lực tương đương.

Để học hỏi vẻ đẹp tuyệt diệu của tính hấp thu lẫn nhau, nhất định phải có tâm cảnh trống rỗng, giống như tâm cảnh của một đứa trẻ sơ sinh thuần khiết, đó là điều trong sáng nhất, phải hoàn toàn không gượng ép, sự không gượng ép này chính là chí thành. Mỗi hành giả Mật tông muốn hiển lộ ánh hào quang của chân lý, đương nhiên phải dựa vào sự nỗ lực tinh tấn và trí tuệ của bản thân, nhưng còn cần hơn nữa sự gia trì của Thượng sư và chư Phật. Người có trí tuệ hiểu rằng, sức mạnh vô hình là vô biên vô tận, nếu có thể mời được sức mạnh vô hình giúp đỡ, ắt có thể thành tựu tất cả.

Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Hoạt Phật đã tự mình chứng ngộ thực tướng của hư không vũ trụ, đã là bậc giác ngộ, cuối cùng đã đạt đến cảnh giới tịch diệt, có lòng từ bi vô biên, chỉ cần đệ tử chí thành cầu nguyện, liền có thể phóng quang mười phương, đây là biểu hiện của bậc ngộ được thực tướng, bởi vì tất cả pháp lưu về cơ bản đều thông với nhau, hấp thu lẫn nhau, tương hỗ với nhau.

Viết một bài thơ hiện đại về phóng quang mười phương:
*Cầu nguyện, vì một ước nguyện không gì sánh được trên đời.
Như ánh nắng mặt trời tỏa khắp
Vắt ngang bầu trời xanh biếc
Dòng pháp lưu phong phú tuyệt vời
Róc rách từ tâm một hành giả*

*Trong thế kỷ này
Không gian và thời gian đã co lại
Tất cả đều bị phá vỡ
Như Phật Tổ vẫn hiển lộ thần thông
Trên phố chợ khất thực từng nhà*

*Trong mười phương đều có một bản ngã
Trong năm nghìn năm văn tự có một bản ngã
Mở rộng tâm hồn
Muốn gì được nấy
Cầu nguyện thêm lòng chí thành
Cái không cũng sẽ biến thành có*

*Tiếp tục tu luyện
Không cần tìm kiếm nguồn gốc của dòng pháp lưu
Không phải tằm nhả tơ
Mà là vị Phật vốn có trong hư không
Phóng quang mười phương
Phóng quang mười phương, ôi
Liên Sinh Hoạt Phật.*


### 31. Từ Cơ Đốc đến Phật


Kính thưa Thượng sư tôn kính:

Đệ tử hằng mong nhận được pháp tướng của Thượng sư trong trang phục áo vàng, mũ vàng, từ bi trang nghiêm. Vừa mới có ý niệm này, vị Thượng sư vĩ đại với thần thông vô hạn đã không làm đệ tử thất vọng, trong thư hồi âm, Thượng sư đã đính kèm pháp tướng tôn quý khi tu pháp trong trang phục áo vàng, mũ vàng, khiến đệ tử vô cùng phấn khởi, khó có thể diễn tả hết được. Đệ tử xin cảm ơn Thượng sư đã gia trì cho gia đình đệ tử mọi sự như ý, các con học hành chăm chỉ, thành tích tiến bộ.

Đệ tử có một đoạn nhân duyên bí sử quy y, cho đến nay vẫn chưa báo cáo với Thượng sư. Nguyên đệ tử là một tín đồ Cơ Đốc, vào năm 1975, một ngày nọ khi đang dạo quanh một hiệu sách ở Đài Bắc, tình cờ phát hiện sách tâm linh của Thượng sư trong bộ sưu tập sách, vì tò mò nên đã lật xem, khám phá ra kiến thức mới mẻ chưa từng có, đã mua liền mấy cuốn mang về nhà nghiên cứu. Sau khi đọc xong và suy ngẫm kĩ lưỡng mấy cuốn sách tâm linh này, từ đó quan điểm Cơ Đốc giáo về cuộc sống của đệ tử đã hoàn toàn thay đổi.

Đệ tử bắt đầu tin vào Phật pháp, sáng tối tự tu tập đọc kinh Phật theo sách, tụng chú Lục tự đại minh, tụng chú Đại Bi, nhưng vẫn chưa có duyên quy y, có lẽ duyên chưa chín muồi. Cuối cùng đệ tử được cử đi công tác nước ngoài vào tháng 9 năm 1977, lúc đó đã có ấn tượng sâu sắc về Ngũ giới, trong các dịp giao tiếp xã hội và giải trí đều có thể giữ mình trong sạch, chỉ tham gia nhưng không bị ô nhiễm, đệ tử đều tùy duyên ứng phó với hoàn cảnh thực tế, có thể nói đệ tử đã sống trong bùn mà không nhiễm bùn, lúc đó đệ tử chuyên cần tu tập chú Đại Bi, mỗi ngày nhất định tụng bốn mươi chín lần, cùng với danh hiệu Phật và chân ngôn.

Tuy nhiên, cuộc đời vô thường, đệ tử mắc phải u ruột kết, đã đến giai đoạn nghiêm trọng, cơn đau như dao cắt, sau khi chụp X-quang ở bệnh viện Vinh Tổng, bác sĩ kết luận phải mổ cắt bỏ u ruột. Trong hoàn cảnh nguy kịch này, đệ tử chỉ còn cách nhất tâm tụng chú Đại Bi, niệm danh hiệu Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát. Khi phẫu thuật, lòng đệ tử lại cảm thấy vô cùng bình tĩnh, chưa từng nghĩ đến chuyện sống chết, quên hết tất cả. Trong trạng thái một niệm không loạn này, đệ tử đã vượt qua cửa tử, trải qua ca đại phẫu thuật bình an và rời khỏi bệnh viện an toàn. Sau khi xuất viện, đệ tử chỉ làm vài lần hóa trị, cuối cùng hoàn toàn nhờ vào thiền định, niệm Phật, trì chú, và cuối cùng đã vượt qua giai đoạn nguy hiểm kéo dài 5 năm.

Nguyên nhân hồi phục là do đệ tử đã tin Phật, được sự gia trì của chư Phật Bồ Tát, và tu tập chú Đại Bi nên không bị bệnh ác hành hạ đến chết. Mạng sống của đệ tử được cứu bởi sách của Thượng sư, nếu không có duyên đọc được sách tâm linh, đệ tử sẽ không bao giờ biết đến chú Đại Bi.

Vì vậy, đệ tử đã quy y Thượng sư Hoạt Phật, xem Thượng sư Hoạt Phật là thầy của mình trọn đời kiếp này, và sẽ không quy y bất kì pháp sư nào khác. Đệ tử nguyện tu pháp tương ứng Thượng sư, sau khi tương ứng sẽ chọn Dược Sư Phật làm Bổn tôn, nguyện sau khi tu thành tựu pháp Bổn tôn sẽ cứu độ chúng sinh khắp thiên hạ đang chịu bệnh khổ, giúp họ sớm thoát khỏi bệnh ác và nỗi đau của các chứng bệnh nan y. Nguyện xin Thượng sư vĩ đại từ bi gia trì để đệ tử sớm tương ứng trong tu pháp, giúp đệ tử sớm có thể giải trừ bệnh khổ cho chúng sinh.

Đệ tử xin gửi kèm theo thư này tấm ảnh gia đình để Thượng sư gia trì.
Kính chúc Thượng sư cát tường như ý và gia quyến an khang.
Đệ tử Liên Hoa Bích Phong cúi lạy.
22.06.1986.

🌟

Bức thư này được gửi từ Jordan của Swager.
Liên Hoa Bích Phong hiện đang được cử đến làm việc tại Jordan.

Trong số những người quy y gần đây, không chỉ có tín đồ Cơ Đốc, cũng không chỉ có các vị pháp sư xuất gia, mà còn có cả mục sư, linh mục từ các tôn giáo khác nhau đều đến quy y Liên Sinh Hoạt Phật. Và thậm chí, nhiều vị Hoạt Phật Tây Tạng với tư cách là Hoạt Phật cũng đến quy y Liên Sinh Hoạt Phật, đây quả là một pháp duyên lớn hiếm có trên thế gian!

Tại sao Liên Sinh Hoạt Phật có thể độ hóa tín đồ Cơ Đốc, mục sư, linh mục, pháp sư xuất gia, Hoạt Phật Tây Tạng...?
Bởi vì:

Liên Sinh Hoạt Phật đã sớm hóa thân thành Địa Tạng Vương Bồ Tát.
Liên Sinh Hoạt Phật đã sớm hóa thân thành A Di Đà Phật.

Bởi vì hành giả đã khai ngộ, đã thông đạt bản tâm, đã chứng bồ đề, hiện kim cang tâm, thành tựu thân Phổ Hiền Vương để nhiếp độ chúng sinh cùng vào Ma Ha Song Liên Trì, chỉ có hiển hiện nhiều thần thông lực, khắp nơi hiển hóa cứu người, ánh sáng trong trẻo chiếu khắp nhân gian, hiển bày tướng đẹp trang nghiêm, dùng ấn samaya Phổ Hiền gia trì chúng sinh nhân gian.

Đây là Ngũ trí thông suốt lên trên, tổng hội tụ các pháp lưu của chư Phật, trên là Tây phương thắng cảnh, dưới là địa ngục u minh, đều được độ hóa, nên khi thì Liên Sinh Hoạt Phật là Địa Tạng Vương Bồ Tát, khi lại là A Di Đà Phật, đội mũ báu Ngũ Phật, trang nghiêm với các tràng hoa, đủ loại trang nghiêm, đủ loại pháp lưu, trùm khắp pháp giới.

Liên Sinh Hoạt Phật trong trạng thái vô sở đắc, quán tịnh viên minh, tất cả đều biết, tất cả đều rõ, đây chính là Đại viên kính trí, hội tụ mọi thành tựu, nói rõ hơn, tất cả chủng tính đã hoàn toàn hòa nhập vào trong đó, nên chúng sinh được độ là vô hạn.

Tôi từng đi từ Cơ Đốc đến Phật.
Và tự nhiên cũng có nhiều đệ tử đi từ Cơ Đốc đến Phật.
Cơ Đốc là tôn giáo Thiên Quốc thừa của Phật, là Phúc Âm Thiên quốc.
Cơ Đốc là một giai đoạn, Phật là một giai đoạn khác, giữa hai giai đoạn này có sự tương thông.


### 32. Pháp phi không châm cứu


Thượng sư Liên Sinh!
Đệ tử kính dâng lễ mọn để bày tỏ lòng kính trọng đối với Thượng sư! Kính chúc Thượng sư một ngày Lễ Nhà Giáo bình an và vui vẻ!

Cảm ơn Thượng sư đã châm cứu chữa bệnh cho đệ tử tối qua! Hôm qua cả ngày đệ tử đau đầu dữ dội, khó chịu không thể nào diễn tả được, thuốc chỉ giảm đau tạm thời, cho đến nửa đêm, đệ tử mơ thấy Thượng sư đến. (Bên cạnh có vài vị tiên sinh, và vô số chúng sinh đang chờ đợi Thượng sư.)

Thượng sư nhìn mặt đệ tử, sau đó hỏi: "Sắc mặt của con sao xấu thế?"
Đệ tử mệt mỏi mở mắt trả lời: "Hôm nay cả ngày đau đầu khổ sở lắm."

Sau đó Thượng sư lấy ra một hộp kim dùng để châm cứu, lấy ra để chữa trị cho đệ tử, đệ tử quên mất Thượng sư châm vào bộ phận nào (bình thường đệ tử sợ kim, thấy kim là lập tức quay đi), chỉ cảm thấy hơi tê tê, cũng cảm nhận được Thượng sư dùng tay xoay kim. (Đệ tử chưa từng châm cứu bao giờ.)
Sáng nay, đệ tử thức dậy, toàn thân dễ chịu.
Sau khi rửa mặt, đệ tử liền tiếp tục tu trì!
Cảm ơn chư Phật Bồ Tát cứu độ chúng sinh!
Đệ tử Liên Hoa Tuyết Phụng cúi lạy.
24.09.1986.

🌟

Bức thư này được gửi từ New York, Hoa Kỳ.

Gần đây, có rất nhiều đệ tử (không thể đếm xuể) mơ thấy Thượng sư, và điều kỳ lạ hơn là Thượng sư Liên Sinh đã sử dụng phương pháp châm cứu để giúp họ loại bỏ bệnh tật khó chữa. Nhiều đệ tử vội vàng gửi thư để bày tỏ lòng biết ơn, và đệ tử Liên Hoa Tuyết Phụng ở New York, Hoa Kỳ chính là một trong số đó, đây là phương pháp phi không châm cứu kỳ diệu.

Liên Sinh Hoạt Phật để tiếp dẫn hành giả Mật tông có đức tin kiên cố, đã đặc biệt tu trì pháp phi không châm cứu, giúp các đệ tử hiểu được lòng từ bi của Thượng sư, loại bỏ bệnh tật trong cơ thể, nhận biết Hoạt Phật thực sự hiển hiện nguyện lực cứu độ, và hy vọng hành giả Mật tông làm quen với pháp môn tu trì, lấy Chân Phật Mật Pháp làm nền tảng, tu đến khi thực tướng hiện tiền, dần dần mở rộng tính giác của mình, tịnh niệm luôn hợp nhất với Liên Sinh Hoạt Phật, như vậy sẽ có thể thấy được Thượng sư Liên Sinh cùng mười phương Như Lai tràn đầy khắp hư không.

Đệ tử Chân Phật, hành giả Mật tông, luôn có những linh nghiệm, đây là pháp môn nhiệm mầu, chư thánh vô cùng hoan hỷ, uy lực của Hoạt Phật lan tỏa đến đệ tử mười phương.

Pháp phi không châm cứu được tóm tắt như sau:
Liên Sinh Hoạt Phật trước tiên dùng ấn vỗ tay, đầu tiên vỗ một cái trên đỉnh đầu, hóa thành vòng hào quang trên đỉnh đầu. Sau đó vỗ ấn vỗ tay ba lần trước ngực, mở ra ánh sáng Tâm luân chiếu đến chúng sinh.
Dùng ba ngón tay "Thủy Hỏa Phong" [ngón áp út, ngón giữa, ngón trỏ]:
Tôi quán ngón Thủy hóa thành biển lớn, bay vút qua.
Tôi quán ngón Hỏa hóa thành núi cao, bay vút qua.
Tôi quán ngón Phong hóa thành hư không, cưỡi gió bay đi.
Tôi tụng: "Ôm na-mô san-man-tô rư-la ưa." Đây là vạn đức trang nghiêm. Liên Sinh Hoạt Phật, ngồi trên đóa sen trắng lớn, bay lơ lửng trên biển cả, đỉnh núi cao, tận cùng mây trắng, đã hiển lộ vô lượng Như Lai cùng Liên Sinh Hoạt Phật bay đi, cảnh tượng thù thắng này là vạn đức trang nghiêm.

Liên Sinh Hoạt Phật lại cầm chày kim cang năm chấu, quán chày kim cang năm chấu biến thành một chiếc kim châm cứu, ánh sáng vàng trong suốt. Đây cũng là cảnh giới kim cang tâm, dùng kim châm cứu hóa thành vô số kim chữa bệnh cho người, những kim này đều là biến hóa của ấn samaya, hoàn toàn do sự giao hội của ánh sáng ngũ trí và tính ngũ luân mà sinh ra.

Vào lúc này, Liên Sinh Hoạt Phật đỉnh đầu có vòng hào quang, ngực có nguyệt luân, tay cầm kim châm cứu, ngồi trên đóa sen trắng lớn, trong làn sương nhẹ, thu nhiếp các đệ tử đến trước ánh sáng tâm luân, dùng ánh sáng ngũ trí chiếu sáng không ngừng, dùng phương pháp châm cứu từ từ loại bỏ bệnh tật khó chữa trong cơ thể đệ tử, giúp các đệ tử thoát khỏi bệnh tật, cũng dần dần hiển lộ nguyệt luân thanh tịnh.

Đây là cảnh giới "vô sinh nhẫn", cũng là cảnh giới "tịch diệt nhẫn".

Pháp phi không châm cứu này phải do người đã chứng đắc nền tảng của cõi Kim Cang mới có thể tu trì, đây là lập trường của Liên Sinh Hoạt Phật, thể hiện tính kim cang căn bản, đó chính là mượn kim châm cứu kim cang kiên cố sắc bén vô địch để chứng minh sức mạnh của Phật pháp. Người có thể sử dụng pháp phi không châm cứu trên thế gian này chỉ có số ít, và Liên Sinh Hoạt Phật chính là một trong số đó.

Thật ra, đây chính là thể tính của Đại Nhật Như Lai, Đại Nhật Như Lai hóa thành thân Phổ Hiền, từ ○ hóa thành một, một hóa thành hai, hai hóa thành nhiều hơn, cùng thu nhiếp lẫn nhau và hòa nhập, toàn thể thể tính pháp giới là một bánh xe kim cang lớn, vốn bình đẳng không khác biệt, bằng phẳng vô hạn, Pháp thân của Liên Sinh Hoạt Phật hiển hiện trong đó, tương ứng với nhất thiết trí trí vậy!

Liên Sinh Hoạt Phật thi triển rộng rãi pháp phi không châm cứu.
Liên Sinh Hoạt Phật ban phát uy lực hùng mạnh linh thiêng.
Người tin tưởng sẽ cảm ứng nhanh chóng, đức tin kiên cố.
Người quy y, người phụng sự, chắc chắn sẽ đạt được sự linh nghiệm!
(Đặc biệt chụp lại bức thư gốc để làm bằng chứng.)


![image](/img/img_b9765a37976fba54ebcf00a9ab9b55a5.png)



### 33. Lịch sử Tây Tạng


Kính thưa Liên Công Hoạt Phật!

Đã mười một năm, thầy từ một vị thông linh tiến lên thành Đạo trưởng, từ ưu-bà-tắc thọ Bồ Tát giới tiếp tục tiến lên thành Kim cương Thượng sư, Hoạt Phật truyền dạy, rồi trở thành thầy của Hoạt Phật. Năm nay, thầy chính thức xuống tóc, xuất gia làm bậc thầy gương mẫu của trời người, dựng cờ pháp lớn làm rung chuyển thế giới, đạt được điều chưa từng có, đích thực là sự kiện vĩ đại nhất trong lịch sử tôn giáo thế giới. Khóa tà trừ ma, dám xưng là vô tiền khoáng hậu. Đệ tử khi đọc tác phẩm của thầy, tức thì khai mở tâm trí, vui mừng đến không ngủ được, vô cùng may mắn được cùng thời với Phật, đời này không uổng phí, xin ghi lại một vài cảm nghĩ từ việc nghiên cứu:

Trang 168 đến 171 trong "Mật tông Yết Ma pháp", bài viết "Người không có lòng tin không thể thành tựu", đã trích dẫn thư của bà Lâm Nhạn Linh. Gần đây, đệ tử đã gặp anh trai của bà ấy là Lâm Hùng Tinh. Theo lời kể, cả hai đều từng theo học lớp của một vị đại sư nào đó. Trong buổi tiệc tạ ơn thầy, Nhạn Linh trúng giải nhất, Hùng Tinh trúng giải nhì, cả hai đều được mời vị đại sư đó đến nhà xem phong thủy để được chỉ điểm mà không phải trả phí. Tuy nhiên, nhiều năm trôi qua, vị đại sư ấy đã biệt tăm như hạc vàng. Vị đại sư kia như thế nào, chỉ cần nêu một ví dụ là có thể thấy được toàn bộ, không cần phải nói nhiều!

Nhớ lại vào năm Dân Quốc 64 (1975), ngày 8 tháng 10, đệ tử đã tham gia đoàn du lịch về Đài Loan để chúc mừng Quốc Khánh 10 tháng 10 do anh em nhà họ Lâm điều hành qua công ty du lịch Nghị Liên tại San Francisco. Sau đó, tại hiệu sách Tập Văn trên đường Nam Trùng Khánh, đệ tử đã mua được vài cuốn sách của thầy xuất bản trong năm đó như "Mạn đàm linh cơ thần toán", đọc xong không khỏi thán phục chưa từng thấy. Đệ tử đã tìm đến địa chỉ để bái kiến và may mắn được gặp thầy. Nhớ buổi trưa hôm đó còn có hiệu trưởng một trường Công nghiệp cấp tỉnh nào đó, cùng với phu nhân Tạng Quảng Ân vừa từ Nhật đến Đài Loan cũng có mặt. Lúc đó, tiểu muội Phật Thanh vẫn còn nằm trong nôi. Đến tháng sau (tháng 11), thầy đã chuyển đi nơi khác và ngừng tiếp khách, thật là may mắn!

Đọc qua bài viết "Công khai nguồn gốc Mật giáo Tây Tạng" từ trang 190 đến 195 trong sách "Chỉ dẫn Đại Thủ Ấn", có ghi rõ nguồn tài liệu được cung cấp bởi Đạt Tăng Vượng Ba Hoạt Phật, trong đó viết:

Phật giáo Tây Tạng được vua Tây Tạng Trisong Detsen đưa vào, ...... Trisong Detsen đã cưới hai phi tần, một người là công chúa Văn Thành của nhà Đường...... người còn lại là công chúa Nepal. ...... Vào thời điểm đó (năm 747 sau Công nguyên), Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã đến Tây Tạng, vua Trisong Detsen đã đón tiếp Liên Hoa Sinh đại sĩ tại bờ sông Yarlung Zangbo.

Đoạn văn trên đã coi vị vua cưới công chúa Văn Thành và công chúa Nepal làm phi tần, và vị vua đón tiếp Liên Hoa Sinh Đại Sĩ vào Tây Tạng, như cùng một người — Trisong Detsen.

Khi nghiên cứu lịch sử Tây Tạng, theo sự kiện lịch sử này, vị vua Tây Tạng thực sự là hai người khác nhau, và không cùng thời, nay tra cứu cuốn "Biểu niên sử Trung Quốc" của Bá Dương: Năm 641, Tân Sửu, năm Trinh Quán thứ 15 đời Đường, vương triều nhà Đường kết thân với Thổ Phồn, gả công chúa Văn Thành cho vua Thổ Phồn là Songtsen Gampo.

Năm 710, Canh Tuất, năm Cảnh Long thứ 4 đời Đường, công chúa Kim Thành được gả cho vua Thổ Phồn là Tridé Tsuktsen [Kridê Zukzain]. Theo đó, vị vua Tây Tạng cưới công chúa Văn Thành là Songtsen Gampo, còn được phiên âm là Tùng Tán Cán Bố (còn có tên là Tùng Tán Cáp Mộc Bố, Tông Tán Hợp Phổ) (trị vì từ năm 617 đến năm 650).

Vua Tây Tạng cưới công chúa Kim Thành là Tridé Tsuktsen, còn được phiên âm là Xích Đức Tổ Đơn (trị vì từ năm 704 đến năm 755), con trai của ông và công chúa Kim Thành chính là Trisong Detsen (còn được phiên âm là Xích Tùng Đức Chân, trị vì từ năm 755 đến năm 797), người sau này đã phát triển mạnh Phật giáo. Khi đệ tử đọc cuốn "Khái quát tôn giáo Tây Tạng" (ấn bản năm 1983), có kèm theo "Bảng phả hệ các vua triều đại Thổ Phồn", đệ tử đã photo gửi kèm để thầy tham khảo.

Gần đây, đệ tử đã đọc "Phật giáo Trung Quốc" tập 29 số 3 (ấn hành tháng 3 năm 1985) do chùa Thập Phổ ở Đài Bắc xuất bản, trong đó có bài viết "Mật tông Hoàng giáo" ghi rằng: "Sự truyền bá Phật giáo Đại thừa ở Tây Tạng bắt đầu từ năm 749 sau Công nguyên (năm Thiên Bảo thứ 8 triều Đường), khởi đầu do vua Tây Tạng Trisong Detsen cử người đến Ấn Độ thỉnh bậc đại đức Phật giáo lúc bấy giờ là Tịch Mệnh Đại sư (còn được dịch là Tịch Hộ) đến Tây Tạng hoằng dương Phật pháp Đại thừa. Do phải đối phó với Hắc giáo vốn có ở Tây Tạng và sự quấy nhiễu của các ác quỷ thần, Tịch Mệnh Đại Sư đã đề nghị vua Tây Tạng cử người đến Ấn Độ thỉnh bậc đại thành tựu giả của Mật tông - Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đến Tây Tạng để hàng phục tà ma và phát dương Mật tông Phật giáo Đại thừa. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã đến Tây Tạng từ Nepal vào năm sau (750 sau Công nguyên)."

Trang 27 trong tác phẩm "Mật giáo đại viên mãn" của thầy cũng có đề cập: "Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đến Tây Tạng hóa độ là theo lời mời của vua Tây Tạng Trisong Detsen."

Tháng trước, bộ phim "Công chúa Văn Thành" được chiếu tại rạp Thế Giới trong thành phố, do thương nhân Hồng Kông quay dọc theo Con Đường Tơ Lụa cổ ở Đại Lục, công chúa đã được gả cho Songtsen Gampo.

Tổng hợp các tài liệu trên, bài viết do "Đạt Tăng Vượng Ba Hoạt Phật" cung cấp đã gộp hai sự kiện lịch sử thành một người, có thể do lỗi viết nhầm hoặc sai sót khi biên tập. Để tránh đảo lộn sự kiện lịch sử và gây hiểu lầm cho độc giả, kính mong thầy làm rõ khi tái bản, không biết có phù hợp không, mong thầy xem xét.

Kính chúc pháp an!
Kèm theo đơn xin quy y đã điền và cúng dường.
Đệ tử hậu học - cư sĩ Thánh Cương đảnh lễ.
01.10.1986.

🌟

Lá thư này được gửi từ San Francisco, Hoa Kỳ.
Cư sĩ Thánh Cương, 67 tuổi, pháp danh tôi ban cho ông là Liên Hoa Kim Cương.

Việc nhầm lẫn vua Songtsen Gampo thành vua Trisong Detsen, gộp hai người làm một, tôi đã sớm nhận ra, và đặc biệt đã viết thư hỏi Đạt Tăng Vượng Ba Hoạt Phật về việc này. Đạt Tăng Vượng Ba Hoạt Phật nói rằng chính ông ấy cũng quên cách viết như thế nào, rất có thể do nhất thời viết nhầm, đã viết Songtsen Gampo thành Trisong Detsen. Bản thân tôi không kiểm tra kĩ, và người hiệu đính cũng không chú ý, nên đã in ấn xuất bản với lỗi sai này.

Ngoài ra, Đạt Tăng Vượng Ba Hoạt Phật còn nói: "Đất Tạng phát triển muộn, ghi chép lịch sử thiếu chính xác, niên đại không thể chính xác, khiến người đời sau nghiên cứu lịch sử Tây Tạng cảm thấy mơ hồ."

Liên Sinh Hoạt Phật thực sự cũng cảm thấy mơ hồ về tên của người Tây Tạng, có thể do khi phiên âm sang tiếng Trung đều dùng phương pháp phiên âm nên có sự khác biệt.

Ví dụ, người cưới công chúa Văn Thành là Khí Tông Nộng Tán còn được dịch là Tùng Tán Cán Bố (Songtsen Gampo), còn có tên là Tùng Tán Cáp Mộc Bố, còn có tên là Tông Tán Hợp Phổ.
Người cưới công chúa Kim Thành là Khí Lệ Súc Tán (Tridé Tsuktsen) còn có tên là Xích Đức Tổ Đơn. Có vẻ như tên của hai người, nhưng thực ra lại là cùng một người.
Còn nhiều ví dụ khác nữa.........

Đặc biệt liệt kê "Bảng phả hệ các vua triều đại Thổ Phồn" như sau:
Tùng Tán Cán Bố (trị vì từ năm 617 đến năm 650). [Songtsen Gampo]
Xích Tùng Mang Tán (trị vì từ năm 650 đến năm 676). [Mangsong Mangtsen]
Xích Đỗ Tùng Mang Ba Kiệt (trị vì từ năm 676 đến năm 704). [Tridu Songtsen]
Xích Đức Tổ Đơn (trị vì từ năm 704 đến năm 755). [Tride Tsuktsen]
Xích Tùng Đức Chân (trị vì từ năm 755 đến năm 797). [Trisong Detsen]
Mâu Ni Tán Phổ (trị vì từ năm 797 đến năm 798). [Muné Tsenpo]
Xích Đức Tùng Tán (trị vì từ năm 798 đến năm 815). [Tride Songtse]
Xích Tổ Đức Tán (trị vì từ năm 815 đến năm 836). [Ralpachen (Tritsu Detsen)]
Lang Đạt Ma (trị vì từ năm 836 đến năm 842). [Langdarma (U Dum Tsen)]

Thời kỳ phát triển đầu tiên của Phật giáo Tây Tạng bắt đầu từ vua Trisong Detsen, đến vua Ralpachen. Đến thời vua Langdarma là thời kỳ diệt pháp.

Sự phát triển của Phật giáo trong thời kỳ sau có nhiều tông phái, đặc biệt kể ra như sau: phái Nyingma (Mũ Đỏ), phái Sakya (Mũ Hoa), phái Karma (Mũ Trắng), phái Gaden, phái Gelug (Mũ Vàng), phái Hy Giải, phái Giác Vũ, phái Giác Lãng, phái Hà Lỗ.

Chỉ riêng phái Karma lại chia thành Shangpa Kagyu, Dakpo Kagyu, Karma Kagyu, Tselpa Kagyu, Barom Kagyu, Phagdru Kagyu, thật vô cùng phức tạp, người ngoài cuộc không thể phân biệt và hiểu được.


### 34. Sinh tử đại sự


Liên Sinh Thượng sư kính yêu!

Khi thầy nhận được lá thư này từ tỉnh Đài Loan Trung Hoa Dân Quốc, và là thư của một người xa lạ, con nghĩ thầy chắc chắn có thể đoán ra đây là một lá thư xin quy y và xin quán đảnh từ xa. Tuy nhiên, có một điều con muốn xin thầy thứ lỗi là con đã suy nghĩ về quyết định quy y này suốt hai năm qua. Trong những năm này, con đã sớm ngưỡng vọng thầy từ xa và tôn thầy làm thầy của mình, đồng thời con cũng đã quyết tâm hoằng dương Chân Phật Mật Pháp của thầy.

Trước hết, con xin tự giới thiệu, con tên là Vạn Tường Lễ, người Nam Xương, Giang Tây, sinh ra tại Gia Nghĩa, Đài Loan. Con học Đại học Y khoa tại Học viện Y khoa Quốc phòng, hiện vẫn là bác sĩ quân y, đang làm bác sĩ nội trú trưởng tại Ngoại khoa Thần kinh của Bệnh viện Vinh Dân Thạch Bài ở Đài Bắc.

Từ nhỏ con đã có hứng thú với việc học Phật giáo và Đạo giáo, nhưng chưa từng được ai chỉ dẫn. Mãi đến năm thứ sáu đại học con mới gặp được thầy Lưu Bồi Đức, và từ đó mới thực sự được khai tâm. Tôn chỉ mà cố sư phụ Lưu truyền dạy hoàn toàn giống với những gì Liên Sinh Thượng sư đã nói, không loại trừ bất kì pháp môn chính thống nào, và còn chủ trương "mở cửa đón tất cả thánh môn các giáo phái, người có duyên đều được vào". Phương pháp tu tập của thầy kết hợp cả Phật giáo và Đạo giáo, lấy thiền định làm chủ. Vì cố sư phụ từ nhỏ đã có những gặp gỡ kỳ lạ, từng được Phù Hựu Đế Quân và Thiên Thượng Thánh Mẫu ban cho ngọc như ý, Chúa Jesus đã hiển thánh giải đáp thắc mắc, được tổ sư Chung Ly Quyền gia trì pháp lưu, trong thiền định thường được Quan Thế Âm Bồ Tát chỉ điểm, nên cố sư phụ đánh giá rất cao những cuốn sách của thầy, và cho rằng tất cả đều "chân thực bất hư".

Đáng tiếc là, sư phụ đã viên tịch chỉ sau khoảng nửa năm truyền dạy đệ tử. Sau khi hỏa táng di thể của sư phụ thu được hàng trăm viên xá lợi, hài cốt được an táng tại núi Quan Âm.

Sư phụ chú trọng thực tu thực chứng trong pháp tu, và chỉ dạy nên đọc nhiều "Nhân Vương Hộ Quốc Bát Nhã Ba-la-mật Kinh". Pháp tu của ngài chia làm hai giai đoạn, một là thanh tịnh vô vi, hai là bão nguyên thủ nhất. Pháp đầu là ngồi thiền nhìn chăm chú vào một vật nhất định phía trước, để có thể hồi quang phản chiếu; pháp sau là khí ngưng tại thiên tâm, giữ huyệt đạo tại đó trong trạng thái nửa có nửa không. Vào học kỳ cuối năm thứ sáu đại học, con học pháp thanh tịnh vô vi từ thầy, mới ngồi chưa đến một phút đã tự động phát công, đánh ra những đường quyền chưa từng có, hơi giống như sự khởi linh mà Thượng sư đã nói. Sau đó cảm thấy có khí mạch lưu động trong cơ thể. Trong hai, ba tháng sau đó, con tập trung khí tại thiên tâm, và sư phụ dạy con giữ huyệt đạo tại vị trí thiên tâm. Trong bốn năm sau khi sư phụ mất, con tu tập đứt đoạn, thỉnh thoảng khí xông lên đỉnh đầu.

Vì con là một bác sĩ, và thường xuyên mổ sọ não cho bệnh nhân, con càng cảm nhận được sự khổ, không, vô thường của kiếp người (bởi vì sự sống chết của bệnh nhân thường chỉ trong khoảnh khắc). Liệu có phương pháp nào có thể giúp đỡ những bệnh nhân đáng thương đó, như người mắc bệnh nan y, người hấp hối hoặc vừa mất, lúc này con nên làm thế nào để giúp họ vãng sinh Tây phương. Hoặc học chân ngôn để hỗ trợ họ. (Con mong muốn tu thành Bổn tôn Dược Sư Phật để cứu người.)

Trong tương lai con sẽ đến chỗ Thượng sư, cầu xin Thượng sư khai thị. Trong thời gian này, con sẽ cố gắng tu tập để có thể sớm gặp Thượng sư trong không trung. Như vậy, đệ tử có thể dưới sự chỉ dẫn của Thượng sư hoằng dương Phật pháp, cứu độ thế gian, và tiến xa hơn nữa để báo đáp ân đức của Thượng sư và cố sư phụ.

Kính chúc Phật an!
Đệ tử Vạn Tường Lễ kính bái.
11.07.1986.

🌟

Lá thư này được gửi từ Trung Hoa Dân Quốc.
Vạn Tường Lễ là một bác sĩ, vì vậy anh cảm thán: "Cuộc đời khổ, không, vô thường, sự sống chết của bệnh nhân thường chỉ trong khoảnh khắc."

Tôi nhớ Đại sư Liên Trì cả đời ngài đặc biệt viết bốn chữ "sinh tử đại sự" trên bàn làm việc, để thường xuyên nhắc nhở và tự khích lệ mình. Đại sư Liên Trì thường nói: "Sinh mệnh ngắn ngủi như bóng câu qua khe cửa, cuộc đời như giấc mộng, niềm vui được bao lâu? Một hơi thở không trở lại đã như cách kiếp, làm sao có thể suốt đời chỉ lo danh lợi, quên đi đại sự sinh tử để mà sống uổng một đời?"
Người hiểu được đạo lý này, cần phải nhanh chóng quy y học Phật.

Tu tập Bổn tôn Dược Sư Phật, thường ngày hành trì theo phương pháp Bổn tôn Dược Sư Phật trong sách "Bí mật trong Chân Phật Mật Pháp".

Nếu muốn cứu người, theo "Bí mật trong Chân Phật Mật Pháp", dùng hai sợi dây đỏ và xanh lá tạo thành vòng tròn, để hào quang xanh của Dược Sư Phật chiếu vào sợi dây đỏ xanh, sau đó buộc sợi dây vào tay bệnh nhân, để bệnh nhân đeo, đây là phương pháp giải trừ nghiệp bệnh.

Nếu bệnh nhân đang trong ca phẫu thuật, trong khoảnh khắc hấp hối hoặc đã qua đời.
Vị bác sĩ muốn độ hương linh vãng sinh, có thể ở trong một căn phòng yên tĩnh, ngồi vững vàng quán tưởng:
Quán tưởng giữa biển lớn có một ngọn núi cao đẹp, trên đỉnh núi có một đóa sen lớn, trên đóa sen có một tôn tượng Phật A Di Đà màu đỏ đang đứng, tay phải kết ấn tiếp dẫn, tay trái cầm đài sen.
Sau đó quán tưởng từ biển lớn sinh ra một đóa sen nhỏ, thi thể người mất đang ở trên đóa sen nhỏ đó.

Quán tưởng ấn tiếp dẫn của Phật A Di Đà phóng hào quang chiếu sáng thi thể, đóa sen nhỏ dưới thi thể từ từ bay lên giữa không trung vãng sinh.
Vị bác sĩ trì niệm chú vãng sinh bảy lần.
Sau khi niệm xong bảy lần chú vãng sinh, vị bác sĩ tiếp tục niệm: "Ôm ưa-ưa-na san-pô mô-pô-rư-la hu."

Quán tưởng trong không trung xuất hiện vô lượng tướng báu trang nghiêm, niềm vui không gì sánh bằng, tất cả đều cát tường, hành giả Mật tông trong tâm tràn đầy hỷ lạc.
Đây là pháp siêu độ đơn giản nhất, hoàn thành chỉ trong một sát-na.
Bác sĩ chỉ cần kết Di Đà định ấn là được.

Viết một bài thơ hiện đại về sinh tử đại sự:

*Mộ phần trên đời đều là ngôi nhà cuối cùng,
Dù ngôi nhà trần thế của bạn có rộng lớn đến đâu,
Bia mộ chính là bảng tên,
Quan tài chính là giường,
Lời nói không ngừng rồi cũng thành im lặng vĩnh hằng nơi chân trời.*

*Không cần phải tranh luận gì khác,
Sống là sống,
Chết là chết,
Mê tín hay không mê tín,
Tin hay không tin.*

*Cuối cùng cũng trở về,
Dù mặt đầy bụi bặm mùi khói lửa,
Dù hai bên tóc mai đã bạc phơ và mười ngón tay đen sạm,
Chỉ còn lại một sự tôn kính, một niềm thương xót.*

*Phật dạy: Sinh tử là việc lớn.
Một bên là làn sương tím bay lên cõi Tây phương,
Một bên là nơi tăm tối đau khổ trong địa ngục,
Giữa động vật và siêu nhân, tùy ngươi lựa chọn.*


### 35. Quy y trước khi lâm chung


Kính lễ Thượng sư kính yêu!

Đệ tử lần đầu tiên tụng "Kinh Phật Thuyết A Di Đà", khi đệ tử tụng đến câu "Xá Lợi Phất, từ đây đi về phương Tây trải qua mười vạn ức cõi Phật, có thế giới tên là Cực Lạc", không khỏi sinh lòng kính ngưỡng, Phật giáo thật sự quá vĩ đại. Cách đây hơn hai nghìn năm, Đức Thế Tôn của chúng ta đã phát hiện ra thuyết vận hành thiên thể. Nhớ lại khi học trung học, đọc cuốn "Những cuốn sách làm thay đổi lịch sử", thuyết vận hành thiên thể của Copernicus đã bị Thiên Chúa giáo liệt vào danh sách cấm trong suốt 200 năm, nhà thiên văn học Galileo vì nghiên cứu lý thuyết của Copernicus mà bị kết án tù chung thân. Hiện nay, với việc phóng vệ tinh nhân tạo, tàu con thoi vào không gian, khoa học đã chứng minh thiên thể vũ trụ là vô tận, điều này hoàn toàn phù hợp với Phật pháp. Thế giới Tây phương Cực Lạc là hoàn toàn đáng tin, lại tụng đến câu "được cùng các bậc thượng thiện nhân tụ hội một chỗ" thật sự khiến người ta mong mỏi, cõi tịnh thổ Tây phương Di Đà thật sự quá thù thắng.

Kinh Lăng Nghiêm nói: "Tri kiến dựa trên sự biết chính là gốc của vô minh". Tư tưởng và tính cách của một người thường bị ảnh hưởng bởi môi trường tiếp xúc, giáo dục nhận được, cùng những người và sự việc tiếp xúc, đó chính là sự dẫn dắt của nghiệp lực. Tính cách tạo nên vận mệnh và thói quen khó thay đổi. Câu "Chích khuyển phệ Nghiêu" [chó của tên Đạo Chích sủa vua Nghiêu, ở đây hàm ý nói ai có chủ nấy, con chó sẽ sủa bất cứ ai không phải chủ nó dù người đó có là vua đi nữa] thật đáng suy ngẫm sâu sắc. Học Phật chính là để nuôi dưỡng chính niệm, để minh tâm kiến tính. Đệ tử mong Sư Tôn chỉ dạy thêm để đệ tử có thể đạt đến liên bang.

Có một vị quan chức ở Cao Hùng, khi đã bệnh nguy kịch, đã quy y với Sư Tôn. Con gái ông là cô Lệ Trân đã đến nhà cũ của Sư Tôn ở Đài Trung thăm Sư Mẫu để xin phù chú, cầu nguyện tại điện thờ của Sư Tôn. Sau khi được chỉ dẫn rằng "dương thọ đã hết", cô liên tục rót ba chén trà, cô Lệ Trân khóc rất đau lòng, liên tục cầu xin, Sư Mẫu mới miễn cưỡng đưa cho bốn lá phù. Như vậy, đối với một người mới bước vào cửa Phật, nếu không được cung cấp những quan niệm chân chính đúng đắn, thường có thể khiến họ "tốt nghiệp" việc học Phật luôn!

Cô Lệ Trân và đệ tử vốn không quen biết, hôm đó đệ tử lái xe đến, tiện thể đệ tử chở cô ấy đến ga tàu Đài Trung. Trước ga tàu, đệ tử đã đơn giản nói với cô ấy: "Con người đến đời này do nghiệp lực, nghiệp lực thật đáng sợ. Nếu cha cô có thể hồi phục thì thật là may mắn vô cùng. Nếu không thể thì cũng không nên quá đau buồn, ngay cả Phật Thích Ca Mâu Ni tại thế cũng không thể thay đổi định nghiệp. Hoa Đà có tài khéo léo đến mức chạm đến xương, Sở Bá Vương Hạng Vũ có sức mạnh nhấc núi dời non, cuối cùng vẫn không thoát khỏi định nghiệp; Vạn Lý Trường Thành đến nay vẫn còn, nhưng Tần Thủy Hoàng thì sao!? Cha cô có thể quy y Sư Tôn vào lúc này, Phật duyên của ông là vô cùng thù thắng. Tốt nhất là cô có thể niệm Nam Mô A Di Đà Phật bên tai ông, giúp tâm ông cảm thấy bình an, có thể giúp ông vãng sinh thế giới Cực Lạc." Đệ tử đã dạy cô ấy hát tụng Nam Mô A Di Đà Phật.

Sau đó, tại phòng bệnh ở bệnh viện Trường Canh, Cao Hùng, cô ấy liên tục niệm Nam Mô A Di Đà Phật bên tai cha mình, và cha cô đã thực sự vãng sinh. Nghe nói vào ngày vãng sinh, em gái cô đã tận mắt chứng kiến toàn thân cha cô tỏa sáng màu vàng kim, bước ra khỏi bệnh viện, đi lên không trung và vãng sinh, đây là một minh chứng vĩ đại.

Trong cuộc đời, sinh ly tử biệt là điều không thể tránh khỏi, trong tình huống này, niệm Phật quan trọng hơn khóc lóc. Điều kỳ diệu hơn nữa là, ngày hôm sau hỏa táng khi đi nhặt xương, mọi người đều rất ngạc nhiên, xương của cha cô chưa cháy hết, đã kết thành xá lợi xương. Sự việc có thật này đã cảnh tỉnh chúng ta hãy nhanh chóng quy y Chân Phật, "đừng đợi đến già mới học đạo, mộ phần đơn độc toàn thiếu niên".

Quy y Sư Tôn, chúng ta nên thường xuyên tự xét lại bản thân, liệu mình có phải là một "đệ tử đạt chuẩn" hay không. Khổng Tử nói: "Ta mỗi ngày ba lần tự xét lại mình", nhập thế mà còn phải tự xét ba lần mỗi ngày, huống chi là tu tập pháp xuất thế! Có nhiều sư huynh thường không đúng giờ, có một lần khi mọi người đang tụ họp, đệ tử đã nói với các sư huynh rằng, Sư Tôn đã dạy một pháp rất hay trong "Mật Tông Yết Ma Pháp" trang 170 dòng 9 (chú thích: sách do nhà xuất bản Đại Đăng phát hành), mọi người có thể về nhà tu tập thử.

Một "đệ tử đạt chuẩn" phải tuân theo lời chỉ dạy của Sư Tôn, giữ năm giới, hành lục độ, bát chính đạo, tu thập thiện nghiệp, đó mới là tôn sư trọng pháp, mới có thể bay thoát khỏi khổ đau, đệ tử luôn tự nhắc nhở mình như vậy.

Sư Tôn đang hoằng pháp ở nơi xa xôi, đệ tử không thể tham gia cùng tu, lắng nghe lời khai thị của Sư Tôn, chỉ có thể viết thư bày tỏ một số suy nghĩ nông cạn, mong Sư Tôn chỉ dạy, đệ tử thật sự vô cùng biết ơn.

Hiện nay, hai anh trai và em trai của Liên Hoa Chính Phúc muốn quy y với Sư Tôn, kính xin Sư Tôn ban cho quán đảnh từ xa để mọi người sau này cùng được vãng sinh cõi tịnh thổ.

Kính chúc Phật an!
Đệ tử Liên Hoa Mậu Bân cung kính đảnh lễ.
07.08.1986.

🌟

Thư này được gửi từ Cao Hùng, tỉnh Đài Loan, Trung Hoa Dân Quốc.

Chân Phật Tông của Liên Sinh Hoạt Phật là pháp môn viên thông Đạo Hiển Mật. Do đó, rất coi trọng việc niệm Phật về tịnh thổ, và không vì tu học Mật thừa mà bài trừ pháp môn Tịnh Độ niệm Phật .

Sơ tổ của Tịnh Độ tông là Đại sư Huệ Viễn. Nếu hành giả Chân Phật muốn nương theo pháp môn Tịnh Độ niệm Phật, có thể trước tiên quán tưởng Phật ở trước mắt, phóng quang chiếu rọi, sau đó bắt đầu chắp tay niệm Phật với tinh thần tập trung.
Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật. (ba lần)
Nam mô A Di Đà Phật. (trăm lần, nghìn lần, vạn lần)
Nam mô đại từ đại bi Quan Thế Âm Bồ Tát. (ba lần)
Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát. (ba lần)
Nam mô thanh tịnh đại hải chúng Bồ Tát. (ba lần)

Niệm Phật xong, hồi hướng:
"Nguyện người cùng niệm Phật, cùng sinh cõi Cực Lạc, thấy Phật thoát sinh tử, như Phật độ tất cả."
Quán Tây phương Tam Thánh theo sự hồi hướng dùng vô lượng ánh sáng quán đảnh hành giả. Cát tường viên mãn.

Liên Sinh Hoạt Phật trong thiền định, kết Di Đà định ấn, trước tiên phóng quang minh bên trong tạo thành Phổ Hiền tịnh nguyệt, thân thể hoàn toàn quy về không tịch, lúc này lại hiển hiện trong hư không chày kim cang năm chấu màu trắng, phóng tỏa ánh sáng màu trắng, chày kim cang năm chấu này lại biến hiện thành Kim Cang Tát Đỏa.

Niệm: "Ôm mô-rư-la-sa-tô-mô hùm."
Quán tưởng Phật tính tự thân trực thông hư không, tất cả tương ứng với cảnh giới chân thật mười phương.
Phóng quang chiếu tất cả đệ tử quy y.

Và nếu đệ tử có thể trú tâm vào một chỗ thì có thể thấy được trong đại nguyệt luân, hình ảnh Liên Sinh Hoạt Phật đầu đội mũ Ngũ Phật màu đỏ, tướng mạo trang nghiêm vui vẻ, và nhận được lợi ích chân thật.

Đệ tử quy y trước khi lâm chung cũng có thể nhận được sự dẫn độ chân thật của chư Phật Bồ Tát, không còn nghi ngờ gì về việc vãng sinh Tây phương Cực Lạc, đây là sự vĩ đại của Chân Phật Mật Pháp.

Liên Sinh Hoạt Phật có thể phóng đại mandala. Đây là trí tuệ của Như Lai, có thể phá trừ mọi chướng ngại và chứng đắc lý thực tướng. Ấn đại quang minh của Liên Sinh Hoạt Phật chính là Kim Cương giới của Phật. Bản thể pháp giới này thật bao la rộng lớn, mỗi một Pháp thân của chư Phật như trăm nghìn ngọn đèn, ánh sáng chiếu rọi lẫn nhau, mỗi một Pháp thân đều vô lượng vô biên.

Đây chính là dòng pháp. Để nhận được dòng pháp như vậy cần phải quy y Chân Phật.
Để quy y Liên Sinh Hoạt Phật, nhận được truyền thừa của Chân Phật Tông, có hai phương thức:
Đến quy y trực tiếp — nghĩa là trước tiên liên hệ sắp xếp thời gian, từ khắp nơi trên thế giới, bay đến Chân Phật Mật Uyển ở thành phố Redmond, Seattle, Hoa Kỳ, để được Liên Sinh Hoạt Phật đích thân quán đảnh quy y.

Sau khi quán đảnh quy y, Liên Sinh Hoạt Phật sẽ trao giấy chứng nhận quy y, pháp tướng của Căn bản Thượng sư và sách hướng dẫn tu tập, đây chính là cách nhận được truyền thừa.

Quy y bằng thư — Do đệ tử phân bố khắp mọi nơi trên thế giới, người mới khó có thể đến quy y trực tiếp với Liên Sinh Hoạt Phật. Vì vậy, đệ tử muốn quy y chỉ cần vào ngày mùng một hoặc rằm âm lịch, sáng sớm 7 giờ, đối diện với hướng mặt trời mọc, tụng chú tứ quy y: "Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê. Liên Sinh Hoạt Phật chỉ dẫn. Quy y Chân Phật." ba lần.
Tụng ba lần lạy ba lạy. (Vào mùng một hoặc ngày rằm, làm một lần là đủ.)

Tại nơi Liên Sinh Hoạt Phật, mỗi dịp mùng một hoặc rằm, đều tổ chức nghi thức quán đảnh từ xa tại Chân Phật Mật Uyển, ban quán đảnh cho những đệ tử không thể đến trực tiếp.

Đệ tử sau khi hoàn thành nghi thức tại nhà, chỉ cần viết thư, ghi rõ họ tên thật, địa chỉ, tuổi, tùy tâm gửi kèm một khoản cúng dường Phật, trong thư ghi chú là "xin quán đảnh quy y", sau đó gửi đến Chân Phật Mật Uyển ở Mỹ. Sau khi Liên Sinh Hoạt Phật nhận được thư sẽ gửi cho mọi người giấy chứng nhận quy y và pháp tướng của Thượng sư, đồng thời chỉ định bắt đầu tu từ pháp nào, đây chính là cách nhận được truyền thừa của Liên Sinh Hoạt Phật.

Địa chỉ Chân Phật Mật Uyển:

**Sheng Yen Lu
**17102 NE 40th Ct.
Redmond,WA 98052
U.S.A.


### 36. Đệ tử trong tông phái phải tôn trọng giáo pháp và giữ gìn giới luật


Ý nghĩa căn bản của giữ giới
Giới là nền tảng cơ bản để phát huy điều thiện, diệt trừ điều ác, là hạt giống để vượt thoát phàm tục, bước vào thánh đạo. Chỉ có thọ trì thánh giới của Như Lai, mới có thể vì việc sinh tử trọng đại mà siêng năng cầu đạo chân chính, nhất định có thể chứng đắc Bồ Tát đạo.

Giới như nhật nguyệt sáng, cũng như chuỗi ngọc châu,
Vô số chúng Bồ Tát, nhờ đó thành Chính Giác;
Chúng sinh thọ giới Phật, tức vào ngôi vị Phật,
Địa vị cùng Đại Giác, thật sự là Phật tử.

Bổn phận của đệ tử
‧Nhất tâm quy y cửa Phật, nhận biết và kính lễ minh sư.
‧Suốt đời phụng hành ý Phật, làm việc thiện.
‧Suốt đời phụng sự pháp, giữ giới.
‧Suốt đời hiếu thuận cha mẹ, kính lễ sư trưởng và đồng môn.

Giới luật Chân Phật Tông:
Chân Phật Tông là chính tông, là chính pháp của Phật pháp, đệ tử phải tuân thủ giới luật cơ bản nhất của Chân Phật Tông, giữ năm giới của chính pháp.
⑴ Không sát sinh: Từ bi với muôn loài, không giết hại sinh vật, tích cực hơn là phóng sinh.
⑵ Không uống rượu: Nghĩa là không say rượu, không vì rượu mà loạn tâm.
⑶ Không tà dâm: Ngoài vợ chồng ra, những việc dâm dục khác đều là tà dâm.
⑷ Không hai lưỡi: Không gây chuyện thị phi, phạm khẩu nghiệp, không phỉ báng người tốt và chính pháp.
⑸ Không trộm cắp: Không phải vật của mình không được trộm cắp.

Đệ tử không giữ giới luật là không như pháp, dù đã quy y Chân Phật Tông nhưng không tuân thủ giữ giới chẳng khác nào vô dụng, một tấm chứng thư quy y như tờ giấy lộn, xin tự động gửi lại chứng thư cho Thượng sư.

Nghiệp tội của con người rất nhiều, như:
‧Không tin nhân quả.
‧Tự cao tự đại.
‧Tham tiền tham sắc.
‧Nghe theo bạn xấu.
‧Vì đố kỵ mà hãm hại người khác.

Nghiệp tội nặng hơn là năm nghịch tội:
⑴ Phá hòa hợp tăng, phỉ báng Phật pháp, hủy hoại kinh điển, xúc phạm thánh giáo, ngược đãi người tu hành chính pháp.
⑵ Giết hại cha mẹ.
⑶ Làm thân Phật chảy máu.
⑷ Giết A La Hán.
⑸ Chối bỏ nhân quả, làm đủ điều ác, thường làm mười nghiệp bất thiện.
Đây chính là năm nghịch tội rất nghiêm trọng!

Sám hối

Con người không phải thánh hiền, tự nhiên ắt có người phạm giới, nếu có tâm sám hối cần tu pháp sám hối. Bộc lộ những nghiệp tội đã làm trước đây, ở trước chư Phật và Thượng sư chí tâm bộc lộ sám hối.

Muốn tu Pháp sám hối, có năm điểm trọng yếu:

1. Thỉnh Phật chứng biết — Cần phải thỉnh Vô Lượng Thọ Phật, Thắng Quang Phật, Diệu Quang Phật, A Súc Phật, Công Đức Thiện Quang Phật, Sư Tử Quang Minh Phật, Nhật Quang Minh Phật, Võng Quang Minh Phật, Bảo Tướng Phật, Bảo Diệm Phật, Diệm Minh Phật, Diệm Thịnh Quang Minh Phật, Cát Tường Thượng Vương Phật, Vi Diệu Thanh Phật, Diệu Trang Nghiêm Phật, Pháp Tràng Phật, Thượng Thắng Thân Phật, Khả Ái Sắc Thân Phật, Quang Minh Biến Chiếu Phật, Phạm Tịnh Vương Phật, Thượng Tính Phật. Đây là phương Tây thỉnh ba vị Phật, phương Đông thỉnh năm vị Phật, phương Nam thỉnh năm vị Phật, phương Bắc thỉnh tám vị Phật. Hai mươi mốt vị Phật này, cùng được thỉnh đến để quán tưởng, đến trụ trong không trung, chứng biết cho sự sám hối của bạn.

2. Phóng quang tiêu chướng — Uy lực của hai mươi mốt vị Phật này có thể giúp những người tạo các nghiệp ác diệt tội được phúc, đây là công đức chân thật của hai mươi mốt vị Phật. Hành giả trong thiền định tưởng nhớ hai mươi mốt vị Phật đến trụ trong không trung, mỗi vị Phật từ lỗ chân lông phóng vô lượng ánh sáng lớn, có trăm nghìn loại màu sắc ánh sáng. Ánh sáng trước tiên từ lỗ chân lông phát ra, sau đó phóng ánh sáng lớn, từng tia đan xen tạo thành vô lượng màu sắc. Khi chiếu soi, biến tất cả cõi nước trong mười phương thế giới thành cõi Phật, và bản thân hành giả cũng an trụ trong thế giới ánh sáng. Tất cả ngũ trược ác thế đều được ánh sáng Phật chiếu soi. Sự phóng quang phổ chiếu của hai mươi mốt vị Phật: Một là chiếu cõi uế hóa thành cõi Phật. Hai là chiếu các chúng sinh, khiến chúng sinh có mười nghiệp ác, năm tội vô gián, phỉ báng Tam Bảo, bất kính Thượng sư, bất hiếu cha mẹ, đáng đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, đều nhờ ánh sáng của hai mươi mốt vị Phật mà được giải thoát. Ba là chiếu định bản thân, khiến nghiệp ác của mình tiêu trừ, nhờ được Phật quang bao trùm mà đều được an lạc, đoan chính, đầy đủ tất cả phúc huệ, trang nghiêm như Phật, được thấy tất cả chư Phật trong ba đời mười phương.

3. Niệm danh, trì chú — Nếu hành giả thấy ánh sáng, cần phải chí tâm, niệm danh hiệu hai mươi mốt vị Phật ba lần, sau đó trì Thất Phật diệt tội chân ngôn: "Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha." Chú này được trì tổng cộng 108 lần hoặc 1080 lần.

4. Quán tưởng, thủ ấn — Tay trái nắm thành quyền đặt ngang hông. Tay phải mở rộng, năm ngón duỗi thẳng, như năm màu ánh sáng tự nhiên mở ra chiếu rọi, đặt bàn tay ở giữa ngực.

5. Hồi hướng sám hối — Nghiệp chướng mà bản thân đã tạo trong nhiều đời, đáng lẽ phải đọa vào ác đạo, địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ, hoặc cõi atula, thậm chí là tám nạn xứ, đều nhờ tôi tu tập chính pháp sám hối, tất cả nghiệp chướng đều được tiêu diệt hoàn toàn, tất cả ác báo trong tương lai không phải chịu. Cũng như chư đại Bồ Tát trong quá khứ tu hạnh bồ đề, tất cả nghiệp chướng đều được sám hối trọn vẹn, nghiệp chướng của tôi cũng được bộc lộ sám hối toàn bộ, không dám không thành tâm, tội lỗi hiện tại nguyện được tiêu trừ hoàn toàn, điều ác trong tương lai không dám tạo lại. Đặc biệt thỉnh hai mươi mốt vị Phật chứng biết, chứng minh.

Việc tu trì pháp này chính là pháp sám hối căn bản của Chân Phật Tông, người tu trì pháp này cũng được gia trì pháp Tứ gia hành và pháp tương ứng Thượng sư, tất cả đều thực hiện theo nghi quỹ, tự mình có thể thoát khỏi tội chướng, đạt được phúc báo vô lượng.

Tội từ tâm khởi đem tâm sám
Tâm nếu diệt rồi tội cũng tiêu
Tâm vong tội diệt đều không tịch
Đó chính gọi là chân sám hối.


### 37. Nghi quỹ pháp hội cầu phúc của Chân Phật Tông


(Nghi quỹ này do Thượng sư Liên Hàn biên soạn và phát hành)

1. Chấn chỉnh y áo vào đàn, dâng hương, đại lễ bái. (Sau khi lễ bái, an tọa.)
2. Tụng chú thanh tịnh.
3. Tụng chú triệu thỉnh.

Nhất tâm phụng thỉnh Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật.
Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới A Di Đà Phật.
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Đại Chuẩn Đề Vương Bồ Tát.
Nam mô Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát.
Nam mô Kim Cang Tát Đỏa Bồ Tát.
Nam mô Lục Độ Mẫu Thánh Tôn.
Nam mô Bạch Độ Mẫu Thánh Tôn.
Nam mô Nhị Thập Nhất Độ Mẫu Thánh Tôn.
Nam mô Bạch Y Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Tứ Đại Thiên Vương.
Nam mô Chủ Tuế Tinh Quân.
Nam mô thập phương tam thế nhất thiết Phật, nhất thiết Bồ Tát Ma Ha Tát.
(Phụng thỉnh Bồ Tát, cũng có thể tùy theo chư tôn trong chùa mà phụng thỉnh.)

Khi phụng thỉnh, quán tưởng chư Phật Bồ Tát giáng lâm trong không trung, phóng hào quang chiếu sáng đàn tràng.

4. Tụng hương tán.

5. Niệm chú tứ quy y.

6. Cúng dường đại mandala.

7. Niệm sớ văn. Lắc chuông kim cang gia trì đơn cầu phúc. (Hóa đốt đơn cầu phúc và sớ văn.)

8. Pháp mặc giáp hộ thân.

9. Sám hối:
A. Thỉnh Phật chứng tri, phụng thỉnh hai mươi mốt vị Phật — niệm:

Nhất tâm phụng thỉnh: Vô Lượng Thọ Phật, Thắng Quang Phật, Diệu Quang Phật, A Súc Phật, Công Đức Thiện Quang Phật, Sư Tử Quang Minh Phật, Nhật Quang Minh Phật, Võng Quang Minh Phật, Bảo Tướng Phật, Bảo Diệm Phật, Diệm Minh Phật, Diệm Thịnh Quang Minh Phật, Cát Tường Thượng Vương Phật, Vi Diệu Thanh Phật, Diệu Trang Nghiêm Phật, Pháp Tràng Phật, Thượng Thắng Thân Phật, Khả Ái Sắc Thân Phật, Quang Minh Biến Chiếu Phật, Phạm Tịnh Vương Phật, Thượng Tính Phật. (3 lần)

B. Quán tưởng — Hai mươi mốt vị Phật trụ trong không gian đàn tràng, ánh sáng của mỗi vị Phật trước tiên phát ra từ lỗ chân lông, sau đó phóng đại quang minh vô lượng, có trăm nghìn loại màu sắc ánh sáng, ngũ trược ác thế, toàn bộ được ánh sáng Phật chiếu soi.
(1) Chiếu cõi uế, ngũ trược ác thế, thập phương thế giới sát độ, toàn bộ biến thành cõi Phật thanh tịnh.
(2) Chiếu vô lượng chúng sinh, tất cả tội thập ác nghiệp, ngũ vô gián tội, phỉ báng Tam Bảo, bất kính Thượng sư, bất hiếu cha mẹ và các tội khác, những người đáng đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, tất cả đều nhận được sự chiếu soi của đại quang minh từ hai mươi mốt vị Phật mà được giải thoát.
(3) Chiếu định tự thân, khiến cho nghiệp ác của mình tiêu trừ, nhờ được sức gia trì của Phật quang, đều được an lạc đoan chính. Bản thân an trụ trong một thế giới quang minh, đầy đủ tất cả huệ phúc, trang nghiêm như Phật, được thấy tất cả chư Phật trong mười phương ba đời.

C. Trong quán tưởng, kết thủ ấn ngũ quang — tay trái nắm quyền đặt ngang hông, tay phải mở rộng, năm ngón duỗi thẳng, như năm màu ánh sáng tự nhiên mở ra chiếu rọi, đặt bàn tay ở giữa ngực (lòng bàn tay hướng về phía trước, lòng bàn tay dựng đứng).

D. Trì chú — Thất Phật diệt tội chân ngôn: "Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha." (49 lần hoặc 108 lần)

E. Tụng kệ sám hối — Chúng sinh đã tạo các ác nghiệp, đều do vô thủy tham sân si, từ thân khẩu ý mà sinh ra, đã phạm thập ác ngũ vô gián, tam muội da giới và các tội, vô biên vô lượng các tội lỗi, tất cả từ nay đều sám hối, chư Phật thương xót thường nhiếp thọ, cho đến thành Phật không rời xa. Nghiệp chướng các đời đều tiêu trừ, ánh sáng chiếu khắp đại cát tường; sám hối đời này các nghiệp tội, liền được thanh tịnh diệu pháp nhiên.

10. Trì chú Địa Tạng Vương Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn 108 lần (kết ấn kim cang samaya): "Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha."

Quán tưởng: Địa Tạng Vương Bồ Tát trong không trung phóng đại quang minh chiếu khắp chúng sinh, tất cả nghiệp tội chướng ngại đều được tiêu trừ.

11. Trì chú Đại Phúc Kim Cang - Liên Hoa Đồng Tử tâm chú 108 lần. (kết ấn Liên Hoa Đồng Tử): "Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm."

Quán tưởng: Liên Sinh Hoạt Phật ở không trung phóng ánh sáng trắng mạnh mẽ, chiếu khắp chúng sinh trong lục đạo, nghiệp chướng tích lũy từ nhiều đời đều tiêu tan. Liên Sinh Hoạt Phật từ trong ánh sáng trắng ban cho chúng sinh vô lượng công đức trí tuệ và phúc báo.

12. Tụng "Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh" 1 lần. (Kết thủ ấn Quan Thế Âm Bồ Tát.)

Quán tưởng: hải hội chư Phật Bồ Tát trong không trung phóng vô lượng ánh sáng chiếu khắp chúng sinh.

13. Nhập Tam ma địa. (Nhập định quán không hợp nhất.) (Tay kết định ấn.)

14. Xuất định.

15. Diễn hóa thủ ấn cầu phúc. Tổng cộng 102 thức đại thủ ấn. (Mọi người cùng niệm "Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát".)

Quán tưởng: hải hội chư Phật Bồ Tát trụ trong không trung, phóng vô lượng ánh sáng chiếu khắp tất cả chúng sinh, tất cả bệnh tật đau khổ, tai họa bất ngờ, vô minh trở ngại và nhiều thứ khác đều tiêu tan, diệt tội được phúc, trong ánh sáng chư Phật, vô lượng tài bảo cam lộ ban cho chúng sinh, mỗi người đều được nguyện vọng viên mãn, tất cả đều hoan hỷ.

16. Cùng hát: Thanh Tịnh Pháp Thân Phật.

17. Hồi hướng niệm:
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật tịnh độ, trên báo bốn ơn sâu, dưới cứu ba đường khổ, nguyện cho người thấy nghe, đều phát tâm bồ đề, hết một báo thân này, cùng sinh cõi Cực Lạc, thấy Phật thoát sinh tử, như Phật độ tất cả.

Nguyện mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành.
Nguyện tất cả điều cầu mong đều được toại nguyện viên mãn.
Nguyện tất cả tai nạn đều tiêu tan.

18. Niệm chú viên mãn.

19. Niệm Om mani padme hum.

20. Đại lễ bái Phật. Xuất đàn.

Cát tường viên mãn.

🌟

Nghi quỹ này được biên soạn bởi Thượng sư Liên Hàn từ Hồng Kông. Tôi đã dạy thầy ấy các thức cầu phúc của Đại Thủ Ấn gồm 102 thức. Tôi từng nói: "Người cầu pháp với tâm khiêm tốn, dù sống cách xa nghìn dặm, vẫn có thể nhận được sự truyền pháp chân chính từ Liên Sinh Hoạt Phật; ngược lại, người không khiêm tốn cầu pháp, dù sống gần tôi, thường xuyên theo tôi, Liên Sinh Hoạt Phật cũng sẽ không truyền tâm pháp cho họ."

Phật Thích Ca Mâu Ni từng dạy: "Người không thực hành lời dạy của ta, dù đang ở bên cạnh ta, ta vẫn cảm thấy họ như ở rất xa; ngược lại, người có thể thực hành lời dạy của ta, dù ở nơi rất xa xôi, ta vẫn cảm thấy họ như đang ở bên cạnh ta vậy."

Nghi quỹ cầu phúc này rất toàn diện, trong tương lai các vị Thượng sư trên khắp thế giới đều phải học tập cho thông thạo và thực hành pháp này trong các đại pháp hội.

Tôi cảm thấy mỗi vị Thượng sư nên học thật tốt các loại pháp, chỉ khi có đầy đủ các loại pháp mới có thể ứng phó tự nhiên linh hoạt. Điều này được chuẩn bị để cứu độ chúng sinh, được chuẩn bị để từ bi với thế gian, vì lợi ích của cõi người và cõi trời, hãy nỗ lực học tập một cách toàn diện.

Trong đại pháp hội, tu tập nghi quỹ cầu phúc này giống như đốt nén hương lớn nhất và thơm nhất, hương này sẽ lan tỏa khắp mười phương pháp giới, khiến chư Phật Bồ Tát mười phương đều phóng hào quang, và khi chư Phật Bồ Tát phóng hào quang, chúng sinh ở cõi người sẽ nhận được phúc báo.

Tham gia pháp hội cầu phúc là diệt tội tăng phúc, là ánh sáng trí tuệ lan tỏa, là tai ương tránh xa, là cát tường như ý, là kết duyên với Phật, là thường lạc ngã tịnh.

Các vị Thượng sư, khi chủ trì đại pháp hội như thế này, đó là thắp hương lên đến cõi trời, khiến cả trời và người đều được thấm nhuần. Nghi quỹ cầu phúc này mang lại phúc báo vô lượng. Ở cõi người này, pháp hội cầu phúc của Chân Phật Tông chắc chắn được trời người ngưỡng mộ, hiện nay là tối thượng.


### 38. Cuốn văn tập số 68 "Mật tạng siêu kỳ lạ"


~ Đại tiết lộ diệu pháp tối thắng

Sau khi hoàn thành cuốn văn tập thứ 67 "Tiếng lòng của người quy y", tôi sẽ bắt đầu viết một cuốn sách vô cùng huyền diệu, đó chính là "Mật tạng siêu kỳ lạ".
Theo ý nghĩa của tên sách, đó là bí mật, cũng là "kỳ lạ trong những điều kỳ lạ".

Có Côn Bố Rinpoche (Hoạt Phật) đến thăm tôi.
Vị ấy hỏi Liên Sinh Hoạt Phật: "Ngoài Phật pháp Mật tông Tây Tạng ra, còn có Phật pháp nào khác không?"
Tôi đáp: "Tôi có tất cả các pháp Nội mật thù thắng mà các vị Hoạt Phật khác chưa biết đến. Nếu tu tập theo đó có thể giúp người ta đạt được tất cả những hiệu ứng kỳ diệu nhất."
"Sao không viết ra."
"Đúng là tôi có ý định đó, cho nên đặt tên sách là 'Mật tạng siêu kỳ lạ' vậy!"

Vị Hoạt Phật này và các Lama tùy tùng vừa nghe tôi sẽ viết "Mật tạng siêu kỳ lạ", lập tức quỳ xuống, Côn Bố Hoạt Phật miệng lẩm nhẩm tụng đọc tiếng Phạn, đại ý là:
*Quy mệnh thập phương nhất thiết Phật. Tối thắng diệu pháp bồ đề chúng.
Với thân khẩu ý thanh tịnh nghiệp. Ân cần chắp tay cung kính lễ.*

Tôi gật đầu, chắp tay đáp lễ.
Hoạt Phật quỳ gối chắp tay, lại hát tiếng Phạn:
*Liên Sinh Hoạt Phật tọa đạo tràng. Giác nhãn khai thông chiếu thập phương.
Nay tôi quỳ gối xin phụng thỉnh. Chuyển về vô thượng diệu pháp luân.
Tất cả Như Lai tam giới chủ. Trong bí mật chủ xưng đệ nhất.
Nay tôi khuyến thỉnh thường trụ thế. Không bỏ bi nguyện cứu thế gian.*

Sau khi nghe lời quy mệnh và khuyến thỉnh của Côn Bố Rinpoche, tôi cũng rơi nước mắt. Tôi cảm thấy các vị Hoạt Phật Tây Tạng có phong thái đặc biệt tôn quý, nhưng tất cả đều đặc biệt cung kính đối với tôi, thật là một nhân duyên kỳ diệu. Sự tán thán của các vị Hoạt Phật dành cho tôi giống như sự tán thán của đệ tử đối với vị tông chủ, loại tán thán này phát xuất từ tận đáy lòng, càng làm củng cố quyết tâm độ chúng sinh của tôi.

Đệ tử phương Tây của tôi, Thượng sư Kent (Thượng sư Liên Lý), vài ngày trước đã nói với tôi rằng, ngoài Côn Bố Rinpoche đến thăm, Chagdud Tulku Rinpoche từ tiểu bang Nevada cũng sẽ đến thăm trong thời gian tới. Vị Hoạt Phật này nổi tiếng khắp nơi, tên đầy đủ là Chagdud Tulku Rinpoche. Ngài có mái tóc búi, râu dài, mũi cao, mắt phượng. Người phương Tây đều ca ngợi Chagdud Tulku Rinpoche. Khi ngài nghe về sự tích của Liên Sinh Hoạt Phật và được giới thiệu tượng Thượng sư, Chagdud đã vô cùng ngạc nhiên và quyết định đến thăm trực tiếp.

Thực ra, cuốn sách "Mật tạng siêu kỳ lạ" của tôi vẫn không thoát khỏi phạm vi pháp môn Yoga Tam Mật, chỉ là cách vận dụng hoàn toàn dựa vào nhất tâm thực hiện, cũng chính là nhất tâm cùng hiện thân vàng trượng sáu, ngồi trên biển tính kim cang, bay trên đài sen báu, hiển hiện nghìn cánh tay, nghìn bộ kinh, nghìn loại Nội pháp.

Trong "Mật tạng siêu kỳ lạ" này, tôi cố gắng viết các phương pháp tu tập một cách đơn giản nhất có thể, nhưng Mật pháp không phải chỉ dùng tay và miệng là có thể tu tập được. Điều quan trọng nhất là dùng "tâm" để trải nghiệm những kinh nghiệm trong đó, cho đến khi tâm bừng sáng thông suốt, mọi việc đều có thể thành tựu trong khoảnh khắc.

Trong "Mật tạng siêu kỳ lạ" có những bí mật lớn của nội tâm, trong đó có những cảnh giới không thể diễn tả bằng lời, dẫn dắt từ thế giới nội tâm cá nhân đến cảnh giới chư pháp vô ngã. Sự dẫn dắt này là một giác ngộ chấn động, không phải tầm thường, không chỉ có thể thấu triệt sinh tử, mà còn có thể thấu suốt bản chất thật của pháp.

Trong cuốn "Mật tạng siêu kỳ lạ", tôi sẽ mô tả chi tiết các nghi quỹ khác nhau của pháp Đại Uy Đức Kim Cang, đây là sự công khai những bí mật không truyền, những điều bí mật không truyền nay hiển lộ cho thế gian. (Trong đó còn có nghi quỹ mandala chìa khóa báu khai tạng mật truyền, đều là những pháp vô cùng thù thắng.)

Mong rằng việc xuất bản "Mật tạng siêu kỳ lạ" có thể giúp chúng sinh sám hối, cũng khiến chúng sinh tùy hỷ. Tôi nguyện cho chúng sinh không đánh mất tâm bồ đề, luôn luôn thanh tịnh, an trú giữa chư Phật Bồ Tát, với các huynh đệ kim cương đều là thiện hữu, thoát khỏi mọi tai ương và nạn khổ, mọi hành vi đều trang nghiêm tự tại, xa lìa si mê, đạt được tự tại và lục thông viên mãn.

Liên Sinh Hoạt Phật viết "Mật tạng siêu kỳ lạ", nhập Tam ma địa, từ Mi tâm luân phóng ra ánh sáng lớn của Liên Hoa Đồng Tử, Liên Hoa Đồng Tử này phát ra âm thanh lớn: "Liên Hoa Đồng Tử là vị Chuyển Luân Vương trí tuệ của tất cả Như Lai." Trong một sát-na, hoàn thành sự nghiệp độ sinh.

Cuốn "Mật tạng siêu kỳ lạ" này nhận được sự tán thán của chư Phật.
Nam mô Bảo Cái Phật.
Nam mô Sa La Thọ Vương Phật.
Nam mô Vô Lượng Quang Phật.
Nam mô Diệu Nhãn Phật.

Cuốn "Mật tạng siêu kỳ lạ" được viết bởi "Liên Sinh Hoạt Phật" theo sự thỉnh cầu của Côn Bố Hoạt Phật.


### 39. Siêu độ năm Bính Dần


Tờ báo "Chúng Thanh Báo" phát hành tại bang Washington, Hoa Kỳ, đưa tin như sau:

[Tin tức] Vào ngày 30 tháng 8 năm 1986 (thứ Bảy), hơn 400 đệ tử thành tâm đến từ các quốc gia Đông Nam Á, Hồng Kông, Canada, Nhật Bản, Trung Hoa Dân Quốc, Nam Mỹ và các tiểu bang của Hoa Kỳ đã tụ họp tại Lôi Tạng Tự ở thành phố Redmond, tham dự buổi lễ siêu độ quy mô lớn nhất kể từ khi ngôi chùa được thành lập, dưới sự chủ trì của Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.

(Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn hiện có 120.000 đệ tử.)

Vào lúc 1 giờ chiều ngày hôm đó, chuông trống trong chùa đồng loạt vang lên. Thượng sư Liên Chủ, người điều hành buổi lễ, tuyên bố buổi lễ bắt đầu. Mười vị Thượng sư mặc pháp y màu vàng trước tiên chắp tay bước vào hành lang trong chùa, sau đó tông chủ Chân Phật Tông Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, cùng với Thượng sư Liên Hỏa và Thượng sư Liên Thế tháp tùng, bước lên pháp tọa, bắt đầu nghi thức siêu độ.

Phó Giám đốc văn phòng, ông Trịnh Tùng Bản, đã đến phát biểu tại buổi lễ.
Trên đây là bản tin từ "Chúng Thanh Báo".

Lễ siêu độ năm Bính Dần cũng là ngày đệ tử từ các phân đường khắp thế giới tụ họp, đây là:
Mật pháp Chân Phật bừng khí thế,
Lôi Tạng âm vang chấn Phật phong;
Tám phương vân tập triều tông chủ,
Môn đệ đầy cửa đại vui mừng.

Tôi thấy các đệ tử sống tại đảo Bali Indonesia, các đệ tử sống ở Trung Đông, châu Âu, họ đã bay qua nửa vòng trái đất để đến Lôi Tạng Tự tham dự pháp hội, điều này khiến tôi vô cùng xúc động. Tôi cầu nguyện chư Phật Bồ Tát, chư thiên phóng tỏa ánh sáng từ bi, để các đệ tử thành tâm được an lành, may mắn, mọi điều mong cầu đều được thành tựu.

Pháp hội siêu độ vẫn hiển hiện những điều linh nghiệm kỳ diệu. Một nữ cư sĩ tên Lư Thu Hương đến từ tiểu bang New York, Hoa Kỳ, đã nhìn thấy diễn hóa thủ ấn của Liên Sinh Hoạt Phật tỏa ra ánh sáng đỏ rực rỡ. Nhiều người đã thấy diễn hóa thủ ấn của Liên Sinh Hoạt Phật phóng ra ánh sáng đỏ dài cả trượng, biến toàn bộ Lôi Tạng Tự, toàn bộ thành phố Redmond, thậm chí toàn bộ tiểu bang Washington thành đạo tràng kim cang, khiến người chứng kiến vô cùng kinh ngạc.

Trong pháp hội siêu độ, rất nhiều người đã nhìn thấy tổ tiên của mình. Tại chỗ, có đệ tử đã ôm lấy linh hồn tổ tiên và khóc nghẹn, tiếng khóc vang động cả pháp hội, vô cùng xúc động. Những người nhìn thấy tổ tiên đều rơi nước mắt, đây là cảnh tượng hiếm có và vô cùng quý báu.

Điều đáng nhắc đến là, sư cô Lâm Thiên Đại (Chyo-san) đã đặc biệt vội vã đến từ Phân đường Thạch Bích, Hoa Liên, Trung Hoa Dân Quốc. Khi nhìn thấy cảnh tượng long trọng như vậy, cô cũng xúc động khóc không ngừng. Đồng thời, mặc dù cô là người khai sáng cho Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, nhưng cô đã quyết tâm quy y Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, quy y Chân Phật Tông và học tập Chân Phật Mật pháp. Trong lễ quán đảnh, cô đặc biệt yêu cầu được Hoạt Phật quán đảnh và đảnh lễ Hoạt Phật.
Đây là:
Thầy độ trò.
Trò độ thầy.
Pháp danh của Lâm Thiên Đại (Chyo-san) là Liên Hoa Thiên Đại.

Liên Hoa Thiên Đại cũng tham gia lễ siêu độ (âm dương hội) tại Lôi Tạng Tự, rất linh nghiệm, đã mang đến nhiều điều thù thắng kỳ diệu hơn nữa cho Lôi Tạng Tự.

Mẹ tôi, Lư Ngọc Nữ, trong pháp hội này, đã nhận được sự quán đảnh gia trì của Hoạt Phật lần thứ hai, pháp lực vẽ phù chú của bà ngày càng mạnh mẽ, dùng thần bàn để độ chúng sinh, nhiều phép lạ đã xuất hiện, nay đã gây chấn động khắp thế giới, người từ khắp nơi trên thế giới đều đến Đài Loan tìm mẹ tôi để hỏi việc và giải trừ tai ách.
Đây là:
Mẹ sinh con.
Con độ mẹ.

Trong pháp hội siêu độ năm Bính Dần này có các Thượng sư đến từ Hồng Kông, các Thượng sư đến từ Đài Loan, các Thượng sư đến từ Canada, tổng cộng có hơn mười vị Thượng sư, trang phục chỉnh tề, đạo tràng trang nghiêm, pháp hội diễn ra nghiêm cẩn, nhiều hình ảnh phóng quang hiển lộ điều linh nghiệm.

Liên Sinh Hoạt Phật trong thời gian này đã có ba ngày thuyết pháp khai thị, tối 30/8 là "Tâm yếu Chân Phật Mật pháp", tối 31/8 là "Mật pháp rung cây tiền của Chân Phật Tông", tối mùng 1/9 là "Chỉ yếu lâm chung của Chân Phật Tông", ba ngày pháp này đều vô cùng quý báu.

Điều đặc biệt hơn của pháp hội này là việc tổ chức "Lễ truyền giới Bồ Tát tại gia của Chân Phật Tông thế giới", các giới tử niệm tụng "Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật", vào lúc nửa đêm truyền thụ giới Bồ Tát, có giảng giới, có điểm giới sẹo, tất cả đều tiến hành theo nghi lễ, Liên Sinh Hoạt Phật đều có khai thị đặc biệt.

Tôi mong các đệ tử đến từ các quốc gia trên thế giới tham dự pháp hội khi trở về đất nước của mình sẽ truyền bá cảnh tượng sôi nổi của pháp hội đến tất cả đệ tử trên toàn thế giới, khiến mọi người đều vui mừng phấn khởi, pháp vụ hưng thịnh, các đệ tử luôn tinh tấn, tu trì đúng pháp, ai ai cũng thành Phật.

Chúng ta hãy đảnh lễ chư Phật Bồ Tát mười phương.


### 40. Nghi quỹ Mật pháp rung cây tiền của Chân Phật Tông 


Mật pháp rung cây tiền này được Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền cho Liên Sinh Hoạt Phật.

Mật pháp rung cây tiền này cần phải được quán đảnh mới có thể tu trì.

Công dụng: tăng ích, tăng phúc, thăng quan, thăng chức, tăng lương, kéo dài tuổi thọ, công danh, thông tuệ, kinh doanh thành công, sự nghiệp thành tựu, hưng thịnh phát đạt, tài nguyên không dứt, tiền tài bất ngờ, trúng giải lớn, có được châu báu, nhà cửa xe cộ v.v…

Thiết lập đàn: Dùng bàn hình vuông, phủ vải màu vàng, pháp đàn phải ngồi hướng Đông nhìn về hướng Tây, chủ tôn là tượng Liên Hoa Đồng Tử" (tượng Thượng sư), tượng Thượng sư ngồi hướng Đông nhìn về hướng Tây, ngũ cúng hoặc bát cúng, hương, hoa, nến, trái cây, càng nhiều màu vàng càng tốt. Đặc biệt khi thiết lập đàn, phía trước ngũ cúng và bát cúng, đặt một cây nhựa nhỏ (cây giả), trên cành cây, cuộn tiền mới, bọc giấy đỏ, buộc bằng dây đỏ. Buộc bảy tờ tiền mới lên cành cây, tượng trưng cho ý nghĩa viên mãn.

Hai điểm đặc biệt của pháp này:
Thứ nhất, thờ cúng tượng Liên Hoa Đồng Tử (tượng Thượng sư) làm chủ tôn.
Thứ hai, phía trước đàn có cây nhỏ, trên cành cây, tiền mới được bọc giấy đỏ, buộc bằng dây đỏ.
Thời gian tu pháp: Mỗi ngày một đàn, tu cho đến khi tương ứng.
Tư thế tu pháp: Tốt nhất là ngồi kiết già, hoặc có thể dùng bán già và ngồi như ý.

🌟

Nghi quỹ:

1. Niệm chú thanh tịnh.

2. Niệm chú triệu thỉnh 3 lần. (Quán tưởng Liên Sinh tôn giả, đầu đội mũ Ngũ Phật, thân mặc pháp y màu vàng, ngồi trên đài sen màu vàng, giáng lâm đàn tràng, mặt mỉm cười, phóng ánh sáng vàng rực chiếu vào hành giả.)

3. Đại lễ bái.

4. Cúng dường pháp mandala.

5. Niệm chú tứ quy y.

6. Mặc giáp hộ thân.

7. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (1 lần, 3 lần hoặc nhiều lần)

8. Kết ấn — Tất cả các ngón tay của hai bàn tay đều mở hoàn toàn, lòng bàn tay trái hướng xuống, đặt ngang ngực, lòng bàn tay phải hướng ra trước, đặt giữa ngón cái và ngón trỏ của tay trái. (Giống như một cây được trồng trên mặt đất, đây chính là ấn rung cây tiền.)

9. Quán tưởng — Liên Sinh tôn giả phóng ra ánh sáng vàng lớn chiếu vào cây, toàn bộ cây tỏa ánh sáng vàng kim. Cây trở nên to lớn, lá cây sum suê dày đặc. Tiếp tục quán tưởng lá cây không còn là lá nữa, tất cả biến thành từng tờ tiền mới, nghĩa là một cây lớn với tất cả lá của nó đã biến thành tiền.
Quán tưởng từng chi tiết rõ ràng.
(Lúc này, tay phải lắc nhẹ, tức là đang rung cây.)

Quán tưởng tất cả lá cây (tiền) đều rơi xuống xung quanh hành giả Mật tông, chất đống cao như núi, vây quanh hành giả.

10. Trì chú — "Nam-mô san-man-tô wa-rư-fa hùm." Trì tụng chú này 108 lần hoặc nhiều hơn. Khi trì chú có thể buông ấn, lần tràng hạt.

11. Nhập Tam ma địa. (Cửu tiết Phật phong, tâm cảnh thư giãn, nhập ngã ngã nhập.)

12. Hồi hướng: Hồi hướng theo ý nguyện của mình. Hoặc "Công đức tu pháp, nguyện đệ tử ○○○ tất cả tu trì cầu nguyện thuận lợi viên mãn thành tựu, tất cả mong cầu đều thuận lợi như ý viên mãn."

13. Niệm chú viên mãn 3 lần.

1. Đại lễ bái, xuất đàn.

Cát tường viên mãn.

🌟

Mật pháp rung cây tiền của Chân Phật Tông đã được Liên Hoa Sinh Đại Sĩ trực tiếp truyền thụ cho Liên Sinh Hoạt Phật vào ngày 31 tháng 8 năm 1986. Pháp này chưa từng có trong Mật tông Tây Tạng, Đông Mật hay Trung Mật, đây chính là Mật pháp đặc biệt và độc nhất vô nhị của Chân Phật Tông.

Mật pháp rung cây tiền này đã được quán đảnh và truyền thụ công khai vào lúc 8 giờ tối ngày 31 tháng 8, sau đại pháp hội siêu độ năm Bính Dần của Chân Phật Tông, đây cũng chính là lần công khai đầu tiên của pháp này giữa trời người.

Pháp này có hai cách thờ cúng:
Thứ nhất, có thể thờ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ ở trên, tượng của Liên Sinh Thượng sư ở dưới.
Thứ hai, cũng có thể chỉ thờ tượng của Liên Sinh Thượng sư.

Hiện tượng tương ứng khi tu pháp rất đặc biệt, đó là hành giả Mật tông sẽ thấy cây nhựa mình thờ cúng phát ra ánh sáng vàng kim nhẹ nhàng, hoặc một lớp ánh sáng vàng mỏng phủ trên cây giả. Đây chính là thời khắc tu pháp tương ứng. Lúc này hãy lập tức cầu nguyện với Liên Hoa Đồng Tử, cầu gì được nấy, có cầu ắt ứng.
Trọng tâm của việc tu pháp nằm ở phép quán tưởng.

Người muốn tu Mật pháp rung cây tiền của Chân Phật Tông, ngoài những người đã được quán đảnh trực tiếp trong pháp hội siêu độ năm Bính Dần, những người khác muốn tu phải viết thư cầu xin Thượng sư Hoạt Phật quán đảnh từ xa thì mới được tu, vì có được quán đảnh của Thượng sư mới có thể đạt được tương ứng.

Mật pháp rung cây tiền này, khắp thiên hạ, chỉ có duy nhất một nơi.


### 41. Bài thơ về sách "Một thoáng Phật quang"


Kính thưa Sư Tôn xem xét:

Gần đây con trai nhỏ Thiếu Hoài đã gửi tặng cuốn sách mới "Một thoáng Phật quang" của Sư Tôn. Sau khi đọc xong, đệ tử xúc động viết chín bài thơ thất ngôn tứ tuyệt để ghi nhớ. Con kính dâng lên thầy xem xét và mong thầy chỉ bảo!

Thành tâm cầu chúc Phật an!
Liên Hoa Chấn Hoàn.

(1) Một thoáng Phật quang

Phật quang thoáng hiện chẳng lưu dấu
Chân lý rành rành thức tỉnh người
Thường dạy đệ tử siêng tu đức
Quên mình mới xứng Chân Phật Tông.

(2) Kim Cang bất diệt

Tiền thế kim cương bất diệt thân,
Liên Hoa Đồng Tử giáng phàm trần;
Bí mật âm dương đều tinh thâm,
Phật pháp thần thông trong ngoài kính.

(3) Hoạt Phật quy y

Linh cơ diệu toán đời ca ngợi
Danh tiếng trong ngoài ai cũng biết
Hoạt Phật Tây Tạng thường quy y,
Cứu đời giúp người chẳng nhận thí.

(4) Quả báo không sai

Nhân quả xưa nay báo chẳng sai,
Phú quý trước mắt tựa hoa quỳnh
Một sớm gia đình tan nát hết,
Mới tin năm xưa tội ác gây.

(5) Hối hận đã muộn

Thành Phật thành Tiên thật rõ ràng
Kiền thành tu đạo chứng bồ đề
Làm điều sai trái con cháu khổ
Hoàng tuyền phán tội chẳng kịp hối.

(6) Mèo quy y

Phật pháp vô biên thực đáng tin
Lôi môn hoằng đạo người đổ về
Sư Tôn thuyết pháp người vui thích
Mèo nhỏ cảm động cũng quy y.

(7) Quỹ hành thiện

Quỹ thiện mang phúc đến người khổ
Không phân quốc tịch đều quan tâm
Bố thí cứu người như vua Nghiêu
Đức nhân thánh hiền soi hậu thế.

(8) Vạn niệm đều không

Cuộc đời tháng năm quá vội vàng!
Chuyện cũ như khói vạn niệm không
May thay thân cứng thần vẫn mạnh
Ánh chiều nghiêng vui tịch dương hồng

(9) Cảm hoài 86 tuổi

Tuổi già thong thả vượt bát tuần
Tai mắt tinh anh thân vẫn cường
Cầm bút vung tay còn mạnh mẽ
Chữ nhỏ như ruồi đẹp tựa non.

Vị đệ tử 86 tuổi Liên Hoa Chấn Hoàn có thư pháp và văn chương đều xuất sắc, chín bài thất ngôn tứ tuyệt đều chứa đựng ý nghĩa sâu sắc. Điều quý giá nhất là duyên Phật từ kiếp trước, việc tu trì không bao giờ gián đoạn.

Con trai của Liên Hoa Chấn Hoàn là Liên Hoa Thường Dũng muốn xuất gia làm tăng. Cụ già khuyến khích anh: "Nay thấy con giữ tâm thanh tịnh ăn chay, thành tâm tụng kinh, đủ chứng tỏ con chân thành quy y Như Lai, cha không những không phản đối, mà còn sẽ nhẹ nhàng khuyên mẹ con, để hoàn thành tâm nguyện của con."

Đọc thư văn, tôi cảm động sâu sắc, kính ngưỡng Liên Hoa Chấn Hoàn vô cùng!

**(Hết.)**

---

---
# File: sach-tam-linh/068-mat-tang-sieu-ky-la.md
# Title: 068. Mật tạng siêu kỳ lạ 
---

## Mật tạng siêu kỳ lạ


🪷 Đại công khai diệu pháp tối thắng

Văn tập: 068
Xuất bản: 01/1987
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


**Sự thần kỳ của tạo hóa**

"Mật tạng siêu kỳ lạ" là văn tập số 68 của tôi, tiêu đề phụ của cuốn sách này là — Đại công khai diệu pháp tối thắng.
Trong sách này có diệu pháp tối thắng, nên là quý giá bậc nhất.
Trong sách có rất nhiều nghi quỹ Mật giáo, bên trong chứa đựng pháp lực mạnh mẽ hùng vĩ, có tâm pháp thanh tịnh và cảnh giới tinh tế tuyệt đẹp.

Liên Sinh Hoạt Phật nhấn mạnh, không phải khi đã có "Mật tạng siêu kỳ lạ" thì có thể từ bỏ việc tu trì "Bí mật trong Chân Phật Mật Pháp". Tôi cho rằng, hai bộ nghi quỹ này không thể bỏ qua bên nào, sự tu hành Mật giáo là tiến dần từng bước, từ nông đến sâu. Tôi mong các đệ tử có thể tiến bước tuần tự, chứ không phải ham cao chuộng xa. Trong quá trình này, cần có trí tuệ thâm nhập, từ một hiểu nhiều.

Trong sách, tôi sẽ giải thích nhiều cảnh giới pháp lực, những cảnh giới này là kết tinh của pháp lực, có thể nói là kinh thiên động địa, làm quỷ thần phải khóc. Trong đó biến hóa muôn vàn, khiến người ta phải thán phục sự thần kỳ của tạo hóa. Cảnh giới nội minh này không phải là những chữ viết tùy tiện, mà là cảnh giới giác ngộ thực sự mênh mông vô tận.

Liên Sinh Hoạt Phật thẳng thắn nói với độc giả và đệ tử rằng, tôi đã hiểu sâu sắc về sự kỳ diệu của tạo hóa, thấu hiểu chân lý vũ trụ, và đã có được một lối suy nghĩ phong phú hoàn thiện về Chân Phật Mật Pháp, pháp của Chân Phật Tông này đã chứa đựng sâu sắc diệu pháp tối thắng.
Người đọc sách này sẽ kinh ngạc, bởi đây là trí tuệ cao nhất của Mật tông.
Người đọc sách này sẽ thán phục, bởi đây thực sự là điều hiếm có trên đời.
Người đọc sách này sẽ buồn, tại sao không sớm quy y Liên Sinh Hoạt Phật!
Người đọc sách này sẽ vui mừng, bởi cuối cùng họ đã hiểu rằng Liên Sinh Hoạt Phật quả thực là một bậc Đại Trì Minh Kim Cương A Xà Lê đã chứng ngộ.

Cuốn sách này trong quá trình viết có nhiều nghi quỹ, mô tả pháp lực bay cao vạn dặm, văn phong đa dạng, cách viết khác với sách thông thường. Mặc dù có nhiều hình thức khác nhau, nhưng nếu độc giả lĩnh hội cẩn thận, sẽ có thể hiểu được ý nghĩa bên trong, đây vừa là "bình thường" vừa là "phi thường".

"Mật tạng siêu kỳ lạ" này là Nội pháp bí mật, có thể nói là diệu pháp vô thượng xuất thế gian, đã được Liên Sinh Hoạt Phật ấn chứng, và là pháp thành tựu siddhi.

Liên Sinh Hoạt Phật nhờ tu chứng "Mật tạng siêu kỳ lạ" mà hiện ra thân vàng cao một trượng sáu, ngồi trên đài sen bách bảo trong biển tính kim cương, phần thân trên hiện ra nghìn cánh tay. Điều này có nghĩa là Liên Sinh Hoạt Phật đã có được trăm nghìn tỷ pháp môn, có thể độ hóa trăm nghìn tỷ chúng sinh.

Tôi hiểu sâu sắc rằng, một bậc giác ngộ lớn, khi đạt được chứng ngộ, tự nhiên sẽ bộc lộ một tâm bi mẫn, đó chính là tâm đại từ bi cứu độ chúng sinh. Tất cả chư Phật và Bồ Tát cùng nhau hộ trì, yêu cầu bậc giác ngộ tuyên thuyết trăm nghìn môn Đà-la-ni, để giúp chúng sinh từng người một đi vào trong kho tàng bí mật.

Quan niệm hiện tại của tôi là, từ xưa đến nay những Nội pháp đại mật đều không được công khai, giữ gìn tính bí mật hoàn toàn, trở thành đặc quyền của một số ít Hoạt Phật. Nhưng ngày nay, tôi nhận thấy mọi người đều bình đẳng, thời cơ để pháp mật tạng thâm nhập vào đời sống dân gian đã đến, việc tu pháp học Phật không phải chỉ là việc của Lama hay hòa thượng, mà là việc ưu tiên hàng đầu trong đời sống đại chúng. Tôi mong rằng mọi người đều có thể học Phật tu pháp, cuộc sống như vậy mới có ý nghĩa. Chúng ta làm người sống trên thế giới này, làm sao có thể xem nhẹ việc tu hành trọng đại như vậy được.

Dù thế nào đi nữa, tôi viết cuốn "Mật tạng siêu kỳ lạ" này là kết tinh từ sự chứng ngộ cá nhân của tôi, như một quả bồ đề, nếu người ta thụ hưởng được, sẽ đạt được trí tuệ vĩ đại của cuộc sống. Ngay cả các vị Hoạt Phật và Lama, bậc đại đức xuất gia khi có được cuốn sách này, chỉ cần tham khảo và áp dụng, có thể đạt được sự phát triển ngoài sức tưởng tượng. Tôi hy vọng mọi người sẽ dùng sự kính trọng cao nhất để tôn trọng cuốn sách này.

Đúng vậy, Liên Sinh Hoạt Phật chân thành mong rằng "Mật tạng siêu kỳ lạ" sẽ là một bộ đại bảo điển đi sâu vào Nội mật, chỉ dẫn con đường tu hành cho người hiện đại, như những ngọn đèn liên tiếp thắp sáng, luôn dẫn dắt mọi người đi đến Tam ma địa của sự giác ngộ.

Đừng nghĩ rằng sách của Liên Sinh Hoạt Phật rất bình thường, mà trong cái bình thường có cái phi thường. Con người tôi không có gì khác biệt so với người thường, nhưng khi bay bổng biến hóa mới hiện ra cảnh giới phi thường.

Tại đây, tôi xin tuyên bố với mọi người, cuốn sách này là "Đại công khai diệu pháp tối thắng", đệ tử nào muốn tu học phải được quán đảnh bởi một vị Thượng sư chân chính mới được phép tu học. Một số tâm pháp trong đó cũng cần được giải thích bởi vị Thượng sư chân chính mới có thể hiểu rõ ràng, những chỗ không hiểu, cần thỉnh cầu Thượng sư khai thị giảng giải.

Viết một bài kệ ghi lại:
*Sách siêu kỳ lạ rực rỡ nhất
Dòng pháp thù thắng mãi lưu hương
Nội minh ngoại mật tọa đàn tràng
Pháp lưu Chân Phật lan rộng khắp.*

Tháng 1 năm 1987 tại Chân Phật Mật Uyển, thành phố Redmond, bang Washington, Hoa Kỳ.

Địa chỉ liên lạc của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn

**Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U. S. A.


### 01. Căn bản Thượng sư đệ nhất quán


Xưng hiệu tôn quý chí thánh của Liên Sinh Hoạt Phật là: Nam Mô Tây Phương Liên Trì Hải Hội, Ma Ha Song Liên Trì, Thập Bát Đại Liên Hoa Đồng Tử, Bạch Y Thánh Tôn, Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư, Chủ Kim Cương Chân Ngôn Giới Bí Mật Chủ, Đại Trì Minh Đệ Nhất Thế Linh Tiên Chân Phật Tông, Lư Thắng Ngạn Mật Hành Tôn Giả.

Hành giả Mật tông tu pháp quán tưởng đệ nhất. Niệm: 
"Nam mô guru Liên Sinh Hoạt Phật." (3 biến)
Sau đó tay kết ấn Liên Hoa Đồng Tử. 
Quán tưởng: ở hư không đối diện với chính mình có một tòa hoa sen báu lớn do tám con sư tử nâng lên, bầu trời bên phải có mặt trời, bầu trời bên trái có mặt trăng. 
Trên tòa hoa sen có Căn bản Thượng sư, cũng tức là Liên Sinh Hoạt Phật. Căn bản Thượng sư đầu đội mũ Ngũ Phật, mặt màu vàng kim, thân mặc ba y. Căn bản Thượng sư một đầu hai tay, tay phải đặt lên tòa sen, tay trái cầm bình đựng đầy cam lộ, ngồi tư thế kim cương kiết già.
Sau lưng Liên Sinh Hoạt Phật có hào quang xanh lam, đỉnh đầu có hào quang màu trắng, quang minh xán lạn, tướng đẹp trang nghiêm.
Tiếp theo quán tưởng đỉnh đầu Liên Sinh Hoạt Phật phóng quang, tòa hoa sen trên đầu Hoạt Phật có Kim Cương Trì (Dojre Chang), một mặt hai tay, thân màu lam, ánh sáng rực rỡ, mũ miện chuỗi vòng làm trang nghiêm, tay phải cầm chày, tay trái cầm chuông, hai tay bắt chéo đặt trước ngực.
Trong tim của Liên Sinh Hoạt Phật phóng quang về phía bên phải, trên tòa hoa sen nguyệt luân có một vị Di Lặc Bồ Tát ngồi, một mặt hai tay, thân màu đồng đỏ, mũ miện chuỗi vòng làm trang nghiêm, hai tay kết ấn chuyển pháp luân.
Trong tim của Liên Sinh Hoạt Phật phóng quang về phía bên trái, trên tòa hoa sen nguyệt luân có một vị Văn Thù Bồ Tát ngồi, một mặt hai tay, hình tướng nhi đồng, trên đầu có năm búi tóc, mũ miện chuỗi vòng làm trang nghiêm, tay phải cầm kiếm, tay trái cầm cành hoa, trên hoa có kinh điển bát nhã.

Bên dưới Liên Sinh Hoạt Phật có Ngũ Bộ Phật và Kim Cang Phật Mẫu, bên dưới nữa có Bồ Tát, bên dưới nữa có Duyên Giác, bên dưới nữa có Thanh Văn, bên dưới nữa có Không hành, bên dưới nữa có Hộ pháp.

Quán tưởng theo thứ tự như vậy, từ Kim Cương Trì đến Liên Sinh Hoạt Phật đến Hộ pháp ở dưới thấp nhất, tổng cộng là quán tưởng tám tầng.

Trong Căn bản Thượng sư đệ nhất quán rất tỉ mỉ này vẫn còn có rất nhiều các vị thầy gốc và Bổn tôn các đời, vô thượng bản tục chư tôn, du già bản tục chư tôn, hành bản tục chư tôn, sự bản tục chư tôn bao quanh Căn bản Thượng sư, mỗi vị đều hiện lên vô số biến hóa, thân phóng ánh sáng, đan xen vào nhau thành ánh sáng vi diệu của Chân Phật Mật Giáo. 
Quán tưởng Căn bản Thượng sư đệ nhất quán như vậy là hoàn thành.

Niệm: "Nam mô thập phương tam thế nhất thiết Như Lai, đức nghiệp tính thể nguyên thống tự tính, bát vạn tứ thiên pháp môn, sở xuất nhất thiết thánh tăng, tổng tể cụ ân Căn bản Thượng sư." (3 biến)
Thế rồi sau đó, từ trên thân của Căn bản Thượng sư và chư tôn có ánh sáng tuôn ra, giống như ánh sáng mặt trời, hoặc ánh sáng cầu vồng, hoặc ánh sáng lưu ly, dòng chảy pháp cam lộ ngũ sắc từ hư không giáng xuống, đi vào từ Phạn huyệt [lỗ đỉnh đầu] của mình, đi đến từng lỗ chân lông trên người mình. (Hành giả quán tưởng.)
Đến đây, hành giả Mật tông từ vô thủy đến nay, mỗi tội chướng, đọa nghiệp, tất cả phá giới hoặc vi phạm điều cấm, nghiệp bất tín phỉ báng được tích lũy, nhờ có Căn bản Thượng sư đệ nhất quán mà những nghiệp chướng ngày lần lượt hóa thành như khói hơi, từ các lỗi chân lông thoát ra bên ngoài. Tự thân hành giả Mật tông chuyển thành trong suốt lấp lánh, tự tính phát quang, có được tất cả trường thọ, phúc huệ tăng trưởng.

Lúc này, hành giả Mật tông tụng nhiều lần nhất có thể:
Na-mô gu-ru pây. Quy y Thượng sư. Quán tưởng Căn bản Thượng sư phóng quang.
Na-mô pút-ta-yê. Quy y Phật. Quán tưởng thân chư Phật phóng quang.
Na-mô ta-mô-yê. Quy y pháp. Quán tưởng các quyển kinh điển tiếng Phạn phóng quang.
Na-mô sâng-kya-yê. Quy y tăng. Quán tưởng các hàng Thánh tăng như Bồ Tát Thanh Văn Duyên Giác phóng quang.

Lúc này, tướng đẹp trang nghiêm của Căn bản Thượng sư cùng thể tướng của chính mình hòa nhập vào nhau, có nghĩa là trong sát-na, tự thân chuyển thành Căn bản Thượng sư, vì tự thân đã tương ứng với Căn bản Thượng sư cho nên phóng quang chiếu đến cha mẹ bạn bè thân hữu của mình, cho đến tất cả chúng sinh, phá trừ tất cả nghiệp chướng của chúng sinh, lần lượt cứu độ, đưa họ thoát khỏi biển khổ luân hồi.
Trì Thượng sư tâm chú: Ôm gu-ru lién-sâng sit-đi hùm. (108 biến)
Dựa vào tâm chú này mà quán không tất cả, nhập vào Tam ma địa Liên Sinh Hoạt Phật.
Sau khi xuất định, niệm văn hồi hướng:
Liên Sinh Hoạt Phật gia trì lực
Tam Bảo phóng quang trừ nghiệp chướng
Tùy hỷ hữu tình các việc thiện
Hộ trì chính giác ý bồ đề
Tôi và chúng sinh thành Phật đạo
Đều cùng vãng sinh Cực Lạc quốc.

Cát tường viên mãn.

🌟

Căn bản Thượng sư đệ nhất quán này nhìn thì có vẻ đơn giản, nhưng thật ra quán tưởng tám tầng này đều không dễ, người tu tập phải có sự kiên nhẫn, quán tưởng bắt đầu từ Căn bản Thượng sư cho đến Hộ pháp thì dừng, hoàn toàn là một dạng bí mật của nội quán, tu tập lâu ngày tự có đại chứng nghiệm. 

Năm xưa Liên Sinh Hoạt Phật tu tập pháp này đã coi A Di Đà Phật là Căn bản Thượng sư, cho đến khi đại chứng nghiệm thì nhìn thấy A Di Đà Phật từ không trung dần dần hạ giáng, giống như một đám mây, cứ thế giáng xuống cách mặt đất khoảng hơn một trăm trượng [1 trượng tương đương 3,3 mét] thì mới dừng lại bất động trong hư không, áo cà sa màu tím và hào quang màu đỏ của ngài đều rất rõ ràng, chói lọi rực rỡ, tôi nhìn thấy cảnh kỳ lạ hiếm có như vậy thì hết sức vui mừng tán thán.
Đây là một cảnh chứng nghiệm rất xúc động.
A Di Đà Phật nói: "Con chính là Di Đà, Di Đà chính là con."
"Con ngộ được điều gì?"
"Tâm linh trong vắt, tham tán tạo hóa, không hai không khác, chính là khai ngộ."

Tôi nghe xong bốn câu này của A Di Đà Phật, hiểu được ý vị sâu xa, lĩnh hội được vô tận, trong sát-na, trong ngoài đều sáng rực.
Lúc này, xung quanh A Di Đà Phật hiện ra mười tám vị Liên Hoa Đồng Tử, có chín vị hiện thân nam, chín vị hiện thân nữ, các vị hát lên bài ca rất đẹp đẽ diệu kỳ:
"Đội hồng quán."
"Rủ thánh miện."
"Hiện kim cang."
"Thượng sư thật."

Tôi nghe xong bài ca của mười tám vị Liên Hoa Đồng Tử, cảm thấy thần kỳ, dư âm không ngớt ngân vang. Từ đó tôi biết, Chân Phật Mật Pháp trong đời tương lai sẽ được truyền tụng không ngừng, hơn nữa còn vang lừng một thời, hưởng hương khói nghìn đời, được người đời kính ngưỡng.

Sự khai ngộ đại chứng nghiệm này không phải ở trong mơ, mà là tôi nhìn thấy rất chân thực. Chúng sinh tương lai chỉ cần quy y Chân Phật, tu tập như pháp, Liên Sinh Hoạt Phật nhất định hiện thân sờ đầu, tôi và chúng sinh cùng thành Phật đạo, người người được khai ngộ.


### 02. Quán vô lượng tâm


Liên Sinh Hoạt Phật thường xuyên tĩnh tọa quán tưởng, chúng sinh của thế giới này từ đâu mà đến, rồi lại từ đâu mà đi, sinh sinh tử tử này là một hiện tượng của thế gian, sự phân tranh của nhân gian này cũng là cảnh tượng của nhân thế gian. Nhiều đời nhiều kiếp, có khi coi kẻ thù thành người thân, có khi lại coi người thân thành kẻ thù. 

Song, là hành giả Mật tông thì phải phá bỏ được những cảnh tượng này. 
Đây chính là tứ vô lượng tâm.
Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui. Là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ. Là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ. Là hỷ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng. Là xả vô lượng.

Cần biết rằng, tứ vô lượng tâm này là đạo lý chí cao của thành Phật, đạo lý chí cao của thành Phật là từ bi hỷ xả chứ không phải là hủy diệt ích kỷ. 
Ma là sân hận.
Ma là ích kỷ.
Sự tu hành của hành giả Mật tông chân chính là hoan hỷ vui vẻ, không những chính mình hoan hỷ vui vẻ mà cũng phải phát nguyện độ hóa chúng sinh hoan hỷ vui vẻ. Hành giả Mật tông đạt chứng ngộ thì họ cũng cần độ hóa chúng sinh đạt chứng ngộ. Hành giả Mật tông không có tham sân si, chỉ mong người đời gồm mình và người khác đều đắc quả vị của Phật Thích Ca Mâu Ni, đây chính là sự chí lý của vô lượng tâm.

Sự quán tưởng tu hành của hành giả Mật tông là thường xuyên quán tưởng tất cả cha mẹ và các chúng sinh đến trước mặt mình, rồi nhờ cam lộ mà Phật Bồ Tát chư tôn giáng xuống, trút vào từ Phạn huyệt của cha mẹ và chúng sinh mà tất cả lần lượt đều được che chở, khiến thân khẩu ý của cha mẹ và chúng sinh có được sự cứu độ của Tam Bảo.

Cam lộ của Tam Bảo quán đảnh cho chúng sinh này không có sự phân biệt thân sơ yêu ghét, sẽ tiêu trừ từng tội chướng ác nghiệp và phiền não, khiến chúng sinh đắc đại giác viên mãn.

Quán vô lượng tâm này có bí quyết:
Quán tưởng cha mẹ đến. Mặt của cha biến thành mặt của chính mình, mặt của mẹ biến thành mặt của chính mình.
Quán tưởng oan thân đến. Mặt của oan gia biến thành mặt của chính mình, mặt của kẻ thù biến thành mặt của chính mình.
Quán tưởng chúng sinh đến. Mặt của chúng sinh biến thành mặt của chính mình, lần lượt mỗi chúng sinh đều biến thành chính mình.
Như vậy, thân mình biến chuyển thành vô số thân nhiều như vi trần, từng cha mẹ, từng oan thân, từng chúng sinh đều là chính mình.
Đây chính là sự quán tưởng bình đẳng quảng đại. 
Đây chính là quán vô lượng tâm.

Liên Sinh Hoạt Phật nhờ tu chứng quán vô lượng tâm cho nên có tâm vô lượng từ bi hỷ xả. Trước kia có người chửi tôi hoặc phỉ báng tôi, trong lòng sẽ sinh ra phiền não, nhưng từ khi tu chứng quán vô lượng tâm, thì ra chúng sinh và tôi là một, không còn phân biệt ta và người khác. 
Lại càng muốn đi cứu độ họ, quán đảnh họ, tịnh hóa họ.

Quán vô lượng tâm là tư duy rất sâu rất sâu, là đại trí huệ của chân không viên mãn không sai biệt, là Nội mật chân chính của Phật và Bồ Tát, cũng là chính nghĩa chung nên làm, đây là Mật pháp chính mình và người khác cùng hòa tan, chân nghĩa của ba thân Phật và tất cả pháp Yết Ma đều nằm ở trong đây. 

Quán vô lượng tâm này bên ngoài nhìn thì rất dễ, trên thực tế là khó nhất, tu trì pháp này đắc chứng, trong tâm vĩnh viễn thanh tịnh, sự thanh tịnh này trong veo và tự nhiên, với Phật chẳng hề khác biệt.
Không oán không thù chính là từ vô lượng, bi vô lượng, hỷ vô lượng, xả vô lượng.
Chính là sự bất động của niết bàn tịch tĩnh.

Tôi ca ngợi:
Trừ tận tất cả lưới vọng tưởng.
Viên mãn thậm thâm quảng đại thân.
Ánh sáng Phổ Hiền phủ rộng khắp.
Cung kính đảnh lễ trước điều này.

Hiểu rõ quán vô lượng tâm rồi, thân sơ yêu ghét hoàn toàn không phân biệt, tất cả bình đẳng, đây chính là "viên mãn vô lậu lạc trụ tứ vô lượng". 
Từ đó mà chứng đắc:
Không sinh cũng không diệt, không thường cũng không đoạn.
Không đến cũng không đi, không giống cũng không khác.
Thường nói là nhân duyên, khéo diệt các hý luận.
Tôi cúi đầu lễ Phật, đệ nhất trong mọi thuyết.
Đây là tâm lượng quảng đại nhất trong trời đất này. 

Liên Sinh Hoạt Phật tu chứng quán vô lượng tâm, có một lần soi gương, bỗng nhìn thấy trong gương xuất hiện mây cát tường ngũ sắc, và ở trên mây cát tường ngũ sắc đó không ngờ có quang cảnh tuyệt vời của lầu gác hồ nước hiện lên trang nghiêm ngay trước mắt. Đưa mắt nhìn ra thuần là vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xà cừ, hồng ngọc, mã não… các loại châu báu trang điểm cho nơi này. Trong lầu gác hồ nước có cung điện rộng lớn vô cùng, Liên Hoa Đồng Tử và hàng vạn vạn thân Bồ Tát sống ở trong cung điện, Liên Hoa Đồng Tử đang diễn pháp âm vi diệu. Tôi nhìn kĩ hơn mặt của các Bồ Tát, hóa ra tuy mỗi vị Bồ Tát đều có cách trang điểm khác nhau, vị nào cũng vô cùng trang nghiêm, nhưng diện mạo của họ thì không ngờ lại là cùng một người, đều là khuôn mặt của Liên Hoa Đồng Tử Bồ Tát.

A! Tôi nhìn thấy ánh sáng trắng của Liên Hoa Đồng Tử soi thấu, trên mây cát tường ngũ sắc còn có một đám mây rất kỳ lạ đang tỏa ra mùi hương thơm nức, trên người mỗi một vị Bồ Tát có những vòng tròn ánh sáng ngũ sắc khắp toàn thân, bao bọc xung quanh. Tôi tận mắt nhìn thấy cảnh giới trong gương này thì hoan hỷ tán thán! Ở trong gương nhìn thấy cảnh tượng kỳ lạ như vậy, thân tâm thư thái vô cùng, tự cảm thấy ý giải tâm khai, biết rằng mình đã khai ngộ quán vô lượng tâm rồi, không ngớt hân hoan. 

Tôi biết rằng quán vô lượng tâm có thể ấn chứng "Nhân Đà La võng cảnh giới môn" của "thập huyền môn", điều này chứng minh giống như lưới châu báu chiếu sáng lẫn nhau thành ánh sáng. Ở trong thiên cung Đao Lợi, có một loại lưới do bảo châu kết thành. Mỗi lưới bảo châu đó đều hiện tất cả hình bóng của viên ngọc, có nghĩa là trong mỗi viên ngọc đều hiện lên nhiều viên ngọc, trong nhiều viên ngọc lại hiện lên càng nhiều viên ngọc, lớp lớp bóng ảnh hiện lên đến vô tận. Đó là quán tưởng đế võng minh châu.

Quán vô lượng tâm ví như trùng trùng ảnh hiện, và vô tận vô lượng, mỗi vi trần trong pháp giới xuất hiện một cõi vô biên, trong biển của cõi ấy có các vi trần, trong vi trần có cõi biển, người người đều là Liên Hoa Đồng Tử, đây chính là sự cứu độ trùng trùng vô tận.

Khi chứng ngộ quán vô lượng tâm, bạn có thể đi vào bên trong thế giới trong gương, có thể đi vào bên trong thế giới của mây cát tường ngũ sắc, không có một chút ngăn trở nào, đó là đạo lý lâu đời.
Bạn có thể biết được việc của trăm kiếp, giống như trăm kiếp trong một giấc mộng, một giấc mộng có trăm kiếp.

Tu chứng quán vô lượng tâm, tất cả đố kỵ không còn nữa, tất cả thô tục không còn nữa, tất cả háo sắc không còn nữa, tất cả tham dục không còn nữa, tất cả ích kỷ không còn nữa, tất cả xảo trá không còn nữa, bởi vì người khác chính là mình, mình chính là người khác. 
Tôi có thể từ từ bay vào trong gương.
Lại có thể từ từ bay trở về nhân gian. 


### 03. Quán nước thơm thanh tịnh


Tôi có một cái hộp báu, mở ra bên trong có khăn lụa ngũ sắc. Khi tôi mở ra, không trung có năm vị đồng tử giáng xuống, năm vị đồng tử này có năm màu sắc trắng, đỏ, lam, vàng, lục, mỗi vị đồng tử đều cầm khăn ngũ sắc ở trong hộp báu, bay lượn giống như chim để lau năm chỗ của Liên Sinh Hoạt Phật, năm chỗ này chính là mi tâm, họng, tim, vai trái, vai phải.

Trước khi lau, năm vị đồng tử này phải dùng khăn lụa chấm vào nước thơm đựng trong một chiếc bình báu, đồng tử ngũ sắc bay vào trong bình báu, chấm vào nước thơm, sau đó lại lau lên người Liên Sinh Hoạt Phật, nước thơm này chính là lục độ tự tính thủy.
Cảnh giới này vô cùng kỳ diệu!
Năm vị đồng tử biến thành giống như chim bay, lại có thể lau chùi thân thể, bay vào trong miệng bình báu để chấm nước thơm lục độ tự tính.
Nước thơm lục độ tự tính này đầy ắp hương thơm ngào ngạt vi diệu, chỉ cần chấm vào năm chỗ thì toàn thân hành giả Mật tông sẽ sản sinh ra ánh hào quang thanh tịnh như lưu ly, hơn nữa còn sáng trong lấp lánh.

Liên Sinh Hoạt Phật bí mật tu hành pháp giữ mình trong sạch không có gì khác, chính là tôi có một chiếc hộp báu, bên trong có khăn lụa ngũ sắc, tôi có một bình báu, bên trong có nước thơm lục độ tự tính. 
Nước của bình báu này lấy từ hồ ở thiên cung.
Nước này không phải nước bình thường, nó có thể khiến con người thoải mái, lấp lánh ánh sáng trắng, trong mát, thơm phức nồng nàn, là nước chảy ra từ tâm của các thần trên thiên thượng giới.
Nước hồ ở thiên cung được làm từ các vật báu, xung quanh là cây báu, đẹp đẽ diệu kỳ, hoa báu nhiều màu sắc trang nghiêm. Bốn phía của hồ có cát vàng phủ mặt đất, đáy hồ cũng được lát bằng gạch vàng. Nước trong hồ chính là nước thơm lục độ tự tính.

Tôi nhớ khi Phật Thích Ca Mâu Ni giáng sinh ở Ta Bà, không trung có tiếng hát rằng: 
Thánh Tôn vào lúc ngài giáng sinh
Chư Thiên liền dâng tịnh hương thủy
Tắm trong suối thơm không vi trần
Ánh sáng lưu ly tỏa khắp nơi.

Nước thơm trong hồ ở thiên cung này đã hiển hiện để làm sạch các bụi bẩn, từ trong tâm tỏa ánh sáng thanh tịnh ra bên ngoài, sinh khởi ánh sáng thù thắng, bản thân thanh tịnh, pháp giới tất cả đều thanh tịnh, sự vi diệu lớn nhất trong mọi sự vi diệu.
Khiến người ta ca ngợi là bất khả tư nghì một cách không thể tưởng tượng được!

Ở chỗ của Liên Sinh Hoạt Phật có Mật pháp vi diệu nhất, trên khắp thế giới khó mà biết đến, quán nước thơm thanh tịnh này chính là một trong những Mật pháp thần bí và không thể đo lường.
Tu tập quán tưởng nước thơm thanh tịnh, trước tiên phải tu pháp hộp báu và pháp bình báu.
Pháp hộp báu — dùng một chiếc hộp bằng vàng, bạc hoặc đồng, bên trong đựng vải lụa sạch năm màu, vải lụa sạch này đã được tu qua năm bộ pháp. 
Pháp Phật bộ — dùng ánh sáng trắng chiếu lên vải lụa sạch màu trắng. (Thủy luân mandala)
Pháp Liên hoa bộ — dùng ánh sáng đỏ chiếu lên vải lụa sạch màu đỏ. (Hỏa luân mandala)
Pháp Kim cang bộ — dùng ánh sáng lam chiếu lên vải lụa sạch màu lam. (Phong luân mandala)
Pháp Yết ma bộ — dùng ánh sáng vàng chiếu lên vải lụa sạch màu vàng. (Địa luân mandala)
Pháp Bảo bộ — dùng ánh sáng lục chiếu đến vải lụa sạch màu lục. (Không luân mandala)

Pháp bình báu — dùng bình bằng vàng, bạc hoặc đồng, bên trong đựng nước vô căn. 
Tay kết ấn bình báu: trước tiên hai tay chắp lại, ngón cái và ngón trỏ hai tay cuộn lại thành hình tròn, ngón cái đè lên ngón trỏ, ba ngón còn lại đứng chụm vào nhau, thế là thành thủ ấn.
Quán tưởng: trong hư không có thiên nhân nhiều vô số, mỗi vị đều cầm tịnh bình trên tay, đem nước trong tịnh bình đổ vào trong bình báu. 
Niệm chú: "Ôm ka-ta sa-ma-ya sư-li-yê ah." Niệm chú này cho đến khi nhìn thấy bình báu phóng ánh sáng trắng.
Tu trì viên mãn pháp hộp báu và pháp bình báu.

Sau đó tu quán tưởng nước thơm thanh tịnh. 
Đặt hộp báu và bình báu ở trước hành giả Mật tông, hành giả dựa theo trình tự tu pháp niệm chú thanh tịnh, chú triệu thỉnh, đại lễ bái, đại cúng dường, tứ quy y, mặc giáp hộ thân, niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, tiếp theo cầm khăn sạch chấm vào nước trong bình báu, lau vòng tròn theo chiều bên phải làm ẩm năm chỗ. Quán tưởng vải ngũ sắc phóng ra ánh sáng ngũ sắc, lần lượt tan vào năm chỗ, thân trên và thân dưới đều được thấm ẩm. 
Niệm chú: "Ôm la-ha-li-ya-yê sô-ha." 108 biến.

Tụng tán: 
Vải lụa thanh tịnh thấm nước thơm. Khéo lau từng chỗ trên thân quý.
Thân nay kiên cố không phiền não. Mong sạch chướng ngại thân chúng sinh.
Vải lụa thanh tịnh thấm nước thơm. Khéo lau từng chỗ trên thân quý.
Thân nay kiên định không buồn phiền. Mong sạch chướng ngại ngữ chúng sinh.
Vải lụa thanh tịnh thấm nước thơm. Khéo lau sắc lệnh bao tuyệt diệu.
Diệu tâm kiên định không mê loạn. Mong sạch chướng ngại ý chúng sinh.
Vải lụa thanh tịnh thấm nước thơm. Khéo lau hết thảy tâm tuyệt diệu.
Lệnh tâm kiên định không phiền não. Mong sạch chúng sinh thân ngữ ý.
Vải lụa thanh tịnh thấm nước thơm. Khéo lau hết thảy tâm tuyệt diệu.
Tắm trong đầy đủ bao công đức. Ba nghìn thế giới đẫm hương thơm. 

Quán tưởng: nước lục độ tự tính này rửa khắp toàn thân thanh tịnh vô nhiễm, loại bỏ bụi bẩn trong ngoài toàn thân, tự thân phát ra hương thơm vi diệu tối thượng không gì sánh bằng, trên đầu mình đội mũ Ngũ Phật, thân mặc ba pháp y, chuỗi vòng bát bảo làm trang nghiêm thân mình, tay cầm tích trượng.

Nhập định. (nhập Tam ma địa)

Xuất định. Tụng tán hồi hướng: 
Nước tắm thơm tho đầy phẩm đức.
Vô thượng đại bi tự tính thủy.
Nhờ đó gia trì đại trí huệ. 
Thỉnh ban thành tựu như mong muốn.

Cát tường viên mãn.

🌟

Liên Sinh Hoạt Phật biết vào thời cổ đại, rất nhiều hành giả Mật tông khóa mình trong phòng tối, hoặc ở trong hang động trên núi cao để tu khổ hạnh, lâu lâu mới có thể đến bên suối tắm gội, bình thường rất ít khi tắm gội, vì thế liền tu tập pháp quán tưởng nước thơm thanh tịnh này. Quán tưởng nước thơm thanh tịnh này chính là pháp tắm gội thân mình nổi tiếng, người tu tập mặc dù lâu ngày không tắm nhưng thân thể vẫn sạch sẽ, có mùi thơm, không bụi bẩn, rất kỳ diệu.

Hành giả Mật tông hiện đại có người đã ứng dụng pháp quán tưởng nước thơm thanh tịnh vào nước tắm trong phòng tắm của mình, khi bước vào phòng tắm, trước tiên lấy vải lụa sạch năm màu lau vào năm chỗ, sau đó quán tưởng ánh sáng tan vào, sau đó mới tắm gội sạch người, đến khi ăn mặc chỉnh tề thì mới lại vào Mật đàn ngồi nhập Tam ma địa.
Năm chỗ mà tôi chỉ ra là trán, họng, tim, vai trái, vai phải.
Có hành giả thì chỉ ra năm chỗ là trán, tim, rốn, vai trái, vai phải.

Nước vô căn là nước mưa. Nước mưa này từ hư không rơi xuống, hành giả Mật tông dùng chậu để hứng trên không, không được để chạm đất, không đến không đi thì gọi là vô căn. 

Quán tưởng nước thơm thanh tịnh này đích thực là siêu kỳ lạ.
Hành giả Mật tông tu tập quán nước thơm thanh tịnh đắc chứng nghiệm có nhiều điều thần kỳ — trong nhà hành giả ở thường xuyên xuất hiện mây ngũ sắc cát tường bao bọc xung quanh ngôi nhà, cư dân sống ở đằng xa sẽ cho rằng đây là nhà đang bị cháy, nhưng khi chạy lại gần để nhìn thì chẳng thấy gì, ngôi nhà vẫn yên ổn. Càng kỳ diệu hơn là trên đỉnh đầu của hành giả Mật tông thường tỏa ra ánh sáng ngũ sắc. Tu tập đắc chứng nghiệm thì thân thể sẽ có thiên thần bảo hộ, gặp dữ hóa lành, cho dù ngã nhào thì bên cạnh cũng có thiện thần đến nâng đỡ, không tổn hại một sợi tóc. Những thứ độc hại thông thường xâm phạm ví dụ  như bị rắn độc cắn, độc tính sẽ được hóa giải thành vô hình, bị rắn độc cắn cũng không cần phải bận tâm. 

Hành giả có chứng nghiệm khi đi trên đường tối, tự nhiên có thiên thần cầm đèn soi đường, sẽ không để cho hành giả phải mò mẫm trong bóng tối, hoặc có đom đóm tụ tập phía trước dẫn đường.

Rõ ràng nhất là hành giả này toàn thân sẽ tỏa ra mùi thơm vi diệu vô thượng, người người đều thích đến gần, khí sắc của họ mãi mãi sáng ngời, hễ nhập định là liên tục xuất hiện các tướng may mắn, toàn thân phát quang, ánh sáng đỉnh đầu, ánh sáng mi tâm, ánh sáng họng, ánh sáng tim, ánh sáng tòa ngồi, ánh sáng sau lưng, v.v… 

Nếu hành giả tu hành trong hang động trên núi cao sẽ có bầy chim đậu lại chỗ đó, hạc trắng xuất hiện trên những đỉnh núi, ác thú hung mãnh như hổ báo sẽ trở nên ôn hòa và bảo vệ hành giả, trở thành Hộ pháp của hành giả, vượn và khỉ sẽ hái đào và hoa quả cho hành giả ăn no.

Tu tập quán nước thơm thanh tịnh đắc chứng nghiệm có thể sai khiến quỷ thần, quỷ thần đều nghe lệnh mà làm việc. Tổ tiên của bản thân nếu ở trong âm gian chịu khổ, hành giả có thể sai khiến quỷ thần đi cứu họ, khiến tổ tiên vì thế mà có được phúc báo, thăng lên cảnh giới thanh tịnh. 

Nước thơm được gọi là lục độ tự tính thủy, lục độ chính là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, bát nhã, tu thành tựu lục độ rồi thì không còn tham lam, phỉ báng, sân hận, lười biếng, tán loạn, ngu si. Lục độ bao hàm tất cả pháp môn mà Bồ Tát tu hành, là từ bờ của sinh tử khổ não đi đến bờ của niết bàn an lạc. 

Quán nước thơm thanh tịnh này không phải là pháp nhỏ, mà là đại pháp, Thánh giả vĩ đại, đạo đức và công lao sự nghiệp của họ đều dựa vào quán nước thơm thanh tịnh mà soi sáng thiên thu. Quán nước thơm thanh tịnh này là sự khởi đầu của tu dưỡng, là một yếu quyết trong trình tự Mật hành. 
Hóa mục nát thành thần kỳ.
Mật tạng siêu kỳ lạ là một sự siêu việt vĩ đại.


### 04. Quán đại không


Có một chân ngôn là: "Ôm. Sư-pa-wa. Su-ta. Sa-ơ-wa. Ta-ơ-ma. Sư-pa-wa. Su-tô hằng."

Câu chú này là một câu chú rất quan trọng. Chính là chân ngôn quán Không.
Hàm nghĩa của chân ngôn này là: "Tất cả tự tính thanh tịnh, ta cũng tự tính thanh tịnh." Chân ngôn này chính là: "Khiến mình và người khác đều thanh tịnh."
Có ý nghĩa về biến không, có lý lẽ về quán không.
Nhờ sự gia trì của chân ngôn này mà lập tức đắc quán đại không, thâm diệu dị thường.

Liên Sinh Hoạt Phật thật lòng thật sự nói với mọi người, tất cả mọi pháp lớn nhỏ trong Mật tông, tâm yếu cuối cùng của chúng không tách rời quán đại không. Nếu đắc chứng ngộ quán đại không này thì Phật quốc tịnh thổ sẽ xuất hiện trước mắt bạn, có thể lập tức chứng đắc thành tựu.

Tổ sư truyền thừa Hoàng giáo của Liên Sinh Hoạt Phật - Thubten Lama khi còn tại thế thường yêu cầu các đệ tử tập luyện pháp quán không Pháp thân thành Phật.

Thứ tự của pháp này là:
(1) Tam Bảo hóa quang nhập vào thân mình. Địa đại quy về Thủy đại. Ngọn lửa dương.
(2) Thủy đại quy về Hỏa đại. Khói.
(3) Hỏa đại quy về Phong đại. Đom đóm.
(4) Phong đại quy về thức. Bóng đèn.
(5) Thức tận nhập trắng. Trăng thu.
(6) Trắng tận nhập đỏ. Đỏ trắng.
(7) Không. Đỏ trắng chạm nhau. Linh hồn xuất khiếu. Mát rượi.
(8) Viên quang [vầng hào quang trên đầu]. Thành Phật. 

Trước quán tưởng này phải trì chân ngôn quán Không để gia trì.

Tôi đã viết ra trình tự tu quán đại không, đệ tử mới học Mật tông khi đọc đương nhiên sẽ không thể hiểu được. Nhưng Thượng sư Mật tông chân chính chắc chắn khi đọc một cái là biết ngay, đây là thứ tự của tứ đại phân ly khi con người chết đi, đầu tiên là đất, tiếp theo là nước, tiếp theo là lửa, tiếp theo là gió, sau đó đạt không cảnh, mỗi thứ tự đều có một kiểu cảnh giới và hiện tượng, đây là quán tứ đại phân ly.

Còn muốn học Mẫu-Tử quang tương hợp, muốn học xuất thần (linh hồn xuất khiếu), Liên Sinh Hoạt Phật nói với mọi người, bạn phải học quán tứ đại phân ly. Nếu tu tập đạt thành tựu quán tứ đại phân ly này thì chính là pháp xuất nguyên thần của Đạo gia.

Quán đại không lấy quán tứ đại phân ly là bí quyết thành công. Đây là tâm yếu chân chính của mấy chục năm Liên Sinh Hoạt Phật tu Mật tông. 

Tu quán đại không này, lực quán tưởng của nó lớn thì có thể thật sự nhập Tam ma địa tam muội chính định, tức là đại thành tựu pháp thân vô thượng, cũng tức là pháp thân thành Phật. Cho đến khi ánh sáng của chính mình và ánh sáng thanh tịnh của pháp giới, tức là Tử quang và Mẫu quang gặp nhau, hòa tan vào nhau, thì chính là viên quang.

Tu tập quán đại không, tôi tóm tắt như sau:

Gia trì chân ngôn quán không: Ôm. Sư-pa-wa. Su-ta. Sa-ơ-wa. Ta-ơ-ma. Sư-pa-wa. Su-tô hằng.

Quán Tam Bảo hóa quang, dội vào Phạn môn đỉnh huyệt, dung nhập vào toàn thân, thành quang uẩn. 
Quán toàn thân quang uẩn dần dần ẩn đi, quy về chữ Hum.
Quán chữ Hum quy về chữ Ah. 
Quán phong đại nhập vào thức. 
Quán trên đỉnh đầu, phụ chủng màu trắng giáng xuống đi vào tim, ngoại cảnh trời trong trăng sáng. 
Quán ở trong rốn, mẫu chủng màu đỏ thăng lên đi vào tim.
Quán chủng trắng đỏ hợp lại, vượt qua vùng tim, và linh hồn thoát ra khỏi lỗ đỉnh đầu, xuất thần. 
Quán thần nhập vào trong hào quang, đắc đại không tam muội chính định.

Sau khi xuất định, tụng tán:
Tất cả chư Phật nhiếp tụ thân.
Thắng trì kim cang chi tự tính.
Tối cực hy hữu xuất thần pháp.
Dung nhập đại không viên quang kính.

Quán đại không này không thể sánh với bình thường, hành giả Mật tông bình thường vẫn không thể nào biết được, đệ tử Chân Phật Tông muốn học tập pháp này, phải tìm đến Kim cương Thượng sư chân chính để học, nhờ Kim cương Thượng sư giải thích tâm yếu tu trì rất tinh vi trong đó mới có thể hiểu được.

Liên Sinh Hoạt Phật chứng đắc quán đại không, hiển hóa rất nhiều. Thiên thượng có Diệu Âm Bồ Tát hát rằng:
*Thần xuất đỉnh khiếu có linh uy,
Trăm năm một lần nay trở về,
Lư Thắng Ngạn hỡi Lư Thắng Ngạn,
Cần gì trần thế lắm thị phi.*

Thế là tôi có thể phơi phới bay trên trời, có thể bước trên những ngọn sóng trên mặt biển và hát ca, cùng những tiên nhân bay trên trời vui chơi, có thể đi đi về về cả nghìn vạn dặm chỉ trong một ý nghĩ, có thể tùy lúc cao hứng nhập vào giấc mơ của các đệ tử, có thể ẩn mình trong gió theo gió rong chơi, cưỡi gió bay lượn, có thể bảo núi tách ra, và mình thì trốn vào trong núi, có thể bảo nước tách ra, và mình thì trốn vào trong nước, có thể cưỡi một con cá chép lớn, tự do vô ngại đi tới long cung bảo điện.

Linh hồn có thể thông thạo biến hóa, có thể biến thành một vị Huyền Hạc Đạo Trưởng cưỡi trên lưng hạc trắng, bay lượn giữa các ngọn núi tiên, có thể dùng ý niệm để thưởng thức những quả táo tiên. Có thể biến thành cụ già tóc bạc răng rụng để trà trộn trong đám ăn mày ở trần thế ngồi bắt chấy rận. Nhưng, cũng có thể biến hóa thành người trẻ tuổi dung mạo như hoa, tất cả những việc này đều tự do tự tại, không có chút hạn chế nào.

Cỏ cây gạch đá chính là chốn cư ngụ của tôi, châu ngọc vàng bạc cũng có thể dung thân, việc bên ngoài nghìn vạn dặm thì ở ngay trước mắt, rồng hổ mãnh thú trở thành Hộ pháp. Có thể uống rượu, rượu như nước, nghìn chén không say. Trong ngũ hành, đến đi tự do, có thể biến nguyên thần thành lớn, cũng có thể biến thành nhỏ, có thể đi vào trong nước mà không ướt, vào lửa cũng không cháy, có thể cao hứng thích sống thì sống, thích chết thì chết, đây là nguyên thần vĩnh viễn tự do tự tại. 

Nguyên thần xuất khiếu này giống như mây trắng lúc ẩn lúc hiện, hoặc như gió mát bồng bềnh trên bầu trời đêm đẹp đẽ. Vào thời khắc khai đỉnh xán lạn đó sẽ nghe thấy một tiếng sét, ngay sau đó có một vệt sáng mạnh như chớp lóe bắn vọt ra ngoài, đây là lần đầu tiên, còn về sau, tuy cũng phả ra hơi nóng, nhưng chỉ có ánh sáng mà không chói lọi, nguyên thần xuất khiếu chỉ là ánh sáng tối mờ mà thôi.

Khi mưa to sấm sét, tôi ở chỗ ánh chớp lập lòe.
Khi có bão, tôi nằm ngủ trong mắt bão.
Khi có động đất, tôi ở dưới những tầng đất sụt lở.
Khi núi lửa phun trào, tôi bơi lội trong nham thạch nóng chảy.
Sự thần kỳ của tôi là bay cao bay xa đó!

Liên Sinh Hoạt Phật nguyên thần xuất khiếu, từng đến Di Lặc Nội Viện ở Đâu Suất Thiên Cung để nghe Di Lặc Bồ Tát giảng kinh.
Từng đến cảnh giới tịnh diệu quảng bác trang nghiêm.
Từng đến cảnh giới quang minh lưu ly thắng diệu.
Đến cả hầm kim cang.
Gặp Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát ngồi trên bảo tọa sư tử, đang diễn diệu pháp. Văn Thù Bồ Tát nhìn thấy nguyên thần đến thì xòe bàn tay vàng ra, dài hơn một trượng, càng vươn ra càng dài, xoa vào đầu của nguyên thần, nói:
"Liên Hoa Đồng Tử, vì vô thượng chính đẳng bồ đề, vì đánh trống đại pháp, thổi loa đại pháp, truyền thụ vô thượng chính đẳng giác, cho nên tự có thể thành Phật."
Tôi đọc kim cang bát nhã bí tạng. 
Tôi ăn quả thất bảo.
Du lịch lầu quán trùng điệp, cung điện liên miên.

Việc tôi tự mình chứng pháp quán đại không này, tôi có ghi lại như sau:
Tôi đến thế gian này là vì việc gì? Thật ra một việc cũng chẳng có, một vật cũng chưa từng có, kho tàng trí huệ như biển, thật ra đều ở trong tự tính, hoàn toàn là tự tại vô ngại, là vì chẳng có cách nào mà sử dụng đó! Muốn đạt được chân lý này thì phải vô niệm, vô niệm thì mới được.

Thụy tướng thần quang, thậm chí là kim thân kim quang lấp lánh, đều là tướng bên ngoài. Tất cả Phật Bồ Tát hóa hiện cũng là tướng bên ngoài, chỉ là khéo dùng chân tướng hóa thành thân Phật, đều là dùng làm phương tiện giáo hóa mà thôi, vì lợi lạc chúng sinh, cùng sống an lành nên gọi là khéo.

Nếu muốn đắc chân lý thực tướng, pháp duyên ở đó, quán thông viên dung, hiểu thấu mục đích quy về, chính là vô trí cũng vô đắc, vô tu vô chứng, bất sinh bất diệt, là đệ nhất nghĩa đế.

Có một bài kệ:
*Pháp do nhân duyên sinh.
Tôi nói tức là không.
Cũng chỉ là tên giả.
Cũng là nghĩa trung đạo.*

Linh hồn xuất khiếu là pháp do nhân duyên sinh, là ngoại tướng.
Quán đại không là thành Phật, là thành quả viên mãn tột cùng.


### 05. Chí thượng đảnh lễ quán


Trong quá khứ, Liên Sinh Hoạt Phật từng dạy mọi người phương pháp đảnh lễ ý thức chí thượng. Và ý thức vũ trụ chí thượng thật ra là một tên gọi chung.

Có hành giả Mật tông hỏi tôi làm sao mới có thể lễ hết tất cả Phật Bồ Tát, có được sự gia trì của tất cả Phật Bồ Tát chư tôn. Câu hỏi này rất hay, trong Mật tông, có người thực hành pháp đại lễ bái, cũng tức là niệm một bài kệ rồi chắp tay đại lễ bái một lần, đảnh lễ chí thượng như vậy cho đến khi đọc hết bài kệ thì đại lễ bái mới hoàn thành. Sau đó làm một lần quán tưởng Tam Bảo hóa quang đi vào thân hành giả thì càng cát tường viên mãn.

Trong cuốn "Bí mật trong Chân Phật Mật Pháp" từng nói, pháp đại lễ bái có thể tiêu nghiệp chướng, có thể sản sinh đại Phật duyên, có thể vì cung kính lễ bái mà dừng tham sân si, là pháp kiền thành cao nhất, lại còn phù hợp với yoga vận động thân thể. Sau đó nhờ Phật Bồ Tát chư tôn phóng quang gia trì mà tiêu trừ nghiệp chướng nhiều kiếp, cuối cùng đạt đến sự thanh tịnh của thân khẩu ý, chứng đắc tự thân phóng quang.

Tổ sư Mật tông - đại sư Bảo Phổ Hỷ chính là một thành tựu giả thực tu chí thượng đảnh lễ quán. Bây giờ tôi xin viết ra bài kệ phổ lễ ý thức chí thượng như sau:

**Đảnh lễ truyền giáo giáo chủ Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật:**
Cung kính trước bậc Câu Tri Viên Mãn Diệu Thiện
Thỏa mãn mong nguyện của vô lượng chúng sinh
Với tâm chân thực và quan kiến đúng đắn
Thành kính đảnh lễ bậc tôn chủ Thích Ca Mâu Ni.

**Đảnh lễ Tướng tông bổn tục chư tôn:**
Di Lặc, Vô Trước, Thế Thân, Giải Thoát Quân [Maitreya, Asanga, Vasubhandu, Vimuktisena]
Những bậc thầy hùng biện đáng kính đanh thép và nhu hòa
Sư Hiền Nhị, Cô Tát Lý, Kim Châu tôn [Haribhadra, Kusali, Gserlinpa]
Thành kính đảnh lễ các tổ sư truyền thừa quảng hành vĩ đại.

**Đảnh lễ Tính tông bổn tục chư tôn:**
Văn Thù Sư Lợi và thánh Long Thụ vô song [Manjusri, Nagarjuna]
Chí tôn Nguyệt Xứng và Ma Ha Vô Ngại Cưu [Chandrakirti, Maha Kumarajiva]
Giác Tăng, Hộ Ý hai vị cha - con thần thánh
Thành kính đảnh lễ các vị tổ sư với quan kiến thâm sâu.

**Đảnh lễ Mật tông bổn tục chư tôn:**
Đại bi thiện thệ thắng giả Trì Kim Cương [Vajradhara]
Thượng quán Tuyển La Oát và Na Lão Oát
Thượng đức Nhung Bỉ Oát và Atisa
Thành kính đảnh lễ các vị tổ sư đã trực tiếp trao truyền.

**Đảnh lễ các Thượng sư trực tiếp truyền dạy pháp:**
Liên tục từ bi ban cho minh pháp
Kinh tục luận nghĩa giáo lệnh tuyên thị
Truyền thụ giới luật quán đảnh gia trì
Thành kính đảnh lễ các bậc Thượng sư chân thực.

**Đảnh lễ tất cả thiện tri thức:**
Có thể thấy tất cả sự thật của giáo lý
Thực hiện phương tiện giải thoát siêu việt nhờ thiện duyên
Vì từ bi mà dạy các phương tiện thiện xảo
Thành kính đảnh lễ các thiện tri thức đã khai sáng.

**Đảnh lễ Phật hội thánh tôn:**
Xem người tu hành như đứa con yêu
Như bóng theo hình không bao giờ lìa bỏ
Thề nguyện ban cho thành tựu tối thượng
Thành kính đảnh lễ trước các vị thánh đức Phật hội.

**Đảnh lễ ngũ bộ Thiện Thệ:**
Tuy pháp thân như hư không không phân biệt
Sắc thân như cầu vồng lần lượt hiển quang minh
Từ trong trí huệ vô thượng đắc tự tại
Thành kính đảnh lễ trước ngũ bộ Thiện Thệ tôn. [Sugatas]

**Đảnh lễ Thất Phật Thế Tôn:**
Duy Vệ, Thức Khí, Tất Bô Ba [Vipasyin, Sikhin, Visvabhu]
Lưu Tôn, Kim Tịch và Ẩn Quang [Krakucchandra, Kanakamuni, Kasyapa]
Thích Ca Mâu Ni vị trời trong các vị trời
Thành kính đảnh lễ bảy vị Phật dũng mãnh. 

**Đảnh lễ tám vị Thiện Thệ:**
Thiện Danh, Bảo Nguyệt, Kim Sắc tôn
Vô Ưu, Pháp Lôi, Thắng Huệ Phật
Dược Sư, Thích Ca nguyện viên mãn
Thành kính đảnh lễ tám vị Thiện Thệ.

**Đảnh lễ ba mươi lăm vị Phật:**
Ánh sáng đại bi như mặt trời phổ chiếu
Tiêu tan tội chướng, sa đọa khổ đau
Dạy và chỉ dẫn con đường đạo đức tốt lành,
Thành kính đảnh lễ ba mươi lăm Phật hội.

**Đảnh lễ hiền kiếp thiên Phật:**
Đồng tâm phát nguyện thật hy hữu
Hành đạo thời-không đều ngang nhau
Trong một hiền kiếp đạt thành quả
Viên mãn nghìn Phật xin đảnh lễ.

**Đảnh lễ thập phương Phật:**
Minh giám thập phương các chúng sinh
Thập phương truyền hết diệu pháp luân
Cứu tế thập phương mọi hữu tình
Thập phương chư Phật xin đảnh lễ.

**Đảnh lễ thập phương pháp:**
Diệt được tập đế các vô minh
Trừ hết khổ căn của cõi trần
Trí huệ Phật Mẫu đến bỉ ngạn
Diệu pháp tam thừa xin đảnh lễ.

**Đảnh lễ bát đại Bồ Tát:**
Ma Tồ Quách A, Kim Cương Thủ [Manjughosa (Manjusri), Vajrapani]
Quan Âm, Địa Tạng, Trừ Cái Chướng [Avalokitesvara, Ksitigarbha, Vishkambi]
Từ Thị, Phổ Hiền, Hư Không Tạng [Maitreya, Samantabhadra, Akasagarbha]
Bát đại Bồ Tát xin đảnh lễ.

**Đảnh lễ thập phương tăng:**
Diệu âm cứu độ bí mật chủ
Như Quan Thế Âm quảng đại hành
Vui với trách nhiệm độ chúng sinh
Đại thừa tăng chúng xin đảnh lễ.

**Đảnh lễ Duyên Giác:**
Tu quán thập nhị nhân duyên pháp
Xưa nay Duyên Giác phân trí quả [Pratyeka-Buddhas]
Không theo tri thức tự ngộ chứng
Các thánh Duyên Giác xin đảnh lễ. 

**Đảnh lễ A La Hán:**
Bao đời sống cùng diệu tri thức
Hòa hợp giáo pháp đã từ lâu
Lưu thông Phật pháp luôn ủng hộ
Thập phương La Hán xin đảnh lễ. [Arhats]

**Đảnh lễ Không Hành chư tôn:**
Sống nơi cao vời của Không Hành
Thần thông như ý đầy uy lực
Hiền từ coi hành giả như con
Đảnh lễ ba xứ Không Hành hội.

**Đảnh lễ Hộ pháp chư tôn:**
Đắc thần thông lực đại biến hóa
Thành tựu theo đúng ý chỉ Phật
Bảo vệ nghiêm cẩn kho tàng pháp
Hộ giáo Kim Cang xin đảnh lễ.

**Đảnh lễ chúng hội điền:**
Nghiêng về hư không Phật Bồ Tát
Tất cả chúng sinh chúng con đây
Phân thân trở thành muôn vi trần
Tất cả các thời xin đảnh lễ.

**Thân khẩu ý đảnh lễ:**
Trong tất cả thập phương thế giới
Tất cả tam thế người - thầy - con
Nay con xin lễ hết tất cả
Đều bằng thanh tịnh thân khẩu ý.

**Thân đảnh lễ:**
Thân như cõi Phật muôn vi trần
Tất cả Như Lai con đều lễ
Đều dùng tâm ý đối chư Phật
Làm theo đại nguyện của Phổ Hiền.

**Khẩu đảnh lễ:**
Trong biển công đức nhiều vô tận
Dùng mọi âm thanh biển công đức
Tuyên truyền Như Lai biển công đức
Con thường ca ngợi bậc Thiện Thệ. 

**Ý đảnh lễ:**
Mỗi hạt cát đều là cõi Phật
Chư Phật Phật tử ngồi trong đó
Như thế toàn bộ các pháp giới
Con tin chư Phật đều lấp đầy.

**Hồi hướng:**
Lễ bái cúng dường và sám hối
Tùy hỷ công đức và khuyên thỉnh
Hết thảy công đức con tích tập
Đều xin hồi hướng cho bồ đề.

Xướng kệ 25 lần.
Đảnh lễ 25 lần.

Phổ lễ viên mãn. Sau đó xướng hồi hướng. Tĩnh tọa quán tưởng - hành giả Mật tông nhắm mắt thanh lọc tâm, ngồi thế kiết già, lưỡi chạm lên hàm trên, điều hòa hơi thở cho thật mảnh, tay kết pháp giới định ấn. Đầu tiên quán tưởng từ tâm mình có một điểm ánh sáng trắng tính linh [nội tâm], dần dần biến thành một nguyệt luân quang.

Hành giả Mật tông lại quán tưởng trong hư không có những điểm ánh sáng trắng như sao dày đặc, từng chấm sao sáng chính là thập phương Phật Bồ Tát chư tôn, hành giả Mật tông chặt chẽ vận chuyển chữ "Cha" tiếng Phạn để tập hợp chủng tính của Phật Bồ Tát trong hư không. 


![Chữ Cha](/img/img_d72afb8fadf3b43bf983b4b14ab29dd4.png)


Tập trung Phật Bồ Tát chư tôn hóa thành ánh sáng trắng lớn, giáng xuống, đi vào từ Phạn huyệt, dội xuống đỉnh đầu và đi vào tâm, hòa tan vào cùng với nguyệt luân quang trong tim mình. 

Hoa sen trong tim của hành giả Mật tông nở ra, cảm giác vô cùng vui vẻ, lúc này tự cảm thấy thân thể bay lên không, ngồi ngay ngắn trên biển mây.

Thập phương Phật Bồ Tát chư tôn, mỗi vị đều có dòng chảy pháp của công đức bảo tính gia trì, giống như thiên nữ rắc hoa khiến hoa rơi xuống bay lả tả. 

Sau khi xuất định, tụng Kim Cang Tát Đỏa chân ngôn:
"Ôm wa-zư-la sa-ta-wa hùm." (108 biến)
Kết ấn Kim Cang Tát Đỏa.
Tay trái nắm lại đặt ở eo, tay phải nắm lại giữ trước ngực, chuyển ba vòng.
Sau đó hồi hướng:
Mọi công đức phổ lễ. 
Chuyển hoán cho hữu tình.
Tự thân thành Bổn tôn.
Vô lượng khắp pháp giới.

Cát tường viên mãn.

🌟

Tu trì chí thượng đảnh lễ quán đắc chứng thì rất thần diệu, người thành tựu của pháp quán này nếu gặp nhà cháy, chỉ cần nhắm mắt lại, lập tức quán tưởng trên thủ ấn của mình một con rồng xanh, há miệng ra, miệng phun ra nước của bốn biển, dập tắt đám cháy lớn, lửa sẽ lập tức lụi đi và dập tắt.

Người thành tựu pháp quán này nếu gặp lũ bất ngờ, sông hồ tràn bờ, hành giả Mật tông tay kết ấn Kim Cang Tát Đỏa, miệng tụng chân ngôn Kim Cang Tát Đỏa, thủ ấn quay ba lần, mệnh lệnh sóng nước khơi thông, sóng nước liền chảy ngược lại rút đi, sóng lớn sẽ nhanh chóng yên lại.

Người thành tựu chí thượng đảnh lễ quán đương nhiên có sắc lệnh trên người, cũng tức là có được pháp chỉ của Chân Phật, có thể hô hoán gió mưa sương tuyết, trong vô hình di chuyển sông hồ, có sức mạnh sai khiến quỷ thần, phân thân biến hình, vì pháp giới mênh mông, có thể chứng đắc thì muốn lửa tắt lửa sẽ tắt, muốn nước rút nước sẽ rút. Hành giả Mật tông vào mùa hè không cảm thấy nóng, vào mùa đông không cảm thấy lạnh.

Đương nhiên, về cơ bản đều có thể đắc được tiêu tai giải ách, tránh tà tiêu nghiệp, kéo dài tuổi thọ, trường sinh bất lão.
Sau cùng là tức thân thành Phật, rong chơi khắp vũ trụ.

Từng có một vị Hoạt Phật đến chỗ tôi.
Từ trong Chân Phật Mật Uyển, tôi lấy ra một pháp chỉ đưa cho vị Hoạt Phật đó xem kĩ. 
Ông ấy cảm thấy hết sức kinh ngạc, bởi vì đây là thứ mà đại Lama áo đỏ ở cung điện Potala mới có, thậm chí Hoạt Phật bình thường cũng không thể có được.

Hoạt Phật hỏi:
"Mua ở đâu vậy?"
Tôi cười cười không đáp.
Hoạt Phật lại hỏi:
"Là vị Lama nào tặng vậy, nhưng pháp chỉ này không thể tùy tiện tặng cho người khác được!"
Tôi nói với Hoạt Phật:
"Tôi muốn cái gì thì sẽ có cái đó."
Vị Hoạt Phật này cuối cùng đã hiểu ra, Hoạt Phật nói:
"Thì ra ngài từ trong hư không, với tay ra ngoài nghìn vạn dặm mà lấy được."
Tôi cũng lại cười cười không đáp.

Liên Sinh Hoạt Phật thật lòng thật sự nói với mọi người, một người chứng đắc chí thượng đảnh lễ quán, vì có được pháp chỉ, tự nhiên có thể sai khiến quỷ thần, đương nhiên việc sai khiến quỷ thần này không phải là hô hoán gọi tới gọi lui, mà là trong đầu nghĩ đến cái gì thì cái đó sẽ đến. 

Đây là một việc vô cùng ảo diệu, bởi vì quỷ thần sẽ phục vụ bên cạnh bạn, khi Liên Sinh Hoạt Phật muốn nhìn thấy cung điện Potala, những quỷ thần đó liền đem toàn bộ diện mạo của cả cung điện Potala hiện lên trước mặt tôi, tòa kiến trúc hùng vĩ chiếm mười ba vạn mét vuông ấy hiện lên trước mắt tôi, bất kể là tòa cung điện đỏ hay tòa cung điện trắng, tôi đều có thể chiêm ngưỡng từng tòa, những bức vẽ trên tường, tư thế của các bức điêu khắc Phật, thangka, pháp khí và trân bảo, đồ cổ hiếm có, lần lượt hiện lên trước mắt tôi.

Tôi tỉ mỉ tham quan Đức Dương Hạ Điện. 
Tôi nhìn thấy pháp chỉ bằng ngọc xanh phát quang.
Thế là trong tâm tôi nghĩ đến nó.
Liên Sinh Hoạt Phật chỉ là nghĩ đến pháp chỉ ngọc xanh ở Đức Dương Hạ Điện ở trong đầu mà thôi, kết quả là, trong Chân Phật Mật Uyển đã xuất hiện pháp chỉ ngọc xanh, pháp chỉ ngọc xanh này từ đâu bay đến? Và bay đến lúc nào? Đây chẳng phải là điều mà người bình thường có thể tưởng tượng được.

Chí thượng đảnh lễ quán có lẽ là ý niệm cung kính chu toàn nhất trong vũ trụ, đã kể tên toàn bộ ý thức chí thượng của cả vũ trụ để kính chào.

Quán tưởng của chí thượng đảnh lễ quán vô cùng quan trọng, là quán tưởng to lớn như biển mây, như hoa đầy hư không, các vì sao hợp nhất xoay chuyển thành dòng chảy pháp lớn, quán đảnh cho thân tâm hành giả giống như hoa rơi.  

Quán tưởng của chí thượng đảnh lễ quán thành tựu thân của Kim Cang Tát Đỏa, có pháp chỉ trên người, đắc ngũ đại bí mật nhãn, có thể thông một pháp cho đến vạn pháp.
Sự đắc chứng này chẳng phải tầm thường.
Thế giới này vĩnh viễn tồn tại, nhưng nhân loại thì đã thay đổi bộ mặt. 
Liên Sinh Hoạt Phật năm trăm năm một lần trở về.
Người trên đời này hà tất lại một lần nữa hiểu lầm tôi chứ!


### 06. Hộ thế hộ quốc quán


Tu trì pháp này có thể bảo hộ sự an ninh của thế giới, có thể bảo hộ sự an ninh của nhân dân trong một nước, đây là đại pháp số một của nhập thế, vốn là một trong các đại pháp được giữ bí mật của Liên Sinh Hoạt Phật. (Pháp giản lược từng viết trong cuốn sách "Mật tông Yết ma pháp".)

Trình tự của nghi quỹ tu trì như sau:

1. Nhập đàn, niệm chú thanh tịnh.

2. Niệm chú triệu thỉnh.

3. Chân Phật đại lễ bái pháp.

4. Kết ấn cúng dường, dâng cúng dường. 

5. Niệm chú Tứ quy y: "Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê."

6. Mặc giáp hộ thân.

7. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (3 biến)

8. Quán Phật minh, vỗ tay đánh thức.

9. Tay kết ấn Nhân Vương hộ quốc, thế ấn như sau: 
Tay phải ngón cái đè ngón trỏ và ngón út, giống như tạo thành vòng tròn, giơ thẳng ngón giữa và ngón áp út. 
Tay trái ngón cái đè lên ngón trỏ và ngón út, giống như tạo thành vòng tròn, giơ thẳng ngón giữa và ngón áp út. 
Hai tay tựa vào nhau, ngón giữa và ngón áp út chạm vào nhau, như vậy là thành ấn. (đặt trước ngực)

10. Quán tưởng.

Quán tưởng thứ nhất: toàn bộ trái đất hiện lên màu vàng kim. Nếu muốn cứu nước, có thể quán tưởng bản đồ của một đất nước, hiện lên một vùng màu vàng kim. 
Niệm chân ngôn: "Ôm. Ben-za la-pa u-mi-a. Hùm." (Chú củng cố đại quyền kim địa.)

Quán tưởng thứ hai: đại quyền kim địa này có núi Thiết Vi bao vây xung quanh. 
Niệm chân ngôn: "Ôm. Ben-za la-la-hưa. Ka-hưa-a. Hùm."

Quán tưởng thứ ba: theo thứ tự quán tưởng là, ngọn núi vua ở trung ương là núi Tu Di, Đông Thắng Thần Châu, Nam Chiêm Bộ Châu, Tây Ngưu Hạ Châu, Bắc Câu Lư Châu. Thân Châu. Thắng Thân Châu. Phật Châu. Tha Phật Châu. Động Đãng Châu. Thượng Hành Châu. Lại Thanh Châu. Lữ Liệt Thanh Châu. Bảo Sơn. Gia Ý Đậu Thụ. Ca Mục Đạt Lý Ngưu. Tự Sinh Miêu. Thâu Bảo Như Ý Bảo. Nữ Bảo. Nam Bảo. Tượng Bảo. Mã Bảo. Tướng Quân Bảo. Bảo Tạng Bình. Hy Thiên Nữ. Mạn Thiên Nữ. Ca Thiên Nữ. Vũ Thiên Nữ. Hương Thiên Nữ. Hoa Thiên Nữ. Đăng Thiên Nữ. Đồ Thiên Nữ. Nhật Cung. Nguyệt Cung. Bảo Cái. Phương Thắng Tràng. Trong đó đầy kín thiên nhân, ví dụ như Tứ Đại Thiên Vương và chúng thần Phạm Thiên, tất cả cảnh tượng đức hạnh và phú quý đều viên mãn không thiếu. 

(Theo cách quán tưởng thế giới này, đây vốn là quán địa lý của Ấn Độ và Tây Tạng cổ đại. Trâu, thực vật, voi, ngựa đều tượng trưng cho báu vật đầy đủ sung túc. Hành giả Mật tông hiện đại tu trì pháp Hộ thế hộ quốc quán, có thể lấy ngọn núi vua ở trung ương là núi Himalaya, sau đó quán tưởng châu Á, châu Mỹ, châu Âu, châu Phi, châu Úc… Hoặc nếu đặc biệt hộ trì một đất nước nào đó thì có thể quán tưởng những hiện tượng giàu có phồn vinh và an bình, hoặc là hình thành nên đất nước màu vàng kim. Tứ Đại Thiên Vương giáng xuống, lọng quý phóng quang, cờ phướn thắng lợi phóng quang.)

Quán tưởng thứ tư: Ngũ Phương Bồ Tát giáng lâm, Ngũ Bồ Tát biến hóa thành mây ngũ sắc, che chở cho quốc thổ, phía Đông là mây màu lam, phía Tây là mây màu đỏ, phía Bắc là mây màu lục, trung ương là mây màu trắng, phía Nam là mây màu vàng. Năm đám mây cát tường này bảo vệ bên trên thế giới và lãnh thổ của một quốc gia.

11. Niệm chú:
"Na-mô la-ta-na-ta la-yê-yê. Na-mô a-li-phây lu-chưa-na-yê. Ta-tha-niê-tô-yê a-la-hưa-ti. San-meo-san mây-tô-yê. Na-mô a-li-yê. San-man-tô pa-na-la-yê. Mu-ti-sa ta-pô-yê. Ma-hưa-lan hăng-pô-yê. Ma-hưa-ka-lu-ni-ka-yê. Ta-ni-yê-tha. Chư-rang-na-pô-la-ni-pi. Ưa-cha-yê-câu-sư. Pô-la-ti pô-na-pô-ti. Sa-pô-mây thua-lu-chi-tha. Yu-wo-pa-li ni-sư-pa-ninh. Yen-pi-la-nu la-pô-ưa-xi. Ti-li-yê-thưa-pô. Pa-li-ni-sư-pa-ninh. Mu-ti-chư-tô san-rưa-na-ni. Sa-pô-pi-sai ka-pi-sưa-chi-ti. Ta-mô-pô-ưa la-san-pu-ti. A-mu-ka-sư la-pô-ninh. Ma-hưa san-man-tô pa-na-la-pu-mi. Niê-li-yê-ti. Wây-yê-chia-la-nu. Pa-li-pô-la-pô-ni. Sa-pô-xi-thua. Na-mô sai-chi-li-ti. Sa-pô-mu-ti-sa-ta-pô. San-rưa-na-ni. Pô-ưa-pô-ti. Mây-thua-mơ-ti. A-la-mi-ka-la-mi. A-la-nu-ka-la-mi. Ma-hưa-pô-la. Chi-rang. Pô-la-mi-ti pô-pô-hưa."

12. Cửu tiết Phật phong. Nhập Tam ma địa.

Tam ma địa này tức là quốc thổ sẽ thanh tịnh, biến hóa thành chúng hội Phật quốc của các Thượng sư, Phật Thích Ca Mâu Ni và quyến thuộc có phúc đức. 

Tam ma địa này là đại hải hội tam thời tam hội của thân khẩu ý thanh tịnh, là mandala của Phật quốc thượng thắng, tương đương với sự rộng lớn và đầy ắp của Phổ Hiền Hương Vân. 

Tam ma địa này là quốc thổ mà Tứ Đại Thiên Vương, Ngũ Đại Bồ Tát ban ơn phóng quang bao bọc che chở.

13. Xuất định, tụng tán:

Mặt đất thơm hương cỏ hoa trang nghiêm vi diệu.
Tu Di tứ châu nhật nguyệt tô điểm trang nghiêm.
Bồ Tát Thiên Vương phóng quang ban gia hộ.
Chỉ mong hữu tình đều đi trong cõi thanh tịnh.

14. Hồi hướng.

15. Đại lễ bái. Rời khỏi đàn thành.

Cát tường viên mãn.

🌟

Về mật đàn của Hộ thế hộ quốc quán thì tương đối đặc biệt, chủ tôn ở trung ương là Kim Cang Ba La Mật Bồ Tát, bên trái phải thờ phụng Đế Thích Thiên (Ngọc Hoàng Đại Đế), bên phải là Phạm Ma Thiên. Ngoài ra ở bốn phía phải thờ thêm mười sáu thiện thần. Ngũ Phương Bồ Tát là Đông phương Kim Cang Thủ Bồ Tát, Nam phương Kim Cang Bảo Bồ Tát, Tây phương Kim Cang Lợi Bồ Tát, Bắc phương Kim Cang Dược Xoa Bồ Tát, trung ương Kim Cang Ba La Mật Đa Bồ Tát. 

Liên Sinh Hoạt Phật tu pháp này từng đến một cảnh giới.
Tôi đi dạo trong thắng cảnh kỳ diệu này, đột nhiên nhìn thấy một vị thiên thần cực to lớn tay cầm một viên minh châu to đi đến, là đại minh châu, phóng ánh sáng đỏ. 
Vị thần to lớn nói: "Viên ngọc này đại diện cho chúng sinh, nay gửi ở chỗ ngài, do ngài hộ trì, cần giữ gìn cẩn thận."

Vị thần to lớn muốn tôi nhìn viên bảo châu, quả nhiên tôi nhìn thấy nó sáng rực lên ánh sáng đỏ lấp lánh, bên trong bảo châu có vô số hóa nhân đang đi lại, vô số hóa nhân đó như các điểm ảnh, không thể đếm xuể. 

Vị thần to lớn nói với tôi: "Liên Sinh y theo giáo hóa của Như Lai mà thực thi, lợi lạc chúng sinh, chắc chắn chúng sinh có thể cùng sống an lành, đây là đạo lý chắc chắn."
"Nhân duyên của tôi ra sao?"
"Ở ẩn hộ trì mà thôi." - Vị thần to lớn nói: "Thiên hạ không ai biết lai lịch của ngài, năm trăm năm giáng sinh trên đời một lần, người người suy đoán lai lịch của ngài, nhưng không ai biết hết."
"Sự nghiệp và công danh đời này thì sao?"
"Trên đời có sự nghiệp gì? Có công danh gì? Những cái này chẳng qua là một giọt nước mà thôi."
"Viên minh châu này để ở chỗ nào?"
"Ngài muốn độ hóa chúng sinh về Tây phương thì đưa viên minh châu này đến Cực Lạc thế giới, pháp duyên cuộc đời này của ngài là ở đó."

Lời nói chưa dứt, vị thần to lớn đã biến mất. Chỉ thấy một vệt ánh sáng đỏ bao bọc lấy viên đại minh châu đi về hướng Tây. 

Liên Sinh Hoạt Phật tu trì Hộ thế hộ quốc quán, khi nhập vào Tam ma địa, du hành mà biết đến cảnh giới này. Vì thế, tôi tu trì Hộ thế hộ quốc quán là thuận theo nhân duyên "ở ẩn hộ trì" của tôi mà thôi. Bản thân tôi tuy tập Mật pháp nhưng thường xuyên trì niệm âm thanh A Di Đà Phật, tôi còn dạy hát Nam Mô A Di Đà Phật và bài tụng A Di Đà Phật nữa, mỗi lần đồng tu đều tụng Phật hiệu của A Di Đà Phật, chỉ mong âm thanh hòa nhã này có quyền lực khéo léo độ hóa chúng sinh vãng sinh cảnh giới Tây phương.

Liên Sinh Hoạt Phật tuy hoằng dương Chân Phật Mật Pháp nhưng quyết không kỳ thị các tông phái khác. Bởi vì biết rằng hồng quang minh châu bay về Tây phương Cực Lạc thế giới, vì thế trong tu trì Mật pháp, tôi vẫn muốn mọi người tụng niệm Phật hiệu của A Di Đà Phật, cũng khuyên người ta mau tu tịnh thổ, đây là Hiển-Mật một nhà, tâm là như nhau.

Từng có đệ tử thấy tôi trì Phật hiệu.
Một tiếng A Di Đà Phật liền có một viên minh châu màu đỏ từ trong miệng bay ra, và bên trong viên minh châu lại có một vị A Di Đà Phật đang ngồi ngay ngắn.
Mười tiếng A Di Đà Phật thì có mười viên minh châu màu đỏ nối liền nhau, và trong mỗi một viên minh châu đều có một vị A Di Đà Phật.
Đây đúng là đại ứng nghiệm.

Tu tập Hộ thế hộ quốc quán, chính là tấm lòng từ bi cứu đời, cũng chính là tiếp tục thắp lên ngọn đèn sáng của Phật pháp, khiến pháp luân thường chuyển ở thế gian. Người chứng ngộ tu trì pháp này sẽ có được duyên chúng sinh, khiến chúng sinh bốn phương đều tập trung trước pháp tọa của người đó, hơn nữa sự rầm rộ ấy khiến cho thiên hạ chấn động, giống như dựng lên ngọn cờ pháp to lớn, khiến mười phương đều tràn trề. 

Người tu tập Hộ thế hộ quốc quán sẽ có được phú quý lớn nhất, vì tu Mật pháp như vậy, những vương công giàu sang quyền thế đều sẽ đem vàng bạc gấm vóc tài bảo đến cúng dường pháp tọa, có thể nói là pháp hóa nhân duyên, có được sự bố thí tài vật lấp đầy tất cả không gian.

Tu tập Hộ thế hộ quốc quán, vì nhân duyên tấm lòng rộng lượng, học vấn và tu dưỡng mỗi ngày một tăng, miệng nói như nước chảy, lời như châu ngọc, lời nói hợp đạo lý, rộng lượng khiêm nhường, có tài hùng biện vô ngại, tự nhiên đắc được diệu đế, có thể gõ đại pháp chuông, thổi đại pháp loa.

Hành giả tu tập Hộ thế hộ quốc quán, tài danh đẹp đẽ của họ sẽ gây chấn động thiên hạ, pháp tọa cao quý của họ tự sẽ được quốc vương triệu kiến, được đối đãi đặc biệt, phong làm vương sư. 

Và hành giả Mật tông thì nên "bách tính khốn đốn thời mạt thế, tranh thủ thời cơ cứu vãn người dân đang chìm trong nước lửa, như vậy vạn dân được nhờ, nương dựa ẩn náu trong Phật pháp, chúng sinh được độ."

Trong mười pháp giới, pháp Hộ thế hộ quốc quán này có thể thành Phật, có thể độ chúng sinh, việc thiện có thể làm, việc ác có thể dừng, đây là đại Phật pháp cứu đời.

Tu chứng mật pháp này thì cực kì quang vinh.


### 07. Tứ nhiếp cát tường quán


(Mật pháp này do Sakya Chứng Không Lama truyền thụ.)

Quán tưởng tứ nhiếp chỉ dùng bốn chữ Phạn để triệu thỉnh, nhưng quán đảnh sau khi biến hóa Bổn tôn rất nhiều, hễ khi nào quán đảnh đều phải lần lượt quán tưởng chư tôn, dựa theo thứ tự mà quán tưởng cũng không phải là dễ.

Bí quyết quán tưởng quán đảnh vẫn cần Kim cương Thượng sư chân chính giảng giải tâm yếu khẩu quyết.

Tu tập tứ nhiếp cát tường quán có thể đạt đến ba cảnh giới lớn:
Thắng giải — đắc tất cả đại trí huệ.
Hoan hỷ — giải thoát tất cả phiền não. Đắc thường lạc.
Kiên cố — đạo tâm không thoái lui, sống vĩnh viễn.

Tứ nhiếp cát tường quán trong Mật tông Tây Tạng mà nói cũng là một trong các đại pháp, có Hoạt Phật Lama chuyên tu pháp này, cuối cùng đã đắc cảnh giới cao nhất là hóa thân cầu vồng.

Liên Sinh Hoạt Phật đặc biệt viết trình tự quán tu của pháp này ra, đây là pháp duyên thù thắng, là đại công khai diệu pháp tối thắng.

Tứ nhiếp chính là bốn chú tự, tức là bốn chữ "Cha Hum Ban Ho". 
Khi hành giả Mật tông đã quán Không rồi, lập tức có thể từ chủng tử tự của Bổn tôn biến hóa chính mình thành Bổn tôn. Lúc này hình thành hai thân:
Chính mình là Bổn tôn nhân địa, còn gọi là Bổn tôn samaya.
Bổn tôn vũ trụ là Bổn tôn quả địa, còn gọi là Bổn tôn trí huệ, còn gọi là Bổn tôn của pháp thân nơi tịch tĩnh.

Đây chính là:
Nhập ngã — Bổn tôn quả địa tiến vào Bổn tôn nhân địa.
Ngã nhập — Bổn tôn nhân địa tiến vào Bổn tôn quả địa.

Hành giả Mật tông đạt đến cảnh giới quán không rồi thì niệm chú tứ nhiếp:
Cha — biến hóa chính mình thành Bổn tôn samaya.
Hum — triệu thỉnh Bổn tôn trí huệ tiến vào Bổn tôn samaya.
Ban — Bổn tôn samaya và Bổn tôn trí huệ hòa hợp không có khác biệt.
Ho — sau khi hòa hợp không khác biệt, đắc được đại thắng giải, đại hoan hỷ, đại kiên cố.


![image](/img/img_88fc73e9592dcf13b6ed77bf3546c164.png)


Niệm chú âm tứ nhiếp này tức là hợp thể ý thức của mình và ý thức vũ trụ, pháp này chính là pháp tứ nhiếp của Tạng mật.

Khi chính mình biến hóa thành Bổn tôn và hợp thể rồi thì phải quán đảnh cát tường. Quán tưởng quán đảnh này là, trước tiên quán tưởng chủng tử tự phóng quang, trên chiếu đến 33 cõi trời và bốn Thánh giới, dưới chiếu đến sáu cõi phàm và ba đạo ác, ánh sáng đó lại phản hồi vào trong chủng tử tự, đây là triệu thỉnh vĩ đại nhất.

Tứ nhiếp cát tường quán thứ nhất do Ngũ Phương Phật quán đảnh:
(1) Trung ương Tỳ Lô Giá Na Phật. (thân màu trắng)
(2) Đông phương A Súc Phật. (thân màu lam)
(3) Nam phương Bảo Sinh Phật. (thân màu vàng)
(4) Tây phương A Di Đà Phật. (thân màu đỏ)
(5) Bắc phương Bất Không Thành Tựu Phật. (thân màu lục)
Ngũ Phương Phật này mỗi vị đều phóng ánh sáng ngũ sắc, dùng chân ngôn quán đảnh thọ ký.

Tứ nhiếp cát tường quán thứ hai do Ngũ Phương Phật Mẫu quán đảnh:
(1) Trung ương Phật Nhãn Phật Mẫu. (thân màu trắng)
(2) Đông phương Ma Ma Cơ Phật Mẫu. (thân màu lam)
(3) Nam phương Bảo Kim Cang Phật Mẫu. (thân màu vàng)
(4) Tây phương Bạch Y Phật Mẫu. (thân màu đỏ)
(5) Bắc phương Lục Độ Mẫu. (thân màu lục)
Phật Mẫu của Ngũ Phương Phật này trên tay mỗi vị đều cầm bảo bình, dùng nước của bảo bình phóng quang đến quán đảnh cho hành giả Mật tông.

Tứ nhiếp cát tường quán thứ ba do mười đại Minh Vương và mười đại Minh Phi đến quán đảnh:
(1) Đại Uy Đức Kim Cang và minh phi — thân màu xanh, ba mặt sáu tay, mặt ở giữa màu xanh, mặt bên phải màu trắng, mặt bên trái màu đỏ. Hai tay ở trên đặt chéo nhau, tay phải cầm dao lưỡi liềm, tay trái cầm thiên linh cái, hai tay ở giữa thì tay phải cầm báu vật, tay trái cầm hoa sen, hai tay ở dưới thì tay phải cầm chùy, tay trái cầm kiếm, đầu đội Trung ương Tỳ Lô Giá Na Phật để làm trang nghiêm.

(2) Vô Năng Thắng Minh Vương và minh phi — thân màu trắng, ba mặt sáu tay, mặt ở giữa màu trắng, mặt bên phải màu xanh, mặt bên trái màu đỏ. Hai tay ở trên đặt chéo nhau, tay phải cầm dao lưỡi liềm, tay trái cầm thiên linh cái, hai tay ở giữa thì tay phải cầm báu vật, tay trái cầm hoa sen, hai tay ở dưới thì tay phải cầm gậy, tay trái cầm kiếm, đầu đội Đông phương A Súc Phật để làm trang nghiêm.

(3) Mã Thủ Minh Vương và minh phi — thân màu đỏ, ba mặt sáu tay, mặt ở giữa màu đỏ, mặt bên phải màu xanh, mặt bên trái màu trắng. Hai tay ở trên đặt chéo nhau, tay phải cầm dao lưỡi liềm, tay trái cầm thiên linh cái, hai tay ở giữa thì tay phải cầm báu vật, tay trái cầm bánh xe, hai tay ở dưới thì tay phải cầm hoa sen, tay trái cầm kiếm, đầu đội Tây phương A Di Đà Phật để làm trang nghiêm.

(4) Cam Lộ Đồ Minh Vương và minh phi — thân màu xanh, ba mặt sáu tay, mặt ở giữa màu xanh, mặt bên phải màu trắng, mặt bên trái màu đỏ. Hai tay ở trên đặt chéo nhau, tay phải cầm dao lưỡi liềm, tay trái cầm thiên linh cái, hai tay ở giữa thì tay phải cầm báu vật, tay trái cầm hoa sen, hai tay ở dưới thì tay phải cầm chày, tay trái cầm kiếm, đầu đội Đông phương A Súc Phật để làm trang nghiêm.

(5) Dục Đế Minh Vương và minh phi — thân màu xanh, ba mặt sáu tay, mặt ở giữa màu xanh, mặt bên phải màu trắng, mặt bên trái màu đỏ. Hai tay ở trên đặt chéo nhau, tay phải cầm dao lưỡi liềm, tay trái cầm thiên linh cái, hai tay ở giữa thì tay phải cầm báu vật, tay trái cầm hoa sen, hai tay ở dưới thì tay phải cầm móc, tay trái cầm kiếm, đầu đội Đông phương A Súc Phật để làm trang nghiêm.

(6) Lam Trượng Minh Vương và minh phi — thân màu lam, ba mặt sáu tay, mặt ở giữa màu lam, mặt bên phải màu trắng, mặt bên trái màu đỏ. Hai tay ở trên đặt chéo nhau, tay phải cầm dao lưỡi liềm, tay trái cầm thiên linh cái, hai tay ở giữa thì tay phải cầm báu vật, tay trái cầm hoa sen, hai tay ở dưới thì tay phải cầm gậy, tay trái cầm kiếm, đầu đội Đông phương A Súc Phật để làm trang nghiêm.

(7) Đại Lực Minh Vương và minh phi — thân màu lam, ba mặt sáu tay, mặt ở giữa màu lam, mặt bên phải màu trắng, mặt bên trái màu đỏ. Hai tay ở trên đặt chéo nhau, tay phải cầm dao lưỡi liềm, tay trái cầm thiên linh cái, hai tay ở giữa thì tay phải cầm báu vật, tay trái cầm hoa sen, hai tay ở dưới thì tay phải cầm xiên, tay trái cầm kiếm, đầu đội Đông phương A Súc Phật để làm trang nghiêm.

(8) Bất Động Minh Vương và minh phi — thân màu xanh, ba mặt sáu tay, mặt ở giữa màu xanh, mặt bên phải màu trắng, mặt bên trái màu đỏ. Hai tay ở trên đặt chéo nhau, tay phải cầm dao lưỡi liềm, tay trái cầm thiên linh cái, hai tay ở giữa thì tay phải cầm báu vật, tay trái cầm hoa sen, hai tay ở dưới thì tay phải cầm kiếm, tay trái cầm chày, đầu đội Đông phương A Súc Phật để làm trang nghiêm.

(9) Đỉnh Kế Chuyển Luân Vương và minh phi — thân màu lục, ba mặt sáu tay, mặt ở giữa màu lục, mặt bên phải màu trắng, mặt bên trái màu đỏ. Hai tay ở trên đặt chéo nhau, tay phải cầm dao lưỡi liềm, tay trái cầm thiên linh cái, hai tay ở giữa thì tay phải cầm báu vật, tay trái cầm hoa sen, hai tay ở dưới thì tay phải cầm bánh xe, tay trái cầm kiếm, đầu đội Đông phương A Súc Phật để làm trang nghiêm.

(10) Kim Cang Địa Minh Vương và minh phi — thân màu xanh, ba mặt sáu tay, mặt ở giữa màu xanh, mặt bên phải màu trắng, mặt bên trái màu đỏ. Hai tay ở trên đặt chéo nhau, tay phải cầm dao lưỡi liềm, tay trái cầm thiên linh cái, hai tay ở giữa thì tay phải cầm báu vật, tay trái cầm hoa sen, hai tay ở dưới thì tay phải cầm chày, tay trái cầm kiếm, đầu đội Đông phương A Súc Phật để làm trang nghiêm.

Quán tưởng quán đảnh của mười đại Minh Vương và Minh Phi này, điểm quan trọng là mười đại Minh Vương đều là ba đầu sáu tay, trong chốc lát biến thành mười vị xuất hiện, mười vị đều giống nhau, điểm không giống là màu sắc có khác biệt, và tay cầm pháp khí cũng có đôi chút khác biệt mà thôi. Có thể quán tưởng pháp khí quán đảnh, khiến cho ma chướng trong người lần lượt bị loại bỏ sạch sẽ, mười đại Minh Phi đến bảo hộ cho hành giả Mật tông.

Tứ nhiếp cát tường quán là do tám đại Bồ Tát quán đảnh:
Tám đại Bồ Tát này chính là tám đại Bồ Tát trong Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh.

Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Kim Cang Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Diệu Cát Tường Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.

Tám đại Bồ Tát dùng tám đại pháp để phóng quang đến quán đảnh cho hành giả Mật tông.

Tứ nhiếp cát tường quán thứ năm do Lục Căn Độ Mẫu quán đảnh:
Lục Căn Độ Mẫu này chính là Sắc Độ Mẫu, Thanh Độ Mẫu, Hương Độ Mẫu, Vị Độ Mẫu, Xúc Độ Mẫu, Kim Cương Giới Tự Tại Mẫu.
Lục Căn Độ Mẫu này dùng các loại hương, hoa, âm nhạc, mỹ vị, gió mát, v.v… thù thắng trang nghiêm đến quán đảnh cho hành giả Mật tông.

Tứ nhiếp và quán đảnh của tứ nhiếp cát tường quán, tứ nhiếp này có các thủ ấn riêng:
Cha - dùng ấn móc kim cang — tay đan ngoại phộc, ngón trỏ tay phải hơi cong tạo thành dáng móc câu. 
Hum - dùng ấn thừng kim cang — tay đan ngoại phộc, ngón trỏ tay phải cho vào trong hổ khẩu [khoảng giữa ngón cái và ngón trỏ]. 
Ban - dùng ấn khóa kim cang — tay đan ngoại phộc, ngón trỏ và ngón cái của hai tay chụm vào nhau thành vòng tròn.
Ho - dùng ấn chuông kim cang — tay đan ngoại phộc, hai ngón cái đưa vào bên trong lắc lư ở chân ngón út và ngón áp út. 

Trong quán tưởng quán đảnh, cần quán tưởng từng cái rõ ràng, tu trì như vậy có thể đạt đến cảnh giới thân hóa cầu vồng, bởi vì đây chính là dựa vào tính hút hấp dẫn vận dụng sức mạnh Yết ma, thập phương tứ nhiếp trí Bồ Tát mỗi vị dùng thực tính để gia trì. Rất nhiều Lama đã dùng đại pháp này để tu trì.

Tứ nhiếp cát tường quán này có nhân duyên kỳ diệu như sau:
Tại San Diego có một vị tiến sĩ vật lý là cư sĩ Đan Cao, tuy ông ấy là tiến sĩ vật lý nhưng cũng là một người tu Mật. Ban đầu cư sĩ Đan Cao không biết có Liên Sinh Hoạt Phật. Ông ấy ngồi thiền trong mật đàn, trong tai nghe thấy âm thanh của chuông kim cang rất trong trẻo từ một nơi rất xa truyền đến trong tai ông, ông cảm thấy khá kinh ngạc. Đồng thời trong khi ông ngồi thiền, không ngờ lại nhìn thấy tướng mạo của một tăng nhân. Tướng mạo của tăng nhân này là mặt tròn, tai rủ, miệng ngang, đứng trên một đóa hoa sen màu trắng, thân tỏa hào quang. Cư sĩ Đan Cao không biết là người nào. 

Cư sĩ Đan Cao vì trong lúc thiền thường xuyên nhìn thấy hình tướng của vị tăng này liền tự mình dùng màu nước vẽ ra hình tướng của tăng nhân mà ông ấy nhìn thấy, rồi cúng tại mật đàn của mình, ngày ngày lễ bái thắp hương. Điều kỳ dị nhất là tăng nhân nói với ông: "Phải tập tứ nhiếp…" Tứ nhiếp? Tứ nhiếp là cái gì? Cư sĩ Đan Cao cũng không biết.

Có một hôm, một người đồng nghiệp đến nhà của cư sĩ Đan Cao, vừa nhìn bức tướng của vị tăng nhân liền biết đó là Liên Sinh Hoạt Phật, đồng thời đưa ra bức pháp tướng xuất gia của Liên Sinh Hoạt Phật, so sánh hai bức không ngờ giống nhau. Cư sĩ Đan Cao không thể không thán phục, quả nhiên là Liên Sinh Hoạt Phật.

Cư sĩ Đan Cao đến Chân Phật Mật Uyển ở thành phố Redmond để lễ bái Liên Sinh Hoạt Phật.
"Sư Tôn truyền cho tôi pháp gì vậy?"
"Chẳng phải là đã nói cho ông rồi sao? Sao ông lại quên rồi?"
"Tứ nhiếp ư?"
"Chính là tứ nhiếp cát tường quán." - Tôi cười nói.
"A! Quá kỳ diệu, quá linh dị, quả nhiên có pháp tứ nhiếp."

Cư sĩ Đan Cao nhờ tu Mật, trong thiền định nhìn thấy Liên Sinh Hoạt Phật, đã có một đoạn nhân duyên, cuối cùng đã đến quy y Liên Sinh Hoạt Phật, hơn nữa còn được Liên Sinh Hoạt Phật truyền dạy tứ nhiếp cát tường quán, có được diệu ý do Hoạt Phật đích thân truyền. Ai biết được nhân duyên vi diệu này đều lộ vẻ xúc động.

Tôi nói với cư sĩ Đan Cao: 
"Phật nói, dùng một niệm chí thành và tấm lòng son sắt niệm Phật, có thể diệt trọng tội của tám mươi ức kiếp, cái kỳ diệu của Mật pháp chính là nằm ở giữa một niệm một nhiếp này. Thật ra vô lượng chư tôn có thể hoàn toàn thu vào trong một niệm, và một lần thu về cũng là vô lượng kiếp đó!"
"Pháp tứ nhiếp thật quá vi diệu."

Có một bài kệ như sau:
*Thập thế cổ kim bất ly đương niệm,
Vi trần sát thổ bất cách hào đoan.*
Đây chính là sự chí lý viên dung của tứ nhiếp.

Mật trong mật, kỳ trong kỳ, pháp trong pháp của Mật tông, thật ra cũng có nhân duyên tồn tại đó! Những Mật pháp này, người có thiên phần nhìn một cái là biết ngay sự quý giá của nó, còn như người vô duyên thì nhìn thấy đại Mật pháp cũng giống như nhìn thấy người lạ. Bởi vậy học đạo phải có mệnh, không có thiên phần thì đạo cũng không thành.

Học Mật tông vốn là việc phi thường, cũng phải có tâm phi thường. Có người nói, người tham sống sợ chết, ngay cả làm đại sự nghiệp thế gian đều có khó khăn, huống hồ là Mật pháp xuất thế gian. Phần đông người học tập Chân Phật Mật Pháp đều có nhân duyên, cũng có khảo nghiệm.

Đôi khi chúng ta cần nhận thức được, sống trên đời này, thật ra chính là ông trời ban cho chúng ta sự rèn luyện, thân xác hữu hình chỉ là công cụ tu hành tạm thời, tri thức trong xã hội đôi khi sẽ trở thành chướng ngại của chúng ta, phải nhìn thấu và buông bỏ mới tu đắc thành tựu.

Thành tựu giả tu trì tứ nhiếp cát tường quán, tức thân thành Phật của họ là vô cùng thù thắng:
Có người đang tĩnh tọa, trong sát-na đã viên tịch luôn, trên đỉnh đầu họ phóng ra một đường ánh sáng cầu vồng, người ở xa nhìn thấy hỏa quang xung thiên, còn có người vừa chạm vào thân của họ thì thân của họ giống như một tập hợp tro mịn, trong chốc lát đã biến thành một đống tro tàn.
Cũng có người nhìn thấy một dải cầu vồng tan biến vào trong mây. 
Càng lợi hại hơn là tức thân thành Phật của tứ nhiếp cát tường quán là trong sát-na, ngay cả người đang mặc quần áo cũng đều hóa thành cầu vồng, bay vào trong hư không, ngay cả bóng người cũng đều không thấy, ngay cả tro tàn cũng không, người lợi hại hơn là như vậy.

Thành tựu giả của pháp này, người ngoài nhìn thấy họ sống trong phòng ốc sơ sài, thật ra người minh nhãn biết họ sống trong cung điện của cõi trời; người ngoài nhìn thấy họ một thân một mình đi lại, thật ra người minh nhãn biết, nơi họ đi qua, thần núi thần biển thần đất đều đến nghênh tiễn họ.
Thành tựu giả của tứ nhiếp cát tường quán có thể dùng niệm lực để nổi lửa, khiến đàn hương không châm mà tự cháy, cũng có thể tàng hình khiến cho người ác không tìm thấy họ, bí mật đi lại ở trên núi có thể biến hóa thành cỏ cây dã thú, có nghĩa là ở trong Ngũ Hành có thể tùy ý hóa thân.
Thành tựu giả của pháp này, người minh nhãn có thể nhìn thấy họ mặc y phục ngũ sắc, phóng ra ánh sáng năm màu sắc.

Liên Sinh Hoạt Phật viết cuốn sách "Mật tạng siêu kỳ lạ", những Mật pháp ở trong đây đều là đại pháp, người học Mật chỉ cần đi theo Kim cương Thượng sư chân chính, cung kính bền lòng thực tu, nhất định sẽ có thành tựu. Đừng đánh mất tâm cung kính, đừng nửa chừng bỏ dở, đừng có chưa khổ công đã mơ mộng hão huyền về tương ứng. Tu hành là việc lớn bậc nhất trong thiên hạ đó!


### 08. Quán chìa khóa mở kho báu


Pháp này trong Mật tông Tây Tạng được xếp vào pháp cực bí mật, luôn luôn phải mật truyền. 
Tên đầy đủ của pháp này là "Quán đại Guru Pháp thân viên mãn, nhờ tương ứng Phật, mở chìa khóa kho báu".

Liên Sinh Hoạt Phật đặc biệt ở trong cuốn sách "Mật Tạng siêu kỳ lạ" này lần lượt viết ra kĩ càng trình tự tu trì. Đệ tử quy y muốn học pháp này trước tiên phải nhận quán đảnh, sau đó phải được Kim cương Thượng sư chân chính giảng giải tâm yếu khẩu quyết. 

Nam mô Liên Sinh Hoạt Phật gia. (3 biến)
Đảnh lễ chí tôn vô thượng Thượng sư Đại Kim Cương Tổng Trì. (3 biến)
Chân Phật đại lễ bái
Chân Phật tứ quy y. (tu thêm pháp mặc giáp hộ thân)
Chân Phật đại cúng dường. 
Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (1~3 biến)
Kết ấn: tay kết ấn tráp Phạn - tay trái mở ra, năm ngón tay duỗi thẳng ngửa lên, tay phải úp lên tay trái. Giữ thủ ấn ở tim, thế là thành. 

Quán tưởng: Trong hư không ở ngay trước mặt có một tòa hoa sen cao rộng do tám con sư tử lớn nâng, trên pháp tọa chính là Liên Sinh Hoạt Phật một đầu hai tay đang ngồi, đầu đội mũ Ngũ Phật có hai dải lụa buông xuống, thân màu trắng, tay phải cầm chày kim cang, tay trái cầm chuông kim cang. Xung quanh có Phật Bồ Tát Thanh Văn Duyên Giác Hộ Pháp Kim Cang từng vòng vây quanh. 

Quán tưởng đặc thù của pháp này là trước pháp tọa có một cái bàn, trên bàn đặt những chiếc tráp Phạn được dùng trong giáo pháp, những tráp Phạn này chính là pháp bảo trong kho báu. 

Hành giả Mật tông quán tưởng lần lượt những pháp bảo của tráp báu này chính là đại pháp bảo cứu độ chúng sinh, ngoài Liên Sinh Hoạt Phật có thể cứu độ chúng sinh đang ở trong sợ hãi phiền não ra thì không còn nơi nào khác có thể cứu họ.

Sau đó niệm chú Tứ quy y: 
"Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya."(cố gắng tụng nhiều)
Thượng sư, Phật, pháp, tăng hóa thành ánh sáng cam lộ trút xuống hành giả Mật tông. 

Kết ấn thứ hai: tay kết ấn căn bản của Đại Uy Đức Kim Cang — hai tay đan nội phộc như nắm đấm, hai ngón giữa giơ thẳng, đầu ngón tay chạm vào nhau. 
Quán tưởng thứ hai: hành giả Mật tông trong sát-na biến thành Đại Uy Đức Kim Cang, tướng một mặt hai tay, tay phải cầm dao cong, tay trái cầm pháp khí đầu lâu và có Minh Phi, đứng trang nghiêm. 
Quán tưởng đặc biệt là đầu lâu trong tay của Đại Uy Đức Kim Cang biến thành bao la, trong đó đựng vô số tráp Phạn, trong tráp Phạn chính là pháp bảo lớn, đại Mật pháp có thể độ hết chúng sinh đều ở trong đó, đây là quán tưởng tráp Phạn trong đầu lâu. 

Hành giả Mật tông (Đại Uy Đức Kim Cang) tự mình thu nhận ánh sáng bách bảo do các tráp Phạn phóng ra. Sau đó quán tưởng tự thân biến thành Đại Uy Đức Kim Cang dữ tợn, thân màu xanh đen, có chín mặt ba mươi tư cánh tay, và mười sáu chân, đứng với tư thế uốn về bên phải và giương về bên trái, Minh Phi đứng nghiêm trên đỉnh đầu.

Niệm chú: Ôm ah hùm. (cố gắng tụng nhiều)
Mi tâm phóng ánh sáng trắng. Họng phóng ánh sáng đỏ. Tim phóng ánh sáng lam. 
Sau đó lại tụng tâm chú căn bản của Đại Uy Đức Kim Cang:
"Ôm chu-li ka-la-lu-pa hùm khan sô-ha." (108 biến)

Hành giả Mật tông vẫn quán tưởng thân dữ tợn của Đại Uy Đức Kim Cang phóng quang, loại trừ hết tất cả những bất tịnh của những cơ quan cảm xúc, và lần lượt trong hư không xuất hiện bảo điện, bên ngoài thân mình, đều hóa thành cực kì nhiều bảo điện, từng bảo điện đều chứa rất nhiều tráp báu, những tráp Phạn này đều phóng quang, thanh tịnh tự tính và tha tính.
Gia trì chuông chày.
Ôm ah hùm. Gia trì tự tính, vô nhị đại trí huệ, lục căn sinh ra Lạc-Không trí vô lậu thù thắng vi diệu, và những tráp Phạn của đất-nước-lửa-gió-không nhiều như mây phóng quang hòa tan vào lẫn nhau. 
Quán tưởng. Dùng chày biến hóa thành chìa khóa báu.
Quán tưởng. Dùng chuông biến hóa thành ổ khóa pháp.
Dùng chày tra vào trong chuông, xoay một cái, xoay hai cái, xoay ba cái, biểu thị chìa khóa báu đã tra vào trong ổ khóa pháp, mở ra tráp Phạn và có được đại trí huệ (vô nhị đại trí huệ).
Ngồi yên lặng nhập Tam ma địa.

Sau khi xuất định, hồi hướng:
Lạc-Không không khác tráp báu quảng đại đất-nước-lửa-gió-không
Pháp bảo phóng quang Thánh giáo Mật pháp cứu độ mãi vô tận
Hành giả nguyện lấy chìa khóa báu mở ra ổ khóa pháp lấy được pháp khí
Mật hỏa cháy lên trong pháp thù thắng vi diệu độ chúng sinh là số một.

Đại lễ bái. Xuất đàn. 
Cát tường viên mãn.

🌟

Bí quyết của pháp quán chìa khóa mở kho báu nằm ở mấy sự biến hóa đặc thù:
1. Đầu tiên do Thượng sư, Phật, pháp, tăng quán đảnh.
2. Biến hóa thành Đại Uy Đức Kim Cang một mặt hai tay.
3. Lại biến hóa thành Đại Uy Đức Kim Cang chín mặt ba mươi bốn tay mười sáu chân. 
4. Chày hóa thành chìa khóa báu. Chuông hóa thành ổ khóa pháp. 
5. Quan trọng nhất là dùng chìa khóa báu để mở ra ổ khóa pháp.

Khi Liên Sinh Hoạt Phật viết cuốn "Mật yông Yết Ma pháp", nguyên thần từ từ bay lên, đến một nước mà tôi chưa từng đến, nguyên thần đi vào trong một hang động, hang động này sâu thẳm tối tăm, bên trong hang động quanh co ngoắt ngoéo, có rất nhiều lối đi, nhưng thứ thu hút tôi lại là một con đường ánh sáng thanh tịnh thuần tịnh như ánh chớp. 

Nguyên thần của tôi đi vào nơi sâu nhất của hang động, lúc này sáng chói như mặt trời, dường như ngay cả vách núi cũng bị chiếu xuyên qua, toàn bộ hang sáng rực, ánh sáng chiếu khắp thiên hạ, khắp trời khắp đất. Tôi nhìn kĩ hơn, nguồn phát ra ánh sáng không ngờ là một quyển sách, bìa của quyển sách này cực kì cũ kĩ, chữ bên trong tôi nhìn không hiểu, thế nhưng trong đầu tôi có một linh cảm lóe lên, đây không phải Phạn văn (tiếng Ấn Độ), mà là kinh Phật bằng tiếng Pali.

Nguyên thần của tôi mở ra ký ức về tiếng Pali trong kiếp trước, rất nhanh chóng, tôi đã hiểu được yếu chỉ của quyển sách này. Văn tự trong quyển sách này sâu sắc khó đo lường, cũng không dễ đọc mà hiểu được, bởi vì đây là một quyển sách thuộc kinh sách được giấu kĩ, là đại kết tinh của trí huệ thiên cổ.

Thế là, mỗi tối tôi ngồi thiền, tôi đều phi thân đến hang động sâu thẳm đó, ở nơi tĩnh lặng nhất trong ánh sáng, kim quang chiếu rọi, tôi tỉ mỉ nghiên cứu quyển sách này. Và càng kỳ lạ hơn là, sách này có Kim Cang Thần bảo vệ, mỗi lần tôi đến, Kim Cang Thần bảo vệ đều khác nhau, đều là Kim Cang Lực Sĩ cầm chày kim cang, các vị nhìn thấy tôi đến thì đều nhường qua một bên, ngày đêm đều cung kính bảo vệ, còn tôi thì yên tâm ở trong quang cảnh vàng son lộng lẫy ấy mà đọc cuốn sách Phật bằng tiếng Pali này. 

(Bốn đoạn văn trên đây là tôi viết về nhân duyên của cuốn "Mật tông Yết Ma pháp", là cuốn sách xuất bản trước cuốn sách này. Và nguyên nhân tôi có thể tiến vào hang động bí mật, có được pháp bảo Phạn bối, được Kim Cang Thần cung phụng bảo vệ, chính là vì tôi đã tu trì pháp quán chìa khóa mở kho báu, nhờ tu quán chìa khóa mở kho báu mới có thể mở ra pháp bảo của đất, nước, lửa, gió, không để đắc được trí huệ vô nhị.)

Long Thụ Bồ Tát khiến cho Phật giáo Đại thừa hưng long, ngài là đệ tử của Ca Tỳ Ma La tôn giả - đệ tử của Mã Minh Bồ Tát. Long Thụ Bồ Tát giáng sinh vào cuối thế kỷ thứ hai theo Dương lịch, ở nước Tỳ Đạt Bà ở Nam Thiên Trúc. Truyền kỳ về Long Thụ Bồ Tát là đi vào long cung ở đáy biển, đọc tụng kinh điển Đại thừa, đây là pháp bảo đi lấy từ trong biển. Năm xưa Long Thụ Bồ Tát vào long cung, có được pháp bảo, thông hiểu các giáo nghĩa sâu sắc, đương nhiên là nhờ có sức mạnh từ pháp quán chìa khóa mở kho báu. Pháp quán chìa khóa mở kho báu này là pháp bí mật vĩ đại.

Bảo điển của Phật pháp sao lại ở long cung? Thì ra trong "Hải Long Vương Kinh", phẩm "Thỉnh Phật" có ghi chép rằng: Hải Long Vương đến núi Linh Thứu nghe Phật thuyết pháp, tín tâm hoan hỷ, muốn thỉnh Phật đến đại hải long cung để cúng dường, Phật đã nhận lời. Long Vương lập tức vào trong biển lớn hóa thành long cung, vô lượng châu báu, đủ loại trang nghiêm, hơn nữa, từ bờ biển thông đến đáy biển còn làm thành ba con đường bậc thang bằng châu báu, giống như ngày xưa Phật hóa ra bậc thang châu báu từ Đao Lợi Thiên thả xuống cõi Diêm Phù Đề. Phật và các tỳ kheo Bồ Tát cùng đi trên bậc thang châu báu để vào long cung, nhận cúng dường của loài rồng và thuyết đại pháp cho họ.

Trong kinh "Ma Ha Ma Da" có nói: "1500 năm. Ác ma Ba Tuần và các ngoại đạo nhảy nhót vui mừng, đua nhau phá chùa tháp, sát hại tỳ kheo, tất cả kinh tạng đều được chuyển đến nước Cưu Thi Na Kiệt, A Nậu Đạt Long Vương đều đưa xuống dưới biển, giấu ở long cung, vì thế mà Phật pháp cũng diệt hết."

Liên Sinh Hoạt Phật từng dùng sức mạnh thần thông, ở trong thiền định, đi vào long cung ở đáy biển, trong long cung có Phật pháp bí mật chưa từng được tuyên truyền, trong đó có một bộ "Danh Tướng Kinh", tên gọi gốc của "Danh Tướng Kinh" là "Thập Phương Phật Ngôn Thánh Giáo Danh Xưng Thực Tướng Kinh". Bản kinh này chưa từng xuất hiện ở thế gian, thế mà tôi dựa vào sức mạnh thần thông đã đọc được nó. 

Tôi ca ngợi Long Thụ Bồ Tát vào long cung có được Kinh Hoa Nghiêm, mở tháp sắp được truyền mật tạng. Còn Liên Sinh Hoạt Phật vào hang động, vào long cung, chính là sức mạnh thần thông của pháp quán chìa khóa mở kho báu. 

Trong truyền thừa Mật tông của Tây Tạng, ví dụ Tang Điên Ninh Hoạt Phật - vị truyền thừa đời thứ ba của Trát Châu Rinpoche, ngài chính là người đã có được bảo tạng cất giấu trong hang động của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, Đáp Sảng Nỗ Điên Kim Cang đời thứ tư có được bảo tạng cất giấu trong hang động của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. 

Trong Mật tông Tây Tạng, người có được bảo tạng cất giấu trong hang động nhiều không kể xiết, ví dụ Bi Lạc Gia Na Hoạt Phật là một vị chuyên lấy bảo tạng trong hang động vĩ đại. Thiên Kinh Đạt Ngã Kim Cang, Lãng Tế Kim Cang, Bối Mã Kim Cang đều là những Hoạt Phật lấy được bảo tạng trong hang động. 

Còn Liên Sinh Hoạt Phật trong thời gian tu Mật ở Linh Tiên Các, ngày ngày thường gặp được Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, đã từng đến Trát Long ở miền Tây Tây Tạng, cũng lấy được bảo tạng cất giấu trong hang động của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. 

Việc lấy bảo tạng trong hang động đòi hỏi phải tu tập pháp quán chìa khóa mở kho báu. 
Quán chìa khóa mở kho báu có đại pháp lực như vậy. 
Người tu trì thành tựu pháp quán chìa khóa mở kho báu có thể đi trên ánh sáng mặt trời, trong sát-na người đó có thể đến bất kì nơi nào có ánh sáng mặt trời chiếu đến, nếu có kẻ xấu muốn sát hại họ, họ có thể lập tức nấp vào trong vách tường, không ai có thể tìm thấy. Họ có thể cưỡi trên lưng cá chép lớn, từ mặt nước đi vào long cung, rồi lại từ long cung trở về lục địa.

Một lần, có đệ tử theo tôi về nhà. 
Tôi vừa bước vào cửa thì tôi liền biến mất.
Đệ tử đó rõ ràng là bám theo tôi vào nhà, kết quả là trong nháy mắt tôi đã biến mất. Anh ấy vô cùng sửng sốt tìm khắp phòng, quả nhiên không thể tìm thấy Thượng sư Hoạt Phật ở chỗ nào. Thế rồi đệ tử đó vô tình thoáng thấy Liên Sinh Hoạt Phật không ngờ lại trốn trong bình rượu vơi một nửa, đang bơi trong đó. Liên Sinh Hoạt Phật đã biến thành nhỏ xíu như một con ruồi, đang bơi ở trong bình rượu….
Anh ấy sửng sốt!
Thượng sư Hoạt Phật dặn anh tuyệt đối không được tiết lộ cho người khác biết. 
Thì ra đây cũng là sức mạnh thần thông của pháp quán chìa khóa mở kho báu. 

Từng có một đệ tử ở đường Trung Hoa, thành phố Đài Trung, Đài Loan nhìn thấy Liên Sinh Hoạt Phật đang ngồi ở "quán thập cẩm" ăn món canh thập cẩm. Thế nào là canh thập cẩm? Tức là người ta làm cỗ xong, những thức ăn thừa được gom lại, nấu lại từ đầu, sau đó lại đem ra bán. 

Đệ tử đó nghĩ, không thể nào, Liên Sinh Hoạt Phật hiện đang sống ở Mỹ, chẳng hề có tin tức nào là ngài đã trở về Đài Loan, sao có thể là Liên Sinh Hoạt Phật chứ? Hơn nữa lại còn một mình ngồi trong quán thập cẩm ăn món thập cẩm, sao có thể thế chứ?

Đệ tử đó tiến nhanh về phía trước, nhìn kĩ càng cẩn thận, không sai chút nào, là Liên Sinh Hoạt Phật. (Đệ tử đó nhìn thấy Thượng sư Lư Thắng Ngạn đầu vẫn còn để tóc.)
"Thầy là Lư Thắng Ngạn…" - Anh ấy kinh ngạc hỏi.
"Là tôi đây. Tôi chính là Lư Thắng Ngạn." - Tôi quay đầu lại thừa nhận.
"Sư Tôn về khi nào vậy?"
"Vừa về hôm nay." - Tôi đáp.
"Sư Tôn cần đi đâu, tôi đưa thầy đi." - Đệ tử quá vui mừng.
"Anh đi theo tôi…" - Tôi đi trước, đệ tử đi theo sau, trong sát-na, tôi liền biến mất. 
Đây là trong một ngày, tôi xuất hiện ở nhiều nơi cách xa nhau cả vạn dặm.
Thành tựu pháp chìa khóa mở kho báu rồi, có thể phân thành chín thân, trong một ngày có thể hiện thân ở nơi cách xa vạn dặm.


### 09. Quán diện kiến Tổ sư


Liên Sinh Hoạt Phật trong phái Hoàng giáo Mật tông Tây Tạng có pháp hiệu là Thubten Qimo.
Đây là truyền thừa của đại Lama Thubten Lama của Tây Tạng. Thubten Lama từng truyền đại Mật pháp tại Khai Phong, tỉnh Hà Nam.
Và tổ sư của Hoàng giáo Mật tông Tây Tạng chính là Đại sư Tsongkhapa.

Kệ tán thán Tổ sư Tsongkhapa như sau: 
Bậc Thượng sư đầy đủ ba ân đức, bản tính của tất cả chư Phật.
Mặc áo hoàng y, hiện tướng tỳ kheo, một mặt hai tay, nét mặt tươi cười thanh tịnh.
Tay phải kết ấn thuyết pháp, tay trái ấn đẳng trì, khéo nâng bát đầy cam lộ.
Thân khoác ba y màu hoa đỏ tuyệt đẹp, đỉnh đầu trang nghiêm đội mũ vàng bảo vật.
Tại tim có Biến Chủ Kim Cương Trì Vương, một mặt hai tay, thân màu xanh.
Tay cầm chày và chuông, ôm Phật Mẫu, cùng sinh vui thích trong Lạc Không.
Trang sức nhiều chuỗi ngọc báu tuyệt diệu, khoác thiên y gấm hoa văn.
Tướng đẹp trang nghiêm với nghìn tia sáng rực rỡ, giữa cầu vồng năm màu quấn quanh.
Ngồi kiết già kim cương trang nghiêm an trụ, năm uẩn thanh tịnh là năm vị Như Lai.
Tứ đại Tứ Mẫu, kinh mạch gân cốt, mỗi khớp xương đều là Bồ Tát.
Hai mươi mốt nghìn lỗ chân lông là La Hán, mỗi chi tiết thân thể đều là Minh Vương.
Các Dược Xoa bí mật quang uẩn hộ phương, người thế gian đều quỳ dưới chân.

Quán diện kiến Tổ sư, khi vào đàn, trước tiên tụng kệ tán thán trêm (3 lần).

1. Niệm chú thanh tịnh.

2. Niệm chú triệu thỉnh.

3. Chân Phật đại lễ bái.

4. Chân Phật tứ quy y.

5. Chân Phật đại cúng dường.

6. Mặc giáp hộ thân.

7. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (1~3 biến).

8. Kết ấn: Tay phải kết ấn thuyết pháp, tay trái kết ấn đẳng trì.

9. Quán tưởng thứ nhất — Trong hư không phía trước hành giả Mật tông, có Tổ sư Đại Pháp Vương Tsongkhapa mà mình đã thọ ân, ngài có một mặt hai tay, thân màu trắng trong sáng, khuôn mặt tròn đầy và hoan hỷ, tay phải kết ấn thuyết pháp, tay trái kết ấn đẳng trì, trên tay kết ấn đẳng trì nâng bát đầy cam lộ, thân khoác ba y, đầu đội mũ màu vàng kim. Hai bên vai ngang nhau, mọc hoa upala đang nở rộ, trên hoa đặt hòm báu và bảo kiếm để trang nghiêm, Tổ sư Tsongkhapa ngồi kiết già kim cương, trong tim ngài có ánh sáng xanh, và Kim Cương Tổng Trì an trụ trong đó, phóng ánh sáng chiếu khắp thế giới.

Thân tướng của Tổ sư Tsongkhapa chính là thân tướng đầy đủ năm bộ song tôn, thức dũng thức mẫu, mười vị Minh Vương, và tự tính chư Phật thân.

Quán tưởng thứ hai — Quán tưởng thứ hai là quán tưởng quyến thuộc.
Phía trên chủ tôn là Thượng sư Gia trì Bản Tục.
Bên phải chủ tôn là Thượng sư Quảng Hành Bản Tục.
Bên trái chủ tôn là Thượng sư Thâm Kiến Bản Tục.
Trên đỉnh cao nhất trong hư không của chủ tôn là Thượng sư mật truyền tất cả.
Bốn cánh là tứ tục đại kim cang.

Phía dưới có mười cấp, theo thứ tự là Bộ Vô Thượng Tục, Bộ Tương Ứng Tục, Bộ Hành Tục, Bộ Tác Tục, Bộ Phật, Bộ Bồ Tát, Bộ Duyên Giác, Bộ Thanh Văn, Bộ Dũng Nam Nữ, Bộ Hộ Pháp.

(Về quán tưởng Tổ sư Tsongkhapa, Liên Sinh Hoạt Phật từng thấy trên thị trường có pháp tướng Mật tông, miêu tả một cây lớn mọc lên từ đáy biển, trên ngọn cây có Đại sư Tsongkhapa ngồi, thân cây chia làm mười cấp, trên không trung bên trái bên phải là tất cả các vị Thượng sư, pháp tướng này được gọi là cây quy y. Pháp tướng Mật tông này phân tầng rõ ràng. Người tu học có thể tham khảo pháp tướng cây quy y để thực hiện quán tưởng.)

Quán tưởng thứ ba — Sau khi hành giả Mật tông hoàn thành quán tưởng thứ nhất và quán tưởng thứ hai, có thể dùng hai tay cầm bình tịnh thủy, rồi quán tưởng, cam lộ từ Tổ sư Tsongkhapa phóng ánh sáng, tạo thành một đường cong, ánh sáng trắng lớn đó, hạ xuống vào trong bình tịnh thủy của mình, như vậy cam lộ hóa thành ánh sáng bảy lần, bảy lần hạ xuống trong bình tịnh thủy. Hành giả Mật tông nhanh chóng uống hết nước tịnh trong bình.

10. Kệ tán thán:
Tổ sư đại bi với tính đại lạc tối thượng.
Tự mình ban xuống cam lộ tịnh hóa thân con.
Trong một sát-na đầy đủ đại biến hóa.
Đảnh lễ thân kim cang của Tổ sư vô thượng.

11. Niệm chú:

"Ôm gu-ru sông-kha-pa pu-thi sa-ma-ya hùm." (108 lần hoặc nhiều hơn)

12. Tĩnh tọa nhập Tam ma địa:

Khi tĩnh tọa, Cửu tiết Phật phong, tức là triệu thỉnh mười phương chư Phật Bồ Tát, các vị Tổ sư phóng quang nhập vào tâm điền hội tụ tại một nơi, tự tính và ánh sáng của Tổ sư hòa hợp, biến thành tự tính tập trung, như đang tắm trong hào quang ân đức của Tổ sư, hoặc du hành trong hào quang ân đức của Tổ sư.
Tiến vào Tam ma địa của Tổ sư Tsongkhapa.

13. Hồi hướng sau khi xuất định:

Diện kiến trí tuệ tối thắng của chư Phật Tổ sư.
Phương tiện thiện xảo tối thắng ứng hiện tùy cơ.
Con khéo tắm trong hào quang ân đức chỉ dạy
Dưới chân Thượng sư, con cung kính đảnh lễ.

1. Đại lễ bái Phật. Rời đàn.

Cát tường viên mãn.

🌟

Yếu quyết của pháp quán diện kiến Tổ sư là ở chỗ quán tưởng đưa bản thân vào trong mandala, tức là ở góc dưới bên phải của mandala, dùng hai tay cầm bình tịnh thủy, cầu nguyện được diện kiến Tổ sư, cam lộ của Tổ sư phóng quang bay lên không trung, rót vào bình tịnh thủy của mình, bảy lần phóng quang vào bình tịnh thủy, và hành giả Mật tông, sau khi uống cam lộ tịnh hóa, mới được diện kiến Tổ sư Tsongkhapa trong hào quang ân đức.

Tôi nhớ rằng trong "Mật Giáo Đại Viên Mãn" có viết như sau:
Liên Sinh Hoạt Phật đội mũ vàng, mặc áo vàng? Có người cho rằng vì Liên Sinh Hoạt Phật đã nhận được truyền thừa trực tiếp từ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, nên phải thuộc về Hồng giáo (Nyingmapa), vậy thì phải đội mũ đỏ mặc áo đỏ.

Tôi xin giải thích như sau: Có người nghĩ rằng trang phục của Hồng giáo là màu đỏ, Bạch giáo là màu trắng, Hoàng giáo là màu vàng, đây là sự hiểu lầm truyền miệng. Bởi vì trong Mật tông Tây Tạng, bất kể tông phái nào, những người không có địa vị đều mặc màu tím đỏ, chỉ những người có địa vị mới mặc màu vàng. Về sự khác biệt của mũ, chỉ có người thuộc Hoàng giáo mới đội mũ vàng, ba phái còn lại đều đội mũ đỏ. (Ngoài ra, mũ Pháp Vương mà Karmapa đội lại là màu đen.)

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ ban cho tôi một bài kệ tán thán, chính là:
Sớm đạt thành tựu thâm sâu là Liên Sinh.
Áo vàng mũ vàng được trời người kính ngưỡng.
Tâm ấn Như Lai chứng đắc Đại Trì Minh.
Sáng lập tông phong truyền pháp chúng sinh lễ kính.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ yêu cầu tôi mặc áo vàng, đội mũ vàng, điều này có nhân duyên.
Thứ nhất, các Lama thông thường ở Tây Tạng mặc pháp y màu tím đỏ, mặc áo đỏ viền vàng là bậc cao hơn, chỉ có người ở địa vị cao nhất mới được mặc áo vàng. Vì vậy, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ yêu cầu tôi mặc áo vàng, áo vàng tượng trưng cho sự tôn quý nhất. Điều này cho thấy tôi đã trực tiếp nhận được vinh dự tối thượng từ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.

Thứ hai, tôi đã từng nhận quán đảnh từ Hoàng giáo, cụ thể là Thubten Lama từ cung Ung Hòa đã truyền pháp cho Thượng sư Thubten Dhargye, Thượng sư Thubten Dhargye truyền pháp cho Thượng sư Thubten Qimo, và bản thân tôi chính là Thượng sư Thubten Qimo, Thubten Qimo là pháp danh của tôi trong Hoàng giáo. Vì vậy, tôi càng có đủ tư cách để đội mũ vàng, mặc áo vàng, điều này hoàn toàn không sai.

Thứ ba, bản thân tôi có truyền thừa Hoàng giáo, đương nhiên có thể đội mũ vàng, mặc áo vàng, đặc biệt là tôi nghiên cứu nhiều về "Đạo Củ Luận" của Tôn giả Atisa - hóa thân của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Mặc dù tôi đã tu tập thứ tự sinh khởi và viên mãn của Ngũ Đại Kim Cang, nhưng tôi cũng tu tập thứ tự chín thừa, đạt được Tối Quang Minh Kim Cương Tạng Thừa, đây là Phật tính thừa, Trí tuệ thừa của pháp Đại Viên Mãn - pháp đệ nhất của Tây Tạng.

Thực ra, tôi đã sớm bí mật tu trì pháp quán diện kiến tổ sư, pháp quán diện kiến tổ sư này chính là trực tiếp được diện kiến Tổ sư Tsongkhapa, pháp tu này tuy trông có vẻ đơn giản nhưng thực sự có cảnh giới rất thâm sâu, sự hiển hiện của Tổ sư Tsongkhapa, ân đức gia trì quán đảnh, việc du hành trong hào quang ân đức, đều là sự tương ứng chân thật không hai, tôi tu trì pháp quán diện kiến tổ sư và nhận được thọ ký từ Tổ sư, là điều chân thật nhất.

Tổ sư Tsongkhapa ban cho Liên Sinh Hoạt Phật bài kệ tán thán:
Ba đời mười phương chư Thượng sư tối thượng.
Ngươi hãy nhận quán đảnh kế thừa đại mật tạng.
Ban cho lời tán thán như biển âm thanh vô tận.
Chúng sinh các cõi đều hướng về đảnh lễ kính ngưỡng.

Khi diện kiến Tổ sư, tôi dùng ấn ấn vào không gian, từ tâm mình xoay chuyển, tuôn ra vô số thiên nữ, những thiên nữ này đều mang cúng phẩm cúng dường Tổ sư Tsongkhapa, cúng phẩm chiếu sáng không gian, rực rỡ năm màu, trong pháp hội thù thắng này, hiện rõ một cảnh tượng kỳ diệu trang nghiêm.
Tám vạn bốn nghìn cúng phẩm.
Tượng trưng cho tám vạn bốn nghìn pháp môn.

Những thiên nữ này, chính là bản thể của Bổn sư và chư Phật! Chỉ có Kim cương Thượng sư chân chính mới hiểu được cảnh giới của tôi!

Pháp quán diện kiến tổ sư, sự tương ứng của tôi như sau:
Theo làn khói hương uốn lượn, cứ thế bay lên cao mãi, đến được thế giới lưu ly xanh biếc, thế giới ấy thật thanh tịnh, lại còn mênh mông vô tận, khắp nơi đều là khí thơm lan tỏa, khiến người ta cảm thấy sảng khoái.

Mặt trời mặt trăng không phải ở trên cao, mà ở hai bên trái phải, tất cả đều sáng rõ rành rành, không có nơi nào là tối tăm, một hiện tượng biển ánh sáng vĩ đại hội tụ, một cảnh tượng vô cùng khó nghĩ bàn.

Tòa pháp của Tổ sư không biết được làm từ vật gì, xung quanh xen lẫn những bông hoa đỏ, xuất hiện như huyễn ảo giữa hư không, ở ngay chính giữa, và các vị Phật Bồ Tát mười cấp vây quanh, phía dưới có biển nước thơm lớn, bao quanh bốn phía.

Tổ sư lớn như hư không, và cây báu cũng lớn như hư không, dần dần cao vời vợi như núi Tu Di, khiến người ngước nhìn mà không thể thấy hết, tán thán pháp lực vô cùng tận của ngài.

Âm nhạc tuyệt diệu, như những hạt châu lăn trên đĩa ngọc, hài hòa, êm dịu, tôn kính, nhạc thanh nhã lan tỏa khắp thế giới lưu ly này!

Pháp bảo vô tận, nằm trên bàn hoa đỏ, đó chính là tư lương cần thiết cho chư thiên và hành giả thế gian, ở trong đó chính là kho tàng đại bi, có thể tưới ẩm ruộng phúc thù thắng của chúng sinh.

Tôi tắm mình trong biển ánh sáng trí tuệ.
Ngắm nhìn cõi kim cương của Phật quốc.
Ánh sáng kỳ diệu thù thắng là tinh túy của công đức.
Tôi ở trong cung điện kim cương vĩ đại, diện kiến Tổ sư Tsongkhapa.

Người đạt được sự khai ngộ từ pháp quán diện kiến tổ sư, vì đã uống cam lộ trong bát của Tổ sư, sẽ không bao giờ đói, cũng không bao giờ khát, có thể không ăn thức ăn trần gian trong nhiều tháng, đối với người nhập thất tu mật hành, điều này rất có lợi ích, đây là cảm ứng không đói không khát.

Uống cam lộ trong bát của Tổ sư, có thể thấu hiểu ý nghĩa chân thật của "một niệm ba nghìn" và "sát-na vạn kiếp", người đạt được pháp vị, trí tuệ và quan niệm của họ đều tiến bộ nghìn dặm vạn dặm trong một ngày, mãi mãi không ngừng nghỉ, thật là kỳ diệu làm sao!

Hành giả Mật tông đạt được tương ứng, cung điện lộng lẫy và lầu đài nguy nga, cây quy y đứng thẳng tắp, đều hàng ngày hiện rõ trước mắt, có thể với tay là chạm được. Hành giả Mật tông chỉ cần vận dụng nguyên thần một lần, liền trở thành một vị Bồ Tát trên cây quy y!


### 10. Đại chuyển pháp luân quán


Đại chuyển pháp luân quán

Đại chuyển pháp luân quán này là đại mật pháp của Chân Phật Tông, là Kim cương Thượng sư chân chính đã bí mật tu hành thâm nhập kho tàng bí mật, là tâm pháp chí thượng để chuyển pháp luân.

Nay tôi công bố trình tự tu hành của Đại chuyển pháp luân quán như sau:

1. Niệm chú thanh tịnh.

2. Niệm chú triệu thỉnh.

3. Chân Phật đại lễ bái.

4. Chân Phật tứ quy y.

5. Chân Phật đại cúng dường.

6. Mặc giáp hộ thân.

7. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (1 ~ 3 biến)

(Mục 1 đến 7, mỗi lần tu pháp đều phải làm, đây là nghi quỹ cố định. Một lần nữa tôi đặc biệt nói rõ, tâm yếu khẩu quyết của nó nằm trong cuốn sách "Bí mật trong Chân Phật Mật Pháp".)

8. Kết ấn: Đại kim cang luân ấn — đầu tiên hai tay đan nội phộc, hai ngón trỏ giơ thẳng chạm vào nhau, hai ngón giữa vươn ra móc lấy ngón trỏ là thành ấn.

Đầu tiên quán tưởng trong hư không, chữ Phạn Om xoay tròn, trở về với tính Không.
Sau đó quán tưởng trong hư không, chữ Phạn Ah xoay tròn, gió thổi mãnh liệt.
Tiếp theo quán tưởng trong hư không, chữ Phạn Hum xoay tròn, đốt lên ngọn lửa mãnh liệt.
Trên ngọn lửa có một đại kim cang luân, giống như bánh xe pháp hình tròn. Hoặc có thể do bốn chiếc chày kim cang năm chấu đan chéo nhau tạo thành, ngoài bốn chiếc chày kim cang ra thì có thêm một đĩa tròn lớn màu vàng kim.
Quán tưởng bên trong đĩa tròn màu vàng kim của đại pháp luân có chúng sinh tụ tập trong đó.

9. Niệm chú:
"A-ha. Ma-ha. Su-ka." (108 biến)

Đại kim cang luân có đầy đủ nội ngoại mật chân như, pháp bí mật này là bí mật vi tế nhất, phải tin hiểu bí mật ở trong đó thì mới có thành tựu.

10. Quán tưởng: 

Dòng chảy pháp của Thượng sư từ trong tim tuôn chảy, bay hướng về đại pháp luân. Rồi từ trán tuôn chảy, bay hướng về đại pháp luân. Rồi lại từ họng tuôn chảy, bay hướng về đại pháp luân. Lại từ đỉnh đầu tuôn chảy, bay hướng về đại pháp luân. Bốn dòng chảy pháp đại gia trì này là để gia trì cho vô lượng thân chúng sinh. Lúc này, đại kim cang luân có thể bay lên, bay đến đỉnh đầu của Thượng sư Mật tông, biến thành pháp tính, pháp luân bắt đầu xoay tròn. Lúc này Thượng sư Mật tông chính là Kim Cang Tát Đỏa với thân chuyển pháp luân "ngũ luân tổng thể tính". 

11. Niệm chú:
"Nam-mô san-man-tô. Mô-thua-nam. Ưa." (108 biến)

Quán tưởng đại kim cang luân chuyển hóa thành hoa sen trắng lớn, quán ngọn lửa lớn hóa thành biển nước thơm lớn, chúng sinh hiển hiện thân tướng của vô lượng Như Lai, sáu đại du già của Thượng sư Mật tông lúc này đã tương ứng.
Đây chính là thành tựu chuyển pháp luân.

12. Tĩnh tọa nhập Tam ma địa.

Tam ma địa này là Tam ma địa của ngũ luân tổng thể tính. 

13. Xuất định, hồi hướng:

Định chú thủ ấn để gia trì.
Vô lậu cam lộ đại pháp luân.
Làm vui vô lượng các chúng sinh.
Tất cả mong muốn đều thỏa mãn. 
Các cõi tịnh thổ được sinh ra.
Phát bồ đề tâm đầy dũng mãnh.
Nguyện chúng sinh diệt tâm vọng tưởng.
Trong pháp luân hội trụ thường hằng.

14. Vỗ tay ngồi xuống.

15. Đại lễ bái Phật. Rời khỏi đàn thành.

Cát tường viên mãn. 

🌟

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, Thượng sư Mật tông chân chính thì tự thân ngài đã có dòng chảy pháp của ý thức vũ trụ chí thượng, có thể nói bồ đề tâm hoàn toàn theo ngũ đại trí thanh tịnh và còn siêu thoát, linh hoạt. Thượng sư Mật tông chân chính thì không hề có một chút chướng ngại, có thể vận dụng diệu quan sát mà thành tựu đại chuyển luân quán của diệu tướng chân thực, bốn chiếc chày kim cang năm chấu đan vào nhau, lập tức biến hóa thành tâm kim cang của đại kim cang luân.

Bài kệ tán thán Đại chuyển pháp luân quán:

*Pháp luân chư khách cùng quyến thuộc
Nhập vào vô lượng đại pháp lưu
Người người cùng uống mật pháp nhũ
Tương ứng bồ đề càng dài lâu
Sống lâu không bệnh luôn tự tại
Phẩm đức quang minh đều thiện duyên
Quảng đại dồi dào đều thành tựu
Tiêu tai tăng ích đại sự nghiệp
Thành tựu vô thượng được ban cho
Pháp luân vững chắc chuyển xoay tròn
Tất cả thiện lạc đều viên mãn.*

Pháp tu trì Đại chuyển pháp luân quán, về mặt nghi quỹ thì có vẻ cực kì đơn giản, thật ra trọng điểm của tu pháp lại nằm ở bản thân Thượng sư Mật tông, vị Thượng sư Mật tông này nhất định phải là một vị acharya Mật tông đã khai ngộ, hiểu thấu rõ yếu quyết của chuyển đại pháp luân.

Yếu quyết của Đại chuyển pháp luân quán chính là:
Trong thiền định ánh sáng đại viên minh, hoàn toàn rõ ràng minh bạch về tướng ngũ luân tổng thể của nhị báo "y chính", đem pháp lực của sức mạnh ý thức tự thân hoàn toàn dung nhập vào trong ngũ trí của Ngũ Phật, tự biết ngũ tướng đều không, chỉ là xuất hiện năm đại tính kiên cố, thấm nhuần, lửa cháy, hư không, gió nhẹ vi diệu, hòa lẫn vào nhau, sản sinh ra cảnh tượng của đại pháp luân.

Đại pháp luân chân chính thì sẽ tương đương với mười phương thế giới, mười phương thế giới cũng tương đương với một đại pháp luân, mười phương sẽ quy về một, một quy về mười phương. Acharya Mật tông vận dụng niệm vô niệm phóng quang, trong ánh sáng này bao gồm tất cả các loại, ngầm vận chuyển đại kim cang luân. 

Tùy cơ khởi dụng.
Đây chính là tam mật đã làm xong du già vô thượng của đại chuyển pháp luân. Toàn bộ tâm pháp của Đại chuyển pháp luân quán đều ẩn nghĩa ở trong đó.

Tâm pháp vô thượng Đại chuyển pháp luân này khiến tôi nghĩ đến thiền sư Diệu Phong và đại sư Hàm Sơn, tại Bồ Phản, đã đọc "Vật Bất Thiên Luận" của tăng Triệu. 
Thiền sư Diệu Phong hỏi đại sư Hàm Sơn:
"Có tâm đắc gì?"
Đại sư Hàm Sơn đáp: 
"Hôm qua thấy dưới sông có hai con trâu sắt đang đánh nhau ở trong nước, đến hôm nay chẳng có tin tức gì."
Thiền sư Diệu Phong nghe xong nói:
"Mừng quá, từ nay có vị trí tại núi này rồi."

Câu trả lời của đại sư Hàm Sơn có hàm nghĩa rất sâu. Một câu "Hai con trâu đấu nhau" đã làm khó rất nhiều pháp sư, thật ra đây chính là:
"Lấy huyễn tu huyễn."
"Ví như lửa đá."
"Hai khúc gỗ như nhau."
"Lửa cháy gỗ hết."
"Tro bay khói tản."
Năm câu trên đây chính là ý nghĩa chân chính trong câu trả lời của đại sư Hàm Sơn.

Thượng sư Mật tông nên hiểu rằng, quán tưởng là huyễn, tự thân cũng là huyễn, pháp tu trì này chính là lấy huyễn tu huyễn, giống như dùng khúc gỗ để đánh lửa vậy, kết quả là quả nhiên đã có lửa, cuối cùng là lửa đốt cháy hết, khúc gỗ cũng không còn nữa.

Hai con trâu sắt đấu nhau của đại sư Hàm Sơn, đi vào trong nước, không có tin tức gì cả, chính là ý này.

Tu trì Đại chuyển pháp luân quán, đến được cảnh giới tương ứng rồi, bản thân bỗng nhiên quên mất sự tồn tại của thân mình, và pháp luân trong vũ trụ cũng đột nhiên tiêu biến. Chỉ cảm thấy trời đất vạn vật im phăng phắc, thân mình và pháp luân đều mất sự tồn tại, nhìn xuyên suốt thấu rõ thế giới là một vùng ánh sáng trong suốt, giống như một tấm gương tròn lớn, núi sông mặt đất, người và vật đều hiện bóng ở trong đó, rõ ràng mồn một. Lúc này giống như cảm giác ban đầu về một giấc mộng lớn, trong vắt và tịch tĩnh.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng Đại chuyển pháp luân quán giống như cảnh giới "pháp giới viên dung vô tận" của Hoa Nghiêm Thập Huyền Môn, cũng chính là quán pháp giới viên dung. Chính là "phân biệt là thức, không phân biệt là trí, dựa vào thức thì nhiễm, dựa vào trí thì tịnh, nhiễm có sinh tử, tịnh không chư Phật" của Di Lặc Bồ Tát.

Vào mùa hè, Liên Sinh Hoạt Phật nhảy xuống hồ Sammamish, tôi hét to: "Trâu đất xuống biển rồi." Mọi người lấy làm lạ, không hiểu hàm nghĩa trong câu nói của tôi. Vào mùa đông, Liên Sinh Hoạt Phật đem gỗ ra nhóm lửa, quẳng khúc gỗ vào trong lò lửa, tôi hét to: "Khúc gỗ không còn nữa, lửa cũng không còn nữa." Mọi người cũng ngạc nhiên, không hiểu ý tôi.

"Thỉnh Hoạt Phật khai thị?"
"Bạn có hiểu tính chất của nước không? Có hiểu tính chất của lửa không? Có hiểu tính chất của gió không? Có hiểu tính chất của đất không? Có hiểu tính chất của không không? Nếu hiểu được năm tính chất này thì cũng chính là Kim cương Thượng sư chân chính rồi."
Tu trì Đại chuyển pháp luân quán.
Chính là Kim cương Thượng sư đại chuyển pháp luân quán, tu trì "ánh sáng mà không chói". 

Các đệ tử Chân Phật Tông ở trong luân hồi, luôn luôn cần nhắc đến hai câu, hai câu này chính là, "thỉnh chuyển pháp luân" và "không nhập niết bàn".

"Thỉnh chuyển pháp luân" và "không nhập niết bàn" này chính là thỉnh Kim cương Thượng sư chân chính chuyển pháp luân và không niết bàn. Đại chuyển pháp luân này là thù thắng, chở tất cả người trí và kẻ ngu, có thể lợi lạc tất cả chúng sinh hữu tình, bởi vì có chuyển pháp luân rồi mới có thể khiến con người sống trên thế giới này có được lợi ích chân chính, giống như cơn mưa pháp cam lộ phủ khắp nơi, tưới đẫm toàn bộ mặt đất.

Tất cả thân biến huyễn của Kim Cương Trì phổ biến thị hiện tất cả thân tướng của ngoại, nội, mật, trong hư không vô hạn dùng đại từ đại bi để chuyển pháp luân, vì thế đệ tử Mật tông phải luôn luôn trong lúc hồi hướng, thỉnh Thượng sư của mình chuyển ba diệu pháp luân ngoại, nội, mật. Thỉnh "không nhập niết bàn" chính là thỉnh Kim cương Thượng sư thường trụ nhân gian, theo đạo lý mà nói, thân của Kim cương Thượng sư là không có sinh tử, vốn dĩ ngài đã tự chủ sinh tử rồi, muốn sinh thì sinh, muốn tử thì tử, tất cả đều tự nhiên tự tại. Tuy nhiên, nếu có Kim cương Thượng sư trụ thế, thường chuyển pháp luân, chúng sinh sẽ có thể có được lợi ích. Vì thế đệ tử Mật tông trong khi hồi hướng phải niệm: "Chỉ mong không hiện niết bàn và thường trụ."

Thành tựu giả của pháp Đại chuyển pháp luân quán có thể che chở cho những người không tin Phật, thậm chí những chúng sinh xấu ác, ngay cả những người phỉ báng, bởi vì sức mạnh che chở này mà các thiện tín đến quy y sẽ gia tăng, trí huệ của người quy y sẽ tăng trưởng. Do sự che chở của Kim cương Thượng sư, kẻ ngu cũng sẽ có thành tựu, bất kể người hữu duyên hay vô duyên, hoặc là kẻ cố ý đi ngược duyên phận, kẻ cắt đứt tất cả, kẻ dừng hết tu pháp, đều sẽ lại sản sinh ra tâm dũng mãnh mới.

Thành tựu giả của pháp Đại chuyển pháp luân quán là bậc chính giác, là bậc từ mẫn, là Như Lai, là bồ đề tâm vô thượng, là làm tất cả hạnh Bồ Tát, hoàn toàn là vì lợi ích chúng sinh.

Mong rằng tất cả hành giả Chân Phật cần theo thứ tự mà tu học Mật pháp, phát bồ đề tâm vô thượng, tu tất cả mọi tu học của Bồ Tát, vì lợi ích tất cả chúng sinh. 

Các Thượng sư học tập tu trì Đại chuyển pháp luân quán phải niệm: "Nam mô Liên Sinh Hoạt Phật, con tên là Thượng sư ABC, tại đây một lòng bắt đầu từ hôm nay, phát bồ đề tâm vô thượng, những gì con làm sẽ quyết định quả bồ đề. Thử chuyển đại pháp luân, kiên cố và thọ trì, cho đến khi diệu pháp chính giác phổ truyền, vượt khỏi Như Lai tương ứng bộ. Nay con mới bắt đầu nhất định duy trì, quảng đại tối thượng Kim Cang bộ, phụng sự Hoạt Phật cũng như thế, đạt đến pháp luân diệu bố thí, lập tức phát niệm chân thực như vậy, vì lợi ích tất cả hữu tình."


### 11. Đại Nhật Như Lai quán


Đại Nhật Như Lai có tên tiếng Phạn là Maha Vairocana, cũng chính là Đại Quang Minh Biến Chiếu, hoặc Đại Nhật Biến Chiếu, hoặc Biến Nhất Thiết Xứ Chiếu. Vị Như Lai này có ý nghĩa là ánh sáng chiếu tất cả vạn vật vũ trụ mà không có chút chướng ngại nào. Bởi vì Đại Nhật Như Lai, về bên trong thì chiếu xuyên pháp giới chân như, về bên ngoài thì chiếu khắp tất cả chúng sinh mà không có chướng ngại, cho nên sự viên mãn các đức hành của ngài, pháp tính vĩnh viễn bất biến của ngài, có thể nói là tập hợp tất cả pháp tính của chư tôn, và ở khắp mọi nơi, vì vậy ngài được tôn là chủ tôn của Mật tông, tức là Đại Nhật Giáo Chủ.

Hình tượng của Đại Nhật Như Lai trong Kim cương giới là: "Pháp thân Đại Nhật Trí, thân Phật có màu vàng của diêm phù đàn kim, giống như tướng của Bồ Tát, đầu đội búi tóc như vương miện, toàn thân phóng ra ánh sáng đủ màu sắc, thân khoác dải lụa, đây là ấn hiệu của bậc chính giác tối cao tại Hội Đầu Đà Thiên, tay kết ấn trí quyền."

Hình tượng của Đại Nhật Như Lai trong Thai tạng giới là: "Đại Nhật Như Lai ngồi trên tòa hoa sen tám cánh. Toàn thân màu vàng kim, có hình tướng giống Bồ Tát, chân ngồi kiết già trên tòa hoa sen quý, đầu đội mũ Ngũ Phật, đeo dải khăn trắng, phía sau đầu là vòng tròn ánh sáng ngũ sắc đan xen, ánh sáng trên đầu như mây, ánh sáng từ thân tỏa ra nhiều lớp, nhẹ như tơ, mái tóc màu xanh tím rủ xuống hai vai. Tai đeo khuyên tai vàng, cổ đeo nhiều vòng chuỗi hạt châu báu, mọi châu báu quý giá, và tóc bằng ngọc xanh và lộng lẫy, xõa xuống đầu gối, đeo vòng ngọc trên hai cánh tay, hai cổ tay đeo vòng vàng. Hai lòng bàn tay đặt lên nhau, tay phải ở trên, tay trái ở dưới, ngón cái chạm vào nhau, ngửa lên, đặt bên dưới rốn. Thân trên khoác áo trắng nhẹ nhàng đẹp đẽ, bên dưới mặc váy gấm, gấm xanh quần lụa, đai dệt bằng gấm xanh."

Tại Chân Phật Mật Uyển có hai bức mandala, bức bên phải là madala Kim cương giới, bức bên trái là mandala Thai tạng giới. Còn Đại Nhật Như Lai chính là "Kinh Đại Nhật" và "Kinh Kim Cương Đỉnh" - hai bộ giáo điển căn bản của Mật tông, chiếm vị trí chủ tôn trong hai bộ mandala Kim cương giới và Thai tạng giới.

Nghe nói, đại sư Hoằng Pháp (Không Hải) của Nhật Bản đến Trung Thổ học Mật tông, đại sư Hoằng Pháp ở chỗ của lão hòa thượng Huệ Quả đã tung hoa để chọn Bổn tôn, cú tung hoa đó đã tung trúng vào Đại Nhật Như Lai. Đại sư Hoằng Pháp của Nhật Bản chính là tổ sư Đông mật của Mật tông Nhật Bản.

Tên gốc của kinh Đại Nhật là kinh Đại Tỳ Lô Giá Na Thành Phật Thần Biến Gia Trì. Lấy Tỳ Lô Giá Na làm biệt danh của mặt trời, do vậy nói rằng kinh Đại Nhật và 14 quyển giải nghĩa đều là sáu quyển kinh văn đầu trong số bảy quyển kinh gốc do Thiện Vô Úy Tam Tạng giải thích. Quyển thứ bảy nói về thứ tự cúng dường mà bản kinh này đã nói, là do pháp sư Bất Khả Tư Nghì giải thích, gọi là Bất Khả Tư Nghì Sớ. 

Tên gốc của kinh Kim Cương Đỉnh là kinh Kim Cương Đỉnh Nhất Thiết Như Lai Chân Thực Nhiếp Đại Thừa Hiện Chứng Đại Giáo Vương, là tên chung của 10 vạn bài kệ 18 hội bản tiếng Phạn. Ba quyển do Bất Không dịch, còn Thí Hộ thì dịch kinh Phật Thuyết Nhất Thiết Như Lai Chân Thực Nhiếp Đại Thừa Hiện Chứng Tam Muội Giáo Vương. Ngoài ra còn có kinh Kim Cương Đỉnh Du Già Trung Lược Xuất Niệm Tụng do Kim Cương Trí dịch. Ba bản dịch này đều là kinh Kim Cương Đỉnh.

Ngày xưa Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn từng nói, tiền thân của Liên Sinh Hoạt Phật là Liên Hoa Đồng Tử, tiền thân của Liên Hoa Đồng Tử là Vô Tà Nhãn Như Lai, tên gọi khác của Vô Tà Nhãn Như Lai chính là Phật Nhãn Phật Mẫu. Phật Nhãn Phật Mẫu vốn là Đại Cát Tường Kim Cang Minh Phi, là do Đại Nhật Như Lai sinh ra.

Liên Sinh Hoạt Phật biết rằng Đại Nhật Như Lai có một xưng hiệu khác mà người đời không biết, tôn xưng của ngài là: 
"Tối Cao Hiển Quảng Nhãn Tạng Như Lai."

Cho nên bí mật pháp thân biến hóa của Liên Sinh Hoạt Phật chính là: 
Đại Nhật Như Lai - Vô Tà Nhãn Như Lai (Phật Nhãn Phật Mẫu) - Liên Hoa Đồng Tử -  Liên Sinh Hoạt Phật.

Tôi đặc biệt viết ra bài kệ tụng tán Đại Nhật Như Lai như sau: 
(Trước khi tu pháp thì hát bài tụng tán.)

*Quy mệnh Đại Nhật lễ Tam Bảo.
Giáo chủ tạo nên muôn hình tướng.
Nhãn Tạng Như Lai đại bi tôn.
Thanh tịnh ba nghiệp lợi chúng sinh.
Thắng hết tam thế thập phương Phật.
Trong bí mật thừa cũng kham năng.
Ruộng phúc vô thượng đáng ca ngợi.
Lệnh đắc ba thân lần lượt thành.
Cúi lạy Đại Nhật tự tại chủ.
Chuỗi ngọc trang nghiêm chuyển pháp luân.
Trong Kim cương giới đức vô biên.
Thiện xảo huyễn võng bền bỉ giữ.
Trao truyền quán đảnh các thắng nghiệp.
Quyền hiện phàm tướng Thai tạng giới.
Tam muội du già thập bát hội.
Đảnh lễ thỉnh cầu hiện diệu nghĩa.*

Trước khi tu pháp, ở trong mật đàn, cần tụng tán ba lần.

Bây giờ tôi sẽ tường thuật lại nghi quỹ tu trì Đại Nhật Như Lai quán như sau:

(Bắt đầu từ niệm chú thanh tịnh cho đến Cao Vương Quan Thế Âm chân kinh, từ mục 1 đến 7 mỗi lần tu pháp đều phải làm, nên ở đây lược bỏ.)

Kết ấn: ấn trí quyền — Tay trái nắm lại, duỗi ngón trỏ ra, năm ngón tay phải nắm lấy ngón trỏ tay trái, ngón cái tay phải đè lên đầu ngón trỏ tay trái, giữ ấn trước ngực.

Quán tưởng: đầu tiên quán tưởng chủng tử chữ Fan của Bổn tôn ở trong hư không xoay tròn, sau đó quán tưởng chủng tử tự hóa thành bảo tháp trang nghiêm. 


![Chủng tử Fan](/img/img_863676435821a1208e007acb7bc10dd9.png)


Từ bảo tháp trang nghiêm lại chuyển thành Tỳ Lô Giá Na Như Lai. Tỳ Lô Giá Na Phật ngồi nghiêm tư thế kiết già trên tòa hoa sen tám cánh ở giữa nguyệt luân, có màu vàng kim đại uy đức, thân khoác thiên y màu trắng lông ngỗng, có tất cả mọi tướng tốt, phong thái an tường viên mãn, đầu đội mũ miện, tóc rủ xuống như dải lụa tết, thân thể là tất cả minh chú, làm vô lượng thần biến, tay kết ấn đại trí quyền, phóng tỏa vô lượng ánh sáng quý.

Quán tưởng trong vô lượng ánh sáng quý có vô lượng chủng tử chữ Fan, vô lượng ánh sáng quý quán đảnh cho hành giả Mật tông, chủng tử tự của Bổn tôn ở tim, ở mi tâm, ở họng, ở rốn, ở hai tay, ở hai chân, chủng tính của Bổn tôn đầy ắp toàn thân. Nói cách khác là hành giả Mật tông toàn thân đầy ắp chủng tính tự và bách bảo vô lượng quang.

"Đoàng" một tiếng, trong sát-na, hành giả biến hóa thành Đại Nhật Như Lai. 

Niệm chú: "Ôm. Mua-rư-la-thua-tu. Chung." (108 biến)

Niệm chú xong, hơ chuỗi hạt trên lư hương, hai tay chắp thế hoa sen nâng chuỗi hạt, đặt trước ngực, quán tưởng chân ngôn chữ Fan, dung nhập vào trong chuỗi hạt, thành tựu công đức bí mật tạng. Từ đó quán tưởng chữ Fan nhập vào trong 108 hạt của chuỗi hạt.

Niệm chú: "Ôm. Mua-rư-la-yu-xi-yê. Rưa-pua. Sa-ma-ti. Hùm." (7 biến)

Tĩnh tọa (kết ấn). Nhập Tam ma địa. 
Tam ma địa này tức là Tam ma địa của Đại Nhật Như Lai. Chính là Đại Nhật Như Lai ngũ tướng thành thân. Tại Sắc cứu cánh thiên vương cung hiện thành đẳng chính giác, có đầy đủ tất cả Như Lai Phổ Hiền đại bồ đề tâm, dùng sức mạnh samaya để sản sinh ra Tam ma địa kiên cố nhất, hỷ lạc vô cùng.

Xuất định hồi hướng:
Nguyện đem công đức này.
Tự thành Đại Nhật tôn.
Thập phương Phật Bồ Tát.
Hiện ngay trong mạn-đà.

Vỗ tay xuống khỏi pháp tọa.
Đại lễ bái Phật. Rời khỏi đàn thành.
Viên mãn cát tường.

🌟

Trong Đại Nhật Như Lai quán, Liên Sinh Hoạt Phật có một miêu tả đặc biệt, chính là lấy chủng tử pháp tính của Bổn tôn bí mật dung nhập vào trong chuỗi hạt, trở thành bí mật công đức tạng. Pháp bí mật này vô cùng trân quý, pháp này có một tên gọi chính là Chuyển châu minh. 

Yếu quyết của Đại Nhật Như Lai quán đương nhiên trước tiên là chú tự, sau đó là bảo tháp, rồi biến thành Đại Nhật Như Lai. Tiếp đó là chú tự phóng ánh sáng đầy ắp toàn thân, thế là tự mình biến thành Bổn tôn Đại Nhật Như Lai. 

Hành giả tu trì Đại Nhật Như Lai quán nếu đắc thành tựu thì chắc chắn trở thành "hải nội long tượng". Thế nào là hải nội long tượng? Đây là một so sánh rồng đi trong nước, sức mạnh lớn nhất, voi đi trên đất liền cũng có sức mạnh lớn nhất, rồng và voi chính là người gánh vác đại pháp. Nói ngắn gọn là, thanh danh vang dội khắp thế giới, thành tựu của người đó sẽ khiến người đời kinh thán.

Theo như tôi biết, người chuyên tu trì Đại Nhật Như Lai quán có thể tức thân thành Phật, đồng thời thân có ánh sáng, nếu hành nghề y cứu đời thì chính là một vị danh y.

Tôi nhớ có một danh y Lama chuyên bí mật tu Đại Nhật Như Lai quán. 
Danh y Lama này cùng nhiều vị Lama cưỡi ngựa đến vùng xa, đến nơi mà dân cư ít đến, có một con ngựa trong số đó đột ngột chết, vì thế hành trình bị trì hoãn.

Danh y Lama nói: "Tôi có thể khiến cho ngựa chết sống lại."
Mọi người nghe xong thì đều lắc đầu không tin. 
Danh y Lama chỉ yêu cầu ở cùng con ngựa chết một đêm.
Danh y Lama ban đêm ngủ cùng ngựa, dùng mũi mình hít thở vào mũi con ngựa. Kể cũng lạ, con ngựa đó có được khí trong người của danh y Lama thì không ngờ đã sống dậy, nhảy vọt lên, cất tiếng hí như bình thường.
Các Lama khác đều kinh thán.
Lúc đó họ mới biết công đức to lớn của Đại Nhật Như Lai quán.

Người tu trì Đại Nhật Như Lai quán sẽ có năng lực di chuyển được núi và biển, ví dụ, người đó biết rằng biển sẽ biến thành ruộng dâu, núi cũng sẽ biến thành biển, đồng thời, có thể dự tính được khi nào núi biến thành biển, biển biến thành núi.

Nói chung, ở trong một đất nước, hoặc một bang, hoặc  một thành phố nếu có người tu thành tựu pháp Đại Nhật Như Lai quán thì đất nước, bang hoặc thành phố đó sẽ ít có thiên tai như bão hoặc động đất, hoặc lũ lụt hạn hán, hoặc dịch bệnh, v.v… Chủ yếu là vì pháp Đại Nhật Như Lai quán có đại nhật chiếu khắp, chắc chắn khiến cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, ngũ cốc dồi dào, người người an cư lạc nghiệp.

Người tu trì Đại Nhật Như Lai quán, đương nhiên tâm lượng phải vô cùng lớn, phải lấy tâm từ bi làm chính. Trong Phật pháp, tâm từ bi phân làm ba loại:
Chúng sinh từ — tức là coi chúng sinh trong thiên hạ là cha mẹ, anh em mình. (Ta kính trọng bậc cha mẹ ta cũng như kính trọng các bậc cha mẹ của mọi người, ta yêu thương con em ta cũng như yêu thương con em của mọi người.) [Lời của Mạnh Tử] Thậm chí coi chúng sinh trong thiên hạ giống như là chính mình. 

Pháp duyên từ — phá bỏ ngã tướng, hoàn toàn thông đạt cái không gốc của mọi pháp, như phá bốn tướng của kinh Kim Cang, cái từ bi do phá bốn tướng dẫn đến chính là pháp duyên từ.

Vô duyên từ — đây là cái từ "tam luân thể không" vô tận, tức là cái từ bi của chư Phật, có thể phổ duyên tất cả chúng sinh, biết các duyên không thật, hư vọng điên đảo, vì thế tâm không có nguyên do. Tuy làm việc từ bi nhưng không thấy người nhận sự từ bi đó, không thấy người làm việc từ bi, thậm chí không biết người làm việc đó là từ bi, đó là không bỏ sót không tướng, cũng không bỏ sót hữu tướng. Kiểu từ bi này gọi là vô duyên từ và vô sự từ.

Đại Nhật Như Lai quán kì thực là pháp phản quán nội chiếu, phần đông người chuyên tu thành tựu tương ứng có thể nhìn thấy ngũ tạng bên trong thân thể mình sáng đẹp rực rỡ.

"Ngũ tạng trong người, sáng như đại nhật" - cái thần trí sáng rõ này, trong pháp tu này là một công phu thực tiễn, người thành tựu pháp này ở trong bóng tối thì con mắt cũng có ánh sáng long lanh, có thể ở trong đêm tối không cần bật đèn cũng có thể nhìn thấy vật, đây là sự tương ứng ban sơ nhất.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng đại thành tựu giả của pháp tu hành vào lúc lâm chung có thể ngay cả lông tóc xương cốt cũng sẽ hóa hết, không còn sót lại một chút nào, không có một chút tro nào, hoàn toàn dung nhập vào trong đại nhật. Đạo thăng thiên này còn lợi hại hơn cả hóa thân cầu vồng. Đây là:
Chôn xương chẳng cần nơi đất tổ.
Hào quang đại nhất thấu huyền quan.


### 12. Lục độ Bồ Tát quán


Người học Phật bước vào pháp Bồ Tát thừa đều muốn học tập "lục độ lý". Lục độ lý chính là phẩm hạnh của Bồ Tát. Còn lục độ tức là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ.

Lục độ chính là sáu ba-la-mật, có ý nghĩa là dựa theo sáu loại hành pháp để vượt qua biển sinh tử, đến được bờ bên kia của niết bàn. 

Liên Sinh Hoạt Phật đọc kinh, biết có "sáu việc thành tựu", "Kinh Trang Nghiêm" viết: "Các Bồ Tát vì thành tựu sáu độ. Ở trong các địa quyết định ứng tác sáu việc. Một là phải nên cúng dường. Đây là để thành tựu đàn độ [đàn độ: thuật ngữ Phật giáo, tức là đàn ba-la-mật, đàn có ý nghĩa là thí cho]. Nếu không cúng dường dài lâu. Ắt đàn độ không được viên mãn. Cúng dường như cúng dường vật phẩm và lời nói. Hai là phải nên học giới. Đây là để thành tựu giới độ. Nếu không học giới dài lâu. Ắt giới độ không được viên mãn. Ba là phải nên tu bi. Đây là để thành tựu nhẫn độ. Nếu không lâu dài nhẫn nại các việc không có nhiều lợi ích. Ắt nhẫn độ không được viên mãn. Bốn là phải nên chăm làm việc thiện. Đây là để thành tựu tấn độ. Nếu tâm phóng túng không tu các việc thiện. Ắt tấn độ không được viên mãn. Năm là phải nên rời xa bạn hữu. Đây là để thành tựu thiền độ. Nếu sống nơi xóm làng. Tâm sẽ nhiều phiền nhiễu hỗn loạn. Ắt thiền độ không được viên mãn. Sáu là phải nên ưa thích pháp. Đây là để thành tựu trí độ. Nếu không đi gặp hết các chư Phật, nghe pháp không chán ghét, như biển thu nạp dòng chảy chẳng khi nào là thừa. Ắt trí độ không được viên mãn."

Lục độ còn là để đối trị pháp xấu, ác nghiệp, tâm oán hận, lười biếng, tâm rối loạn, ngu si.

Thứ tự phát triển của lục độ là "Bồ Tát xả bỏ tất cả mọi thứ của thế tục, xuất gia học đạo, gọi là đàn ba-la-mật [dana-paramita]. Vì đã xuất gia, thọ giới Bồ Tát, gọi là thi-la ba-la-mật [sila-paramita]. Vì bảo vệ giới, tuy bị trách mắng, cũng im lặng chịu nhịn mà không đáp trả, gọi là sạn-đề ba-la-mật [ksanti-paramita]. Vì giới đã thanh tịnh rồi, siêng tu thiện đạo, gọi là bì-lê-da ba-la-mật [virya-paramita]. Vì nhờ tinh tấn mà điều phục được năm căn, gọi là thiền ba-la-mật [dhyana-paramita]. Vì đã điều phục được năm căn, biết pháp giới chân chính, gọi là bát-nhã ba-la-mật [prajna-paramita]."

Ví von về lục độ, trong "Kinh Hoa Nghiêm" có khai thị như thế này:
Trí huệ là người mẹ.
Bố thí là sữa mẹ.
Giới là nuôi dưỡng mẹ.
Nhẫn nhục là dụng cụ trang nghiêm.
Tinh tấn là dưỡng dục.
Thiền định là gột rửa.

Trong Lục độ Bồ Tát quán của Đại Mật Tông, mỗi độ có một bài kệ, tôi đặc biệt cung kính trích ra như sau:

Bố thí:

*Thân và tiền tài ba thời gom góp góp phước báu.
Chuyển thành những thứ chúng sinh mong cầu.
Bền bỉ tăng trưởng quyết tâm xả bỏ không chấp.
Thí ba-la-mật viên mãn cầu gia hộ.*

Trì giới:

*Giới là mật chú để Bồ Tát được giải thoát.
Giới bảo vệ mạng mình không được buông bỏ. 
Giữ lấy pháp thiện và làm nhiều lợi ích hữu tình.
Giới ba-la-mật viên mãn cầu gia hộ.*

Nhẫn nhục:

*Chúng sinh tam giới tất cả đều phẫn nộ.
Chửi mắng sỉ nhục thù hằn và sát hại.
Cũng không ưu phiền báo oán vẫn bố thí.
Nhẫn ba-la-mật viên mãn cầu gia hộ.*

Tinh tấn:

*Vì một chúng sinh cũng ở ngục vô gián.
Sống trong lửa cháy dù muôn kiếp như biển.
Từ bi tận tụy tinh tấn bước đến bồ đề.
Cần ba-la-mật viên mãn cầu gia hộ.*

Thiền định:

*Đoạn trừ bệnh hôn trầm trạo cử tán loạn.
Quán đạo lý các pháp tự tính là không.
Dựa vào chuyên tâm hứng thú dừng trong định.
Thiền ba-la-mật viên mãn cầu gia hộ.*

Trí huệ:

*Ở trong chân thực biết hết diệu quan sát.
Từ đó khinh an đại lạc viên dung.
Thắng nghĩa đẳng trì tương ứng hư không.
Huệ ba-la-mật viên mãn cầu gia hộ.*

(Bài kệ lục độ này niệm tụng trước khi tu pháp, niệm 1 biến hoặc 3 biến.)

Bây giờ xin thuật lại nghi quỹ tu trì Lục độ Bồ Tát quán như sau: 

(Bảy mục Tiền hành chiếu theo các nghi quỹ khác.)

Kết ấn:

Lục độ ba-la-mật tổng cộng có sáu loại thủ ấn, hành giả Mật tông khi tu trì, trong khi quán tưởng có thể lần lượt diễn hóa.

Thủ ấn bố thí: tay trái nắm lại úp xuống, tay phải ngón cái đè lên ngón giữa tạo thành vòng, bàn tay mở ra giống như thí đồ.

Thủ ấn trì giới: hai tay đan nội phộc, hai ngón cái cùng giơ lên.

Thủ ấn nhẫn nhục: hai tay đan nội phộc, hai ngón trỏ giơ thẳng chạm vào nhau, hai ngón cái cũng giơ thẳng.

Thủ ấn tinh tấn: hai tay đan nội phộc, hai ngón trỏ giơ thẳng, không chạm nhau.

Thủ ấn thiền định: chính là pháp giới định ấn, tay trái ở dưới, tay phải ở trên, hai ngón cái chạm vào nhau.

Thủ ấn trí huệ: tay trái ở dưới, tay phải ở trên, hai lòng bàn tay úp vào nhau.

Hành giả Chân Phật Tông khi tu Lục độ Bồ Tát quán cũng có thể chỉ kết một thủ ấn, thủ ấn này chính là phương tiện ba-la-mật cực kì bí mật. Thủ ấn phương tiện ba-la-mật là: đặt hai ngón cái vào trong lòng bàn tay rồi nắm lại, rồi cả hai tay đều giơ thẳng ngón trỏ và ngón áp út, hai ngón áp út chạm vào nhau, hai ngón trỏ chạm vào nhau.

Quán tưởng: 

Trong hư không xuất hiện một vòng tròn ánh sáng thanh tịnh giống như vầng trăng, óng ánh như tuyết, đó là do đại viên kính trí ngưng tụ lại mà thành, sau đó thu toàn bộ lục độ chủng tính vào trong vầng trăng này.

Trong quán tưởng này có một bài kệ huyền diệu:

*Các pháp nội ngoại ví như huyễn và mộng.
Cũng như nước hồ trong suốt hiện vầng trăng.
Chiếu không thấy hình thắng nghĩa được thông đạt.
Huyễn tam ma địa viên mãn cầu gia hộ.
Luân hồi niết bàn tự tính không nhiễm bụi.
Nhân quả nhân duyên là hai điều chân thật.
Làm bạn với nhau chẳng hề mâu thuẫn.
Mật ý Long Thụ thông đạt hiện tất cả.*

Hành giả Mật tông phải biết đây là khẩu quyết của Lục độ Bồ Tát quán rất quan trọng, yếu nghĩa về tu tâm của Bồ Tát Đại thừa đều ở hết trong đó. Trong đó có quán tưởng trừ ma, có quán tưởng bồ đề, có quán tưởng trợ đạo, có quán tưởng cúng dường, quán tưởng sáu độ đều tập hợp ở trong "vầng trăng tròn sáng". 

Kiểu quán tưởng này chỉ có thể hiểu ngầm mà không thể nói ra, chính là tu tập quán tưởng thắng nghĩa tâm, sản sinh ra thắng nghĩa bồ đề tâm, từ đó kiến đạo là điều chắc chắn không phải nghi ngờ, thông đạt tất cả lý thú, đạt đến sự viên mãn của chứng kiến lục độ.

Hành giả Mật tông tự thấy thân mình nhập vào trong vầng trăng tròn sáng thanh tịnh.

Trì chú:
"Ôm mao-ti-chư-tô mu-tan-pô-na yê-mi." (108 biến)

Nhập Tam ma địa:

Hành giả Mật tông dùng tam mật thân khẩu ý gia trì ba lần, đột ngột cảm thấy vầng trăng đến gần, thân mình giống như ở trong màn sương ánh sáng nhẹ, các Như Lai dùng ánh sáng trí huệ không ngừng chiếu đến mình từ trên chiếu xuống từ dưới hắt lên. Cuối cùng tự thân dần dần biến hiện thành tướng mặt trăng đẹp tuyệt diệu, đây chính là Tam ma địa viên minh của đại viên kính trí.

Xuất định hồi hướng:

*Nhờ sáu độ thiện xảo phương tiện thù thắng.
Tu tập hiện nguyệt Bồ Tát tăng thượng quán.
Vì độ chúng sinh xuất ly biển khổ.
Đại bồ đề tâm tu quán cầu gia hộ.*

Vỗ tay, rời khỏi pháp tọa.
Đại lễ bái Phật. Rời khỏi đàn thành.
Cát tường viên mãn.

🌟

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, pháp quán này đã bao hàm "nguyệt hoa minh không", chính là bồ đề tâm của "Không nghĩa", còn tâm lục độ của chính mình chính là bồ đề tâm hạnh nguyện phương tiện, đây là pháp hợp tu của Hiển giáo và Mật giáo. Tôi đã lĩnh hội được rằng nhập Tam ma địa là pháp đặc biệt thù thắng của Mật tông, chính là sự xuất hiện của pháp thân "nội minh". Pháp quán phóng quang vô cực, chiếu khắp mười phương này không phải người biết trí huệ diệu tính thì không thể chứng nhập được!

Lục độ Bồ Tát quán chính là pháp thân vô tướng và tâm của hành giả hòa làm một thể.
Mặt trăng tròn xuất hiện trước mặt hành giả.
Hành giả hòa nhập vào, không để lại một chút dấu vết.
Đây là đại khẩu quyết chân thực của Lục độ Bồ Tát quán.

Vì viết Lục độ Bồ Tát quán mà tôi liên tưởng đến vấn đề của pháp xuất thế và pháp nhập thế, trong đó pháp xuất thế chính là chân đế, còn pháp nhập thế chính là tục tế. 

Liên Sinh Hoạt Phật vì giải thích chân đế và tục đế mà thường xuyên dùng câu chuyện của hòa thượng Bố Đại để ví von về hai cảnh giới này.

Ngày xưa, hòa thượng Bố Đại khoác bao bố, phiêu bạt nơi đầu đường xó chợ, gặp một tăng nhân, tăng nhân bình thường đã nghe tên hòa thượng Bố Đại là người có đạo hạnh, thế là bèn đi nhanh về phía trước hỏi: "Nếu nói ra được Phật pháp thì sẽ thưởng cho một khoản tiền." Hòa thượng Bố Đại không nói gì, ngay lập tức buông bao bố xuống. 

Tăng nhân nhìn thấy vậy, dường như ngộ ra, bèn đưa ra một khoản tiền rồi bỏ đi. 
(Việc buông bỏ bao bố này là chỉ tất cả đều có thể buông bỏ, buông bỏ tức là nhìn thấu thói đời, buông bỏ vạn duyên, có thể xuất thế, hoàn toàn buông bỏ chính là giải thoát tự tại. Đây là một phép ẩn dụ, nhìn thì có vẻ rất tầm thường, kì thực rất cao thâm, người có thể buông bỏ chính là vô sự, buông bỏ tự tại tức là giải thoát, đây là chân đế, còn được gọi là ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt. Thế nhân hiếm ai có thể đạt đến được cảnh giới như vậy.)

Lại nói, có một lần khác, lại có một tăng nhân hỏi: "Đại ý của Phật pháp là gì?" Hòa thượng Bố Đại lại không nói không rằng, buông bao bố xuống. Rồi tăng nhân kia lại hỏi tiếp: "Buông bỏ bao bố rồi, phải chăng còn có một đạo lý cao hơn một bậc nữa?" Hòa thượng Bố Đại nghe xong, lại không nói không rằng, nhấc bao bố lên, khoác bao bố bỏ đi.

(Nhấc bao bố, khoác bao bố bỏ đi này chính là nói rằng, bản thân bạn đã ngộ ra đạo lý buông bỏ rồi thì phải độ chúng sinh, nhấc bao bố lên chính là gánh vác gia nghiệp của Như Lai, buông bỏ là tự độ mình, nhấc lên là độ người. Còn pháp lục độ là phải đi thực hành bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, bát nhã, những việc này đều phải lần lượt gánh vác, đây là đại sự nghiệp nhập thế độ chúng sinh.)

Đại ý ở đây có thể nói như sau:
Chân đế — pháp xuất thế — buông bỏ — không — vô sở đắc.
Tục đế — pháp nhập thế — nhấc lên — hữu — hữu sở đắc.

Nói chung, đại ý của Phật pháp là phải buông bỏ được, cũng phải nhấc lên được, nhưng khi nhấc lên cũng cần có thể đặt xuống được, điều này biểu thị rằng không chấp vào tướng của thế tục. Tuy là nhập thế, nhưng thật ra là “làm không vì gì cả”. Đến được cảnh giới như vậy rồi thì hữu sở đắc cũng chính là vô sở đắc. 

Bởi vậy, đệ nhất nghĩa đế của Trung đạo chính là: Không-hữu viên dung. Chân-tục là một.
Lục độ Bồ Tát quán chính là pháp tu trì Trung đạo.

Ngày xưa Liên Sinh Hoạt Phật tinh thông thần toán, mỗi ngày có tới mấy trăm người đến tìm gặp tôi, thật ra tôi không hề là xem bói mưu sinh, mà là gặp được người có duyên thì khuyên nhủ họ tu hành niệm Phật. 
"Làm cách nào để tránh tai họa?" - Khách đến hỏi.
"Thờ Phật niệm Phật đi!" - Tôi đáp.
"Tôi không có tiền để mua tượng Phật."
"Tôi có tượng Phật, không cần tiền của anh." - Tôi lập tức đến Phật đường, thỉnh một bức tượng Phật tặng cho người đó, đó là bức tượng Phật điêu khắc bằng gỗ, đáng giá mấy nghìn đồng. 
"Chăm chỉ niệm Phật, tự có thể tiêu tai."

Khách đến không những không cần đưa hồng bao mà lại còn kiếm được bức tượng Phật mấy nghìn đồng nữa, anh ta cảm động rơi nước mắt. 

Thật ra tôi buông bỏ được thì cái việc nhấc lên được là xem bói chỉ là cái tên, tôi chính là đang dạy người ta dùng Phật pháp, người buông xuống được, tính tình đạm bạc, cũng không mưu cầu tài lợi, khi đó tôi đã cảm hóa được rất nhiều người, vì thế mà chính phủ và dân chúng đều nghe đến danh tiếng của tôi. 

Liên Sinh Hoạt Phật cả đời này chưa từng mở miệng ra đòi người ta bao nhiêu tiền, phàm tất cả những việc xem bói, tiêu tai, tăng ích, chiêu tài, hàng phục, tất cả đều tùy ý. 

Hôm nay, cúng dường quy y Liên Sinh Hoạt Phật, nhất loạt đều tùy ý. 
Pháp hội cầu phúc, pháp hội siêu độ, phàm là pháp hội do Liên Sinh Hoạt Phật chủ trì, cũng nhất loạt tùy ý.
Tất cả tùy ý này chính là điển hình của Liên Sinh Hoạt Phật.

Người tu trì Lục độ Bồ Tát quán không những có thể xuất thế, mà cũng có thể nhập thế. Khi đạt đến tương ứng sẽ có mười sáu thiện thần đến giúp đỡ hành đạo, mười sáu thiện thần này chính là:
"Trì Quốc Thiên Vương, Tăng Trưởng Thiên Vương, Tỏa Phục Độc Hại Thiện Thần, Tăng Ích Thiện Thần, Sư Tử Uy Mãnh Thiện Thần, Dũng Mãnh Tâm Địa Thiện Thần, Nhiếp Phục Chư Ma Thiện Thần, Năng Cứu Chư Hữu Thiện Thần, Ly Nhất Thiết Bố Úy Thiện Thần, Cứu Hộ Nhất Thiết Thiện Thần, Đa Văn Thiên Vương, Quảng Mục Thiên Vương, Bạt Trừ Tội Khổ Thiện Thần, Năng Nhẫn Thiện Thần, Hoan Hỷ Thiện Thần, Trừ Nhất Thiết Chướng Nạn Thiện Thần."

Mười sáu vị thiện thần này sẽ xuất hiện trong hư không, bảo vệ hành giả Mật tông tu pháp, đồng thời tùy gọi tùy hiện. 

Thượng sư của Liên Sinh Hoạt Phật - Sakya Chứng Không Lama, là người tu trì Lục độ Bồ Tát quán đắc tương ứng. Sakya Chứng Không Lama kể:

Ngày xưa ngài từng ở trong một hang động tu pháp, trong hang động đó đã tu chín năm, khi xuống núi thì người dân thường đều biết, cũng thường cúng dường ngài. Vào một năm nọ, đất liền gặp hạn hán, dân cư dưới núi nghĩ đến ngài, liền tập hợp dân làng, do trưởng thôn dẫn đầu, đi cầu ngài giúp đỡ. 

Nhưng Sakya Chứng Không Lama chưa từng học qua pháp Hải Long Vương ban mưa, nhất thời không biết làm thế nào, lực bất tòng tâm. Sau đó, khi ngài tu Lục độ Bồ Tát quán, không ngờ nhìn thấy Bì Sa Môn Thiên (Đa Văn Thiên Vương) giáng xuống hiện thân. Đa Văn Thiên Vương nói với Sakya Chứng Không Lama là ngài có thể ban mưa, bởi vì tên gọi gốc của của Thiên Vương là Kim Bì La, nghĩa là giao long [loại rồng trong truyền thuyết có khả năng điều khiển mưa].  

"Hôm nay đồng ý với dân làng, ngày mai chắc chắn giáng mưa to." - Đa Văn Thiên Vương nói.
Dân làng lại đến, Sakya Chứng Không Lama liền đồng ý. 

Ngày hôm sau, quả nhiên mây đen giăng kín, sấm chớp đùng đùng, mây sinh ra từ bầu trời phía bắc bay qua, chẳng mấy chốc đã trút mưa xuống. Dân làng đều mừng rỡ như điên, hơn nữa còn lũ lượt lên núi đi vào trong hang động, tìm Sakya Chứng Không Lama để cảm tạ. 

Thật ra bản thân Sakya Chứng Không Lama không hề làm pháp gì, bình thường ngài chỉ tu Lục độ Bồ Tát quán, đạt đến tương ứng, cảm động Đa Văn Thiên Vương hạ giáng ban mưa, Đa Văn Thiên Vương đến giúp đỡ hành đạo mà thôi.

Vì thế hành giả tu Lục độ Bồ Tát quán sẽ có mười sáu vị đại thiện thần bảo vệ, việc hành đạo trên đời thật sự sẽ có mười sáu vị thiện thần trợ giúp. 

Hành giả Chân Phật chí thành tu trì Lục độ Bồ Tát quán, chỉ cần đạo tâm chân thành tha thiết, nhất định có thể tương ứng, Liên Sinh Hoạt Phật tôi dám nói như vậy. 


### 13. Phi không pháp tọa quán


Quán tưởng của hành giả Mật tông có một quán tưởng rất đặc thù: 
Sau khi hành giả tiếp nhận dòng chảy pháp của chư Phật, dòng chảy pháp từ Phạn huyệt [lỗ đỉnh đầu] đi vào, đầy ắp toàn thân, sau đó từ ngón chân chảy ra, đi vào mặt đất, lan ra bốn phương tám hướng, và những dòng chảy pháp này lần lượt hóa thành hoa sen, bay lên trên, sau đó trở thành pháp tọa của Phật Bồ Tát chư tôn. Tiếp theo, Phật Bồ Tát chư tôn lại hóa thành dòng chảy pháp, lại trút vào Phạn  huyệt của hành giả Mật tông, sau đó từ ngón chân chảy ra mặt đất, lại hóa thành pháp tọa hoa sen bay lên. 

Quán tưởng tuần hoàn như vậy không ngừng được gọi là "pháp giới sinh thân được thập phương Như Lai cùng gia trì". Ở trong đây thật sự có phi không pháp tọa quán.

Liên Sinh Hoạt Phật được Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền dạy phi không pháp tọa quán, từng viết trong cuốn sách "Mật Giáo Đại Viên Mãn", nay đặc biệt trong bản văn này thuật lại như sau: 

Trong khoảng thời gian này, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ dạy tôi tiên nhân tọa pháp, sư tử tọa pháp, tượng tọa pháp, kim sí điểu tọa pháp, kim cang tọa pháp. Ngoài năm đại tọa pháp này ra ngài còn dạy tọa pháp khác, mỗi lần tu tọa pháp đều được an trụ trong mạch khiếu [lỗ mạch], bởi vì mạch khiếu này có liên quan đến sự tuần hoàn chân khí của pháp Đại viên mãn.
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ giải thích như sau: chư Phật Bồ Tát thành đạo, vì thành đạo cho nên có bảo tọa, pháp bảo tọa là pháp tọa của tất cả Phật Bồ Tát.

Tiên nhân tọa pháp —  phân thành hai loại, một loại là thiên y tọa, một loại là thảm len tọa. Thiên y tọa là dùng thiên y để phủ lên ghế ngồi, còn thảm len tọa là dùng sản phẩm dệt len phủ lên ghế ngồi. Tu trì pháp này thì tay ấn lên huyệt mạch ở vùng hông.

Pháp sư tử tọa — cái giường mà Phật Đà ngồi gọi là sư tử tọa, bởi vì sư tử được xem là vua của muôn thú, Phật Đà khi tại thế chiếm vị trí cao nhất tôn quý nhất, do vậy lấy sư tử để so sánh với giường ngồi của ngài. Nhưng cũng có rất nhiều Phật Bồ Tát dùng sư tử để làm pháp tọa của họ, ví dụ như Đại Nhật Như Lai, Văn Thù Bồ Tát, Pháp Giới Hư Không Tạng Bồ Tát đều dùng sư tử dũng mãnh làm pháp tọa. Rồi Nhất Tự Kim Luân Phật Đỉnh cũng lấy bảy con sư tử làm ghế ngồi, mật tu sư tử tọa pháp cần phải dùng tay ấn vào mạch khiếu ở đỉnh đầu.

Tượng tọa pháp — dùng voi để làm bảo tọa pháp, A Súc Phật, Kim Cương Tạng Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát đều tu trì tượng tọa pháp mà đạt thành tựu. Tu trì tượng tọa pháp cần an trụ trong mạch khiếu của hơi thở ra vào, như vậy mới có được thành tựu.

Kim sí điểu tọa pháp — trong Mật pháp có Kim sí điểu vương pháp, còn gọi là Ca Lâu La, là tên một loại chim ở Ấn Độ. Loài chim này thường sống trên bốn loại cây đại thụ trên thế giới, thức ăn của nó là rồng, lần lượt được Hư Không Tạng Bồ Tát và Bất Không Thành Tựu Như Lai dùng kim sí điểu tọa pháp làm bảo tọa pháp của các ngài, mạch khiếu của pháp này là điểm vào cánh tay.

Kim cương tọa pháp — pháp này là tọa pháp khi Phật thành tựu đẳng chính giác dưới gốc cây bồ đề Bodh Gaya ở nước Magadha. Các Thượng sư thông thường cho rằng kim cương tọa là pháp tọa đặc biệt của Phật Thích Ca Mâu Ni, các vị khác đều không thể dùng, còn Liên Hoa Sinh Đại Sĩ cũng đã giải thích rõ về mạch khiếu của kim cương tọa pháp, nhưng trong cuốn sách này, xin thứ lỗi cho tôi không thể tiết lộ.

Bảo tọa pháp thường tu nhất là liên hoa tọa. Có pháp hoa sen tám cánh và hoa sen nghìn cánh, chìa khóa thành công của pháp này là mạch khiếu ở phía dưới luân xa rốn, chỗ mà Đạo gia gọi là vị trí đan điền. Tôi tiết lộ một bí mật lớn, vốn dĩ nút thắt của ruột là cánh của hoa sen, ruột của người thế tục không ngờ lại là liên hoa tọa của Phật Bồ Tát.

Tôi viết đến đây, có lẽ vẫn còn có rất nhiều hành giả Mật tông đọc không hiểu, tôi giải thích như sau:
Người tu Mật pháp, muốn có thần túc thông thì chỉ có tu bảo tọa pháp mới có thể đắc được. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ hiển hiện, chỉ dạy cho tôi tu bảo tọa pháp, dạy cho tôi tư thế ngồi và tay cần phải đặt vào mạch khiếu thế nào, như thế thì khi nguyên thần xuất nhập đều có bảo tọa nắm giữ, bởi vì nguyên thần có bảo tọa nắm giữ nên đương nhiên có thể tùy ý ngao du khắp trên trời dưới đất, thập phương Phật quốc đều có thể đến được.

Pháp bảo tọa còn có bàn thạch tọa, điểu thú tọa (bao gồm ngựa, công, trâu, dê, ngỗng, ma), thậm chí lấy núi Tu Di làm bảo tọa.

Pháp hóa hiện bảo tọa của pháp Đại viên mãn là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ mật truyền cho Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư, theo lời của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, pháp bảo tọa này, các Kim cương Thượng sư trong thiên hạ không có mấy người có thể hiểu được, cũng có nghĩa là ngay cả rất nhiều Hoạt Phật (Rinpoche) căn bản đều không biết. Hôm nay, chính vì Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã truyền pháp bảo tọa, và sau khi tôi có được pháp này, tôi mới biết hóa thân cầu vồng vốn dựa vào pháp bảo tọa làm nền tảng.

Tôi viết ra cách tu pháp liên hoa tọa như sau:
Dùng hoa sen tám cánh để quán tưởng. Dùng hoa sen cắt bằng giấy cúng dường trước Phật đàn, tùy theo sở thích của bản thân mà chọn màu sắc để dâng cúng.

Hai tay an trụ ở đan điền, tức là vị trí dưới rốn bốn lóng tay, lập tức quán tưởng toàn thân mình từ chỗ đỉnh đầu da thịt từ từ phân tách, để lộ ra đầu lâu xương cốt trắng toát, từ đầu đến cổ, từ cổ đến thân, hai tay, hai chân (cách quán tưởng này tương tự như quán bạch cốt). Khi quán tưởng chính mình biến thành một khối xương trắng, ngồi trước mặt Phật Bồ Tát, lúc này lập tức quán tưởng hoa sen giấy màu đỏ bay vào vị trí dưới rốn bốn lóng tay của mình, hoa sen phóng to ra và di chuyển xuống phía dưới, giữ chặt lấy xương trắng của chính mình.

Quán tưởng rõ ràng rành mạch như vậy rồi thì liền sau đó trì chú:
"Ôm ya-ma-rua-ni chu-uân-ti-yê sô-ha." 108 hoặc 1080 biến.

Trì chú xong, lập tức dùng hơi thở ra vào đi vào đan điền, dùng hơi thở để thổi bùng lên Chuyết hỏa, quán tưởng Chuyết hỏa thành hoa sen tám cánh màu đỏ, nhập vào Tam ma địa hoa sen tám cánh.

Tu thành công pháp bảo tọa hiển hiện rồi thì khi xuất nguyên thần, có pháp tọa giữ nguyên thần lại, ánh sáng mênh mang, hoa nở rực rỡ, lao thẳng đến điểm đến. Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư hôm nay xuất nguyên thần đến những nơi to lớn như rặng tuyết sơn Himalaya, nhanh chóng chỉ trong một hơi thở là đi, trong một hơi thở là về, đến thập phương Phật quốc cũng như thế. Đây chính là dựa vào tu hành pháp bảo tọa hiển hiện, còn nếu không có pháp bảo tọa hiển hiện thì đại bộ phận những người nói rằng có thần túc thông đều là giả!

Nếu có Kim cương Thượng sư thật sự đắc được pháp này thì khi đọc được tôi viết về pháp hóa cầu vồng và pháp bảo tọa chắc chắn cũng phải tán thán, thì ra Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư đã đắc được pháp bảo tọa. Pháp bảo tọa này không thể tùy tiện truyền tùy tiện nói, đây đều là những bí mật to lớn đó! Hôm nay, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền thụ pháp Đại viên mãn số một của Tây Tạng cho Lư Thắng Ngạn, còn Lư Thắng Ngạn rốt cục có lai lịch ra sao? Liên Hoa Đồng Tử là gì? E rằng không chỉ đơn thuần như vậy đâu!

Tôi dự tính trong tương lai không xa, muốn tìm vài người đệ tử có đủ tư cách để truyền thụ cẩn thận pháp bảo tọa, vì tôi dùng tay để điểm vào mạch khiếu của họ, khiến họ có thể bùng lên ngọn lửa hừng hực, sau đó tụ hỏa thành hình, hóa thành bảo tọa.

Chân Phật Tông toàn thế giới cũng trở thành nơi bảo tọa bay lượn, siêu nhân hiện đại có thể bay tới bay lui, niềm vui vô tận, là đệ nhất pháp, đó chính là thần túc thông.

Để giải thích tỉ mỉ về phi không pháp tọa quán, tôi đặc biệt tiết lộ nghi quỹ tu trì như sau: 
(Từ nhập đàn niệm chú thanh tịnh cho đến niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, tức bước 1 đến 7 chiếu theo nghi quỹ khác để làm.)
Kết ấn: hai tay ấn vào đan điền, cách ấn như thế nào? Tức là hai tay kết pháp giới định ấn, đặt nhẹ vào chỗ dưới rốn bốn lóng tay, dùng ngón út của hai tay ấn khẽ vào chỗ đan điền.
Quán tưởng: (như phần đầu của bản văn này đã nói) hành giả Mật tông trước tiên tiếp nhận dòng chảy pháp của Phật Bồ Tát trong hư không, từ đầu ngón chân chảy ra, lan ra bốn phương tám hướng, hóa thành hoa sen từ từ bay lên thành pháp tọa của các vị, sau đó hóa thành dòng chảy pháp giáng xuống quán đảnh. 

Tuần hoàn như vậy tổng cộng bảy lần.

Sau đó quán tưởng toàn thân mình từ chỗ đỉnh đầu, da thịt dần dần nứt ra, để lộ ra xương trắng ngần, từ cổ cho đến hai tay hai chân. Đến cuối cùng thì toàn thân là một bộ xương trắng, ngồi trước Phật Bồ Tát. (bạch cốt quán)
Tiếp theo quán tưởng chỗ đan điền, pháp giới định ấn hóa thành một bông hoa sen, đi chuyển xuống dưới, nằm trên bộ xương của mình. 
Trì chú: "Ôm ya-ma-rua-ni chu-uân-ti-yê sô-ha." (108 biến)
Tĩnh tọa nhập Tam ma địa: 
Lúc này, hành giả Mật tông toàn thân phóng quang, hoa sen cũng phóng quang, các vị trên Mật đàn cũng phóng quang, tất cả đồ cúng cũng phóng quang, tất cả thế gian xa gần đều hiện rõ, nơi muốn đến có thể nhờ hóa quang mà đi vào. Phàm tất cả hóa quang đều chảy vào tòa hoa sen như ý mà mình đang ngồi lên, không chỉ pháp tọa sáng bừng mà tất cả hư không đại địa đều sáng bừng, lần lượt đều có thể đến.

Khẩu quyết quan trọng ở đây chính là chư tôn quán đảnh, sau đó thông liên hoa pháp tọa, tiếp tục sản sinh ra thần túc thù thắng ưu tú tột cùng, đây là yếu quyết được cô đọng, yếu quyết này là vật quý báu nhất của Cụ Đức Tát Ca La Tam Ba Nhạ kim cang pháp tọa. 
Nhập Tam ma địa này có thể nhập tất cả pháp tọa.
Thần túc thông khắp thế giới.

Xuất định hồi hướng: 
*Tam mạch thất luân trong tuần hoàn.
Chí tôn an trụ ở tại đây.
Quang minh huyễn hóa nhập hai đường.
Pháp tọa hiện ra cầu gia trì.
Lời hứa mong rằng vào mọi lúc.
Pháp tọa luôn theo không xa rời.
Tu trì thành thạo tam mật này.
Mong cầu gia trì cho vãng sinh.
Thỉnh cầu chư tôn và Thượng sư.
Pháp lưu gia trì đến đỉnh đầu.
Hai tay nắm chắc hóa tòa sen.
Đôi chân ánh sáng mãi kiên cố.*

Đại lễ bái. Rời khỏi đàn thành. Cát tường viên mãn.

🌟

Liên Sinh Hoạt Phật lĩnh hội được rằng dòng chảy pháp của thập phương Như Lai chư tôn là cái gốc của mọi tu trì, không chỉ tất cả giáo lý, chứng lượng, phẩm đức, kỹ năng đạt được sự tăng trưởng mà thậm chí còn gia trì cho thân khẩu ý thanh tịnh, thậm chí có thể chuyển hóa thành pháp tọa, khiến cho việc phi không được vững chắc như ý. Đạo lý này vốn nằm ở Phật, Thượng sư và chính mình không khác biệt, đều biến hóa thành sự tương ứng của sự dung hợp giữa tự tính Lạc-Không và bản tính pháp tọa.

Trong tu pháp Đại thừa, phi không pháp tọa quán là con đường quan trọng của tu tâm, muốn tu trì con đường quan trọng này được viên mãn thì phải có sự tương ứng ban đầu của pháp Đại viên mãn và pháp Đại uy đức.

Hành giả Mật tông đã giác ngộ được Không và Minh, cảm ứng của dòng chảy pháp của họ tụ và tan một cách hoạt bát, nếu tụ thì là pháp tọa, nếu tan thì nhập vào sự quán chiếu vi tế, quang minh và hàm tụ, phân ra thì thành hai, thật ra chỉ là một.

Từ phi không pháp tọa quán có thể chứng minh: 
Hư không tức là thực tế.
Thực tế tức là toàn bộ.
Niềm tin vào phi không pháp tọa quán này chứng tỏ như vậy.
Phi không pháp tọa quán lại phối hợp với niệm Phật cầu sinh tịnh thổ, nhất định sẽ vãng sinh Tây phương Cực Lạc thế giới.
Có đạo lý rằng: "Xưng một tiếng hồng danh, gặp được người bạn tốt."
Pháp môn niệm Phật đều bao trùm cả ba căn, căn cơ thượng trung hạ, không có căn cơ nào không thu nạp vào trong đó, bí quyết của minh tâm không gì bằng niệm Phật, nhớ Phật niệm Phật, hiện tại tương lai nhất định sẽ thấy Phật. Nói chung hễ niệm Phật, miệng đang niệm Phật, tâm đang nhớ Phật, vọng niệm không sinh ra, nếu niệm niệm tương ứng thì chính là định của yoga. 

Có một vị thiền sư triệt ngộ, ông ấy cũng tu thiền, cũng tu tịnh độ, đối với tịnh độ ông ấy có chứng ngộ như sau: 
1. Biết có sinh tử, phát bồ đề tâm, là con đường học đạo thông suốt.
2. Dùng niềm tin và ý nguyện sâu sắc để trì danh hiệu Phật, là tịnh độ chính tông.
3. Dùng sự chuyên tâm chuyên chú mà niệm Phật là một sự khởi đầu dễ dàng thuận lợi.
4. Lấy việc xoa dịu phiền não hiện tại làm nhiệm vụ quan trọng cho tu tâm.
5. Lấy việc kiên trì với pháp bốn giới trọng (không giết, không trộm, không dâm, không ngông) làm cái gốc để bước vào đạo.
6. Lấy các kiểu khổ hạnh để trợ duyên cho tu đạo.
7. Lấy nhất tâm bất loạn để trở về con đường thanh tịnh.
8. Lấy những điềm lành của tâm linh để làm chứng nghiệm vãng sinh.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng nếu người học Tịnh độ tông lại học thêm phi không pháp tọa quán thì chắc chắn vãng sinh, vì luôn nghĩ đến Tây phương tịnh thổ, lại phối hợp với pháp tọa hoa sen, nhất định sẽ bay lên.

Người tu tập tương ứng phi không pháp tọa quán, nếu xuất thần thì chạy nhanh như chớp, giống như một tia sét bay đi, đến đi đều nhanh vô cùng.
Rồng bay hoặc Lôi Công Điện Mẫu, hoặc thiên thần tiên sứ, hoặc các quỷ thần khác trong hư không nhìn thấy pháp tọa hoa sen bay đến đều sẽ lần lượt làm lễ. Thậm chí khi pháp tọa hoa sen ở đẳng cấp này phi hành, xung quanh chắc chắn có mây ngũ sắc bao quanh, hơn nữa còn có tiên nhạc bay bổng. Pháp tọa hoa sen này rất trang nghiêm thù thắng.

Đương nhiên, hành giả tu phi không pháp tọa quán có thể du hành đến các cung tiên trên trời, có thể ẩn cư trên đỉnh cao nhất của năm ngọn núi lớn, có thể  đạt được tất cả bí quyết Mật pháp, thức ăn đều là pháp vị thơm không gì sánh bằng, thân thể không bệnh tật, hơn nữa còn đặc biệt khinh an tráng kiện, bình thường cũng tuyệt đối không có bệnh tật.

Liên Sinh Hoạt Phật biết trên đời có một vị tu đạo, cũng đạt đến hành giả phi không pháp tọa quán, người này từng đến chỗ tôi, ông ấy nói với tôi, ông ấy đắc được pháp này một cách vô cùng thần kỳ, duyên phận rất đặc biệt.
Có một lần ông ấy đi chơi ở trên núi, bỗng dưng lạc vào trong núi.
Đi bộ khoảng nửa ngày mà không tìm thấy đường ra, cuối cùng ở dưới một cây đa to, ông ấy nhìn thấy hai người già đang đánh cờ, ông ấy bèn đi tới để hỏi đường. Hai người già ăn mặc và trang điểm rất quái dị. 
"Ông đi vào đất này, chắc chắn là người có duyên." - Người già không hề ngẩng đầu lên.
"Ông muốn tu đạo sao? Cho ông một cuốn sách!" - Người già kia nói.
Ông ấy nhận lấy sách, vừa nhìn thì thấy trên đó viết "đại pháp phi không". 
Người già lại khẽ cười hỏi ông: "Ông có biết chúng tôi chơi cờ gì không?"
Ông ấy lắc đầu. Ông ấy nhìn thấy bàn cờ đó rất đặc biệt, hình dạng quân cờ rất đặc biệt, từng quân từng quân, kích thước không đều, giống như bản đồ.
"Đây chính là cờ quốc gia."
"Quốc gia này tương lai sẽ ăn quốc gia kia."

Ông ấy hết sức ngạc nhiên, trên đời không ngờ lại có người dùng bản đồ quốc gia để chơi cờ, hai người già này là ai đây?
Đợi hai người già chỉ cho ông ấy đường núi, ông ấy đã đi ra được khỏi núi.
Rồi mấy ngày sau ông ấy lại lên núi tìm kiếm, nhưng vĩnh viễn không tìm được nơi hai người già kia đánh cờ, thậm chí ngay cả người trồng trọt trên núi cũng không biết có người già như vậy. 
Nhưng đại pháp mà ông ấy có được không ngờ lại là phi không pháp tọa quán. 
Người tu đạo này bí mật tu hành đại pháp phi không rất nhiều năm, ông ấy đã học được hoàn toàn bí thuật này. Có một lần, ông ấy ngủ trưa trong một ngôi miếu nhỏ, nghe thấy một tiếng nói lớn quát mình: 
"Ông là người gì mà dưới chân lại sinh ra hoa sen?"
"Tôi là XX."
"A! Thì ra là đệ tử của hai vị nguyên quân. Thất kính, thất kính. Ông có thể đi tìm Liên Sinh, trên đời có một vị Liên Sinh dưới chân cũng sinh ra hoa sen."
Thế là người tu đạo này tìm đến Chân Phật Mật Uyển kể cho tôi nghe hai sự việc kỳ lạ này, tôi nghe xong cảm thấy vô cùng huyền diệu.

Tôi cảm thấy XX gặp được tiên cảnh, có được đại pháp phi không, đây đều là căn cơ kiếp trước, vị đạo nhân này cả đời thờ ơ với danh lợi, buông bỏ địa vị và hôn nhân tốt đẹp, cả đời du hí nhân gian, ông ấy có thể phá bỏ tình dục, vượt qua sinh tử, hoàn toàn thanh tâm quả dục, ông ấy là siêu thế gian, là thiên nhân hợp nhất, có lòng nhân ái khiến thần tiên cảm thông, thành tựu thần kỳ của ông ấy vốn là do lòng nhân ái mà có được. 

Đại pháp phi không của ông ấy vốn là của Đạo gia, nhưng pháp tu trì của ông ấy và phi không pháp tọa quán lại tình cờ trùng hợp, ông ấy từng nói về bí quyết của đại pháp phi không, tôi cũng nói về bí quyết của phi không pháp tọa quán, hai bí quyết này không ngờ hoàn toàn nhất trí với nhau. 
Vị XX này là ai?
Tôi hé lộ một điều bí mật của ông ấy, ông ấy từng chú thích Nhĩ Nhã [bộ từ điển Trung Quốc đầu tiên] và Sơn Hải Kinh. 
Tu trì phi không pháp tọa quán muốn có thể đắc tương ứng thì phải có tâm từ bi, có tâm bồ đề, càng phải có nhân duyên và đại trí huệ, đây là điều không hề đơn giản, phải là bậc đại trí mới có thể tiêu dao trên đại đạo.
Không chấp vào sinh tử, không có vui buồn, căn bản không động tâm với sống chết vui buồn.
Không ham thế gian, không sợ không lo, siêu nhiên bên ngoài thế giới. 
Loại người này tu trì mới có ngày thành tựu. 


### 14. Di Lặc bạch vân quán


Bồ Tát Di Lặc có rất nhiều danh hiệu: Từ Thị, A Dật Đa, Vô Năng Thắng.
Bồ Tát Di Lặc vốn sinh ra trong một gia đình Bà-la-môn ở Nam Thiên Trúc, sau được Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giáo hóa, thọ ký làm Bồ Tát và tương lai sẽ thành Phật.
Bồ Tát Di Lặc vốn là một vị cổ Phật, từng theo học Phật Tư Thiện.

Liên Sinh Hoạt Phật từng đọc sáu bộ kinh Di Lặc, đó là: Kinh Di Lặc Hạ Sinh, Kinh Di Lặc Lai Thời, Kinh Di Lặc Hạ Sinh Thành Phật, Kinh Di Lặc Đại Thành Phật, Kinh Quán Di Lặc Bồ Tát Thượng Sinh Đâu Suất Thiên, Kinh Di Lặc Hạ Sinh Thành Phật.

Liên quan đến kinh điển của Bồ Tát Di Lặc, còn có "Kinh Di Lặc Sở Vấn Bản Nguyện".

Bồ Tát Di Lặc hiện đang trú ngụ tại Nội Viện Di Lặc ở cung trời Đâu Suất, thuyết pháp giáo hóa. Theo truyền thuyết, sau 56 tỷ 7 nghìn vạn năm nữa, Ngài sẽ tái sinh xuống Diêm Phù Đề, thành đạo dưới cây Long Hoa và mở ba đại pháp hội, đó chính là Long Hoa Tam Hội nổi tiếng. Long Hoa Tam Hội là ba đại pháp hội của Bồ Tát Di Lặc khi Ngài hạ sinh độ thế.

Bồ Tát Di Lặc trong Mật tông có tên gốc là Maitreya. Vị này trong mandala Thai Tạng Giới nằm ở phương Đông Bắc của Viện Trung Đài Bát Diệp Viện, trong mandala Kim Cương Giới nằm ở phương Đông của Hiền Kiếp Thập Lục Tôn. Đại Luân Kim Cang trong Thai Tạng Giới chính là hóa thân kim cang phẫn nộ của Bồ Tát Di Lặc.

Nội Viện cung trời Đâu Suất là nơi Bồ Tát Di Lặc thuyết pháp, còn được gọi là Di Lặc Tịnh Thổ. Từ xưa đến nay, có rất nhiều vị cao tăng chí nguyện hoằng pháp, sau khi viên tịch đều vãng sinh về Nội Viện Di Lặc, để rồi trong tương lai phát nguyện theo Bồ Tát Di Lặc tái sinh xuống thế giới Ta Bà giáo hóa chúng sinh.

Có rất nhiều người đã chứng kiến cõi Tịnh Thổ Di Lặc, ví dụ như đại sư Khuy Cơ - vị tổ khai sáng Từ Ân Tông, được tôn xưng là Bách Bổn Sớ Vương, cả đời nguyện sinh về cung trời Đâu Suất, Nội Viện Di Lặc. Hòa thượng Hư Vân khi còn sống từng đến Nội Viện Di Lặc nghe kinh. Liên Sinh Hoạt Phật cũng từng đến Nội Viện Di Lặc và được Bồ Tát Di Lặc ban tặng mũ miện đỏ, do đó được tôn xưng là Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn Giả.

Cung trời Đâu Suất thực ra là tầng trời thứ tư trong Lục Dục Thiên [sáu cõi trời Dục giới], nằm phía trên cung trời Dạ Ma. Cung điện ở cõi trời Đâu Suất toàn bằng ngọc mani, chia thành nội viện và ngoại viện. Ở ngoại viện thọ mạng là bốn nghìn tuổi, còn ở nội viện thọ mạng vô lượng. Cõi trời này vốn có ba tai nạn lớn là lửa, nước và gió, nhưng không thể gây tổn hại đến Nội Viện Di Lặc. Nội viện nơi Bồ Tát Di Lặc cư ngụ chính là viện thuyết pháp trong bốn mươi chín viện.

Nếu hành giả Chân Phật có chí hoằng pháp độ sinh, hoặc phát nguyện tu tập pháp Di Lặc bạch vân quán, có thể theo Bồ Tát Di Lặc, trước hết vãng sinh về cõi Tịnh Thổ Di Lặc. Trong tương lai, khi Bồ Tát Di Lặc thành Phật, những người theo Ngài cũng chắc chắn sẽ thành Phật - đây chính là sự phổ độ của Long Hoa Tam Hội.

Hình tượng Bồ Tát Di Lặc trong Thai Tạng Giới — tay trái đặt trước ngực, bàn tay xòe ra, tay phải cầm hoa sen. Trong mũ miện có bảo tháp, trong tháp hiện xá lợi.

Hình tượng Bồ Tát Di Lặc trong Kim Cương Giới — ngón cái, ngón trỏ và ngón út tay phải đều dựng thẳng, ngón giữa và ngón áp út cong lại đặt trước ngực, tay trái đặt trên đầu gối.

Còn hình tượng Bồ Tát Di Lặc trong các chùa ở Đài Loan lại là vị hòa thượng để lộ cái bụng to, nụ cười hoan hỷ, có hai câu kệ diễn tả rất sinh động:
Miệng luôn mỉm cười, cười những kẻ đáng cười trong thiên hạ.
Bụng to dung chứa, chứa những việc khó dung trong thiên hạ.

Dưới đây là nghi quỹ tu trì pháp Di Lặc bạch vân quán:

1. Vào đàn niệm chú thanh tịnh.

2. Niệm chú triệu thỉnh.

3. Pháp Chân Phật Đại lễ bái.

4. Pháp Chân Phật Tứ quy y.

5. Pháp Chân Phật Đại cúng dường.

6. Pháp mặc giáp hộ thân.

7. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (1-3 biến).

8. Kết ấn: ấn bát diệp Bồ Tát Di Lặc, tức là ấn chắp tay kim cang, trước tiên xoay trái một cái, sau đó xoay phải một cái, đặt trước ngực.


![image](/img/img_495ecff727108813cc2222c4f82ef9c7.png)


9. Quán tưởng: quán tưởng Bồ Tát Di Lặc hiện ra trong hư không.

Trên tòa sư tử nguyệt luân hoa sen tại hư không phía trước.
Di Lặc tôn quý thanh tịnh hiện tướng an nhiên thanh tịnh hoan hỷ.
Trong cõi thù thắng phúc đức tín tâm con.
Vì hoằng chính pháp thường trú Đâu Suất Thiên.

Lúc này quán tưởng Bồ Tát Di Lặc, tại vùng tim có chữ chủng tử chữ "Yu", như đám mây trắng đang phiêu động, chữ chủng tử trong đám mây trắng đang bay này giống như một dải lụa trắng triệu thỉnh hành giả Mật tông.


![image](/img/img_b6f0f9432a059474b6513bad4e19a71c.png)


Hành giả Mật tông như cưỡi mây, tự cảm thấy thân bay lên, và đám mây trắng nơi tim của Bồ Tát Di Lặc càng lúc càng thấp, càng gần càng nhỏ.
Hành giả Mật tông trụ trong tâm chí tôn của Bồ Tát Di Lặc.
Hai bên hòa hợp, tự tính và Phật tính không phân biệt.

10. Trì chú: tâm chú Di Lặc Bồ Tát.

Ôm mi-chuây-ya sô-ha. (108 biến)

11. Tĩnh tọa. Nhập Tam ma địa:

Trong Tam ma địa này, mây trắng ở phía dưới, trên mây trắng có bảo tháp bảo điện, toàn bộ làm bằng ngọc mani, trong bảo điện có Bồ Tát Di Lặc đang thuyết pháp.

Hành giả Mật tông nương vào lực gia trì của tam mật thủ ấn, quán tưởng, chú ngữ để nâng cao bản thân, tiến vào Tam ma địa Nội Viện Di Lặc. Được Bồ Tát Di Lặc ban cho quán đảnh thọ ký.

12. Hồi hướng xuất định:

Từ tâm Bách Thiên Tôn Chủ hoan hỷ tuôn trào. Như dòng sữa tinh khiết tràn đầy thanh tịnh.
Pháp Vương chí tôn nhiếp thọ trí huệ thiện lành. Nguyện cùng thượng thủ nội viện hiện tiền.
Bạch vân bảo điện Đâu Suất thiên hoan hỷ. Chú tự phiêu động nguyện thành tựu triệu thỉnh.
Một lòng dũng mãnh tu trì thường tinh tấn. Long Hoa Tam Hội nguyện cùng thành Phật đạo.

13. Đại lễ bái Phật. Xuất đàn.

Cát tường viên mãn.

🌟

Bí quyết của pháp này là quán tưởng chú tự nơi tim của Bồ Tát Di Lặc lấp lánh như đám mây trắng, rồi từ biển mây phóng ra bốn thủ ấn hình hoa sen. Do sự hòa hợp tam muội chặt chẽ của hai vị, hành giả Mật tông tiến vào trong tâm Bồ Tát, sinh ra thù thắng lạc không trí tín giải nghĩa Tam ma địa.

Tôi rất thích cuốn sách "Mây của hư không", đặc biệt ấn tượng với đoạn Hòa thượng Hư Vân đến Nội Viện Di Lặc, nên xin cung kính ghi lại điều ngài mắt thấy tai nghe như sau:

Hư Vân nói: "Tôi như đang ở trong mộng, bỗng thấy mình đang ở Tây phương Nội Viện Đâu Suất, thấy cung điện Phật trang nghiêm tuyệt đẹp phi thường! Vạn đạo hào quang vàng rực! Tôi thấy Bồ Tát Di Lặc đang thuyết pháp trên bảo tòa, tôi lập tức đảnh lễ. Tôi lại thấy hàng nghìn hàng vạn thính chúng, hàng đầu có Tử Bách tôn giả và nhiều người quen biết từ nhiều năm - có hòa thượng Chí Thiện chùa Hải Hội ở Giang Tây, lão pháp sư Dung Kính núi Thiên Thai, hòa thượng Hằng Chí núi Kỳ Sơn, hòa thượng Bảo Ngộ cung Bách Tuế, hòa thượng Thánh Tâm và luật sư Độc Thể núi Bảo Hoa, hòa thượng Quán Tâm chùa Kim Sơn và nhiều vị khác. Tôi chắp tay cung kính chào từng vị, họ chỉ cho tôi đến ngồi vị trí thứ ba ở phía Đông! Ngồi bên cạnh tôn giả A Nan làm duy na [duy na là một chức vụ trong chùa, chuyên quản lý các sự vụ của tăng chúng], mọi người cùng cung kính lắng nghe Bồ Tát Di Lặc giảng về 'duy tâm thức định', nghe mà lòng tôi vô cùng kính ngưỡng hoan hỷ."

"Rồi sau đó thế nào?" Pháp Vân hỏi.
"Sau đó..." Hư Vân nói: "Bồ Tát Di Lặc bỗng chỉ vào tôi và bảo: 'Ông hãy về trước đi!' Tôi thưa: 'Đệ tử nghiệp chướng sâu nặng, nay khó khăn lắm mới được đến dưới tòa Bồ Tát! Con không muốn trở về cõi trần nữa!'"

Bồ Tát Di Lặc mỉm cười từ bi, bảo tôi: "Duyên nghiệp của ông chưa hết, phải về thôi! Rồi sau này hãy đến! Ta có bài kệ dạy ông:
Thức trí nào phân? Sóng nước một thể;
Chớ mê bình chậu! Vàng không dày mỏng;
Tính lượng tam tam, dây gai sừng ốc;
Nghi thành bóng cung, bệnh chỉ trừ hoặc;
Phàm thân nhà mộng, huyễn không chấp trước;
Biết huyễn liền lìa! Lìa huyễn sẽ giác;

Đại giác viên minh, gương soi muôn vật;
Phàm thánh không hoa, thiện ác an lạc;
Bi nguyện độ sinh, tạo thành mộng cảnh;
Nghiệp chướng trước mắt, tỉnh thức giác ngộ;
Biển khổ thuyền độ, chớ sinh thoái chuyển!
Sen nở bùn nước, ngồi tĩnh thành Phật;
.............................."

"Phía dưới còn rất nhiều câu nữa, lúc chưa xuất định tôi còn nhớ rõ mồn một, nhưng sau khi tỉnh dậy thì dần dần quên mất! Bồ Tát Di Lặc còn có thêm một số khai thị nữa, tôi vẫn còn nhớ, tuy nhiên, bây giờ chưa thể nói ra được!"

Đoạn mắt thấy tai nghe về Nội Viện Di Lặc của hòa thượng Hư Vân này, trong số các bậc cao tăng cận đại, là điều đáng ngưỡng mộ và khiến người ta phải thán phục, đối với những người học Phật về sau, đây là một sự khích lệ lớn lao.

Liên Sinh Hoạt Phật được Bồ Tát Di Lặc ban tặng mão đỏ, cũng nhận được sự khai thị của Bồ Tát Di Lặc:

Bồ Tát Di Lặc dạy: "Mỗi hành giả đều có một kho báu, kho báu này nằm ở nơi đầu nguồn. Nó vừa ẩn tàng, vừa thường xuyên hiển lộ, đây chính là căn cơ của linh thông tạo hóa! Cái căn cơ vĩ đại này tuy nhìn có vẻ độc lập cao vời, nhưng thực ra là vô lượng trăm nghìn tỷ hóa thân! Liên Sinh ơi! Liên Sinh! Sau này con có thể thốt ra minh châu, hiển lộ chân ngôn Phật pháp, những hiện tượng không thể nghĩ bàn, thực ra đó chính là thần thông được tạo bởi căn nguyên của kho báu."

Bồ Tát Di Lặc dạy: "Nội Viện Đâu Suất này, nhìn lên thì vô tận, nhìn xuống cũng vô tận, hoàn toàn không có chướng ngại, tuy nhìn như là viện thuyết pháp trong bốn mươi chín viện, nhưng thực ra không dài không ngắn không trong không ngoài, đây mới thực sự là cảnh giới huyền diệu siêu việt! Nếu ai có thể hiểu được điều này, đó chính là tâm ấn chân thật."

Người tu pháp Di Lặc bạch vân quán thường không để lộ dấu hiệu bên ngoài, cuộc sống hàng ngày không khác gì người thường, chỉ âm thầm tu trì bí mật. Pháp quán này cứ âm thầm mà thành tựu, nhưng một khi thành tựu thì sự biến hóa bay bổng vô cùng kỳ diệu, và cõi tịnh thổ vãng sinh tự nhiên sẽ là Tịnh Thổ Di Lặc.

Khi pháp này thành tựu, nơi thiên tâm của hành giả sẽ phóng ra ánh sáng trắng, trong ánh sáng trắng ấy sẽ xuất hiện một đứa trẻ. Đứa trẻ này chính là "nguyên thần" của Đạo gia, "chân nhân" của Thần đạo, là "hoạt tố" của Mật tông, là "thức" của Phật gia. Đứa trẻ trong ánh sáng trắng nơi thiên tâm này sẽ tự trì chân ngôn của Bồ Tát Di Lặc, âm thanh chú trong trẻo như tiếng ngọc vàng, đứa trẻ này có thể phóng quang và có thể đến được Nội Viện Di Lặc.

Tương lai lúc vãng sinh, Bồ Tát Di Lặc trên mây trắng sẽ vẫy tay gọi đứa trẻ, hành giả Mật tông ngồi nghiêm thân ngay thẳng, ánh sáng trắng từ thiên tâm lóe lên, chiếu khắp các cõi trời, đứa trẻ có thể bay thẳng đi trong ánh sáng trắng đó.

Khi tu trì thành tựu Di Lặc bạch vân quán rồi, hành giả cũng đắc được thiên nhãn thông nghìn dặm, đôi mắt có thể nhìn thấu mọi vật xa gần, dù có núi cao biển rộng ngăn cách cũng không bị ảnh hưởng. Với thiên nhãn thông này, thậm chí có thể quan sát được các cung điện trên trời như cung Tứ Thiên Vương, Phạm Thiên, Tha Hóa Tự Tại Thiên, Thủy Thiên, Phong Thiên, Hỏa Thiên, Nhật Thiên, Nguyệt Thiên, v.v... có thể thấy được chư thiên qua lại trên cõi trời, cung điện lầu gác không thiếu thứ gì.

Việc tu trì pháp Di Lặc bạch vân quán, nếu dùng giác tính để khai ngộ pháp lý, sẽ nhanh chóng kết nối với pháp tu con mắt bí mật của Mật giáo, có thể chứng đắc:
Biển mây đồ hương.
Biển mây minh đăng.
Biển mây tịnh hương.
Biển mây không hoa.
Từ con mắt bí mật thứ nhất đến con mắt bí mật thứ năm đều có thể chứng đắc.

Trong tương lai, Bồ Tát Di Lặc sẽ thành Phật dưới cội Long Hoa, cây này có tên như vậy vì cành hoa giống như đầu rồng. Ngài sẽ mở pháp hội dưới cội Long Hoa trong vườn Hoa Lâm để phổ độ trời người. Long Hoa Tam Hội chính là ba lần đại pháp hội, để độ hết tất cả chúng sinh căn cơ thượng trung hạ.

Đến lúc đó, Liên Sinh Hoạt Phật cũng sẽ tái sinh, đây là khi Liên Sinh Hoạt Phật chuyển thân thành cát bụi của mặt đất, đảnh lễ sát đất trước Bồ Tát Di Lặc, dùng diệu âm tán thán tất cả, khiến tâm hoan hỷ của chúng sinh tăng trưởng. Và thiết lập biển mây cúng dường, nội ngoại cúng đầy đủ, khiến tâm chúng sinh sinh hoa sen, mỗi người đều được vãng sinh.

Xin ghi một bài kệ để ghi nhớ:
*Tâm huệ như bụi khắp hư không,
Diệu âm sắc lệnh giữa vui mừng;
Thân thù thắng hiện Long Hoa hội,
Thấy nghe suy niệm chứng chân tông.*


### 15. Văn Thù Bồ Tát khiếp kiếm quán


Bây giờ xin ghi rõ nghi quỹ tu trì pháp quán tưởng tráp và kiếm Văn Thù Bồ Tát như sau:

(Nhập đàn niệm chú thanh tịnh cho đến niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. Mục 1~7 tu theo nghi quỹ.)

Kết ấn: ngũ tự Văn Thù ấn. Trước tiên hai tay đan ngoại phộc, hai ngón giữa giơ thẳng, chạm vào nhau, cong đốt trên lại thế là thành ấn kiếm kim cang. 

Quán tưởng thứ nhất:
Văn Thù Bồ Tát ở trong hư không hiển hiện. Một đầu hai tay, tay phải cầm kiếm, tay trái cầm hoa sen xanh, trên hoa sen xanh có tráp Phật, Văn Thù Bồ Tát cưỡi sư tử.
*Gột rửa bất tịnh trừ vô tri. 
Tự đắc đại trí rõ sắc lệnh.
Chủng tử tự nhanh tay giương cờ.
Tráp Phật kiếm báu và khiếp kiếm.
Dựa vào sẽ đắc tài giảng biện.*

Cũng tức là quán tưởng chú luân của Văn Thù Bồ Tát xoay tròn, xoay tròn phát ra ánh sáng trắng lớn, dòng chảy pháp giống như sữa tươi liên tục trút xuống lỗ Phạn huyệt của mình (trí huệ tự tính vô lượng, màu trắng như sữa), từ Phạn huyệt đi vào đầy ắp toàn thân. Quán tưởng từ vô thủy đến nay, những tội chướng nghiệp đọa phá giới nghiệp đen đã tích lũy hiện ra thành nhện, giun rắn, cóc nhái tôm tép, v.v… lần lượt từ các lỗ chân lông bò ra.
Đây là chú luân xoay tròn, trút cam lộ sữa trắng đầy ắp toàn thân, tất cả nghiệp tội vô tri ngu dốt loại bỏ hết, trong sát-na được thanh tịnh, tự thân trong suốt lấp lánh ánh sáng tự tính.

Quán tưởng thứ hai:

*Thân phụ tử được mưa cam lộ đỏ vàng tuyệt diệu.*
*Trong thân cam lộ đầy ắp như thân tướng Phật. *
*Trong thân phóng quang triệu thỉnh bậc tối thắng và con*
*Tất cả trí huệ bậc nhất của thân tướng Phật nhập vào*.
*Ánh sáng thân Phật chiếu nội thân trong suốt lấp lánh.* 
*Trừ sạch mọi tối tăm của tâm phân biệt lấy-bỏ*
*Những chỗ lấy-bỏ biết rõ nhờ tự lực*
*Có thể phân tích đại trí nhờ đó mà chứng đắc. *

Đây là quán tưởng từ trong âm thanh của chú, hành giả Mật tông quán tưởng từng chú âm, là thanh tướng nhẹ nhàng của Văn Thù Bồ Tát, từng chú âm êm dịu hóa thành vô lượng cam lộ màu đỏ vàng, đầy ắp mười phương thế giới, cũng chính là thanh tướng chú âm cam lộ màu đỏ vàng từ từng lỗ chân lông của hành giả mà trút vào. Lúc này sẽ được tăng trưởng tất cả trí huệ, đắc nghĩa tối thắng của Mật giáo, tùy theo tự lực mà có thể phân tích đại trí.

Quán tưởng thứ ba:

*Thân phụ tử được mưa cam lộ đỏ vàng tuyệt diệu.
Trong thân cam lộ đầy ắp như tướng chủng tự.
Phóng quang triệu thỉnh mọi tốc trí của các bậc thù thắng.
Tướng chủng tử tự đi vào trong thân mình.
Ánh sáng chủng tử chiếu nội thân trong suốt lấp lánh.
Trừ sạch tất cả vọng tưởng mê loạn cấu bẩn.
Khi tà vọng nghi hoặc cấu bẩn bắt đầu sinh ra.
Có thể diệt hết nhờ đó mà có được tốc trí. *

Đây là quán tưởng chủng tử chữ Dhih. Cũng tức là trong mười phương hư không đều hiện lên chủng tử chữ Dhih, và chủng tự này đều hiện lên ánh sáng đỏ vàng. Chủng tử chữ Dhih này từ các lỗ chân lông đi vào trong thân của hành giả Mật tông, và tự thân hành giả biến hóa thành tướng chủng tử tự. 
Quán tưởng này có thể đắc đại trí huệ thần tốc. Bởi vì chủng tử tự cực trong suốt lấp lánh nên có thể trừ được tất cả tà vọng nghi hoặc cấu bẩn, đạt được tốc trí.

Quán tưởng thứ tư:

*Thân phụ tử được mưa cam lộ đỏ vàng tuyệt diệu.
Trong thân cam lộ đầy ắp như tướng khiếp kiếm.
Phóng quang triệu thỉnh mọi trí huệ thâm sâu của các bậc thù thắng.
Tướng cờ tay đi vào trong thân mình.
Cờ tay phóng quang chiếu nội thân trong suốt lấp lánh.
Trừ sạch tất cả chướng ngại và ngu si.
Khả năng đo lường không hề trở ngại.
Có thể nhập vào nhờ đó có được trí huệ thâm sâu. *

Quán tưởng này vô cùng quan trọng, cũng chính là yếu điểm của Văn Thù Bồ Tát khiếp kiếm quán. Ở đây là Văn Thù Bồ Tát trong hư không, bảo kiếm trên tay phải và tráp Phật trên hoa sen xanh trên tay trái của ngài đều phóng ánh sáng lớn mạnh mẽ, ánh sáng này chiếu khắp xung quanh hành giả Mật tông, khiến cho tất cả không còn ngăn trở và nhập vào trí huệ thâm sâu. Tất cả văn nghĩa của pháp bản và tất cả pháp lý đều có thể phân biệt được rõ ràng.

Sau đó quán tưởng tề luân [luân xa rốn] của hành giả Mật tông hóa thành một đóa hoa sen, trên hoa sen hiện ra chữ Dhih, trên chữ Dhih hiện ra một thanh kiếm, trên kiếm có sáu chữ "Om. Ah. Ra. Pa. Cha. Na". Kiếm này xoay về bên phải, có thể khiến cho lưỡi trong miệng đắc biện tài vô ngại. Có thể phá trừ tất cả tà thuyết ngoại đạo, nhờ đó mà đạt được tất cả biện trí, đây chính là đắc khẩu thiệt biện tài tam muội. [tài hùng biện ăn nói]

Quán tưởng bảo kiếm hoa sen này thường xuyên ở trên thân mình phóng quang, có thể sáng tác luận thuật, cũng thức là trí huệ giỏi trước tác không hề có chướng ngại. Nhờ có quán tưởng bảo kiếm hoa sen này mà văn tự sáng tác của người đó vĩnh viễn lưu truyền trong sử sách, có thể bất hủ, trở thành luận thuật vĩ đại khắp thế giới.

Trì tâm chú: "Om. Ah. Ra. Pa. Cha. Na. Dhih." (108 biến ~ 1080 biến.)
Chữ Dhih tiếng Phạn như sau: དྷཱི 
Tĩnh tọa. Nhập tam ma địa:
Khi tất cả biến mất, không biết thân quy về nơi nào, thân ý khởi lên niềm vui sướng thù thắng, tức là tam ma địa đã hiện ra rồi!
Xuất định. Hồi hướng:
*Văn Thù Sư Lợi Đại Pháp Vương.
Khiếp kiếm bảo quang là phi phàm.
Tứ quán tức đắc đại trí huệ.
Mười phương thế giới hiện hào quang.*
Đại lễ bái Phật. Xuất đàn.
Cát tường viên mãn.

🌟

Trọng điểm của pháp này nằm ở bốn quán tưởng, bốn quán tưởng này vô cùng quan trọng, cực kì quan trọng. Tu tập thật rõ ràng tỉ mỉ tinh tường, nhất định sẽ có được đại trí huệ.

Liệt kê những kinh điển có liên quan đến Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát như sau: "Văn Thù Hối Quá Kinh, Văn Thù Bát Nhã Kinh, Văn Thù Sư Lợi Hành Kinh, Văn Thù Sư Lợi Phát Nguyện Kinh, Văn Thù Sư Lợi Tuần Hành Kinh, Văn Thù Sư Lợi Tịnh Luật Kinh, Văn Thù Sư Lợi Vấn Kinh, Văn Thù Sư Lợi Vấn Bồ Tát Kinh, Văn Thù Sư Lợi Bàn Niết Bàn Kinh, Văn Thù Sư Lợi Hiện Bảo Tạng Kinh, Văn Thù Sư Lợi Phật Thổ Trang Nghiêm Kinh, Văn Thù Sư Lợi Căn Bản Nghi Quỹ Kinh, Văn Thù Sư Lợi Pháp Bảo Tạng Đà-la-ni Kinh, Văn Thù Sư Lợi Sở Thuyết Bát Nhã Ba-la-mật Kinh, Văn Thù Sư Lợi Sở Thuyết Bất Khả Tư Nghì Phật Cảnh Giới Kinh, Văn Thù Sư Lợi Căn Bản Nhất Tự Đà-la-ni Kinh, Văn Thù Sư Lợi Lục Tự Chú Công Năng Pháp Kinh, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Phật Sát Công Đức Trang Nghiêm Kinh, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Căn Bản Đại Giáo Vương Kinh Kim Sí Điểu Phẩm, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Cập Chư Thiên Sở Thuyết Cát Hung Thời Nhật Thiện Ác Túc Diệu Kinh, Văn Thù Diệt Dâm Dục Ngã Mạn Đà-la-ni, v.v…"

Kinh điển của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát rất nhiều, cũng có rất nhiều tên gọi, ngài là một vị đại Bồ Tát, biệt danh của ngài có Mạn Thù Sư Lợi, Diệu Cát Tường, Diệu Âm, Diệu Đức, Diệu Thủ, Thiện Thủ, Nhu Thủ, Kính Thủ, v.v… Vị đại Bồ Tát này và Phổ Hiền Bồ Tát cùng là trí thức của Thích Ca Mâu Ni Phật, Văn Thù Bồ Tát nắm giữ cánh cửa trí huệ, Phổ Hiền Bồ Tát nắm giữ cánh cửa lý trí.

Trong đời quá khứ, Văn Thù Bồ Tát từng là thầy của Thất Phật, vì đã thành Phật nên tôn xưng của ngài là Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật. Mật hiệu của ngài là Cát Tường Kim Cang hoặc Bát Nhã Kim Cang.

Hình tượng của Văn Thù Bồ Tát có đỉnh đầu kết năm búi tóc, đại diện cho ngũ trí của Đại Nhật Như Lai, tay phải cầm kiếm, là thanh kiếm sắc đại diện cho trí huệ, ghế ngồi của ngài là sư tử, biểu thị sự uy mãnh. Văn Thù Bồ Tát còn có Nhất tự Văn Thù, Ngũ tự Văn Thù, Lục tự Văn Thù, Bát tự Văn Thù, Nhất kế Văn Thù, Ngũ kế Văn Thù, Bát kế Văn Thù, Nhi Văn Thù. Nhưng lấy Ngũ tự Văn Thù và Ngũ kế Văn Thù làm thể gốc.

Tay trái của Văn Thù Bồ Tát cầm hoa sen xanh, đại diện cho bất nhiễm, vì thế có thể đoạn trừ phiền não. 

Trong mandala Thai tạng giới, Văn Thù Bồ Tát chiếm vị trí phía Tây Nam của Trung Đài Bát Diệp Viện, là chủ tôn trong Văn Thù Viện. Trong mandala Kim cương giới, ngài là vị đầu tiên ở phương bắc trong số mười sáu vị Hiền Kiếp.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng Phật ở Tịnh Cư Thiên Cung từng nói pháp Văn Thù Sư Lợi Đồng Tử Hành Luân Chân Ngôn, đây là nhất tự chân ngôn căn bản của Văn Thù Sư Lợi. Nhất tự chân ngôn này chính là "Om Bhrum" hoặc dịch là "Om Shrim", đây cũng là chú viên mãn.

Khi trì niệm chú viên mãn, có thể quán tưởng một cái hồ, trong hồ mọc lên một thân cây, ba cành, cành ở giữa là hoa sen trắng, và trên hoa sen trắng là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát ngồi trên hoa sen báu, là tướng đồng tử, có năm búi tóc, thân tướng màu vàng kim, thân mặc áo xanh, ngồi bán già, chân phải thả xuống, hoa sen vững chắc. 

Cành hoa sen bên trái là tướng của Phổ Hiền Bồ Tát, có đầy đủ tất cả trang nghiêm, thân màu xanh (lục) tím, mặc áo xanh, tay trái cầm gậy như ý, tay phải cầm phất trần màu trắng. 

Cành hoa sen bên trái là Quan Thế Âm Bồ Tát, thân như ánh trăng, có đầy đủ tất cả trang nghiêm, tay trái cầm hoa sen trắng, tay phải cầm phất trần kim cang.

Phàm ai niệm chú này, tu quán tưởng ba đại Bồ Tát, có thể có được sự bảo vệ và ủng hộ của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát và hai vị Bồ Tát còn lại, còn có cả năm sứ giả của Văn Thù là Kế Thiết Ni, Ưu Ba Kế Thiết Ni, Chất Đa La, Địa Huệ, Thỉnh Triệu và tám đại đồng tử của Văn Thù là Quang Võng Đồng Tử, Địa Huệ Đồng Tử, Vô Cấu Quang Đồng Tử, Bất Tư Huệ Đồng Tử, Triệu Thỉnh Đồng Tử, Kế Thiết Ni Đồng Tử, Cứu Hộ Huệ Đồng Tử, Ưu Ba Kế Thiết Ni Đồng Tử đều đến để ủng hộ hành giả.

Theo tôi được biết, thiền sư Triệt Ngộ trong số đại cao tăng của Thiền tông và Tịnh Độ tông, tuy chuyên tu Liên tông, nhưng bình thường ông ấy cũng tu Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát căn bản nhất tự chân ngôn, ông ấy từng nhìn thấy Văn Thù Bồ Tát rồi!

Hành giả Mật tông tu quán Văn Thù khiếp kiếm, nếu đắc thành tựu sẽ đạt đến trình độ rất cao về viết lách, khiến người ta tán tụng không ngừng, hơn nữa sẽ có miệng lưỡi sắc bén, có thể hùng biện không gặp trở ngại nào, giống như thay đổi cả con người. Người thành tựu pháp này nếu trà tỳ [hỏa thiêu] sẽ có xá lợi lưỡi, bởi vì lưỡi của họ giống như châu ngọc.

Từng có một vị Lama tu Văn Thù khiếp kiếm quán, nhờ tu trì nghiêm chỉnh, siêng năng bền bỉ, lòng thành của ông ấy đã cảm động đến Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. Mỗi lần ông ấy tu pháp, trên trời liền tung xuống rất nhiều hoa đỏ và hoa vàng, hơn nữa còn có hương thơm nức mũi.

Vị Lama tu pháp này một hôm đột nhiên đang yên đang lành lại nói với các đồng tu: “Đôi cánh của Kim Sí Điểu trên đỉnh núi Tu Di đã vỗ rồi, tôi sắp được đưa đến chỗ của Văn Thù Bồ Tát.” Lama nói xong thì nhắm mắt viên tịch. Có người nhìn thấy ông ấy cưỡi đại bàng Kim Sí Điều bay lượn phía trên đỉnh núi tuyết, vô cùng tự đắc.

Hành giả Mật tông tu Văn Thù khiếp kiếm quán, vị Lama đắc thành tựu kia học được pháp quán này là cũng có truyền kỳ.

Ban đầu ông ấy bái Liên Hoa Thánh Tôn Lama làm thầy, có một hôm, Liên Hoa Thánh Tôn Lama nói với ông ấy: "Trong hang này có một bức tường, là nơi mà đại thành tựu giả năm xưa đã quay mặt vào tường tu định, anh có thể đi quay mặt vào tường tu định, sẽ có pháp tu trì xuất hiện trên bức tường, anh học được pháp tu trì đó rồi thì có thể tương ứng thành tựu."

Vị Lama này liền ngồi trước bức tường để tọa định.
Ngồi một năm, chẳng có gì cả.
Năm thứ hai, nhìn thấy Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát xuất hiện trên tường. 
Năm thứ ba nhìn thấy văn tự của Văn Thù khiếp kiếm quán xuất hiện trên tường, và tất cả tâm yếu khẩu quyết của tu pháp, thế là ông ấy nỗ lực bền bỉ tinh tấn. Liên tục tu bảy năm, trong không trung rơi xuống hoa vàng, hoa đỏ. 

Liên Hoa Thánh Tôn Lama nói với các đệ tử của mình:
"Chúc mừng, tất cả đại viên mãn, đại tương ứng rồi."
Trên bức tường thánh xuất hiện Văn Thù Sư Lợi và văn tự, trong con mắt của người ngoài là không thể tưởng tượng được, nhưng trong tim của Liên Sinh Hoạt Phật thì đây là điều hiển nhiên. Bởi vì thiên hạ vạn vật, dụng tâm có thể cảm thông, vạn pháp không rời tâm mình, dụng tâm tìm tòi, tâm hiện vật hiện, pháp trong tâm tự nhiên lộ ra trên bức tường. Sự chuyên tâm nhất chí của một cá nhân nhất định có thể cảm động các vị giáng xuống. 

Ngày 3 tháng 12 năm 1986, người chủ trì của Tam Muội Tinh Xá là Liên Hoa Hoa Lương đã đến Chân Phật Mật Uyển, tôi đã nói sơ về pháp này, đồng thời cũng quán đảnh truyền dạy pháp này, hy vọng Liên Hoa Hoa Lương hiểu được "vạn vật giai bị ư ngã, phản thân nhi thành, lạc mạc đại yên". [Câu nói của Mạnh Tử, nghĩa là: vạn vật đều sẵn có trong ta, tự kiểm điểm thấy bản thân đã thành thật không dối gạt mình, thì đây là niềm vui lớn nhất.]

Tam muội chính là chính định.
Quán khiếp kiếm là ban cho đại trí huệ, trong lòng đầy khao khát thì sẽ có thành tựu. 
Pháp này có thể chấn động trên trời dưới đất, có thể khiến đại bàng Kim Sí Điểu dang rộng cánh bay, có thể khiến thiên nữ tung hoa, chư tôn hộ trì, đan xen tạo thành một bức màn ánh sáng rực rỡ của đại trí huệ, tất cả tạo thành một pháp giới hài hòa. Người có thể chuyên tâm tu trì sẽ có được đại phúc phần, không thể xem thường điều này.


### 16. Sư Tử Hống Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát quán


1. Nhập đàn.
Quán tưởng từ tâm luân hành giả, âm thanh của chữ Hum ཧཱུྃ vang lên và khuếch trương, đầy ắp hư không, trở thành nền móng kim cang, vải bạt kim cang bao bọc xung quanh, và còn có ngọn lửa bùng cháy giống như ngày tận thế, mây khói mù mịt; bên ngoài có sóng biển lớn vây quanh ba vòng. Kết giới như vậy, mọi ma quỷ đầy khắp mười phương hoàn toàn bị ngăn cách, không thể xâm phạm. Quán tưởng vòng bảo vệ như vậy. 

2. Niệm chú triệu thỉnh. Triệu thỉnh chư tôn, Hộ pháp, Không hành.

3. Chân Phật Mật giáo đại lễ bái pháp.

4. Chân Phật Mật giáo đại cúng dường pháp.

5. Chân Phật Mật giáo tứ quy y pháp. Niệm chú Tứ quy y. Niệm thêm: 
Quy y Mật giáo Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư, Mật hành tôn giả tổng nhiếp Tam Bảo Liên Sinh Hoạt Phật.
Quy y chư Phật ngũ luân tổng thể, vũ trụ bản thức.
Quy y Tam Tạng Thập Nhị Bộ chính pháp.
Quy y các hư không giới, các tăng già thánh giả tự cổ chí kim đã chứng Bồ Tát.

6. Mặc bia giáp hộ thân pháp.

7. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (1~3 biến).
Niệm Thánh Diệu Cát Tường Chân Thực Danh Kinh (1 biến, hoặc có thể niệm tụng nhiều hơn).

8. Thỉnh cầu:
Thân Văn Thù từ trong hư không hiện lên màu kim tím.
Ý Văn Thù tự tính các pháp tương ứng rõ ràng.
Ngữ Văn Thù âm thanh hòa nhã không chướng ngại.
Trước mặt Văn Thù con chí thành cầu thỉnh.

9. Quán không. Tụng chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng.
Quán tưởng tất cả thể tính, sự thanh tịnh vốn có, thân tâm trong ngoài đều không phụ thuộc vào bản thể thanh tịnh vốn có này.
Trong sát-na trụ trong không gian rộng rãi bằng phẳng sáng tỏ.

10. An lập pháp giới tại đây.
Quán không (tất cả pháp không, trong tự tính không). Từ chữ Ah ཨཱཿ màu trắng thanh tịnh tâm tính hiện rõ.
Từ chữ Ah ཨཱཿ sinh ra chữ Ai:


![image](/img/img_782132902a93f12d1f6d974960318459.png)


đầy ắp hư không, vô biên pháp giới, trong sát-na thu hút thành tính không.
Lại từ chữ Ah ཨཱཿ phóng ra chữ Yang:


![image](/img/img_d219bacbfb120838f790c86e6c0b837a.png)


đàn thành của gió, màu xanh lục dao động làm biểu tượng của cờ.
Lại từ chữ Ah phóng ra chữ:


![image](/img/img_1ec6aaaeee91bc495573a3f21130b00b.png)


làm đàn thành của nước, thủy luân hình tròn màu trắng.
Lại từ chữ Ah phóng ra chữ: 


![image](/img/img_aa40080e8a9d90017b6cde3a1c4d509d.png)


làm địa luân hình tròn màu vàng.
Lại từ chữ Ah phóng ra chữ Sung:


![image](/img/img_aad882c70607b75fce183a1ad8fb4514.png)


sinh ra bốn loại tự tính của bảo vật, hình vuông, bốn loại màu sắc quý bốn phía của núi Tu Di (bốn loại màu sắc quý là đông vàng kim, nam xanh lam, tây đỏ, bắc vàng). 
Lại từ chữ Ah phóng ra chữ 


![image](/img/img_ccc1bb4791a0dd94f903ee41eb773714.png)


màu đỏ, làm hỏa luân hình tròn, hư không vô biên rực cháy.

Trên đỉnh núi Tu Di, từ nguyên nhân quán tưởng chữ Ah như trên mà phóng ra chữ Chân: 


![image](/img/img_4b0df294f61bdb20252d3eb048925c45.png)


Chữ Chân lại biến thành tòa cung điện cao, trong cung điện cao hiện lên sư tử màu lam. 

Chú thích: Nếu quán tưởng thành thạo mục thứ 10 này rồi thì có thể lược bỏ, tức là đi vào mục thứ 11 luôn. 

11. Tất cả pháp không, ở trong tự tính không, hiện lên một con sư tử màu lam, trên lưng hiện hoa sen, trên hoa sen hiện nguyệt luân, trên nguyệt luân có chữ Dhi:


![image](/img/img_e47317e990a8672001b7bbb9d90e6700.png)


tự tính màu vàng kim, phóng quang trên cúng dưới thí xong, ánh sáng thu về biến thành thanh kiếm trí huệ màu vàng kim, trên thanh kiếm có chữ Dhi, trong chớp mắt đã chuyển thành tự tính của Như Lai tổng tập, tướng là báo thân viên mãn Văn Thù Bồ Tát màu vàng kim, hai tay kết ấn khai thị, cầm cành hoa upala, hoa bên phải có kiếm, hoa bên trái có kinh Phật chân thực, trên kiếm có chữ Dhi, đầu ngài độ mũ Ngũ Phật, nhìn chúng sinh bằng con mắt từ bi, và Căn bản Thượng sư có đủ phẩm đức bi trí trụ trên đỉnh đầu ngài. 

Trên nguyệt luân hoa sen trong tim, chữ Chung:


![image](/img/img_989eecb58735fbb3bda9ad83bd5c50c7.png)


chuyển thành bốn bánh xe nan hoa, trên bánh xe có kiếm, trong kiếm có chữ Dhi màu vàng kim đứng bất động, chú luân sắp đặt vòng theo bên phải, khi phóng quang, chú luân bất động có chữ Dhi ánh sáng chạy ngược chiều kim đồng hồ.

Lại quán tưởng trước mặt, trên nhật nguyệt luân hoa sen có chữ Xi màu lam: 


![image](/img/img_66b1bff18ab8e18bc7df3b7c4796a8b4.png)


phóng quang trên cúng dưới thí, sau đó ánh sáng thu về chuyển thành kiếm trí huệ, trên kiếm có chữ Dhi, kiếm chuyển thành Diệu Âm Phật Mẫu màu lam, tư thế đứng, tay phải cầm kiếm, tay trái cầm kinh, tóc hoa và chuỗi ngọc đủ loại trang nghiêm. Lại quán tưởng trên nhật nguyệt luân hoa sen trong tim Phật Mẫu có chữ Chung chuyển thành bốn bánh xe nan hoa, trên bánh xe có kiếm, ở giữa có chữ Xi màu lam đứng thẳng bất động, chú luân sắp xếp theo chiều bên trái, khi phóng quang chú luân bất động có chữ Xi ánh sáng vòng theo chiều bên phải.

12. Nghênh thỉnh, dung nhập.
Từ thân tự tính tam muội da và chủng tử tự trong tâm Phật Mẫu phóng quang đến tịnh thổ của Bổn tôn nghênh thỉnh trí huệ tôn. Lúc này:
Thân - duy trì sự đoan trang, tay kết ấn câu triệu.
Ngữ - tụng tứ tự đại minh Cha Hum Ban Ho:



![image](/img/img_3bd7361ac0d4cb36857f0d947e1f87cb.png)


Ý - Tụng chữ Cha, tưởng tượng Bổn tôn trên trời từ từ hạ xuống. Tụng chữ Hum, tưởng tượng Bổn tôn trí huệ đã trụ trên đỉnh đầu mình. Tụng chữ Ban tưởng tượng Văn Thù Bồ Tát đi vào trong tim mình. Tụng chữ Ho tưởng tượng thân mình và Văn Thù dung hợp, không hai không khác.

Sau đó, từ trí huệ tôn trong tâm và chú luân trong tâm Phật Mẫu xoay chuyển phóng quang cúng dường chư Phật mười phương ba đời, lập tức có được mọi sức mạnh gia trì của chư Phật và pháp giới, có được mọi trí huệ của tất cả chư Phật, phúc đức và tất cả công đức đều hóa thành ánh sáng từ đỉnh đầu tan vào thân mình, sau đó phóng quang dưới thí cho lục đạo hữu tình, khiến tất cả hữu tình đều thành Văn Thù Bồ Tát. Lại từ chú luân trong tim của trí huệ tôn trong tim mình xoay tròn phóng quang trên cúng dưới thí xong, tụ tập tất cả kinh tục Hiển Mật và các pháp hóa thành ánh sáng dung nhập vào họng mình, khiến tất cả nhật nguyệt tinh hoa trân bảo tứ đại đất nước lửa gió v.v…. tụ tập tất cả hóa thành ánh sáng dung nhập vào tự tâm.
Chú thích: Cứ phóng quang trở đi trở lại như vậy, đồng thời tụng 108 biến. 

13. Sư Tử Văn Thù Bồ Tát chú:

Ôm sit-đi ma-mây-ti-pân man-su-sư-li, mâng-xi-chan-chia-wa-ta-ni sit-đi sô-ha. 

Diệu Âm Phật Mẫu chú: Ôm sa-ra-sa-ti sô-ha.
Văn Thù Bồ Tát ngũ tự tâm chú: Ôm a-ra-pa-sa-na đi.

14. Nhập định.
Quán vô tình hóa quang nhập hữu tình, hữu tình hóa quang nhập tam muội da thân, tam muội da thân hóa quang nhập trí huệ Bổn tôn thân, trí huệ Bổn tôn nhập tam ma địa Bổn tôn thân (tức chữ Dhi trong kiếm cũng là chữ Dhi trí huệ kiếm). Bổn tôn tam ma địa lại dung nhập chủng tử chữ Dhi từ dưới hướng lên trên dần dần thu về, tức là các nét của chữ chủng tử này từ dưới lên trên dần dần thu về thành một điểm nhỏ nhất là xong, rồi điểm này lại tan biến vào trong tính Không. Cuối cùng, tan vào trong Đại thủ ấn định và trụ trong đó. Lúc này, nên duy trì trạng thái vô niệm, nếu vọng niệm khởi lên thì chuyển ý niệm đó thành Bổn tôn như huyễn, đi đứng ngồi nằm không rời suy nghĩ này. Khi tĩnh thì quán chiếu, khi động thì mang theo suy nghĩ này.

15. Xuất định.

16. Hồi hướng, phát nguyện.

*Đại bi tôn dùng ánh sáng trí huệ chiếu khắp
Loại bỏ hết ngu si và bóng tối trong con
Khế kinh và luận giáo điển đều chứng đắc
Mong ban trí huệ biện tài đều hiển hiện.
Trong mọi lúc hoặc khi muốn thấy
Và đôi khi có điều muốn hỏi
Nương dựa hộ chủ Diệu Cát Tường
Mong không chướng ngại thường được gặp
Thập phương hư không tận biên giới
Hữu tình tu tập đều được lợi
Văn Thù hành động như thế nào
Mong con cũng có hành động ấy.*

Hồi hướng xong, phát nguyện:

*Nguyện đem mọi hứng thú phát tâm kim cang
Luôn vui vẻ tu bồ đề ba la mật
Để các chúng sinh vào kim cương nội đạo
Hồi hướng nhanh đắc quả vị Phật vô tử.*

Chú thích: Nada (Sư huynh Thiền Hào giải thích với tôi.)
Chủng tử tự thu về và sau cùng tan vào một điểm cực nhỏ, ý nghĩa của nó là có âm thanh, tiếng vọng, tiếng rung động, tiếng gào thét vang lên, sau cùng thu về theo thứ tự, thu về tất cả đàn thành. Vào lúc Nada sau cùng có thể quán thành một dạng âm thanh mật chú, sau đó âm thanh tan nhập vào tính Không.

(Các chú tự được đưa vào trong bản văn này bởi người biên tập - Liên Lịch.) 


### 17. Chân Phật mễ cúng pháp thí quán


Tại đây tôi tiết lộ pháp quán mễ cúng pháp thí như sau:
Trước tiên, dùng bát bằng đồng hoặc bạc đựng gạo cúng trước bàn thờ Phật.

1. Nhập đàn niệm chú thanh tịnh.
2. Niệm chú triệu thỉnh.
3. Chân Phật đại lễ bái pháp
4. Chân Phật tứ quy y pháp.
5. Chân Phật đại cúng dường pháp.
6. Mặc bia giáp hộ thân pháp.
7. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (1~3 biến)
8. Tay kết thủ ấn Liên Hoa Đồng Tử (tay trái là ấn cầm hoa sen, tay phải là ấn thuyết pháp). 

Niệm 3 biến: Nam mô guru Liên Sinh Hoạt Phật.
Trong sát-na, Liên Sinh Hoạt Phật từ Phạn huyệt đi vào trong tim mình. Liên Sinh Hoạt Phật và bản thân không hai không khác.
Trì chú: "Ôm ah hùm gu-ru-pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-sâng sit-đi hùm." (108 biến)
Quán tưởng từ tim mình ánh sáng trắng chiếu đến bát gạo.
Bát gạo biến thành báu vật to lớn vô biên. 
Gạo trong bát biến thành trong suốt, hóa thành biển cam lộ của trí huệ vô lậu.

9. Tụng kệ:

*Xa rời ô nhiễm, thân tinh trắng.
Mắt bi từ ái xót chúng sinh.
Chính giác Liên Sinh tới gia trì.
Nay ta, Hoạt Phật thân đồng thể.
Đặc biệt ở đây cúng các người.
Toàn bộ nợ nần từ vô thủy.
Hết thảy chủ nợ có oán thù.
Nhiếp triệu mau mau đến tại đây.*

10. Dùng ấn móc câu — hai tay đan ngoại phộc, ngón trỏ tay phải giơ ra thành hình cái móc.

Niệm chú: "Ôm ben-za-la a-mô-li-ta-yi ta-li ha-na-ha-na hùm." (3 biến)
Nghĩ đến tất cả oan thân trái chủ đến trước mặt hành giả Mật tông. Lần lượt từng chủ nợ hóa thành những bóng đen đứng trước mặt hành giả.
Hành giả Mật tông niệm 3 biến "Ôm ah hùm" để gia trì cho bát gạo. Đưa tay ra nắm lấy một ít gạo rồi vẩy ra bốn xung quanh. 
Khi vẩy gạo xong thì niệm chú: "Na-mô sa-la-mô ta-tha-ga-ta-a mô-lô-chi-tưa sa-pa-la sa-pa-la hùm." (3 biến)

11. Hồi hướng:
*Gạo đây biến cúng thuần cam lộ.
Dâng tới chủ nợ với oan thân.
Nhận xong cam lộ tâm vui vẻ.
Chướng ngại biến tiêu hết oán thù.*

Và:
*Đây là đại lực bố thí pháp.
Mong cho trái chủ cùng quyến thuộc
Chuyển hóa huệ quang tăng cát tường.
Mọi điều nói nghĩ đều thành tựu.
Oán phiền tất cả được tiêu tan.
Nguyện cho chúng sinh nhận thí pháp.
Phúc huệ tư lương được đủ đầy.
Cùng nhau bay tới cõi liên hoa.*

12. Vỗ tay, giải tán oan thân trái chủ.

13. Đại lễ bái Phật. Xuất đàn.

Cát tường viên mãn. 

🌟

Bí mật thành công của Chân Phật mễ cúng pháp thí quán đó là, đầu tiên thỉnh cầu Liên Sinh Hoạt Phật đại gia trì, tự thân biến hóa thành Liên Sinh Hoạt Phật.
Sau đó dùng ánh sáng của tâm luân gia trì cho bát gạo, hóa thành nước cam lộ. Dùng pháp nhiếp triệu để gọi oan thân trái chủ của kiếp trước đến. Bởi vì từ vô thủy tới nay nghiệp chướng rất nhiều, cho nên oan thân trái chủ cũng rất nhiều, lần lượt quán tưởng họ ở trước mặt.
Vẩy gạo để bố thí, giải trừ nghiệp chướng, kẻ thù, v.v…

Chân Phật mễ cúng pháp thí quán nhìn thì giống như chỉ là tiêu nghiệp chướng mà thôi, thật ra tu trì thành tựu pháp này thì tất cả oan thân trái chủ sẽ không đến làm hại, oan thân trái chủ sẽ biến thành bạn tốt trợ duyên, đây là pháp an yên cát tường, là pháp thanh tịnh. 

Chân Phật mễ cúng pháp thí quán là một đại pháp tiêu nghiệp, cũng có tính chất siêu độ, bao hàm tất cả tính chất đặc biệt, cho nên không thể coi thường pháp này, đây là pháp quảng đại siêu việt, là thực hiện lòng bác ái, có thể phá bỏ những trở ngại về tri kiến của người phàm, có tính khai mở. 

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng một khi trừ được nghiệp chướng thì ánh sáng trí huệ tự nhiên bừng sáng và bộc lộ, phúc phần tự nhiên giáng xuống, pháp quán đây có lợi ích lớn. Sở dĩ tôi liệt pháp này vào trong sách này mà không bỏ đi là vì đây là Đại Phúc Kim Cang pháp thí quán. 


### 18. Trình tự tu trì Mật pháp (bài diễn giảng)


Hôm nay thuyết pháp, tôi muốn giải thích đặc biệt chi tiết về Mật pháp,  nên bài giảng hôm nay rất quan trọng.

Mật pháp này, cái gọi là bí mật nằm ở việc không truyền chung, mà là truyền từng người một. Nhưng ngày nay Chân Phật Tông đã công khai tất cả Mật pháp, đây là đại nguyện của Thượng sư. Nhờ đại nguyện này mà Mật pháp được công khai. Những ai hôm nay có thể nghe được Phật pháp và có thể tu hành, chắc chắn sẽ thành Phật, đó chính là lòng từ bi của chư Phật Bồ Tát.

**Bàn thờ Phật**

Mỗi người tu pháp, trước tiên phải có một bàn thờ, đó chính là cái gọi là Mật đàn. Bàn thờ này lấy vị Phật Bồ Tát nào làm trung tâm? Chính là phải đặt vị Phật Bồ Tát mà bạn tu pháp, có nhân duyên sâu đậm nhất, hợp nhất với bạn ở vị trí trung tâm. Lợi ích của bàn thờ này là khi bạn bước vào, tâm sẽ cảm thấy hoan hỷ và vô cùng thanh tịnh.

Có đệ tử hỏi Thượng sư: "Nếu không có tiền lập bàn thờ, không có phòng riêng để đặt bàn thờ thì phải làm sao?" Bàn thờ này cũng có thể đặt ngay tại nơi bạn ngủ trong phòng; nhưng vì vấn đề thanh tịnh, bạn có thể dùng vải đỏ hoặc vải vàng để che lại khi đi ngủ vào ban đêm.

Cũng có đệ tử hỏi Thượng sư: "Nếu không có giường, không có phòng ngủ thì phải làm sao?" Cũng có người không có phòng ngủ riêng, vì nhiều người ngủ chung một chỗ. Thượng sư bảo họ: bạn hãy lấy không gian làm đàn, không cần bày hương, không có lư hương, không có bát cúng, không có tượng Phật, tất cả đều không có, mỗi lần tu pháp, hãy quán tưởng Bổn tôn của mình, vị Bổn tôn có nhân duyên sâu đậm nhất, ở trên không trung. Bạn nói với người khác rằng, vũ trụ chính là đàn. Đây là cách tu hành cao cấp nhất. Nhưng người thường không thể lĩnh hội được, vẫn nên bày trí mật đàn.

**Thanh tịnh**

Sau khi có mật đàn, bạn phải tu! Bắt đầu tu hành. Trước tiên phải thanh tịnh.
Cái gọi là thanh tịnh, chính là thân thể thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh. Vậy, khi chúng ta bắt đầu tu pháp, phải tụng chú thanh tịnh thân, khẩu, ý. Khi tụng, chắp tay, có thể chắp tay tụng:
Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.

**Triệu thỉnh**

Tiếp theo, chúng ta cần triệu thỉnh, tức là thỉnh mời Bổn tôn của mình, cùng các vị Phật Bồ Tát trong đàn của bạn đến.

Cần tụng chú triệu thỉnh: "Ôm a hùm. Sô-ha." Phải tụng ba lần. Sau khi triệu thỉnh Phật Bồ Tát đến, thỉnh Phật Bồ Tát đến trong hư không hoặc trong Mật đàn của bạn, bạn bắt đầu lễ bái.

**Đại lễ bái**

Cái gọi là đại lễ bái, chính là dùng thân, khẩu, ý của mình để thực hiện một sự bái lạy, là nghi thức tỏ lòng cung kính đối với chư Phật Bồ Tát. Đại lễ bái có cách phủ phục toàn thân, toàn thân áp sát đất, vừa chạm đất liền đứng dậy ngay. Còn có ngũ thể đầu địa, tức là hai đầu gối, hai lòng bàn tay, một đỉnh đầu chạm đất. Đây là lễ bái ngũ thể đầu địa.

Trong Mật pháp có bốn thủ ấn dùng để đại lễ bái. Cái gọi là  thủ ấn Phật kham, chính là ý nghĩa lễ Phật. Thứ hai là thủ ấn liên hoa. Thứ ba là thủ ấn chày kim cang. Thứ tư là thủ ấn bình đẳng (kết bốn ấn nêu trên). Mỗi thủ ấn này khi lễ bái đều phải dùng thân, khẩu, ý (ấn vào trán, đầu, cổ họng, tim). Lễ bái như vậy gọi là đại lễ bái.

**Cúng dường**

Sau khi hoàn thành đại lễ bái, bạn phải dâng những cúng phẩm tốt nhất của mình cho chư Phật Bồ Tát. Việc cúng dường này có lợi ích, không phải là bạn cho Phật Bồ Tát cúng phẩm thì Phật Bồ Tát mới ban phúc cho bạn, không phải ý nghĩa đó. Cúng dường chính là khả năng buông xả, ý nghĩa là có thể buông xả. Chúng ta có thể buông xả, dâng tặng đồ vật cho người khác, bạn có thể dâng những thứ tốt nhất của mình để thực sự cúng dường bậc thánh hiền. Thực ra, khả năng buông xả này chính là phúc báo đích thực. Trên đời có rất nhiều người giàu có, nhưng họ không thể buông xả. Người giàu có mà không thể buông xả thì phúc phần của họ không thể kéo dài.

Sự buông xả này chính là dừng lòng tham. Ngăn chặn một trong ba thứ độc là tham niệm. Chúng ta dùng vật phẩm để cúng dường chư Phật Bồ Tát, chư Phật Bồ Tát ban phúc cho chúng ta, trong ruộng tâm của bạn đã có phúc báo, đó chính là ý nghĩa của cúng dường.

Khi cúng dường cần kết ấn cúng dường, đây là ấn cúng dường (kết thủ ấn), khi kết ấn cúng dường, bạn in vật phẩm cúng dường vào trong tâm trí, sau đó biến hóa nó, một vật biến thành ba vật, ba vật biến thành vô lượng vô tận, như núi như biển.

Có người không có gì để cúng dường, thì bạn có thể nói, hôm nay nhìn thấy một bông hoa đẹp bên ngoài, bạn có thể hình dung bông hoa đó, biến hóa khắp không trung, như núi như biển, như vậy cũng là cúng dường, vì thế không nhất thiết phải dùng vật chất để cúng dường mới nhận được sự quan tâm thực sự của chư Phật Bồ Tát. Cúng dường chính là tâm ý của bạn đã hoàn toàn bày tỏ, hiện tiền trước chư Phật Bồ Tát, như vậy cúng dường của bạn sẽ đạt được phúc báo rất lớn.

**Tứ quy y**

Sau khi hoàn thành cúng dường, tiếp theo bạn cần tụng chú Tứ quy y.
Chú Tứ quy y là: "Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê." Cái gọi là "Namo guru beh", chính là quy y Thượng sư. "Namo buddhaya", chính là quy y Phật. "Namo dharmaya", chính là quy y pháp. "Namo sanghaya", chính là quy y tăng bảo thánh hiền.

Tứ quy y này có ý nghĩa rất trọng đại, mỗi lần tu pháp đều phải tụng, luôn nhớ rằng bạn quy y Thượng sư, quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng, điều này giúp bạn ghi nhớ rằng mình là người tu hành. Khi đã thực sự Tứ quy y thì có thể thoát khỏi lục đạo luân hồi. Nếu miệng bạn tụng chú, nhưng tâm không đi theo lời chú, thì dù có quy y cũng như không quy y. Việc tụng chú Tứ quy y chính là để bạn luôn nhớ rằng mình là hành giả Mật tông.

Nhiều người hỏi Thượng sư: "Tại sao quy y Thượng sư được đặt lên hàng đầu?" Bởi vì nhờ có Thượng sư truyền pháp mới có sự tồn tại của Phật, pháp, tăng. Bản thân Thượng sư dạy Phật, dạy pháp, dạy tăng, nên Thượng sư được đặt lên hàng đầu. Nhờ có sự truyền pháp của Thượng sư, chúng sinh mới có thể được độ, vì vậy Thượng sư được xếp ở vị trí thứ nhất.

**Mặc giáp hộ thân**

Sau khi tụng xong Tứ quy y, bạn thực hiện pháp mặc giáp hộ thân. Pháp mặc giáp hộ thân phải được thực hiện mỗi khi tu pháp; không những thế, đôi khi ra khỏi nhà cũng nên thực hiện pháp mặc giáp hộ thân, trước khi đi ngủ cũng nên thực hiện pháp mặc giáp hộ thân.

Cần biết rằng thế giới này, nếu không có chứng ngộ chân thật, khắp nơi đều là ma, có ma cũng có quỷ. Có thần thì có quỷ, có Phật thì có ma. Vì thế, một người tu hành cần hiểu cách mặc giáp hộ thân để hàng ma. Khi người Thiên Chúa giáo vào nhà thờ, họ nhúng tay vào nước thánh, vẽ dấu thánh giá ở đây (trước ngực), đó chính là pháp mặc giáp hộ thân. Trong Mật pháp cũng vẽ hình chữ thập, tại vị trí thiên tâm của bạn, tại cổ họng, tại tim, tại vai trái, tại vai phải, cách thực hiện là chắp tay kim cang (kết thủ ấn), điểm vào thiên tâm, cổ họng, tim, vai trái, vai phải, rồi quay trở lại đỉnh đầu để giải ấn, đây chính là pháp mặc giáp hộ thân. Sau khi bạn làm như vậy, khi giải ấn, bạn cần quán tưởng Vệ Hộ Pháp Tôn Thiên Bồ Tát đang ở trên không trung hộ vệ cho bạn tu pháp. Tôi sẽ làm lại một lần để mọi người xem. (Kết thủ ấn và làm lại một lần) Tất cả đều có Vi Hộ Pháp Tôn Thiên Bồ Tát bảo vệ bạn, lúc này bạn cần tưởng tượng trong không trung có những vị Bồ Tát đang bảo vệ bạn. Trong cuộc sống hàng ngày khi ra ngoài, thức dậy buổi sáng, mặc quần áo, bạn có thể thực hiện pháp mặc giáp hộ thân như vậy.

Ví dụ cái khăn này là quần áo. Kết ấn chắp tay kim cang, đặt lên trên quần áo, tụng bảy lần chân ngôn của Kim Cang Thủ Bồ Tát: "Ôm bua-rưa lan chưa-li." Sau đó quán tưởng chiếc áo này biến thành áo giáp vàng, một bộ giáp trụ, mặc nó vào, giống như một chiến sĩ mặc áo giáp sắt, vũ trang toàn thân, đây chính là mặc giáp hộ thân.

Khi thực hiện mặc giáp hộ thân, tay kết ấn Kim Cang Thủ, tụng bảy lần chân ngôn của Kim Cang Thủ Bồ Tát. Sau khi điểm vào năm vị trí trọng yếu, sẽ có chư Phật Bồ Tát bảo hộ. Sau đó khi bạn ra ngoài làm việc, không sợ bị ma quấy nhiễu, tu pháp cũng không sợ bị ma quấy nhiễu.

Thực ra ma không đáng sợ, đôi khi lòng người còn đáng sợ hơn cả ma. Khi tâm bạn chính trực, ma không dám bắt nạt bạn. Có người hỏi Thượng sư: "Con chưa bao giờ nhìn thấy ma quỷ." Họ hy vọng có thể nhìn thấy, vì không thấy nên rất tò mò, họ mong muốn nhìn thấy, nhưng khi ma quỷ thực sự xuất hiện, họ sẽ sợ chết khiếp. Giống như câu chuyện Diệp Công họa long - Diệp Công rất thích rồng, ông ấy thích gặp rồng, nhưng khi rồng thực sự xuất hiện, Diệp Công sợ hãi đến nửa sống nửa chết.

Nơi nào có ma quỷ? Bất kì nơi nào cũng có ma quỷ. Nơi nào có người thì nơi đó có ma, vì vậy cần phải thực hiện pháp mặc giáp hộ thân. Có người hỏi tôi: "Nếu ma quỷ ở khắp mọi nơi, vậy nơi nào có nhiều ma quỷ nhất?" Thượng sư trả lời: "Rạp chiếu phim có nhiều nhất." Ngay cả ở đây cũng có. Ma quỷ rất thích bóng tối, và rạp chiếu phim là nơi tối nhất. Chúng thích con người, nên đôi khi sẽ nhập vào thân thể con người. Khi một người ngủ vào ban đêm, thường bị ma dẫn đi, bạn có thể thấy giữa hai lông mày của họ có màu xanh, dưới mắt có màu đen, đó đều là dấu hiệu bị ma quấn lấy. Xương thường xuyên đau nhức, ở cánh tay, ở chân, những bệnh không thể chữa khỏi, đều là do bị ma quấn lấy.

Nơi nào, thời điểm nào có nhiều ma quỷ nhất? Trong các dịp cưới hỏi có nhiều nhất, trong đám tang cũng có nhiều nhất. Trong những dịp cưới hỏi, tất cả tổ tiên đều muốn trở về tham dự lễ cưới của con cháu họ, họ gọi bạn bè, dẫn theo người thân cùng đến tham dự buổi họp mặt. Đám tang cũng tương tự, khi có đám tang, tất cả những người đã mất trước đây đều muốn trở về đón dẫn con cháu của họ, nên sẽ xảy ra xung phạm. Cả hai việc hiếu hỷ đều dễ bị xung phạm, vì đó là nơi tụ hội của người âm.

Tất nhiên, chúng ta là những hành giả mật hành—hành giả Mật tông, không sợ bị xung phạm, vì chúng ta đã thực hiện pháp mặc giáp hộ thân. Có người hỏi Thượng sư: "Tại sao con chưa từng bị xung phạm?" Vận khí có lúc cao lúc thấp, khi vận khí thấp thì sẽ bị tìm đến gây phiền phức. Vì vậy, tốt nhất vẫn nên thực hiện pháp mặc giáp hộ thân.

**Tụng kinh**

Sau khi thực hiện xong pháp mặc giáp hộ thân, bạn cần tụng kinh, đó là Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. Cao Vương Kinh rất linh nghiệm, kinh điển này đã có từ thời nhà Đường, bản thân Thượng sư đã nhận được nhiều linh nghiệm từ bộ kinh này, nên hy vọng mọi người đều tụng kinh này. Sự linh nghiệm của Cao Vương Qaán Thế Âm Chân Kinh đã được ghi chép trong nhiều sách; kinh này thậm chí còn nói: "Tụng đủ một nghìn lần, tội nặng đều tiêu diệt, người chết trở thành sống." Thượng sư đã đích thân trải nghiệm sự linh nghiệm của bộ kinh này, nên mới hy vọng tất cả đệ tử có thể trì tụng bộ kinh này.

**Quán tưởng**

Sau khi tụng xong bộ kinh này, bạn cần quán tưởng Bổn tôn, nghĩ tới Bổn tôn để được gia trì. Quán tưởng Bổn tôn là quán tưởng theo pháp tướng của Bổn tôn. Ánh sáng trắng chiếu vào thiên tâm của bạn, ánh sáng đỏ chiếu vào cổ họng của bạn, ánh sáng xanh chiếu vào tim của bạn. Quán tưởng này rất quan trọng, khi quán tưởng, tay cần kết thủ ấn của Bổn tôn, chư Phật Bồ Tát đến trong không trung, chỉ cần các ngài phóng hào quang chiếu vào bạn, nghiệp chướng của bạn sẽ tiêu trừ, tất cả thân, khẩu, ý tam nghiệp đều được thanh tịnh.

Nếu lấy Quan Thế Âm Bồ Tát làm Bổn tôn, hãy quán tưởng Quan Thế Âm Bồ Tát đến trong không trung. Nếu lấy Địa Tạng Vương Bồ Tát làm Bổn tôn, hãy quán tưởng Địa Tạng Vương Bồ Tát đến trong không trung. Nếu lấy Chuẩn Đề Phật Mẫu làm Bổn tôn, hãy quán tưởng Chuẩn Đề Phật Mẫu đến trong không trung.

Chân Phật Tông có tám pháp Bổn tôn: đó là A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát, Chuẩn Đề Phật Mẫu, Hoàng Tài Thần, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, Liên Hoa Đồng Tử, Dược Sư Như Lai. Trong tám pháp Bổn tôn này, mỗi người đều phải chọn một vị Bổn tôn để tu trì.

Ở đây có một vấn đề, nhiều người hỏi tôi là họ nên chọn vị nào làm Bổn tôn? Thượng sư trả lời mọi người như sau: Nếu bạn nghĩ mình rất từ bi, hãy chọn Quan Thế Âm Bồ Tát làm Bổn tôn; nếu không từ bi thì đừng chọn! Nếu bạn muốn cứu độ chúng sinh, siêu độ cõi âm, bản thân muốn độ âm, hãy chọn Địa Tạng Vương Bồ Tát làm Bổn tôn. Nếu bạn muốn đến cõi tịnh thổ Tây phương Cực Lạc của Liên Hoa Đồng Tử, hãy chọn Liên Hoa Đồng Tử làm Bổn tôn. Nếu bạn muốn đến cõi tịnh thổ của Chuẩn Đề Phật Mẫu ở cung Đại Nhật, hãy chọn Chuẩn Đề Phật Mẫu làm Bổn tôn. Có người cho rằng trí tuệ của mình là hàng đầu, họ chọn Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát làm Bổn tôn, người muốn cứu thế độ nhân, cứu độ chúng sinh, chọn Dược Sư Như Lai làm Bổn tôn. Người muốn có phúc báo lớn, đến cõi trời Tứ Thiên Vương, chọn Hoàng Tài Thần làm Bổn tôn. Vị Hoàng Tài Thần này có nhiều người tu nhất! Mọi người đều muốn kiếm tiền, nên Hoàng Tài Thần có thị trường tốt nhất.

**Trì chú**

Điểm cốt yếu của Mật pháp là trước tiên quán tưởng sau đó trì chú. Trước hết hãy quán tưởng Bổn tôn đến, sau đó bạn xưng tên Ngài, tương đương với việc trì tâm chú của Ngài. Tâm chú chính là tần số của chư Phật Bồ Tát, giống như việc chỉnh tần số trên radio, khi bạn chỉnh đúng tần số của Bồ Tát, bạn có thể cảm ứng với Ngài.

Có một đệ tử đến nói với tôi rằng anh ta tu pháp A Di Đà nhưng không có cảm ứng. Tôi hỏi anh ta: "Anh trì chú gì?" Anh ta nói rằng anh trì tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát, tôi nói: "Một vị ở trên trời, một vị ở dưới đất! Tần số của anh không đúng." Giống như ở Đài Loan, bạn muốn xem đài Đài Thị, nhưng lại chuyển sang đài Hoa Thị. Vì vậy, khi bạn tu pháp vị Bổn tôn nào, bạn phải trì tâm chú của vị Bổn tôn đó, kết thủ ấn của vị Bổn tôn đó. Chú chính là một âm thanh, một giọng nói, một tần số.

Có rất nhiều người yêu cầu Thượng sư chỉ cho họ cách phát âm tâm chú, họ sợ phát âm không chính xác. Phát âm của Thượng sư cũng không nhất thiết là chính xác, bởi vì tôi sinh ra ở Đài Loan từ nhỏ, sau đó học tiếng Quốc ngữ, học tiếng Quốc ngữ trong thời gian dài, tôi phát âm theo tiếng Quốc ngữ, khi tôi đến Hồng Kông mới nhận ra ngôn ngữ không thống nhất. Có người tụng chú bằng âm Quảng Đông, phát âm tiếng Ấn Độ lại khác, phát âm ở Sri Lanka lại khác, âm Tây Tạng cũng khác, phương ngữ ở dãy Himalaya có hơn ba mươi loại, vậy phải làm sao? Thực ra không quan trọng, vì chỉ là vấn đề tần số; khi trì chú bạn có thể tụng bằng âm Quảng Đông, người nước ngoài tụng bằng âm tiếng Anh, người hiểu chữ La Mã tụng bằng âm La Mã, người biết tiếng Tây Ban Nha tụng bằng âm Tây Ban Nha, miễn là tần số giống nhau thì đều thông được.

Tôi sẽ đọc một số tâm chú của các Bổn tôn cho mọi người nghe:
Ôm a-mi-tê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)

Đây là cách Thượng sư phát âm, hơi khác một chút so với cách phát âm thông thường, giống như người Trung Quốc nói tiếng Anh, luôn có chút khác biệt; người nước ngoài thấy người Trung Quốc nói tiếng Anh quá tốt, họ cảm thấy rất lạ, nhưng khi người Trung Quốc nói tiếng Anh không tốt lắm, với giọng Trung Quốc trong cách phát âm, họ mới thấy là bình thường, vì vậy việc chúng ta tụng chú hơi sai một chút là bình thường, quá chính xác ngược lại không bình thường, về cơ bản chúng ta không phải là người Ấn Độ, cũng không phải người Sri Lanka hay người Tây Tạng, nếu bạn phát âm quá chính xác người ta sẽ nói bạn bất thường, vì vậy mọi người đừng lo lắng nếu phát âm chú không chuẩn, miễn là tụng thì có công đức. Khi bạn trì chú, trì một cách chân thành, tần số tương ứng thì có thể cảm ứng. Trước đây có người tụng: "Ôm ma-ni-pê-mi niếu." Đã đọc nhầm chữ "Hùm" thành "Niếu" nhưng vẫn có cảm ứng, Bồ Tát không sợ biến thành "con trâu" [trong tiếng Trung, chữ Hán dùng để ghi âm Hum gần giống như chữ Ngưu - tức con trâu], Bồ Tát thấy bạn tụng với lòng chân thành, dù tụng sai, Ngài ngược lại còn thương xót bạn, nhanh chóng cho bạn cảm ứng.

**Nhập Tam ma địa**

Sau khi tụng chú xong, hãy nhập Tam ma địa. Nhiều người hỏi điểm trọng yếu của Mật pháp là gì? Điểm trọng yếu của Mật pháp là quán tưởng, trì chú và nhập Tam ma địa.

Ý nghĩa của quán tưởng là làm cho ý niệm của bạn thanh tịnh, thỉnh ánh sáng linh quang của chư Phật Bồ Tát đến; ý nghĩa của trì chú là sự cầu khẩn; nhập Tam ma địa là "nhập ngã, ngã nhập"; "nhập ngã" có nghĩa là ánh sáng của chư Phật Bồ Tát đi vào thân thể bạn, bạn hợp nhất với Ngài; "ngã nhập" có nghĩa là ánh sáng của bạn đi vào thân thể của chư Phật Bồ Tát. "Nhập ngã" là Ngài đến, "ngã nhập" là tôi đi.

Nhiều đệ tử hỏi tôi: "Tại sao tôi vẫn chưa nhập Tam ma địa?" Thượng sư tu tập mười lăm năm mới biết cách nhập Tam ma địa. Có đệ tử viết thư cho Thượng sư, nói rằng tôi tu được một tuần nhưng vẫn chưa nhập Tam ma địa, rất nghiêm trọng! Anh ta cứ hỏi tôi tại sao tu một tuần mà vẫn không thể nhập Tam ma địa, tôi nói "cứ bình tĩnh". Việc tu pháp không thể vội vàng được, đặc biệt là nhập Tam ma địa. Nói sâu hơn một chút, khi bạn đã đến được tịnh thổ, đó chính là nhập Tam ma địa. Khi có được kinh nghiệm nhập Tam ma địa, điều đó chứng tỏ pháp bạn tu đã có sự chứng minh, có sự chứng nghiệm.

Nhiều đệ tử cũng hỏi tôi: "Nhập Tam ma địa là như thế nào? Có phải là ăn được gì không?" "Có cảm giác gì không?" Rất khó để nói ra, rất khó giải thích, Thượng sư chỉ nói với mọi người rằng, nếu nhập Tam ma địa, bạn sẽ biến mất. Cảm giác con người biến mất là gì? Chỉ cảm thấy có một niềm hân hoan thiền định, rất vui vẻ, rất hạnh phúc, nhưng niềm vui này khác với trúng vé số; niềm hạnh phúc này là một sự vĩnh hằng, nhập Tam ma địa một giây giống như cả đời đều nhập Tam ma địa vậy. Điều này hoàn toàn chỉ có bạn biết, người khác không thể hiểu được. Khi xưa Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói: "Không thể nói!" Tại sao không thể nói, vì không thể diễn tả được, nên không thể diễn tả trở thành không thể nói. Nhập Tam ma địa, bản thân biến mất, vũ trụ đều biến mất, những gì có hình có tướng đều biến mất, cảnh giới trong đó, khó mà hình dung, nhưng điều đạt được chính là niềm hân hoan thiền định của minh tâm kiến tính.

Làm thế nào để nhập Tam ma địa? Cần phải ngồi tĩnh, ngồi thiền, thiền định. Có nhiều sách trên thị trường dạy người ta cách ngồi tĩnh, rất nhiều phương pháp khác nhau, mỗi phương pháp đều khác nhau, nhưng người ngồi thiền học nhiều phương pháp vẫn không thể nắm bắt được. Phương pháp của Chân Phật Tông chúng ta cũng cần mọi người tự nghiên cứu, sau đó chọn phương pháp phù hợp nhất với mình. Đó là đưa nhiều tâm (tạp niệm) của bạn tập trung thành một tâm (tập trung tinh thần), rồi biến một tâm đó thành vô tâm. Tu tập đến mức "biến nhiều thành một, biến một thành không", làm sao để thành một? Chính là tập trung tinh thần. Mọi người đều nói về việc tập trung tinh thần, nhưng thực tế trong số quý vị ngồi đây, có nhiều người tinh thần không tập trung, tạp niệm vô tận; có người ngủ gật, có người nghĩ ngày mai làm gì, có người đói bụng, có người chóng mặt, nghĩ đến "người ngồi ở đây, hồn bay ngoài nghìn núi", bởi vì ngoài nghìn núi, bạn gái của họ đang ở đó. Con người là như vậy, trong tâm trí, biến đổi từng khoảnh khắc, niệm niệm không ngừng, việc biến nhiều tâm thành một tâm rất khó! Vì vậy, ý nghĩa của việc thực hiện Cửu tiết Phật phong chính là tu tâm.

**Cửu tiết Phật phong**

Tôi muốn giải thích một lần về ý nghĩa của Cửu tiết Phật phong. Có một vài quán tưởng mọi người cần chú ý: hít vào là ánh sáng trắng, dừng trong cơ thể là ánh sáng đỏ, thở ra là ánh sáng đen. Đây là quán tưởng về ánh sáng, coi không khí như ánh sáng, bắt đầu quán tưởng ánh sáng trắng đi vào từ lỗ mũi phải, lưu thông đến đan điền, đi ra từ lỗ mũi trái, thở ra là ánh sáng đen. Rồi quán tưởng lại một lần ánh sáng trắng đi vào từ lỗ mũi trái, vòng quanh đan điền một vòng, từ lỗ mũi phải thở ra. Tiếp tục quán tưởng ánh sáng phía trước đi vào từ cả hai lỗ mũi, đi qua đan điền, đi lên trung mạch, đến cổ họng bị chặn lại rồi đi xuống, sau đó lại từ hai lỗ mũi thở ra. Đây là ba tiết. Tiếp theo là đảo ngược, trước tiên từ lỗ mũi trái vào, lỗ mũi phải ra, lỗ mũi phải vào, lỗ mũi trái ra, hai bên vào, hai bên ra, đây là sáu tiết. Tiếp tục quán tưởng hai lỗ mũi vào, hai lỗ mũi ra, lỗ mũi phải vào, lỗ mũi trái ra, lỗ mũi trái vào, lỗ mũi phải ra, đây là chín tiết. Tại sao phải phức tạp như vậy? Đảo qua đảo lại, làm gì vậy? Đó là bắt bạn nghĩ về lỗ mũi trái, lỗ mũi phải, hai lỗ mũi, lỗ mũi phải, lỗ mũi trái, hai lỗ mũi, hai lỗ mũi, lỗ mũi trái, lỗ mũi phải, yêu cầu bạn chỉ nghĩ về điều này, yêu cầu bạn tập trung tinh thần, không nghĩ gì khác. Ánh sáng trắng vào, ánh sáng đỏ trong cơ thể, khí đen ra, chính là thanh tẩy nghiệp chướng, trắng vào đen ra! Ánh sáng trắng làm sạch bên trong, loại bỏ tà khí trong cơ thể.

Khi thở, cần chậm, dài, sâu, giữ vững ba nguyên tắc này; bởi vì khi quán tưởng chín tiết này, sau khi hoàn thành, tinh thần của bạn sẽ có khoảng chín phút yên tĩnh, trong khoảng thời gian từ chín đến mười hai phút này, tâm trí bạn sẽ trong trẻo và yên tĩnh nhất, có thể buông bỏ tất cả, năng lượng của chư Phật Bồ Tát có thể đi vào cơ thể bạn, trở thành nhập ngã, đây là một kinh nghiệm, nếu bạn làm như vậy, bạn sẽ làm trống tâm hồn mình, khi bạn trống rỗng, năng lượng này có thể đi vào cơ thể bạn, điều quan trọng nhất và có ý nghĩa nhất là ở thời khắc này, bạn có thể cảm nhận được linh của chư Phật Bồ Tát đi vào cơ thể bạn, tu tập đến cuối cùng, linh của chính bạn có thể đi vào thân thể của chư Phật Bồ Tát, bạn có thể đạt được thành tựu, đi khắp nơi du sơn ngoạn thủy, đây chính là tu hành - mật hành.

Ý nghĩa của tu hành là gì? Chính là ở chỗ bạn khác với người thường, bạn có thể biết mục đích của cuộc sống là để thành tựu ánh sáng của chính mình, hòa nhập vào ánh sáng của vũ trụ, làm mà không cần mục đích, đó chính là ý nghĩa của cuộc sống. Ý nghĩa cuộc sống của chúng ta không phải để sinh con đẻ cái, nhiều người nói rằng ý nghĩa cuộc sống là để truyền lại cho thế hệ sau, việc truyền lại cho thế hệ sau chỉ là ý nghĩa vật chất; về mặt tâm linh siêu hình, ý nghĩa của cuộc sống chính là để ánh sáng tâm linh thể hiện tự tính thành Phật của chính bạn, đó là ý nghĩa của tâm linh, đây mới chính là thực sự nhập Tam ma địa.

**Nội hỏa minh điểm **

Có người học pháp minh điểm nội hỏa, minh điểm nội hỏa chính là khí trong người bạn đã đủ rồi! Khí điều hòa hơi thở trong cơ thể bạn đã đủ rồi, khí này có thể tự kiểm soát, có thể biến thành lửa, có thể kết thành đan, còn có thể vận chuyển khắp toàn thân, điều này trong Mật pháp gọi là Chuyết hỏa.

Bản thân ngọn lửa này vận chuyển khắp toàn thân, có thể thanh trừ rác thải trong cơ thể; người ta cảm thấy kỳ lạ, làm sao trong cơ thể lại có rác thải, thực ra cơ thể chúng ta toàn là rác thải; có người nói sau khi tắm xong thì cơ thể sẽ sạch sẽ, thực ra trong ruột họ vẫn còn lưu lại các thứ, có người nghĩ rằng tất cả cơ thể của họ đều rất đẹp, nhưng theo lời Phật Thích Ca Mâu Ni – đều là đồ dơ bẩn.

Tóc có gàu, mắt có ghèn, mũi có gỉ mũi, tai có ráy tai, miệng có nước bọt, mồ hôi tiết ra giống như nước tiểu, rất bẩn rất bẩn! Bên trong ruột toàn là chất bẩn, không có gì trong sạch, tóc và móng tay, chứa đựng và tích tụ chất bẩn, đó chính là rác. Không chỉ có rác đâu! Còn có độc tố trong cơ thể bạn; vi khuẩn chính là độc tố, cảm lạnh cảm cúm chính là nhiễm phong tà, thực ra đó là vi khuẩn, viêm nhiễm! Nướu răng của bạn viêm, vi khuẩn phát triển, có người đặc biệt có mùi, có hôi miệng, vì vậy vi khuẩn phát triển khắp cơ thể, dùng nội hỏa – chính là Chuyết hỏa này để đốt, bên trái đau thì đốt bên trái, bên phải đau thì đốt bên phải, đầu đau thì đốt đầu, chân đau thì đốt chân, nội hỏa lăn đến đâu, vi khuẩn hoàn toàn bị tiêu diệt. Hành giả Mật tông không nên có bệnh, bởi vì người tu pháp nội hỏa thường xuyên tiêu diệt vi khuẩn trong cơ thể, sức đề kháng tăng cường. Nếu người tu hành ho liên tục, đau lưng đau mỏi thì còn gì là tu hành?

Chân Phật Tông nói về tính mệnh song tu, "tính" là thấu hiểu chân lý của Phật, đạt được tương ứng; "mệnh" là cơ thể bạn rất khỏe mạnh, đây chính là tính mệnh song tu, không phải nói khoác, giống như tôi từ Đài Loan đến Mỹ đã ba năm rồi! Chân Phật Tông chúng tôi ở Mỹ có cố vấn y tế, vị cố vấn y tế này nói, muốn kiếm tiền của Lư Thắng Ngạn không dễ dàng, ba năm qua tôi không hề bị cảm lạnh, nên ông ấy không kiếm được đồng nào từ tôi. Người tu pháp nội hỏa phải đảm bảo bác sĩ không kiếm được tiền từ mình. Vì vậy, điều quan trọng nhất là nội hỏa của bạn có thể vận chuyển. Nếu không thông thì phải làm sao? Bạn cần dùng phương pháp yoga, vận động để thông mạch; hành giả yoga làm gì? Cái gọi là thuật yoga chính là giúp khí của bạn đi qua các kinh mạch, phải tĩnh tọa, cũng phải vận động, động tĩnh kết hợp với nhau, đây chính là con đường thành Phật, cũng chính là song tu tính mệnh.

Ngày nay có rất nhiều người tu hành nhưng cơ thể rất không khỏe, bạn hỏi họ tại sao tu hành mà chư Phật Bồ Tát không phù hộ cho họ có sức khỏe tốt? Họ nói họ đã thấu hiểu chân lý, không quan tâm đến cơ thể! Thực ra cũng cần phải quan tâm đến cơ thể, chỉ khi cơ thể khỏe mạnh thì tinh thần của bạn mới có thể tập trung, mới có thể làm tốt, làm đúng đắn, vì vậy tu tính thiên về thấu hiểu Phật lý, tu mệnh thiên về cơ thể của mình, đều là thiên lệch, đều là không đúng. Phải chăm sóc cơ thể, cũng phải chăm sóc tu hành.

**Trì thêm tâm chú**

Sau khi tu nhập Tam ma địa, cần trì thêm một số tâm chú, bởi vì sau khi trì chú Bổn tôn, các tâm chú khác trong Chân Phật Tông của chúng ta đều có liên quan đến chư Phật Bồ Tát; do có nhân duyên này, nên những tâm chú khác, mỗi chú đều tụng ba lần, hoặc có thể tụng nhiều hơn. Sau khi gia trì xong các tâm chú khác, cũng có thể niệm Phật, cũng có thể niệm "Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật", như vậy, một lần niệm là đã niệm 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật, chỉ trong chốc lát đã niệm được rất nhiều! Điều này so với niệm Phật thông thường càng có sức mạnh hơn, đây là pháp tiện lợi. 

Ở đây có một điển tích: Ngày xưa có một bà lão, bà niệm Phật, cả ngày bà đều niệm "Nam Mô A Di Đà Phật, Nam Mô A Di Đà Phật", bà phát nguyện niệm 100 triệu lần; nhưng sức khỏe của bà không tốt, bà cảm thấy mình sắp qua đời, bà không thể niệm xong, không thể hoàn thành nguyện vọng, bà đau khổ khóc lóc thất thanh; Bồ Tát đã hóa thân thành một vị tăng - một vị thánh hiền đến bảo bà hãy niệm "Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật", như vậy, lập tức 100 triệu lần đều được viên mãn. Bà lão rất vui mừng, bà niệm như vậy liền thành Phật. Vì thế mọi người khi niệm Phật cuối cùng hãy trì thêm câu này, sẽ giúp ích cho mọi người.

**Hồi hướng**

Sau khi gia trì xong, tiếp theo là hồi hướng. Hồi hướng là gì? Đó là tập hợp tất cả công đức bạn đã tạo thành một thể thống nhất. Lời hồi hướng này là: 
Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Người nào đó hồi hướng cho ai đó…

**Viên mãn**

Cuối cùng có một tâm chú viên mãn, đó là niệm: "Ôm bu-lin." Sau khi niệm xong tâm chú viên mãn, tu tập như vậy được xem là công đức viên mãn.

**Tổng kết**

Trọng tâm của pháp tu này nằm ở quán tưởng, trì chú và nhập Tam ma địa. Những phần khác cũng rất quan trọng, nhưng ý nghĩa quan trọng nhất nằm ở sự thanh tịnh của ý - biến ý niệm của bạn thành Phật; thanh tịnh của khẩu - khi tụng chú biểu thị khẩu nghiệp thanh tịnh; thanh tịnh của thân - khi bạn kết ấn, biểu thị rằng tôi đang học Phật, thanh tịnh như Phật vậy. Ba yếu tố thân, khẩu, ý này hợp lại chính là tam mật hợp nhất; tam mật hợp nhất có thể khiến tâm linh siêu việt hình tướng, siêu việt hình tướng để nhập Tam ma địa, đó chính là thành Phật.

Người không tu hành, thân, khẩu, ý của họ đều không thanh tịnh, họ sẽ đi xuống. Vì vậy, người có lòng tham kiếp sau sẽ biến thành con cáo, dùng hết mọi mưu kế, ham danh lợi. Người có tâm sân hận, thường hãm hại người khác, thân, khẩu, ý vì có sân hận nên biến thành rắn, rắn là đại diện của sự sân hận. Cái gọi là si chính là ngu dốt kém cỏi, làm việc hoàn toàn không đúng, không nghiêm túc tinh tấn, ham ăn lười làm, là đại diện của con lợn, đời sau biến thành lợn. Đi lên thành tiên thành Phật, đi xuống biến thành súc sinh, ngạ quỷ, đọa địa ngục, luân hồi trong sáu cõi, rất đáng thương. Vì vậy có những người hiện tại mang thân người, nhưng thực ra họ không phải là người. Họ không phải là người thì là gì? Chẳng lẽ là tiên ư? Đi xuống không thể thành tiên, mà thành vật, vật chính là lợn, chó, trâu, rắn, gà, vịt, như vậy đó.

Hôm nay, để giải thoát khỏi luân hồi lục đạo, chúng ta có Mật pháp của Chân Phật Tông này. Với pháp tu như vậy, mỗi ngày tu một lần là tốt, tối đa là hai lần, không nên tu từ sáng đến tối. Có người muốn tinh tấn hơn, từ sáng sớm thức dậy tu liên tục đến tối, đến lúc đó hai chân họ tê liệt, không thể đứng dậy được, họ nói đó là do Thượng sư gây ra. Tinh tấn không nên như vậy. Có người ban đêm không ngủ, họ muốn học tinh tấn, tu pháp không ngủ, công phu chưa đủ, tinh thần trở nên có vấn đề, điều này lại đổ thừa là do Thượng sư gây ra. Vì vậy, tu pháp rất quan trọng, cần phải có tiết chế, sống cuộc sống bình thường như mọi người, vẫn phải ăn, vẫn phải ngủ. 

Có một người tu đạo nói với tôi rằng anh ta không cần ăn trong bảy ngày, đã tu đến mức bảy ngày không ăn. Thượng sư hỏi anh ta: "Vậy ngày thứ tám anh có ăn không?" Anh ta trả lời: "Ngày thứ tám đương nhiên phải ăn rồi!" Vậy thì không ăn và ăn có gì khác nhau? Cho nên tu đến mức không ăn là hành hạ bản thân là không được phép. Có người nói tu đến mức có thể không ngủ trong vài ngày, tôi hỏi anh ta sau vài ngày có còn ngủ không? Vẫn phải ngủ! Vậy thì ngủ và không ngủ không phải vẫn giống nhau sao? Tất cả đều là suy nghĩ không đúng. Cần phải ăn và cần phải ngủ, ăn là lương thực cho cơ thể, ngủ là lương thực cho tinh thần, cả hai không thể thiếu một.

Nhiều người hỏi quy y Chân Phật Tông có phải là phải xuất gia không, có những người vợ không cho phép chồng quy y, họ nói rằng sau khi chồng quy y sẽ không còn yêu họ nữa. Không phải vậy đâu, chỉ là yêu cầu bạn dành 30 phút mỗi ngày để tu pháp, không phải bắt bạn xuất gia, cũng không phải là không còn yêu thương ai nữa. Có những bậc cha mẹ không hiểu tầm quan trọng của việc tu pháp, họ cũng cấm con cái đến quy y, con cái hiếu thảo với cha mẹ, không nên đi ngược lại ý kiến của cha mẹ, nhưng cần phải xin cha mẹ thông cảm, hiểu được tầm quan trọng của việc tu pháp, từ từ nhẹ nhàng cho cha mẹ biết điều này là có lợi ích.

Khi đệ tử tu pháp, có thể quán tưởng cha mẹ ở xung quanh hoặc hai bên mình cùng tu pháp, như vậy cha mẹ cũng sẽ tăng thêm duyên với Phật, cũng sẽ có công đức, đây chính là quán tưởng. Chồng không tin, hãy quán tưởng chồng cùng tu, vợ không tin, hãy quán tưởng vợ cùng tu pháp, tu pháp như vậy, cả hai người đều có công đức, duyên với Phật sẽ dần dần tăng lên. Bất kì người bạn nào không tin Phật, hãy quán tưởng họ cùng tu pháp, điều này rất hiệu quả. Bạn của bạn nợ bạn tiền, họ không trả, hãy quán tưởng họ lấy tiền từ túi ra trả cho bạn, họ sẽ cảm thấy ngứa ngáy trong lòng, và trả tiền cho bạn. Tu pháp có nhiều lợi ích, bạn gái bỏ đi, hãy quán tưởng cô ấy quay lại. Sức mạnh của quán tưởng rất lớn, nếu bạn thực sự có khả năng, bạn nghĩ thế nào sẽ thành thế ấy. Không phải là suy nghĩ viển vông, mà là quán tưởng trong tu pháp sẽ thành công, sẽ có thành tựu. Vì vậy tôi đã dạy nhiều bạn trẻ: bạn gái không nghĩ về bạn, không sao cả, hãy quán tưởng cô ấy đến, cô ấy không nghĩ về bạn, bạn nghĩ về cô ấy cũng được mà! Lại không phạm pháp, có thể an tâm mà làm.

Trong Mật pháp có Ái Nhiễm Minh Vương, tu pháp Ái Nhiễm Minh Vương có thể thu hút bạn trai bạn gái đến với mình. Pháp Tài Thần là để thu hút tài lộc. Giống như Hoan Hỷ Thiên Vương, ngài có hình dạng của một con voi, là một vị thần voi, vòi của ngài có thể phun ra của cải, có thể ban tặng của cải cho chúng sinh. Khi tu pháp của ngài, bạn hãy quán tưởng kim cương rơi xuống từ vòi của ngài. Những cuộn đô la Mỹ lần lượt rơi xuống, những người muốn có xe Mercedes có thể quán tưởng xe rơi ra từ vòi, người muốn có nhà có thể quán tưởng nhà rơi ra từ vòi, đây chính là Mật pháp.

Pháp có xuất thế gian, tu hành thành Phật. Có nhập thế gian, viên mãn tất cả ước nguyện của chúng sinh. Vì vậy phải tu! Nếu bạn không tu xuất thế gian thì cũng nên tu nhập thế gian. Tu xong nhập thế gian rồi tu xuất thế gian, đều có ý nghĩa. Có một số đệ tử tôi dạy họ pháp, tôi chỉ dạy họ pháp nhập thế, bởi vì tôi hỏi họ: "Bạn muốn thành Phật à?" Họ nói họ không muốn thành Phật, tôi hỏi bạn không muốn thành Phật, vậy bạn muốn gì? Họ nói họ muốn tiền. Tiền trong cuộc sống là quan trọng nhất, tất cả đều là tiền, vì khi còn sống tiền rất hữu dụng, nên tôi dạy họ pháp Tài Thần. Họ cũng tu pháp, có lợi ích, bởi vì ý nghĩ của họ biến thành sức mạnh, trở thành một loại lực hút, triệu thỉnh Tài Thần đến. Vì vậy, những người không muốn thành Phật cũng có thể quy y Chân Phật Tông. Pháp nhập thế là nền tảng của pháp xuất thế, đôi khi tôi nói với mọi người hãy thành Phật, hãy tu hành, hãy thành tiên thành Bồ Tát, họ đều không quan tâm, họ chỉ quan tâm đến danh lợi. Vì vậy để khiến mọi người tu hành, chư Phật Bồ Tát cũng truyền xuống pháp nhập thế gian, có thể thấy Phật Bồ Tát thật từ bi! Viên mãn mọi nguyện cầu.

Trong pháp hôm nay, tôi sẽ nói về pháp xuất thế, nhập thế, cùng với việc đồng tu và quá trình tu tập của bản thân. Nếu các bạn đã ghi chép lại, tôi sẽ đọc qua trình tự này cho mọi người biết.

Đầu tiên tụng chú tịnh khẩu sau đó tụng chú triệu thỉnh, khi triệu thỉnh xong, tiếp tục làm đại lễ bái, dâng cúng một chút đồ cho chư Phật Bồ Tát, tụng chú tứ quy y, thực hiện mặc giáp hộ thân phòng ma, tụng Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, quán tưởng ba ánh sáng gia trì, tiêu trừ nghiệp chướng, sau đó trì tâm chú, trì xong tâm chú thì nhập Tam ma địa (thiền định), sau khi xuất định từ Tam ma địa là phần hồi hướng. Tất cả các pháp tu cầu nguyện điều gì đều bày tỏ trong phần hồi hướng, vì vậy đôi khi để khiến một người tin Phật, chúng ta hồi hướng như sau: "Ôm chưa-li-chu-li Chuẩn Đề, sắc lệnh người ABC tin Phật, sô-ha", "Ôm chưa-li-chu-li Chuẩn Đề, sắc lệnh công việc kinh doanh XYZ tôi làm thành công, sô-ha", "Ôm chưa-li-chu-li Chuẩn Đề, sắc lệnh sinh một bé trai, sô-ha", "Ôm chưa-li-chu-li Chuẩn Đề, sắc lệnh người XXX có sức khỏe tốt, sô-ha". Đây đều là pháp nhập thế, có thể tụng như vậy khi cầu nguyện, vì vậy khi trì tâm chú cũng có thể trì như thế, đây đều là mật pháp nhập thế bí mật.

Hôm nay sau khi mọi người trở về, những đệ tử đã quy y có thể thiết lập đàn tràng, tu tập hàng ngày, có thể viên mãn tất cả ước nguyện, tất cả mong muốn đều có thể viên mãn, và bản thân bạn trong tương lai có thể tu pháp xuất thế, sẽ đạt được niềm vui thiền định mà người thường không thể có được. Trong thế giới này, người thường đều cầu tài lộc, tuổi thọ, bằng cấp, danh lợi, địa vị, nhưng mọi người đừng quên, trong lý tưởng cao hơn, trong thế giới siêu hình, còn có mục tiêu rốt ráo hơn, đó chính là thành Phật. Hôm nay giải thích chi tiết về pháp đến đây là kết thúc, một lát nữa sau khi nước chú được gia trì vẫn giống như hôm qua, mỗi người có thể lấy một ít mang về. Những người muốn quy y cũng có thể lên phía trước lúc này để nhận lễ quán đảnh.

(Chú thích: Bản văn này vốn đã được công khai, nhưng còn nhiều đệ tử hỏi đến, nên lại tiết lộ lần nữa. Về nguyên tắc, Cửu tiết Phật phong và nội hỏa minh điểm phải tu trước khi nhập Tam ma địa. Nếu không đủ thời gian, nội hỏa minh điểm có thể tu riêng. Về những điểm quan trọng trong tu tập, hãy tham khảo cuốn sách "Bí mật trong Chân Phật Mật Pháp".)


### 19. Tâm pháp tu hành - cảnh giới hiện lượng (bài diễn giảng)


Nếu các bạn để ý vào buổi chiều, các bạn có thể thấy Thượng sư dùng ba ngón tay để xử lý gạo này. Ban phúc cúng dường cho những vong linh này. Giúp họ giải trừ bệnh tật và khiếm khuyết trên cơ thể, xóa bỏ cho họ tất cả tội lỗi và nghiệp chướng.

Thượng sư đang tụng kinh ở đây, nghe nói có người bảo rằng giọng tụng nhỏ quá, không nghe thấy gì cả, không biết có công đức không, e rằng lần siêu độ này không hiệu nghiệm. Vẫn có công đức như nhau, tôi tụng kinh ở đây, bạn ở rất gần tôi, mọi người đều nghe thấy, nhưng việc tụng kinh không phải để cho các bạn nghe. Mà là tụng cho những vong linh này nghe, để họ biết Phật pháp, giúp họ có thể hiểu Phật pháp, đạt được trí tuệ, có thể siêu thăng, họ từ đây đi vào, từ đằng kia đi ra, những người ngồi ở hàng này, phía sau lưng sẽ cảm thấy hơi lạnh một chút. Họ đi qua, đây là lối đi, họ đều mang theo luồng gió âm. 

Sau khi họ vào đây, Thượng sư phóng quang chiếu vào họ, nghiệp chướng của họ liền được tiêu trừ. Có những người đặc biệt mang theo còng tay, Thượng sư phải dùng pháp khóa vàng, dùng thủ ấn khóa vàng để mở tất cả còng tay trên thân thể họ. Cách làm như vậy chính là siêu độ. Cúng dường cho họ, thuyết pháp cho họ, ban cho họ trí tuệ, hy vọng họ niệm Phật, nhận được hào quang chiếu soi của chư Phật Bồ Tát, tiêu trừ nghiệp chướng rồi siêu thăng. Nhưng điều này không dễ dàng. Siêu độ thực ra rất khó, có nhiều vong linh chưa chắc đã vào tiếp nhận siêu độ, họ quan sát từ xa, giống như người ở thế gian chúng ta vậy. Người thế gian chúng ta muốn tin Phật pháp cũng có người rất khó, bởi vì đây là một chân lý, không dễ hiểu, hơn nữa, trên con đường tu hành, ngã rẽ cũng rất nhiều, khi có nhiều ngã rẽ, càng khó hiểu thì càng khó khăn, có người hoàn toàn không muốn tu hành. Làm một con người, từ khi sinh ra đến khi chết, chỉ là ăn cơm, đi vệ sinh, ngủ nghỉ. Cuộc sống con người là như vậy, ngoài những điều này thì không còn gì nữa.

Vậy chân lý là gì? Họ nói, nghĩ nhiều làm gì, sống là được rồi, chết rồi mới tính. Sinh không biết từ đâu đến, chết không biết đi về đâu, đời người trăm năm như một giấc mộng, đúng sai thiện ác đều nằm trong đó. Lại thấy những kẻ xấu cưỡng đoạt chiếm đoạt, người thiện khắp nơi bị bắt nạt, càng không muốn tu hành. Nhưng nếu bạn hiểu được chân lý của vũ trụ, bạn có thể học tu hành, nắm bắt được ý nghĩa của cuộc đời, trở thành một người thực sự hiểu được chân lý. Điểm này vô cùng quan trọng.

Hôm nay mọi người đến đây chính là có phước duyên như vậy, đến đây nghe pháp, đây là điều vô cùng hiếm có, vô cùng quý giá.

Hôm nay tôi thuyết pháp, bởi vì hàng năm mỗi lần đều có nhiều người lần đầu tiên đến. Nhiều người đã biết nghi quỹ tu hành, tôi đã viết nó trong quyển sách "Bí mật trong Chân Phật Mật Pháp", trong sách này viết về các nghi quỹ tu hành của tông phái chúng ta.

Tôi đã viết cuốn sách này, mọi người cũng đã đọc cuốn sách này, và đều hiểu ý nghĩa và phương pháp tu hành của nó, nhưng nhiều người không biết được tâm pháp thực sự bên trong phương pháp tu hành này.

Hôm nay tôi sẽ giải thích đôi chút về tâm pháp cho mọi người. Có một vấn đề, nhiều người hỏi tôi rằng khi họ tu hành, họ có nhiều tạp niệm. Mọi người khi đề cập đến vấn đề tu hành đều hỏi tôi, tại sao tạp niệm cứ liên tục xuất hiện, không thể tu được, luôn có tạp niệm. Thực ra, có tạp niệm là điều bình thường, các bạn đừng sợ tạp niệm. Các bạn cứ nghĩ: "Ôi, tôi không thể nhập Tam ma địa, tạp niệm cứ liên tục, có lẽ nghiệp chướng của tôi nặng nề quá, sao lại có nhiều tạp niệm đến thế!" Tôi xin nói với mọi người, một ngày nào đó, khi bạn không còn tạp niệm nữa, bạn có thể lên bục thuyết pháp, bạn chính là Hoạt Phật, bạn đã giác ngộ, bạn đã là Phật rồi. Như vậy đã rõ chưa? Một ngày nào đó, khi bạn tự nhận thấy: "Bây giờ tôi không còn tạp niệm nữa." Đã không còn tạp niệm thì là tương ứng rồi. Đó là đã thành Phật rồi. Vì vậy, có tạp niệm là hoàn toàn bình thường, không sai. Có tạp niệm không sai, đều đúng cả, không có tạp niệm mới là sai.

Không có tạp niệm mới là sai. Tôi nói câu này cũng rất đúng, giống như hiện tại các bạn, có người mới bắt đầu tu hành, bạn tu một chút đã không còn tạp niệm thì chư Phật Bồ Tát sẽ nói: "Ta tu hành lâu như vậy, còn bạn chỉ tu một chút đã thành Phật rồi." Ngay cả Phật Thích Ca Mâu Ni cũng phải cảm thán không bằng, Phật Thích Ca Mâu Ni cũng phải thán phục. Bởi vì các bạn mới tu một năm, hai năm, chỉ vài năm, thậm chí có người vừa quy y, đã nói rằng mình còn tạp niệm, nghiệp chướng sâu nặng này nọ. Mọi người hãy suy nghĩ: Phật Thích Ca Mâu Ni tu khổ hạnh sáu năm trên núi tuyết, vẫn không thể loại bỏ tạp niệm! Trọn vẹn sáu năm. Ngài ngồi dưới cội bồ đề khai ngộ, đó đã là chuyện hơn sáu năm sau rồi. Milarepa tu mười hai năm trong hang Mã Xỉ trên vách đá trắng, ngài mới loại bỏ được tạp niệm, mới minh tâm kiến tính, mới khai ngộ, mười hai năm đấy! Còn tôi thì sao? Không cần nói nữa, mười lăm năm, mười tám năm, mới tạm có một chút ánh sáng tâm phát lộ, ánh sáng trong tâm này chỉ thỉnh thoảng xuất hiện chiếu sáng một chút mà thôi, chưa quét sạch hết mây đen trong thân. Vậy mà các bạn học theo tôi, chỉ một chút đã không còn tạp niệm, thế thì tôi phải bái các bạn làm thầy rồi.

Để loại bỏ tạp niệm, đây là học vấn hạng nhất! Đời người chính là phiền não. Tạp niệm chính là những tham sân si trong cuộc đời bạn, kết hợp lại thành đủ loại phiền não trong tâm trí bạn. Bạn tự nghĩ mình không có phiền não, nhưng thực ra nó nhanh chóng nổi lên. Trong tiềm thức bạn có hạt giống tạp niệm từ kiếp trước, kiếp này trừ hết rồi, vẫn còn hạt giống tạp niệm từ kiếp trước trong tiềm thức bạn. Rồng sinh rồng, phượng sinh phượng, chuột sinh ra biết đào hang. Điều này nói về nhân tố di truyền của bạn từ kiếp trước. Tính cách của cha bạn, con bạn, tổ tiên bạn, đều có nhân tố di truyền. Thậm chí răng tôi mọc như thế nào, ôi! Răng con trai tôi cũng mọc giống vậy, tôi có một chiếc răng bị lệch vào trong, đúng là con trai tôi cũng có một chiếc răng lệch vào trong, cũng đúng chiếc răng đó, nên chúng tôi phải tìm cách chỉnh sửa lại, vì vậy giờ đi tìm bác sĩ, vì vấn đề hôn nhân tương lai của nó; chỉnh sửa thẩm mỹ để làm cho nó thẳng hơn một chút, đừng như tôi bị lệch thế này.

Vì vậy, di truyền chính là nhân quả của bạn. Bạn không chỉ phải loại bỏ nhân quả kiếp này của mình, mà còn phải loại bỏ nhân quả kiếp trước, giải trừ toàn bộ nhân quả của nhiều kiếp, nhiều đời trước, tạp niệm mới không còn. Hãy nghĩ xem điều đó khó khăn đến mức nào. Trong Mật pháp: phương pháp loại bỏ tạp niệm chính là quán tưởng. Tại sao tạp niệm không thể loại bỏ? Bởi vì chúng đã có sẵn trong tiềm thức của bạn, vậy bạn phải làm sao? Chỉ còn cách là tư duy, tôi không muốn nghĩ đến những điều linh tinh, mà hãy nghĩ về một điều đơn thuần, đó chính là quán tưởng.

Trong pháp môn Mật tông, dùng quán tưởng để thay thế tạp niệm. Dùng thủ ấn để đại diện cho sự thanh tịnh của thân thể; dùng chú ngữ để đại diện cho sự thanh tịnh của khẩu; dùng quán tưởng để đại diện cho sự thanh tịnh của ý niệm. Ý niệm của chúng ta không thanh tịnh, vậy phải làm sao? Hiện nay pháp môn trong Mật tông dạy mọi người quán tưởng, dạy mọi người nghĩ đến tướng mạo trang nghiêm của Phật, có được tướng mạo trang nghiêm của Phật là tốt rồi, bởi vì bạn chuyên tâm nghĩ đến tướng mạo trang nghiêm của Phật, bạn sẽ không còn tạp niệm nữa, rất đơn giản. Vì vậy, chỉ cần nghĩ đến một tướng mạo trang nghiêm của Phật là thay thế được tạp niệm, đây chính là pháp môn Mật tông, ý nghĩa của quán tưởng nằm ở đây. Tạp niệm rất phức tạp, cứ nghĩ mãi không ngừng, nhưng bạn đưa nó về một mối, biến nó thành một, dùng quán tưởng để biến nó thành một, chính là tập trung tinh thần ý chí của bạn để nghĩ về tướng mạo của Phật. À! Nói đến đây, tôi phải bắt đầu làm một chút chuyện buôn bán nhỏ.

Họ đã sản xuất và mang từ Đài Loan về rất nhiều tượng gốm của Thượng sư. Hiện nay tượng gốm của Thượng sư không bán chạy, nên trong lòng tôi tự nhủ, tượng gốm Thượng sư không bán chạy vì chưa được quảng cáo đủ.

Tôi nói với mọi người, các bạn đừng nghe tôi quảng cáo. Tuy nhiên, tôi muốn chia sẻ với các bạn một điều, có người xem tượng gốm Thượng sư rồi nói với tôi rằng: "Không giống thầy lắm, tượng gốm Thượng sư trông rất trang nghiêm, không phải như thế này, thầy thì già và xấu." (Sư Tôn vừa cười vừa nói, mọi người cười không ngớt). Nhưng tôi muốn nói với mọi người, các bạn nên nghĩ đến điều tốt đẹp, đó là tượng gốm của Thượng sư trong quá khứ, giống như năm nay tôi đã 42 tuổi rồi, bức ảnh đó được chụp cách đây khoảng gần 5 năm, nếu là 20 năm trước, tôi cũng không giống như tượng hiện nay. Thật đấy, 5 năm sau tôi cũng sẽ không giống như tượng bây giờ, và 20 năm sau nữa, càng không giống với tượng này. Còn 40 năm trước, khi tôi 2 tuổi, thì hoàn toàn không phải là hình dáng như thế này.

Vì vậy, tượng này giống cái gì? Giống như vừa mới chụp ảnh, đó là hình ảnh tại thời điểm đó, và sau đó, người điêu khắc, người tạo mẫu đã tạo ra ấn tượng của họ, làm thành tượng gốm Thượng sư, không hoàn toàn đại diện cho Thượng sư, chỉ đại diện một phần nhỏ, không đại diện hoàn toàn. Đó chỉ là một hình ảnh tại thời khắc đó. Ngoài ra, nó còn đại diện cho pháp thân của Liên Hoa Đồng Tử, tức là pháp thân từ nhiều kiếp, nhiều đời trước ở cõi trời. Giống như Phật Thích Ca Mâu Ni, ai đã từng thấy? Không ai thấy cả. Bảo tàng Anh quốc chỉ còn lưu lại một tấm ảnh. Trước đây có hai tượng được điêu khắc khi Phật Thích Ca Mâu Ni còn sống, nhưng những tượng đó đã thất truyền, vì vậy, ai đã thấy Phật Thích Ca Mâu Ni? Không ai thấy cả! Khi so sánh tượng ở Bảo tàng Anh quốc với tượng Phật Thích Ca Mâu Ni hiện nay, chúng hoàn toàn khác nhau! Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni hiện nay có tai rất dài, dái tai dài chạm vai, lông mày từ bi, ánh mắt hiền lành, khuôn mặt tròn đầy, trên đầu có búi tóc. Khi so sánh tượng Phật Thích Ca Mâu Ni hiện nay với tượng ở Bảo tàng Anh quốc, chúng hoàn toàn khác nhau, tai rất nhỏ, không lớn, để tóc dài, giống như các tu sĩ thời xưa, tai còn đeo khuyên nữa, hoàn toàn khác!

Vậy, hình tượng dùng để làm gì? Dùng để quán tưởng. Mọi người thờ cúng, coi như là kỷ niệm, nhìn vào tượng Thượng sư để tu pháp tương ứng Thượng sư, rồi quán tưởng khuôn mặt trang nghiêm của ngài. Dùng sự trang nghiêm này để thay thế Liên Hoa Đồng Tử, là như vậy đó. Hơn nữa, khi tu pháp tương ứng Thượng sư mới dùng tượng gốm Thượng sư này. Ngoài ra là để dùng cho quán tưởng, có người họ hy vọng thờ tượng gốm Thượng sư để có cảm ứng với bản thân Liên Hoa Đồng Tử, có sự tương ứng với Thượng sư, thành tựu của họ giống như Thượng sư, vì vậy mới thờ tượng gốm Thượng sư, mới mua tượng gốm Thượng sư. Cho nên, trong lòng các bạn, nếu có nhu cầu, các bạn có thể mua, nhưng không phải tôi bảo các bạn đi mua. Đây là chuyện buôn bán nhỏ. Tuy nhiên, nếu các bạn nghe nói có người nào đó rất không ưa Thượng sư, dĩ nhiên trên thế giới này, người tin tôi rất nhiều, người không tin tôi cũng rất nhiều, không chỉ không tin, mà còn ghét nữa. Trước đây có người đặt cho tôi một biệt danh, tên tôi là Lư Thắng Ngạn, chữ "Thắng" đã biến thành chữ "Thịnh" của thịnh vượng, chữ "Ngạn" đã biến thành chữ "Yếm" của chán ghét. Rất là chán ghét, Lư Thịnh Yếm, rất rất là chán ghét. Thế thì bạn cũng có thể mời họ mua một tượng gốm Thượng sư, tại sao vậy? Bởi vì mỗi ngày bạn có thể tát vào mặt tượng vài cái, thậm chí đá vài cái, mỗi ngày chửi vài câu, tâm trạng cũng sẽ vui vẻ.

Tất cả đều có lợi ích. Người tốt mua tượng, họ có thể thực hành pháp tương ứng Thượng sư, có thể tương ứng với Liên Hoa Đồng Tử, còn người ghét mua về, cũng có thể giải tỏa bực tức. Trước đây tôi đã nói, bạn có thể mua luôn 500 tượng, mang về dùng rìu đập nát hết, như vậy cũng tốt, vì chúng tôi có thể sản xuất thêm nhiều tượng mới. Doanh số sẽ càng tốt hơn. Đập nát tất cả cũng rất tốt, vì vậy nếu các bạn vui vẻ, ví dụ hôm nay tu pháp cảm thấy phiền muộn, cứ việc đập vỡ một tượng, ngày mai mua tượng mới, rồi lại đập vỡ, cũng thú vị, không sao cả, không ai trách đâu. Bởi vì chỉ cần bạn mua tượng gốm Thượng sư tức là giúp đỡ mọi người trên toàn thế giới, tại sao tôi lại nói như vậy? Bởi vì tượng gốm Thượng sư, trước đây chúng ta xây chùa, chính là nhờ tiền bán tượng gốm Thượng sư còn dư lại tích góp lại để xây, nên mới hoàn thành nhanh như vậy. Hiện nay các phân đường trên toàn thế giới cũng có nhu cầu xây dựng, và tiền bán tượng tương tự có thể dùng để làm việc thiện, xây chùa, làm công đức, cũng như vậy, tiền này không mất đi đâu, tức là nằm trong công đức của chúng sinh, đó là những lợi ích. Vì vậy, vừa rồi nói đến việc kinh doanh! Thật sự hơi ngại quá.

Vậy trong vũ trụ rốt cục có chân lý gì? Chân lý là gì! Tôi xin nói với mọi người, khi bạn loại bỏ tạp niệm, quán tưởng thành một, hợp thành một, bạn quán tưởng mọi hình tướng của Thượng sư xuất hiện, liên tục duy trì trong trạng thái bất động này, thì nhờ vào việc quán tưởng của bạn, liên tục nghĩ nhớ, và không ngừng trì chú: Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. Bạn liên tục tụng niệm chân ngôn này, liên tục nghĩ nhớ Thượng sư, với tay kết ấn cầm hoa sen, thuyết pháp, ấn pháp như vậy, điều đó đại diện cho thân nghiệp thanh tịnh của bạn. Khẩu nghiệp thanh tịnh, ý niệm thanh tịnh, Liên Hoa Đồng Tử ở Tây phương Cực Lạc thế giới sẽ giáng lâm, và hình ảnh giáng lâm ấy là một luồng ánh sáng, bạn tự cảm nhận được ánh sáng đó, ánh sáng bên ngoài chiếu rọi khiến thân thể bạn hoàn toàn biến thành Liên Hoa Đồng Tử, đây chính là sự tương ứng.

Điều này cũng có đạo lý bên trong, trong vũ trụ vốn đã có Phật tính trong hư không, nhờ vào sự tu hành của bạn, bạn cảm ứng với Ngài, ánh sáng Phật tính chảy ngược vào thân thể bạn, ánh sáng tâm của chính bạn hiển lộ ra ngoài, hai điều hợp nhất lại, chính là sự tương ứng. Trong cảnh giới này rất mầu nhiệm, sẽ có sức mạnh sinh ra, sẽ có nhận thức, sẽ có cảm giác. Vì vậy, khi các bạn thường xuyên quán tưởng trong tâm, Liên Hoa Đồng Tử biến thành một điểm ánh sáng nhỏ, từ thiên tâm của bạn theo trung mạch liên tục hạ xuống, ngồi trên đóa sen này, sau đó hình ảnh này dần dần lớn lên, giống như thân thể bạn, hợp nhất với nhau, đó chính là pháp tu của Mật tông, đây là bí mật.

Bạn cần quán tưởng thường xuyên như vậy, khi tu pháp Bổn tôn cũng quán tưởng như thế, biến mình thành Bổn tôn, lúc đó linh thức trong vũ trụ sẽ hợp nhất lại trở thành Bổn tôn. Muốn loại bỏ tạp niệm cần phải quán tưởng, làm cho nó hợp nhất, nhờ vào việc tập trung tinh thần thành một sẽ sinh ra sức mạnh. Nhờ sức mạnh này phát sinh, sẽ chuyển động pháp luân vũ trụ. Toàn bộ pháp luân vũ trụ chuyển động, một khi chuyển động, pháp luân vũ trụ vừa chuyển động, thân thể bạn sẽ sinh ra sức mạnh, sức mạnh này được gọi là cảnh giới hiện lượng, tức là cảnh giới xuất hiện sức mạnh.

Có rất nhiều người tu lâu rồi mà không biết có cảnh giới này, gọi là cảnh giới xuất hiện sức mạnh. Khi bạn tu đến cảnh giới xuất hiện sức mạnh bạn sẽ biết, hôm nay tôi ngồi ở đây thuyết pháp lời nói không hư dối! Không hề giả dối. Chân lý là gì? Chân lý chính là khi ánh sáng tâm của bạn tỏa ra khỏi thân thể, hợp nhất với sức mạnh của vũ trụ, tương ứng hợp nhất. Trong khoảnh khắc khai ngộ đó, chính là chân lý.

Vì vậy, các bạn cần tu hành từ từ cho đến khi xuất hiện loại sức mạnh này, ánh sáng tâm của bạn xuất hiện trong vũ trụ, hợp nhất với ánh sáng vũ trụ, đây chính là cảnh giới khai ngộ. Đôi khi lúc mới bắt đầu, trong tâm bạn có một chút ánh sáng, nhỏ như hạt mè hay hạt đậu xanh, dần dần, nó trở nên lớn hơn, lớn như mặt trăng, ánh sáng luân xa tim, nguyệt luân trong tâm bạn tỏa sáng như vậy, rồi thăng lên, giao lưu với ánh sáng vĩ đại trong vũ trụ. Điều này đến từ đâu? Chính là từ việc tập trung tất cả tinh thần, biến sự quán tưởng thành hợp nhất, khi xuất hiện cảnh giới hiện lượng, rồi loại bỏ quán tưởng đó, nó sẽ biến thành hiện tượng trống rỗng. Khi biến thành hiện tượng trống rỗng, ánh sáng trong không gian sẽ chảy ngược vào thân thể bạn, bản thân bạn trở thành không có, hòa hợp với vũ trụ thành một. Trí tuệ của bạn vô thượng, năng lực của bạn vô thượng, ánh sáng của bạn vô thượng, pháp của bạn vô thượng, bạn chính là Thượng sư.

Thế nào gọi là Thượng sư? Nhiều người hỏi tôi, "Thượng sư" nghĩa là gì? "Thượng" có nghĩa là vô thượng, "sư" nghĩa là "đạo sư của trời người", không có vị đạo sư của trời người nào cao hơn nữa. Làm Thượng sư có vẻ rất đơn giản, những người đang thấy ở đây, ngồi phía trước, ở phía sau, ngoại trừ chư Phật Bồ Tát, tất cả đều là "đạo sư vô thượng của trời người", tất cả đều trông có vẻ vĩ đại, tuy nhiên, nhìn qua có vẻ dễ dàng, tất cả đều hết sức bình thường. Thực ra, mỗi người tu pháp đều có cảnh giới riêng, nhưng để trở thành một Thượng sư chân chính, bạn phải mở rộng ánh sáng tâm của mình, hòa nhập vào ánh sáng vũ trụ, nhận được ý thức tối thượng của vũ trụ trong thân mình, bạn có thể dùng phương pháp này để hướng dẫn người đời đi đến cảnh giới hợp nhất với ánh sáng trời người, đây mới thực sự là "đạo sư vô thượng của trời người". Nếu chưa đạt đến cảnh giới như vậy thì chỉ là một danh xưng Thượng sư rỗng tuếch mà thôi, không phải là Thượng sư chân chính.

Vì vậy, để hiểu được trí tuệ của vũ trụ, bạn phải biết cách làm thế nào để phát ánh sáng tâm của mình và hòa hợp với ánh sáng vũ trụ trở thành một, tạo thành biển ánh sáng lớn của Tỳ Lô Giá Na. Chân lý ở đó, chân lý chính là ở trong đây.

Có người nói: Chân lý? Tôi biết rồi! Xem bói toán chính xác là chân lý. Lại có người nói, làm người chỉ cần làm điều thiện, làm tốt, đó là chân lý, phù hợp với chân lý. Điều này không phải là không đúng, nhưng vẫn còn một chút khoảng cách. Có người nói, tôi làm người tốt, làm đúng đắn, công bằng, đó là chân lý, điều này cũng còn một chút khoảng cách.

Chân Phật Tông có tâm pháp vô thượng, chắc chắn có tâm pháp vô thượng, không có tâm pháp nào cao hơn pháp này, nhưng để truyền tâm pháp này, nhất định phải xem người mà truyền, không thể nói bừa bãi. Tại sao vậy? Bởi vì nói bừa bãi sẽ xúc phạm đến chân lý này, xúc phạm đến ý thức của vũ trụ. Nếu bạn gặp một người có vẻ tùy tiện, bạn truyền cho họ tâm pháp vô thượng, họ cũng không thể lĩnh hội, thậm chí họ phỉ báng, họ nghi ngờ, họ phỉ báng, đó chính là xúc phạm đến tâm pháp vô thượng này. Cái gọi là Mật tông không truyền, không tùy tiện truyền, không tùy tiện nói, có rất nhiều lý do không thể nói, chính là ở điểm này. Bởi vì tôi truyền cho bạn, bạn không những không tin, còn muốn phỉ báng, vậy không phải là tôi truyền cho bạn ngược lại còn chuốc tội sao? Lý do là ở đây. Vì vậy, với chân lý này, bạn tôn kính còn chưa kịp, lại còn đi phỉ báng, đó là việc rất tệ hại.

Vì vậy, Mật tông có truyền thừa. Hôm nay mọi người đều thuộc truyền thừa Chân Phật Tông, chính là có sự gia trì của truyền thừa này, tôi hy vọng mọi người tôn trọng dòng pháp truyền thừa này, tôn trọng đại pháp bí mật như vậy, để mọi người biết được nghi quỹ tu hành, tuy nhìn có vẻ rất đơn giản, nhưng thực tế bên trong có tâm pháp vô thượng, mỗi một động tác đều có quán tưởng, mỗi một động tác đều có ý nghĩa và vẻ đẹp của nó.

Chúng ta tu pháp cần phải "tinh", "tinh" là gì? Chính là tập trung tinh thần. "Nghiêm", "nghiêm" là gì? Không lỏng lẻo, rất nghiêm túc, rất trang nghiêm. Có được "tinh nghiêm" thì mới có thể tu pháp này thành tựu. Mọi người tu pháp cần tinh, cần nghiêm. Muốn loại bỏ phiền não thì phải dùng quán, dùng quán để thay thế, quét sạch phiền não. Có được quán, cuối cùng, bạn quán sát mọi thứ rõ ràng, minh bạch, rồi loại bỏ tất cả quán tưởng, đó chính là tọa vong. Khi tọa vong này, tất cả ánh sáng của vũ trụ đều chảy ngược vào trong cơ thể bạn, bạn trở thành hư không. Khi bạn đạt được hư không này, bạn nhập vào Tam ma địa. Người đạt được hư không, người đạt được trống rỗng, họ có được tâm bất động, một đại viên mãn, một tâm bất động.

Tại sao phải tĩnh tọa? Có người nói tĩnh tọa làm tôi nhớ ra người nào đó còn nợ tôi bao nhiêu tiền. Bởi vì bình thường bạn không để ý, nhưng khi ngồi yên lặng thì lại nghĩ ra, ôi, một người nào đó còn nợ tôi bao nhiêu tiền mà chưa trả, suýt nữa thì quên mất. Bạn có thể đi đòi nợ họ, đây cũng là một lợi ích.

Ngày xưa Khổng Tử đã nói, tĩnh tọa thường xuyên suy nghĩ về lỗi lầm của bản thân. Khi bạn ngồi yên lặng, bạn có thể thường xuyên suy nghĩ, hôm nay tôi đã làm điều gì sai? Một ngày xét mình ba lần, ba lần tự xét, bản thân có làm gì sai không, đây là nền tảng, nền tảng thực sự, nền tảng làm người. Một ngày xét mình ba lần, tĩnh tọa thường xuyên suy nghĩ về lỗi lầm của bản thân, tất cả đều là tu hành, nhưng đây là nhân thừa, nhân thừa là gì? Chính là làm một người chân chính, làm một người thiện, để đạt được phúc báo cõi người và cõi trời.

Tĩnh tọa thực sự của bạn, cần phải ngồi quán, tinh thần hợp nhất, quán tưởng một vật, sau đó quét sạch, ánh sáng vũ trụ chảy ngược vào, thân thể bạn tọa vong hóa thành không, đạt được trí tuệ và ánh sáng, sức mạnh của vũ trụ. Sẽ sinh ra sức mạnh, cơ thể bạn sẽ tạo ra một loại từ tính, từ tính đó phát huy ra chính là ánh sáng. Ý thức ánh sáng của vũ trụ, thấy ở đây có ánh sáng xuất hiện, nó sẽ chảy ngược vào trong cơ thể bạn, hút lẫn nhau, tạo ra sức mạnh từ tính, hút lẫn nhau. Giống như tên lửa đuôi rắn đuổi theo máy bay vậy, chỉ trong chớp mắt đã chạm vào nhau, đã tương ứng, nhiệt năng của động cơ tên lửa đuôi rắn, nó đuổi theo nhiệt năng đó mà chạy, máy bay bay đến đâu, nó đuổi theo đến đó, đuổi kịp là lập tức tương ứng.

Chúng ta tu pháp cũng vậy, khi cơ thể chúng ta sinh ra nhiệt năng, chính là trong Mật pháp tu khí, khí biến thành nội hỏa, hỏa hóa thành ánh sáng, khi sinh ra ánh sáng này, cơ thể trở nên trong suốt, sẽ có từ lực đó sinh ra trong vũ trụ, tất cả dòng ánh sáng của vũ trụ, vì bạn tạo ra từ lực nên hút nó vào, liền tương ứng.

Nói thì đơn giản, làm thì khó khăn, mọi người hãy tốt tốt theo phương pháp này mà tu tập.

Hôm nay có người nói, đến gặp Thượng sư, chủ yếu là đến để gặp Thượng sư, sau đó là để hỏi việc. Hỏi việc để làm gì? Thân thể có bệnh, đến giờ vẫn chưa phát tài. Tại sao đến bây giờ vẫn chưa phát? Câu này tôi không hiểu. Tôi hỏi anh ta, anh phát cái gì? Anh ta nói, tôi đã sống được hơn bốn mươi tuổi rồi, sao vẫn chưa phát tài? Anh ta hỏi những chuyện như vậy. Có người cầu con, có người cầu thọ, có người cầu chức quan, có người muốn làm chủ tịch hội đồng, làm chủ tịch hội đồng quản trị, làm chủ tịch ủy ban, có người muốn làm cái này cái kia, đó là vì danh, có người vì lợi, có người vì hôn nhân, tuổi đã lớn, gả chưa gả được, cưới chưa cưới được, đều là hỏi những chuyện này. Nếu đoán trúng, họ sẽ nói Thượng sư rất linh. Nếu đoán không trúng, họ sẽ nói Thượng sư không linh. Người thấy linh, năm sau sẽ đến lại, người thấy không linh, năm sau không đến. Thực ra, tu hành thật sự mới là thật, hỏi những thứ này đều là giả tướng của nhân gian, chân lý thực sự nằm ở tu hành, nằm ở sự tu trì tam mật tương ứng của thân khẩu ý. Không phải là hỏi những thứ này, những thứ này đều là pháp thế gian, các bạn đã tin rồi thì hãy tu pháp cho tốt. Hỏi chính là pháp của tu hành. Nhưng dù bạn hỏi gì, tôi đều cầu Phật Bồ Tát hy vọng cho mọi người được viên mãn.

Tôi muốn mọi người đạt được sự hài lòng trong tâm, có thế mới tập trung tinh thần để tu pháp, bởi vì khi có phiền não, bạn không thể tập trung tinh thần, thân thể có bệnh cũng không thể tập trung, mọi phiền não đều đè nặng lên người bạn, bạn không thể tập trung tinh thần được. Vì vậy, Phật Bồ Tát trong pháp nhập thế cũng cần trước tiên cho mọi người sự viên mãn, sau đó mọi người mới tiến thêm một bước tu pháp xuất thế, đạt được sức mạnh của chân lý chảy ngược vào thân thể bạn. Lúc đó khi bạn ngồi, đừng nghĩ rằng bạn chỉ đang ngồi, nguyên thần trong cơ thể bạn đã sớm được nâng lên không trung, trên tầng mây, tâm lượng không ngừng mở rộng, mọi thiện ác đúng sai của nhân gian, mọi phiền não đều như lửa trong lò, thiêu rụi tất cả thành than, thành tro, quét sạch hoàn toàn, đó chính là phiền não đã được đoạn trừ.

Mọi người có nghĩ rằng phiền não thực sự có thể đoạn trừ không? Không có tu hành, mãi mãi có phiền não, vì vậy, hôm nay mọi người đến đây, Thượng sư nói với mọi người về lợi ích của tu hành, các bạn sẽ biết tầm quan trọng của tu hành. Có một đệ tử viết thư cho tôi, anh ấy nói, anh ấy rất muốn tu hành, nhưng khi thấy người khác tu tốt hơn, anh ấy lại hy vọng người đó ra ngoài gặp phải xe, chân đột nhiên bị ngã gãy một cái, đột nhiên lưỡi không nói được, trở thành câm! Anh ấy nói, tại sao lại như vậy, tôi là một người tu hành, tại sao lúc nào cũng hy vọng người khác không bằng mình, người khác có chiếc xe tốt, anh ấy hy vọng lốp của họ bị nổ hoặc đâm vào xe người khác, hy vọng người đó thế này thế kia. Tóm lại, những suy nghĩ kỳ quặc này là tâm lý, tiềm thức bên trong luôn nghĩ như vậy, bạn thấy người khác xinh đẹp, tại sao tôi không thể đẹp hơn họ, nên cố ý nói xấu họ. Nói xấu sau lưng, tạo tin đồn về họ, nói rằng mũi họ hơi lệch một chút. Thực ra, họ đẹp hơn bạn, nhưng trong lòng bạn cảm thấy không thoải mái, có đệ tử như vậy đấy, người khác tu tốt hơn, anh ấy không vui trong lòng, người khác đẹp hơn anh ấy, anh ấy cũng không vui, người khác giàu hơn anh ấy, anh ấy cũng không vui, người khác mặc quần áo đẹp, anh ấy cũng không vui, dù sao anh ấy chỉ muốn vượt qua người khác, anh ấy mới vui. Đây chính là tâm lượng quá nhỏ, tâm lượng không đủ rộng lớn.

Người tu hành đến cuối cùng, tâm lượng của họ nhất định rất rộng lớn, có thể bao dung tất cả. Thế gian chính là nơi của thị phi phiền não, đó chính là vấn đề của tâm lượng.

Nếu tâm lượng lớn, sẽ không có chiến tranh giữa hai cực, không có chiến tranh giữa nô lệ và tự do, sẽ không có Nam Việt, Bắc Việt, cũng không có Nam Hàn, Bắc Hàn, và không có Đông Đức, Tây Đức.

Thế giới của con người chính là thế giới của phiền não. Khi bạn tu hành đến mức tâm lượng rộng lớn, mọi chúng sinh đều bình đẳng, liệu còn những thứ này nữa không? Sẽ không còn! Hôm nay mọi người cần học hỏi chân lý: đó là tất cả chúng sinh đều có Phật tính. Nhận ra Phật tính của vũ trụ này chính là tu hành chân chính, các bạn sẽ có thể khai ngộ, đắc đạo. Khi đạt được chân lý của cuộc đời, bạn sẽ trở thành Hoạt Phật, nhất định vãng sinh.

Về phần nghi quỹ này có rất nhiều chi tiết, nhiều người không biết cách quán tưởng những chi tiết này, nếu có điều gì không hiểu, các bạn có thể thỉnh giáo tất cả các Thượng sư ngồi phía trước, trong đó có rất nhiều tâm pháp, nhiều người đã nghe qua, mỗi một phần đều cần quán tưởng, chú ngữ đều có quán tưởng, sự tu trì có ý nghĩa, tất cả đều nằm trong các nghi quỹ này, nếu có điều gì không hiểu, hãy thỉnh giáo các Thượng sư đang ngồi phía trước, đừng thỉnh giáo tôi, vì tôi quá bận, đừng hỏi tôi, tôi thực sự quá bận, vì tôi đã giảng đi giảng lại nhiều lần, đã giảng rất nhiều lần rồi, hiện có mười hai vạn đệ tử, nếu yêu cầu tôi giảng mười hai vạn lần, tuổi thọ của tôi có thể sẽ giảm đi mười năm. Đây cũng là một vấn đề phiền toái. Vì tôi có rất nhiều việc phải làm, mong mọi người thông cảm. Nếu các bạn ở đây có bất kì câu hỏi nào, hãy thỉnh giáo các Thượng sư có mặt.
Om mani padme hum.


### 20. Liên Hoa Đồng Tử Kim Cang tương ứng pháp


Tịnh thân nhập đàn.

1. Niệm chú thanh tịnh

Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.

2. Niệm chú triệu thỉnh

Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)
Ôm pê-cha sa-ma-ya cha. (3 biến)
(Tùy chọn một trong hai chú này.)

Triệu thỉnh chư Phật Bồ Tát chư tôn và Hộ pháp (niệm thánh danh của chư Phật Bồ Tát chư tôn, Hộ pháp trong đàn thành của mình).

Hoặc chắp tay cung kính niệm: "Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện chư chúng sinh được an lạc. Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn tràng, nguyện chư chúng sinh lìa chư khổ. Nam mô thập phương tam thế nhất thiết chư Phật, nguyện chư chúng sinh thường từ hỷ. Nam mô Tam tạng Thập nhị bộ chính pháp, nguyện chư chúng sinh xả phân biệt. Nam mô thập phương tam thế nhất thiết thánh hiền tăng, nguyện chư chúng sinh đắc chính giác. Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Lư Thắng Ngạn Liên Sinh Hoạt Phật, nguyện con cùng lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa."

3. Đại lễ bái

Một bái thập phương Phật. Hai bái chư Bồ Tát. Ba bái Hộ pháp Kim cang. Bốn bình đẳng một cúi đầu. (Theo nghi thức Đại lễ bái Chân Phật.)

4. Cúng dường mandala (có thể ngồi, dựa theo pháp Đại cúng dường Chân Phật)

5. Niệm chú Tứ quy y (3 biến)

Na-mô gu-ru pây — quán tưởng Thượng sư hiện tiền.
Na-mô pút-ta yê — quán tưởng Phật Tổ hiện tiền.
Na-mô ta-mô yê — quán tưởng pháp bản phóng tỏa ánh sáng.
Na-mô sâng-kya yê - quán tưởng không trung hiện ra vô số thánh hiền cùng phóng quang.

6. Tu pháp mặc giáp hộ thân

Kết ấn chắp tay kim cang, đặt trên đỉnh đầu. Niệm chân ngôn Bồ Tát Kim Cang Thủ: "Ôm bua-rua lan chưa-li." (7 biến), sau đó ấn chạm vào thiên tâm, cổ họng, tim, vai trái, vai phải, rồi quay lại chạm đỉnh đầu một lần nữa trước khi giải ấn.

Yếu quyết của pháp này là, khi vừa giải ấn, lập tức quán tưởng Bồ Tát Vi Đà Hộ Pháp Thiên Tôn hoặc vị Hộ pháp Kim cương khác mà mình thờ phụng, biến hóa thành bốn thân. Một vị đứng trong không trung phía sau lưng mình, một vị đứng trong không trung phía trước mặt mình, một vị đứng trong không trung bên trái mình, một vị đứng trong không trung bên phải mình, đang bảo vệ hành giả đang tu pháp ở chính giữa.

7. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (1 biến, 3 biến hoặc nhiều hơn)

Đây là bản kinh được Chân Phật Tông tôn sùng.

8. Cầu thỉnh Liên Hoa Đồng Tử (tay kết thủ ấn Liên Hoa Đồng Tử)

Tự tính liên hoa pháp tính thân
Tay phải thuyết pháp trái cầm hoa
Hóa thân biến khắp nghìn vạn cảnh
Thiên y bảo sức diệu trang nghiêm
Một thân đắc chứng Đạo Hiển Mật
Truyền thừa dung hợp trân quý nhất
Chân Phật Mật Pháp dạy chúng sinh
Phổ độ quần sinh không bỏ sót.

9. Đầu tiên quán Không. Sau đó quán tưởng:

Quán tưởng một hồ lớn, sáng chói như gương, ở giữa hồ hiện lên một ngọn núi cao, trên đỉnh núi có một tòa sen, và Liên Sinh Hoạt Phật Thượng sư đang ngồi trên tòa sen đó, giống như chân dung của Thượng sư, tướng mạo trang nghiêm viên mãn như Phật, thân tỏa ánh sáng trăm báu, bên phải Thượng sư có chư Phật mười phương quá khứ, bên trái có tất cả Bồ Tát, thánh hiền tăng, và các vị tổ sư nhiều đời trùng trùng vây quanh, dưới pháp tọa có Tứ Đại Thiên Vương và quỷ thần hộ pháp.

Lại quán tưởng vị trí thiên tâm của Thượng sư, chữ "Om" tiếng Phạn phóng ra một luồng ánh sáng trắng mạnh mẽ, chiếu vào thiên tâm của hành giả, đây là ánh sáng của đại viên kính trí, khiến cho ngũ uẩn và thức thứ tám của hành giả hóa thành vô hình. Ở cổ họng Thượng sư, chữ "Ah" tiếng Phạn phóng ra một luồng ánh sáng đỏ mạnh mẽ, chiếu vào cổ họng hành giả, chuyển hóa tất cả tham tính dục niệm của hành giả thành vô hình, biến thành ánh sáng của đại trí huệ. Ở tim Thượng sư, chữ "Hum" tiếng Phạn phóng ra một luồng ánh sáng xanh lam mạnh mẽ, chiếu vào tim của hành giả, điều phục si tính của hành giả, chuyển hóa si tính thành vô hình.

Thứ ba, quán tưởng Thượng sư và chư Tam Bảo chư tôn cùng phóng ra ánh sáng ngũ sắc chiếu khắp toàn thân hành giả, và tội chướng ác nghiệp của hành giả, tất cả nghiệp chướng từ vô thủy, đều hóa thành khí đen, thoát ra qua các lỗ chân lông, tan biến trong không khí, từ đó toàn thân trở nên thuần trắng trong suốt phát sáng, đạt được khinh an.

10. Trì tâm chú Thượng sư (Liên Hoa Đồng Tử)

Ôm a hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lián-shâng sit-đi hùm.
(Buông thủ ấn, đếm chuỗi hạt, 108 biến hoặc 1080 biến.)

11. Làm Cửu tiết Phật phong (cách dùng hơi thở dừng ý niệm, chương sau sẽ trình bày)

Làm nội hỏa minh điểm (pháp ôn dưỡng đan điền và tích tụ ý niệm, chương sau sẽ trình bày)

Nhập tĩnh hoàn toàn (nhập Tam-ma-địa): (thời gian không phân dài ngắn)
"Ánh sáng của hành giả, tỏa ra khỏi thân thể, nhập vào biển tính Tỳ Lô." (ngã nhập)
"Đại quang minh của vũ trụ, nhập vào thân thể hành giả, hai luồng ánh sáng gặp nhau, hợp thành một." (nhập ngã)
Đạt đến Tam ma địa là viên thông và ấn chứng, có thể đạt được minh thể diệu giác, có thể trùm khắp pháp giới, hành giả được bao bọc trong lớp vỏ ánh sáng ẩn mọi dấu vết, tịnh hóa thân tâm, như hoa sen, nhập vào tạng tâm Như Lai, đắc mật pháp vi diệu, ngộ được chân thường, đắc chiếu minh kim cang tam muội, tất cả đều thấu suốt rõ ràng, chuyển bánh xe pháp, đắc nguyên minh chân kiến.
Tam ma địa là ánh sáng chiếu rọi lẫn nhau, tất cả đều khai mở thông suốt, rõ ràng minh bạch, là đại tương ứng.

Sau khi xuất định, gia trì các tâm chú khác: (số biến tự quyết định)
Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)

12. Niệm Phật

Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)

Hồi hướng
Cung kính Liên Sinh Thánh Tôn pháp.
Một phái Chân Phật giúp chúng sinh.
Niệm chú sinh về Song Liên Trì.
Thập bát Liên Hoa đến hóa sinh.
Bí mật vô thượng và hiếm có.
Nay con tu trì cúng dường hết.
Phát lời thề nguyện trong thâm tâm
Mong con sớm đăng Phật địa này.

Và:
Thỉnh cầu Thánh Tôn gia trì lực.
Ban cho quán đảnh liên hoa sinh.
Quảng đại viên mãn đắc tự tại.
Độ mình độ người đến Phật quốc.

Và: (cùng hồi hướng)

Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. xin đem công đức này hồi hướng. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành.
Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. (Giơ chày kim cang vẽ một vòng tròn, vòng tròn tỏa ra ánh sáng lửa.)
Mong tất cả tai nạn tiêu tan. (Giơ chày kim cang, dùng lực chỉ về phía bóng tối, hét một tiếng "Uân", bóng tối biến thành ánh sáng. Làm như vậy 2 lần.)

13. Niệm chú viên mãn

Ôm bu-lin. Ôm bu-lin. Ôm bu-lin.

14. Đại lễ bái

Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Xuất đàn. Cát tường viên mãn.


### 21. Nghi quỹ đại pháp Hộ Ma Thánh Cứu Độ Mẫu của Chân Phật Tông


 🪷 Pháp Bảo Nguyên Độ Mẫu 

1. Vào đàn niệm chú thanh tịnh. (ngồi trước lò Hộ Ma)

2. Chú triệu thỉnh.

3. Quán tưởng đại lễ bái.

4. Pháp tứ quy y Chân Phật.

5. Pháp mặc giáp hộ thân.

6. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (1~3 biến)

7. Niệm Tâm chú Thượng sư. "Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm." Quán tưởng Liên Sinh Hoạt Phật, tổ sư các đời giáng lâm phóng quang. (21 biến)

8. Triệu thỉnh Thánh Độ Mẫu giáng lâm:

A. Thủ ấn triệu thỉnh: Kết thủ ấn Lục Độ Mẫu. Hai tay trước tiên đan nội phộc, ngón giữa dựng thẳng chạm nhau, ngón trỏ dựng thẳng hơi nghiêng, ngón cái dựng thẳng song song, thành ấn.

B. Niệm chú: "Ôm ta-rê tu-ta-rê tu-rê sô-ha." 108 biến.

Tổng chú Độ Mẫu: "Ôm ta-rê tâng-mu sô-ha." 108 biến.

Chú Bảo Nguyên Độ Mẫu: "Ôm ta-rê tu-ta-rê tu-rê cha-mu-pê-ma-ha-yê ta-na-mia-tê-sưa sô-ha." 108 biến.

C. Quán tưởng Bảo Nguyên Độ Mẫu giáng hạ: Bảo Nguyên Độ Mẫu, một đầu hai tay, thân màu vàng, đầu đội mũ miện Ngũ Phật nhỏ, trên mũ miện có hóa Phật an tọa, tay phải duỗi xuống kết ấn Vô Úy, tay trái cầm hoa sen, trên hoa sen đặt một bảo bình, trong bảo bình chứa đầy báu vật, như ý ngồi trên đài sen tám cánh, toàn thân tỏa sáng, trang nghiêm với chuỗi vòng ngọc.

9. Pháp đại cúng dường Chân Phật.

10. Kết giới: Rải nước chú ở bốn phía lò Hộ Ma.

11. Đốt lửa: (Đốt lửa Hộ Ma)

12. Dâng phẩm vật vào lò: Phẩm vật cúng dường và gỗ Hộ Ma, v.v.

(Chủ đàn Hộ Ma vừa dâng cúng phẩm vào lò vừa niệm chú Bảo Nguyên Độ Mẫu, vừa quán tưởng Bảo Nguyên Độ Mẫu nhập vào lửa Hộ Ma, thọ hưởng cúng phẩm.)
(Người ngồi bên cạnh kết ấn Độ Mẫu, cùng niệm chú Bảo Nguyên Độ Mẫu.)

13. Nhập định, nhập Tam ma địa: Quán tưởng Thánh Cứu Độ Mẫu phóng quang chiếu soi người cầu nguyện, tất cả điều cầu nguyện đều được như ý. Bảo Nguyên Độ Mẫu phóng ánh sáng vàng, chiếu khắp từng người cầu nguyện, từ bảo bình tuôn ra vô lượng vô tận vàng bạc châu báu tiền giấy, ban cho tất cả người cầu nguyện và người chủ đàn đều tắm trong ánh sáng vàng.

14. Xuất định. Hồi hướng:

"Nguyện đem công đức Hộ Ma này, hồi hướng cho …., địa chỉ …, sinh vào ….. Cầu xin Thánh Cứu Độ Mẫu từ bi uy đức, tiêu trừ tất cả chướng ngại cho…., thành tựu tăng ích sự nghiệp, Phật Mẫu từ bi, chí thành cầu khẩn." 3 biến.

15. Niệm: "Nguyện tất cả tu trì, mau được viên mãn thành tựu, nguyện tất cả điều cầu xin nhanh chóng được như ý, nguyện tất cả chướng ngại, toàn bộ tiêu tan."

16. Chú viên mãn. (3 biến)

17. Đại lễ bái Phật, xuất đàn.

Cát tường viên mãn.

🪷 Cứu Ngục Nạn Độ Mẫu

1. Vào đàn niệm chú thanh tịnh. (ngồi trước lò Hộ Ma)

2. Chú triệu thỉnh.

3. Quán tưởng đại lễ bái.

4. Pháp tứ quy y Chân Phật.

5. Pháp mặc giáp hộ thân.

6. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (1~3 biến)

7. Niệm Tâm chú Thượng sư. "Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm." Quán tưởng Liên Sinh Hoạt Phật, tổ sư các đời giáng lâm phóng quang. (21 biến)

8. Triệu thỉnh Thánh Độ Mẫu giáng lâm:

A. Thủ ấn triệu thỉnh: Kết thủ ấn Lục Độ Mẫu. Hai tay trước tiên đan nội phộc, ngón giữa dựng thẳng chạm nhau, ngón trỏ dựng thẳng hơi nghiêng, ngón cái dựng thẳng song song, thành ấn.

B. Niệm chú: "Ôm ta-rê tu-ta-rê tu-rê sô-ha." 108 biến.

Tổng chú Độ Mẫu: "Ôm ta-rê tâng-mu sô-ha." 108 biến.

Cứu Ngục Nạn Độ Mẫu chú: Ôm ta-rê tu-ta-rê tu-rê ma-ma sa-ơ-wa lan-cha tu-chinh chua-ta xin-tâng-mu gu-ru sô-ha.

9. Quán tưởng Cứu Ngục Nạn Độ Mẫu hạ giáng, một đầu hai tay, thân màu đỏ, đầu đội mũ Ngũ Phật nhỏ, trên đỉnh có một vị Hóa Phật, tay phải kết ấn ban nguyện, tay trái cầm hoa sen, trên hoa sen có móc sắt. Cứu Ngục Nạn Độ Mẫu ngồi tùy ý trên hoa sen tam cánh, toàn thân trang điểm bằng chuỗi vòng ngọc, phóng quang giáng xuống.

10. Chân Phật đại cúng dường pháp.

11. Kết giới. Vẩy nước chú vào bốn xung quanh lò Hộ Ma.

12. Châm lửa.

13. Bỏ cúng phẩm vào lò đốt: đồ cúng và gỗ hỏa cúng, v.v…
(Chủ đàn Hộ Ma, vừa bỏ cúng phẩm vào lò đốt, vừa niệm chú Cứu Ngục Nạn Độ Mẫu, vừa quán tưởng Cứu Ngục Nạn Độ Mẫu đi vào trong lửa Hộ Ma, thụ hưởng đồ cúng. Người ngồi xung quanh kết ấn Lục Độ Mẫu, cùng niệm chú Cứu Ngục Nạn Độ Mẫu.)

14. Tĩnh tọa, nhập Tam ma địa: quán tưởng Cứu Ngục Nạn Độ Mẫu phóng quang chiếu đến đến người thỉnh cầu, tất cả mọi điều mong cầu đều được như ý nguyện, ví dụ giải trừ kiện cáo thì quán tưởng từ móc sắt phóng ra ánh sáng đỏ chiếu đến người cầu nguyện, khi ánh sáng đỏ chạm đến họ thì tất cả hình phạt lao tù hay kiện cáo đều tiêu trừ biến mất, bản thân hành giả Chân Phật tắm trong ánh sáng đỏ.

15. Xuất định. Hồi hướng:
Nguyện công đức lễ Hộ Ma này hồi hướng cho…. , địa chỉ ở tại…, sinh vào giờ… ngày… tháng… năm… Thỉnh cầu Cứu Ngục Nạn Độ Mẫu uy đức từ bi, vì người này tiêu trừ nạn kiện cáo lao tù, xin nương nhờ Cứu Ngục Nạn Độ Mẫu từ bi, thành tâm cầu nguyện. (3 biến)

16. Niệm:
Nguyện tất cả những ai tu trì đều mau chóng được thành tựu viên mãn.
Nguyện tất cả điều mong cầu mau chóng như ý nguyện.
Nguyện các tai nạn kiện cáo lao tù của…. đều được đẩy lùi tiêu tan.

17. Chú viên mãn.(3 biến)

1. Đại lễ bái, rời khỏi đàn pháp.

Cát tường viên mãn.

Liên Sinh Hoạt Phật đặc biệt trình bày như sau: Thánh Cứu Độ Phật Mẫu có tất cả 21 vị, mỗi vị đều có năng lực hành pháp riêng. Muốn tu pháp Hộ Ma, trước tiên phải nhận quán đảnh từ Liên Sinh Hoạt Phật, sau đó được truyền dạy pháp bày đàn lò Hộ Ma, phải có pháp đàn lò Hộ Ma trước, sau đó mới có thể theo nghi quỹ tu trì Đại pháp Hộ Ma Thánh Cứu Độ Mẫu Chân Phật Tông.

Pháp đàn lò Hộ Ma, cách bày đàn, cách châm lửa, dâng cúng, vỗ tay kết ấn, cách chấm mật ong lên gỗ Hộ Ma v.v... đều là bí mật không truyền. Nghi quỹ tu trì cũng cần được Kim cương Thượng sư giảng giải khẩu quyết tâm yếu.

Đại pháp này cần phải được Liên Sinh Hoạt Phật quán đảnh giảng giải mới có thể thực hành.

**(Hết.)**

---

---
# File: sach-tam-linh/069-duong-trach-dia-linh.md
# Title: 069. Dương Trạch Địa Linh
---

![image](/img/img_9fb7697aaefd82112d3a33f057370f15.jpg)



## Dương Trạch Địa Linh


🪷 Giải mã bí mật phong thủy nhà ở

Văn tập: 069
Xuất bản: 03/1987
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời tựa


**"Dương Trạch Địa Linh" - Trí Tuệ Phong Thủy Cho Cuộc Sống Hiện Đại**

Trong dòng chảy cuộc sống hiện đại, khi con người ngày càng quan tâm đến chất lượng sống và sự hài hòa với môi trường, cuốn sách "Dương Trạch Địa Linh - Giải mã bí ẩn phong thủy nhà ở" của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn xuất hiện như một kim chỉ nam quý giá, kết nối giữa trí tuệ cổ truyền và nhu cầu thực tế của người đương đại.

Được xuất bản lần đầu năm 1987, tác phẩm này không chỉ đơn thuần là một cuốn sách về phong thủy nhà ở, mà còn là kết tinh từ nhiều năm nghiên cứu và thực hành của tác giả - một bậc thầy địa lý đã trực tiếp khảo sát vô số trường hợp thực tế, chứng kiến những ảnh hưởng sâu sắc của môi trường sống đến vận mệnh con người.

Điểm đặc biệt của cuốn sách nằm ở cách tiếp cận thực tế và dễ hiểu. Tác giả đã dùng ngôn ngữ đơn giản, ví dụ sinh động từ những trường hợp có thật để giải thích những học thuyết sâu xa về địa linh. Từ việc lựa chọn vị trí đất đai, hiểu rõ những địa thế nên tránh như "nơi cao tận cùng", "đất thấp bị dồn ép", "đất linh sát", đến những bí quyết về cách nhận biết nhà "hữu tình" hay "vô tình" - tất cả đều được trình bày một cách mạch lạc, có hệ thống.

Cuốn sách mang đến triết lý cân bằng giữa ba yếu tố then chốt: Thiên thời (vận mệnh tiên thiên), Địa lợi (môi trường phong thủy), và Nhân hòa (nỗ lực con người). Trong đó, tác giả đặc biệt nhấn mạnh vai trò của địa lợi - yếu tố duy nhất có thể thay đổi được, từ đó trở thành chìa khóa giúp xoay chuyển vận mệnh, biến thách thức thành cơ hội.

Điều quý giá là tác giả không đẩy địa lý phong thủy vào vòng mê tín, mà giải thích nó như một môn học về môi trường ở tầng sâu hơn. Môi trường tốt đẹp nuôi dưỡng tâm hồn tốt đẹp, tâm hồn thông thái dẫn đến thành công trong cuộc sống - đây là logic khoa học và nhân văn mà ai cũng có thể cảm nhận.

Cuốn sách này phù hợp với mọi đối tượng độc giả: từ những người đang có ý định xây nhà, mua nhà, đến những ai muốn hiểu rõ hơn về không gian sống của mình. Dù bạn tin hay không tin vào phong thủy, những kiến thức về cách chọn vị trí, bố cục không gian, và hiểu biết về ảnh hưởng của môi trường trong cuốn sách đều mang lại giá trị thực tiễn cho cuộc sống.

Hãy để "Dương Trạch Địa Linh - Giải mã bí mật phong thủy nhà ở" đồng hành cùng bạn trong hành trình tạo dựng một tổ ấm chân chính - nơi mà gia đình viên mãn, sức khỏe dồi dào, và vận may luôn nở rộ.

~ Nhóm dịch thuật Upala Việt Nam


### Lời tác giả


**Kiến thức lớn về phong thủy dành cho độc giả**

Đây là một cuốn sách về pháp nhập thế. Vậy pháp nhập thế là gì? Pháp nhập thế chính là phương pháp chuyên theo đuổi những mục tiêu như gia đình viên mãn, thân thể khỏe mạnh, sự nghiệp tài vận, con cái hiếu thảo, tiêu tai giải ách và nhiều điều khác.

Trong quá khứ, Liên Sinh Hoạt Phật từng giúp người khác xem địa lý phong thủy, phát hiện nhiều ngôi nhà có hung tướng khiến người ta phải giật mình, không khỏi cảm thán trong lòng: Tiếc thay! Tiếc thay! Tội nghiệp thay! Tội nghiệp thay! Ngôi nhà hung tướng như vậy làm sao ở được!

Vì lòng thương xót chúng sinh thiên hạ, tôi đã viết ra một cuốn sách dễ hiểu cho mọi người, và cuốn sách này chính là "Dương Trạch Địa Linh - Giải mã bí mật phong thủy nhà ở". Trong cuốn sách này, tôi sẽ trình bày chi tiết về phong thủy nhà ở, dùng những từ ngữ đơn giản nhất để giải thích học thuật sâu xa về địa linh.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng pháp nhập thế cần có ba yếu tố chính, ba yếu tố này là:
Thiên thời - vận mệnh tiên thiên, cơ duyên nhân quả do trời ban.
Địa lợi - sự hỗ trợ từ môi trường phong thủy địa lý.
Nhân hòa - nỗ lực hậu thiên, yếu tố con người, sự viên mãn trong quan hệ cá nhân.

Thiên thời, địa lợi, nhân hòa chính là ba yếu tố tạo nên thành công. Trong ba yếu tố này, địa lợi là yếu tố rõ ràng và nổi bật nhất, phần lớn thiên thời rất khó thay đổi, còn vấn đề nhân hòa cần có sự nỗ lực sau này.

Chỉ có địa lợi là yếu tố có thể thay đổi được, vì vậy học thuật địa lý phong thủy trở thành liều thuốc nhiệm màu có thể xoay chuyển càn khôn, biến thất bại thành thắng lợi.

Học thuật địa lợi này cũng có tác dụng trong pháp xuất thế, ví dụ xưa kia các vị tiên nhân tu đạo cũng phải tìm kiếm danh sơn động phủ, những nơi địa linh kiệt xuất để tu luyện. Còn các hành giả Mật tông khi nhập thất cũng phải tìm hang động có linh khí dày để tu hành, tất cả đều là vì yếu tố địa lợi vậy.

Khi còn trẻ, tôi được thọ giáo từ một đạo sĩ ở núi Thanh Thành - Đạo trưởng Thanh Chân. Đạo trưởng đã truyền thụ cho tôi "bí kíp địa linh". Ngày nay tôi sáng lập Chân Phật Tông, tu Phật đắc chính giác chính ngộ, thực sự đã nhận được sức mạnh từ địa lợi, bởi vì mỗi nơi tôi cư ngụ, tôi đều chọn những địa điểm có phong thủy tuyệt hảo, không hề xem nhẹ sự trợ giúp của phong thủy, nhờ đó mà luôn duy trì được nguồn linh khí dồi dào.

Cả đời tôi hiếm khi bị bệnh, chưa từng ngủ trưa, chưa từng cảm thấy mệt mỏi, sang Mỹ nhiều năm mà ngay cả cảm cúm nhẹ cũng không mắc phải. Thực ra đây cũng là hiện tượng tổng hợp từ ba phương diện tu luyện Thiên - Địa - Nhân. Cho nên Liên Sinh Hoạt Phật mới là Liên Sinh Hoạt Phật, đây chính là hiệu quả thực tế nhất!

Tôi cho rằng, một người muốn học đạo, ngoài căn cơ bẩm sinh ra còn cần thêm sự tinh tấn của con người, cũng phải phối hợp với khí địa linh. Vì vậy, dù người tu đạo có căn cơ bẩm sinh và tinh tấn chí thành đến đâu, thì việc chọn đất tu hành cũng rất quan trọng. Thời xưa, các bậc đại thành tựu Mật tông đều phải tìm kiếm những hang động có địa linh lớn để mật tu, nếu không tìm được thì mọi nỗ lực tu hành cũng sẽ trôi theo dòng nước.

Từ đó có thể thấy:

Nhà ở có được khí địa linh không chỉ thoải mái khi sống mà còn khỏe mạnh, sự nghiệp phát đạt, gia đình viên mãn, con cái hiếu thảo, mọi việc đều thuận lợi.

Nhà ở không có khí địa linh đương nhiên mọi việc đều không suôn sẻ, tâm linh không được an ủi, sự nghiệp cũng suy thoái, kết quả của vòng luẩn quẩn này là tai ương cùng lúc giáng xuống.

Có rất nhiều đệ tử và độc giả yêu cầu tôi viết một cuốn sách về tướng học nhà ở. Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, tôi cũng cảm thấy sâu sắc rằng nên để nhiều người hơn hiểu được tầm quan trọng của địa linh địa lợi, nên để mọi người biết được kiến thức lớn lao về mặt này, giúp ai ai cũng hiểu đúng về lợi ích của địa linh.

Địa lý phong thủy còn chứa đựng nhiều triết lý nhân sinh, những gì tôi viết ra đều cố gắng đơn giản, dùng những quan niệm mới thực tế nhất để giải thích, hy vọng có thể sửa chữa những định kiến và luận điểm sai lầm, đồng thời trình bày rộng rãi kinh nghiệm của bản thân.

Trong cuốn sách này, tôi sẽ đề cập đến những điểm quan trọng về nhà ở như chọn lựa vị trí, độ cao, kích thước rộng hẹp, cửa, môi trường, phòng khách, nhà bếp, phòng ngủ, vị trí thờ cúng, nhà vệ sinh, phòng làm việc, cầu thang và nhiều thứ khác, dùng lý thuyết khách quan nhất để trao đổi kiến thức này với độc giả.

Tôi mong rằng việc viết cuốn sách này là thực tế nhất, chính xác nhất, có trật tự, có hệ thống và là chính tri chính kiến.

Tôi hy vọng cuốn sách này khi xuất bản sẽ mang đặc trưng hài hòa giữa pháp xuất thế và pháp nhập thế, tôi không thiên về hoàn toàn xuất thế. Để gieo trồng phúc báo thù thắng vô biên, ban phúc cho tất cả đệ tử và độc giả, tôi nguyện mọi người khỏe mạnh trường thọ, cát tường như ý, gia đình viên mãn, phúc huệ tăng trưởng, tu hành đắc quả.

Tháng 3 năm 1987 tại Chân Phật Mật Uyển, thành phố Redmond, bang Washington, Hoa Kỳ.


![image](/img/img_470272a3d88b1fca87933f585cca53b3.png)


**Địa chỉ liên lạc của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn:**

**Sheng-yen Lu**
17102 NE 40th Ct.,
Redmond, WA 98052
U. S. A.


### 01. Không nên ở nơi cao tận cùng


Có một lần, một vị đại gia mời tôi đến xem ngôi biệt thự xa hoa của ông ấy.
Đến giờ hẹn, ông ta lái xe sang đến đón tôi, tuy nhiên, tôi lại không có ý định cùng ông ấy đi ra ngoài.
"Đã đến giờ rồi, chúng ta khởi hành thôi!"
"Xin lỗi! Không cần xem nữa đâu." - Tôi nói.
"Tại sao vậy?" - Ông ta vô cùng ngạc nhiên.
"Bởi vì đêm qua tôi đã đi xem biệt thự xa hoa của ông rồi, tôi đã hoàn toàn hiểu rõ."
"Ngài, đại sư, đêm qua..." - Miệng ông ta há hốc kinh ngạc.

Thực ra, đối với Liên Sinh Hoạt Phật, đây không phải là chuyện gì mới lạ. Đêm qua khi tôi đi ngủ, nguyên thần từ đỉnh đầu bay ra, dần dần bay lên không trung, lướt nhanh giữa tầng mây, chỉ trong chớp mắt đã đến được nhà vị đại gia đó. 

Vị đại gia này sống ở trên đỉnh núi cao, ngôi nhà to lớn, xung quanh có hàng rào sắt bao bọc, chiếm diện tích tám mẫu.

Tôi nói với ông ấy: "Ông nuôi hai con ngựa, một con màu nâu, một con màu trắng. Trong ngôi nhà lớn có sáu lò sưởi đang cháy, có hai bức tranh quý, và có một thanh kiếm rất cổ..."

Vị đại gia vô cùng kinh ngạc.
Cuối cùng tôi nói với ông ấy:
"Không nên ở nơi cao tận cùng."

Nói về cao, là vì ắt sẽ gặp "bát phong" thổi tới, phạm phải phong sát. [Trong ngữ cảnh phong thủy, bát phong chỉ gió của tám hướng: Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông Bắc, Đông Nam, Tây Bắc, Tây Nam.]
Nói về tận cùng, là vì hoàn toàn không có chỗ nương tựa.

Ngày nay, một số người giàu có tự cho rằng vì có tiền nên muốn ở nơi cao nhất, đây là tâm lý muốn "như hạc giữa bầy gà". Họ mua đất trên đỉnh núi cao để xây nhà, dựng dinh thự sang trọng, nhưng những ngôi nhà kiểu này một khi xây xong thường nhanh chóng suy tàn.

Tại sao vậy? Bởi vì đất cao ắt phải chịu "bát phong" thổi tới, khí của ngôi nhà không ổn định, cứ mười ngôi nhà như vậy thì tám ngôi sẽ trở thành hung trạch.

Về phương diện địa khí, những nơi cao tận cùng, địa khí không thể hùng hậu và uốn lượn kết huyệt, phần lớn đều lỏng lẻo và phân tán, xây nhà ở đó ắt sẽ gặp suy bại.

Ở nơi cao tận cùng, chỉ có những vùng đất có địa khí xoắn ốc đi lên mới có thể xây nhà được. Loại đất này khi đào xuống ắt sẽ hiện ra đất ngũ sắc dạng xoắn ốc. Tuy nhiên, trên đỉnh núi cao rất khó tìm được địa linh có "địa khí xoắn ốc đi lên", vì vậy nơi cao tận cùng không thể làm nơi ở.

"Bí kíp địa linh" có nói rằng:
Cao nhất - ắt gặp họa sát thân.
Nơi tận cùng - ắt cô độc.

Nhà ở cao nhất, do phải chịu tám hướng gió thổi, bốn phương tám hướng đều có thể đón gió, khí sẽ phân tán. Và nhà cao nhất rất dễ thu hút sự chú ý, chính là phong thủy dễ bị trộm cắp.

Nói về triết lý nhân sinh, khi một người giữ chức vị cao nhất ắt bị ganh ghét, thu hút quá nhiều sự chú ý rất dễ bị hãm hại. Ví dụ như Tổng thống Mỹ mỗi khi ra ngoài đều phải có vệ sĩ, đó là vì ở vị trí cao nhất.

Nhà ở nơi tận cùng, không có chỗ nương tựa bốn phía, địa khí phân tán bay đi sẽ ảnh hưởng đến người ở, khiến họ cảm xúc không hòa hợp, tính cách trở nên cô độc quái gở. Người sống ở nơi tận cùng sẽ khiến con cháu ly tán, tạo thành cảnh cô đơn, đây là hiện tượng tất yếu.

Đạo lý không nên ở nơi cao tận cùng này cũng có thể áp dụng ở vùng đất bằng phẳng. Nếu bạn cố tình xây nhà cao hơn và đặc biệt hơn người khác, đây là tâm lý muốn như "hạc giữa bầy gà", cũng sẽ dẫn đến hậu quả "ắt bị hãm hại" và "ắt cô độc". Tuy nhiên, nếu một người có phúc phần lớn sống trong ngôi nhà như vậy vì phù hợp với thân phận của họ, thì đó lại là chuyện khác.

Nếu không có phúc phần và thân phận mà ở trong ngôi nhà kiểu "hạc giữa bầy gà" thì nhà cát sẽ biến thành nhà hung, sẽ chiêu mời tai họa, là điều vô cùng không tốt, phần lớn dễ dẫn đến thất bại nghiêm trọng. Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng khi chúng ta ở nhà, nhà như thế nào thì phải có người ở như thế ấy, cần phải phù hợp với thân phận. Nếu không phù hợp với thân phận, coi thường tướng nhà, chắc chắn sẽ gặp phải những điều bất hạnh không thể tưởng tượng được.

Vì vậy, Liên Sinh Hoạt Phật nói:
Trong một khu nhà, ngôi nhà đặc biệt cao hơn hẳn - không tốt.
Trong một khu nhà, ngôi nhà đặc biệt tách biệt - không tốt.
Đây là phạm phải tướng nhà cao tận cùng.
Tuy nhiên, nếu phù hợp với phúc phần và thân phận của chủ nhà thì lại là chuyện khác.

Vị đại gia đã mời tôi xem phong thủy quyết định bán đi ngôi biệt thự sang trọng trên núi cao, bởi vì chủ nhân trước đó làm ăn thất bại phá sản, người giúp việc của ông ta bị đâm chết. Hiện tại vị đại gia này cũng vừa ly hôn, con cái ly tán, đúng như hiện tượng ắt bị hãm hại và ắt cô độc.

Chọn đất xây nhà phải hết sức cẩn thận!


![image](/img/img_8ccf7e8cc33eec615333ed59e3f5ad4d.png)


Ở nơi cao tận cùng, chỉ có những vùng đất có địa khí xoắn ốc đi lên mới có thể xây nhà được, loại đất này khi đào xuống ắt sẽ hiện ra đất ngũ sắc dạng xoắn ốc.


![image](/img/img_4744f0e4c02f5123ea0699e227cc3f05.png)


Cái gọi là "tận cùng" là vì hoàn toàn không có chỗ nương tựa.


![image](/img/img_c50aac334868ae37a04ed1fce8fc5448.png)


Cái gọi là "cao" là vì ắt sẽ gặp "bát phong" thổi tới, phạm phải phong sát. Và trong một khu nhà, ngôi nhà đặc biệt cao hơn hẳn hoặc trong một khu nhà, ngôi nhà đặc biệt tách biệt, đều là không tốt.


### 02. Không nên ở những nơi đất thấp bị dồn ép


Khi tôi còn trẻ, tôi đã xem phong thủy cho vô số người với một nguyên tắc: người giàu người nghèo đều bình đẳng như nhau. Khi người giàu sang đến mời tôi, tôi vui vẻ nhận lời, khi người nghèo khó đến nhờ, tôi cũng tiếp đón với nụ cười tươi. Dù nhà giàu hay nhà nghèo, tôi đều xem phong thủy cho họ.

Nguyên tắc quan trọng nhất mà tôi luôn tuân thủ là: "Không bao giờ mở miệng ra giá, hoàn toàn tùy theo ý của gia chủ." Bởi vì tôi học phong thủy chính là để cứu giúp người đời. 

Do vậy, tôi đã từng xem cho một gia đình rất nghèo. Họ sống ở một nơi rất thấp trũng, phía sau nhà có vách đá dựng đứng, xung quanh nhà trồng tre, chủ nhà là người bán rau. Tôi nhận định, đây chính là nhà ở vị trí bị dồn ép.

Trong "Bí kíp địa linh" có nói rằng:
Thấp nhất - ắt gặp tự sát.
Bị dồn ép - khó khăn trắc trở.

Kết quả tôi đoán đúng vô cùng chính xác. Do nghèo khó, vợ chồng cãi nhau, người vợ chủ nhà uống thuốc trừ sâu tự tử; bà nội bị phong thấp, bán thân bất toại. Con cái trong nhà có đứa bị bại liệt, có đứa bị hen suyễn. Bản thân người chủ dù cố gắng vất vả bán rau nhưng vẫn thất bại thảm hại.

Tại sao nhà ở nơi thấp trũng lại có số phận tự sát? Bởi vì nhà ở nơi thấp trũng luôn ở vào vị trí bất lợi, tâm trí bị bế tắc, không thể suy nghĩ thông suốt, không thể phát triển lý tưởng của mình. Do tâm hồn không được thông thoáng nên khi gặp kích động dễ nghĩ quẩn.

Hơn nữa, nơi thấp trũng thuộc về âm, phần lớn là nơi tụ tập của âm khí và nơi ma quỷ quấy phá. Khi bị những âm khí này quấy nhiễu, người ta càng dễ nảy sinh ý định tự sát.

Về sự dồn ép, vách đá dựng đứng quá gần nhà tạo cảm giác "áp lực cao", đây là phong thủy khiến chí hướng khó thành, lại dễ mắc những căn bệnh kỳ lạ. Vách đá đổ nát ở quá gần khiến người ta cảm thấy thê lương và đau buồn, ở trong ngôi nhà như vậy vĩnh viễn không có cơ hội phát đạt.

Nói thực tế hơn, ở nơi trũng dưới chân núi, hễ mưa xuống, nước đọng trong nhà khó thoát; một khi động đất, đất đá vách núi sụp xuống là nhà bị chôn vùi ngay, sao có thể không thận trọng.

Tôi hỏi anh ta: 
"Hiện tại nhà anh có bảy người ở phải không?"
Anh ta ngạc nhiên: 
"Chỉ có năm người thôi."
Tôi mỉm cười nói: 
"Đúng là bảy người đấy. Trong bảy người này có hai vị khách thường trú. Ha ha!"
Anh ta nói: 
"Nhà tôi hoàn toàn không có khách nào cả."

Tôi bảo anh ta đi hỏi bà nội xem trong nhà có hai vị khách thường trú không. Không ngờ câu trả lời của bà nội khiến mọi người bất ngờ - quả thật có hai vị khách thường trú, hai vị này mặc trang phục thời nhà Thanh, một nam một nữ, người nam mặc đồ đen, người nữ mặc đồ đỏ, hai vị khách này thường xuyên ra vào nhà.

Câu trả lời này khiến người chủ nhà vô cùng kinh hãi.
Chủ nhà hỏi bà: 
"Sao bà không nói sớm?"
Bà nội trả lời: 
"Sợ các con sợ hãi, lại sợ các con không tin, sẽ bảo là mắt già lòa."

Tôi nói với anh ta, chỗ đất thấp bị dồn ép này không thể ở được, bởi vì đất thấp bị dồn ép là đất có tà khí, người dương ở chốn tà khí không bệnh cũng thành bệnh, khó khăn trắc trở chồng chất, người dương bị âm khí ảnh hưởng chỉ muốn chết đi cho xong, việc người ta tự sát, thường là do bị âm linh lôi kéo.

Vì sao bà nội có thể nhìn thấy âm linh? Bởi vì bà sắp xuống đất rồi, dương khí thoát ra, âm khí quấn thân, thể chất đã gần với âm linh, cho nên đôi mắt có thể thấy được âm linh.

Cũng có thầy phong thủy cho rằng nhà ở chỗ thấp trũng sẽ khiến thủy khí tụ tập, nước chính là tiền tài, vì thế sẽ phát đạt lớn. Tuy nhiên, sự lưu động của thủy khí cần phải có bậc thầy phong thủy cao tay mới có thể xử lý thỏa đáng, phải dẫn "đại thủy khí" vào, dẫn "tiểu thủy khí" ra, nếu một mảng đại thủy khí chỉ đi vào sẽ nuốt chửng tất cả mọi người trong nhà.

Nhà quá thấp trũng là điều không tốt.
Phía sau và hai bên nhà có vách đá dựng đứng cao ngất, gọi là "bức bách", cũng là điều không tốt.

Tôi khuyên họ dọn nhà đi, vì đây là ngôi nhà có tướng cực kỳ xấu.


![image](/img/img_041a1d17c3533ef4fdc9675f5f94e7e1.png)


Ngôi nhà thấp trũng luôn nằm ở vị trí bất lợi, tâm trí bị bế tắc, dễ rơi vào tuyệt vọng, không thể phát triển lý tưởng của mình.


![image](/img/img_f87589d8e3c0bfde8663587b0e1dd218.png)


Vách đá cao dựng đứng quá gần với ngôi nhà, sẽ tạo cảm giác "áp lực cao", đây là phong thủy khiến chí hướng khó thành.


### 03. Không được ở tại đất linh sát


Tôi từng xem phong thủy một ngôi nhà rất tao nhã. Vị trí vừa phải, tướng nhà rất tốt, các phòng bên trong đều có tướng cát. Thậm chí tất cả đồ đạc bài trí đều hợp phong thủy. Chủ nhà này đã từng mời nhiều bậc thầy phong thủy nổi tiếng đến xem xét, ai cũng nói: "Rất tốt".

Tuy nhiên, ngay khi tôi bước vào ngôi nhà này, tôi đã cảm nhận được hiện tượng kỳ lạ của nó. Tôi nói: 
"Phong thủy của ngôi nhà này tôi thấy không có gì sai, tuy nhiên nó lại tràn ngập một bầu không khí kỳ quái, đó là do có linh khí bất thường."
Chủ nhà hỏi tôi: 
"Trong toàn bộ ngôi nhà, chỗ nào kỳ quái nhất?"

Dựa vào cảm giác đặc biệt, tôi đi qua từng phòng một, khi đến hồ bơi phía sau nhà, tôi dừng lại trước hồ bơi và nói: 
"Chính là nơi này."
Chủ nhà nói: 
"Liên Sinh Hoạt Phật quả nhiên phi phàm, hồ bơi này đúng là có rất nhiều điều kỳ quái."

Chủ nhà nói với tôi rằng nước hồ bơi này sau khi bơi một lúc thì lạnh không chịu nổi. Những người đến bơi ở đây ai cũng từng bị chuột rút chân. Khi bơi một mình có cảm giác như có người đang kéo chân, lặn xuống nước thì cảm thấy như có người khác đang bơi, nhưng thực tế hoàn toàn không có ai khác. Đôi khi, không có ai bơi, nhưng nửa đêm lại nghe thấy tiếng nước văng tung tóe.
"A! Đây là đất linh sát." - Tôi nói.

Sau khi tìm hiểu, hóa ra trước khi xây dựng tòa nhà này, mảnh đất này vốn là một bệnh viện cũ, và khu vực hồ bơi chính là nhà xác - nơi để thi thể. Do bệnh viện quá cũ kỹ nên đất được khai thác phát triển, trên nền đất cũ đã xây lên một tòa nhà sang trọng, tao nhã. Do linh khí của bệnh viện vẫn chưa tiêu tan, đương nhiên sẽ phát sinh một số hiện tượng kỳ lạ.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, đất linh sát hình thành là do mảnh đất ban đầu đã có linh khí, ví dụ như di tích chùa chiền, di tích bệnh viện, di tích nghĩa trang, di tích chiến trường cổ, di tích pháp trường, di tích nơi xảy ra án mạng, di tích nơi xảy ra hỏa hoạn động đất thảm họa, di tích đền thờ đã dời đi, v.v... Nếu vô cớ xảy ra hiện tượng quái dị và sự bất an trong cuộc sống, đó chính là do có linh sát ở trong đó. Đối với đất có linh sát, việc phát sinh hung sát thường rất đột ngột.

Để đối phó với đất linh sát, một số thầy phong thủy cho rằng nên đào lớp đất cũ xuống sâu 50 cm, dùng máy ủi đẩy lớp đất này đi, sau đó thay bằng đất sạch. Như vậy, khi "đất có linh ám" được dời đi, cũng có thể kiềm chế được linh sát hung dữ.

Tuy nhiên, đối với nhà đã xây dựng xong, chỉ có thể dùng phương pháp giải trừ.
Người tu Đạo thì dùng pháp Cửu phụng phá uế tịnh thủy.
Người học Phật có thể trước tiên tụng chú Đại Bi, dùng nước chú Đại Bi rảy tịnh từ trong nhà ra ngoài nhà. Sau đó dùng tre xanh gọt bỏ một lớp vỏ, viết thần chú an thổ địa "Ôm đu-ru đu-ru tê-wây sô-ha" lên đó, rồi cắm xuống đất ở bốn phía quanh nhà để trấn áp tà khí.
Làm như vậy thì linh ám trong đất không thể quấy nhiễu người trên mảnh đất này nữa, cũng không thể xâm nhập vào mảnh đất này được nữa.

Cách thông thường nhất là:
Linh mục Thiên Chúa giáo rảy nước thánh.
Pháp tịnh hóa của Đạo giáo.
Phật giáo tụng kinh siêu độ.

Có một số nhà ở trên đất linh sát ban đầu không phải là chùa chiền, nghĩa trang, bệnh viện, chiến trường hay pháp trường. Tôi từng khảo sát một ngôi nhà có linh sát, nguyên do là vì ông chủ thích sưu tầm đồ cổ, đem giường, bàn ghế, bàn thờ và các vật dụng cổ xưa về nhà mình. Trong những đồ vật cổ này, có những món bị "linh ám", khiến cả nhà rối loạn không rõ nguyên do. Đây cũng là một ví dụ điển hình.

Ngoài ra, đất linh sát còn có thể hình thành do khí âm quá nặng. Những nơi âm linh thích tụ tập sẽ tự nhiên biến thành đất linh sát, ví dụ như rạp chiếu phim tối tăm, thung lũng sâu trong núi, lâu đài và nhà cổ đặc biệt.

Các bậc thầy phong thủy thông thường không biết cách đối phó với linh sát. Trong khi đó, Liên Sinh Hoạt Phật lại có những kiến giải nghiên cứu sâu sắc nhất về linh sát.

Thực ra linh sát chính là một dạng quấy nhiễu của linh khí, còn gọi là thuyết linh tử.
Phong thủy chú trọng từ trường của ngôi nhà. Nếu từ trường thông suốt, người ở sẽ cảm thấy bình an thoải mái. Nếu từ trường bị quấy nhiễu, tạo ra hỗn loạn, tâm hồn người ở sẽ phiền não, mọi việc đều không thuận lợi.
Linh sát là vô hình. Bí kíp địa linh có nói: Linh sát chính là quỷ quái.
Đối với người thường, không nên ở những nơi có linh sát.

Tuy nhiên, Liên Sinh Hoạt Phật lại thích sống ở những nơi có linh sát, bởi tôi có thể điều chỉnh tần số của linh sát, biến quấy nhiễu thành bình hòa, kết bạn với linh sát, biến nó thành công cụ của mình, ngược lại còn rất hữu ích. Các bậc thầy phong thủy không nên sợ linh sát, nếu biết vận dụng linh sát, ngược lại sẽ càng bình an, càng phát đạt, và đạt được những thành tựu đặc biệt hơn.


![image](/img/img_892c61699991308f2e9642f2d7698816.png)


Đất linh sát hình thành là do mảnh đất ban đầu đã có linh khí, ví dụ như di tích chùa chiền, di tích bệnh viện, di tích nghĩa trang, di tích chiến trường cổ, di tích pháp trường...


![Phù Cửu phụng phá uế](/img/img_1b0654414740b0063c50d3e205f348da.png)



![Phù Nhật nguyệt trấn trạch](/img/img_e31430db2a59b02c3a8a9b249180b14f.png)



![Phù Thủy Đức hộ thân](/img/img_a563f609431eaa35500740795934e487.png)



### 04. Không nên cư ngụ ở đất lẻ


Thế nào là đất lẻ? Đất lẻ chính là mảnh đất không hoàn chỉnh. 

Theo hình thái ngũ hành của đất đai:
Kim —— Hình tròn —— ○
Mộc —— Hình chữ nhật —— ▯
Thủy —— Hình chổi —— ☆ (hình dạng không đều, dạng sóng)
Hỏa —— Hình nhọn —— △
Thổ —— Hình vuông —— □
Phần lớn đất lẻ trong đô thị có dạng hình nhọn và hình chổi, cả hai loại hình dạng đất này đều không thích hợp để ở.

Nhà có hình nhọn khó phân chia phòng ốc, còn nhà hình chổi thì càng thêm lộn xộn bừa bãi, khiến người ta đều cảm thấy không thoải mái. Khi chọn đất xây nhà, đừng tham rẻ mà mua đất lẻ, vì thực ra đất lẻ do hình dạng không chuẩn nên đã mang nhiều sát khí, người ở lâu ngày sẽ bị ảnh hưởng bởi cục diện ngôi nhà, bản thân cũng sẽ trở thành "người lẻ loi".

Tướng nhà và tướng người có ý nghĩa như nhau.
Mảnh đất không hoàn chỉnh cũng giống như một con người bị cụt tay chân, hoặc thiếu khuyết ngũ quan, thân thể không toàn vẹn, đạo lý là như vậy.

Đất lẻ hình nhọn, phía đầu nhọn chính là hỏa sát, hai cạnh dài hai bên là phong sát. Đất lẻ hình chổi có quá nhiều góc, không tự hại mình thì cũng hại người. Vì vậy khi mua đất xây nhà, có thể chọn đất hình vuông, hình chữ nhật hoặc hình tròn, đừng chọn đất lẻ. Đất lẻ có thể dùng làm trung tâm thương mại, nhưng không nên dùng để ở.

Nhìn chung đất lẻ đều có những phần nhô ra, những phần nhô ra này đều mang "khí thế" rất mạnh mẽ. Khi chúng ta sống trong nhà trên đất lẻ, dần dần sẽ chịu ảnh hưởng rất lớn từ cục diện ngôi nhà, tính cách cũng sẽ trở nên cực đoan và mãnh liệt, tỷ lệ người ở gặp sự cố bất ngờ cũng sẽ tăng cao. Đây là do "khí thế" quá mạnh, xét về từ trường thì đó là sự mạnh mẽ và hỗn loạn.

Nhà có từ trường mạnh mẽ sẽ không mang lại bình an cho người ở. Tuy nhiên, nó lại phù hợp với khu thương mại, chẳng hạn như ngân hàng, bệnh viện, siêu thị, trung tâm thương mại,... nơi đông người qua kẻ lại, ngược lại còn có lợi. Các bậc thầy phong thủy có thể dẫn dắt khí mạnh mẽ của đất vào hướng cát, chắc chắn sẽ sinh lợi nhiều hơn.

Tuy nhiên, với đất lẻ có từ trường mạnh mẽ, nếu không dẫn khí vào hướng cát thì sẽ thu hút những kẻ xấu xa đến, như cướp ngân hàng, tranh chấp y tế, trộm cắp cướp bóc, lừa đảo gian dối,... đây cũng là điều các thương gia rất kiêng kỵ. Sinh khí dồi dào là điềm lành, ngược lại, thiêu đốt giết chóc dâm loạn là hung sát.

Dẫn vào hướng cát là sinh khí dồi dào.
Dẫn vào hướng hung là thiêu đốt, giết chóc, dâm loạn.
Và bậc đại sư phong thủy chính là bậc thầy dẫn dắt địa khí.

Liên Sinh Hoạt Phật từng khảo sát một ngôi nhà xây trên đất lẻ, gia đình này vô cùng xui xẻo, xảy ra đến năm vụ tai nạn giao thông lớn nhỏ, hơn nữa mỗi người trong nhà đều mắc chứng thần kinh quá độ. Tôi nhận thấy đó là do ảnh hưởng của ngôi nhà hình nhọn.

Họ động một tí là nổi nóng, vợ chồng cãi nhau hàng ngày, con cái không làm lưu manh thì cũng thành gái hư, và những tính cách cực đoan này đều bắt nguồn từ sát khí ba mặt: đỉnh nhọn là hỏa sát, hai bên là phong sát. Ngôi nhà bị kẹp ở đỉnh giữa giao lộ hai con đường.

Tôi để ý phòng ngủ của họ, do ảnh hưởng của địa thế nên không thể vuông vức được, toàn là dạng đầu nhọn đuôi rộng. Tôi nói với chủ nhà: "Các con gái của ông đều sẽ trở thành thiếp của người ta." (Thiếp tức là vợ lẽ.)
"Đại sư Liên Sinh, ngài đoán chuẩn quá."
"Không phải là tôi đoán giỏi đâu, khi phòng ngủ đã không ngay ngắn thì đương nhiên không thể làm vợ cả, chỉ có thể làm vợ lẽ mà thôi." - Tôi đáp.

Thật kỳ lạ thay, hai cô con gái của chủ nhà đều yêu đương với những người đàn ông đã có vợ. Hai chị em đều rất xinh đẹp, nhưng thường hay la cà chốn phồn hoa, chỉ chuyên tìm đến những người đàn ông đã có gia đình.
"Phải làm sao đây?" - Chủ nhà rất đau buồn.
"Đất lẻ không thể ở được, hãy dọn đi thôi! Cải tạo nơi này thành trung tâm thương mại, rồi tìm một ngôi nhà yên tĩnh để ở, như vậy sẽ có lợi cho tất cả."

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng tốt nhất không nên động chạm tới đất lẻ, bởi vì biến động và cực đoan chính là đặc trưng của loại địa thế này, trong đó chứa đựng khí hung điên loạn. Về cơ bản, nếu xây thành trung tâm thương mại, cần mời bậc đại sư phong thủy để dẫn khí loạn vào hướng cát.

Việc xử lý khí loạn một cách bất cẩn không những không mang lại điều tốt mà còn gây ra điều xấu. Loại hung sát này vô cùng mạnh mẽ, chỉ nghĩ tới thôi đã khiến người ta phải rùng mình.


![image](/img/img_97b558e567a5e14e1e88024dd98a9587.png)


Đất lẻ hình nhọn, phần đầu nhọn chính là hỏa sát, hai cạnh dài hai bên là phong sát, xét về từ trường thì đó là sự mạnh mẽ và hỗn loạn.


![image](/img/img_3c57d3664a31d80536d347c78244783b.png)


Đất lẻ có thể dùng phương pháp phân cách để hóa giải sát khí.


### 05. Bí quyết chọn đất xây nhà


Ngoài những vùng đất cao tận cùng, đất thấp bị dồn ép, đất linh sát, đất lẻ không thể ở ra, đương nhiên còn nhiều địa điểm không cát tường khác cũng không nên ở. Tuy nhiên việc chọn địa điểm tốt nhất vẫn nên mời thầy địa lý cao minh đến khảo sát.

Không nên mua đất xây nhà trên vùng đất có nhiều cát, bởi vì đất nhiều cát thì địa khí tất sẽ phân tán, không có địa khí hùng hậu trong đó. Cũng không nên mua đất xây nhà trên vùng đất có nhiều đá, bởi vì đất nhiều đá thì địa khí cũng sẽ phân tán, khi không được địa lợi sẽ gặp họa.

Đất có địa khí tốt là khi chúng ta nắm một nắm trong tay có thể vón lại thành cục, tuy nhiên không phải là đất sét mà là loại đất ở giữa đất thông thường và đất sét.

Khi chọn địa điểm, tốt nhất là phía sau nên cao hơn một chút, đây gọi là có chỗ dựa phía sau, đây là long mạch chính, thể hiện địa khí chính nhận, như ngôi nhà được đặt ngay ngắn trên chiếc ghế của đại địa.

Trước khi xây nhà, cần khảo sát hai bên trái phải, xem có sa thủ hay không. [Sa thủ chỉ các dãy núi bao bọc hoặc các cánh tay núi vươn ra để che chắn cho huyệt vị hoặc ngôi nhà.] Sa thủ chính là người hộ vệ, đại diện cho quý nhân, cũng tượng trưng cho việc tàng phong tụ khí, có ý nghĩa là được nhiều người giúp đỡ.

Phía trước nhà tốt nhất là tầm nhìn rộng mở, nhưng không được có vách đá dựng đứng hay hố sâu, tóm lại nên bằng phẳng hoặc dốc thoai thoải là tốt nhất, nếu xa xa có cảnh hồ nước thì càng tốt. Nếu đối diện có nhà cũng được, nhưng cửa chính không được đối diện với góc nhà đối diện.

Thực ra bốn nguyên tắc của âm trạch (mộ phần) là: có chỗ dựa phía sau, hai bên ôm vào, phía trước có hồ, trong hồ có bọt. Bốn nguyên tắc này có thể áp dụng cho dương trạch, đạo lý âm dương trạch trong việc chọn đất xây nhà là tương thông.

Khi chọn đất xây nhà trong thành phố, mặc dù mặt đất rất bằng phẳng, nhưng chúng ta có thể quan sát hướng chảy của dòng nước để biết được chỗ nào cao chỗ nào thấp. Khi lấy đất cần chú ý đến độ dính, khảo sát các công trình hai bên xem có ngay ngắn đẹp đẽ không, có giúp ích cho ngôi nhà của mình hay không. Sau khi xây nhà xong phải xem phía trước có bị cản trở tầm nhìn không, bởi vì chúng ta chọn đất xây nhà là để ở lâu dài, hàng ngày ra vào nhìn thấy cảnh quan đẹp đẽ thì tâm trạng tự nhiên sẽ sảng khoái.

Ngược lại, nếu trước cửa là bãi rác, cột điện, góc nhà người khác, trại gà v.v…, những trở ngại và bầu không khí như vậy sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự u uất trong tâm hồn cả gia đình. Nếu trồng lúa trồng rau, đào hố phân, hoặc tưới phân bón phân gà trước cửa nhà mình cũng là phá hoại địa linh. Lò đốt rác trước cửa, đường xung trước cửa, ống khói, chùa miếu trước sau nhà đều có liên quan đến địa linh, cần phải hết sức chú ý và thận trọng.

Trước khi chọn đất xây nhà, cần tìm hiểu mảnh đất này trước đây được sử dụng như thế nào, liệu có phải là ruộng nước, ruộng khô, rừng cây, nông trại, nhà máy, đồng cỏ chăn nuôi, đường xá, bãi cỏ v.v... những loại đất này đều là cát tường.

Nếu là đất sau hỏa hoạn, nhà cổ trăm năm, pháp trường, nghĩa địa, chùa miếu, bệnh viện, lò thiêu, mộ hoang, bia lịch sử v.v... những loại đất này đều là không cát tường.

Nếu xây nhà trên đất trại gà, khu chăn ngựa nuôi bò, trại lợn, chỉ cần đào sâu xuống 50 cm rồi lấp đất sạch vào là có thể yên tâm.

Nếu bắt buộc phải xây nhà trên đất linh sát, trước khi xây nên làm lễ thanh tịnh đất, mời các vị pháp sư siêu độ và tụng kinh cầu an.

Bản thân Liên Sinh Hoạt Phật nghiên cứu phong thủy nhà ở, trước tiên xem đất, sau đó xem nhà, tất cả đều là quan sát thế của khí. Nếu thế khí hùng hậu, ngôi nhà đó nhất định sẽ phát đạt, còn nếu thế khí suy bại, ngôi nhà đó tất sẽ suy thoái. Nhà lớn phải phù hợp với địa linh lớn, nhà nhỏ cũng phải phù hợp với địa linh nhỏ.
Nhà nhỏ xây trên địa linh lớn là một sự lãng phí.
Nhà lớn xây trên địa linh nhỏ là một sự suy thoái.

Ngoài ra, đường phố trong thành phố hiện đại mở ra đủ mọi hướng, xe cộ trên đường chạy gấp gáp cũng tạo nên một loại thế khí. 
Đường cái có loại thẳng, có loại ngoằn ngoèo.
Đường thẳng sẽ tạo nên xung lộ. [đường cái hướng thẳng vào cửa nhà]
Đường ngoằn ngoèo tạo nên phản cung. [đường tạo thành vòng cung chĩa thẳng vào nhà]

Khi chọn đất xây nhà, tốt nhất nên tránh xa xung lộ và phản cung, những đạo lý này sẽ được trình bày chi tiết trong phần sau.
(Nhà ở vị trí xung lộ có thể dùng làm đồn cảnh sát, tòa thị chính, chùa miếu.)

Liên Sinh Hoạt Phật thường nghĩ, cho đến nay vẫn còn người cho rằng địa lý phong thủy là mê tín, thực ra địa lý phong thủy không phải là mê tín, nói một cách đơn giản, địa lý phong thủy chính là môn học về môi trường ở tầng sâu hơn, môi trường tốt đẹp sẽ tự nhiên tạo nên tâm hồn tốt đẹp, con người khi giữ được tâm hồn thông thái, mọi sự nghiệp mới có thể thành công. Thời xưa, chuyện mẹ Mạnh Tử ba lần chuyển nhà vốn là để tìm kiếm môi trường tốt đẹp mà thôi.

Liên Sinh Hoạt Phật viết ra bí quyết chọn đất xây nhà, tất nhiên đây chỉ là những điều cơ bản nhất, trong đó còn rất nhiều chi tiết và nguyên lý sâu sắc. Những nguyên lý này sẽ được giải thích chi tiết sau này khi có duyên. Tôi hy vọng cuốn sách này có thể giúp độc giả hiểu rõ.


![image](/img/img_00c707728effe76ddb64475e3fa8714d.png)


Không nên mua đất và xây nhà trên vùng đất nhiều cát và đá, bởi vì trên những vùng đất nhiều cát, khí đất sẽ bị phân tán, không có địa khí vững mạnh ở trong đó, khi không có được lợi thế về đất đai thì sẽ phải gánh chịu tổn hại.


![image](/img/img_7ac919c99c4f6dbdfae909c5c869aca8.png)


Khi chọn vị trí xây nhà, tốt nhất là phía sau hơi cao một chút, đây gọi là "có chỗ dựa phía sau". Trong thành phố mặc dù đất bằng phẳng, chúng ta có thể quan sát hướng chảy của dòng nước để biết được chỗ nào cao, chỗ nào thấp.


![image](/img/img_c293928d4eeee3bf2f2cfa7486dee7aa.png)


Phía trước nhà tốt nhất nên có tầm nhìn rộng rãi thoáng đãng, nhưng không được có vách núi dựng đứng hoặc hố sâu. Nếu từ xa có thể nhìn thấy cảnh hồ nước thì càng tốt.


![image](/img/img_38526b19d7f13ca906a3f61dfaa48dc4.png)


Nếu trước cửa có bãi rác, cột điện, góc nhà người khác, trại gà, lò đốt rác hoặc xung lộ, tất cả đều liên quan đến địa linh, cần phải hết sức chú ý và thận trọng.


![image](/img/img_41031081f0db8aaf4b5fe0272c52bbb2.png)


Ngôi nhà được xây dựng trên vị trí phản cung được coi là ngôi nhà vô tình. Tính chất hữu tình hay vô tình của ngôi nhà còn phụ thuộc vào hướng từ trường sinh mệnh của chủ nhà. Theo Liên Sinh Hoạt Phật, việc phán đoán dựa theo phương pháp 12 chi là chính xác hơn, tuy nhiên cũng có thể xem xét tổng hợp.


### 06. Hữu tình thì sống, vô tình thì chết


Ngũ Tổ Thiền tông - Đại sư Hoằng Nhẫn, có một bài kệ nổi tiếng nhất:
*Hữu tình đến gieo mầm
Vì đất quả lại sinh
Vô tình đã không gieo
Vô tính cũng vô sinh.*

Nếu áp dụng bài kệ này vào tướng nhà cửa vẫn là thích hợp nhất.

Theo bí quyết trong "Bí kíp địa linh", khi chúng ta nhìn một ngôi nhà sẽ phát đạt hay suy bại, yếu tố quyết định chính là hữu tình và vô tình.
Hữu tình — phát đạt.
Vô tình — suy bại.

Hữu tình và vô tình cũng giống như khi ta ngắm một bông hoa, lúc hoa đang tươi thắm rực rỡ, nhụy tỏa hương thơm, đó chính là thời điểm nở rộ rực rỡ. Khi một bông hoa dần dần héo tàn, trông ủ rũ không còn sức sống, cánh hoa vàng úa, tự nhiên ta biết đó là lúc suy tàn đã đến.

Trong tướng người, gương mặt ửng hồng như đào, tình cảm lộ ra nơi đuôi mày khóe mắt, đều là tướng hữu tình. Mặt mũi phẳng lì, không chút sinh khí, da đen xanh xao, hoặc mặt trắng bệch yếu ớt, đều là tướng vô tình. Giống như người đời thường gọi là mặt góa phụ, không còn chút sinh khí xuân tươi nào.

Trong dương trạch, việc phân biệt hữu tình và vô tình là một kiến thức lớn. Nếu hình dáng ngôi nhà nhìn có vẻ sinh động hoạt bát, nhưng các bộ phận không xung khắc lẫn nhau, nói một cách đơn giản đó chính là hữu tình. Tuy nhiên, có nhiều ngôi nhà tuy được xây dựng sinh động hoạt bát, góc cạnh nhô ra, nhưng lại xung khắc khắp nơi, đó không phải là hữu tình.

Tướng nhà vô tình là những ngôi nhà được xây quá ngang ngược, có khuyết điểm nghiêm trọng, vô cùng phi lý và không hợp lẽ, hoặc có vẻ ngoài tầm thường khiến người ta chán ghét, đều thuộc tướng nhà vô tình.

Về tướng nhà có hữu tình và vô tình, một nhà phong thủy chân chính có thể phân biệt rất nhanh, đó là việc quan sát tổng thể bên ngoài của ngôi nhà. Loại quan sát này cần nhiều năm kinh nghiệm, khi đã có đủ kinh nghiệm, bậc minh sư chỉ cần nhìn một cái là có thể đưa ra kết luận.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng việc phán đoán một ngôi nhà hữu tình hay vô tình hoàn toàn dựa vào sự lĩnh hội, không thể nói bằng lời. Ý tôi là, đây là kết quả của nhiều năm rèn luyện, không phải chuyện đơn giản, người biết thì thấy được cốt lõi, người không biết thì chỉ xem cho vui. Một nhà phong thủy chân chính có thể cảm nhận được khí của ngôi nhà, từ đó biết được hữu tình hay vô tình, đó chính là cách quan sát khí của tướng nhà. Đây là bí quyết về quan sát bên ngoài của tướng nhà.

Ngoài ra, tính chất hữu tình và vô tình của tướng nhà còn phụ thuộc vào hướng từ trường sinh mệnh của chủ nhà. Mỗi người chúng ta, trong 360 độ phương vị, đều có hai phương hướng là hướng "sinh vượng" và hai phương hướng là hướng "tử tuyệt".
Hướng ngồi của ngôi nhà phù hợp với hướng từ trường sinh mệnh của chủ nhà — hữu tình.
Hướng ngồi của ngôi nhà không phù hợp với hướng từ trường sinh mệnh của chủ nhà — vô tình.

Vì vậy, các thầy phong thủy thông thường sẽ đánh giá tướng nhà dựa trên các phương vị tốt xấu làm nền tảng. Hướng ngồi của ngôi nhà nếu phù hợp với con giáp của chủ nhà sẽ rất thịnh vượng phát đạt, còn nếu xung khắc thì sẽ suy bại gặp vận rủi. Nguyên lý và nguyên tắc này hoàn toàn dựa theo từ trường sinh mệnh.

Thông thường các thầy địa lý sẽ dựa theo 12 chi của mỗi người khi sinh ra để phối hợp với 12 phân vị, đó chính là Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Tuy nhiên có một số thầy địa lý chia phương vị thành 24 phần, cũng có người dùng phương pháp Cửu tinh, thậm chí có người dùng Bát phương, nhưng Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng dùng phương pháp 12 chi là chính xác hơn, tuy nhiên cũng có thể xem xét tổng hợp.

Để đánh giá tướng nhà, tôi cho rằng cần phải xem xét từ hai phương diện là bên ngoài và phương vị. Nếu phương vị phù hợp thì mới xét đến bên ngoài. Khi chúng ta xây một ngôi nhà, nên tham khảo ý kiến của một thầy phong thủy chân chính, bởi vì bên ngoài của ngôi nhà thường quyết định hữu tình hay vô tình, bình an hay tai ương, cát tường hay tai họa.

Tôi từng được mời đến xem một biệt thự có vườn. Tôi chỉ đi vòng quanh bên ngoài một lượt. Tôi đưa ra nhận định: "Người ở sẽ bị u bướu."
Chủ nhà kinh ngạc hỏi: 
"Đại sư sao biết được?"
"Sao lại không biết! Ngôi nhà này khắp nơi đều mọc đầy u bướu."

Về sau mới biết, người phụ nữ chủ nhà không chỉ bị u tử cung mà ruột còn có ba khối u, nghiêm trọng hơn là dạ dày cũng có u, đã phải phẫu thuật không biết bao nhiêu lần!

Tướng bên ngoài của ngôi nhà vô cùng quan trọng, nếu bên ngoài sinh động có lực, thuận lợi không xung khắc, đó là nhà hữu tình, chắc chắn sẽ phát đạt, ngược lại sẽ suy tàn.

"Hữu tình thì sống, vô tình thì chết" là chân lý bất di bất dịch.


![image](/img/img_3c172a99dc395a33124a0bf5382896d9.png)


Tướng nhà sinh động, hoạt bát và không xung khắc lẫn nhau mới là hữu tình; còn nếu xây dựng quá kiêu ngạo hoặc phi lý không hợp lẽ thì đều thuộc tướng nhà vô tình.


![image](/img/img_fd50ad8103565aaefcf8f767fb2f5764.png)


Kích thước của cửa và ngôi nhà phải tương xứng với nhau, một ngôi nhà nhỏ mà có cửa quá lớn cũng là một cách bố trí không hợp lý.


### 07. Ẩn dụ về nhà cửa và thân thể


Theo chỉ dạy của Đạo trưởng Thanh Chân: "Mỗi người do ở lâu trong nhà, chịu ảnh hưởng của môi trường và từ trường của ngôi nhà, dần dần, nhà giống như người, người giống như nhà."

"Bí kíp địa linh" có ẩn dụ về nhà cửa và thân thể.
Cửa chính ví như ngũ quan, mặt tiền của nhà là ẩn dụ cho ngũ quan.
Hai bên nhà là ẩn dụ cho tay chân.
Phòng khách là ẩn dụ cho tim.
Nhà vệ sinh là ẩn dụ cho thận.
Nhà bếp là ẩn dụ cho gan.
Phòng ngủ là ẩn dụ cho phổi.
Phòng ăn là ẩn dụ cho lá lách.

Ví dụ giữa nhà cửa và thân thể, nhà cửa như một con người, nếu phần nào của ngôi nhà có khiếm khuyết thì sẽ âm thầm ảnh hưởng đến thân thể và vận mệnh của chủ nhà. Dĩ nhiên, mối tương quan giữa các bộ phận của ngôi nhà với các bộ phận của cơ thể người không phải tuyệt đối chính xác một trăm phần trăm, giống như có người dùng phòng khách kiêm phòng ăn, trong phòng ngủ cũng có nhà tắm, nên sự phân chia này không hoàn toàn rõ ràng.

Tuy nhiên, Đạo trưởng Thanh Chân đã nói với tôi rằng, một bậc thầy phong thủy chân chính, với khả năng quan sát tinh tế về một ngôi nhà, thực sự có thể tìm ra được điểm mấu chốt của vấn đề.

Trong quá khứ, khi giúp người xem phong thủy, tôi thường dạy đệ tử về "thế cục phẫu thuật" và "thế cục sinh vật". Bởi vì khi quan sát một ngôi nhà, nếu ngôi nhà không hoàn chỉnh, nghĩa là có khiếm khuyết, cấu trúc bao quanh không trọn vẹn, hoặc mở cửa sổ trời trên mái, hoặc cửa sổ không hài hòa với ngôi nhà, cửa ra vào được mở bừa bãi, quá nhiều cửa, những cánh cửa bên trong nhà không phù hợp, không cân xứng, tất cả đều là biểu hiện của "thế cục phẫu thuật".

Thế nào là "thế cục sinh vật"? Sinh vật nghĩa là sinh u sinh ung thư. Khi quan sát một ngôi nhà, chúng ta cần chú ý đến những phần nhô ra ở bên ngoài, những phần nhô ra này xung khắc với cấu trúc chính của ngôi nhà, không hài hòa, giống như những phần phụ của ngôi nhà, hoặc như một người đeo một cái ba lô không cân xứng, kích thước không phù hợp, hai bên không cân đối. Nếu có những phần nhô ra như vậy cần phải chú ý, đây chính là thế cục sinh u sinh ung thư, gọi tắt là "thế cục sinh vật".

Liên Sinh Hoạt Phật phản đối việc cải tạo và xây thêm. Ví dụ như ngôi nhà ban đầu vốn rất tốt, bỗng dưng nảy ra ý tưởng phá bỏ một phần để cải tạo lại. Hoặc có người xây thêm một căn phòng nhỏ ở phía sau, nối liền với ngôi nhà chính, việc xây thêm một căn phòng nhỏ này chắc chắn sẽ làm thay đổi hoàn toàn phong thủy của cả ngôi nhà.

Cần biết rằng việc cải tạo bên trong ngôi nhà có ý nghĩa của "thế cục phẫu thuật".
Cần biết rằng việc xây thêm bên ngoài ngôi nhà có ý nghĩa của "thế cục sinh vật".

Cứ động một chút là phá, là sửa, là xây; nếu cải tạo, xây thêm đều phù hợp thì không có vấn đề gì, nhưng nếu có sự xung khắc thì sẽ thành "thế cục phẫu thuật" và "thế cục sinh vật".

Bởi vì việc phá đi xây lại đều là làm xáo trộn phong thủy và từ trường, nếu sửa tốt thì không có gì để nói về sự thay đổi phong thủy và từ trường, nhưng nếu sửa không tốt thì chắc chắn sẽ có tai họa lớn.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, với bất kì việc cải tạo hay xây thêm nào, nên tham vấn bậc thầy phong thủy sẽ thích hợp hơn. Ngày động công vô cùng quan trọng, bởi vì việc cải tạo hay xây thêm nhà cửa cũng giống như người phẫu thuật vậy, nếu phẫu thuật không tốt sẽ tổn hại nguyên khí nghiêm trọng.

Bản thân tôi rất chú trọng việc sửa chữa tu bổ nhà cửa, ví dụ như kính vỡ, ống nước rò rỉ, tường nứt, điện nước hỏng hóc, đồ dùng gia đình hư hỏng, tốt nhất là sửa ngay khi phát hiện, loại sửa chữa nhỏ này không gây ảnh hưởng đến phong thủy, không tạo thành mối đe dọa. Tuy nhiên, nếu đồ hỏng mà không sửa, để lâu trong nhà sẽ ảnh hưởng đến tâm linh, từ tâm linh ảnh hưởng đến vận mệnh, vì vậy trong nhà tốt nhất không để đồ hỏng, điện nước hỏng thì phải sửa ngay.

Điều này cũng giống như khi chúng ta bị cảm nhẹ mà không chú ý chăm sóc, sau này sẽ dẫn đến cảm nặng, thậm chí viêm phổi, mắc bệnh thận vậy.

Tôi có đến thăm nhà một người bạn.
"Cả nhà đều sẽ phải phẫu thuật." - Tôi khẳng định.
"Tại sao vậy?" - Chủ nhà hỏi.
"Bởi vì bên hông nhà đã khoét một lỗ."

Chủ nhà, vì muốn tiện cho xe từ đường cái vào nhà, đã phá một phần tường ở mặt tiền gần đường, làm riêng một lối vào cho xe, tuy nhiên vẫn giữ nguyên phần trên.
Kỳ lạ thay, từ khi mở lối xe vào, mỗi năm đều có một người trong nhà phải phẫu thuật, đã liên tiếp ba năm như vậy. Chủ nhà xin cách khắc phục, nhưng yêu cầu không phải bít lại lối xe. Vì vậy, tôi chọn một ngày trực Mãn, dùng phép giải trừ, bổ sung một "bức tường vô hình".

Quả nhiên, từ đó về sau, không còn ai trong nhà phải phẫu thuật nữa. Phép giải trừ thật là kỳ diệu thay.


![image](/img/img_dc9859955676102da5c5b9ad65de2d75.png)


Ngôi nhà có khiếm khuyết, cấu trúc bao quanh không trọn vẹn, hoặc mở cửa sổ trời trên mái, hoặc cửa sổ không hài hòa với ngôi nhà, hoặc cửa ra vào được mở bừa bãi, không phù hợp, tất cả đều là biểu hiện của "thế cục phẫu thuật".


![image](/img/img_f40c1f01f215e292be135e5b4de23822.png)


Bên ngoài ngôi nhà có phần nhô ra, những phần nhô ra này xung khắc với cấu trúc chính của ngôi nhà, không hài hòa, giống như một người đeo một cái ba lô không cân xứng vậy, gọi tắt là "thế cục sinh vật". Ví dụ như việc xây thêm một căn phòng nhỏ ở phía sau, nối liền với ngôi nhà chính.


### 08. Hài hòa chính là cát tường


Có người hỏi tôi: 
"Hình dáng bên ngoài của ngôi nhà dạng nào là tốt nhất?"
Tôi đáp: 
"Hài hòa chính là cát tường."

Tuy nhiên, hai chữ "hài hòa" tưởng đơn giản nhưng ẩn chứa học vấn rất lớn.
Có người thích xây nhà theo kiểu mới lạ nổi bật, hình dáng kỳ dị, tuy vậy, miễn là phù hợp với nguyên lý ngũ hành tương sinh và không có sự xung khắc thì cũng được coi là hài hòa.

Ví dụ:
Mật tông có thuyết "Ngũ luân ngũ trí".
Hình dạng tháp ngũ luân, trên cùng là hình đào nhọn, dưới là hình bán nguyệt dài, tiếp theo là hình tam giác, tiếp nữa là hình tròn, cuối cùng là hình vuông.
Theo ngũ hành là Hỏa, Mộc, Thủy, Kim, Thổ.
Nghĩa là Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa.

Chúng ta dựa theo lý thuyết ngũ hành, kết hợp với hình dạng của nó, áp dụng theo chiều kim đồng hồ để xoay vòng, sẽ có thể xây dựng được ngôi nhà mới mẻ, nổi bật và sáng tạo.

Nếu chúng ta không cố tình theo đuổi sự thời thượng thì một ngôi nhà bình thường chỉ cần cân đối là đã rất cát tường. Cân đối giữa bên Rồng và bên Hổ là cả một môn học vấn. Khi chúng ta đứng ở vị trí cửa chính, mặt hướng ra ngoài, bên tay trái là bên Rồng, bên tay phải là bên Hổ.
Bên Rồng và bên Hổ tốt nhất là cân đối đều nhau.
Cũng có thể cân đối theo kiểu Rồng cao Hổ dài.
Hoặc có thể cân đối theo kiểu Rồng dài Hổ cao.
Các thầy phong thủy thường cho rằng, bên Rồng cao hơn, dài hơn một chút là điềm lành. Còn nếu bên Hổ cao hơn, dài hơn thì là đại hung.
Thanh Long Bạch Hổ, cân đối hài hòa chính là tướng nhà cát tường nhất.

Có một bài kệ nói rằng:
Bạch Hổ đỉnh đầu vút cao ngọn,
Vợ nhà ắt đánh chồng không tha.
Điều này ngụ ý rằng, khi Bạch Hổ cao hơn Thanh Long, tôi tớ cao hơn chủ nhân, âm dương đảo lộn, hoặc là tôi tớ coi thường chủ hoặc là âm thắng dương, hiện tượng này tạo ra sự mất cân bằng, khí xung sát, địa linh đảo ngược, ắt là điềm đại hung.

Liên Sinh Hoạt Phật có lần đến thăm một ngôi chùa, được trụ trì hướng dẫn xem phong thủy. Tôi quan sát ngôi chùa này, tọa Sửu hướng Mùi, là núi quẻ Cấn, nước phía trước chảy từ vị trí Chấn hậu thiên đến vị trí Càn tiên thiên. Song sa (hai bên) không rõ ràng. Khi nhìn nơi ở của trụ trì, bất ngờ lại thấy nằm dưới đồi Bạch Hổ, không phải vị trí chủ yếu.
Tôi hỏi trụ trì: 
"Ai ở trên đồi Bạch Hổ vậy?"
"Đệ tử ở."
"Không lâu nữa thầy sẽ phải rời chức." - Tôi đáp.
"Tại sao vậy?"
"Đây là thế tôi tớ lấn át chủ, sớm muộn gì cũng phải rời chức."
Vị trụ trì này vẫn là một vị sư chất phác, nghe tôi nói xong thì buồn bã thất thần.
Vài năm sau, tôi nghe tin thầy ấy đã rời chức rồi!

Chiều cao và chiều dài của Bạch Hổ đều tượng trưng cho sức mạnh quá lớn. Phần lớn những người sống trên đồi Bạch Hổ cao dần dần sẽ sản sinh tố chất thần kinh quá mức, hoặc quá thích quyền lực, tâm lý đấu tranh sẽ nảy sinh giữa họ với nhau, hoặc tâm địa bất chính. Tóm lại, sẽ không có điều cát tường nào xảy ra.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng khi chọn đất xây nhà cần phải xác định rõ hướng nhà, hướng cửa chính rất quan trọng, tốt nhất là phù hợp với ngày sinh của mình. Chú ý đến sự đối xứng giữa Thanh Long và Bạch Hổ, tuyệt đối không để Bạch Hổ cao vượt trội, bởi vì đó là điềm không lành và đại hung. Đến khi xảy ra tai ương thì hối hận cũng đã muộn.

Tất nhiên, Liên Sinh Hoạt Phật đã từng học pháp giải trừ của Đạo gia và pháp bí mật của Mật tông, những pháp này thuộc về pháp trấn yểm và pháp giải sao. Tôi biết khí địa linh tự nhiên rất khó thay đổi, nhưng dùng pháp trấn yểm và pháp giải sao có thể thay đổi thế cục tạm thời.

Những thầy phong thủy thông thường chỉ biết nhìn thế đất mà phán đoán, nhưng không biết rằng trong phong thủy còn ẩn chứa các nguyên lý như thái cực, lưỡng nghi, tứ tượng, ngũ hành, bát quái và vô số nguyên lý của vũ trụ. Nếu chúng ta gặp nơi có sự xung khắc, có thể dùng pháp trấn yểm để chuyển hóa những xung khắc thành điều tốt lành, không những tránh được tai ương mà còn có lợi ích lớn. Những phương pháp hóa giải, giải sao này thực sự có công đức không thể nghĩ bàn.

Long thần do Liên Sinh Hoạt Phật an trí thường có nhiều người nhìn thấy hào quang vàng và hào quang xanh, có người thấy được Thanh Long, nghe thấy tiếng rồng gầm, có ánh sáng nhật nguyệt, trường tồn cùng trời đất. Với thế Bạch Hổ cao, cần phải dùng bia Thanh Long của Liên Sinh Hoạt Phật để hóa giải.


![image](/img/img_efb49baa30172342044408577fd74b56.png)


Khi chúng ta đứng ở cửa chính, mặt hướng ra ngoài, bên tay trái là bên Rồng, bên tay phải là bên Hổ. Bên Rồng và bên Hổ tốt nhất là cân đối đều nhau.


![image](/img/img_7763db68aa747bff7b3698f21036b7a9.png)


Cũng có thể cân đối theo kiểu Rồng cao Hổ dài. Hoặc có thể cân đối theo kiểu Rồng dài Hổ cao.


### 09. Phản cung và thuận cung


Phản cung - Khi chúng ta giương một cây cung lên, đặt mũi tên vào dây, nơi mũi tên chỉ tới chính là vị trí phản cung.
Thuận cung - Khi chúng ta giương một cây cung lên, đặt mũi tên vào dây, phần thân tên nằm trong lòng cung chính là vị trí thuận cung.
Nói một cách đơn giản:
Cung chính là độ cong.
Phần nằm trong độ cong gọi là thuận cung.
Phần nằm ngoài độ cong gọi là phản cung.

Ví dụ, khi chúng ta vẽ một vòng tròn, nếu ngôi nhà nằm trong vòng tròn đó, dù hướng về phía nào cũng đều là thuận cung. Ngược lại, những ngôi nhà nằm ngoài vòng tròn đều là phản cung.

Trong địa hình, có thể xuất hiện nước phản cung, đường phản cung, kiến trúc phản cung.
Nước phản cung - Khi dòng sông chảy uốn lượn tạo thành thế cong ngược trước nhà mình, được gọi là nước phản cung.
Đường phản cung - Khi con đường tạo thành đường cong, và cửa nhà mình lại đối diện ngay với đường cong ngược đó.
Kiến trúc phản cung - Những công trình thể thao lớn có hình tròn, các ngôi nhà ở gần đó đều chịu ảnh hưởng của lực phản hồi, đây gọi là kiến trúc phản cung.

Trong phong thủy nhà cửa, những ngôi nhà được địa hình địa vật bao quanh bởi độ cong được gọi là thuận cung. Thuận cung chính là hữu tình, và hữu tình sẽ phát đạt.
Trong phong thủy nhà cửa, những ngôi nhà bị địa hình địa vật tạo thành lực phản hồi được gọi là phản cung. Phản cung chính là vô tình, và vô tình sẽ suy thoái.

Nhìn chung, mỗi địa hình địa vật đều sẽ xuất hiện ba hiện tượng, đó là thuận cung, phản cung và bằng thẳng. 
Vậy thế nào là bằng thẳng?
Nước chảy thẳng qua cửa, đường đi thẳng ngang qua cửa, và những công trình xây dựng không có độ cong, đó chính là bằng thẳng.

Những thầy phong thủy chân chính khi chọn đất xây nhà cần chọn nơi có địa hình địa vật thuộc thế thuận cung, tránh xây nhà ở những vị trí phản cung.

Bởi vì đất phản cung giống như bia ngắm bắn, sẽ chịu sự va đập của khí xấu từ mười phương. Về mặt địa khí địa linh mà nói, đó chính là khí xấu từ mười phương đang xung thẳng lên, vô hình trung sẽ chịu ảnh hưởng của sát khí, ắt sẽ có tai ương lớn, tai họa bất ngờ xảy ra.

Liên Sinh Hoạt Phật nhận thấy trong kiến trúc hiện đại có rất nhiều công trình xa hoa được xây dựng ngay tại vị trí mũi tên phản cung chỉ vào, tôi nhìn thấy vậy thở dài não nề, những công trình xa hoa này lại còn là kiệt tác của thầy phong thủy! Những thầy phong thủy như vậy thật đáng buồn! Quả thực là kém cỏi vô học.

Khi một đại gia xây nhà ở vị trí phản cung, dù ban đầu là một thương nhân đầy khí thế trên thương trường, nhưng sau khi chuyển vào nhà mới liền gặp tai họa bất ngờ, tai nạn xe cộ, người bị thương nặng, việc kinh doanh như ngọn lửa tắt lịm, đơn hàng giảm mạnh, thế phản cung đại hung này còn khiến nhân viên lừa đảo tiền bạc của ông ta rồi cuỗm đi mất. Chẳng bao lâu sau, người đã ra đi để lại tòa biệt thự xa hoa trống không, thật đáng tiếc.

Tôi nhận thấy các thầy phong thủy hiện đại thích chú trọng vào vấn đề phương vị, cho rằng cửa chính hướng Đông Nam, Nam, Đông là phương vị tốt. Tây Nam, Đông Bắc, Tây là phương vị xấu. Còn Tây Bắc và Bắc là phương vị bình thường. Họ chỉ chuyên tập trung vào phương vị cửa chính.

Tôi cho rằng, phương vị tuy có liên quan đến từ trường của con người và điều này đương nhiên quan trọng, nhưng vị trí tọa lạc của ngôi nhà và hướng của cửa chính là phản cung hay thuận cung còn quan trọng hơn.

Tôi nhấn mạnh:
Thuận cung — đại cát.
Phản cung — đại hung.

Nếu một người đã xây nhà trên vị trí phản cung thì phải hóa giải thế nào? Thầy phong thủy chân chính có hai phương pháp hóa giải lớn:

1. Dùng phản để hóa phản - Ví dụ như những tòa nhà lớn nằm xung quanh vòng xoay, có thể thiết kế xây dựng theo hình phản cung của vòng xoay, thiết kế theo độ cong của nó. Đây là phương pháp tốt nhất để hóa giải thế phản cung, nghĩa là thiết kế tòa nhà theo hình cong, cùng độ cong, để hóa giải sát khí một cách vô hình.

2. Anh phản tôi lồi - Ví dụ như đối với các công trình xây dựng xung quanh vòng xoay, đối với độ cong của phản cung, ta cũng thiết kế một công trình có độ cong lồi tương tự để đối lại. Bên kia phản qua thì bên này chặn lại, tạo thành thế hai bên cân bằng triệt tiêu độ cong của nhau, từ đó hóa giải được sát khí của phản cung.

Tôi cảm nhận sâu sắc rằng mối liên hệ giữa thuận cung, phản cung, hữu tình, vô tình là vô cùng quan trọng. Điều này liên quan đến nguyên lý của địa linh, đặc biệt quan trọng về mặt linh động. Dựa trên kinh nghiệm cá nhân, chúng ta có thể phân tích tất cả các địa hình địa thế để đoán định cát hung của nhà cửa. Mặc dù những tầng lớp này rất phức tạp, nhưng qua phân tích từng yếu tố, ta có thể biết được đâu là thuận, đâu là phản, đâu là bằng.

Nếu nghiên cứu kỹ về thuận, phản, bằng, ta sẽ nhận ra rằng học vấn về thiên, địa, nhân có ý nghĩa vô cùng vi diệu.


![image](/img/img_27d9e5f67a2adda2a695d2ef4f950bd8.png)


Cung chính là độ cong. Những nơi nằm trong vòng cong được gọi là thuận cung. Những nơi nằm ngoài độ cong bị bật ra được gọi là phản cung. Khi chọn đất xây nhà, cần chọn vị trí nằm trong địa thế thuận cung, bởi vì đất phản cung giống như bia ngắm bắn, sẽ chịu sự tấn công của khí xấu từ mười phương.


### 10. Mở cửa ở hướng nào


Theo các thầy phong thủy nói, quỷ môn nằm ở hướng Đông Bắc và Tây Nam. Hai hướng cửa này không nên mở cửa.

Phương vị của cửa cần phải dựa theo hướng từ trường sinh mệnh của gia chủ, phối hợp với hướng thu hút lẫn nhau để thiết lập.

Cửa là cửa khí, cửa chính là cửa khí lớn. Người hiện đại nếu sống ở chung cư thì cửa chính dưới tầng trệt là cửa khí lớn, còn cửa nhà mình là cửa khí nhỏ.

Tầm quan trọng của cửa cũng giống như miệng của con người, như câu bệnh từ miệng vào, họa từ miệng ra, cửa trong phong thủy nhà cửa chính là mạch sống chi phối ngôi nhà vậy.

Có người nói:
Cửa chính hướng Đông - mặt trời mọc ở phương Đông tượng trưng cho sức sống tràn đầy, rất thích hợp cho cửa hàng buôn bán kinh doanh.
Cửa chính hướng Nam - tọa hướng Bắc làm vua, hướng Nam làm bề tôi, thích hợp cho các chính trị gia, nhà tôn giáo, các doanh nhân lớn... Cửa chính hướng này phù hợp với nhiều ngành nghề.

Tuy nhiên theo tôi, nếu từ trường sinh mệnh của gia chủ có sự xung khắc với hướng Đông hoặc hướng Nam thì vẫn nên tránh.
Có đệ tử hỏi tôi: 
"Khi làm cửa nhà, rốt cuộc nên làm cửa giữa, cửa Long môn hay cửa Hổ môn?" (Long môn ở bên trái, Hổ môn ở bên phải.)
"Đây chính là bí quyết của tôi." - Tôi đáp.

Năm xưa, khi Đạo trưởng Thanh Chân truyền dạy tôi "Bí kíp địa linh", ngài đã nói rằng, việc mở cửa ở hướng nào phải dựa theo hướng chảy của Thủy Thần mà định vị, đây là bí mật lớn của phong thủy!

Mở cửa giữa - Khi Thủy Thần tụ khí ở sân trước, ví dụ như phía trước nhà có hồ, có biển thì có thể mở cửa giữa. Hoặc khi địa thế rất bằng phẳng, không dốc, không phải sườn núi, xung quanh cũng không có địa thế cao thấp, như vậy có thể mở cửa giữa.

Mở cửa Long môn - Khi Thủy Thần chảy từ bên Hổ sang bên Long, tức là địa thế bên phải cao hơn bên trái (đứng trong nhà nhìn ra), nước sông chảy về bên trái, ngôi nhà này cần mở cửa Long môn.

Mở cửa Hổ môn - Khi Thủy Thần chảy từ bên Long sang bên Hổ, tức là địa thế bên trái cao hơn bên phải, nước sông chảy về bên phải, ngôi nhà này cần mở cửa Hổ môn.

Đây là bí quyết mở cửa ở hướng nào, tuy bí quyết này đơn giản nhưng khó mà mua được bằng tiền vàng. Đây là cách mở cửa để đón Thủy Thần, để khí của Thủy Thần tự nhiên chảy vào cửa khí, khiến trong nhà tràn đầy khí của Thủy Thần, mà khí của Thủy Thần chính là khí tài lộc vậy.

Tôi từng giúp một chủ doanh nghiệp sửa cửa, vì lẽ ra phải mở cửa Long môn nhưng lại mở cửa Hổ môn, khiến ông ta mất hết ý chí chiến đấu, làm ăn không có kết quả, nhân viên làm việc không hiệu quả, kinh doanh sa sút. Nhưng sau khi sửa cửa, khí của Thủy Thần được đón vào, mọi thứ trở nên cát tường, ngay lần đầu tiếp xúc đã ký được đơn hàng, ai nấy đều phấn chấn, công việc làm ăn ngày càng phát đạt, tinh thần phấn chấn gấp trăm lần.

Vì vậy, việc mở cửa giữa, cửa Long môn hay cửa Hổ môn, hoàn toàn phụ thuộc vào việc đón Thủy Thần. Hướng nào có thể dẫn Thủy Thần vào mới là vấn đề quan trọng nhất.
"Khi hướng cửa chính không hợp với từ trường sinh mệnh thì phải làm sao?" - Có đệ tử hỏi.
"Có thể thay đổi cánh cửa." - Tôi đáp.

Chỉ cần di chuyển cánh cửa thì hướng cũng sẽ thay đổi, thậm chí có thể di chuyển cánh cửa 90 độ. Về khía cạnh này, các chuyên gia thiết kế nhà đều hiểu rõ cách thiết kế để thay đổi cửa. (Vui lòng tham khảo phụ lục: Phân biệt vị trí và hướng cửa.)

Chỉ cần thay đổi hướng cánh cửa để nó hướng về phương cát tường phù hợp với từ trường sinh mệnh của mình. Nghĩa là không cần thay đổi hướng của cả ngôi nhà, chỉ cần thay đổi hướng của cánh cửa.

Một đệ tử khác hỏi: "Ngôi nhà lẽ ra phải mở cửa Long môn, nhưng hiện tại lại mở cửa Hổ môn. Mà vị trí Long môn lại là phòng ngủ, không thể nào thay đổi vị trí được, vậy phải làm sao?"

Đạo trưởng Thanh Chân từng truyền dạy phương pháp hóa giải:
Khi khí của Thủy Thần chảy từ bên Hổ sang bên Long, thầy phong thủy sẽ chọn vị trí đặt một tấm bia (hoặc một hòn đá), khi Thủy Thần chạm vào bia đá, sẽ bị chặn lại và phản xạ vào cửa Hổ môn.

Về bí quyết này, Đạo trưởng Thanh Chân đưa ra một ví dụ để giải thích, giống như khi chúng ta chơi bi-a, muốn đánh bi vào lỗ cần mượn lực phản xạ từ một viên bi khác để đánh viên bi chính vào lỗ.

Nghĩa là khí của Thủy Thần cần phải va chạm vào bia đá trước, rồi mượn lực phản xạ từ bia đá để dẫn khí của Thủy Thần vào trong nhà. Vị trí đặt bia đá chỉ có thể được chỉ định bởi một chuyên gia phong thủy thực thụ. Bia đá cần phải được thực hiện theo pháp giải sao, tức là "tế sát dụng thần". Chỉ khi đã có pháp giải sao và tế sát dụng thần thì bia đá mới có thể sử dụng được.

Liên Sinh Hoạt Phật đối với phương vị của cửa, sử dụng phương pháp "12 chi quyết định phương vị cát tường" để phù hợp với từ trường sinh mệnh của mỗi gia chủ. Còn việc mở cửa giữa, cửa Long môn, cửa Hổ môn thì áp dụng phương pháp "hướng chảy của Thủy Thần quyết định cách mở cửa". Hai phương pháp này đều là những yếu tố then chốt về cửa mà người học phong thủy không thể không biết.


![image](/img/img_685c872f5665662e303a0a7598a6f9b0.png)


Vị trí mở cửa cần phải dựa theo hướng chảy của Thủy Thần mà xác định.


![image](/img/img_9c50c307f20c2a69638d2215d5d49bce.png)


Nếu Thủy Thần chảy từ bên Hổ sang bên Long, tức là địa thế bên phải cao hơn bên trái (đứng trong nhà nhìn ra), nước sông chảy về bên trái, ngôi nhà này cần mở cửa Long môn. Nếu Thủy Thần chảy từ bên Long sang bên Hổ, tức là địa thế bên trái cao hơn bên phải, nước sông chảy về bên phải, ngôi nhà này cần mở cửa Hổ môn.


![image](/img/img_fd34e80b7b3d8ea292400e365d4e646a.png)


Khi phía trước nhà có hồ hoặc biển thì có thể mở cửa giữa. Ngoài ra, khi địa thế rất bằng phẳng, không dốc, không phải sườn núi, và xung quanh cũng không có địa thế cao thấp khác nhau thì cũng có thể mở cửa giữa.


![image](/img/img_378b1889a863b4b755ce51ac49826c7a.png)


Khi vị trí của cửa chính bị đặt sai, có thể mượn lực phản xạ của bia đá để dẫn khí của Thủy Thần vào trong nhà.


### 11. Mũi tên xuyên tâm là xung lộ


Khi tôi ở Mỹ, tôi để ý đến một con đường lớn ở thành phố Tukwila, tên đường là Strander. Đó là một con đường dài, và ở cuối đường hướng Tây có một cửa hàng bán lẻ. Chúng tôi nhận thấy biển hiệu của cửa hàng này thường xuyên thay đổi, cứ mỗi tháng lại đổi một chủ, và thường xuyên đóng cửa để sửa chữa bên trong.

Có người nói với tôi rằng cửa hàng bị xung lộ này chẳng ai kinh doanh nổi, một năm đổi đến mười hai ông chủ. Tôi khảo sát thì quả thật đúng là bị xung lộ.

Con đường vừa dài vừa thẳng, và cửa hàng nằm đúng ở cuối đường, xe cộ qua lại tấp nập, mang theo từng luồng khí trực tiếp xung vào cửa hàng. Khí của cửa hàng này dồn dập cuộn trào như sóng vỗ, không lúc nào ổn định, bất kì cửa hàng nào cũng không thể đứng vững được, cuối cùng chỉ có nước bỏ chạy.

Người Mỹ không hiểu phong thủy, nhưng trên thực tế, họ cũng cảm thấy khó hiểu khi không ai có thể kinh doanh được ở cửa hàng này.

Khi tôi đến Honolulu ở Hawaii, thấy trung tâm thương mại lớn Mitsukoshi do người Nhật điều hành cũng phải đóng cửa phá sản, thực sự khiến tôi giật mình. Qua khảo sát, hóa ra cũng do bị xung lộ, quả nhiên xung lộ là một hiện tượng vô cùng lợi hại.

Tôi xin nói với mọi người, xung lộ giống như một mũi tên bắn thẳng vào ngôi nhà, đây là bố cục mũi tên xuyên tâm, rất khó có thể chống đỡ được. Người có con mắt tinh tường có thể nhìn thấy địa khí cuộn trào không ngừng, người sống trong ngôi nhà này như con thuyền nhỏ giữa sóng gió, không thể nào ổn định được.

Nhà bị xung lộ thường là cục diện dễ gặp tai nạn, dễ xảy ra tự sát, ám sát, giết người, và không thể kiểm soát được cảm xúc. Nếu là cửa hàng kinh doanh thì cũng chưa chắc đã kiếm được tiền.

Có người đề xuất xây một bức tường lớn ở cuối con đường thẳng để chặn xung lộ, sau đó mới xây nhà ở phía sau tường. Đây là đề xuất kiểu làm đập chắn, tôi cho rằng điều này có thể được, tuy nhiên, một bức tường lớn ở cuối đường liệu có ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị không?

Cũng có người đề xuất xây dựng những tòa nhà hình trụ tròn tại vị trí bị xung lộ, ví dụ như khách sạn du lịch. Đề xuất này khả thi, bởi vì công trình kiến trúc hình trụ tròn thực sự có thể hóa giải dòng chảy của xung lộ, phân tán khí hung thành hai luồng, chảy vòng qua hai bên.

Đạo trưởng Thanh Chân nói với tôi: "Phương pháp phổ biến để hóa giải xung lộ cho nhà ở là xây một hồ nước hình bán nguyệt ở sân trước nhà, giống như hình trăng khuyết, phần cong hướng về phía đường lớn, và giữ mực nước trong hồ ở mức tám phần."

Đây là cách dùng hình cung của trăng khuyết để đối phó với khí xung đến, khi khí xung gặp nước sẽ được hóa giải, từ đó bảo vệ được sự bình an cát tường cho ngôi nhà.

Còn việc một số thầy phong thủy dạy người ta treo gương phản chiếu, treo thấu kính lõm, treo chuông đồng, treo sáo... thực sự chỉ là cách an ủi tâm lý viển vông mà thôi (không có nhiều tác dụng hóa giải).

Nếu cuối đường xung lộ là công trình kiến trúc lớn:
Có thể xây chùa, dùng cột tròn của chùa để hóa giải khí xung lộ.
Có thể xây tòa án, sử dụng kiến trúc cột tròn.
Có thể xây tòa thị chính, sử dụng kiến trúc cột tròn (giống như những cột trụ trước Nhà Trắng ở Mỹ).

Nếu lắp đặt thêm đài phun nước phía trước tòa án, tòa thị chính hoặc chùa thì càng an toàn hơn nữa, bởi đài phun nước có những công dụng tuyệt diệu riêng.
Cũng có người hỏi tôi rằng nhà họ bị xung lộ, nhưng ở cuối đường không có đủ diện tích để xây hồ nước hình bán nguyệt thì phải làm sao?
Tôi hỏi họ: "Có thể chuyển nhà được không?"
Họ đáp: "Không có tiền chuyển nhà."

Về nguyên tắc, khi tôi giúp người khác xem phong thủy, trước tiên sẽ chỉ cách hóa giải, nếu không thể hóa giải được mới khuyên họ chuyển nhà, và nếu ngay cả việc chuyển nhà cũng không thể thì mới chỉ họ cách cầu cúng thần linh.

Đạo trưởng Thanh Chân nói: "Lấy một miếng trúc xanh, bóc lớp vỏ xanh ra, vẽ phù chặn xung sát của đường lên vỏ trúc, chọn ngày Định, đào đất chôn phía trước nhà."
Đây là phương pháp thuộc về Đạo thuật. Không phải phong thủy.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, phong thủy là nghiên cứu chuyên sâu về địa khí địa linh, âm trạch dương trạch đều liên quan đến địa khí, đều nằm trong phạm vi của phong thủy. Phong thủy là thứ tự nhiên, muốn thay đổi phong thủy cũng phải thay đổi một cách tự nhiên.

Còn về mặt cầu cúng thần linh, đó là thuộc về Đạo gia, là thuật, khác với phong thủy thông thường. Liên Sinh Hoạt Phật hiểu rõ cả phong thủy lẫn thuật. Phong thủy vốn có diệu lý âm dương ngũ hành, còn khả năng điều khiển được nó chính là thuật.

Về điều kiêng kị xung lộ, ai ai cũng biết rất rõ, nhưng phương pháp hóa giải thì mỗi người nói một kiểu. Việc tôi công khai phương pháp hóa giải này chẳng phải là điều vô cùng quý giá, khó có thể mua được bằng vàng sao?


![image](/img/img_2d1d854fc5390568662b1ccaedf0c356.png)


Mũi tên xuyên tâm là xung lộ.


![image](/img/img_486b622ba88d391c94a0d32d5d6a018b.png)


Ở cuối con đường thẳng, có thể xây một bức tường lớn để chặn xung lộ, tuy nhiên việc làm sao để đảm bảo tính thẩm mỹ cũng rất quan trọng.


![image](/img/img_ee8516bf4be41a51d3639e7765ae2e41.png)


Ở sân trước nhà, làm một hồ nước hình bán nguyệt, phần cong hướng về phía đường lớn, giữ mực nước ở mức tám phần đầy, có thể chặn được xung lộ. Ngoài ra, cũng có thể chôn phù chặn xung lộ (tấm trúc xanh).


![image](/img/img_d9f903e32cc310147cc881ffece66b6c.png)


Đối với xung lộ có thể dùng công trình kiến trúc hình tròn để hóa giải sát khí.


### 12. Trong cửa và ngoài cửa


Khi xem phong thủy một căn nhà, sau khi đã sắp xếp phương vị, cần phải chú ý đến bên trong cửa và bên ngoài cửa.
Những điều cấm kỵ ở bên ngoài cửa là:
Đối diện với cột điện, cột lớn.
Đối diện với đường lớn thẳng và dài, tạo thành xung lộ.
Đối diện với hố sâu, vách đá, khoảng cách rất gần.
Đối diện với cung ngược của đường, cung ngược của sông, cung ngược của công trình kiến trúc.
Đối diện với ống khói, góc nhà, vách nhọn, vật nhọn... của nhà đối diện.
Đối diện với cửa chính của nhà người khác, và cửa nhà người ta lớn hơn cửa nhà mình.
Đối diện với hố phân, vườn rau, lò đốt rác và các vật dơ bẩn khác.
Tất cả những điều này đều là điều cấm kỵ ở bên ngoài cửa, thực ra những yếu tố ảnh hưởng đến địa linh của ngôi nhà này, có những điều liên quan đến khí đất, có những điều liên quan đến tâm lý.
Những gì liên quan đến khí đất, chúng ta cần thay đổi khí đất.
Những gì liên quan đến tâm lý, chúng ta cần thay đổi tâm lý.

Ví dụ, có người viết bốn chữ "cho tôi tài lộc" lên cột điện, đây là biểu tượng an ủi tâm lý. Mỗi khi ra khỏi nhà, họ đọc câu "cho tôi tài lộc", dần dần sẽ xóa bỏ được rào cản tâm lý về việc cửa nhà đối diện với cột điện.

Có người thích treo bát quái, gương, sơn hải trấn, sáo, chuông và các vật khác trước cửa nhà, tất cả đều có tác dụng về mặt tâm lý. Bát quái hóa giải hung sát. Gương có tác dụng phản chiếu và thu nạp phúc khí. Sơn hải trấn phá trừ tà ma. Sáo đồng âm với chữ tiêu, có nghĩa là tiêu trừ hung tà. Chuông có tác dụng tránh tà.

Chúng ta có thể hiểu được tâm lý tự bảo vệ mình này, vì vậy đối với những người treo các vật an ủi tâm lý, chúng ta không cần phải chỉ trích. Phương pháp an ủi tâm lý này trên thực tế cũng có một số tác dụng nhất định, nếu kết hợp với nghi thức cúng sao thì sẽ trở thành một loại thuật.

Tuy nhiên, an ủi tâm lý cũng có lúc mất tác dụng, ví dụ như khi đối diện với hố sâu lớn, đối diện với xung lộ, đối diện với cung ngược, đối diện với hố phân v.v... Khi an ủi tâm lý không thể ngăn chặn được ảnh hưởng của địa khí, gia đình sẽ gặp phải thiên tai địa biến và nhân họa.
(Các thầy phong thủy đều công nhận rằng vị đại sư nọ là người ứng dụng thuật an ủi tâm lý này một cách thông minh nhất.)

Về những điều cấm kỵ bên trong cửa:
Vừa vào cửa đã đối diện với cầu thang.
Vừa vào cửa đã đối diện với "dao tường".
("Dao tường" là một bức tường mà góc tường chọc thẳng vào giữa cửa chính.)
Vừa vào cửa đã đối diện với "xà xuyên tâm".
Vừa vào cửa đã bị tường chắn không thể xoay người, quá chật hẹp.
Vừa vào cửa đã nhìn thấy giường ngủ của phòng ngủ, hoặc lửa của nhà bếp, hoặc bồn cầu của nhà vệ sinh, hoặc là lò sưởi.
Vừa vào cửa đã nhìn thấy cửa sau. Cửa trước thông cửa sau, gọi là "xuyên ngực".
Vừa vào cửa đã tới cuối nhà, phần giữa nhà rất hẹp, gọi là "kẹp lưng".

Những điều cấm kỵ này đều có lý do. Ví dụ, khi khí vào cửa mà cửa trước thông với cửa sau, khí sẽ không thể tụ lại được mà thoát ra ngoài ngay lập tức. Khi nhà không giữ được khí, tài lộc sẽ không thể phát triển.

Khi khí vào cửa nhưng bị tường chắn, không gian quá chật hẹp, hoặc đối diện với cầu thang, sẽ tạo nên sự hỗn loạn của khí. Hoặc khi khoảng cách giữa cửa trước và cửa sau quá hẹp, đều là tướng nhà không phát tài vận, gia đình không hòa thuận.

Khi khí vào cửa mà đối diện trực tiếp với dao tường, xà xuyên tâm, giường ngủ, lửa hay vật dơ bẩn, người trong nhà sẽ không được bình an. Họ dễ trở nên nóng nảy, hay cáu gắt, dễ gặp tai nạn và mắc các chứng bệnh kỳ lạ - kể cả con cái trong nhà.

Theo Liên Sinh Hoạt Phật, dù tọa lạc ở phương vị tốt đến đâu, cửa chính - nơi con người ra vào trực tiếp - chính là cửa khí lớn, có ảnh hưởng vô cùng quan trọng đến toàn bộ phong thủy ngôi nhà. Vì vậy, cả trong cửa và ngoài cửa đều phải được chú trọng, tránh tất cả các hung tướng, đừng để sự hiện diện của hung tướng biến thiết kế phương vị cát tường thành bọt nước.

Nói chung, để sửa chữa phong thủy trong cửa và ngoài cửa của ngôi nhà, cần phải điều chỉnh cho đến khi không còn hung tướng nào mới được. Một nhà phong thủy thực thụ có thể dùng phương pháp sửa nhà đơn giản để chỉnh sửa, còn việc sử dụng thuật chỉ là phương pháp hạ sách.

Ở bên ngoài cửa, cần hướng về phía không có tai ương và hiểm họa, rồi kết hợp với phương vị cát tường của 12 chi.
Ở bên trong cửa, có thể điều chỉnh những điều cấm kỵ nhìn thấy được từ bên trong, bằng cách sửa đổi hoặc di chuyển vị trí.

Về kích thước cửa, phải hoàn toàn phù hợp với kích thước của ngôi nhà. Nhà to mà cửa nhỏ, nhà nhỏ mà cửa to đều không thích hợp.

Bên trong cửa và bên ngoài cửa đều phải tuyệt đối tránh hỏa khí, nhà vệ sinh và vật dơ bẩn, bởi vì những thứ này sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và sự viên mãn của gia đình.


![image](/img/img_e544325245099fa109ebb7951e01cdc0.png)


Tình trạng xà nhà xuyên tâm và tường quá chật hẹp đều là điềm không tốt.


![image](/img/img_f3223e768caffb9b1827ce2d1c2f7657.png)


Trong nhà ở, dù là ngôi nhà hay cửa chính, hiện tượng dao tường đều cần phải tránh tối đa.


![image](/img/img_4552cfcf3e78a93280f19b1253608510.png)


Khi mở cửa phòng khách, không được đối diện trực tiếp với cửa phòng trang điểm hoặc bồn cầu.


![image](/img/img_725fe25ece775c460b991d31575a9588.png)


Vừa vào cửa đã thấy cầu thang sẽ khiến khí rối loạn, nên tránh điều này.


![image](/img/img_dbbbd4006072a9548c22798a9507bfa9.png)


Cửa trước đối diện với cửa sau được gọi là xuyên ngực, khí dễ bị thoát ra ngoài, khó tích tụ tài lộc.


### 13. Tàng khí chính là vị trí kho tài lộc


Tôi từng giúp một vị tỷ phú xem xét ngôi nhà mới của ông ấy. Ngôi nhà này được thiết kế bởi một người tự xưng là bậc thầy phong thủy. Tuy nhiên, tôi phát hiện ra rất nhiều sai sót, và trong lòng thầm kinh ngạc, hóa ra vị bậc thầy phong thủy này chỉ là một kẻ nghiệp dư nổi tiếng nhờ quảng cáo.

Vị tỷ phú dẫn tôi đi xem nhà, khoe khoang về thiết kế hiện đại cũng như bộ sưu tập đồ cổ và sự giàu có của mình. Tuy nhiên, tôi phát hiện ra rằng biệt thự vườn cao cấp này lại không có vị trí tụ tài. Bởi vì vị trí tụ tài đã trở thành lối đi.

Vị tỷ phú nói với tôi: 
"Thầy phong thủy thiết kế biệt thự này là bậc thầy đẳng cấp thế giới, tên tuổi thường xuyên xuất hiện trên báo chí, chuyên giảng phong thủy trên truyền hình, có rất nhiều học trò theo học."
"Vậy tại sao ông lại mời tôi đến?" - Tôi mỉm cười hỏi.
Vị tỷ phú đáp: 
"Bởi vì Liên Sinh Hoạt Phật có pháp nhãn, chỉ cần dùng pháp nhãn chiếu qua là biết hay dở, đương nhiên còn muốn thỉnh Hoạt Phật đến gia trì nữa."
"Ông muốn tôi nói thật hay nói dối?" - Tôi hỏi.
"Có điều gì không ổn sao?" - Ông ta kinh ngạc.
"Phải bịt lối đi lại, và còn..." - Tôi chỉ ra những chỗ cần sửa.

Vị tỷ phú há hốc mồm, không ngờ ngôi nhà do thầy phong thủy thiết kế lại có nhiều sơ hở đến thế, ông ta lặng người đi, vẻ mặt thất vọng.
Tôi nhận ra mình đã nói quá nhiều.

Sau đó, vị tỷ phú này đã không sửa lại theo lời khuyên của tôi. Bởi vì thầy phong thủy kia là người hay lên ti vi giảng về phong thủy.

Khoảng một năm sau.
Có lần, vị tỷ phú đang ở trong bếp nhà mình, bỗng hứng lên cầm dao sắc cắt trái cây đãi khách, không ngờ đã cắt đứt luôn một ngón tay của mình.
Tranh cử nghị viên thất bại.
Lái xe đâm chết hai học sinh tiểu học đang tan học.
Sáu nhà máy thì phá sản năm cái, chỉ còn lại một.
..................

Cuối cùng, vị tỷ phú nói với tôi: 
"Hoạt Phật nói đúng, chỉ trong một năm thôi mà tôi đã thân bại danh liệt. Những vị đại sư đó hóa ra toàn là giả mạo, vẫn đang tiếp tục lừa gạt người khác!"

Hôm nay, Liên Sinh Hoạt Phật viết cuốn "Nói rõ về dương trạch địa linh" này để vạch trần những vị đại sư giả mạo chuyên hại người và lừa đảo, giúp mọi người có được kiến thức lớn về địa khí, tránh bị lừa gạt.

Sau khi chúng ta đã khảo sát xong bên trong cửa và bên ngoài cửa, vừa bước vào cửa phòng khách là phải nhận ra ngay chỗ nào là vị trí kho tài lộc.

Vị trí kho tài lộc chính là góc chéo đối diện khi nhìn từ cửa ra vào phòng khách. Nếu cửa phòng khách mở bên trái, kho tài lộc sẽ nằm ở góc chéo bên phải. Nếu cửa mở bên phải, kho tài lộc sẽ nằm ở góc chéo bên trái. Còn nếu cửa phòng khách ở chính giữa thì kho tài lộc sẽ nằm ở cả hai góc trái và phải.

Kho tài lộc là nơi dễ tụ khí và tàng khí nhất trong nhà, nhưng khí này không phải là tử khí như trong phòng kho, mà là sinh khí - khí chảy vào và tích tụ nhưng vẫn sống động và luân chuyển.

Có nghĩa là, khí chảy vào tích tụ rồi từ từ thoát ra ngoài.
Ở vị trí kho tài lộc, không được mở cửa sổ, không được mở cửa, không được tạo thành lối đi, và tốt nhất là không nên đi lại nhiều.
Vị trí kho tài lộc được tạo thành bởi góc của hai bức tường.

Ở vị trí kho tài lộc, tốt nhất nên đặt cây cảnh như cây vạn niên thanh, cây gạo, cây cọ, cây cao su, cây phượng... Cây cảnh tượng trưng cho sinh khí dồi dào, phát triển bền vững, càng thêm phát đạt cát tường như ý.

Ở vị trí kho tài lộc, tốt nhất nên đặt bể cá vàng, bởi vì cá vàng tượng trưng cho vàng trong tài lộc, cá còn có nghĩa là "dư dả hàng năm", lại là sinh vật sống, việc đặt bể cá vàng sẽ tạo nên sự sinh động, gia tăng khả năng tư duy của gia chủ, khách đến nhà cũng sẽ không dẫm lên vị trí kho tài lộc.

Nếu vị trí kho tài lộc là cửa sổ kính lớn, khí sẽ thoát ra ngoài, nếu là cửa ra vào hay lối đi, khí cũng sẽ tự nhiên thoát đi, không còn tác dụng tàng trữ, tài khí bị phân tán, chắc chắn sẽ hao tài.

Vị trí kho tài lộc nếu được bài trí hợp lý sẽ khiến vận khí ngày càng tăng tiến, tạo nên sự thịnh vượng tuyệt vời, đây là tác dụng tích cực. Trong phong thủy nhà ở, việc tìm ra vị trí kho tài lộc và bài trí thích hợp chính là cách phát huy tối đa công năng của ngôi nhà.

Phòng khách là "trái tim" của ngôi nhà, không được có cảm giác u ám, cũng không được quá sáng sủa. Nơi tụ khí nằm ở góc chéo, vị trí kho tài lộc chính là trung tâm của mọi cục diện, có ảnh hưởng và tác động rất lớn đến toàn bộ ngôi nhà.


![image](/img/img_d8c3e038484357cdca2b3ebffc26472f.png)


Vị trí kho tài lộc trong phòng khách cần có hai bức tường vững chắc, không được tạo thành lối đi hay để người đi lại dẫm đạp, phải có khả năng tàng phong tụ khí.


### 14. Tướng nhà của thân thể khỏe mạnh


Trong tướng nhà, phạm vi liên quan đến sức khỏe thân thể rất rộng, không dễ thảo luận hết được, nhưng có một số bí quyết quan trọng sẽ được trình bày chi tiết trong bài này.

Bố cục sinh vật - Xem xét kỹ những phần nhô ra không cân xứng của ngôi nhà.
Bố cục phẫu thuật - Những góc khuyết của ngôi nhà, giếng trời, phần xây sửa cải tạo.
Khoa nội - Chú ý vị trí lò đốt rác, bể lọc nước.
Khoa tiết niệu - Chú ý vấn đề thông thoáng hay tắc nghẽn của hệ thống thoát nước.
Khoa tâm thần - Chú ý vấn đề bố trí giường ngủ và bàn thờ.
Tai mũi họng - Chú ý vị trí mở cửa sổ cho đúng.
Khoa xương - Chú ý cấu trúc của xà ngang, cột nhà.
Và các vấn đề khác........................

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, trong tướng nhà, có những định số vô hình ảnh hưởng đến sức khỏe thân thể mà các thầy phong thủy thông thường có thể không quan sát được chi tiết. Tuy nhiên, một vị minh sư chân chính sẽ hiểu rằng, khi con người sống trong nhà, họ chắc chắn sẽ chịu ảnh hưởng vô hình từ ngôi nhà đó.

Thứ nhất là ảnh hưởng của khí khi vào nhà và sự tuần hoàn của nó.

Thứ hai là ảnh hưởng của từ trường. Khi ngôi nhà được xây dựng, nó tạo ra một từ trường riêng, trong khi cơ thể con người cũng có một từ trường. Mấu chốt nằm ở chỗ hai từ trường này có tương hợp hay xung khắc, có dung hòa hay đẩy lùi nhau.

Thứ ba là ảnh hưởng của địa linh.

Qua nghiên cứu cá nhân về vị trí nhà vệ sinh, tôi nhận thấy chức năng của nhà vệ sinh tương đương với bể tự hoại. Nếu đặt sai vị trí nhà vệ sinh sẽ dẫn đến trăm bệnh phát sinh, ví dụ như chóng mặt, bệnh mắt, viêm lợi, viêm phổi, tim mạch, tiểu đường, dạ dày ruột, viêm gan, thần kinh và nhiều bệnh khác, tất cả đều có liên quan mật thiết đến nhà vệ sinh. Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, khi chúng ta kẻ đường trung tuyến của ngôi nhà, tức là chia nhà thành bốn phần bằng nhau bằng hai đường thẳng cắt nhau, lấy điểm giao nhau của chiều dài và chiều rộng, thì vị trí nhà vệ sinh không được nằm trên các đường thẳng này. Nếu nhà vệ sinh nằm trên các đường thẳng này sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của người ở. Điểm này vô cùng quan trọng.

Vấn đề lò đốt ở đây không phải là bếp lò trong nhà bếp, mà là lò sưởi. Lò sưởi đốt củi này phổ biến trong mọi gia đình Mỹ. Lò sưởi chính là hỏa khí, và hỏa khí không được đối diện thẳng với cửa chính, bởi vì vào cửa thấy lửa ắt sẽ sinh hỏa khí, khiến gia đình không thể viên mãn hòa hợp, đây là một nhân tố quan trọng gây chia rẽ gia đình. (Tỷ lệ ly hôn cao ở Mỹ có liên quan đến lò sưởi.)
Lò sưởi thuộc Hỏa.
Không được đặt ở hướng Bắc trên đường trung tuyến. Vì thủy hỏa tương khắc.
Không được đặt ở hướng Nam trên đường trung tuyến. Vì hỏa khí quá vượng.
Tốt nhất nên đặt ở hướng Đông.

Lò đốt rác có hỏa khí cũng không được đặt trên đường trung tuyến. Hỏa khí ảnh hưởng rất lớn đến cơ thể, tốt nhất nên đặt ở hướng Đông, Đông Nam, Tây Bắc.

Cần biết rằng hỏa khí là yếu tố quan trọng nhất trong cơ thể con người, hỏa khí chính là nhiệt độ, mọi sự viêm nhiễm đều có liên quan đến hỏa khí.

Chúng ta cần đặt nhà vệ sinh và lò đốt ở những vị trí không có tai họa.

Trong tướng nhà, vấn đề thoát nước rất quan trọng. Nếu nước thoát đều đặn, không bị tắc nghẽn thì sẽ không có vật thối rữa. Thoát nước kém sẽ khiến trong nhà có không khí xấu, khi trong nhà có không khí ẩm mốc không tốt, người trong nhà chắc chắn sẽ sinh bệnh.

Vị trí giường và vị trí bàn thờ, tôi sẽ bàn trong chương sau.

Cây cối trong và ngoài nhà ảnh hưởng thế nào đến ngôi nhà?

Tôi cho rằng cây cối trong và ngoài nhà không chỉ có giá trị thẩm mỹ làm đẹp môi trường mà còn có tác dụng tăng thêm sinh khí. Ví dụ như đặt chậu cảnh tràn đầy sinh khí ở vị trí kho tài lộc, hoặc bên cạnh cửa, hoặc ở những nơi không sạch sẽ, đều có thể đặt chậu cảnh để thanh lọc và xua tan mùi hung khí.

Việc trồng cây cối bên ngoài nhà là điều cần thiết. Hoàn toàn không có cây cối là điều không tốt. Nhưng nếu cây quá cao và mọc quá dày, tạo nên không khí âm u, cũng là điều không tốt, bởi vì cây quá cao và dày sẽ che khuất ánh sáng của ngôi nhà. Nhà có khí âm nặng sẽ sinh ra tà khí, khiến người ta cảm thấy u uất, từ đó ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất.

Nguyên lý của cửa sổ hoàn toàn nằm ở sự lưu thông không khí và độ sáng phù hợp. Quá sáng hay quá tối đều không tốt, có thừa không bằng không đủ.
Quá sáng - khí không thể tồn tại, làm phân tán khí.
Quá tối - khí ứ đọng tất sẽ thối rữa, sinh tà khí.

Tướng nhà cát tường nhất là khi ánh sáng vừa phải, không khí được tuần hoàn, đó chính là nơi tàng khí, không khí cũng phải được lưu thông từ từ, trong đó có học vấn lớn đấy!


### 15. Lửa của nhà bếp


Tôi đã được mời đến để xem xét một ngôi nhà mới.
Ngôi nhà mới này rất đẹp. Chủ nhân là một cặp vợ chồng trẻ tài sắc vẹn toàn.
Xung quanh nhà trồng nhiều cây có hoa đỏ, và còn ra rất nhiều quả đỏ.

Tôi kiểm tra nhà bếp.
Tôi phát hiện bếp lửa có vấn đề. Ngôi nhà này rất hiện đại, bếp được đặt ngay chính giữa nhà bếp, nghĩa là bệ bếp nằm ở trung tâm, xung quanh không có vật gì che chắn, và hướng của bồn rửa cùng vòi nước lại đối diện thẳng với bếp, không lệch một chút nào.

Vấn đề này có hai điểm:
Thứ nhất, lửa trong nhà bếp phải được đặt ở vị trí tàng phong tụ khí, bởi vì khi lửa được tàng khí, nhiệt độ mới tập trung được. Khi nhiệt độ của lửa được tập trung, theo "Bí kíp địa linh", bếp cần phải có ba mặt tựa, và một mặt để đón khí. Vị trí tốt nhất là hướng Nam, hoặc hướng Đông và Đông Nam.

Còn bệ bếp đặt ở trung tâm, bốn mặt không có gì che chắn, tuy thực tế thuận tiện cho công việc, nhưng lửa bị phân tán, không có lợi ích của tàng phong tụ khí, điều này sẽ ảnh hưởng đến việc tán tài.

Thứ hai, vòi nước của bồn rửa đối diện thẳng với bếp lò, đây là tướng đại hung, tức là điềm báo thủy hỏa tương khắc. Đây là một vấn đề lớn, qua quan sát tôi thấy sẽ dẫn đến tình trạng phóng đãng, nghiện rượu, cả nam lẫn nữ đều vướng phải đào hoa.

Khi vào nhà, tôi đã để ý dung mạo người vợ. Quả thật cô ấy có gương mặt xinh đẹp, ngũ quan thanh tú. Về tay chân thân hình, ngón tay và lòng bàn tay mềm mại, vai tròn lưng dày, tỷ lệ gương mặt cân đối, đúng là tướng quý phụ. Chỉ có điều đôi mắt to của cô ấy, đuôi mắt chứa đầy ý xuân, long lanh như sóng nước, cử chỉ dịu dàng như liễu đong đưa trong gió, yểu điệu thướt tha, ánh mắt đưa tình. Đây chính là tướng "đào hoa bí mật".

Tôi hỏi người bạn: 
"Cặp vợ chồng mới cưới này có tin vào phong thủy không?"
Người bạn đã mời tôi đến trả lời: 
"Một chút thôi, bởi vì họ đều là người học khoa học."
"Vậy hôm nay tôi đến........"
"Chỉ là để làm quen, tham quan thôi." - Người bạn đáp.

Đã là chỉ đến để làm quen với nhau và tham quan nội thất sang trọng, tất nhiên tôi phải biết điều một chút, chỉ nói điều tốt, không nói điều xấu. Tôi sẽ làm cho mọi người cảm thấy hòa thuận, không khiến bạn bè của tôi cảm thấy không khí không vui.

Sau khi rời đi, tôi mới nói với người bạn, nhờ chuyển lời đến chủ nhà rằng bếp lửa cần phải được điều chỉnh lại. Nhưng hai vợ chồng hoàn toàn không để tâm đến lời khuyên của tôi.

Nghe nói một năm sau, người vợ đã có quan hệ tình cảm với sếp công ty của mình, người chồng cũng có một người phụ nữ khác bên ngoài. Người chồng nghiện rượu, cuối cùng mọi chuyện diễn biến thành hai người ly hôn, chia tài sản.

Liên Sinh Hoạt Phật muốn mọi người chú ý đến sự thật này: 
Đây là do lửa của nhà bếp nằm ở chính giữa nhà bếp, vòi nước dù ở hướng Đông Nam Tây Bắc nào cũng dễ đối diện thẳng với bếp lửa. Mà vòi nước tượng trưng cho dương, lửa tượng trưng cho âm, đây chính là điềm báo dâm loạn vậy.

Tôi nhận thấy rằng trong thiết kế nhà mới của Mỹ, các căn bếp hiện đại thường đặt bếp ở chính giữa nhà bếp. Những kiến trúc sư này chắc chắn là người ngoài cuộc về phong thủy, họ chỉ quan tâm đến sự tiện nghi và thẩm mỹ, nhưng thực chất đang tạo ra sự dâm loạn!

Tôi muốn nói với độc giả rằng, khi bước vào nhà tuyệt đối không nên nhìn thấy ngay lửa, nghĩa là không được nhìn thấy ngay nhà bếp hay lò đốt rác. Hai loại hỏa khí này đều phải tránh xa cửa chính.

Đối với trường hợp kinh doanh như nhà hàng lớn, tuyệt đối không được thiết kế bếp ở chính giữa khu vực, chẳng hạn như bếp gas, máy nước nóng, nồi hơi, bếp điện, nồi cơm điện, v.v… Tất cả đều không được đặt ở chính giữa nhà hàng.

Bởi vì khi hỏa khí ở trung tâm sẽ làm ô nhiễm không khí toàn bộ nhà hàng, khiến bầu không khí trở nên nóng nảy, cổ đông bất hòa, khách hàng tránh xa, lâu dần sẽ làm ăn đình trệ. Quan trọng hơn nữa là khi hỏa khí ở trung tâm, khí địa linh rất khó điều hòa.

Trong nhà bếp, chúng ta cũng phải chú ý đến vấn đề rác thải, bởi vì nhà bếp là nơi dễ phát sinh rác nhất, rác cần được đóng kín và thường xuyên đổ đi. Hướng chảy của bồn rửa trong bếp càng cần phải chú ý, máy hút mùi phải dùng loại kín, và vị trí của máy hút mùi không được nhô ra quá nhiều, bởi vì hình dáng nhô ra quá nhiều cũng sẽ ảnh hưởng đến phong thủy của nhà bếp.

Nhà bếp không được làm cửa sổ trời, vì dễ khiến hỏa khí lan tỏa lên trên, nhà bếp có cửa sổ trời sẽ dẫn đến nhiều tai nạn bất ngờ, đây chính là nguồn gốc của các vấn đề tai nạn.


![image](/img/img_8b87c22750f2e865417c754443f30904.png)


Khi mở cửa phòng khách, không được nhìn thấy lửa trực tiếp hoặc cửa đối diện với bếp lửa, vì điều này sẽ khiến người sống trong nhà dễ xảy ra tranh chấp.


![image](/img/img_46bb4adfed69093bbc3a0d032278c588.png)


Lửa trong nhà bếp cần được tàng phong tụ khí để nhiệt độ tập trung, không nên mở cửa sổ ở phía trên hoặc hai bên bếp, cũng không nên làm cửa sổ trời trong bếp.


![image](/img/img_57ebf1a4ae2fd81a1bfc00f022deb3f6.png)


Thiết kế bếp dạng đảo được các chủ nhân của những căn biệt thự sang trọng rất ưa chuộng, nhưng nếu nước đối diện trực tiếp với lửa, ắt sẽ gây ra sự dâm loạn, phá hoại nghiêm trọng đến tình cảm vợ chồng!


### 16. Bàn làm việc và bàn học


Có một bác sĩ mời một thầy phong thủy nổi tiếng đến để xem vị trí đặt bàn làm việc.
Vừa đến nơi, thầy phong thủy chưa nói gì đã báo giá trước.
"Tổng cộng là ba nghìn đô!" - Thầy phong thủy nói.
"Ba nghìn đô, cho một cái bàn thôi sao?" - Bác sĩ giật mình.
"Đúng vậy." - Thầy phong thủy đáp: "Khảo sát vị trí bàn là một nghìn đô, chọn ngày tốt một nghìn đô, và chính tay tôi di chuyển bàn một nghìn đô, tổng cộng là ba nghìn đô."
"Trời... trời ơi..." - Bác sĩ á khẩu, không nói nên lời. Cuối cùng bác sĩ nói: "Tôi muốn mời người khác, mời người khác..."
"Ông muốn mời ai?"
"Có một vị Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, ngài không bao giờ định giá, mọi thứ đều tùy tâm."
Sắc mặt thầy phong thủy tái xanh, giận dữ bỏ đi.

Đây là một câu chuyện có thật, xem vị trí đặt một cái bàn mà đòi nhiều tiền như vậy. Nếu độc giả đọc kỹ bài viết này, quý vị sẽ tự biết cách đặt bàn làm việc hay bàn học, và như thế là tiết kiệm được ngay ba nghìn đô, đây quả là kiến thức không thể không biết.

Khi bố trí bàn làm việc tại văn phòng hoặc bàn học trong phòng đọc sách tại nhà, nguyên lý và nguyên tắc đều giống nhau, chúng ta cần ghi nhớ sáu nguyên tắc chính:

Không đối diện cửa - Bàn ghế của chúng ta không được đặt thẳng với cửa, nghĩa là khi vẽ một đường thẳng từ cửa vào, bàn ghế không được nằm trên đường thẳng đó. Nếu bàn ghế đối diện thẳng với cửa, tinh thần của chúng ta sẽ cảm thấy bất an. Đối diện cửa có nghĩa là khi khí vừa vào cửa sẽ dồn thẳng vào người mình.

Không quay lưng về phía cửa - Vị trí ngồi của chúng ta phải nhìn thấy được người ra vào ở cửa, không được ngồi quay lưng về phía cửa. Thực ra ngồi quay lưng về phía cửa vốn không an toàn, không thể thấy bất kỳ ai ra vào, dễ gặp tiểu nhân, sự nghiệp không phát đạt, tinh thần uể oải, lâu dần sẽ càng ngày càng sa sút.

Dựa vào chỗ vững chắc - Ghế ngồi của chúng ta, phía sau không được có cửa, cũng không được có cửa sổ. Tôi thường thấy nhiều người đặt bàn ghế phía sau là cửa sổ kính chạm sàn, là cửa sổ lớn, thực ra điều này không ổn định. Ghế ngồi phía sau có cửa sổ lớn sẽ không vững vàng, là một vị trí trống trải, không đáng tin cậy, tất cả địa khí đến đó sẽ thoát đi ngay lập tức, không có sự trợ giúp của địa linh.

Phải ngồi gần - Ngoài việc ghế ngồi của chúng ta phải dựa vào tường vững chắc, còn phải ngồi gần tường để có được sức mạnh. Tôi thường thấy các ông chủ công ty lớn, để thể hiện sự giàu có và quyền lực của mình, mua bàn làm việc cỡ đại, đặt giữa văn phòng công ty, trên bàn bày đến hai mươi chiếc điện thoại để chỉ đạo doanh nghiệp toàn cầu, nhưng vì ngồi quá xa tường nên thiếu đi sự trợ giúp của địa linh.

Phương vị 12 chi thần - Giả sử với bàn làm việc và bàn học, sau khi đã chú ý đến các yếu tố không đối diện cửa, không quay lưng về phía cửa, dựa vào chỗ vững chắc, phải ngồi gần, thì dùng la bàn để đặt bàn theo hướng từ trường sinh mệnh của chủ nhân, chọn hai hướng có sự tương hỗ. Nếu không thể đặt theo hai hướng này, có thể đặt theo hướng bình hòa trong từ trường sinh mệnh, như vậy cũng có thể nhận được sự trợ giúp của địa linh. Tất nhiên, nếu có thể chú ý đến tất cả các yếu tố và đặt bàn theo hướng tốt nhất thì càng tốt.

Chọn ngày - Có thể chọn ngày Định hoặc ngày Mãn để di chuyển.
Cát tường viên mãn.

Tại sao bàn làm việc hay bàn học lại quan trọng đến vậy? Lý do rất đơn giản, bởi vì khi chúng ta làm việc hay học tập, nếu bạn cảm thấy tinh thần phấn chấn, tràn đầy năng lượng, trí nhớ tuyệt vời, mọi việc đều có thể hoàn thành viên mãn, tất cả đều nhẹ nhàng vui vẻ và tiến bộ không ngừng. Đó là vì bàn được đặt tốt, nhận được sự trợ giúp của địa linh, mọi thứ điều hòa thích hợp, tự nhiên sẽ tiến bộ vượt bậc.

Nếu bàn làm việc hay bàn học được đặt không tốt, từ trường địa linh và từ trường của bản thân xung khắc lẫn nhau, dù bạn muốn phấn chấn cũng không có sức lực, vừa ngồi vào bàn đã ngáp liên tục, nước mắt nước mũi tuôn trào, đau lưng mỏi gối, chóng mặt hoa mắt, tinh thần uể oải, không còn sức sống, làm việc gì cũng sai, như vậy chỉ có thể ngày càng sa sút, tuột dốc không phanh, khó lòng ngóc đầu lên được.

Khi khảo sát nhà cửa, Liên Sinh Hoạt Phật đặc biệt chú ý đến bàn học trong phòng đọc sách, xem trẻ em có thích học hay không, thành tích học tập tốt hay không, vị trí đặt bàn học vô cùng quan trọng. Ngay cả với bàn học trong phòng đọc sách của người lớn cũng quan trọng như vậy.

Tôi từng đến nhà một tiến sĩ vật lý.
Tôi nói với ông ấy: 
"Ông đã mấy năm không ngồi vào bàn này rồi?"
"Sao thầy biết được?"
"Vừa đối diện cửa lại vừa quay lưng về phía cửa, làm sao ngồi được lâu. Hơn nữa tựa lưng ghế bám đầy bụi và mạng nhện, cái bàn này đã lâu không ai dùng rồi."
"Đây là thuật phong thủy sao?"
"Không phải thuật phong thủy, mà là quan sát tỉ mỉ." - Tôi đáp.


![image](/img/img_b2416d6d23a8aa1daab99f1354d5bdba.png)


Bàn làm việc và bàn học không được đối diện cửa, không được quay lưng về phía cửa, và phía sau phải có chỗ dựa vững chắc.


### 17. Cầu thang có sức phá hoại mạnh nhất


Các biệt thự phong cách phương Tây thường thích đặt cầu thang ở giữa sảnh chính ngay lối vào, với những cột cầu thang được chạm trổ rồng phượng, tạo nên vẻ sang trọng lộng lẫy. Có lẽ người phương Tây xem cầu thang như một món đồ trang trí trong phòng khách. Cầu thang của những biệt thự sang trọng thường là kiểu xoắn ốc, vừa đẹp vừa tao nhã, khi khách đến thăm, chủ nhà từ trên lầu nhẹ nhàng bước xuống, tạo nên một khung cảnh gặp gỡ tuyệt đẹp.

Trong các ngôi nhà kiểu phương Tây, phần lớn cầu thang đều đối diện với cửa chính.
Có những thầy phong thủy bỏ qua yếu tố cầu thang.
Có người nói vào cửa thấy cầu thang lên lầu là từng bước lên cao, bước từng
bước đi lên.
Vào cửa thấy cầu thang nhưng là cầu thang xuống tầng hầm thì là từng bước đi xuống, bước từng bước đi xuống.
Từng bước lên cao là tốt, từng bước đi xuống là không tốt.
Thực ra, quan niệm này là sai lầm.

Bởi vì khi khí vừa vào từ cửa chính, nếu gặp ngay cầu thang, bản thân những bậc thang nối tiếp nhau của cầu thang tạo thành những đường cắt ngang liên tiếp, lập tức cắt đứt khí, hoặc làm rối loạn khí đi vào, khiến khí không thể lưu thông thuận lợi, tạo nên hỗn loạn.

Trong thuật phong thủy, vào cửa thấy cầu thang chính là điềm trắc trở. Đó là tai họa mang tính phá hoại, đây là việc rất nghiêm trọng, vì vậy tôi cho rằng vào cửa thấy cầu thang cũng giống như ra cửa thấy cột vậy, sức phá hoại đều rất mạnh mẽ. Cầu thang ở sảnh chính của biệt thự sang trọng thực chất là biểu tượng của sự suy tàn. Đối với nhà ở thông thường vào cửa thấy cầu thang chính là biểu tượng của tai nạn.

Tôi từng xem phong thủy cho một ngôi nhà. Cả gia đình họ gặp tai nạn xe hơi lớn nhỏ đến hơn mười lần trong một năm, không phải xe mình đâm vào xe người khác thì cũng là xe người khác đâm vào mình. Có lần xe đang đỗ yên, bánh xe lại tự trượt ra ngoài và đâm vào xe người khác.

Thú vị hơn nữa là trong một tháng không có chuyện gì xảy ra, họ đang mừng thầm và chuẩn bị ra ngoài ăn mừng tháng bình an, vừa lùi xe đã đâm vào cửa ga-ra, xe móp một mảng, cửa ga-ra cũng hỏng, lại thêm một lần phá tài tiêu tai nữa.

Chủ nhà nói với tôi rằng họ đều có hơn mười năm kinh nghiệm lái xe và cũng rất cẩn thận, vậy mà cứ mỗi tháng lại xảy ra một vụ tai nạn, thực sự không tìm ra nguyên nhân. Nếu cứ tiếp tục như vậy thì tinh thần sẽ suy sụp mất, vì cứ thấy xe là sợ, như thể bị ai đó nguyền rủa vậy.

Sau khi khảo sát, tôi phát hiện đó là do vào cửa thấy cầu thang, cửa và cầu thang dính sát vào nhau, và trùng hợp hơn nữa là cầu thang nằm đúng ở vị trí quỷ môn phương Đông Bắc. Các thầy phong thủy đều rất kiêng kị việc đặt cầu thang và thang máy ở vị trí quỷ môn phương Đông Bắc.

Sau khi khảo sát và điều chỉnh, hiện tượng vào cửa thấy cầu thang đã được loại bỏ, từ đó gia đình này luôn bình an vô sự, mọi việc đều thuận lợi, năm nào cũng an lành.

Ở Đài Loan, tôi từng khảo sát một loại cầu thang làm bằng sắt, do không gian nhỏ hẹp nên được thiết kế xoắn ốc thẳng đứng như một cột sắt, đi lại rất bất tiện, chỉ có thể một người lên xuống. Thực ra, loại cầu thang này nếu đặt không đúng phương vị thì sức phá hoại đặc biệt mạnh.

Có ba cách để điều chỉnh vị trí cầu thang:

1. Di chuyển — Đổi hướng cầu thang để không đối diện thẳng với cửa chính. Bất kì trường hợp nào nhìn thấy cầu thang từ cửa chính đều không được, cần phải di chuyển hoặc che chắn. Bí quyết là đảm bảo khí khi vào cửa không bị cắt đứt bởi bậc thang.

2. Che giấu — Đối với nhà mới xây, tốt nhất nên che giấu cầu thang, bởi vì cầu thang chỉ có tính phá hoại mà không có mặt tốt nào. Vì vậy khi thiết kế nhà mới, tốt nhất là đặt cầu thang sau bức tường, càng tốt hơn nữa là để hai bức tường kẹp cầu thang vào giữa, cầu thang có cửa đóng, khiến không thể nhìn thấy cầu thang, và phía dưới cầu thang có thể thiết kế thành phòng kho hoặc nhà vệ sinh.

3. Che chắn — Đối với những ngôi nhà đã xây dựng, khi cầu thang đối diện thẳng với cửa chính, việc di chuyển rất khó khăn, chỉ có thể dùng phương pháp che chắn. Ví dụ đặt một bình phong trước cầu thang ở lối vào, bình phong đặt chính giữa cầu thang và cửa, trên bình phong có thể dán một tấm gương lớn tạo cảm giác sâu hơn khi bước vào, không gây cảm giác chật chội. Khi vào cửa không thấy cầu thang, chỉ cần đi vòng một chút là có thể lên lầu, khi ra cửa có thể chỉnh đốn trang phục, đây chính là phương pháp che chắn.

Còn về việc có người treo chuông, treo sáo, đóng đinh đồng v.v... đó chỉ là tác dụng an ủi tâm lý, không có tác dụng phong thủy gì cả! Bởi vì khi khí vào cửa, chạm phải bậc thang vẫn sẽ rối loạn như thường.

Còn về cầu thang bên ngoài cửa:
Đi lên cầu thang rồi mới đến cửa nhà thì không sao.
Đi xuống cầu thang rồi mới đến cửa nhà thì cần chú ý xem có bị bức bách hay không.
Đây đều là những bí quyết về cầu thang.


![image](/img/img_36bfb552f05c3397023ab64a09a53cfb.png)


Ở các nước phương Tây, nhiều công trình kiến trúc thường thích trang trí bằng cầu thang xoắn ốc sang trọng, nếu không được xử lý đúng cách, dễ gây ra xung sát, điều này không thể không thận trọng.


![image](/img/img_24c82787807de6e14a730146463f60f2.png)


Mặc dù cầu thang xoắn ốc tiết kiệm không gian, nhưng nếu phương vị không đúng thì sức phá hoại đặc biệt mạnh.


### 18. Sự quấy phá của đồ cổ


Liên Sinh Hoạt Phật từng đến San Francisco Hoa Kỳ để khảo sát phong thủy của một gia đình giàu có.

Chủ nhà rất thích đồ cổ, từ cặp sư tử đá ngoài cửa cho đến phòng khách, phòng ngủ, chỗ nào cũng chất đầy đồ cổ. Có tượng Phật, có đồ gốm sứ như bình chậu bát, có đồ ngọc thạch, có tượng chim thú, có tranh cổ, có bàn ghế cổ, có biển hiệu cổ, có dụng cụ nhà bếp cổ, thậm chí cả quần áo và giường ngủ của người xưa cũng mang về nhà hết. Từ đây có thể thấy chủ nhà quá mê đồ cổ. Kỳ lạ nhất là ông ta còn mua cả bài vị thần chủ mà người xưa thờ cúng về nhà.

Tuy nhiên, một chuyện kỳ lạ đã xảy ra.
Trong năm đó, chủ nhà thường xuyên cảm thấy đầu nóng, miệng có mùi tanh, tinh thần mệt mỏi rã rời, tính tình trở nên nóng nảy. Bà chủ thường xuyên nhìn thấy bóng đen trong nhà, từ phòng này đi sang phòng khác, ngồi cùng trên ghế sofa, thậm chí trong mơ cũng thấy bóng dáng và giật mình tỉnh giấc, tai nghe những âm thanh kỳ quái, chưa từng có một đêm ngủ ngon, sống trong căn nhà này như gặp phải ác quỷ, thậm chí cảm thấy cuộc sống thật vô vị.

Cô con gái trong nhà là tín đồ Thiên Chúa giáo, trước đây rất ngoan ngoãn, nhưng gần đây cũng thay đổi hẳn, thường xuyên chóng mặt hoa mắt, cười mắng cha mẹ thất thường, thậm chí còn uống rượu hút thuốc. Tệ hơn nữa là mỗi khi về nhà đều nổi giận dữ dội, hoàn toàn biến thành một người khác, như người mất trí vậy.

Người trong nhà liên tục mắc bệnh, đều khó chữa trị, như da bị sưng đỏ mẫn cảm, khi thì nôn khi thì tiêu chảy, bụng luôn cảm thấy đầy trướng khó chịu, ăn không biết mùi vị, toàn thân đau nhức bất thường, còn bị táo bón, đi khám bác sĩ nhưng bác sĩ kiểm tra không ra nguyên nhân, cũng không thể chữa khỏi.

Họ đã mời nhiều bậc thầy phong thủy ở San Francisco đến khảo sát, ai cũng nói phong thủy không tốt, lúc thì sửa chỗ này, lúc thì đổi chỗ kia, sửa qua sửa lại vẫn y như cũ, không có chút hiệu quả nào.

Dĩ nhiên khi đến đó, tôi cũng cảm thấy phong thủy của ngôi biệt thự này quả thật có một số vấn đề, nhưng sau khi khảo sát kỹ lưỡng, tôi phát hiện vấn đề không nằm ở phong thủy hữu hình mà là ở các đồ cổ. Trong số rất nhiều đồ cổ này, có ba món đồ cổ mang linh khí:

Món thứ nhất là một cái vại, thân to miệng nhỏ, là một cái vại lớn, chiếc vại này đến từ Vân Nam Trung Quốc. Vại này trước đây từng được dùng để nuôi bùa ngải, nghĩa là bên trong đã được bỏ nhiều độc trùng, tạo thành linh khí của bùa ngải, đến nay vẫn còn sức mạnh quấy phá.

Món thứ hai là một bộ áo giáp chiến đấu, tức là áo giáp của một hiệp sĩ cổ đại châu Âu. Chủ nhân của bộ áo giáp này đã bị sát hại, hồn ma của người đó đã nhập vào áo giáp nên áo giáp vẫn còn linh khí. Cứ đến ngày người đó bị sát hại, linh khí lại tăng mạnh và gây ra hiện tượng quấy phá.

Món thứ ba là một tấm bia đá, là bia đá từ một ngôi chùa cổ của Trung Quốc, đã từng được cúng tế. Chủ nhân cũng mang về đặt ở phòng khách, do thời gian cúng tế quá lâu, linh khí tích tụ vẫn chưa tan hết, nên tấm bia đá này cũng gây ra quấy nhiễu.

Tôi vừa nói ra điều này, bà chủ mới kể với tôi: 
"Trong mơ, ngày nào cũng bị rắn cắn côn trùng bò, ghê tởm kinh khủng, đêm nào cũng phải chiến đấu với bò sát cho đến sáng. Vào lúc hoàng hôn, tôi thực sự nhìn thấy bóng dáng một võ sĩ cao lớn, trông rất oai phong, đã thấy liên tiếp mấy lần rồi. Ngoài ra, còn có rất nhiều bóng ma khác, không thể lý giải được, thật là đáng sợ."
Hai vợ chồng cầu xin tôi: 
"Xin thầy nhất định phải cứu chúng tôi."

Vì vậy, tôi đã niệm chú cấm trên ba món đồ cổ đó, đồng thời dặn dò họ đem ba món đồ cổ có linh khí này đến tiệm đồ cổ gửi bán với giá rẻ. Nghe nói, chỉ cần đem ba món đồ cổ đó đi là cứu sống cả nhà, giống như thuốc đến bệnh trừ vậy.

Trong quá khứ, Liên Sinh Hoạt Phật đã từng xem phong thủy cho rất nhiều trường hợp như vậy. Nhiều gia đình giàu có vì không cẩn thận mà mua về những món đồ cổ có linh khí. Tuy những món đồ trang trí này có thể tăng thêm vẻ sang trọng, nhưng việc bị quấy phá bất ngờ là điều không đáng. Việc mua những món đồ cổ có linh khí chỉ để thể hiện sự giàu có của mình là không đáng để đánh đổi.

Vì vậy, khi mua bán và bày trí đồ cổ trong phòng khách, cần phải hiểu rõ nguồn gốc của đồ cổ, xem đồ cổ đó đã từng được cúng tế hay chưa, có phải là đồ từ trong chùa không, mối quan hệ giữa chủ nhân với đồ cổ, chữ viết trên đồ cổ là chữ gì, có phải là đồ chôn theo từ mộ cổ không, trên đồ cổ có tượng thần Phật không. Những điều này đều rất quan trọng, bởi vì chỉ cần là đồ cổ có linh khí thì chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến từ trường và gây ra quấy phá.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng những đồ vật bằng gỗ đá được khắc tượng thần Phật, hoặc hình người, thậm chí là hình thú, đôi khi sẽ có hồn ma trú ngụ trong đó. Nếu đồ vật bằng gỗ đá bị ma nhập đều sẽ gây ra quấy phá lớn nhỏ.

Đây là một chương ngoài của phong thủy. Cũng là hiện tượng hung xấu mà người thường không thể tưởng tượng được.


![image](/img/img_fa0cbccab3415f0e81617e2a26b80079.png)


Nếu đồ cổ vẫn còn linh khí sẽ gây nhiễu loạn cuộc sống của người ở, vì vậy trước khi mua đồ cổ, cần phải hiểu rõ nguồn gốc của nó và xem nó có từng được cúng tế hay không, nếu không sẽ ảnh hưởng đến từ trường, tạo ra điềm hung.


### 19. Chọn phòng ngủ chính


Phần lớn các chuyên gia phong thủy khi chọn phòng ngủ chính trong một ngôi nhà thường chọn căn phòng nằm ở vị trí "đầu rồng" cao nhất. Hoặc chọn căn phòng rộng rãi và sang trọng nhất trong ngôi nhà làm phòng ngủ chính. Thực ra, ngay cả những người không hiểu gì về phong thủy cũng sẽ chọn như vậy.

Cách chọn này không sai. Tuy nhiên, một bậc thầy thực sự sẽ có cách chọn sâu sắc hơn, họ sẽ chọn căn phòng có vượng khí nhất trong ngôi nhà làm phòng ngủ chính. Nhưng căn phòng này không nhất thiết phải nằm ở "đầu rồng", cũng không cần phải rộng rãi, mà ngược lại có thể là căn phòng nhỏ và đơn giản nhất.

Tôi từng khảo sát phòng ngủ của một ngôi sao điện ảnh. Tôi khuyên cô ấy dọn ra khỏi phòng ngủ sang trọng rộng lớn đó và nhanh chóng chuyển đến ngủ ở phòng người giúp việc. Sự khác biệt quá lớn.
"Tại sao vậy?" - Cô ấy hỏi tôi.
"Phòng ngủ hiện tại to mà không thực, khí quá hư. Ngược lại căn phòng người giúp việc này nhỏ mà chắc chắn, khí tụ có lực. Nếu cô tin tôi, hãy thử ngủ ở đó xem."
Ngôi sao điện ảnh này đã nghe lời tôi, chuyển vào phòng người giúp việc để ngủ.

Thật kỳ lạ thay, chưa đầy ba tháng sau, cô ấy đã trở thành nữ chính số một, nổi tiếng chỉ sau một vai diễn, diễn xuất tuyệt vời, nhận được rất nhiều lời khen ngợi, lời mời đóng phim nhiều không kể xiết, trong suốt thời gian đó, ngày nào báo chí cũng có người viết bài ca ngợi diễn xuất của cô.

Cô ấy quả thực đã nổi như cồn. Và bí quyết duy nhất của cô ấy là: từ bỏ căn phòng ngủ sang trọng để chuyển đến ngủ ở phòng người giúp việc.

Có lẽ mọi người nghĩ rằng Liên Sinh Hoạt Phật là người sáng lập một tông phái, với tư cách là một người sáng lập, phòng lớn nhất trong nhà, phòng ở vị trí đầu rồng chắc chắn phải là phòng ngủ của Liên Sinh Hoạt Phật. Đúng vậy, phòng ở vị trí đầu rồng và phòng lớn nhất là có thật, nhưng không phải là nơi tôi ở.

Tôi ở trong một căn phòng nhỏ phía đuôi hổ. Căn phòng nhỏ này chỉ có một cửa một cửa sổ, cửa sổ nhìn ra sân sau, tuy phòng nhỏ nhưng khí dày và tụ, đây mới thực sự là phòng ngủ chính, chính phòng ngủ chính này mới có thể khiến tôi khí phách hào hùng, ý chí dồi dào.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, nếu phòng chính rộng rãi sang trọng nằm ở nơi có địa khí dày đặc nhất thì cũng có thể chọn làm phòng ngủ chính. Với phòng ngủ chính rộng rãi sang trọng, cần chú ý đến việc bố trí cửa sổ, bởi vì cửa sổ kính lớn chạm sàn thường làm khí phân tán không thực, vì thế ánh sáng và cửa sổ là yếu tố then chốt quyết định việc khí tụ hay khí tán của phòng ngủ chính.

Thẳng thắn mà nói, phòng ngủ thường liên quan đến con cháu đời sau, tôi xin lấy ví dụ:
Khí hư — Vô tình — Ít con hoặc không con.
Khí tụ — Hữu tình — Có con cái.

Sinh con trai hay gái, cần xem xét kỹ:
Phòng ngủ dương nhiều âm ít - sinh con trai.
Phòng ngủ âm nhiều dương ít - sinh con gái.
Hoặc là cân bằng lẫn nhau.

Về mặt sự nghiệp:
Khí tụ — Hưng thịnh — Thành công.
Khí hư — Suy vi — Thất bại.

Chiều cao của trần nhà trong phòng ngủ rất quan trọng, trần nhà không nên quá thấp, bởi vì trần nhà quá thấp sẽ tạo cảm giác áp lực. Điều đáng tiếc nhất là một số người giàu có cố tình trang trí trần nhà phía trên giường ngủ của mình bằng những họa tiết gồ ghề, như mái vòm sang trọng chẳng hạn. Đúng là thoạt nhìn rất sang trọng, nhưng nhìn lâu sẽ thấy chán, hơn nữa áp lực từ trần thấp sẽ xuất hiện, đây là biểu tượng của sự ngột ngạt trong sự nghiệp! Cũng là điềm hung.

Trần nhà phòng ngủ cũng không nên quá cao, quá cao sẽ thiếu tình cảm, tạo cho người ta cảm giác lạnh lẽo. Đối với hầu hết các trần nhà quá cao chỉ có thể dùng màu sắc để hỗ trợ, màu sắc nên tối một chút để tạo cảm giác ấm áp, đây là cách bất đắc dĩ phải làm vậy.

Có người thích treo nhiều gương trong phòng ngủ, thực tế gương có hai tác dụng, một là tăng cường, hai là đẩy lùi, các chuyên gia phong thủy thường cho rằng nên dùng ít. Muốn sử dụng gương sao cho tâm thần sảng khoái và tạo ra tác dụng thần kỳ cần phải có bậc minh sư chân chính mới có thể sử dụng được.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, học vấn phong thủy chân chính nằm ở việc tìm ra căn phòng nào mới thực sự là phòng ngủ chính, mối liên hệ của từng phòng ngủ trong tổng thể ngôi nhà, và điều tối thiểu là phải được ở trong một phòng ngủ bình an, bởi phòng ngủ bình an là điều mà ai cũng cần.


![image](/img/img_e8107910e74c697354db2062f520c5ae.png)


Phòng có địa khí dày đặc nhất có thể làm phòng ngủ chính.


### 20. Cách đặt hướng giường ngủ


Tôi đã từng viết một bài về "Luận về cách đặt giường" trong trang 79 của cuốn sách "Địa Linh Dấu Tiên".

Đạo trưởng Thanh Chân chỉ dạy:
Xà nhà không đè giường
Nằm thấy được cửa phòng
Giường không đối diện cửa
Tránh được thì không ngại.

Tôi xin trình bày chi tiết trong bài viết này.

Xà không đè giường — Phía trên giường không được có dầm bê tông cốt thép đè ngang hay đè dọc, kể cả xà gỗ cũng không tốt, ống dẫn điều hòa hay ống dẫn nhiệt cũng không tốt, cầu thang cũng không tốt, tóm lại, phía trên giường tốt nhất là không nên có bất cứ thứ gì. Việc cố tình trang trí kiểu mái vòm phía trên giường là tự chuốc lấy phiền phức, chỉ cần xuất hiện hiện tượng áp lực, dù chỉ là ảo giác, cũng sẽ tạo ra ảnh hưởng không tốt.

Phải nhìn thấy cửa khi nằm — Khi nằm trên giường, chúng ta cần có thể nhìn thấy được cửa ra vào (cửa phòng ngủ) một cách tự nhiên, như vậy mới là hướng đúng. Có người đặt giường sao cho đầu giường và cửa nằm trên cùng một bức tường, khi ngủ lưng quay về phía cửa, đây là hướng không đúng, ngủ quay lưng về phía cửa sẽ ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe.

Không đặt giường đối diện cửa — Vị trí giường của chúng ta tuyệt đối không được đối diện với cửa, bởi vì "giường đối diện cửa" chính là bị xung cửa, khí từ bên ngoài cửa sẽ dồn thẳng lên giường ngay lập tức, vì vậy hướng giường tốt nhất nên đặt ở vị trí chéo góc với cửa. Nếu có hiện tượng giường đối diện cửa, đó là một hung tướng, bởi vì luồng khí ban đầu khi vào cửa chưa kịp uốn lượn, khí quá mạnh sẽ gây tổn hại cho con người.

Tôi xin bổ sung thêm một điểm là phần tựa lưng của giường phải là một bức tường chắc chắn, không nên tùy tiện đặt cửa sổ trời phía trên giường, và trên bức tường đầu giường, ngay phía trên đầu giường cũng không được đặt cửa sổ. Điều này thể hiện có chỗ tựa chứ không phải trống. Nếu bức tường đầu giường có cửa sổ phía trên sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và vận tài lộc. Khi khảo sát địa lý, Liên Sinh Hoạt Phật từng thấy một gia đình có giường ngủ không tựa vào tường, nghĩa là đặt ở chính giữa phòng ngủ, xung quanh không tựa vào tường nào. Cách đặt giường như vậy thực sự không thích hợp, giường không có chỗ tựa bốn phía sẽ tạo cảm giác không vững chắc, và thực tế, công việc của người đó cũng đều trống rỗng, như đang lơ lửng giữa không trung vậy.

Về việc liệu vị trí giường có cần phải phù hợp với mệnh của người ở (phương vị 12 chi), vấn đề này tôi đã có giải đáp trong cuốn sách "Địa Linh Dấu Tiên". Thực tế, chỉ cần cửa chính của ngôi nhà đã phù hợp với phương vị 12 chi của chủ hộ, thì việc vị trí giường cũng phù hợp với phương vị 12 chi cũng là điều tốt. Tuy nhiên, hướng đặt giường thường bị hạn chế bởi những nguyên tắc khác nên khó có thể phù hợp hoàn toàn. Tôi cho rằng không cần phải quá câu nệ vào phương vị 12 chi, bởi trong đó còn nhiều đạo lý khác tồn tại.

Tôi từng viết: "Có một số thầy phong thủy cho rằng việc đặt giường phải xem theo hướng mệnh, kết quả là sau khi đặt phòng ngủ và giường theo hướng mệnh, tất cả trở nên không hài hòa, không gian đi lại không phù hợp, không đẹp mắt, phòng ngủ và giường không ăn khớp với nhau. Người nằm trên giường như vậy không chỉ cảm thấy kỳ lạ mà còn hoàn toàn vô lý, vị trí giường như thế, bốn góc xung đột, e rằng sẽ chiêu hung họa, nếu không chết cũng bị thương nặng. Có thể thấy việc đặt giường theo mệnh là một học thuyết sai lầm về phong thủy, tuyệt đối không nên tin."

Tôi đã từng thấy nhiều kiểu giường kỳ lạ, xin nêu một vài ví dụ như sau:
1. Bốn phía trên dưới đều lắp gương, như vào cung điện gương, như mộng như ảo.
2. Đầu giường được chạm khắc một con rồng phun nước, như giường rồng, đêm đêm nghe tiếng nước chảy.
3. Xung quanh giường đều gắn đầu thú, hổ báo sư tử voi, như vua muôn thú.
4. Giường hình trái tim, giường của tình yêu tối thượng.
5. Giường hình tròn, đặt ở giữa phòng ngủ.
6. Giường có cơ chế máy móc, có thể rung lắc lên xuống, xoay trái phải.

Tuy nhiên, những người giàu có lắp đặt những kiểu giường như vậy đều lần lượt suy tàn, bởi vì những chiếc giường kỳ quái này đều không phù hợp với phong thủy, giường kỳ quái là biểu tượng của suy tàn.

Nghe nói những người thiết kế những chiếc giường đó lại chính là các thầy phong thủy bày ra để thỏa mãn ham muốn tâm lý của người giàu. Thế nhưng, quá nhiều gương sẽ làm mất linh cảm; nước ở đầu giường sẽ gây rắc rối không dứt; giường hình thú khiến thân tâm mệt mỏi; giường hình trái tim cuối cùng dẫn đến tiêu cực; giường hình tròn bất lợi cho giao tiếp; giường cơ khí tranh chấp không ngừng. Tất cả những điều này đều liên quan đến phong thủy, những người giàu kia chỉ vì sai lầm trong việc chọn giường mà tổn thất lớn, quả không đáng.

Vị trí giường có thể thoải mái, trang trí xung quanh có thể sang trọng, tuy nhiên cần phải cân nhắc đến vấn đề phong thủy, nếu cố tình làm quá kỳ dị sẽ tạo ra thói quen biếng nhác, bị những thứ mê hoặc và phiền não làm khổ, cảm hứng và nghị lực trong công việc sẽ mất đi, trở nên nhàn rỗi, buông thả, suy tàn...

Đây đều là những căn phòng ngủ quá sang trọng gây ra tác hại, nếu không kiềm chế một cách thích hợp cũng sẽ sinh ra lòng tham và dục vọng vô tận.

Phòng ngủ cần phải có yếu tố ấm áp, ấm cúng và chân thật.


![image](/img/img_078002c6f98464983dfeefc5ba1f7217.png)


Không nên có xà ngang hoặc cột chống đè lên phía trên giường; cầu thang cũng không tốt; tốt nhất là phía trên giường không nên có bất cứ thứ gì. Vị trí giường không nên đối diện cửa, bởi vì luồng khí ban đầu khi vào cửa chưa kịp uốn lượn, khí quá mạnh sẽ gây tổn hại cho con người.


![image](/img/img_1ae417a378024142852d9c939bc60f2d.png)


Khi nằm trên giường, chúng ta cần có thể nhìn thấy rõ cửa ra vào (cửa phòng ngủ) một cách tự nhiên; đầu giường và cửa nằm trên cùng một bức tường hoặc nằm quay lưng về phía cửa là hướng không đúng, nằm quay lưng về phía cửa hoặc đầu giường có cửa sổ sẽ ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe.


### 21. Bàn thờ trống phía dưới


Khi mới đến Mỹ, tôi thường được mời đi xem phong thủy cho mọi người, trong số đó có một nhà hàng rất tốt. Tôi nói "rất tốt" là vì phong thủy của nó quả thật quá tốt, nhiều thầy phong thủy đã đến xem và đều nói phong thủy tốt.

Thực tế, tôi cũng thấy không tệ. Tuy nhiên, còn có một điều thực tế nữa là: không khí ảm đạm. Không chỉ toàn bộ nhân viên ủ rũ mà ngay cả khách đến ăn vừa bước vào nhà hàng đã bị ảnh hưởng bởi bầu không khí thê lương không thể cưỡng lại, thưa thớt vài ba người, vắng như chùa Bà Đanh, đến mức cũng sắp không trả nổi tiền điện.

Kết quả khảo sát của tôi là: Bàn thờ đặt phía trên khung cửa, còn phía dưới là cửa từ nhà bếp thông ra phòng ăn, cửa này chính là lối đi lại của nhân viên bưng bê thức ăn.
Tôi nói: 
"Vị trí bàn thờ không đúng."
"Sao lại không đúng?"
"Phía dưới trống rỗng."
"Phía dưới trống rỗng thì có gì không tốt?"
"Bàn thờ ở trên, phía dưới trống không, không thể hứng được khí tài lộc, cửa đóng mở liên tục, ầm ầm vang dội, thần ngự ở trên làm sao yên ổn được, vị thần đã bỏ đi từ lâu rồi."
"Thần bỏ đi, khách không bỏ đi là được." - Chủ quán cười đáp.
"Thần đã bỏ đi thì khách cũng sẽ bỏ đi, đây là điềm gở đấy!"

Chủ nhà hàng vốn không tin vào thần linh, việc thờ cúng chỉ là theo tục lệ mà thôi. Nhưng khi tôi nói như vậy, ông ta không bác bỏ, thuận theo ý tôi dời bàn thờ xuống, chuyển đến vị trí kho tài trong đại sảnh, phía sau có chỗ dựa vững chắc, hai bên có tường chắn khí, nơi đó cũng ấm áp yên tĩnh hơn. Tôi bảo chủ nhà hàng đặt thêm nhiều đèn, cúng kiếng đúng giờ, làm cho bàn thờ trở nên sáng sủa rực rỡ.

Tôi còn yêu cầu quảng cáo, tổ chức kỷ niệm một năm khai trương, tặng kèm một món ăn và đĩa trái cây. Nhà bếp thay đầu bếp phụ, làm những món ăn đặc sắc.

Và thế là, sau khi thay đổi vị trí bàn thờ, nhà hàng như được hồi sinh, khách đến ăn xếp hàng dài từ cửa ra tận ngoài đường, bên trong nhà hàng chật kín người, bát đĩa chất đầy, khách đông nghịt đến mức chủ quán không dám tin đó là sự thật.

Mỗi khi tôi đến, chủ nhà hàng đều ra nghênh đón, cười tươi rói: "Chào mừng Hoạt Phật, chào mừng phúc tinh giá lâm."

Nhà hàng này chỉ vì di chuyển bàn thờ từ trên khung cửa xuống, để bàn thờ tìm được vị trí cát tường, nhờ vị trí thờ cúng đúng đắn, mà cả nhà hàng được phù hộ mà phát đạt. Chủ nhà hàng nhờ phát tài lớn mà nay đã mua thêm hai nhà hàng nữa, cách bài trí và vị trí bàn thờ đều được tôi khảo sát kỹ lưỡng, và hiện nay cả ba nhà hàng đều làm ăn phát đạt.

Nhớ khi còn ở Đài Loan, tôi từng khảo sát hai cửa hàng, cả hai đều đặt bàn thờ trên khung cửa lối đi. Phía dưới bàn thờ người qua kẻ lại tấp nập. Tôi cảnh báo họ rằng phía dưới bàn thờ không nên để trống, không nên có người qua lại, tốt nhất là nên dời bàn thờ đi hoặc phải chặn kín phía dưới bàn thờ. Nhưng hai chủ cửa hàng này chỉ ậm ừ vâng dạ, họ không xử lý gì cả. Gần đây tin tức truyền về, một cửa hàng đã phá sản thảm hại, cửa hàng còn lại thì thua lỗ nặng, đang tìm người tiếp quản.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng phía trên, phía dưới và hai bên của bàn thờ tốt nhất đều không nên để trống, nếu muốn mở cửa sổ thì có thể mở ở giữa tường hai bên. Vị trí bàn thờ nếu trống phía trên hoặc phía dưới đều không tốt, bởi vì không thể hứng được tài lộc, đều là điềm xấu. Đạo lý này rất đơn giản, vì khi có khoảng trống phía trên, phía dưới hoặc hai bên bị hở khí nhiều sẽ khiến thần khí bất ổn.

Nhà ở thông thường của chúng ta cũng cần đặt bàn thờ ở phương vị chính xác, tương tự không được để trống phía trên, phía dưới hoặc hai bên. Nếu đặt bàn thờ đúng vị trí, nhờ vào ảnh hưởng của "dụng thần", cũng có thể bù đắp được một số khuyết điểm nhỏ về phong thủy.

Trước đây, tôi đã từng viết về việc không để trống phía trên dưới và hai bên, nhưng nhiều đệ tử đã hiểu lầm ý của tôi, cho rằng cả ba mặt đều không được mở cửa sổ. Thực ra, chỉ cần bức tường phía sau bàn thờ là phải kín, không mở cửa sổ ở trên dưới và hai bên, còn hai bức tường còn lại có thể mở cửa sổ ở giữa, miễn là tạo được "sa thủ" là được.

Ngoài ra, có người đặt bàn thờ bên cạnh cửa ra vào, cửa thường xuyên mở đóng tạo gió, điều này cũng không đúng, bởi vì gió thổi sẽ khiến khí không ổn định, cửa đóng mở cũng gây tiếng động "cộp cộp". Hơn nữa, bức tường phía sau bàn thờ phải chắc chắn, không được lung lay, nếu tường lung lay thì bàn thờ sẽ không vững, sớm muộn cũng sẽ rơi xuống, mà một khi rơi xuống thì sẽ phá sản.


![image](/img/img_6b255051a9eaaba3588ccf411cdeb525.png)


Không được đặt bàn thờ phía trên cửa, phía dưới cũng không được làm lối đi.


### 22. Bàn thờ đón Thủy Thần


Bàn thờ trong nhà ở được xem như là cách dụng thần.
Dụng thần chính là sự thay đổi từ trường.

Gia đình người phương Đông chúng ta có thói quen thờ cúng thần minh hoặc tổ tiên. Thần minh tức là thần linh, tổ tiên tức là tiên linh. Tuy rằng tâm thành ắt linh nhưng cũng phải thờ cúng đúng cách. Thờ cúng đúng cách thì sẽ được tương đắc và phát huy hiệu quả, ngược lại, thờ cúng không đúng cách sẽ mang đến tai họa. Về phương diện này không thể không thận trọng.

Thầy phong thủy phán đoán nhà ở phát đạt hay không phát đạt là dựa vào hữu tình và vô tình. Hữu tình thì phát, vô tình thì suy. Việc khảo sát hữu tình và vô tình này rất phức tạp, là một kiến thức lớn thực sự, mỗi thầy phong thủy phải trải qua nhiều năm kinh nghiệm mới có thể có được tâm đắc.

Về phương diện bàn thờ, hữu tình hay vô tình là xem có đón được Thủy Thần hay không. Đón được Thủy Thần là hữu tình, không đón được Thủy Thần là vô tình. Bí quyết này hoàn toàn dựa vào tâm.

Thủy Thần là tên gọi chung cho sông, suối, hồ, kênh, biển - những nơi tụ khí nước. Có những nơi địa thế bằng phẳng không thể nhìn thấy Thủy Thần chảy như thế nào, nhưng trong phong thủy có định nghĩa như sau:
Cao một tấc là núi.
Thấp một tấc là sông.
Thủy Thần ở những nơi bằng phẳng vẫn có hướng chảy uốn lượn của nó.

Sau đây liệt kê các trường hợp hữu tình và vô tình của bàn thờ:
Hướng bàn thờ đối diện với Thủy Thần tạo thành nước cung ngược, là thế "phản cung thủy", chủ về hung.
Hướng bàn thờ không có Thủy Thần, Thủy Thần đến từ phía sau, chủ về hung, gọi là thế "bối thủy thần".
Hướng bàn thờ đối diện với Thủy Thần bay chéo đi, chủ về hung, gọi là "tà phi thủy".
Hướng bàn thờ đối diện với Thủy Thần chảy ngang qua, bình thường, gọi là thế "bình phàm thủy". Không tốt không xấu.
Hướng bàn thờ đối diện với Thủy Thần tạo thành nước cung thuận, là thế "thuận cung thủy", tức là nước ôm ấp, chủ về cát.
Hướng bàn thờ đối diện với Thủy Thần như bụng cá, gọi là nước cá vàng "kim ngư thủy", chủ về cát.
Hướng bàn thờ ngước nhìn Thủy Thần, gọi là "triều thần thủy", chủ về cát.
Hướng bàn thờ có Thủy Thần chảy chéo vào, gọi là "gia nhập thủy", chủ về cát.

Ngoài ra, nếu phía sau bàn thờ là núi cao, trên núi có thác nước hoặc suối chảy xuống, chúng ta gọi là "nước tạt đầu", đây là điềm báo loạn luân và nghịch đạo, chủ về đại hung.
Hướng bàn thờ đối diện với dòng sông mà nước bị nghẽn, sóng nước dội mạnh, tiếng nước róc rách ngày đêm không dứt, đây là điềm báo dâm loạn, chủ về đại hung.

Tóm lại, hướng bàn thờ sẽ quyết định khí vượng hay suy vào nhà, hoàn toàn dựa vào việc đón Thủy Thần có hữu tình hay vô tình để phán đoán.
Đối với nước xấu và sát khí, các thầy phong thủy đã học pháp dụng thần thường có ba lá phù để trấn sát:
Lá phù thứ nhất - Phật sắc lệnh thần thủy thanh khiết, bách sát diệt vong cương ấn, vũ tiệm vũ liêu sắc linh cương.
Lá phù thứ hai - Thiên sư khâm phụng thiên, Dương công sư sắc lệnh Thủy Đức Tinh Quân đáo thử ngũ bạch ngũ thủy.
Lá phù thứ ba - Thiên sư khâm phụng thiên, Dương công sư sắc lệnh, Thái Dương Thủy Đức Tại Huyền Tinh Quân đáo thử, ngũ bạch tứ thủy nghê cương.

Ba lá phù này là bảo vật bí truyền của Đạo trưởng Thanh Chân.

Thủy pháp có quẻ ngũ quỷ (Liêm, Vũ, Phá, Phụ, Tham, Cự, Lộc, Văn) là phương pháp chuyên đoán hung cát cho dương trạch.
Thủy pháp cũng có phép cửu tinh.
Có phép 24 hướng.

Trong bài này, tôi sẽ tiết lộ cho mọi người một bí mật, nếu phía trước bàn thờ có hai cây, và hai cây này không cùng một loại, nhưng có kích thước tương đương nhau.
Và phía trước bàn thờ có song thủy, song thủy này là nước Nga My, hoặc phía sau nhà có song thủy Nga My.
Đây là điềm báo song thê song thiếp.

Về các điều cấm kỵ khi đặt bàn thờ, các thầy phong thủy thường có nhiều điều cấm kỵ, ví dụ như không được đặt bàn thờ dưới xà nhà, không được đặt bàn thờ dưới cầu thang, không được đặt bàn thờ ở lối đi, không được đặt bàn thờ ở nơi có nhiều uế khí, không được đặt bàn thờ ở dưới chỗ hay đi lại v.v...

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng bàn thờ đón Thủy Thần nếu đón được Thủy Thần ắt là hữu tình, trong việc đón Thủy Thần có cái nhanh, có cái chậm, cho nên sự phát đạt cũng có sự khác biệt về thời gian, bởi vì bàn thờ đón Thủy Thần có cái vào từ chính diện, có cái vào từ ngang, có cái vào từ hông, cho nên có sự khác biệt, trong đó lại phân chia chính tài và hoành tài, có cái chính tài nhanh mà hoạnh tài chậm, có cái hoạnh tài nhanh mà chính tài chậm, trong đó có sự phân biệt về tốc độ thời gian và chính-hoạnh tài, người không trong ngành không thể biết được.

Khi di chuyển bàn thờ, có hai nguyên tắc lớn cần phải thận trọng:
Chọn ngày giờ tốt.
Mời pháp sư làm nghi thức.


![image](/img/img_da761362a530178339907608e1ee07e6.png)


Nếu phía trước bàn thờ có hai cây khác loại, hoặc có hai dòng nước Nga My, hoặc phía sau nhà có hai dòng nước Nga My; đây là điềm báo song thê song thiếp.


![image](/img/img_14e3076a28324ae8fc14b92def5e44ef.png)


Phát đạt hay không phát đạt là xem hữu tình hay vô tình, đón được Thủy Thần là hữu tình, không đón được Thủy Thần là vô tình.


![image](/img/img_2ab9f410dba498bbdd2d1a4a0a274f38.png)


Nước tạt đầu ở phía sau bàn thờ là điềm báo loạn luân và nghịch đạo, chủ về đại hung. Nước chảy chéo qua bên cạnh nhà ở mà bản thân ngôi nhà không đón được khí nước, như vậy sẽ khó phát đạt.


### 23. Giếng cổ và bể nước


Một ngày nọ, tôi đã đi khảo sát một biệt thự kiểu phương Tây ở Vân Lâm, Đài Loan.
Chủ nhân của biệt thự này sau khi chuyển vào ở được một năm đã có ba người chết. Một người là người già, nhưng hai người còn lại là người trẻ, những người trẻ lẽ ra không phải gặp tai ương như vậy.

Tôi bước vào phòng thờ, chắp tay lễ Phật. Sau đó ngồi xuống phòng khách.
Tôi nói với chủ nhân: 
"Mảnh đất biệt thự này trước đây từng có một giếng cổ phải không?"
"Đúng vậy." - Chủ nhân kinh ngạc thốt lên: "Tiên sinh quả thật thần kỳ, mảnh đất này vốn là đất tổ tiên để lại, có một cái giếng, vì xây biệt thự nên đã lấp nó đi."
Tôi nói tiếp với chủ nhân: 
"Trong giếng có một oan hồn, khi lấp giếng ông không làm lễ siêu độ dẫn linh, giờ bị chôn vùi, làm sao nó không quấy phá!"
"Ah!" - Chủ nhân không thốt nên lời: "Thời cụ cố tổ của tôi có một người thiếp, vì chịu oan ức nên đã nhảy xuống giếng cổ này mà chết, đây là lời đồn, hồi nhỏ tôi nghe cha kể lại."
Chủ nhân hỏi tôi: 
"Tiên sinh làm sao biết được?"
"Thần linh nhà ông nói cho tôi biết đấy." - Tôi cười ha ha.
"Tiên sinh có thể chỉ cho biết giếng cổ ở đâu không?" - Chủ nhân muốn thử tôi.
"Dĩ nhiên." - Tôi đứng dậy, đi đến một phòng tắm, chỉ vào phòng tắm và nói, giếng cổ nằm ngay dưới phòng tắm này.
Chủ nhân nói: 
"Bái phục, bái phục, quả nhiên là bậc minh sư số một thiên hạ."

Vụ sóng gió giếng cổ này, các đệ tử cùng đi khảo sát với tôi lúc đó đều biết rất rõ. Phương pháp giải quyết là pháp cúng sao.
1. Siêu độ oan hồn trong giếng cổ.
2. Ở vị trí giếng cổ trong phòng tắm, đào đất và chôn phù thanh tịnh được khắc yểm lên tre xanh.
Từ đó về sau, biệt thự kiểu Tây này đã được bình an mãi mãi.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng giếng cổ là một yếu tố quyết định quan trọng trong dương trạch, không thể xem thường. Thời xưa, giếng là nguồn sống của mọi người, liên quan đến mạch sống của người xưa. Giếng là nước, trong phong thủy cũng chiếm một mạch quan trọng, việc đào giếng và lấp giếng đều ảnh hưởng đến phong thủy.

Phàm là giếng cổ đều có sinh linh bên trong, cũng có thể có nhiều linh hồn tụ tập ở đó. Giếng cổ không chỉ có ở Đài Loan mà thực ra ở Mỹ - một quốc gia hiện đại, cũng có. Tại những ngôi nhà ven hồ ở Mỹ, hoặc những căn nhà ở vùng hẻo lánh nơi không có nước máy, họ cũng tự đào giếng để lấy nước ngầm.

Khi lấp giếng, cần dùng tre xanh gọt vỏ, khắc chú an thổ địa lên đó, chọn ngày trực Mãn, ném tre xuống giếng rồi lấp đất lại. Cách viên mãn nhất là trước tiên làm lễ siêu độ, sau đó mới an thổ địa. Đây là pháp cúng sao do Đạo trưởng Thanh Chân truyền lại.

Ở Mỹ, khi muốn lấp giếng có thể mời linh mục rảy nước thánh ở miệng giếng, cầu nguyện bình an rồi mới lấp giếng.

Lấp giếng là việc hệ trọng, không thể xem thường, bởi vì cả việc đào giếng và lấp giếng đều có mối liên hệ rất lớn với phong thủy, không thể không đề phòng.

Có liên quan đến nước ngầm là bể nước trên cao, do bể nước thường nằm ở điểm cao nhất của tòa nhà và là một khối lớn, tự nhiên tạo thành sinh khí mạnh, nghĩa là bể nước sẽ ảnh hưởng đến phong thủy của toàn bộ tòa nhà. Bể nước thường khiến toàn bộ tòa nhà mất cân bằng, bởi vì nó là một vật thể nhô ra, khó có thể che giấu được.

Liên Sinh Hoạt Phật khuyên rằng, để bể nước trên đỉnh cao nhất của ngôi nhà không ảnh hưởng đến phong thủy, chúng ta cần nghĩ cách thiết kế bể nước thật hoàn hảo. Nếu bể nước nằm ở phía Đông thì ở phía Tây chúng ta có thể thiết kế một công trình khác có kích thước cân bằng với bể nước để cân bằng sinh khí mạnh của nó. Công trình này có thể được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau, từ đó có thể giảm bớt sức phá hoại của bể nước.

Tôi từng khảo sát một nhà máy, các cổ đông của nhà máy đã lắp đặt một bể nước cao nhất ở phía Bắc bên phải. Bể nước cao ngất này đã khiến xe tải của nhà máy liên tiếp gặp tai nạn, thiệt hại nặng nề. Hơn nữa, các cổ đông bắt đầu mâu thuẫn, tranh giành quyền lực, nhân viên dần dần trở nên uể oải, thiếu tinh thần làm việc. Vì vậy, tôi đề xuất lắp đặt thêm một bể nước cao tương đương ở hướng đối diện, tức phía Nam bên trái, để hai bể nước cùng chiều cao có thể cân bằng lẫn nhau.

Thật kỳ lạ, khi lắp đặt bể nước phía Nam, tạo sự cân bằng đối xứng, xe tải vận chuyển đã hoàn toàn an toàn, nhân viên phát huy hiệu quả công việc, các cổ đông cũng hợp tác với nhau, cùng nhau nỗ lực.

Bể nước tốt nhất nên được che giấu đi, hoặc sử dụng phương pháp đối xứng, như vậy có thể kiềm chế hung khí của bể nước.

Trong phong thủy nhà ở, giếng cổ và bể nước thường là những điểm dễ bị bỏ qua, tuy nhiên, vị trí của cả hai yếu tố này đều cần được xác định một cách đặc biệt cẩn thận.


![image](/img/img_7bb260506c293c0ef3565d5cf0c63d47.png)


Giếng là nước, trong phong thủy chiếm một mạch sống quan trọng, việc đào giếng và lấp giếng đều ảnh hưởng đến phong thủy.


![image](/img/img_23cc8c4b0dec48330b28a85ecc9af1e7.png)


Các bể nước cần phải đối xứng với nhau thì mới tạo nên điềm cát tường.


### 24. Nước vào và nước ra


Về phong thủy nhà ở, hiện nay các chuyên gia phong thủy thích nghiên cứu phương vị bát trạch nhị thập tứ sơn, Đông Tây tứ trạch, sinh mệnh tam nguyên lục giáp quẻ, luận ngày sinh tọa trạch và nhiều điều khác.

Thông thường được phân biệt như sau:
Dương trạch coi trọng nhất việc nạp sinh khí.
Âm trạch coi trọng nhất việc nạp địa khí.

Chuyên gia phong thủy không chỉ phải quan sát thế đất của ngôi nhà mà còn phải biết nhà có bao nhiêu tầng lầu, có bao nhiêu phòng và các vách ngăn có phù hợp hay không. Môn học về cửa còn được phân chia tỉ mỉ thành cửa lớn, cửa giữa, cửa nhỏ, ngoài ra còn có cửa chính và cửa phụ, cửa thái bình, v.v…

Vị trí tàng phong tụ khí dưỡng khí ở phòng khách chính là vị trí kho tài.
Giường ngủ phải phối hợp với cửa nạp khí.
Bếp lửa trong nhà bếp phải phối hợp với ba phương vị cát của chủ nhà.
Nhà vệ sinh nên kín đáo, đặt ở phương suy, trồng cây cảnh để cân bằng.
Giếng nên đặt ở phương vượng.

Tuy nhiên, nhiều chuyên gia phong thủy thường bỏ qua vấn đề nước vào và nước ra, mà thực ra đây là những yếu tố rất quan trọng. Vì bản chất của nước là lưu động, nước được xem như tiền, điều này có lý do của nó. Hơn nữa, do tính chất lưu động nên nước có sức mạnh rất lớn. Tôi cho rằng nước là yếu tố khó xử lý, nếu nước mang hung khí, người sống trong nhà khó tránh khỏi bị tổn hại.

Tôi từng khảo sát một ngôi nhà, chủ nhà đặt một thác nước non bộ ở ban công tầng hai, nước từ trên núi giả chảy xuống thành thác, đổ vào hồ nước phía dưới. Do chủ nhà luôn tự hào về thiết kế thác nước non bộ của mình nên lúc đó tôi không muốn nói thẳng về điềm hung, mãi đến khi ra về, tôi mới nói thật với bạn của chủ nhà rằng: "Thác nước non bộ nằm ở vị trí cổ của chủ nhà, tạo thành hung khí rất nặng, nhất định phải dẹp bỏ."
Nhưng chủ nhà vẫn không chịu dẹp bỏ.

Khoảng ba năm sau, vị chủ nhân này phát hiện một khối u cứng ở cổ, kết quả xét nghiệm là ung thư. Khối u ở cổ của ông ta giống hệt như thác nước non bộ trong nhà, và chẳng bao lâu sau ông đã qua đời. Vị chủ nhân này lúc đó là chủ tịch hội đồng quản trị của nhiều nhà máy, còn sở hữu một khách sạn lớn, rất trẻ và có tài, sự nghiệp đang thời kỳ đỉnh cao. Sau khi bị ung thư, ông ấy lại tìm đến tôi, tôi đã làm lễ gia trì cho ông, nhưng tôi lắc đầu vì biết tất cả đã quá muộn.

Nước dùng để trang trí, việc phun nước trong các tòa nhà lớn rất phổ biến, đây là để trang trí cho đẹp mắt, cần phải do chuyên gia phong thủy giỏi thiết kế. Việc dẫn nước vào phải khiến tâm trạng người ta bình yên, đạt được mục đích trang trí, làm cho khách hàng vui vẻ, thích thú, từ đó kinh doanh phát đạt.

Đối với nhà ở thông thường, nếu đào ao, hồ phun nước, thác nước trong nhà, phần lớn đều không cát tường. Làm như vậy trong nhà ở không chỉ quá xa xỉ, lãng phí, mà dù đào ở bất kì vị trí nào cũng sẽ tạo ra hung khí. Chỉ để phục vụ việc ngắm nhìn của cá nhân thì thật sự không cần thiết phải làm như vậy.

Đối với các công trình ao hồ, bể bơi, đài phun nước bên ngoài nhà, có thể thiết kế và thi công, nhưng có một yêu cầu duy nhất là phải phù hợp với phương vị tốt, nghĩa là phải nằm ở hướng cát tường, tuyệt đối không được đặt ở vị trí Đông Bắc và vị trí Tây Nam. Việc xây dựng ao hồ, bể bơi, đài phun nước nhất định phải mời bậc minh sư thực thụ khảo sát mới được.

Nước chảy vào và chảy ra có hai nguyên tắc:
Sáng vào tối ra.
Thẳng vào cong ra.

Sáng vào tối ra - nghĩa là nước chảy vào theo mương lộ thiên, chảy ra theo mương ngầm.
Thẳng vào cong ra - nghĩa là nước chảy vào theo đường thẳng, chảy ra theo đường uốn lượn.

Đây là pháp "khóa tài", có nghĩa là tiền bạc ùn ùn chảy vào, còn tiền chi ra thì quanh co khúc khuỷu, nhờ vậy mà tạo được nhiều của dư.

Trong quá khứ, Liên Sinh Hoạt Phật từng khảo sát một nhà máy. Doanh nghiệp này làm ăn rất lớn, lãi nhiều, nhưng chi phí cũng khủng khiếp. Khuyết điểm phong thủy nằm ở chỗ mương thoát nước quá thẳng và lộ liễu, vì vậy tôi đã thiết kế xây một cây cầu phía trên mương nước.

Cây cầu này có ba tác dụng:
1. Bổ khuyết chỗ quá lộ liễu.
2. Dùng cầu để khóa dòng nước, tức là pháp khóa.
3. Thuận tiện đi lại.


![image](/img/img_3213157fc47c37770161313812e40537.png)


Dòng chảy của nước luôn đi từ cao xuống thấp. Hướng chảy của nước ở ngôi nhà này đi ngang qua mặt tiền, vì vậy khi xây dựng, chủ nhà đã thiết kế một phần nhô ra ở bên trái cổng chính (bên Rồng) để "đón nước", rồi tự nhiên dẫn nước vào bên trong cổng chính; đây là một thiết kế rất tài tình.


![image](/img/img_889961e0d4e04d8ddcdba79e4724ba23.png)


Nước phải có thể chảy từ sáng vào tối ra, thẳng vào cong ra. Đối với dòng nước quá thẳng và lộ liễu, có thể xây một cây cầu phía trên để bổ khuyết chỗ quá lộ liễu, đồng thời có tác dụng khóa dòng chảy (tài khí).


### 25. Tầm quan trọng của không gian làm việc


Ở Mỹ, nhiều ngôi nhà được trang bị phòng làm việc. Tôi đã thấy nhiều người phương Tây kết hợp phòng làm việc với garage, ngoài việc đỗ xe, garage còn là nơi để các công cụ linh tinh.

Tại Mỹ, do chi phí nhân công cao nên người ta tự làm phần lớn các công việc sửa chữa thông thường, như sửa xe, sửa điện nước, cắt cỏ, sơn tường... đều tự làm. Khi mua đồ nội thất về nhà, họ phải tự xem hướng dẫn và lắp ráp từng món một. Do đó, phòng làm việc rõ ràng rất quan trọng.

Vì phòng làm việc mang tính động, lại có âm có thanh, thực tế việc bố trí nó ở vị trí nào trong nhà đều tạo ra ảnh hưởng rất lớn, bởi vì phòng làm việc là nơi phải gõ gõ đập đập, mà một khi gõ gõ đập đập sẽ ảnh hưởng đến phong thủy.

Đối với nhà có tầng hầm, có thể đặt phòng làm việc ở tầng hầm, tốt nhất là ở vị trí Tây Bắc của toàn bộ ngôi nhà, hoặc ở phía sau bên Rồng. Tất nhiên, với nhà ở thông thường, phòng làm việc thường khá lộn xộn, do đó không nên đặt ở phía trên và phía trước, hãy cố gắng đặt ở phía dưới hoặc phía sau của hướng Tây Bắc, đó là vị trí thích hợp nhất.

Sử dụng garage làm phòng làm việc là điều phổ biến. Nếu garage nằm ở hướng Tây Bắc thì đó là vị trí tốt nhất, còn nếu ở hướng Đông Bắc và Tây Nam thì không tốt. Khi vị trí phòng làm việc được bố trí sai có thể dẫn đến tai nạn, công việc không thuận lợi, thậm chí xảy ra tình trạng bất hòa trong gia đình.

Tại Mỹ, có những ngôi nhà được xây liền kề với garage, nghĩa là garage là một phần của ngôi nhà, nhưng cũng có nhiều trường hợp tách rời, garage và phần chính của ngôi nhà không nối liền với nhau.

Đối với trường hợp garage tách rời với nhà, tốt nhất là không nên đặt garage ở phía trước của bên Hổ, bởi vì nếu garage mở cửa ở phía trước bên Hổ sẽ tạo thành "miệng hổ", và nếu miệng hổ quá dài, quá cao đều không phải là hiện tượng tốt, đây đều là điềm hung báo hiệu tai nạn.

Nếu garage nối liền với nhà, cũng không nên nhô ra quá nhiều, tốt nhất là đặt ở vị trí hơi lõm vào ở bên Hổ, miễn sao bên Rồng không bị áp đảo bởi khí thế của bên Hổ là được. Ở Mỹ, nhà nào cũng có garage, garage rất quan trọng, ngoài việc đỗ xe, garage còn có thể dùng làm phòng làm việc.

Trước đây ở Đài Loan, tôi nhận thấy nhiều nhà người giàu không có garage, thỉnh thoảng họ chỉ dựng một mái che đơn giản làm chỗ để xe. Trong bài này, tôi đặc biệt lưu ý rằng khi dựng mái che để xe cần phải chú ý đến vấn đề bên Rồng bên Hổ, bởi vì nếu dựng sai vị trí thì chắc chắn sẽ tạo thành hung tướng, và hung khí từ garage kiểu này sẽ rất mạnh. Mái che để xe bên ngoài nhà tương đương với "cấu trúc cứng", cấu trúc cứng là những phần đặc biệt nhô ra.

Trong quá khứ, tôi đã khảo sát rất nhiều nhà máy, thực ra phòng làm việc trong nhà ở cũng tương tự như vị trí lắp đặt máy móc trong nhà máy. Nếu lắp đặt máy móc tốt, mọi thứ sẽ vận hành trơn tru. Còn nếu lắp đặt không đúng cách, máy móc sẽ đột nhiên ngừng hoạt động không rõ nguyên nhân, gọi thợ đến sửa cũng không tìm ra được vấn đề. Máy móc là tuyến đầu của bộ phận sản xuất, chất lượng sản phẩm hoàn toàn phụ thuộc vào máy móc, đây là yếu tố quan trọng nhất trong nhà máy.

Tôi đã từng mang theo một gói muối, một gói gạo và một lá phù "vận hành không ngừng" để khảo sát một chiếc máy lớn (một cỗ máy khổng lồ). Chiếc máy này được đặt sai vị trí, vì vậy máy liên tục gặp sự cố, khiến mọi người đau đầu, ngay cả kỹ sư nước ngoài được mời đến cũng không sửa được.

Cuối cùng, họ mời tôi đến xem, tôi nói: 
"Máy đang đặt đúng trên răng hổ ở miệng hổ, máy bị răng hổ kẹp chặt nên không thể vận hành. Tốt nhất là di chuyển đi."
Chủ nhân nói: 
"Cỗ máy to lớn này được xây nhà xưởng riêng để lắp đặt, nếu di chuyển thì chi phí khủng khiếp lắm, có cách nào khác không?"
Chủ nhân khẩn khoản van nài.

Thế là tôi rắc muối gạo lên máy, chọn ngày Trừ rồi dán phù "vận hành không ngừng". Lạ thay, ngay sau hôm dán phù, máy đã có thể chạy được, và từ đó về sau không còn hỏng hóc gì nữa, toàn thể công nhân trong nhà máy vui mừng hò reo. Kỹ sư nước ngoài lắc đầu không hiểu chuyện gì đang xảy ra.

Có người hỏi tôi: 
"Chuyện này là sao?"
Tôi đáp: 
"Tôi chỉ rắc muối gạo lên miệng hổ, khi miệng hổ khép lại thì máy được nhả ra, chỉ đơn giản vậy thôi, ha ha!"

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng phòng làm việc, garage và phòng máy móc đều thuộc về tính động, có thể thay đổi phong thủy, tạo ra hiện tượng biến động, vì vậy các nhà phong thủy không thể bỏ qua ba yếu tố này, chỉ cần sơ sót một chút là có thể thất bại hoàn toàn.


### 26. Mua phải nhà ma thì phải làm sao?


Gần đây, một đệ tử ở Canada muốn mua nhà để lập phân đường. Ngôi nhà này nằm gần Công viên Hoàng hậu, giá thông thường là 200.000 đô la Mỹ, nhưng chỉ bán có 100.000 đô la Mỹ. Bởi vì đó là một ngôi nhà ma nổi tiếng. Chủ nhà trước đó là một bác sĩ, đã treo cổ tự tử trong nhà.

Ngôi nhà từng được cho hai người thổ dân Mỹ thuê, nhưng chẳng bao lâu họ đã bỏ chạy. Bởi vì khi ngủ trên giường, họ bị kéo xuống dưới giường, khi ngủ trong nhà thì bị đẩy ra bãi cỏ ngoài nhà. Trong nhà, những chuyện kỳ quái cứ liên tiếp xảy ra. Thường xuyên xuất hiện ngọn lửa ma quái, mùi lạ, âm thanh kỳ dị, bóng ma lập lòe.

Đệ tử ở Canada hỏi tôi có nên mua không?
Tôi trả lời: "Cứ mua đi. Mọi chuyện để tôi xử lý, để tôi ngủ thử trước."

Phần lớn dương trạch trở thành nhà ma là do từ trường và địa linh của dương trạch này bị rối loạn. Tại sao từ trường và địa linh của ngôi nhà lại bị rối loạn? Bởi vì đã từng có người treo cổ tự tử trong tòa nhà, người treo cổ này với lòng oán hận ám ảnh đã làm rối loạn từ trường địa linh của ngôi nhà, đó chính là do oán khí gây nên.

Ngoài ra, một số nhà ma hình thành không phải do yếu tố người chết trong đó mà là do vật liệu xây dựng được sử dụng, trong đó có những vật liệu xây dựng mang linh khí, ví dụ như chúng ta mua xà ngang của ngôi chùa cổ về làm xà nhà mình, vì xà của chùa này vốn có linh khí, cũng sẽ làm rối loạn từ trường địa linh, từ đó hình thành nhà ma.

Nhà ma cũng có thể hình thành một cách tự nhiên bởi bản thân mảnh đất xây nhà đã có từ trường địa linh rối loạn. Khi thầy phong thủy đặt la bàn xuống, kim chỉ sẽ dao động lên xuống trái phải không thể định vị được. Xây nhà trên loại đất này có khả năng sẽ trở thành nhà ma.

Trong ngôi nhà có từ trường địa linh rối loạn, người ở sẽ bị ảnh hưởng bởi tà khí, tai nạn bất ngờ có thể xảy ra, tính tình bất ổn, cơ thể đột nhiên mắc bệnh hiểm nghèo, tính cách của trẻ em nhanh chóng trở nên kỳ quái hoặc hư hỏng. Chứng rối loạn thần kinh và trầm cảm liên tiếp xuất hiện.

Nếu từ trường địa linh rối loạn mạnh, đồ vật sẽ bay tới bay lui, ma quỷ sẽ hiện hình, sẽ có âm thanh và bóng dáng kỳ quái, sẽ quấy phá con người, oán hận sẽ bám theo và nhắm vào người ở trong nhà mà phát tác.

Tuy nhiên, tôi vẫn đồng ý cho họ mua nhà ma. Bởi vì nếu chúng ta hiểu rõ nguyên nhân gây rối loạn từ trường địa linh sẽ dễ xử lý hơn, chúng ta chỉ cần loại bỏ nhân duyên xấu là xong.

Tôi sẽ dùng hai phương pháp:

Thứ nhất, khi đến nhà ma, tôi phải tìm ra vật thể mà hồn ma của vị bác sĩ treo cổ đang trú ngụ, có thể là xà nhà nơi treo cổ, có thể là bức tranh người hoặc động vật trong phòng khách, có thể là bàn ghế, hoặc có thể là tảng đá trong sân. Nghĩa là phải tìm ra vật thể mà linh hồn bác sĩ đang trú ngụ. Sau khi tìm ra, tôi sẽ di dời vật thể đó đi.

Khi vật thể có linh được di dời đi, tôi sẽ làm lễ tịnh thủy và kết giới cho ngôi nhà. Sử dụng pháp kết giới Mật tông, dùng Tứ Đại Thiên Vương kim cang kết giới, để chư thiên đến bảo hộ dương trạch. Khi nhân duyên xấu biến mất, từ trường địa linh sẽ trở lại bình thường, nhà ma này sẽ không còn là nhà ma nữa.

Thứ hai, khi đến nhà ma, tôi sẽ triệu thỉnh hồn phách của vị bác sĩ, giải thích rằng ngôi nhà đã đổi chủ, phân tích đạo lý nhân quả oán thù, hy vọng có thể xoa dịu oán khí của người. (Tuy nhiên, nói chung các oán hồn rất khó xoa dịu oán khí, nếu không họ đã chẳng treo cổ tự tử.)

Tôi sẽ giải thích thêm rằng, ngôi nhà này sẽ được lập thành Phật đường Chân Phật Tông, chúng tôi sẽ đặt bài vị của người ở vị trí bên trái, sớm tối cúng tế, mong linh hồn được bình an, khí phẫn nộ được xoa dịu, oán hận hóa thành tiếng Phật tĩnh lặng, từ đây ẩn mình học Phật, thụ hưởng hương hỏa nhân gian. Thụ hưởng hương hỏa nhân gian này đương nhiên tốt hơn là quấy phá làm người ta hoảng sợ.

Với hai phương pháp này, nếu phương pháp thứ hai không thực hiện được thì chỉ còn cách dùng phương pháp thứ nhất. Nếu linh hồn bám vào xà nhà, rất khó di dời, thì chỉ còn cách dùng pháp Kim Cang để trục xuất, sau đó dùng pháp áp chế đối với xà nhà, rồi tiến hành sái tịnh và kết giới xung quanh ngôi nhà.

"Liên Sinh Hoạt Phật không sợ sao?" - Đệ tử hỏi tôi.
"Ma treo cổ đáng sợ thật, nhưng tôi không bận tâm." - Tôi đáp.
"Tại sao vậy?"
"Bởi vì người có chính khí thì không sợ hãi điều gì."
"Nhà ma cũng do phong thủy tạo nên sao?"
"Đúng vậy. Bởi vì khí oán hận đã làm rối loạn từ trường của ngôi nhà." - Tôi trả lời.

Người mua nhà nên tìm hiểu thật kỹ về chủ nhà trước đó, đừng mua phải nhà ma. Nếu đã mua phải mà không thể giải quyết thì chỉ còn cách tìm đến tôi - Liên Sinh Hoạt Phật.


### 27. Dương trạch của quan chức cao cấp


Liên Sinh Hoạt Phật quan sát tỉ mỉ dương trạch, lĩnh hội được "Bí kíp địa linh", thấu hiểu mọi bí mật về dương trạch.

Có người hỏi: 
"Muốn làm quan chức cao cấp thì cần dương trạch như thế nào?"
Tôi đáp: 
"Cần nhà ba tầng như cành vàng lá ngọc, hoặc có thế rắn đỏ cuộn quanh ấn, hoặc lầu rồng gác phượng, hoặc có thế mạnh như tiếng trống chiêng."
"Những từ ngữ này quá sâu xa, làm sao giải thích bằng từ ngữ hiện đại?"

Tôi xin giải thích cụ thể như sau:

Ba tầng như cành vàng lá ngọc - Nơi xây dựng nhà ở của chúng ta phải có ba tầng nhà bao quanh ở bên trái, bên phải và phía sau, và ba tầng nhà này đều có dáng vẻ sum suê như cành vàng lá ngọc đang nở rộ. (Ba tầng ở đây không phải chỉ chiều cao của tòa nhà.)

Nếu nhà được xây trên vùng đồi núi, cần quan sát phía sau và hai bên trái phải đều phải có thế đất uốn cong bao bọc thành ba tầng.

Rắn đỏ cuộn quanh ấn - Trong một thành phố phức tạp, cần tìm ra "điểm chủ đạo", giống như khi ta nhìn vân tay của mình, đường vân trên ngón tay có một điểm trung tâm. Chúng ta tìm ra điểm trung tâm của những đường vân địa linh này để xây nhà, dương trạch như vậy chính là dương trạch "rắn đỏ cuộn quanh ấn". Ẩn dụ này, "điểm trung tâm của vân tay" và "rắn đỏ cuộn quanh ấn" là rất phù hợp, chỉ người trong nghề mới nhìn ra được. Dương trạch của Thủ tướng Nhật Bản Nakasone Yasuhiro chính là thế "rắn đỏ cuộn quanh ấn".

Lầu rồng gác phượng - "Rồng phượng" là hai từ đều hàm ý "rồng trong loài người", "phượng trong loài người", đều là những biểu tượng nổi bật. Về mặt dương trạch hoàn toàn là vấn đề quan sát thế của khí, loại thế khí này, nếu không phải là bậc thầy phong thủy cao minh thì không thể nhìn ra được. (Rồng cần uốn lượn, phượng cần bay vút.)

Thế mạnh như tiếng trống chiêng - Một bậc thầy phong thủy cao minh có thể hiểu cách bố trí "thế mạnh như tiếng trống chiêng" ngay cả trong một ngôi nhà nhỏ nghèo. "Thế mạnh như tiếng trống chiêng" này giúp người ở trong nhà sau này đạt được công danh thành tựu, được làm quan lớn. Tất nhiên, "thế mạnh như tiếng trống chiêng" này không phải ai cũng làm được, bởi nếu bố trí đúng sẽ mang lại danh tiếng vang dội, còn nếu bố trí sai sẽ gặp tai họa liên miên.

Thầy phong thủy muốn học được những điều này, trước tiên phải hiểu rõ:
Thổ làm chủ Mộc ấn.
Hỏa làm chủ Kim ấn.
Kim làm chủ Mộc ấn.
Thủy ngự ở phương Bắc.
Mộc ngự ở phương Nam.
Từ những điều này có thể xem xét kỹ về quy mô và sự bền vững của chức quan.

Nói chung, dương trạch của quan võ cao cấp tốt nhất nên có hình nhọn, nhọn tức là cấu trúc cứng đặc biệt mạnh mẽ, và cần có "Liêm Trinh quấn hai bên". Nếu cấu trúc cứng bố trí sai sẽ không thể làm được võ tướng, chỉ thành tên lính tép riu hoặc thành kẻ côn đồ.

Có một bài kệ như sau:
*Liêm Trinh chiếu rọi sinh quan võ,
Tham Lang đỉnh phẳng đầu Hỏa Tinh;
Cờ trống vòng quanh nơi binh khí,
Xuất thân hùng dũng nắm binh quyền.*
(Tuy đây là bài kệ về âm trạch nhưng thực ra có liên quan đến dương trạch.)

Liên Sinh Hoạt Phật nhận thấy, tuy âm trạch thì "đón địa khí", dương trạch thì "đón sinh khí", nhưng địa khí và sinh khí vốn đi theo nhau, nguyên lý là giống nhau, không có chỗ nào khác biệt. Ví dụ như nước ở trên đất thì nương theo đất mà chảy, gió ở trên nước thì nương theo nước mà đi, đó là cùng một con đường.

Loại dương trạch của quan chức cao cấp này rất bí mật, tôi rất ít khi chính thức truyền thụ bí quyết này, giá trị của nó không thể dùng tiền bạc để đong đếm, và phương pháp phong thủy này có những khẩu quyết đặc biệt, không phải chuyện dễ, nếu không được bậc cao nhân chỉ điểm thì rất khó hiểu thấu.

Trong số đệ tử có một hậu duệ, tôi xem tướng mạo kỹ càng, thấy có tướng làm quan cao. Tôi dặn người này bố trí "bố cục cứng" trong căn nhà nhỏ. Hiện tại đứa trẻ này học hành đứng đầu, tương lai sẽ là tiến sĩ, chuyển sang con đường làm quan sẽ đạt đến chức tam công.

Quả thật:
*Bút văn thông thiên bậc liêm khiết
Trước triều phán định hạ lệnh thông
Lầu rồng gác phượng bậc học sĩ
Trên Điện Kiếm Sơn phong công thần.*

Công lực của tôi về dương trạch quả thật là thần kỳ tạo hóa, một chàng trai nghèo khổ, tương lai sẽ đạt đến chức đại thần, đó là công năng của việc dương trạch đón sinh khí.

Seattle Lôi Tạng Tự của Chân Phật Tông ở Hoa Kỳ có địa thế phong thủy tuyệt hảo, với long mạch chính trực. Về mặt hoằng pháp độ chúng, nơi đây sẽ có sức mạnh to lớn thu hút quần chúng. Ngay bên cạnh là trụ sở chính của Microsoft, đây cũng là một huyệt có phúc khí dồi dào liên miên.


![image](/img/img_c3d99e5f66f4b99a8e82392777985baf.png)


Seattle Lôi Tạng Tự của Chân Phật Tông là một nơi được tác giả của cuốn sách này chọn theo phong thủy. Sau khi xây dựng, tốc độ truyền bá Chân Phật Mật Pháp đến các quốc gia trên thế giới càng nhanh chóng hơn.


![image](/img/img_688a5628ad179e86d6fdbb4a79171814.jpg)



### 28. Dương trạch của người giàu có


Tôi từng đến xem phong thủy một ngôi nhà tranh trong rừng tre. Ngôi nhà được xây bằng đất sét, theo cách gọi dân gian là "nhà tranh vách đất".
Tôi nói với chủ nhà: 
"Người ở căn nhà này ắt sẽ trở nên giàu có."
Chủ nhà không tin: 
"Ông nội tôi ở căn nhà này đã chết đói bên đường. Cha tôi ở đây thì nghèo khổ bệnh tật. Tôi ở đây cũng chẳng làm nên trò trống gì. Lời thầy phong thủy nói thật khó tin."
"Chỉ là vận chưa đến mà thôi, khi vận đến thì chắc chắn sẽ giàu có." - Tôi đáp.
"Vận sẽ đến khi nào?"
"Sắp rồi!"
"Thầy căn cứ vào đâu mà đoán là sẽ giàu có?"
"Cửa nhà ông đối nghịch với dòng chảy, nước từ hướng Đông Bắc chảy đến, đây là thế Cấn sơn Cấn thủy có kiến ong, nhất định sẽ thành phú ông."
"Còn gì nữa không?"
"Nhà ông được xây bằng đất, là thổ cư hỏa địa, thổ hỏa tương sinh, ngày phát đạt đã gần kề."
"Vì sao trước đây không phát đạt, mà gần đây mới phát đạt?"

Tôi đọc cho ông một bài kệ:
*Cát bên trong bay, cát bên ngoài ngó,
Núi xa xa đều hướng về che chở,
Hình thế tương đối xa,
Ban đầu nghèo, sau này có.*

Không lâu sau khi tôi xem phong thủy, có một công ty xây dựng để ý đến mảnh ruộng khô trên sườn đồi của chủ nhà. Mảnh ruộng này trước đây rất ít người lui tới. Thế là công ty bỏ tiền, chủ nhà góp đất để xây dựng khu biệt thự sinh thái. Không ngờ vừa mở bán đã bán hết sạch.

Chủ nhà kiếm được tiền, lại mua đất xây nhà, những lần kinh doanh tiếp theo đều thuận lợi bất ngờ, bản thân chủ nhà trở thành chủ tịch một công ty xây dựng lớn. Giờ đây đã là nhà giàu có, nhà kho khắp Đông Tây, rương vàng tủ ngọc chất đầy của cải, nhà cửa của chủ nhà nhiều không đếm xuể, trở thành đại phú gia ngồi xe sang, ngậm xì gà, mặc vest bảnh bao.

Tuy nhiên, mỗi tối khi đi ngủ, ông ấy nhất định bảo tài xế lén chở về căn nhà tranh trong rừng tre, về ngủ trong căn nhà đất của mình. Trong căn nhà đất này, ngoài một chút trang trí nhỏ, ông không dám thay đổi bất cứ điều gì về bề ngoài, bởi giờ đây ông tin rằng chính căn nhà đất này đã mang lại cho ông phú quý tài khí.

Vì sao trước nghèo sau giàu?
Sa bên trong bay - Thế núi hai bên cổng nhà nghiêng chếch bay ra, không ôm ấp ngôi nhà, nên trước đây nghèo.
Sa bên ngoài ngó - Thế núi xa hơn ở cổng nhà đã cong về che chở ngôi nhà, nên về sau giàu.
Núi xa xa đều hướng về che chở - Những ngọn núi ở xa đều quay về hướng nhà, tạo thành thế bảo hộ.
Đây là phán đoán táo bạo của tôi.

Phương pháp xem đất của Liên Sinh Hoạt Phật còn có một bí quyết, tôi để ý đến thuộc tính ngũ hành của một người, sau khi xác định thuộc tính trong kim mộc thủy hỏa thổ rồi mới xem đất, mảnh đất này cũng có thuộc tính ngũ hành, dùng thuộc tính ngũ hành của người kết hợp với thuộc tính ngũ hành của đất (hoặc thuộc tính ngũ hành của dương trạch), từ đạo lý tương sinh tương khắc, có thể phán đoán phát hay không phát.

Liên Sinh Hoạt Phật mỗi khi vào xem dương trạch đều có thể phán đoán vị trí kho tài ở phương nào. Tôi đặc biệt dùng phương pháp khiến vị trí kho tài có thể thực sự tụ khí tụ tài.

Phương pháp phát tài của tôi có một bài kệ:
*Khí vượng vào sảnh đường,
Kho tài phát từ trường;
Nhớ giữ mãi trường tồn,
Nước nhà tự sẽ hưng.*

Nếu có một dương trạch nằm trên vùng đất thuộc cung Cấn, và thấy nước từ hướng Thân chảy đến, đây cũng là một cục diện rất tốt! Sự phát đạt sẽ đến rất nhanh, tiền bạc ùn ùn kéo đến không ngăn nổi, dù không muốn cũng không được, đây chính là thế "bình bạc chén vàng liên tiếp rót, rương vàng tủ ngọc của cải tràn".

Về dương trạch của người giàu có, bí quyết khẩu quyết của nó quý giá vô cùng, nghìn vàng khó mua. Chỉ biết phán đoán hung cát của nhà cửa thôi chưa đủ, chúng ta còn phải tạo phúc cho gia chủ. Người có thể tạo phúc mới thực sự là bậc thầy địa lý chân chính, nếu không thì chỉ là thầy phong thủy lừa đảo mà thôi.

Liên Sinh Hoạt Phật học nghệ thuật phong thủy nhiều năm, hiểu biết địa lý sâu sắc, không phải kiến thức hời hợt. Đáng tiếc là người đời không nhận ra điều này, để rơi vào tay những thầy phong thủy rong ruổi giang hồ. Tuy họ ăn nói như hoa nhưng không có chuẩn mực, thực sự đã làm hỏng tiếng tăm của khoa phong thủy địa linh, thật đáng than thở!

Khẩu quyết bí mật về dương trạch của người giàu có thể nói là vô giá!


![Điểm tọa hướng của dương trạch](/img/img_def6ad816978ef41e357ba43c4673feb.png)



### 29. Nỗi sợ tuổi 28


Trong quá trình xem đất, tôi gặp phải một trường hợp rất đặc biệt. Đây là một tứ hợp viện cổ, trong đó có hai chi họ, người đàn ông nào đến tuổi 28 cũng đều qua đời. Người cha mất vì bệnh lúc 28 tuổi, người chú 28 tuổi mất tích ở xa, con trai cả 28 tuổi rơi xuống núi chết, con trai thứ hai khi 28 tuổi chết vì ung thư... Còn người con thứ ba sắp 28 tuổi, vì sợ hãi tuổi 28 nên đi cầu cúng khắp nơi, nhận được những câu trả lời khác nhau, trong lòng hết sức bất an. 

Gia tộc này có rất đông người, họ đặc biệt mời tôi đến xem âm trạch và dương trạch, tìm nguyên nhân của hiện tượng "chết ở tuổi 28" này. Âm trạch không có gì đặc biệt, nhưng dương trạch lại có khá nhiều vấn đề, tôi đã chỉ ra từng khuyết điểm một và yêu cầu họ phải sửa chữa ngay.

Tứ hợp viện này được xây dựng trong khu rừng ở vùng quê, xung quanh có nhiều ao hồ, có ao đã cạn không còn nước, cũng có ao chỉ còn một ít nước. Tôi phát hiện các ao hồ đều hướng về tâm ngôi nhà, có ao hướng vào hai bên nhà chính, thậm chí còn có ao có nước chĩa thẳng vào cổng chính. Tôi yêu cầu lấp phẳng những ao khô, còn các ao có nước thì chỉnh sửa bờ ao thành hình cung thuận.

Chính điện của tứ hợp viện rất cao, trong khi những căn nhà mới xây phía sau lại quá thấp, tạo thành hiện tượng nhà trước cao, nhà sau thấp, đây là điều tổn hại nhân đinh, đặc biệt là tổn hại đinh trẻ tuổi. Tôi yêu cầu các căn nhà phía sau phải xây cao bằng với chính điện. Tôi nói với họ rằng điểm này rất quan trọng, nhà sau phải cao ngang bằng với nhà trước. 

Họ đã sửa chữa theo chỉ dẫn của tôi. Họ hỏi tôi: 
"Tại sao cứ đến 28 tuổi thì nhất định phải chết yểu?"
Tôi lúc đầu cũng khó giải thích, bèn nói với họ: 
"Trong này chắc chắn có một con số định mệnh, ví dụ như tổng số cột nhà là 28 cột, hoặc xung quanh nhà có 28 cây, hoặc có 28 cái bếp, hoặc có 28 cây xà, hoặc có 28 cánh cửa..."
"28 cái bếp ư? Làm gì có nhiều thế!"
"Tôi cũng nghĩ vậy." - Tôi cười và nói: "Tôi chỉ ví dụ thôi."

Sau đó họ báo với tôi, tứ hợp viện này quả nhiên có con số định mệnh, bởi vì tổng số cột chống đỡ ngôi nhà đúng 28 cột, không nhiều hơn không ít hơn. Ôi, thật là chính xác, họ vô cùng khâm phục.
Họ hỏi tôi: 
"Vậy có cần thêm cột không?"
Tôi đáp: 
"Không, chẳng lẽ thêm 100 cột thì sống được 100 tuổi sao? Số cột này chỉ là con số định mệnh thôi, nguyên nhân chính là ở ao hồ và độ cao của nhà."

Tôi nói với họ:
Ao ít nước - có nghĩa là người trẻ không sống được. Điều này ám chỉ cuộc sống không trọn vẹn, đặc biệt là khi góc ao chĩa thẳng vào cổng và vào nhà chính, gọi là "xung tâm xạ sai" [xuyên tâm bắn vào quai hàm], đều là điềm hung báo hiệu con trai chết yểu.

Nhà trước cao, nhà sau thấp - nhà trước tượng trưng cho người đi trước, nhà sau tượng trưng cho thế hệ sau, nhà sau thấp ắt sẽ tổn hại người trẻ tuổi, đây là quy luật chắc chắn. Nhà sau có thể cao hoặc bằng nhà trước, đó mới là hợp lý. Nhà sau thấp chính là điềm đại hung.

Tôi quan sát tứ hợp viện này đã được mười năm, họ cho biết nhân đinh trong tứ hợp viện từ đó bình an vô sự, có một số người đàn ông đã qua tuổi 28 đều bình yên, họ đã xóa bỏ được nỗi sợ tuổi 28, không còn lo lắng bất an nữa.

Liên Sinh Hoạt Phật đặc biệt giỏi nhận biết những dương trạch tổn hại nhân đinh. Đối với những dương trạch không có nhân đinh cũng có thể quan sát ra.

Trong "Bí kíp địa linh" có một bài kệ:
*Không sức người cô độc
Không khí cũng chẳng sinh;
Áp cao đều đứt đoạn,
Nước vỡ chẳng còn ai.*

Nếu dương trạch không có chút "bố cục cứng", đó là điềm hung báo hiệu nhân đinh cô độc. Địa thế bằng phẳng không có cao thấp, không có địa khí sẽ không sinh được con cái. Nếu nhà bị áp lực cao từ bốn phía sẽ khiến thai phụ sảy thai, đứt mất con nối dõi. Nếu có nước từ bốn phía xung vào nhà thì con cái đến một đứa cũng không giữ được! Nếu ở trước hoặc sau chùa miếu, do địa khí đã bị chùa miếu hút hết, cũng sẽ có hiện tượng này.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng sự có mặt của địa khí là một môn học lớn trong phong thủy. Thực ra, người có khả năng nhìn thấy địa khí mới là bậc đại sư chân chính. Sự có mặt của địa khí trong dương trạch không chỉ ảnh hưởng đến nhân đinh mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe. Nơi không có địa khí thì không thể ở được!


![image](/img/img_7657a80ed064e8f80d5c0fa9950de35d.png)


"Nhà trước cao, nhà sau thấp", nhà trước tượng trưng cho người đi trước, nhà sau tượng trưng cho thế hệ sau, nhà sau thấp ắt sẽ tổn hại thế hệ sau, cho nên nhà sau có thể cao hoặc bằng, nhưng không được thấp, nếu không sẽ là tướng đại hung.


![image](/img/img_1ad3002ba9304f37b2fdf64f93cb2a04.jpg)


Về mặt phong thủy, Đài Loan Lôi Tạng Tự nằm ở huyệt Phi Hổ. Hổ đã đủ mạnh rồi, huống chi là hổ có cánh! Sau khi hoàn thành, nơi này sẽ phát huy được sức mạnh địa lý to lớn!


### 30. Vợ chồng đào hoa phải làm sao?


Trước tiên, vòi nước đối diện với bếp lò là phạm đào hoa.
Bên ngoài cửa chính, hai bên có hai loại cây khác nhau cũng là phạm đào hoa.
Phía sau nhà có độ dốc mạnh, trong khi phía trước có ao nước, hình dáng ao như lông mày người phụ nữ, đây là cha con đời đời lấy hai vợ, thuộc nam đào hoa.

Về chuyện đào hoa của nam giới:
Trước nhà có dây leo quấn quanh cây, tức là dây quấn cây. (quấn chặt không buông)
Trước nhà có nước Kim Tinh đối diện cửa chính. (Đẹp trai như Phan An mang hoa đào.)
Trước nhà có núi như bàn dài, nhưng nghiêng lệch như tư thế múa. (thích phóng đãng)

Về chuyện đào hoa của nữ giới:
Trước nhà có cây, đầu và đuôi phình to. (dâm đãng)
Trước nhà có dòng nước chảy ngược. (không giữ đạo làm vợ)
Trước nhà có hai dòng nước chảy thẳng đi. (trốn theo trai)
Trước nhà có giếng cổ. (đào hoa)
Xà nhà khắc nhiều hoa. (điên loạn vì hoa)
Bên Bạch Hổ có ngã tư. Tức là bên phải của nhà đối diện ngã tư đường. (nhiều đàn ông)
Bên cửa chính có cửa phụ. (muốn cả hai)

Tôi từng khảo sát một ngôi nhà tổ có truyền thống đời đời hai vợ, gia đình này từ cụ cố đến con cháu, đời nào cũng có hai vợ. Nguyên do là vì phía sau nhà có độ dốc mạnh, phía trước có một ao nước hình dáng như lông mày người phụ nữ, và trước cổng chính còn có hai loại cây khác nhau, quả nhiên là tướng đời đời hai vợ.

Trong các địa thế mà tôi từng khảo sát cũng từng thấy nhiều trường hợp bên phía Bạch Hổ có ngã tư đường. Cần biết rằng ngã tư đường giống như hình tượng người đẹp "lộ thân dâng hoa". Có ngã tư đường ở phía Bạch Hổ là một điều nghiêm trọng. Người vốn là phụ nữ đoan chính, cuối cùng lại biến thành người đa tình dục vọng. Đối với một gia đình bình thường, điều này luôn có ảnh hưởng không tốt. Dù là đào hoa nam hay đào hoa nữ đều là tướng hung không ổn định.

Mang tướng đào hoa chỉ có lợi cho một loại người, đó là nghệ sĩ giải trí. Nam phải có dung mạo như Phan An, mang "nhiều hoa đào", nữ phải có khuôn mặt đào hoa, khiến khán giả ai cũng mến mộ, đây cũng là "nhiều hoa đào". Càng nhiều hoa đào thì càng nổi tiếng rực rỡ!

Có nhiều nhà giàu mở cửa chính rất to, không tiện mở ra vào nên phải mở thêm một cửa phụ nhỏ bên cạnh cửa chính để tiện đi lại hàng ngày. Cần biết rằng, đây là tướng nhà có hai vợ, làm tiện cho mình, cũng tiện cho người khác, muốn cả cái to lẫn cái nhỏ, đây là tướng đào hoa hung họa. Bên ngoài cửa chính mà mở cửa phụ cũng được, nhưng phải cách xa cửa chính một chút, không nên để cửa to cửa nhỏ liền kề nhau.

Các thầy phong thủy đều hiểu rằng nếu có "tứ bại lưu phá trường sinh phương" đều là nước đào hoa, nam nữ phạm phải nước đào hoa đều sẽ mê đắm tình dục, không kìm được tâm khỉ ý ngựa, như nước trước cửa chảy ngược, nước trước cửa nhảy ngược, nước trước cửa kêu rỉ rả, đều là tướng dâm loạn hung họa. Trước cửa có nước đọng, phía sau nhà lại nhiều cây um tùm, chính là tướng hung của phụ nữ vô sỉ loạn luân thường.

Có bài kệ rằng:
*Nước chảy ngược, tình dục dâng cao mãi,
Ngã tư đường, phô bày thân thể;
Dù là gái nhà lành đức hạnh,
Trên giường vẫn có hai người đàn ông.*

Trong một gia đình bình thường, nếu một trong hai người phạm đào hoa thì gia đình đó giống như ném một hòn đá vào mặt hồ yên tĩnh vậy, trong nhà bắt đầu có sóng gợn, nếu vẫn không tỉnh ngộ rất có thể dẫn đến gia đình tan vỡ ly hôn, gia đình đó sẽ chấm dứt. Người có thể chấp nhận được thì là hai vợ hai thiếp. Người không thể chấp nhận được sẽ phải đối mặt tại tòa án.

Trong "Bí kíp địa linh" có dạy rằng dương trạch phải loại bỏ phong thủy phạm đào hoa, tuyệt đối không được có tình trạng phong sinh thủy khởi của đào hoa, nếu không sẽ rất khó xử lý.

Trong kiếp này, Liên Sinh Hoạt Phật đã xử lý không biết bao nhiêu sự kiện đào hoa lớn nhỏ, có lẽ lên đến hàng nghìn vạn vụ. Với nhà cửa thì phải chỉnh sửa phong thủy, với Mật pháp thì phải làm pháp tiêu tai hoặc pháp hàng phục. Những câu chuyện quanh co uẩn khúc này nếu đem ra viết tiểu thuyết thì phải viết đến hàng nghìn vạn tập.

Tóm lại, đào hoa nam nữ đều là tướng hung, từ chỗ yên ổn nổi sóng gió, gây nên cảnh gà bay chó chạy, không khéo thì oán khí khó tiêu, có khi dẫn đến chuyện thắt cổ tự tử.


### 31. Phong thủy sinh đôi


Ở Vancouver (Canada) có một đôi vợ chồng đến gặp tôi, họ là đệ tử quy y của tôi, rất trẻ, thông minh và từng làm chủ biên tạp chí "Bồ Đề Chân Phật". Họ là vợ chồng họ Triệu.
Người chồng có dung mạo thanh tú, người vợ hiền thục dịu dàng, là một gia đình Phật tử hiếm có. Vợ chồng họ Triệu đều có năng khiếu ngôn ngữ rất cao, tiếng Anh, tiếng Phổ thông và tiếng Quảng Đông đều thông thạo.

Hai vợ chồng nói với tôi: "
Sư Tôn, chúng con có một điều muốn cầu xin?"
"Chuyện gì vậy?"
"Chúng con hy vọng sinh được một cặp song sinh." - Hai vợ chồng quỳ xuống nói.
"Song sinh ư? Tại sao vậy?" - Tôi rất ngạc nhiên.
"Bởi vì chúng con cảm thấy việc học Phật tu pháp rất quan trọng, mà đời người thì ngắn ngủi. Nếu sinh từng đứa một thì việc sinh nở sẽ chiếm rất nhiều thời gian. Nếu chúng con sinh hai đứa cùng một lúc thì chỉ vất vả một lần, và khi có hai con rồi chúng con sẽ không sinh nữa, như vậy sẽ tiết kiệm được thời gian một lần sinh nở, chúng con có thể có nhiều thời gian học Phật hơn. Đây là mong ước của vợ chồng chúng con, mong Sư Tôn tác thành."

Nghe xong, tôi không khỏi mỉm cười và nói: 
"Tôi có thể gia trì cho hai con, cũng sẽ cầu nguyện trước Phật, mong sao hai con sinh được một cặp song sinh."

Tôi đã gia trì cho vợ chồng họ. Tôi cũng cảm thấy vợ chồng họ rất thành tâm tin Phật, phẩm chất cao quý, là nhân tài hiếm có, tương lai sẽ là trụ cột của Chân Phật Tông.

Vợ chồng họ Triệu đến cầu xin sinh đôi khiến tôi nhớ đến một chuyện thú vị khi xem phong thủy trước đây, địa điểm là một ngôi làng nhỏ ở huyện Cao Hùng. Trong làng đó, cứ mười nhà thì có tám nhà sinh đôi, sinh ra đứa nào cũng là sinh đôi.
Người ở ủy ban xã không hiểu ra sao cả!
Giới học thuật cũng không hiểu ra sao!
Ngay cả người dân trong làng cũng không hiểu vì sao!

Tôi đã đến thăm ngôi làng đó, thì ra là do phong thủy. Đứng ở lối vào con đường chính của làng, tôi có thể thấy hai ngọn núi hình kim, trông như hai bầu vú, lại như hai bụng, núi trước và núi sau nối liền nhau. Khi tôi đặt la bàn xuống, thì ra là có Quý thủy [còn có nghĩa là kinh nguyệt phụ nữ] đón chào hai núi.

Cần biết rằng, khi có hai ngọn núi nối liền như bầu vú và có Quý thủy đón chào, đây là tướng sinh song sinh nam nữ, đây là phong thủy sinh đôi. Ngoài ra, nếu cửa chính của phòng khách đối diện với Hỏa Tinh sơn, và xung quanh nhà có hai dòng nước chảy vào, đây cũng là phong thủy sinh đôi.

"Bí kíp địa linh" có một bài kệ:
*Song sinh sinh đôi do đâu ra,
Chỉ bởi khí đôi đối chính đường;
Quan sát địa linh nơi sơn thủy,
Luận đoán phân minh rõ lẽ thường.*

Ngoài ra, có người tại sao chỉ sinh một lần là sinh đôi, những lần sau lại chỉ sinh một? Đây là vấn đề về "lý khí". Nếu chúng ta sống ở nơi có phong thủy sinh đôi, nhưng khí địa linh ở đó cũng có thời vận hành và thời không vận hành, nếu sinh vào thời không vận hành thì chỉ sinh một.

Thêm nữa, hướng cửa chính cũng có liên quan, dương trạch thừa sinh khí, cửa đối diện với song sơn hoặc Hỏa Tinh sơn, dù đối thẳng hay đối lệch đều có liên quan, đây chính là nguyên nhân tại sao có lúc sinh đôi, có lúc sinh một. Vì vậy ở những làng có tỷ lệ sinh đôi cao vẫn có người chỉ sinh một, không phải là một trăm phần trăm.

Phong thủy vượng đinh (nhân khẩu đông đúc) thường cần:
Kim Tinh quây chiếu.
Địa thế phải trùng điệp, phải có thế đất tình tứ. Địa linh phải có sinh khí, như cát có tình, hai bên Rồng Hổ có thế ôm ấp.
Sân phơi rộng rãi, hai bên có tình.

Phong thủy làm cho nhân khẩu thưa thớt là:
Đất quá bằng phẳng, không có sinh khí.
Nước phá thiên tâm.
Dương trạch ở trước sau chùa miếu.

Ngoài ra, có bài kệ rằng: "Tốn cao không sinh con, núi Ly Đoài cô độc sinh không thành, đất Khôn trồng hoa có ao hồ, ắt đoán vợ chồng cô độc."
Đây là chứng vô sinh.
Đạo lý phong thủy rất kỳ diệu, càng nghiên cứu sâu càng thú vị.


### 32. Nhà ở bệnh tật liên miên


Thực ra nhà cửa của người Mỹ có khá nhiều vấn đề. Có lẽ do bản tính, họ rất thích sống trong rừng, nếu không ở trong rừng thì cũng phải ở giữa bụi cây, những bụi cây che phủ hoàn toàn ngôi nhà của họ. Trước cửa là cây to, sau nhà là cây to, xung quanh toàn là cây to, kiểu nhà như vậy rất nhiều. Chúng tôi thường đùa rằng: "Quả thật là bản tính khó dời, ai ai cũng chui vào ở trong bụi cây."

Khi tôi mới đến Mỹ, nhiều đệ tử người Mỹ nghe đồn tôi xem phong thủy, cũng mời tôi đến xem nhà họ. Vì vậy tôi cũng đã xem qua không ít nhà của người Mỹ. Đừng nhìn thấy họ người nào cũng cao lớn oai vệ, thực ra bệnh tật không phân biệt chủng tộc, số người mắc bệnh cũng nhiều như nhau.

Một đệ tử người Mỹ của tôi tên là Moore. Anh ấy nói với tôi: "Người trong nhà cứ lần lượt bị bệnh, đã kéo dài ba năm rồi, người này vừa khỏi thì người kia lại đổ bệnh, chẳng bao giờ dứt, tiền thuốc men tốn kém không thể tính được, tệ hơn nữa là tổn thất về tinh thần và thể xác thì không thể đo đếm." Anh ấy tự gọi ngôi nhà của mình là "ngôi nhà bệnh tật liên miên".

Tôi đã đến xem "ngôi nhà bệnh tật liên miên" này. Thì ra là một căn nhà nhỏ nằm dưới một cây cổ thụ. Nhà không lớn, nhưng cây thì rất to, cành lá sum suê che kín cả ngôi nhà, thân cây rất thô và rễ cây còn đâm sâu xuống dưới móng nhà.
Với một ngôi nhà như vậy, người ở trong đó, dương khí trong cơ thể đều bị âm khí của cây cổ thụ hút sạch. Âm khí đè nén dương khí, làm sao không bệnh được?

Tôi bảo Moore dọn nhà đi, ngôi nhà dưới gốc cây này tốt nhất là không nên ở, bởi vì nhà ở cũng cần âm dương điều hòa thích hợp, cây cổ thụ cao vút, âm khí quá thịnh, cũng không tốt. Mà cây to như vậy rất khó di dời, chi bằng bán nhà đi. Moore cuối cùng đã đồng ý chuyển nhà.

Các thầy phong thủy chỉ ra những đặc điểm của "ngôi nhà bệnh tật liên miên":
Bốn đường nước Tý Ngọ Mão Dậu chạy xung vào phòng khách.
Bốn con đường Tý Ngọ Mão Dậu chạy xung vào phòng khách.
Cây to che nhà, rễ cây đâm xuống dưới móng nhà.
Nước từ hướng Đông Bắc chảy xung vào cửa.
Trước cửa chính chất đống đá tảng làm non bộ, tưởng là trang trí sân vườn.
Nhà quá sáng hoặc quá tối.
Nhà vệ sinh liền kề nhà bếp. 
Hố phân cạnh giếng. 
Nhà vệ sinh đối diện cửa chính.
Đặt vật nặng không đúng vị trí.
Lối đi từ cửa chính vào sân sau quá hẹp. 
Phía sau nhà là sườn núi dốc đứng.

Tôi từng đến xem phong thủy cho nhà của một người tên là Philippe. Vừa vào cửa nhà anh ấy đã chạm ngay vào tường sân sau, nhà hẹp dài hai bên, phía sau là sườn đá dốc đứng, tôi liền nói ngay: 
"Anh có bệnh".
Anh ấy nói: 
"Không có, tôi vẫn luôn khỏe mạnh".

Thực ra, Philippe có vóc dáng cao lớn khỏe mạnh, cơ bắp cuồn cuộn, mặt mày hồng hào, khi nghe tôi nói anh ấy có bệnh, mọi người xung quanh đều cảm thấy lạ.
Tôi nói: 
"Căn bệnh này tuy nhỏ, nhưng rất đau đớn".
"Bệnh gì vậy?"
"Bệnh trĩ."
Nghe vậy, mặt Philippe càng đỏ thêm, anh ấy nói: 
"Sư Tôn nói không sai, tôi thật sự có bệnh trĩ, từng cục từng cục cứng như sỏi, đã nhiều năm rồi, mỗi khi đau thì không chịu nổi. Sư Tôn tinh mắt nhìn ra chi tiết nhỏ nhặt như vậy, làm sao mà thấy được vậy?"
"Nhà hẹp phía sau, sau nhà là núi đá chồng chất, quá dốc, nên mới có căn bệnh này."
"Còn những căn hộ chung cư bình thường, không có núi không có đá thì xem thế nào?"
"Tuy chung cư không có núi không có đá, nhưng vẫn có sự chật hẹp, chật là dốc, hẹp là cứng, đây chỉ là sự mở rộng của đạo lý phong thủy mà thôi." - Tôi nói.

"Bí kíp địa linh" có một bài kệ:
*Sao La Kế đè lên ngực,
Tổ én trên xà sinh ghẻ lở,
Hố phân trước cửa bụng trướng đau,
Long mạch có hố sinh điên loạn,
Đá lộn xộn miệng giếng gãy chân tay,
Cột cửa hư nát cũng nhiều ghẻ.*


### 33. Sự hình thành của những ngôi nhà ma quái


"Bí kíp địa linh" có một bài kệ:
*Cửa hướng Đông Bắc ma quỷ vào.
Hướng này mặt trời không chiếu đến.
Âm cực quỷ quái ưa tụ tập.
Quấy phá tường vách chỉ thêm phiền.
Chỗ tối tăm hay có ma quỷ.
Ma như chuối lủng lẳng trên cây.*

Trong la bàn, hướng Cấn là hướng ma quỷ. Nếu chúng ta mở cửa về hướng Đông Bắc, hướng này chính là cửa quỷ, là âm cực, là chỗ dương khí không chiếu tới. Phần lớn ma quỷ sẽ vào căn nhà này, ẩn náu ở những chỗ tối tăm trong nhà, hoặc nơi cây cảnh có thể trú ẩn, hoặc phòng ngủ tối tăm.

Dù giường được kê đúng hướng, nhưng ban đêm ngủ lại có nhiều ác mộng, trong mộng thường xảy ra nhiều chuyện kỳ quái khiến nhiều người ngủ không yên. Chỉ vì trong phòng ngủ tụ tập nhiều ma quỷ, liên tục hút khí, khiến người ta mệt mỏi không chịu nổi.

Cửa mở về hướng Đông Bắc là cửa quỷ, nếu có thai nghén, rất có thể là quái thai, như thai máu, thai trứng, hình dáng quái dị, ngay từ khi mang thai đã có những điềm bất thường, sinh con có thể bị câm hoặc có thể bị điếc. Đôi khi tưởng là có thai nhưng thực ra là u bướu.

Ngày xưa tôi đi xem phong thủy nhà ở, có một ngôi nhà được gọi là "nhà ma quái".
Chủ nhà hỏi: 
"Tại sao vậy?"
Tôi đáp: 
"Vì cửa quỷ ở hướng Đông Bắc."
"Lúc mới chuyển đến, sao mọi việc đều tốt lành?" - Chủ nhà nghi ngờ.
"Chắc chắn là trước tiên có tang sự, rồi ma quỷ mới vào."
"Khi nào?"
"Hai năm trước."

Lúc đó chủ nhà mới gật đầu, cho rằng tôi nói rất đúng, bởi vì hai năm trước mẹ ông qua đời, để tang ba tháng. Từ khi mãn tang về sau, mọi người trong nhà đều gặp ác mộng, liên miên không dứt, trong nhà thường có những điều kỳ quái, vợ ông phải cắt bỏ một khối u tử cung, bệnh tật liên tiếp, gia đình không được bình an.

Tôi đã đặc biệt thay đổi cửa quỷ phía Đông Bắc của nhà chủ nhân. Nghiêm trọng hơn là đã có cửa quỷ Đông Bắc, lại thêm là nhà to rộng, càng không có ánh nắng chiếu vào, rất có thể sẽ biến thành "chợ ma". Một nơi ma quỷ tụ tập, ở được bình an trong một ngôi nhà như vậy mới là điều kỳ lạ.

Ngoài ra, nhà có thể biến thành nhà ma quỷ, ngoài yếu tố cửa quỷ Đông Bắc ra, cần chú ý những điều sau đây:
Tường nhà bị hư hỏng phải sửa chữa ngay.
Hành lang và nhà ở phải được nối liền, không được có khoảng cách.
Đất trống không được có hình dáng như quan tài.
Nhà phụ phía sau cần đặc biệt chú ý, không được có hình dáng như quan tài.
Không đặt cây cảnh ở những nơi âm khí nặng.
Nếu sơ suất, e rằng ma quỷ sẽ tụ tập.

Tại sao tường nhà bị hư hỏng phải sửa chữa ngay? Bởi vì ma quỷ thích những ngôi nhà tường vách hư hỏng, có tường vách hư hỏng thì trở thành "nhà tang tóc". Nếu hành lang và nhà ở có khoảng cách, ma quỷ sẽ nhìn lầm thành quan tài, giống như quan tài ở đất trống vậy. Nhà lớn phía sau xây thêm nhà nhỏ cũng cùng một đạo lý, sẽ bị ma quỷ nhìn thành quan tài. Đặt cây cảnh ở nơi âm khí nặng, ma quỷ sẽ bám vào cây cảnh.

Liên Sinh Hoạt Phật trong cuộc đời này đã gặp không ít ma quỷ, ma thẳng thắn, ma ngu dốt, ma quỷ quyệt, đó là bản tính của ma, nhưng so sánh giữa ma và người, tôi sợ người chứ không sợ ma. Bởi vì con người thường có nhiều thủ đoạn, lòng dạ quanh co, người còn đáng sợ hơn cả ma quỷ.

Tôi là người đã học qua Mật pháp, nhờ vậy tôi hiểu được cách thí thực, hóa cam lộ thủy, siêu độ. Tôi thường cách một ngày lại thí thực, hóa cam lộ, siêu độ, vì vậy nhiều ma quỷ tụ tập ở nhà tôi không phải vì dương trạch của tôi là nhà ma quái, mà là vì tôi thỉnh mời họ đến. Tôi đồng cảm với họ và tìm cách siêu độ, độ hóa, vì ma quỷ cũng là một trong các chúng sinh!

Tôi nghĩ mình làm vậy, không có gì khác, vẫn là xuất phát từ tâm từ bi, vô vi mà làm, trong khoảng trời đất này, chúng ta đến một chuyến không dễ dàng, có thể làm được việc có ích thì làm thêm một chút, đây cũng là trách nhiệm và nghĩa vụ tôi phải làm.


![image](/img/img_9a3be5abc3ff92db25403cb0fedbee17.png)


Tường vách nhà bị hư hỏng cần sửa chữa ngay, bởi vì ma quỷ thích những ngôi nhà có tường vách hư nát.


### 34. Cảm nghĩ về việc viết "Nói rõ về dương trạch địa linh"


Liên Sinh Hoạt Phật vốn là một tín đồ Cơ Đốc giáo, sau đó theo học Đạo giáo và phong thủy với Đạo trưởng Thanh Chân, rồi quy y Hiển giáo, cuối cùng quy y Mật giáo.

Đạo trưởng Thanh Chân tuy là Đạo sĩ núi Thanh Thành, nhưng cả đời ẩn mình lánh đời, ẩn danh tránh tiếng, kiến thức của ngài không chỉ giới hạn ở Đạo học, Đạo trưởng còn thông hiểu cả Hiển giáo và Mật giáo của Phật giáo, khi tìm hiểu sâu mới biết, Vinh Tăng Kim cương Thượng sư và Norlha Kim cương Thượng sư đều là người cùng môn phái.

Đạo trưởng Thanh Chân là bậc học rộng tài cao, sách vở của ngài thật sự bao quát kinh sử, không sách nào không nghiên cứu, những bí kíp nghìn năm chưa truyền của ngài đều là những báu vật vô giá.

Những năm cuối đời, Đạo trưởng Thanh Chân chỉ chuyên tâm vào huyền học, tu luyện tinh thần, an nhiên tự tại, hoàn toàn tự do, không còn nhắc đến những phép thần thông biến hóa ngày xưa ở đất liền nữa. Ngài chỉ truyền dạy cho một mình tôi, bao gồm Đạo học, Hiển giáo, Mật tông, phong thủy. Đặc biệt là những tuyệt học phong thủy mà tôi có được là những kho báu bí mật quý hơn vạn vàng, thật là vạn phần may mắn!

Bản thân tôi đã học tập nhiều năm, am hiểu tất cả về Đạo giáo, Hiển giáo, Mật giáo và phong thủy, từ đó hiểu được thiên cơ ở đâu, muốn ẩn cư lánh đời. Nhưng hiện nay đệ tử rất đông, những bậc cao minh thỉnh cầu tôi viết sách để chỉ dạy, có thể nói là nối gót không dứt. Tôi muốn trốn danh tiếng nhưng càng trốn càng không thoát, muốn ẩn danh nhưng thân cũng không thể ẩn, đây cũng là điều khó nói của tôi.

Sau khi xuất gia, tôi đã hiểu được đạo lý hóa độ chúng sinh của bậc thánh, càng hiểu rõ đạo lý nhiệm màu của trường sinh, tâm và tính đã hợp nhất với Phật, đã ngộ được tâm tính, minh tâm kiến tính. Vốn không muốn viết thêm về phong thủy nữa, nhưng các bậc thánh hiền trong và ngoài nước biết tôi từng học bí quyết phong thủy, thỉnh tôi viết "Nói rõ về dương trạch địa linh". Bởi vì nếu đất xấu chôn giấu của báu thì của báu sẽ bay đi mất, không còn ở thế gian nữa. Vì thế "Nói rõ về dương trạch địa linh" lại được viết ra sau khi tôi xuất gia, cũng là một điều ngoài ý muốn.

Viết cuốn sách này, tôi rất khó xử, bởi vì học thuật địa linh có rất nhiều thuật ngữ, nếu viết quá khó hiểu thì tất cả đệ tử và độc giả đều không thể hiểu được, vì vậy tôi không dám dùng những thuật ngữ chuyên môn về địa linh, cũng không dám viết quá sâu, bởi vì viết quá sâu thì người mới học khó nắm bắt được.

Trong "Nói rõ về dương trạch địa linh", cách viết của tôi là mong muốn độc giả có thể hiểu được, đây là tâm nguyện đầu tiên khi viết sách, cố gắng viết thật chi tiết, hy vọng có thể sâu sắc và gợi mở, tránh cảm giác khó khăn vướng mắc, đó là tâm trạng khi viết sách.

Dĩ nhiên, cuốn "Nói rõ về dương trạch địa linh" này chỉ là "dựng cột" mà thôi, không bao gồm toàn bộ "Bí kíp địa linh", chỉ đề cập đến một phần nghìn mà thôi, theo "Bí kíp địa linh" có tất cả mười hai loại, chia thành bảy mươi hai quyển, và khi viết, tôi chỉ chọn một điểm trọng tâm trong các quyển để trình bày, cuốn sách này thực ra chỉ là những trải nghiệm và tâm đắc "thực dụng sâu sắc".

Tuy vậy, trong thâm tâm tôi hiểu rằng đây là "điều đã được kiểm chứng", bởi tôi đã quan sát không dưới hàng nghìn vạn ngôi nhà về phong thủy, và những ứng nghiệm còn nhiều hơn thế nữa. Phương pháp về nhà cửa âm dương có vô vàn điều, dễ học nhưng khó tinh thông, đừng nghĩ rằng đây chỉ là "một phần nhỏ", thực ra để học được "một phần nhỏ" này có khi phải dốc cả đời người.

Do trên thị trường có rất nhiều sách về phong thủy nhà ở chất đống như núi, đều sử dụng phương pháp phương vị, khiến người đọc khó hiểu và không thể đọc hết, thầy thời nay dùng những thủ đoạn lừa bịp, vì vậy sách của tôi viết dùng "lý khí" và logic, tránh xa những màu sắc thần bí.

Về các lý thuyết phong thủy như "Tam hợp", "Tam nguyên", "Cửu cung", "Cửu tinh", "Ngũ hành", "Nhị thập bát tú", "Huyền không", "Bát quái", "Nhị thập tứ sơn", tôi dự định khi có cơ duyên sẽ bắt đầu giảng dạy tại Mỹ. Có người mời tôi đến Đại học Washington để mở khóa học, sử dụng phương pháp giảng dạy theo kiểu học thuật để truyền thụ. Như vậy, khi phân tích từng phần một, truyền đạt từ từ, chắc chắn sẽ giúp người trong và ngoài nước tiếp thu như gió xuân. Hơn nữa, cách truyền dạy như vậy sẽ giúp những kiến thức và phương pháp phong thủy dễ hiểu hơn và hoàn toàn không giấu giếm.

Liên Sinh Hoạt Phật cân nhắc rằng, việc truyền thụ hết những gì mình có như vậy mới là phương pháp có trình tự, mới có thể tiến dần từng bước, giúp người học thấu hiểu. Việc mở lớp giảng dạy "Bí kíp địa linh" tại Mỹ đang được cân nhắc kỹ lưỡng.

Về pháp xuất thế, thực ra địa linh và xuất thế cũng có mối liên hệ với nhau. Người tu hành thực chất là vận dụng khí của chính mình để hòa hợp với khí của trời đất. Đó chính là lý do tại sao khi nhập thất theo Mật giáo, người ta phải tìm động phủ nơi danh sơn. Người tu đạo vận khí kết hợp với khí trời đất, chính là để chờ đợi sự dung hợp vậy.

Thuật của Mật tông tinh diệu tuyệt vời nhất chính là vận dụng khí bên trong của mình, hòa hợp với khí trời đất, rồi hóa về vô hình. Càng tu luyện càng thâm sâu, đạt đến cảnh giới của bậc đại thánh vậy!

Viết một bài kệ:
*Học địa lý trừ họa
Đạo nhân được bình an
Có thể ban rương vàng
Có thể giữ cửa ngọc
Dạy điều thiện cứu đời
Bao hàm mọi tạo hóa.*


### 35. Phụ lục 1: Nạp âm lập hướng


Thầy phong thủy khi tạo phúc cho người khác, thường căn cứ vào mệnh số trước rồi mới chọn đất. Nhưng tôi thì khác, tôi nghĩ đến đất trước trong tâm trí, sau đó mới kết hợp với mệnh số. Việc định hướng huyệt mộ có rất nhiều yếu tố, phải phù hợp với hướng lưu chuyển của địa khí, phải hợp với hình thế huyệt, cần tiêu cát, cần dẫn thủy (cho nước chảy về sảnh), đồng thời còn phải quan tâm đến mệnh số của người đã khuất, vì vậy việc tạo phúc cho người khác không hề đơn giản.

Về việc định hướng, có người sử dụng phương pháp "Nhị thập tứ sơn". Còn có nhiều lý thuyết ngũ hành hơn, bao gồm hình thể ngũ hành, cửu tinh ngũ hành, tam hợp ngũ hành, huyền không ngũ hành, lạc thư ngũ hành, hà đồ ngũ hành, v.v... Tuy nhiên, Chân Phật Tông sử dụng "Nạp âm ngũ hành".

"Nạp âm ngũ hành" là chu thiên lục thập giáp tý (sáu mươi trụ), trong đó ngũ hành được nạp vào, sự diễn biến và nguyên tắc của nó xuất phát từ âm luật của Hà đồ Lạc thư và các sự phân bổ biến hóa của can chi. Theo ý kiến của tác giả, đây là phương pháp thích hợp và thực dụng hơn cả.

Lục thập giáp tý, nạp ngũ hành như sau:

Giáp Tý Kim, Ất Sửu Kim, Bính Tý Thủy, Đinh Sửu Thủy, Mậu Tý Thủy
Giáp Dần Thủy, Ất Mão Thủy, Bính Dần Hỏa, Đinh Mão Hỏa, Mậu Dần Thổ
Giáp Thìn Hỏa, Ất Tỵ Hỏa, Bính Thìn Thổ, Đinh Tỵ Thổ, Mậu Thìn Mộc
Giáp Ngọ Kim, Ất Mùi Kim, Bính Ngọ Thủy, Đinh Mùi Thủy, Mậu Ngọ Hỏa
Giáp Thân Thủy, Ất Dậu Thủy, Bính Thân Hỏa, Đinh Dậu Hỏa, Mậu Thân Thổ
Giáp Tuất Hỏa, Ất Hợi Hỏa, Bính Tuất Thổ, Đinh Hợi Thổ, Mậu Tuất Mộc
Kỷ Sửu Hỏa, Canh Tý Thổ, Tân Sửu Thổ, Nhâm Tý Mộc, Quý Sửu Mộc
Kỷ Mão Thổ, Canh Dần Mộc, Tân Mão Mộc, Nhâm Dần Kim, Quý Mão Kim
Kỷ Tỵ Mộc, Canh Thìn Kim, Tân Tỵ Kim, Nhâm Thìn Thủy, Quý Tỵ Thủy
Kỷ Mùi Hỏa, Canh Ngọ Thổ, Tân Mùi Thổ, Nhâm Ngọ Mộc, Quý Mùi Mộc
Kỷ Dậu Thổ, Canh Thân Mộc, Tân Dậu Mộc, Nhâm Thân Kim, Quý Dậu Kim
Kỷ Hợi Mộc, Canh Tuất Kim, Tân Hợi Kim, Nhâm Tuất Thủy, Quý Hợi Thủy

Phương pháp lập hướng chính là sự kết hợp giữa mệnh ngũ hành của con người với mệnh ngũ hành của địa linh, từ đó tạo nên mối quan hệ tương sinh tương khắc của ngũ hành. Tác giả cho rằng địa linh cũng có mệnh số, có thể các thầy địa lý thông thường sẽ thấy lạ, nhưng thực ra không có gì đáng ngạc nhiên, tôi xem địa linh như một sinh mệnh sống động vậy. Sử dụng nạp âm ngũ hành để con người và đất đai phối hợp, dùng nạp âm ngũ hành cũng có thể chọn ngày, từ đó có thể quyết định và phán đoán phương hướng.


### 36. Phụ lục 2: Các điều cấm kỵ của nhà ở


◎ Điều cấm kỵ khi chọn đất xây nhà
1. Cao tận cùng - Không được ở nhà quá nhô cao hoặc tách biệt.
2. Thấp dồn ép - Quá thấp trũng hoặc hai bên có vách đá dựng đứng.
3. Hung khí - Tránh ở nơi từng là chùa chiền, nghĩa địa, bệnh viện, chiến trường, pháp trường.
4. Kỳ dị - Địa thế có hình tam giác nhọn hoặc hình chổi.
5. Đất nhiều cát sỏi hoặc đá, không có địa khí hùng hậu.

◎ Các điều cấm kỵ của nhà ở
1. Nước bên ngoài nhà tạo thành hình "cung ngược", chảy hướng vào (xông vào) nhà.
2. Nhà trước cao, nhà sau thấp là tướng đại hung.
3. Nước trong ao ít hoặc ao bị khô.
4. Góc ao trực tiếp xông vào cửa.
5. Địa thế không có cao thấp, không có địa khí.
6. Xung quanh toàn nhà cao tầng hoặc bị chật ép.
7. Bốn phía có nước xông vào nhà.
8. Nhà ở phía trước hoặc phía sau chùa.

◎ Những điều cấm kỵ bên ngoài cổng
1. Hướng nhà không phù hợp với từ trường mệnh số của chủ nhà - vô tình.
2. Hai bên Long Hổ không cân xứng.
3. Đường xông thẳng vào nhà.
4. Đối diện với cột điện, cột lớn, hố sâu, vách đá, hình cung ngược.
5. Đối diện với ống khói, góc nhà, tường nhọn, vật nhọn của nhà đối diện...
6. Đối diện cổng nhà người khác, và cổng nhà người ta lớn hơn cổng nhà mình.
7. Đối diện với hố phân, vườn rau, lò đốt rác và các vật dơ bẩn khác.

◎ Những điều cấm kỵ bên trong cổng
1. Vừa vào cổng đã đối diện với cầu thang, tường nhọn, xà ngang xuyên tâm.
2. Vừa vào cổng đã bị tường chắn, quá chật hẹp.
3. Vừa vào cổng đã nhìn thấy giường ngủ, bếp lửa, nhà vệ sinh, bồn cầu, lò sưởi.
4. Vừa vào cổng đã nhìn thấy cửa sau (xuyên ngực), hoặc đã thông thẳng ra phía sau nhà (bị kẹp lưng).

◎ Điều cấm kỵ ở vị trí kho tài:
1. Không được mở cửa sổ, cửa ra vào. Không được làm cửa kính từ trần đến sàn.
2. Không được tạo thành lối đi.
3. Tránh đi lại, khách đến không được giẫm chân lên vị trí kho tài.
4. Phòng khách không được quá sáng hoặc quá tối tạo cảm giác u ám.

◎ Các điều cấm kỵ về tướng nhà
1. Nhà vệ sinh: không được đặt trên đường chéo giao nhau.
2. Lò sưởi: không được đối diện thẳng với cửa chính.
3. Thoát nước: nếu hệ thống thoát nước kém sẽ khiến người trong nhà sinh bệnh.
4. Cây cối bên ngoài nhà: không được quá cao rậm che khuất ánh sáng gây âm khí nặng nề, nhưng không có cây cũng không tốt.
5. Cửa sổ: quá sáng dễ tán khí, quá tối dễ bị âm khí xâm nhập.

◎ Những điều cấm kỵ của nhà bếp
1. Bếp không có vách chắn bốn phía sẽ làm tán tài.
2. Vòi nước bồn rửa đối diện với bếp lửa là tướng đại hung.
3. Không được vừa vào cửa đã nhìn thấy lửa từ bếp.
4. Đối với cửa hàng kinh doanh, không được đặt bếp ở trung tâm đường chéo giao nhau.
5. Rác trong bếp phải được đậy kín để tránh phát sinh uế khí.
6. Máy hút mùi không được nhô ra quá nhiều.
7. Nhà bếp không được làm cửa sổ trần.

◎ Điều cấm kỵ của bàn làm việc
1. Không đối cửa: bàn ghế không được đặt đối diện cửa.
2. Không quay lưng vào cửa: không ngồi quay lưng về phía cửa.
3. Dựa chỗ vững chắc: phía sau ghế không được có cửa, không được dựa cửa sổ.
4. Dựa sát vào: lưng ghế phải gần sát tường vững chắc, không được đặt ở giữa phòng không có chỗ dựa.
5. Phương vị 12 chi: không đặt ở hướng hung của từ trường mệnh chủ nhà.
6. Chọn ngày: khi di chuyển cần chọn ngày Định, ngày Mãn để di chuyển.

◎ Điều cấm kỵ của cầu thang
1. Vừa vào cửa đã thấy cầu thang.
2. Cầu thang nằm ở hướng Đông Bắc của nhà (cửa quỷ).
3. Cầu thang bên ngoài cửa quá chật hẹp.
4. Cầu thang xoắn ốc, như cột sắt và khoảng trống giữa các bậc thang.

◎ Điều cấm kỵ về đồ cổ
1. Đồ cổ đã từng được dùng để cúng tế hoặc là vật dụng trong chùa miếu.
2. Đồ tùy táng từ mộ cổ hoặc lăng mộ.
3. Đồ cổ có hình tượng thần Phật.
4. Đồ đá hoặc gỗ được chạm khắc thành hình người hoặc động vật dễ bị nhập linh.
5. Đồ cổ có linh khí sẽ ảnh hưởng đến từ trường.

◎ Điều cấm kỵ của phòng ngủ chính
1. Phòng quá rộng nhưng trống trải làm khí quá hư.
2. Cửa sổ kính từ trần tới sàn quá lớn làm khí phân tán và không vững.
3. Trần nhà quá thấp hoặc không bằng phẳng tạo cảm giác áp lực.
4. Trần nhà quá cao.
5. Quá nhiều gương.

◎ Những điều cấm kỵ của giường ngủ:
1. Phía trên giường có xà ngang (ống nước, cầu thang) đè ngang hoặc đè thẳng.
2. Khi ngủ quay lưng về phía cửa.
3. Vị trí giường đối diện thẳng với cửa.
4. Không được làm cửa sổ trời ngay phía trên đầu giường.
5. Đầu giường dựa sát và phía trên có cửa sổ.
6. Đầu giường không dựa vào tường, bốn phía giường không dựa vào tường.
7. Giường có hình dạng kỳ quái.

◎ Điều cấm kỵ về bàn thờ
1. Bàn thờ đặt trên khung cửa, bên dưới là lối đi.
2. Xung quanh bàn thờ trống trải bốn phía, làm tản mất khí.
3. Bàn thờ thường bị gió thổi làm không ổn định.
4. Bàn thờ dựa vào tường không chắc chắn, gây tiếng kêu lộc cộc.
5. Bàn thờ không vững chãi, có thể bị rơi xuống đất.

◎ Điều cấm kỵ của bàn thờ đón Thủy Thần
1. Nước chảy xiên, nước chảy ngược, nước chảy thành hình cung ngược là điềm hung.
2. Nước chảy trên đầu, tiếng nước chảy róc rách, sóng nước dập dềnh là đại hung.
3. Di chuyển bàn thờ vào ngày xấu giờ xấu, không có nghi thức, thiếu lễ nghi.

◎ Điều cấm kỵ về giếng cổ và bể nước
1. Khi đào giếng hoặc lấp giếng không làm lễ cúng.
2. Bể nước nhô cao làm mất cân bằng toàn bộ kiến trúc.

◎ Điều cấm kỵ về nước vào và nước ra trong nhà
1. Đào hồ, đài phun nước, thác nước trong nhà.
2. Hồ nước, bể bơi, đài phun nước ở ngoài nhà nằm ở hướng Đông Bắc, Tây Nam.
3. Nước chảy quá thẳng và rõ.

◎ Điều cấm kỵ của khu vực làm việc
1. Khu vực làm việc nằm ở phía trên hoặc phía trước nhà.
2. Khu vực làm việc nằm ở hướng Đông Bắc, Tây Nam.
3. Nhà để xe nằm ở phía trước cửa bên hướng Hổ.
4. Mái che xe đặt sai hướng Rồng Hổ.
5. Máy móc đặt ở miệng Hổ.

◎ Những yếu tố tạo thành nhà ma
1. Khí địa linh trong nhà rối loạn, kim la bàn dao động lên xuống trái phải.
2. Sử dụng vật liệu xây dựng có linh khí cũng sẽ tạo thành nhà có sát khí.
3. Nhà chưa được làm lễ tịnh hóa và kết giới.
4. Cửa mở về hướng Đông Bắc.
5. Tường bị hư hỏng không sửa chữa.
6. Hành lang và khu vực sinh hoạt bị ngăn cách.
7. Khoảng đất trống có hình dạng như quan tài.
8. Nhà phụ phía sau có hình dạng như quan tài.
9. Đặt cây cảnh ở nơi có âm khí.

◎ Yếu tố tạo thành nhà đào hoa

a) Đào hoa nam
1. Dây leo quấn cây.
2. Nước ở vị trí sao Kim đối diện cửa nhà.
3. Trước nhà có núi như bàn án, nghiêng về phía sau.
4. Vòi nước đối diện với bếp lửa.
5. Hai bên cổng chính có hai loại cây khác nhau.
6. Sau nhà dốc đứng, trước nhà có nước uốn cong như lông mày phụ nữ.

b) Đào hoa nữ
1. Trước nhà có cây, phần đầu và đuôi phình to.
2. Dòng nước chảy ngược.
3. Trước nhà có hai dòng nước chảy thẳng ra xa.
4. Xà nhà được chạm khắc hoa văn.
5. Bên phải của nhà đối diện với ngã tư đường.
6. Cửa chính thông với cửa phụ (cửa hông).

◎ Những yếu tố gây bệnh tật trong nhà
1. Bốn dòng nước hướng Tý, Ngọ, Mão, Dậu chảy vào phòng khách.
2. Bốn con đường hướng Tý, Ngọ, Mão, Dậu đâm thẳng vào phòng khách.
3. Cây to che nhà, rễ cây ăn vào dưới nhà.
4. Nước từ hướng Đông Bắc đâm vào cửa.
5. Cửa chính chất đầy đá giả núi.
6. Nhà quá sáng hoặc quá tối.
7. Nhà vệ sinh liền với bếp.
8. Bên cạnh giếng có hố phân.
9. Nhà vệ sinh đối diện cửa chính.
10. Vật nặng đặt không đúng vị trí.
11. Từ cửa vào đến sân sau quá chật hẹp.
12. Phía sau nhà là sườn núi dốc đứng.


### 37. Phụ lục 3: Làm sao xác định hướng của nhà ở?


I. Công cụ cần chuẩn bị
1. Một chiếc la bàn (dùng để xác định phương hướng Nam Bắc.)
2. Một bản vẽ mặt bằng nội thất nhà ở (có thể dùng bản vẽ mặt bằng trong quảng cáo nhà), nếu không có bản vẽ mặt bằng nhà thì có thể tự vẽ.
3. Vẽ bản đồ khu vực xung quanh nhà (đánh dấu các đường phố, sông ngòi, núi non xung quanh).
4. Giấy kẻ ô - dùng để tự vẽ bản vẽ mặt bằng (có bán tại các hiệu văn phòng phẩm, khổ A4 trở lên).

II. Cách vẽ sơ đồ mặt bằng nội thất đơn giản
1. Sau khi vào cửa chính, xác định chiều rộng lớn nhất của toàn bộ ngôi nhà, có thể đo bằng cách đếm số viên gạch. (Ví dụ: nếu một viên gạch dài 40 cm thì 9 viên gạch sẽ dài 40 cm × 9 = 360 cm).
2. Xác định chiều sâu lớn nhất từ cửa vào.
3. Sử dụng giấy kẻ ô để đánh dấu kích thước nhà theo tỷ lệ. (Ví dụ: 1 m = 3 ô nhỏ, vậy 3,8 m × 3 ô = 11,4 ô, tương đương khoảng 11,5 ô).
4. Trước tiên vẽ hình dáng bên ngoài của công trình, sau đó vẽ phòng khách, phòng ngủ chính, nhà bếp, nhà vệ sinh, cầu thang, các phòng khác và tường ngăn.

III. Cách xác định hướng nhà dựa trên bản vẽ mặt bằng
1. Lấy bản vẽ mặt bằng và xác định điểm trung tâm của ngôi nhà.
2. Nếu ngôi nhà không phải hình vuông, về cách đo điểm trung tâm, vui lòng tham khảo phụ lục 5: Cách xác định điểm trung tâm (trụ cột) của ngôi nhà.
3. Đứng tại điểm trung tâm, cầm la bàn, xác định các hướng của ngôi nhà và đánh dấu Đông Tây Nam Bắc lên bản vẽ mặt bằng; để tránh nhiễu điện từ trong nhà, có thể di chuyển ra ngoài và đo lại theo cùng hướng.
4. Đứng ở cửa chính nhìn ra ngoài, vẽ lại các đường phố, hướng chảy của sông suối, địa hình cao thấp của núi non và các công trình nổi bật xung quanh nhà (như cột điện, đền chùa, cây to...).
5. Để phân biệt vị trí cửa và hướng cửa, vui lòng tham khảo phụ lục 6.


### 38. Phụ lục 4: Tứ phương tăng ích pháp


Khi tôi ở trong nước, có một vị giáo sư thờ Phật cực kỳ kiền thành đến thăm. Ông ấy nói với tôi: 
"Thổ Địa Công không thể tin."
Tôi hỏi ngược lại ông ấy:
"Vì sao?"
"Miếu Thổ Địa Công ở đầu ruộng cuối ruộng đều có, thậm chí trong các cửa hàng, nhà nhà đều thờ cúng Thổ Địa Công, miếu Thổ Địa Công lớn nhỏ khác nhau, có một số miếu căn bản không hề trang nghiêm, tùy tiện dùng mấy viên gạch, một chút xi-măng là đã xây được một ngôi miếu, trong thiên hạ lấy đâu ra nhiều Thổ Địa Công như vậy, lẽ nào chỗ mà những thần đó sống còn rách nát hơn cả con người sao?"

Lời ông ấy nói cũng có một vài đạo lý, nhưng sự thật không hoàn toàn như vậy. 
Tôi nói:
"Trong thế giới của linh là thiên kỳ bách quái, Thổ Địa Công sống trong nhà nát, nhưng vẫn có những người lạy hòn đá, lạy cái cây đó thôi!"
"Việc này giải thích thế nào đây?"
"Linh giới có một kiểu hiện tượng rất kỳ quái, là vì con người đã muốn cầu linh đến trước. Hòn đá ban đầu không có linh, là con người đã thờ hòn đá trước sau đó hòn đá mới có linh; cái cây ban đầu không có linh, là do con người thờ cái cây trước thì cây mới có linh khí. Thổ Địa Công cũng như vậy, con người thờ cúng Thổ Địa Công trước sau đó Thổ Địa Công mới chiêu cảm mà đến. Thậm chí từ đây có thể suy rộng ra, con người cúng bái Phật Bồ Tát, Phật Bồ Tát vì chiêu cảm mà đến. Miếu có lớn nhỏ, có trang nghiêm có không trang nghiêm, thế nhưng đạo lý chiêu cảm là như nhau. Một người hoàn toàn không tin, linh của linh giới vì không có sự chiêu cảm cũng sẽ không chủ động đến thân thiết với người đó. Ngược lại, một người tin vào thần linh, cảm ứng của người đó sẽ càng ngày càng nhiều, bởi vì càng có sự chiêu cảm nên linh càng có thể đến thân thiết với họ."

Tôi lại nói:
"Linh giới có cao có thấp, có linh lực cao, có linh lực thấp, linh lực của Thổ Địa Công không cao, vì thế mà gửi thân vào miếu nhỏ không trang nghiêm, còn trong hòn đá, cái cây, núi sông, mầm mạ đều là các loài tinh linh, những linh này đều không nhất định sẽ hại người, có một số linh cũng giúp con người, ví dụ như Thổ Địa Công là một dạng linh giúp con người."
"Cách giúp người ra sao?"
"Có người kể rằng Thổ Địa Công có thể giúp người ta phát tài, nói rằng ở cửa nhà của những người giàu có luôn có mấy vị lão công công râu trắng ngày đêm vận chuyển vàng bạc châu báu đi vào cửa. Nếu ông tôn kính Thổ Địa Công, Thổ Địa Công cũng sẽ giúp đỡ ông, sẽ luôn khiến cho vận khí của ông nhiều lên, không bệnh không đau, nhiều phúc nhiều thọ."
"Ngài nói như vậy là thật hay giả đó?"
"Đương nhiên là thật rồi, tôi thường dùng một loại bí pháp để giúp người, phương pháp này chính là mỗi một người đều có linh tính của người đó, nếu linh tính này tương hợp với linh tính của Thổ Địa Công ở phương Đông thì thờ Thổ Địa Công ở phương Đông, chắc chắn được giúp ích, người có linh tính phương Tây thì thờ Thổ Địa Công phương Tây, người có linh tính phương Nam thì thờ Thổ Địa Công phương Nam, người có linh tính phương Bắc thì thờ Thổ Địa Công phương Bắc. Đây gọi là pháp tăng ích bốn phương."

Người tuổi Tý nên thờ Thổ Địa Công hướng Đông Nam. 
Người tuổi Sửu nên thờ Thổ Địa Công hướng Đông Nam. 
Người tuổi Dần nên thờ Thổ Địa Công hướng chính Nam. 
Người tuổi Mão nên thờ Thổ Địa Công hướng Tây Nam. 
Người tuổi Thìn nên thờ Thổ Địa Công hướng Tây Nam. 
Người tuổi Tỵ nên thờ Thổ Địa Công hướng chính Tây.
Người tuổi Ngọ nên thờ Thổ Địa Công hướng Tây Bắc. 
Người tuổi Mùi nên thờ Thổ Địa Công hướng Tây Bắc. 
Người tuổi Thân nên thờ Thổ Địa Công hướng chính Bắc. 
Người tuổi Dậu nên thờ Thổ Địa Công hướng Đông Bắc. 
Người tuổi Tuất nên thờ Thổ Địa Công hướng Đông Bắc. 
Người tuổi Hợi nên thờ Thổ Địa Công hướng chính Đông. 
Ngũ Lộ Phúc Thần ai ai cũng có thể thờ không có gì kiêng kỵ.

Nếu không có miếu thờ, chỉ cần quay về phương hướng hợp với mình, rất kiền thành chắp tay cúi lạy, hoặc dùng hương, hoa, quả, đường để cúng đều được. Nói chung thần của linh thấp đa số là ăn cơm canh, dùng cơm và thức ăn để cúng cũng được. 

Tôi thường dạy người ta dùng Tứ Phương Kim và Như Ý Kim, Thất Phật Kim cùng đốt thì hiệu ứng càng lớn. Thất Phật Kim và Như Ý Kim đều được niệm qua chú Đại Bi đà-la-ni là pháp đà-la-ni tăng ích, Thất Phật Kim và Như Ý Kim có thể thỉnh tại các chùa, đường, hội của Chân Phật Tông.

Bao nhiêu năm nay, tôi dạy người ta pháp này, rất nhiều người đã thu được lợi ích, nhưng xem ra chỉ có một mình tôi dạy người ta pháp này. Thổ Địa Công tuy là tiểu thần tiểu linh, nhưng đích thực có thể giúp người, rất có ích.

Sau khi tôi đến Mỹ, ở nước Mỹ có miếu Thổ Địa Công không?
Nước Mỹ có nhiều nhà thờ, cứ vài con phố là lại có một nhà thờ, thật ra nhà thờ cũng có linh ở đó, linh đó là do những tín chúng ở trong nhà thờ đó chiêu cảm mà đến. Tôi là một người thông linh, tự nhiên có thể nhìn thấy sự tồn tại của họ.

Nước Mỹ không có Thổ Địa Công, nhưng tôi y theo tập tục của Trung Quốc chúng ta, vẫn cứ là đi vào nhà thì lạy chủ đất (chủ nhân của linh của ngôi nhà), vốn dĩ là hai con ma già người Mỹ. Ban đầu hai con ma già người Mỹ này rất tức chúng tôi (phân biệt chủng tộc), sau đó trải qua một màn cúng tế lôi kéo (người có sữa thì là mẹ), họ cũng ngoan ngoãn vâng lời, mọi điều tôi cầu xin đều có thể thành hiện thực.

Có một lần, trong lúc cúng tế, tôi nhìn thấy một vị cụ già râu bạc đi vào hưởng đồ cúng, tôi vừa nhìn thấy thì kinh hoàng, sao mà Thổ Địa Công của Trung Quốc cũng di cư đến Mỹ rồi. Tôi nhìn kỹ hơn thì không nén nổi niềm thất vọng lớn, vẫn là cái người mũi cao mắt xanh, không ngờ là ông già Noel đã đến. 

Thế nhưng, pháp tứ phương tăng ích này ở nước Mỹ vẫn cực kỳ hữu hiệu, đúng là kỳ tích.


### 39. Phụ lục 5: Vẽ điểm trung tâm của ngôi nhà


Tài liệu do ông Chu Ưng và cô Lương Nhuận Trúc cung cấp.

1. Trước khi thẩm định dương trạch, trước tiên cần xác định điểm trung tâm của ngôi nhà (điểm lập cực).

2. Tại điểm trung tâm lập cực chính xác, dùng la bàn hoặc kim chỉ nam để xác định phương vị.

3. Có nhiều phương pháp để tìm điểm trung tâm (lập cực) của dương trạch.
A. Có thể nhanh chóng tính toán bằng phép tích phân hoặc chương trình máy tính.
B. Phương pháp đơn giản, thuận tiện và chính xác:
I. Trước tiên tính toán từ trọng tâm lực học của vật lý.
II. Loại bỏ hoặc bổ sung các phần lõm hoặc lồi, sau đó tìm điểm trung tâm.
III. Cân bằng các phần lồi lõm để tìm điểm trung tâm trên giấy.

Phương pháp I: Tìm điểm trung tâm (điểm lập cực) bằng trọng tâm lực học vật lý

1. Dụng cụ: Dao rọc giấy, kéo, tẩy, kẹp giấy, keo dán, dây đen (chỉ may) như hình 1.


![image](/img/img_e3fdc0e32a5d27ee9ac06c5a93d8e3c4.png)


1. Các bước:

a. Lấy bản vẽ mặt bằng (photo copy) dán lên tấm bìa carton mỏng bằng keo dán.

b. Dùng dao rọc giấy cắt theo đường viền cơ bản của ngôi nhà trong bản vẽ, cắt bỏ phần trống, chỉ giữ lại phần mặt bằng thực tế, như hình 2.


![image](/img/img_0cada3ca51c1fae0aa30cd6b4bb3284f.png)


Dùng dao rọc giấy hoặc kéo cắt theo đường viền tường ngoài của bản vẽ.

c. Lấy một sợi chỉ may màu đen dài 50cm, một đầu buộc vật nặng, sau đó lấy một cái kẹp giấy và uốn cong như hình vẽ.

d. Đục một lỗ nhỏ ở bất kì góc nào của bản vẽ mặt bằng, thắt đầu dây còn lại thành một vòng, luồn kẹp giấy qua vòng dây rồi qua lỗ nhỏ ở góc bản vẽ, giống như cân đồ vật, tay giữ kẹp giấy, treo bản vẽ lên và để nó tự nhiên rũ xuống.

e. Sau đó quan sát hướng của dây trên bản vẽ, dùng bút chì đánh dấu hai đầu của dây, đặt bản vẽ nằm ngang và dùng thước kẻ một đường thẳng theo vết đánh dấu trên bản vẽ (như hình 3-4).


![image](/img/img_33d41878e0ec4bee929550df03c31a9a.png)


f. Tại giao điểm của các đường thẳng, đánh dấu một điểm rõ ràng, đây chính là điểm trung tâm của ngôi nhà, như hình 5.


![image](/img/img_17723343a270cc0238e52b3706b02743.png)


g. Dựa vào điểm trung tâm trên mặt bằng, tính toán lại tỷ lệ (như hình 6).


![image](/img/img_0e9daa9ea26f26f4d1fcf2c65b47b24d.png)


h. Đo điểm trung tâm chính xác trên nền nhà thực tế, sau đó đánh dấu, như vậy có thể tiến hành xác định phương vị (như hình 7).


![image](/img/img_856cc3321f11dc965bacc2b4e65c261d.png)


Phương pháp II: Loại bỏ phần lồi hoặc bổ sung phần lõm một cách đơn giản để tìm điểm trung tâm (điểm lập cực).

1. Hình dạng ngôi nhà muôn hình vạn trạng nhưng không nằm ngoài:
a. Ngũ hành, tức là hình dạng Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ, từ hình dạng đó tìm ra điểm trung tâm lập cực.


![image](/img/img_7a1df71eae2475f348660b8fa34b523b.png)


b. Hình dạng biến thể không theo quy tắc.

a1. Hành Mộc: Hình chữ nhật, lấy điểm giao nhau của hai đường chéo từ bốn góc làm điểm lập cực (như hình 8).

a2. Hành Hỏa: Hình nhọn, lấy điểm giữa của hai cạnh xiên làm một điểm, sau đó kẻ đường thẳng nối với góc đối diện, làm tương tự với cạnh xiên còn lại, như vậy sẽ tìm được điểm lập cực. (như hình 9)


![image](/img/img_72489f4ce4b8239564aa77bf13c999d0.png)


a3. Hành Thổ: Hình vuông (hình tứ giác), lấy điểm giao nhau của hai đường chéo từ bốn góc làm điểm lập cực (như hình 10).

a4. Hành Kim: Tức là công trình xây dựng hình tròn, gấp bản vẽ mặt bằng thành hai nửa, rồi gấp thêm một lần nữa và mở ra, như vậy sẽ tìm được điểm lập cực (điểm trung tâm), như hình 11


![image](/img/img_6ef928a066810752331832044f280284.png)


a5. Hành Thủy: Tức là hình cong, trước tiên dùng đường nét đứt để san bằng phần lõm vào, sau đó lấy điểm giao nhau của hai đường chéo từ bốn góc làm điểm lập cực (điểm trung tâm), như hình 12.


![image](/img/img_a467eaf517034fd7f268cf78717285f2.png)


b1. Với hình dạng biến thể không theo quy tắc, loại bỏ phần lồi ra, sau đó tìm điểm trung tâm (điểm lập cực).

Ví dụ: Nếu mặt bằng có một phần nhỏ lồi ra ở phương vị A, hãy loại bỏ phần đó đi, sau đó có thể tìm điểm lập cực bằng cách kẻ đường chéo từ bốn góc (như hình 13-1, 13-2).


![image](/img/img_6542582dc845eb2d5330ae491c9baec5.png)


b2. Hình dạng biến thể không theo quy tắc: Bổ sung phần lõm vào, sau đó tìm điểm lập cực (điểm trung tâm).

Ví dụ: Mặt bằng có phần lõm ở vị trí A, hãy bổ sung phần lõm đó, sau đó tìm điểm lập cực (điểm trung tâm) bằng cách kẻ đường chéo từ bốn góc, như hình 14-1, 14-2.

Ví dụ: Mặt bằng có phần lõm ở vị trí A và B, hãy lấp đầy cả hai vị trí này, sau đó tìm điểm lập cực (điểm trung tâm) bằng cách kẻ đường chéo từ bốn góc, như hình 15.


![image](/img/img_c7385e10ff43e141396cbde76c4bc519.png)


Phương pháp III: Cách tìm điểm lập cực (trung tâm) bằng cách san bằng các phần lồi lõm:

Ví dụ: Trên mặt bằng của một công ty, vị trí A là phần lồi, vị trí B là phần lõm, diện tích hai vị trí này tương đương nhau, ta sẽ san bằng phần lõm và lồi để tạo thành hình vuông, sau đó lấy điểm giao nhau của đường chéo, như vậy sẽ tìm được điểm lập cực, như hình 16.

Ví dụ: Mặt bằng có hình dạng thang, ta sẽ san bằng phần lõm và lồi để tạo thành hình vuông, sau đó lấy điểm giao nhau để tìm được điểm lập cực, như hình 17.

Ví dụ: Mặt bằng có hình chữ "L", ta sẽ kẻ một đường thẳng song song ở giữa hai cạnh, điểm giao nhau của đường thẳng chính là điểm lập cực, như hình 18.


![image](/img/img_d746e57b5a8f3f16fb9a7f33f9c09c4e.png)



### 40. Phụ lục 6: Phân biệt vị trí cửa và hướng cửa


Tài liệu do ông Chu Ưng và cô Lương Nhuận Trúc cung cấp.

Trong kiến thức phong thủy có một câu khẩu quyết: "Cửa đáng giá nghìn vàng, nhà chỉ đáng bốn lạng." Do đó, có thể thấy vị trí cửa và hướng cửa quan trọng đến nhường nào! Nội dung dưới đây là phương pháp phân biệt vị trí cửa và hướng cửa, xin hãy nghiên cứu kỹ để làm cơ sở phán đoán thực tế.

(1) Sau khi đo được điểm trung tâm (điểm lập cực) của ngôi nhà, có thể xác định vị trí tứ chính hoặc bát phương, từ đó tìm ra phương hướng và vị trí (phương vị) chính xác.

Như hình: Tất cả các ngôi nhà dưới đây đều có hướng tọa Nam hướng Bắc. Sau khi xác định điểm trung tâm (điểm lập cực) của ngôi nhà, có thể thấy vị trí cửa chính đều nằm ở phía Đông của ngôi nhà. Tuy cùng một vị trí nhưng hướng cửa lại khác nhau: Hình 1, cửa ở phía Đông và cũng hướng về phía Đông. Hình 2, cửa ở phía Đông nhưng hướng về phía Nam. Hình 3, cửa hướng về phía Bắc. Hình 4, mặc dù cửa ở phía Đông nhưng hướng cửa nghiêng một góc về phía Đông Bắc.

(2) Mặc dù cửa ở cùng một vị trí, nhưng do hướng cửa khác nhau nên cách phán đoán cũng khác nhau. Khi xem vận thế, cần biết cửa mở ở phương vị nào, đồng thời phải biết hướng cửa phối hợp ra sao thì mới có thể phán đoán chính xác thời cơ.

(3) Về việc vị trí và hướng mở cửa không đúng, để cải thiện có thể điều chỉnh bằng cách mở cửa sang trái hoặc phải.


![image](/img/img_b7d5d6ba13a87e4c98d0255572078955.png)



![image](/img/img_7a8333c57559c568d014fd9a7cf69d98.png)



### 41. **Phụ lục 7: Phương vị học - Cách sử dụng la bàn đơn giản**


Tài liệu do ông Chu Ưng và cô Lương Nhuận Trúc cung cấp.

Thông thường, phương vị được chia thành tám hướng, trong đó gồm bốn phương chính: Đông, Nam, Tây, Bắc và bốn phương góc: Đông Nam, Tây Nam, Tây Bắc, Đông Bắc, như hình 1 và hình 2 minh họa.

La bàn


![image](/img/img_3b82ae1cd5378b0b295ce98f0d536220.png)


(1) Thầy phong thủy sử dụng một kim chỉ nam chuyên dụng cỡ lớn, gọi là la bàn (còn gọi là la kinh) - một hộp hình vuông, bên trong có một đĩa tròn, ở giữa là kim chỉ nam. Hai cạnh đối diện của hình vuông có đường kẻ đỏ nối với nhau ở điểm giữa.

(2) Thầy phong thủy sẽ căn chỉnh bốn cạnh la bàn theo tường và cửa của văn phòng, hoặc trước tiên xác định điểm trung tâm của ngôi nhà, sau đó xoay đĩa tròn cho khớp với kim chỉ nam, từ đó có thể đo được hướng của ngôi nhà và xác định các phương vị cát hung.

Dưới đây là phương pháp sử dụng la bàn và phương vị học cơ bản.

Nguồn gốc và sơ đồ hình thành 24 sơn sẽ được thể hiện như hình 3 đến hình 7. Tiếp theo, thiên can và địa chi sẽ được phối hợp với các phương vị như hình 3 và hình 4:


![image](/img/img_89a6c01d85afcf55572ee8a0f70275b4.png)


Sau khi đưa các yếu tố cơ bản thiên can và địa chi vào phương vị, tiếp theo cần phối hợp với phương vị Bát Quái hậu thiên. Phương vị Bát Quái là một chỉ số phương vị quan trọng trong phong thủy. Từ đây, phương vị Bát Quái sẽ thay thế cho các tên phương vị Đông Tây Nam Bắc thông thường mà mọi người quen dùng. Ví dụ: Chấn đại diện cho phương Đông, Đoài đại diện cho phương Tây, Ly đại diện cho phương Nam, Khảm đại diện cho phương Bắc, Tốn đại diện cho phương Đông Nam, Khôn đại diện cho phương Tây Nam, Cấn đại diện cho phương Đông Bắc, Càn đại diện cho phương Tây Bắc, như hình 5 minh họa.


![image](/img/img_3c801426df6211b8abf31d2dc3967be0.png)


Mỗi quẻ đều chứa đựng tam sơn, tam số, tam tài... và các yếu tố khác, kết hợp với thiên can, địa chi và Bát Quái hậu thiên, như hình 6 minh họa.


![image](/img/img_b146cf0a8466719ea8f89a4e78f4989f.png)


Sau khi kết hợp thiên can địa chi với quẻ hậu thiên, tạo thành 8 can 4 vị trí 12 chi, hình thành 24 sơn, như hình 7 minh họa:

8 can — Giáp, Ất, Bính, Đinh, Canh, Tân, Nhâm, Quý. (Mậu Kỷ ở trung tâm, không hiển thị)

4 vị trí — Tốn, Khôn, Càn, Cấn.

12 chi — Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, tổng cộng 12 địa chi.


![image](/img/img_72a793654b9dae61349d661c61e5c413.png)


Một quẻ bao gồm tam sơn, cần phải ghi nhớ vị trí Bát Quái và tam sơn tương ứng. Ví dụ như cung Khảm bao gồm tam sơn Nhâm Tý Quý, thuộc phương Bắc, thuộc tính ngũ hành là Thủy.

Bốn phương chính:
Khảm Thủy - Nhâm Tý Quý, phương Bắc.
Ly Hỏa - Bính Ngọ Đinh, phương Nam.
Chấn Mộc - Giáp Mão Ất, phương Đông.
Đoài Kim - Canh Dậu Tân, phương Tây.

Bốn phương góc:
Càn Kim - Tuất Càn Hợi, Tây Bắc.
Khôn Thổ - Mùi Khôn Thân, Tây Nam.
Cấn Thổ - Sửu Cấn Dần, Đông Bắc.
Tốn Thổ - Thìn Tốn Tỵ, Đông Nam.

Chỉ riêng việc hiển thị 24 sơn trên la bàn (Canh) mà nói, trên thị trường có nhiều phiên bản khác nhau như tam hợp bàn, lục hợp bàn, huyền không bàn... và các loại khác, mỗi la bàn đều có từ 20-30 lớp, mỗi lớp đều có tên gọi, công dụng và nội dung khác nhau.

Nay giải thích sơ về địa bàn, tức 24 sơn:
Lớp thứ: Lớp 4
Tên gọi: Địa bàn
Công dụng: Dùng riêng cho tọa, hướng, sơn, thủy, khai môn, nạp khí.

Nội dung: Kim chỉ nam chỉ về hướng Bắc từ tính, do đó được gọi là địa bàn.

Phối hợp với các phép xem phong thủy như Huyền Không, Nhai Tinh, Liên Sơn, Quy Tạng, Âm Dương, thuận nghịch, kết hợp với Lạc Thư để luận đoán cát hung, thịnh suy, vượng thế, họa phúc đều được định đoạt trên địa bàn này.

Ví dụ: Như hình minh họa về dương trạch, giả sử ngôi nhà tọa Bắc hướng Nam, hình vuông, một tầng, trong Bát Quái thuộc tọa Khảm hướng Ly, theo luận 24 sơn là Tý sơn Ngọ hướng.


![image](/img/img_3dcf7db7f01a6443e20c7a6a0b6fd1f1.png)


**(Hết.)**


### Nhà văn, họa sĩ Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật


*Sách viết bát nhã trí
Tranh họa cảnh ngao du
Giữa đậm nhạt thưa dày
Động tĩnh hiện thiền duyên*

**Giới thiệu vắn tắt về nhà văn, họa sĩ Liên Sinh Pháp Vương – Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, người sáng lập Chân Phật Tông.**

Liên Sinh Hoạt Phật có được truyền thừa Đạo - Hiển - Mật, nguồn gốc sáng lập Chân Phật Tông là:
Năm 1969, tại Ngọc Hoàng Cung ở Đài Trung, Đài Loan, được Diêu Trì Kim Mẫu mở thiên nhãn, mở ra một cuộc đời khác.
Từ năm 1969 đến 1972, được vị thầy tâm linh Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh truyền pháp, quy y Đạo sư Ấn Thuận, Hòa thượng Liễu Minh, Đạo trưởng Thanh Chân (có được đại pháp truyền thừa của Trung mật và Hồng giáo Tạng mật), tiếp nhận truyền thừa của pháp Đạo - Hiển - Mật.

Năm 1981, quy y Đại Bảo Pháp Vương của Bạch giáo, nhận quán đảnh Đại viên mãn bí mật.

Ngày 16/6/1982 đến nước Mỹ, sau đó nhập thất ba năm để học pháp và tu hành, trong thiền định được Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền dạy pháp Đại viên
mãn, Phật Thích Ca Mâu Ni sờ đầu thọ ký, công khai tác giả là Liên Hoa Đồng Tử chuyển thế, Bồ Tát Di Lặc ban cho mũ miện đỏ.

Năm 1983, quy y Thượng sư Thubten Dhargye của Hoàng giáo, Thượng sư Sakya Chứng Không của Hoa giáo. Năm 1984, đổi tên Linh Tiên Chân Phật Tông thành Chân Phật Tông.

Năm 19/3/1986 (tức 10/2 âm lịch), xuống tóc xuất gia.

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn là một họa sĩ.**

Liên Sinh Hoạt Phật được ca ngợi là bậc “thư họa kỳ tài”, năm 1993, lúc 50 tuổi mới bắt đầu học vẽ tranh, theo học nữ sĩ Chu Mộ Lan, hậu duệ của đại sư Triệu Thiếu Ngang, một bậc thầy của trường phái hội họa Lĩnh Nam Trung Quốc. Trong năm đầu tiên học vẽ tranh đã phát hành tập tranh đầu tiên lấy tên là “Nét bút nguệch ngoạc”, sau đó tự phát triển thành một dòng riêng, bất kể là tranh trừu tượng hay tượng hình thì đều rất thoải mái tự nhiên.

Thư pháp là để trở về với bản chất thực, với trình độ cực khéo léo nhưng lại như thể vụng về, Liên Sinh Hoạt Phật vẽ tranh giống như tu hành Trung quán, trung dung không thiên lệch, vô tư và tự tại. Ngài đã dùng cách vẽ tranh để truyền đạt thiền cơ và Phật pháp, là người đương đại đầu tiên có thể kết hợp hoàn hảo giữa nghệ thuật, tâm linh và Phật pháp.

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn là một tác giả viết rất nhiều sách.**

Văn tập Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn có đề tài đa dạng, ngài viết sách mỗi ngày suốt 50 năm không hề gián đoạn, tinh tấn và nghị lực phi thường.

Sự nghiệp sáng tác của Liên Sinh Hoạt Phật có thể tạm chia thành các giai đoạn:

*Giai đoạn văn nghệ (1945–1968) – thể hiện tài năng sáng tác thông qua các tập thơ và tản văn.*

Năm 1967, tác phẩm đầu tiên “Tập thơ Khói mỏng” ra đời – tự ví mình là người làm vườn trồng xuống những mầm non sáng tác.

*Giai đoạn học pháp (1969–1984) – dùng những sáng tác về Linh học, Đạo pháp, Mật pháp để thu hút tầm nhìn của người đời.*

Năm 1975, cuốn sách tâm linh đầu tiên “Mạn đàm linh cơ thần toán” (cuốn số 16), đã tạo nên một cơn chấn động.

Năm 1983, cuốn sách số 45 “Tọa thiền thông minh pháp” bắt đầu truyền bá Mật pháp công khai với thế giới.

*Giai đoạn hoằng pháp (1985–1988) – Dung hợp truyền thừa Đạo - Hiển - Mật, tự sáng lập Chân Phật Mật Pháp phổ biến thế giới.*

Năm 1986, Chân Phật đại pháp – cuốn sách số 63 “Bí mật trong Chân Phật Mật Pháp” đã phổ biến khắp thế giới.

*Giai đoạn đi khắp nơi (1989–2000) – du hành khắp thế giới, hoằng pháp khắp toàn cầu, ghi chép lại những gì thấy nghe.*

Tháng 5/1992, hoàn thành sáng tác văn tập số 100 – thực hiện được điều không thể trong con mắt của người đời.

*Giai đoạn ẩn cư (2001–2006) – viết sách truyền pháp chưa từng gián đoạn, tình nghĩa thầy trò nhờ đó mà khăng khít.*

Tháng 10/2002, sáng tác đầu tiên theo phong cách tiểu thuyết – văn tập số 159 “Tâm sự của ông lão ấy”.

*Giai đoạn chuyển pháp luân lớn sau kỳ ẩn cư (2007 đến nay) – minh tâm kiến tính, đại lạc khai ngộ, trong sách chứa đầy tư tưởng bát nhã minh triết.*

Tháng 5/2008, số lượng sáng tác đạt đến cuốn thứ 200 “Những mảnh ghép khai ngộ”.

**Ngày 12/2/2017, các sáng tác của Pháp Vương đã được số hóa, tổ chức Văn hóa Giáo dục Chân Phật Bát Nhã chính thức thành lập.**

“Công nghệ điện tử phát triển khiến sách giấy bớt được ưa chuộng và dần dần giảm đi sự phổ biến. Theo thời gian, giấy rồi cũng sẽ bị hỏng, e rằng tương
lai cũng chẳng còn giữ được để lưu truyền.

*Xưa nay vẫn thế
Gió tới mưa qua
Hoa rơi nước chảy
Đông Tây lững lờ.*

Đại Mật pháp trong tương lai có thể tạo dựng được tới đỉnh cao thế nào là tùy thuộc vào ý chí quyết tâm của các thánh đệ tử.”

Trong văn tập số 230 “Lại một cơn mưa qua” (xuất bản năm 2012), Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đã bày tỏ kỳ vọng số hóa hình thức viết sách hoằng pháp để đáp ứng xu hướng công nghệ của thời đại. Vào tháng 9/2015, việc chuẩn bị sách điện tử đã được chuẩn bị, và vào năm 2017, Tổ chức Văn hóa Giáo dục Chân Phật Bát Nhã Tạng, với kế hoạch chuyên nghiệp về một khái niệm với thư viện và phòng trò chuyện, cộng với các yếu tố cho phép giao tiếp và thảo luận hai chiều giữa tác giả và người đọc, giữa người đọc và người đọc, đã giúp xây dựng được một không gian trên mạng cho các chúng sinh hữu tình, nhờ đó trang web sách điện tử Chân Phật Bát Nhã Tạng ([www.tbboyeh.org](http://www.tbboyeh.org/)) đã ra đời, hơn nữa trang web này có thể truyền bá sâu rộng các sáng tác của Liên Sinh Hoạt Phật đến mọi ngóc ngách trên
thế giới, để không đâu còn xa rời Phật pháp.

Tháng 2/2020, Tổ chức Văn hóa Giáo dục Chân Phật Bát Nhã Tạng đã tích hợp cả ảo và thực (tích hợp công tác phát hành sách điện tử và sách giấy) văn tập của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, phụ trách công tác thu thập, chỉnh lý, quản lý và phát hành những sáng tác của Pháp Vương.


### Vì sao cần quy y


Vì sao con người cần tìm thầy để quy y? Vì trong thánh điển đã nói rất rõ ràng, “sợ hãi” và “che chở” chính là hai chủng tử của quy y. Nói đơn giản là, tất cả chúng sinh đều có bản năng sợ hãi, vì sợ hãi nên cần tìm cầu sự che chở, và có được sự che chở rồi thì sẽ cần nương dựa, chính là tìm đến nơi quy về để nương dựa.

Và người thật sự có thể che chở cho chúng sinh nhất định phải là một người đã hoàn toàn thoát khỏi sợ hãi và đau khổ phiền não, người này chính là Phật, một người đã hoàn toàn đạt đến chính giác, có thể hướng dẫn con người thoát khỏi phiền não.

Trên nguyên tắc, đối tượng mà người đời cần quy y phải là:
1. Thánh giả hoàn toàn giải thoát khỏi sợ hãi và phiền não.
2. Thánh giả có đại thần thông có thể giải thoát người khác khỏi đau khổ.
3. Thánh giả có tâm từ bi đối với tất cả chúng sinh, có lời thề nguyện độ chúng sinh lớn lao.
4. Thánh giả khai ngộ cả trên lý thuyết và thực tiễn.

Quy y Phật cũng giống như một nghi thức “đăng ký”, và vì bạn đã đăng ký cho nên Phật sẽ chỉ dẫn cho bạn đi vào cánh cửa của kho tàng Phật pháp quý báu, Phật sẽ chỉ dẫn cho bạn đạt được sự giải thoát phiền não đau khổ hoàn toàn.

Quy y pháp, pháp là công khóa của việc tu hành, tức là chỉ dẫn một con đường, một con đường duy nhất.

Quy y tăng, tăng nhân trợ lực cho tu hành, tu hành cần có bạn đạo.

**Vì sao Liên Sinh Hoạt Phật xứng đáng để bạn lựa chọn quy y?**

Quy y Liên Sinh Hoạt Phật là vì vị Thánh giả này đã đi lại vô số lần đến Ma Ha Song Liên Trì tịnh thổ. Trong lĩnh vực Phật pháp bao la quảng đại, ngài có thể chỉ điểm cho bạn cách đi như thế nào, nhờ có một vị Kim cương Thượng sư đã minh tâm kiến tính chỉ dẫn mà bạn có thể thoát khỏi khổ não sợ hãi và mê lầm. Cho nên
Liên Sinh Hoạt Phật chính là đối tượng mà bạn nên quy y.

**Cách thức quy y Liên Sinh Hoạt Phật**

Cách thức quy y Liên Sinh Hoạt Phật để có được truyền thừa Chân Phật Tông.

Cách 1: Xin quy y online từ xa

Vui lòng liên hệ tại website: [chanphat.org](http://chanphat.org/) để được hướng dẫn cách thức đăng ký quy y trực tuyến.

Cách 2: Nhận quy y trực tiếp

Bạn có thể được ban quy y trực tiếp từ Liên Sinh Hoạt Phật, hoặc từ một vị Thượng sư (được xác nhận chính thức bởi Tông Ủy Hội) của Chân Phật Tông, người có thể thay mặt Sư Tôn ban quán đảnh quy y.

Để làm điều này bạn có thể đến các chùa Chân Phật Tông, các phân đường, hội nhóm đồng tu, hoặc tham gia các pháp hội của Chân Phật Tông gần nhất.

**Địa chỉ liên lạc:**

Văn phòng Tông Ủy Hội Chân Phật Tông thế giới
**True Buddha Foundation**
17102 NE 40th CT, Redmond, WA 98052 - 5479 U.S.A.
Tel: (425) 885-7573
Fax: (425) 883-2173
Email: [tbsblessing@gmail.com](mailto:tbsblessing@gmail.com)

Đài Loan Lôi Tạng Tự
**Taiwan Lei Tsang Temple**
No.100, Lane LianSheng, Shanjiao Village, Tsao-Tun Township, Nantou County, Taiwan, 54264 R.O.C.
Tel: +886-49-2312992
Fax: +886-49-2350801

Đặt mua sách Liên Sinh Hoạt Phật bản tiếng Việt tại Việt Nam:
Liên hệ Nhóm dịch thuật Upala Việt Nam
Website: [chanphat.org](http://chanphat.org/)
Facebook: [facebook.com/chanphat.org](http://facebook.com/chanphat.org)
Email: [love@chanphat.org](mailto:love@chanphat.org)

---

---
# File: sach-tam-linh/076-dem-o-ho-u-linh.md
# Title: 076. Đêm ở hồ U Linh
---

![image](/img/img_5e8d4a4a079cebf58eae15638110a0e9.jpg)



## Đêm ở hồ U Linh


Văn tập số: 076
Xuất bản năm: N/A
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu


Những trải nghiệm về Liên Hoa Đồng tử hạ sinh

Tôi ở Mỹ, đến nay đã hai lần chuyển nhà. Lần đầu tiên là từ quận Ballard chuyển đến Redmond, bây giờ lại từ Redmond chuyển đến hồ U Linh, tên tiếng Anh của hồ U Linh là Phantom Lake. [ ND: Phantom Lake, hồ ở phía đông thành phố Seattle, bang Washington, Mỹ ]
Hồ U Linh này rất nhỏ, so với hồ Sammamish thì không biết là nhỏ hơn mấy trăm lần. [ ND: Hồ Sammamish ở hạt King, nằm 8 dặm về phía đông thành phố Seattle, bang Washington, Mỹ. ]

Vì sao lại gọi tên là hồ U Linh? Theo như những người thổ dân Indians ở nơi đó nói thì hồ U Linh này quanh năm có sương mù bao phủ, rất thần bí, rất kì diệu,...
Khi trời mưa, hồ sẽ trở nên lớn hơn một chút.
Khi khô ráo, hồ sẽ trở nên nhỏ hơn một chút.
Mặt hồ có thể biến hóa, do vậy người địa phương liền gọi nó là hồ U Linh. Hồ U Linh cũng lưu truyền rất nhiều câu chuyện về ma quỷ đó!

Tôi chuyển nhà từ thành phố Redmond đến hồ U Linh. Lệ Hương, Phật Thanh, Phật Kì vẫn lưu luyến hàng xóm cũ, nên rốt cục chúng tôi đã sống tại hồ Sammamish ba năm, bây giờ mới khẽ khàng nói lên hai tiếng "tạm biệt".
Tôi không thể không rời khỏi thành phố Redmond. Bởi vì Chân Phật Mật Uyển sớm tối ngày càng có nhiều khách không mời mà tới, không có cách nào ứng phó.
Tôi không thể không rời khỏi thành phố Redmond. Bởi vì điện thoại vào ban đêm ở Chân Phật Mật Uyển đã trở nên phiền nhiễu đến mức không thể ngủ yên.
Chuyển đến hồ U Linh cũng là vì muốn tìm một chút yên tĩnh để thiền định mỗi ngày.

Hàng ngày, sáng sớm tôi lái xe xuất phát từ hồ U Linh trở về Chân Phật Mật Uyển ở thành phố Redmond để viết sách, trả lời thư, tu pháp.
Hàng ngày, chập tối, tôi lái xe từ Chân Phật Mật Uyển trở về hồ U Linh. Tôi đã trở thành "dân công sở". Trong thời gian lái xe này, tôi đã nghĩ vì sao không viết một cuốn sách tên gọi là "Đêm ở hồ U Linh" nhỉ!

Trong ánh hoàng hôn lảng bảng, xe chạy qua những con đường núi nhỏ tịch mịch, tôi trở về chỗ ở của tôi bên cạnh hồ U Linh.
Nơi tôi ở dường như vắng lặng chẳng có người.
Phóng tầm mắt ra bốn phía giống như:
Tà dương soi núi vắng
Độc hòa thượng lái xe
Mấy tầng sương giăng lối
Chẳng thấy người nơi nào.

"Đêm ở hồ U Linh" trở nên cô độc và bình yên như vậy, tất cả duyên phận đều chỉ là khói tụ bụi tan mà thôi, tôi lại càng trở nên vô tâm và tự tại.

"Đêm ở hồ U Linh", sương trôi bồng bềnh, hơi lạnh ở khu rừng núi phía sau nhà, hơi lạnh ở con đường dẫn ra hồ quện lẫn vào nhau, trải dài ra mênh mông, cũng giống như những suy tư của tôi trải dài miên man.

"Đêm ở hồ U Linh", tôi nghĩ, tôi dần dần rời khỏi hồ Sammamish, bước chân đầu tiên tôi bước đi là tôi đã bắt đầu ở giữa khói hoang cỏ dại rồi.
Giữ lấy ngày tháng.
Giữ lấy kí ức.

"Đêm ở hồ U Linh", tôi muốn mở ra ổ khóa trong tim mình, viết ra những câu chuyện về kiếp trước của mình. Trong khoảng thời gian xa xăm, lớp này đến lớp khác, những đợt sóng kí ức liên tiếp vang vọng, tôi đã phóng tầm mắt nhìn ra cõi xa xăm ở tận Thiên thượng giới, về định mệnh sâu thẳm, tôi có thể tiết lộ toàn bộ không sót lại một chút gì.

Ở hồ U Linh, tôi đã thấm đẫm toàn thân mình sự trong sáng, thanh tịnh và tươi mới của núi non sông nước. Cái hồ nhỏ này giống như một tấm gương tròn bay từ trên cõi trời cao cao xuống đây, trải ra trước cửa nhà tôi, hắt lên ánh sáng rực rỡ thanh khiết như ngọc, lành lạnh thăm thẳm.

Những đêm ở hồ U Linh là khoảng thời gian hé lộ ra chân tướng về định mệnh của tôi. Những cuộc đời định mệnh của tôi cứ lững lờ chảy thành dòng, lấp lánh tươi đẹp như mặt hồ.
Tôi muốn ghi chép lại từng kiếp, từng kiếp sống của tôi...

Tôi nghĩ đến, sẽ có một ngày, tôi cần viết ra tiền kiếp của một vị tì kheo giữa trời đất yên tịch, để cho người đời hiểu cuộc đời là sự kéo dài liên kiếp của nhân quả, giống như sương khói mây nước dài tít tắp đều có nguyên nhân của nó. Cho dù là một làn khói bếp, một đốm lửa nhỏ cũng tự có nhân duyên đó!

Cuốn văn tập số 76 là những mảnh kí ức sinh ra từ trong sự thiền định của tôi, là những không gian cách đây nhiều kiếp, là tâm linh kì ảo, là công phu trùng trùng công phu.
Là những bước chân kiếp trước.

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Chân Phật Hải Hội - A Di Đà Phật ủy thác


Khi Thích Ca Mâu Ni Phật dặn dò Địa Tạng Vương Bồ Tát, Ngài nói như sau:
Hiện tại vị lai thiên nhân chúng
Nay ta ân cần dặn dò con
Nhờ đại thần thông thuận lợi độ
Ác thú đừng để họ rơi vào.

Còn ở Chân Phật Hải Hội, A Di Đà Phật cũng căn dặn Liên Hoa Đồng Tử như vậy.
Khi ấy, Liên Hoa Đồng Tử tại Tây phương Cực lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì, đang ngồi xếp bằng trên một tòa hoa sen trắng lớn, xung quanh là 17 đóa hoa sen, hoa xanh tỏa ánh sáng xanh, hoa vàng tỏa ánh sáng vàng, hoa đỏ tỏa ánh sáng đỏ, hoa tím tỏa ánh sáng tím, mỗi đóa hoa sen đều tỏa ra mùi thơm tinh khiết vi diệu.

Bạch Liên Hoa Đồng Tử âm thầm vận thần thông, khiến Ma Ha Song Liên Trì biến hóa thành ánh sáng vàng kim chói lọi khác thường, tất cả hoa thơm đều nở rộ, cỏ cát tường cũng tỏa hương thơm. Còn các loài chim bạch hạc, khổng tước, anh vũ, xá lợi, ca lăng tần già, cộng mạng cũng đều hóa thành màu vàng kim, cất lên thiên âm hòa nhã, tươi sáng mà đẹp đẽ.

Không chỉ mặt đất hiện lên màu vàng kim, không trung cũng tỏa ra ánh sáng vàng kim, có thiên âm thanh tịnh tuyệt vời đến từ hư không, các thế giới đều tỏa hương thơm ngát, các lầu các bằng vàng trong không trung đều tỏa ánh sáng lộng lẫy, khắp nơi là hoa sen vàng, hoa trời bay bay trong không trung.

Lúc này, khắp Ma Ha Song Liên Trì chấn động, vô lượng chư Thiên đều cảm nhận được, Bồ Tát và Thanh Văn cũng cảm nhận được. Bồ Tát Thanh Văn đều đến Ma Ha Song Liên Trì, 33 Thiên Chủ đều vội vã đến Ma Ha Song Liên Trì, bao gồm Tứ Thiên Vương (Trì Quốc Thiên, Tăng Trưởng Thiên, Quảng Mục Thiên, Đa Văn Thiên), gồm 18 cõi trời Sắc giới, Tứ không thiên của vô số sắc giới, còn có cả Hộ pháp, Thiên long bát bộ, vô lượng vô số Trời Người, đều tụ hội đến Ma Ha Song Liên Trì.

Lúc này, Ma Ha Song Liên Trì lập tức sinh ra một đóa hoa sen lớn mười do tuần, từ trong hoa sen hiện ra A Di Đà Phật, mắt Phật trong veo ánh lên màu đỏ tía, diệu tướng trang nghiêm.
Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, hai thị giả của Phật đứng hai bên.

A Di Đà Phật, ở khoảng giữa hai lông mày, có những sợi ánh sáng trắng xoay vòng theo chiều bên phải uyển chuyển, như năm ngọn núi Tu Di. Mắt Phật như nước bốn biển lớn, thanh bạch thấu suốt. Lỗ chân lông trên toàn thân đều hiện lên ánh sáng, từng lỗ chân lông đều hiện hóa ra Phật. Mỗi một vị Phật hóa hiện ra lại có rất nhiều Bồ Tát làm thị giả.

A Di Đà Phật toàn thân màu vàng kim, kết ấn thiền định diệu quan sát trí, thân khoác áo cà sa màu đỏ, ngồi xếp bằng trên bảo tọa hoa sen lớn. Chúng trời người thấy vậy, hoan hỉ tán thán.

A Di Đà Phật nói:
"Ma Ha Song Liên Trì tỏa kim quang rực rỡ, quả là vi diệu, là vì có nhân duyên!"
Lúc này, thủ tọa của Ma Ha Song Liên Trì là Bạch Liên Hoa Đồng Tử hai tay chắp lại, đảnh lễ Tây phương Cực lạc Thế giới A Di Đà Phật, cung kính thỉnh thị:
"Là vì nhân duyên gì?"
A Di Đà Phật đáp:
"Nhân duyên Chân Phật."
"Cái gì gọi là nhân duyên Chân Phật?"
"Xả bỏ thân Phật, giữ lại nhân Phật."

Lập tức, Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử đã hiểu ra, biết rằng thời điểm phải thừa nguyện hạ sinh đã đến, cố kìm nén hai hàng nước mắt buồn thương.
"Hà tất phải rơi lệ, rơi lệ là tính cách của chúng sinh." A Di Đà Phật nói: "Nay Thích Ca đã niết bàn, Long Hoa Tam Hội chưa đến, thế gian kiếp vận liên miên, Phật pháp không hưng thịnh, việc con phóng ra đại kim quang, đại vi diệu, vẫn là nguyện lực của bản tính giác ngộ thấu triệt, hãy lấy tính cách của chúng sinh làm bản tính, mọi tính thành một, mới chứng được bồ đề."
"Cung thỉnh Di Đà khai thị chân ngôn."
"Sông núi có thể chọn chỗ
Chuyển dời vết tích còn lưu.
Không cầu danh lợi sở hữu.
Pháp Không tự mình dựa vào."
"Con làm sao để độ chúng sinh?"
"Xua tan trừ hắc nghiệp.
Hướng dẫn theo Phật pháp.
Chúng sinh quy chân tính.
Phân biệt đắc thọ kí."
"Cảm tạ A Di Đà Phật dặn dò chỉ bảo. Con xin lĩnh lời truyền thụ."

A Di Đà Phật từ thiên tâm phóng quang, tuôn ra muôn đóa hoa sen, rực rỡ xán lạn, vô lượng vô tận và nói: "Tương lai, Di Lặc Bồ Tát sẽ đích thân ban mũ đỏ, đội lên đầu con, thân tướng trang nghiêm của con không khác một vị Phật. Hơn nữa, Di Lặc Bồ Tát còn dặn dò, trong thế giới tương lai, những người còn lại sau khi Văn Thù Bồ Tát độ chúng sinh, những người còn lại sau khi Quan Thế Âm Bồ Tát độ chúng sinh, sẽ do Liên Hoa Đồng Tử ứng hóa mà độ cho họ. Những chúng sinh do con độ hóa sẽ nhiều vô lượng vô tận như muôn đóa hoa sen tuôn ra từ thiên tâm của ta."
"Có thể cầu thọ kí ở đâu?"
"Phật Thích Ca Mâu Ni sẽ đích thân ban thọ kí."
"Có thể cầu pháp ở đâu?"
"Liên Hoa Sinh Đại Sĩ sẽ đích thân truyền Mật pháp."
"Lấy gì làm tông phái?"
"Lấy Chân Phật làm tông phái."
"Cái gì gọi là Chân Phật?"
"Pháp thân không hình tướng là Chân Phật, tướng tốt quang minh, đầy đủ như một vị Phật chân chính. Chân Phật vô hình, chân pháp vô tướng, con là hóa thân Phật, nên gọi là Chân Phật."

"Tự xưng như thế nào?"
"Tự xưng là Bí Mật Chủ, vì lai lịch bí mật, thế nhân khó biết được, thâm ý ở đây chính là sự gắn bó chặt chẽ thân ngữ ý của Như Lai, chỉ giữa Phật và Phật mới biết. Con có bí mật thần thông của bậc Bí Mật Chủ, thế gian không có ai có thể sánh bằng, là bí mật trong bí mật. Cũng có thể tự xưng là Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư, bởi vì con đã có được chiếc rương bí mật, có bảo quán của vị Acarya vĩ đại đã sử dụng. Cũng có thể tự xưng là Hoạt Phật, bởi vì là Chân Phật, bảo tính lưu truyền chân như, do vậy là một vị Phật sống."
"Khi ở thế gian, trước tiên cần luyện tập cái gì?"

Lúc này, Quan Thế Âm Bồ Tát, tay phải cầm hoa sen chưa nở, toàn thân hiện sắc vàng kim, vô cùng rạng rỡ, đầu đội bảo quán, chuỗi ngọc tôn lên vẻ trang nghiêm, thân mặc thiên y màu trắng gắn trăm bông hoa sen quý trang nghiêm. Ngài khoan thai tiến lên phía trước, nói với Liên Hoa Đồng Tử rằng:
"Trước tiên hãy luyện tập lòng từ bi, nguyện khiến cho tất cả chúng sinh được an lạc gọi là làm việc nhân từ, nguyện loại bỏ đau khổ của tất cả chúng sinh gọi là làm việc bi mẫn. Từ bi trước có mười hai cái lợi, đó là phúc thường theo thân, nằm yên, ngủ yên, không gặp ác mộng, có Trời che chở, được người yêu kính, không bị hạ độc, không vướng vào binh đao, không chết vì nước, không chết vì lửa, sống hưởng lợi lộc, chết làm Phạm Thiên."

Tiếp đó, Đại Thế Chí Bồ Tát nhấc thân quang minh tỏa ra ánh sáng vàng tím, trên đỉnh đầu kết búi tóc, trên búi tóc có một chiếc bảo bình, tay trái cầm hoa sen đã nở, đầu đội thiên quán, cũng khoan thai tiến lên trước nói với Liên Hoa Đồng Tử rằng:
"Tiếp đó hãy luyện tập trí huệ, ánh sáng trí huệ có thể chiếu tới tất cả chúng sinh, vĩnh viễn rời xa cái khổ của tam đồ bát nạn. Trí là hiểu được tất cả thực tướng, huệ là lý giải được hết tất cả lí lẽ, trí huệ có thể phá bỏ sự ngu si của chúng sinh, như ánh mặt trời phá tan đêm tối. Trí huệ có thể đoạn trừ phiền não và diệt trừ tận gốc sinh tử, cũng như gươm sắc có thể chặt đứt mọi vật. Con cần dùng trí huệ để chiếu soi và quan sát mọi sự tình lí lẽ, phá bỏ mọi mê hoặc. Cần dùng trí huệ quảng đại, bao hàm tất cả mọi pháp, đắc vô thượng trí."

Bạch Liên Hoa Đồng Tử hai tay chắp lại, đảnh lễ hai vị Đại Bồ Tát. Quan Thế Âm Bồ Tát có mật hiệu là Chính Pháp Kim Cang hoặc Thanh Tịnh Kim Cang. Đại Thế Chí Bồ Tát có mật hiệu là Trì Luân Kim Cang.

Lúc này, Bạch Liên Hoa Đồng Tử nhấc một chân lên, nhẹ nhàng thả hoa sen xuống, không chỉ tam thiên đại thiên thế giới đều chấn động mà ngay cả Ma giới thiên cung cũng đều chấn động không ngừng.
Các Ma Vương đều vô cùng sửng sốt.

A Di Đà Phật nói:
"Lành thay! Lành thay! Liên Hoa Đồng Tử hạ sinh ở nhân gian, có nhân duyên qua lại với ma, ngay cả ma cũng có thể độ hóa được."
Lúc này, 18 đại Liên Hoa Đồng Tử hát lên bài kệ rằng:
Mười tám đại liên hoa
Nơi hồ sen rộng lớn.
Phật nhãn nở hoa quý
Cõi trời cần phải xa.
Nay ta nhận pháp thư
Đem pháp môn phổ khắp.
Tâm ấn ba nghìn cõi
Lần lượt thọ kí ta.
Một, hướng về Cực Lạc
Hai, về Song Liên Trì.
Đạo Hiển Mật thượng sách
Cuối cùng quy Chân Như.
Vốn sinh Không thành Có.
Lại từ Có thành Không.
Đây là vè Chân Phật.
Quan trọng là nhất tâm.

18 Đại Liên Hoa Đồng Tử hát xong bài kệ. Bạch Liên Hoa Đồng Tử từ giữa hai chân mày phóng ra những tia sáng trắng chiếu đến một vạn tám nghìn thế giới ở phương đông, không bỏ sót chỗ nào, trên lên tới A Già Ni Thiên, Tứ Không Thiên, dưới tới tận A Tì Địa Ngục, trong toàn bộ thập phương thế giới đều thấy hết được ánh sáng.

Trong chốc lát, 33 Thiên Chủ, Tứ Vương Thiên, Trời - Người, Thiên long bát bộ Hộ pháp, đều vô cùng thán phục, thề rằng sẽ hộ trì Liên Hoa Đồng Tử, hạ sinh ở nhân gian, chúng tôi sẽ theo Liên Hoa Đồng Tử sẽ xuống Trung Thổ trước, hy vọng rằng Liên Hoa Đồng Tử giữ được nhiều thiên tính, để tránh bị đọa lâu ở chốn phàm trần.

A Di Đà Phật nói:
"Liên Hoa Đồng Tử lần này hạ sinh ở nhân gian sẽ hóa làm người dân bình thường, mọi đường đều bình an hanh thông thuận lợi, hễ được sinh ra đều thành tựu Phật quả. Trời người thề nguyện hộ trì, sẽ đến được chốn cực thiện."
Trời, Người, Bát bộ Hộ pháp thấy lời khen ngợi của A Di Đà Phật đều hoan hỉ chắp tay, cung kính làm lễ. Tất cả đều niệm chú, làm lễ rồi rời đi.
"Lipo lipo te, kio kio te, tola nite, nia late, pili nite, muahua chate, chenlin chante soha."


### 02. Bay đến cung Đại Nhật


Sau khi Liên Hoa Đồng Tử ở Ma Ha Song Liên Trì lĩnh thụ lời dặn dò của A Di Đà Phật, ngồi tĩnh tọa tại hồ sen, trong tâm âm thầm vận đại bí mật samaya, đây là diệu pháp vô thượng. Chính trong sát-na này, linh thần của Ngài như thể như tướng, hòa hợp tập trung tương ứng, bay đến cung Đại Nhật.

Cung Pháp Giới Đại Nhật này vốn là nơi ở của Tì Lô Giá Na Phật. Cung Pháp Giới Đại Nhật này là đại quang minh biện chiếu, đại nhật biện chiếu, chiếu đến khắp tất cả mọi nơi.
Cung Đại Nhật có lửa mặt trời, tất cả thiên ma tà quỷ không thể đến gần, bởi vì một khi tiến lại gần thì lập tức bị thiêu thành tro, cháy xèo xèo, cháy thành tro bụi, không còn chừa lại dù một tí tẹo.

Muốn bay đến Cung Đại Nhật, chỉ có vị Phật vô hình vô thể, tương ứng đại samaya bí mật, có pháp thể hoàn toàn không còn một chút trở ngại nào mới có thể vào được.

Trong Cung Pháp Giới Đại Nhật, Tì Lô Giá Na Phật hiện ra diêm phù đàn có màu vàng kim pha sắc tím, đầu đội bảo quán, toàn thân tỏa ra đủ loại ánh sáng sắc màu, thân mặc áo lụa trắng, tay kết ấn Trí quyền, ngồi trên hoa sen tám cánh, phía sau đầu có một vòng ánh sáng ngũ sắc đan xen, toàn thân chỉ là các lớp ánh sáng như vô số các lớp lụa xếp lên nhau, bản chất trang nghiêm, trang sức bên ngoài là sự không hư giả.

Đại Nhật Như Lai chính là giáo chủ của Kinh Đại Nhật và Kinh Kim Cang Đỉnh của Mật giáo, là chủ tôn của hai bộ Mandala Kim Cang Giới và Thai Tạng Giới.
Liên Hoa Đồng Tử đích thân đến Cung Pháp Giới Đại Nhật đảnh lễ Đại Nhật Như Lai.

"Liên Hoa Đồng Tử sẽ hạ sinh ở thế giới Ta Bà phải không?"
"Đúng vậy, vì sao Như Lai biết?"
"Chẳng có đến, cũng chẳng có đi, không có đến đi, do vậy mà ở khắp mọi nơi." - Đại Nhật Như Lai nói.
"Con biết nguồn gốc Liên Hoa Đồng Tử chứ?" - Đại Nhật Như Lai hỏi.
"Chỉ biết một, hai điều mà thôi."
"Để ta nói cho con biết. Vào vô lượng kiếp trước, pháp thể không có một chút trở ngại nào, vì mọi đức hạnh đã viên mãn, thường trụ bất biến, duy có ánh sáng chiếu tới pháp giới, ánh sáng này vốn xuất phát từ đôi mắt, cho nên gọi là Đại từ phổ nhãn, do Đại từ phổ nhãn hóa hiện thành, hết thảy Phật nhãn đại kim cang cát tường, hết thảy Phật mẫu tâm tôn, đó chính là ánh sáng của Đại Nhật Như Lai, hóa thân thành Phật Nhãn Phật Mẫu. Phật Nhãn Phật Mẫu bố trí Phật nhãn tại Tây phương Cực lạc Thế giới. Có hai con mắt Phật nhãn, tạo thành hai hồ sen trang nghiêm, trong hồ đều có những vòng tròn ánh sáng, hỉ lạc vô tận, chính là Ma Ha Song Liên Trì. Tam muội của Ma Ha Song Liên Trì chính là lấy Đại từ phổ nhãn làm vật thể, quan sát các chúng sinh tương ứng, dẫn đường, ánh sáng tỏa ra từ từ nhãn chiếu đến khắp nơi."

"Thế còn Liên Hoa Đồng Tử?"
Đại Nhật Như Lai nói:
"Ở đây chính là Đại Nhật Như Lai từ ánh sáng đôi mắt hóa thành Phật Nhãn Phật Mẫu, đôi mắt của Phật Nhãn Phật Mẫu hóa thành Ma Ha Song Liên Trì, còn 18 đại Liên Hoa Đồng Tử là hóa sinh của những vòng tròn ánh sáng thanh tịnh trong hồ sen."
"Như con hôm nay tới được Cung Đại Nhật là sao?"
"Đây là Như Lai tùy theo loại hình xuất sinh tam muội, do vậy mới đến được Cung Đại Nhật."
"Vì sao phải hạ sinh cõi Ta Bà?" - Tôi rất lo sợ.
"Ánh sáng của Đại Nhật Như Lai bình đẳng chiếu khắp pháp giới, hạ sinh ở Ta Bà có thể khởi phát tất cả thiện tâm của vô số chúng sinh, nhờ nhân duyên này mà tất cả mọi thứ của thế gian và xuất thế gian đều đạt thành tựu."

"Con làm thế nào để trở về Ma Ha Song Liên Trì đây?"
"Liên Hoa Đồng Tử đối nội cần đạt Chân Như, đối ngoại cần soi thấy và phá bỏ tà pháp, thân thể và tâm linh dung hợp, tập hợp tất cả tâm tính của chúng sinh và chư Phật Như Lai, có thể bảo tồn pháp nhĩ bản lai, như vậy có thể trở về Ma Ha Song Liên Trì."
"Ngày xưa Như Lai có hạ sinh không?"
"Mặc dù Như Lai ngồi trên tòa sen, hiện tướng tịch tĩnh, nhưng báo thân của ta là Phật Lô Giá Na, ứng thân của ta là Phật Thích Ca Mâu Ni, ta cũng từng hạ sinh tại Đại Tự Tại Thiên Cung thuyết pháp. Hôm nay, Liên Hoa Đồng Tử hạ sinh cõi Ta Bà cũng chính là tam muội xuất sinh của Đại Nhật Như Lai đó!"
"A! Con hiểu rồi." - Liên Hoa Đồng Tử nói.

Lúc này, Cung Pháp Giới Đại Nhật sinh ra vô cùng tận thiên âm, hát lên bài kệ rằng:
Liên Hoa Đồng Tử lễ Tam Bảo
Giáng sinh đại giáo chủ du-già
Diễn hóa bí mật tịnh tam nghiệp
Để độ chúng sinh chúng hữu tình.
Lệnh cần dung hợp chúng sinh tính.
Đều theo Như Lai bí mật thừa.
Tu hành từ đó đạo Hiển Mật.
Toàn diện tam giáo đắc chân đế.
Chân Phật đã định rõ thứ tự.
Cúi đầu tôn giả cần khắc ghi.

Thiên âm đẹp đẽ truyền đến hư không, vô thượng tôn quý.
Liên Hoa Đồng Tử quỳ trước Đại Nhật Như Lai, hai tay chắp lại, đôi mắt tuôn rơi hai dòng lệ buồn đau, lại hỏi Như Lai:
"Thỉnh Như Lai khai thị pháp ngữ!"
Đại Nhật Như Lai nói:
"Tất cả bí mật chân thực của Như Lai cần hiểu thật rõ ràng. Tất cả tâm chân thực của Như Lai cần trở thành tâm bí mật của chính mình. Tất cả pháp yếu bí mật của việc độ chúng sinh cần phải thông hiểu toàn bộ. Tất cả bí mật tạo ra bởi Kim Cang Hộ Pháp cần phải biết biến hóa. Tại thế gian và xuất thế gian cần phải thông hiểu đạo lí. Cần phải tiến nhập vào tam ma địa Bất Không Đại An Lạc. Cần phải tiến nhập vào tam ma địa của Nguyên Thủy Bà Tiên Như Lai. Cần tiến nhập vào tam ma địa Tối Thắng Huệ. Cần tiến nhập vào tất cả tam ma địa của Phật Hải Hội. Cần tiến nhập vào tam ma địa Samaya. Cần tiến nhập và lập tức đắc được chứng lượng tam ma địa. Cần tiến nhập vào tam ma địa Samaya Tối Thắng Huệ. Cần tiến nhập vào tam ma địa Hải Hội Bí Mật. Cần tiến nhập vào tam ma địa Bình Đẳng Vô Nhị. Cần tiến nhập vào tam ma địa Hư Không Hoàn Toàn Viên Mãn. Cần tiến nhập vào tam ma địa Kim Cương Bảo Quán Thường Tịch Vô Lượng."

"Vô lượng pháp bí mật, xin chỉ dạy khẩu quyết."
Đại Nhật Như Lai nói bài kệ:
Ngũ trí tứ nhãn tam muội.
Như Lai kim cương bí mật.
Thế gian xuất thế tấn thành.
An lạc bất không vô phiền.
Đại bi không trí tương ứng.
Chính là đại thừa hiện chứng.
Hết thảy bí mật hiện tiền.
Kim cương bảo quán chính giác.

Liên Hoa Đồng Tử nghe xong bài kệ này, trong lòng vô cùng hoan hỉ, lập tức đạt được ba loại thành tựu:
Thành tựu thứ nhất: cưỡi trên hư không bay khắp mười phương không gặp chướng ngại. Nhập vào tất cả tam ma địa.
Thành tựu thứ hai: tàng hình ẩn tích trong một hạt cát một hạt bụi. Đắc được tất cả trí huệ thần thông của diệu pháp.
Thành tựu thứ ba: hàng phục mọi ma quỷ, biến hóa vô cùng. Yêu ghét bình đẳng không khác biệt.

Đại Nhật Như Lai thấy Liên Hoa Đồng Tử đã lập tức đốn ngộ, liền ca ngợi rằng:
"Liên Hoa Đồng Tử tại cõi Ta Bà, chắc chắn sẽ đạt được địa vị của một bậc trí huệ kim cương, đắc được hết thảy mọi trí huệ, cũng chính là một bậc Thánh Giả Tự Giác Như Lai, có thể hàng ma phục tà, sẽ tập hợp chúng sinh, chỉ dạy chúng sinh, tu hành giáo pháp, người người tự tính thành tựu. Hành giả Chân Phật tương lai nếu có thể giữ vững bồ đề tâm, có chí hướng và nguyện vọng đại bi, tu hành như pháp, nhất định thành tựu siddhi."

Đúng vào lúc này, trong tâm của Đại Nhật Như Lai xoáy ra một vầng ánh sáng lớn màu xanh lam xoay tròn, vầng ánh sáng này tuôn dào dạt như sóng, khí thế khiến người ta kinh ngạc, ánh sáng chói chang xán lạn, quan sát tỉ mỉ thì thấy dường như có hình dáng, dường như không có hình dáng, thoắt hướng lên trên, thoắt hướng xuống dưới, ánh sáng ấy không thể đo lường, rất sâu không thể đo được, lúc to lúc nhỏ, lúc đậm lúc nhạt, trong ánh sáng màu xanh lam có một chú tự, chính là chữ:


![image](/img/img_3e456f5125b1f0e3b5e9ad97e7e64614.png)


(Kim Cương Giới)
Rồi lại biến hóa thành chữ:


![image](/img/img_dc2bdcef59eb68e94bd606e56d7de247.png)


(Thai Tạng Giới)
Ánh sáng này bay tới và đi vào trong tâm của Liên Hoa Đồng Tử, ẩn tích và biến mất.

Đại Nhật Như Lai nói:
"Ánh sáng này chính là khí từ tâm của thập phương tam thế nhất thiết Phật tập hợp lại mà thành, toàn bộ là đạo tâm Phật của thập phương tam thế sinh ra, công chính và vô vi. Đây là tâm ấn, nhờ vào tâm ấn tâm, chính là sự từ bi và oai phong trang trọng của truyền thừa, long trọng khác thường, đây là truyền thừa của thập phương tam thế nhất thiết Phật."
"Con không dám tin nữa? Đây là truyền thừa của thập phương tam thế nhất thiết Phật."
"Con không tin ư?", Đại Nhật Như Lai vận chuyển trí huệ nguyên sơ, toàn bộ Cung Pháp Giới Đại Nhật tỏa ra vạn ánh hào quang hắt lên cao ngút trời, lỗ chân lông của Đại Nhật Như Lai tỏa ra ánh hào quang, trong từng ánh hào quang đều có một vị Như Lai đang ngồi nghiêm trang.

Tôi chăm chú quan sát dáng vẻ và ấn tướng của chư Phật, có Thích Ca Mâu  Ni Phật, có Lô Giá Na Phật, có A Di Đà Phật, có Dược Sư Phật, có A Súc Phật, có Bảo Sinh Phật, có Bất Không Thành Tựu Phật, có Đa Bảo Phật, có Định Quang Phật, có Tự Tại Vương Phật, có Bảo Nguyệt Phật, có Vô Cấu Phật, có Thanh Tịnh Phật, có Thủy Vương Phật, có Chiên Đàn Công Đức Phật, có Du Hí Thần Thông Phật, có Tự Tại Tràng Vương Phật, có Tịnh Quang Bí Mật Phật, có Pháp Tạng Phật, có Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật... Vô lượng vô tận các vị Phật, đều ở trong ánh sáng, ngồi trang nghiêm.

Khi ấy, thập phương tam thế nhất thiết Phật tại Cung Pháp Giới Đại Nhật đồng thanh nói:
"Truyền thừa tâm ấn bí mật của thập phương tam thế nhất thiết Phật ủy thác cho Liên Hoa Đồng Tử."
Tôi thẹn thùng, lo sợ, đảnh lễ nhiều lần.

Dạng thần thông hấp thụ trí huệ nguyên sơ này so với thiên nhạc cùng ngân vang, so với hoa trời bay múa thì càng trang nghiêm và chấn động hơn. Thập phương tam thế nhất thiết Phật cũng ban cho Liên Hoa Đồng Tử bài kệ:
Thập phương như bàn tay.
Tam thế khắp chốn thiền.
Tâm ấn tam thiên giới.
Tổng trì ẩn tại tâm.


### 03. Thủ hộ Minh Vương biến huyễn


Khi Liên Hoa Đồng tử sắp rời khỏi Cung Pháp Giới Đại Nhật, Đại Nhật Như Lai bí mật cử Bất Động Minh Vương làm vị Minh Vương bảo vệ cho Liên Hoa Đồng Tử, bất kì lúc nào cũng đều bảo vệ Liên Hoa Đồng Tử hạ sinh tại nhân gian.

Liên Hoa Đồng Tử biết Ngũ Phật hóa thân thành Ngũ Đại Kim Cang Minh Vương:
Đại Nhật Như Lai --- Trung Ương Đại Thánh Bất Động Minh Vương.
Đông Phương A Súc Phật --- Hàng Tam Thế Minh Vương.
Nam Phương Bảo Sinh Phật --- Quân Đồ Lợi Dạ Xoa Minh Vương.
Tây Phương A Di Đà Phật --- Đại Uy Đức Minh Vương.
Bắc Phương Bất Không Thành Tựu Phật --- Kim Cang Dạ Xoa Minh Vương.

Đây là Ngũ Phương Phật vì sắc lệnh chúng sinh, phá ma phục tà, hộ trì Tam Bảo, Ngũ Phương Phật đã biến hiện thân phẫn nộ. Còn Bất Động Minh Vương chính là thân phẫn nộ do Đại Nhật Như Lai biến hóa ra để hàng phục tất cả ác quỷ, chiếm vị trí chủ tôn trong Ngũ Đại Minh Vương. Lời thề nguyện của Ngài chính là:
Người trông thấy ta mà phát bồ đề tâm.
Người nghe tên ta mà bỏ ác tu thiện.
Người nghe ta nói mà đắc đại trí huệ.
Người biết tâm ta sẽ tức thân thành Phật.

Lúc này, Bất Động Minh Vương xuất hiện sau lưng Liên Hoa Đồng Tử, toàn thân màu xanh đen, một mắt nhắm, một mắt mở, nghiến răng, tay phải cầm kiếm, tay trái cầm dây thừng, sau lưng hiện lên ngọn lửa lớn cháy hừng hực, tư thế Ngài dũng mãnh khiến yêu ma khiếp sợ, thân tướng phẫn nộ viên mãn, ngọn lửa cháy lớn là biểu hiện bề ngoài của Ngài.

Liên Hoa Đồng Tử chắp tay lễ Bất Động Tôn giả:
"Cảm tạ Tôn giả hộ pháp."
"Đây là sắc lệnh, đâu cần cảm tạ!" - Khi cất lời nói, miệng Ngài phun ra lửa, khí thế khiến người kinh sợ.
"Xin hỏi bí mật kim cương của Bất Động Minh Vương Tôn giả." - Liên Hoa Đồng Tử hỏi.
"Rồng là biểu tượng của ta, niệm chân ngôn của ta chính là làm sống dậy rồng lửa, rồng lửa chính là Câu Lợi Gia La Long Vương. Chân ngôn của ta chính là quy mệnh, Tôn giả kim cương tướng phẫn nộ, quét sạch ma chướng ác quỷ tàn bạo, là Tôn giả đại phẫn nộ! Phá vỡ mọi sự khủng bố. Quy mệnh phẫn nộ Tôn giả Bất Động Minh Vương."
"Còn ngọn lửa phía sau lưng?"
"Ngọn lửa này là lửa Thích Ca La, đốt cháy tất cả phiền não."

"Là nhân duyên gì mà Đại Nhật Như Lai bí mật phái Ngài đi bảo vệ Liên Hoa Đồng Tử?"
"Bất Động Minh Vương thường trụ kim cang, nhận sắc lệnh của Phật, y lệnh mà làm, chính là nhân duyên đó. Đặc biệt là trong tương lai, Liên Hoa Đồng Tử hạ sinh nhân gian, hoằng dương Phật pháp. Chủ của tam thiên thế giới, Ma Ê Thủ La chắc chắn sẽ đến gây trở ngại, cử thiên ma hạ giáng, lệnh cho một số chúng sinh ngang ngược đến để nhục mạ phỉ báng, hóa thành tất cả những vật ô uế bao vây lấy Liên Hoa Đồng Tử, bức hại truy sát không gì bì kịp, khi ấy thì chỉ có Bất Động Minh Vương ẩn tích bảo vệ."
"Minh Vương canh giữ có thể có khiến thay đổi không?"
"Có, cũng là tùy theo duyên phận mà biến huyễn. Ví dụ, con sẽ sinh vào năm con Gà (Ất Dậu), Bất Động Minh Vương ta sẽ là Bổn tôn hộ mệnh cho con. Con sinh vào tháng 5, Đại Thế Chí Bồ Tát sẽ là phúc tôn bảo vệ cho con. Và sinh vào ngày 18, Quan Thế Âm Bồ Tát sẽ là phúc tôn bảo vệ cho con."
"Ồ! Con hiểu rồi."

Tôi đã hiểu, thì ra ngày tháng năm mà tôi sinh ra không ngờ đã ngầm có Tôn giả bí mật bảo vệ, hơn nữa trong đó còn có những quỹ đạo vận mệnh ẩn giấu:
Bất Động Tôn giả Bổn tôn bảo hộ --- thời kì Phẫn nộ kim cang.
Đại Thế Chí Bồ Tát bảo hộ --- thời kì Trí huệ hoằng pháp.
Quan Thế Âm Bồ Tát bảo hộ --- thời kì Từ bi tịch tĩnh.
"Liên Hoa Đồng Tử hạ sinh nhân gian, khi hết duyên ở cõi Ta Bà thì ai lại đến nhân gian để độ chúng sinh?"
"Chính là Bất Động Tôn giả chuyển hóa. Đây là một bí mật trong bí mật, trong tương lai, con sẽ biết."

Liên Hoa Đồng Tử nghĩ đến bài kệ của Bất Động Minh Vương, trong đó có đoạn:
Thập phương Phật thế giới.
Tập hợp thành đại hỏa.
Uy nộ thắng công đức.
Dũng mãnh luôn vượt trội.
Vô biên chư Như Lai.
Thân Bổn tôn phụng sự.
Lại có sáu mươi vạn.
Hằng hà câu chi Phật.
Được Bổn tôn giáo thị.
Thành vô thượng bồ đề.
Vô lượng chúng thiên long.
Luôn cúng dường thừa sự.
Hành giả giỏi ghi nhớ.
Công đức của Bổn tôn.
Muôn kẻ gây cản trở.
Đều sẽ bị phá trừ.
Nơi hành giả sinh sống.
Ma quỷ phải cách xa.
Bổn tôn tái hiện thân.
Như bậc Bạc Già Phạm.
[Bạc Già Phạm là một trong mười hiệu của Đức Phật, một trong hiệu chung của chư Phật.]
Chân ngôn: "Nam-mô san-man-tô mô-thô-nam wa-zư-la lan hàn".

Liên Hoa Đồng Tử biết thế giới Ta Bà trong tương lai sẽ có sứ giả thánh kiếm của Đại Nhật Như Lai là Bất Động Minh Vương Tôn giả phóng quang hạ sinh, đây là nhân duyên từ xa xưa, theo Liên Hoa Đồng Tử mà tới, đây là nhân duyên của cõi trời, cũng là nhân duyên của nhân gian.


### 04. Mười tám Đại Liên Hoa Đồng Tử


Liên Hoa Đồng Tử từ Cung Pháp Giới Đại Nhật trở về Ma Ha Song Liên Trì. Ngồi trên tòa sen trắng nghìn cánh, yên lặng suy tư, nghĩ tưởng về sự hình thành của Ma Ha Song Liên Trì, nghĩ tưởng về sự hóa sinh của 18 đại Liên Hoa Đồng Tử.

Lúc này, tâm trí đột nhiên khai mở, Ngài xoay vòng theo chiều bên phải và phóng quang. Từ phía bên trái tâm của Liên Hoa Đồng Tử có 8 vị đồng tử bước tới (hiện thân nam), từ phía bên phải tâm của Liên Hoa Đồng Tử có 9 vị đồng tử bước tới (hiện thân nữ), hợp lại tổng cộng có 18 vị Liên Hoa Đồng Tử.

18 đóa hoa sen lớn này chính là:
Trắng Đỏ Cam Vàng Lục Lam Tím Kim Đen. (Hiện thân nam, màu sắc đậm)
Trắng Đỏ Cam Vàng Lục Lam Tím Kim Đen. (Hiện thân nữ, màu sắc nhạt)
Thì ra, 18 đóa hoa sen lớn này đều từ trong tâm của Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử hóa sinh mà ra. Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử là chủ tôn của Ma Ha Song Liên Trì.
Là do nguyên nhân gì?
Thì ra, màu trắng là nền tảng của mọi màu sắc, tất cả màu sắc đều từ màu trắng mà ra, một vị Phật chính giác nhất định cần tu Bạch thiện pháp mới có thể thành tựu.

Vì sao Ma Ha Song Liên Trì không nói là một vị Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử, mà lại cần nói là 18 vị?
Thì ra, một cây không thể tạo nên bóng mát, cần phải cả một rừng cây và cần rất nhiều cây mới có thể tạo thành một rừng cây. Một vị Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử hóa sinh thành 18 đại Liên Hoa Đồng Tử, hơn nữa mỗi một vị Đồng Tử lại có 500 trung Liên Hoa Đồng Tử ở xung quanh, mỗi một vị trung Liên Hoa Đồng Tử lại có 500 tiểu Liên Hoa Đồng Tử, đây chính là việc tích bụi thành núi, nhiều dòng chảy nhỏ tạo nên biển lớn. Ma Ha Song Liên Trì không khác gì Phật quốc tịnh thổ của Liên Hoa Đồng Tử.

Nhiều Liên Hoa Đồng Tử sắc màu như vậy, mỗi màu sắc có diệu pháp gì không?
Đúng vậy, mỗi màu sắc lại có diệu pháp:
Kim Liên Hoa là đại trí huệ thâm sâu.
Bạch Liên Hoa là pháp giới thể.
Lục Liên Hoa là cất giữ vạn bảo.
Hắc Liên Hoa là hàng phục ma quỷ.
Hồng Liên Hoa là hạnh nguyện viên mãn.
Tử Liên Hoa là tướng đoan chính trang nghiêm.
Lam Liên Hoa là quả đức viên mãn.
Hoàng Liên Hoa là đầy đủ phúc báo.
Tranh Liên Hoa là tướng đồng chân ngây thơ chất phác.

Những Liên Hoa sắc màu này hóa sinh chính là vì lợi ích quần sinh, cũng chính là tùy duyên mà hóa hiện lên. Nhiều Liên Hoa sắc màu như vậy vốn dĩ là thị hiện tùy theo người có căn cơ sâu hay căn cơ nông, vừa cần có đầy đủ sáu loại thần thông, vừa cần có lửa trí huệ để thiêu rụi hết ma phiền não, vừa cần có lòng đại từ bi để làm việc đại nguyện, vừa cần trong sáng như pha lê biểu thị tâm bình đẳng, vừa cần phải có đầy đủ phúc báo biểu thị đại phúc, vừa cần trị được bệnh hiểm nghèo để làm viên mãn quả đức, vừa cần có biểu hiện bề ngoài thân phẫn nộ để hàng phục ma quỷ, vừa cần nghiên cứu kinh pháp, giải thích đạo lý tuyệt diệu để đắc được trí huệ thâm sâu, vừa phải cùng hòa hợp chiếu sáng, trở về với pháp giới thể...

Ma Ha Song Liên Trì này cũng có bảy tầng lan can, bảy hàng cây, bảy hồ quý, nước tám loại công đức, thiên nhạc luôn ngân vàng, mặt đất bằng vàng, pháp âm hòa nhã, những hàng cây treo mọi loại bảo vật, võng lưới treo bảo vật, quang minh vô lượng, thọ mệnh vô lượng...

Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử xuất ra khỏi sự tư duy tĩnh lặng, toàn thân hiện lên sắc trắng chân thực, đầy đủ 32 tướng tốt, ngồi trên tòa sen trắng, tay phải kết ấn thuyết pháp, tay trái kết ấn cầm hoa sen, đây là tư thế tiêu biểu của Liên Hoa Đồng Tử.

Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử nói với các vị Liên Hoa màu sắc khác nhau:
"Chúng ta hôm nay nhận sự ủy thác của A Di Đà Phật hạ sinh ở cõi Ta Bà, từ nay sẽ mất đi thân tâm trong sáng, mất đi pháp thân thông suốt dễ chịu, tương lai sẽ trôi dạt trong biển khổ sinh tử, lưu lạc trong lục đạo luân hồi, đây gọi là đóa sen gánh chịu đại nghiệp cứu độ chúng sinh của Như Lai. Bản thân chúng ta trước tiên cần thoát khỏi sự ràng buộc của lục căn, cần chứng đắc Nhân - Không, trừ tận gốc chấp Ngã, đạt đến tính Không viên minh, rồi tiếp đó phá trừ chấp Pháp, chứng tỏ Ngã - Pháp đều không, chứng Vô sinh pháp nhẫn, đạt đến cảnh địa Bồ đề Niết bàn, như vậy mới có thể trở về Ma Ha Song Liên Trì."

Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử hỏi các Liên Hoa Đồng Tử các màu sắc:
"Liên Hoa Đồng Tử trong Ma Ha Song Liên Trì vốn dĩ tỏa hương thơm ngát vi diệu, siêng tu Phật pháp, đều đã chứng đắc pháp vị, mỗi vị cũng đều có bồ đề tâm, hơn nữa đã ngộ và hiểu mười tám đại pháp. Trong đời tương lai, chúng ta độ chúng sinh, cần dựa vào pháp gì để làm nền tảng viên thông, dựa vào pháp tu nào để chứng nhập tam ma địa?"

Lúc này, 17 đóa Liên Hoa Đồng Tử khác nghe thấy lời của Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử, mỗi vị đều muốn nói lên những kinh nghiệm tu chứng của mình. Hơn nữa, các vị trung Liên Hoa Đồng Tử và tiểu Liên Hoa Đồng Tử đều muốn tự thuật về quá trình chứng đạo của bản thân. Cùng lúc, trăm nghìn vạn đóa hoa sen đều phóng tỏa hào quang, chiếu rọi khắp Cực lạc thế giới sáng rực rỡ huy hoàng, đây là bí mật ẩn giấu của chư Phật, định - huệ cùng vận chuyển, có Như Lai Tạng chân tâm, khác biệt với rất nhiều diệu pháp môn tu hành khác. Đây là thành quả cực điểm.

Chính vào lúc này, Tử Liên Hoa Đồng Tử đứng trên tòa hoa sen, hướng về chủ tôn, chắp tay lại nói:
"Vào nhiều kiếp trước, con đã hóa sinh ra từ tâm của Bạch Liên Hoa, từng xuống thế giới Ta Bà, từng theo một vị Phật tu hành, Phật tên là Tử Quang Như Lai, Tử Quang Như Lai đã chỉ dạy cho con thắp lên ngọn đèn màu tím, cúng dường thập phương tam thế nhất thiết Phật, rồi lại dùng lá cây màu vàng kim ánh tím để đắp thành tượng Phật, do vậy, con đã đạt được tướng trang nghiêm đoan chính, thân thường tỏa ra ánh sáng màu tím vàng kim. Lúc ấy, pháp mà con tu là pháp Tử quang. Pháp Tử quang là quán tưởng vũ trụ này đều là màu tím, rồi lại quán tưởng bản thân cũng là màu tím, trong một cái búng tay là thân tâm trở thành tướng định, nhờ đó mà tiêu diệt được pháp trần, pháp tính vi diệu hiện tiền, như vậy mới trở về Ma Ha Song Liên Trì. Nếu chúng ta hạ sinh tại cõi Ta Bà, hãy lấy pháp Tử quang này để độ chúng sinh."

Hồng Liên Hoa Đồng Tử tiếp tục đứng lên, chắp tay hướng về chủ tôn, nói rằng:
"Vào nhiều kiếp trước, con đã hóa sinh ra từ tâm của Bạch Liên Hoa, từng xuống thế giới Ta Bà, theo một vị Phật tu hành, Phật tên là Hành Thiện Như Lai, Hành Thiện Như Lai thường nói, nếu con người tu thượng phẩm thập thiện, thành tựu các loại thiện nghiệp, tất sẽ đắc được nghiệp Trời. Vậy nên con đã tuyên bố với chúng sinh rằng, phụng hành thiện nghiệp, khuyên người giữ giới tu thân, khiến thân thanh tịnh, không nhiễm phàm trần. Con đi đến các nơi cũng đều khuyên thiện hạnh, sau đó đã có được thân phận là giáo chủ của một thế hệ. Cuối cùng, con biết con và Phật đồng thể, có thể vận dụng pháp lực của đại từ đại bi, định lực mỗi ngày một sâu hơn, vì thế mà từ từ tăng lên, hạnh nguyện cũng viên mãn, chân tâm bất sinh bất diệt, tự nhiên hiển hiện, quang minh tỏa chiếu, bỗng chốc mười phương đều viên minh, như vậy mới có thể trở về Ma Ha Song Liên Trì. Nay chúng ta nếu có giáng sinh tại thế giới Ta Bà thì hãy lấy pháp thượng phẩm thập thiện làm cơ sở, hướng dẫn chúng sinh phụng hành thập thiện, như vậy mới hợp với diệu tâm bản giác của chư Phật mười phương."

Lục Liên Hoa Đồng Tử cũng tiếp tục từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay hướng về chủ tôn, nói rằng:
"Vào nhiều kiếp trước, con đã hóa sinh ra từ tâm của Bạch Liên Hoa, cũng thường xuống thế giới Ta Bà, khi ấy con rất giàu có, sưu tập đủ bảo vật của thế giới, thậm chí là cái gì cũng có, chí nguyện viên mãn, cho đến khi con phụng sự một vị Phật, Phật ấy tên là Bảo Tướng Trang Nghiêm Như Lai, được nhờ lực thần thông của Như Lai mà con đã được đưa tới Nam Phương Bảo Tạng Phật Thổ, khi ấy con mới thấy những bảo vật trên đời chẳng khác gì cỏ rác. Từ khi biết được điều đó, tất cả mọi thứ trên đời như mộng như huyễn, không có một thứ gì là chân thực, cũng không có một vật gì là con thực sự sở hữu, thế nên con tu mộng huyễn quán, biết tất cả tịnh uế đều là do tâm thức biến hiện lên, cuối cùng con nhập vào thực tính viên thành, nhờ vậy mới trở về Ma Ha Song Liên Trì. Sau này chúng ta độ chúng sinh, cần phải dạy họ quán mộng huyễn mới được."

Kim Liên Hoa Đồng Tử lễ chủ tôn xong rồi nói:
"Vào nhiều kiếp trước, con hóa sinh từ tâm của Bạch Liên Hoa, khi hạ sinh tại Ta Bà vừa hay lại ở cùng chỗ với Phật Thích Ca Mâu Ni. Phật Thích Ca Mâu Ni dạy bảo tất cả trí huệ, dùng trí huệ để chiếu soi khắp không gian tứ đại đất nước lửa gió, nhờ đó trí huệ phóng quang, mười loại ánh sáng trân quý vi diệu phóng chiếu khắp mười phương, đây cũng chính là ánh sáng đại viên kính trí. Pháp môn mà con tu trì là dùng trí huệ để quan sát thế giới vi diệu, từ đó chứng đắc diệu lực viên minh, lĩnh ngộ chân tướng, như vậy mới có thể trở về Ma Ha Song Liên Trì. Lần này chúng ta giáng sinh, đương nhiên có thể dạy chúng sinh dùng trí huệ quán."

Hắc Liên Hoa Đồng Tử cũng từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay hướng về chủ tôn, nói rằng:
"Vào nhiều kiếp trước, con hóa sinh từ tâm của Bạch Liên Hoa, theo một vị Phật tu hành, Phật tên là Dũng Mãnh Kiến Phật, Phật dạy tu hành tinh tấn, lấy việc hàng phục ma của tự tâm là chủ yếu, nhận ra tất cả ma đều tự tâm chiêu cảm. Con người chúng ta chuyển động hay dừng lại đều do tâm điều khiển, nếu tâm xúi giục thì ma chắc chắn sẽ nhập vào, chắc chắn sẽ gây nên những tạp niệm liên miên không dừng, từ đó mà cứ nhao nhao cãi cọ điên cuồng, không có cách nào tu hành được. Muốn hàng ma, trước tiên phải hàng phục ma của tự tâm, tâm diệt thì ma cũng diệt, tâm sinh thì ma cũng sinh, luyện tập cho tâm bất động là đạo lý cơ bản. Nếu tâm bất động thì chân tâm mới có thể phóng đại quang minh, mới có thể biện chiếu vô ngại, bởi vì đắc được chân tâm quang minh vi diệu rồi thì tự nhiên sẽ hàng phục được ma, như vậy mới trở về Ma Ha Song Liên Trì. Chúng ta nếu giáng sinh tại Ta Bà, hãy dạy chúng sinh bất động tâm pháp mới được."

Lam Liên Hoa Đồng Tử tiếp theo sau Hắc Liên Hoa Đồng Tử cũng đứng dậy, chắp tay lễ chủ tôn, nói rằng:
"Vào nhiều kiếp trước, con hóa sinh từ tâm của Bạch Liên Hoa, con đã giáng sinh tại Ta Bà nhiều lần, đều ở cùng chỗ với chủ tôn Bạch Liên Hoa Đồng Tử, chủ tôn đã dạy con pháp môn thần thông, dùng pháp thần thông để du hành thập phương, cứu độ chúng sinh, ví dụ như chữa trị các loại bệnh tật, dùng thần thông để đạt được mục đích kêu gọi, thu hút lòng tin Phật của chúng sinh. Bởi vì tự tại vô ngại, quả đức từ từ viên mãn, hơn nữa vì có sức mạnh thần thông nên biết rất rõ thần thông vốn là sự phát lộ của tâm quang, khởi đầu đã có rồi, đầy đủ sáu thần thông, biết được chân tính tiềm tàng của Như Lai, thần thông hóa thành thanh tịnh lấp lánh, tự nhiên thường trụ trong vắt, nhờ vậy mới trở về Ma Ha Song Liên Trì. Lần này chúng ta hạ sinh ở Ta Bà, hãy lấy pháp môn thần thông để cứu giúp rộng rãi chúng sinh."

Tranh Liên Hoa Đồng Tử cũng lễ bái chủ tôn, đồng thời nói:
"Vào nhiều kiếp trước, con hóa sinh từ tâm của Bạch Liên Hoa, con cũng nhiều lần giáng sinh tại Ta Bà, mê mẩn với chốn nhân gian, thường quên trở về. Con dùng mắt để quan sát thế gian, vì những mê lầm vào sắc mà đánh mất bản tính, dần dần đánh mất căn cơ. Sau đó nghe được một vị Phật thuyết pháp, Phật tên là Thiên Nhãn Thần Thông Phật, Phật đã dạy con đóng lại con mắt trần, mở thiên nhãn, việc mở thiên nhãn này không phải là dùng thủ thuật, mà là nội minh kim cương tam muội, trước tiên con quan sát tự tâm, tự tâm tỏa sáng, chiếu đến tam thiên đại thiên thế giới, thông suốt từng thứ một cách rõ ràng chính xác và rộng mở, giống như quan sát cảnh chân thực vậy, thế là con trở về và tuân theo sự sáng suốt nguyên sơ, như vậy mới trở về Ma Ha Song Liên Trì. Tương lai chúng ta hạ sinh, hãy dạy chúng sinh nội minh kim cương tam muội, người người mở thiên nhãn thì tự có thể độ chúng sinh."

Hoàng Liên Hoa Đồng Tử chắp tay lễ bái chủ tôn, nói rằng:
"Vào nhiều kiếp trước, con hóa sinh từ tâm của Bạch Liên Hoa, con từng xuống cõi Ta Bà, đời đời được giàu có, có được thiên phúc, có được địa phúc, có được nhân phúc, từng nhiều kiếp làm vua, phú quý dư thừa, có bảy trăm vị Phạm Thiên Vương hộ trì, cho nên luôn được đầy đủ sung túc số một. Nhưng thân sống trong địa vị phú quý, cũng vẫn khó tránh khỏi khổ do sinh lão bệnh tử, vì thế, con thừa sự Đa Bảo Như Lai, biết nhân sinh đời người lúc tụ lúc tan, không nơi nào để đến, không nơi nào để đi, bởi thế, hiểu được tất cả nhân duyên quả báo, biết được tướng là hư vọng, tính là chân thực, do quan sát nhân duyên mà khai ngộ, như vậy mới trở về Ma Ha Song Liên Trì. Nay chúng ta hạ sinh, ban đầu hãy dạy chúng sinh pháp nhân duyên, vì nhân duyên quả báo sẽ dẫn dắt chúng sinh trở về Ma Ha Song Liên Trì."

Trên đây là pháp âm vi diệu của tám đại Liên Hoa Đồng Tử, ngoài ra còn có nhiều vị Liên Hoa Đồng Tử khác tiếp tục nêu ra các loại pháp môn. Tam muội kim cương của những pháp môn này giao hòa ánh sáng đan quện lẫn nhau, giống như một tấm lưới quý báu, hiện lên cảnh tượng cát tường, giống như trời trút mưa hoa sen trân quý, thiên nhạc âm vang trong không trung, tiếng hát tụng kinh ngân vang mãi...

Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử thấy vậy rất vui mừng, nói lên bài kệ rằng:
Bao pháp môn tiện lợi.
Thuận nghịch đều khả thi.
Đến bỉ ngạn nhanh chậm.
Thánh tính sẽ đều thông.
Chân tâm vốn sẵn có.
Từ gốc này mà tu.
Việc viên minh tịnh diệu.
Rộng mở sẽ hiểu thông.

Lúc này, có một tiểu Liên Hoa Đồng Tử đang ngồi trong đám ấy đã hiểu sự chí lí của việc tu thành Phật, nhưng vẫn chưa tự mình chứng đắc được Thánh quả Đại niết bàn, là người mang nghiệp thọ sinh, bởi vì bản thân là một hoa sen màu nhạt, là một Bồ Tát mới phát tâm, đã xa rời trần thế, nghe xong bài kệ của chủ tôn Đại Bạch Liên Hoa liền liều mình tiến lên trước, đảnh lễ chủ tôn, vừa mừng vừa tủi chắp tay rập đầu mà thưa rằng:
"Thưa chủ tôn, tiểu Liên Hoa Đồng Tử con đây đã hiểu đạo lý thành Phật, quyết định đích thân chứng Thánh quả Như Lai, nhưng bản thân vẫn chưa đắc chứng, vậy thì có thể độ người trước được không?"
"Bản thân vẫn chưa đắc chứng, cũng có thể giảng giải đạo lý, khuyến khích đồng tu, phát nguyện độ chúng sinh, đây là Bồ Tát phát tâm. Giác hạnh của bản thân đã viên mãn rồi, đã đích thân chứng đắc rồi, giảng giải kinh nghiệm tu hành, hơn nữa khiến người khác giác ngộ, đây là Như Lai đáp lời thế gian. Bồ Tát phát tâm là đã hiểu và biết rõ con đường trở về trời, diễn thuyết Phật pháp là điều không có gì phải lo ngại."
Tiển Liên Hoa Đồng Tử nghe xong, trong lòng cảm thấy viên mãn sáng tỏ, chắp tay cảm tạ.

Lúc này, Kim Liên Hoa Đồng Tử lại chắp tay bước lên phía trước, nói rằng:
"Thưa chủ tôn, khi chúng con hạ sinh, linh tính sẽ trở nên mông lung do bị che lấp, sẽ quên mất diện mạo vốn có, hơn nữa ở thế gian này, tà sư rất nhiều, thế nào cũng có vàng thau lẫn lộn, chính tà khó phân biệt được, bởi thế, chúng con cứ trầm luân kiếp này tới kiếp khác, sẽ thoái lùi và đánh mất bồ đề tâm, làm sao có thể trở về Ma Ha Song Liên Trì?"
Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử nói:
"Đạo quả vô thượng của Ma Ha Song Liên Trì sẽ được trồng trong tâm của Liên Hoa Đồng Tử hạ sinh, ta sẽ đánh lên tiếng trống đại pháp, thổi đại pháp loa, các hành giả khi nghe thấy Ma Ha Song Liên Trì chắc chắn trong lòng sẽ cảm động, Liên Hoa Đồng Tử tự có thể nhiếp tâm tu hành, thêm nữa có thể dẫn dắt chúng sinh đời mạt thế, cứu độ và hộ trì họ. Như vậy tự có thể tránh xa khỏi những mê hoặc và quấy nhiễu của tà ma ngoại đạo."


### 05. Đào tiên trong yến tiệc


Bởi thế mà tại Ma Ha Song Liên Trì, 18 đại Liên Hoa Đồng Tử và trung Liên Hoa Đồng Tử, tiểu Liên Hoa Đồng Tử đã tập trung lại để diễn pháp xong, rồi tùy vật hóa hình, tùy hình hóa vật, từ trong hồ sen ở Ma Ha Song Liên Trì xuất hiện yến tiệc, tùy duyên mà hóa nên các vật, ai muốn thứ gì thì đều có thứ đó.

Đúng vào lúc đó, bỗng thấy cảnh giới Tứ Thiên có một vệt ánh sáng đỏ từ dưới chiếu lên trên, xuyên tới Ma Ha Song Liên Trì. Vệt ánh sáng lớn này lại hóa thành nghìn nghìn vạn vạn tia sáng đỏ nhỏ, dừng lại trên bàn yến tiệc, lấp la lấp lánh, vô cùng diễm lệ. Mọi người quan sát tỉ mỉ, hóa ra là những trái bàn đào.

Là những quả đào tiên của Diêu Trì Kim Mẫu Thiên Tôn, do Diêu Trì Kim Mẫu gửi tặng.
Diêu Trì Kim Mẫu đội mũ phượng, diện mạo xinh đẹp duyên dáng hiền từ, tay cầm phất trần, là chủ tôn của Hồ Ngọc trên núi Côn Luân, tỏa vạn ánh hào quang, muôn khói cát tường, có tiên cô Đổng Song Thành hầu hạ, phía trước có ba vị sứ giả Chim Xanh dẫn đường, nhẹ nhàng hạ giáng xuống, cỗ xe mây của Ngài lộng lẫy tráng lệ khác thường.

Diêu Trì Kim Mẫu vừa hạ xuống, vừa ngân nga:
Đạo ấy là đạo gì
Tên Có cũng tên Không
Đại La Thiên rộng lớn
Thế nhân chưa từng hay
Ta nay vốn tự tại
Chỉ cư ngụ nơi tâm
Vũ trụ bao la đó.
Tất cả đều như như.

Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử thấy Diêu Trì Kim Mẫu hạ giáng xuống Ma Ha Song Liên Trì, lập tức đứng dậy nghênh tiếp, chắp tay cúi đầu hỏi:
"Kim Mẫu Thiên Tôn vì sao mà tới đây?"
"Vì Đạo duyên nên dâng tặng đào tiên."
"Đạo duyên?"
"Đúng vậy, Liên Hoa Đồng Tử hạ sinh xuống, tương lai sẽ truyền bá và làm vinh hiển giáo pháp, cũng truyền bá pháp Mật giáo, ban đầu cũng sẽ truyền bá những pháp thanh tịnh của Đạo gia, vì nhân duyên này nên ta mới đến đây dâng tặng đào tiên."

"Vì sao sẽ truyền pháp thanh tịnh của Đạo gia?"
"Bởi vì Người có nhân duyên toàn diện cả tam giáo, từ đạo Cơ Đốc mà tiến vào Đạo giáo, lại từ Đạo giáo mà tiến vào Phật giáo."
"Vì sao lại phiền phức như vậy?" - Tôi nói.
"Đây là từ phương tiện mà nhập vào cứu cánh, đây là con đường tất yếu của các vị giáo chủ tôn giáo vĩ đại, như vậy thì mới có được quang hoa sáng chói."
"Cảm tạ lời chỉ dạy của Kim Mẫu Thiên Tôn, đa tạ món quà tặng bàn đào nồng hậu."

"Bàn đào này, thế tục ngộ truyền rằng ba năm mới kết quả một lần, hoặc nghìn năm mới kết quả một lần, thật ra là năm trăm năm kết quả một lần, tiệc bàn đào của Tây Vương Mẫu chính là vào lúc ấy, nhưng yến tiệc của thần tiên không giống phàm trần, tất cả đều lấy thanh khí làm món ăn, bàn đào ở Hồ Ngọc là do tinh chất của hỗn nguyên hình thành nên, ăn bàn đào cũng tương tự như được uống nguồn gốc của vạn thánh linh, ăn một quả sẽ có tác dụng bồi căn dưỡng tính thành tam muội, quả bàn đào trên cây bàn đào có đầy đủ đạo lý ngũ hành ảo diệu, các Liên Hoa Đồng Tử mỗi người ăn một quả thì đạo tâm sẽ không thoái chuyển, đời đời có thể phát huy Phật tính."

Các Liên Hoa Đồng Tử nghe xong, mỗi người liền lấy bàn đào trên bàn tiệc để ăn, quả nhiên vị ngon khác thường không gì sánh bằng, đúng là thần tiên thánh phẩm, cả người khoan khoái, lập tức sinh ra tiên khí.
Tiên cô Đổng Song Thành ngâm nga bài Đạo kệ:
"Cây đào ra Thánh quả
Tiên gia đến giúp cùng
Cho Đồng Tử hạ sinh
Mưa pháp không thiên vị."

Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử vô cùng cảm tạ Vô Cực Diêu Trì Đại Thánh Tây Vương Kim Mẫu Đại Thiên Tôn đã cưỡi mây giáng xuống giúp đỡ, hơn nữa còn ban tặng bàn đào tiên quả năm trăm năm mới ra trái một lần. Bài ngâm thơ của Tiên cô Đổng Song Thành, tôi cũng hiểu được ý nghĩa phi phàm của nó, cho nên lại một lần nữa chắp tay thỉnh giáo Diêu Trì Kim Mẫu về việc liên quan đến hạ sinh tại cõi Ta Bà.
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Đầu tiên sẽ lập phái Linh Tiên, sau đó lập phái Chân Phật."
"Sao lại có trước, sao lại có sau?"
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Tương lai tự biết."

Diêu Trì Kim Mẫu ngâm bài kệ:
"Cõi trần không ổn định
Huyễn hóa tới trước sau
Tham sân si mê hoặc
Khó nghĩ vạn sự thông.
Liên miên ma quấy nhiễu
Pháp vụ chớ để dơ.
Ân oán cần dừng dứt
Độ chúng sinh mới nhiều."

"Cảm tạ Kim Mẫu Đại Thiên Tôn đã khai thị pháp ngữ."
Diêu Trì Kim Mẫu lại nói:
"Tu Đạo gia, vẫn phải lấy thanh tịnh tự nhiên làm chủ, đây chính là diệu tính vô vi thuần nhất thanh tịnh, bởi vì cao nhất của vô vi cũng là thanh tịnh, vì trong vô vi nếu sân hận thì căn gốc sẽ không có lý do nào để xuất sinh ra. Tương tự cần phải tiêu tan vọng trần, lấy sự vô tâm mà đối phó, nội ngoại tâm linh đều sáng trong lung linh, thuần tịnh không tì vết, ánh sáng phổ chiếu, rực rỡ vô ngại."

Diêu Trì Kim Mẫu nói:
"Tiên gia bao nhiêu thế hệ không hẳn là hoàn toàn ẩn cư để tu Tiên, thật ra sau khi đã ngộ đạo, họ cũng có thể biến hóa vô cùng, cảnh giới cao nhất của Thần Tiên cũng có thể biến ra huyễn ảnh tứ đại giả hợp, quay trở về bản tính chân thực duy nhất mà thành chân nhân, chân nhân là đạo tràng bất động, hóa thân tùy loại hiện hình, làm việc theo đạo lý, vận dụng phúc huệ diệu thần thông lực mà che chở cho chúng sinh."

Diêu Trì Kim Mẫu mỉm cười nói:
"Tương lai Đồng Tử hạ sinh, chúng ta sẽ còn có lúc gặp mặt."
"Làm sao mà gặp mặt?" - Tôi cảm thấy rất ngạc nhiên.
"Khi Người thiền định, ở hai tính động - tĩnh, sáng tỏ sự bất sinh và căn trần đều diệt, như thế bên trong không có lực trói buộc Người, bên ngoài cũng không có cách nào gò bó Người. Người có thể bay đến Hồ Ngọc, chiếu rọi pháp giới, đến lúc ta lại mở yến tiệc, cúng dường Liên Hoa Đồng Tử, ta sẽ lại nói về những đạo lý huyền diệu."

Diêu Trì Kim Mẫu nói xong lại bay lên cỗ xe mây, ba sứ giả Chim Xanh tiến lên trước dẫn đường, năm vị Tiên hầu hạ theo xung quanh do Tiên cô Đổng Song Thành dẫn đầu, cỗ xe mây từ từ bay lên không, trang nghiêm thanh tịnh. Lúc này, Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử nghe pháp ngữ của Diêu Trì Kim Mẫu, quan sát vào sâu trong tự tính, biết Đạo gia diệu pháp về lục căn thanh tịnh vô vi, đó là bản giác nội huân, đắc pháp tam muội.

Diêu Trì Kim Mẫu quả nhiên là bậc Thượng Tiên căn cứ vào sự chính trực và dịu dàng, sự nhân từ khiêm tốn của Ngài, từ pháp giới Hồ Ngọc trực tiếp đến Ma Ha Song Liên Trì để tặng bàn đào, đại ân đại đức như vậy, Liên Hoa Đồng Tử ở Ma Ha Song Liên Trì đều cảm thấy khó mà báo đáp.

(Nhân duyên giữa Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn và Liên Hoa Đồng Tử cực kì sâu đậm, ban đầu Liên Hoa Đồng Tử đắc Đạo pháp, mở thiên nhãn, đều là do sự dạy bảo và chỉ thị của Diêu Trì Kim Mẫu. Kim thân của Diêu Trì Kim Mẫu cũng là một trong những kim thân mà Liên Hoa Đồng Tử khi hạ sinh ở nhân gian luôn luôn mang theo bên mình để thờ phụng. Liên Hoa Đồng Tử hoằng dương hai phái Hiển - Mật tại Mỹ cũng đem theo kim thân của Diêu Trì Kim Mẫu, hơn nữa còn luôn phụng thỉnh Ngài trước tiên.)


### 06. Giáng xuống Ma Vương Thiên


Liên Hoa Đồng Tử hạ sinh thế giới Ta Bà, vì lẽ gì mà trước tiên lại giáng xuống Ma Vương Thiên? Nguyên nhân là ở chỗ, khi A Di Đà Phật tại Chân Phật Hải Hội phó thác:
Bạch Liên Hoa Đồng Tử nhấc một chân lên, khẽ thả hoa sen xuống, không chỉ là tam thiên đại thiên thế giới đều chấn động, mà ngay cả đến Ma giới thiên cung cũng chấn động không ngừng. Các hạng Ma Vương đều vô cùng sửng sốt.

A Di Đà Phật nói:
"Lành thay! Lành thay! Liên Hoa Đồng Tử hạ sinh ở nhân gian, có duyên với Ma, có nhân duyên qua lại với Ma, nên ngay cả Ma cũng độ hóa được."

Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử hạ giáng xuống Ma Vương Thiên, có năm trăm trung Liên Hoa Đồng Tử, lại có cả năm trăm Thiên thượng Tiên Đồng, Thiên thượng Tiên Nữ dùng mọi bảo vật chuỗi ngọc trân quý để trang trang điểm uy nghiêm cho Ngài.
Có một nghìn bảo bình đựng nước hoa thơm.
Có một vạn đóa hoa thơm của cõi trời.
Có hàng tỉ trân châu bảo vật.
Tự nhiên xuất hiện xung quanh Ngài, tự nhiên nhiễu quanh  Liên Hoa Đồng Tử ba vòng.
Trong hư không, Vô Sắc Giới Thiên (Không Vô Biên Xứ Thiên, Thức Vô Biên Xứ Thiên, Vô Sở Hữu Xứ Thiên, Phi Phi Tưởng Xứ Thiên), Sắc Giới Thiên (Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền, Tứ Thiền), có vô lượng Thiên Nhân đều hoan hỉ theo Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử đồng hành hạ giáng.
Thiên Nhân thốt lên những lời ca ngợi:
"Nay Ta Bà thế giới, có Phật xuất thế rồi!"

Thiên Nhân các cõi trời nói:
"Liên Hoa Đồng Tử, cõi Ta Bà đêm dài nay đã có ánh sáng, thế giới Ta Bà thành tựu hết thảy. Chư Thiên chúng tôi nguyện hộ trì Chân Phật, hộ trì Liên Hoa Đồng Tử, thành tựu hết thảy cát tường."
Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử từ từ cưỡi hoa sen hạ giáng, an tường tĩnh tịch, hướng đến chư Thiên chắp tay cung kính cảm tạ.

Vào lúc Liên Hoa Đồng Tử hạ giáng, nghĩ đến cuộc đấu pháp giữa Thích Ca Mâu Ni Phật và Ma Vương Ba Tuần:
Ngày xưa, Phật Thích Ca Mâu Ni, từ tướng bạch hào ở giữa hai chân mày phóng ra một tia sáng, tia sáng này là "ánh sáng có thể hàng phục xua tan ma quỷ", ánh sáng này chiếu khắp cung điện Ma Vương, che hết ánh sáng của Ma.
Ma Vương vừa trông thấy ánh sáng này, trong lòng kinh hãi, dùng thần thông để quan sát thì phát hiện ra:
Cung điện của mình đã chấn động và sụp đổ thành đống gạch ngói vụn.
Năm cấp tướng của mình đều tỏ vẻ cực kì không vui.
Bản thân phải lưu lạc tha phương, không có chỗ dung thân.
Tâm chẳng thể yên, sinh ra cuồng loạn, toàn thân run rẩy.

Ma Vương Ba Tuần lập tức triệu tập hết thảy quyến thuộc của các Ma cung, cho rằng "chẳng lẽ có kẻ có uy lực phúc đức đến sống ở nơi này?"
Sau đó thì biết là Phật Thích Ca Mâu Ni.
Bởi vậy, Ma Vương ra lệnh:
"Chúng Ma nghe ta điều động, có Thái tử họ Thích muốn chứng bồ đề, đã xâm nhập vào thế giới của ta, chúng ta phải cùng nhau đuổi tên này đi, cắt đứt cái tâm tinh tấn dũng mãnh của hắn, không để cho hắn đắc chứng, tránh cho hắn xâm nhập vào thế giới của ta."

Khi ấy có Ác Khẩu Ma nói:
Kẻ thấy ta, tâm sẽ hư hoại
Bật gốc cả cây, đổ xuống bùn
Huống chi lũ Sa-môn nhỏ bé
Nếu thấy ta, ắt chạy tít mù.

Khi ấy có Bách Đấu Ma nói:
Trên người ta mọc trăm cánh tay
Một tay tên bắn ba trăm mũi.
Chiến tranh tranh đấu ta bền nhất
Mình ta có thể đuổi Sa-môn.

Ma Vương Ba Tuần còn cử ma nữ đi quấy rối tâm của Phật Thích Ca Mâu Ni. Thế là, các ma nữ xinh đẹp tấp nập kéo tới biểu diễn những động tác quyến rũ, thể hiện đủ trò lôi kéo của phụ nữ, ví dụ như cười bỡn cợt, điệu bộ ngó bên nọ nhìn bên kia, nhướn nhíu đôi lông mày, để lộ eo cong, lộ nửa bầu ngực, lộ ngực và lưng, rồi cởi quần áo, rên rỉ hổn hển, miệng cười mắt nhắm, đòi hỏi chuyện ân ái...

Thích Tôn nói bài kệ:
Ma nữ các người sao ngu muội,
Xấu xí bẩn thỉu phi trí nhân.
Chư Phật Đại Thánh nơi trần thế.
Tâm vô chướng ngại thể như không.

Ma Vương Ba Tuần thấy sắc không thể dụ dỗ được, lại cử đám quân ma đi đánh Phật Thích Ca Mâu Ni. Ma sân hận dùng một cây đao dài quăng về phía Thích Tôn, đao bay được nửa đường rơi xuống đất thì lại có đá núi quăng về phía Bồ Tát, đá núi không tới được thì lại quăng búa rìu gậy gộc chùy kích, nhưng tất cả đều không làm được gì.

Ma Vương dùng cả đại thần thông lực để trút xuống cơn mưa lửa, cơn mưa lửa hóa thành hoa sen trắng, sấm rền chớp giật, mưa đá rơi xuống đất đều biến thành hoa thơm rụng xuống. Cả bầy rắn được phái đi để cắn Thích Tôn, nhưng bầy rắn đều dừng lại bất động. Có kẻ cầm cung tên bắn vào Bồ Tát, những mũi tên tới tấp quay đầu bắn ngược trở lại. Có kẻ bắn đi năm trăm mũi tên thì toàn bộ đều bị hoa sen trên không trung đỡ lấy. Có một nữ la-sát tay cầm đầu lâu đi đến trước mặt Thích Tôn thì không thể tiếp tục tiến lên được nữa. Có một tên đại ác quỷ miệng phun ra lửa để đốt cháy Thích Tôn, rốt cục không nhìn thấy Thích Tôn đã đi đâu mất. Lúc ấy, cả đám quân ma đều chạy tán loạn, yếu thế nên tự mình tìm đường tháo chạy.

Liên Hoa Đồng Tử nghĩ đến ngày xưa chuyện Phật Thích Ca Mâu Ni hạ sinh ở cõi Ta Bà đã đánh bại Ma Vương Ba Tuần, đã lĩnh ngộ được đạo lý của Phật và Ma:
Phật là bậc giác ngộ, tức là tự giác giác tha, là đại Thánh nhân giác hành viên mãn.
Phật có thể phá tan sự ngu si u ám của chúng sinh, từ bi quảng đại, phổ độ vô tư. Nguyên nhân của thành Phật chính là do tất cả thiện căn công đức. Phật cụ túc vô thượng chính trí và hết thảy các loại trí huệ. Có thể lĩnh ngộ đạo lý chí cao của nhân sinh, giác ngộ vô thượng bồ đề, tức là Phật.
Phật có thể thấy được tất cả mọi pháp, tất cả phi không phi hữu, bất khả tư nghì. Và Phật cũng tức là bậc Chân Như, đó là tất cả chúng sinh đều có bản chất giác ngộ bất biến và không thay đổi, là thường trụ và không có biến đổi.
Tâm của Phật là tâm thanh tịnh, là tâm vô trọc uế, là tâm vô trở ngại, là tâm không ưu sầu mệt mỏi, là tâm hiền hòa êm dịu, là tâm thành tựu nghiệp, là tâm chân tịch định.

Vậy còn Ma?
Ma là những kẻ chiếm đoạt mạng người, cản trở tu hành, quấy nhiễu nhân tâm, phá hoại Thánh đạo, gây đủ mọi phiền nhiễu và phiền toái cho người tu đạo.
Khiến người ta mắc bệnh ma quỷ.
Quấy phá chính tâm chính niệm, khiến người ta khởi lên tà niệm.
Chiếm đoạt công đức của người ta.
Khiến người ta khởi dâm niệm.
Ma thích nhất công, danh, lợi. Đó là tham.
Ma thích đấu, tranh, chiến. Đó là sân.
Ma thích thù oán, tự đại, ác nghiệp. Đó là si.
Người học Phật hãy nhớ, đừng học làm Ma.

Liên Hoa Đồng Tử hạ sinh cõi Ta Bà là muốn sáng chói như mặt trời, xua tan bóng đêm tăm tối, để dạy chúng sinh có được tâm thanh tịnh, thuần khiết như hoa sen. Cần học để tâm như hư không không còn giới hạn, ban pháp khắp đại địa để dưỡng dục quần sinh. Dùng nước tám công đức của hồ sen để rửa sạch hết những ô uế hủ bại. Cần học tập để bất động như núi Tu Di, để Ma không thể làm lay động dù chỉ một sợi lông, dạy dỗ vô thượng chính đẳng bồ đề để người người thành tựu bồ đề đạo thành.

Thế là, Liên Hoa Đồng Tử giáng xuống Ma Vương Thiên trước, ở Ma cung gặp Tha Hóa Tự Tại Thiên Vương.
"Tôi sắp giáng xuống Ta Bà, ông có lời gì muốn nói không?" - Liên Hoa Đồng Tử nói với Tha Hóa Tự Tại Thiên Vương.
"Đã đến cõi giới của ta, đương nhiên ta phải cản trở." - Ma Vương đáp.
"Cản trở như thế nào?"
"Ta sẽ khiến ngươi gặp rắc rối lớn, dùng tham sân si để mê hoặc ngươi, khiến người lưu chuyển trong tam giới sinh tử, vĩnh viễn không có ngày khai ngộ. Ta sẽ khiến ngươi sinh ra những tà kiến vô minh, dùng dâm niệm tà niệm để che phủ huệ căn tiền kiếp của ngươi, cản trở bồ đề tâm của ngươi." - Ma Vương nói.

"Tôi cũng có thể phá bỏ những chướng ngại phiền não và tất cả chướng ngại mà ông tạo ra cho tôi. Tôi dùng Ngã Không, Ngã Không tức là Ngũ uẩn vô ngã, tất cả đều là hư vọng không thật, tôi hoàn toàn không phải là thực thể, Ngã Không Chân Như này thì không thể nhiễm tham sân si. Đó là sự giải thoát trí huệ, giải thoát trí huệ có thể khiến tôi thoát khỏi tất cả chướng ngại phiền não, chứng ngộ niết bàn bất sinh bất diệt. Tôi cũng dùng Tâm Không, tôi sẽ chuyển hóa nhãn thức, nhĩ thức, tị thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, mạt na thức, a lại da thức của bản thân thành trí, tự tôi có thể biết tâm thể vĩnh viễn bất biến, cũngn tức là Như Lan Tạng Tâm, tự tính thanh tịnh tâm, Như Lai Tạng Tâm chính là Tâm Không, Tâm Không không nhiễm bụi trần, thì sao có thể có tà niệm dâm niệm. Như vậy, thân tịch tĩnh và tâm tịch tĩnh thì tự đắc được giải thoát tự tại."

"Thôi đi, Liên Hoa Đồng Tử nhà ngươi chưa từng biết ta thần thông biến hóa quảng đại, uy lực tự tại hả?"
"Tôi biết." - Liên Hoa Đồng Tử, tâm biết Ma Vương Ba Tuần thần thông tự tại.
"Ta có thần thông, ngươi có pháp gì?"
"Tôi dùng nguyệt yểm, bởi vì nguyệt yểm có thể điều hòa, cùng với ba mươi bảy vị sứ giả Kim Cang."
"Ta sẽ nhập vào trong tâm người thân của ngươi, nhập vào tâm đệ tử của ngươi, ra lệnh cho họ không thuận duyên, khiến ngươi không đạt được mục đích độ sinh. Ta sẽ nhập vào tâm của sư phụ ngươi khiến họ ruồng bỏ ngươi."
"Tôi hoàn toàn có thể bố thí, giữ vững bồ đề tâm."
"Cứ cho là thế đi, thử rồi sẽ biết." - Ma Vương nói.
"Đôi cánh định - huệ, giúp tôi bay vào hư không chẳng rơi xuống, cuối cùng tôi sẽ quay trở về Ma Ha Song Liên Trì." - Tôi khẳng định với Ma Vương như vậy.


### 07. Đủ kiểu mê muội


Khi Liên Hoa Đồng Tử rời khỏi Ma Vương Thiên, trong lòng nghĩ đến đủ kiểu mê muội.
Tất cả chúng sinh vốn đều có sẵn Như Lai Tạng tính, thật sự là đã có sẵn Phật tính chân như, không hề có bất kì tạp nhiễm nào. Chỉ vì một suy nghĩ mù quáng mới vướng vào những mê muội.
Suy nghĩ mù quáng này thật sự là gốc rễ của mê muội.
Phật là chân tướng thật sự.
Ma là suy nghĩ mù quáng.
Sự khác biệt giữa Phật và Ma thật sự chỉ nằm ở giữa một suy nghĩ mà thôi. Vì sao lại mê muội, cũng chính bởi vì chúng sinh ngưỡng mộ và theo đuổi những cảnh giới đẹp đẽ bên trong và bên ngoài thân.

Ma muốn nhập tâm luôn cần phải do vọng tưởng của bản thân dẫn dắt:

- Chúng sinh đều có những thói quen phóng túng bừa bãi của kiếp trước, chỉ cần dâm niệm của bản thân khởi lên thì cũng giống như châm lửa, thế là lửa dục thiêu thân. Ma sẽ dùng mỹ nữ để mê hoặc, khiến cho hành giả phá giới và chìm vào mê muội.

- Tham niệm của người đời cũng là bẩm sinh, chỉ cần tham niệm của bản thân khởi lên thì ma sẽ lại tiếp cận, khiến họ lòng tham không đáy, mãi chạy theo vật chất không biết dừng lại, không có cách nào phá bỏ sự mê đắm vào tiền bạc.

- Người đời đều coi trọng bản thân, chê bai người khác, đó chính là tâm ngã mạn. Bản tính của ma chính là đề cao bản thân, tự cao tự đại. Người tu hành mắc phải chứng bệnh này cực kì nhiều, luôn luôn tự cho mình là pháp lực cao nhất, và thế là ma liền lợi dụng tâm ngạo mạn sinh ra để khiến người ta mê muội mà không tự biết.

- Nguyên nhân khiến chúng sinh thích đấu đá nhau là do so bì lẫn nhau, tị nạnh lẫn nhau, chỉ trích lẫn nhau, ma liền lợi dụng tâm tư này để xâm nhập vào tâm của hành giả, trở thành sân hận.

- Ma tiến nhập vào tâm hành giả, đầu tiên sẽ thúc đẩy ngã mạn, rồi lợi dụng lòng đố kị để sinh ra sự căm ghét lẫn nhau, oán trách lẫn nhau, cùng tranh giành địa vị tài giỏi, bài xích lẫn nhau. Thế là có thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, giới cấm thủ kiến. Tất cả mọi quan điểm cá nhân tự phụ, không biết nhường nhịn, không biết loại bỏ cái tôi để theo người khác.

Tham niệm sinh ra, ma sẽ có kẽ hở để xâm nhập. Tham danh, tham lợi, tham sắc.
Sân niệm sinh ra, ma sẽ có kẽ hở để xâm nhập. Ngã mạn, kiêu ngạo, đố kị.
Si niệm sinh ra, ma sẽ có kẽ hở để xâm nhập. Vô minh, vô tri, tà ngộ.

Ma "quái quỷ" chuyên môn bám vào người tham danh lợi khiến cho người ta vĩnh viễn không biết chừng mực mà mãi tham luyến không buông bỏ.
Ma "bạt quỷ" chuyên môn bám vào người tham sắc, để hút lấy tinh khí của họ.
Ma "mị quỷ" chuyên môn bám vào người gian trá, khiến họ đầy rẫy mưu kế hãm hại mọi người.
Ma "cổ độc quỷ" chuyên môn bám vào người có thói xấu, khiến họ như bị trúng độc, không có cách nào tự thoát khỏi được.
Ma "lệ quỷ" bám vào người có tâm hung ác, giết người phóng hỏa, khiến người ta mắc bệnh dịch.
Ma "ngạ quỷ" bám vào người kiêu căng tự cao, vì ngạo mạn mà tạo nên đủ loại ác nghiệp.
Ma "võng lượng quỷ" bám vào những người thông minh nhưng có tà kiến, khiến thói quen lừa gạt của họ không thể dừng lại, sẽ nói đủ loại tà pháp, gây tội vào người.
Vân vân và vân vân.

Vì sao người tu hành lại tiếp xúc với bệnh ma, đó là vì người tu hành không biết bản tâm chân thường, sinh tử không khác biệt, từ bỏ chính giác lại còn không tu, tự bản thân tu luyện như người mù lòa, chỉ có tu tâm ngông cuồng mà thôi.
Có người càng tu hành thì càng tham danh tham lợi, đây chắc chắn là đã gặp ma.
Có người càng tu hành, trong tâm càng khởi lên tà dâm, đây cũng là đã gặp ma.
Có người càng tu hành, tính khí nóng nảy càng ghê gớm, kiêu căng ngạo mạn, duy ngã độc tôn, đố kị kiêu kì, đó chính là đã gặp ma.
Có người càng tu hành thì lại càng trở nên vọng tưởng, sản sinh ra huyễn giác, bám chấp vào những u mê mà không ngộ ra, tự nói mình đã chứng đắc, không ngừng khởi lên những suy nghĩ ảo vọng ngông cuồng, đây cũng là đã gặp ma.
Có người càng tu hành, càng thích tranh đấu, bài xích người khác, tu tập rối loạn, nói những lời phỉ báng ác độc, phạm tất cả giới luật, những người tu hành kiểu đó tự nhiên cũng là những người gặp phải ma.

Con người thế gian, có người cứ oán trách "tu hành lại gặp ma", kêu người khác đừng tu hành nữa. Đây không phải là lỗi của việc tu hành, mà là bản thân người tu hành ở vào tình huống không có chính niệm, là kết quả của sự vọng tưởng mình đã đắc chứng. Người tu hành đã đánh mất chính niệm thì rất dễ gặp ma, đủ kiểu mê muội, nếu đi sâu vào nghiên cứu thì thật ra là do tự mình vọng tâm mà tạo nên, chứ thực tế không phải là lỗi của việc tu hành!

Tệ hại nhất là chúng sinh ngu độn, người mê muội vô tri rất nhiều, phàm phu rất dễ đánh mất chính niệm, thêm nữa là Thiên ma lợi hại, cả đám xấu xúm vào đầu độc, người tu hành có thể ngộ được điều này là hiếm lắm!

Trước khi Liên Hoa Đồng Tử hạ sinh ở Ta Bà, từ Ma Vương Thiên đi ra, có cảm nghĩ về đủ kiểu mê muội, trong lòng cảm thấy bi thương, bởi vì tương lai của Liên Hoa Đồng Tử nhất định sẽ có ma tới quấy nhiễu, hơn nữa còn bị những đám người xấu công kích. Đệ tử mà không đủ định lực thì sẽ sẽ gặp phải kế sách xằng bậy xấu xa của lũ ma quỷ, canh phòng tâm không chặt thì thiên ma sẽ nhập vào tâm, sẽ có trí huệ điên khùng, huyễn giác tẩu hỏa nhập ma sẽ sinh ra. Điên đảo vọng tưởng như thế sẽ làm liên lụy rất nhiều đệ tử.

Liên Hoa Đồng Tử trong lòng cảm thấy xót xa, nhiều lần nhấn mạnh tầm quan trọng của định lực, tầm quan trọng của sự "bất động", tầm quan trọng của sự tịch tĩnh. Bảo vệ đệ tử thiền định khiến họ thành tựu vô thượng chính đẳng chính giác.


### 08. Giáng xuống Đâu Suất Đà Thiên


Ma Vương Thiên còn gọi là Tha Hóa Tự Tại Thiên, bên dưới Tha Hóa Tự Tại Thiên là Hóa Lạc Thiên, bên dưới Hóa Lạc Thiên là Đâu Suất Đà Thiên.

Đâu Suất Đà Thiên là cõi trời thứ tư trong số sáu cõi Dục Thiên, ở trên Dạ Ma Thiên, ở cõi trời này niềm vui đến từ việc làm mọi thứ một cách hoan hỉ vui vẻ, vì vậy còn được gọi là Hỉ Lạc Thiên.

Đâu Suất Đà Thiên phân ra nội viện và ngoại viện. Người sống ở ngoại viện có thọ mệnh là bốn nghìn năm, người sống ở nội viện thì tuổi thọ không giới hạn. Vào các kiếp tương lai, ba loại tai ương lớn về nước, lửa, gió không thể gây tổn hại đến những người sống trong nội viện của Đâu Suất Đà Thiên.

Nội viện của cõi trời này lại phân ra làm 49 viện, trong 49 viện đó có một viện gọi là Thuyết Pháp Viện, chính là nơi Di Lặc Bồ Tát thuyết pháp. Liên Hoa Đồng Tử và Di Lặc Bồ Tát có mối duyên phận rất sâu sắc. Bởi Liên Hoa Đồng Tử hạ sinh tại nhân gian cõi Ta Bà, trở thành Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh tôn giả, chiếc mũ miện đỏ này chính là do Di Lặc Bồ Tát tự tay đội lên.

Nội viện của Đâu Suất Đà Thiên này đều được làm từ ngọc mani, có thể nói là cả một vùng sáng rực rỡ. Liên Hoa Đồng Tử theo thứ tự hạ giáng xuống Đâu Suất Đà Thiên, mọi Thiên nhân đều hoan hỉ nghênh tiếp. Liên Hoa Đồng Tử đích thân yết kiến Di Lặc Bồ Tát ở Thuyết Pháp Viện. Tại Thuyết Pháp Viện này, có rất nhiều thánh giả cao tăng đều theo Di Lặc Bồ Tát, chờ đến lúc Di Lặc Bồ Tát hạ sinh tại Ta Bà, khi mở Long Hoa Tam Hội sẽ lại cùng hạ sinh tại Diêm Phù Đề, cùng giáo hóa chúng sinh. Họ đều là những thánh giả thừa nguyện độ chúng sinh.

Di Lặc Bồ Tát vừa trông thấy Liên Hoa Đồng Tử liền nói:
"Thừa nguyện mà đến, Liên Hoa Đồng Tử, xin hoan nghênh, hoan nghênh."

Tôi ngẩng đầu nhìn Di Lặc Bồ Tát. Lúc này, Bồ Tát không giống như hình tượng bụng lớn mặt tròn miệng cười rộng như ở thế gian vẫn thấy, mà là đầu đội mũ miện quý báu, trong mũ miện có một bảo tháp, bảo tháp có xá lợi quang, tay trái của ngài đặt trước ngực, bàn tay xòe rộng, tay phải cầm hoa sen, trên hoa sen có bảo bình. Tay trái tay phải đều đeo chuỗi vòng ngọc, tướng mạo trang nghiêm như Phật, ngồi trên tòa hoa sen nghìn cánh. Đồng thời, tôi thấy bên cạnh pháp tọa của Bồ Tát có đặt một chiếc "Hồng Quán" tỏa ánh sáng lấp lánh.

"Liên Hoa Đồng Tử yết kiến Di Lặc Thánh Tôn." - Tôi cung kính chắp tay đảnh lễ.
"Ta đang đợi con đến đây." - Di Lặc Bồ Tát cười ha ha.
"Liên Hoa Đồng Tử hạ sinh cõi Ta Bà, cần được Bồ Tát ấn chứng."
"Chiếc mũ miện đỏ này chính là được chuẩn bị cho con, đợi con đến để đội lên."
"Bây giờ ư?" - Liên Hoa Đồng Tử hỏi.
"Không phải bây giờ, mà là sau khi con hạ sinh ở Ta Bà, tại thế giới Ta Bà, trải nghiệm hết cả tam giáo [ ND: Cơ đốc giáo, Đạo giáo, Phật giáo, đây là ba tôn giáo mà trong kiếp này Lư Sư Tôn đã có nhân duyên học tập ], trong thiền định con sẽ lại trở về Đâu Suất Đà Thiên. Tại thế giới Ta Bà, con tu các pháp chỉ quán lớn nhỏ, xoay vòng rồi lại xoay vòng, lặp lại mấy vòng xoay, nếu lại trở về Đâu Suất Đà Thiên, ta sẽ đội cho con chiếc Hồng Quán này." - Di Lặc Bồ Tát nói.

"Chà!" - Các thánh giả đều vô cùng kinh ngạc: "Ta Bà ngũ trọc ác thế, lòng người chống đối, đầy rẫy tà sư, trong thiền định trở về Đâu Suất Đà Thiên là việc khó lắm."
"Không khó, Liên Hoa Đồng Tử hạ sinh, thời niên thiếu thì lập chí tu đạo nhỏ, giữa đường sẽ gặp được Thánh giả giáo hóa, Thích Tôn sẽ ban thọ kí, tương lai cậu ấy sẽ thành Phật. Liên Hoa Đồng Tử vốn là hóa sinh từ ánh sáng tại Tây phương tịnh thổ Ma Ha Song Liên Trì, huệ căn sâu dày, phụng mệnh Đại Nhật Như Lai, sẽ cứu độ được rất nhiều chúng sinh, thuyết pháp hành hóa, pháp duyên của cậu ấy xen vào giữa ta và Phật Thích Ca Mâu Ni, tương lai trong thiền định sẽ trở về Đâu Suất Đà Thiên, sẽ không gặp khó khăn."
Các thánh giả đều vô cùng ngạc nhiên.

"Kính mong Bồ Tát Thánh Tôn hướng dẫn thêm." - Tôi cung kính trả lời, chắp tay tụng thán:
Từ Thị A Dật Đa
"Diệu Pháp Vô Năng Thắng
Long Hoa có Tam Hội
Chúng sinh đều đắc chứng
Khắp toàn bộ ba vòng
Liên Sinh lễ Di Lặc
Tương lai mong ban tặng
Hồng quán đội trên đầu."

[ ND: Từ Thị là dịch nghĩa theo tên gọi của Đức Phật Di Lặc Maitreya. A Dật Đa cũng là một danh hiệu gọi Phật Di Lặc.]

Khi tôi niệm bài kệ này, chiếc hồng quán bên cạnh Di Lặc Bồ Tát bỗng nhiên phóng ra ánh sáng đỏ rất mạnh ba lần, hơn nữa, trên chiếc hồng quán còn có bảo châu ngũ sắc, đều tỏa ra ánh sáng ngũ sắc rực rỡ, tạo thành một đường cong rót xuống đầu Liên Hoa Đồng Tử. Chiếc hồng quán lại từ từ bay lên, tự động bay về phía Liên Hoa Đồng Tử, cũng bay vòng quanh Liên Hoa Đồng Tử ba vòng, rồi lại bay trở về chỗ cũ.

Các thánh giả nhìn thấy cảnh tượng này đều ca ngợi Liên Hoa Đồng Tử pháp duyên quả nhiên thâm hậu, hồng quán đã tìm thấy người chủ đích thực của mình rồi. Các thánh giả và thiên nhân khen ngợi và hát lên bài kệ:
"Liên Hoa quốc tối thắng.
Tốt lành cứu chúng sinh.
Dựng cờ pháp thần kì.
Đạt niết bàn tối cao."

Liên Hoa Đồng Tử tại Thuyết Pháp Viện của Di Lặc Bồ Tát ở Đâu Suất Đà Thiên đã cung thỉnh Di Lặc Bồ Tát khai thị thuyết pháp.
Di Lặc Bồ Tát giảng giải "pháp vi tế".
Di Lặc Bồ Tát nói:
"Một người tu định, tu chỉ quán, sẽ biết rằng hết thảy mọi pháp đều từ trong tâm sinh ra, hết thảy thân thể nhân duyên đều không phải chỉ là nhất thời tụ hội lại mà thôi, từ đó mà biết cái Không, đây gọi là "thể chân chỉ". Đến cuối cùng, trên không còn thấy Phật quả, dưới không còn thấy chúng sinh nào mà độ, đó là pháp tu giả nhập không quán. Nếu như vĩnh viễn trụ trong sự quán tưởng này thì sẽ rơi vào địa của Thanh Văn và Bích Chi Phật. Vì không còn thấy chúng sinh nào mà độ, không thể phát bồ đề tâm, tâm cũng không hỉ lạc, như vậy thì dù có định lực nhưng cũng không thấy được Phật tính."

Di Lặc Bồ Tát nói:
"Một người đã tu được định, nhờ định đắc Không, nhờ Không đắc huệ, từ đó biết được tất cả các pháp trên đời đều là giả, giống như huyễn hóa chứ không phải thật, kì thực là sản sinh ra tướng kiến văn giác tri mà thôi, sự khác biệt thì có rất nhiều, người tu hành chỉ có thể ở trong hư không tu hành các kiểu, ví dụ như trồng cây trong hư không, phân biệt các căn của chúng sinh. Đó là từ tu hành Không nhập Giả quán mà đạt được phương tiện tùy duyên chỉ, đến được cảnh giới này là có trí huệ, có thể thuyết pháp, có pháp nhãn, dù thấy Phật tính nhưng cũng vẫn chưa thấu triệt."

Di Lặc Bồ Tát nói:
"Một người tu định thái quá sẽ trở thành tất cả đều không, còn một người tu huệ thái quá sẽ trở thành tất cả đều giả. Do vậy, việc học định - huệ cần phải luyện tập "chấm dứt phân biệt nhị biên", thực hành trong trung đạo chính quán, cần biết rằng tâm tính là không thật không giả, phi không phi hữu, cũng có nghĩa là song chiếu nhị đế, tâm tính thông đạt trung đạo. Nếu như trụ trong sự quán chiếu này thì sẽ đắc Phật nhãn, tất cả trí lực, định lực, huệ lực đều ngang bằng, sáng tỏ và kiến Phật tính."

Các thánh giả niệm bài kệ:
"Pháp sinh bởi nhân duyên
Ta nói tức là không.
Cũng gọi là tên giả.
Nghĩa trung đạo là thế."

Thì ra, sự phân biệt vi tế của tam quán trong cái Không - Giả là như sau:
Từ Giả nhập Không quán --- định lực nhiều, không kiến Phật tính.
Từ Không nhập Giả quán --- lực trí huệ nhiều, dù kiến Phật tính nhưng lại không thấu triệt.
Trung đạo chính quán --- định lực và huệ lực ngang nhau, hiểu thấu và kiến Phật tính.

Liên Hoa Đồng Tử bước nhanh tới trước, quỳ thẳng chắp tay, bạch Bồ Tát rằng:
"Liên Hoa Đồng Tử hạ sinh ở Ta Bà thì cuộc đời ấy sẽ như thế nào?"
Di Lặc Bồ Tát nói:
"Đi vào thai mẹ.
Chịu khổ nhân gian.
Trải nghiệm tam giáo.
Tập pháp.
Xuất gia. Lập tông phái.
Làm đạo trưởng.
Hàng phục ma.
Thành chính giác.
Chuyển pháp luân.
Nhập niết bàn."

Liên Hoa Đồng Tử bỗng nhiên nhớ đến lúc A Di Đà Phật dặn dò, A Di Đà Phật đã cho một bài chân ngôn khai thị, bởi vậy liền thỉnh Di Lặc Bồ Tát khai thị luôn.
Chân ngôn khai thị này là:
"Nên ở gần sông núi.
Chuyển dịch không vết tích.
Chẳng mong cầu danh lợi.
Pháp Không tự dựa vào."

Di Lặc Bồ Tát nói:
"Liên Hoa Đồng Tử hạ sinh cõi Ta Bà, để an tâm tu hành sẽ thường xuyên phải chuyển nhà, cần chuyển đến ở những nơi có sông có nước, đừng sống ở thành thị phố xá, cần dừng hết mọi sự theo đuổi việc thế gian có duyên với bản thân. Có thể chuyển đến những vùng hồ trong núi sâu, nghe được những âm thanh của thiên nhiên như tiếng côn trùng, tiếng nước chảy, tiếng cây cối xào xạc. Cần dừng hết mọi sự theo đuổi việc thế gian có duyên với bản thân, vậy mới là dịch chuyển mà không để lại dấu vết nào, dừng hết mọi sự theo đuổi việc thế gian có duyên với bản thân thì tất cả mọi danh lợi mới có thể không còn nhân duyên. Nếu cứ quanh luẩn trong vòng danh lợi thì cũng không thể có được tâm thanh tịnh. Liên Hoa Đồng Tử sau khi khai ngộ cần sống tại nơi sông núi, không được tìm cách trèo cao, trừ việc tu đạo và hoằng pháp ra thì tâm tình phải không được vướng bận thứ gì cả."

"Nếu như cần dừng hết việc thế gian có duyên với bản thân thì vì sao cần phải lập tông phái?"
"Lập tông phái là vì chúng sinh, bởi vì có tông phái thì tâm lực mọi người mới có thể tập trung lại, thống nhất mục tiêu, từ đó tạo ra một trung tâm, thì cảm ứng về thân tâm của các đệ tử mới có thể phát sinh. Đồng thời cần có hội đồng tu, đồng tu là mượn sức mạnh của mọi người để tăng cường công phu tu hành của bản thân. Lập tông phái là kết duyên với tông phái, duyên cùng tu, tương lai sẽ dìu dắt nhau cùng đi đến Ma Ha Song Liên Trì. Lập tông phái là giáo pháp tiện lợi, nhờ tông phái mà sản sinh ra tín tâm, có được đường lối tu hành."

Di Lặc Bồ Tát nói:
"Tông phái có thể khiến chúng sinh khởi tâm hộ pháp, là từ bỏ cái ác, tiếp tục làm thiện, công đức mới có thể tăng trưởng! Người người phát khởi tâm hộ trì tông phái, đó là lời thề nguyện lớn lao vô cùng quan trọng đó!"
"Con đã hiểu rồi." - Liên Hoa Đồng Tử nói.


### 09. Giáng xuống Đế Thích Thiên


Liên Hoa Đồng Tử cưỡi hoa sen trắng lớn từ từ hạ giáng, bỗng nhìn thấy trong hư không xuất hiện Đế võng minh châu [ ND: Tại cõi trời Đế Thích, mọi thứ đều sáng rực rỡ nhìn như một mạng lưới ngọc minh châu ], Đế võng có rất nhiều lớp, ánh sáng của những viên minh châu lấp lánh phản chiếu lẫn nhau, sáng đẹp như một kì quan, trải dài miên man tới cả nghìn vạn dặm, nơi đây khắp nơi tỏa hương thơm mát, vô số sợi ánh sáng sắc màu bay lên như hình xoắn ốc, mỹ lệ phi phàm.

Khi đóa hoa sen hạ thấp đến gần Thiện Pháp Đường thì tôi trông thấy có một đồng tử và thiên nữ từ phía trước bay tới. Đồng tử có hai búi tóc trên đầu, nét mặt hồn nhiên đáng yêu. Thiên nữ mặc váy, khoác thiên y, đeo hoa tai, vòng cổ, vòng tay, lắc tay, vòng chân, toàn thân đeo vàng đeo ngọc, tướng mạo thanh tú xinh đẹp.

"Hai người là ai?" - Liên Hoa Đồng Tử hỏi, không giấu nổi sự ngạc nhiên.
"Tôi là con trai của Đế Thích." - Đồng tử nói.
"Tôi là Đế Thích công chúa." - Thiên nữ nói.
"Thì ra là công tử và công chúa của Thích Đề Hoàn Nhân, không biết hai người có việc gì không?"
"Chúng tôi ở Thiện Pháp Đường nghe thấy chư thiên hội nghị, biết được rằng Tây phương thiên Ma Ha Song Liên Trì có Liên Hoa Đồng Tử hạ sinh ở thế giới Ta Bà, chúng tôi từ lâu đã nghe thế giới Ta Bà hỉ nộ ái ố phi thường, rất muốn đích thân trải nghiệm, nay đặc biệt cầu xin Thánh tôn trước, xin hãy đem hai chúng tôi đi cùng." - Đồng tử rụt rè, thiên nữ thẹn thùng.
"Việc này sao có thể được!"
"Được chứ, được chứ, chỉ cần Thánh tôn nói rõ là cần chúng tôi là được."
"Làm gì có chuyện như vậy, tôi không hiểu."
"Chư thiên ở Thiện Pháp Đường đang hội họp, Liên Hoa Đồng Tử hạ sinh ở nhân gian, chư thiên sẽ tặng cho hai lễ phẩm, hễ Liên Hoa Đồng Tử nêu ra là cần cái gì thì chư Thiên đều đáp ứng, bởi thế, Thánh tôn có thể chỉ định hai chúng tôi, hai chúng tôi có thể theo Thánh tôn xuống phàm trần, du lịch Ta Bà."
"Thì ra là vậy, nhưng lễ phẩm là lễ phẩm, thiên nhân là thiên nhân, làm sao đánh đồng như nhau được?"
"Lễ phẩm là vô hạn, chỉ mong Thánh tôn đồng ý."

Liên Hoa Đồng Tử rất khó xử. Nếu bằng lòng thì làm sao có thể đem công tử và công chúa của Thích Đề Hoàn Nhân xuống phàm trần, nếu không bằng lòng thì lại thấy đồng tử và thiên nữ cầu xin rất khẩn thiết, nhất thời không biết phải làm sao mới tốt. Lúc này, Liên Hoa Đồng Tử vận dụng thần thông, xoay chuyển túc mệnh, trong chốc lát đã hiểu rõ nguyên nhân hậu quả, nên khẽ gật đầu. Đồng tử và thiên nữ vừa trông thấy Liên Hoa Đồng Tử gật đầu thì hoan hỉ vỗ tay rời đi.

Khi Liên Hoa Đồng Tử hạ giáng xuống Đế Thích Thiên, Đế Thích Thiên có rất nhiều thiên nhân đã đi cùng Liên Hoa Đồng Tử dạo chơi bốn đại uyển lâm.

Đầu tiên là Xa Uyển Lâm, Xa Uyển Lâm là khu vườn của những cỗ xe mây rất nhiều màu sắc và hình dạng, trong tâm nghĩ sao thì sẽ hiện lên như vậy, thiên nhân cưỡi xe mây bay lượn trong thiên giới, ánh sáng rực rỡ lấp lánh, tâm hồn vui phơi phới, có thể du lịch khắp 33 thiên giới.

Thứ hai là Thô Ác Uyển, trong khu vườn này tự động xuất hiện tất cả mọi pháp khí, hết thảy mọi pháp khí đều có, chày kim cang, kiếm, đinh ba, rìu, rìu chiến, v.v… mọi thứ đều có, khi A La Hán Vương và Đế Thích Thiên giao chiến, Thô Ác Uyển lập tức xuất hiện mọi vũ khí.

Thứ ba là Tạp Lâm Uyển, khu vườn này là nơi vui chơi của Đế Thích Thiên, tất cả các trò chơi tiêu khiển ở nhân gian đều có, hơn nữa còn vui hơn hay hơn cả ở nhân gian, tất cả đều đầy ắp niềm vui, nơi tận hưởng mọi thú vui hay nhất của thiên hạ.

Thứ tư là Như Ý Uyển, khu vườn này là bí mật nhất, có niềm hạnh phúc vô thượng, nghĩ gì được nấy, do vậy gọi là Như Ý. Vừa bước vào Như Ý Uyển thì bất kì nơi nào (cảnh giới) thiên nhân muốn đến thì đều có thể nhanh đến nhanh về, thần biến như ý hết sức.

Nhờ có nhiều thiên nhân cùng đi, Liên Hoa Đồng Tử đã đến Hỉ Kiến Thành ở đỉnh núi Tu Di bái kiến Thích Đề Hoàn Nhân (Thiên chủ của Đế Thích Thiên).

Liên Hoa Đồng Tử trông thấy mặt đất trải thảm đỏ, mây tím quấn quanh thân, mây ngũ sắc làm thành pháp tọa, ở trung tâm, Đế Thích cưỡi voi trắng, tay phải cầm chày ba chấu, tay trái cầm bảo bình như ý, Đế Thích Thiên Chủ tướng mạo viên mãn đầy uy nghiêm, nhưng đôi mắt rất hiền từ. Bên phải Đế Thích Thiên Chủ có một đồng tử, chính là con trai của Đế Thích, rồi bên trái có một thiên nữ đứng cạnh, chính là Đế Thích công chúa. Đồng tử và thiên nữ trên tay mỗi người đều cầm một chiếc bát hoa sen, bên trong bát có rất nhiều bảo vật trân quý. Còn có mười vị đồng tử thiên nữ khác cũng ăn mặc đẹp đẽ như vậy, trên tay cũng cầm bát hoa sen, cũng đựng đầy bảo vật trân quý.

"Liên Hoa Đồng Tử hạ sinh ở Ta Bà, chúng tôi tiếp nhận văn thư Phật pháp, trong lòng khâm phục tôn kính, nên sẽ hộ trì Thánh tôn hạ sinh ở Ta Bà. Nay chư thiên hội nghị, nguyện trình lên Thiên Thượng hai lễ phẩm để Thánh tôn hạ sinh ở Ta Bà có thể dùng."
"Quà quý ở cõi trời, tại nhân gian có thể dùng sao?"
"Quà quý ở cõi trời, nhân gian không nhìn thấy dùng, nhưng có thể dùng một cách vô hình, thật sự là diệu dụng vô cùng." - Đế Thích Thiên Chủ nói.
"Xin lấy ví dụ để nói rõ."
"Nếu như chọn bút tiên thì cây bút kì diệu này sẽ nở hoa, cảm hứng sẽ tuôn trào như nước chảy. Nếu như chọn ấn tiên thì sẽ đạt tới ba chức quan cao nhất. Nếu như chọn hoa tiên thì nhan sắc trẻ mãi, sống lâu trường thọ. Nếu chọn ngọc tiên thì trí tuệ hơn người. Nếu chọn cây tiên thì tài nghệ kiệt xuất…"
"Những thứ này tôi đều không cần."
"Thánh tôn, vậy ngài muốn cái gì?" - Đế Thích Thiên Chủ hỏi.
"Tôi muốn Đế Thích công tử và Đế Thích công chúa." - Liên Hoa Đồng Tử chỉ vào đồng tử và công chúa ở bên cạnh Thích Đề Hoàn Nhân.
Chư thiên ai nấy vô cùng sửng sốt.

Thế nhưng Đế Thích Thiên Chủ chỉ cười khẽ:
"Liên Hoa Đồng Tử hạ giáng đến Đế Thích Thiên, trong lòng Đế Thích đã hiểu, việc này từ lâu đã tồn tại nhân duyên rồi, Đế Thích không chỉ để cho Đế Thích công tử và Đế Thích công chúa xuống phàm trần mà còn cho thêm 10 vị đồng tử thiên nữ cùng xuống phàm trần, đây chính là lí do mà hôm nay có mặt 12 vị đồng tử thiên nữ ở đây."
Chúng Thiên nhân vô cùng kinh ngạc.

Đế Thích Thiên Chủ nói:
"Nhân duyên ở đây kể ra thì dài lắm, nhưng chúng Thiên nhân sau này chắc chắn sẽ biết thôi."
"Đồng tử thiên nữ hạ giáng Ta Bà, sau này làm sao tôi nhận ra họ?" - Liên Hoa Đồng Tử hỏi.
"12 vị đồng tử thiên nữ của Đế Thích Thiên hạ giáng Ta Bà, khi họ sinh ra chắc chắn sẽ kết thủ ấn của Đế Thích Thiên, có thể nhận ra họ nhờ thủ ấn." - Đế Thích Thiên Chủ lại nói tiếp: "Thủ ấn của Đế Thích Thiên chính là trước tiên tay trái nắm lại, ngón giữa vươn thẳng, ngón trỏ cong lại đèn lên lưng của ngón giữa, như vậy là thành thủ ấn."
(Liên Sinh Hoạt Phật ghi chú: Phật Thanh, Phật Kì khi sinh ra, cả hai đều kết thủ ấn của Đế Thích Thiên. Phật Thanh chính là Đế Thích công chúa, Phật Kì chính là Đế Thích công tử. 10 đồng tử thiên nữ khác cũng đã tìm ra một số người, lúc sinh ra đều là những em bé sơ sinh có kết thủ ấn Đế Thích Thiên.)

Các đồng tử thiên nữ vừa nghe là đều được xuống Ta Bà thì đều vui mừng nhảy nhót như trẻ con. Đế Thích Thiên Chủ nói:
"Liên Hoa Đồng Tử, xin vui lòng đưa 12 đồng nam đồng nữ trở về."
"Tôi biết." - Nhưng trong lòng tôi thật sự là rất buồn, bởi vì không đưa họ trở về được thì phải làm sao đây! Trong lòng Liên Hoa Đồng Tử nghĩ vậy nhưng không dám nói ra.
Không ngờ Đế Thích Thiên Chủ đã sớm biết tâm ý của Liên Hoa Đồng Tử, bèn nói:
"Xin hãy yên tâm, tôi đưa cho ngài xem một thứ này."
Đế Thích Thiên Chủ đưa tôi đi xem Đế Thích Cung, đó là một cầu vồng rất đẹp, trên trời hiếm thấy.
Xem Điện Thù Thắng, là nơi ở bí mật của Đế Thích Thiên Chủ.
Xem Núi Đế Thích, chính là nơi mà Đức Phật đặc biệt giảng kinh cho Đế Thích nghe.
Xem Lưới Đế Thích, được treo tại Đế võng minh châu ở Đế Thích Thiên, lớp lớp vô tận.

Cuối cùng là xem chiếc bình Đế Thích, có thể tuôn ra vạn vật mà ta muốn. Tên gọi khác của chiếc bình này là Đức Bình, Hiền Bình, Cát Tường Bình. Chiếc bình Đế Thích này là bí mật của Đế Thích Thiên Chủ, không dễ dàng đem ra cho người khác xem, khác với chiếc bình như ý mà Đế Thích hiện thân cầm trên tay. Đế Thích Thiên Chủ nói:
"12 đồng nam đồng nữ nếu như đánh mất bản tính, không thể trở về trời thì tôi sẽ ở trước chiếc bình này gọi chúng, lúc đó tự nhiên chúng sẽ hiện ra. Còn tại thế giới Ta Bà thì sinh mệnh của chúng cũng sẽ tự nhiên mà chết thôi."

Đế Thích Thiên Chủ thử nghiệm trước miệng chiếc bình cho Liên Hoa Đồng Tử xem. Ông ấy gọi một thiên nhân ở Đế Thích Thiên đã sinh tại cõi Ta Bà, thiên nhân này không ngờ lại từ miệng chiếc bình mà tuôn ra như khói, rồi từ từ tụ lại thành hình, trên người tỏa ánh sáng, như thiên nhân bình thường không khác biệt gì.

"Chà!" - Liên Hoa Đồng Tử cực kì sửng sốt. "Đây là nguồn gốc của Đế Thích Thiên Chủ sao?" - Tôi cung kính hỏi.
"Tôi có được nó từ lâu rồi, vốn là của Cổ Phật, tại Đế Thích Thiên chỉ là hiển hóa mà thôi." - Đế Thích Thiên Chủ nói: "Tại cõi Ta Bà, muốn biết lai lịch của Đế Thích, có thể tu tập nghi quỹ "Đế Thích nham bí mật thành tựu", đây là pháp mà Kim Cang Thủ Bồ Tát có được khi tận mắt đến Núi Đế Thích, mật chú là do Di Lặc Bồ Tát tạo ra."

Liên Hoa Đồng Tử biết Đế Thích có truyền thuyết về trận đánh với Tu La Vương. Ba truyền thuyết này như sau:
Hỏi rằng: "Vì sao Tu La thường đánh nhau với Đế Thích?"

Có ba đáp án là: "Tu La có mỹ nữ nhưng lại không có đồ ăn ngon, chư thiên có đồ ăn ngon nhưng lại không có mỹ nữ, hai bên ghen tị với nhau, do vậy mà đánh lẫn nhau."

Và: "Có Đại A La Vương tên gọi là La Ha, tu được thân thể to lớn dài hai vạn tám nghìn dặm, sống tại đáy biển lớn ở phía bắc núi Tu Di, thấy các vị thần như thần Nhật Nguyệt ở Đao Lợi Thiên và chư thiên du hành bay qua trên đầu hắn, vì thế mà hắn tức giận bèn khởi binh gây chiến."

Và: "Có A Tu La Vương tên gọi là Bì Ma Chất Đa, có chín đầu, mỗi đầu có nghìn mắt, chín trăm chín mươi chín cánh tay, tám chân, miệng phun ra lửa. Hắn có người con gái đoan chính không ai sánh bằng, Đế Thích mời về làm vợ, gọi tên là Duyệt Ý, sau đó, vì Thiên Đế cùng những người con gái khác vui chơi trong vườn khiến Duyệt Ý khởi tâm ghen tuông, liền báo với cha, nên Bì Ma Chất Đa vì con gái mà khởi binh đánh Thiên Đế."

Liên Hoa Đồng Tử hỏi Đế Thích Thiên Chủ về ba truyền thuyết này. Đế Thích Thiên Chủ chỉ cười, không trả lời.
Liên Hoa Đồng Tử lại hỏi:
"Truyền thuyết nói rằng sau khi Phật Ca Diếp diệt độ, có một cô gái nghèo phát khởi tín tâm, muốn xây một tháp Phật, khi ấy có 32 người nguyện đồng tâm hiệp lực, giúp đỡ cô gái xây tháp. Sau đó, cô gái nghèo này chỉ dựa vào công đức ấy mà trở thành Đao Lợi Thiên Chủ, còn 32 người kia cũng hỗ trợ cho Thiên Chủ này, trở thành thuộc hạ, mỗi người tạo lập một đơn vị thành 32 cõi trời, ở phương tây, do vậy mà có 33 cõi trời."

Đế Thích Thiên Chủ cũng không trả lời, nhưng có nói một bài kệ:
"Đại nạn đều đã qua.
Lời hứa không đọa lạc.
Giống như Liên Sinh đây.
Ngoài thu vẫn còn thu."

Chính bài kệ này đã nói lên bí mật của Đế Thích Thiên Chủ rồi!
Liên Hoa Đồng Tử đã hiểu rõ ràng thấu đáo tường tận rồi.
Liên Hoa Đồng Tử thỉnh giáo Đế Thích Thiên Chủ về việc có liên quan đến Dục Giới Thiên.

Đế Thích Thiên Chủ đáp:
Dục Giới Thiên phân ra làm Địa Cư Thiên và Vân Cư Thiên. Địa Cư Thiên có Kiên Thủ Thiên, Trì Hoa Man Thiên, Thường Phóng Dật Thiên, Nhật Nguyệt Tinh Túc Thiên, Tứ Thiên Vương Thiên, Đao Lợi Thiên. Vân Cư Thiên có Dạ Ma Thiên, Đâu Suất Đà Thiên, Hóa Lạc Thiên, Tha Hóa Tự Tại Thiên.

Dục Giới Thiên vẫn có hình dạng vật chất, có mũ áo, có nhu cầu ăn uống nam nữ, do vậy mới gọi là Dục Giới Thiên.
Còn như Sắc Giới Thiên, có hình dạng vật chất, nhưng đã không còn nhu cầu nam nữ, không cần mũ áo, nhưng vẫn cần nhờ vào pháp hỉ thiền định làm thức ăn.
Còn Vô Sắc Giới Thiên thì đã không còn hình dạng vật chất, không còn nhu cầu nam nữ, không còn bốn loại sắc, có định quả sắc, lấy pháp hỉ thiền định và ý thức làm thức ăn.
"Lục Dục Thiên, thập bát Thiền Thiên, tứ Không Thiên" gọi chung là tam giới 28 thiên.

Bài tụng Lục Dục Thiên chính là:
"Tứ Vương Đao Lợi cùng ôm ấp
Dạ Ma cầm tay Đâu Suất cười
Hóa Lạc thân quen cùng Tha Hóa
Ấy là niềm vui của Lục Thiên."

Tuy nhiên, lên được 28 thiên này, mặc dù có lạc thú vô cùng, nhưng vẫn còn ở trong luân hồi, vẫn chưa phải là cảnh giới bất động cuối cùng, vẫn chưa phải là niết bàn.

Có một bài tụng rất hay là:
"Lục Dục chư thiên năm điều kém
Tam thiền vẫn gặp nạn gió mưa
Dẫu tu đến tận phi phi tưởng
Chẳng bằng trở về được Tây phương."

Đế Thích Thiên Chủ (Thích Đề Hoàn Nhân) được người bình thường gọi là Thiên Đế, hoặc là Ngọc Hoàng Đại Đế, hoặc là Thiên Chủ (Chúa Trời). Ông ấy nói với Liên Hoa Đồng Tử rằng Đế Thích Thiên Chủ là hộ pháp của Như Lai, là vị chủ hóa sinh ra lợi ích, thân hộ pháp biến hóa, chiếm vị trí là chủ tướng của 33 thiên, vô cùng linh nghiệm uy nghiêm.

Sau khi Phật diệt độ, có một con quỷ to lớn bị tật ở chân đã đến cướp xá lợi Phật, Đế Thích Thiên Chủ đã biến hóa thành Thần Tướng dùng sức mạnh thần túc cưỡi mây đạp gió, trong chớp mắt đã tóm được con quỷ bị tật chân. Đế Thích Thiên Chủ cũng có hình dạng dũng mãnh uy lực đó! Ông ấy là đại hộ pháp của Phật môn.

Muốn lên được Lục Dục Thiên thì cần làm mười loại thiện nghiệp, không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngữ, không hai lưỡi, không ác khẩu, không khỉ ngữ, không tham lam, không sân hận, không ngu si.
Luôn giữ mười hành vi lương thiện là có thể dẫn tới con đường lên trời.
Giữ giới pháp của đạo mười thiện nghiệp là nền tảng của người tu hành.
Trong Dục Giới, vẫn có bốn ác thú, đó chính là địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ, a tu la. Ngoài ra, ở nhân gian có bốn bộ châu là Đông Thắng Thần châu, Tây Ngưu Hạ châu, Nam Thiệm Bộ châu, Bắc Câu Lư châu. Còn Lục Dục Thiên thì ở phía trên nhân gian, là gần với nhân gian nhất.

Liên Hoa Đồng Tử thỉnh giáo Đế Thích Thiên Chủ về thiện pháp để độ chúng sinh. Đế Thích Thiên Chủ đáp bằng một bài kệ:
"Độ sinh thật ra là cứu người
Cứu người là chữa bệnh của tâm
Nếu như nhân tâm đều hướng thiện
Thế gian đẹp đẽ biết nhường nào.
Chữa trị nhân tâm bảy trạng thái
Thất tình lục dục mà dứt được
Thập thiện tự nhiên khắp nhân gian
Cũng là thiên hạ được thái bình."

Đế Thích Thiên Chủ đã mở đại tiệc tại Hỉ Kiến Thành cho chư thiên nhân, nói rằng:
"Nay gặp Liên Hoa Đồng Tử hạ sinh tại Ta Bà, Liên Hoa Đồng Tử khó tránh được những đau khổ thế gian. Liên Hoa Đồng Tử đã không tiếc thân Thánh tôn, thiên nhân chúng ta sao có thể yên lòng mà sống tại thiên giới, quả vị của thiên nhân chúng ta dù nhỏ bé, nhưng cũng có thiện nghiệp công đức, chỉ mong thiên nhân hộ trì Liên Hoa Đồng Tử, tất cả đều giữ được đạo lý, tất cả đều ngộ ra bản giác, khiến chúng sinh có được pháp lạc, chúng ta sẽ được an tâm."

Liên Hoa Đồng Tử nói:
"Sau này, tôi ở tại nhân gian luyện tập thiền định, trong thiền định chắc chắn sẽ trở về Đao Lợi Thiên để cảm tạ Đế Thích Thiên Chủ."
Đế Thích Thiên Chủ nói:
"Ngài trở về Đao Lợi Thiên, nếu thấy thảm đỏ trải trên mặt đất, mây tím quấn quanh thân, thì cũng tức là chân thân của tôi."


### 10. Đến Cát Tường Thiên


Liên Hoa Đồng Tử cưỡi trên tòa hoa sen trắng lớn rời khỏi cung Đao Lợi Thiên, nhất thời trong lòng không có chủ ý, không biết sẽ lại xuống tới nơi nào. Tòa hoa sen bay loanh quanh luẩn quẩn rồi thoắt thì bay về đông, thoắt lại bay về tây, cứ mập mà mập mờ.

Lúc này, tôi tự cảm thấy là đã đến chỗ của Bắc Thiên Vương  (Bì Sa Môn Thiên) rồi, nhưng vẫn chưa đi vào trong cõi này thì đã gặp một cơn gió thần thổi tới, thổi ào Liên Hoa Đồng Tử tới một thắng cảnh nọ.
Thắng cảnh này có rất rất nhiều hoa thơm vi diệu.
Có đủ loại ánh sáng hạnh phúc nhiều màu sắc đan xen vào nhau. Tại thắng cảnh này, có một nơi là điện Công Đức, không ngờ lại được xây bằng bảy loại bảo vật.

Liên Hoa Đồng Tử vừa trông thấy cảnh sắc này thì biết ngay là đã đến Cát Tường Thiên. Cát Tường Thiên còn gọi là Công Đức Thiên, là nơi ở của Đại Cát Tường Thiên Nữ, cha của nàng ấy là Đức Xoa Ca Long Vương, mẹ của nàng là Ha Lê Đế Mẫu, anh của nàng là Bì Sa Môn Thiên (Đa Văn Thiên).

Đại Cát Tường Thiên Nữ từng tu tập Phật pháp, đi theo Bảo Hoa Công Đức Hải, Lưu Ly Kim Sơn, Chiếu Minh Như Lai, gọi tắt là Kim Sơn Chiếu Minh Như Lai.

Đại Cát Tường Thiên Nữ đi theo Kim Sơn Chiếu Minh Như Lai, đã trồng rất nhiều thiện căn, do vậy mà muốn gì được nấy tùy ý, có thể khiến cho tất cả chúng sinh đều có được mọi niềm vui, đối với y phục hay ẩm thực, của cải đều có đủ, tiền bạc, thất bảo, trân châu, lưu ly, san hô, hổ phách, đá ngọc... đều ban cho chúng sinh mà không hề lo nghĩ.

Đại Cát Tường Thiên ở gần Bắc Phương Thiên, nơi ấy còn gọi là Diệu Hoa Phúc Quang. Tại thế giới Ta Bà có lưu truyền bộ kinh gọi là "Đại Cát Tường Thiên Nữ thập nhị khế nhất bách bát danh vô cấu đại thừa kinh", "Phật thuyết Đại Cát Tường Thiên Nữ thập nhị danh hiệu kinh", và "Công Đức Thiên pháp".

Đại Cát Tường Thiên Nữ có 12 danh hiệu, đó là Cát Khánh, Cát Tường Liên Hoa, Nghiêm Sức, Cụ Tài, Bạch Sắc, Đại Danh Xưng, Liên Hoa Nhãn, Đại Quang Diệu, Thí Thực Giả, Thí Ẩm Giả, Bảo Quang, Đại Cát Tường.

Chân ngôn của nàng là:
"Taruyetha. Shuli. Nishuli. Nishamuacha. Liye. Satuaning. Si ning sining. Ning ning ning ning. Ah. Luachi shiming. Namsaya. Soha."

Có thể trì 12 danh hiệu chân ngôn này thì có thể loại bỏ hết thảy nghèo khổ, mau chóng đạt được mọi tài bảo phong phú, cát tường an lạc.

Lúc ấy, Liên Hoa Đồng Tử tại Cát Tường Thiên trông thấy bên dưới cõi trời này đều có những đám mây thơm nâng đỡ, mỗi loại hoa ở đây đều có mùi thơm lạ, tất cả mọi vật đều thơm lạ, đây là đất nước của những mùi thơm đặc biệt.

Khi Liên Hoa Đồng Tử cưỡi tòa sen trắng lớn bay đến, cánh cổng lớn ở điện Công Đức Thắng tự động mở ra, Đại Cát Tường Thiên Nữ đã ở bên trong điện đó.

Đại Cát Tường Thiên Nữ thân đoan chính, mặc thiên y màu trắng đỏ, có hai cánh tay, đeo chuỗi ngọc, vòng xuyến, hoa tai, mũ miện. Tay trái của nàng cầm báu vật như ý, tay phải kết "thí vô úy ấn". [ ND: ấn ban cho lòng can đảm ] Sau lưng nàng hiện lên một ngọn núi thất bảo, phía trên mũ miện của nàng là mây thơm ngũ sắc, thiên y màu trắng đỏ của nàng vô cùng diễm lệ. Dung mạo của Đại Cát Tường Thiên Nữ xinh đẹp trang nghiêm, vẻ đẹp vượt trội vạn vạn thiên nữ. Lúc này trong không trung có thiên nhạc, đó cũng là chú âm của Đại Cát Tường Thiên.

Tiếp đó lại có một bài hát rằng:
"Hôm nay ở Thắng Điện
Từ xa tỏa khói mây
Tòa sen trắng bay tới
Tìm tiền kiếp nhân duyên.
Bạch quang chiếu tới gần
Ta Bà hiện trăng sao
Độ sinh cũng có bạn
Trong lòng chớ âu lo."

Liên Hoa Đồng Tử vừa nghe bài kệ này, có phần hiểu có phần không, gặp Đại Cát Tường Thiên Nữ, thiên nữ tươi cười nói:
"Thánh tôn, có duyên tới đây, tôi sẽ đồng hành."
"Nàng ư?"
"Chính xác thì là linh quang của Đại Cát Tường Thiên Nữ."

Chỉ thấy Đại Cát Tường Thiên Nữ vừa xoay mình một cái thì từ trong hư không bay ra 12 vị thiên nữ. Một vị thiên nữ toàn thân là trang sức châu ngọc, một vị thiên nữ màu trắng, một vị thiên nữ có diệu nhãn, một vị thiên nữ toàn thân là ánh sáng quý báu, một vị thiên nữ nhiều màu sắc, một vị thiên nữ trang nghiêm, một vị thiên nữ cầm giỏ rắc hoa, một vị thiên nữ thì múa vũ điệu phi thiên, một vị thiên nữ ngón tay thon dài, một vị thiên nữ eo thon, một vị thiên nữ cầm báu vật, một vị thiên nữ dáng đi đẹp đẽ.

Liên Hoa Đồng Tử trông thấy thiên nữ có ngón tay thon dài đứng ở đầu hàng, bởi vậy gật đầu chào thiên nữ, thiên nữ này lập tức ẩn mình vào hư không, tan biến không thấy đâu nữa.

Đại Cát Tường Thiên Nữ và 11 vị thiên nữ khác cùng ngân nga bài kệ:
"Người mới còn chưa đi
Duyên cũ vừa chợt thấy
Sinh xuống cõi Ta Bà
Chần chừ chờ ngoài cửa
Chàng đi ra hỏi nàng
Nàng hãy cùng theo ta
Lo việc nhà việc Phật
Kiếp trước đừng si mê."

(Liên Sinh Hoạt Phật ghi chú: thiên nữ có ngón tay thon dài chính là Sư Mẫu Lư Lệ Hương, tức Thượng sư Liên Hương. Thượng sư Liên Hương không có đặc trưng gì khác, chỉ có ngón tay nhỏ và dài. Bà ấy biết rất nhiều việc thủ công, nấu cơm nấu canh, may đồ âu phục, giặt giũ quét dọn, thậm chí còn làm được cả những việc nặng như lắp đặt các thiết bị điện trong gia đình. Bà ấy là một thị giả chuẩn mực của Liên Sinh Hoạt Phật. Sau khi Liên Sinh Hoạt Phật xuất gia, Thượng sư Liên Hương cũng tiếp tục hầu hạ chăm sóc.)

Đại Cát Tường Thiên Nữ hóa thân ra 12 thiên nữ, trong số đó, thiên nữ có ngón tay thon dài chính là Thượng sư Liên Hương.

Liên Hoa Đồng Tử hỏi:
"Sau này, thiên nữ có ngón tay thon dài trở về cõi trời bằng cách nào?"
Đại Cát Tường Thiên Nữ đáp:
"Thánh tôn, trong quá khứ, tôi đã đi theo Lưu Ly Kim Sơn Bảo Hoa Quang Chiếu Cát Tường Công Đức Hải Như Lai, đã ứng đầy đủ mười danh hiệu của bậc Chính Đẳng Giác. Tất cả những thiện căn mà tôi đã trồng được, nhờ được Như Lai từ bi thương xót mà niệm uy thần lực, khiến tôi bây giờ có thể tới bất cứ đâu tùy ý muốn, đến bất kì đất nước nào mà tôi thấy và muốn đến, có thể khiến cho vô lượng trăm nghìn vạn tỉ chúng sinh được hưởng niềm vui, thậm chí có đầy đủ những thứ như quần áo thực phẩm của cải. Những bảo vật như vàng bạc, lưu ly, xà cừ, mã não, san hô, hổ phách đều có đầy đủ."

Đại Cát Tường Thiên Nữ còn nói:
"Nếu như có người chí tâm tán tụng "Kim quang minh tối thắng vương kinh", đồng thời ngày ngày đốt hương thơm và cúng hoa thơm, vì ta mà cúng dường Lưu Ly Kim Sơn Bảo Hoa Quang Chiếu Cát Tường Công Đức Hải Như Lai, rồi mỗi ngày ba thời xưng niệm danh hiệu của ta thì ta sẽ ban phúc cho chúng sinh ấy."
"Họ sẽ có được tám loại lợi ích:

1. Thân quyến không suy yếu.

1. Cơn ăn áo mặc không thiếu.

1. Uy quang trường thọ.

1. Địa vị tăng nhanh.

1. Có thể cầu mưa bất kì lúc nào.

1. Thiên thần yêu thích.

1. Lương thực sinh sôi.

1. Mọi suy nghĩ đều thành."

Đại Cát Tường Thiên Nữ nói với Liên Hoa Đồng Tử:
"Sau này Thượng sư Liên Hương muốn trở về Đại Cát Tường Thiên thì cần niệm như sau:
Nhất tâm kính lễ nam mô nhất thiết thập phương tam thế chư Phật.
Nam mô Bảo Kết Phật.
Nam mô Vô Cấu Quang Minh Bảo Tràng Phật.
Nam mô Kim Tràng Quang Phật.
Nam mô Bách Kim Quang Tạng Phật.
Nam mô Kim Cái Bảo Tích Phật.
Nam mô Kim Hoa Quang Tràng Phật.
Nam mô Đại Đăng Quang Phật.
Nam mô Đại Bảo Tràng Phật.
Nam mô Đông Phương Bất Động Phật.
Nam mô Nam Phương Bảo Tràng Phật.
Nam mô Tây Phương Vô Lượng Thọ Phật.
Nam mô Bắc Phương Thiên Cổ Âm Phật.
Nam mô Diệu Tràng Bồ Tát.
Nam mô Kim Quang Bồ Tát.
Nam mô Kim Tạng Bồ Tát.
Nam mô Thường Đề Bồ Tát.
Nam mô Pháp Thượng Bồ Tát.
Nam mô Thiện An Bồ Tát."
"Tiếp đó tụng chú Đại Cát Tường Thiên Nữ ba biến, triệu thỉnh như vậy, tôi sẽ nghe được mà lập tức đến, rồi tùy theo mong cầu của nàng ấy, nếu muốn trở về Đại Cát Tường Thiên thì lập tức sẽ trở về được. Từng lời tôi nói đều là thật, không hề dối gạt."

Liên Hoa Đồng Tử biết nếu có chúng sinh trên đời thờ phụng 12 vị Phật, thờ phụng sáu đại Bồ Tát kể trên, ba thời cúng dường và lễ bái, rồi lại niệm thần chú Đại Cát Tường Thiên Nữ thì Đại Cát Tường Thiên Nữ chắc chắn sẽ đến để tiếp nhận cúng dường của chúng sinh, như vậy họ sẽ có được cảm ứng cát tường, sẽ nhận được nhiều niềm vui, tương lai sẽ có thể thăng lên Đại Cát Tường Thiên.

Liên Hoa Đồng Tử biết rằng thiên nữ có ngón tay thon dài chính là một trong 12 hóa thân của Đại Cát Tường Thiên Nữ, hạ sinh ở Ta Bà, trợ giúp Liên Hoa Đồng Tử thuyết pháp độ chúng sinh. Thiên nữ có ngón tay thon dài cũng có điểm đặc biệt kì lạ, hễ nghĩ điều gì thì tất cả đều hiện ra, nói cách khác là muốn cái gì thì cái đó sẽ xuất hiện. Đó là chính thiện căn, quả nhiên kì diệu bất khả tư nghì.


### 11. Hạ giáng đạo Địa Ngục


Liên Hoa Đồng Tử vừa rời khỏi Đại Cát Tường Thiên, đóa hoa sen trắng tỏa ánh sáng xa muôn trượng, đột nhiên linh quang đó hạ thẳng xuống, đi xuyên qua vô số thiên giới, xuyên qua vô số tầng mây, đi qua vô số quốc gia, rồi bất ngờ xuống thẳng tới đạo Địa Ngục.

Muốn tới địa ngục thì phải do hai nguyên nhân:
Thứ nhất, là do uy thần lực.
Thứ hai, là do tội chướng mà phải đọa địa ngục.

Nay Liên Hoa Đồng Tử trực tiếp hạ giáng xuống địa ngục chính là do nhân duyên đại uy thần lực, bởi vì trong nhiều kiếp trước, Liên Hoa Đồng Tử từng có lời thề rằng muốn độ chúng sinh chịu khổ trong địa ngục.

Địa ngục thật ra cũng phân thành ba loại:

1. Địa ngục căn bản --- tám đại địa ngục và tám địa ngục lạnh giá.

1. Địa ngục cận biên --- 16 địa ngục du tăng. [ ND: địa ngục du tăng là những nơi mà chúng sinh khi rơi vào đây thì đau khổ tăng lên gấp bội ]

1. Địa ngục cô độc --- ở vùng núi, ở nơi hoang vui, ở trong rừng, ở trong không gian.

Tám đại địa ngục ở địa ngục căn bản được phân ra như sau:

1. Địa ngục đẳng hoạt --- chịu các loại khổ như bị chặt chém, đâm chọc, xay xát, khuấy đảo, nhưng khi một con gió mát thổi qua thì lại tỉnh lại, vì vậy gọi là đẳng hoạt.

1. Địa ngục dây thừng đen --- dùng dây thừng đen để căng tứ chi, sau đó cưa chặt, do vậy gọi là dây thừng đen.

1. Địa ngục tổng hợp --- rất nhiều hình phạt được áp dụng lên thân, do vậy gọi là tổng hợp.

1. Địa ngục gào thét --- bị đủ thứ khổ chèn ép, người phạm tội đau đớn mà gào thét ai oán, do vậy gọi là gào thét.

1. Địa ngục kêu la --- bị những cái khổ ghê gớm nhất chèn ép, người phạm tội phải kêu gào la ó, do vậy gọi là kêu la.

1. Địa ngục nóng nực --- lửa nóng bùng lên, cháy hừng hực, nóng tới mức không thể chịu nổi, do vậy gọi là nóng nực.

1. Địa ngục đại nhiệt --- là đỉnh điểm của cái nóng, giống như rơi vào trong nham thạch nóng chảy, do vậy gọi là đại nhiệt.

1. Địa ngục vô gián --- vĩnh viễn chịu khổ không dứt, vì chịu khổ liên tục không gián đoạn, do vậy gọi là vô gián. Địa ngục vô gián còn gọi là đại địa ngục A Tì.

Ngoài ra còn có tám địa ngục lạnh giá, 12 địa ngục du tăng, địa ngục cô độc. Trong đó có hình phạt bị đá tảng đè, hình phạt bị nướng cháy, hình phạt đóng băng, hình phạt trong hầm than, hình phạt bị nấu trong phân sôi, hình phạt bị rơi vào rừng kiếm, hình phạt rơi vào núi đao, hình phạt bị sắt đâm, hình phạt máu chảy thành sông, hình phạt bị xiên vào cọc đồng.

Liên Hoa Đồng Tử biết rằng tám đại địa ngục ở địa ngục căn bản, mỗi địa ngục lại có 16 địa ngục du tăng [ ND: mỗi đại địa ngục có 4 cửa, bên ngoài mỗi cửa lại có 4 địa ngục du tăng, do vậy bên ngoài mỗi đại địa ngục có 16 địa ngục du tăng ], tổng cộng là 128 địa ngục, lại thêm tám địa ngục nóng căn bản nữa thì sẽ là 136 địa ngục.

Liên Hoa Đồng Tử cưỡi trên tòa sen trắng lớn hạ giáng xuống đạo Địa Ngục, không ngờ văn thư của Phật Thích Ca Mâu Ni đã được gửi đến chỗ của Địa Tạng Vương Bồ Tát rồi. U minh giáo chủ Địa Tạng Vương Bồ Tát và thị giả bên cạnh ngài là Đạo Minh Hòa Thượng và Mẫn Công đều đến đón tiếp, cùng tiến vào Thúy Vân Thánh Cung.

Liên Hoa Đồng Tử trông thấy Địa Tạng Bồ Tát, đầu đội mũ Ngũ Phật, thân khoác áo cà sa, hai tay cầm ngọc như ý sáng rực, tướng mạo từ bi trang nghiêm. Sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni nhập diệt, trước khi Di Lặc Bồ Tát xuất thế, Địa Tạng Vương Bồ Tát đã được Phật Thích Ca Mâu Ni dặn dò và giao phó sẽ là một vị đại Bồ Tát cứu độ chúng sinh.

Thâm ý của hai chữ "Địa Tạng" này là:
An ổn bất động như đại Địa.
Tĩnh lự thâm mật như mật Tạng.

Liên Hoa Đồng Tử biết, Địa Tạng Bồ Tát độ chúng sinh đã hiển hiện làm các thân như Phạm Vương, Đại Tự Tại Thiên, Phật, Thanh Văn, Diêm La Vương, Quỷ Vương… để cứu độ tất cả chúng sinh chịu tội khổ. Vào kiếp tương lai, Địa Tạng Bồ Tát từng tự thề rằng nhất định phải độ hết lục đạo chúng sinh thì mới bắt đầu thành Phật. Giờ đây, ngài tùy niệm mà hiện thân trong cõi địa ngục của trời người, cứu mọi khổ nạn của chúng sinh.

Tại Thúy Vân Thánh Cung, Liên Hoa Đồng Tử gặp mặt Địa Tạng Vương Bồ Tát, cũng gặp cả sáu vị sứ giả của Địa Tạng Vương Bồ Tát. Sáu vị sứ giả này chính là Diễm Ma sứ giả, Trì Bảo đồng tử, Đại Lực sứ giả, Đại Từ thiên nữ, Bảo Tạng thiên nữ, Nhiếp Thiên sứ giả.

(Liên Sinh Hoạt Phật ghi chú: trong số sáu vị sứ giả của Địa Tạng, Đại Lực sứ giả vì được Địa Tạng Bồ Tát giao phó rằng cần phải theo Liên Hoa Đồng Tử độ chúng sinh, do vậy sau này đã trở thành thị giả của Liên Hoa Đồng Tử. Đại Lực sứ giả cũng chính là Đại Lực Quỷ Vương, vì ông ấy có khuôn mặt tươi cười nên Liên Sinh Hoạt Phật gọi ông ấy là Tiếu Diện Quỷ Vương, ông ấy ẩn náu trong ngón cái tay phải của Liên Sinh Hoạt Phật. Đây chính là nguyên nhân mà Tiếu Diện Đại Lực Quỷ Vương trở thành thị giả của Liên Sinh Hoạt Phật.)

Khi Phật Thích Ca Mâu Ni tại Đao Lợi Thiên dặn dò Địa Tạng Vương Bồ Tát đã nói rằng:
"Hiện tại vị lai chúng trời người
Nay ta ân cần dặn dò con
Dùng đại thần thông thuận lợi độ
Đừng để họ rơi vào ác thú."

Còn A Di Đà Phật tại Ma Ha Song Liên Trì cũng căn dặn Liên Hoa Đồng Tử rằng, hạ sinh ở Ta Bà, đích thân học pháp tu pháp để độ chúng sinh, cũng là một sự giao phó trọng trách lớn như vậy. Bởi vậy, khi Địa Tạng Bồ Tát gặp Liên Hoa Đồng Tử đã muôn phần cảm thấy thân thuộc, khi ấy Liên Hoa Đồng Tử cũng đưa ra đại nguyện lực với trời người, nguyện sẽ coi lời nguyện của Địa Tạng Vương Bồ Tát như lời nguyện của mình, "địa ngục bất không, thề không thành Phật", nguyện đi theo Địa Tạng Vương Bồ Tát.

"Thánh tôn là Đại Bạch Liên Hoa ở Ma Ha Song Liên Trì, địa ngục ô uế, làm sao ngài có thể sống ở đây?" - Địa Tạng Bồ Tát nói.
"Tôi đã lập lời thề như vậy, cần ở địa ngục." - Liên Hoa Đồng Tử nói: "Xin chỉ thị cho biết chỗ nào là ô uế nhất, tôi cần độ địa ngục ô uế nhất trước."

Địa Tạng Bồ Tát nói:
"Trong địa ngục của tôi, có một nơi ô uế nhất, chính là Ao Máu, máu trong Ao Máu không chỉ có máu người, mà còn là tổng hợp đủ loại máu như máu gà, máu vịt, máu ngỗng, máu chó, máu trâu, máu chuột, máu hổ, máu rắn, máu ngựa, máu dê, máu khỉ, v.v… mùi tanh hôi xộc lên khiến người ta muốn nôn mửa. Đây là nơi ở của chúng sinh khi còn tại thế đã làm thân Phật chảy máu, phá hòa hợp tăng, nhục mạ sư phụ, tu tà pháp uống máu, bởi vì khi tại thế, họ thích những thứ bẩn thỉu, do vậy mà chiêu cảm việc sinh ra tại địa ngục bẩn thỉu này. Địa ngục này những thánh giả bình thường không muốn tới, bởi vậy chúng sinh trong Ao Máu khó mà được thoát khỏi đây."
Liên Hoa Đồng Tử hỏi:
"Vì sao tội này lại nặng như vậy?"
"Việc làm thân Phật chảy máu, phá hòa hợp tăng, sỉ nhục lăng mạ sư phụ, là mười trọng tội xấu xa nhất đi ngược lại Đại thừa, trong chớp mắt, họ sẽ phải trải qua địa ngục vô gián của pháp giới này, thậm chí họ phải nhiều lần trải qua địa ngục vô gián của mười phương. Hình phạt ở Ao Máu là chìm nổi trong ao máu, chính xác là liên tục không gián đoạn. Thậm chí, những kẻ tu tà pháp uống máu, vẫn là huân tập tạp thuật, nhiễm đẫm máu tanh, tự nhiên sẽ chiêu cảm tới địa ngục Ao Máu."
"Vậy chúng ta tới địa ngục Ao Máu."
"Vì Thánh tôn muốn vậy, tôi sẽ dẫn đường trước." - Địa Tạng Bồ Tát nói.

Địa Tạng Bồ Tát đưa thị giả đi trước dẫn đường, còn Liên Hoa Đồng Tử cưỡi tòa sen đi theo sau.
Khi gần tới Ao Máu.
Khắp trời khắp đất là hắc quang uế khí. Máu tanh tăm tối, cái mùi ấy quả thực khiến người ta muốn nôn mửa, nói thẳng ra là không có cách nào hít thở được, có thể thấy chúng sinh ở Ao Máu chìm nổi trong Ao Máu khổ sở biết nhường nào. Lúc này, các thị giả đều dừng lại, không thể tiến thêm về phía trước được nữa.

Địa Tạng Bồ Tát vội vàng đem pháp tọa hồng quang ra, ánh sáng đỏ từ từ lan ra, bao trùm xung quanh các thánh giả để tránh cho khí bẩn chạm vào thánh giả. Hắc quang uế khí này hễ chạm vào thân thì tất cả đạo hạnh sẽ hóa thành số không. Lúc này, chỉ thấy các thánh giả đang bay trong ánh sáng đỏ, ánh sáng đỏ và ánh sáng đen vừa tiếp xúc với nhau thì đôi bên đều lùi lại mấy trượng, ánh sáng đỏ tiến lên thì ánh sáng đen cũng tiến theo, đôi bên rơi vào sự dùng dằng bế tắc.

Còn tòa sen trắng lớn của Liên Hoa Đồng Tử thì tỏa ra ánh sáng trắng, ánh sáng trắng chính là khắc tinh của ánh sáng đen, ánh sáng trắng tiến đến đâu thì ánh sáng đen liền bị xua tan đi đến đó. Liên Hoa Đồng Tử bay trong vòng ánh sáng trắng, đi theo ánh sáng đỏ của Địa Tạng Bồ Tát. Hai vùng ánh sáng trắng đỏ cứ bay như vậy trong đám khí đen, chẳng mấy chốc đã tiến vào trong Ao Máu.

Đám lính quỷ trong Ao Máu trông thấy Địa Tạng Bồ Tát và Thánh tôn đến, đều quỳ sụp xuống đất, vô cùng ngạc nhiên mừng rỡ, lớn tiếng thông báo cho các lính quỷ khác:
"Chúng tôi suốt bao nhiêu kiếp tới nay phải sống ở địa ngục Ao Máu, chấp hành hình phạt, chỉ gặp Địa Tạng Bồ Tát hai lần, nay có Thánh giả tới đây, chúng tôi được cứu rồi!"

Liên Hoa Đồng Tử hỏi Địa Tạng Bồ Tát:
"Lính quỷ trong địa ngục Ao Máu vì sao mà bị sinh ra ở đây?"
"Lính quỷ của địa ngục Ao Máu là những kẻ tội chướng tương đối nhẹ, hơn nữa còn biết sám hối, nên đầu tiên tới đây để biết về vũng ao bẩn thỉu này, trừ bỏ uế khí, sau đó đến Ao Giải Oan, tẩy sạch oan khí, nhưng vì vẫn có tội chướng nên mới hóa thành lính quỷ."

Liên Hoa Đồng Tử và Địa Tạng Bồ Tát vì có linh quang hộ thân bèn đi thẳng đến không trung phía trên địa ngục Ao Máu, nhưng chỉ thấy sự rộng lớn của địa ngục này, mênh mông bát ngát thẳng cánh cò bay. Các loại máu tụ lại ở đây quả nhiên mênh mông như biển lớn, sóng vỗ ào ào, chúng sinh trong Ao Máu lúc thì chìm xuống, lúc thì nổi lên, đông nhung nhúc. Trong mớ hỗn độn mờ ảo đó vẳng lên tiếng khóc thút thít nỉ non không dứt, thống khổ và thê thảm.

Thì ra, chúng sinh trong Ao Máu, đói quá thì uống máu, khát cũng uống máu, khi tay chân không còn sức lực thì cũng chìm trong biển máu, chịu đau đớn chết chìm trong máu. Sau đó lại tỉnh lại, lại nổi lên trên bề mặt ao máu, lại ăn máu, lại uống máu, tay chân kiệt sức thì lại chết đuối, trong một ngày trải qua vô số lần như vậy. Những chúng sinh trong Ao Máu này cũng đã ở trong Ao Máu vô số kiếp rồi!

Liên Hoa Đồng Tử ở trong vùng ánh sáng trắng trông thấy cảnh tượng này, nước mắt tuôn rơi vì thương xót, cảm thán rằng:
"Cũng là do ta sơ suất mà khiến cho chúng sinh trong địa ngục này khổ sở như vậy."
Địa Tạng Bồ Tát nói:
"Chúng sinh khổ báo vô tận, chúng ta đây cũng khó mà khước từ trách nhiệm này."
"Tôi sẽ độ chúng sinh trong Ao Máu trước." - Liên Hoa Đồng Tử nói, rồi lập tức âm thầm chuyển nguyên thần, từ ánh sáng trắng phóng ra chín tia sáng sắc màu sáng chói chiếu tới Ao Máu, sau đó chín tia sáng lại hóa thành tám mươi mốt tia sáng, tám mươi mốt tia sáng hóa thành sáu nghìn năm trăm sáu mươi mốt tia sáng, ánh sáng hóa thành dây thừng rồi từng sợi từng sợi thả xuống Ao Máu.

Lúc này, chỉ thấy chúng sinh trong Ao Máu lần lượt nắm lấy dây thừng, cố sức bò lên trên, muốn thoát khỏi đau khổ nơi Ao Máu. Người người tranh nhau tóm lấy dây thừng, phấn khích trèo lên. Lúc này, trong Ao Máu bỗng xuất hiện Huyết Thú, nhe răng nanh sắc nhọn, lao tới cắn những chúng sinh đang bò lên, và những chúng sinh kiệt sức lại rơi xuống Ao Máu thì càng thê thảm hơn. Liên Hoa Đồng Tử thấy cảnh tượng ấy mà thất kinh. Đồng thời, chúng sinh bò lên dây thừng vì khốn đốn trong Ao Máu đã lâu nên đã chẳng còn sức lực, leo lên được một đoạn thì lại rơi xuống, không có cách nào leo lên bờ được. Bởi vậy mà rốt cục chẳng có một người nào lên được bờ.

Liên Hoa Đồng Tử lại phóng ánh sáng trắng để bảo hộ cho chúng sinh, ai ngờ trọc khí quá sâu, ánh sáng trắng chiếu tới Ao Máu, mặc dù đã áp sát được một lần nhưng vẫn bị dội ào ngược trở lại. Tình hình càng nguy hiểm đáng sợ hơn khi có những con Huyết Thú nhe răng nanh sắc nhọn chọn những người ngã xuống để ăn nên càng thêm kinh hoàng.
"Huyết Thú từ đâu tới?"
"Do nghiệp lực chúng sinh cùng tạo nên, vì Thánh tôn cứu độ nên chúng mới xuất hiện để gây trở ngại." - Địa Tạng Bồ Tát nói.
"Vậy tôi phải làm sao để cứu độ?"
"Thánh tôn thương xót chúng sinh ở Ao Máu, nhưng chúng sinh ở Ao Máu là do cộng nghiệp mà sinh ra, chẳng có pháp lực nào có thể độ được, sức mạnh của một mình Thánh tôn, muốn gánh nghiệp của chúng sinh ở Ao Máu e là khó khăn lắm."
"Như vậy sao được! Tôi không tới thì thôi, đã tới đây rồi sao có thể tay không trở về được, như vậy thì làm sao mà độ chúng sinh được?"
"Chỉ có cách thỉnh chư Phật cùng đưa tay ra cứu trợ mà thôi." - Địa Tạng Bồ Tát nói.

Liên Hoa Đồng Tử khi ấy trong lòng quyết tâm, chắp tay cung kính, hướng về hư không làm lễ, niệm một tiếng:
"Om. Ah. Hum."
Từ đỉnh đầu phóng ra mười vầng ánh sáng trắng bao bọc khắp pháp giới. Trong tâm Liên Hoa Đồng Tử niệm thầm: "Liên Hoa Đồng Tử hạ sinh ở Ta Bà, nay tới độ chúng sinh ở địa ngục Ao Máu trước, vì chúng sinh nghiệp nặng, Liên Hoa Đồng Tử không đủ sức xoay chuyển, nay cầu thỉnh thập phương Như Lai cùng độ chúng sinh ở Ao Máu, Liên Hoa Đồng Tử nhất tâm phụng thỉnh ba lần."

Vừa phụng thỉnh xong thì lập tức hiện lên vô lượng Phật quang, địa ngục Ao Máu sáng rực như ban ngày, tất cả khí ô trọc đều tiêu tan không còn vết tích, chỉ có những con sóng ở Ao Máu vẫn cuồn cuộn, Huyết Thú cắn người càng hung hăng hơn, chúng sinh gào khóc kêu cứu.

Trong hư không xuất hiện rất nhiều Như Lai:
Thích Ca Mâu Ni Phật, Tì Lô Giá Na Phật, Lô Xá Na Phật, A Di Đà Phật, Dược Sư Phật, A Súc Phật, Bảo Sinh Phật, Bất Không Thành Tựu Phật, Đa Bảo Phật, Định Quang Phật, Phật Nhãn Phật, Bảo Tràng Phật, Lôi Âm Phật...

Trong hư không xuất hiện rất nhiều Bồ Tát:
Quan Âm Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Văn Thù Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Pháp Tự Tại Bồ Tát, Sư Tử Hống Bồ Tát, Đức Tạng Bồ Tát, Bảo Tạng Bồ Tát, Sơn Hải Huệ Bồ Tát, Quang Minh Vương Bồ Tát, Hoa Nghiêm Vương Bồ Tát, Chúng Bảo Vương Bồ Tát, Tam Muội Vương Bồ Tát, Đại Tự Tại Vương Bồ Tát, Đại Uy Đức Vương Bồ Tát, Nhật Chiếu Vương Bồ Tát...

Chư Phật Bồ Tát cùng ban chiếu Phật quang khắp nơi, nhưng Phật quang khi gặp Ao Máu ô uế nhất cũng rơi vào sự bế tắc, không biết phải làm sao để thu dọn đám máu bẩn thỉu này.

Lúc này, Thích Ca Mâu Ni Phật nói:
"Liên Hoa Đồng Tử hạ giáng Ta Bà, vì một nhân duyên đại sự mà sinh, sau này cũng do ta đến trao cho ấn kí Như Lai, do vậy, việc độ chúng sinh trong Ao Máu cần phải do ta đến giúp đỡ." - Thích Tôn nói xong, xoay người về bên trái, phóng ra ánh sáng xanh lam.

Ánh sáng xanh lam hóa hiện thành Uế Tích Kim Cang Đại Quyền Thần Vương Phật đại uy lực, với hình tướng đại phẫn nộ với tám cánh tay, mắt đỏ thẫm, toàn thân màu xanh đen, tỏa hào quang sáng chói, trên tay cầm pháp khí và kết ấn, có kiếm, dây thừng, gậy gộc, đinh ba. Uy nghiêm hơn nữa là trên cánh tay đều có rồng quấn quanh để làm vật trang sức cho ngài.

Uế Tích Kim Cang còn gọi là Hỏa Đầu Kim Cang, Bất Hoại Kim Cang, Bất Tịnh Kim Cang. Lời thề gốc của ngài chính là ăn sạch tất cả những thứ bất tịnh, là vị Kim Cang quét sạch bất tịnh. Chỉ thấy Uế Tích Kim Cang đứng trong hư không, uy vũ không gì sánh bằng, với tám con rồng quấn trên cánh tay, vừa ngửi thấy mùi máu tanh bẩn là đã nóng lòng muốn thử xem sao. Uế Tích Kim Cang duỗi tám cánh tay ra, tám con rồng nhất loạt bay ra, mỗi con đều hiện nguyên thần, tám con rồng đều to lớn vô cùng, mở miện ra là có thể nuốt gọn nước của ba sông.

Thì ra, tám con rồng chính là:
Bà Yết La Long Vương.
Nan Đà Long Vương.
Bạt Nan Đà Long Vương.
Hòa Tu Cát Long Vương.
Đức Xoa Ca Long Vương.
A Na Bà Đạt Đa Long Vương.
Ma Na Tư Long Vương.
Ưu La Long Vương.

Tám vị Long Vương bay vút lên cao lượn vòng, hưng phấn dị thường, lập tức tám cái miệng cùng há ra uống sạch nước ô uế trong Ao Máu, ngay cả đám Huyết Thú cũng bị nuốt gọn. Sau hai, ba lần, máu trong Ao Máu đã bị hút hết sạch. Chỉ còn chừa lại chúng sinh trong Ao Máu ở dưới đáy ao mà thôi.

Uế Tích Kim Cang Đại Quyền Thần Vương Phật lại vươn tám cánh tay ra, thu hồi tám Long Vương, tám Long Vương này lại quấn trên cánh tay của Kim Cang Thần. Chư Phật Bồ Tát có mặt ở đó trông thấy khí thế nhường ấy đều vô cùng tán thán rằng:
"Quả nhiên là Đại Quyền Thần Vương Phật.
Là Đại Kim Cang hiện khắp thập phương.
Lời nguyện từ bi cứu thế chẳng bỏ.
Những nơi ô trọc cũng chẳng nề hà.
Chúng sinh cầu thỉnh hiện tiền lập tức."

Uế Tích Kim Cang lại hóa thành ánh sáng xanh lam, lại tiến nhập vào trong tâm của Thích Ca Mâu Ni Phật. Lúc này, chỉ thấy Quan Thế Âm Bồ Tát cầm cành dương liễu và tịnh bình tiến về phía trước, cầm cành dương liễu vẩy tịnh thủy xuống Ao Máu, quả nhiên mỗi giọt hóa thành hoa sen đỏ, rải khắp tam thiên, tất cả đều thanh tịnh. Những chúng sinh trong Ao Máu đáng thương từ lâu đã phải trải qua vô số kiếp khổ, có chúng sinh đã chẳng còn thịt da, chỉ còn lại bộ xương khô tàn phế, có chúng sinh thì khiếm khuyết không toàn vẹn, miệng không thể nói, tai không thể nghe, đứt tay đứt chân, mù lòa, sau khi được Bồ Tát vẩy tịnh thủy thì không ngờ đều được phục hồi lại nguyên vẹn.

Quan Âm Bồ Tát quả nhiên là một vị Bồ Tát vĩ đại:
"Nếu ta đến núi đao, núi đao tự gãy vỡ.
Nếu ta đến ao lửa, ao lửa tự cạn khô.
Nếu ta đến địa ngục, địa ngục tự tiêu diệt.
Nếu ta đến ngạ quỷ, ngạ quỷ tự no nê.
Nếu ta đến tu la, ác tâm tự điều phục.
Nếu ta đến súc sinh, chúng tự có trí huệ."

Chúng sinh chịu khổ trong địa ngục chắp tay cùng niệm:
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát.

Lúc này, Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật lại tiến lên trước, nói với chúng sinh trong Ao Máu: "Nay có Nam mô Tây phương Liên Trì Hải Hội, Ma Ha Song Liên Trì, thập bát đại Liên Hoa Đồng Tử, Bạch Y Thánh Tôn, Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư, Chủ Kim Cương Chân Ngôn Giới Bí Mật Chủ, Đại Trì Minh Đệ Nhất Thế Linh Tiên Chân Phật Tông, Liên Hoa Đồng Tử Mật Hành Tôn Giả hạ giáng cõi Ta Bà, thuyết pháp độ chúng sinh. Các người vừa đúng lúc gặp được cơ hội nghìn năm khó gặp này, nay độ các người thoát khỏi Ao Máu, lại trở về nhân gian, quy y Liên Hoa Đồng Tử, vào kiếp tương lai, chúng sinh ở Ao Máu chắc chắn sẽ có được nhân duyên thù thắng mà có được lợi ích lớn, tu hành lục độ viên mãn, chứng đắc trở thành thầy của trời người, cuối cùng chắc chắn sẽ vãng sinh đến Phật quốc của Ma Ha Song Liên Trì."

A Di Đà Phật nói với Liên Hoa Đồng Tử: "Chúng ta giao phó chúng sinh Ao Máu cho con."
"Như vậy thật tốt." - Liên Hoa Đồng Tử chắp tay lại.
Lúc ấy, A Di Đà Phật niệm ba biến vãng sinh chân ngôn:
"Na-mo a-mi-tua-pua-ye, tua-tha-cha-tua-ye, tua-ti-ye-tha, a-mi-li-tua-pua-pi, a-mi-li-tua, xi-tan-pua-pi, a-mi-li-tua, pi-cha-lan-ti, a-mi-li-tua, pi-cha-lan-tua, cha-mi-ni, cha-cha-na, chua-tuo-cha-li, so-ha."

Chú này vừa niệm xong thì thấy trong hư không bung tỏa ra ánh sáng đỏ, một mùi thơm lạ kì trút xuống Ao Máu, khiến cho chúng sinh Ao Máu khi được tiếp xúc với mùi hương này thì tất cả đều được đưa tới chuyển luân đài để chuyển sinh thành người. Chư Phật Bồ Tát sau khi thấy việc độ chúng sinh ở Ao Máu đã xong thì lần lượt cưỡi hoa sen trở về thập phương pháp giới.

Trong hư không, chư thiên nhân cùng tán tụng rằng:
"Đạo đức cao chót vót
Rửa sóng máu địa ngục
Nguyện làm người cha hiền
Luôn luôn độ quần sinh.
Miên man tiếng tụng kinh
Bao đóa sen trở về
Ai bảo địa ngục khổ
Mật tu cũng thành Phật."

Lần này, Liên Hoa Đồng Tử cùng Địa Tạng Bồ Tát đến các ngục trong địa ngục nhiều lần, Liên Hoa Đồng Tử còn nhiều lần thuyết pháp trong địa ngục, dạy người ta thành tâm tụng "Cao Vương Quan Thế Âm chân kinh", cũng độ cho rất nhiều chúng sinh trong địa ngục hiểu rõ đạo lý sinh tử, lại càng có nhiều chúng sinh được chuyển luân thoát khỏi địa ngục, thậm chí có người siêu thăng tới thiên giới, đó là một việc trọng đại trong cõi địa ngục.

Liên Hoa Đồng Tử đã ở trong địa ngục một thời gian dài, đến khi địa ngục tương đối thanh tịnh, các linh hồn đều có nơi quy về thì mới rời khỏi đạo địa ngục.


### 12. Luận đạo cùng Địa Tạng Bồ Tát


Liên Hoa Đồng Tử trong đạo Địa Ngục từng luận đạo cùng Địa Tạng Bồ Tát tại Thúy Vân Thánh Cung.
Liên Hoa Đồng Tử hỏi:
"Tâm tham dục sinh ra, cần dùng pháp nào để đối trị?"
Địa Tạng Bồ Tát đáp:
"Tâm tham có thể che lấp thiện tâm, vì tâm tham như lửa, càng cháy càng mãnh liệt, dục vọng cũng càng mạnh. Người tu hành cần dùng các pháp như "bất tịnh quán", "quán khổ", "quán vô thường", "quán vô ngã" để đối trị. Bốn niệm này chính là để đối trị với tâm tham dục, là một cách quán tưởng để giữ tư tưởng suy nghĩ đúng đắn. Tứ niệm xứ không chỉ là ngoại cảnh mà còn cần thân tâm của bản thân phải thường xuyên khởi lên sự quán chiếu, như vậy thân tâm mới có thể có tiến bộ."
Địa Tạng Bồ Tát lại nói:
"Người tham dục nặng thì tự nhiên đây sẽ là căn nguyên của phiền não. Cái gọi là "trước ma" chính là khi trong tâm của hành giả đột nhiên hiện lên lòng tham dục, vừa đúng lúc ấy có quỷ thần ở gần đi qua và bắt được sự tương ứng đó mà ám vào, và đó chính là căn nguyên của "trước ma"." [ ND: trước ma có nghĩa là sự si mê, mê muội, trong tu hành thường gọi là tâm ma, dính mắc vào ma. ]

Liên Hoa Đồng Tử hỏi:
"Khi tâm sân nổi lên thì đối trị như thế nào?"
Địa Tạng Bồ Tát đáp:
"Người có tính cách kiên cường cứng cỏi thì lại chính là người có tâm sân nặng, người cố chấp dễ sinh ra tâm sân. Trong số các đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni, người có tâm sân nặng nhất hẳn là thuộc về tôn giả Đại Ca Diếp. Phật Đà thấy ông ấy đã cao tuổi, khuyên ông ấy từ bỏ khổ hạnh đầu đà, ông ấy vẫn cố chấp không chịu thỏa hiệp. Vì sao mà dẫn tới tâm sân, trên thực tế, cá tính bẩm sinh đã như vậy, rồi còn do ngoại cảnh tác động." - Địa Tạng Bồ Tát nói tiếp: "Tâm sân nổi lên, tự nhiên cũng là căn nguyên của phiền não, nếu chuyển biến thành tâm ghét bỏ muốn rời xa thì cái này cũng không hề gì. Nếu tâm phát hỏa không thể cứu vãn được thì sẽ gây trở ngại tới Thánh đạo. Người tu hành muốn đối phó với sự phiền não của sân hận chính là cần phải "bất động", bất động chính là Không, Không sẽ làm hiển lộ trí huệ. Hãy thử nghĩ duyên sinh ra như thế nào, cần lấy sự từ bi đi độ hóa người khác, đi gia trì cho người khác, hành giả cần chuyển hóa bất động thành từ bi, dùng từ bi để đối trị, từ bi này chính là vô lượng tâm, bình đẳng tâm."

Liên Hoa Đồng Tử hỏi:
"Tâm si khởi lên, vậy làm sao để đối trị?"
Địa Tạng Bồ Tát đáp:
"Vì vô minh mà dẫn tới ngu si, chúng sinh trên đời đa phần là ngu si, vì ngu si nên mới sinh ra tâm tham sân. Tham sân si ngăn trở Thánh đạo, si là không có sức mạnh quán chiếu minh giác. Chính vì chúng sinh ngu si, do vậy mới cần có Phật Thích Ca Mâu Ni hạ sinh nhân gian, Liên Hoa Đồng Tử hạ sinh nhân gian, Di Lặc Bồ Tát hạ sinh nhân gian, những vị Phật Bồ Tát ấy hạ sinh cõi Ta Bà thuyết pháp chính là để truyền bá đại trí huệ, có phương pháp quán chiếu minh giác, chính là để đối trị lại sự ngu si. Đối trị ngu si thì cần dùng trí huệ, có trí huệ rồi thì mới có thể quan sát và lý giải đạo lý về vô ngã, vô thường, nhân duyên, không. Đối trị ngu si cần dùng sức mạnh quán chiếu, dùng trí huệ để phân biệt. Trí huệ minh xác là chuyên để đối trị ngu si."

Liên Hoa Đồng Tử hỏi:
"Tương lai đến Ta Bà, cần dùng pháp gì để dạy con người?"
Địa Tạng Bồ Tát đáp:
"Tốt nhất là dạy con người tu hành thực tế. Thế nhân phần lớn là lúc thì hay nghi ngờ, lúc lại dễ cả tin, hơn nữa lại thích những pháp nhanh, lại càng thích những pháp tu hành mới lạ nhưng cổ quái, đối với những pháp tu hành đơn giản thì lại coi thường. Thật ra những phương pháp đơn giản thì chỉ cần thực tu là nhất định sẽ tu hành thành công, nếu như có tín tâm lại cộng thêm dùng công lực tốt, thực tu một cách đơn giản thì cũng đã được hưởng cực kì nhiều lợi ích rồi. Liên Hoa Đồng Tử xuống Ta Bà chính là nên dạy con người thực tu, sửa chữa bệnh ngạo mạn về pháp của thế nhân, đồng thời cũng sửa chữa lý luận suông, chỉ nói chứ không làm của thế nhân."

Liên Hoa Đồng Tử hỏi:
"Địa Tạng Bồ Tát dựa vào cái gì để độ chúng sinh?"
Địa Tạng Bồ Tát đáp:
"Khi tôi tại thế, bên ngoài đã thể hiện thiện tướng, dùng sự tôn kính thầy, tôn kính Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, hiếu kính với cha mẹ, bố thí, trì giới, cúng dường Phật pháp tăng, hiểu biết sâu rộng và huân tu, đó chính là sự dạy dỗ chúng sinh biểu hiện ra bên ngoài của tôi, tôi phát đại nguyện lực." - Địa Tạng Bồ Tát nói: "Còn thiện tướng bên trong thì tôi dùng phương pháp thiền định mà Phật Đà dạy để nội tu, để đối trị với chứng bệnh của con người thế tục, thân tâm điều phục vọng niệm, nhập vào trong sự định chân chính, dùng tâm nhãn để nhìn mọi thứ bên trong thân, đắc thiện căn từ đó phát lộ ra ở hình tướng bên ngoài, trong định tôi phát tâm từ bi nghĩ về chúng sinh, trước tiên độ người thân được hạnh phúc, nội tâm vui vẻ không sao tả xiết. Từ đó mới phát đại nguyện độ chúng sinh chịu khổ trong địa ngục."

Liên Hoa Đồng Tử hỏi:
"Làm sao phân biệt chính thiền và ngụy thiền?"
Địa Tạng Bồ Tát đáp:
"Cần dùng trí huệ quán chiếu để phân biệt chính thiền và ngụy thiền, bởi vì người tu thiền định thân tâm đều sẽ từ từ chuyển biến.
Chính thiền --- biểu hiện bên ngoài là từ bi, nội tâm tịch tĩnh và quang minh.
Ngụy thiền --- biểu hiện bên ngoài là hung ác, nội tâm vọng động và hắc ám.
Xuất hiện tâm kiêu ngạo, xuất hiện tâm tự đại, xuất hiện tâm đố kị, xuất hiện tâm không chịu thua kém, xuất hiện tâm tranh đấu, đó là những sự biến đổi xấu và ác. Hành giả cần dùng chính quán và không quán để phá bỏ, như vậy mới có thể làm sâu sắc thêm cảnh giới định. Hết thảy các tướng thấy trong thiền định đều phải biết là hư ảo và lừa gạt, phải không lo lắng không sợ hãi, cũng như không giữ không bỏ, không phân biệt tính toán, dừng dứt cái tâm kiến tướng này, thì tự nhiên tịch nhiên."

Liên Hoa Đồng Tử hỏi:
"Tôi xuống Ta Bà, Bồ Tát giúp đỡ tôi bằng cách nào?"
Địa Tạng Bồ Tát đáp:
"Khi ngài gặp nghịch cảnh, tôi sẽ hiện thân chỉ dẫn, dạy ngài dùng sức mạnh quán chiếu."

Địa Tạng Bồ Tát nói bài kệ:
"Thánh tôn khi quán tâm
Đừng nhiễm ngũ trọc dục
Nghịch cảnh, ta hiện thân
Chỉ dẫn vào tịch tĩnh."


### 13. Lễ Quan Âm ở Nam Hải


Tại Thúy Vân Thánh Cung, Liên Hoa Đồng Tử cáo biệt Địa Tạng Bồ Tát, rời khỏi địa ngục, tòa sen trắng lại từ từ bay đến Phổ Đà Sơn ở Nam Hải, không ngờ lại đến tịnh thổ của Quan Thế Âm Bồ Tát.
Tịnh thổ này là đại đạo tràng của Quan Thế Âm Bồ Tát, chính là "Tử Trúc Lâm Trung Quán Tự Tại".
Cõi tịnh thổ này phong cảnh rực rỡ tươi đẹp. Có pháp âm của tiếng sóng biển, có phong cảnh kì diệu của các rặng núi đá, có rừng trúc, có Phật quang…

Quan Thế Âm Bồ Tát có mật hiệu là Chính Pháp Kim Cang và Thanh Tịnh Kim Cang. Bồ Tát quan sát mọi pháp, tự do tự tại, ban cho chúng sinh mọi công đức, bố thí cho chúng sinh mọi công đức, khiến chúng sinh thoát khỏi biển khổ, có được niềm vui. Quan Thế Âm Bồ Tát là vị đại Bồ Tát nghe tiếng kêu mà tới cứu khổ.

Quan Thế Âm Bồ Tát hiện đủ loại thân trong đủ cõi tịnh thổ, ứng với căn cơ của chúng sinh để làm lợi ích cho chúng sinh, do vậy còn gọi là 33 ứng hóa thân Bồ Tát. Quan Thế Âm Bồ Tát còn ứng hóa thành 6 vị Quan Âm, 33 thể Quan Âm.
Còn vị Quan Âm ở Trúc Lâm Phổ Đà Sơn ở Nam Hải là Dương Liễu Quan Âm, toàn thân mặc thiên y màu trắng, ngồi tư thế xếp bằng trên tòa hoa sen trang trí bởi trăm bảo vật trang nghiêm, đầu đội mũ hoa thất bảo trang nghiêm, trên cổ đeo chuỗi ngọc bảo châu, cổ tay trái tay phải đeo vòng xuyến, dung nhan lộng lẫy trang nghiêm, tay phải của ngài cầm cành dương liễu, tay trái nâng tịnh bình. Thị giả của ngài là Thiện Tài Đồng Tử hai tay chắp lại, và Long Nữ cầm bảo vật.

Phía trên Tử Trúc Lâm có một con chim mỏ ngậm tràng hạt. Con chim này gọi là chim Thái Bình. Lúc này, chim Thái Bình bỗng kêu lên rằng: "Liên Hoa Đồng Tử đến rồi, Liên Hoa Đồng Tử đến rồi." Vừa kêu lên như vậy thì chuỗi tràng hạt rơi xuống lớp cát bụi. Quan Thế Âm Bồ Tát trong lòng lay động, lập tức hiểu tất cả. Bồ Tát mỉm cười bước xuống khỏi chỗ ngồi, Liên Hoa Đồng Tử vội vã chắp tay lại lễ bái Quan Thế Âm.
"Liên Hoa Đồng Tử vì sao lại vội vàng tới đây?"
"Theo gió mà đến, chắc hẳn có duyên phận." - Liên Hoa Đồng Tử đáp.

Quan Thế Âm Bồ Tát nói:
"Con quả nhiên là thần cơ diệu toán, thân tùy duyên mà đi. Liên Hoa Đồng Tử hạ sinh ở Ta Bà, Đế Thích công tử là con trai của con, Đế Thích công chúa là con gái của con, Đại Cát Tường Thiên Nữ là vợ của con, nhưng làm sao có thể không cha không mẹ được nhỉ! Phàm thai của cha mẹ thế tục không có cách nào giấu được thân của con. Vừa nãy con tới, chim Thái Bình thị giả của ta đã thấy con tới trước mà gọi to Liên Hoa Đồng Tử, Liên Hoa Đồng Tử và con chim này nhân duyên kiếp trước rất sâu, nhưng vừa há mỏ ra thì tràng hạt lại rơi xuống cát bụi, có thể thấy là duyên phận đã định, chim Thái Bình sẽ hạ phàm trần, đó là định số rồi. Con đã tới đây thì chim Thái Bình sẽ đi theo con, ta cũng sẽ thiếu mất một thị giả."
"Xin Bồ Tát lượng thứ."
"Không cần khách khí, đây cũng là một kiểu công đức thôi mà."

Thì ra, chim Thái Bình đi theo Quan Thế Âm Bồ Tát vốn là chim Ca Lăng Tần Già ở tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật biến hóa ra, còn gọi là chim Cộng Mạng. Quan Thế Âm Bồ Tát ở Tử Trúc Lâm trông thấy chúng thì thích thú, do vậy đã thỉnh A Di Đà Phật gửi đến một con, làm thị giả của ngài, nhân duyên kiếp trước của nó rất sâu là vì nó được biến hóa từ tâm của A Di Đà Phật mà tới.

(Liên Sinh Hoạt Phật chú thích: chim Thái Bình của Quan Thế Âm Bồ Tát từ lâu đã theo Liên Hoa Đồng Tử hạ sinh ở nhân gian, hơn nữa còn trở thành người mẹ sinh ra Liên Hoa Đồng Tử, chính là người mẹ ruột ở nhân gian, tên thế tục của bà là Lư Ngọc Nữ. Năm 18 tuổi thì bà sinh ra Lư Thắng Ngạn, Lư Thắng Ngạn chính là chuyển hóa của Liên Hoa Đồng Tử. Người mẹ Lư Ngọc Nữ mỗi lần nằm mơ đều mơ thấy trên thân mình có đôi cánh, biết bay, bay lượn là việc thường gặp trong mơ. Đồng thời, người mẹ được một dị nhân chỉ điểm rằng nhân quả kiếp trước của bà chim Thái Bình bên cạnh Quan Thế Âm Bồ Tát chuyển thế, sự việc này từ rất lâu trước khi Liên Sinh Hoạt Phật đạt khai ngộ đã biết rồi. Đây là nhân duyên của người mẹ sinh ra ngài.)

Quan Thế Âm Bồ Tát nói với chim Thái Bình:
"Lần này xuống cõi Ta Bà, đi mau về mau, ta không có gì ban tặng, hãy cầm chuỗi tràng hạt này đem đi vậy!"
(Khi mẹ tôi sinh ra có nhau thai quấn quanh ngực, có nghĩa là đeo chuỗi ngọc mà sinh ra.)
Chim Thái Bình nói:
"Mong Bồ Tát hộ trì để có thể trở về Nam Hải."
Bồ Tát cười vui vẻ:
"Con sinh ra Liên Hoa Đồng Tử, là người mẹ thân sinh ra Liên Hoa Đồng Tử, nhưng sau này mẹ sẽ quy y con trai, con trai sẽ truyền cho mẹ Phật pháp, đó là nhân duyên, mẹ sinh con, con độ mẹ, đó là một câu truyện đẹp đẽ muôn đời, nhân gian hiếm thấy, chắc chắn có thể trở về trời."
"Chỉ mong như vậy." - Chim Thái Bình cũng rớt nước mắt.
"Con đi đi!" - Quan Thế Âm Bồ Tát nói với chim Thái Bình: "Tâm tính thanh tịnh, trong sáng là quan trọng. Tương lai ta sẽ lại ban cho con một viên ngọc, nhưng viên ngọc này chỉ chơi thì được, ta sớm muộn gì cũng sẽ thu lại, hãy nhớ! Hãy nhớ!"
(Sự việc ban cho ngọc minh châu này cũng rất linh nghiệm. Nếu có cơ duyên, tôi sẽ thuật lại sau.)

Lúc này, chỉ thấy một ánh lửa đỏ bao trùm lấy chim Thái Bình, thế rồi từ hư không rơi xuống đủ loại hoa quý, chim Thái Bình hướng về Bồ Tát cúi đầu ba lần rồi bay vút lên không trung mà đi.
Không trung vang lên tiếng hát bài kệ:
Đại từ đại bi Quan Thế Âm
Bố thí hết thảy cho chúng sinh
Tây phương Cực Lạc chim Cộng Mạng
Hồng liên trang nghiêm hạ phàm trần
Thái Bình chim nhỏ đã bay xa.

Liên Sinh Hoạt Phật chú thích:
Mẹ tôi Lư Ngọc Nữ vốn là chim Thái Bình thị giả của Quan Thế Âm Bồ Tát chuyển hóa, do vậy linh thể của mẹ tôi rất nhẹ, lúc còn trẻ đã có rất nhiều sự việc linh dị.

Những sự tích về việc thông linh của mẹ tôi cũng có thể kể ra vô tận. Ví dụ như thỉnh thần gọi tiên, muốn gặp một vị thần nào đó thì thần tiên đó lập tức hạ giáng, chỉ điểm công việc, vô cùng ứng nghiệm. Người khác thỉnh thần gọi tiên cần sử dụng thêm nhân lực, mẹ tôi chỉ có một mình đã có thể gọi thần đến, kì diệu phi phàm.

Gần đây có một câu chuyện linh dị như sau:
Có một nơi là Linh Tiên Tịnh Xá ở Đài Trung Đài Loan, trước Phật đàn có đặt một vị gọi là Ông Hổ, là một vị cực kì linh nghiệm, có một hôm đột nhiên xuất hiện ba vệt cháy trên lưng của vị đó.
Mẹ tôi thấy vậy thì cảm thấy rất kì lạ, bèn hỏi:
"Ông Hổ, trên lưng của ông vì sao lại có ba vệt cháy vậy?"
"Bị Bồ Tát đánh đó." - Ông Hổ đáp.
"Vì sao?"
"Bởi vì... bởi vì..."
"Ông cứ nói đi đừng ngại." - Mẹ tôi truy hỏi đến cùng: "Có phải là ông không bảo vệ Phật đàn không?"
"Không phải, là vì thần đàn ở nơi khác đang chỉ điểm Đại Gia Lạc minh bài, tôi nhất thời ham vui nên lập tức xuống đàn thành, cũng chỉ thị minh bài." - Ông Hổ đáp.
[ ND: Đại Gia Lạc - Cả Nhà Vui là tên một hình thức chơi xổ số thịnh hành vào giữa những năm 1980 tại Đài Loan, minh bài là tiết lộ, chỉ điểm kết quả, đặc biệt được những nhân sĩ có khả năng thông linh tự xưng là nắm được thông tin từ "tay trong" nên có thể chỉ điểm kết quả xổ số. ]
"Thì ra là như vậy." - Mẹ tôi đã hiểu ra.
"Bồ Tát không cho phép tôi ra ngoài đi chơi, hơn nữa lại còn dung túng cho trò đánh bạc, do vậy tôi bị đánh ba roi."
"Có đau không?"
"Đau muốn chết đây." - Ông Hổ nói.
"Tôi cho ông nước chú đại bi, bôi vào để giảm đau, có được không?"
"Được, được, được." - Ông Hổ cực kì vui mừng.

Mẹ tôi lập tức niệm chú đại bi, dùng nước chú để bôi lên lưng của Ông Hổ.
"Còn đau không?"
"Không đau, rất cám ơn." - Ông Hổ đáp.
"Ông có muốn tôi đem tượng của ông đi tới tiệm điêu khắc để sửa lại không, để che ba cái vết cháy đó đi?" - Mẹ tôi hỏi.
"Đương nhiên là được rồi. Nhưng cũng cần Bồ Tát đồng ý đã." - Ông Hổ đáp.
Mẹ tôi quay qua thỉnh Bồ Tát chỉ thị.
Bồ Tát nói:
"Không cần làm mới lại, Ông Hổ ham chơi, ba vết cháy này chính là để cảnh cáo, cần giữ giới, mới có thể đắc quả vị, đó cũng là để nhắc nhở chúng sinh."

Câu chuyện linh dị này đã chứng minh năng lực thông linh của mẹ tôi, cũng đã đạt tới trình độ thần hóa, đồng thời nước chú đại bi mà mẹ tôi niệm có thể điều trị các chứng bệnh liên quan tới thần linh, đó cũng là một điều thần diệu bất khả tư nghì. Sự kết nối giữa mẹ tôi và Bồ Tát đương nhiên càng trở nên thông suốt không hề có trở ngại.

Tại Chân Phật Mật Uyển ở Mỹ, tôi từng dạy cho mẹ tôi bí quyết vẽ phù, muốn vẽ phù linh nghiệm thì nghi thức và khẩu quyết là quan trọng nhất, mẹ tôi đã nắm được hết tâm yếu.
Tôi lại dạy cho mẹ tôi khẩu quyết tu trì, mẹ cũng nắm được hết tâm yếu.
Bí quyết thành công của Tam giáo đạo [ND: Đạo, Khổng, Phật ]  "rút thần hợp nhất" mẹ tôi cũng nắm được hết. Bao gồm cả những chú ngữ bí mật cần phải đích thân truyền, tôi đều đã truyền thụ cho mẹ tôi.

Cuối cùng, tôi cũng chỉ có hai vị Thiện - Ác Đồng Tử biếu tặng cho mẹ tôi để trợ giúp cho linh uy của mẹ. Phù lục cứu đời của mẹ tôi từ lâu tiếng vang đã lan truyền khắp thế giới, chỉ cần nhờ Bồ Tát chỉ thị là có thể xuất phù, phù mà mẹ tôi vẽ ra vô cùng linh nghiệm. Các loại phù trừ bệnh, hòa hợp, cầu tự, cầu lợi, tăng ích, trừ tà, hộ thân, áp sát, trấn trạch... đều muốn gì được nấy, chưa bao giờ có sự sai sót nào.

Mẹ đến quy y con trai.
Con trai truyền pháp cho mẹ.
Đó là nhân duyên của sự việc lễ Quan Âm ở Nam Hải. Nhân duyên thù thắng giống như vậy, tại nhân gian này đã là rất hiếm rồi, rất hiếm rồi, rất vi diệu, rất vi diệu.


### 14. Tâm yếu của pháp môn Quán Âm


Liên Hoa Đồng Tử ở chỗ của Quan Thế Âm Bồ Tát tại Tử Trúc Lâm ở Nam Hải Phổ Đà Sơn, theo Bồ Tát đi khắp nơi thuyết pháp, nghe pháp, có được những cảm nhận vô cùng hay. Đặc biệt là pháp môn Quán Âm.
Thì ra, tên gọi đúng của pháp môn Quán Âm là "Như huyễn vấn huân vấn tu kim cang tam muội".

Tu pháp này đạt được hai loại công đức thù thắng:
Thứ nhất, trên hợp với bản giác diệu tâm của thập phương chư Phật, đồng thể với Phật, hơn nữa còn cùng một từ lực, có thể vận dụng vô duyên đại bi, phổ độ chúng sinh.
Thứ hai, dưới hợp với thập phương lục đạo và hết thảy tâm tính chúng sinh, có thể cùng chúng sinh cùng chịu gian nan khổ cực, cùng đau buồn thương xót.

Quan Thế Âm Bồ Tát nói với Liên Hoa Đồng Tử rằng:
"Ngày xưa, ta từng cúng dường Quán Âm Như Lai, Quán Âm Như Lai ban cho ta ấn tâm, truyền thụ pháp môn Quán Âm, hôm nay ta đắc được thân Phật, cũng đắc được năng lực của Phật, do vậy mới có được 32 ứng hóa thân, có thể tùy cơ đi đến bất kì nơi nào theo ý muốn, tùy ý ra vào thập phương pháp giới, phổ độ chúng sinh còn trong mê lầm cùng lên bến bờ giác ngộ."

Bồ Tát hỏi Liên Hoa Đồng Tử:
"Con có muốn ấn tâm không?"
"Con xin học." - Liên Hoa Đồng Tử đáp: "Để con độ chúng sinh."

Thế là, Quan Thế Âm Bồ Tát ban ấn tâm cho Liên Hoa Đồng Tử. Rồi lại truyền dạy pháp môn Quán Âm.
Pháp môn Quán Âm là bắt đầu tu từ đặc tính nghe thấy của tai, đây là pháp nhĩ căn tu chứng tam muội. Nhờ có được ấn tâm mà lập tức cảm thông được thập phương chư Như Lai, vượt ra ngoài thiên giới, vượt ra ngoài nhân giới, vượt ra ngoài tất cả mọi thứ trong sinh tử luân hồi, vượt ra ngoài pháp giới vô tận, đột nhiên siêu việt cả thế gian và xuất thế gian, không phải chịu sự trói buộc vào những quan niệm về "Không", "Hữu", v.v... trực tiếp tiến nhập vào "tịch chiếu hàm không, thập phương viên minh".

Pháp này yêu cầu như sau:
"Vấn trung" --- quay trở vào trong lắng nghe tự tính, bản giác nội huân.
"Ngược dòng" --- từ bỏ những thứ nghe thấy từ bên ngoài, quay trở về lắng nghe cái chân tâm ở bên trong, lục căn thanh tịnh.
"Phản chiếu" --- quay trở về với diệu giác tinh tường sáng suốt, quang minh thuần tịnh không tì vết phổ chiếu.
"Tận diệt" --- hai tính Động - Tĩnh hiển nhiên không sinh ra nữa, căn trần đều diệt hết.

Liên tục như vậy cho đến khi đến được cảnh giới tính Không trong suốt tịnh nhiên, trí tuệ giác chiếu cũng không, và nhờ đó, chân tâm bất sinh bất diệt sẽ tự nhiên mà hiển hiện, phát tỏa hào quang rực rỡ.
Pháp "Nhĩ căn vấn huân vấn tu kim cang tam muội" có đại pháp lực, nếu tu chứng được pháp môn Quán Âm thì sẽ có được sức mạnh tuyệt diệu, có thể phân thành vô số thân để tìm đến nơi có những tiếng kêu cứu mà cứu khổ. Lửa bên ngoài thế gian không thể làm hại, nước bên ngoài thế gian không thể làm hại, gươm đao chạm tới thân thì sẽ bị đứt gãy hoàn toàn, tất cả ác quỷ đều không thể đến gần, xiềng xích gông cùm không thể trói được thân, phường trộm cướp không thể cướp bóc, rời xa tham sân si.

Pháp môn Quán Âm là nhĩ căn viên thông là tuyệt vời nhất trong tuyệt vời, là ấn tâm diệu kì nhất trong diệu kì.

Liên Hoa Đồng Tử cho rằng điểm quan trọng của pháp này là như sau:
Kiến văn giác tri có thể trở thành pháp lưu thanh tịnh viên dung toàn vẹn. Căn bản là không còn chút chướng ngại nào. Hành giả trở nên nhậm vận tự tại tùy ý. Như trăng in dưới nước, có linh cảm tất ứng nghiệm.

Tu chứng pháp môn Quán Âm có thể thị hiện vô số vẻ bề ngoài kì diệu, có thể nói vô biên thần chú bí mật. Sự biến hiện của nó có thể uy mãnh như Mã Đầu Minh Vương, có thể tịch định như Thánh Quan Âm, có thể huệ chiếu như Như Ý Luân Quan Âm. Có thể nói bất kì thần chú bí mật nào, như một người thực thi can đảm không hề biết sợ hãi.

Ấn tâm này là:
Nhất tâm hiện tiền.
Vạn pháp vốn có.
Đều có thần lực.
Và nhờ trí minh.
Phật tâm thượng đẳng.
Hàm thức cũng thế.

Pháp môn này là:
Nghe bản chất, thấy tri giác.
Hạn chế mọi ma chướng bên ngoài.
Có đầy đủ mọi tổng trì.
Quảng độ chúng sinh mọi phẩm cấp.

Liên Hoa Đồng tử ở chỗ của Quan Thế Âm Bồ Tát tại Tử Trúc Lâm Phổ Đà Sơn có được ấn tâm chân chính, pháp môn Quán Âm khiến cho Liên Hoa Đồng Tử đắc được hai loại công đức thù thắng.


### 15. Nghi quỹ thực tu pháp môn Quán Âm


Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, đệ tử Chân Phật muốn tu pháp môn Quán Âm thì trước tiên cần xin ấn tâm của Liên Sinh Hoạt Phật, có nghĩa là cần thỉnh cầu tâm ấn của Liên Sinh Hoạt Phật trước.
Tâm ấn này là ấn tâm mà Quan Thế Âm Bồ Tát của Tử Trúc Lâm ở Nam Hải Phổ Đà Sơn ban cho Liên Hoa Đồng Tử. Rồi Liên Hoa Đồng Tử lại ấn tâm cho đệ tử Chân Phật.

Nghi quỹ tu trì pháp môn Quán Âm như sau (phân làm hai giai đoạn):
Giai đoạn thứ nhất:

1. Vào đàn thành niệm chú thanh tịnh.

1. Triệu thỉnh Phật Bồ Tát chư Tôn.

1. Chân Phật đại lễ bái.

1. Chân Phật tứ quy y.

1. Chân Phật bia giáp hộ thân. (kết giới)

1. Chân Phật đại cúng dường.

1. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm chân kinh. (1-3 biến)

1. Hành giả Chân Phật hai mắt nhắm lại, tư thế ngay ngắn nhưng hơi buông lỏng một chút, không cần quán tưởng, miệng không cần niệm chú niệm Phật, không cần lần chuỗi hạt, tay cũng không cần kết ấn, tư thế ngồi tự nhiên đoan trang.

1. Trong tâm của chính mình nghĩ đến bốn chữ Quan Âm Bồ Tát, mỗi chữ nghĩ khoảng hai giây.

1. Phát âm mỗi chữ ở trong tâm, và tai nghe âm trong tâm. Chú ý nếu như trong tâm xuất hiện âm trong tâm của bốn chữ này thì mặc dù không dùng miệng để phát ra âm thanh nhưng vẫn có thể dùng tai để nghe âm thanh này. Do vậy có thể chứng minh được sự tồn tại của tâm.

1. Sức chú ý luôn đặt vào âm trong tâm và sự nghe thấy của tai, cứ như vậy không dừng dứt, tất cả tạp niệm đều thu về bốn chữ này. Cố gắng như vậy, hấp thu vạn niệm thành nhất niệm, không lâu sau tâm cảnh sẽ được mở mang khai thông, bên trong đạt được trạng thái tinh thần thống nhất khinh an.

1. Giữ trạng thái định trong cái "nhất" này một hồi lâu.

1. Xuất định.

1. Hồi hướng:
Nam mô Đại Bi Quan Thế Âm, nguyện con sớm đắc được trí huệ nhãn.
Nam mô Đại Bi Quan Thế Âm, nguyện con mau chóng độ hết thảy chúng sinh.
Nam mô Đại Bi Quan Thế Âm, nguyện con sớm đắc thiện phương tiện.
Nam mô Đại Bi Quan Thế Âm, nguyện con mau chóng lên con thuyền bát nhã.
Nam mô Đại Bi Quan Thế Âm, nguyện con sớm vượt qua được biển khổ.
Nam mô Đại Bi Quan Thế Âm, nguyện con mau đắc được giới định đạo.
Nam mô Đại Bi Quan Thế Âm, nguyện con sớm chứng niết bàn sơn.
Nam mô Đại Bi Quan Thế Âm, nguyện con mau chóng có thể vô vi xả.
Nam mô Đại Bi Quan Thế Âm, nguyện con sớm tương đồng với thân pháp tính.
Đại lễ bái Phật.
Cát tường viên mãn.

(Giai đoạn tu pháp thứ nhất này là vạn niệm thu về thành nhất niệm, mọi niệm đều nghĩ tới Quan Âm Bồ Tát, lập tức nhập vào cảnh giới nhất tâm bất loạn. Khi ngồi thiền, thời gian nửa tiếng là phù hợp.)

Giai đoạn tu pháp thứ hai: (sau khi đã có thể giữ nhất tâm bất loạn được một thời gian dài thì có thể tu giai đoạn thứ hai)
Tiến hành mục 1 đến 7 giống như giai đoạn thứ nhất.
8. Hành giả Chân Phật hai mắt nhắm lại, tư thế ngồi tự nhiên đoan trang. Tay không kết ấn, miệng không niệm Phật niệm chú, không quán tưởng, không lần chuỗi hạt.
9. Dừng việc niệm thầm "Quan Âm Bồ Tát", dừng âm trong tâm, bỏ hết mọi sự nắm giữa.
10. Dùng tai nghe để quán chiếu trong tâm liệu có "tự âm tự ngữ", nếu có thì lập tức lại niệm thầm bốn chữ "Quan Âm Bồ Tát" để thu lấy cái "tự âm tự ngữ" đó, nếu không có thì nhập vào cảnh giới viên tịch vi diệu, đây chính xác là "sinh diệt đã diệt, tịch diệt hiện tiền", hai tính động - tĩnh hoàn toàn không sinh ra, tâm linh an tịnh, pháp thân thanh tịnh, nhập vào niết bàn.
11. Do nhất niệm trở thành vô niệm mà nhập vào kim cang tam ma địa, tam ma địa này chính là "Như huyễn vấn huân vấn tu kim cang tam muội".
12. Nhập định trong tam ma địa này một hồi lâu.
13. Xuất định, hồi hướng: (giống như giai đoạn thứ nhất)
Đại lễ bái Phật. Rời khỏi đàn thành.
Cát tường viên mãn.

(Giai đoạn tu pháp thứ hai có thể ngồi khoảng hai giờ, pháp môn này có thể đạt được sự khinh an, quang minh thanh tịnh, hỉ lạc xuất hiện, đắc đại trí huệ, đắc đại giải thoát, độ sinh vô tận, đắc thân pháp tính.)
Nghi quỹ tu pháp môn Quán Âm mặc dù đơn giản nhưng mà là lời giản dị ý sâu xa, do có ấn tâm, Quan Âm Bồ Tát pháp lực viên thông mà mau chóng đạt được thành tựu.


### 16. Cung Tử Hà ở Thiên Hà Thắng Cảnh


Liên Hoa Đồng Tử rời khỏi Tử Trúc Lâm ở Nam Hải Phổ Đà Sơn, bèn đến ngay Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ, Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ này cũng là quê hương của Thần Tiên. Liên Hoa Đồng Tử ở tại Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ để chờ đến lúc hạ sinh.

Thần Tiên (thiên nhân) ở Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ đều biết Liên Hoa Đồng Tử chuẩn bị hạ sinh, do vậy thiên nhân đều năng lui tới để thăm hỏi, cảm giác thân thiết bội phần.

Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ kì thực chính là giới Ngân Hà ở trên trời. Ở nơi này, bất kì vật phẩm nào cũng đều tỏa hào quang, hào quang nghìn tia vạn tia, rực rỡ tuyệt đẹp. Cung điện, rừng cây, hồ nước đều tươi sáng lấp lánh. Trên trời có hương thơm kì diệu, có âm thanh kì diệu. Thiên nhân đều mặc thiên y, đeo chuỗi ngọc trang nghiêm.

Còn Cung Tử Hà nơi Liên Hoa Đồng Tử ở là cung điện thất bảo nguy nga lộng lẫy nhất tại Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ. Liên Hoa Đồng Tử du lịch khắp Thiên Hà Thắng Cảnh, thấy đời sống của thiên nhân có nhiều thứ thần kì và bất khả tư nghì, đúng là "bất khả thuyết", nói ra thì người ta cũng không tin.

Liên Hoa Đồng Tử đi tới một nơi nọ có một Kim Đàn, là một đàn thành màu vàng kim vô cùng cao lớn, tất cả đều được làm bằng vàng, rực rỡ đẹp đẽ tráng lệ, cánh cổng lớn phía trên cao có treo sáu chữ, đó là "Thầy của Liên Hoa Đồng Tử".

Liên Hoa Đồng Tử vừa trông thấy thì kinh ngạc, chuyện này là thế nào đây?
Liên Hoa Đồng Tử hỏi một thần tiên đi qua đường:
"Thầy của Liên Hoa Đồng Tử, sáu chữ này hàm ý là gì vậy?"
"Có lẽ người không phải là thần nhân ở xứ này, bởi vì thần nhân ở xứ này đều biết cả."
Thần tiên qua đường nói:
"Nay có vị Phật Vương vĩ đại nhất là hóa thân ánh sáng của Đại Nhật Như Lai sẽ đến thế giới Ta Bà để du hí tam muội, rất nhiều thiên nhân đều hộ giá ngài hạ giáng, vị Phật Vương vĩ đại nhất này chính là Liên Hoa Đồng Tử. Hơn nữa, Kim Đàn tôn giả ở Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ còn nhận được chiếu thư của Phật, muốn Liên Hoa Đồng Tử sớm hạ sinh ở nhân gian, tương lai ở thế giới Ta Bà sẽ dạy cho Liên Hoa Đồng Tử học tập các pháp như ngũ thuật Đạo - Mật, khiến Liên Hoa Đồng Tử đạt được thành tựu, do vậy Kim Đàn tôn giả chính là thầy của Liên Hoa Đồng Tử."
"Thì ra là vậy, Kim Đàn tôn giả là ai nhỉ?" - Liên Hoa Đồng Tử tự lẩm bẩm với chính mình.

Vị thần tiên qua đường nói tiếp:
"Kim Đàn tôn giả ở Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ trở thành vị thầy ở cõi Ta Bà của vị Phật Vương vĩ đại nhất, chẳng phải là một việc đáng chúc mừng sao? Bởi vậy mà cung Kim Đàn mới treo cao sáu chữ "Thầy của Liên Hoa Đồng Tử", đây cũng là vinh quang lớn nhất của Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ đó!"
"A! Hóa ra là như vậy, chẳng trách ta đến đây để chờ ngày hạ sinh."

(Liên Sinh Hoạt Phật chú thích: Kim Đàn tôn giả hạ sinh ở Ta Bà, sinh ra trong đại lục, xuất gia làm tăng từ sớm, vị ấy chính là Liễu Minh Hòa Thượng, về sau ngài tới Đài Loan ẩn cư thì đổi tên thành Thanh Chân Đạo Trưởng, ẩn cư tại núi Tập Tập. Liễu Minh Hòa Thượng từ lúc còn trẻ đã gây chấn động khắp Trung Quốc, thần tướng cực kì nổi danh. Những thuật mà Thanh Chân Đạo Trưởng đã luyện đều truyền cho một mình Liên Sinh Hoạt Phật, và chính Thanh Chân Đạo Trưởng, không phải là ai khác, chính là Kim Đàn tôn giả ở Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ.)

Liên Hoa Đồng Tử nhớ đến câu chuyện Phật Thích Ca Mâu Ni hạ sinh ở cõi Ta Bà:
Thích Ca Như Lai xuống Ta Bà.
Thái tử hoàng cung mừng khôn xiết.
Cung nga mỹ nữ thật ung dung.
Thế giới Ta Bà khó hiểu thấu.
Đại nguyện kiếp trước vẫn còn đây.
Giang sơn vứt bỏ không nuối tiếc.
Ái tình biển nghiệp biết làm sao.
Tuyết Sơn sáu năm khổ đã nhiều.
Dưới gốc bồ đề ngài ngộ đạo.
Tháng năm thuyết pháp trong khu vườn.
Vương quốc tự tại của Pháp Vương.
Phổ độ chúng sinh về Cực Lạc.

Tại Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ, Liên Hoa Đồng Tử nghĩ đến tương lai hạ giáng cõi Ta Bà, Phật Bồ Tát chư Tôn và thiên nhân đều sắp xếp ổn thỏa, ngay cả vị thầy để học pháp cũng đã chỉ định sẵn, nhưng cũng vẫn cảm thấy một mình lẻ loi phiêu bạt, tự nhiên phải chịu vô số gian nan vất vả, trải qua các kiếp nạn, lại còn phải vừa học pháp, vừa phổ độ, rồi phải học đạo lập thân, lại phải tu thân. Còn thế nhân thì chỉ có ăn ăn ngủ ngủ mà thôi, người mà tích cực hơn thì cũng là quay cuồng lặn ngụp trong danh lợi, chúng sinh khó độ, thế nào là tốt, Liên Hoa Đồng Tử làm thế nào để học tập theo tấm gương của Như Lai, Liên Hoa Đồng Tử cũng phải chịu khổ hạnh sáu năm ở Tuyết Sơn giống như Như Lai sao?
Liên Hoa Đồng Tử có thể chịu đựng bị roi đánh không?
Liên Hoa Đồng Tử có thể chịu đựng sống trong đói khát không?
Liên Hoa Đồng Tử có thể chịu đựng phỉ báng không?
Liên Hoa Đồng Tử có thể chịu đựng sự ghen ghét không?
Liên Hoa Đồng tử có thể chịu đựng sự quyến rũ sắc tình không?
Tất cả những điều này đều khiến người ta lo lắng.

Đúng vào lúc này, vị thần tiên qua đường hỏi:
"Dám hỏi thần nhân đạo hiệu tôn xưng là gì?"
"A! Thật không dám giấu, tôi chính là Liên Hoa Đồng Tử."
"Liên Hoa Đồng Tử, vị Phật Vương vĩ đại nhất, hóa thân ánh sáng của Đại Nhật Như Lai." - Thiên nhân vừa nói vừa hướng về Liên Hoa Đồng Tử đảnh lễ. Liên Hoa Đồng Tử vội vàng đỡ ông ta dậy, hỏi:
"Phải xưng hô với tôn giá thế nào?" [ ND: tôn giá là cách xưng hô tôn trọng người đối diện ]
"Tôi là sứ giả cầm đèn ở Cung Tử Hà."
"Tôi sống tại Cung Tử hà, vì sao không thấy ông?" - Liên Hoa Đồng Tử lấy làm kì lạ.
"Cung Tử Hà rộng lớn như vậy, Thánh tôn thân phận cao quý, tiểu thần chức vị thấp kém, làm sao Thánh tôn thấy tiểu thần được!"
"Làm gì có chuyện đó chứ. Liên Hoa Đồng Tử hạ giáng cõi Ta Bà, vận mệnh sau này nhiều điều bất thường, phải chịu nhiều điều sỉ nhục, tương lai làm gì có tôn ti trật tự gì để mà nói, giờ đây, từ lâu trong lòng tôi đã vứt bỏ cái tâm phân biệt tôn ti trật tự rồi. Tại cảnh giới thần tiên thì có tôn ti trật tự, nhưng ở Phật quốc thì tất cả Chân Phật đều bình đẳng."

"Vậy thế nào là Chân Phật?" - Sứ giả cầm đèn hỏi.
"Ông đã nghe bài tụng "Tự tính chân Phật giải thoát" của Thiền tông Lục Tổ Huệ Năng chưa?"
"Chưa nghe!"
Thế là, Liên Hoa Đồng Tử giải thích cho sứ giả cầm đèn về bài tụng "Tự tính chân Phật giải thoát":

Đến cuối cùng, bản tính không còn khởi lên tâm niệm phân biệt chính là Chân Phật, tâm niệm tạo tác không ngay thẳng và lòng tham lam, sân hận, ngu si chính là Chân Ma. Người vẫn còn những quan kiến không ngay thẳng thì cũng chẳng khác gì có ma quỷ ở bên trong thân thể mình, người có trí huệ và kiến giải đúng đắn thì Phật đã ở trong tâm người đó rồi.
Bản tính bị tiêm nhiễm những tà kiến thì dễ sinh sôi lòng tham, sân hận, ngu si. Bản tính lúc này càng trở thành ngôi nhà cho Ma Vương trú ngụ. Nếu như dùng kiến giải đúng đắn để đoạn tuyệt với tâm tham lam, sân hận, ngu si thì ma quỷ sẽ trở thành Phật, điều này là sự thật không hề giả dối.

Bản thể của vũ trụ gọi là pháp thân, Phật và Bồ Tát đại giác đại ngộ và đầy ắp trí huệ gọi là báo thân, chúng sinh thế gian và vạn tượng vô giới hạn gọi là hóa thân. Ba thân này thật sự là một thân. Nếu như từ sinh mệnh ba thân hợp làm một của bản thân mà tìm kiếm được sự tự giác ngộ thì đó chính là nguyên nhân của sự giác ngộ thành Phật. Sinh mệnh hữu hình này của chúng ta có thể nói là hóa thân, và bản tính bản lai sau cùng thanh tịnh không phân biệt lẫn nhau của chúng ta chính thì ngầm gửi gắm trong hóa thân này, hơn nữa cũng biểu hiện ở trong hóa thân này. Bởi vì vạn tượng bao la trong vũ trụ có cái nào không phải là hóa thân đây? Bản tính tột cùng ở trong hóa thân khiến hóa thân hành chính đạo, tương lai đạt được kết quả viên mãn thì phúc huệ cũng vô cùng.

Tình cảm và khát khao mặc dù là sức mạnh khiến con người sinh sống tại thế tục, nhưng cũng đồng thời là động lực khiến người ta theo đuổi sự thanh tịnh, theo đuổi chân lý. Sau khi trải qua sự thanh lọc tình cảm và ham muốn, thân linh giác thanh tịnh sẽ không còn vướng bận lo lắng, trong bản tính của chúng ta chỉ cần thoát khỏi dục vọng đến từ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thì trong sát-na đã có thể thấy được bản tính chân chính. Đời này nếu như  lĩnh ngộ được sự chỉ giáo về giác ngộ đột nhiên thì sẽ có thể tận mắt thấy được Thế Tôn. Thế Tôn sẽ ở trước mặt. Nếu như không thấy được đạo lý đốn ngộ, lại muốn dùng phương pháp tu hành để tìm kiếm Phật thì bạn sẽ không biết phải tới nơi nào mới tìm được Chân Phật. Nếu như có thể thấy được Chân Phật ở ngay trong tâm mình thì đó mới là nguyên nhân để bản thân thành Phật. Bản thân không tìm kiếm Chân Phật ở trong tâm, lại hướng ra bên ngoài để tìm kiếm, thì luôn luôn là một kẻ đại ngốc mà thôi.

Giáo lý đốn ngộ hiện tại đã để lại cho các vị, muốn cứu độ thế nhân thì các vị buộc phải tự mình tu tập lĩnh ngộ trước đã. Các vị là những người học đạo, những điều này tôi đều đã nói với các vị rồi, nếu như vẫn không thể lĩnh hội được thì đúng là cứ thế mà thong dong sống qua ngày thôi!

Liên Hoa Đồng Tử tại Cung Tử Hà đã truyền thụ và giảng giải Chân Phật Pháp cho sứ giả cầm đèn, sứ giả cầm đèn nghe xong ngay lập tức lĩnh ngộ, tức khắc trên đỉnh đầu hiển hiện Phật quang, ngồi trong Phật quang có một hóa Phật, thân biến thành cao mấy trượng, toàn thân phát ánh sáng màu tím vàng kim, dưới chân nở hoa sen, 32 tướng tốt đều hiển hiện ra, giống như một bức bảo tướng Như Lai trang nghiêm.
Thiên nhân ở Cung Tử Hà đều trông thấy, ai cũng kinh ngạc tán thán.

Các thiên nhân hỏi:
"Sứ giả cầm đèn, có chuyện gì vậy?"
"Vì tôi nghe xong Chân Phật Pháp, ngay lập tức đốn ngộ, liền có được tướng như thế này."
"Ai thuyết pháp vậy?"
"Liên Hoa Đồng Tử." - Sứ giả cầm đèn đáp.
Thế là, các thiên nhân ở Cung Tử Hà toàn bộ đều đến chỗ Liên Hoa Đồng Tử yêu cầu giảng giải Chân Phật Pháp.
"Xin Liên Hoa Đồng Tử giảng Chân Phật Pháp!"
"Tôi không chỉ biết Chân Phật Pháp, còn biết cả tam miểu tam bồ đề nữa!"
"Liên Hoa Đồng Tử là vị Phật Vương vĩ đại nhất, là hóa thân của Đại Nhật Như Lai, điều này chúng tôi biết, nhưng ngài sống ở đâu?"
"Ma Ha Song Liên Trì." - Liên Hoa Đồng Tử đáp.
"Vì sao hạ sinh ở Ta Bà?"
"Phổ độ chúng sinh, thuyết pháp cho chúng sinh."
"Thuyết pháp gì?"
"Pháp môn cứu cánh thành Phật."
"Vì sao không độ thiên nhân ở Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ trước?"
"Nếu các người muốn độ, tôi sẽ thuyết pháp cho nghe."

Thế rồi, Liên Hoa Đồng Tử diễn pháp tại Cung Tử Hà, giảng đến mức hoa trời rơi xuống, toàn bộ Cung Tử Hà tỏa ánh sáng khác thường, trên chiếu tới 33 cõi trời, 28 cõi trời, tứ Không Thiên, tứ Thánh giới, dưới chiếu tới lục đạo chúng sinh. Các thiên nhân nghe được pháp kì diệu này đều được trồng chủng tử thành Phật. Hơn nữa, Cung Tử Hà sáng chói vô tận, mùi thơm lạ lan tỏa khắp nơi, tất cả đều là vì Liên Hoa Đồng Tử diễn pháp tại đây. Những thiên nhân ấy tại Cung Tử Hà nghe pháp, ngửi thấy hương thơm kì lạ của tự nhiên tỏa ra từ miệng của Thánh tôn, lại nhìn thấy xung quanh Liên Hoa Đồng Tử phát ra ánh sáng cát tường ngũ sắc, trong ánh sáng ấy nghìn vạn đóa hoa sen mờ ảo lúc ẩn lúc hiện. Trong khoảnh khắc ấy, Liên Hoa Đồng Tử hóa thân thành Đại Nhật Như Lai, trong không trung hiện lên cầu vồng, pháp tọa của Liên Hoa Đồng Tử vàng son lộng lẫy, vô lượng tia sáng chiếu đến khiến trong lòng các thiên nhân hoan hỉ.

Khi Liên Hoa Đồng Tử thuyết pháp, các thiên nhân tự cảm thấy đều như ngồi trên hoa sen, xung quanh Cung Tử Hà trở nên rộng lớn và lung linh vô cùng, còn có cả trăm loại nghìn loại hoa cỏ xuất hiện, từng khúc từng khúc thiên nhạc vang vọng tới.

Chính vào lúc diễn pháp tại Cung Tử Hà, một vị Phật từ thời thượng cổ đã bị thu hút tới, vị Cổ Phật này ngồi trên một con voi trắng, bốn chân của con voi trắng đều dẫm trên bốn đóa hoa sen, trên lưng voi trắng có một bảo tọa hình hoa sen, vị Cổ Phật này kim thân cao một trượng sáu.

Từ trong không trung, vị Cổ Phật này thốt lên:
"Đồng Tử cũng phải độ chúng sinh ở Ta Bà sao?"
"Đúng vậy, trước mắt thập phương tam giới vẫn chưa có một người nào đưa ra nguyện lực giống như con." - Liên Hoa Đồng Tử đáp.
Cổ Phật nghe xong, nghĩ tới chính mình cũng không có nguyện lực ấy.
"Đồng Tử phát đại nguyện lực, còn Cổ Phật ta đây lại chẳng thể phát đại nguyện lực, Đồng Tử hạ sinh ở Ta Bà, Cổ Phật ta tự sẽ giúp đỡ một tay."
"Cổ Phật tôn xưng là gì?"
"Trước kia ta nhờ vũ trụ mà sinh ra, vốn chẳng có xưng hiệu gì, vậy thì lấy vũ trụ làm tên gọi, thôi thì gọi là Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, cũng có thể gọi ta là Cổ Liên Tiên Sinh."
Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh hướng về Liên Hoa Đồng Tử, chắp tay lại nói:
"Được rồi, vì lời nguyện này, tự ta sẽ hiện thân." - Cổ Phật cưỡi voi trắng, voi trắng dẫm lên bốn đóa hoa sen từ từ bay về hư không.

(Liên Sinh Hoạt Phật chú thích: Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, Cổ Liên Tiên Sinh, vốn là hóa thân của Khoáng Thế Cổ Phật, chư thiên nhân không biết diện mục thật sự của ngài, ngay cả Đại La Kim Tiên cũng không biết. Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh vì Liên Hoa Đồng Tử thuyết pháp tại Cung Tử Hà đã khiến Khoáng Thế Cổ Phật xúc động mà hạ giáng, bởi thế mà sau khi Liên Hoa Đồng Tử hạ sinh ở Ta Bà, trước tiên đã có vị linh sư vô hình đến chỉ dạy cho Liên Hoa Đồng Tử đủ loại Mật pháp, sau đó lại hướng dẫn Liên Hoa Đồng Tử đi quy y Thanh Chân Đạo Trưởng. Đó là một nhân duyên vô cùng kì diệu. Những nhân duyên này đều được viết trong những cuốn sách tâm linh trước đây của tôn giả Lư Thắng Ngạn, hoàn toàn chân thực, không có điểm nào giả dối.)


### 17. Sứ giả thắp đèn là ông nội


Một hôm, Liên Hoa Đồng Tử tại Cung Tử Hà thuyết pháp xong, bước xuống pháp tọa thì gặp mặt sứ giả đốt đèn tại Điện Đăng Chỉ.
"Vì sao gọi là Điện Đăng Chỉ?" - Liên Hoa Đồng Tử hỏi:
"Đăng Chỉ cũng là tên của một tì kheo, khi tì kheo này sinh ra có một ngón tay phát ra ánh sáng, do vậy đặt tên là Đăng Chỉ. Về sau xuất gia tu đạo, đắc quả vị La Hán, có truyền lại Đăng Chỉ Nhân Duyên Kinh, điện này là để tưởng nhớ tì kheo Đăng Chỉ." - Sứ giả cầm đèn đáp.
"Tôi thì biết rằng đèn là một trong những thứ cúng Phật, và đèn sáng thì cũng giống như ngọn đèn đuốc sáng dâng lên trước Thần Phật, đèn sáng tượng trưng cho trí huệ của Phật. Trước đây có Đăng Minh Phật, tên đầy đủ của ngài là Minh Nguyệt Đăng Minh Phật, là một vị Phật quá khứ. Giống như Phật Thích Ca ngày nay, ngài hiện sáu tướng tốt lành, cũng là một vị Phật giảng kinh Pháp Hoa."

"Đèn tượng trưng cho trí huệ, còn tôi thì cầm đèn mà lại chẳng có trí huệ gì." - Sứ giả cầm đèn nói.
"Vậy thì ông có cái gì?"
"Lòng chính trực." - Sứ giả cầm đèn nói: "Lòng chính trực là gia phong, chính trực là thần. Tôi cảm thấy tôi tại thế làm người đúng là chỉ có lòng chính trực mà thôi, con con cháu cháu chẳng có gì, chỉ có chính trực mà thôi."
"Ở Ta Bà ông còn có ai nữa?"
"Chỉ còn một đứa con trai. Mấy đời độc đinh." - Sứ giả cầm đèn trả lời.
"Thời điểm tôi hạ sinh ở Ta Bà cũng sắp tới rồi, chỉ mong chọn được một gia đình chính trực, tiếc là không tìm được nơi nào, đúng là tìm kiếm khắp nơi mà không tìm được nơi nào, tất cả những gì thu được chỉ là sự phí hoài công sức."
"Thánh tôn có muốn đến nhà tôi không?" - Sứ giả cầm đèn sửng sốt.
"Sao lại không thể chứ?" - Liên Hoa Đồng Tử nói: "Chính trực là thần, thế nhân ngày nay, khó tìm người chính trực lắm."
"Thánh tôn là Phật, ngữ chúng tôi chỉ là chúng sinh thôi."
Liên Hoa Đồng Tử nói với sứ giả cầm đèn:
"Phật tức là chúng sinh, chúng sinh tức là Phật."

Phật và chúng sinh tức là:
Khi mê muội, người vốn có tâm Phật nhưng những gì thể hiện ra chỉ là tâm chúng sinh thì anh ta vẫn chỉ là chúng sinh.
Khi giác ngộ, người vốn có tâm chúng sinh, nhưng những gì thể hiện ra lại là tâm Phật thì anh ta chính là Phật.
Khi ngu si, người vốn có tâm Phật, nhưng những gì thể hiện ra chỉ là tâm chúng sinh thì anh ta vẫn chỉ là chúng sinh.
Khi trí huệ, người vốn có tâm chúng sinh nhưng những gì thể hiện ra lại là tâm Phật thì anh ta chính là Phật.
Khi tâm địa hiểm ác, người vốn có tâm Phật, nhưng những gì thể hiện ra chỉ là tâm chúng sinh thì anh ta vẫn chỉ là chúng sinh.
Trong tâm lĩnh hội được đạo lý bản tính vạn vật tương thông, không còn khởi lên và tạo tác sự phân biệt, bởi vậy sản sinh ra lòng thương xót, lúc này, người vốn có tâm chúng sinh nhưng lại thể hiện ra tâm Phật thì anh ta chính là Phật.

Nếu như trong một niệm mà hiểu được chúng sinh bản tính tương đồng thì có thể thấy rõ chúng sinh tức là Phật, Phật tức là chúng sinh.
Trong tâm của ta có Phật, Phật ở trong tâm của chính ta này mới là Chân Phật.
Nếu bản thân mình không có tâm Phật thì còn đi tới nơi nào để cầu Phật đây?
"Thì ra là như vậy." - Sứ giả cầm đèn đã hiểu rồi.
"Vậy ông chính là ông nội nhân gian của tôi rồi." - Liên Hoa Đồng Tử cúi đầu làm lễ trước ông nội.
"Không dám, không dám." - Sứ giả cầm đèn vội vàng đáp lễ.

(Liên Sinh Hoạt Phật chú thích: Tại thế giới Ta Bà, sứ giả cầm đèn họ Lư tên Xương, là một con người chính trực, làm từ thiện giúp đời. Lối sống của ông nội vô cùng cần cù tiết kiệm, ông kinh doanh những mặt hàng dầu mỡ, gạo muối, v.v… Ông giỏi quản lý tài sản, vì thế trở thành một phú hào, nếu gặp gia đình nghèo đến mua chịu gạo thì ông cũng cho luôn, đến khi hết năm thì những hóa đơn ghi nợ ông cũng đem ra đốt hết. Sứ giả cầm đèn chính là ông nội của Lư Thắng Ngạn, còn cha của Lư Thắng Ngạn là Lư Nhĩ Thuận, ông nội là Lư Xương, sinh ra một người con trai duy nhất là Lư Nhĩ Thuận.)

Ở đây đã chứng minh được mấy chữ:
Tổ tiên hữu đức, phúc ấm tử tôn.
Tổ tiên vô đức, họa lụy tử tôn.
Trong việc này đều có luật nhân quả, tất nhiên không thể không thận trọng.
Đây chính là:
Bất kì sự việc gì trên thế gian đều đều đã có định trước.
Đời người dù có bận rộn lo toan cũng chẳng ích gì.

Liên Hoa Đồng Tử đã tìm được một gia đình chính trực, trong lòng rất hoan hỉ, cứ nghĩ mãi không ngừng về sự tốt lành này. Liên Hoa Đồng Tử nguyện sẽ chịu gian khổ độ người. Sống tại thế giới Ta Bà, thân thể xương thịt sẽ phải chịu một chút đau khổ để đến lúc công quả viên mãn.
"Thánh tôn, Lư gia tôi nay đã suy thoái rồi." - Sứ giả cầm đèn nói.
"Không sao." - Liên Hoa Đồng Tử đáp: "Chính trực là tốt."
"Thánh tôn, ngài hạ sinh, chúng sinh cũng không biết ngài đâu, ngài sẽ phải chịu khổ đó."
"Không sao." - Liên Hoa Đồng Tử đáp: "Khổ cực không sợ, chính trực là tốt."
"Thánh tôn, ngài sẽ trải nghiệm cái khổ của sinh, cái khổ của già, cái khổ của bệnh, và cái khổ của tử đó."
"Không sao." - Liên Hoa Đồng Tử đáp: "Phật tâm chính trực vĩnh viễn tồn tại, tất cả mọi khổ đau đều không sợ. Tôi độ chúng sinh, chính là muốn chúng sinh trở về Ma Ha Song Liên Trì đó!"


### 18. Địa Tạng Vương mặt đen ở am Địa Tạng


Tại Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ, Liên Hoa Đồng Tử đã biết sẽ giáng sinh tại huyện Hậu Hồ, tỉnh Gia Nghĩa ở Đài Loan, hiện nay là thành phố Gia Nghĩa, tại một trại nuôi gà bên cạnh con suối Ngưu Trù. Nước ở con suối Ngưu Trù này sạch sẽ trong vắt, là một chốn bồng lai tiên cảnh.

Liên Hoa Đồng Tử hạ sinh vào năm Ất Dậu, nghĩa là mang tuổi con Gà. Liên Hoa Đồng Tử trước đó đã du hành tới tỉnh Gia Nghĩa, đầu tiên là đến am Địa Tạng. Địa Tạng Vương Bồ Tát đã để lại cho Liên Hoa Đồng Tử ấn tượng rất sâu đậm, đầu ngài đội mũ Ngũ Phật màu vàng kim, tay cầm tích trượng, mặt đen tai lớn, thấy linh quang của Liên Hoa Đồng Tử giáng xuống thì lập tức đi ra đón tiếp, biểu hiện sự nhiệt liệt hoan nghênh Liên Hoa Đồng Tử giáng sinh tại Gia Nghĩa.

"Thánh tôn, có cần sinh ra ở nơi lầu son gác tía không?"
"Không, tôi sẽ sinh ra ở trại gà."
"Thánh tôn, có cần hoa sen đua nở không? Địa Tạng Bồ Tát có thể sai bảo Địa Thần đi làm."
"Không, cứ bình thường giản dị là được, chỉ cần có âm thanh tiếng suối Ngưu Trù thôi."
"Thánh tôn, có cần tiền bạc mã não không?"
"Không, chỉ cần nhà có tường đất là được."
"Thánh tôn, có cần vải vóc tơ lụa không?"
"Không, chỉ cần mảnh áo cũ thô rách thôi."
"Thánh tôn, có cần hiển hiện điều khác thường kì lạ không? Ví dụ như ba dải cầu vồng?"
"Không, tất cả tự nhiên bình thường là được."
"Thánh tôn thiện tâm từ bi như vậy, Địa Tạng nhỏ bé không biết phải đón tiếp thế nào mới phải?" - Địa Tạng Bồ Tát nói.
"Thế giới Ta Bà này, các thứ dù tốt nhưng rốt cục cũng chẳng bằng một phần vạn so với Ma Ha Song Liên Trì, giờ đây, Liên Hoa Đồng Tử ngay cả Phật quốc Cực Lạc cũng đều không muốn hưởng thụ nữa, sẵn lòng quay ngược con thuyền từ bi đến độ người ở thế giới Ta Bà, không cần những vinh hoa phú quý của tục thế, vinh hoa phú quý ở tục thế làm sao sánh bằng công đức trang nghiêm ở Phật quốc được!"
"Thánh tôn, lời nói rất đúng." - Địa Tạng Bồ Tát nói: "Vậy Thánh tôn muốn học nghề y không?"
"Muốn học y, nhưng không phải là nghề y chữa bệnh thể xác, mà là nghề y chữa tâm bệnh của thế nhân, cần chữa tham, sân, si của chúng sinh trên thế gian, khiến cho thân, tâm của thế nhân có nơi chốn quay về tốt lành." - Liên Hoa Đồng Tử nói.
"Thánh tôn, có việc gì mà tôi có thể cống hiến sức lực không?" - Địa Tạng Bồ Tát hỏi.
"Vậy thì phiền Bồ Tát thông báo cho các Thành Hoàng Thổ Địa ở vùng ấy thế này! Đó là hãy kết giới nơi tôi giáng sinh để tránh ma quỷ xâm nhập trộm mất linh hồn sống, kẻo phí hoài mọi sự khổ tâm sắp đặt."
"Điều này được thôi." - Địa Tạng Bồ Tát gật đầu.
"Vậy tôi xin cáo biệt ở đây." - Liên Hoa Đồng Tử nói: "Cảm ơn Địa Tạng Bồ Tát trước."
"Tiễn Thánh tôn." - Địa Tạng Bồ Tát tiễn ra khỏi cửa am.

Liên Hoa Đồng Tử lại du hành một hồi ở không trung phía trên suối Ngưu Trù, nghe thấy Thổ Địa Công Công nói với Thổ Địa Bà Bà:
"Bình thường chúng ta ở đây chẳng có việc gì cả, không ngờ nay có vị Phật Vương vĩ đại nhất lại muốn giáng sinh du hí tam muội ở đây, thiên nhân của các cõi trời đều đến hộ giá, tiểu thần chúng ta sợ hãi muôn phần, e rằng hầu hạ không chu đáo. Ai ngờ, Phật Vương Thánh tôn giáng sinh lại không cần bất kì sự hiển hiện nào, không cần phô trương lãng phí, chỉ cần giống như phàm phu sinh con, chỉ cần chúng ta kết giới thôi."
Thổ Địa Bà Bà nói:
"Mặc dù chỉ là kết giới để bảo vệ thôi, nhưng ở vùng này có rất nhiều ong gấu, lại có rất nhiều sâu kiến, cần phải đuổi hết chúng đi mới được, không thì lỡ chúng đốt Phật Vương một cái, ai mà chịu trách nhiệm được đây!"

Những lời nói chuyện của Thổ Địa Công Công và Thổ Địa Bà Bà đều lọt hết vào tai Liên Hoa Đồng Tử, khiến ngài cảm thấy họ thật đáng yêu.

Liên Hoa Đồng Tử cưỡi tòa sen trắng, lại đi tới Miếu Thành Hoàng. Khi ấy, Thành Hoàng ở Gia Nghĩa họ Bạch, Bạch Thành Hoàng mặc áo bào màu đỏ, đeo thắt lưng tím, đầu đội mũ ô sa, mày đậm mắt to, mặt vuông tai lớn, ngài lập tức ra đón tiếp.
"Thánh tôn đến rồi, hoan nghênh, hoan nghênh."
Liên Hoa Đồng Tử vừa thấy Bạch Thành Hoàng thì trong lòng rất xúc động, lập tức hiểu ra tất cả.

Liên Hoa Đồng Tử nói với Thành Hoàng Bồ Tát:
"Sau khi tôi ra đời, làm phiền Bồ Tát phối hợp nhiều mặt, và xin Bồ Tát rộng lượng bao dung."
"Nào dám, không cần khách khí."

(Liên Sinh Hoạt Phật chú thích: Liên Hoa Đồng Tử giáng sinh thành Lư Thắng Ngạn, Lư Thắng Ngạn khi còn là trẻ sơ sinh thì rất khó nuôi, nhiều bệnh và nhiều phiền phức, bởi vậy cha mẹ đã đưa Lư Thắng Ngạn đến miếu Thành Hoàng ở Gia Nghĩa để nhận Thành Hoàng làm cha nuôi, nhờ Thành Hoàng bảo vệ, như vậy mới có thể nuôi đến lớn.)

Lúc ấy, Thành Hoàng Bồ Tát Gia Nghĩa còn gọi Thổ Địa Cảnh Chủ, Yết Đế Thần, Thổ Địa Thần, Tư Mệnh Thần, Thủy Thần, Hỏa Thần, Mộc Thần... ở khắp bốn phương đến. Các thần đều chắp tay kính cẩn nghênh tiếp Liên Hoa Đồng Tử. Đồng thời thỉnh Liên Hoa Đồng Tử lên pháp tọa thuyết pháp. Liên Hoa Đồng Tử lên pháp tọa, hát lên bài kệ rằng:
Thân này thường biến hóa
Tướng Phật cùng chúng sinh
Ngày nay ta ngồi trên
Ngày sau ta ngồi dưới.


### 19. Thuyết pháp tại miếu Thành Hoàng


Liên Hoa Đồng Tử thuyết pháp tại miếu Thành Hoàng, trong lòng ngẫm nghĩ, thần thánh ở trong miếu Thành Hoàng phần lớn là những vị thần thưởng thiện phạt ác, cũng đều là các thần quan, là người thi hành pháp. Vậy thì hôm nay thuyết pháp, nên dạy họ tu "từ tâm quán", tu "từ tâm quán" có thể tiến vào cảnh giới cao hơn. Thế là, Liên Hoa Đồng Tử tại miếu Thành Hoàng đã dạy pháp "từ tâm quán".

Liên Hoa Đồng Tử nói, người có tâm sân hận học pháp thì cảnh giới cao nhất là Kim Cang Thần Tướng, thấp nhất là các vị thần thiện thưởng ác phạt, còn nếu muốn đạt đến cảnh giới vô thượng chân chính thì cần phải học quán tâm từ bi.

Ví dụ:
Có một con chim bồ câu bay đến bên cạnh Xá Lợi Phất, con chim bồ câu đó vẫn còn hơi sợ sệt nên run rẩy, bởi vì Xá Lợi Phất là một vị A La Hán nhưng vẫn có tập khí sân hận còn chưa trừ bỏ được. Nhưng khi con chim bồ câu đó bay đến bên cạnh Phật Thích Ca Mâu Ni thì lại đậu xuống một cách vô cùng thoải mái. Đó là bởi vì từ tâm của Phật Đà vô cùng viên mãn rồi.

Người tu hành pháp "từ tâm quán", tu hành ở trong núi sâu, rắn độc thú dữ cũng đều không làm hại, thậm chí có thể trở thành bạn tốt và hộ pháp của hành giả. Mãnh thú đã cảm nhận và ý thức thấy được "từ tâm", biết rằng người này vô hại, bởi vậy mà chúng vui thích đến làm thân. Người tu "từ tâm quán" có thể cảm hóa tất cả động vật có tâm sân rất nặng, dùng tâm từ bi để cảm hóa động vật có tâm sân nặng, biến công kích thành mềm mỏng.

Liên Hoa Đồng Tử nói, Di Lặc Bồ Tát còn có tên gọi là Từ Thị, ngài ấy chính là một vị Bồ Tát tu pháp "từ tâm quán", bởi vậy khi ngài ấy hạ sinh đến cõi Ta Bà độ chúng sinh, muốn cảm hóa chúng sinh thì nhất định cần từ tâm, như vậy mới là phẩm hạnh của Bồ Tát. Người tu hành tâm từ bi thì nội tâm của người ấy sẽ luôn vui vẻ thanh tịnh không thể diễn tả được. Người tu "từ tâm quán" thì gương mặt cũng mang dáng vẻ hiền từ, mọi thứ đều vô cùng vui vẻ.

Liên Hoa Đồng Tử thuyết pháp đến đây thì tỏa ra vô lượng ánh sáng hiền từ, chiếu khắp trời đất, một cơn gió mát thổi khắp đại địa, lướt qua và đi vào trong tâm của các thần, các thần đều cảm động sâu sắc. Trong số ấy có một cô gái mang thân của Thủy Thần, trên thân tỏa ra nhiều ánh hào quang rực rỡ, đột nhiên quỳ sụp trên mặt đất, khóc nức nở nghẹn ngào, rập đầu đảnh lễ trước Liên Hoa Đồng Tử.
Liên Hoa Đồng Tử trong lòng xúc động, đã sớm biết ý của cô, liền nói:
"Cô hiện nguyên thần đi, ta không làm hại cô đâu."
Lập tức vang lên một tiếng sét, cô gái Thủy Thần này hiện nguyên hình. Thì ra cô không phải là Thủy Thần, mà là một con báo, lông trên người có nhiều màu sắc, do vậy mới có hào quang nhiều màu sắc của Thủy Thần.

Các Yết Đế Thần ở xung quanh vừa trông thấy thì vô cùng phẫn nộ, cầm pháp khí tiến lên trước để dẹp đường:
"Yêu quái nơi nào! Dám đến gây hỗn loạn pháp đàn!"
"Thánh tôn cứu con!"
"Hãy khoan!" - Liên Hoa Đồng Tử ngăn các Yết Đế Thần lại, nói với cô gái: "Cô là một con báo, vì sao lại cải trang thành Thủy Thần để đến miếu Thành Hoàng nghe pháp vậy?"
"Thánh tôn xin hạ cố lắng nghe." - Con báo nói: "Con vốn ở tại suối Ngưu Trù tu hành nhiều năm, có thể biến hóa thành hình người. Đại Tự Tại Thiên Vương biết Thánh tôn sẽ giáng sinh tại cõi Ta Bà bèn lệnh cho con đợi thời cơ để trộm nguyên thần của ngài, khiến cho ngài thánh nghiệp chưa thành thì sớm đã toi mạng rồi. Nay biết ngài thuyết pháp ở miếu Thành Hoàng, con liền biến hóa thành Thủy Thần để trà trộn vào hàng ngũ các thần, chờ thời cơ hành động. Nhưng nghe Thánh tôn dạy quán từ bi, lại tỏa ra vô lượng ánh sáng hiền từ, khiến thân tâm con cảm động, liền sám hối tội lỗi của bản thân. Bây giờ con chỉ hy vọng Thánh tôn thu nhận con làm đệ tử, dạy con Mật pháp, để con đền ơn Thánh tôn."

Liên Hoa Đồng Tử nghe xong, trong lòng nghĩ, con báo này mặc dù bất lương, còn lòng ta đầy ắp sự thương cảm, đó cũng chính là quán từ bi, bởi vậy liền nói: "A Di Đà Phật, thiện tai! Thiện tai!"
Trên trời rót xuống cam lộ, vẩy lên đầu con báo, thu nhận con báo làm đệ tử.
Con báo hết sức vui mừng:
"Con sẽ đầu thai rồi đến để trợ giúp Thánh tôn."
"Cô đi đi!"
Con báo nói:
"Thánh tôn cẩn thận, Ma Vương đã tung ra thiên la địa võng, muốn ngài nhập ma, tương lai ma kiếp trùng trùng, bốn phương tám hướng phỉ báng lay động trời đất, cạm bẫy khắp nơi. Ma tăng yêu đạo khắp nơi đều muốn bao vây tiêu trừ, đó là vì Ma Vương đã ra lệnh, mong Thánh tôn đặc biệt nhân từ."
"Cảm ơn lời cảnh báo." - Liên Hoa Đồng Tử nói: "Cô mau ẩn thân, tu chân dưỡng tính, đầu thai làm thân người, ta sẽ độ cho cô."
Con báo hóa thành một cơn gió mát bay đi.

Liên Hoa Đồng Tử cân nhắc trong lòng: lần này hạ giáng cõi Ta Bà, quả nhiên ma nạn trùng trùng, chắc chắn sẽ phải vật lộn đọ sức với ma, đây đúng là khổ. Liên Hoa Đồng Tử còn chưa hạ sinh, chỉ mới thuyết pháp ở miếu Thành Hoàng mà đã có ma tới rồi, việc ở phàm trần không biết khi nào có thể làm được đây.

Thế rồi lại nghĩ, bất kể là đao thương búa rìu, bất kể là phỉ báng chấn động trời đất, bất kể là yêu ma quấy nhiễu, Liên Hoa Đồng Tử chỉ dùng một câu: "Hễ thấy tất cả cảnh tượng ác ma bên ngoài thì đều biết rằng đó là hư huyễn lừa gạt, không lo không sợ, cũng không giữ không bỏ, không phân biệt tính toán thì tâm sẽ yên lặng."
Đó cũng là như như bất động.

May mắn là trong hư không vẫn còn có Hộ pháp, rồng, trời. Liên Hoa Đồng Tử biết rằng, muốn biết mọi cạm bẫy của ma thì cần phải "bất động". Trong kinh Phật, ma chính là được tạo nên bởi thân tâm chúng ta, cộng thêm quỷ thần đến từ bên ngoài, phàm là bất kì những gì cản trở tu hành đều gọi là "ma".

Do vậy:
Phiền não là ma.
Sợ chết cũng là ma.
Âm nhập giới ma.
Quỷ thần ma.

Người tu hành không sợ chết, cần phải hiểu rõ về sinh tử, nếu tham sống sợ chết, tự nhiên cũng không thể khắc phục được "ma chết". Phiền não của nhân gian cũng nhiều, cần đối trị với tất cả mọi phiền não, nếu có phiền não thì tu đạo không thể thành tựu. Bởi vậy cần phải trừ bỏ phiền não, nếu không còn phiền não thì mới xem là thắng được "ma phiền não".

Âm nhập giới ma là chỉ ngũ uẩn, thập nhị xứ, lục nhập hoặc thập bát giới.
Quỷ thần ma là những sự quấy nhiễu của ngoại cảnh, nghiệp chướng kiếp trước của chúng ta, hoặc những xung phạm trong kiếp này, đều có rất nhiều quỷ thần đến gây chướng ngại để cản trở việc tu hành. Những quỷ thần này bình thường thì gây rối, chúng ta không chỉ cần tiếp tục tinh tấn mà còn phải thắng được chúng, hàng phục chúng, độ hóa chúng.

Ma thì thiên biến vạn hóa.
Ma cũng có thể biến hóa thành hình tướng Phật, Ma Vương của Tha Hóa Tự Tại Thiên có thể hiển hiện 32 tướng, hiện thân Phật với tướng tốt sáng rực rỡ, do vậy, khi chúng ta gặp được Phật trong thiền định, cần dùng lý trí để phân biệt thật giả, hoặc chọn phương pháp không giữ không bỏ, tiếp tục nỗ lực luyện tập.

Nếu yêu thích và chấp vào hình tướng, để mặc bản thân bị thúc đẩy, thì dễ đánh mất tâm mà trở nên điên cuồng. Cái gì là bình thường, hợp lý, cái gì là không bình thường, bất hợp lý, cần hoàn toàn dùng lí trí để phân biệt và loại bỏ.

Pháp phá ma chân chính là cần phải "bất động", hơn nữa cần phải đạt đến công phu bất động, nghĩa là "vô ngã". Cái tôi đã biến hóa thành không, tâm cũng đã thành vô tâm, hình cũng đã thành vô hình, những gì ta thấy đều không thể có được, vậy thì ở đâu còn có ma hay ma cảnh gì nữa. Cái ngã đã thành vô ngã, tâm đã thành vô tâm, thì chết cũng không sợ, sự quấy nhiễu của ma cũng biến mất.

Người tu hành đừng sợ ma, cần phải luôn luôn nghĩ như vậy. Ma đến để giúp đỡ chúng ta thành Phật, ma đến gây chướng ngại là để thử nghiệm chúng ta, khiến chúng ta đạt tới phẩm vị cao hơn. Ma và ác tạo chướng ngại cho chúng ta, là vì muốn chúng ta thành tựu, chúng ta cần cảm ơn ma và ác đã làm điều tốt cho chúng ta. Đây là một quan niệm khá chính xác. Nghĩ được như vậy thì ta sẽ được yên tâm thoải mái, tất cả đều như như bất động.

Người tu hành cần kiên trì, không được để mất chính niệm, ngoại cảnh không thể khởi lên bất kì sự quấy nhiễu nào. Chúng ta muốn được yên tâm thoải mái thì phải tiếp tục cần cù nỗ lực, hoàn toàn phớt lờ thì sẽ dễ thành tựu.
Liên Hoa Đồng Tử thuyết pháp tại miếu Thành Hoàng, cũng giảng về việc người tu hành cần làm sao để phá bỏ ma chướng.

Liên Hoa Đồng Tử nói bài kệ:
"Ta nói Phật và ma
Vốn ra chỉ là một
Một bên là chính giác
Một bên là khảo nghiệm
Chỉ vì hai chữ này
Mà thành trăm quyển kinh
Tính linh quang lấp lánh
Đạo cũng ở đó thôi."

Liên Hoa Đồng Tử cũng biết tương lai hạ giáng thế giới Ta Bà vốn là vì lời thệ nguyện mà đến, giống với lời thệ nguyện lại đến của các bậc Như Lai. Vốn dĩ sự nghiệp vĩ đại cứu độ chúng sinh khỏi biển khổ không hề có liên quan tới điều gì khác mà chính là bố thí mưa pháp cam lộ khắp nơi. Thế nhưng nhất định cứ có người đến để làm khó cho các bậc Thánh tôn.
Người một nói: ẩn giấu ý đồ.
Người hai nói: hỗn loạn lòng dân.
Người ba nói: mê hoặc nam nữ.
Người bốn nói: cầu danh cầu lợi.

Giờ đây Liên Hoa Đồng Tử phải làm sao. Về cơ bản, Liên Hoa Đồng Tử chẳng hề để bụng, bên dưới bầu trời này, nơi nào không có chúng sinh chứ, nơi nào không thể đi đây?. Liên Hoa Đồng Tử không muốn mở miệng đấu khẩu, cũng không muốn tranh luận bằng văn tự, có bị phỉ báng danh dự thì cũng không động tâm, có duyên thì ở lại, không có duyên thì đi. Cuối cùng cũng vẫn là một con người phiêu bạt. Những thứ như "ẩn giấu ý đồ", "hỗn loạn lòng dân", "mê hoặc nam nữ", "cầu danh cầu lợi" chẳng có can hệ gì đến ta. Ma Ha Song Liên Trì mới là xứ hữu duyên cực lạc, những cái khác đều là đồ bỏ đi. Liên Hoa Đồng Tử là Thánh tôn của Phật quốc Cực Lạc, là thiên ngoại thiên thì còn có thể yêu thích danh và lợi của thế giới Ta Bà này sao? Thật nực cười, thế sự hà tất phải tranh giành, hữu duyên thì tới, vô duyên thì đi.


### 20. Chữa bệnh cho Địa Thần


Liên Hoa Đồng Tử thuyết pháp tại miếu Thành Hoàng, có một lão Thổ Địa Thần cũng đến nghe pháp, nhưng ông ấy bước đi tập tễnh, đầu gối sưng lên một cục rất to, có cả máu mủ. Địa thần ấy cau mày, nghiến răng, gầm gừ kêu khổ.

Liên Hoa Đồng Tử hỏi:
"Đã làm Địa Thần rồi mà vẫn còn đau ốm sao?"
"Ôi! Thánh tôn, Địa Thần cũng chỉ là một âm thần nhỏ bé, làm sao thoát được đau khổ bệnh tật, nghiệp chướng vẫn nặng lắm đó! Cho dù là thần ở trên trời thì vẫn có ốm đau, giống như Đa Văn Thiên Vương cũng bị bệnh đau ngón chân, đau tức ngực, rồi đau đầu, các thần ở trên trời cũng đều khổ vì bệnh cả, huống hồ tiểu thần nhỏ bé chúng tôi!" - Lão Thổ Địa Thần nói.
"Tôi giúp ông chữa bệnh thì sao?"
"Thánh tôn, cái khối u máu mủ ở đầu gối tôi đây đã hại tôi hơn 5 năm rồi, thần trí của tôi có hạn nhưng cũng biết là có oan hồn kiếp trước không tha, đã bám lên đầu gối, muốn tôi đau đớn 10 năm mới thôi, giờ tôi vẫn còn phải chịu đau khổ 5 năm nữa. Thánh tôn, oan hồn không đi thì bệnh cũng sẽ không khỏi được, đây là oan nghiệt rồi!" - Lão Thổ Địa Thần nói.
"Thế này đi! Để tôi thử xem." - Liên Hoa Đồng Tử nói.

Liên Hoa Đồng Tử vừa vận chuyển nguyên thần, dùng ba ngón tay đặt vào vị trí của khối u, lúc này chúng thần quay qua xem Liên Hoa Đồng Tử chữa bệnh cho lão Thổ Địa Thần.
"A! Thánh tôn có Phật quang ở trên đầu." - Thì ra trên đỉnh đầu Liên Hoa Đồng Tử xuất hiện một vị Đại Nhật Như Lai Phật.
"A! Đầu ngón tay của Thánh tôn phóng ra Phật quang." - Thì ra nơi đầu ngón tay của Liên Hoa Đồng Tử phóng ra ánh sáng trắng, đỏ, xanh lam, bắn nhanh về chỗ đầu gối.

Phía trên đầu gối bốc lên một khối khí đen, khí đen biến thành một hình người, chắp tay đảnh lễ Liên Hoa Đồng Tử, khí đen này nói với Liên Hoa Đồng Tử:
"Oan nghiệt trăm năm, nhờ có Phật quang của Thánh tôn Đại Nhật Như Lai chiếu tới mà nay đã được giải trừ rồi. Nhưng tôi thành một cô hồn, không có nơi nào để an cư, cầu xin Thánh tôn từ bi chọn cho tôi một chỗ để đi." - Linh hồn màu đen nói.
"Phải xử lý thế nào?" - Liên Hoa Đồng Tử quay ra hỏi Thành Hoàng Bồ Tát.
"Trong miếu Thành Hoàng, dù có thu nhận cô hồn nhưng đều là những cô hồn có luật lệnh. Cô hồn này không có lý do gì, không biết phải xử lý thế nào, mong Thánh tôn định đoạt."
"Có cách rồi." - Liên Hoa Đồng Tử nghĩ đến Chuyển Luân Thánh Vương, hay là triệu thỉnh Chuyển Luân Thánh Vương đến, Chuyển Luân Thánh Vương phụ trách việc luân hồi của lục đạo chúng sinh, chắc chắn sẽ đưa ra cách giải quyết.

Liên Hoa Đồng Tử niệm chân ngôn triệu thỉnh, tổng cộng niệm ba biến. Trong một sát-na, có một tiếng vang rền, trước miếu Thành Hoàng đứng sừng sững một vị đại thần kim thân cao sáu trượng, mặt béo tròn xoe, trắng tinh, tóc đỏ râu đen, chân dẫm trên pháp luân, hai tay đều cầm pháp khí, vừa hiện thân đã khiến chúng thần đều giật mình sửng sốt, đúng thật là Chuyển Luân Thánh Vương, quả nhiên là có dáng dấp như vậy.

Chuyển Luân Thánh Vương nói:
"Thánh tôn, có việc gì sai bảo?"
Liên Hoa Đồng Tử nói:
"Xin hãy đem oan hồn này sung quan cho chuyển luân được chứ?"
"Chỉ là chuyện nhỏ, cô hồn trên đời đều dựa vào nhân quả nghiệp báo mà luân hồi trong lục đạo, tôi thu nhận nó là được. Nhưng vì cô hồn này đã được Phật quang chiếu tới, đã kết Phật duyên, nó có thể chuyển thế đến một gia đình từ thiện, tương lai nhờ Phật duyên mà xuất gia, nghe kinh mà được độ, đây là nhờ lòng từ bi của Thánh tôn."
"Như vậy thì rất tốt, làm phiền Thánh Vương đại giá."
"Sau này Thánh tôn có gì sai bảo thì xin cứ niệm chân ngôn." - Chuyển Luân Thánh Vương nói xong thì vẫy cờ lệnh trên tay, cô hồn liền bị hút vào trong cờ rồi biến mất. Chuyển Luân Thánh Vương cũng đi theo luôn.
Chúng thần đều xuýt xoa ca ngợi Liên Hoa Đồng Tử pháp lực vô biên.

Chúng thần lại quay qua xem lão Thổ Địa Thần, khối u máu mủ nơi đầu gối của lão Thổ Địa Thần đã biến mất, chân cũng có thể duỗi thẳng ra rồi, thần quang rực rỡ. Lão Thổ Địa Thần thử bước đi liền hét lên:
"Khỏi rồi, khỏi rồi, hoàn toàn không đau đớn chút nào nữa. Lần này lặn lội từ xa xôi đến nghe pháp, thật không ngờ bệnh này có thể khỏi được, thật là cảm tạ Thánh tôn, hết sức cảm tạ Thánh tôn."

Trong số các thần đang đứng vây thành vòng tròn, có một số thần cũng có bệnh, khi ấy các thần đều thỉnh Liên Hoa Đồng Tử phát tâm từ bi chữa bệnh cho họ. Có một vài thần xem Thánh tôn chữa bệnh mà chẳng hề tốn một chút sức lực nào, lập tức thông báo cho quyến thuộc của chúng thần. Rất nhanh chóng, miếu Thành Hoàng đã đông nghịt chật ních. Liên Hoa Đồng Tử chữa bệnh cho các thần, tiếng tăm lan truyền, muốn ngừng cũng không được.

Liên Hoa Đồng Tử đã biến thành Chữa Bệnh Đồng Tử rồi. Hễ ai được Phật quang phóng ra từ ba đầu ngón tay của Liên Hoa Đồng Tử chiếu tới thì đều khỏi bệnh, đó chủ yếu là vì Phật quang của Đại Nhật Như Lai có thể giải trừ tất cả hắc nghiệp, oan nghiệp. Một khi hắc nghiệp, oan nghiệp đã hết thì bệnh sẽ khỏi. Việc chữa bệnh ở miếu Thành Hoàng này khiến cho các Địa Thần ở thế giới Ta Bà ai ai cũng biết. Liên Hoa Đồng Tử vẫn còn chưa giáng sinh tại thế giới Ta Bà nhưng các thần đều đã biết hết rồi, có thể nói là còn chưa giáng sinh mà đã gây chấn động rồi!

(Liên Sinh Hoạt Phật chú thích: Sau khi Liên Hoa Đồng Tử giáng sinh tại thế giới Ta Bà, ba ngón tay Phật quang của Lư Thắng Ngạn đã chữa khỏi bệnh cho không ít người. Đau đầu, đau tim, đau ngực, đau mắt, đau dạ dày, thậm chí là bệnh tâm thần, các chứng bệnh nan y khó chữa, đều đã được ba ngón tay Phật quang chữa khỏi. Trước cửa nhà của Lư Thắng Ngạn mỗi ngày đều có ba trăm người chờ chữa bệnh, cánh cổng bị chen lấn đạp đổ, tường cũng bị đạp đổ, những việc này đều là sự thật.)

Liên Hoa Đồng Tử thuyết pháp tại miếu Thành Hoàng, cũng đã thảo luận về "bệnh lý".
Bệnh do bốn yếu tố (tứ đại):
Bệnh do yếu tố đất --- sẽ mắc các bệnh như thân thể khô cằn, nhiều nốt sưng phù nặng, bệnh xương cốt.
Bệnh do yếu tố nước --- sẽ mắc các bệnh như đau bụng kiết lị, cơ quan tiêu hóa, nhiều đờm, trướng bụng đầy hơi, thận thủy, niệu độc, v.v.
Bệnh do yếu tố lửa --- sẽ mắc các bệnh như tay chân xương khớp đều đau, miệng, tai, mắt bị nóng, đại tiện khó khăn, kiết lị, v.v.
Bệnh do yếu tố gió --- sẽ mắc các bệnh như co thắt và sưng phổi, nôn mửa, khó thở, thở không đều, hệ thần kinh, v.v.
Có nghĩa là: nếu một yếu tố không điều hòa thì sẽ sinh ra trăm thứ bệnh. Bốn yếu tố không điều hòa thì hàng trăm loại bệnh đều đủ cả. Các bệnh do tứ đại thì đều có biểu hiện ra bên ngoài.

Bệnh ở ngũ tạng:
Tim chủ quản miệng: thân thể nóng lạnh, đau đầu, khô miệng.
Phổi chủ quản mũi: nghẽn tim, nghẹt mũi, phù toàn thân, đau toàn thân.
Gan chủ quản mắt: mắt thâm, nóng nảy, chán ghét, trầm cảm, hôn trầm.
Tỳ chủ quản lưỡi: bệnh da liễu, ngứa ngáy, nhạt miệng, đau nhức.
Thận chủ quản tai: bụng trướng, lãng tai, niệu độc.

Liên Hoa Đồng Tử nói, con người sinh bệnh là do ba nguyên nhân chính, có người thì mắc bệnh sinh lý, có người thì mắc bệnh tâm lý, còn có người mắc bệnh do nghiệp chướng, được phân tích như sau:
Phương diện sinh lý --- do tứ đại ngũ tạng tăng giảm mà sinh bệnh.
Phương diện tâm lý --- do quỷ thần vô hình tạo tác mà mắc bệnh.
Phương diện nghiệp chướng --- nghiệp từ kiếp trước nên kiếp này mắc bệnh do nghiệp chướng.

Liên Hoa Đồng Tử cho rằng, con người một khi có bệnh thì đầu tiên cần phân biệt được là bệnh trên phương diện sinh lý, hay là bệnh trên phương diện tâm lý, hay là bệnh trên phương diện nghiệp chướng. Bệnh sinh lý thì cần mời bác sĩ chữa bệnh. Bệnh tâm lý thì cần mời pháp sư trì chú làm pháp để cầu an cầu phúc. Bệnh nghiệp chướng thì cần tu phúc, hành thiện, từ tế, sám hối.

Trước kia, Phật Thích Ca Mâu Ni cũng nói về pháp bí mật để trị bệnh, tổng cộng có 72 pháp.
Có phương pháp chữa bệnh dùng tâm, tức là tâm đặt vào chỗ có bệnh.
Có phương pháp chữa bệnh dùng thủ đan điền, đan điền còn gọi là ưu đà na [ udana ], hỏa đan điền sinh ra sẽ đốt cháy nơi có bệnh, vi khuẩn gây bệnh sẽ chết, nhờ đó mà khỏi bệnh.
Có phương pháp chữa bệnh dùng khí. Lục khí ở đây chính là: 1. Thổi, 2. Hô, 3. Thở nhẹ, 4. Hà hơi, 5. Hà hơi thật chậm, 6. Nghỉ.

Sáu loại hơi thở này còn có bài kệ như sau:
Tim nằm hà hơi thận thì thổi,
Tì hô phổi nghỉ ai chẳng hay,
Gan nóng ấy hà hơi thật chậm,
Tam tiêu tắc nghẽn thở nhẹ thôi.

Có phương pháp chữa bệnh dùng 12 hơi thở [ ND: thập nhị tức ], 12 hơi thở này chính là: thượng tức, hạ tức, mãn tức, tiêu tức, tăng trưởng tức, diệt hoại tức, noãn tức, lãnh tức, xung tức, trì tức, hòa tức, bổ tức.
Liên Hoa Đồng Tử cho rằng, thế gian có bệnh đều vì có nguyên nhân của nó thì mới có kết quả này. Đặc biệt là bệnh do quỷ thần vô hình gây ra, người thế tục gọi là bị "xung phạm". Nghiêm trọng hơn là bệnh do nghiệp chướng. Có một số người vừa sinh ra thì đã có bệnh bẩm sinh rồi, đó đều là vì nghiệp chướng mà mắc bệnh.
Bệnh do quỷ thần gây ra thì cũng thường là vì nghiệp chướng mà tới, còn nghiệp chướng thì lại do mình tự gây ra, do vậy, phương pháp giải quyết căn bản chính là bắt đầu từ tiêu nghiệp chướng. Nghiệp chướng tiêu trừ rồi thì bệnh mới có thể khỏi.

Còn làm sao để tiêu trừ nghiệp chướng, Liên Hoa Đồng Tử liệt kê ra 8 pháp như sau:

1. Đọc tụng 1000 biến Cao Vương Quan Thế Âm chân kinh.

1. Trì 1.000.000 biến Thượng sư tâm chú.

1. Tu 100 đàn pháp sám hối.

1. Lễ bái, cúng dường, xây chùa, xây tháp, làm tượng Phật.

1. Niệm danh hiệu Phật Bồ Tát cho đến khi tương ứng.

1. Thiền định để đạt được sức mạnh giới định huệ.

1. Căn bản Thượng sư tu pháp để gia trì và thay người bệnh di dời bệnh.

1. Chân không hóa vô.

8 đại pháp này, cách thứ nhất là dựa vào sức mạnh của kinh, cách thứ hai dựa vào sức mạnh của chú, cách thứ ba dựa vào sức mạnh của pháp, cách thứ tư dựa vào sức mạnh của bố thí, cách thứ năm dựa vào sức mạnh của Phật, cách thứ sáu dựa vào sức mạnh của định, cách thứ bảy dựa vào sức mạnh của thầy, cách thứ tám dựa vào sức mạnh của tính Không.

Tại miếu Thành Hoàng, Liên Hoa Đồng Tử đã thuyết giảng về bệnh lý và cách chữa bệnh, các thần đều đến nghe pháp, bao gồm Thần Sông, Thần Hồ, Thần Núi lớn nhỏ, Thần Biển, Thần Cây, Thần Thóc, Thần Mùa Màng, Thần Hoa, Thần Đất, Thần Cỏ, Thần Gỗ, Thần Đá, cùng tất cả các Thần của các chùa miếu ở các địa phương, Thần Ngày, Thần Đêm, Thần Trực Nguyệt, Thần Trực Nhật, Thần Công Tào, Thần Luật Lệnh, v.v… đều hội tụ tại miếu Thành Hoàng.

Khi ấy, vạn tia sáng cát tường chiếu rọi thẳng tới sao Ngưu sao Đẩu, nghìn tia khí tốt lành phủ xuống thế giới Ta Bà, chúng thần cảm nhận được niềm sung sướng của pháp hỉ, chắp tay cung kính, tín thọ phụng hành.


### 21. Liên Hoa Đồng Tử giáng sinh


Liên Hoa Đồng Tử du hành thuyết pháp tại Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ và thế giới Ta Bà, đợi đến ngày giáng sinh.
Đến ngày 18 tháng 5 âm lịch năm 1945 (năm Dân Quốc 34), Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ đã dựng nên một bức lũy hoa giữa không trung, bày vô số hoa cỏ thanh tịnh. Phía trên vô lượng hoa cỏ thanh tịnh có một ngọn đèn chín đóa hoa sen. Ngọn đèn chín đóa hoa sen này tỏa ra chín ánh sáng sắc màu, trên chiếu tới Tứ Thánh Giới, dưới chiếu tới Tam Ác Đạo. Trong mười pháp giới không có đâu là không sáng tỏ.

Tại bức lũy hoa giữa không trung đó còn cắm thêm cờ Thiên Ma bốn phương, tất cả Thiên Ma đều không thể lọt vào được. Ở trung tâm vô lượng hoa cỏ thanh tịnh lại có ngũ long bảo đỉnh, đốt lên hương thơm ngoài sức tưởng tượng, hương thơm này không chỉ triệu thỉnh mùi thơm mà còn có cả hào quang cũng theo hương thơm mà đến, không phải là hương thơm bình thường.

Đến giờ Ngọ. Ngũ Phương Phật đều hiển hiện ở năm phương trên hư không, đó là Đại Nhật Như Lai, A Súc Phật, A Di Đà Phật, Bảo Sinh Phật, Bất Không Thành Tựu Phật.
Thích Ca Mâu Ni Phật và tất cả chư Phật của thập phương tam thế đều hiển hiện ở không trung.
Bát Đại Bồ Tát, là Quan Thế Âm Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Kim Cương Thủ Bồ Tát, Diệu Cát Tường Bồ Tát, Trừ Cái Chướng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát.
Hết thảy các vị Bồ Tát Ma Ha Tát của thập phương tam thế cũng hiển hiện trên không trung.
Hết thảy Thanh Văn, Duyên Giác, Thiên nhân đều hiển hiện tại không trung.
Ngũ Đại Kim Cang, Bát Đại Minh Vương cũng xuất hiện, Tứ Đại Thiên Vương phân ra bốn bên. Thiên nhân của 28 cõi trời đứng ở bốn xung quanh.

Liên Hoa Đồng Tử hướng lên bầu trời nói:
"Nay đã đến ngày hạ sinh, thân tôi khó tránh khỏi đau khổ hồng trần, kính mong ánh sáng từ bi của chư Tôn cùng phổ độ quần sinh."
Chư Tôn đáp:
"Ma Ha Song Liên Trì, Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử Thánh tôn xuống Ta Bà, đó là không tiếc thân Thánh tôn, chúng ta đương nhiên sẽ cùng hộ trì, chỉ mong Chân Phật phổ khắp đi lên, chúng sinh được độ, chúng sinh thành Phật, thì chúng ta sẽ được an tâm."
Liên Hoa Đồng Tử nói:
"Tục tử hạ giới xin nương nhờ chư Tôn."
Chư Tôn đáp:
"Thân thể của Thánh tôn đọa vào nơi ô trọc, thay trời hành đạo, chắc chắn sẽ trở về với chính giác."

Liên Hoa Đồng Tử hát bài kệ:
"Ta ở Song Liên Trì
Niềm hạnh phúc bao la
Tự tại nhập tịch diệt
Sắc tướng đều biến mất
Vì một lời thề nguyện
Cùng thương xót chúng sinh
Cùng ta vào tâm linh
Đi con đường duy nhất
Nay đến ngày giáng xuống
Sinh tử là từ đây
Ác đạo nào dễ độ
Kính mong mọi phù trợ."

Chư Tôn hát lên bài kệ ngợi ca:
"Thánh tôn vào ô trọc
Chân Phật ở trong tâm
Kim quang chín màu sắc
Vẫn tinh khiết trắng trong."

Trong hư không, Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác, thần tiên của 28 cõi trời cùng tiễn Liên Hoa Đồng Tử xuống Ta Bà, có thể nói là một sự kiện trọng đại của trời người. Đây chính là Chân Phật Hải Hội, châu ngọc đầy trời trút xuống, diệu hoa trút xuống khắp nơi, diệu hương nồng nàn, công đức trang nghiêm phi thường. Tương lai, thế giới Ta Bà là thế giới Liên Hoa Thành, mưa pháp từ trên trời trút xuống. Liên Hoa Đồng Tử vốn từ ánh sáng của Đại Nhật Như Lai mà ra, nay lại phát tâm từ bi, đó là muốn độ chúng sinh đều thành Phật, muốn chúng sinh cùng trở về Ma Ha Song Liên Trì.

Lúc này, vô pháp sinh nhất pháp, nhất pháp sinh vạn pháp, tương lai sẽ thành tựu là một bậc đại giác đạt được đại viên dung, chứng ngộ được tất cả tam thiên đại thiên thế giới, thập phương đều tiếp nhận giáo hóa. Thánh tôn đại tự tại vốn dĩ chính là Đại Hùng Như Lai.

Sứ giả cầm đèn ở phía trước.
Trực Nhật Công Tào, Kim Giáp Thần ở phía sau.
Đúng vào giờ Ngọ ngày 18 tháng 5 năm 1945. Liên Hoa Đồng Tử đã hạ sinh tại một trại gà bên cạnh con suối Ngưu Trù, tại huyện Hậu Hồ, tỉnh Gia Nghĩa, nước Đài Loan Trung Hoa Dân Quốc. Hoa sen bừng nở, ánh sáng chói chang rực rỡ.

Từ đây, dòng truyền thừa chính là:
Đại Nhật Như Lai --- Phật Nhãn Phật Mẫu --- Liên Hoa Đồng Tử --- Liên Sinh Hoạt Phật (Lư Thắng Ngạn).


### 22. Hỏi đáp về đêm ở hồ U Linh


Hỏi: Nghe nói gần đây Liên Sinh Hoạt Phật viết một cuốn sách mới, tên sách cực kì mới mẻ, là "Đêm ở hồ U Linh". Nội dung viết về những câu chuyện về hồ U Linh sao?
Đáp: Tên sách là "Đêm ở hồ U Linh", nhưng nội dung lại không phải là những câu chuyện về hồ U Linh, mà là viết về trải nghiệm hạ sinh trong cuộc đời này của Liên Hoa Đồng Tử, cũng có nghĩa là trải nghiệm hạ sinh từ Ma Ha Song Liên Trì đến thế giới Ta Bà.

Hỏi: Vậy vì sao lấy tên sách là "Đêm ở hồ U Linh"?
Đáp: Bởi vì gần đây tôi chuyển nhà, từ bờ hồ Sammamish chuyển tới ven hồ U Linh. Mỗi đêm tôi ngồi thiền định minh tưởng tại hồ U Linh, mở ra kí ức của tiền kiếp, bởi vậy mới mượn tên hồ để đặt cho sách, gọi là "Đêm ở hồ U Linh", viết về những chuyện của thiên thượng giới.

Hỏi: Chuyện của thiên thượng giới thâm sâu khó đoán, phải chăng chúng là chuyện huyễn tưởng?
Đáp: Huyễn tưởng là suy đoán vô căn cứ, còn Liên Sinh Hoạt Phật không phải suy đoán, mà là những hồi ức chân thực. Trong lúc tôi ngồi thiền minh tưởng, từng sự việc đã qua giống như thời gian chảy ngược, giống như xem phim vậy, ngay cả những cuộc đối thoại ở trong đó cũng tỉ mỉ rõ ràng như chân tơ kẽ tóc, vô cùng chính xác, nếu là huyễn tưởng thì chẳng thể được như vậy.

Hỏi: Vậy thì cuốn sách này chắc là rất đáng đọc rồi.
Đáp: Tôi tin rằng sự xuất hiện của cuốn sách này, không dám nói về tính giá trị của nó như thế nào, nhưng thật sự rất ít người viết sách với nội dung như vậy. Bởi vì những cuốn sách trên đời phần lớn đều viết về những tri thức trong xã hội này, ít cuốn nói về những tri thức của thiên thượng giới. Còn ở đây, tri thức trong cuốn sách này là tri thức của thiên thượng giới, những thứ ở bên trong nó thế nhân rất khó tưởng tượng được. Hy vọng mọi người có thể hiểu rõ.

Hỏi: Thế nhân làm sao hiểu rõ được chuyện của thiên thượng giới?
Đáp: Kì thực thiên thượng giới vẫn có một số diễn biến thay đổi, chứ không phải là cố định bất biến. Ví dụ như Dục Giới Thiên trong 28 cõi trời, sự biến động của nó còn lớn hơn, vẫn có thiên tai gió, lửa, nước, những thứ này đều vượt ra khỏi sự tưởng tượng của nhân loại. Thế nhân muốn hiểu rõ việc của thiên thượng giới thì nhất định phải dựa vào tu hành, khiến tinh thần thống nhất, dùng pháp lực để tháo gỡ những đầu mối then chốt của linh tính, có như vậy mới có thể đạt được điều mong ước.

Hỏi: Sự ảo diệu của túc mệnh thông có phải là thần thông không?
Đáp: Túc mệnh thông chính là một trong sáu đại thần thông, đối với thế nhân mà nói thì nếu không phải là thần thì chẳng có cách nào biết được, do vậy thế nhân mới gọi là thần thông. Còn tôi xin thật lòng thật sự nói để mọi người biết rằng, thần thông thần bí ảo diệu chính là sự hiển hiện của Phật tính, mỗi một cá nhân đều có Phật tính, cũng có nghĩa là mỗi một người đều có thần thông, chỉ là hãy xem Phật tính có lộ ra hay không mà thôi. Nếu Phật tính hiển hiện thì hiện tượng thần bí ảo diệu không hề là hiện tượng thần bí ảo diệu nữa, thần thông cũng không còn là thần thông nữa, tất cả đều là tự nhiên mà thế, chỉ như vậy mà thôi.

Hỏi: Thế nào là tự nhiên mà thế?
Đáp: Ví dụ như cuốn sách "Đêm ở hồ U Linh", vốn dĩ chính là tự nhiên mà thế. Trải nghiệm hạ sinh của Liên Sinh Hoạt Phật tự nhiên mà thế, điều này giống như sự hoán đổi ngày đêm, sự tuần hoàn của bốn mùa, nước biển dâng lên hoặc rút xuống, sự sống chết của con người, nhưng đối với người thế tục thì những chuyện đó có lẽ cũng vẫn rất đáng kinh ngạc.

Hỏi: Lời của Hoạt Phật rất có lý, bởi vì người bình thường không có cách nào tưởng tượng được!
Đáp: Vũ trụ vạn tượng tự nhiên là thế, trong sự liên hệ chặt chẽ lẫn nhau của vạn tượng, giả dụ bạn quan sát kĩ lưỡng, chắc chắn có thể phát hiện ra mọi thứ đều được phân ra làm hai loại lớn là vật chất và tâm linh mà thôi. Truy ngược về phương diện vật chất thì là sự khởi đầu của văn minh khoa học, kì thực khoa học vật chất khi đạt tới trình độ cao nhất thì cũng khiến người ta kinh ngạc tán thán, và cũng không có cách nào tưởng tượng được. Vật chất dựa trên đạo lý "có", nhưng truy đến tận cùng cao nhất thì sẽ đạt tới đạo lý "Không".

Truy ngược về phương diện tâm linh, cũng tương tự là đạo lý "Có", đạt tới đạo lý "Không", ở trong đó là tinh thần thống nhất, tinh thần một khi thống nhất rồi thì một khi ý chí đã quyết, bạn có thể đạt được mọi thứ, sáu đại thần thông bạn đều có thể có được. Vũ trụ này có hằng hà sa số không gian và thời gian, hiện tại, vị lai, quá khứ có thể hòa thành một khối, đó là năng lực truy ngược tâm linh.

Vật chất và tâm linh, một cái là "Có", một cái là "Không", nhưng Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng mức độ cao nhất của vật chất và tâm linh là giống nhau, Có và Không cũng như nhau. Đối với việc ở thiên thượng giới, nếu thế nhân chưa đạt đến cảnh giới "chân không", vẫn là Có - Không lẫn lộn với nhau, thì sẽ thấy rất khó tưởng tượng được. Lời của tôi chỉ có thể giải thích đến mức này thôi, bởi vì ở đây chính xác là khó hiểu một cách không thể hiểu được!

Hỏi: Túc mệnh thông của Liên Sinh Hoạt Phật cũng có liên quan đến nhân quả phải không?
Đáp: Chính là nhân quả. Trong cuốn sách "Đêm ở hồ U Linh", tôi sẽ nhắc đến nhân quả của cha tôi, mẹ tôi, Thượng sư Liên Hương, Phật Thanh, Phật Kì, nhân quả nhân duyên đều đã được định trước. Ở thiên thượng giới vạn tượng đan xen, kì thực cũng có nhân quả, lớn thì đến hàng Phật Bồ Tát, nhỏ thì đến nhân loại, động vật, thực vật, quỷ thần, không có cái nào không là nhân quả.

Hỏi: Làm sao để hiểu được mối liên hệ nhân quả?
Đáp: Liên Sinh Hoạt Phật hiểu mối liên hệ nhân quả đều nhờ vào công phu thiền định và minh tưởng. Sự tu hành của tôi cũng thành tựu theo thứ tự, đầu tiên là "hữu niệm", sau đó mới đạt đến "vô niệm". Hiểu được mối liên hệ nhân quả trước tiên phải chế tâm ở một chỗ, rồi sau đó tiến nhập vào trong không gian thời gian, đến khi tất cả đều rõ ràng rành mạch.
Thứ tự tu hành của tôi có ba bước:
Đại định --- suy nghĩ dừng lại trong 30 phút.
Diệu định --- suy nghĩ dừng lại trong 1 giờ.
Viên định -- suy nghĩ dừng lại vĩnh viễn, không tự khởi lên nữa. Tâm lượng quảng đại giống như không gian vũ trụ, trong suốt như nước yên tịnh.
Trong ba trạng thái định này đều đã có năng lực vạn tri vạn năng rồi, đương nhiên tự nhiên có thể hiểu được rõ ràng các mối liên hệ nhân quả. Trong ba định này, tự nhiên xuất hiện pháp lực, có khi là toàn tri toàn năng.

Hỏi: Ai ai cũng có thể hiểu được mối liên hệ nhân quả và tu định đạt được thành tựu sao?
Đáp: Tôi lấy một câu nói của Phật Thích Ca Mâu Ni để trả lời câu hỏi này: "Chúng sinh trên trái đất này đều có trí huệ phúc đức của Như Lai, chỉ vì vọng tưởng trói buộc nên không thể đạt được. Nếu diệt được vọng tưởng thì vô sư trí, tự lai trí, có muôn loại năng lực, nhậm vận tự tại." Bởi vậy, ai ai cũng đều có thể hiểu rõ mối liên hệ nhân quả và tu định đạt thành tựu.

Hỏi: Tu hành rất khó, nghe nói rất khổ?
Đáp: Có người cho rằng tu hành rất khó, nhưng tôi lại cho rằng không khó, chỉ cần bền lòng mà tu, tất sẽ có ngày tới đích. Tôi có thói quen giống con rùa chậm chạp, mỗi ngày bò một bước, sớm muộn cũng đến được đích. Tôi cũng không nghĩ rằng tu hành là khổ, thật ra tu hành là một việc rất an lạc, lợi ích mà ta có được hơn hết bất kì vật chất có giá trị nào, tu hành là tận hưởng sự an lạc vĩnh viễn.

Hỏi: Thiền định có vui không?
Đáp: Đương nhiên là có, tôi lấy năm danh từ:
Thiền vị --- ngọt thơm. Là mùi vị vi diệu và tinh tế.
Thiền lạc --- khinh an. Tự nhiên nhẹ nhõm ung dung.
Thiền tâm --- định nhất. Tâm tự tại không chút phiền não.
Thiền huệ --- đại trí. Sản sinh ra trí huệ vô cùng, nhậm vận tự như.
Thiền duyệt --- hỉ lạc. Niềm hỉ lạc tràn trề tối vô thượng và viên mãn.
Niềm sung sướng có được trong thiền định thật sự không thể dùng ngôn từ để giải thích được. Chúng ta chỉ có thể dùng bốn chữ "tùy tâm sở dục" để mà diễn đạt nó.

Hỏi: Phương pháp thiền định như thế nào? Có pháp nào hay hơn tốt hơn không?
Đáp: Thực ra, đi đứng ngồi nằm đều có thể thiền định, nhưng tư thế ngồi thì sẽ có được sự dễ chịu thoải mái tương đối lâu hơn. Phương pháp này đã có viết ở trong sách rồi, chúng tôi cho rằng vẫn nên thiền ngồi. Còn như sau này có xuất hiện pháp nào hay hơn tốt hơn không thì khả năng là có, nhưng trước mắt vẫn là dựa trên nguyên tắc kéo dài sự thoải mái.

Hỏi: Chúng ta biết rằng Hoạt Phật dùng thiền định và minh tưởng để viết cuốn sách "Đêm ở hồ U Linh", liệu Hoạt Phật có thể khai thị về lai lịch của người thân không?
Đáp: Trong cuốn sách "Đêm ở hồ U Linh" tôi đều đã kể vô cùng tường tận rồi, nhưng ở đây tôi cũng thuật lại như sau:
Ông nội --- là sứ giả cầm đèn ở Cung Tử Hà.
Cha tôi --- là con trai của sứ giả cầm đèn.
Mẹ tôi --- là chim Thái Bình của Nam Hải Quan Âm.
Vợ tôi (thị giả) --- là Đại Cát Tường Thiên Nữ.
Con trai --- là Đế Thích công tử.
Con gái --- là Đế Thích công chúa.
Còn bản thân tôi thì chính là Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.

Hỏi: Thế còn sư phụ của Hoạt Phật?
Đáp: Thanh Chân Đạo Trưởng là Kim Đàn tôn giả ở Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ. Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh là Cổ Phật xxxxxx, thế nhân không biết lai lịch của ngài, địa vị của ngài rất cao quý và vĩ đại, hiện tại tôi chưa thể nói được!

Hỏi: Vì sao lai lịch của người thân và sư phụ của Hoạt Phật đều tốt như vậy?
Đáp: Đây cũng là nhân duyên thôi! Trong vũ trụ có rất nhiều sự biến hóa của sự vật, đó là những biến hóa sống động chứ không hề rập khuôn, vượt ra khỏi sự tưởng tượng của chúng ta. Người ta cho rằng lai lịch của người thân của tôi tốt như vậy, thật ra con người trên thế gian, có rất nhiều người lai lịch tốt hơn tôi, chỉ là họ không thấy được mà thôi. Lai lịch tốt, đôi khi cũng không có tác dụng gì, nếu không tu hành thì cả đời cũng vẫn xoàng xĩnh tầm thường thôi, vẫn phải lục đạo luân hồi, còn tệ hơn cả phàm phu thế tục.

Hỏi: Lẽ nào tu hành chỉ vì để biết rõ lai lịch sao?
Đáp: Không phải vậy. Về đại thể thì mục đích của tu hành có hai nội dung quan trọng chính:

1. Niềm an lạc vĩnh hằng --- không phải chịu đau khổ luân hồi.

1. Lợi ích hiện thực --- tâm không phiền não, có đại trí huệ, hỉ lạc sung mãn.

Thật ra, người tu hành hiểu rằng khổ tâm mưu cầu danh, danh cũng là không, khổ tâm chạy theo lợi, lợi cũng là không, thời gian thấm thoắt thoi đưa, đầu đã bạc rồi mới biết sống uổng phí cả một đời. Những gì có được lại là thị thị phi phi, phiền não phiền muộn, giống như một cái sọt vậy, chẳng có lợi ích gì. Còn người tu hành thì khác, người tu hành hiểu về sự trống rỗng ngắn ngủi của thế tục, sẽ không mê đắm vào sự mưu cầu ham muốn hưởng thụ vật chất, vượt lên trên sự ham muốn hưởng thụ vật chất, đạt được sự an lạc vĩnh hằng của tâm linh, những gì họ học chính là điều được nói đến trong Tâm Kinh: "Tâm không lo nghĩ, vì không lo nghĩ nên không có sợ hãi, tránh xa mộng tưởng điên đảo, cuối cùng là nhập niết bàn." Người tu hành có thể học được sự không sợ hãi thì sẽ có được định lực, có được định lực thì sẽ có đại trí huệ, việc xử thế độ sinh lại càng dễ dàng.

Hỏi: A! Tôi hiểu rồi, ngài viết cuốn "Đêm ở hồ U Linh" cũng là độ người ta tu hành!
Đáp: Đúng vậy, đúng vậy.

Hỏi: Tôi thấy trên tay Hoạt Phật có đeo đồng hồ Rolex, người tu hành sao có thể đeo đồng hồ Rolex được?
Đáp: Cùng kiếp khổ hạnh, là tu hành. Cẩm y ngọc thực cũng có thể tu hành. Tây phương Cực lạc thế giới A Di Đà Phật không có quy định là ai đeo đồng hồ Rolex thì không thể tu hành. Anh có biết không? Tây phương Cực lạc thế giới là gác vàng lầu ngọc, chim quý thú lạ, kim sa phủ mặt đất, kì hoa dị thảo đó!

Hỏi: Thế tôi thấy Hoạt Phật lái xe Bentley, cũng có thể tu hành sao?
Đáp: Chân không - đi đất là tu hành. Lái xe Bentley cũng là tu hành. Còn như mì thô cơm nguội, đầu bù tóc rối, áo tơi giày rách, ở nơi nhà dột, chịu mọi kham khổ, vốn chỉ là một trong những biểu hiện bên ngoài của tu hành, giả sử cho rằng tu hành cứ phải là như vậy thì chỉ là hạng người amateur nói lời amateur mà thôi. [ ND: amateur - không chuyên ]
Người lái xe Bentley cũng có thể tu hành, không cần phải là chân không đi đất mới gọi là tu hành. Ở tây phương Cực lạc thế giới, các vị đều ngồi tòa sen thất bảo, được làm từ bảy loại bảo vật. Thiên giới đều cưỡi xe mây đẹp đẽ lộng lẫy, còn xịn hơn cả xe Bentley đó. (Trong số các đệ tử của Liên Sinh Hoạt Phật có người làm tổng đại lý cho hãng đồng hồ Rolex và xe Bentley.)

Hỏi: Ý Hoạt Phật muốn nói là người có tiền cũng có thể tu hành?
Đáp: Đúng vậy. Người có tiền tu hành không cần phải giả nghèo, không cần phải bỏ không làm kinh doanh nữa, không cần phải ăn uống nhạt nhẽo, không cần phải không tắm rửa, không cần phải mặc áo vá đi giày rách, cho dù có mặc áo gấm vinh hoa phú quý, ăn sơn hào hải vị, sống nơi nhà cao cửa rộng, lái xe hạng sang, nhưng chỉ cần mỗi ngày đều tu, tâm không mê đắm vào ngoại cảnh, không tham sân si, không còn phiền não, cũng không còn ham muốn vật chất nhiều hơn nữa, tất cả đều không tham chấp, có thể mỗi ngày mỗi tu, thảnh thơi vô tư lự, mục tiêu đúng đắn, thu về mọi tạp niệm, vậy thì chẳng phải là tu hành càng tốt hơn sao? Đồng thời người có tiền lại càng dễ bố thí, cứu tế chúng sinh, chẳng phải là càng phúc huệ song toàn hơn sao? Tu hành không phải là chỉ có một con đường khổ hạnh. Phật Thích Ca Mâu Ni cuối cùng cũng từ bỏ khổ hạnh, người tu hành ngày nay đừng hiểu nhầm rằng chỉ có khổ hạnh mới có thể chứng quả. Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng khổ hạnh và lạc hạnh đều có thể chứng quả.

Hỏi: Tôi hiểu rồi, nhưng thế nào là mục tiêu tu hành đúng đắn?
Đáp: Tu hành đúng đắn thực ra là trị tâm, trị tâm chính là trị niệm, tiêu trừ những tạp niệm ở trong tâm, trước tiên là đắc định vào một thứ, sau đó một thứ lại hóa thành không.

Hỏi: Vì sao Hoạt Phật thường nhắc đến vô niệm?
Đáp: Cần biết rằng công phu vô niệm này là chí đại vô thượng. Con người chúng ta nếu muốn đến tây phương Cực lạc thế giới thì chỉ cần nhất tâm bất loạn, khi nhất tâm bất loạn thì Phật Tổ sẽ đến tiếp dẫn. Còn nhất tâm bất loạn vẫn có "nhất niệm", nếu đạt tới vô niệm thì không có Phật nào tới tiếp dẫn cả cũng có thể tức thân thành Phật được.

Hỏi: Làm sao bảo đảm được?
Đáp: Một câu trong Kinh Kim Cang có thể đảm bảo được: "Không nên trụ nơi sắc sinh tâm, không nên trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sinh tâm, nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy." Đó chính là vô niệm.
Có một câu nói rằng: "Thập phương Như Lai không có gì là rất đặc biệt, vì các vị đã sâu sắc đạt được sự vi diệu của vô niệm, tín thọ phụng hành, nên đã đắc được A nậu đa la tam miểu tam bồ đề."

Hỏi: Vô niệm là cái gì?
Đáp: Vô niệm chính là một điều thật nhất. Chính là A nậu đa la tam miểu tam bồ đề.
Vô niệm chính là thực tướng.
Vô niệm chính là Như Lai Tạng.
Vô niệm chính là viên giác.
Vô niệm chính là chân như.
Vô niệm chính là minh tâm kiến tính.
Vô niệm chính là am bổn la thức.

Hỏi: Vô niệm có thể tức thân thành Phật, chúng ta trực tiếp tu vô niệm là được, vì sao cần tu Chân Phật Mật Pháp?
Đáp: Nói chung, có nghìn vạn kinh điển cũng là nhắm vào nghìn vạn căn khí khác nhau của chúng sinh nên mới viết ra, không có trực chỉ, bởi vì trực tiếp chỉ ra thì ngược lại, có khi lại khiến người ta thấy khó tin, có nghĩa là phải ngoảnh đầu nhìn trái nhìn phải thì sau đó mới tin. Tám vạn bốn nghìn pháp môn đều có một bộ pháp để trị niệm, mục đích cuối cùng của các pháp ấy vẫn là tiêu trừ tạp niệm, đạt đến nhất niệm, rồi sau đó tiến nhập vào vô niệm.
Chân Phật Mật Pháp là tâm yếu tu tập khai ngộ của Liên Sinh Hoạt Phật, cũng là một trong số các pháp môn. Pháp môn này có lợi ích thực đối với con người thời hiện đại. Các pháp trong Chân Phật Pháp được nói tường tận hơn. Nhờ thực tu Chân Phật Mật Pháp, thứ tự tu hành vô cùng rõ rệt, có thể đạt được trí huệ nhãn, bát nhã định, niết bàn sơn, vô vi xả. Ở đây là để độ chúng sinh rộng khắp, tu Chân Phật Mật Pháp chính là tu vô niệm, coi trọng thực tu, Chân Phật Mật Pháp là phương pháp tu hành vô niệm thực tiễn, chính là chìa khóa thành công.

Hỏi: Chúng ta đã hiểu rõ về lý lẽ rồi, nhưng điều quan trọng nhất là gì?
Đáp: Thực tu, thực tu, thực tu.

Hỏi: "Đêm ở hồ U Linh" còn nói về cái gì nữa?
Đáp: Bởi vì Chân Phật Tông là do tôi sáng lập nên, vì tôi muốn các đệ tử đều có được nơi nương tựa chân chính nên mới viết cuốn sách này. Chân Phật Mật Pháp tuy là một phương pháp tốt đẹp thiện lành nhưng không có nguồn gốc và truyền thừa rõ ràng, người thế tục bình thường trong quá trình tu tập dễ khởi lên suy nghĩ nghi ngờ, như vậy thì sẽ không có công đức và thành tựu, có tu cũng uổng công. Do vậy trong cuốn sách "Đêm ở hồ U Linh" tôi hoàn toàn không giữ lại trong lòng nữa mà đã nói một cách dứt khoát rõ ràng, tường tận về pháp thân, chân thân, chân ngã của Liên Sinh Hoạt Phật, tiết lộ thiên cơ, tôi tin rằng sẽ có lợi ích lớn hơn nữa đối với chúng sinh.

Hỏi: Cuốn "Đêm ở hồ U Linh" là tiết lộ thiên cơ sao?
Đáp: Ý định ban đầu của Liên Sinh Hoạt Phật là chờ đến trước khi thăng về Tây phương thì mới viết ra cuốn sách này. Thế nhưng con người hiện đại sống trong xã hội hiện thực, Chân Phật Mật Pháp mặc dù có thể cứu đời độ chúng, lợi ích chúng sinh, nhưng muốn thế nhân đều quy y học pháp thì thực sự là rất khó. Mật pháp tốt như vậy mà muốn hoằng dương, nếu không tiết lộ thiên cơ thì chẳng có cách nào thấy được hoa sen nở ở khắp nơi, hoa nở thấy Như Lai. Đó là phương pháp tốt nhất, là vô thượng pháp, đó là Chân Phật, chỉ cần tin tưởng và nguyện làm theo thì sẽ có thể đạt tới khai ngộ. Do vậy, không thể nào không tiết lộ thiên cơ được!

Hỏi: Hoạt Phật tiết lộ nhiều thiên cơ như vậy, thử nghĩ xem chúng sinh có thể vì thế mà được độ không?
Đáp: Hiện nay, có khoảng hai trăm nghìn đệ tử quy y trên toàn thế giới, đương nhiên tôi kì vọng càng ngày càng nhiều hơn, hai trăm nghìn đệ tử này chính là hai trăm nghìn hạt giống, mười năm sau, người thụ hưởng đương nhiên không chỉ là hai trăm nghìn người, thậm chí là một trăm năm sau, một nghìn năm sau, Chân Phật Mật Pháp độ chúng sinh sẽ giống như hòn tuyết lăn, càng lăn càng to, đến mức to lớn vô hạn, độ chúng sinh vô hạn.

Hỏi: "Đêm ở hồ U Linh" còn có hàm nghĩa đặc biệt phải không?
Đáp: Đúng vậy. Tôi cho rằng hàm nghĩa đặc biệt là chỉ dạy cho chúng sinh nhận thức đúng đắn về luân hồi. Sơn hà đại địa ở đâu? Mặt trời mặt trăng những ngôi sao ở đâu? Cái gì gọi là "nhất niệm tam thiên". Hàm nghĩa đặc biệt của cuốn sách này chính là "nhất niệm tam thiên".

[ ND: Nhất niệm tam thiên - một niệm ba nghìn, có vài cách hiểu và giải thích khác nhau. Có một nghĩa là trong mỗi một niệm có đủ ba nghìn pháp giới, đồng thời trọn đủ. Ngoài ra, nhất niệm cũng gọi nhất tâm, ý nói tâm niệm hoạt động trong khoảng thời gian ngắn nhất. Tam thiên biểu thị ý nghĩa tổng hợp tất cả thiện ác, tính tướng, người và vật sai khác trong thế gian và xuất thế gian. Nhất niệm tam thiên nghĩa là ngay trong một tâm niệm của phàm phu có đầy đủ ba nghìn các pháp tính tướng của thế gian. ]

Ở đây tôi thiền định minh tưởng cũng là nhất niệm tam thiên.
Có thứ hình thành từ hỗn độn
Sinh ra có trước cả đất trời
Độc lập bất biến, đi khắp không mỏi
Liên Hoa Đồng Tử, Đại Nhật Như Lai.


### 23. Tiên thiên phù bút


(1) "Tiên thiên phù" thật sự là không giống với phù lục của thế tục, sự thần bí ở trong phù ấy là không thể đo lường suy đoán được.
Vốn dĩ không thể công khai "Tiên thiên phù", không thể nói ra. Nhưng vì muốn để thế nhân hoặc nhiều hoặc ít có được nhận thức nào đó đối với pháp phù, có một vài am hiểu về pháp phù, và gia tăng tín tâm, nên tôi mới viết cuốn sách "Tiên thiên phù bút".
"Tiên thiên phù bút" là cuốn văn tập số 77 của Liên Sinh Hoạt Phật.

(2) "Tiên thiên phù" sở dĩ đặc biệt là vì phù thức này từ tự tâm Liên Sinh Hoạt Phật tuôn chảy, trước nay chưa từng có, là Hoạt Phật đức hạnh quảng đại, phù pháp viên mãn quang minh, do sự linh nghiệm kì lạ của pháp phù có thể vượt trội tất cả phù lục hữu hình và hậu thiên, nên đây là một sự thù thắng vĩ đại nhất.
Tiên thiên phù xuất sắc không gì sánh bằng.
Tiên thiên phù cũng giống như Tôn Thắng Đà-ra-ni vậy.
Người học tập và người sử dụng, thậm chí là người chứng kiến, đều có thể đạt được lợi ích lớn, giống như tùy bệnh bốc thuốc vậy, có phù là khỏi bệnh.
Tiên thiên phù có thể tiêu tai, có thể cầu phúc, có thể trừ bệnh, có thể tăng ích, có thể kính ái, có thể hàng phục, có thể siêu độ. Thật sự là tế thế cứu nhân.
Tiên thiên phù là mười phần thù thắng, đạo lý ở trong đó rất sâu sắc, phù lục có thể phóng quang, có thể phi hành, có thể thiên giáng diệu hoa, có thể giao tiếp với quỷ thần, có thể sai khiến mưa gió sấm chớp, có thể hiện ra đủ loại bảo vật, có thể phòng chống trộm cắp, có thể làm tín hương, có thể triệu thỉnh Tiên Phật.
Một lá phù hóa núi Tu Di.
Một lá phù nuốt trọn nhật nguyệt.
Một lá phù cắt đứt tam thiên.
Một lá phù nắm toàn thiên giới.

(3) Thời gian gần đây, Liên Sinh Hoạt Phật tự tâm tuôn chảy rất nhiều Tiên thiên phù, những phù lục chữa bệnh thần tốc bí mật này là đạo lý tuyệt diệu sâu tới mức thậm thâm vô tướng. Khi dùng pháp phù thì có thể phá bỏ hết những ngọn núi nghiệp chướng, dùng pháp phù có thể khiến tà ma trông thấy mà sợ mất vía, dùng pháp phù thì uy lực không gì sánh bằng, dùng pháp phù thì có thể nhiếp thông Tứ thánh vị, thật sự là phúc lợi quảng đại vô cùng, bởi thế có thể rộng khắp che chở chúng sinh.

Liên Sinh Hoạt Phật tán dương Tiên thiên phù, nhận định rằng uy lực của phù lục ấy thật sự rất khó tưởng tượng được. Chỉ là một mảnh giấy mỏng nhẹ, trên giấy vẽ những văn tự kì diệu, nhưng cầu gì đều ứng nghiệm, muốn gì được nấy.
Siêu độ được lên trời.
Địa ngục được chuyển thế.
Núi gươm thành rừng vàng.
La sát thành thiên nữ.
Biển máu hóa ao sen.
Khói lửa thành nến thơm.

(4) Để mọi người tu trì thành Phật, để sự tu trì dựa theo giáo lý, để cứu độ được càng nhiều người hơn, để chư thiên nhân cùng rủ lòng gia trì, tôi đã thu thập các loại Tiên thiên phù để mọi người cùng chiêm ngưỡng phù thức đặc biệt này, chỉ hy vọng rằng mọi người ai ai cũng được sống lâu như ý nguyện, lĩnh ngộ được chân lý mà trở về với vô tướng, trí huệ toàn vẹn tiếp diễn vĩnh hằng, sớm đắc chính giác, loại bỏ cái khổ tham sân si của chúng sinh, người người thường lạc ngã tịnh.
Nhất tâm sinh vạn pháp.
Phù thức là minh châu.
Pháp môn này bí mật.
Kết liễu bao điều khổ.

(5) Bí quyết vẽ phù thành công:

1. Thanh tịnh bút, mực, nghiên, giấy. (hơ qua lửa)

1. Đốt sớ văn, cầu nguyện Phật quang gia trì. (đốt sớ trước Phật hoặc cầu nguyện)

1. Phật phóng quang chiếu lên bút, hạ bút thành phù thức. (quán tưởng)

1. Cầu nguyện Phật phóng quang gia trì cho phù thức. (quán tưởng)

1. Áp lệnh cho phù thức, áp ấn. (dùng thủ ấn để chỉ huy phù thức)

1. Cát tường viên mãn.

Các chi tiết ở đây có thể thỉnh thị vị Kim cương Thượng sư hiểu về phù thức. Bí quyết vẽ phù là một dạng nghi quỹ, nghi quỹ chu toàn, Phật quang bao trùm thì phù nhất định có linh có nghiệm.
Khẩu quyết vẽ phù là: "Tâm thành tắc linh".


### 24. Sự giác ngộ của Liên Hoa Hán Đào


(Liên Hoa Hán Đào là giáo sư ở trường Đại học Guam.)

Sư Tôn, Sư Mẫu kính yêu!
Lần này con đến Seattle tham gia pháp hội cầu phúc, toàn bộ chuyến đi đều tràn đầy niềm vui và sự thích thú. Sau khi trở về con cảm thấy cả người mình nhẹ nhõm hơn rất nhiều. Đệ tử biết rằng bản thân mình đang diễn ra những sự thay đổi. Trước đây vì có liên quan đến gia đình và hoàn cảnh, đệ tử cần phải xem nhẹ danh lợi, những lời tán tụng, phê bình, phỉ báng, nhiều ít cũng có thể chịu đựng những việc và người không như ý.

Lần này sau khi trở về, con cảm thấy không cần phải chịu đựng nữa, trái lại, con đã có thể tiếp nhận chúng, có lẽ đây là nguyên nhân khiến những bước chân của con nhẹ nhàng thoải mái hơn rất nhiều. Bởi vì bản thân sự chịu đựng chính là ôm cả một bụng uất ức, e rằng sẽ càng phải chịu đựng hơn nữa để đè nén khẩu khí nhằm tránh đánh mất hình ảnh bản thân. Còn tiếp nhận thì khác. Bất kể người khác như thế nào, chúng ta cần công nhận quyền của người khác và có thể luôn luôn nghĩ cho người khác và đối xử với họ bình đẳng.

Nói về việc vì sao con lại có những thay đổi như vậy, con còn nhớ lần này ở Seattle, khi con đang giúp làm bánh bao ở trong bếp của chùa thì đúng lúc Sư Tôn bước vào, nói với đệ tử rằng sau này con có thể làm Thượng sư Bánh Bao. Con luôn cảm thấy Sư Tôn thích nói đùa, chỉ là nói đùa mà thôi, bánh bao làm sao có thể thành Thượng sư được chứ.

Thế rồi buổi chiều hôm đó, khi con được bái kiến Sư Tôn, Sư Tôn đã rất ân cần dặn con phải hoằng pháp nhiều, dẫn dắt nhiều người nhập môn hơn, trải nghiệm và lĩnh ngộ nhiều hơn, tương lai khi nào lại tới đây thì lại nhận quán đảnh Thượng sư. Khi ấy con chỉ cảm thấy chức Thượng sư là vô cùng thần thánh và trách nhiệm rất lớn. Mặc dù con biết rõ là không có được năng lực để đảm đương, nhưng có thể là Sư Tôn biết đệ tử có lời thề nguyện, thành tâm tận lực vì Phật đạo, nhưng vì còn quá lười biếng và tinh tấn chưa đủ nên thầy mới đặc biệt cổ vũ con, hơn nữa còn cho con thêm chiếc mũ, muốn con tăng tốc tu hành, để hữu danh hữu thực, cứu độ được nhiều người hơn.

Sau đó, Sư Tôn khai thị ở trong pháp hội, Sư Tôn có nói đến điều kiện và năng lực cần có để trở thành một Thượng sư, và những Thượng sư khác cũng nói về con đường tâm linh mà họ đã trải qua, con đã hiểu được sâu sắc cảnh giới và pháp lực của họ đều vô cùng cao siêu, không như khả năng tu trì trong mấy năm của con chỉ bằng một phần vạn, do vậy con bắt đầu cảm thấy bồn chồn lo lắng.

Lúc còn ở Seattle, con đã rất muốn nói với Sư Tôn rồi, bản thân đệ tử tu pháp, chỉ thiền tu một pháp, không hề có chút pháp lực nào để mà nói, ngoài thỉnh thoảng mơ thấy Sư Tôn đến gia trì ra thì không hề có bất kì sự tương ứng nào cả. Sư Tôn thật sự không nên có kì vọng quá cao đối với đệ tử như vậy. Tuy vậy, mặt khác con lại nghĩ Sư Tôn làm như vậy nhất định là có nguyên nhân. Cụm từ "Thượng sư Bánh Bao" này cứ lởn vởn trong đầu con, một cái bánh bao chẳng là cái gì cả, chỉ là một món ăn làm từ bột mì chẳng có gì quan trọng cả, làm sao có thể kết mối liên hệ với việc làm Thượng sư thần thánh được. Bánh bao và làm Thượng sư gần như chẳng hề có mối quan hệ nào.

Sau đó ở trong bếp, mỗi ngày đệ tử đều trông thấy rất nhiều phụ nữ, các sư tỉ tình nguyện làm việc giúp đỡ, khiến đệ tử ngộ ra rằng sự tồn tại của mỗi cá nhân đều có tác dụng. Pháp hội lần này, nếu toàn bộ chỉ có các Thượng sư đắc chứng ngộ tham gia, vậy thì ai sẽ nấu cơm, ai sẽ làm bánh bao, mục đích của pháp hội nằm ở đâu? Bánh bao chính là pháp vị.

Cảm tạ Sư Tôn đã cho con làm Thượng sư Bánh Bao, mỗi người một chiếc bánh bao, mỗi người một ít pháp vị, khiến đệ tử suy nghĩ sâu xa và đã hiểu rõ rằng đừng đối đãi với bất kì người nào bằng tâm phân biệt, bất kì ai có được pháp vị đều có thể thành Phật, chỉ là chậm hay nhanh mà thôi. Trong dòng thời gian không ngừng trôi đi, mỗi người chỉ là tùy theo nhân duyên, đóng vai nhân vật của chính họ, tất cả nhân quả đều đã có đã có tiền nhân hậu quả rồi.

Vì sự lĩnh ngộ này khiến đệ tử không muốn chịu đựng người và việc không như ý nữa, mà đã có thể chấp nhận người và việc không như ý. Nay đệ tử cũng dần dần hiểu được rằng vì sao khi bao nhiêu người hỏi Sư Tôn phải làm thế nào, câu trả lời của Sư Tôn luôn là "tốt". Bởi vì trong lòng Sư Tôn hiểu rõ rằng những gì chống lại ta cũng là một dạng khảo nghiệm, khảo nghiệm cũng là việc tốt, đương nhiên là tốt, do vậy tất cả tùy duyên, thuận theo tự nhiên. Trước đây con không hiểu, do vậy con cảm thấy rất kì lạ, bây giờ con hiểu rồi, Sư Tôn biến trở ngại thành hanh thông, vượt trội so với những con người thông thường của đời sống.

Sự lĩnh ngộ này chính là bất kì cá nhân nào tồn tại trên đời đều có công dụng nhất định nào đó, họ đóng vai những nhân vật khác nhau, diễn hóa nhằm hoàn thành nhân quả. Tất cả mọi thứ diễn ra trên đời đều là như thế cả.

Do vậy, bây giờ con cũng không buồn phiền lo lắng về việc bản thân không có tư cách làm Thượng sư nữa. Cho dù Sư Tôn nhất thời đánh giá sai thì quyết định sai lầm ấy cũng là nhân duyên mà thôi. Thượng sư Bánh Bao đã định rồi, nghe nói Sư Tôn thích nhất là ăn bánh bao, sau này trở về Ma Ha Song Liên Trì, nhất định sẽ đem đệ tử cùng đi, bởi vì Thượng sư Bánh Bao có thể ngày ngày làm bánh bao cho Sư Tôn ăn.

Lần này Thượng sư Liên Hàn đến đảo Guam, hoàn thành kế hoạch về chương trình sơ bộ của Viên Giác Đường, đó là một sự khích lệ rất lớn đối với Viên Giác Đường. Đệ tử ở Guam có thể đoàn kết hợp tác, cùng lan truyền pháp vụ, đạt tới giác ngộ viên mãn.

Trong pháp hội cầu phúc, Thượng sư Liên Hàn đặc biệt hướng dẫn rằng chúng con nên cố gắng hết sức để đạt tới sự vô ngã. Có một hôm con hỏi Thượng sư Liên Hàn, vô ngã có phải là chỉ còn có người khác không, Thượng sư cười không nói gì, đó là một câu nói đùa. Nhờ có Sư Tôn và Thượng sư Liên Hàn liên tục khai thị mà đệ tử có được sự lĩnh ngộ như sau:

Trật tự đời người là như vậy
Hài nhi hai tay nâng bình sữa
Biết mình chẳng biết Phật hay ai
Trẻ em nương nhờ vào cha mẹ
Biết mình biết người Phật thì chưa
Lớn lên bắt đầu biết nhân quả
Biết mình biết người biết có Phật
Thánh nhân quán không Phật nhập tâm (nhập ngã)
Có người có Phật mình thì không.
Bồ Tát xem mình cũng như người (hợp nhất)
Không mình không người chỉ Phật thôi.
Vô hạn tử quang nhập mẫu quang (ngã nhập)
Không mình không người Phật cũng không.
Phật đến hay đi đều vô ngại (xuất định)
Có mình có người có cả Phật.

Không biết sự lĩnh ngộ này có đúng hay không? Xin Sư Tôn khai thị.
Kính thư!
Cát tường như ý.
Đệ tử Liên Hoa Hán Đào cúi đầu.
Ngày 17 tháng 3 năm 1988.

Liên Sinh Hoạt Phật chú thích:
Mình ở đây là chỉ bản thân, còn người là chỉ những người khác. Phật ở đây là chỉ ý thức vũ trụ.
Sự lĩnh ngộ này rất đúng!
Nếu có thể lĩnh ngộ được đạo lý ở trong thư này thì cũng sẽ hiểu được:
Phật và tất cả Phật.
Tâm chính là Như Lai.


### 25. Nương dựa vô thượng chính đẳng giác


(Đây là thư của Liên Hoa Kim Thiền, là tấm chân tình chỉ nương dựa vào duy nhất Vô thượng chính đẳng giác.)

Nam mô ân sư Liên Sinh Hoạt Phật từ bi soi xét.

Cờ pháp Chân Phật dựng san sát
Pháp loa Linh Tiên đã gióng lên
Thập phương pháp giới hoa sen hiện
Đồng Tử phân thân thành vô số
Phật nhãn thấy hết bao bệnh khổ
Phật Mẫu từ bi thương chúng sinh
Nhật quang sáng chói trùm thiên hạ
Uy thần Như Lai thật diệu kì.

Ân sư như từ phụ:
Đi theo thầy. Con sẽ chẳng cô độc.
Dựa vào thầy. Con luôn được trợ giúp.
Đã có thầy. Con tràn đầy hy vọng.
Tin tưởng thầy. Sẽ có ngày thành Phật.

Vũ trụ ngang dọc, biến hóa thập phương, vĩ nhân mở ra thời đại mới, mặt trời vĩ đại là thầy, thầy là mặt trời, là ngọn hải đăng của thế giới vũ trụ, là chúa cứu tế của nhân loại chúng sinh. Đại nhật quang minh phổ chiếu thập phương, chiếu xuyên tới tất cả những nơi tối tăm u ám, thắp lên vô tận ngọn đèn tâm, tứ sinh lục đạo đều nương dựa, thập phương Như Lai đều tán thán, là con thuyền từ bi trên biển khổ Ta Bà, là vị Kim Cang ban phúc cho những người khốn cùng lao đao, là vị Minh Vương trí huệ giải trừ phiền não vô minh.

Xin hãy gia trì cho con! Ân sư, vì con mà xoa đầu để con không thoái chuyển, vì con mà thọ kí để con thành Phật!

Xin hãy gia trì cho con! Ân sư, xin quang minh vĩnh viễn chở che, từ bi không rời bỏ. Nụ cười đẫm nước mắt của Phật nhãn, pháp nhũ quang minh của Phật Mẫu khiến hài nhi được nuôi nấng khỏe mạnh, bồi dưỡng hài nhi trở thành vị Vua Sư Tử tất thắng, huân luyện hài nhi thành một người anh dũng can đảm, nghị lực kiên định như bàn thạch, tín tâm tràn trề như biển, bền lòng như nhật nguyệt vĩnh hằng.

Xin hãy gia trì cho con! Ân sư, nguyện rằng khi con trưởng thành, bay cao bay xa khắp thập phương, sẽ luôn ghi nhớ công ơn, kế thừa đại pháp chỉ của thầy, tiếp tục trọng trách của thầy, làm rạng danh tông phái, để báo đáp ân huệ vĩ đại của thầy.

Trò nhỏ còn non dại
Mọi thứ chưa trưởng thành
Vẫn bốc đồng hành động
Tính nóng nảy hãy còn
Những bước đi chậm chạp
Nương dựa thầy dạy dỗ.

Xin hãy gia trì cho con! Ân sư, linh hồn con do thầy sinh ra, linh hồn con bám lấy thầy, tất cả đều nương dựa vào thầy, hoa sen chắc chắn sẽ trường sinh.
Nương dựa vô thượng chính đẳng giác. Nguyện con được quang minh vô biên. Chiếu khắp vô biên chư ác thế.
Nương dựa vô thượng chính đẳng giác. Nguyện con được thọ mệnh vô biên. Toàn bộ thọ mệnh dành độ chúng sinh.
Nương dựa vô thượng chính đẳng giác. Nguyện con được trí huệ vô biên. Giúp trừ mê hoặc đưa vào đại trí.
Nương dựa vô thượng chính đẳng giác. Nguyện con có đầy đủ tam muội vô ngại, biện tài thiện xảo để thuyết pháp thù thắng vi diệu, chuyển đại pháp luân.
Nương dựa vô thượng chính đẳng giác. Nguyện con có đầy đủ đại nguyện lực vô biên của Dược Sư. Tránh xa bệnh tật, phiền não, tai nạn, tàn tật. Xinh đẹp, giàu sang, chứng bồ đề.
Nương dựa vô thượng chính đẳng giác. Nguyện con có đầy đủ sức mạnh uy mãnh của Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu. Thiên ma, tâm ma, ngoại đạo đều hàng phục. Thiên tai, nhân họa, đói khát đều không đến thân.
Nương dựa vô thượng chính đẳng giác. Nguyện con nhanh chóng cứu độ vô biên đau khổ và bệnh tật. Xưng là đệ nhất cứu khổ cứu nạn.
Nương dựa vô thượng chính đẳng giác. Nguyện con được phúc đức vô biên. Viên mãn mọi sở cầu của chúng sinh. Hộ trì chúng sinh chứng bồ đề.

Con nguyện mọi lời nguyện đều thành, thành tựu để báo ân thầy.
Thủa bé con sợ mùi xác chết
Do vậy mà yêu Phật Đại Nhật
Lớn lên lại mắc nhiều bệnh tật
Do vậy mà yêu Phật Dược Sư
Thanh xuân vẫn còn nhiều ngu muội
Do vậy mà yêu Đức Văn Thù
Tinh thần tư tưởng thầy giao phó
Do vậy mà yêu Phật Liên Sinh.

Sư Tôn ở xa nghìn dặm, con không biết phải gửi gắm tình cảm đến đâu, không có cách nào đi để xin gia trì, ở phương xa mong ân sư rủ lòng che chở, khẩn thiết mong thầy thường nhớ đến con, ân sư như từ phụ, con mãi mãi tưởng nhớ.

Đồ nhi vừa dốt lại lười nhác
Thậm chí ham ngủ hay lờ đờ
Chậm chạp trì trệ đã bao năm
Thói xấu vẫn chưa từ bỏ được
Mong thầy gia trì cho trí huệ
Vén mây cho con thấy mặt trời
Ngu si được biến thành trí tuệ
Mong thầy gia trì cho tinh tấn
Uy mãnh được như sư tử gầm
Đồ nhi nghiệp chướng nhiều và nặng
Chướng ngại chưa thể nào thoát ra
Nợ nần chồng chất đã lâu ngày
Mong thầy quán đảnh đại quang minh
Khiến cho nghiệp chướng chóng tiêu trừ
Nợ nần thu xếp được ổn thỏa
Trang trải được hết mọi nợ nần.
Đồ nhi hời hợt không tích cực
Vẫn chưa hợp nhất được với thầy
Đi đứng ngồi nằm sẽ ghi nhớ
Ân sư cũng là chính con đây
Mong thầy từ bi đại gia trì
Chú luân thường chuyển sớm hợp nhất.

Đại Phúc Kim Cang đại phúc lực:
Nghiệp chướng sớm rời xa
Bố thí tiền như ý
Hoằng pháp khắp thập phương
Cúng dường đại từ tôn.
Nước chảy nhỏ giọt cũng có sức mạnh xuyên mòn đá, con thề cùng thầy hợp nhất, hết sức cố gắng cúng dường thân tâm, con xin mãi mãi phục mình sát đất quỳ lạy.
Kính ái người cha từ bi mà con nương dựa.
Đệ tử Liên Hoa Kim Thiền đảnh lễ.
Ngày 10 tháng 3 năm 1988.

Liên Sinh Hoạt Phật đặc biệt nhắc nhở, muốn thành Phật, đạt đại thành tựu thì cần có năm điều quan trọng:

1. Quy y và nương dựa vào một vị Thượng sư chân chính. Đây là khởi đầu của thành Phật.

1. Cần phát tâm, nguyện đem pháp này để cứu độ chúng sinh. Sinh ra bồ đề tâm.

1. Cần sám hối, tất cả các duyên đều từ tâm khởi lên, nhất cử nhất động không có cái gì là không tạo nghiệp.

1. Cần cúng dường Thượng sư, cúng dường Thượng sư tương đương với cúng dường Tam Bảo Phật, pháp, tăng, một vị thầy đầy đủ đức hạnh là tổng trì của Tam Bảo.

1. Cần có được truyền thừa gia trì từ Thượng sư, Thượng sư sẽ đem năng lực vũ trụ mà bản thân đã đạt được để phân chia đến các đệ tử, đó là sức mạnh của dòng chảy truyền thừa, tu trì Thượng sư tương ứng pháp, tương ứng với Thượng sư thì sẽ có được lực truyền thừa gia trì.

Năm điều trên nếu như đều làm được tốt thì rất viên mãn, tất cả sẽ cát tường như ý, tự nhiên có được đại phúc, học pháp nhất định thành tựu, đắc được đại trí huệ, cuối cùng chắc chắn thành Phật, đắc vô thượng chính đẳng giác.


### 26. Tường thuật pháp hội cầu phúc năm Mậu Thìn


Thứ bảy ngày 27 tháng 2 năm Mậu Thìn (1988) là pháp hội cầu phúc tại Lôi Tạng Tự ở nước Mỹ. Thời tiết ngày hôm ấy rất đẹp, tràn ngập ánh mặt trời. Nhân sĩ trong và ngoài nước đến tham dự tới hơn một nghìn người.

Phụ thân của Liên Sinh Hoạt Phật là ông Lư Nhĩ Thuận, mẫu thân là bà Lư Ngọc Nữ, đều là khách quý của pháp hội. Đồng thời, mẫu thân Lư Ngọc Nữ của Liên Sinh Hoạt Phật đến để tiếp nhận quán đảnh lần thứ ba, hơn nữa bà còn ngày ngày học pháp, tinh tấn tu trì.

Liên Sinh Hoạt Phật đăng đàn pháp ngữ:
Cầu phúc cầu phúc.
Tâm ta làm chủ.
Cầu phúc cầu phúc.
A Di Đà Phật.

Pháp ngữ này được giải thích như sau: phúc phần của mỗi người thật ra là do tâm của mỗi người làm chủ, tâm lượng vô tận thì phúc phần sẽ vô tận. Người có tấm lòng quảng đại thì phúc phần càng nhiều, người có tâm lượng nhỏ hẹp thì phúc phần sẽ nhỏ.

Cầu phúc phải đến từ tâm của mỗi hành giả, hoàn toàn là sự bộc lộ của nội tâm, do vậy mới nói là vạn pháp do tâm tạo, cầu phúc cũng là do tâm tạo nên thôi. Tâm của chúng ta nhớ đến A Di Đà Phật, mà phúc phần của A Di Đà Phật ở Tây phương Cực lạc Thế giới là lớn nhất, chúng ta cầu phúc cần hướng đến A Di Đà Phật để cầu xin, A Di Đà Phật có đại phúc, nên tu trì để mong vãng sinh Tây phương là chẳng có gì sai. Bởi vậy, cầu phúc, cầu phúc, chính là A Di Đà Phật!

Chương trình pháp hội như sau:
Trong tiếng trống pháp hội nhất tề vang lên, kính thỉnh Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Hoạt Phật và các vị Thượng sư lên pháp tọa. Hát bài tán tụng.
Đốt sớ văn, cầu thỉnh chư Phật Bồ Tát hạ giáng đàn thành phóng quang. Liên Sinh Hoạt Phật khai thị pháp ngữ:
Tu pháp cầu phúc, lễ bái, cúng dường, quy y, hộ thân, kết giới, tụng kinh, trì chú.
Rồi Liên Sinh Hoạt Phật diễn hóa đại thủ ấn cầu phúc.
Các đệ tử tín chúng đích thân tham dự đều được Liên Sinh Hoạt Phật ban gia trì và quán đảnh.
Pháp hội viên mãn cát tường.

Vào 8 giờ tối ngày 27 tháng 2 và 8 giờ tối ngày 28 tháng 2, Liên Sinh Hoạt Phật đã cùng thuyết giảng hai đàn pháp:
Đàn thứ nhất là pháp Địa thần.
Đàn thứ hai là Nhân duyên hạ sinh của Liên Hoa Đồng Tử.
Trong pháp Địa thần, hai bức tượng thần Thiện Ác Đồng Tử do Liên Sinh Hoạt Phật đích thân thờ cúng đã được bán từ thiện, khoản tiền từ bán hàng từ thiện được dùng để hỗ trợ xây dựng Lôi Tạng Tự tại Đài Loan, số tiền thu được là 51.000 đô la Mỹ, do bà Trần Mỹ Hằng đến từ Viên Giác Đường ở Guam chịu trách nhiệm.

Trong bài báo đăng trên tờ Tây Hoa Báo, tờ báo tiếng Hoa tại Mỹ, có viết như sau: "Liên Sinh Hoạt Phật vốn có tổng cộng là sáu người con." Câu nói này đã khiến người ta hiểu nhầm. Ý Liên Sinh Hoạt Phật muốn nói rằng, đời này có hai người con, con trai là Lư Phật Kỳ, con gái là Lư Phật Thanh. Liên Sinh Hoạt Phật có bốn vị Thiện Ác Đồng Tử, là Đồng Tử của pháp nhĩ báo, bởi vì sống cùng đã lâu nên ngài đã xem họ như con, bốn vị Đồng Tử của pháp nhĩ báo này là vô hình, do vậy mới nói là tổng cộng có sáu người con.

Hai vị Thiện Ác Đồng Tử trong bán hàng từ thiện là trong lúc thuyết pháp cao trào, người người phát tâm, nên đã tranh nhau dâng tặng cho Liên Sinh Hoạt Phật.

Trong đàn pháp thứ hai, Nhân duyên hạ sinh của Liên Hoa Đồng Tử, Liên Sinh Hoạt Phật đã tiết lộ nhân duyên của Lư Lệ Hương, Lư Phật Thanh, Lư Phật Kỳ. Đây là một trải nghiệm mới mẻ, khiến người ta không ngớt ca ngợi.

Pháp hội cầu phúc năm Mậu Thìn có rất nhiều kì tích. Các nhân sĩ tham dự đều thuật lại những trải nghiệm thực tế, tất cả đều được mắt thấy tai nghe, rõ ràng như ban ngày.
Có người trông thấy Phật quang.
Có người trông thấy Liên Sinh Hoạt Phật ban cho chuỗi tràng hạt.
Có đệ tử người phương Tây trông thấy toàn bộ Lôi Tạng Tự và mọi người đều bay lên không trung, cả pháp hội đều diễn ra ở trên trời.
Có đệ tử người phương Tây trông thấy mọi người tham gia pháp hội trong tâm đều tỏa hào quang, trong một sát-na, tất cả mọi người đều biến thành Liên Hoa Đồng Tử.
Có người trông thấy Liên Sinh Hoạt Phật mọc ra nghìn cánh tay, những cánh tay phóng quang, mỗi cánh tay đều cầm bảo vật tặng cho chúng sinh.
Có người trông thấy Phật.
Có người cảm động, nước mắt không ngừng, hoan hỉ tán thán.
Tất cả đều vô cùng cát tường, tất cả đều vô cùng viên mãn, pháp hội cực kì thù thắng.


### 27. Thư của Liên Hoàn


Thầy kính yêu!
Con xin gửi lời chào đến thầy. Sư Mẫu, Phật Thanh, Phật Kì đều bình an!
Con xin được thuật lại tóm tắt chuyến đi về Đài Loan của mình. Lần này đệ tử quay về một tháng, thời gian ở cùng với Lâm Linh Quyên rất nhiều. Cô ấy và sư huynh Liệu Kim Thành và một người có biệt danh là Lưu Bang đều là những người rất thú vị, rất chăm chỉ tu trì.

Một ngày trước pháp hội, vì em gái của con là Diệu Du lái xe, cùng với Linh Quyên đợi một người cùng đi đến Trác Lan thăm sư huynh Lâm Ích Xuân và Đông Sơn Đường, con người ở miền quê ấy chất phác giản dị, thân thiết, đồng thời không khí ở vườn quýt trên núi rất trong lành tươi mát, để lại ấn tượng không thể phai mờ trong kí ức của chúng con.

Vào ngày pháp hội Hộ Ma tại Thảo Đồn Lôi Tạng Tự, chúng con cả nhóm đông người đều đi, bố con, cùng với ba chị em, và gia đình họ Trương đều vô cùng hoan hỉ mua rất nhiều hoa tươi dâng lên Phật Bồ Tát, trong số đó, ở chợ Thái Bình bố con đã mua được hoa cúc hoa hồng nhiều màu sắc, em gái thì chọn mua một bó hoa lan tao nhã và một nắm cúc vạn thọ đẹp vô cùng. Con thì mua một tá hoa hồng vàng và rất nhiều hoa dạ lý hương, thêm một số loại khác nữa, trông rất đẹp mắt.

Linh Quyên nói, buổi sáng hôm ấy trước khi đi, cô ấy đã gọi điện cho người dì, bảo dì ấy cùng đi. Thật không ngờ khi dì ấy qua đi cùng thì đã quyên góp một triệu Đài tệ, vợ chồng Linh Quyên cũng quyên góp sáu trăm nghìn Đài tệ. Mọi người đều rất hoan hỉ ca ngợi. Con cũng thấy sư huynh Lâm ở Trác Lan quyên góp năm trăm nghìn tệ, sư huynh Tạ ở Cao Hùng quyên góp năm trăm nghìn tệ. Họ chân thành phát tâm như vậy, còn con thì lại chẳng có bao nhiêu tiền, cũng không có năng lực gì, lại cộng thêm cảm giác thấy mình nhỏ bé, những gì con có thể làm đại khái chỉ có "hết thảy công đức, con đều tùy hỉ" thôi!

Lần này trở về, học trò của con là Lâm Thị, có bệnh tâm thần phát tác nghiêm trọng hơn lần trước, em ấy sống rất đau khổ, phần lớn thời gian đều phải gửi đến trại Tịnh Hòa. Nhờ sự giúp đỡ của Linh Quyên (Phật Bồ Tát thường chỉ thị cho cô ấy trong  mơ), bốn người chúng con đưa Lâm Thị đến chỗ của Thành Hoàng Bồ Tát ở đường Trung Hiếu, thành phố Đài Trung để nhờ Thành Hoàng điều giải, một mặt siêu độ oan thân trái chủ, một mặt sám hối tội chướng.

Kể cũng kì lạ, huyễn thanh huyễn thị của cô ấy đã biến mất, cô ấy cảm thấy cả người dường như được đổi thành một con người mới. Đó là một kì tích mà Phật Bồ Tát đã từ bi hiển hiện. Bệnh tình kéo dài bảy năm của Lâm Thị đã khỏi hoàn toàn rồi. Con cũng không dám tin quá, nhưng điều con không thể tin nhất lại là bố của con, vì chuyện này mà ông đã quy y Liên Sinh Hoạt Phật. Vốn dĩ chuyện độ chúng sinh, muốn độ cha mẹ của mình là rất khó, chính xác như thầy đã từng nói, làm cha mẹ làm sao có thể hạ mình mà sẵn lòng nghe con mình được!

Lần này con về nhà, bố con vẫn còn không đồng ý việc con tin theo tông phái này, nhưng sự việc này là ông tận mắt chứng kiến toàn bộ quá trình Lâm Thị phát bệnh và khỏi bệnh, thế rồi cả chị gái Diệu Linh, em gái Diệu Du đều quyết tâm quy y Liên Sinh Hoạt Phật, đệ tử xin được hạ bút viết ra câu chuyện này để kỉ niệm nhân duyên bố con quy y Hoạt Phật.

Hôm pháp hội Hộ Ma tại Thảo Đồn, con trông thấy bố con thành kính cung kính dâng lên một chút tiền để đóng góp xây chùa, con đã rất cảm động, bởi vì con biết, đó là thành ý rất lớn của bố con đó!

Lần này con quyết định tham gia pháp hội ở Seattle Lôi Tạng Tự vào cuối tháng 2 một cách rất vội vàng, gần giống như là con muốn đến thì đến, cũng không biết vì sao, không có mục đích gì, nhưng con cứ khăng khăng là cần phải đi, thật là kì lạ. Có một số đệ tử khác đến Mỹ tham gia pháp hội là có mục đích, con cũng đoán được đôi chút, vì Sư Tôn từng nói sắp tới Sư Tôn "hai bàn tay trắng, không biết kết cục ra sao", theo suy đoán của con thì ít nhất mọi người cũng đã bị câu nói này dọa cho sợ rồi, có lẽ là mọi người lo lắng mấy năm sau, Sư Tôn sẽ rời xa Seattle, sau khi vân du bốn phương thì sẽ không dễ gặp mặt Sư Tôn nữa. Trước dịp năm mới, sư huynh Dương Thái Giám vừa nghe được tin tức này đã khóc một trận lớn, đệ tử này đã quá say đắm Sư Tôn rồi!

Gần đây, vùng đất Alaska đã bị băng tuyết bao vây chặt chẽ, buổi tối cách đây mấy hôm, có hai con nai lớn đói khát băng qua rừng đến khu dân cư bên hồ cát để tìm thức ăn. Con nghĩ chúng nhất định là đói lắm rồi, ngay cả đến những cành cây trơ trụi cũng đều gặm cả (chúng cao gần bằng một tầng lầu, to gấp ba lần trâu ở Đài Loan), nhưng đi đến đâu cũng chỉ là một miền trắng xóa. Con nghĩ, khi nào thì mùa xuân mới đến đây, để ánh nắng mùa xuân xua tan hết băng tuyết.

Kính chúc thầy và mọi người vui vẻ.
Đệ tử Thẩm Diệu Quyên (Liên Hoàn).
Chắp tay kính thư.
Ngày 16 tháng 2 năm 1988.

Lá thư này được gửi đến từ Alaska nước Mỹ, là thư do Liên Hoàn viết.
Thư của Liên Hoàn khiến người ta có cảm giác thanh khiết và trong trẻo, đọc thư của cô ấy có cảm giác tươi mát.
Đối với việc xây dựng chùa, các đệ tử phát tâm khiến người ta cảm động. Lâm Linh Quyên, dì của Lâm Linh Quyên, khi tôi ở Đài Loan, họ đều là những đệ tử thân thiết của tôi.

Lâm Linh Quyên giúp Lâm Thị chữa khỏi bệnh tâm thần, nhờ có Thành Hoàng Đài Trung điều giải, quả nhiên đã khỏi bệnh, khiến người ta vui mừng. Ở đây có một bí mật, Thành Hoàng Đài Trung là bạn thân ở linh giới của Liên Sinh Hoạt Phật đó!

Thư của Liên Hoàn khiến tôi hân hoan. Người nhà được độ, đúng là không đơn giản. Nhưng hy vọng nắng xuân sớm đến, sớm làm tan chảy băng tuyết.
Đó là nhân, đó là duyên, đó là quả.


### 28. Thư của Thượng sư Liên Hàn


Dưới đây là một bức thư của Thượng sư Liên Hàn:

Ân Sư, Sư Mẫu kính yêu! Con xin chào!
Ngày 28 tháng 1 con có gửi đi một phong bì, chắc là đã tới nơi rồi. Gần đây đệ tử mới có vinh dự được đọc cuốn sách mới được xuất bản của Ân Sư, là cuốn "Thông suốt cõi vô hình", thật thán phục Ân Sư từ lâu đã nhập vào cảnh giới hư không vô vi siêu việt càng siêu việt, đệ tử dường như đang được ôn lại những lời dạy bảo của Ân Sư. (Trước đây Ân Sư đã có những lời huấn thị kiểu này rồi, nhưng không bộc lộ tường tận và sâu như vậy.)

Kể từ dịp Tết Nguyên Đán sau khi nghe bài giảng "chư pháp vô ngã" của Ân Sư (thật ra là sau khi nghe lần thứ hai), đệ tử ngoài cảm thấy hổ thẹn sâu sắc ra thì tư tưởng cũng có rất nhiều thay đổi lớn, tất cả đều thấy được mở mang hơn. Lại thêm gần đây đọc cuốn "Thông suốt cõi vô hình", càng giống như ánh mặt trời chiếu tan sương giá, rất nhiều thứ lắng đọng lâu nay đều lần lượt  được hòa tan trong tâm con. Đệ tử nguyện sẽ đọc lại nhiều lần cuốn "Thông suốt cõi vô hình", để tư tưởng siêu việt của Ân Sư vĩnh viễn thấm sâu vào tâm linh của đệ tử. Đệ tử sẽ không ngừng nỗ lực học tập và thực hành.
Đệ tử nhận được ơn sâu to lớn của Ân Sư! Ân Sư đã ảnh hưởng đến đệ tử một cách vô cùng to lớn và sâu sắc!

Đệ tử vinh dự được đọc cuốn "Con đường cuối cùng", không nén nổi cảm giác đau lòng. Trước đây đệ tử từng nghe Ân Sư hé lộ riêng về nhân duyên tản mát sau này, những hồi tưởng đi kèm với cảm giác đau xót vẫn dâng trào, mong đệ tử có duyên có thể sát cánh bên cạnh Ân Sư đi đến muôn phương, đi đến phút cuối cùng trên "Con đường cuối cùng"!

Sau khi từ Đài Loan trở về Hồng Kông (ngày 14 tháng 1), đệ tử bị ốm liên tục suốt hơn 10 ngày, bệnh này chưa hết lại đến bệnh khác, cho đến tận ngày 31 tháng 1, sau khi làm pháp hội siêu độ tại Tín Pháp Đường mới bình phục hẳn, đó là kết quả của pháp lực thù thắng của pháp hội.

Bản tiếng Anh cuốn sách "Cảm ứng của người quy y" của Ân Sư đã in xong, nay con xin gửi đến hai cuốn, ngoài ra còn có 80 cuốn đang được gửi đi bằng đường bưu điện. (Bưu kiện giới hạn là 20 cân, vừa hay là được 80 cuốn.)

Gần đây con được vinh dự đọc cuốn "Thông suốt cõi vô hình", vô cùng cảm khái, nên đã nảy ra một bài thơ theo thể trường luật, lấy tiêu đề là "Chân Phật", nay con không ngại kém cỏi mà dâng lên trình Ân Sư, con rất hân hạnh mong Ân Sư hiệu đính.

Con gửi kèm trong phong bì này tờ ngân phiếu là cúng dường của các đồng môn, cung thỉnh Ân Sư từ bi vui lòng nhận cho.
Con xin kính chúc cả gia đình năm mới vui vẻ! Phật quang phổ chiếu thế gian!
Ngu đệ tử Liên Hàn chí thành đảnh lễ.
Ngày 8 tháng 2 năm 1988.

Bài thơ trường luật như sau:

Chân Phật
"Trụ thế cơ duyên vạn năm gặp
Độ sinh bi nguyện kín bầu trời
Ba mươi hai tướng tốt trang nghiêm
Đầy đủ thần thông trăm lẻ tám
Mặc lũ sâu bọ cười khinh miệt
Thiên mã mình ta cưỡi trên trời
Chính giác tối cao đều thành tựu
Vũ trụ vô thượng đều viên dung
Đặt bút xót thương ban giáo hóa
Cầm hoa khẽ cười cùng ung dung
Hồ Sammamish vầng trăng sáng
Soi ta chìm trong định tuyệt vời."

Kính dâng lên Liên Sinh Hoạt Phật Ân Sư.
Đệ tử Liên Hàn chí thành đảnh lễ.

Xuân mới Mậu Thìn.
Nhận được thư và bài luật thơ này của Thượng sư Liên Hàn, tôi cũng muốn đáp lại bằng một bài thơ. Gần đây tôi chuyển nhà đến bên bờ hồ U Linh, giữa đêm đều ngồi thiền ở bên hồ. Hồ U Linh lúc này càng yên tĩnh hơn.

Tôi viết cuốn sách "Đêm ở hồ U Linh", kể ra nhân duyên Liên Hoa Đồng Tử hạ sinh ở Ta Bà. Những điều này tôi đều biết được trong những lúc thiền định minh tưởng, linh cảm trào dâng như nước nguồn, vô cùng thù thắng.

"Thông suốt cõi vô hình" nghĩa là tam giới thập phương đều có thể hiểu rõ. "Con đường cuối cùng" chính là mức độ cao nhất của sự thông suốt cõi vô hình, cũng có nghĩa là tất cả mọi thứ đều có thể buông xả hết.

Tiêu đề bài thơ: Đêm ở hồ U Linh.

"Núi xa trùng điệp hồ xanh biếc
Đường vắng rừng sâu khách chẳng qua
Một ngọn đèn đơn soi trăng sáng
Trong đầu sắp xếp mấy áng thơ
Lặng lẽ Liên Sinh ngồi suy ngẫm
Tiền kiếp luôn luôn có nguyên do
Chẳng than nhân duyên và quả báo
Vô tâm vô sự nước xuôi dòng."

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/077-tien-thien-phu-but.md
# Title: 077. Tiên Thiên phù bút
---

![image](/img/img_bb868ac1aa277088448c3c30b6e5dd84.jpg)



## Tiên thiên phù bút


🪷 Phù lục tuôn chảy từ tâm Liên Sinh Hoạt Phật

Văn tập: 077
Xuất bản: 07/1988
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu


Phù lục tuôn chảy từ tự tâm Liên Sinh Hoạt Phật

**Tâm yếu vẽ phù của Chân Phật Mật Pháp**

Khẩu quyết quan trọng nhất của việc vẽ phù là: “tâm thành tắc linh” (thành tâm sẽ linh nghiệm). Vì thành tâm sẽ linh nghiệm nên cũng có nghi quỹ của vẽ phù, không thể vẽ tùy tiện được. Trong bản văn ngắn này, tôi đặc biệt thuật lại chi tiết tâm yếu vẽ phù của Chân Phật Mật Pháp.

**Thứ nhất: **Sự thanh tịnh của đạo cụ
Công cụ vẽ phù của chúng ta quan trọng nhất là giấy, bút, nghiên, mực. Bốn công cụ này cần phải được thanh tịnh, có ba cách thanh tịnh công cụ:

- Đốt một đụn giấy vàng mã, sau đó lấy giấy, bút, nghiên, mực nhanh chóng hơ qua lửa. Có thể dùng tay cầm giấy, bút, nghiên, mực nhanh chóng di chuyển qua lửa. Cho qua lửa xong rồi chính là “thanh tịnh”.

- Đốt hương trước bàn thờ Phật, đem giấy, bút, nghiên, mực, dùng khói hương để xông qua. Xông qua khói trắng chính là “qua hương hỏa”. Qua hương hỏa như vậy chính là “thanh tịnh”.

- Bày giấy, bút, nghiên, mực ngăn nắp, người vẽ phù dùng ấn “kiếm chỉ” hoặc “kim cương chỉ”, chỉ vào đạo cụ mà sắc hóa thanh tịnh. Sắc hóa thanh tịnh này chính là phương pháp thứ ba.

**Thứ hai: **Sự thanh tịnh của bản thân
Hành giả trong lúc vẽ phù cũng cần phải giữ thân tâm thanh tịnh. Trịnh trọng hơn nữa là phải trai giới tắm rửa sạch thân thể, sau đó mới nhập mật đàn vẽ phù. Đây là điều rất cần thiết.

Tịnh khẩu nghiệp chân ngôn:
Om suri-suri, maha-suri, su-suri, soha.
(Ôm, su-ri, su-ri, ma-ha-su-ri, su-su-ri, sô-ha)

Tịnh thân nghiệp chân ngôn:
Om sudori-sudori, sumoli-sumoli, soha.
(Ôm. su-đô-ri, su-đô-ri, su-mô-li, su-mô-li, sô-ha)

Tịnh ý nghiệp chân ngôn:
Om vajra-dam, ho-ho, hum.
(Ôm, va-zờ-ra-đam, hô-hô-hùm)

An thổ địa chân ngôn:
Namo sa-man-ta, buddha-nam. Om duru-duru devi, soha.
(Nam mô, sa-man-ta, bu-đa-nam. Ôm, đu-ru, đu-ru, đê-vi, sô-ha)

**Thứ ba:** Đốt sớ văn hoặc cầu nguyện
Chúng ta cầu phù, bước này không bỏ qua được, đầu tiên có thể viết xong sớ văn. Ý chính của sớ văn phải đơn giản rõ ràng, ví dụ:
Người nào đó, địa chỉ ở đâu, năm nay mấy tuổi, sinh vào giờ nào ngày nào tháng nào năm nào, hiện giờ bị bệnh gì.
Cầu nguyện xin phù dùng để chữa bệnh.
Cầu xin Phật quang soi chiếu, thân thể hồi phục khỏe mạnh.
Nếu hồi phục khỏe mạnh, sẽ hoàn nguyện ra sao, như thế này thế kia.

Đây là sớ văn cơ bản nhất, tại mật đàn đọc một lần rồi đốt đi.
Nếu không biết viết sớ văn thì đọc họ tên, địa chỉ, ngày sinh của người bệnh hoặc người xin phù. Cầu xin loại phù nào hãy bẩm báo hết toàn bộ trước chư Phật.

**Thứ tư:** Hành giả Chân Phật cầm bút lên quán tưởng
Người vẽ phù dùng bút chấm mực, giơ bút cao quá chân mày, rồi quán tưởng Bổn tôn xuất hiện ở trong hư không. Bổn tôn phóng quang chiếu vào bút của hành giả. Màu sắc ánh sáng mà Bổn tôn phóng ra được phân ra theo từng loại phù khác nhau.
Tức tai: ánh sáng màu trắng.
Tăng ích: ánh sáng màu vàng.
Kính ái: ánh sáng màu đỏ.
Hàng phục: ánh sáng màu xanh dương.

Ánh sáng này vừa chiếu vào bút, bút liền xuất hiện ánh sáng màu. Cần ngay lập tức đặt bút xuống vẽ phù, vẽ phù tốt nhất nên vẽ một mạch là thành.

**Thứ năm:** Cầu xin chư tôn phóng quang
Tấm linh phù có hiệu nghiệm hay không toàn bộ nằm ở điểm mấu chốt này. Vẽ xong phù rồi, hành giả Chân Phật có thể tiếp tục quán tưởng Bổn tôn phóng quang. Màu ánh sáng này vẫn phân làm bốn màu của tức tai, tăng ích, kính ái, hàng phục, chiếu lên trên lá phù. Cầu xin loại phù nào, Bổn tôn sẽ phóng quang màu ánh sáng đó.

Hành giả Chân Phật có thể quán tưởng Bổn tôn phóng quang chiếu lên phù, mà trên giấy vẽ phù cũng xuất hiện ánh sáng.

Có chư tôn phóng quang chiếu lên phù thì phù này chắc chắn linh nghiệm. Không có chư tôn phóng quang chiếu lên phù, phù này chắc chắn không linh nghiệm. Đây gọi là “chư tôn bố quang”, phù mới trở thành linh phù.

**Thứ sáu:** Hành giả tự mình phóng quang
Hành giả Chân Phật khi đã vẽ xong phù phải hà một hơi vào đuôi bút, sau đó đóng dấu, cũng tức là chấm một cái là đầu và đuôi phù, đại diện chân khí đã đi vào trong phù. Tiếp theo dùng ấn “chỉ ấn” phóng quang, hoặc dùng “kim cương chỉ” phóng quang chiếu ánh sáng.

Kiếm chỉ: Ngón trỏ và ngón giữa của tay phải giơ thẳng, ngón đeo nhẫn và ngón út gấp vào trong lòng bàn tay, dùng ngón tay cái giữ chặt, ấn này là “kiếm chỉ ấn”.

Kim cương chỉ: Ngón giữa của bàn tay phải giơ thẳng, ngón trỏ, ngón đeo nhẫn và ngón út gấp vào trong lòng bàn tay, dùng ngón cái giữ chặt, ấn này là “kim cương ấn”.

Hành giả Chân Phật có thể chọn bất kì một ấn nào, chỉ vào trong phù rồi phóng quang, quán tưởng ánh sáng (có màu sắc) từ trong ngón tay phóng ra và chiếu lên trên lá phù. Quán tưởng thế này cũng tức là dùng ý niệm, cách này trong phù pháp được gọi là “sắc hóa”. Người biết khởi linh có thể dùng ấn, dùng linh lực để phóng quang.

**Thứ bảy:** Cúng dường
Những hành giả vẽ phù như chúng ta, khi thỉnh mời chư tôn đến phóng quang, nhớ là nhất định phải cúng dường. Cúng dường có thể làm trước bước thứ tư, cũng có thể làm sau bước thứ sáu. Phải kết cúng dường thủ ấn, quán tưởng cúng phẩm biến hóa, niệm cúng dường chú.
Giả sử hành giả Chân Phật nhập mật đàn, phải bắt đầu từ thanh tịnh chú, triệu thỉnh chú, đại lễ bái, tứ quy y, đại cúng dường, mặc giáp hộ thân, Cao Vương Quan Thế Âm chân kinh, rồi tiếp đến mới bắt đầu từ bước thứ ba. Lễ nghi như vậy thì càng đầy đủ hơn.
Nói tóm lại, về cơ bản vẫn là “tâm thành tắc linh”.

Tôi viết một bài kệ, hãy ghi nhớ:

*Phù này bí mật trời đất.
Thật như viên ngọc minh châu.
Pháp môn bí mật như vậy.
Trung thực dùng độ chúng sinh.*

Mùa xuân năm 1988, tôi sống trong một ngôi nhà ở Mỹ, từ hồ Sammamish dọn đến hồ U Linh. Và chính là ở hồ U Linh viết ra một cuốn sách mới tên là “Đêm ở hồ U Linh”. Cuốn sách này thuật lại chi tiết quá trình trải nghiệm của bản thân tôi từ Ma Ha Song Liên Trì hạ sinh đến thế giới Ta Bà.

Tôi hoàn toàn nhớ được tất cả mọi chuyện của tiền kiếp. Tôi dựa vào thiền định quán sát. Ở trong tâm linh vô niệm, bay qua đường xa muôn trùng, trong phút chốc đi vào một đường hầm xưa cũ, sự thần bí trong đó không thể đo lường được!

Trải nghiệm hạ sinh của tôi, chính là:
*Thánh tôn nhớ tiền kiếp.
Toàn ở tại thiên đình.
Liên tục giáng trần gian.
Lòng từ bi vô hạn.
Nay hiện pháp Chân Phật.
Phổ độ các sinh linh.
Ma Ha Song Liên Trì.
Giáo hóa không gì sánh.*

Liên Sinh Hoạt Phật trong khi thiền định quan sát, tại Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ, nhìn thấy một cây bằng ngọc. Cây này hoa rất đỏ, quả rất vàng, lá rất xanh, cành thì lại có màu trắng trong. Cây cao rất hùng vĩ mà các nhánh cây mọc cong xuống, rủ xuống giống như một cái ô, vô cùng khác thường.
Tôi hỏi tiên nhân: “Cây này tên gọi là gì?”
Tiên nhân nói: “Đây là cây Phù.”
“Cây Phù? Chưa từng nghe nói đó.”
“Cây này ở Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ có lịch sử năm nghìn năm. Năm nghìn năm tương đương mấy tỷ tỷ năm của thế giới Ta Bà. Cây Phù có rất nhiều tiên chúng, trên ngọn cây có tám mươi tiên nữ, trong cây có Kim Đào Tôn Giả, vô cùng trang nghiêm. Cây này cai quản phù lục trong thiên hạ, vì vậy mà có tên này.”

“Tôi muốn nhìn ngắm phù lục trong thiên hạ có được không?”
“Cây Phù nở mỗi năm một mùa, đã hết mùa rồi, làm sao lại nở nữa được?”

Trong lúc tôi đang nói thì nhìn thấy từ trong cây Phù bước ra một vị tiên trưởng, tay cầm phất trần, tướng mạo trang nghiêm, toàn thân phát ra ánh hào quang vi tế, hát lên bài kệ:

*Mênh mông mang mang không một điểm
Phân rõ mịt mờ vật hiện ra.
Trước là không tướng sau có tướng.
Tiết lộ thiên cơ lưu hình phù.*

Vị tiên trưởng này chính là Kim Đào Tôn Giả.
Kim Đào Tôn Giả nói với tôi: “Tạo vật vô thường, cây Phù muốn đơm hoa kết quả, tuy một năm nở hoa một lần nhưng ngài nhìn đi, chẳng phải hoa này rất đỏ, chẳng phải quả này rất vàng hay sao? Đây là hai lần nở hoa, có thể thấy Thánh tôn từ bi, cỏ cây có linh khí, cây Phù lại nở hoa rồi.”
“Làm sao để nhìn ngắm thiên hạ phù lục?” - Tôi hỏi.
“Kỳ diệu thay! Kỳ diệu thay! Cần hái một quả xuống, ăn vào là được.” - Kim Đào Tôn Giả đáp.

Ngay lúc đó, Kim Đào Tôn Giả hái một quả xuống đưa cho tôi ăn.
Kim Đào Tôn Giả nói: “Thánh tôn xuống cõi Ta Bà, công đức to lớn, bây giờ ăn quả của cây Phù, tiên thiên phù lục đều nằm ở trong tâm, tùy tâm tuôn chảy là được. Ngài muốn nhìn ngắm phù lục thì nhìn ngắm tâm của chính mình đi! Trong tâm sẽ tự có những tấm phù vàng lấp lánh, những tấm phù đỏ chói chang đó.”

Liên Sinh Hoạt Phật xuất định!
Thế là sau cuốn “Đêm ở hồ U Linh”, tôi viết tiếp một cuốn tên là “Tiên thiên phù bút”. Đây là văn tập thứ 77 của Liên Sinh Hoạt Phật. “Tiên thiên phù bút” đích thực là không giống với phù lục của thế gian. Đây là những cái chưa từng có!!!

Tiên thiên phù sở dĩ đặc biệt là vì các loại phù là tự tâm Liên Sinh Hoạt Phật tuôn chảy ra, là cái trước giờ chưa từng có, là quả do cây Phù kết thành, là phù lục siêu vượt tất cả phù lục hữu hình và hậu thiên, phải nói là thù thắng vô thượng nhất. Học vẽ Tiên thiên phù phải dựa theo nghi quỹ vẽ phù, có thể thỉnh giáo vị Kim cương Thượng sư biết vẽ phù. Thiên tiên phù có thể tức tai, có thể cầu phúc, có thể trừ bệnh tật, có thể tăng ích, có thể kính ái, có thể hàng phục, có thể siêu độ… thực sự là thứ có thể tế thế cứu người.

Tiên thiên phù là thứ vô cùng thù thắng, đạo lý bên trong vô cùng thâm sâu. Phù lục có thể phát quang, có thể bay, làm trên trời rơi xuống vô số bông hoa trời đẹp tuyệt diệu, có thể giao tiếp với quỷ thần, có thể điều khiển gió mưa sấm chớp, có thể hiện ra các loại báu vật, có thể phòng trộm cắp, có thể giúp việc thắp hương thêm linh nghiệm, có thể chiêu thỉnh Tiên Phật.
Đây gọi là:
Một tấm phù có thể hóa núi Tu Di.
Một tấm phù có thể nuốt trọn nhật nguyệt.
Một tấm phù có thể ngừng dứt ba nghìn cõi.
Một tấm phù có thể nắm giữ muôn cõi trời.

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-Yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Phù sấm sét trong lòng bàn tay


(Chưởng tâm lôi phù)

Đây là một tấm “chưởng tâm lôi” phù vô cùng đặc biệt. Các loại phù “chưởng tâm lôi” có nhiều kiểu.
Tại sao gọi là “chưởng tâm lôi”? Vì lá phù này phải vẽ trong lòng bàn tay.


<details>
<summary>Chưởng tâm lôi phù</summary>


![image](/img/img_94a9ef46cb07b2aa99e5d6b84ff4962a.png)

</details>


Khi vẽ phù phải vừa vẽ vừa niệm chú ngữ. Chú ngữ niệm ở trong tâm không phát ra tiếng.

Chú ngữ chính là:

Đông khởi Thái Sơn Lôi.
Nam khởi Hoành Sơn Lôi.
Tây khởi Hoa Sơn Lôi.
Bắc khởi Hằng Sơn Lôi.
Trung khởi Tung Sơn Lôi.
Ngũ Lôi tốc phát.
Om. Hum. Hum.

Sau khi vẽ xong, tay nắm thành nắm đấm. Tay phải vẽ, tay trái nắm lại.

Tiếp đó bước đến một điểm, tay trái giơ ra phía trước và mở ra. Miệng đọc lớn thành tiếng: “Om. Hum. Hum.”

“Ngũ lôi phù” phát ra sẽ giống như một tiếng sấm vang giữa bầu trời trong xanh, yêu ma quỷ quái tháo chạy, còn gọi là phù phá tà linh.

Liên Sinh Hoạt Phật từng vẽ phù này trong lòng bàn tay, tại ngôi miếu cổ giúp người khác bắt yêu hàng ma, giơ tay chỉ vào lư hương lớn dùng để thắp hương ở ngoài sân, quát lên một câu “Om. Hum. Hum.” Từ trong lư hương chui ra một con rắn to, bò uốn éo trốn vào phía sau núi.

Ngôi miếu cổ vốn bị một tà vật thống soái núi này quấy nhiễu, người và vật nuôi đều không yên thân. Tà vật thống soái núi này chính là con rắn to. Con rắn này trốn vào phía sau núi, từ đó  trở đi không dám xuất hiện nữa.


### 02. Phù triệu thỉnh quỷ thần


(Chiêu thỉnh quỷ thần phù)

Phù thức chiêu thỉnh quỷ thần vốn dĩ có rất nhiều, nhưng phù như hình dưới là linh nghiệm nhất, là xác thực, đáng tin nhất.

Phù này do bốn chữ tổ hợp thành, là “linh quỷ phi đáo” (quỷ thần bay đến).


<details>
<summary>Chiêu thỉnh quỷ thần phù</summary>


![image](/img/img_be5d96f8ed3139e339ac83abfba62556.png)

</details>


Linh quỷ ở đây không hẳn là quỷ, mà chỉ là cách gọi chung của linh giới. Cao cấp thì gọi là thần, thấp cấp thì gọi là ma quỷ.

Khi vẽ phù, tay trái phải bấm tay niệm chú, nghĩa là dùng ngón cái tay trái ấn vào vị trí chi thần của ngày hôm đó. Chi thần có 12 vị trí, ngón cái ấn vào vị trí của ngày đó. 
Khi vẽ xong, miệng đọc: 
Lôi đình hiệu lệnh.
Cấp như tinh hỏa.
Thập phương tam giới.
Khuynh khắc diêu văn.
Chân Phật sắc lệnh.
Phần hương chiêu thỉnh.
Linh quan truyền tấu.
Luân niên trực nguyệt trực nhật.
Thọ sự công tào, thông linh thổ địa,
Văn ngô hiệu chiêu, hỏa tốc đáo đàn,
Thính ngô pháp chỉ, hữu sự sai khiển
Cấp cấp như luật lệnh.

Phù này đốt trước mật đàn.
Đốt phù xong, chắc chắn quỷ thần sẽ đến. Pháp sư muốn làm pháp gì, muốn làm chuyện gì, chỉ cần bẩm báo hết toàn bộ với thần tiên giáng xuống là được, vô cùng linh nghiệm. Phù thành tâm là linh nghiệm, thần nhất định đến, do vậy kị nhất là đùa giỡn xem thường. Nếu đùa giỡn xem thường thì đại họa sẽ giáng xuống đầu ngay.

Liên Sinh Hoạt Phật đặc biệt cảnh cáo tại đây. Cần phải thành kính, vô cùng tôn kính thì chuyện gì cũng linh nghiệm.


### 03. Phù hộ thân Kim Đào Tôn Giả


(Kim Đào Tôn Giả bảo mệnh phù)

Liên Sinh Hoạt Phật tại Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ cùng Kim Đào Tôn Giả đối đáp: “Có phù thức bảo mệnh hộ thân không?”

“Phù thức bảo mệnh hộ thân thì có rất nhiều, hầu hết các thần tiên đều có phù thức bảo mệnh hộ thân truyền lại.”
“Lấy gì làm cái cao nhất?”
“Phù thức thực sự không có tôn ti cao thấp, mà chủ yếu nằm ở duyên phận của người sử dụng với phù thức và thần tiên đó như thế nào.”


<details>
<summary>Kim Đào Tôn Giả bảo mệnh phù</summary>


![image](/img/img_2c67512f70efa2c5fd875eb53955fe35.png)

</details>


“Ví dụ nếu người này và Thái Ất Chân Nhân có duyên rất lớn, khi sử dụng phù thức của Thái Ất Chân Nhân sẽ rất linh nghiệm nhờ nhân duyên này. Nếu có ít nhân duyên với Thiên Thượng Thánh Mẫu mà đeo phù thức của Thiên Thượng Thánh Mẫu thì sẽ bớt đi linh nghiệm.” - Kim Đào Tôn Giả nói.
“Vậy phù thức bảo mệnh hộ thân của chính tôn giả thì sao?”
“Ta vốn là tôn giả cai quản cây Phù trên Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ, phù trong thiên hạ đều do ta quản lý chịu trách nhiệm. Bảo mệnh phù của ta xuất ra, mọi phù tà đạo giáng xuống trong thiên hạ toàn bộ đều phải lui tán. Nếu có ai đeo bảo mệnh phù của ta trên người, đồng nghĩa với phá tất cả phù tà đạo. Trong phù thức có bốn chữ “nguyên anh chính trung”, chính là sự thù thắng trong bảo mệnh phù của Kim Đào Tôn Giả.”
“Ôi! Quả thật là quá tốt.”

Bảo mệnh phù của Kim Đào Tôn Giả là lần đầu tiên tôi công bố với thế gian, là thứ vô cùng trân quý. Nếu người đeo phù bảo quản giữ gìn nguyên vẹn, có thể phá tất cả các loại phù tà đạo khác.


### 04. Phù thân phát kim quang


(Kim quang phù)

Đây là lần công khai thứ hai của phù này. Lần công khai thứ nhất là trong cuốn “Linh tiên phi hồng pháp”, tuy nhiên lần đó tôi chưa hề công khai pháp tu của nó. Phù này có thể được xem là một trong các đại pháp của con đường tu.

Pháp tu như sau:
Hai tay kết ấn kim quang, nâng lên ngang chân mày.
Ấn kim quang: Hai ngón giữa và hai ngón áp út đan vào nhau. Ngón trỏ, ngón út, ngón cái, chụm lại giơ thẳng. Ngón trỏ, ngón út hướng lên trên, ngón cái hướng xuống dưới.”

Quán tưởng kim quang phù như phù thức, lấp lánh kim quang trong hư không ở trên đỉnh đầu.


<details>
<summary>Kim quang phù</summary>


![image](/img/img_55f8ea80b3af380b67152fffc72e6e0b.png)

</details>


Tiếp theo dùng kim quang ấn, hướng về toàn thân của mình bung tán ấn. Quán tưởng toàn thân của mình phóng chiếu kim quang.

Niệm chú:
“Thiên địa huyền tông.
Vạn khí bổn căn
Quảng tu vạn kiếp
Chứng ngô thần thông
Tam giới nội ngoại
Duy đạo độc tôn
Phù hữu kim quang
Tráo hộ ngô thân
Thị chi bất kiến
Thính chi bất văn
Bao la thiên địa
Dưỡng dục quần sinh
Thọ trì nhất biến
Thân hữu quang minh
Tam giới thị vệ
Ngũ đế ti nghênh
Vạn thần triều lễ
Dịch sử lôi đình
Quỷ yêu tang đảm
Tinh quái vong hình
Nội hữu phích lịch
Lôi thần ẩn hồng
Thông huệ giao triệt
Ngũ khí đằng đằng
Kim quang tốc hiện
Phục hộ chân nhân
Cấp cấp như luật lệnh.”

Pháp tu này là pháp tu trì quý báu của Đạo gia.
Là Liên Sinh Hoạt Phật lần đầu tiên công khai pháp bí mật trân quý như vậy.


### 05. Phù trấn áp Thủy cục sát khí


(Địa linh áp Thủy sát phù)

Đây là một trong những lá phù giải trừ tai họa về địa lý phong thủy. Giá trị của phù thực sự là không gì sánh nổi. Tôi trân trọng phù này, vốn dĩ không dễ dàng tiết lộ ra.


<details>
<summary>Địa linh áp Thủy sát phù</summary>


![image](/img/img_cc357fbcae9e9ea183742625fc599fcc.png)

</details>


Thầy phong thủy có phù này sẽ như hổ thêm cánh.

Đây là “Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh ngũ bạch thanh tịnh thủy linh phù”. Khi thầy phong thủy đi thị sát phong thủy, nếu thấy có Lâm đầu thủy, Phản cung thủy, Dâm thanh thủy, Bát diệu thủy sát thì đều có thể sử dụng phù này trấn áp.

Lâm đầu thủy: phía sau phong thủy [nhà ở] có đường nước hướng thẳng xuống dưới, hình dạng của nó như thác nước đổ lên đầu, hoặc có rãnh nước chảy thẳng xuống như kiểu xối lên đầu, đây là lâm đầu thủy. Nếu ở đây thì con cái gia chủ sẽ bất hiếu, người hầu lừa dối chủ, loạn luân phạm thượng.

Phản cung thủy: nước chảy giống một cây cung tên. Phong thủy ở chỗ phản cung, phản cung vô tình sẽ có hung sát ngoài ý muốn, cũng không dễ phát đạt.

Dâm thanh thủy: với dương trạch (nhà ở) và âm trạch (mộ phần), bên cạnh có nước chảy qua mà vì nước chảy xiết hoặc có gợn sóng làm cho nghe thấy tiếng âm thanh tí tí tách tách, suốt ngày không ngừng. Điều này không cát tường, giống như những lời lẳng lơ. Gia chủ sẽ “đào hoa” không ngừng, không giữ ngũ luân [năm loại đạo đức về nguyên tắc luân lý của Nho gia, thường chỉ năm cặp quan hệ sau: vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em, bạn bè], lề thói, sẽ mất hết đạo đức.

Khi thầy phong thủy khảo sát phong thủy, nếu phát hiện những loại thủy cục trên, phải tìm ra điểm mấu chốt giữa “thủy” và “phong thủy”, đào bảy tấc đất, chọn “trừ nhật” hoặc “định nhật” mà chôn phù xuống. Chôn phù xuống rồi, sẽ không sinh hung sát, là đại pháp trừ hung.


### 06. Phù trấn áp Thổ cục sát khí


(Địa linh áp Thổ sát phù)

Đây là một trong những phù giải trừ tai họa về địa lý phong thủy. Phù này là “Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh ngũ bạch thanh tịnh thổ linh phù.”

Công dụng của loại phù này vô cùng rộng lớn. Lớn nhất là thổ sát trong toàn bộ phạm vi địa lý đều dùng được, nhỏ nhất là trấn áp sát khí trong việc động thổ khai công cũng có thể dùng.


<details>
<summary>Địa linh áp Thổ sát phù</summary>


![image](/img/img_dfdffedd3aed3af2fea6135646e00577.png)

</details>


Tóm lại, phàm tất cả những gì xung phạm thổ sát, dùng “Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh ngũ bạch thanh tịnh thổ linh phù” là không thể sai được.

Ngay đến con nít vì xung phạm thổ thần mà đêm khóc không ngừng, dùng phù này chôn vào trong đất, sẽ lập tức dừng khóc đêm, vô cùng hiệu nghiệm.

Trong phù có “ngũ bạch tứ thổ”, vốn có thần lực rất lớn. Nếu đất đai không thanh tịnh, có thổ sát, có tà linh dị linh ở trong đất, hãy dùng bốn lá phù này chôn ở bốn góc của miếng đất, chọn “trừ nhật” hoặc “định nhật” chôn vào trong đất sâu bảy thốn.

Đây chính là kết giới, làm cho tà linh dị linh không thể đi vào trong miếng đất này. Nếu phong thủy có thủy sát cũng có thể dùng phù này đem chôn, tức là áp thổ sát, cũng có nghĩa là áp chế tác dụng của thổ sát, có công dụng thanh tịnh thổ sát.

“Thiên sư” chính là “thiên nhân sư” còn “khâm phụng thiên” chính là phụng theo pháp chỉ của trời.

Liên Sinh Hoạt Phật là thầy của trời người, cũng là phụng theo pháp chỉ của trời, vì vậy mà có thể sắc lệnh. Đây là một trong các phù lục chính thống của phù pháp.


### 07. Phù trấn áp Mộc cục sát khí


(Địa linh áp Mộc sát phù)

Đây là một trong những phù giải trừ tai họa về địa lý phong thủy. Sự linh nghiệm của lá phù thần kỳ bất khả tư nghì, là thứ có dùng trăm nghìn lượng vàng cũng khó mua được.


<details>
<summary>Địa linh áp Mộc sát phù</summary>


![image](/img/img_0d2b59d6468250e6d0a341a690287d7d.png)

</details>


Tôi dùng phù này giải trừ được rất nhiều đau khổ và ngang trái cho người đời, thực sự là việc không thể nghĩ bàn.

Điểm chính yếu trong phù là “kim giáp áp mộc sát”, chỉ cần bị là bị ảnh hưởng bởi phong thủy, phù sẽ có hiệu quả ngay lập tức.

Nếu có rễ cây đâm xuyên vào trong mộ, vào trong hộp sọ (của người chết), con cháu sẽ đau đầu liên tục không dứt. Dùng phù này chôn vào trong mộ thì chứng đau đầu sẽ lập tức hết ngay, rất có hiệu nghiệm.

Nếu có rễ cây đâm xuyên vào trong mộ, vào trong mắt (của người chết), con cháu bị mù lòa mắt kém. Dùng phù này chôn vào trong mộ thì mắt sẽ sáng mắt sẽ khỏe, lập tức khỏi bệnh cũng rất thần tốc.

Nếu có rễ cây đâm xuyên vào trong mộ, vào trong miệng (của người chết), con cháu sẽ bị câm, nói lắp. Dùng phù này chôn vào trong mộ thì người câm có thể nói chuyện, giọng nói cũng sẽ bình thường trở lại.

Nếu có rễ cây đâm xuyên vào trong mộ, đâm xuyên hai tai trái phải (của người chết), con cháu sẽ bị điếc. Dùng phù này chôn vào trong mộ thì hai tai sẽ dần dần nghe được âm thanh mà khôi phục lại bình thường.

Nếu có rễ cây đâm xuyên vào trong mộ, quấn chặt tay chân (của người chết), con cháu sẽ bị bại liệt, người già sẽ bị đột quỵ. Dùng phù này chôn vào trong mộ thì đột quỵ có thể khỏe lại, người bị bại liệt sẽ dần dần khỏe mạnh bình thường.

Phù cần chôn vào ngày “định nhật”.


### 08. Phù trấn áp quỷ tại đất


(Địa linh áp quỷ đạo phù)

Phù hóa giải tai họa về địa lý phong thủy vốn có rất nhiều, trong đó phù này thường xuyên được dùng đến.


<details>
<summary>Địa linh áp quỷ đạo phù</summary>


![image](/img/img_4f351ecb285490099e33404ea8bc92a7.png)

</details>


Ví dụ: Năm nay là đại lợi hướng đông tây, bất lợi hướng nam bắc, nhưng hướng địa lý phong thủy của ta lại ở đúng ngay nam bắc, thì phải dùng đến phù này.

Ví dụ: Địa lý phong thủy mà ta tìm được là nơi đã có người sử dụng qua, không rõ nơi này có thanh tịnh không, âm linh đã đi hay chưa, ta cũng phải dùng đến phù này.

Vẽ phù thành bốn lá, chọn ngày “trừ nhật” mà chôn vào trong đất. Như vậy cho dù năm nay không có lợi hướng nam bắc, mà ta đã bị ở ngay hướng nam bắc thì cũng không bị ảnh hưởng của niên sát. Thậm chí niên sát, nguyệt sát, nhật sát, thời sát, ta cũng đều không bị ảnh hưởng.

Chôn bốn lá phù này xuống, âm hồn ở trong phạm vi này đều phải bỏ chạy, không thể ở lại trong miếng đất này. Tự nhiên là miếng đất này sẽ trở nên thanh tịnh.

Phù này có thể dùng làm kết giới.

Điểm chính yếu của áp quỷ đạo phù này nằm ở ký hiệu đóng dấu. Đây là dấu ấn bí mật của “ngũ phương doanh”, học giả từ giờ trở đi sẽ không thể không biết rồi.

Ký hiệu bí mật “ngũ phương doanh” được công khai lần đầu tiên.


### 09. Phù trấn áp Hỏa cục sát khí


(Địa linh áp Hỏa sát phù)

Hỏa sát chính là sản vật ở trong địa lý hỏa khanh. Về địa lý hỏa khanh cục, tôi đã từng nói rất rõ ràng trong cuốn Âm Trạch Địa Linh Huyền Cơ.

Ví dụ: Trong quan tài hoặc có nhiều nước bùn, hoặc thấy có đàn kiến trong hang tha đi, hoặc bị rắn rết xâm nhập, hay người chết có thây xác bị thối đen gần hết.

Địa linh của hỏa khanh ảnh hưởng rất lớn. Con cháu đời sau sẽ bị bệnh cùi, tổn hại nhân khẩu, thọ mệnh không lâu. Con cháu chết nơi đất khách hoặc gặp tai nạn về lửa, trong nhà không được yên ổn. Không chỉ bị cô độc mà còn có trẻ con câm điếc, thậm chí cả đời cũng phải chịu nghèo đói khó khăn, không kết hôn hay không mang thai được v.v.


<details>
<summary>Địa linh áp Hỏa sát phù</summary>


![image](/img/img_f1a05480f43c5902580db70f9e1f120a.png)

</details>


Phù này chính là “địa linh áp hỏa sát phù”. Đây chính là “thổ trung hỏa, dụng thần thủy áp chi.” (lửa trong đất phải dùng thủy thần trấn áp.)

Chọn ngày “trừ nhật”, chôn phù này vào bên trong chính giữa ngôi mộ là có thể khử được hỏa sát. Tất cả những ảnh hưởng của hỏa sát có thể lập tức được dừng lại.

Tôi viết một bài kệ như sau:
Liên Sinh sắc lệnh áp sát.
Thiên chỉ bất đắc bất tòng.
Hỏa điền thần thủy lai khắc.
Tòng thử gia trạch thung dung.

Dịch kệ:
Liên Sinh lệnh áp sát.
Thiên ý dám không làm?
Thủy thần khắc chế hỏa.
Gia trạch thong dong rồi.

Phù này cứu độ chúng sinh không thể đếm hết được, vô cùng trân quý.


### 10. Phù trấn áp Phong cục sát khí


(Địa linh áp Phong sát phù)

Lá phù này thật ra là mật bảo của Liên Sinh Hoạt Phật, đã cất giấu ở trong tâm rất lâu rất lâu rồi, còn chưa muốn công khai thế gian.


<details>
<summary>Địa linh áp Phong sát phù</summary>


![image](/img/img_8351e6cb6f5e3ef123d72c24ac85db86.png)

</details>


Tại sao vậy?

Vì thầy phong thủy phải sợ phong sát, mà cái gọi là địa linh bảo địa cũng vốn chỉ là nơi tàng phong tụ khí mà thôi. Rất ít đại địa lý cục lại đồng thời có phong sát. Nhưng cũng có ngoại lệ, ví dụ như địa khí là hình xoắn ốc thẳng đứng từ dưới thẳng lên trên, thẳng đến chóp đỉnh, đây là đại địa lý cục có hình dáng ngạo nghễ. Đất này có vòng xoáy, địa lý cục này vị trí như đế vương tam công, nhìn ra trăm nghìn ngọn núi.

Thông thường các thầy phong thủy không dám làm, riêng Liên Sinh Hoạt Phật lại dám làm.

Tôi vẽ phù này lên bốn phiến trúc, mặt phiến trúc hướng về bốn hướng, chọn ngày “định nhật” đem chôn xuống đất, chính là thu phong sát lại.

Người đời sau có được đại địa lý cục này, làm quan có thể đạt Đế vương tam công, đây là đại địa lý cục rất giá trị, thiên hạ hiếm có, rất khó tìm.

Các nhà phong thủy bình thường không dám sử dụng, chỉ có Liên Sinh Hoạt Phật dám dùng. Phù này đâu phải người tầm thường có thể nhìn thấy, đâu phải người tầm thường có thể sử dụng.

Đâu thể dùng giá trị để đo lường chứ! Trân quý phi phàm đó!

Chú thích
Tàng phong tụ khí: nghĩa đen là giữ gió tụ khí lại, khí ở đây là sinh khí trong phong thủy.
Đế vương tam công: đế vương tức là vua chúa, tam công là một chức quan rất cao trong triều, chuyên giúp vua xử lý việc nước.


### 11. Phù Đại Nhật - hộ thân nam giới


(Đại Nhật hộ thân phù)

Tấm Đại nhật hộ thân phù này vốn dĩ là hộ thân phù của Thái Dương Tinh Quân, đấng Vận Ý Thông Chứng Như Lai của Đông Phương Tối Thắng Thế Giới. Ký hiệu tối thắng là 12 ngôi sao, tượng trưng cho lệnh bảo hộ 12 tháng.


<details>
<summary>Đại Nhật hộ thân phù</summary>


![image](/img/img_3f5e2ce981afcca862ef31478efbef38.png)

</details>


Phù dùng để đeo trên người.

Vào thời của Phật Thích Ca Mâu Ni, khi ngài thuyết pháp tại Tịnh Cư Thiên cùng tập hội các Đế Thích, Phạm vương, Bát bộ, Tứ chúng, thì từ trong tâm của đấng Vận Ý Thông Chứng Như Lai đã tuôn chảy ra phù thức này.

Phù thích hợp cho nam giới đeo.

Nam giới mang phù này trong người sẽ giống như mặt trời, có thể nói ánh sáng huy hoàng khắp mọi nơi, tài vận và thiên phúc tự nhiên đến, vạn sự hợp hòa như ý, âm túy và tai nạn đều biến mất.

Tấm phù thức này tôi giữ ở trong tâm đã rất lâu, biết được diệu dụng của nó là Đại nhật hộ thân phù thiên hạ vô song. Nay tôi vì để cứu độ người đời, giúp mọi người cả đời được an khang, giảm bớt tai ương, nên đặc biệt công bố phù.

Xin hát một bài kệ:

Phù này vô thượng bí mật nhất
Trong nghìn vạn năm khó gặp được
Nay gặp là điều siêu kỳ diệu
Thường đeo trên người được hộ mệnh.


### 12. Phù Thái Âm - hộ thân nữ giới


(Thái Âm hộ thân phù)

Cặp đôi với Đại nhật hộ thân phù, chính là Thái âm hộ thân phù. Thái âm hộ thân phù chính là phù thức tuôn chảy từ trong tâm của đấng Quan Âm Tự Tại Như Lai của Tây Phương Diệu Bảo Thế Giới.


<details>
<summary>Thái Âm hộ thân phù</summary>


![image](/img/img_179d26d849141e81dcb54ce63f614402.png)

</details>


Phù dùng để đeo trên thân, thích hợp nữ giới dùng.

Nữ giới sử dụng phù này, có thể nói là mọi chuyện ra vào đều được như ý, mọi tai ương xa lánh, sự tranh cãi đấu khẩu tự động được hóa giải, nguyệt hoa quang chiếu, thông minh lanh lợi.

Bé gái vừa sinh ra nếu đeo phù này thì mọi thứ dễ nuôi, lớn lên xinh đẹp phi phàm, có nhiều quý nhân trợ giúp, hòa hợp viên mãn, hôn phối cát tường, thậm chí cầu danh, cầu lợi, cầu học đều thuận lợi đạt được.

Thái âm hộ thân phù và Đại nhật hộ thân phù vừa hay là một cặp, là phù thức có uy đức lớn nhất trong các loại hộ thân phù ở trong cõi giới.

Trong tâm tôi giữ hai lá phù này từ lâu rồi, thấy trên đời có quá nhiều tai kiếp, trong lòng không thể chịu được, nên đặc biệt tiết lộ hai phù thức này để cứu thiên hạ quần sinh.

Từng có một cô gái bị tai nạn nghiêm trọng, hôn mê một tháng. Tôi vẽ phù này cho đeo trong người. Ngày hôm sau liền tỉnh lại.

Thái âm nguyệt hoa quang chiếu, thọ mệnh kéo dài, phước lực vô cùng, đây cũng là giá trị lớn lao của phù trên.


### 13. Phù hộ thân năm hành Mộc


(Mộc Đức hộ thân phù)

Kim Đào Tôn Giả từng nói với tôi rằng chư thiên chúng thần đều có hộ mệnh phù thức, nhưng tại sao có chúng sinh đeo trong người vẫn có hung sự không cát tường phát sinh, có phải là có sai sót gì không?

Kim Đào Tôn Giả nói: “Phù lục mà linh nghiệm thì nhất định là có chư thiên thần bố quang. Nhưng đeo phù vào mùa nào cũng có ảnh hưởng rất lớn vì đây còn là vấn đề duyên phận.

Ví dụ: Trong năm Mộc, nhưng bạn lại đeo hộ thân phù của Kim Đức Tinh Quân; trong năm hỏa, nhưng bạn lại đeo hộ thân phù của Thổ Đức Tinh Quân... Như vậy là nhân duyên không hợp.”

Đeo hộ thân phù vẫn cần phải tìm Bổn tôn thích hợp với hành niên của năm đó. Nguyên do là vì sự tương hợp nhân duyên của thủ hộ thần.

Vì vậy, khi hành niên thuộc Mộc, tất nhiên thích hợp đeo Mộc Đức hộ thân phù.


<details>
<summary>Mộc Đức hộ thân phù</summary>


![image](/img/img_bc3b46901621b23101fe108ab5992858.png)

</details>


Mộc Đức hộ thân phù là phù thức được tuôn chảy từ trong tâm của đấng Kim Sắc Thành Tựu Như Lai của Viên Châu Thế Giới.

Đeo phù vào thì mọi tai họa dẫn tới đổ máu sẽ biến mất. Hôn nhân không hòa có thể hòa hợp trở lại, đây là đại hiệu nghiệm của phù.

Các bệnh về mắt cũng được chữa lành, đây là một công hiệu khác của phù này.


### 14. Phù hộ thân năm hành Hỏa


(Hỏa Đức hộ thân phù)

Những năm hành niên thuộc Hỏa, thích hợp đeo Hỏa Đức hộ thân phù.


<details>
<summary>Hỏa Đức hộ thân phù</summary>


![image](/img/img_6c37863e4cf5b45359f6b80c649bb158.png)

</details>


Hỏa Đức hộ thân phù là phù thức tuôn chảy từ trong tâm đấng Quảng Đạt Trí Huệ Như Lai của Tịnh Trú Thế Giới.

Hiệu nghiệm tốt nhất của phù này là: Bệnh mụn nhọt ngoài da đều không bị nhiễm phải, không phát sinh tai nạn đổ máu - huyết quang chi tai. Tránh các nạn về pháp luật, ngục tù. Súc vật chăn nuôi bình an trưởng thành thuận lợi.

Theo như tôi biết, phàm là năm Liêm Trinh Cương Tinh đều là năm tai kiếp tương đối nhiều và tương đối nặng, nhiều tai ương nhiều khó khăn.
Nhưng đeo Hỏa Đức hộ thân phù, ngược lại sẽ thăng quan tiến chức, doanh thương thuận lợi, cầu nam được nam, cầu nữ được nữ. Phù này còn là phù đắc trí huệ, thông minh.

Liên Sinh Hoạt Phật còn tiết lộ thêm bí mật của phù này. Trong Mật tông đốt hỏa cúng Hộ Ma, nếu trên giấy vàng mã nếu có in phù này rồi đem đốt thì các đệ tử tham gia Hộ Ma pháp hội, tất cả sẽ đều có được sự che chở của Hỏa Đức Tinh Quân. Đây là một bí mật lớn của phù.

Lửa đốt phiền não mộc, phiền não sẽ mất hết. Ánh sáng lửa soi sáng đó chính là lửa trí huệ.


### 15. Phù hộ thân năm hành Thổ


(Thổ Đức hộ thân phù)

Thổ Đức hộ thân phù vốn là phù lục tuôn chảy từ trong tâm đấng Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai của Mãn Nguyệt Thế Giới. Vào những năm hành niên thuộc Thổ, rất thích hợp để đeo trên người.


<details>
<summary>Thổ Đức hộ thân phù</summary>


![image](/img/img_c950ed50adb0030649fcba0a27649586.png)

</details>


Phù này hiệu nghiệm nhất là: Thân thể khỏe mạnh, không nhiễm bệnh độc, đêm ngủ ngon giấc, tiểu nhân xa lánh, gia súc thuận lợi, kinh doanh như ý.

Trong cuộc đời Liên Sinh Hoạt Phật thường hay bị tiểu nhân hãm hại, xâm phạm rất nhiều, nhưng cuối cùng vẫn không bị hại mà đều có thể bình an lui đi, đây là do có Thổ đức hộ thân phù.

Phù đeo trên người, tiểu nhân liền xa lánh đồng thời thân tâm bình an, rất có công hiệu.

Có một thương nhân đến cầu Liên Sinh Hoạt Phật. Tôi vào năm Thổ, đưa cho ông ấy phù này đeo trong người.

Ông ấy lại kinh doanh bất động sản, kết quả là giàu có đại phát rồi trở thành thương gia cỡ lớn.

Trong số các đệ tử của Liên Sinh Hoạt Phật, có rất nhiều vị có phù này. Có rất nhiều thương gia bất động sản nhờ phù này mà phát đạt.

Năm Thổ kinh doanh bất động sản, lại đeo Thổ Đức hộ thân phù, đâu có lý nào không phát đạt đúng không?


### 16. Phù hộ thân năm hành Kim


(Kim Đức hộ thân phù)

Kim Đào Tôn Giả nói với tôi: “Kim Đức hộ thân phù là hộ thân phù rất đặc biệt.”

“Đặc biệt như thế nào?”

“Khi hành niên thuộc Kim, nếu đeo phù này rồi hướng về phía Tây bái tế Kim Đức Tôn Giả, cầu gì ứng đó. Cầu nam được nam, cầu nữ được nữ, cầu hôn nhân được hôn nhân, cầu quý nhân được quý nhân, đây là phù bách linh bách nghiệm.”

“Lại có điều kỳ diệu như vậy sao!”

“Đúng vậy.”

Phù dùng đeo trên người.


<details>
<summary>Kim Đức hộ thân phù</summary>


![image](/img/img_f0c3c60f6d38b2fd1074327f922ca3b0.png)

</details>


Đây là phù thức tuôn chảy từ trong tâm đấng Pháp Hải Du Hí Như Lai của Pháp Ý Thế Giới.

Liên Sinh Hoạt Phật vào hành niên thuộc Kim từng vẽ phù này cho rất nhiều đệ tử đeo trên người, rồi yêu cầu đệ tử tế bái Kim Đức Tôn Giả ở Tây phương, mỗi người cầu một nguyện ước. Quả nhiên ai nấy đều được như nguyện.

Sự linh cảm của Kim Đức hộ thân phù quả nhiên có phản ứng rất nhanh. Bên trong còn có một bí mật, đó là bài vị bái tế Kim Đức Tôn Giả phải dùng giấy trắng vẽ thần vị của Tôn Giả vào, sau khi bái tế xong thì đem đốt.

Phù này tại sao lại tôn quý như vậy? Liên Sinh Hoạt Phật được biết, phía trên của lá phù này là tám ngọn đèn. Ngọn đèn hình thành hình vuông, ý nghĩa bí mật của nó là sự viên mãn không kẽ hở.


### 17. Phù hộ thân năm hành Thủy


(Thủy Đức hộ thân phù)

Thủy Đức hộ thân phù là phù thức tuôn chảy từ trong tâm đấng Tối Thắng Cát Tường Như Lai của Vô Ưu Thế Giới.


<details>
<summary>Thủy Đức hộ thân phù</summary>


![image](/img/img_adb2c08a966b370423f2f00b9e456b2c.png)

</details>


Phù đeo trên người vào năm hành niên thuộc Thủy.
Phù hộ thân, có thể đối trị:

Vận khí suy yếu.
Tiểu nhân xâm phạm.
Cãi vã kiện tụng.
Đổ máu sinh khó.
Tai nạn qua sông biển. (Bao gồm bơi lội nghịch nước).

Liên Sinh Hoạt Phật biết rằng phù này thật ra bao gồm pháp lực khai mở vận may. Nếu có tai kiếp bất lợi nhiều năm, nhiều chuyện không may mắn thì vào năm hành niên thuộc Thủy hãy đeo Thủy Đức hộ thân phù. Hiện tượng vận khí suy yếu sẽ lập tức chấm dứt, tiếp theo sẽ có được sự khai vận.

Vì thế Thủy Đức hộ thân phù còn là khai vận phù.

Bí mật của phù nằm ở bảy ngôi sao, ngôi sao chính giữa bất động, sáu ngôi sao còn lại mở rộng ra bốn mặt tám mặt, là sự vươn lên của sức sống, vì vậy cũng là khai vận phù.

Liên Sinh Hoạt Phật dùng phù này cứu thế đã lâu rồi! Có công hiệu rất lớn, khai vận đại pháp phù, không thể xem nhẹ được.


### 18. Phù trấn đàn Mật giáo - Hỏa Thiên


(Mật giáo Hỏa Thiên trấn đàn phù)

Có vị Ka-Mã-Gia-Cát Rinpoche đến chỗ tôi, tôi vẽ một lá phù rồi đưa cho ngài ấy xem.


<details>
<summary>Mật giáo Hỏa Thiên trấn đàn phù</summary>


![image](/img/img_a5141e73ad9f487b18b33fa8131fdf3b.png)

</details>


Ka-Mã-Gia-Cát Rinpoche nói: “Đây là Mật giáo hỏa thiên trấn đàn phù. Ở trên mật đàn nếu treo phù này sẽ giống như là kết giới, tất cả thiên ma tà quỷ đều không thể đi vào.”

Ka-Mã-Gia-Cát Rinpoche nói: “Liên Sinh Hoạt Phật làm sao biết hỏa thiên trấn đàn phù?”

“Tự tâm tuôn chảy ra.” Tôi nói.

“Từ tâm tuôn chảy ra ư?” Ka-Mã-Gia-Cát Rinpoche bỗng nhiên sững người.

Phù này treo ở phía trên của mật đàn.
Tên tiếng Phạn của hỏa thiên là Agni, là Hỏa Thiên, Hỏa Thần, Hỏa Quang Tôn. Hỏa trong Mật giáo là dùng để phục ma, ví dụ Kim cương hỏa, Kim cương võng, gọi chung là Kim cương hỏa võng.

Hành giả Mật tông thực hành pháp Kim cương hỏa võng, là một loại kết giới, đồng nghĩa với ở trong kết giới là thiện còn ở ngoài kết giới là ác.

Phía trên mật đàn treo phù, chính là Kim cương hỏa võng trấn đàn, có công lực đại uy thần.

Phù này không dễ dàng tiết lộ nhân gian, có thể xem là lần đầu tiên công khai, vô cùng trân quý.

Ở phía trên mật đàn hỏa tịnh Hộ Ma cũng có thể treo phù, trong phù có chú ngữ, có đại mật chú tự.


### 19. Phù trấn đàn Mật giáo - Thiên Địa


(Mật giáo Thiên Địa trấn đàn phù)

Ka-Mã-Gia-Cát Rinpoche lại hỏi tôi: “Có trấn đàn phù khác nữa không?”

“Có.” tôi trầm tư một lúc, rồi vẽ ra một lá phù trên giấy.


<details>
<summary>Mật giáo Thiên Địa trấn đàn phù</summary>


![image](/img/img_d0edd7da509d22f5dfeb7ebb787dc464.png)

</details>


“Oa! Là Mật giáo thiên địa trấn đàn phù.” - Ka-Mã-Gia-Cát Rinpoche nói: “Lá phù này là một trong những bảo bối bí mật mà đạo sư của tôi cất giấu, không chịu dễ dàng cho người khác biết.

Đạo sư của tôi nói, đây là phù thức tuôn chảy từ trong tâm Đức Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Ở trên đời này chỉ có hai tấm, mà một trong hai tấm đó được đạo sư của tôi cất giấu. Liên Sinh Hoạt Phật, ngài làm sao có thể biết được trần đàn đại phù này?”
“Tự tâm tuôn chảy ra.” Tôi mỉm cười, vẫn nói giống như vậy.

“Điều này là không thể, điều này là không thể.” Ka-Mã-Gia-Cát Rinpoche lắc đầu nói lẩm bẩm: “Sao ngài lại biết được chứ?”

Bây giờ, tôi đem Thiên địa trấn đàn phù hoàn toàn tiết lộ công khai, thực sự là vô giá, có giá trị liên thành rồi.

Phù này, ám tạng thiên địa nhật nguyệt tinh, lại có hàng phục ký, chính là kết giới của đất trời, có quang minh linh thần, có Đại Bạch Tản Cái, có đại pháp lực của đất trời.

Treo phù lên phía trên mật đàn chính là thiên địa kết giới.
Phù này vừa xuất hiện, ma cung đại chấn động!


### 20. Phù trấn đàn Mật giáo - A Di Đà Phật


(Mật giáo A Di Đà Phật trấn đàn phù)

Từ trong tâm của Liên Sinh Hoạt Phật từng tuôn chảy ra rất nhiều trấn đàn phù lục của Mật giáo. Trong đó có một phù thức đẹp nhất, đó chính là A Di Đà Phật trấn đàn phù.


<details>
<summary>Mật giáo A Di Đà Phật trấn đàn phù</summary>


![image](/img/img_e7e665e48373fef37610156dd24f9a00.png)

</details>


Phù này treo phía trên mật đàn, vô cùng trang nghiêm.

Khi Liên Sinh Hoạt Phật vẽ ra phù này, trong tâm vô cùng cảm động, giống như từ tâm phóng ra luồng ánh sáng lớn, ngay đến hai mắt cũng không thể nào mở ra.

Tôi biết là thập nhị đại quang minh của Phật A Di Đà giáng xuống, thập nhị quang minh này chính là:

Vô lượng quang.
Vô biên quang.
Vô ngại quang.
Vô đối quang.
Diễm vương quang.
Thanh tịnh quang.
Hoan hỷ quang.
Trí huệ quang.
Bất đoạn quang.
Nan tư quang.
Vô xưng quang.
Siêu nhật nguyệt quang.

Những ánh sáng này hóa làm phù hiệu (ký hiệu trong phù), hiện ra ngay phía bên dưới phù lục. Mà chính giữa phù thức chính là nhất tự chân ngôn của Phật A Di Đà: Hri, hay cũng chính là Seh.

Khi Liên Sinh Hoạt Phật vẽ phù này, phía trên phù và góc phù đều hiện ra ý cảnh của Tây Phương, vô cùng bất khả tư nghì, không thể nghĩ bàn.

Trấn đàn phù này có nhất tự chân ngôn.
Trấn đàn phù này có Tây Phương cảnh.
Trấn đàn phù này có thập nhị đại quang minh, đại quang minh của mật đàn vô lượng vô tận.

Tiên Thiên Phù Bút của Liên Sinh Hoạt Phật có thể nói là phù pháp vô biên, Phật pháp vô biên, bí mật trong bí mật, kỳ lạ trong kỳ lạ, pháp trong pháp, Phật trong Phật.


### 21. Phù trấn đàn Mật giáo thứ 1 - Liên Sinh


(Mật giáo Liên Sinh Hoạt Phật trấn đàn phù)

Tôi viết một bài kệ trước:
Dục đắc an mật đàn.
Thử phù khả trường bảo.
Nội tàng hàng phục tọa.
Pháp lực phi bình thường.

Dịch kệ
Mật đàn nếu muốn an.
Nhờ bảo hộ từ phù.
Ẩn trong,“hàng phục” tướng
Pháp lực chẳng tầm thường.

Đây là phù thức tuôn chảy từ tâm Liên Sinh Hoạt Phật.


<details>
<summary>Mật giáo Liên Sinh Hoạt Phật trấn đàn phù</summary>


![image](/img/img_286ae619a44703e7e6f5d97ead9f0f12.png)

</details>


Trong đó là ký hiệu hàng phục, pháp lực uy mãnh, kim cương thể tính của giáo chủ, mật hiệu của chú ngữ, kim cương pháp tọa trấn áp thiên chủ và thiên hậu của Đại Tự Tại Thiên.

Phù có thể treo ở phía trên cao nhất của mật đàn, từ đó tự nhiên sẽ phóng ra pháp lực vô cùng. Phù này tượng trưng cho thân kim cương của Liên Sinh Hoạt Phật.

Có người nói, Liên Sinh Hoat Phật mang họ Lư, chữ Lư này là “hổ đầu nhân”, phía trên cùng là chữ Thượng.

Một người cầm một bảo kiếm - là chữ “ㄏ”, ngồi trên đài kim cương, đài kim cương này là chữ “mãnh”. Người này cũng mặc giáp trụ, chính là chữ “điền”.

Hình thức của phù này cũng rất giống như vậy. Phù có pháp lực uy mãnh, chính là Đại trấn đàn phù của Mật giáo Liên Sinh Hoạt Phật, không thể coi thường.


### 22. Phù trấn trạch Nhật Nguyệt


(Nhật Nguyệt trấn trạch phù)

Nhật Nguyệt trấn trạch phù này là phù thức tuôn chảy từ tâm Liên Sinh Hoạt Phật. Phù thức đơn giản nhưng thật ra rất phi phàm.


<details>
<summary>Nhật Nguyệt trấn trạch phù</summary>


![image](/img/img_ac15e9dc64b8f62c7c2a437a4f586532.png)

</details>


Tôi viết một bài kệ:
Mạc tiếu thử phù đạo.
Giản dịch vô mật tung.
Tạ hữu hữu ám ký.
Nhất cộng hữu tứ trùng.

Dịch kệ:
Chớ cười tấm phù trên,
Giản dị mà không mật.
Phải trái có ám ký,
Tổng cộng có bốn tầng.

Phù có thể dán lên cửa chính, ra vào của nhà ở hoặc trên tường trong phòng khách (chính giữa nhà), hoặc là trên dưới trái phải bài vị của gia đình, hoặc là mật đàn đều được.

Trong phù là ấn ký của Nhật Quang Biên Chiếu Bồ Tát và Nguyệt Quang Biên Chiếu Bồ Tát. “Sắc lệnh hợp hộ cát tường” là yếu chỉ.

Trái phải tất cả có bốn tầng, đây là bí mật của phù này. Liên Sinh Hoạt Phật biết rõ bốn tầng này là được ân rọi chiếu sáng liền cả bốn tầng, với hàm nghĩa của quang minh rọi sáng. Dựa theo phù ký thì phù này bao hàm sự bảo hộ cho bốn đời ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cái.

Muốn sử dụng Nhật Nguyệt trấn trạch phù, phải thỉnh mời hai vị đại bồ tát Nhật Quang và Nguyệt Quang.


### 23. Phù trấn đàn Mật giáo thứ 2 - Liên Sinh


(Mật giáo Liên Sinh Hoạt Phật trấn đàn áp sát phù)

Đây là phù thức tuôn chảy từ tâm Liên Sinh Hoạt Phật.
Có ký hiệu nhật nguyệt, có ký hiệu Kỳ Long, dùng thân rồng để áp sát.


<details>
<summary>Mật giáo Liên Sinh Hoạt Phật trấn đàn áp sát phù</summary>


![image](/img/img_51265258da8191e2f02d6c8f4f25c55a.png)

</details>


Phù này cũng là phù thức trấn mật đàn, không những trấn mật đàn, thậm chí tất cả sát khí đều có thể ngăn chặn ngay. Phù có ký hiệu rồng ở trong nên có thể trấn áp sát khí.

Phàm người nào treo phù này.

Trong tâm thường thanh tịnh.
Tham lam hóa thành không.
Tu pháp lập chính niệm.

Phù treo phía trên mật đàn, nhờ “rồng áp sát”, hành giả tu pháp trong mật đàn sẽ cảm thấy trong lòng hài hòa, thân tâm bình an, thâm sân si tam độc dần dần bị quét sạch. Trong lúc tu tập đạt được vô thượng pháp vị, có chính niệm chính hạnh.

Đương nhiên, nếu mật đàn có tà túy, gia trạch bất an, khi treo phù này lên thì các loại yêu ma quỷ quái đều bỏ chạy ngay. Pháp lực của “rồng áp sát” nằm ở đây.


### 24. Phù trấn áp sát khí phòng ngủ


(Lôi lệnh ngọa thất áp sát phù)

Liên Sinh Hoạt Phật viết một kệ trước:
Khấp tiếu thiên bàn mộng.
Phong vân nhất dạng không.
Thử thời mê vụ bàn.
Thân vấn ảnh hà tung.

Dịch kệ:
Khóc cười nghìn kiểu mộng.
Mây gió vẫn trống không.
Lạc trong làn sương gió.
Thân hỏi bóng ở đâu.

Tôi viết bài kệ này là muốn nói rằng người phàm nằm mơ, có lúc cười, có lúc khóc, có khi mây, có khi gió, nhưng khi tỉnh mộng, tất cả đều trống không như nhau.

Phòng ngủ của người phàm nếu có quỷ túy, âm túy, thì là khí rất không tốt tồn giữ ở bên trong. Đó cũng chính là phòng ngủ như lạc trong sương mù, thân tâm không bình an, đêm mơ điều kỳ quái, thân hỏi bóng đang ở đâu.

Đêm mơ toàn chuyện quái lạ ly kỳ thì khi tỉnh dậy tinh thần sẽ mệt mỏi, mất ngủ hoang tưởng, toàn thân đau nhức, chóng mặt hoa mắt, nhầm lẫn giữa trong mơ và đời thực, vợ chồng bất hòa v.v.

Những điều trên đều là do phòng ngủ có sát khí.


<details>
<summary>Lôi lệnh ngọa thất áp sát phù</summary>


![image](/img/img_fdaf5c8355f6d794acca35d13d4155c7.png)

</details>


Phù này gồm có “nguyệt lôi lệnh”. Có cặp đôi “bảo cái”. Dùng pháp lực để trấn áp sát khí. Phù dán ở cửa phòng ngủ hoặc dán lên tủ đầu giường hay chính đầu giường thì một cách tự nhiên, vạn sự sẽ chuyển nguy thành an.


### 25. Phù Hoa Cái trấn áp sát khí - Liên Sinh


(Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh Thiên chúng áp sát phù)

Đây là phù thức tuôn chảy tự nhiên từ tâm Liên Sinh Hoạt Phật. Ký hiệu phía trên cùng của lá phù là Nhật-Nguyệt-Tinh tam quang.


<details>
<summary>Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh Thiên chúng áp sát phù</summary>


![image](/img/img_e7dd5be52297170cf035359627325342.png)

</details>


Để biết Liên Sinh Hoạt Phật tại sao lại có thể sắc lệnh thiên chúng, độc giả có thể xem cuốn sách Đêm Ở Hồ U Linh. Đó là bởi vì Liên Sinh Hoạt Phật có mang Thiên mệnh.

Cái gì là Thiên mệnh? Trong Mật tông gọi là Bí mật chủ, là Tổng trì tôn giả, là Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng sư.

Phù này là “Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh thiên chúng” làm chỉ lệnh. Dùng Hoa Cái đậy lại quỷ sát.

Phù có thể dùng để dán, dán vào nơi có quỷ sát. Tự nhiên chư thần ở trên trời thấy sắc lệnh mà hạ xuống phàm trần, dùng Hoa Cái đậy lại quỷ sát, khiến quỷ sát không thể hại người.

Đây là phù lục vô cùng chính tông.

Tôi viết một bài kệ:
Hạ phàm Liên Sinh Phật.
Thiên mệnh ứng tùy tòng.
Kỷ thời tài quy đắc.
Họa phù áp tà ma.

Dịch kệ:
Giáng phàm Liên Sinh Phật.
Thiên mệnh ứng xuống trần.
Biết bao giờ quay lại.
Vẽ phù, Ta trấn ma.


### 26. Phù ngăn loài có cánh bay vào nhà


(Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh phi cầm bất nhập ốc phù)

Tại đây, tôi lại phải nhắc nhở độc giả lần nữa. Khẩu quyết vẽ phù  chính là “tâm thành tắc linh”.

Nghi quỹ không thiếu sót là có thể thỉnh thần giáng xuống phóng quang – còn gọi là bố quang.


<details>
<summary>Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh phi cầm bất nhập ốc phù</summary>


![image](/img/img_07c015179e2aaef5fc26de8d96d2e28d.png)

</details>


Phù sau khi được bố quang là linh nghiệm.

Phù Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh đều là phù lục tuôn chảy từ trong tâm. Trong đó không chỉ có Thiên mệnh mà còn có pháp lực, hơn nữa còn có rất nhiều ký hiệu bí mật, trong rất nhiều mục đích sử dụng đều có linh nghiệm cả.

Phù này dùng dán ở cửa.
Trong phù có một ký hiệu đặc biệt, chính là “cầm điểu”. Cái này thể hiện rằng tất cả phi cầm (các loài bay, có cánh) không thể vào được trong nhà.

Ở Mỹ từng xảy ra hai chuyện: Thứ nhất, một đôi chim gõ kiến mỗi ngày đều bay vào trong nhà bổ gỗ, làm một căn nhà mới bị bổ thành trăm nghìn cái lỗ, chủ nhà vô cùng phiền não.

Thứ hai, có vô số con thiêu thân không đếm hết được, mỗi ngày đều bay vào trong nhà, bắt không thể bắt hết, đánh không thể đánh hết. Những con thiêu thân này không biết từ đâu bay đến, đeo bám không dừng, vô cùng phiền não.

Nếu phù dán ngoài cửa thì phi cầm sẽ không thể vào.


### 27. Phù ngăn dã thú vào nhà


(Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh dã thú bất nhập ốc phù)

Đây là phù thức tuôn chảy từ tự tâm Liên Sinh Hoạt Phật.

Người tu đạo sống trong núi, trong núi có hổ, sư tử, mãnh thú hoặc là heo rừng v.v. thì dán phù này ở trước cửa nhà, dã thú sẽ không thể vào nhà.


<details>
<summary>Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh dã thú bất nhập ốc phù</summary>


![image](/img/img_ad68f071820cfb4e406fa583f76a021d.png)

</details>


Dán phù ở ngoài cổng chùa thì hồ ly mèo rừng cũng không thể đi vào.

Đây là phù thức cho miếu tự hoặc nhà ở của người tu hành, phòng chống dã thú vào nhà rất hiệu nghiệm.

Ngoài ra trong hắc giáo hắc pháp của Tây Tạng có tà thuật ra lệnh dã thú nhân lúc đêm khuya đi hại người hoặc giết người. Nếu nhà dân dán phù này thì dã thú không thể vào nhà, tất yếu sẽ không bị hại.

Trong phù có hai chữ “nhị thú” là có hàm ý gì? Thật ra “nhị thú” chính là động vật thứ cấp, con người là vạn vật chi linh, nói cách khác chính là động vật bậc nhất, còn “nhị thú” chính là động vật bậc hai. Sự khác biệt giữa người và dã thú chỉ là sự khác biệt về linh tính mà thôi.

Nếu động vật bậc nhất mà hành vi lại giống động vật bậc hai thì linh tính của người này rất kém, không khác gì so với động vật bậc hai. Vậy thì con người đó cũng chính là loại chó lợn cầm thú. Bề ngoài là người nhưng hành vi nội tâm giống cầm thú, đây là kiểu mặt người dạ thú.


### 28. Phù ngăn sâu bọ rắn rết vào nhà


(Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh trùng xà bất nhập ốc phù)

Thanh Chân đạo trưởng năm xưa sống ở núi, căn nhà rơm trên núi từng dán phù thức của phù này.

Trên núi có rất nhiều rắn, cũng có rất nhiều sâu bọ, có vô số con kiến, cũng có vô số con ong.

Người dân trên đỉnh núi thường xuyên phát hiện có rắn (loài Elaphe- carinata) đến ăn cắp trứng gà. Rắn lớn hơn một chút thì sẽ ăn luôn cả con gà. Hình dáng đặc điểm của rắn rất khó nhìn thấy. Rắn bò vào trong bồn tắm luôn làm chủ nhà giật mình hoảng sợ.


<details>
<summary>Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh trùng xà bất nhập ốc phù</summary>


![image](/img/img_cf5e063f953af6827a0093ba9fdaf596.png)

</details>


Dán phù này trước cửa nhà thì rắn sẽ không dám vào nhà, thậm chí sâu bướm, sâu róm, cuốn chiếu, con rết, bọ cánh cứng, con mối, ong bắp cày v.v. đều không thể bò vào nhà này. Người nhà có thể bình an mà ngủ.

Trong phù có ký hiệu bí mật của “trùng xà”.
Có Bảo cái trấn áp “trùng xà”.
Có pháp lực của Liên Sinh Hoạt Phật ở trong đó, cũng chính là sắc lệnh.

Viết một bài kệ:
Sơn trung đa trùng xà.
Đạp chướng dị vật địa.
Phi môn thiếp thử phù.
Như đồng thổ hỏa yên.

Dịch kệ:
Trong núi nhiều rắn rết.
Trên đất lắm loài kinh.
Cửa nhà dán phù này.
Như phun ra khói lửa.


### 29. Phù giúp vật nuôi an lành


(Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh lục súc bình an phù)

Lúc Liên Sinh Hoạt Phật còn nhỏ từng theo cha mẹ nuôi gà, nuôi gà là nghề phụ. Đang nuôi rất tốt cho đến phút cuối, do vì đi tham quan một trại gà đã bị trúng dịch tả gà (mà chúng tôi không biết) rồi về đến nhà mình, không ngờ rằng vì vậy mà gà nhà chúng tôi bị lây nhiễm vi khuẩn.

Phải biết rằng sự nguy hiểm của dịch tả gà là rất khó tưởng tượng, rất dễ dàng bị lây bệnh. Trong vòng một tuần ngắn ngủi, những con gà lớn nhỏ toàn bộ chết sạch hết, không sót lại một con nào.

Dịch tả gà đáng sợ, mà những dịch bệnh khác cũng vô cùng đáng sợ. Giới y học sử dụng cách tiêm vắc-xin và cách ly. Còn pháp lực vô hình chính là phù pháp.
Phù này có thể dán trong vườn nuôi gà hoặc vườn nuôi vịt, nuôi ngỗng.


<details>
<summary>Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh lục súc bình an phù</summary>


![image](/img/img_fa2a3615e0c1dc0472460606c419e871.png)

</details>


Sáu chữ “tiểu quỷ” trong phù chính là ký hiệu vi khuẩn. Phía trên là Thiên mệnh pháp lực của Liên Sinh Hoạt Phật, là phù thức dùng thổ thần để áp chế sáu tiểu quỷ.

Cái cuối cùng là ký hiệu bí mật nhất, ký hiệu này nhìn rất phức tạp nhưng thật ra chính là ám ký hóa giải, không phải người vẽ phù lâu năm thì không thể nhìn ra được.

Pháp lực của phù này là bất khả tư nghì, không thể nghĩ bàn, dán vào là bình an như ý, chăm nuôi thuận lợi, không có bệnh dịch, lục súc bình an, tất cả vi khuẩn đều bị thổ thần đuổi đi sạch sẽ.


### 30. Phù hóa giải xung khắc trong nhà


(Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh gia nhân xung sát cát tường phù)

Đây là phù thức tuôn chảy từ tâm Liên Sinh Hoạt Phật. Giá trị của phù này thực sự không thể tính đếm được.

Chúng ta thường xuyên nghe thấy vợ chồng bát tự tương xung, cha mẹ bát tự tương xung, cha con bát tự tương xung, anh chị em bát tự tương xung.

Bát tự tương xung sẽ làm cho vợ chồng phân ly, cha mẹ ly dị, cha con bất hòa, anh chị em tranh chấp v.v. phá hỏng không khí vui vẻ hòa hợp của một gia đình.

Thậm chí người thân ra tòa gặp mặt, thưa kiện, tình thân hoàn toàn mất hết, đây đều là do bát tự tương xung gây ra.
Phù thức tuôn chảy từ tâm Liên Sinh Hoạt Phật chính là phù lục khắc chế bát tự tương xung, chuyển xung sát thành cát tường.


<details>
<summary>Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh gia nhân xung sát cát tường phù</summary>


![image](/img/img_63dab63766a6a579694fb5bac89c2b12.png)

</details>


Ký hiệu trong phù: “hộ trung nhân chúng thôn sát”. Đây chính là người trong nhà nghe theo Thiên mệnh pháp lực của Liên Sinh Hoạt Phật, cùng nhau nuốt chửng xung sát giữa cả hai. Như vậy thì bát tự xung khắc hóa thành vô hình, giữa hai người không còn xung khắc nữa.

Phù này dùng để dán hoặc đeo trên người đều được.

Đây là một tấm phù lục vô cùng hữu dụng, giá trị của nó không gì so sánh được, là đại công khai bí mật vì từ bi chúng sinh mà hóa hiện ra tế độ chúng sinh.

Chú thích
Bát tự: cũng tức là sinh thần bát tự, là ngày tháng năm sinh theo lịch Can Chi của một người.


### 31. Phù ngăn kẻ trộm đột nhập


(Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh phòng đạo tặc nhập gia phù)

Đây là phù lục tuôn chảy từ tâm Liên Sinh Hoạt Phật. Rất nhiều đệ tử ứng dụng phù này có linh nghiệm lớn.


<details>
<summary>Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh phòng đạo tặc nhập gia phù</summary>


![image](/img/img_70663030fe2779013a5dec30641677de.png)

</details>


Phù dùng để dán, có thể dán ở ngoài cửa nhà hoặc ngoài cửa nơi buôn bán, hoặc thần vị mật đàn, hoặc phòng khách trong nhà.

Phù này là sắc lệnh pháp lực của Liên Sinh Hoạt Phật, dùng “linh cương” để bảo vệ nhà ở, cửa tiệm, trấn áp tiểu nhân. Tiểu nhân này cũng chính là ám chỉ kẻ trộm.

Đã là kẻ trộm thì dù có đề phòng cũng không phòng được. Bọn họ không chỗ nào không vào, chỉ sơ suất một chút là thiệt hại nặng nề.

Tôi có một đệ tử mở cửa tiệm buôn bán, nhiều lần bị trộm lẻn vào, mấy lần đều bị tổn thất nghiêm trọng. Đệ tử này vô cùng buồn khổ, mà kẻ trộm cũng hình như nhắm vào cửa tiệm của cậu ấy, cứ cách một thời gian là lại đến khoắng một lần. Cửa tiệm này nhiều lần bị trộm ghé thăm thế, thật ra cũng có liên quan đến phong thủy.

Cuối cùng dán tấm phù này lên, nói ra thì cũng lạ, kẻ trộm không đến nữa.

Tác dụng của phù là kẻ trộm vừa nhìn vào nhà có dán phù liền không có hứng thú với nhà này, bỏ ý muốn trộm cắp hoặc lại cảm thấy nhà này không dễ trộm. Thậm chí cửa tiệm hoặc nhà ở còn bị tàng hình mất. Trong mắt của kẻ trộm sẽ vốn dĩ không có cửa tiệm hoặc nhà ở này.

Giá trị của phù này đương nhiên không gì sánh nổi, bất khả tư nghì, là vật phi phàm.


### 32. Phù Cửu Phụng phá uế trược, xú khí


(Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh Cửu Phụng phá uế phù)

Liên Sinh Hoạt Phật viết một bài kệ trước:
Cửu Phụng tự thu nguyệt.
Cao tường thanh kiểu khiết.
Như thủy địch vạn vật.
Vô vật kham bỉ luân.

Dịch kệ:
Như trăng thu, Cửu Phụng.
Bay bừng sáng không gian.
Quét sạch như nước cuốn.
Vật nào sánh được đây?

Trong quá khứ, Liên Sinh Hoạt Phật từng truyền dạy Cửu Phụng phá uế chân ngôn pháp. Cửu Phụng Pháp này là một trong các đại pháp vô thượng làm nước thanh tịnh.
Nước Cửu Phụng mà chúng ta xin được có thể uống, giúp cơ thể người thanh tịnh, trừ tà uế, tiêu nghiệp chướng, làm cơ thể khỏe mạnh.

Nước Cửu Phụng có thể tưới trong sân nhà từ trong ra ngoài, lúc đó nhà ở trở nên thanh tịnh, khử tà phục ma, đó là linh nghiệm nhất. Ngôi nhà vốn dĩ có tà túy, biến thành bình an cát tường.

Tấm Cửu Phụng phá uế phù sau khi vẽ xong đem đốt cho vào trong nước, trở thành nước Cửu Phụng.


<details>
<summary>Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh Cửu Phụng phá uế phù</summary>


![image](/img/img_f4bd394401a89378992b4dd5cc9c3012.png)

</details>


Phù này là sắc lệnh của Liên Sinh Hoạt Phật. Ký hiệu pháp lực bí mật của Cửu Phụng phá trừ ô uế làm nước thanh tịnh. Phù đối với tà uế là công hiệu nhất.

Dùng phù này để uống thì ma tà không vào người.
Dùng nước phù này tưới trong nhà, ma tà không vào nhà.
Đây chính là ý: “Quét sạch như nước cuốn. Vật nào sánh được đây?”

Chú thích
Cửu Phụng: là một loại thần điểu (chim thần) trong truyền thuyết cổ đại của Trung Quốc, thường xuất hiện với chín cái đầu chim.


### 33. Phù chữa bệnh dị ứng hoa


(Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh hoa phấn bệnh tốc dũ phù)

Tôi viết một bài kệ, như sau:
Xuân chi hoa khai hậu.
Độc phấn phân phân lạc.
Thử hữu trầm mê khách.
Hồn phách bị dụ hoặc.

Dịch kệ:
Mùa xuân hoa nở thắm.
Phấn độc bay tứ tung.
Kẻ say sưa chìm đắm.
Hồn phách bị dụ mê.

Tại Mỹ có rất nhiều người bị dị ứng phấn hoa. Mỗi khi đến mùa hoa nở, những người này đều sẽ bị khó chịu từ ba đến bốn tháng.

Triệu chứng của bệnh giống với cảm cúm, chóng mặt hoa mắt, chảy nước mắt nước mũi, cơ thể lúc nóng lúc lạnh, da bị dị ứng, thậm chí hen suyễn mất ngủ v.v.

Đây là chứng bệnh gây ra do bào tử trong phấn hoa tác động khiến cơ thể và tinh thần khó chịu. Có trăm nghìn loại bào tử khác nhau cùng gây ra tình trạng giống như vậy, rất khó điều trị.

Vì vậy Liên Sinh Hoạt Phật từ tâm tuôn chảy ra một lá phù. Chính là Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh diệt trừ bào tử có ở phấn hoa. Phù này sau khi tuôn chảy từ trong tâm đã cứu độ được rất nhiều người.

Đệ tử Triệu Thiếu Đông ở Canada bị dị ứng phấn hoa nghiêm trọng, uống xong phù hoàn toàn khỏi bệnh.


<details>
<summary>Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh hoa phấn bệnh tốc dũ phù</summary>


![image](/img/img_b3b2bced9da04fce3e44f4bf7e735adb.png)

</details>


Phù đem đốt cho vào nước rồi cho người bệnh uống nước. Tốt nhất liên tiếp ba ngày, uống ba ly nước phù.

Phấn hoa có độc, đây đúng là sự cố tình trêu ngươi của vạn vật trong thiên hạ. Hoa đẹp như thế, mà phấn hoa lại có độc, ôi điều này có ngụ ý gì đây?


### 34. Phù giúp an thai, sinh đẻ tốt đẹp


(Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh an thai, sinh sản bình an phù)

Đây là phù lục tuôn chảy từ tự tâm Liên Sinh Hoạt Phật.

Tôi thường thương xót mà thấy: Thủy tử linh bị sẩy thai, thủy tử linh chết trong bào thai, thủy tinh linh do bị phá thai, thủy tử linh dị hình, thủy tử linh khó sinh.

Con người hiện đại bắt đầu xem trọng sự ảnh hưởng của thủy tử linh, cũng thay thủy tử linh siêu độ. Việc siêu độ này phổ thông và nhiều dần cũng là hiện tượng tốt. Chỉ cần cầu xin trong lòng thanh thản, rồi thì cũng không phải họa lớn.

Liên Sinh Hoạt Phật từ tâm tuôn chảy ra một tấm phù lục. Phù này là Liên Sinh Hoạt Phật Thiên mệnh phụng sắc lệnh, chỉ thị thai linh an trú trong bào thai của người mẹ được Tinh Quang bảo vệ, giữ thai kiên cố. Rồi khi sinh sản, mẹ con sẽ đều được bình an. Đây là một lá phù trước lúc sinh và sau khi sinh đều có ích.


<details>
<summary>Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh an thai, sinh sản bình an phù</summary>


![image](/img/img_bca1448086efdeb0358e2327128ba576.png)

</details>


Phù này sẽ do thai phụ đem đốt rồi cho vào nước để uống.

Liên Sinh Hoạt Phật được thừa hưởng tinh thần vô duyên đại bi, đồng thể đại bi của Phật Đà, từ tâm tuôn chảy phù thức, là một sự đền đáp, cũng là diệu bảo tế thế lợi sinh.

Phù vô cùng trân quý!

Chú thích
Thủy tử linh: linh hồn thai nhi bị chết do các nhân tố sẩy thai, phá thai, khó sinh...


### 35. Phù trời ban tài phúc


(Thiên tứ tài phúc phù)

Liên Sinh Hoạt Phật nói: Người tu hành truy tìm Đạo, người thế tục theo đuổi Tài.

Mà hành giả Chân Phật Tông phải ghi nhớ thật kỹ: Đạo là thứ nhất, Tài là thứ hai. Tuy vậy Tài có thể trợ đạo, vì vậy có Tài thí.

Tôi thấu hiểu rằng phiền não của sự nghèo khó nhiều hơn phiền não của sự giàu có, vì vậy tôi đem phù này công khai. Đây chính là Thiên Tứ Tài Phúc phù.

Có ký hiệu của “trời”, có ký hiệu của “tài”, có ký hiệu “cấp tốc hạ giáng”, ký hiệu bí mật trong phù này rất nhiều.


<details>
<summary>Thiên tứ tài phúc phù</summary>


![image](/img/img_cc2711f2f42392d4f1b6ca0d399349b1.png)

</details>


Phù dùng để mang theo người. Có phù này đeo trên người lâu ngày, tự nhiên sẽ có được linh nghiệm.

Phúc tự nhiên được trời ban, như trúng giải thưởng đặc biệt, giống như phù trúng thưởng.

Khi Phúc nhập tâm linh nghiệm, mỗi lần đầu tư chắc chắn đều kiếm được nhiều tiền. Phúc tự nhiên sinh, biến nghịch cảnh thành thuận cảnh, biến lỗ vốn thành lời to, khó khăn thành thuận lợi.

Người đeo lá phù này thì sẽ có các đôi mắt của chư thiên, thần linh luôn dõi theo mình. Nếu tâm địa lương thiện, hành sự công bằng, chắc chắn trời sẽ ban cho phúc lớn. Công khai phù này chính là tiết lộ bí mật lớn của thiên cổ.


### 36. Phù trời ban có thai


(Thiên tứ hữu dựng phù)

Liên Sinh Hoạt Phật viết một bài kệ trước:
Thường hữu nga mi nữ.
Châu bội hà san san.
Tích thị vị lưỡng toàn.
Thân thường bạn cô hàn.

Dịch kệ:
Thường có cô gái xinh đẹp ấy.
Áo đeo ngọc bội kêu lanh canh.
Lưỡng toàn chưa vẹn, ôi đáng tiếc.
Cô độc mỗi thân, bạn với mình.

Bài kệ này muốn nói, có rất nhiều cô gái giàu có cao sang, vẻ ngoài xinh đẹp phi phàm, hôn nhân cũng vô cùng mỹ mãn, đáng tiếc là gia đình này chỉ có hai vợ chồng, kết hôn nhiều năm mà không có con cái.

Đương nhiên có rất nhiều tác nhân gây vô sinh, tuy vậy những người từng cầu xin Liên Sinh Hoạt Phật ban phù sinh con trai con gái đều ứng nghiệm, nhiều như cá bơi trên sông, đây đều là pháp lực của lá phù này.


<details>
<summary>Thiên tứ hữu dựng phù</summary>


![image](/img/img_74060c75670497d33f82ccfa97ff2ddb.png)

</details>


Phù đã cứu trợ cả trăm cả nghìn người.

Phù dùng để uống, vợ chồng cùng nhau uống một lá phù, đem đốt cho vào nước, rồi uống. Nếu uống vào ngày sinh thần (sinh nhật) của người vợ thì càng linh nghiệm.

Phù có ký hiệu của “dựng” (thai) ở trong, phù thức có một chữ “đẩu”, “đẩu” cũng tức là “đăng” (đèn), cũng chính là quang minh, là ánh sáng, “dựng” mà có ánh sáng thì sẽ có tin vui thôi!

Phù này vô giá, mang đến niềm vui cho người không có con cái.


### 37. Phù trời ban sống lâu


(Thiên tứ trường thọ phù)

Phù này biểu hiện ra ký hiệu rất rõ ràng.


<details>
<summary>Thiên tứ trường thọ phù</summary>


![image](/img/img_6d4b28c0ddd2da12e57dda483f072dd1.png)

</details>


Phía trên là tinh chủ Bắc đẩu thất tinh. Bắc đẩu thất tinh vẽ như vậy không giống với những phù thông thường, tuy nhiên đây là ấn ký của “chủ thọ”, người thế tục không biết.

Phù thức trực tiếp hiển thị: Bắc đẩu thất tinh chủ thọ.

Phù đeo trên người, người đeo phù này sẽ trường thọ.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng phù này tuy đơn giản nhưng ký hiệu thất tinh lại là một bí mật lớn, cũng được xem là đại công khai ký hiệu của chủ thọ tinh chủ.
Nếu người muốn sống lâu đeo phù thức, mạng sống của người này không chết yểu, không gặp tai nạn, không đột phát bệnh tật, thân tâm dễ chịu thoải mái, cũng có thể kéo dài thọ mệnh.

Viết một bài kệ, xin nhớ kỹ:
Tuấn kiệt đương cứu thế.
Thọ mệnh nghi liễu trường.
Mạc vị vô tử nhật.
Thử phù thị hộ hàng.

Dịch kệ:
Nhân tài đang cứu thế.
Mệnh thọ như liễu dài.
Đừng nghĩ không ngày chết.
Phù này hộ mà thôi.


### 38. Phù giúp có vợ, có chồng


(Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh hôn nhân cấp chí phù)

Liên Sinh Hoạt Phật viết một bài kệ trước:
Hôn phối thị tự nhiên.
Mạc tha ngộ giai kỳ.
Niên tuế trục nhật nguyệt.
Nhất triều thành khô hoàng.

Dịch kệ:
Hôn nhân vốn thuận việc trời.
Lỡ qua sẽ mất đoạn đời đẹp tươi.
Tháng năm không đợi tuổi người.
Một ngày nhìn lại bỗng ôi héo tàn.

Hôn nhân đại sự, nam nữ đến tuổi kết hôn, nếu như trì hoãn, lưỡng lự quá lâu cũng là một chuyện đáng tiếc. Trước giờ có rất nhiều trai xinh gái đẹp, hôn nhân cứ trì hoãn hết lần này lần khác, tuổi già ập đến lúc nào không hay, cuối cùng đã bỏ lỡ cả đời.
Đây là đến chết cũng không được nếm trải, không biết thế nào là hôn nhân mỹ mãn.

Liên Sinh Hoạt Phật vì xót thương những chúng sinh như vậy, đặc biệt từ tự tâm tuôn chảy ra phù này. Phù là Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh, pháp lực cấp cấp chuyển hóa duyên phận như sợi tơ quấn chặt đôi bên nam nữ, cũng là phù nhanh có hôn nhân.


<details>
<summary>Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh hôn nhân cấp chí phù</summary>


![image](/img/img_33e9570a50e1da4fb3769814fd346782.png)

</details>


Trong phù có ký hiệu “sợi chỉ đỏ”, có ám ký của duyên phận nhanh thành.

Phù này là nam nữ cả hai đeo trên người.

Tôi tin rằng khi phù trên xuất hiện, Liên Sinh Hoạt Phật sẽ trở thành “nguyệt hạ lão nhân” (ông lão dưới trăng), là ông mai chuyên đi se dây tơ hồng.

Phù đây có hiệu nghiệm rất lớn, giúp cho hôn nhân của trai đơn gái chiếc trong thiên hạ được nhanh chóng viên mãn. Đeo phù này thì người có duyên sẽ nhanh chóng đến gặp gỡ, tự nhiên sẽ không bỏ lỡ giai đoạn tốt đẹp.


### 39. Phù vợ chồng trăm năm hòa hợp


(Phu thê bách niên hợp hòa phù)

Lá phù này đã được cất giấu trong tâm Liên Sinh Hoạt Phật rất lâu rất lâu rồi, bởi vì đây là báu vật vô giá. Phía trên lá phù là “bát tinh song hoàn”, chính là ấn ký bí mật của “hợp hòa nhị tiên”. Ấn ký này được công khai lần đầu tiên.


<details>
<summary>Phu thê bách niên hợp hòa phù</summary>


![image](/img/img_6410fe73b0787c495b56a135bdfd69ec.png)

</details>


Phù để nam nữ đôi bên đeo trên người vào ngày kết hôn. Cũng có thể đem phù dán trong phòng cưới của cặp vợ chồng mới cưới.

Phù này có ký hiệu nam nữ thiên địa nhật nguyệt hợp hòa ở trong. “Hợp hòa nhị tiên” chiếu mệnh.

Nếu như nam nữ đôi bên có bát tự xung sát nhau thì sau khi kết hôn sẽ luôn luôn xảy ra là nam khắc nữ, hoặc nữ khắc nam. Có hiện tượng người nam chết trước hoặc người nữ chết trước, hoặc nam nữ đôi bên không hợp, tạo nên bi kịch của gia đình, thì đây đều là do bát tự xung sát nhau mà ra.

Phù này chính là đại linh đơn. Liên Sinh Hoạt Phật muốn cặp vợ chồng có bát tự xung sát, vào ngày cưới đeo lá phù này trên người, tự nhiên sẽ có “hợp hòa nhị tiên” chiếu mệnh, chuyển xung sát thành hợp hòa, là sự bảo đảm mãi mãi cho vợ chồng trăm năm hòa hợp.

Phù xuất thế, vợ chồng trong thiên hạ được giải thoát. Là báu vật vô giá trong thiên hạ, phải trân quý, phải trân trọng, không được xem là trò đùa.


### 40. Phù trấn áp mệnh quá “đào hoa”


(Trấn nam nữ mệnh đào hoa phù)

Lá phù này trong xã hội hiện đại ngày nay là đúng lúc hợp thời. Liên Sinh Hoạt Phật dự đoán đây sẽ là phù thịnh hành nhất, thích hợp sử dụng nhất, cũng sẽ là phù phổ cập rộng rãi nhất, lưu truyền nghìn năm.


<details>
<summary>Trấn nam nữ mệnh đào hoa phù</summary>


![image](/img/img_efc6cc5ddbfb84dce94de69ab1e550e3.png)

</details>


Đây là một tấm “trấn đào hoa phù” thích hợp cho nam nữ sử dụng.

Xã hội ngày nay không giống với xã hội thời xưa, các hoạt động xã giao giữa nam nữ vô cùng phổ biến. Vì vậy, việc ngoại tình tự nhiên cũng sẽ tăng lên một giới hạn mới. Nam giới ngoại tình, nữ giới ngoại tình, đây đều là nguyên nhân nam nữ mang mệnh đào hoa. Đàn ông đa tình và phụ nữ đa tình nếu đeo phù này, hoặc uống nước phù này, thì sẽ có tác dụng trấn áp sự đa tình.

Phía trên cùng lá phù là bảo cái - lọng che của trấn áp, phía dưới lá phù là ám ký nam nữ đa tình.

Lá phù này đặc biệt nhất chính là thực sự vẽ ra một đóa hoa. Đóa hoa này chính là hoa của đa tình, bị bảo cái áp chế sẽ không thể có kết quả mà nửa đường đứt đoạn. Sự linh nghiệm của phù này đã có rất nhiều người thử nghiệm, đều có được công hiệu vô cùng tốt.


### 41. Phù giúp thắng kiện tụng


(Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh quan ti tất thắng phù)

Liên Sinh Hoạt Phật viết một bài kệ trước:
Thủ thiện diệc nan đắc.
Bát phương động can qua.
Tạc nhật tiếp khống thư.
Bán lộ khốn hành giả.

Dịch kệ:
Giữ thiện được cũng khó.
Tám hướng động gươm đao.
Nhận hôm qua, đơn kiện.
Hành giả khó giữa đường.

Tôi viết bài kệ này là muốn nói, trong xã hội ngày nay muốn một mình tu dưỡng thân tâm, giữ thiện lành cũng rất khó, bởi vì sự giao tiếp giữa người với người phức tạp, chắc chắn sẽ có đấu đá, chắc chắc sẽ có thị phi.

Bất luận trí thức, nông dân, công nhân, thương gia thì đều có thị phi, thậm chí đi, đứng, nằm, ngồi cũng có thị phi. Thị phi của người tu hành thời nay lại càng nhiều càng dày đặc.

Vì vậy cứ hở một chút là ra tòa tố tụng hoặc thưa kiện. Ở nước Mỹ ngay đến chuyện rất nhỏ nhặt đều thưa kiện ra tòa. Kiện tụng dựa theo luật pháp, kiện tụng ở tòa án trở thành một phần của cuộc sống.

Liên Sinh Hoạt Phật thương xót chúng sinh phải chịu nỗi khổ oan ức, cũng xót thương chúng sinh chịu nỗi khổ kiện tụng, chịu phiền não về kiện tụng, từ trong tâm tuôn chảy ra một lá phù. Đây là “Quan ti tất thắng phù”.


<details>
<summary>Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh quan ti tất thắng phù</summary>


![image](/img/img_b8c3496e79c34a4eb8cfa2b562661ecf.png)

</details>


Phù này người có minh nhãn nhìn vào thì sẽ liền biết ngay giá trị phi phàm. Phù đeo trên người khi ra tòa, tất thắng mà vô sự. Phù đã có rất nhiều người ứng dụng, quả nhiên linh nghiệm kỳ diệu.


### 42. Phù làm nước sái tịnh


(Đại Bi chú thủy thanh tịnh phù)

Liên Sinh Hoạt Phật thường xuyên dạy mọi người dùng nước Đại Bi Chú kết giới, hoặc dùng nước Đại Bi Chú tưới ở trong sân nhà, hoặc dùng nước Đại Bi Chú tưới Phật đường mật đàn. 

Nước chú này sái tịnh, có tác dụng thanh tịnh. Khiến yêu ma quỷ quái bỏ trốn, khiến tất cả ô uế biến thành thanh tịnh, khiến sát khí bị tiêu trừ, biến hung sát thành cát tường, hóa họa thành phúc.

Tuy nhiên đệ tử của Liên Sinh Hoạt Phật nhiều vô số. Có một số đệ tử xa tận chân trời góc biển, có một số đệ tử ở nước ngoài, họ không biết niệm Đại Bi Chú, không cách nào xin được nước Đại Bi Chú.

Thế là tôi cầu nguyện Quan Thế Âm Bồ Tát, Quan Thế Âm Bồ Tát từ trong hư không hiện ra, giơ ngón tay ra vẽ một lá phù trên mây, phù này ở trong đám mây hư không, do mây tập hợp mà hiển hiện.


<details>
<summary>Đại Bi chú thủy thanh tịnh phù</summary>


![image](/img/img_71f9a0878adb6a8c3fb15534bafc3f0e.png)

</details>


Đây là Đại Bi Chú thủy thanh thịnh phù. Vô cùng rõ ràng mà dễ hiểu. Phù này đem đốt cho vào nước, dùng nước này sái tịnh là được, công hiệu của nước này giống với nước Đại Bi Chú của Quan Thế Âm Bồ Tát.

Đây là đại từ đại bi của Quan Thế Âm Bồ Tát hiển hiện. Trong phù có ký hiệu của “Đinh Giáp Thần”.


### 43. Phù cưỡi rồng xuất thần du ngoạn


(Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh kỳ long pháp tọa phù)

Liên Sinh Hoạt Phật biết rõ các hành giả dạo gần đây có vô số người muốn tu Thần túc thông. Họ hy vọng Hoạt Phật chỉ dạy cho họ cách xuất thần đi du ngoạn.

Xuất thần du ngoạn không phải đơn giản, mà cần có pháp tọa. Nhưng có một bài kệ tả vô cùng tuyệt diệu:
Nham tiền độc tĩnh tọa.
Viên nguyệt tâm trung diệu.
Vạn tượng ảnh hiện trung.
Hàm hư phi huyền diệu.

Dịch kệ:
Độc cư thiền vách đá.
Sáng chói trăng trong tâm.
Hiện hình bao huyễn tượng.
Diệu kì bay xuyên qua.

Thần túc thông này cần phải có nguyên thần thanh tịnh, phải có tâm yếu khẩu quyết, phải niệm tuyệt bụi trần. Khi tất cả đã buông bỏ hết rồi chính là lúc bay đến thế giới kỳ diệu. 

Liên Sinh Hoạt Phật đưa cho đệ tử đạt trình độ như vậy một tấm “sắc lệnh kỳ long pháp tọa phù”. Giá trị của phù này rộng lớn như bầu trời. Trong phù có hiển thị ký hiệu bí mật “một con rồng”, ký hiệu bí mật của rồng này là lần đầu tiên công khai.


<details>
<summary>Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh kỳ long pháp tọa phù</summary>


![image](/img/img_aa261b906a56179d9003bd5ba60d68ed.png)

</details>


Pháp tọa của rồng, bay đi mười phương. Hành giả đem đốt phù này rồi uống. Lúc xuất thần sẽ có một con rồng làm pháp tọa, cưỡi rồng mà bay đi, vô cùng kỳ diệu.


### 44. Phù chữa nghiện hút thuốc lá


(Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh cấm yên phù)

Thuốc lá đối với người tu hành trăm điều hại không điều lợi. Hút thuốc đặc biệt có hại đối với hành giả Mật tông. Hành giả Mật tông vì tu khí, tu mạch, tu điểm, lại càng phải để khí mạch thông suốt không được bị cản trở.

Hút thuốc sẽ làm đường đi của kinh mạch bị hẹp lại, sẽ làm mạch bị tắc nghẽn, khí tức chuyết hỏa khó vào, bụi bẩn do bám rêu, ngăn cản quang minh phong mạch. Vì vậy người tu hành và hành giả Mật tông không cấm hút thuốc không được.


<details>
<summary>Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh cấm yên phù</summary>


![image](/img/img_bc83bb7ae623d25c2f20cc5fa6cb5070.png)

</details>


Phù này từ tự tâm Liên Sinh Hoạt Phật tuôn chảy ra, là “sắc lệnh cấm yên phù”. Đem phù đốt rồi cho vào nước uống. 

Điểm chính yếu trong phù là chữ “tuyệt”, là ám ký của “trấn”. Cá nhân tôi thấy “cấm yên phù” phải phối hợp với nghị lực của cá nhân có ý muốn bỏ hút thuốc. Phải có nghị lực không đi mua thuốc lá, người khác cho thuốc cũng không được nhận.
Đợi cơn thèm thuốc đi qua là thần khí tự tỉnh táo, lâu ngày tự nhiên cấm tuyệt.

Viết một bài kệ:
Kính trả khí nan qua.
Đài niêm yên tạo thành.
Tòng tư bách bệnh sinh.
Cấm tuyệt tự an ổn.

Dịch kệ:
Đường hẹp khí khó qua.
Rêu bám do khói thuốc.
Nguồn cơn sinh trăm bệnh.
Cấm tuyệt tự sẽ yên.


### 45. Phù chữa chứng nghiện rượu


(Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh cấm tửu phù)

Trước kia, tôi có ba người đệ tử thích uống rượu, nhưng rượu uống quá nhiều chắc chắn sẽ rối loạn. Người đệ tử đầu tiên một khi say rượu thì toàn bộ tâm trạng bất mãn đều bộc phát ra hết. Nhưng cũng vì thế mà dễ làm mất lòng người khác. Phàm những người ngồi cùng bàn uống rượu, anh ta đều chửi mắng cả. Cuối cùng thì mọi người đều xa lánh.

Người đệ tử thứ hai một khi say rượu là không phân biệt lớn nhỏ, ngay đến tổ tông tám đời, cha mẹ, sư phụ, bạn tốt tất cả đều đem ra sỉ nhục, đến cả tam tự kinh cũng phun ra luôn. Còn có người bị nghiêm trọng hơn, bị xử thô bạo ngay tại chỗ, bị động tay động chân, bị chửi bới sư phụ cha mẹ. Mọi người đều hoảng sợ. Riêng bản thân anh ta thì dương dương tự đắc làm mọi người đều chán ghét.

Người đệ tử thứ ba một khi uống say là đập cốc ném ghế, cầm được cái gì là ném cái đó, có nhiều lúc ngay đến đồ cổ cũng đập nát, thô lỗ hung hăng, còn kinh thiên động địa hơn hai người đệ tử kia. 

Thật ra ba người đệ tử này một khi tỉnh rượu, liền biết mình mất kiểm soát, giống như một vết xe, biến đổi vô thường như vậy.

Liên Sinh Hoạt Phật cảm thương những đệ tử như vậy, từ trong tâm tuôn chảy ra một lá phù, chính là cấm tửu phù (phù cấm rượu).


<details>
<summary>Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh cấm tửu phù</summary>


![image](/img/img_218c192229b2bdf2111928667eb13b91.png)

</details>


Phù đem đốt cho vào nước uống, người uống nước phù này phải phối hợp với nghị lực của bản thân, biết rõ bản thân mình uống rượu vào sẽ hỏng người hỏng việc, thì không nên đi rót rượu uống, một giọt cũng không uống.

Phù này có pháp lực khiến người ta tự nhiên mất hết (cảm giác) mùi vị của rượu, không còn yêu thích nữa, tự mình thấy chán ghét. Tốt nhất là nên phối hợp với sự quyết tâm bỏ rượu của bản thân mà thực hiện.


### 46. Phù tìm người thân


(Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh hồi tâm phù)

Đây là một lá phù tìm người.

Một lần, có thiếu nữ và người nhà vì chuyện nhỏ mà tranh cãi. Thiếu nữ bỏ đi khỏi nhà liền ba năm không về. Người nhà tìm khắp nơi không thấy, đã tìm đến tôi làm pháp. Tôi đưa cho tấm “tầm nhân hồi tâm phù”, căn dặn khi bái tế tổ tiên, đem phù này đốt trước linh vị của tổ tiên.


<details>
<summary>Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh hồi tâm phù</summary>


![image](/img/img_0c8618297be5810b5e305df8a20d9d2d.png)

</details>


Phù này đốt xong, một tuần sau thiếu nữ tự động về nhà.

Người nhà hỏi nguyên nhân?
Thiếu nữ đáp: Cô thấy bà nội, người cô ấy yêu nhất nửa đêm đứng trước đầu giường, dịu dàng trò chuyện với cô ấy, căn dặn phải quay về nhà đoàn tụ, kêu cô ấy không được không nghe lời, cho nên đã quay về. Lúc bà nội còn sống yêu đứa cháu gái này nhất.

Tất cả sức mạnh của hồn ma khiến phù thức hồi tâm vô cùng hiệu nghiệm.
Phù này phải đốt trước linh vị tổ tiên, hoặc đốt trước thần linh cũng được. Tốt nhất là sau khi cúng bái xong rồi mới đem đốt, thần linh hoặc tổ tiên nhận được pháp chỉ thì sẽ đi tìm người.

Cách tìm người này, phàm là người còn sống đều sẽ quay về. Nếu đã qua đời rồi thì sau một tuần cũng sẽ xuất hiện vào trong giấc mơ, vô cùng linh nghiệm.


### 47. Phù gây thương nhớ


(Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh tưởng niệm phù)

Liên Sinh Hoạt Phật viết một bài kệ trước:
Nhân duyên kháo tưởng niệm.
Tưởng niệm năng tương kiến.
Kim nhật bằng không tưởng.
Tha nhật tựu hữu nghiệm.

Dịch kệ:
Nhân duyên nhờ nhung nhớ.
Tương tư dễ gặp nhau.
Hôm nay dù không nhớ. 
Ngày sau rồi chẳng quên.


<details>
<summary>Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh tưởng niệm phù</summary>


![image](/img/img_2ec74ea49329c5d17b582fb6d42a5208.png)

</details>


Vẽ ra lá phù này, Liên Sinh Hoạt Phật phải suy nghĩ rất lâu, vì đây là một tấm tương tư phù khiến người khác nhớ nhung. Tôi đặc biệt nói rõ tại đây, người vẽ lá phù này không được có ý đùa giỡn mà phải thành tâm thành ý mới có thể sử dụng.
Đây là Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh “quỷ lớn ôm quỷ nhỏ”, càng rõ ràng hơn nữa,  là “quỷ nam ôm quỷ nữ”. Ôm nhau tức là nhung nhớ không tách rời.

Người vẽ phù trước tiên quán tưởng chữ điền của “quỷ lớn” xuất hiện trên khuôn mặt của người nam; chữ “điền” của “quỷ nhỏ” xuất hiện trên khuôn mặt của người nữ, sau đó cho đối phương uống. Đem đốt, pha nước, lọc sạch.

Nếu không có cách để cho đối phương uống, có thể bỏ vào dưới gối của mình, vẫn sẽ nảy sinh nghĩ tưởng về đối phương. Sau đó đối phương sẽ đột nhiên không hiểu vì sao lại nhớ đến bạn.

Sự tương tư của đối phương là tình yêu thật lòng chân thành. Chúc phúc thành tựu một mối nhân duyên tốt đẹp.


### 48. Phù giúp ngủ ngon, mơ đẹp


(Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh dạ mộng bình an phù)

Liên Sinh Hoạt Phật viết hai bài kệ trước:

Giấc mơ đẹp là:
Mỹ thực mộng lý thụ.
Diệu pháp giác ngộ thu.
Tây quốc bất điều điều.
Nhất khứ như thủy lưu.

Dịch kệ:
Món ngon hưởng trong mơ.
Giác ngộ nhận diệu pháp.
Tây quốc chẳng xa gì.
Lướt đi như như nước chảy.

Giấc mơ xấu là:
Phong suy hựu bạo vũ.
Vạn quỷ tác mệnh cấp.
Kinh hách hựu bì bại.
Tỉnh lại tự khốc đề.
Dịch kệ:
Gió thổi lại mưa bão.
Nghìn quỷ đòi mạng gấp.
Kinh hãi lại mệt mỏi.
Tỉnh dậy tự khóc ròng.

Vì vậy Liên Sinh Hoạt Phật từ tự tâm tuôn chảy ra một lá phù, chính là Dạ mộng bình an phù.


<details>
<summary>Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh dạ mộng bình an phù</summary>


![image](/img/img_69026750e09284a7cf8f32ac26d7919f.png)

</details>


Phù có thể dùng để dán ở đầu giường hoặc đem đốt cho vào nước rồi cho người thường xuyên mơ ác mộng uống, tự nhiên sẽ có cảnh mộng cát tường như ý, thoải mái bình an. Ngày hôm sau tinh thần rất tốt.

Lá phù này, người có minh nhãn có thể nhìn ra được, có ám ký của “dạ”, có ám ký của “mộng”, đích thực là không thể nghĩ bàn, bất khả tư nghì.


### 49. Phù khai mở Thiên nhãn thông


(Thiên nhãn thần thông phù)

Đây là phù thức bí mật được công khai khắp thiên hạ lần đầu tiên, giá trị phi phàm. Đây là “Tu đạo linh phù”, là “Thiên nhãn thần thông phù” mấy đời khó tìm.


<details>
<summary>Thiên nhãn thần thông phù</summary>


![image](/img/img_c10b798dc56e7b7648e1f5762be21f1a.png)

</details>


Phù cần phải phối hợp với người tu Thiên nhãn thông sử dụng. Phù đem đốt, pha nước rồi uống.

Liên Sinh Hoạt Phật chỉ ra, phía trên cùng của phù này là “thiên địa mục”, không chỉ có thể thấy thiên đường, mà cũng có thể thấy địa ngục, là dùng sức mạnh của tâm để “kiến hình”, trong đó có ám ký thất tinh đan xen lẫn nhau. Ám ký thất tinh này, đan xen vào nhau là vô cùng đặc biệt chứ không tầm thường. 

Người có thể giải thích được ký hiệu bí mật này, trên đời này không có mấy người. Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, muốn tu tập Thiên nhãn thông cần phải có được hai nguồn tích tập về phúc, huệ.

Phúc: Căn cơ của kiếp trước, phúc báu của kiếp này, đại từ đại bi đại thiện đại thí.
Huệ: Đại trí huệ thực sự của tính không.

Sự phát lộ của Thiên nhãn thông đặc biệt nằm ở sự thanh tịnh của tâm. Sự thanh tịnh của tâm là quan trọng nhất. Ánh sáng tâm một khi phát lộ sẽ đắc thiên nhãn, tất cả mọi chướng ngại biến mất. Tâm tưởng hiện ngay trước mắt, hiện ra rõ ràng trước mắt. Hai mắt nhắm lại, trên trời dưới đất đều có thể nhìn thấy, không một thứ gì là không thấy, có thể thấy thiên đường. Dù bất cứ thiên giới nào, tùy tâm mong muốn, từng cái một hiện ra ngay trước mắt. Đây là chuyện đích đích thực thực. 

Tu trì Thiên nhãn thông phải xin phép Kim cương Thượng sư đích thực, rồi phối hợp Thiên nhãn thần thông phù, như vậy sẽ nhất định đạt được đại thành tựu.


### 50. Phù khai mở Thiên nhĩ thông


(Thiên nhĩ thần thông phù)

Thiên nhãn thông có thể có được từ việc tu hành, giống như thiên nhãn của A Na Luật, đệ tử của Phật, chính là nhờ khổ tu mà có được. Phàm phu thánh nhân đều có thể tu được Thiên nhãn thông, nhưng Thiên nhãn thông mà A la hán có được, vốn là một trong tam minh, thì lợi hại hơn Thiên nhãn thông bình thường. Cái này chỉ thánh nhân mới có thể đạt được. 

Còn về Thiên nhĩ thông là nhĩ căn tu đắc rồi bình đẳng với thiên nhân trong Sắc giới. Người có Thiên nhĩ thông thì tất cả mọi âm thanh xa gần đều có thể nghe thấy, bao gồm cả ngôn ngữ thần tiên ở trên trời. Tấm Thiên nhĩ thần thông phù này chính là linh phù để tu luyện Thiên nhĩ thông.


<details>
<summary>Thiên nhĩ thần thông phù</summary>


![image](/img/img_a4d8ef6aebad88bac1bd0435af454329.png)

</details>


Phù lục này được công khai lần đầu tiên, có thể nói là xưa nay chưa từng có. Người có minh nhãn vừa nhìn phù này, sẽ thấy trong phù có biểu tượng của “thiên nhĩ”, có ký hiệu của “âm thanh”, nhưng cơ mật trong đó thì thiên hạ rất ít người biết. 

Lá phù đem đốt cho vào nước, dùng để uống.

Người tu tập Thiên nhĩ thông cần tìm Kim cương Thượng sư đích thực để quy y, được Kim cương Thượng sư truyền thụ khẩu quyết tâm yếu, trong đó có nội minh tâm pháp, có nhĩ căn duyên pháp, còn có văn huệ pháp. 

Mỗi lần tu một đàn, liền uống một lá Thiên nhĩ thần thông phù. Liên Sinh Hoạt Phật biết rõ mật pháp này, duy pháp này phải là nhân tài thượng căn mới có thể tu đắc, và còn phải đích thân thọ nhận quán đảnh. Ngoài ra nhân phẩm của người học pháp lại càng quan trọng hơn.

Thiên nhĩ thần thông phù là phù lục cực kỳ trân quý.


### 51. Phù khai mở Tha tâm thông


(Tha tâm thần thông phù)

Lá phù này là Tha tâm thần thông phù.


<details>
<summary>Tha tâm thần thông phù</summary>


![image](/img/img_f61a4890ff4d52ae08fd1f5cc7040adc.png)

</details>


Tha tâm thông chính là thần thông có thể biết được tất cả tâm tưởng của người khác. Người có được Tha tâm thông đối với nguồn gốc lai lịch của thế sự sẽ hiểu rõ mồn một, càng không phải lo sợ bị kẻ khác hãm hại.

Thân tâm của chúng sinh phân làm hai giới nội ngoại, thân thể là ngoại giới, tâm ý là nội giới. Người có Tha tâm thông, đối với tất cả mọi tâm ý đều có thể nhìn thấu rõ ràng các ý.

Sự công khai của lá phù này cũng là xưa nay chưa từng có. Phù này vô cùng kỳ diệu phi phàm, có ám ký của “chúng sinh”, có ám ký “tâm”, có ám ký của “sắc lệnh tri”.
Phù đem đốt pha nước rồi uống.

Nhưng Tha tâm thần thông phù cũng là tu đạo linh phù, cần phối hợp với quán đảnh truyền pháp của Kim cương Thượng sư, phối hợp tu đạo thì mới uống.

Liên Sinh Hoạt Phật viết một bài kệ:
Chúng sinh tâm bất đồng.
Do như chúng sinh diện.
Vi tế nhập kỳ trung.
Diệc như chân thực kiến.

Dịch kệ:
Mọi người tâm khác biệt
Vẻ ngoài cũng chẳng đồng
Nhập sâu trong vi tế
Mới nhận biết thực chân 

Bài kệ này, người có Tha tâm thông có thể lĩnh hội ý nghĩa của nó.


### 52. Phù khai mở Túc mệnh thông


(Túc mệnh thần thông phù)

Túc mệnh thần thông phù chính là phù cho người tu học Túc mệnh thông uống. Phù này trân quý phi phàm, lần đầu tiên công khai khắp thiên hạ.


<details>
<summary>Túc mệnh thần thông phù</summary>


![image](/img/img_40bd58b68ed9bb7af455ca63ad52950e.png)

</details>


Túc mệnh thông chính là có thể biết được quá khứ sinh tử, chuyển thế hết đời này sang đời khác của mình trong lục đạo. Biết việc chuyển thế hết đời này lại đến đời khác, thậm chí biết được quá khứ sinh tử của chúng sinh trong lục đạo. 

Người có được Túc mệnh thông thì những chuyện trong cuộc đời quá khứ đều có thể nhớ lại từng việc một, nắm rõ trong lòng bàn tay.

Cuốn Đêm Ở Hồ U Linh của Liên Sinh Hoạt Phật chính là một cuốn sách Túc mệnh thông. Sách này là quá trình Liên Sinh Hoạt Phật hạ sinh Ta Bà ghi chép hồi ức các kiếp quá khứ của mình. Độc giả nếu đọc sách thì có thể hiểu cái gì là Túc mệnh thông.

Liên Sinh Hoạt Phật sở hữu mật pháp Túc mệnh thần thông, muốn học đại mật pháp này nhất định phải phối hợp Túc mệnh thần thông phù. Người có minh nhãn nhìn vào sẽ thấy trong phù chính là nhân quả ba đời.

Bên trong có ký hiệu “tứ tinh”, vả lại còn có ám ký “ý thức sâu nhất”. “Túc mệnh thần thông phù” là dùng pháp lực mở ra cuốn ghi chép nhân quả ba đời.

Tu đạo pháp này, lại phối hợp với Túc mệnh thần thông phù, tu trì đắc chứng, thì chính là thần tiên. Thần tiên biết được nhân quả ba đời của con người, con người có biến thành thần tiên biết nhân quả ba đời, cũng là như vậy mà thôi.


### 53. Phù khai mở Lậu tận thông


(Lậu tận thần thông phù)

Lậu tận thông chính là cách gọi tắt của “Lậu tận trí chứng thông”. Lậu tận tức là ngưng bặt hết tất cả mọi phiền não. Như Lai có trí huệ “liễu tri” tự mình đã thực sự giải thoát. Đây là tự tính đã thành Phật, như như bất động, cũng chính là tự chứng tự tính pháp thân để thành tựu Như Lai.

Phàm những ai đạt đến cảnh giới này đã là “ngũ tướng thành thân”. 
Một, thông đạt tâm. 
Hai, bồ đề tâm. 
Ba, kim cương tâm. 
Bốn, kim cương thân. 
Năm, vô thượng bồ đề.

Lậu tận thần thông phù cũng là lần đầu tiên công khai với thiên hạ.


<details>
<summary>Lậu tận thần thông phù</summary>


![image](/img/img_8488518f5d97f07ce159e05b3366d529.png)

</details>


Phía trên cùng lá phù là ký hiệu “tinh vân tùy vận”, xuống tiếp là ký hiệu “thân tâm vương”, xuống tiếp nữa là ký hiệu “ngũ thân thành thân”. “Tứ tinh” là ký hiệu cắt đứt hết mọi phiền não.

Trong mật pháp của Liên Sinh Hoạt Phật có bí mật Lậu tận thông thành tựu như lai của “ngũ tướng thành thân”. Đây là vô thượng mật pháp, mà sự tu luyện của vô thượng mật pháp cũng có một lá phù, chính là Lậu tận thông.

Phù đem đốt lên cho vào nước rồi uống.

Trong khắp thiên hạ, Kim cương Thượng sư có thể biết mật pháp Lậu tận thông “ngũ tướng thành thân” đích thực không có mấy người, vì đắc được thần thông này chính là Như Lai vậy.


### 54. Phù giúp thiền định


(Thiền định tịch tĩnh phù)

Có người hỏi tôi: “Thiền định có phù không?”
Tôi đáp: “Đương nhiên có.”
“Nhờ đâu lại có?”
“Vũ trụ vạn vật một khi cô đặc lại, đều thành ký hiệu, nên có phù.”

Thiền có nghĩa là “tĩnh tức niệm lự”, từ trong thiền định sản sinh tâm tịch tĩnh an định. Phải biết rằng người trong Dục giới, người muốn thoát khỏi phiền não, dùng tư duy tu hành mà đắc định, chính là dừng tâm tại một cảnh giới mà thoát khỏi sự tán loạn.

Có người nói: nhất tâm nghiên tu là Thiền, nhất tâm tịnh chỉ là Định. Tấm Thiền định tịch tĩnh phù này của Liên Sinh Hoạt Phật chính là tượng trưng cho sự nhất tâm nhập Tam Muội.


<details>
<summary>Thiền định tịch tĩnh phù</summary>


![image](/img/img_1a68da4eb03799e16f80968c7c4df24b.png)

</details>


Phía trên cùng là “thân thiền”. Xuống tiếp là “tâm cương”. “Ngũ tinh” và “nhị quỷ” là ký hiệu bí mật trong bí mật, duy chỉ có Kim cương Thượng sư đích thực mới có thể giải thích được, người bình thường không thể nào biết được.

Thiền định tịch tĩnh phù này cũng là công khai lần đầu tiên. Thiền định có phù, rất ít người biết. Phù này phối hợp tu thiền, đem đốt pha nước rồi uống.

Chú thích
Tịch tĩnh: cực kỳ yên tĩnh.
Tĩnh tức niệm lự: yên tĩnh dừng lại suy nghĩ niệm tưởng.


### 55. Phù khai Thiền định phóng quang


(Thiền định phóng quang phù)

Các Thượng sư của Chân Phật Tông đều có thể phóng quang. Thậm chí đệ tử của Chân Phật Tông trong lúc ngồi thiền cũng có thể phóng quang. Và những em bé, trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ cũng có hiện tượng phóng quang. 

Việc phóng quang này là do có điện, có điện thì có ánh sáng, cũng có nhiệt.

Phóng quang là vì tâm trí tập trung thành duy nhất, chuyển hóa thành năng lực, chiêu thỉnh pháp lưu của chư thần Bồ Tát giáng xuống, hai ánh sáng hòa trộn do lực của Giới - Định - Huệ mà tự nhiên hiện ra.

Thượng sư do nhờ “đế sát” của lực tu Giới - Định - Huệ mà phóng quang. Các đệ tử vì sự tập trung của lực thiền định mà phóng quang. Trẻ con vì không phiền não lo nghĩ, vốn thuần khiết thanh tịnh mà phóng quang.

Liên Sinh Hoạt Phật ở đây có một lá Thiền định phóng quang phù. Phù này là phù từ tâm thông bách mạch, cũng chính là phù quét sạch chướng ngại của bách mạch, dùng đấu phóng của ánh sáng, như ký hiệu của vô lượng ánh sáng, tứ thông và bát đạt. Do vì phiền não lo nghĩ được trừ sạch hết thảy, tự nhiên phóng quang.


<details>
<summary>Thiền định phóng quang phù</summary>


![image](/img/img_598a0f34bbe7279b91f83913abe5a2ac.png)

</details>


Phù này đem đốt, pha nước rồi uống. Người tu hành uống phù này rồi, sẽ tự triệu tập pháp lưu quang giáng xuống, tự tâm đạt đương thể hợp nhất, hòa hợp xoay chuyển, phóng đại quang minh.

Dùng phù này lâu ngày sẽ phóng đại quang minh chiếu thế gian.

Chú thích
Đế sát: xét kĩ thể tính các pháp hư dối, vốn không sinh diệt, tin hiểu chân thực, tâm không vọng động.


### 56. Phù chữa bệnh đau đầu


(Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh trị đầu thống phù)

Có một đệ tử đau đầu 17 năm, Liên Sinh Hoạt Phật vẽ phù này cho uống. Giống như nhổ cỏ nhổ tận gốc rễ, từ đó người này không biết đau đầu là gì nữa.


<details>
<summary>Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh trị đầu thống phù</summary>


![image](/img/img_2e0602463a8cf041b5c0d10662b3bf3b.png)

</details>


Phù này là phù “Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh pháp lực thu lại bệnh đau đầu”. Liên Sinh Hoạt Phật thấy trên đời có vô số người mắc phải chứng bệnh đau đầu. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến đau đầu, vừa phức tạp vừa khó trị, vì vậy mà sinh lòng bi mẫn, thế là từ tự tâm tuôn chảy ra một lá phù, chính là “trị đầu thống phù”. 

Phù này có ký hiệu của “đầu”. Đem đốt, pha nước rồi uống.

Về nguyên tắc, đau đầu là vô cùng phức tạp hỗn loạn, mà phù này là chấp giản tao phồn (dùng sự đơn giản để xử lý giải quyết những chuyện phức tạp), nhìn vào thấy hết, có thể nói là phù lục cô đọng tinh giản, tuy nhiên lại có đại pháp lực chữa lành lại.

Viết một bài kệ miêu tả:
Chi vị đầu thống khách.
Đặc lưu thử bi tâm.
Nhất phù đại ám ký.
Vĩnh bất thương não cân.

Dịch kệ:
Thương mọi người đầu đau.
Bi mẫn tâm tuôn chảy.
Lá phù đại ám ký.
Đau đầu hết sạch kỳ.


### 57. Phù chữa bệnh về mắt


(Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh trị nhãn bệnh phù)

Tôi cho rằng những người học Phật chúng ta phải có Tam nhãn:

Nhãn Bất tịnh: Ngắm nhìn mỹ sắc của thế giới.
Nhãn Từ bi: Quan hoài thương yêu lo lắng cho chúng sinh.
Nhãn Trí huệ: Cái thấy trí huệ và thấu biết nhân duyên.

Người học Phật chúng ta kị nhất là có đôi mắt sân hận tranh đấu cao ngạo.
Đôi mắt cũng là cửa sổ của tâm hồn, là một sự biểu lộ của nội tâm. Chúng ta phải bảo vệ cửa sổ tâm hồn, không để nó bị tổn hại. Mắt cận thị, mắt viễn thị, đục thủy tinh thể, tăng nhãn áp, loạn thị, viêm giác mạc, bệnh mắt đỏ, viêm kết mạc, uống phù này vào đều có công hiệu rất lớn.


<details>
<summary>Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh trị nhãn bệnh phù</summary>


![image](/img/img_69e77404a9337c80790e79b4c3977c0d.png)

</details>


Đây là phù lục Liên Sinh Hoạt Phật tự tâm tuôn chảy ra.

Có ám ký “nhãn” ở trong đó.
Có ám ký “thu khởi” ở trong đó.

Phù chuyên trị bệnh mắt, người có bệnh về mắt có thể học vẽ phù này, kết hợp thêm phóng sinh nhiều, bố thí nhiều và phải kiêng dâm loạn.
Giữ phẩm thập thiện, kiêm tu thiền định, càng có thể đắc được Thiên nhãn.


### 58. Phù chữa bệnh về tai


(Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh trị nhĩ bệnh phù)

Đây là phù lục Liên Sinh Hoạt Phật tự tâm tuôn chảy ra. Phù đem đốt pha nước rồi uống.


<details>
<summary>Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh trị nhĩ bệnh phù</summary>


![image](/img/img_8f18d7107e29cc455a9b95875ade61b2.png)

</details>


Đại thiên cơ lớn nhất của phù này được công khai là ám ký của “nhĩ” (tai). Ám ký “nhĩ” này cũng là đại công khai bí mật thiên cổ. Nhưng tại sao lại dùng ám ký “tam nhĩ” (3 cái tai), đó là vì còn tính thêm cả Thiên nhĩ nữa vậy. Thu giữ bệnh tai là đại pháp lực của phù này. Bệnh tai bao gồm viêm tai, ù tai, đau tai, hỏng chức năng (tiền đình) thăng bằng v.v.

Từng có một đứa bé bị điếc, sinh ra đã bị điếc rồi, đi khắp nơi tìm danh y mà không cách nào trị khỏi tận gốc, đến khi ba tuổi thì tìm đến Liên Sinh Hoạt Phật.
Liên Sinh Hoạt Phật vẽ ra phù này, đem đốt pha vào nước, đích thân ban lực gia trì vào trong nước. Đứa bé bị điếc này liên tục uống bảy lá phù.
Kỳ tích xuất hiện!
Nghe được âm thanh, đã có phản ứng, thêm một tháng sau nữa, bệnh điếc được chữa khỏi khiến tất cả bác sĩ nổi tiếng đều vô cùng kinh ngạc, bất khả tư nghì - không thể nghĩ bàn.

Phù này có đại thần lực, đại pháp lực, có ám ký “nhĩ” ở bên trong, không thể xem nhẹ được. Ứng dụng của phù này cần phối hợp với phóng sinh, bố thí, in kinh sách.


### 59. Phù chữa bệnh về mũi


(Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh trị tị bệnh phù)

Vì phù này, viết một bài kệ trước:
Nhân vấn khí tức đạo.
Thường thường lộ bất thông.
Hạ nhật nùng vị thích.
Đông nhật thủy mông lông.

Dịch kệ:
Người hỏi đường hơi thở.
Thường xuyên mũi không thông.
Hè dịch mũi chưa hết.
Đông đã nước mịt mòng.

Bài kệ này muốn nói về nỗi khổ của bệnh mũi như lỗ mũi không thông, viêm xoang, mũi chảy mủ, chảy nước mũi, dị ứng mũi, viêm mũi, chảy máu mũi…

Ngày trước có rất nhiều người gọi Liên Sinh Hoạt Phật là đại sư bệnh mũi, bởi vì thực sự có vô số người phải chịu nỗi khổ về bệnh mũi đến tìm Liên Sinh Hoạt Phật. Tôi vẽ ra phù này cộng thêm chút kỹ năng, chữa khỏi cho tất cả bệnh nhân bệnh mũi.
Tôi biết bệnh mũi rất khó chữa. Nhiều người khỏi hết toàn bộ, hoàn toàn là nhờ đại hiệu ứng của phù này.


<details>
<summary>Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh trị tị bệnh phù</summary>


![image](/img/img_86fb00dedc542606aa00ca785dc928a6.png)

</details>


Đây là phù thức Liên Sinh Hoạt Phật tự tâm tuôn chảy ra. Đem phù đốt, pha vào nước rồi uống. 

Các loại bệnh về mũi rất nhiều, nhưng phù này có đại áp sát lực. Có nhiều người uống đều có được đại hiệu nghiệm của thần thông cảm ứng. Phàm là bệnh mũi mà danh y chữa không khỏi, xin mời thành tâm thắp một nén nhang, tự vẽ tự cầu, tự có đại pháp lực không thể nghĩ bàn được sinh ra.


### 60. Phù chữa bệnh về miệng


(Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh trị khẩu bệnh phù)

Người học Phật kị nhất là phạm vào khẩu nghiệp. Khẩu nghiệp chính là vọng ngôn, kỳ ngôn, hai lưỡi, ác khẩu.
Người học Phật đương nhiên cần phải có lời nói thành thật, lời nói thẳng thắn, lời nói điều hòa, lời nói êm dịu.

Khẩu nghiệp là nghiệp vô hình, từ đó bệnh của miệng tự nhiên càng nhiều hơn. Chúng ta đã hiểu được đạo lý họa từ miệng mà ra, bệnh từ miệng mà vào. Phải biết là bệnh của miệng vốn không phải chuyện nhỏ.

Thế là Liên Sinh Hoạt Phật tự tâm tuôn chảy ra một lá phù, là phù lục chuyên trị khẩu bệnh.


<details>
<summary>Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh trị khẩu bệnh phù</summary>


![image](/img/img_f6d1b23caedd98d4a731c31b808ca725.png)

</details>


Linh phù có ám ký bí mật của “khẩu”. Phù này đem đốt cho vào nước uống.

Nếu trong khoang miệng tỏa ra mùi vị lạ, khoang miệng bị viêm sưng, lưỡi không nghe theo điều khiển (trong phù này cũng có ám ký của lưỡi), khô miệng, nói lắp, miệng không sạch sẽ v.v. đều có thể đem đốt phù này cho vào nước uống là trị khỏi.

Từng có người bị câm bẩm sinh liên tục uống hai mươi lá phù, vậy mà có thể mở miệng ra phát âm.
Từ phù chữa bệnh về miệng mà lại có thể chữa khỏi cho người câm bẩm sinh một cách kỳ tích như vậy.

Đây là nguyên nhân miệng lưỡi có mối tương quan với nhau. Phù này nhìn đơn giản, thật ra hàm chứa sự đối trị của khoa thần kinh, méo miệng cũng có thể đối trị được.


### 61. Phù giúp mọc tóc


(Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh sinh phát phù)

Lá phù này có rất nhiều người xin Liên Sinh Hoạt Phật.
Lá phù này không khác gì tin mừng, tin mừng cho người hói đầu.

Có một nữ ca sĩ người Mỹ, trong lúc đạt được cả danh lẫn lợi thì lại bị rụng tóc rất nghiêm trọng. Mỗi một lần gội đầu, cô đều túm ra được một búi tóc lớn, đỉnh đầu hói mất một mảng. Sau này cô ấy nghe danh của tôi đã đích thân đến cầu phù. Tôi vẽ phù này cho cô ấy, ngày hôm sau liền không rụng tóc nữa, một tuần sau mọc tóc trở lại.

Sự hiệu nghiệm của phù này giống như phản âm, đây là phù “Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh pháp lực khiến mọc lông mọc tóc”.


<details>
<summary>Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh sinh phát phù</summary>


![image](/img/img_3da390423e5bd8dbf191826e80a8d995.png)

</details>


Phù đem đốt pha vào nước rồi uống.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng có rất nhiều nhân tố làm hói đầu rụng tóc bởi vì con người hiện đại sống trong xã hội quá cạnh tranh. Phiền não hay lo nghĩ đều rất nhiều, vì nguyên nhân này mà tóc đều bạc trắng, cũng dễ bị rụng. Người có bệnh dễ rụng tóc hoặc người có bệnh không mọc được tóc đều có thể xin phù này.

Từng có một bé gái vừa sinh ra đã giống như ngọn đồi trọc, một cọng tóc cũng không mọc tận hai năm. Bé cầu Liên Sinh Hoạt Phật, uống phù này vào, một tháng sau liền mọc tóc. Không chỉ mọc tóc mà tóc vừa đen vừa bóng mượt, ai gặp cũng yêu, khen không ngớt lời.

Đây là phù của đại pháp mọc tóc.


### 62. Phù chữa khí quản viêm sưng, bướu cổ


(Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh trị khí quản viêm thũng phù)

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, cái khổ của cuộc đời phân làm nội khổ và ngoại khổ.

Nội khổ là: Bốn trăm bốn mươi bệnh là khổ của thân, ưu sầu phiền não là khổ của tâm.
Ngoại khổ là: Bị trộm cắp và kẻ xấu hãm hại, thiên tai gió bão nóng lạnh.
Hai cái khổ này đều rất khó chịu, đặc biệt là khi tứ đại không điều hòa, triền miên thuốc men chữa trị, thân tâm khổ sở.

Về phương diện khí quản và cổ họng, tôi biết hai cái khổ này rất khó trị. Một là: bướu giáp (thường gọi là bướu cổ), hai là viêm sưng khí quản. Thế là Liên Sinh Hoạt Phật tự tâm tuôn chảy ra phù này, chính là phù đối trị bệnh khí quản và cổ họng.


<details>
<summary>Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh trị khí quản viêm thũng phù</summary>


![image](/img/img_1370fe115d9309ead30a45e2dd22995e.png)

</details>


Phù tiết lộ sự huyền bí của tiên thiên, trong đó có ký hiệu bí mật nhất của cổ họng. Ám ký cổ họng này vốn dĩ là không công khai, có thể thấy được giá trị của phù này. 

Phù này chỉ rõ “hóa viêm, hóa sưng”. Phù đem đốt, pha nước rồi uống.

Nói riêng về bướu cổ khi phát triển tới giai đoạn sau sẽ làm nhãn cầu lồi ra, nước mắt tự chảy, não bộ tổn thương, phải chịu cái khổ không được yên ổn. Thông qua dùng phù này để cứu trị có rất nhiều người được chữa lành, cũng có công năng lập tức ngưng dứt, khiến bệnh không bị nặng lên - ác hóa nữa.
Phù này là vật phi phàm, vật kỳ dị trân quý trên trời.


### 63. Phù chữa ho


(Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh hộ trị khái thấu phù)

Phù này và phù trước (phù 62) thoạt tiên có vẻ giống nhau nhưng thật ra là khác nhau. Phù trước chủ yếu trị bướu cổ và viêm sưng khí quản, còn phù này thì chuyên trị ho.


<details>
<summary>Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh hộ trị khái thấu phù</summary>


![image](/img/img_48eab8136399941b528cf5261e078dbf.png)

</details>


Lúc tôi ở Đài Loan thường nghe một câu nói: “Bác sĩ sợ trị ho, thợ xây sợ trị dột”. 

Câu nói này nguyên do là các bác sĩ sợ nhất là trị bệnh ho, còn thợ xây sợ nhất là sửa nhà bị dột nước. Ấy là vì bệnh ho vốn không dễ trị. Còn căn nhà bị dột nước, trám bít xong lại dột, trám không trám được hết, dột vẫn cứ dột. Ho cũng giống thế, uống thuốc tiêm thuốc cũng rất khó có công hiệu.

Thế là Liên Sinh Hoạt Phật tự tâm tuôn chảy ra một phù, chính là “trị khái thấu phù”. 
Phù có ám ký của “cửu điểu thổ vương”. Cái gì là “cửu điểu thổ vương”? Đây là bệnh ho giống như “chín con chim bay trên bầu trời”. Mà đối trị dùng “thổ vương” để trấn áp. Tại sao lại dùng thổ vương? Vì thổ vương là khắc tinh của cửu điểu (chín con chim bay), khiến cửu điểu không thể bay lượn. 

Phù đem đốt, pha vào nước rồi uống. “Cửu điểu thổ vương” chỉ có ai là Phù tử tiên đích thực mới hiểu được. Uống phù này vào, bệnh ho giống như bị lấy đi mất.


### 64. Phù chữa say nôn ói


(Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh hộ trị ẩu thổ phù)

Có một đệ tử mỗi lần đi máy bay thì chắc chắn bị nôn ói.

Cô ấy nói với Liên Sinh Hoạt Phật rằng: “Khi bị nôn ói, cảm thấy giống như tứ đại phân chia, cũng giống như thân tâm nứt ra, không chỉ chóng mặt hoa mắt mà còn có cảm giác con đường trước mặt xa mịt mù.”

Cô ấy vô cùng chán ghét nôn ói, nhưng sự ám ảnh về nôn ói cứ vây lấy nặng nề, muốn né tránh cũng không thể.

Đây là:
Thiên sinh như nhất hoa.
Phiên cổn nhất địa tháp.
Mỗi hồi ẩu thổ thời.
Mãn địa cam giá chỉ.

Dịch kệ:
Trời sinh tựa đóa hoa.
Chao liệng vòng đáp xuống.
Nhưng nôn ói mỗi lần
Bã mía đầy mặt đất.

Thế là Liên Sinh Hoạt Phật tự tâm tuôn chảy ra một lá phù, phù chuyên trị nôn ói.


<details>
<summary>Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh hộ trị ẩu thổ phù</summary>


![image](/img/img_f4cd2b703af13e7fd2a7363d4218841c.png)

</details>


Trước khi có nguy cơ bị nôn ói, trước khi đi tàu đi máy bay, thì đem đốt pha nước, dùng để uống. Uống phù này vào rất kỳ diệu, cảm giác nôn ói hoàn toàn tan biến. Cũng có nghĩa là về cơ bản không còn chóng mặt hoa mắt nữa, cũng không còn cảm giác lâng lâng nữa, hoàn toàn trấn định như thường.

Trong phù thức này chỉ có hai chữ “trang nghiêm”. Hai chữ “trang nghiêm” này chính là trời sinh cây cao trăm thước, đứng ở giữa đất trời mà gió thổi không lay động, đứng kiên cố vững chắc. Bất động chính là đối trị nôn ói. Như vậy gọi là “trang nghiêm”.


### 65. Phù cầm máu


(Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh hộ trị chỉ huyết phù)

Phù này có đại uy thần lực, bất khả tư nghì, vốn không thể nghĩ bàn.


<details>
<summary>Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh hộ trị chỉ huyết phù</summary>


![image](/img/img_01a21018a7abb3ef76d34e58918bdd36.png)

</details>


Trong phù có hai chữ vô cùng quan trọng, chính là hai chữ “hồi thiên” (quay lại cõi trời).
“Hồi thiên” đại diện điều gì? Thiên giới có cõi trời Dục giới, cõi trời Tứ thiền hữu sắc, cõi trời Vô sắc giới. Đây là phạm vi của thiên đạo, vậy lá phù này có mối liên quan gì với “hồi thiên”?

Thân thể của con người chúng ta là tượng trưng cho một vũ trụ nhỏ, nên hai chữ “hồi thiên” là vô cùng có ý nghĩa. Vì hồi thiên chính là “máu” chảy ngược lại, không chảy xuống dưới, mà là chảy ngược lên trên, là “hồi thiên”. Máu chảy ngược lên trên chính là ý nghĩa “huyết chỉ”, dừng chảy máu. 

Đây là phù lục từ tâm Liên Sinh Hoạt Phật tuôn chảy ra, ý cảnh trong phù vô cùng rõ ràng. Phù đem đốt pha nước rồi uống. Cũng có thể lấy nước búng vào chỗ bị thương thì máu lập tức ngừng chảy.

Lá phù này xuất hiện tại nhân gian là vì chư Bồ Tát từ bi thương xót chúng sinh, giúp chúng sinh không còn phiền não, giúp chúng sinh không còn tai nạn, giúp chúng sinh trong khoảnh khắc mà được cứu. Tế độ chúng sinh rất cấp tốc, đây là một lá phù cứu mạng khẩn cấp.

Khi vẽ phù này có thể niệm danh hiệu của Liên Sinh Hoạt Phật hoặc A Di Đà Phật. Phù này là báu vật vô giá.


### 66. Phù chữa hen suyễn


(Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh hộ trị khí suyễn phù)

Người bị hen suyễn chắc chắn biết cái khổ của hen. Hen suyễn thường gọi là sá quy. (cách gọi tại Đài Loan)

Có một đệ tử bị hen suyễn lâu năm, viết thư nói với Liên Sinh Hoạt Phật: 
“Bệnh hen suyễn này là căn bệnh vô thường, không được yên ổn, không cách nào biến mất, giống như con thú hoang ăn thịt người ở bên cạnh, luôn luôn chuẩn bị tấn công. Đây là nỗi khổ thân tâm mệt mỏi khó mà tả nổi.”

Khi hen thì giống như thân tâm co rút, sống chết cứ nối tiếp nhau, vạn niệm đều biến mất, muốn né tránh cũng không được, giống như ngồi trong tù vậy.

Như Liên Sinh Hoạt Phật được biết, bên trong là vốn có nhân quả nghiệp chướng. Bệnh hen suyễn phát ra là nghiệp chướng hiện tại, phân tích kỹ lưỡng thì là chủng tử chướng, do chủng tử chướng mà hình thành tập khí chướng. Muốn loại bỏ căn bệnh “co rút” này phải dùng kinh lực, chú lực, Phật lực, cuối cùng mới dùng phù lực.


<details>
<summary>Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh hộ trị khí suyễn phù</summary>


![image](/img/img_09ebe2aba21bc9a7e0332cc6d0f6542a.png)

</details>


Đây là phù lục tuôn chảy từ tâm Liên Sinh Hoạt Phật, đem đốt pha nước, dùng để uống.

Phù này là phù hiệu ứng tùy cơ xuất thế độ hóa chúng sinh, cần phải phối hợp với người bệnh mà ứng dụng. 
Người thượng căn thì có thể tự mình niệm kinh trì chú hoặc niệm Phật. Người trung căn có thể mời Sư Tôn hoặc các Thượng sư tu pháp giùm thì vẫn có hiệu lực. 

Phù này chữa “bệnh co rút”, vì vậy có “nghĩa tôn quý, nghĩa thù thắng, nghĩa hi hữu, nghĩa tự tại như ý”. Diệu dụng của phù này hơn tất cả mọi loại thuốc. Thuốc men chữa ngọn, phù này chữa rễ, phù đến bệnh hết mới hiển lộ được đại pháp lực của Liên Sinh Hoạt Phật.


### 67. Phù chữa bệnh tim


(Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh hộ trị tâm tạng phù)

Sự tu hành của Liên Sinh Hoạt Phật là chuyên chú vào sự tu hành của Tâm, không câu nệ hình thức. Chữ Tâm đó không phải nói đến quả tim của con người. Tâm là đạo vô hình, còn chữ Tâm tạng mới là quả tim hữu hình.

Tâm vô hình này là linh minh giác tính vốn có của chúng sinh. Tự tính vốn có hằng sa diệu đức (các “tính đức” đẹp nhiều như cát sông Hằng). Hằng sa diệu đức cùng với trời đất vốn dung hòa làm một. Tâm thực sự là “Nhấn bổn vạn thù, xúc hợp tự tại” (ý nói sự vật có muôn nghìn đặc thù khác nhau nhưng đều có chung một nguồn gốc. Chúng tiếp xúc, dung hòa với nhau một cách tự tại).

Còn trái tim của cơ thể cũng là chủ của một con người. Tim chết người chết, tim dừng người vong. Tim không thể dừng lại được, phải hoạt động một cách không chút chướng ngại thì mới được.


<details>
<summary>Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh hộ trị tâm tạng phù</summary>


![image](/img/img_5eb1a8b79047d1d2bf3dda3040c34a8b.png)

</details>


Đây là phù lục tuôn chảy từ tâm Liên Sinh Hoạt Phật. Phù này người có minh nhãn nhìn vào liền biết: “nhật nguyệt hành”, vận động mãi không ngừng dứt, cũng là đạo thuận tự nhiên của trời.

Phù có “nghĩa ly cấu”, cái gì là ly cấu? Chính là cơ tim tắc nghẽn, huyết quản tắc nghẽn đều được hóa giải mà thành ly cấu. (Rời xa được sự dơ bẩn, uế tạp)

Cũng có “nghĩa tối thắng”, cái gì là tối thắng? Cũng chính là vận hành không ngừng nghỉ từ xa xưa, mọi thứ tự tại như chính nó. Phù đem đốt pha nước rồi uống.

Sự xuất thế của phù này sẽ độ hóa cứu độ nhiều người phương Tây hơn, do vì người phương Tây chết vì bệnh tim rất nhiều.


### 68. Phù chữa bệnh dạ dày


(Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh hộ trị vị bệnh phù)

Liên Sinh Hoạt Phật viết một bài kệ trước:
Tam thời vô chỉ tức.
Tiếp nạp toàn trượng tha.
Toàn thân lai nguyên xử.
Thử quân yếu hộ vu.

Dịch kệ:
Ba bữa liên tục, ngừng nghỉ đâu.
Tiếp nạp dinh dưỡng, toàn cậy nhờ.
Toàn thân trưởng dưỡng, nhờ nó đó.
Bảo vệ hộ trì, như yếu nhân.

Bài kệ này nói về sự quan trọng của dạ dày. Bởi vì dạ dày là nhân tố lao động và phân phối toàn bộ dinh dưỡng và dưỡng chất. Dạ dày giống như rễ của thực vật. Dạ dày nếu không tốt, “hoa” chắc chắn khô héo. Dạ dày tốt thì “hoa” cũng tươi đẹp.


<details>
<summary>Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh hộ trị vị bệnh phù</summary>


![image](/img/img_fed5de4f4d30900de525bf98062962bf.png)

</details>


Đây là phù lục tuôn chảy từ tâm Liên Sinh Hoạt Phật. Đem đốt pha vào nước rồi uống.

Phù này chuyên trị viêm dạ dày, acid dạ dày, đau dạ dày, thủng dạ dày, tiêu hóa ở dạ dày. Trong phù có ba chữ “thực hỏa dư”, chính là ám ký bí mật trong bí mật.

“Thực hỏa” tức “thực viêm”. “Thực dư” tức “tiêu hóa”. Những người đã được lá phù này cứu trợ thì không thể nào tính  đếm hết được. Thậm chí tiêu hóa không tốt, uống phù này vào lập tức tiêu hóa tốt.


### 69. Phù chữa bệnh gan, lá lách


(Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh hộ trị gan tỳ tạng phù)

Liên Sinh Hoạt Phật tự tâm tuôn chảy ra một lá phù kỳ lạ đặc biệt, phù này nhân gian ít thấy.


<details>
<summary>Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh hộ trị gan tỳ tạng phù</summary>


![image](/img/img_1cdc6fe78651165c13c768b9d8fbcd91.png)

</details>


Phía trên cùng là ám ký pháp lực của Liên Sinh Hoạt Phật, tiếp đến là ký hiệu “hộ trị”, xuống dưới nữa là bốn chữ “hòa gia ngũ thành”.

“Hòa gia ngũ thành” này là gì? Liên Sinh Hoạt Phật đưa ra một ví dụ như sau: Quả tim nếu là pháp vương, thì pháp chính là gan và lá lách, pháp chính là phòng lưu trữ của cơ thể người. 

Pháp nương theo Vương mà tồn tại, Vương nương theo Pháp mà sinh. Chức năng của tim là vô cùng quan trọng, mà tim là do gan và lá lách nuôi dưỡng. Vì thế chúng là cùng một thể tính, năm thứ vốn chẳng khác, cần đến như nhau. Ý nghĩa của “hòa gia ngũ thành” đã rõ ràng rồi! “Hòa” cũng tức là thêm, “gia” tức là tăng, “ngũ” tức là ngũ tạng, “thành” tức là thành tựu.

Công dụng của phù này rất lớn, khiến gan và lá lách không hư hoại, hoàn toàn sản sinh ra công dụng bảo hộ điều trị. Chức năng gan lá lách bình thường là sự đảm bảo của cơ thể khỏe mạnh.

Phù đem đốt pha vào nước rồi uống.


### 70. Phù chữa bệnh phổi


(Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh hộ trị phế tạng phù)

Đây là phù lục tuôn chảy từ


<details>
<summary>Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh hộ trị phế tạng phù</summary>


![image](/img/img_7211c356f999d1d42193e4f8df3f8bd7.png)

</details>


Tôi viết một bài kệ trước:
Ngã quán phế tác dụng.
Trọc khí kỷ độ thanh.
Khí tẩu hoãn hoãn hành.
Nhân sinh nhược phù bình.

Dịch kệ:
Tôi xem phổi, trọc khí.
Có vài độ sạch thôi.
Khí ra vào nhẹ lối.
Đời người như bèo trôi.

Lại kệ:
Phế hành như luân hồi.
Du du hà nhật liễu.
Triều triều vô nhàn nhật.
Quán chi tự minh liễu.

Dịch kệ:
Phổi “thở”, như luân hồi
Liên miên, không dừng dứt.
Nhàn nhã, chẳng một ngày.
Quán chiếu tự thấy ngay.

Hai bài kệ trên là sự cảm thán khi Liên Sinh Hoạt Phật quán tưởng khí của cơ thể người ra vào. Thân phàm phu là “liệt ứng thân”, thân mà tam thừa thánh nhân nhìn thấy, là “thắng ứng thân”.

Phù có thể trị các bệnh quái ác như lao phổi, viêm phổi, phổi tích nước, kết hạch phổi, sưng phổi v.v.
Có rất nhiều người dùng phù này đều hiệu nghiệm.


### 71. Phù chữa bệnh thận


(Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh hộ trị thận tạng phù)

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, thận có bệnh thường do phạm âm túy rất nhiều.

Tôi cảm thấy khác biệt giữa phàm - thánh, nằm ở khác biệt tịnh - uế. Sự tịnh uế này là sự khác biệt về trí tuệ hay u mê. Người bị bệnh thận thường có nghiệp chướng rất nặng. 

Tôi cho rằng như thế này: Phòng phẫu thuật của bệnh viện lớn giống như là địa ngục biên địa, những dụng cụ phẫu thuật đó chính là hình cụ. Nói một cách khác, máy chạy thận chính là hình cụ tra tấn của địa ngục nhân gian.
Tôi thấy người trong thế gian mắc phải bệnh thận tiết niệu, một tháng chạy thận không biết bao nhiêu lần, hoặc một tuần nhiều lần, không khác gì chịu hình phạt, nhìn thấy thảm thương không sao nhìn tiếp được, nhiều lần đã rơi nước mắt. 

Những chúng sinh đáng thương sống chịu nỗi khổ chạy thận, chết rơi vào ác đạo, làm sao có thể cắt đứt được một phút vô minh chứ!

Kết quả, từ trong tâm Liên Sinh Hoạt Phật tuôn chảy ra một lá phù. Phù này chính là phù hộ trị bệnh thận. Trong phù có pháp lực lớn, chủ yếu nhất là “trảm tà quỷ sát”.


<details>
<summary>Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh hộ trị thận tạng phù</summary>


![image](/img/img_001547cd537fdb70f14baf80dd49e1eb.png)

</details>


Phù đem đốt pha nước rồi uống. 
Phù này tốt nhất phối hợp với cúng Thủy sám. Thủy sám là tụng niệm “từ bi tam muội thủy sám pháp”. 
Chính là: Sám hối như giặt quần áo. Lấy nước làm danh nghĩa, chí tâm đảnh lễ tội căn thanh tịnh. Tội sẽ diệt, phúc sẽ sinh. 

Huệ nhật phổ minh giác hải tính viên đăng. 
Nam Mô Viên Giác Địa Bồ Tát Ma Ha Tát.


### 72. Phù trị bệnh đường ruột


(Trị tràng bệnh phù)

Liên Sinh Hoạt Phật nghiên cứu bệnh lý học biết cách trị bệnh có ba loại:
1.	Phù hợp. (Điều dưỡng)
2.	Điều phục. (Hóa giải)
3.	Đối trị. (Áp chế)

Trong ba cách này vốn có rất nhiều kiến thức, chưa kể các cách chữa trị của các y sĩ cũng không giống nhau nữa. Vì vậy y pháp cũng chỉ tạm lược giải mà phân chia ra như vậy.

Phù lục của Liên Sinh Hoạt Phật, người có duyên sẽ được. Theo quy tắc lễ pháp thì nên quy y Liên Sinh Hoạt Phật trước, như vậy mới tính là phù hợp với sự truyền thừa, điều này là vô cùng quan trọng.


<details>
<summary>Trị tràng bệnh phù</summary>


![image](/img/img_a4b45391a0673c341e91ca167d8316e4.png)

</details>


Phù cũng phân Điều phục và Đối trị. Pháp điều phục là “nhu thuận pháp”, pháp đối trị là “cương bạo pháp”, trong này đều có kiến thức rất uyên thâm, có duyên sẽ truyền thụ. 

“Trị tràng bệnh phù” của Liên Sinh Hoạt Phật là linh phù rất đặc biệt. Trong đó có ám ký của “tràng”, ký hiệu này người tinh mắt nhìn vào là biết.

Phía trên cùng có chữ kỳ văn. Còn chữ “Vũ” cũng tức là “Linh” vậy. Riêng hai vân vạch dích dắc ở dưới là lưu động. Chữ “Luật” tức là điều phục. Uống phù này vào thì bệnh ruột lập tức được điều phục, nhân gian hiếm được nhìn thấy một lần, là thứ rất đáng quý.


### 73. Phù chữa động kinh


(Điên giản phù)

Tôi viết một bài kệ trước:
Kí túy đông đảo tà.
Khẩu diệc loạn vân ngôn.
Vân lôi cánh nhật hạ.
Bất đắc tự tại nhân.

Dịch kệ:
Thân say đổ nghiêng ngả.
Miệng tán loạn xà ngầu.
Cả ngày đòi đánh đấm.
Tự tại chẳng được đâu.

Bài kệ này muốn nói người bị bệnh động kinh giống như người say rượu, ngã lên ngã xuống, miệng nôn bọt trắng, như cừu động kinh, như heo ái động kinh, như chuột rút. Trong một ngày bị vài lần, hoặc một tháng bị vài lần, khi trở thành nghiêm trọng thì là cả ngày đều như thế.

Liên Sinh Hoạt Phật chữa trị bệnh điên nhiều vô cùng, bệnh này là sở trường của Liên Sinh Hoạt Phật. Có rất nhiều bệnh nhân mắc bệnh động kinh bẩm sinh thường đến gặp tôi, Liên Sinh Hoạt Phật. Tôi vẽ phù này, cứ hai ngày uống một phù, đem đốt pha nước rồi uống, một tháng sau bệnh được chữa khỏi. Người khỏi bệnh nhiều không thể đếm hết.


<details>
<summary>Điên giản phù</summary>


![image](/img/img_054a20f5d28c1e3b8955b7d6e709665d.png)

</details>


Phù này có hiệu ứng lớn. Huyền cơ trong phù có bốn chữ: “phong cảnh tự chế”.
“Phong cảnh tự chế” chính là mọi thứ tự nhiên, mọi thứ tất cả đều gọn gàng đều đặn.
Tôi thấy cha mẹ trong thiên hạ, những người có con mắc bệnh động kinh, vô cùng đau khổ. Vì vậy nảy sinh đại bi mẫn tâm, truyền lại phù này, phù này vừa công khai, chúng sinh liền được cứu.


### 74. Phù chữa bệnh phụ khoa


(Trị phụ khoa phù)

Liên Sinh Hoạt Phật tại Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ cùng Kim Đào Tôn Giả đối đáp:

“Bệnh lý trong thiên hạ, bệnh nào khó ứng phó?”
“Phụ khoa.” Kim Đào Tôn Giả đáp.

“Vì nguyên nhân gì?”
“Do nghiệp chướng kiếp trước của người nữ gây ra, phải chịu nỗi khổ như vậy.”

“Làm sao đối trị?”
“Ba chữ: nguyên sinh chủ.”

Liên Sinh Hoạt Phật thấy ba chữ “nguyên sinh chủ” này hàm chứa cơ mật rất to lớn. “Nguyên sinh chủ” này chính là bí mật kiếp trước đầu thai của người nữ. Tôi nhận được giáo hóa của Kim Đào Tôn Giả, cùng mọi loại thần thông diệu dụng của cảnh giới thù thắng, bắt đầu biết đạo lý phương chính quảng đại của “chữ bí mật”. 

Phù điều trị tất cả bệnh về phụ khoa, tất cả đều có hiệu nghiệm cực kỳ to lớn. Phải biết là trong phù có ám ký “phụ nhân”, có ba chữ “nguyên sinh chủ”.


<details>
<summary>Trị phụ khoa phù</summary>


![image](/img/img_b62a544d649edb253a63c41dfa7135d1.png)

</details>


Phù này đem đốt pha nước rồi uống. Đại công khai phù này là một tin vui lớn cho giới nữ, uống phù này vào, “nguyên sinh chủ” được điều hòa, từ đó hoạt bát tự nhiên, vui vẻ hạnh phúc.


### 75. Phù chữa trúng gió, cảm mạo


(Trị phong tà cảm mạo phù)

Phong tà cảm mạo (cảm cúm, trúng gió độc) hình như chỉ là bệnh vặt, tuy nhiên biến chứng của phong tà cảm mạo thì rất nhiều, không thể xem thường. Sự biến hóa phân chia của những con vi rút này là vô cùng nhanh, cũng là một trong những chướng ngại phiền não của thân thể.


<details>
<summary>Trị phong tà cảm mạo phù</summary>


![image](/img/img_1d858f5cf4c280f8469b130e60032bc7.png)

</details>


Rất lâu mới bị cảm một lần thì không sao cả. Tôi từng có một đệ tử, anh ta cả năm đều phong tà cảm mạo. Một tháng bị từ hai đến ba lần, cơ thể đặc biệt rất dễ bị nhiễm phong hàn. 

Anh ta cũng rất quan tâm chăm sóc cơ thể của mình nhưng vẫn là khách hàng thường xuyên của bác sĩ. Dùng hết mọi phương pháp cũng đều không thể diệt trừ được phiền não này. 

Khi có dịch cảm cúm, anh ta nhất định sẽ tham gia theo cơn dịch bệnh. Không có dịch cảm cúm, anh ta lại vẫn cứ bị cảm. Cuối cùng bệnh cảm của anh ta khiến tất cả mọi người đối với anh ta đều không thể chịu được. 

Phong tà cảm mạo chính là ngũ ấm bị đốt cháy, tứ đại không điều hòa, cơ thể phát sốt, đau đầu ê xương, ho và sổ mũi. Đây chính là nỗi khổ tai mắt không linh mẫn nữa. Người đệ tử đó được Liên Sinh Hoạt Phật cho dùng phù “trị phong tà cảm mạo”. Hóa đốt, pha một phù uống, không ngờ lại trị tận gốc một cách kỳ tích, từ đó không bị lại nữa.

Bí mật của phù này nằm ở ám ký “phong tà thu khởi” trong lá phù. Phù này có hiệu nghiệm rất lớn.


### 76. Phù chữa bệnh về xương


(Trị cốt khoa phù)

Đây là lá phù chứa đựng rất nhiều huyền cơ bên trong. Người có minh nhãn có thể nhìn ra, người không có minh nhãn không thể nhìn ra được.


<details>
<summary>Trị cốt khoa phù</summary>


![image](/img/img_323da708eab544000f7601e5f2139e7e.png)

</details>


Trong lá phù có “xương đầu”, “xương tay”, “xương cột sống”, “gân cốt”, “xương háng”, “xương chân”… Xương của toàn thân đều có hết trong này. Phù có ám ký của “xương”. Phù đem đốt pha nước rồi uống, điều trị bệnh xương của toàn thân.

Liên Sinh Hoạt Phật thấy nghiệp chướng của người đời càng lúc càng nặng, ngoài nứt xương, cong vẹo cột sống, lệch xương, viêm xương, mục xương, đau xương ra, giữa các đốt xương lại còn mọc ra xương nhỏ, hoặc là mọc xương ngay vị trí ban đầu của xương (gai xương).

Vì vậy đặc biệt công khai phù chuyên trị về xương, đặc biệt là gai xương. Uống phù xong, gai xương trở nên mềm, rút nhỏ lại, rồi biến mất.

Lá phù này là vô cùng quý giá, không chỉ là bí mật, thậm chí còn là báu vật tổ truyền, không thể trộn lẫn với những lá phù của thế tục được. Phù thậm chí còn vô cùng thần thánh, có pháp lực sinh thiện. Phù vương của “cốt phù” chính là phù này.


### 77. Phù trị suy thận


(Trị thận khuy phù)

Phù dùng để đốt đem pha nước rồi uống.


<details>
<summary>Trị thận khuy phù</summary>


![image](/img/img_a43dcd316c412d5110a6ae4f8ae26ccc.png)

</details>


Nếu có người uống phù này, sẽ xuất hiện hai nghĩa chân thật:
Thứ nhất, là bí mật thực tướng. Trong lá phù có một ấn ký là thực tướng ấn, thực tướng ấn này chính là bất động. Nếu uống phù vào có thể phá các tướng hư vọng, ngoại duyên không thể hỗn tạp, thiên ma không thể xâm phạm, sắc tướng sẽ không thâm nhập, đây chính là lý thực tướng.

Thứ hai, là bí mật hồi thu. Trong phù có một ấn ký là sự vận hành của khí, có ý nghĩa “bức trú”, có ý nghĩa “triệu tập”, có ý nghĩa “tịch tĩnh”, có ý nghĩa “hóa vô”, tập hợp hết bốn loại ý nghĩa này cũng tức là có thể Định, có thể “hồi thu”.

Ngũ uẩn không thể phạm, tinh khí dung nhiếp lại, hoàn tinh bổ não.
Người uống phù này thì sắc uẩn không thể nhập. Không có chuyện mộng tinh. Tất cả đều bất động. Phiền não thế tục biến thành thanh tịnh.

Người dùng phù này phải kiêm thêm xem các sách tu dưỡng, hòa hợp với thiên nhiên, không nhìn sắc, không nghe sắc, không nói lời thô tục. Tự nhiên thân tâm thoải mái, đoạn tuyệt được tà sắc.


### 78. Phù trị bệnh da liễu


(Trị bì phu khoa phù)

Có bài thơ:
Lâm u thiên tụ điểu. 
Khê khoát bổn tàng ngư.

Dịch thơ:
Rừng vắng luôn nhiều chim.
Suối rộng thường lắm cá.

Tôi viết là:
Nhâm thấp đài tự trưởng.
Phu trạch khuẩn diệc sinh.

Dịch thơ:
Đá ẩm rêu tự mọc.
Da sáng khuẩn cũng sinh.

Tại “Olympia” phía nam Seattle có một đứa bé toàn thân bị bệnh ngoài da, là bệnh chàm (Eczema). Bác sĩ khoa da liễu điều trị 9 năm không chữa được, đến cầu Liên Sinh Hoạt Phật. Thế là tôi vẽ phù này tổng cộng năm lá. Chỉ trong một tuần những chỗ mọc mụn nước trên da ở khắp cơ thể đều khô lại, phần da chết bong ra, toàn thân mọc ra lớp da mới, vậy là được chữa lành bệnh.


<details>
<summary>Trị bì phu khoa phù</summary>


![image](/img/img_c31e7cc24be5af86627c4b67b4727ac2.png)

</details>


Liên Sinh Hoạt Phật biết rằng các chủng loại về bệnh da liễu thì rất nhiều. Có bệnh do truyền nhiễm, có bệnh do thể chất, người mắc bệnh rất khó chữa lành, bởi vì vi khuẩn ở da vô cùng cứng đầu. Tuy nhiên phù này chính là Cửu Phụng phá uế, ăn sạch hết tất cả vi khuẩn ở da, diệt trừ được vi khuẩn là tự nhiên da sẽ lành lại.
 
Phù từng chữa lành cho rất nhiều người, rất nhiều người.
Đây là phù dùng cách thức nuốt chửng vi khuẩn, vi trùng, lục trùng, chúng vốn đại diện cho nội trùng và ngoại trùng, tức truyền nhiễm và thể chất.


### 79. Phù chữa đột quỵ


(Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh hộ trị trung phong phù)

Liên Sinh Hoạt Phật viết một bài kệ:
Thân tài cực khôi vĩ.
Khả tích trung phong tùy.
Tự cổ như thử đa.
Quân kim tranh nại hà.

Dịch kệ:
Thân hình cực vạm vỡ.
Nhưng đột quỵ bất ngờ.
Xưa nay không phải hiếm.
Anh tranh giành điều gì?

Đây là Liên Sinh Hoạt Phật nhìn thấy những người bị đột quỵ trên đời nhiều đến như vậy, không nhẫn tâm, mới từ trong tâm tuôn chảy ra phù lục này.


<details>
<summary>Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh hộ trị trung phong phù</summary>


![image](/img/img_e5be6c843a9794fd8191b8b56e2e197b.png)

</details>


Phù lục này có Thiên mệnh. Lá phù vô cùng trân quý, trong phù có ám ký “não” ở bên trong, chính giữa có một chữ “khởi”, chữ “khởi” này ngồi trên xe lăn, cũng có thể đứng dậy.

Phù giúp não vẫn có sức mạnh để duy trì trong từng sát-na, khiến thần thức A lại da thức vẫn có thể hoạt động. Não lực này là bộ phận thần kinh xuyên thông bộ phận vật chất.

Phù đem đốt pha nước rồi uống. 
Phù lực sẽ lập tức chảy vào trong não thức, khiến thần kinh bị đột quỵ phát sinh tác dụng tiếp xúc. Thân tâm tiếp xúc với nhau mà sản sinh ra tác dụng cảm thọ, thần kinh chi phối giao cảm bắt đầu linh hoạt trở lại, khiến động tác của con người có thể trở nên bình thường.

Phù này sẽ cứu độ những người đột quỵ trong khắp thiên hạ.


### 80. Phù chữa bệnh tiểu đường


(Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh trị đường niệu bệnh phù)

Sự trân quý của lá phù này không có gì sánh nổi, là từ tự tâm của Liên Sinh Hoạt Phật tuôn chảy ra.


<details>
<summary>Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh trị đường niệu bệnh phù</summary>


![image](/img/img_8f87ebe815fe6f911e3d60f83a54d486.png)

</details>


Liên Sinh Hoạt Phật biết thân thể con người là tam tế lục thô (ba thứ vi thế, sáu thứ thô lậu) điều hợp, chỉ cần có một chút ít hiện tượng mất điều hòa hoặc không cân bằng thì sẽ sản sinh ra bệnh “chi mạt vô minh”, ảnh hưởng đến sự lưu chuyển của hành uẩn. 

Cứ như vậy mà sản sinh ra các loại bệnh duyên nghiệp. Sau khi bị tích lũy sẽ thành thương đau chí mạng, sầu khổ bi não, mãi mãi không ngừng dứt.

Bệnh tiểu đường khiến tôi nhớ đến trong Kinh Phật có giảng: “Chủng tử sinh xứ, nội ngoại thể tướng, không một cái nào là thanh tịnh. Lạc thọ hoại khổ, khổ thọ khổ khổ, xả thọ hành thiện. Tam tâm bất trụ, niệm niệm lưu chuyển, không có gì đáng nắm giữ. Sát-na sinh diệt, hư vọng không thực, tứ đại giai không.”

Liên Sinh Hoạt Phật thấy chúng sinh có nhiều người chịu nỗi khổ của bệnh tiểu đường, trong tâm liền tuôn chảy ra phù này.

Đây là phù lục của Thiên mệnh, trong đó có bí tự của “điều”, là  ra mệnh lệnh cho “đã sinh bệnh thì ra lệnh dừng lại vĩnh viễn, còn chưa sinh bệnh thì ra lệnh không được sinh ra”. Đối với bệnh tiểu đường thì phù này là có công hiệu lớn nhất.
Phù đem đốt pha vào nước rồi uống. 

Liên Sinh Hoạt Phật quan sát sự sinh ra của các loại bệnh, tâm xúc diệu lý, thọ Thiên mệnh, tâm tự sinh ra phù. Lá phù là trú ở chính lý, thẩm định chính xác không sai sót, có sức mạnh chữa trị kiên cố, là tấm linh phù có đại hiệu nghiệm.


### 81. Phù chữa bệnh thần kinh


(Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh trị tinh thần khoa phù)

Đây là một tấm phù lục từ tự tâm Liên Sinh Hoạt Phật tuôn chảy ra. Phù đem đốt pha nước rồi uống. Đây cũng là một lá phù Thiên mệnh cực kì trân quý.


<details>
<summary>Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh trị tinh thần khoa phù</summary>


![image](/img/img_ccd48f40e36c3fba88462a26353a120e.png)

</details>


Phù này có Ngũ lực:
Tín lực: Không vì phiền não nghi hoặc mà dao động.
Tấn lực: Không vì giải đãi hôn trầm mà gặp trở ngại.
Niệm lực: Không vì thiên tà mê ám mà động tâm.
Định lực: Không vì vọng tưởng tán loạn mà bị quấy nhiễu.
Huệ lực: Không vì ngoại tà ngoại linh mà bị che mắt.

Trong phù này có ám ký tinh thần rất đặc biệt, “chủ” ở trong phù đại diện cho bản thân, “tiểu” đại diện ngoại tà. Chữ “yểm” tức là:
Vô gián vô tạp
Tâm bất trì tán.
Minh sát tự nhiên.
Nhận thủ chân thực.

Dịch kệ:
Không dừng, chẳng tạp.
Bất tán loạn tâm
Tự nhiên quán sát
Nhận nắm thực chân.

Lá phù này sẽ cứu độ chúng sinh mắc bệnh thần kinh trong thiên hạ.


### 82. Phù cân bằng huyết áp


(Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh huyết áp bình hành phù)

Trong các phù lục Thiên mệnh trân quý, lá phù sắc lệnh “huyết áp bình hành” này cũng là cứu tinh của con người thời nay.


<details>
<summary>Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh huyết áp bình hành phù</summary>


![image](/img/img_07f1fbc0bde8250fc43cb346cee28748.png)

</details>


Đây là phù từ tự tâm Liên Sinh Hoạt Phật tuôn chảy ra. Đem đốt pha nước rồi uống.

Trong lá phù có chữ “huyết”. Có ám ký của “thăng”, có ám ký của “giáng”.
Trong đó lại còn có ám ký “bình hành”. Ám ký “bình hành” này là ám ký lần đầu tiên công khai khắp thiên hạ, là đại huyền cơ trong bí mật. Phù đã có nhiều người dùng thử nghiệm, hoàn toàn chữa khỏi bệnh, huyết áp khôi phục bình thường, cứu độ chúng sinh không thể đếm hết được.

Phù này xuất hiện, các con ma bệnh trong thiên hạ hoảng sợ tháo chạy hết.
Quả là bất khả tư nghì - không thể nghĩ bàn.

Phù này chính là đối trị:
Huyết xung thiên đài đỉnh.
Cô cao xuất chúng quần.
Phong diêu tùng trúc vận.
Nguyệt hiện hải triều tần.

Dịch kệ:
Máu huyết xông lên não.
Mắt hoa tay rụng rời.
Gió lay thông trúc tới.
Trăng hiện lên ngoài khơi.


### 83. Phù chữa ung thư, mọc u


(Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh trị nham lựu phù)

Liên Sinh Hoạt Phật vì muốn đạt được mục đích cứu độ chúng sinh bệnh khổ, bản thân luôn giữ phần quan trọng, chủ chốt nhất của tri giác ở trong thái không vũ trụ, cảm nhận tiếp nạp Thiên mệnh. Trong Thiên mệnh ngũ phù, từ tự tâm tuôn chảy ra “trị nham lựu phù” (Chữa ung thư, mọc u).


<details>
<summary>Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh trị nham lựu phù</summary>


![image](/img/img_d2657b4bcefbc821660d28893b08ce76.png)

</details>


“Trị nham lựu phù” này cũng đích thực là báu vật hiếm có, là báu vật vô giá.
Phù đem đốt pha nước rồi uống.

Liên Sinh Hoạt Phật tại Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ hiểu rằng sự tạo thành khối u ung thư vốn dĩ là do ngũ ấm, ngũ uẩn sinh ra.
Đây là do các chướng tích lũy lại mà kết thành. Sự thay đổi của thời đại này cũng sản sinh ra các tuyệt chứng về tế bào hoại tử, cũng có liên quan đến chướng tích lũy kết thành. 

Liên Sinh Hoạt Phật vì sự liên quan lẫn nhau của phương diện này đã đi lên Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ, biết sự tương đối giữa “bệnh” và “thể”, sản sinh ra sự tuôn chảy của tri giác. 

Vì vậy trong phù có ký hiệu bí mật khối u lớn nhất, ký hiệu bí mật khối u này chính là: “ác nguyệt”.
Phù này chính là: “Liên Sinh Hoạt Phật Thiên mệnh, linh thần thu ác nguyệt.”

Liên Sinh Hoạt Phật đã đem hàng vạn bệnh của thế gian thu gom không bỏ sót. Mọi loại bệnh quái ác đều có chữ bí mật, nhưng phải “thu khởi” là có thể điều trị vạn bệnh để cứu chúng sinh trong thiên hạ.
“Trị nham lựu phù” này, phù thức của nó là bất khả tư nghì - không thể nghĩ bàn.


### Phụ lục 1. Sự khai ngộ của Thượng sư Liên Trí


Bản văn là kết tinh khai ngộ của Thượng sư Liên Trí tu tập Chân Phật Mật Pháp đặc biệt tiết lộ, vì vậy vô cùng trân quý.

“Thưa Sư Tôn, Sư Mẫu! Con xin chắp tay đảnh lễ!
Lần này gặp được Sư Tôn, Sư Mẫu, Phật Thanh Phật Kỳ, trong lòng vô cùng vui mừng, lại có thể nhận được sự khai thị vô thượng của Sư Tôn, trong lòng càng thêm cảm kích vạn lần.

Từ khi bắt đầu học Phật pháp, con rất tịnh tâm để thể hội mỗi một chữ mà Sư Tôn đã nói, là pháp ngữ mà Như Lai dạy. Mỗi ngày con đều gác hết mọi chuyện, đi thực hành học biết dần dần từng bước những đạo lý mà con hiểu được.

Lần này đến chỗ Sư Tôn, con đột nhiên lĩnh ngộ được rất nhiều đạo lý, nhưng không có cách nào để nói ra. Con chỉ là cảm giác được tâm con như hư không, vô ngã, không hai. Tất cả nguyên lai là như vậy, tất cả nguyên lai là không có, vô sở đắc, pháp bổn vô pháp, nhân vô pháp cố, là vi vô thượng pháp.

Tất cả nguyên lai, bổn lai, ta chính là Phật, Phật chính là ta! Một tức là tất cả, tất cả tức là một. Mọi thứ vốn dĩ cái gì cũng không có.
Bản Pháp vốn không pháp, pháp là tùy duyên mà sinh. Tuy con hiểu nhưng con không nói ra được, cũng không biết bắt đầu nói từ đâu. Thì ra pháp mà chư Phật đã dạy là tùy duyên độ chúng sinh mà sinh khởi tất cả các pháp, mà vì vậy mới thuyết pháp. Vạn pháp chính là như vậy đó, vốn không thể học, không thể chạm vào. Chỉ là trong tâm sản sinh ra trí huệ. Tâm vốn là vô hình, tất cả trí huệ từ trong vô hình mà đến, mà tất cả vạn duyên vạn pháp đều bao dung toàn bộ.

Tâm sao lại như vậy chứ? Bản tâm vốn không tâm, tâm vì là ý thức của vũ trụ, nguyên lai bổn lai cái gì cũng không có, chỉ là tự mình dùng tâm tính vọng tưởng sai lầm mà hiển thị ra vạn duyên vạn tướng. Trong tâm con đã hiểu rõ tất cả, cũng biết được vô hạn nhưng không có ngôn ngữ nào có thể biểu đạt thành lời.

Buổi chiều tối hôm đó, khai thị của Sư Tôn làm con đột nhiên khai ngộ. Con đột nhiên không biết là cười hay là khóc vì cuối cùng con đã hiểu rồi. Con thực sự thể hội được việc cười chính mình ngốc ra sao, rồi khóc là vì chúng sinh vẫn bị mê hoặc trong mọi thứ, không hay biết gì.

Thì ra “Bát Nhã Tâm Kinh” thực sự là đậm đặc mùi vị Thiền. Con thể hội được “không tức thị sắc”, “sắc tức thị không”, “thọ tưởng hành thức diệc phục như thị”. Các pháp không tướng, không sinh không diệt, không bẩn không sạch, không tăng không giảm, “thị cố không trung vô sắc… dĩ vô sở đắc cố” vậy.

Trong tâm con vô cùng, vô cùng cảm kích Sư Tôn, con sẽ tiếp tục thể hội lĩnh ngộ thật tốt, đạt đến vô trụ vô niệm.
Mọi thứ con đều không chấp trước nữa, những gì nên đến thì đến, những gì không nên đến cũng tùy nó.

Tất cả đều là do nhân quả nhân duyên mà sinh khởi.
Con xin viết một bài kệ: 
Tâm như hư không đại. 
Tâm như minh cảnh đài.
Tâm vô chấp trước tướng. 
Tướng bất lưu ngã ta.

Vạn tướng vô ngã tướng. 
Ngã tướng hiện vạn tướng.
Hữu duyên tắc tương hội. 
Vô duyên tắc hư không.

Ngã hoàn như mộng. 
Chúng diệc như mộng.
Vạn vạn nhất thiết. 
Hoàn ngã quy nhất.

Tâm như khoát hải. 
Tâm như hư không.
Thăng nhập hư không. 
Ngã Phật tức nhất.

Nhậm vạn tướng chuyển khiếp. 
Nhậm vạn điểu phi tường.
Nhậm tha duyên lý quá. 
Nhậm tha khứ lai trung.

Vạn tướng thị ngã tướng. 
Ngã tức thị vạn tướng.
Nhất tức thị nhất thiết.
Chân lý tại kỳ trung.

Tâm minh vạn tướng không. 
Không không bất chấp trước.
Nhất thiết như sở mộng. 
Dã quy như hư không.
Nhất thiết như sở đắc. 
Dã quy như hư không.

Ngã tâm kí nhữ tâm. 
Tâm tâm như nhất tâm.
Nhất tâm vũ trụ tâm. 
Chân lý tại kỳ trung.

Thường tại định trung phản tỉnh. 
Thâm thâm liễu giải vô minh.
Thường niệm chư quán phản chiếu. 
Minh liễu tự tính thanh tịnh.
Thường diễn chư hành trí huệ. 
Nguyện vi chúng sinh chuyển luân.

Dịch kệ:
Tâm lớn tựa hư không. 
Tâm ví như gương sáng.
Tâm không chấp trước tướng. 
Tướng chẳng giữ tâm ta.

Vạn tướng không ngã tướng. 
Ngã tướng hiện vạn tướng.
Có duyên thì tương hội. 
Vô duyên tất như không.

Ta vốn như mộng. 
Chúng sinh cũng mộng.
Vạn vật tổng kết. 
Quy nhất với Ta.

Tâm như biển rộng. 
Tâm tựa hư không.
Bay nhập không trung. 
Phật, Ta là một.

Mặc vạn tướng chuyển kiếp. 
Như muôn chim bay lượn.
Mặc nó tùy duyên qua. 
Mặc nó qua hay tới.

Vạn tướng là ngã tướng. 
Ngã tướng là vạn tướng.
Một tức là Tất cả. 
Chân lý ẩn nội hàm.

Tâm sáng, vạn tướng không. 
Không không, không chấp trước.
Tất cả như đã mộng. 
Quay lại như hư không.
Tất cả như đã đắc. 
Quay lại như hư không.

Tâm ta tức tâm người. 
Tâm tâm như một tâm.
Một tâm vũ trụ tâm. 
Chân lý ẩn bên trong.

Thường ở trong định tự kiểm điểm. 
Thấm sâu nghĩa giải Vô minh
Thường quán xét tự thân bên trong. 
Thấu biết tự tính thanh tịnh.
Thường phô bày hành năng trí tuệ. 
Nguyện vì chúng sinh chuyển luân.

Mỗi lần Sư Tôn hỏi con rằng con muốn học cái gì? Con không dám học nhiều, bởi vì lúc đó tâm của chính con vẫn bất định, vẫn chưa thể thâm nhập lĩnh ngộ nghĩa chân thực của những pháp đó. Tuy tâm hiểu được một chút ít, nhưng đều ẩn giấu ở trong lòng. Tham sân si của bản thân con vẫn còn một số, vì vậy mọi thứ vẫn chưa hoàn toàn thanh tịnh.

Bây giờ, con đã hiểu tự tâm, liễu giải được nhiều hơn, cũng đắc được “chân không đại định”. Con sẽ hết lòng độ chúng sinh, chuyển pháp luân, đi truyền khẩu quyết của Chân Phật Mật Pháp. Con sẽ không tạo nghiệp trong nghiệp mộng này, bởi vì con đã hiểu được “vì vô trụ mà sinh kỳ tâm” rồi.

Từ sau khi quy y Sư Tôn, con học ngồi tĩnh tọa. Cảnh giới của con rất nhiều, cũng nhất nhất bất động, như con đã thấy:

- Mặt trời, mặt trăng xuất hiện, phóng quang xuống toàn thân.
- Ngũ Phật hiển hiện trong hư không, hào quang ngũ sắc quán đảnh toàn thân, trong ánh sáng hóa chày kim cương, chuông kim cương.
- Nhập vào Thiên trung thiên định, tắm trong ánh sáng của thiên hà.
- Gặp gỡ chư thần tiên.
- Bạch Y Thánh Tôn ban kim cương bảo quán cho con đội.
- Thượng sư ban cho ngũ Phật quán cho con đội.
- Chư Phật Thế Tôn ban cho vô số khai thị.
- Thấy địa ngục tướng.
- Thấy nhân duyên tiền kiếp.
- Cùng tiên chúng trên trời ngồi chung vân xa.
- Không Hành Mẫu ban cho vô số sự bảo trợ.
- Sự hiển hiện của Đế Thích.
- Tiên nữ trên trời cúng dường vương miện.

Con rất ít khi đề cập với người khác, cũng chưa từng chấp trước các huyễn ảnh nhìn thấy. Chỉ cần tự biết là được rồi. Trong lòng cũng không nghĩ mỗi lần đều phải có cảnh giới, chỉ là sự hiển hiện tự nhiên mà thôi. Giữa đang mơ và tỉnh táo, không phải mơ, cũng không phải tỉnh táo, trước giờ con chưa từng tiếp nhận, nhưng cũng không từ chối, cũng tức là vừa gần vừa xa.

Con hiểu là mình mang theo nguyện lực mà đến, con đã hiểu tất cả, con sẽ chuyển pháp luân thật tốt, hoằng dương Chân Phật Mật Pháp thật tốt.
Đệ tử Liên Trí chắp tay đảnh lễ.”

Bài văn “khai ngộ” này của Thượng sư Liên Trí, người có minh nhãn có thể nhìn ra cảnh giới của cô. Ý cảnh và thể hội của cô đã thoát ly thế tục, tiến nhập siêu phàm nhập thánh rồi! Tôi cảm thấy vô cùng đáng mừng. Tham khảo kỹ lưỡng, đọc tỉ mỉ bài văn này sẽ có “Tam Muội” đó.

Tôi viết một bài kệ:
Tâm bổn không vô biên. Hữu niệm vạn vạn thiên.
Tham Sân Si xung xích. Hình thành nhân thế gian.
Nhược tâm bất tuyệt khứ. Vọng tưởng khởi như yên.
Nhược tâm toàn tiêu vong. Quang minh chiếu vạn năm.

Dịch kệ:
Tâm vốn vô biên Không. Vạn niệm xuất xuất ra.
Tham Sân Si phủ kín. Hình thành Nhân - thế gian.
Tâm không buông quá khứ. Vọng khởi như khói mây.
Bằng tâm quyết diệt trừ. Quang minh luôn chiếu rọi.


### Phụ lục 2. Tốc hành vãng sinh Ma Ha Song Liên Trì


Đây là một trong những mật truyền đại pháp của Chân Phật Tông.
Pháp này cần phải thọ nhận quán đảnh tâm ấn trực tiếp.
Pháp này đã truyền thụ cho Thượng sư Liên Hỏa.
Pháp này là đại pháp thậm thâm vi diệu, trăm nghìn vạn kiếp khó gặp được, được tuôn ra từ tâm của Liên Sinh Hoạt Phật, trí huệ này đến từ Ma Ha Song Liên Trì.

Nguồn gốc của pháp
Đại Nhật Như Lai – Phật Nhãn Phật Mẫu – Di Lặc Bồ Tát – Liên Hoa Sinh Đại Sĩ – Liên Sinh Hoạt Phật.

Truyền thừa của pháp
Phật Thích Ca Mâu Ni – Phật A Di Đà – Di Lặc Bồ Tát – Liên Hoa Sinh Đại Sĩ – Liên Sinh Hoạt Phật.

Đây là đại pháp vô thượng tốc hành, có khẩu quyết, có tâm yếu. Liên Sinh Hoạt Phật thấy chúng sinh thế gian, trí huệ có thượng hạ cao thấp, tất cả chúng sinh không cách nào được độ, vì vậy mới lấy trí huệ của ngũ phương Như Lai truyền lại Đại pháp uy quyền uy đức tối tôn quý vô thượng tốc hành này, khiến chúng sinh trong thiên hạ đều quy y Chân Phật, tất cả đều biết quay về Ma Ha Song Liên Trì.
Đây là khai diễn vô thượng bồ đề diệu pháp, trình hiện trí tuệ lớn nhất của Phật quá khứ, Phật hiện tại, Phật vị lai, vì chúng sinh mà thị hiện đại pháp.

Nghi quỹ Tốc hành vãng sinh Ma Ha Song Liên Trì như sau:
1. Nhập đàn niệm thanh tịnh chú.
2. Niệm triệu thỉnh chú, triệu thỉnh chư tôn hộ pháp.
3. Chân Phật đại lễ bái pháp.
4. Chân Phật đại cúng dường pháp. (ngồi vào chỗ ngồi)
5. Chân Phật tứ quy y pháp. 
6. Bia giáp hộ thân pháp.
7. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (1-3 biến)
8. Kết ấn. (Thủ ấn này là bí mật trong bí mật, kỳ diệu trong kỳ diệu, cần phải thọ nhận quán đảnh trực tiếp mới biết được.)
9. Quán tưởng như sau:

Trong hư không xuất hiện một dải ánh sáng trắng tỏa xuống từ trên xuống dưới, sau cùng biến thành giống như hình ảnh quán tưởng ở bên rồi hình thành một vòng tròn ánh sáng trắng. 

Bên trong ánh sáng trắng xuất hiện một đóa hoa sen. Màu sắc của hoa sen do căn bản Thượng sư chỉ định hoặc bản thân mình thích màu nào nhất đều được (chính là màu sắc có duyên với mình nhất.)


<details>
<summary>Phù vãng sinh Chân Phật tịnh thổ</summary>


![image](/img/img_3e2ee6aa26e010b71469ac86d2350ce4.png)

</details>


Hành giả quán tưởng tiếp theo thấy chính mình hóa thân biến mất, rồi bay lên ngồi lên trên hoa sen. Quán tưởng rõ ràng, đầy đủ.
	
10. Tụng chú: Om guru lian-sheng siddhi hum. (108 biến)
11. Cửu tiết Phật Phong cùng nội hỏa minh điểm.
12. Nhập định:

Nhập vào định tam muội Ma Ha Song Liên Trì. Ma Ha Song Liên Trì hiện ra trước mắt, bản thân ngồi hoa sen, mọi thứ nhẹ nhàng yên bình, thoải mái.

Ở trong định tam muội này có mười tám Đại Liên Hoa Đồng Tử cùng vô số Trung Liên Hoa Đồng Tử và vô số Tiểu Liên Hoa Đồng Tử, đều trở thành quyến thuộc thân thích của mình.

13. Xuất định tụng bài tán thán:

Phật nhãn hóa hiện Song Liên Trì.
Quang vô lượng và thọ vô lượng.
Đồng tử tâm trí đại quang minh.
Tiếp dẫn tốc kiện đạt Phật ngạn.

14. Đại lễ bái Phật. Xuất đàn.

(Pháp này có quán tưởng vi tế, cần có Kim cương Thượng sư truyền thụ, khẩu quyết tâm yếu đều phải truyền quán đảnh trực tiếp.)


### Phụ lục 3. Tiên thiên phù bút của Liên Sinh Hoạt Phật


(Bài viết từ một quan sát viên)

Trong số những người nổi tiếng toàn cầu, Liên Sinh Hoạt Phật là vị đại sư đã gộp cả Phật học, văn học, triết học, thần thông, truyền kỳ trong một người. Phù pháp thần thông Tiên thiên phù của ngài đã có danh tiếng trên toàn thế giới từ lâu.
 
Mọi người khắp nơi đều gửi thư cho Liên Sinh Hoạt Phật xin thỉnh phù lục. Nghe nói mỗi ngày thư xin phù lục luôn có mấy trăm bức. Những căn bệnh được ngài chữa lành (đều là những căn bệnh phức tạp khó chữa mà Đông, Tây y đều bó tay) thực sự là không thể đếm hết được.

Tại Trung tâm trả lời thư của Liên Sinh Hoạt Phật, riêng trợ lý đã từ 8 đến 10 người, có thể thấy được mức độ bận rộn của việc nhận và trả lời thư không thua gì nghiệp vụ của một công ty lớn.

Mỗi một bức thư hồi đáp của Liên Sinh Hoạt Phật nhất định phải là đích thân ngài ký tên, mỗi một lá phù nhất định phải là ngài đích thân vẽ, cũng là đích thân sắc hóa. Ngài đích thân thi triển pháp lực vào mỗi một bức thư đồng thời còn kèm niệm Phật cho người thay mặt mang thư đến.
 
Khi làm vậy là ngài phụng thỉnh năng lực tâm linh của vũ trụ, điều động Không Hành Mẫu trên thiên giới đến các tín chúng ở xa trăm vạn dặm. Ở khoảng cách xa mà phát huy pháp lực chữa bệnh “cách không”, chữa lành các chứng bệnh nan y phức tạp của người trong thiên hạ.

Liên Sinh Hoạt Phật đối với bệnh nhân nặng thì trước tiên lập danh sách, rồi tập trung tại mật đàn tu pháp (tại Chân Phật Mật Uyển), sau đó sử dụng tức tai trị bệnh pháp. 

Ngài thường tu pháp không gián đoạn dù chỉ một ngày. Ngày nào lại cũng có bệnh nhân nặng đến cầu xin giúp đỡ. Khi tu pháp, ngài nhập Tam Ma Địa, sau đó phóng năng lượng vũ trụ đi chữa bệnh cho những bệnh nhân ở xa. Việc này rất hiệu quả, vô số người có bệnh tình chuyển biến tốt.
 
Mật đàn tu pháp chữa bệnh như thế, ẩn bên trong có rất nhiều kỳ tích thần kỳ, vô cùng cảm động.

Trong lúc ngài tu pháp đã dùng ý niệm với pháp khí là chuông kim cương cùng chày kim cương. Dùng chuông kim cương phát ra tiếng chuông để gia trì vào danh sách chữa bệnh. Ngài quán tưởng bệnh nhân đến trước mặt rồi dùng chày kim cương vẽ Tiên thiên phù lên người bệnh nhân. 

Ý niệm như vậy sẽ bay đi Châu Âu, Châu Á, Châu Phi, Châu Nam Mỹ, Châu Úc. Bệnh nhân ở các nơi trên thế giới đều nhận được linh sóng của Tiên thiên phù do Hoạt Phật phóng chiếu. Phản ứng và hiệu quả chữa trị đều vô cùng mãnh liệt. Ý niệm này vậy mà rải đầy toàn thế giới, đây thực sự là pháp lực bất khả tư nghì, không thể nghĩ bàn. 

Cư sĩ Thạc Huệ ở New York từng gặp một kỹ sư ngành công nghệ cao - tiến sĩ Tiêu Bính Quyền. Ông ấy có một đứa con trai bị bại liệt bẩm sinh đã 11 tuổi, chân phải bước đi rất khó khăn, tay trái cũng không thể giơ thẳng, bàn tay luôn luôn co quắp vào. 

Có một lần Liên Sinh Hoạt Phật đến New York diễn giảng, tiến sĩ Tiêu Bính Quyền dẫn theo con trai đi nghe thuyết pháp, theo đại chúng đi lên pháp đài, tiếp nhận quán đảnh gia trì từ Liên Sinh Hoạt Phật rồi lấy nước đại bi chú ở trên pháp đài mang về nhà uống. 

Không ngờ vừa về đến nhà, uống xong nước đại bi chú liền xuất hiện hiệu quả không thể nghĩ bàn. Tay trái của cậu bé có thể giơ thẳng, bàn tay có thể lật chuyển, chân phải bước đi cũng tự nhiên hơn rất nhiều, quả thật là trở thành hoàn toàn khôi phục luôn rồi, không khác gì so với người bình thường cả. 

Tiến sĩ Tiêu Bính Quyền gặp ai cũng liền thuật lại chuyện kỳ lạ này. Có người hỏi đến tiền nhân hậu quả của sự việc này, Liên Sinh Hoạt Phật chỉ mỉm cười nói: “Nước đại bi chú có đại pháp lực, còn tôi trong lúc gia trì cho bệnh nhân đã dùng linh lực của Tiên thiên phù”.
Liên Sinh Hoạt Phật nói, linh lực của Tiên thiên phù ngoài trị bệnh ra thì công dụng còn nhiều vô cùng, có thể tăng ích, có thể kính ái, có thể hàng phục và rất nhiều công dụng khác nữa không thể thuật hết được.

Người vẽ phù phải tập trung tâm và thần trí, phải nhập Tam Ma Địa. Việc nhập Tam Ma Địa chính là để điều động “Linh năng” của vũ trụ, trong Mật tông còn gọi là Không Hành Mẫu. 

Một khi làm được thì sẽ nhập vào một cảnh giới nhất định. Đây vốn là cảnh giới của Phật Bồ Tát, cảnh giới của Phật pháp, có pháp lực vô biên. Hành giả trong Tam Ma Địa chính là Phật, mật đàn giống như cảnh giới hư không, người vẽ phù và mật đàn tất cả đều đi vào trong cảnh giới hư không, không còn là người bình thường và mật đàn bình thường nữa.

Ngoài ra người vẽ phù cũng cần phải có tâm thật kiền thành. Trong lúc cầu phù, tốt nhất là có thể niệm Phật hoặc niệm tâm chú của Liên Sinh Hoạt Phật. Tâm chú chính là: “Om ah hum, guru bei, aha -sasa-maha, lian-sheng siddhi hum.” 

Dụng tâm chuyên nhất như vậy mới dễ dàng nhận được sức mạnh của linh năng vũ trụ. Liên Sinh Hoạt Phật nói, uống Tiên thiên phù cũng như vậy, tâm phải kiền thành. 

Niệm Phật trì chú chỉ cần cơ thể hấp thu được phù lực của tiên thiên thì sẽ đạt được công dụng chữa bệnh và những thứ khác. 
Nguyên lý như sau:
Pháp lực của Liên Sinh Hoạt Phật là máy phát thanh: “Phát”.
Bệnh nhân là máy thu âm: “Thu”. 

Cũng vì vậy mới nói. 
Giữa một thứ “Phát” và một thứ “Thu” này, phải có sóng ở cùng một tần số nhất định.

Liên Sinh Hoạt Phật nói, nhiệm vụ cả đời của ngài chính là đến thế gian hóa độ chúng sinh và cứu người. Việc hoằng dương Chân Phật Mật Pháp chính là cứu độ chúng sinh đạt đến bến bờ của Phật (pháp xuất thế). Tiên thiên phù này chính là pháp nhập thế, cứu người tế thế. Trong phương diện nhập thế, đây vốn là hành thiện, gieo trồng công đức và làm việc tốt.

Liên Sinh Hoạt Phật cũng lưu ý các đệ tử học Tiên thiên phù bút: 
Vẽ Tiên thiên phù nhất định phải tập trung tinh thần. Vì tập trung tinh thần là âm ba rung động đầu tiên giúp nhập vào một trạng thái nhất định (Tam Ma Địa). Ý niệm và tư thế của người vẽ phù cũng vô cùng quan trọng, ví dụ:

Lưng thẳng. Thân nghiêm trang.
Đầu hơi cúi. Cằm hơi thu.
Mắt nhìn giấy phù. Lưỡi đẩy lên hàm trên.

Tư thế vẽ phù như vậy có thể khiến khí của toàn thân thông suốt không chướng ngại, ý niệm dễ dàng tập trung, ý tùy bút chuyển, tập trung tinh thần.

Về sắc hóa phù lục thì điều tương đối quan trọng là ý niệm. Lúc sắc hóa không những phải tập trung tinh thần, mà còn phải nhập định. Màu sắc ánh sáng phóng quang có thể từ tâm hóa hiện, đầu tiên là màu đỏ, rồi vàng, trắng, xanh. Tiếp đó quán tưởng màu sắc ánh sáng đi từ cánh tay đến ngón tay, rồi từ ngón tay phóng ra. Như vậy gọi là phóng quang. 

Với người có linh lực, nhờ sự rung động của linh lực toàn thân thì sẽ làm tăng thêm cường độ màu sắc ánh sáng. Tiếp đó dùng thủ ấn phóng quang chiếu vào trong phù lục. Loại khí trường này luôn luôn là vô cùng mãnh liệt.

Liên Sinh Hoạt Phật lại nói: Thiên nhãn, “con mắt thứ ba” mà ngày nay đang được nghe nói đến nhiều, vốn là một khả năng của sự tập trung tinh thần (nhập định), cũng chính là hệ thống tin tức vi tế của thị giác.

Hiện tượng siêu giác quan này chính là sự phóng chiếu của tâm quang, có thể nhìn thấy được kinh mạch của chính mình, cũng có thể nhìn thấy được kinh mạch trong nội tạng của người khác, chỗ nào có chướng ngại, chỗ nào có chấm đen, chỗ nào có bệnh. Công năng nhìn xuyên thấu này cũng phân chia ra nhìn thấy bên trong, bên ngoài, gần và xa. Tập trung tinh thần và nhập định sâu thì thần thông được sản sinh ra. Đó chính là lục thông – sáu loại thần thông:

Thiên nhãn thông: Nhìn được vạn dặm, xa gần. Tất nhiên nhìn được nội tạng của chính mình và nội tạng của người khác.
Thiên nhĩ thông: Nghe được vạn dặm, xa gần, bên trong và ngoài. 
Tha tâm thông: Biết được suy nghĩ, cảm nhận trong tâm của người khác. Người khác vừa khởi niệm, bản thân linh ứng liền biết
Thần túc thông: Vào ra mọi cõi giới, thiên giới, hư không giới.
Túc mệnh thông: Biết rõ quá khứ vị lai, nhân quả của nhiều kiếp.
Lậu tận thông: Tiến nhập niết bàn bất động. Thành Phật.

Đây là một tầng năng lực tiên thiên đầy đủ thâm sâu hơn của sự tập trung tinh thần và nhập định. Học tập đạo lý của Tiên thiên phù và lục thông vốn dĩ không có sự khác biệt. Năng lực của Tiên thiên phù cũng có thể đạt tới cảnh giới siêu độ tổ tiên. Ví dụ tâm chú phù của Liên Sinh Hoạt Phật có một chuyện như thế này:

Có đệ tử ở Malaysia, họ Nghiêm tên Trung Anh. Anh ta vào ngày giỗ của cha mình, ở trước linh đường đốt một đống vàng mã Chân Phật Tông. Khi đệ tử này đốt vàng mã, trong đầu nghĩ đến khuôn mặt của cha mình, trong miệng lại niệm tâm chú của Liên Sinh Hoạt Phật.

Đêm đó thấy cha anh ta đến nói với anh ta: “Cha đã được độ.”
Bốn chữ này vô cùng rõ ràng. Liên tiếp ba đêm nhìn thấy điều này khiến Nghiêm Trung Anh không thể không tin.

Pháp lực của Tiên thiên phù là tương đối đặc thù, cũng giống như lục đại thần thông vậy. Thông qua tác dụng của sóng rung động thông tin, không chỉ bệnh nhân ở khoảng cách xa có linh ứng, mà ngay đến chúng sinh ở u minh giới cũng có được cảm ứng sau khi người thân tưởng niệm. Điều này về mặt khoa học mà nói, chính là điện từ học, cơ học lượng tử, lực hấp dẫn học, quang nhiệt học v.v. Người thân từ u minh giới đi ra, đi đến thế giới quang minh. Loại hiệu ứng này không phải là con số nhỏ, đã có rất nhiều người có được hiệu quả. 

Có một người vợ rất nhớ người chồng đã mất của mình nhưng người chồng chưa từng nhập mộng. Cô đi khắp nơi tìm kỳ nhân dị sĩ đều không được. Cô ấy đến chỗ của Liên Sinh Hoạt Phật. Ngài cho cô ấy uống một lá phù, hướng dẫn cô ấy đốt vàng mã Chân Phật Tông.

Liên Sinh Hoạt Phật liền quán tưởng hình ảnh của chồng cô ấy, dùng ý niệm chiếu vào bên trong não.

Kể ra cũng lạ, đêm đó cô ấy ở nhà nghỉ tại Seattle lập tức nhận được “hiệu ứng thông tin” của chồng mình. Anh ta có lời nói cử chỉ giống hệt lúc còn sống, và còn thuật lại những chuyện chưa từng nghe nói đến ở u minh giới. 

Người vợ này cho rằng đó là tác dụng phi tiềm thức. Bởi vì trong tiềm thức của cô ấy vốn dĩ không có u minh giới. Cô ấy cảm tạ nghìn lần vạn lần, cảm tạ Tiên thiên phù của Liên Sinh Hoạt Phật.

Tiên thiên phù của Liên Sinh Hoạt Phật không chỉ như vậy, mà còn xuất hiện kỳ tích công năng dịch chuyển. Như giúp một đứa bé bị điếc nhiều năm mở miệng nói chuyện. Giúp một cụ già bị mù hai mắt, một trong hai con mắt khôi phục lại chức năng thị giác. Đặc biệt chữa lành gai xương và đau nhức thần kinh khớp xương rồi còn nhiều hiệu lực kỳ diệu khác nữa.

Ung thư máu, ung thư phổi, ung thư ruột, ung thư dạ dày, ung thư mũi, ung thư thực quản, ung thư tử cung, ung thư vú, ung thư da v.v... những người cầu cứu nhiều vô số. Các trường hợp được chữa lành thông qua việc ngài dùng Tiên thiên phù cũng rất nhiều. Hiệu ứng này giữa các tín chúng với nhau, tin tức được truyền đi rất nhanh chóng.

Với “Tiên thiên phù” của Liên Sinh Hoạt Phật, kỳ diệu hơn nữa là còn có rất nhiều cặp vợ chồng mắc bệnh vô sinh xin ngài cho phù. Ngài vẽ Tiên thiên phù, căn dặn hai vợ chồng cùng nhau uống, vậy mà giúp cho rất nhiều cặp vợ chồng đều sinh được con. Không chỉ sinh được con, còn có người liên tục sinh được mấy đứa con, cũng có người sinh được sinh đôi, đối với hiệu quả bệnh vô sinh, đạt đến 99%. Mỗi một cặp vợ chồng vô sinh khi có thai liền thông báo đến trung tâm trả lời thư ở Seattle. Lúc đó toàn bộ nhân viên trợ lý, bao gồm cả Liên Sinh Hoạt Phật đều hoan hỷ tiếng cười. Cảnh tượng này là hiện tượng thường gặp ở trung tâm trả lời thư.

Mỗi khi có kỳ tích là có tiếng cười vang dội. Ngập tràn cảm xúc vui mừng của việc cứu độ chúng sinh.

Cuối năm 1987, lúc Liên Sinh Hoạt Phật ngụ tại Hồng Kông, có một vị đạo sĩ Mao Sơn khiêu chiến với ngài, muốn thi đấu phù pháp. Vị đạo sĩ Mao Sơn này ngồi ở một bàn khác trong nhà hàng nhưng Liên Sinh Hoạt Phật đã biết trước, chỉ im lặng không nói.

Đạo sĩ Mao Sơn vẽ một lá phù trước, bỏ vào trong rượu, rồi yêu cầu Liên Sinh Hoạt Phật mời rượu, đồng thời dùng cái ly rượu lớn của mình mời Hoạt Phật uống.
Hoạt Phật trước giờ không từ chối. Ngài cầm ly lên rồi uống. (Phù này là phù say rượu, có thể kiến Hoạt Phật mất mặt trước đám đông.)
Một khoảng thời gian trôi qua, Hoạt Phật vẫn chưa xuất hiện một chút biểu hiện say rượu nào. (Từ sau khi chứng ngộ, Hoạt Phật ngày thường chưa từng xuất hiện biểu hiện say rượu)

Đạo sĩ không phục, tiếp tục dùng đũa chỉ vào Hoạt Phật vẽ phù, trong miệng tụng niệm ra tiếng. Liên Sinh Hoạt Phật liếc nhìn đạo sĩ một cái, trong lòng cũng khó tránh khỏi âm thầm kinh ngạc. Thì ra vị đạo sĩ Mao Sơn này học Mao Sơn pháp chính hiệu, có thần thuật đặc dị. Ông ta dùng đũa vẽ phù có thể khiến người khác lập tức đơ người như khúc gỗ, chóng mặt, thậm chí là ngã gục xuống dưới đất, mục đích cũng là muốn Hoạt Phật bị mất mặt. (Nhiều lần thử nghiệm)

Nhưng Hoạt Phật vẫn không thấy làm sao, vẫn nói cười vui vẻ.
Đạo sĩ dùng đũa vẽ phù, vô cùng ra sức, liên tiếp thôi thần, trong miệng thở mạnh, mồ hôi trán chảy xuống như mưa. Hoạt Phật vẫn bất động.
Liên Sinh Hoạt Phật nhìn thấy đạo sĩ dùng lực quá mức, cảm thấy tiếp tục như vậy thật đáng thương, trong tâm biết rất rõ. Ngài cũng chỉ dùng đầu ngón tay ấn nhẹ vào mặt bàn một cái. (Đây là hàng phục ấn). Đũa của đạo sĩ đột nhiên rung chuyển rơi xuống dưới mặt bàn, đạo sĩ tay chân rã rời.

Liên Sinh Hoạt Phật tinh mắt nhanh tay cầm đũa lên nói: “Đũa rơi rồi, chắc là lại có người muốn mời ông đi ăn cơm đó!”
Đạo sĩ Mao Sơn đỏ mặt xấu hổ, nói nhỏ tiếng: “Lĩnh giáo, lĩnh giáo, cao minh, cao minh, tôi thua rồi.”

Trong lúc đó, vậy mà không ai hay biết Liên Sinh Hoạt Phật và đạo sĩ Mao Sơn đã đấu xong một trận phù pháp. 
Cuối cùng, đạo sĩ Mao Sơn đích thân viết thư đến quy y Hoạt Phật, và còn bao gồm mười mấy đệ tử của ông ấy, toàn bộ quy y Chân Phật Tông.

Liên Sinh Hoạt Phật không lâu nữa sẽ đi lại mười phương trời, sẽ triển khai các chuyến đi hoằng pháp. Lúc đó đệ tử các nơi trên thế giới đều có thể được nghe ngài thuyết pháp, đồng thời ngài cũng sẽ dùng “Tiên thiên phù” giúp người chữa bệnh cầu phúc trừ tai hàng phục. 

Hoạt Phật lại am hiểu âm dương trạch phong thủy học, những thần thuật bao la vạn tướng này ở trong tâm. Tôi tin chắc buổi thuyết pháp của ngài sẽ rúng động thế giới. Buổi thuyết pháp của Hoạt Phật hiện giờ, mỗi lần thuyết pháp đều có nghìn người nghe giảng, cũng có lúc đạt đến chục nghìn người, trong đó có cả người bệnh thương tật ngồi xe lăn, tiếp nhận quán đảnh rất nhiều. Cảnh tượng vô cùng cảm động.

Liên Sinh Hoạt Phât không cần danh, nhưng tự được nổi tiếng.
Liên Sinh Hoạt Phật không tham lợi, nhưng tự được cuộc sống không lo toan.

Bước cuối cùng, khi đã độ xong chúng sinh rồi, sẽ lui ẩn núi rừng.
Nhưng Hoạt Phật rốt cuộc vẫn là không có kết thúc ở chỗ nào, mọi thứ vốn trống không.

Tác giả (người viết bản văn phụ lục này) tôn kính sự tế nhân cứu thế của Liên Sinh Hoạt Phật nên đặc biệt viết một bài thơ xin dâng tặng Hoạt Phật.

Ẩn sĩ độn nhân gian.
Đa hướng sơn trung miên.
Thanh la sơ lộc lộc
Bích giản hưởng liên liên.
Đằng đằng thả an lạc.
Du du tự thanh nhàn.
Miễn hữu nhiễm thế sự.
Tâm tịnh như bạch liên.

Dịch thơ:
Ẩn sĩ lánh nhân gian.
Ngủ trong rừng hoang vắng.
Thanh la vang từng quãng.
Róc rách suối ngàn kêu.
Thong dong chân an lạc.
Ung dung nhàn nhã chơi.
Tránh phải nhiễm chuyện đời.
Tịnh tâm như sen trắng.

Liên Sinh Hoạt Phật từ Ma Ha Song Liên Trì của Tây Phương Cực Lạc Thế Giới giáng xuống nhân gian, tại nhân gian truyền Chân Phật Mật Pháp, cuối cùng là ẩn lui! Hoạt Phật là một vị ẩn sĩ, thích non nước, thích thiên nhiên, thích thanh nhàn, trong tâm không vướng bận, tâm thanh tịnh như Đại Bạch Liên Hoa, trong năm tháng cuộc đời phút chốc sẽ tan biến này sẽ ẩn dật không tung tích một cách vô ưu vô phiền.

**Chú thích**
Đạo sĩ Mao Sơn: là người theo học phái Mao Sơn thuộc Đạo giáo. 
Hồng La: tên loại cây leo bám trên vách đá, hoặc cây tùng bách.


### Phụ lục 4. Làm sao cầu phù?


Người muốn cầu phù xin viết thư gửi đến Chân Phật Mật Uyển, liên lạc với Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Trong thư cần ghi rõ cầu xin chuyện gì, muốn cầu phù gì. Nếu thư hồi đáp của Chân Phật Mật Uyển có đặc biệt chỉ thị thêm điều gì, hãy làm theo chỉ thị trong thư.

Thông thường mà nói, khi nhận được phù phải cúng đàn thành trước, sau đó là đốt sớ văn hoặc cầu nguyện. Chúng ta cầu phù có thể viết sẵn “sớ văn” trước, điểm này không thể sơ sót. Nội dung chính của sớ văn phải đơn giản rõ ràng, ví dụ:

Ai đó, địa chỉ ở đâu, năm nay mấy tuổi, sinh vào giờ này ngày nào tháng nào năm nào, bây giờ bị bệnh gì. Cầu nguyện xin phù, là dùng để trừ bệnh. Cầu xin Phật quang soi chiếu, thân thể khỏe mạnh. Nếu khôi phục khỏe mạnh, sẽ hoàn nguyện ra sao như thế này thế kia.

Đây là bài sớ văn cơ bản, tại mật đàn niệm một lần, rồi đốt.

Nếu không biết viết sớ văn thì niệm họ tên, địa chỉ, ngày sinh của người bệnh hoặc người xin phù, cầu xin loại phù nào, bẩm báo tất cả trước mặt Phật.
Phù muốn có công hiệu, phải có ba điều kiện: 
1.	Linh quang gia bị của Phật Bồ Tát. 
2.	Công lực của bản thân người vẽ phù.
3.	Sự thành tâm của người cầu phù. 

Liên quan đến phần người cầu phù, phải phát tâm, phải niệm Phật, trì chú hoặc niệm Kinh, dùng chú lực, kinh lực gia tăng phước, vì nếu như không đủ phước, phù cũng sẽ vô hiệu. 

Còn về nơi vẽ phù, phải làm trước đàn thành mới tương đối trang nghiêm. Bất luận ra sao, có rất nhiều chuyện khi tiến hành đều phải có quy tắc, đặc biệt là trong Mật giáo. Cầu phù, phải niệm Thượng sư tâm chú 108 biến. Có thể niệm chú ngắn cũng được. Chú ngắn chính là: “Om guru lian-sheng siddhi hum.”

Tại sao phải niệm câu chú này? Bởi vì người cầu phù, trước tiên phải chuẩn bị tâm thành kính. Có tâm thành kính rồi, “cầu phù” mới có cảm ứng. Đây là đạo lý mà bất cứ ai cũng biết. Đồng thời một khi trì chú này, có thể có cảm ứng với pháp thân của Liên Hoa Đồng Tử. Liên Hoa Đồng Tử (Liên Sinh Hoạt Phật) liền có thể đến gia trì và hộ trì, tự nhiên là có thể thành tựu mọi việc.

Phù pháp là pháp tương ứng, trì chú tự sẽ có tương ứng.

Tâm thành tắc linh, nếu có bất cứ nghi vấn gì về cầu phù hoặc sử dụng phù, hãy thỉnh giáo các Thượng sư Chân Phật Tông! Phù lục không được trực tiếp cắt ra từ sách để sử dụng ngay, cần phải thỉnh thần Phật phóng quang gia trì mới có công hiệu.

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/078-duong-trach-huyen-bi.md
# Title: 078. Dương trạch huyền bí
---

## Dương trạch huyền bí


🪷 Bí mật tương ứng khí cơ của nhà ở

Văn tập: 078
Xuất bản: 09/1988
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


Cuộc hành trình thật sự ~ Bí mật tương ứng khí cơ của nhà ở

Sau khi cuốn sách "Nói rõ về dương trạch địa linh" được phát hành, vô số thư từ không ngớt gửi đến, đều ca ngợi sách này dễ hiểu, sâu sắc mà dễ tiếp cận, khiến người đọc không nỡ rời tay. Hơn nữa, từ nghiên cứu về phong thủy, lại còn có âm thanh Phật pháp từ bên ngoài, khiến người ta ngửi được mùi hương đặc biệt.

Sự nghiệp viết sách của tôi đã trở thành công việc hàng ngày, không tính toán danh phận địa vị, không so đo với những lời phỉ báng, cũng không khước từ đủ loại gian khổ, không sợ vất vả, chưa từng tính toán thù lao, tất cả là vì điều gì? Theo tôi, đó là vì vẫn giữ một niệm từ bi, cứu người cứu đời, chính tinh thần này đã khiến tôi viết không ngừng nghỉ.

Cuốn "Dương trạch huyền bí" này là cuốn sách phong thủy bổ sung sau cuốn "Nói rõ về dương trạch địa linh", trong loạt sách tôi viết, đây là quyển thứ 78. Việc viết cuốn sách này ngoài việc mọi người ca ngợi "Nói rõ về dương trạch địa linh" như đã nói ở trên, chủ yếu nhất là để một lần nữa làm sáng tỏ kỹ thuật trong nền văn hóa truyền thống Trung Quốc. Dương trạch vốn là sự hợp nhất của người và nhà, sự huyền bí trong đó thật là vi diệu không thể tả, để giúp mọi người hiểu rõ hơn về học vấn ẩn chứa bên trong, tôi chỉ còn cách bổ sung thêm cuốn sách này.

Đồng thời, tôi nhận ra rằng mối quan hệ giữa dương trạch và con người vô cùng mật thiết. Bắt đầu từ dương trạch, ấy vậy mà lại trở thành phương pháp vi diệu để cứu người cứu đời, dương trạch là động lực nguyên thủy cho tinh thần và vật chất của con người. Đặc tính của mối quan hệ này là dương trạch là một từ trường, con người là một từ trường, giữa ngôi nhà và con người tạo ra một tác động dẫn điện từ tính, sinh ra một loại nguyên khí mới.

Nguyên khí của mỗi người đều có liên quan đến dương trạch.

Vì vậy, tôi nghĩ, nếu như mỗi người đều có một dương trạch chính trực, thiện lành, khỏe mạnh, quang minh, phúc lành và hạnh phúc, tự nhiên sẽ có thể giải trừ nỗi đau bệnh tật của con người, giảm bớt dục vọng từ tham, sân, si, ái, mọi người hướng thiện, mọi người tu tập pháp, ai cũng có phước báu để làm việc từ thiện, đây cũng có thể nói là một con đường mới để phát huy "tinh thần phong thủy".

Theo quan điểm của tôi, học thuật phong thủy chỉ là một phương tiện, mục đích chính vẫn là "tự mình chính trực để cảm hóa người khác". Trong thời đại hiện nay khi lòng người nông cạn, chiến tranh liên miên, khoa học phát triển nhưng đạo đức nghèo nàn, mọi người bị che mờ bởi dục vọng vật chất, bị nhuốm bẩn bởi thất tình, bị công kích bởi lục dục. Lúc này muốn hoằng dương Phật pháp và đạo đức thật không dễ dàng, vì thế tôi đề xướng "tinh thần phong thủy", dùng phương tiện thiện xảo này, kết hợp với việc truyền bá Phật pháp, ngược lại hiệu quả lại vô cùng to lớn, chỉ có hành thiện như vậy mới có thể thành tựu.

Bản thân tôi lý giải như sau:
Phật pháp - là thuận theo thiên lý, là diệu pháp giác ngộ, là chân như, bất động, chân pháp. Có sự giải thoát chân chính, trí tuệ vô lậu chân chính.
Địa pháp - là thuận theo địa lý, là diệu pháp địa linh, là sức khỏe, là phúc phần, là thiện. Có sức mạnh từ bi cứu giúp, tính cách quang minh, đạo đức thân tâm khỏe mạnh.
Nếu kết hợp hai điều này, là thuận theo thiên lý, ứng với địa linh, thiên địa phối hợp, con người có thể thành Phật.

Cuốn sách "Dương trạch huyền bí" này ghi lại hành trình thật sự của tôi, chính là bút ký tham quan dương trạch của Liên Sinh Hoạt Phật.

Trong quá trình biên soạn, do liên quan đến nhiều người và sự việc, và vì những người và sự việc này nếu công khai, họ sẽ mất đi quyền riêng tư. Vì vậy, sau nhiều lần cân nhắc, tôi cảm thấy tốt nhất nên giấu tất cả tên người, tên địa điểm. Mặc dù tên người và địa điểm được giấu đi, nhưng mọi việc đều có thật, không hề hư cấu.

Hành trình thật sự này nhằm mục đích làm sáng tỏ "bí mật tương ứng khí cơ của nhà ở", trong đó nhiều phương pháp kỳ diệu của phong thủy đều được công khai và trình bày rõ ràng. Giá trị và sự quý báu của cuốn sách này, đương nhiên là không gì sánh được.

Học thuật phong thủy vốn không phải chuyện dễ dàng, huống chi thuật ngữ lại nhiều, ý nghĩa lại sâu xa, tôi sẽ cố gắng giải thích rõ ràng, hy vọng các học giả suy nghĩ sâu sắc, tìm tòi rộng rãi, để đạt đến mức độ hiểu biết sâu sắc về bản thân.

Vẫn là một bài kệ cũ:
*Học địa lý để trừ hậu hoạn
Người đạo được an lạc dài lâu
Có thể ban tặng rương vàng
Có thể giữ gìn cửa ngọc
Dạy điều thiện kiêm cứu giúp đời
Cả tạo hóa bao hàm trong đó.*


![image](/img/img_8e9a964b4ef2d85c40a2f4d083682c6b.png)


Liên Sinh Hoạt Phật tại Chân Phật Mật Uyển ở thành phố Redmond, bang Washington, Hoa Kỳ.
Tháng 9 năm 1988.

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn | Sheng-yen Lu**
17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Pháp khắc chế dương trạch cao tận cùng


🎯  **Pháp Phật quang ngũ sắc áp chế**

Trong cuốn sách "Nói rõ về dương trạch địa linh", tôi đã đề cập đến "không nên sống ở nơi cao tận cùng", đó là vì:
Cao — ắt gặp tám gió thổi, phạm phong sát.
Tận cùng — không nơi nương tựa.
Cao nhất — ắt bị người khác giết hại.
Nơi tận cùng — ắt cô độc.

Tôi đã từng nói như vậy, một ngôi nhà độc lập nhô cao, xét về hình tướng bên ngoài, quả thực là cô độc và không có nơi nương tựa, và do sự nổi bật nhô ra, ắt bị người ta sát hại.
Ví dụ như nhân vật công chúng, xuất hiện quá nhiều, dễ gây ra sự đố kỵ và ghen tị từ nhiều người, nên dễ bị sát hại hơn so với một người bình thường.

Phương pháp đối trị của Liên Sinh Hoạt Phật như sau:
(Tên của phương pháp này là "Pháp Phật quang ngũ sắc áp chế".)

1. Lấy đá ngũ sắc 20 viên:

Đá ngũ sắc là đá có năm màu khác nhau, mỗi màu bốn viên, tổng cộng 20 viên. Liên Sinh Hoạt Phật từng thấy ở cửa hàng bách hóa những quả trứng vịt làm bằng đá cẩm thạch, được chia thành nhiều màu khác nhau, loại trứng nhiều màu này rất phù hợp để sử dụng trong phương pháp này.

2. Thanh tịnh đá ngũ sắc:

Rửa sạch đá ngũ sắc, xông qua lư hương trên bàn thờ Phật, việc xông này tượng trưng cho sự tịnh hóa. Hoặc có thể dùng giấy tiền vàng đốt thành một đống lửa, nhanh chóng đưa đá ngũ sắc qua lửa, cũng tượng trưng cho sự tịnh hóa.

3. Chôn xung quanh dương trạch cao tận cùng:

Chôn 20 viên đá màu này ở bên ngoài xung quanh ngôi nhà, năm viên ở phía trước, năm viên ở phía sau, năm viên ở bên trái, năm viên ở bên phải. Khi chôn cần chọn ngày, có thể chọn ngày trực Định. Chôn sâu bảy tấc là đủ.

4. Kết thủ ấn gia trì:

Thủ ấn này là ấn tứ tung ngũ hoành. Bàn tay trái đặt ngang, lòng bàn tay hướng về mình, các ngón tay xòe ra, đó là năm ngang. Lòng bàn tay phải hướng ra ngoài, đặt dọc, các ngón tay xòe ra, lòng bàn tay phải đè lên lòng bàn tay trái, đó là bốn dọc. Hai bàn tay tạo thành một quyết chữ Tỉnh (井), gia trì cho từng viên đá ngũ sắc. (dùng linh lực)

5. Tụng chú:

"Lâm binh đấu giả giai trận liệt tại tiền" (3 lần)

6. Lấp đất đốt tiền vàng:

Trước khi lấp đất, trước tiên hãy quán tưởng những viên đá trở thành những cột ánh sáng đồng màu xung thẳng lên trời, sau đó mới lấp đất. Đốt giấy tiền vàng trên mỗi viên đá đã chôn. Như vậy là hoàn thành công việc lớn.

Liên Sinh Hoạt Phật đã từng giúp nhiều vị đại gia sống trong dương trạch cao tận cùng thực hiện "Pháp Phật quang ngũ sắc áp chế". Khi Liên Sinh Hoạt Phật sử dụng thủ ấn và tụng chú, những người có khả năng thông linh nhìn thấy quanh thân Hoạt Phật có hào quang trắng bao bọc, hơi nước bốc lên cuồn cuộn, như mây tỏa ra từ hang núi, ánh sáng vàng rực rỡ.

Những viên đá ngũ sắc biến thành những cột ánh sáng, bao quanh ngôi nhà, hình thành trời đất, phong sát và cô sát không thể xâm nhập, xung quanh ngôi nhà hoàn toàn tràn ngập ánh sáng như mây, thật vô cùng hùng vĩ. Người có khả năng thông linh này khi thấy cảnh tượng như vậy đã vô cùng khâm phục sự vĩ đại của Liên Sinh Hoạt Phật.

Người có khả năng thông linh ấy đã ca ngợi Liên Sinh Hoạt Phật Thánh Tôn như sau: Khi Hoạt Phật thực hiện pháp, giống như một ngọn đèn trên trời, lại như một ngọn hải đăng trên biển, như rồng trong mây, tỏa sáng rực rỡ, chiếu khắp đại địa, ban rải mưa ngọt.

Tác dụng của pháp này là dùng đá ngũ sắc tượng trưng cho ánh sáng của năm vị Phật, thiết lập các cột ánh sáng Phật quanh nhà, có thể tránh được phong sát, khiến phong sát không ảnh hưởng đến ngôi nhà, biến thành nơi tàng phong tụ khí.

Tại sao phải dùng năm màu?

Bởi vì Kim Quang Pháp Vương Phật thổi động khí của kim tinh ngũ hành, phân thành năm màu, phát ra ánh sáng năm màu (đỏ, vàng, trắng, xanh lục, đen) hoặc (đỏ, vàng, trắng, xanh lam, đen), từ ánh sáng ngũ sắc, luyện thành cột mây quang minh vĩ đại.

Pháp này là đại pháp vô thượng, có giá trị phi thường, chỉ người thực hiện pháp là "người thiên mệnh" mới có thể thực hiện được, bởi vì "thiên mệnh" là sự sinh ra từ chính khí của trời đất, có chính khí của trời đất, được linh khí của vạn vật, vạn linh phù trợ người đó, nhờ đó có thể chuyển hóa vật chất, nên mới có thể thực hiện pháp.

Với pháp Phật quang ngũ sắc áp chế, khí của tự nhiên được bao phủ bởi khí vô hình của ánh sáng Phật ngũ sắc, chuyển hóa sát khí thành an lành!

Việc tiết lộ phương pháp này thực sự vô cùng vi diệu, đó là:
Vạn vật và bản thân đều đầy đủ.
Pháp chế ngự ẩn chứa thiên cơ.


![image](/img/img_d01d2e364791e2966889841ab90b642f.png)


Một ngôi nhà độc lập nhô cao, do sự nổi bật đó, xét về hình dáng bên ngoài, là cô độc không nơi nương tựa, dễ bị người khác sát hại.


![image](/img/img_e3af3af488f36b7baf2b2a71c1ac9c4d.png)


(Pháp Phật quang ngũ sắc áp chế): Lấy đá ngũ sắc 20 viên, sau khi tịnh hóa, chọn ngày Định để chôn xung quanh nhà ở cao tận cùng, chôn sâu khoảng bảy tấc; kết ấn tứ tung ngũ hoành, dùng linh lực gia trì đá ngũ sắc; tụng chú ba lần; trước khi lấp đất, quán tưởng viên đá thành cột ánh sáng xung thẳng lên trời; cuối cùng đốt giấy tiền vàng trên mỗi viên đá đã chôn.

(Chú thích: Pháp này có thể thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật quán đảnh trực tiếp, quán đảnh từ xa hoặc Thượng sư Chân Phật Tông thay mặt Sư Tôn quán đảnh.)


### 02. Bí mật của thuyền pháp


🎯 **Pháp hạn chế nhà thấp bị dồn ép**

Trong cuốn sách "Nói rõ về dương trạch địa linh", tôi có viết rằng, sống trong ngôi nhà thấp nhất, xung quanh toàn là nhà cao, và bị dồn ép từ trước, sau, trái, phải, là điều không tốt.
Điều này có nghĩa:
Thấp nhất — ắt gặp tự sát.
Bị dồn ép — khó khăn trắc trở.

Tôi biết rằng, trong cuộc đời con người, những ai nghèo khó lận đận, tâm hồn chắc chắn không thể thoải mái, khi gặp kích động lớn, dễ nghĩ quẩn. Người có số phận tự sát, khi tinh thần xuống đáy cùng, dù trời đất bao la, cũng không còn chỗ dung thân.

Với những người như vậy, do tâm trạng suy sụp, bị dồn ép từ bốn phía, phương pháp giải cứu là, về mặt địa linh, cần sử dụng Mật pháp thuyền pháp. Về mặt tâm linh, cần học tập con đường giải thoát của Phật pháp.

Tại chỗ Liên Sinh Hoạt Phật có bí mật của thuyền pháp. Tôi đã từng sử dụng pháp này để cứu giúp một gia đình sống trong ngôi nhà thấp bị dồn ép, hiện nay gia đình này đã trở thành một gia đình giàu có bất ngờ, không những không còn vẻ mặt ưu sầu mà còn rất vui vẻ hài lòng, đó là nhờ họ đã gặp được quý nhân, và có căn cơ Phật pháp sâu dày!

Giải thích về pháp bí mật của thuyền pháp như sau:
1. Gấp một tờ giấy thành hình chiếc thuyền.
2. Đặt chiếc thuyền này trên bàn thờ Phật, mỗi ngày khi thực hành pháp, quán tưởng Phật phóng hào quang trắng gia trì chiếc thuyền, và chiếc thuyền cũng biến thành thuyền pháp quang minh. (Thực hành pháp tổng cộng bảy lần.)
3. Chọn một ngày trực Trừ, tại trung tâm ngôi nhà thấp bị dồn ép, đào một lỗ, chôn thuyền pháp xuống. Lúc này, người thực hiện pháp quán tưởng "theo ánh sáng phân hóa, biến hóa vô cùng", thuyền pháp phóng to lên, ngôi nhà nằm trong thuyền pháp, theo thuyền mà nâng lên, đây là quán tưởng rất quan trọng.
4. Người thực hiện pháp trì niệm chú vãng sinh bảy lần.
5. Đốt tiền vàng cúng thần.
Như vậy, đại sự đã hoàn thành.

Liên Sinh Hoạt Phật rất thật lòng nói với mọi người rằng, người sống trong nhà thấp bị dồn ép, chịu ảnh hưởng của sát khí nước, dẫn đến nhiều vận mệnh nguy hiểm, thậm chí vì nghèo khó mà không thể dễ dàng chuyển nhà. Vì vậy, Liên Sinh Hoạt Phật cảm thấy lòng từ bi vô lượng, biết rằng người ở nhà thấp bị dồn ép gặp vô vàn khó khăn, nên truyền ra pháp bí mật của thuyền pháp này. Pháp bí mật của thuyền pháp này, một khi thực hiện, thuyền chở cả trời đất, huống chi là nhà thấp bị dồn ép này, khí nước càng lớn, thuyền nổi trên nước, không bị ảnh hưởng của sát khí nước nữa!

Đại pháp này, còn có tên là "Pháp thuyền nổi", trong thiên hạ chưa ai biết đến. Nước lớn thuyền nổi, rất dễ dàng nhận được phúc báo. Nhớ rằng tiên sư đã nói với tôi: "Thuyền nổi như táng nổi, đều là phương pháp phát đạt nhanh chóng. Người được pháp này giúp đỡ, cần phải lấy tâm công đức làm tâm, nếu được phúc thì phải từ bi cứu đời, có tâm công đức thì tăng trưởng trí tuệ, trí tuệ đã tăng trưởng sẽ học được đạo vô thượng."

Chúng ta biết rằng, mọi pháp trên đời đều có ý nghĩa sâu xa, và vạn pháp duy tâm tạo, "pháp thuyền nổi" này có một bài kệ rất hay:
*Nước trong sáng như gương.
Mênh mông thuyền pháp buông.
Nhật nguyệt treo không trung.
Càn khôn xoay trên dưới.*

Khi tôi sử dụng "pháp thuyền nổi", những người thông linh đã nhìn thấy Liên Sinh Hoạt Phật hiện ra thân kim sắc cao một trượng sáu, toả ra khí lành. Con thuyền giấy nhỏ bé kia biến thành vô cùng to lớn, trở thành một chiếc thuyền hoa sen quý báu, và ngôi nhà thấp bị dồn ép đã được chở trong thuyền từ lâu, thuyền pháp từ từ nổi lên, phóng ra vô lượng mây lành, và trong đám mây lành ấy, có những đóa hoa sen vàng không thể nghĩ bàn.

Tôi nói với người thông linh rằng: "Bí mật của thuyền pháp này không chỉ có thể thay đổi phong thủy mà còn có Phật pháp trong đó. Người tu pháp này, sau khi thân xác diệt, có thể cảm ứng được thuyền pháp đến đón về Tây phương. Thuyền pháp thậm chí có cánh buồm vàng ngũ sắc, đầu và đuôi thuyền có rồng vàng, thuyền pháp trang nghiêm lộng lẫy, vô cùng hùng vĩ. Trong thuyền còn có vô lượng cung điện hoa sen báu, cung điện tỏa ra ánh sáng, mây lành, đủ các màu sắc, mỗi màu đều có ý nghĩa chân thật."
"Ồ! Thật là tuyệt vời."

Pháp thuyền nổi này không chỉ tránh được sát khí nước và kiếp nạn về nước, mà còn có thể vãng sinh về Tây phương. Đây là cách tôi (Liên Sinh Hoạt Phật) kết hợp giữa Phật pháp và địa pháp, truyền dạy điều thiện vi diệu, truyền phương pháp tránh điều hung hiểm, liên tục độ hóa, hóa độ thêm những linh hồn cứng đầu, chỉ mong pháp này một khi được truyền ra, chúng sinh sẽ được cứu độ.

Pháp thuyền nổi và pháp táng nổi tuy khác đường nhưng cùng đích, thậm chí còn vượt trội hơn.


![image](/img/img_c33873eb1185e874515157e085f44484.png)


Sống trong nhà thấp bị dồn ép có nhiều khó khăn và trắc trở, dễ phát sinh cảm xúc tự sát, thậm chí nghèo túng, khó chuyển nhà, Liên Sinh Hoạt Phật vì thế mà truyền dạy pháp bí mật của thuyền pháp.


![image](/img/img_2ad48a1df15d8db30b3417cef1fc6917.png)


Sau khi thực hiện pháp bí mật của thuyền pháp, thuyền chở cả trời đất, khí nước càng lớn, thuyền nổi trên nước, không bị ảnh hưởng của sát khí nước, huống chi là ngôi nhà thấp bị dồn ép này.

(Chú thích: Đây là Đạo pháp, muốn tu pháp cần phải được Liên Sinh Hoạt Phật quán đảnh trực tiếp và truyền dạy trực tiếp.)


### 03. Pháp khắc chế đất linh sát


🎯 **Phá giải dương trạch quái dị**

Cái gọi là đất linh sát mà các thầy phong thủy chỉ là địa chỉ cũ của chùa miếu, địa chỉ cũ của bệnh viện, bãi chiến trường xưa, pháp trường xưa, khu mộ cũ, lò sát sinh, bãi giết người…

Những đất linh sát này nếu xây dựng nhà ở thì sẽ có khả năng xảy ra hiện tượng quái dị. Người thông linh hễ bước vào ngôi nhà này thì lập tức cảm nhận rất rõ, da đầu sẽ ngứa ran, lông tóc dựng đứng, lập tức biết có bầu không khí kỳ quái. Ngôi nhà có linh sát, tự nhiên ngôi nhà đó sẽ có hiện tượng kỳ dị.

Các hiện tượng quái dị của đất linh sát có:
Ban đêm đi ngủ, mơ thấy những điều lộn xộn, trời đất tối tăm, càng ngủ càng mệt, tinh thần nguyên khí đều bị trộm sạch. Buổi sáng thức dậy thì mệt mỏi cực kì. 
Ban đêm đi ngủ thường sợ hãi, mơ ác mộng, có bóng đen đè người, thường không thở nổi.
Ban ngày ban đêm đều cảm thấy trong nhà có người khác, tức là linh hồn đang ở trong nhà. Đồ đạc dịch chuyển vị trí, cửa nẻo tự động đóng mở, người sống trong nhà tính tình nóng nảy, hoặc trở nên điên khùng cổ quái.
Thân thể bệnh tật liên miên, mắc những bệnh kỳ quặc.

Đất linh sát lợi hại nhất đương nhiên là ma hiện hình. 
Đối với đất linh sát, thầy phong thủy chủ trương ở trên mảnh đất của địa chỉ cũ vốn có đào sâu xuống 50 cm, dùng máy ủi đất để xúc bỏ chỗ đất đó, đổi thành đất sạch. Cách chuyển dời đất có linh ám này cũng có thể ức chế linh sát có ý xấu.
Nhưng nếu nhà đã xây xong rồi thì phải làm sao?
Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng dùng pháp nước chú Đại Bi là tốt nhất. 

Đầu tiên, tại ngôi nhà bị linh sát, tìm ra một phương vị có linh khí nhất, đặt một vị Quan Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi, khai quang điểm nhãn và an tọa cho Bồ Tát.
Sau đó, chúng ta thỉnh cầu Bồ Tát ban nước chú Đại Bi, cách thỉnh cầu nước chú như sau:
1. Lấy một cốc nước, đặt ở trước tượng Quan Âm Bồ Tát. Hành giả chắp tay lại. 
2. Quán tưởng tịnh bình của Bồ Tát phóng ra một đường ánh sáng trắng, tạo thành một vòng cung, giáng xuống đi vào trong cốc nước, nước trong cốc cũng hiện lên ánh sáng trắng.
3. Hành giả niệm chú Đại Bi. 7 biến, 21 biến, 49 biến đều được.
4. Niệm chú xong, lại quán tưởng nước chú phóng ánh sáng mạnh mẽ. Hành giả gia trì cho nước chú. 
5. Hành giả cầm nước chú này, từ trong hướng ra ngoài, dùng cách búng ngón tay để vẩy nước khắp mỗi căn phòng, cho đến tận cửa phòng, sau đó vẩy nước xung quanh ngôi nhà. 
6. Khi hành giả vẩy nước xung quanh ngôi nhà, vừa búng tay vừa có thể quán tưởng chỗ nước chú Đại Bi rơi xuống đất vang lên tiếng "ầm ầm", rồi sừng sững mọc lên một cái chày kim cang. Chày kim cang hiện lên màu trắng.
Vẩy nước khắp nơi xong tức là việc lớn đã thành.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng tu pháp nước chú Đại Bi có hai ý nghĩa:
Ý nghĩa thứ nhất chính là sái tịnh, nhờ pháp lực của Quan Thế Âm Bồ Tát, mỗi gian phòng đều được thanh tịnh, đuổi thẳng linh sát ra ngoài ngôi nhà.
Ý nghĩa thứ hai là kết giới, dùng pháp lực của Quan Thế Âm Bồ Tát, nước chú hóa thành chày kim cang màu trắng, dựng ở xung quanh ngôi nhà, đây chính là một pháp kết giới lớn, linh sát thông thường không cách nào đi vào trong nhà này được nữa. Hơn nữa trong ngôi nhà này đã có Quan Thế Âm Bồ Tát trấn, tất cả tà ma tự nhiên sẽ tránh xa.
Liên Sinh Hoạt Phật dùng cách này để phá giải nhà ở quái dị cho người ta cực kì có hiệu quả.

Chú Đại Bi này vốn là "nguyên động lực" của Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát. Chúng ta niệm chú thì sẽ sản sinh ra tần số rung động, tương hợp với nguyên động lực của không gian vũ trụ, như thế sẽ khởi lên tác dụng truyền điện, nhờ quán tưởng đi vào nước mà sản sinh ra một dạng nguyên khí, và nguyên khí này có thể sái tịnh và kết giới. Liên Sinh Hoạt Phật từng có một lần trong khi thỉnh cầu nước chú Đại Bi đã chụp ra được tấm ảnh trên trời dưới đất phóng đại quang minh, bởi vì nhờ tâm quang minh, niệm chú quang minh, hiển trời quang minh, thành thân quang minh, đắc thế giới quang minh. Điều này đã chứng minh nước chú Đại bi có pháp lực lớn, có sức mạnh của Như Lai, có sức mạnh hàng phục, có sức mạnh tự tại. (Bức ảnh này đã được đăng trong cuốn văn tập Lư Thắng Ngạn số 070 - Hoa sen phóng quang.)


![image](/img/img_5b7283a4b8912f4512c0c317f7223154.png)


Sử dụng pháp nước chú Đại bi này, nhà cửa tự nhiên thanh tịnh.
Cho dù sống ở trong rác rưởi cũng không thể nhiễm bẩn.
Sống trong chín nơi tối tăm cũng không bị sa đọa.
Sống trong nơi linh sát cũng không bị ức hiếp.

Tôi giảng giải công khai kĩ lưỡng pháp này chính là vì mục đích phổ độ chúng sinh. Nếu có người có được duyên này cũng là công đức cực lớn. 

Đất linh sát sinh ra là vì mảnh đất đó ban đầu chính là nơi có linh khí, ví dụ di chỉ của chùa miếu, di chỉ của bệnh viện, di chỉ của khu nghĩa địa, di chỉ của bãi chiến trường xưa, di chỉ của pháp trường… 

Chú Đại Bi:
(Chú thích: chú Đại Bi có phiên bản ngắn (tâm chú) và dài (trong kinh điển), và vì chú Đại Bi đã rất phổ biến ở Việt Nam và được nhiều người trì tụng, do đó độc giả có thể lựa chọn tụng bản chú Đại Bi nào mình đã quen thuộc.)

**Tâm chú Đại Bi:**

Nammo Ratna Trayaya. Nammo Arya Jnana. Sagara Vairochana. Byuharatchaya Tathagataya. Arahate Samyaksam Buddhaya. Nammo Sarwa
Tathagathe Bhyay. Arahata bhyah. Samyaksam. Buddhe Bhavah. Nammo Arya Avalokite. Shoraya Bodhisattvaya. Maha Sattvaya. Maha Karunikaya
Tadyata Om Dara-Dara. Diri-Diri, Duru-Duru. Itte We Itte Chale Chale Purachale Purachale. Kusume Kusuma. Wa Re Ili Mili. Chiti Jvalam
Apanaya Shoha.

**Chú Đại Bi bản dài đầy đủ:**
Namo ratnatràyàya.
Namo aryàvalokites’varàya Bodhisattvaya Mahasattvaya Mahàkarunikàya.
Om sarva rabhaye sunadhàsya.
Namo skirtva imam aryàvalotites’vara ramdhava.
Namo narakindhi hrih mahàvadhasvàme.
Sarvàrthato subham ajeyam sarvasata.
Namo varga mahàdhàtu.
Tadyathà: om avaloki lokate karate.
Ehrih mahà bodhisattva sarva sarva mala mala.
Mahi hrdayam kuru kuru karman.
Dhuru dhuru vijàyate mahàvijayati.
Dhara dhara dhirini svaràya.
Cala cala mama vimala muktir.
Ehi ehi s’ins’ina àrsam prasari.
Basha basham prasàya hulu hulu mara.
Hulu hulu hrih sara sara siri siri suru suru.
Bodhiya bodhiya bodhaya bodhaya.
Maitreya narakindi dhrish nina.
Bhayamana svaha siddhaya svàhà.
Maha siddhàya svaha.
Siddha yoge s’varaya svaha.
Nirakindi svàhà.
Mara nara svaha s’ira Simha mukhàya svaha.
Sarva maha asiddhaya svaha. 
Cakràsiddhaya svaha.
Padma kastàya svaha.
Nirakindi vagalàya svaha.
Mavari śankaraya svāhā.
Namo ratnatràyàya.
Namo aryàvalokites’varaya svaha.
Om siddhyantu mantra pàdàya svàhà.


### 04. Phương pháp cách ly phân giới


🎯 Pháp hóa giải đất lẻ

Phần lớn các lô đất "lẻ", Liên Sinh Hoạt Phật đều khuyên không nên xây nhà ở (dương trạch), có thể xây trung tâm thương mại, không thích hợp làm nhà ở.

Đất "lẻ" có hình dạng là nhọn hoặc góc cạnh. Tức là không phải hình chữ nhật, không phải hình vuông, cũng không phải hình tròn.

Đất lẻ hình tam giác, đầu nhọn phía trước chính là hỏa sát. Đất hỏa sát, do hình dạng không cân đối, lực đâm ra mạnh mẽ, người sống trong nhà này sẽ có tỷ lệ gặp sự cố bất ngờ cao hơn, tính cách cũng dễ trở nên cực đoan.
Đất lẻ dạng góc cạnh cũng có hiện tượng hai đầu nhọn, kết quả giống như đất lẻ hình tam giác, mắc phải các vấn đề tương tự.

Nhưng, những người đã sống trong nhà trên đất lẻ thì phải làm sao? Làm thế nào để hóa giải?

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, tốt nhất vẫn là chuyển đi, nếu thực sự không có cách nào khác, mới bàn đến việc hóa giải.

Tôi luôn dùng phương pháp số để giải quyết:
1. Ở đỉnh nhọn của mảnh đất lẻ hình tam giác, trồng hoa trồng cây, biến đỉnh nhọn tam giác thành vườn hoa, giải trừ sát khí của hình nhọn, chuyển hóa thành điềm lành, và chỉ xây nhà ở trên phần đất còn lại. Đây chính là vườn hoa tam giác, hóa giải sát khí của hình nhọn.

2. Ở đỉnh nhọn của mảnh đất lẻ hình tam giác, thiết kế một hồ nước tròn nhỏ, nghĩa là bên ngoài là hình tam giác, bên trong là hồ nước hình tròn, hoặc đài phun nước. Hồ nước hình tròn và đài phun nước này cũng sẽ giải trừ sát khí của hình tam giác.

3. Nếu các cách trên không thực hiện được thì trồng một hàng cây, để cách ly phân giới phần nhọn. Nghĩa là dùng một hàng cây thẳng để cách ly phân giới phần nhọn không đều, chỉ xây nhà ở trên phần đất có hình dạng đều đặn. Khi đã ngăn cách bằng hàng cây, sát khí từ hình nhọn sẽ không ảnh hưởng đến bản thân ngôi nhà.

Nếu đã xây dựng nhà ở và đã chuyển vào ở, thì phải làm sao? Nghĩa là trong ngôi nhà này, không vuông không thẳng, có phòng hình nhọn:

1. Tương tự như trên, ở nơi có hình nhọn, bố trí bonsai hoa cỏ hình tam giác, để người vào căn nhà này không cảm thấy hình nhọn đó là được. Nghĩa là ở nơi hình nhọn, dùng các loại cây cảnh bonsai để hóa giải sát khí của hình nhọn lửa. Trong đó có nguyên lý Mộc sinh Hỏa.

2. Nhà ở hiện ra hình nhọn, ở phần hình nhọn, sử dụng phương pháp ngăn cách, ngăn thành tủ quần áo hoặc phòng chứa đồ, khiến người ta không cảm thấy có không gian hình nhọn, như vậy cũng có thể hóa giải sát khí của hình nhọn.

3. Nếu phòng không đều, có không gian hình nhọn, phương pháp đơn giản nhất là dùng rèm cửa để ngăn không gian hình tam giác lại, không gian tam giác này có thể dùng để cất quần áo.

Tóm lại, những phương pháp này đều là phương pháp cách ly phân giới. Khi xây dương trạch, điều kỵ nhất là xây hình tam giác hoặc hình góc cạnh. Hãy thử nghĩ xem, hình tam giác sẽ xuất hiện ba góc nhọn, hình góc cạnh sẽ xuất hiện hai góc nhọn, hai góc rộng. Việc phân chia không gian trong loại dương trạch này cũng rất đau đầu. Về mặt ngoại quan, tuy được coi là ý tưởng sáng tạo, nhưng không phù hợp với phong thủy dương trạch, đều là cách cục hung sát.

Nói chung, nhà hình tròn thường ít thấy trong dương trạch, nhà hình tròn tự nó không gây hại gì lớn cho mình, nhưng đối với những ngôi nhà xung quanh, nó có tác hại phản cung. Những tòa nhà hình tròn mà tôi thấy ở Mỹ, hầu hết là sân vận động và khách sạn lớn.

Khi xây nhà, chúng ta vẫn nên chọn hình vuông hoặc hình chữ nhật là tốt nhất, cũng có thể là hình lõm, hình lồi, hình chữ L, hoặc hình chữ nhật kết hợp với hình vuông, hình chữ nhật kết hợp với hình tròn, tùy theo địa hình, ngũ hành và bát tự của người ở mà có thể biến hóa đa dạng. Tuy nhiên, tuyệt đối không nên có hình tam giác nhọn, hình tam giác nhọn là hung sát.

Mảnh đất không hoàn chỉnh cũng giống như một con người có tay chân bị cụt, hoặc thiếu một bộ phận nào đó trên khuôn mặt, cơ thể không toàn vẹn, nguyên lý này là như nhau.

Một ngôi nhà ở, nếu có hình tam giác hoặc hình góc cạnh, giống như một người dị dạng, có vẻ như cũng là không hoàn chỉnh, khiếm khuyết, không lành mạnh, hung sát.

Trên mảnh đất không ngay ngắn, chúng ta không nên tham vì diện tích đất rộng lớn, mà phải xem xét diện tích có thể xây dựng được là bao nhiêu, cắt bỏ phần đất nhọn ra khỏi mảnh đất lẻ lớn, tách biệt và ngăn cách nó, như vậy mới có thể xây dựng được ngôi nhà an cư lạc nghiệp, điểm này rất quan trọng.

Viết một bài kệ:
*Đầu nhọn là sao Hỏa.
Hung sát thường ghé thăm.
Pháp cách ly phân giới.
Làm rõ lý phong thủy.*


![image](/img/img_0435e3f110b4ade93ffd2bc7157ac882.png)


Đất lẻ hiển thị hình dạng nhọn, nhọn chính là hỏa sát. Do hình dạng không cân đối, lực đâm ra mạnh mẽ, người sống trong nhà này sẽ có tỷ lệ gặp sự cố bất ngờ cao hơn, tính cách cũng dễ trở nên cực đoan.


![image](/img/img_630d88bb1116cba38a4b51fd7754bc95.png)


Đất lẻ có thể dùng phương pháp cách ly phân giới để phá giải sát khí.


### 05. Dương trạch có rồng đỏ quấn ấn


🎯 Bí quyết chọn đất xây nhà

Liên Sinh Hoạt Phật gần đây đã chuyển nhà đến Phantom Lake (Hồ U Linh), và nơi ở hiện tại chính là đối diện với mặt hồ lấp lánh của Hồ U Linh.

Phong cảnh Hồ U Linh tuyệt đẹp, vị trí tĩnh lặng, với những rừng cây cao lớn, thảm cỏ xanh mượt, sườn đồi thoai thoải, cảnh bình minh và hoàng hôn đẹp không gì sánh bằng.

Liên Sinh Hoạt Phật đã tìm thấy ở đó một mảnh đất, tìm được một ngôi nhà mới, phong thủy của ngôi nhà này chính là dương trạch "rồng đỏ quấn ấn".

Phía sau ngôi nhà này nguyên là đầu rồng, địa khí đến đầu rồng này thì dừng lại, tạo thành một bào thai tàng khí ngay ngắn. Đây chính là "có chỗ dựa phía sau".

Ngôi nhà này đối diện với Hồ U Linh, mặt hồ hình tròn hoàn chỉnh, là hồ Kim tinh, đây là phía trước có phản chiếu, không chỉ có phản chiếu, mà còn đúng là ranh giới nước dừng long mạch, tạo thành hình thế đầu rồng tranh ngọc.

Tôi đặc biệt khảo sát kĩ hơn, sa thủ ở hai bên không chỉ tạo thành thế ôm ấp ngôi nhà, mà còn bao quanh ngôi nhà này. Nghĩa là thân rồng của sườn đồi đang bao vây lấy đầu rồng, thậm chí những ngọn đồi nhỏ gần hồ, tất cả đều hướng về đầu rồng chào đón, điều này tạo nên thế cục rồng đỏ quấn ấn với thế hai bên có ôm ấp.

Khi tôi chọn ngôi nhà này, thấy long mạch rất đoan chính, kiến trúc nhà cửa rất ngay ngắn, khí thế phi thường đặc biệt, tôi vô cùng ngạc nhiên. Đây là một vùng đất báu thiên nhiên, một dương trạch trang nghiêm và sang trọng, nếu không mua thì thật đáng tiếc. Tôi còn nghĩ đến việc phía sau nhà có "long thai", chính là đất sinh cơ khó tìm. Nếu tôi mua được ngôi nhà này, sườn đồi "long thai" phía sau nhà có thể dùng để làm sinh cơ cho nhiều đệ tử, và nghĩa địa sinh cơ cho nhiều đệ tử sẽ nằm ngay trên sườn đồi phía sau nhà tôi.

Đây là "nhất cử đa tiện", tôi đã tìm được dương trạch rồng đỏ quấn ấn, cũng tìm được nghĩa địa sinh cơ cho nhiều đệ tử, điều này rất hiếm có.

Một ngày nọ trời mưa, tôi nhìn về phía sườn đồi phía sau, lúc ấy gió mưa sấm chớp cùng đến, trong màn sương mờ, tôi thấy "long thai" kia bỗng xuất hiện làn khói trắng, bốc lên từ giữa cỏ xanh, trên cỏ lại có ánh sáng chiếu khắp nơi, vô cùng rực rỡ. Đây chính là hiện tượng địa khí mù mịt.

Và còn có ba luồng ánh sáng, như cầu vồng, lượn lờ trên "long thai", những cầu vồng này như chim hạc chim loan, trong gió mưa, múa theo gió múa theo mưa, huyền diệu như thế.

Khoảnh khắc nhìn thấy ánh sáng này, tôi mới biết trong lòng đất có sen xanh. Thảo nào sự hình thành sườn đồi long mạch này là tám trăm La Hán ngồi hai bên, hai mươi tám vị Thiên thần đến chầu, chư tiên xếp hàng, bốn vị Thiên Vương canh gác bốn phương.

Lúc này, Liên Sinh Hoạt Phật cảm động trong lòng, chả trách ngôi nhà dương trạch này mới được coi là có duyên với tôi, cũng mới được coi là có duyên với các đệ tử, đây chính là chúng sinh đại địa và đại địa lý có duyên vậy.

Tôi viết một bài kệ:
*Trời đất che chở ta.
Viên dung thành một khối.
Lòng nhân cứu chúng sinh.
Ánh sáng tự hiển hiện.*

Tôi cá nhân cảm thấy, chúng sinh trên thế gian này, ai ai cũng mong muốn tìm được một mảnh đất tốt, một ngôi nhà có phong thủy tốt, nhưng trong cõi mờ mịt kia, có những nhân quả kỳ lạ ẩn chứa trong đó, trong đó có "đức từ bi", "đức từ bi" này vô cùng quan trọng.

Tôi không cố ý đi tìm kiếm địa lý rồng đỏ quấn ấn, tôi chỉ đơn thuần là chu du bốn phương mà thôi, chỉ tu tâm dưỡng tính mà thôi, chỉ phổ độ chúng sinh mà thôi, tuyệt nhiên không có ý đồ nào khác. Nhà của tôi luôn tùy duyên mà chuyển, tùy duyên mà ở, nhưng điều kỳ lạ là, nhân duyên trùng hợp, tôi lại được ở trong địa lý rồng đỏ quấn ấn. Nếu đứng bên hồ nhìn dương trạch của tôi thì giống như cung điện trên trời, ngôi nhà uy nghi rực rỡ biết bao!

Dương trạch rồng đỏ quấn ấn, quả thực là phía sau có chỗ dựa, phía trước có phản chiếu [hồ nước], hai bên có ôm ấp, trong phản chiếu có bọt. Bốn phương có vệ sĩ, phía trước quỳ chầu, khí rồng bao quanh ngôi nhà, khí hóa thành tiên nhân mạnh mẽ, sông núi vũ trụ đều hóa xuân.

Dương trạch rồng đỏ quấn ấn này, cha mẹ tôi đều đã đến Mỹ tham quan, khen không ngớt lời, là dương trạch của niềm vui tuyệt diệu và chân thật. Tôi tự đặt tên là Thanh Tịnh Vô Lượng Cung.

Tương lai nếu các đệ tử có duyên đến tệ xá của tôi, tôi sẽ chỉ rõ mạch nguồn của rồng đỏ quấn ấn, đây là cơ hội giáo dục thực địa rất hiếm có. Học dương trạch đã lâu như vậy, điều quan trọng nhất là đích thân khảo sát tại chỗ, giải thích từng điểm một.

Liên Sinh Hoạt Phật đã chuyển đến dương trạch rồng đỏ quấn ấn, những ngày cưỡi rồng du hành bốn phương, cuộc sống như thần tiên đã gần kề!


![image](/img/img_4bdc5b93835269e5902b4f55544b4dcc.png)


Dương trạch rồng đỏ quấn ấn là phía sau có chỗ dựa, phía trước có phản chiếu, hai bên có ôm ấp, trong phản chiếu có bọt. Bốn phương có vệ sĩ, khí rồng bao quanh, sông núi vũ trụ đều hóa xuân.


![image](/img/img_b04ced8f6f238a07a0aabee116220049.png)



![image](/img/img_68dbe6c100adf0119025b6b3e654d2e5.png)


Tác giả cuốn sách này, Liên Sinh Hoạt Phật, đang hướng dẫn về phong thủy và địa lý.


### 06. Bí quyết chọn dương trạch


🎯 Khẩu quyết chọn đất

Liên Sinh Hoạt Phật khi mới hơn hai mươi tuổi đã bắt đầu xem phong thủy cho người khác. Có rất nhiều người rất ngạc nhiên, trẻ như vậy mà sao lại hiểu được môn học phong thủy sâu sắc này?
Có người hỏi: "Tuổi còn nhỏ như vậy, phong thủy địa lý này học từ đâu vậy?"
Lúc đó tôi thích đùa: "Tôi bẩm sinh đã biết rồi."
"Làm gì có chuyện đó, môn phong thủy này là sự tiến hóa từ Kinh Dịch, là môn học huyền bí về sông núi đất đai, làm gì có chuyện sinh ra đã biết, không phải là lừa người sao!"
Tôi nói: "Năm xưa, Phật Thích Ca Mâu Ni khi đản sinh, chín rồng phun nước tắm, chẳng phải là bẩm sinh sao? Phật Thích Ca Mâu Ni đản sinh, lập tức bước đi, mỗi bước sinh ra hoa sen, chẳng phải là bẩm sinh sao?"
Người hỏi á khẩu.

Thực ra, trí tuệ của con người quả thật bẩm sinh đã khác nhau. Nhưng, về môn phong thủy, tôi thực sự có sư phụ truyền dạy, sư phụ của tôi chính là Thanh Chân Đạo Trưởng. Thanh Chân Đạo Trưởng có lai lịch không nhỏ, vì vậy môn phong thủy của tôi mới linh nghiệm.

Thanh Chân Đạo Trưởng chỉ ra bí quyết chọn dương trạch như sau:
Việc khu đất có khí hay không rất quan trọng, sự hiện diện của địa khí là một trong những bí quyết chọn đất, xem có long mạch đến, có mạch đi, đó là dấu hiệu của việc có địa khí hay không. Đất có địa khí tốt, khi nắm một nắm trong tay, có thể vón lại thành một khối, nhưng không phải là đất sét, mà là loại đất nằm giữa đất thông thường và đất sét.

Sự hiện diện của địa khí, thầy phong thủy có con mắt tinh tường, chỉ cần nhìn là biết.
Đất này trước đây dùng để làm gì? Điều này cần phải điều tra rõ ràng.

Nếu là bãi rác, tất nhiên không tốt, nếu là hố phân, thì càng không tốt, nếu là đất lấp từ hồ ao, cũng không tốt, đất sau hỏa hoạn, cần phải thay đổi đất. Ngoài ra, nhà cổ trăm năm, pháp trường, nghĩa trang, đền chùa, lò hỏa táng, mộ cô độc, bia tưởng niệm lịch sử, cây lớn thờ cúng, bệnh viện... đều thuộc về đất có linh sát, những nơi có linh sát cần dùng nước chú Đại Bi để kết giới.
Bãi rác, hố phân, đất lấp từ hồ ao, tốt nhất là không nên cư trú.

Xây dương trạch không chỉ cần chọn lựa chất lượng của địa khí và đất đai, mà còn phải phân tích rõ ràng môi trường xung quanh, trước sau trái phải.

Ví dụ:
Các ngôi nhà xung quanh, đường xá, dòng nước chảy, thậm chí là nhà máy, trường học, trang trại gần đó, đều là yếu tố cần xem xét.
Cần tránh lộ xung (đường đâm thẳng vào nhà), cần tránh phản cung (hình cung ngược).
Cần tránh sát khí từ các công trình xây dựng của hàng xóm bên trái bên phải.

Các thầy phong thủy cũng cho rằng: "Phía trước hoặc phía sau đền chùa, tốt nhất là không nên xây dương trạch, bởi vì đền chùa gây nhiễu từ tính địa linh rất mạnh, người thường thường không thể sống yên ổn. Ngoài ra, một điều cấm kỵ trong phong thủy là, khi xây nhà, không nên chôn hết nông sản dưới đất, vì nông sản chôn chết dưới đất sẽ không thể 'phát' lên được, nghĩa là sẽ không bao giờ phát đạt được."
Còn về việc phía sau cao phía trước thấp, đó là trực nhận long mạch.
Cảnh quan đẹp càng là điều cần thiết.

Liên Sinh Hoạt Phật tổng hợp bí quyết chọn đất xây dương trạch, chỉ ra các điểm chính như sau:
Địa khí dày.
Chất đất tốt.
Cảnh quan đẹp.
Địa hình, địa vật xung quanh không có xung sát.

Với bốn điểm quan trọng nêu trên, việc chọn đất xây nhà như vậy, tôi nghĩ đã là rất hoàn hảo rồi. Liên Sinh Hoạt Phật đối với những dương trạch có khuyết điểm đều có phương pháp khắc phục, bởi vì được truyền thừa từ sư phụ vĩ đại, học vấn về địa linh vô cùng cao siêu, tôi luôn dùng những phương pháp đơn giản nhất, đã chữa lành tất cả khuyết điểm của dương trạch, hiện nay thậm chí một số thầy phong thủy bậc cao cũng đến khấu đầu bái Liên Sinh Hoạt Phật làm thầy!

Mỗi lần Liên Sinh Hoạt Phật xem địa lý đều giảng giải rõ ràng minh bạch, không hề giấu giếm. Do lời giải thích có lý, môn học phong thủy này mới có thể thực sự mang lại phúc lợi cho chúng sinh, phát huy rạng rỡ. Chứ không phải như những thầy địa lý giả mạo làm hại chúng sinh.

Liên Sinh Hoạt Phật thậm chí không cần đến xem đất, chỉ dùng tay triệu thỉnh Thổ Địa Thần, khi Thổ Địa Thần vừa đến liền kể tường tận cho Liên Sinh Hoạt Phật về môi trường địa lý, sau khi kiểm chứng, quả nhiên đúng như vậy. Những điều này đều khiến những người trí thức hiện đại kinh ngạc đến không thốt nên lời.


![image](/img/img_7c1955a15df799c3430bd06b7ffdadbe.png)


Dương trạch nằm ở trong cung thuận sẽ có tình và phát đạt. Dương trạch có dòng nước chảy thẳng, cần xem xét theo từng trường hợp cụ thể. Dương trạch nằm ở trong cung nghịch sẽ chủ vô tình và suy tàn.


![image](/img/img_97e6351c8b28f381839d4db288be3eb5.png)


Khi xây nhà, chôn nông sản dưới đất, sẽ không thể "phát" lên được, nghĩa là sẽ không bao giờ phát đạt được. [Ở đây nói đến xây nhà trên mảnh đất vốn là đất trồng trọt, nông sản trên đất chưa chín hoặc chưa kịp thu hoạch, đã lập tức đắp đất đổ móng, chôn nông sản dưới đất để xây nhà.]


### 07. Việc triệu thỉnh trong pháp Địa Thần


🎯 Chương ngoài lề về phong thủy

Viết bài "Việc triệu thỉnh trong pháp Địa Thần" này, cũng coi như là một chương ngoài lề của khoa phong thủy. Việc triệu thỉnh Địa Thần này vô cùng huyền diệu và thú vị.

Có một người có khả năng thông linh đến nhà tôi, anh ta nhờ tôi triệu thỉnh Địa Thần để điều tra một việc ở nhà anh ta.
Tôi vừa đọc xong chân ngôn.
Đột nhiên, gió thổi mạnh, cây cối bên ngoài cửa sổ bay múa rào rào. Tôi nói: "Được rồi, được rồi, Địa Thần đã đến."

Buổi triệu thỉnh Địa Thần hôm đó đã khiến người thông linh biến sắc mặt, bởi vì dưới ánh nắng chói chang, không có lấy một chút gió nhẹ, vậy mà vừa khi Liên Sinh Hoạt Phật đọc xong thần chú, gió đã gầm thét dữ dội, người thông linh nhìn đến ngây người, đúng là Địa Thần thật sự "ứng ngay lập tức".

Người thông linh vừa nhìn đã biết ngay, vì từ thủ ấn của Liên Sinh Hoạt Phật có ánh sáng đỏ tỏa ra, lấp lánh như ánh chớp.

Trên đầu Liên Sinh Hoạt Phật có một vị Phật với ba mươi hai tướng tốt đang ngồi. Chẳng trách Thổ Địa Thần vừa nghe lệnh đã lập tức vội vàng chạy đến, phủ phục xuống đất rập đầu. Người thông linh thấy cảnh tượng như vậy cũng vội vàng phủ phục xuống đất rập đầu theo.

Thêm một chuyện khác, có một người nhờ tôi xem phong thủy nhà anh ta.
Tôi nói: "Hôm nay tôi rất bận, không ra ngoài nữa, để tôi triệu thỉnh Địa Thần ở ngay tại phòng thờ xem nhà ông thế nào nhé?"
"Được không ạ?" - Vị khách nói: "Hoạt Phật chưa từng đến nhà tôi."
"Hãy thử xem sao?" - Tôi nói: "Nhà ông rất lớn, và có đào ao hồ, ao hồ nằm ở sân trước nhà, giữa có một con đường nhỏ, trên đường có một cây cầu bắc ngang qua ao, trong ao có hoa sen, trong hồ nuôi cá chép, à! Cá chép là một, hai, ba, bốn..., tổng cộng có 19 con cá chép đấy!..."
"Hoạt Phật, ngài thật sự khiến người ta kinh ngạc, bởi vì những gì ngài nói hoàn toàn chính xác! Tuy nhiên, có một chỗ sai, cá chép rõ ràng là 17 con, sao lại thành 19 con được? Con số này có sự khác biệt, những điều khác đều đúng."
"Để tôi hỏi lại Địa Thần xem, là 17 con hay 19 con? Có lẽ Địa Thần mắt mờ, đếm nhầm cũng không chừng." - Tôi nói.
"Là 19 con." - Địa Thần quả quyết nói.
Tôi khẳng định với vị khách là 19 con.

Vị khách không dám tin, bởi vì cá chép là do chính anh ta mua về thả, rõ ràng là 17 con.
Vị khách trở về nhà. Sau đó gọi điện thoại lại: "Hoạt Phật, vẫn là ngài đúng, chính xác vô cùng. Đêm qua, cháu trai của tôi đi chợ mua thêm hai con cá chép thả vào hồ, cháu không kịp báo cho tôi, trong hồ quả nhiên có 19 con cá chép."

Hai câu chuyện trên đều là những điều thú vị gần đây về việc triệu thỉnh Địa Thần. Và những câu chuyện linh nghiệm như vậy có lẽ cũng phải có đến hai, ba nghìn chuyện! Kể mãi cũng không hết.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng Địa Thần là vị thần gần gũi nhất với con người, cũng là vị thần bảo hộ thân thiết nhất, là vị thần có thể trò chuyện về mọi chuyện, nhưng muốn triệu thỉnh Ngài cũng phải cung kính, không được coi thường. Tôi từng dạy pháp Địa Thần, pháp Địa Thần này có hiệu quả rất lớn.

Triệu thỉnh Địa Thần, trước tiên phải có cúng phẩm thể hiện lòng thành kính.
Tụng chân ngôn Địa Thần. Triệu thỉnh.
Gõ cửa Địa Thần. Việc gõ cửa Địa Thần này rất đơn giản nhưng lại vô cùng bí mật, không thể tùy tiện truyền dạy. Bởi vì nếu tùy tiện truyền ra ngoài, tất cả các vị Thổ Địa Thần đều sẽ bị quấy nhiễu, các vị thần vốn yên bình sẽ bị người phàm trần quấy rầy ngày đêm.

Tại đây, tôi đặc biệt kêu gọi, những người đã nhận được pháp Địa Thần, chỉ nên triệu thỉnh khi có việc quan trọng, không có việc thì chỉ cần thờ cúng là đủ, tuyệt đối không được lạm dụng pháp thuật để đùa giỡn.

Mặc dù trên đầu Liên Sinh Hoạt Phật có một vị Phật, với chuỗi ngọc và lọng báu, vạn tướng trang nghiêm, ngồi trên đài sen vàng, ánh sáng vàng bao quanh, tỏa hương thơm vi diệu, nhưng bản thân tôi đối với Địa Thần vô cùng cung kính, chỉ triệu thỉnh khi có việc, không có việc cũng không dám làm phiền động đến Ngài.

Việc triệu thỉnh Địa Thần để xem phong thủy địa lý cũng là bất đắc dĩ, không phải thường xuyên làm như vậy, người tu hành lấy lòng từ bi làm gốc, phương tiện làm công cụ. Liên Sinh Hoạt Phật đã nhận được thiên mệnh, có một bộ luật lệnh pháp 48 tầng, nhưng cũng không được dùng bộ luật lệnh pháp 48 tầng này để áp chế vị Địa Thần nhỏ bé. Nếu tôi tùy tiện làm vậy cũng là lạm dụng quyền lực để làm rối loạn Phật pháp, hỗn loạn pháp giới, đây cũng là tội lỗi.

Những ai đã nhận được pháp Địa Thần, hãy thận trọng! Thận trọng!


### 08. Mùi của nhà


🎯 Xúc giác huyền bí

Trong thời gian ở Mỹ, tôi đã được mời đi xem phong thủy địa lý nhiều nơi. Có một lần, tôi lên tầng hai của khu trung tâm thành phố để xem một nhà hàng Trung Quốc.
Tôi chỉ ra vị trí tụ khí.
Hướng dẫn cách bố trí và sắp xếp bàn ghế trong nhà hàng, vị trí quầy thu ngân, máy hút khói bếp, v.v...
Sau đó tôi tìm ra vị trí để đặt bàn thờ.
Chủ nhà hàng hỏi tôi: "Có cần mua tượng thần mạ vàng để thờ cúng không?"
"Không cần."

Tôi đưa cho anh ta một bức ảnh Hoàng Tài Thần làm bằng giấy, và dán bức ảnh giấy đó vào vị trí bàn thờ.
Chủ nhà hàng lại hỏi: "Có cần trang trí cho lộng lẫy, sang trọng hơn không?"
"Không cần."
"Tôi muốn thay hết bàn ghế cũ bằng đồ mới, được không?"
"Không cần."
"Dụng cụ nhà bếp nên loại bỏ, thay hết mới đi nhé?"
"Không cần."

Chủ nhà hàng cảm thấy rất lạ, tại sao ông ấy nói gì, tất cả đều là "không cần". Sau đó, chủ nhà hàng nói với người khác rằng, Liên Sinh Hoạt Phật đến xem phong thủy, cái gì cũng không cần, không tốn một chút chi phí nào.

Nói cũng lạ, nhà hàng cũ kĩ này, việc kinh doanh lại ngày càng phát đạt, những món đặc sản bán ra được nhiều người yêu thích, làm ăn thịnh vượng, mỗi ngày thu vào rất nhiều tiền, thường xuyên không còn chỗ trống.

Nhưng, ngay khi việc kinh doanh đang thịnh vượng nhất, nửa đêm một trận hỏa hoạn đã thiêu rụi tất cả thành tro bụi, đám cháy này đã thiêu rụi một hiệu sách, một siêu thị, một nhà hàng, một cửa hàng thịt quay.

Nghe nói, lửa bắt nguồn từ cư dân Philippines ở tầng một bên dưới.

Tóm lại, tất cả đã hóa thành tro bụi. Bao gồm cả bức ảnh Hoàng Tài Thần và một miếng dán hoa sen trắng Chân Phật Tông.

Lúc này, chủ nhà hàng mới nhớ ra, ngày đó khi Liên Sinh Hoạt Phật đến xem phong thủy địa lý, tượng thần mạ vàng "không cần", trang trí "không cần", bàn ghế mới "không cần", dụng cụ nhà bếp "không cần". Hóa ra trong đó có ẩn ý, đó là không cần phải tốn tiền, vì sớm muộn gì cũng sẽ bị thiêu rụi.

Chính vì tất cả đều "không cần", nên đã tiết kiệm được nhiều tiền, có thể mở cửa hàng mới ở một địa điểm khác.

Tuy nhiên, khi đã biết sẽ có hỏa hoạn, tại sao tôi không nói trực tiếp với chủ nhà hàng? Tôi có ba lý do:
Thứ nhất, trước đây tôi đã từng nói trực tiếp như vậy với người khác, nhưng chủ nhà rất không vui, khi dự đoán nhà người ta sẽ cháy, họ cảm thấy khó chịu và luôn để tâm canh cánh.
Thứ hai, nói ra sẽ khiến người ta không biết nên ở hay không ở, tiến thoái lưỡng nan. Không biết nên làm hay không làm, kinh doanh sẽ khó khăn.
Thứ ba, người tin tưởng tôi sẽ tìm cách xử lý. Người không tin tôi dễ sinh ra phỉ báng. Phải đến khi thực sự xảy ra hỏa hoạn mới thôi. Và sự phỉ báng này đôi khi phải ba năm mới chấm dứt!

Chính vì thế, tôi mới dùng cách "không cần" để chỉ dẫn một cách kín đáo.

Tại sao Liên Sinh Hoạt Phật biết được nhà nào sẽ cháy hay không cháy? Bởi vì Liên Sinh Hoạt Phật có thể ngửi ra "mùi của nhà", đây cũng được xem là "giác quan huyền bí" nhất của các thầy phong thủy, cảm ứng này thần diệu vô cùng, thực sự không thể diễn tả được.

Tôi nói mắt tôi nhìn thấy lửa, có ai tin không?
Tôi nói mũi tôi ngửi thấy mùi tro tàn sau khi cháy, có ai tin không? Tôi nói tai tôi nghe thấy tiếng xe cứu hỏa, tiếng còi hú chói tai, có ai tin không?

Tuy nhiên, điều tôi muốn nói với độc giả là, khi học phong thủy, có thể học đến mức nhận biết mùi của nhà mới được xem là trình độ cao.

Chúng ta biết rằng, cơ thể con người có mùi, mỗi người mỗi khác, rõ ràng một cách tức thì.
Dương trạch cũng vậy, mỗi ngôi nhà có mùi riêng của nó, nhà nào cũng khác nhau.
Nhân tướng học là để xem tướng người. Dương trạch học là để xem tướng nhà.

Một thầy phong thủy quan sát nhà, phải nhìn một cái là nếm ra được mùi vị của ngôi nhà, đây là giác quan huyền diệu, ngôi nhà có một luồng khí, bạn từ khí đó mà nếm ra mùi vị của nó, đây chính là "mùi của nhà".

Bậc thầy phong thủy cao cấp nhất, vừa bước vào ngôi nhà mới, lập tức hiểu được linh khí của ngôi nhà, quá khứ, hiện tại và tương lai của ngôi nhà, vợ, con, tài, lộc của người ở, những điều có lợi, những điều bất lợi, điều tăng trưởng, điều suy giảm, tất cả những điều này chỉ trong một cái nhìn đều đã rõ ràng, minh bạch.

"Mùi của nhà" này - giác quan huyền bí, không phải tầm thường, chỉ có bậc thầy phong thủy cao cấp mới có thể hiểu được điều kỳ diệu bên trong.


![image](/img/img_69a091c40ba68b67f135f682975d5204.png)


Tượng pháp Hoàng Tài Thần - Hoàng Tài Thần còn được gọi là Bắc Phương Đa Văn Thiên Vương, là vị Thiên Vương quản lý của cải.


### 09. Sự hữu tình của sân vườn


🎯 Tôn vinh vẻ đẹp của sự hài hòa

Liên Sinh Hoạt Phật từng viếng thăm dinh thự của một gia đình giàu có, đó thực sự là một tòa nhà đồ sộ với những điểm đặc biệt như sau:
Phải mất một giờ để tắt hết tất cả đèn trong nhà.
Dinh thự có bảy nhà bếp.
Tủ rượu có thể chứa tám nghìn chai.
Trong nhà có rạp chiếu phim thu nhỏ, hồ bơi và phòng xông hơi đầy đủ.
Phòng khách rộng như một sân vận động trường học.
Có đường hầm bí mật, phòng ngầm bí mật và công tắc bí mật.
Toàn bộ ngôi nhà được làm từ đá cẩm thạch và gỗ đào, tất cả đều được chạm khắc, vô cùng lộng lẫy và đẹp đẽ, khí thế phi thường, khiến bất cứ ai bước vào đều cảm thấy choáng ngợp.

Cổng chính của ngôi nhà này cao vút như trời, phía trên cổng tròn như cánh cung, bên ngoài cổng có hành lang đưa ra, với mười tám cột đá. Cổng chính này không giống như cổng thông thường.

Bên ngoài cổng vòm lớn là một sân rộng, chính là một khu vườn lớn, đầy đủ các loại hoa cỏ cây cối, có một hồ nước lớn hình dạng đặc biệt, ở giữa hồ cũng xây một tòa đình nghỉ mát, ở giữa đình đặt bàn ghế đá cẩm thạch, từ đình ra ngoài là cây cầu vồng gỗ đặc biệt, trong vườn còn có núi giả, núi giả cũng rất to lớn mà tinh xảo, núi giả có thác nước nhân tạo, đường đi trong vườn hoa uốn lượn quanh co, thậm chí còn trồng trúc tím, bên cạnh trúc tím lại là sườn đồi nhân tạo nhỏ, trên sườn đồi nhỏ trồng hoa hồng, đủ các màu sắc, muôn hồng nghìn tía.

Tuy nhiên, nhìn từ tổng thể toàn bộ ngôi nhà, căn nhà này được xây dựng quá vuông vức, hoàn toàn là một hình vuông, đây là tướng nhà thuộc loại "vô tình". Nhà hình vuông, không có điểm nhấn đặc biệt, bề ngoài bình thường và cứng nhắc. Đặc biệt là mười tám cột đá ở cổng chính, tuy được xem là điểm trang trí, nhưng xây quá oai phong, ngược lại trở thành một hung tướng. (Nhà vô tình, sân vườn lộn xộn.)

Làm thế nào để thay đổi hung tướng và sự cứng nhắc của biệt thự lớn này? Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, nên bắt đầu từ sân vườn.

Tôi khuyên chủ nhà như sau:
Bên ngoài cổng chính, hồ nước hình dạng đặc biệt, nên thay đổi thành hồ phun nước hình tròn. Bởi vì hình tròn thuộc Kim, biệt thự lớn thuộc Thổ, như vậy sẽ hữu tình và tương sinh, vì Thổ sinh Kim. Hồ nước hình dạng đặc biệt gây quá nhiều xung khắc.

Bên cạnh hồ nước tròn nên làm hai khu vườn hoa hình lưỡi liềm, tạo thành đối xứng, cũng là ý nghĩa Thổ sinh Kim, làm tăng thêm sức mạnh uy thế của hồ phun nước, đồng thời hóa giải khí bá đạo của mười tám cột đá.

Đình nghỉ mát nên loại bỏ, vì có sự xung khắc.
Núi giả và thác nước nhân tạo nên bỏ đi. Vì góc cạnh của chúng nhô ra, gây xung khắc khắp nơi.
Đường đi trong sân vườn ban đầu uốn lượn quanh co, nên bỏ đi, vì gây rối loạn, không phù hợp với thế phong thủy địa lý. Có hình cung ngược.

Liên Sinh Hoạt Phật nói:
Hình dáng nhà cửa hoạt bát và sinh động, góc cạnh nhô ra, nhưng lại gây xung khắc khắp nơi, đây không phải hữu tình, mà là hỗn loạn.
Hình dáng nhà cửa hoạt bát và sinh động, cũng có góc cạnh nhô ra,
nhưng được xây dựng theo Ngũ Hành, đây mới thực sự là hữu tình.
Nhà cửa quá cứng nhắc là tướng cố chấp không thay đổi, phong thủy tuy không có xung khắc nhưng lại mắc phải tướng vô tình.

Tướng nhà quá cứng nhắc có thể dùng sự hữu tình của sân vườn để hỗ trợ, để phá giải tướng nhà cứng nhắc, tuy nhiên phương pháp phá giải phải kết hợp với nguyên lý tương sinh của Ngũ Hành.

Tướng nhà về mặt diện mạo thực sự rất quan trọng, bề ngoài hoạt bát và mạnh mẽ, thuận lợi không xung khắc, nhà có tính hữu tình chắc chắn sẽ phát triển, ngược lại sẽ suy tàn!

Vì vậy, dinh thự lớn kia, bên trong dù xa hoa quý phái đến đâu, nhưng hình dáng bên ngoài lại tràn ngập không khí trầm lặng, đây là biểu tượng của suy tàn. Dinh thự không thể sửa chữa, chúng ta chỉ có thể bắt đầu từ sự tương sinh và sự sinh động của sân vườn để làm cho dinh thự này hồi sinh.

Phương pháp tôi sử dụng rất đơn giản, một hồ nước tròn, hai hình lưỡi liềm. Nhưng trong một tròn hai cong này ẩn chứa học vấn huyền bí sâu sắc.
Từ Thổ sinh Kim. Kim này là sống động, bởi vì nó phun nước.
Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy.
Đây là sự tôn vinh của tương sinh hữu tình.


### 10. Thiên thủy áp sát pháp


🎯 Giải thích về Oản công pháp [pháp cái bát tô]

Trong cuốn sách "Nói rõ về dương trạch địa linh", tôi có đề cập đến bốn chữ "thế cục sinh vật". "Thế cục sinh vật" chính là người sống trong ngôi nhà đó trên người sẽ mọc u bướu. 

Làm sao để thăm dò "thế cục sinh vật", tôi lại nói rõ như sau:

Thứ nhất, trong một ngôi nhà có một vật đột ngột nhô ra rất đặc biệt, vật đột ngột nhô ra này và bản thân ngôi nhà tương khắc với nhau, không tôn nhau lên. Việc thăm dò ngôi nhà có vật đột ngột nhô ra này là một kiến thức lớn như hư không và huyền bí, đó có thể là một điểm đột ngột nhô ra, ví dụ một thứ có hình quái dị, kích cỡ không tương xứng, trái phải không phối hợp với nhau.

Thứ hai, sự xuất hiện của "thế cục sinh vật" nghiêm trọng nhất là xây thêm. Một ngôi nhà đang tốt đẹp, đột nhiên có một ý nghĩ là muốn xây thêm một gian nữa, có khi thì xây thêm ở sau nhà, có khi thì xây thêm trên mái, có khi thì xây thêm bên trái bên phải, đây là đột ngột xây thêm một căn phòng, việc xây thêm này sẽ làm phong thủy thay đổi đột ngột, nhà lớn liền với nhà nhỏ, đây chính là "thế cục sinh vật". 

Ngôi nhà có "thế cục sinh vật" phải làm sao?
Tôi đã phỏng vấn ba vị thầy địa lý. 
Một thầy phong thủy có tên tuổi lớn thuộc địa lý chính tông tự xưng là Tam Nguyên nói: "Chọn ngày để dỡ bỏ."
Một thầy địa lý già của phái Tam Hợp, miệng nhai trầu, ê a nói: "Không tốt thì bỏ, có gì phải lo."
Một vị là thầy địa lý của Huyền Không pháp nói: "Dỡ bỏ rồi tính."

Tôi đã đọc ra được căn bệnh của các thầy địa lý, thế tục nói rằng: gặp nhà thì dỡ, gặp mộ thì sửa, nếu không dỡ không sửa thì sẽ chẳng toát ra học vấn của thầy địa lý có tên tuổi. 

Có rất nhiều đệ tử buồn như đưa đám hỏi tôi phải làm sao. Xây thêm đã tốn một khoản tiền lớn rồi, dỡ nhà rồi sửa lại cho chỉnh tề lại tốn một khoản tiền lớn nữa, có cách nào không?

Tôi cười vang ha ha, Liên Sinh Hoạt Phật đây có phương pháp, các bạn hỏi tôi là hỏi đúng người rồi. Pháp này gọi là Thiên thủy áp sát pháp, còn gọi là Oản công pháp. Hôm nay tôi công bố pháp này trong cuốn sách này, giá trị của nó đúng là không gì sánh bằng, đây chính là đại công khai kiến thức thất truyền độc nhất đó.

Pháp này trước hết phải chuẩn bị một cái bát to (mới tinh), chính là loại bát sứ to đựng nước canh. Ngoài ra phải chuẩn bị "nước không rễ", nước không rễ là nước mưa, vẫn chưa rơi xuống đất, hứng từ lưng chừng không, gọi là nước không rễ. 

Pháp đó như sau:
Thứ nhất, thanh tịnh bát tô và nước không rễ. (Hun bằng hương hoặc hơ qua lửa.)
Thứ hai, cúng bát tô và nước không rễ tại mật đàn.
Thứ ba, trong khi tu pháp Bổn tôn hoặc pháp Thượng sư tương ứng, khi quán tưởng ba ánh sáng gia trì, ba ánh sáng này cũng chiếu đến cái bát tô và nước không rễ. Phóng quang chiếu xong, lập tức quán tưởng bát tô biến thành vô cùng lớn, nước không rễ biến thành một vùng nước mênh mông, thanh tịnh không gì sánh bằng.
Thứ tư, tu pháp tổng cộng bảy đàn.
Thứ năm, chọn ngày trực Trừ, trèo lên nóc của ngôi nhà nhỏ, có thể dùng xi-măng hoặc keo siêu dính để dán chặt cái bát tô trên mái nhà, sau đó lại đổ nước không rễ vào trong cái bát. Miệng bát ngửa lên trời.
Việc lớn đã thành, cát tường viên mãn.

Liên Sinh Hoạt Phật nói với mọi người:
Thiên thủy này chính là nước không rễ, thiên thủy chính là "thiên nhất thần thủy", thiên nhất thần thủy hợp với pháp áp sát của bát quái cửu cung. Thiên nhất thần thủy giống như nước mênh mông, sát mọc u mọc bướu của ngôi nhà nhỏ vĩnh viễn không sinh ra. 
Bát tô này biến thành lớn vô cùng, chính là đựng thiên nhất thần thủy nhiều mênh mông. 

Pháp thiên nhất thần thủy áp sát của Liên Sinh Hoạt Phật là đại công khai pháp huyền bí, phương pháp đơn giản, pháp này có liên quan đến tu pháp Mật tông, nếu bản thân mình không biết làm thì có thể cầu Thượng sư Mật tông làm pháp, nếu không thỉnh được thì có thể mời đệ tử Chân Phật Tông làm pháp. 

Đại tổ sư Milarepa của Mật tông Bạch giáo từng dùng pháp Oản công này để áp chế sát của pháp mưa đá. Pháp thiên nhất thần thủy áp sát này và pháp áp sát của Milarepa tuy khác nhau nhưng hiệu quả kỳ diệu như nhau.

Có một lần, một vị hòa thượng đến nhà đệ tử của tôi. (Đệ tử này cũng quy y pháp sư khác.)
Hòa thượng nói với đệ tử của tôi: 
"Quái lạ, mái nhà anh sao lại có mây và khí cát tường bao quanh nhỉ?"
"Có gì đặc biệt đâu!" - Đệ tử cũng ngạc nhiên.
Thế là, hòa thượng nhắm mắt tham thiền một lúc, mở mắt ra nói:
"Tôi nhìn thấy một cái bát phát ra kim quang xán lạn, bên trên có hoa sen bay múa lên xuống, hiện lên nhiều chuỗi ngọc, rất kỳ lạ."
Đệ tử không dám nói.

Sau sự việc ấy, đệ tử này kể với tôi, Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật vừa đặt thiên nhất thần thủy oản công xong, kết quả là cái bát đó liền hiện ra tường vân kim quang thần kỳ, khiến pháp sư khác nhìn thấy. Pháp oản công này chính là một kiến thức thất truyền lớn trong thiên hạ cực kì linh nghiệm. 


![image](/img/img_79e3fa0e5122eb2db2bf61198abb0d77.png)


Trong một ngôi nhà có vật nhô ra đặc biệt, tương khắc với bản thân ngôi nhà, không tôn nhau lên, tức là "thế cục sinh vật". Sự xuất hiện của "thế cục sinh vật" rõ ràng nhất là phần nhà xây thêm. 


![image](/img/img_eba0f9589ae7e5e4ebcd8290e629c0e8.png)


Đã sống ở trong ngôi nhà "thế cục sinh vật" rồi thì phải làm sao? Rất nhiều thầy địa lý chủ trương: có thể sửa thì sửa, có thể dỡ thì dỡ, nhưng tác giả cuốn sách này thì đề xuất Thiên thủy áp sát pháp, còn gọi là Oản công pháp, để cầu an. Đây là đại công khai kiến thức thất truyền độc nhất đó!


### 11. Cầu an cho "thế cục phẫu thuật"


🎯 Ứng dụng ngày trực Mãn

Dương trạch "thế cục sinh vật" và dương trạch "thế cục phẫu thuật" có mối quan hệ vô cùng lớn, bởi vì dương trạch "thế cục sinh vật" sinh ra ung thư và u bướu, thường cần phải phẫu thuật, vì vậy, dương trạch "thế cục sinh vật" tự nhiên cũng là dương trạch "thế cục phẫu thuật".
Tuy nhiên, tại sao lại có thêm "thế cục phẫu thuật" riêng biệt?

Dương trạch "thế cục phẫu thuật", việc khảo sát của nó lại có sự khác biệt. Ví dụ:
Phá dỡ bên trong ngôi nhà cũ, sửa sang bài trí lại. (Khởi công vào ngày xung khắc.)
Nhà thiếu một mảng, thiếu một bên. Rõ ràng là không cân đối.
Cống rãnh bị tắc nghẽn và khí trong nhà không lưu thông.

Việc "phá dỡ bên trong, sửa sang bài trí lại" này, động đến phần nào thì phần đó chính là bị phẫu thuật. Nhà thiếu một mảng, thiếu một bên đều là thế cục phẫu thuật, cống rãnh bị tắc nghẽn và khí trong nhà không lưu thông phần lớn là "mạch máu bị tắc".

Cắt bỏ một nửa dạ dày, cắt đứt ruột, phẫu thuật tuyến giáp, mổ ngực, mổ sỏi thận, mổ sỏi mật, suy thận, mổ gãy xương, phẫu thuật mạch máu, v.v... Tất cả đều có liên quan đến ba dạng dương trạch nêu trên.

Khi gặp phải ngôi nhà mang "thế cục phẫu thuật", phải làm sao?
Nhà thiếu một mảng, thiếu một bên, có thể bù đắp thì bù đắp.
Hệ thống thoát nước bị tắc nghẽn và khí trong nhà không lưu thông, có thể sửa thì sửa, có thể tu bổ thì tu bổ.
Còn về việc "phá dỡ bên trong, sửa sang bài trí lại", nếu may mắn thì không sao, bởi vì bạn tình cờ khởi công vào ngày tốt. Nếu không may, đó chính là vào ngày xung khắc.

Tôi cho rằng trong trường hợp này cần phải cầu an, việc cầu an cho "thế cục phẫu thuật" này chính là phương pháp huyền diệu của thiên cơ, việc công khai phương pháp này giúp tránh phẫu thuật, có giá trị vô cùng, rất quan trọng.

Thứ nhất, chọn giờ tốt vào ngày Mãn. Ngày Mãn này chính là bổ sung đầy đủ, viên mãn.
Thứ hai, dùng một cái búa mới, buộc vào búa một miếng vải đỏ mới. (Búa chính là cái búa tạ.)
Thứ ba, thanh tịnh búa và vải đỏ. (Xông hương hoặc qua lửa đốt tiền vàng.)
Thứ tư, hành giả Mật tông cầm búa, gõ nhẹ vào chỗ trang trí cải tạo.
Thứ năm, vừa gõ vừa tụng chú, chú như sau: "Ôm lua-tua-lua. Ôm pu-thua-yê. Ôm li-li. Ôm pô-lua-chi-ti. Ôm sa-tua-li. Sô-ha."
Thứ sáu, sau khi làm xong pháp này, có thể cúng bái chủ đất, thể hiện sự cầu xin chủ đất hộ trì cho chủ nhân và cả nhà được khỏe mạnh.
Cát tường viên mãn.

Hành giả Mật tông thực hiện pháp cầu an này có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Đó chính là vào ngày cát tường viên mãn, dùng công cụ mới, khởi công lại, sử dụng vật liệu mới nhất, tốt nhất, tuyệt vời nhất để viên mãn hóa tất cả chướng ngại, tiêu trừ sát khí, xóa bỏ xung khắc trong ngôi nhà.

Có nghĩa là những gì đã xây dựng trước đây không còn tính, chỉ có lần gõ búa này mới được tính. Pháp cầu an này đã bù đắp sự không cát tường của lần cải tạo trước, biến sát khí thành cát tường.

Việc ứng dụng ngày Mãn này vô cùng quan trọng.

Liên Sinh Hoạt Phật đã từng dùng phương pháp này để giải cứu rất nhiều ngôi nhà có "thế cục phẫu thuật". Nhiều ngôi nhà của người Mỹ đều có thiết kế mở trần để lấy ánh sáng, cần phải dùng phương pháp này để hóa giải.

Câu chú hóa giải "thế cục phẫu thuật" này, khi đọc vào ngày Mãn, có ý nghĩa vô cùng đặc biệt, đây là phương pháp vi diệu thâm sâu, tuy không có hình tướng, nhưng có pháp lực thanh tịnh, khi cây búa này gõ xuống, nghiệp khổ đau sẽ dập tắt, tất cả bệnh ác sẽ không sinh khởi trong thời gian dài.

Thần chú này không phải tầm thường, là thần chú tử kim trang nghiêm, có công trường tồn bất bại, có đức không sinh, lão, bệnh, tử. Thần chú này có ánh sáng, là gốc rễ của trời đất, là sinh mệnh của vạn vật, là đại tự tại. Bất kì ai dưới sự che chở của thần chú này đều được bình an, đều được khỏe mạnh, không gặp tai họa bất ngờ. Thần chú này không chỉ bảo hộ chủ nhân mà còn bảo hộ cha mẹ, vợ con, thậm chí đến cả lục thân quyến thuộc.

Hơn nữa, người thường trì tụng thần chú này lâu dần sẽ khai tâm kiến tính, từ miệng sẽ tỏa ra hương thơm vi diệu. Thân thể như bảo tháp tử kim tỏa sáng, vững vàng bất động. Thần chú này không chỉ dùng để cầu an hóa giải "thế cục phẫu thuật", mà còn thích hợp để trang nghiêm tự thân, tỏa sáng.

Thần chú của pháp cầu an cũng là Phật chú.

Tôi viết một bài kệ:
*Diệu tính Như Lai Phật.
Cao vời vốn bất động.
Vì độ chúng sinh khổ.
Nên nói chú cát tường.*


![image](/img/img_969a36fd86010808035503a8bb83b215.png)


Hình 1: Dương trạch "thế cục phẫu thuật", thiếu một mảng, thiếu một bên, rõ ràng là không cân đối.

Hình 2: Dương trạch "thế cục phẫu thuật" có thể bù đắp thì bù đắp, có thể sửa thì sửa. Nhưng khi phá dỡ bên trong, sửa sang bài trí lại, nếu khởi công vào ngày xung khắc sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe con người.

Hình 3: Phương pháp hóa giải dương trạch "thế cục phẫu thuật" có ý nghĩa vô cùng quan trọng, và việc ứng dụng ngày Mãn cũng rất quan trọng.


### 12. Chú trấn trạch


🎯 Phật Thuyết An Trạch Đà-la-ni Chú Kinh

Có người hỏi tôi, trấn trạch cũng có chú sao?
Tôi cười vang ha ha, sao lại không có chứ? Phật pháp không tách rời pháp thế gian, lìa khỏi thế gian thì không có Phật pháp, vì thế trấn trạch cũng có chú, cũng có kinh.

Một đệ tử của tôi là cư sĩ Lâm Quế Sâm gửi cho tôi cuốn "Phật Thuyết An Trạch Đà-la-ni Chú Kinh", kinh này còn được gọi là "Phật Thuyết Manila Đàn Kinh". 

Toàn văn "Phật Thuyết An Trạch Đà-la-ni Chú Kinh" như sau:

*Tôi nghe như vầy. Một thời, Đức Phật ở tại tinh xá Cấp Cô Độc trong rừng Kỳ Đà ở nước Xá Vệ, cùng các đại tì kheo là một nghìn hai trăm năm mươi người, các đại Bồ Tát là bốn vạn người, chủ của thế giới Đại Phạm Thiên Vương, Thích Đề Hoàn Nhân, Tứ Đại Thiên Vương. Đề Đầu Lại Tra Thiên Vương, Tỳ Lâu Lặc Xoa Thiên Vương, Tỳ Lâu Bác Xoa Thiên Vương, Tỳ Sa Môn Thiên Vương. Hai mươi tám bộ quỷ sư đại tướng quân. Như vậy các chư Thiên, tám vạn bốn nghìn A Lợi Đa, cùng các con và quyến thuộc đều đến để tụ hội. *

*Khi ấy, cách cõi Phật này mười vạn ức cõi Phật, có thế giới tên là Chúng Hoa, Đức Phật nơi ấy hiệu là Tối Thắng Đăng Vương Như Lai Ứng Cúng Chính Đẳng Giác Phật Thế Tôn,**** ****nay hiện đang thuyết pháp, phái hai vị Bồ Tát, một là Đại Quang, hai là Vô Lượng Quang và bảo rằng: "Thiện nam tử, các ông mang đà-la-ni chú này đến thế giới Ta Bà trao cho Phật Thích Ca Mâu Ni, chú này có nhiều lợi ích, có thể khiến cho chúng sinh đêm dài được yên ổn, có được điều thiện, lợi ích, sắc đẹp, sức mạnh, danh dự." Ngài liền nói chú rằng: "Tô-tê-ya-tha. Pô-lua-su-li. Su-li. Su-li-li-sa-ma-ti. Mô-hưa-sô-ma-ti. Sô-man-ti. Mô-hưa-sô-man-ti. Sô-li. Sô-lua-li. Sô-ha."*

*Khi ấy hai vị Bồ Tát từ nơi Phật nhận lấy đà-la-ni chú này. Nhanh như tráng phu cong duỗi cánh tay, hai vị từ nước Chúng Hoa đến tinh xá Cấp Cô Độc trong rừng Kỳ Đà ở nước Xá Vệ. Khi ấy, hai vị Bồ Tát đi đến chỗ Phật, cúi đầu làm lễ dưới chân Phật rồi đứng lui về một bên mà bạch Phật rằng: "Thế Tôn! cách thế giới này mười vạn ức cõi Phật, có thế giới tên là Chúng Hoa, Đức Phật cõi ấy hiệu là Tối Thắng Đăng Vương Như Lai Ứng Cúng Chính Đẳng Giác, hiện đang nói pháp, phái chúng tôi đến hỏi thăm Thế Tôn."*

*Chúng sinh thế giới Ta Bà có ít bệnh ít phiền não, khí lực có được yên không? Các hàng đệ tử bị các ma, thiên, quỷ, la sát, quỷ đói, a tu la, ca lâu la, quỷ can nhân, quỷ can đà, quỷ dịch bệnh, quỷ khiến người bị điên, quỷ khiến người loạn tâm, quỷ phương đạo, quỷ khởi thi, quỷ làm cho phát bệnh một ngày, quỷ làm cho phát bệnh hai ngày ba ngày bốn ngày cho đến bảy ngày, quỷ làm cho thường xuyên phát bệnh, các loài như vậy hoành hành gây ra phiền não.*

*Tối Thắng Đăng Vương Như Lai sai đem đà-la-ni chú này trao cho Thế Tôn cũng muốn khiến cho chúng sinh thế giới Ta Bà này được đêm dài an ổn, có được điều thiện, lợi ích, sắc đẹp, sức mạnh, danh dự mà nói chú như trên. *

*Bấy giờ Phật bảo A Nan: "Ông nên thọ trì, đọc tụng thuộc lòng, vì người khác mà giảng giải, viết chép cúng dường đà-la-ni chú này. Tại sao vậy? Vì Phật xuất thế đã khó mà trì chú này lại càng khó hơn. A Nan! Nếu có thọ trì, đọc tụng thuộc lòng sẽ được phúc lợi lớn."*

*Phật Thuyết An Trạch Đà-la-ni Chú Kinh. (Hết)*

Chú an trạch này và chú tử kim trang nghiêm có công đức ngang nhau. 

Trong quá khứ, Liên Sinh Hoạt Phật từng du lịch đến một ngôi chùa trên núi. 
Liên Sinh Hoạt Phật đến đại điện để xem, thì ra Phật Như Lai ở chính giữa không ngờ lại là linh của một con trăn lớn đã nhập vào kim thân pháp tướng tạc bằng đất sét, hòa thượng thế tục là phàm thai làm sao nhận ra được chứ? Trong bức tượng Như Lai bằng đất sét có trốn một con trăn lớn đó! 
Có đệ tử nhìn thấy Phật thì lập tức làm lễ.
Tôi thì đứng yên bất động. Tôi niệm bảy biến Phật thuyết an trạch đà-la-ni chú. Trong chốc lát, một trận cuồng phong nổi lên, mưa to như trút, trên bầu trời cũng có sấm sét.
Tôi lại triệu thỉnh linh quang của Phật Tổ, sau đó mới lễ bái Phật.

Có đệ tử tỉ mỉ để ý thấy thế liền hỏi tôi: 
"Sư Tôn, vừa rồi có chuyện lạ phải không?"
"Đây là để xóa bỏ tất cả tà khí, tất cả tà khí ban đầu không có, vì tâm của chúng sinh nên mới có tà khí, tà khí mới ở trong chùa, nếu chúng sinh không có chút tà khí nào thì tà khí sẽ không có nữa."
"Tiếng sấm sét khi nãy là…?" - Đệ tử hỏi.
"Đã làm cho tà khí chấn động mà bỏ chạy rồi." - Tôi ung dung nói.

Thật ra, khi Liên Sinh Hoạt Phật vừa niệm an trạch đà-la-ni chú, Tứ Đại Thiên Vương và Bát Đại Kim Cang lập tức từ trên trời giáng xuống, linh của con trăn đó đã hóa thành một trận cuồng phong định bỏ chạy, nhưng Tỳ Sa Môn Thiên trong số Tứ Đại Thiên Vương đã nhanh chóng tung ra bảo tháp lung linh, thu linh của con trăn về, đây là một tiếng sấm sét. 

Tôi nói với Thiên Vương:
"Phật pháp bình đẳng, nếu nó chịu tu hành thì đưa nó đến chỗ của Chuyển Luân Vương."
Lúc này Tứ Đại Thiên Vương và Bát Đại Kim Cang mới đi.

An trạch đà-la-ni chú không thể xem thường, nếu có người trì tụng chú này, nơi ở sẽ loại bỏ được tất cả tà khí, không có tà khí thì sẽ không có mọi bệnh, không có những tai nạn bất ngờ.


![image](/img/img_bd8aa1b3571f6df4925867400044ac56.png)


An trạch đà-la-ni chú không thể xem thường, nếu có người trì tụng chú này, nơi ở sẽ loại bỏ được tất cả tà khí.


### 13. Pháp khắc chế sát của Long Thần


🎯 Kiến thức về sự tôn thêm

Lôi Tạng Tự ở Seattle, bang Washington, Hoa Kỳ, những người đã từng đến đều nói rằng phong thủy ở đây là hạng nhất, ngay cả những người hoàn toàn không hiểu về phong thủy, khi nhìn thấy Lôi Tạng Tự cũng cảm thấy khí thế phi thường.

Khu đất xây dựng Lôi Tạng Tự chính là huyệt rồng, được hình thành tự nhiên, long mạch hội tụ tại nơi này tạo thành một huyệt, nhô cao lên, hình dáng vàng tròn đầy.

Cổng chính của Lôi Tạng Tự đối diện thẳng với hồ Sammamish, đó là bụng cá vàng. Và phía bên kia hồ là một ngọn núi, đỉnh cao nhất của núi cũng đối diện thẳng với cổng chính của Lôi Tạng Tự.

Phía sau ngọn núi này là trăm ngọn núi, nghìn ngọn núi, tất cả đều hướng về phía Lôi Tạng Tự như đang triều bái.
Song sa rồng hổ ôm ấp Lôi Tạng Tự.

Địa thế phong thủy địa lý như vậy, với hình thế thiên nhiên tạo thành, trong toàn bang Washington rất khó tìm được một địa thế lớn như thế này, bất kì thầy phong thủy nào cũng đều có cùng nhận định.

Nhưng, Lôi Tạng Tự cũng có một nhược điểm nhỏ, đó là bên rồng hơi thấp, bên hổ hơi cao.
Về cách nhìn bên rồng bên hổ, chúng ta đứng tại cổng chính, mặt hướng ra bên ngoài, bên tay trái là bên rồng, bên tay phải là bên hổ.

Các nhà phong thủy cho rằng:
Bên rồng bên hổ tốt nhất là cân đối đối xứng.
Cũng có thể rồng cao hổ dài đối xứng.
Hoặc có thể rồng dài hổ cao đối xứng.
Nếu hổ dài rồng ngắn, hổ cao rồng thấp, đều không tốt, không thì là kẻ hầu lấn chủ, hoặc là âm thắng dương (nữ trội hơn nam).

Do Lôi Tạng Tự có nhược điểm như vậy, vì thế, tôi đặc biệt đặt một bia Long Thần ở bên rồng của Lôi Tạng Tự. Bia Long Thần này chính là pháp khắc chế sát khí, ngay khi bia Long Thần được dựng lên, nó lập tức ngăn chặn sát khí từ bên hổ cao hổ dài, đây chính là thuật giải sao xấu của Đạo gia.

Tảng đá khổng lồ làm bia Long Thần cũng được hình thành tự nhiên. Khi chúng tôi đào móng chùa, đã đào được một tảng đá to như vậy, tảng đá có hình dáng như một tấm bia, hai mặt phẳng nhẵn, khi dựng lên rất cao, vô cùng tinh xảo, đây là bia Long Thần do trời ban tặng, có được mà không cần tốn công sức.

Chúng tôi mời tiên sinh họ Ngũ vẽ rồng, dựng bia, xây một đình nhỏ, khắc hai chữ "Long Thần" để thờ phụng, hai chữ "Long Thần" đó là do chính Liên Sinh Hoạt Phật viết.

Phương pháp khắc chế sát khí này có những điểm quan trọng như sau:
Bia đá phải được qua lửa để thanh tịnh.
Rồng vẽ phải điểm nhãn, hoặc viết thẳng hai chữ "Long Thần".
Khi dựng bia, phải chọn ngày trực Định, điểm này rất quan trọng, "Long Thần đã định" thì sát khí không sinh, Thanh Long đứng vững thì Bạch Hổ không hung dữ nữa.

Việc chọn điểm dựng bia rất quan trọng, Liên Sinh Hoạt Phật dựng Long Thần của Lôi Tạng Tự đã chọn dưới ba cây thông lớn ở bên rồng, ba cây thông lớn như thân của một con rồng xanh, đầu rồng hướng lên trời, linh khí sâu dày, như rồng khổng lồ đứng vững giữa trời đất.

Đối với nhà ở thông thường, nếu rồng ngắn hổ dài, rồng thấp hổ cao, cần chọn dựng bia đá, phải tìm thầy phong thủy có con mắt tinh tường để tìm ra điểm dựng bia, điểm này rất quan trọng, không phải tùy tiện tìm một điểm rồi dựng Long Thần lên, làm như vậy sẽ không hiệu quả.

Thông thường, vẽ một đường thẳng ở bên rồng của ngôi nhà, và một đường thẳng ở chỗ lồi ra bên hổ, điểm giao nhau của hai đường này chính là nơi dựng bia.

Pháp cúng sao áp sát vô cùng quan trọng.
Long Thần được Liên Sinh Hoạt Phật thiết lập tại Lôi Tạng Tự quả thực rất linh nghiệm. Có người thấy rồng xanh uốn khúc trên những cây thông lớn, có người thấy rồng bay lượn, có người nghe tiếng rồng gầm, thấy rồng phun nước tỏa sáng. Có đệ tử nhìn thấy trước Lôi Tạng Tự có một con rồng khổng lồ vây quanh cổng, tỏa ra ánh sáng ngũ sắc quý báu, hiện ra kim thân của rồng, vô cùng tráng lệ.

Pháp khắc chế sát của Long Thần do Liên Sinh Hoạt Phật truyền lại là sự trợ giúp cho chúng sinh từ thuở ban đầu. Những sát khí trong dương trạch, nếu không khắc chế, sẽ gây ra liên tiếp những điều không may. Vì lòng từ bi, ngài đặc biệt thiết lập pháp này, dựng vị trí Long Thần một cách đúng đắn. Dù pháp này đơn giản, nhưng quỷ thần bậc thấp không biết, còn quỷ thần bậc cao phải cúi đầu kính phục.

Khi Long Thần được đặt đúng vị trí, trên không tự nhiên có mây lành vây quanh, vạn tia khí tím ánh vàng. Thuật phong thủy cao cấp nhất là điều hòa, đối chiếu tất cả linh tính, đồng thể từ bi, vận dụng pháp lực vô hình để bao phủ tất cả hung sát, khiến chúng không sinh khởi.


### 14. Các kiểu dương trạch vô tình


🎯 Giải thích thêm về phản cung

Trong cuốn sách "Nói rõ về dương trạch địa linh", tôi đã đề cập đến hữu tình và vô tình, đề cập đến mối quan hệ giữa phản cung, thuận cung và bằng phẳng. Thực ra, đây là những kiến thức lớn. Về nguyên tắc, thuận cung là hữu tình, phản cung là vô tình, bằng phẳng nằm giữa hai loại này. Kiến thức trong lĩnh vực này rất rộng lớn, nên bài viết ngắn này sẽ giải thích thêm về những điểm này.

Tôi đã đề cập đến nước phản cung, đường phản cung, kiến trúc phản cung, thực tế, hiện tượng phản cung còn có nhiều loại, xin liệt kê thêm như sau:
1. Cửa chính hướng ra ngoài, có một cái sân, có hình dáng như sao Phá Quân, tức là hình chổi quét, loại hình này cũng là "phản cung Phá Quân". Có một bài kệ rằng: "Sân hình giống sao Phá Quân, không xuất quân mà xuất thợ, chết bên ngoài gia đình bại, mẹ góa con côi người hai họ."

2. Cửa chính hướng ra ngoài, có một đống đất chắn cửa, kiểu hình dáng này là "phản cung đống đất". Có một bài kệ rằng: "Nếu thấy đống đất trước cửa lớn, sân này sẽ sinh ra góa phụ, con sinh ra bị điếc bị câm, trẻ bị bệnh mắt và sẩy thai."

3. Cửa chính hướng ra ngoài, có vật nhọn đối diện, vật nhọn này giống như sao Liêm Trinh, đây là "phản cung Liêm Trinh". Có một bài kệ rằng: "Nếu thấy sân giống sao Liêm Trinh, chắc chắn sẽ có bệnh mắt kém, nhà sinh khí bệnh lao lực chết, tương lai cái chết đến đầy cửa."

4. Cửa chính hướng ra ngoài, có cây to đối diện, cây to này cũng là phản cung, gọi là "phản cung cây to", có một bài kệ rằng: "Cây lớn trước cửa nổi tiếng dâm, tiếng khóc góa phụ càng thảm thiết, e có loạn luân tướng quái dị, tiền của hao tổn lại si mê."

5. Cửa chính hướng ra ngoài, có nước hoặc đường giống hình mũi dao hoặc hình liềm, phần nhọn móc đối diện cửa, đây là "phản cung liềm dao", có một bài kệ rằng: "Cửa chính nhà ở đừng phản cung, hình liềm hình móc đều rất hung, góa bụa cô độc nhiều việc xấu, vận nhà thấp kém dịch bệnh nhiều."

6. Cửa chính hướng ra ngoài, có nước hoặc đường bị nhảy ngược, nghĩa là đột nhiên trước cửa có chỗ uốn cong ngược lại, tạo thành hình tam giác nhảy ngược, đây là "phản cung nhảy ngược", có một bài kệ rằng: "Nhảy ngược là điều hung nhất, nhà này vạn sự đều rỗng, sinh con trai thiếu trung hiếu, sinh con gái làm hoa liễu."

Trong cuốn sách "Nói rõ về dương trạch địa linh", tôi đã viết: "Những gì nằm ngoài độ cong nhô ra, gọi là phản cung." Và chúng ta nên hiểu như sau, bất kể là nước, là đường, là công trình kiến trúc, là cây to, là đống đất, là ao hồ, là núi...... Phàm là địa hình địa vật vô tình bao quanh chĩa mũi nhọn bắn vào dương trạch, thì dương trạch này chắc chắn rất hung. Ngược lại, nếu là địa hình địa vật hữu tình bao quanh bảo vệ, đây là thuận cung, dương trạch thuận cung là dương trạch đại cát, hữu tình sẽ phát đạt.

Về khía cạnh phản cung, thuận cung, bằng phẳng, tôi hy vọng mọi người nghiên cứu và thấu hiểu một cách cẩn thận, vẽ ra tất cả đường phố, công trình kiến trúc, ao hồ, sông ngòi, cây to... xung quanh dương trạch lên một tờ giấy trắng, vẽ theo tỷ lệ chính xác, thầy địa lý cao minh chỉ cần nhìn qua là có thể phán đoán được phản cung, thuận cung, bằng phẳng, đây chính là môn học về môi trường dương trạch!

Trong hành trình cuộc đời của Liên Sinh Hoạt Phật, ngài đã xem phong thủy hàng vạn dương trạch và âm trạch. Tôi đã thấy những dương trạch vô cùng thê lương, lớn mà không đúng cách; đã thấy những dương trạch âm khí lạnh lẽo, oán khí đầy nhà; đã thấy những dương trạch tà khí ác độc, gian xảo lừa đảo; đã thấy những dương trạch tai họa liên tiếp, vô số xung đột gay gắt, thật đáng buồn.

Để cải thiện những dương trạch này, có trường hợp cần phải cải tạo toàn bộ địa hình địa vật. Nếu địa hình địa vật hoàn toàn không thể thay đổi được, mới có thể dùng pháp giải hạn, pháp trấn sát, pháp di sát, và các phương pháp khắc chế khác. Những phương pháp khắc chế này, phần lớn cần mời Liên Sinh Hoạt Phật thực hiện pháp mới có thể khắc chế được.

Tại sao cần Liên Sinh Hoạt Phật thực hiện pháp mới có thể khắc chế được?
Bởi vì pháp giải hạn, pháp trấn sát, pháp di sát... cần người có công đức thượng thừa mới có thể thành tựu. Người có công đức thượng thừa có hào quang ngũ sắc, có kim thân trượng sáu, hiểu rõ đạo lý tối thượng về "không" và "vô", không chỉ vượt sinh thoát tử, mà còn có thể chuyển hình hóa vật, thần thông biến hóa vô cùng. Người có thể minh tâm kiến tính, pháp khắc chế của họ mới có thể tùy tâm biến hóa, nhờ đó mới có thể giải trừ được.

Pháp môn giải hạn này dùng vô hình để khắc chế hữu hình, trong đó có ý cảnh không thể nghĩ bàn, tôi đặc biệt viết một bài kệ như sau:

*Vô hình ý đạt. Niệm lực chuyển di.
Thấy hình phi hình. Thấy vật phi vật.
Một ý không chấp. Chính là cầu an.*

Người trong thiên hạ hiểu được kệ này, hiếm thay.


### 15. Cầu an cho ao tôm


🎯 Nguyên lý của sự phát đạt

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, để dương trạch phát đạt, khí của đất rất quan trọng, đồng thời nông sản trên đất cũng rất cần thiết.

Ở phần trước đã nói, trước khi xây dương trạch, phải đợi sau khi thu hoạch nông sản mới xây, không nên chôn sống nông sản trong đất, điều cấm kỵ của các thầy phong thủy là nông sản chết trong đất, sẽ không thể "phát" lên được.

Ngoài ra, khi lấp đất để xây nhà, đất mang về phải sạch sẽ, không nên dùng đất từ bãi rác, đương nhiên càng không được dùng đất từ nghĩa trang, bởi vì đều sẽ không thể "phát" lên được.
Đất đai thanh tịnh, khí đất phong phú, đó chính là nguyên lý của sự phát đạt.

Tôi từng được mời đến thẩm định một ngôi nhà. Ngôi nhà này được xây dựng rất thanh nhã, nằm ở ven biển, có thể nhìn thấy biển cả mênh mông, xung quanh ít có nhà cửa, bên trái có một ngọn núi nhỏ vây quanh, bên phải có một con suối chảy ra biển, ven suối có liễu rủ, trúc xanh, tùng bách, rất yên tĩnh và đẹp đẽ.

Ngôi nhà được xây dựng thanh nhã, cũng phù hợp với nguyên lý phong thủy, chủ nhà là con cháu của một vị quan lớn đã về hưu.
Nhưng tôi nói: 
"Ngôi nhà này không phát đạt." - Tôi đã cảm nhận được âm khí.
"Tại sao vậy?"
"Ngôi nhà này được xây trên một cái ao phải không?" - Tôi hỏi.
"Đúng vậy, khi cha tôi xây ngôi nhà này, nơi đây được lấp đất để tạo thành."
"Biết đó là ao gì không?" - Tôi hỏi tiếp.
"Không biết."

Tôi nói với chủ nhà, hãy để tôi xem đó là cái ao gì rồi sẽ xử lý. Tôi ngồi trong một căn phòng yên tĩnh, nhắm mắt lại, tập trung tinh thần, tôi nhìn thấy những chấm đen li ti đang bay lượn trong không trung, quan sát kĩ hơn, những chấm đen có những cái chân nhỏ xíu và hai râu tôm dài.
"Ah! Tôi biết rồi, đó là ao tôm, là ao nuôi tôm." - Tôi nói với chủ nhà.
"Chúng tôi chỉ biết ao đã được lấp đất để xây nhà, còn trước đó nuôi gì thì không hề hỏi." - Chủ nhà nói: "Tôi có thể tìm được chủ đất cũ để hỏi ao này nuôi gì. Ngoài ra, chủ đất cũ có một người họ hàng sống gần đây, chúng tôi quen biết, tôi có thể gọi điện hỏi thử."

Chủ nhà gọi điện thoại.
Người họ hàng của chủ đất cũ xác nhận rằng cái ao này vốn là ao nuôi tôm, bỏ hoang không sử dụng từ mười lăm năm trước, sau đó được lấp đất để xây nhà.

Người họ hàng đó nói, khi lấp đất xây nhà, trong ao vẫn còn rất nhiều cá tôm tự nhiên sinh sản, định vớt lên lần nữa, nhưng không hiểu sao lại cứ thế lấp đất luôn.

Chủ nhà nghe vậy, vô cùng kinh ngạc, ông ấy cho rằng tôi vừa nhìn đã biết đó là ao nước, và chỉ ngồi thiền một lúc đã biết đó là ao nuôi tôm, thật không thể tưởng tượng được.

Chủ nhà nói: 
"Ở gần đây có người nuôi cá, nuôi lươn, nuôi hàu, nuôi ngao, nhưng ao nuôi tôm thì rất ít, Hoạt Phật chỉ nhìn một cái đã biết là nuôi tôm, chính xác vô cùng, thật không thể tin được."
"Không những thế, tôi có thể làm pháp giải hạn, siêu độ cho những linh hồn tôm này, như vậy ở trong ngôi nhà này mới có thể phát đạt, ông có đồng ý không."
"Đương nhiên là đồng ý." - Ông ấy rất vui mừng.

Liên Sinh Hoạt Phật đã làm một pháp sự cho chủ nhà, chỉ thấy trong làn khói hương mập mờ, những chấm đen tụ tập thành đám trong không trung, như nước trào lên, trong chốc lát, những linh hồn tôm này tụ tập rõ ràng trước mắt, từng con một nhảy nhót linh hoạt, râu tôm uốn lượn như rắn, tôi còn thấy một vài con ba ba đang bò, những con ba ba này rất lớn.

Tôi thỉnh vị chủ cai quản của vùng này đến, vị này có chút thần thông, sờ vào trong người lấy ra một tấm lưới nhỏ, ném tấm lưới lên không trung, chỉ thấy linh hồn tôm và linh hồn ba ba đều vào trong lưới, vị chủ cai quản thổi hai hơi vào lưới, rồi thu lưới về trong người.

Vị chủ cai quản nói với tôi:
"Hoạt Phật yên tâm, những linh hồn tôm và ba ba này sẽ trở thành âm binh của tôi, cai quản thủy tộc, sau này sẽ tìm cơ hội độ hóa họ."
"A Di Đà Phật, lành thay! Lành thay!" - Tôi cảm ơn vị chủ cai quản.

Tôi làm xong pháp sự này rồi rời khỏi pháp tọa. Mới nói với chủ nhà: "Hóa ra không chỉ có linh hồn tôm, mà còn có linh hồn ba ba nữa!"

Chủ nhà vô cùng kinh ngạc, ông ấy kín đáo cho tôi biết, thực ra người trong nhà thường bị một bóng đen to lớn đè lên người vào nửa đêm, họ cảm thấy như một vật thể hình rùa, thân hình to lớn như một tấm chăn, hôm nay mới biết đó là ba ba, ba ba và rùa quả thật rất giống nhau.

Sau buổi làm pháp, hiện tượng bóng đen đè người không còn xảy ra nữa, chủ nhà rất vui mừng, cho rằng việc cầu an quả thật có hiệu quả rõ rệt, thật không thể tưởng tượng được, huyền diệu vô cùng.


![image](/img/img_05b32374e0fc56d18391fbd66a3b337e.png)


Khi lấp đất để xây nhà, nếu chôn sống cây trồng trong đất, hoặc lấp trực tiếp ao cá tôm, sẽ khiến nhà ở không thể phát đạt được, điều này không thể không cẩn thận!


### 16. Pháp tiếp đón Thủy Thần


🎯 Giải thích "bi-a vào lỗ" 

Các thầy phong thủy đều hiểu rõ:
Nếu đón nhận được Thủy Thần, tài lộc sẽ thịnh vượng.
Không đón nhận được Thủy Thần, tài lộc sẽ suy yếu.
Đó là vì nước chủ về tài lộc.

Tại sao cửa chính của một ngôi nhà lại rất quan trọng, đó là vì việc đón nhận Thủy Thần hoàn toàn phụ thuộc vào cửa chính, cửa chính chính là cửa khí, cửa khí có thể đón nhận Thủy Thần thì ở trong ngôi nhà này ắt sẽ phát đạt.

Trong cuốn sách "Nói rõ về dương trạch địa linh", Liên Sinh Hoạt Phật đã sớm tiết lộ bí quyết về mở cửa ở hướng nào. Còn đối với những ngôi nhà đã mở cửa sai, không thể cứu vãn được, tôi cũng đã đặc biệt giải thích về pháp cúng sao, giờ đây sẽ giải thích rõ ràng hơn về phương pháp này.

1. Ngôi nhà lẽ ra nên mở cửa bên trái, nhưng lại mở cửa bên phải; ngôi nhà lẽ ra nên mở cửa bên phải, nhưng lại mở cửa bên trái. Hiện tại không thể thay đổi cửa, chỉ có thể áp dụng pháp tiếp đón Thủy Thần.

2. Trước tiên, chúng ta phải xem xét Thủy Thần lưu chuyển trong đại địa như thế nào, tức là tổng hợp phán đoán hướng chảy từ vùng đất cao xuống vùng đất thấp, biến dòng chảy của Thủy Thần thành một đường thẳng, và vẽ đường này ở gần khu nhà ở của bạn.

3. Chúng ta nghiên cứu đường nước chảy và cửa chính của ngôi nhà, từ mối quan hệ giữa hai yếu tố này tìm ra một "điểm", điểm này có mối quan hệ rất quan trọng, bởi vì điểm này chính là nơi Thủy Thần khi lưu chuyển sẽ va vào, và từ điểm này bật ra, đưa Thủy Thần vào cửa chính của ngôi nhà, vì vậy điểm này nhất định phải nằm trên hướng dòng nước chảy.
(Chỉ có nhà phong thủy tinh tường mới có thể thực sự tìm ra điểm này. Giống như người chơi bi-a, tính toán cách đánh vào các quả bi khác, sử dụng lực bật để bi vào lỗ, việc tính toán góc đánh, độ lớn của lực, góc khúc xạ, để bi vào lỗ, đó chính là kỹ thuật.)

4. Lấy một hòn đá, làm sạch nó.

5. Liên Sinh Hoạt Phật hoặc pháp sư thực hiện "dụng thần". Dụng thần cũng chính là cúng tế. Có thể viết bùa chú, hoặc phóng quang, hoặc lập Long Thần, v.v.

6. Chọn ngày trực Định hoặc ngày trực Kiến, chôn đá ở vị trí "điểm" mà thầy phong thủy đã tìm ra. Công dụng của mặt trước bia đá chính là để bật Thủy Thần vào cửa chính của nhà ở, vì vậy bia đá nên hướng về phía nào cũng cần được nghiên cứu kĩ.

Nước chảy về hướng nào, mặt bia hướng về đâu, vị trí của điểm - ba yếu tố này sẽ đưa Thủy Thần vào cửa chính của ngôi nhà.

Đây là pháp tiếp đón Tài Thần nhờ hướng chảy Thủy Thần theo nguyên lý bóng bi-a, hoàn toàn là sự giải thích về "bi-a vào lỗ". Pháp này do Đạo trưởng Thanh Chân bí truyền cho Liên Sinh Hoạt Phật, và Liên Sinh Hoạt Phật đặc biệt công bố và giải thích. Nếu giải thích chi tiết như vậy mà vẫn không hiểu, thì chắc chắn phải được truyền dạy trực tiếp tại chỗ mới có thể lĩnh hội được tâm yếu khẩu quyết, bởi vì việc truyền dạy trực tiếp tại chỗ không phải văn tự có thể diễn đạt đầy đủ.

Nước chảy về hướng nào: là quả bi muốn đánh, quả bi chính. Quả bi vào lỗ.
Vị trí của điểm: là quả bi dùng để mượn lực.
Mặt bia hướng về đâu: là "mấy phần" của mặt quả bi dùng để mượn lực.
Lỗ bi-a: cửa chính.

Cá nhân tôi cảm thấy cách so sánh như vậy đã rất chi tiết, nếu vẫn không hiểu thì thực sự cũng không còn cách nào khác, điều còn lại chính là truyền dạy trực tiếp tại chỗ.

Các thầy phong thủy thông thường không hiểu phương pháp này, khi thấy cửa mở sai, hoặc không hợp với từ trường của chủ nhà, họ chỉ nghĩ đến cách phá cửa xây lại. Họ không biết phương pháp giải trừ và thỉnh Thủy Thần. Và phương pháp giải trừ Thủy Thần này, chỉ những người vừa là Đạo gia vừa là thầy phong thủy mới có thể hiểu được.

Tôi thương xót cho các thầy phong thủy thiên hạ, đi bên trái không thông, đi bên phải cũng không thông, đường cùng, bốn phía đều bế tắc. Không có cách nào để nghĩ ra, khi không lối thoát, không có phương pháp, không còn khả năng này, Liên Sinh Hoạt Phật đặc biệt công bố phương pháp nhiệm màu của thiên hạ, sử dụng một loại khí hòa hợp lớn, dẫn dắt Thủy Thần vào cửa, chính khí vô hình này mới thực sự vĩ đại.

Liên Sinh Hoạt Phật sử dụng pháp tiếp đón Thủy Thần này để cứu độ người đời, những người vốn đã mất ý chí phấn đấu, muốn vươn lên nhưng không còn sức lực, suy sụp tiêu điều, phá sản đổ vỡ. Một khi áp dụng pháp này, Thủy Thần vào nhà, bắt đầu xuất hiện sinh khí, có phản ứng hồi phục, tài khí từ nhỏ dần lớn, cuối cùng tinh thần được phấn chấn trở lại, công việc kinh doanh và vận tài lộc lại ngày càng phát đạt.

"Chết" mà được "sống" lại, đó chính là công năng của pháp này.


### 17. Pháp áp sát lộ xung


🎯 Phù ngăn sát lộ xung

Khảo sát lộ xung rất rõ ràng.
Một con đường thẳng hướng trực tiếp vào cửa chính, đó chính là lộ xung.
Hai bên trái phải của ngôi nhà, có đường đi đâm thẳng vào phần giữa, cũng là lộ xung.
Đường không ở phía trước, mà từ phía sau đâm thẳng tới, cũng là lộ xung.
Con đường lộ xung này, càng dài càng mạnh, sát khí của lộ xung càng nặng. Còn đoạn đường ngắn trước cửa (lối đi), không tính là lộ xung, điểm này cần phải phân biệt rõ.

Sát lộ xung không chỉ có một con đường, mà còn có trường hợp ba con đường xung vào dương trạch, đó chính là: "Trước cửa có đường hình chữ Xuyên, hao tài mỗi năm kiện tụng nhiều, nếu đường thẳng tắp không quay về, ắt người ra đi không trở lại."

Cũng có hai con đường xiên đối diện dương trạch, giao nhau tạo thành lộ xung, điều này còn nguy hiểm hơn, chính là: "Trước cửa có đường hai bên tới, người chủ trong nhà bị chết non, gia đình đau khổ khóc liên miên, sát khí hàng năm tai họa lớn."

Nếu cửa chính nhà ở đối diện với nút giao của đường cao tốc, có tính là lộ xung không? Điều này được tính là lộ xung, bởi vì nút giao giống như "nút thắt chết" của sợi dây, chính là: "Nếu thấy đường hình nút thắt chết, tự vẫn treo cổ xà nhà cao, chắc chắn còn chết ngoài ý muốn, nào biết lộ xung chết xứ người."

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, đường xá bên ngoài nhà ở ảnh hưởng rất lớn đến ngôi nhà, nếu đường quá nhiều, quá phức tạp, đường cong quanh co, chắc chắn sẽ có ảnh hưởng, nên mời thầy địa lý có con mắt sáng suốt phán đoán "hữu tình" và "vô tình", có phải là lộ xung hay không, điểm này rất quan trọng.

Có nhiều đệ tử hỏi tôi:
"Nhà ở bị lộ xung thì phải làm sao?"
"Tốt nhất là dọn nhà."
"Không có tiền dọn nhà thì sao? Xin Sư Tôn rộng lòng cứu giúp."

Vì những đệ tử này, tôi đành phải tiết lộ phương pháp áp sát lộ xung, tiết lộ phù ngăn sát lộ xung, bí mật lớn nhất của phù ngăn sát lộ xung này là bốn chữ: "Thái Sơn Thần Thạch".

1. Lấy một đoạn trúc xanh, gọt bỏ một mặt vỏ xanh, vẽ lên phù ngăn sát lộ xung.

2. Bên trong mật đàn, tu trì pháp Bổn tôn (hành giả Mật tông thực hiện), từ Bổn tôn phóng ánh sáng đen chiếu vào phù ngăn sát lộ xung. (hành giả quán tưởng)

3. Trong mật đàn tu pháp tổng cộng bảy lần. Trong lần cuối cùng, hành giả Mật tông quán tưởng toàn bộ đoạn trúc xanh biến thành một ngọn núi lớn, chính là ngọn núi màu đen.

4. Chọn ngày trực Định, ở hướng dương trạch đối diện với lộ xung, đào đất, chôn miếng trúc xanh, nếu một đường xung thì một miếng, hai đường xung thì hai miếng, ba đường xung thì ba miếng. Điểm chôn chính là ở giữa dương trạch và đường.

5. Khi chôn xuống, hành giả Mật tông lập tức quán tưởng, trước đường xuất hiện một ngọn núi đen lớn, hoàn toàn chặn đứng sát khí của lộ xung, lộ sát không phát sinh.

Đây là cách giải trừ của pháp áp sát lộ xung.

Cũng có một quan điểm cho rằng lộ xung giúp phát triển nhanh nhất, nhưng cần phải phối hợp với Thiên nguyên, Địa nguyên, Nhân nguyên. Nếu ba yếu tố này phối hợp hài hòa, sự phát triển sẽ nhanh nhất. Nếu ba nguyên tố này không phối hợp, nó sẽ trở thành điều cực kì hung hiểm.

Liên Sinh Hoạt Phật công bố phương pháp này chính là với tâm bình đẳng để độ chúng sinh, là không còn tướng ngã nhân chúng sinh, là thành tựu công đức trang nghiêm, là điều hiếm có. Bởi vì phù này và pháp này, người thường không dễ dàng có được, rất quý giá, không thể dùng giá trị vật chất để đo lường.


![image](/img/img_7f4238f9e82a01f83ffaa39bb1fa0d12.png)


Nếu cửa chính nhà bạn đối diện với nút giao thông của đường cao tốc, giống như một "nút thắt chết" của sợi dây, tốt nhất là nên chuyển nhà ngay.


![image](/img/img_4e3990b92c32a2b61d9921dff7fd4fa0.png)


Bí quyết lớn nhất của phù ngăn sát lộ xung này nằm ở bốn chữ "Thái Sơn Thần Thạch".


![image](/img/img_c2888428dd85040136d1b792b5ab0b6a.png)


Đường lộ xung càng dài, "sát khí" càng nặng, và các loại lộ xung có thể phân thành một số loại sau:
Chính diện trước mặt (như hình 1)
Chính giữa thân nhà (như hình 2)
Chính giữa thân nhà (như hình 3)
Chính diện phía sau (như hình 4)
Ngõ xiên góc trái, phải phía trước (như hình 5)
Ngõ xiên góc trái, phải phía sau (như hình 6)


### 18. Nhà vệ sinh ở hướng nào


🎯 Làm sao hóa giải uế khí?

Khi đang viết bài văn ngắn này, tôi chợt nhớ lại, khi mới đến Mỹ, tôi đã nhớ kĩ một câu tiếng Anh như thế này: "Xin hãy chỉ cho tôi nhà vệ sinh ở đâu?" Câu tiếng Anh này, bất kì ai đi du lịch nước ngoài cũng sẽ cần dùng đến, đó là một câu vô cùng quan trọng.

Nhiều đệ tử của Chân Phật Tông sau khi đọc cuốn "Nói rõ về dương trạch địa linh", cũng hỏi tôi: "Thưa Sư Tôn, nhà vệ sinh rốt cục nên đặt ở hướng nào là tốt nhất?"

Tôi nói với mọi người, nhà vệ sinh trong dương trạch được gọi là "nơi xuất uế", vị trí tốt nhất là hướng xấu của chủ nhà. Nghĩa là hướng xấu của từ trường sự sống của chủ nhà.

Nếu đặt "nơi xuất uế" ở hướng tốt, giống như đặt phân trên đầu Phật, sẽ trở thành không tốt.
Ở hướng xấu, dùng "nơi xuất uế" để trấn áp, là dùng sự ô uế để đè nén hung thần, ngược lại có thể mang lại phúc lộc, điều này cũng rất linh nghiệm.

Tôi từng khảo sát nhà của một đệ tử người Mỹ. Nhà vệ sinh đều đặt ở những vị trí không thích hợp.
Tôi nói: 
"Cả nhà các vị chắc chắn đều mắc bệnh da liễu."
"Sao Sư Tôn biết được?" - Anh ta vô cùng kinh ngạc.
"Chỉ cần nhìn nhà vệ sinh là biết."
"Tại sao vậy?"
"Vì khí uế đều bám lên người mình, làm sao không bị bệnh da liễu được!"

Người đệ tử Mỹ này nói với tôi: 
"Trong gia đình, da thực sự bị nấm trắng, chàm, ban đỏ, vết đen, mỗi tối trước khi ngủ, toàn thân ngứa không chịu nổi, sau khi tắm cũng vậy, đã đi khám bác sĩ da liễu, vừa khỏi lại tái phát, cứ kéo dài như vậy mấy năm, khó lành."
Tôi yêu cầu anh ta thay đổi nhà vệ sinh.
"Di chuyển nhà vệ sinh là công trình quá lớn, có phương pháp nào khác không?"

Thế là, tôi nói với anh ta, để khử uế khí của nhà vệ sinh, có thể bố trí các chậu cây cảnh ở lối vào hoặc bên trong nhà vệ sinh, nghĩa là tận dụng màu xanh của cây cảnh (màu tươi mới) và phương pháp "hút bẩn nhả mới" để giải trừ uế khí.

Người đệ tử ngoại quốc này cũng dùng bùa bảo vệ chữa da liễu của Liên Sinh Hoạt Phật, và nhờ đó, bệnh da liễu của cả gia đình anh ta đều khỏi hẳn.

Liên Sinh Hoạt Phật đã tham quan rất nhiều ngôi nhà phương Tây. Người phương Tây coi trọng sự biến hóa mới mẻ trong thiết kế nhà, họ chú trọng đến cảnh quan bên ngoài ngôi nhà, nhà có nước bên ngoài, tầm nhìn đẹp, đó là ưu tiên hàng đầu và giá trị nhất.

Tuy nhiên, họ không hiểu nguyên lý "phong thủy", kiến trúc nhà có nhiều biến thể, vô tình tạo ra hiện tượng xung khắc. Còn việc chú trọng cảnh quan bên ngoài, điểm này không sai, đây là nguyên tắc chung trên toàn thế giới.

Về việc bố trí nhà vệ sinh, các trung tâm thương mại lớn ở Mỹ đã thiết kế rất tốt. Nhưng, đối với nhà ở thì hoàn toàn lộn xộn.
Có cửa chính đối diện với nhà vệ sinh.
Có nhà vệ sinh nằm ở điểm trung tâm của cả ngôi nhà.
Nhà vệ sinh nằm đúng hướng tốt của từ trường sự sống của chủ nhà.

Liên Sinh Hoạt Phật có quan điểm như sau:
Nhà vệ sinh nên đặt ở nơi kín đáo nhất trong ngôi nhà.
Nhà vệ sinh nên đặt ở hướng xấu của từ trường sự sống của chủ nhà, để dùng uế khí trấn áp hung thần.
Nhà vệ sinh không nên xây ở "đầu bên Rồng". 
Nhà vệ sinh tốt nhất không nên nằm trên đường chéo của ngôi nhà hoặc ở điểm trung tâm.

Mặc dù nhà vệ sinh cần phải ở nơi kín đáo nhất trong nhà, nhưng cũng phải giữ sạch sẽ, thông thoáng, dùng màu xanh tươi mát của cây cảnh để hóa giải uế khí, đây là điều rất quan trọng, không thể bỏ qua và rất có lợi.

Phong thủy nhà vệ sinh lấy uế khí làm chủ, lý khí nằm trong đó, thế đất cũng rất quan trọng. Nếu đặt nhà vệ sinh lớn ở hướng tốt, phúc khí sẽ bị giảm đi rất nhiều, đây là hiện tượng tất yếu.


### 19. Thứ tự của phúc phần


🎯 Bàn về các kiểu phát đạt

Nhiều đệ tử hỏi tôi, một ngôi dương trạch muốn phát đạt, rốt cuộc có những điểm quan trọng nào?

Tôi đã nói với các đệ tử như sau:
1. Trước tiên xem phương vị. Hướng từ trường của vị trí tọa lạc ngôi nhà phải tương hợp với từ trường sinh mệnh của chủ nhà, đây là điều quan trọng hàng đầu, được gọi là phúc nguyên. Vì vậy, khi mua nhà ở, chúng ta phải xem trước từ trường của ngôi nhà và từ trường của chủ nhà có hợp nhau không, hợp thì phát, không hợp thì không phát.

2. Nếu đã thích một ngôi nhà, nhưng từ trường ngôi nhà và từ trường chủ nhà không hợp, phải làm sao? Hiện tượng này rất phổ biến. Đặc biệt là khi đã ở ngôi nhà lâu năm, không thể phá hủy để xây dựng lại toàn bộ, phải làm sao? Liên Sinh Hoạt Phật dạy mọi người, chỉ cần thay đổi cửa chính là được, nghĩa là làm cho từ trường sinh mệnh của chủ nhà tương hợp với từ trường của cửa. Thay đổi cửa dễ dàng hơn nhiều so với thay đổi toàn bộ ngôi nhà. Từ trường của cửa hợp với từ trường của chủ nhà, điều này cũng giúp đạt được phúc nguyên.

3. Khi không thể phá dỡ và sửa lại toàn bộ ngôi nhà, thậm chí cả cửa cũng không thể thay đổi, vậy phải làm sao? Tôi dạy các đệ tử, hãy tìm vị trí kho tài của phòng khách (góc dài nhất nằm ở vị trí chéo đối diện với cửa chính phòng khách), vị trí kho tài này có thể tàng phong tụ khí, và trong các phương vị của ngôi dương trạch, đây là hướng tốt của từ trường chủ nhà, điều này cũng giúp đạt được phúc nguyên.
Xin lưu ý hai nguyên tắc quan trọng:
Vị trí kho tài là nơi tàng phong tụ khí.
Hướng tốt của từ trường chủ nhà chính là vị trí kho tài.
Đạt được vị trí kho tài cũng chính là đạt được phúc nguyên.

4. Nếu vị trí tọa lạc của ngôi nhà không thể đạt được phúc nguyên, vị trí cửa chính không thể đạt được phúc nguyên, thậm chí vị trí kho tài không tàng phong tụ khí, cũng không nằm ở hướng tốt, và không thể đạt được phúc nguyên, thì phải làm sao? Liên Sinh Hoạt Phật dạy chủ nhà như sau: Đặt la bàn ở chính giữa, tìm ra phòng ngủ nào trong ngôi nhà nằm ở vị trí tốt nhất theo từ trường sinh mệnh của mình, chủ nhà hãy ngủ trong phòng đó. Nếu phòng ngủ của chủ nhà nằm ở vị trí tốt trong ngôi dương trạch, điều này cũng giúp đạt được phúc nguyên.

5. Nếu chủ nhà khi bố trí phương vị trong nhà ở, phát hiện rằng không có phòng ngủ nào nằm ở hướng tốt theo từ trường sinh mệnh của mình, thì phải làm sao? Liên Sinh Hoạt Phật nói, đến mức này, thật sự không còn cách nào khác, có thể đặt la bàn ở giữa phòng ngủ, trong phòng ngủ chắc chắn sẽ có vị trí tốt cho mình, sau đó, di chuyển giường đến hướng tốt của mình, ngủ ở vị trí tốt trong phòng ngủ, điều này cũng giúp đạt được phúc nguyên.

6. Nếu vị trí tọa lạc không đúng, cửa chính không đúng, vị trí kho tài không đúng, phòng ngủ không đúng, ngay cả vị trí giường cũng không đúng. Nhưng vị trí bàn thờ thần hoặc vị trí mật đàn lại nằm ở hướng tốt theo từ trường sinh mệnh của chủ nhà, và là nơi tàng phong tụ khí, thì điều này cũng giúp đạt được phúc nguyên, phương pháp này vô cùng bí mật.

Có người cho rằng, thầy phong thủy giúp người phát đạt, chỉ giúp những nhà giàu sang, như vậy người giàu càng giàu, người nghèo càng nghèo.

Bởi vì người giàu có nhà cửa lớn sang trọng, lại có thể sửa cửa chính, trang trí phòng ngủ, người giàu có đầy tiền, dùng tiền có thể thay đổi phong thủy để mời gọi phúc.

Thực ra, nhà nghèo cũng có thể đạt được phúc, ví dụ như sáu phương pháp lớn tôi đã nêu, vị trí tọa lạc không thể thay đổi, cửa chính không thể thay đổi, vị trí kho tài không thể thay đổi, phòng ngủ không thể thay đổi, nhưng vị trí giường thì chắc có thể thay đổi chứ! Di chuyển cái giường một chút cũng có thể đạt được phúc nguyên mà! Nếu ngay cả vị trí giường cũng không muốn thay đổi thì đặt một bàn thờ thần cũng có thể đạt được phúc nguyên!

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, trời đất rất công bằng, giữa trời đất, mỗi người tự đạt được phúc nguyên của mình, mỗi người tự chịu trách nhiệm về sinh tử của mình, không phân biệt giàu nghèo, không thiên vị, vì vậy dù là nhà nghèo, Liên Sinh Hoạt Phật cũng có thể dạy họ đạt được phúc nguyên.

Liên Sinh Hoạt Phật có tâm từ bi, xem địa lý phong thủy không bao giờ mặc cả, cũng không có điều kiện gì, thuần túy là nghĩa vụ, là tu hành, là công đức.

Tôi luôn ghi nhớ:
Thí chủ một hạt gạo.
To như núi Tu Di.
Nếu không có công đức.
Mang lông đội sừng trả.

Những người mượn phong thủy địa lý để kiếm tiền, khi đã đưa ra điều kiện về giá cả tức là đang hưởng phúc của thí chủ. Nếu không làm công đức, lại không tu hành, thì khi phúc phần đã hưởng hết, sẽ phải mang lông đội sừng, biến thành súc sinh để trả nợ.

Đạo địa lý phong thủy, người giàu người nghèo đều như nhau. Liên Sinh Hoạt Phật đã tiết lộ thứ tự của phúc phần, giảng giải về các cách phát đạt, vô cùng chi tiết, đây là phúc nguyên chân thật không hư dối, ai đạt được nó thì thời kỳ phát đạt đã không còn xa!


### 20. Dụng thần (1)


🎯 Kể kinh nghiệm du lịch

Khi tôi ở Đài Loan, tôi từng được mời đến xem một biệt thự sang trọng và hoành tráng, chủ nhân của ngôi nhà này là một quan chức lớn cấp trung ương. Tuy nhiên, lúc đó ông ta đã mất quyền lực. Ông ta cũng có doanh nghiệp, nhưng doanh nghiệp làm ăn không tốt, tình hình không khả quan.

Ông ta rất tin vào phong thủy địa lý, từng mời mười vị thầy phong thủy nổi tiếng đến xem biệt thự hoành tráng của mình. Thế nhưng, cả mười vị thầy phong thủy đều cho rằng phong thủy địa lý tệ hại đến cùng cực.
Một vị nói: "Nên dọn đi càng sớm càng tốt."
Một vị khác nói: "Quá nhiều xung khắc, không thể sửa chữa được."
Có người nói: "Mệnh người và quẻ không hợp với nhà, hoàn toàn không nhận được khí vận của tam nguyên."
Có người nói: "Tuy hợp lý khí một cách tiềm ẩn, nhưng hình thế không đẹp, tổng thể mơ hồ không rõ ràng."

Vị quan chức lớn này không biết phải nghĩ thế nào, sau đó nghe danh tiếng của tôi, có người nói với ông ấy: "Có một vị Liên Sinh Hoạt Phật là bậc đạo sĩ có đạo hạnh, học vấn uyên bác, pháp lực rất mạnh, có khả năng hóa giải mọi sinh-khắc-chế-hóa, có thể thay đổi cơ quan vận mệnh, có diệu dụng thần thông biến hóa......"
Vì thế, tôi được mời đến xem biệt thự hoành tráng.

Biệt thự này quả thật hoành tráng, có hồ sen, có cầu vồng, có bãi cỏ rộng, có đình nghỉ mát, có vườn thực vật, chỉ riêng khuôn viên này đã biến cái nóng của Đài Loan thành mát mẻ.
Đồ nội thất trong nhà đều là đồ cổ gỗ lim.
Trong phòng có đầy đủ các loại đồ cổ, sang trọng và đẳng cấp.

Tôi bày la bàn ra một hồi rồi nói: "Những thầy địa lý đến trước đây đều nói không sai, mệnh người phối quẻ, mệnh người cần phải hợp với nhà, ngôi biệt thự này hoàn toàn không hợp với ông. Kiến trúc xung quanh nhà đều có nhiều hình lửa, hình lửa là hình nhọn, hoặc để nằm ngang, hoặc đứng thẳng đều là sát khí. Hơn nữa một nhà mà mở nhiều cửa sẽ sinh nhiều chuyện thị phi, và trước phòng ngủ lại có núi giả, núi đất, lại có đá lộn xộn, đó là sát khí ngổn ngang..."

"Có nhiều vấn đề như vậy, phải làm sao đây?" - Chủ nhân nhăn mặt lo lắng.
"Hình thế của biệt thự lớn này đều không đẹp, sửa chữa quả thật khó khăn." - Tôi nói.
"Đại sư, dù thế nào cũng phải sửa, nhất định phải cứu vãn. Nếu ngài không cứu thì không còn cao nhân nào nữa."
"Thế này vậy! Chỉ còn lại một chiêu 'dụng thần' mà thôi." - Tôi nói.
"Dụng thần là gì?"
"Dụng thần chính là dùng thần để chế ngự sát khí, hoàn toàn dùng sức mạnh uy thế của thần để thay đổi hướng, phương tốt, cửa, khí vận tam nguyên, phối quẻ v.v... của toàn bộ ngôi nhà. Tôi thấy trong phòng khách của ông có nhiều tượng Phật cổ, rất thích hợp để thiết lập mật đàn cho ông."

Tôi tận dụng tượng Phật cổ, ở một căn phòng trống nhỏ trên tầng thượng của chủ nhân, căn phòng trống nhỏ này (phòng kho) lại chính là vị trí cát tường nhất của chủ nhân, là "Chấn trạch gặp Tứ Lục Mộc", vị trí đại vượng. Tôi biến phòng kho thành mật đàn, rồi đem nguyên thần bản mệnh của chủ nhân dùng thần nhập vào tượng Phật cổ, như vậy, chính là mệnh người phối quẻ hợp nhà, tiếp nhận khí vận tam nguyên. Đây là bí pháp bí mật nhất.

Sát khí của nhà cửa, dùng phương pháp chế ngự sơ lược.

Khi tôi thi triển dụng thần này, sau ba năm, vị quan chức cấp trung ương này, từ yếu dần chuyển thành mạnh dần, như rồng bay, quan vị cao dày, mệnh cũng quý, phúc lực đầy nặng, quý không thể nói hết.

Nghe nói, mười vị thầy địa lý đã xem dương trạch năm đó đều kinh ngạc không thôi, vô cùng bất ngờ, thực sự không thể ngờ được vị quan chức lớn này lại có thể thịnh vượng như ngày nay. Mười vị thầy địa lý này cũng không thể nghĩ ra rốt cuộc là ai dùng phương pháp gì mà đã khiến vị quan chức lớn này trở nên phúc lực đầy nặng như vậy.

Tôi tiết lộ một bài kệ, như sau:
*Dụng thần rộng lớn bốn tướng không.
Có lý Phật pháp ở trong đó.
Không câu nệ xung khắc và sát khí.
Học được pháp này đều như nhau.
Nếu có thể dụng thần vào hư không.
Đạt được Ngũ Hành hóa Cửu Cung.
Hiện nay pháp này thật hùng mạnh.
Liên Sinh Hoạt Phật gióng chuông đầu.*

Pháp dụng thần của tôi là chân truyền từ Thanh Chân Đạo Trưởng, là sự dung hợp vạn sự vạn vật không gì không bao hàm, mệnh người phối quẻ, mệnh người hợp nhà, có gì khó đâu!


![image](/img/img_c0f915c48adc5f28935fc5d8bd4bbf9e.png)


Nhà ở là một trường từ, con người cũng là một trường từ, cả hai tạo ra lực từ tác động lẫn nhau, từ đó ảnh hưởng đến người sống trong nhà. Tuy nhiên, khi khó sửa chữa và không thể xây dựng lại, ngôi nhà chỉ còn cách dùng dụng thần để đối trị; đây chính là điều bất khả tư nghì của Phật pháp!


![image](/img/img_6c62a01b4b9bb808f6e235473bb7d18c.png)


Biểu đồ quan hệ tương sinh tương khắc của Ngũ Hành:
Tương sinh — Hình tròn
Tương khắc — Hình ★ (cách một tương khắc)

Từ điển nhỏ về phong thủy:
1. Khẩu quyết
Tương sinh: Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc.
Tương khắc: Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc.


### 21. Tham quan phong thủy của đảo


🎯 Đảo của tiên linh

Ngày 12 tháng 6 năm 1988, tôi cùng với Thượng sư Liên Hương, Phật Thanh, Phật Kỳ, và cô Dương lái xe Jeep, cùng nhau xuất phát đi tham quan phong thủy của đảo.

Địa điểm này nằm ở phía bắc bang Washington của Hoa Kỳ, cách thành phố Seattle khoảng hai giờ lái xe, và cách Vancouver khoảng một giờ lái xe.

Ngày hôm đó, trời trong gió mát, là một ngày Chủ nhật tuyệt đẹp. Chúng tôi tại địa điểm Ancortes, lái xe vào khoang của một con tàu lớn, sau đó tham quan Decatur Island, Lopez Island, Shaw Island, San Juan Island.
Những đảo này, theo tôi, là những đảo linh thiêng.

Tại Shaw Island nhìn Orcas Island, tôi phát hiện đó chính là huyệt cua lông đích thực. Còn bản thân Shaw Island là huyệt rùa, còn về San Juan Island là huyệt cá bay, phong thủy của những hòn đảo này tốt đẹp một cách đặc biệt, đẹp một cách kỳ lạ.

Nước biển là sự pha trộn giữa xanh lam và xanh lục, trong vắt đến mức sảng khoái tầm mắt. Đảo như núi tiên, sừng sững giữa những làn sóng biếc đang gợn sóng, đảo lại um tùm xanh biếc, như đang ở trên mây, trên khói sương, thực sự như chốn tiên cảnh.

Tại Đảo Ba Vịnh, chúng tôi dừng lại lâu nhất, nơi đó có khu cắm trại vịnh biển, tên địa điểm rất đặc biệt, được chia thành khu cắm trại Mỹ và khu cắm trại Anh. Cả hai khu cắm trại đều là nơi tàng phong tụ khí, long hổ sa đặc biệt dài, ôm trọn khu vực vịnh biển, những huyệt vị thiên nhiên tuyệt đẹp này thực sự có khắp nơi, đều là địa lý tuyệt vời.

Liên Sinh Hoạt Phật nhận thấy, những người phương Tây sống ở huyệt cua lông, huyệt rùa, huyệt cá bay, họ đều đậm tình người, ôn hòa, sống hòa thuận, đầy lòng từ ái, thực sự là một chốn đào nguyên ngoài trần thế. Họ sống biệt lập với đất liền Hoa Kỳ, ra ngoài phải dùng thuyền, sống ẩn dật và thanh cao.

Ở đó, những ngôi nhà đều rất nhỏ, giống như những hộp diêm, hình vuông vắn, tọa lạc bên bờ biển hoặc bên hồ nội địa, hấp thụ linh khí từ ánh nắng, cây cối và nước, khiến cuộc sống của người dân địa phương như tiên cảnh. Đảo Ba Vịnh thậm chí còn có một siêu thị cung cấp đầy đủ mọi thứ.

Khi nhắm mắt lại, tôi nhận thấy các hòn đảo đều tỏa ra ánh sáng địa linh, những ánh sáng địa linh này bao quanh toàn bộ khu vực kỳ diệu, một số hồ thậm chí có ánh sáng ngũ sắc, trong hồ có hoa sen, hóa thành ánh sáng trắng, điều kỳ lạ hơn nữa là, trên bầu trời đảo có ánh hào quang cửu sắc, vừa diễm lệ vừa rực rỡ.

Ồ! Đây chẳng phải đúng là đảo của linh tiên sao?

Tại khu cắm trại Anh ở bờ biển có một khu vườn hoa, trồng nhiều loại như phượng tiên, mào gà, cúc hoa, nhài và nhiều loại khác. Năm màu sắc hoa dưới ánh nắng mặt trời tỏa sáng rực rỡ, khu vườn hoa này như một viên mã não vậy. Năm người chúng tôi đã dạo chơi một vòng, leo lên đỉnh cao nhất của long sa.

Khi Liên Sinh Hoạt Phật ngắm nhìn quần đảo, trong khoảnh khắc, không trung hiện nghìn điềm lành, chuỗi vòng ngọc chiếu khắp, có ba dải cầu vồng, có tán mây xanh biếc che phủ, từng hòn đảo kia trông như tòa sen của chư Bồ Tát. Hư không thì mênh mông vô hạn, còn các đảo như những đóa sen nhiều màu bay khắp nơi.

Liên Sinh Hoạt Phật nhận thấy bang Washington của Hoa Kỳ quả nhiên linh khí dồi dào, đặc biệt là đội hình đảo núi như thế này, người tu hành có thể tu tập ở đây, lặng lẽ nhập thất, chẳng phải như được uống cam lộ khi đang khát, từng giọt đều mát lạnh sao?

Tu hành cần nương vào địa linh, chính là vậy đó.
Đất và người hòa hợp, tuyệt thay! Tuyệt thay!

Các dương trạch ở đây đều hấp thụ linh khí từ đất, tất cả đều sạch sẽ tinh khiết, và số lượng nhà không nhiều, mỗi ngôi nhà đều như cung điện thanh tịnh, với địa thế tuyệt đẹp, khí mạch tự nhiên hòa quyện trong đó, quẻ tượng bay ra đều là rồng sống, vô cùng sinh động và thịnh vượng.

Trong đội hình đảo núi này, tôi còn quan sát một hòn đảo khác là Blakely Island, hóa ra là đỉnh Cấn cao vút nhô lên, bên tai trái có sa Thực Thần đầy sinh khí, đảo này có khí chất cao quý, là gọng kìm của huyệt cua lông, phúc lực và linh khí vô cùng dày đặc.

Hòn đảo nhỏ này hiện chưa có người sinh sống, nếu tương lai có duyên, tôi muốn đến đảo này ẩn cư, đảo này chỉ có khí thiêng mạnh mẽ, linh khí đất đai hùng dũng, hóa thành một đám mây lành, chính là một pháp tọa.

Đây chính là:
*Ta Bà biển khổ rộng mênh mông
Sóng biếc bao la một thuyền pháp
Cầu đạo tu Phật được tự tại
Chẳng ưa hồng trần cầu công danh.*


### 22. Đài Loan Lôi Tạng Tự là huyệt gì?


🎯 Đất này ẩn huyền cơ

Đài Loan Lôi Tạng Tự xây dựng trên mảnh đất rốt cuộc là huyệt gì? Có nhiều thuyết khác nhau.

Địa điểm xây dựng Đài Loan Lôi Tạng Tự là do tôi đã khảo sát tận nơi, và cũng là một huyền cơ đặc biệt mà tôi để lại, huyền cơ này có thể để cho các nhà địa lý thiên hạ tham vấn.

Cách đây mười năm, tôi đã xem qua phong thủy nơi này, tôi đặc biệt đến thăm viếng, lúc đó chỉ là một ngọn núi hoang. Đó là Thiên Long Đoạt Châu, là Phi Điểu Triển Sí, là Từ Lâu Hạ Điện, là Quy Huyệt, Hổ Huyệt, Thiên Mã Huyệt, Kim Tuyến Đồng Chung Huyệt....

Có người hỏi tôi: Sư Tôn, đây là Hổ Sơn thì đương nhiên phải là Mãnh Hổ Khiêu Tường chứ?
Tôi mỉm cười không đáp.

Lại có người hỏi tôi: "Nhìn thế đất giống như đại bàng dang cánh, phải là huyệt Phi Mã mới đúng chứ!" Tôi cũng chỉ mỉm cười không đáp.

Có người nói với tôi, hướng Tuất Thìn là "quý nhân không đến" đấy!
Tôi cười lớn. Quý nhân đã sớm ngồi trong huyệt rồi, không cần mời cũng tự đến.

Tôi viết một bài kệ, mọi người cùng tham khảo:
*Ngồi tĩnh như đầu hổ. Vạn tượng thâu trọn vẹn.
Dang cánh bay thiên địa. Mưa pháp khắp bốn châu.
Nơi này khí thái hòa. Khí Nam Bắc giao lưu.
Toàn thân vô cùng vững. Muôn đời khó ngừng nghỉ.
Hiện ra một vầng trăng. Quý nhân đã ngồi trong.
Mặc kệ có đến không. Độ sinh có phương tiện.
Vĩ đại thay Lôi Tạng. Cần chi mưu tính xa.
Chỉ vì chúng sinh lập. Nhân duyên cõi Tây phương.*

Liên Sinh Hoạt Phật đã du lịch nơi đây từ mười năm trước, sớm biết rằng tương lai Lôi Tạng Tự sẽ được xây dựng ở đây, nhưng lúc đó không nói ra, chỉ vì thời cơ chưa đến mà thôi. Địa điểm này là do trời đất tạo nên, được hình thành một cách tự nhiên, vị trí thai cung của nó chính là do trời tạo thành, với hai sa mạch ôm trọn, địa thế tuyệt đẹp, trên hòn đảo ngọc này rất khó tìm được nơi nào như vậy.

(Năm đó không nói gì, chỉ đề thơ trong lòng, tự biết xây điện Phật, đều phải hợp cơ duyên. Ngày xưa người chưa đủ, lại có nhiều trắc trở, ngày nay vượt cõi trần, mới để cho chúng sinh.)

Tôi nói với các đệ tử rằng, mọi việc trên đời đều có nhân quả, trên trời dưới đất đều như vậy, đặc biệt là đất quý trong phong thủy, chỉ người có công đức mới được ở, vạn sự không được có lòng tham đâu! Tôi tự biết, những đệ tử nào có lòng tham, khi xây chùa chắc chắn sẽ bị thử thách.

Xây chùa là thử thách đối với đệ tử, đúng là vậy. Xây chùa chỉ có công đức, nếu chỉ có công đức thì sánh ngang với Như Lai.
Xây chùa mà không có lòng tham, ắt xa rời danh lợi.
Xây chùa nếu có lòng tham, trong lòng muốn sở hữu, ắt sẽ dần dần đọa lạc.
Xây chùa không được đi sở hữu chùa, trong tâm không được có chùa, cần phải xây chùa mà lại vô tâm, đây là làm việc thiện mà không thấy thiện, xây chùa mà không thấy chùa, đây mới là công đức chân thật.

Tôi nói đạo trời đất này, mong các đệ tử thật lòng tham ngộ.

Quy y Kim cương Thượng sư chính là bước khởi đầu để thành Phật, ai làm theo lời tôi đều có thể thành Phật. Thực sự độ chúng sinh là chúng sinh tự độ. Nếu không tham ngộ được, và vẫn còn lòng tham, những người chỉ muốn sở hữu chùa, tất cả đều sẽ vào địa ngục, không phải tôi muốn mọi người vào địa ngục, mà là lòng tham sẽ đưa vào địa ngục đấy!

Hãy nỗ lực xây chùa, xây dựng để độ chúng sinh.
Làm tròn bổn phận của mình, bố thí không chấp tướng.
Hãy để chúng sinh sở hữu ngôi chùa này, chứ không phải cá nhân sở hữu ngôi chùa này.


![image](/img/img_ef1a71da06e89e0dcd435b7da017a987.png)



![Đài Loan Lôi Tạng Tự ](/img/img_97cb068f3354ca7d6093b8a67bd83f5a.png)



![image](/img/img_5954e9b3718b661eb806bd7e3a30f7c7.png)


Xây chùa nếu không tham thì ắt xa rời danh lợi. Xây chùa mà có lòng tham, trong lòng muốn sở hữu, ắt sẽ dần dần đọa lạc.


### 23. Pháp khắc chế cầu thang thẳng cửa


🎯 Cầu thang nên đặt ở đâu

Có một vị kiến trúc sư lão làng nổi tiếng thế giới, tốt nghiệp ngành kiến trúc đến tìm tôi. Khi ông ấy nói ra tên tuổi, tôi mới biết rằng những tòa nhà do ông thiết kế tòa nào đều nổi tiếng khắp thế giới, ông là kiến trúc sư danh tiếng lẫy lừng toàn cầu.

Ông nói, ông đã đọc rất nhiều tác phẩm chuyên về phong thủy địa lý, cho đến khi đọc được cuốn "Nói rõ về dương trạch địa linh", ông mới cảm thấy cuốn sách này khác biệt so với những cuốn khác. Ông nói, cuốn sách này mới thực sự chi tiết và dễ hiểu, còn những cuốn sách khác không dễ nắm bắt.

Vị kiến trúc sư danh tiếng này đã khuyến khích Liên Sinh Hoạt Phật dịch những cuốn sách này sang tiếng Anh, cần làm nhanh chóng, người Mỹ rất cần những thứ này. Triết học phong thủy phương Đông sẽ trở nên phổ biến ở phương Tây, phương Tây cần những triết lý nhân sinh này.

Vị kiến trúc sư nổi tiếng này cũng đề cập đến vấn đề cầu thang thẳng cửa. Ông cho rằng ở những nơi công cộng, cầu thang thẳng cửa không thành vấn đề, nhưng nếu nhà ở riêng mà cũng cầu thang thẳng cửa thì rõ ràng không tốt cho cả hình thế lẫn phong thủy, điều này đáng để bàn luận.

Tôi nói với ông ấy, tôi đã viết ra ba phương pháp:
Thứ nhất là di chuyển vị trí — chuyển toàn bộ cầu thang sang một bên, không đối diện trực tiếp với cửa chính.
Thứ hai là ẩn giấu — đặt cầu thang phía sau bức tường.
Thứ ba là che chắn — đặt bình phong hoặc vật trang trí giữa cầu thang và cửa.

Chúng tôi đều nhận thấy ở Hoa Kỳ hiện nay có một xu hướng xây dựng nhà cửa là đặt toàn bộ cầu thang đối diện trực tiếp với cửa chính. Nhiều ngôi nhà rất đẹp đều mắc phải nhược điểm này. Trong số những ngôi nhà tôi đã đi khảo sát, có đến một nửa thuộc kiểu thiết kế này.

Vị kiến trúc sư đại tài hỏi tôi: 
"Ngoài ba phương pháp kia ra, cầu thang đối diện cửa có cách hóa giải nào khác không?"
"Cách hóa giải? Vị đại kiến trúc sư cũng hiểu về hóa giải sao?" - Tôi rất ngạc nhiên.
"Tôi học được từ sách của thầy." - Ông giải thích.

Tôi nói với ông, có một phương pháp hóa giải, đó là dùng sát khí để chế ngự sát khí. Phương pháp này vốn là bí mật không truyền, nhưng đã được hỏi, đành phải viết ra:

Ở trên trần nhà phía trên toàn bộ cầu thang đối diện cửa, lắp đặt gương kính, gương kính này sẽ tạo áp lực ngược lại với cầu thang;

Nghĩa là trong gương có một cầu thang, chúng tương hỗ kiềm chế lẫn nhau, khi người đi qua giữa, phía trên có một cầu thang, phía dưới có một cầu thang.

Sau khi lắp đặt gương xong, hãy cúng tế chủ đất của dương trạch, khấn rằng: "Cầu thang trên cao, phá cầu thang dưới thấp, khí được dẫn dắt, dẫn vào đất lành. Thiên sát, địa sát, niên sát, nguyệt sát, nhật sát, thời sát, dương sát, âm sát, tất cả yêu tà quỷ quái, gặp sát thì ngừng sát."

Phương pháp này là, một cầu thang trên cao hợp với một cầu thang phía dưới, giữa hai cầu thang tạo thành sự kết hợp chặt chẽ, và gương kính có tác dụng phản chiếu, chặn bớt khí từ cửa vào, dẫn khí đi theo hướng tốt, không bị ảnh hưởng bởi khí bị cắt từ cầu thang, thật là tuyệt diệu.

Vị kiến trúc sư đại tài lại hỏi tôi, nếu cầu thang không đặt ở lối vào cửa chính, cũng không thể đặt ở phương vị "quỷ", vậy cuối cùng khi đặt la bàn, cầu thang nên đặt ở phương vị nào là tốt nhất?

Tôi nói với ông ấy, cầu thang xét cho cùng cũng là một sát khí, trong giới phong thủy chúng tôi có câu nói, dùng sát để khắc chế sát, giống như nhà vệ sinh, bếp nấu, cầu thang đều có thể dùng để khắc chế sát khí.

Cầu thang có thể đặt ở phương vị phá quân tuyệt mệnh, ngược lại sẽ sống thọ.
Cầu thang có thể đặt ở phương vị lục sát, ngược lại sẽ có con có của.
Cầu thang có thể đặt ở phương vị tai họa, ngược lại sẽ không gặp tai họa bất ngờ.
Phương pháp này chính là "dùng sát để khắc chế sát".

Có rất nhiều thầy phong thủy không dám làm như vậy, họ cho rằng phương vị tuyệt mệnh, lục sát, tai họa, ngũ quỷ tốt nhất là không nên làm gì cả.

Thực ra, người thực sự hiểu phong thủy có thể xây nhà vệ sinh ở "phương vị ngũ quỷ", vì nhà vệ sinh có mùi hôi, mùi hôi này vừa hay đè nén ngũ quỷ, khí xấu bị mùi hôi trấn áp, không thể gây ra tác hại, ngôi nhà tự nhiên được bình an.

Sử dụng những phương vị không tốt không lành để xây cầu thang, chính là nguyên lý dùng sát để khắc chế sát.

Gần đây, nhiều kiến trúc sư nổi tiếng tại Hoa Kỳ đã lần lượt nghiên cứu về phong thủy dương trạch. Có rất nhiều kiến trúc sư muốn nhận tôi làm thầy để học môn phong thủy, nhiều người đã đích thân đến gặp tôi để bày tỏ ý định của họ. Đáng tiếc là tôi không có đủ thời gian, nhưng trong tương lai nếu có cơ hội, tôi có thể giảng dạy tại các trường đại học, phát triển rộng rãi phong thủy học và quảng bá nó ở nước ngoài.


![image](/img/img_527c480471ca12e7426015895183d816.png)


"Cầu thang ngay cửa, khó khăn chồng chất", tại nhiều tòa nhà ở phương Tây, người ta thường thích sử dụng cầu thang xoắn ốc sang trọng làm điểm trang trí, nếu xử lý không đúng cách dễ gây ra xung sát, không thể không thận trọng.


![image](/img/img_d1f9d0c242f23f4363744c3647efd1e0.png)



![image](/img/img_aa64142b32db9aa348bad312021092f5.png)


Cầu thang đối diện với cửa là vấn đề rất phổ biến, làm thế nào để hóa giải?
1. Di chuyển vị trí.
2. Ẩn giấu.
3. Che chắn.


![image](/img/img_ec637fe95e11b92e42315412ad5cbb6d.png)


Cầu thang có sức phá hoại mạnh, vậy nên đặt cầu thang ở đâu?
Khẩu quyết:
Ngũ quỷ — dương trạch được bình an.
Lục sát — ngược lại được tài lộc.
Họa hại — ngược lại không gặp tai nạn bất ngờ.
Tuyệt mệnh — ngược lại sẽ trường thọ.
Dùng sát khí khắc chế sát khí, ngược lại được an khang.


### 24. Đại địa lý ngũ khí triều nguyên


🎯 Vùng đất hiếm có để xây dựng đền chùa

Nghiên cứu của tôi về phong thủy địa lý chưa bao giờ dừng lại, vì tôi thường xuyên thăm thú đất đai và dương trạch, trong thời gian ở Hoa Kỳ, tôi đã phát hiện ra một địa thế "ngũ khí triều nguyên" tuyệt vời.

Khu vực này nằm ở phía đông Seattle, từ đường cao tốc I-90 khoảng một giờ lái xe.
Loại địa thế này rất thích hợp để xây dựng đền chùa.
Giá bán đất của chủ đất không hề đắt.
Đáng tiếc là người đời không hiểu được giá trị của mảnh đất này, những người đi cùng tôi xem đất đã không mua nó, và vào thời điểm đó, tôi cũng chưa giải thích chi tiết.

Vùng đất nằm trên đỉnh núi, nhưng lại rất bằng phẳng. Hình vuông vắn, là huyệt kết của sao Thổ.
Ở phía Đông có một dãy núi dài hình vuông, thuộc sao Mộc.
Ở phía Tây có một ngọn núi hình ấn tròn tròn, thuộc sao Kim.
Phía Bắc có nhiều dòng suối nhỏ uốn lượn, thuộc sao Thủy.
Phía Nam lại có nhiều núi, hình nhọn, chính là thuộc sao Hỏa.

Mảnh đất để xây đền chùa này có thể xây theo hướng tọa Bắc hướng Nam, đây là địa thế "ngũ khí triều nguyên" tuyệt vời, là vùng đất hiếm có để xây dựng đền chùa. Nếu mảnh đất này ở phương Đông thì nên xây đền chùa, nếu ở phương Tây thì có thể xây nhà thờ.

Khi du lịch tại Đài Loan, tôi thấy đền Tiên Công ở Mộc Sách thuộc miền Bắc đã có thế "ngũ khí triều nguyên", nhưng chỉ thiếu sao Hỏa Ngọ Mùi.

Tại miền Trung Nam, tôi phát hiện điện Triều Thiên ở Bắc Cảng cũng có thế "ngũ khí triều nguyên", nhưng bốn sao Tâm, Nguy, Trương, Tất nằm ở vị trí Giáp, Canh, Bính, Nhâm, lại có Thái Âm Kim tinh chiếu sáng bốn mặt, nên đây là đền thờ của cung phi thái hậu, không phải là "ngũ khí triều nguyên" thực sự.

Hiện nay, trên đất Mỹ, tôi đã tìm thấy một địa thế "ngũ khí triều nguyên" tuyệt vời, với năm ngôi sao hộ mệnh, thật là điều hiếm có trên đời.

Nếu xây một ngôi chùa tại nơi này, đền Chỉ Nam ở Mộc Sách và điện Triều Thiên ở Bắc Cảng đều phải đứng sau, vì địa thế "ngũ khí triều nguyên" là chủ của chùa quý.

Nếu không xây chùa tại địa thế này, trong tương lai khi tình hình thay đổi, nếu biến thành khu thương mại, có thể xây trung tâm mua sắm, vì trung tâm mua sắm và chùa có cùng tính chất ứng dụng địa linh, trung tâm mua sắm này chắc chắn sẽ đông đúc người qua lại, kinh doanh phát đạt, là nguồn tài chính lớn, phát triển cực kì nhanh chóng.

Địa thế "ngũ khí triều nguyên" có những đặc điểm sau:
Hình thế năm phương đều xuất hiện, phù hợp với Ngũ Hành.
Sao Thổ ở trung tâm là điểm chính giữa. Nếu xây dương trạch ắt sẽ sinh ra quý nhân thượng hạng. Nếu xây chùa, người sẽ tụ tập đông đúc. Nếu xây trung tâm thương mại, nhất định sẽ phát đạt.

Tôi viết một bài kệ:
*Đồi sao dựng đại miếu
Nghìn thu tiếng còn vang
Mấy lầu giữ kinh điển
Muôn trượng lầu Phật Vương.*

Lại nữa:
*Người đời xây thương trường
Cung trời hoa nở rộ
Nhân gian vui vật chất
Kinh doanh thắng lợi nhất.*

Tôi nhìn vùng đất này, có Thủy Thần ở đây ban phúc bất tận, thấy trong tương lai có nhiều đèn hoa lệ, có ánh sáng từ lòng đất tỏa ra, là vùng đất ngày càng thịnh vượng, nếu trung tâm thương mại được xây dựng, vạn thương tụ tập, hàng hóa phồn hoa rực rỡ trở thành một thế giới, thương nhân thu lợi lớn, người đông như nước chảy, đều đổ về vùng đất sao Thổ trung tâm này.

Từng có đệ tử hỏi tôi, cuốn "Nói rõ về dương trạch địa linh" chưa đề cập đến trung tâm thương mại, vậy trung tâm thương mại nên chọn đất nào để xây dựng?

Tôi đáp, "ngũ khí triều nguyên" là tốt nhất, "Thái Âm nhập miếu" cũng tốt, "hoa cái lâm" cũng không tệ, "bảo bình liệt" là đất thương mại. Khi Liên Sinh Hoạt Phật du lịch New York, nhận thấy khu vực thương mại tập trung của New York chính là "bảo bình liệt" vậy.
New York đã phát triển "bảo bình liệt".
Còn "ngũ khí triều nguyên" này vẫn còn là đồi hoang, chưa phát triển.


![image](/img/img_52a3984ee56acc464b0c799bb13ed48d.png)



### 25. Ngôi nhà phóng quang


🎯 Biến số của phong thủy 

Một người bạn của đệ tử nước ngoài của tôi là Jamie đã mời tôi đến nhà anh ấy chơi, nhân tiện xem xét ngôi nhà của anh ấy, vì anh ấy thường nghe Jamie nhắc đến tôi.

Ngôi nhà này nằm trên đỉnh núi, không lớn lắm. Khi chúng tôi đến gần ngôi nhà, tôi bất ngờ cảm nhận được hào quang Phật. Nguồn gốc của hào quang Phật này thật vô cùng phi thường.

Đây là hào quang Phật từ cõi Phật, có hương thơm vi diệu phủ khắp mặt đất, có âm thanh chú nguyện (tiếng Phạn) nhẹ nhàng xoay quanh, từ không trung có hoa vi diệu rơi xuống, có khói lành thoát ra từ mái nhà, toàn bộ ngôi nhà hoàn toàn chìm đắm trong ánh sáng, ánh sáng ấy như từng hạt cát vàng phóng tỏa khắp bốn phương.

Tôi đứng dậy và nói: 
"Tôi cảm nhận được điều kỳ lạ từ ngôi nhà này, chắc chắn có điều phi thường ở đây."
Jamie đáp: 
"Tôi nghĩ là không có, họ rất bình thường."
"Vợ chồng chúng tôi chẳng hiểu biết gì cả, có gì kỳ lạ đâu!" - Người bạn của Jamie nói.

Khi tôi bước vào nhà, cảm giác lại khác, như thể có ánh sáng linh thiêng đi vào cơ thể tôi, ấm áp và dịu nhẹ, là thể ánh sáng của bản tính, là sự hòa quyện của ánh sáng từ bi, tất cả ánh sáng như biển cả, có âm thanh hương thơm vi diệu, trong giây lát, tôi như thể đi vào trạng thái Tam ma địa trong khoảnh khắc. Cảm giác này chỉ thoáng qua trong một sát-na mà thôi.

Tôi nói với họ: "Căn nhà này tỏa sáng rực rỡ."
Jamie và người bạn của anh ấy lắc đầu, không hiểu lý do tại sao.
Tôi thấy ngôi nhà này có rất nhiều khuyết điểm, ví dụ: giường bị xà nhà đè, đường bên ngoài nhà chính là phản cung, cửa chính lại là cửa hướng Đông Bắc, còn có mái nhà khác chĩa nhọn về phía cửa, phía sau nhà có ao hồ bị vỡ, bên phải quá dốc, giữa đầu và thân nhà lại thiếu một nửa (có một lỗ hổng).

Tôi nói thẳng thắn với bạn của Jamie rằng, sống trong ngôi nhà này sẽ có người chết, sẽ có án tù, ban đêm sẽ gặp ác mộng, và nhiều chuyện kỳ quái, cũng có bệnh lạ, thậm chí sinh con sẽ bị câm bị điếc, đều là điềm không tốt lành.

Nhưng bạn của Jamie nói với tôi rằng, vợ chồng họ và hai đứa con đã sống trong căn nhà này hai mươi năm rồi, cả hai đứa trẻ đều sinh ra tại đây. Họ sống ở đây, mọi thứ đều bình an, không có ai chết, không có ai bị tù tội, giấc ngủ yên bình, không có chuyện kỳ quái, không có bệnh tật nghiêm trọng, hai đứa trẻ cũng không bị câm hay điếc. Như vậy thì phong thủy chẳng phải đã mất đi tính chính xác, không còn linh nghiệm nữa sao.

Tôi nói: 
"Phong thủy rất chính xác và linh nghiệm, nhưng như tôi đã nói lúc đầu, căn nhà này có hào quang lớn, chắc chắn có điều phi thường, chính điều phi thường này đã bao phủ tất cả khuyết điểm. Hãy để tôi tìm ra nguồn gốc của ánh sáng lớn này, và các bạn sẽ hiểu."
"Rốt cuộc đó là ánh sáng gì?"
"Hào quang Phật." - Tôi khẳng định.
"Hào quang Phật? Không thể nào, chúng tôi là tín đồ Công giáo, làm sao có hào quang Phật được?"-  Bạn của Jamie nói.
Chúng tôi chìm vào im lặng, không thể giải thích được điều thắc mắc.

Lúc này, vị phu nhân đó đột nhiên nhớ ra một điều, bà ấy đi đến phòng chứa đồ lấy ra một chiếc hộp nhỏ, mở hộp ra, bên trong là một chiếc răng, rất trắng như trong suốt, vô cùng kỳ lạ.
"Đây là gì vậy?" - Người chồng hỏi.
"Răng Phật đấy, anh quên rồi à. Ngày xưa ông nội em làm ngoại giao, từng ở Sri Lanka, vua Sri Lanka và ông nội là bạn thân thiết, nhà vua đã tặng ông nội một món quà quý giá, nói rằng đó là răng của Phật Thích Ca Mâu Ni, là xá lợi răng, chính là răng Phật. Và ông nội đã tặng lại em, em cũng không biết vật này dùng làm gì, nên cất trong phòng chứa đồ, đây là món đồ Phật giáo duy nhất trong nhà chúng ta."

"Răng của Phật Thích Ca Mâu Ni, ồ! Răng Phật lại lưu lạc đến nơi này." 
Tôi chắp tay đảnh lễ. Không ngạc nhiên khi tôi nhìn thấy hào quang Phật kỳ diệu như vậy, điều này hoàn toàn có thật, không hề giả dối, ngôi nhà phóng quang, như những hạt cát vàng tỏa ra bốn phương, không lạ gì khi tất cả những khuyết điểm phong thủy ngũ hành đều được hào quang Phật bao phủ, khiến mọi tai ương không thể xảy ra.

Jamie và vợ chồng người bạn của Jamie đều cảm thán về sự linh thiêng của răng Phật. Họ cũng cảm thấy Liên Sinh Hoạt Phật thật phi thường, đã nhìn thấy ngôi nhà phóng quang, và biết đó là hào quang Phật, trong khi căn nhà nhỏ bình thường ấy, trong phòng chứa đồ lại cất giữ một chiếc răng Phật, chẳng phải điều này vô cùng thần kỳ sao!

Họ nói với tôi rằng họ sẽ bảo quản răng Phật thật tốt, coi đó như bảo vật hiếm có trên đời, và sẽ trân quý mãi mãi.

Tôi đã được thấy răng Phật, một điều mà người khác khó có thể thấy được, từ Sri Lanka đến, không lạ gì mà căn nhà phát sáng, hóa ra ngôi nhà này đang ở dưới ánh hào quang của răng Phật, mọi tai ương không thể sinh ra. Đây cũng là một trong những cách dùng thần ngăn sát, khi có pháp dụng thần, quả thực là điều kỳ lạ trong phong thủy.


### 26. Lại bàn về dụng thần


🎯 Nói rõ về an vị thần

Trong quá khứ, tôi đã từng viết về ba phương pháp an vị thần:
Một, pháp tụ khí.
Hai, pháp thủy thần.
Ba, pháp tiên mệnh.

Tuy nhiên, một số đệ tử đã thực hiện pháp tụ khí quá mức, khiến bàn thờ thần tựa sát vào tường, và cả hai bên tường đều kín hoàn toàn, hai bên vách không có lấy một cửa sổ, tất cả cửa sổ đều bị bịt kín. Như vậy, vào những ngày trời nóng, khi mặc áo pháp dài để tu pháp bên trong, các đệ tử đều cảm thấy ngột ngạt đổ mồ hôi và than phiền rằng, "pháp tụ khí" này quả thực là tụ khí, nhưng họ không chịu nổi.

Cái gọi là ba mặt tường là phía sau bàn thờ thần dựa vào một mặt, không được mở cửa sổ, nhưng hai mặt còn lại có thể mở cửa sổ, tuy nhiên, cửa sổ không được liền kề với mặt có bàn thờ thần, và không nên quá lớn. Không phải cả ba mặt đều là tường kín, không thể lưu thông không khí.

Pháp thủy thần là đón thủy thần, tức là đón khí.

Pháp tiên mệnh có hai:
Hướng của bàn thờ thần chính là hướng phù hợp với từ trường sinh mệnh của chủ nhân ngôi nhà.
Vị trí của bàn thờ thần chính là vị trí cát tường của bản mệnh.

Vị trí của bàn thờ thần có khoảng trống phía trên, khoảng trống phía dưới, khoảng trống bên phải, khoảng trống bên trái, đều là hiện tượng không tốt, cũng không nên mở cửa sổ hoặc cửa ra vào ở phía trên, phía dưới, bên trái, bên phải của vị trí của bàn thờ thần .

Vị trí của bàn thờ thần tốt nhất không nên đặt trên lối đi, cũng đừng mở cửa hướng thẳng vào vị trí của bàn thờ thần. Phía trên vị trí của bàn thờ thần  không nên có xà nhà đè lên.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, đệ tử Chân Phật Tông ai cũng nên an vị mật đàn, mật đàn tương đương với vị trí thần, những người thường tin Phật, trong nhà có bàn thờ Phật, bàn thờ Phật cũng là vị trí thần. Người làm ăn thờ Thổ Địa Công, Thổ Thần, Thần Tài, đây cũng là vị trí thần, ngoài ra, những người không tin thần Phật, chỉ thờ bài vị tổ tiên, đây cũng là vị trí thần, thường gọi là hương hỏa.

Việc an vị thần tương đương với dụng thần, cần phải kết hợp tụ khí, thủy thần và tiên mệnh. Đặt ở vị trí cát lợi của bản mệnh sẽ mang lại phúc lành, còn nếu lầm đặt ở phương hung, vị hung, hoặc không tụ khí, không đón thủy thần, thì sẽ không có điều cát mà chỉ có điều hung.

Có người cho rằng nếu an vị thần đúng thì cát, an vị thần sai thì hung, vậy thì cần gì phải an vị thần, chỉ tự mình rước lấy cát hung, nếu không an vị thần, chẳng phải là không cát không hung, thuận theo tự nhiên hay sao?

Thực ra, bất kì dương trạch nào, nếu bàn luận, đều có thể phân thành cát, hung, bình, tức là nhà cát, nhà hung, nhà bình thường. Việc có an vị thần hay không chỉ là một trong những yếu tố mà thôi. Nếu nhà hung mà dụng thần đúng cách, trấn được hung sát, ngược lại còn phát đại phúc rất linh nghiệm.

Và nhà bình thường nếu dụng thần tốt, cũng có thể trở thành nhà cát.

Cho nên việc an vị thần (dụng thần) nếu thực hiện tốt đẹp, đặt đúng vị trí, sẽ là sự cứu trợ lớn cho hung sát, đồng thời còn có thể giúp con cháu cát tường.

Liên Sinh Hoạt Phật đối với những ngôi nhà đã xây dựng xong, không thích thêm sửa phá bổ, bởi vì thêm sửa phá bổ là một sự thay đổi lớn về phong thủy, một khi có sự thay đổi lớn này, cát hung sẽ hiện ngay! Nếu thêm sửa phá bổ sai, trong vòng mười ngày sẽ thấy điều hung, rất là nghiêm trọng.

Nếu muốn thêm sửa phá bổ, nhất định phải mời thầy phong thủy đích thân đến chủ trì, bao gồm phương vị động thổ, ngày động thổ, giờ động thổ, phương vị bản mệnh của chủ nhà, những mối quan hệ trong đó phức tạp và tinh tế, cần phải đặc biệt chú ý.

Liên Sinh Hoạt Phật đối với việc cải tạo hung sát, đôi khi dùng phương pháp an vị thần để trấn áp, biến thành sự cứu trợ lớn cho hung sát. Liên Sinh Hoạt Phật nghiên cứu về dụng thần rất sâu sắc, đã có nhiều người nhận được phúc lớn rất linh nghiệm.

Khi dụng thần được thực hiện một cách tuyệt diệu, vị trí thần ắt sẽ tỏa ánh sáng bảy màu, linh thiêng phi thường. Khi tu pháp ở nơi đó, có thể ngửi thấy mùi hương chiên đàn phảng phất, thấy mát mẻ khắp người, mọi thứ đều thanh tịnh. Ngược lại, khi dụng thần không đúng cách, có thể sẽ có linh thú lớn như trăn rắn hoặc chó đến gá vào, thỉnh thoảng có linh nghiệm, nhưng cuối cùng vẫn thuộc loài thú, khiến tâm trần mê muội, dục vọng càng thêm nặng nề.

Tôi thường tự suy nghĩ, thân này của tôi là để cứu người mà đến, tương lai sẽ đi khắp thiên hạ, cứu người cứu đời trong biển người mênh mông. Có nhiều phương pháp cứu đời, muốn cứu nhân tâm cần phải đem lại lợi ích cho họ, người ta mới tin theo. Phong thủy địa lý cũng là một thuật nhiệm màu, cũng có thể mượn để sử dụng!

Chúng ta phải học theo Bồ Tát Quan Thế Âm tầm thanh cứu khổ, thực địa phổ hóa phổ độ, trước tiên giải trừ nỗi khổ của dân chúng, sau đó mới dạy họ tin Phật tu pháp. Như vậy, mọi tai ương đều được trừ khử, phúc lành đến, niềm tin đầy đủ, chẳng phải thực tế hơn sao?

Vì vậy, Liên Sinh Hoạt Phật cứu người cứu đời có nhiều phương pháp khác nhau.


![image](/img/img_0abd87e919d39335c3ab6734ba077c25.png)


Điểm quan trọng khi an vị thần:
1. Pháp tụ khí: chú ý dựa lưng vững chắc, hai bên trái phải có tường.
2. Pháp thủy thần: phải có khả năng đón thủy thần, khí.
3. Pháp tiên mệnh: tức là hướng của vị trí thần phải phù hợp với phương cát tường của từ trường sinh mệnh của chủ nhà.


### 27. Điều cấm kỵ của dương trạch


🎯 Nhiều hình thế tạo ra sát khí

Hình dáng bên ngoài của một ngôi nhà, theo quan điểm của các thầy phong thủy thông thường có rất nhiều điều cấm kỵ, trong bài viết này tôi sẽ giải thích từng điều một.

Cái gọi là cấm kỵ là vì hình thế lâu dần sẽ tạo ra sát khí, một khi sát khí sinh ra, điềm hung sẽ hiện rõ và lộ liễu, người học phong thủy cần phải biết điều này.

Xin trình bày các điều cấm kỵ của dương trạch như sau:

1. Nhà xây phía sau phải cao hơn nhà ở phía trước. Tức là tuyệt đối không được để nhà trước cao, nhà sau thấp. Kiểu bố cục này rất phổ biến ở các tứ hợp viện Đài Loan. Trước cao sau thấp biểu thị thế hệ sau không bằng thế hệ trước, nhân đinh sẽ ngày càng ít đi, tạo ra cảnh góa phụ cô nhi.


![image](/img/img_a08303bb003104054cde00d216e90214.png)


2. Trong tứ hợp viện, nếu xung quanh đều xây nhà, tạo thành khoảng sân trống ở giữa, mà khoảng sân trống này không có cửa thông ra ngoài (phải đi xuyên qua nhà mới ra được bên ngoài). Có một số nhà máy cũng xây dựng như vậy, tôi từng thấy một nhà tù cũng được xây dựng theo kiểu này, giờ tập thể dục diễn ra ở khoảng sân giữa, đây là sát khí quan tài, rất không cát tường, dễ dẫn đến nhiều cái chết liên tiếp.


![image](/img/img_505fa4995d3393eb99e79cde14147dde.png)


3. Phần mái nhà nhô ra của mỗi ngôi nhà cần dài vừa đủ, tốt nhất là khi nước mưa rơi xuống, không nên rơi lên bậc thang, mà nên rơi ra bên ngoài, bởi vì nếu mái hiên quá ngắn, nước mưa rơi lên bậc thang, lâu dần sẽ tạo thành sát khí chảy máu, cũng có thể gây ra bệnh máu khó đông.


![image](/img/img_1f3a5243e85f149ef79c57a919b221bd.png)


4. Phía trước nhà, phía sau nhà, bên trái nhà, bên phải nhà, tốt nhất là không nên có vật nhọn trực tiếp chiếu thẳng vào nhà, đây gọi là sát khí trực xạ. Có loại là xuyên tâm, có loại là bắn vào eo, có loại là xung đầu, có loại là mũi tên ngầm, tất cả đều gây ra tai nạn bất ngờ, không cát tường.


![image](/img/img_ba1926275096cf68ba6de4e00fc5fb61.png)


5. Ngôi nhà có hình vuông, hình chữ nhật, hình tròn. Nhưng nếu đặc biệt xây thêm một căn nhà nhỏ ngang, rất đặc biệt, không hài hòa, đây là sát khí sinh vật, sẽ dẫn đến ung thư và u bướu, đặc biệt là khi xây ở phía Bạch Hổ, đây là nhà quàn, chính là sát khí quan tài.


![image](/img/img_fb161040fd504fb2858ed010eb3fd2d3.png)


6. Tất cả các nhà đều thấp, nhưng ngôi nhà của mình lại đặc biệt cao vượt lên, như tư thế con hạc đứng giữa đàn gà, đây là sát khí cô độc (dạng tha sát), cũng gọi là sát khí xung thiên.


![image](/img/img_a344bf28f84225e82ddff7667a3f6492.png)


7. Tất cả các nhà đều cao, còn nhà mình lại lõm xuống ở giữa, đặc biệt thấp, đây là sát khí áp lực (dạng tự sát), ý chỉ có chí mà khó thực hiện.


![image](/img/img_98c1f22608f4f59747d83438b2a16d06.png)


8. Nếu phía sau và hai bên nhà bạn có nhà khác, tạo thành hình chữ "phẩm" (品), trong đó nhà bạn là ô vuông phía trên, còn hai ô vuông phía sau nếu có vị trí mạnh, sẽ tạo thành "thế đẩy xe". Hình thế này không có lợi cho ngôi nhà của bạn, được gọi là sát khí bất ổn.


![image](/img/img_86726cad29d218dd5e9018cd320f00c1.png)


9. Nếu xây nhà theo hình chữ "vong" (亡), hai bên trống, đây gọi là sát khí chữ vong, Liên Sinh Hoạt Phật gọi là sát khí mổ xẻ, chắc chắn sẽ dẫn đến phẫu thuật mổ bụng.


![image](/img/img_16463013749a071a77589d42835ac610.png)


10. Các ngôi nhà thông thường, tốt nhất là có một cửa chính phía trước, một cửa sau, cửa trước lớn, cửa sau nhỏ. Nếu có ba cửa trở lên thì cần phải cẩn thận, bởi vì ba cửa trở lên sẽ tạo thành sát khí miệng lưỡi, có nghĩa là nhiều miệng nhiều lời.


![image](/img/img_0832087a1264209b326457fdff1b32a2.png)


11. Bên cạnh cửa chính, mở thêm một cửa nhỏ, thường ngày ra vào bằng cửa nhỏ. Nếu bên trong cổng sắt lớn, lại đục thêm một cửa nhỏ cho người ra vào (cửa sắt nhỏ trong cửa sắt lớn), nhà giàu có phần lớn đều có kiểu bố trí này. Đây là hình thế vợ lớn lại cưới thêm vợ lẽ, tức là muốn cả hai, chủ về sát khí đào hoa.


![image](/img/img_d66f80d63ea047039bd316aee5c322ef.png)


12. Từ cửa chính, đi thẳng đến cửa phòng khách, rồi từ cửa phòng khách đi thẳng đến cửa sau, ba cửa thẳng hàng, không có gì cản trở giữa chúng, gọi là sát khí xuyên tâm, còn gọi là sát khí tiền tài thất thoát, chủ về tài lộc không tụ, dễ bị rò rỉ.


![image](/img/img_c4db0607a81b621f25f2c71de89e8e41.png)


13. Phía trước và phía sau nhà là chùa, đền thờ, không nên ở. Bởi vì khí đất đều bị chùa, đền chiếm hết, hơn nữa đó là con đường mà thần, Phật, tiên, linh thường đi qua, đây là sát khí âm lộ. Hầu hết các thầy phong thủy đều biết không nên ở nhưng không biết lý do tại sao, thực ra đó là sát khí âm lộ.


![image](/img/img_5be54ce7e03556522517c75d65268e22.png)


14. Phía sau nhà có dòng nước chảy vào nhà, hoặc có đường đâm thẳng vào nhà, giống như thế nước thác đổ xuống đầu, thường gọi là nước đổ đầu, tức là sát khí đổ đầu. Thực ra, nước từ bốn phía chảy vào nhà, hoặc đường công cộng từ bốn phía đâm vào nhà, đều là sát khí.


![image](/img/img_661d237f15d5372e7c5203726722f127.png)


15. Cây cối bao quanh toàn bộ ngôi nhà, quá um tùm dày đặc, là sát khí âm, sẽ có những hiện tượng kỳ lạ xảy ra. Những ngôi nhà phương Tây trong rừng rậm phần lớn đều mắc phải vấn đề này.


![image](/img/img_9268273aaffe7b9c353f5f45dd8bebfb.png)


16. Vị trí xây dựng hồ bơi phải đúng, góc hồ không nên chiếu thẳng vào nhà mình, và nước hồ thường xuyên nên giữ đầy tám phần, bởi vì nếu hồ cạn, thường xuyên không đầy, đây là sát khí lõm, chủ về con cháu đời sau sa đọa không vươn lên được.


![image](/img/img_8abde5ee5e09133550254636e6aaf55f.png)


17. Vực sâu phía trước nhà, vực sâu phía sau nhà, vực sâu bên trái và phải nhà, đều là sát khí sụp đổ, nếu nghiêng từ từ xuống thì không sao. Độ sâu của vết lõm có mối quan hệ rất lớn.


![image](/img/img_703b910ffa6da10296c982ad56a6aa22.png)



### 28. Pháp lấp giếng cầu an


🎯 Phù lục đặc biệt để lấp giếng

Tại các thành phố ở Mỹ, hệ thống nước máy và cống thoát nước (xử lý nước thải) được làm rất tốt. Ở vùng ngoại ô xung quanh thành phố, hệ thống nước máy và cống thoát nước cũng đã được xây dựng hoàn chỉnh. Về mặt này, quy hoạch đô thị của Mỹ được thực hiện rất hoàn hảo. Vì vậy, khi có mưa lớn hoặc mưa liên tục nhiều ngày ít khi xảy ra hiện tượng lũ lụt và ngập úng.

Tuy nhiên, ở những vùng núi xa xôi hoặc những nơi hẻo lánh hơn, vẫn chưa có hệ thống nước máy và cống thoát nước. Liên Sinh Hoạt Phật đã du lịch qua nhiều vùng núi lớn và thung lũng sâu, phát hiện ra rằng cư dân ở đó đều tự đào giếng lấy nước và xử lý nước thải thấm xuống đất.

Những cư dân ở các vùng núi và thung lũng sâu này phải đợi đến khi dân cư tập trung đông đúc hơn thì mới có thể kéo hệ thống nước máy và cống thoát nước từ khu vực gần nhất đến vùng núi và thung lũng sâu, nhưng việc này thường tốn rất nhiều tiền, chi phí cho các công trình công cộng này sẽ được phân chia đều cho tất cả các hộ dân.

Tuy nhiên, những khu vực đã có hệ thống nước máy và cống thoát nước, giá đất đương nhiên đắt hơn. Đất ở những khu vực không có nước máy và cống thoát nước thì rẻ hơn.

Phần lớn nhà ở của người Mỹ tại các vùng núi và thung lũng sâu vẫn sử dụng phương pháp đào giếng lấy nước.

Liên Sinh Hoạt Phật đã từng nói, giếng trong dương trạch chiếm một vị trí quan trọng, không thể bỏ qua, giếng là nguồn nước sự sống, liên quan đến sinh mệnh, giếng cũng là nước, vì vậy việc đào giếng và lấp giếng đều ảnh hưởng đến phong thủy.

Tôi nói, trong giếng có sinh linh, và còn nói rằng, có thể có linh hồn tụ tập trong đó. Tôi nhận thấy, có rất nhiều gia đình, vì xung sát khi lấp giếng, vận nhà bắt đầu xấu đi, ngày càng đi xuống, đến mức bi thảm không thể phục hồi được nữa.

Vì vậy khi lấp giếng nhất định phải làm pháp cầu an. Bài viết này đặc biệt công khai phù lục đặc biệt để lấp giếng, cũng như công khai phương pháp cầu an, pháp này vô cùng quý giá, lấp giếng sẽ đại cát đại lợi.

Phương pháp lấp giếng cầu an như sau:

1. Lấy một đoạn trúc xanh, cạo bỏ vỏ ở một mặt, viết lên đó chân ngôn an thổ địa, chân ngôn an thổ địa là: "Nam-mô san-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wây sô-ha." Hoặc viết lên đó phù lục đặc biệt để lấp giếng (phù lục này có hiệu quả linh nghiệm hơn), rất quý giá.

2. Sau khi viết phù lên trúc xanh, cúng ở mật đàn, tu pháp Bổn tôn bảy ngày, quán tưởng Bổn tôn phóng ánh sáng (màu xanh lam) chiếu vào phù trên trúc xanh.

3. Sau khi kết thúc bảy ngày tu pháp, chọn ngày trực Mãn, ném trúc xanh vào giếng, sau đó lấp đất bít giếng.

4. Nói chung khi lấp đất bít giếng, cũng có thể làm pháp siêu độ hoặc cúng bái thần đất, như vậy tự nhiên sẽ viên mãn hơn.
Siêu độ là siêu độ cho sinh linh trong giếng.
Cúng bái thần đất là an ủi thần đất.

Tôi cho rằng lấp giếng là một việc hệ trọng, không thể xem nhẹ, vì đào giếng và lấp giếng đều liên quan mật thiết đến phong thủy, không thể không đề phòng.

Ngoài lấp giếng ra, phương pháp này còn có thể áp dụng cho lấp hồ, lấp ao, lấp mương, chỉ cần thay chữ giếng trong phù lục thành chữ hồ, ao, mương. Phương pháp đều giống nhau, chỉ cần linh hoạt ứng dụng.

Sau khi lấp giếng, đương nhiên sẽ ảnh hưởng đến phong thủy, nhưng nếu đã làm pháp giải trừ thì không còn lo ngại về ảnh hưởng phong thủy nữa, bởi vì trong phù có hai chữ bình hòa. Phù này có sự truyền thừa, chính là một trong những phù lục quý báu được truyền từ Đạo trưởng Thanh Chân.


![image](/img/img_ef6b975980f36e5fed0fdf3c8354163a.png)


Phù lục đặc biệt để lấp giếng có hai chữ "bình hòa", mang hiệu quả giải trừ.


### 29. Pháp áp chế chặt cây


🎯 Pháp dùng gạo muối trừ tà

Tôi từng đi xem một ngôi nhà lớn. Chủ nhân của ngôi nhà này bị bệnh rất nặng. Tôi nói:
"Ông đã bị bệnh một năm ba tháng rồi."
"Sao đại sư biết?" - Chủ nhân rất kinh ngạc.
"Thần địa chủ của ông nói cho tôi biết."
"Vì nguyên nhân gì mà lại bị bệnh chứ?" - Chủ nhân lại hỏi.
"Là vì ông đã chặt một cái cây to ở cạnh cửa, sau đó thì ông bị bệnh."

Chủ nhân của ngôi nhà suy nghĩ thật kĩ, ngẫm nghĩ một hồi rồi nói với tôi:
"Đúng là quá thần kỳ, đại sư nói đúng quá, cái cây to đó đúng là đã chặt được một năm ba tháng rồi. Vì sao bệnh của tôi lại có liên quan đến việc chặt cái cây đó chứ?"
Tôi nói, cái cây to đối diện thẳng với cổng chính, chặt cây to đi thì phong thủy sẽ đột ngột thay đổi, là lành hay là dữ đương nhiên sẽ thấy linh nghiệm ngay. Ngoài ra, cây to này có linh sống ở trong đó, ông động vào cái nơi cư ngụ vốn có của nó thì chẳng phải là làm điều độc ác sao? Đó là nguyên nhân của bệnh.

"Vậy phải làm sao?"
"Tôi có cách làm pháp cầu an, xin cứ yên tâm." - Tôi cười cười.

Muốn chặt cây to mà sợ sẽ xung phạm vào tội với phần âm, tôi giải thích cách làm pháp gạo muối như sau:

1. Lấy một cái bát, đựng một nửa gạo, một nửa muối, dùng tay trộn đều muối và gạo trong bát.

2. Hành giả Mật tông ngồi tại mật đàn dâng bát gạo muối này cúng Phật Bồ Tát Bổn tôn, tu pháp bảy ngày. 

3. Quán tưởng Bổn tôn phóng ánh sáng màu vàng chiếu đến gạo, gạo biến thành núi gạo. Quán tưởng ánh sáng xanh lam chiếu vào muối, muối biến thành núi muối.

4. Muối có ý nghĩa phá tà. Gạo có ý nghĩa bố thí.

5. Chọn ngày trực Trừ, đem bát gạo muối ra rắc xung quanh cái cây to, hoặc rắc lên thân cây cũng được. Khi rắc gạo muối, có thể quán tưởng muối hóa thành núi muối, gạo hóa thành núi gạo vây kín lấy cái cây này.

6. Sau đó chặt cây.

Tất cả sẽ cát tường viên mãn.

Nói chung, nếu cây có linh sống trong đó, hễ gặp núi muối ắt sẽ tháo chạy. Muối là để xua đuổi tà ma.
Nói chung, nếu cây có linh sống trong đó, hễ gặp núi gạo ắt sẽ vận chuyển gạo đi. Gạo là bố thí.
Cho nên linh sống trong cây này vừa vận chuyển gạo đi, lại vừa trốn chạy. 

Nếu cửa chính của ngôi nhà đối diện với một cái cây to, về mặt phong thủy địa lý mà nói đều là không cát tường. Đối diện với một cái cột lớn hoặc cột điện thì cũng có vấn đề giống như cái cây to. 

Dương trạch có cái gọi là sáu thứ bên ngoài, là chỉ tất cả sự vật bên ngoài ngôi nhà, ví dụ hàng xóm, nóc nhà, đền thờ, cột cờ, cây, gò đất, v.v… bởi vì những thứ này đều có sức ảnh hưởng rất lớn đối với phong thủy. Bên ngoài cửa chính đối diện với nóc nhà thì chủ nhà cô độc, cửa chính đối diện với miếu thờ thì chủ nhà suy yếu, cửa chính đối diện với cột cờ thì chủ nhà sẽ gặp nạn, cửa chính đối diện với thân cây thì chủ nhà sẽ suy yếu và chết.

Thân cây ở đây là chỉ những cây rất to sum sê, còn cây mà thưa lá, cành nhỏ thì vô hại. Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng đối diện với cửa chính có cây to thì phương pháp duy nhất chính là di dời hoặc chặt bỏ, muốn chặt thì dùng phương pháp gạo muối là được, tất cả tự nhiên có thể bình an cát tường.

Nếu gặp trúng một cái cột lớn, hoặc là cột điện, căn bản không có cách nào chặt bỏ hoặc di dời được, thì có người dùng cách tự an ủi bản thân, viết lên cột lớn hoặc cột điện bốn chữ "sinh tiền cho tôi", như vậy cũng có thể khiến cho tâm linh của mình được an, cũng là một cách hay.

Cũng có người treo ở trên cửa chính một cái gương lõm, gương lõm có tác dụng hút vào và hóa tán, cũng có thể thử nghiệm. Lực hút vào lớn hay nhỏ, có giữ được tà khí hay không đều nằm ở cái gương lõm này. 

Cũng có rất nhiều thầy phong thủy chủ trương treo gương bát quái để phá giải, nếu cột điện bằng gỗ thì dùng kim để khắc. Nếu cột điện bằng bê tông (xi-măng) thì dùng mộc để khắc. 

Liên Sinh Hoạt Phật từng vận dụng con mắt tâm linh để quan sát sự hình thành của một linh thụ, trình tự của nó là:
Cây to âm u sẽ tạo thành khí.
Khí động thì hóa thành tinh.
Sau đó tinh động thì sắc thành, sắc thành thì ắt linh. Linh rồi thì ắt sẽ "minh", cổ thụ trở thành "linh minh", chuyện này trong thiên hạ đều có cả. [Linh minh cũng tức là thần linh, ở đây chỉ linh thụ, thần cây.]


![image](/img/img_17922e5720359197f0e4a9b075f6213b.png)


Sáu thứ bên ngoài dương trạch, đó là chỉ tất cả sự vật bên ngoài ngôi nhà, ví dụ nhà hàng xóm, nóc nhà, miếu thờ, cột cờ, cây, gò đất v.v... Những thứ này đều có ảnh hưởng rất lớn đối với phong thủy.


### 30. Xây nhà trên hố phân


🎯 Phương pháp loại bỏ uế khí 

Ở Mỹ, tôi từng đi du lịch qua một khu nhà ở xinh đẹp rộng lớn ở vùng Tây Bắc, trong đó có một ngôi nhà kiến trúc đẹp đẽ, là ngôi nhà đẹp nhất trong khu vực.

Cánh cổng như cung điện. Cửa sổ kính như lưu ly.
Mái hiên cong. Ba garage lớn.
Ngôi nhà hợp ngũ hành.
Thế nhưng, những ngôi nhà khác đều bán hết, chỉ còn lại duy nhất ngôi nhà này, không ai mua, hạ giá bán cũng chẳng ai hỏi han.

"Sư Tôn, thầy xem căn nhà này có gì khác thường không?"

Tôi vận dụng mắt tâm linh nhìn kĩ, ngôi nhà này hình dáng bên ngoài thoáng đãng sáng sủa, nhà cao và rộng, ánh sáng rực rỡ, hợp với địa linh, nhưng khi nhìn kĩ lại thấy có một luồng khí mơ hồ tỏa ra từ mặt đất, khí này là khí uế trược, trong chốc lát, cả ngôi nhà biến thành một vùng tối tăm.
"Ôi! Sao lại có nhiều khí ô uế như vậy." - Tôi nói.
"Sư phụ quả nhiên tinh mắt, căn nhà này đúng là một dương trạch nằm trên hố phân."

Thì ra, khu đất xây dựng rộng lớn này ban đầu là ruộng, trong ruộng có một hố phân lớn, nhà thầu đã lấp đất hố phân và sau đó xây một ngôi biệt thự sang trọng trên đó. Về mặt này, người Trung Quốc và người phương Tây đều giống nhau, đều không muốn mua nhà xây trên hố phân.

Tôi nói với đệ tử đi cùng, hố phân có uế khí, thực ra lòng người cũng có uế khí, nếu lòng người có uế khí, thần cũng không ở.
"Uế khí trong lòng người là gì?"
"Lòng không biết đủ có uế khí, tâm đấu tranh có uế khí, buông thả dục vọng có uế khí, tranh lợi đoạt quyền có uế khí, người có ác niệm có uế khí, người nóng giận có uế khí, tâm xáo trộn có uế khí, người hành nghề tà thuật có uế khí... Đây là những uế khí trong lòng người, vì vậy cõi người được gọi là ngũ trược ác thế."
"Thưa Sư Tôn, trong thế gian, làm sao để tránh uế khí?"
"Trước khi tôi giáng sinh, tại cõi trời Đế Thích, Thiên Đế đã ban cho tôi một báu vật, Thiên Đế cho rằng thế giới Ta Bà ô trược rất nặng, sợ làm ô uế thân tâm của Sư Tôn, vì vậy ban cho một viên "Lan Hương Hoàn". Lan Hương Hoàn này được làm từ trăm loài hoa của cõi Phật Diệu Hương, nếu dùng nó, thân sẽ tỏa hương diệu, có thể tránh được mọi vật ô trược trong thiên hạ."

Tôi lại nói: "Nhưng trong ngũ trược ác thế, nếu muốn lòng người không ô trược, thì cần tam nghiệp thanh tịnh của Mật pháp, đó là khẩu thanh tịnh, thân thanh tịnh, ý thanh tịnh. Cần thuận theo bản tính để hành đạo, lấy thiên mệnh làm tính, cần vô vi tự hóa, thanh tịnh tự chính. Cần niệm niệm tịch diệt, cần lòng chứa từ bi, cần tự sám hối, hối cải làm lành. Nếu dần đến tự nhiên thì sẽ không có ô uế trong tâm."

"Trong phong thủy, có phương pháp để loại bỏ uế khí không?"
Tôi bảo các đệ tử, uế khí rất ghê gớm đó!

Nếu Ngũ Hoàng đến, sẽ gây ra dịch bệnh. [Chỉ sao Ngũ Hoàng Liêm Trinh, là sao chủ về tai họa, bệnh tật.]
Nếu Nhị Hắc bay đến, sẽ gây ra bệnh quái lạ. [Chỉ sao Nhị Hắc Cự Môn, còn được gọi là sao bệnh phù. Nó cùng với sao Ngũ Hoàng Liêm Trinh được xem là hai hung sát lớn, chủ về bệnh tật, tai ương và tổn thất tài sản.]
Suy yếu, tử vong, tai nạn bất ngờ và điều không may sẽ giáng xuống.

Thông thường, cách loại bỏ uế khí là theo quy luật tự nhiên, càng lâu năm thì uế khí càng nhạt dần. Theo tôi biết, uế khí từ hố phân cần khoảng sáu năm mới có thể loại bỏ hoàn toàn. Nghĩa là sau khi làm sạch hố phân, lấp đất, đợi sáu năm sau mới xây dương trạch, như vậy sẽ không có gì đáng ngại.

Nếu uế khí chưa được loại bỏ mà chúng ta đã chuyển vào ở, chúng ta cần thờ cúng Uế Tích Kim Cang, vì Uế Tích Kim Cang chuyên trừ uế khí, trấn uế khí. "Thần quang ngưng tụ giáng xuống trấn" là vị đại Kim Cang Thần chuyên trấn trừ uế khí. Không chỉ vậy, đối với hữu ảnh vô hình, âm quỷ, dương quái, thụ linh, ám ảnh, cũng có tác dụng trấn trừ.

"Sư Tôn mua căn nhà này thì sao?"
"Tất nhiên tôi có thể mua." - Tôi cười nói: "Nhà trên hố phân cũng không làm khó được tôi."
Tôi lại nói: 
"Nhưng hiện tại tôi đã có nhà để ở, mua về không biết dùng làm gì, nếu không tự mình ở, bán lại thì không bán được, đó là tự chuốc phiền phức."

Tôi viết một bài kệ:
*Nếu trừ bỏ được khí tà uế.
Đây là Mật tông thực tu hành.
Phong thủy cứu độ chúng sinh khổ.
Pháp không hư ngôn ắt có chủ.*


![image](/img/img_1ccbd027344538691111afb927b3c099.png)


Xây nhà trên hố phân, nếu uế khí chưa được loại bỏ, khi sao Ngũ Hoàng đến gần sẽ gây ra dịch bệnh. Khi sao Nhị Hắc bay đến, sẽ gây ra bệnh quái lạ.


![image](/img/img_f05c11a0f930852b3be4e5173c9feb26.png)


Để xây nhà trên hố phân, ngoài việc thay đất, lấp đất, cần để yên ít nhất sáu năm mới nên xây dương trạch. Nếu không, nên thờ cúng Uế Tích Kim Cang trong nhà để trừ uế khí và trấn uế khí.


### 31. Lại nói rõ về lửa trong nhà bếp


🎯 Nghiên cứu về lửa trong nhà bếp 

Trong cuốn sách "Nói rõ về dương trạch địa linh", tôi đã viết một bài về "Lửa trong nhà bếp". Có đệ tử nghiên cứu phong thủy cho rằng vị trí bếp và cửa lò là một phần cực kỳ quan trọng trong dương trạch, họ mong muốn tôi giải thích thêm, để mọi người hiểu rõ cách bố trí vị trí bếp và cửa lò.

Vì vậy, trong bài viết ngắn này, tôi sẽ tập trung vào bếp lửa và cửa lò. Tôi sẽ giải thích từng điểm theo hình thức hỏi đáp như sau:

"Sư Tôn đã nói, lửa trong nhà bếp cần phải tàng phong tụ khí, nếu không tàng phong tụ khí sẽ dẫn đến tán tài, và cũng nói rằng vòi nước không nên đối diện với bếp lửa vì nước và lửa tương khắc sẽ phạm đào hoa, vậy bếp lửa và cửa lò nên đặt ở vị trí nào trong nhà là tốt nhất?"

"Bếp lửa và cửa lò nên đặt ở đâu? Sư Tôn cho rằng bếp và nhà vệ sinh có điểm tương đồng, lửa bếp có tác dụng áp chế sát khí, do đó, tốt nhất nên đặt ở hướng Phá Quân tuyệt mệnh của ngôi nhà, cũng có thể đặt ở hướng Lục Sát, hoặc ở hướng Ngũ Quỷ, nhưng cửa lò phải hướng về phía cát vị. Nghĩa là, bếp đặt ở vị trí hung sát, nhưng cửa lò hướng về phía cát vị."

"Sư Tôn đã nói, khi bước vào nhà không nên nhìn thấy lửa bếp, và cũng không nên đặt bếp ở chính giữa ngôi nhà. Bước vào nhà mà thấy lửa, khí lửa rất mạnh, bếp đặt ở giữa nhà cũng gây ra sự khô nóng. Vậy vị trí tốt nhất của nhà bếp nên ở đâu trong ngôi nhà?"

"Vị trí của nhà bếp, tốt nhất nên ở phía sau của dương trạch. Nghĩa là đặt la bàn ở chính giữa dương trạch, tìm vị trí hung sát ở phía sau bên trái hoặc bên phải, đó chính là vị trí của nhà bếp."

"Việc đặt bếp có điều cấm kỵ không?"

"Người xưa khi đặt bếp có rất nhiều điều cấm kỵ, cũng cần chọn ngày, có thể tìm ngày trực Định hoặc ngày trực Thành. Nếu bếp lửa nằm ở phía trước của ngôi nhà, đó là biểu tượng của sự suy sụp gia đạo, và nếu bếp lửa đối diện với cửa phòng, điều này sẽ khiến con cháu tương lai không hiền lương, mắc phải bệnh quái lạ. Nếu giếng nước gần bếp, điều đó cũng báo hiệu người trong nhà bất hòa."

"Ngày nào không nên đặt bếp?"

"Không đặt bếp vào ngày Hắc đạo, ngày Thập ác, ngày Ôn dịch, ngày Hỏa, ngày Tứ phế, v.v…, tóm lại, hãy tìm ngày lành như ngày Định hoặc ngày Thành."

"Trong la bàn, hướng nào không nên đặt bếp?"

"Hướng Càn, hướng Hợi, hướng Nhâm, hướng Cấn."

"Trong la bàn, hướng nào tốt nhất để đặt bếp?"

"Hướng Dần, hướng Giáp, hướng Khôn, hướng Ngọ."

Tôi nói với các đệ tử rằng, Liên Sinh Hoạt Phật trong tương lai sẽ du hành khắp mười phương, đến các nơi trên thế giới để độ người cứu khổ độ, nhưng chưa bắt đầu du hành mà tiếng tăm đã lừng lẫy, người ở khắp thế giới đều biết đến. Tôi thấy nhiều gia đình có lửa trong nhà bếp đều biến thành kiếp thần, sống trong dương trạch đó như đang sống trong hang động tối tăm, thật lòng không nỡ, nếu lửa trong nhà bếp được đặt sai vị trí, đó thực sự là điều đáng thương.

Liên Sinh Hoạt Phật thông thạo ngũ thuật, giáng phàm trần chính là xả bỏ thân thánh tôn, đến cứu vãn kiếp nạn của nhân sinh, là bước vào con đường nguy hiểm, là không từ nan vạn kiếp. Tôi hết sức coi trọng lửa trong nhà bếp, bởi vì lửa là "động hướng" trong dương trạch, hiệu ứng rất nhanh chóng.

Các thầy phong thủy thông thường cho rằng lửa là chuyện nhỏ.
Tôi không nghĩ lửa là chuyện nhỏ, mà là việc lớn.

"Thưa Sư Tôn, nếu bếp trong nhà bếp bị đặt sai, có cách hóa giải không?"
"Có."
"Có thể truyền dạy được không?"
"Tất nhiên là được. Nhưng phương pháp này rất đặc biệt, cần phải chọn lựa người đặc biệt để truyền dạy, không thể công khai trong sách."
"Tại sao vậy?"
"Bởi vì nếu công khai, người đời sẽ kinh hãi, bàn tán xôn xao, ngược lại không hay."
"Có phương pháp như vậy sao? Có thể tiết lộ một chút được không?"
"Người sống trong lửa mà không tự biết, tự thiêu đốt, tự hành hạ, tự thiêu đốt, tự giày vò, đau khổ không ngừng. Nếu có phương pháp hóa giải, đó là dùng nước để cứu lửa, làm thế nào dùng nước để cứu lửa, đó chính là bí mật lớn trong các bí mật, trong tương lai Liên Sinh Hoạt Phật du hành khắp mười phương, pháp này chỉ truyền dạy cho người đáng tin cậy, tránh gây kinh động thế tục."

Viết một bài kệ ghi lại:
*Lửa có pháp hóa giải.
Dẫn nước để tự cứu.
Người đời làm sao hiểu.
Kinh ngạc không gì sánh.*

Giá trị và sự kỳ diệu của phương pháp này là không thể nói ra, nói ra sẽ làm kinh động trời đất.


### 32. Áp chế nhà ma


🎯 Phù chú bí mật

Liên Sinh Hoạt Phật trong cuốn sách "Nói rõ về dương trạch địa linh" đã viết bài "Mua phải nhà ma thì phải làm sao", trong đó đề cập đến hai phương pháp:

Thứ nhất, khi đến nhà ma, tôi tìm ra vật thể nơi trú ngụ của hồn ma, có thể là xà nhà, có thể là chân dung người hoặc hình ảnh động vật trong phòng khách, có thể là bàn hoặc ghế, có thể là đá trong sân, có thể là đồ cổ, sau khi tìm ra, tôi sẽ di chuyển vật thể có linh hồn bám vào đó đi.

Sau khi di chuyển vật thể có linh hồn bám vào, tôi tiến hành sái tịnh và kết giới cho ngôi nhà. Áp dụng pháp kết giới của Chân Phật Tông, Kim Cang kết giới.

Thứ hai, khi tôi đến nhà ma, trước tiên tôi sẽ triệu gọi linh hồn của hồn ma, giải thích rằng ngôi nhà đã có chủ nhân mới, giảng giải về đạo lý nhân quả oán thù, với hy vọng có thể làm dịu đi oán khí của linh hồn (tuy nhiên, nói chung các oan hồn rất khó để làm dịu oán khí). Gia đình theo đạo Phật có thể đặt bài vị của hồn ma ở vị trí thấp bên trái Phật, sớm tối cúng tế, mong linh thần được bình an, làm dịu cơn giận dữ, oán hận hóa thành âm thanh Phật pháp tĩnh lặng, từ đó ẩn mình học Phật, thụ hưởng khói lửa nhân gian.

Việc có thể hưởng thụ khói lửa nhân gian dĩ nhiên là tốt hơn so với việc quấy phá làm người ta hoảng sợ.

Nếu hai phương pháp này đều không hiệu quả, chỉ còn cách sử dụng pháp áp chế. Pháp áp chế này vì quá hung bạo nên thông thường không nên sử dụng, trong đó phù phải được truyền dạy trực tiếp. Trong bài viết này, tôi chỉ viết ra quy trình thực hiện để mọi người hiểu rằng thực sự có phương pháp huyền diệu như vậy.

Phù chú của pháp áp chế này được liệt vào hạng "cực kỳ bí mật". Khi Đạo trưởng Thanh Chân truyền dạy pháp này, ngài đã dán một mảnh giấy trên cửa với nội dung "quỷ thần chớ nghe". Bởi vì pháp này rất hung bạo, nếu người không chính đáng có được và lạm dụng, sẽ gây ra nhân quả cực kì hung ác.

Quy trình thực hiện pháp áp chế này như sau:

1. Vẽ một lá phù áp quỷ cực kì bí mật trên đàn mật.

2. Dùng vải trắng bọc lá phù này lại, dải vải trắng này phải rất dài, nhớ buộc thành hình có đầu người, hai tay, hai chân. Vẽ ngũ quan lên đầu vải trắng, gồm miệng, tai, mũi, mắt, lông mày. (Việc dùng vải trắng buộc thành hình người có kỹ thuật đặc biệt.)

3. Thanh tịnh hình nhân vải trắng bằng lửa. (Tức là đốt đống vàng mã, nhanh chóng đưa hình nhân vải trắng hơ qua lửa, qua lại ba lần.)

4. Sau khi chuẩn bị xong tất cả, trước tiên đun sôi một nồi dầu lạc tại mật đàn, dầu lạc này phải nóng và sôi sùng sục. Ngày được chọn là ngày trực Trừ, thời điểm là lúc mặt trời lặn.

5. Đặt hình nhân vải trắng lên mật đàn, đặt hình nhân vải trắng lên một cái đĩa, quán tưởng dâng cúng hình nhân vải trắng cho Kim Cang Thần của mật đàn. Chuẩn bị một cái kẹp sắt.

6. Tụng chú triệu thỉnh: "Thiên thượng hồng quang biến địa phúc, địa thượng hoàng quang chiếu thủy lục, nhất thiết quang cảnh quy hoảng hốt, tiền hậu miểu mang dĩ vô lộ, duy hữu bạch bố linh trục tại, thúc hốt tiền hành duy nhất trụ, biến vi trần hoàn vô sự nhân, hồn phách câu tùy thiên địa phúc. Ôm. Phụng cửu thiên luật lệnh. Nhiếp."

Chú này được tụng bảy lần bảy, tổng cộng 49 lần.

7. Khi tụng chú, quán tưởng ánh sáng đỏ từ trời giáng xuống, ánh sáng vàng từ đất trào lên.

8. Sau khi tụng xong bảy lần bảy, tổng cộng 49 lần chú bí mật, dùng kẹp sắt kẹp lấy hình nhân vải trắng, ném vào trong nồi dầu nóng.

9. Với một tiếng "xèo", hồn ma tan biến cả hình lẫn thần.

Pháp này tuy là pháp áp chế, nhưng thực chất là pháp giết quỷ. Pháp giết quỷ chỉ dùng để đối phó với ác quỷ hung bạo, do đó nó cực kì mạnh mẽ và hung dữ, người tu hành không nên sử dụng, vì nếu lạm dụng sẽ dẫn đến nhân quả ràng buộc, thực sự không phải là hành vi của người nhân từ.

Vì vậy, Liên Sinh Hoạt Phật viết ra pháp này, nhưng đã ẩn đi phù của nó, chỉ có chú mà không có phù, thế gian chỉ cần biết rằng có pháp này là đủ.

Người muốn học pháp này phải được chọn lựa kĩ càng để truyền thụ, không được truyền bừa bãi.

Tuy rằng giữ lại điều thiện, diệt trừ điều ác là hành động bất đắc dĩ, nhưng nghiệp chướng do họ tự tạo cũng là kết quả của oán khí, trong đó lại có nhân quả ràng buộc, không thể không phân biệt phải trái mà diệt trừ tất cả, khiến tất cả đều bị pháp này tiêu diệt.

Người tu hành trước tiên nên thử sái tịnh, kết giới, cúng dường, trước hết phải cứu vãn tâm ý, giải thích đạo lý của khí, như vậy mới là chính đạo. Khi chính đạo được thực hành, tam giới tự thanh tịnh, âm dương tự sáng tỏ, đại địa tự được mát mẻ, pháp công bằng như vậy là thích hợp nhất.

Liên Sinh Hoạt Phật thường xem xét các ma quỷ hung ác, hồn ma thần dữ, ban đầu định dùng pháp áp chế để quét sạch các ma quỷ hung ác nhằm làm trong sạch thế giới này. Nhưng nghĩ lại, tôi đã tu tập pháp tĩnh lặng của lòng từ bi, hiện giờ chỉ khuyên người làm thiện, những ai khuyên không được thì không để tâm, đối với thần dữ ma ác cũng chỉ có thể tha cho họ một mạng, nhưng mong họ biết xấu hổ và hối cải.


### 33. Phán đoán tài vận con cái công danh


🎯 Ba phán đoán lớn về dương trạch

Đây là ba phán đoán lớn của Liên Sinh Hoạt Phật:

Tôi cho rằng khi luận về tài vận trong dương trạch, mỗi khi đến một nơi, trước tiên phải quan sát thế nước xung quanh dương trạch, nghĩa là tổng hợp thế của thủy thần, thế nước hướng vào nhà ở như thế nào? Thế nước bên cạnh nhà ở ra sao? Cuối cùng mới xem phúc nguyên bên trong nhà ở thế nào?

Quan sát thế nước, có thể đoán định tài vận ra sao. Tất nhiên cần kết hợp với ngày tháng năm sinh của chủ nhà để phán đoán khi nào có thể phát tài.
Tôi đã từng nói.
Nước mà hữu tình, sẽ thịnh vượng.
Nước mà vô tình, sẽ suy tàn.

Về phương diện luận về con cái trong dương trạch, tôi cho rằng cần căn cứ vào hướng của nhà để luận, đánh giá dựa trên long mạch và sao khí của đất đai nền nhà sẽ chính xác hơn. Đất nhà hữu tình, nhiều con; đất nhà vô tình, ít con. Dùng việc "đương vận" hay không để đoán định khi nào có con, như vậy sẽ linh nghiệm như thần.

Liên Sinh Hoạt Phật phán đoán số lượng con cái hoàn toàn dựa vào công phu xem xét đất nền.
Đất nền dương trạch không có khí, cũng không có con.
Đất nền dương trạch có khí, nhiều con.
Lại nói:
Nội khí chủ về trẻ sơ sinh, nội khí là các góc phương trong nhà.
Ngoại khí chủ về nhân đinh, ngoại khí là phong thủy bên ngoài nhà.

Liên Sinh Hoạt Phật có một bí quyết tuyệt chiêu trong tay, nếu có dương trạch nằm ở nơi không có khí không có nhân đinh, điều này gọi là "mệnh phạm cô thần", phương pháp cứu vãn là hướng miệng bếp lò về phía vượng khí sinh khí, chỉ cần miệng bếp lò của nhà ở hướng đúng về "phương vượng khí sinh khí", cũng có thể có con.

Phương vượng khí sinh khí này đương nhiên phải kết hợp với ngày tháng năm sinh của vợ chồng mới tìm được.
Đất nhà vô tình.
Tướng nhà vô tình.
Nhưng miệng lò mà hưng vượng cũng sẽ có con, nhiều lần ứng nghiệm, nhiều lần linh nghiệm.

Liên Sinh Hoạt Phật từng xem nhà đất cho một đại phú hào, người này tuy giàu nhưng không có con. Tôi đã thay đổi hướng của tất cả miệng lò [lò ở đây có thể là bếp lửa, lò sưởi] trong biệt thự lớn của ông ấy, kết quả là ông liên tiếp sinh được bốn con trai, vào thời điểm đó tuổi của ông đã hơn 50! Quả thật có hiệu nghiệm lớn.

Nếu muốn luận đoán về công danh, bí quyết của dương trạch nằm ở núi non, ở nhà cao tầng, ở giao lộ, ở "nơi lưu thần uốn khúc", đây là phép đoán của phi tinh hướng lên.
Phương vị của nó là:
Phương Nhất bạch.
Phương Tứ lục.

Ở vùng đất bằng, để xem công danh phát triển như thế nào, các ngọn núi chính là các tòa nhà cao tầng, đặc biệt là ở các giao lộ ngã ba, nơi khí lưu chuyển uốn khúc, đều là những yếu quyết quan trọng. Kết hợp với bát tự ngày sinh có thể đoán định khi nào sẽ phát đạt, công danh hiển hách, như bay lên chín tầng mây xanh.

Xem phong thủy bên ngoài nhà đoán công danh, làm sao để xem? Trong thành phố nhà cửa san sát, mà nhà bên cạnh có lồi lõm cao thấp, giao lộ ngã ba có rộng hẹp thẳng cong, chỗ lõm có thể xem như nước, chỗ lồi có thể xem như núi, đặc biệt những nơi rất cao chính là đỉnh núi.

Ở vùng đất bằng, để xem công danh, lấy các tòa nhà cao tầng làm căn cứ, nhưng, tòa nhà cao tầng phải tạo thành thể tinh tú, không được thiếu khuyết, nếu thiếu khuyết thì không sinh ra quý nhân. Nếu là tòa nhà cao tầng ở phương Tốn, thì tài lộc, nhân đinh, danh vọng đều đạt được.

Nói chung, khi xem công danh, đều phải nhìn vào phong thủy bên ngoài nhà, nhưng Liên Sinh Hoạt Phật còn có một tuyệt chiêu độc đáo, tuyệt chiêu này chính là việc bố trí "kính đạo" [khí mạnh] bên trong nhà, việc bố trí "kính đạo" bên trong nhà cũng giống như những tòa nhà cao bên ngoài, nguyên lý là tương tự nhau.

Tòa nhà cao (dãy núi) bên ngoài nhà tạo nên ngoại khí, là yếu tố quyết định sự thịnh suy của cục diện tổng thể.
Kính đạo (dãy núi) bên trong nhà tạo nên nội khí, là yếu tố giúp công danh dần dần phát triển.

Đối với những tòa nhà cao bên ngoài dương trạch, chúng ta không thể thay đổi chúng dù bằng cách nào, vì vậy ngoài việc chuyển nhà thì không còn cách nào khác. Hiện tại chỉ có thể bắt đầu từ việc điều chỉnh kính đạo bên trong nhà, việc điều chỉnh kính đạo bên trong nhà có thể giúp dần dần đạt được công danh, tạo nên cục diện sung túc, đây là bí quyết của Liên Sinh Hoạt Phật.

Sự nghiên cứu của Liên Sinh Hoạt Phật về nội khí và ngoại khí có thể đem lại trăm phúc cùng đến, khi mọi phương pháp được áp dụng hợp lý, sức mạnh của phúc đức sẽ tăng gấp bội, tài lộc, nhân đinh và danh vọng đều đầy đủ.


![image](/img/img_8e7fddb6eedbaf598714da64f8fdee13.png)



![image](/img/img_59b77b681f06fd8d62e96b8b41195a2a.png)


Nền đất có khí, hữu tình, nhiều con cái. Nền đất không có khí, vô tình, không con cái. Sử dụng "đương vận" hay không để đoán định và kiểm chứng.


### 34. Chương ngoài lề của cuộc chu du bốn phương


🎯 Xem phong thủy khắp bốn biển

Liên Sinh Hoạt Phật dự định trong tương lai sẽ chu du khắp thế giới, đặt chân đến mọi ngóc ngách trên toàn cầu, hôm nay ở phương Đông, ngày mai ở phương Tây, và có lẽ trong tương lai, Liên Sinh Hoạt Phật có thể đột nhiên xuất hiện tại nhà bạn.

Ngoài việc hoằng dương Chân Phật Mật Pháp trong hành trình chu du của tôi, phong thủy chính là "chương ngoài lề của cuộc chu du". Tôi sẽ đến nhà các đệ tử để xem xét năng lượng cảm ứng của dương trạch.
Nếu năng lượng cảm ứng là cát tường, sẽ hưng thịnh.
Nếu năng lượng cảm ứng là hung ác, sẽ suy hoại.

Liên Sinh Hoạt Phật có năng lực cảm ứng vô cùng đặc biệt.

Tôi sẽ chú ý đến việc sử dụng ban đầu của đất, sự phân chia âm dương, toàn bộ thế đất, vị trí có phù hợp không, đất có sạch sẽ không (ý là có tạp chất hay không), nền móng có vững chắc không, cây cối xung quanh dương trạch có thích hợp không, khả năng cảm ứng giữa cây cối và dương trạch, ảnh hưởng của nhà cửa và đường xá xung quanh, các mối quan hệ của mương nước, ao hồ, sông suối.

Đối với bản thân dương trạch, các vách ngăn có hợp lý không? Vị trí và hướng của cửa chính, cửa, phòng khách, nhà bếp, phòng ăn, phòng ngủ, nhà vệ sinh, phòng tập, nhà để xe, phòng làm việc, phòng đọc sách..., tất cả những bố trí này đều có nguyên lý và nguyên tắc của nó, năng lượng cảm ứng tốt hay xấu thường sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển cả đời của một người.

Về mặt cải tạo dương trạch, Liên Sinh Hoạt Phật chú trọng hơn vào vị trí cải tạo, và việc chọn ngày cũng rất quan trọng, có thể thiết kế tỉ mỉ dựa theo nguyên lý của dương trạch học, làm cho nó hoàn toàn thích hợp, viên mãn và không xảy ra điều bất trắc.
Cải tạo chính là thay đổi phong thủy.
Chú ý đến tác động của cát hung.

Khi chúng ta mua nhà, trước tiên phải hiểu rõ mảnh đất vốn có của ngôi nhà có sạch sẽ không, có phải là nhà xác của bệnh viện cũ, là lò mổ, đền cổ, phòng hành quyết, nghĩa trang, chiến trường... hay không. Khi mua nhà cũ, cần biết liệu có ai từng tự tử, bị giết, chết do tai nạn trong nhà... không. Đây là những điều cần phải hiểu rõ khi mua nhà ở.

Liên Sinh Hoạt Phật hiểu rõ:
Sự chuyển hóa địa linh của nhà ở.
Sự phát triển của con người được thai nghén từ dương trạch.

Đối với sự tương ứng khí cơ phổ biến của nhà ở, có thể giải thích rõ ràng, cái gọi là dương kỳ thuận hành, âm ngẫu nghịch hành, sinh vượng suy tử, cát hung tiêu trưởng, khi nào ứng nghiệm, đều có một kết luận nhất định.

Đối với dương trạch có những khuyết điểm nhỏ, tôi sẽ hướng dẫn phương pháp "bổ", cái gọi là "bổ" chính là phù trợ, làm cho khuyết điểm nhỏ biến mất, khiến dương trạch có cát tinh chiếu mệnh, lại làm cho từ trường sinh mệnh và nhà ở hòa hợp, không có hung sát lớn, không xung khắc.

Trong phương diện này, tôi sử dụng phương pháp la bàn thiên địa chuyển đổi phương hướng, phương pháp này là một trong những đại mật pháp của Chân Phật, là tinh hoa thần diệu của việc xây dựng nhà ở, có công dụng lớn trải qua hàng trăm nghìn năm, sự kỳ diệu trong ứng dụng của nó quả thực có thể đoạt được kỹ thuật thần diệu.

Liên Sinh Hoạt Phật còn tinh thông phương pháp trừ tà giải nạn, chính là:
Ánh sáng thiên đường chiếu xuống.
Đức hạnh của đất nâng lên.
Thần linh ẩn mình hòa hợp.
Thần đến quỷ tránh.

Liên Sinh Hoạt Phật chu du khắp thế giới, hành hương khắp mười phương, cho rằng đạo phong thủy địa lý vẫn lấy hình thế làm chủ, khi hình thế xuất hiện, lý khí tự nhiên có trong đó, nếu chỉ có lý khí mà không có hình thế thì không có lý do để phát triển, nhưng nếu có hình thế, sớm muộn cũng sẽ phát triển!

Bậc đắc đạo, sức cảm ứng mạnh mẽ, càng có thể đo lường sự vi diệu của cơ quan tạo hóa trời đất, có thể thấu hiểu thông suốt sự biến hóa.
Dù là Phi Tinh.
Hay là Bát Quái.
Đều rõ ràng minh bạch và chính xác.

Viết một kệ:
*Thiên cơ huyền bí khó được biết.
Du phương hành cước không mơ hồ.
Rộng hoằng Chân Phật đại mật pháp.
Lại xem dương trạch tỉ mỉ tìm.*


### 35. Hỏi đáp về "Dương Trạch Huyền Bí"


Hỏi: "Dương Trạch Huyền Bí" có điểm gì khác biệt so với các sách phong thủy trên thị trường?

Đáp: Ngoài những nội dung liên quan đến tướng nhà và phương vị, điều quan trọng nhất trong "Dương Trạch Huyền Bí" là bao gồm cả "Phương pháp cầu an hóa giải". Phương pháp cầu an hóa giải cổ xưa này có thể nói là bí mật hoàn toàn không được công khai, người đời hiếm khi được biết rõ. Sau khi áp dụng phương pháp cầu an hóa giải, ngôi nhà trở nên có sinh khí và sáng tạo. Sự quý báu của phương pháp cầu an hóa giải là vô song, điều này cho thấy tầm quan trọng của cuốn sách này.

Hỏi: Bản chất của phương pháp cầu an hóa giải là gì?

Đáp: Phương pháp cầu an hóa giải có thể nói là một loại pháp thuật vô hình kỳ bí, ý tôi là dùng cái vô hình để thay đổi cái hữu hình, dùng thuật để cứu giải những chướng ngại hữu hình. Pháp là sức mạnh vô hình, có ý nghĩa lưu động, làm cho những điều hung dữ bên trong tướng nhà hoàn toàn trôi đi. Việc đưa vào dòng chảy pháp lực chính là làm trôi đi điều hung dữ, biến thành vô cùng cát tường, thậm chí có thể nâng cao hiệu quả cát tường, phát huy đến mức tối đa.

Hỏi: Phương pháp cầu an hóa giải của Liên Sinh Hoạt Phật có gì đặc biệt?

Đáp: Liên Sinh Hoạt Phật học Đạo giáo, học Hiển giáo, học Mật giáo. Phương pháp cầu an hóa giải của ngài xuất phát từ Chân Phật Mật Pháp. Chúng ta biết rằng, việc tu hành Chân Phật Mật Pháp sẽ tạo ra ảnh hưởng cực lớn đối với trí tuệ và hành vi của cá nhân. Trên thực tế, Chân Phật Mật Pháp đương nhiên còn có nhiều pháp lực hơn đối với nhà cửa. Bản thân Phật pháp là trùm khắp thiên hạ, lan tỏa khắp sáu phương, đối với việc cải thiện nhà cửa, đương nhiên không cần phải lo lắng, bởi vì Chân Phật Mật Pháp đã đạt đến điểm viên mãn, chắc chắn sẽ có hiệu nghiệm. Đây là điểm đặc biệt trong phương pháp cầu an hóa giải của Liên Sinh Hoạt Phật.

Hỏi: Khi nhà có tướng hung, quan niệm của chúng ta nên như thế nào?

Đáp: Chúng ta không cần quá bi quan, điều quan trọng nhất là loại bỏ tướng hung, không cần quá mức căng thẳng. Chỉ cần thỉnh cầu hành giả Chân Phật Mật giáo thực hiện nghi lễ cầu an hóa giải cho bạn là được. Sau khi hóa giải, không cần chú tâm để ý đến nơi có tướng hung, chỉ cần nỗ lực trong mọi việc của mình, đó mới là điều quan trọng nhất. Với tâm thái cởi mở như vậy mới có hiệu quả toàn diện.

Hỏi: Làm thế nào để thực hiện phương pháp hóa giải cửa?

Đáp: Nói chung, cửa chính ở hướng Đông Bắc là tướng hung xấu nhất, cửa chính hướng Đông Bắc này sẽ không tốt về mọi mặt, liên tục gặp rắc rối. Phương pháp sửa chữa, về mặt tướng nhà, chỉ cần đổi hướng cánh cửa sang hướng Đông hoặc Đông Nam, hoặc Nam là được, thậm chí có thể thiết kế cánh cửa xoay 90 độ. Nếu nhất định không thể thay đổi, không có cách nào thay đổi, thì có thể sử dụng phương pháp hóa giải, đặt la bàn đã được làm lễ, đầu kim chỉ về hướng cát tường, chôn vào vị trí đặc biệt, hóa giải như vậy, cửa của ngôi nhà sẽ được chuyển đổi bởi pháp lực của la bàn, tướng nhà sẽ trở nên tốt hơn, mọi việc đều sẽ thành tựu. Phương pháp này được gọi là pháp la bàn thiên địa.

Hỏi: Cây trồng và chậu cảnh có lợi cho việc hóa giải không?

Đáp: Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng cây trồng và chậu cảnh đều có công dụng đặc biệt, đồng thời rất dễ giải trừ điều hung, đặt chậu cảnh bên cạnh cửa nhà vệ sinh vô tình giải trừ được sát khí của nhà vệ sinh, đặt chậu cảnh ở cửa chính cũng tương tự. Đặc biệt vị trí kho tài (nơi tụ tài) đặt chậu cảnh, không chỉ có giá trị thẩm mỹ, thậm chí còn tạo ra sinh khí dồi dào, khiến mọi vận khí đều tăng tiến dần. Thực ra, cây trồng và chậu cảnh có thể đặt ở nơi không sạch sẽ hoặc nơi có tướng hung, cũng có thể đặt ở vị trí cát tường.

Điều duy nhất không tốt là việc đặt cây và chậu cảnh không nên nhiều đến mức khiến người ta cảm thấy u ám, tạo cảm giác u ám thì có nghĩa là quá nhiều và quá lộn xộn.

Hỏi: Làm thế nào để xử lý lửa trong tướng nhà?

Đáp: Lửa từ bếp lửa, lò đốt rác, lò sưởi kiểu Mỹ trong nhà, tất cả đều được coi là lửa. Nếu chúng ta vào từ cửa chính mà nhìn thấy lửa ngay, đó là tướng đại hung, khí lửa cũng không nên đặt ở trung tâm ngôi nhà. Vị trí tốt nhất là hướng Nam, Đông hoặc Đông Nam. Trong cuốn "Dương Trạch Huyền Bí" này, Liên Sinh Hoạt Phật đề cập rằng, bếp lửa và nhà vệ sinh đều có công năng áp sát, vì vậy có thể đặt ở hướng sát, tuy có thể áp sát, nhưng với vị trí tuyệt đối đại hung, tôi cho rằng vẫn không nên sử dụng, bởi vì số người biết cách áp dụng phương pháp này vẫn còn rất ít.

Hỏi: Nghe nói việc hóa giải cầu thang là khó khăn nhất, có đúng không?

Đáp: Đúng vậy. Chúng ta cảm thấy rất đau đầu về cầu thang và thang máy. Tôi khuyên các nhà xây dựng khi thiết kế cầu thang và thang máy cần đặc biệt thận trọng, bởi vì cầu thang và thang máy có ảnh hưởng đáng kể. Ngoài việc không đặt cầu thang ở vị trí quỷ môn, thì vào cửa thấy ngay cầu thang cũng là đại hung. Cầu thang thông thường cũng khó di chuyển và cải tạo, phương pháp hóa giải đã được viết trong sách, đó là cách giải quyết trong tình huống không còn cách nào khác.

Hỏi: Về hình dáng nhà ở dương trạch, xin hãy giải thích chi tiết?

Đáp: Về hình dáng nhà ở dương trạch, theo thuyết ngũ hành, hình chữ nhật là tốt nhất (Mộc), có một thuyết cho rằng tỷ lệ chữ nhật 4:6 là lý tưởng nhất. Hình vuông cũng rất tốt, tướng nhà vuông vắn (Thổ) cũng dễ phát triển. Tướng nhà hình tròn cũng là một loại dễ phát triển, nhà tròn thuộc (Kim). Tệ nhất là tướng nhà hình tam giác (Hỏa), những hình dáng kỳ quái, khiếm khuyết không đầy đủ (Thủy), đều sẽ có sát khí hỗn loạn, ngày càng suy tàn.

Hỏi: Xin hãy trình bày những điểm quan trọng về bàn thờ?

Đáp: Liên Sinh Hoạt Phật coi bàn thờ như dụng thần là có lý do, bởi vì dụng thần tương đương với việc cầu an hóa giải, khi đặt ở vị trí đúng, hiệu quả của nó có pháp lực không thể nghĩ bàn. Nếu vị trí bàn thờ sai, dụng thần sẽ mất hiệu lực, việc cầu an hóa giải cũng vô hiệu, thậm chí còn có thể tạo ra điềm hung đáng sợ, đến mức không thể dự đoán được, đây chính là điều thường gọi là quấy phá.

Những điểm quan trọng về bàn thờ, xin trình bày lại như sau:
Cần tụ khí.
Cần vị trí cát tường. Chú ý sự thanh tịnh.
Phía dưới bàn thờ, không nên có người đi lại.
Bàn thờ không nên đối diện với khí khẩu (cửa).
Bàn thờ trong căn hộ chung cư, cố gắng không đặt ở phía trên nhà vệ sinh.
Bàn thờ không nên trống trải ở trên, dưới, trái, phải.

Hỏi: Việc lấp đất để hóa giải bao gồm những gì?

Đáp: Thực tế, lấp đất đã bao gồm ý nghĩa thay đổi phong thủy trong đó, đối tượng được hóa giải không chỉ là thần giếng, đôi khi có thể là thủy thần, long thần, thậm chí còn có cả linh khí khác trong đó, nghi thức này không thể bỏ qua, cần đặc biệt chú ý.
Lấp đất bao gồm:
Nhà vệ sinh.
Hầm phân hủy.
Ao hồ.
Đài phun nước.
Giếng v.v…

Hỏi: Về vấn đề trần nhà trong xây dựng, xin hãy trình bày lại?

Đáp: Thông thường, các gia đình giàu có và những người điều hành khách sạn lớn, câu lạc bộ, vũ trường, nhà hàng đều thích mời nhà thiết kế đến trang trí, để tạo sự thu hút và sang trọng lộng lẫy. Các chủ doanh nghiệp và nhà thiết kế thường ưa chuộng những thiết kế xa hoa như vậy.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, điều này không có gì đáng trách, có thể thiết kế trần nhà để tạo nên vẻ đẹp hoàn mỹ. Tuy nhiên, cần tránh những điều sau:
Trần nhà không nên quá thấp, tạo cảm giác áp lực.
Độ lồi lõm không đều và chênh lệch quá lớn sẽ khiến người ta cảm thấy ngột ngạt.
Chú ý đến việc điều hòa không khí một cách thích hợp.
Chú ý đến vấn đề áp lực từ dầm.
Về nguyên tắc, trần nhà không nên quá cao, quá cao sẽ tạo cho người ta cảm giác lạnh lẽo, không nên quá thấp, quá thấp sẽ gây áp lực, chú ý đến dầm ngang, không nên xung khắc, màu sắc nên hài hòa.

Hỏi: Làm thế nào để hóa giải nhà ở và công trình xây dựng trên "đất linh"?

Đáp: Bản thân đất đai có linh khí, thường xuyên xảy ra các sự cố lớn và tranh chấp cùng nhiều hiện tượng kỳ lạ khác. Về vấn đề này, tôi đã nhiều lần giải thích trong các cuốn "Nói rõ về dương trạch địa linh", "Đạo lý huyền diệu về âm trạch địa linh" và thậm chí cả "Dương trạch huyền bí".

Đây là đặc tính của chính mảnh đất, trước đây từng là nghĩa địa, chùa miếu, bệnh viện, chiến trường, pháp trường, lò mổ, bia đá thờ cúng, cây cổ thụ, v.v…

Tôi đã từng nói, trước tiên hãy thay đất! Thay lớp đất bề mặt dày 50cm bằng đất sạch.
Tiếp theo là nghi thức tịnh hóa đất đai. Rảy nước tịnh.
Sau đó thiết lập kết giới Mật giáo.

Khi đã kiềm chế được khí hung, ta sẽ đạt được bình an. Tất cả các phương pháp kiềm chế khí hung chính là phương pháp hóa giải. Những chi tiết về cách hóa giải đất đai đã được viết trong "Dương trạch huyền bí".

Hỏi: Bể bơi trong nhà ở tư nhân, có cần thiết không?

Đáp: Liên Sinh Hoạt Phật trong thời gian ở Mỹ, đã từng khảo sát phong thủy dương trạch của nhiều đại phú gia, phần lớn họ đều thiết kế bể bơi trong nhà.

Kết luận sau khi tôi khảo sát là không cần thiết.
Bởi vì trong phong thủy, nước là yếu tố khó xử lý nhất, và cũng là vật mang tính hung mạnh mẽ. Đặc biệt là bể bơi trong nhà ở, chiếm diện tích rộng, lại có bốn góc, khó tránh khỏi việc xung khắc với các phòng khác. Lượng nước lớn trong nhà ở, khó bảo đảm không xuất hiện tướng hung.
(Thực tế, những đại gia có bể bơi trong nhà, con cháu họ thường xuất hiện nhiều hiện tượng như con cái thiểu năng, kẻ giết người, chết bất đắc kỳ tử, phá sản, v.v...).
Còn về bể bơi ngoài trời, ít có điều kiêng kỵ hơn, nhưng vẫn nên mời chuyên gia phong thủy thiết kế phương vị thì tốt hơn, an toàn hơn.

Ngoài ra, bể bơi hoặc đài phun nước, ao hồ ở nơi công cộng, vì là công cộng, có đông đảo người. Ngược lại còn tạo nên bầu không khí tốt đẹp và sự thịnh vượng trong kinh doanh, đây là sự khác biệt về nhân sự, cần được xem xét riêng.

Hỏi: Nước là yếu tố khó xử lý nhất, nhưng nước có phương pháp hóa giải không?

Đáp: Đối với Liên Sinh Hoạt Phật, mọi xung khắc đều có phương pháp hóa giải. Ví dụ như trong sách đã đề cập, phương pháp dẫn nước vào cửa kiểu bi-a, hay phương pháp khúc xạ, đều là một trong những cách hóa giải.

Các phương pháp hóa giải nước bao gồm:
Phương pháp dẫn dắt.
Phương pháp khúc xạ.
Phương pháp chặn sát khí.

Những phương pháp bí truyền này không phải chuyên gia phong thủy nào trên thế giới cũng biết, và phải hoàn toàn dựa vào kinh nghiệm mới có thể lựa chọn được những điểm trọng yếu, thậm chí phương vị của nước đều phải dùng mắt thường để đo lường núi non và dòng chảy, tìm ra vị trí của nước và các yếu tố quan trọng. Nếu hóa giải nước tốt sẽ ảnh hưởng đến vận may tốt nhất; nếu nước vận hành quá kém sẽ bị dồn vào đường cùng, khó có thể phục hưng.

Hỏi: Lửa cũng khó xử lý, lửa cũng có cách hóa giải phải không?

Đáp: Đúng vậy, đúng vậy. Theo học thuyết dương trạch, vị trí an toàn nhất cho lửa là ở phía Nam của trung tâm ngôi nhà, hoặc ở vị trí Đông Nam, hoặc Đông, hoặc Tây Bắc. Khí lửa không nên ở chính giữa dương trạch. Khí lửa bao gồm lò, bếp điện, nước nóng, lò sưởi, nồi điện v.v...

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng khí lửa cũng có ba phương pháp hóa giải:
Phương pháp thông khí.
Phương pháp đổi khí.
Phương pháp chuyển hóa khí. (phương pháp điều hòa)

Khí lửa cũng là vật mang tính hung mạnh mẽ, rất dễ gây ra hỏa hoạn, và vô cớ sẽ xảy ra nhiều sai sót, nhiều tai nạn, dẫn đến sự suy thoái và xấu đi của dương trạch.

Hỏi: Việc đặt thùng rác có quan trọng không?

Đáp: Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, thùng rác cũng là một yếu tố quan trọng không thể thiếu trong nhà ở, thùng rác là vật không sạch sẽ, là nơi tập trung các vật không sạch sẽ trong toàn bộ ngôi nhà, ảnh hưởng rất lớn. Chúng ta biết có ba phương vị không được đặt thùng rác, ba phương vị này chính là Bắc, Tây Bắc, Đông, đặc biệt là Bắc, bởi vì phương vị Bắc là phương vị quan trọng, không được để vật không sạch sẽ xâm phạm. Sự xuất hiện của vật không sạch sẽ sẽ khiến người ta tránh xa, khiến cả gia đình mắc bệnh, thậm chí biến thành nguyên nhân chính gây ra những sự cố và tranh chấp không lường trước được, tạo thành đại hung.

Nói chung, ba phương vị này cần được giữ sạch sẽ thường xuyên, việc duy trì vệ sinh môi trường, dù thế nào, đều là cách làm khôn ngoan.

Hỏi: Mái nhà quá nhọn hoặc bồn nước nhô ra, có cách hóa giải không?

Đáp: Mái nhà quá nhọn thực sự sẽ biến thành kiểu nhà hình hỏa, thường gây hại cho người khác và cũng hại chính mình. Ở Mỹ, nhiều người Mỹ thích phong cách này, họ nghĩ rằng điều này giúp căn nhà nổi bật, nhưng thực tế, đây là loại nhà hung dữ và không may mắn.

Nếu bồn nước nhô ra, nguyên lý cũng giống như nhà có mái nhọn. Thực tế, người sống trong nhà có mái quá nhọn hoặc bồn nước nhô ra thường xuất hiện hiện tượng mệt mỏi, đây là do áp lực quá nặng, khiến người ở không thở nổi.

Nhà kiểu hình hỏa có nhiều tướng hung, cũng giống như tướng hung của bồn nước nhô ra, phương pháp tốt nhất là di dời và cải tạo lại.

Nếu việc di dời hoặc cải tạo đều không thể thực hiện được.
Phương pháp hóa giải của Liên Sinh Hoạt Phật là sử dụng một tờ giấy đặc biệt, vẽ lại dương trạch, nhưng loại bỏ phần mái nhọn hoặc loại bỏ bồn nước, sau đó chôn tờ giấy này vào trong xà chính của ngôi nhà. 
Tất nhiên, việc này cần phải làm theo nghi thức.

Phương pháp hóa giải này rất bí mật, cũng rất cơ mật, là một trong những pháp bí truyền. Tại sao không truyền? Vì nếu thực hiện phương pháp này sai lệch cũng có thể gây hại không nhỏ cho người khác, do đó không truyền. (Vì vậy việc không viết vào sách là có lý do.)

Hỏi: Chúng ta học tập phong thủy, hiểu biết về la bàn, lúc đầu nên học như thế nào?

Đáp: Khi mới học phong thủy, trước tiên phải nhận biết thiên can địa chi thuộc Ngũ Hành:
Thiên can thuộc Dương - Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm.
Thiên can thuộc Âm - Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý.
Địa chi thuộc Dương - Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất.
Địa chi thuộc Âm - Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi.

Tiếp theo, nhận biết phương vị của can chi - Giáp Ất Dần Mão thuộc Mộc, thuộc phương Đông; Bính Đinh Tỵ Ngọ thuộc Hỏa, thuộc phương Nam; Mậu Kỷ Thìn Tuất Sửu Mùi thuộc Thổ, thuộc trung ương; Canh Tân Thân Dậu thuộc Kim, thuộc phương Tây; Nhâm Quý Hợi Tý thuộc Thủy, thuộc phương Bắc.

Biết Ngũ Hành tương sinh tương khắc - Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc. Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc.

Còn về lục thập giáp tý Ngũ Hành nạp âm, cần phải ghi nhớ trong tâm.

Nhận biết rõ địa chi tương xung và hình của địa chi. Nhận biết rõ thiên can tương khắc và thiên can ngũ hợp. Nhận biết rõ địa chi lục hợp, v.v…

Như vậy dần dần tiến vào việc suy diễn.

Hỏi: Khi nhà có hư hỏng, nên làm thế nào?

Đáp: Nói chung, nhà ở cần được giữ sạch sẽ và gọn gàng thường xuyên, tất nhiên, khi có vật không sạch sẽ hoặc hư hỏng, chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến tâm lý, tâm lý sẽ ảnh hưởng đến vận may, và vận may có thể xuống dốc không phanh. Khi có hiện tượng hư hỏng, nên sửa chữa sớm. Trong học thuyết dương trạch, hai phương vị Tây Bắc và Đông Nam không được có hư hỏng, bởi vì một khi hư hỏng, vận xấu sẽ đến rất nhanh, không nên trì hoãn việc sửa chữa, cần sửa chữa càng sớm càng tốt.

Hỏi: Liên Sinh Hoạt Phật cũng có nghiên cứu sâu về phong thủy cửa hàng phải không?

Đáp: Đúng vậy. Phạm vi của dương trạch thực ra bao gồm nhà ở, cửa hàng, văn phòng, trung tâm thương mại, và các địa điểm kinh doanh khác nhau. Phương pháp phong thủy có đôi chút khác biệt, nhưng những yếu tố quan trọng cơ bản vẫn tương tự nhau.

Trong thời gian tôi ở Mỹ, tôi đã khảo sát không ít trung tâm thương mại lớn, nhà máy lớn, văn phòng, và các cửa hàng thuộc nhiều ngành nghề khác nhau, tất cả đều có những bí quyết đặc biệt, trong tương lai nếu có duyên, tôi sẽ viết ra để cung cấp cho tất cả độc giả tham khảo.

Hỏi: Liên Sinh Hoạt Phật có ý định giảng dạy về phong thủy không?

Đáp: Câu hỏi này đã được nhiều người đề cập, nhiều trường đại học cũng gửi thư mời tôi làm giáo sư thỉnh giảng, đến từng trường đại học để giảng dạy, thậm chí nhiều tổ chức khác nhau cũng yêu cầu tôi diễn thuyết, ghi hình cho đài truyền hình, v.v…

Tuy nhiên, tôi nhận thấy, mỗi ngày tôi viết sách vào buổi sáng, trả lời thư vào buổi chiều, hàng ngày tĩnh tọa tu pháp, thời gian còn lại rất hạn chế. Nếu phải đến trường đại học giảng dạy, dù là toàn thời gian hay bán thời gian, đều rất khó để sắp xếp thời gian. Đặc biệt là khách thăm rất nhiều, hiện nay tôi quy định mỗi tuần chỉ có hai giờ tiếp khách, đây cũng là bất đắc dĩ, mong mọi người thông cảm.

Tất nhiên, lịch sinh hoạt cả đời của tôi cũng không thể mãi không thay đổi. Khi cơ duyên đến, tôi cũng có thể sẽ giảng dạy về phong thủy.

Hỏi: Nếu chúng tôi muốn học phong thủy và cách hóa giải, cần thủ tục gì không?

Đáp: Pháp hóa giải là một trong những pháp bí truyền của Chân Phật Mật Pháp. Để học pháp hóa giải cần có nền tảng Chân Phật Mật Pháp, muốn học Chân Phật Mật Pháp nhất định phải quy y Chân Phật Tông, vì vậy nếu muốn học phong thủy và hóa giải, hãy quy y Chân Phật Tông của Liên Sinh Hoạt Phật!

Bí quyết của pháp hóa giải nằm ở quán tưởng, cách thực hiện cũng có quy trình nhất định, nghi thức phải hoàn chỉnh, không thể cẩu thả, nếu nghi thức hoàn chỉnh, tâm pháp vận hành ánh sáng, thành tâm ắt linh nghiệm.

Người muốn học pháp này, cần phải quy y Liên Sinh Hoạt Phật của Chân Phật Tông trước, vì sự truyền thừa về phong thủy và hóa giải chỉ có ở tông phái này. Thật hiếm có và thù thắng thay!

Hỏi: Chúng tôi đã hiểu được nhiều ý nghĩa và công dụng của việc tu tập Chân Phật Tông và Chân Phật Mật Pháp đối với phong thủy dương trạch và phép hóa giải, bây giờ chúng tôi muốn quy y Chân Phật Tông, nhận được sự truyền thừa của Chân Phật Tông, chúng tôi phải quy y như thế nào?

Đáp: Để quy y Liên Sinh Hoạt Phật, nhận được sự truyền thừa của Chân Phật Tông, có hai cách:
Đến quy y trực tiếp — nghĩa là trước tiên liên hệ sắp xếp thời gian, từ khắp nơi trên thế giới bay đến Chân Phật Mật Uyển ở thành phố Redmond, Seattle, Hoa Kỳ, để được Liên Sinh Hoạt Phật đích thân quán đảnh quy y.

Sau khi quán đảnh quy y, Liên Sinh Hoạt Phật sẽ ban tặng giấy chứng nhận quy y, pháp tướng của Căn bản Thượng sư và pháp bản tu trì, như vậy là đã nhận được truyền thừa.

Quy y bằng thư — Do đệ tử phân bố khắp các ngóc ngách trên toàn thế giới, người mới muốn đến quy y trực tiếp với Liên Sinh Hoạt Phật không dễ dàng. Vì vậy, đệ tử muốn quy y chỉ cần vào lúc 7 giờ sáng của ngày mùng một hoặc ngày rằm âm lịch, hướng mặt về phía mặt trời mọc, chắp tay, thành kính tụng chú Tứ quy y: "Nam-mô gu-ru pây. Nam-mô put-ta-yê. Nam-mô ta-mô-yê. Nam-mô sâng-kya-yê. Liên Sinh Hoạt Phật chỉ dẫn. Quy y Chân Phật." Tụng ba lần. Lạy ba lạy. (Vào ngày mùng một hoặc ngày rằm, làm một lần là đủ).

Ở chỗ của Liên Sinh Hoạt Phật, mỗi dịp mùng một hoặc rằm, tại Chân Phật Mật Uyển sẽ tổ chức nghi thức quán đảnh từ xa để quán đảnh cho các đệ tử không thể đến trực tiếp.

Những đệ tử đã hoàn thành nghi thức tại nhà, chỉ cần viết thư, ghi rõ họ tên thật, địa chỉ, tuổi, kèm theo một ít phí cúng Phật tùy ý, trong thư ghi chú là "xin quán đảnh quy y", sau đó gửi đến Chân Phật Mật Uyển ở Mỹ. Sau đó mọi người sẽ nhận được giấy chứng nhận quy y và pháp tướng của Thượng sư, đồng thời được chỉ dẫn bắt đầu tu từ pháp nào. Đây chính là cách nhận được sự truyền thừa của Liên Sinh Hoạt Phật.

Có thể đến các phân đường của Chân Phật Tông để được hỗ trợ quy y. (Các phân đường của Chân Phật Tông có mặt trên khắp thế giới.)

Địa chỉ Chân Phật Mật Uyển của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn:

Sheng-Yen Lu

17102 NE 40th Ct.,
Redmond, WA 98052
U. S. A.


### 36. Phụ lục 1: Phán đoán hướng từ trường sinh mệnh thế nào?


Hướng từ trường sinh mệnh:
Trong phương vị 360 độ, mỗi người đều có hai phương vị là hướng sinh vượng.
Trong phương vị 360 độ, mỗi người đều có hai phương vị là hướng tử tuyệt.

Ví dụ: thuộc tuổi Khỉ (Thân), tam hợp của tuổi này là Thân, Tý, Thìn. Hướng sinh vượng là tọa Tý hướng Ngọ và tọa Thìn hướng Tuất. (hình 2 minh họa) Hướng tử tuyệt là tọa Thân hướng Dần và tọa Dần hướng Thân (hình 3 minh họa)


![image](/img/img_084e57e70d737997f5b69129473d5cb4.png)


Tọa hướng của nhà (phải đương vận) + phối hợp với hướng từ trường sinh mệnh của chủ nhân ngôi nhà, tức là hữu tình, thì sẽ phát đạt. 
Tọa hướng của nhà (không đương vận) + không phối hợp với hướng từ trường sinh mệnh của chủ nhân ngôi nhà, tức là vô hình, thì sẽ suy bại. 

Ví dụ: Bát vận đương vận tọa hướng là Nhâm sơn hướng Bính, [tọa Bắc (Khảm) triều Nam (Ly)], hướng từ trường sinh mệnh của chủ nhà tuổi Thân là tọa Tý (Khảm) hướng Ngọ (Ly), tức là hữu tình, thì sẽ phát đạt. (hình 4 minh họa). Ngược lại là hướng tử tuyệt. (hình 5 minh họa)


![image](/img/img_83d5c3159d93001aa99e03aa0f71521b.png)


Hướng từ trường sinh mệnh dựa vào tuổi sinh để sắp xếp như sau:


![image](/img/img_5027f3bd90045b3ae1d37a916e519e3b.png)


Như trên là hướng cát.


![image](/img/img_09a6a6ae85e5631bed8962c6f3d0c28a.png)


Ví dụ người có năm sinh thuộc Tý (tuổi Chuột)

Chú thích: muốn vị trí phối hợp phương hướng, tức là tọa Thân hướng Dần hoặc tọa Thìn hướng Tuất, hai phương vị này đều lấy theo hướng từ trường sinh mệnh của người tuổi Tý, sau đó dùng một vật nào đó làm cực điểm, sau khi xác định điểm này thì mới quyết về hướng.


### 37. Phụ lục 2: Nghiên cứu thêm về lửa của nhà bếp


Bếp là nơi nấu nướng thức ăn, đáp ứng nhu cầu ăn uống của cả gia đình, liên quan đến tình trạng sức khỏe của mọi người trong nhà. Trong bếp vừa cần dùng lửa vừa cần dùng nước, nếu có thể phối hợp tốt nước và lửa thì gia đạo sẽ hưng vượng, tài lộc dồi dào.

I. Vị trí

(1) Tọa sát hướng cát
1. Bếp lò đặt ở vị trí xấu để trấn áp hung thần, như Phá Quân, Tuyệt Mệnh, Lục Sát, Ngũ Quỷ.
2. Miệng bếp lò hướng về phương tốt, đón khí tốt, như Sinh Khí, Diên Niên.
3. Tìm ra vị trí xấu ở phía sau, bên trái, bên phải của ngôi nhà.
4. Đặt ở giữa hai phòng, như ở giữa hai phòng ngủ, sẽ bất lợi cho người sống trong nhà.
5. Đặt ở chính giữa nhà, chủ về hao tài và đào hoa.
6. Đặt ở phía trước nhà, tượng trưng cho sự suy tàn của gia đạo.
7. Bên cạnh bếp không nên đặt phòng ngủ, dễ gây bất lợi cho sức khỏe của người trong phòng ngủ.

(2) Hỏa quá vượng — tránh vị trí Ngọ (phương Nam thuộc quẻ Ly chủ về lửa, vị trí Ngọ càng mạnh hơn).

Nước và lửa xung khắc — tránh vị trí Tý (phương Bắc thuộc quẻ Khảm chủ về nước, vị trí Tý càng mạnh hơn, phạm đào hoa).

(3) Hướng bếp — sử dụng phương pháp Huyền Không phi tinh

1. Hướng về Bắc (vị trí một) — phương Khảm, nước và lửa không dung hợp.
2. Hướng về phương Mộc (vị trí ba, bốn) — đại cát.
3. Hướng về Cửu tử hỏa — lửa quá vượng, hung.
4. Hướng về Kim (vị trí sáu, bảy) — Hỏa khắc Kim, hung.
5. Hướng về Thổ (vị trí hai, năm) — chủ về dịch bệnh.
6. Hướng về Bát bạch Thổ — đại cát.

(4) Nếu chủ nhà và vợ/chồng cùng quẻ, hướng bếp nên đặt ở vị trí sát khí của cả hai người hướng về phương cát.
Nếu không cùng quẻ, đặt ở vị trí sát khí của chủ nhà hướng về phương tốt của vợ/chồng.

(5) Trên la bàn:
1. Vị trí Càn, Hợi, Nhâm, Cấn không nên đặt bếp.
2. Vị trí Dần, Giáp, Khôn, Ngọ là thích hợp nhất để đặt bếp.

(6) Điều cấm kỵ:
1. Chọn ngày tốt như ngày Định, ngày Thành để lắp đặt bếp.
2. Tránh chọn ngày hắc đạo, ngày thập ác, ngày dịch bệnh, ngày hỏa, ngày tứ phế để lắp đặt bếp.

(7) Đường ống nhà vệ sinh không được đi qua phía dưới nhà bếp - phụ nữ dễ mắc bệnh ung thư.

(8) Bếp tượng trưng cho vợ và tài lộc, nên tụ không nên tán.

(9) Hình dạng
1. Hình dạng phải ngay ngắn.
2. Hình chữ nhật hoặc hình vuông là tốt nhất.
3. Không nên có cạnh xiên hoặc hình tam giác.

(10) Cửa bếp

1. Cửa bếp không nên đối diện với cửa phòng ngủ, điều này bất lợi cho sức khỏe của người trong phòng ngủ.
2. Cửa bếp không nên đối diện với cửa chính trước sau, tài lộc dễ chảy ra ngoài, khó giữ được.
3. Cửa bếp không nên thẳng hàng với cửa phòng khách, có thể khắc phục bằng cách đặt một bình phong.
4. Cửa bếp không nên đối diện với cửa nhà vệ sinh, không khí lưu thông sẽ làm thức ăn không sạch, ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của cả gia đình.

II. Bếp (ngày nay bếp đất đã được thay thế bằng bếp gas)

1. Không nên đặt trên ban công, trên trống dưới trống.
2. Không nên đặt cạnh bể nước, nóng lạnh không hòa hợp.
3. Không nên đặt trên bể phốt, phải dùng thuốc liên tục.
4. Không nên đặt trên rãnh thoát nước, rất xấu, xuyên ruột, tiền vào tiền ra, nước và lửa xung khắc.
5. Không nên đặt trên đường ống nước của nhà vệ sinh.
6. Không nên đặt phía sau bếp cũ, coi thường người lớn tuổi.
7. Không nên dựa lưng vào nhà vệ sinh.
8. Không nên đặt dưới cửa sổ, phía sau trống không có chỗ dựa, gas có thể bị gió thổi tắt gây ngộ độc.
9. Không nên ngồi quay lưng với nhà, tức là người hướng mặt ra ngoài, quay lưng lại.
10. Hướng mặt vào trong nhà, chủ về gia đình hòa thuận đồng lòng.
11. Nên đặt ở nơi tụ khí, dễ tụ tài.
12. Bếp cũ không dùng nên tháo bỏ, gia đình sẽ bình an hòa thuận hơn.
13. Không nên đặt tủ lạnh, động cơ ở bên phải của bếp gas.
14. Không nên đặt dưới xà ngang, cả nhà bất an, bất lợi cho sức khỏe phụ nữ.
15. Không nên đối diện với tủ lạnh, nóng lạnh không hòa hợp (dễ sảy thai).
16. Không nên đối diện với cửa nhà vệ sinh, thuốc men không dứt, chủ nhà là nữ hoặc nhiều phụ nữ.
17. Không nên đối diện với góc tường, gây đau lưng, phía sau có cửa cũng tương tự.
18. Phía ngoài đằng sau không nên đối diện với góc nhà người khác, gây bệnh tim.
19. Không nên đối diện trực tiếp với bể chứa nước hoặc vòi nước, đại hung tướng, dẫn đến dâm loạn, nghiện rượu, nam nữ phạm đào hoa.
20. Hai bên không nên đối diện với cửa.
21. Không nên đặt đồ ngâm ướt dưới bếp.
22. Không nên đối diện khuất với bồn cầu trong nhà vệ sinh, dù có vách tường ngăn cách cũng không được.
23. Không nên đối diện với cửa chính, rất xấu.
24. Không nên vừa bước vào cửa chính đã nhìn thấy bếp lửa trong nhà bếp (hoặc nhà bếp trong suốt), rất xấu, vợ chồng bất hòa.
25. Trên đường thập tự của ngôi nhà, không đặt bếp gas, máy nước nóng, lò hơi, bếp điện, nồi cơm điện, chủ về hỏa táo, người suy thoái, khí địa linh khó điều hòa.
26. Bếp lửa ở phía trước nhà, tượng trưng cho sự suy tàn của vận nhà.
27. Bếp lửa đối diện với cửa phòng, con cháu không hiền lành, mắc bệnh lạ.
28. Bếp lửa đối diện với giếng, chủ về người trong nhà bất hòa.

III. Miệng bếp: Tọa sát hướng cát

1. Bếp hiện nay không có miệng bếp, nên không cần xem xét hướng bếp, càng không cần xem xét phương vị bát tự.
2. Miệng bếp không được đối diện với cửa và đường đi, dễ gây nhiều khẩu thiệt thị phi.
3. Không được hướng về tủ lạnh, nóng lạnh không hòa hợp, tổn hại đường hô hấp.
4. Không được hướng về cửa phòng ngủ, người ở trong dễ bị cảm lạnh.
5. Không được ngược với hướng nhà, gây nhiều khẩu thiệt, bất đồng tâm.
6. Không hướng về lối thoát nước của nhà bếp, theo dòng nước chảy.
7. Không được đặt miệng bếp mới đối diện với miệng bếp cũ, mẹ chồng nàng dâu bất hòa.
8. Mặt lò không hướng về cửa và cửa nhà vệ sinh.
9. Số lượng miệng lửa (miệng bếp) tốt nhất là hai, ba, năm, bảy.

IV. Khác

1. Tủ lạnh là vật rất xấu, nên đặt ở phương xấu, sẽ mang lại điều tốt.
2. Thùng gạo thuộc hành Thổ, nên đặt ở phương Thổ - Tây Nam và Đông Bắc (2, 5, 8), rất tốt. Tránh phương Mộc - Đông và Đông Nam, vì Mộc khắc Thổ.
3. Thùng rác phải đậy kín, phải thường xuyên giữ sạch sẽ, không được đặt ở hướng Bắc, Tây Bắc, Đông.
4. Máy hút mùi nên dùng loại kín, không được nhô ra quá nhiều, ảnh hưởng đến phong thủy nhà bếp.
5. Không nên mở cửa sổ trời, dễ làm khí nóng lan tỏa lên trên, sẽ dẫn đến nhiều tai nạn.
6. Tránh ăn trong nhà bếp, có khí nóng và khói dầu.
7. Hệ thống thoát nước trong nhà bếp phải tốt, không tích tụ thức ăn bẩn và nước bẩn, mới đảm bảo vệ sinh ăn uống.
8. Hệ thống thoát nước nhà bếp phải đi vào từ phía trước, thoát ra từ phía sau, gia đạo mới thịnh vượng.
9. Nước thải từ nhà vệ sinh không được chảy qua nhà bếp, dễ mắc bệnh ung thư.
10. Nhà bếp không được quá ẩm ướt, sàn nhà không được lõm xuống.
11. Không khí trong nhà bếp phải thông thoáng, nhà bếp khô ráo sạch sẽ mới có thể nấu ra đồ ăn ngon, sức khỏe gia đình mới tốt, tinh thần mới vui vẻ.


![image](/img/img_7e8f1c845f81b42a93a4eb4b1fac3ae6.png)



![image](/img/img_b12fb9a530bfd1b729ab45c7289c68a1.png)



### 38. Phụ lục 3: Hướng cát hung của dương trạch



![image](/img/img_9ec01e2bf6bd529dd1d4c73ea835dbdc.png)



![image](/img/img_b03255f8bcb154f6c8f163173c0b41e6.png)


**(Hết.)**

---

---
# File: sach-tam-linh/079-chu-an-dai-hieu-nghiem.md
# Title: 079. Chú ấn đại hiệu nghiệm
---

## Chú ấn đại hiệu nghiệm


🪷 Thân ngoại hóa thân

Văn tập: 079
Xuất bản: 11/1988
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


Một ngày nọ, tôi ở ngôi nhà bên hồ U Linh nơi thành phố Bellevue, bang Washington. Trong mật đàn tĩnh mịch, tôi ngồi yên lặng một lúc. Bấy giờ, trong trạng thái nửa tỉnh nửa mơ, ánh sáng từ trong tâm bỗng khẽ lan tỏa, tự nhiên hiển hiện ra ngoài.

Trong cõi mờ sâu thẳm, trước mắt tôi hiện ra một con đường phát sáng rực rỡ, đẹp lạ thường. Hai bên đường là ba dải cầu vồng, chẳng phải loại hiện lên sau mưa, mà như những vầng mây nhuộm sắc huyền ảo. Trên những tầng mây ấy, vô số lực sĩ khoác giáp vàng đứng nghiêm oai vệ, vây kín bốn phương tám hướng. Họ đều cầm pháp khí trong tay, dáng vẻ trang nghiêm, như đang cung kính hộ vệ quanh con đường sáng ấy.

Trong lòng tôi thầm nghĩ: "Đây là cảnh giới gì vậy?"
Bấy giờ, có tiếng nói từ hư không bảo tôi: "Đây là Thiên Long Bát Bộ thần chúng hộ trì Thánh Tôn, họ luôn luôn thủ hộ bên cạnh Thánh Tôn, khi Thánh Tôn nhập định hoặc tu pháp, chỉ một ý niệm cứu độ chúng sinh, Thiên Long Bát Bộ thần chúng này liền vâng lệnh mà thi hành."
"Đây chính là độ chúng sinh sao?"
"Thiền định tu pháp chính là chuyển pháp luân."

Hóa ra, khi bản thân tôi thân tâm thanh thản, đắm mình trong sự hòa nhập vào biển ánh sáng, mọi dòng pháp tự nhiên thi hành Bồ Tát đạo, tự nhiên độ chúng sinh, tự nhiên thay chúng sinh giải thoát các nạn khổ đau, hóa ác trược thế gian thành tịnh độ nhân gian.

Thiền định chính là độ chúng sinh.
Tu pháp chính là chuyển pháp luân.

"Tại sao tôi có năng lực như vậy?"
"Thánh Tôn có bồ đề tâm."

Tôi chợt nhớ đến lời kinh: "Chư Phật ba đời đều sinh khởi từ bồ đề tâm."

"Bồ đề tâm ví như hạt giống, có thể sinh ra muôn pháp của chư Phật.
Bồ đề tâm ví như ruộng tốt, nuôi dưỡng pháp thanh tịnh nơi chúng sinh.
Bồ đề tâm ví như mặt đất, có thể gánh đỡ tất cả thế gian.
Bồ đề tâm ví như nước trong, gột rửa mọi cấu uế phiền não.
Bồ đề tâm ví như ngọn gió lớn, tung hoành khắp chốn mà không bị ngăn ngại.
Bồ đề tâm ví như ngọn lửa hừng, thiêu sạch mọi củi khô tà kiến.
Bồ đề tâm ví như đế vương, mọi nguyện cầu đều thành tựu tự tại.
Bồ đề tâm ví như hư không, các công đức vi diệu rộng lớn vô biên.
Bồ đề tâm ví như hoa sen, chẳng nhiễm một mảy trần của thế tục.
Bồ đề tâm ví như viên ngọc như ý, tùy thời ban cho người nghèo thiếu.
Bồ đề tâm ví như bình công đức, làm mãn nguyện hết thảy lòng người.
Bồ đề tâm ví như lực sĩ trời, phá tan mọi kẻ thù của chấp ngã.
Bồ đề tâm ví như chày kim cang, tiêu diệt hết thảy ma chướng tà vạy.
Bồ đề tâm ví như suối nguồn tuôn chảy, sinh ra vô lượng nước trí huệ.
Bồ đề tâm là chốn quay về, chẳng hề khước từ ai hướng tới.
Bồ đề tâm là ngọc báu thù thắng, khiến mọi tâm hồn đều hớn hở hoan hỷ.
Bồ đề tâm như hội bố thí lớn, làm đầy trọn tâm nguyện của muôn loài.
Bồ đề tâm thành tựu vô lượng công đức như thế."

Bồ đề tâm này chính là đại nguyện lực độ chúng sinh, chúng sinh có tám vạn bốn nghìn phiền não, vì vậy, chư Phật Bồ Tát liền có tám vạn bốn nghìn pháp môn để đối trị. Liên Sinh Hoạt Phật vì cứu độ chúng sinh tội khổ, đã phát đại nguyện "phân thân xả cốt độ chúng sinh", Liên Sinh Hoạt Phật nhận lời Phật A Di Đà phó thác, đã phát đại bồ đề tâm, lấy lòng tin và tâm nguyện làm trọng, dung hòa trọn vẹn giữa sự hiểu biết và thực hành, từng lời nguyện đều tương ứng với hạnh tu, và con đường hành trì sâu dày ấy đã được tiếp nối từ rất lâu rồi.

Đặc biệt, dạy người Chân Phật Mật Pháp, dựa vào mỗi ngày một tu, thanh tịnh nghiệp chướng, đã chỉ ra cho chúng sinh con đường tắt vãng sinh Ma Ha Song Liên Trì, khai mở Chân Phật Thế Giới. Tu Chân Phật Mật Pháp, tâm chẳng điên đảo, tâm quang ngưng tụ mà phát lộ, quang quang tương chiếu mà dung nhập, mình chính là một trong chư thánh chúng.

Sự hoằng dương Chân Phật Mật Pháp, mỗi ngày một tu, nguyện không buông bỏ, quả thực có sức mạnh bất khả tư nghì.

Chân Phật Mật Pháp có pháp lực gì?

Tôi đáp:
Tùy duyên nhậm vận.
Khắp cả hư không tất cả.
Pháp như đại địa.
Như thủy hỏa phong không khác.
Công đức như hư không.
Quét trừ tất cả chướng ngại ác.

Cuốn sách "Chú ấn đại hiệu nghiệm" là trải nghiệm chân thật của Liên Sinh Hoạt Phật trong khi thiền định tu pháp, độc giả đọc sách này không khỏi cảm thấy có chút vị truyền kỳ, nhưng truyền kỳ là truyền kỳ, tôi đặc biệt sau mỗi bài viết có kèm in ra bằng chứng, để chứng tỏ không hư vọng, đây mới là sự thật thực nhất.

Chân Phật Mật Pháp bất khả tư nghì. Thiền định bất khả tư nghì. Tu pháp bất khả tư nghì.

Cá nhân tôi cho rằng, việc xuất bản "Chú ấn đại hiệu nghiệm" là để dạy người ta mau chóng thấu hiểu tấm lòng khổ tâm cứu đời của minh sư. Tấm lòng của minh sư quang minh trong sạch như vậy, Chân Phật Mật Pháp quý giá đến thế, và mỗi ngày một tu lại càng là kho báu vô hình, chỉ có Chân Phật Mật Pháp mới cứu được khổ sinh tử, mới diệt được các độc hại.

Viết một bài kệ, ghi lại:
Người đời tìm đường pháp
Đường pháp chẳng có chỗ, 
Mắt cá lẫn ngọc trai, 
Thế sự nhiều hiểm trở;

Muốn biết chân Phật pháp, 
Chân Phật ở hư không, 
Có duyên mau nương tựa,
Học pháp độ chúng sinh.

Địa chỉ liên lạc Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn:

**Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U. S. A.


### 01. Chiếc xe sang Rolls-Royce của Liên Sinh Hoạt Phật


Cả đời tôi, là thuận theo tự nhiên.
Con người tôi, là người tùy duyên, chẳng bao giờ ép buộc người khác. Mọi việc tùy ý, là bản tính của tôi.
Không cưỡng cầu điều gì. Mọi thứ tự nhiên đến, mọi thứ tự nhiên đi.

🌟

Liên Sinh Hoạt Phật hiện đang sở hữu một chiếc xe hơi nổi tiếng thế giới ROLLS ROYCE. Biển số xe là của bang Washington 866-BQI.

Chiếc xe sang trọng này được mua từ bang New York, hoàn toàn mới, sản xuất năm 1988, có giá trị 130.000 đô la Mỹ. Màu sắc của chiếc xe này, trong toàn nước Mỹ chỉ có một chiếc duy nhất, là màu nâu cà phê tím phun vàng kiểu mới, sang trọng đẹp đẽ, khiến người ta ngưỡng mộ.

Còn về chiếc xe sang Rolls-Royce này, quan niệm của tôi đối với nó ra sao? Nó là phương tiện đi lại khi tôi ra ngoài. Tôi không sung sướng như điên, nhưng cũng không mạnh mẽ phản đối. 
Nó chính là bằng chứng của "Chú ấn đại hiệu nghiệm" đấy!

🌟

Chúng tôi từng đi tham quan triển lãm xe hơi. Trong triển lãm ấy có một chiếc xe hơi nổi tiếng thế giới Rolls-Royce, chúng tôi đi tới, dùng tay sờ vào nó, trong lòng không khỏi phát ra lời tán thán:
"Ôi! Chiếc xe đẹp và sang trọng quá!" - Ai nấy đều tán thán như vậy.
"Sư Tôn, mua một chiếc Rolls-Royce đi." - Một đệ tử nói.
Tôi lắc đầu cười khổ.

"Sư Tôn đường đường là Tông Chủ Chân Phật Tông, lẽ nào không mua nổi xe Rolls-Royce sao?"
Tôi vẫn chỉ mỉm cười, không nói một lời.

"Sư Tôn không cần phải tự mua, Sư Tôn đã từng nói rồi, chỉ cần quán tưởng, xe Rolls-Royce sẽ tự nhiên đến thôi." - Một đệ tử nói như vậy.
Mọi người cười ồ lên.

"Các bạn muốn thử thách sức quán tưởng của Sư Tôn sao?" - Tôi nói với mọi người: "Được rồi! Tôi sẽ thử xem."

🌟

Trở về nhà, tôi bảo Thượng sư Liên Hương đến cửa hàng đồ chơi, đi tìm xe đồ chơi, xe đồ chơi Rolls-Royce, không ngờ xe đồ chơi Rolls-Royce cũng rất hiếm, đi tìm ba cửa hàng mới mua được hai chiếc xe đồ chơi, một chiếc là kiểu cổ, chiếc còn lại mới hơn một chút.

Mua về hai chiếc xe đồ chơi Rolls-Royce, mọi người đều cảm thấy vừa buồn cười vừa thú vị. Tôi gặp ai cũng nói với người ta rằng, tôi sở hữu hai chiếc Rolls-Royce. Khi đối phương trợn tròn mắt ra, tôi mới nói là xe đồ chơi.

Ngay lập tức, mọi người mỉm cười, ngầm hiểu ý.

🌟

Ngày 10 tháng 6 năm 1988, tôi đã long trọng tại Chân Phật Mật Uyển, cử hành quán tưởng cúng tế, quán tưởng chiếc xe Rolls-Royce kiểu mới nhất, cúng dâng lên chư Phật Bồ Tát chư thiên.

Một chiếc xe đồ chơi, biến nó thành xe thật. Biến hóa rồi lại biến hóa, là một chiếc xe sang nổi tiếng thế giới Rolls-Royce vô cùng chân thực, trong tâm tôi.

Có rất rất nhiều đệ tử biết về buổi quán tưởng cúng tế này.

Tôi niệm: "Nguyện biến xe đồ chơi, thành phương tiện độ thế. Từng chiếc hóa vô lượng, chú ấn đến hiệu nghiệm. Thấy nghe đều hoan hỷ, khắp nơi tranh truyền đạt. Xe giả biến xe thật, Phật tính đều phát huy. Một chiếc hiện trước mắt, thành tựu trong chốc lát."

Sự quán tưởng biến hóa này không khác gì với thực tại, không có phân biệt, tâm niệm diệu kỳ, là pháp môn trí tuệ, tôi trầm tư tỉ mỉ quán tưởng, cẩn mật từng ly từng tí, đây chính là vạn kiếp nghìn sinh, thọ dụng không cùng tận!

Tinh mật mà nhập vi tế, tôi thật sự chân thật nhìn thấy chiếc xe sang Rolls-Royce.

🌟

Ngày 2 tháng 7 năm 1988, là sinh nhật theo dương lịch của Liên Sinh Hoạt Phật, âm lịch là ngày 18 tháng 5, có vợ chồng Liên Hoa Truyền Kính đến, chúc mừng sinh nhật Liên Sinh Hoạt Phật.

Vợ chồng Liên Hoa Truyền Kính đã biết về việc quán tưởng xe đồ chơi Rolls-Royce. Liên Hoa Truyền Kính cúi đầu thì thầm nói với Sư Tôn:
"Chiếc xe Rolls-Royce của Sư Tôn, để con cúng dường nhé."

Tôi trợn tròn mắt. Người nghe đều kinh ngạc.
Chiếc xe Rolls-Royce đẳng cấp thế giới này chỉ riêng giá xe thôi đã có giá 130.000 đô la Mỹ. Cuối cùng, chiếc xe vào ngày sinh nhật đó, được vận chuyển gấp từ bang New York đến bang Washington, riêng phí vận chuyển đã phải 2.000 đô la, làm quà sinh nhật năm 1988.
Mọi người đều kinh ngạc tán thán: "Chiếc xe nổi tiếng đẹp đẽ và sang trọng quá!"

Chiếc xe nổi tiếng đẳng cấp thế giới này, sau một tháng kể từ khi Liên Sinh Hoạt Phật quán tưởng cúng tế, liền có đệ tử cúng dường tặng cho, đây chính là:
Chú ấn đại hiệu nghiệm, từng chiếc hóa vô lượng;
Thấy nghe đều hoan hỷ, khắp nơi tranh truyền đạt.

🌟

Có người nói: "Liên Sinh Hoạt Phật là người tu hành, làm sao có thể lái xe sang đẳng cấp thế giới Rolls-Royce, như vậy sẽ khiến người ta liếc xéo, bị người ta chỉ trích."

Vấn đề này, vốn tôi không muốn trả lời, nhưng có nhiều người hỏi, chỉ có thể trả lời một chút.
Tôi lái xe gì cũng đều không quan trọng.
Tôi đã từng lái xe Honda của Nhật, tôi thấy không sao cả.
Tôi đã từng lái xe Mercury của Mỹ, tôi thấy cũng không sao cả.
Tôi đã từng lái xe Mercedes của Đức, tôi thấy cũng không sao cả.
Tôi đã từng lái xe Rolls-Royce của Anh, tôi vẫn thấy không sao cả.

Tại sao không sao cả? Bởi vì người ngồi trong xe là Lư Thắng Ngạn, là Thích Liên Sinh, là Liên Sinh Hoạt Phật; xe thì có đổi, nhưng Phật tính không đổi.

Xin lưu ý bốn chữ "Phật tính không đổi" này, giả sử ngồi xe Honda hay ngồi xe Rolls-Royce mà Phật tính đã khác nhau, thì Phật tính đó có vấn đề rồi.

Nói cho mọi người biết, Liên Sinh Hoạt Phật bất kể ngồi xe gì, hay là ngồi máy bay, ngồi tàu thủy, đều "Phật tính không đổi".

Liên Sinh Hoạt Phật đã từng nghèo, đã từng giàu, cho dù tương lai ẩn cư, không một xu dính túi, đi bộ, mặc áo rách, vẫn "Phật tính không đổi" y như cũ.

Thành thật mà nói, tôi không có tâm cầu xin một chiếc xe sang Rolls-Royce, chúng tôi chỉ đi tham quan triển lãm xe, ca ngợi những chiếc xe nổi tiếng một hồi. Tôi dâng cúng chiếc xe đồ chơi lên chư Phật Bồ Tát chư thiên, dùng chú ấn gia trì, chỉ như vậy thôi, vô tâm mà được một chiếc xe nổi tiếng Rolls-Royce.
Người ta liếc xéo, tôi chẳng sao cả.
Người ta chỉ trích, tôi chẳng sao cả.
Tất cả mọi thứ của tôi, đều chẳng sao cả.

🌟

Tôi cũng biết rằng, Tây phương Cực Lạc thế giới so với Ta Bà nhân gian, giàu có hơn nghìn vạn triệu lần, như bảy tầng lan, bảy tầng lưới võng, bảy tầng hàng cây, đều là bốn báu, bao quanh khắp nơi. Đất bằng vàng, đáy ao trải cát vàng, lầu gác đình đài đều được đúc bằng bảy báu. Niềm vui của sự sinh, niềm vui của chỗ ở, niềm vui do sắc, niềm vui do thanh — đều là những điều không thể nghĩ bàn.

A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát cùng chư Bồ Tát, đều có chuỗi vòng bảo vật trang nghiêm thân, tinh khiết thơm tho vi diệu. Tòa hoa sen còn thù thắng hơn xe sang Rolls-Royce, tòa kim cang còn thù thắng hơn xe sang Rolls-Royce.

Nhưng chúng ta biết rằng, "Phật tính không đổi".

Tôi thật sự nói cho mọi người biết, chỉ cần "Phật tính không đổi" thì ngồi xe gì cũng như nhau; còn trong tâm có tham sân si, cho dù khổ hạnh đến đâu cũng chẳng thành Phật được.


### 02. Liên Sinh Hoạt Phật tặng con


Trước khi bắt đầu bài viết này, tôi xin công bố một lá thư:

*Liên Sinh ân sư từ bi soi xét!*

*Đệ tử Liên Hoa Thu Lan, vào lúc 2 giờ sáng ngày mùng 1 tháng 8 âm lịch năm ngoái, đã hạ sinh một bé trai. Trước khi sinh, đệ tử tu trì tâm chú Thượng sư, trong trạng thái mơ hồ thấy Thượng sư tay bế một đứa trẻ đưa cho con. Dự kiến ngày sinh của đứa trẻ vốn là vào giữa tháng 7, nhưng trễ hơn hai tuần mới chào đời. Khi sắp sinh, đệ tử liên tục trì tụng tâm chú Thượng sư, nhưng khi đứa trẻ chào đời, toàn thân hiện màu xanh, ngay cả y tá đỡ sinh cũng ngạc nhiên, mãi đến ngày hôm sau mới biến mất. Kính xin Thượng sư khai thị tại sao lại như vậy.*

*Nay phụng mệnh từ bi, nguyện quy y vào cửa Chân Phật Tông, khẩn thỉnh Thượng sư gia trì, khiến cho hài nhi tăng trưởng thiện căn, cho đệ tử nuôi dưỡng thuận lợi, đồng thời kính dâng cúng dường tịnh tài 20 Ringgit Malaysia, và một tấm ảnh gần đây, hài nhi lấy tên là Tạ Thăng Cẩm.*

*Đệ tử Liên Hoa Thu Lan chắp tay.*

(Lá thư này chụp đưa vào sách, là bằng chứng về hiệu nghiệm.)


![image](/img/img_d57798289c49f3fa1d54510c3e4c004e.png)


🌟

Có người hỏi: "Trì tụng tâm chú Liên Sinh Hoạt Phật, có thể cầu được con sao?"
Tôi đáp: "Đương nhiên, tâm chú Thượng sư nếu trì tụng một cách chuyên nhất, trì tụng một cách thành tâm, nhất định có thể cầu được con, không chỉ có thể cầu được con mà còn là Sư Tôn tự tay ban tặng con."
"Tự tay ban tặng con, làm sao có thể như vậy được?"
"Quan Âm Bồ Tát có thể tự tay ban tặng con cho tín chúng, Sư Tôn cũng có thể tự tay ban tặng con cho đệ tử. Bởi vì Phật tính của Sư Tôn đã hiển lộ, hóa thân bên ngoài thân vậy. Một người nếu tâm địa thiện lương, lại có đạo đức cao thâm, còn có thể khuyên giải giáo hóa người quy y Chân Phật Tông, tự nhiên sẽ có các thần cát tường đến hộ trì. Mà người này lại có thể trì tụng tâm chú Sư Tôn, tâm chú có ánh sáng, phát ra từ nội tâm, tự nhiên được ánh sáng phúc lực trí huệ như mặt trời của Sư Tôn chiếu soi."

"Sư Tôn có ở khắp mọi nơi trong vũ trụ phải không?"
"Đúng vậy."
"Tại sao có người cảm ứng được?"
"Ao trong thì trăng sáng."
"Tại sao có người không cảm ứng được?"
"Tâm chưa thành kính, căn cơ chưa thuần thục."

Tôi thật sự nói cho mọi người biết, ánh sáng của Liên Sinh Hoạt Phật xoay chuyển trong hư không, biến hóa muôn ngàn, ánh sáng ấy che lấp cả mặt trời, mặt trăng, tinh tú, đèn đuốc, biển lớn núi cao đều được chiếu sáng rõ ràng, mây pháp bao trùm pháp giới từ lâu rồi! Mưa pháp khắp nơi rưới xuống, hiển hiện thần thông là chuyện bình thường, khắp nơi có nghìn trăm triệu hóa thân, có chú ấn đại hiệu nghiệm, phi phàm tuyệt vời.

🌟

Liên Sinh Hoạt Phật đã từng trong thiền định, tiến nhập Đông phương Lưu Ly thế giới, tiến nhập vào tâm của Cung Tỳ La đại tướng.

Cung Tỳ La đại tướng này, còn gọi là Kim Tỳ La Vương, chính là một trong mười hai thần tướng của Dược Sư. Xuất thân của ngài trong "Kinh Bảo Tích" có ghi: "Phật đến thành Vương Xá, dọc đường có thần hộ thành Kim Tỳ La Thiên, dẫn đầu sáu vạn tám nghìn dược xoa cúng dường Phật Đà, Phật Đà liền thọ ký ông tương lai sẽ thành đạo."

Hình tượng Kim Tỳ La Vương là tay trái cầm cung, tay phải cầm tên, thân mặc áo giáp kiên cố.

Liên Sinh Hoạt Phật nhập vào tâm Kim Tỳ La Vương.
"Ông là ai? Vì việc gì mà nhập vào tâm ta?"
"Tôi là Liên Sinh, Liên Sinh của Ta Bà thế giới."
"Theo chỉ ý của ai mà đến?"
"Y theo nguyện mà đến."
"Ông cần gì?"
"Thỉnh thần vương hạ sinh Ta Bà."

Nói đến đây, Cung Tỳ La đại tướng vô cùng kinh ngạc, định từ chối thì thấy Liên Sinh Hoạt Phật đầu đội Hồng Quán, mũ miện đỏ này có ký hiệu, chính là do Di Lặc Bồ Tát ban tặng cho đội.

Bản địa của Cung Tỳ La đại tướng chính là Di Lặc Bồ Tát, cho nên không thể không theo Liên Sinh Hoạt Phật hạ sinh nhân gian.

Kim Tỳ La Vương hóa thành một đường ánh sáng lam, xoay trong không trung biến thành hài nhi, ngồi kiết già trên cánh tay của Liên Sinh Hoạt Phật.

Chư thiên tán tụng rằng:
Ta Bà tiêu điều đầy bụi trần.
Thần Vương hạ sinh dạo bước quanh.
Tuổi trẻ cứu đời làm Y Vương.
Lam quang thân từ phương Đông tới.

Con trai mà Liên Hoa Thu Lan ở Malaysia sinh ra, tên là Tạ Thăng Cẩm chính là ánh sáng lam của Cung Tỳ La đại tướng hóa sinh, cho nên khi sinh, toàn thân hiện màu xanh lam, đến ngày thứ hai mới biến mất, đây chính là nhân duyên Liên Hoa Thu Lan được thấy Liên Sinh Hoạt Phật tặng con.

🌟

Liên Sinh Hoạt Phật tặng con, đã có nhiều nữ đệ tử thấy rất rõ ràng, mỗi người đều có nhân duyên thù thắng riêng, Liên Hoa Thu Lan ở Malaysia chỉ là một trong số đó.

Cần biết rằng, Liên Sinh Hoạt Phật độ chúng sinh, chưa từng chút nào biếng nhác, tinh cần như ngày đầu. Khi tâm quang ngưng tụ, trầm tĩnh sáng ngời có thể tùy duyên tự tại, nhập Tam ma địa, tất cả không phải là mơ, đắc được thanh lương địa, giới định thanh tịnh thần hồn, người đời không ai có thể thấy được.

Đây là:
Thời cơ đúng lúc.
Hình phải cảm ứng.
Nhiếp hóa vô lượng.
Thiên long quỷ thần.

Liên Sinh Hoạt Phật tặng con, là Phật hóa đã đến, quang minh vô tận.
Trong đó có áo nghĩa, người đời không biết. Chú ấn đại hiệu nghiệm.


### 03. Đấu pháp trong hư không


Trước tiên xin công bố một lá thư:

*Lư Sư Tôn kính yêu từ bi soi xét!
Om mani padme hum! Kính chào Sư Tôn!*

*Trước hết đệ tử xin cúi đầu đảnh lễ và bày tỏ lòng biết ơn vô hạn. Sư Tôn từ bi đã cứu sống cháu trai của đệ tử là Tạ Phong Đạo, hiện tại tuy cháu vẫn chưa hoàn toàn hồi phục bình thường, nhưng đã có hơn 80% nhận ra người được rồi, thật sự là quá kỳ diệu, tất cả đều nhờ sự gia trì của Sư Tôn. Lần này nếu không có sự gia trì của Sư Tôn và năm lá phù kia thì không thể nào hồi phục nhanh như vậy, thật không biết phải cảm tạ Sư Tôn thế nào.*

*Theo bác sĩ nói, nếu xét theo tình trạng ban đầu của Phong Đạo thì thật là không thể tưởng tượng nổi rằng hôm nay cháu còn được sống! Bác sĩ còn nói lần này Phong Đạo có thể sống lại, quả thật không phải là mạng sống ban đầu của cháu, tất cả đều là sự sắp đặt của trời! Vị bác sĩ người Indonesia này là tín đồ Hồi giáo, tất nhiên không thể hiểu được sức mạnh bất khả tư nghì của chư Phật Bồ Tát, nhưng chúng con ai cũng đều cảm nhận được, tất cả đều nhờ Sư Tôn từ bi đã cứu Phong Đạo một mạng.*

*Vị bác sĩ này rất có y đức, sẵn lòng hợp tác với gia đình bệnh nhân, cũng không phản đối việc chúng con cho bệnh nhân uống phù và thuốc Đông y (An Cung Ngưu Hoàng Hoàn) kết hợp Đông Tây y, nếu không thì Phong Đạo sẽ không có ngày hôm nay, đệ tử xin nói lời cảm tạ một lần nữa!*

*Xin thay con chuyển lời thăm hỏi đến Sư Mẫu! Xin cảm ơn, kính chúc Phật quang phổ chiếu!*

*Ngu đệ tử Liên Trì (Tạ Lan Hương) khấu đầu đảnh lễ.*

*04.07.1988*


![image](/img/img_de562e1352d05c4488228c4072dd2892.png)


🌟

Liên Trì là một đệ tử kiền thành của Chân Phật Tông tại Indonesia. Cô ấy dùng cách nhanh nhất có thể để kêu cứu bằng thư, và liên tiếp gửi năm lá thư. Thêm vào đó còn có điện thoại, điện báo, máy fax......, tình hình nghiêm trọng.

Cháu trai của Liên Trì là Tạ Phong Đạo đã bị tai nạn xe hơi nghiêm trọng, liên tục hàng chục ngày không tỉnh, tình trạng bên trong não giống như đậu phụ bị đập nát.

Bác sĩ cho rằng đồng tử giãn rộng, xuất huyết nội nghiêm trọng, cho dù có cứu sống được thì cũng là người thực vật. Có bác sĩ cho rằng không còn cứu được nữa, hãy để cháu ra đi! 

Tuy nhiên......

🌟

Liên Sinh Hoạt Phật sau khi tu pháp xong liền tĩnh tọa, chỉ trong phút chốc, như cơn gió nhẹ thoảng qua, bất ngờ đã đến Indonesia.

Nói về thứ thần công này, thật là khiến người ta khó nghĩ bàn. Người hiển phát Phật tính, chỉ trong khoảnh khắc "để mặc mọi thứ", trong đó có cảnh giới thanh lương linh diệu mà người ngoài khó biết được. Việc phi hành xán lạn đẹp đẽ hùng vĩ, thần túc thì chỉ trong chớp mắt. Dù cho mây mù tối tăm đi nữa, tự nhiên khoảnh khắc liền khai mở, dù ẩn thân nơi đâu, cảnh vật lập tức hiện rõ.

Tôi nhìn thấy Tạ Phong Đạo. Ở trên đầu xung quanh cháu bé có rất nhiều những điểm đen giống như lũ kiến lâu la, số lượng nhiều như cát sông Hằng. "Hừm! Là sát nghiệp quá nặng, khó cứu rồi." Nhưng, đã đến đây rồi, thì thử xem sao!

Liên Sinh Hoạt Phật dùng tay chỉ một cái, đầu ngón tay phóng ra bạch quang, khiến vô số những con kiến xoay vòng vòng như cơn lốc xoáy, xoay chúng sang một bên.

Chỉ thấy trong hư không lóe ra một vị Ma Vương, Ma Vương này có nghìn cánh tay, mỗi cánh tay cũng có một con mắt, nhưng nhiều tay nhiều mắt đều lông lá bù xù, hình dạng giống như con nhện.

Ma Vương này hét lớn: "Thần đạo nào đây mà dám cứu người này? Người này là quyến thuộc của ta, chúng ta sắp thu hồi rồi."

Liên Sinh Hoạt Phật cúi đầu chào Ma Vương: 
"Chúng sinh trong thế giới Ta Bà quả nhiên vạn ác bộc phát, nhưng, Liên Sinh tôi vô hạn bi mẫn chúng sinh thiên hạ, người này là cháu của đệ tử tôi, chỉ cầu tôn giả tránh qua một bên, tha cho cháu ấy, để tôi tiếp tục dạy cháu làm lành tích công được không?"
"Chà! Quyến thuộc của bọn ta, làm sao để cho người khác ba hoa vài lời là cứu mất được, dù ngươi là Liên Sinh này hay Sinh Liên nọ đi nữa, trước hết hãy đoạt mạng nó đã rồi mới nói."

Ma Vương giơ một tay ra, như vuốt sắc bén, móc xuống đầu Tạ Phong Đạo. Một cú móc này, tuyệt đối không còn mạng sống.

Liên Sinh Hoạt Phật thấy vậy hết sức kinh hoàng, đành phải phóng ra nguyên khí vốn có để bảo hộ Tạ Phong Đạo.

Bàn tay của Ma Vương kia, móc bên trái cũng không móc được, móc bên phải cũng không móc được, cố gắng hết sức móc mạnh cũng không móc được. Ma Vương nổi giận, phóng ra lửa hừng hực thiêu đốt. Nhưng trong chốc lát, lửa hóa thành mát mẻ.

Ma Vương quay đầu, trong miệng phun ra một luồng ác khí, xông thẳng vào Liên Sinh Hoạt Phật. Chỉ thấy Liên Sinh Hoạt Phật toàn thân phóng ra bạch quang, ác khí không thể lại gần.

Ma Vương lại thét ra một luồng khí quái dị, trong khí quái dị đó xen lẫn đao thương kiếm mũi tên đá, tất cả cùng bay tới, thế lực đó thật kinh hoàng, khiến người ta hồn phách điên đảo.

Liên Sinh Hoạt Phật nhất thời không biết phải làm sao, liền niệm lên một câu: "Om Ah Hum."

Trong hư không hiện ra một vị Bất Động Minh Vương, toàn thân màu xanh đen, trừng mắt giận dữ, tay phải giơ kiếm, tay trái cầm dây thừng, phía sau hiện ra ngọn lửa bừng bừng rực rỡ, vị này chính là thân phẫn nộ mà Đại Nhật Như Lai biến hóa khi hàng phục tất cả ma quỷ.

Bất Động Minh Vương vốn cắn chặt hàm răng, nay há miệng ra, đao thương kiếm mũi tên đá cùng với ác khí, tất cả đều bị hút vào trong miệng, toàn bộ bị nghiền thành bột, nuốt xuống, tất cả đều biến mất.

"Là A Già La Nẵng Đà." - Ma Vương kinh hoàng: "Tổ sư của Ma đã đến, chạy thôi, chạy thôi." Ma Vương hoảng hốt, vội vàng tháo chạy, chỉ trong chớp mắt đã đi xa mất rồi!

Liên Sinh Hoạt Phật cảm tạ Bất Động Minh Vương Tôn Giả.
Tôn Giả nói: "Ma Vương này thật ra không phải là loại ác, vì chỉ chuyên trị những kẻ bất nhân bất đạo, nhưng tính hỏa quá mạnh mẽ, vì thế mới gọi là ma."
"Tạ Phong Đạo vì sao lại là quyến thuộc của hắn?"
"Kiếp trước sát nghiệp quá nặng đó thôi, kiếp này làm người không tệ lắm. May mắn là Liên Trì đã thỉnh được Thánh Tôn đến cứu cháu, đây cũng là phổ độ chúng sinh, từ bi như nhau, nếu viết thành văn, khuyên người đừng sát sinh, cũng là công đức. Đây chính là nhân quả mà Tạ Phong Đạo được giữ lại mạng sống vậy." - Bất Động Minh Vương nói.

"Việc đã xong xuôi, ta về đây." - Bất Động Minh Vương biến mất trong nháy mắt.
Liên Sinh Hoạt Phật chắp tay hướng về hư không.

Liên Sinh Hoạt Phật dùng tay xoa xoa đầu Tạ Phong Đạo, trong đầu cháu bỗng phát ra tiếng "xì xèo lộp độp", cái não giống như bã đậu phụ kia nay đã trở về đúng vị trí.

Tôi niệm chú hồi tỉnh: 
Trùng hành hựu trùng hành.
Linh mệnh giá tường vân.
Sở hoạn biến thanh tịnh.
Đan dược diên thiên linh.
Tín tâm nhập tam ma.
Khổ mộng khoái hốt tỉnh.

[Lại đi, lại đi nữa
Linh mệnh cưỡi mây lành
Bệnh khổ hóa thanh tịnh
Thuốc đan kéo mệnh trời
Tín tâm nhập cõi định
Mau tỉnh giấc mộng dài.]
"Tạ Phong Đạo, mau tỉnh, mau tỉnh."

🌟

Việc Liên Sinh Hoạt Phật cứu sống mạng người như thế này, có hàng trăm hàng nghìn ví dụ. Những người hôn mê bất tỉnh, kéo dài đến vài tháng, sau khi Hoạt Phật niệm chú hồi tỉnh mà được cứu sống lại, nhiều không biết bao nhiêu mà kể. Dĩ nhiên, những kinh nghiệm cứu sống họ có thể viết thành hàng trăm cuốn sách, Tạ Phong Đạo này chỉ là một trong số đó.

Có người hỏi Liên Sinh Hoạt Phật: 
"Hoạt Phật cứu mạng người, mà mạng người này vốn dĩ đã định phải chết, như vậy chẳng phải là phá hoại nhân quả sao? Chẳng phải là vi phạm quy luật nhân quả sao?"
Tôi đáp: 
"Tôi là bất muội nhân quả." [biết rõ ràng về luật nhân quả]

Tại sao bất muội nhân quả, giải thích như sau:

Ví dụ: Tạ Phong Đạo kiếp trước sát nghiệp nặng, rất nhiều chấm đen giống như sâu kiến đến đòi nợ, Hoạt Phật từ đầu ngón tay phóng ra bạch quang, như cơn gió lốc xoay một vòng, xoay chúng sang một bên. Bạch quang này chính là ánh sáng từ bi, tiêu trừ nghiệp chướng của tất cả nghiệp linh.

Chuyển sang một bên ở đây là đưa từng nghiệp linh một theo bản tính của chúng gửi đến Chuyển Luân Thánh Vương, luân hồi tu hành lại từ đầu, tương lai cùng chứng Đẳng Giác, tự có Chuyển Luân Thánh Vương y theo Phật chỉ mà xử lý tất cả thiện ác quả báo.
Thế này, là đại pháp siêu độ.
Thế này, là đại pháp luân hồi.

Liên Sinh Hoạt Phật đã thi triển hai đại pháp "siêu độ nghiệp linh" và "luân hồi dựa theo thức", những nghiệp linh kia đều hướng về Phật Vương khấu đầu tạ ơn!

Vì thế, sự cứu sống Tạ Phong Đạo chính là bất muội nhân quả vậy!


### 04. Khối u máu biến mất rồi


Mở đầu bản văn, trước tiên tiết lộ một phần của lá thư:

*Om Ah Hum. Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Liên Sinh Hoạt Phật:*

*Đệ tử trước tiên xin kính chào Sư Tôn, Sư Mẫu và mọi người trong gia đình, đệ tử trong tháng 5 có gửi thư báo tin chị gái của con đã không còn nguy hiểm nữa, bác sĩ trong lần mổ kiểm tra cuối cùng thì khối u máu đã biến mất, đệ tử vô cùng cảm kích lòng từ bi của ân sư, cảm tạ ân sư cùng chư Phật Bồ Tát gia trì, vì chị gái là tín đồ Cơ Đốc và rất có thành kiến, cho nên việc Sư Tôn ban cho lá phù cùng việc gia trì chữa bệnh cho chị ấy, chị hoàn toàn không hay biết, nay đệ tử thay mặt chị và gia đình khấu tạ ân sư.*

*Sư Tôn trụ thế quảng truyền Phật pháp, khiến chúng sinh lìa khổ được vui, kiếp này được gặp gỡ sư phụ của con quả thật là phúc phận lớn của các đệ tử.*

*Khẩn cầu thầy của con trường trụ thế gian chuyển chính pháp luân, đừng lìa bỏ các đệ tử.*

*......*

*Đệ tử Liên Lũ kính thư.
07.08.1988.*


![image](/img/img_d21c7f8b8016b13d5ea7c19d573eb361.png)


🌟

Liên Sinh Hoạt Phật tu pháp thiền định, cảnh giới ban đầu là:
Phía dưới là biển nước lớn.
Trong nước hiện ra hoa sen trắng lớn.
Bản thân ngồi trên hoa sen trắng lớn.
Đầu đội mũ Ngũ Phật, thân mình biến thành kim thân của Tỳ Lô Giá Na Phật.
Hư không có tiếng nói rằng:
Cõi biển vô tận không rời chốn này.
Phổ độ quần sinh chính ở thời điểm này.

Chính vì cảnh giới ban đầu này, Liên Sinh Hoạt Phật viết sách, tu pháp mãi không ngừng nghỉ, hơn nữa phổ độ quần sinh không có tâm phân biệt, bất kể Phật giáo Hiển Mật, bất kể Cơ Đốc giáo Thiên Chúa giáo, bất kể tín đồ Hồi giáo, nhất loạt bình đẳng nhìn nhận, bình đẳng cứu độ.

Liên Sinh Hoạt Phật không chỉ cứu người, thậm chí địa thần cũng cứu, thiên thần cũng cứu. Trở thành:
Đạo hạnh siêu việt.
Thần quỷ kính sợ.

Thường thì những ai tôi cứu độ, tôi đều yêu cầu họ phải quy y Tam Bảo và Kim cương Thượng sư, phải làm mười thiện thì mới có thể gặp lành tránh dữ.

Có hạng người có thành kiến, tín ngưỡng tôn giáo khác, Sư Tôn cũng không loại trừ, cũng yêu cầu họ tận lực làm thiện, lấy thiện bù họa, hơn nữa thêm được phúc và được lộc.

Cho nên Liên Sinh Hoạt Phật thay người tu pháp, nhất loạt bình đẳng, không có tâm phân biệt, ai đến cũng cứu.

🌟

Chị gái của Liên Lũ là tín đồ Cơ Đốc, nhưng tôi vẫn tận lực gia trì tu pháp cho cô ấy.
Trong thiền định.
Đột nhiên tôi thấy một bà lão, thân trên mặc áo xanh, thân dưới mặc quần dài màu đen, mặt đầy vẻ sầu khổ, nhưng mắt lại lộ ra ánh nhìn hung dữ.
"Xin hỏi bà là ai? Có việc gì thế?"
"Tôi là ai, ông lại không biết sao? Chính ông đã triệu thỉnh tôi đến đây." - Bà lão có vẻ rất tức giận.

"À." - Trong lòng tôi hiểu rõ, hóa ra oán hồn ám thân của chị gái Liên Lũ đã đến.
"Bà cần gì, tôi có thể giúp bà, nhưng xin bà hãy rời khỏi thân thể cô ấy được không?"
"Không được." - Bà lão nói với vẻ oán hận chưa nguôi: "Kiếp trước ả quyến rũ chồng tôi, lại còn đẩy tôi vào đường cùng, tôi nhảy xuống vực chết, mối thù này không thể không trả."
"Lại có chuyện này nữa sao." - Trong lòng tôi thê lương. 
"Tôi có giúp bà như thế nào?" - Tôi lại một lần nữa cầu khẩn oan linh này.
"Thế này nhé! Tuy tôi chỉ là một nghiệp linh, nhưng thấy ông toàn thân tỏa ra vạn ánh hào quang, khi đến gần ông thì lòng oán hận đã giảm bớt. Vừa bước vào Phật đường của ông, tôi thấy có một bộ kinh Phật đang phát ra hào quang lớn, sao ông không tặng cho tôi bộ kinh Phật phát hào quang lớn đó?" - Nói xong câu này, bà lão ấy liền biến mất.

Trong thiền định quán, tôi biết bộ kinh Phật phát quang đó chính là "Lương Hoàng Bảo Sám". Xuất định rồi, tôi nghĩ một lúc, làm thế nào để tặng "Lương Hoàng Bảo Sám" cho bà lão, "Lương Hoàng Bảo Sám" là kinh Phật vật chất, còn bà lão là oan hồn. Cuối cùng, tôi đã nghĩ ra, thì ra bà lão muốn tôi tụng "Lương Hoàng Bảo Sám" cho bà ấy.

"Lương Hoàng Bảo Sám" là khi Lương Vũ Đế ban đầu làm Thứ sử Ung Châu, phu nhân Hy Thị tính tình ghen tỵ tàn bạo, sau khi chết hóa thành trăn khổng lồ, sau đó báo mộng cho Lương Vũ Đế, Lương Vũ Đế liền cho soạn mười quyển "Từ Bi Đạo Tràng Sám Pháp", thỉnh tăng nhân lễ sám, sau đó phu nhân hóa thành thiên nhân, ở giữa hư không cảm tạ đế vương rồi ra đi.

Tôi nghĩ một chút, thì ra "Lương Hoàng Bảo Sám" phát hào quang là vì thế, bà lão này cùng chị gái Liên Lũ cùng tranh giành một người chồng, há chẳng phải là chữ "ghen tỵ" gây họa hay sao?

Vì thế, tôi lên pháp tọa, triệu thỉnh kết giới tụng kinh.

Tôi đặc biệt viết một bài văn hồi hướng như sau:
*Việc đời sao đằng đẵng
Tham, ganh vẫn chẳng nguôi
Oán hận như đất đá
Biết ngày nào tan thôi. *

*Nay tụng Lương Hoàng Sám,
Tự thẹn cảnh tiêu dao
Rõ ràng đều thấy biết
Gửi thân nơi chốn nào.*

🌟

Một tuần sau khi tụng xong "Lương Hoàng Bảo Sám", tôi lại gia trì cho chị gái Liên Lũ.

Trong thiền định, tôi thấy bà lão từ hư không bay đến, đạp mây cỡi sương mà tới, khi đến trước mặt tôi, thân thể bà ấy càng ngày càng nhỏ lại, biến thành hình dáng một em bé, em bé này được quấn bằng thiên y màu vàng kim, trước ngực còn đeo đầy chuỗi vòng, đôi mắt trong sáng vô tà, to và sáng.

Em bé còn có thể nói được: "Nay nhờ được sức tụng kinh của Kim cương Thượng sư, sức gia trì của Hoạt Phật, quả nhiên khiến cho ác nghiệp duyên hoàn toàn tiêu trừ, giờ đây sẽ chuyển sinh làm thân nữ phúc đức viên mãn, tương lai của tôi sẽ có dung nhan diễm lệ như tiên nữ, phúc báo thường đi theo thân, nay đặc biệt đến cảm tạ Liên Sinh Hoạt Phật."

Tôi chúc mừng bà ấy. Bà ấy liền biến mất không còn dấu vết. Tôi biết rằng, tất cả công đức đã viên mãn.

🌟

Liên Sinh Hoạt Phật biết rằng, trong nhân quả báo ứng, nghiệp nào nặng nhất thì đó chính là nghiệp sát, đặc biệt là giết hại những chúng sinh có linh tính cao thì tội báo càng khó giải thoát. Trong túc mệnh, oán khí của nghiệp sát là thứ khó giải trừ nhất.

Người mắc bệnh nặng, y học không thể chữa được, phần lớn đều là do túc mệnh. Kiếp trước phạm nghiệp sát, thân này ắt phải trả nợ người khác.

Nghiệp sát này bao gồm:
Tự mình giết.
Dạy người khác giết.
Ép buộc giết.
Tự sát.
Đây là món nợ vô lượng lại vô lượng!

Hôm nay, trong bản văn ngắn này, tôi đặc biệt khuyên người ta đừng phạm giới sát, nhất là những người trẻ tuổi, máu nóng xung lên, động một tí là nói đến chuyện giết chóc, phải biết rằng kẻ tạo nghiệp sát tất phải trả nợ người khác, thân mắc bệnh nan y, khổ đau triền miên, Đông y Tây y cũng không chữa được.

Liên Sinh Hoạt Phật trong thiền định quán thấy rằng, người mắc bệnh nặng đời này phần lớn đều là kẻ có nghiệp sát nặng ở kiếp trước, điều này là luôn luôn đúng không sai.

🌟

U máu sao lại không thấy nữa? Cuối cùng, khi bác sĩ mổ kiểm tra thì u máu đã biến mất.

Thực ra những ví dụ như thế này, trong pháp tu chữa bệnh của Liên Sinh Hoạt Phật, đã chẳng còn mới lạ gì nữa. Không chỉ khối u không thấy nữa, ung thư cũng không thấy nữa, sỏi không thấy nữa, máu đông không thấy nữa.

Những việc như thế này khiến cho cả bác sĩ cũng không hiểu nổi, xảy ra liên tục không ngừng. Bác sĩ rõ ràng đã kiểm tra nhiều lần, đều có bệnh nặng, nhưng khi mổ kiểm tra lại thì bệnh đã biến mất không dấu vết, bác sĩ trợn mắt ngây người, kinh ngạc đến mức không nói nên lời, kính cũng rơi vỡ, dao phẫu thuật cũng rơi gãy.

Trị liệu tâm linh như thế này khiến cho Liên Sinh Hoạt Phật vô cùng bận rộn. Bệnh tật của chúng sinh quá nhiều, nhưng chỉ cần có thư gửi đến, tôi nhất định sẽ cầu nguyện lên cõi trời, tụng kinh, tu pháp, luôn luôn giữ tinh thần nhiệt thành từ bi để cứu độ chúng sinh thiên hạ, như vậy, tôi tin rằng chư Phật Bồ Tát đều sẽ từ bi che chở.

Tôi tin rằng:
Người có lòng thành.
Phật ắt cảm động.

Con người sống trên đời như rơi vào trong biển lớn sâu thẳm, đôi khi vô cùng bất lực. Thêm nữa, thân thể con người rất mong manh, một khi nhiễm phải ác bệnh, tứ đại liền phân tán, thân thể liền tiêu tán. Những người bị bác sĩ tuyên bố thọ mạng đã hết mà đến cầu Liên Sinh Hoạt Phật rồi được sống nhiều như cá qua sông.

Không có gì ở đây cả, điều tôi dựa vào là "chuyên thành cần cù, chẳng hề lười biếng, cảm ứng tất thành".

🌟

Tôi cũng đã từng tu pháp cho một ngôi sao điện ảnh họ Lưu. Họ Lưu bị sỏi mật. Tôi thắp đèn cúng dường A Di Đà Phật, tắm gội thay pháp y, lên pháp tọa, kết ấn trì chú.

Bỗng ngửi thấy mùi hương lạ, mở mắt nhìn thì thấy họ Lưu bay lơ lửng đến. Họ Lưu là ngôi sao điện ảnh, như thiên tiên hóa thân xuống trần.

Tôi nhìn thấy vị trí túi mật của họ Lưu có những chấm đen như hạt vừng, khoảng vài chục hạt, do có thể với tay đến được nên tôi dùng tay lấy từng hạt một, chỉ một lúc đã lấy sạch hết. Lần tu pháp chú ấn này thật kỳ dị vô cùng.

Sau đó, sỏi mật của họ Lưu quả nhiên không cần dùng thuốc mà khỏi. Họ Lưu nói với mọi người: "Vài ngày trước khi sỏi mật biến mất, đêm đó tôi nằm mơ, thấy Liên Sinh Hoạt Phật đưa tay vào trong người tôi, tay không ngừng nhặt lấy những thứ gì đó, giấc mơ như thật vậy, vô cùng rõ ràng, kết quả là sỏi mật thật sự đã biến mất, thật là kỳ diệu, không thể nghĩ bàn."

Tôi đã từng viết về pháp Già Văn Đồ trong cuốn sách "Mật Tông Yết Ma Pháp", và pháp Già Văn Đồ chính là pháp chuyển di.

Những điểm chính:
Trì trai giới bảy ngày.
Đốt trầm hương chìm nước cúng Phật.
Quán tưởng khối u của người bệnh chuyển vào trong đầu lâu người.
Trì chú: "Ôm chưa-uân-thu i-li-mi-li sô-ha."
Cuối cùng, chôn đầu lâu người vào trong đất sạch.

Chú ấn này đều vô cùng đặc biệt, Kim cương Thượng sư có đại pháp lực, quả thật có thể thi triển pháp này để cứu người trong lúc nguy cấp.


### 05. Hút vào ánh sáng trắng trên đỉnh đầu Sư Tôn


Trước tiên tôi công bố một lá thư:

*Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật từ bi chứng giám.*

*Đệ tử Liên Hoa Nguyên Sơn lần này có được nhân duyên tu pháp tại Tổng Đường Lôi Tạng Tự, thật sự là nhận được không ít lợi ích, hiếm có cơ hội tu tâm tại Ma Ha Song Liên Trì chốn nhân gian, con như đã có được đầy đủ tất cả.*

*Lần này về Indonesia, việc thứ nhất là giúp xây dựng hoàn thành Trung Tâm Tu Đạo Lôi Tạng, cầu xin Thánh Tôn gia trì, áng chừng cuối năm nay đã có thể hoằng pháp.*

*Có một lần buổi sáng từ trong chùa nhìn thấy Sư Tôn đọc báo, đệ tử hướng về Sư Tôn đảnh lễ, từ xa chăm chú nhìn thánh thân Sư Tôn, thấy vòng tròn ánh sáng trên đầu Sư Tôn phát ra ánh sáng trắng, đệ tử liền nhanh chóng quán tưởng hút ánh sáng trắng đó vào đan điền. Hành động này có đúng không? Cầu Sư Tôn khai thị và gia trì cho đệ tử sớm ngày khai ngộ:*

*Tâm là cây bồ đề, thân như đài gương sáng.
Gương sáng vốn thanh tịnh, nơi nào nhiễm bụi trần.*

*Ngày 20, ban đêm lúc 12 giờ trước khi đi ngủ, đệ tử cầu Sư Tôn khai thị trong giấc mơ, trong mơ gặp cha và anh trai, vừa tỉnh dậy nhìn thời gian thì thấy đã là 2 giờ sáng. Hôm nay con đã bao danh cho họ để cầu Sư Tôn siêu độ cho họ.
......
Đảnh lễ.
Đệ tử Liên Hoa Nguyên Sơn chắp tay.
21.07.1988*


![image](/img/img_5abc79376d0e4e0dfddd0c628d01ad65.png)


🌟

Tại đây, trước tiên tôi giải thích biểu trưng của việc phóng quang:
Ánh sáng từ răng - biểu thị ánh sáng của việc thuyết pháp.
Vòng ánh sáng từ hai bàn chân - biểu thị bốn tin.
Vòng ánh sáng từ luân hai đầu gối - biểu thị hồi tự hướng tha, hồi nhân hướng quả. [hồi tự hướng tha: hồi hướng cái lợi của mình sang cái lợi cho người khác; hồi nhân hướng quả: hồi hướng nhân hiện tại sang quả giác ngộ trong vị lai]
Ánh sáng từ miệng - biểu thị Phật tử do miệng Phật thuyết pháp mà sinh.
Ánh sáng từ giữa hai lông mày - biểu thị ánh sáng của con đường trung chính, còn gọi là ánh sáng chính của trung đạo.
Ánh sáng từ Tâm luân - biểu thị ánh sáng của lòng đại từ đại bi cứu độ chúng sinh.
Ánh sáng từ ngón tay - biểu thị ánh sáng của pháp lực.
Ánh sáng từ đầu - biểu thị không trụ sinh tử, không trụ Niết-bàn.
Ánh sáng từ mắt - biểu thị đại quang minh ngũ trí của trí huệ viên mãn.
Ánh sáng từ toàn thân - biểu thị đại trí đại giác, viên dung vô ngại.

Lại có một thuyết nữa, phóng quang từ bàn chân là lợi ích cho đạo địa ngục; phóng quang từ đầu gối là lợi ích cho đạo súc sinh; phóng quang từ bụng dưới là lợi ích cho đạo ngạ quỷ; phóng quang từ rốn là lợi ích cho đạo atula; phóng quang từ ngực là lợi ích cho đạo người; phóng quang từ vai là lợi ích cho đạo trời; phóng quang từ miệng là lợi ích cho Tiểu thừa; phóng quang từ giữa lông mày là lợi ích cho Đại thừa; phóng quang từ nhục kế là lợi ích cho Tối thượng thừa.

🌟

Bây giờ nếu xuất bản ảnh phóng quang của Liên Sinh Hoạt Phật, có thể xuất bản được năm tập chuyên đề, vì bất kể khi nào mở miệng, giơ tay hay nhấc chân, đều là ánh sáng rực rỡ, tròn đầy tỏa sáng bốn phía.

Liên Hoa Nguyên Sơn tại Lôi Tạng Tự nhìn thấy Sư Tôn Hoạt Phật đang đọc báo, thấy ánh sáng trắng từ vòng tròn ánh sáng trên đầu Sư Tôn, Liên Hoa Nguyên Sơn rất nhanh chóng quán tưởng hút ánh sáng trắng đó vào đan điền, điều này hoàn toàn đúng đắn.

Tại sao lại đúng?
Ánh sáng từ đầu là ánh sáng không trụ sinh tử, không trụ Niết-bàn, cũng chính là đại quang minh của đại nguyện phổ độ chúng sinh, cơ duyên có thể hiển hiện loại ánh sáng này là muốn đệ tử tiếp tục gánh vác đại nguyện đi phổ độ quần sinh.

Kim cương Thượng sư chân chính là hút vào khí đen của chúng sinh, thở ra ánh sáng trắng thanh tịnh. (Hút đen thở trắng.)
Còn việc tu hành của chúng sinh, là hút vào ánh sáng trắng của Kim cương Thượng sư, thở ra khí đen ô trược. (Hút trắng thở đen.)
Vì vậy, việc Liên Hoa Nguyên Sơn hút ánh sáng trắng vào đan điền là đúng đắn.

🌟

Cần biết rằng, Liên Sinh Hoạt Phật lúc nào cũng đang độ chúng sinh, khi thuyết pháp là đang độ chúng sinh, khi ăn cơm cũng đang độ chúng sinh, khi ngủ càng là đang độ chúng sinh; tu pháp thiền định đúng là như vậy, thậm chí khi đọc báo cũng đang độ chúng sinh!

Xin các đệ tử lưu ý, trên đỉnh đầu có ánh sáng, mỗi cử động tay, mỗi nhấc chân, đều có đại quang minh tỏa sáng bốn phía, ai có thể kịp thời hút vào ánh sáng thì có phước lắm.

Đã từng có một đệ tử đảnh lễ Liên Sinh Hoạt Phật, ngước nhìn lên, liền thấy Liên Sinh Hoạt Phật như hoa trời bay lơ lửng trong không trung, xung quanh toàn thân ngài có ánh sáng xanh, ánh sáng vàng, ánh sáng đỏ, ánh sáng trắng, ánh sáng rực rỡ chói lòa, chớp lên khoảng mười giây rồi mới tan biến. Vị đệ tử đó nhìn sững sờ, kinh sợ vô cùng.

Tôi an ủi anh ấy: "Anh đã thấy rồi sao? Đừng sợ."
"Tại sao ánh sáng của Sư Tôn lại chói lòa đến như vậy?"

Tôi nói kệ rằng:
Quang minh tức tâm địa,
Cũng như nước lửa gió,
Không hai không phân biệt,
Viên mãn bằng hư không.

Tôi giải thích rằng:
Người nào thấu ngộ minh tâm kiến tính, cũng tức là quang minh tự hiển, thì sẽ cùng vũ trụ tỏa sáng. Tự tính ấy phát sinh diệu dụng, khiến nghìn Phật cùng hiển diệu dụng, ánh sáng thông khắp mười phương không chướng ngại, phủ khắp ba cõi, thể và dụng đều rõ ràng.

Về ánh sáng giống như nước lửa gió, tôi nghĩ nước có tính lưu thông, lửa có tính rực cháy, gió có tính vận động. Ánh sáng hiển hiện chính là sự hợp nhất của nước lửa gió thành một thể thống nhất.

Muốn hiển hiện ánh sáng, nhất định phải:
Thủy đại - nhuần thấm toàn thân, lưu thông không ngại.
Hỏa đại - hơi ấm hòa quyện đều khắp, ấm áp toàn thân, tập trung thành điểm, lóe ra ánh sáng.
Phong đại - vận động dễ dàng, ứng dụng tự tại.
Thực ra phóng quang là thân, tâm, vũ trụ không hai không phân biệt.

Lại nữa, tất cả chư Phật, cùng pháp A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề của chư Phật, đều từ tự tâm lưu xuất, vô cùng vô tận, đó gọi là "viên mãn bằng hư không".

Vì vậy phải đại triệt đại ngộ!

🌟

Liên Sinh Hoạt Phật hiển hiện vô số điềm lành kỳ diệu là để nhiếp triệu tiếp dẫn chúng sinh, sự đại hiệu nghiệm của chú ấn chính là như vậy, thật sự có lợi ích cực lớn đối với chúng sinh thiên hạ. Nếu có chúng sinh nào tâm linh của họ như đang bị lửa thiêu đốt trong hầm lửa, đau khổ tột cùng, thì phải đọc sách của Liên Sinh Hoạt Phật, quy y Liên Sinh Hoạt Phật để cầu được con đường giải thoát.

Quả nhiên, bạn có thể thấy Liên Sinh Hoạt Phật phóng ánh sáng chiếu soi bạn, như nước mát lạnh chảy vào tâm bạn, tâm địa tự nhiên trở nên rộng mở thoải mái, bạn có thể thấy Liên Sinh Hoạt Phật ban cho bạn đủ loại hiệu nghiệm, sống trong diệu cảnh, như thể đã đến Ma Ha Song Liên Trì, được diện kiến Như Lai vậy.

Phóng đại quang minh chiếu thế gian!
Tòa sen kim sắc là cảnh giới khinh an,
Tâm vi diệu không có phiền não,
Ngửi thấy hương Phật.

Liên Sinh Hoạt Phật sẽ tiếp tục hành đạo, tuyên dương đại hiệu nghiệm của chú ấn Chân Phật Mật Pháp, loại nhân duyên thù thắng này cần có đại nguyện để thúc đẩy. Muốn trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật, muốn dẫn người vào Phật môn, khiến chúng sinh cầu đạo được chính tri kiến, không bị tà hoặc, thì phải ứng dụng đại hiệu nghiệm của chú ấn bằng phóng quang nhiếp triệu, làm sáng tỏ: Phật do tâm thành, đạo do tâm học, đức do tâm tích, công do tâm tu, phúc do tâm tạo.

Phóng quang vì ai?
Phóng quang cũng là vì chúng sinh.


### 06. Uy quang của linh phù cầm máu


Trước tiên tôi công bố một lá thư làm ví dụ.

*Kính thưa Sư Phụ, Om mani padme hum. 
Trước tiên xin Sư Phụ nhận lời đảnh lễ ba xưng ba lạy của đệ tử tự mệnh quy y.*

*Vô cùng cảm ơn Sư Phụ đã gửi đến linh phù cầm máu, đệ tử đã hóa đốt trước Phật và uống vào, hiện không còn chảy máu nữa, đã đi khám bác sĩ, thai nhi hoàn toàn bình thường, thêm một tuần nữa là được ba tháng rồi, cảm ơn sự gia trì từ bi của Sư Phụ. Đã không còn chảy máu nữa, mấy ngày nay đệ tử mới dám xuống giường tu pháp, đệ tử ba quỳ ba lạy cảm ơn sự gia trì của Sư Phụ, ngoài lời cảm ơn vẫn là cảm ơn, vạn lần cảm ơn sự gia trì của Sư Phụ, Phật, Bồ Tát, đệ tử mãi mãi cảm ơn......*

*Chúc Sư Phụ bình an, Sư Mẫu như ý.
Đệ tử Liên Hoa Giai Chân kính bút.
02.04.1988.*


![image](/img/img_6723e94d90988f669d23e4c7e00b684a.png)


🌟

Khi tôi biết tình trạng của Liên Hoa Giai Chân, tôi rất quan tâm đến sự an toàn của thai nhi, tôi nghi ngờ liệu có phải oan nghiệt quấy nhiễu không. Vì vậy, trong lúc nhập Tam ma địa, tôi đặc biệt đến thăm cô ấy.

Dưới chân tôi tự động hiện ra những cánh sen trắng như pha lê, một đóa sen trắng nâng đỡ dưới lòng bàn chân, giống như đang đạp trên tấm thảm cao cấp nhất.

Thân tôi nhẹ nhàng bay lên, như không có gì. Cảnh vật xung quanh lướt qua nhanh như điện chớp. Gió rất nhẹ. Ý rất vi tế. Chỉ trong chốc lát đã đến nhà của Liên Hoa Giai Chân.

Tôi đến trước cửa phòng ngủ của cô ấy, quả nhiên thấy một người phụ nữ tóc dài, bên cạnh có hai đứa trẻ đứng, và người phụ nữ tóc dài này đang mang thai. Ba hồn ma này chặn lối ở cửa, cả ba đều phát ra ánh sáng xanh từ thân thể, rất yếu ớt.

Thấy Pháp thân của Liên Sinh Hoạt Phật đến, bọn họ hơi sợ hãi.
"Đại Thánh, ngài từ đâu đến?" - Người phụ nữ tóc dài hỏi.
"Tôi đến để cứu Liên Hoa Giai Chân." - Tôi đáp.
"Chúng tôi rất đói! Nếu không có đồ máu thịt, chúng tôi không muốn rời đi." - Người phụ nữ yêu cầu.
"Tôi là người học Phật, sẽ khiến các người no đủ."
Người phụ nữ u linh cùng hai đứa trẻ nghe nói vậy rất mừng.

"Làm sao cho ăn?" - Người phụ nữ u linh hỏi.
Tôi lấy một cái kéo sắc, dùng kéo cắt một vết trên ngón tay Pháp thân của mình, máu chảy như suối, người phụ nữ u linh thấy vậy rất mừng, lưỡi thè dài ra, như dây đỏ, quấn lấy.

Hai đứa trẻ ở bên cạnh, sốt sắng muốn thử. 
Người phụ nữ nói: "Con tôi cũng phải được ăn!"
Tôi lại dùng kéo sắc, cắt hai ngón tay khác, máu chảy như suối. Hai đứa trẻ mỗi đứa ôm lấy một ngón tay mà hút. Ba người đều thỏa mãn.

Không ngờ người phụ nữ vẫn chưa thỏa mãn, nói: 
"Trong bụng tôi còn có một đứa con nữa, cần phải ăn thêm một ngón nữa."

Tôi vẫn nhẫn nhịn, lại cắt thêm một ngón nữa, để nó hút. Trong lòng tôi nghĩ: Tôi học Phật, học cái tâm bình đẳng, nếu máu thân tôi có thể cho đi để cứu được mạng sống của một đệ tử, thì thân xác này với trăm bộ phận đều có thể xả bỏ, huống chi chỉ là một chút máu nhỏ nhoi, tuy đau nhưng không oán hận, dù người phụ nữ đòi ăn quá đáng cũng không than phiền.

Người phụ nữ hút xong, rất mừng: 
"Chúng tôi đã thỏa mãn, xin đa tạ Đại Thánh bố thí, chúng tôi xin đi đây."
Người phụ nữ tóc dài cùng hai đứa trẻ, trong chớp mắt đã biến mất.

Tôi lại đi vào phòng ngủ. Tôi thấy Liên Hoa Giai Chân đốt lá linh phù tôi gửi cho cô ấy, rồi hòa với nước uống vào. Nước linh phù này, bất ngờ phóng ra nghìn ánh hào quang, Liên Hoa Giai Chân uống bát nước nghìn ánh hào quang này vào, những hào quang ấy như thể xuất hiện từng đám mây lành, thanh nhã bao phủ quanh Liên Hoa Giai Chân, khiến cô ấy an nhiên chìm vào giấc ngủ.

Tôi biết rằng, linh phù cầm máu một khi hóa thành hào quang là đã có hiệu nghiệm rồi.
Tôi biết rằng, vong linh sẽ không còn đến quấy nhiễu Liên Hoa Giai Chân nữa. Vì tôi dùng chú ấn, hướng về bốn bức tường xung quanh ngôi nhà, thi hành kết giới, khiến cho ngôi nhà vốn ô uế tột cùng đột nhiên trở nên thanh tịnh và quang minh. Mọi thứ tôi thi hành đã viên mãn, Pháp thân trở về Chân Phật Mật Uyển ở Mỹ.

(Việc kỳ diệu hơn nữa đã xảy ra, ba ngày sau khi máu Pháp thân của tôi bố thí cho u linh, khi tôi đang tưới nước cho cây cối ở nhà, ngón tay bị cành cây bật lại móc vào, bị cắt bốn vết lớn, máu chảy như suối. Như vậy, mọi pháp thay thế mới hoàn thành.)

Tôi viết một bài kệ ghi lại:
*Hóa thân là Chân Phật,
Giúp dân trừ khốn đốn;
Người phàm cần tu pháp,
Thanh tịnh là chú ấn.*

🌟

Liên Sinh Hoạt Phật ban đầu học vẽ phù, trước tiên sư phụ yêu cầu tôi tụng niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh 1000 lần.

Tôi tụng niệm xong, cầu xin Ngài dạy cho tôi. Sư phụ lại nói, nếu con có thể trong một lần ngồi thiền thu về một niệm, ngồi đủ 24 giờ, thì sẽ dạy cho vẽ phù. Tôi lại ngồi đủ 24 giờ.

Sư phụ lại nói, con hãy ra ngoài tích đức tu thiện trăm việc, rồi quay về, như vậy mới dạy vẽ phù. Tôi hết lòng làm việc thiện, hoàn thành trăm việc, rồi trở lại núi, quỳ xuống cầu xin sư phụ truyền thụ pháp phù lục.

Thế rồi, sư phụ nói với tôi:
Yếu tố đầu tiên của pháp phù là phải có "Phật quang", phù muốn linh nghiệm, chỉ có thành tâm cầu nguyện chư Phật Bồ Tát nhìn xuống mà ban quang, tức là chiếu ánh sáng Phật lên giấy phù, giấy phù được Phật quang chiếu một lần lập tức không còn là giấy phàm, mà trở thành vật có pháp lực, phù có linh nghiệm, toàn bộ đều ở chỗ này. Cho nên học phù, sư phụ yêu cầu tôi tụng niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh 1000 lần, là để tôi kết duyên.

Yếu tố thứ hai của pháp phù là phải có "tinh thần thống nhất", đây là "tinh thành sở chí, kim thạch vi khai" [sự chân thành, tinh thuần đến mức tột cùng thì vàng đá cũng phải nứt ra], tinh thần tập trung khi hạ bút vẽ phù mới có thể đạt được Phật Bồ Tát bố quang, đây là quan hệ tương tác nhân quả. "Tinh thần thống nhất" hoàn toàn là pháp nhiếp niệm, khi vẽ phù không thể nghĩ lung tung, vì thế sư phụ yêu cầu tôi nhiếp niệm một lần ngồi, ngồi đủ 24 giờ, hoặc lâu hơn nữa.

Yếu tố thứ ba của pháp phù là người vẽ phù phải y theo bố quang của chư Phật Bồ Tát, mà người mà chư Phật Bồ Tát hộ trì chắc chắn là bậc đại thánh thiện nhân, người như vậy mới có thể vẽ phù. Rồi phù có linh nghiệm, nếu không phải là vạn kiếp tích đức thì không thể, hơn nữa phải đại từ đại bi mới có thể thật sự thọ trì. Kẻ tâm thuật xấu xa, chẳng qua chỉ là tà thuật quỷ phù mà thôi, chẳng phải pháp phù chân chính. Vì vậy, sư phụ yêu cầu tôi phải tích trăm việc thiện trước rồi mới dạy pháp phù.

Ba yếu tố của pháp phù nhìn có vẻ đơn giản, nhưng thực ra ý nghĩa vô cùng sâu sắc. Đó là:
Pháp phù chính là pháp thậm thâm,
Giúp đời cứu khổ mới thành được
Nếu thấu hiểu được chữ bí mật
Chư Phật Bồ Tát đều tùy hỷ.

Pháp phù này là một trong những pháp phương tiện của Liên Sinh Hoạt Phật, là một loại phương tiện trí, là phương tiện cứu thế. Tôi muốn đại chúng học pháp này phải cung kính chắp tay, phải cúng dường chư Phật Bồ Tát, phải có thiện tâm chân chính, phải quét sạch vọng niệm, thu niệm về một. Chư Phật Bồ Tát nghe biết người này, liền sẽ trở lại bố quang, như thế phù lục sẽ có đại uy lực, ân trạch Phật pháp thấm nhuần khắp nơi.

🌟

Phù của Liên Sinh Hoạt Phật có linh có uy, có đại pháp lực, có thư làm chứng.

Cuốn sách "Tiên Thiên Phù Bút" do Liên Sinh Hoạt Phật viết, vốn là phù lục tự tâm lưu lộ. Hơn nữa, cuốn sách "Tiên Thiên Phù Bút" còn có tâm yếu của pháp vẽ phù Chân Phật Mật Pháp, tâm yếu vẽ phù này, chính là khẩu quyết bí mật mà sư phụ năm xưa truyền thụ cho Liên Sinh Hoạt Phật.

Đây là:
Bút du hành trên giấy,
Nghị lực thêm sóng linh
Nếu hỏi liệu có linh
Cần gì hỏi Di Đà.


### 07. Hóa thân của Đại Nhật Như Lai


Liên Sinh Hoạt Phật là hóa thân của Đại Nhật Như Lai!
Đại Nhật Như Lai - Phật Nhãn Phật Mẫu - Liên Hoa Đồng Tử - Liên Sinh Hoạt Phật.

Có thư làm chứng:

*Ân sư Liên Sinh Hoạt Phật kính yêu!*

*Đệ tử vào ngày 18 tháng 5 âm lịch, cùng với vài người bạn đi đến Macau làm việc, từ 10 giờ đến 11 giờ sáng, trời vẫn đang mưa phùn lất phất (mấy ngày trước đều mưa to). Chúng con khoảng 11 giờ đã đến Macau, lập tức đến khách sạn sắp xếp hành lý. Khoảng 12 giờ trưa, chúng con chuẩn bị ra ngoài ăn trưa, vừa ra khỏi cửa khách sạn, đệ tử không có lý do gì mà ngước nhìn lên bầu trời, chỉ thấy bầu trời hiện ra đặc biệt rộng lớn, vạn dặm không mây, một mảng xanh biếc tôn lên mặt trời tròn trĩnh, điều kỳ lạ nhất là bên ngoài mặt trời có một vòng quầng ánh sáng bao quanh, vòng quầng này hiện ra màu vàng kim, vô cùng chói lọi. (Đệ tử thời niên thiếu đã từng thấy một lần.) Lúc này, đệ tử mới giật mình nhận ra, hóa ra hôm nay là sinh nhật của Thượng sư!*

*Đây thực là:
Đại Nhật hóa Đồng Tử,
Ánh kim hóa sen hồng.
Giờ Ngọ hoa rơi rụng,
Gió mưa chẳng ngăn lòng.
Mây đen dù dày đặc,
Sen nở khắp nơi mong.*

*Chúc: Như ý cát tường!
Đệ tử Liên Hoa Chí Cường (Trần Chí Cường) trăm lạy đảnh lễ.
22.07.1988.*


![image](/img/img_19a5a4acea9986b0e94b4dc91db0df30.png)


🌟

Liên Hoa Chí Cường đã thấy vầng quang mặt trời tại Macau. Và vào giờ Ngọ ngày 18 tháng 5 năm 1988 (âm lịch), trên toàn thế giới đều xuất hiện vầng quang mặt trời, quang luân Đại Nhật chiếu khắp bao phủ bầu trời phía trên Lôi Tạng Tự ở Mỹ.
Mọi người hoan hô: "Đó là Đại Nhật, là Ma Ha Tỳ Lô Giá Na, là Đại Quang Minh Biến Chiếu."

Đại Nhật Như Lai là giáo chủ của hai bộ kinh căn bản của Mật tông là "Đại Nhật Kinh" và "Kim Cương Đỉnh Kinh".
Đại Nhật Như Lai đối nội chiếu phá chân như pháp giới.
Đại Nhật Như Lai đối ngoại chiếu phá tất cả chúng sinh mà không có chướng ngại.
Đại Nhật Như Lai, đầy đủ các đức viên mãn, thường trụ bất biến, thân thổ dung thông [thân và quốc độ dung thông lẫn nhau – tâm, thân của chúng sinh thế nào thì cảnh giới mình đang ở hiện ra như thế ấy; thân - tâm thanh tịnh thì độ cũng thanh tịnh, thân - tâm nhiễm ô thì cảnh giới cũng uế trược], tập hợp tâm tính của tất cả chúng sinh và chư Phật Như Lai, hơn nữa trong tâm chúng sinh, có thể tồn tại như xưa nay tự vẫn như thế, biến khắp tất cả mọi nơi, vì thế được gọi là Quang Minh Biến Chiếu.

Khi Liên Sinh Hoạt Phật ở Hồ U Linh, ngài đã viết cuốn "Đêm Ở Hồ U Linh", "Tiên Thiên Phù Bút", trong lòng sinh ra niềm hân hoan lớn. Và trước đó, có một đêm, trong mật đàn tĩnh tọa, trong đàn không có ánh sáng. Hướng về hư không mà nói: "Ta tự biết mình là Liên Hoa Đồng Tử của Ma Ha Song Liên Trì, đại bi vô tận, tự biết mình nguyên từ Phật Nhãn Phật Mẫu, nguyên từ Đại Nhật Như Lai. Nhưng, làm sao kích khởi quần sinh, giáo hóa các Bồ Tát đây?"

Lời tôi nói vô cùng bi thiết.

Bỗng thấy trước mắt một điểm sáng, từ hư không hiện ra, rồi như hoa bắn tỏa hào quang nhiều màu, cả mật đàn bỗng chốc hóa thành lưới ánh sáng trang nghiêm. Tôi biết đó là điềm may lớn.

Hư không có tiếng nói rằng: 
"Ngươi tâm tình chỉ còn hướng về đạo rốt ráo, tâm ở chúng sinh, thật là đáng mừng."
"Như Lai có gì dạy bảo?"
"Tây phương có kinh, tên là Chân Phật, có thể diệt tội chúng sinh, ngươi có viết ra chưa?"
"Chưa."
"Hãy mau viết ra kinh này, lợi giúp chúng sinh tội khổ."
"Viết như thế nào?"
"Quán tự tâm mình."

Tôi nghe lời từ hư không, vui mừng không thể tả, buồn vui xen lẫn, càng thêm thành kính. Tôi quán chiếu tự tâm, quả nhiên trong tâm có ánh sáng sao Đẩu [ý chỉ ánh sáng dẫn đường], có chữ hiện lên trên ánh sáng sao Đẩu, từng chữ từng chữ một, vô cùng rõ ràng, tôi dùng bút từng chữ từng câu ghi chép lại, bộ "Chân Phật Kinh" này sẽ thịnh hành trên đời!

Vừa ghi chép xong, chưa kịp quay gót, Thánh cảnh liền biến mất!

Tôi viết một bài kệ:
*Chân Phật Kinh tối thắng pháp giới,
Từng chữ từng câu thấy chân cảnh;
Bảo quang hiện ra Song Liên Trì,
Đích thực Như Lai đại thọ ký.*

🌟

"Chân Phật Kinh" này của tôi quả thực là từ tâm mình tuôn chảy ra.

Có một đoạn kinh Phật nói như sau:

Nếu có người sáng tỏ được tự tâm, thấy được tự tính của chính mình, thì ngay trong thân người ấy đã có kinh; nơi cửa của sáu căn thường phóng ra ánh sáng, chiếu khắp trời đất, đầy đủ công đức nhiều như cát sông Hằng, có thể sinh ra bốn hướng bốn quả, mười bậc thánh, ba bậc hiền, cho đến ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp của Như Lai.

Tất cả công đức ấy đều do tự nơi tâm địa của chính mình tu mà thành, chẳng phải từ bên ngoài mà được. Vì sao vậy? Bởi người nào minh tâm kiến tính, thì thường nghe được tâm Phật của chính mình, mọi lúc đều thuyết pháp, mọi lúc đều độ chúng sinh, mọi lúc đều hiện thần thông, mọi lúc đều làm Phật sự. Người được như thế, ấy chính là Chân Phật.

Có một bài kệ, nói hay hơn nữa:
*Người nào tĩnh tọa một chốc lát,
Hơn xây tháp báu khắp Hằng sa;
Tháp báu rốt cuộc tan thành bụi,
Một niệm tĩnh tâm thành Chính Giác.*

Nếu trong lòng người mà trừ được màn mây che phủ, đạt đến hư không vốn thanh tịnh, có thể nói là lập tức mở ra pháp nhãn! Phải biết rằng chư Phật ba đời, ngoài tâm chúng sinh ra, không có một pháp nào có thể đạt được.

Liên Sinh Hoạt Phật tĩnh tọa, được lưới ánh sáng trang nghiêm. Quán chiếu tự tâm, được "Chân Phật Kinh".

Thân tâm thanh lương như Đại Nhật, pháp hỷ như thế này, há chẳng phải chính là Đại Nhật Như Lai sao!


### 08. Rối loạn biến thành trấn tĩnh


Lấy một lá thư làm chứng:

*Sư Tôn kính yêu!
Cô gái trong ảnh là Lã Thúy Phượng, mắc chứng tâm thần hỗn loạn, muốn thỉnh giáo Sư Tôn xem có cách nào chữa khỏi cho cô ấy không?*

*Ngoài ra, tháng trước có gửi thư về em trai của Ngô Duệ Quang, mắc chứng bệnh giống như vậy, sau khi dùng ba lá phù thì hiện đã khỏi hẳn rồi, bây giờ ba anh em đều có đến Phổ Quảng Đường đồng tu hai lần một tuần. Gia đình Sư huynh Ngô xin một lần nữa cảm tạ Sư Tôn.*

*Kính dâng cúng dường 20 đồng Ringgit Malaysia.*

*Phật an!
Đệ tử Liên Kiều chắp tay
11.7.1988.*


![image](/img/img_da590dd2e1c4d9ab30adcee819302669.png)


🌟

Lá thư này rất đơn giản, chỉ có vài câu. Có một bệnh nhân tâm thần đã được chữa khỏi hoàn toàn, rất cảm ơn. Ngoài ra còn có một bệnh nhân tâm thần khác cầu chữa trị.

Liên Sinh Hoạt Phật từng được gọi là "Đại sư khoa Tâm Thần", bởi vì bệnh nhân tâm thần đến tay ngài, tỷ lệ chữa khỏi đạt trên 90%.

Tại sao không thể đạt 100%?
Xin lỗi, bởi vì 10% trong số đó liên quan đến nhân quả lớn lao và sâu xa, nhân duyên quả báo như vậy, tôi không thể dùng Phật lực và pháp lực của riêng mình để cứu vãn.

Dù cho tôi có thỉnh được chư Phật, nhưng chư Phật cũng thở dài: "Tội chướng quá nặng nề! Không có chút thiện căn nào, làm sao có thể cứu độ mà không quan tâm đến nhân quả?"

Tuy nhiên, dù là những trường hợp nhân quả nặng không thể cứu, nhưng bệnh nhân tâm thần đã hồi phục cũng đã lên đến hàng nghìn người, đây là sự thật được công nhận.

Liên Sinh Hoạt Phật thường cảm khái:
Việc đời là vô thường, đặc biệt cuộc đời một người, thuận lợi bằng phẳng thì rất ít, ngược lại gian nan chướng ngại thì rất nhiều, gặp phải kích động đau khổ, ai cũng đều có.

Nhiều người khi gặp phải kích động và đau khổ, tinh thần thường sụp đổ, mạng sống tuy còn giữ được, nhưng không ngừng âu sầu. Trong tình trạng không thể ngủ, không thể ăn uống, rất nhanh chóng đánh mất bản tính, đi vào cảnh giới tinh thần lộn xộn hỗn loạn. Giới y học xác định là tâm thần phân liệt.

Người bị tâm thần phân liệt, tâm thần không thể tự chủ, như xe ngựa nhiều đầu, như chiếc thuyền cô đơn trong biển khổ trôi dạt lúc Đông lúc Tây, không thể tự mình kiểm soát. Tâm linh người ấy vô cùng đau khổ, gia đình người ấy càng đau khổ hơn.

Mà pháp lực của Liên Sinh Hoạt Phật chính là: biến cái "rối loạn" thành cái "trấn tĩnh". Dùng đại pháp vô thượng, dùng bình hòa vô vi, dùng lý niệm thanh tịnh, dùng chú ấn bất khả tư nghì, dùng trí tuệ vi diệu, dùng sự cung kính chí thành, dùng từ lực của chư Phật Bồ Tát mười phương, để điều chỉnh sóng não của người đương sự, khiến cái rối loạn biến thành tự chủ và trấn tĩnh.

🌟

Trong thiền định quán chiếu, tôi thấy:
Em trai của Ngô Duệ Quang, sắc mặt xanh xao vàng vọt, còn hơi lộ vẻ kinh hoàng, có vẻ như đứng cũng không vững. Anh ta bị chứng mất ngủ trầm trọng, các bác sĩ đều không chữa được.

Tôi thấy nguyên thần của anh ta đang bị sáu, bảy hồn ma trêu chọc. Lúc thì có một con ma bắt giữ anh ta, một con ma dùng chân đá anh ta, lại có một con ma kéo tai anh ta, một con ma lấy phân nhét vào miệng anh ta, một con ma hung dữ chửi mắng anh ta, một con ma dùng gông cùm khóa tay anh ta, kéo anh ta đi luôn.

Anh ta sợ hãi la hét thất thanh.

Tôi đặt chuỗi niệm Phật lên không trung.
Chuỗi niệm Phật quay tròn trong không trung.
Chuỗi niệm Phật phóng ra hào quang trắng thanh tịnh.
Các hồn ma nhìn thấy bạch quang đều kinh hãi bỏ chạy, các ma bị xua tan.

Tôi dùng chú ấn, thi triển lên thân em trai của Ngô Duệ Quang. Chú của tôi là chú thanh tịnh chú, ấn của tôi là ấn kết giới, điều này tương đương với việc đã thi triển công phu thanh tịnh kết giới, khiến cho hồn ma không thể xâm nhập tùy tiện. Do hồn ma không thể xâm nhập tùy tiện, người đương sự lại uống ba lá phù; ba phù này là phù tâm địa vui tươi, phù ngủ ngon yên giấc, đồng thời kiêm điều chỉnh sóng não. Cứ như thế, tinh thần người ấy ngày càng mạnh mẽ, tâm cảnh cũng được sáng suốt, tà ma không xâm phạm nữa, bản thân có thể tự chủ, biến rối loạn thành trấn tĩnh.

Phù tinh thần của Liên Sinh Hoạt Phật có thể xua tan những phiền não tích tụ trong lòng, có thể điều chỉnh sóng não giúp dễ dàng ngủ thiếp, có thể phóng quang, xua đuổi tà ma.

Một bệnh nhân tâm thần, khi tai ương xa lìa, thì cần có ánh sáng chân lý Phật pháp, có được trí tuệ thì mới có thể ngộ ra diệu lý của nhân sinh, được an lạc tự tại, từ đó, xoay chuyển vận mệnh của chính mình.

Tôi muốn họ:
Giữ giới không sát sinh.
Phóng sinh.
Phải từ bi gieo trồng thiện căn.
Học Phật.
Trì chú.
Phải lạc quan có trí tuệ.

🌟

Khi tôi vào nhập định quán chiếu, tôi thường ném pháp khí vào hư không. Ví dụ, khi xua đuổi hồn ma, tôi ném chuỗi niệm Phật vào hư không, chuỗi hạt phóng ra bạch quang lớn, hồn ma liền kinh hãi mà bỏ trốn.

Tôi từng ném bát ra, cái bát này liền quay tròn trong không trung, vừa hạ xuống, liền che phủ một ma gấu. Tôi ném hũ thuốc nhỏ ra, liền phóng ra ánh sáng lam rộng lớn, cứu được một trận dịch bệnh lớn. Ném đóa hoa sen đỏ ra, phóng ra ánh sáng đỏ mạnh mẽ, che phủ một cặp vợ chồng sắp ly dị, khiến họ hồi tâm chuyển ý, duy trì được gia đình viên mãn. Ném quả nho ra, khiến gia vận của gia đình nọ từ bĩ cực biến thành thái lai, mọi việc đều hưng thịnh tốt đẹp, thân tâm được thoả mãn.

Tôi giơ chày kim cang lên, liền thành pháp chỉ.
Lắc chuông kim cang, pháp lưu tràn khắp trời.
Tung bảo bình ra, tất cả thanh tịnh, tất cả sung túc.
Lông công, quả cát tường, củ cải, rìu, dao cong, móc câu, kích ba chấu, đao, kiếm, giáo, gậy, cờ phướn, tiên trượng, quạt trời, ấn, như ý, phất trần v.v…, đều có thể hiển lộ đạo lý quang minh của chúng, từng cái một đều có đại pháp lực.

Có một lần, Pháp thân của Liên Sinh Hoạt Phật bay thẳng lên hư không, chấn động tất cả thiên giới. Khi ngài bay lên, trên không trung có mây lành năm màu kết thành năm lọng báu lớn, Hoạt Phật đầu đội mũ Tỳ Lô kim đỉnh, thân khoác áo châu nghìn Phật, tay cầm bình bát và tích trượng bằng vàng lấp lánh, các thiên nữ dâng hương hoa cúng dường.

Năm chiếc lọng ấy phóng quang, trong hào quang hiện ra năm Đại Sĩ, là Văn Thù Đại Sĩ, Phổ Hiền Đại Sĩ, Quan Âm Đại Sĩ, Đại Thế Chí Đại Sĩ, Địa Tạng Đại Sĩ.

Pháp tọa của Liên Sinh Hoạt Phật hóa ra lại là một con sư tử vàng, khắp thân treo đầy chuông, tiếng chuông ngân nga lấp lánh.

Đây thật sự là ngày trong gió mát, bỗng chốc mây trắng giăng đầy, ánh bạc rực rỡ làm thiên lộ. Bên cạnh thiên lộ, đèn bay hàng nghìn.

Đây chính là nhân duyên thăng không của Liên Sinh Hoạt Phật tái nhập Pháp Giới Tối Thắng Cung.

🌟

Nhờ những nhân duyên thù thắng, cho nên những thần tích linh nghiệm không hề mất đi, bất kể là ẩn hay hiện đều bộc lộ ra chân cơ.

Trong đi đứng nằm ngồi, kim tướng trang nghiêm, hào quang xuất hiện, chỉ cần một lần nhắm mắt, thường đã ra khỏi cảnh giới này, bay thân đến nơi cách hàng nghìn vạn dặm để xử lý việc trần gian.

Đừng nghĩ rằng cách xa Liên Sinh Hoạt Phật hàng nghìn vạn dặm, thật ra ngài ở ngay trước mắt, cầu nguyện thì liền được, phải suy nghĩ như thế mới đúng.

Liên Sinh Hoạt Phật ngày đêm quên mỏi mệt, một lòng chính niệm toàn tâm vào việc cứu độ, đã đạt tới cảnh giới quên hết cả vật và ta.

Có người thấy Liên Sinh Hoạt Phật là:
Như gió thình lình.
Như mặt trời chiếu khắp.
Ngước đầu lên thì đã mờ xa.
Không ai biết đã đi về đâu.

Hễ ai có mong cầu gì, chỉ cần thành tâm khấn niệm: "Nam mô Liên Sinh Hoạt Phật." Phải trụ tâm nơi chính niệm, rất nhanh liền có thể cảm ứng được ngọn lửa vàng sáng rực chói lòa, pháp lực thần thông choáng ngợp.


### 09. Huyết hà trùng chuyển


Ở đây có một lá thư đơn giản hơn, chỉ vài dòng chữ, nhưng ẩn chứa một câu chuyện lớn, trước tiên xin công bố lá thư này làm chứng.

*Sư Tôn, Sư Mẫu cùng gia đình an khang!*

*Nhờ sự giúp đỡ của quý vị, con đã bình an sinh được một bé trai nhỏ, rất đáng yêu, xin mượn giấy bút này để cảm ơn quý vị, bày tỏ lòng biết ơn muôn vàn trong lòng.*

*Kính chúc an khang!
Lâm Huệ Trinh chắp tay.*


![image](/img/img_b469fea2acbdc5b40b37b836031a0e92.png)


🌟

Trọng điểm của lá thư này nằm ở hai chữ "giúp đỡ".

Đã giúp đỡ như thế nào?
Hóa ra, khi Lâm Huệ Trinh lần đầu đến gặp Sư Tôn, đã rất rõ ràng nói với Sư Tôn:
"Con rất mong có con nhỏ, nhưng mấy năm nay đã không còn kinh nguyệt, sẽ không có con được nữa, hy vọng duy nhất của con là kinh nguyệt trở lại, nếu kinh nguyệt trở lại thì còn có hy vọng."
"Ồ! Hóa ra là cầu huyết hà trùng chuyển."
"Sư Tôn! Có hy vọng không?" - Cô ấy mong đợi câu trả lời của tôi.
"Ở đây tôi có một chú ấn, chính là đại chú ấn huyết hà trùng chuyển, cô đã cầu đúng người rồi."
"Ồ! Tốt quá, tốt quá, mong xuất hiện kỳ tích."
"Không phải kỳ tích, mà là đại hiệu nghiệm."

🌟

Theo kết quả bói toán của tôi, cô Lâm Huệ Trinh quả nhiên là "mệnh không có con". 

Liên Sinh Hoạt Phật học thức hạn hẹp, trong lúc thiền định nhập Tam ma địa, không biết huyết hà trùng chuyển phải cầu nơi vị Phật Bồ Tát nào; nếu có thần tiên chủ quản, nhờ thần tiên khai thị làm chủ thì cũng được biết nguồn gốc căn bản!

Tôi chỉ biết rằng, linh tính nguyên thủy, là sinh ra trời đất, là tự nhiên trưởng dưỡng vạn vật, tất cả tính tính linh linh trở về bản thể của nó, có noãn sinh, thấp sinh, hóa sinh, thai sinh, tất cả thú rừng cá nước đều bị linh tính vô hình bao phủ.

Trong thiền định, tôi đi vào một luồng khí hỗn độn, trong luồng khí hỗn độn này, chẳng có vật gì tồn tại, còn tôi chỉ ở trong khí hỗn độn ấy tĩnh tọa.

Tôi thấy rằng, dư tinh thực chất vẫn chưa hoại, ẩn chứa trong hồng thủy, chỉ là bị ngăn trở lâu ngày, thanh trọc bất phân, như thế này thì đã thành cô âm bất sinh; không thể thuận hành thì không thể sinh người, trong đó có đạo lý lớn của Ngũ hành. Tuy nhiên, tôi vẫn chưa thể xử lý việc huyết hà trùng chuyển.

Tôi ở trong khí hỗn độn, phát ra bảo quang ngũ sắc, hiện ra kim thân cao trượng sáu, thân dưới phóng bạch quang, ngồi tòa hoa sen trắng, rồi lại phóng bảo quang cửu sắc, bảo quang cửu sắc này hóa thành chín đóa hoa sen, mềm mại yêu kiều.

Chín đóa hoa sen này, ngay trong khí hỗn độn, xoay vòng bay lượn, rồi sau đó bay về phía nơi bị ngăn trở. Hoa sen ấy có thể lúc to lúc nhỏ, khi đi qua nơi bị ngăn trở thì nhỏ bằng bột vàng. Một khi thông suốt không trở ngại, chín đóa hoa sen liền nhanh chóng vượt qua một cách phi thường. Một khi thông suốt rồi, chỉ trong khoảnh khắc, hỗn độn ban sơ khai mở, khí thanh thăng lên, khí trọc hạ xuống, hồng thủy liền vỡ tan, sóng đen dữ dội.

Nơi này, trong khoảnh khắc, trước tiên là hồ, rồi biến thành biển, đã thành Đông Dương đại hải rồi. Tôi nhìn nước biển vô lượng vô biên rộng lớn, chắp tay niệm lên: "Nam mô A Di Đà Phật."

Tất cả đã thành.

Bỗng nhiên trong không trung mây lành bao quanh, nghìn tia khí cát tường. Một vệt ánh sáng vàng kim bay về phía hư không, như hoa sen sắc màu bay khắp nơi, chín đóa hoa sen thu vào trong áo cà sa.

Đây là Liên Sinh Hoạt Phật một niệm từ bi, nhập Tam ma địa, chuỗi ngọc chiếu khắp, hoa trời rải khắp, hiển hiện đại thần thông, tự tay điều khiển huyết hà trùng chuyển.

🌟

Lâm Huệ Trinh vốn "mệnh không có con", giờ đây làm sao lại có con được?
Vì đã huyết hà trùng chuyển rồi.

Có người nói, Liên Sinh Hoạt Phật là Thánh Tôn cao quý, làm sao lại đi điều chỉnh việc huyết hà trùng chuyển ô uế này?

Tôi đáp: Chúng sinh bình đẳng không có tâm phân biệt, Hoạt Phật là không ta không người không tướng chúng sinh, hoàn toàn là một loại tùy duyên độ hóa. Cho nên gặp La Hán thì độ La Hán, gặp kẻ mang thân quan lại thì hiện tướng quan lại mà độ hóa, gặp kẻ mang thân phụ nữ thì hiện tướng phụ nữ mà độ hóa, thậm chí gặp những loài noãn sinh, thai sinh, thấp sinh, hóa sinh, thì hiện tứ sinh noãn thai thấp hóa mà độ hóa.

Liên Sinh Hoạt Phật độ chúng sinh, không phân tôn ti, là đủ mọi tướng từ bi, là thành tựu công đức trang nghiêm, đủ mọi lòng bi mẫn, thậm chí tự tay ôm đứa trẻ giúp sinh nở, tất cả điều này đều có.

Đây là:
*Phật pháp bao la bốn tướng không,
Giữa dòng máu đục, cõi mịt mùng.
Chẳng quản thánh thần hay kẻ mọn,
Nam nữ tiên Phật đều như nhau
Chỉ mong cùng phát nguyện Bồ Tát
Chúng sinh tu hành nguyện lực mạnh
Mai sau hóa thành sen thanh tịnh,
Lưu lại thơ này gióng tiếng chuông.*

🌟

Từng có một nữ đệ tử trong giấc mơ thấy Sư Tôn bồng một đứa bé vui vẻ bước vào.
"Đứa bé này từ đâu mà có?"
"Đặc biệt đến tặng con cho cô." - Hoạt Phật nói.
"Hoạt Phật từ bi, không thể nghĩ bàn, sao lại tự tay tặng con cho con?"
"Không việc gì không làm, cũng làm mà không vì gì cả."

Vị nữ đệ tử ấy hạ sinh một hài nhi có tướng mạo viên mãn, trang nghiêm tựa như Phật. Đứa bé này hội đủ các tướng tốt như bảy chỗ đầy đặn, đôi tai dài và dày, hai tay dài quá đầu gối, quả thật phi phàm. Khi đứa trẻ chào đời, trên không trung xuất hiện ba tầng ánh sáng cầu vồng, lại có thêm luồng ánh sáng vàng rực rỡ tỏa chiếu, hương thơm lạ bay ngập tràn khắp căn phòng.

Đây lại là một vị đại Phật Vương vì độ chúng sinh mà hạ sinh.


### 10. Túi xách tay màu đỏ trắng


Trước khi viết bài, xin công bố thư của Liên Hoa Vân Vân:

*Kính chào Sư Tôn!*

*Mấy ngày trước con mơ thấy Sư Tôn tặng con một chiếc túi xách tay nữ màu đỏ tinh xảo, còn tặng Thượng Sư Liên Nhuận một chiếc túi xách tay nữ màu trắng. Trùng hợp thay, sáng sớm hôm đó Thượng Sư Liên Nhuận có việc gọi điện cho con, con liền kể lại cho Thượng Sư Liên Nhuận nghe. Thượng sư nói: "Sư Tôn cho cô phát tài, có lẽ Sư Tôn đã biết lần trước nhờ sư tỷ Liên Cúc mang thư đi, nhầm tưởng hồng bao bên trong là tôi gửi, nên Sư Tôn báo mộng cho cô phát tài, cảm ơn cô." (Thượng Sư Liên Nhuận đã từng viết một lá thư báo cáo, con đã kẹp một lá thư và một hồng bao 100 đô la Mỹ vào trong phong thư của Thượng Sư Liên Nhuận nhờ sư tỷ Liên Cúc mang đến cho Sư Tôn.)*

*Sư Tôn, sáng sớm hôm đó, em trai thứ hai của con thật sự đã đổi cho con một chiếc xe mới, bên trong có lắp điện thoại, còn em trai út vốn rất thích chống đối con thì chiều hôm đó cũng đưa cho con tấm séc 2 triệu, 2 triệu tuy là số tiền nhỏ, nhưng việc em ấy có được tấm lòng hiếu kính con như vậy thật sự là khó có được. Em trai thứ hai cho con vài chục triệu thì con không ngạc nhiên, vì em ấy yêu thương con nhất, nhưng em trai út lại có thể làm như vậy, đơn giản là một kỳ tích.*

*Nói thật lòng, từ khi con quy y Sư Tôn, con luôn cảm thấy tình cảm anh chị em trong gia đình con thân thiết hơn trước, và con cũng sống vui vẻ hơn. Mặc dù hoàn cảnh gia đình con không giàu có bằng bốn, năm năm trước, nhưng giờ đây con đã cảm thấy rất mãn nguyện. Con biết tất cả những điều này đều là do Sư Tôn yêu thương chở che, liên tục gia trì nhân quả. Sư Tôn, con cảm ơn Thầy.
......*

*Kính chúc Sư Tôn vui vẻ.
Đệ tử Liên Hoa Vân Vân chắp tay
27.07.1988.*


![image](/img/img_732c27ea2e53b9de665c9810475c9c0b.png)


🌟

Mơ thấy Sư Tôn, đó là chuyện hàng vạn đệ tử đều thường gặp. Nhưng, mơ thấy túi xách tay nữ màu đỏ trắng thì vô cùng mới lạ.
Tặng túi xách tay màu trắng, tự nhiên là tiêu tai, thanh tịnh.
Tặng túi xách tay màu đỏ, tự nhiên là nhiếp triệu, kính ái.

Liên Hoa Vân Vân mơ thấy Liên Sinh Hoạt Phật Sư Tôn tặng cô chiếc túi xách tay màu đỏ, chính là Sư Tôn đã gia trì cho cả gia đình cô, muốn cho cả nhà cùng nhau giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau kính yêu nhau.

Người em trai thứ hai đã đổi cho Liên Hoa Vân Vân một chiếc xe mới, bên trong xe còn lắp cả điện thoại. Người em trai út vốn thường chống đối, đưa cho cô tấm séc 2 triệu, khiến cô cảm thấy ngạc nhiên, thật là kỳ tích. Tình cảm anh chị em trong gia đình đã trở nên thân thiết hơn trước.

Đây là gì?
Đây chính là sự gia trì nhiếp triệu, kính ái của Sư Tôn!

Liên Sinh Hoạt Phật luôn luôn cảm thấy rằng, tâm của chúng sinh vốn đều cùng là một thể, mà huyết thống giữa thân quyến lại càng thân thiết không phân người này người kia. So sánh mà xem, nhân duyên của cha mẹ anh chị em là phải trải qua hàng trăm kiếp, hàng nghìn kiếp tu hành mới có thể tụ hội với nhau được.

Vì vậy, chúng ta nên đặc biệt trân trọng nhân duyên quý giá khó có được này, cùng nhau hỗ trợ lẫn nhau, kính yêu nhau, như vậy mới không uổng nhân duyên thân quyến khó có được này.

Lòng từ bi của người học Phật đương nhiên không chỉ giới hạn ở thân quyến gia đình, tinh thần từ bi tế độ thế gian của họ còn rộng lớn hơn nữa, không chỉ giới hạn ở người nhà mà còn phải độ hóa người ngoài. Thậm chí không chỉ cứu độ loài người mà còn phải khiến chúng sinh trong đạo súc sinh, đạo ngạ quỷ, đạo địa ngục đều được giải thoát.

Người thật sự khai ngộ hiểu rõ: Tất cả chúng sinh đều là cha mẹ, quyến thuộc trong quá khứ.
Vì vậy, Địa Tạng Bồ Tát nói: 
Địa ngục chưa trống, thề không thành Phật
Độ hết chúng sinh, mới chứng bồ đề.

Liên Sinh Hoạt Phật nói: Phân thân xả cốt độ chúng sinh.

Viết một bài kệ:
*Phật pháp xưa nay chẳng ta người
Không phân người nhà với người ta
Chẳng khởi phân biệt, tâm bình đẳng,
Như thế nở ra đóa tịnh hoa;*

*Người người nên học bốn vô lượng,
Từ bi cứu thế, chẳng gần xa,
Đạo khắp mười phương, trùm lục hợp,
Thường lạc ngã tịnh, rộng bao la.*

Tôi viết bài kệ này dành cho người đời. Muốn học Phật pháp, trước hết phải học tâm địa quảng đại vô lượng, tâm địa càng rộng, phúc phần càng lớn; tâm địa càng rộng, tham sân si tự nhiên không có, tất cả phiền não cũng tự nhiên không thấy, không tranh đấu với người bất cứ điều gì, đây mới chính thực là kỳ diệu không thể nói. Sinh tử có thể dứt, phiền não có thể trừ, vọng niệm không có, đều ở nơi tâm địa quảng đại vô lượng.

🌟

Khi nhận được thư của các đệ tử, Liên Sinh Hoạt Phật còn trích ra những nội dung cần tiêu tai, tăng ích, kính ái, hàng phục, tập trung lại trên bàn thờ tại Chân Phật Mật Uyển. Xếp thành một vòng tròn, từng tờ một. Khi Sư Tôn tu pháp mỗi ngày, liền quán tưởng gia trì.

Ánh sáng trắng chiếu đến người cần tiêu tai.
Ánh sáng vàng chiếu đến người cần tăng ích.
Ánh sáng đỏ chiếu đến người cần kính ái.
Ánh sáng xanh dương chiếu đến người cần hàng phục.

Đôi khi, có những điều đặc biệt quan trọng thì dùng pháp nhiếp triệu, triệu gọi đối phương đến mật đàn, sau đó Sư Tôn đặc biệt dùng thủ ấn gia trì lời cầu nguyện quan trọng. Lúc này, tay của Sư Tôn phóng ra dòng ánh sáng, như luồng ánh sáng mãnh liệt bừng lên, phủ lên đối phương, khiến lời cầu nguyện của đối phương được thành tựu.

Có người là bệnh nhân bị bệnh nặng.
Có người thì lợi lộc suy bại.
Có người thì hôn nhân tan vỡ.
Có người gặp tai nạn lớn, tai ương lớn.
.....

Liên Sinh Hoạt Phật phóng ánh sáng chiếu hướng đến hư không, tay phải cầm chày kim cang, tay trái cầm chuông kim cang, phóng ra ánh sáng bốn màu đỏ, vàng, trắng, xanh dương, đó là ánh sáng của pháp chỉ. Các Không Hành Mẫu trong hư không nhận được pháp chỉ của Liên Sinh Hoạt Phật liền bay vút đi, chiếu theo pháp chỉ đi tiến hành pháp vụ.

Các ngài giúp đỡ hoằng dương Chân Phật Mật Pháp, giúp đỡ các đệ tử, giúp đỡ người cầu nguyện, giúp đỡ người cầu xin gia trì, y theo thánh ý của Liên Sinh Hoạt Phật mà làm việc, trong hư không, dùng sức mạnh vô hình, đi âm thầm hộ trì cũng như thực thi pháp.

Không Hành Mẫu nghe theo sự sai khiến của Liên Sinh Hoạt Phật.
Không Hành Mẫu là thiên binh thiên tướng của Liên Sinh Hoạt Phật.
Nếu có việc quan trọng, khi Hoạt Phật nhập Ram ma địa, Ngài sẽ hóa thân ngoài thân, đến những nơi các đệ tử ở, đi thị sát, đi nhập mộng, đi gia trì, đi làm pháp. Có lúc, Hoạt Phật không tự đi mà do Không Hành Mẫu thay mặt hành sự.

Tại Chân Phật Mật Uyển, công việc tu trì làm pháp của Liên Sinh Hoạt Phật không có một ngày nào gián đoạn. Hơn nữa, chỉ cần Hoạt Phật ở Chân Phật Mật Uyển thì thời gian làm pháp đều cố định, cũng giống như việc viết sách vậy, thời gian viết sách cũng cố định, mỗi ngày một lần làm pháp cứu độ thế gian, chưa từng có một ngày nào gián đoạn.

Làm pháp cứu độ chúng sinh là thề nguyện lực lớn vô lượng, thực sự có công năng tạo hóa trời đất vi diệu, công năng chuyển vận vạn pháp, muôn nghìn Không Hành Mẫu trong hư không tụ tập lại sẵn sàng tiếp nhận pháp chỉ, dù là ngày đông tuyết rơi hay ngày mưa bão, hay là trời nắng trời mưa, Liên Sinh Hoạt Phật chỉ cần một quán tưởng, một gia trì, một lần làm pháp, liền khiến nhiều đệ tử cầu nguyện vượt qua mây mù thấy mặt trời, tai ương xa lánh, vạn vật tái sinh, hiện ra điềm lành.

🌟

Liên Hoa Vân Vân mơ thấy Sư Tôn ban cho túi xách màu đỏ liền được hiệu nghiệm lớn. Còn nhiều đệ tử khác mơ thấy Sư Tôn cũng đều được hiệu nghiệm lớn. Đây là do Liên Sinh Hoạt Phật phát thề nguyện lớn, trải qua muôn kiếp không hề biếng lười, tích cực cứu độ tất cả chúng sinh, được muôn người kính ngưỡng!


### 11. Chữa tim bằng tâm chú Thượng sư


Dùng một lá thư làm chứng:

*Om mani padme hum.
Sư Tôn Liên Sinh, Sư Mẫu Liên Hương kính yêu từ bi soi xét!*

*An khang, rất nhớ!
Đệ tử chúng con thành kính hướng đến Sư Tôn Sư Mẫu đảnh lễ thỉnh an. Đồng thời kèm theo cúng dường 35 đồng Ringgit Malaysia, xin kiểm tra nhận, xin cảm ơn!*

*1. Đệ tử chúng con đã nhận được thư hồi đáp của Thượng sư Dương Trung Sỉ, xin cảm ơn.
2. Một người bạn nghèo khó có cha mắc bệnh tim, sau khi chúng con dạy tụng tâm chú Liên Hoa Đồng Tử thì đã tương ứng với Sư Tôn trong mộng và bệnh đã hoàn toàn khỏi rồi. Bây giờ, bất luận lúc nào, ông ấy cũng đều niệm thầm tâm chú Thượng sư.*

*Chúc Phật an!
Đệ tử Malaysia Liên Hoa Hương Tú, Liên Hoa Thủy Phụng, Liên Hoa Kim Sư thành kính đảnh lễ chắp tay.
01.08.1988. *


![image](/img/img_062c24f0c21bd7e0200e41bccbdb6fdd.png)


🌟

Chú là gì?

Chú nguyên là một trong bốn loại đà-la-ni. Chân Ngôn Tông gọi là đà-la-ni nguyên là âm bí mật phát ra từ thiền định của chư Phật Bồ Tát đã chứng ngộ.

Âm bí mật có năm ý nghĩa lớn: 1. Đà-la-ni; 2. Minh; 3. Chú; 4. Mật ngữ; 5. Chân ngôn.
Chú - tức là tổng trì vô lượng, vô tận công đức.

Trong kinh có nói: "Ở trong một pháp, trì tất cả pháp; ở trong một văn, trì tất cả văn; ở trong một nghĩa, trì tất cả nghĩa; thu về gìn giữ vô lượng các công đức, cho nên gọi là kho tàng vô tận."

Chú - tức là kho tàng vô tận, ẩn tàng vô tận.

Liên Sinh Hoạt Phật hiểu rõ ý nghĩa sâu xa nhất của Đà-la-ni:
Đà - chư Phật quá khứ.
La - chư Phật hiện tại.
Ni - chư Phật vị lai.

🌟

Tâm chú khai ngộ của Liên Sinh Hoạt Phật là:
Chú dài: "Om ah hum guru beh ahasasamaha liansheng siddhi hum."
Tâm chú: "Om guru liansheng siddhi hum."

Tâm chú khai ngộ của Liên Sinh Hoạt Phật được hiển lộ trong một lần nhập định.
Tôi ngồi trên tòa kim cương, bỗng nhiên mây mù tứ phía bao phủ, bão táp sấm sét chớp lòe.

Tôi đi vào Chân Phật tam muội pháp giới quán. Chỉ trong chốc lát có đại quang minh sinh ra trên mây mù. Thấy một đồng tử toàn thân mặc thiên y màu trắng, ngồi trên tòa sen trắng, tay cầm hoa sen. Đồng tử nói: 
"Chân Phật đại giáo, ý chỉ sâu rộng, chỉ mong Hoạt Phật, phát khởi giải tâm."
Tôi đáp: 
"Làm thế nào để phát khởi giải tâm?"
"Đêm u tối bỗng được ánh sáng, duy có âm diệu ý của chư Phật."
Tôi hỏi: 
"Chú gì?"
"Người có đại tâm tự được khai ngộ, quán tâm mà được."

Rồi tôi quán tâm, được: "Om ah hum guru beh ahasasamaha liansheng siddhi hum."

Trong khoảnh khắc ấy, tôi hiểu thấu tất cả, từ chú này có thể nhập vô sinh, nhập vô tướng, nhập vô ngã, nhập vô nhân, nhập vô nhất, nhập vô đa, nhập vô gián, nhập vô chúng sinh.

Ánh sáng chú chảy mãi,
Vượt sóng đến bờ kia,
Thánh ý linh nghìn thu,
Điềm lành tự mật tàng.

Đồng tử nghe chú âm cũng hoan hỷ, lặng lẽ ẩn vào tận mây.

Trong hư không có tiếng nói, nói rằng: "Chúng sinh thời mạt pháp, cách thời đại thánh hiền đã xa rồi, tri thức vô cùng thô thiển hẹp hòi, nghiệp chướng lại nặng nề, Phật tính đã từ lâu không còn hiển hiện. Hôm nay, may mắn có Liên Sinh Hoạt Phật xuất thế, diễn thuyết diệu pháp sâu rộng, nay khai ngộ chân ngôn chú ngữ, tu pháp môn vi diệu này là điều quan trọng bậc nhất. Tất cả các pháp Bát Nhã Ba La Mật đều có thể đắc, nhập vào thiền định cực sâu, cảnh giới bất khả tư nghì hiện tiền, cuối cùng quyết định vãng sinh Ma Ha Song Liên Trì, vĩnh viễn không thoái chuyển, chứng Vô thượng Chính đẳng Bồ đề."

🌟

Có rất nhiều người trì tụng tâm chú Thượng sư, thấy ánh sáng chói lòa, thấy bảo vật lạ trang nghiêm, mơ thấy Liên Sinh Hoạt Phật, thậm chí hiển hiện Đại Nhật Như Lai duỗi cánh tay vàng, dùng tay xoa đỉnh đầu họ, dùng ánh sáng chiếu thân họ, mây cát tường ngũ sắc v.v..., thật sự là biến hóa thần thánh không thể lường được.

Có một vị pháp sư già chỉ trì một câu tâm chú Thượng sư liền cảm ứng được ánh sáng phủ khắp, giữa hư không hiển hiện Liên Sinh Hoạt Phật cùng quyến thuộc, từng vị Bạch Liên Hoa Đồng Tử đầy khắp hư không. Lão pháp sư chiêm ngưỡng lễ bái lâu, phát thề nguyện: "Nguyện vãng sinh Ma Ha Song Liên Trì, đảnh lễ yết kiến Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử."

Lại có người bệnh nặng lâu ngày, tự cảm thấy mình đang ở trong địa ngục, bị lửa nồi hầm đốt thân, bị rắn độc cắn, hình phạt khốc liệt không chịu nổi, có người dạy họ trì tụng tâm chú Thượng sư, lập tức lửa nồi hầm tắt đi, toàn thân mát mẻ, rắn độc rút lui, dụng cụ hình phạt buông lỏng, tất cả dần dần đi vào cảnh giới tươi mát dễ chịu!

Tâm chú của tôi, đương nhiên đệ tử quy y phải trì tụng, người chưa quy y cũng có thể trì tụng, nhưng tốt nhất là sau khi có cảm ứng thì mau mau đến quy y, vì có quy y mới có sự nương tựa chân thật, được lực gia trì của Thượng sư, rồi tiếp tục niệm nữa, mới chứng Vô thượng Chính đẳng Bồ đề.

Một người cha của người bạn nghèo khổ mắc bệnh tim nặng, chỉ niệm tâm chú, bệnh tim nặng đã thuyên giảm, trong mơ đã tương ứng với Sư Tôn rồi. Quá kỳ diệu, quá bất khả tư nghì!

Và hơn nữa, chú này có thể chữa bệnh, có thể tương ứng, có thể đại phóng quang minh, khắp cùng các pháp giới, thậm chí khiến chúng sinh nơi âm phủ lập tức siêu sinh, thần kỳ không gì hơn, khó lường được, là chân thật mà không hư dối.

Hãy chí thành niệm chú đi!
Người người đều có thể hóa thành Pháp thân thanh tịnh của A Di Đà Phật.


### 12. Bệnh viêm da mãn tính bay đi


Chú ấn đại hiệu nghiệm của Liên Sinh Hoạt Phật đã cứu sống vô số người, và chữa được mọi bệnh nan y. Vì không thể nói suông không có bằng chứng, nên khi viết cuốn sách này, đặc biệt công bố những bức thư chứng minh chữa khỏi bệnh trong thời gian một hai tháng gần đây lên sách.
Tại sao lại công bố những bức thư này lên sách?
Là để cứu được nhiều người hơn.
Là để chứng minh hiệu nghiệm xác thực.
Là để dẫn dắt chúng sinh có chỗ nương tựa quy y, quy y nơi chính tín.

Tôi nói, những điều này đều thật sự xác thực, không hề hư giả chút nào, vì phải chứng minh tính chân thật của nó nên bất đắc dĩ mới công bố những lá thư này. Điều này, phải mong các đệ tử và độc giả thứ lỗi, xin thứ lỗi cho khổ tâm của Sư Tôn, việc công bố thư chứng minh là bất đắc dĩ, là không thể không làm như vậy. Đây là minh chứng, nghìn lần vạn lần chắc chắn! Mỗi lá thư đặc biệt được chụp ảnh làm khuôn in, in lên sách.

🌟

Lại công bố thêm một bức thư như sau:

*Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư!
Đệ tử trong tháng 5 năm nay đến phủ thượng của Thượng sư, tại Redmond Temple nghe Thượng sư thuyết pháp, đệ tử cảm thấy vô cùng vinh hạnh khi có cơ hội như vậy, về nhà sau mỗi đêm đệ tử tu pháp Thượng sư tương ứng và Tứ gia hành. Và tại đây xin đa tạ linh phù của Thượng sư, uống với nước lọc, một tháng sau bệnh viêm da ở tay đã tiêu trừ. Thượng sư trong năm 1986 đã chữa khỏi chứng mất ngủ của đệ tử.
Đệ tử tại đây quỳ lạy Sư Tôn, và dâng cúng dường.*

*Chúc Thượng sư Phật an!
Đệ tử Liên Hoa Bích Trân chắp tay.*


![image](/img/img_f41dbd802db4a992f81802f92f4d1a2b.png)


🌟

Có khách đến nói: "Liên Sinh Hoạt Phật, lần trước nhờ Ngài ban cho chú ấn phù lục chuyên trị chứng bệnh về da, không ngờ khiến chứng bệnh viêm da mãn tính dai dẳng hơn mười năm đã hoàn toàn khỏi, có người hỏi tôi: "Sao tin Lư Thắng Ngạn Hoạt Phật đến mức như vậy?" Tôi đáp: Vì được linh ứng kỳ diệu đó, chứng viêm da dai dẳng hơn mười năm, đã khám bác sĩ khắp nơi, họ đều lắc đầu; thế mà bây giờ, chỉ có một tuần, không bôi thuốc, không uống thuốc, lại hoàn toàn khỏi hẳn. Từ nay, tôi bắt đầu ăn chay trường, tụng kinh, tu Chân Phật Mật Pháp, chuyên tâm hướng Phật, đây là đại pháp lực của Liên Sinh Hoạt Phật."

Tôi đáp: "Bệnh về da hoặc chứng ngứa dai dẳng, tôi biết đều do nghiệp chướng sinh ra, ví dụ như sát sinh quá nhiều, rượu thịt quá nhiều, xâm hại người khác, học tà pháp, phóng hỏa đốt sinh vật, oán hận trời đất, coi thường thần linh khinh mạn Phật, miệng nói lời ô trược, trước Phật mất lễ nghi v.v..., đều sẽ mắc phải chứng bệnh về da."

Khách hỏi: "Thượng sư chữa bệnh da cho người như thế nào?"
Tôi đáp: "Thực ra, muốn chữa bệnh da cho người ta, thật sự rất khó. Giống như một người bẩn thỉu đến trước mặt bạn, bạn muốn giúp họ rửa sạch thân thể, mà rửa sạch rồi lại phải dạy họ tránh khỏi sự quấy nhiễu của các ma, những cửa ma chúng ta gặp phải lại rất nhiều, không dễ hoàn thành nhiệm vụ. Chúng ta là đệ tử thực hành đạo Bồ Tát, phải có tinh thần đại từ đại bi, cũng chính là tinh thần của Địa Tạng Bồ Tát: "Ta không vào địa ngục, ai vào địa ngục". Chúng ta không sợ ô uế mới có thể quảng độ chúng sinh. Liên Sinh Hoạt Phật cứu chữa bệnh da thường dùng phương pháp chịu thay."

Khách hỏi: "Phương pháp chịu thay? Vậy chẳng phải là bản thân mình cũng mắc chứng bệnh này sao?"
Tôi đáp: "Chính xác, chính xác. Tôi dẫn dắt ngoại ma và tâm ma của bệnh nhân vào chính thân thể mình. Phải biết rằng sự đau khổ của làn da vừa ngứa vừa ẩm ướt vừa loét thực sự là phiền não vô cùng. Lúc này, tôi khấn niệm A Di Đà Phật hiện thân trong hư không, chính đang dùng pháp nhãn từ bi quán chiếu đến chúng ta, và chúng ta biết rằng nhục thân tất cả đều là giả tướng hư vọng, ngoại ma tâm ma chẳng đáng sợ. A Di Đà Phật phóng đại quang minh nhiếp hóa sự ô uế chịu thay của chính mình, và bản thân biến thành Pháp thân thanh tịnh, tất cả sự trược uế của da liền xa lìa mà đi, rất nhanh chóng, bệnh nhỏ về da liền tiêu trừ, thân thể của mình thanh tịnh rồi thì những đệ tử bị bệnh da quấy nhiễu nhiều năm cũng đồng thời có thể được khỏi bệnh."

Khách hỏi: "Làm thế nào để tu trì pháp chịu thay này?"
Tôi đáp: "Đây hoàn toàn là vấn đề ánh sáng chiếu soi lẫn nhau, giống như tôi hấp thụ nghiệp chướng của bệnh nhân, mà ánh sáng của ý thức vũ trụ lại tẩy rửa nghiệp chướng của hành giả, người tu trì có công phu tốt, có thể khiến chính mình cùng với nghiệp chướng sáng suốt mà thẳng siêu thoát tam giới, như thể tất cả nghiệp chướng đều đã tan chảy. Tôi mong rằng hành giả Chân Phật hiểu được tâm địa quang minh của Bồ Tát, người người đồng tâm đồng đức, khiến cuối cùng mọi người đều đến được thế giới Chân Phật."

🌟

Liên Sinh Hoạt Phật trong lúc nhập thiền định, đã từng đến một Tử Quang Kim Thành. Tử Quang Kim Thành này toàn thành được xây dựng bằng lưu ly tím.
Có bảo điện màu đỏ tím.
Có hoa sen báu.
Có hồ nước thơm.
Có lưới ngọc tỏa sáng lẫn nhau, công đức trang nghiêm thù thắng.
Trong Tử Quang Kim Thành này có một nghìn các tiên ở trong thành, tôi thấy thức ăn của các tiên ấy, thật bất ngờ là toàn bộ đều là mật hoa.
Tiên nhân có người đang tĩnh tọa trong phủ tím.
Có người đang biến hóa trên mây bên bờ hồ.
Có người du lịch núi tiên Bồng Lai.

Tôi đã từng hỏi các vị ấy: "Tại sao làn da của chư tiên lại sáng ngời, trắng nõn và mịn màng như vậy?"
Các tiên đáp:
Tâm ô uế chưa từng nổi lên,
Danh lợi hại người cũng không có
Chỉ ăn hoa thanh và mật ngọt,
Khí cốt mây trắng tự thong dong.
Lành thay! Lời này đúng vậy.

🌟

Chứng mất ngủ của Liên Hoa Bích Trân đã khỏi. Bệnh da của Liên Hoa Bích Trân đã khỏi, chứng viêm da dai dẳng thật sự đã biến mất.

Thực ra, muốn giải thoát bệnh da cho Liên Hoa Bích Trân thật vô cùng khó khăn. Khi tôi thi triển pháp trong mật đàn, tôi triệu thỉnh nghiệp linh quấy nhiễu thân Liên Hoa Bích Trân. Chỉ trong chốc lát, gió nhẹ thổi đến, là một đàn lớn những chấm đen từ thấp sinh. Đây là linh của vi khuẩn.

Tôi giơ ngón tay trỏ ra, phóng ra "thần hỏa hồng quang", đốt lên hư không. Chỉ trong chốc lát, giống như một đàn kiến gặp lửa đốt vậy, trong sát-na liền hóa thành một đống tro.
"Đây có phải là Liên Sinh Hoạt Phật sát sinh không?"
Không phải, Liên Sinh Hoạt Phật dùng miệng thổi vào đống tro này, cái thổi này là một luồng bạch quang, đống tro ấy bất ngờ tập trung biến hóa thành một hình người. Hình người ấy cúi đầu lạy Hoạt Phật.

Liên Sinh Hoạt Phật nói: "Hôm nay làm pháp như vậy là đặt các ngươi vào chỗ chết rồi sau đó sống, là trả lại bản tính của các ngươi, ta đưa ngươi đến nơi Chuyển Luân Thánh Vương, mai sau chuyển kiếp, nhờ nhận được một hơi của Liên Sinh Hoạt Phật mà hãy tu hành cho tốt, mai sau cùng chứng Đẳng Giác."
Hình người lại cúi đầu lạy Hoạt Phật không ngớt.

Liên Sinh Hoạt Phật lại nói: "Nhận được một hơi thở của ta, cũng giống như được vào cửa Phật, có duyên với Phật, sinh ra cõi người, không còn hóa sinh, noãn sinh, thấp sinh nữa, mai sau nhất định là người có phúc huệ lớn. Trong xã hội sẽ trở thành thanh niên có ích cho đời, nếu theo đuổi chân lý thì phải dứt tâm oan oan tương báo, chỉ cần nội tâm thanh tịnh liền có thể tự hiện huệ quang, như vậy nhập vô thượng thậm thâm vi diệu, phản bản quy chân, cũng đều là Phật."

Hình người ấy mở miệng nói: "Tôi không muốn đi, muốn đi theo Hoạt Phật."
"Không được, nhân gian là cửa ngõ đi vào cảnh giới thanh tịnh thù thắng, muốn trải nghiệm cảnh giới tu hành thù thắng nhất định phải ở nhân gian, cần phải đích thân trải qua, muốn giải thoát phiền não, hóa khốn cảnh thành cát tường, điều này không tôi luyện ở nhân gian không được, cho nên chư Phật thực hiện ý tưởng tịnh thổ cũng chính là ở nhân gian." 
Hình người gật đầu, lộ vẻ hoan hỷ.

Liên Sinh Hoạt Phật lại dùng ngón trỏ tay phải chỉ ra, một luồng kim quang bắn ra, kim quang thành hình viên tròn, trong viên tròn ấy hiện ra thế giới Chuyển Luân. Lục đạo luân hồi hiện ra trước mắt, có đạo trời, đạo người, đạo atula, đạo địa ngục, đạo ngạ quỷ, đạo súc sinh. Và đạo súc sinh lại có nước dâng như biển, lại có sơn tinh hình trạng kỳ quái, lại có chim muông bay lượn, còn hình người ấy liền thẳng đi vào đạo người.

Chuyển Luân Thánh Vương và những vị quản lý chuyển luân đều đảnh lễ Liên Sinh Hoạt Phật. Như thế, việc làm pháp của Liên Sinh Hoạt Phật mới kết thúc.

Tôi viết một bài kệ:
*Bệnh tật trên đời cần nhìn rõ
Nhân quả nhân duyên rất thâm trầm
Muốn cứu độ phải nhờ Phật lực
Quy y Chân Phật sáng tâm ta
Làm pháp cứu đời đã bao phen
Cõi linh oan trái đừng nên ở
Nhân gian cũng là tùy duyên qua
Đừng mãi chấp mê đọa ma đạo.*


### 13. Sỏi kết tự động đào thải


Công bố một lá thư:

*Nam Mô Hồng Quan Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Om mani padme hum.*

*Đệ tử cảm tạ Sư Tôn đã ban cho phù lục, sỏi kết ở ống dẫn niệu bên phải đã tự nhiên đào thải ra ngoài rồi. Ngày 20 tháng 7 nhận được thư hồi âm của Sư Tôn kèm theo một lá phù, đệ tử liền lập tức hóa đốt, hòa với nước rồi uống. Mỗi ngày vẫn thường tu pháp Thượng sư tương ứng, trì tụng tâm chú Thượng sư nhiều. Hai, ba ngày trước, cảm thấy tiểu tiện tăng lên, tối qua khi bắt đầu đi tiểu, có hiện tượng hơi đau niệu đạo hoặc đột nhiên lượng nước tiểu giảm. Hôm nay, ngày 31 tháng 7 lúc 7 giờ 30 phút sáng cuối cùng sỏi đã đào thải ra ngoài rồi. Khấu tạ Sư Tôn!
......
Om mani padme hum.
Liên Hoa Thức Tăng đảnh lễ.
Ngày 1 tháng 8 năm Dân Quốc 77.*


![image](/img/img_e55fad2ea3caaee8749e42afe4810f14.png)


🌟

Đối với chứng sỏi ống dẫn niệu của Liên Hoa Thức Tăng, tôi rất quan tâm, đã từng vì anh ấy mà tu nhập định quán.

Trong một đêm nọ, tôi thấy có một tòa tháp, trên tháp có một vòng nguyệt luân, trong hư không có ngọc bội và tiếng nhạc, cửa tháp tự động mở ra, tôi bước vào bên trong.

Không ngờ bề ngoài ngôi tháp trông không lớn, vậy mà vào trong lại cao rộng, nguy nga khác thường. Giữa lòng tháp, mọi sự dường như dung thông khai mở; có ánh sóng biển lấp lánh, có dòng pháp thanh chân lưu chuyển. Tôi trông thấy mà hết sức ngạc nhiên.

Giữa ánh sáng mây trời có hoa sen bay tới, trên có một vị tiên trưởng thanh tịnh trang nghiêm.
Tôi cúi đầu hỏi: 
"Nơi này như thế giới Lưu Ly, rộng lớn đẹp đẽ, giữa hư không treo ngọc châu sáng rỡ, có biển pháp gió lành, khiến người kinh ngạc, xin hỏi đây là nơi nào?"
Tiên trưởng đáp: 
"Đây chính là cảnh giới Thiên Tháp Bảo Quật."
"Tôi nhập định quán Liên Hoa Thức Tăng, vì duyên gì mà đến đây?"
"Ban đầu Liên Hoa Thức Tăng vốn ở đây, nên Thánh Tôn cũng đến đây."
"Hóa ra Liên Hoa Thức Tăng là thần nhân của nơi này!"
"Đúng vậy, đúng vậy." - Tiên trưởng lại nói: "Liên Hoa Thức Tăng vốn là thần nhân của nơi này, cho nên khi gặp Thánh Tôn, học pháp tinh cần, nhập định sâu xa, thân đã hiện định quang. Nhưng trong đời anh ấy cũng gặp rất nhiều thử thách, có thử thách về rượu, cũng có thử thách về sắc dục, lại có thử thách về tài vật, quan trọng nhất là thử thách về tang ma, cuối cùng lại có thử thách về bệnh tật......"
"Anh ấy có vượt qua được không?"
"Giữ giới kiên định, đúng là pháp khí chân thật."
"Tôi biết khi anh ấy mất người thân nhưng lại hoàn toàn không dao động, xem đó như nhân quả, quả nhiên không phải là người phàm."
Tôi hỏi: 
"Còn thử thách về bệnh tật thì sao?"
"Tương lai tự biết, bản thân anh ấy là thầy thuốc." - Tiên trưởng đáp.
"Sỏi ống dẫn niệu của anh ấy khiến đau đớn khó chịu, làm thế nào để chữa?"
"Ta cho Thánh Tôn một thần dược, ngài trộn vào son đỏ vẽ phù, bảo anh ấy uống xuống, sỏi sẽ hóa nhỏ, rồi có thể tự động đào thải ra ngoài."
"Cảm tạ tiên trưởng."
"Không cần cảm tạ, về lý nên như vậy."

"Tương lai của Liên Hoa Thức Tăng sẽ ra sao? Xin ngài hãy chỉ dạy tường tận!"
Tiên trưởng đọc một bài kệ: 
*Thiền định có thể lìa bụi trần, 
Nhẹ nhàng vượt lên trên tất cả, 
Tiêu dao qua lại chốn thắng cảnh, 
Trở về nương náu tại hang báu.*

Tiên trưởng nói xong bài kệ này, liền phóng ra ánh sáng tám màu, rực rỡ khác thường, ánh sáng cát tường tỏa rạng, trên mình khoác thiên y nhẹ tựa mây, mang màu lưu ly thanh tịnh trang nghiêm, vô cùng thù thắng phi phàm.
Tiên trưởng nói: 
"Thánh Tôn có thể đem cảnh giới này truyền bá cho người đời!"
"Nếu như thuật lại điều đó, e rằng sẽ sinh ra sự nghi ngờ và phỉ báng."
"Thánh Tôn hiện sống tại nhân gian, từ lâu đã bị người đời nghi ngờ phỉ báng, ngài cũng chẳng màng đến danh tiếng, vậy cần gì phải luyến tiếc điều chi! Ngài chỉ cần đem cảnh giới Thiên Tháp Bảo Quật đã nhìn thấy, phổ biến rộng rãi cho chúng sinh, khiến những ai nghe thấy đều phát tâm Bồ đề, như vậy là tự kết thiện quả."
Tiên trưởng nói xong liền biến mất.
Tôi cũng xuất định, trong tay cầm một viên thuốc màu trắng.

🌟

Liên Sinh Hoạt Phật biết rằng, bất luận là tu Thiền hay tu Mật, người thực sự có thể giải thoát khỏi phiền não chính là ở chỗ vô sự, vô tâm, trong lòng quang minh thanh tịnh, không còn bất kỳ bóng dáng nào của thuận cảnh hay nghịch cảnh, hiểu rõ mọi khổ vui phải gánh chịu ở thế gian rốt cuộc rồi cũng đều rơi vào hư huyễn.

Học Thiền, học Mật, hay học Tịnh Độ, tất cả đều phải buông bỏ được vạn duyên, chỉ cần vạn duyên vừa buông xuống, Phật tính trong tự tính liền tự hiển lộ.
Chân Phật chính là ở trong đó vậy.

Thử thách dành cho Liên Hoa Thức Tăng quả nhiên rất nhiều, bởi vì tiền kiếp của anh ấy là "thần nhân", nên sự ràng buộc từ những thử thách của hoàn cảnh quả nhiên rất mạnh mẽ. Nhưng, sự khai mở tự tính của một hành giả Chân Phật mới là điều vô cùng quan trọng; từ trong thiền định có thể đạt được diệu trí của tự tính, trong diệu trí đó mà quan sát chân lý vô thường của các pháp, đạt được giải thoát như vậy thì phiền não mới hoàn toàn tiêu tan.

Liên Sinh Hoạt Phật lấy làm tiếc cho một số đệ tử vì không nhận được sự cảm ứng mà thối lui tín tâm. Họ không biết nguyên nhân thực sự của việc không nhận được cảm ứng là do vướng bận quá nhiều vạn duyên, u mê trong ái dục và chấp trước, bởi vì trong tâm không còn chỗ trống để dung nạp ánh sáng đi vào, cho nên mới không có cảm ứng.

Có một số đệ tử Chân Phật vốn dĩ có thiện căn, nhưng cũng chịu sự cản trở của các nghiệp duyên, cuối cùng thối lui đạo tâm, rốt cuộc đọa lạc vào biển khổ chịu đựng khổ đau, quả thực vô cùng đáng tiếc.
Không có cảm ứng, liền thối lui đạo tâm; không nhận được gì, liền đánh mất đạo tâm. Quả thực vô cùng đáng tiếc.

Thân là đệ tử (hành giả) Chân Phật, phải biết buông bỏ vạn duyên, thực hành bố thí "vô cầu", đừng đi cầu mong điều gì, thế nhưng, chính vì "vô cầu", ngược lại sẽ nhận được quả báo "không cầu tự được".
Thực sự học Phật thì phải làm thế nào?
"Chính là phải tiêu trừ đi vọng niệm về ngã tướng."

🌟

Lại có một vị tên là Liên Hoa Đức Văn, ông ấy bị sỏi thận, đau đớn dữ dội, phải bò từ dưới nhà lên lầu, vừa bò vừa khóc, khóc lóc đi vào Mật đàn, ngay trước bức tượng sứ của Thượng sư mà gào khóc thảm thiết.

Khóc đến mệt lả, đau đến tê dại, thế mà lại ngủ thiếp đi. Trong cơn mơ màng, ông cảm thấy mình đi đến một vùng rừng núi hoang dã, bốn bề không một bóng người, ông nhìn thấy một vị thánh giả tỏa ánh sáng vàng rực rỡ và vô cùng trang nghiêm đang bước tới.

Liên Hoa Đức Văn nhận ra người đến lại chính là Sư Tôn mà mình ngày đêm mong nhớ, lại thấy Sư Tôn hiện ra ba mươi hai tướng tốt, trong lòng trào dâng niềm hoan hỷ và kính ngưỡng, rất tự nhiên đảnh lễ Sư Tôn nhiều lần.

Liên Hoa Đức Văn nói:
"Sư Tôn, ngài quá đỗi trang nghiêm, quá đỗi đáng kính! Đệ tử xin đảnh lễ."
"Liên Hoa Đức Văn, ông có khó khăn gì sao?"
"Ôi, con bị sỏi thận, vô cùng đau đớn, cũng vô cùng khổ sở!"
"Con người mắc bệnh tật, đa phần là do nghiệp chướng sinh ra. Những chúng sinh bị nỗi khổ bệnh tật giày vò này thật quá đáng thương. Muốn tiêu trừ bệnh tật, mãi mãi không ốm đau, cần phải tu hành và tu tâm lâu dài, dùng nội hỏa thiêu rụi đi những cặn bã nghiệp chướng của bản thân, có như vậy mới đạt được niềm vui không bệnh."

"Sư Tôn Hoạt Phật, con nguyện học hỏi."
"Rất tốt, từ nay trở đi cho đến tận vị lai, ông phải vì bản thân và tất cả những chúng sinh đang chịu tội khổ mà tu hành, phải làm tròn trách nhiệm của một đệ tử Chân Phật, hoằng dương Chân Phật Mật Pháp, không chỉ giải thoát cho chính mình, mà còn khiến cho tất cả chúng sinh cũng được giải thoát." - Sư Tôn từ ái bảo ông.
"Sư Tôn, con xin phát nguyện, con có tâm bi độ chúng sinh." - Liên Hoa Đức Văn nói.

Lúc này, Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật bỗng nhiên đưa một tay ra, bàn tay có màu xanh ngọc bích, đưa thẳng vào trong cơ thể của Liên Hoa Đức Văn, thế nhưng cơ thể Liên Hoa Đức Văn dường như không có cảm giác gì, một chút cũng không thấy đau đớn.

Bàn tay của Sư Tôn thò vào trong cơ thể, một hồi bốc nhặt, lấy ra từng viên từng viên sỏi nhỏ, có viên nhẵn nhụi, có viên có gai, viên có gai đương nhiên chính là nguyên nhân gây đau đớn. Sư Tôn lấy sỏi ra, rồi dùng một chiếc túi vải bọc lại, sỏi ở trong túi, thế mà có đến chừng nửa túi.

"Được rồi, được rồi. Nỗi đau khổ của ông đã được trừ bỏ. Nhớ kỹ nhé! Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không ác khẩu, không nói dối, không nói hai lời, không nói lời thêu dệt, không tham, không sân, không si. Đây là mười pháp thiện, có thể đạt được sự hiện thực hóa của tịnh thổ quang minh." Sư Tôn nói xong lời này, liền biến mất.

Rồi Liên Hoa Đức Văn cũng tỉnh lại. Ông cảm thấy giấc mơ này vô cùng hy hữu, không phải là một giấc mơ bình thường, mà vô cùng kỳ lạ. Sau khi tỉnh dậy, thận không còn đau nữa, dùng tay ấn vào cũng không thấy cảm giác đau. Khoảng một tháng trôi qua, bệnh sỏi thận hoàn toàn không gây đau đớn.

Ông đi chụp X-quang. Bác sĩ nói với ông: 
"Thận vẫn rất tốt, hoàn toàn không có sỏi."
"Vậy sỏi trước kia đâu rồi?" - Ông hỏi bác sĩ.
"Kỳ lạ thật." - Bác sĩ cũng không thể giải thích nổi.

Liên Hoa Đức Văn nói, chính Sư Tôn đã dùng bàn tay thần kỳ với thần thông vô hình, trực tiếp lấy sỏi ra khỏi cơ thể, đây là thuật "bàn tay thần diệu", thần thông của Sư Tôn quá đỗi kỳ diệu.


### 14. Tượng Phật được khai quang biết nói chuyện


Xin công bố một bức thư trước:

*Kính gửi Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật kính yêu!
Om mani padme hum.
Đệ tử nơi đây xin đảnh lễ thỉnh an Sư Tôn! Hiện có nghi vấn kính xin Sư Tôn từ bi khai thị.*

*1. Đệ tử từng mơ thấy Sư Tôn giáng lâm tệ xá, khai quang cho tượng Phật trong nhà, đồng thời hỏi đệ tử có thể thờ bớt đi vài vị được không. Đệ tử đáp rằng không vấn đề gì. Lạ ở chỗ là những kim thân được Sư Tôn khai quang đều là những vị mà trong mật đàn không có, hơn nữa kim thân sau khi được Sư Tôn khai quang, cơ thể thế mà lại có thể cử động, thậm chí còn mở miệng nói chuyện, đặc biệt nhất là trong đó có một kim thân cao khoảng bảy thước (trong mật đàn của đệ tử không có thờ phụng), còn nói đùa với Sư Tôn nữa!*

*2. Kính xin Sư Tôn ban gia trì đặc biệt cho Viên Chứng Đường, bởi vì địa chỉ đường mới sẽ được phê chuẩn trong vài ngày tới.*

*3. Đặc biệt đính kèm 100 Đài tệ cúng dường, kính xin thầy mỉm cười tiếp nhận.*

*Kính chúc Phật an!
Ngu đệ tử Liên Hoa Đạt Kiến chắp tay.
27.07.1987. *

🌟



![image](/img/img_dce1055c4b76d186856c612f5a89ffe3.png)


🌟

Năm xưa Liên Sinh Hoạt Phật học đạo vô cùng nghiêm túc, thích tìm kiếm khắp các thánh tích, càng thích vân du khắp các danh sơn, tham huyền phỏng đạo [tầm sư học đạo, khám phá cõi huyền vi], chí nguyện của tôi vô cùng kiên định tha thiết. Tại núi Tập Tập gặp được Thanh Chân Đạo Trưởng, có thể nói là nhân duyên đã chín muồi, học cùng ngài một mạch nhiều năm.
Từng hỏi: 
"Pháp khai quang nào linh nghiệm nhất? Nguyện xin được biết tường tận."
Đáp: 
"Muốn biết các loại linh cảm của việc khai quang, xin hãy chú tâm lắng nghe. Ở các tôn giáo đều có pháp khai quang, nhưng chúng sinh đều hoàn toàn chẳng nhìn thấy gì, bởi vì chúng sinh đều muốn nhìn thấy cho nên mới không thể nhìn thấy được. Nếu không có linh ứng thì đó cũng chính là linh ứng. Bậc làm pháp sư, vừa nâng chiếc gương lên, ánh sáng liền chiếu rọi vào kim thân, pháp sư vừa nhấc bút, đôi mắt của kim thân liền bừng sáng."

Hỏi: 
"Khẩu quyết này rốt cuộc ở nơi nào?"
Đáp: 
"Ở ngay giữa hàng mi của con, chuyển đại pháp luân."
Hỏi: 
"Phật Bồ Tát, thần tiên từ đâu mà đến?"
Đáp: 
"Còn ở đâu nữa! Núi sông cây cỏ chính là Phật, Bồ Tát, thần tiên, đây tuyệt đối không phải là lời khoác lác. Người sáng mắt đều biết, núi sông cây cỏ và Phật, Bồ Tát, thần tiên thực chất không có hai tướng, từ vô thủy đến nay chưa từng thay đổi, điều này con phải khéo léo lĩnh hội đấy!"

Thanh Chân Đạo Trưởng nói một bài kệ:
Vạn vật không gì chẳng phải mộng, 
Núi sông cây cỏ là thần tiên
Tướng huyễn tựa có mà thể không
Liễu ngộ tâm pháp ở trong đó.

Từ đó tôi liền hiểu ra, muốn khai quang hiển ứng, chỉ ở ngay giữa hàng mi của bạn mà thôi, thật là dễ dàng tột bậc! Tôi có thể phụng thỉnh năm trăm vị La Hán, tôi có thể phụng thỉnh năm trăm vị Bồ Tát, tôi có thể phụng thỉnh nghìn vị Phật, tôi có thể phụng thỉnh ba mươi sáu vạn ức mười một vạn chín nghìn năm trăm vị A Di Đà Phật đồng danh đồng hiệu.

Phật, Bồ Tát, thần tiên, từ núi sông đại địa mà đến, Phật, Bồ Tát, thần tiên, lại đi về với núi sông đại địa.

🌟

Lễ khai quang của giới Phật giáo ngày nay, nghi thức long trọng trang nghiêm, quá trình đại khái có ba bước:

Dùng một chiếc khăn mới nhất, từ xa xoa nhẹ kim thân của Phật Bồ Tát, đây là biểu thị đã làm cho toàn bộ kim thân của Phật Bồ Tát được thanh tịnh rồi.

Dùng một tấm gương chiếu vào kim thân của Phật Bồ Tát, gương tượng trưng cho ánh sáng, toàn thân kim thân phát tỏa quang minh.

Cuối cùng cầm một cây bút mới (bút khai quang), chấm từ xa vào mắt, tai, mũi, miệng, thân của kim thân Phật Bồ Tát…, biểu thị khai nhãn, khai nhĩ, khai tỵ, khai khẩu, khai kim thân...

Câu chú mà Thanh Chân Đạo Trưởng năm xưa truyền dạy là:
*Thiên chi thần quang. Địa chi thần quang. Nhật nguyệt thần quang. Khai quang khai quang chú. Khai nhãn quang quan thị thế giới, khai khẩu quang khai khẩu độ chúng. Khai nhĩ quang văn thanh cứu khổ. Khai tỵ quang phân biệt thiện ác. Khai thủ quang phù trì chúng sinh. Khai thần túc phi hành vạn lý. Khai kim thân hào hào phóng quang. Luật lệnh nhiếp.*
[Thần quang của trời. Thần quang của đất. Thần quang của mặt trời mặt trăng. Chú khai quang. Khai nhãn quang nhìn thấu thế giới, khai khẩu quang mở lời độ chúng. Khai nhĩ quang nghe tiếng cứu khổ. Khai tỵ quang phân biệt thiện ác. Khai thủ quang nâng đỡ chúng sinh. Khai thần túc bay xa vạn dặm. Khai kim thân từng sợi lông đều phóng quang. Luật lệnh nhiếp.]

Chữ "Nhiếp" này giống với chữ "Seh" trong Mật giáo.
Ngay cả huyền nghĩa cũng giống nhau.
Thật là kỳ diệu thay!

Liên Sinh Hoạt Phật trong việc thanh tịnh kim thân Phật, Bồ Tát, có lúc dùng nước chú Đại Bi rẩy ra, niệm một bài kệ:
*Tịnh thiên thiên thanh, tịnh địa địa ninh, 
Tịnh nhân trường sinh, tịnh quỷ diệt vong.*

Thanh Chân Đạo Trưởng năm xưa không thích tôi xây dựng chùa chiền, cũng có để lại một bài kệ:
*Nếu mê, chùa miếu sinh địa ngục,
Lúc ngộ, địa ngục hóa thanh lương.
Nên biết hai nơi vốn vô tướng,
Chẳng ngoài một niệm tự tâm tường.*

Đây chính là chùa chiền, địa ngục, thiên đường, Bồ Tát tất cả đều chỉ nằm trong một niệm của con người mà thôi. Đương nhiên tôi cũng sợ chùa chiền biến thành nhà giam, càng sợ chúng sinh chấp trước vào tượng Bồ Tát không buông, cho nên tôi đặc biệt nhiều lần làm rõ rằng, chùa chiền chỉ là không gian để đồng tu, tượng kim thân Bồ Tát chỉ là một phương hướng tượng trưng, sự tu hành của chúng ta chỉ là tu một niệm, một niệm này chính là tâm vậy.

Có câu rằng: Phật do tâm thành, đạo do tâm học, đức do tâm tích tụ, công do tâm tu, phúc do tâm tạo, họa do tâm làm. Tâm có thể tạo ra thiên đường, tâm có thể tạo ra địa ngục, tâm có thể tạo thành Phật, tâm có thể tạo thành chúng sinh. Cho nên, tâm chính thành Phật, tâm tà thành ma, tâm từ bi là thiên nhân, tâm ác là la sát, tâm chính là hạt giống của mọi tội và phúc.

Tôi nói: "Tâm chính là từng niệm nối tiếp nhau."

Từ sự khai ngộ tâm mở ý thông, lại đạt được ngũ nhãn:

- Nhục nhãn (Mắt thịt) — Có ánh sáng mới nhìn thấy, không có ánh sáng thì không nhìn thấy. Nhìn thấy phía trước, không nhìn thấy phía sau.

- Thiên nhãn (Mắt trời) — Nhìn thấu trước sau trong ngoài, đất trời xa nghìn dặm vạn dặm.

- Tuệ nhãn (Mắt trí tuệ) — Nghĩa lý sự tướng đều sáng tỏ, tiền sinh hậu thế, nhân quả ba đời, đạo lý của đất trời vũ trụ vừa thấu hiểu liền mở toang.

- Pháp nhãn (Mắt pháp) — Pháp của tất cả chư Phật ở mười phương ba đời đều rõ ràng rành mạch từng pháp một, thấu tột ba thời (quá khứ, hiện tại, vị lai) trong cùng một lúc, trải rộng khắp mười phương, không gian và thời gian xuyên suốt.

- Phật nhãn (Mắt Phật) — Viên minh phổ chiếu, từ vô lượng kiếp trước không có điểm khởi đầu, đến vô tận kiếp sau chẳng có điểm kết thúc, tất cả nhân quả, ánh sáng trí tuệ đều vô lậu.

Từ pháp khai quang, Liên Sinh Hoạt Phật dẫn giải đến kim thân, chùa miếu, tâm, niệm, ngũ nhãn, đây là những giải thích về nghĩa lý, mong rằng hành giả Chân Phật sớm ngày khai ngộ.

Tôi lại đặc biệt nói rõ như sau:
Chúng sinh — Chỉ thấy kim thân Bồ Tát, không thấy Pháp thân.
Người ngộ — Chỉ thấy Pháp thân Bồ Tát, không thấy kim thân.
Sự khác biệt giữa hai bên nằm ở đây.

🌟

Tượng Phật do Liên Sinh Hoạt Phật khai quang có thể nói chuyện, có thể cử động, đây là sự thật, bởi vì Liên Sinh Hoạt Phật đã hợp nhất Pháp thân và kim thân của Bồ Tát làm một.

Ý nghĩa của việc khai quang chính là Pháp thân và kim thân hợp làm một.

Nếu đem Pháp thân và kim thân hợp nhất, thì khi chúng ta thắp hương cúng dường, chiêm bái tán thán, nơi ở của người đó liền nhận được mười lợi ích: một là đất đai phì nhiêu, hai là gia trạch bình an thịnh vượng, ba là người đã khuất được sinh lên cõi trời, bốn là người còn sống được tăng thêm tuổi thọ, năm là mọi mong cầu đều toại ý, sáu là không gặp tai họa do nước và lửa, bảy là dẹp trừ được những hao tổn vô ích, tám là dứt sạch ác mộng, chín là ra vào đều có thần linh bảo hộ, mười là thường gặp được nhân duyên với bậc thánh.

Chúng ta ở trước tượng Phật đã hợp nhất Pháp thân và kim thân, đọc tụng kinh điển, cúng dường hương hoa, thức ăn uống, y phục, châu báu, bố thí, cúng dường, tán thán, chiêm bái, sẽ được hai mươi tám thứ lợi ích: một là trời rồng hộ niệm, hai là thiện quả ngày càng tăng, ba là tích tụ nhân thánh thượng, bốn là bồ đề không thoái chuyển, năm là ăn mặc sung túc, sáu là tật bệnh không đến, bảy là xa lìa tai họa nước lửa, tám là không gặp ách nạn trộm cướp, chín là người thấy đều kính trọng, mười là thần quỷ trợ giúp nâng đỡ, mười một là nữ chuyển thành nam thân, mười hai là làm mẹ vua quan, mười ba là dung mạo đoan chính, mười bốn là nhiều lần sinh lên cõi trời, mười lăm là hoặc làm đế vương, mười sáu là túc mệnh thông đạt, mười bảy là có cầu đều được, mười tám là quyến thuộc cát tường, mười chín là các họa bất ngờ tiêu diệt, hai mươi là đường nghiệp vĩnh viễn mất, hai mươi mốt là nơi đi đến đều thông suốt, hai mươi hai là giấc mộng ban đêm an tường, hai mươi ba là người đã khuất lìa khổ, hai mươi bốn là sinh ra nhờ phước báu đời trước, hai mươi lăm là các thánh tán dương, hai mươi sáu là căn thông minh lanh lợi, hai mươi bảy là đầy lòng từ mẫn, hai mươi tám là rốt ráo thành Phật.

Vì vậy, có rất nhiều rất nhiều đệ tử và độc giả đều yêu cầu Liên Sinh Hoạt Phật khai quang cho thần Phật của họ, những người ở xa thì gửi đến ảnh mật đàn hoặc ảnh thần Phật.
Liên Sinh Hoạt Phật liền trong mật đàn tự mình thi pháp.
Liên Sinh Hoạt Phật hướng vào ảnh dùng nước tịnh bình rảy tịnh lên bức ảnh.
Liên Sinh Hoạt Phật tụng kinh chú Đại thừa.
Liên Sinh Hoạt Phật dùng ấn, phóng ánh sáng trắng bao quanh bức ảnh để khai quang.
Liên Sinh Hoạt Phật dùng hương hoa trái cây tươi dâng cúng.

Không Hành Mẫu cưỡi mây gió bay đi.
Nói cũng kỳ lạ, vừa thi pháp như vậy xong, liền có rất nhiều rất nhiều người, trong giấc mơ, hoặc trong ý thức, biết được Liên Sinh Hoạt Phật đã đến khai quang cho tượng Phật trong mật đàn. Đồng thời, tượng Phật được Liên Sinh Hoạt Phật khai quang nhất định sẽ cử động, hơn nữa còn có thể mở miệng nói chuyện đấy!

Hôm nay tôi xin chân thật nói với mọi người rằng: "Làm trận mưa cam lộ cho muôn vạn sinh linh, khai quang chính là hàng nghìn hàng vạn Bồ Tát giáng Pháp thân".


### 15. Lông tóc dần dần mọc lại


Trước khi vào bài viết ngắn, xin đăng tải một lá thư làm chứng:

*Sư Tôn kính yêu!
Xin chào thầy! Chúc mừng sinh nhật thầy!*

*Vào ngày 24 tháng 6 nhận được thư hồi âm của Thượng sư, vô cùng cảm kích Thượng sư đã ra tay cứu giúp gửi đến hai lá thần phù, tại đây kính tạ ơn Thượng sư ban phúc.*

*Vào ngày 20 tháng 6, tôi nghe Trịnh Hàn Hồng nói tình trạng bệnh của mẹ anh ấy (bà Tăng Mẫu Nhi) đã có chuyển biến tốt, vẫn đang tiếp tục điều trị bằng thuốc, hiện nay tình trạng tinh thần rất tốt, tóc không còn rụng nữa, có hiện tượng dần dần mọc trở lại, đây là điều đáng mừng, đây là nhờ Thượng sư từ bi gia trì và trị liệu tâm linh, vô cùng cảm ơn Thượng sư.*

*Mỗi ngày con trì tụng tâm chú Thượng sư, niệm thần chú Bạch Y Đại Sĩ, cầu nguyện phù hộ cho bà Tăng Mẫu Nhi được thân thể khỏe mạnh, cảm tạ Thượng sư gia trì, cảm tạ chư Phật Bồ Tát cứu độ chúng sinh!*

*Cầu xin Thượng sư tiếp tục gia trì, cảm ơn thầy.
Kèm theo thư gửi đến tiền cúng dường.*

*Chúc Phật an!
Bang Sabah Malaysia.
Hoàng Tiểu Linh kính thư.
01.07.1988*


![image](/img/img_138aff701bde6400d3e9b1cab26bc846.png)


🌟

Tại sao tôi lại công bố bức thư này? Bởi vì dạo gần đây, số lượng bệnh nhân hói đầu tiếp nhận sự trị liệu tâm linh và gia trì của Liên Sinh Hoạt Phật ngày càng tăng, hơn nữa hiện tượng tóc dần dần mọc lại cũng rất phổ biến. Do đó, một đồn mười, mười đồn trăm, rất nhiều người đã yêu cầu phù lục "tóc mọc lại" rồi.

Tôi đặc biệt viết một bài kệ để kỷ niệm việc tóc mọc lại:
*Đỉnh đầu nhô cao ngang mặt trời, 
Đỉnh núi trống trơn không tiên ở, 
Bên trên ngũ quan lộ vách xanh, 
Chỉ thấy sáng loáng chẳng cầu vồng.
Trong lòng mong ước mái tóc đẹp, 
Nhẹ bay trong gió bao người mê, 
Nay chỉ mong cầu Liên Sinh Phật, 
Một lá phù ban mọc tóc tơ.*

Bài kệ này là do tôi tiện tay theo cảm hứng mà viết ra, chẳng phải là những vần thơ thanh nhã gì, cứ coi như là bài vè vậy! Nhưng đó cũng là một tiếng lòng.

🌟

Từng có một ca sĩ nổi tiếng đội tóc giả đến tìm tôi. Cô ấy kể, ban đầu cô không cảm thấy có gì, chỉ là khi gội đầu tóc rụng nhiều hơn mà thôi, trong bồn tắm và chậu rửa mặt có thể nhặt được vài sợi tóc, cô không để ý. Sau đó, mỗi lần tắm gội đầu, cô mới phát hiện tóc rụng cả nắm cả nắm. Cuối cùng trong gương, cô phát hiện chính giữa mái tóc của mình có một chỗ hói, to bằng đồng xu một đô-la. Cô bắt đầu vô cùng kinh hoàng, đi tìm bác sĩ chữa trị, hoàn toàn không hiệu quả. Tìm rất nhiều loại thuốc bôi, nhưng vẫn luôn vô hiệu.

Nữ ca sĩ xinh đẹp quyến rũ đầy mê hoặc này, khi cô ấy tháo tóc giả ra, ngay cả tôi cũng há hốc mồm kinh ngạc, nhất thời không nói nên lời. Trên gương mặt thanh tú đó, phía trên đôi mắt bồ câu đầy biểu cảm, bất ngờ chỉ còn lại vài sợi tóc thưa thớt, bay phất phơ lủng lẳng, vùng trung tâm đã trở thành đầu trứng, hai bên đầu cũng trống trơn một mảng, chỗ còn tóc cũng nhìn thấy da đầu, đơn giản là đã thành quái vật, thảm thương không thể nhìn nổi.

Cô ấy muốn khóc mà không ra nước mắt.
"Cô lên sân khấu hát thì sao?"
"Hoàn toàn nhờ vào tóc giả." - Cô ấy nói.
"Bạn trai thì sao?"
"Đã tan vỡ từ lâu rồi. Hy vọng đại sư Lư cứu tôi với, tôi đã tìm hết bác sĩ này đến bác sĩ khác, thuốc mọc tóc nuôi tóc gì cũng bôi cũng uống hết rồi, nhưng vẫn hoàn toàn không hiệu quả. Bây giờ chỉ còn có một mình đại sư Lư thôi, tôi đặc biệt từ New York bay đến tìm thầy đấy."

Tôi vẽ mấy lá phù cho cô ấy, bảo cô ấy sau một tháng xem xem có khả năng gì không. Nữ ca sĩ nổi tiếng này sau một tháng thì lại tìm đến, cô ấy nói với tôi: "Hoàn toàn không hiệu nghiệm."

Lần này, ngay cả tôi cũng ngạc nhiên, mấy lá phù mọc tóc này từ trước đến nay đều có hiệu nghiệm, làm sao lại có thể vô hiệu, hay là ở đây có nhân quả gì?

Tôi đặc biệt vì việc này mà nhập định quán.
Tôi thấy một vùng đồng quê núi non, có mấy con cừu đang ăn cỏ, có một thiếu niên cầm dây thừng đến trộm cừu, trộm cừu xong, quay về nhà mình giết thịt cừu để ăn.

Tôi thấy cảnh giết mổ rửa ráy. Thấy máu me be bét không thể nhìn nổi. Thấy lông cừu rụng đầy khắp mặt đất.......

Tôi xuất định, hiểu rằng thiếu niên này nhất định là tiền kiếp của nữ ca sĩ nổi tiếng, hóa ra kiếp trước trộm cừu, giết cừu (giết cừu nhổ lông), nay kiếp này chịu quả báo rụng tóc.

Tôi không nói gì với nữ ca sĩ nổi tiếng, chỉ yêu cầu cô ấy để lại tên, ngày tháng năm sinh, địa chỉ, tôi chuẩn bị làm pháp cứu cô ấy.
"Không cho phù nữa sao?" - Cô ấy hỏi.
"Không cần." - Tôi đáp.
"Thế lại bao nhiêu ngày nữa thì có thể thấy hiệu nghiệm?"
"Hai tuần." - Tôi nói.
Lần này cô ấy thất vọng bỏ đi.

Đêm hôm đó khi làm pháp, tôi nhảy vọt lên không trung, chỉ trong chớp mắt, tôi đã nhìn thấy mấy con dê đang ăn cỏ trên một ngọn núi trọc, cỏ sắp bị chúng ăn hết rồi.
Tôi nhảy lên một cái, làm dê núi hoảng sợ, kêu lên "mêê… mêê".
Tôi nói: "Phật ta từ bi, hãy để ta siêu độ mấy con dê núi này đi!"

Tôi dùng tay chỉ ra, một luồng ánh sáng vàng kim bắn ra, kim quang Phật hỏa, chỉ trong chớp mắt, đốt cháy mấy con dê núi sạch trơn. Việc đốt cháy sạch trơn này không phải là tiêu diệt sạch sẽ, mà là khi dê vừa bị đốt xong thì mấy con dê núi đó liền biến thành mấy hình người.
Tôi nói: "Hãy đi chuyển luân đi!"
Mấy hình người đó tự mình bay lên không trung mà đi.

Trong lòng tôi tự nghĩ, vùng núi trọc này thì sao bây giờ?
Tôi cầm như ý trên tay, liền hướng bốn phương một lễ bái, chỉ thấy bầu trời đầy sao. Trong chốc lát mây đen tụ về bốn phía, Liên Sinh Hoạt Phật ngồi giữa hư không, lập tức mưa đổ xuống, mưa như trút nước, tất cả đều tưới xuống vùng sa mạc không nước kia. Tôi nghĩ, lần này được rồi, cỏ nhất định sẽ mọc lên.
Làm pháp xong, tôi cũng quên luôn chuyện này.

Khoảng nửa năm sau, nữ ca sĩ nổi tiếng này lại đến tìm tôi: 
"Đại sư Lư, tôi đến để cảm ơn thầy, lần trước thầy nói hai tuần, quả nhiên là hai tuần, sau hai tuần, tóc không rụng thêm một sợi nào nữa, không chỉ thế, tôi còn thấy những sợi tóc nhỏ màu đen mọc lên từ đầu, giờ đây những chỗ hói đã mọc lại đầy đủ, dần dần tóc đã mọc trở lại toàn bộ. Đại sư Lư, pháp thuật của thầy thật linh nghiệm, đây mới là hiệu nghiệm thực sự, tôi gặp ai cũng kể chuyện này, thầy thật là quá vĩ đại."
"Không có gì đâu!" - Tôi cười.

Nữ ca sĩ nổi tiếng này từng đến Seattle biểu diễn, tặng cho tôi vé mời, muốn tôi đến nghe, tôi đã không đi. Cô ấy lại bỏ rơi những người hâm mộ, muốn mời tôi đi ăn, tôi không đồng ý. Có một lần, tôi ở trong một nhà hàng, tình cờ nhìn thấy một người phụ nữ lên sân khấu khách mời hát, không ngờ lại là cô ấy, cô ấy hất mái tóc đen nhánh óng ả, nói: "Bài hát này, tặng cho Liên Sinh Hoạt Phật ở Seattle."

Tôi âm thầm ở phía sau vui mừng cho cô ấy.

Nhờ lần làm pháp này, tôi biết "tam giới nhất tâm", cũng biết "tam thế nhất tâm", pháp vốn không phân biệt lớn nhỏ, chỉ cần thiền tịch, liên hoa liền tự nhiên hiện ra trong đó, Phật quang sắc vàng tự nhiên chiếu đỉnh đầu, chúng ta cần thường dùng nước pháp bát nhã rửa sạch suy nghĩ của chính mình.
Hữu vi chăng?
Vô vi chăng?
Tôi muốn các thầy ghi nhớ: "Trong bốn oai nghi, hãy thường trụ tam muội nhé!"

🌟

Làm sao Liên Sinh Hoạt Phật có thể khiến mái tóc xác xơ mọc trở lại? Bởi vì Liên Sinh Hoạt Phật có thể diệt định nghiệp.

Liên Sinh Hoạt Phật và Địa Tạng Bồ Tát có nhân duyên vô cùng sâu sắc, có nhân duyên lớn không thể nói hết (xin đọc cuốn "Đêm ở hồ U Linh" thì sẽ biết). Ban đầu Hoạt Phật ra dạy chân ngôn, trước tiên dạy chân ngôn diệt định nghiệp của Địa Tạng Bồ Tát, sau đó mới truyền chân ngôn Địa Tạng Vương Bồ Tát.

Tại sao lại như vậy? Bởi vì Liên Sinh Hoạt Phật muốn diệt định nghiệp của chúng sinh.

Tôi biết rằng, vào thời Minh triều, đại sư Ngẫu Ích ở tại Cửu Hoa Sơn (nơi tịnh thổ của Địa Tạng Bồ Tát), đã từng kết đàn trăm ngày, chuyên trì tụng chân ngôn diệt định nghiệp của Địa Tạng Bồ Tát, trước tiên là năm triệu biến, sau đó lại rộng rãi độ hóa tăng ni tín đồ, cùng trì một trăm triệu biến, đối với loạn lạc do Trương Hiến Trung, Lý Tự Thành và những kẻ khác gây ra cùng nạn đói khắp các tỉnh toàn quốc vào thời Hoàng đế Sùng Trinh, đã có tác dụng tiêu trừ.

Liên Sinh Hoạt Phật cũng tự biết nghiệp chướng của mình sâu nặng, ban đầu khi tu tập chú này, cũng đã trì tụng đến hai triệu biến, đúng lúc đạt được hai triệu biến thì thấy trong miệng nhả ra một tòa Phật tháp, tháp này được trang trí bằng minh châu, lơ lửng giữa hư không, minh châu phóng ra ánh sáng chiếu tỏa bốn phương.

Và chính mình bỗng nhiên tự thấy thân thể biến thành màu vàng tím, tóc và mắt màu xanh thẫm, hình tướng trang nghiêm, có uy quang phát ra, tôi tự biết chú này diệt định nghiệp, ai có duyên trì tụng thì nghiệp chướng đều tiêu, miệng phóng kim quang, mở lời sinh trí tuệ.

Không chỉ định nghiệp của bản thân được tiêu diệt mà còn có thể giúp người khác diệt định nghiệp.

Liên Sinh Hoạt Phật đã từng ngồi thẳng trên giường thiền nhập tam muội, vừa nhập tam muội liền phát quang, ánh sáng rực rỡ như màu vàng kim, đạt tới mười phương ba đời, ánh sáng rực rỡ khắp toàn thế giới, đây chính là thân ngoài hóa thân. Đến lúc sắp xuất định, kim quang ấy dần dần thu về, đi vào đỉnh khiếu của chính mình.

Đây là:
*Ba đầu chín mắt bởi vì đâu?
Mỗi tướng viên thành hiện hóa thân.
Cứu độ thế gian tiêu sạch nghiệp,
Sáng soi trần tục rạng cơ mầu.*

[Vì nhân duyên gì mà lại hiện ra hình tướng ba đầu chín mắt? Thực ra, mỗi một hình tướng viên mãn ấy đều là hóa thân của chư Phật Bồ Tát. Các Ngài dùng lòng từ bi cứu tế khắp thiên hạ để dứt trừ mọi nghiệp chướng, từ đó ánh sáng trí tuệ soi chiếu khắp thế gian, làm nảy sinh những huyền cơ vi diệu.]

Bà Tăng Mẫu Nhi bệnh tình đã thuyên giảm, tóc không rụng nữa, có hiện tượng dần dần mọc lại. Đây là nhờ niệm chân ngôn diệt định nghiệp của Địa Tạng Vương Bồ Tát, phóng quang như chiếc vòng vàng, lúc hiện lúc ẩn, thống nhất với bản quang hóa thân vô lượng.
Nguyện lấy công đức này, thí khắp cho chúng sinh.
Hồi hướng các chúng sinh, cùng sớm thành Phật đạo!
Nam mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát.


### 16. Chữa khỏi bệnh dạ dày 10 năm


Trước tiên tôi công bố một lá thư làm chứng:

*Sư Tôn, Sư Mẫu, Phật Thanh, Phật Kỳ kính yêu, xin chào!
Đệ tử là Lý Thế Thanh, sinh năm 1963, 26 tuổi, vào buổi trưa ngày 15 tháng Giêng.
Được sự giới thiệu của Liên Hoa Kim Hoa mà biết đến Sư Tôn Hoạt Phật nhân từ, anh ấy có đưa sách của Thánh Tôn cho đệ tử đọc, còn có một người là Liên Hoa Ấu Muội bị bệnh dạ dày hơn 10 năm, sau khi dùng xong ba lá phù của Thánh Tôn thì hiện đã khỏi rồi, cho nên con cũng muốn cầu giúp nơi Thánh Tôn. Đệ tử bị bệnh dạ dày cũng đã hơn 10 năm, cầu Sư Tôn tu cho con một đàn pháp, thuận ban cho một lá phù chữa dạ dày để con hồi phục khỏe mạnh. Xin lỗi Sư Tôn, tất cả nhờ cậy Thánh Tôn Hoạt Phật vậy!
Chúc cát tường.
Đệ tử Lý Thế Thanh chắp tay.
Ngày 14 tháng 7.*


![image](/img/img_9c2c5b037769fb779b58adefea570ff6.png)


Lá thư này có hai trọng điểm:
1. Liên Sinh Hoạt Phật chữa khỏi bệnh dạ dày hơn 10 năm của Liên Hoa Ấu Muội, Liên Hoa Ấu Muội đi khắp nơi tuyên truyền về hiệu nghiệm của Thánh Tôn Hoạt Phật.
2. Lý Thế Thanh biết chuyện này, muốn cầu Sư Tôn tu cho anh một đàn pháp, đồng thời ban cho một lá phù chữa dạ dày.

🌟

Về việc chữa khỏi bệnh dạ dày của Liên Hoa Ấu Muội, tôi viết một bài thơ:
*Đến lắng nghe tiếng lòng của cô gái
Dạ dày tôi, vốn dĩ…
Buồn bã thở than
Một nỗi lòng nặng trĩu, tối tăm, âu sầu.
Áp lực và đau khổ
Mười năm ngước nhìn trời đêm khóc than
Trong vực thẳm không đáy…*

*Giờ đây,
Nhẹ nhõm và tự do
Thật sự là một khúc ngoặt, khung cảnh đã đổi thay
Cảm ngộ huyền cơ sâu sắc
Chỉ là một việc quy y
Hy vọng nơi ba lá phù
Một đàn pháp, thế là kỳ tích lại kỳ tích.*

🌟

Bệnh dạ dày hơn 10 năm được chữa khỏi, sao mà khỏi được?
Hóa thân bên ngoài thân của Liên Sinh Hoạt Phật đã đến một nơi, nơi này u ám dị thường, có một cô gái ở nơi đó đang khóc lóc nỉ non, có hai lính quỷ dùng cái xiên đâm vào bụng cô gái.
Cô gái kêu khóc ăn năn.
Tôi đến bên cạnh cô gái: 
"Quan sai, cô gái này là đệ tử của tôi, mong quan sai rủ lòng thương xót, đừng làm hại thân thể cô ấy."
Một lính quỷ nói: 
"Ngày xưa cô gái này đã từng phỉ báng tượng Phật, mê tín phù thủy, đáng phải chịu khổ của bệnh đau dạ dày, khi cuộc đời dương thế của cô ta kết thúc thì cũng là lúc được giải thoát, nhưng còn chưa tới lúc đó."
"Bây giờ cô ấy đã quy y Phật tôi, hơn nữa còn ngày ngày tu pháp, trì tụng mật chú."
"Nếu thật sự có trì Mật chú thì sẽ cho cô ta khỏi bệnh."
Tôi nói với đệ tử: 
"Tụng chú đi!"
Cô gái ấy lập tức hát lên: 
"Om ah hum guru beh, ahasasamaha liansheng siddhi hum."

Chỉ một câu này, nơi tăm tối dị thường kia, trên đầu liền xuất hiện một cái lọng báu ánh sáng, lọng báu sáng rực, dòng chảy ánh sáng tỏa ra bốn phía, lấp lánh lung linh. Rồi ở bên dưới lọng báu hiện ra lá sen vàng, liên tục mở ra khép vào, rực rỡ muôn phần, mở rộng ra khắp hư không, linh quang chói lòa, hình tướng đặc biệt, lộng lẫy hoành tráng không lời nào tả xiết.

Có hơn nghìn người đang bị tra tấn ở đó, tất cả cùng chiêm ngưỡng thắng cảnh này, toàn bộ đều reo lên hoan hô, chấn động cả vùng vốn dĩ u ám.
Gông cùm của họ đều tự tháo rời.

Hai lính quỷ kinh ngạc hỏi: 
"Đây là chú gì?"
"Tâm chú Liên Sinh Hoạt Phật."
"Chà! Thì ra là tâm chú Liên Sinh Hoạt Phật, thảo nào mà có đại uy thần lực như vậy, tâm chú này là mặt Phật của Tỳ Lô Giá Na Như Lai, là mặt trời, giống như trong hư không hiện lên mặt trời, màu vàng thau, là pháp tính vốn có, ánh sáng của vô tướng, ánh sáng của quả đức viên mãn."

Liên Sinh Hoạt Phật kéo tay cô gái kia đi ra khỏi nơi đó. Thế là, bệnh đau dạ dày hơn 10 năm của cô gái đó đã khỏi rồi.

Tôi mong rằng người học Phật, hoặc người bình thường, đừng phỉ báng tượng Phật, hoặc là khi bất tịnh đừng chạm vào tượng Phật, kinh sách, pháp khí, để tránh mắc tội khinh nhờn.

Tôi dạy mọi người các câu chú dưới đây: 
 Chú khi đi vệ sinh như sau: 
"Ôm hân-lu-thô-yê sô-ha." (3 biến)
Chú tẩy tịnh như sau:
"Ôm hưa-chiêu-mi-li-ti sô-ha." (3 biến)
Chú trừ uế như sau: 
"Ôm sư-li-uy-pô-li sô-ha." (3 biến)
Chú rửa tay như sau: 
"Ôm chu-chia-la-yê sô-ha." (3 biến)

Để tránh việc xúc phạm tượng Phật thánh linh, chúng ta khi đi vệ sinh, tắm gội, rửa chân rửa tay, đều học trì bốn mật chú này, tự nhiên sẽ loại trừ ô uế, không phạm tội chạm bẩn.

🌟

Liên Sinh Hoạt Phật cứu độ người mắc bệnh dạ dày đã nhiều như sao trên trời, căn bản là không thể đếm xuể. Tôi rất nỗ lực đi làm công tác cứu độ, sợ nhất là người ta "không cầu". Tôi cũng không bao giờ tính toán lợi ích cúng dường, cũng không phải vì phúc báo tương lai của chính mình, hoàn toàn là tu đàn cứu tế, không mong người ta báo ơn, chỉ là hy vọng có thể viên mãn 100% tâm nguyện của con người.

Khó nhẫn có thể nhẫn.
Khó làm có thể làm.
Khó cứu có thể cứu.
Khó độ có thể độ.

Tôi hoàn toàn chỉ nghĩ đến lợi ích và giúp người khác, không cầu danh lợi cho chính mình, không mong mỏi điều gì, không kỳ vọng điều gì, tự mình đạt đến vô cầu. 

Tôi hy vọng người được cứu độ tam nghiệp thanh tịnh, người người học được cách độ mình độ người, rộng rãi hoằng dương Chân Phật Mật Pháp, tu hành đến vô nhiễm, ở nhân thế gian cùng chuyển đại pháp luân, hóa thế giới Ta Bà này thành cõi hoa sen Cực Lạc.

Còn bản thân tôi, không chỉ độ hữu tình giải thoát, cũng không bỏ lời thề từ bi, nếu có chúng sinh cúng dường Thánh Tôn, Thánh Tôn sẽ chuyển thành cúng dường chư Phật ba đời.
Chúng sinh cúng dường Hoạt Phật.
Hoạt Phật cúng dường Như Lai.
Công đức chính đẳng không khác.

Chỉ mong, hóa thân bên ngoài thân, chính giác thuyết pháp, lợi sinh diệu dụng, thần thông và Đại Nhật Như Lai không khác.
Người trì tâm chú Liên Sinh Hoạt Phật.
Người làm pháp tướng Liên Sinh Hoạt Phật.
Người vẽ tranh Liên Sinh Hoạt Phật.
Người tụng Chân Phật Kinh của Liên Sinh Hoạt Phật.
Người lễ bái cúng dường đều có được cảm ứng.

Thêm một bài kệ dặn dò:
*Hiện tại vị lai thiên nhân chúng
Nay tôi ân cần dặn dò bạn
Dùng sức phương tiện đại thần thông
Đừng để đọa vào các điều ác.*

🌟

Liên Sinh Hoạt Phật cứu độ chúng sinh bằng đại pháp luân của Như Lai, pháp luân này vĩnh viễn không ngừng nghỉ, tôi chỉ mong pháp luân ánh sáng này, khi tròn vẹn khi thiếu hụt, nhưng cho đến khi Không cảnh của chúng sinh có điểm dừng thì pháp này vẫn dạt dào không cạn kiệt.

Tôi phóng quang cứu chúng sinh.
Phật phóng quang chiếu đến tôi.
Đây chính là pháp song chiếu.

Vô biên cõi biển hiện vi trần, con người tôi một mình bước đi trên thiên thượng nhân gian, pháp của tôi tất cả bình thường hợp với đạo.
Báu vật vô giá của nhân gian.
Chính là tương truyền Chân Phật pháp.


### 17. Rốt cục không hiểu là bệnh gì


Bức thư này, không đầu không đuôi, sẽ khiến độc giả cảm thấy khó hiểu, nhưng, nếu tôi giải thích một chút, mọi người sẽ hiểu rõ ngay, xin công bố như sau:

*Nam mô Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Sư Tôn!
Om mani padme hum.
Đệ tử Liên Hoa Tùng Giang ba lạy xin đảnh lễ thỉnh an Thượng sư.*

*Thẩm Tượng Hảo mà tuần trước đệ tử đã cầu xin Sư Tôn từ bi cứu mạng, ngày hôm qua đã xuất viện về nhà, đệ tử và nhà tôi hôm nay đi thăm ông ấy, xem tình hình của ông ấy dường như đã không còn vấn đề gì nữa rồi, thật cảm tạ Sư Tôn đại từ đại bi đã cứu ông ấy. Nhưng đệ tử và nhà tôi đều không hiểu rốt cuộc ông ấy đã phạm phải chuyện gì, cúi xin Sư Tôn chỉ điểm.*

*Ngoài ra, mắt trái của đệ tử mọc màng mộng, dự định ngày 7 tháng 9 sẽ mổ, cúi xin Sư Tôn ban gia trì ban phúc cho đệ tử, xin cảm ơn.*

*Kính chúc Phật an!
Đệ tử Liên Hoa Tùng Giang rập đầu bái lạy
24.07.1988*


![image](/img/img_a329a9d2936a098ab117188fea5a5799.png)


Những điểm chính của bức thư này như sau:
1. Thẩm Tượng Hảo đột nhiên bị bệnh cấp phải đưa đi cấp cứu, bác sĩ cho rằng không cứu được, đã muộn rồi.
2. Thẩm Tượng Hảo không biết mình mắc bệnh gì, bác sĩ cũng không khám ra là bệnh gì.
3. Một tuần sau, mọi thứ tự động trở lại bình thường.
4. Liên Hoa Tùng Giang cũng không hiểu chuyện gì đã xảy ra? Viết thư hỏi Sư Tôn.

Bức thư này, nét chữ viết rất mờ nhạt, và có phần đơn giản rối , khi chụp ảnh làm bản in có thể sẽ khá mờ, nhưng nếu nhìn kỹ, vẫn có thể nhận ra được.

🌟

Khi tôi nhận được thư cầu cứu của Liên Hoa Tùng Giang, tôi cầu nguyện trong mật đàn, Địa Tạng Vương Bồ Tát hiện thân nói: "Ta là Địa Tạng Bồ Tát, hồn phách của Thẩm Tượng Hảo này đã bị mười lính ngục cưỡi bạch mã bắt giữ, đưa vào thành lớn phía Tây Nam, ngài nhanh chóng đi cứu, vẫn còn kịp."

Tôi vừa nghe xong, liền nhập định quan sát.
Liên Sinh Hoạt Phật vừa nhập định, lập tức đến thành lớn phía Tây Nam.

Bên phải thành lớn phía Tây Nam có hơn hai mươi gian nhà đen cao lớn, giữa có một đại sảnh, bên trong có rất nhiều quan lại, tôi vừa bước vào, lập tức có quan lại hỏi tôi: 
"Là người nào đến?"
"Tôi là Liên Sinh."
"Liên Sinh phụng sự ở nơi nào?"
"Được A Di Đà Phật giao phó ở thế giới Ta Bà độ chúng sinh."
"A! Chúng tôi biết rồi, ngài chính là Liên Sinh Hoạt Phật, Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư, ngài phụng trì truyền thừa Chân Phật Mật Pháp khai tông, chính là Đại Phật Vương."
Các quan lại nghe vậy đều đến đảnh lễ.

Thế rồi, Liên Sinh Hoạt Phật hiện ra thân tử kim, cao lớn trang nghiêm đủ ba mươi hai tướng tốt, toàn thân tỏa ra hương hoa sen, lưới ngọc ánh sáng chiếu rọi lẫn nhau, bảo tướng ấy thật không lời nào diễn tả cho xiết. Mà từ nơi Thiên tâm uyển chuyển phóng ra ánh sáng trắng lớn, trong ánh sáng còn có Liên Hoa Đồng Tử dạo chơi ở trong đó, tỏa sáng rực rỡ cả tám hướng.

Các quan lại thấy vậy càng thêm chắp tay cung kính, thỉnh cầu ngài khai thị pháp ngữ.
Liên Sinh Hoạt Phật bước lên pháp tọa, nói: 
*Biển khổ vô biên, quay đầu là bờ, 
Phát nguyện tu hành dẹp trừ vọng niệm, 
Bỏ ác hướng thiện giữ gìn giới Phật, 
Phải tìm minh sư học tập chính kiến.*

Khai thị vừa xong, ngài liền bước xuống pháp tọa.

Liên Sinh Hoạt Phật chỉ vào Thẩm Tượng Hảo, hỏi: 
"Người này đã hết mạng sao?"
Quan ở chính giữa mở sổ ra trả lời: 
"Đúng là hết mạng."
"Thẩm Tượng Hảo là bạn thân thiết của đệ tử tôi là Liên Hoa Tùng Giang."
Quan đáp: 
"Liên Hoa Tùng Giang đã phụng Hoạt Phật làm thầy, đó là phúc lớn của trời. Mà phúc lớn của trời này chiếu cố đến Thẩm Tượng Hảo, chính là nguyên nhân Hoạt Phật đến nơi này, tuy đã hết mạng, nhưng nhờ Liên Sinh Hoạt Phật cứu hộ, có thể trở về được."

Bấy giờ quan gọi lớn lính ngục cưỡi bạch mã:
"Các ngươi hãy đưa Thẩm Tượng Hảo trở về, và dặn dò ông ấy thường niệm danh hiệu Địa Tạng Vương Bồ Tát."

Thế rồi, bệnh của Thẩm Tượng Hảo tự nhiên khỏi hẳn. Bác sĩ, Thẩm Tượng Hảo, Liên Hoa Tùng Giang... đối với việc Thẩm Tượng Hảo đột nhiên mắc bệnh, rồi lại đột nhiên khỏi bệnh, tất nhiên đều không hiểu gì cả.

🌟

Đối với những bệnh không rõ nguyên nhân, có rất nhiều là bệnh nhân quả, còn gọi là xung phạm, hiện tượng"xung phạm có rất nhiều ví dụ:
Có người đột nhiên ngạt thở.
Rõ ràng nhất là đột phát bệnh tim.
Đột nhiên tinh thần điên loạn, tự nói tự kể.
Hành vi kỳ quái, khiến người ta không hiểu nổi.
Quỷ thần nhập vào thân.
v.v…

Tại sao Liên Sinh Hoạt Phật có thể khéo léo hóa giải bệnh nhân quả và xung phạm? Bởi vì trong quá trình tu hành của tôi, đối với các công tào quan lại quỷ thần tôi vô cùng lễ kính. Mỗi bữa ăn, Liên Sinh Hoạt Phật nhất định trước tiên cúng dường chư Phật, Bồ Tát cùng chư thiên, sau đó cúng dường quỷ thần, thứ ba là cúng dường ba ác đạo. Việc cúng dường quỷ thần này là thời khóa hàng ngày của Liên Sinh Hoạt Phật, chưa từng gián đoạn một ngày nào.

Pháp chú thực [pháp chú nguyện thức ăn] này, chính là nguyên nhân mà các quan lại công tào cũng lễ kính tôi. Huyền cơ trong đó chính là tôi bố thí thì họ trả ơn, tuần hoàn qua lại, huyền cơ tam tạng, có thể giải trừ xung phạm. 

Pháp chú thực này của tôi mỗi lần đều sáng tỏ như ban ngày, hiện hình như bóng rọi. Liên Sinh Hoạt Phật cứu độ những người bị xung phạm, cứu độ những người uất ức phát điên, nhiều không đếm xuể, cảnh giới trong đó quả thật cũng khó mà lường được!

🌟

Đã từng có một nữ đệ tử tên là Liên Hoa Tố Nguyệt đến chỗ tôi, yêu cầu xuất gia. Tôi hỏi lý do. Cô ấy nói rằng, sau khi quy y Liên Sinh Hoạt Phật, cô ấy chí thành tu pháp và cúng dường tượng Liên Sinh Hoạt Phật, ngày ngày thắp hương lễ bái, vô cùng cung kính. Nhưng chồng cô ấy không tin, ngày ngày chế nhạo phỉ báng.

Sau đó, một ngày nọ, người chồng đột nhiên ngạt thở bất tỉnh nhân sự, liên tục ba ngày ba đêm không tỉnh, bác sĩ khám không biết nguyên nhân do đâu.

Người vợ cầu nguyện trước pháp tượng Liên Sinh Hoạt Phật. Ba ngày ba đêm sau ông mới tỉnh lại, lập tức quỳ bò đến trước pháp tượng Liên Sinh Hoạt Phật, đảnh lễ liên tục ba lần.

Người ta hỏi lý do, ông đáp, trong lúc hôn mê, nhận thấy đã bị quỷ dùng dây thừng trói chặt, không thể cử động, tuy đã kêu gọi thân bằng quyến thuộc đến cứu nhưng không ai tiến lên giải cứu.

Ác quỷ ném tôi lên xe ngựa, cứ thế đi mãi, tự thấy con đường rất dài, bốn phía toàn là rừng cây, không có ánh sáng ban ngày, đều là đêm trường mịt mù. Đến một nơi nào đó, chợt cảm thấy xe ngựa dừng lại, đầu xe có người nói chuyện.
"Trong xe là ai?"
"Kẻ không tin Phật pháp."
"Người này ngu si, nhưng vợ của anh ta đã quy y lễ Phật, nay chiếu theo sự thỉnh cầu của người vợ, nếu cứu được chồng, người vợ thề nguyện xuất gia. Giờ đây, nên ban lại mạng sống cho người chồng, để anh ta sám hối sửa lỗi, rồi cho người vợ xuất gia, như vậy là viên mãn rồi!"
"Tuân theo pháp chỉ của Hoạt Phật."

Khi rèm xe vừa mở ra, liền thấy trước mắt hiện lên một vị Phật, khuôn mặt ngài chính là hình tướng của Liên Sinh Hoạt Phật, toàn thân phóng ra ánh sáng vàng, thấp thoáng chói lọi, chiếu rọi lẫn nhau. Dây trói của anh ta tự động được cởi bỏ, anh ta lập tức quỳ lạy trước mặt Liên Sinh Hoạt Phật, lớn tiếng kêu lên:
"Xin đừng bỏ tôi mà đi, Hoạt Phật cứu tôi với."

Hoạt Phật nói: 
"Ngươi quá ngu si rồi, ngươi cậy có chút năng lực nhỏ nhoi liền không tin Phật pháp, ta chính là Liên Sinh Hoạt Phật đây, nay chiếu theo lời cầu nguyện của vợ ngươi, đến cứu mạng ngươi, tránh cho ngươi phải đọa vào vô gián địa ngục. Nếu ngươi thoát khỏi biển khổ, cần cải tà quy chính, chớ có phỉ báng Phật nữa, từ bỏ mọi ác hạnh, xây dựng chùa chiền để hộ trì. Vợ của ngươi là Liên Hoa Tố Nguyệt, có thể thuận theo thề nguyện mà xuất gia, sau này tu thành chính quả, chính là Thiện Quang Bồ Tát."
Anh ta nói: 
"Đương nhiên phải như vậy rồi."
"Hãy đi theo ta."

Trước mắt chợt hiện ra một vầng mặt trời đỏ rực, bay lên cao và xoay tròn, tự cảm thấy ánh sáng sáng ngời chói lọi, thu vào đầy tâm, liền tỉnh giấc.

Liên Hoa Tố Nguyệt sẽ y theo thề nguyện của mình mà xuất gia. Chồng của cô ấy sau này cũng quy y học pháp, người ấy chính là Liên Hoa Văn Kiệt.


![image](/img/img_bd06994cf5f4962f0e54b12a595d1153.png)



### 18. Liệu pháp tâm linh cho bệnh nhân ung thư


Ở đây trước tiên tiết lộ một bức thư gửi đến.

*Lư Sư Tôn kính yêu. Om mani padme hum. Kính chào Thầy!*

*Ngày 9 tháng 7 đã nhận được thư hồi đáp, xin cảm ơn Sư Tôn đã từ bi gia trì. Đặc biệt là anh cả của con là Liên Hoa Phúc Thành, bệnh khổ của anh ấy thực sự đã giảm nhẹ rất nhiều, tinh thần cũng khá tốt, còn có thể ra ngoài đi dạo và đến phòng trà uống trà. Mẹ thấy bệnh tình của anh ấy ổn định cũng thở phào nhẹ nhõm, nếu không thì tế bào ung thư sẽ lan rộng. Mọi người thấy anh ấy có thể dễ chịu thoải mái hơn, không còn phải sống nhờ tiêm thuốc giảm đau nữa, thực sự thù thắng vô cùng. Cả gia đình chúng con chân thành cảm nhận thần lực và lòng từ bi vô hạn của Sư Tôn, khẩn cầu Thầy tiếp tục giúp đỡ anh ấy, khiến cho anh ấy được viên mãn, xin cảm ơn!*

*Đệ tử để đáp đền ơn Sư Tôn, nhất định sẽ kiên trì tu pháp, hy vọng có thể đạt được tự độ độ tha, tự lợi lợi tha, hộ trì Sư Tôn hoằng dương chính pháp, phổ biến Chân Phật pháp lợi lạc chúng sinh, khẩn cầu Sư Tôn gia trì nhiều hơn nữa cho đệ tử, lại xin Sư Tôn từ bi khai thị nhiều hơn nữa.*

*Nay đính kèm theo tư liệu quy y của năm người bạn, khẩn cầu Sư Tôn từ bi, chấp nhận sự quy y thành tâm của họ, lại xin từ bi ban cho họ quán đảnh từ xa.*

*Còn về việc họ học pháp như thế nào, xin Sư Tôn chỉ dẫn rõ ràng, nếu có trường hợp đặc biệt, họ (người quy y) không tiện đến các đàn truyền (học) pháp, đệ tử có thể nói cho họ biết pháp tắc đã hiểu rõ và lĩnh hội được không, y theo pháp bản của Thượng sư mà tiếp tục từng bước, từng bước hướng dẫn tu từ đơn giản, kính xin Thầy chỉ đạo rõ ràng cho đệ tử, nếu đệ tử có chỗ sai sót, xin hãy giáo huấn thêm!*

*Lại đính kèm theo tư liệu của đồng môn tham gia pháp hội siêu độ, khẩn cầu Sư Tôn từ bi siêu độ tất cả thiên nhân, khiến cho họ lìa khổ được vui, tùy nguyện viên mãn.*

*Còn đính kèm theo chút lễ quả nhỏ nhoi, cúng dường Sư Tôn từ bi, khẩn cầu Thầy vui lòng nhận, đây là một chút tâm ý của các đệ tử, xin thay mặt chào hỏi Sư Mẫu và các con.*

*Chúc Phật an!
Đệ tử Liên Hoa Bội Văn chắp tay.
19.8.1988*

*PS: Xin hãy gửi luôn chứng thư quy y của họ về cho con, con sẽ phát cho họ.*


![image](/img/img_4b6d92f7258d6d9959f07e8f894d3d55.png)


🌟

Liên Sinh Hoạt Phật thấu hiểu vũ trụ hiện thế, ở thiên, địa, nhân có ba kiếp số lớn.
Về Thiên — trong vô lượng cõi trời, các linh giáng trần, cùng nhau cứu độ chúng sinh, đây gọi là Thiên kiếp.
Về Địa — bão táp, lũ lụt, hỏa hoạn, động đất, tạo thành hiện tượng như thời hỗn nguyên, tình thế cực kỳ nguy hiểm, đây gọi là Địa kiếp.
Về Nhân — chính khí không đủ, tà khí có thừa, vạn tà xâm nhập, sinh ra các bệnh ung thư, bệnh AIDS v.v..., đây gọi là Nhân kiếp.

Liên Sinh Hoạt Phật tự biết, ở nơi Thiên tâm của tôi an tọa chính là Đại Nhật Như Lai, mà Đại Nhật Như Lai hóa hiện ra Phật Nhãn Phật Mẫu (Nhất Thiết Phật Nhãn Đại Kim Cương Cát Tường Nhất Thiết Phật Mẫu Tâm Tôn), từ Phật Nhãn Phật Mẫu sinh ra Ma Ha Song Liên Trì, mà ánh sáng của Song Liên Trì chính là Liên Hoa Đồng Tử. Đây là do Đại Nhật Như Lai phóng ra ánh sáng vô lượng, phút chốc hóa thành đóa sen rực rỡ, ở trong khoảng hư không vô hình, mang theo sự linh thiêng uy vũ giáng sinh xuống nhân gian, biến hóa thành Liên Sinh Hoạt Phật để cứu độ chúng sinh.

Tôi, Liên Sinh Hoạt Phật, từ vô lượng kiếp trước, vốn là Vô Lượng Phật Quang. Đại Nhật Như Lai, Thích Ca Như Lai, A Di Đà Phật, cùng là Vô Thượng Tôn Phật, chỉ vì thề nguyện, đã phóng ra vô lượng ánh sáng, hoa sen chín màu, hiện nơi không trung, vốn dĩ lấy Chân Phật làm tông chỉ, thuận theo tâm ý của chư tôn, chuyển đại pháp luân.
Bão táp, lũ lụt, hỏa hoạn, động đất... là do Ngũ Hành nhiều biến cố, cũng là cái lý của âm dương. Đạo của âm dương là cái này tiêu giảm thì cái kia tăng trưởng, cái này trỗi dậy thì cái kia lắng xuống, đều có nguyên tắc riêng. Âm ra âm, dương ra dương, mà tạo thành Càn Khôn. Càn Khôn biến đổi lần một thành Khảm Ly, Khảm Ly biến đổi tiếp thành Tốn Đoài, Tốn Đoài biến đổi tiếp thành Cấn Chấn. Nói chung, trời đất thanh bình là do mười phương ba cõi đều giữ đúng quỹ đạo mà vận hành. Nhưng lòng người trái nghịch thì thiên tai địa biến ập tới, đây chính là do dục vọng không dứt, khiến lòng người đánh mất sự coi trọng của việc giữ đạo.

Còn về việc con người mắc phải các bệnh nan y như ung thư, AIDS..., là do chịu nhân quả tham, sân, si, ái quấn thân, không nhất định là nhân do đời này tạo ra, mà là nhân do kiếp trước tạo ra, khiến cho chân tính sa đọa, vạn tà xâm nhập, hạt giống vi khuẩn của nó chính là các loại tà vậy.

Tôi thấu hiểu Thiên Địa Nhân có ba kiếp số lớn, nay Liên Sinh Hoạt Phật giáng sinh xuống nhân gian, cũng là ứng kiếp mà đến, để cứu độ chúng sinh, chuyển đại pháp luân Thiên Địa Nhân này.

Trong Chân Phật Mật Pháp ẩn chứa đại huyền cơ thành Phật thành tiên, đại bí mật khẩu quyết tu hành tu tâm, những bậc thang nối tiếp chặt chẽ với nhau, đây là cảnh giới thật, Mật pháp thật, truyền thừa thật, Sư Tôn thật, hoàn toàn chính là chân truyền vậy.

Viết một bài kệ:
*Chân Phật truyền chân.
Phổ độ chúng sinh.
Cảnh vô thượng cảnh.
Trời đất một tăng.
Hiển Mật đồng nguyên.
Cùng là một vị.
Bốn thánh sáu phàm.
Cùng một linh căn.
Là Phật tử ta
Tự về Liên Trì.*

Nếu hiểu thấu bài kệ này thì chính là vị Bồ Tát có duyên của Ma Ha Song Liên Trì.

🌟

Có quá nhiều bệnh nhân ung thư đến cầu xin Liên Sinh Hoạt Phật trị liệu tâm linh. Tôi không dám nói là hiệu nghiệm một trăm phần trăm, nhưng tỷ lệ khỏi bệnh cũng rất cao. Ở mức độ thấp nhất, cũng có thể ngăn chặn sự lây lan và chuyển biến xấu của vi khuẩn, kéo dài tuổi thọ, giúp họ an ổn trở lại, khiến cho nỗi đau đớn của người bệnh hoàn toàn chấm dứt.

Trong việc trị liệu tâm linh bệnh ung thư của tôi, cũng có không ít kỳ tích (thần tích), những sự thật không thể nghĩ bàn này đều khiến người ta kinh ngạc thán phục, vô cùng thù thắng. Nếu không phải là người đích thân trải qua hoàn cảnh đó thì không thể nào tưởng tượng ra được. Càng có nhiều nhà khoa học và y học gia nghiên cứu sâu về phương pháp trị liệu tâm linh của Liên Sinh Hoạt Phật, phát hiện ra sự thật là bệnh đã khỏi, nhưng về lý thì lại không hiểu vì sao mà khỏi được.

Trị liệu tâm linh rốt cuộc là chuyện như thế nào?

Đại khái là như thế này:
1. Bệnh trạng của bệnh nhân được Liên Sinh Hoạt Phật phóng quang gia trì.
2. Bệnh trạng của bệnh nhân được Liên Sinh Hoạt Phật thu vào chính mình.
3. Đại quang minh của ý thức vũ trụ gia trì cho Liên Sinh Hoạt Phật, Liên Sinh Hoạt Phật lại đem ánh sáng đó gia trì cho bệnh nhân.
4. Bệnh trạng của bệnh nhân được Liên Sinh Hoạt Phật chịu thay thu về, rồi đại quang minh của ý thức vũ trụ lại thu về bệnh trạng của Hoạt Phật.

Ở đây có ba nhân tố, chính là bệnh nhân, Liên Sinh Hoạt Phật, ý thức vũ trụ, trị liệu tâm linh hoàn toàn là sự phối hợp qua lại của ba nhân tố này.

Đối với những bệnh nhân ở nơi xa (các quốc gia khác), bắt buộc phải gửi ảnh chụp đến. Liên Sinh Hoạt Phật ở trong mật đàn, trước tiên nghĩ đến người trong ảnh đi đến mật đàn, sau đó mới phóng quang, gia trì cho bệnh nhân. Hoặc Liên Sinh Hoạt Phật đem lực gia trì giao cho Không Hành Mẫu, Không Hành Mẫu bay đến chỗ của bệnh nhân, gia trì cho bệnh nhân. Đạo lý của trị liệu tâm linh cách không này, cùng với quán đảnh từ xa cách không, là chung một nguyên tắc. 

Nỗi khổ bệnh tật của Liên Hoa Phúc Thành thật sự đã giảm bớt rất nhiều. Tinh thần hồi phục, bệnh tình ổn định. Không còn phải tiêm thuốc giảm đau nữa. Có thể ra ngoài đi dạo, đến phòng trà uống trà...... Tất cả đều là nhờ vào trị liệu tâm linh cách không vậy.

🌟

Liên Sinh Hoạt Phật có một bức ảnh chụp mười ngón tay phóng quang. Đó là một lần đang ngay ngắn chắp tay trị liệu tâm linh cho người khác, có người cầm máy ảnh chụp hình, vừa chụp một cái, mười ngón tay xuất hiện hào quang màu xanh tím, dài tới một thước, bắn ra từ các đầu ngón tay, ánh sáng thần dị, uốn lượn bay bổng, ai nhìn thấy đều kinh ngạc thán phục sự hy hữu này.

Cá nhân tôi cảm thấy, người được trị liệu tâm linh và người thực hiện trị liệu tâm linh đều phải hợp với hai chữ "tinh thành", người được trị liệu tâm linh phải kiền thành cung kính, người thực hiện trị liệu tâm linh phải tinh thần thống nhất. Có như vậy, hóa thân của ý thức vũ trụ (Bổn tôn) mới có thể từ mẫn tùy niệm mà ứng hiện.

Bổn tôn này có thể từ một vị biến hóa thành mười vị, trong chốc lát, từ mười lại biến hóa thành một trăm vị, từ một trăm vị biến hóa thành một nghìn vị, việc chợt nhìn thấy nghìn vị Phật kết thành lưới ánh sáng này, cùng với công đức rộng lớn vô biên chí thành không dứt, chính là hóa thân bên ngoài thân cơ bản của trị liệu tâm linh.

Chúng ta phải thành tâm cầu nguyện: 
Từ tâm soi sáng quang thanh tịnh,
Phá sạch nghiệp chướng kiếp trùng trùng.


### 19. Trị liệu tâm linh cho khuyết tật bẩm sinh


Trước tiên tiết lộ một bức thư làm chứng:

*Kính bạch Sư Tôn.*

*Thầy có khỏe không? Tháng trước nhận được thư hồi âm, trong đó có ba tờ linh phù cho con trai nhỏ đốt uống và đại lực gia trì, thật là biết ơn vô cùng.*

*Con trai nhỏ từ khi ra đời đến nay không biết nói, có lúc khóc la inh ỏi, không hiểu chuyện, mọi người trong nhà vì con đều rất khổ não. Con trai nhỏ sau khi uống linh phù của Sư Tôn thì có tiến bộ rất nhiều, đệ tử mỗi ngày trì tâm chú Thượng sư và niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, đệ tử cảm thấy tâm cảnh an lạc thanh tịnh. Mong Sư Tôn đại từ đại bi, lại ban linh phù và gia trì cho con trai nhỏ, thật là biết ơn vô cùng. Đệ tử không giỏi chữ nghĩa, xin Thầy thứ lỗi nhiều.*

*Chúc Phật an!
Đệ tử Liên Hoa Thái Tố đảnh lễ!
Nay kèm theo tiền cúng dường 30 đồng chẵn.*


![image](/img/img_27e280e2003ca9d89920ccd3d76a02c4.png)


🌟

Khuyết tật bẩm sinh của trẻ nhỏ, tôi phân loại các chứng bệnh đó đại khái như sau:
1. Đần độn — hoàn toàn không hiểu chuyện đời, thiểu năng.
2. Mềm xương — không thể đứng được, toàn thân mềm nhũn.
3. Bại liệt — tay chân dị dạng, đi lại bất tiện.
4. Tinh thần bất thường — khóc to, la hét, ồn ào, nhảy nhót. Vận động không ngừng nghỉ, va đập, chạy, nhảy, bò, phải đến khi mệt lả mới tĩnh lặng đi ngủ, vừa tỉnh dậy, lại là va đập, chạy, nhảy, bò.
Cùng các chứng động kinh ngắt quãng khác, v.v...

Những trẻ nhỏ khuyết tật bẩm sinh này, Liên Sinh Hoạt Phật đều đã tiến hành trị liệu tâm linh cho hàng trăm hàng nghìn ca trở lên.

Tôi thật sự nói với mọi người rằng, tôi quả thực rất am hiểu về khuyết tật bẩm sinh. Một số trẻ nhỏ sau khi được Liên Sinh Hoạt Phật trị liệu tâm linh, số ca khỏi bệnh là rất nhiều. Những ca chưa khỏi hẳn, nhưng có tiến bộ lớn, cũng rất nhiều. Nhưng, quả thực cũng có vài bé, sau khi trải qua trị liệu tâm linh, không hề có khởi sắc, một chút tiến bộ cũng không có, đây là do nghiệp chướng của trẻ quả thực quá nặng, tế bào não đã chết toàn bộ, tế bào não chết rồi thì không thể sống lại được!

Thế nào là "tiến bộ lớn"?
1. Có thể bập bẹ học nói, bắt đầu phát âm nói chuyện.
2. Bắt đầu hiểu chuyện đời, không khóc to la hét, tĩnh lặng như người bình thường.

Tôi có một vị đệ tử khác, con trai của người này bị bác sĩ tuyên án là đần độn vĩnh viễn, cũng có nghĩa là từ bỏ điều trị, không thể vào trường đi học, điều này giống hệt như bị tuyên án tử hình.
Nhưng, sau ba tháng được tôi trị liệu tâm linh:
1. Trẻ nói năng chuẩn xác.
2. Không còn nhảy nhót lung tung, hành vi bình thường.
3. Hiểu chuyện đời. Việc người lớn dạy, lời người lớn nói, đều thấu hiểu rõ ràng, có thể làm theo.
4. Ánh mắt và khuôn mặt hoàn toàn khôi phục bình thường.
5. Đi học bình thường.

Việc đi học bình thường này, hoàn toàn khỏi bệnh, khiến cho cha mẹ em cảm kích rơi lệ. Chuyện trị liệu tâm linh này, tất cả mọi người ở Seattle đều biết, đều cho rằng không thể nghĩ bàn.

Đứa trẻ đần độn này có thể đi học, ngồi ngang hàng với những đứa trẻ bình thường, quả thực là thần tích. Nhờ có trường hợp khỏi bệnh này, bất ngờ khiến tôi liên tục trị liệu tâm linh thêm cho hơn mười trẻ nhỏ bị khuyết tật bẩm sinh như vậy nữa, tỷ lệ khỏi bệnh đạt đến năm mươi phần trăm, những ca khác cũng có tiến bộ lớn.

🌟

Vì sao Liên Sinh Hoạt Phật lại đặc biệt am hiểu về khuyết tật bẩm sinh, nguyên nhân có ba:
Thứ nhất, Liên Sinh Hoạt Phật thấu hiểu ám ký của người bị khuyết tật bẩm sinh, cũng có nghĩa là, trên cơ thể của người khuyết tật bẩm sinh nhất định có ký hiệu đặc biệt của khuyết tật bẩm sinh, Liên Sinh Hoạt Phật chỉ cần nhìn ra ký hiệu đặc biệt này liền thấu hiểu được nhân quả ba đời của đứa trẻ đó, trực tiếp biết rõ vì sao lại mắc phải căn bệnh này.
Thứ hai, Liên Sinh Hoạt Phật sẽ dùng phương pháp hóa thân bên ngoài thân, lên trời xuống đất, đến mười phương pháp giới để tháo gỡ nút thắt nhân quả này, nghĩ đủ mọi cách để loại bỏ nút thắt chết, nhân quả của nút thắt chết một khi được loại bỏ thì đứa trẻ mới có thể được cứu, nhân quả không loại bỏ thì có chữa trị thế nào cũng không cứu được.
Thứ ba, Liên Sinh Hoạt Phật trước đây ở chỗ Thanh Chân Đạo Trưởng học tập pháp phù chú, biết được có một lá phù chú đặc biệt, ấn thức đặc biệt, vô cùng hiệu nghiệm đối với khuyết tật bẩm sinh, cho nên thấu hiểu sâu sắc sự vi diệu trong đó, chỉ cần tháo gỡ được nhân quả, phù ấn này vừa hạ xuống lập tức có hiệu nghiệm lớn vậy.
Nhưng tôi cũng hiểu rõ có một trường hợp tôi cũng đành bất lực, trường hợp này chính là khi tế bào não đã chết quá nửa, chết không thể sống lại thì tôi cũng hết cách.

Từng có cha mẹ của một trẻ nhỏ bị khuyết tật bẩm sinh tặng tôi một bức hoành phi, đề rằng:

*Thế gian có một hạng,
Lặng thinh như khúc gỗ,
Làm gì đều chẳng hiểu,
Cha mẹ nhìn càng lo.*

*Hỏi gì đều không biết,
Tiểu tiện đều nhờ tay,
Nay gặp Liên Sinh rồi,
Nghìn sầu xưa buông hết.*

🌟

Liên Sinh Hoạt Phật tình cờ bay lên trong hư không, đến rừng nghìn cây ở âm phủ. Nhìn thấy một trẻ nhỏ đang luẩn quẩn trong rừng nghìn cây ở âm phủ, hóa ra đứa trẻ này đã đi lạc.
"Sao con lại ở đây?" - Tôi hỏi bé.
"Thực sự không biết ạ." - Đứa trẻ cũng ngơ ngác.
"Tên của con là gì?"
"Chu ××."
A! "Chu ××" chẳng phải là con của đệ tử tôi sao?
Đứa trẻ này vừa sinh ra đã thiểu năng đần độn, vài ngày trước mới được đưa đến Chân Phật Mật Uyển cầu xin tôi làm pháp cứu độ. Hóa ra hồn phách của em đã đi lạc trong rừng nghìn cây ở âm phủ.

Thế là, tôi dẫn theo hồn phách của Chu ××, ra khỏi rừng nghìn cây.
Tôi viết một bài kệ:
*Đời có nhiều nẻo đường,
Thận trọng kẻo lầm lạc,
Đúng lúc biết quay về,
Sải rộng bước chân đi.*
Sau khi xuất định, tôi lại dùng chú ấn làm pháp cho đứa trẻ, một tháng sau liền có tiến bộ lớn, trải qua thêm ba tháng nữa thì bất ngờ hoàn toàn khôi phục bình thường, đã khỏi bệnh.

🌟

Có con trai của một vị đệ tử, vừa sinh ra đã bị mềm xương, cầu xin tôi làm pháp. Tôi tĩnh tọa nhiều ngày, không nhìn thấy gì cả, vô cùng kỳ lạ. Mãi cho đến đêm khuya của một ngày nọ, tôi ngồi ngay ngắn không còn một ý niệm nào, ngay cả hơi thở cũng hoàn toàn dứt bặt. Lúc này một tia sáng như làn nước mùa thu chợt lóe qua trong tâm. Ngay khoảnh khắc đó, tôi mới hiểu ra. Con trai của vị đệ tử này kiếp trước hóa ra là một thích khách. Anh ta được một vị hòa thượng thuê để đi giết một vị hòa thượng khác.

Bởi vì vị hòa thượng mà anh ta phải giết đó danh tiếng rất lớn, đàn việt thí chủ rất nhiều, hào quang quá thịnh. Anh ta do nhận sự phó thác của người, tận trung với việc của người, thế là giết chết vị hòa thượng đó. Tội giết hòa thượng này quả thực quá nặng. Là tội ngũ nghịch.

Tôi than rằng: "Hết thảy chúng sinh, bận rộn ngược xuôi bên trong nhà lửa, quả thực ngu muội vô tri, tôi làm sao cứu độ? Tôi làm sao cứu độ đây? Tôi cũng hết cách rồi!"

Đây là:
*Chúng sinh tính cuồng,
Biển khổ vô biên,
Quay đầu là bờ,
Dừng là Bồ Tát.*

Liên Sinh Hoạt Phật đối với đứa trẻ mềm xương này, chỉ biết thở dài không ngớt, phóng ra một ngọn đèn tâm chiếu rọi cho em, chỉ mong em mang theo một tia sáng mỏng manh sớm ngày chuyển kiếp rời đi, đừng lưu lại thế gian thêm nữa, làm liên lụy người nhà. Tấm thân phàm phu tội lỗi nhơ nhuốc, từ một ánh sáng hiển lộ ra nhiều ánh sáng, từ một chút xíu điều thiện dẫn ra hàng trăm nghìn vạn điều thiện, tương lai đạt được thiền tuệ, thành Phật quả.


### 20. Cảm nghĩ sau khi quy y


Nay xin công bố một bức thư, để luận bàn thêm.

*Thượng sư Lư tôn giám:
1. Sau khi quy y, mọi người lớn nhỏ trong nhà hết thảy đều bình an như ý, vô hình trung tài phú gia đình tăng vọt, người nợ tiền cũng tự động trả tiền hàng tháng.*

*2. Sau khi quy y, từng ở trong ác mộng, tiềm thức tự niệm A Di Đà Phật, tâm chú Thượng sư, chú phòng ma, liền tỉnh giấc sau đó ngủ say, rõ ràng là đã nâng cao Phật tâm.*

*3. Sau khi quy y, năm 76 khẩn cầu Thượng sư bảo hộ con gái lớn tham gia kỳ thi tuyển sinh đại học được trúng tuyển như ý.*

*4. Sau khi quy y, gặp mọi việc tâm địa đều từ bi hơn trước.*

*Phật an!
Đệ tử Tô Huệ Dân, Liên Tránh kính thư.
03.08.77
(Đính kèm bản sao biên lai nhận tiền chuyển khoản bưu điện nước ngoài 120 đô la Mỹ, trong đó đệ tử cúng dường Thượng sư 100 đô la, 20 đô la còn lại là của con trai có thư riêng, khẩn cầu cúng dường, kính xin kiểm thu.)*


![image](/img/img_6d7c4bfd90c581aac4e8c17d3b1c8524.png)


🌟

Quy y chính là mang hàm nghĩa quy hướng, nương tựa, cứu độ.
Quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng, gọi là quy y Tam Bảo, cũng gọi là tam quy y.
Quy y cũng chính là sự khởi đầu cho việc chúng sinh chí tâm quy y tín thuận hướng về Phật.

Trong Chân Phật Mật giáo là tứ quy y: Namo guru beh — quy y Kim cương Thượng sư. Namo buddhaya — quy y Phật. Namo dharmaya — quy y pháp. Namo sanghaya — quy y mười phương hết thảy thánh hiền.

Quy y giống như học sinh đi học phải ghi danh, có ghi danh mới có thể học tập hết thảy Phật lý đúng như pháp. Nếu không có quy y thì chỉ là học sinh dự thính mà thôi.

Còn về Chân Phật Mật Tông, trọng điểm của quy y nằm ở quy y Thượng sư. Trong tứ quy y của Mật tông, Kim cương Thượng sư xếp ở vị trí đầu tiên, đây là vì Kim cương Thượng sư là tổng trì của Tam Bảo chư tôn, chúng sinh nhờ có Kim cương Thượng sư truyền pháp mới có thể thực sự thấu hiểu Tam Bảo, cho nên chúng sinh nhờ quy y Kim cương Thượng sư mới có Mật pháp để học, cũng nhờ sự nương tựa vào Kim cương Thượng sư mới có cách nhận được sự cứu độ của Thượng sư Tam Bảo.

Quy y là niềm tin đối với Thượng sư và Tam Bảo. Quy y là kết duyên mãi mãi với Thượng sư Tam Bảo cùng Phật Bồ Tát. Quy y có thể tiêu trừ hết thảy nghiệp chướng nhiều đời, đạt được phúc lớn. Quy y là bước đầu của việc tự mình phát bồ đề tâm.

Quy y chính là "đệ tử ABC từ nay quy y Thượng sư Tam Bảo, cho đến bồ đề, mãi không thoái chuyển, tất cả điều thiện lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh mau thành Phật đạo."
Mục đích cuối cùng của quy y là:
Liên Sinh Hoạt Phật ban gia trì,
Tam Bảo phóng quang trừ nghiệp chướng
Con cùng chúng sinh thành Phật đạo
Thảy đều vãng sinh cõi Cực Lạc.

🌟

Người quy y Liên Sinh Hoạt Phật, bởi vì có nhân phúc của việc quy y nên có nhân nghiệp chiêu cảm quả phúc, tự nhiên tăng trưởng thiện căn công đức. Tại sao lại như vậy? Bởi vì Liên Sinh Hoạt Phật lấy phúc đức và trí tuệ để làm sự trang nghiêm.

Quy y mang ý nghĩa là sinh trưởng, một người quy y giống như gieo xuống ruộng tâm một hạt giống, mà hạt giống này sẽ sinh trưởng, nhận được quả báo phúc huệ, phúc phần này tự nhiên sẽ đến. Cho nên "trong vô hình tài sản gia đình tăng vọt, người mắc nợ cũng tự động trả tiền hàng tháng".

Người quy y Liên Sinh Hoạt Phật, nhờ nhận được lực gia trì của Ngài, ánh sáng thanh tịnh chiếu soi tiêu trừ nghiệp chướng, nên mọi tâm ái luyến chấp trước, tâm dâm dục dần dần phai nhạt.

Chúng ta đều biết, mọi phiền não đều lấy vô minh làm thể, chấp trước vào mê vọng điên đảo, tự tính vốn chẳng thanh tịnh, là ô nhiễm. Người đã quy y, học pháp, được pháp tính quang minh của Liên Sinh Hoạt Phật phóng chiếu khắp mọi nơi mà thanh tịnh, tự nhiên chuyển mê vọng thành tỉnh giác. Bởi vậy, "tiềm thức có thể tự niệm A Di Đà Phật, tâm chú của Thượng sư, chú phòng ma, làm nâng cao Phật tâm".

Người quy y Liên Sinh Hoạt Phật, tâm sẽ từ bi hơn trước, tại sao? Bởi vì học Phật là để giác ngộ chính trí của Phật đạo, cầu đạt được tâm chính giác thành Phật, không những trên cầu Phật quả, mà còn dưới hóa độ chúng sinh, trở thành một bậc đại thánh nhân. Đại thánh nhân chính là Bồ Tát, Bồ Tát vốn là đại hạnh tự lợi lợi tha viên mãn Phật quả, Bồ Tát có pháp môn lục độ, hoàn toàn là vì cớ "lợi mình cũng lợi người", bởi vì tu học như vậy cho nên tự nhiên nội tâm sẽ từ bi hơn trước.

Đệ tử Liên Tránh từ sau khi quy y đã có được:
Tài sản gia đình tăng vọt.
Ma lẩn trốn, nâng cao Phật tâm.
Mọi sự như ý.
Có tâm từ bi.
Đây là kết quả của sự quy y chân thật, người quy y hội đủ chân tâm quy y chân thật liền có thể viên mãn mọi công đức, dứt sạch mọi mê hoặc nghiệp chướng.

Tôi viết một bài kệ như sau:
*Gửi lời đến thiện nhân
Hãy mau đến quy y
Thành tâm được thiện phúc
Không cần giữ tạp tâm.*

🌟

Về mặt quán đảnh quy y từ xa, có một chứng nghiệm như sau:
Có một vị cư sĩ tên Ngô Phụng Giáo thay mặt con trai mình quy y Liên Sinh Hoạt Phật. Nhưng người con trai đối với việc quán đảnh từ xa của Liên Sinh Hoạt Phật vẫn còn nghi hoặc, từng nói: "Nước Mỹ xa xôi như thế, làm sao quán đảnh từ xa?"

Người con trai hành lễ quy y theo đúng pháp. Hướng về phía mặt trời mọc ở phương Đông, hành lễ ba lạy. Đêm đó, khi giấc mộng đang say, đột nhiên anh tự cảm thấy thân thể dần nhẹ đi, có thể bay vút lên không trung, xuyên qua cửa sổ, xuyên qua tường, xuyên qua núi rừng hồ biển, hoàn toàn không có chút chướng ngại nào. Bay lượn vù vù vang động, chớp mắt đã vút qua nghìn dặm, chợt nhận ra mình đã đến một Phật đường. Trong Phật đường đã tụ tập rất nhiều người, toàn là từ khắp nơi xa xôi trên thế giới tìm đến.

"Sư Tôn đến chưa?" - Có người hỏi.
"Vẫn chưa thấy." - Người khác đáp.
Con trai của cư sĩ Ngô Phụng Giáo chen chúc trong đám đông.
Lúc này có người nói: "Đến rồi, đến rồi, Sư Tôn đến rồi."

Lúc này đại chúng ngẩng đầu nhìn lên phía trên, quả nhiên thấy Sư Tôn (Liên Sinh Hoạt Phật) đầu đội mũ Ngũ Phật, thân khoác y đỏ vàng, đeo chuỗi hạt trắng, chân đạp hoa sen, thân tỏa ánh sáng lung linh, vô cùng trang nghiêm giáng lâm, khuôn mặt ngài như trăng rằm, từ bi mỉm cười.
Liên Sinh Hoạt Phật nói: "AA cũng ở đây chứ?"
AA này chính là con trai của Ngô Phụng Giáo. Cậu ta vừa nghe thấy vội kêu lớn: "Con ở đây, con ở đây."

Liên Sinh Hoạt Phật nói: "Việc quán đảnh từ xa có Không Hành Mẫu cầm tịnh thủy đi khắp nơi trên thế giới để quán đảnh cho các đệ tử, cũng có người nương theo pháp lực nhiếp triệu của Liên Sinh Hoạt Phật mà tìm đến nhận quán đảnh. Giờ thì con tin chưa?"
"Tin rồi! Tin rồi! Thật không thể nghĩ bàn."

Thế rồi Liên Sinh Hoạt Phật đối với các đệ tử mới quy y tìm đến, từng người từng người quán đảnh theo đúng pháp. Sau khi quán đảnh, những người đó mới lần lượt rời khỏi Chân Phật Mật Uyển, trong chốc lát đã đi sạch không còn một ai. Chân Phật Mật Uyển chỉ còn lại con trai của Ngô Phụng Giáo, là người được quán đảnh cuối cùng.
"Con còn nghi hoặc không?"
"Không nghi hoặc."
"Sau khi quán đảnh, có thoái chuyển không?"
"Thề không thoái chuyển."
"Vì cớ gì?"
"Con nhờ pháp lực nhiếp triệu của Liên Sinh Hoạt Phật mà được đích thân đến Chân Phật Mật Uyển nhận quán đảnh, nay được thấy tướng mạo đoan chính của Liên Sinh Hoạt Phật, là niềm may mắn cả đời. Con sẽ ghi lại ngọn nguồn sự việc này, phải tin rằng quán đảnh từ xa là có thể, không phải là không thể, vì có sự nhiếp triệu và sai khiển."
"Con đi đi! Tự mình bảo trọng." - Pháp tọa của Liên Sinh Hoạt Phật bay lên cao rồi ẩn đi.

Con trai của cư sĩ Ngô Phụng Giáo trong mộng chắp tay, tỉnh dậy.
Cư sĩ Ngô đích thân thuật lại cảnh mộng, ghi lại thực trạng, nay nói với người khác: "Việc quán đảnh từ xa của Liên Sinh Hoạt Phật là hoàn toàn có thật. Còn một số pháp sư cho rằng không thể, đó là bởi vì công lực của họ chưa tới mức mà thôi, các pháp sư bình thường thực sự không biết được ý cảnh chân thực của Pháp thân biến khắp, ánh sáng tràn ngập sáu cõi."

Có người nhận quán đảnh từ xa, tự cảm thấy nước mát từ trời giáng xuống.
Có người nhận quán đảnh từ xa, tự cảm thấy Sư Tôn đỡ thân mình dậy.
Có người nhận quán đảnh từ xa, nhìn thấy trong mặt trời hiển hiện thân Sư Tôn.
Có người nhận quán đảnh từ xa, nghe thấy pháp ngữ của Sư Tôn.
Có người nhận quán đảnh từ xa, bệnh nặng chuyển nhẹ, bệnh nhẹ liền khỏi.
Có người nhận quán đảnh từ xa, người vợ mắc chứng vô sinh lập tức thụ thai, sinh hạ một bé trai.
Có người nhận quán đảnh từ xa, nghe từng hồi khánh ngân, hương thơm thoang thoảng, vô cùng thù thắng vi diệu.
Có người nhận quán đảnh từ xa, bệnh về mắt chợt biến mất, tự cảm thấy có nước nhỏ vào mắt, mắt lại sáng.

Những cảm ứng khác thì nhiều không đếm xuể, Liên Sinh Hoạt Phật thề nguyện sâu rộng, bi tâm cứu khổ, làm đại y vương, thật không sai chút nào! Quán đảnh từ xa cũng không sai chút nào!


### 21. Sự ban phúc của Đại Phúc Kim Cang


Trước tiên xin nêu một bức thư làm bằng chứng cho sự chứng nghiệm:

*Hoạt Phật cứu thế cứu nạn Lư Thắng Ngạn Sư Tôn:
Sư Tôn, giải độc đắc đã mở rồi, vào ngày 14 tháng 8, đệ tử đã trúng 16.000, Liên Hoa Trang Sinh trúng 4.000, thật sự là ân huệ của Sư Tôn, đệ tử vô cùng cảm tạ Sư Tôn, cũng vô cùng vui sướng, khiến đệ tử có mặt mũi nhìn người. Thực sự lần này nếu không nhờ có tâm từ bi của Sư Tôn cứu mạng chúng con, khiến đệ tử được cứu rỗi trong lúc tuyệt vọng, nay đã trả được 4.500 tiền thuê nhà, trả 1.112 tiền nước, trả Nha Long Á Đam 2.000 đồng, mua 2.500 tiền hàng. Những khoản khác đợi đệ tử từ Mỹ trở về, nhận lại 700 đồng tiền đặt cọc ở Mỹ, lấy ra trả lắt nhắt cho những người khác mỗi người một ít, tâm mới an lạc hơn một chút. *

*Khẩn cầu Sư Tôn cho đệ tử thêm một cơ hội nữa với số 6187, xin cảm ơn. Không biết như vậy có quá đáng không? Nay xin gửi kèm 200 đô la Singapore chẵn, để cảm tạ chư Phật, Hoàng Tài Thần, hai vị Thiện Đồng Tử. Đành làm phiền Sư Tôn rồi, xin cảm ơn, đợi khi gặp mặt, đệ tử sẽ lại báo ân.*

*Trong thư có kèm một tờ séc, hai tờ giấy báo trúng thưởng, chứng minh là đã trúng. Về việc Phật đường Viên Chứng ở Singapore, đệ tử đã nhờ người tìm địa điểm, hy vọng sớm ngày thành công.*

*Kính chúc Phật an.
Liên Hoa Bảo Châu.
24.08.1988.*


![image](/img/img_dbdcbeb7f186f17a9b34b378d3f28d4b.png)


🌟

Lại nêu thêm một bức thư làm minh chứng cho sự chứng nghiệm.

*Kính chào Sư Tôn, Sư Mẫu!*

*Sư Tôn nhận được thư của đệ tử Liên Hoa Thái Vân liền nói cuối cùng con cũng gửi thư rồi. Đệ tử nửa năm nay đã không cầm bút hỏi thăm Sư Tôn, Sư Mẫu, xin hãy tha lỗi. Đệ tử Liên Hoa Long Phong, Liên Hoa Thái Vân nay xin gửi lời hỏi thăm đến Sư Tôn, Sư Mẫu cùng mẫu thân Sư Tôn. Và xin kính chúc bảo trọng.*

*Sư Tôn pháp lực vô biên, quả thực có cầu tất ứng, đệ tử Liên Hoa Long Phong, Liên Hoa Thái Vân năm vóc sát đất bái tạ Sư Tôn. Từ khi Sư Tôn quán đảnh từ xa pháp Hoàng Tài Thần, nửa năm nay việc làm ăn rất tốt, bận rộn không ngừng. Liên Hoa Long Phong mỗi ngày ra ngoài giao hàng đều cầu thỉnh Sư Tôn, Hoàng Tài Thần, Quan Thế Âm Bồ Tát cùng chư Phật, Bồ Tát bảo vệ. Mọi việc thực sự đều rất thuận ý. Đệ tử Liên Hoa Long Phong, Liên Hoa Thái Vân một lần nữa đa tạ Sư Tôn và chư Phật, Bồ Tát.*

*(Tiện trong thư xin gửi kèm 50 đô la Mỹ, kính xin vui lòng tiếp nhận.)
Đệ tử Liên Hoa Long Phong, Liên Hoa Thái Vân.
23.08.*


![image](/img/img_9bee6bc6ff341132acadf72a824a43c0.png)


🌟

Liên Sinh Hoạt Phật giảng giải Phật pháp, thông đạt đạo lý nhưng không rời xa pháp thế gian, đối với thế gian và xuất thế gian, có thể nói là thấu suốt mọi bề, tự nhiên nhận được sự kính ngưỡng của cả giới tu hành lẫn người đời khắp chốn gần xa.

Liên Sinh Hoạt Phật khi ngồi ngay ngắn tu pháp, giống như:
Trời trong gió thanh,
Mây trắng che phủ,
Khí tím rạng ngời,
Vũ trụ một màu.

Lúc này, một vị phúc thần cao lớn đến yết kiến Liên Sinh Hoạt Phật, thì ra là Tăng Trưởng Thiên Vương, một trong mười sáu vị thiện thần Bát Nhã, là một trong Tứ Đại Thiên Vương hộ thế.

Vị thiên vương này có thể tăng trưởng uy đức của bản thân và người khác, có phần công đức giúp vạn vật sinh sôi. Toàn thân ngài mang màu da đỏ, khoác áo giáp, trên vai vắt dải lụa đỏ, hai mắt trừng dữ tợn, râu dài, tay phải cầm kiếm, tay trái nắm chặt chống nạnh.

Tăng Trưởng Thiên Vương nói: 
"Liên Hoa Bảo Châu đã hết đường lùi!"
"Hãy đi ban phúc đi."
"Phúc do tán thán thầy mà có."
"Có phúc rồi, tự nhiên sẽ tán thán thầy."
"Liên Sinh từ bi, thật không thể nghĩ bàn." - Tăng Trưởng Thiên Vương nói.
"Cho mấy lần duyên?" - Tăng Trưởng Thiên Vương hỏi.
"Một duyên tức vạn duyên, không rời Phật pháp là được." - Tôi đáp.

Tăng Trưởng Thiên Vương trong chốc lát bay vút lên không trung, hóa thành ánh sáng, trở thành lọng hoa mây trắng, hiện ra mười tám phép thần biến, bay về phía Đông Nam mà đi.

Thế là:
Liên Hoa Bảo Châu quả nhiên trúng 16.000.
Giải trừ được mọi khốn khó.
Nhưng:
Lại xin cho thêm một cơ hội nữa.
Còn hỏi: "Không biết như vậy có quá đáng không?"

Nhân đây tôi muốn nhắn nhủ với Liên Hoa Bảo Châu rằng, người học Phật chính là phải học trí tuệ! Biết rằng Phật pháp có thể tu tập, phúc báo có thể đạt được, nhưng nếu là người vô phúc mà cứ liều mạng cưỡng cầu phúc báo thì đó là điều trái với đạo lý.

Sự từ bi của chư Phật và Bồ Tát nằm ở chỗ chỉ khởi niệm làm lợi ích và cứu giúp người khác, không mong cầu lợi ích cho riêng mình. Người thế tục lại ưa chuộng danh lợi, chỉ biết lo cho bản thân, tâm tham lam chẳng bao giờ có điểm dừng.

Nếu muốn được phúc, trước tiên phải bỏ ác theo thiện, cải tà quy chính, lời trái đạo không nói, việc sai quấy không làm, đường tà đạo không đi, của phi nghĩa không lấy. Phải giữ cho từng tâm niệm luôn trung chính, mỗi bước đi đều chân thật, có như vậy mới tích đức mà tạo thành phúc báo, như thế mới gọi là pháp thế gian và xuất thế gian đều được viên thông.

Tóm lại một câu, muốn được phúc, trước phải chiêu cảm được "thiên phúc".

Hộ Thế Tứ Đại Thiên Vương chính là:
Tỳ Sa Môn Thiên — Đa Văn Thiên Vương.
Trì Quốc Thiên — Đề Đầu Lại Tra Thiên Vương.
Tăng Trưởng Thiên — Tỳ Lư Lặc Xoa Thiên Vương.
Quảng Mục Thiên — Tỳ Lư Ba Xoa Thiên Vương.

🌟

Bức thư thứ hai kể lại rằng, kể từ sau khi được Sư Tôn ban lễ quán đảnh từ xa pháp Hoàng Thần Tài, nửa năm nay việc buôn bán vô cùng tốt đẹp, bận rộn không ngớt. Hai vợ chồng họ nói, pháp lực của Sư Tôn thật vô biên, quả thực là có cầu tất ứng.

Khi tôi đang làm lễ quán đảnh từ xa pháp Hoàng Thần Tài cho Liên Hoa Long Phong và Liên Hoa Thái Vân, liền thấy một vị thiện thần thân khoác giáp trụ, lòng bàn tay trái nâng bảo tháp, tay phải cầm gậy báu bay đến. Thiên Vương nói: 
"Có kẻ đàn em làm ăn buôn bán, trong lòng ôm sự đố kỵ, tìm cách cạnh tranh."
Liên Sinh Hoạt Phật đáp: 
"Nên ban cho bánh xe như ý, để kẻ ác không thể hãm hại."
Đa Văn Thiên Vương nói: 
"Xin tuân phụng pháp chỉ của Hoạt Phật."

Đa Văn Thiên Vương vừa dứt lời, bảo tháp liền phóng hào quang, hiện ra tướng bánh xe nghìn nan hoa. Trong bánh xe này có ký hiệu song ngư, ký hiệu bảo kiếm, ký hiệu bảo bình, ký hiệu bảo tiền, tất cả đều tỏa sáng rực rỡ, trong đó lại hiển hiện thêm ký hiệu song túc [hai bàn chân].

Ký hiệu song túc mang ý nghĩa rằng chỉ cần nỗ lực làm việc, mọi sự ắt sẽ thuận lợi như ý. Nhà lầu nguy nga vững chãi, hết thảy đều nhờ đôi bàn chân bước đi mà nên, chẳng phải chỉ một sớm một chiều hay qua một giấc mộng mà thành tựu, mà phải nhờ vào sự nỗ lực gom góp từng hạt cát, từng viên đá mới có thể thành công.

Đa Văn Thiên Vương thị hiện ký hiệu song túc bằng tơ vàng. Tôi thấy vậy vô cùng hoan hỷ, nói: "Đúng theo đạo lý là phải nỗ lực mới có thể gặt hái thành quả." Đa Văn Thiên Vương bay lên không trung, rồi biến mất không còn tung tích.

Tôi thường thích dạy người ta tinh tấn, tinh tấn còn gọi là chuyên cần, cũng chính là nỗ lực hướng thiện và hướng thượng.
"Tinh tấn căn" là một trong Ngũ căn.
"Tinh tấn giác chi" là một trong Thất giác chi.
"Tinh tấn ba-la-mật" cũng chính là Cần ba-la-mật.

Tôi thường ví von rằng, con người nếu nỗ lực, cũng giống như người nông dân cày cấy gieo hạt trên cánh đồng, trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu, gieo phúc lớn được phúc lớn, gieo phúc nhỏ được phúc nhỏ. Sự tinh tấn này thực chất mang ý nghĩa sinh trưởng. Nếu người nông dân không xuống đồng cày cấy gieo hạt thì làm sao mọc ra dưa, làm sao mọc ra đậu?

Lại nữa, nếu có chúng sinh nào tin vào luật nhân quả của Đa Văn Thiên Vương, thọ trì pháp Hoàng Thần Tài của Chân Phật Tông, giữ năm giới, tu mười thiện, đoạn trừ mọi tà duyên, thường xuyên phụng hành giới luật của Chân Phật, cúng dường Thượng sư, ấn tống sách thiện và kinh Phật, cứ thường xuyên thực hành như thế, thì đó chính là ruộng phúc lớn. Người như vậy, khi mạng chung ắt sẽ sinh về thiên giới, có thể tùy nguyện sinh lên ba mươi ba cõi trời, hoặc đến xứ sở của Đa Văn Thiên, hưởng thụ mọi niềm vui vi diệu cõi trời, có đủ ngũ thông, vui vẻ tiêu dao tự tại.

Nếu lại thấu hiểu Phật lý sâu thêm một tầng, thanh tịnh được ba nghiệp của chính mình, hoàn toàn không bị sáu trần ô nhiễm, lại càng có thể nhiếp tâm về một, vọng niệm chẳng sinh chẳng khởi, đạt được sự tịch nhiên tự tại, cho đến khi ngộ được tự tính vốn dĩ không tịch, thì đó chính là quả A La Hán, là bậc thánh nhân đắc đạo.

Đây chính là:
Một phen đoạn trừ, vĩnh viễn đoạn trừ.
Một phen liễu ngộ, vĩnh viễn liễu ngộ.
Từ đầu đến cuối.
Giữ đạo như một.

Liên Sinh Hoạt Phật ở thế gian được xưng tụng là Đại Phúc Kim Cang, bởi vì xét về pháp nhập thế, ngài có đủ phúc phần, phúc hạnh, phúc nhân, phúc địa, phúc túc, phúc trí, phúc nghiệp, phúc tuệ, ruộng phúc... Còn cái phúc lớn xét về pháp xuất thế chính là Phật tính, Pháp thân, Như Lai tạng, thực tướng, pháp giới, pháp tính, viên thành thực tính, chân như, Niết bàn, tự tại...

Liên Sinh Hoạt Phật pháp lực vô biên, có cầu tất ứng, đây là do mọi pháp đều nương vào thể chân như, sự tác dụng của nhân duyên mà khởi sinh ra tướng của vạn pháp. Điều này vốn được sinh ra từ một niệm tinh minh.

Chúng sinh trên thế gian nhờ quy y Liên Sinh Hoạt Phật, mà Liên Sinh Hoạt Phật từ sự thanh tịnh của bản thể đã sinh ra vạn pháp, giúp ích cho muôn người. Đây chính là nghĩa đế chân thực của danh xưng Đại Phúc Kim Cang.


### 22. Ngôi thai trở về đúng vị trí


Trước tiên xin công bố một bức thư để làm chứng:

*Liên Sinh Hoạt Phật và Sư Mẫu từ bi minh giám. Đệ tử đảnh lễ Sư Phật và Sư Mẫu, đồng thời thỉnh an.*

*Liên Hoa Lộ Nguyệt kể từ sau khi uống lá phù do Sư Phật gửi tới, khoảng một tuần sau đi chiếu siêu âm, phát hiện ngôi thai đã dịch chuyển lên vị trí bình thường, bác sĩ đều cảm thấy là kỳ tích. Lá phù của Sư Phật thật không thể nghĩ bàn, ở đây đệ tử một lần nữa cảm tạ lực gia trì của Sư Phật.*

*Mẹ của đệ tử muốn cai nghiện thuốc lá, nhưng lần nào cũng không thành công. Đệ tử cũng từng thử vẽ một lá phù, nhưng vô hiệu. Cho nên một lần nữa cầu thỉnh Sư Phật ban cho một lá phù cai thuốc lá, giúp mẹ đệ tử vĩnh viễn rời xa sự cám dỗ của khói thuốc.*

*Đệ tử Liên Hoa Kinh Phương đảnh lễ.
23.03.1988.*


![image](/img/img_f59a0a1976d474597193be063b270bec.png)


🌟

Vốn dĩ cần phải phẫu thuật để sinh. Nhưng, ngôi thai đã tự động về đúng vị trí. Ngay cả bác sĩ cũng cảm thấy là kỳ tích. Những ví dụ như vậy, nhiều không đếm xuể.

Khi Liên Hoa Lộ Nguyệt nói với tôi ngôi thai không thuận, trong lòng thường lo sợ, bác sĩ lại dặn phải nghiêm ngặt đề phòng tai nạn khi sinh, cả nhà đều vô cùng lo lắng, hoảng sợ không biết làm sao.

Tôi từng nhập định quan sát. Đầu tiên nhìn thấy một vầng trăng tròn trong vắt. Trong trăng có một ngọn núi nằm nghiêng. Trước núi có hai con quỷ đang thì thầm.
"Nghe nói Liên Sinh Hoạt Phật sẽ đến nơi này."
"Tuyệt đối đừng để ông ta lừa gạt, ngọn núi này nằm nghiêng, ắt sẽ sập, đồ vật trong núi, là thuộc về hai chúng ta."
Hai con quỷ nói xong, vỗ tay mà cười.

Tôi nghe lời hai con quỷ, lại nhìn ngọn núi trong vầng trăng tròn nằm nghiêng, lại thấy cái bọn khoác lông đội sừng, liền biết hóa ra đã xung phạm hai tên quỷ. Tôi dùng pháp nhãn quán chiếu, viên dung thấu triệt, hóa ra hai con quỷ này là quyến thuộc của quỷ màu xanh Ha Lợi Đế Mẫu, chuyên ăn tinh khí của trẻ sơ sinh, vô cùng hung ác đáng sợ.

Thế là tôi đi tìm Ha Lợi Đế Mẫu. Ha Lợi Đế Mẫu tuy là quỷ màu xanh nhưng cực kỳ xinh đẹp, mang hình dáng thiên nữ, thân mặc áo trắng đỏ, trên vương miện có bông tai, lấy ốc xà cừ trắng làm vòng xuyến, toàn thân đeo vòng ngọc, vô cùng trang nghiêm, ngồi trên tòa báu.

"Trăng đêm qua rõ ràng có bóng mờ." - Tôi nói.
"Lúc nguy nan muốn cầu thoát nạn." - Ha Lợi Đế Mẫu đáp.
"Chỉ mong mở lòng từ bi nương tay."
"Nghiêng lệch nho nhỏ có khó gì."

Giữa Liên Sinh Hoạt Phật và Ha Lợi Đế Mẫu, ở nơi Thiên Hà Thắng Cảnh là đã từng gặp nhau, hơn nữa còn qua lại thăm viếng.
Liên Sinh Hoạt Phật nói: 
"Nhìn mánh khóe này của bà rốt cuộc vẫn chưa tiêu trừ."
"Ta tuy đã tỉnh ngộ, nhưng bản tính kẻ khác khó dời, càn khôn hỗn độn."
"Đặc biệt đến cầu xin Đế Mẫu tôn giả đi một chuyến."
"Đương nhiên. Một khi pháp chỉ của Liên Sinh Hoạt Phật ban xuống thì không đi không được." 

Tôn giả Ha Lợi Đế Mẫu nhảy xuống, đến trước vầng trăng tròn, chỉ đọc một bài kệ, ngọn núi liền từ chỗ nghiêng lệch mà dựng thẳng lại, bài kệ của ngài như sau:
*Hai tên yêu tinh
Phải thấy rõ ràng
La Lý Ca Lý,
Chớ hại sinh linh.*

Hóa ra La Lý Ca Lý này là tên của hai con quỷ. Ha Lợi Đế Mẫu là chủ nhân của hai con quỷ, chủ nhân đến rồi liền mang hai con quỷ trở về. Và thế là ngôi thai của Liên Hoa Lộ Nguyệt đã về đúng vị trí.


### 23. Nhiệm vụ của hành giả Chân Phật


(Liên Sinh Hoạt Phật từng trong lúc đại chuyển pháp luân, chỉ điểm nhiệm vụ của hành giả Chân Phật, bài viết ngắn này là giấc mộng chân thực của Liên Hoa Hoài Bản, đặc biệt công bố và xin trình bày thêm.)

*Kính gửi Hồng Quán Thánh Miện Liên Sinh Kim cương Thượng sư kính yêu.*

*Kim cương Thượng sư Liên Hàn đã chủ trì pháp hội siêu độ tổ tiên tại Nghiêm Trì Đường ở thành phố Sydney, Úc, sau pháp hội đã thay mặt Sư Tôn quán đảnh truyền pháp ban phúc. Đây là lần đầu tiên trong đời đệ tử tham gia một pháp hội, đệ tử trong pháp hội này đã học được rất nhiều thủ ấn và toàn bộ chú âm khi niệm chú.*

*Sau nghi thức pháp hội quán đảnh, đệ tử còn thỉnh pháp bản Thượng sư tương ứng pháp và pháp tướng Thượng sư về nhà tu tập và thờ phụng. Cả buổi chiều hôm đó, vị hôn thê của đệ tử không ngừng ngửi thấy mùi hương trầm, liên tục nói: "Mùi hương trầm rất thơm, rất thơm luôn!" Nhưng đệ tử căn bản là không hề thắp hương, con tin rằng linh quang của Sư Tôn Hoạt Phật đã theo con về nhà.*

*Hai tuần sau, đệ tử có một giấc mộng chân thực, vô cùng rõ ràng, nay xin trình bày như sau:
Đệ tử cùng một nhóm người, già trẻ trai gái đều có, tập trung trong một đại sảnh đường, mỗi người đều đang đứng, mỗi người đều nhìn ra ngoài cổng lớn, vô cùng tĩnh lặng. Đệ tử đứng cách cổng lớn không xa, đột nhiên đệ tử nhìn thấy cách cổng không xa có vài người nam vừa dừng ngựa, đang xuống ngựa. Một vị trưởng giả trong phòng nói với đại chúng: "Đến rồi, đến rồi, mọi người cung nghênh."*

*Đệ tử nhìn thấy trong đó có một vị thánh giả, trên người mặc thiên y màu trắng, khoác ngoài áo choàng màu đỏ tía đang đi về phía cổng lớn, và xung quanh thánh giả có rất nhiều vị thị giả.*

*Đệ tử nhìn một cái liền nhận ra, người mặc thiên y màu trắng khoác áo choàng màu đỏ tía, chính là Hồng Quán Thánh Miện Liên Sinh Kim cương Thượng sư. Đệ tử lập tức quỳ xuống chắp tay năm vóc sát đất đảnh lễ vấn an Hoạt Phật. Lúc này, tất cả già trẻ trong đại sảnh đường đều quỳ xuống đảnh lễ Sư Tôn.*

*Khi Sư Tôn bước vào cổng lớn, mỗi người đều vừa quỳ vừa xoay người (để thân mình hướng mặt về phía Sư Tôn). Khi Sư Tôn đi ngang qua đệ tử, đệ tử cũng vừa quỳ vừa xoay người, để đệ tử hướng mặt về phía Sư Tôn. Trong chớp mắt, đệ tử chợt phát hiện sảnh đường ấy lại biến thành một ngôi đại miếu đường, chỉ thấy một thần đài lớn nằm ở chính giữa. Càng kỳ lạ hơn là, Sư Tôn từng bước từng bước đạp trên hư không bước lên thần đài, không hề trèo lên thần đài hay nhảy lên thần đài (thần đài khá cao), Sư Tôn bước đi trên không, thân thể thu nhỏ lại, như hình minh họa:*


![image](/img/img_2a4d8b5dbbbb2c71ea9395252971c055.png)


*Khi Sư Tôn đến trên thần đài, thân thể chỉ cao khoảng bảy tám thốn, nhưng giọng nói vẫn vang vọng như thường, nói cười vui vẻ, vô cùng hiền từ. Sau khi Sư Tôn ngồi xuống trên thần đài, mỗi người trong sảnh đường luân phiên tiến lên tham bái Sư Tôn và trò chuyện. Đến lượt đệ tử, đệ tử cũng tiến lên trước thần đài quỳ lạy đảnh lễ vấn an Sư Tôn và cầu Sư Tôn khai thị.*

*Sư Tôn nói với đệ tử: "Con đừng quên nhiệm vụ của con nhé!"
Điều kỳ lạ là, đệ tử lại trả lời rằng: "Xin Sư Tôn yên tâm, đệ tử sẽ không làm Sư Tôn thất vọng đâu." Vừa nói dứt lời, đệ tử liền tỉnh giấc mộng.*

*Đệ tử thật vui mừng khi lần đầu tiên được gặp mặt và trò chuyện cùng Sư Tôn trong mộng, đệ tử cảm tạ sự quan tâm của Sư Tôn đã đi vào giấc mộng của đệ tử, đệ tử quỳ xuống năm vóc sát đất đảnh lễ Sư Tôn. Đệ tử cung thỉnh Sư Tôn khai thị thêm, xin tha thứ cho sự kém cỏi của đệ tử, đệ tử không biết nhiệm vụ mà Sư Tôn nhắc đến trong mộng là nhiệm vụ gì?*

*Kính chúc Sư Tôn Phật an!
Đệ tử Liên Hoa Hoài Bản chắp tay đảnh lễ.
05.07.1988*

🌟

Đối với bức thư này, tôi xin giải thích nhiệm vụ của hành giả Chân Phật như sau:

【Hỏi】Hành giả Chân Phật là gì?

Đệ tử quy y Chân Phật Tông, tin rằng Liên Sinh Hoạt Phật là bậc Đại Giác tôn giả, y theo Chân Phật Mật Pháp mà tu hành, thì gọi là hành giả Chân Phật.

【Hỏi】Hành giả Chân Phật và chúng sinh bình thường có gì khác nhau?

Hành giả Chân Phật phải tu hành tự tính thanh tịnh, phải ngộ được diện mục vốn có, trọng điểm nằm ở Pháp thân thanh tịnh. Còn chúng sinh không tin nhân quả, không tin Phật pháp, không tu chính pháp, u mê vào nhục thân. Đây là điểm khác biệt giữa hành giả Chân Phật và chúng sinh.

【Hỏi】Hành giả Chân Phật phải làm thế nào để có thể tu chứng?

Hành giả Chân Phật phải tuân giữ "Sự sư pháp ngũ thập tụng", "Mật giáo mười bốn đại giới", tam quy ngũ giới, đi theo Căn bản Thượng sư tu trì Chân Phật Mật Pháp theo thứ tự:

Tứ gia hành pháp — Thượng sư tương ứng pháp — Bổn tôn pháp — Kim cang pháp — Vô thượng mật.

Đây là:
Quy y Căn bản Thượng sư.
Học tập chính pháp.
Y theo Thượng sư chỉ đạo.
Tâm không xen tạp, chẳng bị nghiệp xoay chuyển, chỉ nương tựa Chân Phật Mật Pháp.
Cuối cùng trở thành oai nghi thanh tịnh, tĩnh tọa nhiếp tâm, thân khẩu ý nghiệp, thảy đều điều phục. Đến khi tâm tính kiên cố, thanh tịnh giải thoát, siêu phàm nhập thánh vị.

【Hỏi】Hành giả Chân Phật phải tuân giữ châm ngôn nào?

Kính sư, trọng pháp, thực tu.

【Hỏi】Hành giả Chân Phật ở thế gian, phải làm việc từ tế như thế nào?

Phải bố thí, có thể xả bỏ của cải. Phải không tham, có thể xả bỏ ái dục. Phải không lưu luyến, có thể xả bỏ mọi thói xấu. Phải thuyết pháp, có thể độ chúng sinh. Phải học Phật pháp, có thể hiểu rõ không tướng, thông suốt Phật lý.

【Hỏi】Một hành giả Chân Phật thực thụ thì như thế nào?

Tâm hằng bình đẳng không phân biệt.
Ý dứt yêu ghét cùng oán hận.
Rộng lớn vô lượng độ tứ chúng.
Viên mãn không sót, tuệ siêu quần.

【Hỏi】Hành giả Chân Phật làm thế nào để kính thầy?

Phải coi thầy như Phật, biết rằng Phật tính của Liên Sinh Hoạt Phật chính là Chân Phật như như bất động, hiểu rõ Chân Phật Mật Pháp do Liên Sinh Hoạt Phật truyền xuống chính là pháp bảo, coi sắc thân của Liên Sinh Hoạt Phật là tăng bảo. Được như vậy thì chính là nhất thể Tam Bảo. Phải cúng dường Sư Phật. Giữ gìn "Sự Sư Pháp Ngũ Thập Tụng".

【Hỏi】Hành giả Chân Phật làm thế nào để trọng Pháp?

Tinh nghĩa của Chân Phật Mật Pháp nằm ở chữ "Không", nằm ở chữ "Vô", nằm ở chỗ "thảy đều bình đẳng". Sự tu pháp cốt ở hằng thường và trì nhất, khẩu quyết của nó chính là "tinh tư" [tư duy tỉ mỉ]. Tu hành trọng pháp chẳng phải là giả tạo, chẳng phải là hình thức, chẳng phải là đa nghi, chẳng phải là ỷ lại. Mà là nương theo "trì nhất" để thực hành, đến khi đạt được sự tinh minh, liền có thể dung nhập vào vòng tròn ○ [sự viên mãn hoàn hảo], đạt đến cảnh giới Tam ma địa. Được như vậy thì vọng niệm thảy đều dứt sạch, chân tính hiển lộ vậy!

Người trọng pháp chính là xem trọng Chân Phật Mật Pháp, trân trọng Chân Phật Mật Pháp.

【Hỏi】Hành giả Chân Phật làm thế nào để thực tu?

Cứ chân chân thực thực dọc theo một con đường mà tu tới, đó chính là thực tu, chẳng câu nệ già trẻ, tất thảy đều thành tựu Phật đạo.

【Hỏi】Nhiệm vụ của hành giả Chân Phật là gì?

Ngộ rõ bản lai diện mục của chính mình, cũng chính là Phật tính tự hiển lộ. Thông đạt pháp thế gian và pháp xuất thế gian hoàn toàn không chướng ngại. Sau đó dùng trí tuệ Phật lý để độ hóa người khác, đại chuyển pháp luân độ chúng sinh, chính là nhiệm vụ của hành giả Chân Phật.

Tự giác giác nhân là nhiệm vụ.
Thuyết pháp lợi sinh là nhiệm vụ.
Thần thông tế thế là nhiệm vụ.
Chúng sinh thành Phật là nhiệm vụ.


### 24. Tiếng lòng khi đọc sách


(Đây là bài cảm ngộ khi đọc sách của đệ tử người Indonesia - Liên Hoa Sĩ Liên.)

*Thành kính đảnh lễ Nam mô Liên Sinh Hoạt Phật!
Kính chào Sư Tôn.*

*Con đã đọc qua cuốn sách mới "Đêm ở hồ U Linh" của Sư Tôn. Vì để tìm kiếm sự tĩnh lặng và thanh tu, Sư Tôn lại một lần nữa dời nhà chuyển xứ. Cho dù Sư Tôn có dọn đến bất cứ chân trời góc biển nào trên thế gian này, đệ tử chỉ cầu mong thầy tiếp tục viết thêm sách mới, không ngừng hoằng dương Phật pháp.*

*Đệ tử trong hành trình sinh mệnh kiếp này đã trải qua biết bao khổ nạn. Nhờ đọc được các trước tác của Sư Tôn mà đi đến quy y, đệ tử cảm thấy vô cùng may mắn cho bản thân khi được biết đến Chân Phật Mật Pháp của Sư Tôn. Đệ tử rất hoan hỷ đón nhận lời giải đáp của Sư Tôn về mục đích tu hành, đại khái bao gồm hai đại yếu nghĩa sau:
Một là, an lạc vĩnh hằng — không phải chịu nỗi khổ luân hồi.
Hai là, lợi ích hiện thực — tâm không phiền não, có đại trí tuệ, tràn ngập hỷ lạc.*

*Phật dạy: "Thân người khó được nay đã được, Phật pháp khó nghe nay đã nghe, kiếp này nếu chẳng hướng Phật mong cầu, thì đợi đến thuở nào mới độ thân này." Đệ tử kiếp này nếu không nhờ đọc được trước tác của Lư Thắng Ngạn Hoạt Phật, chắc vẫn còn ấu trĩ cho rằng con người chết đi là hết, muôn sự chẳng can hệ gì đến mình. Nay mới thấu hiểu được sự thiêng liêng của hai chữ "tu hành", cũng như nhận thức được trách nhiệm thiêng liêng "tu mình độ người, lợi mình lợi người".*

*Nhân lễ kỷ niệm ngày đản sinh của Sư Tôn lần này, ở địa phương con có một vị sư huynh đệ đồng môn đã tham gia đoàn hành hương từ Jakarta để đến chúc thọ Sư Tôn. Trong những bức ảnh mang về, có cảnh Sư Tôn đang thổi tắt nến trên bánh kem sinh nhật. Sư Mẫu Liên Hương ở bên cạnh vỗ tay chúc mừng. Đây là lần đầu tiên đệ tử được nhìn thấy dung nghi cát tường của Sư Mẫu, quả thực vô cùng trang nghiêm thanh tú, lại còn nhìn thấy đôi bàn tay ngọc ngà thon thả của Sư Mẫu.*

*Lúc đó trong lòng đệ tử thầm nghĩ, những ngón tay thon dài của Sư Mẫu thật vô cùng nổi bật. Nay đệ tử đọc cuốn sách mới "Đêm ở hồ U Linh" của Sư Tôn, Sư Tôn có viết: "Vị thiên nữ có những ngón tay thon dài chính là Sư Mẫu Liên Hương." Cảm nhận của đệ tử khi xem ảnh lúc trước, nay được Sư Tôn tiết lộ lai lịch tiền kiếp của Sư Mẫu, quả thực đã ấn chứng cho nhau. Có thể thấy linh giác tu pháp của đệ tử cũng đạt được chút thông tuệ. (Đệ tử tự an ủi bản thân như vậy.)*

*Lai lịch của Sư Tôn, thân quyến cùng các vị ân sư của Sư Tôn đều thật phi phàm, nói đơn giản là lai lịch không hề nhỏ. Sư Tôn giáng sinh ở thế gian vào năm 1945, đó là thời kỳ chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, nhân loại vừa trải qua kiếp nạn, việc Sư Tôn giáng thế chính là sự an bài của thượng thiên. Bởi lẽ Phật pháp tuy vẫn luôn được quảng truyền, nhưng khó lòng cứu vãn được nhân tâm đang ngày càng sa ngã, Phật pháp vì khó thâm nhập lòng người nên thượng thiên mới sai phái Liên Sinh Hoạt Phật giáng sinh, từ Cơ Đốc, Đạo giáo, Hiển tông đến Mật tông, sáng lập nên Chân Phật Tông, độ hóa vô số chúng sinh, hiện thực hóa tịnh thổ Ma Ha Song Liên Trì của thế giới Cực Lạc. Quả thật là quá đỗi vĩ đại.*

*Sư Tôn kể từ khi bắt đầu viết sách dưới cái tên "Lư Thắng Ngạn", thời trẻ đã sáng lập tông phái, cho đến khi tu trì chứng quả, từng bước một đều được lưu lại trong sách. Qua đó có thể tìm ra những dấu tích rõ ràng, khiến người trong thiên hạ vô cùng khâm phục và tán thán. Huống chi hiện nay Sư Tôn lại còn viết ra cuốn "Đêm ở hồ U Linh", nói về lai lịch tiền kiếp của Sư Tôn cùng thân quyến, sư phụ. Chư Phật vì muốn cứu độ chúng sinh mà giáng hạ nhân gian, lẽ nào như vậy vẫn chưa đủ để thức tỉnh chúng sinh về yếu nghĩa của việc tu hành? Sư Tôn càng tiết lộ thiên cơ, tất cả cũng chỉ vì cứu độ chúng sinh mà thôi; chúng sinh phải nhận thức một cách chân thực thì mới mong được cứu vớt.*

*Phật pháp vốn dĩ đã được lưu truyền, nhưng hiện thực của khoa học và kinh tế đang dần nhấn chìm lấy nó. Lư Thắng Ngạn Liên Sinh Hoạt Phật sáng lập Chân Phật Tông, xiển dương mạnh mẽ tông phong, khiến hạt giống Phật lại được gieo rắc rộng khắp các nơi trên toàn thế giới. Nếu không nhờ đại năng ý thức vũ trụ của Lư Thắng Ngạn hay Liên Sinh Hoạt Phật, thì giữa thế giới thực dụng chạy theo đồng tiền này, làm sao có thể độ được hai trăm nghìn chúng đệ tử, và con số ấy vẫn đang tăng lên từng ngày.*

*Đệ tử đọc các trước tác của Sư Tôn, từ cuốn đầu tiên "Mạn đàm linh cơ thần toán" cho đến cuốn "Đêm ở hồ U Linh" ngày hôm nay, hết cuốn này đến cuốn khác đều nói rõ cả hành trình tâm thức tu hành của Sư Tôn. Kể từ khi quy y Sư Tôn (năm 1986), đệ tử vẫn luôn phụng thờ Sư Tôn như một vị Phật; đến nay khi Sư Tôn hé lộ tiền kiếp của chính mình, lại càng ấn chứng Sư Tôn vốn dĩ là hóa thân của chư Phật, Bồ Tát.*

*Mỗi khi viết thư cho Sư Tôn, đệ tử luôn thích nói về Sư Tôn, tán thán Sư Tôn. Bởi vì Sư Tôn vốn dĩ là Liên Sinh Hoạt Phật tu hành đắc chứng thực sự, thật tài thật đức. Đệ tử ngoài việc quy y, quy y tu hành cho đến hơi thở cuối cùng, thì vẫn muốn không ngừng ca ngợi tinh thần cứu đời độ người siêu việt, vĩ đại và thiêng liêng của Sư Tôn.*

*Sư Tôn tuy đã dọn đến "bên hồ U Linh", nhưng mỗi ngày vẫn đến "Chân Phật Mật Uyển". Bức thư này được gửi trực tiếp đến "Chân Phật Mật Uyển", đệ tử rất mong mỏi Sư Tôn có thể sớm đích thân đọc được thư này.*

*Trong trước tác "Đêm ở hồ U Linh", Sư Tôn có nhắc đến việc đem hai pho tượng Thiện Ác Đồng Tử mà thầy đang thờ phụng ra bán đấu giá từ thiện, toàn bộ số tiền thu được dùng để quyên góp xây dựng tổng đường Lôi Tạng Tự tại Đài Loan. Sư Tôn vì việc quyên góp xây dựng Đài Loan Lôi Tạng Tự mà ngay cả hai pho tượng thờ yêu quý cũng đem ra bán đấu giá từ thiện, đệ tử vô cùng hổ thẹn. Đệ tử cũng rất muốn quyên góp cho việc xây dựng Đài Loan Lôi Tạng Tự, chỉ mong có thể tùy theo phúc phần của mình, nỗ lực tu trì, kết hợp thêm nhiều nhân lực vật lực, để không chỉ tổng đường Đài Loan, mà cả tổng đường Indonesia, tổng đường Malaysia, tổng đường Canada... hết thảy đều có thể xây dựng hoàn tất, khiến cho Chân Phật Mật Pháp được hoằng dương rộng khắp toàn thế giới.*

*Trong trước tác "Sự cảm thông vô hình" của Sư Tôn, có một bài mang tên "Con đường cuối cùng", đã khiến bao đệ tử phải rơi lệ đau xót chấn động. Thượng sư Liên Hàn vì vô cùng sùng kính yêu thương Sư Tôn mà nguyện xin được đồng hành đến giây phút cuối cùng. Kỳ thực đệ tử đã cảm động và đau buồn từ lâu khi đọc trong các trước tác của Sư Tôn.*

*Vị ân sư vô hình của Sư Tôn là Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh từng lưu lại một bài kệ:
Thái thượng nhân gian mây nước xa xăm
Tiên đồng tiên nữ xếp hàng nghênh đón ,
Cờ lọng lông vũ cưỡi mây bay lên,
Rời khỏi nhân gian vào chín tầng trời
Tứ hải cất lời tán dương tôn giả,
Ngũ nhạc cùng khóc núi rừng xót xa
Từ đây nhân gian mất bậc kỳ tài
Trải trọn tam giáo trở về chốn xưa.*

*Đọc bài kệ này thôi đã khiến đệ tử canh cánh trong lòng, buồn bã rất lâu rồi. Nay lại thêm một bài "Con đường cuối cùng" do Sư Tôn viết, trái tim đệ tử càng chùng xuống, nước mắt rơi...*

*Sư Tôn tôn quý là người sáng lập Chân Phật Tông, nếu nói là một vị tỳ kheo hòa thượng, thì cũng là vị tỳ kheo hòa thượng tôn quý nhất! Sư Tôn ơi, các đệ tử không muốn nghe ngài nói lời quy ẩn, chỉ mong giây phút cuối cùng ấy sẽ vĩnh viễn không bao giờ đến. Cầu mong Sư Tôn vĩnh viễn trụ thế cứu độ chúng sinh, Sư Tôn vĩnh hằng đồng tại cùng Chân Phật Tông tôn quý.*

*Tiếng lòng của nữ đệ tử Indonesia Liên Hoa Sĩ Liên.
Kính chúc Sư Tôn, Sư Mẫu kiết tường Phật an
Đệ tử Liên Hoa Sĩ Liên quỳ lạy.
08.08.1988.*

🌟

(Đây là những bài thơ do Liên Hiện sáng tác, mang đậm ý cảnh.)

*Đại Trì Minh Kim cương Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật!
Gần đây đệ tử có làm vài bài thơ, hãy còn khá non nớt, xin trình Sư Tôn đoái xem và uốn nắn.*

*Kính đề khi đọc cuốn "Tiên thiên phù bút" của Sư Tôn.*

***Bài thứ nhất:****
Trong các pháp năm môn ngũ thuật,
"Tiên thiên phù bút" thật lạ thay.
Hoạt Phật khơi dòng nguồn tâm ý,
Như mưa hoa rơi độ muôn loài.*

***Bài thứ hai:****
Pháp Vương từ tâm rộng khôn cùng,
Hóa ánh quang minh khắp cõi trung.
Từng nét dọc ngang hàm mật ý,
Thường làm thuyền giác độ quần mông.*

*Hai bài cảm nghĩ.*

***Bài thứ nhất:****
Giang hồ trôi dạt mấy mùa thu,
Nhân thế ly loạn xiết nỗi sầu.
Mỗi nhớ điền viên vui thú cũ
Thầm ghen Tĩnh Tiết ẩn rừng sâu.
Khách tục tới lui bao mệt mỏi
Chốn học Bồ Tát mãi chôn lấp.
Ai khiến sinh tình thêm vướng mắc,
Một việc chẳng thành mới thẹn thay.*

*[Tĩnh Tiết tức Đào Uyên Minh - Tĩnh Tiết tiên sinh, nổi tiếng với thú vui điền viên quy ẩn.]*

***Bài thứ hai
****Thường vì vụng dại khó mưu cầu
Lại thêm ngoan cố chẳng theo dòng
Nỗi niềm riêng mang lo kế sống
Đối nhân xử thế thiếu chu toàn*

*Tự soi mới thấy hay bàn luận
Ngậm ngùi bừng tỉnh ít bề mưu
Xưa nay vạn duyên đều vô trụ
Chỉ là từng chút đọng trong lòng.*

*Tháng 5 vừa qua, đệ tử từng hoàn thành một bài viết tựa đề "Bậc chí tôn của Đạo gia — Diêu Trì Kim Mẫu", gửi cho Phùng Bằng Niên – người chủ trì bản tin thời tiết của đài Trung Thị, để đăng trên "Lão Thiên Nguyệt San", dự kiến khoảng tháng 9 sẽ xuất bản. Gần đây đệ tử có phần xao nhãng các công việc tông vụ, cho rằng nên kín tiếng lại thì tốt hơn, "khéo ẩn mình dưới chín tầng trời". Rốt cuộc thì việc tu trì và lĩnh ngộ pháp mới có thể giúp đệ tử bước lên một tầm cao mới, cúi xin Sư Tôn gia trì.*

*Kính chúc Pháp an.
Đệ tử Liên Hiện khấu bái.
29.07.1988.*

🌟

(Đây là một bài cảm ngộ khi đọc cuốn "Tiên thiên phù bút".)

*Liên Sinh Hoạt Phật vô thượng từ bi soi xét!*

*Sau khi đọc xong "Tiên thiên phù bút", đệ tử thấu hiểu cuốn sách này thực sự mang công đức thù thắng vô thượng. Có thể nói đại trí như Văn Thù Bồ Tát, đại bi như Quan Âm Bồ Tát, đại hạnh như Phổ Hiền Bồ Tát, đại nguyện như Địa Tạng Bồ Tát.*

*Chúng đệ tử đều hiểu rõ lòng cứu đời thiết tha của Sư Tôn, ngài chẳng chút giấu giếm mà đem một đại pháp như vậy công bố với thế gian, đây chẳng phải chính là tinh thần vĩ đại "Ta không vào địa ngục thì ai vào địa ngục" hay sao?*

*Sư Tôn mang tinh thần không sợ hãi, có quyết tâm tích cực cứu độ thế gian, điều đó đã để lại ấn tượng vô cùng sâu sắc qua cuốn sách "Tiên thiên phù bút".*

*Chúng con thấu hiểu rằng, người dân các nước trên toàn thế giới, từ châu Úc, châu Á, châu Mỹ, châu Âu, đến châu Phi, đối với việc hoằng dương Chân Phật Mật Pháp của Liên Sinh Hoạt Phật, đã đạt đến mức độ sùng kính vô song. Những sự tích linh ứng liên quan đến Sư Tôn đã có rất nhiều, rất nhiều người từng đích thân trải nghiệm, và hiện đang được lan truyền rộng rãi.*

*Cá nhân con cũng chính là một bệnh nhân ung thư đã được giải thoát nhờ vào pháp lực của Sư Tôn. Bây giờ con muốn hiện thân thuyết pháp, muốn hoằng dương sự cảm ứng linh thiêng rộng lớn của Liên Sinh Hoạt Phật. Với lòng nhiệt thành của mình, tương lai Sư Tôn sẽ đi khắp thế giới, giải nguy trừ khổ cho người đời, dựa vào năng lực tâm linh vũ trụ không thể nghĩ bàn, thu được đại hiệu nghiệm đúng như kỳ vọng.*

*Khi con đọc xong "Tiên thiên phù bút", trong lòng vô cùng cảm phục việc trước tác của Sư Tôn. Nhiều phù lục như vậy, lời giải thích sâu sắc đến như vậy, đây tuyệt đối không phải là do tưởng tượng viển vông mà ra được. Tin rằng những ai đọc cuốn sách này ắt hẳn đều sẽ có chung cảm nhận. Không chỉ có vậy, khi đọc "Tiên thiên phù bút", dường như khiến người ta có thể thâm nhập vào cảnh giới ấy, thể hội được nguyện lực của Hoạt Phật quả thực vô cùng vĩ đại, sự thọ dụng của phù lục là vô tận.*

*"Tiên thiên phù bút" hoàn toàn được lập ra vì để cứu độ chúng sinh, là sự dung hội của cả Đạo giáo, Hiển tông và Mật tông. Nếu không phải là người đích thân trải qua cảnh giới đó thì rất khó có thể thực sự lĩnh hội được cái tam muội ở bên trong. Đây là kho báu vô tận, khơi gợi cho đại chúng thấu hiểu được tấm lòng cứu đời của Hoạt Phật.*

*Chúng con mong mỏi Sư Tôn cứu độ người đời, mãi mãi không ngừng nghỉ.
Kính chúc Phật an!*

*Đệ tử Liên Hoa Chính Tư chắp tay.
27.07.1988.*


### 25. Đại hội hoằng pháp tại Cung Nghệ thuật San Francisco


Liên Sinh Hoạt Phật đến San Francisco vào ngày 6 tháng 8 năm 1988, ngày 7 tháng 8 tại khu danh thắng Cung Nghệ thuật San Francisco đã cử hành Đại hội hoằng pháp. Bước vào khách sạn nơi Sư Tôn lưu trú, trong phòng được trang hoàng rất nhiều hoa tươi.

Trên hoa có đặt một tấm thiệp, viết như sau:


![image](/img/img_8e9acb5db7e050cafc6b55083e7f38e6.png)


*Sư Tôn kính yêu!
Cảm tạ thầy đã đến thành phố San Francisco hoằng pháp.
"Chân Phật hải hội Cựu Kim Sơn,
Bồ Tát Thượng sư khí vạn thiên.
Liên hoa tử quang ban phúc tuệ,
Hoạt Phật quang minh tiêu tai chướng."
Tử Liên Đường California kính dâng
6.8.1988*

🌟

Tôi đọc xong vô cùng cảm động. Tại San Francisco, Mỹ, Chân Phật Tông có hai phân đường, một là Tử Liên Đường, một là Hải Hội Đường. Cả hai nơi đều dốc sức hoằng dương Chân Phật Mật Pháp, thành quả huy hoàng, độ hóa vô số chúng sinh.

Đứng trước mặt Sư Tôn, dưới sự dẫn dắt của Thượng sư Liên Hoa Lệ Huệ, họ đã cất vang tiếng hát từ tận đáy lòng. Lời của bài hát này do chính Thượng sư Lệ Huệ sáng tác, mang tên: "Các đệ tử Chân Phật Tông".

Lời bài hát như sau:
*Các đệ tử Chân Phật Tông, tâm hồn cần thuần khiết rộng mở.
Chớ nên hoang mang cùng tranh đấu, Chân Phật Bồ Tát ngự trên cao.
Các đệ tử Chân Phật Tông, tấm lòng phải rộng lớn vô lượng.
Chớ nên so đo chuyện thị phi, Chân Phật Bồ Tát ngự trên cao.
Các đệ tử Chân Phật Tông, việc thế gian vốn dĩ vô thường.
Hãy nỗ lực tinh tấn tu hành, Chân Phật Bồ Tát ngự trên cao.
Các đệ tử Chân Phật Tông, chẳng sợ mài giũa cùng thử thách.
Chân tâm, thành tâm lại tín tâm, Chân Phật Bồ Tát ngự trên cao.*

Bài hát này nhịp điệu nhẹ nhàng hoạt bát, giai điệu tươi đẹp, mỗi một vị hành giả Chân Phật nghe xong đều vô cùng cảm động. Nhất thời dòng pháp dạt dào tràn ngập trong tâm khảm, mỗi người đều ôm ấp chí lớn tận mây xanh, mỗi người đều tinh tấn tu trì, đối với cõi Ma Ha Song Liên Trì trong tương lai, không chỉ là hướng về, mà còn mang một niềm tin sâu sắc.

Buổi hoằng pháp vào ngày 7 tháng 8 diễn ra với quy mô vô cùng hoành tráng, rất mực thù thắng. Chân Phật Tông có tổng cộng 16 vị Thượng sư tham dự. Liên Sinh Hoạt Phật thuyết pháp bằng tiếng Hoa, do Thượng sư Triệu Thiếu Đông dịch sang tiếng Quảng, Liên Giới dịch sang tiếng Anh. Có tổng cộng hơn nghìn người đến dự hội nghe pháp, cùng sự tham gia của nhiều linh mục Công giáo và mục sư Cơ Đốc giáo. Số đệ tử mới thọ nhận lễ quán đảnh quy y lên tới 496 vị.

Khi Liên Sinh Hoạt Phật thuyết pháp, trước tiên ngài kể từ bước ngoặt của đời mình, nhắc đến một số tao ngộ kỳ diệu, từ đó mà học Đạo học Phật, đích thân trải nghiệm cõi Ma Ha Song Liên Trì. Bởi vì tất cả những điều này đều vô cùng chân thật, nên ngài mới sáng lập ra Chân Phật Tông.

Chân Phật Tông chính là "Pháp chân" [pháp chân thực], có nghi quỹ tu hành chân thực và thực tế nhất.

Chân Phật Tông chính là "Kiến văn chân" [thấy nghe chân thực], Liên Sinh Hoạt Phật đích thân nhìn thấy, đích thân nghe thấy, hết thảy đều là thật, những trải nghiệm của ngài vô cùng chân thực.

Chân Phật Tông chính là "Quả địa chân" [quả địa chân thực], lấy Ma Ha Song Liên Trì làm tịnh thổ của Chân Phật Tông; tịnh thổ này là quả địa chân thực, là thế giới Chân Phật thù thắng nhất do chính Liên Sinh Hoạt Phật đích thân chứng đắc.

Liên Sinh Hoạt Phật mong muốn các đệ tử:
Nhất tâm học Phật.
Nhất tâm học pháp.
Nhất tâm hướng thiện.

Ngài chỉ dạy hai đại khẩu quyết của Chân Phật Mật Pháp:
1. Vô sự — Vô sự mới có thể giải thoát phiền não.
2. Vô tâm — Vô tâm mới có thể minh tâm kiến tính.

Pháp hội hoằng pháp không chỉ có quán đảnh quy y, mà còn có quán đảnh gia trì. Chỉ riêng việc quán đảnh cho cả nghìn người đã mất trọn một tiếng rưỡi. Khi quán đảnh, mọi người đều niệm A Di Đà Phật, cứ ba người một nhóm, vô cùng cung kính, quỳ gối chắp tay, do đích thân Liên Sinh Hoạt Phật quán đảnh.

Lại có những người mắc bệnh nặng, ngồi trên xe lăn, được người thân khiêng đến để tiếp nhận quán đảnh. Thậm chí có những bệnh nhân đang cơn nguy kịch, hai bên có nhân viên điều dưỡng đặc biệt đi kèm, đã đặc biệt xin phép bệnh viện cho ra ngoài, kiên quyết đến bằng được để tiếp nhận quán đảnh.

Trong pháp hội, những vị đến nghe pháp không chỉ là thính chúng ở San Francisco, mà còn có một số quỷ thần đến nghe và thọ pháp, điều này vô cùng thần dị. Thượng sư Liên Hoa Lệ Huệ cảm nhận được rằng thổ địa thần nhà bà đã mời gọi các sơn thần, thổ địa của San Francisco cùng đến để thọ nhận sự quán đảnh và quy y của Liên Sinh Hoạt Phật.

Các vị sơn thần, thổ địa thần của San Francisco đến quy y Liên Sinh Hoạt Phật tổng cộng lên đến 844 vị; đây là một đại thiện duyên mà Liên Sinh Hoạt Phật đã kết cùng các vị sơn thần, thổ địa tại San Francisco.

Trong pháp hội, Liên Sinh Hoạt Phật đem tất cả công đức cúng dường chư Phật, Bồ Tát và chư Thiên.
Trong pháp hội, pháp lưu phóng quang vô tận.

Chúng ta có thể kỳ vọng rằng, sự nghiệp hoằng pháp của Chân Phật Tông tại San Francisco trong tương lai sẽ giống như đại nhật phổ chiếu, ánh sáng thù thắng rực rỡ. Pháp lực đồng tu sẽ bao trùm toàn bộ San Francisco, khiến cho mọi người đều sinh khởi tín tâm, nhận được sự thấm nhuần, Phật pháp tăng trưởng, pháp luân thường chuyển.

San Francisco, nơi ánh sáng của Chân Phật Mật Pháp đại phát dương.
Chúng ta hãy cùng thành tâm chúc nguyện.


![image](/img/img_d0f69cd1c87d78fda7a4968bdf1f3b6d.png)



![image](/img/img_3e191af5923733d64382dc06f55ca259.png)



### 26. Cảm hoài xuất gia của Liên Nhân


(Gần đây, có rất nhiều đệ tử đang chuẩn bị xuất gia tu hành. Xuất gia tu hành là phải buông bỏ tất cả. Do đó, bài viết này xin giãi bày tiếng lòng về việc xuất gia tu hành của Liên Nhân.)

*Sư Tôn, Sư Mẫu kính yêu, xin vấn an hai vị! 
Vấn an Phật Thanh, Phật Kỳ!*

*Cảm tạ Sư Tôn, Sư Mẫu đã nhiều lần khai thị, chỉ dạy, quan tâm và trợ duyên cho Liên Nhân. Nhớ lại bài kệ mà Sư Tôn đã ban tặng vào ngày 18 tháng 12 năm 1986:
Nguyện tu hạnh Tăng già,
Dấn bước lại dừng chân;
Hoằng pháp khắp mười phương,
Gian khổ hóa thắng cảnh.*

*Sư Tôn có thể biết rõ quá khứ vị lai, những hành tung của Liên Nhân đều sớm nằm trong dự liệu của ngài. Nay con đã hạ quyết tâm, không thể dấn bước rồi lại dừng chân nữa. Nếu muốn hoằng pháp khắp mười phương, chỉ có cách khắc khổ tu hành, đem những gì mình đã học, đã ngộ ra để phổ độ những người hữu duyên.*

*Vào ngày 7 tháng 6 năm 1988, Sư Tôn khai thị:
Có thể tạm ẩn dật,
Thuận tự nhiên ngộ Phật.*

*Con ngộ ra rằng, ý của Sư Tôn là muốn Liên Nhân tạm thời rời xa đám đông, thị phi cùng những việc thế tục vụn vặt, lùi về ẩn cư, nỗ lực tu hành, thuận theo tự nhiên mà giác ngộ, mà tịnh hóa chính mình.*

*Đệ tử phải học cách "thuận theo tự nhiên mà không tranh giành", "tự đặt mình ở chỗ thấp kém mà không oán thán", "hư tĩnh trầm mặc mà không nói". Sư Tôn từng chỉ dạy: "Không tranh cường hiếu thắng, phải cẩn thận ngôn hành", "Phải ít nghĩ bớt muốn, phải thanh tịnh tu hành", mà đạo thanh tịnh vốn dĩ chỉ là "vô sự" mà thôi. "Vô sự" chính là đạo thành Phật vậy.*

*Ngày 3 tháng 7 năm 1988, Thánh Tôn khai thị:
Vô sự trừ phiền não,
Vô tâm ngộ minh tâm.*

*Câu khai thị này chẳng phải chính là khẩu quyết để nhập Tam ma địa sao?*

*Vô sự mới có thể dứt bặt vọng niệm. Vô sự mới có thể buông bỏ tất cả, nhìn thấu, xem nhẹ, làm một người vô sự chân chính. Vô tâm mới có thể quy về số Không, vô tâm mới có thể vô lượng, Không chính là vô lượng, và chỉ có như thế mới có thể tức thân thành Phật.*

*Đệ tử mỗi ngày phối hợp theo bốn canh giờ Tý, Ngọ, Mão, Dậu, tu hai đàn Tứ gia hành và Thượng sư tương ứng pháp, tụng chú Lăng Nghiêm một biến, cứ mỗi ba ngày lại bái hai bộ kinh Địa Tạng. Mỗi lần nhập Tam ma địa từ 30 đến 45 phút. Chiếu theo khẩu quyết mà Sư Tôn đã chỉ dạy: "Vô sự", "Vô tâm", bài trừ mọi tạp niệm, vọng niệm, định vào một rồi lại quy về số Không, Nhập ngã, ngã nhập.*

*Lúc đó, con chỉ thấy linh khí sung mãn toàn thân, giống như chiếc lốp xe được bơm căng khí, hai bàn tay như bị điện giật dính chặt không thể tách rời. Tay chân căng trướng, khí ở sau gáy phình căng đến phát đau, khi đến huyệt trên đỉnh đầu (đỉnh huyệt), trướng đến mức tưởng chừng như nứt toác và phun trào ra ngoài. Sau khi xuất định, hồi lâu vẫn không thể bình phục. Có lúc ngồi thiền đến khi thân thể dường như trống rỗng vô hình, tựa như đang ở trong một khối khí; có lúc mồ hôi ướt đẫm lưng; có lúc khí động ở Hải để luân; có lúc bạch quang lóe lên rồi vụt tắt; có lúc những đốm sáng li ti chợt hiện rồi biến mất ngay. Có lúc trong tâm tựa như có một đóa sen trắng di chuyển dần lên ngang mày. Ngược lại, hai vị tăng nhân thường hay xuất hiện trong hai năm trước đây, nay lại chưa từng xuất hiện thêm lần nào nữa.*

*Đã từng buồn phiền tự hỏi: Hai vị ấy là ai? Mà nay đã ngộ ra, một người chính là con kiếp này, còn một người kia rốt cuộc là ai? Bao giờ mới có thể gặp?*

*Sư Tôn khai thị:
Nơi tâm vô cảnh. Nơi cảnh vô tâm.
Nơi sự vô sự. Nơi sự vô tâm.
Lìa cả hai bên. Trực chứng nghĩa đế.*

*Đã là "vô sự vô tâm" thì còn quản người đó là ai làm gì?*

*Cảm tạ Sư Tôn đã sờ đầu thọ ký trong giấc mơ của con vào lúc hai giờ sáng ngày 18 tháng 7. Sư Tôn dùng việc điều chỉnh ghế cao thấp để ám thị cho con rằng: "Dù Sư Tôn có nâng đỡ, nhưng tự con vẫn phải đặt mình ở chỗ thấp kém. Chỉ có đặt mình ở chỗ thấp kém thì mới có thể viên dung."*

*Ngày 6 tháng 7 năm 1988, Sư Tôn khai thị:
Người ngộ tự khai giải,
Pháp tuôn chảy trong tâm.*

*Đệ tử ngộ ra rằng "ba cõi chỉ là một tâm", "ngoài tâm ra không còn pháp nào khác". "Kinh Pháp Cú" nói: "Vào ra chiến trường nghìn lần, thắng cả nghìn kẻ địch, chẳng bằng chiến thắng chính mình". Chỉ có thể tự thay đổi bản thân, kiềm chế bản thân. "Chế ngự tâm mới có thể nhập định", "Nhập định mới có thể quên cái tôi", "Quên cái tôi mới có thể giải thoát". Lại nói, Phật pháp tăng vốn đã đầy đủ trong tâm, tên khác nhưng tự tính đồng nhất. Bởi vì "tâm chính là Phật", không cần dùng Phật cầu Phật; "tâm là pháp", không cần dùng pháp cầu pháp; "tâm là tăng", Phật và pháp vốn không hai, hòa hợp gọi là tăng.*

*Ngẫm lại sự biến hóa vô thường của vạn sự vạn vật, cùng với những nhân quả, nhân duyên, sinh tử, thành bại, buồn vui, được mất, giàu nghèo nảy sinh từ vòng luân chuyển, rốt cuộc khác biệt nhau bao nhiêu? Đã là vô ngã thì sẽ không có điên đảo mộng tưởng, không có sợ hãi ưu phiền. Đem tất cả những khổ nạn và đau thương của quá khứ, dùng sự vong ngã để xoa dịu, để giải thoát.*

*Do đó, con phải dùng tinh tấn để trị bệnh lười nhác của mình, dùng định lực để đập tan vọng tưởng của mình, dùng nhẫn nhục để trừ bỏ sự chấp trước của bản ngã.*

*Hoằng dương Chân Phật Mật Pháp để làm pháp thí. Tu tâm dưỡng tính, cẩn thận ngôn hành, trì trai niệm Phật để giữ giới, thâm nhập kinh tạng phối hợp với tu định để bồi đắp trí tuệ.*

*Cảm tạ Sư Tôn đã ban cho con hai đôi giày tăng. Chúng sẽ đồng hành cùng con đi vạn dặm đường, hoằng dương Chân Phật Mật Pháp; mang giày vào, như có Sư Tôn trợ lực, như được Sư Tôn viên thành.*

*Cảm tạ Sư Tôn đã nhận lời xuất gia cho con vào ngày 1 tháng 8. Con sẽ đến Lôi Tạng Tự vào ngày 30 tháng 7, lưu lại đến ngày 6 tháng 8 để theo Sư Tôn, Sư Mẫu đến San Francisco, cung kính lắng nghe Sư Tôn phóng quang diễn pháp.*

*Sau đó, đệ tử muốn tìm một nơi thanh tịnh để tu tâm, chân chính tu hành. Đáng tiếc Lôi Tạng Tự không có thiền phòng, còn việc thuê nhà để ở, sớm tối lễ Phật, vốn đã không còn nằm trong khả năng mà cá nhân con có thể tự gánh vác. Con sẽ đến một nơi hữu duyên để tu hành vài tháng, sau đó đến Tây Lai Tự để tham gia thọ Tam đàn đại giới. Con nghĩ phải rèn luyện như thế thì mới đúng phẩm chất một vị tỳ kheo ni, bằng không chỉ có cái danh xuất gia mà bản tính khó chế ngự, thì thật hổ thẹn với ơn thầy truyền dạy. Có như vậy, khi quay trở lại Diệu Ấn Đường, con mới không rước lấy cảnh bị bình phẩm soi mói, gọi đến sai đi y như thuở trước.*

*Với quảng đại bình đẳng quán của Sư Tôn cùng tinh thần vô duyên đại từ đồng thể đại bi, con tin rằng thầy sẽ tán đồng với cách làm của đệ tử mới phải.*

*Tuy mang đầy nỗi niềm "vô sự" vào núi tịnh tu, nhưng chỉ cần còn một hơi thở, con vẫn sẽ tham gia tông phái này. Dốc tận sức mình hoằng dương Chân Phật Mật Pháp để báo ơn thầy. (Nếu có điều gì ngỗ nghịch, xin tùy ý trách phạt).*

*Lên núi rồi vẫn phải xuống núi,
Người hiểu ta, bảo ta lòng ưu phiền,
Kẻ không hiểu ta, hỏi ta cầu chi!*

*Khẩn cầu Sư Tôn minh giám.
Kính chúc Phật an!
Liên Nhân trăm lạy cúi đầu
19.07.1988*

🌟

Tiếng lòng trong bức thư này, xin dành cho các đệ tử đang muốn xuất gia tu hành cùng tham khảo. Xuất gia tu hành không những phải buông bỏ tất cả, mà còn phải tu hành đạt đến cảnh giới vô niệm. 

Cần phải:
Khó chịu đựng vẫn có thể chịu đựng.
Khó làm vẫn có thể làm.

Tôi viết một bài kệ ghi lại điều này:
*Tôi thấy Liên Nhân ấy
Nhìn qua liền rõ ý
Đạo chẳng ở thư từ
Vào thẳng đất Như Lai
Tâm dứt bặt mọi duyên
Miệng nói toàn thiện ý
Ý chẳng còn vọng khởi
Thế mới thật thọ ký.*

**(Hết.)**

---

---
# File: sach-tam-linh/081-chan-phat-nghi-quy-kinh.md
# Title: 081. Chân Phật Nghi Quỹ Kinh
---

## 081. Chân Phật Nghi Quỹ Kinh


🪷 Hỏi đáp về tất cả lễ nghi tu pháp

Văn tập: 081
Xuất bản: 01/03/1989
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


Sau khi viết xong cuốn sách thứ 80, tôi suy nghĩ không biết cuốn sách thứ 81 nên viết về gì đây? 

Một ngày nọ vào buổi sáng sớm, tôi vừa mới thức dậy, nhìn ra ngoài cửa sổ, cây cối ngoài cửa sổ, mái nhà của người khác, thảm cỏ, tất cả đều phủ đầy sương tuyết trắng xóa. Lúc này trong lòng tôi đột nhiên hiện lên một mảng sáng, ồ, tại sao ta không viết "Chân Phật Nghi Quỹ Kinh"?

Tên sách là "Kinh", thực ra không phải là kinh để đọc tụng, mà là kinh trong nghĩa "kinh tuyến vĩ tuyến". Tôi nghĩ, rất rất nhiều đệ tử đã quy y Chân Phật, quy y Liên Sinh Thánh Tôn, nhưng đối với Chân Phật Mật Pháp vẫn còn xa lạ, và có cảm giác không biết bắt đầu từ đâu, tại sao vậy?

Có người sống ở những quốc gia nhỏ rất xa xôi hẻo lánh, không thể đồng tu, đối với nghi quỹ rất mơ hồ. Có người tuy tham gia đồng tu, nhưng đối với nghi quỹ đầy ắp bí ẩn và phức tạp, không thể đi sâu. Có người kiệt sức cả đời nghiên cứu nó, nhưng quá thiên trọng vào hiện thực, sự và lý không thể viên dung, rơi vào thiên lệch về tà, ngược lại còn có chướng ngại. 

Vì vậy, sau khi nhìn thấy một màng sương tuyết sáng chói, tôi cảm thấy cần thiết phải viết một cuốn "Chân Phật Nghi Quỹ Kinh", khiến nghi quỹ của "Chân Phật Mật Pháp" hiện ra một cách rõ ràng minh bạch hơn, giúp người mới học có cửa để vào, biến sự huyền áo và phức tạp trở nên sâu sắc và có trật tự, tất cả đều viên dung và rõ ràng.

"Tất cả lễ nghi tu pháp", đương nhiên là có danh tướng phong phú, đương nhiên là bao la rộng lớn, nhưng Liên Sinh Thánh Tôn sẽ chỉnh lý ra những điều quan trọng, nắm bắt điểm chính, giải thích từng nguyên lý, các quan hệ khác nhau, như vậy thiết lập kinh vĩ của nghi quỹ, giúp cho người đời biết công dụng của tu pháp.

Trong quá trình viết cuốn sách này, tôi sẽ cô đọng và tinh giản những lễ nghi rườm rà phức tạp, nhưng không đánh mất ý nghĩa tinh túy của nó, trong tu pháp lại kết hợp với Phật lý, biểu hiện ra một cách có tổ chức có hệ thống, trình bày ra cái đơn giản và cái thanh nhã của nghi quỹ, hoàn toàn dùng phương thức hỏi đáp, bổ túc hoàn thành một cách đơn giản rõ ràng.
Mục đích là:
Nắm đơn giản mà điều khiển phức tạp.
Vừa xem là hiểu ngay.

Thực ra, Liên Sinh Thánh Tôn trong nghi quỹ và khẩu quyết về Sự pháp và Lý pháp của Chân Phật Mật Pháp đã soạn thảo hoàn thành bốn cuốn sách, đó là:
"Bí trung bí". [Cuốn sách này có tựa đề tiếng Việt là: Bí Mật Trong Chân Phật Mật Pháp.]
"Kỳ trung kỳ". [Cuốn sách này có tựa đề tiếng Việt là: Mật Tạng Siêu Kỳ Lạ.]
"Pháp trung pháp". [Cuốn sách này có tựa đề tiếng Việt là: Chân Phật Pháp Trong Pháp.]
"Phật trung Phật". [Cuốn sách này có tựa đề tiếng Việt là: Chân Phật Phật Trong Phật.]

Người có tuệ căn sâu dày, từ phương pháp tu chứng và Phật lý tu chứng, "hành giải song tu" đã có thể đạt được cảnh giới khai ngộ, nương theo nghi quỹ của bốn cuốn sách, giữ gìn giới luật, mật tu pháp trong bốn cuốn sách này, lại phát đại bồ đề tâm, (trên cầu Phật đạo, dưới độ chúng sinh), bước theo dấu chân của Liên Sinh Thánh Tôn, dùng trí huệ vô thượng để quán sát, giác ngộ nhập thế và xuất thế, có thể đắc được diệu lạc của bồ đề.

Tuy nhiên, thường thường một người chưa quy y, hoặc một đệ tử mới quy y, nếu có người hỏi họ Chân Phật Mật Pháp là gì, hoặc là tu hành thực tế như thế nào, hoặc chân lý vi diệu ở đâu, vẫn sẽ không trả lời được. Nhưng nếu là một đệ tử lâu năm đã quy y từ lâu mà những điều này còn không trả lời được thì đó là điều rất đáng hổ thẹn.

Liên Sinh Thánh Tôn hiện nay đem chân lý mình đã chứng ngộ, dùng những phương pháp như truyền dạy bằng ngôn ngữ và văn tự… để giáo hóa chúng sinh, khiến chúng sinh cũng có thể được giải thoát cứu cánh. Để giáo hóa chúng sinh, nhất định phải có một bộ nghi thức trang nghiêm thiêng liêng và cao thượng.

Đây chính là "Chân Phật Nghi Quỹ Kinh", hỏi đáp về tất cả lễ nghi tu pháp.

Cuốn sách này có ba đặc điểm:

Thứ nhất, cấu trúc cơ bản của Chân Phật Mật Pháp được trình bày hoàn chỉnh toàn bộ.

Thứ hai, cả Sự pháp và Lý pháp đều được quan tâm đầy đủ, sử dụng phương thức hỏi đáp để viết, phân chương phân loại, giúp cho độc giả dễ tra cứu, rất thích hợp để mỗi người có một quyển.

Thứ ba, nghiên cứu sâu sắc khiến bí ẩn của nó hiển lộ rõ ràng, tất cả các Thượng sư Chân Phật đều có thể giảng dạy và hoằng dương, thuận tiện cho việc giảng giải.

Mục đích chính của cuốn sách này:
Thiết lập chính tín.
Không rơi vào thiên lệch tà đạo.

Viết một bài kệ cho "Chân Phật Nghi Quỹ Kinh":

*Thức dậy thấy sương tuyết. 
Tâm sáng đã mấy mùa.
Bên bờ hồ U Linh. 
Thực đắc quán tự tại.
Chong đèn viết nghi quỹ. 
Chẳng gì ngoài thánh thần.
Trời đất tùy biến đổi. 
Kinh vĩ là tấm chăn.*

Địa chỉ liên lạc của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn:

**Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th Ct.,
Redmond, WA 98052
USA.


### 01. Nghi quỹ quán đảnh quy y


**Hỏi: **Chúng tôi đã đọc không ít các tác phẩm của Liên Sinh Thánh Tôn, có ấn tượng sâu sắc về Chân Phật Tông, sinh ra hứng thú với việc tu hành Chân Phật Mật Pháp, hy vọng được nhận truyền thừa từ Liên Sinh Thánh Tôn, vậy lúc mới bắt đầu làm thế nào để nhập môn?

**Đáp: **Muốn vào cửa Chân Phật Tông, bất kỳ một người nào, nhất định phải quy y trước, nhận quán đảnh.

Quy y chính là ý nghĩa hướng về, nương tựa, cứu độ, quy y Kim cương Thượng sư, quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng, gọi là bốn quy y.

Quy y Kim cương Thượng sư là vì Kim cương Thượng sư là người đã tự mình chứng minh tất cả những gì Phật nói, đã không còn nghi ngờ, phiền não, đã vượt qua sinh tử, là Hoạt Phật, được Ngài dẫn dắt thì không sai lầm.

Quy y Phật là vì Phật là bậc giác ngộ đại giác đại ngộ, trí huệ của Ngài là hiểu biết chính xác, cho nên hướng về Phật học tập thì không sai lầm.

Quy y pháp, pháp chính là chân lý mà Phật đã giác ngộ, chúng ta nghiên cứu sâu sắc Phật lý, thực tu Chân Phật Mật Pháp, thì có thể đạt đến cảnh giới siêu phàm nhập thánh.

Quy y tăng, tăng như bậc thánh hiền, là người hoằng dương Phật pháp, cũng là đạo sư của chúng ta, chúng ta cần hướng về các ngài (bậc thánh hiền) để học tập và thỉnh giáo.

Còn về việc nhận quán đảnh, quán đảnh là một nghi thức của Chân Phật Tông, xuất phát từ lễ đăng quang của Quốc vương Thiên Trúc, dùng nước từ bốn biển lớn rưới lên đỉnh đầu, biểu thị ý nghĩa chúc mừng.

Còn người bình thường muốn vào Chân Phật Tông học tập Chân Phật Mật Pháp thì do Kim cương Acharya thiết lập đàn và thực hiện nghi thức quán đảnh.

Quán đảnh mà người mới quy y nhận được là quán đảnh kết duyên, mà loại quán đảnh rất nhiều, có: quán đảnh sờ đầu, quán đảnh thọ ký, quán đảnh phóng quang, quán đảnh thọ minh, quán đảnh tiêu tai, quán đảnh diệt tội, quán đảnh tăng ích, quán đảnh hàng phục, quán đảnh quang minh, quán đảnh cam lộ, quán đảnh chủng tử, quán đảnh trí ấn, quán đảnh sự nghiệp, quán đảnh pháp khí, auán đảnh Acharya..., đây là sự phân biệt dựa theo nghi thức và ý nghĩa.

Người nhận quán đảnh, biểu thị chư Phật đại từ đại bi đã ban cho ấn ký ấn tâm, được pháp duyên, có thể từ khi mới phát tâm mà cầu đạt đến Acharya, đã đầy đủ nghi quỹ quy y quán đảnh, chính thức nhập môn, là bậc tự mình tu hành đến viên mãn - Hậu Bổ Phật. Vì vậy nghi thức quán đảnh, từ chư Phật Bồ Tát cho đến tám bộ chúng sinh, không ai là không hoan hỷ tán thán.

Quán đảnh tức là: Sinh vào nhà Như Lai, nhất định nối ngôi Phật.
Muốn vào Chân Phật Tông học tập Chân Phật Mật Pháp, nhất định phải quy y trước, nhận quán đảnh, như vậy mới được coi là chính thức nhập môn.

**Hỏi: **Học tập Chân Phật Mật Pháp mà không quy y, chưa nhận quán đảnh có được không?

**Đáp: **
Lấy một ví dụ để nói: Quy y nhận quán đảnh, chính là việc đăng ký nhập học của học sinh. Không quy y, chưa nhận quán đảnh, chỉ được coi là học lỏm, chưa chính thức nhập học.

Đạo tràng đồng tu của tông phái chúng ta hoan nghênh mọi người tham dự nghe và học tập, nhưng muốn thực sự nhập môn học pháp tu hành, nhất định phải nhận quy y và quán đảnh, như vậy mới coi là nhân duyên đầy đủ.

Liên Sinh Thánh Tôn là người sáng lập Chân Phật Tông, cũng là đại đạo sư truyền thụ Chân Phật Mật Pháp, người muốn học tập Chân Phật Mật Pháp nên mau mau quy y nhận quán đảnh mới đúng.

Đang lảng vảng ở ngoài cửa, nghe giảng ở ngoài cửa, biết rõ Chân Phật Mật Pháp là pháp duyên khó gặp, sao không bước vào đường đường chính chính!

**Hỏi: **Kim cương Acharya thực hiện nghi thức quán đảnh cho người mới nhập môn như thế nào?

**Đáp:** Nghi quỹ quán đảnh kết duyên như sau:

1. Đầu tiên, Kim cương Thượng sư kết mật đàn (đàn thành của nghi thức quán đảnh), còn gọi là đàn mandala, tức là bố trí đàn pháp viên mãn của chư tôn.

2. Đệ tử nhận quán đảnh trước tiên đảnh lễ Thượng sư, sau đó lễ bái đàn thành.

3. Kim cương Thượng sư cầm bình quán đảnh, tức quán tưởng trong hư không có bốn con rồng bay đến, bốn con rồng phun nước vào bình quán đảnh (điều này tượng trưng cho nước bốn biển lớn), quán tưởng quán đảnh này chính là pháp đại bí mật của quán đảnh. Nước thanh tịnh từ bốn biển lớn này đổ quán vào đỉnh đầu đệ tử, khiến thân đệ tử không ô uế, rửa tâm đệ tử không ô uế, thân tâm đệ tử thanh tịnh, không khác gì Phật.

4. Kim cương Thượng sư cầm chuông, lắc chuông, chuông phóng quang, chiếu đệ tử, Kim cương Thượng sư quán tưởng chuông phóng đại quang minh, chiếu khắp toàn thân đệ tử nhận quán đảnh. (niệm chân ngôn)

Xướng kệ:
Kết duyên quán đảnh các Phật tử.
Phóng quang thanh tịnh các công đức.
Khiến cho chúng sinh lìa cấu uế.
Cùng chứng Như Lai tịnh Pháp thân.

5. Kim cương Thượng sư dùng ấn gia trì đệ tử. (Đệ tử đảnh lễ Thượng sư, lại đảnh lễ đàn thành rồi lui đi.)

6. Cát tường viên mãn.

**Hỏi:** Nước quán đảnh lấy từ loại nước gì?

**Đáp:** Nước quán đảnh là nước thông thường, được gia trì bằng chú Đại Bi, hoặc gia trì bằng các chú khác cũng được, cũng có thể dùng chiên đàn Ngưu Đầu [gỗ đàn hương núi Ngưu Đầu, được xem là loại chiên đàn hương thơm nhất], tử đàn [loại gỗ đàn hương/đàn mộc có màu tím sẫm hoặc đỏ tím], hương đa-ma-la, cam tùng, xuyên khung, bạch đàn, uất kim, long não, trầm hương, xạ hương, đinh hương…. cho vào nước quán đảnh, tạo thành nước hương.

Còn có cách dùng trầm hương (một lạng), bạch đàn (một lạng), cam tùng (nửa lạng), đinh tử (nửa lạng), huân lục (nửa lạng), xuyên khung (nửa lạng), uất kim (một tiền ba phân), bảy loại này cho vào túi vải sạch, đặt vào nước quán đảnh.

Cũng có cách cho ngà voi, cho bảo vật thủy tinh, hoặc dược cốc và các vật khác vào trong nước quán đảnh.

Nghi quỹ của pháp quán đảnh là bí pháp của Kim cương Acharya, Kim cương Acharya cần phải học từ Liên Sinh Thánh Tôn, như vậy mới đủ nghi quỹ.

**Hỏi:** Ý nghĩa chân thật của quán đảnh quy y là gì?

**Đáp: **Ý nghĩa chân thật của quán đảnh quy y thực ra là phi phàm, Liên Sinh Thánh Tôn cho rằng như sau:
Quán đảnh quy y là khởi đầu của việc thành Phật. (Hậu Bổ Phật)
Quán đảnh quy y là chuẩn bị tu thành chân lý mà các bậc thánh nhân chứng ngộ. (khai ngộ)
Quán đảnh quy y là để siêu phàm nhập thánh. (giải thoát)
Quán đảnh quy y là tự giác giác tha, tự giác là tự mình khai ngộ, giác tha là độ hóa chúng sinh, lợi ích chúng sinh. (giác hành viên mãn)

Vì vậy, ý nghĩa chân thật của quán đảnh quy y là một nghi thức thần thánh và cao thượng, một khi nhận quán đảnh quy y là thật sự nhập môn học Phật, là đệ tử Phật chân chính.

**Hỏi: **Chúng ta quy y Chân Phật Tông, nhận quán đảnh kết duyên, có lợi ích gì?

**Đáp: **Quy y Liên Sinh Thánh Tôn, nhận quán đảnh của Liên Sinh Thánh Tôn, tức là nhận được lực gia gia trì tam mật của Liên Sinh Thánh Tôn, điều này chính là khiến cho người tin nhận được Phật lực.

Người nhận quán đảnh của Liên Sinh Thánh Tôn, nhờ gia trì mà hiện ra thân Phật chính là gia trì thân.

Mà Liên Sinh Thánh Tôn có công phu tu hành, đệ tử quy y quán đảnh, có thể gia trì thành Phật, đây là một trong ba loại thành Phật của Chân Phật Tông.

Lực gia trì này thậm chí có thể trừ bệnh, trừ lo lắng, trừ tai nạn, trừ kiện tụng; lực gia trì có thể tăng phúc đức, tăng tuổi thọ, tăng lợi ích, tăng thiện duyên, tăng con cái, tăng hòa hợp, tăng kính ái.

Mà quán đảnh quy y tức là nhận được tam mật gia trì của Liên Sinh Thánh Tôn:
Liên Sinh Thánh Tôn dùng thủ ấn gia trì, người nhận quán đảnh thì thân, mắt, tay, chân liền tương ứng với Yết Ma mandala, thành thân mật của Như Lai.
Liên Sinh Thánh Tôn dùng chân ngôn gia trì, người nhận quán đảnh liền tương ứng với Pháp mandala, mà thành khẩu mật của Như Lai.
Liên Sinh Thánh Tôn dùng quán tưởng gia trì, người nhận quán đảnh liền tương ứng với Samaya Mandala, mà thành ý mật của Như Lai.

Ba mật gia trì này, hành giả đắc được thì có thể tức thân thành Phật.

Đệ tử quy y nhận quán đảnh, ngay lập tức có mười sáu vị thiện thần hộ trì đệ tử, mười sáu vị thiện thần này chính là: Trì Quốc Thiên Vương, Tăng Trưởng Thiên Vương, Tỏa Phục Độc Hại Thiện Thần, Tăng Ích Thiên Vương, Sư Tử Uy Mãnh Thiện Thần, Dũng Mãnh Tâm Địa Thiện Thần, Nhiếp Phục Chư Ma Thiện Thần, Năng Cứu Chư Hữu Thiện Thần, Ly Nhất Thiết Bố Uý Thiện Thần, Cứu Hộ Nhất Thiết Thiện Thần, Tỳ Sa Môn Thiên Vương, Quảng Mục Thiên Vương, Bạt Trừ Tội Khổ Thiện Thần, Năng Nhẫn Thiện Thần, Hoan Hỷ Thiện Thần, Trừ Nhất Thiết Chướng Nạn Thiện Thần.

Đây là mười sáu vị thiện thần, thậm chí có ba mươi sáu thiện thần và nhiều thiện thần hơn nữa đến hộ trì hành giả Chân Phật, đây đều là lợi ích bất khả tư nghì. Thậm chí người nhận quán đảnh quy y, đắc được Kim cương thượng vị đà-la-ni, lập tức cảm ứng Kim Cang Lực Sĩ, từ hư không hạ giáng một vị Kim Cang Thần, hoặc Chấp Kim Cang, hoặc Trì Kim Cang, hoặc Kim Cang Dạ Xoa, hoặc Mật Tích Kim Cang, vị Kim Cang Thần này thường đi theo bảo vệ hành giả Chân Phật.

Quy y nhận quán đảnh liền có lợi ích như vậy.

**Hỏi: **Muốn quy y, nhận quán đảnh, về lý nên chuẩn bị gì? Tại sao phải đảnh lễ Kim cương Thượng sư trước?

**Đáp:** Muốn quy y, nhận quán đảnh, về lý phải có một tâm thành kính cung kính, bởi vì quy y quán đảnh không phải là chuyện trẻ con, không thể tùy tiện.

Quy y quán đảnh là một khâu quan trọng, là bản thân quyết tâm tu hành, muốn sống một cuộc sống hợp lý, cao thượng, có đầy đủ niềm tin và hy vọng đối với thành tựu trong tương lai. Có niềm tin đối với Kim cương Thượng sư thì cần chuẩn bị một tâm kiền thành cung kính.

Tại sao phải đảnh lễ Kim cương Thượng sư trước rồi mới đảnh lễ đàn thành, đây là vấn đề về thứ tự:

Bởi vì trước tiên có Kim cương Thượng sư, sau đó mới có đàn thành, đàn thành là do Kim cương Thượng sư thiết lập, cũng chính là mandala mà Kim cương Thượng sư hóa hiện.

Có người đối với đàn thành thì cung kính lễ bái, nhưng đối với Kim cương Thượng sư thì không quan tâm không kính trọng, điều này là lẫn lộn đầu đuôi, không hiểu rõ thứ tự nhân quả.

Hơn nữa, Kim cương Thượng sư là tổng trì của Phật pháp tăng, không kính trọng Kim cương Thượng sư tức là không kính trọng Phật pháp tăng.

**Hỏi: **Có người sống ở nước ngoài rất xa xôi, không thể trực tiếp nhận quán đảnh quy y, nhưng trong lòng vô cùng muốn quy y nhận quán đảnh, phải làm thế nào?

**Đáp: **Muốn quy y Liên Sinh Thánh Tôn, có được truyền thừa của Chân Phật Tông, có hai cách thức:

Đích thân đến quy y — tức là trước tiên liên lạc hẹn thời gian, từ các nơi trên thế giới bay đến Chân Phật Mật Uyển ở thành phố Redmond, Seattle, tiểu bang Washington, Hoa Kỳ, do Liên Sinh Thánh Tôn trực tiếp quán đảnh quy y.

Sau khi quán đảnh quy y, Liên Sinh Thánh Tôn sẽ ban giấy chứng nhận quy y, pháp tướng Căn bản Thượng sư và pháp bản tu trì, như vậy là đã được truyền thừa. (Chú thích: Thời điểm viết cuốn sách này, Liên Sinh Thánh Tôn đã ẩn cư bế quan, xin hãy viết thư hoặc nhờ nhân viên hoằng các phân đường ở khắp nơi đại diện làm thủ tục quy y).

Viết thư quy y — Vì đệ tử ở khắp các nơi trên thế giới, người mới muốn đích thân đến quy y Liên Sinh Thánh Tôn không dễ dàng, vì vậy, đệ tử muốn quy y chỉ cần vào buổi sáng lúc 7 giờ ngày mồng Một hoặc Rằm âm lịch, quay mặt về hướng mặt trời mọc, niệm chú tứ quy y:
Na-mô gu-ru pây.
Na-mô pút-ta yê.
Na-mô ta-mô yê.
Na-mô sâng-kya yê.

Niệm 3 lần lạy 3 lần. (Ngày mồng Một hoặc Rằm, chỉ cần làm một lần.)

Ở chỗ của Liên Sinh Thánh Tôn, mỗi khi đến ngày mồng Một hoặc Rằm, tại Chân Phật Mật Uyển sẽ cử hành nghi thức "quán đảnh cách không từ xa", để quán đảnh từ xa cho các đệ tử không thể đích thân đến được.

Sau khi đệ tử đã làm xong nghi thức tại nhà của mình, chỉ cần viết thư, ghi ra họ tên thật, địa chỉ, tuổi của bản thân, tùy tâm kèm theo ít phần cúng dường Phật, trong thư ghi chú rõ là "Cầu quán đảnh quy y", sau đó gửi đến Chân Phật Mật Uyển tại Hoa Kỳ.

Sau khi Liên Sinh Thánh Tôn nhận được thư sẽ gửi cho mọi người giấy chứng nhận quy y và pháp tướng Thượng sư, đồng thời chỉ định tu pháp nào trước, đây cũng chính là đã được truyền thừa của Liên Sinh Thánh Tôn.

Địa chỉ liên lạc Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn:
Sheng-yen Lu
17102 NE 40th Ct.
Redmond, WA98052
U.S.A.

**Hỏi: **Đích thân đến nhận quán đảnh và quán đảnh cách không từ xa có gì khác nhau?

**Đáp: **Công đức là như nhau. Đích thân đến nhận quán đảnh thì hợp lễ nghi, quán đảnh cách không từ xa cũng hợp lễ nghi.

Tại sao quán đảnh cách không từ xa cũng hợp lễ nghi? Bởi vì Liên Sinh Thánh Tôn có pháp lực nhiếp triệu, đây là pháp "nhiếp triệu điều khiển" cực kỳ bí mật, một vị Kim cương Thượng sư đã khai ngộ, thực sự đã đạt được cảnh giới P háp thân chân thật biến hóa khắp nơi, ánh sáng tràn đầy khắp sáu hợp, không chỉ có thể thu hút triệu gọi hành giả đến nhận quán đảnh, mà còn có thể điều khiển Không Hành Mẫu đến nơi cư trú của hành giả để truyền quán đảnh, đây chính là công năng của "nhiếp triệu điều khiển".

Có người nhận quán đảnh từ xa, tự cảm thấy trời đổ xuống nước mát lành.
Có người nhận quán đảnh từ xa, tự cảm thấy Sư Tôn đỡ mình đứng dậy.
Có người nhận quán đảnh từ xa, nhìn thấy trong mặt trời lớn thấy hiện ra thân Sư Tôn.
Có người nhận quán đảnh từ xa, nghe được pháp ngữ của Sư Tôn.
Có người nhận quán đảnh từ xa, bệnh nặng chuyển nhẹ, bệnh nhẹ lập tức khỏi.
Có người nhận quán đảnh từ xa, người vợ bị hiếm muộn ngay lập tức có thai, sinh được một con trai.
Có người nhận quán đảnh từ xa, nghe tiếng khánh từng hồi, hương thơm thoang thoảng, thù thắng phi thường.
Có người nhận quán đảnh từ xa, bệnh mắt đột nhiên hết, tự cảm thấy có nước vào mắt, mắt lại sáng trở lại.

Những cảm ứng khác nhiều không thể kể xiết, Liên Sinh Thánh Tôn có lời thề nguyện sâu rộng, bi tâm cứu khổ, làm đại y vương, đây là điều không hề bịa đặt! Quán đảnh từ xa là không sai chút nào! Đích thân đến nhận quán đảnh, quán đảnh cách không từ xa, không có phân biệt.

**Hỏi: **Thượng sư có thể thực hiện quán đảnh cách không từ xa cần phải có loại công lực nào?

**Đáp: **Ba đại thành tựu:

Thành tựu thứ nhất — Đắc thành tựu sai khiển Không Hành du hành. Thành tựu này có thể sai khiển Không Hành Mẫu cầm nước pháp quán đảnh, bay hàng nghìn vạn dặm, thực hiện cảnh giới quán đảnh chân thật cho các đệ tử quy y trên toàn thế giới.

Thành tựu thứ hai — Đắc thành tựu nhiếp triệu tàng hình. Thành tựu này có thể nhiếp triệu đệ tử đến trước đàn thành, tức là đưa nguyên thần của đệ tử đến mật đàn, ban cho nước pháp quán đảnh, đây chính là thành tựu nhiếp triệu tàng hình bí mật.

Thành tựu thứ ba — Đắc thành tựu Bổn tôn đại quang minh. Kim cương Thượng sư đã đắc biến hóa Bổn tôn, khiến cho thân mình thành Tam ma địa của Bổn tôn, trong Tam ma địa ánh sáng chiếu khắp toàn thế giới, liền dùng dòng pháp ánh sáng này để quán đảnh cho tất cả đệ tử quy y, đây chính là  thành tựu Bổn tôn đại quang minh.

Ba đại thành tựu này vốn là biến hóa bí mật trong bí mật, cần biết rằng vạn pháp duy tâm, một tâm hiển hiện vạn pháp, chân lý về sự biến hóa này là công lực cực kỳ sâu xa mà chỉ có Kim cương Thượng sư chân chính mới có thể hiểu rõ, pháp sư thông thường cũng như phàm phu thế tục đều không thể lĩnh hội được.

**Hỏi:** Tại sao quán đảnh pháp Kim cang và Acharya lại không thể thực hiện quán đảnh từ xa?

**Đáp: **Thật ra bất kỳ pháp nào cũng đều có thể quán đảnh từ xa.

Chỉ là quán đảnh pháp Kim cang và Acharya đều là để chuẩn bị tu tập đại Mật pháp vô thượng, đến khi quán đảnh pháp Kim cang và Acharya (quán đảnh Thượng sư) là chuẩn bị để truyền thụ Mật pháp cho người khác, là quán đảnh quan trọng.

Trong quá trình tu tập pháp Kim cang, cũng như thành tựu A-xà-lê, đều có rất nhiều khẩu quyết đặc biệt và quan trọng cần truyền thụ, những khẩu quyết sâu xa này toàn bộ phải truyền thụ trực tiếp mặt đối mặt, tức là phải khẩu truyền mới có thể hiểu rõ, nếu không khẩu truyền thì thật sự rất khó để đi sâu vào.

Vì vậy, quán đảnh pháp Kim cang và Acharya nhất định phải đích thân đến nhận quán đảnh, tức là đích thân đến nhận sự truyền thụ khẩu quyết chí yếu của Liên Sinh Thánh Tôn.

Vì vậy tông phái chúng ta quy định quán đảnh pháp Kim cang và quán đảnh Acharya là phải đích thân đến nhận quán đảnh.

Còn về pháp Tứ gia hành, pháp Thượng sư tương ứng, pháp Bổn tôn, tất cả pháp Yết ma… đều có thể quán đảnh từ xa.

**Hỏi: **Quy y Liên Sinh Thánh Tôn, nhận quán đảnh của Liên Sinh Thánh Tôn, thật sự có thể đắc đại thành tựu không?

**Đáp: **Trước hết, hành giả nhận quy y quán đảnh nhất định phải xác nhận Liên Sinh Thánh Tôn đã đắc đại thành tựu, đã giác ngộ chân lý về vũ trụ và nhân sinh.

Liên Sinh Thánh Tôn hiện có 80 cuốn sách (Chú thích: đến tháng 1 năm 2026, tác phẩm do Liên Sinh Thánh Tôn viết đã đạt 307 cuốn), từ lúc ban đầu học Thiên Chúa giáo, Đạo giáo, sau đó học Hiển Mật, đến ngày hôm nay cầu đắc sự giải thoát rốt ráo, tất cả điều này đều được phân tích rõ ràng trong sách, 80 cuốn sách chính là bóng hình cả cuộc đời của Thánh Tôn, tu hành như vậy không phải là thánh triết trời cho, cũng không phải đạt được trong một sớm một chiều, không phải là lời nói suông vô căn cứ, mà là Đại Giác Tôn Giả tích lũy được qua việc tu hành từng ngày.

Chân Phật Mật Pháp là nghi quỹ được tu luyện bằng trí huệ giác ngộ tối thượng, là pháp môn và nghi quỹ mà Liên Sinh Thánh Tôn đã chứng ngộ được. Chính nhờ pháp này mà Thánh Tôn khai ngộ, nên Ngài dùng pháp ấy để truyền dạy cho chúng sinh, nhằm lợi ích và khai mở trí giác cho mọi người. Phàm ai thọ nhận pháp này đều có thể hướng đến con đường giác ngộ.

Liên Sinh Thánh Tôn thật sự khai ngộ, Chân Phật Mật Pháp thật sự khiến hành giả có thể khai ngộ, Chân Phật chính là học vấn trí tuệ, không phải học vấn mê tín, là từ thực tướng nội tâm mà thể ngộ, chứ không phải là sự sùng bái bề ngoài, về phương diện này người mới học phải hiểu rõ ràng.

Liên Sinh Thánh Tôn thật sự khai ngộ, Chân Phật Mật Pháp thật sự khiến hành giả có thể khai ngộ, Chân Phật chính là học vấn trí tuệ, không phải học vấn mê tín, là từ thực tướng nội tâm mà thể ngộ, chứ không phải là sự sùng bái bề ngoài, về phương diện này người mới học phải hiểu rõ ràng.

Chúng ta cần kiên cố niềm tin của mình đối với Kim cương Thượng sư và Tam Bảo, từ khi bắt đầu kết duyên quán đảnh, liền có duyên lành vĩnh viễn với Phật Bồ Tát, quán đảnh quy y liền tiêu trừ tất cả nghiệp chướng từ nhiều kiếp, được Tam Bảo Thượng sư gia trì, từ đó bản thân có được nhân sinh quan chính xác, một khi thọ nhận quán đảnh quy y, mọi việc trước đây ví như ngày hôm qua đã chết, mọi việc sau này ví như ngày hôm nay mới sinh.

Tín — Tin Căn bản Thượng sư, tin Chân Phật Mật Pháp.
Giải — Hiểu rõ Phật lý, thâm nhập Chân Phật Mật Pháp.
Hành — Thực tu tinh tấn, quán triệt từ đầu đến cuối.
Chứng — Tự mình chứng minh tất cả chân lý mà Liên Sinh Thánh Tôn đã nói, đắc chứng khai ngộ.
Hành giả như vậy, nhất định thành Phật, nhất định đắc đại thành tựu.


### 02. Nghi quỹ đàn thành


**Hỏi: **Hành giả Chân Phật sau khi nhận quán đảnh quy y xong có phải lập đàn thành không?

**Đáp: **Đây là điều cần thiết.

Đàn thành nói một cách đơn giản chính là đạo tràng tập trung, ý nghĩa chủ yếu nhất của nó là bản thân có thể ở trong tịnh thất an tịnh luyện tập thiền định mỗi ngày một cách chăm chỉ và đúng đắn, không bị người ngoài quấy nhiễu. Tông phái chúng ta quy định mỗi ngày tối thiểu một lần tu. Đàn thành chính là nơi tu pháp, cũng là nơi thờ cúng Phật Bồ Tát chư tôn.

Vì sao cần thiết phải có đàn thành? Bởi vì người mới tu hành, tĩnh tọa tu pháp, quan trọng là phải yên tĩnh, hơn nữa thờ cúng chư tôn thì nhìn vào là thấy thù thắng, vi diệu, trang nghiêm, trong lòng sẽ cảm thấy hoan hỷ, thích ngồi lâu trong đàn thành. Tạo lập đàn thành càng có lợi cho tu pháp quán tưởng, có đàn thành cũng giống như có một phương hướng. 

Ý nghĩa của đàn thành như sau: 
1. Yên tĩnh.
2. Trang nghiêm.
3. Phương hướng.
4. Tu pháp.
5. Thần thánh.

**Hỏi: **Bản thân hành giả Chân Phật nghèo khó, xét về điều kiện thì không thể bố trí đàn thành, như vậy có được không?

**Đáp: **Liên Sinh Thánh Tôn cho rằng tốt nhất là trong phạm vi khả năng của mình hãy cố gắng hết sức để bố trí đàn thành. Nếu thật sự không có khả năng, hoặc người nhà phản đối, không thể nào lập đàn thành được thì cũng không cần miễn cưỡng. 

Hành giả Chân Phật như vậy có thể tìm thời gian tương đối rảnh và tìm một nơi tương đối yên tĩnh, dùng cách quán tưởng tiện lợi để quán tưởng đàn thành ở trong hư không, lần lượt quán tưởng rõ ràng thì vẫn có thể tu pháp. 

Tông phái chúng ta tương đối coi trọng đàn thành, bởi vì Chân Phật Mật Pháp có ý nghĩa bí mật, cho nên coi trọng việc bố trí đàn thành. 

Tu hành theo Thiền tông thì không nhất định coi trọng đàn thành, hành giả Thiền tông đi, đứng, ngồi, nằm đều có thể tu thiền, nơi núi non hoang sơ, bên hồ nước cũng đều có thể ngồi thiền. 

Vì Chân Phật Mật Pháp coi trọng quán tưởng cho nên lập đàn thành hoặc quán tưởng đàn thành là vô cùng quan trọng. 
Người có điều kiện thì cần lập đàn thành.
Người không có điều kiện thì cần quán tưởng đàn thành. 

**Hỏi: **Đàn thành có thể phân thành mấy loại?

**Đáp:** Phạn ngữ của đàn thành là mandala. 

Mandala đại thể có thể phân thành bốn loại: 
Đại mandala - đàn thành tổng hợp các vị. Có hình thể và tranh vẽ của các vị, toàn thể và các vị đều có hết, đây là nơi các thánh hiền tụ hội, vạn đức giao quy, vì nó rất lớn cho nên gọi là đại mandala.
Samaya mandala - thờ cúng cả pháp khí và ấn khế mà các vị cầm trên tay, samaya có ý nghĩa là lời thề gốc, thờ cúng những biểu tượng của lời thề chính là samaya mandala.
Pháp mandala - là đàn thành thờ cúng chủng tử tự và chân ngôn của các vị, thờ cúng văn tự và kinh điển chính là pháp mandala.
Yết ma mandala - đàn thành thờ cúng hình tượng của các vị, có dụng ý làm pháp thì gọi là đàn thành mandala. 

Bốn loại mandala này đều có đặc trưng: 
Đại mandala — mười pháp giới.
Samaya mandala — bình đẳng.
Pháp mandala — lục trần tri giác.
Yết ma mandala — động tác làm pháp.

**Hỏi: **Thế nào gọi là Kim cương giới mandala và Thai tạng giới mandala?

**Đáp:** Kim cương giới mandala và Thai tạng giới mandala gộp lại gọi chung là hai bộ mandala, tức là “Kim-Thai Lưỡng Bộ” của Mật giáo. 

Hai bộ này đều là pháp môn thành tựu Phật. 
Kim cương giới mandala chính là pháp môn về quả tướng mà chư Phật mới thành tựu, tức là trí quả.
Thai tạng giới mandala chính là pháp môn về lý tính mà chúng sinh vốn có, tức là lý nhân.

**Hỏi: **Đàn thành (mandala) còn có những gì nữa?

**Đáp: **Thật ra mandala còn có rất nhiều chủng loại, tức là mandala phân nhánh.

Thông thường chúng ta nhìn thấy tướng của Tây phương Tam Thánh, sau đó thêm vào mười sáu quan cảnh của Tây Thiên, tức là Tịnh Thổ Mandala. 
Chúng ta thường thấy tranh vẽ Phật Thích Ca Mâu Ni ở Linh Sơn Hội Thượng, có thể nói đây là Pháp Hoa Mandala. 
Tôi cũng từng nhìn thấy có một bức tranh trên đó có bảy hành tinh Nhật Nguyệt Thủy Hỏa Mộc Kim Thổ, sau đó thêm vào La Hầu, Kế Đô trở thành chín hành tinh, đây gọi là Cửu Diệu Mandala.

Hiện tại có rất nhiều loại mandala, Phật bộ, Liên hoa bộ, Kim cang bộ, Yết ma bộ. Mandala quan trọng nhất là: Tam mật viên mãn đầy đủ. Mandala chính là chữ “thể” trong thể-tướng-dụng.

**Hỏi: **Bố trí đàn thành thì phải long trọng là tốt hay là đơn giản là tốt?
**Đáp:** Người có điều kiện thì có thể làm long trọng một chút, người không có điều kiện thì có thể làm đơn giản một chút. 

Đều tốt như nhau, nhưng quan trọng là cần bố trí trang nghiêm, pháp khí cần có đầy đủ, pháp khí nếu không đầy đủ thì không như pháp. 
Có ba pháp khí quan trọng là: chày kim cang, chuông kim cang, chuỗi hạt.

**Hỏi: **Lựa chọn tịnh thất để làm đàn thành có quan trọng không?

**Đáp: **Liên Sinh Thánh Tôn cho rằng cực kì quan trọng. 

Có một số pháp sư cho rằng không quan trọng, trong lòng cung kính là được, thật ra đây là vì pháp sư thông thường không hiểu về nguyên lý phong thủy. 

Nếu tùy tiện bày trí mật đàn ở dưới xà nhà, hoặc dựa lưng vào cửa sổ lớn, hoặc là lối người đi lại, hoặc là đối diện với cửa nhà vệ sinh… không cần phải nói đến phong thủy thế nào ra sao, thật ra chính tâm mình đã bị ảnh hưởng bởi những nhân tố này rồi. 

Học phong thủy tức là học về hoàn cảnh vô hình, cho nên tịnh thất sửa sang thành mật đàn, mật đàn lại là nơi thần thánh giao quy, vì thế lựa chọn tịnh thất là vô cùng quan trọng, không thể qua loa. 

Liên Sinh Thánh Tôn cho rằng sửa tịnh thất thành mật đàn cần chú ý các điểm quan trọng như sau: 
Thanh tịnh và yên tĩnh.
Tàng phong tụ khí.
Hướng của mật đàn hợp với hướng từ trường của hành giả.
Hướng của mật đàn ngược dòng nước.
Bức tường nơi đặt mật đàn không được rỗng trên rỗng dưới, rỗng trái rỗng phải, mà là một bức tường đặc vững chắc. 
Ánh sáng vừa phải. 
Những điểm quan trọng này nếu có thể chuẩn bị đầy đủ hết là tốt nhất, nếu không thể chuẩn bị đầy đủ thì phải mời thầy phong thủy đến tận nơi chỉ điểm và sửa cho đúng. 

Phong thủy mật đàn cũng là một kiến thức rất lớn, mật đàn phải “thù thắng đẹp đẽ trang nghiêm”, mật thất phải thanh tịnh hòa nhã. Trong khi tu pháp “trên cúng Tam Bảo, dưới cứu tứ sinh”, vô hình trung, phúc huệ tăng trưởng, hành giả Chân Phật đắc đại thành tựu. 

Đây là Phật, đàn, người ba hợp làm một, tức là thiên, địa, nhân ba hợp làm một. 

**Hỏi:** Liên Sinh Thánh Tôn đã nói hết sức rõ ràng minh bạch về phong thủy của đàn thành tịnh thất, nhưng các đệ tử ngu muội vẫn không hiểu, vậy phải làm sao?

**Đáp:** Như thế này vậy! Có thể không cần hiểu hướng ngược dòng nước, hợp hay không hợp với hướng từ trường của hành giả, chỉ cần căn phòng sạch sẽ yên tĩnh và bức tường để đặt đàn thành phải vững chắc. 

Nếu vẫn không hiểu thì nên mời thầy phong thủy đến khảo sát. Bởi vì sắp đặt mật đàn là việc cả đời cả kiếp, không phải là một hai năm, hãy mời đại sư am hiểu phong thủy địa lý về để xem, đây vẫn là điều cần thiết. 

Tương lai, khi Liên Sinh Thánh Tôn vân du bốn biển, nếu đến được vùng đất quý, có thể tự mình đi khảo sát mật đàn của mọi người, như thế thì sẽ không có sai sót gì cả, đây là sự bảo đảm hạng nhất.

**Hỏi:** Bố trí mật đàn như thế nào?

**Đáp: **Dựa theo bốn loại mandala thì chắc chắn sẽ có một số điểm khác nhau. 

Tôi lấy cách bố trí của Chân Phật Mật Uyển để nói như sau: 
Ở chính giữa bức tường là bức tranh mandala Phật Thích Ca Mâu Ni.
Ở bên phải bức tường là bức tranh mandala Di Lặc Bồ Tát.
Ở bên trái bức tường là bức tranh mandala Thiên Thủ Quan Âm. 
Tượng kim thân có: 
Ở giữa là A Di Đà Phật. (làm bằng sứ)
Bên phải là Diêu Trì Kim Mẫu. (điêu khắc gỗ)
Bên trái là Quan Âm Bồ Tát. (điêu khắc gỗ)
Còn các bức tượng kim thân khác như Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, Địa Tạng Vương Bồ Tát, Bất Động Minh Vương, Quan Âm Tứ Thủ, Chuẩn Đề Phật Mẫu,… thì đặt bên dưới chỗ của A Di Đà Phật, được sắp đặt một cách ngăn nắp, chỉnh tề, có trật tự. 
Bên phải bày một tháp xá lợi. (bên trong có hai hạt xá lợi kim cang và bốn hạt xá lợi khác)
Bên trái bày một mandala gạo và kinh sách. 
Ở phía trước Phật Bồ Tát thì bày cúng dường, thông thường là ngũ cúng hoặc bát cúng, cũng có khi lên tới ba mươi bảy món cúng. 
Ngũ cúng là: hoa, hương, đèn, trà, quả, đèn có thể dùng nến thay thế.
Bát cúng là: vỏ ốc, quả, bột hương, nến, ba que hương không cháy, năm bông hoa trắng, nước thơm (nước cho thêm xà bông tắm), nước lọc (bày theo thứ tự từ phải qua trái). 
Cúng phẩm đều được đựng trong bình sạch hoặc bát sạch. (dụng cụ làm bằng vàng, bạc, đồng, sứ đều được)

Bát cúng ở Chân Phật Mật Uyển được bày thành hai hàng, hàng trên là cúng chư Phật Bồ Tát, hàng dưới là cúng cho tự thân quán tưởng thành Bổn tôn để dùng. Ý nghĩa của bát cúng là:
Hai loại nước — nước công đức.
Hoa — bố thí.
Hương — trì giới.
Đèn — nhẫn nhục.
Quả — thiền định.
Hương bột — tinh tấn.
Vỏ ốc — như ý.
Mật đàn cần để ngọn đèn luôn sáng.
Phía trước của mật đàn bày bàn để lư hương, phía trước của bàn bày lư hương thì đặt pháp khí.

Cách bố trí ở Chân Phật Mật Uyển đại thể là như vậy, ngoài ra còn có khăn gấm nhiều màu, lọng hoa, khăn khata nhiều màu, dùng để tăng thêm sự nghiêm túc và trang trọng, bộc lộ sự thù thắng đẹp đẽ phi thường.

**Hỏi: **Chủ tôn của đàn thành nên thờ cúng vị nào?

**Đáp: **Chủ tôn của đàn thành là vị được thờ ở trung tâm, mỗi người mỗi khác.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng tốt nhất là thờ cúng Bổn tôn của mình ở trung tâm, cũng tức là Bổn tôn mà sau này bạn sẽ tu pháp mỗi ngày. (Đó là vị mà bạn “đầu duyên” nhất, yêu thích nhất.)
Ở đây có hai nguyên nhân: 
Tương lai chúng ta tu pháp thành tựu tức là trực tiếp biến thành Bổn tôn.
Bổn tôn ở trung tâm cũng thuận lợi cho việc quán tưởng.
Ngoài ra, thông thường thờ cúng kim thân của Phật Bồ Tát nên lấy số lẻ, một vị, ba vị, năm vị, bảy vị… vì sao? Bởi vì là số lẻ thì chắc chắn sẽ hiện lên chủ tôn trung ương, còn một cách nói khác là số lẻ là dương, số chẵn là âm, sắp xếp theo số lẻ thì sẽ có mỹ quan hơn. (Tính số lượng kim thân thì lấy kim thân là chính, không tính tranh ảnh.)

Thứ tự sắp xếp thờ cúng thuận theo lớn nhỏ là Phật, Bồ Tát, Kim Cang, thiên thần. Trung tâm là chủ tôn, bên phải là vị trí lớn hơn, bên trái là vị trí nhỏ hơn. Nếu có rất nhiều kim thân thì có thể xếp hai tầng, thậm chí ba tầng năm tầng.

**Hỏi: **Kim thân Liên Hoa Đồng Tử có thể thờ làm chủ tôn của đàn thành không?

**Đáp:** Được.

Bởi vì Liên Hoa Đồng Tử là một trong tám đại Bổn tôn của Chân Phật Tông, tự nhiên có thể là chủ tôn của đàn thành. 
Ngoài ra, nguồn gốc của Liên Hoa Đồng Tử rất vĩ đại, mọi người đều biết:
Đại Nhật Như Lai hóa thân thành Phật Nhãn Phật Mẫu, Phật Nhãn Phật Mẫu hóa thân thành Liên Hoa Đồng Tử, Liên Hoa Đồng Tử hóa thân thành Liên Sinh Thánh Tôn. 
Cho nên thờ cúng Liên Hoa Đồng Tử tương đương với thờ cúng Đại Nhật Như Lai, Phật Nhãn Phật Mẫu, Liên Sinh Thánh Tôn, đây là tổng trì truyền thừa Chân Phật Tông. 

Khi chế tạo kim thân Liên Hoa Đồng Tử thì dùng khuôn mặt lúc ngoài 30 tuổi của Liên Sinh Thánh Tôn để làm, việc này là có nguyên nhân của nó.

Chúng ta tu trì pháp Bổn tôn của Chân Phật Mật Pháp, nếu có duyên với Ma Ha Song Liên Trì, hoặc một lòng muốn vãng sinh Ma Ha Song Liên Trì, chúng ta có thể thờ Liên Hoa Đồng Tử làm Bổn tôn chủ tôn, nhất định có thành tựu, nhất định có thể vãng sinh.

**Hỏi:** Có thể nói rõ một lần nữa về cách sắp xếp trên dưới đàn thành được không?

**Đáp: **Phía trên đàn thành có thể treo tranh mandala. 

Tầng thứ nhất thờ cúng chủ tôn và chư tôn, bên phải đặt tháp, bên trái đặt kinh sách. 
Bên dưới là tám món cúng.
Bên dưới nữa là hương án.
Bên dưới nữa là pháp khí tu pháp. 
Hai bên chủ tôn và chư tôn có thể đặt thêm đèn luôn sáng. 

**Hỏi: **Trước khi bố trí đàn thành cần chú ý điều gì?

**Đáp: **Đã chọn được mật thất, trước khi bố trí đàn thành, tốt nhất là phải sái tịnh, sái tịnh tức là làm thanh tịnh mật thất. 

Bởi vì trước khi thành mật thất nó có thể đã là phòng ngủ, cũng có thể là phòng làm việc, phòng học, phòng kho, khả năng có linh ô uế khác trốn ở trong đó. Vì thế, ngoài quét dọn sạch sẽ ra thì còn phải có nghi thức sái tịnh. 
Cách đơn giản nhất là chọn ngày Trừ, dùng nước chú Đại Bi vẩy từ trong hướng ra ngoài, đây chính là tẩy tịnh bằng nước chú Đại Bi.
Tẩy tịnh bằng nước chú Đại Bi để khiến cho hồn ma trong mật thất rời đi và làm cho linh của các loài ác ma không thể tồn tại trong mật thất. Làm như vậy, hành giả ở trong mật thất tu pháp, thân tâm không kinh sợ, cũng sẽ không có những việc xấu làm hỗn loạn tâm của hành giả, đây là vì mật thất đã thanh tịnh rồi. 

Có rất nhiều phương pháp sái tịnh, nhưng hành giả Chân Phật dùng nước chú Đại Bi để sái tịnh là được.

**Hỏi: **Muốn bố trí đàn thành, có thể tham khảo kinh sách nào?

**Đáp:** Liên Sinh Thánh Tôn biết có hai cuốn sách: 

Đường Triều Huệ Lâm Tập có một cuốn sách tên là “Kiến Lập Mandala và Cách Chọn Đất”, nói rõ về lập đàn thành và lựa chọn đất.
Ngoài ra, Đường Pháp Toàn Tập có một cuốn sách tên là “Kiến Lập Mandala Hộ Ma Nghi Quỹ”, là giải thích về cách kiến lập đàn Hộ Ma. 
Hai cuốn sách này là pháp cổ, có thể tự tham khảo thêm. 

Tôi viết một bài kệ như sau: 
*Chư tôn trước mặt phóng quang minh.
Hành giả ngồi ngay trừ vọng niệm.
Ánh sáng viên mãn đến tôi luyện.
Ta hóa Bổn tôn cùng một tâm.*

**Hỏi:** Từng có người nói, tu hành phải không câu nệ vào hữu tướng và vô tướng mới đúng, đàn thành là hữu tướng, vì thế có thể không cần bày đàn thành. Cách nói như vậy có đúng không?

**Đáp: **Tôi từng nói, người không có khả năng lập đàn thành thì có thể không cần lập, đây là để thuận tiện cho những hành giả Chân Phật nghèo khó, họ có thể tiện lợi quán tưởng tu pháp. 

Và có một số hành giả đã đạt đến Thánh đế, cảnh giới của họ cao siêu, xuất thần nhập hóa, có hay không có đàn thành đối với hành giả này đã không còn là sự trói buộc, người đạt đến Thánh đế như thế biết pháp hữu vi, pháp vô vi, hiểu rõ hữu tướng và vô tướng, người có thể khai ngộ như vậy thì không cần lập đàn thành. 

Tuy nhiên, người chưa đạt đến cảnh giới như thế thì tốt nhất vẫn phải coi trọng việc lập đàn thành. 
Hữu tướng — tất cả sự vật có hình thái có thể nhìn thấy, đây là hữu tướng giáo. (các pháp thật có)
Vô tướng — nhân duyên tạo thành, tự tính tức không, gọi là vô tướng. (các pháp thật không có)
Vô tướng là “ở trong tất cả tướng, lìa bỏ tất cả tướng”. 

Liên Sinh Thánh Tôn cho rằng người tu hành chúng ta đi từ tục đến đến Thánh đế, từ có đi đến không, nhưng khi đã đến được chỗ giác ngộ thì không chấp vào tục đế, cũng không chấp vào Thánh đế. Không chấp vào có, không chấp vào không, đây là cảnh giới vô thượng rất cao. 
Là:
Có thể ở trong tất cả tướng.
Có thể lìa bỏ tất cả tướng.
Mong rằng hành giả Chân Phật có thể hiểu rõ và lĩnh ngộ.

**Hỏi:** Toàn bộ việc sắp đặt đàn thành đã xong, tiếp theo phải làm gì nữa?

**Đáp: **Hoàn thành bố trí đàn thành xong thì phải khai quang cho Phật Bồ Tát tại đàn thành và kết giới. 

Khai quang có nghi quỹ khai quang, kết giới có nghi quỹ kết giới, hai nghi quỹ này đều cực kì quan trọng, không thể sơ xuất. 
Khai quang chính là khánh thành bố đàn, Phật Bồ Tát chư tôn an vị, hành giả chọn ngày lành để làm lễ và thờ phụng, đôi khi khai quang cũng gọi là khai nhãn. Căn cứ theo “Nhất Thiết Như Lai An Tượng Tam Muội Nghi Quỹ Kinh” có nói: “Nghi thức cúng dường đã chuẩn bị chu toàn xong thì lại mở ánh sáng mắt cho tượng Phật, tương tự như điểm nhãn, tức là tụng khai nhãn quang chân ngôn hai lần.”
Khi làm nghi thức khai nhãn, hành giả phải dâng hương, hoa, đèn, trà, quả, v.v… để cúng Phật.

Tại đây tôi thuật lại nghi quỹ khai quang như sau: 

Chuẩn bị vải khai quang. (vải cotton mới)
Bút khai quang. (bút mới)
Gương khai quang. (gương tròn mới)
Chu sa đỏ.
1. Hành giả niệm chú thanh tịnh, niệm chú triệu thỉnh, phụng thỉnh Phật Bồ Tát chư tôn.
2. Hành giả nâng vải khai quang, hai tay căng vải ra, làm động tác lau từ xa, ý nghĩa chính là thanh tịnh tượng kim thân, khiến kim thân không nhiễm bụi trần.
3. Hành giả dùng bút khai quang chấm vào dịch chu sa đỏ, chấm từ xa vào tượng kim thân. Lúc này tay phải cầm bút, tay trái cầm gương khai quang, ánh sáng từ gương khai quang chiếu thẳng vào tượng kim thân. 
4. Lúc này hành giả vừa niệm chú vừa dùng bút khai quang điểm từ xa vào các vị trí trên tượng kim thân, tức là gương, bút, chú hợp nhất.
5. Chân ngôn khai nhãn của Tạng mật dịch ra tiếng Trung như sau: 
”Thiên chi thần quang, địa chi thần quang, nhật nguyệt thần quang, khai nhãn khai quang chú, khai nhãn quang quán thị thế giới, khai khẩu quang khai khẩu độ chúng, khai nhĩ quang vấn thanh cứu khổ, khai tâm quang từ bi chúng sinh, khai thủ quang pháp ấn phù trì, khai túc quang phi hành vạn lý, khai kim thân hào hào phóng quang. Om Ah Hum. Nhiếp.” (Chú này tổng cộng niệm 2 lần.)
6. Hành giả dâng cúng dường.
7. Hành giả tụng kinh hát tán lễ bái. 
8. Hồi hướng: 
Hành giả làm khai nhãn. Nơi ở của tâm vương.
Chư tôn truyền duyên Phật. Khai giác về tự tính.
Cát tường viên mãn. 

Nghi quỹ khai quang này chỉ cần thanh tịnh trang nghiêm, trong lòng kiền thành, hợp với lễ nghi, Phật Bồ Tát chư tôn từ bi nên sẽ không có chuyện không giáng xuống.

**Hỏi:** Hành giả Chân Phật không thành thạo nghi quỹ khai quang, không dám tự mình khai quang, đồng thời không có lòng tin, vậy phải làm sao?

**Đáp: **Có thể mời Thượng sư của Chân Phật Tông đến cử hành nghi thức khai quang điểm nhãn, cũng có thể mời pháp sư hiểu nghi thức khai quang đến làm. 

Nếu vẫn không làm được theo cách này thì có thể viết thư báo cáo với Sư Tôn ở Mỹ, thỉnh cầu Sư Tôn khai quang đàn thành, mặc dù Sư Tôn ở Mỹ nhưng tại Chân Phật Mật Uyển của mình có thể dựa vào địa chỉ bạn ở và ảnh chụp đàn thành để tiến hành pháp khai quang từ xa, chư tôn và Không Hành Mẫu tự nhiên sẽ bay đi và giáng xuống đàn thành của bạn, đây cũng là pháp khai quang bất khả tư nghì. 

Rất nhiều đàn thành khai quang từ xa cũng có được nhiều điều linh dị.
Được khai quang từ xa, phát hiện quanh đàn thành được vẩy tịnh thủy và gạo.
Được khai quang từ xa, đêm đó mơ thấy Sư Tôn đích thân đến khai quang.
Được khai quang từ xa, chủ nhân đàn thành tự tai nghe thấy thiên nhạc êm tai.
………….

**Hỏi:** Thế nào là kết giới? Nghi quỹ kết giới làm thế nào?

**Đáp: **Kết giới là một dạng làm pháp để xác định ranh giới của khu vực đàn thành. Và đất được hạn định làm pháp tức là đất kết giới. 
Kết giới có ý nghĩa là ngăn ác giữ thiện, là cách để xua đuổi cái ác và thu hút cái thiện.
Kết giới tức là tất cả ma tà không thể đi vào đất kết giới, chỉ có thần thánh là có thể vào đất kết giới. 
Kết giới có phân lớn nhỏ: 
Lớn là ở mức độ cả hành tinh, một châu lục, một đất nước. (Pháp nhân vương hộ quốc chính là kết giới một đất nước.)
Nhỏ là ở mức độ một pháp hội, một giới trường, một ngôi nhà, một đàn thành.

Liên Sinh Thánh Tôn hiểu pháp kết giới của Mật giáo như sau:
1. Pháp cọc kim cang — dựng cọc trên mặt đất.
2. Pháp tường kim cang — tường hình vuông/chữ nhật.
3. Pháp lưới kim cang — giống như lưới giăng trong hư không, mép lưới buông xuống đàn thành kim cang.
4. Pháp lửa kim cang — lửa cháy trên lưới kim cang.
5. Pháp đại tam muội da — dùng ấn minh làm tổng kết giới bên ngoài hỏa viện.

Nay Liên Sinh Thánh Tôn đặc biệt tiết lộ nghi quỹ pháp lưới lửa kim cang như sau, pháp này là pháp đại bí mật, bình thường không dễ mà nghe được. 
1. Tịnh thân nhập đàn. Triệu thỉnh xong thì làm pháp tứ quy y, pháp đại lễ bái, pháp đại cúng dường, pháp tứ vô lượng tâm.
2. Kết giới: ấn lưới kim cang.
Hai tay đan vào nhau, hai ngón út và hai ngón trỏ dựng lên chạm đầu vào nhau, hai ngón cái không chạm mà tách nhau ra, mu bàn tay hướng lên hư không, như thế là thành ấn minh. 
3. Quán tưởng: quán tưởng đàn thành là trung tâm, từ đỉnh đầu của chủ tôn bắn ra một lưới tơ màu trắng, sau đó trùm xuống bốn phương tám hướng. Cách quán tưởng này rất giống vòi phun nước của bể phun nước, ở chính giữa có một cột nước lớn phụt lên không trung, sau đó tạo thành hình như một cái ô trùm xuống bốn phương tám hướng.
Quán tưởng này chính là quán tưởng cái ô.
Muốn to bao nhiêu thì quán tưởng to bấy nhiêu.
Quán tưởng này là cực cơ mật.
4. Ấn lửa kim cang. (kết ấn)
Hai lòng bàn tay ngửa lên, đặt chồng lên nhau, tay phải ở trên tay trái, hai ngón cái chạm vào nhau dựng lên, thế là thành ấn minh. 
5. Quán tưởng: quán tưởng toàn bộ lưới kim cang bốc lửa, tức là quán tưởng cái ô lửa.
6. Trì chú: 
”Ôm na-mô sô-ha” 7 biến. (lưới lửa)
”Ôm xi-lin-ma” 21 biến. (hộ thân)
Bách tự minh chú 3 biến.
7. Từ quán tưởng ô lửa, nhập định vào bản tâm vi diệu của hỏa diễm viện, trong hư không dựng lên ngọn lửa kim cang tinh khiết nhất, giống như có được sự bảo vệ của bánh xe đại như ý, ngay lập tức trăm tà không thể xâm phạm, vạn ma không thể tiến vào, hành giả tu pháp tại mật đàn, tự chứng bồ đề, mãi diệt tham sân, pháp tạng viên mãn.
8. Xuất định hồi hướng:
Lửa kim cang tụ lại. Diệt sạch sẽ bầy ma. 
Thường tu trì tịch tĩnh. Trừ tất cả đại nạn.
Thiên thượng và nhân gian. Gặp nhau trước Thánh đàn.
Hưởng phúc như chư Phật. Chiếu khắp mười phương thành.
9. Cát tường viên mãn.

Liên Sinh Thánh Tôn thường xuyên dạy người đời dùng nước chú Đại Bi để thanh tịnh kết giới, đồng thời từ lâu đã tiết lộ pháp thanh tịnh kết giới bằng nước chú Đại Bi, mong rằng ba nghi quỹ kiến lập đàn thành, khai quang và kết giới này hành giả Chân Phật đều hiểu, tất cả tác pháp đều viên mãn vô khuyết.
Ngoài ra, pháp kết giới đại tam muội da là pháp kết giới lớn nhất, pháp này phải được truyền trực tiếp, bởi đây là một pháp rất đặc biệt.

Có hai thuyết về kết giới đại tam muội da này:
”Kết giới đại tam muội da gần với Chuyển Luân Vương Phật Đỉnh, phàm là kẻ đi ngược lại với đạo đều không thể giải trừ, không thể phá hoại.”
”Tất cả các vị tu hành, trong vòng năm trăm do tuần, các vị đều không thể đi xuống đàn thành, bởi vì uy đức của Luân Vương Phật Đỉnh có thể phá các pháp.”

**Hỏi: **Thế nào là năm tướng kết giới?

**Đáp: **Đó cũng chính là năm loại hình tướng của kết giới, có hình vuông, hình tròn, hình cái trống, hình bán nguyệt, hình tam giác. 

Lưới lửa kim cang trong hư không là hình bán nguyệt chụp xuống, còn trên địa giới là hình tròn, hành giả cũng có thể dùng gỗ đá trong tự nhiên để làm ranh giới. 
Tường kim cang là hình vuông.
Cọc kim cang đại bộ phận là hình tam giác.

**Hỏi: **Sau khi kết giới đàn thành, có thể cho phép người khác vào trong tham bái hoặc tham quan không?

**Đáp:** Vấn đề này có rất nhiều đệ tử hỏi, vì thế tôi giải thích rõ như sau:

Đàn thành vốn là một sự kết tập bí mật, là nơi thần thánh giao quy, người bình thường, người không tin, người ô uế… thật ra không nên để cho họ tự do ra vào đi lại, để tránh phạm tội mạo phạm coi thường. 

Đàn thành có thể mời Thượng sư của mình ra vào để chỉ đạo, mời đồng môn của mình ra vào để đồng tu, có nghĩa là người cùng ở trong tam muội này thì không sao. 

Tuy nhiên, để cho chúng sinh có cơ hội thấy được sự thù thắng vi diệu trang nghiêm của đàn thành thì đôi khi cũng có thể để cho họ vào tham bái hoặc chiêm ngưỡng, nhưng cần nói trước với họ là khi vào đàn thành thì nên lễ phép, đây là phép thích ứng cơ duyên, phổ môn thị hiện, tiếp dẫn tín chúng.
Khi có người tạp nham ra vào đàn thành thì phải thường xuyên sái tịnh và kết giới là được.


### 03. Nghi quỹ cúng dường


**Hỏi: **Thế nào là cúng dường, ý nghĩa chân thực của cúng dường là gì?

**Đáp: **Cúng dường [hoặc cúng dưỡng] có ý nghĩa là đem những thứ như hương hoa, đèn sáng, ẩm thực, của cải cung cấp nuôi dưỡng Tam Bảo, nói cách khác là hành động tiến tài là “cúng”, những tư lương thu về gọi là “dưỡng”. 

Cúng dường còn phân thành:
Cúng dường tiền (cúng dường lợi ích) — cúng hương hoa ẩm thực của cải.
Cúng dường pháp (cúng dường sự tôn kính) — truyền thụ Phật pháp cho trời người, dâng cúng sự tán thán cung kính.
Cúng dường tu hành (cúng dường quán hành) — cúng việc thọ trì tu hành và thực tu diệu pháp.

Những thứ như hương, hoa, đèn, trà, quả chính là Ngũ cúng. Vỏ ốc, trái cây, bột hương, đèn, đàn hương, hoa, nước tắm, nước uống chính là Bát cúng. Trong Mật giáo, kim cương hý, kim cương man, kim cương ca, kim cương vũ, kim cương hương, kim cương hoa, kim cương tỏa, kim cương đồ hương, đều tượng trưng cho cúng dường. 

Mười loại cúng dường trong kinh Pháp Hoa là: 1. Hoa, 2. Hương, 3. Chuỗi ngọc, 4. Bột hương, 5. Phấn thơm. 6. Hương đốt, 7. Ô lọng cờ phướn, 8. Y phục, 9. Kỹ nhạc, 10. Chắp tay.
Cúng dường cũng có tới 37 món cúng. 

Liên Sinh Thánh Tôn biết có một hội cúng bí mật, là dùng kim cương bảo quán và hoa man để cúng dường, đối tượng cúng dường là Đại Nhật Như Lai, chính là một trong cửu hội mandala Kim Cương Giới, nghi thức cúng dường này vô cùng thần thánh và bí mật.

Ý nghĩa chân thực của cúng dường, đối với bề trên thì có ý nghĩa của sự thân thiết, phụng sự, tôn kính, đối với bề dưới mang hàm ý đồng cảm, thương xót, bảo vệ. Còn ý nghĩa sâu nhất của cúng dường là để độ hóa lòng tham lam keo kiệt, độ hóa tham lam là ý nghĩa thật sự của cúng dường.

**Hỏi: **Bát cúng ở trên đàn thành, khi tu pháp cúng dường phải làm như thế nào?

**Đáp:** Sau khi bố trí Bát cúng xong, mỗi lần tu pháp phải đổi trái cây mới, phải thắp đèn, phải thay nước tắm, thay nước uống, lư hương phải thắp hương. Còn các cúng phẩm khác khi nào muốn thay thì thay cũng được.

Nghi quỹ cúng dường như sau: (pháp đơn giản)

Hành giả kết ấn cúng dường.
Quán tưởng trong vũ trụ núi Tu Di ở chính giữa, bốn cõi trời Đông Tây Nam Bắc ở xung quanh núi Tu Di, và phía Đông Tây của núi Tu Di có nhật nguyệt. 
Tiếp theo quán tưởng cúng phẩm biến hóa, từ một điểm biến thành một hàng, một mặt phẳng, đến khi đầy ắp cả núi Tu Di và bốn cõi trời đông tây nam bắc. 
Sau đó quán tưởng tất cả vàng bạc châu báu toàn bộ đều hiến dâng lên chư Tôn. 
Niệm bài kệ cúng dường:

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kỳ diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Chú gia trì cúng dường: 

Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.

Giải ấn.
Cát tường viên mãn.

**Hỏi:** Học pháp cúng dường có lợi ích gì?

**Đáp:** Con người thế gian nếu muốn có được phúc báo lớn nhất thì phải cúng dường Thượng sư, Tam Bảo, Kim cang, Hộ pháp. Bởi vì việc cúng dường này biểu thị lòng thành kính của hành giả, cung kính Tam Bảo vô thượng, như vậy có thể có được lực gia hộ của Thượng sư và Tam Bảo mà đắc được phúc báo vô cùng. 

Liên Sinh Thánh Tôn còn nói: nếu một người muốn có được phúc báo lớn nhất của nhân gian, ví dụ kiếp sau trở thành Quốc vương của nhân gian, hoặc là gia đình giàu có nhất, chỉ cần tu trì mỗi pháp Chân Phật đại cúng dường là có thể có được phúc báo vô cùng.

Muốn hiểu rõ pháp Chân Phật đại cúng dường này có thể tham khảo cuốn sách “Chân Phật - Mật trong Mật”, trang 22. 
Muốn hiểu rõ khẩu quyết đại cúng dường có thể tham khảo cuốn sách “Chân Phật - Pháp trong Pháp”, trang 16. 
Muốn loại trừ oan thân trái chủ, có thể dùng “Chân Phật mễ cúng pháp thí quán”, có thể tham khảo cuốn “Mật Tạng siêu kỳ lạ”, trang 162. 

[Lưu ý: số trang sách đề cập ở đây là theo sách nguyên bản tiếng Trung.]

**Hỏi:** Vì sao phải cúng dường hương, hoa, đèn, v.v… Hương, hoa, đèn có hàm nghĩa đặc biệt sao?

**Đáp: **Chúng có hàm nghĩa đặc biệt, bất kì cúng phẩm nào cũng có hàm nghĩa, tôi lấy ví dụ ba bài kệ sau:

*Hương trừ được dơ bẩn
Khói như mây sinh ra
Mây sáng mang mưa pháp
Mãi tưới đẫm chúng sinh.*

Hàm nghĩa của việc thắp hương cúng dường chính là sự sinh sôi phồn thịnh.

*Mùa xuân cỏ cây mọc
Trăm hoa nảy chồi non
Tay cầm hoa cúng dường
Cõi Phật đầy thất bảo.*

Hàm nghĩa của cầm hoa cúng dường hoàn toàn không phải nói về sắc, mà là quả đức viên mãn.

*Bồ Tát tu minh huệ
An trụ hạnh Đại thừa
Để trừ bỏ phiền não
Cháy mãi đèn trí huệ.*

Cầm đèn cúng dường chính là ánh sáng trí huệ mãi mãi phổ chiếu, sự pháp và lý pháp tương ứng. Cầm đèn cúng dường chính là quang minh hiển hiện. 

……….

**Hỏi:** Vì sao cần cúng dường Kim cương Thượng sư?

**Đáp:** Kim cương Thượng sư là sư phụ truyền thụ Phật pháp Kim cương thừa, và Kim cương Thượng sư chắc chắn đã được nhận quán đảnh truyền pháp Acharya thì mới có thể đảm đương được. Đại bộ phận phân thành bốn cấp:
Acharya — là hành giả hiểu rõ nghi quỹ các pháp sự, có tín tâm và tu hành.
Đại Acharya — hiểu rõ và thông tỏ giáo lý.
Kim cương Acharya — sự pháp, lý pháp đều hiểu rõ, đồng thời có trí huệ để hiểu thấu và lý giải.
Đại trì minh kim cương Acharya — là hành giả có trí huệ vô thượng, trí huệ bát nhã, minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử, làm mọi thứ theo tính của Kim Cang Tát Đỏa.
Và một bậc Kim cương Thượng sư chân chính đối với chúng sinh có ba căn cơ thượng, trung, hạ đều có thể che chở hết, hiểu rõ giáo lý nội ngoại.
Vì một bậc Kim cương Thượng sư là tổng nhiếp Tam Bảo, do đó lấy việc gánh vác sự nghiệp Như Lai là sự nghiệp cả đời, nên cúng dường Tam Bảo vì thế cũng nên cúng dường Kim cương Thượng sư. 

**Hỏi: **Chúng ta cúng dường Kim cương Thượng sư như thế nào?

**Đáp: **Trong cuốn “Sự sư pháp ngũ thập tụng” đã viết rất rõ ràng, tôi lấy một số ví dụ như sau:

Điều thứ 16:
"Luôn hướng đến thầy ta, phụng sự và cúng dường, giữ tấm lòng kính trọng, chướng ngại ắt tiêu trừ."
Tận tâm cúng dường thầy, tôn trọng thầy, nhờ vào sự gia trì của thầy, từ đó có thể diệt trừ chướng ngại, phiền não.

Điều thứ 17:
"Quay tâm dựa vào thầy, hỷ xả và lạc hạnh, thân này còn đem cúng, tiền tài lại màng chi."
Sinh mệnh của mình còn có thể hy sinh, nói gì đến tiền tài, người thích bố thí hỷ xả sẽ có được phúc báo.

Điều thứ 20:
"Những gì yêu quý nhất, đồ trân quý cực kì, cầu bồ đề vô tận, ta thành tâm cống hiến."
Thượng sư cũng chính là đại diện, bao gồm toàn thể Tam Bảo. Cần đem mọi thứ tốt nhất để phụng sự thầy, sẽ có được vô lượng vô biên công đức.

Điều thứ 21: 
"Phụng sự Phật và thầy, ý niệm lành tăng trưởng, thầy ruộng phước tối thắng, ta chóng chứng Bồ Đề."
Cúng dường thầy, cúng dường Phật. Các ngài là ruộng phước tốt đẹp nhất, từ đó sẽ nhanh chóng sẽ chứng được quả vị Bồ Đề.

**Hỏi: **Căn bản Thượng sư của Chân Phật Tông, Liên Sinh Kim cương Thượng sư, là Đại Trì Minh Kim cương Acharya phải không?

**Đáp:** Là bậc Đại Trì Minh Kim cương Acharya chân chính.
Bởi vì Chân Phật Mật Pháp là nghi quỹ Mật pháp sự tướng chân chính.
Bởi vì Phật pháp lý tướng đều sáng tỏ tại tâm.
Bởi vì sự pháp, lý pháp đều thông hiểu tỏ tường và đắc đại trí huệ.
Bởi vì Liên Sinh Kim cương Thượng sư có trí huệ vô thượng, trí huệ bát nhã, minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử.

Ngọn nguồn khai ngộ:
Đại Nhật Như Lai — Phật Nhãn Phật Mẫu — Liên Hoa Đồng Tử — Liên Sinh Kim cương Thượng sư.

Được:
A Di Đà Phật ủy thác.
Thích Ca Mâu Ni Phật thọ ký.
Di Lặc Bồ Tát đội hồng quán.
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ dạy Mật pháp.
Có cõi thành tựu chân thực — Ma Ha Song Liên Trì.

**Hỏi:** Vì sao Liên Sinh Kim cương Thượng sư cũng lại là Đại Phúc Kim Cang?

**Đáp: **Liên Sinh Thánh Tôn từng tu lục độ vạn hành, có đầy đủ mọi phúc đức, có thể hiển hiện pháp thân tại Ma Ha Song Liên Trì và trở thành Đại Phúc Vương phúc đức trang nghiêm, Liên Hoa Đồng Tử là Đại Bồ Tát làm lợi ích cho người khác. Vì thế, Liên Sinh Kim cương Thượng sư có đầy đủ ba loại phúc nghiệp:
1. Thí phúc nghiệp — bố thí cho người nghèo, nhờ bố thí mà được phúc xuất thế gian.
2. Bình đẳng phúc — lấy tâm từ bi bình đẳng yêu thương che chở tất cả chúng sinh.
3. Tư duy phúc — dùng tư duy mà biết được nhân duyên được mất lớn nhỏ, có được phúc xuất ly vô thượng.

Vì có đầy đủ ba đại phúc này, cho nên Liên Sinh Kim cương Thượng sư có biệt hiệu là Đại Phúc Kim Cang, Đại Phúc Kim Cang có thể khiến chúng sinh có được phúc lợi. Ai được Liên Sinh Kim cương Thượng sư gia trì thì đều có thể có được phúc phần.
Cúng dường Liên Sinh Kim cương Thượng sư (Đại Phúc Kim Cang) sẽ có thể nhận được mọi phúc báo.

**Hỏi:** Cúng dường Liên Sinh Kim cương Thượng sư sẽ có được phúc phần và phúc báo ra sao?

**Đáp:** Cúng dường Liên Sinh Kim cương Thượng sư tương đương với cúng dường vô lượng vô tận Phật Bồ Tát Chư Tôn, chính là sự cúng dường quảng đại vô biên, nhờ công đức cúng dường ấy mà thu được vô lượng phúc, tùy ý muốn mà có thể có được vô lượng tài phúc, đồng thời đời đời kiếp kiếp đầy đủ sung túc, hơn nữa thường sống ở nơi có chư Phật, nếu biết trân trọng điều may mắn ấy mà bố thí tu hành thì có thể được hóa sinh từ hoa sen, đắc sáu đại thần thông, có trăm triệu phân thân, cứu tế chúng sinh hữu tình, đời hiện tại có thể có được phúc báo, khi vãng sinh có thể đến tịnh thổ Ma Ha Song Liên Trì. 

Cần biết rằng Liên Sinh Thánh Tôn là vị có phúc huệ dồi dào.
Phúc dồi dào — nhân thiên phúc báo.
Huệ dồi dào — pháp không tiểu quả.

Cho nên Liên Sinh Thánh Tôn “lợi giác là nhân, phúc huệ là quả, nhân hành quả viên, phúc huệ dồi dào”, có nghĩa là tự lợi lợi tha, tự giác giác tha cho đến khi giác hành viên mãn.

**Hỏi:** Thế nào là hội cúng pháp? Nghi quỹ của hội cúng pháp ra sao?

**Đáp: **Hội cúng thật ra là tụ họp lại cùng tu cúng dường, tập hợp mọi người lại để tu pháp cúng dường thì gọi là hội cúng. 

Nghi quỹ của pháp hội cúng như sau: 
(Pháp hội cúng này do Liên Hoa Xán Hồng biên tập.)

Hành giả Mật tông có tam căn bản là Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp, vì thế, bất luận là hội cúng, bố sát [còn gọi là ngày tụng giới - ngày lễ tết của Phật giáo], hay cúng dường, đều nên cúng dường tam căn bản trước. Hội cúng chính là nằm trong bốn bộ môn lớn “giáo, lý, hành, quả” của Mật pháp, là một pháp môn tu hành của “hành” cần phải tuân theo đúng thời gian.

Theo chế độ của Tây Tạng, thời gian và đối tượng của hội cúng như sau: (thời gian nói đến ở đây là Âm lịch)
Ngày mồng 1 và mồng 10 hàng tháng, hội cúng Thượng sư.
Ngày 15 hàng tháng, hội cúng Bổn tôn.
Ngày 25 hàng tháng, hội cúng Không hành mẫu.
Ngày 29 hàng tháng, hội cúng Hộ pháp.
Thời gian ở trên mặc dù là hội cúng theo định kỳ, nhưng khi hội cúng, chư Phật, Bồ Tát, Không hành mẫu, Hộ pháp, Thiên thần và trung ấm, ngạ quỷ, v.v… không ai là không được đưa vào danh sách nhận cúng.

Hội cúng, từ tên gọi mà suy ra ý nghĩa, là tập hợp những người đồng tu bày biện các thứ cúng dường trước Phật, để dâng lên cho các vị thọ cúng, thỉnh cầu phù hộ và cúng dường Bổn tôn của chính mình. 

Nghi thức hội cúng thì các giáo phái về cơ bản là giống nhau, chủ yếu là niệm tụng Bách tự minh, cúng mandala, Thượng sư tâm chú hoặc chú dài, tán tụng và tu pháp Thượng sư tương ứng ở trong giáo phái đó, v.v… 

1. Niệm chú thanh tịnh

Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.

2. Niệm chú triệu thỉnh

Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

3. Kính lễ Căn bản Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật và Tam Bảo thánh chúng tại đàn thành. (đảnh lễ 3 lần)

4. Phát tâm quy y (3 biến)

Tam Bảo tối thượng con quy y
Hết thảy nghiệp tội đều sám hối
Thiện căn chúng sinh nên tùy hỷ
Chính giác bồ đề giữ vững bền.
Diệu pháp Chư Phật và tăng già
Đến khi bồ đề con quy y
Vì lợi ích mình và người khác
Nay con xin phát bồ đề tâm
Đã phát bồ đề tâm tối thượng
Biết bao lợi ích các hữu tình
Bồ đề diệu hạnh đều tu tập
Làm lợi chúng sinh nguyện thành Phật.

5. Phát tâm hội cúng

Nguyện tất cả chúng sinh cùng pháp giới tiêu trừ tội chướng, để phúc huệ viên mãn, cùng chứng vô thượng bồ đề. Cung kính tu hội cúng, kính xin ban gia trì.

6. Chú quán không tịnh nghiệp (3 biến)

(Quán tất cả pháp tính đều không.)

Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng.

7. Gia trì biến hiện cúng phẩm

Từ trong tính Không biến hiện thiên linh bảo cái dung nạp năm loại thịt, năm loại nước cam lộ, hoặc quán tưởng dung nạp vô lượng hương hoa, đồ ăn ngon, hoa quả tươi, hoặc quán tưởng tất cả cúng phẩm của bàn cúng ở đàn thành.

8. Tam tự minh: Ram Yam Kham (3 biến)

Quán tưởng rõ ràng chính mình thành Bổn tôn không khác biệt, trong tâm phóng ra chữ Ram Yam Kham (tiếng Tạng), ba chữ rực sáng, nhờ lửa lớn thiêu đốt, gió mạnh thổi bay, nước lớn gột sạch, sức mạnh tịnh trừ mọi ô nhiễm, biến thành biển cam lộ thanh tịnh diệu kỳ.

9. Tam tự kim cang: Ôm ah hùm. (3 biến)

Tự thành Bổn tôn phóng ra ba bánh xe chủng tự Om Ah Hum, ánh sáng chiếu khắp nơi.
(1) Chữ Om sáng rực, gia trì cho cúng phẩm biến thành đầy ắp hư không. (biến thành nhiều)
(2) Chữ Ah sáng rực, gia trì cho cúng phẩm thanh tịnh. (biến thành thanh tịnh)
(3) Chữ Hum sáng rực, gia trì cho cúng phẩm biến thành đầy ắp hư không, biến thành biển cam lộ. (biến thành cam lộ)

10. Tán tụng

Hum hum hum.
Tự tính tam thân Phật sát thổ
Thượng sư Bổn tôn Không hành mẫu
Mang lời thề nguyện Hộ pháp tôn
Thỉnh cầu giáng lâm nhận hội cúng
Liên Sinh Hoạt Phật đại Thượng sư
Liên Hoa Đồng Tử ứng hóa tôn
Ngũ phương Ngũ Phật đại đàn thành
Bát đại Bồ Tát đầy hân hoan
Hộ pháp Không hành như biển nhiễu
Âm nhạc điểm tô bằng nhã âm
Lời ca điệu múa đẹp duyên dáng
Phủ khắp mặt đất và hư không
Hội cúng kỳ diệu thỉnh gia trì
Hành giả du già tâm thành kính
Nhờ có hội cúng kỳ diệu này
Chúc mừng tụ tập tại minh đường
Thề nguyện đã phá xin sám hối
Thanh tịnh viên mãn nạp minh cung
Liên Sinh Hoạt Phật trường trụ thế
Chân Phật Mật thừa chuyển pháp luân
Nay con thành tâm xin cầu thỉnh
Mong rủ lòng thương thường hộ niệm
Tiêu tai trừ chướng tăng giác thụ
Cúng hết cõi Phật ban viên mãn.

11. Cúng mandala

Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kỳ diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.

Chú mandala: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.

12. Dâng Bát cúng

Ah can sô-ha ôm ah hùm. (nước)
Pa tang sô-ha ôm ah hùm. (nước tắm)
Pu pê sô-ha ôm ah hùm. (hoa)
Tu pê sô-ha ôm ah hùm. (hương)
Ah lô cây sô-ha ôm ah hùm. (đèn)
Can tia sô-ha ôm ah hùm. (phấn)
Ni wây tia sô-ha ôm ah hùm. (quả)
Xia ta sô-ha ôm ah hùm. (nhạc)

13. Niệm tụng văn thỉnh cầu Liên Sinh Hoạt Phật gia trì

Om Ah Hum
Kính đem thân khẩu ý thanh tịnh
Cúng dường Tỳ Lô Giá Na Tôn

Pháp thân Phật Nhãn Phật Mẫu Thánh
Báo thân Liên Hoa Đồng Tử thân
Ứng Thân giáo chủ Liên Sinh Phật
Ba thân không khác, đại Phật ân

Cung kính Chân Phật đại truyền thừa
Thần thông ban trải đầy thế giới
Phóng quang chiếu rọi khắp ba thời
Hóa hiện không ngừng chứng nhất như
Đệ tử tha thiết thường cầu tới
Soi chiếu quang minh, phúc huệ tăng

Xưa đến thọ ký, Phật Thích Ca
Phó thác ân cần, A Di Đà
Di Lặc Bồ Tát ban hồng quán
Liên Hoa Đại Sĩ mật pháp truyền
Thánh Tôn xin thỉnh đừng quên nguyện
Cứu độ chúng sinh chúng con đây.
Hộ niệm như thế xin nhiếp thọ
Thành tựu nhanh nhanh thỉnh gia trì

Nam mô Tỳ Lô Giá Na Phật
Nam mô Phật Nhãn Phật Mẫu
Nam mô Liên Hoa Đồng Tử
Nam mô Liên Sinh Hoạt Phật
Nam mô Chân Phật hải hội thập phương tam thế chư Phật Bồ Tát Ma Ha Tát.

14. Thỉnh cầu Thượng sư tam quang gia trì

(1) Đầu tiên quán không. 

Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng.

(2) Tiếp theo quán tưởng Căn bản Thượng sư an trụ ở hư không đối diện, phóng tam quang bao bọc lấy hành giả, nghênh thỉnh Thượng sư nhập ngã Cha-Hum-Ban-Ho thành nhất thể.

(3) Trì Liên Sinh Hoạt Phật tâm chú: Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)

(4) Tĩnh tọa. Thiền quán Thượng sư nhập ngã, toàn thân tỏa ra tịnh quang chiếu khắp mười phương, nhập vào biển tự tính thanh tịnh vô niệm.

15. Trì thêm những tâm chú khác

Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thế sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Ôm ah hùm ben-za gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ)
Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lián-shâng sit-đi hùm (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-lê-ya sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)
Nam mô Không hành Hộ pháp tôn. 

16. Tiếp đó, ném các vật phẩm của hội cúng lên không trung và niệm đoạn văn sau: 

(Mọi người kết thủ ấn cúng dường và nhập sâu vào trong suy tưởng.)

Om Ah Hum.
Cung thỉnh Thượng sư hải hội dùng hội cúng.
Cung thỉnh Bổn tôn hải hội dùng hội cúng.
Cung thỉnh Không hành mẫu hải hội dùng hội cúng.
Cung thỉnh Hộ pháp chư tôn dùng hội cúng.
Cung thỉnh Tài thần khố chủ dùng hội cúng.
Cung thỉnh các quỷ thần hiển hiện dùng hội cúng.
Cung thỉnh sơn thần địa chủ dùng hội cúng.
Cung thỉnh lục đạo phụ mẫu dùng hội cúng.
Cung thỉnh oan trái chướng loài dùng hội cúng.
Cung thỉnh các vị khác nhận hội cúng.
Cung thỉnh các hạng vai vế nhận hội cúng.
Cung thỉnh tất cả tiếp nhận hội cúng đề huề.
Cung thỉnh chung tất cả tiếp nhận hội cúng tuyệt diệu đại lạc chân chính.

17. Dâng cúng phẩm

Tay kết thủ ấn, cúng dường Thượng sư, đàn thành Tam Bảo và thánh chúng cùng quốc thổ của chư Phật khắp mười phương pháp giới và vô lượng chúng sinh. 

Om Ah Hum. Quán tưởng cúng phẩm trước đàn thành đầy khắp hư không pháp giới.
Chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.

1. Tụng bài tích lũy tư lương sám hối tội lỗi

Mong Thượng sư Tam Bảo có lòng nhớ tới
Kính lễ trước Thượng sư ánh sáng hoa sen
Trong kinh luận Như Lai Thượng sư đã dạy
Đừng bao giờ phỉ báng bậc A-xà-lê
Trước huynh tỉ kim cương cùng nhận quán đảnh
Khởi tà kiến cáu giận nói lời ác ố
Đàn thành Bổn tôn tại tâm chưa thấy rõ
Niệm tụng chú âm sai sót chẳng rõ ràng
Gửi gắm bí mật giữ gìn và bớt nói
Tuyên thuyết mười bí mật lừa gạt Thượng sư
Tội căn bản đã phạm phát lộ sám hối
Sau này làm sự nghiệp năm giới giữ gìn
Tội lỗi khác đã phạm phát lộ sám hối
Không giữ vững định lực giới luật tu trì
Một ngày sáu thời không tu cúng đầy đủ
Vì lười biếng keo kiệt và tham tích trữ
Buông thả tam nghiệp phá giới nay sám hối
Tất cả tội lỗi phạm giới đã đều nhiễm
Thành tâm phát lộ sám hối nguyện thanh tịnh. 

19. Bách tự minh chú

Khi tu Bách tự minh, trước tiên quán tưởng Kim Cang Tát Đỏa trụ tại đỉnh đầu, sau đó bắt đầu trì chú. Khi trì chú, quán tưởng chú luân trong tim Kim Cang Tát Đỏa chuyển động, sinh ra cam lộ rơi xuống tưới lên bản thân, tẩy sạch tội lỗi và ô uế, tội lỗi và ô uế rơi ra được Diêm Vương hưởng dụng. Tiếp tục trì chú, quán tưởng cam lộ không ngừng rơi xuống, dần dần thấm đẫm toàn thân, toàn thân trở thành thanh tịnh. Đến khi sắp kết thúc tu pháp thì dừng trì chú và quán tưởng mặt đất khép lại, tất cả hóa thành ánh sáng đi vào Kim Cang Tát Đỏa, Kim Cang Tát Đỏa hóa quang nhập vào chính mình. 

Cho nên mỗi một lần ngồi tu thì phân làm ba giai đoạn - đầu, giữa, cuối, đoạn đầu và đoạn cuối đều chỉ có quán tưởng, đoạn giữa thì vừa trì chú vừa quán tưởng. Đoạn giữa trì chú liên tục không dừng, quán tưởng cam lộ rơi xuống và tội lỗi ô uế rời khỏi thân thể cũng liên tục không dừng. 

Tụng 21 biến Kim Cang Tâm Bách tự minh chú:

Ôm ben-za sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya ben-za sa-tô tê-nô-pa ti-cha
Chê-chô mê-pa-wa su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-ơ-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-ơ-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-ân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ pan-ga-guân
Sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta ben-za ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya sa-to ah hùm pây.

Chỉ mong chúng con từ luân hồi vô thủy đến nay, tất cả ác nghiệp tội chướng đã tích lũy đều được tiêu diệt, thanh tịnh viên mãn.

20. Dâng cúng

Vị thầy kim cương làm nghi thức lấy cam lộ làm xử ấn yết ma, y theo nghi thức dâng lên trước chủ tọa và hát rằng: A la la hơ. Xin trụ tam ma địa mà hưởng nạp, lần lượt phân chia cho du già chúng và hữu duyên tùy hỉ chúng, dùng hội cúng xong thì cứ để lại thức ăn thừa, dùng tam tự chân ngôn gia trì cho để cúng cho ngoại hộ. [Ngoại hộ là chỉ những người ngoài tăng chúng, ví dụ cư sĩ tại gia, người thân thích, thí chủ,…]

21. Thí tàn thực niệm tụng pháp

Om Ah Hum. (Gia trì tàn thực để cúng cho ngoại hộ.)

Mọi thức ăn thừa quỷ thần chúng tự do
Tập trung đông đúc cầu mong hãy xuống đây
Tiếp nhận hội cúng những cơm ngon canh ngọt
Ngày xưa trước Phật các người lập lời thề
Mọi điều phá giới phá luật đều tiêu diệt
Lại giúp hoàn thành nghiệp nhập thế xuất thế.

Chú thí tàn thực: U-chi-cha pa-lin-ta ka-hây-yi ka-xi ka-xi.
(Vị thầy kim cương làm nghi thức chuyển cúng vật ra nơi sạch sẽ ở ngoài đàn thành để cúng cho ngoại hộ.)

22. Bài tán tụng kết thúc

Liên Sinh Thượng sư nhiếp Tam Bảo
Có đủ chư Phật ba la mật
Đại lạc đại minh đại phương tiện
Pháp nhĩ kim cương đại tổng trì.
Bản lai vô sinh Pháp thân tôn
Đại lạc viên mãn Báo thân tôn
Bi trí song vận Hóa thân tôn
Tam thân Thượng sư xin tán thán.

23. Chân ngôn bổ khuyết

Ôm đu-ru đu-ru cha-ya mu-kei sô-ha. (7 biến)

24. Hồi hướng

Thỉnh cầu Thượng sư gia trì lực
Ban cho quán đảnh liên hoa sinh
Quảng đại viên mãn đắc tự tại
Tự độ độ tha đến Phật địa.

25. Bài kệ cát tường

Tùy tâm quán duyên đắc thành tựu
Nguyện chứng Bổn tôn đắc cát tường
Thân khẩu ý nghiệp quy pháp tính
Nguyện đại viên mãn đại cát tường.

**Hỏi: **Có phương pháp đơn giản để cúng thức ăn cho quỷ thần không?

**Đáp: **Có, cách cúng đơn giản như sau:
Hành giả lấy cốc nước đặt trên tay và niệm chú:
”Na-mô sa-mô ta-tha ưa-tô. Mô-lu chư-ti. Ôm. San-pa-la. San-pa-la. Hùm.”
Hành giả quán tưởng một món ăn trong cốc trở thành vô số món ăn, tầng tầng lớp lớp vô tận, cứu tế rộng khắp cho quỷ thần chúng.

Lại niệm: 
”Na-mô su-lu pô-yê. Ta tha tô-yê. Ta-chi-tha. Ôm. Su-lu su-lu. Pô-la su-lu. Pô-la su-lu. Sô-ha.”

Chú lực gia trì, thanh tịnh trong veo, nước hóa thành cam lộ. 
Đọc bài kệ:
Đại bàng kim sí điểu
Hoang dã quỷ thần chúng
La sát Quỷ Tử Mẫu
Cam lộ đều tràn trề.
Ôm mu-ti sô-ha. (7 biến)
Sau giờ Ngọ, đem nước hay gạo trong cốc vẩy ra bên ngoài cửa.

**Hỏi: **Nếu chỉ có niệm chú ngữ thì có xem là quảng đại cúng dường không?

**Đáp:** Ở đây Liên Sinh Thánh Tôn có một câu chú bí mật, chỉ niệm ba biến là tương đương với quảng đại cúng dường, khi ra ngoài đi du lịch có thể niệm chú này ba biến:

“Ôm a-ma-ka pu-cha ma-ni pê-tưa-ma wa-zư-la ta-tha-ga-ta wây-lô gê-te san-man-ta pô-la-sa-la hùm.”

**Hỏi:** Đại lễ bái có được xem là cúng dường Thượng sư không?

**Đáp:** Chắp tay chính là cúng dường, cho nên đại lễ bái chính là cúng dường.
Hành giả Chân Phật chúng ta lễ bái Căn bản Thượng sư hoặc lễ bái đàn thành, hai tay chắp lại ở đỉnh đầu, đầu tiên chạm vào thiên tâm, quán tưởng ánh sáng trắng chiếu đến thiên tâm (ý thanh tịnh); tay lại chạm vào họng, quán tưởng ánh sáng đỏ chiếu đến họng (khẩu thanh tịnh); tay lại chạm vào vùng tim, quán tưởng ánh sáng lam chiếu vào vùng tim (thân thanh tịnh). 
Thân khẩu ý thanh tịnh này chính là đem thân khẩu ý cúng dường Thượng sư Tam Bảo. Làm đại lễ bái như vậy thì tự nhiên sẽ là cúng dường.

Kinh Minh Đăng nói:
”Này đệ tử gia đình tốt (Phật tử), công đức của việc lễ bái từng lỗ chân lông trên người Thượng sư lớn hơn nhiều so với công đức lễ kính thân khẩu ý kim cương của thập phương Bạc Già Phạm Phật.” 
Vì sao?
Bởi vì bồ đề tâm của Thượng sư chính là trung tâm của trí huệ vô thượng của tất cả Phật đó!

Cúng dường Thượng sư thật ra vẫn còn có rất nhiều phương pháp, ngoài dùng thân thể để làm đại lễ bái ra thì còn có đi nhiễu niệm Phật, giúp đỡ việc viết sách, may vá tăng y, để cho Thượng sư sai phái, lấy cơm rót trà, quét sàn lau bàn… Dùng miệng cầu nguyện và ca ngợi ngài. Bồi dưỡng lòng trung thành, tôn kính và tri kiến thuần tịnh.

**Hỏi: **Chúng ta làm lễ đại lễ bái với Thượng sư thì có công đức gì?

**Đáp:** Dùng tâm kính cẩn làm đại lễ bái có thể có được mười lợi ích sau:

1. Diện mạo đẹp đẽ.
2. Khí sắc hồng hào.
3. Giọng nói khỏe khoắn.
4. Thu phục đồng nghiệp.
5. Trời người yêu mến.
6. Thánh nhân bầu bạn.
7. Khỏe mạnh sống lâu.
8. Giàu có một phương.
9. Đầu thai cao quý.
10. Giải thoát tự tại.

**Hỏi: **Ý nghĩa của việc làm đại lễ bái với Căn bản Thượng sư nằm ở đâu?

**Đáp: **Hoàn toàn tín phục Phật pháp, hoàn toàn tín phục Căn bản Thượng sư, đã loại bỏ ngạo mạn và chấp ngã, đã bắt đầu kết hợp Phật pháp vào tu hành. 

Hành giả Chân Phật đã dâng hiến thân khẩu ý của mình rồi.


### 04. Nghi quỹ Thánh đản của chư tôn


**Hỏi:** Hành giả Chân Phật gặp ngày Thánh đản của chư tôn, làm lễ chúc mừng như thế nào?

**Đáp:** Chúc mừng ngày Thánh đản của chư tôn không nằm ngoài việc ca tụng, niệm danh hiệu, cúng dường, lễ bái, tụng kinh chú, quy y, hồi hướng ...

Liên Sinh Thánh Tôn đưa ra một nghi quỹ như sau:

Nghi quỹ chúc mừng Thánh đản Quan Thế Âm Bồ Tát:

1. Hương tán.

Giới định chân hương khởi,
Xông tỏa vượt mây xanh.
Đệ tử lòng chí thành,
Dâng đốt lư hương vàng
Hơi hương lan mười cõi,
Chốc lát khắp hư không.
Như xưa Dạ Thâu nương, [Dạ Thâu tức Yasodhara]
Tiêu tai trừ chướng nạn.

Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần)

2. Niệm tụng.

Nam mô Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát. (3 lần)
Chú Đại Bi. (3 lần)

3. Bài kệ tán thán:

Bồ Tát hiệu Viên Thông,
Giáng sinh rừng báu bảy tầng.
Nghìn tay nghìn mắt dung nhan nhiệm diệu,
An tọa trong điện Phổ Đà cung.
Cành dương liễu rưới cam lộ nước thánh,
Tưới nhuần khắp cõi pháp thơm nồng.
Sóng nghìn lớp hiển thần thông diệu,
Ánh sáng chiếu khắp trong đạo tràng.
Quan Âm lời thề sâu khó nghĩ,
Ứng hóa tùy duyên chẳng lỡ thời.
Nghe tiếng cứu khổ như nam châm sắt hút,
Hiện thân thuyết pháp bóng nguyệt soi ao.
Trong vô lượng cõi, đều thành độ thoát,
Nơi Ta Bà này lại rủ lòng từ.
Ơn sâu biển rộng không lời kể xiết,
Nguyện thương muôn loài hộ trì chở che.
Nam mô Phổ Đà Sơn, Lưu Ly Thế Giới,
Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát.

4. Vừa đi nhiễu vừa niệm Phật

Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát.

5. Tụng kinh.

Kinh Phổ Môn Quan Thế Âm Bồ Tát hoặc Kinh Cao Vương Quan Thế Âm.

6. Lễ bái phát nguyện.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (lạy 3 lần)
Nam mô A Di Đà Phật. (lạy 3 lần)
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát. (lạy 3 lần)
Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát. (lạy 3 lần)
Nam mô thanh tịnh đại hải chư Bồ Tát. (lạy 3 lần)

7. Cúng dường.

Kết ấn cúng dường.
Quán tưởng biến hóa.
Niệm chú cúng dường.

8. Tứ quy y.

Tự quy y Kim cương Thượng sư, nguyện chúng sinh chứng đắc tính Không và Đại Viên Mãn nhiệm mầu.
Tự quy y Phật, nguyện chúng sinh lĩnh ngộ đại đạo, phát tâm vô thượng.
Tự quy y pháp, nguyện chúng sinh thâm nhập kinh tạng, trí huệ như biển.
Tự quy y tăng, nguyện chúng sinh thống lĩnh đại chúng, mọi sự không trở ngại, hòa hợp thánh chúng.

9. Kệ hồi hướng.

Xưng tán công đức hạnh thù thắng
Vô biên thắng phúc đều hồi thướng
Nguyện mọi chúng sinh trong khổ đau
Vãng sinh cõi Phật Vô Lượng Quang.

Thập phương tam thế tất cả Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát. Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật.

Cát tường viên mãn.

**Hỏi:** Nghi quỹ chúc mừng này có thể linh hoạt vận dụng được không?

**Đáp:** Liên Sinh Thánh Tôn đưa ra "Nghi quỹ chúc mừng Thánh đản Quan Thế Âm Bồ Tát" chính là để mọi người căn cứ vào bản mẫu này mà linh hoạt vận dụng.

Thứ tự không thay đổi, tức là hương tán, niệm tụng, bài kệ tán thán, nhiễu niệm, tụng kinh, lễ bái phát nguyện, cúng dường, tứ quy y, hồi hướng, trình tự này không đổi.

Nhưng nội dung có thể thay đổi, chỉ cần không rời khỏi ý nghĩa chính của việc chúc mừng Thánh đản, có thể tự mình viết bài kệ tán thán, tự mình viết văn hồi hướng, đây là bản mẫu để vận dụng linh hoạt.

Nếu là Thánh đản của Phật Thích Ca Mâu Ni, bài kệ tán thán của chúng ta sẽ là:
Thích Ca Văn Phật. Ngồi tại Kỳ Viên. Trưởng giả Cấp Cô trải gạch vàng.
Thuyết pháp lợi người trời. Phúc huệ song toàn. Muôn đời lưu truyền mãi.

Nếu là Thánh đản của Phật Dược Sư, bài kệ tán thán của chúng ta sẽ là:

Dược Sư giáo chủ. Lưu Ly Quang Vương. Tám vị Bồ Tát giáng cát tường.
Chư Phật trợ tuyên dương. Nhờ uy quang Phật. Phúc lộc mãi an khang.

Nếu là Thánh đản của Phật A Di Đà, bài kệ tán thán của chúng ta sẽ là:
A Di Đà Phật. Y Vương vô thượng. Kim tướng nguy nghi phóng hào quang.
Biển khổ làm thuyền. Cửu phẩm liên bang. Cùng nguyện vãng Tây phương.

Nếu là Thánh đản của Chuẩn Đề Phật Mẫu, bài kệ tán thán của chúng ta sẽ là:
Phật Mẫu vĩ đại. Vô đẳng vô luân. Mười tám cánh tay hiển uy thần.
Mật chú lợi trời người. Lễ niệm công thuần. Tức khắc thoát mê lầm.

Các vị khác cũng tương tự......

Tất nhiên, niệm tụng, trì chú, nhiễu niệm, tụng kinh, lễ bái của chúng ta, tất cả đều phải liên quan đến các vị Phật Bồ Tát được chúc mừng trong ngày hôm đó, cụ thể là:
Thánh đản Phật A Di Đà, tụng "Kinh A Di Đà".
Thánh đản Phật Dược Sư, tụng "Kinh Dược Sư".
..................

**Hỏi:** Chúng ta là hành giả Chân Phật làm nghi quỹ chúc mừng, có ý nghĩa gì không?

**Đáp:** Trong quá trình tiến hành nghi quỹ chúc mừng là trang nghiêm và trang trọng, ý nghĩa lớn nhất là chư Phật Bồ Tát chư tôn phóng quang giáng đàn tràng, hành giả tiêu tai giải ách, phúc huệ tăng trưởng, tu hành tiến thêm một bậc.

Nghi quỹ chúc mừng này lại là một trong các nghi quỹ đồng tu, đối với chúng sinh mà nói là một khâu cực kỳ quan trọng, không thể xem nhẹ, thậm chí vì bầu không khí trang nghiêm, sự thiêng liêng trang trọng, có thể cổ vũ nhân sinh, an định xã hội, tịnh hóa tâm người. Người tham gia chúc mừng, vì được Phật quang chiếu soi, đối với tương lai càng có đầy đủ niềm tin và hy vọng.

Hành giả làm nghi quỹ chúc mừng là một trong tu hành, lại có tác dụng khích lệ và khen thưởng; đối với những người khác, cũng có tác dụng an ủi và xoa dịu.

**Hỏi:** Nghi quỹ chúc mừng của Chân Phật Tông có gì khác biệt so với các tông phái khác?

**Đáp:** Có hai điểm khác biệt lớn.

Thứ nhất, Chân Phật Tông là Chân Phật Mật Pháp, vì có chữ Mật nên có nghi thức ấn khế, ví dụ như khi chúng ta lễ bái thì có ấn khế, khi cúng dường thì dùng ấn khế cúng dường, khắp nơi đều có ấn minh là điểm khác biệt so với các tông phái khác.

Thứ hai, Chân Phật Mật Pháp coi trọng chú, coi trọng chân ngôn, chúng ta trong Thánh đản Quan Thế Âm Bồ Tát thì tụng chú Đại Bi; trong Thánh đản Chuẩn Đề Phật Mẫu thì tụng chú Chuẩn Đề; trong Thánh đản Liên Hoa Đồng Tử thì tụng chú Liên Hoa Đồng Tử ....., khắp nơi đều có chân ngôn này cũng khác với các tông phái khác.

Nếu y theo Phật pháp chân thật mà nói, bí mật của Chân Phật Tông, dùng ấn chính là sự sắc bén tự nhiên, thân thể thanh tịnh, xa lìa điên đảo ô nhiễm. Dùng chú chính là chân lý vi tế hóa thành âm giác, giao tiếp lẫn nhau trí huệ giác ngộ của trời đất, sự thanh tịnh của khẩu.

Dùng ý là giác ngộ chân lý của vũ trụ và cuộc đời, sự giác ngộ này là:
Thấy được hết thảy phiền não mà không chấp vào phiền não, giải thoát phiền não.
Thấy được duy thức và huyễn hóa mà không trụ vào huyễn hóa, giác hành viên mãn.
Nghi quỹ chúc mừng của Chân Phật Tông, tuy là tướng bên ngoài, nhưng có nội tại của nó, chính là nhờ đây mà tu phúc đức, lợi ích chúng sinh, giác hóa chúng sinh. Từ nghi quỹ chúc mừng đi thẳng đến cảnh giới quang minh cắt sạch vô minh, "trần sa nhị hoặc". [Trần sa hoặc là loại phiền não thuộc bụi cát, ám chỉ vô số phiền não vi tế như cát sông Hằng, thuộc về vô thủy vô minh và chướng ngại tri kiến. Đây là những mê hoặc cực kỳ nhỏ nhiệm, khó đoạn trừ, chỉ chấm dứt hoàn toàn khi thành Phật với trí huệ nhất thiết chủng trí. Nhị hoặc chỉ hai loại phiền não cơ bản: kiến hoặc (mê hoặc do tà kiến) và tư hoặc (mê hoặc do tư tưởng sai lầm). Kiến hoặc thuộc hàng thô, có thể đoạn trừ ở vị trí kiến đạo; tư hoặc tinh vi hơn, cần cảnh giới cao hơn mới trừ được.]

**Hỏi:** Làm thế nào từ nghi quỹ chúc mừng mà thấy được nội hàm?

**Đáp:** Liên Sinh Thánh Tôn cho rằng, trong tám vạn bốn nghìn pháp môn của Phật pháp, chắc chắn cũng có nghi quỹ chúc mừng trong đó. Công dụng của nghi quỹ chúc mừng, trong phần hỏi đáp trước đã giải thích rõ ràng, vẫn có công dụng chữa lành tâm chúng sinh, hễ chúng sinh tham gia là đã gieo xuống hạt giống thành Phật, điều này đơn thuần nói về tướng bề ngoài, chỉ cần nghe pháp danh Phật và chân ngôn Phật, đã có thể xem là nguyên nhân sâu xa thành Phật trong tương lai.

Còn về hành giả Chân Phật, vốn là người thấy được trí huệ vô thượng, biết nghi quỹ chúc mừng hoàn toàn là phương tiện thiết lập, nhưng có thể từ lời kinh và bên trong câu chú để thể hội thực tướng bên trong. Niệm chú cũng là định, ấn khế cũng là định.

Trong nghi quỹ do Phật chế định, từ "hành" mà được "tam muội", từ "giải" mà được "giác ngộ", thể ngộ được hàm nghĩa bên trong đó, đạt được vô niệm, vô trụ, nội hàm kinh Phật đã chứng đắc, có thể đoạn hoặc chứng chân, đạt được đại giải thoát.

Hành giả Chân Phật nếu hiểu rõ lý này, có thể giải thích cho chúng sinh yếu nghĩa của nghi quỹ chúc mừng, lại phát bồ đề tâm, hành Đại thừa Bồ Tát đạo.

**Hỏi:** Có thể tự mình tu nghi quỹ chúc mừng tại mật đàn không?

**Đáp:** Tốt nhất là đồng tu, vì bầu không khí đồng tu khác, linh khí khác. Đồng tu có tính chất đặc biệt của đồng tu, cũng có thể tự mình tu, thuận theo tự nhiên, không có quy định cứng nhắc.

**Hỏi:** Chân Phật Tông chúng ta có cần phải chúc mừng tất cả Thánh đản của chư Phật Bồ Tát hay không?

**Đáp:** Trong vũ trụ này, chư Phật Bồ Tát là vô lượng vô số, nếu phải chúc mừng hết thảy từng vị một thì mỗi ngày đều có Thánh đản của chư Phật Bồ Tát, như vậy chúng ta sẽ không kham nổi.

Liên Sinh Thánh Tôn cho rằng, Chân Phật Tông của chúng ta lấy tám đại Bổn tôn làm chủ, vì vậy nghi quỹ chúc mừng có thể chỉ cần liệt kê tám đại Bổn tôn. Trong nghi thức chúc mừng, đồng thời triệu thỉnh tất cả chư Phật Bồ Tát mười phương ba đời cùng giáng lâm đàn thành là được. Nay xin liệt kê danh hiệu và ngày Thánh đản theo âm lịch của tám đại Bổn tôn như sau:

A Di Đà Phật - ngày 17 tháng 11.
Quan Thế Âm Bồ Tát - ngày 19 tháng 2.
Địa Tạng Vương Bồ Tát - ngày 30 tháng 7.
Chuẩn Đề Phật Mẫu - ngày 16 tháng 3.
Đa Văn Thiên Vương (Hoàng Tài Thần) - ngày 4 tháng 8.
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ - ngày 10 tháng 7.
Liên Hoa Đồng Tử - ngày 18 tháng 5.
Dược Sư Phật - ngày 30 tháng 9.


### 05. Nghi quỹ lễ bái


**Hỏi**: Hành giả Chân Phật chúng ta khi đối diện với Phật và các thần trong chùa miếu, phải lễ bái như thế nào mới đúng với nghi quỹ?

**Đáp**: Đây là một vấn đề lớn, tôi sẽ lần lượt giải thích chi tiết. 

Về phương diện chùa miếu, vì hiện nay người đời đã lẫn lộn Phật - Đạo và các thần với nhau, có những Đạo miếu thì có Phật có Đạo, có những chùa Phật cũng cúng thờ thần thánh của Đạo giáo, thậm chí có những ngôi miếu thờ cúng không phải là sơn thần thổ địa mà là yêu ma quỷ quái, như Ông Hữu Ứng, Ông Bách Tính đều là vậy, vì thế trong việc lễ bái có sự khác nhau.

Trước tiên, tôi xin nói rõ về cấp bậc của Phật và chư thần như sau:

Phật - là bậc thánh đã giác ngộ. Đại giải thoát, đại tự tại, đại viên mãn, là tịch diệt, cũng là giác chiếu. Đối với bậc thánh giác ngộ, chúng ta dùng thủ ấn lạy Phật, làm đại lễ bái năm vóc sát đất.

Bồ Tát - là bậc giác độ tất cả chúng sinh hữu tình, vì phát bồ đề tâm mà tu lục độ vạn hành, tự giác giác tha, tự lợi lợi tha. Bồ Tát có 51 phẩm vị, đối với Bồ Tát vĩ đại như vậy, chúng ta dùng thủ ấn lạy Bồ Tát, đại lễ bái năm vóc sát đất.

La Hán - là phẩm vị cao nhất của hành giả Tiểu thừa. Đã đoạn phiền não, không còn chịu quả báo sinh tử, đã chứng thánh quả, đáng được trời người cúng dường. Đối với bậc thánh như vậy, chúng ta dùng thủ ấn bình đẳng lễ bái Ngài, có thể đại lễ bái năm vóc sát đất, cũng có thể lễ bái cúi đầu chấm đất.

Kim Cang - Ngũ đại Kim Cang thực ra là biến hiện thân phẫn nộ của năm vị Phật: Đại Nhật Như Lai, A Súc Như Lai, Bảo Sinh Như Lai, A Di Đà Như Lai, Bất Không Thành Tựu Như Lai; dùng để hàng phục tà ma, hộ trì Tam Bảo, là giáo lệnh luân. Đại Thánh Bất Động Minh Vương (Đại Nhật Như Lai), Hàng Tam Thế Minh Vương (A Súc Như Lai), Quân Đồ Lợi Dạ Xoa Minh Vương (Bảo Sinh Như Lai), Đại Uy Đức Minh Vương (A Di Đà Như Lai), Kim Cang Dạ Xoa Minh Vương (Bất Không Thành Tựu Như Lai). Chúng ta đối với Kim Cang hộ pháp, dùng thủ ấn kim cang đại lễ bái năm vóc sát đất để cung kính Ngài. (Tám đại Minh Vương cũng lễ kính tương đương.)

Tiên - Cấp bậc và tầng lớp của tiên cũng có sự phân biệt, đại khái có Đại La Kim Tiên, Thiên Tiên, Địa Tiên, Quỷ Tiên v.v…

Liên Sinh Thánh Tôn cho rằng, tu hành Đạo gia và thành Phật trong Mật giáo có những điểm tương đồng, tu hành Đạo gia có ba nghìn ngoại công (như hạnh Bồ Tát), có tu đan đạo, thông hai mạch Nhâm Đốc và kỳ kinh bát mạch, đại tiểu chu thiên, luyện khí hóa thần, đạt đến hư vô cao nhất, cũng là đạo tịch diệt giải thoát.

Vì vậy, Đại La Kim Tiên tương đương Bồ Tát, hành giả Chân Phật chúng ta có thể đại lễ bái.

Thiên Tiên, Địa Tiên, Quỷ Tiên v.v… có thể xem như bộ Trời. Giống như địa vị trong Phật giáo có Tứ Thiên Vương Thiên, Đế Thích Thiên, Phạm Thiên, Cát Tường Thiên, Biện Tài Thiên, Đại Tự Tại Thiên, Tha Hóa Tự Tại Thiên, Bát Phương Thiên và Thập Nhị Thiên v.v… Chúng ta cung kính bộ Trời hộ trì Phật pháp, có thể dùng thủ ấn bình đẳng cúi đầu lễ bái một lần để kính trọng.

Thần - Thần chính là ma cấp cao nhất, có thể nói như vậy, vì con người đó khi còn tại thế tu thiện nghiệp, hoặc là chính trực, hoặc có chính khí, hoặc có công lao, có cống hiến lớn đối với nhân thế gian, sau khi qua đời được xưng là thần. Như Quan Vân Trường, Nhạc Phi, Văn Thiên Tường, Tôn Thiên Y, Thanh Thủy Tổ Sư, Văn Xương Đế Quân, Tam Sơn Quốc Vương, Khai Chương Thánh Vương, Quỷ Cốc Tiên Sư, Ngũ Phủ Thiên Tuế, Trung Đàn Nguyên Soái, Quảng Trạch Tôn Vương, v.v…

Ngoài ra, thần còn có Lôi Thần, Điện Thần, Phong Thần, Thủy Thần, Hỏa Thần, Thần Mùa Màng, Phúc Thần, Tuế Thần, Địa Thần, Sơn Thần, Thành Hoàng, v.v…

Các vị thần của Đạo giáo phần lớn thuộc về hệ thống này, loại thần này khác với tiên tu hành Đạo gia, không thể lẫn lộn. Đạo gia là tu hành, Đạo giáo là sự sùng bái và tế thần.

Đối với bộ Trời của Phật giáo và chư thần của Đạo giáo, chúng ta đều dùng thủ ấn bình đẳng cúi đầu lễ bái một lần, cung kính là được. Tại sao phải cúi đầu cung kính? Vì bộ Trời và chư thần đều là quan chấp hành của chư Phật Bồ Tát Kim Tiên, đều có nhiệm vụ và trách nhiệm, chúng ta đối với các quan chấp hành cũng nên cúi đầu bình đẳng lễ bái một lần.

Ma - Con người chết thành ma, phàm kẻ keo kiệt tham lam, giận hờn đều đọa vào đạo này. Ma cũng có thần thông, thuộc về loại linh thông, ma cũng có thể làm hại người, như Dạ Xoa, La Sát là vậy. Miếu Ông Bách Tính, miếu Ông Hữu Ứng, miếu Ông Đại Chúng, miếu Ông Nam Tử đều là miếu ma, còn gọi là âm miếu. Lại có một số từ đường cúng thờ Đại Tiên (cáo), rắn, hổ, sói là tinh linh tà quỷ, tất nhiên cũng là âm miếu (linh động vật). Chúng ta là hành giả Chân Phật, đối với miếu ma đền thờ, tốt nhất là không nên vào, phải tránh xa.

Nếu nhất định phải vào, chắp tay là được, chắp tay biểu thị chào hỏi, đừng xúc phạm đến họ.

Liên Sinh Thánh Tôn hiểu rằng, loại quỷ vật tinh linh kêu bạn gọi bè, cũng có quỷ thông ác lực của chúng, nếu xúc phạm, chúng tất sẽ gây chướng ngại hành giả tu hành, tâm lượng của chúng hẹp hòi, truy đuổi tấn công không dừng, không coi trọng thiên đạo. Người tu học Chân Phật Mật Pháp tốt nhất là không nên xúc phạm.

Vì vậy, hành giả Chân Phật của Chân Phật Tông đối với phương diện lễ bái, có thể phân chia: Đại lễ bái, cúi đầu, chắp tay. Hành vi như vậy tức là phù hợp với nghi quỹ.

**Hỏi**: Đối với Diêu Trì Kim Mẫu, chúng ta phải lễ bái như thế nào?

**Đáp**: Diêu Trì Kim Mẫu không phải là Phật Bồ Tát trong Phật giáo, nhưng ở Trung Quốc, Ngài là Thượng Tiên thời cổ đại, cư ngụ tại cảnh giới Diêu Trì trên đỉnh núi Côn Lôn.

Kinh điển Đạo giáo nói: Huyền Huyền Thượng Nhân truyền pháp cho Mộc Công, Mộc Công truyền pháp cho Kim Mẫu. Theo Ngũ Phương Ngũ Lão của Đạo giáo, phối hợp với Ngũ Hành, Ngũ Phương Ngũ Lão như sau:

Trung ương Hoàng Lão. (Thổ Đức)
Đông phương Mộc Công. (Mộc Đức)
Tây phương Kim Mẫu. (Kim Đức)
Nam phương Xích Tinh. (Hỏa Đức)
Bắc phương Thủy Tinh. (Thủy Đức)
Ngũ Lão này chính là chí tôn của Đạo giáo, trong năm phương trời, mỗi vị chủ trì một phương, địa vị của các ngài tương đương như Ngũ Phương Phật trong Phật giáo, vô cùng tôn quý.

Diêu Trì Kim Mẫu là vị cổ tiên, có nhân duyên vô cùng lớn với Liên Sinh Thánh Tôn (xem trong sách "Đêm ở hồ U Linh"). Liên Sinh Thánh Tôn ban đầu vào cửa Đạo giáo học Đạo chính là do Diêu Trì Kim Mẫu khai sáng; Liên Sinh Thánh Tôn lần đầu tiên được thiên nhãn thông và thần thông hoàn toàn là do Diêu Trì Kim Mẫu ban cho.

Diêu Trì Kim Mẫu cũng có thể nói là vị Thượng Tiên đầu tiên mà Liên Sinh Thánh Tôn tôn sùng, mặc dù sau này, Liên Sinh Thánh Tôn vào cửa Phật, học Hiển giáo, Mật giáo, quy y nhiều sư phụ và Thượng sư, nhưng Pháp thân của Diêu Trì Kim Mẫu luôn ở bên cạnh Liên Sinh Thánh Tôn. Thậm chí khi đến Hoa Kỳ, trong Chân Phật Mật Uyển vẫn thờ phụng Diêu Trì Kim Mẫu, thậm chí mỗi lần triệu thỉnh nhất định sẽ triệu thỉnh vị Thượng Tiên này trước, không có ngoại lệ.

Tôi biết có rất nhiều tôn giáo mới nổi coi Diêu Trì Kim Mẫu là Lão Mẫu Nương, cũng liệt Ngài vào vị trí tôn sùng đầu tiên. Tuy nhiên, tôi cho rằng vị Diêu Trì Kim Mẫu của tôi là Ngũ Phương Ngũ Lão, là Thượng Tiên cổ đại ở cảnh giới Diêu Trì trên đỉnh núi Côn Lôn, không phải là Lão Mẫu Nương của các giáo phái khác.

Trong lòng tôi, Diêu Trì Kim Mẫu là Cổ Tiên, là Đại La Kim Tiên, là Thượng Tiên, có địa vị tương đương với Ngũ Phương Phật, cũng rất cao quý vĩ đại.

Cá nhân tôi lễ bái Diêu Trì Kim Mẫu, coi Diêu Trì Kim Mẫu như Phật, tất nhiên dùng đại lễ bái để cung kính. Đây cũng là lý do Chân Phật Tông xuyên suốt Phật - Đạo.

**Hỏi**: Đối với Thiên Thượng Thánh Mẫu, chúng ta phải lễ bái như thế nào?

**Đáp**: Trong con mắt của Liên Sinh Thánh Tôn, Thiên Thượng Thánh Mẫu cũng là một vị thần tiên mà Liên Sinh Thánh Tôn tôn kính.

Thiên Thượng Thánh Mẫu không phải là Phật Bồ Tát trong Phật giáo, nhưng Liên Sinh Thánh Tôn hiểu rằng, Thiên Thượng Thánh Mẫu thực sự là một hóa thân khác của Quan Thế Âm Bồ Tát, nguồn gốc của Thiên Thượng Thánh Mẫu chính là từ Quan Thế Âm Bồ Tát.

Thiên Thượng Thánh Mẫu còn được gọi là Diệu Hạnh Ngọc Nữ, vì suốt cả cuộc đời Ngài đều thực hành những hành động vi diệu để cứu người cứu đời, có đại từ bi tâm; thậm chí ở cõi trời, Ngài cũng vẫn hộ phù cho muôn dân, tinh thần cứu khổ cứu nạn của Ngài đáng được mọi người tôn kính.

Liên Sinh Thánh Tôn cho rằng: Thiên Thượng Thánh Mẫu tuy không phải là Phật Bồ Tát trong Phật giáo, mà là thần tiên của Đạo giáo, nhưng những hành động vi diệu của Ngài hoàn toàn giống với Bồ Tát, đệ tử Chân Phật Tông chúng ta đối với Thiên Thượng Thánh Mẫu có thể coi như Quan Thế Âm Bồ Tát, lấy lễ của Bồ Tát mà cung kính.

**Hỏi**: Chúng ta là hành giả Chân Phật, đối với Sư Tôn, các Thượng sư khác, các pháp sư khác, phải lễ bái như thế nào mới phù hợp với nghi quỹ?

**Đáp**: Liên Sinh Thánh Tôn giáng sinh nhân gian, thực sự là vì một đại sự nhân duyên mà đến, Ngài học Cơ Đốc giáo, học Đạo, học Hiển, học Mật, thậm chí xuất gia.
Liên Sinh Thánh Tôn lấy tâm từ bi cứu người cứu đời.
Liên Sinh Thánh Tôn dùng trí huệ để viết sách, độ vô số chúng sinh đạt được khai ngộ.
Liên Sinh Thánh Tôn thuyết pháp vô lượng, nhiều chân lý quý báu và khẩu quyết tu trì Phật pháp đã trình bày trọn vẹn, trở thành ngọn đèn bất diệt ở nhân gian.

Liên Sinh Thánh Tôn biết tất cả nhân quả, biết nguồn gốc của mình, được giao phó, được thọ ký, được trao mũ miện đỏ, được truyền Mật pháp; hơn nữa còn phát đại nguyện "ta không vào địa ngục thì ai vào địa ngục, chúng sinh độ hết mới thành Phật, thịt nát xương tan độ chúng sinh". Nhân duyên nhân gian của Liên Sinh Thánh Tôn trong kiếp này chính là:
Hoằng dương Chân Phật Mật Pháp.
Khơi mở lòng hướng thiện thành Phật.

Hành giả Chân Phật gặp Sư Tôn nên lễ Sư Tôn như Phật, làm đại lễ bái.

Cách xưng hô đối với Sư Tôn có thể là:
Thượng Sư.
Căn Bản Thượng Sư.
Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư.
Hoạt Phật.
Chí Thượng Hoạt Phật.
Thánh Tôn.
Tôn Giả.
Những cách xưng hô này đều là do người đời tặng cho Liên Sinh Thánh Tôn, các đệ tử quen gọi như thế nào thì cứ gọi như vậy, Liên Sinh Thánh Tôn không bận tâm đến những danh xưng này, thực ra danh xưng hoàn toàn chỉ là một cái tên mà thôi, một đại sự nhân duyên mới là điều quan trọng, danh xưng không quan trọng.

Hành giả Chân Phật chúng ta lần đầu tiên gặp Sư Tôn, hoặc là đã lâu chưa gặp Sư Tôn, đều nên làm đại lễ bái. Nếu gặp mặt hàng ngày thì không cần phải phiền phức như vậy. Nếu thường xuyên gặp mặt, gặp mặt mỗi ngày, thì chỉ cần cúi đầu hoặc chắp tay là được.

Đối với quyến thuộc thân cận của Sư Tôn - vợ (thị giả), có thể xưng hô là Sư Mẫu hoặc Thượng sư đều được, vì Thượng sư Liên Hương đã thọ quán đảnh A Xà Lê, có thể chính thức truyền pháp; Phật Thanh và Phật Kỳ có thể xưng hô là sư muội hoặc sư đệ là được.

Về phương diện các Thượng sư khác:
"Các Thượng sư khác" ở đây là chỉ những vị A Xà Lê được Liên Sinh Thánh Tôn quán đảnh, mối quan hệ đó là:
Liên Sinh Thánh Tôn - các Thượng sư khác - Hành giả Chân Phật.

Số lượng A Xà Lê của Chân Phật Tông trong tương lai sẽ là hơn hai trăm vị, thậm chí nghìn vị, vạn vị.

Khi hành giả Chân Phật gặp các Thượng sư khác, nếu Liên Sinh Thánh Tôn có mặt, có thể trực tiếp làm đại lễ bái với Thánh Tôn là được.
Khi hành giả Chân Phật gặp các Thượng sư khác, nếu Liên Sinh Thánh Tôn không có mặt, hành giả Chân Phật có thể làm đại lễ bái hoặc cúi đầu với các Thượng sư khác đều được, cả hai lễ này đều có thể tùy ý.

Chỉ có hai trường hợp hành giả Chân Phật cần phải làm đại lễ bái đối với các Thượng sư khác:
Các Thượng sư khác đang làm pháp hội, tượng trưng Ngũ Phật trụ đỉnh, hành giả Chân Phật nhất định phải làm đại lễ bái đối với các Thượng sư khác.

Đệ tử do các Thượng sư khác trực tiếp thu nhận, nhất định phải làm đại lễ bái đối với các Thượng sư khác. (Các Thượng sư A Xà Lê của Chân Phật Tông đều có thể thu nhận đệ tử.)

Hành giả Chân Phật đối với quyến thuộc của các Thượng sư khác, khi xưng hô nên thêm họ, như vậy mới có thể phân biệt được Sư Mẫu của Căn bản Thượng sư.
Ví dụ:
Phu nhân của Thượng sư Lưu, chúng ta có thể xưng hô là Sư Mẫu Lưu.
Phu nhân của Thượng sư Du, chúng ta có thể xưng hô là Sư Mẫu Du.
Phu nhân của Thượng sư Trịnh, chúng ta có thể xưng hô là Sư Mẫu Trịnh.

Nếu không xưng hô như vậy, hành giả Chân Phật đối với hàng trăm nghìn vị phu nhân của các Thượng sư đều xưng là Sư Mẫu sẽ khiến cho đệ tử mới quy y bị nhầm lẫn, cho rằng Liên Sinh Thánh Tôn có hàng trăm nghìn Sư Mẫu, như vậy thì không tốt lắm. Nên thêm họ vào để phân biệt.

Trong tông phái đã xảy ra nhiều việc nhầm lẫn về Sư Mẫu của Căn bản Thượng sư, ngay cả bản thân tôi cũng thấy không hợp.

Về phương diện các pháp sư khác:
"Các pháp sư khác" ở đây là chỉ những vị A Xà Lê không thuộc Chân Phật Tông của chúng ta, hoặc các pháp sư xuất gia của các tông phái khác.

Hành giả Chân Phật khi gặp Thượng sư pháp sư của các tông phái khác đến thuyết pháp, quán đảnh, quy y, có thể đến nghe pháp, có thể đến quán đảnh, cũng có thể đến quy y, đây đều là kết thiện duyên. Đối với các pháp sư khác đều có thể làm đại lễ bái, cung kính các pháp sư khác là đúng.

Hành giả Chân Phật nếu quy y các pháp sư khác, sau đó từ bỏ Chân Phật Mật Pháp, như là từ bỏ Liên Hoa Đồng Tử tương ứng pháp, từ bỏ Bổn tôn pháp của Chân Phật Tông, đổi sang tu Mật pháp của các tông phái khác, việc tu pháp của họ không liên quan gì đến Chân Phật Mật Pháp, như vậy sẽ dần dần mất đi lực truyền thừa gia trì của Liên Sinh Hoạt Phật.

Hành giả Chân Phật có thể đi nghe pháp, có thể đi nhận quán đảnh, có thể đi quy y, kết duyên đều là điều thiện. Nhưng về phương diện tu pháp, nếu đổi sang tu pháp khác, không phải Chân Phật Mật Pháp, đương nhiên sẽ mất đi lực truyền thừa gia trì.

Có hai yếu tố dẫn đến mất lực truyền thừa gia trì:
Đánh mất Căn bản Thượng sư tương ứng pháp.
Đánh mất đi Căn bản Bổn tôn pháp.

Có hai điều khoản về "hỗn loạn truyền thừa", xin mọi người lưu ý, rất quan trọng.
Thứ nhất, đệ tử đã quy y Căn bản Thượng sư, rồi lại quy y các Thượng sư khác trong tông phái, tuy không mất lực truyền thừa gia trì, nhưng về thứ bậc đã trở thành "học trò của học trò".
Thứ hai, các Thượng sư khác trong tông phái, thu nhận đệ tử đã quy y Căn bản Thượng sư làm đồ đệ, là sư huynh thu nhận sư đệ làm đồ đệ, về căn bản là phạm giới luật Mật tông, không như pháp.

**Hỏi:** Lễ bái đàn thành và lễ bái Thượng sư, trình tự như thế nào?

**Đáp: **Nên lễ bái Thượng sư trước, sau đó lễ bái đàn thành.

Bởi vì Thượng sư là tổng trì Tam Bảo - Phật pháp tăng. Trước có Thượng sư, sau có đàn thành, đàn thành là do Thượng sư hóa hiện.
Lễ bái Thượng sư một lạy là được.
Lễ bái đàn thành phải ba lạy một khấu đầu.

**Hỏi:** Nghi quỹ lễ bái cần có tâm gì?

**Đáp:** Lễ bái chính là tâm cung kính. Chúng ta là hành giả Chân Phật phải có sự tôn kính và ngưỡng mộ vô thượng đối với Thượng sư và Tam Bảo, bình thường phải cống hiến thân, khẩu, ý cho Tam Bảo Thượng sư, lễ bái này phát xuất từ nội tâm.

Trong Chân Phật Mật Pháp, muốn được lực truyền thừa gia trì thì phải không được có chút giả dối nào, có một chút giả dối thì đã mất tâm cung kính, mất tâm cung kính rồi, tất cả tu pháp đều không thể có lợi ích.

Hành giả Chân Phật, ở bất kỳ nơi đâu đều phải làm đại lễ bái năm vóc sát đất đối với Thượng sư Tam Bảo, không chỉ phải như vậy mà còn phải có tâm cung kính chân chính, cần phải ca tụng, luôn nhớ nghĩ và đi theo.
Điều được thể hiện qua nghi quỹ lễ bái chính là:
Nghiêm túc.
Cung kính.
Như pháp.

**Hỏi:** Tại sao Liên Sinh Thánh Tôn lại làm đại lễ bái đối với các cao tăng Phật môn?

**Đáp:** Liên Sinh Thánh Tôn đã phát đại nguyện: chúng sinh thành Phật, tôi mới thành Phật.

Liên Sinh Thánh Tôn xem chúng sinh đều là Phật, cho nên có thể làm đại lễ bái đối với bất kỳ chúng sinh nào. Tôi làm đại lễ bái đối với cao tăng, đó là bước đầu của tôi.

Liên Sinh Thánh Tôn xem tất cả mọi người đều là vị Phật tương lai, đã đạt đến cảnh giới tâm không phân biệt.


### 06. Nghi quỹ giới luật


**Hỏi:** Giới luật là gì?

**Đáp:** "Đại Thừa Nghĩa Chương" viết:
"Nói về thi-la, tên là thanh lương, cũng gọi là giới. Lửa của tam nghiệp đốt cháy hành giả, việc này như bị thiêu đốt, giới có thể phòng ngừa và dập tắt, nên gọi là thanh lương. Tên thanh lương, là dịch chính xác. Bởi vì có thể phòng cấm, nên gọi là giới."
Giới luật chính là pháp luật phòng ngừa cái xấu và cái không đúng của tín đồ Phật giáo.

**Hỏi:** Công dụng của giới luật là gì?

**Đáp:** Trước tiên chúng ta cần hiểu về bốn tướng của giới luật:
Giới pháp — là luật pháp do Như Lai chế định.
Giới thể — lĩnh nhận giới pháp vào tâm, sinh ra công đức phòng sai dừng ác.
Giới hành — theo giới thể mà hành động như pháp chính là giới hành.
Giới tướng — sự sai biệt của phẩm hạnh, giới có sự phân biệt là năm giới, mười giới cho đến hai trăm năm mươi giới.

Từ đó, chúng ta có thể hiểu rõ: công dụng của giới luật chính là công đức phòng ngừa cái sai trái và dừng cái ác.

Liên Sinh Thánh Tôn cho rằng công dụng của nó có ba:
Xa lìa tất cả tà ác phi pháp.
Nhiếp thiện tụ phúc chứng ngộ Như Lai.
Lợi lạc tất cả hữu tình.

**Hỏi:** Giới định huệ ba điều này có mối liên hệ gì với nhau?

**Đáp:** Phòng ngừa cái sai trái và dừng cái ác là giới, dừng tạp niệm và tĩnh lặng duyên là định, phá ác và chứng chân là huệ.

Do có giới mới sinh ra định, do có định mới sinh ra huệ. Đây chính là nhất giới, nhị định, tam huệ, tứ giải thoát, ngũ giải thoát tri kiến, đây là năm phần Pháp thân [năm phần công đức cấu thành Pháp thân của bậc Thánh (Phật và A La Hán)].

**Hỏi:** Trong Phật giáo, có bao nhiêu loại giới?

**Đáp:** Giới luật trong Phật giáo rất nhiều, đại thể chia ra:

10 giới và 250 giới là giới Tiểu thừa.
10 giới trọng và 48 giới khinh, 3 tụ giới là giới Đại thừa.
5 giới và 8 giới là giới tại gia. (8 giới tức là Bát quan trai giới.)
10 giới và 250 giới là giới xuất gia.
3 tụ giới là giới dùng chung cho cả xuất gia và tại gia.
500 giới là giới cụ túc của tỳ kheo ni.

**Hỏi:** Muốn hiểu rõ giới luật trong Phật giáo, có thể đọc kinh nào?

**Đáp:** "Phạm Võng Kinh", "Giới Nhân Duyên Kinh", "Phật Thuyết Giới Đức Hương Kinh", "Phật Thuyết Giới Tiêu Tai Kinh", "Phật Thuyết Giới Hương Kinh".

**Hỏi:** Thường nghe nói đến năm giới, giới Bồ Tát, tam đàn đại giới, phân biệt như thế nào?

**Đáp:** Năm giới chính là không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu, là giới mà đệ tử tại gia phải giữ.

Giới Bồ Tát tiến hơn năm giới một bậc, có giới bản của giới Bồ Tát, y theo giới mà làm, chính là giới Bồ Tát.

Tam đàn đại giới là giới mà sa môn xuất gia hoàn toàn thọ nhận. Chia làm ba đàn:
Đàn thứ nhất — thọ 10 giới sa di.
Đàn thứ hai — thọ 250 giới tỳ kheo, 375 giới tỳ kheo ni, đó là giới cụ túc.
Đàn thứ ba — chính là tam tụ tịnh giới, giới Bồ Tát 10 trọng 48 khinh.
Hợp ba đàn này tức là tam đàn đại giới.

**Hỏi:** Ai ai cũng có thể thọ giới chăng?

**Đáp:** Về nguyên tắc là ai ai cũng có thể thọ giới, như "Phạm Võng Kinh" có nói:

"Nếu tất cả chúng sinh, khi mới vào biển Tam Bảo, lấy tín làm gốc. Ở trong nhà Phật, lấy giới làm gốc. Phật tử bắt đầu hành Bồ Tát ví như tín nam thiện nữ. Các căn không đủ, hoàng môn [người khiếm khuyết sinh dục, không đủ điều kiện xuất gia theo luật Tạng], dâm nam, dâm nữ, nô tỳ, biến hóa nhân đều thọ được giới."

Nhưng sau này khi truyền ra lại có khác đi một chút, có thêm một số hạn chế, Liên Sinh Thánh Tôn nêu ra như sau:
Một, có bệnh ác như lở loét, không được thọ giới.
Hai, người mắc nợ, không được thọ giới.
Ba, chưa đủ hai mươi tuổi, y bát chưa đủ, không được thọ giới.
Bốn, người phạm tội, phạm tỳ kheo ni, phạm trộm cắp, giết cha giết mẹ, giết A La Hán, phá hòa hợp tăng, làm thân Phật chảy máu, kẻ thị phi.
Năm, sinh có nhị hình (người lưỡng tính), hình động vật, phi nhân.

**Hỏi:** Hành giả Chân Phật mới vào Chân Phật Tông, phải giữ giới luật gì?

**Đáp:** Trước tiên hãy xem những dòng chữ trên chứng thư quy giới:

"Do theo lời Phật dạy, con một lòng quy y cửa Phật. Nhận lễ bái minh sư, quy y Pháp sư Liên Sinh. Nguyện trọn đời trọn kiếp:

- Phụng ý Phật, hành thiện.

- Phụng trì chính pháp, giữ giới.

- Trung kiên với quốc gia.

- Hiếu thuận cha mẹ.

- Cung kính sư trưởng và đồng môn.

Trọn một đời một kiếp, con nguyện phụng hành không đổi. Đặc biệt soạn sớ văn trình bày, xin chư Phật Bồ Tát trên trời dưới đất cùng chứng minh."

Giới luật trên chứng thư này, chính là:
1. Trung.
2. Hiếu.
3. Kính thầy và đồng môn.
4. Phụng pháp trì giới.
5. Hành thiện.

**Hỏi:** Chúng ta là hành giả Chân Phật, có cần phụng hành năm giới không?

**Đáp:** Giới luật căn bản nhất của Phật giáo là năm giới. Trong giới luật của Chân Phật Tông có "nguyện trọn đời trọn kiếp phụng pháp trì giới", ý nói đến chính là phụng hành năm giới, tức là nguyện hết tất cả sức lực trong đời mình, để phụng trì chính pháp, để nghiêm giữ giới luật, giới luật này chính là năm giới của Phật pháp, năm giới trình bày chi tiết như sau:

1. Không sát sinh: Lòng từ bi với muôn vật, không giết hại sinh linh, tích cực hơn nữa là phóng sinh. (là Nhân)
2. Không uống rượu: Không uống rượu ở đây ý nói là không say rượu, không vì rượu mà loạn tính. (là Trí)
3. Không tà dâm: Quan hệ ngoài vợ ngoài chồng đều là tà dâm. (là Lễ)
4. Không nói dối: Không xúi giục thị phi, phạm khẩu nghiệp, phỉ báng chính nhân chính pháp, đều là phạm nghiệp này. (là Tín)
5. Không trộm cắp: Không phải của mình thì không trộm không cắp. (là Nghĩa)

Thực ra năm giới này không chỉ đệ tử Hiển giáo phải giữ, đệ tử Mật giáo cũng phải giữ. Nếu như người đời cũng có thể giữ năm giới này thì thế gian này thực sự là thái bình thịnh thế, thì "sát, đạo, dâm, vọng" liền tiêu tan rồi, cũng tuyệt tích rồi, nhân gian được thanh tịnh hóa, lòng người an lạc, và không khác gì tịnh thổ thế giới.

Liên Sinh Thánh Tôn muốn mọi người giữ năm giới này.

**Hỏi:** Chân Phật Tông là Mật thừa, Mật thừa lại có giới luật gì?

**Đáp:** Mật thừa có tất cả 14 điều giới luật căn bản, phạm phải bất kỳ điều nào đều sẽ phá hủy mối quan hệ thiêng liêng giữa hành giả Chân Phật và Liên Sinh Thánh Tôn, tức là khiến cho hành giả nhận được quán đảnh quy y chỉ còn hình thức quán đảnh quy y, không nhận được gia trì lực của Thượng sư và Bổn tôn. 14 điều giới luật căn bản này như sau:
1. Xúc phạm hoặc khinh thường Thượng sư của mình. (Không cung kính đối với thân khẩu ý của Thượng sư.)
2. Phạm giới luật của Phật. (Đối với Hiển Mật luật nghi không tuân thủ.)
3. Đối với bạn đạo kim cương của mình sinh ra tâm sân hận. (Đối với huynh đệ  kim cương khởi oán ghét tranh chấp.)
4. Từ bỏ lòng từ bi. (Quên mất tâm từ bi, ganh tị chúng sinh hưởng lạc.)
5. Từ bỏ bồ đề tâm. (Sợ khó không độ, thối lui bồ đề tâm.)
6. Phỉ báng giáo nghĩa của các tông phái khác trong Phật môn. (Phỉ báng kinh điển Hiển Mật không phải lời Phật dạy.)
7. Công khai những khai thị bí mật. (Truyền thụ Mật pháp cho người chưa được quán đảnh.)
8. Khinh thường Phật tính căn bản của chính mình. (Tổn hại ngũ uẩn của mình, cho rằng không như Phật.)
9. Sỉ nhục và khinh thường đạo lý "Không". (Thiên vị Không - Có, không học tâm Không.)
10. Thả trôi theo dục vọng, cùng người ác làm điều ác. (Kết bạn với kẻ phỉ báng Phật, phá hoại pháp, làm hại chúng sinh.)
11. Không quán tưởng "Không". (Tự mãn về pháp thù thắng, quên mất mật ý.)
12. Tranh cãi với người khác. (Không nói Mật pháp chân thật, gây chướng ngại phá hoại thiện căn.)
13. Hoàn toàn phớt lờ lời thề thiêng liêng của bạn. (Pháp khí và tư liệu Mật pháp không đầy đủ.)
14. Phỉ báng phụ nữ, vì phụ nữ là nguồn gốc của trí tuệ. (Phỉ báng tự tính trí huệ của phụ nữ.)

**Hỏi:** Chân Phật Tông rất coi trọng lời thề ước giữa Thượng sư và hành giả Chân Phật, giữa Thượng sư và hành giả Chân Phật cũng có giới luật, đó là "Sự Sư Pháp", xin hỏi nội dung của "Sự Sư Pháp" như thế nào?

**Đáp:** Giữa Thượng sư và hành giả Chân Phật của Chân Phật Tông có giới luật, đây là nói về Thượng sư nhận biết đệ tử như thế nào, đệ tử phải cung kính Thượng sư như thế nào về lễ nghi. Giới luật này bắt nguồn từ Mã Minh Bồ Tát, là Mã Minh Bồ Tát tiếp nhận chỉ dẫn từ ý thức vũ trụ mà viết ra.

50 điều "Sự Sư Pháp" này chính là "Sự Sư Pháp Ngũ Thập Tụng". Liên Sinh Thánh Tôn mong mỏi đệ tử của Chân Phật Tông tuân giữ "Sự Sư Pháp Ngũ Thập Tụng".

Nội dung của "Sự Sư Pháp Ngũ Thập Tụng" được đăng tải trong cuốn sách "Hành Giả Seattle", xin hành giả Chân Phật tự mình tham khảo.

**Hỏi:** Thường nghe có người nói, giới luật là pháp hữu tướng, người tu học đến vô tướng có thể phá giới luật, không cần giữ giới, có đúng không?

**Đáp:** Chúng ta là người mới học Phật, nhất định phải giữ năm giới, 14 đại giới của Mật thừa, 50 điều "Sự Sư Pháp"..., đây là giới hạnh tối thiểu, như vậy mới là chính xác.

Người chưa chứng ngộ, là một phàm phu chưa xuất tam giới, phàm phu này nếu mở miệng không giữ giới luật, hành vi không giữ giới luật, thì tạp loạn không trang nghiêm, căn bản không có tướng trang nghiêm của đệ tử Phật, từ đó thiện ác bất phân, hành sự điên đảo, như vậy tất sẽ mắc tội khinh mạn.

Còn về người đã khai ngộ, đã đoạn trừ kiến hoặc, tư hoặc trong ba cõi, biết được lý vô tướng tính Không, hành sự không rò rỉ không vướng mắc, chẳng phải tình cảm phàm tục có thể bàn luận, đã đến cảnh giới không gì là không giác, không gì là không hóa độ, có thể nói là như như bất động rồi.

Thực ra người trong thánh vực, bên ngoài nhìn thì không giữ giới luật, phá giới luật, nhưng bên trong là đã đắc khai ngộ thực tướng, điều này cần trí tuệ vô thượng mới có thể quán chiếu rõ ràng.

Cho nên có một câu danh ngôn:
Nơi sư tử nhảy qua, thỏ không thể theo đó mà nhảy.
Sư tử nhảy qua được, thỏ nhảy không qua.
Phàm phu phải giữ giới luật.
Thánh nhân có thể phá giới luật.

Nếu người chưa khai ngộ cũng học theo hành vi của người đã khai ngộ thì sẽ nhảy không qua, phải trải qua cái chết bi thảm, đọa vào địa ngục Vô Gián.

Liên Sinh Thánh Tôn biết cách dạy theo trình độ, đối với chúng sinh có căn cơ khác nhau mà nói ra đạo lý tốt nhất. Hành giả Chân Phật có khai ngộ hay không thì tự mình biết rõ, trong đó từng lời nói ra là chân thật, không giả tạo, không nói dối, không lời hoa mỹ xảo trá, đó chính là không vọng ngữ. Nếu chưa ngộ nói là ngộ, chưa giác nói là giác, hoàn toàn không giữ giới luật, sẽ đọa địa ngục Kim Cang.

**Hỏi:** Hành giả Chân Phật mới bắt đầu tu học Phật pháp, đương nhiên chưa phải là bậc thánh hiền, tự nhiên dễ phạm sai lầm, khi phạm sai lầm thì phải làm sao?

**Đáp:** Phải sám hối, tu pháp sám hối.

**Hỏi:** Nghi quỹ pháp sám hối như thế nào?

**Đáp:** Liên Sinh Thánh Tôn trong 80 cuốn linh thư trước đây, đã tiết lộ công khai nhiều loại nghi quỹ pháp sám hối, bất kỳ pháp sám hối nào cũng đều là đại pháp diệt tội.

Bất kỳ pháp sám hối nào đều bao gồm:
1. Tại mật đàn ngồi kiết già, niệm văn tán tụng, quán tưởng Bổn tôn của mình ngồi trên đỉnh đầu mình.
2. Khẩn thỉnh Bổn tôn thanh tịnh tội chướng của mình. (Phát lộ giới luật mà mình đã vi phạm.)

3. Niệm văn tán tụng, quán tưởng quá trình thanh tịnh hóa.
4. Niệm tâm chú của Bổn tôn.
5. Niệm kinh văn sám hối cầu nguyện.
6. Quán tưởng Bổn tôn gia trì.
7. Quán tưởng hóa không, nhập Tam ma địa.
8. Niệm Bách tự minh chân ngôn của Kim Cang Tát Đỏa.
9. Hồi hướng công đức.

Nội dung của nghi quỹ sám hối nhìn chung là tương tự nhau, nhưng trọng điểm là ở tâm chân thành của hành giả, trong đó việc trì tụng và thứ tự có sai khác nhỏ là không sao, và không ảnh hưởng đến nghĩa chân thực của nghi quỹ pháp sám hối.

**Hỏi:** Xin hãy đưa ra một loại pháp sám hối đơn giản để các đệ tử hiểu rõ ràng?

**Đáp:** Tôi dạy mọi người, tu pháp sám hối như sau: (pháp sám hối đơn giản)

1. Vào đàn niệm chú thanh tịnh.
2. Niệm chú triệu thỉnh, phụng thỉnh chư Phật Bồ Tát Hộ Pháp.
3. Chân Phật đại lễ bái pháp.
4. Kết thủ ấn cúng dường, dâng cúng dường. (ngồi)
5. Niệm chú tứ quy y 3 biến.
6. Mặc giáp hộ thân.
7. Niệm "Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh". (1 ~ 3 biến)
(7 bước trên, mỗi pháp đều phải làm.)
8. Kết ấn: Kết thủ ấn chắp tay.
9. Niệm kệ sám hối:
Bao ác nghiệp xưa nay con đã tạo,
Đều do vô thủy tham, sân, si.
Do thân, khẩu, ý mà sinh khởi.
Những tội mười ác, năm vô gián,
Tam muội da giới các loại tội
Vô lượng vô biên các tội lỗi
Tất cả con nay đều sám hối
Nguyện Phật xót thương thường nhiếp thọ,
Đến khi thành Phật không rời con. (Niệm 3 biến)
10. Quán tưởng: (tay kết ấn định)
Giữa hư không hiện ra chư Phật Bồ Tát chư tôn.
Hành giả niệm thầm chú bốn chữ "Cha - Hùm - Ban - Hô".

Chư Phật Bồ Tát chư tôn xoay chuyển thành ánh sáng trắng lớn, ánh sáng theo đường cong hạ giáng, chiếu trọn hành giả Chân Phật, hành giả quán tưởng lỗ chân lông toàn thân đẩy ra khói đen khí đen, tự thân được đại quang minh.

11. Niệm chú sám hối:

"Ôm pê-cha sa-ma-ya su-tê-a." (Cố gắng tụng nhiều.)

12. Nhập Tam ma địa. (nhập định)

13. Xuất định hồi hướng:

Tất cả Như Lai đại quang minh. 
Thanh tịnh thân con trừ nghiệp xấu. 
Đại bảo trang nghiêm bất tư nghì. 
Sám hối công đức con đảnh lễ.

14. Có thể thêm niệm Kim Cang Tát Đỏa Bách tự minh chân ngôn 3 biến:

Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya. Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha. Chư-chô mê-pa-wa. Su-tô ka-yô mê-pa-wa. Su-pô ka-yô mê-pa-wa. A-nu-ra-tô mê-pa-wa. Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha. Sa-wa ka-ma su-cha-mê. Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm. Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân. Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha. Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya. Sa-tô ah hùm pây.

Cát tường viên mãn.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, chỉ cần thực tâm thành ý sám hối tu pháp sám hối này, chư Phật Bồ Tát cuối cùng sẽ xuất hiện, giải trừ chướng ngại cho hành giả, ban cho ấn ký lại từ đầu.

**Hỏi:** Trong Phật môn có "Sự - Lý tam sám", giải thích như thế nào? Phương pháp thực hiện ra sao?

**Đáp:** Sự - Lý tam sám chính là Tác pháp sám, Thủ tướng sám, Vô sinh sám.

Sự - Lý tam sám xuất phát từ "Thiên Thai Tứ Giáo Nghi Tập Chú", Sự sám bao gồm Tác pháp sám, Thủ tướng sám, Lý sám là Vô sinh sám.

Giải thích như sau:
Tác pháp sám — Tuân theo nghi quỹ mà Thánh Tôn đã đưa ra, thực hiện pháp sám hối. Trong tác pháp, thực ra bao gồm ba ý nghĩa lớn:
Thân sám — Đại lễ bái chư Phật, cúng dường trân bảo.
Khẩu sám — Tụng kinh trì chú, phát lộ tội chướng.
Ý sám — Quang minh hạ chiếu, hối lỗi hồi hướng.

Thủ tướng sám hối — Định tâm quán tưởng, trong thời gian này, thấy quang hoa hạ chiếu, nhờ đó diệt tội.

Vô sinh sám — Ngồi ngay ngắn niệm thực tướng, quán tâm bất khả đắc, tội tính vốn không, đây là đại pháp diệt tội "chân không hóa vô".

Vô sinh sám, chính là:
Tội từ tâm khởi dùng tâm sám.
Khi tâm đã diệt thì tội diệt.
Tâm vong tội diệt đều thành không.
Thì được gọi là thực sám hối.

**Hỏi:** Sám hối có phải là hạnh nguyện không?

**Đáp:** Sám hối là hạnh nguyện, cũng là công pháp cần thiết phải tu của hành giả Chân Phật, một khi có lỗi lầm thì phải tu pháp sám hối. Mười nguyện của Phổ Hiền sám hối nghiệp chướng là một trong các hạnh nguyện.

Mười hạnh nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát là:
Một là kính lễ chư Phật.
Hai là xưng tán Như Lai.
Ba là rộng tu cúng dường.
Bốn là sám hối nghiệp chướng.
Năm là tùy hỷ công đức.
Sáu là thỉnh chuyển pháp luân.
Bảy là thỉnh Phật trụ thế.
Tám là thường tùy Phật học.
Chín là hằng thuận chúng sinh.
Mười là hồi hướng đều khắp.

**Hỏi:** Sám hối có công đức không?

**Đáp:** Sám hối có công đức.

"Tâm Địa Quán Kinh" viết: Sám hối có thể đốt sạch củi phiền não, sám hối có thể vãng sinh con đường thiên giới, sám hối có thể đắc được vui của bốn thiền, sám hối như mưa châu báu mani, sám hối có thể kéo dài thọ mạng kim cương, sám hối có thể vào cung thường lạc, sám hối có thể thoát khỏi ngục ba cõi, sám hối có thể nở hoa bồ đề, sám hối đắc được đại viên kính của Phật, sám hối có thể đưa đến nơi trân bảo. 

Đây chính là công đức của sám hối.

**Hỏi:** Hành giả Chân Phật phạm giới luật có cần sám hối với Căn bản Thượng sư không?

**Đáp:** Có thể sám hối với Căn bản Thượng sư, gửi lên cúng dường, thỉnh cầu Căn bản Thượng sư thay mặt hành giả tu đàn pháp sám hối.

Căn bản Thượng sư trong lúc tu pháp sẽ trình bày:
1. Hành giả thừa nhận sai lầm.
2. Hành giả chân thành hối lỗi.
3. Quyết tâm không tái phạm lỗi lầm tương tự.

Cũng có thể không cần sám hối với Căn bản Thượng sư, hành giả Chân Phật tại mật đàn, đối với Căn bản Thượng sư và chư Phật Bồ Tát chư tôn quán tưởng, tụng kinh trì chú, niệm văn cầu nguyện sám hối, quán tưởng quang hoa đi vào đỉnh đầu hành giả, ác nghiệp của hành giả hóa thành khí đen thoát ra, tự tâm hành giả dừng lại thói xấu, như thế chính là sám hối rồi.

**Hỏi:** Học giới luật cũng là một môn học lớn, trong đó còn có những quy củ gì nữa không?

**Đáp:** Trong Phật môn có rất nhiều giới luật, tất nhiên cũng có rất nhiều quy củ không nằm trong giới luật, đó là loại quy củ mà những người tu học tông phái đó cùng nhau quy ước tuân thủ, những quy củ này được diễn hóa từ giới đức.

Đệ tử Chân Phật chúng ta cùng nhau tuân thủ quy củ này, chính là: "Quy củ có thể tạo nên tiêu chuẩn." Hình thành nên tông phái hoàn mỹ, đoàn thể hoàn mỹ.
Như vậy mới là:
Nghiêm túc.
Cung kính.
Như pháp.

**Hỏi:** Chúng ta là hành giả Chân Phật, phải tuân thủ những quy củ gì?

**Đáp:** Thánh Tôn chỉ chọn ra vài điều tại đây, mọi người hãy ghi nhớ kỹ:
1. Đối với chư Phật Bồ Tát chư tôn, pháp khí, kinh sách, đều nên hộ trì cung kính, không nên tùy tiện đặt bừa hoặc làm ô nhiễm.
2. Đối với Phật pháp của các tông phái khác, không được phỉ báng hoặc sinh tâm khinh mạn.
3. Trước khi chúng ta tu pháp, nên thanh tịnh tay, miệng, thân. Nếu đang ở ngoài thì trước tiên quán tưởng thanh tịnh rồi mới thực hành.
4. Hành giả Chân Phật phải có tâm công đức.
5. Hành giả Chân Phật đối với hai chúng xuất gia đều phải y pháp cung kính, lễ bái, cúng dường.
6. Hành giả Chân Phật phải tuân thủ tất cả quy củ do các đạo tràng khác quy định.
v.v…

**Hỏi:** Thượng sư của Chân Phật Tông đã là Thượng sư rồi, có phải giữ giới luật nữa không?

**Đáp:** Chúng ta có thể đọc bài viết "Làm Thượng sư" do Thượng sư Liên Hàn viết trước, sau đó Liên Sinh Thánh Tôn sẽ bổ sung thêm.

Làm Thượng sư —  Thượng sư Liên Hàn

<u>Mơ ước bao lâu</u>

Bạn có muốn biết mùi vị của việc làm Thượng sư không?
Trong tâm trí bạn, Thượng sư nên như thế nào?

Nhiều người thấy khi làm Thượng sư đội mũ Ngũ Phật, khoác cà sa màu cà phê, ngồi trên pháp đài trong pháp hội, quả nhiên pháp tướng trang nghiêm, nghìn người nhìn vào, uy phong tám mặt.

Lại thấy khi Thượng sư chủ trì pháp hội, lắc chuông vung chày, ấn kết liên miên, thực sự là pháp lực vô biên, khiến người ta ngưỡng mộ vô cùng!

Lại thấy khi Thượng sư quán đảnh cho mọi người, mọi người tranh nhau chen lấn, đảnh lễ ngài, còn dâng hồng bao lên bằng hai tay, khẩn cầu gia trì quán đảnh. Khi làm Thượng sư chỉ cần rảy một chút nước lên đầu mọi người là có thể thu nhận cúng dường của mọi người, tiền vào như nước.

Vì vậy, điều này đã khơi dậy sự quan tâm của nhiều đồng môn muốn tranh giành làm Thượng sư. Bởi vì nhiều người cho rằng, một khi được Sư Tôn phong làm Thượng sư liền có thể lập tức vượt hẳn người khác, dưới một người, trên vạn người. Chỉ cần đội mũ Phật, khoác cà sa, là có thể ở vị trí trên cao, được vạn người cúi lạy. Khi ra ngoài có vệ sĩ, hộ pháp, tùy tùng một đống, tiền hô hậu ủng, phô diễn hết mọi oai phong, lại có thể nhận cúng dường của mọi người, tài nguyên cuồn cuộn, danh lợi song toàn.

Hoặc có người còn cho rằng, khi đã làm Thượng sư, đường chủ các phân đường trên toàn thế giới đều thấp hơn ta một cấp, ta muốn đến phân đường nào thì đến phân đường đó, lấy danh nghĩa "hoằng pháp", thu hồng bao tràn lan, đường chủ còn phải chiều chuộng chu đáo, nếu không, hừ, sẽ cho họ biết tay!

Bởi vì khi làm Thượng sư có thể có nhiều lợi ích như vậy, nên rất nhiều đồng môn mơ ước bao lâu. Có một số đồng môn liên tục viết thư cho Sư Tôn: "Chỉ cần Thầy phong tôi làm Thượng sư, tôi sẽ phát nguyện ra độ rất rất nhiều chúng sinh!"

Có một số đồng môn khóc lóc nức nở, van xin Sư Tôn phong Thượng sư, trở thành Liên Cách thứ hai. [Liên Cách là pháp hiệu của một vị Thượng sư trong Chân Phật Tông.]

Có một số đồng môn để nâng cao địa vị bản thân nhằm lấy lòng Sư Tôn, làm công việc tạp vụ mà giả danh là kỹ sư, không ngại phạm giới lừa dối Sư Tôn, mục đích là muốn được phong Thượng sư.

Có một số đồng môn ngày nghĩ đêm mơ, ban đêm nằm mơ thấy Bồ Tát đội mũ Ngũ Phật cho mình, rồi viết thư kêu gào với Sư Tôn: "Bồ Tát đã đội mũ Ngũ Phật cho con rồi, con đã là Thượng sư rồi! Xin Thầy phong bổ sung và công bố cho đại chúng biết!" Không ngờ rằng chính mình có tâm hư vinh nặng nề, tâm danh lợi sâu nặng, bị các thần chế nhạo trêu chọc, trong mơ chỉ trêu chọc một chút mà thôi.

Có một số đồng môn vì muốn được mọi người tôn sùng, muốn vượt lên trên người khác, muốn biểu thị mình cao hơn người khác một bậc, nên thường tự cho mình là "Thượng sư", nói rằng: "Sư huynh A, tu trì của anh tuy tốt, nhưng tiếc là phương pháp không đúng, cần phải sửa lại." "Sư tỷ B, nghiệp chướng của cô quá nặng, để tôi gia trì cho cô!"

Có người nói: "Vị Thượng sư nọ, trong định tôi đã kiểm nghiệm qua rồi, cảnh giới tu trì của họ vẫn chưa đủ, cần phải nỗ lực hơn nữa mới được."

Có người nói: "Sư Tôn trong định đã truyền thụ cho tôi đại pháp vô thượng bí mật nhất và các thủ ấn khác nhau, những đại pháp này chưa truyền cho bất cứ Thượng sư nào. Vì căn cơ tiền kiếp của tôi tốt, Sư Tôn trong định nói tôi là Bồ Tát nào nào đó giáng thế, linh tính của tôi đã vượt qua Thượng sư rồi. Vì nhân duyên chưa chín muồi, bằng không đã phong Thượng sư từ lâu rồi." Lừa gạt không ít đồng môn thiếu hiểu biết nhắm mắt theo đuôi, đi theo vây xung quanh.

Những tình huống như vậy, tuy chỉ là một số người ít, nhưng trên khắp thế giới, các khu vực khác nhau, thời gian khác nhau, lần lượt nổi lên, không ngừng xuất hiện.

Tại sao học Phật lại thành thế này? Rốt cục sai ở đâu?

Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật đã từng hét lên tiếng gầm sư tử: "Phật không sai! Là suy nghĩ của người ta sai!"

Suy nghĩ là gì? Chính là tâm niệm. Sai ở đâu? Sai ở chỗ không tu tâm! Tất cả bị những tâm niệm ô nhiễm như tâm hư vinh, tâm danh lợi, thích phô trương, thích nghe nịnh bợ, thích ganh đua tranh giành v.v... che lấp, chi phối.

Tuy nhiên, nói trở lại, trong số rất nhiều đồng môn của chúng ta, cũng có không ít người phát tâm thuần chính, tinh tấn tu trì, có phẩm đức tốt đẹp của bậc Thượng sư mà chưa từng cầu làm Thượng sư, họ là những người đáng kính phục và ca ngợi.

Theo như tôi được biết gần đây, có hai vị sư tỷ như vậy, Sư Tôn muốn phong Thượng sư cho họ, nhưng cả hai vị đều từ chối nhẹ nhàng, một vị là sư tỷ Liên Thường, đường chủ Bản Nguyện Đường ở Makassar, Indonesia, một vị là sư tỷ Liên Hoa Mỹ Hằng, đường chủ Viên Giác Đường ở đảo Guam. Cả hai vị đều cho rằng hiện tại mình vẫn chưa đủ tư cách làm Thượng sư, so với những người nghĩ đủ mọi cách để được làm Thượng sư thì thật quá khác biệt.

Chắc chắn còn có nhiều đồng môn tương tự như hai vị họ mà tôi chưa được nghe đến.

Nếu có đồng môn nào chính tâm thành ý học Phật, nỗ lực tu tâm, trung thực tu hành, nỗ lực độ chúng, tâm không cầu thêm điều gì khác, không cầu làm Thượng sư, không muốn phô trương, không cầu hư vinh, không tranh danh, không tham lợi, làm việc cho tông phái đến nơi đến chốn, người như vậy mới là chất liệu Thượng sư mà tông phái chúng ta cần, và về sau đắc đại thành tựu cũng chỉ có duy nhất người như vậy.

Đây cũng là thước đo cơ bản nhất để đánh giá phẩm đức của Thượng sư! Phẩm đức của Thượng sư mà bạn đã tiếp xúc như thế nào? Hãy cân nhắc xem!

<u>Thượng sư chân chính</u>

Nếu đã làm Thượng sư, lại có đầy đủ các phẩm đức ưu tú nói trên, thì đó có phải là Thượng sư chân chính không?

Không phải! Đó chỉ là có những điều kiện tương đối ưu tú mà thôi, cách "Thượng sư chân chính" còn rất xa rất xa!

Vậy thế nào mới là Thượng sư chân chính?

Trước tiên chúng ta hãy xem thước đo mà Sư Tôn Hoạt Phật đưa ra nhé! Thánh Tôn Hoạt Phật nói: "Thượng sư chân chính phải minh tâm kiến tính, phát bồ đề tâm, hoằng pháp độ chúng."

Thước đo trời này vừa đặt xuống, đo hết tất cả Thượng sư trong tông phái, e rằng không có một ai đạt chuẩn!

Ngoài Thánh Tôn Hoạt Phật ra, có ai minh tâm kiến tính? Bởi vì minh tâm kiến tính chính là thành tựu vô thượng bồ đề.

Tất nhiên, ngoài tông phái của chúng ta ra, Thượng sư của các tông phái khác cũng chưa chắc đã minh tâm kiến tính, điều này chúng ta không cần bận tâm. Nhưng đối với bản thân mình, chúng ta nhất định phải yêu cầu nghiêm khắc.

Thánh Tôn Hoạt Phật còn nói: "Thượng sư, chính là vị thầy vô thượng!"
Lại nói: "Bạn có thể hợp nhất với vũ trụ, trí tuệ của bạn vô thượng, năng lực của bạn vô thượng, quang minh của bạn vô thượng, pháp của bạn vô thượng, bạn chính là Thượng sư."

"Vị thầy vô thượng"! Có thể làm được đúng như tên gọi không? Làm được rồi mới là Thượng sư chân chính!

Nếu còn chưa minh tâm kiến tính, còn chưa thực sự trở thành vị thầy vô thượng, thì chưa phải là Thượng sư chân chính! Đó chỉ có thể coi là Thượng sư giả mà thôi.

Ngoại trừ Thánh Tôn Hoạt Phật là vị thầy vô thượng chân chính, những Thượng sư khác trên thực tế vẫn là Thượng sư giả! Chúng ta - cả nhóm những Thượng sư của Chân Phật Tông, đều nên có sự tự nhận thức này, đừng cho rằng mình đã là "Thượng sư chân chính" rồi thì có thể coi thường đồng môn, ở vị trí cao trên, lộng quyền hành oai; thì có thể phản bội Sư Tôn, lừa dối Sư Tôn, tùy tiện làm bất cứ điều gì mình muốn!

Đừng quên mình vẫn còn là một phàm phu tục tử đáng thương, là chúng sinh đáng thương, là Thượng sư giả đáng thương!

Hơn bốn năm qua, mỗi khi mọi người gọi tôi là Thượng sư Liên Hàn, trong lòng tôi luôn có một cảm giác tự ti và hổ thẹn mãnh liệt! Tôi có năng lực gì, phẩm đức gì? Thượng sư của tôi chỉ không hơn gì "hàng giả"! Bởi vì tôi vẫn chưa chứng ngộ chân chính, còn chưa đủ tư cách gọi là Thượng sư.

Tuy nhiên, Thánh Tôn Hoạt Phật phong ra hàng chục vị Thượng sư, mục đích chính là muốn mọi người mượn danh xưng giả Thượng sư để tiện hoằng dương chính pháp Chân Phật, chỉ dẫn chúng sinh, minh tâm kiến tính mới là mục tiêu của tinh tấn tu hành.

Chính như Thánh Tôn đã nói: "Phong Thượng sư là trước tiên đẩy bạn xuống biển, bạn không chỉ phải tự mình học cách bơi đến bờ bên kia, mà còn phải cứu chúng sinh trong biển lên bờ bên kia. Nếu bạn không học được cách bơi, thì sẽ chết đuối trong biển!" Có thể thấy làm Thượng sư tuy có vẻ tốt đẹp, nghe hay ho nhưng không dễ đảm đương!

<u>Quy tắc cơ bản</u>

Tháng 6 năm ngoái, một vị sư tỷ đường chủ hỏi một vị Thượng sư: "Những người làm Thượng sư như các thầy có phải chịu trách nhiệm nhân quả không?" Thượng sư trả lời cô: "Bất cứ ai cũng đều phải chịu trách nhiệm nhân quả!"

Hóa ra cô đã gặp phải việc một vị Thượng sư khác không giữ giới luật, độc chiếm số tiền mọi người cúng dường cho Sư Tôn Hoạt Phật, nên mới có câu hỏi này.

Nhân quả của chính mình nhất định phải tự mình chịu hoàn toàn trách nhiệm, bất kỳ chúng sinh nào, bất kỳ đồng môn nào, bất kỳ đường chủ nào, bất kỳ Thượng sư nào, hoàn toàn không ai là ngoại lệ! Ngay cả chư Phật Bồ Tát còn "bất muội nhân quả" [không che lấp, không làm ngơ luật nhân quả], huống chi là con người!

Tông phái của chúng ta, đại bộ phận các Thượng sư, đường chủ và đại đa số đồng môn đều có phẩm đức tốt đẹp. Hiểu rõ nhân quả, giữ giới luật, coi trọng đạo đức, coi trọng tu tâm, không làm các điều ác, phụng hành các điều thiện, đây là phẩm tính mà người tu hành cần phải có.

Nhưng, có một bộ phận nhỏ người thì khác, đây gọi là "vàng thau lẫn lộn", phải không?

Người làm Thượng sư, trong việc giữ giới, phải giữ nhiều hơn và nghiêm khắc hơn so với đồng môn thông thường. Bởi vì Thượng sư giống như là một thân phận đặc biệt, có một loại quyền lực đặc biệt. Ví dụ, Thượng sư có thể đến các phân đường để hoằng pháp, có thể thay Sư Tôn truyền pháp, có thể thay Sư Tôn quán đảnh, có thể chủ trì pháp hội, có thể xử lý các vấn đề về pháp vụ, có thể xử lý thu nhập của pháp hội và hồng bao của quán đảnh, v.v... Nếu người làm Thượng sư mà phẩm tính không đủ thuần chính, tâm niệm có sai lệch, thì cơ hội phạm giới sẽ nhiều hơn đồng môn thông thường rất nhiều, và quả ác gây ra cũng nghiêm trọng hơn! Vì vậy, việc giữ giới cũng phải giữ nghiêm khắc hơn, từng lời nói từng hành động đều phải đặc biệt thận trọng.

Thánh Tôn Hoạt Phật cũng đã nói: "Người làm Thượng sư mà phạm giới, tội lỗi của họ gấp đôi so với người thường." Nếu phạm trọng giới, tội lỗi sẽ gấp nhiều lần so với người thường.

Người làm Thượng sư, ngoài việc phải tuân thủ nghiêm ngặt tất cả giới luật của Chân Phật Tông (Năm giới, 14 đại giới căn bản của Mật giáo, Sự sư pháp ngũ thập tụng) và Bồ Tát giới, còn phải tuân thủ một số điều quy tắc.

Từ mùa hè năm 1985, Thánh Tôn Hoạt Phật thường xuyên từ bi khai thị cho tôi một số quy tắc cơ bản của việc làm Thượng sư, giúp tôi học hỏi được không ít kiến thức, hiểu được phải làm như thế nào.

Ở đây tôi xin tóm tắt ý chính của những lời khai thị từ bi về quy tắc cơ bản của Thượng sư mà Thánh Tôn Hoạt Phật đã truyền dạy cho tôi vào thời điểm đó thành các điểm sau đây:

1. Phải hết lòng hết sức hộ trì Căn bản Truyền thừa Thượng sư, hộ trì chính pháp của tông phái. Đối với Căn bản Truyền thừa Thượng sư không được lá mặt lá trái. Thánh Tôn nói: "Nếu có vi phạm sẽ đọa vào địa ngục Kim Cang." (Điều này đã được Thánh Tôn viết trong tác phẩm của Ngài, trong "Sự sư pháp ngũ thập tụng" và "Mật giáo 14 đại giới căn bản" cũng có nội dung tương tự.)

2. Thượng sư muốn đến các phân đường hoằng pháp, nhất định phải được đường chủ phân đường chính thức mời thỉnh. Nếu là hoằng pháp xuyên quốc gia, càng phải được Căn bản Thượng sư phê chuẩn mới có thể đi.

Đây là vấn đề thuộc về phép lịch sự cơ bản. Người làm Thượng sư không thể một mực theo ý riêng mình mà nói với đường chủ: "Tôi muốn đến chỗ ông/bà hoằng pháp!" Nếu đường chủ trong lòng không muốn, cũng không dám từ chối, chỉ có thể cố gượng tỏ ra hoan nghênh. Kết quả, trong tình huống thời gian không phù hợp (mọi người phải đi làm, làm việc để mưu sinh) hoặc kinh tế không đủ, thì phải miễn cưỡng khó khăn mà sắp xếp đủ thứ việc cho vị Thượng sư này đến hoằng pháp, ví dụ như vấn đề địa điểm hoằng pháp, vấn đề tiếp đón Thượng sư, vấn đề phương tiện đi lại, vấn đề chỗ ở khách sạn, vấn đề mỗi ngày nhiều bữa ăn, thậm chí cả vấn đề vé máy bay chi phí đi lại, v.v... Chỉ một câu nói của người làm Thượng sư sẽ khiến mọi người khó xử, cả hai bên đều không vui. Đây là người làm Thượng sư không biết lịch sự, làm khó người khác, không biết đặt mình vào vị trí của người đối diện mà suy nghĩ.

Nếu có lời mời chính thức của đường chủ phân đường, nếu phân đường được mời là một quốc gia khác, Thượng sư muốn ra nước ngoài hoằng pháp, thì phải báo cáo trước với Thánh Tôn Hoạt Phật, sau khi được Thánh Tôn phê chuẩn mới có thể đến hoằng pháp, và đường chủ phân đường cũng phải báo cáo trước với Thánh Tôn Hoạt Phật về tình hình mời Thượng sư đến hoằng pháp, đây đều là vấn đề quy tắc thuộc về "kính sư".

3. Thượng sư không được nhét hết thu nhập từ pháp hội hoặc truyền pháp hoằng pháp vào túi riêng. Cần phải chia thành ba phần, một phần để lại cho phân đường địa phương làm quỹ, một phần do phân đường dùng để làm từ thiện giúp đời, một phần mới về Thượng sư chủ trì pháp hội.

Trong "Sự sư pháp ngũ thập tụng" điều thứ 42 có một lời giải thích: "Thu nhập từ giảng kinh thuyết pháp truyền pháp, lẽ ra là của Thượng sư, nếu Thượng sư cho phép phân phối như thế nào thì mới có thể sử dụng." Từ đó, một số Thượng sư cho rằng đương nhiên có thể nhét hết thu nhập từ pháp hội hoặc truyền pháp vào túi riêng.

Thật không ngờ rằng trong "Sự sư pháp ngũ thập tụng" chữ "Thượng sư" được đề cập, toàn bộ đều chỉ về Căn bản Truyền thừa Thượng sư thực sự. Đối với Chân Phật Tông hiện nay, chỉ nói đến một mình Thánh Tôn Hoạt Phật mà thôi, không phải chỉ về những "Thượng sư giả" như chúng ta, rất nhiều người không hiểu rõ điểm này, gây ra không ít hiểu lầm, mong rằng từ nay về sau mọi người hiểu rõ, để không còn nhầm lẫn nữa.

Việc phân chia thu nhập từ pháp hội hoặc truyền pháp thành ba phần là chủ ý từ bi của Thánh Tôn Hoạt Phật. Thực ra, những Thượng sư chủ trì pháp hội chúng ta càng nên nghĩ đến: Nên chia ra một phần để cúng dường Thánh Tôn Hoạt Phật trước. Bởi vì, nếu pháp hội làm thành công, đó là công đức vô lượng của Thánh Tôn Hoạt Phật cùng chư Phật Bồ Tát từ bi thương xót chúng sinh mà ban cho Phật quang gia trì, cũng là công đức vô lượng của đường chủ và đại chúng đồng môn cùng nhau đồng tâm hiệp lực, phát tâm chí thành, chứ không phải là pháp lực công đức của những "Thượng sư giả" như chúng ta. Cúng dường Thánh Tôn Hoạt Phật là việc quan trọng hàng đầu, Thánh Tôn vì khiêm tốn nên không hề đề cập đến, nhưng chúng ta trong lòng phải hiểu rõ.

Về phần bản thân tôi, luôn luôn cảm thấy mình vô năng vô đức, căn bản không có tư cách nhận phần đó, vì vậy, tôi chưa bao giờ nhận phần này. Thượng sư Liên Hoa Trung Sĩ từ khi làm Thượng sư đến nay, tôi cùng với sư huynh kề vai sát cánh chủ trì chung hơn 20 pháp hội lớn nhỏ, cả hai chúng tôi đều chuyển phần này để cúng dường Thánh Tôn Hoạt Phật, hoặc chuyển thêm cho phân đường địa phương làm quỹ, hoặc giao cho phân đường làm quỹ từ thiện. (Tùy theo thu nhập từ pháp hội nhiều hay ít và tình hình kinh phí của phân đường khẩn cấp hay chậm mà quyết định.)

4. Tất cả quán đảnh mà Thượng sư trao cho đồng môn đều là "thay Thầy quán đảnh", mọi khoản thu nhập từ quán đảnh nên thuộc về Căn bản Truyền thừa Thượng sư.

Việc Thượng sư trao quán đảnh cho đồng môn, bất kể là quán đảnh mang tên gọi nào, đều không phải là Thượng sư trao quán đảnh cho đệ tử, mà là Thượng sư thay Thánh Tôn Hoạt Phật ban quán đảnh cho mọi người. Điểm này rất nhiều người đều không hiểu rõ. Nhiều đồng môn nói với Thượng sư: "Xin Thượng sư ban cho chúng con quán đảnh!" Mà một số Thượng sư cũng nói: "Tôi ban quán đảnh cho mọi người!" Do đó, khi quán đảnh, đồng môn quỳ lạy Thượng sư, còn Thượng sư cũng ngồi thẳng chễm chệ, nhận sự đảnh lễ của mọi người. Tất cả hồng bao từ quán đảnh cũng đương nhiên vào túi Thượng sư, mọi người đều quên mất Căn bản Truyền thừa Thượng sư là ai!

Thánh Tôn Hoạt Phật nói: "Nếu bạn có thể thực sự chứng ngộ được chân lý của vũ trụ thì bạn mới có thể ban quán đảnh cho mọi người một cách hiệu quả." Mọi người hãy suy nghĩ kỹ câu nói này.

Vì vậy, nếu Thượng sư của Chân Phật Tông chúng ta ban quán đảnh cho mọi người, chỉ có thể gọi là thay Căn bản Truyền thừa Thượng sư ban quán đảnh cho mọi người (viết tắt là thay Thầy quán đảnh), như vậy mới thực sự có sức mạnh và hiệu quả của Căn bản Truyền thừa. Mọi người tuyệt đối không được quên: Tất cả công đức của quán đảnh đều đến từ Căn bản Truyền thừa, và thu nhập từ quán đảnh nên hoàn toàn thuộc về Thánh Tôn Hoạt Phật, tuyệt đối không thể để Thượng sư nhét đầy túi riêng.

Khi quán đảnh, đại chúng đồng môn nên quay mặt về phía chân dung Thánh Tôn và chư Phật Bồ Tát để đảnh lễ, Thượng sư thay Thầy quán đảnh nên đứng nghiêng một bên để ban quán đảnh cho mọi người. (Cùng một lý do, khi Thượng sư truyền pháp cho đồng môn, chỉ có thể gọi là "thay Thầy truyền pháp", như vậy mới không mất truyền thừa.)

5. Tất cả chi phí của mọi pháp hội, hoặc chi phí truyền pháp hoằng pháp và quán đảnh, hoặc mọi khoản gây quỹ, đều không được quy định số tiền thu phí với đại chúng, mọi sự cúng dường đều tùy duyên tùy hỷ, không hạn định nhiều hay ít.

Đây là tác phong từ bi nhất quán của Thánh Tôn Hoạt Phật, không chỉ mỗi Thượng sư phải tuân hành, mà bất kỳ đường chủ phân đường nào cũng đều phải tuân hành.

6. Thượng sư tiếp nhận sự cúng dường của chúng sinh thì phải ban phúc cho chúng sinh. Nếu bạn có thể tu đến mức thực sự hòa hợp một thể với vũ trụ, phúc huệ của bạn sẽ lớn như vũ trụ, lúc đó mới có thể ban phúc cho chúng sinh, mới có thể tiếp nhận sự cúng dường của chúng sinh.

Không ít đồng môn hoặc Thượng sư đều cho rằng, một khi đã được phong Thượng sư, thì có thể rộng rãi thu nhận cúng dường từ đại chúng, không cần phải vất vả vì sinh kế nữa, có thể no ấm không lo, thực ra đó là quan niệm sai lầm.

Nếu Thượng sư ban phù hoặc làm pháp cho đại chúng, thì có thể nhận hồng bao cúng dường tùy duyên của đối phương, đối phương cũng sẽ không rơi vào cảnh cầu mà không được, như vậy sẽ không trái lý.

Nhưng nếu là việc nhận cúng dường từ đại chúng mà không có công đức xứng đáng, thì phải ban phúc phần của mình cho đối phương, hoặc phải thay thế chịu tai ương của đối phương. Bạn có thể tu trì đến mức thực sự hòa hợp một thể với vũ trụ thì mới có thể ban phúc cho chúng sinh, mới có thể tiếp nhận cúng dường từ chúng sinh. Nếu không, bạn phải lấy phúc phần của mình ra chia cho đại chúng, một phàm phu như bạn thì có được bao nhiêu phúc phần?

7. Thượng sư không được đặt pháp tướng của chính mình lên đàn thành của phân đường.

Một số Thượng sư thích được mọi người đảnh lễ quỳ lạy để thể hiện thân phận cao hơn người một bậc và uy nghiêm vô song. Tuy nhiên, nhận sự quỳ lạy của chúng sinh thì cũng phải ban phúc cho chúng sinh. Điều này cũng cùng một lẽ với mục trên, nếu Thượng sư chưa tu đến mức thực sự hòa hợp một thể với vũ trụ, mà lại tiếp nhận sự quỳ lạy của chúng sinh, thì rất có khả năng sẽ nhanh chóng "đi đời" - tức là vãng sinh Tây phương luôn, vì trong chúng sinh có không ít người sở hữu đại phúc đức, hoặc cảnh giới tu hành rất cao, nếu những người này lạy một lạy, bạn có chịu nổi không? Vì vậy, thế tục có lời đồn rằng không nên lạy người sống.

Chỉ có những người chứng đắc chân chính như Thánh Tôn Hoạt Phật, phúc đức trí huệ của Ngài đều rộng lớn vô biên như vũ trụ, mới có thể tiếp nhận sự chiêm bái đảnh lễ của bất kỳ chúng sinh trời người nào, bất cứ lúc nào cũng ban phúc cho chúng sinh, bất cứ lúc nào cũng thay thế chịu tai ương của chúng sinh mà vẫn an nhiên vô sự!

Nếu Thượng sư đặt pháp tướng của chính mình lên đàn thành của phân đường để cúng phụng, thì lại càng phạm phải sai lầm nghiêm trọng làm rối loạn pháp thống.

Tại sao? Vì Thánh Tôn Hoạt Phật sẽ có rất nhiều cơ hội đến các phân đường để hoằng pháp, khi đó Thánh Tôn tất nhiên sẽ lễ bái đàn thành, lạy như vậy thì đã lạy pháp tướng của Thượng sư, mà Thượng sư lại là đệ tử của Thánh Tôn, như vậy chẳng thành ra "Thầy lạy trò" hay sao? Pháp thống lập tức đại loạn!

Nếu phạm phải sai lầm này, không chỉ Thượng sư phải chịu trách nhiệm, mà đường chủ phân đường cũng phải chịu trách nhiệm. Thánh Tôn Hoạt Phật từng hài hước nói: "Đàn thành thì tôi phải lễ bái, muốn tôi "Thầy lạy trò" cũng không sao, tôi sẽ cứ lạy như thường, hậu quả ra sao thì tôi không biết đâu."

8. Thượng sư không được nhận đệ tử của Thánh Tôn Hoạt Phật làm đệ tử.

Đây cũng là vấn đề nghiêm trọng làm rối loạn pháp thống truyền thừa. Đệ tử của Thánh Tôn Hoạt Phật và Thượng sư là quan hệ sư huynh sư tỷ đồng môn, không phải quan hệ thầy trò, nếu nhận đồng môn làm đệ tử, làm hỗn loạn pháp thống truyền thừa, cả hai đều phạm đại giới, cần nhanh chóng hủy bỏ và phát lộ sám hối trước Thánh Tôn Hoạt Phật, tránh đọa địa ngục.

Thánh Tôn Hoạt Phật từ năm 1983 đã cảnh báo mọi người, và viết trong cuốn "Hành giả Seattle". Đến năm 1986 lại ra lệnh cho tôi in rộng rãi "Giới luật Chân Phật Tông", "Sự Sư Pháp Ngũ Thập Tụng" (trong đó là điều thứ 43) để nhắc nhở mọi người, và thường xuyên đề cập trong các buổi thuyết pháp khai thị, Thánh Tôn từ bi vì mọi người mà thực sự đã khuyên răn hết nước hết cái!

Mùa thu năm 1984, Thánh Tôn đã nói với tôi: "Mỗi vị Thượng sư đều có thể nhận đệ tử, nhưng không được nhận đồng môn làm đệ tử."

Còn theo quan điểm cá nhân của tôi, chỉ cần Thánh Tôn Hoạt Phật còn hiện tiền một ngày, chúng ta với tư cách là Thượng sư thì nên dẫn dắt chúng sinh đến quy y Thánh Tôn, chứ không phải dẫn dắt chúng sinh đến quy y chính mình. Bản thân mình còn chưa chứng ngộ, thì có năng lực nào, đức hạnh nào, trí huệ nào, phúc đức nào để tiếp nhận sự quy y của chúng sinh?

9. Thượng sư hoằng pháp thuyết pháp, không được đàm luận chính trị.

Phàm là Thượng sư của Chân Phật Tông, trách nhiệm là hoằng dương chính pháp Chân Phật Tông, tuyệt đối không phải là hoạt động chính trị. Thượng sư hoằng pháp thuyết pháp, bạn đại diện cho tông phái của chúng ta, vì vậy bất luận ở địa phương hay nơi khác, mọi lời nói hành động trong bất kỳ trường hợp nào đều tuyệt đối không được dính dáng đến chút màu sắc chính trị nào, để tránh đem lại phiền toái hay tổn thất không cần thiết cho toàn bộ tông phái, điều này vô cùng quan trọng.

9 quy tắc cơ bản trên đây là những gì Thánh Tôn Hoạt Phật đã lần lượt khai thị cho tôi trong nhiều năm qua, tôi cũng đã từng thỉnh cầu Thánh Tôn viết những quy tắc này thành điều văn chính thức, đăng tải trong sách, trở thành những quy tắc mà các Thượng sư nhất trí tuân thủ. Nhưng Thánh Tôn Hoạt Phật đã than thở nói: "Tôi đã viết không ít rồi, lại còn có giới luật Chân Phật Tông nữa, tin rằng mọi người có trí huệ tự kỷ luật và tự biết mình, dù sao thì mỗi người tự chịu trách nhiệm về nhân quả của chính mình thôi."

Suy nghĩ thấu đáo, vẫn là câu nói của Thánh Tôn: "Dù sao thì mỗi người tự chịu trách nhiệm về nhân quả của chính mình thôi."

<u>Những điều khác</u>

Trong "Sự Sư Pháp Ngũ Thập Tụng", có khá nhiều quy tắc liên quan đến phép lịch sự đối với Căn bản Truyền thừa Thượng sư, nhưng trong tông phái chúng ta cũng có một số hiện tượng thất lễ mà 50 quy tắc không đề cập đến.

Xin nêu ra hai ví dụ thực tế:

Ví dụ 1: Cho đến nay, vẫn có một số Thượng sư khi ở trước mọi người gọi Thánh Tôn là Thượng sư. Điều này tất nhiên không phải là lỗi lớn, nhưng khi Thượng sư gọi Thánh Tôn là Thượng sư, thì đồng môn cũng sẽ theo mà gọi Thánh Tôn là Thượng sư, trong khi đồng môn cũng gọi người làm Thượng sư là Thượng sư, các Thượng sư với nhau cũng gọi nhau là Thượng sư, gây nên tình trạng mối quan hệ giữa Thánh Tôn và Thượng sư có vẻ như là sư huynh sư đệ cùng bậc, mà không giống như quan hệ thầy trò. Cách xưng hô hỗn loạn thứ bậc như vậy là rất bất lịch sự.

Đối với chính Thánh Tôn mà nói, bạn gọi ngài như thế nào thì ngài cũng không màng, nhưng đối với Thượng sư là đệ tử mà nói, trong lòng luôn phải có khái niệm tôn ti thầy trò chứ?

Ví dụ 2: Mỗi năm tôi đến Seattle yết kiến Thánh Tôn, trong Lôi Tạng Tự đều thấy tình hình này: rất nhiều đồng môn và một số Thượng sư ở trong chùa, Thánh Tôn Hoạt Phật đến, ngài hướng về đàn thành đảnh lễ chư Phật Bồ Tát, một số đồng môn vội vàng đảnh lễ theo, một số đồng môn đứng ở một bên, một số Thượng sư cũng đứng ở góc xem. Có những đồng môn theo Thánh Tôn đảnh lễ, Thánh Tôn quỳ xuống một lúc rồi họ mới quỳ xuống, hoặc Thánh Tôn chưa đứng dậy mà họ đã đứng dậy trước.

Tình huống này có thể mọi người đều không để ý.

Thánh Tôn hướng về đàn thành đảnh lễ, chúng ta làm đệ tử tuyệt đối không thể đứng. Khi chúng ta làm theo Thánh Tôn hướng về đàn thành đảnh lễ, cần phải quỳ xuống trước Thánh Tôn, đứng dậy sau Thánh Tôn; nghĩa là trước khi Thánh Tôn quỳ xuống, chúng ta nên quỳ xuống trước, sau khi Thánh Tôn đứng dậy, chúng ta mới có thể đứng dậy, như vậy mới hợp lễ nghi.

Ngoài ra, có hai hiện tượng cũng thường xuất hiện ở một số đồng môn, đường chủ, thậm chí cả một số Thượng sư.

Thứ nhất: Là vấn đề về "cảnh giới tu hành".

Một số đồng môn hoặc đường chủ, thậm chí một số Thượng sư đều thích tuyên truyền rằng bản thân đã tu đến một cảnh giới cao nào đó, hoặc "không lâu nữa sắp chứng đắc rồi", là do Bồ Tát nói trong thiền định, hoặc đã được Bồ Tát thọ ký.

Một số trường hợp là đồng môn và Thượng sư cùng nhau tâng bốc lẫn nhau, có đồng môn "thông linh", "thiên nhãn" xác nhận rằng Thượng sư nào đó đã tu đến tầng trời thứ mấy, chỉ còn thiếu hai ba tầng nữa là có thể vượt qua Thánh Tôn rồi. Thượng sư cũng ấn chứng rằng đồng môn nào đó hoặc đường chủ nào đó đã tiến vào vùng cảnh giới của Thượng sư, chỉ cần báo cáo với Thánh Tôn một chút là có thể được phong làm Thượng sư rồi.

Một số thậm chí còn lén lút tuyên bố với đồng môn tri kỷ tâm phúc rằng bản thân đã chứng ngộ, bởi vì chân ngã đã xuất hiện.

Những điều như vậy lừa gạt được một đám đông đồng môn sư huynh sư tỷ vô tri ngưỡng mộ khao khát, chạy theo vây quanh phía sau, ngày ngày đều muốn nghe vị đại thành tựu giả cảnh giới cao siêu bất khả tư nghì này khai thị truyền pháp, chỉ dẫn nhân quả căn cơ tiền kiếp.

Từ đó, đủ loại tai hại nảy sinh, những vị "đại thành tựu giả" này sẽ rất bí mật truyền cho bạn một loại thần chú "chuyên dùng để thành Phật" tuyệt đối độc nhất vô nhị trong toàn bộ vũ trụ trên dưới mười phương, bảo bạn phải kiên định niềm tin tu trì bí mật, tuyệt đối đừng cho bất kỳ ai biết.

Hoặc sẽ truyền cho bạn một "Đại Thủ Ấn" mà Thánh Tôn Hoạt Phật dùng để phòng thân tự vệ, từ trước đến nay chưa từng chịu tiết lộ cho bất kỳ Thượng sư nào, chỉ cần hàng ngày kết "Đại Thủ Ấn" này, thâm nhập một pháp, tu trì lâu ngày nhất định thành Phật.

Hoặc sẽ cực kỳ bí mật tiết lộ với bạn: Tôi có một loại "đại tâm pháp vô thượng vũ trụ" mà Thánh Tôn Hoạt Phật bí mật truyền trong thiền định, chỉ có thể truyền thừa giữa Phật và Phật với nhau, Thánh Tôn truyền lệnh cho tôi tu tập pháp này để thành Phật cứu độ chúng sinh. Vì vấn đề giới luật truyền thừa, tương lai chỉ có thể truyền cho đệ tử quy y với tôi, vì không thể nhận đồng môn làm đệ tử, cho nên, rất xin lỗi, không thể truyền pháp này cho các bạn..., đủ kiểu trò bịp bợm.

Những ghi chép mắt thấy tai nghe kỳ dị thời buổi này, nói có kỳ quặc đến đâu thì có kỳ quặc đến đó, chỉ tội nghiệp cho những đồng môn vô tri bị lừa gạt.

Tuy nhiên, việc phân biệt thật giả cũng là chuyện rất dễ dàng, bạn chỉ cần bảo những vị "đại thành tựu giả" cảnh giới cao siêu này tự mình đến xin Thánh Tôn Hoạt Phật ấn chứng là được, chứ đừng tin vào những lời họ nói kiểu như: "Tôi đã được Thầy ấn chứng thọ ký trong thiền định." Những câu nói láo to như vậy, nếu bạn tin tưởng sâu sắc loại chuyện hoang đường này, thì thật đáng thương, bạn thực sự không còn thuốc chữa nữa.

Thứ hai: Là vấn đề về "Bồ Tát nào đó chuyển kiếp". 

Tức là có một số đồng môn hoặc đường chủ, một số Thượng sư riêng lẻ thường xuyên biểu diễn những trò này.
Người này nói là "Bồ Tát nào đó chuyển kiếp, đến để cứu độ chúng sinh."
Người kia nói là "sứ giả trước toà Phật nào đó chuyển kiếp, có nhiệm vụ đặc biệt, sứ mệnh đặc biệt."
Người này nói là "Đại Liên Hoa Đồng Tử màu nào đó chuyển kiếp, Thánh Tôn là anh trai của tôi."
Có người nói là "Thiện Tài Đồng Tử trước toà Quan Âm Bồ Tát chuyển kiếp."
Có người nói là "Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chuyển kiếp."
Có người nói chức vị của mình còn cao hơn cả Vương Mẫu Nương Nương.

Có người còn làm bộ vô cùng bí ẩn, nói rằng nguồn gốc của bản thân mình quá lớn, không dám tiết lộ bí mật về danh tính. Nếu ngộ nhỡ bị tiết lộ ra ngoài sẽ khiến thiên ma tam giới đến đấu pháp, người đời lại sẽ nói tôi đang khua môi múa mép để gây chú ý, thôi thì không nói ra là tốt nhất.

Gần đây có một vị sư huynh từ nơi xa đến tìm tôi, ông ấy không ngại phiền mô tả với tôi về thần thông linh lực của một vị đường chủ cao cường đến mức nào, khi làm lễ trị liệu tâm linh cho mọi người trong đàn thành thì người người kéo đến như sóng biển, chen chúc đến nghẹt thở. Cuối cùng, ông ấy đưa miệng lại gần, vô cùng bí mật nói nhỏ: "Vị đường chủ này là một vị Đại Bồ Tát nào đó chuyển kiếp, đã được một vị Thượng sư nào đó trực tiếp xác nhận không sai!"

Kể lể một hồi như vậy khiến tôi nghe xong chỉ biết cười trừ chua xót, chỉ còn nước chớp mắt cười khổ mà thôi. Ôi ôi, Nam Mô A Di Đà Phật! Trời ơi đất hỡi!

Thánh Tôn Hoạt Phật trong bài khai thị từ bi đề tựa "Liên Hoa Đồng Tử thật giả" ngày 3 tháng 9 năm nay đã nói: "Càng cố gắng nói bản thân là Liên Hoa Đồng Tử thì càng không phải!"

Tiếng gầm sư tử này đem đến cho những người thích thổi phồng bản thân là Bồ Tát chuyển kiếp để nâng cao địa vị của mình một tiếng sấm đánh thức giấc mộng mùa xuân! Mọi người cũng nên tỉnh ngộ đi thôi!

Chướng ngại lớn nhất trong tu hành không phải là thiên ma, mà chính là bản thân mình! Là bản thân mình không tu tâm tốt, là tâm niệm của bản thân mình không thuần chính, tất cả ý thức của thiên ma đều từ đó mà nhập vào, tu tâm quan trọng hơn tu pháp!

Khi làm Thượng sư, trước khi làm phải trải qua thử thách; còn sau khi đã làm Thượng sư thì thử thách càng lớn hơn, thời gian càng dài hơn!

Do số lượng Thượng sư trong tông phái ngày càng tăng, tâm đắc tu hành của mỗi vị Thượng sư đều khác nhau, phương thức hoằng pháp và phương pháp xử lý pháp vụ cũng sẽ khác nhau, đây là hiện tượng bình thường tất yếu.

Dù khác nhau thế nào đi nữa, Thượng sư thay Thầy truyền pháp và hoằng pháp, đều không thể rời khỏi truyền thừa của Thánh Tôn Hoạt Phật. Xử lý pháp vụ phải hết sức học tập phẩm chất đạo đức ưu tú lương thiện của Thánh Tôn như từ bi, khiêm tốn, lễ phép, rộng lượng, chính trực vô tư, thuần chính không tà.

Khi làm Thượng sư, đường chủ cũng như tất cả đồng môn, đều phải cố gắng đọc nhiều sách của Thánh Tôn, nghe nhiều băng ghi âm bài khai thị của Thánh Tôn, lĩnh hội kỹ lưỡng tư tưởng ý định của Thánh Tôn, khiến tư tưởng của bản thân nỗ lực đến gần với tư tưởng của Thánh Tôn, như vậy mới có thể đạt được truyền thừa chân chính từ Thánh Tôn Hoạt Phật, mới có thể nhanh chóng tương ứng với Thánh Tôn Hoạt Phật.

Người làm Thượng sư, trách nhiệm quan trọng nhất là dẫn dắt mọi người chặt chẽ đi theo lộ trình tư tưởng của Thánh Tôn Hoạt Phật, nỗ lực tu tâm tu pháp, là tấm gương tu trì của đồng môn trong tông phái.

Đừng dắt dẫn chúng sinh lạc vào một con đường tà đạo khác!

Nhân quả vẫn phải tự mình hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Tháng 10 năm 1988.

**Hỏi**: Liên Sinh Thánh Tôn có ý kiến gì về bài viết "Làm Thượng sư" của Thượng sư Liên Hàn?

**Đáp**: Trước tiên Liên Sinh Thánh Tôn dạy hành giả Chân Phật phân biệt "Thượng sư thật" và "Thượng sư giả".

Trước khi bạn thỉnh cầu một vị Thượng sư khai thị Phật pháp hoặc quán đảnh, bạn phải thận trọng quan sát kiểm tra phẩm hạnh của vị ấy.

Vị Thượng sư viên mãn đầy đủ đức hạnh, trong hành vi biểu hiện ra như sau:
1. Có tâm từ bi.
2. Không giận dữ.
3. Tâm địa vô cùng thiện lương.
4. Không tham luyến tiền tài.
5. Không kéo bè kết đảng lập phái.
6. Ngôn ngữ hành vi ôn hòa mềm mỏng.

Thượng sư giả, trong hành vi biểu hiện ra như sau:
1. Sáu điểm trên đều mang tính tiêu cực.
2. Hay khoe khoang với người khác rằng có mật pháp độc môn.
3. Hành vi phóng túng không kiềm chế.
4. Thèm khát tài vật Tam Bảo.
5. Lừa dối giả tạo.
6. Truyền thụ pháp không thuộc về Chân Phật Tông.
7. Đam mê rượu chè sắc dục.
8. Tự cho mình là thông minh mà dẫn dắt sai lệch Phật pháp.
9. Không kính trọng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, xúc phạm, v.v…

Tuy nhiên, theo Mật giáo, một khi bạn đã tiếp nhận sự khai thị hoặc quán đảnh từ một vị Thượng sư giả, bạn cũng không được đánh mất niềm tin và phỉ báng vị ấy, hay quay lại xem xét phẩm hạnh của vị ấy.

Bạn chỉ có thể xa lánh, nhưng đừng phỉ báng, bởi vì nếu bạn phỉ báng Căn bản Thượng sư của chính mình, vào thời điểm này, bạn sẽ không bao giờ có thể tìm được một vị Thượng sư hoàn mỹ nữa; ngay cả khi bạn có thể tìm được một vị Thượng sư hoàn mỹ, bạn cũng sẽ lại một lần nữa tìm ra khuyết điểm của vị Thượng sư này.

Bởi vì bạn sẽ nhầm lẫn phẩm hạnh đúng đắn của Thượng sư là khuyết điểm, giống như đệ tử của Đức Phật là Đề Bà Đạt Đa, Đề Bà Đạt Đa nhìn Đức Phật toàn bộ đều là khuyết điểm.

**Hỏi**: Liên Sinh Thánh Tôn còn có điều gì muốn giải thích thêm về bài viết "Làm Thượng sư" của Thượng sư Liên Hàn?

**Đáp**: Tôi có một vài điểm cần giải thích và bổ sung thêm, như sau:

1. Thượng sư của Chân Phật Tông muốn đến các phân đường trên thế giới để hoằng pháp, tốt nhất là có lời mời của các phân đường, hai bên trao đổi thông báo với nhau, như vậy mới phù hợp với lễ nghi giữa hai bên. Nếu Thượng sư cứ đến mà không được mời, phân đường miễn cưỡng ứng phó, thì điều này là làm khó người khác.

Còn về vấn đề bản thân Thượng sư của Chân Phật Tông có ý chí "tự do hành động", Thượng sư đến các nước hoằng pháp đều là tự do, không có giới hạn.

Thượng sư của Chân Phật Tông đến các nước trên thế giới hoằng pháp, nếu trước đó thông báo với Căn bản Thượng sư, đây là một phép lịch sự, để Liên Sinh Thánh Tôn biết bạn đang ở đâu; giả sử không thông báo với Căn bản Thượng sư, thực ra cũng không sao, chỉ cần các Thượng sư nghiêm túc hoằng dương Chân Phật Mật Pháp, phù hợp với tôn chỉ của Chân Phật là được.

Về phương diện hoằng pháp, tôi nhấn mạnh sự quý giá của "tự do".

2. Về phương diện thu nhập từ hoằng pháp, tôi từng nói: chia làm ba phần: một phần để lại cho phân đường địa phương làm quỹ, một phần do phân đường dùng để làm từ thiện giúp đời, phần cuối cùng về Thượng sư chủ trì pháp hội, cách phân phối như vậy khá công bằng.

Còn về điều Thượng sư Liên Hàn nói rằng, nên trước tiên dành một phần cúng dường Thánh Tôn Hoạt Phật, điều này là không cần thiết. Nếu nhất định muốn, các Thượng sư có thể "ý tứ" một chút là được rồi, cũng tức là "tùy ý" một chút, cũng được coi là một thứ lễ phép không quên gốc.

3. Các Thượng sư quán đảnh truyền pháp, nhất định phải triệu thỉnh Căn bản Thượng sư, đây là lễ nghi của Mật giáo, bất kỳ quán đảnh truyền thụ pháp nào đều phải như vậy, tức là trước tiên cung kính Căn bản Thượng sư; nhưng không cần thiết phải nhấn mạnh "thay Thầy truyền pháp" hoặc "thay Thầy quán đảnh", chữ "thay" này, có thể không cần dùng.

4. Các Thượng sư đều có thể nhận đệ tử, có thể phân phát pháp tướng của chính mình cho đệ tử của mình để họ thờ phụng, điều này là như pháp; nhưng nếu các Thượng sư nhận đệ tử của Căn bản Thượng sư, rồi phân phát pháp tướng của chính mình cho đệ tử của Căn bản Thượng sư để thờ phụng, không cần phải nói, điều này chắc chắn là không như pháp, đây là sự rối loạn nghiêm trọng về truyền thừa và thứ bậc.

Liên Sinh Thánh Tôn nói: "Các phân đường của Chân Phật Tông nên thờ phụng pháp tướng của Căn bản Thượng sư. Nếu nhất định muốn thờ phụng pháp tướng của các Thượng sư khác, xin hãy thờ phụng toàn bộ các Thượng sư, không được chỉ thờ phụng một hoặc hai vị; như vậy mới là cung kính tất cả, không có tâm phân biệt."

5. Việc ai đó là hóa thân của vị Phật nào đó, hóa thân của vị Bồ Tát nào đó, hóa thân của Liên Hoa Đồng Tử màu nào đó, thậm chí là hóa thân của sư phụ Liên Sinh Thánh Tôn, tất cả những điều này đều không quan trọng.

Điều quan trọng là ở kiếp này bạn có thể thực tu hay không, người thực tu sẽ chứng đắc, bạn chính là Phật, chính là Bồ Tát, chính là Liên Hoa Đồng Tử, chính là sư phụ của Liên Sinh Thánh Tôn, đừng lẫn lộn đầu đuôi.

**Hỏi**: Các Thượng sư phạm giới luật thì có hình phạt gì?

**Đáp**: Sau khi chết đọa vào địa ngục Kim Cang, có chín loại đột tử:
1. Trúng pháp tà ma mà chết.
2. Bị hình phạt của nhà nước.
3. Phi nhân đoạt tinh khí, thân mắc bệnh ác.
4. Bị lửa thiêu.
5. Bị đuối nước.
6. Bị ác thú ăn thịt, tai nạn xe cộ.
7. Bị rơi xuống vách đá, bị đất vùi.
8. Bị trúng thuốc độc, lời nguyền rủa, tự sát.
9. Chết vì tai ương binh đao.

**Hỏi**: Liên Sinh Thánh Tôn mong muốn các hành giả Chân Phật và các Thượng sư tuân thủ quy định gì?

**Đáp**: Thượng sư với Thượng sư, đạo tràng với đạo tràng

Giữa Thượng sư với Thượng sư, giữa đạo tràng với đạo tràng, nên tôn trọng lẫn nhau, nên giúp đỡ lẫn nhau, chăm sóc lẫn nhau, cùng nhau nuôi dưỡng để cùng đến bờ giác ngộ. Đây là hợp tác cùng giúp đỡ, đoàn kết nhất trí.

Thượng sư với Thượng sư, đạo tràng với đạo tràng không phải chuyên tạo phe nhóm nhỏ, chuyên xua đuổi các Thượng sư khác và xua đuổi các đạo tràng khác, không phải đối lập, không được sinh ra chống đối và tẩy chay.

Khi làm Thượng sư, đừng tự cao ngạo mạn, nếu mới có một chút thành tựu, một chút thành công liền sinh ra tâm mình ta độc nhất thiên hạ, đây là điều không thể chấp nhận được, thậm chí mắt không còn thấy Căn bản Thượng sư, kiêu ngạo khinh thị các Thượng sư trên đời.

Thực tế, khi tâm tự cao ngạo mạn sinh ra, vị Thượng sư này đã là Thượng sư giả. Thượng sư với Thượng sư, đạo tràng với đạo tràng, hành giả với hành giả, nên cùng nhau ghi nhớ:

Đừng âm mưu mờ ám.
Đừng mưu đồ thâm hiểm.
Đừng có tính ghen tị.
Đừng miệng lưỡi thị phi.
Đừng lười biếng thoái tâm.
Đừng tham sân si ngạo mạn.
Đừng lo được lo mất.

Thực ra những điểm quy củ trên đây, không chỉ người học Phật phải tuân thủ, người thường cũng phải tuân thủ, đây là quy củ của người quân tử chính trực!


### 07. Nghi quỹ khác


**Hỏi**: Các nghi quỹ khác của Chân Phật Tông còn có những gì?

**Đáp**: Chẳng hạn như Nghi quỹ phóng sinh, Nghi quỹ cầu phúc, Nghi quỹ siêu độ, Nghi quỹ trợ niệm, Nghi quỹ kết hôn v.v…, tất cả những nghi quỹ này đều thuộc các nghi quỹ khác.

**Hỏi**: Nghi quỹ phóng sinh bao gồm những gì?

**Đáp**: Nội dung nghi quỹ đại khái như sau: (pháp đơn giản)

1. Khởi thỉnh Phật Bồ Tát thánh chúng.
2. Quy y Tam Bảo cho chúng sinh.
3. Thay chúng sinh sám hối nghiệp tội.
4. Thay chúng sinh phát bốn nguyện lớn.
5. Thay chúng sinh phát bốn nguyện lớn về tự tính.
6. Ngâm đọc Thất Phật chân ngôn, động vật nghe có thể thăng lên cõi người, trời.
7. Tụng Tâm Kinh, thay chúng sinh mở trí tuệ.
8. Niệm chú Đại Bi.
9. Niệm chú vãng sinh. (Trong khi niệm chú vãng sinh thì phóng sinh.)

Liên Sinh Thánh Tôn trong các cuốn sách tâm linh trước đây, đã viết Nghi quỹ phóng sinh, Nghi quỹ cầu phúc, Nghi quỹ siêu độ, thậm chí Năm pháp đại thành tựu, nghi quỹ tiêu tai, tăng ích, kính ái, hàng phục, bảo bộ, hành giả tỉ mỉ có thể linh hoạt vận dụng.

**Hỏi**: Nghi quỹ trợ niệm thì bao gồm những gì?

**Đáp**: Trợ niệm rất quan trọng, đây là diệu pháp của hành giả Chân Phật để giúp người lâm chung thu tâm về một niệm mà vãng sinh về Tây phương Cực Lạc thế giới, một niệm lúc lâm chung rất quan trọng.

Nghi quỹ trợ niệm nên bao gồm: (pháp đơn giản)
Khởi thỉnh Phật Bồ Tát thánh chúng.
Thay người lâm chung sám hối.
Thay người lâm chung niệm chân ngôn tịnh thân, tịnh khẩu, tịnh ý.
Thay người lâm chung phát nguyện.
Niệm chú vãng sinh 3 biến.
Niệm A Di Đà Phật càng nhiều càng tốt.

Giả như người lâm chung chưa quy y Phật môn, cần trước tiên thay họ quy y Phật môn, chứng thư quy y của họ có thể đặt vào quan tài hoặc thiêu hóa trước ban thờ đều được. Trọng điểm của trợ niệm nằm ở hai chữ "niệm Phật", khiến người lâm chung thu tâm về một niệm, nhớ mãi không quên thì có thể vãng sinh, đây là công đức vĩ đại của A Di Đà Phật.

**Hỏi**: Nghi quỹ kết hôn bao gồm những gì?

**Đáp**: Kết hôn là bạn đạo.

Thượng sư của Chân Phật Tông cử hành hôn lễ cho bạn đạo, nghi quỹ như sau: (pháp đơn giản)
Khởi thỉnh Phật Bồ Tát chư tôn.
Đại lễ bái.
Dâng cúng dường.
Phụng thỉnh Phật Bồ Tát chứng hạnh phúc cho hai vị bạn đạo.
Thượng sư đại diện Phật Bồ Tát chứng hạnh phúc. Thượng sư gia trì hai vị tân lang tân nương sái tịnh.
Hai vị tân lang tân nương trao đổi lễ vật.
Thượng sư khai thị.
Chú Đại Bi. (3 biến)
Đại lễ bái.
Cát tường viên mãn.

**Hỏi**: Các nghi quỹ khác cần phải làm đến mức độ nào mới phù hợp với quy củ?

**Đáp**: Thực ra nghi quỹ đều là do con người đặt ra, đây là một chuẩn mực, tuân theo tiêu chuẩn này thì tự nhiên có thể đạt được một hình thái hoàn hảo. Để đạt được hình thái hoàn hảo, tôi cho rằng thước đo của nó có ba điểm:

1. Cung kính triệu thỉnh - Bất cứ nghi quỹ nào đều phải triệu thỉnh Thượng sư và Tam Bảo, triệu thỉnh Thượng sư và Tam Bảo nhất định phải xuất phát từ sự cung kính nội tâm. Ví dụ như khi chúng ta hát Lư Hương Tán đều phải sinh khởi một tâm sùng kính và ngưỡng mộ vô thượng, triệu thỉnh, đại lễ bái, cúng dường, tán tụng đều là cung kính.

2. Nghi thức trang nghiêm - Bất kỳ nghi quỹ nào cũng nhất định phải trang nghiêm, cần biết rằng mật đàn là sự tổng hợp của hương hoa và ánh sáng, đó chính là "hương quang trang nghiêm", chúng ta dùng tâm trang nghiêm để tiến hành nghi thức, tức là đang trang nghiêm bồ đề vô thượng, đạo tràng trang nghiêm, nghi thức trang nghiêm, Phật Bồ Tát chư tôn ánh sáng cát tường giáng lâm, tất cả nghi quỹ tự nhiên có thể viên mãn.

3. Thân khẩu ý thanh tịnh - Bất kỳ nghi quỹ nào, chỉ cần thân khẩu ý của hành giả thanh tịnh, trong mỗi nghi thức tiến hành, miệng niệm, tâm quán, sự niệm chú niệm Phật hữu hình và quán tưởng vô hình này phối hợp với nhau, thì có thể trong định khai mở chân lý nhân sinh vũ trụ.
Trong định, thân khẩu ý thanh tịnh.
Niệm lực tập trung, thì có pháp lực.
Chính là ta và người đều có lợi.

Liên Sinh Thánh Tôn cho rằng, tiến hành tất cả nghi quỹ, chỉ cần thu tâm vào một chỗ, không để tâm tán loạn phân tâm, Phật Bồ Tát chư tôn hạ giáng, như thế cảm ứng đạo giao, phóng sinh, cầu phúc, siêu độ, trợ niệm, kết hôn..., có thể được công đức bất khả tư nghì.


### 08. Tất cả nghi quỹ tu pháp


**Hỏi**: Tất cả nghi quỹ tu pháp là gì? Bao gồm những gì?

**Đáp**: "Tất cả nghi quỹ tu pháp" là một cách gọi khá chung chung, trong Chân Phật Tông mà nói, phạm vi bao hàm vô cùng rộng lớn, tôi cho rằng bao gồm:
Pháp Tứ gia hành.
Pháp Thượng sư tương ứng.
Pháp Bổn tôn.
Pháp Kim cang.
Vô thượng mật.
Thậm chí tất cả pháp Yết Ma.

Còn tu pháp của Chân Phật Tông không tách rời thanh tịnh tam nghiệp, triệu thỉnh chư tôn, đại lễ bái, đại cúng dường, tứ quy y, mặc giáp hộ thân, niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, sám hối nghiệp chướng, phát bồ đề tâm, tứ vô lượng tâm, phát nguyện, quán tưởng kết ấn, trì chú, nhập Tam ma địa, hồi hướng .............

**Hỏi**: Nghe nói có trọng điểm của tu pháp, xin hỏi trọng điểm của tu pháp là gì?

**Đáp**: Để nghi quỹ được hoàn chỉnh, thực ra bất kỳ hạng mục nào cũng đều quan trọng, từ thiết lập đàn thành, từ cúng dường Tam Bảo, nếu nghi quỹ hoàn chỉnh thì phúc huệ mới có thể tăng trưởng.

Tất nhiên, trong tu pháp quả thực có ba trọng điểm lớn, ba trọng điểm lớn này chính là:
Quán tưởng - ý thanh tịnh.
Kết ấn - thân thanh tịnh.
Trì chú - khẩu thanh tịnh.

**Hỏi**: Nghe nói ba trọng điểm lớn này đều là vì một hạng mục, có đúng không?

**Đáp**: Đúng vậy. Không chỉ ba trọng điểm lớn này đều vì một hạng mục, thậm chí thanh tịnh tam nghiệp, triệu thỉnh chư tôn, đại lễ bái, đại cúng dường, tứ quy y, mặc giáp hộ thân, niệm kinh, sám hối, phát bồ đề tâm, tứ vô lượng tâm, phát nguyện..., toàn bộ đều vì một hạng mục, hạng mục này chính là nhập Tam ma địa, nhập Tam ma địa này chính là mục đích chính cao nhất.

**Hỏi**: Tam ma địa này chẳng phải là mục đích chính cao nhất của Phật môn sao?

**Đáp**: Tam ma địa này chính là mục đích chính cao nhất của Phật môn.
Nhất tâm bất loạn của Tịnh Độ Tông.
Nhất tâm bất động của Thiền Tông.
Tam ma địa của Mật Tông.
Giới tướng của Luật Tông.
....., đều là cùng một mục đích chính cao nhất.
Mục đích chính cao nhất này là cực điểm của Phật pháp, là điều quan trọng hàng đầu, là thông suốt tất cả pháp môn.

Liên Sinh Thánh Tôn đã thể hội được:
Tam ma địa.
Đầy khắp mười pháp giới.
Chư Phật Bồ Tát một Như Lai.
Chứng một chứng tất cả.
Chúng sinh Như Lai cùng chứng bồ đề.

Những gì tôi viết ra về thể hội của mình, nếu là bậc Thánh đã mở tâm nhãn, chắc chắn sẽ hiểu được. Hành giả nhập Tam ma địa, kim thân sừng sững, ở trên tòa sen báu, mười phương chư Phật, chư đại Bồ Tát đều phóng quang minh, nhập vào thân hành giả, tất cả thanh tịnh, tất cả bản tính hữu tình thanh tịnh.

**Hỏi**: Chúng tôi là hành giả tu pháp, có thể chỉ tu những trọng điểm không?

**Đáp**: Không được.

Liên Sinh Thánh Tôn cho rằng, để đạt được sự chí thành của tâm khẩu, cần có sự hỗ trợ của các hạng mục khác.

Ví dụ trong pháp Lục Độ mà nói, Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Trí huệ, tất cả đều vì Thiền định mà có, vì Thiền định cần có năm hạng mục trước làm hỗ trợ. Thiền định và Trí huệ lại tương hỗ làm nhân quả cho nhau. Đây là con đường tu hành.

Còn như hành giả Chân Phật học tập tu pháp, phải từng bước tuân thủ nghi quỹ, như vậy mới không có khiếm khuyết và mất đi sự trang nghiêm, không được khinh suất cẩu thả, dễ mắc tội khinh thường.

**Hỏi**: Trong trường hợp nào có thể chỉ tu những trọng điểm?

**Đáp**: Khi ở ngoài xa nhà, ví dụ như trên máy bay, trên xe, trên tàu, vì đồ cúng dường không đầy đủ, có thể tu pháp bằng quán tưởng, đây là tu pháp tiện lợi, cũng có thể nhập Tam ma địa, đạt được tâm linh bình tĩnh tự nhiên, không sinh phiền não, khinh an.

Ngoài ra khi thời gian đã đến, không kịp nữa, lâm chung rồi, có thể chỉ tu quán tưởng, một nhân duyên khác dần dần xuất hiện, quán nhanh dừng nhanh, chuyển thân thành tính, từ trong thân xác đạt giải thoát, vĩnh viễn vô sinh mà cực lạc, trong thời điểm này có thể chỉ tu quán tưởng.

Trường hợp thứ ba, người có tâm đại từ bi và đại trí huệ, người đã khai ngộ, có thể chỉ tu quán tưởng, vì tất cả nghi quỹ trong một quán tưởng đã đầy đủ tất cả.

Tu pháp phải nắm bắt thời cơ khác nhau, tùy theo địa điểm khác nhau mà có sự khác biệt, đồng thời căn cơ khác nhau cũng có khác biệt.

Tu pháp là trí tuệ nhìn xa trông rộng, nghi quỹ có cảnh giới vĩ đại. Trong nghi quỹ tu pháp có đầy trí huệ và từ bi, trong đó có chân lý, có tri kiến chân thật sáng suốt, không thể không biết.

**Hỏi**: Hành giả Chân Phật ở địa điểm nào mới có thể tu pháp?

**Đáp**: Bất kỳ địa điểm nào đều có thể tu pháp.

Ý tôi là nói rằng, ngoài mật đàn ra, bất kỳ địa điểm nào đều có thể tu pháp. Vì khi chúng ta đi du lịch xa nhà, không thường xuyên ở nhà, bất cứ nơi đâu đều có thể tu pháp. Trên xe, trên tàu, trên máy bay đều có thể tu. Tại khách sạn đều có thể tu, trên giường cũng có thể tu.

Riêng tu pháp tùy chỗ phải quán tưởng đàn thành ở giữa hư không, quán tưởng cúng phẩm trong hư không, biến môi trường xung quanh thành thanh tịnh. Đại lễ bái thì dùng quán tưởng, kết thủ ấn dùng quán tưởng, niệm chú có thể dùng cách niệm kim cang (không phát ra tiếng), tất cả hoàn toàn là tu bằng quán tưởng.

Liên Sinh Thánh Tôn thấu hiểu những đệ tử không có đàn thành, những hành giả Chân Phật mà môi trường không cho phép, pháp tu của họ chính là tu pháp tùy chỗ, tất cả dùng cách tu bằng quán tưởng.

**Hỏi**: Hành giả Chân Phật vào thời gian nào mới có thể tu pháp?

**Đáp**: Bất kỳ thời gian nào đều có thể tu pháp.

Ý tôi là nói rằng, tu pháp không có thời gian cố định, hoàn toàn tùy thuộc vào sự thuận tiện của hành giả, vì mỗi người đều có thói quen sinh hoạt không hoàn toàn giống nhau. Tóm lại, tìm ra thời gian thích hợp nhất cho bản thân, thực hiện tu một lần mỗi ngày hoặc tu hai lần mỗi ngày là được.

Về thời gian tu pháp dài hay ngắn cũng không có quy định cứng nhắc, tùy theo sở thích của mỗi người mà quyết định. Có người thích tụng nhiều bài tán, niệm nhiều một bộ kinh, đều là tùy ý. Có người thích trì chú dài, hoặc trì chú thêm đến hàng nghìn hàng vạn biến đều là tùy ý. Có hành giả thời gian ít, tu pháp dùng pháp giản lược, rất tinh giản, nhưng chỉ cần dùng tâm tỉ mỉ chân thành cũng là có thể được. Tóm lại, thời gian dài ngắn, hoàn toàn cũng là do mình kiểm soát.

Có người hỏi, hành giả nữ khi có kinh nguyệt cũng có thể tu pháp không? Câu hỏi này có rất nhiều người hỏi. Ngoài ra, trong thời gian tang lễ cũng có thể tu pháp không? Câu trả lời của tôi là cũng có thể tu pháp.

Lưu ý: 
Chỉ cần quán tưởng bản thân thanh tịnh là được. (khi có kinh nguyệt)
Chỉ cần quán tưởng môi trường thanh tịnh là được. (trong thời gian tang lễ)

Những điều này đều không phải là vấn đề. Chúng ta là hành giả Chân Phật, quán tưởng chiếu kiến tâm mình trong suốt thanh tịnh, như trăng rằm tròn đầy, ánh sáng khắp hư không, không có phân biệt, đây chính là "tịnh thế giới", lại còn gọi là biển thực tướng Bát Nhã Ba La Mật.

Người có thể quán tưởng nhập vi tế thâm mật như vậy, mọi việc làm đều thành tựu. Hành giả Chân Phật tu pháp mọi lúc mọi nơi đều có thể, hoàn toàn không có kiêng kỵ.

**Hỏi**: Chúng ta tu pháp dùng tư thế gì?

**Đáp**: Khi chúng ta làm đại lễ bái thì thân thể phải đứng thẳng ngay ngắn, đại lễ bái phải kết thủ ấn, là ba lạy một cúi đầu, thủ ấn và ba lạy một cúi đầu đã được viết trong sách. Khi lễ bái, quán tưởng cũng rất quan trọng, phải nghĩ đến tất cả Tam Bảo, Thượng sư Phật pháp tăng ở khắp mọi nơi, trong hư không mười phương chư Phật Bồ Tát từng vị từng vị hiển hiện, như muôn vì sao lấp đầy hư không, trùng trùng vô tận, mỗi vị đều phóng ánh sáng chiếu đến hành giả, hành giả tức khắc ngay lập tức năm vóc sát đất mà lễ bái.

Ngoài đại lễ bái dùng tư thế đứng thẳng, các phần tu pháp khác đều dùng tư thế ngồi, tư thế ngồi tốt nhất là ngồi kiết già (ngồi Bồ Tát), kế đến là ngồi bán già, nếu không thể ngồi kiết già hoặc ngồi bán già thì ngồi thoải mái cũng được, tóm lại ngồi thẳng lưng là được.

Tuy nhiên, tại địa điểm đồng tu, do giới hạn về không gian, mọi người cùng làm đại lễ bái một lúc mà địa điểm quá nhỏ, vì vậy Liên Sinh Thánh Tôn đã thiết lập pháp quán tưởng đại lễ bái, nghĩa là khi đồng tu chúng ta có thể dùng tư thế ngồi, tu từ đầu đến cuối.

**Hỏi**: Tư thế ngồi nào là tốt nhất?

**Đáp**: Tư thế ngồi Tỳ Lô thất chi là tốt nhất. Thất chi tức là bảy việc như oai nghi của Phật:
1. Ngồi xếp bằng kim cang.
2. Tay kết pháp giới định ấn. (hoặc các thủ ấn khác)
3. Thẳng cột sống.
4. Hai vai duỗi ngang bằng nhau.
5. Cằm thu lại, nhưng không được ép vào thanh quản.
6. Lưỡi chạm vào vòm miệng.
7. Mắt không chớp mắt không nhìn quanh, nhìn thẳng hai thước.

Trong quá khứ, Mật tông không nhận những người khuyết tật, vì nghiệp chướng của họ quá nặng, đồng thời khi tu pháp không thể kết thủ ấn, không thể ngồi tư thế đoan chính như oai nghi của Phật. Nhưng Chân Phật Tông thương xót những người khuyết tật, người khuyết tật không thể kết thủ ấn có thể dùng quán tưởng kết thủ ấn, người khuyết tật không thể ngồi thẳng lưng ngay ngắn cũng có thể dùng quán tưởng ngồi thẳng lưng ngay ngắn.

Người khuyết tật có thể ngồi xe lăn tu pháp, phụ nữ mang thai có thể ngồi ghế tu pháp, người có bệnh và người lớn tuổi cũng có thể ngồi ghế tu pháp. Tuy nhiên, phải quán tưởng ngồi thẳng lưng ngay ngắn.

Tôi thật sự nói rõ ràng với mọi người, Chân Phật Mật Pháp coi trọng nhất là quán tưởng, phải biết rằng tư duy quan sát chính là thiềnt, trong đó chứa đựng:
Tất cả hữu tình.
Bản tính thanh tịnh.
Thanh tịnh tức Phật.

**Hỏi**: Trong tu pháp, quán không có quan trọng không?

**Đáp**: Quán không rất quan trọng.

Tâm yếu tu pháp của Liên Sinh Thánh Tôn chỉ ra rằng, trước khi quán tưởng, trước tiên phải quán không. Quán không này có một ý nghĩa thâm sâu:
Ba thân vốn không sinh.
Ngã không.
Pháp không.
Người - pháp đều không.

Đây chính là tự tính thanh tịnh, tất cả pháp tự tính thanh tịnh.

Khi quán không, niệm chú quán không gia trì: "Ôm su-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma su-pa-wa su-tô hằng."
Quán không này là "số 0".
Cũng tức là tận hư không khắp pháp giới.
Muốn vọng tưởng không sinh thì chỉ có quán không mà thôi, đây là bí mật của Mật tông, định huệ đều nhập kim cương trí tịch tĩnh của Như Lai.

Quán không này là một việc rất vi diệu. Thánh Tôn Liên Sinh đã hiểu rõ, giác ngộ được rằng quán không chính là đại chân lý tối thượng của pháp tu Tứ vô lượng tâm. Khi tu đến cảnh giới không, hoàn toàn là trí huệ quán chiếu, mọi thứ đều thấy rõ ràng minh bạch, mọi sai lệch của chúng sinh cõi Ta Bà đều nhìn thấy rành rẽ.

Xưa kia có hành giả Mật tông chỉ tu quán không mà được tự tại, xa lìa điên đảo mộng tưởng. Thánh Tôn Liên Sinh vì tu quán không mà được bốn tâm vô lượng:
Không bài xích người khác.
Không công kích, vu cáo người khác.
Được – mất như nhau.
Ta và người bình đẳng.

**Hỏi**: Tu quán không được tự tại, thế nào là tự tại?

**Đáp**: Có thể tu quán không, được quán không thay đổi một cách vô tri vô giác, khởi phát tâm trí của chính mình, khai ngộ mà được tự tại, tôi cho rằng tự tại thực có bốn ý nghĩa:

Thứ nhất, thích ứng trong mọi hoàn cảnh. Một người đắc được "không cảnh", cho dù phúc họa cùng bức bách, nhưng đã có đại định lực, sẽ không hoảng hốt lo sợ, sẽ không bị kích động. Người đắc được "không cảnh" hiểu rõ rằng, phàm tất cả sự việc đều có nhân duyên, giàu sang nghèo khổ hoàn toàn do nhân duyên tạo thành.

Thứ hai, nhẫn nhục gánh trọng trách. Một người đắc được "không cảnh", biết rằng tất cả phỉ báng, chỉ trích, mắng nhiếc, cũng đều do nhân duyên sinh ra, thậm chí đây là hiện tượng bình thường của thế gian. Nếu đã chứng được "không cảnh", tất cả phỉ báng, chỉ trích, mắng nhiếc, đã không thể lay động tâm họ nữa; không chỉ không thể lay động tâm, người đắc được "không cảnh" càng có thể độ họ, gánh vác trách nhiệm nặng nề là độ chúng sinh.

Thứ ba, đặt mình xuống thấp. Một người đã chứng được cảnh giới không thì đã hiểu rõ rằng lớn nhỏ, tôn ti đều chỉ là hiện tượng tạm thời, trong tâm không còn chấp vào lớn nhỏ, tôn ti. Nhờ sự tu trì như vậy mà kiêu mạn, ngã mạn đã hoàn toàn hóa sạch. Phải biết rằng, chứng được cảnh giới không thì đã vô ngã vô tha, mình và người bình đẳng. Đến được cảnh giới như vậy thì có thể tự đặt mình vào chỗ thấp kém. Thánh Tôn Liên Sinh đã đạt đến cảnh giới hạ mình xuống thấp rồi.

Thứ tư, tự tại vô úy. Một người đắc được "không cảnh" cũng chính là một người tự tại tự như, giữ vững đạo tâm, đối với tất cả sự việc không từ chối không nghênh đón, cảnh giới này rất cao siêu và vô thượng vi diệu. Tôi dùng văn tự diễn đạt giải thích tự tại vô úy thật sự rất khó, tóm lại, như dòng nước chảy qua, không trở ngại không ứ đọng, tự nhiên.

**Hỏi**: Liên Sinh Thánh Tôn có kệ tán thán về quán không không?

**Đáp**: Tôi không có.

Nhưng thường xuyên trì tụng một bài thơ của Hàn Sơn:

Người đời có gì đáng than vãn. 
Khổ vui lẫn lộn chẳng cùng tận.
Sinh tử qua lại bao nhiêu kiếp. 
Đông Tây Nam Bắc là nhà ai.
Trương Vương Lý Triệu là họ tạm. 
Việc trong các cõi rối như tơ.
Chỉ vì chủ nhân chẳng cắt đứt. 
Mê muội tà kiến cứ mãi theo.

**Hỏi**: Chúng con là hành giả Chân Phật khi phát nguyện thì nên phát nguyện gì?

**Đáp**: Việc phát nguyện vốn là sự bộc lộ chân thành từ tự tâm của hành giả, hành giả Chân Phật nên tự cân nhắc mới đúng.

Nhưng trong Phật môn vốn có năm đại nguyện, năm đại nguyện này là lời thề chung của A Súc Phật, Bảo Sinh Phật, Di Đà Phật, Thích Ca Phật, Đại Nhật Như Lai.

Đại Nhật Như Lai là nguồn gốc khởi đầu của Liên Hoa Đồng Tử. Vì vậy Liên Sinh Thánh Tôn mong mỏi hành giả Chân Phật khi phát nguyện không rời xa năm đại nguyện, năm đại nguyện này tức là:
Chúng sinh vô biên thề nguyện độ.
Phúc trí vô biên thề nguyện tập.
Pháp môn vô biên thề nguyện học.
Như Lai vô biên thề nguyện sự.
Bồ đề vô thượng thề nguyện chứng.
Pháp giới ta người cùng lợi ích. (hồi hướng)

**Hỏi**: Trong Chân Phật Mật Pháp có pháp hợp tu không? Ý nghĩa của hợp tu là gì?

**Đáp**: Pháp hợp tu là hai loại pháp cùng tu trì một lúc, trong tông phái này có pháp hợp tu, ví dụ:
Tứ gia hành hợp tu với Thượng sư tương ứng.
Thượng sư tương ứng hợp tu với pháp Bổn tôn.
Pháp Bổn tôn hợp tu với pháp Kim Cang.
Pháp Kim Cang hợp tu với Vô Thượng Mật.

Liên Sinh Thánh Tôn cho rằng: Trí huệ của Phật Thích Ca Mâu Ni thật sự vĩ đại như biển cả, mà bí mật của Kim Cương Thừa là con đường thành Phật nhanh nhất, trong đó nghĩa bí mật sâu xa không thể lường được. Pháp hợp tu là một loại pháp từ bi tiện lợi, là để chúng sinh trong thời gian ngắn đạt được lợi ích.

Thời gian của pháp hợp tu dài hơn, nhưng phần sự tướng đã lược bỏ phần trùng lặp của hai pháp, còn tu chứng chân thật thì sẽ không có sự khác biệt.

Tôi cho rằng:
Tu chứng từng pháp một, là ít mà biết đủ.
Hai pháp hợp tu, là nhanh và mau lẹ.
Điều này hoàn toàn tùy thuộc vào thời gian của hành giả Chân Phật mà quyết định, không có quy định cứng nhắc, do chính hành giả tự quyết định.

**Hỏi**: Trọng điểm của pháp hợp tu nằm ở đâu?

**Đáp**: Đó là phần quán tưởng, ví dụ Tứ gia hành hợp tu với Thượng sư tương ứng, cần quán tưởng Kim Cang Tâm Bồ Tát và Căn bản Thượng sư cùng nhau dung nhập, rồi đi vào thân thể của hành giả, trong đó có nghĩa bình đẳng của Phật pháp, là pháp môn bất nhị, không khác biệt, cùng chứng thành tựu.

Cho nên, Căn bản Thượng sư cũng phải dung hợp với Bổn tôn. Bổn tôn cũng cùng dung hợp với Kim Cang. Kim Cang cũng cùng dung hợp với Vô Thượng Chí Tôn.

Trong đó thật sự có đại tam muội thần thông, trong Chân Phật Mật Pháp, tất cả đều dung hợp ngang dọc tự tại, về nguyên tắc hoàn toàn không có chướng ngại. Chia ra thì có hàng trăm triệu, hợp lại thì thành một. Trọng điểm của quán tưởng cũng nằm ở đây.

**Hỏi**: Tu riêng biệt hoặc hợp tu, có khác nhau không?

**Đáp**: Nói thật ra ý nghĩa thực tế đều giống nhau, tu riêng biệt đơn giản, hợp tu phức tạp. Nếu có người thông minh căn cơ cao thì có thể hợp tu; người có khả năng phân tích, người có khả năng dung hợp, người muốn nhanh chóng, đều có thể tu. Tuy nhiên, tu riêng biệt và hợp tu, phúc báo nhận được đều bình đẳng.

**Hỏi**: Xin Liên Sinh Thánh Tôn thử lấy một ví dụ về nghi quỹ hợp tu được không?

**Đáp**: Tôi đặc biệt chọn ra nghi quỹ hợp tu pháp Thượng sư tương ứng và Tứ gia hành làm ví dụ, pháp hợp tu này do Diệu Ấn Đường Los Angeles biên tập, được tôi phê duyệt: Pháp hợp tu Thượng sư tương ứng và Tứ gia hành.

Tịnh thân nhập đàn.

1. <u>Niệm chú thanh tịnh:</u> (ý nghĩa là thanh tịnh thân tâm của chính hành giả)
Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.
Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.
An thổ địa chân ngôn: (Ý nghĩa là triệu thỉnh địa thần bản địa bảo hộ đàn thành, hộ trì hành giả tu pháp.)
Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.

2. <u>Niệm chú triệu thỉnh</u>
Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)

Khi niệm chữ Hum ở trên tim, quán tưởng trong tim mình có một đóa hoa sen trắng, ở giữa có một chữ Hum phóng ra một luồng ánh sáng trắng xung lên đỉnh đầu, dung nhập vào hư không. Ý nghĩa của sô-ha là: Được như mong ước.)

Chắp tay cung kính niệm: (Quán tưởng chư Phật Bồ Tát từng vị hiện ra trong hư không.)

1) Tất cả đệ tử thành tâm cung kính phụng thỉnh tất cả chư Phật Bồ Tát trong đàn và tất cả Hộ Pháp Kim Cang thần.

2) Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc. Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.

3) Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.

4) Nam mô tam tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.

5) Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.

6) Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn Giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa.

3. <u>Quán tưởng đại lễ bái</u> (Khi tu tập tại nhà, nên sử dụng phương pháp đại lễ bái toàn thân phủ phục xuống đất hoặc năm vóc chạm sát đất.)

Một bái thập phương Phật. Hai bái chư Bồ Tát. Ba bái Hộ Pháp Kim Cang. Bốn bình đẳng một cúi đầu.

Trước tiên quán tưởng Thượng sư, Tam Bảo Phật ở trước mặt.
Đầu tiên đặt thủ ấn vào đỉnh đầu, có ánh sáng trắng chiếu vào đỉnh đầu (tất cả thân nghiệp thanh tịnh); Thủ ấn lại đặt vào vị trí họng, có ánh sáng đỏ chiếu vào họng (tất cả khẩu nghiệp tiêu tịnh); Thủ ấn lại đặt vào vị trí Tâm luân, có ánh sáng lam chiếu vào tim (tất cả ý nghiệp thanh tịnh).

Kết thủ ấn, ấn vào đầu, họng, tim, đến vị trí tim thì lập tức quán tưởng toàn thân mình lạy trước Phật, sau đó thủ ấn quay về đỉnh đầu rồi giải ấn.

4. <u>Cúng dường mandala</u> (tay kết ấn cúng dường)

(1) Dùng vật phẩm thực tế để cúng dường, sau đó quán tưởng từ ít biến thành nhiều, đầu tiên là một hàng, rồi biến thành một mặt, sau đó biến thành một ngọn núi, cuối cùng tràn đầy cả vũ trụ. Cúng dường lên trên cho thập phương tam thế chư Phật, Bồ Tát, chư Thiên, cúng dường xuống dưới cho lục đạo chúng sinh, quán tưởng rõ ràng, sau khi cúng xong thì giải ấn ở trên đỉnh đầu.

(2) Quán tưởng trong vũ trụ có núi Tu Di ở giữa trung tâm, và bốn phương Đông Nam Tây Bắc ở bốn phía xung quanh núi Tu Di, còn ở phía Đông Tây của núi Tu Di có mặt trời mặt trăng.

Lại quán tưởng hạt gạo trong tay mình biến thành thất trân bát bảo, tràn đầy núi Tu Di và bốn phương Đông Nam Tây Bắc.

(3) Quán tưởng tất cả những trân bảo này toàn bộ dâng cúng lên chư tôn.

Đọc bài kệ cúng dường:

*Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kỳ diệu bao công đức 
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.*

Niệm chú cúng dường: 
Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.

Khi niệm xong chú cúng dường, nâng thủ ấn lên trên, ấn một lần vào thiên tâm, khi giải ấn thì có thể trực tiếp tung hạt gạo lên không trung.

5. <u>Niệm chú tứ quy y </u>(3 biến) 

Na-mô gu-ru pây. (Quán tưởng Thượng sư Liên Sinh Tôn giả mà hành giả quy y lập tức hiển hiện trong hư không.)
Na-mô pút-ta yê. (Quán tưởng thập phương tam thế chư Phật lập tức hiển hiện trong hư không.)
Na-mô ta-mô yê. (Quán tưởng tất cả kinh điển Phật giáo hiển hiện trong hư không, phóng ra ánh sáng.)
Na-mô sâng-kya yê. (Quán tưởng Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác và các thánh tăng đều hiện ra trong hư không, đại phóng quang minh.)

Tiếp theo, quán tưởng Thượng sư, Phật, pháp, tăng xếp thành một hàng, sau đó tập trung lại thành một luồng ánh sáng trắng chiếu sáng hành giả, quán đảnh cho hành giả.

6. <u>Tu pháp mặc giáp hộ thân</u>

Kết thủ ấn chắp tay kim cang, đặt ở trên đỉnh đầu, niệm chú Kim Cang Thủ Bồ Tát: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)

Sau đó đặt thủ ấn chạm vào thiên tâm, họng, tim, vai trái, vai phải, rồi quay về đỉnh đầu, quán tưởng trong tay phóng ra ánh sáng lam. Khi giải ấn thì chia thành bốn luồng tỏa ra, xuất hiện bốn vị Kim Cang Hộ Pháp, một vị đứng trong hư không phía sau mình, một vị đứng trong hư không trước mặt mình, một vị đứng trong hư không bên trái mình, một vị đứng trong hư không bên phải mình, đều đang hộ trì hành giả ở trung tâm tu pháp.

7. <u>Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh </u>(7 biến)

Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ thất Phật. Vị lai hiền kiếp thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Niệm danh hiệu Phật sáu phương
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyệt Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Hết thảy chúng sinh trung ương, chư vị trong Phật giới, trú ngụ trên mặt đất, cho đến tại không trung, thương lo cho tất cả chúng sinh. Ai cũng an ổn tốt lành. Ngày đêm tu trì. Tâm thường cầu tụng kinh này. Diệt được khổ sinh tử. Tiêu trừ hết độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Tụng bản kinh không ngừng. Thất Phật Thế Tôn. Liền nói chú sau:
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-lô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-ki-a-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha” (7 lần)

8. <u>Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh</u>

Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.

Xá Lợi Tử, sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng hành thức diệc phục như thị. Xá Lợi Tử, thị chư pháp không tướng, bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức. Vô nhãn nhĩ tỵ thiệt thân ý, vô sắc thanh hương vị xúc pháp, vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới. Vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận. Vô khổ, tập, diệt, đạo. Vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố.

Bồ Đề Tát Đỏa y Bát nhã Ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết Bàn. Tam thế chư Phật, y Bát nhã Ba la mật đa cố, đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Cố tri Bát nhã Ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư.

Cố thuyết Bát nhã Ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết: Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.

9. <u>Trước tiên quán không, sau đó quán tưởng:</u> (kết thủ ấn Liên Hoa Đồng Tử)

Quán tưởng một hồ lớn sáng rực rỡ như gương, giữa hồ hiện ra một ngọn núi cao, trên đỉnh núi có một tòa sen, và Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật ngồi trên tòa sen này, dung mạo trang nghiêm viên mãn như Phật, thân phóng ánh sáng trăm báu, bên phải Thượng sư có chư Phật thập phương quá khứ, bên trái có tất cả Bồ Tát thánh hiền tăng, và các tổ sư các đời lớp lớp bao quanh, dưới pháp tọa có Tứ Đại Thiên Vương cùng các quỷ thần hộ pháp.

Tiếp tục quán tưởng vị trí thiên tâm của Thượng sư, **ཨོཾ **(Om), phóng ra một đường ánh sáng trắng mãnh liệt, chiếu soi vào thiên tâm của hành giả, đây là ánh sáng Đại Viên Kính Trí, khiến cho ngũ uẩn và thức thứ tám của hành giả hóa thành vô hình. Vị trí họng của Thượng sư, chữ ཨཱཿ (Ah) phóng chiếu một đường ánh sáng đỏ mãnh liệt, chiếu soi vào họng của hành giả, biến mọi tham tính dục niệm của hành giả thành vô hình, hóa thành ánh sáng của đại trí tuệ. Vị trí tâm của Thượng sư, chữ ཧཱུྃ (Hum), phóng chiếu một đường ánh sáng lam mãnh liệt, chiếu soi vào tâm của hành giả, điều phục si tính của hành giả, hóa si tính thành vô hình.

Quán tưởng Thượng sư cùng Tam Bảo chư tôn đều phóng ra ánh sáng ngũ sắc chiếu rọi khắp toàn thân hành giả, ác nghiệp tội chướng của hành giả, tất cả nghiệp chướng từ vô thủy đều hóa thành khí đen, từ lỗ chân lông bốc hơi thoát ra ngoài thân, tan biến trong không khí, sau đó toàn thân trong trắng, trong suốt, phát sáng, đạt được khinh an.

10. <u>Tụng văn phát bồ đề tâm</u> (1 biến)

Nam mô Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn Giả. Đệ tử ○○ từ nay quy y Thượng sư Tam Bảo, cho đến khi đắc bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển, tất cả các công đức lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh, mau chóng thành tựu Phật đạo.

Trì Thượng sư tâm chú:
Ôm a hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa ma-ha lién-sâng sít-đi hùm. (108 biến)

Trì chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ:
Ôm a hùm pê-cha gu-ru pê-ma sít-đi hùm sê. (21 biến hoặc 108 biến)

Trì tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát:
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (21 biến hoặc 108 biến)

Trì tâm chú A Di Đà Phật:
Ôm a-mi-tê-wa sê. (21 biến hoặc 108 biến)

Trì chú Lục Cứu Độ Phật Mẫu:
Ôm ta-rê tu-ta-rê tu-rê sô-ha. (21 biến hoặc 108 biến)

12.** **<u>Niệm bài kệ Tứ vô lượng tâm</u>

Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỷ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.

13. <u>Niệm chân ngôn phát bồ đề tâm</u> (3 biến)

Ôm bô-đi-chi-ta pê-cha sa-ma-ya ah hùm.

Niệm kệ sám hối và chú:
Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Là vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con hết thảy xin sám hối. (1 biến)

Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah. (3 biến)

14. <u>Dùng nước chú Đại Bi hoặc nước chú Kim Cang Cam Lộ Quân Đồ Lợi Minh Vương rải khắp đạo tràng.</u>
Chú ngữ: Ôm a-mi-li-tơ hùm pây.

15. <u>Quán tưởng pháp tướng của Kim Cang Tâm Bồ Tát</u> (kết thủ ấn Kim Cang Tâm Bồ Tát)

Bồ Tát thân màu trắng, đội mũ Ngũ Phật, thiên y váy xếp, các loại báu vật trang nghiêm thân, ngồi trên tòa sen tám cánh có nguyệt luân, tay phải kết ấn phẫn nộ cầm chày kim cang tại vị trí Tâm luân, tay trái kết ấn phẫn nộ cầm chuông kim cang tại vị trí đùi bên trái, vị trí Tâm luân có sen tám cánh được bao quanh bởi chú luân Bách tự minh, chú luân này phóng ra ánh sáng trắng mãnh liệt xoay chuyển. Ánh sáng trắng mãnh liệt này bay vút lên không trung, tạo thành một vòng cung, từ thiên môn của hành giả Mật tông trút vào toàn thân. Toàn thân của chính hành giả cũng hiện ra ánh sáng mãnh liệt, tất cả ác nghiệp ác niệm trong toàn thân hóa thành khí đen, từ lỗ chân lông khắp thân thoát ra ngoài, do đó hành giả toàn thân trong suốt sáng ngời, đắc đại thiền lạc.

16. <u>Tụng Bách tự minh chú</u> (21 biến)

Ôm ben-za sa-tô sa-ma-ya
Ma-nu-pa-la-ya ben-za sa-tô tê-nô-pa ti-cha
Chê-chô mê-pa-wa su-tô ka-yô mê-pa-wa
Su-pô ka-yô mê-pa-wa
A-nu-ra-tô mê-pa-wa
Sa-ơ-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha
Sa-ơ-wa ka-ma su-cha-mê
Chi-ta-mu si-ri-ân ku-ru hùm
Ha-ha-ha-ha-hơ pan-ga-guân
Sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta ben-za ma-mi mân-cha
Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya sa-to ah hùm pây.

17. <u>Nhập Tam ma địa</u>

(1) Trước tiên có thể thực hành Cửu tiết Phật phong để tinh thần tập trung.

(2) Quán tưởng trước mặt trong hư không, bên phải xuất hiện một vị Kim Cang Tâm Bồ Tát, bên trái là Liên Sinh Tôn Giả, hai vị cùng hợp nhất hóa thành một đường ánh sáng trắng chiếu soi hành giả, sau đó ánh sáng trắng này từ từ di chuyển lên đỉnh đầu hành giả, thu nhỏ lại thành một điểm, sau khi quán tưởng rõ ràng, một điểm ánh sáng trắng này (Kim Cang Tâm Bồ Tát Liên Sinh Thánh Tôn nhỏ bằng hạt gạo), từ đỉnh đầu hành giả đi vào tâm của hành giả, dừng lại trên chữ ཧཱུྃ Hum tại tâm.

(3) Trên chữ ཧཱུྃ Hum ở vị trí tim, điểm sáng trắng này từ từ lớn dần trở thành Liên Sinh Tôn Giả (vì Kim Cang Tâm Bồ Tát chính là Liên Sinh Tôn Giả, Liên Sinh Tôn Giả chính là Kim Cang Tâm Bồ Tát), Ngài đã biến thành to bằng thân thể của chính mình, đột nhiên một tiếng "Hum", chính mình biến thành Liên Sinh Tôn Giả. Thân khẩu ý của Ngài chính là thân, khẩu, ý của hành giả, hai thành một, hòa hợp hoàn toàn (bất kể mắt, mũi, miệng, tai, tay, chân, dung mạo, trang phục đều giống Liên Sinh Tôn Giả), chính mình là Liên Sinh Tôn Giả, toàn thân đầy tràn linh khí. (Nhập ngã)

(4) Hoàn toàn quên hết chính mình (tọa vong), đi vào hư không, đi vào ý thức vũ trụ, đi vào biển ánh sáng, chính mình không còn nữa, hòa nhập vào hư không cùng hòa quyện với biển ánh sáng vũ trụ (Ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình, đàn thành cùng vũ trụ đại phóng quang minh.

(5) Nếu không thể tọa vong, lập tức quán tưởng lại mình là Liên Sinh Tôn Giả, sau khi quán tưởng rõ ràng, lại quên chính mình, lại đi vào hư không, một dừng một quán như vậy gọi là "chỉ quán song vận".

(6) Sau khi nhập Tam ma địa một lúc thì xuất định.

(7) Sự đạt thành của Tam ma địa là viên thông và ấn chứng, có thể đắc diệu giác minh thể, biến khắp pháp giới, nhập vào tạng tâm Như Lai, đắc diệu pháp bí mật. Ngộ chân thường, chiếu tam muội. Chuyển pháp luân, minh chân kiến. Dung nhập cảnh giới pháp giới biển ánh sáng chính là cảnh giới của Quán Tự Tại Bồ Tát trong "Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh".

18. <u>Xuất định</u>

Trì thêm những tâm chú khác: (mỗi chú 3 biến)

Ôm pẩn-la-mố lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Vương Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn)
Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát)
Ôm chưa-li chu-li chuân-thế sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu)
Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần)
Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-lê-ya sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)

Niệm Phật: Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật.

19. <u>Hồi hướng</u>

Liên Sinh Tôn Giả dạy Mật pháp.
Trong pháp Gia hành tiêu nghiệp chướng.
Thượng sư tương ứng phúc huệ tăng.
Quảng đại viên mãn đắc tự tại.

Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.

Đệ tử Chân Phật Tông ○○ nay y theo lời hồi hướng này, nguyện mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành (tạm dừng một chút, mặc niệm cầu nguyện một việc nào đó), nguyện tất cả điều mong cầu đều được viên mãn (giơ chày kim cang vẽ một vòng tròn, vòng tròn phát ra ánh lửa lớn), nguyện tất cả tai nạn tiêu tan. (Giơ chày kim cang, dùng lực chỉ về hướng bóng tối, hét một tiếng "Uân", bóng tối hóa ánh sáng. Làm như vậy hai lần.)

20. <u>Niệm chú viên mãn</u>

Ôm bu-lin. (3 biến)

21. <u>Đại lễ bái</u>

Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Xuất đàn. Cát tường viên mãn.

🌟 Phụ chú:
Liên Sinh Hoạt Phật nói: "Pháp Tứ gia hành là pháp nền tảng của đại Mật pháp, rất có lợi ích lớn đối với việc tiêu nghiệp chướng, tăng phúc huệ. Tại Tây Tạng, phàm là người mới bước vào cửa Mật đều phải học tập pháp Tứ gia hành, và quy định mỗi pháp phải tu đủ 100.000 biến, sau đó mới có thể tu các Mật pháp khác, để tránh xuất hiện ma chướng, đi vào con đường tà."

Pháp Thượng sư tương ứng là pháp bắt buộc phải tu của đệ tử Chân Phật Tông. Thượng sư là tổng thể tính của thân, khẩu, ý hợp nhất của chư Phật mười phương ba đời, là nguồn gốc của tám vạn bốn nghìn pháp môn. Tu pháp Thượng sư tương ứng nếu đạt tương ứng có thể được phúc báo lớn, có thể vãng sinh Tây phương Cực Lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì.

Hành giả Mật tông nếu muốn tu thêm pháp Bổn tôn, có thể sau khi niệm xong Bách tự minh chú ở hạng mục thứ 16, kết ấn Bổn tôn bằng tay, quán tưởng Bổn tôn phóng quang gia trì, sau đó trì chú Bổn tôn 108 biến. Ở hạng mục thứ 17 khi nhập Tam ma địa, quán tưởng Bổn tôn xuất hiện trong hư không, cùng với Kim Cang Tâm Bồ Tát, Liên Sinh Tôn Giả, xếp thành một hàng, sau đó ba vị hợp nhất thành một, hóa thành một đường ánh sáng trắng theo pháp đi vào trong thân thể hành giả, lại quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn, nhập Tam ma địa, hồi hướng văn niệm:
Liên Sinh Tôn Giả dạy Mật pháp, 
Trong pháp Gia hành tiêu nghiệp chướng,
Bổn tôn gia trì đại viên mãn, 
Ba vị hợp nhất tối thù thắng.

Việc tu trì Mật pháp là vận dụng linh hoạt, nếu vận dụng hợp lý có thể đạt hiệu quả gấp đôi. Tất nhiên, điều quan trọng nhất vẫn là phải bền bỉ thực tu. Nguyện các đồng môn sư huynh tỷ khéo dùng pháp hợp tu này. Cát tường viên mãn.

**Hỏi:** Liên Sinh Thánh Tôn viết nghi quỹ tu pháp trong sách nào? Viết khẩu quyết trong sách nào? Viết thù thắng đại pháp trong sách nào? Nghe nói còn có khẩu quyết vô thượng, chúng ở trong sách nào?

**Đáp:** 
Nghi quỹ tu pháp trong cuốn "Bí mật trong bí mật".
Khẩu quyết tâm yếu trong cuốn "Pháp trong pháp".
Đại pháp thù thắng trong "Kỳ lạ trong kỳ lạ".
Vô thượng khẩu quyết trong "Phật trong Phật".

Bốn cuốn sách này rất quý giá, nhưng vẫn còn rất nhiều nghi quỹ, khẩu quyết, đại pháp, tâm yếu khác nằm rải rác trong 80 cuốn sách tâm linh khác, vì vậy từng cuốn sách tâm linh của Liên Sinh Thánh Tôn đều là tác phẩm trân quý, đều có hàm nghĩa, đúng là giáo pháp Nhất thừa mà ba đời cùng tuyên, Bất nhị môn mà mười phương cùng nói, những cuốn sách này như bầu trời vũ trụ trong sáng không tỳ vết, người có duyên đọc sẽ vô cùng thông đạt sáng tỏ.

**Hỏi:** Sách của Liên Sinh Thánh Tôn thông đạt sáng tỏ điều gì?

**Đáp:** Nguồn gốc. Tôn quý. Huyền diệu sâu xa. Viên mãn.

Tôi thật lòng nói với tất cả mọi người, Liên Sinh Thánh Tôn vì đại bi tâm chiếu sáng khắp chúng sinh giới, vì nhân duyên đại sự mà sinh ra, sáng lập Chân Phật Tông, về sau ba cõi đều tôn sùng Ngài, Ngài hoàn toàn là bậc đắc đại tự tại, sách Ngài viết đã được dịch ra các thứ tiếng trên thế giới, đồng thời tùy theo căn cơ của chúng sinh mà ban cho pháp môn khác nhau, nhân duyên này là cổ Phật lại đến.

Sách của Liên Sinh Thánh Tôn, từ sách tuôn ra:
Xuất sinh tất cả chư Phật Bồ Tát mười phương ba đời.
Hàng phục các ma. Chế ngự ngoại đạo.
Ngồi tòa sen báu, Chân Phật Thế Giới Ma Ha Song Liên Trì.
Ở trong các cõi nước nhiều như vi trần chuyển đại pháp luân.
Hướng đến chúng sinh hữu duyên xoa đầu thọ ký.

**Hỏi:** Tại sao Liên Sinh Thánh Tôn phải viết "Bí mật trong bí mật", "Pháp trong pháp", "Kỳ lạ trong kỳ lạ", "Phật trong Phật"?

**Đáp:** Do Phật pháp là Như Lai tạng, và là giáo pháp sâu xa, thực sự không phải là phàm phu thấp hèn ngu muội có thể dễ dàng được biết.

Vì vậy từ xưa đều là Phật với Phật truyền lẫn nhau, thần bí mà không thể đo lường. Người học Phật phải tìm kiếm minh sư thiện tri thức, nếu không sẽ không thể được giải ngộ.

Do đó, Liên Sinh Thánh Tôn mới dùng tâm đắc khai ngộ của chính mình, dùng văn tự tương đối dễ hiểu hơn, trình bày chi tiết phương hướng tu chứng quả cao nhất, khiến cho người học sau được khai tâm, khiến cho người chưa nghe được tin tưởng, khiến cho người chưa hiểu được hiểu rõ. Mỗi nghi quỹ đều có thứ tự rõ ràng, khiến cho người hiền minh hay ngu si đều được lợi ích. Như vậy, Phật pháp lưu thông, phúc huệ được rộng diễn nơi thế giới Ta Bà, khiến cho người đời nhanh chóng được độ thoát, đây thật là chân thiện mỹ.

**Hỏi:** Tu trì Chân Phật Mật Pháp có thể được gì?

**Đáp:** Tu trì Chân Phật Mật Pháp có thể đắc được chính là tên sách "Bí mật trong bí mật", "Pháp trong pháp", "Kỳ lạ trong kỳ lạ", "Phật trong Phật" đó!

Chân Phật Mật pháp là tổng trì, nghi quỹ của nó chính là tinh hoa của kinh, luật, luận, có niệm, có huệ, lấy đại từ bi tâm làm nhiếp triệu. Người có thể một ngày một tu sẽ được đại phúc huệ, nhờ pháp lực của nó mà có thể tiêu trừ trọng tội của địa ngục A Tỳ.

Chân Phật Mật Pháp quả thật phàm ngu không thể biết được. Một ngày một tu nghi quỹ Chân Phật Mật Pháp, nhất định thành Phật không nghi ngờ.

**Hỏi:** Việc tu trì sơ khởi của Chân Phật Mật Pháp có những cảm ứng gì?

**Đáp:
**1.** **Được sự gia trì thù thắng của Căn bản Thượng sư.
2. Được nhân duyên tối thắng.
3. Lòng lành thường sinh khởi.
4. Sắc thân không hư hoại.
5. Trong tâm không ô nhiễm.
6. Ánh sáng trí tuệ chiếu khắp, không gì sánh kịp.
7. Hạnh kiểm thù thắng, người trời đều tán thán.
8. Tâm bình đẳng, không phân biệt.
9. Hòa nhập vào ý thức vũ trụ.
10. Được đại tự tại, kho tàng vô tận.

Liên Sinh Thánh Tôn viết ra nghi quỹ Chân Phật Mật Pháp tối tôn tối thắng trong tất cả pháp của mười phương ba đời, tu hành đắc khai ngộ này là từng chữ chân thật; tuy nhiên chính là vô vi mà chứng chân, ta đã chứng ngộ, cũng mong người đời có thể chứng ngộ.

Người có thể học Chân Phật Mật Pháp là người có duyên lớn nên kiếp này mới có thể tiếp xúc với Chân Phật Mật Pháp. Người nghe, thọ trì và tu hành, ai cũng sẽ lý-sự tương ứng, từ trong Tam ma địa sinh ra tất cả Phật.

**Hỏi:** Làm thế nào để chứng minh sự thù thắng của Chân Phật Mật Pháp?

**Đáp:** Liên Sinh Thánh Tôn từ khi khai ngộ, diệu lý của các thừa đều thông suốt, có thể khiến trời rải hoa báu, có thể phóng quang chiếu khắp mười pháp giới, thần thông không thể nghĩ bàn. Trong một hạt cải chứa một cõi Phật, thân dài bay khắp mười vạn thế giới, Thánh Tôn diễn pháp, chư Phật Bồ Tát trời người đều giáng lâm, đại chuyển pháp luân, một tay đưa ra là ánh sáng báu từ trong tay hiện ra......

Sự siêu thắng của Chân Phật Mật Pháp từ đó mà được chứng minh.


### 09. Nói rõ về tất cả nghi quỹ tu pháp


**Hỏi:** Xin giải thích nghĩa lý chân thật của thực tu?

**Đáp:** Tinh thần của thực tu là từ một nghi quỹ đơn nhất, qua con đường và phương pháp thanh tịnh của nó, dưới sự chỉ dẫn và gia trì của Liên Sinh Thánh Tôn, hành giả tinh tấn tu trì, cuối cùng đạt đến đi, đứng, ngồi, nằm đều không rời Phật pháp, mà hành giả từ tự tâm hiển lộ, tự thân biến thành Phật.

Thực tu có một trình tự nhất định:
Tứ gia hành - Thượng sư tương ứng - Bổn tôn pháp - Kim cang pháp - Vô thượng mật.
Trình tự nguyên tắc của thực tu:
Tiểu thừa - Đại thừa - Kim cương thừa.

**Hỏi:** Điều nương tựa của Chân Phật Mật Pháp là gì?

**Đáp:** Chân Phật Mật Pháp có đặc sắc riêng, chính là Liên Hoa Đồng Tử tương ứng pháp (Thượng sư tương ứng pháp). Hành giả đối với Căn bản Truyền thừa và Căn bản Thượng sư của mình phải trung thành vô hạn.

Điều nương tựa của nó chính là tượng của Thượng sư, là cảnh giới quy y. Quả địa của nó chính là Ma Ha Song Liên Trì, điều nương tựa thực sự của Chân Phật Mật Pháp, cần hành giả tập trung toàn bộ tinh thần lực thân khẩu ý vào Liên Hoa Đồng Tử và Ma Ha Song Liên Trì.
Vì vậy điều nương tựa của Chân Phật Mật Pháp có hai:
Căn bản Thượng sư.
Ma Ha Song Liên Trì.

**Hỏi:** Công dụng của nghi quỹ tu pháp là gì?

**Đáp:** Công dụng của nghi quỹ tu pháp đương nhiên là vô hạn, nhưng các công dụng riêng biệt của nó chính là:
1. Tiêu trừ nghiệp chướng.
2. Được truyền thừa gia trì.
3. Chuyên nhất tâm niệm.
4. Tương ứng pháp lực.
5. Tích tập tư lương.
6. Viên mãn thành Phật.

**Hỏi:** Chân Phật Mật Pháp và các Kim cương thừa khác có gì khác nhau?

**Đáp:** Về cơ bản, pháp tu trì thực sự không có gì khác nhau, chỉ có một phần nhỏ sai biệt, đây là do chủ đích khác nhau.

Ví dụ: 
Về phương diện truyền thừa - Truyền thừa của Chân Phật Mật Pháp quán tưởng Đại Nhật Như Lai, Phật Nhãn Phật Mẫu, Liên Hoa Đồng Tử, Liên Sinh Hoạt Phật thành một hệ thống lớn, đều lấy Liên Sinh Hoạt Phật làm Căn bản Thượng sư. Đối với Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật A Di Đà, Bồ Tát Di Lặc, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, quán tưởng các vị tổ sư thành một hệ thống lớn.

Nghi quỹ pháp tu trì và kinh cầu nguyện đại thể giống nhau, chỉ có một phần nhỏ khác nhau mà thôi. Hành giả Chân Phật nếu nghiên cứu kỹ lưỡng, ắt có thể nhận ra về cơ bản pháp tu của các giáo phái đều giống nhau. Quả địa của Chân Phật Tông ở Ma Ha Song Liên Trì, do đó đặc biệt thù thắng.

**Hỏi:** Chân Phật Mật Pháp của Chân Phật Tông, tại sao thích hợp với người hiện đại tu tập?

**Đáp:** Nghi quỹ Mật pháp về cơ bản đều giống nhau, nhưng Chân Phật Mật Pháp hoàn toàn là tâm yếu căn bản nhất trong Phật pháp, là thể hiện tâm yếu một cách trọn vẹn không giữ lại gì. Chân Phật Mật Pháp đã vứt bỏ những gánh nặng chấp trước truyền thống của Phật pháp, vì vậy nghi quỹ của nó rõ ràng, công hiệu tu trì lớn, lý do thích hợp với người hiện đại tu tập như sau:
1. Tương ứng nhanh chóng.
2. Thứ tự rõ ràng. 
3. Chỉ rõ tâm yếu. 
4. Loại bỏ rườm rà, giữ lại tinh hoa. 
5. Bối cảnh hiện đại. 
6. Không chấp trước truyền thống.

Chân Phật Mật Pháp có thể nói là đã cô đúc Phật pháp thành hình thức hiện đại: Mọi ác không làm. Làm mọi điều thiện. Tự tịnh ý mình. Là điều Phật dạy.

**Hỏi:** Trước khi tu Chân Phật Mật Pháp, chúng ta cần có sự chuẩn bị tâm lý gì?

**Đáp:** Hành giả tu Chân Phật Mật Pháp nhất định phải là người đã quy y Chân Phật Thượng sư, tâm lý cơ bản của họ nhất định phải có sự nhận thức và tin tưởng cơ bản đối với Liên Sinh Thánh Tôn.

Hành giả Chân Phật nhất định phải tin vào nhân quả và luân hồi, có thể hiểu rõ tất cả khổ trong thế gian, đã có tâm quyết định tu hành giải thoát phiền não.

Tâm lý của hành giả Chân Phật là muốn viên thành tất cả Phật đạo, tự giác mà giác tha, tự độ mà độ tha, tự lợi mà lợi tha. Trong Kim cương thừa, mối quan hệ giữa Căn bản Thượng sư và hành giả Chân Phật là vô cùng mật thiết, bởi vì giữa hành giả Chân Phật và Căn bản Thượng sư có thề ước samaya.

Trong đó có giới luật, là "Sự sư pháp ngũ thập tụng", thể hiện mối quan hệ vô cùng thành kính, cũng có thể nói rằng sự khai ngộ của hành giả Chân Phật đều đến từ gia trì lực của Căn bản Thượng sư. Vì vậy sự chuẩn bị tâm lý tu pháp chính là đầu tiên về truyền thừa, xem Căn bản Thượng sư như Phật mà phụng sự, Căn bản Thượng sư chính là Phật không sai lệch gì.

Về tâm lý, phải xem Căn bản Thượng sư là tổng trì của Phật, pháp, tăng. Căn bản Thượng sư bao hàm tất cả, tu trì Chân Phật Mật Pháp như vậy mới có thành tựu.

**Hỏi:** Tu Chân Phật Mật Pháp có thể chữa bệnh không?

**Đáp:** Có thể.

Liên Sinh Thánh Tôn có một cuốn sách, tên là "Chú ấn đại hiệu nghiệm", chính là bằng chứng sắt tốt nhất về tu pháp chữa lành bệnh. 

Trong phần trả lời này, tôi đặc biệt lại đưa ra một lá thư làm chứng:

*Sư Tôn kính yêu!*

*Xin chào thầy. Lần này đệ tử viết thư làm phiền sự thanh tu của Sư Tôn là thay mặt bố vợ và mẹ vợ hướng đến Sư Tôn để tạ ơn.*

*Vào ngày 30 tháng 9 năm 1988, bố vợ của đệ tử người Philippines nôn ra máu và bị bệnh tim được đưa đến bệnh viện cấp cứu. Đệ tử được sư huynh Liên Hoa Thanh Vinh ở Cameron chỉ điểm lập tức tu Thượng sư tương ứng tiêu tai pháp của Chân Phật Tông cho bố vợ, đồng thời sư huynh cũng niệm kinh gia trì cho ông, bảy ngày sau bố vợ đã thoát khỏi nguy hiểm.*

*Bố vợ nói, khi cấp cứu, ông mơ thấy nhiều người muốn dẫn ông đi. Khi ông rất sợ hãi kêu cứu lớn, ông nhìn thấy một đường ánh sáng trắng chiếu vào ông, rồi ông tỉnh lại. Sư huynh Liên Hoa Thanh Vinh nói, ánh sáng trắng chắc chắn là Phật quang của Sư Tôn, sau khi được ánh sáng trắng chiếu, khi bố vợ vào bệnh viện xét nghiệm phát hiện bệnh viêm gan B vốn có cũng đã khỏi, thật là kỳ tích.*

*Bố vợ của đệ tử rất biết ơn Sư Tôn và sư huynh Liên Hoa Thanh Vinh. Ông cùng mẹ vợ thành tâm dâng cúng dường 200 Peso Philippines (khoảng hơn 20 Ringgit Malaysia). Đồng thời đệ tử và phu nhân cũng thành tâm dâng cúng dường, tổng cộng 50 Ringgit Malaysia. Kính chúc Phật an!*

*Đệ tử Liên Hoa Thái Nguyên và vợ đảnh lễ.
Ngày 10 tháng 12 năm 1988.*

Lá thư này là hiệu nghiệm hoàn toàn chân thật. Bản văn gốc chụp ảnh bản in được đính kèm sau đây.


![image](/img/img_92abfbaa6c5585719a51fa4ea36c9a86.png)


Đồng thời chứng minh như sau:
Tiêu tai - Ánh sáng trắng.
Tăng ích - Ánh sáng vàng.
Kính ái - Ánh sáng đỏ.
Hàng phục - Ánh sáng lam.

Liên Sinh Thánh Tôn thường xuyên trong lúc nguy cấp phóng quang cứu người vô số, hiệu nghiệm này đã đạt đến con số hàng triệu người, đơn giản là không thể tính đếm được, cho dù là bệnh nan y phức tạp, cho dù là bệnh hiểm nghèo cũng cứu, kỳ tích liên tiếp, là điều bất khả tư nghì khó nghĩ bàn.

Trong vũ trụ này, Phật quang của Liên Hoa Đồng Tử đã sớm lan khắp, nghìn người cầu nguyện nghìn nơi hiện, vạn người cầu nguyện vạn nơi hiện, người tin có phúc, người không tin vô duyên. Tu Chân Phật Mật Pháp thật sự có thể tiêu tai, tăng ích, kính ái, hàng phục, vô cùng chân thật, có công hiệu lớn.

**Hỏi:** Tiêu tai, tăng ích, kính ái, hàng phục là pháp gì?

**Đáp:** Đây chính là pháp Yết Ma của Chân Phật Mật Pháp, là pháp tu nhập thế.

Tiêu tai - Tiêu trừ tai nạn và vận xui.
Tăng ích - Tăng thêm phúc phần và lợi ích.
Kính ái - Quan hệ xã hội viên mãn và gia đình hôn nhân hòa hợp.
Hàng phục - Khiến đối phương khuất phục mình.

Hành giả Chân Phật chỉ cần giữ vững giới luật của Chân Phật Tông thì bốn pháp Yết Ma này đều sẽ được tương ứng thành tựu; không chỉ vậy, có thể diệt trừ nghiệp tội cực nặng, thậm chí vĩnh viễn không đọa vào địa ngục, đồng thời có chư thiên thần thánh ở cõi trời hộ vệ và hộ giá, tương đương như bản thân mình cũng đã có uy lực thần thông.
Đây là:
Chân Phật Mật Pháp khó nghĩ bàn. 
Thần thông công lực càng siêu tuyệt.
Hòa nhập trời đất nước lửa gió. 
Ma oán tự nhiên cũng tiêu vong.

**Hỏi:** Thánh Tôn nói, cho dù là bệnh nan y, tu Chân Phật Mật Pháp cũng có thể cứu chữa, có bằng chứng gì không?

**Đáp:** Quả thực đã cứu chữa khỏi không ít bệnh nhân mắc bệnh nan y, ở đây xin đưa ra hai lá thư làm chứng.

Hai lá thư này, một bằng tiếng Trung, một bằng tiếng Anh, cũng đặc biệt được chụp ảnh bản in đính kèm sau đây.

Thư bằng tiếng Trung như sau:

Sư Tôn! Om mani padme hum.

Nhân dịp cuối năm, chúc Sư Tôn cát tường như ý. Vô cùng cảm tạ Sư Tôn đã ban tặng linh phù.

Ung thư - căn bệnh khiến người ta nghe đến là sợ hãi, đã dày vò chị họ của đệ tử đã lâu. Sau khi dùng linh phù của Sư Tôn, thật sự là phù đến bệnh khỏi, trước đây đều là các con của chị họ đến nhà đệ tử nhờ vả, lần này chị họ đã có thể tự mình đến tận cửa cảm tạ Sư Tôn về sự trị liệu linh thiêng từ bi. Lúc đó đệ tử không có ở nhà, sau khi liên lạc qua điện thoại, chị họ liên tục bày tỏ lòng cảm ơn, và nói rằng bệnh tình của chị đã khỏi hẳn, thật sự là không thể nghĩ bàn, bệnh ung thư cũng được cứu. Nhưng vì mong muốn tốt hơn nữa, muốn cầu nhờ Sư Tôn ban tặng thêm linh phù, để cầu mong cơ thể khỏe mạnh (vì chị rất yếu ớt, lại làm việc nặng nhọc, Thái Thủy Hà, ngày tháng năm sinh và ảnh lần trước đã gửi rồi).

Chúc Phật an!
Đệ tử Liên Hoan chắp tay đảnh lễ.
Ngày 11 tháng 12 năm 1988.


![image](/img/img_9919a108636c94f8c37ced45b109c4fc.png)



![image](/img/img_de30d1d3db711c7b5ffcb3a158eccdfc.png)


**Hỏi:** Cúng dường trong Chân Phật Mật Pháp, dùng gì là tốt nhất?

**Đáp:** Liên Sinh Thánh Tôn cho rằng, chỉ cần tâm ý thành kính thì cúng dường gì cũng được. Ở Tây Tạng, họ cúng mandala, dùng từng đống gạo để đại diện, vì gạo tượng trưng cho thực phẩm, lại tượng trưng cho sự nhiều, dễ dàng quán tưởng biến hóa.

Và ngày nay, tôi cho rằng có thể cúng mandala bằng bất cứ thứ gì, ví dụ: xe mới, quần áo mới, nhà mới, món ăn ngon, đồ cổ quý hiếm.

Về cơ bản, quan niệm là bất cứ thứ gì mà bạn cho là tốt đẹp đều có thể dùng để cúng dường, tất cả đều có thể quán tưởng để bố thí cúng dường chư Phật Bồ Tát chư tôn.

Liên Sinh Thánh Tôn đã từng quán tưởng xe Rolls-Royce đồ chơi dâng cúng chư Phật Bồ Tát, kết quả là được một chiếc xe Rolls-Royce thật. Lại tiếp tục dâng cúng xe Rolls-Royce đó lên chư Phật Bồ Tát chư tôn, bất ngờ thấy trong hư không biến hóa ra mười chiếc xe Rolls-Royce.

Trong tinh thần của việc cúng dường mandala là bạn đã dâng hiến tài sản và tất cả những gì mình có, bao gồm thân khẩu ý, khi đã bố thí tất cả, bạn sẽ cảm thấy vui vẻ, đồng thời, bạn cảm nhận rằng "chẳng có gì cả" chính là sự hài lòng của "có tất cả".

**Hỏi:** Rất nhiều người đều cho rằng quán tưởng rất không dễ dàng, làm thế nào để quán tưởng trở nên dễ dàng?

**Đáp:** Rất nhiều người đều hỏi về vấn đề này, thực ra quán tưởng là một loại "kỹ xảo tâm lý", điều này cần phải dựa vào sự rèn luyện trong thời gian dài, trình tự của nó là điều hòa thân và điều hòa tâm, vận dụng ý niệm. Việc vận dụng ý niệm này chính là thứ tự sinh khởi. Còn thiền định chính là thứ tự viên mãn.

Nếu chúng ta hiểu rõ đạo lý của Chỉ - Quán, thì sẽ càng dễ dàng hiểu được đạo lý của quán tưởng.

Liên Sinh Thánh Tôn cho rằng, chúng ta phải thường xuyên nhìn ngắm Bổn tôn mà mình muốn quán tưởng, in sâu tỉ mỉ vào trong tâm trí, quan sát từ chi tiết nhỏ nhất, và trong khi ngồi thiền, hãy quán chiếu bên trong, hiển lộ cực kỳ vi tế trong sự vi tế, đây chính là đang thực sự "làm pháp", và pháp này chính là thiền quán vô hình.

Dĩ nhiên quán tưởng có rất nhiều tầng bậc khác nhau, tất cả đều là vấn đề kỹ xảo rèn luyện lâu dài, trong quá trình quán tu, mỗi hành giả sẽ dần dần hiểu được điều kỳ diệu ở trong đó, đến khi dễ dàng hiển lộ, quán tưởng khó khăn này tự nhiên sẽ không còn là vấn đề nữa.

**Hỏi:** Tu hành Chân Phật Mật Pháp có cần phải bế quan không?

**Đáp:** Đây là vấn đề về ý nguyện cá nhân và hoàn cảnh. Nếu có người tự mình có khả năng bế quan, cũng muốn bế quan tu hành, đây là điều rất tốt, bởi vì thân và khẩu có thể hoàn toàn cách biệt với thế tục, dễ dàng hơn để đạt được sự thanh tịnh của ý niệm. Hành giả bế quan có thể đạt được sự thống nhất tinh thần toàn tâm toàn ý.

Nếu có người tự mình không có khả năng bế quan, hoàn cảnh cũng không cho phép, thì đừng miễn cưỡng, hãy tìm một thời khắc thanh tịnh nhất, tu mỗi ngày một lần là được. Đồng tu, độc tu, bế quan tu, tất cả đều tùy theo ý nguyện của mỗi người, cũng đều có lợi ích riêng, tất cả đừng miễn cưỡng là được.

**Hỏi:** Pháp đại lễ bái pháp của chúng ta rốt cục phải đảnh lễ những gì?

**Đáp:** Về nguyên tắc ba lạy một cúi đầu là:
Một, lạy chư Phật mười phương. (thủ ấn tháp Phật)
Hai, lạy chư Bồ Tát. (thủ ấn hoa sen)
Ba, lạy chư Hộ Pháp Kim Cang. (thủ ấn kim cang)
Bốn, khấu đầu. (thủ ấn bình đẳng) Thủ ấn bình đẳng chính là ý nghĩa lạy đều tất cả thần thánh.

Nhưng Chân Phật Tông có pháp chuyên tu đặc biệt là "chí thượng đảnh lễ quán", có tụng kệ 25 lượt, đại lễ bái 25 lần, đây là phương pháp đại lễ bái "ý thức chí thượng". Xin đọc "chí thượng đảnh lễ quán" trong cuốn "Mật Tạng - Kỳ lạ trong kỳ lạ" là có thể hoàn toàn rõ ràng minh bạch.

Pháp đại lễ bái Kim Cang Đỉnh Du Già 37 vị này, tôi Liên Sinh Thánh Tôn cũng rõ ràng minh bạch, cũng chính là pháp quán tu niệm danh đảnh lễ. Hành giả Chân Phật cũng có thể tu tập pháp này.

Đặc biệt liệt kê tên gọi Kim Cang Đỉnh Du Già 37 vị như sau:
Nam mô Thanh Tịnh Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na Phật.
Nam mô Kim Cang Kiên Cố Tự Tính Thân A Súc Phật.
Nam mô Công Đức Trang Nghiêm Tụ Thân Bảo Sinh Phật.
Nam mô Thọ Dụng Trí Tuệ Thân A Di Đà Phật.
Nam mô Tác Biến Hóa Thân Bất Không Thành Tựu Phật.

Nam mô Đại Viên Kính Trí Kim Cang Ba La Mật xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Bình Đẳng Tính Trí Bảo Ba La Mật xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Diệu Quan Sát Trí Pháp Ba La Mật xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Thành Sở Tác Trí Nghiệp Ba La Mật xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát.

Nam mô nhất thiết Như Lai Bồ Đề Tâm Kim Cang Tát Đỏa Bồ Tát đẳng hư không biến pháp giới đồng nhất thể tính Kim Cương Giới sinh thân nhất thiết Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô nhất thiết Như Lai Bồ Đề Tâm Kim Cang Vương Bồ Tát đẳng tận hư không biến pháp giới đồng nhất thể tính Kim Cang Giới sinh thân nhất thiết Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô nhất thiết Như Lai Bồ Đề Tâm Kim Cang Dục Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô nhất thiết Như Lai Bồ Đề Tâm Kim Cang Thiện Tai Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô nhất thiết Như Lai Công Đức Tụ Kim Cang Bảo Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô nhất thiết Như Lai Công Đức Tụ Kim Cang Quang Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô nhất thiết Như Lai Công Đức Tụ Kim Cang Tràng Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô nhất thiết Như Lai Công Đức Tụ Kim Cang Tiếu Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô nhất thiết Như Lai Trí Tuệ Môn Kim Cang Pháp Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô nhất thiết Như Lai Trí Tuệ Môn Kim Cang Lợi Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô nhất thiết Như Lai Trí Tuệ Môn Kim Cang Nhân Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô nhất thiết Như Lai Trí Tuệ Môn Kim Cang Ngữ Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô nhất thiết Như Lai Đại Tinh Tấn Kim Cang Nghiệp Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô nhất thiết Như Lai Đại Tinh Tấn Kim Cang Hộ Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô nhất thiết Như Lai Đại Tinh Tấn Kim Cang Nha Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô nhất thiết Như Lai Đại Tinh Tấn Kim Cang Quyền Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô nhất thiết Như Lai Thích Duyệt Tâm Kim Cang Hi Hí Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới đồng nhất thể tính Kim Cương Giới sinh thân nhất thiết cúng dường vân hải Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô nhất thiết Như Lai Ly Cấu Tăng Kim Cang Man Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô nhất thiết Như Lai Diệu Pháp Âm Kim Cang Ca Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô nhất thiết Như Lai Thần Thông Nghiệp Kim Cang Vũ Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô nhất thiết Như Lai Chân Như Huân Kim Cang Phần Hương Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô nhất thiết Như Lai Thắng Trang Nghiêm Kim Cang Hoa Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô nhất thiết Như Lai Thường Phổ Chiếu Kim Cang Đăng Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô nhất thiết Như Lai Giới Thanh Lương Kim Cang Đồ Hương Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô nhất thiết Như Lai Tứ Nhiếp Trí Kim Cang Câu Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới đồng nhất thể tính Kim Cương Giới sinh thân nhất thiết Thành Biện Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô nhất thiết Như Lai Thiện Xảo Trí Kim Cang Sách Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới đồng nhất thể tính Kim Cương Giới sinh thân nhất thiết Phụng Giáo Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô nhất thiết Như Lai Kiên Cố Trí Kim Cang Tỏa Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới đồng nhất thể tính Kim Cương Giới sinh thân nhất thiết Như Lai Sứ Giả Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô nhất thiết Như Lai Hoan Lạc Trí Kim Cang Linh Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới đồng nhất thể tính Kim Cương Giới sinh thân nhất thiết Như Lai Tuỳ Thuận Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát.

Trên đây là Kim Cang Đỉnh Du Già 37 vị.

**Hỏi:** Một số người tự cảm thấy tu pháp thất bại, có thể ngừng tu hành không?

**Đáp:** Trong quá trình tu trì, thường có người tự cảm thấy không nắm được điểm cốt yếu, có người thậm chí tinh thần tản mát, thậm chí dẫn đến thể lực suy thoái, bệnh tật phát sinh nhiều, tôi cho rằng đó là do nghiệp chướng sâu nặng.

Người như vậy nên kiên nhẫn cố gắng tiếp tục tu hành, để mong vượt qua mùa đông lạnh giá này, mùa xuân sẽ mau chóng đến.

Nếu không thể kiên trì, thoái lui mà cầu ở mức kế tiếp, có thể tu pháp Hiển giáo, như chỉ niệm Phật, niệm kinh, niệm chú. Sau một thời gian, khi mọi việc đã trở lại bình thường thì quay lại tu Chân Phật Mật Pháp.

**Hỏi:** Tu Chân Phật Mật Pháp thất bại có những dấu hiệu gì?

**Đáp:** Các dấu hiệu như sau:
1. Ngày càng quan tâm đến những việc thế tục.
2. Theo đuổi danh lợi không ngừng nghỉ.
3. Mất đi đức tin và lòng tin đối với Căn bản Thượng sư.
4. Thái độ kiêu ngạo cố chấp.
5. Phủ nhận hiệu lực của Chân Phật Mật Pháp.
6. Không có tâm từ bi.
7. Tâm tư vị kỷ tăng trưởng.

Đây đều là những dấu hiệu tu pháp thất bại.

**Hỏi:** Đối với những người tu Chân Phật Mật Pháp thất bại, Thánh Tôn có phương pháp gì để độ họ không?

**Đáp:** Liên Sinh Thánh Tôn đối với những người tu trì Chân Phật Mật Pháp thất bại, không hề khiển trách quở mắng, chỉ cảm thấy họ rất đáng thương, và càng thêm thương cảm họ.

Liên Sinh Thánh Tôn sẽ tiếp tục viết sách, dùng sách để khuyên dạy họ, muốn họ thực sự lĩnh hội được thân người khó có được, chư pháp vô thường vô ngã. Đặc biệt là đạo lý "Không", nếu như hiểu được đạo lý Không, tâm họ tự nhiên sẽ an định, như vậy mới có thể quét sạch những chướng ngại trong tâm họ.

Vô sở trụ, phát bồ đề tâm, đây là hai yếu niệm được nhắc đi nhắc lại.

**Hỏi:** Giả như có người hỏi về vấn đề truyền thừa của Chân Phật Tông và Chân Phật Mật Pháp, nên trả lời như thế nào?

**Đáp:** Vấn đề này đã được giải thích nhiều lần, nay xin giải thích lại như sau:

Trong Phật giáo, sự thành lập một giáo phái có một số yếu tố.
Thứ nhất, truyền thừa của Chân Phật Mật Pháp do Liên Sinh Thánh Tôn khai sáng, Ngài là bậc đại thành tựu hiện tại, nhờ thiền định và những phương pháp phi thường khác mà ngộ rõ tất cả, trực tiếp được:
Thích Ca Mâu Ni Phật thọ ký.
A Di Đà Phật phó thác.
Di Lặc Bồ Tát đội mũ đỏ.
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền Mật pháp.

Đây là truyền thừa trực tiếp, và là truyền thừa đặc biệt, truyền thừa đặc biệt này do Liên Sinh Thánh Tôn trực tiếp lĩnh nhận, từ đó có được văn tự giáo nghĩa, giáo bản, nghi quỹ.

Trong truyền thừa đặc biệt này, Liên Sinh Thánh Tôn chính là một vị Rinpoche (Hoạt Phật) tái thế tầng lớp cao, nguồn gốc của Ngài chính là: Đại Nhật Như Lai - Phật Nhãn Phật Mẫu - Liên Hoa Đồng Tử - Liên Sinh Hoạt Phật.

Liên Sinh Thánh Tôn đã trải qua sự thử thách của những khổ nạn gian nan lâu dài mới đạt được đại thành tựu. Ngài từ Cơ Đốc giáo, Đạo giáo, Hiển giáo, Mật giáo mà đạt được Đại Thủ Ấn và Đại Viên Mãn. Quả địa của Chân Phật Mật Pháp chính là Ma Ha Song Liên Trì, pháp tu trì đặc biệt của nó chính là Liên Hoa Đồng Tử Kim Cang tương ứng pháp.

Thứ hai, Liên Sinh Thánh Tôn hoằng truyền Chân Phật Mật Pháp khắp toàn thế giới, ở Châu Âu, Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Châu Úc, Châu Phi, Châu Á đều có đạo tràng, thậm chí ở Ấn Độ, Nepal, Bhutan, Sri Lanka, Thái Lan - những quốc gia Phật giáo này cũng đã thành lập đạo tràng, chỉ trong vài năm ngắn ngủi, đã thiết lập trung tâm hoằng pháp mang tầm thế giới, đây chính là sự thù thắng của Chân Phật Mật Pháp.

Liên Sinh Thánh Tôn được các vị Lama Pháp Vương giám định và ấn chứng là Hoạt Phật. Hơn hai mươi vạn đệ tử công nhận là Hoạt Phật. Chính phủ tiểu bang Washington Hoa Kỳ trao giải thưởng danh nhân, công nhận là Hoạt Phật.

Liên Sinh Thánh Tôn là quyền uy tinh thần tối cao của phái Chân Phật Tông.

Thứ ba, Liên Sinh Thánh Tôn được gọi là Hồng Quán Thánh Miện, chiếc mũ đỏ này là vương miện mà Di Lặc Bồ Tát sử dụng, sau đó dâng tặng cho Liên Sinh Thánh Tôn, đây chính là mũ báu của giáo chủ, là biểu tượng của quyền uy tinh thần, chiếc mũ đỏ nguyên thủy ở nơi Di Lặc Bồ Tát, tại nội viện cung trời Đâu Suất, đây là mũ báu tượng trưng quyền uy của phái Chân Phật Tông.

Thứ tư, sự thù thắng của phái Chân Phật Tông, truyền thừa này có vinh dự đặc biệt, trong số những người đến quy y không chỉ có các vị pháp sư xuất gia, mà cả các mục sư, linh mục của các tôn giáo khác cũng đến quy y Liên Sinh Hoạt Phật. Và những vị Hoạt Phật Tây Tạng mang thân phận Hoạt Phật cũng có nhiều người đến quy y, như Đạt Thừa Hoạt Phật, Khước Khắc Thoát Cát Hoạt Phật, Tát Ca Cát Mã Hoạt Phật, Bổn Lạp Hoạt Phật, Hạ Khắc Đức Cách Hoạt Phật, Giai Nhiếp Hoạt Phật......, bao gồm các Phật gia của Hồng giáo phái Nyingma, Hoàng giáo phái Gelugpa, Bạch giáo phái Kagyupa, Hoa giáo phái Sakya. Phái Chân Phật Tông là Mật tông, vì Mật pháp của nó là tu pháp Mật tông, đặc biệt thù thắng nhất là truyền thừa vĩ đại này cũng có nhiều vị tông trưởng của Mật tông đến quy y.

Bởi vì phái Chân Phật Tông có sáu chữ "thật":
1. Độ thế thật - Liên Sinh Hoạt Phật vì độ chúng sinh, dù phải thịt nát xương tan cũng không quản, có thề nguyện lớn.
2. Ghi chép thật - Việc soạn viết của Liên Sinh Hoạt Phật từ khi sơ cơ học đạo đến học Phật, toàn bộ kinh nghiệm đều có trong sách.
3. Tâm yếu thật - Tâm đắc học pháp của Liên Sinh Hoạt Phật được trình bày hoàn toàn đầy đủ.
4. Thần thông thật - Liên Sinh Hoạt Phật thần thông tự tại, diễn hóa kỳ tích, đầy đủ thần thông trí tuệ.
5. Hàng phục thật - Liên Sinh Hoạt Phật hàng ma hàng long hàng phục ngoại đạo tà thần.
6. Mật pháp thật - Liên Sinh Hoạt Phật quảng truyền Chân Phật Mật Pháp, khiến chúng sinh tức thân thành Phật.

Dưới đây là bản chụp chế bản thư quy y của các vị tông trưởng Mật tông quy y phái Chân Phật Tông:


![image](/img/img_73d7349beadcd777c711939ea423bc36.png)


**Hỏi:** Liên Sinh Thánh Tôn quả thật phi phàm, vì sao có thể khiến các vị Hoạt Phật và tông trưởng Mật tông đều quy y phái Chân Phật Tông?

**Đáp:** Bởi vì mười phương ba đời tất cả chư Phật Bồ Tát cùng chứng minh Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Đại Trì Minh Lư Thắng Ngạn Liên Sinh Tôn Giả là Kim cương Thượng sư mười đức. Mười đức này là biểu trưng của Kim cương Thượng sư chân chính:
1. Thông hiểu Hiển pháp, Mật pháp.
2. Có ba tuệ viên mãn.
3. Có chứng đắc đại thần thông.
4. Kiên nhẫn, có trước có sau.
5. Thứ tự pháp không sai lầm.
6. Tất cả vì chúng sinh.
7. Hoàn toàn phù hợp Phật lý.
8. Tinh thông tất cả kinh luận.
9. Trí tuệ vô thượng.
10. Nội minh phát quang, thực tu chứng đắc.

**Hỏi:** Chúng ta quán tưởng Căn bản Thượng sư Liên Sinh Thánh Tôn như thế nào?

**Đáp:** Ngồi kiết già trước tượng pháp tướng của Căn bản Thượng sư trên mật đàn, dần dần buông xả mọi cảnh giới, sau đó khiến tâm an trú.

Quán tưởng có tám con sư tử cùng nâng tòa báu đính ngọc châu báu, trên tòa báu phủ thiên y của cõi trời, trên thiên y có một đóa hoa sen nghìn cánh, trên hoa có nguyệt luân nằm ngang, trên nguyệt luân ngự tọa Căn bản Thượng sư Liên Sinh Thánh Tôn, đầu đội mũ miện đỏ Ngũ Phật có hai dải rủ xuống hai bên, tay phải cầm chày kim cang, tay trái cầm chuông kim cang, dung mạo trang nghiêm như Phật, ánh mắt đầy từ bi, thân có mười ba thứ vật trang sức cát tường, thân đầy đủ ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp, tâm có pháp hỷ, thân phóng ánh sáng vô tận.

**Hỏi:** Chúng ta học một pháp là tốt, hay học nhiều pháp là tốt?

**Đáp:** Nếu bạn mong muốn viên chứng Phật đạo, bạn không cần tu học nhiều pháp môn, chỉ cần một pháp môn đi sâu vào là đủ. Một tức là tất cả.

Nếu bạn mong muốn viên chứng Phật đạo, rồi làm Thượng sư giảng dạy thì cần phải tham học nhiều pháp môn, tùy theo căn cơ mà giáo hóa, như vậy cần học thêm nhiều điều, nỗ lực vì phúc lợi của người khác. Tất cả tức là một.

Nếu muốn vì tất cả chúng sinh thành tựu vô thượng Phật đạo thì cần đầy đủ trí huệ, đầy đủ tám vạn bốn nghìn pháp môn, từng pháp tương ứng, từng pháp phát bồ đề tâm.
Đại Thủ Ấn. (tự thân giải thoát)
Đại Viên Mãn. (ta và người giải thoát)
Đại Viên Thắng Huệ. (tận hư không, khắp pháp giới)


### 10. Tâm đắc về nghi quỹ Chân Phật Mật Pháp


**Hỏi:** Sự rộng lớn của Chân Phật Mật Pháp như thế nào?

**Đáp:** Hành giả Chân Phật tu Chân Phật Mật Pháp không nên cho rằng đây là pháp nhỏ bé thấp kém, bởi vì từ Tứ gia hành đến Vô Thượng Mật đều đã được tổng trì. 

Có:
Tổng trì nghĩa.
Vô lượng nghĩa.

Hai nghĩa này có trong đó, có thể nói Chân Phật Mật Pháp thù thắng vi diệu, như ngọc mani, viên mãn tất cả mọi sự thù thắng, cho đến vô thượng bồ đề, công đức hào tướng Như Lai.

**Hỏi:** Chân Phật Mật Pháp lợi tha tu như thế nào?

**Đáp:** Hành giả Chân Phật tu pháp lợi tha, cần dùng tư duy quan sát, thường nghĩ thân nhân bạn bè ở bên cạnh cùng tu pháp. Khi bản thân ngồi kiết già tại đàn thành, cũng nghĩ thân nhân bạn bè ngồi tại đàn thành, hoặc tất cả chúng sinh hữu tình ngồi tại đàn thành, vây quanh bao bọc, trùng trùng vô tận. Mà chư Phật mười phương ba đời đều phóng ánh sáng đến chiếu soi hành giả cùng thân nhân bạn bè hoặc tất cả chúng sinh hữu tình, đây chính là tu pháp lợi tha đại từ đại bi, tu pháp như thế này vượt xa hơn một người tu riêng.

Tu pháp lợi tha này chứa đựng chân nghĩa của tứ vô lượng tâm:
1. Từ - Hy vọng chúng sinh đều được khai ngộ, hoàn toàn đạt đến bờ bên kia, ở Tây phương Cực Lạc thế giới.
2. Bi - Hy vọng chúng sinh đều thoát khỏi biển khổ, mọi người đều có thể lìa khổ.
3. Hỷ - Thấy người khác thân tâm vui vẻ tự tại, chính mình cũng hoan hỷ.
4. Xả - Nhìn chúng sinh như cha mẹ, không có tâm thiên vị hoặc tâm căm ghét, trở thành chúng sinh bình đẳng.

**Hỏi:** Tu hành Chân Phật Mật Pháp, làm thế nào để không thoái chuyển đạo tâm?

**Đáp:** Không thoái chuyển đạo tâm này cũng vô cùng khó khăn, nhưng hãy xem nguyện lực của hành giả Chân Phật có thể vĩnh hằng chăng? Hãy xem bồ đề tâm của hành giả Chân Phật có thể kiên cố chăng?

Năm nguyện lớn là:
Chúng sinh vô biên thề nguyện độ.
Phúc trí vô biên thề nguyện tập.
Pháp môn vô biên thề nguyện học.
Như Lai vô biên thề nguyện làm.
Bồ đề vô thượng thề nguyện chứng.

Mà phát bồ đề tâm chính là hướng lên cầu Phật đạo, hướng xuống hóa độ chúng sinh.

Hành giả Chân Phật thường trì một câu chú: "Ôm bô-đi-chi-ta pê-cha sa-ma-ya hùm pây." Chú này là gia trì hành giả không còn thoái chuyển, nếu chuyên trì chú này có thể nhập bất thoái địa, nhanh chóng viên mãn chính giác. Chú này khiến hành giả Chân Phật được tam muội kim cang quang minh chiếu thân, thân tâm được thanh tịnh quang, vạn hạnh đầy đủ, tâm hành vô cùng kiên cố, cho nên không thoái chuyển.

**Hỏi:** Chân Phật Mật Pháp sinh ra pháp lực từ đâu?

**Đáp:** Pháp lực của Chân Phật Mật Pháp như sau:
1. Gia trì lực của Căn bản Thượng sư - tức là pháp lực bí mật truyền thừa.
2. Gia trì lực của Căn bản Bổn tôn - tức là pháp lực bí mật công đức của Bổn tôn.
3. Pháp giới lực - pháp lực bí mật pháp lưu biến khắp thế giới mười phương.
4. Hộ pháp lực - pháp lực bí mật của Kim cang Không hành hộ trì tông phái Chân Phật.

Hành giả Chân Phật khi nghĩ nhớ Căn bản Thượng sư, khi trì tụng chú Bổn tôn, khi trong thiền định nhập Tam ma địa, khi làm pháp hộ thân liền sinh ra bốn pháp lực này, bốn đại pháp lực này có thể biến khắp trọn vẹn toàn thế giới, hành giả Chân Phật niệm mà cầu đều được lợi ích.

**Hỏi:** Làm thế nào để biết nghiệp chướng của bản thân đã được thanh tịnh?

**Đáp:** Nghiệp chướng của hành giả Chân Phật đã được chuyển hóa thành thanh tịnh, những dấu hiệu này đã được Liên Sinh Thánh Tôn luận giải chi tiết trong các tác phẩm, tối thiểu là phải có:
Thân thể khinh an.
Giấc ngủ thiện lành.
Sức khỏe tốt đẹp.
Tư duy sáng tỏ.
Chứng ngộ khai thông.

Khi thiền định nhập Tam ma địa, dòng chảy ánh sáng của pháp tiến nhập thân tâm, từ vô thủy đến nay tất cả nghiệp chướng tích lũy đều trọn vẹn chảy ra ngoài thân thể, muôn tội cấu đều tiêu trừ, phúc huệ đều viên mãn.

Hành giả Chân Phật trong tu pháp tự biết ánh sáng trong trẻo, dòng chảy pháp như sữa như nước gột tẩy bản thân và pháp giới, tự biết tươi mát tự tại.

Đây chính là tương ứng.

**Hỏi:** Niệm chú theo cách nào là tốt nhất?

**Đáp:** Liên Sinh Thánh Tôn cho rằng, trì tụng chân ngôn tùy theo thói quen của hành giả là phù hợp, thông thường có năm cách:
1. Liên hoa niệm tụng - âm thanh nhỏ.
2. Kim cang niệm tụng - lưỡi khẽ động.
3. Tam ma địa niệm tụng - Chuyên chú vào chữ chú trên nguyệt luân trong tâm.
4. Thanh sinh niệm tụng - Trong tâm hiện ra hoa sen, trên hoa sen có ốc trắng phát ra âm thanh.
5. Quang minh niệm tụng - Quán tưởng miệng phát ra chữ chú, chữ chú hiện ra ánh sáng.

Niệm tụng chân ngôn, chỉ cần nắm bắt được diệu lý của nó thì có thể sinh ra pháp lực, điều quan trọng là phải rõ ràng đi vào tai và in vào tâm, không để tâm hồn tán loạn, ví dụ như Tam ma địa niệm tụng, quang minh niệm tụng, thanh sinh niệm tụng, phải quán tưởng rõ ràng từng chữ một, nói ngắn gọn là chữ chú cùng với thân khẩu ý của hành giả Chân Phật hợp lại thành một thể, đây là công phu tâm trụ nơi chú. Như vậy, chữ chú ấy có thể thu về vô lượng nghĩa lý.

**Hỏi:** Tu pháp lấy gì làm chủ? Quán tưởng lấy gì làm chủ?

**Đáp:** Câu hỏi này có rất nhiều người hỏi, câu trả lời cụ thể là:
Tu pháp lấy tâm làm chủ.
Quán tưởng lấy bồ đề tâm tướng làm chủ.

Cần biết rằng trong tam giới, tất cả tu hành đều lấy tâm làm chủ. Người có thể quán bồ đề tâm có thể rốt ráo giải thoát, người không thể quán bồ đề tâm mãi mãi ở trong ràng buộc. Vì vậy người tu pháp hoàn toàn là tu cái tâm này, mà tâm có thể tự chủ hành vi của hành giả, cho nên còn gọi là tu hành.

Sự thật là tu pháp và quán tưởng đều lấy tâm làm chủ. Phải tu nhập vào tâm là được.

**Hỏi:** Muốn tu nhập vào tâm, cần phải có ý niệm gì?

**Đáp:** Chúng ta hành giả Chân Phật cần phải thường tư duy như sau:

Nhân quả báo ứng, mảy may không sai. Tất cả ác nghiệp là nguyên nhân độc hại dẫn đến thế giới bước vào bóng tối. Đối với ác nghiệp phải thận trọng đừng tạo.

Danh dự là không. Tiền tài là không. Dù bạn giàu sang đến đâu, một khi chữ "chết" đến, ngay cả một hạt cát cũng không mang đi được, ngay cả một món đồ cũng không mang đi được.

Thê thiếp xinh đẹp là không. Con cái là không. (Các pháp là không thực, như huyễn.)

Trong lục đạo luân hồi hoàn toàn là tự mình tạo tự mình chịu, một mình gánh chịu, tuyệt đối không có sự thay thế.

Hành giả Chân Phật phải thường xuyên tư duy như vậy, một cách rất tự nhiên có thể tu nhập vào tâm, dần dần tăng trưởng định lực, sẽ không còn có suy nghĩ phạm ác nghiệp nữa.

Đối với tất cả danh lợi sẽ không còn chấp trước, đối với việc cầu lợi, cầu danh, thê thiếp tiền tài con cái địa vị có thể xem nhẹ nhìn thấu buông bỏ, thuận theo tự nhiên. Đối với tu hành sẽ không có tâm ỷ lại. Như vậy, có thể tu nhập vào tâm, đạt được thành tựu.

**Hỏi:** Pháp quán tưởng có rất nhiều loại, hành giả Chân Phật nên chọn loại nào là phù hợp?

**Đáp:** Liên Sinh Thánh Tôn cho rằng việc luyện tập pháp quán tưởng vẫn do hành giả Chân Phật tự mình lựa chọn mới là đúng, bởi vì thói quen của mỗi hành giả Chân Phật không nhất định giống nhau.

Quán đếm hơi thở, quán bất tịnh, quán duy thức, quán pháp giới, quán chủng tử tự, quán mandala, quán 16 điểm của cõi tịnh thổ, quán ngũ tướng thành thân, quán chữ Ah, quán nguyệt luân, quán diệu âm, quán Bổn tôn, quán nhập ngã, quán ngã nhập, quán ngũ tự nghiêm thân......

Những pháp quán này có thể tự mình lựa chọn phù hợp để luyện tập, chọn một pháp mà tu chắc. Nhưng trước khi quán tưởng, Liên Sinh Thánh Tôn hy vọng hành giả trước tiên ngồi thẳng lưng ngay ngắn, điều hòa hơi thở, có thể dùng Cửu tiết Phật phong để làm cho tinh thần của mình tập trung, tinh thần đã tập trung thì dễ dàng tu quán nhập định.

Người có trí tuệ cao, có thể tu tập pháp quán tưởng phức tạp và đa tầng. Người có trí tuệ thấp, có thể tu tập pháp quán tưởng đơn giản và thuần nhất.

Mục đích của tu quán nhập định, vẫn là vọng tưởng không sinh, có thể khiến thân tâm thanh tịnh, thành tựu quán bồ đề tâm, thành Phật tam muội, đây là du già vô thượng bí mật. Đặc biệt là đạt đến vô trụ vô niệm, đạt đến vô giác, tiến nhập biển thực tướng Bát nhã Ba la mật, hiển phát tự tính, đây là:
Trong suốt và thanh tịnh.
Ánh sáng khắp hư không.

**Hỏi:** Tu quán nhập định, ngoài ngồi, có thể thể hiện ở đi đứng nằm không?

**Đáp:** Chúng ta hành giả Chân Phật, trước tiên tu đàn pháp, cũng chính là trước tiên thiền tọa nhập định tu quán, lâu dài tu tập như vậy, tích công phu lâu rồi thì mở mắt là pháp giới, nhắm mắt cũng là pháp giới, tự thân với pháp giới không hai, cũng chính là dẫn Bổn tôn vào trong thân mình, thân mình hợp với pháp giới Bổn tôn. Thành tựu phép quán này thì đi, đứng, ngồi, nằm đều là tam muội. Ngay lúc ấy cắt đứt phiền não, giải thoát tất cả, tự chủ sinh tử, minh tâm kiến tính, tức thân thành Phật!

**Hỏi:** Trong tam muội tu quán nhập định có lợi ích gì?

**Đáp:** Liên Sinh Thánh Tôn cho rằng, bất kỳ hành giả nào chỉ cần trong định của mình, tất sẽ sinh ra ba công đức lợi ích lớn:

Thứ nhất, trụ vững trong pháp hỷ - Trong định sẽ sinh ra thiền lạc, vị thiền này đậm đà, chính là diệu lạc vô thượng, như vậy thân tâm và hành vi đều được đại điều hòa.

Thứ hai, thần thông du hí - Trong định sẽ sinh ra thần thông, sáu đại thần thông này hoàn toàn đầy đủ, tạo thành sản phẩm phụ của thiền định tĩnh lặng, tạo thành một loại pháp lực của bậc thánh nhân để độ chúng sinh.

Thứ ba, Yết Ma thành tựu - Vì độ chúng sinh, trong định chuyển pháp luân, có thể trợ giúp người khác tiêu tai, tăng ích, kính ái, hàng phục, lợi ích chúng sinh, do đó khiến chúng sinh phát tâm quy y học Phật.

**Hỏi:** Ý nghĩa của hồi hướng là gì?

**Đáp:** Sau khi tu quán nhập định xong, hồi hướng là một loại phát nguyện, cũng có hồi hướng chỉ cầu lợi cho chính mình, hoặc là lợi cho người khác, thông thường là:
Nguyện đem công đức này.
Phổ cập cho tất cả.
Chúng con cùng chúng sinh.
Đều cùng thành Phật đạo.
Văn hồi hướng còn gọi là văn phát nguyện, có thể tự mình soạn thảo, phù hợp là được.


### 11. Kalu Rinpoche tôn sùng Liên Sinh Hoạt Phật


Thượng sư Kalu Rinpoche có thành tựu tu tập thực hành cao nhất trong Phật giáo Tây Tạng, hiện nay 85 tuổi, ngài đã chuyển gửi cho Liên Sinh Hoạt Phật một lá thư cùng ba món quà vào ngày 7 tháng 1 năm 1989, ba món quà này như sau:
1. Một bức pháp tướng có chữ ký tay của Kalu Rinpoche.
2. Một chiếc khăn khata.
3. Một bức ảnh chụp Kalu Rinpoche đang cung kính cầm một tấm ảnh chụp pháp tướng của Liên Sinh Hoạt Phật.

Nay xin trình bày nội dung thư của ngài như sau:

1. Chúng ta biết nhau.

2. Trên thế giới, Liên Sinh Hoạt Phật là người dùng tiếng Hoa hoằng pháp độ chúng sinh, thực tu Mật pháp, là bậc thành tựu giả cao nhất. Tức là Liên Sinh Hoạt Phật là bậc thành tựu giả cao nhất trong việc thực tu Mật pháp trong số người Hoa.

3. Nếu không có sự hoằng pháp viết sách của Liên Sinh Hoạt Phật, việc phát dương Mật tông ra toàn thế giới không thể truyền bá nhanh như vậy. Chúng sinh vô cùng may mắn, dưới bầu trời này xuất hiện một vị Thượng sư hoàn mỹ như vậy. Người đời cần phải tôn sư, trọng pháp, thực tu, Mật pháp của Liên Sinh Hoạt Phật nhất định có thể khiến người ta đạt được đại thành tựu.

4. Tôi (Kalu Rinpoche), dùng hai tay cung kính cầm pháp tướng của Liên Sinh Hoạt Phật, là tôn sùng Liên Sinh Hoạt Phật, giống như dùng hai tay cúng dường Phật vậy.

5. Tôi (Kalu Rinpoche) sẽ dâng lên Liên Sinh Hoạt Phật pháp tướng có chữ ký tay của tôi cùng khăn khata, cộng thêm bức ảnh tôi cung kính cầm pháp tướng Liên Sinh Hoạt Phật, cầu nguyện Liên Sinh Hoạt Phật thường trụ thế gian, vĩnh viễn không nhập Niết-bàn, vĩnh viễn trường thọ.

(Trên đây là lời tôn sùng và hỏi thăm của Kalu Rinpoche.)

Xin giới thiệu về Kalu Rinpoche như sau:

Kalu Rinpoche, hiện nay 85 tuổi, là hóa thân của Jamgon Kongtrul, vị Thượng sư - học giả vĩ đại nhất trong lịch sử Phật giáo Tây Tạng, còn truy nguyên về nguồn gốc tối thượng thì là hóa thân của tôn giả A Nan.

Kalu Rinpoche từ 25 tuổi đã từng bế quan tu hành 13 năm, và trong suốt cuộc đời ngài tiếp tục khổ tu. Ngài được người Tây Tạng và chúng sinh trên thế giới vô cùng tôn kính, được tôn vinh là một trong số ít những bậc thành tựu giả thực tu còn sót lại hiện nay, có thể gọi là "Thượng sư trong các Thượng sư", là một vị lãnh tụ tinh thần của Mật tông, giống như vị trí chính trị của Đức Dalai Lama trong tâm trí người Tạng. Ngài vừa chào đời thì miệng đã tụng lục tự đại minh chân ngôn, nhìn bốn phương, rạng rỡ mỉm cười.

Trong thiền định của mình, ngài lên cõi trời xem múa, nghe người khác bàn luận về mình. Ngài tiên tri rằng mình sẽ viên tịch tại Saje (Sonada), rồi tái sinh thêm một đời nữa, từ đó về sau sẽ không trở lại thế giới Ta Bà này nữa.

Kalu Rinpoche, gần 20 năm qua, đã đi khắp thế giới hoằng pháp, kết duyên, đào tạo vô số đệ tử, đồng thời thành lập 48 trung tâm tu tập, khiến Tạng mật tỏa sáng rực rỡ ở châu Âu và châu Mỹ.

Kalu Rinpoche nói: "Tất cả vạn pháp thế gian, mọi hiện tượng sinh diệt không ngừng xung quanh chúng ta, bản chất đều hư huyễn, không có tự thể độc lập. Xét về phương diện được cảm nhận, chúng quả thực tạo ra các cảm thọ khổ, vui không đồng đều, nhưng xét về bản chất, tất cả đều biến huyễn vô thường. Những loạn tượng này chính là nguồn gốc của khổ đau trong luân hồi sinh tử. Một khi chúng ta giác ngộ rằng tất cả những hiện tượng này rốt cuộc đều như mộng huyễn, thì quan niệm chấp trước cho là thật sẽ tự khắc tan biến."

Kalu Rinpoche từ ngày 10 tháng 12 đến ngày 28 tháng 12 năm 1988 tại California, Hoa Kỳ đã hoằng truyền:
Đại Thủ Ấn - Tâm tính.
Luận về con mắt thứ ba.
Quán đảnh trung ấm - Bổn tôn tịch tĩnh và Bổn tôn phẫn nộ.
Mật tục và Mật chú.
Quán đảnh Ngũ Đại Kim Cang.
Quán đảnh Mahakala Trắng.

Pháp tướng và chữ ký tay của Kalu Rinpoche như sau:


![image](/img/img_519cf94c4b168ec079452f0d95a5c04f.png)



![image](/img/img_fcb26b25e3b6d705649b5d720d9298fb.png)



### 12. Nghi quỹ phát bồ đề tâm giới


**Hỏi:** Chân Phật Mật Pháp có nghi quỹ "Phát Bồ Đề Tâm Giới" không?

**Đáp:** Có. Xin trình bày nghi quỹ "Phát Bồ Đề Tâm Giới" như sau:

Đệ tử ABC, kính đảnh lễ quy mệnh, khắp hư không pháp giới, mười phương các Như Lai, Chân Phật Du già Tổng Trì giáo, và các đại Bồ Tát, cùng lễ bồ đề tâm, có thể viên mãn phước trí tụ, nay được vô thượng giác, vì vậy kính đảnh lễ.

Chân ngôn lễ Phật là: Ôm sa-mô ta-tha-nia-tua pô-na man man-na nan-kya lu-mi. (Đại lễ bái)
Kế đó nên vận tâm cúng dường (kết ấn cúng dường).
Đệ tử ABC v.v. Mười phương hết thảy chùa, tất cả các cúng dường, hoa man đèn hương xoa, ẩm thực tràng phan lọng, thành tâm con phụng hiến, chư Phật đại Bồ Tát, cùng các vị thánh hiền, con nay chí tâm lễ.

Chân ngôn phổ cúng dường Hư Không Tạng: Ôm yê-yê-nang san-pô-mô mô-rư-la hùm. (giải ấn)

Kế đó nên sám hối:

Đệ tử ABC
Đối trước mười phương Phật
Cùng đại Bồ Tát chúng
Từ thuở quá khứ xa
Vô thủy trôi luân chuyển
Cho đến tận hôm nay
Mê muội tính chân như
Khởi phân biệt hư vọng
Tham sân si các ác
Ba nghiệp đủ phiền não
Lại theo các tùy hoặc
Trái phạm tội thù thắng
Cùng các tội lỗi khác
Phỉ báng Phật pháp tăng
Xâm đoạt của Tam Bảo
Rộng tạo tội vô gián
Vô lượng vô biên kiếp
Không thể nhớ tính kể
Tự làm, dạy người làm
Thấy nghe và vui theo.
Nay nương thắng nghĩa đế
Lý chân thật vi diệu
Đem mắt thánh trí quán
Ba đời trước giữa sau
Đều không có sở đắc
Do tự tâm phân biệt
Hư vọng chẳng chân thật
Lấy đó làm phương tiện
Bình đẳng như hư không
Con nay đều sám hối
Thề chẳng dám che giấu
Từ nay đã hối rồi
Mãi dừng không làm nữa
Cho đến thành Chính Giác
Rốt ráo chẳng trái phạm
Nguyện mười phương chư Phật
Cùng tất cả Bồ Tát
Xót thương mà gia hộ
Nay tội chướng con diệt
Vì thế chí tâm lễ.

Chân ngôn sám hối diệt tội: Ôm sa-mô-pô pô-na-hưa nang-mô-rư-la yê sô-ha.

Kế đó nên thọ tứ quy y:
Quy y Chân Phật Kim cương Thượng sư.

Đệ tử ABC
Từ hôm nay trở đi
Quy y các Như Lai
Năm trí ba thân Phật
Quy y Kim cương thừa
Pháp tính chân như ấy
Quy y hàng Bồ Tát
Đại bi không thoái chuyển
Quy y Tam Bảo rồi
Không quy y thêm nữa
Các đường tà tự lợi
Nay con chí tâm lễ.

Chân ngôn tứ quy y: Ôm pu-chien.

Kế đó nên thọ bồ đề tâm:

Đệ tử ABC
Tất cả Phật Bồ TÁt
Kể từ nay về sau
Đến khi thành Chính Giác,
Thề phát tâm bồ đề
Hữu tình vô biên thề nguyện độ,
Phúc trí vô biên thề nguyện gom,
Phật pháp vô biên thề nguyện học,
Như Lai vô biên thề nguyện làm,
Vô thượng bồ đề thề nguyện thành.
Nay giác tâm đã phát
Xa lìa các tính tướng,
Năm uẩn, mười tám giới,
Năng thủ với sở chấp
Các pháp đều vô ngã,
Bình đẳng như hư không.
Tự tâm vốn chẳng sinh,
Tính Không tròn lặng vậy.
Như chư Phật Bồ Tát,
Phát tâm bồ đề lớn,
Con nay cũng như thế,
Cho nên chí tâm lễ.

Kế đó tụng chân ngôn thọ bồ đề tâm giới: Ôm mao-ti-chi tua-mu-ta-pô na-yê-mi.

Văn sám hối dạy phát bồ đề tâm giới tối thượng thừa:

Đệ tử ABC quy mệnh mười phương tất cả chư Phật, chư đại Bồ Tát. Đại bồ đề tâm làm đại đạo sư. Có thể khiến con lìa các ác thú. Có thể chỉ người trời nhập đại Niết-bàn, vì vậy con nay chí tâm đảnh lễ. 

Đệ tử ABC, mười phương thế giới tất cả tối thắng thượng diệu hương hoa tràng phan lọng. Các thứ cúng dường phụng hiến tất cả chư Phật Bồ Tát. Chí tâm đảnh lễ. 

Đệ tử ABC, từ quá khứ vô thủy cho đến hôm nay, các thứ phiền não như tham sân si. Cùng các phiền não như phẫn nộ oán hận theo đó. Phiền loạn thân tâm. Rộng tạo tất cả thân nghiệp bất thiện. Sát đạo tà dâm, khẩu nghiệp bất thiện. Vọng ngôn ỷ ngữ ác khẩu hai lưỡi, ý nghiệp bất thiện. Tham sân tà kiến các thứ phiền não. Vô thủy liên tục triền miên nhiễm tâm này. Khiến thân khẩu ý tạo tội vô lượng. Hoặc giết cha mẹ. Giết A La Hán. Làm thân Phật chảy máu. Phá hòa hợp tăng. Phỉ báng Tam Bảo. Đánh trói chúng sinh. Phá trai phá giới. Uống rượu ăn thịt. Và ăn ngũ tân. Những tội như thế. Vô lượng vô biên. Không thể đếm biết. Con nay thành tâm phát lộ sám hối. Sám hối xong rồi. Sẽ không tiếp tục. Càng không dám tạo. Chỉ mong mười phương tất cả chư Phật đại Bồ Tát. Gia trì hộ niệm. Khiến con tiêu diệt các tội chướng.

Đệ tử ABC, từ nay cho đến khi ngồi đạo tràng bồ đề. Trong khoảng thời gian ấy quy y ba thân Như Lai vô thượng. Quy y phương quảng đại thừa pháp tạng. Quy y tất cả bất thoái Bồ Tát tăng. Quy y Phật rồi. Quy y pháp rồi. Quy y tăng rồi. Từ nay về sau. Không quy y thêm nhị thừa ngoại đạo. Chỉ nguyện mười phương tất cả chư Phật chứng biết. Con chí tâm đảnh lễ. Đệ tử ABC, từ nay cho đến khi ngồi đạo tràng bồ đề, trong khoảng thời gian ấy thề phát đại bồ đề tâm vô thượng.

Hữu tình vô biên thề nguyện độ
Phúc trí vô thượng thề nguyện tập
Pháp môn vô thượng thề nguyện học
Như Lai vô biên thề nguyện làm
Vô thượng bồ đề thề nguyện thành.

Nay đã phát tâm này. Lại nên xa lìa hai tướng ngã-pháp. Hiển bày bản giác chân như bình đẳng gương trí hiện tiền.

Được thiện xảo trí đầy đủ. Viên mãn tâm Phổ Hiền. Chỉ nguyện mười phương tất cả chư Phật chư đại Bồ Tát chứng biết chúng con. Chí tâm đảnh lễ.
Nam mô Đông phương A Súc Phật.
Nam mô Nam phương Bảo Sinh Phật.
Nam mô Tây phương A Di Đà Phật.
Nam mô Bắc phương Bất Không Thành Tựu Phật.
Nam mô Thanh Tịnh Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na Phật.
Nam mô Liên Sinh Thánh Tôn Kim Cương Thượng Sư.

Hồi hướng phổ lợi: (3 lần)
Kim cương con đây hạnh Phổ Hiền thù thắng
Vô biên thắng phúc đều hồi hướng
Nguyện cho hết thảy các chúng sinh chìm đắm
Mau đến cõi Phật Vô Lượng Quang.

Cát tường viên mãn.

**(Hết.)**

---

---
# File: sach-tam-linh/095-loi-vang-cua-lu-thang-ngan.md
# Title: 095. Lời vàng của Lư Thắng Ngạn
---

![image](/img/img_f12395033f5cd696e693677e1353ffaf.png)



## Lời vàng của Lư Thắng Ngạn


Văn tập số: 095
Xuất bản năm: 1992
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu


Gần đây, tôi đã đọc mấy cuốn sách của các danh nhân như cuốn "Tĩnh tư lục", "Cách ngôn", "Pháp ngữ khai thị",v.v… cảm thấy khi đọc hết sách của những danh nhân này, sau đó chọn lựa ra những tinh túy trong đó, tóm tắt ra những đạo lí uyên thâm, phân tích cặn kẽ, cố nhiên là chắt lọc những tư tưởng rõ ràng, nhưng hàng nghìn mỏm núi thi nhau khoe sắc, hàng vạn thung lũng thi nhau tạo dòng chảy, vì thế khó mà tránh khỏi việc có những điều không vừa ý giữa các bên. Tôi điều chỉnh lại trật tự và dung hợp cũng có một chút tiếc nuối vì không được “bộc lộ một cách tự nhiên”.
Vì thế, tôi cũng muốn viết một cuốn sách tương tự, phương thức sáng tác cuốn sách này hơi khác so với trước đây, tôi muốn “tùy hứng mà viết”, hoàn toàn tự nhiên bộc lộ. Tôi không muốn trong cuốn sách này thể hiện rằng mình là một Thánh hiền triết nhân, cũng không muốn tự phô trương là: “Lư Thắng Ngạn tôi vì một nhân duyên đại sự mà xuất hiện tại thế gian.”

Cuốn sách này không phải là thuyết pháp:
*Phật thuyết mọi pháp.
Để trị mọi tâm.
Nếu không có tâm.
Đâu có thuyết pháp.
*Cuốn sách này không phải là sách thuyết pháp, không phải là tài liệu giáo dục cơ bản, không nói chuyện chính tâm thành ý tu thân, hay những đạo lí lớn về trị quốc bình thiên hạ.
Mà là, tất cả những văn tự không mong cố ý lựa chọn một cách cẩn thận, tất cả mọi suy nghĩ không mong sinh ra lòng yêu ghét lẫn nhau, tôi chỉ từ tấm lòng chân chính của mình mà bộc lộ ra thôi.
Tôi xem tất cả.
Đều bình đẳng hết.

Tôi nghĩ đến một câu nói trong “Bảo Tạng Kinh”:
“Lời dạy không oán hận là Phật dạy. Lời dạy không tranh tụng là Phật dạy. Lời dạy không phỉ báng là Phật dạy.”
Tôi à! 
Sự rộng mở tuôn chảy từ trái tim này.
Mới là những lời vàng chân chính.

Những “Lời vàng chân chính - Lời vàng của Lư Thắng Ngạn” này có phải là độc đoán không, có phải là chân lí không, có phải là luôn luôn không đổi không, có phải là khuôn vàng thước ngọc không? Tôi nói, vũ trụ đều là vô số sự biến đổi, vũ trụ là vô thường, trên thế giới này không có thứ gì vĩnh hằng bất biến, nước chảy mây trôi, điện quang thạch lửa đều chỉ là sự kết hợp ngẫu nhiên mà thôi, ở đây chỉ có nhân quả và nhân duyên. Vì thế, “Lời vàng của Lư Thắng Ngạn” là biến đổi, rất dễ hiểu, không phải là độc đoán.

Trên phương diện Phật pháp, Lư Thắng Ngạn tôi là một tu hành giả thực địa. Có thể nói là nhất nhất tuân theo giáo lí mà phụng hành. Tôi đã viết ra những thành quả mà mình đã chứng đắc, những tư tưởng huyền diệu mà tôi đã chứng ngộ trong mỗi quá trình, không chịu ảnh hưởng của thế tục hoặc Thánh triết, viết ra một cách hoàn toàn tự nhiên, không phải là lời vàng mà cũng xem như là lời vàng.

Giả như bạn đọc xong cuốn sách này, có được một chút giác ngộ, thì đó là chuyện của chính bạn, không phải là chuyện của tôi. Giả như từ trong cuốn sách này bạn chứng nghiệm được đời người là khổ, là không, là vô ngã, là vô thường, quyết tâm quy y Phật hoặc xuất gia, thì đó cũng là chuyện của bạn, không phải chuyện của tôi.

Cuốn sách này không có những đáp án chính xác.
Cuốn sách này không có mục đích rõ ràng.
Cuốn sách này không nói đến những đạo lí lớn của cuộc đời.
Cuốn sách này không phải là thuyết pháp.
Cuốn sách này là “Lời vàng của Lư Thắng Ngạn”. 

Viết một bài thơ hiện đại, xem như là thay lời tựa:

*Mây và gió
Cũng xem như là không
Tự nhiên và thoải mái*

*Lư Thắng Ngạn nói những lời lảm nhảm
Vĩnh viễn bất kham
Tư tưởng ngao du biến hóa*

*Có ai có thể biết được điều gì
Lại có ai có thể hiểu được điều gì
Cuốn sách này*

*Cuốn sách này là gì
Dòng suối nhỏ lấp lánh
Thuần khiết
Hay là trầm mặc*

*Viết về cuộc đời
Viết về tâm
Viết về tự nhiên.*

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Sinh mạng


Người đọc được bài viết nhỏ này của tôi, có thể sẽ càng đọc càng không hiểu rõ, hay cũng có thể sẽ không đồng ý với quan điểm của tôi.
Tuy nhiên, tôi thật sự cho rằng:
“Căn bản không có sinh mạng.”
Trong quá khứ, sinh mạng của Lư Thắng Ngạn là không có. (Trước khi ra đời.)
Trong tương lai, sinh mạng của Lư Thắng Ngạn là không có. (Sau khi chết đi.)
Còn hiện tại, sinh mạng của Lư Thắng Ngạn sẽ đi về tương lai, cũng là không có. (Sẽ tiêu tan.)

Vì thế, tôi nói:
“Căn bản là không có sinh mạng.”
Bạn có quyền không tin tưởng những lời vàng của tôi, nhưng bất kể bạn tin hay không tin, bạn hãy thử nghĩ một chút mà xem, nó có đạo lí của nó. 
Có người nói: “Sinh mạng không tồn tại.”
Có người nói: “Sinh mạng là có ý nghĩa.”
Có người nói: “Sinh mạng là tình yêu đôi lứa.”
Tôi nói:
“Đều là nói nhảm.”

🌟

Duy Ma Cật Đại Sĩ chính là “Tôi”.
“Tôi” chính là Duy Ma Cật Đại Sĩ.
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
Vì thân như bong bóng, không thể tồn tại lâu; vì thân như huyễn, từ đảo điên mà thành; 
Vì thân như mộng, từ vọng kiến mà sinh ra; vì thân như ảnh, từ nghiệp duyên mà hóa hiện.

Tôi nói:
Sinh mạng hiện tại của tôi giống như thổi bong bóng xà phòng, căn bản là không tồn tại.
Sinh mạng hiện tại của tôi giống như một bộ phim, không có cái gì không phải là do máy chiếu phim phóng ra, đầy ắp huyễn ảnh. Sinh mạng hiện tại của tôi là một giấc mộng, tỉnh mộng rồi thì mộng chẳng còn. Sinh mạng hiện tại của tôi là bóng hình, tất cả hành vi chỉ là do nghiệp duyên quả báo mà sinh ra, nghiệp duyên không còn thì tất cả cũng không còn.
Không có sinh mạng.
Thật sự không có sinh mạng.

Phật Thích Ca Mâu Ni, Duy Ma Cật Đại Sĩ, đều lĩnh ngộ: “Căn bản không có sinh mạng.”
Ở nước Mĩ, tôi nhai kẹo cao su trong miệng, thỉnh thoảng cũng thổi bong bóng cho vui, điều này giống như khai ngộ của Duy Ma Cật Đại Sĩ.
Có người hỏi tôi:
“Lư Thắng Ngạn nói căn bản không có sinh mạng, vậy Lư Thắng Ngạn ở nhân gian để làm cái gì?”
“Tshit-thô.” (Đài ngữ)
“Tshit-thô là gì?”
“Chơi.”
Tôi nói: “Nói theo Phật pháp thì là trò chơi thần thông.”

🌟

Khai ngộ của tôi hơi khác với khai ngộ của Thánh hiền triết nhân:
Lư Thắng Ngạn từ lâu đã chết thẳng cẳng rồi, ông ta từ lâu đã là một người không có sinh mạng (cái xác không hồn), vừa khùng điên vừa kiêu ngạo, cuồng điên kiêu ngạo không nhất định đã là điều xấu.
Tôi không đau buồn.
Tôi không lo lắng.
Tôi chẳng sợ hãi, cũng rất thờ ơ.
Nói thật lòng, cái này chính là “thành tựu của Lư Thắng Ngạn”, từng phút từng giây của tôi đều đang “tshit-thô” (chơi), rất vui vẻ lại còn đầy thích thú.

Tôi không có sinh mạng.
Tôi xem chúng sinh cũng không có sinh mạng.
Chỉ có con người như vậy mới là người khai ngộ, mới là người siêu việt, mới là người vui vẻ, hoan hỉ, tung tăng.
Từ lâu đã phá vỡ cái ngã tướng vi tế nhất về “thấp thoáng mập mờ, bên trong có vật” [Trích dẫn câu nói của Lão Tử trong Đạo Đức Kinh: duy hoảng duy hốt, kì trung hữu vật.]
Một chân đá qua một bên cái “ý nghĩa của đời người”.
Chẳng nghĩ đến “sinh mạng” nữa, đá nó qua một bên.

Phật Thích Ca Mâu Ni dưới gốc cây bồ đề thành tựu Chính Đẳng Chính Giác, tôi ở Linh Tiên Các tại Seattle, bang Washington nước Mĩ thành tựu Chính Đẳng Chính Giác. (Chứng lượng ngang nhau.)
Sinh mạng xuyên suốt từ vô thủy đến nay. Chân như tự hiển lộ, đại trí viên mãn, thực chứng vô tướng, đắc quả vị vô thượng, A nậu đa la tam miểu tam bồ đề.
Cái mà tôi khai ngộ chính là:
Vô ngã. (Sinh mạng của tôi không tồn tại.)
Vô chúng sinh. (Sinh mạng của chúng sinh không tồn tại.)

🌟

Có một người gặp tai nạn giao thông nghiêm trọng đã thoát chết trong chân tơ kẽ tóc. Sau sự việc ấy, anh nói với tôi: “Ai có thể nói cho tôi biết bản thân thật sự của sinh mạng, ai là bản thân mình thật sự, bởi vì vào cái thời khắc chỉ trong một sát-na đó, vốn không thể mong cầu sinh mạng, có nghĩa là không thể tìm được nguồn gốc thật sự của sinh mạng.”
Có một nữ sinh học cấp ba nói: “Vì sao tôi mắc bệnh ung thư xương, vì sao? Vì sao? Vì sao mạng sống của tôi vĩnh viễn ở trong sự sợ hãi?”
Một người điên, sinh mạng của anh ta lại càng là một đáp án đầy hoang mang.

Tôi từng vào lúc nửa đêm đến bệnh viện Dương Minh ở Đài Bắc, đi thăm một “người thực vật”, tôi nhận ra anh ta đã hoàn toàn bất lực đối với sinh mạng của chính mình, sinh mạng ở đâu? Ai có thể nói cho anh ta biết?
Xin hãy nói với những người này!
Cái giá của sinh mạng,
Đáng giá bao nhiêu?

“Chép thơ tâm linh” của Trần Bỉnh Hoành có một đoạn viết như sau:
*Đúng vậy, sinh mạng đầy ắp sự hoang mang
Niên đại mà họ đang sống
Họ tự gọi là cuối thời đại nạn
Sinh mạng đang chờ đợi sự hủy diệt trong đại nạn
Hoặc là
Sinh mạng đang chờ đợi sự thức tỉnh trong đại nạn
Con người đối với những nhớ nhung mong đợi của mình
Xa xăm vô định*

*Đối với bản thân ta
Và cả những sinh mạng cùng thời đại với ta
Ta có thể nói gì đây
Bản thân ta thuộc về sinh mạng của chính ta
Tin rằng chẳng còn sinh mạng nữa
Cái giá phải trả cho sự tỉnh táo, sáng suốt như vậy
Đối với sự tồn tại của tất cả sinh mạng cùng thời đại
Bất lực bó tay.*

🌟

Bài thơ này của Trần Bỉnh Hoành khiến tôi xúc động sâu sắc - đầy ắp cảm giác bất lực đối với sinh mạng, đầy ắp đau thương về cái chết.
Một câu quan trọng nhất là:
“*Tin rằng chẳng còn sinh mạng nữa.”
*Trong thơ của thi nhân thường ưa thích viết thế này: “Sinh mạng là một khúc hát lang thang.” Trước kia tôi cũng viết như vậy! Thời kì đầu tôi cũng là một thi nhân.
Tuy nhiên, điều này là đành chịu, mà cũng là bất lực, là bất an, mà cũng là mất mát.

🌟

Có một bài kệ rất hay:
*Nếu chấp vào đời này, chẳng phải người tu hành.
Nếu chấp vào thế gian, chẳng có tâm xuất li.
Nếu chấp vào chính mình, không có tâm bồ đề.
Còn chấp vào sinh khởi, đã mất đi chính kiến.*


Bây giờ tôi bổ sung thêm một câu, lời vàng của Lư Thắng Ngạn:
“Nếu chấp vào sinh mạng, vĩnh viễn không khai ngộ.”

Tôi thường nghĩ, ở trong vũ trụ này, có hàng nghìn hàng triệu hệ mặt trời, cũng có hàng nghìn hàng triệu ngôi sao, và trái đất chỉ là một hạt bụi nhỏ li ti trong số đó, và nhân loại sống trong hạt bụi nhỏ li ti này, thật sự là nhỏ bé không đáng kể gì.
Hơn nữa, vào thời đại vũ trụ hỗn độn, vào lúc căn bản không có nhân loại, trong cái thời đại ấy, cái gì là sinh mạng?
Không có cái gọi là thành, trụ, hoại, không.

Sinh mạng rốt cục ở chỗ nào?
Tôi thường xuyên ở trong thiền định tam muội suy ngẫm về vấn đề này, sinh mạng rốt cục ở chỗ nào? Cuối cùng tôi đã hiểu ra, cảnh giới cao nhất của “thường lạc ngã tịnh” chân chính, cảnh giới hoàn toàn không có phiền não, không có Phật cũng không có ma, xin chú ý “không có Phật cũng không có ma”, cảnh giới này, “ta” không tồn tại, “chúng sinh” cũng không tồn tại.

Tôi nhận ra giá trị của tư duy thiền định của tôi là - không có công đức nào có thể nói, đó là giá trị chân chính.
Tôi nhận ra, thế nhân đều bị lừa gạt.
Trên thế giới này, người tỉnh ngộ thật sự chỉ có một người, những người khác đều đang giả vờ sống.


### 02. Sướng khổ


Phật Thích Ca Mâu Ni nói, sinh ra là đau khổ, già yếu là đau khổ, sinh bệnh là đau khổ, chết là đau khổ, cả một cuộc đời chẳng qua chỉ là một chuỗi những cái khổ (khổ, không, vô thường).

Tám cái khổ của Phật Thích Ca Mâu Ni như sau:

1. Sinh khổ - ở trong bào thai giống như ở trong nhà tù, ra khỏi bào thai giống như chui qua khe hở, nên là khổ vì sinh ra.

1. Lão khổ - mắt mờ tai điếc, thân thể hư nhược, là khổ vì tuổi già.

1. Bệnh khổ - tứ đại không điều hòa, xanh xao vàng vọt, là khổ vì bệnh tật.

1. Tử khổ - đau bệnh mà chết, mất mạng vì nước vì lửa, là khổ vì chết.

1. Ái biệt li khổ - cốt nhục phân li, phải chia xa người mình rất yêu, nhớ thương mong ngóng, là khổ vì yêu mà phải xa cách.

1. Oán tăng hội khổ - không ưa thích nhau, gặp mặt kẻ thù, là khổ vì oán ghét.

1. Cầu bất đắc khổ - mưu cầu danh lợi ái lạc bất thành, là khổ vì cầu mà không được.

1. Ngũ uẩn xí thịnh khổ - tác dụng của ngũ uẩn hừng hực mãnh liệt, che đậy chân tính, vì thế sau khi chết đi lại phải tái sinh, là khổ vì ngũ uẩn rực cháy.

Điều tôi muốn nói với mọi người là, ngay từ rất sớm, tôi đã cảm thấy điều Phật Đà nói là hoàn toàn chính xác, đời người chẳng qua chỉ là một chuỗi những cái khổ.
Tuy nhiên, lời vàng của Lư Thắng Ngạn bây giờ là: “Đời người là một chuỗi sướng vui.”
Sướng vui này đến từ sự khai ngộ siêu việt đó!

🌟

“Đời người là một chuỗi sướng vui” là như thế này — Sinh khổ (tôi chẳng có cảm giác gì cả), lão khổ (vẫn chưa đến lúc già), bệnh khổ (khi có bệnh thì càng vui vẻ), tử khổ (vẫn chưa đến lúc chết, nên không bận tâm), ái biệt li khổ (nhớ nhung thương nhớ, tương tư cũng là niềm vui), oán tăng hội khổ (tôi đã không còn tâm yêu ghét), cầu bất đắc khổ (tôi đã không còn mong cầu gì cả), ngũ uẩn xí thịnh khổ (tôi đã không còn ngũ uẩn, vượt qua tam giới rồi).
Bây giờ, tám cái khổ này đều không thể nào ảnh hưởng đến tôi. Ở tôi đây chỉ có niềm vui sướng chí cao vô thượng. 
Tôi nhận ra “sướng và khổ” hoàn toàn là sự biến hóa của tự tâm, đó là sự tự do cảm nhận của tâm linh, tôi đã đạt đến mức độ chuyển hóa mọi cái khổ thành niềm vui sướng rồi.

Tôi nói:
Khổ là nhân của sướng.
Khổ là thử thách, là chúc phúc.
Khổ là niềm vui sướng chí cao vô thượng.
Tôi của hiện tại đã vượt lên trên mọi đau khổ, dòng chảy pháp vui sướng của tôi kéo dài liên tục, tôi là Phật Đà đương đại, Phật Đà đương đại chính là Lư Thắng Ngạn.

🌟

Có người trông thấy tôi ca hát.
“Sao Lư Thắng Ngạn không có khổ hạnh, sao có thể ca hát như vậy chứ?”
Có người thấy tôi khiêu vũ.
“Sao Lư Thắng Ngạn không có khổ hạnh, sao có thể khiêu vũ như vậy chứ?”
Họ nói: “Lư Thắng Ngạn là đồ điên.”

Đúng vậy, Lư Thắng Ngạn tôi là đồ điên, có đức hạnh điên khùng, tôi hoàn toàn biểu hiện sự tự do tự tại của tôi, bản tính nguyên thủy của tôi, tôi hoàn toàn vứt bỏ mọi sự giả dối của mình.
Tôi thừa nhận tôi không tu khổ hạnh, cũng thừa nhận tôi là kẻ điên.
Bởi vì sự tu hành của tôi từ lâu đã vượt qua mọi đau khổ, khổ hạnh có là cái gì chứ!
Tôi đã biến thành một người điên cuồng, sự điên cuồng này là “thẳng thắn”, tràn đầy khoái lạc sướng vui, tôi là kẻ điên có chân đạo. Bởi vì là “kẻ điên có chân đạo”, cho nên tôi bị chế giễu, bị phỉ báng, bị sỉ nhục, bị đánh đổ. Tôi là kẻ điên, cho nên tất cả với tôi đều không hề gì.

“Lư Thắng Ngạn vì sao không ăn chay?”
Ha ha! “Văn Thù Sư Lợi Vấn Kinh” nói thế này:
“Phật bảo Văn Thù, với tâm không từ bi chúng sinh, ôm lòng giết hại, vì thế ngừng ăn thịt. Nếu không ôm lòng làm hại, có tâm từ bi, vì giáo hóa tất cả chúng sinh, thì không có tội.”

Tôi nói với mọi người một câu:
Cái có ở giữa tâm và tâm, bản tính không tịch.
Không thể thấy, không thể nghe, tâm như huyễn.
Nhưng chúng sinh có độ thiên lệch, vì thế khởi lên tư tưởng mà phải chịu sướng khổ.

“Tâm Địa Quán Kinh”:
Tôi (Lư Thắng Ngạn) vui vẻ chơi đùa, không làm gì cả, và có mặt ở khắp nơi, tôi có thể sống không gò bó vào hình thức, cũng có nghĩa là không có hình thức không gian lớn nhỏ sướng khổ, bản tính của tôi là vĩnh hằng bất biến, thiên thượng địa hạ duy ngã độc tôn!
Con người trên đời này không thể nào khiến tôi đau khổ thảm thương, hàng nghìn hàng vạn con người đều nói Lư Thắng Ngạn điên rồi.
Tôi nói: “Chỉ có người điên mới có một chuỗi sướng vui thôi!”

🌟

Tôi cho rằng Bồ Tát cũng có lúc đau khổ, trong kinh Lăng Nghiêm nói:
Mười hoàn cảnh khơi dậy lòng từ bi vô hạn và sự đau khổ của Bồ Tát đối với chúng sinh hữu tình:

1. Khi nhìn thấy chúng sinh hữu tình không nơi nương tự, lang thang không có nơi quay về tá túc, khổ luân không dừng, trong lòng sẽ buồn đau thương xót.

1. Nhìn thấy chúng sinh hữu tình theo đuổi ngoại đạo tà ác, không biết đi theo chính pháp, trong lòng buồn đau thương xót.

1. Nhìn thấy chúng sinh hữu tình đánh mất thiên tính lương thiện, thấy việc làm tốt nhưng trái lại lại cực lực chửi rủa, trong lòng buồn đau thương xót.

1. Nhìn thấy chúng sinh hữu tình cả ngày sống trong mơ mơ màng màng, mưu cầu danh lợi, trong lòng buồn đau thương xót.

1. Nhìn thấy chúng sinh hữu tình chuyên môn làm những nghề đen tối, trong lòng buồn đau thương xót.

1. Nhìn thấy chúng sinh hữu tình bị trói buộc trong những dục niệm, không đạt được giải thoát, trong lòng buồn đau thương xót.

1. Nhìn thấy chúng sinh hữu tình luân hồi trong biển sinh tử, không thoát ra được, trong lòng buồn đau thương xót.

1. Nhìn thấy chúng sinh hữu tình thường đau khổ vì bệnh tật, trằn trọc rên rỉ, trong lòng buồn đau thương xót.

1. Nhìn thấy chúng sinh hữu tình tiếp xúc với Phật pháp nhưng lại không trân trọng, trong lòng buồn đau thương xót.

1. Nhìn thấy chúng sinh hữu tình đánh mất sự hộ trì của Phật pháp, trầm luân trong u tối, trong lòng buồn đau thương xót.

Kinh Lăng Nghiêm nói, Bồ Tát thường xuyên chịu khổ thay chúng sinh, không chỉ chịu khổ mà còn không chạy trốn, không sợ hãi, không thối lùi tâm từ bi, không chán ngán. 
Thì ra Bồ Tát cũng có đau khổ.
Bồ Tát là ráng sức chuyên cần và không xả bỏ cái khổ.

🌟

Tuy nhiên, mọi người hãy ngẫm nghĩ kĩ lại mà xem. 
Những Bồ Tát ở địa rất sâu thì luôn luôn trong mọi niệm đều dùng tâm vô chấp để làm tất cả các hạnh Bồ Tát. 
Thế nào là tâm vô chấp?
Tâm vô chấp chính là không vướng chút trở ngại nào.
Thấy cảnh giới trang nghiêm đẹp đẽ cũng không nảy sinh ý nghĩ tham lam.
Thấy không gian ô nhiễm bất tịnh cũng không có tâm ghét bỏ.
Đó chính là như kinh Kim Cang nói: “Nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy.”

Vì thế, mọi hành vi của Bồ Tát là tâm vô chấp, tâm vô vi. Nếu Bồ Tát đối với sự vật có sự bám chấp ở một mức độ nào đó thì đã không còn là Bồ Tát nữa.
Bồ Tát đã xuất li biển khổ, đạt đến cảnh giới giác ngộ.
Mặc dù Bồ Tát đau buồn thương xót chúng sinh hữu tình, nhưng, trên thực tế, Bồ Tát thị hiện mọi tác nghiệp thế gian, giáo hóa chúng sinh không biết mệt mỏi, tâm của ngài “tùy lạc” mà hiện thân, tất cả hành vi việc làm đều không nhiễm chấp, hoặc hiện phàm phu, hoặc hiện Thánh nhân, hoặc hiện sinh tử, hoặc hiện niết bàn để mà độ chúng sinh.

🌟

Đối với đoạn văn ở trên, trong quá khứ tôi thường nói như thế này:
Chúng ta nghiêm túc và nỗ lực đi hoàn thành những hành vi Bồ Tát, nhưng được hay mất đều không đặt trong tâm, công tác độ chúng sinh cũng như thế, tất cả nỗ lực siêng năng không lơ là, được cũng tốt, mất cũng tốt, thành hay không thành là ở Trời.
Sống với thái độ như vậy thì không có đau khổ phiền não.
Tùy lạc.
Không khổ.
Tâm vô chấp.
Tâm vô vi.
Khổ tuyệt đối không phải là linh tính.
Sướng cũng tuyệt đối không phải là vật chất.

🌟

Tôi (Lư Thắng Ngạn) viết một bài thơ hiện đại:

*Nếu như tôi đi rồi
Tôi sẽ đi đến địa ngục
Tôi nghĩ chắc chắn có Phật Thích Ca Mâu Ni ở đó
Bởi vì nhất định Đức Phật phải xuống địa ngục
Ở đó mới có chúng sinh hữu tình tụ tập*

*Ở trong địa ngục
Chắc chắn có Quan Thế Âm Bồ Tát đại bi
Chắc chắn có Địa Tạng Vương Bồ Tát đại nguyện
Còn có tôi
Lư Thắng Ngạn đi cùng*

*Mọi người cho rằng Tây phương Cực Lạc thế giới mới là cực sướng
Mọi người cho rằng địa ngục chắc chắn là cực khổ
Sai rồi!
Đúng ra ngược lại
Thánh nhân chân chính đều ở trong địa ngục.*


### 03. Tình yêu


Rất nhiều thư gửi đến chỗ tôi. Mở thư ra đọc, tôi thấy họ đều có vấn đề về tình yêu, họ hỏi tôi, tôi cũng đã trở thành chuyên gia tình yêu rồi.
Những lá thư này đều kể chuyện hợp hoặc tan, mỗi một lá thư đều thổ lộ ra những tiếng lòng đầy cảm động, mỗi một tờ thư, dù chỉ vài dòng chữ, cũng đều chứa đựng trong đó những tình cảm khó tả.
Khắc cốt ghi tâm.
Tình yêu vĩ đại.
Vốn là chỗ dựa và niềm thương nhớ của thế nhân!

🌟

Có một kiểu tình yêu có thể khiến người ta an tâm mà ngủ, có thể khiến người ta sinh ra niềm hứng thú đối với mỗi sự vật, dường như bất kì một sự việc gì cũng đều có liên quan đến tình yêu, cái kiểu mọi thứ đều dễ chịu một cách đầy kinh ngạc, đều cảm thấy vô cùng tốt đẹp, như mùa xuân đã đến rồi.
Cũng có một kiểu tình yêu có thể khiến người ta giống như mắc bệnh nặng, trái tim và ruột gan đều bị băng bó chồng chất, ban đêm thường xuyên không thể ngủ say, con người cũng trở nên lười biếng, sức sáng tạo, thể lực, sức khỏe đều suy giảm, làm việc và nghỉ ngơi đều lộn xộn, tất cả đều khó tả, có khi khóc, có khi cười, đó là tương tư.

🌟

Bản thân tình yêu không có định nghĩa nào cả, muốn tôi viết ra những câu châm ngôn về tình yêu, có thể nói là căn bản chẳng biết đặt bút viết ở đâu. Tóm lại, tình yêu hoàn toàn là ngôn ngữ chân thực của tâm hồn, cho dù cả nam cả nữ đều chưa trưởng thành chín chắn nhưng vẫn là tình yêu.
Tình yêu có tăng trưởng và suy thoái.
Tình yêu cũng có phai nhạt lụi tàn.
Tôi nghĩ, tình yêu không có một quỹ đạo thường hằng nào để mà tìm kiếm. Nhưng, luôn luôn khiến người ta sáng sớm tỉnh dậy đã bắt đầu ngẩn ngơ.
Tình yêu là sự du dương của âm nhạc nội tại, ở trong sự hài hòa tâm hồn rất sâu, rất sâu.

Có người nói:
“Tình yêu giống như cây không thể rời xa đất, rời xa đất thì sẽ chết.”
Có người nói:
“Tình yêu giống như cá không thể rời xa nước, rời xa nước thì sẽ chết.”
Có người nói:
“Nếu con người không có tình yêu thì sẽ không thể sống nổi.”

Nhân loại có tình yêu đôi lứa.
Một niềm vui sướng lúc ẩn lúc hiện khởi lên trong nội tâm của hai con người. Tình yêu đơn phương sẽ đau khổ, sẽ chết.
Tình yêu giữa hai người sẽ trưởng thành, sẽ thỏa mãn, chăm sóc và bồi dưỡng lẫn nhau.

🌟

Tôi (Lư Thắng Ngạn) khi còn trẻ đầy ắp những tìm tòi và hiếu kì về tình yêu, tình cảm thì như tấm lòng son. 
Tôi rất ngây thơ, cảnh ngộ “khắc cốt ghi tâm” từng được tôi viết trong những bài thơ thuở thiếu niên.
Xuân đến hóa thành từng áng văn thơ.
Giống như rượu thơm lan đi khắp nơi, tình yêu khiến con người điên cuồng.

Tôi yêu thích hai cuốn sách:
“Người đàn bà trong tháp”
“Bắc Cực phong tình họa”
Hai cuốn sách này đều nhấn mạnh: “Tình yêu thật ra không có tuổi già, cái già đi chỉ là thời gian.”

🌟

Chính vì “hồng trần có tình yêu”, cho nên suối nguồn cảm hứng cho tôi sáng tác không bao giờ cạn, trong văn thơ của tôi thật ra cũng có quá nhiều tình yêu.
Tình cảm của tôi hóa thành con bướm tung tăng, bay lượn rất nhẹ nhàng.
Tôi thừa nhận, tình yêu từng khiến tôi say đắm, khiến cuộc đời của tôi hân hoan múa vui, khiến những đóa hoa trong trái tim tôi bung nở, trở thành những áng thơ, những khúc ca, một sự tung tăng vi diệu.
Sung sướng hát ca.
Cảm động rơi nước mắt.
Tất cả đều nằm trong tình yêu.

Thật ra chỉ cần là con người, ở nơi rất sâu trong tim mỗi người đều nên gieo trồng một hạt thóc tình yêu. 
Hạt thóc màu vàng, tràn trề sinh khí.
Có không khí tự do.
Có kết quả.
Có tiếng chim kêu.
Thế giới này quả thực xinh đẹp biết bao!

🌟

Tình yêu khiến con người điên cuồng, nhưng tôi cảm thấy cũng cần có một chút lí trí để kiềm chế nó.
Cái lí trí này là: tình yêu khiến đôi bên đều cảm thấy rất vui sướng, khiến cả hai đều cảm thấy vô cùng thỏa mãn, cùng đem đến cho cả hai những ân từ rất lớn.
Thế nhưng, nếu không phải như vậy. Ví dụ như, ngược lại, tình yêu khiến cho cả hai đau khổ buồn bã, âu sầu không vui vẻ, khiến việc học hành bị xao nhãng, sự nghiệp hoàn toàn không đếm xỉa, hai người mãi mãi chẳng cảm thấy thỏa mãn, đã sa đọa đến mức dằn vặt lẫn nhau, tình yêu kiểu này thì đã biến chất rồi.

Tình yêu tốt nhất là:
Tâm tình trở nên nhẹ nhõm.
Niềm vui sướng là đôi cánh tung tăng.
Vui mừng ca hát.
Hân hoan làm việc.
Có thể chạm đến thế giới nội tâm sâu xa nhất, cùng biết được những bí mật sinh ra trong nội tâm của người kia.

🌟

Tôi nghĩ tình yêu là một viên ngọc trai vô cùng quý giá mà dễ vỡ, nó cần phải được chăm sóc, lúc nào cũng phải lau sạch, lúc nào cũng phải nâng niu, cẩn thận từng li từng tí, chỉ có như vậy mới có thể gìn giữ được mãi mãi.
“Nó.”
“Tình yêu” thật sự rất bất lực.
Tỉ lệ sống sót của tình yêu cũng không cao.
Khi tình yêu đến, có một số người rất sợ hãi, bởi vì họ sợ mình mãi mãi là người chịu khổ, thà bỏ chạy vì sợ rằng phải chịu khổ một lần nữa.
Cái khổ nhất trên đời là gì, khốn đốn vì tình là khổ nhất.
Giả như đôi bên không còn yêu thương nhau nữa, và tất cả những độc tố của sự chiếm hữu, đố kị, hoài nghi đều ồ ạt tuôn ra, tình yêu sẽ bị hủy hoại.

🌟

Tình yêu chính đáng phải tránh xa tà dâm.
Tà dâm là một trong năm giới trọng lớn của nhà Phật. Trừ người vợ mình ra, tất cả những hành vi đồi bại bất bình thường về tình dục, cũng như không đúng lúc, không đúng người, không đúng địa điểm, đều thuộc phạm vi của tà dâm.

Trong “Trí Độ Luận” có nhắc đến Phật Thích Ca Mâu Ni nói về tà dâm có mười tội:
Thứ nhất, vợ hoặc chồng mình sẽ gặp điều nguy hại.
Thứ hai, vợ chồng không hòa hợp, hay cãi cọ nhau.
Thứ ba, các pháp bất thiện tăng lên từng ngày, pháp tốt giảm dần theo từng ngày.
Thứ tư, không bảo vệ thân mình khiến vợ góa con côi.
Thứ năm, tài sản hao mòn dần mỗi ngày.
Thứ sáu, có nhiều chuyện xấu xa khiến người đời nghi ngờ.
Thứ bảy, người thân họ hàng đều biết, vì thế không ưa.
Thứ tám, bị oán giận, trồng thêm hạt giống nghiệp do nghiệp.
Thứ chín, khi chết vào địa ngục.
Thứ mười, kiếp sau làm người, nữ sẽ bị chồng và những người phụ nữ khác của anh ta lợi dụng, nam sẽ gặp phải người vợ không đoan chính.

Phật Thích Ca Mâu Ni nói: “Hỡi con người! Phải mau mau đoạn tuyệt cái tâm tà dâm ấy, vợ chồng là đạo luân thường, đối với những người phụ nữ khác không được phát sinh tình cảm riêng.”

“Nhật Minh Bồ Tát Kinh” nói:
“Sắc dục là gông cùm của thế gian, phàm phu một khi đã yêu thì không thể tự thoát ra được. Sắc dục là cái họa lớn trên đời, phàm phu khốn khổ, mãi đến khi chết cũng không tránh được. Sắc dục là tại họa của thế gian, phàm phu gặp phải, tất cả đều chịu nguy khốn. Hành giả Phật pháp đã buông bỏ được rồi mà vẫn còn thương nhớ, giống như ra khỏi tù lại muốn vào ngục, cũng giống như đã ốm rồi vẫn còn muốn mắc bệnh. Do đó, những người khôn ngoan chỉ là những kẻ điên rồ.”

Tình yêu khác với tà dâm và sắc dục:
Tình yêu - vui sướng, an tịnh, nội tâm ôn hòa. (nội tại)
Sắc dục - ham muốn thể xác bên ngoài. (ngoại tại)
Tà dâm - không hài hòa, hỗn độn, không sáng suốt.

🌟

Viết một bài thơ tình vậy!

*Anh muốn ngắm em
Ngắm em thật kĩ càng
Ngắm em đầy thoải mái
Và em cũng như thế.
Em nói: “Em cũng vậy.”*

*
Đi bên em trong công viên nhỏ
Ngắm nhìn làng mạc và hồ nước
Hồ nước trong lấp lánh
Như đôi mắt của em
Thế giới này quá đỗi thần kì
Tất cả đều trở nên xinh đẹp vô cùng.*


### 04. Vô thường


Tôi phát hiện ra, dường như mỗi con người đều chịu sự lừa gạt của “vô thường”. 
Đúng lúc đang vui mừng thì có tin tức tồi tệ nhất ập đến.
Đang lúc bình yên nhất thì họa lớn long trời lở đất giáng xuống.
Đang lúc êm đềm nhất thì bỗng dưng có điềm xấu.
Đang ngây ngất sung sướng thì hóa thành nỗi bi ai...

Bởi hiểu rõ cái đạo lí “thế sự vô thường” này, có một số người bị mắc chứng bệnh ám ảnh sợ hãi một cách đáng kinh ngạc, ai mắc phải căn bệnh này đều lo lắng và sợ hãi. Cảm giác của họ là “không hề có cảm giác an toàn”, họ tự nhiên để lộ ra những biểu hiện tai họa có thể ập đến bất kì lúc nào, họ không có cách nào trấn áp được cái sự vô thường chết người ấy. 
Chúng ta đi bơi, họ sợ chết đuối.
Chúng ta đi du lịch ở trong khách sạn, họ sợ gặp phải hỏa hoạn thiêu chết.
Chúng ta đi máy bay, họ sợ máy bay rơi mà chết.
Lái xe đi ra ngoài, họ sợ bị đâm chết.

Trên thế giới này, cái chết bất cứ lúc nào cũng có thể vẫy tay với bạn, một mình bạn đến với thế giới này, một mình tồn tại, lúc ra đi cũng một mình, sự cô độc này thật lạnh lẽo quạnh hiu. Cái cảm giác bất kì lúc nào này dựa trên kinh nghiệm và sự thấu hiểu về “vô thường đến rất nhanh”. 

🌟

Phật Thích Ca Mâu Ni nói với đệ tử, quá khứ Chư Phật chỉ nói nửa câu kệ, kệ rằng:
*Chư hành vô thường, là pháp sinh diệt.
Sinh diệt đã diệt, tịch diệt là vui.*

Trong kinh Niết Bàn có nói:
*Mọi thứ trên thế gian, có sinh đều có tử
Thọ mạng dù thênh thang, tất sẽ có lúc hết.
Hưng thịnh tất sẽ suy, gặp gỡ rồi li biệt.
Tráng niên chẳng được lâu, bệnh tật sẽ xâm hại
Khổ luân không bờ bến, lưu chuyển chẳng nghỉ ngơi
Tam giới đều vô thường, tài sản có gì vui.*

Đây là bài kệ vô thường, tôi từng ngẫm nghĩ về bài kệ này rất lâu, đây là chân lí đó!
Đã từng...
Người tôi yêu mến nhất, rời bỏ tôi mà đi. (gặp gỡ rồi li biệt)
Vào lúc tôi khỏe mạnh nhất, thì mắc bệnh nặng. (bệnh tật sẽ xâm hại)
Tôi lái chiếc xe tốt nhất, gặp phải tai nạn lớn. (tài sản có gì vui)
Đây là cái gọi là “ưu buồn khổ não”.
Đây chính là chân đế của vô thường.

🌟

Dần dần, dần dần nghĩ hiểu được vô thường lưu chuyển không ngơi nghỉ, vô thường đi cùng với nhân duyên quả báo.
“Vô thường là chính mình chịu trách nhiệm với bản tính của chính mình.” Đây là điều mà tôi (Lư Thắng Ngạn) đã nghĩ rất lâu, nghĩ ra được lời vàng này.
Mặc dù vô thường biến huyễn, nhưng kì thực là dựa vào vận mệnh của bạn mà đến.
Người ta tôn kính bạn là vô thường.
Người ta phỉ báng bạn cũng là vô thường.
Bạn rất sáng suốt là vô thường.
Bạn rất mê lú cũng là vô thường.
Con người bình thường không có cách nào thoát khỏi sự trói buộc của vô thường, không cách nào thay đổi được vận mệnh lúc thì tươi sáng, lúc thì ảm đạm.
Thật ra không cần phản đối vô thường, bởi vì cho dù phản đối thì cũng chẳng có tác dụng gì lớn.
Tôi nghĩ, điều duy nhất chúng ta cần chú ý đến là, trong sự “chư hành vô thường”, phải chăng chúng ta hãy gìn giữ trái tim chân thành thuần khiết, “chân tâm” này sẽ là bản tính duy nhất còn sót lại. Thứ thật sự có giá trị chính là bảo vệ được “Phật tâm”, còn những cái khác thì cứ để cho chúng “chư hành vô thường” đi.

🌟

Tôi viết một bài “Thơ vô thường”:

*Vô thường đưa đến sợ hãi
Quá nhiều tư tưởng diệt vong
Ngẫm nghĩ vận mệnh của mình
Quả nhiên nổi trôi biến hóa*

*Không cần phải dự doán
Ta sinh ra đã trù định chẳng lành
Chẳng cần suy nghĩ tìm tòi
Năm nào ta sẽ chết đi
Rốt cục ta đang tìm kiếm chân lí gì
Ôi chẳng cần tìm nữa
Chân lí chính là “chư hành vô thường”.*

🌟

Trong cuộc đời này của tôi (Liên Sinh Hoạt Phật), có nhiều lần “cái chết vô thường” ập đến, sự sống và cái chết treo trên một lằn ranh mỏng manh, và đây là những bằng chứng về sự vô thường một cách chóng vánh.
Lần đầu tiên, xe đạp của tôi đã tông vào bánh trước của một chiếc xe jeep và người bị hất văng ra.
Lần thứ hai, tôi đang thao tác một chiếc máy tiện trong một nhà máy máy cơ khí, vừa quay con dao, áo trong áo ngoài đều bị xé rách, và suýt chút nữa tôi cũng bị rạch vào bụng mà chết.
Lần thứ ba, để rút ngắn quãng đường, tôi chui qua gầm tàu hỏa, tàu hỏa bất ngờ chuyển động, suýt chút nữa tôi bị xe lửa cán chết.
Lần gần đây nhất, trong một vụ tai nạn ô tô lớn, xe của tôi nát bét, nhưng người không bị thương tí nào, trong vụ tai nạn ô tô nghiêm trọng này, tôi đã “phá tam quan” rồi! [Phá tam quan là danh từ chuyên môn của Thiền tông, cũng là một quá trình tu hành chứng ngộ, phân thành ba thứ tự: sơ quan, trùng quan, sinh tử lao quan.]

Trước tiên, chúng ta hãy đọc lá thư mà Liên Hoa Thục Nghi viết cho tôi:

*Xin Sư Tôn từ bi soi xét. 
Chiều nay, hai đệ tử chúng con đã đến garage để xem xét tình trạng hư hỏng của chiếc xe Rolls-Royce của Sư Tôn, vừa trông thấy nó thì ai nấy đều giật mình sửng sốt, mượn lời Sư Tôn đã nói trong buổi khai thị tuần trước: “Thấy núi chẳng phải núi, thấy nước chẳng phải nước” để mà đùa vui một chút, chiếc xe đó quả thật là: “Thấy xe chẳng giống xe.” 
Buổi chiều cái hôm xảy ra tai nạn, Sư Tôn vẫn luôn biểu hiện cười nói thoải mái, khiến mọi người cho rằng chẳng qua chỉ là một vụ tai nạn nhỏ mà thôi, kết quả là, xét từ mức độ hư hỏng của chiếc xe thì vụ tai nạn thực sự rất nghiêm trọng. Nếu không nhờ kết cấu xe của Sư Tôn rất chắc chắn thì con tin rằng vụ tai nạn này nhất định sẽ có tổn thất “thương vong”, rồi từ vị trí bị đâm xe đó mà suy ra thì tính mạng của Sư Tôn như nghìn cân treo sợi tóc, nếu khi ấy chỉ lệch đi một chút thì chúng con từ nay sẽ không còn gặp được Sư Tôn nữa rồi. 
Còn may, Sư Tôn có Hộ Pháp Thần, Không Hành Mẫu bảo vệ, trong vụ tai nạn nghiêm trọng như thế mà không mảy may bị thương một chút nào. Chiều nay chụp ảnh chiếc xe ô tô ở trong garage, trên tấm ảnh chụp ra, chiếc xe cũng được bao bọc bởi một lớp ánh sáng bảo vệ màu xanh, thật không thể tin được. 
Thật ra, liên tiếp mấy buổi khai thị trong mấy tuần lễ gần đây, Sư Tôn đã phân biệt chỉ ra “sinh tử nhất như”, “chư hành vô thường”, “phá vỡ hư không”, v.v... còn đệ tử thì vẫn chưa lĩnh ngộ được về thiền cơ trong tâm mình, cho đến khi trông thấy chiếc xe của Sư Tôn, lúc ấy con mới chợt nhận ra rằng Sư Tôn đã giải thích rất rõ ràng về “phá tam quan”, vụ tai nạn xe hơi chẳng qua chỉ là phương tiện để phá cửa mà thôi, đệ tử nên vì “phá tam quan” mà Sư Tôn đã nói từ lâu mà vui mừng mới phải.
Khoảng hai năm trước, trong buổi đồng tu, Sư Tôn từng khai thị rằng: “Hôm nay tôi làm siêu độ cho người ta, sau khi tôi chết, ai sẽ làm siêu độ cho tôi đây?” Khi Sư Tôn nói vậy thì vô cùng cảm khái. Sư Tôn từ bi chúng sinh, không bỏ rơi một người nào, tiếc rằng chúng sinh vô minh nên cứ mãi lăn lộn trong lục đạo luân hồi, mong rằng tất cả đệ tử Chân Phật Tông đều lấy việc “hoằng dương Phật pháp, phổ độ chúng sinh” làm nhiệm vụ của chính mình. 
Đệ tử và gia đình đảnh lễ Sư Tôn.
Kính chúc Sư Tôn Phật an.
Đệ tử Liên Hoa Thục Nghi chắp tay.
16/5/1991.*

**Phụ lục: Hai bài thơ của Liên Hoa Thục Nghi.**

*Cớ sao sống chết trong gang tấc.
Luôn có Hộ Pháp hộ Sư Tôn.
Từ bi chúng sinh chịu thay nghiệp.
Cam lòng gánh chịu qua kiếp này.*

“*Sinh tử nhất như” sớm giác ngộ.
”Chư hành vô thường” đã khai thị.
Phá vỡ hư không đạo thiền cơ.
Chiếc xe đã hủy “tam quan phá”. *

🌟

Ba cửa mà tôi phá là như sau:
Cửa thứ nhất: một lần đại tử, sinh tử nhất như. (cửa sinh tử)
Cửa thứ hai: chứng kiến bản lai, không chút vướng bận. (cửa danh lợi)
Cửa thứ ba: phá vỡ hư không, thấu hiểu pháp tướng. (cửa tôn quý)
Tôi đã phá được ba cái cửa này, càng chứng minh rằng:
Thực tu Phật pháp.
Ứng dụng Phật pháp.
Thực dứt sinh tử.
Trong vụ tai nạn xe, chiếc xe sang đã bị dập nát, biết rằng người như xe, xe như người, thanh lọc triệt để, tứ đại vốn không, không chút vướng bận. Thân ta chẳng phải thân ta, sắc không vô ngại, đắc đại tự tại. Vô minh bám chấp, tất cả đều phá nát hư không.

Lão hòa thượng Hư Vân, thấy một tách trà rơi xuống đất vỡ tan tành mà giác ngộ. 
Tôi (Liên Sinh Hoạt Phật) nhờ chiếc xe sang bị vỡ nát mà phá được tam quan. “Xe sang tan nát” là phá được thiền cơ về tam quan, là một phương tiện (một phương tiện rất chân thực). 
Công phu ngày thường khi thực tu hoàn toàn dốc sức làm, đến gần cửa sinh tử mới có thể vượt qua, mới có thể hiểu rõ pháp tướng.

Nay tôi công bố tấm ảnh chụp bức thư và bài thơ của Liên Hoa Thục Nghi như sau:


![image](/img/img_13421b909b0784887c23f744c22c9390.png)



![image](/img/img_97193ef16675423a80c1f28bc2713ca3.png)


Tôi nói: “Vô thường là chính mình chịu trách nhiệm với bản tính của chính mình.”
Có khi vô thường rất nguy hiểm, có thể khiến chúng ta vui quá hóa buồn, sự ập đến của vô thường vô cùng gian giảo.
Có người còn chưa thử nghiệm, chưa trải nghiệm, chưa ra đời đã bị vô thường định tội rồi.
Tuy nhiên, vô thường có quan trọng hay không, đương nhiên vô thường rất quan trọng, nhưng vô thường cũng không quan trọng. Muốn biết chân tướng của vô thường, trên thực tế là vô cùng khó khăn, bởi vì chỉ có Tiên nhân túc mệnh thông mới có thể dùng túc mệnh thần thông để chứng thực, và vô thường cũng có thể chứng thực định mệnh. Nếu thử dùng khoa học hoặc logic để tìm ra các nhân duyên, các phương thức, luận điểm và tư liệu, chúng ta chỉ có thể nói rằng: “Sự việc xảy ra ngẫu nhiên.” 
Mà chuyện xảy ra ngẫu nhiên thì chính là vô thường.

Thái độ của tôi đối với vô thường, trên thực tế cũng là một cuộc sống không có bất kì thái độ nào. Đây cũng nên là thái độ của bất kì ai.
Nguyên tắc cơ bản thứ nhất - không sợ hãi.
Nguyên tắc cơ bản thứ hai - cầu nguyện Hộ pháp. (tu pháp)
Nguyên tắc cơ bản thứ ba - Tái Ông mất ngựa, phúc họa khôn lường. (suy nghĩ lạc quan)
“Chư hành vô thường là chân lí, cũng là bí mật ảo diệu của định mệnh.”

🌟

“Tội nghiệp báo ứng kinh” nói thế này:
*Dòng chảy thường không đầy.
Lửa mạnh chẳng cháy lâu.
Mặt trời mọc rồi lặn.
Mặt trăng tròn lại khuyết.
Dù giàu sang, quyền quý.
Vô thường cũng qua mau.*

Giải thích bài kệ này như sau: dòng nước lưu động, biến hóa vô thường, chẳng thể làm đầy được sông lớn; ngọn lửa cháy hừng hực, cháy hết chắc chắn sẽ lụi tàn; mặt trời ló rạng chỉ là một sát-na mà thôi, ngày qua thì cũng lặn sau núi; trăng sáng trên trời, có khi tròn, có khi khuyết; vương công quý nhân phú hào tôn quý thì cũng sẽ nếm trái đắng vô thường.

🌟

Vì vụ tai nạn xe hơi nghiêm trọng vào lúc 8 giờ sáng ngày 13 tháng 5 năm 1991, tôi viết một bài thơ hiện đại.
Tiêu đề: Tế phẩm cho vô thường

*Vừa ngoảnh đầu
Nơi gần sát đồng tử
Tiếng sấm vang lên
Tôi tỉnh dậy trong một chuỗi mơ hồ
Ôi! Chiếc xe đã co rúm*

*Tất cả vẫn tỉnh táo
Chui ra từ không gian nhỏ hẹp trong xe
Mặt tôi đỏ, tim đập dồn dập
Mừng rỡ
Vì chưa chết oan uổng*

*Khắp xung quanh hoàn toàn tĩnh lặng
Chẳng ai nghĩ gì
Cho dù xe cảnh sát hú còi inh ỏi
Máy móc đã trở thành tế phẩm cho vô thường.*


### 05. Vô ngã


“Chỉ Quán” viết:
“Vì không có trí tuệ nên mới bảo là có cái ta. Dùng trí huệ mà quan sát thì thật sự không có cái ta. Ta ở nơi nào, đầu, chân, tứ chi, quan sát tỉ mỉ từng bộ phận thì cũng chẳng thấy cái ta, chẳng thấy ở đâu có người, chẳng thấy ở đâu có chúng sinh. Điều then chốt của nghiệp lực chúng sinh là sự tập hợp trống rỗng không thật, từ các duyên mà sinh ra, không có người nắm giữ, như ở trong nhà trống.”

“Nguyên Nhân Luận” viết:
”Cái sắc của hình hài, cái tâm của suy nghĩ, từ vô thủy đến nay, vì duyên lực, mà tư tưởng liên tiếp sinh diệt, nối tiếp vô cùng, như nước chảy nhỏ giọt, như lửa đèn le lói, thân tâm giả hợp như một thường thể, phàm ngu không biết, chấp vào đó là ta. Thật ra vì cái ta này mà sinh ra ba thứ độc tham sân si, ba thứ độc ấy tác động vào suy nghĩ, phát động thân và khẩu mà tạo ra mọi nghiệp.”

“Vô ngã ấn” là một trong ba pháp ấn. Để phá bỏ vọng nghiệp của mình, Phật Thích Ca Mâu Ni đã giảng giải về đạo lí vô ngã, đạo lí này quyết không được vi phạm, đồng thời cũng chứng minh ấn chứng này khác với lời dạy của ngoại đạo.
Tôi từng học:
”Vô ngã tưởng” - Tất cả mọi pháp đều không tịch, từ đó dập tắt suy tưởng về cái tôi.
“Vô ngã quán” - Quán tất cả mọi pháp là pháp quán vô ngã.
“Chư pháp vô ngã” - Trong các pháp hữu vi, trong các pháp vô vi, nói tất cả mọi pháp hữu vi, vô vi không có thực thể của cái tôi.

🌟

Tôi phát hiện thấy:
Con người thế gian đều sống với sự cố chấp của mình, sự cố chấp của mỗi người khác nhau rất nhiều, vì thế, cũng sinh ra phiền não của tự ngã và nỗi bi ai của tự ngã.
Quan điểm cố chấp của mỗi cá nhân đều là hẹp hòi và bần cùng, có thể nói là chỉ nhìn được một phía.
Còn chân lí của sự thật thì có nhiều mặt.

Muốn đạt đến bậc giác ngộ chân lí nhiều mặt, bậc đại giác ngộ này, trước tiên phải từ bỏ sự cố chấp của tự ngã, cũng tức là phải “vô ngã”, chỉ có người quán hành vô ngã mới có thể cởi bỏ được sự bám chấp, càng hòa tan vào sự vật, càng dung nhập vào hư không, vô ngã là một cảnh giới bí mật ảo diệu vô cùng “thật”, vô cùng “đẹp”. 
Nếu vô ngã là rượu nguyên chất.
Thì từ lâu tôi đã uống quá nhiều rồi.
Tôi là kẻ say trong biển “vô ngã”.

🌟

Khi tôi (Liên Sinh Hoạt Phật) hợp với Thánh đế, đạt được trí huệ vô ngã siêu việt, tôi tự cảm thấy thân tâm đã ở trong một cảnh địa phi phàm, cảnh địa này là như thế này:
Tĩnh lặng.
An khang.
Không đau khổ.
Không bức bách vì nóng lạnh.
Không giả dối.
Không mê hoặc.
Ở trong một trạng thái ấm áp tốt lành, lại đẹp và trang nghiêm.

Cảnh địa ấy đúng là tự do, vô ngã vốn dĩ là thứ đẹp đẽ nhất, một niềm vui sướng chí cao vô thượng.
Cho nên, thế nhân có biết bao đau khổ, là vì thế nhân rất ngu xuẩn, mọi đau khổ phiền não đều là do tự ngã sinh ra.
Tự ngã đã bị chế định sẵn.
Vô ngã là không bị chế định, là hoàn toàn tự do, là hoàn toàn giải thoát, là trí huệ chân lí thần thánh chí cao vô thượng.

Tôi cảm thấy những người học Phật ngày nay lẽ ra cần hiểu thấu đáo:
Tôi đang ở đâu?
Anh đang ở đâu?
Chúng sinh đang ở đâu?
Lời vàng của Lư Thắng Ngạn là: “Tôi đang ở đâu? Anh đang ở đâu? Chúng sinh đang ở đâu?”
Cảnh địa của tôi nói như thế nào nhỉ? Có lẽ giống như mặt trăng mát rượi, rong chơi trong thắng cảnh “chung quy là trống rỗng” của vũ trụ. Ở trong mọi thứ đều thanh tịnh, Phật tính tự hiển hiện.

Trong cảnh giới của tôi:
Chó không phải là chó.
Người không phải là người.
Hoa hồng cũng không phải là hoa hồng.
Hoa sen cũng không phải là hoa sen.
"Vô ngã" là vô tận, không có khuôn khổ, và không có kết luận, không có định nghĩa, không có quy chuẩn, đây chính là “không yêu không chấp”, “không thiện không ác”, vạn vật không tách rời nhau mà cùng tồn tại hài hòa.
”Vô ngã” to lớn nhưng không ở bên ngoài, nhỏ nhưng không ở bên trong, là một chân lí hoàn chỉnh nhất, chỉ cần phù hợp với nó là có thể hiểu được bí mật ảo diệu của nó.

🌟


Tôi cho rằng giới hiện tượng này có vô số hành tinh vũ trụ, hệ mặt trời rộng lớn, ngoài hệ mặt trời ra còn có đầy rẫy các thế giới khác, đó là tam thiên đại thiên thế giới bao la hùng vĩ mênh mông bất khả tư nghì.
Tôi chỉ có thể nói thế này:
Chúng sinh bất khả tư nghì.
Nghiệp lực bất khả tư nghì.
Duyên khởi bất khả tư nghì.
Nhưng trong “vô ngã tưởng”, mọi sự tồn tại đều là hư huyễn tạm thời, không phải là vĩnh hằng chân thực, cảnh giới vô ngã vượt qua vô số những tinh cầu vũ trụ.

🌟

Người tu hành đều sợ “Ma”, ma có thể đoạt mạng, cản trở, quấy nhiễu, phá hoại, hại mạng người, gây chướng ngại cho những điều thiện của con người.

Bốn ma là:

1. Phiền não ma - phiền não vì tham, khiến buồn bực hại đến thân tâm, vì thế gọi là ma.

1. Uẩn ma - ma ngũ uẩn, ngũ sắc ngũ uẩn có thể sinh ra đủ mọi khổ não.

1. Tử ma - cắt đứt mạng sống của con người, vì vậy gọi là ma.

1. Tha hóa tự tại thiên tử ma - Tự Tại Thiên Ma, là Ma Vương của cõi trời thứ sáu của Dục giới.

Còn có mười ma là: 1. Uẩn ma. 2. Phiền não ma. 3. Nghiệp ma. 4. Tâm ma. 5. Tử ma. 6. Thiên ma. 7. Thiện căn ma. 8. Tam muội ma. 9. Thiện tri thức ma. 10. Bồ đề pháp trí ma.

Thế giới tự thân của người tu hành, do bản thân chưa giác ngộ chân đạo cho nên chẳng trách mà có những áp lực căng thẳng đến mất ăn mất ngủ. 
Tuy nhiên, tôi muốn nói với mọi người một khái niệm quan trọng:
Tuyệt đại đa số mê muội đều khởi nguồn từ tự thân của con người, ví dụ uẩn ma, phiền não ma, nghiệp ma, tâm ma... Chỉ có Thánh hiền tu hành đạt năng lực cao siêu mới có thiên ma giáng xuống để cản trở và làm hại, thành tựu giả giống như Phật Thích Ca Mâu Ni thì thiên ma mới đích thân ra tay.

Có người nói:
Diệu pháp phá ma là:
Không có tà niệm.
Chính khí.
Tránh xa mộng tưởng điên đảo.
Không tham, không sân, không si.
Điều này vô cùng chính xác.

Tuy vậy, theo Duy thức học mà nói, học phái này mạnh mẽ chủ trương “tâm ngoại vô pháp”, cũng tức là “tâm ngoại vô ma”, trong thế giới duy thức vô cảnh hoàn toàn phủ nhận cách nói “ngoại ma” là họa.

Tôi nói thế này:
Ma xuất hiện như thế nào?
Là do “tự tính kiến”, “ngã kiến”, “pháp kiến”. 
Lời vàng của Lư Thắng Ngạn là: “Nếu đạt đến vô ngã, ma tự biến mất.”
Ma là phụ thuộc vào con người mà đến, nếu tu hành đến vô ngã, ma không thể nào phụ thuộc vào được, tự nhiên sẽ tiêu biến thôi.

🌟

Tôi muốn nói với mọi người:
”Vô ngã” là một chân lí, ngoài vô ngã ra, bạn không có cách nào tiến nhập vào cánh cửa của tam ma địa (định), nhất thiết phải vứt bỏ rất nhiều hình thức không cần thiết, không cần phải có rất nhiều những lí luận nói ngoài miệng, và cả những công thức phức tạp, đừng để bị chi phối.
Bạn chỉ cần thả lỏng tâm bạn ra, tất cả đều không có gì quan trọng cả là được rồi, tất cả mọi việc đều buông bỏ hết, đừng căng thẳng, buông lỏng tất cả.
Thả lỏng, tự tại.
Không hề gì, không có gì quan trọng, tất cả mọi thứ đều không có gì đáng kể.

Tôi viết một bài thơ:*
Vô ngã thật tốt
Bất kể người ta nói cái gì
Mặc kệ
Tất cả đều chẳng phải là việc của họ*

*Trong mộng cảnh một chút tâm sự cũng chẳng có
Nằm trên chiếc giường dưới bầu trời đầy sao
Lư Thắng Ngạn là ai
Ai là Lư Thắng Ngạn
Đập nát Lư Thắng Ngạn đi
HIện ra áo cà sa Phật đó
Chết đi ta sẽ gặp nhau
*


### 06. Tiền tài


Tiền bạc rốt cục có phải là rác rưởi không?
Thông điệp của Lư Thắng Ngạn rất đơn giản: “Tiền là tiền, rác rưởi là rác rưởi, hai thứ chẳng liên quan.”
Có người nói: “Tiền không tốt, sẽ hại người ta.” Điều đó sai rồi, bởi vì từ đầu tiền đã là một vật chất trung tính, nó không có sinh mạng, sao có thể đi hại người được chứ?
Tiền chỉ được sử dụng và kiểm soát bởi con người.
Chỉ là con người đã sử dụng sai rồi, kiểm soát sai rồi.
Lư Thắng Ngạn nói: “Tiền không có lỗi, nghìn vạn sai lầm đều là lỗi của con người.”

Vì thế, thứ mà chúng ta gọi là tôn giáo vẫn luôn nhắc chúng ta rằng: “Không được tham tiền.” Câu nói này rất đáng thảo luận. Họ cũng nói, tiền là thô tục, tiền khiến người ta suy đồi, tiền là ngọn nguồn của mọi tội ác, họ phủ định công dụng của tiền.
Sau đó thì vô số người tin vào câu chân ngôn của những người truyền đạo này, đem tiền ủng hộ cho những người truyền đạo.
Béo những người truyền đạo.
Khổ những tín đồ.

🌟

Lư Thắng Ngạn tôi không phủ nhận tiền tài, Lư Thắng Ngạn tôi khẳng định tiền tài.
Tôi khẳng định tiền tài chính là khẳng định cuộc sống.
Thật ra, tiền là một thứ rất thực tế. Biệt thự Cầu Vồng mà tôi xây dựng, tất cả mọi vật liệu của nó đều là do tiền mà có, mỗi một bức tượng kim thân Phật Bồ Tát có thể thấy được sự nhào nặn từ tiền. Những bức tường bao của Biệt thự Cầu Vồng chính là những nhịp đập của tiền, chỗ nào cũng là tiền, tiền tiêu vào những cột trụ tròn lớn, vào những vườn hoa, vào đại sảnh, vào Mật đàn...
Tiền là vật chất.
Nhưng, chúng ta nhờ vật chất mà nhào nặn ra Biệt thự Cầu Vồng của tinh thần. (Đây là trung tâm bế quan.)

Lời vàng của Lư Thắng Ngạn là:
”Tiền nếu chỉ dùng vào việc mưu cầu tiền, nó vĩnh viễn là vật chất. Nhưng, nếu biến tiền vào những sử dụng cho tâm linh thì nó là giá trị chí cao vô thượng.”
Giữa vật chất và tinh thần có thể biến hóa lẫn nhau.
Trong cảnh giới của tôi:
Vật chất và tinh thần không hề phân tách làm hai, trên thực tế là một chỉnh thể. 
Tiền bạc của tôi chính là sự nghiệp bồ đề của tôi.
Sự nghiệp bồ đề của tôi chính là tiền bạc của tôi.

🌟

Cách tôi nói về tiền là, thật ra tiền có tính tạm thời.
Bởi vì ai cũng biết: “Tiền là thứ khi sinh ra không đem tới được, khi chết rồi không đem đi được.”
Đối với tiền, cần khẳng định rằng ở nhân gian tiền có tác dụng của nó.
Nhưng tuyệt đối không phải là hoàn toàn sùng bái tiền. Tuyệt đối không phải mạnh mẽ chạy theo, cũng tuyệt đối không phải là tranh giành để cướp đoạt. Chúng ta có thể nhiệt tình sống trong tiền, sau đó nâng cao giá trị của tâm linh, dùng tiền để thay đổi đời sống tinh thần. 
Nếu như bạn biết cách chuyển hóa đồng tiền thì vật chất và tinh thần sẽ là hai dòng chảy hợp làm một, thì ở trong khoảnh khắc đó, nội tại và ngoại tại là một sự biến đổi hợp nhất.

Tôi vẫn luôn đặt tiền trong quan điểm thực tế.
Tôi vận dụng đồng tiền.
Biến tiền thành thứ có giá trị chân chính.
Tiền biến thành tâm.
Tâm và tâm tiếp cận.
Tiền là Phật.
Không thể tách rời.
Không thể xa cách.
Lúc này tại đây, dùng tiền để khiến Phật tính hiển lộ.

🌟

Có người nói: “Tôi không thích tiền, tôi chỉ thích tu hành.”
Câu nói này rất chí lí, không sai.
Thế nhưng điều này chỉ phù hợp với hành giả cô độc, người quá sáng suốt giống như cây khô tro tàn, họ sẽ chứng đắc quả A La Hán hoặc là Tiên nhân thanh tịnh quả dục. 

Trên thực tế, tôi cũng không yêu tiền. Nhưng tôi vận dụng tư lương của tiền. 
Để đi qua cuộc đời của một người tu hành, đi trợ giúp chúng sinh, xây dựng đạo tràng cho chúng sinh, đi từ bi hỉ xả, đi làm mọi việc thiện. (Dùng toàn bộ tiền hoàn trả cho chúng sinh.)

Đối với chúng sinh, tiền có ích lợi biết bao!
Lời vàng của Lư Thắng Ngạn tôi là:
Có tiền, mau mau đi làm mọi việc thiện.
Không tiền, mau mau đi thanh tịnh tâm ý.

🌟

Tôi thường nghĩ thế này:
Vợ con mà bạn không thể rời bỏ được dù chỉ một chốc lát là của bạn sao?
Tài sản mà bạn không nỡ từ bỏ một chút nào là của bạn sao?
Bạn bè thân thích gần gũi với bạn, những tình bằng hữu ấy là của bạn sao?
Sự nghiệp kinh doanh mà bạn không thể rời xa chỉ một giây lát là của bạn sao?
Địa vị trong xã hội ấy là của bạn sao?

Nghĩ đến cùng, tôi nghĩ thế này:
Một khi vô thường xảy đến, thân thể của bạn hoàn toàn tiêu diệt, thật sự ngay cả thân thể của chính mình cũng không phải là của mình, thì ra mình chỉ là hai bàn tay trắng thôi!
Rốt cục ta lưu luyến cái gì đây? Trói buộc với danh lợi sao?
Tôi có thể thoát khỏi danh lợi địa vị.
Tôi muốn tiêu toàn bộ tiền bạc vào sự nghiệp bồ đề.

🌟

Đối với của cải, một số doanh nhân sẽ tính toán kỹ lưỡng, và sẽ có cảm giác hạnh phúc và phấn khích vì sự giàu có ngày càng tăng… Cuối cùng là say sưa mê mẩn trong trò chơi tiền bạc, trở thành một người say, tiền bạc trở thành tình yêu lớn nhất, chỉ có tiền bạc là mùa xuân, tiền bạc là ánh mặt trời, dùng tiền bạc để hô mưa gọi gió. Đó là phương hướng sai lầm, đồng tiền đã mất đi giá trị sử dụng của nó rồi.

Không phải tôi phủ định đồng tiền.
Tôi khẳng định tiền bạc.
Tôi khẳng định quan điểm giá trị sử dụng của đồng tiền.
Tôi khiến tiền bạc sống dậy, vận dụng sức mạnh lớn nhất của nó để Phật Bồ Tát càng tiếp cận được với chúng sinh, tiền bạc có thể dùng vào rất nhiều sự nghiệp bồ đề, toàn bộ cái nhìn thấu đáo của tôi là như vậy.

Bài thơ của Hàn Sơn Tử:

*Bà vợ lão chủ nhà
Đã mấy năm giàu có
Ngày xưa nghèo như tôi
Nay giễu tôi không tiền
Cười vang sau lưng tôi
Tôi thì cười trước mặt
Cười như chẳng thể dừng
Bên đông lại bên tây.*


🌟

“Lục Độ Tập Kinh” viết:
Thà rằng giữ đạo, nghèo khổ mà chết, đừng vì vô đạo, giàu có mà sinh.
”Ni Càn Tử Kinh” viết:
Kẻ tham tích lũy nhiều, có được cũng không thấy chán thấy đủ, tâm vô minh điên đảo, thường nghĩ chuyện làm tổn hại người khác. Giờ đây oán ghét nhiều, xả thân đọa ác đạo. Vì thế bậc trí giả, thường nghĩ biết thấy đủ.

“Bách Duyên Kinh” viết:
Khi con người cầu tiền tài - thân tâm đều khổ.
Khi con người có được tiền tài - bảo vệ tiền tài cũng khổ.
Khi con người mất tiền tài - lòng nóng như lửa đốt càng khổ.
Vào ba thời điểm này chẳng hề có tí gì niềm vui.

🌟

Tôi viết bài thơ “Tiền tài”:

*Dù cho phong thái lớn cỡ nào
Dù cho bận rộn và thịnh vượng
Thanh sắc khuyển mã tôi đã hiểu
Đều là tiền tài của cải thôi*

*Kiến trúc tráng lệ cũng thế thôi
Cửa hàng một chuỗi cũng thế thôi
Vui sướng khoan khoái sao đi nữa
Đều bị tiền tài chuốc đến say*

*Bao nhiêu con người trên đời này
Bị tiền bủa vây và quấy nhiễu
Nhưng có ai tỉnh và sáng suốt
Khám phá ra được cái nội tình
Của mớ lộn xộn mà xử lí.*


### 07. Quy y


Từ nhỏ, tôi đã có những thắc mắc đầy hoang mang về cuộc đời con người, tôi tràn đầy hi vọng và khao khát theo đuổi chân lí, nghiêm túc mà nói, những người như tôi có thể xem là hướng đến một đời sống tinh thần cao cả.
Vì sao con người lại sống?
Ý nghĩa của cuộc đời là gì?
Thần ở đâu?
Chân lí là cái gì?

Từ lúc là thiếu niên tôi đã nghĩ như thế, thế rồi tôi ôm ấp rất nhiều lí tưởng, bước vào điện đường của tôn giáo, đối với mục sư, cha xứ, tu đạo, hòa thượng không tránh khỏi cảm giác yêu thích ngưỡng mộ lạ thường, thậm chí tôi ước ao tu hành thành Tiên nhân, thành Phật, ước ao lĩnh ngộ được chân lí của ý thức vũ trụ.
Trong quá trình trưởng thành, rất nhiều vấn đề hiện thực đã làm tiêu tan những thần tượng trong cõi đời thế tục, có một số thần tượng thật sự đã sụp đổ chỉ sau một cái thổi. Con người theo đuổi đời sống tâm linh, và đức tin của họ thường rất mong manh.
Tôi chưa bao giờ ảo tưởng trong suy nghĩ của mình, dưới những mối nghi hoặc không thể thỏa mãn của tôi, những giấc mơ mà tôi đã xây dựng cũng sụp đổ tan rã, vỡ tan rồi.

Vì thế:
Nhận lễ rửa tội của mục sư Tô Thiên Minh.
Các công đức của Đạo giáo.
Tôn sùng Thánh giáo Thiên Đức.
Quy y Phật môn Hiển giáo.
Nhận quán đảnh của Phật môn Mật giáo.
Đó là một quá trình tôi tìm tòi khám phá, rất trang nghiêm, chứ không phải là đứng núi này trông núi nọ.

🌟

Tôi phát hiện ra có rất nhiều vị thầy tôn giáo có danh vọng, lợi dụng sự trông mong vào chân lí của con người, đã lập nên các tổ chức kinh doanh và địa vị cho bản thân, khiến cho càng nhiều người sùng bái và hoang mang.
Bản ngã hài lòng với vương quốc tôn giáo của chính mình.
Bản ngã hài lòng với đông đảo đệ tử của chính mình.
Bản ngã hài lòng với thế giới với những tràng vỗ tay của chính mình.

Trên thực tế, những vị thầy tôn giáo này chỉ là khoe ra những sách cổ điển của giáo chủ để mê hoặc mọi tín chúng, dẫn người ta lạc đường.
Xung quanh chúng ta đầy rẫy những nguy cơ như vậy.
Bản thân các vị thầy tôn giáo không có sự giác ngộ, cho dù có đứng ở địa vị chủ đạo, họ lấy mê dẫn mê, thì cũng dẫn đến rất nhiều vấn đề.
Cái kiểu thầy tôn giáo này thật sự rất ngu muội.
Quần chúng đi theo họ cũng ngu muội y như vậy.

🌟

Tôi chú ý đến tầm quan trọng của những vị minh sư.
Minh sư không nhất định là người dựng nên những tổ chức lớn, cũng không nhất định là người có địa vị rất cao, hoặc là người có danh vọng rất lớn. Tôi tin rằng, rất nhiều bậc chứng ngộ rất có năng lực tu hành sống trong những núi cao, sống bên bờ sông, sống ở vùng nông thôn vắng bóng con người.
Từ một vài góc xó tôi thăm dò đạo của rất nhiều minh sư, những đạo pháp này dẫn đến cảnh giới vĩ đại thanh tịnh hơn. 
Con mắt của con người ta và con mắt của tôi không giống nhau.
Con người ta tán dương những đạo tràng tráng lệ, chú ý đến những thứ chủ thể to lớn, ca ngợi sự vĩ đại của các tổ chức của những vị thầy ấy, mà lại lơ là rằng họ là một vị thầy tôn giáo, cái chức danh thầy tôn giáo của họ chỉ là vật làm nền cho tổ chức. 
Tôi đi quy y minh sư.
Không đi quy y những nhà kinh doanh giả danh tôn giáo.

🌟

Tôi bắt đầu tu pháp, ngày ngày thực tu Mật pháp, Chân Phật Mật Pháp của tôi là “tinh túy ngắn gọn”, dùng thủ ấn, chân ngôn, ý quán, ba loại tu hành bí mật, để đi đến cảnh địa Phật hoàn toàn viên dung. Tam mật hợp nhất: khẩu thanh tịnh, thân thanh tịnh, ý thanh tịnh này thật ra là pháp bí mật độc lập và duy nhất của Đại Nhật Như Lai.

Tôi rất có tinh thần nghị lực, cũng giống như việc viết sách của tôi. 
Tôi nhấn mạnh kính sư, trọng pháp, thực tu.
Tôi phát hiện ra dòng chảy pháp của vũ trụ rất sống động và trôi chảy, tôi có được đại quán đảnh của ý thức vũ trụ.
Trong người tôi có dòng chảy ấm áp, nó rất trong sáng, tịnh quang xuất hiện.

Sự tu luyện nghiêm túc cẩn mật khiến toàn thân tôi đã thông khí, có thể nâng và hòa tan minh điểm, thông ba mạch bảy luân xa, sản sinh ra tịnh quang, tôi chăm chỉ tu pháp, không lơi lỏng một chút nào.
Tôi đã trải qua các bài thử thách của lửa thử vàng, trải qua mọi sự tôi luyện. 
Bởi vậy, tôi đã khai ngộ rồi, Chân Phật Mật Pháp của tôi là một con đường, tôi tiến nhập vào định cảnh, phi thường xuất sắc, tôi là một hành giả chân đạo, đối với tôi mà nói thì tuyệt đối là như vậy.

🌟

“Thế hệ ngày nay, phải quy y ai? Ai là minh sư?” - Có người hỏi.
Lời vàng của Lư Thắng Ngạn tôi trả lời rằng:
”Phải quy y Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.”
”Vì sao?”
”Bởi vì Liên Sinh Hoạt Phật là người nói thật, là người nói đúng, không phải người nói dối.”
”Có bằng chứng gì?”
”Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn có thể khiến người quy y vãng sinh Tây phương Cực Lạc thế giới, có thể khiến người quy y xuất hiện tướng đoan trang, có thể khiến người quy y sau khi hỏa táng có được xá lợi, đây là sự thật hoàn toàn chân thực. Tôi đặc biệt đưa ra đây một bức thư làm ví dụ.”

Nội dung bức thư này như sau:

*Nam Mô Liên Sinh Hoạt Phật Sư Tôn từ bi soi xét.
Đệ tử Liên Hoa Phụng Thiền chí thành đảnh lễ Sư Tôn, om mani padme hum. Đệ tử kính báo Sư Tôn một sự việc có liên quan đến việc qua đời của mẹ con là Liên Hoa Ngọc Trinh. Vào buổi sáng ngày 22/4/1991, mẹ con đã qua đời tại bệnh viện Mount Elizabeth Novena ở Singapore. Chỉ có mình đệ tử khi ấy vì đang mắc bệnh thủy đậu nên không thể ở bên cạnh mẹ được, nhưng chị gái của đệ tử có nói rằng vào thời khắc mẹ con từ trần thì tướng mạo rất bình thản. Khi ấy đệ tử cũng gửi điện báo cho sư huynh Liên Bào để hỏi, câu trả lời là mẹ đệ tử đã vãng sinh thế giới Cực Lạc. Tại đây, đệ tử chân thành cảm kích Sư Tôn và sư huynh Liên Bào đã từ bi chỉ dẫn cho mẹ đệ tử vãng sinh Phật quốc, không phải chịu đau khổ của luân hồi sinh tử.
Đệ tử đã để quan tài của người mẹ đã khuất sau ba ngày mới hỏa thiêu, sau khi hỏa thiêu thì có được hai, ba viên xá lợi, hoa xá lợi màu xanh nhạt cũng có khoảng 30 viên. Hiện tượng tốt lành này càng dẫn dắt anh chị em của đệ tử tin tưởng sâu sắc vào sự chân thực không hư giả của Phật pháp (mọi người trong nhà bấy lâu vẫn luôn không mấy tin vào Phật pháp). Lành thay! Lành thay!
Trong thư trả lời, Sư Tôn từng nói sẽ chỉ dẫn cho mẹ con vãng sinh, còn hướng dẫn đệ tử phải thành tâm cầu nguyện, đến ngày đó tất sẽ có hiện tượng kì lạ và điềm lành, giờ đây sự thật quả nhiên lần lượt chứng nghiệm rồi. Đệ tử sâu sắc cảm thấy cuộc đời này có thể quy y Liên Sinh Hoạt Phật, học tập tu trì Chân Phật Mật Pháp và chính là việc hạnh phúc nhất trong đời người, không có bất kì việc gì khác có thể sánh với sự vĩ đại của duyên phận này!
Tại đây, đệ tử xin đem toàn bộ số tiền phúng điếu đã nhận được để làm công đức (500 Ringgit tiền Malaysia ủng hộ trường học, số tiền còn lại chuyển thành đô-la Mĩ cúng dường Sư Tôn vô cùng tôn kính), rồi đem công đức này ra sức hồi hướng cho người mẹ quá cố của đệ tử và tất cả những người có kết thiện duyên này chứng đạo bồ đề, chứng cửa giải thoát.
Tại đây, đệ tử kính dâng lên 1745 USD, mong thầy vui lòng tiếp nhận, đệ tử chân thành thỉnh Sư Tôn gia trì cho đệ tử đạo tâm kiên cố, tu trì dũng mãnh tinh tấn. 
Kính chúc Sư Tôn Sư Mẫu Phật an.
Đệ tử Liên Hoa Phụng Thiền chắp tay đảnh lễ.
26/4/1991.*

Dưới đây là ảnh chụp bức thư để chứng minh:


![image](/img/img_a48972033ba09011db275dd6ca3cc84b.png)


Lư Thắng Ngạn nói: “Liên Hoa Ngọc Trinh nhất định vãng sinh.”
Kết quả là bà đã vãng sinh Tây phương Cực Lạc thế giới.
Lư Thắng Ngạn nói: “Liên Hoa Ngọc Trinh nhất định có điềm kì lạ.”
Kết quả là bà đã có hạt xá lợi và hoa xá lợi.
Lư Thắng Ngạn nói: “Liên Hoa Ngọc Trinh nhất định có điềm lành.”
Kết quả là bà ra đi tướng mạo bình thản.

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn tôi thật lòng thật sự nói với mọi người rằng, tôi là người nói thật, tôi là người nói đúng, không phải người nói dối, không phải người nói khoác. Chân Phật Mật Pháp sẽ cứu vãn toàn nhân loại, Chân Phật Mật Pháp là một con đường cứu độ, và quy y chính là một sự khởi đầu.
Vì tôi đã có định cảnh và ngộ cảnh, cho nên mọi thứ tôi đều thanh thản thoải mái, tôi biết việc cứu độ trong cả cuộc đời này của tôi chỉ có ba chữ: “Không hối tiếc.”
Chân Phật Mật Pháp không chỉ là tín ngưỡng, mà còn là cái bè thực tu. Tôi truyền bá Mật pháp tu hành tối cao vô thượng, nỗ lực tu trì thức thứ tám, thức thứ chín của mình, rồi đem tâm pháp truyền cho mọi người.
Tôi tin rằng, khai ngộ và chứng đắc tâm pháp là chính đẳng chính giác chí cao vô thượng, cuộc sống và tu hành cả đời này của tôi đều hòa tan vào với nhau.

🌟

Tôn giáo không phải là một nghề nghiệp, không phải là một tổ chức kinh doanh. 
Tôi là một người truy lùng, tìm kiếm, thực tu, nỗ lực thực hiện mà đắc được pháp vị chân chính. 
Tôi chưa bao giờ nghĩ đến việc kinh doanh công ty, tôi chỉ muốn đem những tâm pháp của mình, trình bày rõ những điều tinh tế sâu sắc, vì thế mà tôi không ngừng viết sách rồi lại viết sách, thuật lại bằng ngòi bút. Tôi muốn:
Tư tưởng nhậm vận.
Ngôn từ đẹp đẽ.
Quy y Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn là sự khởi đầu của trí huệ và thiền định, điều này hết sức trang nghiêm, là con đường để học Phật khai ngộ vãng sinh đó!

🌟

Tôi phát hiện ra con người đương thời đều muốn quy y, một số người không có cách nào chịu đựng được cuộc sống, một số người cơ bản là không hạnh phúc, một số người thì không hề có mục tiêu, một số người chưa từng bao giờ có sức sống, một số người thì cứ tìm tìm kiếm kiếm, nhưng đều tìm sai phương hướng...
Lời vàng của Lư Thắng Ngạn là: “Quy y, đó cần phải là một sự phát hiện vĩ đại.” Ở đây có một vài hàm ý cần được giải thích. 
Quy y tức là quay trở về nương dựa và đi theo người chiến thắng.
Cái gọi là quy y Phật tức là từ bỏ tà sư và phụng sự chính sư, quy y pháp là từ bỏ tà pháp và tu chính pháp, quy y tăng là từ bỏ tà hữu và bầu bạn với chính hữu.
Ở đây có ba ý nghĩa:

1. Thân mệnh quy về Phật. 
2. Quy thuận giáo mệnh của Phật.
3. Vận mệnh quy về nhất tâm bản nguyên.

Trong Mật giáo, cần phải quy y Kim cương Thượng sư trước, bởi vì Kim cương Thượng sư là Nhất Thể Tam Bảo, là tổng nhiếp của Phật, pháp, tăng.

🌟

“Tâm Địa Quán Kinh”:
*Nhập biển Phật pháp. Lấy tín làm gốc.
Qua sông sinh tử. Lấy giới làm bè.*
Tôi cảm thấy trên phương diện “tín giải” [tin và hiểu], một câu trong “Niết Bàn Kinh” đã sâu sắc đạt đến cảnh giới ấy: *“Người tin mà không hiểu, tăng trưởng vô minh; người hiểu mà không tin, tăng trưởng tà kiến; tin và hiểu viên thông thì trở thành cái gốc của hành động.”*
”Vì sao quy y Liên Sinh Kim cương Thượng sư Lư Thắng Ngạn là thù thắng nhất?”
”Bởi vì Liên Sinh Kim cương Thượng sư là người tín giải, cũng tức là đã đạt được tín giải viên thông.”
Vì thế, nếu có thể quy y Liên Sinh Kim cương Thượng sư thì sau đó có thể nghe hiểu được Phật pháp thâm sâu ảo diệu nhất, có được sự hộ trì của Phật Bồ Tát chư tôn và Không Hành Hộ Pháp, tu trì có thể đạt đến hư không giới đầy ắp trí huệ thù thắng của pháp thân bản tính.
Liên Sinh Kim cương Thượng sư đã chứng Phật quả, là bậc chân trí thực học, chính tri chính kiến, chân thực không giả dối. Quy y Lư Thắng Ngạn là cơ duyên nghìn năm khó gặp.

🌟

Hai bài thơ quy y.

**Bài thứ nhất:**

*Giả như quyết định đi tìm kiếm
Giả như muốn hiểu đạo lí hiển nhiên
Đừng ngại quy y
Quy y một vị Thánh giả
Bởi chúng ta có thể đi theo dấu chân của họ*

*Đó là một việc thiêng liêng
Tâm linh có nơi nương dựa
Ở trong ánh nắng ban mai
Đẹp đẽ sáng trong không bụi*

*Thánh giả nói với chúng ta cái gì là mộng huyễn
Thánh giả nói với chúng ta cái gì là yêu thương
Thánh giả nói với chúng ta cái gì là vĩnh hằng
Tan vào trong tĩnh lặng*

*Sau khi no nê pháp vị
Thiên nữ múa trong hư không
Chắc chắn sau khi rắc hoa
Mừng vui kinh ngạc bất ngờ.*

**Bài thứ hai:**

*Bầu trời là khuôn mặt tôi
Mặt trời mặt trăng sinh ra và lớn lên
Ngôi sao là trái tim tôi
Dựng lên đường đạo của hành giả
Quy y xong
Chuyên tâm tham thiền.*


### 08. Chân lí


Tôi thích đi thăm viện bảo tàng. 
Bởi vì tôi thích những món vật phẩm kiểu cổ, tôi cố tình đưa tay vuốt ve những vết nứt trên đồng để ngẫm nghĩ về thời xa xưa.
Tôi đi để cảm nhận thế giới của ngày xưa.
Tôi tư duy nên tôi tồn tại.
Tôi nghĩ “chân lí” là cái gì?
Chân lí chính là thời gian.
Không thể thay thế.

🌟

Ngồi trước cửa sổ bên hồ U Linh, chập choạng tối, gió núi rất mát, tiếng chim ríu rít trên cây trước mái hiên.
Ngắm hồ U Linh, nước hồ trong lấp lánh, cảnh hồ sắc núi phô bày dung nhan diễm lệ của giới tự nhiên, nước hồ ấy tựa như nhẹ nhàng chảy qua mắt tôi.
Tôi dường như tan vào hoàng hôn.
Tan vào trong tiếng chim kêu.
Tan vào trong hồ U Linh.
Tôi nghĩ “chân lí” là gì?
Chân lí chính là tự nhiên.
Vẻ đẹp của tự nhiên là một bài thơ.

🌟

Tôi ngồi thiền ở vô lượng pháp giới cung bên hồ U Linh. Mặt quay ra cửa sổ, từ cửa sổ có thể nhìn thấy bầu trời đêm xa xăm, bầu trời đêm có những vì sao. 
Tôi nghĩ.
Hơn 2500 năm trước Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi dưới gốc cây bồ đề. Nước sông Nairanjananadi chảy rầm rì. 
Trên tòa kim cương, ngài nhắm mắt minh tưởng, trải qua 21 ngày, rồi vào ngày mồng 8 tháng 2, đêm nhìn sao sáng, bỗng nhiên đại ngộ, trở thành Phật Đà vô thượng chính đẳng chính giác!
Tôi cũng thường nhìn sao.
Mấy ngôi sao ở chân trời bên ngoài cửa sổ chầm chậm tỏa ra ánh sáng lạnh.

Tôi nghĩ đến:
Mặt trời là tịnh thổ của Quan Thế Âm Bồ Tát.
Mặt trăng là tịnh thổ của Đại Thế Chí Bồ Tát.
Ngôi sao là tịnh thổ của Hư Không Tạng Bồ Tát.
Phật Thích Ca Mâu Ni nhìn sao mà khai ngộ.
Hoằng Pháp Đại Sư (Hòa thượng Không Hải) thì có ngôi sao bay vào trong miệng.

Còn tôi yêu thích sao, là vì cái ánh sáng lạnh lấp lánh chập chờn của nó. Đúng thế, vào thời khắc minh tưởng của thiền định, chính là lúc tịch tĩnh nhất, tất cả đều không, hư không vô tận, chính mình cũng tan biến mất rồi...
Lúc này, những ngôi sao xuất hiện.
Hành giả thiền định dường như không có cách nào chống lại bất kì sự trêu ghẹo nhỏ nào.
Giờ này phút này.
Ngôi sao chính là chân lí rồi!

🌟

Tôi cũng thích đọc sách.
Ở trong thư phòng, tôi thường bật đèn bàn. Có khi, vào ban đêm sâu lắng, thỉnh thoảng có một cơn gió đêm rất mạnh thổi qua, hoặc có một cơn mưa vội gõ vào cửa sổ trên mái nhà, những âm thanh ấy vô cùng lạnh lẽo!
Đối với mỗi khoảnh khắc của cuộc sống, tôi đều vô cùng trân trọng. Không hề nhạt nhẽo hay vặt vãnh, đối với mỗi sự việc nhỏ tôi đều cảm nhận được pháp vị.

Đèn, xua tan đi bóng tối mơ hồ.
Dưới ngọn đèn nhỏ, tôi từng có những khoảng thời gian dài dịu dàng và ấm áp. Dưới ngọn đèn nhỏ, tôi từng có rất nhiều cảm xúc, càng nhiều những ưu tư thầm kín đã len lỏi vào trái tim tôi.
Cho dù tôi đã trải qua bao nhiêu ngày khó khăn...
Cho dù tôi đã phải chịu bao nhiêu lời phỉ báng và ấm ức...

Cái mà tôi quen thuộc nhất là chiếc đèn nhỏ.
Tôi chỉ cần nhẹ nhàng tắt nó đi.
Là có thể ôm ấp một giấc mơ trong sáng thanh thản mà đi ngủ.
Ngọn đèn nhỏ! Tượng trưng cho chân lí!

🌟

Rốt cục tôi là ai?
Đã đi qua quãng thời gian 47 năm, những mối quan hệ giữa người với người và đủ thứ tình yêu, đủ thứ tu hành và thiền định, đủ thứ tương tác lẫn lộn.
Đủ thứ của đời trước, đủ thứ của tương lai.
Tôi hiền như gỗ, hay là giỏi biểu đạt?

Cái “tôi” này, ở thế giới bên ngoài, thường có rất nhiều nỗi oán hận và hiểu lầm nan giải.
Cái “tôi” này, ở thế giới bên ngoài, thường có rất nhiều tin đồn nhảm nhan nhản ở khắp nơi.
Nghĩ đến sự ra đời của tôi.
Nghĩ đến cái chết sau này của tôi.

Rõ ràng tôi có một "tình yêu sâu sắc" đối với thế giới này.
Vì sao tôi phải có tình yêu sâu sắc với thế giới này?
Vì sao phải chăm sóc kĩ lưỡng đối với chúng sinh?
Rốt cục tôi là ai?
Chúa Jesus nói:
”Ta chính là chân lí, ta chính là đường đạo....”

🌟

Đời người là giấc mộng, thế thì mộng chính là chân lí.
Tỉnh mộng thì mộng cũng không, thế thì Không chính là chân lí.
Con đường của giấc mộng bao la quá! Mới xa xăm làm sao! Cũng có cô đơn, cũng có sầm uất, có khi nhạt, có khi đậm. 
Mộng ở trong chăn, trong những đêm tối tĩnh mịch.
Đúng rồi, đêm đã buông xuống thì mộng càng sâu.

Tôi thường nói:
Mộng, như con phù du trong nháy mắt.
Và trong năm ánh sáng của vũ trụ bao la thì đời người trăm năm cũng chỉ như con phù du trong nháy mắt mà thôi. 
Giấc mộng một đêm và giấc mộng trăm năm thì sớm muộn cũng đều uổng công, có cái nhìn chính xác như vậy thì còn có khai sáng gì?
Những giấc mộng liên tục bị trì hoãn và chậm trễ, và những giấc mộng không ngừng trôi qua từng chút một, cho dù là lặng lẽ đến, và cũng âm thầm ra đi, không một chút tăm tích.
A! Cuối cùng tôi đã hiểu ra chân lí:
Sóng lặng hay sóng xô, tất cả đều không có dấu vết.

🌟

Đôi khi, tôi đầy hi vọng.
Đôi khi, tôi rất tuyệt vọng.
Chợt nhìn lại những tháng ngày đã qua, con đường quá dài, có quá nhiều nỗi buồn, có bao dấu chân nông sâu.
Cần phải tiếp tục mạnh mẽ, hay là yếu đuối, suy nghĩ ấy không ngừng xâm chiếm tôi, hi vọng thường xuyên biến thành tuyệt vọng, đây là lúc phải lựa chọn!
Phải hi vọng, hay là tuyệt vọng?
Tôi đột nhiên cảm thấy hoàn toàn hoang vắng.
Tâm hồn lang thang phiêu bạt, tìm kiếm kết quả, kết quả là chân lí sao?
Hay chỉ là một chút thấp thỏm?

🌟

Có người nói:
”Lư Thắng Ngạn nhiều biến hóa.”
Tôi nghĩ:
”Tôi thật sự là nhiều biến hóa.”
Vì sao?
Bởi vì tôi từng đọc một câu như thế này:
“*Một người cảm thấy buồn chán bởi vì anh ta sống trong một khuôn mẫu cứng nhắc mà người khác đã cho anh ta, bạn phải buông bỏ những khuôn mẫu đó, thoát ra khỏi những khuôn mẫu đó và bắt đầu sống cuộc sống của chính mình.”*

Câu này làm tôi khá rung động, thật ra...
Những thăng trầm của cuộc đời không có nhiều thay đổi!
Bầu trời cũng hằng thường và cũng nhiều biến đổi mà!
Biển lại càng trôi nổi không biết nơi nào!
Chư hành vô thường mà!
Tôi đã bị cảm động bởi sự lôi kéo dẫn dắt của “đa biến hóa”, sự đa biến hóa của tôi cũng thần thánh mà trang nghiêm, cũng có thể coi là một dạng chuyển biến của chí hướng, tâm cảnh và khát vọng.

Tôi luôn nghĩ:
Tôi không thể tránh được những thứ dung tục, không thể xung đột với hàng rào của thế tục. 
Hoặc là tôi phải thoát tục, cưỡi gió mà đi.
Tôi xây dựng Lôi Tạng Tự.
Tôi thành lập Chân Phật Mật Uyển.
Tôi sống tại “vô lượng thanh tịnh pháp giới cung”.

Bây giờ tôi lại xây dựng Biệt thự Cầu Vồng.
Đây tuyệt đối không phải là mục tiêu thế tục hóa, mà là sợ hãi cuộc sống cứng nhắc như khuôn mẫu sẽ chôn vùi tôi, tôi phải nhảy ra ngoài, một sự nhảy thoát ra có giá trị, đánh giá lại cuộc sống của mình lại từ đầu, đổi lấy sự đổi thay của không gian thời gian.
Đa biến hóa của tôi vì vậy mà xoa dịu được tự ngã.

🌟

Tôi đọc kinh Vô Lượng Thọ, cảm thấy trong đó có một câu là chân lí, tôi thường suy ngẫm về câu nói này, xin trích ra như sau: *“Từ khi Như Lai đắc đạo đến nay, hơn 40 năm, ngài thường vì chúng sinh mà diễn thuyết ý nghĩa của tứ tướng các pháp; khổ nghĩa, không nghĩa, vô thường, vô ngã, không to không nhỏ, không sinh không diệt, nhất tướng vô tướng, pháp tính pháp tướng, bản lai không tịch, không đến không đi, không ẩn không hiện.”*

Lời này nói rằng:
Kể từ khi Phật Thích Ca Mâu Ni đắc đạo khai ngộ dưới gốc cây bồ đề tới nay, thời gian ngài thuyết pháp là 49 năm, thường xuyên diễn thuyết về chân lí của bốn loại diễn biến, đó chính là khổ (oán tăng hội khổ, ái biệt li khổ, ngũ uẩn xí thịnh khổ), không (đời người là hoàn toàn hư huyễn không thật), vô thường (đời người là luôn luôn biến hóa lạ lùng), vô ngã (mọi pháp do nhân duyên mà sinh, vốn dĩ không có cái ta), không lớn không nhỏ (lớn nhỏ chỉ là nói một cách so sánh tương đối, về chân đế thì không lớn không nhỏ), không sinh không diệt (đạo lí bản tính vốn không sinh không diệt), nhất tướng vô tướng (nhân duyên thành nên có tướng, nhân duyên diệt nên không có tướng), pháp tính pháp tướng (vốn dĩ hư không), vì thế mới nói không đến không đi, không ẩn không hiện, không sinh diệt. 
Tôi thường suy ngẫm về lời nói này, nghĩ hoài, nghĩ hoài.

Từ chân lí này mà tôi đắc:
Rời xa khổ não, có được niềm vui an ổn.
Không tham chấp, không chướng ngại.
Không có sự khác biệt một người hay nhiều người, đắc pháp bình đẳng.
Đắc nhất âm, đắc nhất vị.
Niết bàn giải thoát.

🌟

Tôi từng đọc một bài thơ, đại ý là như thế này:

*Chân lí,
Phải đi tìm kiếm,
Đi tìm cho ra “ta là ai”
Đi tìm cho ra bản tính.
Mọi thứ trở nên phong phú hơn.*

Tôi cảm thấy bài thơ này có liên quan đến Phật pháp, bởi vì mục đích quan trọng nhất của học Phật vẫn nằm ở tìm kiếm chân đạo, trong công án Thiền tông, phải ngẫm nghĩ “người niệm Phật là ai?”, “khi cha mẹ chưa sinh, là ai?” “khi thành cái xác chết, là ai?”
Tìm ra ta là ai?
Tìm ra bản tính?
Tức là tìm ra được chân lí.

🌟

Kinh Hoa Nghiêm có một đoạn văn thế này:
”Tất cả chúng sinh nhờ có tứ đại mà thành, đã là vô ngã thì không có cái tôi thật sự. Thế là vì sao mà có sự chịu khổ, có sự hưởng tốt lành, có tốt, có xấu, có sự chịu hiện báo, có sự chịu hậu báo? Câu trả lời như sau: tùy theo sở hành mà sinh ra quả báo khác nhau, không có “người” gây nên điều đó. Giống như hạt giống trên mảnh ruộng, đủ loại mọc lên; như các vị thầy huyễn thuật, làm hiện lên đủ mọi sắc tướng, như cùng là cốt loài chim mà sinh ra đủ loại âm thanh.”

Đọc đoạn văn này càng hiểu thêm về mọi thứ của chốn hồng trần.

Bài thơ của Hàn Sơn Tử:

*Dấu vết cổ nhân trên hóa thạch nghìn năm
Trước núi cao vợi là một điểm trống rỗng
Khi trăng sáng tỏ thường chiếu sáng trong
Chẳng mất công tìm hỏi han này nọ.*

Tôi cho rằng trong bài thơ này ẩn chứa hai chữ “chân lí”.
Trong quá trình tôi lĩnh ngộ chân lí, tôi không nghĩ rằng chân lí là vĩnh viễn sáng bóng không tì vết, tôi thật sự đã chạm đến cánh cửa của chân lí, từ lâu đã run lên một cảm giác rất khác biệt. 
Tôi cảm thấy rất sâu sắc và rõ ràng, nhưng cũng bộc lộ một cách rất mơ hồ.
Văn tự không cần phải sâu xa sắc bén, cũng không phải là câu nào câu nấy đầy cảm ngộ, chỉ có thể hiểu được bằng ý mà khó truyền đạt bằng lời.
Cho dù là đại trí đại huệ đại giác đại ngộ, cũng chẳng qua là trong hư huyễn đạt được thăng hoa.

Dưới dòng chảy pháp của hiện thực nghiêm túc, tôi có một chút khùng.
Dưới sự mộc mạc của chứng ngộ giải thoát, tôi có một chút điên.
Có khi cười.
Có khi khóc.
Không thể nghĩ bàn.
Không thể nói.
Con người là động vật duy nhất có thể tìm kiếm chân lí, đó là một đặc quyền vĩ đại, đặc quyền này là một mặt tôn quý và đáng tự hào nhất của nhân loại, có bao nhiêu con người đã đi tìm kiếm chân lí, chân lí tuyệt đối không phải là một khuôn mẫu, có người thì chân lí là con lừa, có người thì chân lí là con ngựa, còn chân lí của người học Phật chính là Phật.


### 09. Thiện ác


Trong kinh Phật, phân biệt thiện ác như sau:
1. Thuận theo lí thì là thiện.
2. Trái với lí thì là ác.
3. Ý thức của tất cả chúng sinh khởi đầu là muốn trụ trong nhân duyên, thuận theo nghĩa đế thứ nhất thì gọi là thiện.
4. Trái với nghĩa đế thứ nhất thì gọi là ác.
5. Trên tới Phật Bồ Tát, dưới tới trời người, tất các các hạnh mà các vị tu, gọi là thiện. 
6. Chiêu gọi nhân của tam đồ và biệt nghiệp báo của quả khổ trong trời người gọi là ác.
7. Thiện của trời người, những việc trong ngũ giới thập thiện cũng là thiện. Khi quả báo của trời người đã hết mà vẫn còn đọa vào tam đồ thì gọi là ác.
8. Thiện của nhị thừa, nhị thừa có thể xa lìa khổ của tam giới, do vậy gọi là thiện. Nhưng có thể tự độ, không thể độ người khác, thì cũng gọi là ác.
9. Thiện của Bồ Tát Tiểu thừa, từ bi kiêm cứu tế thì gọi là thiện. Còn như trong người chưa đoạn trừ phiền não, giống như giữ trong mình thức ăn có độc, người ăn vào sẽ chết, do vậy gọi là ác. (Bồ Tát Tiểu thừa trong ba đại kiếp liên tục tu tập không chút nghi ngờ, cuối cùng mới có thể thành Phật)
10. Thiện của hiểu thông giáo lí của Tam thừa, Tam thừa cùng đoạn trừ phiền não của cái kiến và tư duy cũng là thiện. Nhưng đọa vào hai biên không thấy cái lí lẽ biệt giáo trung đạo, chưa đoạn trừ được một phần vô minh, vì thế cũng gọi là ác.
11. Thiện của Bồ Tát biệt giáo, thấy cái lí của trung đạo là thiện. Nhưng vẫn còn xa cách trung đạo, không thể thấy được cái tuyệt diệu của viên giáo viên dung, những hành vi tiện lợi không xứng hợp với lí, thì cũng là ác.
12. Thiện của Bồ Tát viên giáo, lí của viên diệu, là cái thiện tột cùng. Nhưng ở đây có hai nghĩa, một là thuận theo lí lẽ viên dung của thực tướng gọi là thiện, trái lại gọi là ác. Hai là đạt được lí lẽ viên dung này thì gọi là thiện, chấp vào gọi là ác. Chấp vào viên dung vẫn gọi là ác, huống chi là những cái khác.

Từ đây có thể thấy, sự phân biệt thiện ác, theo cách nói của các vị thầy và kinh luận, thì có đủ thứ bất nhất.
Từ đây có thể thấy, con người trên đời ngày nay đều là tà kiến, tà nhân, chẳng lẽ không phải đều là ác hết sao.

🌟

Chúng ta lại xem tiếp về “bốn loại thiện ác”, “năm loại thiện ác”, “mười loại thiện ác”. 
Bốn loại thiện ác:
1. Thắng nghĩa thiện - niết bàn là ổn định nhất, vĩnh viễn tắt hết mọi khổ, giống như con người thân thể không có bệnh.
2. Tự tính thiện - ba thiện căn không tham không sân không si, giống như thuốc tốt vậy. 
3. Tương ứng thiện - các loại thiện khác như niềm tin tưởng, siêng năng, do sự xấu hổ và ba thiện căn mà khởi lên, khi ấy gọi là thiện.
4. Đẳng khởi thiện - thiện do hai nghiệp thân, ngữ từ tự tính thiện và tương ứng thiện mà khởi lên.
Ngược lại với bốn điều này thì là ác.

Năm loại thiện ác:
Năm ác tức là giết, cướp, dâm, nói dối, uống rượu.
Ngược lại, không giết, không cướp, không dâm, không nói dối, không uống rượu, thì là thiện.

Mười loại thiện ác:
Mười điều ác tức là: 1. Sát sinh. 2. Trộm cắp. 3. Tà dâm. 4. Nói dối. 5. Hai lưỡi. 6. Ác khẩu. 7. Nói lời dâm dục. 8. Tham dục. 9. Sân hận. 10. Tà kiến.
Ngược lại thì là mười điều thiện.

🌟

Thiện ác trong kinh Phật giống như sét đánh bên tai. 
Tôi nhớ đến 40 năm trước khi còn nhỏ, tôi tuổi còn bé xíu cũng đã hiểu phải làm việc tốt, phương pháp duy nhất là thoắt ẩn thoắt hiện xông thẳng ra phố. Đi đến đâu cũng nhặt nhạnh những mảnh thủy tinh vỡ vì sợ sẽ làm bị thương chân của người đi bộ. 
Nhặt vỏ chuối, sợ người già dẫm phải sẽ trượt ngã.
Nhặt đinh sắt, sợ chúng đâm vào lòng bàn chân.
Tôi cúi khom lưng, đi khắp nơi tìm kiếm rác, cứ như thế nhặt tới nhặt lui, giống như một kẻ lang thang phiêu bạt trên đường phố.

Bỗng nhiên rộ lên những tiếng ồn ào:
”Hứ! Lư Thắng Ngạn lại đang làm hướng đạo sinh mỗi ngày một việc tốt kìa!”
Một đám con cháu dòng dõi con nhà cao quý nho nhã cười giễu tôi, túm lấy tôi khiến tôi ngã lăn bò toài, trong lúc hoảng loạn, những vỏ chuối trong tay tôi rơi đầy trên mặt đất. Thật không thể tưởng tượng được rằng làm việc tốt cũng phải nhìn trái nhìn phải, lén la lén lút. Có người ăn mày đưa tay ra với tôi, tôi vờ như không nhìn thấy, rồi mặt tôi thì đỏ ửng và nóng bừng. Tuy nhiên, nếu tôi vội vã đưa cho người ăn xin hai đồng tiền, thì tôi cũng sẽ chú ý xem liệu có ánh mắt của người khác đang nhìn hay không, mặt tôi cũng sẽ đỏ ửng và nóng bừng.

Khi đi xe buýt, tôi luôn đắn đo giữa nhường hay không nhường, nhường chỗ thì là thiện, không nhường chỗ thì là ác sao? Học sinh cần phải hiểu lễ phép, ở đâu cũng phải khiêm nhường, thấp thoáng thấy có người già đang đi đến gần mình, tôi lại ngần ngừ và đấu tranh, cuối cùng tôi vẫn luôn đứng dậy, người kia khen ngợi và khước từ. Mặt tôi cũng đỏ lựng rất lâu.

🌟

Tôi từng viết một bài thơ “Thiện ác” như sau:

*Kì thực, thiện không tách rời ác
Giống như con dao
Có thể thái rau, có thể giết người
Con người cũng thế
Có làm thế nào
Cũng khó tránh khỏi có những sai lầm*

*Tu hành cũng được, thế tục cũng được
Giới luật
Pháp luật
Dạy con người tuân thủ quy tắc*

*Có người nói
Là thiện thì không thể là ác
Có người nói
Là ác thì không thể là thiện
Thật ra tôi nói
Thiện ác không tách rời
Giống như tác dụng hóa học
Sẽ biến ra càng nhiều thứ hơn.*

(Bài thơ này là tác phẩm thời kì đầu của tôi, khi ấy bản thân tôi cảm thấy rất có lí tưởng và kiến địa. Gần đây giở ra đọc lại, bỗng nhiên tôi cảm thấy lí niệm trong bài thơ rất gần với Phật học, bài thơ cũ của tôi không ngờ chẳng hề quá trớn. Từ đầu tới cuối, tôi đều cảm thấy mỗi người đều có phạm sai lầm và làm điều xấu, đối với những người này, chúng ta vẫn cần quan tâm, vẫn cần kính trọng, trả lại cho họ sự tôn nghiêm. Chỉ cần con người có thể thật sự sám hối thì giống như vết thương được chữa lành, giống như cái lạnh được hơi ấm bao dung. Vì thế tôi cảm thấy tất cả pháp sám hối và pháp sám hối của Mật giáo đều vô cùng vô cùng quan trọng.)
Thật sự sám hối việc ác, thì lập địa thành Phật. (Chú ý chữ thật sự.)

🌟

Tôi từng suy ngẫm rất lâu về câu nói “không nghĩ thiện không nghĩ ác”….
Câu nói này xuất phát từ:
23 nguyên tắc Vô Môn Quan:
”Lục Tổ vì bị thượng tọa Minh ghen tức, đã đuổi theo đến núi Đại Dữu Lĩnh. Tổ thấy Minh đến, liền quăng y bát lên tảng đá. Nói rằng áo này chỉ là biểu tượng của lòng tin, có gì đáng phải tranh giành, huynh muốn lấy thì cứ lấy. Minh lập tức cầm lên, nhưng nó nặng như núi bất động. Ngập ngừng run rẩy sợ hãi, Minh nói: Tôi đến cầu pháp, không phải vì áo này, mong hành giả khai thị. Tổ nói không nghĩ thiện, không nghĩ ác, nếu mà như thế, cái đó chính là bản lai diện mục của thượng tọa Minh. Ngay lập tức Minh đại ngộ, toàn thân đổ mồ hôi như tắm.”
”Không nghĩ thiện, không nghĩ ác” này là sự suy xét tuyệt đối về thiện ác.

Chính Nguyên nói:
”Biển xanh bao lần biến thành ruộng dâu, duy có hư không một mình vẫn thế, người đã đến được bờ thì không còn lưu luyến cái bè nữa, người chưa từng đi thì mới cần thuyền.”
Tây Thiên Thất Tổ Bà Tu Mật nói:
Tâm như hư không giới.
Thị như hư không pháp. (*Thị trong từ chỉ thị, nghĩa là chỉ ra.)
Khi chứng đắc hư không.
Không gì không phi pháp.

Lư Thắng Ngạn tôi thường nói thế này:
Hư không không đúng sai.
Không đúng sai thiện ác.
Hiểu được hư không rồi.
Tức thông đạt chân như.

Lời vàng của Lư Thắng Ngạn như thế này: “Vào thời đại hỗn độn ban sơ nhất, hư không của hư không, không có nhân loại tồn tại, xin hỏi, cái gì là thiện? Cái gì là ác? Nghĩ xem, nghĩ xem, tỉnh ngộ, tỉnh ngộ.”
Lời vàng của Lư Thắng Ngạn như thế này: “Hãy khiến cho mỗi sự việc đều xuất phát từ trong ngộ cảnh, không có một chút bám chấp nào.”

Tổ sư Đạt Ma chỉ ra cho Dương Huyễn Chi: “Cũng không thấy ác mà sinh ý ghét, cũng không thấy thiện mà đối đãi ân cần.”
Thiền sư Bản Tịnh nói: “Vứt ác đi chỗ nào? Lấy thiện cho ai giữ? Than ôi! người thấy hai. Bám víu hai đầu chạy.”
Huệ Trung nói: “Không nghĩ thiện ác, tự kiến Phật tính.”
Pháp Thường nói: “Nhưng tâm không gắn với thiện ác mà sinh vạn pháp, bản tự như như.”
Những cảnh giới này là “tâm vốn vô tác, đạo thường vô niệm”.

Cuối cùng tôi đã hiểu:
Thường dùng vô tâm.
Dùng mà thật ra không dùng.

🌟


Trong thế giới tình cảm thì có thiện ác gì?
Tôi từng thương nhớ, tôi từng khao khát.
Tôi từng nói rằng, thời gian vui vẻ nhất của đời người là kề cận gắn bó cùng với tri kỉ mà mình ngưỡng mộ trong lòng.
Ngày xưa, tôi từng có những mối thâm tình, yêu thương trân trọng lẫn nhau. 
Nhớ thương họ.
Che chở họ.
Yêu thương họ.
Cái này… cái này… cái này, là thiện hay là ác?

🌟

Khi còn trẻ, từ sớm tôi đã trải qua những cảnh sống độc lập, từ lâu đã quen không chịu trói buộc. Nhưng, tôi cũng vì thế giới tình cảm mà viết ra những cuốn:
”Thì thầm trong vườn mộng”
”Dưới cửa sổ trái tim”
”Giấc mộng xanh tan biến”
”Lá bay trong gió”
Chẳng ngờ tôi lại có thể vì những sợi dây tình cảm nghìn tơ vạn mối mà viết ra những vấn vương và nhớ nhung trong lòng mình. 

Tôi lên núi gặp sư phụ của mình. 
Không phải nói chuyện Phật.
Mà là chuyện tình cảm.
Tôi hỏi: “Tình cảm thì có thiện ác gì?”
Sư phụ không nói gì, chỉ đáp:
”Duyên.”

🌟

Tôi sâu sắc cảm thấy, thế giới tình cảm cần sự che chở và yêu thương, nhưng trong đó càng cần có một chút thoải mái và độ lượng.
Ở đây nói rằng, bám chấp quá thì không tốt. Nhưng, nếu quá buông lỏng thì dường như cũng không tốt. Cái tôi thích là trong sáng vô tư và quang minh lỗi lạc. 

Tôi cũng như người thế tục, cũng có thề nguyện, viết lên mảnh giấy nhỏ trong tiệm cà phê, tôi thừa nhận tôi đã từng viết:
Đời này không thay đổi.
Cùng sống chết.
Suốt đời không hối hận.

Tuy nhiên! Chúng ta biết:
Tạo hóa luôn luôn trêu đùa con người, những điều vô thường không may trong số mệnh xuất hiện, ở đây có vô số cạm bẫy và lưới võng.
Những lời hứa vẫn còn chưa thực hiện.
Tôi có quá nhiều điều thất vọng và đau buồn.
Tôi hỏi sư phụ:
”Đây là ác sao?”
Sư phụ không nói gì, vẫn chỉ một câu:
”Duyên.”

🌟

Sau này tôi thật sự học Phật, sau này tôi thật sự đã xuất gia rồi. 
Ta nói với nàng, ta chưa bao giờ có cái tâm lừa gạt, cũng chưa bao giờ cố ý làm trái những lời thề nguyện, ta càng trân trọng những tình cảm chân thành đậm sâu. Nàng vốn là sự quyến luyến đẹp đẽ và hiếm thấy nhất trong cuộc đời ta, vĩnh viễn được nâng niu cất giữ trong trái tim ta, vĩnh viễn là người bạn tâm giao trong tâm hồn ta.
Ta vẫn đối xử với nàng bằng trái tim quan tâm chân thành.

Khi ta nhìn chăm chú,
Vào trong đôi mắt lương thiện tràn đầy tha thiết của nàng, ta đã cảm nhận rõ ràng thế giới tình cảm trong trái tim nàng.
Ta phải cười hằn lên cái lúm đồng tiền.
Những uất ức buồn lo trôi đi.
Khổ đau và thương cảm hãy để chúng qua đi!
Hãy vứt bỏ đi những nỗi lòng chua xót!
Giữa chúng ta đã không còn những hi vọng mong cầu quá mức, cũng không còn sự bồng bột của tuổi thanh niên, chỉ mong nàng học Phật, ta học Phật, cùng chia sẻ những pháp vị đến từ Bồ Tát.

Cuối cùng,
Vết thương có thể được chữa lành bằng hơi ấm, từ đó không còn võ đoán chẳng còn nghi kị.
Thì ra trong hành trình dài của cuộc đời, có vô số tìm kiếm và theo đuổi, chỉ vì cái gì đây? Chỉ vì “nhân gian có tình yêu”.
”Bên trong sự chân thành không có thiện ác!”
Ta sẽ mãi mãi nhớ đến nàng.


### 10. Tâm linh


Ngược lại với tâm linh chính là vật chất.
Trong ấn tượng của thế nhân:
Vật chất thuộc về trần thế, là ăn, uống, vui chơi.
Tâm linh thuộc về thiên thượng, là lí tính, là tinh thần, là tĩnh lặng.
Điều này dường như là tương đối.

Còn Lư Thắng Ngạn tôi thì nghĩ thế này:
”Tôi là một thứ hỗn hợp của vật chất và tinh thần, với tôi mà nói, đây không phải là mâu thuẫn, tôi đồng thời thành tựu trên cả hai phương diện đó.”
Giống như rất nhiều tượng Phật trên thế giới này, tượng Phật là tượng trưng của tinh thần, nhưng mạ vàng, mặc thiên y váy xếp hoa lệ, đội mũ miện, khuyên tai, vòng tay, ngực đeo chuỗi ngọc, tượng Phật được trang sức đẹp đẽ, đeo vàng đội ngọc. Tôi cho rằng:
”Mục đích của tu hành là sự dung hợp cuối cùng của vật chất và tâm linh.”

🌟

Một người quá đam mê vật chất, trong cả cuộc đời họ, có thể chỉ có tài bảo của cải, hàng hóa xa xỉ, xe hơi, nhà đẹp hoặc phụ nữ.
Mỗi ngày đều ăn, uống, vui chơi.
Nếu thiếu đi sự tu dưỡng tinh thần, thì chẳng bao lâu sẽ cảm thấy chán ngấy.
Ngược lại, một người theo chủ nghĩa trốn chạy vật chất, phê bình, phản đối tất cả mọi thứ của thế giới vật chất, thì rất dễ xa rời hiện thực. Trên thực tế, con người không thể thoát li khỏi mọi thứ, thoát li khỏi vật chất thì cũng không phải là người sáng suốt.
Lẩn trốn mọi thứ vật chất cũng xem như là một kiểu tham lam, tham lam cái gì đây? Đó là họ tham lam thế giới tâm linh.

Lư Thắng Ngạn tôi nghĩ thế này:
”Một người theo chủ nghĩa tinh thần rất có khả năng là người giả tạo, họ muốn bắt chước bậc Thánh, rất có khả năng là người theo chủ nghĩa tinh thần giả.”
Lư Thắng Ngạn tôi nói thế này:
”Vật chất và tinh thần phải dung hợp với nhau mới là đúng, thiên lệch về vật chất, hoặc thiên lệch về tâm linh, thì đều là sự chia rẽ nhân cách, giống như một người bị xé ra làm đôi, về cơ bản là một dạng của bệnh tâm thần phân liệt.”

🌟

Trên phương diện tâm linh thường bao hàm:
Tâm - citta.
Ý - manas.
Thức - vijñapti.

Về Phật học, sáu tâm chung quy lại là:
1. Nhục đoàn tâm - Phạn ngữ là Hṛdaya. Nhục đoàn tâm là quả tim của con người chúng ta, tim hoa sen tám cánh của Mật tông.
2. Tập khởi tâm - là thức thứ tám A-lại-da (ālaya-vijñāna). Nhờ tập hợp các chủng tử mà có thể sinh ra các pháp hiện hành. Vì thế mới nói là vạn pháp duy thức. 
3. Tư lượng tâm - ý nghĩa là suy nghĩ, tên riêng của thức thứ bảy.
4. Duyên lự tâm - cũng chính là thức. Gọi là tâm nghĩ biết, tâm nhận thức.
5. Kiên thực tâm - tức là tâm tự tính thanh tịnh, tâm Như Lai tạng, tâm vững chắc không sinh không diệt. Tên gọi khác là chân như.
6. Tích tụ tinh yếu tâm - tâm tập hợp mọi yếu nghĩa trong các kinh điển, là tâm thứ ba của chỉ quán.

Phật pháp nói rằng:
”Trong tất cả các pháp, tâm là người chỉ đạo tốt nhất. Nếu có thể biết được tâm thì đều biết các pháp, tất cả mọi pháp trên đời đều do tâm.”
”Mọi nơi trong các kinh đều nói tâm là vua.”
”Trong tam giới, lấy tâm làm chủ, người có thể quan sát tâm sẽ đạt giải thoát cuối cùng. Người không thể quan sát tâm thì cuối cùng vẫn trầm luân. Tâm của chúng sinh cũng giống như mặt đất. Ngũ cốc ngũ quả đều từ mặt đất sinh ra. Tập pháp quán tâm như thế, trụ thế xuất thế, thì năm thú thiện ác, có học vô học, cũng sẽ thành tựu như Độc Giác Bồ Tát cho tới Như Lai. Từ nhân duyên này, tam giới do tâm tạo.”

Tại đây, tôi đặc biệt muốn nhắc đến:
Tâm, Phật và chúng sinh là ba thứ không khác biệt.
Trong Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Dạ Ma Thiên Cung, đây chính là tam pháp diệu. Giới samaya của Mật giáo coi đây là thể, là tam bình đẳng. Bởi vì Phật và chúng sinh có mối liên hệ nhân quả lẫn nhau.
Nhưng tâm thông với nhân quả, là cái thể có thể biến đổi giữa Phật và chúng sinh. Bởi vì nhân quả là nhất quán, năng biến sở biến nhất như, vì thế là ba thứ không khác biệt.
Chúng sinh tu hành có thể thành Phật, Phật cũng có thể thành chúng sinh, đều là sự biến hóa của tâm mà thôi. Vì thế, tâm, Phật, chúng sinh là ba thứ không khác biệt, đây tức là “quy mệnh bản giác tâm pháp thân, thường trụ diệu pháp tâm liên đài”. 

🌟

Đối với tâm linh, tôi cũng ôm ấp những tình cảm của mình.
Tôi từng muốn sống những ngày tháng “cá gỗ đèn xanh” [cá gỗ là một nhạc khí của Phật giáo. Đèn xanh là đèn dùng dầu thực vật để đốt nên có ánh lửa màu xanh. Ở đây mô tả sự cô quạnh trống vắng của cuộc sống một hành giả tu hành kiền thành], thành kính niệm Phật, suy nghĩ thiện lành, chỉ có những ngọn gió ngọt mát như nước suối, mềm mại xinh đẹp không gì sánh bằng.
Khi tôi còn trẻ, khi mới nhận Bồ Tát giới, tôi hướng về tiếng gọi trí huệ của bậc giác ngộ.
Không như mộng cũng không như huyễn.
Tâm linh tỏa ra ánh sáng trong veo, vô niệm vô cầu, dung hợp với trời.

Tôi thích con đường nhỏ quanh co dẫn vào đạo tràng ở sâu trong núi, hai hàng cây bạch quả đã vàng suộm, tôi từng nghĩ một khi đã vào đạo tràng rồi thì sẽ không ra khỏi núi nữa, nói không chừng lần tiếp theo nhìn thấy hàng cây bạch quả thì đã là cụ già loạng choạng rồi.
Hành giả ở địa đạo bình thường chỉ trồng rau trồng dưa, mãi mãi ngồi yên thư giãn trong niềm vui sau những lúc lao động. 
Tôi thờ phụng A Di Đà Phật.
Chỉ với một tấm chân tình.
Ngày ngày tháng tháng năm năm.
Sống, thở, và tâm linh.
Tôi chỉ muốn hưởng thụ một cảm giác dễ chịu của một hương thơm thoang thoảng, của tâm linh thanh tịnh triệt để.

Nhưng, sư phụ bảo tôi:
”Phật có ở khắp mọi nơi.”
Sư phụ nói:
”Liên Sinh, con sẽ có một cuộc đời vô cùng cao quý, vô cùng khó khăn và vô cùng rực rỡ. Con có pháp lực hàng ma của Phật gia, con phải hòa nhập thế tục tận hưởng triệt để, với trí huệ nhân hậu và sáng ngời của Phật để tỏa ra ánh sáng lan tỏa khắp đất trời.”
Thế là, tôi từ xuất thế đi tới nhập thế.
Rồi lại từ nhập thế mà đi đến xuất thế.
Tôi đã có một cuộc đời cực kì thỏa thích, nhưng không để lại một dấu vết nào, đem những ngày tháng huy hoàng và đẹp đẽ đổi lấy nụ cười thánh thiện tĩnh lặng nhẹ nhàng.

Trên thực tế, tâm hồn tôi thường nhảy múa nhẹ nhàng và uyển chuyển trong một không gian đẹp và mát mẻ. Và cuộc đời huy hoàng chỉ là một cánh bướm, vân du trong thanh xuân rực rỡ.
Tương lai của tôi là:
*Trong núi sâu. Đầy gió mát.
Cửa không lay. Khí thông thoáng.
Trăng sáng chiếu. Mây trắng che.
Ngồi trơ trọi. Một cụ già.*

🌟

Tôi dạy người ta đừng trốn tránh vật chất, không phải là dạy người ta phóng túng buông thả. Bởi vì phóng túng buông thả là nơi tập trung của tội ác, phóng túng buông thả là sai lầm nghiêm trọng của hành giả học Phật.

Tôi dạy người ta đừng trốn tránh vật chất, là phải vận dụng vật chất để làm những việc dưới đây:
1. Dùng tiền để làm việc thiện tại thế gian.
2. Dùng tiền để lưu thông sách thiện và kinh điển.
3. Xây dựng những đạo tràng tu hành tốt nhất.
4. Độ hóa những quan chức cao cấp.
5. Dùng tướng cao quý để làm độ hóa kiểu của một vị vua.
6. Giúp đỡ tư lương cho những hành giả tu hành nghèo khổ.
7. Làm trang nghiêm mọi thứ.
8. Làm sự nghiệp từ thiện với các công việc như chữa bệnh, giáo dục, văn hóa, tế bần, cứu nạn, v.v…

Tôi cho rằng, muốn có được thành tựu vật chất thì đều phải nỗ lực chăm chỉ thì mới là cơ sở của thành công. 
Còn thành tựu tâm linh, chặn đứt dòng thác lũ sinh tử, có thể đến được bờ bên kia của niết bàn, thì cũng phải nhờ nền tảng tinh tấn thì mới có thể thành công. 

“Chính pháp niệm xứ kinh” viết:
*”Kẻ ngu thích phóng dật, thường chịu mọi khổ não, người rời xa phóng dật, sẽ luôn được an lạc. Tất cả mọi khổ não, cái gốc là phóng dật, vì muốn thoát đau khổ, nên từ bỏ phóng dật.”*

Vì thế:
Kiến giải chính xác về vật chất không chỉ đơn thuần là ăn, uống, vui chơi mà thôi. 
Một người muốn đạt thành tựu vật chất, nếu không phóng túng buông thả, mỗi ngày chăm chỉ nỗ lực thì trên đời này không có việc gì khó. Ví dụ như dòng nước nhỏ thường xuyên chảy cũng có thể khiến cho ao đầm đầy nước. Người muốn có được thành tựu vật chất, phóng dật hoặc nay làm mai nghỉ thì đều không đúng. Vì vậy, thành tựu vật chất hay thành tựu tâm linh, cơ sở cho sự thành công của nó thật sự là giống nhau. Đây chính là cái gọi là:
Tinh tấn kiền thành.
Thiện báo mấy chốc.

🌟

Làm sao để dung hòa vật chất và tâm linh?
Mây không che trăng.
Trăng không che mây.

Vì sao Tây phương Cực Lạc thế giới cần có “vàng phủ mặt đất”, “hàng cây châu báu”, “bát công đức thủy”, lầu gác với đủ thứ vàng, bạc, lưu li, thủy tinh, v.v…?
Vì sao có hoa sen rực rỡ và đẹp đẽ, trong hư không lấp lánh những ánh sáng quý giá đầy màu sắc. Có ánh sáng vàng rực rỡ, có ánh sáng đỏ chói lọi, có ánh sáng xanh ngọc bích, có ánh sáng trắng tĩnh lặng, những sóng ánh sáng đan xen chiếu rọi khắp trên dưới?

Vì sao có những loài chim nhiều màu sắc kì diệu, bạch hạc, khổng tước, anh vũ, xá lợi, ca lăng tần già?
Vì sao A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát đều có thất bảo làm trang sức cho mình?
Tây phương Cực Lạc thế giới này vốn là thế giới dung hợp giữa vật chất và tâm linh. Ở thế giới Phật quốc không hề có chuyện dạy chúng sinh đời này kiếp này phải từ bỏ vật chất, chỉ giữ lại mỗi tâm linh.

Người khai ngộ chân chính là:
*Thấy núi chẳng phải núi.
Thấy sông chẳng phải sông.
Cũng không có gương sáng.
Làm sao mà có bụi.*

Thật ra, Lư Thắng Ngạn tôi hiểu rằng:
”Cái gì là vật chất? Cái gì là tâm linh? Vật chất phân tích đến tận cùng thì cũng chính là tâm linh, tâm linh phân tích đến tận cùng thì chính là tính Không.”
Kinh Kim Cang viết:
”Thực tướng không phải là tướng thì gọi là thực tướng.”

🌟

Có một hôm, quang cảnh lúc ấy là khoảng hai giờ chiều, có một người đàn ông khoảng 30 tuổi đến Lôi Tạng Tự, tiếng quốc ngữ của anh có mang một chút âm điệu Quảng Đông. 
”Này! Liên Sinh Hoạt Phật có ở đây không?”
Vừa đúng lúc tôi từ cửa chùa đi ra, tôi nói:
”Là tôi đây.”
”Này! Nghe nói ngài có tiếng tăm lừng lẫy, liệu có thể hỏi ngài vài vấn đề được không?”
”Tôi rất sẵn lòng.”

“Nghe nói ngài đeo đồng hồ xịn, lái xe sang Rolls-Royce, người tu hành mà như thế thì có được không?” - Người đó người hinh hích.
Tôi nói: 
”Anh đoán thử xem. Vì sao tay tôi đeo đồng hồ xịn, lái xe sang Rolls-Royce?”
Người khách nói:
”Sự việc này chúng tôi nghĩ không thông, làm sao mà đoán chứ?”
”Đoán thử xem có gì hay ho không?” - Tôi chọc anh ta.
”Không đoán được.” - Anh nói.
”Tay tôi đeo đồng hồ Rolex, lái xe Rolls-Royce, chính là để thu hút sự chú ý của những người như anh, sau đó chạy đến hỏi tôi, rồi tôi lại độ hóa anh đi vào cửa Phật.”
Người khách há hốc miệng, không biết nói sao cho thỏa đáng, rồi ngậm chặt miệng lại, lắc mạnh cái đầu, không dám tin.

Tôi đưa người khách vào trong Lôi Tạng Tự, chỉ vào A Di Đà Phật nói:
”Phật có màu sắc gì?”
”Vàng kim.”
”Vì sao Phật có màu vàng kim?”
Người khách đột ngột mở to mắt ra, nói: 
”Thì ra màu sắc của Phật cũng là để lôi kéo sự chú ý của người ta.”

Chúng tôi ôm bụng cười, thời gian của buổi chiều hôm ấy trôi qua rất nhanh, chúng tôi thảo luận rất nhiều đề tài kì quái, rất thú vị.
Anh ta chú ý đến chiếc đồng hồ của tôi:
”Ấy! Không phải là đồng hồ xịn hiệu Rolex?”
Tôi đáp: 
”Có thể đeo, có thể không đeo.” (Khi ấy tôi đeo một chiếc đồng hồ Seiko.)
”Ấy! Ngài cũng không lái xe Rolls-Royce?”
Tôi đáp:
”Có thể lái, có thể không lái.” (Ngày hôm ấy tôi lái xe Lincoln.)
”Vì sao có thể, và vì sao có thể không thể?”
”Không bám chấp. Ha ha!”

Tôi tự biết, tôi là một người chế tâm, bởi vì nhất tâm có thể chế phục được những suy nghĩ phóng dật, sự tu tâm của tôi đã đạt đến cảnh địa đại an lạc như như bất động rồi. Tuy nhiên, đối với hoàn cảnh đến từ bên ngoài, tôi chưa bao giờ chấp vào chúng, cũng sẽ không mê đắm. Người ta tặng tôi đồng hồ xịn thì tôi đeo đồng hồ xịn, người ta tặng tôi xe sang thì tôi lái xe sang, có và không đều không khiến tôi tâm vượn ý mã [tâm ý chạy lung tung, thất thường, đứng núi này trông núi nọ]. 
Tôi bán đồng hồ xịn rồi, cũng bán xe sang rồi. 
Có lại biến thành không.


### 11. Nghệ thuật


Thế nào là nghệ thuật?
”Đẹp” chính là nghệ thuật, vậy lẽ nào “xấu” không phải là nghệ thuật sao?
”Thư thái” là nghệ thuật, vậy “ác tâm” không phải là nghệ thuật sao?
Tôi từng làm thơ, cũng từng đánh đàn, từng học vẽ tranh, từng yêu thích múa, tôi tự hỏi mình, tôi có được xem là một nhà nghệ thuật không?

Ở trước tấm gương, tôi nhìn gương mặt tròn trịa của mình, cái chất ngây thơ của một đứa trẻ nhỏ tuổi đã không còn, ngoài chính bản thân mình ra, còn có ai hiểu được cuộc bể dâu của chính mình? Thật ra, bất kể là ngây thơ, hay bất kể là lão luyện, tôi thật sự đang sống trong nghệ thuật!
Những ngón tay tôi biến hóa thành thủ ấn, cũng tương đương nghệ thuật.
Tôi niệm Mật chú cũng có lên xuống cao thấp, cũng tương đương nghệ thuật.
Suy nghĩ của tôi quán tưởng, phác họa trong thế giới nội tâm, cũng tương đương nghệ thuật.

🌟

Nghệ thuật không nên chỉ là những cái bình cái lọ!
Nghệ thuật cũng không phải là nhiều thay đổi tươi mới, bởi vì những thứ cũ như đồ cổ thì cũng là nghệ thuật.
Lãng mạn có phải là nghệ thuật không? Thật ra những tổ hợp trang nghiêm là nghệ thuật táo bạo đó!
Thường thì những nhà nghệ thuật thích khoe ra cái điệu bộ “tài trí hơn người”, cho rằng tự mình mới hiểu, người khác không hiểu, đó là muốn người khác phải đối đãi với mình bằng một con mắt khác!
Tôi thuộc về cái kiểu nghệ thuật lãng mạn đó rồi!
Tôi cũng chẳng hề để mắt đến những “nghệ thuật gia”.

Chỉ bởi vì:
Tôi rong chơi trong giang hồ đã nhiều rồi, kiến thức nhiều rồi, đã gặp rất nhiều rất nhiều những nghệ thuật gia giả tạo rồi, năng lực của những người ấy được bao nhiêu, tôi đều biết rất rõ. Sở dĩ tôi nhận thức được rõ ràng như vậy là vì bản thân tôi cũng quan tâm đến nghệ thuật, tôi nâng niu nghệ thuật, tôi yêu mến nghệ thuật, tôi dựa vào nghệ thuật, tôi không tách rời được nghệ thuật, con người tôi đã hóa thành nghệ thuật rồi, là duy nhất, nên tôi rất có chừng mực, không nỡ làm tổn thương những người làm nghệ thuật. Tôi nghĩ rằng trong cuộc đời ngắn ngủi của mình, tôi sẽ buông mình trở về với nghệ thuật và cống hiến hết mình cho nghệ thuật như một ngọn nến đang cháy.
Họa của tôi bất thành.
Nhạc của tôi bất thành.
Thơ của tôi cũng tương đối có tâm đắc.
Những bài múa của tôi cũng tương đối đáng xem.
Tôi hát như một trò chơi.

🌟

Rốt cục, nghệ thuật là vạn vật, là vạn vật thì không thể chia nhỏ, bất kể là trên phương diện nhục thể hay phương diện tinh thần thì đều là nghệ thuật.
Thậm chí, cười cũng là nghệ thuật, khóc cũng là nghệ thuật, tình cảm cũng là nghệ thuật, làm người cũng là nghệ thuật.
Một nghệ sĩ đôi khi không chắc chắn về bản thân, học nghệ thuật nhưng lại bị nghệ thuật trêu ghẹo, ngay cả sự khác biệt cũng trở thành một loại nghệ thuật.
Nghệ thuật có phải là thứ được nhìn thấy không?
Hay nghệ thuật là thứ không thể bị nhìn thấy?

Một nghệ thuật gia vĩ đại nói với tôi:
”Nghệ thuật là một loại cảm giác.”
Như có như không.
Như huyễn như mộng.

🌟

Viết một bài thơ: 
**Bài thơ nghe nhạc**

*Ai đã nói
Nhìn thấy Trường Giang Hoàng Hà sóng lớn vỗ bờ
Ai đã nói
Những tình cảm dặn dò ân cần của dòng nước*

*Ai đã nói
Khi hoa rụng bay theo ngọn gió
Những nốt nhạc
Như những ráng mây bay*

*Một buổi chiều không có ai bầu bạn
Chỉ có chiếc băng nhạc mà thôi
Tôi ngồi trên chiếc ghế
Chăm chú vô cùng
Vận dụng con mắt cảm giác
Của toàn thân.*

🌟


Tôi cảm thấy sự nhàm chán cũng là một dạng nghệ thuật.
Bởi vì nghệ thuật sinh ra từ sự nhàm chán.
Kuriyagawa Hakuson nói: [Nhà phê bình văn học người Nhật, tên thật là Kuriyagawa Tatsuo]
”Văn chương là biểu tượng của sự buồn khổ.”
Tôi cũng có thể nói thế này:
”Nghệ thuật là biểu tượng của sự nhàm chán.”

Tôi phát hiện ra Phật Bồ Tát rất vĩ đại, năm xưa nếu tôi lưu lại tại Đài Loan, không đến nước Mĩ, tôi chỉ là một thầy xem bói thần toán số một mà thôi.
Nhưng, Phật Bồ Tát tận lực muốn tôi di cư qua nước Mĩ, đó là một kế hoạch vĩ đại, một ý tưởng vĩ đại. Bởi vì Phật Bồ Tát rất vô vị, trên thực tế các vị rất nhàm chán, các vị đưa tôi đến nước Mĩ nhàm chán, ở một đất nước nhàm chán không có việc gì để làm, vì nhàm chán nên có thể chăm chỉ mà đi khám phá (đào sâu) thâm nhập vào thế giới nội tâm.
Ở nước Mĩ nhàm chán, tôi chỉ còn biết định tâm lại, đóng cửa tu pháp, bởi vì nhàm chán nên phải nghĩ cách giải khuây, giờ đây chỉ có tinh tấn thiền định tu pháp, tôi nhảy ra khỏi cái lề lối nhàm chán, bắt đầu nghiêm túc tu pháp.

Người ta cho rằng tốc độ viết sách của tôi tương đối khiến người đời sửng sốt. 10 năm ở Mĩ, tôi đã viết 56 cuốn sách, cộng thêm số sách từng viết ở Đài Loan thì đến nay đã được 95 cuốn rồi. Họ cảm thấy hết sức kinh ngạc. Đây tuyệt đối không phải là vấn đề tiền bạc, cũng không phải là vấn đề danh vọng, càng không phải là vấn đề dồn hết tâm trí để sáng lập một tông phái. Nguyên nhân chân chính của nó là: “Nhàm chán.”
Nếu tôi không tu pháp thì chẳng có việc gì để làm.
Nếu tôi không viết sách thì chẳng có việc gì để làm.
Nhàm chán, ấy thế mà lại là một sự bắt đầu vĩ đại.
Nhàm chán khiến tôi trở thành một nhà tôn giáo và một tác giả.
”Nhàm chán là sự khởi đầu của nghệ thuật.” - Đây là lời vàng của Lư Thắng Ngạn.

🌟

Thượng sư Liên Nhuận ở Indonesia là một họa sĩ. 
Vào ngày sinh nhật của tôi, bà ấy đã tặng tôi bức tranh một trăm lẻ tám con chim én. Tôi thích đứng ở trong phòng khách nhìn ngắm một trăm lẻ tám con chim én.
Tôi cảm nhận thấy, chim én bay rất cao rất xa, bầu trời xanh trong không mây, từng con chim đều có nét biểu cảm, tư thế dáng dấp riêng.
Một trăm lẻ tám con chim hiện lên khá sống động, vừa bay vừa nhìn quanh. Có con thì há mỏ ra, dường như tôi có thể nghe thấy âm thanh dồn dập trong trẻo của chúng, rồi cả những tiếng hót líu lo uyển chuyển rất dài nữa, có con thì vểnh cái đuôi lên rất cao, có con thì tung bay lên rất cao, có con thì bay ngang, có con thì lao bổ xuống, có con thì đôi cánh không ngừng vỗ hai bên, có con thì lướt mình theo gió.

Tôi nghe nói, Thượng sư Liên Nhuận muốn vẽ chim thì bà ấy phải đi vào rừng để quan sát chim, nhìn chim bay tới bay lui, nhìn chim nhảy hai nhịp lại dừng một nhịp, nhìn chim không ngừng bay lên và kêu lên khe khẽ, chú ý đến sự hấp tấp hoặc ung dung của chúng. Quan sát tỉ mỉ sự phối hợp lông vũ của chúng, sự nhẹ nhàng và mộc mạc của ánh sáng màu sắc. Rồi cả những chiếc mỏ của chúng nữa, thỉnh thoảng lại: “Chiu - - chiu - - chiu, chiu - - chiu chiu.”
Chim có phong thái của chim.
Chim có sự hoạt bát của chim.
Chim có sự tao nhã của chim.
Chim có sự mộc mạc của chim.

Thượng sư Liên Nhuận nói:
”Khi vẽ con cua thì trên bàn đầy cua bò. Khi vẽ tôm thì trong cái bể cá cảnh toàn là tôm.”
Thượng sư Liên Nhuận nói:
”Nắm bắt chính xác tinh thần của tất cả các bức tranh và bộc lộ cái chất đặc biệt của chúng chính là nghệ thuật.”

Tôi nhớ đến nhà hàng xóm lúc nhỏ của tôi.
Ngôi nhà ở sát vách.
Ngôi nhà ấy có tướng “tiểu phú quý”, một ngôi nhà nhỏ hai tầng, tường màu hồng và trắng, ngói thủy tinh màu vàng, có một công viên nhỏ trong sân, một đài phun nước nhỏ phun ra những tia nước nhỏ li ti, và còn có những con cá màu đỏ như son bơi lội, cá màu đen thì như bị nhuộm mực, có liễu rủ bên đài phun nước, đó cũng là nghệ thuật.

Còn nhà tôi thì:
Sân nhỏ lạnh lẽo.
Con người co quắp.
Bố trí đơn sơ.

Tuy nhiên, chúng tôi cũng cần nghệ thuật.
Tôi hi vọng con người trên thế gian này đừng mù quáng, cũng đừng có suốt ngày bận bịu. Mỗi người đừng chìm nổi trong đám đông, bất kể là nghèo hay giàu, cũng không cần phải căng thẳng khẩn trương vội vàng gấp gáp, mỗi người đều có một phần nghệ thuật của họ.
Khi tôi còn nhỏ, nhà tôi mặc dù nghèo khó, đồ đạc không có nhiều, nhưng bày biện đều có nghệ thuật, thường xuyên thay đổi để không phải ngày ngày đều lặp lại giống nhau.

🌟

Thế nào là sự phân biệt giữa nghệ thuật và dung tục?
Không ai bị từ chối khi muốn bước chân vào nghệ thuật. Tuy nhiên, hầu hết mọi người trên thế giới đều thích con đường thô tục đến mức không thể thô tục hơn được nữa.
Chẳng ai muốn làm một kẻ nhà quê, nhưng chẳng ai thoát ra được cái bộ dạng nhà quê. 
Xán lạn, lãng mạn, mĩ lệ là cuộc sống chỉ có trong truyền thuyết, còn trong cuộc sống hiện thực chỉ có những vết bẩn loang lổ, nội tâm thấp thỏm, danh lợi giả tạo.

Huyễn tưởng chung quy cũng là huyễn tưởng, cuối cùng cũng không thể nào trở thành một cái đẹp chân thực, cũng giống như cuộc sống của mỗi người, phần lớn đều có một trình tự cuộc sống.
Bất luận là muốn nhảy thế nào cũng đều không nhảy thoát ra được, bất luận là nỗ lực thế nào cũng không có cách nào cải thiện được, ngược lại, đủ thứ phiền não vụn vặt rắc rối không ngừng, cái họ phải đối mặt là hết phiền não này đến phiền não khác, người này tới người nọ ngã bổ nhào, ngã đến mức đầu toang máu chảy.
Hiện thực chính là như vậy.
Hiện thực chính là thô tục như vậy.

Con người chỉ sống qua ngày trong một dạng chờ đợi, về cơ bản thì họ nói là họ hiểu lẽ phải, nhưng nói đơn giản thì là loay hoay ngày ba bữa cơm, bán mạng làm việc, để đổi lấy sự mệt mỏi toàn thân. Nhìn những khuôn mặt tội nghiệp, cái kiểu ngoan cường một cách ngu ngốc này, thật sự vì sao mà họ phải tự chuốc lấy cái khổ chứ? Cảm nhận cuộc sống ư? Chỉ là một con số không tròn trĩnh.
Chẳng đẹp, chẳng thật, chẳng thiện, cuộc sống cứ thế trôi qua chẳng có gì đặc biệt, ngày này qua ngày khác.


Thế nhưng,
Chúng ta cũng có thể kì vọng thật sự xuất hiện:
Một cơn gió mát.
Một chút xanh tươi.
Một tách cà phê.
Một chút âm nhạc.
Có thể dần dần tiến vào cái tinh túy của tự nhiên.

🌟

Tôi có một cuộc sống kiểu nghệ thuật không?
Tôi từng đi dạo bên bờ hồ vào buổi đêm mát rượi như nước dưới ánh trăng sáng mịn như gấm, cái cảm giác ấy như một bài thơ, có một sự khuây khỏa như kiểu “trà sữa cho tâm hồn”. 
Những gợn sóng hồ lăn tăn là bài hát rì rào, khó nắm bắt và phức tạp, thế nhưng, tôi lại nghĩ chúng thành tiếng niệm chú “cha…. cha… cha…”, có một cảm giác ba chiều và tính chân thực, không có dáng vẻ kệch cỡm, không có bất kì một chút giả tạo nào.

Nghe thật kĩ.
Có phách nhịp.
Có tiết tấu.
Cảm động lòng người.
Vào lúc này, tôi thường tiến vào thế giới nội tâm của mình, con người không tha thiết với nghệ thuật trong lòng mình, mà là tha thiết với mình trong nghệ thuật, sau đó thì quên mất bản thân, lúc này trời đất giao lưu, vũ trụ chính là một bức tranh đẹp đẽ nhất.

🌟

Sinh mạng vốn dĩ là trống rỗng, nghệ thuật chỉ là một sự trông đợi. 
Con người sống trong đó:
Sắp điên rồi.
Mất trí rồi.

Có một nghệ thuật gia nói với tôi:
”Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, chỉ cần vận dụng tâm lực, vận dụng tâm lực mà không lưu dấu vết. Hãy chú ý bốn chữ “không lưu dấu vết”, ánh sáng của nghệ thuật tự nhiên sẽ tỏa ra xung quanh.”
Tôi đánh giá cao câu nói này của ông ấy.
Tôi thích “không lưu dấu vết”.
Tôi coi thường sự phù phiếm cực kì.

Viết một bài thơ nhỏ vậy!

**Không lưu dấu vết**

*Tôi muốn nghệ thuật
Tôi muốn từ ngoài đi vào bên trong
Tôi dùng cảm giác
Không ai biết tôi là ai*

*Tôi đi qua
Từ gần đi tới xa, từ xa đi tới gần
Có một ngày đi thật xa bay thật cao
Chẳng có ai theo kịp*

*Tôi mãi mãi chẳng có dấu vết
Người đời chẳng hôn được đến môi tôi.*


### 12. Luân hồi


Trong lúc đọc kinh, tôi nghiên cứu kĩ càng những ví dụ về hạt và mầm trong kinh Phật, bởi vì tôi hiểu, đó chính là luân hồi.
Kinh Lăng Già viết:
”*Vua Lăng Già hỏi Phật: Thế Tôn! Chúng sinh chết đi, vào lúc chưa sinh ra, cái thức ở chỗ nào?
Phật nói: Hỡi vua! Hạt nảy mầm, là hạt chết trước rồi mới nảy mầm, hay là mầm sinh ra rồi thì hạt chết, khi hạt chết thì mầm mới sinh ra?
Vua Lăng Già nói: Hạt chết thì mầm sinh ra.
Phật nói: Sinh diệt cùng lúc, không có trước sau. Tức là khi cái tiền thức chết đi thì cái hậu thức mới sinh ra.”*
(Tôi cho rằng đoạn đối thoại này là triết lí “duy thức”. Kinh Lăng Già là một trong những điển tích trọng yếu của nghiên cứu Pháp tướng tông.) [Pháp tướng tông: Yogācāra]

Tôi nghĩ luân hồi cũng là:
Sinh diệt đồng thời.
Không có trước sau.
Khi chết tức là sinh.
Khi sinh tức là chết.

🌟

Trong kinh Đại Lăng Nghiêm nói:
Thân phụ Bà La Môn nghe về thuyết vô ngã. 
Nói: “Nếu là vô ngã thì ai đến kiếp sau?”
Kiêu Thi Già đáp: “Tùy theo các nghiệp phiền não của quá khứ mà có được thân hiện tại. Trong hiện tại tạo các nghiệp ra sao thì sẽ có được thân tương lai như thế. Ví như hạt, các nhân duyên hài hòa thì hạt sẽ nảy mầm. Sự nảy mầm của hạt cần có duyên, mầm lớn lên thì hạt sẽ chết. Hạt chết vì là vô thường, mầm sinh ra là vì sự liên tiếp. Phật nói thọ thân cũng như thế. Mặc dù là vô ngã nhưng nghiệp báo không mất.”

Tôi đọc kinh này mới hiểu:
Mặc dù đã đạt đến vô ngã.
Nhưng sức kéo của những hành vi nghiệp thì không thể mất đi.

Giống như ví dụ về hạt:
Hạt chết đi.
Mầm mới sinh ra.
Lời vàng của Lư Thắng Ngạn là thế này: “Thức là hạt giống của sự nảy sinh của tất cả sinh mệnh. Và tất cả hành vi mà cái thể sinh mệnh của chúng sinh hữu tình gây ra có thể tạo nên sinh mệnh đời sau của họ.” 

🌟

Trong kinh Tăng Nhất A Hàm, tôi ngẫm nghĩ kĩ nhiều nhất về phần “Pháp nhân duyên sinh tử”:
*”Khi Phật ở vườn Kì Thụ Cấp Cô Độc tại nước Xá Vệ đã nói với các tì kheo rằng:
Nay đang nói về pháp nhân duyên sinh tử, ai giỏi suy nghĩ hãy tu tập pháp này!
Các tì kheo bạch Phật rằng: Vâng thưa Thế Tôn, xin nghe theo lời dạy!
Phật nói: cái gọi là pháp nhân duyên, do vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sinh, sinh duyên lão bệnh tử, ưu bi khổ não không kể xiết. Như thế mà thành thân ngũ uẩn.”*
Đây chính là chân đế của pháp nhân duyên sinh tử mà Phật Thích Ca Mâu Ni đã giảng. 
Mười hai nhân duyên, đó chính là một quá trình liên quan kết hợp cùng lúc của phiền não, nghiệp báo, sinh khổ. 

Tôi ngẫm nghĩ về vòng luân hồi ở đây:
Phiền não sản sinh nghiệp lực.
Nghiệp lực sản sinh đau khổ.
Đau khổ sản sinh phiền não.
Luân hồi không ngừng.

🌟

Viết một bài thơ:

**Luân hồi**

*Trong kinh điển
Hạt và mầm luôn được nhắc đến rất nhiều
Mấy nghìn năm sau
Hạt và mầm vẫn cứ sinh rồi lại chết*

*Chúng sinh
Những giấc mơ chồng chất
Những giấc mơ vội vàng
Những giấc mơ vụn vặt
Còn cả những giấc mơ chẳng cần mơ
Núi cũng thế
Sông cũng thế
Chúng sinh vẫn y nguyên
Luân hồi vẫn y nguyên.*

🌟

Tôi từng đứng trước thác nước lặng im suy ngẫm. 
Dòng thác như một sợi dây treo khổng lồ, giống như mái tóc của người phụ nữ, đang rũ xuống, lấp lánh sắc thái lộng lẫy nhất trong cái trắng bạc tưởng tượng.
Sợi dây chuyền khổng lồ ấy từ không trung phủ xuống, quả nhiên khí thế phi phàm, từ trong đó một vài tia nước bắn ra, dường như đang run rẩy xoa lên đôi má, cảm giác giống như thiên nga, rất nhẹ nhàng, rất thân thiết, như thể không có chút tì vết, tiến vào tâm hồn của chính mình.

Thác nước là sự tích tụ của nước.
Nước là sự tích tụ của không khí.
Mây cũng là sự tích tụ của không khí.
Mây tích tụ lại sinh ra nước.
Bên tai dường như có âm thanh nói với tôi: “Vạn sự vạn vật trên đời, hiện tượng của chúng chính là hai chữ luân hồi.”

🌟

Thành, trụ, hoại, không của Phật giáo đúng là một quy luật tự nhiên. Sẽ có một ngày, tôi (Lư Thắng Ngạn) sẽ nói: “Tôi già rồi, trái tim tôi cũng sắp hỏng rồi, tôi đã không còn chút động lực nào đối với mọi sự vật nữa, trong suy nghĩ của tôi chỉ còn lại hoại và không.”
Kì thực trên thế giới này đích thực chỉ có một lí luận, lí luận này mọi người đều hiểu, áp dụng vào mọi kiểu của sinh mệnh thì đều có một mùi vị giống nhau. Thành trụ hoại không được gọi là bốn kiếp.

Tôi nhận thấy đây là chân tướng của giới tự nhiên, tức là bốn chân tướng, bốn chân tướng đó là sinh - trụ - dị - diệt.
Cái hữu danh ban đầu của pháp là “sinh”.
Sinh thành tướng thì là “trụ”. 
Tướng thay đổi chính là “dị”.
Cái vô danh sau khi thay đổi là “diệt”.

Ở đây, tôi nghĩ đến toàn bộ vũ trụ, tôi nghĩ đến toàn bộ trái đất, nghĩ đến đại dương, nghĩ đến nham thạch nóng chảy trong vỏ trái đất, nghĩ đến gió, nghĩ đến đủ loại sinh mệnh (động vật và thực vật), đủ mọi chi tiết rất nhỏ rất mịn. 
Trong đó có luân hồi, trong tâm linh an tịnh của tôi, luân hồi sinh tử cứ trượt ra từ trong tiếng lòng của tôi một cách tự nhiên.

Lư Thắng Ngạn tôi nghĩ như thế này:
”Thời gian chầm chậm đến, thời gian chầm chậm đi, không biết đã trôi qua bao lâu rồi. Những nơi mà ta giao tiếp mỗi ngày còn sót lại những vết loang lổ, kết quả của nó chính là sinh, trụ, dị, diệt.”
Tôi từng nghĩ đến:
Khi còn trẻ, tôi và một cô gái cùng nhau ngắm sao.
Khi còn trẻ, tôi và một cô gái cùng nhau nghe biển hát.
………..

Kinh Viên Giác nói thế này:
*”Tất cả chúng sinh, từ vô thủy đến nay, có đủ mọi điên đảo, nhận thức ngông cuồng rằng tứ đại làm nên thân tướng này, những duyên ảnh của lục trần làm nên cái tướng của tâm mình, giống như người bị bệnh mắt nhìn hoa trên không trung lại tưởng là mặt trăng thứ hai. Không trung thật ra đâu có hoa, là do người bệnh chấp bậy vào mà thôi. Vì thế mà luân hồi sinh tử, mà gọi là vô minh.”*
Cái gọi là “vô minh” chính là kiến giải không chính xác, nhận thức sai, hình tượng không có thật. Ví dụ tất cả chúng sinh hữu tình xem đất (xương thịt), nước (máu dịch), gió (hô hấp), lửa (nhiệt độ), là những thành phần cấu thành nên con người, sai lầm cho rằng chúng tạo nên bản thân mình thật sự chân thực.
Rồi lại lấy lục trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp dựa theo lục thức mà sinh ra cảnh giới, cho rằng tất cả sự vật là thực thể tâm linh của chính mình.
Vì thế mà sinh tử luân chuyển không ngừng, chính là vô minh.

Kinh Bát Nhã nói:
”Có ý niệm* về thân ta, nên sinh ra thân nghiệp.
Có ý niệm về ngữ ta, nên sinh ra khẩu nghiệp.
Có ý niệm về ý ta, nên sinh ra ý nghiệp.”*

Tam mật của Như Lai, tam nghiệp của thân ngữ ý, vốn dĩ bình đẳng, thân bình đẳng với ngữ, ngữ bình đẳng với ý, đều ở khắp pháp giới, là pháp Phật tam mật bình đẳng.
Tu hành của Mật giáo chính là:
Tam mật của thân ngữ ý của chúng sinh và tam mật của pháp thân Phật tương ứng, dung hợp và không có khoảng cách, nhập ngã ngã nhập, bình đẳng lẫn nhau, tức thân thành Phật, không hai không khác.

Ở đây:
Đất nước lửa thuộc về thân mật.
Gió không khí thuộc về ngữ mật.
Thức thuộc về ý mật.
Tu hành Mật giáo là dựa vào sự tương ứng của tam mật mà thành tựu tất cả các tịnh thổ.


### 13. Thiền định


Vì sao tôi cần tu hành học Phật? Vì sao cần thiền định mỗi ngày? 
Bởi vì:
Tôi thấy con người thế gian đều có phiền não, khổ không sao nói hết, tôi học thiền định là để trừ bỏ phiền não.
Tôi thấy con người thế gian, vì ngũ dục mà không thể xuất li, vì tôi muốn xuất li khỏi ngũ dục nên tôi học thiền định.
Người đời luôn bị vợ con tài sản trói buộc, vì thế tôi cần học thiền định.
Người đời coi những đam mê là niềm vui, tôi muốn lấy pháp vị là niềm vui, vì thế tôi học thiền định.
Người đời đều lấy “hữu ngã” làm xuất phát điểm, còn tôi muốn học “vô ngã”, cho nên tôi học thiền định.
Người đời sợ sống, sợ chết, sợ già, sợ bệnh, vì muốn vượt lên sinh lão bệnh tử nên tôi học thiền định.
Người đời trí tuệ nông cạn, vì muốn trí huệ nên tôi học thiền định.
Người đời lắm kẻ tham sân si, vì muốn dập tắt tham sân si nên tôi học thiền định.
Người đời vì mưu sinh, sĩ, nông, công, thương, mà cả ngày thấp thỏm hoang mang, lòng không yên, cũng vì điều này nên tôi học thiền định.
Tôi lại thấy, vua tôi, cha con, anh em, thê tử, nô tì, thân hữu, thầy trò, vai vế thế hệ đều hỗn loạn, cho nên trái tim tôi đau xót vô hạn, vì thế tôi học thiền định.

🌟

Thiền định của tôi chỉ có bốn chữ:
”Thâm sâu, bí mật, quảng đại, ảo diệu.”
Tôi phát hiện ra thiền định chính là hư không.
Lời vàng của Lư Thắng Ngạn là thế này:
”Thiền định là thế giới trang nghiêm thanh tịnh, có trí huệ thế gian và xuất thế gian, làm chỗ dựa cho vạn vật vũ trụ, chỗ dựa cho pháp môn giải thoát sinh tử.”

Trong thế giới thanh tịnh trang nghiêm:
Là thanh tịnh, trong sáng và không chướng ngại.
Là bình đẳng viên dung không khác biệt.
Là đại viên mãn.
Trong thiền định của tôi, tôi học tập được vô hình, vô tướng, vô hành, vô chỉ, vô lượng, vô tế,…
Trong một niệm, biết hết tất cả mọi pháp của thập phương tam thế.
Trong một niệm, công đức viên mãn mà thành tựu Phật đạo vô thượng.

🌟

Lời vàng về thiền định là:
Nhiều quy về một.
Một quy về không.
Không tức vô niệm.

“Đốn ngộ nhập đạo yếu môn luận” viết:
*”Nói cái gì là thiền, nói cái gì là định, đáp rằng vọng niệm không sinh là thiền, tọa kiến bản tính là định. Cái bản tính là anh không sinh tâm, cái định là vô tâm đối với hoàn cảnh. Tám ngọn gió không thể lay động, tám ngọn gió: lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ, lạc, gọi là tám ngọn gió. **[lợi dưỡng - suy hao, phỉ báng - tán thán, tôn kính - chê bai, đau khổ - vui mừng] **Người đắc được cái định như thế dù là phàm phu cũng tức là đã nhập Phật vị.”*

Bài thơ thiền định của Hàn Sơn Tử:
*Nhà nông tránh nắng hè
Rủ nhau cùng uống rượu
Lặt vặt quả vài thứ
Gom góp rượu mấy bình
Vơ lau sậy làm chiếu
Lá chuối làm đĩa bàn
Say sưa nơi thôn nhỏ
Khác chi núi Tu Di.*
Tôi khoái nhất là câu cuối cùng: “Khác chi núi Tu Di.”

🌟

Tôi cũng viết một bài thơ thiền định:

*Bên ngoài cửa sổ hồ U Linh
Bên trong cửa sổ chút suy tàn
Y phục rộng rãi nay khoác tạm
Ngồi xuống quên mất ai là ai
Chỉ còn say sưa với pháp vị*

*Thâm sâu bí mật rộng lớn ảo diệu
Vô hạn vô biên muôn vạn vì sao
Đưa tay ra nắm lấy
Sông núi kia của ai
Không dễ cũng không khó
Thiền môn nào có cửa
Chỉ một mình ngao du.*

🌟


Thiền định chính là “bất loạn”……
Tôi đã trải qua tám ngọn gió thế gian “lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ, lạc”, những thử thách hoàn toàn khác nhau này, giờ đây, tự tâm hiểu rõ, thấu triệt hoàn toàn.
Những lúc tranh thủ từng giây từng phút, vẫn trấn tĩnh như thường.
Tôi cũng từng trải qua những lúc sống mơ mơ màng màng như người say rượu, tôi ngấu nghiến tất cả mọi thứ của mình một cách tham lam, những điều ấy đều trở thành kí ức trong tim tôi. Đối với những điều này, trong mỗi tấc thời gian của cuộc đời tôi, cũng có thể coi là một tư liệu, giúp tôi có biện pháp đối chất với loại người này trong quá trình độ hóa họ. 

Thật ra, những trải nghiệm cuộc đời của tôi:
Đầy ắp.
Căng tràn.
Trong tâm trí tôi tất cả đều là những kinh nghiệm sống.
Bất kể tôi có bộ dạng uể oải hay là đầy hứng thú, tôi vẫn là phong thái như xưa, phong thái như xưa này không phải là công lực của thiền định sao!

Đủ mọi nhân duyên của kiếp trước
Đi qua cuồng phong
Đi qua bão tố
Đi qua bụi gai
Đi qua dốc núi
Kết quả, chẳng còn hoài nghi lo sợ
Khoan thai điềm tĩnh thiền định bất loạn
Không thể thay thế.

🌟

Thiền định chính là “bất động”…..
Không mưa hoa vẫn rơi xuống, chẳng gió sợi bông vẫn tự bay…
Tôi nhớ ra rồi, lời dặn dò của Phật Thích Ca Mâu Ni và A Di Đà Phật:
”Ta đều lệnh cho nhập vào vô dư niết bàn mà diệt độ…”
Tôi từng lăn lộn trong những việc thế tục trần gian, tôi cũng đã từng tự đày ải mình như con thuyền lẻ loi bị cõi trần lãng quên, tôi có rất nhiều rất nhiều quá khứ, tâm hồn tôi cũng lộ ra những vằn vện, mười trượng hồng trần của thế giới Ta Bà đều có hình bóng dấu chân tôi.
Nhưng, tôi đã đi vào “bất động địa”.
Tôi liên tục lặp đi lặp lại học tập thiền tọa, liên tục lặp đi lặp lại luyện tập vi tế, thiền môn không có cửa, thời gian trôi vụt qua, thế là đã ba năm. Tôi vẫn duy trì tình trạng bế quan như vậy, tôi đã bắt đầu đốt cháy lên linh nhiệt nội hỏa. 
Tôi tự thấy mình như một phiến lá, cọ vào những ngọn gió mùa thu, không biết lúc nào mới có hi vọng, những ưu phiền bị không gian cách trở, những vọng tưởng cũng đã ném vào bầu trời vô tận. Trong khoảng thời gian này, tôi tồn tại trong không gian của thiền định, trên thực tế, tôi đã cố gắng hết sức rồi.

Tôi vẫn luôn đơn độc một mình chiến đấu, ngày tháng là nước đọng đứng yên bất động. Cuối cùng, tôi đã thắp lên ngọn lửa, một chút ánh sáng không ngờ có thể chiếu rọi cả một cảnh quan xán lạn đẹp đẽ. Một ngọn lửa tâm linh bé nhỏ cũng có thể khiến tôi du lịch đến mười phương Phật quốc, những điều kinh ngạc mừng rỡ ấy giống như một chuỗi ngọc trai, tao nhã đến nhường ấy.
Nhờ thiền định, tôi đã mở ra một khung cửa sổ khác.
Nhờ thiền định, tôi đã hiểu rõ và khai ngộ về cuộc đời.
Đâu đâu cũng là.

🌟

Sự “bất động” của tôi tuyệt đối không phải là vì tuổi tác của bản thân, mà là vì sự thiền định của chính mình, tư tưởng và hành vi đã hòa hợp với trời đất.
Sự trưởng thành này khiến người ta kinh ngạc, tu hành thiền cũng xem như là điều chỉnh bước chân của mình từ những sai lầm chệch hướng nhỉ!
Đây tuyệt đối không phải là huyễn tưởng hoặc vọng tưởng, “những lời văn hoa về thiền định” là một công phu “chân đạp thực địa”, biểu hiện bề ngoài thì giống như là sự ngưng trệ, nhưng trên thực tế là đứng trên đỉnh cao của cuộc đời mình, hoàn toàn thoát khỏi những khuôn khổ của tục thế.
Tôi quen với nề nếp viết sách, quen với việc trả lời thư, quen với việc tu pháp, những ngày tháng nằm trong quy luật hoàn toàn bất động.
Không chỉ như vậy, tốc độ tiến lên về tâm linh của tôi khiến người ta kinh ngạc. Những giác ngộ và cảm nhận của tôi bao trùm lên toàn bộ cuộc sống của tôi. Tôi cảm thấy được Phật Bồ Tát Chư Tôn ôm chặt, đó là sự nhiệt tình đặc biệt đã nâng cao “thức” và “trí” của tôi.

Giờ đây —
Không dễ gì vì một bông hoa mà cảm động.
Không dễ gì vì một sự việc mà dao động tâm trí.
Không dễ gì vì một những điều vặt vãnh mà lo âu.
Không dễ gì vì vô số phỉ báng mà xúc động.
Giờ đây, thiền định là thứ đẹp đẽ nhất.

🌟

Lời vàng của Lư Thắng Ngạn nói rằng: “Thiền định chính là bất hoại.”
Bởi vì trong đó có “Không định”, là thiền định của quán “tướng Không”, Không định tức là ba loại tam muội. 

Kinh Đại Nhật nói: “Nếu thâm nhập sâu vào nơi sâu xa nhất, tự nhiên sẽ đẩy lùi được nhân nghiệp, chỉ còn tồn tại duy nhất ngã tính, cho tới khi không một pháp nào nhập tâm, từ đó chứng Không định, đây chính là cái lý của cứu cánh, nhờ việc đó mà thoát khỏi tam hữu, khỏi bị quay trở lại tam đồ.”

Ba loại tam muội là:
1. Không tam muội - là tam muội của sự tương ứng với hai hành tướng Không và Vô ngã của Khổ đế.
2. Vô tướng tam muội - là tam muội của sự tương ứng với bốn hành tướng Diệt, Tĩnh, Diệu, Li của Diệt dế.
3. Vô nguyện tam muội - tam muội của sự tương ứng với hai hành tướng Khổ và Vô thường của Khổ đế cùng với bốn hành tướng Nhân, Tập, Sinh, Duyên của Tập đế. 

Trong khi tôi tu Không định, Không quán, các thể của chân như hiển lộ vô cùng rõ ràng, từ Không mà hiển lộ thực tính, và nhờ thực tính hiển lộ đó mà thoát rời được việc chấp ngã chấp pháp. 

Tôi loại bỏ hết tà kiến.
Đắc chứng Không pháp.
Tôi hiểu, vũ trụ này mười phương trên dưới duy có hư không là bất hoại. Và thiền định có thể chứng minh, cho nên thiền định chính là bất hoại.

🌟

Có người hỏi tôi:
”Ngài có cao kiến gì đối với tính Không?”
Tôi đáp:
”Phong thái như xưa.”
Tôi thấy người đặt câu hỏi vẫn phân vân không quyết, nhưng lại không đưa ra được đạo lí nào để bẻ lại.
Tôi ý thức được rằng, câu trả lời của tôi là một câu nói rất bình thường, rất thường, nếu nói nghiêm túc, nghĩ một cách có trách nhiệm thì câu trả lời ấy có phần quá đơn giản.
Thế nhưng, bốn chữ đơn giản này có khả năng là toàn bộ về tu hành Không quán, câu nói này là người chân thật nói lời thẳng thắn, trả lời một cách dứt khoát là xong. 
”Phong thái như xưa” cũng chính là bất hoại mà!

“Tính Không có phải là đã kết thúc rồi không?”
”Sao cơ? Tôi không đồng ý với quan điểm này.” - Tôi đáp.
”Vì sao không phải là kết thúc?”
”Bởi vì còn rực rỡ hơn.” - Tôi đáp.
”Ở đâu rực rỡ hơn?”
”Phật quốc rực rỡ hơn.” 

Tôi cảm thấy con người học Phật tu hành, khi tu trì, có thể tiến nhập vào trong thiền định, ở trong cảnh giới lí tính không sinh không diệt, tâm niệm bất loạn, tâm niệm bất động, tâm niệm bất hoại, đã không thối chuyển, cũng không khởi phiền não, yên dạ yên lòng, đây chính là “Phật quốc rực rỡ hơn”. 

🌟

Tôi từng viết một bài thơ:

**Lúc đang nhập định**

*Tôi đang học tập Phật Thích Ca Mâu Ni
Ở dưới cây bồ đề để đi siêu thoát
Cố gắng hết sức chẳng nghĩ đến điều gì
Và cũng chẳng có điều gì cần nói*

*Bản thân phải trở nên rộng lớn như vũ trụ
Nhưng tay chân cứ tê buốt co vào
Cho dù một chút cũng đều phải quên hết
Không được cho phép bản thân mình run rẩy*

*Mắt nhắm lại không nhìn
Tai bịt lại không nghe
Hơi thở đạt đến sự đơn giản thuần khiết
Ý niệm im bặt vắng tanh*

*Chẳng phải đang tự tình
Chẳng phải tự mình độc thoại
Từ bỏ đi những sắc màu vui vẻ
Sắc cũng tức là Không*

*Con đường xa xăm cũng đều đi qua
Tiếp tục thực tu vẫn là điều cốt yếu
Chính là vào giây phút đó
Phong thái như xưa.*


### 14. Trí huệ


Thế nào là trí?
Dựa vào lí lẽ sự tình mà quyết định, chính là trí.
Kinh Hoa Nghiêm nói:
Tất cả Như Lai cùng một pháp thân, một tâm, một trí huệ.
Một Phật trí tức là tất cả các loại trí.
Bốn trí trong Trí Độ Luận là: 
1. Đạo huệ. 
2. Đạo chủng huệ. 
3. Nhất thiết trí. 
4. Nhất thiết chủng trí.

Ngũ Phật ngũ trí là:
1. Đại viên kính trí - A Súc Như Lai.
2. Bình đẳng tính trí - Bảo Sinh Như Lai.
3. Diệu quan sát trí - Di Đà Như Lai.
4. Thành sở tác trí - Bất Không Thành Tựu Như Lai.
5. Pháp giới thể tính trí - Đại Nhật Như Lai.

La Hán tứ trí là:
1. Ngã sinh dĩ tận - Khổ đế. [Không còn phiền não vô minh]
2. Phạm hạnh dĩ lập - Diệt đế. [Hành vi thanh tịnh]
3. Sở tác dĩ biện - Đạo đế. [Đã thực tiễn mọi Phật pháp lợi mình lợi người]
4. Bất thụ hậu hữu - Tập đế. [Thân tâm đạt giải thoát tự tại]

Tất cả Như Lai đều có mười loại trí huệ là:
1. Tam thế trí - thông đạt viên minh các pháp của ba đời quá khứ, hiện tại, tương lai.
2. Phật pháp trí - thông đạt trí huệ độ sinh của tất cả Phật pháp.
3. Pháp giới vô ngại trí - hoàn toàn viên dung thông hành tất cả mọi dạng lí lẽ của pháp giới.
4. Pháp giới vô biên trí - tràn trề mọi pháp, tất cả đều không có biên giới.
5. Sung mãn nhất thiết thế giới trí - trí huệ quảng đại diệu dụng, đầy ắp thế gian.
6. Phổ chiếu nhất thiết thế gian trí - Như Lai dùng đại trí huệ, ánh sáng phổ chiếu đến vô lượng thế giới.
7. Trụ trì nhất thiết thế giới trí - Như Lai dùng đại thần lực, trụ trì thế giới, thu hút và độ hóa chúng sinh.
8. Tri nhất thiết chúng sinh trí - Như Lai biết tất cả nhân duyên thiện ác của chúng sinh.
9. Tri nhất thiết pháp trí - Như Lai biết tất cả Phật pháp, cũng biết tất cả chúng sinh pháp.
10. Tri vô biên chư Phật trí - Như Lai xuất hiện tại vô biên chư Phật thế gian, giáo hóa tất cả chúng sinh. 

🌟

Tôi (Lư Thắng Ngạn) rốt cục ở tại thế gian này để làm việc gì?
Thứ nhất, tôi vận dụng trí huệ để quán đảnh trí huệ cho chúng sinh.
Thứ hai, tôi từ một phàm phu bình phàm tầm thường, liên tục tu hành cho đến khi đạt đến trí huệ của Như Lai, là tướng đầy đủ trí huệ, đó chính là trí huệ giáo huấn bằng chính thân mình.
Thứ ba, tôi dùng ánh sáng trí huệ để phá bỏ bóng tối vô minh của chúng sinh.
Thứ tư, tu hành nội chứng của tôi lấy trí huệ viên minh làm thân, tự lợi và lợi tha.
Thứ năm, tôi nhập định vào trí tướng tam muội, dùng trí huệ thiền định chân thực để giáo hóa người khác.
Thứ sáu, tôi đã đắc mọi trí, là tất cả trí của Phật, từ đó phóng quang phổ chiếu thế gian.
Thứ bảy, tôi dùng trí huệ để đoạn vọng thành chân, dùng trí để cắt đứt vọng tưởng ngông cuồng, dùng trí để chứng thực cái thật, vì thế mà sáng lập nên Chân Phật Tông. 
Thứ tám, tôi chiếu kiến danh trí, giải liễu xưng huệ [người biết chân lí của đời, gọi là trí, người chiếu theo đệ nhất nghĩa, gọi là huệ]. Vì thế, cửa huệ soi cái Không, cửa trí chiếu cái Có.
Thứ chín, tôi dùng trí huệ để cắt đứt sự cản trở của phiền não sinh tử, tôi cũng giáo hóa thế nhân như vậy, dùng thanh kiếm trí huệ để phá tên giặc phiền não.
Thứ mười, tôi sẽ đem toàn bộ công đức độ sinh chảy vào trong biển lớn của trí tạng Tì Lô Giá Na. 

🌟

Lời vàng của tôi (Lư Thắng Ngạn) là:
”Con người sinh ra chỉ là để cầu trí huệ mà thôi.”
”Sự ngu si của con người là chướng ngại của trí huệ.”

Bài thơ của Hàn Sơn Tử:

*Tôi nhìn nước Hoàng Hà
Đã được mấy lần trong
Nước chảy như tên bắn
Thế nhân như mảnh bèo
Ngu si là nghiệp gốc
Hố phiền não vô minh
Luân hồi bao nhiêu kiếp
Chỉ vì tạo mê lầm.*

Lư Thắng Ngạn tôi ý thức rằng trong cuộc đời này, tôi sẽ đem những ngộ cảnh của mình viết vào trong sách, đem ánh sáng trí huệ cùng với những tín niệm của bản thân mình tỏa ra khắp nơi, để phá vỡ bóng tối của thế gian, cho thế nhân hiểu tất cả thực tướng chân như. 

🌟

Lời vàng của Lư Thắng Ngạn là: “Trí huệ là để chống lại vô tri. Mỗi một đứa trẻ ngây thơ từ nhỏ đã cần bắt đầu học tập trí huệ.”
Tôi có một phương trình:
Ngây thơ + kiến thức = trí huệ
Thông minh + kiến thức = sức mạnh
Trí huệ + trí huệ = ngây thơ
Nếu không giải thích phương trình này thì rất khó để cho người ta hiểu được. Đặc biệt là phương trình trí huệ + trí huệ, tôi cho rằng “ngây thơ là một kiểu trạng thái gần nhất với tự nhiên”. 

Một người có trí huệ chân chính lại tiếp tục tìm kiếm trí huệ chân chính, người ấy sẽ biết:
Vô tri tương đương dục vọng.
Ngây thơ không phải là vô tri.
Ngây thơ là không có dục vọng.

Vì thế, người có trí huệ nhất sẽ đạt đến trạng thái vô dục, sẽ tìm được sự ngây thơ ban đầu.
Người học tập Phật pháp chúng ta nhất định phải hiểu, khi bạn học đến cảnh giới cao nhất, không ngờ lại phải vứt bỏ đi công cụ tri thức của Phật pháp, pháp còn phải bỏ, phải quên hết mọi kinh điển, phải tiến nhập vào trong cảnh giới tất cả đều không có, tất cả đều trống rỗng. 
Cái gọi là vô ngã, vô pháp, vô tướng, vô tu, vô chứng.
Cái gọi là pháp không, lạc không, niệm không, thân không, không không.
Đây là một sự tu hành từ không đến có, rồi lại từ có đến không. 

🌟

Tôi muốn nói ra mấy lời sau đây: (trí huệ ở đây là chỉ trí huệ vô thượng, không phải là trí huệ bình thường)
”Trí huệ thâm sâu bí mật rộng lớn ảo diệu không phải là thứ mà người phàm có thể biết, giống như hư không là nơi mà toàn bộ vũ trụ dựa vào.”
”Trí huệ của Phật là thế gian và xuất thế gian, là nơi nương dựa của mọi trí huệ.”
”Trí huệ vô thượng là nơi nương dựa của các bậc thánh giả như Bồ Tát, La Hán.”
”Trí huệ vô thượng là thanh tịnh, trong sáng, vô ngại.”
”Trí huệ vô thượng là bình đẳng viên dung không khác.”
Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người, người đạt đến cảnh giới trí huệ vô thượng, đích thực là tâm cảnh sẽ không còn như trước nữa!

Tôi tự biết:
1. Trước mọi phỉ báng, vẫn như như bất động.
2. Nghe thấy điều thiện, nghe thấy điều ác, tâm không phân biệt.
3. Đối với người ngu, cần từ bi họ. Đối với người khôn, cần tiếp dẫn họ.
4. Đối với chúng sinh thuộc giai cấp khác nhau, phải bình đẳng đối đãi.
5. Cúng dường bao nhiêu, tất cả tùy ý, không hai lòng.
6. Không nhìn vào sai lầm của người.
7. Đối với người của những tông phái khác, đều xem như một.
8. Thấy chúng sinh tam ác đạo, cũng xem như Phật quốc.
9. Tất cả chúng sinh đều là Phật Bồ Tát.
10. Đã không còn phân biệt Phật quốc và trọc thế.

Mười điều trên là tâm cảnh của Lư Thắng Ngạn tôi, người ở vào tâm cảnh này, có thể nói đó là người đã có trí huệ vô thượng. Tôi tự biết, giữa Phật và Phật, những gì phát sinh từ nội tại của các vị là hoàn toàn nhất trí, hoàn toàn như nhau, không có gì riêng biệt.

Tôi từng gặp rất nhiều con người thế gian, có người giàu, người nghèo, người sang, người hèn, người tài, người ngu, những thứ bên ngoài của những người này đều không quan trọng, cái quan trọng nhất là nội tại. Chỉ cần nội tại giống như Phật, một tâm Phật vô thượng trí huệ, thì thân tâm đã đạt đến cảnh giới đặc biệt rồi!

🌟

Tôi yêu thích một bài kệ trong Luận Thập Trụ Tì Bà Sa:

*Trí huệ sáng vô lượng
Thân thực như kim sơn
Sắc vàng sáng kì diệu
Chiếu khắp mọi thế giới
Tùy vật mà hiện sắc
Vì thế cúi đầu chào.*

Đó là dòng chảy pháp quang minh của trí huệ vô thượng, chảy đến vô số thế giới, tùy theo nhu cầu của sự vật và hoàn cảnh ở nơi ấy mà hiển thị, chúng ta nên hướng về Phật Đà vô thượng trí huệ mà cung kính đảnh lễ.
Đó là trí huệ vô thượng chân chính.
Bình đẳng phổ chiếu.
Vô chướng vô ngại.

🌟

Phật Thích Ca Mâu Ni từng nói: “Bất khả thuyết.”
Chúa Jesus Christ luôn luôn không nói.
Bởi vì “nói ra thì cũng không ăn thua”.  
Người có trí huệ viên mãn đôi khi không cần nói, lúc không nói gì là viên mãn nhất, một khi đã nói ra thì cũng là đã kém một bậc rồi.
Trí huệ luôn luôn là bất khả thuyết.

🌟

“Lư Thắng Ngạn, tương lai Chân Phật Tông của ngài sẽ diễn biến thành cái gì?”
Quá nhiều người hỏi tôi câu này rồi. 
Tôi cười.
Mọi người lại truy hỏi.
”Tự nhiên.” - Tôi đáp.
Tôi vẫn luôn trả lời một cách trẻ con như vậy. Đây không phải là một câu hỏi khó, chỉ là tôi chưa từng bao giờ nghĩ đến Chân Phật Tông tương lai sẽ diễn biến thành ra thế nào. 
Trở thành vương quốc tôn giáo chăng?
Thành trụ cột của tôn giáo thế giới chăng?
Như viên kim cương tỏa ra ánh sáng lộng lẫy, là chỗ dựa của toàn nhân loại thế giới, những thành lũy tôn giáo sáng chói được dựng lên trên khắp thế giới chăng?

Có người hình dung Chân Phật Tông của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn giống như trồng một cái cây, đầu tiên là một gốc nhỏ, giống như một chiếc cọc gỗ, dần dần thân cây trưởng thành rồi phân cành phân lá, 10 năm sau, 20 năm sau, 30 năm sau, cây xanh tươi rất lâu, sẽ trở thành một cây đại thụ nghìn tấn vạn tấn, cái cây này giống như cây quy y của Mật tông Tây Tạng.
Rất nhiều người hỏi trẻ con:
”Sau này lớn lên con muốn làm gì?”
Tương tự như thế, rất nhiều người hỏi tôi:
”Chân Phật Tông sau này muốn làm cái gì?”
Tôi đã nghĩ rất lâu, tôi thật sự không muốn làm cái gì cả, tôi không phải là chủ doanh nghiệp, không phải là thương nhân, không phải là chính trị gia, tôi chẳng phải là cái gì cả, nói không chừng, cái cây này của tôi sẽ bị chặt đổ. Tương lai của tôi, tôi chỉ có thể trả lời như thế này: “Tự nhiên.”

🌟

Rốt cục, trí huệ ẩn nấp ở chỗ nào?
Ở trong vũ trụ đầy ắp mười phương trên dưới, ở trong tâm của Phật Đà, ở bên cạnh bạn và tôi, hay giống như một con cừu non tìm thấy thảo nguyên của trí huệ. 

Lúc còn nhỏ, tôi bán mạng học hành. 
Cho rằng sách chính là trí huệ, sách đã trở thành núm vú cao su của tôi.
Cuối cùng rốt cục tôi đã hiểu, núm vú cao su căn bản không phải là trí huệ, tất cả cái việc mút ấy chỉ là một sự mê hoặc tạm thời mà thôi.
Tôi bắt đầu không thích sách nữa, tôi đem tất cả sách khóa lại bên trong tủ sách, tôi bắt đầu trầm mặc, dùng suy nghĩ của tôi, dùng tinh thần tập trung của tôi, dùng cái gì của tôi cũng đều không nghĩ nữa, xem xem trí huệ có phải là ẩn giấu trong cảnh địa triệt ngộ không. 
Tôi cười.
Tôi khóc.
Những bài xích của đám người.
Những tán thưởng của đám người.
Vui và không vui.
Sẽ là tự nhiên, không một chút gượng ép.

Có phải là trí huệ quá cao rồi không? Có phải là trí huệ sẽ chỉ là mộng tưởng? Có phải là trí huệ rất xa không thể nào theo kịp? Có phải là trí huệ là vô tận không bao giờ dừng lại? Có phải là trí huệ sẽ đều bị cướp hết sạch? Chỉ còn là một thành lũy trống không.
Bây giờ, tôi nhận thấy mình dần dần già yếu rồi, còn trí huệ thì vĩnh viễn trẻ trung làm sao. 

🌟

*Tôi là một kẻ nực cười
Tôi đang truy tìm trí huệ
Vậy mà trí huệ lại trốn đi nơi khác
Tôi vĩnh viễn không đuổi kịp được nó
Bởi vì
Trí huệ không già
Còn tôi thì tuổi xuân đã tiêu tan
Trí huệ
Trạm tới của mi, là ở đâu?*

🌟

Tôi từng đến đỉnh núi Tu Di, đi xem “không nhất hiển sắc” của bốn bề. [Không nhất hiển sắc: màu sắc hiển hiện trong hư không, thuần nhất không lẫn lộn.]
Bầu trời phương bắc - màu vàng kim.
Bầu trời phương đông - màu bạc.
Bầu trời phương nam - màu ngọc bích.
Bầu trời phương tây - màu đỏ.

Ở Đao Lợi Thiên, tức là Đế Thích Thiên ở trên đỉnh núi Tu Di, tôi quan sát bốn phương, mỗi phương có tám cõi trời, hợp lại thành 33 cõi trời, mỗi cõi trời ấy lại hiện lên màu sắc khác nhau.
Màu sắc hiện lên của 33 cõi trời của bốn phương này hoàn toàn là các mức độ sáng tối khác nhau, còn đối với màu sắc có đúng hay không thì chỉ là sự khác biệt sáng tối mà thôi, nhưng cũng có tới 33 màu sắc.

Tôi hiểu:
Vô hình gọi là không.
Hữu hình gọi là sắc.

Còn Bát Nhã Tâm Kinh viết: “Sắc tức thị không. Không tức thị sắc.” Khi tôi tiến nhập vào “Không Như Lai Tạng”, tôi hiểu thể tính của chân như, rốt cục là không, rốt cục là trống vắng, kết thúc mọi pháp nhiễm hay tịnh, như bên trong gương sáng, không có một thực chất nào.

Khi tôi đạt đến trí huệ vô thượng, trong cuốn sách “Vua của Phật Vương”, tôi đã viết rằng:
1. Tất cả giới chúng sinh, căn bản là không có chúng sinh. 
2. Tất cả mọi pháp, cũng căn bản không có, căn bản không tồn tại.
3. Tất cả mọi pháp, căn bản không có người nào đi dùng pháp, đi sử dụng pháp.
4. Tất cả mọi pháp, đối với cái thể của chân như, thật sự là không đúng tí nào.
5. Trong vũ trụ này, căn bản không có gì để mà tức giận chỉ trích. Là hiện tượng duyên khởi và duyên diệt mà thôi, căn bản là vô trụ.
6. Tất cả sự vật trong vũ trụ, căn bản là toàn bộ đều không thực, không có gì để nương dựa, không có vĩnh hằng.
7. Thời gian không tồn tại, tất cả cảnh giới đều vô sở trụ.
8. Tất cả Bồ Tát cũng thế, căn bản là vô sở trụ.
9. Cảnh giới của Tứ Thánh, đều vô sở trụ.
10. Hư không vô biên.

Tôi nói: “Khi đạt đến được sự khai ngộ này rồi thì đã là cảnh giới bất khả thuyết rồi, không phải là cảnh giới mà văn tự và ngôn ngữ có thể giải thích được rõ ràng, vì vậy mới nói là bất khả thuyết.”
Chân lí rốt ráo nhất của thế gian này là:
Chân không vô tướng.
Duy thức pháp tướng.
Như Lai tạng tướng.

🌟

Viết một bài thơ nói về trí huệ:

*Chúng ta đến nơi đây
Mọi người đều hỏi là vì sao
Cái gì là ý nghĩa của cuộc đời
Đơn giản là làm gì có cái lí đó*

*Đơn giản là làm gì có cái lí đó
Nên hãy để cho chính chúng ta
Đi tìm chân lí của trí huệ
Giống như chơi một ván cờ*

*Tôi từng bị phỉ báng
Bị nghiền đến vỡ tan
Đã mấy lần suýt chết
Nhưng tôi không muốn
Vĩnh viễn trở thành nô lệ của truyền thống*

*Tôi đang tìm kiếm
Lời vàng của Lư Thắng Ngạn
Những lời vàng ấy
Chẳng phải trò chơi*

*Chúng ta đến nơi đây
Vốn dĩ là luyện tập
Bất kể là bao nhiêu gió mưa gian khổ
Chỉ có đơn độc
Tận lực mà thôi.*


### 15. Từ bi


Quan Thế Âm Bồ Tát chính là hóa thân của sự từ bi.
Nhân loại chúng ta phải ở trong sự từ bi mới có thể tiếp tục trưởng thành, đồng thời tiếp tục lan truyền hạt giống từ bi đến những con người xung quanh, như vậy mới sản sinh ra sự hòa hợp của toàn bộ nhân loại.

Lời vàng của Lư Thắng Ngạn là:
”Trong tâm hồn của con người, có một thứ tiềm ẩn, nó sẽ đợi đến khi gặp thời cơ thích hợp để thể hiện ra, đó chính là từ bi.”
Nhân chi sơ, tính bản thiện.

Tôi không nghĩ rằng người theo chủ nghĩa vật chất vĩnh viễn là một người theo chủ nghĩa vật chất. Tôi luôn luôn biết rằng, trong lòng của người theo chủ nghĩa vật chất luôn mang sự từ bi của linh tính, sẽ có một ngày, tâm linh của người theo chủ nghĩa vật chất sẽ được đánh thức. 
Tôi cho rằng từ bi là chất xúc tác.
Tôi cho rằng từ bi là một dạng pháp lực.
Tôi cho rằng từ bi làm cho mọi thứ gọn gàng ngăn nắp.
Tôi cho rằng từ bi khiến nhân loại vui vẻ hạnh phúc.

🌟

Từ bi khiến tất cả con người biến thành một chỉnh thể hợp nhất, có thể khiến nhân loại thấu hiểu lẫn nhau, biến thành một thể, đó chính là nỗ lực của Phật Bồ Tát.
Giả dụ không có từ bi:
Nhân loại sẽ cô độc.
Nhân loại sẽ chịu khổ.
Nhân loại sẽ chết.
Nếu có từ bi, thì sẽ trưởng thành, sẽ được tưới đẫm, sẽ có niềm vui, sẽ có hài lòng, sẽ có ý nghĩa.

Mỗi cá nhân không thể tự mình nhốt mình lại. Về điểm này, mỗi người đều cần biết, bởi vì kết quả của việc tự nhốt mình là sẽ càng khiến cho bản thân khô héo, cuối cùng sẽ đánh mất đi chính bản thân mình. Trên thực tế, kết quả của việc tự đóng bản thân mình chính là cô độc chịu khổ mà chết.
Mỗi người chúng ta cần có tâm từ bi, phát dương từ bi, trải nghiệm từ bi, cần hiểu về từ bi và hòa nhập vào từ bi.
Bởi vì:
Từ bi chính là niềm vui.
Từ bi chính là thỏa mãn.
Từ bi chính là bồi dưỡng.

🌟

Kinh Niết Bàn nói:
Đại từ đại bi,
Gọi là Phật tính.
Từ là Như Lai,
Như Lai là từ.

Kinh Quán Vô Lượng Thọ nói:
Người có tâm Phật cũng là người đại từ bi, bằng “vô duyên từ” [tình thương tự nhiên không điều kiện, không nguyên nhân] để mà thu nạp mọi chúng sinh. Vô duyên từ này, sự từ bi này, không giới hạn ở những đối tượng thân thiết, bất kể là có duyên hay không có duyên thì đều bình đẳng từ bi như nhau. Câu nói này hàm chứa lòng thương xót từ bi vô hạn, không phân biệt thân sơ nặng nhẹ, bao gồm cả thai sinh, thấp sinh, noãn sinh, hóa sinh.

Kinh Vô Lương Thọ viết: 
Ta trong vô lượng kiếp, làm đại thí chủ
Cứu giúp mọi cảnh nghèo, thề thành chính giác.

🌟

Cho niềm vui gọi là từ.
Loại bỏ khổ gọi là bi.

Ba loại từ bi là:
1. Chúng sinh duyên từ bi - bằng một lòng từ bi, xem lục đạo chúng sinh trong thập phương như người thân của mình, từ đó sinh tâm ban cho niềm vui và loại bỏ đau khổ, gọi là chúng sinh duyên từ bi.
2. Pháp duyên từ bi tâm - Thánh nhân tam thừa đã cắt đứt phiền não, nhưng thương xót chúng sinh chẳng biết tới pháp không, dựa vào nhân duyên của pháp mà ban cho niềm vui loại bỏ đau khổ, thì gọi là pháp duyên từ bi tâm.
3. Vô duyên từ bi - tâm từ bi này chỉ Phật mới có. Là Phật với sự phổ độ quảng đại nhất và bình đẳng không phân biệt, nên gọi là vô duyên từ bi tâm.

Từ bi có 12 điều lợi:
1. Phúc thường theo thân.
2. An tâm.
3. Ngủ yên.
4. Không gặp ác mộng.
5. Được trời phù hộ.
6. Người đời yêu quý.
7. Không gặp những thứ độc hại.
8. Không gặp nạn binh đao.
9. Không chết vì nước.
10. Không chết vì lửa.
11. Lúc sống luôn gặp lợi lạc.
12. Lúc chết sinh về Phạm Thiên.

Tôi sâu sắc cảm thấy, từ bi là một bậc thầy tuyệt vời khiến cho nhân gian nở đầy những đóa hoa xinh đẹp. Bản thân nó rất có giá trị. Lòng từ bi chân chính là lòng vị tha chứ không phải tư lợi, không có mục đích, không có ý đồ và không có giới hạn. 
Phạm vi của từ bi không đòi hỏi sự giới hạn, mà ở trong một không gian đẹp đẽ nhất.
Từ bi là hoa thơm trong nội tâm.
Từ bi là ân từ, là sức mạnh vĩ đại nhất của lí tính.

🌟

Tại mật đàn, tôi nhìn ngọn nến càng cháy càng ngắn, nghĩ về hai chữ từ bi:
Đốt cháy chính mình.
Chiếu sáng người khác.
Ngọn lửa của cây nến dường như là nóng tới mức đốt cháy cánh cửa nhân tâm.
Ánh lửa bập bùng giống như tâm Phật, là ánh sáng, là sức nóng, để nói với mọi người một điều, chính là từ bi.

Tôi thích nến, tôi nhớ đến cả một hàng dài nến ở trong chùa… 
Đêm khuya…
Ánh nến phản chiếu ánh sáng mờ ảo của Phật Bồ Tát, khiến cho tôi lác đác có những liên tưởng, cảnh tượng trang nghiêm nhường ấy in dấu sâu sắc trong tâm trí tôi.
Niềm vui là an tịnh.
Hạnh phúc là trầm tư.

Thế là, biến mọi suy nghĩ thành ánh nến lung linh, gửi đi từng chút từng chút một, đi trên con thuyền nhỏ của ánh nến, cứ thế hướng về Phật quốc mà đi.
Tôi.
Ánh nến.
Phật.
Cả ba tương ứng.

🌟

Lần đầu tiên hiểu được hai chữ từ bi là khi tôi nhìn thấy một tấm phướn Phật màu đỏ rủ xuống, ở trên đó có viết “Nam mô đại từ đại bi Quan Thế Âm Bồ Tát” treo ở hai bên của bức tượng Bồ Tát, tấm phướn ấy được treo rất cao, tấm màu đỏ thì rực rỡ, tấm màu lục thì rất bắt mắt.

Thế nào là từ bi?
Nếu tôi là một cây đại thụ, tôi nguyện làm bóng râm che cho mặt đất.
Nếu tôi là một ngọn cỏ nhỏ, tôi nguyện tô điểm một nét xanh cho mặt đất.

Kể từ đó, tôi mới hiểu, từ bi cũng không phải là miễn cưỡng, cũng là tự nhiên tuôn chảy, hoa chỉ cần có một chút hương thơm, người chỉ cần một chút tâm ý…
Kể từ đó, tôi nhận ra, không lo mưa gió, không sợ nắng cháy, mặc cho người ta đến đi, ồn ào náo động, tâm ý trong lòng tôi chỉ lặng lẽ đứng yên.
Không thể nào không từ bi.
Chẳng có cách nào trốn tránh được từ bi.

🌟

Tôi muốn viết ra mấy câu ngắn ngủi về từ bi trong lòng mình:
Ồ! Từ bi là cố hương thật sự của tôi, là tình yêu chân chính và vĩnh hằng của tôi, tôi nguyện bản thân hóa thành Bồ Tát từ bi.
Phật trong lòng tôi không phải là một ngôi sao lẻ loi ở xa xăm.
Phật trong lòng tôi là nghĩ về chúng sinh, ôm ấp che chở chúng sinh.

Từ bi giống như dòng sông lớn trong tim tôi, nước sông róc rách chảy êm đềm, chảy vào trong hồ lớn của chúng sinh. Hi vọng biết bao, tôi là mặt trời vĩnh hằng, có ánh mặt trời ấm áp. Hi vọng biết bao, tôi là ngọn gió mát êm dịu, hôn lên thật dài thật sâu.
Mọi động tác của tôi đều vô cùng tinh tế tỉ mỉ.
Mọi hành vi của tôi đều hoàn hảo vừa đẹp.

Vỗ về nhân thế gian này, những tâm hồn phiêu bạt không nơi nương tựa, để họ có được nơi an trú ấm áp dịu dàng, không còn khổ sở gian nan nhiều năm nữa.
Ai khát thì cho nước.
Ai đói thì cho ăn.
Ai lạnh thì cho áo.
Cho nơi an trú với phong cảnh điền viên.
Cho tâm hồn nở ra những cây hoa tươi đẹp.

Tôi nói gì đây nhỉ? Tôi không cần nói điều gì, bởi vì không gì có thể diễn tả được dòng chảy của trái tim tôi. Tôi chỉ có dang rộng vòng tay, dòng sông trong lòng tôi lặng lẽ tuôn chảy, tôi hóa thân từ bi, bi tráng tung ra trọn vẹn con người tôi. 
Dù là điềm đạm cô quạnh, hay là rực rỡ sắc màu, biểu tượng của tôi chính là từ bi.
Dù là bị chiếm đoạt, dù là bị hiểu lầm, dù là bị bài xích, dù là tiêu tan… 
”Không hề hối hận.”

Từ lâu tôi đã không còn tìm kiếm Phật quốc, từ lâu đã không còn tìm kiếm trí huệ, từ lâu đã không còn lang thang, không còn đổi một con đường khác, Phật của tôi chẳng xa xôi, Phật của tôi chẳng phải là Phật nào khác, không ở nơi nào khác, Phật chính là cây cột trụ trong trái tim tôi.

Ồ! Từ bi là cố hương chân chính của tôi, là tình yêu chân chính và vĩnh hằng của tôi, tôi nguyện bản thân hóa thành Bồ Tát từ bi.
Càng ngày càng nhiệt thành, không có diệu kế nào khác.
Đến mức độ nóng sáng cả lên.


### 16. Tâm yếu


Tu hành phân ra làm hai mục: Sự và Lí.
Lí thông, sự chưa chắc đã thông.
Sự thông, lí chắc chắn sẽ thông.
Lí là nói về phương diện lí thuyết.
Sự là nói về phương diện hành trì.

🌟

Bất kì việc gì, tâm không can dự dính mắc, thì tất cả đều vô ngại.

Có thể hát, có thể múa, tất cả cũng đều vô ngại.
Tất cả pháp tính không, vô tâm thì vô ma, không còn có ma nữa.
Chính kiến là:
Tâm vô quái ngại [tâm không còn vướng bất kì trở ngại nào]
Vì vô quái ngại
Không còn sợ hãi
Rời xa mộng tưởng điên đảo.

🌟

Sự phân biệt “tiểu ngã” và “đại ngã” là:
Tiểu ngã luôn bị trói buộc, mong cầu cái gì là bị trói buộc vào cái đó, ngay đến pháp cũng bị trói buộc vào pháp.
Duy có đại ngã là giải thoát.

🌟

Tu hành chính là công phu đối trị.
Quán không để đối trị cái ngã chưa không.
Đàn thành để đối trị tâm tán loạn.
Hạt giống để đối trị nhân địa bất chân. [nhân địa: địa vị của Bồ Tát trước khi thành Phật]
Triệu thỉnh để đối trị sự không thân thiết giữa Phật và chúng sinh. 
Vì thứ tự sinh khởi nên mới yêu cầu vận dụng “đàn thành”, “hoa sen”, “mặt trời”, “mặt trăng”, “ánh sáng”, “chú”, “định”, “không” để đối trị. 

🌟

Nói về thể và dụng thì có so sánh thế này: 
Dùng kim loại có thể làm ra cái chuông lớn. (Kim loại là thể, chuông lớn là dụng.)
Dùng gỗ có thể làm ra đồ đạc trong nhà. 
Dùng da có thể làm ra trống.
Dùng đất có thể làm ra xi-măng.
………………………

Vì thế, dùng tâm vô lượng có thể thành Phật.
Bằng không, chính là đui tu mù luyện.

🌟

Tu tham, sân, si để trở thành không tham, không sân, không si, như thế nào mới xem là thành tựu?
Tham - Biết đủ.
Sân - Bất động.
Si - Thanh tịnh.
Tu đến tứ đức cao nhất là: thường - lạc - ngã - tịnh.

🌟

Không là cái gì?
Trăng trong nước.
Hoa trong không khí.
Tiếng vọng trong hang núi.
Ảnh trong gương.
Việc trong mơ.

Vì sao cảnh giới cao nhất là: vô tu?
Bởi vì:
Đại đạo vô tu.
Vô đạo mới tu.
Tu đến cuối cùng thì mới biết: ta vốn là đại đạo, đại đạo vốn là ta.

🌟

Tính chất rốt ráo của mọi thứ là: thiện.
Ví dụ:
Núi chủ yếu là tĩnh, núi lửa phun trào là do động nên mới nứt vỡ.
Nước chủ yếu là động, nếu là nước tù nước đọng thì tất sẽ thối rữa.
Cá cần sống ở nước.
Chim cần nơi có gió.
Mọi vật đều dựa vào tính của chúng, mọi vật đều yên ổn với vị trí của chúng thì gọi là thiện. 
Ngược lại với lí lẽ tự nhiên thì là ác.
Thiện ác chỉ là như vậy mà thôi.


🌟

Sự tu hành của tôi vượt lên khỏi những điều khoái lạc.
Bởi vì tôi đắc được pháp thân tính Không, đó là Thắng Lạc Kim Cang, có đầy đủ ba đặc tính lớn:
Quán tự tại.
Du hí tam muội.
Nhậm vận.

🌟

Tôi tu hành có thể đắc thành tựu, không gì khác ngoài ba điều này xin mọi người ghi nhớ:
Thứ nhất, nghe pháp - truyền bá rộng rãi.
Thứ hai, nghĩ pháp - thâm sâu ảo diệu.
Thứ ba, trì pháp - tinh hoa số một.

🌟

Sau khi thành tựu được pháp thân tính Không, tôi thích nhất là hành trì sáu việc sau:
Quang minh không rời.
Trí huệ vô thượng.
Giải thoát phiền não.
Đại lạc vĩnh viễn.
Hào quang trang nghiêm.
Thế gian độ sinh.
Không những lợi mình mà còn lợi người.

🌟

Phật Thích Ca Mâu Ni thọ kí cho Đề Bà Đạt Đa thành Phật, hơn nữa còn cảm ơn mưu đồ hãm hại của ông ấy. 
Tôi dựa theo thánh giáo của Phật Thích Ca Mâu Ni, cảm ơn:
Kính lễ sự gia trì đối chọi của các đại pháp sư.
Kính lễ sự gia trì đối chọi của các đại cư sĩ.
Kính lễ sự gia trì đối chọi của các đại thiên ma.
Kính lễ sự gia trì đối chọi của các đại nhân ma.
Kính lễ sự gia trì của các ma không tuân theo ý chỉ ban đầu.
Tôi chân thành cảm ơn mọi sự gia trì đối chọi, khiến tôi càng thêm tinh tấn, vì thế hôm nay tôi mới có được thành quả tu trì tinh hoa số một, nếu không có những sự gia trì đối chọi đó thì chắc chắn tôi cũng đã phóng túng buông thả rồi!

🌟

Tư lương của trời người, điều kiện để thăng thiên là:
Mọi điều ác không làm.
Cần làm mọi điều thiện.

Tư lương để vãng sinh tây phương, điều kiện để thành Phật là:
Thanh tịnh tâm ý.
Là điều Phật dạy.

Trong đó, thanh tịnh tâm ý là vô cùng vô cùng quan trọng.
Thanh tịnh tâm ý chính là Mật tông.

Nghiêm túc mà nói:
Thiên đạo - Ngũ giới thập thiện.
Tây phương - Nhất tâm bất loạn.

🌟

Có một bộ kinh điển mà rất ít người chú ý, cung kính tụng đọc bộ kinh điển này có thể khiến cho “Thiên long bát bộ đại hoan hỉ”, bộ kinh điển này chính là kinh Hải Long Vương.
Bởi vì bộ kinh này, Phật Thích Ca Mâu Ni đã điều hòa được:
Trời.
Atula.
Hải Long Vương.
Kim Sí Điểu.
Vì do sự tức giận của bốn đại bộ tộc này, cho nên đọc tụng thì bát bộ đều đại hoan hỉ.

🌟

Nhận cúng dường của nghìn vạn người, chỉ có phát tâm vô lượng bồ đề, làm sự nghiệp bồ đề thì mới luôn là của cải thanh tịnh và thọ nhận thanh tịnh. Những cúng dường mà hành giả này có thể nhận, cho dù là ghế cao, giường lớn, nhà rộng, thiên y, thất bảo, thì đều có thể nhận được. Nếu nhận cúng dường của một người mà không có tâm bồ đề, không có sự nghiệp bồ đề, thì tài sản tích lũy cả đời, đến lúc chết vẫn không đạt thành tựu, lúc ấy khoác lông đội sừng mà trả.

🌟

Hành giả tu trì phải thường xuyên tâm niệm:
Luân hồi là khổ.
Tất cả đều không.
Chư hành vô thường.
Phật pháp khó gặp.
Có như vậy mới có thể khiến cho đạo tâm kiên cố rõ ràng.

🌟

Khẩu quyết về khí, mạch, minh điểm của Mật giáo:
Nhập vào pháp lưu.
Trụ trong thanh tịnh.
Duy trì hòa hợp.

Cũng tức là:
Mạch hợp với mạch.
Khí nhập với khí.
Minh điểm tan vào minh điểm.

🌟

Thế nào mới là chân Phật?
Loại bỏ chấp pháp, mới là chân Phật.
Hiểu được không - bi là một, không - lạc là một, không - minh là một. 

🌟

Bí quyết học pháp:
Thiếu niên nên nghe nhiều học nhiều.
Trung niên nên tu chuyên nhất.
Lão niên nên tu vãng sinh.
Nếu phải hiểu rõ mọi thứ thì mới tu, như thế thì tất cả đều đã muộn rồi. 


🌟

Biết rồi thì phải làm, thì cái biết ấy mới không rỗng tuếch.
Làm thì phải cầu hiểu biết, thì mới không nghiêng theo cái xấu.
Không hiểu biết mà làm, thì là đui tu mù luyện.
Biết mà không làm thì chẳng có ích lợi gì.

🌟

Tu hành giống như xây tháp, nền móng của tháp nhất định phải vững chắc, nếu nền móng của tháp không vững chắc thì chẳng có gì phải bàn nữa. Mật thừa coi trọng nhất là Tứ gia hành, Tứ gia hành chính là nền móng của tháp.
Cái gọi là đỉnh tháp có thể tu, đáy tháp một khi hỏng thì chắc chắn sẽ sụp.


### 17. Phụ lục: Chuyến du lịch Bắc Ấn Độ


(Tường trình của Thượng sư Liên Trí.)

Xin bái kiến Dalai Lama và các vị trưởng lão của bốn đại giáo phái của Mật tông Tây Tạng. 
Phật đường Đồng Chân của Chân Phật Tông tại Hồng Kông vào ngày 28/12/1991 sẽ đứng ra tổ chức đại pháp hội Hộ Ma cầu phúc tiêu tai trị bệnh quy mô thế giới. Đại pháp hội Hộ Ma Chân Phật Tông mang tầm cỡ thế giới lần này đã trân trọng kính mời Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật đích thân chủ trì. Lãnh đạo đơn vị đứng ra tổ chức còn lên kế hoạch mời các vị trưởng lão của bốn đại giáo phái của Mật tông Tây Tạng tham dự đồng thời hộ trì cho buổi đại pháp hội Mật tông lập kỉ lục mới trong giới Phật giáo này. 

Ủy ban tổ chức của pháp hội mời tôi tham gia công tác hỗ trợ chuẩn bị cho đại pháp hội, còn đặc biệt ủy nhiệm cho tôi chịu trách nhiệm liên hệ và mời các trưởng lão của bốn đại giáo phái Mật tông nói trên đến hộ trì sự kiện trọng đại này. Vì nhiệm vụ này mà tôi đặc biệt mời Sư Tôn, Sư Mẫu, và đã được Sư Tôn, Sư Mẫu từ bi dành cho sự hỗ trợ hết sức, và còn khích lệ tôi nhận lấy trách nhiệm này, để Chân Phật Mật Pháp có thể thuận lợi hoằng dương, và có thể cùng với bốn đại giáo phái của Mật tông Tây Tạng là Hồng giáo, Hoàng giáo, Bạch giáo, Hoa giáo cùng phát dương Mật pháp, phổ độ càng nhiều chúng sinh hơn nữa. 

Vào lúc 8 giờ 30 phút tối ngày 13 tháng 5 năm 1991, tôi và Liên Phồn, với tâm trạng lo lắng và trách nhiệm nặng nề, đáp chuyến bay của Thai Airways từ Hồng Kông đến Ấn Độ, và nghỉ ngơi trong hai giờ tại sân bay ở Bangkok rồi tiếp tục đi Ấn Độ.

Vào lúc 2 giờ sáng ngày 14 tháng 5, chúng tôi đến New Delhi, thủ đô của Ấn Độ. Một người đàn ông Ấn Độ từ Vitek Metta đến đón chúng tôi và đưa chúng tôi về nhà anh ấy để nghỉ ngơi trong vài giờ, và sau đó chuẩn bị lên xe xuất phát, tận hưởng mười lăm giờ đồng hồ trên con đường núi gồ ghề đầy gió cát cuồn cuộn.

Lúc 7giờ 30 sáng, chúng tôi thuê một chiếc taxi và khởi hành đến điểm đến của chúng tôi là Dharamsala. Trên đường đi, chúng tôi đi qua nhiều thị trấn nhỏ và chợ, và cũng gặp nhiều gia đình nghèo người Ấn Độ. Xe đạp, xe ngựa, xe bò, cũng gặp rất nhiều bò một mình băng ngang qua đường. (Ở Ấn Độ có hai loại bò: một là trâu nước dùng để cày ruộng; hai là bò vàng, được coi là con vật linh thiêng ở Ấn Độ, vì vậy chúng có thể thả rông trên đường và không sợ đám đông và xe cộ).

Sau bảy tiếng đồng hồ trên nửa đoạn đường đầu tiên, chúng tôi bắt đầu leo lên khu vực núi cao, trên con đường hẹp và hiểm trở bên vách núi chỉ dành cho một chiếc ô tô đi qua, không có lan can quanh đường, và rất dễ rơi khỏi vách đá nếu bạn không cẩn thận.

Dharamshala là một thị trấn miền núi cao với độ cao hơn 7000 thước [1 thước Trung Quốc bằng 1/3 mét], vì vậy, từ lúc mặt trời mọc cho đến lúc mặt trời lặn, trên cả quãng đường là chúng tôi đều đang leo dốc, đường đi lại không bằng phẳng, trên đường cát vàng bay cuồn cuộn, không khí vô cùng nóng nực, nhiệt độ lên tới 42 độ C. Bụng vừa đói, trời cũng đã tối mà lại không có đèn đường, ở cái nơi sơn dã hoang vu gọi trời trời không thưa ấy, chúng tôi bắt đầu lo lắng, không biết bao lâu nữa mới đến được vùng đất thần bí.

Người đánh xe Ấn Độ có thể thưởng thức những quán ăn không hợp vệ sinh ở những thị trấn nhỏ dọc đường, còn hai chúng tôi chỉ có thể gặm lương khô do đồng môn ở Hồng Kông chuẩn bị cho chúng tôi, và uống nước suối mà tự mình mang theo từ Hồng Kông. Vào lúc ấy, chúng tôi mới cảm nhận được mùi vị của những chiếc lương khô ngon như thế nào. Mãi đến 10 giờ 30 phút tối, sau chuyến đi mười lăm tiếng dài lê thê, chúng tôi cuối cùng cũng được nhìn thấy ánh sáng đèn của nhân gian, điểm đến cũng đã nằm trong tầm mắt.

Sau khi vào thị trấn Dharamsala, chúng tôi nghỉ tại khách sạn Kasmi của Ren-chenk Hondo, là anh trai của Đức Dalai Lama thứ 14. Khách sạn này được xây dựng trên một ngọn đồi, là một ngôi nhà rất sang trọng ở địa phương, có bốn người phục vụ làm nhiệm vụ tiếp đãi khách, những người phục vụ này rất tốt bụng và lịch sự với khách.

Khi mọi thứ đã ổn định, trước tiên chúng tôi bái kiến Om Chak Rinpoche, ngài rất vui mừng chào đón chúng tôi đến Dharamshala. Ngài giới thiệu với chúng tôi Dharamshala là một thị trấn nhỏ ở miền bắc Ấn Độ. Hầu hết những người sống ở đó là người Tây Tạng, mặc dù người Tây Tạng phân bố ở một số khu vực ở phía bắc và phía nam của Ấn Độ, nhưng tập trung chủ yếu vẫn là ở Dharamshala, khiến thị trấn này trở thành trung tâm văn hóa dân tộc của người Tây Tạng ở Ấn Độ. Có Bảo tàng Tây Tạng, thư viện, viện tôn giáo, trường y, v.v… cung điện của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, và cả các vị Hoạt Phật trưởng lão của bốn tông phái lớn của Phật giáo Mật tông Tây Tạng, hầu hết đều tập trung tại thị trấn miền núi nhỏ bé này, nơi nổi tiếng trong giới Phật giáo. 

Vào lúc 1 giờ 30 phút chiều ngày 15 tháng 5, chúng tôi đã đến bái kiến Dalai Lama thứ 14, và sau khi lễ bái xong thì dâng khăn khata. Dalai Lama vô cùng hiền từ, gương mặt tươi cười tiếp đón chúng tôi, Ngài ấy là người rất hiền hòa. Chúng tôi đã giới thiệu với ngài ấy về Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật và báo cáo đơn giản tình hình hiện tại của việc hoằng dương Chân Phật Mật Pháp, đồng thời dâng lên ngài cúng dường và một chuỗi hạt niệm Phật của Chân Phật Tông. Chúng tôi cũng cầm pháp tướng của Thánh Tôn để chụp ảnh cùng với ngài.

Trong lúc nói chuyện, chúng tôi đề cập đến việc Chân Phật Tông sẽ tổ chức đại pháp hội Hộ Ma quy mô thế giới vào cuối tháng 12 năm nay, do Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật chủ đàn và sẽ mời các vị trưởng lão đại Hoạt Phật của bốn tông phái lớn của Phật giáo Mật tông Tây Tạng đến tham dự cùng hoằng dương Mật pháp. Dalai Lama nghe xong thì gật đầu tán thành và liên tục nói “tốt”, “rất tốt”, trước khi ra về, Dalai Lama còn tặng lại chúng tôi khăn khata.

Vào lúc 3 giờ chiều cùng ngày, chúng tôi đến thăm Gantu Rinpoche, Gantu Rinpoche năm nay 62 tuổi và hiện là trưởng lão của Hồng giáo Tây Tạng. Sau khi rời Tây Tạng vào năm 1959, ông tiếp tục phục vụ đồng bào của mình cho đến khi được Dalai Lama dùng làm trợ lí thân cận bên cạnh mình. Ông được bổ nhiệm làm thư kí chính của ủy ban tôn giáo và văn hóa của Dharamshala Ấn Độ, ông được công nhận là trụ trì thứ ba của ngôi chùa Ogyal Jangchub Choeling ở Khakikan, Mông Cổ, pháp hiệu là Hoạt Phật chuyển thế đời thứ tư của Gyur Eme Namgyal Rinpoche. Gantu Rinpoche hiện đã nghỉ hưu, nhưng Dalai Lama vẫn cần ông ở lại Dharamsala để lãnh đạo Hồng giáo và giảng dạy Mật pháp Hồng giáo, ông có rất nhiều đệ tử ở khắp nơi trên thế giới đến lễ bái cúng dường. Gantu Rinpoche rất hòa nhã và vô cùng từ bi, ông chân thành chào đón chúng tôi đến thăm nhà, chúng tôi đảnh lễ và dâng khăn Khata, rồi lại dâng cúng dường và chuỗi hạt của Chân Phật Tông. Ông lập tức đeo chuỗi hạt lên cổ và chụp ảnh cùng chúng tôi, con gái của ông ấy đã dịch các cuộc trò chuyện của chúng tôi sang tiếng Anh và tiếng Tây Tạng.

Chúng tôi đã giới thiệu với ông về Chân Phật Tông và Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật, ông ấy rất tán thưởng những việc mà Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật đã làm là rất tốt. Tôi cũng đề cập đến việc Chân Phật Tông sẽ tổ chức đại pháp hội Hộ Ma vào cuối tháng 12 năm nay ở Hồng Kông, đồng thời hi vọng ông có thể bớt thì giờ đến để hộ trì. Ông trả lời rằng ông ấy đã nhận được thư mời của chúng tôi cách đây một tháng, và cũng đã hỏi thăm Dalai Lama thứ 14. Dalai Lama đã khuyến khích ông ấy dành thời gian tham dự, và bản thân ông ấy cũng rất vui khi được tham dự đại pháp hội thù thắng của Chân Phật Tông.

Ông ấy cũng đưa chúng tôi đi tham quan mật phòng của mình, trên đàn thành treo đầy những bức tướng Phật (thangka). Ông ấy đều lần lượt giải thích và giới thiệu tỉ mỉ cho chúng tôi về kim thân của mỗi vị Phật Bồ Tát. Ông cũng chiêu đãi chúng tôi một bữa cơm kiểu Ấn Độ, trên bàn ăn, chúng tôi cũng nói chuyện rất nhiều. Trước khi về, ông lại tặng chúng tôi khăn khata và quà lưu niệm. 

Vào trưa ngày 16 tháng 5, chúng tôi gặp lại Om Chak Rinpoche, ngài đã giới thiệu chúng tôi với tám đại đệ tử xung quanh ngài và Sangsang Rinpoche. Chúng tôi trao cho ngài một lá thư từ Sư Tôn và chuyển lời hỏi thăm của Sư Tôn. Ngài rất kính cẩn nhận lấy lá thư của Sư Tôn và một lần nữa nói rất vui vì chúng tôi có thể đích thân đến thăm hỏi, chúng tôi dâng lên ngài cúng dường và một chuỗi hạt bằng thủy tinh của Chân Phật Tông. Chúng tôi cũng đã tài trợ cho quỹ xây dựng ngôi chùa của họ ở Nam Ấn Độ, Om Chak Rinpoche rất biết ơn chúng tôi, và cũng cung kính gửi lời hỏi thăm đến Thánh Tôn và các Thượng sư của Chân Phật Tông. Ngài đã nhận được thư mời tham dự đại pháp hội Hộ Ma Chân Phật Tông tổ chức tại Hồng Kông, và trả lời rằng nhất định sẽ có mặt tham gia đại pháp hội lần này. 

Sau đó, ngài ấy đưa chúng tôi đến thăm trại trẻ mồ côi và trường học Tây Tạng ở địa phương, nơi chúng tôi thay mặt Chân Phật Tông quyên góp để tài trợ cho trại trẻ mồ côi và quỹ phát triển trường học của họ. Thay mặt trại trẻ mồ côi và nhà trường, thư kí của viện xin cảm ơn Chân Phật Tông và đích thân dẫn chúng tôi đến thăm trại trẻ mồ côi, các em trong viện đều là trẻ em Tây Tạng, từ năm đến mười tám tuổi. Trường học dạy ngôn ngữ Tây Tạng với tổng số 1.600 học sinh, là trường dạy tiếng Tây Tạng lớn nhất ở Ấn Độ. Họ duy trì và giảng dạy văn hóa Tây Tạng và tư tưởng tôn giáo, đồng thời sách giáo khoa của họ cũng bao gồm cả Phật giáo.

Trong khuôn viên trường, chúng tôi có thể thấy rất nhiều trẻ em Tây Tạng chăm chỉ học hành, và các em nhỏ trong trại trẻ mồ côi cũng được các giáo viên của trường này chăm sóc. Chúng tôi cũng đã đến thăm các ngôi chùa và tháp Phật trong khuôn viên trường, vào thứ bảy hàng tuần, học sinh đến chùa để đảnh lễ Phật. 

Sau khi rời trại trẻ mồ côi và trường học, Om Chak Rinpoche đưa chúng tôi đến thăm Trường Cao đẳng Y tế Tây Tạng, nơi ngài cũng từng là trưởng khoa. Ở đó chúng tôi có thể thấy nhiều loại thực vật trở thành dược phẩm sau nhiều quá trình tinh chế và sản xuất khác nhau. Thư kí hiện tại của bệnh viện giải thích rằng họ đang nghiên cứu một loại thuốc có thể tiêu diệt hầu hết vi khuẩn, bao gồm cả bệnh AIDS, và nói rằng tất cả các loại thuốc trong các bệnh viện kiểu Tây Tạng ở Ấn Độ đều do Học viện Y Dược cung cấp. Chúng tôi cũng thay mặt Chân Phật Tông tài trợ cho Học viện Y Dược rồi rời đi. 

Vào sáng ngày 17 tháng 5, Om Chak Poche đã từ bi đưa chúng tôi đi thăm lại thư viện địa phương Tây Tạng, và chúng tôi đã gặp lại Sangsang Rinpoche, người quản lí trưởng phận kinh điển của thư viện Tây Tạng. Ông giới thiệu với chúng tôi bộ kinh thư 400 năm tuổi, một số làm bằng gỗ vụn, một số được viết bằng vàng bạc, những bộ kinh quý này được bọc trong vải vàng và được bảo quản rất tốt. Chúng tôi cũng nhận ra rằng một phần nhỏ của kinh sách thuộc về Hắc giáo được bọc trong vải màu xanh lam. Sangsang Rinpoche đã đặc biệt mở một số kinh sách cho chúng tôi tham quan. Hai người họ cũng đọc một số kinh sách cho chúng tôi nghe, và tất cả chúng tôi đều rất vui khi có cơ hội được tận mắt xem những bộ kinh Tây Tạng cổ đại này.

Om Chak Rinpoche cũng đã sử dụng máy đánh chữ Tây Tạng để đánh máy dòng chữ "Liên Sinh Hoạt Phật tôn quý nhất" và "Chào mừng đến với Dharamsala, và chào tất cả các Thượng sư và đệ tử Chân Phật Tông" bằng tiếng Tây Tạng. Sau đó, chúng tôi đi thăm Bảo tàng Phật giáo Tây Tạng, nơi chúng tôi nhìn thấy rất nhiều tượng Phật và Bồ Tát bằng vàng rất uy nghiêm, tất cả đều có tuổi đời hàng thế kỉ. Chúng tôi cũng nhìn thấy rất nhiều pháp khí và những bức tranh tượng Phật treo tường rất lớn. Sau đó, An Trác Rinpoche đã giới thiệu với chúng tôi những kim thân theo phong cách Tây Tạng khác nhau của các vị Phật và Bồ Tát, một số được làm bằng vàng, bạc và đồng, và rất quý giá. Ngoài ra còn có một mandala rất lớn, được chạm khắc rất tinh xảo bằng gỗ, và có rất nhiều kim thân nhỏ của các vị Phật và Bồ Tát. Chúng tôi cung kính lễ bái đàn thành. 

Chiều cùng ngày, chúng tôi đến thăm xưởng may, xưởng điêu khắc tượng gỗ, tranh treo tường tượng Phật, xem người Tây Tạng vẽ những bức tranh tượng Phật tinh xảo từ những thủ công tinh tế và điêu luyện. Vào buổi tối Om Chak Rinpoche và Sangsang Rinpoche mời chúng tôi đến nhà Om Chak Rinpoche để dùng bữa tối đậm chất Tây Tạng.

Tám đệ tử của Ngài đã tiếp đãi chúng tôi rất thân mật. Khi vừa ăn vừa trò chuyện, chúng tôi được biết rằng Sangsang Rinpoche là một vị Phật sống đã tái sinh lần thứ ba. Đời này ngài là đời thứ ba, đời thứ nhất ngài đã từng là một người chăn cừu, ngài từng chăn cừu ở vùng núi Tây Tạng và sống trong một hang động, tinh tấn tu trì, trì tụng tâm chú Quan Âm 3,5 tỉ biến, khiến hang động biến thành Thánh địa, người dân trong làng đều đi đào đất trong hang để dùng làm thuốc, cũng đã chữa được nhiều bệnh. Trong khi tu luyện trong hang, ngài không bao giờ bị thú dữ quấy rầy, bầy cừu của ngài cũng không bị thú tấn công.

Hiện tại (đời thứ ba) Sangsang Rinpoche cũng đã trì tụng thần chú Quán Thế Âm 100 triệu biến trong một khoảng thời gian rất ngắn, khiến một chiếc răng thánh nhỏ mọc ở hàm trên của miệng. (Theo người Tây Tạng, không thể mọc những chiếc răng thánh nhỏ, trừ khi người đó thực sự thành tâm niệm thần chú Quan Âm 100 triệu biến.) Chiếc răng thánh nhỏ này sẽ tự động rụng sau hai tuần. Năm 1970, Sangsang Rinpoche đã thờ chiếc răng nhỏ này trong một tượng Phật bằng vàng, nhưng không may nó lại bị đánh cắp. Om Chak Rinpoche cũng nhấn mạnh rằng ngài và Sangsang Rinpoche đã biết nhau ba mươi lăm năm và chưa bao giờ thấy ngài nổi giận một lần nào. Ngài là một vị Phật sống rất hiền từ, rất trầm tính, ít nói mà chỉ mỉm cười.

Vào sáng ngày 18 tháng 5, Om Chak Rinpoche đã đặc biệt chỉ định một đệ tử, pháp hiệu là Lama Ludo , đi cùng chúng tôi trở lại New Delhi. Om Chak Rinpoche và các đệ tử của ngài đều không nỡ tiễn chúng tôi, còn dặn dò chúng tôi trở về thay họ hỏi thăm Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật, và thay họ dâng khăn khata lên Thánh Tôn. Ngài nói rằng pháp tượng của Thánh Tôn sẽ được treo trong ngôi đền ở Nam Ấn Độ của ngài để các Lama chiêm bái, và cuối cùng Om Chak Rinpoche tặng cho chúng tôi khăn khata và cầu nguyện cho chuyến hành trình của chúng tôi được an toàn. 

Vào ngày 19 tháng 5, chúng tôi lại lên đường từ New Delhi, và bắt taxi bảy giờ đến một thị trấn khác tên là Dalaton. Ở đó trước tiên chúng tôi đến bái kiến giáo chủ dòng Sakya Hoa giáo Tây Tạng (H.H Sakya Trizen). Giáo chủ phái Sakya thân hình hơi mập nhưng ông ấy rất khỏe, với khuôn mặt tròn, đeo khuyên hai bên tai và kiểu tóc buộc đuôi ngựa. Tại mật phòng của ngài, chúng tôi đã bái kiến và dâng khăn khata, rồi lại dâng lên cúng dường và chuỗi hạt thủy tinh của Chân Phật Tông. Giáo chủ Sakya rất thân thiện khi tiếp đãi chúng tôi bằng trà và bánh, và nói chuyện với chúng tôi bằng tiếng Anh. Trong cuộc trò chuyện, chúng tôi đã giới thiệu Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật và tình hình phát triển chung của Chân Phật Tông. Chúng tôi mời ngài tham dự đại pháp hội Hộ Ma của Chân Phật Tông tổ chức tại Hồng Kông, nhưng thật không may, lúc đó vừa hay ngài đang hoằng pháp tại Bắc Mỹ. Tuy nhiên, ngài sẽ cố gắng hết sức để tham dự hoặc chỉ định một Rinpoche đại diện cho ngài tham dự Đại Pháp hội. Cuối cùng, ngài ấy đã tặng chúng tôi khăn khata và kết thúc cuộc trò chuyện kéo dài một tiếng rưỡi.

Sau khi chào tạm biệt giáo chủ phái Sakya, chúng tôi đi khoảng 15 phút bằng xe hơi, Ludo Lama đi cùng đã đưa chúng tôi đến một ngôi chùa Bạch giáo ở Tây Tạng. Ở đó, chúng tôi đã bái kiến Gar Rinpoche, trụ trì của ngôi chùa Bạch giáo này. Ngài là một vị Phật sống mập mạp với nụ cười trên môi, vui vẻ và dễ gần. Trong số các cấp bậc chùa của Bạch giáo, ngoài Tây Tạng, chùa do ngài trụ trì ở Ấn Độ là chùa lớn nhất, ở Đài Loan cũng có đạo tràng của ngài. Ngài thường đi đi về về ở khu vực Đông Nam Á để hoằng pháp. Chúng tôi dâng khăn khata, chuỗi hạt thủy tinh Chân Phật Tông và cúng dường ngài, và giới thiệu với ngài về Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật và Chân Phật Tông, cũng hi vọng ngài có thể tham dự đại pháp hội Hộ Ma của Chân Phật Tông cử hành vào tháng 12 năm nay tại Hồng Kông. Ngài vui vẻ nhận lời, ngài và Om Chak Rinpoche là những người bạn rất tốt. Gar Rinpoche cũng đưa chúng tôi đến thăm mật phòng của ngài, giới thiệu với chúng tôi về mandala mà ngài cất giữ, và sau đó các đệ tử của ngài dẫn chúng tôi đi thăm toàn bộ ngôi chùa. Chúng tôi thấy nhiều Lama đang lễ lạy, một số đang tụng kinh, và họ cũng giới thiệu cho chúng tôi kim thân các vị Phật và Bồ Tát được thờ phụng trong chùa. Những bức tượng kim thân này cao hơn 10 thước và rất trang nghiêm, toàn bộ bên trong ngôi chùa đầy tượng Phật và Bồ Tát và những bức tranh Phật trên tường, trần nhà cũng có những chạm khắc nghệ thuật theo phong cách Tây Tạng. Chúng tôi đều lần lượt lễ bái các đàn thành lớn nhỏ ở trong chùa, và vô cùng cảm tạ các vị đã tiếp đãi. Tối hôm đó chúng tôi nghỉ qua đêm tại một khách sạn gần đó, ngoài ra còn được thưởng thức bữa tối kiểu Ấn Độ và thưởng thức chương trình ca hát dân tộc Ấn Độ.

Vào sáng ngày 20 tháng 5, chúng tôi lên đường trở lại New Delhi, đúng vào ngày bắt đầu cuộc bỏ phiếu của cuộc bầu cử lại ở Ấn Độ. Tin tức trong vài ngày qua đã đưa tin rằng các đảng phái chính trị khác nhau vì tuyên truyền chiến dịch mà đã phát sinh ra các cuộc đánh giết. Vì vậy, trên đường đi, chúng tôi cũng rất lo sẽ xảy ra xung đột giữa các đảng phái chính trị, dù thế nào thì chúng tôi vẫn phải đột phá vòng vây và đi về. Trên đường đi, chúng tôi phải chịu đựng thử thách vừa đói, vừa mệt, lại nóng, nhiệt độ cũng lên tới 42 độ C. Ludo Lama đi cùng và tài xế có thể ăn no nê ở những gánh hàng rong ven đường. Nhưng chúng tôi chỉ có thể ngồi trên xe, thưởng thức nước suối và lương khô mang từ Hồng Kông cho đỡ đói và làm dịu cơn khát chứ không dám thử món Ấn ven đường.

Đi được nửa đường, tôi chợt nhận ra con đường phía trước có gì đó không ổn, một đám đông chặn đường, nhiều ô tô vội lùi lại, người đi đường nói nhiều với người lái xe... (tiếng Ấn Độ). Đại khái là đám đông phía trước tranh nhau bỏ phiếu trước và chặn đường, bảo chúng tôi không được đi tiếp. Nếu xảy ra đánh nhau, chúng tôi sẽ gặp nguy hiểm, những người da đỏ ven đường chỉ cho chúng tôi đi đường quê hẹp để đi đường vòng trở lại. Trên đường đi, chúng tôi nhìn thấy nhiều cảnh sát và bộ đội, tình hình có vẻ hơi căng thẳng, đi một đoạn đường dài, chúng tôi đến một con đường nông thôn tương đối rộng. Trên đường đi, xe lại bị hỏng máy do quá nóng, tài xế cố hết sức rồi nhận thấy chân ga của xe không ổn, phải mất hơn nửa tiếng đồng hồ mới lên đường trở lại. Bản thân người lái xe cũng không quen với những con đường nông thôn này nên vừa đi vừa phải hỏi đường, không biết mình đã đi sai bao nhiêu đường mới đến được ngã ba. Cảm ơn Phật và Bồ Tát, thì ra chúng tôi đã trở lại ngoại ô New Delhi, dọc đường đi, chúng tôi thấy nhiều người đang bận rộn bỏ phiếu ở điểm bỏ phiếu. Tất cả chúng tôi lần lượt tránh đám đông và đi đường vòng, mãi cho đến 4 giờ chiều mới đến được khách sạn ở New Delhi để nghỉ ngơi. 

Chín giờ tối ngày 21 tháng 5, chúng tôi nhanh chóng lên máy bay rời New Delhi, vì nghe nói một sân bay tạm thời đóng cửa, mãi đến khi máy bay cất cánh rồi, chúng tôi mới cảm thấy toàn thân được thư giãn. Khi đến Bangkok, chúng tôi nghe nói rằng sân bay New Delhi cũng đã bị đóng cửa do tình hình bất ổn dân sự trong nước do các cuộc thăm dò bầu cử.

Nhìn lại chuyến đi Ấn Độ đầy căng thẳng và thú vị này, chúng tôi đã có được nhiều kinh nghiệm quý báu, và chúng tôi cũng rất vinh dự được bái kiến Dalai Lama thứ 14 và các vị Hoạt Phật, các vị trưởng lão của bốn tông phái lớn của Phật giáo Mật tông ở Tây Tạng, để chúng tôi có cơ hội giới thiệu Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật và Chân Phật Tông với họ, và chúng tôi rất vui vì họ đã vui vẻ chấp nhận lời mời của chúng tôi, mong muốn tham dự buổi đại pháp hội Hộ Ma được tổ chức tại Hồng Kông do đích thân Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật chủ trì. Vào thời điểm đó, mỗi vị Hoạt Phật Tây Tạng sẽ đội mũ thánh của họ và tham dự buổi lễ để hộ trì cho đại pháp hội thù thắng này. Đồng thời cũng thúc giục các hành giả Mật tông trên toàn cầu đến tham gia đại pháp hội lần này, để cầu phúc, tiêu tai, trị bệnh, v.v… tin rằng pháp hội sẽ thúc đẩy sự hoằng dương của Mật pháp toàn cầu. 

Để có thể hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ này, trước hết phải cảm ơn Sư Tôn và Sư Mẫu đã động viên, ủng hộ về mặt tinh thần. Tôi cũng xin cảm ơn các sư huynh sư tỉ đã giúp đỡ về nhiều mặt, phụ trách liên lạc và sắp xếp để tôi có thể lên đường đúng như kì vọng. 

Hoằng dương Chân Phật Mật Pháp có thể nhanh chóng triển khai, tại đây tôi xin cảm tạ sự hộ trì, giúp đỡ và hợp tác của các vị Liên Hoa: Khởi Quý, Nguyện Trì, Quốc Trung, Huệ Phụng, Đạt Kiến, Thái Sam, Thịnh Khôn, Tú Dung, Justine, Liên Quân, Liên Ngữ, Eddie, Loisa, để càng nhiều chúng sinh hữu duyên có thể bước lên con thuyền pháp do Sư Tôn dẫn dắt đến Ma Ha Song Liên Trì.

Om mani padme hum.
Liên Trí chắp tay. 

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/114-phap-thuat-cua-mat-giao.md
# Title: 114. Pháp thuật của Mật giáo
---

![image](/img/img_f60203b0f44e7e3f0ae373c609d9cacb.jpg)



## Pháp thuật của Mật giáo 


Tiêu đề phụ: Tiết lộ đại bí mật về làm pháp

Văn tập số: 114
Xuất bản: 01/08/1995
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu:


**Phật Thích Ca Mâu Ni cho tên sách**

Sau khi viết xong cuốn văn tập số 113 “Thuyền nhỏ trôi lênh đênh”, tôi nghĩ đến cuốn sách tiếp theo nên viết cái gì. 

Tôi có một giấc mơ. 
Tựa như mơ mà không phải là mơ, tựa như thật tựa như huyễn.
Tôi đang bay trong hư không, bay lên rất cao, núi sông đại địa đều ở dưới chân, tôi bay rất lâu, đến một Phật quốc vô cùng xinh đẹp trang nghiêm.
Phật quốc ở trên những đám mây quý, hết sức diễm lệ.
Cung điện thất bảo cực kì tuyệt vời.

Bên dưới cổng chào của cung điện có mấy vị A La Hán nhìn thấy tôi đang bay, từ xa bay đến gần. 
Mãi đến khi đến gần, tôi mới nhìn thấy cổng chào có cắm cờ phướn, ngoài các vị A La Hán ra còn có sư tử tám chân, thiên nga, chim công, A La Hán đang cùng chơi với chúng ở một chỗ.
Họ nhìn thấy tôi đến thì rất vui mừng, hướng về tôi chắp tay lại:
”Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, ngài đến rồi!”
Tôi cũng hướng về họ cúi đầu làm lễ.

Trong số đó có một vị Đăng Hiền A La Hán hỏi tôi:
”Đến gặp Phật Đà ư?”
Tôi đáp:
”Đúng vậy.”
Thế là, Đăng Hiền dẫn tôi đến một đại điện có treo rất nhiều lọng quý, rất nhiều chuỗi ngọc, còn có vải tassel quý, mọi bức tường đều được trang trí bằng ngọc mani, hoàn mĩ tuyệt vời.

Phật Đà cùng mười hai vị Như Lai đang hội họp. Phật Thích Ca Mâu Ni nhìn thấy tôi đến, nói:
”Liên Sinh đến đây có việc gì?”
”Hỏi tên sách.”
Phật Thích Ca Mâu Ni không nói gì.

Trong số đó có một vị là Không Hành Hải Như Lai nói với tôi:
”Sách ở Tạng Kinh Lầu nhiều lắm, sao không tự mình đi tìm.”
Thế là, Đăng Hiền dẫn tôi đến Tạng Kinh Lầu. Bốn phía của Tạng Kinh Lầu có bốn cửa, tám cột trụ và rất trang nghiêm, sách ở trong đó nhiều vô cùng vô tận, lớp lớp trùng điệp, nghìn nghìn vạn vạn quyển. Tôi đứng trước biển sách giống như một giọt nước trong biển lớn.
Tôi rất hoang mang, không biết bắt đầu từ đâu…

Đột nhiên, hư không có diệu âm nói rằng:
”Phật Thích Ca Mâu Ni sắp làm Hộ Ma rồi.”
(Hộ Ma chính là hỏa cúng, Phật Thích Ca Mâu Ni làm Hộ Ma, đây đúng là truyền kì lạ lùng ở thiên thượng giới.)
Đăng Hiền vừa nghe thấy là Phật Đà làm Hộ Ma thì kéo tay tôi, muốn tôi đi xem, ngài ấy nói với tôi:
”Phật Thích Ca Mâu Ni rất hiếm khi làm Hộ Ma, ngài làm Hộ Ma ắt có nguyên do!”

Đàn Hộ Ma của Phật Đà cao tít ở trên bục chín tầng, xung quanh có tám cờ tám phướn, bục chín tầng có các thiên nữ mặc y phục nhiều màu sắc đang múa, các góc ngoài của đàn pháp đều đặt chày nhật nguyệt quý báu, cực kì trang nghiêm. Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, Chư Thiên vây thành vòng tròn xung quanh, có đến nghìn vạn, không thể đếm xuể.

Đăng Hiền và tôi chen chân trong nhóm A La Hán.
Phật Thích Ca Mâu Ni châm lửa Hộ Ma, đốt củi Hộ Ma, một thanh củi Hộ Ma trong số đó còn chưa bỏ vào lò đốt thì đã bất ngờ bay ra bên ngoài đàn, lúc thì bay bên này, lúc thì bay bên nọ, từ trên bục chín tầng rơi thẳng xuống, rơi đúng vào trong lòng tôi không mảy may sai lệch.

Các vị Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, Chư Thiên đều nhìn tôi, các vị cảm thấy kì quái vì sao củi Hộ Ma lại rơi vào người tôi chứ. 
Tôi cầm lên thanh củi Hộ Ma, phát hiện ra trên đó có năm chữ lớn, viết rằng “Pháp thuật của Mật giáo”. Thế là tôi đảnh lễ Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni  Phật. 
Tôi nhìn thấy Phật Đà hướng về tôi mỉm cười tỏ ý.
Mơ đến đây thì tôi tỉnh dậy.

Tôi nghĩ rằng mộng cảnh này của tôi rất có ý nghĩa. Viết cuốn sách này đã nhận được sự cổ vũ của Phật Thích Ca Mâu Ni, tên sách cũng là Phật Đà chọn, tôi cần phải viết cuốn sách này cực kì hoàn hảo mới được.

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Chân tướng của pháp thuật


Tôi nhớ trong sách cổ có một câu là: 
”Quý nhất là việc bồi dưỡng đức hạnh, bởi vì họa phúc không có cửa, chỉ có con người tự mời đến, quả báo thiện ác như hình theo bóng. Khi con người ta trong tâm đã có thiện niệm, thì trong cõi vô hình sẽ có quỷ thần sắp xếp, duy có cách này để cầu an.”

Hai chữ “cầu an” trong lời dạy này chính là “pháp thuật”. Còn trong cõi vô hình có quỷ thần sắp xếp, quỷ thần ở đây chính là vô hình, chính là “linh”, cũng chính là pháp lực bất khả tư nghì.

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người, tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) hiểu biết mọi pháp thuật, có thể làm mọi pháp thuật, có thể biết quỷ biết thần, có thể sai khiến quỷ thần, có pháp lực đại uy đức, thậm chí đạt đến cảnh giới thành Phật vô thượng chính đẳng chính giác.

Tôi nói với mọi người, pháp thuật có ba chân tướng:
1. Hành giả — người làm pháp.
2. Nghi quỹ — quá trình làm pháp.
3. Vô hình — sức mạnh trong cõi vô hình.
Ba thứ hợp làm một mới sản sinh ra pháp lực.

Trong “vô hình”, người học Phật có thể cho rằng đó là Phật lực, người tin Thần thì sẽ cho rằng là Thần lực, cũng có loại người học Tiên thì sẽ cho rằng là Tiên lực, thậm chí có một loại người là “sai quỷ”, cung phụng nuôi dưỡng quỷ, thì họ coi đây là quỷ lực. Bất kể là loại lực nào, nhưng vì là sản sinh ra trong cõi vô hình, cho nên đều gọi chung là “vô hình”.

Ngày xưa, tôi ở chỗ của Liễu Minh Hòa Thượng học pháp thuật, Liễu Minh Hòa Thượng nói người học pháp có mười giới luật lớn là:
1. Phải kính thầy.
2. Phải thành thật.
3. Không coi trọng tiền bạc.
4. Không chểnh mảng.
5. Không phỉ báng.
6. Không nghĩ xấu.
7. Không ô uế.
8. Không hại người.
9. Không coi trọng sắc.
10. Không cẩu thả.

Đây là mười giới luật lớn mà Liễu Minh Hòa Thượng dạy tôi, mọi người có thể suy ngẫm kĩ càng, ý nghĩa của mười giới luật lớn này rất sâu, pháp thuật là do con người làm pháp, pháp thuật của một hành giả Mật giáo thành tựu hay không thành tựu (linh hay không linh), hoặc là pháp thuật tu thành chính pháp hay tu thành tà pháp, đều là do tâm của hành giả quyết định.
Nói cách khác là: 
Pháp không có chính-tà.
Đều phải xem tâm thuật của người làm pháp.

Học tập pháp thuật của Mật giáo, bất kể là nhập thế độ chúng sinh hay là xuất thế chấm dứt sinh tử, đều coi trọng truyền thừa, truyền thừa cũng chính là dòng chảy pháp, dòng chảy pháp này là từ lực gia trì của sư phụ mà có. Mật giáo coi trọng truyền thừa, tôn kính Căn bản Thượng sư [vị thầy gốc] của chính mình, được xếp vào điều kiện quan trọng hàng đầu của tu trì pháp thuật Mật giáo. Nếu bất kính với thầy thì làm sao có thể coi trọng pháp mà sư phụ truyền cho? Cho dù toàn lực tu pháp thì tâm cũng sẽ tà, càng tà thì càng xa cách rất xa.

Muốn tu trì pháp thuật của Mật giáo thì phải quy y một vị Kim cương Thượng sư chân chính. 
Bốn vị sư phụ của tôi xin kể tên như sau:
1. Liễu Minh Hòa Thượng. (Hồng giáo)
2. Thubten Dhargye Thượng sư. (Hoàng giáo)
3. Đại Bảo Pháp Vương thứ 16. (Bạch giáo)
4. Sakya Chứng Không Thượng sư. (Hoa giáo)

Tôi đã được bốn vị sư phụ chỉ dạy rất tỉ mỉ, cũng được quán đảnh Acharya [A-xà-lê] (quán đảnh Thượng sư), lại có được quản đảnh tối cao (quán đảnh Ngũ Phật Nghiêm). 
Ba đại thành tựu của Mật giáo là thành tựu chú, thành tựu Hộ Ma, thành tựu tam ma địa, tôi đều thực tu mà đạt được.
Nhất là ở trong thiền định, tôi được các thế hệ tổ sư ở trình độ cao hơn, cùng với Ngũ Phương Phật, Bát Đại Bồ Tát, Thập Đại Minh Vương Kim Cang, hiện thân truyền dạy cho tôi những bất cộng đại pháp [đại pháp khác biệt] ở trình độ cao hơn, khiến tôi tiến nhập vào cảnh địa của Vô thượng mật và Đại viên mãn.

Tôi tự biết tôi là Liên Hoa Đồng Tử chuyển thế. Tôi đi ra từ Vô Lượng Thanh Tịnh Cung của Đại Nhật Như Lai, hóa thân Phật Nhãn Phật Mẫu, hóa thân Liên Hoa Đồng Tử. 
Tôi đến để độ chúng sinh.
Thu hút chúng sinh quy y Mật giáo.
Tôi viết ra cuốn sách “Pháp thuật của Mật giáo” này, mục đích chủ yếu là để thế nhân hiểu chân tướng của pháp thuật, dùng pháp thuật cứu người và độ người, để chúng sinh thoát khổ được vui.


### 02. Khẩu quyết để pháp thuật được linh


Tôi tự cho rằng trong khắp thiên hạ có rất nhiều “cao nhân có năng lực”, thế nhưng, người có pháp lực đại uy đức giống như tôi đây thì đã rất hiếm có rồi.
Giả sử chỉ còn lại ba người.
Thì tôi chính là một trong số ba người đó.

Người có pháp thuật cao cường xưa nay có thể hô mưa gọi gió, vẩy đậu thành binh, những người này đối với tôi chẳng qua chỉ là hạng tài hèn sức mọn mà thôi. 
Tôi cũng có thể muốn gió có gió, muốn mưa có mưa.
Một điểm quan trọng nhất là, trong chu vi của tôi có rất nhiều Kim Cang Thần Tướng ngoan cường và có sức mạnh hộ trì cho tôi.

Từng có một chuyện như thế này:
Có một vị đại sư có tiếng tăm, ông ấy là Sơn Tinh Đại Vương chuyển thế, ở bên cạnh ông ta có rất nhiều dạ xoa, la sát, ma vương, quỷ núi, tinh linh ủng hộ ông ấy. 
Có một lần, ông ấy nổi giận muốn chỉnh đốn tôi. Thế là một bầy ma quỷ tiếp nhận pháp chỉ, bay đến chỗ tôi, tôi đang ở trong thư phòng đọc sách, lũ ma quỷ cầm vũ khí có ý định hạ thủ.
Tôi khẽ cười một cái với lũ ma quỷ.
Trên đỉnh đầu tôi hiện ra Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, A Di Đà Phật, quanh người tôi hiện ra mười vị Đại Kim Cang Minh Vương, ở xung quanh thì có Thiên Long Bát Bộ chúng.

Lũ ma quỷ vừa nhìn thấy thế thì ngây ra, buông bỏ vũ khí tháo chạy, con nào chạy chậm một chút thì đã sợ té cứt té đái ra rồi.
Tôi cười vang ha ha.
Tôi nói, đây là Hộ Pháp đấu với Hộ Pháp, Hộ Pháp của ai mạnh thì người đó thắng.

Tôi nói thẳng thắn, Hộ Pháp cấp cao nhất của Lư Thắng Ngạn tôi chính là Đại Uy Đức Kim Cang hóa thân của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, pháp lực của ngài là cực lớn, có thể phá trừ mọi độc hại, có đại uy lực.
Ngài cũng là Hộ Pháp của tổ sư Tsongkhapa của Hoàng giáo Mật tông Tây Tạng.

Bây giờ tôi nói vào chủ đề khẩu quyết để pháp thuật được linh. Nếu pháp thuật không linh thì học pháp thuật có tác dụng gì chứ? Làm pháp có tác dụng gì chứ?
Vậy thì pháp thuật thế nào sẽ linh?
Hôm nay tôi rất thẳng thắn nói với mọi người một cách rõ ràng:
”Trọng điểm nằm ở: Hộ Pháp.”

Mật giáo có Tam căn bản:
Thứ nhất, Căn bản Thượng sư — gia trì căn bản.
Thứ hai, Căn bản Bổn tôn — thành tựu căn bản.
Thứ ba, Căn bản Hộ pháp — sự nghiệp căn bản.

Tu hành Mật giáo, thiếu một trong ba điều này đều không được. Hai điều đầu tiên, để sau tôi sẽ nói. Còn đối với điều thứ ba là “sự nghiệp căn bản”, thế nào là sự nghiệp? Sự nghiệp chính là làm pháp, chính là pháp thuật, chính là pháp lực.

Tôi nói:
Bậc cao năng ”vô hình” trong cõi huyền bí thì lấy Phật là cao nhất, hoặc là Đại La Kim Tiên, hoặc là Đại Thánh Đại Thần. Các vị đều là các bậc cao năng, nhưng vì cảnh giới quá cao siêu, cho nên các vị ưa thích tịch tĩnh, thế nhân rất khó triệu thỉnh các vị đến.

Còn thật sự đại diện cho các vị đến thế giới Ta Bà để chấp hành pháp vụ, chính là Hộ Pháp hộ trì Phật Bồ Tát. Cho nên Hộ Pháp chính là sự nghiệp căn bản, một hành giả nếu thỉnh được Hộ Pháp đến thì pháp thuật sẽ có linh nghiệm.
Thỉnh được Phật thì không cần phải nói rồi, nhất định sẽ linh nghiệm.
Thỉnh được Hộ Pháp thì cũng chắc chắn linh.
Cho nên, tôi nhấn mạnh:
”Hộ Pháp mà đã đến, pháp thuật ắt sẽ linh.”

Theo tôi được biết, vì sao rất nhiều người hiểu pháp thuật, không thỉnh Phật Bồ Tát, không thỉnh Kim Cang Hộ Pháp, mà lại đi thỉnh “ma quỷ”. 
Câu trả lời duy nhất như sau:
”Ma quỷ dễ triệu thỉnh.”
Trong mọi pháp thuật, thấp cấp và hạ lưu nhất chính là pháp Sai quỷ, người Nhật Bản gọi là “Thức quỷ”. 
Sai quỷ chỉ cần niệm tên quỷ, niệm chú quỷ, cúng dường ma quỷ, thì có thể sai khiến họ đi làm việc.

Nhưng mà pháp lực của ma quỷ có hạn, linh nghiệm nho nhỏ thì nhất định sẽ có. Tuy nhiên linh nghiệm to lớn thì nhất định phải là đại Thánh đại Thần mới làm được. 
Mặc dù như vậy, chúng ta cũng không thể coi thường pháp Sai quỷ, bởi vì có một câu nói từ xa xưa là: “Diêm Vương dễ gặp mặt, tiểu quỷ khó phòng ngừa!”


### 03. Liên minh với vô hình là phương pháp tốt nhất


Đại Uy Đức Kim Cang trở thành Căn bản Hộ pháp của tôi là có nhân duyên của nó.
Bà Cao ở California nước Mĩ tặng tôi một bức thangka Đại Uy Đức Kim Cang, tôi tiện tay treo trên đầu giường ở Chân Phật Mật Uyển.
Đêm ấy, tôi luyện pháp Kim cang quyền. Tôi lập tức nhìn thấy ngài.
Thân màu xanh đen.
9 mặt, 34 cánh tay, 16 chân.
Chính diện là mặt trâu nước, cực kì phẫn nộ, có hai sừng nhọn, lưỡi xoắn, răng nanh nhe ra, tóc đỏ dựng đứng lên trên. 
16 chân dẫm lên súc sinh và chư Thiên.

Ngài dẫn tôi đi sâu xuống đáy biển. 
Ngài thể hiện đại pháp lực của mình, toàn bộ long cung đều chấn động, cửa địa ngục rung lên và mở ra, Diêm La Vương cúi đầu quy phục.
Nước biển biến thành màu đỏ, khí thế và sức nước rất mạnh, nước biển dâng cao đến tận trời.
Uy lực của ngài còn mạnh hơn cả biển.
Chư thiên thần chúng giáng xuống, đều khom mình dưới chân ngài.
Mười phương trên dưới trong vũ trụ đều tràn đầy chú âm của ngài:
”Om chuli kalalupa hum khan soha.”

Thế rồi, Đại Uy Đức Kim Cang thề nguyện trở thành Căn bản Hộ pháp của tôi. 
Tôi nói:
”Ngài hãy xem tôi như thân mình, nếu tôi thành Phật thì ngài cũng thành Phật. Ngài hãy lấy tôi làm hình của mình, tôi đi đó đi đây thì ngài cũng đi đó đi đây. Tôi ăn gì thì ngài ăn nấy, bảo vệ tôi đi theo tôi, tất cả ô uế không nhiễm mắc. Cả hai cùng bay lên, cùng độ chúng sinh.”
Tôi nói xong lời này thì Đại Uy Đức Kim Cang bay lên không, hóa thành một đường ánh sáng màu lam, tiến nhập vào trong thân tôi, tôi lập tức biến thành Đại Uy Đức Bố Úy Kim Cang, tôi đã có đại pháp lực giống như Đại Uy Đức Kim Cang.

Hôm nay tôi thật lòng thật sự nói với mọi người:
Đại Uy Đức Kim Cang là Căn bản Hộ pháp của tôi.
Tôi tự thân có thể biến hóa thành Đại Uy Đức Kim Cang.
Đây chính là khẩu quyết chí yếu nhất quan trọng nhất đối với sự linh nghiệm của pháp thuật. Tôi nói, liên minh với vô hình là điều quan trọng nhất.

Trong Mật giáo mà nói, liên minh chính là lời thề, cũng chính là samaya. 
Giới samaya của Mật giáo là chỉ lời thề ước giữa bạn và Căn bản Thượng sư, và Bổn tôn, và Hộ pháp.
Ví dụ, bạn quy y một vị Kim cương Thượng sư thì những gì viết trên sách quy y chính là lời thề ước của bạn, ví dụ, kính sư, trọng pháp, thực tu đều có trong lời thề ước.
Nếu bạn phá bỏ lời thề ước thì chính là phá giới samaya. Trong Mật giáo mà nói thì đây là việc rất nghiêm trọng, sẽ đọa vào địa ngục kim cang.

Thế nhân ngày nay thề thốt cũng nhanh mà bội ước cũng nhanh, người trọng tín nghĩa cũng rất ít rồi, điều này thật đáng tiếc đáng buồn. Vì thế, con người thời nay nghiệp chướng sâu nặng, nguyên nhân khiến họ tu hành làm pháp rất khó có được thành tựu lớn chính là ở đây.

Bạn có samaya với Kim cương Thượng sư, có samaya với Bổn tôn, càng phải có samaya với Hộ pháp. Samaya có thể giải thích thành “tuyên thệ liên minh”, phá bỏ “tuyên thệ liên minh” tức là phá giới samaya.

Tôi nhấn mạnh một lần nữa tầm quan trọng của giới samaya bởi vì Mật giáo là:
1. Lực truyền thừa gia trì của Căn bản Thượng sư là vĩnh viễn không đứt đoạn.
2. Căn bản Bổn tôn và hành giả vĩnh viễn dung hợp làm một.
3. Căn bản Hộ pháp như hình theo bóng hộ trì bạn (hành giả) tất cả sự nghiệp thành tựu.

Điều thứ ba này chính là “pháp thuật linh nghiệm”.
Phù mà tôi vẽ có thể du hành cấp tốc tới các cõi trời.
Tôi có thể đuổi tà xua quỷ.
Tôi có thể phi thân lên trời xuống đất, thủy phủ âm gian, ba đảo mười châu, các danh lam thắng cảnh, ra vào mười phương pháp giới.
Tôi có thể chữa bệnh.
Tôi có thể hô mưa gọi gió, triệu thỉnh sấm chớp, thống nhiếp thần binh thiên tướng.
Tôi có thể thỉnh Phật Bồ Tát, Kim Cang Hộ Pháp, Không Hành Chư Thiên.
Tôi có thể dùng thiên nhãn, thiên nhĩ, biết túc mệnh, hiển thần thông.
Tôi có thể thành tựu quả vị.
Tất cả là bởi tôi không phá vỡ samaya.


### 04. Liên minh trong pháp sai quỷ


Theo như tôi biết, pháp sai quỷ từ xưa tới nay không hẳn là trò lừa đảo người ta, cũng tuyệt đối không phải là thuật sĩ giang hồ.
Mặc dù sai quỷ là vận dụng linh quỷ cấp thấp, nhưng vẫn có liên minh, có thể thấy là muốn pháp thuật linh nghiệm thì kết liên minh với nhau là tương đối quan trọng.

Về đại thể, sai quỷ là như thế này:
Đầu tiên phải biết có đồng tử [trẻ con nam], thanh niên, người trẻ tuổi chết yểu. (trong vòng 100 ngày)
Lấy sinh thần bát tự [giờ, ngày, tháng, năm sinh] và họ tên của người đó, cùng với vật tượng trưng cho tinh thần (lông tóc, móng tay,…).
Khắc một bức tượng đồng tử, có bảy lỗ [hai mắt, hai tai, hai lỗ mũi, miệng] rõ ràng, trên tượng viết họ tên và bát tự, bên trong tượng đồng tử thì bỏ vào lông tóc móng tay. Thờ trong mật thất, không được để cho người ngoài biết.

Cúng đồ ăn trong bảy bảy bốn mươi chín ngày. (Một ngày ba thời.)
Đồ ăn đem cúng thì hành giả sai quỷ đều phải ăn hết.
Khi cúng tế thì hô hoán họ tên lúc còn sống của người đó.
Niệm chú: “Vân thôi vụ quyển, linh tiên thúc đáo, nguyện phụ thần tượng, thôi thành lạc cáo. Phụng Thái Thượng Lão Quân cấp cấp luật lệnh cương.”

Nói chung, nếu nghi quỹ chu toàn, lời triệu gọi có lực thì việc thỉnh cầu không có chuyện không được đáp ứng, thỉnh cầu không có chuyện không được thông qua.
Sau đó, vong hồn này sẽ theo lực triệu gọi của hành giả mà đến nhập lên tượng thần, đồng thời có thể hiện thân. Hiện thân thông thường có ba kiểu:
1. Hiện trong thiền định — hành giả nhìn thấy trong thiền định.
2. Hiện trong mơ — hành giả nhìn thấy trong giấc mơ.
3. Hiện lúc ban ngày — ban ngày có thể hiện thân (việc này rất đặc biệt, linh lực đó đặc biệt mạnh). 

Nếu nhìn thấy thì hành giả phải lập tức thỉnh cầu liên minh. Nói rằng: “Linh đồng. Linh đồng. Linh đồng hiển uy. Nay ta và ngươi sứ mệnh đi theo nhau. Nếu ta có miếng ăn thì mời ngươi nếm trước. Nếu ta có niềm vui thì mời ngươi hưởng trước. Chỉ mong nhanh chóng báo cáo lành dữ họa phúc. Không vì vụ lợi mà không báo cáo. Có cầu đều ứng. Ta và ngươi liên minh, cùng tu linh uy, vĩnh viễn trợ giúp việc của ta. Thần Tiên luôn theo.”
Nếu linh hồn này ưng thuận thì pháp thuật sẽ rất linh nghiệm. 
Đây là kết liên minh của pháp sai quỷ. 

Tôi nhấn mạnh một lần nữa tầm quan trọng của liên minh, bởi vì có liên minh rồi, bất kể là Kim Cang Hộ Pháp hay là linh hồn cấp thấp đều phải theo lời thề mà hành sự. 
Tôi chưa bao giờ dám coi thường linh hồn, bởi vì ma quỷ cũng có ngũ thông, cũng có thể thông đạt cõi u minh, nếu có linh hồn đi theo thì mọi việc cũng đều suôn sẻ.

Ví dụ có một bài ca ngợi ngũ quỷ nổi tiếng như sau:
*Trời cao đất rộng,
Biển trời vạn dặm ma bay tới
Chẳng vì cơm rượu của nhân gian
Cũng có thể đến chỗ Vương Mẫu Nương Nương dâng bàn đào
Có tiếng tăm trong hội họp Thần Tiên
Ngũ quỷ vĩnh viễn bắc cầu nối đồng lòng.*

Ngũ quỷ này vốn là “nghĩa quỷ” [ma quỷ có nhân nghĩa], pháp lực ngang ngửa với Thần Tiên, có người tu pháp Ngũ quỷ theo thân, linh lực của người đó cũng là số một.
Vì thế không thể coi thường pháp sai quỷ.

Từng có một người sai quỷ muốn thăm dò đạo hạnh của tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn). Ông ta phái một linh hồn nấp tại một bậc cầu thang Nếu tôi dẫm chân lên thì sẽ bị trượt mà ngã cầu thang.
Nhưng khi tôi đi xuống cầu thang thì tôi đã biết trước rồi. Tôi bước qua bậc đó. Tôi niệm một câu: “Kỉ mông Tiên chân giáng, trần hoàn nhiễu nhiễu vật cửu lưu, ngô phẫn bảo hương, tống nhữ phản hồi lai thời xứ.”
[Bản thân đã gặp được Tiên thật sự giáng xuống, cõi trần hỗn loạn chớ ở lại lâu, ta đốt hương quý tiễn ngươi trở về nơi mà ngươi từ đó đến.]
Hồn ma kia thất kinh. Bởi vì câu nói này của tôi là một câu trong chú Tiễn ma. 
Ma hỏi:
”Ông là hành giả sai quỷ à?”
Tôi đáp:
”Không phải.”
Ma hỏi:
”Rốt cục ông là ai?”
Tôi đáp rằng:
”Tôi có Quỷ Vương lệnh.”
”Quỷ Vương lệnh?” - Con ma nhảy dựng lên, nói: “Ông là Địa Tạng Vương Bồ Tát ư?”
Tôi nói:
”Tôi không phải là Địa Tạng Vương Bồ Tát, Quỷ Vương lệnh là Địa Tạng Bồ Tát cho tôi mượn.”
Kể từ đó, kẻ sai quỷ kia không dám đến thăm dò tôi nữa.


### 05. Cấp độ của linh giới


Từng có một truyền thuyết như thế này:
Có một ngôi miếu linh nghiệm phi phàm. 
Nhưng trong miếu này chỉ thờ một “ông Táo” mà thôi, nhưng người đến hành hương “ông Táo” này thì cứ ùn ùn đổ về chật kín đường đi, người đông nghìn nghịt, hương hỏa rất hưng thịnh, lừng danh khắp xa gần.

Bỗng dưng có một ngày. Một lão thiền sư cầm gậy đi đến. Đứng trước “ông Táo” này, dùng gậy gõ nhẹ vào bếp lò ba cái, nói một câu là: “Cái bếp này xây bằng gạch và đất sét thôi mà, tại sao lại linh nghiệm như thế nhỉ!”
Nói xong câu này. Cái bếp lò đã nứt thành hai nửa ngay tại chỗ.
Mọi người đều kinh hãi!
Trong đám người, bỗng nhiên có một người đàn ông mặc áo gấm đẹp đẽ bước ra, chắp tay cúi lạy lão thiền sư, luôn miệng nói cảm ơn lão thiền sư. 
”Anh là ai, sao lại cảm ơn tôi?”
”Tôi chính là Táo Quân, hôm nay gặp được thiền sư chỉ điểm tự tính, trong sát-na đã chuyển mê thành ngộ, bây giờ đã đến lúc bay về trời rồi, vì thế đến để cảm ơn!”

Tôi cảm thấy truyền thuyết này rất có pháp vị, tôi cho rằng:
1. Vạn vật có linh.
2. Linh có cấp độ.
3. Hiểu rõ tự tính có thể thành đạo.

Theo như tôi biết, cấp độ của linh giới, nếu phân chia một cách đại khái thì có thể phân thành: địa cư linh (linh thấp), thiên cư linh (linh cao), thánh cư linh (linh cao nhất). 
Phật Bồ Tát là linh cao nhất.
Thần trời cũng là linh cao.
Thần nước, thần cây, thần cửa, thần trồng trọt, thần đất, v.v…. là linh thấp.
Thượng đế của Cơ Đốc giáo, thượng đế của Hồi giáo, thượng đế của Thiên Chúa giáo, thượng đế của Đạo giáo, đều là Thần trời, ở cấp độ của Đại Phạm Thiên Vương.
Còn có những linh thấp hơn cả linh thấp, ví dụ linh động vật, con người cũng tính vào linh động vật.

Tam giới của Phật giáo là:
Dục giới — thế giới hữu tình có thân tâm, dục vọng về ăn uống và sắc tình đều mạnh.
Sắc giới — thế giới thù thắng kì diệu có thân tâm, đã lìa bỏ dục vọng ăn uống và sắc tình. 
Vô sắc giới — thế giới vi diệu sâu sắc có tâm không thân, duy có tâm thức. 
Phật — tự giác, giác tha, giác hành viên mãn.
Tam giới của Phật giáo kì thực cũng là thế giới của linh, “vô hình” ở đây đầy ắp trong toàn bộ pháp giới.

Còn pháp thuật là tác dụng của “vô hình”, cũng chính là tác dụng của “linh”, rất nhiều “linh học gia” hiện đại dứt khoát muốn đặt một cái tên, cái tên này chính là “linh tử”, kì thực linh tử cũng tức là quỷ thần vô hình thôi 

Tôi cho rằng:
Có tượng hay không có tượng thì không có nhiều khác biệt, bởi vì linh tử vốn dĩ là đầy ắp cả hư không.
Có tượng thì linh tử sẽ đến để nhập vào tượng, giống như câu chuyện nói đến ở trên, linh tử nhập vào “ông Táo”. 
Không có tượng thì linh tử cũng đầy ắp hư không, con người hướng về họ cầu nguyện là nghĩ về hư không.

Giới tôn giáo có tượng, ví dụ Phật giáo, Đạo giáo, Thiên Chúa giáo. Giới tôn giáo không lập tượng thì có Cơ Đốc giáo, Hồi giáo. Kì thực đôi bên đều không công kích lẫn nhau, cũng không cần phải phê bình đâu là chính đâu là tà, đâu là Phật đâu là Ma. Sự tụ tập của linh tử vốn dĩ cũng là theo duyên phận và tâm tính mà tới, đây là nguyên lí ngưu tầm ngưu mã tầm mã:
Tâm chính thì linh chính.
Tâm tà thì linh tà.
Thiện ác chỉ nằm giữa một suy nghĩ, Phật Ma chỉ nằm giữa một suy nghĩ, chính tà chỉ nằm giữa một suy nghĩ. Có thể nói như thế này, vốn không có thiện ác, vốn không có Phật Ma, vốn không có chính tà.
Có những điều này đều là từ con người mà khởi lên.

Tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) phát hiện thấy, mỗi người có nhân quả của mỗi người, và mỗi linh cũng có nhân quả của mỗi linh, có ảnh hưởng lẫn nhau, con người có thể ảnh hưởng đến linh tử, linh tử cũng ảnh hưởng đến con người, đan xen phức tạp với nhau, là một thế giới hết sức mập mờ.

Còn pháp thuật của Mật giáo chính là phương pháp để điều ngự linh tử.


### 06. Tại sao hành giả cần làm pháp?


Từng có một việc như thế này:
Tôi gia trì cho một phụ nữ bị mất ngủ 16 năm, tay của tôi đặt lên đầu của cô ấy, tôi vận dụng linh lực để truyền dòng chảy pháp lên người cô ấy. 
Cô ấy hét lớn một tiếng rồi ngất xỉu. Từ trên người cô ấy có một con ma nhỏ chạy ra. Thế là người phụ nữ bị bệnh mất ngủ này kể từ đó không còn mất ngủ nữa. 

Nhưng mà con ma nhỏ kia lại không phục, quay ra tìm tôi. 
Buổi tối tôi lên giường, nó ở bên tai tôi la hét rất ồn ào. Hoặc khi tôi sắp ngủ, nó dùng chuông để đánh thức tôi dậy. 
Tôi lại sắp ngủ.
Nó lại đánh vào đầu tôi một cái.
Tôi lại sắp ngủ.
Nó lại đánh vào ngực tôi một cái.
Cứ như thế phá quấy tôi rất lâu.

Thế là tôi dứt khoát bò dậy làm pháp:
Tôi quán tưởng xung quanh giường của mình đều hóa thành nước, sau đó quán tưởng giường của mình hóa thành một bông hoa sen, còn mình thì nằm ngủ trên bông hoa sen đó, thế rồi trì chú gia trì.
Nhưng không ngờ, con ma nhỏ này quả nhiên là có một chút đạo thuật nhỏ, nó biến mình thành một con rắn nước, rồi từ trong nước bơi tới. Khi tôi ngủ thì ngón chân cái của tôi thò ra ngoài hoa sen, con rắn nước nhỏ này liền cắn vào ngón chân cái của tôi. Tôi đau quá thế là lại tỉnh dậy.

Cuối cùng, tôi lại quán tưởng xung quanh giường mình đều là nước, sau đó quán tưởng giường mình hóa thành một bông hoa sen. Tiếp theo, tôi lại quán tưởng Hỏa Thiên Thần giáng xuống, nổi lửa kim cang xung quanh bông hoa sen, bông hoa sen này của tôi đã trở thành hoa sen trong lửa. 
Tôi lại chìm vào giấc ngủ say. Đêm hôm ấy tôi ngủ yên ổn ngon lành.
Con ma nhỏ đó quay về phía tôi, nhìn ngọn lửa và than thở, sau đó tự động rút lui.

Tôi lấy câu chuyện có thật này là muốn giải thích rõ “Vì sao hành giả cần làm pháp?”. Trong Mật giáo mà nói, pháp phòng hộ là quan trọng hàng đầu của hành giả Mật giáo. Trong làm pháp Mật giáo có rất nhiều rất nhiều pháp phòng hộ. 
Trong Phật môn Hiển giáo, pháp phòng hộ tương đối ít.
Trong Phật môn Mật giáo, pháp phòng hộ rất nhiều.

Trong khi tôi giảng giải “Mật tông đạo thứ đệ quảng luận”, tôi đã giải thích các loại pháp bảo vệ, ví dụ: 
Pháp mặc bia giáp hộ thân.
Pháp sợi dây đỏ bảo vệ.
Pháp cọc kim cang đóng ma, pháp tường kim cang chặn ma, pháp võng kim cang bắt ma, pháp kim cang hỏa viện đốt ma. 
Pháp dây thừng kim cang trói ma.
Các pháp kiết giới.

Ngoài ra, khi vẽ đàn cúng mandala cũng phải vẽ đàn trừ ma. 
”Ví như mặt đất xuất hiện chướng ngại về nước hoặc gió mưa, những chướng ngại do trời tạo hoặc người tạo cùng khởi lên. Nếu khi ấy có thể tu phương pháp trừ tai nạn thì lập tức hãy tu như thế.”
”Dùng Thập Đại Minh Vương đáng sợ nhất gia trì cho mười bánh xe nan hoa màu vàng xoay tròn theo chiều bên phải.”
”Khôi phục nền móng của bản tính kim cang để ngăn chặn và chế ngự tất cả ma chướng.”

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người, với bất kì một hành giả tu hành nào đều sẽ xuất hiện ma đến gây chướng ngại.
Có ma đến từ bên ngoài.
Cũng có ma ở trong chính tâm mình.
Vì thế, tu pháp đối trị là điều bắt buộc. Bậc đại thánh như Thích Ca Mâu Ni Phật có chướng ngại của trời, cũng có chướng ngại do con người.
Tôi cho rằng mỗi một người tu hành đều nên hiểu pháp thuật phòng ma, việc này vô cùng cần thiết. 

Theo như tôi biết, có rất nhiều người tu hành bị thiên ma quấy nhiễu đến mức tâm thần thất thường, bị địa ma quấy nhiễu đến mức trăm bệnh bộc phát, bị nhân ma quấy nhiễu đến mức thối lùi đạo tâm, những hiện tượng này nhiều vô cùng, rất nhiều hành giả hễ không cẩn thận là lập tức bị ma biến thành món điểm tâm ăn sạch. 
Có rất nhiều người nếu không tu hành thì không sao cả. Nếu đã tu hành thì sẽ có chuyện, đến mức cả nhà đều không được bình yên. Đây là do ma gây chướng ngại mà ra.

Gần đây, ở trong thiền định, tôi đã được Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát truyền thụ pháp Quan Âm thân đàn thành tránh tai nạn. 
Đây là đại pháp tránh ma. 
Tôi hi vọng mọi người tu hành đều coi trọng pháp phòng ma, đặc biệt là pháp Quan Âm thân đàn thành tránh tai nạn.


### 07. Pháp Quan Âm thân đàn thành tránh tai nạn


Bây giờ tôi sẽ trình bày nghi quỹ của pháp Chân Phật Tông Quan Âm thân đàn thành tránh tai nạn như sau:

Đầu tiên kết thủ ấn Quan Thế Âm Bồ Tát.
1. Hành giả quán tưởng tóc của mình tập trung lại, hóa thành Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát, đứng ở vị trí trên cao nhất của đàn thành.
2. Quán tưởng da trên toàn thân hóa thành bảo cái [ô, lọng] của đàn thành.
3. Quán tưởng mắt thành minh châu, kim cương nạm trên bảo cái.
4. Quán tưởng mũi thành đá quý nạm trên tầng bảo cái thứ hai. 
5. Quán tưởng răng thành chuỗi ngọc, treo trên tầng bảo cái thứ ba.
6. Quán tưởng hai tai hóa thành một cặp cờ phướn, trên đó viết chữ Phạn “Om mani padme hum”, treo ở hai bên của bảo cái. (Hoặc viết tâm chú của Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát.)
7. Lại quán tưởng tầng thấp nhất là lòng bàn chân của hành giả hóa thành phong luân [bánh xe gió] (màu lam). 
8. Mật luân [luân xa bí mật] của hành giả hóa thành hỏa luân [bánh xe lửa] (màu đỏ), ở trên phong luân.
9. Tề luân [luân xa rốn] của hành giả hóa thành thủy luân [bánh xe nước] (màu lục), ở trên hỏa luân.
10. Tâm luân [luân xa tim] của hành giả hóa thành thổ luân [bánh xe đất] (màu vàng), ở trên thủy luân.
11. Xương sống của hành giả hóa thành núi Tu Di (màu cà phê), ở trên thổ luân. 
12. Bản thân hành giả ngồi trên núi Tu Di, lỗ chân lông toàn thân tỏa ra ánh sáng vàng kim. Trì tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát (hoặc chú đại bi của Thiên Thủ Thiên Nhãn). Trì chú 108 biến hoặc 1080 biến.
12. Nhập thiền định.

Cứ mỗi nửa tháng tu pháp này một lần thì sẽ không có tai nạn, bất kì bùa chú giáng đầu nào cũng đều phá trừ được. Pháp này là thân cúng dường, phải theo thứ tự quán tưởng rõ ràng, như vậy có thể tránh được mọi tai họa, ví dụ bệnh tật, tai nạn bất ngờ, ma nạn, tai họa do con người gây ra, thiên tai, tất cả hung họa tai vạ bất ngờ đều có thể tiêu diệt. Có được sự bảo vệ che chở của Quan Thế Âm Bồ Tát đại từ bi. 

Mật pháp này là pháp khác biệt chỉ riêng Chân Phật Tông mới có.
Nguồn gốc của pháp này là trong lúc tôi tiến hành đại bi bảo sám, trong sát-na nhập vào thiền định rất sâu, Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát hiển hiện, đích thân khẩu truyền cho tôi pháp này, tổng cộng ngài giảng ba lần thì tôi mới ghi nhớ được. 
Sau khi ra khỏi thiền định, tôi lại giảng giải cho các đệ tử nghe.

Do vậy, truyền thừa của pháp này là:
Quan Thế Âm Bồ Tát → Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn → Các đệ tử Chân Phật Tông.
Là Bồ Tát trực tiếp truyền cho tôi.
Tôi nói với mọi người, người phàm tục tu pháp này nhất định phải quy y nhận quán đảnh mới có thể tu.

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người rằng:
Tôi đã từng đến Tây phương Cực Lạc thế giới.
Tôi tận mắt nhìn thấy Liên Hoa Đồng Tử.
Tôi tận tai nghe thấy pháp ngữ của Như Lai.
Tôi đích xác đã cùng Phật Thích Ca Mâu Ni uống cà phê.
Còn pháp Quan Âm thân đàn thành tránh tai nạn cũng đích xác Bồ Tát đích thân truyền cho tôi.
Những sự việc kiểu như thế này rất nhiều.
Thế nhưng, rất nhiều đại sư, pháp sư, hành giả không tin.
Họ nói tôi là khoác lác, nằm mơ, thần kinh không bình thường.
Tôi đã bị phê phán từ năm 26 tuổi cho đến nay đã 50 tuổi rồi, đến bây giờ tôi vẫn bị người ta phê phán.

Thế nhưng, đối với bản thân tôi mà nói, tôi chỉ là đến nhân gian này một chuyến, đến để nói cho mọi người biết về chân lí, tôi là người truyền ngọn đèn của chân lí, tôi không có mục tiêu nào khác, không nghĩ đến chuyện muốn lập công danh nghìn thu vạn thế, tôi tùy duyên mà làm tất cả mọi việc, đi chơi đùa ở nhân gian, giống như hư không, có tất cả mọi thứ và cũng chẳng có mọi thứ. 

Điều quan trọng nhất là để cho con người thế gian hiểu rõ đích thực là có linh giới (thế giới tâm linh), dạy con người cần hợp nhất tâm mình với vạn vật để nghiên cứu cuộc đời chân lí, dạy con người phá mê khai ngộ, dạy con người thành tựu Phật quả, đi giúp đỡ nhân loại tự do, dân chủ, hạnh phúc, phá trừ tai nạn, gia tăng phúc phần.

Pháp thuật của tôi là “nhân thuật” [lòng nhân đức]. 
Tâm của tôi là tâm Phật.
Bạn tin cũng được.
Không tin cũng được.
Tán dương cũng được.
Phỉ báng cũng được.
Tôi đều không hề gì.

Tôi rất thích một bài thơ của Vương Xương Linh [nhà thơ Trung Quốc thời Thịnh Đường]:

*Hàn vũ liên giang dạ nhập Ngô
Bình minh tống khách Sở sơn cô
Lạc Dương thân hữu như tương vấn
Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ.*

Dịch thơ:

*Mưa lạnh theo sông đêm tới Ngô
Bình minh tiễn khách sầu núi Sở
Bạn hữu Lạc Dương nếu có hỏi
Bình ngọc mảnh tâm sáng như băng.*

[Bài thơ Lầu Phù Dung tiễn Tân Tiệm - kì 1.]


### 08. Dùng tam mật để triệu thỉnh


Chúng ta tu hành Mật giáo có thứ tự nhất định, dựa vào thứ tự được liệt kê sau đây:
Tứ gia hành.
Thượng sư tương ứng pháp.
Bổn tôn pháp.
Nội pháp (gồm pháp chuyết hỏa, pháp vô lậu, pháp minh điểm, tức là khí, mạch, điểm).
Kim Cang pháp.
Vô thượng mật.
Đại viên mãn.

Trong phạm vi của pháp Tứ gia hành, Thượng sư tương ứng, Bổn tôn, về đại thể là thuộc về phạm vi của Ngoại pháp, nhưng Ngoại pháp là cơ sở của Nội pháp. Ngoại pháp là tu “tính”, Nội pháp là tu “mệnh”, Mật giáo là tính-mệnh song tu.
Ngoại pháp là tu tâm.
Nội pháp là tu thân.
Pháp Kim Cang là Bổn tôn phẫn nộ.
Vô thượng mật là song vận.
Đại viên mãn là tính Không.

Rất nhiều người tu hành đều biết, pháp thuật của Mật giáo không tách rời “tam mật gia trì”, cũng biết rằng tam mật là thân mật, khẩu mật, ý mật. Tôi lại phân tích tam mật như sau:
Thân mật — thủ ấn — thân thanh tịnh.
Khẩu mật — chú ngữ — khẩu thanh tịnh.
Ý mật — quán tưởng — ý thanh tịnh.

Tu hành Mật giáo không tách rời thân, khẩu, ý, cũng tức là mượn thủ ấn, chú ngữ, quán tưởng để đạt đến thân, khẩu, ý thanh tịnh. Cho nên con người có tam nghiệp, Như Lai có tam mật, chuyển tam nghiệp của con người thành tam mật của Như Lai thì con người có thể thành Phật, đây là đạo lí thành Phật của Mật giáo. 

Còn như việc làm pháp của pháp thuật Mật giáo thì cũng không tách rời ba kĩ xảo thủ ấn, chú ngữ, quán tưởng. 

Tôi từng nói, pháp thuật muốn linh thì nhất định phải có Thần đến thì mới linh. Pháp thuật không linh tức là Thần không đến.
Muốn Thần đến, thật ra có rất nhiều khẩu quyết quan trọng, trong Mật giáo đặc biệt quan trọng, người bình thường không hiểu, và người không chuyên lại càng không hiểu rõ, thậm chí người tu hành học Mật lâu năm cũng vẫn lơ là qua quýt.

Khẩu quyết này có nghìn vàng vạn tiền cũng khó mua được, tôi kể ra như sau:
Thủ ấn — dùng “móc kim cang”, hai tay đan nội phộc, ngón trỏ tay phải giơ lên tạo thành hình móc câu. Hoặc dùng chính lông mi của hành giả, lông mi cong hướng lên trên trở thành móc kim cang, đây là thân ấn. Lúc này trong ý niệm phải quán tưởng móc kim cang vươn vào hư không, móc vào pháp tọa của Phật Bồ Tát hoặc Thiên Thần, lệnh cho các vị mau mau hạ giáng.
Chú ngữ — dùng chú triệu thỉnh của Chân Phật Tông: “Om Ah Hum Soha”.  
Chú ngữ này là tam tự minh, trên tới Phật Bồ Tát, dưới tới chư Thiên quỷ thần, v.v… đều nghe được chú ngữ triệu thỉnh này. Chú ngữ ngắn gọn nhưng có đại uy thần lực.
Quán tưởng — ngoài quán tưởng móc kim cang móc vào pháp tọa của chư tôn ra, hoặc là thân ấn, dùng lông mi hóa thành móc kim cang móc vào pháp tọa, thì còn có một số quán tưởng cực kì quan trọng khác. 
Nếu là thần nữ thì phải quán tưởng thiên y của ngài chuyển động bay bay, giống như bay theo gió mà giáng xuống vậy, hoặc quán tưởng các món đồ trang sức của ngài chuyển động, ví dụ hoa tai, vòng tay, vòng cổ,… đều chuyển động.
Nếu là thỉnh Quan Âm Bồ Tát hạ giáng thì đương nhiên phải quán tưởng thiên y của ngài chuyển động bay bay, các món trang sức trang nghiêm đều chuyển động, thậm chí cành dương liễu trên tay cũng bay bay và vẩy cam lộ, giống như nước cam lộ cũng bay đến thân mình.
Nếu là thần nam thì quán tưởng chân ngài chuyển động, chân sải bước lớn và bay xuống, ví dụ Kim Cang Thần hoặc Tứ Thiên Vương. Cũng có thể quán tưởng các pháp khí mà các vị cầm đều chuyển động.
(Đây là bí mật dùng tam mật để triệu thỉnh.)

Làm pháp tam mật, tôi lại nhấn mạnh như sau:
Thủ ấn — làm pháp gì thì kết thủ ấn của pháp đó.
Chú ngữ — làm pháp gì thì niệm chú ngữ của pháp đó.
Quán tưởng — bạn cầu cái gì thì nghĩ đến cái đó.

Đối với tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) mà nói, cảnh giới của tôi không phải là chuyện nhỏ, chỉ cần tôi khởi niệm là Hộ Pháp Kim Cang của tôi lập tức tiếp nhận pháp chỉ mà đi xử lí công việc một cách chu toàn, không cần bản thân tôi phải phí nhiều tâm tư. Vào thời đại ngày nay mà nói, đây chính là cảnh giới pháp thuật cao nhất, cảnh giới này chính là:
”Tâm tưởng sự thành.”


### 09. Cách làm pháp nước chú đại bi


Trong giới Phật giáo, chú đại bi là nổi tiếng nhất. Bất luận là Hiển giáo hay Mật giáo đều quen thuộc. Dùng chú này gia trì nước thì gọi là nước chú đại bi.

Từng có một tì kheo ni ẩn cư tĩnh tu, 20 tuổi vào núi, 50 tuổi xuống núi, mọi người nhìn thấy bà ấy da dẻ còn trắng trẻo hơn lúc 20 tuổi, dung mạo vẫn như 20 tuổi, bà ấy tự nói rằng thân thể cảm giác cực kì nhẹ, nhãn lực cũng rất tinh. Thân thể nhẹ nhàng như bay, nhãn lực nhìn xuyên qua mọi thứ xa gần, cho dù có cây chặn lại cũng có thể nhìn xuyên qua được.

Hỏi bà ấy tu ra sao?
Bảo rằng trì chú đại bi.
Hỏi bà ấy ăn ra sao?
Nói ăn quả trám ở trên núi, uống nước chú đại bi.
Tì kheo ni tự nói rằng, bà ấy chăm tu chú đại bi, từng nhìn thấy Hộ Pháp Thần Tướng trong chú đại bi lần lượt hiện thân ở xung quanh.
Bà ấy gặp rắn, niệm chú đại bi, con rắn ngoan ngoãn ở bên cạnh bà ấy uốn éo ung dung bò đi.
Từng có một lần, bà ấy niệm chú đại bi, bỗng nhiên từ trên trời thả xuống rất nhiều hoa sen trắng nhỏ, lại còn rất thơm nữa!

Tôi nhớ ngày xưa phu nhân của Chu Bang Đạo [một nhà giáo dục người Trung Quốc (1898-1991)] là bà Chu Dương Huệ Khanh, nước chú đại bi mà bà ấy niệm cực kì nổi tiếng. 
Tôi từng gặp mặt Chu Bang Đạo một lần, được ông ấy kể với tôi về truyền kì “một dòng nước giữa sông”, nước chú đại bi của bà Chu Dương Huệ Khanh, nước đó lấy từ “một dòng nước giữa sông”, chương sách này tôi đã viết trong sách tâm linh của tôi. Nước chú đại bi của bà Chu Dương Huệ Khanh từng cứu được rất nhiều người, những chuyện này đều là sự thật.

Ngoài ra, gần đây nước chú đại bi của tì kheo ni vô danh kia cũng khá nổi tiếng, lan truyền khắp Đài Loan.
Chú âm của chú đại bi có rất nhiều loại:
1. Chú đại bi theo tiếng Hoa. (Hiển giáo niệm)
2. Chú đại bi theo tiếng Pali. (Tôi nghe được ở Indonesia.)
3. Chú đại bi theo tiếng Phạn cổ. (Tiến sĩ Deepak niệm.)
4. Chú đại bi theo An Lạc Diệu Bảo. (An Lạc Diệu Bảo dịch âm.)
Và các loại khác.

Tôi cho rằng chú âm nên cố gắng niệm chính xác, nếu không thể thì dựa vào chú âm mà sư phụ mình truyền dạy cũng được. Bởi vì có một số người trì chú lâu ngày rồi, bảo họ thay đổi, họ đã không quen, nếu thay đổi thì ngược lại sẽ đánh mất chú lực.

Cách làm nước chú đại bi của Chân Phật Tông như sau:
1. Cúng dường.
2. Lễ bái.
3. Thanh tịnh. Triệu thỉnh.
4. Thủ ấn — kết thủ ấn Đại Bi Quan Thế Âm. (Ấn căn bản của Thiên Thủ Quan Âm.) Hai tay chắp kiểu kim cang, hơi cong mu bàn tay và úp hai lòng bàn tay vào nhau, ngón út, ngón giữa và ngón cái mở ra là thành ấn. 
5. Quán tưởng — Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát hiện thân trong hư không, nghìn tay nghìn mắt phóng đại quang minh, ánh sáng ấy thành hình vòng cung chiếu đến bình sạch, bát sạch, hoặc cốc sạch đựng nước của mình, cũng tức là quang minh nhập thủy. 
6. Trì chú — 7 biến, 21 biến, 49 biến đều được. 
Nếu có thời gian thì nên trì chú dài.
Nếu thời gian gấp gáp thì có thể trì tâm chú.
Tâm chú: Om warila damo seh.
7. Cát tường viên mãn.

(Chú thích: cũng có hành giả cho rằng khi kết thúc trì chú nên kết kim cang chỉ hoặc kiếm ấn, trên mặt nước viết chủng tử chữ “seh” bằng tiếng Phạn của Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát ba lần. Tôi cho rằng làm theo cách này cũng được.)

Nguyện lực của bản thân chú đại bi là cực lớn, có thể diệt trừ trọng tội sinh tử của trăm nghìn triệu kiếp trong người, có thể vãng sinh Phật quốc, không đọa tam ác đạo.
Chú đại bi có thể trị tám vạn bốn nghìn loại bệnh.
Chú đại bi có thể quản thúc quỷ thần, có thể trói buộc quỷ thần.
Chú đại bi có thể kiết giới.
Nước chú đại bi cũng như vậy!


### 10. Pháp Ngũ quỷ vận tài


Trước kia tôi thường nói:
Phúc phần của con người, vừa sinh ra đã được định trước.
Một miếng ăn một miếng uống đều là định số.
Đây là quy luật tự nhiên tồn tại một cách vô hình trong tất cả mọi thứ. 

Tôi còn nói:
Thế nhưng, Thánh hiền chân chính nên tạo mệnh lập mệnh, hơn nữa còn phải lập tâm vì trời đất, lập mệnh vì nhân dân. 

Theo như cách nói của tôi thì vận mệnh là do trời định, nhưng dốc sức thì cũng có thể thay đổi được. Trong tư tưởng của tôi có quan niệm về số mệnh, nhưng cũng có quan niệm về lập mệnh. 
Cần biết rằng trong nhân quả bao la, có thể đọc cuốn sách “Liễu Phàm tứ huấn” thì có thể hiểu rõ tất cả, minh bạch rõ ràng.

Trong quá khứ tôi từng đến nhà của một đệ tử bần hàn xem phong thủy. Anh ấy biếu tôi tiền lễ chỉ có 50 Đài tệ. 
Anh ấy sống tại một khu dân cư nghèo ven sông, ngôi nhà được đắp bằng đá và đất sét, trong nhà sực mùi ẩm mốc.
Tôi đến nhà anh ấy đi một vòng. Tôi bất ngờ nhìn thấy trong một cái lỗ nhỏ ở bức vách có ánh sáng, không ngờ cái lỗ nhỏ ấy càng ngày càng rộng, và bên trong có mấy trăm người đang tập trung ở trong đó.
Mấy trăm người đó mặc áo tím thêu chữ phúc, đội mũ rộng, rất chỉnh tề, ai nấy tinh thần đều tràn đầy phấn khởi. 
Tôi rất đỗi kinh ngạc. Tôi hỏi đệ tử:
”Anh có quan hệ thế nào với Thổ Địa Công?”
”Không có quan hệ gì.” - Đệ tử đáp.
”Thật là không có ư?”
”Thật ạ.” -  Đệ tử nói: “Con chưa bao giờ đi lễ Thổ Địa Công!”

Tôi nhìn chằm chằm vào đệ tử, không nghĩ ra được lí do. Cuối cùng đệ tử nói:
”Giả sử có quan hệ thì có thể như thế này, con nhớ ra rồi, có một hôm trời mưa, con đi qua một ngôi miếu Thổ Địa Công ở một làng dưới chân núi, nhìn thấy ngói trên mái của ngôi miếu đã bị vỡ rơi trên rãnh nước, nước mưa đang xối thẳng vào tượng kim thân của Phúc Đức Chính Thần. Con cảm thấy không đành lòng, sau khi trở về nhà đã lấy mấy viên ngói còn tốt, quay trở lại miếu Phúc Đức để thay ngói vỡ, chỉ có như vậy mà thôi!”
Tôi nói:
”Lần này thì phát rồi.”
”Cái gì phát rồi?”
”Vận mệnh của anh đã thay đổi, sẽ trở thành đại gia đó.” - Tôi nói.
”Đại gia ư? Sư Tôn nói đùa rồi!” - Anh ấy rất vui mừng.
Tôi nghiêm túc nói:
”Tôi nói anh phát thì chắc chắn sẽ phát, hãy chăm chỉ làm sự nghiệp của anh đi!”

Đệ tử này vốn ở tại nhà làm công việc quấn cuộn cảm bằng tay, là linh kiện nhỏ trong thiết bị điện, đây là nghề phụ của gia đình.
Về sau, người ta cho anh một đơn đặt hàng. Anh triệu tập các gia đình xung quanh cùng tham gia vào nghề phụ quấn cuộn cảm của gia đình này. Kết quả là càng làm càng lớn, đơn đặt hàng ùn ùn đổ về, thành phẩm của anh càng tinh xảo và đẹp đẽ. 
Trước kia anh ấy có mua một mảnh đất ở lòng sông, ai ngờ dòng chảy đổi dòng, đất lòng sông đã biến thành đất xây dựng. Trong vài năm ngắn ngủi, anh ấy đã có hai công xưởng, có một mảnh đất rộng, anh ấy cũng tự mình xây dựng, mua đất xây nhà, không ngờ việc gì cũng thuận lợi.
Bây giờ anh ấy đã là đại gia rồi. 

Theo như tôi biết, trong số mệnh của đệ tử này vốn dĩ sẽ nghèo khó. Nhưng may mắn gặp cơ duyên, được phúc thần âm thầm trợ giúp, cho nên mới trở thành đại gia. 
Tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) là người có minh nhãn, những đại gia giàu có mà tôi đã gặp lên tới hơn trăm hơn nghìn người, xung quanh những người giàu có này đều có phúc thần đứng phục vụ bên cạnh. Những phúc thần này đều là vô hình, giúp đỡ chuyển của cải đến nhà. 

Kì thực Phúc Đức Chính Thần là tiểu thần ở địa phương, cũng là âm thần, cũng làm chủ phúc phần, địa vị thần tuy nhỏ nhưng tụ tập đông đảo lại thì thế lực cũng lớn.
Cũng có nhiều người giàu có xung quanh họ là các “tài quỷ” giúp đỡ, đây là “Ngũ quỷ vận tài”, có quỷ thần trợ giúp thì mới có thể trở nên giàu có.

Còn như những người bần cùng, không những không có phúc thần tài quỷ hầu hạ mà thậm chí có khi gặp phải quỷ xui xẻo, quỷ đòi nợ đến nhà… Kết quả là càng ngày càng nghèo.

Trong pháp thuật của Mật giáo vốn có rất nhiều pháp Tài Thần, tôi đã từng truyền thụ thì có:
Hoàng Tài Thần.
Lục Tài Thần.
Bạch Tài Thần.
Hắc Tài Thần.
Hồng Tài Thần.
Ngoài ra còn có:
Tài Bảo Thiên Vương.
Tài Nguyên Thiên Mẫu.
Pháp rung cây tiền.
Pháp Long Vương bảo bình.
…

Theo tôi được biết, ở thiên thượng giới, sung túc nhất nên thuộc về Đa Văn Thiên Vương (Hoàng Tài Thần), ở vùng biển thì sung túc nhất nên thuộc về Hải Long Vương. 
Pháp thuật của Mật giáo có dạy người ta tu pháp làm giàu là bởi vì có một số hành giả Mật thừa bản thân nghèo khổ, không có tư lương để yên tâm tu hành, để giúp cho hành giả Mật giáo yên tâm tu hành nên mới đặc biệt đặt ra pháp môn phương tiện, khiến hành giả giàu có mới có thể không còn nỗi lo về sau.

Ngoài ra, tôi còn cho rằng con người trên thế giới đều biết tiền tài là quan trọng, ai ai cũng muốn phát tài, cho nên Mật giáo đặc biệt đặt ra pháp môn Tài Thần, “tiên dĩ dục câu chi, tái lệnh nhập Phật đạo”, trước tiên dùng pháp Tài Thần để thu hút hứng thú tu pháp của người ta, sau đó tiến thêm một bước vào Phật pháp chân chính của xuất thế gian.

Còn nữa, tu pháp Tài Thần có được lợi ích to lớn, cần phải phát nguyện sẽ đem phần lớn tiền tài làm sự nghiệp từ thiện bố thí, vòng tuần hoàn nhân quả như vậy, trồng phúc được tài.

Trong kinh Đại Trang Nghiêm Luận có một bài kệ rằng:
*Nay anh tự nói rằng
Không trồng không thành quả
Trước anh không bố thí
Thì nay sao được quả?
Nay anh dù vất vả
Bớt ăn cúng dường ta
Tự mình chuốc khổ sở
Lại phiền hà đến ta.
Làm gì khiến cho anh
Nay được nhiều lợi ích? 
Nếu muốn được tài bảo
Vợ con và quyến thuộc
Nên tịnh thân và khẩu
Và làm nghiệp bố thí
Không trồng mà được lợi
Thì nhật nguyệt tinh tú
Chẳng nên chiếu thế gian
Vì đã chiếu thế gian
Nên biết là do nghiệp
Trên trời trong chư thiên
Cũng đều có khác biệt
Phúc nhiều uy đức thịnh
Phúc ít xem uy đức
Vì đã biết thế gian
Tất cả đều do nghiệp
Bố thí được tài phúc
Giữ giới sinh về trời
Không có duyên bố thí
Uy đức đều suy giảm
Định huệ đắc giải thoát
Ba quả báo có được
Thập lực đã đều nói
Đây đều là cái nhân
Không nên phiền đến ta
Vì thế nên tu phúc
Để mong được quả lành.*

Từ bài kệ này, chúng ta thấy được rằng:
1. Bố thí trồng hạt giống phúc.
2. Giữ giới được sinh ở cõi trời.
3. Định huệ giải thoát.
4. Có nhân có quả.

Nói theo cách nói hiện đại thì: “Muốn thu hoạch được cái gì, trước tiên phải trồng cái đó!”
Có rất nhiều người nói với tôi, căn bản là không có tiền thì làm sao làm bố thí được? Tôi trả lời, có rất nhiều phương pháp bố thí, không chỉ mỗi là bố thí tiền, cũng có bố thí pháp, rồi còn có bố thí vô úy. Dùng lời khuyên người khác làm thiện, dùng thân nỗ lực làm việc thiện mỗi ngày, đó gọi là có tiền bỏ tiền, có sức bỏ sức. Còn có dùng tâm đi làm việc thiện, đây là một suy nghĩ thiện thì gặp dữ hóa lành, chỉ cần có suy nghĩ thiện thì chính là bố thí rồi.

Tu pháp Tài Thần thông thường có nguyên tắc là:
1. Thanh tịnh triệu thỉnh.
2. Đại lễ bái.
3. Đại cúng dường.
4. Tứ quy y.
5. Phát tứ vô lượng tâm.
6. Mặc bia giáp hộ thân.
7. Quán tưởng (kết ấn).
8. Trì chú.
9. Nhập tam ma địa.
10. Hồi hướng.
11. Cát tường viên mãn.
(Việc tu pháp trong đó thì về cơ bản là giống nhau.)

Tuy nhiên, một điểm mà tôi đặc biệt nhấn mạnh là, khẩu quyết của pháp Tài Thần là sở thích của Tài Thần ở mỗi con đường tu pháp là khác nhau, người tu pháp trên phương diện cúng dường nhất định phải đáp ứng được sở thích đó.
Nói một cách rất đơn giản là, Bạch Tài Thần đặc biệt thích nước tắm, cho nên phải dùng nước tắm tốt nhất để cúng dường.
Nếu cúng dường thiên nữ, dùng ý mà tắm gội cho ngài thì càng tuyệt diệu!
Chỉ cần Tài Thần hoan hỉ thì chắc chắn sẽ có thu hoạch.
(Về chi tiết tu pháp của pháp Tài Thần của Mật giáo, có thể tham khảo cuốn sách “Mật giáo đại quang hoa” mà tôi đã viết. Cuốn sách này đã nói cụ thể nghi quỹ hoàn chỉnh về tu pháp Mật giáo, y theo phương pháp trong cuốn sách này mà tu thì sẽ không bỏ sót điều gì.)
Tuy vậy, hễ là pháp của Mật giáo thì nhất định phải quy y nhận quán đảnh.

Ở đây tôi giới thiệu pháp Ngũ quỷ vận tài, pháp này năm xưa Liễu Minh Hòa Thượng đã truyền thụ cho tôi pháp phát tài đơn giản, mặc dù đơn giản nhưng trong một đời đảm bảo mọi việc đều thuận lợi.


![image](/img/img_e03dddc36478a7db4677fba6607fc981.png)


1. Trước tiên dùng giấy màu vàng vẽ phù Ngũ quỷ, giống như hình trên.

2. Trong một căn phòng nhỏ, tìm ra vị trí kho tiền bạc, một bức tường tàng phong tụ khí.

3. Dán giấy vàng có vẽ phù lên tường, rồi đặt một cái giá để cúng, cúng hoa, hương, đèn, trà, quả, rau thịt đều được.

4. Chọn ngày Thành nhật trong năm, ngày Thành nhật thì trong sách lịch có ghi rồi, vào giờ Tí ngày Thành nhật thì khai quang và cầu khấn.

5. Thực hiện:

Thủ ấn — dùng ấn Mãn nguyện, ấn này là tay phải chìa ra, lòng bàn tay ngửa lên trời, đặt trước ngực, giống như cách xin ăn.
Quán tưởng — thủ ấn biến to lên, nắm chắc lấy vàng bạc châu báu, tiền giấy, xe hơi, nhà lầu, v.v…
Trì chú — Om motho sanmanto hum. (108 biến)
Cầu nguyện — Kính cẩn thỉnh cầu Tào Thập, Trương Tứ, Lí Cửu, Uông Nhân, Chu Quang, Ngũ quỷ mau theo thân, mang theo vàng bạc tài bảo về nhà tôi, sự nghiệp mọi bề hanh thông, tôi sẽ thường xuyên cảm ơn phụng thỉnh, từng việc như ý mau hiện hình.

6. Cát tường viên mãn.

Phần lớn người tu pháp Ngũ quỷ vận tài phải luôn luôn nhớ đến tên của Ngũ quỷ, vào những lúc cần thiết thì phải nhớ đọc. 
Ví dụ, khi bàn bạc kinh doanh cùng người khác, khi kí hợp đồng, khi đòi nợ, mở cửa hàng mỗi ngày…
(Cúng tế Ngũ quỷ vào giờ Tí ngày Thành nhật là đẹp nhất, mỗi khi gặp ngày Thành nhật thì nên cúng tế.)

Nhớ kĩ tên của Ngũ quỷ, chuyên tâm phụng thỉnh, khi làm pháp thì phải gọn gàng thuần thục, thông hiểu đạo lí, dốc hết lòng thành thì có thể đạt được mọi thứ. Khi làm pháp phải quên hết mọi việc và tập trung, tất cả cúng phẩm phải thanh tịnh, hành giả cũng phải tắm gội trước, thay quần áo mới, sau đó mới có thể làm pháp. Hành trì như pháp thì Ngũ quỷ sẽ hiện thân giúp đỡ.

Đây chính là pháp Ngũ quỷ theo thân, cũng còn gọi là Ngũ quỷ chuyển vận, trong cõi vô hình sẽ có Ngũ quỷ trợ giúp.

Trong cuốn sách này, nếu lần lượt giải thích từng pháp Tài Thần thì có viết mấy cuốn sách cũng không đủ. Vì thế, tôi đặc biệt nêu ra trọng điểm của tu pháp như sau:
1. Nghi quỹ phải chu toàn nhất.
2. Cúng dường phải theo sở thích của Tài Thần.
3. Nếu trong mơ nhìn thấy, trong thiền định nhìn thấy, vào ban ngày nhìn thấy thì phải nhớ kết liên minh.
4. Nhất tâm thanh tịnh làm pháp.
5. Tưởng niệm (quán tưởng) phải rõ ràng.
6. Mật chú trì càng nhiều càng tốt. (Mười vạn, trăm vạn, nghìn vạn.)
7. Pháp thuật của Mật giáo nhất định phải quy y nhận quán đảnh mới có sức mạnh gia trì, không thể chỉ biết được pháp bản này mà lập tức tu ngay. 
8. Thỉnh cầu Căn bản Thượng sư truyền thụ tâm đắc khẩu quyết.
9. Phải phát lời thề nguyện rằng tiền tài có được không thể giữ cho chính mình hưởng thụ, phải đem phần lớn đi bố thí, làm sự nghiệp bồ đề.
10. Quan trọng nhất là, điều quan trọng nhất là khiến Tài Thần yêu thích bạn.
…


### 11. Pháp thuật thay đổi vận mệnh


Tôi thường dạy mọi người niệm một câu chú, câu chú này không phải là chú lớn, không phải là chú bí mật, không phải là chú phóng đại quang minh, không phải là chú vô đẳng đẳng, không phải là chú vô thượng.
Mà là một câu chú nhỏ rất phổ thông.
Trong bất kì kinh điển nào cũng đều có thể thấy, rất bình thường, bình thường đến mức khiến người ta có thể xem nhẹ mà bỏ qua.
Đó chính là An thổ địa chân ngôn. Chú ngữ như sau:
”Namo samanta buddhanam om duru duru devi soha.”

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người, chính là chú ngữ này có thể thay đổi vận mệnh. Đây chẳng phải là An thổ địa chân ngôn rất phổ thông sao? Không sai, nhưng nó có sức mạnh rất lớn để thay đổi vận mệnh, thật sự không thể coi thường.

Có người trì An thổ địa chân ngôn, bệnh da liễu 10 năm của họ đã khỏi hoàn toàn. 
Có người trên mặt có khí xui, cả đời khốn khó, trì An thổ địa chân ngôn lâu ngày, phúc quang chiếu mệnh, vận mệnh đều thay đổi, từ nghèo thành giàu.
Có người trì An thổ địa chân ngôn, không ngờ 10 năm không có thai đã có thai.
Có người trì An thổ địa chân ngôn, cả đời khỏe mạnh không bệnh tật.
Có người trì An thổ địa chân ngôn, có được hôn nhân tốt, trên mặt của họ có ánh sáng đỏ.
Có người trì An thổ địa chân ngôn, vốn dĩ sự nghiệp không suôn sẻ, cuối cùng mọi việc đều thuận lợi, không có việc gì là không như ý.
Có người trì An thổ địa chân ngôn, trúng thưởng lớn.

Tôi còn nói cho mọi người một bí mật, bí mật này vốn dĩ là không thể nói ra, nhưng tôi không kìm được không thể không nói. Chỉ cần bạn thường xuyên trì An thổ địa chân ngôn, đi đến Las Vegas, bạn sẽ đặc biệt được như ý.
Căn bản là không có ai đề xướng trì câu chú này lâu dài, chỉ có tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) đề xướng. 

Đây là điều tôi phát hiện ra:
Trong một lần thiền định, tôi phát hiện ra bên cạnh mình có một cụ già tóc bạc mặt hồng đang ngồi.
”Cụ là ai thế?”
”Địa thần.”
”Ở nhân gian cụ thích làm việc gì?”
”Đi theo người có phúc.”
”Cụ có tâm đắc gì với linh giới?”
”Thánh giới (chỉ Phật giới) trống không, thiên giới (chỉ thần tiên) thanh tịnh, địa thần giới thì lành dữ họa phúc, chính là đạo lí này.”

Tôi hỏi địa thần:
”Vận mệnh của mỗi con người ra sao?”
”Vận mệnh đều là nhân quả nghiệp báo, trong đó đan xen phức tạp, phàm phu chẳng thể biết được, nhưng không tách rời được hai chữ nhân quả, tất cả đều là mệnh, hết thảy đều chẳng phải do con người.”
”Cụ nói không sai, nhưng làm sao thay đổi được vận mệnh?”
Tôi lại hỏi:
”Cầu Phật ư?”
”Không hợp thời cơ, Phật không thể cầu.”
”Cầu thần tiên ư?”
”Cũng không hợp thời cơ.”
”Cầu địa thần ư?”
”Đúng thế, lành dữ họa phúc có thể chuyển mệnh.”
”Làm sao thay đổi?”
”Niệm chân ngôn.”
”Chân ngôn nào?”
”An thổ địa chân ngôn.”

Cụ già ấy dẫn tôi cưỡi trên một cỗ xe hươu bay lên không trung, đến một ngọn núi, trong núi có một tòa thành lớn, cũng làm bằng vàng ngọc tráng lệ. Trong tòa thành này đều là các cụ già tóc bạc mặt hồng, có hơn nghìn hơn vạn. Và các cụ già tóc bạc mặt hồng này, có người thì đang trở về, có người thì lại bay đi. 
”Đây là đất nước gì?”
”Địa cư thần quốc.”
”Các địa thần đang bận rộn gì vậy?”
”Đi hộ trì, đi chuyển mệnh, đi cải vận.”

Cuối cùng, tôi đã hiểu ra một nguyên lí, học Phật đương nhiên có thể cải biến vận mệnh, học Tiên cũng có thể cải biến vận mệnh, nhưng trực tiếp niệm An thổ địa chân ngôn thì việc thay đổi vận mệnh càng trực tiếp hơn.

Muốn thay đổi vận mệnh của chính mình, nắm chắc chìa khóa của tạo hóa, đích xác là bất kì loại pháp thuật nào cũng đều phải hợp thời cơ, phù hợp với cơ duyên. 
Chỉ cần niệm An thổ địa chân ngôn trên nghìn, vạn, triệu biến, nhất tâm phụng trì, địa thần phúc quang chiếu mệnh, có thể cải vận, đây là sự thật.


### 12. Pháp thế thân cắt hình người giấy


Pháp thế thân này là do Liễu Minh Hòa Thượng của Mật tông Hồng giáo truyền thụ. 
Có hai câu chuyện, tôi thuật lại sơ sơ như sau:

Câu chuyện thứ nhất:

Văn Vương bát quái thần toán nổi danh trong thiên hạ, bản thân Văn Vương cũng nghiên cứu sâu thuật này, đắc được tam muội trong đó, vì thế mà chưa cần bốc quẻ đã biết.

Vào thời đại của Văn Vương, ông ấy có thể vẽ nhà lao trên mặt đất, vì thế gọi là “họa địa vi lao”, tức là vẽ một vòng tròn xung quanh phạm nhân, để cho phạm nhân ngồi bên trong đó, không thể bỏ chạy. Thứ nhất, việc này cho thấy phong tục dân gian khi ấy rất thuần phác, nhân dân hiền lành tuân thủ pháp luật. Thứ hai, nhân dân khi ấy ai ai cũng biết sự lợi hại của Văn Vương bát quái, cho dù bạn chạy trốn thế nào thì đều không thoát được thần toán của Văn Vương bát quái, Văn Vương bát quái có thể tính được bạn chạy hướng nào, chạy bao xa, trốn ở nơi nào, bách đoán bách trúng, nghìn đoán nghìn linh. Vì thế, phạm nhân đều không dám bỏ trốn.

Có một lần, có một tiều phu gánh củi đi vào thành, vì phải né tránh người ta nên đòn gánh không cẩn thận đã va vào đầu của một người đi đường, kết quả là không ngờ đối phương lại chết, như vậy là đã phạm tội ngộ sát. Khi ấy đúng lúc Văn Vương đi ngang qua, thế là ông ấy vẽ một nhà tù trên mặt đất.

Vừa hay Khương Tử Nha cũng đi qua, trông thấy phạm nhân khóc lóc, gia cảnh của phạm nhân khiến người ta thương cảm, thế là Khương Tử Nha bảo phạm nhân trốn đến nước khác lánh nạn, nhưng phạm nhân sợ Văn Vương bát quái. Khương Tử Nha đáp:
”Không sợ, mặc dù Văn Vương bát quái rất linh, nhưng tôi có pháp thế thân.”
Khương Tử Nha dạy phạm nhân trước tiên bện một người rơm, bỏ lông tóc móng tay của mình vào bên trong người rơm này, rồi vào lúc nào đó trong ngày, đứng ở bên cạnh vách núi, làm pháp, ném người rơm này xuống vực sâu của vách núi.
Sau đó mang theo mẹ già chạy trốn đến nước khác.
Phạm nhân nghe lời dạy của Khương Tử Nha nên đã trốn đi lánh nạn. 

Văn Vương trên đường trở về thấy nhà tù vẽ trên đất vẫn còn đó, nhưng người thì không còn nên rất tức giận. Văn Vương về đến hoàng cung thì bày hương án, bói một quẻ, có được đáp án là: “Phạm nhân này đã tự sát, tự gieo mình xuống vách núi kết liễu đời mình rồi.”
Văn Vương thở dài một hơi, không truy cứu phạm nhân này nữa. 

Câu chuyện thứ hai:

Có hai người là bạn tri kỉ. Một người trong số đó chết trước, còn người kia là thầy địa lí nổi tiếng đã lựa chọn cho bạn thân của mình nơi chôn cất có phong thủy tốt - phía trước gần sông chín khúc, phía sau dựa vào núi nghìn dặm, hai bên có dãy núi ôm vào. 

Đêm ấy, thầy địa lí thắp đèn đọc sách, đột nhiên có một cơn gió lạnh thổi tới, rồi nhìn thấy một người thập thò trong ánh đèn, hơn nữa còn khóc lóc thảm thiết. 
Thầy địa lí lớn tiếng hỏi:
”Người nào?”
Đối phương đáp:
”Là bạn thân đây.”
Thầy địa lí lại hỏi:
”Anh đã chết rồi, nay lại đến gặp, là duyên cớ gì?”
Người bạn đã chết kia đáp:
”Địa lí mà anh chọn lựa có thể nói là mười phân vẹn mười, nhưng gần đó có ngôi mộ của một kẻ lưu manh, kẻ lưu manh này là thủ lĩnh xã hội đen, cực kì hung ác. Tôi mới được chôn xuống thì hắn đã đến bắt nạt, trong tay đối phương có tới bảy, tám người, tôi không phải là đối thủ của hắn. Bọn chúng cho rằng tôi đã chiếm khu mộ có phong thủy tốt của bọn chúng.”
”Giúp anh thế nào đây?”
”Mau dùng pháp thế thân, bện người rơm, lấy vải làm áo, tay cầm vũ khí, chọn ngày đốt trước mộ, làm hai mươi người, như vậy chắc chắn sẽ thắng.”

Thầy địa lí là người hiểu pháp thế thân, cũng có giải thích rất hay về pháp thế thân, công dụng của pháp thế thân rất rộng rãi.
Thứ nhất, có thể tránh tai họa.
Thứ hai, có thể gia tăng pháp lực.
Thứ ba, có thể phá trừ thuật bùa chú giáng đầu.
Thứ tư, có thể trừ bệnh tật (bệnh do quỷ thần hoặc bệnh khác). 
Thứ năm, có thể ẩn thân, kim thiền thoát xác.
Thứ sáu, có thể trợ giúp kinh doanh thịnh vượng.
Thứ bảy, có thể trừ ác mộng mất ngủ.
Thứ tám, về phong thủy, có thể phá trừ cái chết liên tiếp của thân quyến.
Thứ chín, những công dụng khác.

Trong Mật giáo hoặc Đạo gia, tu pháp thế thân đến trình độ cao nhất, trong sát-na có thể hóa thân bên ngoài thân.
Tôn Ngộ Không trong Tây Du Kí nhổ ra vài sợi lông khỉ, thổi một hơi, biến ra nghìn nghìn vạn vạn Tôn Ngộ Không, đây là pháp thế thân.
Pháp vẩy đậu thành binh của Đạo gia, cắt người giấy là pháp thế thân.
Mật giáo tu pháp thế thân:
Tụng: “Sang ha rưa na pê cha.” Theo hơi thở hít vào, thu về ở chóp mũi biến thành một kim cang.
Sau khi thành tựu kim cang vi tế rồi, lại tụng: “Sa pa rưa pê cha.” Giống như gió thổi hạt bụi, tung ra rất nhiều kim cang vi tế dần dần lan ra khắp tam giới. 

Cái này trong “Sơ phẩm” nói rằng: “Nếu kim cang vi tế hiện lên tướng vui vẻ, tướng ấy nên phổ biến rộng khắp, tâm cũng nên theo đó mà phổ rộng, nếu tâm muốn phổ rộng thì thậm chí khắp cả tam giới.”

Tôi nói với mọi người:
”Kim cang vi tế này là thế thân, cũng tức là phân thân.”
Pháp tu này nhất định phải có Căn bản Thượng sư hướng dẫn tỉ mỉ mới được.

Ở đây tôi công khai pháp thế thân trừ bệnh quỷ thần như sau:

1. Đầu tiên cắt một người giấy có đầu, tay, chân, thân. Trên đầu vẽ mắt, tai, mũi, miệng, lông mày. Trên thân viết sinh thần bát tự và họ tên của người bệnh.

1. Cho người bệnh hà ba hơi “tiên thiên khí” lên hình người giấy.

1. Chọn buổi chiều ngày Trừ nhật (sau 12 giờ trưa) để làm pháp.

1. Tay kết thủ ấn khu trừ, ngón cái tay trái đè lên ngón giữa và ngón áp út, ngón trỏ và ngón út thì giơ thẳng.

1. Quán tưởng người giấy ở trước mặt chính là bệnh nhân, quán tưởng bóng đen của ma bệnh từ trên thân của người giấy chạy trốn. 

1. Niệm chú: “Om amita hum pan.” (108 biến)

1. Đem người giấy và tiền giấy hóa tiễn ở cửa sau của nhà ở.

1. Cát tường viên mãn.

Ứng dụng của pháp thế thân có thể từ một suy ra mười, ví dụ ứng dụng để đuổi kẻ tiểu nhân trên người, rất hiệu quả.

Tôi thuật lại trình tự làm pháp như sau:

1. Cắt một người giấy, đầu, tay, chân, thân. Trên đầu vẽ lông mày, mắt, mũi, tai, miệng rõ ràng. Trên thân viết sinh thần bát tự của kẻ tiểu nhân.

2. Trên giấy tốt nhất là để lông tóc móng tay của kẻ tiểu nhân, vật tượng trưng cho tinh thần của họ. (Hoặc một mảnh nhỏ đồ lót mặc đã lâu của người đó, nếu vẫn không được thì lấy một ít đất dính trên đế giày của người đó.)

3. Chọn ngày Trừ nhật, sau buổi trưa làm pháp.

4. Thủ ấn khu trừ như hình:


![image](/img/img_3e0ccde82f5dbac14e05e2274ed7de94.png)


5. Quán tưởng kẻ tiểu nhân rời khỏi bạn, vội vàng chạy trốn.

6. Trì chú: “Om amita hum pan.” (108 biến)

7. Đem người giấy và giấy tiền vàng hóa tiễn ở cửa sau nhà.

8. Cát tường viên mãn.

Trên thế gian này, người phạm vào kẻ tiểu nhân thường hay gặp những trắc trở lớn trong cuộc đời, ví dụ nữ sinh bị người đàn ông mà mình không thích liên tục quấy rầy, ví dụ cấp trên hay đồng nghiệp thường xuyên tìm đến bạn để làm phiền, ví dụ người thường xuyên vô duyên vô cớ bắt nạt bạn, ví dụ người lừa gạt tiền bạc của bạn, ví dụ người thường xuyên làm hại bạn… 

Pháp này đúng là quá thù thắng rồi.


### 13. Công khai và không công khai mật pháp


Mật giáo dựa vào cái gì mà được gọi là “mật”?
Tôi cho rằng đó là:
1. Sự tìm kiếm bên trong.
2. Ẩn mật không hiển lộ.
3. Bộ phận không thể công khai.

Trên phương diện không thể công khai, ví dụ, nếu một khi công khai Vô thượng mật bộ thì sẽ làm kinh động toàn bộ thế giới, ví dụ như nghĩa lí thú vị của Mật giáo có chỗ đối chọi với giới luật Hiển giáo, ví dụ làm pháp hàng phục cũng không nên công khai, và những cái khác…

Trong giới samaya của Mật giáo có nói:
”Bây giờ anh sẽ tiến vào tất cả chủng tính Như Lai, ta sẽ vì anh mà sinh ra trí huệ kim cang, nhờ có trí này mà anh có thể đạt được tất cả thành tựu Như Lai, huống chi là các thành tựu thông thường. Đối với người còn chưa thấy được mandala thì không nên nói ra, nói ra thì anh sẽ đánh mất samaya.”

Và:
”Với lời thề kim cang này, nếu anh tiết lộ [các bí mật kim cang] với người ngoài, thì cái đầu [anh] sẽ vỡ bể.”
”Không được tuyên thuyết bí mật, vì anh không thể vi phạm samaya.”

Và:
”Từ nay trở đi, ta chính là cánh tay kim cang của anh, ta dạy anh làm thế nào thì anh lập tức làm theo, anh không nên phỉ báng ta, điều đó sẽ khiến anh không thoát được khổ não, chết đọa địa ngục.”

Trong Mật giáo, phạm samaya nặng nhất là:
1. Tuyên bố bí mật không đúng chỗ — đem Mật pháp truyền cho người không nên truyền.
2. Coi thường và phỉ báng thầy — phỉ báng Căn bản Thượng sư.
3. Làm trái và qua mặt thầy — đánh mất truyền thừa, đánh mất samaya.

Trên nguyên tắc mà nói, tu hành Mật giáo ngay cả đến Bổn tôn và Hộ pháp của chính mình cũng là một điều bí mật.
Nói ra điều không thể công khai đều là phạm giới samaya. 
Tuy nhiên, nếu không công khai Mật pháp thì rất hiển nhiên là cũng có khuyết điểm, bởi vì người đời sẽ không biết chỗ thù thắng của Mật pháp, sẽ không có nhiều người hiểu về Mật giáo, ngược lại người hiểu sai sẽ rất nhiều, như vậy thì chúng sinh có thể độ được sẽ cực kì có hạn.
Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến không thể hoằng dương Mật giáo.

Có người hỏi tôi:
”Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, Mật pháp vốn là không công khai, giờ đây ngài công khai, chẳng phải là trước sau mâu thuẫn sao?”
Tôi đáp:
”Anh nói không sai, giả như tôi là một hành giả Mật giáo bình thường, hôm nay tôi công khai rất nhiều Mật pháp, đó là phạm giới samaya, ví dụ: tôi nói ra Bổn tôn của mình, nói ra Hộ pháp của mình, tôi giảng giải Nội pháp, pháp chuyết hỏa, pháp minh điểm, pháp vô lậu, tôi lại còn công khai pháp Đại Uy Đức Kim Cang, pháp hàng phục. Tôi cũng đã giảng giải Vô thượng mật bộ. Tuy vậy, điều tôi nhấn mạnh ở đây là tôi không phải là hành giả Mật giáo bình thường.”

“Nếu là hành giả Mật giáo bình thường mà vi phạm samaya?”
”Đời này mắc bệnh, khổ não không dừng, sau khi chết đọa địa ngục!”
”Thế con ngài?”
”Tôi là kim cương.”
”Kim cương là sao?”
”Kim cương chính là bất hoại. Trên thế gian này, chỉ có một thứ không hư hoại, đó chính là hư không. Lửa đốt hư không, hư không chẳng hư hoại, nước nhấn chìm hư không, hư không chẳng hư hoại, gió thổi hư không, hư không chẳng hư hoại, đất vùi lấp hư không, hư không chẳng hư hoại.”

“Ngài là hư không ư?”
”Tôi là người đã ấn chứng tính Không. Đối với tôi mà nói, cái gọi là samaya tức là không phải samaya, vì không phải là samaya cho nên là samaya. Bởi vì tôi đã ấn chứng hư không, cho nên tôi vượt lên trên tất cả.”
”Ngài có thể công khai bí mật ư?”
”Chỉ có tôi có thể.”

Tôi nói như thế này:
Tôi dạy các đệ tử chớ phạm giới samaya, giữ gìn giới samaya của chính mình, trừ phi bạn đã ấn chứng tính Không.
Tôi từng nói, muốn tu hành Vô thượng mật bộ phải có hai điều kiện lớn nhất:
1. Vô lậu.
2. Tính Không.

Hôm nay tôi nói, Mật pháp vốn dĩ là không thể công khai, nhưng hôm nay duy có tôi công khai, đó là vì tôi gánh vác đại nghiệp của Như Lai, luôn cần có một người công khai, cho nên, đây là pháp duyên hết sức thù thắng, mọi người phải trân trọng. Tôi công khai cách làm pháp của Mật giáo cũng là vì có được đại ấn chứng của Phật Thích Ca Mâu Ni. 


### 14. Liễu Minh Hòa Thượng truyền thụ thuật cầu con


Đây là thuật pháp mà sư phụ Liễu Minh Hòa Thượng của Hồng giáo Tạng mật truyền thụ, cực kì ứng nghiệm. Pháp này chưa được lưu hành ở trên đời, cực kì ít người biết, cho nên vô cùng trân quý, có thể nói là báu vật vô giá.

Trên đời này, rất nhiều người mắc bệnh vô sinh, kết hôn nhiều năm nhưng đến một quả trứng cũng không có.
Cũng có người toàn sinh con trai.
Cũng có người toàn sinh con gái.
Muốn có thể sinh con vừa có nam vừa có nữ, con sinh ra lại là trai xinh gái đẹp, hơn nữa đứa nào cũng tài trí hơn người, đạo đức và học thức đều ưu tú, thật khó lắm thay!

Thế nhưng, thuật cầu con của Liễu Minh Hòa Thượng có thể như ý tất cả, vậy chẳng phải là trân quý phi phàm sao? Đây chẳng phải là giá trị liên thành [vô giá] sao?

Thuật cầu con của Liễu Minh Hòa Thượng thuật lại như sau:

Trọng điểm nằm ở vật liệu, phải tìm được chuỗi hạt của một lão Bồ Tát đã niệm Phật niệm chú trên 10 năm, thời gian càng lâu càng tốt.

Vật liệu của chuỗi hạt này tốt nhất là chuỗi hạt bồ đề, bởi vì hạt bồ đề có chữ “tử” [con] ở trong đó, lấy hạt đó thì sẽ tương ứng, nếu không phải là chuỗi hạt bồ đề thì chuỗi hạt bằng hạt cây khác cũng được.

Vì sao phải chọn vật liệu là chuỗi hạt? Theo như Liễu Minh Hòa Thượng nói thì: niệm một câu Phật, có công đức vô lượng, niệm một câu chú, diệt được tội nhiều như cát sông. Tay con người khi lần tràng hạt thì tràng hạt đã có linh tính, tràng hạt này đã được gia trì bằng Phật chú, lại dùng tay gia trì, từ lâu đã là một vật linh thiêng rồi, niệm càng lâu thì linh khí càng dày.

Muốn có được chuỗi hạt trong tay của một lão Bồ Tát, bạn có thể dùng một chuỗi hạt đẹp và có giá trị hơn để đổi cho lão Bồ Tát. Hoặc dùng tiền để mua lại chuỗi hạt đó.

Phải ghi nhớ:
Nếu lão Bồ Tát là nam thì đứa con cầu được sẽ là con gái.
Nếu lão Bồ Tát là nữ thì đứa con cầu được sẽ là con trai.
(Vẫn là đạo lí trái tính hút nhau.)

Cách làm pháp như sau:

Lấy một hạt trong chuỗi tràng hạt đó là được, đến một ngôi chùa có liên quan, ví dụ như chùa của Chú Sinh Nương Nương, chùa của Tống Tử Quan Âm. Nếu gần đó không có miếu chùa của Chú Sinh Nương Nương hoặc Tống Tử Quan Âm thì đến miếu Thành Hoàng, miếu Cảnh Chủ, am Địa Tạng… đều được.

1. Về thời gian, có thể chọn sau giờ Ngọ ngày Thành nhật.

2. Thắp hương, cúng hoa quả, cầu nguyện, lễ nghi giống như lễ Phật.

3. Lấy ra một hạt bồ đề từ chuỗi hạt, bí mật chôn vào trong tro của bát hương ở chỗ sâu nhất.

4. Niệm bài kệ:

Trong ruộng bát thức
Gieo hạt giống Phật
Mưa sương tưới tắm
Nảy mầm ra hoa kết quả.

5. Cầu nguyện mau chóng có được con trai con gái.

6. Cát tường viên mãn.

Ngoài ra, Chân Phật Tông chúng ta còn tôn sùng Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát chân kinh, kinh điển này đã rất nổi tiếng vào thời đại nhà Đường, cảm ứng được kinh điển này có thể chứng quả phúc. 

Bài kệ sau cùng là:

*Mười phương Quan Thế Âm. Hết thảy chư Bồ Tát.
Đã thề cứu chúng sinh. Xướng danh tất giải thoát.*

*Nếu gặp người trí tuệ. Ân cần mà giảng nói.
Lại có đủ nhân duyên. Đọc tụng không ngơi nghỉ.
Tụng kinh tròn nghìn biến. Niệm niệm tâm không dừng.
Gặp lửa cháy chẳng sao. Việc đao binh cũng thoát.
Nóng giận thành vui vẻ. Chết rồi hóa sống vui.
Đừng nghĩ rằng không đúng. Chư Phật chẳng nói chơi.
Cao Vương Quan Thế Âm. Cứu được hết khổ nạn.
Lúc khó khăn nguy cấp. Người chết còn thành sống.
Chư Phật chẳng nói đùa. Vì vậy nên đảnh lễ.
Niệm tụng trọn nghìn lần. Tội nặng đều tiêu diệt.
Người có phúc tín tâm. Hãy chuyên tâm đọc tụng.*

Hiệu nghiệm của Cao Vương Kinh là cực nhiều cực nhiều. Và cũng có thể cầu con. Điều cốt yếu khi trì tụng Cao Vương Kinh là:
1. Chế tâm một chỗ, không khởi vọng niệm.
2. Không câu nệ thời gian, địa điểm, tâm linh tự tại là quan trọng.
3. Đọc ra miệng, đi vào tai, in vào tâm.
4. Với mỗi điều thỉnh nguyện thì trì tụng đủ 1000 biến.
5. Nếu vẫn chưa có hiệu nghiệm thì tự biết rằng nghiệp chướng còn sâu nặng, càng nên tiếp tục trì tụng cho đến khi đạt hiệu nghiệm mới được. 

Nguyên văn của Cao Vương Quan Thế Âm chân kinh:

*Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.*

*Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại thần chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại minh chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô thượng chú.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô đẳng đẳng chú.*

*Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.*

*Niệm danh hiệu Phật sáu phương:
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.
Bắc phương Nguyệt Điện Thanh Tịnh Phật.
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.*

*Hết thảy chúng sinh trung ương, chư vị trong Phật giới, trú ngụ trên mặt đất, cho đến tại không trung, thương lo cho tất cả chúng sinh. Ai cũng an ổn tốt lành. Ngày đêm tu trì. Tâm thường cầu tụng kinh này. Diệt được khổ sinh tử. Tiêu trừ hết độc hại.*

*Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai. Hóa Thắng Bồ Tát.*

*Tụng bản kinh không ngừng. Thất Phật Thế Tôn. Liền nói chú sau:
““Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha” (7 lần)*

*Mười phương Quan Thế Âm. Hết thảy chư Bồ Tát.
Đã thề cứu chúng sinh. Xướng danh tất giải thoát.*

*Nếu gặp người trí tuệ. Ân cần mà giảng nói.
Lại có đủ nhân duyên. Đọc tụng không ngơi nghỉ.
Tụng kinh tròn nghìn biến. Niệm niệm tâm không dừng.
Gặp lửa cháy chẳng sao. Việc đao binh cũng thoát.
Nóng giận thành vui vẻ. Chết rồi hóa sống vui.
Đừng nghĩ rằng không đúng. Chư Phật chẳng nói chơi.
Cao Vương Quan Thế Âm. Cứu được hết khổ nạn.
Lúc khó khăn nguy cấp. Người chết còn thành sống.
Chư Phật chẳng nói đùa. Vì vậy nên đảnh lễ.
Niệm tụng trọn nghìn lần. Tội nặng đều tiêu diệt.
Người có phúc tín tâm. Hãy chuyên tâm đọc tụng.*

*Phụng thỉnh bát đại Bồ Tát
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Kim Cang Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Diệu Cát Tường Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.*

*Nguyện mang công đức này. Gửi tới hết chúng sinh.
Tụng tròn một nghìn biến. Tội nặng đều tiêu diệt.
Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (Hết)!*

Còn nữa, Liễu Minh Hòa Thượng từng truyền cho tôi một lá phù, phù này là phù “khóa không sinh con nối dõi”, Liễu Minh Hòa Thượng nói: nếu có người cưới vợ, nạp thiếp, nhiều năm không sinh được con nối dõi thì dùng phù này, vào ngày bản mệnh của phụ nữ (ngày sinh), đốt phù và uống vào lập tức có hiệu nghiệm.

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người, sau khi tôi có được phù này, tôi đã rộng rãi vẽ phù này cứu người, quả nhiên đã giúp được vô số người. 
Có người 10 năm không sinh con đã sinh được con.
Có người có khiếm khuyết về sinh lí cũng đã sinh được con.
Có người bác sĩ đã bó tay cũng đã sinh được con.
Có người liên tục bị sảy thai, cuối cùng đã sinh con thành công.
…..
(Kì tích liên miên, kì tích không ngừng, kì tích liên tục xuất hiện.)

Đối với pháp vẽ phù, Liễu Minh Hòa Thượng dạy rằng phải bày hương án, quả, rượu, hoa, nến, phải thắp hương, phải dâng hoa.
Trình tự như sau: cúng lễ, niệm chú cho nước, giấy, bút, mực, vẽ phù, niệm chú cho phù, phát ra phù này.

Liễu Minh Hòa Thượng còn nói: 
Phàm là vẽ phù thì phải đặt bút cương quyết và rõ ràng, không được vẽ yếu ớt và lộn xộn. Chỉ cần có linh quang gia trì cho phù thức thì phù này sẽ có hiệu nghiệm. 
Phù thức Khóa không sinh con nối dõi như sau:


![image](/img/img_bc0f119791a7c3b9e23eb410170b2303.png)


Liễu Minh Hòa Thượng nói với tôi:
”Sau này đứa trẻ có được nhờ thuật cầu con đều là những Phật tử có trí huệ siêu thắng.”
Tôi hỏi:
”Lấy đâu ra nhiều Phật tử như vậy?”
”Anh không tin ư?”
”Tin thì tin, nhưng mà những Phật tử đó từ đâu đến?”
”Thầy dẫn anh đi xem!”

Vào một buổi tối, Liễu Minh Hòa Thượng (Thanh Chân Đạo trưởng) đưa tôi đến Đại Phạm Thiên, Đại Phạm Thiên có một cây bằng vàng, cành lá sum suê, chu vi đến mấy trăm dặm, cây vàng lại kết những quả vàng, có tới hàng nghìn hàng vạn quả.
Liễu Minh Hòa Thượng chỉ vào những quả vàng:
”Những quả này đều là Phật tử!”
”Đây là quả vàng, đâu phải là Phật tử chứ?”
Liễu Minh Hòa Thượng dùng tay lại chỉ vào quả vàng, khoa tay một lúc, không ngờ vỏ quả tự động bóc ra, từ trong quả đó xuất hiện một đứa bé, đứa bé da trắng như tuyết, cực kì đáng yêu, nhảy tung tăng tỏa mùi thơm phức. 
Đứa bé nói:
”Con từ đâu đến?”
Đứa bé lại nói:
”Ai sinh ra con vậy?”
Liễu Minh Hòa Thượng nói:
”Đứa trẻ có được từ thuật cầu con đều là những đứa trẻ đến từ thiên thượng giới, bọn chúng vừa sinh ra đã có trí tuệ lớn rồi! Ví dụ như câu hỏi con từ đâu đến, con là do ai sinh ra vậy, đó chính là thiền ngữ, đáng phải suy ngẫm sâu xa!”

Sau khi được Liễu Minh Hòa Thượng chỉ điểm, tôi nghĩ đến một vấn đề: “Rốt cuộc ai sinh ra ai?”
Rốt cục ai sinh ra ai? Sao lại đột nhiên là Phật, đột nhiên lại giáng xuống Ta Bà, loáng một cái đã nghìn năm, ai là bạn, ai là tôi?
Rốt cục ai sinh ra ai? Đột nhiên là cụ già, đột nhiên lại là trẻ con, trẻ con lại sinh ra người già, người già lại sinh ra trẻ con.
Rốt cục ai sinh ra ai? Bạn đang bế trên tay là trẻ con, hay là cụ già?


### 15. Thuật cầu mộng thông


Trong pháp thuật của Mật giáo vốn có thuật cầu mộng thông, thuật này là nhờ Bổn tôn ở trong giấc mơ chỉ thị báo trước lành dữ. 
Pháp thuật này có thể:
1. Báo trước lành dữ.
2. Dự báo tương lai.
3. Dự báo các hành vi.
(Thuật cầu mộng thông, lớn thì đến vận mệnh Quốc gia, nhỏ thì đến vận mệnh cá nhân, đều có thể thấy trước biết trước, cho nên đối với một hành giả thì pháp này cần thiết để tu luyện.)

Trong “Mật tông đạo thứ đệ quảng luận” có ghi chép như sau:
Trước khi tu thành tựu, quan sát tướng thành hay không thành, gọi là vào ngày rằm, hoặc ngày lành có trăng sáng, thọ trì trai giới, một đêm thậm chí là ba đêm quan sát mộng tướng. 
Dùng quả chua để tắm gội, và nước tắm có mùi thơm để tẩy tịnh, mặc quần áo mới. 
Vào lúc nửa đêm đầu tiên, phụng thỉnh Bổn tôn, dùng các loại bạch đàn để đốt hương làm cúng dường, cúng nhiều loại sữa ngon kèm theo thức ăn, dùng bơ Hộ Ma 108 biến. Sau đó dùng bạch giao hương tùy theo công việc mà làm Hộ Ma. 

Tiếp theo, lấy sợi dây được tết bởi cô gái còn trinh (sợi ngũ sắc), thắt bảy nút thắt, dùng chú của Bổn tôn gia trì bảy lần rồi buộc vào cổ tay.
Cầu nguyện Bổn tôn trong mơ chỉ thị cho biết tu có thành hay không thành.
Khi ngủ tự mình quán tưởng Bổn tôn.
Chuẩn bị một chỗ nằm bằng cỏ có rải hoa. Trì tụng chân ngôn rồi nằm xuống.

Tôi sâu sắc cảm thấy con người trên thế gian này có quá nhiều phiền não, hơn nữa ai ai cũng đầy quan tâm đến tiền đồ của mình, nhưng lại không ai có thể chỉ đạo. Cho nên chúng sinh thế gian giả sử có thể tu thuật cầu mộng thông này thì quá tốt, quá vi diệu, không cần đi tìm đáp án nữa, bởi vì chính là cầu ở trong tim mình.

Nếu bạn học được thuật cầu mộng thông, lành dữ của mình tự mình biết, tiền đồ của mình tự mình biết, tự mình nên đi như thế nào tự mình biết, không cần hỏi người khác, tự mình sẽ có được cảm ứng rất tốt.

Tôi cho rằng, thuật này muốn cảm ứng thì trọng điểm nằm ở:
1. Thành tâm cầu nguyện.
2. Nghi quỹ chu toàn.
3. Giới luật thanh tịnh.
4. Bình thường có Bổn tôn và Thiên Long Bát Bộ hộ trì.
5. Phát bồ đề tâm.
6. Chính tín kiên cố.

Tôi từng truyền thụ pháp Chân Phật Tông Cát Tường Thiên Nữ cầu mộng, tôi trình bày nghi quỹ đơn giản của pháp này như sau:
Thứ nhất, thờ pháp tướng phẫn nộ của Cát Tường Thiên Nữ. (Cát Tường Thiên Nữ hiện thân kim cang phẫn nộ, cưỡi trên lưng ngựa, trên mông ngựa mọc thêm một con mắt.)
Thứ hai, sợi chỉ ngũ sắc phải hơ qua lửa để thanh tịnh.
Thứ ba, cúng dường, dâng hương, lễ bái. Thời gian cầu nguyện chọn vào lúc chập tối khi phải bật đèn và nấu cơm tối, lúc cơm sắp chín.
Thứ tư, khẩu quyết quán tưởng: quán tưởng Cát Tường Thiên Nữ ngồi trên lưng ngựa, ngón cái chân phải chuyển động ba cái, phóng ra ánh sáng trắng chiếu đến sợi chỉ ngũ sắc. (Lúc này tay hành giả đang cầm chỉ ngũ sắc.)
Thứ năm, trì niệm tâm chú Cát Tường Thiên Nữ — “Om mahasri ya soha” càng nhiều càng tốt. 
Thứ sáu, cuối cùng, mỗi khi niệm một biến chú thì thắt một nút trên sợ chỉ ngũ sắc, liên tục niệm bảy biến chú thì thắt bảy cái nút. 
Thứ bảy, buộc sợi chỉ ngũ sắc đã thắt nút lên cổ tay trái.
Thứ tám, chắp tay hướng về Cát Tường Thiên Nữ cầu nguyện, thỉnh cầu vào đêm hôm đó ban cho chỉ thị trong mơ, chỉ thị cho mình về lành dữ thành bại của một việc nào đó (hôn nhân, kinh doanh, sự nghiệp, tài vận, bệnh tật, tu hành, kiện cáo, con cái, thọ mạng, đi xa, v.v…)
Thứ chín, chỉ thỉnh cầu một việc thôi, đơn giản không phức tạp.
Thứ mười, đêm hôm ấy trước khi đi ngủ, chắp tay lại thỉnh cầu một lần nữa.
Thứ mười một, trước khi ngủ phải tắm gội, mặc quần áo mới, trì chân ngôn cho đến khi ngủ mơ. (Đêm hôm ấy, Cát Tường Thiên Nữ sẽ đến trong giấc mơ, chỉ thị cho sự việc lành dữ ra sao.)

Phải nhớ, nếu muốn tu hành pháp này, phải thành tâm yêu cầu Chân Phật Tông Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn quán đảnh. Có quán đảnh rồi mới có thể tu pháp.

Tại đây, tôi phải giải thích mộng thị như sau:
Giấc mơ của người bình thường có cái gọi là mơ thấy điều dữ thì ngược lại sẽ là điềm lành, mơ thấy việc lành thì ngược lại sẽ là điềm dữ, ở đây là sự đảo ngược.
Nhưng trong giấc mơ của hành giả Mật giáo, lành tức là lành, dữ tức là dữ, cũng có nghĩa là không có sự đảo ngược gì cả. Giấc mơ vào lúc 4 giờ đến 5 giờ sáng là chính xác nhất. Tình tiết trong mơ cần rõ ràng và đặc biệt. Tự biết rằng có mộng thị mang hàm ý đặc biệt. (Nếu không hiểu mộng thị, phải thỉnh giáo người giải mộng, hoặc Kim cương Thượng sư hiểu giấc mộng, tất sẽ có lời giải đáp rõ ràng.)

Từng có một ví dụ như thế này:
Có một người mẹ rất quan tâm đến con trai, lúc nào cũng lo lắng về tiền đồ tương lai của con trai mình, thế là bà tu pháp Cát Tường Thiên Nữ cầu mộng. Đêm đó bà đã mơ thấy: bà quỳ trước đàn thành lễ bái Như Lai, đột nhiên trong hư không có tia sét lóe lên, tia sét này đánh trúng vào phía sau đầu mình, khiến sau đầu mình vỡ ra, máu phun ra. Người mẹ này dù phía sau đầu bị vỡ nhưng vẫn cảm tạ Phật Bồ Tát, đảnh lễ Phật Bồ Tát ba lần. 
Sau khi tỉnh mộng, người mẹ này không giải thích được giấc mộng, đi hỏi người khác, người khác cũng không giải thích được. Sau đó, bà ấy hỏi đến tôi, tôi nói đó là đại hung, đây rõ ràng là: “Sấm đánh đời sau.” Lôi Công đã đánh vào phía sau đầu, chính là “sấm đánh đời sau”. Cuối cùng đã chứng minh sau giấc mơ ấy không lâu, đứa con trai của bà đã chết thảm.

Trong tu hành Mật giáo, quan sát giấc mơ cũng là một việc quan trọng. Sư phụ Tạng mật có thể chia cỏ cát tường đã được gia trì cho các đệ tử của mình, một nhánh cỏ để ở dưới gối, một nhánh cỏ để ở dưới ga trải giường, sau đó sẽ có được giấc mơ. 
Giả sử đệ tử mơ thấy Tam Bảo, Bổn tôn, Bồ Tát, tứ chúng đệ tử, hoặc mơ thấy leo núi, cưỡi voi, qua sông, được tiền, được quần áo… thì đều có ý nghĩa là có thể tu hành, lập tức nên bắt đầu tu. 
Nếu mơ thấy điều không lành thì có tu cũng không tương ứng.

Lúc này sư phụ Tạng mật sẽ dạy đệ tử phải sám hối nghiệp của mình, phải làm Hộ Ma để tiêu tai, phải hành thiện trì chú nhiều, phải in sách thiện, phải phát bồ đề tâm, khiến ác nghiệp tiêu trừ, trừ bỏ hung tướng, rồi lại cầu mộng thị.

Có một sư phụ Phật giáo cấp trưởng lão tình cờ đọc được pháp Cát Tường Thiên Nữ cầu mộng mà tôi viết thì hết sức hiếu kì. 
Bắt chước làm theo. Đêm ấy có được mộng thị:
Trưởng lão bay lên không, đến cung Đại Phạm Thiên, Đại Phạm Thiên Vương đón tiếp trưởng lão vào. Lúc này có một thần tiên đầu đội mũ Ngũ Phật, hai bên có trang sức rủ xuống, tay phải cầm chày, tay trái cầm chuông, mắt phát ra ánh sáng nhật nguyệt, nhìn thấy trưởng lão liền nói:
”Ta muốn đến quý chùa trú nhờ, trưởng lão đừng đuổi ta!”
Trưởng lão nói: 
”Nào dám! Nào dám!”
Tiếp đó ông ấy hỏi Đại Phạm Thiên Vương:
”Người đội mũ Ngũ Phật là ai?”
”Là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn!”
”Ồ!” - Trưởng lão không nói gì.

Không lâu sau khi có được giấc mộng này, trưởng lão đi kiểm tra các lều tăng trong chùa của mình, nhìn thấy trong tủ quần áo của một học tăng có một bức tượng bằng sứ, là pháp tướng của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đầu đội mũ Ngũ Phật, có trang sức rủ hai bên, tay phải cầm chày, tay trái cầm chuông. 
Các học tăng khác mồm năm miệng mười nói:
”Là phụ Phật ngoại đạo.”
”Là ma.”
”Là tà pháp.”
”Vứt nó đi.”
”Phóng hỏa đốt luôn.”
”Lư Thắng Ngạn là cái thứ gì chứ!”
…..

Khi ấy, trưởng lão do dự một lúc, vị học tăng bí mật cất giấu tượng sứ của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn kia thì sắc mặt tái mét, sợ hãi từ nay sẽ bị đuổi khỏi chùa. Không ngờ trưởng lão khẽ cười nói:
”Cứ để cho tượng sứ này tạm thời ở nhờ bên cạnh anh, anh cất giữ cho kín đáo, đừng để người khác nhìn thấy, đợi đến khi anh học xong và rời khỏi chùa thì đem đi vậy!”

Sau khi xảy ra sự việc này, các học tăng khác đều cảm thấy không hiểu ra làm sao, vì sao trưởng lão lại cho phép học tăng kia giữ lại bức tượng sứ của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, không những thế còn chẳng hề nổi giận. 
Có người lén hỏi trưởng lão:
”Lư Thắng Ngạn không được cho phép trong giới Phật giáo, vì sao trưởng lão lại cho phép ông ấy?”
Trưởng lão đáp:
”Ở đây có đạo lí sâu xa chẳng thể đo lường, người ngoài sao có thể suy đoán được!”
”Vì sao lại sâu xa không thể đo lường?”
”Ý trời việc người.”

Cuối cùng, trưởng lão cảm thán nói với người hỏi rằng:
”Lư Thắng Ngạn đó, chỉ dựa vào Phật pháp mà ông ấy đã viết ra thôi thì Lư Thắng Ngạn đã cao siêu hơn rất nhiều so với phàm tăng thế tục rồi, chỉ dựa vào ngộ cảnh của ông ấy thôi cũng đã khiến người ta khó mà hiểu nổi rồi. Chỉ dựa vào những ngao du của ông ấy đã giàu có hơn thế nhân rồi. Tăng nhân ngày nay muốn giỏi hơn ông ấy cũng chẳng có nổi mấy người đâu!”
Trưởng lão bí mật nói với người hỏi:
”Đạo hạnh của Lư Thắng Ngạn thâm thúy lắm, không phải là thứ người ngoài có thể hiểu rõ được đâu. Ông ấy bị người ta bài trừ hơn 20 năm nay mà không đổ tức là có tồn tại giá trị của ông ấy. Giữa ông ấy và ta còn có một đoạn nhân duyên sâu hơn nữa.”

Trưởng lão kể về nhân duyên của pháp Cát Tường Thiên Nữ cầu mộng, người hỏi liền há hốc miệng, không có lời gì để nói.
Trưởng lão kể những sự việc này, nhưng cũng mang một chút thê lương khó nói nên lời:
”Ta chẳng có cách nào bảo vệ được Lư Thắng Ngạn, nhưng thỉnh thoảng cũng bí mật bảo vệ Lư Thắng Ngạn.”
Lời của trưởng lão là chế nhạo? Hay là tiêu dao?

Trong ấn tượng của một người bình thường, giới Phật giáo không cho phép có Phật giáo mới mẻ xuất hiện, nói cách khác là truyền thống luôn luôn bài trừ trào lưu mới, điểm này từ xưa đến này vẫn không khác mấy. Thế nhưng Chân Phật Tông ngày nay đã dung hợp Đạo pháp và Mật giáo, đứng trên lập trường siêu nhiên, không cố chấp vào những quan niệm của thế tục, thông qua thiền định càng sâu sắc hơn mà tu dưỡng đạt đến cảnh giới tinh thần cao hơn. 
Đặc biệt là Chân Phật Mật Pháp, ảo diệu khó đo lường.
Rất nhiều Mật pháp truyền thống cũng thường là quá phức tạp. 
Chân Phật Tông của Lư Thắng Ngạn có nhân duyên độ chúng sinh của riêng mình, có rất nhiều màu sắc, càng gia tăng sự siêu thắng, đương nhiên là được thế gian truyền tụng rồi. 


### 16. Móc kim cang tình yêu


Mật giáo làm pháp, triệu thỉnh Phật Bồ Tát, nếu Phật Bồ Tát không đến thì phải làm sao?
Có hai cách:
Thứ nhất, dùng móc kim cang móc vào pháp tọa của Phật Bồ Tát, lệnh cho các vị không chạy được, Phật Bồ Tát tự nhiên không đến không được.
Thứ hai, dùng ấn “tâm trong tâm”, trực tiếp tiến nhập vào tâm của Phật Bồ Tát, làm tâm các vị xúc động, để trong lòng các vị cảm động, không đến không được.

Do tác dụng của móc kim cang, ngay đến Phật Bồ Tát cũng đều có thể câu về, huống hồ là tình yêu giữa nam nữ, cho nên móc kim cang có thể câu được trái tim của bạn trai và trái tim của bạn gái. 

Trong quá trình quán tưởng lại có bốn chú âm:
Cha — người yêu xuất hiện trong hư không.
Hum — người yêu từ từ di chuyển đến gần.
Ban — người yêu ở ngay đối diện trước mặt.
Ho — người yêu và bạn ôm lấy nhau, hòa quện vào nhau.

Cách làm pháp này trong Mật giáo mà nói chính là pháp kính ái, thật ra pháp kính ái hoàn toàn không nhất định chỉ là tình yêu giữa nam nữ mà thôi. Pháp này thích hợp áp dụng cho tất cả các loại mối quan hệ giữa các cá nhân, ví dụ như sếp và cấp dưới, quan hệ đối tác kinh doanh, nghệ sĩ và người hâm mộ, sức hấp dẫn của nhân vật công chúng, giữa đồng nghiệp và đồng nghiệp, v.v…

Việc làm pháp kính ái có thể khiến cho sự hợp tác với nhau vui vẻ, giảm bớt xung đột, thông cảm lẫn nhau, không sinh ra bài xích, hẫp dẫn lẫn nhau, sinh ra thiện cảm. 
Pháp kính ái đương nhiên có thể tu chuyện tình yêu, tu pháp này thì:
Đàn ông xấu có thể lấy được vợ đẹp.
Phụ nữ xấu cũng có thể gả được cho đàn ông đẹp trai.
Còn trai xinh gái đẹp thì tự nhiên càng dễ nảy sinh tình cảm với nhau.
Pháp thuật ở đây thần thông quảng đại, không có việc gì là không như ý!

Trong pháp thuật của Mật giáo, phương diện pháp kính ái có rất nhiều bí thuật, ví dụ:
Pháp giai nhân đến chốn hẹn.
Bí pháp hòa hợp.
Bí pháp tương tư.
Pháp lòng xuân phơi phới.
Pháp vợ chồng kính yêu.
Pháp kính ái Kurukulle Phật Mẫu.
Pháp kính ái Ái Nhiễm Minh Vương.
Pháp kính ái Thần Tài Đầu Voi.
Pháp sợi chỉ đỏ.
……

Tại đây, trước hết tôi giới thiệu pháp Giai nhân tự đến. Dùng một cái bát sạch, tốt nhất là bát mới, đổ nước lạnh nửa bát, nước sôi nửa bát, nước này gọi là nước âm dương. Đặt tại đàn thành.
1. Làm cúng dường, đảnh lễ, dâng hương, cầu nguyện như làm pháp thông thường.
2. Tay kết ấn: kết ấn móc kim cang. (Đầu tiên hai tay đan nội phộc, ngón trỏ tay phải giơ lên giống như hình móc câu, đây là móc kim cang, còn gọi là ấn đại câu triệu.)
3. Quán tưởng: nghĩ đến người đẹp hiện lên ở hư không, đứng trên bát nước, chìm vào trong nước. Lại quán tưởng chính mình hiện lên ở hư không, đứng trên bát nước, chìm vào trong nước. Cuối cùng quán tưởng hai người đều hòa tan vào trong bát nước. 
4. Trì chú: Om furila ruaye soha. (108 biến)
(Niệm thêm một câu: Ra lệnh cho AAA tự đến gặp mặt.)
5. Nhập định: (tinh thần tập trung, nghĩ đến đối phương, cố định trên người của người đẹp)
Nghĩ đến dung mạo của người đẹp, đôi mắt ngang bằng với mắt của bạn, tập trung quan sát đôi mắt trong suốt. 
6. Hồi hướng:
*Chế tâm một chỗ
Mọi việc đều thành
Giai nhân tự đến.
Viên mãn nhân duyên.*
7. Cuối cùng đem nước này đưa cho người đẹp uống, cho vào canh, trà, hoặc trong món ăn đều được, có thể để người đó biết hoặc không biết đều được. 
8. Cát tường viên mãn.
Nếu người đẹp uống được nước này thì sự việc tự nhiên có thể thành công. 

Tại đây, tôi đặc biệt giới thiệu pháp kính ái Thần Tài Đầu Voi.
Vị Thần Tài Đầu Voi này vốn thuộc về Ấn Độ giáo, từ xưa tương truyền là rất thích hợp với người có quyền lực và địa vị của vương tộc hoặc quý tộc, hoặc người giàu có thờ cúng.
Nếu hiểu và tu trì pháp này có thể kêu gọi và được nhiều người yêu kính, có được quyền thế, được của cải, tất cả lợi lạc đều dồi dào và tăng trưởng.
Trọng điểm của Thần Tài Đầu Voi đương nhiên nằm ở cái mũi dài của ngài. 

Tu pháp này như sau:
1. Tứ quy y. Quy y Kim cương Thượng sư, quy y Phật, quy pháp, quy y tăng.
2. Đại lễ bái.
3. Đại cúng dường.
4. Niệm kệ phát tứ vô lượng tâm:
*Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát li đau khổ và nguyên nhân đau khổ.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng.*
5. Kết ấn: kết ấn móc kim cang.
6. Đầu tiên quán không. Sau đó quán tưởng xuất hiện chú tự tiếng Tạng của Thần Tài Đầu voi:


![image](/img/img_2826131f4922689beb5974373778621c.png)


Bản thân hành giả chuyển hóa thành Thần Tài Đầu Voi.
Đầu tiên sử dụng mũi của Thần Tài Đầu Voi vươn về bốn hướng đông, nam, tây, bắc, có thể vươn dài ra đến vô tận, sức mạnh của nó cũng lớn vô cùng.
Quán tưởng mũi của chính mình vươn đến nhà của người yêu mình, quấn chặt lấy người yêu mình, quấn người yêu về, mình và người yêu ôm chặt lấy nhau. 
7. Trì chú: Om zangpala chaleng chanaya dana meiti seh. (Niệm 108 biến.)
8. Nhập tam ma địa.
9. Hồi hướng:
*Với công đức tu hành pháp này
Mau chứng giai nhân đến kính yêu
Mãi mãi tắm trong sông tình ái
Tương lai đều đến cõi Như Lai.*
10. Cát tường viên mãn.

Tôi sâu sắc cảm thấy tu hành Mật giáo có pháp nhập thế, cũng có pháp xuất thế, đó là bởi vì dục vọng của chúng sinh vô biên, cho nên Phật pháp mới vô biên. Rất nhiều Phật Bồ Tát vì độ chúng sinh cho nên mới hiện ra thiên thần với đủ mọi hình tướng, đến giúp đỡ chúng sinh trong thiên hạ, chúng sinh có ước nguyện gì đều có thể cầu pháp nơi các ngài, và Phật Bồ Tát chắc chắn sẽ viên mãn ước nguyện của chúng sinh.

Tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) có ngũ nhãn lục thông, tôi phát hiện ra mỗi con người đều có khuôn mặt khác nhau.
Mặt hữu tình.
Mặt vô tình.
Mặt có duyên.
Mặt vô duyên.
Mặt đào hoa.
Mặt quả phụ.
Mặt nữ mang tướng nam.
Mặt nam mang tướng nữ.
……

Từ trong những khuôn mặt này đã mang đầy đủ vận mệnh của hôn nhân, chúng ta nhìn khí trên mặt là có thể nhìn ra nhân duyên của người đó ra sao, có hôn nhân hay không, hoặc có nhiều nam tính, hoặc có nhiều nữ tính, hoặc nửa chừng chết yểu, hoặc là mang số đào hoa, hoặc nam lừa nữ, hoặc nữ lừa nam, hoặc là căn bản không có duyên phận, hoặc là li hôn…

Thế nhưng chúng ta cũng không thể hoàn toàn tin vào định mệnh, chúng ta dựa vào sức mạnh công đức tu pháp cũng có thể chuyển biến vận mệnh.
Tu pháp Mật giáo có thể sản sinh rất nhiều sức mạnh, có thể xoay chuyển tình thế xấu, ví dụ sức mạnh lớn của thiên thần, sức mạnh lớn của Hộ Pháp, sức mạnh lớn của chính mình, sức mạnh lớn của vũ trụ, sức mạnh lớn của Căn bản Thượng sư, những sức mạnh này tập trung lại là có thể thay đổi vận mệnh.  

Tuy vậy, tu pháp Mật giáo nhất định phải quy y nhận quán đảnh, đây chính là sức mạnh truyền thừa gia trì liên tục được truyền xuống từ các vị tổ sư, trong đó có rất nhiều khẩu quyết bí mật đòi hỏi phải trực tiếp truyền khẩu. Sự sản sinh ra pháp lực của Mật giáo đến từ lực gia trì của Thượng sư.

Tôi cho rằng pháp kính ái Ái Nhiễm Minh Vương có đại pháp lực, nhưng pháp Ái Nhiễm Minh Vương cũng có khẩu quyết bí mật đặc thù, khẩu quyết này nhất định phải do đệ tử đến cầu pháp thì tôi mới có thể nói ra, bởi vì có cầu tất ứng!

Tôi sâu sắc cảm thấy rằng tình yêu và mối quan hệ cuốn hút nhau giữa nam nữ là quan trọng nhất, giống như nam châm vậy, người có duyên thì sẽ hút rất chặt, người không có duyên thì sẽ bài trừ lẫn nhau.

Tôi cũng biết rằng mỗi con người đều có từ trường của riêng mình, có một số người thì sinh ra đã sẵn có, có một số người thì sau khi lớn lên mới thay đổi. Bát tự khi con người sinh ra là một tượng trưng cho từ trường, cho nên hôn nhân của Trung Quốc ngày xưa là nam nữ phải hợp bát tự với nhau là có đạo lí của nó ở trong đó, không hoàn toàn là sự mê tín tướng mệnh, trong bát tự có thể hiển hiện từ trường của mỗi người, ở đây cũng có học vấn rất sâu, mặc dù không nhất định ai ai cũng chuẩn xác, nhưng cũng không khác quá xa!

Còn về tu pháp của Mật giáo, tôi cho rằng về mặt thay đổi từ trường, mỗi một lần tu pháp là đã có sự chuyển hóa dần dần. Ở đây, mặc dù chuyển hóa không hẳn là mười phần rõ ràng, nhưng giống như cỏ mọc vậy, mặc dù không nhìn thấy cỏ lớn lên, nhưng thật sự là chúng đang lớn.
Tiêu tai — tránh được từ trường xấu.
Kính ái — hướng đến từ trường tốt.
Tăng ích — gia tăng từ trường trợ duyên tốt.
Hàng phục — thay đổi từ trường phá hoại không tốt.
Khi bạn tu pháp kính ái, từ trường không tốt sẽ tự động rời xa bạn, từ trường tốt sẽ tiến nhanh về phía trước.

“Luận về từ trường của con người” của tôi có chứng cứ khoa học hay không, trên phương diện này cũng giống như thuyết “tế bào phóng điện” của y học, giống như “sức hút của mặt trăng” và “sức hút của trái đất” của thiên văn học, sóng não vào tâm trạng trên phương diện sinh lí, ngoài ra còn có “vầng hào quang quanh thân” của nguyên lí quang học, những cái này đều có liên quan rất lớn đối với từ trường của con người. 

Việc hôn nhân có liên quan đến kiếp trước không?
Câu trả lời của tôi là: “Kẻ thù 500 năm hôm nay gặp lại, ái ân nhiều kiếp bỗng một ngày tương phùng.”

Có một bài thơ:

*Giàu sang tất nhiên là phúc đến
Danh lợi cũng vẫn có mối lo
Trong mệnh có cuối cùng ắt có
Trong mệnh không xin chớ cưỡng cầu.*

Tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) là người minh nhãn, có duyên, vô duyên đều là định số, tất cả hãy cứ để thuận tự nhiên, miễn cưỡng đôi khi cũng vô ích.

Ở đây tôi lại giới thiệu pháp Buộc chỉ đỏ, là pháp để giữ cho tình yêu vợ chồng mãi vững bền:
1. Nam nữ mỗi người lấy một chiếc giày, nam trái nữ phải. (Giày này nhất định phải là giày đi đã lâu.)
2. Đặt miệng giày quay vào nhau (không phải là quay hai đế giày vào nhau), dùng sợi chỉ đỏ buộc chặt lại. Quấn sợi chỉ đỏ 99 vòng, tượng trưng cho ý nghĩa là “mãi mãi”. Cúng tại mật đàn.
3. Thủ ấn — dùng ấn Bao trì [ôm chặt]. (Hai tay nắm lại, bắt chéo nhau, đặt trước ngực.)
4. Quán tưởng — hai chiếc giày đó, giày của nữ quán tưởng thành người nữ, giày của nam quán tưởng thành người nam. (Quán tưởng phải rõ nét.)
5. Trì chú — Om furila ruaye soha. (108 biến)
(Niệm thêm một câu: Sắc lệnh phu phụ thiên trường địa cửu, bạch đầu giai lão.)
6. Đem hai chiếc giày đã được gia trì nhờ tu pháp đặt bên dưới giường ngủ của vợ chồng, không để người khác biết.
7. Cầu nguyện chủ tôn của mật đàn bảo vệ.
8. Cát tường viên mãn.

Làm pháp như vậy, tình cảm vợ chồng sẽ càng ngày càng nồng đượm, tình yêu của đôi bên sẽ mãi bền vững, không cần phải buồn phiền về tình cảm.
Giả sử bạn làm pháp theo cách này, vợ chồng vẫn không thể đồng lòng, vậy thì cứ mỗi nửa tháng cần làm pháp một lần, có nghĩa là mỗi tháng lại đem giày cũ ra gia trì trước mật đàn một lần, nửa tháng làm một lần, tự nhiên sẽ có hiệu quả.

Làm pháp Mật giáo thông thường có làm một lần, bảy lần, hai mươi mốt lần, bốn mươi chín lần, nếu tình huống nhẹ thì cần làm một lần hoặc bảy lần, nếu tình huống nặng thì cần làm bốn mươi chín lần. Đằng trai đào hoa hoặc đằng gái đào hoa đều thích hợp dùng pháp này.

Còn có pháp cắt đứt tà duyên, cũng tức là pháp phân li, pháp này tôi không tiện công khai trong sách, chỉ truyền thụ riêng thôi.

Đa phần duyên phận hôn nhân, thậm chí đào hoa ngoại tình đều là có định số rồi, nhìn chung đều rất khó cải vận. Nhưng mà duy có Phật tông Mật giáo là có thể thay đổi, vì sao? Bởi vì Mật tông có pháp yết ma, pháp yết ma chính là sức mạnh của pháp thuật, nếu muốn thay đổi vận mệnh thì phải tu học Mật tông.

Liên quan đến duyên phận hôn nhân có định số, khi còn nhỏ tôi từng nghe bố tôi kể một câu chuyện có liên quan đến Ông Tơ Bà Nguyệt. Câu chuyện ấy đại ý là như thế này:
Có một thanh niên có con đường làm quan vô cùng thuận lợi, có tiền có thế, trẻ trung khôi ngô, anh ta muốn tìm một người vợ yêu nhưng tìm đã lâu mà chưa gặp.
Có người thì xuất thân rất tốt, nhưng quá xấu xí, bản thân không thích.
Có người thì tướng mạo “mặt như hoa đào ngậm sương, thân tròn trịa trắng ngần như tuyết, mắt trong veo như nước mùa thu, làn mi cong dài mày lá liễu, mười đầu ngón tay búp măng non, tiếng nói ngân nga vịnh Tây Tử, phong lưu chẳng khước từ chim oanh.” Nhưng đáng tiếc là xuất thân không tốt.
Cao chẳng thành, thấp chẳng xong.

Có một buổi tối, quan nhân trẻ tuổi này đọc sách đến khuya, đi dạo tới sau vườn hoa, mơ màng nhìn thấy dưới ánh trăng có một người già đang ngồi trên một hòn non bộ bằng đá, trên tay cầm sợi chỉ đỏ, đang lặng lẽ bện sợi chỉ đỏ…
Quan nhân này rất sửng sốt hỏi:
”Là ai?”
Đáp:
”Ta là Nguyệt Lão, chuyên bện sợi chỉ đỏ vì nam nữ trong thiên hạ kết thành hôn nhân!”
”Xin đoán thử cho tôi với!” - Quan nhân thỉnh cầu.
Nguyệt Lão kéo sợi chỉ đỏ, tính toán một lúc, thế rồi bảo với anh:
”Ngày mai dậy sớm, đi về hướng đông, đến một cái chợ, gặp một phụ nữ ăn xin, trước ngực ôm một đứa bé gái cho bú sữa, đứa bé gái này chính là vợ anh.”

Ngày hôm sau, quan nhân này quả nhiên đã tìm được cái chợ này, cũng nhìn thấy người phụ nữ ăn mày, đồng thời nhìn thấy đứa bé gái đang bú sữa, trong lòng anh ta thất kinh. Trở về nhà, trong lòng anh ta không thể nào bình yên được, cho rằng mình có địa vị quan trọng và cao quý, tương lai lại càng lên như diều gặp gió, sao có thể cưới con gái của kẻ ăn mày chứ. Thế là anh ta nhất thời tức giận bèn mời một thích khách, xúi bẩy thích khách đi giết con gái của người phụ nữ ăn mày kia. Thích khách trở về nói con gái của phụ nữ ăn mày đã bị giết chết rồi, trong lòng quan nhân mới không còn lo lắng. Anh ta tự nói:
”Nguyệt Lão bện sợi chỉ đỏ, lần này cũng đoán sai rồi.”

Hơn 10 năm sau, quan nhân đã làm quan đến chức Đại Học Sĩ, tể tướng đương triều muốn gả con gái cho anh ta, anh ta cũng biết tể tướng có con gái:
”Mặt mày thanh tú, mắt phượng ẩn tình, eo thon như cành liễu yếu mềm trước gió, gương mặt yêu kiều như hoa trong nước.” Lại thêm vóc dáng uyển chuyển, dung mạo xinh đẹp. 
Quan nhân hết sức vui sướng.
Thế là chọn ngày thành hôn, lễ vật đón dâu cao như núi, cô dâu ngồi trên kiệu gắn trăm loại hoa, đèn lồng thắp lên tới cả nghìn chiếc, ngoài ra còn có kiệu voan xanh bốn người khênh, tiếng khèn tiếng sáo và trống nhạc, âm thanh vui vẻ rộn ràng.
Đêm ấy, hai người quấn lấy nhau như keo sơn.

Cô dâu mới đi lấy chồng có một việc kì lạ, đó là tóc trước trán luôn để xõa xuống, đồng thời cài lên một bông hoa, ngay cả lúc đi ngủ cũng cài. Quan nhân tò mò nhiều lần hỏi thử, cuối cùng cô dâu mới kể:
Thật ra bản thân không phải là con gái do tể tướng sinh ra, lúc còn nhỏ cô ra đời trong nghèo khó, mẹ ruột đi ăn xin ở chợ, ôm cô trong lòng, bị một tên thích khách vô duyên vô cớ giết, khi tên thích khách ra tay thấy tình cảnh hai mẹ con rất đáng thương nên không nỡ xuống tay, chỉ đâm sượt qua làm bị thương trên trán, để lại một vết sẹo, sau đó thích khách chắp tay chào rồi bỏ đi.
Khi cô lớn lên một chút thì bị đưa vào cung, tể tướng thấy cô thông minh lanh lợi đã nhận làm con, coi như con đẻ, bí mật này người ngoài không biết.

Quan nhân nghe xong thì há hốc miệng không nói được lời nào, từ đó càng yêu thương người vợ mới hơn. 
Thứ nhất, anh ta sám hối sự kích động ngu dốt của  mình lúc còn trẻ.
Thứ hai, anh ta cảm ơn ông trời đã bảo vệ.
Thứ ba, anh còn phải dựa vào hồng phúc của tể tướng và nương tử. 

Cuối cùng, anh còn cảm thấy sợi chỉ đỏ của Nguyệt Lão quả thật là quá thần kì, số mệnh ắt phải như vậy, người tính không bằng trời tính. 

Có một bài thơ viết rất hay:

*Tình cảm vợ chồng như lửa ấm
Tình cảm khô kiệt ngủ chẳng ngon
Xưa nay hôn nhân là định mệnh
Tơ hồng đâu phải người khác xe.*

Và:

*Xưa nay hôn nhân do trời định
Chẳng cần người bỏ công tìm kiếm
Hữu duyên nghìn dặm vẫn lưu luyến
Vô duyên đối diện chẳng thành đôi.*


### 17. Pháp kéo dài tuổi thọ của Hoa giáo


Hoa giáo Sakya Chứng Không Thượng sư đã truyền thụ cho tôi rất nhiều Mật pháp. Tôi ở chỗ của Sakya Chứng Không Thượng sư đã nhận được rất nhiều quán đảnh, trong đó bao gồm quán đảnh Acharya và quán đảnh Vô thượng mật bộ. Ngoài ra, ngài còn truyền thụ cho tôi rất nhiều giới luật Mật tông, bao gồm giới Biệt giải thoát, giới Bồ đề tâm, giới Ngũ Phương Phật, giới Tính, v.v…

Chứng Không Thượng sư từng dạy tôi quan sát “điềm chết” có:
1. Điềm chết hạ phẩm.
2. Điềm chết chắc chắn.
3. Điềm chết phổ biến.
4. Điềm chết khác.
(Những quan sát này vô cùng phức tạp, hồi sau sẽ kể.)

Đã biết lí lẽ về điềm chết thì nên biết làm sao để ngăn chặn, đây chính là Mật pháp kéo dài tuổi thọ của Hoa giáo.
Hoa giáo Sakya Chứng Không Thượng sư nói, pháp kéo dài tuổi thọ phân thành Ngoại pháp và Nội pháp, Ngoại pháp là pháp cúng, Nội pháp là pháp đặc thù.

Kéo dài tuổi thọ của Ngoại pháp như sau:
Phóng sinh.
Tụng kinh nghìn cuốn.
Làm Hộ Ma có được chứng nghiệm.
Hành thiện bố thí.
Trì chú niệm Phật đạt đến trăm vạn biến.
In kinh hoặc in sách thiện.
Tu pháp tiêu tai.
v.v..
(Vào lúc trời hửng sáng, tu pháp tiêu tai kéo dài tuổi thọ đạt đến trăm lần nghìn lần, nhất định có thể ngăn chặn cái chết và kéo dài tuổi thọ, hơn nữa sẽ không phải chịu các tai nạn quấy nhiễu. Và cũng vào lúc trời hửng sáng tu Bảo bình khí cũng có thể ngăn chặn được nạn chết, có thể kéo dài thọ mạng.)

Pháp kéo dài tuổi thọ của Nội pháp đặc thù như sau:
(Pháp này do tổ sư Hoa giáo Virupa truyền thụ, còn gọi là pháp nuốt không khí kéo dài mạng sống.)
1. Vào lúc tờ mờ sáng, trời vừa hửng lên, có nghĩa là lúc mặt trời còn chưa mọc, nhưng bầu trời đã hửng sáng, mới chỉ nhìn thấy màu trời trắng.
2. Hành giả quay mặt về hướng Đông, làm chín bài an tịnh suy nghĩ.
3. Quán tưởng tất cả hư không tam giới đều hóa thành ánh sáng màu lam.
4. Ánh sáng lam của thập phương tam giới này từ miệng của hành giả đi vào trong thân. 
5. Miệng hành giả hít vào một hơi khí nhưng không phát ra tiếng, hơi khí này đầy khắp toàn thân.
6. Nuốt vào một ngụm nước bọt.
7. Hạ cằm ép vào họng.
8. Hành giả bịt chặt khí ra vào để cho hơi khí này tràn đầy toàn thân.
9. Hành giả từ từ thở khí ra.
10. Lặp lại cách làm pháp như vậy.
11. Làm cho đến khi bị nấc mới dừng.
12. Cát tường viên mãn.

Tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) sâu sắc cảm thấy rằng cuộc sống vốn là hết sức vô thường, có sự xuất hiện điềm chết thì chúng ta phải chú ý.

Nếu hành giả Mật giáo mơ thấy trèo lên khu mỏ màu tím, mơ thấy mình mặc quần áo đỏ, hái hoa đỏ, tay cầm tràng hạt đỏ, đi qua cánh đồng màu đỏ, đi đến một đất nước hoàn toàn xa lạ, Không Hành Phẫn Nộ Nữ mổ bụng mình lấy nội tạng của mình ăn thì đều là những điềm chết không lành.

Ngoài ra, khi tu pháp, hành giả nhìn thấy bóng đen hoàn toàn biến mất, tự cảm thấy con ngươi của mắt mình rời rạc, chỉ thị của Không Hành Hộ Pháp đột nhiên toàn bộ đều dừng dứt, toàn bộ công lực thiền định của bản thân đều mất dần, tất cả hành vi cử chỉ của mình đều đảo lộn, thì đây cũng là các tướng của điềm chết. 

Lúc này tu pháp kéo dài tuổi thọ phải chú ý tinh thần chuyên nhất, hít thở phải mỏng, phải chậm, phải dài, có nghĩa là hít thở sâu. Quán tưởng phải rõ ràng, toàn bộ trời đất đều là màu xanh lam, quán tưởng trời đất đều đi vào thân mình, hoặc là ánh sáng lam từ từ đi vào trong miệng mình rồi tràn đầy toàn thân.

Bất luận tu pháp nào cũng cần có sự bền lòng, đừng có tu một ngày dừng ba ngày, phải mỗi ngày một tu, có thể tu cho đến khi có điềm mộng cát tường hoặc có chứng nghiệm mới dừng lại. Kì thực công khóa của pháp kéo dài tuổi thọ có thể tu cả đời, thậm chí có thể tu được thân ánh sáng cầu vồng bất tử.
Có thể sau khi tu xong thì lại trì chú: 
”Ôm pê-cha ta-tu fan.” (tâm chú Đại Nhật Như Lai)
Hoặc:
”Ôm mô-rư-la ta-tu fan.” (tâm chú Kim Cương Giới Đại Nhật Như Lai)

Liên quan đến thọ mạng dài ngắn, trong cuốn “Thần Tiên truyện”, tôi đã đọc được một ghi chép về Lí Hạ [nhà thơ đời Đường (790-816)] cực kì thú vị, xin ghi ra như sau:

Lí Hạ tự là Trường Cát, là hậu duệ của Đường Đại Tông Thất Trịnh Vương, vóc dáng nhỏ gầy, lông mày rậm dài và cong, mới bảy tuổi đã có thể viết được bài văn rất hay, vì thế được gọi là thần đồng. Hàn Dũ và Hoàng Phủ Thực không tin vào kì tài của ông, liền đến nhà ông để kiểm tra khả năng thơ phú, không ngờ Lí Hạ cầm bút lên, không hề do dự đã viết ra bài thơ “Cao hiên quá” cực hay. Hàn Dũ một đời văn chương oai hùng không nén nổi sự kinh ngạc, khen ngợi là thiên tài.

Vì phụ thân của Lí Hạ có tên gọi là Tấn Túc đã kị húy cho nên ông không thể thi tiến sĩ, quan vận trước sau đều không tốt, nhưng ông ấy vẫn tha thiết làm thơ, hàng ngày ông cưỡi con lừa nhỏ mang theo thư đồng vào trong thành đi lang thang, hễ có linh cảm là viết lên tờ giấy rồi bỏ vào túi gấm.

Vào năm 27 tuổi, có một hôm bỗng nhiên ông nhìn thấy có một thiên sứ mặc y phục màu đỏ cưỡi rồng có sừng màu đỏ, trên tay cầm một tấm bảng, trên đó có khắc một vài văn tự cổ xưa, giống như chữ trên đá bị sét đánh. Thiên sứ nói với Lí Hạ:
”Thượng đế triệu Lí Trường Cát!”
Lí Hạ không đọc được những văn tự cổ kì lạ này, thế là ông liên tục rập đầu cúi lạy trên chiếc trường kỉ và nói: 
”Mẹ tôi vừa già vừa bệnh, tôi không thể bỏ mặc không chăm sóc bà ấy!”
Người mặc áo đỏ cười nói:
”Lầu Bạch Ngọc của Hoàng Đế vừa mới khánh thành, muốn mời ông đi làm một bài văn kỉ niệm, cuộc sống trên trời cực kì vui vẻ, không khổ một chút nào, ông không cần phải lo!”

Lí Hạ khóc lóc nức nở nghẹn ngào. Chỉ thấy trên bậu cửa sổ có một đám khói mù mịt, sau đó lại có tiếng bánh xe chuyển động. Lí Hạo kì tài một thời đã thăng thiên như thế, đến lầu Bạch Ngọc làm thơ cho Thượng Đế.

Người đời sau gọi Lí Bạch là Tiên Thơ, gọi Lí Hạ là thiên tài, phong cách thơ của ông biến hóa kì lạ đặc biệt đã khởi phát phong cách thơ đẹp đẽ vào cuối triều đại nhà Đường, Đỗ Mục, Lí Thương Ẩn đều rất kính phục ông ấy. Đối với sự kiện ông ấy thành Tiên, Lí Thương Ẩn đặc biệt tin là thật, trong một câu chuyện nhỏ ông ấy viết tặng Lí Hạ từng cảm thán, cho rằng thiên tài tuyệt thế không chỉ hiếm thấy trên mặt đất mà trên trời cũng không có nhiều, đây có lẽ chính là duyên cớ vì sao trên trời triệu gọi Lí Hạ chăng?

Lí Hạ 27 tuổi thăng thiên, tôi xúc động sâu sắc. 
Tôi vẫn thường nghĩ, thọ mạng của một con người phải sống bao lâu thì xem là dài, thọ mạng của một con người phải sống bao lâu thì xem là ngắn?
Có một số người thọ mạng rất dài, sống tới tám, chín mươi tuổi, nhưng cả đời vất vả khó nhọc, mưu cầu danh lợi, sống tới mức cũ kĩ, sống tới mức mục nát, tạo ra không ít ác nghiệp, như thế thì có xem là trường thọ, ở tại thế gian có lợi ích gì chăng?

Có người thọ mạng rất ngắn, chỉ sống hai, ba mươi tuổi, nhưng cả một đời tinh hoa, trong hai, ba mươi năm đó rạng rỡ huy hoàng, để lại cho thế gian những hoài niệm tuyệt vời, đoản thọ như vậy nhưng mà thế nhân có được lợi ích chẳng hề ít, như vậy có xem là đoản thọ chăng?
Trường thọ thì tốt sao? Đoản thọ thì không tốt sao?

Lấy ví dụ Lí Hạ để nói, ông ấy là bậc kì tài nhân gian, nhưng thiên sứ bảo ông ấy: “Cuộc sống trên trời hết sức vui vẻ, không khổ một chút nào.” Lí Hạ lên trời đi làm thơ cho Thượng Đế. Cho nên Lí Hạ đoản thọ lại là việc tốt.

Từ đầu chí cuối tôi có một triết lí cực kì rõ ràng:
Sống một cách chói sáng, có ý nghĩa, chính là trường thọ.
Sống một cách lãng phí, sống mơ mơ màng màng, chính là đoản thọ.
Cho nên cuộc đời của một con người nếu không tỏa sáng thì cho dù có sống đến mấy trăm tuổi, mấy nghìn tuổi cũng chẳng khác nào căn bản là trẻ con. 

Cuộc đời của mỗi người chỉ cần tỏa sáng rạng ngời thì cho dù là sao băng vụt lóe lên rồi tắt thì người đó vĩnh viễn là ngọn đèn sáng trên đời.

Tôi truyền thụ pháp kéo dài tuổi thọ là hi vọng những người có ích cho chúng sinh thế gian có thể sống lâu một chút, bởi vì có ích cho thế gian thì họ sống càng lâu sẽ càng có thể tạo phúc cho nhiều người, họ sẽ không lãng phí một phút một giây, cuộc đời đối với họ mà nói là rất có giá trị.

Còn như những người già càng sống càng cũ kĩ mục nát, nặng trĩu tử khí, chỉ sản sinh ra rác rưởi và phân bón cho thế gian thì tôi gọi là “yêu quái già”. 

Còn tôi đối với chính mình — một ngày không làm, một ngày không ăn.
Mỗi ngày tôi đều phải tỏa sáng.
Tôi không lãng phí một phút một giây.
Còn như thọ mạng dài hay ngắn, với tôi không thành vấn đề.


### 18. Cách làm trường thọ hoàn


Trong Mật tông Tây Tạng có phương pháp chế tác viên thuốc trường thọ, trường thọ hoàn này được làm ra nhờ có Thượng sư gia trì, Phật Bồ Tát gia trì, dùng chú ngữ gia trì, uống trường thọ hoàn vào thì có thể bình thường không đau ốm, lại có thể kéo dài thọ mạng, đúng là “có bệnh trị bệnh, không bệnh khỏe thân”. 

Trong bài viết ngắn này, tôi đặc biệt trình bày trình tự chế tác trường thọ hoàn như sau:

1. Thượng sư chế tác trường thọ hoàn bản thân cũng phải là một Thượng sư tuổi đã cao, đã sống thọ, và Bổn tôn của Thượng sư là Trường Thọ Phật hoặc Bạch Độ Mẫu là tốt nhất.

2. Ở Tây Tạng, nguyên liệu để làm trường thọ hoàn là dùng tsamba [bột đại mạch nướng], trường lưu thủy [nước của dòng sông tồn tại lâu đời chảy ra biển], bột nghệ, hoa điệp vàng, muối, đường, lá ngải cứu, cỏ cát tường. Đương nhiên dùng tsamba là chính, những thứ khác chỉ cần một chút xíu. 

3. Về nguyên liệu, nếu có trường thọ hoàn do các tổ sư trước đây làm thì có thể trộn vào cùng với các nguyên liệu, đương nhiên việc bỏ thêm trường thọ hoàn vào đại diện cho lực truyền thừa gia trì của tổ sư, được như vậy thì càng tốt.

4. Về nguyên liệu thì ở đất của người Hán dùng bột mì là chính.

5. Trong quá trình chế tác, trộn các nguyên liệu thành một khối lớn, tất cả thao tác phải tiến hành một cách thanh tịnh, ví dụ tắm gội, trai giới, tịnh khẩu, trì chú. Trì chú là chú Trường Thọ hoặc chú Cam Lộ Minh Vương. 
Chú Trường Thọ: “Om seh haha humhum pei benza ayukouhum soha.” 
Chú Cam Lộ Minh Vương: “Om amiliti hum fa cha.”
Hoặc: “Om amita hum pei.”

6. Kết ấn: tay trái năm ngón tay xòe ra, tượng trưng cho Trường Thọ Ngũ Thiên Nữ. 


![image](/img/img_3604ad32c9cd7c10c108367681a00b71.png)


Và thủ ấn Cam Lộ Minh Vương:


![image](/img/img_2ef660aad4adaaf9739cb18c397a995b.png)


7. Quán tưởng: quán tưởng năm ngón tay hóa thành Trường Thọ Ngũ Thiên Nữ, nhờ Trường Thọ Ngũ Thiên Nữ phóng quang gia trì cho trường thọ hoàn, hoặc Trường Thọ Ngũ Thiên Nữ tuôn chảy ra cam lộ trút vào trong trường thọ hoàn.

8. Trì chú: vẫn trì chú Trường Thọ và chú Cam Lộ Minh Vương, càng nhiều càng tốt.

9. Từ khối bánh trường thọ to lại vê thành sợi dài, cuối cùng vê thành viên.

10. Cúng dường Phật Bồ Tát.

11. Cát tường viên mãn.

Cách làm trường thọ hoàn, cách làm hắc bảo hoàn, cách làm cam lộ hoàn, quá trình chế tác đều na ná giống nhau. Rất kì lạ là những viên thuốc này đều có thể sinh ra “tiểu hoàn tử”, giống như hạt xá lợi vậy, có thể sinh ra tràn trề, đây cũng là kì tích của Phật pháp.  

Bản thân tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) ngày ngày sử dụng pháp Thụy quang trường thọ, tôi đặc biệt tiết lộ pháp này để lợi ích chúng sinh hữu duyên.


Pháp Thụy quang trường thọ như sau:

1. Trước tiên niệm chữ Om, tay chắp lại đặt vào mi tâm luân, tưởng tượng ánh sáng trắng phóng ra.

1. Sau đó niệm chữ Ah, tay chắp lại đặt vào hầu luân, tưởng tượng ánh sáng đỏ phóng ra, hiện lên tại hư không thành một cái ô che lấy chính mình.

1. Tiếp theo niệm chữ Hum, tay chắp lại đặt ở tâm luân, tưởng tượng ánh sáng lam phóng ra, bay vào hư không, biến thành bầu trời trong xanh không mây.

1. Lúc này chính là nằm cát tường - nằm trong ánh sáng.

1. Quán tưởng chính mình biến hóa thành chày kim cang kiên cố. 

1. Trì chú gia trì: “Ram Yam Kham”. Đây là gia trì bằng tam tự minh. (3 biến, 7 biến, 21 biến)

1. Quán tưởng Bổn tôn hoặc Hộ pháp trụ đỉnh.

1. Trì chú Bổn tôn hoặc chú Hộ pháp cho đến khi đi vào giấc chiêm bao.

1. Cát tường viên mãn.

Pháp Thụy quang trường thọ này có hai ý nghĩa lớn:
Thứ nhất, hành giả Mật giáo ngủ trong ánh sáng, đặc biệt là có ô đỏ bảo vệ, chiếc ô này giống như cái màn khiến hành giả đêm ngủ an lành, đây chính là pháp Thụy quang.
Thứ hai, hành giả Mật giáo tự mình biến hóa thành chày kim cang, sau đó dùng tam tự minh gia trì kiên cố, pháp này lợi ích rất nhiều, có thể tránh ma, có thể kiên cố, có thể đắc vô lậu, có thể đắc đại định, có thể đắc trường thọ.

Người tu hành Hiển giáo bình thường tương đối ít biết đến pháp Thụy quang trường thọ, cho nên ban ngày giữ giới tu pháp mặc dù chặt chẽ cẩn thận, nhưng trong mơ dễ buông lỏng và để chảy mất, thường xuyên trong mơ liên tục bị chảy mất, chân tay lạnh buốt, đau đớn không thể chịu nổi.

Lại thêm ngoại ma thông thường thích nhất là đùa giỡn người tu hành, ngoại ma thích nhất là đánh cắp khí của người tu hành, chúng đợi đến khi tinh thần của bạn lơi lỏng, khi bạn thiếu phòng vệ là thừa cơ nhập vào, ngoại ma sẽ dụ dỗ nội ma (tâm ma) khiến cho bạn và ma tiếp xúc với nhau, khiến bạn và quỷ tiếp xúc với nhau, thế là rò rỉ tiết ra tinh khí, khổ không lời nào kể xiết, trăm bệnh bộc phát.
Biểu hiện bề ngoài thì là người tu hành. Kì thực tự tâm vô cùng hổ thẹn, còn chẳng bằng một người bình thường.

Vì sao phải biến hóa thành chày kim cang?
Kim cang [kim cương] là tinh hoa trong số kim loại, nó có tính chất cứng và sắc, có nung đốt thế nào cũng không tiêu tan, nói cách khác là “kim không biến sắc”, “cứng không biến thể”. 
Chày kim cang là một pháp khí mà Mật giáo sử dụng, có phân ra chày một chấu, ba chấu, năm chấu. Chày kim cang tượng trưng cho rất nhiều ý nghĩa, trong số đó có ba ý nghĩa cực kì rõ ràng, ba ý nghĩa này chính là:
1. Không thể phá hoại.
2. Báu vật trong báu vật.
3. Đứng đầu các loại vũ khí.

Trong quá khứ khi tôi trên đường đi hoằng pháp tại Malaysia, tôi đã gặp phải một thầy phù thủy là người nuôi quỷ (pháp thức quỷ), khiến tôi gặp phải rất nhiều tiểu quỷ ban đêm tìm đến khách sạn mà tôi ở. Tôi dùng pháp Thụy quang trường thọ. 
Khi lũ tiểu quỷ dùng răng nhọn cắn tôi cũng giống như cắn vào chày kim cang, “rắc”, “rắc”, hóa ra không phải là cái cổ của tôi gãy, mà là răng nhọn của lũ tiểu quỷ gãy rồi. Có thể thấy pháp Thụy quang trường thọ có tác dụng hàng ma.
(Người tu pháp này nhất định phải quy y nhận quán đảnh.)

Bí quyết tu pháp như sau:
Tu pháp Mật giáo, quán tưởng nhất định phải rõ nét, cũng tức là phải rõ ràng, nhưng cũng không nên quá chấp vào từng chi tiết để cho thời gian quán tưởng không quá dài, nói tóm lại là trung đạo là tốt. 
Quán tưởng xong thì trì chú, chính là ý nghĩa gia trì kiên cố, nghĩa là lệnh cho tất cả thành tựu, nghĩa là lệnh cho tất cả sinh ra tác dụng.

Làm pháp thông thường đều có thủ ấn, nhưng pháp Thụy quang trường thọ thì không có, vì sao? Thật ra không phải là không có thủ ấn, việc “nằm cát tường” của bạn chính là thân ấn (thủ ấn), nằm cát tường giống như sư tử nằm, tim ở bên trên, thân cong lại như con tôm.

Nói chung trước khi ngủ, tôi đều cầu nguyện Bổn tôn hoặc Hộ pháp bảo vệ, trên đầu giường của tôi đều có treo pháp tướng của Hộ pháp Đại Uy Đức Kim Cang, chắp tay cầu nguyện là việc quan trọng, Hộ pháp sẽ bảo vệ hành giả, không chỉ mỗi bảo vệ hành giả mà đồng thời Hộ pháp còn thường xuyên ban chỉ thị về pháp yếu tu hành cho hành giả.

Pháp Thụy quang trường thọ này xem ra nghi quỹ đều cực kì đơn giản, nhưng đích thực là có hiệu nghiệm lớn, đây là pháp mà tôi tu hành hàng ngày. Nếu ai có tu và sản sinh chứng lượng thì sẽ tin tôi không phải là kẻ khoác lác.


### 19. Pháp trừ ma


Pháp trừ ma của tôi cực kì nhiều, đặc biệt là Liễu Minh Hòa Thượng và Sakya Chứng Không Thượng sư đã chỉ dạy cho tôi rất nhiều pháp trừ ma.
Trên nguyên tắc, pháp trừ ma mặc dù nhiều, nhưng chỉ có hình thức và động tác là khác nhau, chỉ cần vận dụng phù hợp thì về cơ bản là giống nhau. 

Pháp trừ ma có pháp quyết phổ thông và pháp quyết bí mật. Pháp quyết phổ thông tương đối không có trở ngại lớn, còn pháp quyết bí mật thì không thể thử nghiệm qua loa, bởi vì sẽ liên lụy dẫn đến nhân quả cực kì nghiêm trọng, hậu quả mà nó gây ra cũng khó mà tưởng tượng được.

Tôi từng cùng đăng đàn làm pháp với Đại Hoạt Phật của Tây Tạng là Ba Mễ Cường Ba và Thố Như Thứ Lãng. Hai vị này, vị đầu tiên là viện trưởng viện Phật học Tây Tạng, vị thứ hai là viện trưởng viện Y học Tây Tạng, địa vị của họ chỉ sau Dalai Lama.

Pháp trừ ma của Thố Như Thứ Lãng Hoạt Phật rất đơn giản:
1. Lấy một hình người làm bằng đất đặt vào trong pháp khí đầu lâu.
2. Tay phải cầm chày kim cang phổ ba, hoặc hai tay cầm chày kim cang phổ ba.
3. Dùng đầu nhọn của chày đâm vỡ hình người.
4. Vừa đâm vừa niệm chú: “Om guru guru soha.”

Thố Như Thứ Lãng Rinpoche một mặt làm pháp, một mặt niệm chú, đột nhiên ông ấy phát hiện ra tôi đang nhìn ông ấy làm pháp thì ông ấy còn cười một cái. Pháp trừ ma như thế này nhìn bên ngoài thì rất đơn giản, nhưng bên trong nặng về phương diện quán tưởng:
1. Quán tưởng nửa thân dưới của mình thành chày phổ ba.
2. Quán tưởng trên đầu mình có ngọn lửa lớn.
3. Quán tưởng trong người mình có đoạn như tâm chày.
4. Quán tưởng chính mình đã hóa thành Phổ Ba Kim Cang.
5. Quán tưởng thân dưới của mình giống như chày phổ ba đâm mạnh vào tà ma.
6. Ma chướng tam giới đều bị hàng phục.
7. Cát tường viên mãn.

Trong đại pháp hội của Mật giáo, vì sao Ba Mễ Cường Ba Rinpoche và Thố Như Thứ Lãng Rinpoche phải làm pháp trừ ma? Bởi vì chúng ta cho rằng Phật không nơi nào là không có mặt, còn ma gây chướng ngại cũng có mặt ở khắp nơi, bất kì một pháp hội nào cũng đều phải có pháp trừ ma. Và vũ điệu kim cang của Mật tông Tây Tạng chính là điệu múa trừ ma, tượng trưng cho sự chạy trốn của ma và đại thắng lợi của Kim Cang Thần.

Năm xưa, Liễu Minh Hòa Thượng từng hướng dẫn tôi dùng pháp Kim cang chỉ đuổi ma:

1. Kết thủ ấn Kim cang chỉ.


![image](/img/img_fb5fb442d8ea62cdb5f5f152f5d6f26e.png)


[Tay phải, ngón áp út đặt lên lưng ngón giữa, ngón trỏ đè lên đầu ngón áp út và quặp vào lòng bàn tay, ngón út và ngón cái gập vào trong lòng bàn tay. Ngón giữa chỉ thẳng về phía trước.]

2. Từ ngón giữa bắn ra một vệt ánh sáng lớn màu lam, vệt ánh sáng màu lam này giống như mũi tên bắn thẳng đến tim ma.

3. Hành giả Mật giáo quán tưởng tất cả Hộ pháp đều tập trung trên một ngón tay này.

4. Mũi tên không ngừng bắn ra với lực rất mạnh.

5. Bầy ma không dám làm gì, bỏ chạy tứ phía.

6. Hành giả Mật giáo trong miệng niệm chú: “Om guru guru soha.”
Hoặc: “Om chuli kalalupa hum khan soha.”

Bất kì chú ngữ của vị Kim Cang Hộ Pháp nào cũng đều có thể trì niệm. Pháp này hiệu nghiệm không thể coi thường, nếu gặp ma quỷ quấy phá, một ngón tay bắn ra, công hiệu phi phàm, ma quỷ sẽ ngã lăn ra ngay tại chỗ không thể dậy được. 
Pháp này hễ gặp ma quỷ thì làm pháp, lập tức ứng nghiệm.
Bị ma quỷ nhập vào thân không rút lui, làm pháp này lập tức ứng nghiệm.

Pháp thuật Mật giáo hết sức coi trọng phòng hộ và trị ma. Một vị Acharya (Thượng sư) nếu gặp phải giấc mơ không cát tường thì phải nghĩ cách để ngăn chặn và phòng ngừa các sự việc không tốt phát sinh. Nhìn chung, phương diện phòng hộ có bảy loại:
1. Thí thực — cúng Hộ Pháp Không Hành.
2. Hộ luân — tu bánh xe bảo vệ.
3. Tụng chú — tụng bách tự minh kiên cố.
4. Tu Bia Giáp Tôn — pháp mặc bia giáp hộ thân.
5. Thỉnh Bạch chư tôn — cúng dường các vị tiêu tai, tu pháp tiêu tai.
6. Mặc Lục trang nghiêm tự trụ thiên mạn — ví dụ pháp bảo hộ Quan Âm thân đàn thành.
7. Cúng Hộ Ma — hỏa cúng, dừng tất cả ma chướng.
(Đây là các pháp ngăn chặn tất cả ma nạn.)

Đối với cách làm pháp trị ma phải là Thượng sư làm pháp, cách làm pháp tương đối phức tạp, tôi đặc biệt phân loại thứ tự như sau:
1. Thượng sư trong sát-na quán tưởng thành tính Không.
2. Từ chữ “lan” quán tưởng thành nhật luân, trên nhật luân có chày kim cang thập tự có chữ “hum”, chữ “hum” ở trung tâm của chày kim cang, trang nghiêm quang minh.
3. Chữ “hum” phóng quang thành bức tường kim cang, trên có lưới kim cang, bên ngoài có lưới tên, mặt đất bên dưới trở thành thể kim cang hỗn tạp, tạo thành một sân lửa rực cháy.
4. Thượng sư trong sát-na tự mình biến hóa thành Hàng Tam Thế Minh Vương. Ba mặt, mặt chính màu lam, mặt phải màu vàng, mặt trái màu lục, há miệng nhe răng, lưỡi uốn cong. Mỗi khuôn mặt đều hiện tướng phẫn nộ với ba con mắt tròn đỏ và lông mày dựng lên, có sáu ấn túc luân [bánh xe ở chân]. Trên trán đeo năm cái đầu lâu, eo quấn váy da hổ, tóc màu vàng đỏ buộc túm lên, hướng lên trên và rực cháy [tham khảo pháp tướng Đại Uy Đức Kim Cang].
5. Trong sáu cánh tay, hai tay kết thủ ấn Hàng Tam Thế Minh Vương, hai tay cầm chuông chày, hai tay cầm sợi thừng móc câu.
6. Hai chân, chân phải duỗi ra, chân trái cong lại, ánh sáng quanh thân rực cháy như ngọn lửa mãnh liệt. Ăn hết tất cả ma chướng của chúng sinh.
7. Hét lên một tiếng lớn “hum”. 
8. Nhìn quanh khắp mười phương, từ chữ “hum” ở trong tâm mình phóng ra ánh sáng lớn câu triệu ma của mười phương.
9. Giao phó ma của mười phương cho mười Đại Minh Vương.
10. Cát tường viên mãn.

Pháp trị ma này đều do Thượng sư (Acharya) quán tưởng mà thành, có nghĩa là pháp thuật Thượng sư biến hóa thành Hàng Tam Thế Minh Vương, dùng uy lực của chữ “hum” để câu thập phương ma đến, giao phó cho mười Đại Minh Vương đi xử lí. 

Ngoài ra, càng lợi hại hơn là pháp đóng cọc, hay còn gọi là pháp đóng đinh ma. Cọc kim cang làm bằng sắt, dài 18 ngón tay, 12 ngón tay hoặc 8 ngón tay, phía trên là thân Minh Vương, phía dưới hình cây cọc.

Pháp đóng đinh ma như sau: 
1. Thượng sư tự mình biến hóa thành Hàng Tam Thế Minh Vương.
2. Hét to một tiếng “hum”. 
3. Quán tưởng thập phương ma hợp thành một thể, bị bao vây trong một cái giếng ở trước mặt (thực tế chỉ là một mô đất).
4. Thượng sư tay trái cầm cọc kim cang, tay phải cầm dùi sắt. 
5. Niệm chú: “Om benza kưali kưali ya safu pichana hum.”
6. Đóng đinh vào đầu của ma.
7. Nên quán tưởng tất cả ma cũng hóa thành đại lạc chân như, rất nhiều ma khác cũng chạy xa không thấy nữa.
8. Cát tường viên mãn.

Pháp cọc kim cang đóng đinh ma của Mật giáo không thể tùy tiện làm pháp, bởi vì nếu pháp lực không đủ thì e rằng sẽ bị ma oán hận. Đây là pháp của bậc Acharya, và cũng phải vào những pháp sự lớn thì mới làm, bình thường thì không làm.
Quan trọng nhất là phải trục xuất những ma bị đóng đinh đến chỗ đại lạc chân như, đưa đến Tây phương Cực Lạc thế giới. 

Tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) đối với ma còn có một quan niệm khác.
Chúng ta đều hiểu rằng ma có thể đoạt mạng, cản trở, quấy rối, phá hoại. Còn phải nói đến vua của cõi trời thứ sáu của Dục giới làm Ma Vương. 
Bình thường Tứ ma mà chúng ta nói đến là:
1. Phiền não ma.
2. Âm ma.
3. Tử ma.
4. Tha Hóa Tự Tại Thiên Tử ma. (vua của cõi trời thứ sáu)

Chúng ta biết có ma là tự tâm hiển hiện, đó chính là tâm ma, do những tham, sân, si từ tâm mình xuất hiện, che lấp hết lí trí, làm hại huệ mệnh của chính mình. Có khi là do kiếp trước hoặc kiếp này chính mình đã tạo nên nghiệp chướng, nghiệp chướng đến gây trở ngại cho huệ mệnh của chính mình, đây chính là nghiệp ma. 

Ngoài ra, cũng có ma đến từ bên ngoài, ví dụ giữa trời đất có rất nhiều rất nhiều quỷ thần chúng, có một số có thể giúp bạn tu đạo học Phật, đó là quỷ thần thiện duyên, nhưng cũng có quỷ thần ngăn chặn bạn học Phật tu đạo, đây trở thành ma chướng, tôi gọi kiểu chướng ngại này là quỷ ma. 

Tôi cho rằng lợi hại nhất là Thiên ma, đó chính là Thiên chủ của cõi trời Dục giới thứ sáu làm ra đủ loại chướng ngại. 
Còn có bệnh ma, tử ma đều là ma ngăn cản tu hành.
Học tập thiền định ngồi thiền, đôi khi có người sẽ gặp ma, tục gọi là tẩu hỏa nhập ma, nguyên nhân này rất phức tạp, có người là tự tâm quấy nhiễu, có người là nghiệp báo đổ về, có người là quỷ thần nhập thân (chiếm xác), có người là Thiên ma khảo nghiệm, loại ma thiền và ma chướng này thật sự cũng khiến cho người ta sợ hãi và thối lùi đạo tâm.

Khi Phật Thích Ca Mâu Ni ở dưới gốc cây bồ đề thành đạo, từ tâm cảnh sản sinh ra đủ loại ma chướng, ngài cũng lần lượt khắc phục mới có thể thành Phật.

Bản thân tôi cũng vậy, trong quá trình tu hành làm gì có chuyện không có khảo nghiệm, chỉ riêng những khảo nghiệm của nhân gian tôi cũng đã chịu đủ rồi.
Sư trưởng ruồng bỏ.
Người thân ruồng bỏ.
Đệ tử ruồng bỏ.
Tông phái khác công kích.
Đủ mọi phỉ báng sỉ nhục.
Cho đến nay, tôi chưa bao giờ gục ngã, chính là vì triết lí về Chân Phật và sự khai ngộ của bản thân đã giữ vững tôi. 

Trong “Milarepa truyện”, Milarepa cũng đã gặp ma — Milarepa từ bên ngoài trở về hang động. Trong hang động có ma. Milarepa tôn giả kính ma, lễ ma, cúng dường ma…
Ma không đi!
Thế là, Milarepa dùng pháp trị ma, dùng Bổn tôn phẫn nộ để đuổi ma…
Ma không động!
Cuối cùng, mọi phương pháp đều dùng hết rồi.
Ma vẫn không đi!
Milarepa tôn giả chỉ còn biết nghĩ rằng, cho dù là ma thì ma cũng là huyễn, thế là ngài sải bước vào trong hang động.
Không còn thấy ma nữa.

Câu chuyện này đã cho tôi một sự khai sáng rất lớn: “Ma cũng là huyễn.”
Quan niệm này vô cùng quan trọng, từ quan niệm này mà tôi biết muốn phá ma, dùng “vô ngã” để phá trừ.
Và như pháp môn Đại thừa đã nói, thì Bồ Tát ở địa cao dùng sức mạnh đại phương tiện hiện thành Ma Vương cũng là để giáo hóa chúng sinh. 
Quan niệm này là: ma là vì giáo hóa chúng sinh mà đến, nếu không có ma thì Phật đạo cũng không thể thành.

Quan niệm cuối cùng là:
”Chỉ quán ngũ” nói rằng: “Thủ Lăng Nghiêm nói, là ma giới, hay là Phật giới, là một không hai.”
Đây là “Phật ma là một”. 
Quan niệm cuối cùng của tôi là: “Phật tức là ma, ma tức là Phật, Phật ma là một.”

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người, muốn trị ma, muốn trừ ma, muốn phá ma, nếu có ba đại niệm lực này của tôi thì ma sẽ tự nhiên biến mất. Một người tu hành đạt đến cảnh giới phi Phật phi ma, phi thiện phi ác, không có đối lập, chỉ có tuyệt đối, thì mới là khai ngộ. 


### 20. Pháp thần toán hỏi việc


Rất nhiều người đều nói rằng Liên Sinh Hoạt Phật có đại thần thông, ví dụ khi hỏi việc, tai sẽ động đậy, dường như có vị Thần vô hình đang thông báo cho ngài. Còn nói người hỏi việc chỉ cần viết địa chỉ ra, ở Mĩ hỏi việc, địa chỉ ở Hồng Kông, Lư Thắng Ngạn điều có thể nói ra hoàn cảnh của ngôi nhà ở Hồng Kông, hoàn toàn ăn khớp, khiến cho người hỏi việc đầy kinh ngạc.
Thậm chí việc âm gian cũng có thể biết được.

Có một người hỏi việc hỏi chuyện của con trai. 
Hoạt Phật đáp:
”Đã chết.”
Lại hỏi:
”Thần thức ở phương nào?”
Đáp:
”Ở cùng với người dì.”
Lại hỏi:
”Người dì thứ mấy?”
Đáp:
”Người dì thứ hai.”
Người đến hỏi việc rất thán phục, bởi vì người đó trình lên bát tự của con trai, Hoạt Phật đã nói luôn là đã chết, người đến hỏi việc đích thực là có một người dì chết sớm, đúng là người dì thứ hai.

Ngoài ra, xem chuyện kiếp trước của người ta thì lại càng cực kì chuẩn. Có một người phụ nữ hỏi về tiền kiếp. Hoạt Phật đáp:
”Nói thẳng có được không?”
Người phụ nữ nói:
”Có thể nói thẳng.”
Hoạt Phật trả lời:
”Kiếp trước là con khỉ.”
Người phụ nữ hơi bực:
”Làm sao có thể chắc chắn?”
Hoạt Phật nói:
”Đầu mút xương cột sống của cô còn để lại một mẩu nhỏ cái đuôi con khỉ ở bên ngoài, không chỉ như vậy, nó còn mọc lông nữa! Ngoài ra, cô đặc biệt thích ăn lạc, và tính cách của con khỉ vẫn không đổi, tính khí hấp tấp nóng nảy.”

Người phụ nữ đó nét mặt hơi giận hờn bỏ đi, lén lút nói với người khác rằng nói chuẩn cực kì, đuôi xương cột sống của cô thừa ra một đoạn, kì lạ nhất là ngay cả việc mọc ra một ít lông mà ông ấy cũng biết. Thứ mà bản thân cô thích ăn nhất đúng là lạc, và hàng ngày cô đều nhảy điệu “chó ngã chết”, ai nhìn thấy cũng nói là cực kì giống con khỉ.

Linh thể của Liên Sinh Hoạt Phật là quang minh vô ngại, có thể nói là đầy khắp lục hợp [trên dưới và bốn phương, vũ trụ, thiên hạ], pháp thân không chỗ nào là không tồn tại, đây không chỉ là công phu hóa thân bên ngoài thân, mấy triệu đệ tử hiện tại chỉ cần trì tụng tâm chú của ngài là có thể “thấy Hoạt Phật trong thiền định”, “thấy Hoạt Phật trong mơ”, thậm chí ngài còn xuất hiện trong hư không đầy sống động nữa.

Có một đệ tử bản thân là nhà khoa học, sau khi anh ấy thông điện cho thiết bị điện tử của máy chân không dụng cụ vi ba, anh trì tụng tâm chú Liên Hoa Đồng Tử, triệu thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn tiến vào trong thiết bị đã được bịt kín, kết quả là mới trì tụng tâm chú được ba phút thì máy đo điện tử đã hiện ra năng lượng kì diệu, thể hiện trên máy đo. (Đây là kì tích của giới khoa học.)

Thần toán của Liên Sinh Hoạt Phật có khi căn bản là không cần bấm ngón tay để suy đoán, lập tức một hỏi một đáp cực kì nhanh chóng.
Hỏi việc cho một người thì thường xuyên chỉ một, hai phút là đã kết thúc rồi. Khả năng kì diệu như vậy khiến người ta phải thốt lên đầy kinh ngạc.
”Vì sao không cần bấm ngón tay?”
Đáp:
”Mắt Phật như điện.”
”Không cần phải đi điều tra sao?”
”Giữa trời đất đều là thời cơ.”

Về phương diện này, Liên Sinh Hoạt Phật nói với mọi người, bất kì sự việc gì trong trời đất, trên thân của mỗi người đều đã có kí hiệu rồi, một người thần toán chỉ cần nhìn ra kí hiệu đó là có thể giải đáp được vấn đề. 
Pháp thần toán hỏi việc có cơ mật vô cùng, năng lực của pháp này có cao có thấp, có hữu hình, có vô hình, là việc bất khả tư nghì, có một số phương pháp cũng là không truyền đến “sáu tai” [chỉ có hai người - người nói và người nghe biết], có tính cực kì bí mật.

Tôi cho rằng mấu chốt của thần toán vẫn nằm ở hai chữ “thông linh”. Mức độ nông sâu của công lực thông linh tự nhiên sẽ hình thành nên sự linh nghiệm lớn và linh nghiệm nhỏ. Trên phương diện này có rất nhiều nhân tố, bởi vì trong linh giới, nói ví dụ về Thần Tiên, có phân làm chín phẩm:

Nhất phẩm — Cửu Thiên Chân Đế.
Nhị phẩm — Tam Thiên Chân Đế.
Tam phẩm — Thái Thượng Chân Nhân.
Tứ phẩm — Phi Thiên Chân Nhân.
Ngũ phẩm — Linh Tiên.
Lục phẩm — Chân Nhân.
Thất phẩm — Linh Nhân.
Bát phẩm — Phi Tiên.
Cửu Phẩm — Tiên Nhân.

Nói cách khác là, việc tu hành của hành giả hoàn toàn phải xem công lực của bản thân có thể triệu thỉnh được Thần Tiên phẩm nào đến, càng là Thần Tiên thượng phẩm thì đương nhiên là càng linh nghiệm, Thần Tiên hạ phẩm thì kém hơn một chút. Tuy nhiên thế nhân ngày nay, không nhiều người thật sự có năng lực tu hành, tính tình trầm lặng, tâm linh trong sáng, thuận theo tự nhiên, trong vạn người khó tìm thấy một người.

Cho nên, cái gọi là “thông linh” ngày nay thì rất nhiều người không thật sự có thể triệu thỉnh được Thần Tiên thượng phẩm, e rằng ngay cả Thần Tiên hạ phẩm cũng khó mà thỉnh đến được, triệu thỉnh đến được đa phần vẫn chỉ là “linh quỷ” [hồn ma], theo như tôi biết thì là:
1. Ma địa lí.
2. Ma thiện.
3. Ma trẻ con.
(Ba loại này là phổ biến.)

Cho dù là người đã học qua pháp thỉnh Tiên của Đạo giáo chính thống, hiểu lễ nghi thỉnh Tiên, khai đàn triệu đẩu, chúc phù sử chú, hàng Thần hàng Tiên, nhưng Thần Tiên đến thì ít, ngược lại chỉ có linh quỷ là nhiều. Trong khói hương nghi ngút, kẻ hưởng thụ nghìn đời chính là đám linh quỷ mà thôi.

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người, điều kiện hàng đầu của thông linh vẫn nằm ở bản thân hành giả, nằm ở sự chính tâm thành ý của hành giả.
Còn có căn khí tiền kiếp (từ kiếp trước mang đến kiếp này đủ loại công lực tu hành).
Đời này cầu được “chính pháp” (công lực tu hành dựa theo chính pháp).
Tất cả những điều này hợp lại chính là lực yết ma của tự thân.

Sức mạnh ở đây có thể phân thành:
1. Sức mạnh yết ma của tự thân.
2. Sức mạnh gia trì của Thượng sư.
3. Sức mạnh tôn lên của pháp giới.
4. Sức mạnh tương ứng của Bổn tôn.
5. Sức mạnh trợ giúp của Hộ pháp.
Có như vậy mới thần toán một cách viên mãn. 

Trong chương trước của cuốn sách này, tôi thường xuyên nhắc đến tầm quan trọng của Hộ pháp, kì thực Hộ pháp thật sự rất quan trọng, một hành giả Kim cương thừa luôn luôn có sức mạnh trợ giúp của Hộ pháp, Bổn tôn cũng bị làm cho cảm động thì pháp giới tự nhiên sẽ tôn lên. 

Bản thân thần toán chính là sự tổng hợp của những sức mạnh này. Khi hành giả Mật giáo định tâm vào một niệm, mọi lực tổng hợp, đáp án linh ứng sinh ra chính là thần toán.

Nói về bấm ngón tay thần toán thì:
1. Hành giả xòe bàn tay ra, lòng bàn tay hướng về hư không.
2. Định tâm vào một niệm.
3. Linh trong hư không sẽ giáng xuống.
4. Các đầu ngón tay của hành giả tự động co duỗi.
5. Hành giả từ ý nghĩa của sự co duỗi ấy mà hiểu được linh ý.
6. Cát tường viên mãn.

Thần toán này là sự dung hợp nhất trí của mọi lực, thần toán là do trời tính toán, hành giả phải có tín tâm này, hành giả không thể là kẻ ích kỉ chỉ nghĩ cho bản thân mà phải là người có bồ đề tâm lớn, có đại pháp căn khí của việc thành Phật, thắng pháp vô thượng du già mà họ tu là chính pháp của Phật thì tất cả Hộ pháp nhất định sẽ đến ủng hộ, điều này có thể lí giải được.

Trước khi thần toán cũng nên có tiền hành và hậu hành, nói về tiền hành thì phải triệu thỉnh, phải lễ bái, phải cúng dường,… Nói về hậu hành thì phải phát nguyện, phải hồi hướng, đây là những lễ nghi cần có.  
Phát nguyện của thần toán là:
Nguyện tất cả chúng sinh hữu tình được cát tường an lạc.
Nguyện tất cả chúng sinh hữu tình thoát khỏi tai nạn vướng víu. 
Nguyện tất cả chúng sinh hữu tình quy y tu hành chính pháp.
Nguyện tất cả chúng sinh hữu tình rời xa hận thù.


### 21. Yếu nghĩa bốn đại quán đảnh của Mật giáo


Yếu nghĩa bốn đại quán đảnh của Mật giáo

Tôi giải thích “Mật tông đạo thứ đệ quảng luận”, khi giảng đến quyển 12, phẩm thứ 8, “Tự nhập đàn thành nhận quán đảnh, sau đó thứ tự cho đệ tử nhập đàn” có bài kệ như sau:

*Thánh giả vào nơi nội quán đảnh
Trên thân chư Phật mandala
Như lí tu hành được hoan hỉ
Thứ tự nghi quỹ như giải thích.*

Quán đảnh Mật giáo có yếu nghĩa đặc thù, yếu nghĩa quan trọng nhất là: “Quán đảnh là Thượng sư kim cương trì đem đến cho đệ tử sự ban ơn của tổng thể tự tính của Ngũ Phương Phật.” 
Ở đây có ba yếu nghĩa lớn:
1. Cho phép.
2. Bảo chứng.
3. Chứng lượng.

Trong “Mật tông đạo thứ đệ quảng luận” quyển 13, phẩm thứ 9, “Hiểu thứ tự nghi quỹ quán đảnh bình”, đã giải thích về sơ quán, phạm vi của sơ quán như sau:
1. Bình — Bất Động Phật (A Súc Như Lai).
2. Quán [mũ miện] — Bảo Sinh Như Lai.
3. Chày — A Di Đà Như Lai.
4. Chuông — Bất Không Thành Tựu Như Lai.
5. Danh — Tì Lô Giá Na Như Lai.
(Ngũ Phật trang nghiêm đỉnh, trên đỉnh đầu là A Súc Như Lai, trên tai phải là Bảo Sinh Như Lai, trên tai trái là Bất Không Thành Tựu Như Lai, sau đầu là A Di Đà Như Lai, trên trán là Tì Lô Giá Na Như Lai.)

5 quán đảnh này chính là mang ý nghĩa năm trí huệ lớn của Như Lai.
5 quán đảnh này liệt kê ra như sau:
Quán đảnh bình — A Súc Như Lai — đại viên kính trí — tiêu trừ sân.
Quán đảnh quán — Bảo Sinh Như Lai — bình đẳng tính trí — tiêu trừ mạn.
Quán đảnh chày — A Di Đà Như Lai — diệu quan sát trí — tiêu trừ tham.
Quán đảnh chuông — Bất Không Thành Tựu Như  Lai — thành sở tác trí — tiêu trừ nghi.
Quán đảnh danh — Tì Lô Giá Na Như Lai — pháp giới thể tính trí — tiêu trừ si.

Tôi cho rằng trong phạm vi của sơ quán còn bao gồm quán đảnh Acharya (quản đảnh bất thối), các loại quán đảnh chư tôn, quán đảnh pháp Thượng sư tương ứng.
Quán đảnh ấn samaya.
Quán đảnh tam samaya.
Quán đảnh chân ngôn.
Quán đảnh mắt.
Quán đảnh gương.
Quán đảnh hoa.
Quán đảnh mũi tên.
….

Quán đảnh trong sơ quán nặng về sự thanh tịnh của thân, khẩu, ý, cũng là ngoại quán đảnh.
Khi tôi giải thích đến phẩm thứ 10 phần một “Hiểu thượng tam quán đảnh rồi thì theo đó tạo ra nghi quỹ tu hành” rồi đi vào phạm vi của nhị quán. 
Quán đảnh nhị quán nặng về khí, mạch, minh điểm trong thân, cũng chính là khai phá năm luân xa trong thân. Vật quán đảnh của nhị quán, vào thời xưa, thì là vật bí mật của bồ đề tâm của Thượng sư và minh phi song vận đặt vào trong miệng của đệ tử. Nhị quán của con người thời nay thì dùng cánh hoa trắng đỏ, tượng trưng cho vật bí mật của Phật phụ Phật mẫu. 

Tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) cho rằng trong pháp của nhị quán, phải tu tập khí, mạch, minh điểm, chuyết hỏa, kim cang quyền…
Trong đó có ba đại pháp nhất định phải luyện thành:
1. Pháp chuyết hỏa.
2. Pháp minh điểm.
3. Pháp vô lậu.

Nội pháp của nhị quán trọng điểm nằm tại cách mở trung mạch và năm luân xa:
Mi tâm luân — mạch phiền não về tham.
Hầu luân — mạch phiền não về sân.
Tâm luân — mạch phiền não về si.
Tề luân — mạch phiền não về mạn.
Mật luân — mạch phiền não về nghi.

Bài kệ của nhị quán là:

*Cúng minh phi thỉnh bạch.
Sinh đệ tử Di Đà.
Sư trưởng và Phật Mẫu.
Nhị mật vật quán đảnh.*

Khi tôi giải thích đến phần “Hiểu trí huệ của quán đảnh thứ ba” trong “Mật tông đạo thứ đệ quảng luận”, tôi tự biết quán đảnh thứ ba chính là nhận một khâu chủ yếu nhất mà người ngoài bình thường phê phán về Mật tông. Mật giáo có Vô thượng mật bộ, cũng chính là một đặc sắc lớn của Mật giáo.

Nội hàm của song vận là bề ngoài như phàm phu, nhưng nội tại thì có đầy đủ định lực và thắng quán. 
Về mặt lí thuyết thì là kích phát bồ đề tâm nguyệt dịch hạ xuống, hòa cùng với chuyết hỏa. Đắc tam ma địa đại định, từ định kiến đạo. (Sắc-Không không hai, Lạc-Không không hai)
Về mặt sự pháp (kĩ xảo thực tu), bao gồm giáng-đề-trì-tán, bao gồm “sáu thế biến”, bao gồm “chín thức minh phi”, “sắc thanh hương vị xúc”, “quán tứ hỉ”, v.v…

Yếu nghĩa của quán đảnh thứ ba là dựa vào đại lạc trí và chân không thể ấn trì lẫn nhau, do đó trong trí huệ của quán đảnh thứ ba có hai phần, một là phần chứng Không, hai là phần an lạc, cũng tức là cụ sinh hỉ sản sinh cụ sinh trí.

Thực tu song vận của Mật giáo tam quán sẽ được lợi lớn, có ba lợi ích lớn:
1. Bồ đề tâm nguyệt dịch hạ xuống.
2. Khí phương tiện chuyển thành khí trí huệ.
3. Mở trung mạch, mở năm luân xa.

Tuy nhiên, pháp này không phải là ai ai cũng có thể tu, có được cơ sở của nhị quán rồi, chứng vô lậu, xuất chuyết hỏa, vận minh điểm, sáng tỏ tính Không, được Kim cương Thượng sư chân chính khẩu truyền chỉ điểm mới có thể tu.
Tu pháp này nếu có sai lầm lệch lạc thì sẽ xuống địa ngục kim cang!

Nghi quỹ quán đảnh của pháp này, vào thời cổ đại, minh phi lấy hoa đỏ có hương thơm tuyệt vời để bôi lên người, lõa thể ở dưới nước chỉ thị cho đệ tử rằng: “Diệu liên hoa hiếm có, có tất cả an lạc, nếu làm đúng như pháp, ta thường ở trước người, thân cận với chư Phật, như làm việc hoa sen, tự tại đại lạc vương, mãi trụ trong cảnh ấy, pân cha mu zha hưa!”
Gia trì cho kim cang và hoa sen.
Đây là quán đảnh tiếp xúc.

Còn vào thời hiện đại, quán đảnh thứ ba vẫn được thay đổi thành dùng quán đảnh hình thức tượng trưng, tức là Căn bản Thượng sư cầm bút, gia trì cho kim cang và hoa sen. 
Trong quán đảnh thứ ba, sự truyền dạy về tứ hỉ là cực kì quan trọng:
Từ đỉnh đầu đến họng — hỉ — lạc thụ ít.
Từ họng đến tim — thắng hỉ — lạc thụ nhiều.
Từ tim đến rốn — li hỉ — lạc thụ không phân biệt.
Từ rốn đến mật — cụ sinh hỉ — Không-Lạc đều tan đi.
(Do cụ sinh hỉ sản sinh cụ sinh trí mà làm thành quán đảnh thứ ba.)

Quán đảnh thứ tư của Mật giáo, tôi cho rằng là quán đảnh thắng nghĩa, cũng chính là quán đảnh tính Không (Phật tính). 
”Thành tựu vô ngại chân thực nhất thiết chư pháp bất tư nghì tính, cụ túc thất chi đại ấn đại kim cương trì tự tính, gọi là quán đảnh thứ tư.”

Từ cụ sinh trí sinh ra từ quán đảnh thứ ba, là sự nảy sinh của một dạng trẻ nhỏ mầm non, trải qua tu tập mà chuyển thành tăng trưởng, tất cả chướng ngại toàn bộ đều trừ hết, trí huệ hiểu rõ pháp giới không phân biệt, hiện lên thất chi đại ấn sẵn có, chính là quán đảnh thứ tư.

Nghi quỹ của quán đảnh thứ tư như thế nào? Các thuyết xưa nay đều khác nhau, ví dụ có bài kệ nói rằng:

Nó như nó chính là
Tự tan vào chính nó
Như ngươi trực nhận nó
Ta trao truyền quán đảnh

Vì thế tôi cho rằng, bề ngoài biểu hiện là quán đảnh thứ tư, nhưng chỉ có dùng trí huệ vô thượng để biểu thị. 
Có tổ sư nói, phân biệt quán đảnh thứ ba và quán đảnh thứ tư là:
Quán đảnh thứ ba là “trụ trong lạc mani”. 
Quán đảnh thứ tư là “xuất bồ đề tâm”. 
Còn nói:
”Chuyên tu tính Không đại ấn là quán đảnh thứ tư.”

Đại ấn thất chi của Phật tính: “Mãn báo, kết hợp, đại lạc, vô tính, bi mãn, bất đoạn, và vô diệt, khen người có đủ thất chi đã tu thành Phật quả. Nếu không được như vậy thì người tu được chính lượng trí huệ thanh tịnh cũng đáng khen ngợi rồi.

Mãn báo — viên mãn báo thân, tức là thân mang tướng tốt trang nghiêm.
Kết hợp — thiên về tất cả sự hoan hỉ của thân, trở thành tất cả hữu tình, gọi là kết hợp.
Đại lạc và vô tính — thân lạc là lạc, tâm lạc là hỉ, rộng nhất, vô lậu, thù thắng và vi diệu đến tận ranh giới tương lai, là lạc vô tính.
Bi mãn — đại từ đại bi viên mãn.
Bất đoạn — có đầy đủ các công đức kể trên, mãi mãi duy trì được tướng ấy (thân thọ dụng). 
Phật tính — không minh.
Thất chi này là đạo vô thượng cần tu, thứ tự của tứ không là thắng nghĩa quang minh, người đạt đến cảnh giới như vậy tức là quả vị tuyệt diệu của quán đảnh thứ tư.


### 22. Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật đích thân truyền Đại Uy Đức Kim Cang bất cộng pháp (1)


Trước khi thuyết pháp, đầu tiên, tôi cầu thỉnh Chân Phật Tông Hồng giáo truyền thừa tổ sư Liễu Minh Hòa Thượng, và các vị tổ sư nhiều đời gia trì cho việc truyền pháp viên mãn. Tiếp theo, cầu thỉnh tổ sư Hoàng giáo Thubten Dhargye và các vị tổ sư nhiều đời gia trì viên mãn. Tiếp theo, cầu thỉnh tổ sư Bạch giáo Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16 và các tổ sư Bạch giáo nhiều đời gia trì truyền pháp viên mãn. Cầu thỉnh tổ sư Hoa giáo Sakya Chứng Không Thượng sư và các tổ sư Hoa giáo nhiều đời gia trì viên mãn.

Pháp mà tôi muốn truyền trong buổi tối hôm nay là pháp Đại Uy Đức Kim Cang, những gì tôi nói đến đều là khẩu quyết quan trọng, y theo những khẩu quyết này mà tu thì sẽ rất viên mãn, hơn nữa còn đắc thành tựu. Nhưng khi bạn tu hành, có rất nhiều chướng ngại, thậm chí có một số người không thích hợp tu pháp này, cho nên tôi cần phải giảng giải rõ ràng với mọi người.

Pháp này là một đại pháp rất cao cấp, đặc biệt là với vị phẫn nộ, bình thường chúng ta tu pháp gì cũng không cần lo lắng căng thẳng, đại khái phần lớn đều sẽ không có chướng ngại gì cả, nhưng đối với các vị phẫn nộ mà nói, ngài sẽ xuất hiện rất nhiều chướng ngại, cho nên tôi phải đặc biệt tuyên bố với mọi người.

Buổi sáng hôm nay tôi đã nói qua với mọi người rồi, pháp này muốn truyền cũng không dễ, cũng là pháp rất tôn quý, tôi hi vọng mọi người đều có thể học được và nghe được pháp rất tốt như thế này.

Pháp mà các bạn cầu quán đảnh lần này là rất khó có được. Trước kia khi tôi đi cầu pháp này, tổ sư nói với tôi rằng pháp này là pháp lớn, tôi hỏi thầy là cái gì lớn. Thầy nói rằng, cái gọi là đại pháp chính là phải lớn. Thầy không nói cái gì lớn. Hôm nay tôi quán đảnh cho mọi người pháp Đại Uy Đức Kim Cang, tôi biết rằng hồng bao mà tôi chia cho mọi người không phải là rất lớn, đều là hồng bao nhỏ thôi. Sư Tôn trước kia đi cầu pháp này đã cúng dường toàn bộ tiền lương mấy tháng của mình. Cúng dường của Sư Tôn chẳng thể nói là một nghìn đô la Mĩ, hay hai nghìn đô la đâu, đó chỉ là *small potato chips*, nghĩa là miếng khoai tây rất nhỏ. Mỗi lần Sư Tôn cúng dường sư phụ của mình nhất định là phải trên mười nghìn đô la, chứ không nói tiền nghìn, nhưng cũng không tính là gì cả.

Giống buổi tối hôm nay, có mấy nghìn đệ tử đến nghe pháp, tôi quán đảnh một lúc là có thể mua được một ngôi nhà tầng rồi. Trên thực tế, trước kia tôi từng nói, vì pháp này là tôn quý nhất, vốn dĩ là vô giá, không dễ mà nghe được pháp này, rất ít người truyền, bộ phận khẩu quyết rất quan trọng. Những người vì tôn trọng pháp này mà buổi tối hôm nay đến nghe, đến nhận quán đảnh sẽ có phúc phần lớn nhất. Vì tôn trọng pháp này, quán đảnh của buổi tối hôm nay tôi không ra giá, quán đảnh tùy ý (mọi người nhiệt liệt vỗ tay).

Thế nhưng sau buổi tối hôm nay nếu có người đến cầu quán đảnh, thì nếu là Thượng sư, tôi ra giá là 50 nghìn đô la Mĩ, nếu là pháp sư đến xin quán đảnh sẽ là 30 nghìn đô la Mĩ. Nếu là đệ tử bình thường, là hành giả Mật giáo đến cầu quán đảnh sẽ là 10 nghìn đô la Mĩ. Trừ phi bạn ghi ra lí do chính đáng đưa cho tôi xem, vì sao không đến tham gia pháp hội, nếu có lí do thì sẽ tùy ý, nếu không có lí do thì đó là bạn không đến, tôi muốn dùng giá tiền để hạn chế, mọi người đã nghe rồi đó, sau này truyền pháp sẽ là như vậy. Bạn không đến, sau này đến xin quán đảnh, là Thượng sư thì 50 nghìn, pháp sư thì 30 nghìn, hành giả thì 10 nghìn là được.

Pháp này rất khó có được, khẩu quyết trong đó là cực kì nhiều, cho nên cần phải giảng chi tiết một chút. Phần quán tưởng ở đây cực kì phức tạp, trên phương diện quán tưởng, các bạn học tập càng tỉ mỉ càng tốt, phải chú ý nhiều đến toàn bộ kim thân của ngài, những hình tướng trên thangka của ngài, toàn bộ đều phải in vào trong não bạn, thế thì sẽ có lợi cho quán tưởng của chính bạn, điều này rất quan trọng.

Hiện nay, ở Tây Tạng, tên của Đại Uy Đức Kim Cang là Jikjé Dorje [Vajrabhairava, âm Hán là Cát Kiệt Đa Kiệt]. Dorje có ý nghĩa là Kim Cang. Cũng có cách nói là hóa thân của A Di Đà Phật, bởi vì Ngũ Phương Phật hóa thân thành Ngũ Đại Kim Cang, trong Tạng mật là hóa thân của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, nguyên nhân là: căn cứ theo truyền thuyết lịch sử Tây Tạng, khi xưa, Diêm Ma La - khi ấy có Ma Vương thân người đầu trâu có sừng, xuất hiện, đã hại rất nhiều người, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát đáp ứng lời thỉnh cầu của người Tạng mà hiện tướng đại uy đức, cũng là đầu trâu thân người, đến hàng phục Diêm Ma La này. Về sau, người Tạng rất tôn sùng Đại Uy Đức Kim Cang. Đây là lai lịch của ngài, vì thế gọi là Hàng Diêm Ma Tôn. 

Bởi vì thân mà bản thân Đại Uy Đức Kim Cang hóa ra cực kì có sức mạnh, ngài thuộc về phong luân chuyển hóa mà thành, trong ngũ luân: đất nước lửa gió không, văn tự tiếng Tạng viết bên dưới là:


![image](/img/img_60df5fe241c2e52f976aeea2e507fd5c.png)


Bên trên là: 


![image](/img/img_d1df2025bfec9e739ddcd0f46ac1a392.png)


Chữ này:


![image](/img/img_0e6e5180b4a9a703c775a96ac7aaef97.png)


thì đọc là yam, chữ “yam” trong tam tự minh “Ram Yam Kham”. [tiếng Trung đọc là Rang Yang Kang]

Điều cấm kị đầu tiên của pháp này, loại người nào không thể tu? Tôi nói để mọi người biết, tên người nào có âm hợp với âm “yam” này thì không thể tu, ví dụ họ Dương [âm tiếng Trung là Yang] thì xin lỗi, người họ Dương có thể nhận quán đảnh, nhận quán đảnh thì không có vấn đề gì, có thể nghe pháp, nhưng không được tu pháp này, tu thì sẽ chết chắc, cho nên pháp này có rất nhiều cấm kị. Có rất nhiều đệ tử nghe tôi nói thế thì kêu ôi chao, hỏng bét, trong mười hai con giáp thì tôi tuổi Dê [dê tiếng Trung là dương, cũng đọc là yang]. Mười hai con giáp thì không liên quan, cái này chủ yếu là tóm lấy cái âm đó, bởi vì bạn họ Dương, nhưng ngài là từ chữ “Yam” sinh ra. Bạn biết xung phạm Thái Tuế, năm nay là năm gì thì bạn sẽ xung năm đó. Bây giờ ngài sinh ra từ chữ Yam, người có họ Dương không được tu, tu rồi sẽ rất nguy hiểm, người đó sẽ chết. Cho nên tôi nói bạn không tu thì không có chuyện gì, tu rồi thì phải đến hỏi việc đấy.

Ngoài ra có một loại người rất đặc biệt, mang họ Dương, nhưng công lực tu hành của bạn đã rất đủ rồi, bạn là hành giả thâm mật, nói trong Mật giáo tức là bạn đã chứng đắc cảnh giới rất cao rồi, thì người này là ngoại lệ. Bản thân bạn cho rằng cảnh giới rất cao rất sâu, công phu đủ rồi, có thể chống lại được sự xung sát của ngài, thì bạn có thể tu. Ví dụ có nhiều người thấy không phục, tôi họ Dương, tôi muốn tu thử xem, vậy thì không có liên quan gì đến tôi nhé.

Bởi vì bạn cho rằng công lực của mình rất sâu rồi, tự mình nghĩ có thể vượt qua được sự xung sát này, giả như bạn thật sự rất muốn tu, có thể ở trước mặt Đại Uy Đức Kim Cang cầu nguyện ngài, sau đó bạn dùng pháp Thụy mộng [ngủ mơ], xem thử xem ngài chỉ thị cho bạn có thể hay không thể tu. Ngài cho bạn chỉ thị là rất cát tường thì bạn có thể tu, cho bạn chỉ thị là không cát tường thì bạn không thể tu. Điểm này là một điều cấm kị đó!

Có đệ tử chạy đến hỏi Sư Tôn là bị bệnh ngoài da có thể tu không? Tôi nói anh có bệnh ngoài da thì có liên quan gì đến pháp này? Anh ta nói da của tôi rất ngứa [từ “ngứa” trong tiếng Trung cũng có cách đọc là yang], không biết là cái bệnh ngứa do nấm kẽ chân này có được tu hay không. Rất nhiều người mắc bệnh nấm kẽ chân, chữ “ngứa” và chữ “dương” có âm giống nhau, vậy thì có được tu không? Tôi nói với mọi người là không có liên quan gì cả, ngứa da không sao cả, có thể tu, có thể quán đảnh, có thể nghe pháp. Nhưng người họ Dương thì không thể tu, đây là cấm kị của Đại Uy Đức Kim Cang, bởi vì cái âm “Yam” trong “Ram Yam Kham” này đồng âm với chữ Dương, cho nên mới không thể tu.

Người phạm giới cũng không thể tu, điều này rất nghiêm trọng, điều liên quan đến giới luật tương đối nặng. Về bản thân mà nói, bạn phải kiểm điểm kĩ lưỡng chính mình. Thứ nhất, bạn có trộm cắp không? Bạn có tà dâm không? Bạn có ác khẩu không? Chà! Ác khẩu, xong rồi, bạn có uống rượu không? Phạm ngũ giới rồi thì không thể tu.

Bạn tu pháp Đại Uy Đức Kim Cang thì nhất định phải giữ nghiêm giới luật, cho nên Sư Tôn đã rất lâu rồi không uống rượu, thậm chí còn cai rượu luôn, không phải là tôi tự mình cai, mà là Phật Bồ Tát cấm tôi, tôi rất thích uống, nhưng không được uống. Ví dụ như thứ bảy trở về biệt thự Cầu Vồng, trước kia pháp sư Hiểu Quang có biết đấy, ông ấy luôn chuẩn bị cho tôi một chén rượu, buổi tối tôi đều phải uống một chén nhỏ. Ấy thế mà tôi lại phải bỏ rượu! Rượu ở đó giương mắt lên, nó nhìn tôi, tôi nhìn nó, nhưng thật sự là tôi không uống đâu! Chỉ là nhấm môi một tí mà thôi, thật sự là không uống, pháp sư Hiểu Quang có thể làm chứng, thật sự không uống rượu, kể cả tùy ý cũng không.

Không ác khẩu, nhớ đấy, người phạm khẩu nghiệp cũng không được. Không tà dâm cũng rất khó. Không trộm cắp, đôi khi bạn cho rằng lấy một chút chút không vấn đề gì, nhưng đó cũng là trộm cắp. Đúng thế không? Lần trước Sư Tôn ở đây hát một bài hát, thế rồi hoa ở trước mặt Phật Bồ Tát, mọi người ra sức nhổ hoa, hoa ở Lôi Tạng Tự đều bị lấy hết để cúng dường Sư Tôn, đó là hoa cúng Phật đó, bạn phạm giới trộm cắp rồi. Không được! Nhà của Thượng sư Liên Đặng xung quanh có trồng rất nhiều hoa, như người ta làm Hộ Ma, nghĩ là đến SAFEWAY để mua hoa, nhưng vì đi đến cửa nhà này thì nhìn thấy hoa ở đấy rất đẹp, buổi tối hôm đó liền lấy dùng trước để làm Hộ Ma cũng được. Kết quả là hoa xung quanh nhà Thượng sư Liên Đặng bị hái “xoẹt, xoẹt, xoẹt” mang đi làm Hộ Ma, phạm tội trộm cắp rồi, không thể tu. Không sát sinh tức là những sinh vật sống bạn đều không thể làm hại chúng, giết chúng. Người không phạm ngũ giới có thể tu, người đã phạm ngũ giới thì đều không thể tu. Vậy phải làm sao đây? Phải hướng về Kim Cang Tát Đỏa cầu sám hối, niệm 21 biến Kim Cang Tát Đỏa bách tự minh chú, niệm xong cầu sám hối cho đến khi xuất hiện tướng sám hối cát tường rất tốt thì bạn mới được xem là có thể tu, bằng không thì không được tu. 

Người muốn tu pháp này, nếu lòng dạ hẹp hòi cũng không thể tu, có nhiều người rất nhỏ mọn, tôi biết, Sư Tôn thật ra cũng rất tiết kiệm, nhưng có lúc tôi cũng rất phóng khoáng, ví dụ như tôi cúng dường sư phụ của mình, tôi phải “nén nỗi đau” đó (cười), cũng phải rất rộng rãi, đúng không? Bạn không thể chỉ nói là cúng dường một cách đau khổ, mà phải cúng dường bằng thân khẩu ý, tức là phải toàn tâm toàn ý cúng dường và bố thí.

Còn có một điều mà tôi rất phóng khoáng nữa. Còn nhớ trước kia lúc tôi còn trẻ, chứ không phải là bây giờ, hễ nhìn thấy con gái khóc là tôi lại cảm thấy rất tội nghiệp, nước mắt của con gái đúng là vũ khí đó. Tôi vốn dĩ rất hẹp hòi, đột nhiên trở nên rộng rãi, cho cô ấy tiền và giúp cô ấy. Thế còn nam sinh mà chảy nước mắt thì tôi cảm thấy, chà, làm cái trò gì vậy, chẳng ra dáng đàn ông chút nào, đàn ông mà chảy nước mắt thì chẳng hay lắm, nữ sinh chảy nước mắt thì là vũ khí, rất lợi hại đó, đừng để bị mắc lừa! (cười). Cho nên tôi rất hào phóng, chỉ có hai điều hào phóng này thôi. 

Bây giờ tôi nói với mọi người, cần bố thí, phải hiểu bố thí đó! Bởi vì tiền tài là vật ngoài thân, tất cả những thứ hữu hình đều phải quy về không, một khi bản thân bạn đã đầy đủ rồi thì những thứ khác bạn đều có thể cho người ta, bạn đều có thể bố thí, thậm chí vật trên người cũng có thể bố thí! Chỉ cần có hai thứ thì tôi đều có thể cho người ta, đây chính là một dạng bố thí. Ngoài ra, bạn muốn tu pháp này thì phải có phẩm tính thượng đẳng, bạn không có phẩm tính thượng đẳng thì làm sao tu đây? Nhất định phải như thế, hơn nữa còn phải giữ giới samaya, điểm này là quan trọng nhất. 

Giới samaya chính là mối quan hệ giữa ba bên - Phật, Bồ Tát, Kim Cang Hộ Pháp và Căn bản Thượng sư và bạn, gọi là samaya, đều là sự trói buộc lẫn nhau, có lời thề. Con người hiện đại hầu như là không tuân thủ giới samaya gì cả. Chỉ cần bản thân vui là được, bản thân cảm thấy tốt là được, họ không hiểu thế nào là giữ lời thề, nhưng Mật giáo đặc biệt coi trọng giới samaya. Lời thề giữa ba bên - Thượng sư và Phật, Bồ Tát, Kim Cang Hộ Pháp và hành giả, bạn không thể phá bỏ. Lại còn có một số người quản cả trên đầu Sư Tôn nữa, tôi nói anh coi tôi là Thượng sư là được rồi, bởi vì tôi không bằng anh thì anh quản cả tôi à, đúng không nhỉ?

Cho nên điều này là không được, bạn quy y rồi, bạn nói thân khẩu ý cúng dường, khẩu của bạn phải tán dương, thân thể của bạn phải cúng cho Thượng sư sai khiến, về ý niệm bạn phải cung kính Căn bản Thượng sư, trong giới samaya là như thế, bạn đối với Phật Bồ Tát cũng như thế, cho nên phải tuân thủ 50 quy tắc ứng xử giữa thầy và trò, phải hiểu quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng, quy y Kim cương Thượng sư, phải hiểu giới samaya. Bạn đã thọ Bồ Tát giới chưa? Bạn đã thọ Bồ Tát giới rồi, Thượng sư này thuyết pháp hoặc là Kim cương Thượng sư đến thuyết pháp, bạn đã thọ Bồ Tát giới rồi thì nội trong vòng 50 dặm, bạn đều phải đi nghe pháp, bạn mà không đi là bạn phạm giới, những giới này đều rất quan trọng, trong đó có những lời thề bạn đều phải giữ. Ngoài ra, phải cung kính Căn bản Thượng sư, bởi vì Căn bản Thượng sư là tổng trì của tất cả Phật, pháp, tăng.

Còn nhớ một truyền thuyết về Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, Liên Sư hóa thành hai hóa thân, một là Phổ Ba Kim Cang là thể ánh sáng, một là chính bản thân ngài, cả hai vị cùng bước lên trước, rất nhiều đệ tử của Liên Sư đã nhìn thấy, chà! Phổ Ba Kim Cang rất uy vũ, rất trang nghiêm, rất uy mãnh, thế nên họ liền hỏi Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là Phổ Ba Kim Cang này lai lịch thế nào. Liên Sư liền nói, ngài rất vĩ đại, rất tôn quý, tôn quý giống như Phật. Thế là các đệ tử của Liên Sư đều hướng về Phổ Ba Kim Cang đảnh lễ, chỉ có một người không hướng về Phổ Ba Kim Cang đảnh lễ, người này chính là minh phi của Liên Sư, chính là Phật Mẫu Yeshe Tsogyal, ngài không đảnh lễ Phổ Ba Kim Cang mà lại đảnh lễ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Đảnh lễ xong thì Phổ Ba Kim Cang này liền hóa thành ánh sáng màu xanh lam, đi vào bên trong thân thể của Liên Sư, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ liền hóa thành Phổ Ba Kim Cang, cho nên ở đây có một điều kiện, bạn nhất định phải cung kính Căn bản Thượng sư người truyền pháp cho bạn mà bạn đã quy y. Cho nên ở đây, tất cả đệ tử của Liên Sư đều không có được gia trì của Phổ Ba Kim Cang, chỉ có một mình Phật Mẫu Yeshe Tsogyal là có được gia trì của Phổ Ba Kim Cang.

Sau này thì sao? Sư Tôn đưa đến một vị Phật rất tôn quý. A! Đa Bảo Như Lai ở bên cạnh Sư Tôn, đứng ở bên tay phải của Sư Tôn đây, thế còn bên trái thì thỉnh A Súc Như Lai đến, ngài đứng ở bên trái của Sư Tôn đây. Thế rồi Sư Tôn còn lùi về phía sau. Vậy thì các bạn nhìn thấy. Ôi chao! Là Đa Bảo Như Lai, là A Súc Như Lai, chà! Người bên trái thì bán mạng rập đầu cúi lạy Đa Bảo Như Lai, người bên phải thì bán mạng rập đầu cúi lạy A Súc Như Lai, còn Sư Tôn đứng ở đó thì không có ai rập đầu cúi lạy cả (cười). Một lúc sau thì hồng bao đều đưa cho các vị, mọi người bán mạng cúng dường hai vị Như Lai, là Như  Lai mà, là Phật mà, đúng thế không? Rất khó mọi người mới gặp được Phật, hôm nay có Phật đến, đúng là Như Lai với 32 tướng rất trang nghiêm rồi, kim thân kim sắc đó, có treo lên cũng đẹp hơn tôi, mọi người bán mạng rập đầu cúi lạy, dâng cúng dường, Sư Tôn ở đó, chà! Không có ai rập đầu, cũng không có ai cúng dường, chà! Lần này thì túi rỗng không rồi! (cười) Không đúng đâu, bạn có thể rập đầu với Đa Bảo Như Lai, có thể rập đầu với A Súc Như Lai, nhưng phải lễ bái Căn bản Thượng sư của mình trước đã, rồi sau đó mới lễ bái Đa Bảo Như Lai, lễ bái A Súc Như Lai, cái này là thứ tự, Căn bản Thượng sư là tổng trì của tất cả. 

Ví dụ, sau này tôi giới thiệu, Thượng sư Lí Hạnh Chi này đã khai ngộ đầy xuất sắc, bà ấy cứ im im không nói gì, nhưng là hóa thân của Quan Thế Âm Bồ Tát, có nghìn mắt nghìn tay có thể chiếu kiến tất cả mọi thứ của các bạn, bà ấy có thể giúp các bạn, chà! Mọi người đều bán mạng rập đầu dâng cúng dường, như thế cũng là không đúng. Đầu tiên phải đảnh lễ Căn bản Thượng sư, sau đó mới đảnh lễ Thượng sư Lí Hạnh Chi, phải làm như thế, đây là vấn đề về thứ tự. 

Đại sư Marpa đảnh lễ đàn thành trước, sau đó mới đảnh lễ Naropa, thế là ngài lập tức có chướng ngại, cho nên chúng ta ở đây quy định là Thượng sư Tam Bảo cùng đảnh lễ, như thế thì sẽ tương đối là không có phân biệt, bằng không, dựa theo thứ tự mà nói thì là như vậy. Cho nên tôi thấy khi các bạn cùng đi gặp sư phụ của Sư Tôn, mọi người đều ra sức đảnh lễ sư phụ tôi, dâng cúng dường cho sư phụ tôi, Sư Tôn đứng bên cạnh nhìn, hầy! (cười) Mọi người đều nghĩ đảnh lễ Sư Tôn đã quen rồi mà, Sư Tôn sẽ không so bì đâu, sẽ không nói gì đâu. Bạn bớt đảnh lễ tôi một lần, bạn sẽ phải bù mấy lần, không có đâu. Đảnh lễ không có tác dụng trên thực tế, đây đều là những cảm nhận về mặt tâm linh thông thường mà thôi. Nói một cách chính xác là đảnh lễ Căn bản Thượng sư trước, sau đó mới đảnh lễ sư phụ của thầy, những cái khác thì cứ nhắm mắt làm liều thôi (cười). Chà, cái này là quy tắc đó.

Bạn muốn tu pháp này, nhất định phải nhớ hoằng dương Chân Phật Mật Pháp, chứ không phải là có một số người nói tu một mình, tự mình tu, không đi ra ngoài giảng cũng không hoằng dương Phật pháp. Phải hiểu tinh thần thống nhất, tinh thần thống nhất là cơ sở của tất cả Phật pháp, tinh thần của bạn có thể thống nhất hợp làm một thì bạn có thể hoằng dương Phật pháp, bạn sẽ có thể nhập tam ma địa, tam ma địa là cái gốc của thành tựu, bạn mới có thể đạt thành tựu. Cho nên bạn tu hành phải thu vạn tâm về nhất tâm, nhất tâm hóa thành vô niệm, bạn phải hiểu nhất tâm trước thì mới có thể thật sự có thành tựu tam ma địa.

Trong Mật giáo, trong Hiển giáo tất cả đều như nhau, tất cả đều phải có thành tựu tam ma địa, chính là thành tựu thiền định, cho nên tinh thần nhất định phải thống nhất, phải có tâm từ bi, điều quan trọng nhất của hành giả chúng ta là phải từ bi lục đạo chúng sinh, nhất định phải có tâm từ bi, đối với lục đạo chúng sinh đều phải có.

Cho nên Sư Tôn thường xuyên khuyên giải, thế nào gọi là khuyên giải? Bạn phạm lỗi, Sư Tôn cũng sẽ khuyên giải, bất kể là bạn sai thế nào, tôi sẽ đều có cách khuyên giải, tháo gỡ cho bạn, bất kể là phạm lỗi lớn thế nào cũng đều có cách khuyên giải, cho nên trong Mật giáo, khuyên giải rất quan trọng, nói cách khác là bạn phải hiểu về từ bi, Sư Tôn vì có lòng từ bi, bất kì đệ tử nào bất luận là như thế nào, tất cả đều là đệ tử, không có cái lí là Sư Tôn sẽ bỏ mặc bạn ở ngoài cửa. Chỉ cần bạn cầu sám hối, biết sám hối, tự mình bỏ đi, rồi tự mình lại quay về, đều được, cánh cửa này vẫn mở rộng, mãi mãi hoan nghênh mọi người. Tuyệt đối đừng nói ôi, tôi quay trở lại đây ngại quá! Không sao cả, bạn phạm sai lầm lớn thế nào cũng không hề gì, quay lại là tốt. Một câu này thôi. Bạn bỏ đi, chửi Sư Tôn, đánh Sư Tôn, phỉ báng Sư Tôn, phỉ báng Phật, chửi Phật, làm hại Phật, làm thân Phật chảy máu, thì cũng thế, quay trở về là tốt, một câu nói này thôi, tuyệt đối tôi sẽ không bỏ bạn ở bên ngoài. (mọi người nhiệt liệt vỗ tay)

Đây chính là từ bi, vì thế mọi người phải trưởng dưỡng tâm từ bi của mình, từ bi lục đạo chúng sinh, coi người khác như chính mình, mọi người đều bình đẳng như nhau, đều có thể cứu độ. Bạn có chửi tôi thế nào cũng không hề gì, quay về là tốt, bạn đã làm hại tôi thế nào cũng không sao cả, quay về là tốt.

Có nghiêm trọng thế nào thì chẳng qua cũng giống như cái kia, giống cái gì? Giống như trận động đất lớn ở Kobe mà thôi, cũng không xem là gì cả, đúng không? Dù có nghiêm trọng thế nào cũng chẳng qua là như thế mà thôi, tất cả mọi thứ lại trở lại từ đầu, không có vấn đề gì cả. Hành giả phải có tâm không thối chuyển, phải có tâm không nghi ngờ. Đừng hoài nghi, một chút nghi ngờ cũng không có, phải hiểu thanh tịnh, chúng ta tu hành lấy thanh tịnh làm gốc, tức là nói rằng bản thân bạn có thể thân tâm thanh tịnh. Vô ngại, bạn không hoài nghi pháp mà bản thân Sư Tôn đã giảng, bạn có thể tu, giả như bạn có nghi ngờ thì bạn cứ tạm thời đừng tu, phải có lòng tin không nghi ngờ. 

Tôi còn bảo mọi người, bản thân Sư Tôn có một chút xíu Phật mạn, thế nào gọi là Phật mạn? Cái chữ “mạn” này [mạn trong từ ngạo mạn], vốn dĩ là một khuyết điểm, nhưng cũng có lẽ là một ưu điểm, cái này là khuyết điểm hay ưu điểm thì cũng rất khó nói. Bản thân Sư Tôn mà nói thì mặc dù có lòng từ bi, nhưng có một chút Phật mạn, Phật mạn ở đây tức là kiêu ngạo, vì sao lại như vậy? Bởi vì bản thân tôi cảm thấy như thế này, trong cuộc đời này của tôi, chính cuộc đời này, thành tựu của tôi là phi phàm (mọi người vỗ tay), tôi không phải phàm phu đâu, tôi nói để bạn biết, bạn thấy tôi là đàn ông, tôi thấy bạn là phụ nữ, nhưng tôi không phải là đàn ông bình thường đâu!

Có đệ tử nói, ấy, Sư Tôn này, tuổi tác đã không còn trẻ nữa, trông vừa già vừa xấu, bạn thấy tôi vừa già vừa xấu, nhưng tôi rất kiêu ngạo đó, bạn đừng có thấy tôi trông chẳng ra gì, lùn lùn béo béo (cười), ôi, có là gì chứ. Coi tôi là thế nào đây? Tôi là nam sinh trong số nam sinh đó! (cười) Người ta nói là đàn ông trong số đàn ông nhỉ! Tôi nói để bạn biết, có người nói, ôi dào, Sư Tôn vừa già vừa xấu, vừa lùn vừa béo, làm gì có ai yêu chứ (cười). Sư Tôn là đàn ông trong số đàn ông đó! Pháp mà tôi tu luyện được đích thực là siêu phàm, đương nhiên rồi! Các bạn nhìn từ bên ngoài, thấy Sư Tôn trông như thế này, nhưng các bạn không biết năng lực nội tại của Sư Tôn có thể hợp nhất với vũ trụ. Bất kể là hữu hình hay vô hình, thứ hữu hình cũng thế, thứ vô hình cũng thế. 

Thành tựu tu hành của tôi hôm nay, tôi không thể nói rằng trên thế giới Ta Bà này tôi là số một, tôi không thể nói như vậy, nhưng chí ít tôi là một trong những người số một đó! Các bạn nghĩ rằng, ôi dào, có pháp gì đâu, trông ông ấy cũng bình thường thôi, chúng ta hà tất phải quy y ông ấy, hà tất phải học pháp của ông ấy, có bao nhiêu đạo tràng khác, những người đầu trọc rất nhiều, những cái đầu củ cải ấy, rất nhiều người đầu trọc, chúng ta cần gì phải đi, tìm bừa một người bạn có thể quy y mà đi học Phật pháp thôi. Điều bạn không hiểu là, mùi vị khác nhau đó! Mùi vị bên trong là khác nhau đó! Sư Tôn của các bạn là trong ngoài đều có thành tựu đó. (mọi người nhiệt liệt vỗ tay)

Không được có suy nghĩ nghi ngờ, không được hoài nghi nói rằng Sư Tôn xem ra chỉ có như thế này thôi, ông ấy cũng ăn ba bữa cơm giống như chúng ta vậy, đi lại thì trông như quả bóng vậy, bạn không hiểu rằng tôi là đàn ông trong số đàn ông đó, không thể có suy nghĩ ngờ vực, bạn không được hoài nghi. 

Tôi nói đơn giản bằng một vài ví dụ là được rồi. Trang Nghiêm Đường ở Đài Loan của chúng ta có Thượng sư Thái Tùng Hùng, mấy ngày trước ông ấy đã tạ thế rồi đúng không? Mọi người còn nhớ lúc ở Đài Loan không? Tôi đều đi giúp ông ấy, tôi nói để bạn biết nhé, khi Thượng sư Thái còn chưa đi, tôi đích thân đến bệnh viện để làm pháp Quang uẩn thiên thức [dịch chuyển thần thức] cho ông ấy, phong kín lại hết mắt, tai, miệng, mũi, rốn, bao gồm cả chỗ bí mật, phong kín hết những chỗ mà thần thức của ông ấy có thể chạy đến được, chỉ còn lại một nơi có thể chạy ra, đó chính là cái lỗ thủng để vãng sinh, tôi giúp ông ấy mở cái lỗ đó ra, thần thức không còn lỗ nào khác để đi ra thì ông ấy nhất định sẽ vãng sinh (mọi người vỗ tay). Dùng pháp Quang uẩn thiên thức để phong kín tất cả các lỗ mà thần thức có thể đi ra, chỉ còn mở cái lỗ để vãng sinh thôi, để ông ấy đi, ông ấy rất có phúc báo đó.

Mấy ngày trước khi ông ấy đi, tôi còn đích thân gửi hoa sen tặng ông ấy (mọi người nhiệt liệt vỗ tay), để ông ấy ngồi, bạn có biết không? Thượng sư Thái trèo lên hoa sen của tôi xong thì ông ấy còn ngồi không vững nữa, ông ấy chảy nước mắt nói: “Tôi không muốn đi.” Tôi nói: “Đến lúc nên đi rồi!” Tôi đưa hoa sen cho ông ấy, ông ấy còn nhảy xuống khỏi hoa sen nữa (mọi người cười). Tôi lại bắt ông ấy lên, ông ấy lại nhảy xuống, liên tục ba lần như thế, ông ấy không đi, tôi chẳng còn cách nào khác nên bỏ về. Tôi biết phương pháp, thế là tôi buộc hai sợi dây thừng kim cang vào cánh hoa sen. Muốn độ chúng sinh rất khó khăn, lại còn phải buộc hai sợi thừng kim cang nữa, lần này thì đi rồi! Tôi mới bảo: Hầy! Thượng sư Thái nên đi thôi. Tôi nói, cái ghế ngồi này rất tốt, ông ngồi lên mà xem, rất mềm rất thoải mái đó. Ông ấy nói để ngồi xem sao. Vừa ngồi lên thì tôi dùng sợi thừng kim cang trói chặt hai chân ông ấy lại. Muốn độ chúng sinh mới khó làm sao! Thân thể của ông ấy đã hỏng hết cả rồi còn không đi, cái ngôi nhà [thân thể] đó đã sụp rồi, không đi không được, thế mà vẫn phải đưa ông ấy đi bằng cách đó, bạn thử hỏi ông ấy mà xem Sư Tôn có gửi tặng hoa sen cho ông ấy không (mọi người cười). Không thể hỏi ông ấy! Hỏi người nhà của ông ấy xem, Sư Tôn có nói rằng Sư Tôn tặng hoa sen cho ông ấy không, ông ấy không đi, hãy hỏi người nhà của ông ấy thì biết. Ôi chao! Độ chúng sinh rất khó đó. Sư Tôn là người có sức mạnh, không phải là không có, có sức mạnh vô hình, có sức mạnh hữu hình, nhưng bạn không nhìn được cái vô hình đâu.

Lại lấy một ví dụ nữa nhé! Chính là của một người hiện đang ở đây, mẹ của pháp sư Huệ Quân, tụy của bà ấy bị viêm, còn bị cả sỏi mật nữa, rất đau đớn, tôi thỉnh Kim Cang Thần để tu pháp giúp cho bà ấy, đây là pháp rất lớn, tôi thật sự đã tu pháp, tôi nói với pháp sư Huệ Quân: “Tôi đã tu pháp rồi.” Thế còn bác sĩ vừa gây mê cho bà mẹ thì bà ấy đã lập tức nhìn thấy Sư Tôn ở bên cạnh gia trì cho bà ấy. Bà mẹ ở Đài Bắc, tôi ở Seattle, tôi không hề trở về. Bà mẹ gọi điện cho pháp sư Huệ Quân nói rằng: “Nhìn thấy Lư Sư Tôn đứng bên cạnh gia trì cho mẹ.” (Sư Tôn hỏi Huệ Quân) Có chuyện này không? (Pháp sư Huệ Quân đáp: Có.) (mọi người vỗ tay)

Có, đích thực có chuyện này, chỉ cần tu pháp nhất định sẽ tương ứng. Sức mạnh hữu hình và sức mạnh vô hình này, nói về việc có thể cứu và không thể cứu, vì sao có người có thể cứu, có người không thể cứu? Thật ra là nghiệp chướng của bạn đã đến thì tôi sẽ tiếp dẫn bạn đi, nghiệp chưa đến thì tôi giúp bạn cứu, có người nghiệp nặng, có người nghiệp nhẹ, sẽ có một ngày cái thân thể này của Sư Tôn cũng sẽ hỏng, mặc dù tôi muốn giữ cho nó trẻ trung, phải biết môn học dưỡng sinh. Nhưng có một ngày tôi cũng phải đi, cũng phải hư hoại, duyên phận của thế gian này đã hết rồi, thì nhục thân của mình cũng sẽ hiển hiện sự hư hoại, rồi cũng sẽ đi.

Cho nên đây là duyên phận của chúng ta. Duyên phận của tôi với thế gian đã hết, cho nên tôi cần phải đi thôi, bởi vì duyên phận với thế gian của Thượng sư Thái đã hết, cho nên ông ấy cần phải đi. Có một số người chưa cần phải đi, Sư Tôn sẽ hiển hóa để giúp họ cứu chữa, ở đây cần phải có một lòng tin không nghi ngờ, bạn muốn tu pháp này thì cũng như thế. Tu pháp này không thể thối lùi đạo tâm, rất nhiều người tín tâm không đủ đều sẽ thối lùi đạo tâm. Trên thực tế, Mật giáo là chân lí của vũ trụ, cái chân lí vũ trụ này thật sự là vô cùng vĩ đại, vô cùng siêu nhiên, không nên có tâm thối lùi, cũng không nên gián đoạn tu hành, trên đời còn có việc gì quan trọng hơn tu hành chứ!

Tiếp nữa, bản thân ngài là hiển hóa của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, bạn muốn tu pháp này, niệm đủ 100.000 biến Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát tâm chú: “Om arapachana di.” Bằng không thì nhất định phải tu Diêm Ma La (tức Diêm Ma Thiên), bạn tu được tương ứng rồi, bởi vì ngài đã từng hàng phục Diêm Ma La, cho nên ở bên trên có Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, ở dưới có Diêm Ma Thiên, bạn tương ứng với Diêm Ma Thiên rồi thì bạn mới có thể tu pháp Đại Uy Đức Kim Cang. Ngoài ra, quán đảnh có thứ tự. Bạn tương ứng tứ gia hành rồi, tương ứng được với pháp Thượng sư tương ứng rồi, tương ứng với pháp Bổn tôn rồi, thì Nội pháp cũng tương ứng rồi, thế thì tiếp theo bạn tu pháp Đại Uy Đức Kim Cang, thế thì bạn sẽ nhanh chóng tương ứng. Bằng không, bạn cũng có thể trì chú Đại Uy Đức Kim Cang. Thế còn pháp tu thì sao? Bạn hãy từ từ chờ một chút, đợt đến khi những pháp khác tương ứng rồi thì bạn mới lại tu.

Còn nữa, chưa được quán đảnh thì không được tu, tôi nói với mọi người rồi đó. Bạn chưa được quán đảnh thì tuyệt đối không được tu, nhất định phải quán đảnh rồi mới có thể tu. Thượng sư của tông phái chúng ta muốn đi quán đảnh cho người ta, Căn bản Thượng sư đã quán đảnh cho bạn rồi, bạn muốn quán đảnh cho đệ tử thì được. Nhưng nhất định là bạn đã phải tương ứng rồi thì bạn mới có thể đi quán đảnh cho người ta. Bạn biết rằng Đại Uy Đức Kim Cang đã ở trên đầu bảo vệ cho bạn rồi, bản thân bạn có thể biến hóa thành Đại Uy Đức Kim Cang rồi thì bạn mới có thể đi quán đảnh cho người ta, nói như vậy bạn đã hiểu chưa? Tất cả các Thượng sư phải ghi nhớ, bạn tự mình xác nhận đã tương ứng với Đại Uy Đức Kim Cang rồi, ngài có thể dung nhập cùng bạn hợp nhất rồi, biết rằng Đại Uy Đức Kim Cang mọi lúc đều ở bên bạn, thì có thể đi quán đảnh cho người khác, bằng không thì tốt hơn vẫn là đừng làm, đây là thứ tự của quán đảnh.

Nhưng khi treo bức thangka Đại Uy Đức Kim Cang trên đầu giường tôi, ngày hôm đó khi tôi luyện kim cang quyền, đột nhiên Đại Uy Đức Kim Cang giáng xuống đàn thành, ngài lập tức giáng lâm, chà! Vô cùng uy võ, dời núi lật biển, dường như khiến cho nước biển đều cuồn cuồn dâng lên. Bạn biết Đại Uy Đức Kim Cang là sừng trâu nước mà, ngài có thể đi vào nước, vì ngài đi vào trong biển lớn, sau đó toàn bộ nước biển đều cuộn xoáy, cảnh giới ấy nói đơn giản là bất khả tư nghì, rất khó tưởng tượng, thời khắc ấy tôi mới biết, thì ra Đại Uy Đức Kim Cang là Hộ pháp căn bản của tôi. (mọi người vỗ tay)

Từ đó về sau, tôi cũng luyện thành tựu thân kim cang bất hoại càng kiên cố hơn, tôi đánh kim cang quyền, luyện khí, luyện thành kim cang bất hoại, rất uy mãnh. Vị Đại Uy Đức Kim Cang này ngay cả khi tôi giảng “Mật tông đạo thứ đệ quảng luận” ngài cũng đến hộ trì, giảng kinh Viên Giác ngài cũng đến hộ trì.

Nói ngoài lề với mọi người một chút, Sư Tôn giảng kinh Viên Giác và “Mật tông đạo thứ đệ quảng luận” đều có băng ghi hình, rất trân quý, kinh Viên Giác là “con mắt trời người”, Phật Thích Ca Mâu Ni giảng, dường như mọi tinh hoa đều cô đọng lại trong kinh Viên Giác. Cho nên mọi người phải xem băng ghi hình Sư Tôn giảng, phải thỉnh về nhà mà xem, Lôi Tạng Tự đang bán đó.

Ngoài ra, “Mật tông đạo thứ đệ quảng luận” đã giảng được 1/3 rồi, có 39 cuốn băng ghi hình, 39 cuốn băng ghi hình mà mới giảng được có 1/3, hi vọng mọi người thỉnh về nhà xem, “Mật tông đạo thứ đệ quảng luận” là tổ sư Tsongkhapa giảng, do Đại Uy Đức Kim Cang hộ trì càng bộ kinh này.

Bây giờ giảng đến khẩu quyết tu pháp trọng yếu. Có rất nhiều người hỏi Sư Tôn là phải cúng dường cái gì. Bởi vì Đại Uy Đức Kim Cang hiện hình trâu, bạn hãy cúng dường cỏ nuôi súc vật, và những cúng phẩm bình thường là hương, hoa, đèn, trà, quả, bạn nhất định phải cúng. Sau đó, ngài còn có cúng phẩm đặc thù nữa, bởi vì cúng phẩm đặc thù cho các vị phẫn nộ là khác nhau, lần này cũng coi như là công khai một khẩu quyết, cúng phẩm có khác biệt, hi vọng mọi người đừng cảm thấy buồn nôn, đồ cúng dường khác nhau, Mật giáo thật sự là không giống như bình thường, phải cúng năm loại cam lộ và năm loại thịt, đây là cúng phẩm đặc biệt.

Trước kia có Thượng sư hỏi tôi rằng: Ôi dà! Các vị thấy năm loại cam lộ rất tốt, thế thì phải cúng năm loại cam lộ, xin hỏi Sư Tôn năm loại cam lộ là gì. Tôi nói sau này tôi sẽ nói nhé! Bây giờ không tiện nói. Hôm nay tôi sẽ nói với mọi người năm loại cam lộ là gì. Năm loại: một là phân, hai là nước tiểu, ba là nước mũi, vậy là phân, nước tiểu, nước mũi, ngoài ra còn có tinh dịch của đàn ông, kinh nguyệt của phụ nữ, năm loại này chính là năm loại cam lộ.

Nói chung là như vậy đó. Nhưng tôi nói với bạn, lấy kinh nguyệt thì tốt nhất là lần có kinh đầu tiên của trinh nữ, trước kia điều này không tiện nói ra. Ví dụ, ở cạnh Lôi Tạng Tự có nhà của một người họ Hồng, mỗi khi người ta hỏi ông ấy là ông họ gì, ông ấy liền nói, một tháng đến một lần. Nói thật là ông ấy nói kiểu này thì tôi nghe thật sự không hiểu, cái gì mà một tháng đến một lần. Ôi chao! Cuối cùng có một ngày tôi đã hiểu ra rồi, chà, một tháng đến một lần, họ Hồng, ông Hồng [chữ Hồng trong từ hồng thủy, nghĩa là nước lũ]. Nhất định phải là loại tốt nhất, chính là lần đầu tiên của phụ nữ, đó là trân quý nhất. Thứ đó cần giữ lại, đó là một trong năm loại cam lộ.

Ngoài ra, họ nói là phân, nước tiểu, nước mũi, tốt nhất là đều lấy của *children** [trẻ em]*, chính là trẻ em đó, trẻ con chưa lớn, trẻ em rất nhỏ, như vậy thì tương đối thuần, tức là tương đối không nặng mùi. Nước tiểu thì có thể nhiều một chút, còn phân thì chỉ một chút xíu thôi, nước mũi cũng thế, sáng sớm thường xì mũi mà! Bạn lấy ra một ít.

Vì sao đây lại là năm loại cam lộ, tôi nói để bạn biết nhé, trên thế giới, trong con mắt của Phật, không có gì là thơm, không có gì là thối, thơm thối đều nhất loại như nhau, bẩn nhất cũng là thanh tịnh nhất. Mật giáo không giống những thứ bình thường, Mật giáo chính là một sự bình đẳng, là một tôn giáo rất siêu nhiên rất siêu việt, nó không giống bình thường. Cúng Phật Bồ Tát bạn dùng những thứ thối nhất để cúng thì cũng có thể biến thành thứ thanh tịnh nhất. Tôi không tin những thứ các bạn ăn là thanh tịnh nhất, những cái các bạn ăn cũng là rất *YUCK **[kinh tởm]*, rất bẩn. Con người trên thế giới ăn toàn là những thứ bẩn, nhưng những thứ bẩn cũng là thanh tịnh nhất.

Trước kia có một hòa thượng đã khai ngộ như thế nào nhỉ? Ở trong chùa ông ấy nhìn thấy rất nhiều đại hòa thượng ăn to uống lớn, chà! Ăn rất nhiều những thứ đầy đủ sắc, hương, vị tuyệt vời. Một lúc sau thì bụng họ khó chịu, thế là chạy chạy chạy, đi tới chỗ đó ngồi xuống một cái, ư…ư…ưn…. Hai con mắt trợn lên, choa, loáng một cái là thoải mái rồi, nhẹ nhõm bước ra ngoài, lúc chạy đi thì rất khẩn trương, phải ôm bụng mà chạy, chạy tới chỗ đó thì ngồi xổm xuống. Tiểu hòa thượng kia nói, ối giời ơi, sư phụ ta vừa mới ăn những thứ rất ngon, đầy hương vị, rất thơm đó, nước canh rất thơm cơ mà! Không biết là ăn cái gì mới đúng. Hòa thượng đó cũng đi tới xem xem người kia bài tiết ra cái gì, ôi chao! Sao mà thối thế này! Kiểu gì thế này, những thứ ban nãy ăn vào thơm như thế, sao bây giờ lại biến thành thối như thế này! Ôi, liệu có vấn đề gì không? Ta ăn thử xem sao, thế là cầm lên ăn thử, bên cạnh có một người ăn xin già đắc đạo liền vỗ vai anh ta, nói với tiểu hòa thượng đó rằng: “Cậu khai ngộ rồi.”

Phải hiểu đó, thơm và thối là bình đẳng, bạn ăn đồ càng thơm thì bạn thải ra càng thối đó, những thứ càng thối thì bạn càng nấu càng thơm đó! Thơm và thối nằm trong sự tuần hoàn đó, cái thối sẽ biến thành cái thơm, cái thơm sẽ biến thành cái thối, bạn có thể hiểu được đạo lí này thì sẽ không cảm thấy *YUCK* nữa. 

Cúng Phật không sao cả, đại tiện, tiểu tiện, nước mũi, tinh, huyết, năm loại cam lộ, đặt trong đầu lâu thiên linh cái cúng Phật, tu pháp này có cúng phẩm đặc biệt, những thứ này chính là cúng phẩm. Tôi vừa mới nói về năm loại cam lộ cúng Phật, ngoài ra bạn lấy những thứ ấy của trẻ con là được, những cái khác bạn không cần lấy, thật ra không có quy định, bạn muốn lấy, lấy cái gì đây? Lấy của Khổng Phu Tử ấy! Thế nào là Khổng Phu Tử Thánh nhân, ông ấy rất thần thánh, bạn lấy của ông ấy, lấy đại tiện, tiểu tiện, nước mũi của ông ấy, hoặc là lấy những thứ đó của hành giả đã khai ngộ. Ồ! Không được nói điều này, không thì tôi sẽ bị đòi mãi thôi.

Các bạn không biết rằng, trước kia người Tạng nhìn thấy một đại đức đã khai ngộ kia bế quan trong nhà, thế là họ bày rất nhiều bình lọ ở bên ngoài cửa nhà ông ấy, chính là để cho ông ấy đại tiểu tiện vào đó, vãi một ít vào đó, những người Tạng đó họ lại đem về nhà xem như bảo bối đó, họ cho rằng cái này chính là năm loại cam lộ, sau này có thể bán được. Phải lấy năm thứ cam lộ của Thánh nhân, của *baby **[em bé]**,* và trinh nữ, đây là những cúng phẩm đặc thù. Cái này sẽ dễ tương ứng.

Không có thì phải làm sao? Cũng có cách. Còn có năm loại thịt, phải cúng năm loại thịt. Năm loại thịt này bây giờ cũng rất khó kiếm. Ở đây phải dùng thịt trâu, thịt chó, thịt ngựa, thịt voi, thịt người! Oa! Giống như vị đại nương trong truyện Thủy Hử bán bánh bao nhân thịt người, muốn chúng ta làm Lục Lâm hảo hán đây mà! Thịt người rất khó kiếm, nhưng cũng rất đơn giản thôi mà! Bạn chỉ cần tìm đến bác sĩ xét nghiệm trong bệnh viện thì kiểu gì cũng được.

Năm loại thịt chính là thịt trâu, thịt chó, thịt ngựa, thịt voi, thịt người. Thịt voi cũng rất khó kiếm, bây giờ voi rất hiếm, hiệp hội bảo vệ động vật, bạn nói lấy một ít thịt voi thì người ta đều muốn bắt bạn đó, thịt voi cũng rất khó kiếm. Còn thịt chó, bạn ở Mĩ mà giết chó thì sẽ bị tố cáo đó, cái này cũng không thể. Thế còn thịt trâu thì cũng dễ kiếm, thịt ngựa cũng có, các loại thịt khác là thịt chó, thịt voi, thịt người, đây chính là năm loại thịt. Còn nếu không có thì dùng quán tưởng, thật ra phải như thế này thì mới tương đối dễ tương ứng.

Lại dùng đầu lâu của người để đựng năm loại thịt. Người Tạng thích nhất là dùng cái này, hơn nữa  phải dùng đầu lâu của người ngu nhất để làm thiên linh cái nữa, nếu mà não quá thông minh thì đã bị dùng hết sạch rồi, dùng hết sạch rồi thì không còn tác dụng gì nữa, trong khi não của người ngu ngu, đần đần thì mới có tác dụng, bởi vì các nếp nhăn trên não vẫn chưa dùng đến. Ví dụ như não của Sư Tôn là các bạn không dùng được, bạn dùng cũng không có tác dụng gì, não tôi đều đã dùng hết sạch rồi, đúng không? Cho nên họ quy định, dùng đầu lâu của người ngu nhất để đựng. Hơn nữa họ còn có quy định là bạn phải dùng khi muốn tu pháp nào đó. Ví dụ khi dùng để tu pháp hàng phục thì phải dùng đầu lâu của phụ nữ. Làm sao phân biệt được đầu lâu của phụ nữ hay đàn ông chứ! Dùng lưỡi liếm là biết thôi, dùng lưỡi liếm, nếu thô ráp, sẽ bị đứt lưỡi, thì đó nhất định là đầu lâu của nam, trơn mịn thì là đầu lâu của nữ. Làm sao Sư Tôn biết được những điều này, đương nhiên biết chứ, tôi được truyền pháp mà! Tôi được chân truyền mà! Vâng, thiên linh cái này phải là của người ngu, não của họ vẫn chưa dùng đến, cho nên sẽ rất hữu dụng.

Ban đầu, khi muốn tu pháp, phải ngồi quay lưng về hướng bắc mặt quay về hướng nam, nếu bạn không thể chuẩn bị đầy đủ các món cúng dường thì trọng điểm là dùng quán tưởng, ví dụ thịt chó, quán tưởng một con chó, như thế cũng được, coi như là dùng thịt chó để cúng dường. Quán tưởng voi cúng dường, quán tưởng người cúng dường, năm loại thịt như thế là có thể đầy đủ. Còn như máu thì các bạn cũng có thể dùng quán tưởng, đại tiện, tiểu tiện, nước mũi, nếu như các bạn thấy sao sao đó thì cũng có thể dùng quán tưởng được. Bằng không thì bạn hãy cứ theo thực tế cúng dường mà làm thì sẽ dễ tương ứng hơn.

Lần đầu tiên tu pháp, bắt đầu vào giờ Tí, giờ Tí là từ 11 giờ tối đến 1 giờ sáng là lần đầu tiên khai đàn tu pháp, chọn giờ Tí. Bây giờ tôi lại muốn nói một trọng điểm nữa. Trước khi bạn muốn tu pháp thì đến nhà hỏa thiêu, không phải là khi tu pháp thì đi đến nhà hỏa thiêu, bởi vì ở trong nhà hỏa thiêu có rất nhiều tro xương người còn lại sau khi hỏa thiêu, xin một ít về, tôi biết có chuyện này. Nhà hỏa thiêu cũng có lọc ra những xương đó, người nhặt xương sẽ để lại những tro xương, bạn ở lại một lúc là có, chấm một ít tro cốt bôi lên trán mình, giả sử bạn muốn tương ứng nhanh hơn thì hãy bôi tro cốt lên khắp người mình, thế thì càng dễ tương ứng. Bạn sợ tro cốt của người chết thì bạn chấm một ít, bôi lên trán, đây là một điểm quan trọng, cũng là khẩu quyết.

Người xuất gia tu pháp này phải đội tóc giả. Những sư đầu trọc các bạn ở đây đều vui rồi, có khi nào sau này có thể đội tóc giả đi ra ngoài rồi nói là tôi đang tu Đại Uy Đức không? Không được đâu, không được đội tóc giả rồi đi ngoài đường, khi tu pháp mới đội, bởi vì muốn tương ứng, bởi vì tóc của Đại Uy Đức Kim Cang là dựng thẳng lên, vì muốn tương ứng, bạn không thể để đầu trọc, đầu trọc thì không giống Đại Uy Đức Kim Cang rồi, bạn nhất định phải có tóc thì mới giống.

Cho nên khi bạn tu pháp này có thể mua một bộ tóc giả để đội, bình thường thì không được đội để đi ra ngoài đâu! Bạn đi tới hộp đêm nhảy múa, đi hát karaoke bạn đều đội tóc giả, không có cái kiểu đấy đâu nhé! Cũng không được phép thường xuyên đi hát karaoke đâu. Trong số các đệ tử chúng ta, thường xuyên có người mặc âu phục đẹp đẽ đi hát karaoke đó. Bình thường mà ăn mặc như vậy thì không được. Tu pháp cũng thế, đây là khẩu quyết rất quan trọng.

Tôi nói với mọi người những khẩu quyết này là rất bí mật đó. Trước kia tôi đã từng nói với mọi người rồi, mỗi lần chúng ta tu pháp đều có tiền hành, có chính hành, có hậu hành. Tiền hành mục một đến bảy đều là tiền hành, làm đại lễ bái này, đại cúng dường, tứ quy y, tứ vô lượng tâm này, mặc bia giáp hộ thân này, niệm kinh chú này, triệu thỉnh này, những cái này đều thuộc về tiền hành.

Thế còn chính hành thì sao? Chính là quán tưởng, trì chú, nhập tam ma địa, cái này thuộc về chính hành. Thế còn hậu hành thì sao, chính là tụng kinh, tán dương, hồi hướng, tụng tán và hồi hướng chính là hậu hành, mỗi một đàn pháp đều có tiền hành, chính hành, còn có hậu hành nữa, cái này đều rất quan trọng đó. Trọng điểm nằm ở chính hành, tôi nói với mọi người: Đại Uy Đức Kim Cang căn bản ấn (Sư Tôn kết thủ ấn) (nội phộc, hai ngón giữa dựng thẳng hướng lên trời).

Được rồi, khi muốn làm quán tưởng, trì chú, nhập tam ma địa, đầu tiên phải kết ấn Đại Uy Đức Kim Cang căn bản, niệm chú Đại Uy Đức Kim Cang. Thế còn khi quán tưởng thì quán tưởng như thế nào? Tôi nói với mọi người, khi xưa sư phụ truyền cho tôi cách quán tưởng, không giống với quán tưởng bình thường, vì sao vậy? Trên phương diện quán tưởng của người Tạng thì rất rườm rà, họ làm đủ thứ gia trì đều phải quán tưởng, làm đủ mọi nghi thức đều phải quán tưởng, quán tưởng rất nhiều, đôi khi chúng ta học không xuể, cho nên Sư Tôn tinh giản đi. Ngày xưa sư phụ cũng dạy tôi, nói rằng anh làm quán tưởng chủ yếu nhất là được rồi. 

Quán tưởng toàn bộ hư không vạn sự vạn vật đều là màu xanh lam, toàn bộ màu xanh lam này đều hít vào trong thân thể bạn, sau đó thu toàn bộ màu xanh lam trong thân thể bạn lại thành một chữ Hum (tiếng Phạn) màu xanh lam ở vùng tim, chữ Hum trong Om Ah Hum. 


![image](/img/img_6ae13ff5b69b366e49807932809cb137.png)


Cái đuôi của chữ Hum bắt đầu thu về, tức là dần dần biến mất. 


![image](/img/img_62b5f6898fdc041f5f4d769893d80a54.png)



![image](/img/img_6d143e8788a33291bebc814487d59381.png)


Biến mất.


![image](/img/img_39fc143992287f6ed9ea9c9c4fba1d70.png)


Biến mất đến khi chỉ còn nguyệt luân. 


![image](/img/img_a5731ae081e4607abc4658933fc2ed26.png)


Nguyệt luân đến một điểm cũng không còn nữa.


![image](/img/img_24d811adb424787163a941a332219b70.png)


Tất cả đều biến mất. 

Quán tưởng cái này rất dễ. Tất cả đều là màu xanh lam, thu về chính mình đều là màu lam, rồi lại xuất hiện, thu về chữ Hum màu xanh làm ở vùng tim, rồi phần dưới chữ Hum lại dần dần biến mất, cho đến khi không còn một điểm nào nữa, biến mất hết, đây chính là hóa thành không, tiến nhập không cảnh. Niệm chú: Om subawa suda saerwa daerma subawa sutohang. Đây chính là chú quán Không. Tất cả đều quy về không hết. Cái gọi là không, bạn có thể thường xuyên làm quán tưởng này thì sẽ tiến nhập tính Không.

Sau đó lại quay ngược lại, lại từ trong hư không quán tưởng xuất hiện một chữ Hum màu lam, khi chữ Hum màu lam này xuất hiện thì cũng bắt đầu từ một điểm, sau đó là xuất hiện nguyệt luân, tiếp theo là một chữ Hum xuất hiện, một chữ Hum hoàn chỉnh xuất hiện, thế rồi từ chữ Hum màu xanh lam lại chuyển hóa, chuyển hóa thành cái gì? Chuyển hóa thành Đại Uy Đức Kim Cang, từ chữ Hum màu lam này chuyển hóa thành Đại Uy Đức Kim Cang, cũng chính là ban đầu chính bạn tiến nhập vào trong tính Không, rồi lại từ trong tính Không tái xuất hiện, lại chuyển biến chính mình thành Đại Uy Đức Kim Cang, chính mình biến thành Đại Uy Đức Kim Cang, trong sát-na, từ chữ Hum màu xanh lam biến thành Đại Uy Đức Kim Cang. Lúc này bạn phải bắt đầu quán tưởng Đại Uy Đức Kim Cang, đừng quán tưởng nhiều tay nhiều chân, một mặt hai tay hai chân là được rồi, vị chủ yếu nhất chỉ có một khuôn mặt, hai cánh tay, hai chân. Một mặt hai tay. Thế còn chân thì sao? Chân trái duỗi chân phải cong, giống như cung trước tên sau của chúng ta vậy, chân phải ở trước thì cong, chân trái thì duỗi thẳng, sau đó tay phải cầm dao cong. 

Ban đầu tôi nghĩ là cầm dao cong ra cho mọi người xem, nếu mọi người nhìn vào thangka này, nhìn vào kim thân của ngài thì sẽ biết thế nào là dao cong, có hơi giống hình cái rìu.

Thế còn tay trái thì sao? Tay trái cầm thiên linh cái, tay phải cầm dao cong, ngài hiện ra đầu trâu, đứng trên tòa hoa sen, có ba con mắt, hiện lên tướng phẫn nộ. Tóc thì dựng thẳng đứng, miệng há rộng, lưỡi thè ra, là Đại Uy Đức Kim Cang tướng phẫn nộ. Các bạn hãy quan sát tỉ mỉ tướng Đại Uy Đức Kim Cang có một mặt hai tay, chân đứng ra sao, quán tưởng hình tướng của ngài là đầu trâu ba mắt, miệng há rộng, lưỡi thè ra, hiện tướng phẫn nộ, có sừng trâu, tóc thì dựng đứng.

Đại Uy Đức Kim Cang chân chính, nói chung ngài có hiển hóa ra hình tướng có 9 mặt, có 34 cánh tay, có 16 chân, dưới chân ngài dẫm lên Đại Tự Tại Thiên! Dẫm lên la sát, dẫm lên ma vương. Quán tưởng tướng của ngài: đầu trâu ba mắt, miệng há to, lưỡi thè ra ngoài, hiện tướng phẫn nộ, có sừng trâu, tóc dựng đứng lên.

Tạo hình thông thường là như vậy, có đơn thân, và tướng Đại Uy Đức Kim Cang cũng có song thân nữa. Chúng ta dạy thì đều là vị đơn thân, vị song thân thì thuộc về Mật truyền. Tướng Đại Uy Đức Kim Cang song thân, minh phi của ngài gọi là Kim Cang Khởi, cũng chính là Diệu Âm Thiên Nữ. Liên quan đến bộ phận song vận của Đại Uy Đức Kim Cang thì thuộc về Vô thượng mật bộ, là phạm vi của mật truyền, nói cách khác là phạm vi của giáng, đề, trì, tán, tứ hỉ, tứ không. Tứ hỉ này chính là từ vị trí giữa trán này, chính là là chỗ hoa sen nghìn cánh ở đây, nước nhỏ xuống, đi qua họng, sơ hỉ, nhị hỉ, đến tim, tam hỉ, đến tề luân, cứ thế đi xuống dưới là tứ hỉ, đến tứ hỉ thì chuyển hóa thành bốn loại không, cái này thuộc về phạm vi của Mật giáo song vận. Sau này thì cái thuộc về Vô thượng mật bộ sẽ truyền sau, cái này thuộc về bộ phận mật truyền.

Chúng ta trì chú, niệm chú ngữ, đến khi bạn quán tưởng rõ ràng rồi, bắt đầu trì chú, khi trì chú, chú ngữ này cũng rất bí mật, khác hoàn toàn với chú ngữ ở bên ngoài, hoàn toàn không giống, bởi vì chú ngữ mà sư phụ đã truyền cho tôi chính là chú ngữ mật truyền, là chú ngữ do chính sư phụ khẩu truyền, đây mới xem là chú của truyền thừa Chân Phật Tông, nó hoàn toàn khác.

Tôi niệm một lần cho mọi người nghe: “Om chuli kalalupa hum khan soha.” Đây là chú ngữ truyền thừa của chúng ta, khác hoàn toàn với chú ngữ được truyền ở bên ngoài. Đây là chú ngữ mà trước đây sư phụ đã truyền cho tôi, đây là chú ngữ truyền thừa, bạn đừng có quản người ta niệm thế nào, Tạng mật ở bên ngoài niệm thế nào, Đông mật niệm thế nào, ai niệm thế nào chúng ta không quản, chú ngữ truyền thừa của Chân Phật Tông chúng ta thì niệm như thế. “Om chuli kalalupa hum khan soha.” Chính là chú ngữ này, cho nên bạn nói, ôi dào, chú mà Sư Tôn niệm đại khái là không được, sao lại như thế chứ! Tôi nói để bạn biết, chú mà Sư Tôn niệm chính là chú ngữ truyền thừa, đây là điều tôn quý nhất. Được rồi! Hôm nay đã giảng nửa phần đầu, còn nửa phần sau nữa, ngày mai sẽ nói tiếp với mọi người.

Om mani padme hum!


### 23. Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật đích thân truyền Đại Uy Đức Kim Cang bất cộng pháp (2)


Hôm nay, trước khi bắt đầu, tôi cũng thỉnh cầu các thế hệ tổ sư phóng quang gia trì truyền pháp viên mãn. Buổi tối hôm nay, tôi lại tiếp tục giảng giải cho mọi người về Đại Uy Đức Kim Cang bất cộng pháp. Tối hôm qua, chúng ta nói đến kết ấn, quán tưởng, trì chú. Trong pháp Đại Uy Đức Kim Cang có rất nhiều quán tưởng, trong Mật giáo, phương diện Tạng mật tương đối coi trọng quán tưởng, thường xuyên là từ chú tự biến thành Minh Vương, thế rồi lại gia trì cúng phẩm, cứ như thế lặp đi lặp lại, thỉnh thoảng lại xuất hiện một chú tự hóa thành cái gì đó, sau đó lại xuất hiện một chú tự hóa thành cái gì đó, thường xuyên làm quán tưởng lặp đi lặp lại rất nhiều.

Bởi vì quán tưởng quá phức tạp, cho nên trước kia sư phụ dạy tôi phải nắm vững quán tưởng chủ yếu nhất. Trong pháp Kim Cang này, bạn quán tưởng Đại Uy Đức Kim Cang có bao nhiêu khuôn mặt, bao nhiêu tay, chân, chân ngài dẫm lên cái gì lần lượt đều phải quán tưởng ra, trên tay cầm pháp khí gì, tất cả đều phải rõ ràng, thế thì thật sự là rất khó đó! Đối với những người già cả chúng ta mà nói thì đều cảm thấy khó vô cùng.

Cho nên, lão tổ sư nói rằng, quán tưởng chủ yếu nhất là một mặt hai tay, hai chân đều phải quán tưởng rõ ràng, khi hóa thành Đại Uy Đức Kim Cang, quán tưởng màu sắc đó, chỗ nào tượng trưng cho ý nghĩa của ngài tồn tại, thế rồi sau đó trì chú. Trong Chân Phật Mật Pháp, tôi làm là quán tưởng trước trì chú sau, tiếp đó là nhập tam ma địa.

Trong Mật giáo cũng có rất nhiều thủ ấn. Tạng mật coi trọng quán tưởng, Đông mật coi trọng thủ ấn, giữa hai cái này có một chút khác biệt. Nhập tam ma địa là quan trọng hàng đầu, tất cả mọi nghi quỹ đều là vì nhập tam ma địa, cho nên Mật giáo có ba loại thành tựu. Thứ nhất là thành tựu trì minh, tức là trì chú cho đến khi có thể đạt đến bản thân quang minh. Thứ hai là thành tựu Hộ Ma, cũng tức là một phương pháp cầu thành tựu, dùng việc đốt lửa cúng trời để được Phật Bồ Tát chư Thiên phóng quang gia trì mà có được quang minh, cái này trong Mật giáo mới có. Thứ ba là thành tựu tam ma địa, cái này thì cần phải xem định lực của bạn, bản thân bạn có định lực hay không, hoàn toàn nằm ở chiêu này.

Bản thân Sư Tôn tu nhập tam ma địa đạt thời gian rất lâu, tu đến bây giờ, bạn muốn hỏi khẩu quyết của tam ma địa liệu có thể truyền thụ một chút không. Kì thực tôi nhập tam ma địa cho đến nay cũng xem như là không có khẩu quyết. Trước kia, hình như tiểu thuyết võ hiệp cũng có rất nhiều khẩu quyết. Mắt nhìn mũi, mũi nhìn tâm (mắt nhìn mũi thì cũng còn được, mũi thì làm sao nhìn tâm được, tâm lại còn vô hình nữa), ở đây tức là muốn bạn hoàn toàn tập trung tâm tại một điểm.

Trước kia khi tôi tu luyện, tôi chuyên môn chú ý đến hơi thở ra vào, bạn sẽ tập trung vào một thứ, không có bí quyết nào khác. Bởi vì hô hấp có liên quan đến ý niệm của bản thân bạn đang chuyển động, bản thân hô hấp là rất vi tế, khi bạn hô hấp đến mức độ vi tế nhất thì có thể tập trung vào một điểm, thậm chí biến nó thành một dạng sức mạnh vô hình. Cho nên cái thứ nhất chính là chú ý vào việc hít thở của bạn, liên tục biến hô hấp thô nhất thành hô hấp vi tế nhất, thậm chí lúc hô hấp vi tế nhất biến thành hô hấp vô hình, hóa thành một loại cảnh giới ngay cả hô hấp cũng không còn, khi ấy mới có thể dừng tại không, từ một hóa thành không. Cho nên, khi Phật Đà còn tại thế, ngài cũng giảng về pháp đếm hơi thở, đây là cách dễ nhất để tập trung tinh thần của bạn lại. Còn ban đầu khi tôi vận dụng thì cũng làm theo cách đếm hơi thở này, vì thế, pháp đếm hơi thở vô cùng quan trọng, là phương pháp nhập tam ma địa. 

Bạn đặt tâm mình hoàn toàn trong một hít một thở, từ hít thở thô nhất điều chuyển đến khi mảnh mịn nhất, cuối cùng biến thành không có khẩu quyết gì cả, tất cả trở nên rất dễ dàng tiếp nhập vào trong ý thức rất sâu. Cho nên nói “tâm vượn ý mã”, làm sao để trói được con khỉ trong tâm mình vào cái cọc, sau đó để nó không nhảy lung tung nữa, dần dần hàng phục tâm mình, sau đó lại hóa cái tâm này thành toàn bộ hư không, dung nhập vào trong toàn bộ tính Không, cái này chính là thành tựu nhập tam ma địa. Nếu bạn có thể làm như vậy thì có thể hóa thân thành trăm nghìn vạn, nhập vào trong dòng chảy pháp của vũ trụ, hơi thở ra vào cùng một lỗ mũi với Như Lai và Bồ Tát.

Hành giả chúng ta thường nói bạn hít thở cùng với ai đó sao? Chúng ta hít thở cùng Phật, khí vào ra cùng một lỗ mũi của Phật! Nói thế nghĩa là bạn cùng với Phật hoàn toàn dung hợp, cho nên thành tựu tam ma địa chính là như vậy.

Sư Tôn có thể bay đến bất kì quốc gia nào trên thế giới, đi vào trong mơ của các đệ tử, thậm chí là hiển hiện, bởi vì bạn chỉ cần nhập vào tam ma địa là bạn có thể có đẳng lưu thân, cũng tức là thân thể của bạn và dòng chảy pháp của vũ trụ là ngang nhau. Cho nên, dòng chảy pháp này chỉ cần tràn đầy trong toàn bộ vũ trụ lục hợp là bạn có thể hiện thân bất kì lúc nào. 

Có một đệ tử ở Sydney Australia gặp tai nạn xe, khi anh ấy hôn mê đã liên tục nhìn thấy Sư Tôn ở bên cạnh, cho đến khi đến bệnh viện, anh ấy đều biết Sư Tôn vẫn luôn ở bên cạnh anh ấy, hơn nữa còn tận mắt nhìn thấy, khi được cứu sống lại trong bệnh viện, anh ấy nói: “Không hề có ai bảo vệ, chỉ có Sư Tôn luôn ở bên cạnh bảo vệ.” Cái này chính là đẳng lưu thân, nếu bạn có thể tu đến mức này thì có thể dung nhập vào trong dòng chảy pháp của vũ trụ, có thể phân thân ở khắp nơi, nhưng cái này cũng phải bắt đầu từ tam ma địa.

Thượng sư Liên Đặng mới nói, sáng hôm nay có tuyết rơi, còn tối hôm qua tôi đã nói là sẽ để cho các bạn nhìn thấy hoa! Bạn biết tuyết là cái gì không? Chính là hoa tuyết từ không trung rơi xuống đó. Các bạn nhìn thấy mưa nhỏ, nhìn thấy từng bông từng bông hoa, cái đó chính là hoa tuyết. Chúng ta tu pháp Đại Uy Đức Kim Cang, truyền thụ pháp Đại Uy Đức Kim Cang, hễ vị Kim Cang này đến thì nhất định sẽ có mưa đá, tuyết rơi, gió thổi, dấu hiệu cho thấy Hộ pháp đến đều là như vậy, đây chính là dấu hiệu cát tường.

Seattle vào mùa đông năm nay đã rất lâu không có tuyết rơi rồi, thế mà buổi sáng hôm nay đặc biệt có tuyết rơi, chính là vì tối hôm qua, tôi đã truyền pháp Đại Uy Đức Kim Cang cho mọi người. Truyền hình nước Mĩ cũng không dự báo rằng sáng hôm nay sẽ có tuyết rơi, đây là đài khí tượng, Đài Loan chúng ta gọi là đài khí tiêu (trong tiếng Đài có nghĩa là bệnh thần kinh), vì dự báo không chuẩn mà. Có lúc Seattle đột nhiên có tuyết rơi rất lớn, nhưng dự báo chẳng hề nói câu nào, lại còn nói “trời trong” nữa! Kết quả là tuyết rơi thành nắm, không chỉ to như cái bánh nướng, mô tả như thế nào nhỉ? To giống như cái bóng đèn điện này, có đám tuyết thì to như cái chăn bông, thế mà cục khí tượng không hề dự báo sẽ có tuyết rơi,* television, radio* *[truyền hình, đài phát thanh] *đều chẳng nói gì. Chính vì Hộ pháp đã đến nên trời mới rơi tuyết! Điều này vô cùng cát tường, có thể thấy chúng ta lần này truyền thụ pháp Đại Uy Đức Kim Cang đã được Đại Uy Đức Kim Cang gia trì và cho phép, có được ánh sáng của chính ngài.

Tối hôm qua tôi trở về, tôi nói người người đến, nói ma ma đến, cho nên không thể nói như vậy. Buổi tối tôi đang ngủ, ngủ rất ngon lành, cho đến tận lúc trời sắp sáng thì trong hư không có một thể ánh sáng hạ giáng, giáng xuống đầu giường tôi. Tôi đang mơ màng liền đưa tay sờ, ôi, là tóc dài à! Trên người còn tỏa ra ánh sáng rất đẹp nữa, phảng phất hương thơm rất vi diệu lan ra khắp giường tôi. Tôi cũng đang nghĩ điều này rốt cục là tốt hay là không tốt nhỉ. Trong giấc mơ tôi cũng có thể niệm Phật “Nam mô A Di Đà Phật, Nam mô A Di Đà Phật…” Như vậy để không động tâm đó mà! Ấy, niệm Phật mà người đó cũng không đi, người đó là thân thể ánh sáng, có hương thơm, và tôi cũng thật sự sờ thấy tóc của người đó. Tại đây tôi cam đoan với mọi người là tôi rất tỉnh táo, tôi chú ý đến người đó một lúc, chà, làn da rất tuyệt vời, đôi mắt đó còn biết “hấp háy” nữa… rồi còn đung đưa, còn làn da ấy thì rất mịn và sáng. 

Tôi liền hỏi: Cô là ai? *Who are you?* Cô ấy nói với tôi là thiên nữ nào đó đến đây (Malaysia, Indonesia đều nói là cái gì đó đến…) Tôi nói: “Cô đến làm gì thế?” Cô ấy liền nói với tôi: “Hôm qua khi thuyết pháp, ngài nhắc đến thiên nữ, cho nên tôi liền đến thôi!” Tôi nói: “Không được đâu! Sư Mẫu ở bên kia đó.”

Tôi nói với các bạn nhé, tôi thật sự nói như vậy đó! Theo như ý của thiên nữ này, tôi không biết ý trong lòng cô ấy, nhưng tôi nói ra ý trong lòng tôi. Tôi nói để mọi người biết, việc này vô cùng chân thực, tôi đích thực đã chạm vào tóc của cô ấy, da của cô ấy, có cảm giác tiếp xúc. Tôi nói, không được rồi, tôi có thói quen của tôi, thiên nữ nói tối hôm qua tôi đã nói đến cô ấy, ý của cô ấy là đến để thử công phu đó, tôi nói tôi có một thói quen, cô ấy hỏi là thói quen gì, tôi nói tôi phải đi “số một” [đi tiểu], khi ấy tôi trở mình nhỏm dậy rồi đi “số một”, khi trở về thì cô ấy đã biến mất không thấy đâu nữa, thể ánh sáng đó không còn nữa. Tôi không biết việc này có ý nghĩa gì. Nhưng tôi nói với mọi người, vì nhắc đến thiên nữ, thiên nữ sẽ hạ giáng!

Bản thân Sư Tôn đã tu hành rất cao, tôi có thể chạm vào, sờ thấy tóc cô ấy, làn da cô ấy, nhưng tôi nói với cô ấy, đúng lúc tôi buồn đi tiểu rồi, sáng sớm khi phương đông còn là một màu trắng bạc, tôi nói tôi phải đi “số một” một chút đây, khi trở về thì cô ấy đã biến mất rồi, có thể là do lúc đó tôi đã quá tỉnh táo rồi. Nhưng dựa theo công phu của bản thân cá nhân tôi mà nói, Sư Tôn hiểu về song vận [pháp song thân], kì thực bản thân song vận mà nói là một dạng thiền định, chỉ có Thượng sư Mật giáo chân chính, kim cương Thượng sư, mới có thể hiểu được, cái này gọi là Lạc-Không đại định, là một dạng thiền định, nhưng năng lực tu hành của bạn chưa đủ, nếu thiên lệch về Lạc thì lập tức xuống địa ngục kim cang.

Hành giả tu hành Mật giáo là ở trong Không và Định, áp dụng một dạng tu hành cảnh giới định của trung đạo mà trực tiếp hướng đến thành Phật, không giữ cái Lạc cũng không giữ cái Không, ở giữa Lạc và Không tìm kiếm đạo thành Phật, loại này gọi là Lạc-Không đại định, chỉ song vận của bản thân Mật giáo mới có. Nhưng nói chung, nó hoàn toàn thuộc về bộ phận mật truyền, đây cũng là một dạng nhập tam ma địa, bạn chớ coi thường đó! Nếu có thể nhập thiền định trên phương diện này thì gọi là “đại Tham đại Không”. Bởi vì đây là tham đến mức Không nhất. Tôi nói để mọi người biết, phàm phu thế tục chỉ có Tham và Lạc, còn Thánh nhân thì có thể sản sinh ra Không và Định, khác biệt chính là ở đây. Nếu bạn có thể dùng phương pháp Tham và Lạc tiến nhập thiền định, đắc được Không và Định, cái này mới xem là Thánh nhân siêu phàm chân chính. 

Liên Sư dùng phương pháp Tham Lạc, Tứ Hỉ chuyển thành Tứ Không, thành song vận. Phàm phu thế tục bình thường chỉ tham lạc, nhưng họ không biết rằng trong cái tham lạc cũng có thể đi về hướng Không và Định. Đương nhiên Liên Hoa Sinh Đại Sĩ có phương pháp như vậy, chính là trong cái tham dục, làm các loại quán tưởng, dùng nội hỏa của bản thân mình, từ sơ hỉ, nhị hỉ, tam hỉ, tứ hỉ, sau đó chuyển thành Tứ Không, phương pháp vận dụng này trong Mật giáo mà nói gọi là song vận. Bởi vì Thánh nhân mới có bốn loại hỉ, từ hoa sen nghìn cánh của thiên đình, bồ đề tâm nguyệt dịch hạ xuống, sơ hỉ căn bản sẽ không có, còn phàm phu chỉ cần có một hỉ là đi đời chứ làm gì đến được tứ hỉ, đợi đến khi bạn tứ hỉ thì coi như hoàn toàn đi đời rồi.

Một hỉ của phàm phu là cái cảm giác sướng ở xung quanh mật luân mà thôi, chẳng thể sánh với tứ hỉ của Thánh nhân. Kì thực bắt đầu là từ thiên đình cho đến mật luân, trải qua bốn loại hỉ lạc cực đại, sau đó chuyển ngược lại thành Tứ Không, đây là đạo lí của song vận, muốn làm như vậy nhất định phải có sự truyền dạy cẩn mật từ Kim cương Thượng sư, Căn bản Thượng sư trực tiếp giảng cho bạn phương pháp làm thế nào để hồi chuyển và đảo ngược lại, mới có thể chứng minh được nội hỏa minh điểm, vô lậu, chuyết hỏa, bạn mới có thể xem là thân kim cương bất hoại thành tựu nội pháp.

Chưa truyền dạy cho bạn mà bạn đã bán mạng đi thực hành song vận, đó là sự thèm muốn dục lạc của phàm phu, sẽ xuống địa ngục kim cang, cho nên, giữa Lạc và Không, không thiên về Lạc cũng không thiên về Không, đi thẳng như vậy, có thể tự kiểm soát mình và thành tựu, trên thế gian này chẳng có được mấy người. Bản thân Sư Tôn mà nói, tôi có thể chứng minh bản thân có thể làm được điều này!

Cho nên bản thân việc nhập tam ma địa có rất nhiều phương pháp, hôm nay tôi chỉ tiết lộ với mọi người một điểm, cái gọi là song vận rốt cục là việc như thế nào. Nói không chừng sau này nếu tôi có cơ hội, tôi sẽ viết một cuốn sách rất thẳng thắn thảo luận về song vận của Mật giáo.

Khi tiến nhập vào toàn bộ tính Không, xuất định cũng từ trong hư không mà xuất ra, cho nên, nhập vào định cũng tương đương với nhập vào niết bàn tịch diệt lấy đó làm cảnh giới lạc, xuất định chính là vì trở lại để độ chúng sinh, điều này đều vô cùng vĩ đại. Vì thế, trong Mật giáo có thành tựu nhập tam ma địa. Sau khi xuất định chúng ta còn phải làm hồi hướng, phần này là hậu hành. 

Có một bài kệ rất hay, tôi đọc cho mọi người nghe: 

*Yamantaka Minh Vương lệnh tại
Luân chuyển giáo chủ tối đại thắng tôn
Mọi ma sợ hãi đều quy y hết
Thỉnh trừ ma sự ban đại gia hộ.*

Đây là bài kệ mà tôi viết từ rất lâu rồi để tán dương Đại Uy Đức Kim Cang Minh Vương. 

Làm pháp xong thì xuất định, hồi hướng, niệm chú viên mãn: “Om brum. Om brum. Om brum.” Cũng làm đại lễ bái và rời khỏi đàn thành.

Hãy nhớ, sau này khi làm mọi việc đều phải tự thân biến hóa thành Đại Uy Đức Kim Cang để gia trì cho cúng phẩm, làm bất kì việc gì đều phải như vậy. Đại Uy Đức Kim Cang là Căn bản Hộ pháp của Sư Tôn, sau này các bạn có duyên với ngài thì ngài cũng có thể trở thành Căn bản Hộ pháp của các bạn. 

Tiếp theo tôi nói với mọi người về làm sự nghiệp của Hộ pháp Đại Uy Đức Kim Cang Minh Vương như thế nào. Nhìn chung, mỗi lần chúng ta tương ứng với một vị, vị ấy sẽ hiện thân, bạn tu pháp này, tu đến khi tương ứng, Đại Uy Đức Kim Cang Minh Vương sẽ hiển hiện, đôi khi chúng ta có thể trực tiếp nhìn thấy ngài hiện thân. Giống như tôi lần đầu tiên nhìn thấy Đại Uy Đức Kim Cang là vào lúc tôi tập trung tinh thần luyện kim cang quyền, đột nhiên ngài hóa thành hình khói ở trước mặt, dường như đám khói ấy từ sàn nhà sinh ra. 

Giống như buổi sáng hôm nay, lúc Sư Tôn đang làm Hộ Ma thì có khói từ dưới chân sinh ra, tôi cứ tưởng là… ôi chao, Đại Uy Đức Kim Cang đến rồi! Tôi lại nhìn kĩ hơn, thì ra là bên dưới lò Hộ Ma bị cháy. Hình khói khi mà ngài xuất hiện không giống khói bình thường, có hơi giống như bông vậy, giống như kẹo bông mà hồi nhỏ chúng ta ăn, cứ như thế liên tục bay lên, bay lên rồi tạo thành hình dáng của Đại Uy Đức Kim Cang, hơn nữa còn có ánh sáng, có màu sắc, màu xanh lam, cái ánh sáng đó giống cái gì nhỉ? Cũng giống như bông lan tỏa ra xung quanh, thế là tôi nhận ra Đại Uy Đức Kim Cang Minh Vương, trong lòng cảm thấy rất vui mừng, bởi vì ngài đã hiện lên trước mắt hình khói của ngài rồi, lúc này bạn muốn có lời thề ước với ngài thì đó sẽ là samaya, bởi vì bạn tu pháp và triệu thỉnh ngài hiện thân, bạn đã có tương ứng rồi thì ngài mới hiển hiện ra cho bạn nhìn thấy.

Nhìn thấy có mấy loại: 

1. Bạn tận mắt nhìn thấy, có nghĩa là ban ngày nhìn thấy. 

2. Bạn nhìn thấy trong thiền định. 

3. Trong mơ nhìn thấy, bạn ở trong giấc mơ nhìn thấy rất rõ ràng. 

Ba loại này đều có thể gọi là nhìn thấy.

Cho nên, sau khi nhìn thấy thì phải có lời thề ước với ngài. Tôi dùng lời nói miệng thôi: “Hôm nay tôi nhìn thấy ngài rồi, ngài và tôi rất thân thiết, sau này ngài đều phải ở bên tôi, tôi sẽ đối với ngài rất tôn kính, hơn nữa mỗi lần tôi đều cúng dường ngài, cầu xin ngài hãy giúp đỡ tôi.”

Đây chính là samaya! Chúng ta không cần phải nói một cách quá phức tạp, chỉ cần nói là hôm nay tôi nhìn thấy ngài rồi, biết là ngài rất tốt với tôi, sau này chúng ta tương thân tương ái, vĩnh viễn không phân li, tôi đi đâu thì ngài đi theo đó, ngài đi đâu thì tôi sẽ đi theo đó, mỗi khi có thứ gì tôi sẽ mời ngài ăn trước, có việc gì thì ngài giúp đỡ tôi trước, đây chính là samaya. Nói đơn giản như vậy, không cần phải dài dòng lôi thôi, cái gì mà làm thơ, tụng tán, nói văn vẻ này nọ, ngài nghe không hiểu, nói cái gì đơn giản thôi! Những thứ văn vẻ xoắn lưỡi kia thật sự là không cần thiết.

Bạn cứ nói với ngài một cách chân phương như vậy là ngài lập tức biết rằng ta hộ trì cho anh là đúng rồi, bởi vì hễ có thứ gì là anh sẽ mời ta ăn trước, anh có thứ gì hay sẽ cho ta dùng trước. Bạn còn có thể nói với ngài rằng: sau này tôi thành Phật, ngài cũng thành Phật đó! Chúng ta như hình với bóng, ở cùng nhau không tách rời.

Có lời hẹn ước với nhau như vậy, không được quên ngài đâu đấy! Các bạn đã có lời thề rồi, đó chính là samaya. Giống như các bạn quy y Sư Tôn, thân khẩu ý cúng dường, nói nghe rất hay, nhìn thấy, đảnh lễ, dâng cúng dường. Có một hôm không vừa ý, không thoải mái, thế là bái bai luôn! Các bạn bỏ đi, tôi thì “thất tình”, các bạn bỏ đi rồi, vô duyên vô cớ, nhưng cũng chẳng phải việc của tôi, chẳng qua là vì tại Phật đường của các bạn có những mâu thuẫn nhân sự nên bạn mới bỏ đi, có liên quan gì đến tôi chứ? Đúng không? Tôi cũng chẳng nói gì bạn cả. Thật ra có rất nhiều việc chẳng liên quan gì đến Sư Tôn. Mọi người các bạn ở dưới cãi nhau, không hợp nhau, lại đổ tội lên đầu Sư Tôn, bảo rằng Sư Tôn chẳng hề nói hộ tôi, tôi làm sao mà nói hộ bạn chứ, tôi còn chẳng hề biết xảy ra những chuyện gì cơ mà!

Cho nên, bạn đã có lời thề với Đại Uy Đức Kim Cang, mọi lúc ngài đều hộ trì cho bạn, bạn cũng nhớ đến ngài mọi lúc, Sư Tôn cũng nhớ đến ngài mọi lúc, bạn không tin thì Sư Mẫu có thể làm chứng đấy! Ngày nào trước khi đi ngủ, tôi đều vỗ tay và cầu nguyện ngài, thỉnh ngài bảo vệ cho tôi đêm nay ngủ ngon, phải thức dậy lúc 6 giờ, đêm ngủ mơ giấc mơ đẹp, không mơ thấy điều xấu, kiểu gì cũng phải mơ đẹp, sau đó tôi mới đắp chăn đi ngủ, ngày ngày đều làm như vậy, buổi trưa nghỉ ngơi cũng thế, không lần nào tôi quên, mỗi lần ăn cơm tôi đều nói với ngài rằng: “Xin mời, xin mời ngài ăn trước!” Nhất định phải làm như vậy, đây chính là lời thề, là samaya. Bạn nhất định phải làm được như vậy.

Vì thế, bạn cần thề nguyện với ngài, làm sai việc gì thì phải sám hối với ngài, điều này cũng rất quan trọng, niệm Kim Cang Tát Đỏa bách tự minh 21 biến, bạn biết Kim Cang Tát Đỏa bách tự minh là gì không? Là tính Không đó! Nghiệp chướng của bạn mà gặp tính Không thì cũng không còn, nghiệp chướng của bạn có lớn thế nào mà gặp phải Kim Cang Tát Đỏa bách tự minh thì cũng hóa thành vô hình.

Bạn có thể niệm chú ngữ của ngài, sám hối những việc mình đã làm và hồi hướng, tất cả những lỗi lầm đều sẽ không tái phạm, tiêu trừ và gột rửa sạch, hóa giải những thứ quá khứ. Vốn dĩ có khiếm khuyết, tu pháp cũng có thể bổ sung và biến thành viên mãn, bởi vì bạn hóa mọi pháp tu thành tính Không thì sẽ biến thành viên mãn. Hai điểm này, mỗi hành giả đều phải làm được.

Tiếp theo, tôi nói với mọi người về tiêu tai. Tự thân biến hóa thành Đại Uy Đức Kim Cang, quán tưởng các chúng sinh cần tiêu tai ở trước mặt bạn, niệm Om Ah Hum 3 biến, khiến nghiệp chướng thân khẩu ý của người này tiến nhập vào trong thiên linh cái, sau đó nhờ Đại Uy Đức Kim Cang niệm 3 biến Om Ah Hum gia trì cho cúng phẩm ở trong thiên linh cái này, dùng cái này để cúng dường Phật, cúng xong thì nghiệp chướng của người này sẽ tiêu trừ hết, như vậy là đã tiêu tai! Cầm thiên linh cái trên tay, tự biến hóa thành Đại Uy Đức Kim Cang, quán tưởng người có nghiệp chướng ở trước mặt bạn, sau đó nghiệp thân khẩu ý màu đen sẽ bay lên, đi vào bên trong thiên linh cái, gia trì cho thiên linh cái rồi cúng dường Phật Bồ Tát Hộ Pháp chư tôn, như thế nghiệp thân khẩu ý của người này sẽ tiêu trừ hết. Có người bị bệnh, bạn dùng phương pháp này có thể tu pháp khiến người bệnh có thể trở thành một người thanh tịnh, giải trừ bệnh nghiệp của con người, đây chính là pháp tiêu tai.

Tiếp theo nói về pháp tăng ích, thì đầu tiên phải triệu thỉnh Đông Phương Đế Thích Thiên, chỉ cần bạn tự thân biến hóa thành Đại Uy Đức Kim Cang, hai chân, đầu trâu, một mặt, hai tay, tay phải cầm dao cong, tay trái cầm thiên linh cái, chân trước là cung chân sau là tên, đứng trên hoa sen. Đầu tiên bản thân mình biến hóa, tôi dạy mọi người cách quán tưởng, bạn phải quán tưởng ra được: màu xanh lam tiến vào trong thân bạn, khiến toàn thân bạn hóa thành màu lam, tập trung ở tâm luân, biến thành một chữ Hum màu lam, sau đó tiêu biến mất. Chữ Hum màu lam ở trong hư không dần dần tiêu biến từ dưới lên, đến nhật luân, nguyệt luân, cho đến chỉ còn một điểm, rồi không có nữa, hóa thành tính Không, sau đó lại xuất hiện một điểm, rồi lại có nhật luân, nguyệt luân, một nét ngang, ba cái móc cong xuống phía dưới, biến thành chữ Hum màu lam, trong sát-na, biến thành Đại Uy Đức Kim Cang Minh Vương, chính là vị phẫn nộ mà ban nãy tôi mới dạy bạn quán tưởng.

Quán tưởng xong, bạn phóng chữ Hum có ánh sáng màu vàng ra ngoài, triệu thỉnh Đông Phương Đế Thích Thiên, Nam Phương Diễm Ma Thiên, Tây Phương Thủy Thiên, Bắc Phương Dạ Xoa Thiên, bốn vị trời này đều xuất hiện ở bốn phương đông tây nam bắc để hộ trì cho bạn. Sau đó, bạn dùng thiên linh cái gia trì cúng phẩm, cúng dường bốn vị trời, và cúng dường hết tất cả thiên nữ của các cõi trời. Xong sau đó bạn dùng sức mạnh quán tưởng, từ trong các cõi trời phóng quang gia trì cho thiên linh cái của bạn, từ cúng phẩm bên trong thiên linh cái biến hóa ra những thứ mà bản thân bạn mong muốn. Bạn tự mình quán tưởng biến thành một thiên linh cái rất to rất lớn, có xe mà bạn thích nhất, Lamborghini, Ferrari, Rolls-Royce, Benz,… Rất nhiều thứ bạn đều có thể quán tưởng ở trong thiên linh cái của bạn. Nhà lầu của bạn, những ngôi nhà hiện đại đều đầy ắp bên trong thiên linh cái, từ trong thiên linh cái sinh ra mọi thứ, đây chính là pháp tăng ích.

Nhưng trong khi làm pháp, Tạng mật thường nói đến từ chữ gì biến hóa thành cái gì, từ chữ gì biến hóa thành Đế Thích Thiên và màu sắc gì. Phương nam có chữ gì biến hóa thành Diễm Ma Thiên, và có màu sắc gì; phương bắc Dạ Xoa Thiên thì sinh ra chữ gì, lại biến thành cái gì… ôi, rất rườm rà. Bạn có thể có cách nhìn thấy hình tượng của vị trời nào đó, trực tiếp biến ra thì tốt, sau đó nếu bạn biến ra giống như biệt thự Cầu Vồng thì… không được, các bạn không thể biến ra cái này, nếu không thì biệt thự Cầu Vồng của tôi sẽ biến thành của bạn mất. Ôi, đến lúc ấy các bạn sẽ lấy ra danh thiếp của mình, đem đến biệt thự Cầu Vồng đóng cọc “keng keng keng”, sau đó lấy dây thừng quây xung quanh lại, nói nhà này là của tôi, thế thì phiền lắm! Tự các bạn biến thành ra biệt thự Cầu Vồng của mình đi (cười). Đây chính là một pháp tăng ích, từ trong thiên linh cái có một chữ Hum, sau đó sinh ra đủ loại tài bảo, các bạn muốn cái gì thì quán tưởng cái đó, đều sẽ có.

Giống như Sư Tôn lần này. Tôi muốn có một cái mũ, là mũ pháp, kết quả là lần này có bao nhiêu mũ pháp bạn có biết không? Sư Mẫu mua một cái, Thượng sư Liên Trí mang đến bốn cái, đường chủ ở Malaysia tặng tôi hai cái, người đến từ Đài Loan tặng tôi một cái, Liên Hoa Thanh Nguyệt ở Singapore từ Đại Lục lại đem đến một cái nữa. Tôi còn chưa mở tiệm bán mũ, lần này các bạn không tặng tôi cái gì khác lại toàn tặng tôi mũ. 

Đó là bởi vì tôi quán tưởng mình cần một cái mũ, kết quả là chẳng mấy chốc có tận chín cái mũ. A! Đúng rồi, Liên Hoa Tĩnh Hương ở Nhật cũng tặng tôi một cái mũ nữa, bạn xem lần này bao nhiêu người tặng mũ cho tôi. Điều tệ nhất là chẳng có ai tặng kim cương, các bạn tặng nhiều mũ như vậy để làm gì? Tôi cũng có phải là quốc vương của vương quốc mũ đâu, tôi làm quốc vương của vương quốc kim cương là được rồi.

Lần này rất kì quái. Bạn xem, người ở Nhật tặng một cái, người ở Malaysia tặng hai cái, người ở Singapore tặng một cái, người ở Đài Loan tặng ba cái, Liên Trí từ Nepal đem tới bốn cái, Sư Mẫu mua một cái, càng ngày càng nhiều, không thể đếm được nữa, thật sự đều là mũ pháp, mũ của Hồng Hoàng Bạch Hoa giáo đều có hết. Tôi vốn định tối nay đội một cái mũ cho mọi người xem, nhưng tôi nghĩ đến lúc thuyết pháp, đầu tôi thường đung đưa thế này, thân thể thì cử động thế này, mũ sẽ rơi ra mất, cho nên lúc thuyết pháp thì vẫn không nên đội, trong hoàn cảnh trang nghiêm một chút thì có thể đội. Ở đây cũng là quán tưởng mà ra, nếu bạn có suy nghĩ, tôi nói để bạn biết nhé, Kim Cang Hộ Pháp sẽ biết bạn xuất hiện suy nghĩ, bởi vì ngài chính là hình bóng của bạn mà! Làm sao mà không biết chứ? Ngài biết bạn đang nghĩ cái gì, sẽ lập tức chạy đi lo việc.

Chúng ta làm Hộ Ma cúng dường cầu thỉnh Kim Cang Hộ Pháp, nguyện lực mà chúng ta cầu, cấp cấp như luật lệnh, hoàn thành! Rượu này rót ra, ngài lập tức uống rượu, thế là lên tinh thần, hai chân liền “bạch bạch” chạy đi hoàn thành công việc. Sao gọi là cấp cước thần? Nghĩa là chân của ngài rất nhanh, hành động cấp tốc. Kim Cang Hộ Pháp thì bạn phải đứng mà cúng, các bạn không được ngồi cúng đâu, bằng không ngài sẽ lười không muốn hành động. 

Phải đứng để cúng, giống như là một chân thế này, chân kia thì… giống như là đang bay, đang chạy, đây gọi là Cấp Cước Kim Cang, ngài sẽ cấp tốc đi hoàn thành nhiệm vụ mà bản thân bạn yêu cầu. Sư Tôn không hề bảo các bạn đi mua mũ, tôi nói với bạn nhé, là Hộ Pháp bí mật khiến trong lòng các bạn sinh ra suy nghĩ ấy, ừ, phải mua mũ cho Sư Tôn thôi, thế là vội vàng đi mua. Lần sau tôi sẽ nói với Hộ Pháp… à, không thể nói, sau này có cơ hội, Hộ Pháp sẽ hiểu Sư Tôn, không cần phải tặng món đồ quá to, tặng cái nhỏ nhất là được, Hộ Pháp sẽ làm, đây là pháp tăng ích. Chỉ cần suy nghĩ của bạn khởi lên, Hộ Pháp sẽ nhanh chân đi hoàn thành những việc đó.

Tiếp theo tôi nói về pháp kính ái, tức là pháp “hoài”. Tự thân biến thành Đại Uy Đức Kim Cang, tương tự, thiên linh cái phóng ra chữ Hum màu đỏ, gọi người yêu hiện thân trong hư không, niệm tứ minh chú “Cha Hum Ban Ho”: Cha là hiện thân, Hum là người đó sẽ đứng trước mặt bạn, Ban là người đó sẽ hạ xuống, Ho là bạn sẽ ôm lấy người đó, thế là kết hôn rồi, giống như hai đôi cô dâu chú rể ngày hôm nay (Sư Tôn chỉ về phía hai đôi cô dâu chú rể mà Sư Tôn làm chứng hôn nhân). Đây chính là pháp kính ái.

Bạn thấy đấy, pháp kính ái chỉ đơn giản thế thôi! Chỉ cần bạn tương ứng với Đại Uy Đức Kim Cang, tự thân biến hóa thành Đại Uy Đức Kim Cang, thiên linh cái phóng ra chữ Hum màu đỏ, đối phương sẽ bị hút đến trước mặt bạn, sau đó “Cha Hum Ban Ho” cùng hòa vào nhau, chính là pháp kính ái.

Cho nên hành giả Mật giáo chân chính sau khi tương ứng với Hộ Pháp, rất nhiều việc người đó chắc chắn sẽ làm được. Vì thế, pháp kính ái, bạn thấy đơn giản như vậy, tứ tự minh chú “Cha Hum Ban Ho”, rất nhiều pháp đều rất dễ biến hóa, trong đó pháp hàng phục là khó nhất, bởi vì cúng phẩm của nó rất đặc thù, đây thuộc về phương diện nội pháp.

Pháp kính ái thì tôi đã giảng với mọi người rồi, rất dễ thôi, đúng không? Giả dụ bạn hi vọng công nhân nhà máy của bạn đều yêu kính bạn, cũng rất đơn giản. Chữ Hum từ trong thiên linh cái phóng ra ánh sáng màu đỏ, toàn bộ công nhân của bạn ở trong ánh sáng đỏ đó, sau đó bạn chỉ huy những công nhân này: “Mọi người quay về hướng đông!” “Mọi người quay về hướng tây!” Tùng tùng tùng tùng, họ đều nghe theo bạn. Bạn chỉ huy họ làm cái gì thì họ sẽ làm cái đó, họ sẽ rất tôn kính bạn. Bạn làm điều này xong, họ nhìn bạn, họ sẽ khúm na khúm núm cúi chào bạn, bạn giao phó cho họ làm cái gì, họ sẽ làm cái đó, pháp này áp dụng rất linh hoạt.

Luật lệnh của Đại Uy Đức Kim Cang có sức mạnh lớn như vậy. Ngài có thể làm tiêu tai, kính ái, tăng ích, hàng phục. Còn như với pháp hàng phục thì tôi bảo mọi người, hãy tụng một bài kệ, bài kệ này rất hay: “Diệu tướng đầy dũng mãnh, hành động đầy uy đức, khó khăn đều hàng phục, đảnh lễ Đại Bố Úy”. Đại Uy Đức Kim Cang còn gọi là Bố Úy Kim Cang. Cúng phẩm của pháp hàng phục, nhìn chung thì, chúng ta làm bất kì pháp gì đều có thể công khai, ví dụ pháp tiêu tai, tăng ích, kính ái, đàn pháp này đều có thể công khai, duy nhất không thể công khai chính là đàn pháp hàng phục, cái này thuộc về nội đàn.

Thế nhưng hôm nay tôi lại nói cho mọi người về nội đàn, Sư Tôn đem khẩu quyết này giảng cho các bạn nghe hết cả, điều này đáng quý vô cùng, rất hiếm khi giảng công khai như vậy.

Cúng phẩm trong pháp nội cúng này là hết sức đặc thù, có năm loại cúng phẩm: loại thứ nhất là dao mổ, chính là dao chuyên mổ lợn, mổ trâu, mổ gia súc. Con dao đó dùng đến mức cùn, lưỡi mẻ, càng lâu càng tốt, bởi vì linh khí của nó là mạnh nhất. Con dao mổ dùng rất lâu sẽ tích tụ đầy linh của sinh vật, trong sát-na là chết, thần thức của linh đó không thể nào chạy đi đâu, sẽ bám vào con dao này, cho nên linh khí của nó là nặng nhất. Con dao mổ đó là món nội cúng thứ nhất của pháp hàng phục, rất khó kiếm được, nhưng mà ở các lò mổ ở Đài Loan, bạn mua một con dao mổ mới đến, bảo họ đổi cho con dao cũ, thế là bạn sẽ có được.

Loại thứ hai là thuốc độc, thuốc có độc, ví dụ: Parathion, Potassium cyanate, loại thuốc độc mà hễ uống vào hoặc chỉ một chút xíu là sẽ chết ngay, dùng cái này để làm nội cúng, không được để cho trẻ con đi vào, chúng lại nghĩ rằng đó là coca cola, 7-up, uống vào là chết thẳng cẳng đó, cho nên, nội cúng là không công khai.

Loại thứ ba là thịt ôi thiu, thịt này đã lên dòi rồi, đã để rất lâu rồi, đã có mùi chua và hôi rồi, không chỉ như vậy, bên trên còn có những con dòi màu trắng đang bò nữa, loại thịt đó là tốt nhất.

Loại thứ tư là hoa có gai, bông hoa đó phải mọc gai, ví dụ hoa hồng, màu đen thì sẽ tốt hơn, bằng không giả sử bạn nói là màu đỏ thì trước tốt sau xấu, cho nên hoa hồng màu đen là tốt nhất.

Loại thứ năm là chất dịch rỉ ra từ thân người chết, có nghĩa là nước của tử thi đó! Là nước rỉ ra từ thi thể.

Bạn lấy được năm thứ này rồi, bạn cúng Đại Uy Đức Kim Cang, năm loại cúng phẩm bày ra đều sẽ phát ra sức mạnh rất lớn, sẽ có một dạng sức mạnh rất linh, rất hung sát, sinh ra ở bên trong nội cúng của bạn. Và tự thân cũng biến hóa thành Đại Uy Đức Kim Cang, năm loại cúng phẩm này, dùng sức mạnh của Đại Uy Đức Kim Cang để gia trì, sự nghiệp chú là “Om benza huo ka hum pei”. [Sự nghiệp chú là chú ngữ có công dụng đặc thù dùng khi hành pháp.]

Khi bạn đang niệm chú này, bản thân bạn quán tưởng chính mình biến thành Đại Uy Đức Kim Cang, chân trước làm cung, chân sau làm tên, chân trước bước cong như cái cung, lúc này, chân của bạn sẽ biến thành Đại Uy Đức Kim Cang lớn nhỏ, bàn chân phải của bạn biến thành Đại Uy Đức Kim Cang, chân trái thì biến thành đối phương, bạn muốn hàng phục người nào thì bạn hãy biến bàn chân trái của bạn thành hình tượng của người đó, sau đó dùng chân phải của bạn đạp mạnh lên chân trái của bạn, hét lên: “Đánh chết mày!” Khi hét lên thì phải rất uy mãnh, nhưng bạn đừng có đạp gãy chân bạn, phải biết khống chế một chút, phải đạp đầy uy mãnh lên chân trái của bạn, chỉ cần đạp ba lần và niệm chú “Om benza huo ka hum pei”, đây chính là chú của việc hàng phục. Đây chính là pháp hàng phục.

Đương nhiên, đôi khi chúng ta không làm pháp này.  Pháp hàng phục có rất nhiều loại, ngoài pháp của Đại Uy Đức Kim Cang ra thì còn có một loại nữa cũng là pháp Đại Uy Đức Kim Cang, đó là làm một cái thước ê-ke bằng thủy tinh hoặc nhựa trong, tạo một vết trên bề mặt rồi dùng hình dao cong như lưỡi rìu mà Đại Uy Đức Kim Cang cầm, cắm lên thước nhựa trong hoặc thủy tinh này, phải cắm cho đứng thẳng. Sau đó bạn làm một hình nhân bằng giấy khá to, viết lên địa chỉ, họ tên của đối phương, có bát tự thì là tốt nhất. Sau đó bạn dùng dao mổ đặt trên đỉnh đầu của người giấy, dùng thuốc độc đặt dưới chân của người giấy, treo miếng thịt thối rữa lên trên người giấy, dùng hoa có gai để đâm, dùng dịch của người chết chấm lên trán người giấy. Rồi khi tự thân bạn biến hóa thành Đại Uy Đức Kim Cang, bạn lấy thước ê-ke và dao cong, dao cong này đặt lên cổ của người giấy, sau đó bạn niệm chú “Om benza huo ka hum pei”. Niệm sự nghiệp chú này sẽ sản sinh ra một sức mạnh vô hình rất lớn có thể hàng phục đối phương.

Cho nên hành giả Mật giáo phải chú ý, trong Mật giáo, pháp hàng phục thuộc về tác nghiệp nội đàn, không được để cho người ngoài nhìn, đương nhiên pháp này cũng không được tùy tiện truyền, tùy tiện nói, nhưng hôm nay tôi đã nói ra rồi, mọi người muốn tu pháp tránh tai nạn Quan Thế Âm Bồ Tát thân đàn thành thì sẽ có Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát hộ trì.

Vì thế trong Mật giáo có hiện tượng này, giữa Thượng sư và Thượng sư làm pháp đấu nhau, có Thượng sư hiểu pháp, hàng phục một người khác, nhanh chóng hàng phục được người đó, cũng có Rinpoche bản thân là Hoạt Phật, nhưng hễ không cẩn thận một cái thì cũng bị trúng pháp hàng phục.

Hôm nay tôi giảng công khai với mọi người, với nguyện vọng chủ yếu là dạy cho bản thân hành giả Mật giáo chúng ta muốn làm pháp phòng hộ, giống như pháp phòng hộ bốn tầng mà hôm nay tôi dạy: cọc kim cang, võng kim cang, tường kim cang, lửa kim cang, đây là ngọn lửa đơn tầng, còn đây là ngọn lửa song tầng (Sư Tôn thị phạm thủ ấn).

Bảo bạn làm quán tưởng Quan Thế Âm Bồ Tát thân đàn thành để làm phòng hộ thì có tác dụng gì? Chính là vì lo sợ loại hàng phục này. Hôm nay tôi cũng giảng cho các bạn về tác dụng này, đương nhiên cũng muốn mọi người biết rằng, không thể đi làm pháp này, phải hiểu phòng hộ, nhưng đừng đi làm pháp này. Bản thân Sư Tôn cũng vậy. Tôi biết những pháp này, ví dụ pháp hàng phục của Bất Động Minh Vương, ví dụ pháp hàng phục Đại Uy Đức Kim Cang giáo lệnh luân, tôi đều biết cả, tôi biết làm pháp. Tôi biết dùng chày kim cang một chấu ba mặt để làm pháp, mỗi lần tôi làm pháp dùng chày kim cang một chấu ba mặt sẽ là quán tưởng toàn bộ địa cầu, cầm chày kim cang một chấu ba mặt lên, đầu tiên thỉnh cầu các vị tổ sư nhiều đời gia trì, sau đó phóng quang chiếu đến toàn bộ địa cầu, không phải là tôi đang làm pháp hàng phục đâu, mà là tôi đang gia trì cho chúng sinh, giúp đỡ chúng sinh. Pháp dùng vào việc tốt thì là tốt, dùng vào việc xấu thì sẽ thành xấu, giống như pháp hàng phục có thể dùng làm việc tốt.

Trước kia lão tổ sư làm pháp hàng phục là như thế này. Có đệ tử này rất hư, đầu tiên tôi phải hàng phục anh một chút, sau đó mới làm pháp tiêu tai, tiếp đó giúp anh tiêu tai, tức là hai phương diện này cùng làm, hàng phục trước sau đó tiêu tai, tức là chỉnh đốn lại anh một chút, sau đó cứu anh. Ý của lão tổ sư dùng pháp hàng phục là ở đây. Nhưng đôi khi, đối phó với một số ma, ác đạo hoặc ma quỷ cực hung ác, tổ sư Mật giáo phải dùng pháp hàng phục, sau đó dùng pháp siêu độ để siêu độ cho chúng. Chúng ta dùng pháp hàng phục chủ yếu nhất là phát tâm từ bi để hàng phục, chứ không phải thật sự là để chỉnh đốn con người hoặc hại người, mà là phát tâm từ bi, tôi muốn độ người này, phải dùng phương pháp hàng phục đặc biệt, đầu tiên hàng phục họ đã, ở đây là dùng tâm từ bi. Còn đối với những ma quỷ kia, ác quỷ phải dùng pháp hàng phục để hàng phục chúng, hàng phục xong thì lại dùng pháp siêu độ để siêu độ chúng, cho nên bản thân pháp hàng phục cũng không phải là việc xấu.

Mọi người cũng vừa nghe rồi, ôi chà, sao lại có loại pháp này chứ? Lại còn dùng dao mổ, dùng thuốc độc, dùng thịt ôi thiu, dùng hoa hồng gai, hoa có gai, dùng dịch của người chết, sau đó dùng dao cong đặt lên cổ của người nữa, giống như là lên đoạn đầu đài bị chặt đầu vậy, dùng chân phải của bạn đạp lên chân trái, dường như chẳng hề từ bi một chút nào. 

Trên thực tế, pháp hàng phục có tác dụng khác, chủ yếu là dùng để đối phó với độc long, dạ xoa, ác ma, quỷ ma, những thứ ma quỷ đó, thật sự không dùng trên thân người, đây là sự từ bi của hành giả Mật giáo chúng ta, tuyệt đối không được giống như cái người trước kia, người này làm pháp hàng phục đi hàng phục người ta rồi hàng phục người ta chết luôn, muốn cứu cũng không kịp nữa, người kia đã chết rồi làm sao mà cứu được chứ? Chà! Chẳng có cách nào, chết cả rồi. Các bạn đừng có học xong rồi, thế là trở về muốn thử bản lĩnh của Sư Tôn, *hurray*! Trở về chọn mua đồ, nhanh chóng đi mua những thứ này, chuẩn bị xong rồi, cúng Đại Uy Đức Kim Cang, lập tức tự thân biến hóa thành Đại Uy Đức Kim Cang, người đầu tiên tôi muốn thử chính là Sư Tôn đó! A Di Đà Phật! Giả sử tôi thật sự bị hàng phục thì không còn gọi là Sư Tôn nữa rồi.

Vừa rồi tôi đã giảng với mọi người bốn việc, chính là tức - tiêu tai, tăng - tăng ích, hoài - kính ái, tru - hàng phục. Tôi nói như vậy, mọi người có hiểu rõ không, tôi nghĩ là đã giảng rất rõ ràng rồi, đây chính là bí mật đó!

Nói thật lòng, trong số các đệ tử của Sư Tôn, đương nhiên tôi biết có rất nhiều người chẳng giữ phép tắc gì cả, đây là hiện tượng tự nhiên thôi, không có gì kì lạ cả, vì sao vậy? Bởi vì khi tôi đi học, ở trường mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở, phổ thông trung học, đại học, trong mỗi lớp học đều có vài học sinh cá biệt, giáo viên là đau đầu nhất với mấy học sinh cá biệt đó. Khi giáo viên viết trên bảng, quay đầu lại, bên dưới những học sinh ngỗ nghịch cầm phấn ném vào đầu giáo viên, giáo viên vừa quay đầu lại nhìn thì họ lại giả vờ rất ngoan, bạn học cũng không dám nói, bởi vì bạn học nào mà giơ tay muốn nói thì lát sau sẽ bị đánh. Ôi, sợ muốn chết, khi ấy tôi rất hèn nhát, vốn dĩ muốn báo cáo với giáo viên, giơ tay lên nhưng lại vội vàng rụt tay lại, bạn hư kia trừng mắt nhìn tôi một cái, lúc tan học ra ngoài cổng trường là tôi sẽ gặp nguy hiểm. Nhìn chung đều luôn có những học sinh như vậy.

Học trò của Sư Tôn nhiều như vậy, đương nhiên trong số đó có rất nhiều người ngỗ ngược không ngoan, nhưng hễ tôi nghĩ đến pháp hàng phục của Đại Uy Đức Kim Cang, pháp hàng phục của Bất Động Minh Vương, những pháp hàng phục này, tôi thấy họ thật đáng thương! Tôi chỉ cảm thấy đồng cảm với họ, đau lòng vì họ mà thôi! Sao có thể làm pháp hàng phục chứ? Không thể xuống tay được, đây là việc không thể nào, bởi vì tôi thường xuyên nghĩ thế này, đây là việc khó tránh, chúng sinh trong thiên hạ làm gì có chuyện dễ độ như vậy, kinh Bản Nguyện Địa Tạng Bồ Tát đã nói rằng: “Chúng sinh trong cõi Nam Diêm Phù Đề tính kiên cường, khó điều phục.” Thật sự là rất khó điều phục. 

Ngày hôm nay bạn hiển lộ một chút thần thông cho họ xem, họ tâm phục khẩu phục vui mừng muốn chết, lập tức rất vui vẻ, Sư Tôn thật sự rất lợi hại, có pháp lực, đi đâu cũng khen ngợi bạn, cách vài hôm thì họ đến thỉnh cầu nói rằng tôi muốn thi đậu giấy phép làm bác sĩ. Rõ ràng tôi biết là họ sẽ không thi đậu, nhưng được, tôi gia trì cho anh. Họ trở về và vẫn không thi đậu, vì sao lại không thi đậu chứ? Chẳng phải ông đã gia trì cho tôi rồi sao? Ấy, thần thông của ông đi đâu mất rồi? Chuyện này làm sao mà được chứ? Tôi không thèm ông nữa. Họ phớt lờ tôi, đương nhiên tôi rất đau lòng.

Sư Tôn nhìn thấy phúc phần của rất nhiều người, biết người đó không có phúc phần, vì sao vẫn cứ tiếp tục ở đó đấu tranh cho họ chứ? Vì chúng ta cảm thông với họ, hi vọng họ có thể tu pháp mà có được phúc phần. Tôi gia trì cho anh một chút phúc phần vậy! Nhưng phúc phần đó vẫn chưa thể nào giúp thi đậu được đâu! Nhưng mà tôi vẫn muốn gia trì cho anh, chí ít tôi còn có chút lợi ích, đây là việc rất thật, tôi không có gì phải giấu diếm. Bạn đến cầu gia trì, tôi lại nói: “Tôi không gia trì cho anh.” Hoặc nói với người ta là “anh không thi đậu đâu”, thế thì làm người ta đau lòng biết bao, tôi lúc nào cũng muốn gia trì cho anh! Nhưng tôi nói nhỏ một chút là chẳng có cách nào đâu, còn nói to một chút thì sẽ bảo là “Được thôi! Không vấn đề!” Đúng thật là không có vấn đề, anh nhất định có thể thi đậu, “Ừ! Được thôi!” Việc này đúng là cũng chẳng có cách nào, đôi khi tôi không thể nói quá thẳng thắn được. Độ chúng sinh đôi khi là như vậy đó, rất khó khăn, rất khó khăn, muốn mọi người hiểu được tâm của Sư Tôn cũng rất khó khăn. Tôi làm việc gì cũng khéo léo điều chỉnh một chút, trên thực tế Sư Tôn có đầy đủ công lực, tôi tự biết về mình, chính tôi cũng tin rằng bản thân mình có thành tựu.

“Hum” chính là thành tựu. “Om” là vũ trụ. “Ah” chính là Phật. Tôi tự mình tin rằng việc tu hành của mình, trong đời này tôi đã làm rất nghiêm túc, hơn nữa cũng rất xuất sắc. Chính tôi cũng tin rằng tôi đã chứng đắc minh điểm vô lậu, thành tựu nội pháp chuyết hỏa, bạn muốn thử công phu của tôi cũng được, thiên nữ cũng đến thử công phu của tôi, cũng được thôi, không hề gì, đều như nhau. Tôi thật sự đã thành tựu nội pháp rồi, bản thân tôi cũng đã khế hợp với tính Không, có thể tự kiểm soát mình, có thể tiến nhập vào đẳng lưu thân trong tính Không, chứng đắc pháp thân có thể đi khắp nơi cứu chúng sinh, cũng rất rõ ràng rành rọt, minh bạch. Giả sử đối với Sư Tôn mà bạn vẫn nói là “Ấy! Ông ta có phải là kẻ lừa đảo không nhỉ? Ông ta có phải là kẻ… háo sắc không?” Nói tiếng Quảng Đông chắc là mọi người nghe không hiểu lắm, *I love color** [tôi háo sắc]*, tôi yêu màu sắc rồi, tiếng Anh của tôi không tệ nhỉ, ông ấy có thích tiền không?

Tôi nói với mọi người sau này Sư Tôn sẽ dùng toàn bộ số tiền thu được vào một nơi - chính là sự nghiệp bồ đề, nhất định là thế. Tôi cảm thấy huệ mệnh của tôi quan trọng, sức khỏe của tôi quan trọng, mệnh và huệ này của tôi lớn hơn những thứ này, tôi thật sự có thể nhập vào tịch tĩnh. Bạn nói *diamond **[kim cương]*, những thứ gì tốt nhất tôi đều có rồi, đồng hồ tốt nhất cũng được người ta cúng dường rồi, có xe, có đồng hồ, có nhà đẹp nhất, tôi cũng không phải lo lắng về chi phí, tôi đi du lịch ở đâu cũng đều có người chi tiền. Chỗ tôi ở đều là người ta cúng dường chỗ tốt nhất, tôi còn mong cầu cái gì nữa?

Không có cái gì để mà mong cầu, bản thân tôi cũng chứng minh mình có thể đi trên trung đạo, đi trên trung đạo có thể tự kiểm soát mình, cứu người là việc vui vẻ nhất, cứu huệ mệnh của chúng sinh là việc vui vẻ nhất của tôi, cho nên nghĩ mà xem còn tham cái gì chứ? Có cái gì có thể tham? Cái tham lớn nhất tôi đã trải qua rồi, niềm sung sướng lớn nhất trên thế gian tôi đã trải qua rồi, bầu trời rực sáng, toàn bộ thiên đường, niềm vui của Phật quang tịnh thổ, tôi cũng đã trải qua rồi, nhập vào tịch diệt, cảnh giới của Phật tôi cũng trải qua rồi, tôi còn tham cái gì nữa? Cho nên việc tốt nhất, việc vui sướng nhất chính là độ hóa chúng sinh.

Pháp Đại Uy Đức Kim Cang, bạn muốn tu trì thành tựu cũng thế thôi, bạn bắt đầu thỉnh cầu cũng là bảy đàn pháp, tu bảy đàn pháp cho viên mãn, bạn tu bảy đàn pháp mà không thấy tướng gì thì lại tu bảy đàn pháp nữa, cứ tiếp tục như vậy cho đến khi nhìn thấy tướng. Nhìn thấy ánh sáng, nhìn thấy khói, nhìn thấy lửa, ba sự nhìn thấy này, nhìn thấy trong định, nhìn thấy trong mơ, nhìn thấy trong lúc tỉnh, bạn đều có hiện tượng tương ứng, hãy nhớ hễ bạn nhìn thấy thì lập tức thề nguyện với ngài, đây chính là khẩu quyết, lập tức phải có lời thề samaya với ngài, đây chính là khẩu quyết. Nếu có thể có được Hộ pháp đi theo bạn, thế thì ba căn bản lớn của Mật giáo là Căn bản Bổn tôn, Căn bản Thượng sư, Căn bản Hộ pháp, bạn đều không xả li, không vi phạm giới samaya thì bạn nhất định có được thành tựu Mật giáo lớn nhất.

Bạn chỉ cần có sự tu hành lâu bền thì bạn nhất định có thể khai ngộ, hãy nhớ là tâm lâu bền. Sự phát tâm ban đầu cũng rất quý giá, nhưng người bình thường muốn duy trì được sự phát tâm ban đầu ấy, biến nó trở thành tâm lâu bền thì rất khó, rất khó đấy. Ban đầu thì bạn muốn hi sinh sinh mạng của mình để vì chúng sinh, kết quả là cuối cùng lại biến thành vì chính mình, bạn không những không vì chúng sinh mà lại chỉ vì chính mình, tự tư tự lợi, khởi lên đủ thứ vọng tưởng điên đảo, thế thì tương lai nghiệp báo sẽ rất thảm, rất không hay, sẽ đọa vào tam ác đạo, muốn bắt đầu tu hành lại sẽ rất khó đấy.

Vì thế hãy nhớ, chúng ta tu Mật pháp, phải khẩn trương giữ gìn giới samaya, sau đó luôn luôn thận trọng tu hành trong hành vi thanh tịnh của bạn. Bạn chỉ cần tập trung tinh thần, nghị lực đời đời bền vững, Hộ pháp sẽ dõi theo bạn, bạn cầu ngài, đương nhiên ngài sẽ biết, nhưng ngài phải xem tâm của bạn, nếu bạn đích thực là tâm chân thành, ngài nhất định sẽ đến bảo vệ bạn, bạn thật sự sám hối, thật sự giữ giới samayaa, ngài nhất định sẽ đến. Phật cũng sẽ bảo vệ bạn, Bồ Tát, Kim Cang Hộ Pháp, Không Hành Chư Thiên, ngài đều sẽ nghe lệnh của bạn, cho nên bạn tu hành tức là cần phải nhớ lời tôi vừa mới nói. Hôm nay tôi truyền thụ cho bạn samaya Đại Uy Đức Kim Cang, Đại Uy Đức Kim Cang bất cộng pháp, mọi sự nghiệp của Đại Uy Đức Kim Cang [tức tăng hoài tru], hi vọng mọi người ghi nhớ, ngẫm nghĩ cho kĩ càng.

Om mani padme hum!


### 24. Thánh tôn Liên Sinh Hoạt Phật truyền thụ pháp “Tứ trùng kết giới”


Buổi lên lớp hôm nay, tôi đặc biệt nói một bài kệ:
*Ba pháp thành tựu
Tốt nhất Hộ Ma
Cúng thân khẩu ý
Phúc huệ đề huề.*

Xin chào các vị Thượng sư, pháp sư, các vị đồng môn. Đàn pháp Hộ Ma hôm nay rất thú vị, bởi vì trong lò bốc cháy, bên dưới lò cũng bốc cháy, quanh miệng lò cũng bốc cháy. Tôi cảm thấy rất kỳ quái, rốt cục là có chuyện gì vậy, vì sao mà cả ba chỗ đều vượng như vậy. Dường như là ở chính giữa cũng vượng, ở bên cạnh cũng vượng, ngay cả dưới đáy cũng vượng.

Làm Hộ Ma, có một vị nhất định phải thỉnh tới, bởi vì Hộ Ma dùng lửa là chính, cho nên đó chính là Hỏa Thiên Thần, không biết trong sớ văn có thỉnh Hỏa Thiên Thần không? (Đáp: không có.) Ồ! Không có thỉnh Hỏa Thiên Thần, cho nên Hỏa Thiên Thần mới phát hỏa [nổi giận] đó (mọi người cười). Bạn thấy không đúng sao, sao mà lại giữa lò cũng cháy, bên dưới cũng cháy, ngay cả bên cạnh chỗ rượu XO này cũng cháy (mọi người cười). Tôi còn chưa cúng Địa Thần, cúng Kim Cang Thần, sao mà các vị đã đến tranh chai rượu XO này rồi. Tôi nghĩ tới chuyện này nên hỏi một chút, Hộ Ma hôm nay có chuyện gì vậy nhỉ? Ngài nói chủ yếu nhất là nhất định phải thỉnh chủ tôn Hộ Ma.

Sau đó chủ yếu là phải đưa Hỏa Thiên Thần tới. Nếu bạn không thỉnh Hỏa Thiên Thần thì như thế là đã bỏ sót. Cho nên trong nghi quỹ Hộ Ma, nhất định phải có một vị mà bắt buộc phải thỉnh tới, chính là Hỏa Thiên, bạn nhất định phải thỉnh Hỏa Thiên. Cho nên trong sớ văn đã bỏ sót không thỉnh Hỏa Thiên, vì thế ngài mới phát hỏa.

Thế nhưng phát hỏa cũng rất tốt, rất vượng, tôi đặc biệt trong lúc tu pháp này đã kết thủ ấn của Hỏa Thiên, đặc biệt triệu thỉnh ngài, do đó tâm tình của ngài mới tương đối dịu xuống một chút (mọi người cười). Vì thế làm Hộ Ma có hai vị nhất định phải thỉnh. Thứ nhất là chủ tôn, bạn nhất định phải nhấn mạnh. Vị thứ hai, bạn nhất định phải tăng cường phụng thỉnh Hỏa Thiên. Bởi vì lửa Hộ Ma nhất định phải do Hỏa Thiên đến làm chủ.

Hộ Ma hôm nay rất tốt, có Quan Âm Tứ Thủ hạ giáng, có Bất Động Minh Vương, còn có các vị Kim Cang Hộ Pháp, bao gồm Diêm La Thiên, còn có mấy thiên chúng nữa, tất cả đều hạ giáng. Hy vọng Hộ Ma lần này có thể cho mọi người có cảm ứng rất tốt (mọi người vỗ tay).

Ngoài khuyết điểm nhỏ này ra, những việc khác đều vô cùng thù thắng và viên mãn. Bởi vì có ánh sáng phổ chiếu, khi La Sát Thiên đến, ngài nhất định sẽ nổi gió. Thậm chí khi có một vị Trời kia đến, ngài sẽ nhổ cây, sẽ làm cây bật gốc hết, cho nên vị Trời này rất lợi hại, khi vị Trời này đến thì gió thổi, có mưa, cây bật gốc. 

Vừa rồi tôi nói rằng: “Ôi chao! Hy vọng cái lều của chúng ta sẽ không bị nhổ lên.” Tôi nói: “Úi chà! Các ngài đến là tốt rồi, đừng có giương oai, cái oai ấy không cần phải giương quá mạnh đâu, cái lều này phải giữ vững để cho mọi người an toàn.” Tất cả mọi thứ khác thì hết sức tốt đẹp. Rất nhiều thiên chúng và Kim Cang Thần đều đến (mọi người vỗ tay). Bao gồm Đại Uy Đức Kim Cang, Uế Tích Kim Cang, Bất Động Minh Vương, Dạ Xoa Kim Cang Minh Vương, Cam Lộ Minh Vương, Thắng Lạc Kim Cang, Mã Đầu Kim Cang, các vị đều đến.

Có 19 vị Kim Cang Thần đã đến, mười vị Đại Minh Vương cũng đến gần hết. Tôi vừa nhìn thấy nhiều Minh Vương đến như vậy thì rất chấn động, cũng có thể nói là toàn bộ đàn thành đều rất chấn động. Cho nên hôm nay chắc là có sự việc cảm ứng rất lớn. Sư Tôn hy vọng các bạn sẽ chấm dứt mọi tai nạn, bệnh tật trên người các bạn cũng có thể tiêu trừ, có thể gia tăng phúc phần của các bạn. Mọi siêu độ chính là do Diêm La Thiên và Địa Tạng Vương Bồ Tát, ngoài ra là A Di Đà Phật, tiếp dẫn họ liên tục vãng sinh đến tịnh thổ ở Tây phương.

Om mani padme hum.

Tiếp theo tôi lại giảng pháp Tứ trùng kết giới, đợi một lát nữa tôi sẽ làm quán đảnh pháp Tứ trùng kết giới cho mọi người. Pháp Tứ trùng kết giới là một phương pháp phòng thân của Mật giáo. Mật giáo làm rất nhiều pháp phòng thân và phòng đàn thành. Cho nên nói chung, hành giả Mật giáo phải cùng tu thân thể và tâm linh, nói cách khác là tính mệnh song tu.

Thân thể của bạn phải rất tốt, tâm linh của bạn cũng phải rất thượng thừa. Hiển giáo bình thường chỉ chú trọng tu hành về mặt tâm linh, còn về mặt thân thể thì không quan tâm. Cho nên người xuất gia của Hiển giáo có rất nhiều người đều mang bệnh mà tu hành, tức là thân thể họ có rất nhiều bệnh, bị ho kinh niên, giấc ngủ không tốt, hoặc là có một số bệnh mãn tính, rồi đủ loại bệnh về gan, tỳ vị, thận. Người xuất gia thường xuất hiện với bộ dạng còng lưng, yếu ớt uể oải.

Thế còn Kim cương thừa của chúng ta thì đặc biệt không như vậy, nhất định phải có thân thể kim cang và tâm kim cang, thân thể và tâm đều phải như nhau, tu tốt như nhau. Phải tu thân thể cho tốt, phải biết phòng hộ, cho nên Mật giáo đặc biệt coi trọng các pháp phòng hộ như pháp mặc bia giáp hộ thân, pháp Quan Âm thân đàn thành tránh tai nạn, pháp đó đều có thể phá được bùa chú giáng đầu. Đặc biệt là pháp tránh tai nạn Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát thân đàn thành là cực kì hay. Thế còn lát nữa đây Sư Tôn sẽ giảng cho mọi người về Tứ trùng kết giới, cũng là một loại phòng hộ, bao gồm đàn thành và chính bản thân bạn.

Tứ trùng kết giới của Mật giáo chính là đầu tiên phải cắm cọc kim cang, cố định xung quanh đàn thành và thân thể bạn, cắm chắc bốn cái cọc kim cang. Trong hư không buông xuống võng kim cang, dựng lên bốn bức tường kim cang vây quanh bốn cái cọc kim cang này, trên tường lại bùng lên ngọn lửa kim cang. Cái này chính là Tứ trùng kết giới. Cọc kim cang chính là ranh giới với đất, võng kim cang chính là ranh giới với trời, tường kim cang chính là ranh giới với xung quanh, ngọn lửa kim cang chính là ranh giới bảo vệ. Tứ trùng kết giới này có hình vuông, bốn cái cọc chính là cọc kim cang, thế rồi hư không buông xuống võng kim cang, dựng lên bốn bức tường kim cang xung quanh, xung quanh bốn bức tường thì nổi lửa kim cang.

Ở đây cần làm quán tưởng, quán tưởng bốn cái cọc kim cang cắm chắc xuống, không trung buông xuống võng kim cang, xung quanh dựng lên tường kim cang, xung quanh bốn bức tường bùng lên ngọn lửa kim cang. Làm như vậy, bạn tu pháp và đàn thành của bạn sẽ đều bình an vô sự, mọi ma đều không thể tiến vào, đây gọi là Tứ trùng kết giới. Tứ trùng kết giới có bốn thủ ấn, bốn thủ ấn như thế này (Sư Tôn thị phạm thủ ấn).


![image](/img/img_b3609b79f5a12c67c289c529e5ff32a2.png)


Thứ nhất là thủ ấn cọc kim cang, khi làm thủ ấn cọc kim cang thì sẽ cố định cọc kim cang ở bốn góc. Tiếp theo thả hai ngón cái ở dưới ra, thế là thành võng kim cang, làm quán tưởng võng kim cang, có tấm lưới hình võng từ trong hư không giáng xuống, đặt lên trên bốn cái cọc kim cang. Tiếp theo là dựng lên bức tường kim cang, lật ra một cái là thành tường kim cang, lật qua thế là biến thành bức tường kim cang, đứng thẳng, bốn xung quanh dựng lên bức tường kim cang. Sau đó thắp lên ngọn lửa kim cang, chính là dùng ngón trỏ và lòng bàn tay, đây chính là đại diện cho lửa bùng lên. Điểm một cái, lửa bùng lên, đây là ngọn lửa kim cang.

Bốn thủ ấn này đều có: cọc kim cang, võng kim cang, tường kim cang, lửa kim cang, khi bạn làm thủ ấn đó thì cần quán tưởng như vậy. Quán tưởng được như vậy thì sẽ không có chuyện gì nữa, bạn có thể bình an tu pháp ở trong đó, không sợ bị ma chướng, ma đến cản trở cũng vô ích, bởi vì bạn có Tứ trùng kết giới. Hôm nay tôi sẽ quán đảnh cho mọi người pháp này (mọi người vỗ tay). Để tránh cho hành giả Mật giáo các bạn tu bao lâu mà ai cũng sinh bệnh, thế thì không được rồi.

Trong “Mật tông đạo thứ đệ quảng luận”, Sư Tôn đã nhắc đến. Khi tôi đến quận Ballard để giúp một người mất ngủ 19 năm, gia trì cho người đó. Khi tôi vừa mới gia trì cho người đó thì con ma ở trên người đã làm cho họ bị mất ngủ bấy lâu vội vàng bỏ chạy.

Đêm hôm đó khi tôi đang ngủ, tôi nằm trên giường ngủ, con ma đó liền đến. Nó nói: “Hay đấy nhỉ! Tôi muốn lấy mạng của người này, muốn cho hắn chết luôn, người này nghiệp chướng rất nặng. Vì ông đã đến gia trì cho hắn, hại tôi không có cách nào trốn trong thân thể hắn được nữa, tôi phải chạy. Nhưng tôi vẫn muốn tìm đến ông bởi vì ông đã đuổi tôi đi.”

Nó đang tìm tôi, trong lòng nó có nỗi oán giận, trong lòng con ma đó có sự oán hận, nó đã tìm đến tôi. Buổi tối tôi đi ngủ, nó đến đấm cho tôi một cái vào tim, “thụp”, đấm một cái. Tôi liền tỉnh dậy, không ngủ được nữa. Một lát sau tôi lại ngủ thiếp đi, “thụp”, lại một đấm nữa, lại không ngủ được. Hễ tôi ngủ, lúc sắp ngủ rồi thì hắn đột nhiên lắc chuông kim cang bên tai tôi “tinh”, khiến tôi thấy ồn ào quá mà tỉnh dậy (mọi người cười). Một lúc sau tôi lại sắp ngủ thì hắn lại đánh vào đầu tôi một cái, không sao ngủ được nữa, tôi biết hắn đang quấy nhiễu tôi.

Nhưng tôi cũng biết rằng, người bệnh kia nhất định sẽ khỏi, bởi vì con ma này đã ra khỏi thân thể của người đó, nó đến tìm tôi, thế thì người bệnh kia tối hôm nay nhất định sẽ ngủ rất ngon. Con ma này đến quấy nhiễu tôi, khi ấy tôi dùng phương pháp mà sư phụ dạy, tôi liền quán tưởng giường mình biến thành một bông hoa sen, bông hoa sen rất đẹp, tôi ngủ ở bên trong bông hoa sen này. Sau đó tôi lại quán tưởng xung quanh bông hoa sen này là hồ sen, nước cam lộ rất đẹp, đầy ắp cả hồ sen. Hoa sen ở trong hồ, tôi ngủ trong hoa sen. Chà! Trong phút chốc đã yên ổn rồi.

Không ngờ, con ma kia còn có thần thông nữa, không ngờ nó lại biến thành một con rắn nước (mọi người cười). Tôi nghĩ có hồ nước thế này đã rất hay rồi, xung quanh tôi đều là nước, nó nhất định không vào được. Nó lại biến thành con rắn nước, chuyển động trên mặt nước thế này, bơi đến bên cạnh chân tôi duỗi trên cánh hoa sen. Lúc tôi đã sắp ngủ thì nó liền cắn vào đầu ngón chân tôi. Ối! Tôi lại bị nó đánh thức, tôi nói: chuyện gì thế này, con ma này lợi hại ghê, nó biết biến thành con rắn nước cơ đấy.

Được! Tôi liền nổi lửa kim cang ở bên cạnh hoa sen, thật may là sư phụ đã dạy tôi chiêu này, xung quanh bông hoa sen biến thành hoa sen lửa, ngọn lửa kim cang đã được thắp lên như vậy (Sư Tôn thị phạm thủ ấn). Ngọn lửa kim cang cũng có cách làm như thế này, cũng là ngọn lửa kim cang, lửa kim cang hai tầng. Thắp lửa là như thế này, lửa kim cang hai tầng là như thế này (Sư Tôn thị phạm thủ ấn). Được rồi! Ngọn lửa kim cang đã bùng lên xung quanh rồi. Chà! Con rắn nước kia lại từ chỗ rất xa bơi lại. Ối! Nó chỉ có thể biến thành rắn nước, nhưng không thể biến thành phượng hoàng lửa (mọi người cười). Nó đến gần sát, gặp lửa một cái là “Xèo!” *Barbecue **[thịt nướng]** *(mọi người cười, vỗ tay). Nó không thể vào trong được, thế là tôi có thể ngủ ngon lành rồi.

Hàng ngày mỗi khi lên giường đi ngủ, Sư Tôn đều sẽ quán tưởng giường mình hóa thành hoa sen, bản thân ngủ an lành ở giữa hoa sen, rồi lại thắp lên ngọn lửa kim cang, hoa sen lửa, thì sẽ chẳng có ma nào có thể làm hại được giấc ngủ của tôi, không có ma chướng, cho nên đây chính là lợi ích của kết giới này.

Vì thế Mật giáo có kết giới, phòng ma, mặc bia giáp hộ thân, Quan Âm thân đàn thành tránh tai nạn, đây đều là để hàng phục bùa chú giáng đầu. Có người làm gì bạn đều không phải sợ, bởi vì bạn có kết giới, bốn góc có cọc kim cang, hư không có võng kim cang, xung quanh có tường kim cang, còn có lửa kim cang nổi lên nữa, đây chính là pháp Tứ trùng kết giới của Mật giáo, nhất định phải học.

Bình thường chúng ta mặc bia giáp hộ thân, tu pháp làm Tứ trùng kết giới, buổi tối đi ngủ, bạn cũng có thể quán tưởng Tứ trùng kết giới thì sẽ không có ma chướng. Bạn có thủ ấn, bạn có quán tưởng, bạn lại còn niệm chú nữa. Niệm Cam Lộ Minh Vương [Quân Đồ Lợi Minh Vương] chân ngôn: “Om amita hum pan. Om amita hum pan. Om amita hum pan.” Đây là kết giới của và chú ngữ của Cam Lộ Minh Vương. Các bạn niệm chú, quán tưởng, lại kết thủ ấn. Pháp Mật giáo này các bạn học được rồi thì thân tâm của chính các bạn sẽ khỏe mạnh. 

Vâng, cảm ơn mọi người (mọi người vỗ tay).
Om mani padme hum.

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/120-canh-gioi-moi-cua-phat-vuong.md
# Title: 120. Cảnh giới mới của Phật Vương
---

![image](/img/img_8e4b023aeb585d9b77c72315ba60f9eb.jpg)



## Cảnh giới mới của Phật Vương


Văn tập số: 120
Xuất bản năm: N/A
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu


Huyền cơ sâu xa chẳng thể đo lường
Thập phương Phật khai sáng

Đêm khuya ngày 22 tháng 7 năm 1996, tôi đã được chư Phật mười phương khai sáng, rằng tôi cần viết cuốn sách này, tên sách là "Cảnh giới mới của Phật Vương".
Cuốn sách này là những khai sáng của thập phương Phật.
Cuốn sách này được thập phương Phật cùng tán thán.
Cuốn sách này có huyền cơ sâu xa chẳng thể đo lường.

Cuốn sách này sẽ hé lộ những bí mật không thể nói cho người khác biết. Những bí mật này người bình thường cũng chưa từng được nghe qua, và từ trước đến nay cũng chưa có ai từng nói đến.

Thế nhưng, tôi hoàn toàn không hy vọng sự xuất bản cuốn sách này sẽ tạo ra sự phiền nhiễu đối với một số nhân vật nào đó. Tôi chỉ hy vọng rằng sau khi tôi viết cuốn "Cảnh giới mới của Phật Vương", mọi người hãy bình tâm tịnh khí mà nghiên cứu tỉ mỉ, tôi hoàn toàn không muốn tạo nên sự tổn thương đối với một số nhân vật nào đó. Đây là ý định gốc của tôi.

🌟

Cuộc đời này của Liên Sinh Hoạt Phật

Tăng nhân tôi năm nay 52 tuổi. Tôi thường nghĩ, cuộc đời này tôi đến thế giới Ta Bà để làm gì? Tôi (Hoa Quang Tự Tại Phật) là làm cái thá gì? Tu hành giác ngộ thành Phật là cái việc gì chứ? Cảnh giới thần thông biến hóa thần kì như thế nào? Mục đích cuộc đời này nằm ở đâu? Vì sao gọi là "Hoa Quang Tự Tại"? Huyền cơ của cuộc đời này nằm ở đâu?

Tôi từng viết bài kệ:
Tăng nhân nay đã năm mươi hai
Tùy duyên hợp tan sống qua ngày
Bạn học thuở xưa nay tứ tán
Giờ này năm sau còn không đây?

Mặc dù có cảm thán như vậy, nhưng trong cuốn sách "Cảnh giới mới của Phật Vương" này, tôi sẽ công bố hoàn toàn các câu trả lời, sẽ không còn giữ chúng lại nữa.

🌟

Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh

Trong cuốn "Mạn đàm linh cơ thần toán", tôi có nhắc đến vị linh sư vô hình của mình là Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, ngài là vị thầy đầu tiên của tôi sau khi tôi thông linh.

Vị thầy ẩn hình này, sự thật là tôi có biết diện mạo thật của ngài, chỉ là trong văn chương của mình thì tôi vẫn khéo léo để cho ngài ẩn hình.

Tôi cố ý dùng những cách gọi như "Tam Thanh Giáo Hạ", cố ý dùng từ "Linh sư", cố ý dùng "Thần tiên thượng thừa" để ẩn giấu hình ảnh của Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh.

Tôi lại còn từng nói rằng:
"Giả dụ tôi công bố diện mạo thật của Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, thì giới Phật giáo không biết sẽ có bao nhiêu người ngất xỉu?"
Hôm nay, tôi muốn khiến cho những nhân vật trong giới Phật giáo phải ngất xỉu, thở hổn hển không ngừng.

🌟

Liên Hoa Đồng Tử

Buổi tối đầu tiên sau khi tôi thông linh.
Năm đó tôi 25 tuổi.

Tôi đã đi du lịch thiên thượng giới:
Ở nơi đó, tôi đã gặp rất nhiều vị Phật Bồ Tát, họ và tôi cùng cúi đầu chào nhau, nhưng tôi chẳng nhận ra một vị nào cả. Tôi nhìn thấy những đóa hoa sen to như những chiếc bánh xe, hoa sen cũng phân ra làm nhiều màu sắc. Trên mỗi bông hoa sen đều có một vị đồng tử đang đứng, trên tay mỗi đồng tử lại cầm một bông hoa sen màu sắc khác nhau.

Khi tôi đang đi du lịch, tôi thật sự nghe thấy một âm thanh đến với tôi:
"Ngài chính là Liên Hoa Đồng Tử!"

Chính là âm thanh này đã khiến tôi kiên trì với sự nghiệp tu hành của mình, từ năm 25 tuổi cho đến năm nay tôi 52 tuổi, ngót nghét đã 27 năm rồi.
Hôm nay, Liên Hoa Đồng Tử là ai?

Tôi sẽ nói cho mọi người biết:
Thế nhân vẫn không ngớt tụng niệm tên tôi, xưng hiệu của tôi, nhưng lại không biết tôi đang đứng trước mặt họ. Bọn họ một mặt niệm Phật hiệu của tôi, một mặt thì chửi tôi, một mặt lại rời xa tôi.

Cái thế giới này thật là kì diệu quá, thật là chẳng hiểu ra sao cả, thật là chẳng thể tưởng tượng nổi rồi. Nhưng tôi cũng làm sao có thể trách chúng sinh trong thiên hạ được, bởi vì trong đám chúng sinh, ai có được thiên nhãn?

🌟

Thiên hạ đệ nhất

Phật pháp của tôi là đệ nhất thiên hạ.
Tôi đã giác ngộ và thành tựu, tôi chính là Hoa Quang Tự Tại Phật, đời này kiếp này không người nào có thể vượt trội hơn tôi, tà ma ngoại đạo có kết thành một bè cũng chẳng thể chạm tới tôi được.

Trong cuốn sách này, tôi sẽ trực tiếp thâm nhập vào những ý chỉ của Phật.

Đây là:
Cầu vồng sáng vừa hiện
Vạn áng mây cuộn bay.
Hư không chẳng gián đoạn
Chúng sinh, mau quy y.

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Diện mạo thật của Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh	


Đấng thần bí trong gương

Trong cuộc đời tu hành của tôi, vị sư phụ đầu tiên xuất hiện là Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh. Vị thầy đó là một linh sư ẩn hình, thầy đã hướng dẫn tôi học đạo suốt ba năm.

Cũng chính vì danh húy Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh này mà tôi đã từng bị độc giả chửi bới. Độc giả chửi tôi rằng tại sao mà cứ phải Tiên Sinh này nọ cho dài dòng, lẽ nào không thể gọi một câu là sư phụ hay sao?

Tôi từng nghiền ngẫm rất kĩ về hai chữ "Tiên Sinh".
Vốn dĩ, hai chữ Tiên Sinh là một cách xưng hô vĩ đại nhất, tôn quý nhất trong thời cổ đại, không giống như cách xưng hô tiên sinh với nghĩa là "ông" mà con người hiện đại ngày nay dùng ở khắp nơi. Do vậy, ngày xưa, người được gọi là Tiên Sinh không phải như "tiên sinh" của con người hiện đại, mà là có ý nghĩa tôn quý nhất như trong thời các triều đại cổ, độc giả xin đừng hiểu lầm.

Tam Sơn Cửu Hầu được gọi là Tiên Sinh, nguồn gốc của việc này tự bản thân nó đã chính là một điều phi phàm trong sự phi phàm, bởi vì vào thời các triều đại cổ, rất ít người được gọi là Tiên Sinh, thực sự là rất ít.

🌟

Mọi người đoán thử câu đố

Sau khi tên gọi Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh xuất hiện trong những cuốn sách tâm linh mà tôi viết thì đã làm dấy lên những cuộc tranh luận lớn. Thế là mọi người mới tìm cách đoán xem đó là ai.

Một vị trưởng lão gửi cho tôi một cuốn sách tên "Mật truyền vạn pháp quy tông", nội dung nói về Lục giáp thần thư, Đinh Giáp đại pháp bí mật trong Kinh Dịch, Để Khâm Tập Thiên, Địa, Nhân Mật Chỉ, vv.v… trong đó có Tam Sơn tổ sư đề thuật thơ, và thần vị của Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh.

Trong cuốn "Mật truyền vạn pháp quy tông", có chú có thuật, có một số câu chú vẫn là "Phụng Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, cấp cấp như luật lệnh". Tôi vì chuyện này mà từng hỏi linh sư. Linh sư đáp:
"Tên gọi trong thế gian giống nhau thì có gì là lạ đâu, ví dụ con tên là Lư Thắng Ngạn, lẽ nào trên đời chẳng có người nào khác tên là Lư Thắng Ngạn sao?"

Tôi nghĩ một lúc thấy cũng có lí. Trước đây khi tôi còn nhỏ, đi học tại Cao Hùng, Tả Doanh, cũng có một người tên là Lư Thắng Ngạn. Lư Thắng Ngạn này rõ ràng không phải là Lư Thắng Ngạn tôi đây. Hơn nữa, lại càng nhiều người được đặt tên là Thắng Ngạn, rất nhiều người Nhật Bản thích lấy tên gọi là Thắng Ngạn.

Do vậy, Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh trong "Mật truyền vạn pháp quy tông" hoàn toàn không phải là linh sư của tôi - Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh.

🌟

Chín con khỉ già ở trên ba ngọn núi

Có một pháp sư tự nhận là thông linh đã đặc biệt cảnh cáo tôi rằng đừng có chạm vào ma đạo, theo như ý nghĩa cái tên Tam Sơn Cửu Hầu này cho thấy thì đây chính là chín con khỉ già đã đắc đạo sống tại ba ngọn núi. [ ND: Tam Sơn nghĩa là ba ngọn núi, Cửu Hầu nghĩa là chín con khỉ ]

Vị pháp sư này còn có pháp tu luyện của Tam Sơn Cửu Hầu:
"Luyện lão thân linh ứng pháp."
"Lão thân phục đan sổ pháp."
"Triệu thỉnh lão thân phù chú."
"Lão thân phi thiên thần thuật."

Tam Sơn Cửu Hầu có nghĩa là chín con khỉ sao?
Vì điều này mà tôi ngớ người ra. Khi đó, tôi đã có năng lực đại thông linh rồi. Tôi nhờ vào "Diêu Trì Kim Mẫu vân quang pháp", đã đến cõi trời thứ chín, đã đặt chân đến nơi sâu nhất trong động tiên, đến những tầng gác tuyệt đẹp, đến những cung điện châu ngọc bảo bối, đến tận những đình đài ngọc thạch.

Tôi hỏi:
"Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh là thế nào?"
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
Đại giác kim tiên không hình tướng
Bất sinh bất diệt hóa tam sơn
Bản tính chân như vốn hiển nhiên
Bao kiếp minh tâm Cửu Hầu sư.

Sau khi tôi xuất định, tôi đã biết rằng Tam Sơn Cửu Hầu vốn chẳng phải là mấy con khỉ già đã đắc đạo ở ba ngọn núi kia!

🌟

Điện Cửu Hầu

Tại miền nam Đài Loan có một ngôi chùa, tên chùa là "Cửu Hầu Điện".
Cửu Hầu Điện có một một đạo nhân họ Trần, bên ngoài tự xưng là sư huynh đệ đồng môn của tôi. Bởi vì ông ấy cũng bái Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh làm thầy.

Tôi chưa từng đến Cửu Hầu Điện.
Tôi cũng không biết đạo nhân họ Trần theo học công phu gì.
Bởi vậy, ông ta muốn nhận tôi là sư huynh đệ đồng môn, tôi thật chẳng dám nhận. Nhận tới nhận lui, tôi sinh ra cảm giác sợ bị lợi dụng. Xin đừng trách tôi, tôi là kiểu người có gì nói nấy.

🌟

Lão tiên sinh họ Lý
Có một tiên sinh già họ Lý, là người kiêm tu Đạo và Phật, sáng lập tông phái, tự xưng là sư phụ của Lư Thắng Ngạn.

Người trong môn phái hỏi ông:
"Vì sao Lư Thắng Ngạn lại là đệ tử của ông được?"
Ông đáp:
"Vì tôi chính là Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh."
Người trong môn phái hỏi:
"Thế sao Lư Thắng Ngạn lại không đến nhận ông?"
Ông đáp:
"Tôi chỉ cần âm thầm vận thần công thì đã có thể đi dạy pháp cho anh ta rồi. Khi tôi phát công thì là vô hình vô tướng, anh ta chỉ lĩnh thọ công pháp của tôi chứ không hề biết tôi."
Thế là người trong môn phái viết thư đến muốn tôi nhận tổ quy tông.

Những người muốn tôi nhận tổ quy tông như thế này không chỉ có mỗi mình lão tiên sinh họ Lý, ngoài ra còn có Nam Cung tiên sinh, Châu lão tiên sinh,… đều muốn tôi nhận tổ quy tông. Bọn họ đều tự xưng là Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh. Hoàn toàn vớ vẩn, sao mà tôi lại có lắm sư phụ đến thế chứ.

🌟

Diện mạo thật của Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh

Tôi chưa từng bao giờ nghĩ rằng sẽ đề cao thân phận của sư phụ mình đến mức cao không gì có thể cao hơn, rồi nhờ vào thân phận cao của sư phụ để mà đề cao thân phận của chính đệ tử. Tôi cũng chưa từng bao giờ nghĩ rằng linh sư vô hình Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh của mình có thân phận cao đến mức như vậy, cao đến mức khiến người khác cảm thấy bất khả tư nghì.

Thế nhưng, nếu như quay đầu lại mà ngẫm nghĩ một chút, thân phận lai lịch của chính đồ đệ là bản thân tôi thì lại cảm thấy việc này chẳng có gì là quá đáng cả, trong việc này cũng có ý nghĩa bí mật thâm sâu, ở đây là cả đôi bên đều bổ sung cho nhau.

Trên thực tế, Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh không phải chỉ có một vị, Tam Sơn là ba vị, Cửu Hầu là chín vị, danh hiệu này đại diện cho 12 vị. Mặc dù là 12 vị, tuy nhiên trong số này có các vị mang tên giống nhưng tôn cách lại khác nhau. Trên phương diện này, sau này tôi sẽ thuật lại tỉ mỉ. Trong số các vị Phật Bồ Tát của Phật giáo, ví dụ kiểu này vô cùng nhiều.

Còn bây giờ, trước tiên tôi sẽ vén bức màn về diện mạo thật của Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, rồi tiếp đó sẽ nói về lý do vì sao mà các vị lại như thế.

Tam Sơn:
Pháp thân Phật --- Tỳ Lô Giá Na Phật.
Báo thân Phật --- Lô Giá Na Phật.
Ứng thân Phật --- Thích Ca Mâu Ni Phật.

Cửu Hầu: (Chính là chín vị trong cung điện trung tâm của Thai Tạng Giới)

1. Trung ương là Đại Nhật Tôn --- Biện Chiếu Kim Cang.

1. Đông phương là Bảo Tràng Như Lai --- Phúc Tụ Kim Cang.

1. Nam phương là Khai Phu Hoa Vương Như Lai --- Bình Đẳng Kim Cang.

1. Tây phương là Vô Lượng Thọ Như Lai --- Thanh Tịnh Kim Cang.

1. Bắc phương là Thiên Cổ Lôi Âm Như Lai --- Bất Động Kim Cang.

1. Đông nam là Phổ Hiền Bồ Tát --- Chân Như Kim Cang.

1. Tây nam là Văn Thù Bồ Tát --- Chân Như Kim Cang.

1. Tây bắc là Quan Âm Bồ Tát --- Chính Pháp Kim Cang.

1. Đông bắc là Di Lặc Bồ Tát --- Tấn Tật Kim Cang.

Cần thấy rằng để biết Tam Sơn Cửu Hầu tổng cộng có 12 vị, kì thực rất đơn giản. Khi các vị hạ giáng, dựa trên những cảm nhận của tự thân, từ lâu tôi đã phân biệt được rồi. Pháp khác nhau, âm khác nhau, lực đạo khác nhau, tiếp xúc khác nhau, khí khác nhau, v.v… tôi đã sớm biết các vị là khác nhau rồi.

Khi tay tôi kết "Tam Sơn ấn", trì chú: "Nam mô san man tô. Mu đa nam. Pua." Tôi liền chứng nhận được rằng, ấn khắc là ấn khắc của Phật Thích Ca Mâu Ni, chú ngữ chính là tâm chú của Phật Thích Ca Mâu Ni.

Thủ ấn của Phật Thích Ca Mâu Ni là Tam Sơn ấn, chính là Tam Sơn của Tam Sơn Cửu Hầu, Tam Sơn chính là ba thân Pháp thân - Báo thân - Ứng thân. Tôi lại nhớ đến câu nói của Diêu Trì Kim Mẫu: Đại giác kim tiên không hình tướng, Đại Giác Kim Tiên vào quãng thời gian đó chính là chỉ Phật Thích Ca Mâu Ni.

Mỗi lần Phật Đà hạ giáng, tay của tôi tự động kết Tam Sơn ấn, trong miệng tụng chú: "Nam mô san man tô. Mu đa nam. Pua."

Tiếp theo, khi nào thì tôi biết Cửu Hầu là năm vị Phật và bốn vị Bồ Tát của Thai Tạng Giới (chín vị trong cung điện trung tâm)? Bởi vì khi nhận sự gia trì, tôi thấy có sự phân chia thành ánh sáng ngũ sắc, trắng, đỏ, vàng, xanh lục, đen.

Rồi bốn vị Bồ Tát dạy tôi về Tứ vô lượng tâm từ bi hỷ xả.
Đại từ là Di Lặc.
Đại bi là Quan Âm.
Đại hỉ là Văn Thù.
Đại xả là Phổ Hiền.

Những cảm nhận này đều vô cùng vi tế, nhưng vẫn có thể lần lượt thể hội được từng cái một. Sau này, tôi có một lần có cơ hội lễ bái mandala Thai Tạng Giới, từ chín vị trong cung điện trung tâm phóng ra một lực hút vô cùng vô tận. Hơn thế, đúng vào lúc đó, nơi tim tôi (trái tim xác thịt) ở chính giữa có biết bao mạch ánh sáng tỏa sáng, cũng phóng ra lực hút liên tiếp, hai lực ở trong không trung gặp nhau, hòa nhập vào lẫn nhau. Hai khối lực này không ngờ lại giống nhau, là hai khối pháp lực, có sợi trắng, có vòng mảnh, có ống thủy tinh, là ở xung quanh của Thai Tạng. Do vậy, tôi đã chứng nhận và biết được, năng lượng của tôi đến từ chín vị trong cung điện trung tâm của Thai Tạng Giới. Cửu Hầu chính là Ngũ Phật Tứ Bồ Tát một trăm phần trăm, tôi đã có được lực gia trì của Ngũ Phật Tứ Bồ Tát.

Từng có một hành giả chỉ ra rằng pháp lực của tôi đến từ mandala Kim Cang Giới. Điểm này không giống với chứng nghiệm của tôi, tuy nhiên, chứng nghiệm của hành giả cũng có khả năng sẽ có sai sót, bởi vì Kim Cang Giới, Thai Tạng Giới kì thực là không hai không khác, hai giới Kim - Thai hòa lẫn vào nhau.

Thai Đại Nhật Như Lai - Kim Đại Nhật Như Lai.
Thai Bảo Trường Như Lai - Kim A Súc Như Lai.
Thai Khai Phu Hoa Vương Như Lai - Kim Bảo Sinh Như Lai.
Thai Vô Lượng Thọ Như Lai - Kim A Di Đà Như Lai.
Thai Thiên Cổ Lôi Âm Như Lai - Kim Bất Không Thành Tựu Như Lai.

🌟

Hoa Quang Tự Tại Phật

Nếu như những bằng chứng này vẫn là chưa đủ, tôi có thể nói cho mọi người biết rằng, tôi đã từ một người bình thường tu trì mà thành tựu được Phật quả Hoa Quang Tự Tại Phật.

Hoa Quang Tự Tại Phật là Phật hiệu mà Phật Thích Ca Mâu Ni đã thật sự thọ kí cho tôi, trong sách của tôi cũng đã ghi lại sự việc chân thực này. Tôi không biết nói dối, nếu tôi có vọng ngữ thì toàn bộ 120 cuốn sách mà tôi đã viết đều là nói khoác hết.

120 cuốn sách, 27 năm tu hành tương đương với tinh hoa của cả một đời tôi. Tôi bảo đảm với mọi người rằng Phật Thích Ca Mâu Ni đã thọ kí cho tôi danh hiệu Hoa Quang Tự Tại Phật, việc này là tuyệt đối chân thực chính xác, rõ ràng rành mạch. Chính là trong cuộc đời này tôi đã bước chân lên đỉnh cao thành Phật.

Kể từ khi học Phật tu hành cho đến nay, tôi thừa nhận rằng trí huệ mình tăng trưởng tương đối nhanh, nói cách khác là:
Nội chứng trí bản thể tức là Không.
Bản tính là ngũ quang thường chiếu.
Sự sáng chói của đại bi phổ chiếu.

Tôi đã tu xuất Tứ quang minh, là pháp tính hiện ra vô lượng ánh sáng. Tôi đã chứng và nhận được sự tăng trưởng về ánh sáng, chứng được trí huệ tràn đầy ánh sáng, pháp tính sáng chói vô cùng tận.

Nhờ Chân Phật Mật Pháp mà tôi tu xuất quang minh phong mạch, đạt đến cảnh giới trí huệ thanh tịnh, thân - quang - sát thổ đều có thể ngay thời điểm đó hiện lên trước mắt, lúc đó tất cả những cảnh giới mê huyễn không còn xuất hiện nữa.

Tôi đã đạt thành tựu Tam thân ngũ trí của Như Lai:
Tôi lĩnh hội được rằng, pháp tính rời xa hết thảy hí luận, chính là pháp thân, bản thân hiển hiện sự không còn bám chấp chính là báo thân, xuất hiện đủ mọi cảnh giới chính là ứng thân.

Còn nữa, rời xa hết thảy hí luận là pháp giới thể tính trí, hiển lộ sự không còn chướng ngại chính là đại viên mãn kính trí, luôn trụ trong pháp vị bình đẳng chính là bình đẳng tính trí, hiển hiện ngũ quang vô nhiễm chính là diệu âm sát trí, những gì có thể lấy (căn giới) đều hóa thành ánh sáng tức là thành sở tác trí.

Huệ lực bát nhã của tôi sớm đã phi phàm.

Đương nhiên tôi biết Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh là tam thân của Phật Thích Ca Mâu Ni và Ngũ Phật Tứ Bồ Tát của cung điện trung ương của Thai Tạng Giới.

Đây cũng chính là điều được nói đến trong kinh Pháp Hoa:
"Phật thành tựu pháp, điều nan giải hi hữu số một là, duy chỉ có Phật và Phật, do vậy có thể cứu hết chư pháp thực tướng. Cái gọi là chư pháp thực tướng, như là tướng, như là tính, như là thể, như là lực, như là tác, như là nhân, như là duyên, như là quả, như là báo, như là bản lai cứu cánh."

Tôi là Hoa Quang Tự Tại Phật, tôi đương nhiên biết diện mạo thật của Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh.

🌟

Cư sĩ Lý Bỉnh Nam và Thượng nhân Tuyên Hóa

Nghiêm túc mà nói, một vị đại cư sĩ mà tôi quen biết đầu tiên từ khi học Phật là cư sĩ Lý Bỉnh Nam (còn gọi là cư sĩ Tuyết Lư). Trong giới Phật giáo, tiếng tăm của cư sĩ Lý rất cao với tư tưởng giảng kinh thuyết pháp, hoằng dương tịnh thổ. Việc tôi quy y Ấn Thuận Đạo Sư là do cư sĩ Lý Bỉnh Nam cử hành nghi thức tam quy y.

Về sau, tôi lại quy y lão pháp sư Lạc Quả, là do ông Triệu Cơ giới thiệu, quy y pháp sư Đạo An là do ông Vương Nhất Chi giới thiệu. Đây là quá trình học Phật của tôi, tạm thời bỏ qua một bên không nhắc đến.

Khi cư sĩ Lý Bỉnh Nam biết tôi thông linh, lại nghe nói đến Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, ông giật thót mình, nói một cách không hề mảy may suy nghĩ: "Xong rồi, Lư Thắng Ngạn nhiễm ma rồi."

Còn bảo:
"Ma chỉ cần hút hết tinh khí của Lư Thắng Ngạn xong, một khi rời khỏi Lư Thắng Ngạn thì Lư Thắng Ngạn sẽ chết thôi. Các người xem, Lư Thắng Ngạn sẽ chẳng sống được lâu đâu."
(Nguyệt san Bồ Đề Thụ năm đó có một bài viết Bình luận về Lư Thắng Ngạn.)

Sau này, tôi chuyển qua Mỹ sống, cư sĩ Lý Bỉnh Nam nhập niết bàn. Trước khi ông ấy nhập niết bàn, trong thiền định tôi đã gặp cư sĩ Lý Bỉnh Nam, trên thân ông ấy có ánh sáng trắng, ông hướng về tôi nói:
"Anh và tôi tương đồng, giống nhau."

Sau khi tôi xuất định, tôi hiểu ra, cư sĩ Lý Bỉnh Nam quả nhiên đã vãng sinh đến Tây phương tịnh độ, nhưng trước khi đi, ông vẫn còn phải cố nói những lời biện bạch cuối cùng đối với những lời phỉ báng nhắm vào tôi năm đó. Tôi thấy nếu ông ta không bào chữa thì e rằng cũng chẳng thể ra đi được.

Thử nghĩ mà xem, đại cư sĩ Lý Bỉnh Nam, là một đại thiện tri thức giảng kinh thuyết pháp, vào năm đó, chẳng ngờ ông ấy vẫn chẳng nhìn ra tôi là ai, cũng không nhìn ra được Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh là ai.

Đợi cho đến lúc vãng sinh rồi, ông biết rằng không đến gặp tôi không được, thế nên ông vẫn đến gặp tôi để mà giải quyết cái công án giữa chúng tôi năm đó.

Vì sao mà Lý Bỉnh Nam lại nói: "Anh và tôi tương đồng, giống nhau." Câu nói này có ý gì? Trong những cuốn sách sau này tôi sẽ nói lại cho rõ.

Bây giờ lại nói tiếp về thượng nhân Tuyên Hóa.
Thượng nhân Tuyên Hóa còn được biết đến với tên gọi là Độ Luân pháp sư, đã xây dựng thành phố Vạn Phật ở ngoại ô bang California, ông là đệ tử dưới pháp môn của lão hòa thượng Hư Vân. Trong bốn pháp Thiền, Tịnh, Mật, Luật thì ông tu hành theo Thiền là chính, nghiêm chỉnh giữ giới luật, tam y không bao giờ rời thân, ngày ăn một bữa cơm, quá giờ ngọ sẽ không ăn, đêm không ngủ nghỉ.

Tuy nhiên, ai cũng biết rằng thượng nhân Tuyên Hóa chỉ trích Mật giáo.
Ông phỉ báng tổ sư của Mật giáo - ngài Milarepa là đại thiên ma, xuất bản cuốn sách "Phá tà hiển chính, nói vì chúng sinh", công kích Milarepa.
Ông phỉ báng Đại Bảo Pháp Vương thứ 16 Karmapa, viết bài đăng trong nguyệt san của thành phố Vạn Phật.
Ông phỉ báng tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn).

Tôi và thượng nhân Tuyên Hóa chỉ có một lần gặp mặt, đôi bên nói chuyện. Trong cảm nhận của tôi thì vị pháp sư này cao ngạo và thô tục, giảng pháp thì nhạt nhẽo chẳng có chút pháp vị nào, tôi chẳng nhìn ra ông ta có chút pháp lực nào, thậm chí trực giác cũng cho tôi thấy rằng ông ta tục không chịu nổi.

Nhưng, điều khiến tôi cảm thấy kì lạ là, một pháp sư phàm phu thế tục như vậy, vì sao lại xây dựng nên được cục diện của thành phố Vạn Phật. Cho đến khi tôi nhìn ra được phía sau lưng ông có một vị Lăng Nghiêm Vương Bồ Tát đang đứng. Vị này có màu đen, khi đến khi đi. Lăng Nghiêm Vương Bồ Tát được tôn làm Vương Tam Muội, nếu như có người nào đắc được Vương Tam Muội thì chắc chắn sẽ có nhiều người theo.

Vì lý do này mà thượng nhân Tuyên Hóa, nhờ có Lăng Nghiêm Vương Bồ Tát thường xuyên tới lui, nên rất nhiều người đã đi theo ông ta. Trên biểu hiện bề ngoài thì pháp sư Độ Luân có pháp lực thần thông, nhưng làm một hồi thì tôi mới biết là có Lăng Nghiêm Vương Bồ Tát âm thầm giúp đỡ ông một tay.

Được thôi, tôi nói thượng nhân Tuyên Hóa - pháp sư Độ Luân là phàm phu tục tử, thế vì sao Lăng Nghiêm Vương Bồ Tát lại theo hỗ trợ ông ta chứ! Hóa ra, thượng nhân Tuyên Hóa mặc dù thô tục nhưng lại thuộc nằm lòng một bản kinh. Đó chính là bản kinh Lăng Nghiêm. Kinh Lăng Nghiêm là một kinh điển trọng yếu trong hệ thống Chân Thường, lời văn lưu loát trong sáng. Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Kinh có viết: "Nếu có người nào đọc thuộc được kinh này thì tất cả tam muội đều theo tháp tùng."

Do thượng nhân Tuyên Hóa tôn sùng kinh Lăng Nghiêm nên Lăng Nghiêm Vương Bồ Tát mới vội đến để hộ trì cho ông ta, đạo lý này cực kì rõ ràng.

Tôi biết thượng nhân Tuyên Hóa chưa hề thực sự tiến nhập vào Tam Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Vương Tam Muội, chưa giác ngộ viên mãn "Bản Như Lai Tạng Diệu Chân Như Tính".

Khẩu nghiệp của ông ta là nặng nhất. Ông ta không chỉ chỉ trích Mật giáo, ông ta cũng nói Tinh Vân đại sư là hòa thượng giả, ông ta không những chửi người ngoài mà cũng chửi cả đệ tử của mình. Tính cách của ông ta hỗn tạp đủ mọi phiền não trần tục.

Ở Seattle, ông ta có một đệ tử tên là Sofia, mấy năm trước cô này nói với tôi rằng ông ta mắc bệnh rồi, muốn tôi dùng thiên nhãn để quan sát. Tôi nhìn thấy trên người ông ta có hai khối khí đen.
Một khối khí chạy hướng lên trên, đi qua tim đến họng.
Một khối khí chạy hướng xuống dưới, đi qua vùng bụng xuống đến thận.

Sau đó, thượng nhân Tuyên Hóa viên tịch. Báo cáo của bác sĩ nói rằng thượng nhân Tuyên Hóa chết do bị ung thư tuyến bạch huyết, nhưng, hai quả thận của ông ta từ lâu đã mất hết chức năng rồi, kì thực từ lâu thận đã hỏng rồi. Báo cáo của bác sĩ đã chứng minh sự quan sát bằng thiên nhãn của tôi là đúng.

Thượng nhân Tuyên Hóa chết rồi, chết rồi thì cũng mới nhận ra rõ ràng rằng, trên thực tế cũng chẳng thể làm gì được nữa, vì sao như vậy? Bởi vì công án phỉ báng tôi của ông ta vẫn chưa kết thúc, thế nên mới phát sinh ra sự kiện Tam Tào hội thẩm…

Các nhân vật xuất hiện trong buổi Tam Tào hội thẩm này gồm:
Đại biểu cho Thiên Tào - Lăng Nghiêm Vương Bồ Tát.
Đại biểu cho Địa Tào - Diêm La Vương Tôn giả.
Đại biểu cho Nhân Tào - Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.
Người bị hội thẩm - thượng nhân Tuyên Hóa và bốn đệ tử của ông ta.
Người làm chứng - Liên Hoa Thụ Anh.

Buổi Tam Tào hội thẩm này, Liên Hoa Thụ Anh chứng kiến từ đầu đến cuối, quá trình hội thẩm không cần nhắc lại nữa, tóm lại, kết cục cuối cùng là:
Tôi ở không gian phía trước phóng quang tiếp dẫn, thượng nhân Tuyên Hóa và bốn đệ tử của ông ta chắp tay, niệm tâm chú của Liên Sinh Hoạt Phật: "Om. Guru. Liansheng. Siddhi. Hum." Theo tôi tiếp dẫn đến Tây phương.
Khi sống ông chửi tôi.
Chết rồi tôi tiếp dẫn.
Việc này là thế nào.
Là tính bình đẳng thôi.

Kì thực, có sự việc tiếp dẫn này cũng là vì tôi nể mặt Lăng Nghiêm Vương Bồ Tát, Lăng Nghiêm Vương Bồ Tát là chủ nhân của thượng nhân Tuyên Hóa. Đồng thời, tôi là một vị Như Lai đã đắc chứng "bình đẳng tính trí", đương nhiên tôi cũng chẳng buồn để tâm đến những lời phỉ báng vớ vẩn đó!

Lăng Nghiêm Vương Bồ Tát đương nhiên cũng biết Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn tôi là ai! Ngài lại càng biết Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh là ai! Ngài biết Tam thân của Phật Thích Ca Mâu Ni và Ngũ Phật Tứ Bồ Tát đều là thầy của tôi, tôi có thể xuất nhập vào thập pháp giới không chút chướng ngại, chính nhờ vào pháp lực này mà từ lâu tôi đã "Thiên thượng địa hạ, duy ngã độc tôn" rồi.

Trước có cư sĩ Lý Bỉnh Nam đưa ra công án, sau có thượng nhân Tuyên Hóa đưa ra công án.

Sư phụ Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh của tôi dạy đạo cho tôi ba năm, việc này chính là "Tam Sơn ánh sương lung linh sáng, Cửu Hầu tường vân chẳng ngừng bay".

Tôi thở dài trước những việc phỉ báng:
Gió thổi khói hương khẽ tỏa bay
Hồ điệp trong mơ người chẳng thấy
Trăng dời bóng hoa lên bức rào
Sao hoảng hốt
Thốt tiếng kêu,
Đâu biết đêm khuya quá nửa rồi!


### 02. Kiếp trước đời này


Bản Tính Kinh

Phật Thích Ca Mâu Ni có "Bản Tính Kinh" truyền lại cho hậu thế. Cái gọi là "Bản Tính Kinh" chính là chuyên kể về tiền kiếp của Phật Đà, Phật Đà cũng đã từng luân hồi trong lục đạo, ví dụ: Vua Khỉ, Vua Voi, Vua Hươu, Vua Ngỗng,… đều là trong cõi súc sinh.
Trong cõi người, Phật Đà cũng từng chuyển thế nhiều lần, ví dụ: Phật Đà bị người đàn bà tên Tôn Đà Lợi phỉ báng.

Phật Thích Ca Mâu Ni cũng đã từng kể về nhân duyên nhân quả của kiếp quá khứ.
Phật Đà nói:
"Trong rất nhiều kiếp quá khứ, có một thành phố tên là Ba La Nại, có một người sống ở đây tên là Tịnh Nhãn, kiếm sống bằng nghề ca hát diễn trò (chính là nghề diễn viên ngày nay)."

Khi đó, có một người phụ nữ xinh đẹp tên gọi là Lộc Tương, hai người này cấu kết dâm lạc với nhau. Về sau, thấy Lộc Tương có tiền, Tịnh Nhãn âm mưu chiếm đoạt tài sản, đã giết chết Lộc Tương, sau đó đem thi thể cô chôn trong nhà của một người tu đạo đã đắc đạo. Đạo nhân này tên gọi là Lạc Vô Vi Tích Chi Phật.

Tiếp đó, Lạc Vô Vi Tích Chi Phật bị hiểu lầm, bị trói lên lưng lừa để đi nhiễu trên đường cho dân chúng xem, sau đó sẽ bị dùng cung tên bắt chết. Lúc này, lương tâm của Tịnh Nhãn trỗi dậy, tự mình đến nhận tội với quan chủ sự về sai lầm của mình. Cuối cùng, sau khi điều tra, quả nhiên là do Tịnh Nhãn làm.

Còn Lạc Vô Vi Tích Chi Phật vì vô duyên vô cớ mà bị phỉ báng, cảm thấy không muốn ở lại thế gian nữa, bèn ở trước mặt mọi người, phi thân lên hư không, trong hư không ngồi nằm đi đứng. Thế rồi, hoặc từ phần eo trở xuống tỏa khói, từ phần eo trở lên bốc cháy, hoặc từ phần eo trở xuống thì bốc cháy, từ phần eo trở lên thì tỏa khói, hoặc sườn bên trái tỏa khói, sườn bên phải bốc cháy, hoặc sườn bên trái bốc cháy, sườn bên phải tỏa khói, hoặc bụng và lưng bốc cháy tỏa khói, một phần bụng khác thì tuôn ra nước lửa, sườn trái tuôn ra nước lửa, lưng bụng tuôn ra nước lửa.

Cuối cùng là, nhún người ra khói, nhún người ra lửa, nhún người ra nước, rồi ở trong hư không tự thiêu thân diệt độ. (Sự việc diệt độ của Lạc Vô Vi Tích Chi Phật là hiện tượng do tu luyện chuyết hỏa định.)

Phật Thích Ca Mâu Ni nói:
Tịnh Nhãn - Là tiền thân vô lượng kiếp của Thích Ca Như Lai.
Lộc Tương - Là Tôn Đà Lợi người đã phỉ báng ta.

Phật Đà nói với Xá Lợi Phất:
"Này Xá Lợi Phất! Trong vô lượng sinh tử tiền kiếp, ta là một phàm phu tên là Tịnh Nhãn, bởi vì tham tiền tài của một người phụ nữ tên là Lộc Tương mà đã giết hại Lộc Tương, rồi còn gài bẫy Tích Chi Phật, tội này quá nặng rồi. Thế nên trong vố số nghìn năm, thần thức linh hồn đã bị đọa trong địa ngục bùn lầy, rồi bị chịu tội phạt treo trên cây tua tủa gươm đao. Vô số nghìn năm, linh hồn thần thức bị đọa trong khổ sở của đạo súc sinh, vô số nghìn năm linh hồn thần thức bị đọa trong đạo ngạ quỷ chịu khổ. Do vẫn còn dấu vết tàn dư từ tai ương đó mà kiếp này, mặc dù đã tu thành tối thắng Phật Đà, vẫn còn phải chịu sự phỉ báng của Tôn Đà Lợi."

Đoạn trên là tự thuật của Phật Thích Ca Mâu Ni về nhân duyên quả báo của việc bị người phụ nữ Tôn Đà Lợi phỉ báng.

🌟

Kiếp trước đời này

Đương nhiên, Phật Thích Ca Mâu Ni nói về nhân duyên tiền kiếp của bản thân ngài rất nhiều, ngoài sự phỉ báng của Tôn Đà Lợi ra còn có sự phỉ báng của Chiến Già, có nhân duyên của việc đau đầu, có nhân duyên của việc đau lưng, có nhân duyên của việc đau chân, có nhân duyên của hòn đá làm bị thương ở chân, có nhân duyên của bệnh đường ruột, có nhân duyên của việc ăn cỏ ngựa, có nhân duyên bị Đề Bà Đạt Đa phản bội, v.v…

Vì sao tôi lại đưa ra nhân duyên Tôn Đà Lợi phỉ báng, bởi vì trong nhân duyên quả báo này cho thấy nghiệp tội mà Phật Đà đã phạm phải năm đó quả nhiên là rất nặng.

1. Giết người - Giết Lộc Tương, nghiệp sát là nặng số một.

1. Giết Tích Chi Phật - Tích Chi Phật mặc dù không phải do Phật Đà giết, nhưng cái chết của ông là vì Phật Đà mà chết, là giết người tu đạo, là ngũ nghịch tội.

1. Tà dâm - Tịnh Nhãn và Lộc Tương đã gian dâm với nhau.

1. Trộm cướp - Cướp tiền bạc của Lộc Tương.

1. Nói dối - Vu oan cho Tích Chi Phật.

Do vậy, tôi viết ra ví dụ này là muốn cổ vũ mọi người rằng, rất nhiều kiếp trước, Phật Đà cũng từng phạm nghiệp tội nặng như vậy, nhưng, Ngài vẫn có thể tu thành Đức Phật tối thắng, có thể thấy là chỉ cần sẵn lòng hạ quyết tâm tu hành, bất kể đã phạm nghiệp phạm tội như thế nào đều sẽ có ngày thành Phật. Cho dù là tội ác ngất trời, chỉ cần buông dao xuống, là cũng có thể lập địa thành Phật.

Tôi viết vòng vèo một hồi, vẫn là bốn chữ - nhân quả luân hồi. Việc nhân quả luân hồi là rất logic.

Muốn hỏi nguyên nhân kiếp trước
Hãy xem kiếp này ra sao.
Muốn hỏi kết quả kiếp sau
Cứ xem kiếp này làm gì.

🌟

Tôn giả Xá Lợi Phất

Tôi có một đệ tử ở phương xa tên là Liên Hoa Tố Nguyệt, khi về đến Seattle Lôi Tạng Tự, vừa gặp mặt tôi, cô hướng về tôi đảnh lễ:
"Kinh lễ Tôn giả Xá Lợi Phất!"

Có một đệ tử ở Vancouver tên là Liên Hoa Bá Hiển, đã thỉnh mua một bức tượng Tôn giả Xá Lợi Phất từ Đài Loan gửi đến Chân Phật Mật Uyển tặng tôi.
Tôi hỏi:
"Là tượng ai đây?"
Đáp:
"Xá Lợi Phất!"
Tôi hỏi:
"Vì sao lại chọn thỉnh tượng Xá Lợi Phất?"
Đáp:
"Sư Tôn chẳng phải là Xá Lợi Phất chuyển thế hay sao?"
Tôi há hốc miệng:
"Ớ… Ớ…"
Tôi cứ "ớ" cả hồi lâu như thế, cũng không nói gì!

Theo tôi được biết, trên thị trường có mấy cuốn sách, tác giả chỉ rõ tôi chính là Xá Lợi Phất chuyển thế. Mấy cuốn sách này lại không phải của cùng một tác giả, nói cách khác là có mấy người là tác giả, nhận định rằng tôi chính là Xá Lợi Phất chuyển thế, là đệ tử hàng đầu, một trong số mười đại đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni.

Tin đồn này càng lan càng rộng, càng ngày càng thật, dường như tôi cũng đã thật sự biến thành Xá Lợi Phất tái xuất rồi. Trên thực tế, cũng có rất nhiều người gửi thư đến hỏi tôi:
"Ngài rốt cục có phải là Xá Lợi Phất không?"
Rốt cục là đúng hay không đúng?
Tôi nhận! Hay là không nhận! Hay là từ chối bình luận! Thôi cứ mặc kệ nó đi!

Đối với người đệ tử hàng đầu của Phật Thích Ca Mâu Ni là Xá Lợi Phất, trong lòng tôi cực kì ngưỡng mộ kính trọng, người Phật Đà tín nhiệm nhất chính là tôn giả Xá Lợi Phất. Do vậy, Phật Đà mới bảo đứa con trai của chính mình là La Hầu La cần bái Xá Lợi Phất làm thầy trước tiên.

Tịnh xá Kì Viên là do Xá Lợi Phất phụ trách xây dựng.
Sáu vị ngoại đạo là do Xá Lợi Phất đi hàng phục.

Tôn giả Xá Lợi Phất đã đi theo bên cạnh Phật Đà hơn 40 năm, tự nhận rằng đối với Phật Đà chưa từng có lúc nào phát sinh suy nghĩ không vui cả, hoặc là suy nghĩ không hài lòng. Ngược lại, tôn giả luôn luôn nghe lời Phật Đà, hoàn toàn theo những chỉ thị của Phật Đà mà làm, nỗ lực tinh tấn, đạt được chính giác, cho đến khi không còn chấp ngã, không còn tốt xấu, tâm ngài bình đẳng. Cuối cùng, ngài đã tiến nhập vào cảnh giới niết bàn tịch tĩnh trước Phật Đà.

Tôn giả Xá Lợi Phất kì thực tên gọi là Xá Lợi Phất Đa La, tên gốc là Ưu Bà Để Sa, là con trai của bà Xá Lợi, sống tại một thôn trang tên là Chủ Ma Trá La, cách thành Vương Xá một dặm rưỡi về phía đông nam, cha ngài tên là Đế Sa, là một học giả Bà-la-môn.

Khi còn nhỏ, Xá Lợi Phất đã nhận được sự giáo dưỡng của người cha bác học đa tài và người mẹ thông minh khôn khéo. Ngài tinh thông hàng trăm kĩ năng, trí tuệ vượt trội, khi ngài còn chưa quy y Phật Đà thì ngài cũng đã có rất nhiều đệ tử rồi. Sau này ngài đã dẫn dắt hơn 350 đệ tử đến quy y Phật Đà. Tôn giả Xá Lợi Phất được gọi là bậc trí huệ đệ nhất. Ngài được Phật Đà thọ kí là Hoa Quang Phật, sẽ giáng thế một lần nữa tại nhân gian, để làm lợi ích cho hết thảy chúng sinh.

Trong quá khứ tôi từng đem Xá Lợi Phất và mấy vị đại đệ tử của Phật Đà ra để so sánh.

1. Đại Ca Diếp - Đầu đà đệ nhất. (nhưng chấp vào pháp tương đối nặng)

1. Mục Kiền Liên - Thần thông đệ nhất. (nhưng cá tính thiên kiến, căm ghét ngoại đạo đến tận xương tủy)

1. A Nan - Đa văn đệ nhất. (vẫn không thực tu, khai ngộ muộn nhất)

Duy có Xá Lợi Phất từ sớm đã chứng ngộ pháp tính, giảm tham biết đủ, không thích tranh đua, hàng phục ngoại đạo, không còn ngã chấp, tinh tấn thiền định, không còn khổ não.

Phật Thích Ca Mâu Ni từng nói:
"Xá Lợi Phất có nhân duyên đẹp nhất, không ai có thể sánh bằng Xá Lợi Phất."
Trong con mắt và tâm trí của tôi, ngoài Phật Đà ra, tôn giả Xá Lợi Phất có thể xem là người mà tôi tôn kính ngưỡng mộ nhất. Tôi có thể là ngài Xá Lợi Phất chuyển thế sao?

Nếu như tôi là ngài Xá Lợi Phất chuyển thế, trí huệ của tôi thì sao? Tâm trí bình đẳng của tôi thì sao? Tôi có thể hàng phục được ngoại đạo không? Tôi có thể chấp ngã không? Tôi có thể không còn phân biệt tốt xấu không? Tôi thật sự là Xá Lợi Phất sao?
Ai có thể chứng minh cho tôi?
Tôi tự mình chứng minh sao?

🌟

Hoa Quang Phật và Hoa Quang Tự Tại Phật

Phật Thích Ca Mâu Ni thọ kí cho Xá Lợi Phất là Hoa Quang Phật.

Trong văn tập "Phong thái của loài bướm" của tôi, tôi có ghi lại một chương kể về "Uống cà phê cùng Phật Thích Ca Mâu Ni".
Thời gian: buổi tối ngày 6 tháng 5 năm 1992.
Địa điểm: một quán cà phê tại Đài Bắc.
Nhân vật: Phật Thích Ca Mâu Ni và Liên Sinh Hoạt Phật.
Cách thức: xuất nguyên thần.

Phật Thích Ca Mâu Ni nhìn thấy trên bàn có một tờ giấy trắng và một cây bút, ngài bèn cầm bút lên và viết ra năm chữ lớn, sau đó đưa cho tôi xem.
Rất rõ ràng, năm chữ lớn này là: Hoa Quang Tự Tại Phật.
Phật Thích Ca Mâu Ni nói:
"Liên Sinh, ngài chính là Hoa Quang Tự Tại Phật."
Tôi đáp:
"Đúng vậy, tôi chính là Hoa Quang Tự Tại Phật."

Phật Thích Ca Mâu Ni và tôi (Liên Sinh Hoạt Phật) đều hồi tưởng về những chuyện thú vị của 2500 năm trước, cùng ăn cơm, cùng đi ngủ, cùng tắm giặt, cùng mặc áo.

"Rốt cục ngài có phải là Xá Lợi Phất không?" - Rất nhiều người hỏi.
Tôi trả lời:
"Tôi là Lư Thắng Ngạn."

🌟

Nhiều loại thân phận

Bây giờ lại xảy ra vấn đề rồi. Giả dụ đời trước của Lư Thắng Ngạn là Xá Lợi Phất, thế vì sao lần đầu tiên tôi đi du lịch đến thiên thượng giới, đi gặp tiền kiếp của mình, thì không phải là gặp Xá Lợi Phất, mà lại gặp Liên Hoa Đồng Tử?

Liên Hoa Đồng Tử là tận mắt tôi nhìn thấy, tận tai nghe thấy, là Tây phương cực lạc thế giới, Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử phóng ra những tia sáng lớn rực rỡ màu trắng, lẽ nào Xá Lợi Phất tương đương với Liên Hoa Đồng Tử, Liên Hoa Đồng Tử tương đương với Lư Thắng Ngạn?

Khám phá về vấn đề này thì không chỉ có như vậy thôi đâu.

Thượng sư Liên Hoa Tịnh Hương của Nhật Bản trong thiền định đã nhìn thấy:
Tổ sư Không Hải của Đông mật xuất hiện trong thiền định, đưa Liên Hoa Tịnh Hương bay đến cảnh giới cao nhất của Bì Lư Thánh Hải.
Đại sư hoằng pháp là ngài Không Hải lấy ra bộ y phục lama của Chân Phật Tông, đưa cho Liên Hoa Tịnh Hương mặc vào. Sau đó, mặt của đại sư hoằng pháp Không Hải từ từ biến thành mặt của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.
"A! Không Hải đại sư, Lư Thắng Ngạn, Lư Thắng Ngạn, Không Hải đại sư."

Do có lần thiền định này mà Liên Hoa Tịnh Hương thượng sư cho rằng đại sư hoằng pháp Không Hải chính là tiền kiếp của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.
Nếu như xâu chuỗi vào thì sẽ là:
Liên Hoa Đồng Tử - Xá Lợi Phất - Không Hải đại sư - Lư Thắng Ngạn.

Tuy nhiên, cũng lại không chỉ có như vậy mà thôi.
Bên ngoài còn đồn tôi còn là hóa thân của ngài Tsongkhapa, người sáng lập phái Mật tông Tây Tạng Mũ Vàng. Họ nói, mặt của tôi và Tsongkhapa trong cung Ung Hòa rất giống nhau, ngay cả đến lúm đồng tiền cũng giống.

Bản thân tôi khi giảng về "Mật tông đạo thứ tự quảng luận", tôi cũng tự cảm thấy những thứ mà tôi đang luận giảng như là của chính mình, có những linh cảm về nguồn gốc tuôn trào. Hơn thế nữa, tôi còn giảng trôi chảy dễ dàng như ăn bánh, càng thâm nhập vào nội hàm bên trong thì dường như càng cảm thấy vẫn chưa thể nói hết được những ý nghĩa của chúng. Tôi cảm thấy tự mình đang nói về mình, tự mình hóa thân thành Tsongkhapa, khi tôi thuyết pháp, căn bản là giống như bản thân Tsongkhapa đang thuyết pháp.

Giờ thì, nếu như xâu chuỗi lại:
Liên Hoa Đồng Tử - Xá Lợi Phất - Tsongkhapa - Không Hải đại sư - Lư Thắng Ngạn.

Ngoài ra, đệ tử của tôi tên Lâm Huệ Trinh nói với tôi rằng:
"Bên ngoài đồn là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn từng làm Hoàng đế ở Lạc Dương Trung Quốc, là vào thời đại nhà Đường."
"Không phải là Lương Võ Đế sao?"
"Không phải, không phải, là Đường Minh Hoàng!"
"Đường Minh Hoàng? Đó là một hoàng đế phong lưu, là ai nói vậy?"
"Trong mấy cuốn sách kia viết thế."

Xâu chuỗi lại thì sẽ thành là:
Liên Hoa Đồng Tử - Xá Lợi Phất - Đường Minh Hoàng - Tsongkhapa - Không Hải đại sư - Lư Thắng Ngạn.
Thứ tự này khả năng có sự lẫn lộn.
Các nhân vật trong này, thật thật giả giả, làm sao ấn chứng?

Vấn đề về kiếp tước, tôi thỉnh thị Diêu Trì Kim Mẫu.
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
Duyên từ tâm mà sinh
Cũng từ tâm mà diệt
Hết sinh diệt do ai
Xin mời tự phân giải.

Trên thực tế, sau khi tôi khai ngộ, tôi theo Duy thức mà tiến nhập vào "mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý", rồi lại tiến nhập vào khai phá "Mạc Na Thức", khai phá "A Lại Da Thức", rồi tiến nhập vào "Am Ma La Thức", cuối cùng là nhập vào "Vô Lượng Thức". Lúc này thì bầu trời sáng trong xanh, trăng thu tròn vẫn thế.

Kiếp trước đời này của tôi đều nằm trong đó, bao nhiêu thân phận toàn bộ đều xuất hiện rõ như ban ngày, hiện lên giống như chiếu phim liên tục vậy.

Lúc này, tôi đã chứng đắc được túc mệnh thông, bởi vì trong chủng tử của "thức" có chủng tử của mỗi một đời, nếu theo cách nói của khoa học hiện đại ngày nay thì mỗi một hạt chủng tử chính là một quá trình của một cuộc đời, cô đọng lại thành một khối LD [ chủng tử thức ].

Có người cho rằng Liên Sinh Hoạt Phật đã đắc trí huệ bát nhã, nhưng không hiểu Duy thức! Cho rằng Di Lặc Bồ Tát mới là bậc chuyên gia vĩ đại về Duy thức.

Kì thực:
Vì đều ở tâm mình
Nào phải do ai nói
Chỉ cần khổ công rèn
Sẽ thấu triệt Hư không.


### 03. Liên Hoa Đồng Tử lộ diện


Bí mật lớn của Liên Hoa Đồng Tử

Ở đây tôi xin viết một bài kệ:
Thể tính thanh tịnh vốn vẫn vô sinh,
Bên trong như nhau chẳng gì khác biệt.
Ở pháp giới với bám chấp biệt phân
Mượn huyễn danh, như Liên Đồng Hoa Tử.

Bài kệ này minh chứng rằng, trong sự thiền định an nhiên tĩnh lặng của tôi, vào thời điểm chính giác cuối cùng, lúc này, tôi và tam thế chư Phật là một thể, không hai không khác, tự tính quang minh.

Tôi nhập vào trong chủng tử thức của Liên Hoa Đồng Tử, tự thân mặc niệm một lúc, tôi giống như mây bay vào trời cao, hoặc giống như cá nhảy vào ao sâu, tôi nhào lộn như một màn diễn trò liên tiếp đầy huyễn ảo.

Tôi nhìn thấy trên cung điện Thiên Vương phóng tỏa ánh sáng nhiều màu sắc, trước Hộ pháp đường tỏa ra khói tím, Tứ đại Kim Cang, ba nghìn Yết Đế, mười hai Đại Diệu, mười tám Già Lan bảo vệ đại pháp đường Hồng Trần Bất Đáo Chư Duyên Dĩ Tận.

Trong đại pháp đường, ba mươi lăm vị Phật đang họp kín. Trong ba mươi lăm vị Phật, vị đầu tiên là Phật Thích Ca Mâu Ni, vị cuối cùng là Bảo Liên Hoa Thiện Trụ Bà La Thụ Vương Phật.

Quá trình diễn ra của buổi họp kín rất dài, do vậy tôi bỏ qua không nhắc đến, ở đây tôi chỉ trình bày kết quả của buổi họp bí mật:
Chủ đề của buổi họp kín: ở thế giới Ta Bà, những người phạm vào năm tội vô gián càng ngày càng nhiều, cần tiến cử và phái một vị Đại Như Lai xuống phàm trần để độ chúng sinh.

Kết quả của buổi họp kín: tiến cử một vị Đại Như Lai danh khí vĩ đại nhất xuống thế giới Ta Bà, không ngờ người "trúng tuyển" là A Di Đà Phật của Tây phương cực lạc thế giới.

Hiện Vô Ngu Phật một trong số 35 vị Phật nói:
"Không được, không được, A Di Đà Phật không được!"
Thích Ca Mâu Ni Phật hỏi:
"Vì sao không được?"
Hiện Vô Ngu Phật nói:
"Hành giả ngày nay, người người đều xưng niệm thánh hiệu A Di Đà Phật, nếu thật sự là có A Di Đà Phật giáng thế, chúng sinh chắc chắn sẽ cho là giả, do vậy, vẫn chưa hoằng pháp được thì đã phải nhập Niết Bàn rồi, do vậy không được."
Thiện Du Bộ Phật thở dài:
"Làm thế nào mới được?"
Thích Ca Mâu Ni Phật nói:
"Lấy một cái tên khác, gọi là Liên Hoa Đồng Tử."
Ba mươi tư vị Phật khác khi vừa nghe đến cái tên Liên Hoa Đồng Tử thì trong lòng rất hoan hỉ, vị nào cũng gật đầu khen hay, thế là, quyết định A Di Đà Phật đổi tên thành Liên Hoa Đồng Tử xuống thế giới Ta Bà để độ chúng sinh.
Vô Ưu Đức Phật hỏi những vị khác:
"Sẽ hoằng pháp gì?"
Tinh Tấn Quân Phật đáp:
"Ngày xưa, Thích Ca Mâu Ni Phật lấy Mật hoằng Hiển. Ngày nay, A Di Đà Phật lấy Hiển hoằng Mật. Do vậy, Hiển - Mật viên dung."
Ba mươi lăm vị Phật nghe xong đều đại hoan hỉ.

🌟

Hồ sơ cực kì cơ mật

Nghị quyết này được liệt vào là "hồ sơ cực kì cơ mật", bất kì một vị Phật nào cũng đều không được để lộ ra. Từ năm 25 tuổi cho đến hôm nay là 52 tuổi, tôi mới nói chuyện này ra, bởi vì thời cơ đã đến, thời khắc để cho Liên Hoa Đồng Tử lộ diện đã đến rồi!

Chương sách này, tôi muốn chứng minh mấy điểm, để giải thích cho những nghi ngờ của mọi người:
Có người cho rằng giáo chủ của Tây phương cực lạc thế giới hạ sinh tại nhân gian, vậy thì trên trời vẫn còn A Di Đà Phật không?

Câu hỏi này, chỉ cần là người có kiến thức Phật học một chút đều có thể trả lời được. Phật có tam thân, Pháp thân, Báo thân và Ứng hóa thân. A Di Đà Phật của Tây phương cực lạc thế giới là cảnh giới của Báo thân, cảnh giới Pháp thân của A Di Đà Phật đương nhiên vẫn là Tỳ Lô Giá Na Phật, là Đại Nhật Như Lai Ngũ Trí, một hóa thân của Diệu Quan Sát Trí.

Còn Lư Thắng Ngạn chính là một trong những Ứng hóa thân của A Di Đà Phật. Cách giải thích trong Phật học là như vậy. Một mặt trăng tròn treo cao trên hư không, còn trong các hồ nước cũng có mặt trăng, trong các dòng sông có mặt trăng, hình thành nên hiện tượng nghìn sông có nước nghìn sông trăng.

Mặt trăng tượng trưng cho Báo thân của A Di Đà Phật.
Còn những mặt trăng hiện trong nước tượng trưng cho Ứng hóa thân Lư Thắng Ngạn.

Do vậy, truyền thừa chân chính của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn là:
Nguyên là: Đại Nhật Như Lai - Phật Nhãn Phật Mẫu - Liên Hoa Đồng Tử - Lư Thắng Ngạn.
Hiện là: Đại Nhật Như Lai - Phật Nhãn Phật Mẫu - A Di Đà Phật - Lư Thắng Ngạn.
Liên Hoa Đồng Tử chính là A Di Đà Phật.

Còn nghi hoặc quan trọng thứ hai là:
Vì sao khi Phật Thích Ca Mâu Ni thọ kí cho Liên Sinh Hoạt Phật thì không phải tên là A Di Đà Phật hoặc một tên gọi khác của A Di Đà Phật, mà lại là Hoa Quang Tự Tại Phật, trong việc này liệu có nghi vấn gì không?

Tôi giải thích như sau:
Trong việc này, bản thân tôi đã giấu đi một chi tiết nhỏ, tuy nhiên trong lúc tôi thuyết pháp khai thị đã từng nói ra, và có không ít người đã biết.
Ban đầu, khi Phật Đà thọ kí cho tôi thành Phật, đầu tiên là Ngài viết:
"Đại Quang Tự Tại Phật!"
Tôi lắc đầu. (thời cơ vẫn chưa đến)
Phật lại viết:
"Hoa Quang Tự Tại Phật!"
Tôi mới gật đầu.

Ấy nhưng cái tên Hoa Quang Tự Tại Phật này lại chính là Phật danh đã được ấn chứng cho Xá Lợi Phất tương lai thành Phật, đây chính là trong cái sửa đổi cũng lại có cái ẩn giấu.

Đại Quang Tự Tại Phật thật sự có quan hệ rất chặt với A Di Đà Phật.
Mọi người xem, trong kinh Vô Lượng Thọ có viết: "Vô Lượng Thọ Phật uy thần quang minh tối tôn số một, là do Vô Lượng Thọ Phật còn mang hiệu là Vô Lượng Quang Phật, Vô Biên Quang Phật, Vô Ngại Quang Phật, Vô Đối quang Phật, Diệm Vương Quang Phật, Thanh Tịnh Quang Phật, Hoan Hỉ Quang Phật, Trí Huệ Quang Phật, Bất Đoạn Quang Phật, Nan Tư Quang Phật, Vô Xưng Quang Phật, Siêu Nhật Nguyệt Quang Phật."
Tên gọi chung cho 12 Quang Phật này chính là Đại Quang Tự Tại Phật.

Lại xem kinh A Di Đà viết: "Xá Lợi Phất, Tây phương thế giới có Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Tướng Phật, Vô Lượng Tràng Phật, Đại Quang Phật, Đại Minh Phật, Bảo Tướng Phật, Tịnh Quang Phật."
Ở đây, Đại Quang Phật chính là Đại Quang Tự Tại Phật, cũng tức là hóa thân Phật của A Di Đà Phật.

Mọi người hãy thử đọc bài kệ tán thán A Di Đà Phật:
A Di Đà Phật thân kim sắc
Tướng hảo quang minh vô đẳng luân
Bạch hào uyển chuyển ngũ Tu Di
Hám mục trừng thanh tứ đại hải
Quang trung hóa Phật vô số ức
Hóa Bồ Tát chúng diệc vô biên
Tứ thập bát nguyện độ chúng sinh
Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn.

Trong 120 cuốn sách mà tôi viết, Liên Hoa Đồng Tử ẩn dụ A Di Đà Phật nhiều vô kể, có thể tìm thấy ở rất nhiều chỗ!
Tây phương cực lạc thế giới, Ma ha song liên trì, Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
“Nam mô ba mươi sáu vạn tỉ, mười một vạn, chín nghìn năm trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật”. (niệm khi tu pháp)
Tôi tu Bổn tôn A Di Đà Phật, hiển thị bản địa của Liên Hoa Đồng Tử là A Di Đà Phật.

Bức tượng đầu tiên mà tôi mang đến nước Mỹ là A Di Đà Phật.
Tôi tôn sùng ba vị:
Diêu Trì Kim Mẫu.
A Di Đà Phật.
Địa Tạng Bồ Tát.
Và các vị khác.

"Hồ sơ cực kì cơ mật" này, bản thân tôi biết rất rõ, nhưng thời cơ chưa đến, làm sao tôi dám nói. Tôi giữ trong lòng đã 27 năm rồi, chỉ một chút nữa là không chịu được nữa, lại thêm những lời đồn đại bên ngoài quá nhiều. Thế nên hôm nay, thời cơ đã đến, tôi mới dám để cho Liên Hoa Đồng Tử thực sự lộ diện. Đồng thời tôi cũng mới dám công khai với thế gian diện mạo thật của Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh!

🌟

Tà ma át chính pháp

Năm 25 tuổi thì tôi mở thiên nhãn, Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh dạy pháp, khi đó, tôi thật sự rất thuần khiết, lúc nào cũng ngây thơ. Tôi đem chuyện bản thân là Liên Hoa Đồng Tử giáng sinh nói ra ngoài.
Lập tức tôi đã ứng được ngay hai câu nói:
"Một lời nói sai người tức giận, ý làm tổn thương bực đám đông."

Ở cõi trời:
Thiên Ma vô cùng phẫn nộ, triển khai chiến tranh ở linh giới, khiến quá trình tu hành của tôi gặp chướng ngại liên miên. Còn ở nhân gian, tôi càng thảm hơn. Giới văn hóa, giới tôn giáo, giới chính trị, giới tình trị, đều triển khai những vòng vây tiêu diệt lớn, những tin đồn và lời buộc tội vô căn cứ rất nhiều!

Hôm nay tôi vẫn chưa chết, là nhờ có sự bảo hộ của các vị Kim Cang Hộ Pháp chư Thiên. Mỗi lần tôi gặp đại nạn sẽ luôn xuất hiện kì tích, gặp dữ hóa lành, hoặc có quý nhân xuất hiện, đưa tay cứu giúp.

Ví dụ có một lần trong thiền định.
Có một lão ma đầu vác một thanh gươm sắt liên tục chém xuống đầy hung hãn, một lòng chỉ muốn giết tôi. Đúng vào lúc nguy hiểm, tôi chỉ nhìn thấy phía trên đỉnh đầu tôi xuất hiện một chiếc đầu vàng đỡ từng nhát gươm chém xuống, từng tiếng "chát" rất to.

Hóa ra người đã cứu tôi là Kim Đầu Yết Đế. Lão ma đầu thấy không làm hại tôi được bèn chạy mất. Kim Đầu Yết Đế lui mình sau bức rèm, cưỡi lên ánh sáng cát tường rồi biến mất.

Tôi học thiền định:
Tâm linh thanh tịnh không vướng bận
Tĩnh lặng không khởi một nghĩ suy
Tâm vượn ý ngựa thôi bay nhảy
Ý nghĩ cẩn trọng chẳng chênh vênh.
Bài trừ lục tặc ngộ tam thừa
Buông bỏ vạn duyên tự phân minh
Sắc tà diệt sạch siêu chân giới
Tây phương Cực lạc được ngồi chơi.

Ngẫm nghĩ thấy, tôi mới nói ra mình là Liên Hoa Đồng Tử hạ sinh thì đã bị "đánh" cho đến mức thập tử nhất sinh rồi, xém chút nữa thì đến cả tính mạng này cũng không giữ được nữa. Nếu như tôi nói tôi là A Di Đà Phật hạ sinh thì khẳng định là sẽ có rất nhiều cao tăng đại đức ai nấy đều nhổ nước bọt phì phì cho tôi chết chìm từ lâu rồi.

Có một số người cho rằng tôi bị "tà ma át chính pháp", không thể như vậy! Vì sao không thể? Mọi người nghĩ mà xem, trong phong trào "phá tứ cựu" (*) của cuộc cách mạng văn hóa Trung Quốc cộng sản, rất nhiều chùa chiền đã bị phá hủy, những bức tượng Phật Bồ Tát bị chặt đầu chặt tay, trên mặt thì bị dán những chữ như "lão quái vật", "mê tín", "họa quốc ương dân", tăng nhân bị ép hoàn tục, những văn vật Phật giáo quan trọng trong lịch sử bị đốt, đây đều là những tai nạn lớn của toàn bộ Trung Quốc, ngay cả những ngôi chùa tên núi cao thung sâu cũng không tránh khỏi nạn này.

[ ND: phong trào “Phá tứ cựu, lập tứ tân” là khẩu hiệu hành động của cuộc đại cách mạng văn hóa Trung Quốc do Trung Quốc cộng sản lãnh đạo. Bốn điều cũ cần tiêu diệt là: tư duy cũ, văn hóa cũ, thói quen cũ, phong tục cũ đương thời tồn tại ở Trung Quốc. ]

Tôi đã đi Trung Quốc Đại Lục một lần. Người ta nói với tôi:
"Thật may khi đó vẫn còn một số phần tử trí thức, lấy lý do là "văn vật trọng yếu" nên mới bảo vệ được một số văn vật lịch sử, tượng Phật, kinh điển Phật, hoặc tìm nơi để giấu chúng đi, tránh bị hủy hoại sạch sẽ. Cuộc đại cách mạng văn hóa thực sự là rất thảm!"

Theo quan sát của tôi, đây cũng chẳng phải là lỗi của Giang Thanh hay Tứ nhân bang. [ ND: Giang Thanh, vợ thứ tư của Mao Trạch Đông - chủ tịch CHND Trung Hoa, là một trong bốn thành viên của nhóm Tứ nhân bang, một nhóm người lãnh đạo hoạt động trong cuộc Cách mạng Văn hóa. ] Vốn dĩ đằng sau lưng họ có Đại Thiên Ma lãnh đạo, ý chỉ thực sự đến từ thiên thượng giới, Thiên Ma của cõi Đại Tự Tại Thiên đã đạo diễn tấm thảm kịch này. Là Đại Thiên Ma lợi dụng thời cơ nhằm muốn tiêu diệt Phật giáo, đây mới chính là "tà ma át chính pháp". Những ý thức do tà ma từ trong hư không reo rắc xuống thật sự lợi hại, sau khi đã biến thành ý thức quần chúng thì đã khiến cho tất cả mọi người phát cuồng.

Tôi vẫn còn nhớ, khi đó ở Thiên Thượng Giới, tôi lý luận cùng Ma Vương.
Ma Vương nói:
"Ta sẽ xâm nhập vào tâm của người thân ngươi, vào tâm của đệ tử ngươi, khiến cho họ phạm nghiệp, để ngươi không thể đạt được mục đích cứu độ chúng sinh. Ta sẽ xâm nhập vào tâm của các vị thầy của ngươi để họ từ bỏ ngươi."
Tôi đáp:
"Tôi vẫn sẽ luôn bố thí xả bỏ, kiên trì giữ bồ đề tâm."
"Cho dù có như thế, thì cứ thử sẽ biết." - Ma Vương nói.
"Định và huệ giống như đôi cánh, giúp tôi bay vào hư không chẳng sợ rơi, cuối cùng tôi cũng sẽ bay trở về Ma Ha Song Liên Trì." - Tôi khẳng định với Ma Vương như vậy.

Đương nhiên tôi biết, tôi sẽ phải chấp nhận vận mệnh "sư phụ từ bỏ, đệ tử từ bỏ, người thân từ bỏ". Nhưng tôi dùng "vô lượng xả bỏ", "vô lượng từ bi" để mãi giữ vững bồ đề tâm của mình.

Còn nữa, tôi dùng Nguyệt Yểm Tôn, tức Hàng Tam Thế Minh Vương, bốn mặt tám cánh tay, chân đạp lên hai vợ chồng Đại Tự Tại Thiên.

Trong Thai Tạng Giới, có ba vị Hàng Tam Thế Minh Vương, một vị ở Kim Cang Thủ viện, một vị ở Bất Động viện, một vị ở Địa Tạng viện. Cả ba vị Hàng Tam Thế Minh Vương này đều có năng lực tối thượng trong việc hàng phục Thiên Ma. Tôi cũng có thể nhập vào tam muội của Hàng Phục Tứ Ma Kim Cang Hí!

🌟

Nhân duyên của Liên Hoa Đồng Tử

Liên Hoa Đồng Tử chính là A Di Đà Phật.
Ma Ha Song Liên Trì cũng có bảy lớp hàng rào, bảy hàng cây, bảy ao quý, nước bát công đức, luôn vang tiếng thiên nhạc, vàng làm thành mặt đất, pháp âm hòa nhã, những hàng cây quý, những loại võng quý, ánh sáng vô lượng, thọ mệnh vô lượng,…

Ba nhân vật trong Kinh A Di Đà là:
Người giảng kinh: Phật Thích Ca Mâu Ni.
Người nghe kinh: Tôn giả Xá Lợi Phất. (nhân vật chính)
Nhân vật chính trong kinh: A Di Đà Phật.

Mọi người so sánh thử ba nhân vật lớn trong kinh A Di Đà cùng số mệnh của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn ngày nay thì sẽ thấy rất rõ ràng.
Liên Hoa Đồng Tử - A Di Đà Phật.
Xá Lợi Phất - Lư Thắng Ngạn.
Tam Sơn - Thích Ca Mâu Ni Phật. (Tam thân)
Cửu Hầu - Ngũ Phật Tứ Bồ Tát.

Nếu giải thích dựa theo "kiếp trước đời này" thì Lư Thắng Ngạn đã có được lực gia trì từ Phật Thích Ca Mâu Ni và Ngũ Phật Tứ Bồ Tát ở trung tâm của Thai Tạng Giới, việc này căn bản là không có gì đáng ngạc nhiên. Khi những nhân duyên này kết hợp lại thì sẽ trở thành một chuỗi liên kết rất hợp tình hợp lý.

Ngày nay, Liên Sinh Hoạt Phật độ bốn triệu chúng sinh, có 30 tòa Lôi Tạng Tự, 300 trung tâm phân đường. Đã viết 120 cuốn sách, những sách và video ghi hình diễn giảng khai thị thuyết pháp nhiều vô số. Những việc này đều có nhân duyên cả. Vì thế, tôi cũng hiểu rằng, nếu phân lượng kiếp trước của bạn cực kì nặng thì trách nhiệm hoằng pháp đời này cũng tỉ lệ tương đương như vậy.

Tôi hoằng pháp vì điều gì? Viết ra bài kệ vậy!
Tam bảo uy nghiêm đạo tôn kính
Tứ thánh lục phàm đều luận bàn
Minh tâm hiểu hết Nhân - Thiên pháp
Kiến tính thắp sáng trí huệ đăng.

Nói một cách rất thật lòng, khi còn nhỏ, tôi chẳng có chút gì nổi bật, chí hướng cũng chẳng phải cao. Thuở trung học thích sáng tác, muốn trở thành nhà thơ, cũng muốn trở thành nhà văn, hoặc làm nghề viết tin tức. Thời kì đại học, tôi học trắc lượng, nghĩ rằng làm một kĩ sư trắc lượng cũng được. Sau khi tốt nghiệp, tôi đã đi làm các công trình trắc lượng cũng cả mười năm, liên tục ở trong lĩnh vực trắc lượng.

Thế rồi, số mệnh đột ngột thay đổi, tôi đã gặp được nhân duyên với Phật - Đạo, từ đó mới bắt đầu học Phật, học Đạo. Sự thay đổi này thực sự là quá lớn. Sau khi tôi thâm nhập vào kinh tạng, tôi phát hiện ra trong đó bao gồm tất cả những kết tinh về cuộc đời, có thể giải đáp những thắc mắc về cuộc sống, có thể đào sâu tìm hiểu và có được những giá trị sinh tồn. Từ đó, tôi dấn thân theo con đường này không một chút hối tiếc. Tôi tự biết, thân phận mình không phải tầm thường, cơ duyên của mình không phải tầm thường, thành tựu của mình không phải tầm thường. Tất cả những điều này đều sẽ lần lượt hiển lộ ra trước công chúng.


### 04. Công pháp của Diêu Trì Kim Mẫu


Vị cao linh ở phía sau

Có một tăng nhân già đã tu hành nhiều năm từng nói với tôi:
"Mỗi một hành giả, bất kể là thành tựu nội tại hay thành tựu ngoại tại (sự nghiệp nhân gian), sau lưng họ đều có cao linh đang gia trì cho họ."
Vị cao linh vô hình này là một vị chủ tôn chân chính.
Do vậy, trên thân của hành giả, hoặc nhiều hoặc ít sẽ xuất hiện khí chất của vị cao linh vô hình ở trên thân mình, chỉ cần quan sát khéo một chút là có thể nhận ra được thân phận của vị cao linh này.

Tăng nhân già còn nói, một số hành giả trên thân chỉ có hình bóng của một cao linh, tuy nhiên, cũng có người thì có tầng tầng lớp lớp, có nhiều cao linh cùng trợ giúp. Cũng có người thì cao linh đến rồi lại đi, cũng có người thì vĩnh viễn có cao linh đi theo, hiện tượng này không phải là hiếm, và cũng tương đối phức tạp.

Lão tăng nói, một đại thành tựu giả thì các cao linh của họ địa vị rất cao. Người thành tựu ít thì các linh bổ trợ cho họ chỉ là thần đất, thần nước, thần hồ, thần cây. Còn người không thành tựu thì trên thân chỉ có khí tục, đến một cái bóng của một linh cũng không có.

Lão tăng phân tích:
Sau lưng của Chứng Nghiêm pháp sư là Địa Tạng Vương Bồ Tát.
Sau lưng của Tinh Vân đại sư là Thái Âm Sơn Phủ Quân.
Sau lưng của Thanh Hải Vô Thượng Sư là Đại Phạm Thiên Vương.
Sau lưng của Tuyên Hóa thượng nhân là Lăng Nghiêm Vương Bồ Tát.
Sau lưng của Diệu Liên trưởng lão là Quan Thế Âm Bồ Tát.

Tôi hỏi lão tăng:
"Sau lưng tôi thì sao?"
Lão tăng cười ha ha nói:
"Diêu Trì Kim Mẫu!"

Bổn tôn của tôi là A Di Đà Phật, dạy đạo cho tôi là Thích Ca Mâu Ni Phật (Tam Sơn), là Ngũ Phật Tứ Bồ Tát của trung tâm Thai Tạng Giới (Cửu Hầu), thế mà không ngờ vị cao linh ở sau lưng tôi không phải là các vị đó, mà lại là Diêu Trì Kim Mẫu, chẳng phải quái lạ sao!

Lão tăng nói:
"Không sai, phần quang khí trên người ngài xuất phát từ quang khí của giới Phật, giới Bồ Tát rất mạnh. Nhưng, một cách vô ý, ngài cũng để lộ ra một loại quang khí vô cùng đặc thù, là ánh sáng đa sắc ở dạng xoắn chuyển, quang khí này thường xuyên xuất hiện trên thân ngài, điều này là sự gia trì nhiều lớp. Quang khí đặc thù này không phải bình thường, chính là quang khí của Diêu Trì Kim Mẫu, nghiêm túc mà nói thì Diêu Trì Kim Mẫu mới là cao linh thực sự ở sau lưng ngài!"

Lão tăng còn nói:
"Không chỉ như vậy, trong những ngôi chùa Lôi Tạng Tự và các phân đường Chân Phật Tông mà ngài xây dựng thì linh quang của Diêu Trì Kim Mẫu là một bộ phận rất quan trọng, thậm chí Diêu Trì Kim Mẫu là thủ tọa, lúc nào linh quang của Diêu Trì Kim Mẫu cũng là mạnh nhất, là vị Bồ Tát thường trụ của Lôi Tạng Tự."
Tôi không phản đối huệ nhãn của vị tăng già chút nào.

🌟

Nhân duyên với Diêu Trì Kim Mẫu

Nhân duyên của tôi và Diêu Trì Kim Mẫu, nếu như muốn đưa ra LD (chủng tử thức) của đời quá khứ, tôi đương nhiên biết rõ thân phận của tôi và Kim Mẫu, chúng tôi là những người chí thân. Do vậy, những người phục vụ thân cận của Diêu Trì Kim Mẫu - Đổng Song Thành, Ngọc Chi, Hoa Lâm, Thanh Nga, Dao Cơ, Mị Lan - khi gặp tôi đều vô cùng cung kính.

Thân phận của Diêu Trì Kim Mẫu rất cao, do vậy rất nhiều tôn giáo đã lợi dụng danh phận của Ngài để biến Ngài thành chủ tôn của rất nhiều giáo phái, ví dụ: Ngọc Mẫu Nương Nương, Hoàng Mẫu, Lão Nương. Ngài có rất nhiều danh hiệu, kì thực đều là do người đời sau phụ họa thêm. Trong Đạo gia mà nói thì Diêu Trì Kim Mẫu là Tiên Thiên Nhất Khí.

Theo những gì tôi trải nghiệm mà biết được thì:
Tiên Thiên Nhất Khí - Pháp thân.
Diêu Trì Kim Mẫu - Báo thân.
Câu Hồi - Ứng thân.

Dựa theo Đạo Gia Tu Tiên và Phật Giáo tam giới để phân biệt thì:
Dục Giới Thiên - Địa Tiên.
Sắc Giới Thiên - Thiên Tiên.
Vô Sắc Giới Thiên - Kim Tiên.

Quả vị của Diêu Trì Kim Mẫu kì thực là không thể tưởng tượng được, dựa theo Phật lực của tôi để đo lường thì khí của Ngũ Phương Huyền Diệu của Đạo gia cũng tương đương với Ngũ Phương Phật của Phật giáo. Đương nhiên, Diêu Trì Kim Mẫu là địa vị của Phật Vương. Ngoài Huyền Huyền Thượng Nhân và Mộc Công Thượng Thánh ra thì địa vị của Diêu Trì Kim Mẫu là cao quý số một.

Tôi so sánh Diêu Trì Kim Mẫu giống như một trong Ngũ Phương Phật tuyệt đối không phải là tôi đang tâng bốc Diêu Trì Kim Mẫu, tôi thực sự có được nhận thức như vậy. Tuy nhiên, tôi biết giới Phật giáo cũng cực lực phản đối cách nói này của tôi. Giới Phật giáo cho rằng Phật thì là Phật, thần tiên của Đạo gia đều chưa phải ở mức độ cao nhất cuối cùng, chưa viên mãn, đều là "hoa lá cành" rườm rà, đều là ngoại đạo.

Kì thực, các phương pháp tu hành không giống nhau, giống như leo núi vậy. Nếu như đỉnh của một ngọn núi là Phật quả thì đường lên đỉnh núi không chỉ có một con đường. Chúng ta có thể khai mở rất nhiều con đường lên núi, và cuối cùng cũng đều đến được đỉnh núi. Do vậy, Phật pháp mà Phật Đà đã giác ngộ có nguồn gốc từ đạo Bà La Môn của Ấn Độ hoặc Ấn Độ giáo, đương nhiên, Phật pháp của Phật Đà so với đạo Bà La Môn và Ấn Độ giáo thì siêu việt hơn, nhưng chúng ta có thể thấy được là cái gốc của Phật giáo là được cắm trên đất của đạo Bà La Môn.

Phật giáo được truyền vào Trung Quốc, cùng với Đạo gia vốn có của Trung Quốc có sự triệt tiêu và tăng trưởng lẫn nhau, hình thành nên Phật giáo Trung Quốc. Theo Mật giáo mà nói thì Vô thượng mật bộ và nội pháp của Tạng mật cùng với phái Khí công đan đỉnh của Đạo gia rất gần với nhau và gần như nhau, cách thức tu pháp khác nhau nhưng cùng dẫn tới một kết quả cuối cùng.

Tôi thừa nhận, bởi vì nhân duyên của "Chủng tử thức", duyên phận của tôi và Diêu Trì Kim Mẫu là rất sâu rất đậm, căn bản là không thể tách rời.
Lão tăng nhận định cao linh sau lưng tôi là Diêu Trì Kim Mẫu, tôi không dám phủ nhận!

🌟

Công pháp của Diêu Trì Kim Mẫu

"Diêu Trì Kim Mẫu phổ độ tu viên định huệ giải thoát chân kinh" viết:
"Người tu đạo, nói về cách để quay trở về với Đạo, thì vạn vật đều có gốc, từ gốc mà sinh cành, từ cành mà sinh lá, từ lá mà sinh hoa, từ hoa mà kết quả. Con người và vạn vật tuy không đồng chất nhưng lại có cùng một nguyên lý, có nguồn thì gốc rễ mới sinh ra. Gốc sinh ra cành lá xum xuê, gỗ khô thì gốc cành cũng thối mục, chẳng còn lá. Do vậy, tu đạo cần cái gốc chắc khỏe. Người có gốc khỏe thì cần phải làm sao? Thế gian thì lấy sự tôn kính hiếu lễ làm gốc, Đạo thì lấy tinh khí làm gốc. Giữ được tôn kính hiếu lễ, thì người không thẹn với lương tâm. Có được tinh khí đầy đủ, thì Đạo có thể tu. Tu đạo vốn chẳng nằm ở đâu khác, mà hoàn toàn nằm ở chỗ bản lai diện mục của mình. Tinh khí bị mất đi ở chỗ nào thì cần thu lại về ở chỗ đó.

[ ND: Bản lai diện mục: là Tính Không, là cái gốc, là bộ mặt “thật sự” của mình, vốn vô sinh vô diệt, chứ không phải là cái thân giả huyễn hiện tại ]

Còn nữa:
"Giải thoát là vô cùng khó. Cái khó nằm ở Định - Huệ. Thân tâm đại định thì sẽ sinh ra trí huệ, trí huệ đều đã có thì giải thoát lại dễ. Muốn giải thoát hết thì trước tiên cần loại trừ lục tặc, tai không nghe âm thanh, mắt không nhìn sắc, thân không chạm vào ô uế, ý không bám chấp vào vật, mũi không ngửi mùi, miệng không tham ăn. Khi lục tặc đều không còn thì ngũ uẩn tự sạch sẽ, thọ tưởng hành thức sẽ giống như gương thấy hình, ngũ uẩn sẽ rõ ràng sạch sẽ, tam gia hội hợp, tinh khí và tinh thần thường xuyên duy trì được sự hoạt bát, trên dưới lưu thông, nạn gì cũng giải thoát được."

Công pháp của Diêu Trì Kim Mẫu đã chỉ ra:
Tu đạo - gốc khỏe.
Tu đạo - trở về với diện mạo thực sự.
Khẩu quyết là - tinh khí mất đi ở chỗ nào thì thu về ở chỗ đó.
Thân tâm đại định - sẽ sinh ra trí huệ.
Lục thức đều không - ngũ uẩn sạch sẽ.
Tinh khí thần - trên dưới lưu thông.

Khi tôi mới gặp được nhân duyên với đạo Phật, tôi liền nhờ Diêu Trì Kim Mẫu khởi linh và mở thiên nhãn, đêm đó, tôi đã du lịch đến khắp trên trời dưới đất, việc này ai cũng biết rồi. Những trải nghiệm này đã được ghi lại trong những cuốn sách tâm linh thời kì đầu của tôi.
Tôi cũng học tập công pháp của Diêu Trì Kim Mẫu, ví dụ: Chú kiếm pháp, Đại ôn dưỡng pháp, Đan đỉnh pháp, Vô cực chính pháp, v.v…

Công pháp của Diêu Trì Kim Mẫu và Tây Tạng Mật giáo công pháp, pháp tu trì của chúng có sự khác biệt, nhưng về mặt đạo lý thì tương thông, tôi phân tích ngắn gọn như sau:
"Gốc khỏe" tức là thân, khẩu, ý vô lậu trong Mật giáo.
Mật giáo viết: "Hữu lậu giai đọa." [ ND: Nếu còn sự rò rỉ thì đều đi xuống. ]

Thân có bốn loại rò rỉ là:
Tinh đạo lậu [ rò rỉ qua tinh khí ]
Khẩu đạo lậu [ rò rỉ qua đường miệng ]
Mao khổng lậu [ rò rỉ qua lỗ chân lông ]
Tiểu tiện đạo lậu [ rò rỉ qua đường tiểu tiện ].

Khẩu đạo lậu lại có bốn loại:  thượng hành khí lậu, hạ hành khí lậu, bình trụ khí lậu, biện hành khí lậu.

Bốn loại rò rỉ từ ý là: ái, tham, vô minh, bất chính kiến.
"Trở về với diện mạo thực sự" chính là Bổn tôn pháp của Mật giáo, hành giả từ một kẻ phàm phu tu thành Bổn tôn Phật, Bổn tôn Bồ Tát, chính là trở về với diện mạo thực sự.

Khẩu quyết của Diêu Trì Kim Mẫu là:
"Tinh khí mất đi ở chỗ nào thì thu về ở chỗ đó", câu nói này thật sự là cực kì quan trọng. Mật giáo tu thân-khẩu-ý, tu khí-mạch-minh điểm, chính là tương đồng với khẩu quyết này.
Thân tâm đại định thì sẽ sinh ra trí huệ, đây cũng chính là "tam học" của Phật pháp. Lục thức đều không, ngũ uẩn sạch sẽ, trong điều này đã có duy thức học nhập môn.

Tinh-khí-thần là ba yếu tố quan trọng trong tu luyện Đạo giáo.
Khí-mạch-minh điểm là ba yếu tố quan trọng trong tu luyện Mật giáo.

Tôi trình bày như sau:
Tinh - Minh điểm.
Khí - Khí.
Thần - Quang minh phong mạch.

Tôi thật lòng thật sự nói cho mọi người biết:
Chú kiếm pháp - cơ sở của Vô thượng mật bộ.
Đại ôn dưỡng pháp - bảo bình khí, chuyết hỏa.
Đan đỉnh pháp - minh điểm pháp.
Vô cực chính pháp - tịnh quang tính Không.

Công pháp của Diêu Trì Kim Mẫu thật sự là trực thông với Mật giáo. Khi tôi học tập pháp của Mật giáo, tôi đã phát hiện ra toàn bộ đều có sự liên kết với nhau. Ở đây chính là nhất thông bách thông, đã thông thạo một pháp thì sẽ thông thạo trăm pháp, pháp môn nào cũng đều thông suốt, thật sự là nhìn một cái là thấy ngay, vô cùng rõ ràng.

Rất nhiều pháp sư Phật giáo vừa mới thấy tôi tôn sùng Diêu Trì Kim Mẫu liền chửi tôi là ngoại đạo, là đại ngoại đạo. Kì thực, tôi là "đại" chứ không "ngoại", tôi nhỏ bé nhưng chẳng yếu kém, mọi thứ "nội ngoại" tôi đều thông thạo.

Rất nhiều pháp sư đòi Lôi Tạng Tự của tôi không được thờ cúng Diêu Trì Kim Mẫu.
Tôi hỏi ngược lại:
"Không thờ cúng Ngài, vậy thờ cúng ai? Tôi cúng bà cố nội nhà ông chắc!"

Tôi nói với các pháp sư không chút khách khí, xin đừng trách tôi. Hôm nay tôi gia nhập Phật môn, Diêu Trì Kim Mẫu là vị thầy đầu tiên dẫn dắt tôi. Tôi tham học đạo Phật, khai ngộ thành tựu, đắc Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác cũng là nhờ vào Diêu Trì Kim Mẫu.
Uống nước nhớ nguồn, tôi không tôn sùng Ngài thì tôn sùng ai?


### 05. Thứ tự của chư Thiên


Thứ tự sinh khởi

Nói đến việc tu trì tôn giáo của cuộc đời này, kể ra thì rất dài, nhưng đại bộ phận tôi cũng đã viết trong 120 cuốn sách rồi. Tóm lại, tôi bái sư học nghệ, thâm nhập kinh tạng, tĩnh tọa tu thiền, niệm kinh trì chú, thời gian lướt qua, thoắt cũng đã 27 năm rồi.

Tôi hiểu rằng tôi không phải là một thứ kiểu "đốn ngộ", tôi là kiểu đặt từng dấu chân, tu trì dần dần mà có được những thành tựu này. Nói một cách vắn tắt là, tôi không phải "đốn ngộ", mà là "tiệm ngộ" [ ND: giác ngộ theo con đường có thứ tự, đi từ thấp tới cao ].

Tôi thường nói, việc viết văn của tôi cũng giống như việc tu hành, mỗi ngày tôi nhất định đều viết. Cũng thế, mỗi ngày tôi nhất định phải tu pháp. Do vậy, tôi là một hành giả chân đạp thực địa, tôi đã dành rất nhiều thời gian và công sức cho việc nghiên cứu Phật pháp. Tôi tin tưởng rằng, sự tinh tấn và nỗ lực này, Phật Bồ Tát và các vị tổ sư trong lịch sử đều sẽ không ngừng tán thán.

Đương nhiên, những sự phỉ báng mà tôi đã trải qua cũng nhiều không sao đếm được, cũng như chẳng có cách nào tính toán. Bất kể thể loại phỉ báng nào tôi cũng đều cho là việc tự nhiên phải thế thôi, là điều bình thường, đối với tôi mà nói thì tất cả đều chẳng thành vấn đề.

Rất nhiều người muốn biết cảnh giới của tôi đã đạt đến đâu rồi? Cũng lại có rất nhiều người muốn biết, công lực của tôi một khi phát huy ra thì liệu có phải là trời đất thực sự sẽ chấn động lớn không? Lại còn có lời đồn đại càng hay ho hơn nữa, là trước đây Lư Thắng Ngạn là kim quang sáng chói ngời ngời, bây giờ thì là khí đen che kín mặt, công lực của Lư Thắng Ngạn đã mất hết rồi.

Tôi trả lời bằng một bài kệ như sau:
Sắc sắc vốn vô sắc,
Không không cũng chẳng không.
Ồn ào hay trầm lặng
Gốc cũng là như nhau.
Trong mộng nào cần nói lời mộng
Dụng trong hữu dụng cũng vô dụng thôi,
Công trong vô công cũng mang công rồi.
Như quả chín tự nhiên sẽ đỏ
Đừng hỏi làm sao để quang vinh.

Bài kệ này, mọi người cứ ngẫm nghĩ đi, nếu như nghĩ không thấu được thì tùy mọi người nói gì thì nói!

🌟

Mật pháp và chư Thiên

Rất nhiều người đều biết, cuối cùng tôi đã chọn đi theo hướng tu trì Mật pháp. Mật giáo nói "tức thân thành Phật" là có nguyên lý và phương pháp thực tu của nó. Nay tôi sẽ nói ngắn gọn và chính xác những trải nghiệm của bản thân như sau:

Trước tiên, tôi sẽ sắp xếp theo thứ tự 28 Thiên như sau:
Dục Giới có 6 Thiên, Sắc Giới có 18 Thiên, Vô Sắc Giới có 4 Thiên.


![image](/img/img_2ca652db2cd836deb3bf52930d2be5e5.jpg)


Trong 28 Thiên này, tôi làm cách nào để mà "lên trời"? Tôi sẽ công bố hết tần tật gần như không giữ lại chút nào phương pháp tu luyện của bản thân. Tôi muốn nhờ vào sự công khai to gan này, tôi sẽ  kích hoạt được tín tâm và quyết tâm tu hành thành Phật của chúng sinh.

Thế nhưng, điều tôi muốn nói với mọi người là, trong quá trình tu trì, thực sự là có rất nhiều rẽ nhánh chệch ra khỏi con đường chính. Thực sự có rất nhiều tâm yếu khẩu quyết, những điều này đều nhất định cần có một vị Kim Cang Thượng Sư chân chính luôn ở bên cạnh để khai thị và chỉ đạo, nhất định cần phải quy y, nhất định cần phải nhận quán đảnh. Trong quá trình học pháp, nhất định phải có chính kiến, chính niệm, Căn bản Thượng sư mới có thể truyền dạy chính pháp cho bạn, về mặt này không được xem thường cho qua.

🌟

Hỉ lạc

Tại cõi trời Dục Giới Thiên, tôi dùng cảm giác về hai chữ "hỉ lạc" để biểu thị.
Dục Giới Thiên có hai loại tham lớn nhất là tham dục và tham ăn, tuy nhiên ở cõi này cũng có thiên đường để hưởng phúc. Nhìn chung, người giữ năm giới hạnh và làm mười điều thiện thì sau khi chết đi, sẽ dựa theo công đức và phúc báo mà người này có thể được lên cõi trời Lục Dục.

Tuy nhiên, trong việc tu trì Chân Phật Mật Pháp, tôi đã nghiệm ra được:
Khi khí đi vào trung mạch, và di chuyển tại trung mạch, vì giữa khí và trung mạch sẽ sinh ra một sự ma sát, do vậy sinh ra cảm giác về sự sung sướng - hỉ lạc.

Đây là một cảm giác rất tinh tế, một cảm giác mơ hồ siêu thực, một cảm giác dễ chịu lâng lâng, một cảm giác sướng đê mê, giống như sướng muốn chết.
(Cảm giác này tương tự như cảm giác cực khoái nhục dục của nam nữ, nhưng, khi khí đi lại trong trung mạch thì dài lâu hơn nhiều và tuyệt vời hơn nhiều.)

Tôi nhận thấy khi tôi nhập định tu pháp, đạt đến trạng thái hỉ lạc, không phải là sự khinh an của những người tu đạo Phật thông thường, mà là một sự hỉ lạc vô cùng kì diệu rất thật. Đây là cảnh giới của Dục Giới Thiên, đây là pháp vị.

Tôi còn muốn nói cho mọi người biết rằng, sự sản sinh ra hỉ lạc không chỉ khi khí thông trung mạch, mà khi chuyết hỏa lên xuống trong trung mạch, khi bồ đề tâm nguyệt dịch lên xuống trong trung mạch thì đều sẽ sản sinh ra "đại diệu hỉ lạc". Hỉ lạc sinh ra từ ba điều này có sự khác nhau. Đương nhiên, chuyết hỏa và bồ đề tâm nguyệt dịch còn vô thượng đại lạc hơn nữa, vô thượng đại lạc đã là cảnh giới của Sơ thiền rồi.

Tôi cho rằng Dục Giới Thiên cũng là một nơi tốt để đến, chỉ cần giữ năm giới và làm mười điều thiện. Trên phương diện tu pháp thì khí đi vào trung mạch thì là đã chứng đắc được Dục Giới Thiên rồi.

🌟

Tịnh quang

Hỉ lạc tại cảnh giới của Dục Giới Thiên khiến người ta mê đắm. Tại cảnh giới này có cảm giác chắc chắn rõ ràng, thực sự là đang cảm thấy được, có cảm giác siêu thắng.

Trong thiền định cũng có bát nhã (trí huệ) sản sinh ra, sự lĩnh ngộ trí huệ này giống như từng bóng khí xoắn chuyển. Khi tôi chủ trì pháp hội thì những bóng khí đầy ắp bay bay khắp nơi. Vào thời khắc này, pháp hội của tôi rất hưng long thịnh vượng. Bởi vì, một khi con người đã chạm tới được "bát nhã" thì đều sẽ cảm thấy pháp vị nồng đượm, có một cảm giác sung sướng về sự lĩnh ngộ.

Từng có lần trong một pháp hội, tôi vô tình phát hiện ra phía sau đầu tôi được che bởi một vòng ánh sáng. Vòng ánh sáng đó "không gian tràn ngập ánh cát tường, trời cao ngào ngạt một mùi hương".

Tôi nghĩ:
Hay quá! Lần này tôi đã tu được "tịnh quang" rồi. Tôi biết một khi tịnh quang xuất hiện thì cũng tức là đã lên được cõi Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền của Sắc Giới Thiên rồi.

Thế nhưng, mới sung sướng không được bao lâu thì tôi đã bị dội một gáo nước lạnh.

Quan Thế Âm Bồ Tát nói với tôi:
"Vòng tròn ánh sáng trên đầu ngài là do Thiên Đồng Quân cho ngài đó, không phải là do ngài thực tu mà có được đâu. Do vậy, phóng quang có hai loại: một loại là tự phóng quang, một loại là người khác phóng quang. Tịnh quang trên thân ngài là do từ vị khác phóng quang, do vậy đừng có vui mừng quá sớm."

Đến lúc đó tôi mới biết, hóa ra phóng quang cũng có "tự lực" và "tha lực".

Tại cõi trời Sắc Giới Thiên phân ra làm bốn cấp, gọi là bốn cõi thiền, là phân chia theo sự nông sâu của thiền định. Thế giới đó đã không còn hai thứ dục dâm - tham rồi, nhưng vẫn có cung điện, do vậy gọi là Sắc Giới Thiên.

Thông thường người ta hay giải thích Sắc Giới Tứ Thiền Thiên có sự trùng lặp lẫn nhau, khiến người ta có một cảm giác không rõ ràng về giới hạn. Về sau, trải qua sự nghiên cứu của mình, tôi phát hiện điều này là bình thường, bởi vì trong mười tám Thiên của Sắc Giới Thiên, những giác thọ của nó dường như là trùng điệp, nhưng có điểm đặc thù là Sắc Giới Thiên này đã xuất hiện tịnh quang, dựa vào tịnh quang lớn hay nhỏ, độ sáng của ánh sáng, màu sắc của ánh sáng để mà phân biệt.

Tứ Thiền Thiên mà người ta phân chia như sau:
Sơ Thiền Thiên - Không còn hai thức mũi, lưỡi, có hỉ lạc.
Nhị Thiền Thiên - Không còn ba thức mắt, tai, thân, có hỉ xả, có tịnh quang.
Tam Thiền Thiên: Chỉ có ý thức, có lạc xả, có cực tịnh quang.
Tứ Thiền Thiên: Chỉ có ý thức, có xả, có vô lượng quang.

Tứ Thiền Thiên mà tôi đúc kết được từ trải nghiệm của mình như sau:
Sơ thiền - Thắng lạc diệu hỉ, có phát quang.
Nhị thiền - Hoan hỉ tịnh quang.
Tam thiền - Cực tịnh quang vĩnh hằng của sự khoái lạc bất động.
Tứ thiền - Vô lượng tịnh quang của bình đẳng tính.

Những đúc rút này của tôi, trên thực tế là rất vi diệu, rất sâu rất sâu. Từ Nhị thiền trở lên đều chỉ còn có ý thức mà thôi, bởi vì sự phân biệt của nó nằm ở "hỉ, bất động, vô lượng". Đồng thời, tôi nhận định rằng chỉ cần đến được Tứ thiền thì đã đạt được "bình đẳng tính trí" của Như Lai rồi.

Tiện đây, tôi muốn giải thích một sự thực. Lai lịch tiền kiếp của tôi, mặc dù tôi là ứng hóa thân của A Di Đà Phật, lại có được sự giáo hóa gia trì của Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, Diêu Trì Kim Mẫu phóng quang bảo vệ, ngoài ra, còn được rất nhiều Phật Bồ Tát dạy đạo, thế nhưng không phải tôi sinh ra đã là Phật, vẫn cần phải học từ đầu, từng bước từng bước lên trời.

Một hành giả có "trọng lượng" cũng vẫn cần tự thực hành các pháp tu trì, cho đến khi mở ra được chủng tử của A Lại Da Thức tự tâm, thì mới có thể hiển hiện trí huệ của tiền kiếp. Ý tôi muốn nói rằng nhất định cần phải tiến nhập vào tam muội bí mật, mở ra được LD [ chủng tử thức ] của tiền kiếp, như vậy mới có thể biết rõ hết tiền kiếp của bản thân.

🌟

Tâm mạch ngũ sắc

Học Phật đến cấp độ "thường lạc ngã tịnh", mặc dù chưa phải là cảnh giới cao nhất, nhưng cũng là một cảnh giới tương đối không tồi chút nào.
"Thường lạc" là Dục Giới Thiên.
"Ngã tịnh" là Sắc Giới Thiên.

Đương nhiên tôi biết "dục lạc định" không phải là cảnh giới cao nhất, nhưng dục lạc định thực sự rất mê hoặc người ta. Tôi thừa nhận, thời gian tôi ở lại trong cảnh giới này là rất dài.

Về sau, tôi trì tụng Cao Vương Kinh, Cao Vương Kinh có linh lực rất lớn, linh lực này từ thời đại nhà Đường đã có sự phát huy rất mạnh rồi. Kinh điển này do tôi ấn chứng được từ trường linh lực của nó là cực kì mạnh, cực kì quan trọng. Sau nữa, tôi nghiên cứu sâu hơn thì biết những gì hàm chứa bên trong cuốn kinh đó có pháp lực của thập phương Phật, thập phương Bồ Tát. Niệm một biến Cao Vương Kinh tương đương với có được sự quán đảnh gia trì của thập phương Phật và thập phương Bồ Tát.

Cảm ứng của tôi khi niệm Cao Vương Kinh như sau. Có một dòng chảy tâm linh thanh tịnh, sức mạnh cực kì lớn đi vào trung mạch trong suốt, có màu đỏ và rỗng của mình. Tâm luân của tôi vốn bị đủ loại phiền não bao bọc thì đột nhiên từng lớp phiền não được cởi bỏ. Chỉ cần tập trung niệm một biến Cao Vương Kinh thì những mạch phiền não được bóc ra một lớp, cho đến khi mạch phiền não hoàn toàn bị bóc ra hết.

Tiếp đó, tôi phát hiện ra ở giữa tâm luân của trung mạch có một sợi tâm mạch ngũ sắc rất mảnh, có thể phát ra ánh sáng.

Cuối cùng, tôi phát hiện ra, thì ra hành giả phát ra ánh sáng mà bản thân tự có thì chính là tâm mạch ngũ sắc. Cái thể ánh sáng này cũng chính là để làm nguồn cho thể cầu vồng trí huệ. Sau khi tôi đắc được và kiến chứng được thể cầu vồng trí huệ, tôi càng chăm tu mạnh mẽ hơn nữa, tùy tu tùy hiện tịnh quang của tự thân mình. Đây là bản giác trí quang, ánh sáng trí huệ này vốn bị ẩn đi, trải qua sự tu luyện mới có được tiến triển.

Tâm mạch ngũ sắc - mạch quang trắng mềm - tịnh quang - minh điểm không quang - ngũ trí quang minh - hồng quang ngũ sắc.

Sau khi nhìn thấy được minh điểm không quang, tự nhiên cũng sẽ nhìn thấy sợi dây kim cang và hóa Phật.

Ở trong cảnh giới tịnh quang, tôi biết đến bốn giai đoạn:

1. Tâm mạch ngũ sắc hiển hiện.

1. Tịnh quang giác thọ hiển hiện.

1. Tịnh quang tăng trưởng.

1. Pháp giới hiển hiện.

Tôi cho rằng tiến nhập vào Sắc Giới Thiên phải tu từ tâm mạch ngũ sắc, đây là một phát hiện lớn của tôi. Từ tâm mạch ngũ sắc làm cho trung mạch quang minh, rồi lại làm quang minh đến toàn thân và các lỗ chân lông, cuối cùng là dung nhập vào trong pháp giới, tức thân đắc được thành tựu tịnh quang của Sắc Giới Thiên.

🌟

Vô Sắc Giới

Vô Sắc Giới được gọi trong kinh Phật là nói đến cảnh giới này không có một sắc nào, không có một vật chất nào, không có thân thể, cũng không có cung điện hay quốc thổ, duy chỉ có tâm thức trụ trong thiền định thâm sâu vi diệu.
Vô Sắc Giới có bốn Thiên:

1. Không Vô Biên Xứ Thiên.

1. Thức Vô Biên Xứ Thiên.

1. Vô Sở Hữu Xứ Thiên.

1. Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên.

Nếu như tôi phân tích theo Tam giới thiên thì sẽ phân chia như thế này:

1. Dục Giới Thiên - Phúc đại.

1. Sắc Giới Thiên - Huệ đại.

1. Vô Sắc Giới Thiên - Không đại.

Tứ Thiên của Vô Sắc Giới là phân chia dựa theo bốn loại thiền định:
Hành giả không thích cung điện có sắc, cảm thấy cung điện như nhà tù, có mong muốn thoát li khỏi sắc, thì sẽ bắt nguồn từ hư không Tâm vô biên và Không vô biên mà tương ứng.

Hành giả không thích cảnh giới ngoại không, từ bỏ duyên hư không, nội thức duy tâm, dựa vào thức làm vô biên giải, cùng với Thức vô biên tương ứng.

Hành giả vẫn không thích vô biên nội thức, ngay đến thức và tâm đều muốn xả li, quán thấy tâm thức đều là vô sở hữu, thì sẽ tương ứng cùng Vô sở hữu.

Nhận thức của hành giả vẫn là hữu tưởng, do đó muốn xả li, thì biến thành phi tưởng. Thế nhưng Vô sở hữu xứ là phi tưởng, ngay cả phi tưởng của Vô sở hữu xứ cũng muốn xả li, thế thì sẽ biến thành phi phi tưởng, do vậy sẽ tương ứng với Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên.

Tứ Thiên của Vô Sắc Giới này, sau khi tôi tu xuất được tịnh quang, tôi cũng muốn leo cao hơn, kết quả là tôi phát hiện ra chẳng hề dễ dàng. Tứ Thiên này không đơn giản, không có bậc thang nào để mà leo lên cả.
Bốn tương ứng lớn của Tứ Thiên này là:
Hư không.
Duy thức.
Vô hữu.
Phi phi tưởng.

🌟

Sau khi tôi đã tu thành công tịnh quang, tôi đứng ở ranh giới của Vô Sắc Giới Thiên, nhìn về Tứ Không Thiên, thấy không có cách nào tiến lên trước.
Tôi tự cảm thấy tôi đã đắc đại hỉ lạc, lại tu thành công tịnh quang, thế là đã không tệ rồi, thật sự là:
Mênh mông mây khói bay đi
Thiên cảnh trong xanh một người.
Vừa hay tịnh tâm tịch diệt
Ung dung trồng trúc cắm hoa.
Hễ thấy chim hạc bay tới,
Là nghe đầm tỏa hương sen.
Hơn cả thiên thai phạm bối [ ND: Phạm bối là những bài hát hoặc kệ tán ca ngợi đức hạnh của chư Phật. ]
Vượt cả hoa nhạc minh hà. [ ND: hoa nhạc là những đỉnh núi hùng vĩ, minh hà là những áng mây rực rỡ.]
Nói gì cày mây câu trăng,
Nơi đây sống đời ẩn dật.
Ngồi lâu u hoài như biển,
Tâm rộng như cát vĩnh hằng.

Nhưng, khi đến được Tứ Không Thiên Xứ, phát hiện ra hư không mênh mông, mờ mờ ảo ảo, mịt mịt mùng mùng, tất cả đều vô biên không ranh giới. Đây là cảnh tượng của chân thiền, không phải như bình phàm. Những nhân duyên đại đạo tràn đầy khắp hư không. Những lí thuyết về Vô Sắc Giới là có thật, nhưng làm sao để tu?

Tôi tu theo kinh Bát Nhã, đắc trí huệ tính Không.
Tôi tu theo kinh Duy Ma, đắc giải thoát bất khả tư nghì.
Tôi tu theo kinh Hoa Nghiêm, đắc được bánh xe tính Không của tam thiên đại thiên thế giới.

Tôi dựa vào Niết bàn tam môn: Không, Vô tướng, Vô tác. Quán chiếu tất cả mọi pháp do nhân duyên hòa hợp mà sinh ra, tự tính vốn ban đầu là không, không có người nào tạo ra, không có người thọ nhận. Người có thể thông đạt được như vậy có thể nhập vào thành giải thoát. Dần dần, tôi đã có được ngộ cảnh.

Một hôm, bỗng nhiên tôi tiến nhập vào Vô Sắc Giới, tiến nhập vào Hư không, Duy thức, Vô hữu, Phi phi tưởng.
Có thể mọi người sẽ tò mò! Tiến nhập như thế nào?
Không có bậc thang mà?

Ngày hôm nay, tôi thật lòng thật sự nói để mọi người biết, khi tôi dừng lại những giác thọ tu pháp của "đại hỉ lạc", khi tôi cũng dừng cả việc tu luyện bí mật "tịnh quang", tôi dừng lại tất cả các pháp, tôi từ bỏ mọi pháp, hoàn toàn không có một hoạt động gì cả. Khi đó:
Tôi tiến nhập vào Vô niệm.
Tôi tiến nhập vào Vô tưởng.
Tôi tiến nhập vào Phi phi tưởng.

Chính vào lúc này, tôi nhanh chóng vượt qua được Tứ Không Thiên của Vô Sắc Giới, Tứ Không Thiên vô biên vô cùng đã bị tôi nhún chân một cái là có ở khắp nơi. Hóa ra, đại khẩu quyết của việc tiến nhập vào Vô Sắc Giới là năm chữ: "Tất cả pháp đều Không."

Những cảm nhận thiền định thông thường như hư vô điềm đạm, miên man ken dày, mờ mịt lùng bùng, mịt mùng xa xăm, hoặc như tắm đẫm trong biển ánh sáng, hoặc như không biết tâm ở chỗ nào, cũng không có sự phân biệt to nhỏ trong ngoài, bao gồm vũ trụ trên dưới thập phương, cao nhưng chẳng có đỉnh, thấp nhưng chẳng có đáy, kẹt giữa trời đất, đầy khắp bốn biển….

Những dạng cảm nhận trên đều hoàn toàn không có.
Như say như mê hay sướng muốn chết đều không có.
Tắm đẫm trong tịnh quang cũng chẳng có.

Lúc này, tự tính viên minh của tôi xuất hiện!
Tự tính viên minh của tôi và ý thức tối thượng của vũ trụ vốn là một chỉnh thể, hiểu rõ được điều này, tôi đã lập tức minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử.
Cảnh giới minh tâm kiến tính này cũng khó mà dùng lời để mô tả giải thích được!


### 06. Thiên nhãn


Ngũ nhãn

Ở đây, trước tiên tôi viết ra ngũ nhãn  [ năm loại mắt ]:

1. Nhục nhãn - con mắt vốn có của cơ thể xương thịt.

1. Thiên nhãn - con mắt vốn có của người ở Sắc Giới Thiên, có thể nhìn được gần xa, trong ngoài, sáng tối.

1. Huệ nhãn - người của Nhị thừa, trí huệ của sự quán chiếu và kiến chứng được chân không vô tướng.

1. Pháp nhãn - Bồ Tát độ chúng sinh, quán chiếu và kiến chứng được trí huệ của tất cả pháp môn.

1. Phật nhãn - trung đế hết thảy mọi trí, hơn nữa còn có đầy đủ cả bốn loại mắt ở trên.

Trong năm loại mắt này, vì sao tôi lại nhắc đến mỗi thiên nhãn, là bởi vì vào năm tôi 25 tuổi, khi mới gặp được nhân duyên thì tôi đã được Diêu Trì Kim Mẫu mở ra thiên nhãn.

Vì tôi đã có được thiên nhãn, nên vào buổi tối hôm đó, tôi đã đi khắp thiên thượng giới. Về sau tôi mới biết, có hai kiểu có được thiên nhãn thông:

1. Do nhân duyên quả báo mà có được thiên nhãn.

1. Do tu trì mà có được thiên nhãn.
(Trong "Trí Độ Luận", Phật Đà có nói đến.)

Hóa ra, tôi có được thiên nhãn không phải do tu trì mà có được, mà do nhân duyên quả báo mà có. Sau này, tôi tu thành tựu tịnh quang, nhờ vào tịnh quang và nhãn thức tương ứng mà đã khiến cho thiên nhãn của bản thân trong tất cả mọi hoàn cảnh đều thông đạt hơn, không còn chướng ngại. Tôi đã đắc được "thiên nhãn trí chứng thông", thiên nhãn lực của tôi rõ ràng phân minh, cũng không thể hỏng, không gì vượt qua được.

Đương nhiên, cũng có rất nhiều pháp sư sẽ nghi ngờ Lư Thắng Ngạn thật sự có thiên nhãn sao? Không chỉ có những người ngoại giới nghi ngờ, đệ tử của Chân Phật Tông cũng có thể nghi ngờ. Những suy nghĩ ngờ vực này, tôi nghĩ rằng cũng khó tránh khỏi.

Ví dụ:
Đệ tử Chân Phật Tông không đồng đều, tốt xấu lẫn lộn, lẽ nào Lư Sư Tôn không quan sát kĩ rồi mới thu nhận đệ tử? Thượng sư của Chân Phật Tông, có những người tâm thuật rất bất hảo, vì sao Lư Sư Tôn lại quán đảnh cho họ làm A-xà-lê? Nếu như Lư Sư Tôn có thiên nhãn, vì sao biết được có người bí mật làm hại mình mà lại không biết cách để trốn đi? Trong đám Thượng sư, cũng có người thối lui đạo tâm, cũng có người tự tạo đỉnh núi riêng, có người có thiên nhãn, lẽ nào không biết sao?

Những nghi ngờ này cũng rất hay, tôi trả lời như sau:
Tôi từng phát nguyện không từ bỏ một chúng sinh nào. Do vậy, cho dù là kẻ phạm tội sát nhân, kẻ hãm hiếp, kẻ cướp, kẻ trộm, kĩ nữ, kẻ lừa đảo, kẻ lang thang, kẻ nghiện rượu, đều là đệ tử của tôi.
Thượng sư của Chân Phật Tông kì thực có người tâm thuật rất xấu, tôi cũng sớm biết rồi, chỉ là tôi vẫn luôn nghĩ để họ làm A-xà-lê, cứu lấy bản thân họ. Khi quán đảnh, tôi đặc biệt nhấn mạnh: "Hôm nay, ta ban quán đảnh A-xà-lê này, nếu không tức thân thành Phật thì sẽ xuống địa ngục kim cang, có đồng ý không?"
Họ miễn cưỡng đáp: "Đồng ý."
Chính vì họ đồng ý, nên tâm từ bi của tôi đã cho họ một cơ hội!

Có người muốn bí mật làm hại tôi, vì sao tôi không biết mà tránh? Nói thẳng ra là tôi biết thừa, từ sớm cũng đã có sự dự phòng rồi, tôi đã giảm thiệt hại đến mức ít nhất rồi. Trong mỗi sự việc như vậy, tôi đều khiến cho đối phương không còn kế nào mà dùng nữa. (Trong việc này còn liên quan đến một chút nhân duyên, nhưng tôi cũng sớm biết rồi.)

Trong đám Thượng sư, có người thối lui đạo tâm, có người tự lập đỉnh núi riêng, tôi không biết sao? Tôi trả lời, đương nhiên là biết.

Chỉ là, những việc này đều là duyên phận thôi! Có duyên sâu, có duyên nông, có duyên dài, có duyên ngắn, có khi thì tiền duyên tốt hậu duyên xấu, có khi thì tiền duyên xấu hậu thiên tốt, tất cả những điều này đều là lẽ rất tự nhiên. (Tôi sớm đã dùng thiên nhãn quan sát.)

Tôi là người theo quan điểm tự nhiên, tôi tận tâm tận lực truyền dạy Chân Phật Mật Pháp chỉ với quan điểm như vậy mà thôi. Còn đối với những đám Thượng sư, đám đệ tử thối lui đạo tâm, tự mình lập đỉnh núi riêng thì đó là duyên phận của bọn họ.

Có người hỏi: "Đã biết thế rồi sao còn vẫn làm?"
Tôi đáp: "Tâm từ bi của tôi là vô lượng, rồi sẽ có một ngày họ hiểu ra, vẫn có ngày quay đầu quy y Chân Phật!"
"Có người vào Chân Phật Tông, rồi lại ra khỏi Chân Phật Tông, rồi lại vào Chân Phật Tông, rồi lại rút khỏi Chân Phật Tông, vậy phải làm sao?"
Tôi đáp: "Đợi họ."
"Đợi không được thì sao?"
"Đợi đến kiếp sau!"
"Đến kiếp sau vẫn đợi không được thì sao?"
"Đợi nghìn nghìn vạn vạn kiếp!" - Tôi nói.

Tôi dùng thiên nhãn quan sát, đương nhiên biết được tâm niệm của các đệ tử, cũng biết duyên phận giữa tôi và đệ tử, thế nhưng, bảo tôi phải nói sao đây?
Tôi thích thuận theo duyên phận, cứ để tự nhiên, tôi không thích miễn cưỡng. Tôi chỉ là tận lực hoằng dương Phật pháp, mặc dù biết việc thiên hạ, nhưng tôi chỉ có cười vào nó mà thôi, còn lại chẳng nói gì.

🌟

Mật tông Hắc giáo

Bởi truyền thụ Chân Phật Mật Pháp, hễ nhắc đến Mật tông, có người liền nói đến Hắc giáo Lâm Vân, là bởi vì lí do là Lâm Vân là nhân vật đầu tiên chỉ trích tôi.

Đầu tiên tôi nghiên cứu về Hắc giáo, hóa ra Hắc giáo có từ khi Mật giáo chưa vào Tây Tạng. Tôn giáo ban đầu của người Tạng là đạo Bon, họ quan điểm rằng vạn vật đều có thuyết tâm linh. Đạo Bon có chú thuật, có làm pháp, nguồn gốc của nó là "Ta Bì La chú thuật", cách làm pháp của nó là "La Nhĩ Già pháp". Ví dụ, dùng hạt cải và các loại thuốc độc, hai loại kết hợp lại, làm tượng của đối phương, bôi lên tượng này, niệm chú gia trì, khiến cho kẻ đó như bị lửa đốt, nhanh chóng bị trúng thương.

Hắc giáo hoàn toàn không phải là Mật tông, chỉ là về sau có sự đấu tranh lẫn nhau với Mật tông, cuối cùng bị Mật tông đồng hóa và dung hợp, các tín đồ Hắc giáo quy y Mật giáo. Tôn giáo vốn có ban đầu ở Tây Tạng cũng đã biến mất sạch sẽ ngay tại Tây Tạng.

Tôi đặc biệt quan sát Lâm Vân.
Ông ta giảng khí, giảng phong thủy, giảng thuyết linh tử, xuất thế giải, nhập thế giải, nói về các vị Lama đại đức của truyền thừa Hắc giáo…

Tôi phát hiện ra ông ta đọc một ít sách, phát triển một số pháp thuật do ông ta tự nghĩ ra. Ông ta giảng phong thủy hoàn toàn khác với các đại sư phong thủy trước đây. Ông ta giảng về thuyết linh tử thì cũng là vạn vật có thuyết tâm linh.

Giảng xuất thế giải, nhập thế giải, hoàn toàn là bẻ cong Phật pháp.
Ông ta nói về truyền thừa, rằng 6 tuổi đã học Mật pháp, hoàn toàn không có gì đối chứng cả.

Tôi thật lòng thật sự nói cho mọi người biết rằng ngay từ đầu tôi đã chú ý đến và có sự tò mò đối với Lâm Vân của Mật tông Hắc giáo. Về sau, ngược lại, tôi còn rất ngưỡng mộ trí tuệ thông minh của ông ta. Ông ta có thể biến trắng thành đen, biến đen thành trắng, biến 21 pháp Độ Mẫu của Mật tông thành Hắc giáo đại pháp của chính ông ta.

Trộm ở chỗ này một ít, trộm ở chỗ kia một ít, tự mình nghĩ ra một ít, thế là biến thành một cuốn Hắc giáo đại pháp đơn giản dễ hiểu rồi.

Kể cũng lạ là lại có nhiều người như vậy theo ông ta đi khắp nơi và gọi ầm lên "Anh Hai", "Anh Hai". Thật là quá kì quái!

Nhưng tôi dùng thiên nhãn để nhìn khí của ông ta, thì hóa ra là có lý do, nên lại không có gì là kì quái. Trên người Lâm Vân quả nhiên có một đám khí tồn tại, nhưng đám khí này hoàn toàn không phải do ông ta tự tu mà có, mà là khí này bám lên người ông. Bản thân Lâm Vân khả năng cũng không biết có khí này bám lên người mình, vẫn còn cho rằng bản thân hướng về mặt trời hít khí, hít vào trong người mình nên trên người đã có khí này. Bởi vì Lâm Vân có đám khí này bám lên người giúp đỡ ông ta, nên ông ta có thể kêu gọi rất nhiều người đi theo ông, ví dụ như minh tinh, các giáo sư, học giả, danh nhân, chính trị gia, v.v… đều bị đám khí này hút chặt vào.

Tôi chú ý xem đám khí này đang làm cái gì?
"Nó" mượn thân của Lâm Vân, hít nạp quang khí trên thân của những người xung quanh Lâm Vân, nói cách khác là "nó" bám trên người Lâm Vân, và sau đó "ăn" các đệ tử của Lâm Vân. Ở đây giống như một vòng tuần hoàn, từng nhóm từng nhóm người của Lâm Vân kéo đến, rồi từng nhóm từng nhóm bỏ đi, nhưng những nhóm người đã bị đám khí kia hút chặt thì sẽ cảm thấy ngày càng yêu thích, không thể từ bỏ được. Cho đến khi đám khí này không cần họ nữa thì họ mới bừng tỉnh khỏi giấc mộng dài!

Đám khí này quả nhiên lợi hại. Tuy nhiên, tôi nghĩ đến một ngày, đám khí này không còn cần Lâm Vân nữa, lúc này thì Lâm Vân thảm rồi, chẳng mấy chốc mà ông ta sẽ suy sụp, từ đầu đến chân chẳng còn chút sức mạnh nào, giống như quả bóng bị xẹp hết khí vậy. Lúc này thì trên người sẽ gặp đủ thứ bệnh, lúc đó thì mới tỉnh ngộ rằng nhân quả của mình đã đến rồi.

Tôi nhận ra được đám khí này, nó chính là con trưởng của Đại Tự Tại Thiên, nó rất thô và đen, cái mũi thì to dài, giống như thân người mũi voi vậy. Con trưởng của Đại Tự Tại Thiên này thích nữ sinh, do vậy tự nhiên mà có rất nhiều nữ sinh đặc biệt yêu thích đám khí này.

Kì thực, Lâm Vân hay giảng về khí, thì ông ta nên biết rằng, những vị yogi tu khí, nếu như là khí do chính mình tu thành công thì rất kiên cố, bản thân có thể vận dụng nhuần nhuyễn. Còn nếu đám khí có khi mạnh, có khi yếu, có khi nóng, có khi lạnh, trên trên dưới dưới, vào vào ra ra, thì đó không phải là khí do tự mình tu được, là không phù hợp.

Có con trưởng của Đại Tự Tại Thiên - Nga Na Bát Để ở trên người của Lâm Vân, chắc chắn ông ta sẽ có được một ít linh nghiệm nhỏ, nhưng những việc linh nghiệm lớn thì không dám bảo đảm. Hơn nữa, nếu như Nga Na Bát Để không cần Lâm Vân nữa thì trong chốc lát Lâm Vân sẽ mất hết tất cả, nói cách khác là tất cả sức mạnh tinh khí đều không còn.

Còn nữa, Nga Na Bát Để cần ăn nhiều, còn lượng thức ăn của Lâm Vân thì sao? Tôi không rõ, nhưng dựa trên nguyên lí về việc gửi thân thì nó nhất định là rất tham ăn. Nga Na Bát Để thích nghệ thuật, có thiên phận nghệ thuật, có thiên phận với thú vui chơi, tự nhiên cũng sẽ thích những trò giải trí, nó là thể tổng hợp của nửa thiện nửa ác.

Chúng ta tìm hiểu xem vì sao Đại Tự Tại Thiên lại ở nhờ vào Lâm Vân Hắc giáo, thì ra, Đại Tự Tại Thiên là chủ thần của giới ngoại đạo, ở đỉnh của Sắc Giới là chủ của ba nghìn giới. Nguồn gốc như vậy thực sự là không nhỏ. Còn Phật pháp của Lâm Vân Hắc giáo thì đương nhiên không phải là Phật pháp chính thống, cũng chẳng phải là Mật tông chính thống, do vậy, có nhân của ngoại đạo thì mới có chủ của ngoại đạo - duyên của Đại Tự Tại Thiên. Điều này hợp logic rồi.

Hơn nữa, Đại Tự Tại Thiên có ba mắt tám cánh tay, cưỡi trâu trắng, sống tại Sắc Giới, Mật giáo thông qua ngài để làm ứng hiện của Đại Nhật Như Lai, nghĩa là bản địa của Đại Tự Tại Thiên lại cũng chính là Đại Nhật Như Lai. Lâm Vân Hắc giáo đề xướng pháp hít khí mặt trời, nhưng không hít được Đại Nhật thì đương nhiên sẽ hít phải khí của con trưởng Đại Tự Tại Thiên, đây cũng là nhân duyên.

Trong Mật giáo, Đại Tự Tại Thiên này cũng có pháp tu trì:
Đại Thánh Hoan Hỉ Thiên song thân bì na da già pháp.
Đại Thánh Hoan Hỉ Thiên song thân danh lợi tu trì nghi quỹ.
Đại Thánh Hoan Hỉ Thiên song thân đại tự tại pháp.

Về mặt tốt, có con trưởng Đại Tử Tại Thiên ở trên thân thì tiếng tăm của người này càng ngày càng nổi tiếng, nhất định sẽ thành tên tuổi lớn, tiền tài lợi lộc cũng rất nhiều, có thể nói rằng phúc báo rất lớn.

Về mặt xấu, người cùng lúc có cả danh và lợi, nếu không phải là người thực tu, thì khí thế này sẽ có hạn, đến khi con trưởng Đại Tự Tại Thiên rời bỏ đi thì ác vận lập tức giáng xuống, lúc này có kêu trời gào đất cũng chẳng có tác dụng gì. Đây gọi là vận hết thì hoàng kim cũng biến thành sắt thép.

Còn trên phương diện trộm khí, hành giả chúng ta biết rằng, chư Thiên quỷ thần lấy khí làm thức ăn, đặc biệt là Nga Na Bát Để, kĩ năng của nó chính là trộm khí. Tôi đã nhìn ra, không phải Lâm Vân hít khí của các đệ tử, mà là Nga Na Bát Để bám trên người Lâm Vân, hít quang khí trên người các đệ tử của Lâm Vân, hết đợt này đến đợt khác.

Tôi thấy Lâm Vân Hắc giáo, có ngày cũng sẽ khô cạn mà chết.
Giả dụ tôi là Lâm Vân, tôi sẽ tu hỏa cúng Đại Uy Đức Kim Cang Hộ Ma, thỉnh Đại Uy Đức Kim Cang hiện thân. Đại Uy Đức Kim Cang có 16 chân, chân phải dẫm đạp lên người, trâu nước, trâu vàng, lừa, lạc đà, chó, dê, quả bầu, chân trái dẫm đạp lên chim kền kền, quạ, vẹt, chim ưng, đại bàng, gà, hạc. Ngoài ra còn có các loại chư Thiên như Phạm Thiên, Đế Thích, Thiên Nhập Thiên, Đại Tự Tại Thiên, Lục Diện Đồng Thiên, Tà Dẫn Thiên, Nguyệt Thiên, Nhật Thiên. Thiên chúng cũng do Đại Uy Đức Kim Cang cai quản, thỉnh Đại Uy Đức Kim Cang đến thì con trưởng Đại Tự Tại Thiên Nga Na Bát Để không đi không được.

Một khi Nga Na Bát Để bỏ đi, Lâm Vân Hắc giáo phải tu kết giới năm tầng: nền móng kim cang, cột kim cang, tường kim cang, lửa kim cang, lưới kim cang. Có kết giới rồi, Nga Na Bát Để sẽ không quay trở lại để bám vào thân hút khí nữa.

Rồi khẩn trương tu pháp "thủ đan". Nhờ đó, đan thành khí túc, sẽ không bị khô kiệt nữa!

🌟

Sơn Vương Tinh Vân

Trong cuốn sách này của tôi, nhân vật thứ hai xuất hiện là Tinh Vân đại sư. Kì thực, sự nghiệp Phật giáo mà Tinh Vân gây dựng còn lớn hơn cả Lâm Vân, lẽ ra nên xuất hiện đầu tiên, đặc biệt là thế lực của Lâm Vân nay đã yếu đi rồi, khí đen đã che phủ toàn thân, còn thế lực của Tinh Vân thì vẫn như mặt trời giữa trưa. Tuy nhiên, vì sao Lâm Vân lại đứng thứ nhất, còn Tinh Vân xếp thứ hai?

Thứ tự xuất hiện này là do tôi phân theo sự chú ý của tôi. Tôi chú ý đến Lâm Vân trước, sau đó mới chú ý đến Tinh Vân. Ở đây là do sự chú ý trước sau của tôi, không phải là tôi phân biệt dựa trên thành tựu của họ. Do vậy, cứ theo thứ tự như thế, tôi sẽ dùng thiên nhãn để quan sát lần lượt.

Có lão tăng nói:
"Cao linh ở sau lưng của Tinh Vân đại sư là Thái Âm Sơn Phủ Quân."
Còn bây giờ, tôi nhận định như sau:
"Tinh Vân đại sư là Sơn Thần chuyển thế."

Khi Tinh Vân đại sư mới ra đời, theo như chính ông ta thuật lại, vừa ra đời thì sắc mặt có một đám đỏ, một đám xanh, một đám trắng, giống như là bị bệnh mặt nở hoa rất nặng vậy. Hàng xóm láng giềng đồn đại rằng mẹ của Tinh Vân đã sinh ra một yêu quái. Tin đồn yêu quái này xa gần đều hay, cũng tương đối gây xôn xao.

Khi Tinh Vân còn nhỏ, sắc mặt kì dị đó cũng không lập tức hết ngay, mà phải sau mấy năm mới dần dần hết. Trong thời gian này,  Tinh Vân luôn bị nhốt trong nhà, không được ra ngoài, để tránh không bị người ta làm ầm lên.

Theo Tinh Vân tự thuật thì hóa ra, đây là dị tật bẩm sinh, trong số mệnh đã định là tương lai sẽ làm một đại hòa thượng.

Tôi gọi nguyên thần của Tinh Vân đến, dùng thiên nhãn để quan sát.
Mặt lớn ngũ hoa, hai con mắt sáng, đỉnh đầu da thô, miệng rộng lưỡi dài, thân thô, lưng vai rộng, bụng to lớn, hai bên mai tóc đỏ như lửa, bộ râu vàng dưới cằm như được cắm vào.
Tinh Vân đại sư rõ ràng là hòa thượng.
Vì sao lại xuất hiện một nhân vật thô ráp có tóc có râu như vậy!
Tôi vừa nhìn thì phát hiện ra, đây không phải là Sơn Thần thì là cái gì!

Trong quá khứ, tôi đã từng gặp rất nhiều Sơn Thần. Thần Núi của mỗi ngọn núi đều có hình dáng khác nhau, nhưng có cùng một điểm chung là mặt của Sơn Thần thường hay thích vẽ lên một đám màu xanh, một đám màu đỏ, một đám màu trắng, rất giống với vị tù trưởng của thổ dân Indian ở Mỹ. Ở Đài Loan, những Sơn Thần mà tôi đã từng gặp đều có hình xăm trên mặt.

Lúc tôi mới gặp nguyên thần của Tinh Vân đại sư, tôi giật thót mình, rõ ràng là Sơn Thần. Sau này tôi mới đọc được những lời tự thuật của chính ông rằng khi ông mới sinh ra thì mặt đã lốm đốm hoa rồi. Lúc này tôi đã ấn chứng được thiên nhãn của bản thân, Tinh Vân là Sơn Thần chuyển thế.

Có lẽ mọi người sẽ hỏi, Tinh Vân chỉ là Sơn Thần, khoảng cách giữa Sơn Thần với chư Thiên vẫn còn xa, vì sao sự nghiệp Phật giáo của ông ta lại to lớn như vậy?

Hôm nay, tôi giấy trắng mực đen viết chương sách này chính là để chứng minh điểm này. Mọi người cần biết, cần so sánh tài phúc. Ở trên trời thì Tứ Đại Thiên Vương là giàu có nhất, trên biển thì Long Vương là giàu có nhất, còn ở trên mặt đất thì Sơn Vương là giàu có nhất. Tinh Vân là Sơn Vương chuyển thế, sau lưng lại có Thái Âm Sơn Phủ Quân hỗ trợ cho mọi vị Sơn Vương, nếu mà Tinh Vân không giàu thì ai có thể giàu đây?

Cần biết rằng, những người giàu có ở nhân gian chỉ cần có được Địa Thần giúp đỡ thì họ sẽ giàu có. Một Địa Thần giúp đỡ một người giàu cỡ nhỏ, mười Địa Thần giúp đỡ cho một người giàu cỡ trung bình, trăm Địa Thần giúp cho người giàu cỡ bự, còn nghìn vạn Địa Thần giúp đỡ thì đương nhiên sẽ là hàng đại gia cực phẩm rồi.

Hơn nữa, địa vị của Sơn Thần còn cao hơn Địa Thần, Thái Âm Sơn Phủ Quân là vị đứng đầu mọi Sơn Thần, một hiệu lệnh của ngài đưa ra thì tất cả mọi ngọn núi đều chấn động. Tinh Vân chắc chắn sẽ trở thành người rất giàu có, điều này có thể khẳng định!

Tinh Vân chọn Phật Quang Sơn để bắt đầu xây dựng cơ nghiệp, sau đó phát triển sự nghiệp Phật giáo của ông, giống như núi lửa phun trào vậy, rất mau chóng lan tỏa ra khắp thế giới!

Ai có mắt thì đều thấy Sơn Vương Tinh Vân:

1. Tuyên truyền thành công.

1. Quán Quang Phật tự thành công.

1. Gây dựng chủ nghĩa sơn đầu thành công.

1. Tổ chức thành công.

1. Kinh doanh thành công.

1. Chính trị thành công.

1. Sự nghiệp nhân gian thành công.

1. Là người lãnh đạo tinh thần thành công.

Tôi phân tích Sơn Vương Tinh Vân có tám thành tựu lớn này. Tám đại thành tựu này là quá đủ để đẩy một con người lên đỉnh cao nhất ở nhân gian.

Cần phải biết pháp lực của Thái Âm Sơn Phủ Quân, đừng coi thường ngài chỉ là vua của mọi ngọn núi, kì thực cũng có thể xem ngài có phẩm vị của Địa Tiên, là:
Thân lẫm liệt oai hùng,
Khí oai vệ bề thế
Mắt sáng bừng như điện
Tiếng rung như sấm rền.

Chủ nghĩa sơn đầu, sự nghiệp Phật giáo nhân gian, tổ chức thương nghiệp chính trị, nhà lãnh đạo tinh thần, v.v… của Tinh Vân đại sư đều là những đặc tính của Sơn Thần, Sơn Thần thích địa vị và thành tựu cao ở mức độ Quốc Vương.

Tinh Vân cũng tự so sánh mình là Quốc Vương độ chúng.
Tôi quan sát Tinh Vân đại sư, sự nghiệp nhập thế của ông to lớn hơn sự nghiệp xuất thế, đây là đặc tính của Sơn Thần, bởi vì duyên phận của Tinh Vân đại sư là gắn liền với đại địa!

Tuy nhiên, có một câu nói thế này:
"Bất tục tắc Phật cốt, đa tình tức Bồ Tát."
[ ND: không còn như phàm tục - lụy tục thì là có cốt cách của Phật, còn nếu có tình thương lớn thì là Bồ Tát.]

Trong con mắt của tôi, Tinh Vân đại sư có chút thô tục, tục khí khắp từ đầu đến chân khiến người ta cảm giác chỉ cần đến gần là sẽ bị ô nhiễm. Còn sự đa tình của ông ta chính là tục tình, một kiểu giao tiếp xã hội khách sáo mà thôi, tôi thực sự không nhịn được mà chỉ trích ông ta bởi vì thô tục cũng chính là đặc tính của Sơn Thần, có tác phong của sự hoang dại lỗ mãng.

Ngoài ra, nói về linh tính của ông ta, thì chỉ là một phàm phu, công phu thực tu thì khỏi phải bàn, nói cách khác là căn bản không hề có thực tu. Phật pháp của ông ta là đem Phật pháp của Phật Đà viết thành văn tự, đưa lên miệng, đưa đến khắp nơi trên thế giới, đưa đến đông, đưa đến tây, đưa tới đưa lui.
Ông ta không biết Phật pháp là chính mình, chính mình là Phật pháp, do vậy vẫn chỉ là một phàm phu, một Sơn Thần thô tục.

Thôi thì cũng xem như trò phô trương Phật pháp của Tinh Vân đại sư cũng là một trong những công đức của ông ta vậy! Công lực chân chính của Tinh Vân đại sư chẳng thấy được phát huy ra, chủ yếu là do ông ta không có thực tu, đến bây giờ ông ta vẫn còn chưa hiểu rõ tu thế nào nữa!

Sơn Vương Tinh Vân có phúc báo lớn, có Thái Âm Sơn Phủ Quân ở sau lưng giúp đỡ, nhưng, loại phúc báo nhân gian này rốt cục cũng chỉ là không, là huyễn mà thôi.
Có người hỏi:
"Sự nghiệp nhân gian do Sơn Thần kiến lập khổng lồ như vậy, ngược lại, sự nghiệp nhân gian nếu do Phật Bồ Tát chư Thiên kiến lập lại nhỏ, là nguyên nhân gì?"
Tôi đáp:
"Sơn Thần ở nhân gian xây dựng sự nghiệp, do vậy mà lớn. Phật Bồ Tát chư Thiên ở hư không xây dựng sự nghiệp, do vậy mà nhỏ. Ở đây là chỉ sự nghiệp hữu hình, nói cách khác là sự nghiệp của Sơn Thần là cái hữu hình, còn sự nghiệp của Phật Bồ Tát chư Thiên là vô hình."

Có một bài kệ như sau:
Miên man lau tâm địa, sạch cảm xúc bụi trần,
Chớ để những vũng bùn vùi che lấp Tì Lô.
Bản thể thường thanh tịnh, nên theo lẽ nguyên sơ,
Tính bẩn cần thanh lọc, hít thở như suối trong,
Đừng để thanh khí nhảy nhót chạy lung tung
Ngày đêm thở như thế, sẽ hiển hiện công phu.

🌟

Hội Từ Tế của pháp sư Chứng Nghiêm

Trong bảng xếp hạng của tôi, Chứng Nghiêm pháp sư xếp ở vị trí thứ ba. Đương nhiên, sự nghiệp từ tế mà bà đã kiến lập nên khiến tôi rất kinh thán, kinh là kinh ngạc, tán là tán thán!

Là cái tên thứ ba trong bảng xếp hạng của tôi, hoàn toàn không phải là chỉ sự nghiệp Phật giáo của bà không to lớn bằng Tinh Vân, hoàn toàn không phải là chỉ tên tuổi khí thế không lớn như Lâm Vân. Trên thực tế, là một vị tì kheo ni nhỏ bé, danh dự, địa vị, sự nghiệp mà bà đã gây dựng nên đều vượt qua cả tiếng tăm và uy thế của hai người trước, thực sự không hề tầm thường.

Xếp ở vị trí thứ ba trong bảng xếp hạng của tôi, như tôi đã nói, đây là tôi căn cứ theo sự chú ý của mình để sắp xếp, không phải dựa trên việc đánh giá tiếng tăm vị thế.

Điều mà pháp sư Chứng Nghiêm khiến tôi kinh ngạc là, bà ấy là một phụ nữ, thân thể bẩm sinh đã không khỏe, trên phương diện học hành cũng không có gì nổi bật. Khi bà mới xuất gia theo đạo thì cũng yếu ớt, dường như chẳng thể thấy một chút khí thế nào. Vậy chuyện này là thế nào?

Điều khiến tôi ca ngợi là, là một tì kheo ni nhỏ bé như vậy mà có thể tạo lập nên tổ chức cứu trợ thế giới lớn như thế, biết đâu cũng có nhân duyên quả báo gì ở đây. Đương nhiên tôi tán thán công đức bố thí của bà ấy, có thể kêu gọi người người làm việc thiện, bố thí, là người số một trong lục độ ba la mật của Bồ Tát.

Câu cửa miệng của pháp sư Chứng Nghiêm thường hay nói là:
"Mọi người chúng tôi đến làm việc thiện."

Kinh Niết Bàn nói:
"Mọi vật đều có thiện căn, từ bi là căn bản."

Pháp bố thí, như kinh Hoa Nghiêm có nói:
"Bồ Tát là đại thí chủ, tất cả tài vật đều bố thí hết cho chúng sinh không chút hối hận, không mong được quả báo, không cầu danh dự, không cầu nơi ở tốt, không cầu được hỗ trợ lợi ích, chỉ mong cứu giúp tất cả chúng sinh, muốn hành động vì lợi ích của chúng sinh, muốn suốt đời học theo chư Phật, muốn thọ trì sự nghiệp của chư Phật, muốn hiển hiện sự nghiệp của chư Phật, muốn làm cho tất cả chúng sinh hết khổ được vui."

Tôi dùng thiên nhãn quan sát thì thấy: Diêu Trì Kim Mẫu đến.
Tôi giật nảy mình, lẽ nào sau lưng của pháp sư Chứng Nghiêm là Diêu Trì Kim Mẫu? Tôi không dám tin, Diêu Trì Kim Mẫu là Đạo giáo, pháp sư Chứng Nghiêm là Phật giáo, chuyện này sao có thể.
Tôi hỏi:
"Con quan sát pháp sư Chứng Nghiêm, thế mà Kim Mẫu lại đến trước, không biết là vì sao?"
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Kì thực pháp sư Chứng Nghiêm và ta có một chút nhân duyên."

Lúc này, tôi há hốc miệng, mắt chữ O mồm chữ A.
Kim Mẫu nói:
"Khi pháp sư Chứng Nghiêm mới xuất gia, chỉ là một ni cô nhỏ bé không có chỗ nào để dung thân. Cô đã vượt núi vượt sông đến Đài Đông ở miền đông Đài Loan. Bởi không người thân thích, không có chùa Phật nào nhận cho ở lại, thế là miếu Vương Mẫu Nương Nương ở thôn Lộc Dã đã nhận cho cô ở lại."

Miếu Vương Mẫu Nương Nương ở thôn Lộc Dã, Đài Đông đã cho pháp sư Chứng Nghiêm được ở lại. Trong hai tháng này, pháp sư Chứng Nghiêm đã khóc liên miên, đau khổ mà không có nơi nào để giãi bày, bèn quỳ xuống cầu Vương Mẫu Nương Nương. Vương Mẫu Nương Nương nhìn thì thấy: "Đây là một cô gái hiếu thuận." Bởi vậy, Vương Mẫu Nương Nương vô cùng cảm động, phóng ra một tia sáng tạo thành một chiếc vòng tay như ý, đeo lên cổ tay của pháp sư Chứng Nghiêm. Chiếc vòng tay như ý này tuy là vô hình, nhưng vì có được sự tỏa sáng của chiếc vòng tay như ý mà về sau, vận khí của tì kheo ni Chứng Nghiêm dần dần càng ngày càng thuận lợi.

"Vương Mẫu Nương Nương nào?" - Tôi hỏi.
"Chính là Diêu Trì Kim Mẫu, Kim Mẫu Vương Mẫu, tên khác nhưng cùng là một." - Diêu Trì Kim Mẫu đáp.
Tôi lại hỏi:
"Vậy thì vị cao linh ở sau lưng pháp sư Chứng Nghiêm chính là Diêu Trì Kim Mẫu rồi!"
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Cũng không phải, ta chỉ là giúp pháp sư ấy một tay thôi, vị cao linh phía sau lưng pháp sư ấy thực sự là Địa Tạng Vương Bồ Tát."
"Sao lại là Địa Tạng Bồ Tát?"
Kim Mẫu đáp:
"Vì một chữ, Hiếu."

Tôi đã từng giảng "Địa Tạng Bồ Tát bản nguyện kinh", biết được rằng kinh này là do Phật Đà bay đến Đao Lợi Thiên Cung chuyên để thuyết pháp cho mẹ Ngài. Trong bản kinh này có rất nhiều những người con gái có hiếu, đều là những kiếp trước của Địa Tạng Bồ Tát, cả cuốn "Địa Tạng kinh" thì bất kì câu nào cũng có thể nhìn thấy sự hiếu thuận. Địa Tạng Bồ Tát là chuyển hóa của những người con gái hiếu nghĩa, ví dụ như cô gái Bà-la-môn, cô gái Quang Mục đều là ngài. Nay, pháp sư Chứng Nghiêm cũng là một người phụ nữ hiếu thuận, do vậy dựa theo nhân duyên, vị cao linh sau lưng bà ấy quả nhiên là Địa Tạng Bồ Tát, không còn nghi ngờ gì.

Tôi quan sát mà biết được:
Hiện tại không chỉ có Địa Tạng Bồ Tát là vị cao linh ở sau lưng của bà, mà chín vị Bồ Tát của Địa Tạng Viện ở Thai Tạng Giới cũng xuống để giúp đỡ bà, chín vị Địa Tạng này là: Bi Mẫn Bồ Tát, Thi Vô Úy Bồ Tát, Hiền Hộ Bồ Tát, Bất Tư Nghì Tuệ Bồ Tát, Bi Mẫn Tuệ Bồ Tát, Từ Phát Sinh Bồ Tát, Sách Chư Nhiệt Não Bồ Tát, Nhật Quang Bồ Tát, Phá Ác Thú Bồ Tát.

Căn cứ theo yếu tố thân thể của pháp sư Chứng Nghiêm, tôi kiến nghị bà ấy nên tu pháp quán tám điều Không của Tam Luận Tông:

1. Bất sinh bất diệt - gương sáng soi hình, tùy duyên mà thị hiện huyễn hóa.

1. Bất đoạn bất thường - nước sông luôn đổi, chưa từng gián đoạn.

1. Bất nhất bất dị - chụp ảnh một người, tư thế không là một.

1. Bất lai bất xuất - như người trong vở kịch, như đến như đi.

Bằng cách này, trực tiếp thâm nhập vào tính Không, có thể đạt được đại thành tựu.

Đối với sự nghiệp cứu tế nhân gian của bà:
Như là nhân.
Như là duyên.

Cũng có rất nhiều người nói, pháp sư Chứng Nghiêm là hóa thân của Quan Thế Âm Bồ Tát, cũng có người nói là hóa thân của Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát. Đây chỉ là do thế nhân tự gán cho là thế mà thôi, bởi vì Quan Âm là hóa thân từ bi mà!
Còn có thật là thế không?
Hãy hỏi chính bản thân bà ấy thì biết rõ nhất!

🌟

Thanh Hải Vô Thượng Sư và Đại Phạm Thiên

Thanh Hải Vô Thượng Sư là nhân vật thứ tư mà tôi chú ý đến, do vậy, bà ấy là người thứ tư xuất hiện.
Thanh Hải là hiệu của bà ấy.
Vô Thượng Sư là một trong mười cách xưng hô lớn của Phật.
Do vậy, Thanh Hải Vô Thượng Sư cũng tương đương với Thanh Hải Phật.

Bà ấy là một nhân vật một mình tu hành rất đặc biệt. Phật pháp mà bà giảng hoàn toàn khác so với Phật pháp nói chung, do vậy, giới Phật giáo la ó công kích bà.

Một đại cư sĩ của giới Phật giáo - cư sĩ Trần Huệ Kiếm trong luận văn Phật học của mình đã xếp tôi là nhân vật lớn số một, còn Thanh Hải Vô Thượng Sư là nhân vật lớn thứ hai. Hai nhân vật này cũng chính là hai nhân vật chính nhất trong luận văn của Trần Huệ Kiếm.

Ngoài ra, "Tuyển tập pháp sư Huệ Luận diễn giảng" cũng chỉ trích tôi đầu tiên và chỉ trích Thanh Hải Vô Thượng Sư thứ hai. Ông ta nói bằng tiếng Đài Loan:
"Thanh Hải, cái đồ đàn bà!"

Cái đồ đàn bà, rốt cục là thế nào mà khiến cả giới Phật giáo sốt xình xịch, khiến giáo giới giậm chân bình bịch!

Lý lịch của Thanh Hải Vô Thượng Sư không cần phải chiếm ít giấy mực ở đây, tóm lại, bà là một tì kheo ni xuất gia người Việt Nam. Bà ấy từng ở Ấn Độ học chú ngữ của đạo Xích (Sikh), nhờ nghe được "âm thanh nội tại" và nhìn thấy được "ánh sáng nội tại" mà từ đó, bà ấy lại giảng về "ấn tâm" và "quán âm pháp môn". Quán âm pháp môn chính là pháp môn nhĩ căn viên thông của Quan Âm Bồ Tát được nói đến trong quyển 6 thuộc "Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm kinh".

Thanh Hải Vô Thượng Sư dùng năm câu chú của đạo Sikh, dùng ấn tâm, dùng quán âm pháp môn, cùng dung nhập vào với nhau, nhờ việc khởi đầu bằng nghe âm thanh, nhìn ánh sáng mà sẽ khiến cho con người có được linh giác trước, đây là điểm xuất phát để kêu gọi và điều khiển tất cả tín chúng.

Nói chung, nghe âm thanh nhìn ánh sáng, nếu có cao linh gia trì, sẽ sản sinh ra cảm ứng thần thông, có được cảm ứng thần thông rồi thì dòng người sẽ lũ lượt tò mò, ào ào xô tới. Cộng thêm với cách diễn thuyết hiện đại của Thanh Hải Vô Thượng Sư sẽ khiến cho không ít người đi theo. Sự phối hợp trong ngoài này đã khiến cho người Đài Loan rất ưa chuộng. Và thế là, dòng tu của bà xuất phát từ Đài Loan rồi lan đi khắp thế giới.

Mặc dù pháp môn quán âm là bắt đầu bằng tính chất nghe của tai để khởi tu, ban đầu có nghe âm thanh, nhưng cần ngược dòng âm thanh, hồi âm phản chiếu chính mình, cho đến cuối cùng không những không biết có âm thanh, ngay cả việc nghe cũng trở nên tĩnh lặng, hai trạng thái động và tĩnh đều cùng tiêu biến. Cần làm cho những cái gốc bụi trần đều mất đi thì sự viên giác mới hiện tiền.

Đây là công phu khi âm thanh đi vào tai thì sẽ xoay ngược việc Nghe để nghe tự tính, khi lục căn hoàn toàn bị diệt mất thì tự tính xuất hiện, đây gọi là viên chiếu tam muội.

Hơn nữa, không phải là chỉ dừng lại ở trong huyễn cảnh của việc nghe âm thanh và nhìn ánh sáng. Ngoài ra nghe âm thanh nhìn ánh sáng cũng rất dễ nhập vào ma cảnh.

Tuy nhiên, bốn chữ "tức khắc khai ngộ" của Thanh Hải Vô Thượng Sư thực sự là cực kì gây rúng động đến nội tâm của nhiều người.

Đối với nhân vật kiểu này, đương nhiên tôi cần chú ý quan sát, kì thực bà ấy cũng chú ý tới tôi y như thế. Có người hỏi Thanh Hải Vô Thượng Sư:
"Bà có biết Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn không?"
Bà đáp:
"Tôi biết có ông ta, ông ta biết có tôi."
Ha ha, trả lời rất khéo.

Tôi dùng thiên nhãn để quan sát bà, vị tỳ kheo ni người Việt Nam này không giống như bình thường. Bà ấy để tóc dài, kẻ lông mày, kẻ mí mắt, đánh phấn, bôi son, mặc những bộ đồ Tây thời thượng nhất, đeo vàng đeo ngọc, thậm chí đôi khi trên đầu còn cài hoa, đeo kính râm.
Các đệ tử của bà ca ngợi bà là:
Vị sư phụ khí chất cao quý.
Uy nghi vương giả.
Có dung nhan hiền hậu như Đại Địa Thánh Mẫu.
Là hóa thân của Quan Thế Âm Bồ Tát.

Tôi chú ý đến vị cao linh ở sau lưng bà - đó là Đại Phạm Thiên Vương, thực sự trăm phần trăm là Đại Phạm Thiên Vương không sai trật.
Vì sao lại là Đại Phạm Thiên Vương ở sau lưng bà điều khiển mọi thứ?

Đại Phạm Thiên Vương có thân tâm vi diệu viên mãn, uy nghi không khiếm khuyết, thanh tịnh giữ giới, hỗ trợ cho sự minh ngộ, là người thống lĩnh Phạm chúng với vai trò như một Đại Phạm Vương, do vậy gọi là Đại Phạm Thiên.

Đại Phạm Thiên Vương có bốn đặc tính lớn:

1. Thanh tịnh giữ giới - bảo người ta nhất định phải ăn chay.

1. Hỗ trợ cho sự minh ngộ - bảo người ta tức khắc khai ngộ.

1. Thống lĩnh Phạm chúng - thống lĩnh mọi người.

1. Là Đại Phạm Vương - là một vị vua tự lập.

Bốn đặc tính trên đều hiện rõ không thừa chút nào ở trên người Thanh Hải Vô Thượng Sư. Cao linh ở sau lưng của bà ngoài Đại Phạm Thiên Vương ra thì còn có thể là ai nữa?

Không chỉ như vậy, trong các bài khai thị thuyết pháp của Thanh Hải Vô Thượng Sư toàn là giọng điệu của Đại Phạm Thiên Vương, căn bản cũng chính là cảnh giới bản địa của Đại Phạm Thiên Vương!

Ví dụ:
"Chúng ta làm sao để biết rằng mình đã khai ngộ rồi? Việc này không khó, khai ngộ chính là có ánh sáng, ta ở bên trong có thể nhìn thấy được ánh sáng, bản tính của chúng ta chính là ánh sáng." Đây chính là giọng điệu của Đại Phạm Thiên Vương ở Sắc Giới Thiên.

"Giáo lý và Cơ Đốc, Hồi Giáo đều tương hợp, bởi vì cũng là dạy người ta làm điều thiện." - Khẩu khí của Đại Phạm Thiên Vương.

Tôi đặc biệt ghi chú rõ: Chúa Jehovah, Jesus, Ngọc Hoàng Đại Đế, Thánh Allah… đều là hóa thân của Đại Phạm Thiên Vương.

Có người hỏi:
"Thành tâm cầu nguyện Thanh Hải Vô Thượng Sư sẽ có được giải thoát, cầu nguyện chúa Jesus của đạo Cơ Đốc có được cuộc đời vĩnh hằng, và cầu nguyện Phật Thích Ca Mâu Ni thì sẽ có được giải thoát, giữa ba vị này có gì khác biệt?"
Thanh Hải đáp:
"Chúa Jesus của đạo Cơ Đốc và Phật Thích Ca Mâu Ni thì đều đã vãng sinh rồi, còn ta vẫn còn tại thế."
Điều này cũng chính là điều Đại Phạm Thiên Vương thường nói.
Hỏi:
"Hiện nay có bao nhiêu vị minh sư?"
Thanh Hải đáp:
"Có một vị minh sư đối với mọi người đã là đủ dùng rồi!" - Câu này lại càng là khẩu khí của Đại Phạm Thiên Vương.

Những ví dụ kiểu này cực kì nhiều, không thể kể hết. Xem xét trên quan điểm logic thì căn bản chính là do Đại Phạm Thiên Vương đang trực tiếp đưa ra chỉ thị.

Có người hỏi tôi:
"Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, ngài có bình luận gì đối với việc Thanh Hải Vô Thượng Sư lúc đầu xuất gia thì cạo tóc, sau đó lại để tóc và mặc trang phục thường, còn tô son điểm phấn?"
Tôi đáp:
"Giới Phật giáo chắc chắn sẽ phê bình việc xuất gia cạo đầu rồi lại để tóc mặc trang phục thường, đánh phấn tô son. Nhưng, quan điểm của tôi và con người thế tục không giống nhau, tôi cho rằng việc cạo đầu xuất gia và việc để tóc mặc trang phục thế tục, hay đánh phấn tô son đều là hình tướng bên ngoài mà thôi. Ý tôi muốn nói rằng, một người có nội tâm khai ngộ chân chính thì tất cả những hình tướng bên ngoại đều có thể bất chấp, cũng không có gì là quá quan trọng nữa. Đối với điểm này, tôi cũng không mất công đi phê bình bà ấy. Điều tôi phê bình là cảnh giới của bà, những thứ khác không quan trọng."

🌟

Những người khác

Vốn dĩ tôi còn muốn viết về Thánh Nghiêm pháp sư, Diệu Liên hòa thượng, viết một chút về Tâm Đạo pháp sư, Huệ Luật pháp sư, cũng như Duy Giác lão hòa thượng, hoặc lại nói thêm về Tuyên Hóa thượng nhân, v.v… nữa. Tuy nhiên, tôi biết rằng một khi viết ra thì e rằng một cuốn sách này cũng chẳng đủ, do vậy trong cuốn sách này, tôi chỉ viết về Lâm Vân, Tinh Vân, Chứng Nghiêm, Thanh Hải, còn những vị khác thì đợi đến cơ duyên viết sách những lần sau.

Có lẽ có người sẽ hỏi, thiên nhãn của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn liệu có thể nhìn sai không? Liệu có thể nào là huyễn giác không? Liệu có thể là thần thức của chính mình đã tự bịa ra không?

Người bình thường đương nhiên có thể sẽ có những suy nghĩ nghi hoặc này, đặc biệt là trong xã hội hiện tại này, thuật sĩ giang hồ rất nhiều, mặc dù cũng có những kì nhân dị sĩ nhưng những kẻ du côn kiếm miếng ăn thì lại càng nhiều hơn. Bọn họ đều nói có thể nhìn thấy nhân quả ba kiếp, có thể gặp thần gặp ma, có thể….

Tuy nhiên, mắt cá và trân châu cho dù có thể trộn lẫn vào với nhau, nhưng cũng vẫn có thể phân biệt được. Rốt cục, Liên Sinh  Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn xuất đạo tu hành đã được 27 năm, đã viết 120 cuốn sách, bản thân ngày ngày thực tu, thiên nhãn của bản thân có thể tin được hay không, tự tâm này biết rõ. Việc này cũng chẳng phải là có thể tùy tiện nói bừa là xong, cần phải hợp với cách suy nghĩ và logic của con người hiện đại.

Thiên nhãn liệu có phải là huyễn?
Câu trả lời của tôi là:
"Đương nhiên có."

Thậm thâm Bát Nhã, biện chiếu tam giới, căn bản tính nguyên, cuối cùng tịch diệt, cùng với hư không, chẳng còn gì nữa.
Giống như Lâm Vân đại sư, giống như Tinh Vân đại sư, giống như Chứng Nghiêm thượng nhân, giống như Thanh Hải Vô Thượng Sư, giống như Tuyên Hóa thượng nhân, v.v…
Tôi dùng thiên nhãn để quan sát, đều là một sự huyễn nhất thời mà thôi!

Phúc báo của những đại sư thượng nhân này lớn!
Chính là:
Phúc điền năng trồng quanh năm thịnh,
Phúc hải rộng sâu đời đời vững,
Phúc mãn càn khôn nhiều âm phúc
Phúc tăng vô lượng mãi chu toàn.

Theo như Sơn Vương Tinh Vân mà nói thì đại địa này núi là cao nhất, thế nhân cũng biết rằng có bao nhiêu là núi, những ngọn núi cao sừng sững uy nghi đầy khí thế, gốc nối với mạch Tu Di, đỉnh chạm tới thiên ngoại thiên, trùng trùng điệp điệp nghìn dải sương mù bao phủ, hàng vạn đám mây ngũ sắc bay bay. Tuy nhiên, cho dù là có một vị Sơn Thần to lớn là Thái Âm Sơn Phủ Quân thì tôi vẫn phải khuyên ông ta rằng: tu trì cho đúng cần cẩn thận, quét sạch ái dục tự quy chân.


### 07. Thần biến của pháp Bổn tôn


Linh giới

Bởi những gì mà thiên nhãn của tôi nhìn thấy được, tôi trực nhận ra rằng trong vũ trụ này, thế giới hữu hình dường như bị cả thế giới vô hình kiểm soát. Cái thế giới hữu hình này dường như bị thế giới vô hình điều khiển, việc này giống như các cao linh của linh giới đang chơi cờ vậy.
Nhân loại chúng ta chỉ là một quân cờ.

Bàn cờ là đất quân là trời,
Người chơi điều khiển cả âm dương
Vận chuyển đổi thay đầy kì lạ
Hóa ra sau lưng có Thần Tiên.

Cao linh ở sau lưng này mới là người chơi cờ thật sự, mới là người chiến thắng thật sự. Tôi còn xác nhận được rằng các linh ở sau lưng bao gồm từ rất quảng đại, có giới Phật, giới Bồ Tát, giới Thanh Văn, giới Duyên Giác (đây là Tứ Thánh giới), có giới Thiên, giới Người, giới Atula, giới Địa Ngục, giới Ma, linh giới Động vật (đây là Lục phàm giới), gộp lại là Thập pháp giới.

Tôi nhận ra "linh" ở sau lưng một số hành giả có địa vị rất cao, sức mạnh rất lớn, nhưng một số thì cũng không phải là cao lắm.
Tôi còn phát hiện ra, con người phổ thông bình thường thì linh ở sau lưng họ có địa vị không cao, sức mạnh cũng thấp, có người thì bị linh của động vật sở hữu, thậm chí có người thì bị yêu tinh quỷ quái sở hữu, có người thì trở thành kê đồng, có người thì trở nên tâm thần bệnh hoạn.

Theo quan điểm của tôi, nếu như muốn biết cảnh giới của một hành giả đã cao đến mức nào, công lực tu hành của hành giả đó ra sao, thì chỉ cần nhìn linh ở sau lưng của người đó là có thể biết được rất rõ ràng. Bởi vì linh ở sau lưng chính là Bổn tôn mà hành giả đã tu xuất ra được.

Hôm nay, tôi có kiến giải như thế này là bắt buộc phải nhờ có sự quan sát vi diệu. Nhưng điều quan trọng nhất là nay tôi là hóa thân của A Di Đà Phật, lại có công lực gia trì của Ngũ Phật Tứ Bồ Tát ở cung điện trung tâm của Thai Tạng Giới, thậm chí có thầy dạy là Diêu Trì Kim Mẫu, nhờ vậy tôi mới có thể hiểu được thông suốt.

🌟

Tầm quan trọng của pháp Bổn tôn

Đời này của tôi ở nhân gian, tôi dạy thế nhân tu Chân Phật Mật Pháp, trong đó có pháp Bổn tôn thực sự là vô cùng quan trọng.
Tôi từng thành tựu pháp này trong một sát-na.
Tôi đã thành A Di Đà Phật.
Bên phải có Quan Thế Âm Bồ Tát.
Bên trái có Đại Thế Chí Bồ Tát.
Toàn thân tôi phóng tỏa đại quang minh.
Xung quanh bên trái bên phải của tôi đều là Hộ pháp, Không hành, chư Thiên vòng vòng vây quanh, cực kì trang nghiêm thù thắng.
Thành tựu vi diệu thù thắng này chính là sự thần biến của pháp Bổn tôn.

Pháp Bổn tôn có nghĩa là, trong số chư Phật, Bồ Tát và Kim Cang, hành giả Mật tông tự mình chọn ra một vị mà mình có duyên nhất để làm đối tượng tu pháp của mình. Sau đó sẽ tu pháp của Bổn tôn này, tu cho đến khi chính mình biến thành Bổn tôn.

Ví dụ, tôi Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chính là hóa thân của A Di Đà Phật, vậy thì tôi vẫn lấy A Di Đà Phật làm Bổn tôn, sau cùng tôi lại tu thành A Di Đà Phật, trở về với nguồn gốc ban đầu, nguồn gốc này chính là bản địa.

Kinh Đại Nhật viết:
"Một thân hay hai thân, thậm chí là vô lượng thân, cùng nhập vào bản thế."
Đây chính là nguyên lý của pháp Bổn tôn.

"Mật giáo thông quan" có nói:
"Tam mật của chư Phật và tam mật của hành giả cùng ở khắp pháp giới, bình đẳng và bình đẳng. Bởi chân ngôn do chư Phật ấn khắc, cùng với chư Phật mà hành giả ấn khắc, cũng bình đẳng không khác. Nhờ có ấn mà rõ ràng đều bình đẳng, do vậy có thể hấp dẫn chư Phật nhập vào thân này của ta. Bởi chư Phật nhập vào thân ta, do vậy công đức của Phật cũng là công đức mà ta có."
Đây chính là nguyên lý biến thân của Nhập ngã - Ngã nhập trong Mật giáo.

Quán tưởng Nhập ngã - Ngã nhập của pháp Bổn tôn cực kì quan trọng:

1. Quán tưởng Bổn tôn xuất hiện ở hư không trước mặt, ba ánh sáng chiếu đến bao chùm lấy hành giả, khiến hành giả an trụ bất định.

1. Quán tưởng Bổn tôn dịch chuyển đến đỉnh đầu, phóng đại quang minh, trong ánh sáng tuôn chảy ra cam lộ quán đảnh cho hành giả, nghiệp chướng của hành giả đều được thanh tịnh, đạt được đại tự tại.

1. Quán tưởng Bổn tôn thu nhỏ lại như một hạt ngọc, từ lỗ trên đỉnh đầu hành giả đi vào trung mạch, rồi ngự tại hoa sen trong tâm hành giả.

1. Quán tưởng Bổn tôn toàn thân phóng to lên, trở thành to bằng chính bản thân hành giả. Trong một sát-na, hành giả và Bổn tôn hợp làm một. Ta chính là Bổn tôn, Bổn tôn chính là ta. (Mỗi một quán tưởng thì trì chú Bổn tôn 108 biến.)

Đây chính là những điểm chính của sự thần biến trong pháp Bổn tôn.

Tôi xác nhận được điều này, rằng chỉ cần tu trì thành tựu được pháp Bổn tôn thì chắc chắn không có nghi ngờ gì là người tu hành sẽ vãng sinh đến Phật quốc. Trong Hiển giáo mà nói thì pháp môn niệm Phật là tiện lợi nhất, nhưng pháp quán tưởng trì chú Bổn tôn của Mật giáo thì thâm nhập sâu hơn.

Tôi nhận ra rằng có một số đại sư, pháp sư chắc chắn chưa từng học qua pháp Bổn tôn một chút nào, nhưng vì sao sau lưng của họ có cao linh đi theo, tôi cho rằng đó là nhân duyên của họ, nói cách khác là những cao linh này đến là vì duyên phận.

Tôi lấy một ví dụ để nói:
Bản thân Tuyên Hóa thượng nhân đọc thuộc kinh Lăng Nghiêm, còn dạy người ta đọc thuộc kinh Lăng Nghiêm, kết quả là hấp dẫn Lăng Nghiêm Vương Bồ Tát. Cái lý của việc này chính là như vậy.

🌟

Ngoại mật và Nội mật

Tôi cho rằng pháp Bổn tôn nên là toàn bộ của Mật giáo. Tu pháp Mật giáo phân thành Ngoại mật và Nội mật. Ngoại mật chính là như tôi đã nói ở đoạn trước:

1. Phật ở hư không.

1. Phật trụ đỉnh đầu ta.

1. Phật đi vào tim ta.

1. Phật và ta hợp nhất.

Còn Nội mật thì là tu khí - mạch - điểm.

1. Khí thổi bùng lên chuyết hỏa.

1. Chuyết hỏa đốt cháy điểm.

1. Điểm hóa thành thần thức.

1. Thần thức biến thành Bổn tôn.

Tôi viết ra những điểm chính của Ngoại mật và Nội mật. Cuối cùng của Ngoại mật là Bổn tôn và ta hợp nhất, cuối cùng của Nội mật là gửi minh điểm thần thức đến cõi tịnh độ của Bổn tôn, hoặc trực tiếp biến hóa thành Bổn tôn. Do vậy, bất kể là Ngoại mật hay Nội mật thì vẫn đều là pháp Bổn tôn.

Mật giáo có nghìn nghìn vạn vạn pháp tu, nói cách khác là thập phương Phật, thập phương Bồ Tát, thập phương Kim Cang, thập phương chư Thiên, thập phương Hộ pháp Không hành, toàn bộ đều ở trên mandala của Mật giáo. Tuy nhiên, từ đầu chí cuối, tôi đều luôn nhận thấy là bất kể bạn tu Mật pháp gì thì cũng không nằm ngoài Ngoại mật và Nội mật, đều cần phải có Bổn tôn gia trì, Thượng sư gia trì, Hộ pháp gia trì.

Tôi có một hiện tượng cảm ứng đặc thù. Một người tu hành có được thành tựu thì ngoài việc mọi lúc mọi nơi đều hợp nhất với Bổn tôn ra thì còn có tất cả quyến thuộc của Bổn tôn đó sẽ đi theo, còn có cả Hộ pháp của Bổn tôn cũng cùng đến. Có nghĩa là, tất cả mọi thứ của Bổn tôn đều sẽ có liên quan lẫn nhau đến hành giả Mật giáo.

Ví dụ:
Bổn tôn của tôi là A Di Đà Phật.
Thân tự tính của tôi chính là A Di Đà Phật.
Thân chính pháp của tôi chính là Văn Thù Bồ Tát.
Thân giáo lệnh của tôi chính là Đại Uy Đức Kim Cang.

Hồi đầu tôi cho rằng Hộ pháp của tôi là Bất Động Minh Vương, kết quả là Đại Uy Đức Kim Cang không mời mà tự đến.

Đó là có một lần, tôi luyện pháp Kim Cang quyền, tôi để cho thân tâm mình hoàn toàn thả lỏng, đột nhiên trong một sát-na, trong hư không treo lơ lửng một vị Đại Thần Vương, đó là Yamantaka, vị có sáu chân. Tôi đột nhiên dậm mạnh 16 bước, tay kết ấn Đại Uy Đức Kim Cang, miệng tụng chú Đại Uy Đức Kim Cang, hai tay hóa thành 34 cánh tay.

Tôi chìm sâu vào trong biển lớn. Xuất hiện ánh sáng uy đức khổng lồ, những con rồng hiểm độc trong biển lớn vừa nhìn thấy thì tất cả bèn tháo chạy. Tôi dời sông lật biển, vận khởi những thần thông mạnh nhất. Lúc đó, sức mạnh của tôi khiến cho Long Vương cũng phải run lên sợ hãi, rồng con rồng cháu hồn bay phách lạc, rùa biển ba ba cá sấu đều phải rụt đầu, cá tôm cua đều rúc đầu trốn biệt….
Đại Uy Đức Kim Cang quả nhiên có đại công lực.

Chính vào lúc đó tôi và Đại Uy Đức Kim Cang đã lập lời thề, kết thành giới nguyện samaya, Đại Uy Đức Kim Cang trở thành Hộ pháp lớn nhất của tôi.
Đại Uy Đức Kim Cang có thể không cần thỉnh mà đến, vẫn là nhờ nguyên nhân là Bổn tôn của tôi là A Di Đà Phật.
Tất cả những điều này đều là nhân duyên!

🌟

Cúng dường Bổn tôn và Hộ pháp

Nhờ vào tu pháp Bổn tôn mà sau khi tự ta hiện Bổn tôn, tất cả hành vi của ta đều là hành vi của Bổn tôn, tất cả thức ăn, quần áo, chỗ ở, đi lại, sự dạy dỗ, niềm vui, đều cúng dường Bổn tôn.
Thức ăn để nuôi dưỡng.
Quần áo để trang nghiêm.
Chỗ ở để thiền định.
Đi lại để thần túc.
Dạy dỗ để trí tuệ.
Niềm vui để tinh tấn.
Tất cả mọi thứ của tôi cũng tức là mọi thứ của Bổn tôn.

Tôi lại phát hiện ra một sự việc rất kì diệu. Mỗi lần tôi cúng dường Hộ pháp, tôi chắc chắn có thể cảm ứng được ngài đến để nhận cúng dường. Tuy nhiên, nếu ngài không đến thọ cúng thì cần phải chú ý, bởi vì nếu Hộ pháp không ở cạnh hoặc rời xa hành giả mà đi thì điều này ám chỉ rằng có sự việc không tốt sắp xảy ra.

Theo như tôi biết, theo giới nguyện samaya của Mật giáo, nếu như Hộ pháp rời bỏ hành giả thì kiếp họa của hành giả sẽ đến, nói không chừng là sắp đến ngày "niết bàn" rồi.

Tôi cũng muốn nói với mọi người rằng, hành giả tu pháp Bổn tôn có được thành tựu thì chắc chắn có thể vãng sinh Phật quốc. Tôi có thể đảm bảo với mọi người rằng, thành tựu pháp này thì đã có cảm ứng thần thông rồi, tự mình có thể vãng sinh được hay không thì tự mình sẽ biết.

Tôi (A Di Đà Phật) bảo đảm với bạn.
Ngũ Phật Tứ Bồ Tát bảo đảm với bạn.
Thập phương Phật Bồ Tát bảo đảm với bạn.


### 08. Thế lực ác của linh giới


Linh giới đại chiến

Phật Thích Ca Mâu Ni từng nói rằng trong linh giới cũng có chiến tranh, ví dụ:
Chiến tranh giữa Đế Thích Thiên Chủ và Atula Vương.
Chiến tranh giữa Đại bàng Kim Sí Điểu và tộc Rồng.
V.v…

Lần đầu tiên tôi viết bài phê bình Tinh Vân đại sư, không ngờ Dạ Xoa, Dược Xoa, Sơn Tinh, Sơn Mị trong núi đều biết. Bọn họ nổi gió xoáy tìm đến để "tính sổ" với tôi - một Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn bé nhỏ mà dám hỗn xược chỉ trích Sơn Vương Tinh Vân đại sư tôn quý của chúng ta.

Lúc này:
Mịt mùng mây đen giăng cuồn cuộn
Bừng bừng hắc khí lấp mặt trời
Nhổ sạch cây cao tung bật gốc
San phẳng mai rừng cành xum xuê
Cát vàng bụi mù người khó chạy
Sỏi đá ngổn ngang mọi nẻo đường
Mặt đất âm u sôi sùng sục
Chim thú kêu vang khắp núi rừng.

Tôi cảm ứng thấy một vị không tiện nói tên ở đây đã tới, đó là Hộ pháp của Sơn Vương Tinh Vân. Nếu như Tinh Vân không có Hộ pháp thì sự nghiệp của ông ta cũng không thể nào nổi lên như gió như vậy được.

Khi đó tôi đang ngồi tĩnh lặng, ngược lại tôi còn muốn xem xem thân thể xương thịt phàm phu này của tôi làm sao tự chủ được trong tình huống này. Không ngờ, thân thể xương thịt này của tôi vừa gặp tà ma thì lỗ trên đỉnh đầu tự mở ra, rồi từ bên trong tỏa bùng ra hà quang nhuệ khí [ ND: ánh sáng nhiều màu sắc và khí thuận lợi cát tường ], bao phủ nghìn trượng. Sương mây rực rỡ cát tường che khắp vạn đạo, từ trong màn sương mây hiện lên Ngũ Phật Tứ Bồ Tát của Thai Tạng Giới. Bên cạnh Ngũ Phật Tứ Bồ Tát có Tứ Đại Kim Cang, ba nghìn Yết Đế, mười hai Đại Diệu, mười tám Già Lam.

Các Dạ Xoa, Dược Xoa, Sơn Tinh, Sơn Mị vừa trông thấy thì đều buông hết vũ khí, hoảng hốt tháo chạy. Một lần gặp chuyện này rồi thì không còn dám lại bén mảng đến nữa.

Tôi cảm ứng thấy cảnh giới tu hành càng cao thì ma chướng càng cao, đúng như câu nói "đạo cao một xích, ma cao một trượng". Hình ảnh thái cực trong Đạo gia được vẽ rất hay, một nửa trắng, một nửa đen, bạch đạo và hắc đạo vĩnh viễn đi cùng nhau. Thế lực đại ác của linh giới thực sự cũng khá đáng sợ, có bài thơ dưới đây chứng minh:

Đạo đức cao rộng ma chướng cao
Thiền cơ vốn tĩnh sinh ma quái
Tâm ta chính trực theo trung đạo
Ngoại giáo ta vạch đường phân chia
Thân ý không còn màng ái dục
Chưa đạt tính Không tự ưu phiền.
Vui gì khi chỉ có tâm tà
Chính đạo cuối cùng sẽ diệt tiêu.

Linh giới này quả nhiên thường xuyên có chiến tranh, một thế lực thì kéo lên trên, một thế lực khác thì đẩy xuống dưới, đi lên thì khó mà đi xuống thì tương đối dễ. Mà sức mạnh kéo xuống thì gia tăng tốc độ, cực kì đáng sợ.

Tôi thấy:
Bổn tôn và Bổn tôn đấu với nhau.
Hộ pháp và Hộ pháp giết lẫn nhau.
Linh động vật và linh động vật ăn thịt nhau.

Thế giới này, yêu ma quỷ quái rất nhiều, tinh linh của lang trùng hổ báo lại càng nhiều hơn. Trên biểu hiện bên ngoài thì có vẻ đều là thiền quang hiền hòa may mắn, nhưng ngờ đâu bên trong lại là khí ác khói dơ.

Tôi từng đến một ngôi chùa rất trang nghiêm, với những lan can đỏ thắm và cánh cửa chạm ngọc, với những cột trụ và xà nhà được chạm khắc vẽ tranh, tiếng tụng kinh và mùi hương đầy ắp không gian, là đạo tràng nhiều tăng nhân.

Tôi đi thẳng vào bên trong thì nhìn thấy Như Lai ngồi ở chính giữa của Đại Hùng Bảo Điện, tôi nhìn thấy nhưng công khai không lạy.
Như Lai ngồi trên tòa sen gọi tôi:
"Lư Thắng Ngạn kia, thấy Như Lai sao không lạy?"
Tôi hét to:
"Lũ yêu vương tiểu quái nhà ngươi quá to gan, dám giả danh Phật thế này, lừa gạt hương hỏa cúng phẩm của người, làm bại hoại đạo đức thanh sạch của Như Lai! Chớ có chạy!"
Tôi dùng Kim Cang Chỉ phóng ánh sáng, làm lóe lên những tia sáng chói lọi.

Thì ra là yêu vương giả trang làm Phật Tổ ngồi trên tòa sen, còn mười tám vị La Hán đều là các tiểu yêu, những hòa thượng mắt thường làm sao nhìn ra được. Tôi đến chơi một chuyến đã đuổi sạch bọn yêu vương và tiểu yêu, làm thanh tịnh và khai quang lại từ đầu.

🌟

Bổn tôn của kê đồng

Kê đồng chính là những đồng cốt, trong nước ngoài nước đều có.
Ở những nước phương Tây thì họ trực tiếp được gọi là thầy bói, còn ở Đông Nam Á thì được gọi là đồng cốt hoặc lên đồng. Ở Đài Loan thì gọi là kê đồng hoặc đồng kê, ở Tây Tạng thì gọi là "giáng trí chân ngôn".
Tóm lại, kê đồng chính là những đối tượng bị các linh hồn mượn thân thể để nói chuyện, mang thân phận là người phát ngôn của linh hồn. Vậy vì sao lại dùng chữ "đồng"? [ ND: chữ "đồng" trong từ nhi đồng, là trẻ em ]

Những kê đồng trong quá khứ mượn thân của đồng nam đồng nữ để giáng xuống nói chuyện, một mặt để biểu thị sự thanh tịnh, mặt khác là đồng nam đồng nữ sẽ nói những lời tương đối thật thà.

Hiện tượng kê đồng giáng linh được phân ra làm "văn kê" hoặc "võ kê", văn kê thì sẽ dùng lời văn, còn võ kê thì sẽ dùng võ, trạng thái đều là rung lắc run rẩy. Giọng điệu khi nói chuyện thì có người dùng lời nói thông thường, có người dùng thơ ca, có người thì thậm chí còn hát, có vô số kiểu.

Đương nhiên kê đồng cũng có thật có giả, bởi vì thế giới này có thật thì tất sẽ có giả, bởi vì việc rung lắc hay thay đổi âm điệu tiếng nói thì đều có thể học cách bắt chước được, khéo léo y như thật, do vậy việc giả kê đồng giả đồng cốt tương đối nhiều.

Muốn phân biệt kê đồng giả hay kê đồng thật, theo tôi thấy biết thì nếu là kê đồng thật thì nhiệt độ cơ thể họ sẽ hạ xuống, thân thể sẽ trở nên lạnh, khi ấy dùng cặp nhiệt độ để đo thì sẽ biết được.

Những người làm nghề kê đồng, tôi phát hiện ra họ cũng có Bổn tôn cố định, nói cách khác là có một vị thường xuyên đến. Do vậy, khi có các lễ hội chùa chiền, mọi người hay chỉ chỉ trỏ trỏ:
Người kia là kê đồng Thái Tử Nguyên Soái.
Người kia là kê đồng Huyền Thiên Thượng Đế.
Còn có người nữa là kê đồng Trì Phủ Thiên Tuế.
Còn có cả nữ kê đồng Quan Thế Âm Bồ Tát nhảy múa.
Rồi kê đồng bà Ma Tổ [ Mazu ], bà Ma Tổ còn được phân ra có Mẹ Cả, Mẹ Hai, Mẹ Ba……
Bây giờ còn có cả Phật Tổ nhảy múa, kê đồng Phật Thích Ca Mâu Ni, kê đồng Nhiên Đăng Cổ Phật, kê đồng Tế Công Hoạt Phật. Đại bộ phận những việc mà các kê đồng đồng cốt làm không có gì ngoài việc giúp người ta làm tiêu tai giải ách, trị bệnh cầu phúc, v.v…

Tất nhiên cũng có những kê đồng kêu người ta cần tu hành, cần làm việc thiện, nhưng rốt cục thì những người này cũng chỉ là thiểu số, đại bộ phận kê đồng đều là xử lý những việc thế tục.

Đối với hiện tượng kê đồng giáng linh, giới Phật giáo nói chung xem đó là một trong những hiện tượng linh hồn, họ lựa chọn giữ thái độ kính trọng từ xa.

Duy có ở Tây Tạng, khi đi tìm kiếm những vị Phật sống, hoặc khi cần thỉnh thị pháp ngữ thì họ mới thỉnh người giáng linh có tuổi cao đức trọng để chỉ bảo, hoặc nhập vào đồng nam đồng nữ để nói lời chỉ bảo, rồi từ những lời đó mà rút ra một vài gợi ý. (Trong Mật tông đạo thứ tự quảng luận có ghi chép lại việc này, gọi là "giáng trí chân ngôn". )

Tôi đã quan sát rất nhiều kê đồng, ý kiến của tôi như sau:

1. Kê đồng thật thực sự sẽ có linh hồn đến nhập vào.

1. Kê đồng cũng có hiện tượng có linh của Bổn tôn.

1. Hỏi việc có linh nghiệm hay không thì cần xem năng lực của linh hồn đó.

1. Những linh hồn chỉ mượn thân người bình thường thì thân phận của những linh hồn đó không phải là cao lắm, có khi chỉ là linh của động vật, linh của địa ngục, linh của quỷ quái mà thôi. Nhưng cũng có ngoại lệ, một số ít những cao linh như Thần, Tiên, Thánh, Bồ Tát, lâu lâu cũng sẽ hạ giáng một lần.

1. Những linh hồn thông thường sẽ giả danh cao linh đến để chiếm được sự tôn trọng của con người, do vậy thường sẽ nói mình là Bồ Tát gì gì đó, hoặc Phật gì gì đó hạ giáng, kì thực thân phận thật sự của họ chỉ là hồn ma bình thường.

1. Mỗi kê đông ít nhiều đều có một lớp người tin theo, bởi vì ít nhiều cũng sẽ có những sự việc linh nghiệm nho nhỏ.

1. Hiện tượng kê đồng và tự kỉ ám thị hay hiện tượng thôi miên có liên quan với nhau.

1. Thể chất của kê đồng cần có sự tương đồng với thể chất của linh hồn mới có thể nhập vào nhau.

1. Những người có tinh khí tương tự hoặc có sự mẫn cảm lớn, và người có tinh thần (chất thần kinh) thì tương đối dễ trở thành kê đồng, tục gọi là người có bát tự thấp.

1. Kê đồng có liên quan đến giờ, ngày, tháng, năm sinh.

1. Kê đồng có liên quan với tổ tiên.

1. Kể đồng có liên quan đến phong thủy.

1. Saman giáo có liên quan đến kê đồng. Một số thầy phù thủy nuôi quỷ hoặc phục vụ quỷ (Nhật Bản gọi là thức quỷ) đều có liên quan tới kê đồng.

1. Các thầy phù thủy ở Châu Phi, thầy phù thủy người Indian, thầy phù thủy Malaya, thầy phù thủy ở vùng núi cao, đều có liên quan đến kê đồng.

1. Luận thuyết vạn vật có linh có liên quan đến kê đồng.

Tôi cảm thấy kê đồng luôn ở trong mớ dây dưa với những linh cấp thấp cuồng loạn, thực tế cũng không phải là cách hay. Nếu như kê đồng muốn tự thân sản sinh ra sức mạnh, hơn nữa còn có linh cao cấp hạ giáng để chỉ đạo và gia trì thì nhất định cần quy y Chân Phật Tông. Trước tiên cần tiếp nhận sự gia trì và quán đảnh của Căn bản Thượng sư.

Nhờ vào pháp Đại lễ bái và pháp Tứ quy y, hoặc pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát để có thể thanh tịnh tam nghiệp thân, khẩu, ý của kê đồng, cũng tức là thanh trừ nghiệp chướng của khí, mạch, minh điểm, sản sinh ra năng lượng tích cực. Nhờ tu pháp Đại cúng dường mà có được phúc báo và tư lương.
Pháp Tứ gia hành này là nền tảng của Mật giáo, tu tốt Tứ gia hành là vô cùng quan trọng, bởi vì điều này cũng giống như người nông dân trước khi trồng ruộng cần phải:
Loại bỏ sỏi đá.
Dọn cỏ.
Làm đất.
Bón phân.

Khi tâm của kê đồng đã được làm sạch rồi thì tự khắc sẽ hấp dẫn Bổn tôn ở tầng lớp cao đến, hơn nữa, công lực của kê đồng cũng dần dần gia tăng. Điều này sẽ hỗ trợ rất nhiều cho kê đồng trong việc xử lý các việc lặt vặt ở nhân gian. Giả dụ kê đồng lại còn có thể khởi lên sự xuất ly tâm, rời xa được sự bám chấp, thì đây chính là từ "thứ tự sinh khởi" mà tiến vào "thứ tự viên mãn", giảm bớt những ô nhiễm của nghiệp chướng, cứ như thế tu khí cho tốt, đả thông mọi mạch, rồi làm cho minh điểm phóng quang, cuối cùng cũng có thể thành tựu thân Bổn tôn, thì kê đồng cũng có thể tức thân thành Phật.

🌟

Đặc trưng của ác linh

Những linh đến từ địa ngục, bởi vì chúng đã thường xuyên chịu sự thiêu đốt dữ dội của lửa, phải chịu nỗi khổ cực nóng, hoặc ở những nơi không có mặt trăng mặt trời chiếu sáng, phải chịu nỗi khổ cực lạnh. Hành giả mà bị linh địa ngục đeo bám thì sẽ phải chịu khổ báo cực kì cực kì khổ.

Những linh đến từ ma, nếu hành giả gặp phải linh ma đeo bám thì những con ma này đều có tâm tham lam, nịnh nọt, đố kị, từ đó sinh ra tà kiến, lừa lọc. Người bị linh ma nhập vào sẽ mắc các chứng bệnh ma mị, hoặc đi theo hướng tà ác, trong tâm cũng sẽ sinh ra sự tham lam, xấu xa, đố kị, nịnh nọt, lừa lọc.

Những linh đến từ động vật, đặc trưng của linh động vật là tà dâm, mọi lúc mọi nơi đều thích giao hợp. Hơn nữa còn có tính sân hận, cũng giống như những động vật có tính hung ác như là rắn, sói, hổ, báo. Các linh động vật thông thường nếu không tà dâm thì cũng là sân hận.

Hành giả nếu như bị linh động vật đeo bám sẽ dễ sinh ra tâm dâm dục và ghen tuông làm hại người khác.

Tôi phân tích đơn giản những đặc trưng của ba loại linh này như sau:
Linh địa ngục - chịu nhiều khổ cực.
Linh ma - tham lam xấu xa.
Linh động vật - tham dâm sân hận.

Không chỉ tam ác đạo có ác linh, ác linh của đạo Atula còn lợi hại hơn. Linh chúng của đạo Atula là những linh tự cao tự đại nhất, là ngạo mạn nhất, cái gọi là tâm kiêu ngạo, tâm ngã mạn, cộng thêm với tâm ngạo mạn, đại ngạo mạn, tà ngạo mạn, đều là những đặc trưng của linh ác trong đạo Atula. Bởi do tâm ngã mạn rất nặng, đương nhiên những người này cũng luôn tranh đấu và khủng bố bất tận. Do vậy, đặc trưng của linh ác trong đạo Atula là:
Linh Atula - ngạo mạn.

Tôi tỉ mỉ quan sát chư Thiên trong tam giới, đương nhiên linh của chư Thiên có thể nói là thanh tịnh hơn nhiều, ấy vậy nhưng cũng không phải là hoàn toàn thanh tịnh, vẫn có một bộ phận bám chấp. Linh của chư Thiên đương nhiên cũng đều có cả công lực lẫn pháp lực, nhưng cũng có cả sự bám chấp, bởi vì bám chấp mới hình thành nên chư Thiên.

Linh của Dục giới thiên - bám chấp vào ăn, ngủ, yêu.
Linh của Sắc giới thiên - bám chấp vào cảm giác dễ chịu của thiền.
Linh của Vô sắc thiên - bám chấp vào cái Không.

Có thể nói, linh của chư Thiên không phải là linh ác, nhưng có một số linh chư Thiên có sự bám chấp quá ghê gớm thì cũng sẽ gây chướng ngại cho Thánh đạo, do vậy mà mới có Thiên ma. Thiên ma là do bám chấp mới trở thành Thiên ma. Đương nhiên Thiên ma có pháp lực lớn hơn, họ đến gây chướng ngại cho Thánh đạo, đây chính là đặc trưng của họ.

Ngày nay, hành giả muốn tiến nhập vào Tứ thánh giới thì buộc phải thanh tịnh những điều trên!


### 09. Trí tuệ quan sát sắc bén


Chân Quân và Tôn Hành Giả đấu pháp

Tôi viết sách, viết đến chương "Trí tuệ quan sát sắc sảo", đột nhiên nhớ đến trong truyện Tây Du Kí, hồi thứ sáu, có một đoạn kể về "Tiểu Thánh ra oai trừ Đại Thánh". Tiểu Thánh ở đây là chỉ Chiêu Huệ Linh Hiển Vương Nhị Lang Thần, còn Đại Thánh là chỉ Mỹ Hầu Vương Tôn Ngộ Không.

Tôi nhận thấy đoạn "nhị Thánh đấu pháp" vô cùng đặc sắc, hoàn toàn cho thấy một trí tuệ quan sát sắc bén, do vậy tôi đặc biệt trích ra một đoạn dưới đây, mọi người đọc thử xem, nội dung này hợp với logic của trí tuệ quan sát sắc bén, rất thú vị.

Đoạn trích như sau:
Nhị Lang mở to cặp mắt phượng hoàng ra nhìn, nhìn thấy Đại Thánh biến thành chim sẻ bám trên cây, liền thu pháp về, buông kiếm thần ra, rồi dỡ cung tên xuống, lắc người một cái biến hóa thành con chim ưng, dang rộng cánh, đập cánh lao đi. Đại Thánh trông thấy cũng vỗ cánh bay lên, biến thành một con chim cốc già to lớn bay vút lên trời. Nhị Lang trông thấy vội vàng xù lông, lắc mình một cái biến thành một con sếu biển lớn bay rúc vào trong mây. Đại Thánh lại nhún mình một cái rồi lặn vào khe suối, biến thành một con cá lặn sâu vào trong nước.

Nhị Lang vội vã đến bên suối nhưng không thấy tung tích gì. Trong lòng thầm nghĩ: "Con khỉ này chắc chắn đã lặn xuống nước rồi, định biến thành lũ cá tôm. Hãy đợi ta biến hóa để đi bắt nó." Nói đoạn liền biến thành một con chim kền kền chuyên bắt cá, bơi lượn lờ bên dưới, đầu nhô lên khỏi ngọn sóng, đợi một lúc.

Còn Đại Thánh biến thành con cá, thuận theo dòng nước mà bơi, bỗng nhiên gặp một con chim, gần giống như là diều hâu nhưng lông không có màu xanh, gần giống như là con diệc nhưng trên đầu lại không có túm lông đua dài ra, vừa giống như là chim khoang già, nhưng chân lại không có màu đỏ. "Có khi là Nhị Lang biến hóa thành để đợi ta đây!..." Đại Thánh quay ngoắt đầu lại, bắn tung nước rồi chạy biến.

Nhị Lang trông thấy nghĩ: "Con cá vừa té nước, gần giống như cá chép nhưng đuôi lại không có màu đỏ, vừa giống như cá rô nhưng lại không có vảy hoa đốm, vừa giống như cá quả mà lại không có chấm sáng, vừa giống như cá chim nhưng phần má không có vây nhọn. Sao nó vừa nhìn thấy ta thì đã chạy biến rồi? Chắc chắn đó là con khỉ biến thành."

Nhị Lang mau chóng đuổi theo, đưa cái mỏ mổ mổ. Thế rồi Đại Thánh liền lẩn vào trong nước, biến hóa một cái thành một con rắn nước, bơi đến gần bờ rồi rúc vào bụi cỏ. Nhị Lang vì không chặn được, lắng nghe tiếng nước vọng mà trông thấy một con rắn đang  trườn đi, nhận ra đó là Đại Thánh, bèn xoay mình một cái rồi lại biến thành một con hạc xám đầu đỏ, giơ móng vuốt dài giống như một cái kẹp đầu nhọn hoắt lao thẳng đến vồ con rắn nước. Rắn nước nhảy bật lên một cái, lại biến thành một con chim bảo hoa ngơ ngơ ngác ngác đứng trên bãi sông um tùm. Nhị Lang thấy Đại Thánh biến ra thành một con vật thấp hèn - trong các loài vật, chim bảo hoa là loài chim dâm đãng và hạ tiện nhất, bất kể là loan, phượng, ưng nó đều tìm đến đeo đuổi, do vậy không dám đến gần. Lập tức Nhị Lang hiện nguyên hình, bước đến với lấy cây cung, kéo căng dây cung quyết bắn cho Đại Thánh một phát đi đời.

Đại Thánh chớp thời cơ lăn xuống vách núi, trốn ở đó rồi lại biến hóa thành một ngôi miếu thổ địa. Miệng há to giả làm cổng miếu, răng thì biến thành cánh cửa, lưỡi thì biến thành Bồ Tát, hai mắt thì biến thành khung cửa sổ, chỉ còn cái đuôi không kịp thu vén, dựng thẳng lên phía sau biến thành một cái cột cờ. Chân Quân mau chóng lao xuống núi, không thấy con chim bảo hoa đã rơi xuống đâu, chỉ thấy có một ngôi miếu nhỏ, lập tức mở to mắt phượng quan sát kĩ càng, thấy cái cột cờ ở phía sau, liền cười rằng: "Cái con khỉ này! Nó lại còn ở đó lừa ta. Ta cũng đã từng thấy chùa rồi, nhưng chưa từng thấy ngôi chùa nào có cột cờ ở phía sau cả. Đúng là đồ súc sinh làm càn! Nó định lừa ta đi vào rồi sẽ cắn cho một cái. Ta không dám đi vào sao? Đợi ta giơ quyền đấm vỡ cửa sổ, rồi đạp tung cánh cửa này!"

Trong đoạn văn trên:
Có Tôn Hành Giả quan sát Nhị Lang Thần.
Có Nhị Lang Thần quan sát Tôn Hành Giả.
Sức quan sát của hai Thánh đều là sự quan sát tỉ mỉ chi tiết, có thể gọi là "trí tuệ quan sát sắc bén", ở đây toàn là những điều logic và suy luận.

🌟

Liên Hoa Đồng Tử quan sát sắc bén

Năm trí tuệ của Ngũ Phật mà chúng ta đã biết là:
Đại Nhật Như Lai - pháp giới thể tính trí.
A Súc Như Lai - đại viên kính trí.
Bảo Sinh Như Lai - bình đẳng tính trí.
Di Đà Như Lai - diệu quan sát trí.
Bất Không Như Lai - thành sở tác trí.

Bởi vì bản địa của tôi (Liên Hoa Đồng Tử) là A Di Đà Phật, theo nhân duyên này thì tôi đã phát huy được sở trường của mình là "trí tuệ quan sát sắc bén".
Diệu quan sát trí là chuyển đổi thức thứ sáu mà đắc được Phật quả, cũng là trí tuệ quan sát mọi pháp và hơn nữa còn có trí tuệ thuyết pháp.

"Tâm địa quán kinh" viết: "Diệu quan sát trí là khả năng có thể quan sát diện mạo riêng và diện mạo chung của mọi pháp, rồi giảng mọi pháp vi diệu trước đông đảo quần chúng, có thể khiến chúng sinh đạt được tâm không thoái chuyển, như vậy được gọi là diệu quan sát trí."

Diệu quan sát trí mà tôi đã có được là:
Chân như - Nhiên Đăng Như Lai.
Bát nhã - Thích Ca Như Lai.
Duy thức - Di Lặc Như Lai.
Tam muội - Liên Hoa Sinh Bồ Tát (Đại Sĩ).
Trung quán - Long Thọ Bồ Tát.

Tôi dùng hai đoạn trong kinh Hoa Nghiêm để minh họa cho sự quan sát sắc bén của tôi:

Đoạn 1:
"Bồ Tát nhờ có tâm không bám chấp, trong sự đọc ý niệm, có thể quan sát vô số thế giới ở vô số kiếp chứ không chỉ có vô số kiếp ở các Phật quốc. Bồ Tát thấy được sự trang nghiêm nhưng không bám chấp, thấy sự bất tịnh nhưng lại không ghê sợ ghét bỏ. Từ đó mà tĩnh lặng bình đẳng mà quan sát mọi pháp. Bồ Tát thường suy nghĩ: ta chính là mỗi một chúng sinh trong mười phương, sống vô lượng kiếp, thành tựu chúng sinh, tâm không mệt mỏi chán ghét, sống cùng chứ không rời bỏ, đều độ khắp thập phương thế giới, thân làm một chúng sinh, vì tất cả chúng sinh. Bởi vì tâm đại từ bi này của Bồ Tát, mãi mãi không thay đổi, do vậy mới nói là hạnh không bám chấp của Bồ Tát."

Đoạn 2:
"Bồ Tát có mười loại từ bi: thường quán chúng sinh, tức là quan sát chúng sinh, vì những người không quy y mà khởi tâm từ bi; quan sát chúng sinh thấy họ theo tà đạo mà khởi tâm từ bi; quan sát chúng sinh thấy họ nghèo mà lại không có căn lành mà khởi tâm từ bi; quan sát chúng sinh mê man trong sinh tử mà khởi tâm từ bi; quan sát chúng sinh làm những pháp bất thiện mà khởi tâm từ bi; quan sát chúng sinh bị dục vọng trói buộc mà khởi tâm từ bi; quan sát chúng sinh lặn ngụp trong biển sinh tử mà khởi tâm từ bi; quan sát chúng sinh chịu bệnh khổ trường kì mà khởi tâm từ bi; quan sát chúng sinh không yêu thích pháp thiện mà khởi tâm từ bi; quan sát chúng sinh đánh mất mọi Phật pháp mà khởi tâm từ bi."

Tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) chính là theo những nhân duyên này mà nhập vào Hoa Nghiêm tam muội, rồi từ đó tiến nhập vào Hoa Tạng Thế Giới.

Hoa Tạng Thế Giới này cũng có những bí mật rất lớn ở trong đó. Đây chính là Hoa Tạng Tịnh Thổ của Phật Thích Ca Mâu Ni (Tam Sơn). Hoa Nghiêm thắng cảnh này giống như là mạng lưới châu ngọc của Thượng Đế.

“Hoa Tạng Thế Giới, thượng cực bảo diễm, hạ triệt phong luân”. [ ND: câu này trích trong Phật Tổ tổng kí, mô tả Hoa Tạng Thế Giới là trên cùng che phủ bởi những ngọn lửa quý, dưới cùng là vòng xoay của gió. ] Là một thế giới đại viên mãn.

Nơi tôi tiến nhập vào không chỉ là Hoa Tạng Thế Giới của Phật Thích Ca Mâu Ni, Hoa Tạng Thế Giới của Đại Nhật Như Lai, mà còn có Cực Lạc Thế Giới của A Di Đà Phật, Mật Nghiêm Thế Giới, Kim Cang Giới của Mật giáo, Thai Tạng Giới, v.v…

🌟

Thần túc phi hành

Tôi thấy mình thường bay đi khắp nơi. Công phu bay khắp nơi này của tôi là khi bản mệnh của tôi được đánh thức, những hành trình này vô cùng thù thắng.

Bởi có được không gian bao phủ sáng chói, phản chiếu ánh sáng của tự thân, tôi không những tự thân có thể phát quang mà còn có thể bao trùm thống lĩnh cả sự huy hoàng chói lọi của chúng sinh khác, liên tục rung động. Công phu thần túc phi hành của tôi cực kì tinh xảo vi diệu, cực quang sáng chói.

Tôi dùng con mắt tâm linh quan sát. Trong ánh sáng chói lọi huy hoàng không lời nào mô tả xiết đó, có vầng sáng rực rỡ của 18 Đại Liên Hoa Đồng Tử, có vầng sáng rực rỡ của Phật Thích Ca Mâu Ni (Tam Sơn), có vầng sáng của Ngũ Phật Tứ Bồ Tát, các vầng hào quang liên tục không ngừng hoạt động ở khắp xung quanh, tất cả tạo nên một vùng không gian huy hoàng giống như một biển hồ ánh sáng rung động không ngừng.

Trong khi tôi thần túc phi hành, có rất nhiều Thiên nhân của các pháp giới đều không ngớt kinh ngạc khi thấy tôi có được ánh sáng như vậy. Nhưng họ dường như cũng rất nhanh chóng hiểu rằng: "Vị đó là Lư Thắng Ngạn."

Khi tôi đi qua những pháp giới ở tầng lớp tương đối thấp, tôi cũng thường nhìn thấy nhiều vô số những hình dạng động vật, hoặc là những gương mặt không thành hình và những hình thể biến dạng cùng xoắn vào nhau, trong pháp giới thoắt ẩn thoắt hiện, họ vây quanh ở xung quanh tôi nhưng không có cách nào đến gần được vầng hào quang của tôi.

Khi tôi đi qua các cõi trời ở tầng lớp tương đối cao, tôi phát hiện ra những chùm sao, ở chính giữa có những hình thể gần giống như Thiên nhân, có vầng sáng mềm mại. Mọi thiên giới đều khiến người ta vui vẻ, là một nơi vui vẻ và tươi mát, đó là một niềm vui cát tường êm dịu khó tả xiết.

Tôi cũng tiến nhập vào pháp giới Vô Sắc, ở đó chỉ cần không thiền định, không tự giác, vô ý thức, vô tu, vô chướng ngại.
Tôi tự biết từng chút từng chút một biến thành càng lúc càng to lớn hơn, rộng khắp. Vô lượng, vô biên, vô hạn……….
Không có cách nào hình dung được.
Nói rõ ràng hơn một chút chính là giống như một viên sỏi nhỏ ném vào trong biển hư không tĩnh lặng vậy.

Đương nhiên khi tôi thần túc phi hành trong tứ Thánh giới, việc bay trong tứ Thánh giới cần dựa vào Bồ Đề Tâm. Những sắc thái sáng chói cao quý nhất có ở trong đó, đây là cảnh giới chân như siêu nhiên, nhưng thật sự là một dạng giải thoát và sảng khoái.

Thần túc phi hành giống như bay lượn bồng bềnh, nhưng nhẹ nhàng như lông vũ, pháp giới giống như nở bùng ra một vũ điệu kì diệu tuyệt vời.
Sự quan sát này:
Có khi như mộng.
Có khi như huyễn.
Có khi rõ ràng chân thực giống như có thể đưa tay chạm vào được.

🌟

Khổng Tử và Tăng Văn Chính

Tôi từng nghĩ muốn quan sát xem các Thánh nhân của Trung Quốc đã đi đâu hết rồi?
Trong đầu tôi nghĩ đến hình tượng của Khổng Tử. Cùng với những tư tưởng có liên quan mật thiết của tôi, tôi hướng sức chú ý của mình về Khổng Tử.
Đây là một hành động lớn bất khả tư nghì.

Trước đây chưa từng có người nào nói về việc Khổng Tử đã đi đâu. Lần đầu tiên tôi thử nghiệm trải nghiệm truy tìm hành tung của Thánh nhân thời cổ đại cách đây nhiều thời đại. Tôi thậm chí muốn đến tất cả các chùa miếu có thờ Khổng Tử, như vậy sẽ đóng góp thêm cho sự thiền định của tôi.

Tôi gọi Khổng Tử.
Tôi cầu nguyện Khổng Tử.
Đây là một chuyến đi siêu nhiên kì diệu nhất.
Tôi cũng không vội vã dùng con mắt tâm linh của tôi để đi tìm kiếm, nhờ đó khiến cho phạm vi ý thức của tôi càng rộng càng xa hơn, tôi đã phát hiện ra có một vài tình huống phát sinh.

Không thấy Khổng Tử đâu.
Về cơ bản, Khổng Tử không còn tồn tại nữa.
Khổng Tử đã hòa nhập vào thế giới siêu tự nhiên rồi.
Khổng Tử đã biến đổi hoàn toàn.
Khi tôi đang tìm kiếm Khổng Tử, thậm chí tôi đã thần túc phi hành đến Khúc Phụ [ ND: huyện Khúc Phụ thuộc tỉnh Sơn Đông, quê nhà của Khổng Tử ], đi thăm lăng miếu và ngôi nhà xưa của Khổng Tử, cũng đi thăm cả mộ của Khổng Tử, ngôi làng nhỏ mà Khổng Tử sống, cái cây mà Khổng Tử trồng, tôi đã bay đi tìm Khổng Tử.

Những tư tưởng của Khổng Tử trỗi dậy trong đầu tôi.
"Biết thì nói là biết, không biết thì nói là không biết, như vậy mới thật là biết."
"Không ngại hỏi người dưới."
"Học không biết chán, dạy không biết mệt."
"Nắm hai đầu mà dùng cái ở giữa." [ ND: ý nói không nên cực đoan, thái quá, cẩn thận giữ đạo trung dung. ]
"Danh bất chính thì ngôn bất thuận, ngôn bất thuận thì việc bất thành."
"Ba đạo đức cần có là nhân trí dũng."
"An bần lạc đạo." [ ND: sống vui vẻ hài lòng với hoàn cảnh đạm bạc. ]
Chữ "Nhân" của Khổng Tử….

Những tư tưởng này của Khổng Tử nhất thời giống như tuôn trào ra đầy rõ ràng trong mạch suy nghĩ của chính tôi, rất cụ thể tỏ tường. Đây là một dạng biến hóa nội tại của sự thiền định của tôi.

Nhưng Khổng Tử không thấy đâu!
Tôi không có cách nào tìm được cụ Khổng trong linh giới!

Tuy nhiên, một sự kiện lớn không ngờ tới đã xảy ra. Tôi dùng "Tứ nhiếp pháp" để kêu gọi Khổng Tử "Cha - Hum - Ban - Ho".
Cha - xuất hiện trong hư không.
Hum - đi đến trước mặt.
Ban - mặt đối mặt.
Ho - cảm ứng lẫn nhau.
Nhưng người đến không phải là Khổng Tử, mà là Tăng Văn Chính.
[ ND: Tăng Văn Chính tức Tăng Quốc Phiên, là một danh thần dưới triều Mãn Thanh. Ông vừa giỏi binh pháp, lại thông tường Nho học, là một người văn võ song toàn. ]

Nay tôi rất nghiêm túc thông báo với mọi người một sự thật, rất đáng ngạc nhiên nhưng đó chính là Tăng Quốc Phiên. Nội tâm tôi chấn động, sự tình khiến người ta không ngờ tới đã xảy ra rồi. Kiếp trước của Tăng Quốc Phiên không ngờ lại là Khổng Phu Tử.

Nhất thời tôi không biết phản ứng ra sao. Khổng Phu Tử có thể nào chuyển thế thành Tăng Quốc Phiên sao?
Liệu có khả năng này không?

Khổng Phu Tử là Thánh nhân của cả đất nước Trung Quốc, là thầy của muôn đời, thậm chí, nhân loại trên toàn thế giới đều biết đến, là một bậc thánh triết xuất chúng.
Thế còn Tăng Quốc Phiên?
Tăng Quốc Phiên (1811 - 1872).
Tăng Quốc Phiên là người huyện Tương Hương, sống vào thời Mãn Thanh, đã dùng quân Tương đánh bại quân Thái Bình Thiên Quốc trong trận Hồng Dương, nhờ đó danh tiếng lẫy lừng.

Chính phủ Mãn Thanh ca ngợi Tăng Quốc Phiên:
"Học hành có gốc, tầm nhìn cao rộng, trung thành với nước, chính trực kiên cường." Sau khi chết, ông được ban thụy hiệu là Văn Chính Công.

Tôi cho rằng cuộc đời của Tăng Văn Chính có hai thành tựu lớn, thứ nhất là trị quân làm việc, thứ hai là trị học làm người.

Tuy nhiên, việc kêu gọi Tương quân, huấn luyện Tương quân, thống soái Tương quân đánh bay Thái Bình Thiên Quốc của Tăng Quốc Phiên là một công lao vĩ đại, lịch sự ghi chép lại công lao này của ông, nhưng lại bỏ qua thành tựu học tập.

Khổng Tử có từng điều khiển quân binh không? Không có, Khổng Tử đã từng đánh trận chưa? Không có, nhưng Tăng Quốc Phiên lại có thành tựu lớn trên phương diện này. Vậy làm sao lại có sự liên quan ở đây?

Trong quá trình khảo chứng, tôi thấy mặc dù Khổng Tử là văn nhân, nhưng ông lại rất hứng thú ra ngoài làm quan, Khổng Tử chu du khắp nơi chính là hy vọng được Quân Vương công nhận ông. Khổng Tử từng nói với Tử Lộ rằng: "Bất kể văn võ, tìm kiếm sự thật." Nói cách khác là, bất kể là quan văn, bất kể là tướng võ, thì đều cần phải giải quyết vấn đề dựa trên tình hình thực tế. Ý của Khổng Phu Tử muốn nói rằng, ông làm quan võ cũng được, chỉ là Khổng Tử không thực sự cầm quân đánh trận mà thôi.

Lại nói về đạo trị học làm người của Tăng Văn Chính. Tăng Văn Chính có truyền lại hậu thế những cuốn như "Tăng Văn Chính Công gia thư", "Tăng Văn Chính Công toàn tập", "Thánh triết họa tượng kí", v.v…

Học thuật của Tăng Văn Chính rất rộng. Thầy của ông là 32 vị thánh triết, họ là: Chu Văn Vương, Chu Công Đán, Khổng Khâu, Mạnh Kha, Ban Cố, Tư Mã Thiên, Tả Khâu Minh, Trang Chu, Gia Cát Lượng, Lục Chí, Phạm Trọng Yêm, Tư Mã Quang, Chu Đông Di, Nhị Trình, Chu Hi, Trương Tái, Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên, Âu Dương Tu, Tằng Củng, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Tô Thức, Hoàng Đình Kiên, Hứa Thận, Trịnh Huyền, Đỗ Hựu, Mã Đoan Lâm, Cố Đình Lâm, Tần Huệ Điền, Diêu Nãi, Vương Niệm Tôn.

Học thuật của Tăng Quốc Phiên đều ứng với 32 vị thánh triết, (Nhị Trình là Trình Hạo, Trình Di), từ nghĩa lý, văn chương, đức hạnh, chính trị, quản lý nhà nước, văn học, ngôn ngữ, và tất cả những chuyên luận khác.

Chỉ riêng một cuốn "Tăng Văn Chính Công gia thư" với hơn 1000 chương văn, nội dung được đề cập đến từ rất rộng lớn như việc kinh bang vĩ quốc, tiến đức làm quan, triều chính quân vụ, trị học tu thân, cho đến những việc nhỏ như sinh kế gia đình, việc vặt trong mối quan hệ con người, đạo dưỡng sinh, không phân biệt việc lớn nhỏ, không có gì là không liên quan.
Tăng Quốc Phiên cũng biên tập cuốn "Kinh sử bác gia tạp sao".

Tư tưởng của Tăng Quốc Phiên là:
"Chân đạp thực địa, đứng vững vàng và có thái độ làm việc chăm chỉ nghiêm túc từng việc nhỏ sẽ có ngày thành công."
"Tinh thần càng nỗ lực thì càng xuất sắc, trí tuệ càng được thử thách gian khổ thì càng tỏa sáng."
"Người có nhiều ham muốn thì không thể cứng rắn."
"Đồng cảm với khổ đau của người khác, yêu thương chân thành."

Tăng Quốc Phiên ban đầu là một văn nhân. Giống như Khổng Phu Tử, đánh trận cũng không phải là sự nghiệp cả đời của ông, chỉ là ông vì bảo vệ thanh danh và những sự giáo hóa nên mới đứng ra hiệu triệu, lấy tấm lòng nhân hậu để trị quân (lấy việc yêu dân là ý nghĩa cần thiết số một để trị binh), do vậy mới đánh thắng được Thái Bình Thiên Quốc.

Tôi nhận thấy, đạo trị học làm người của Tăng Quốc Phiên cũng giống như Khổng Phu Tử, thậm chí dẫn dắt quân đội đánh trận cũng lấy sự nhân hậu để trị quân. Tư tưởng của Tăng Quốc Phiên và tư tưởng của Khổng Phu Tử có rất nhiều chỗ giống nhau.

Khổng Phu Tử chuyển thế thành Tăng Quốc Phiên sao?
Người khác có thể cho rằng điều này quá kì lạ!
Tôi thì không! Trong sự quan sát tỉ mỉ của tôi thì:
Một khi so sánh hai người với nhau thì căn bản chính là một người.


### 10. Liên Hoa Đồng Tử và Đế Thích Thiên


Nhân duyên đại sự

Liên Hoa Đồng Tử (A Di Đà Phật) hạ sinh tại cõi Ta Bà, thuyết pháp độ chúng sinh, đương nhiên là một nhân duyên đại sự, hơn nữa đồng thời còn có nhiều Liên Hoa Đồng Tử khác hạ sinh. Mặc dù xưng là Thập bát đại Liên Hoa Đồng Tử, nhưng trong vô số Liên Hoa Đồng Tử thì không thể đếm được, không thể đo lường được những tiểu Liên Hoa Đồng Tử, con số tiểu Liên Hoa Đồng Tử càng nhiều hơn, đều hạ sinh ở nhân gian.

Những Liên Hoa Đồng Tử này cũng chính là quyến thuộc của A Di Đà Phật hóa thân mà đến, ví dụ:
• Kim Cang Pháp Bồ Tát.
• Kim Cang Lợi Bồ Tát.
• Kim Cang Nhân Bồ Tát.
• Kim Cang Ngữ Bồ Tát.

Ngoài ra, có 25 vị Bồ Tát nổi tiếng vẫn là do A Di Đà Phật lãnh đạo, các vị đó là:
Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Pháp Tự Tại Bồ Tát, Sư Tử Hống Bồ Tát, Đà La Ni Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Đức Tạng Bồ Tát, Bảo Tạng Bồ Tát, Kim Tạng Bồ Tát, Kim Cương Tạng Bồ Tát, Quang Minh Vương Bồ Tát, San Hải Tuệ Bồ Tát, Hoa Nghiêm Vương Bồ Tát, Chúng Bảo Vương Bồ Tát, Nguyệt Quang Vương Bồ Tát, Nhật Chiếu Vương Bồ Tát, Tam Muội Vương Bồ Tát, Định Tự Tại Vương Bồ Tát, Đại Tự Tại Vương Bồ Tát, Bạch Tượng Vương Bồ Tát, Đại Uy Đức Vương Bồ Tát, Vô Biên Thân Bồ Tát.

A Di Đà Phật và các vị Bồ Tát, mỗi người đều hóa thành nghìn nghìn vạn vạn tia sáng, hạ sinh tại thế giới Ta Bà để cứu độ chúng sinh của đời này. Trên thân của mỗi Liên Hoa Đồng Tử đều có kí hiệu đặc thù, kí hiệu này một khi đã được chứng nhận là liền biết được, từ đó có thể chứng minh cho những gì tôi nói.

Sau này khi tôi lui về, tôi sẽ làm những việc sau:

1. Chứng nghiệm Phật.

1. Chứng nghiệm Bồ Tát.

1. Chứng nghiệm Kim Cang.

1. Chứng nghiệm Hộ Pháp.

1. Chứng nghiệm chư Thiên.

Vì tôi Liên Hoa Đồng Tử (A Di Đà Phật) đến chứng nghiệm ai là Hoạt Phật chuyển thế (Rinpoche) cho nên lập tức đưa mắt một lượt là có thể xác định được.

Những Phật Bồ Tát chuyển thế này, nếu như có thể tập hợp lại cùng chuyển pháp luân của Phật pháp thì không còn gì bằng. Đạo Phật mỗi ngày hưng thịnh vẻ vang thì Phật Quốc được kiên cố vĩnh viễn, điều này chẳng mấy chốc sẽ đạt được.

Thế giới Ta Bà hiện tại vẫn tồn tại ở tình trạng do chư Thần điều khiển, hơn nữa lại mỗi vị mỗi kiểu theo cách của họ. Đạo Phật mỗi ngày một bại hoại. Biểu hiện bên ngoài thì là Phật giáo đang rất thịnh hành trên thế gian này, kì thực các cao linh ở phía sau chỉ là các Thần mà thôi.

Bởi tôi là một vị mang nhân duyên đại sự mà đến đây, cuối cùng tôi đã hiểu rõ nhiệm vụ của mình. Tôi cần phải thức tỉnh tâm linh của những vị Phật Bồ Tát chuyển thế này, yêu cầu họ mau chóng bước ra độ hóa chúng sinh, bằng không việc độ hóa cũng sẽ không còn kịp nữa.

🌟

Đế Thích Thiên

Đế Thích Thiên tức Đao Lợi Thiên (tổng cộng 33 Thiên), bốn phương mỗi phương là 8 Thiên, ở chính giữa là Đế Thích Cung, hợp lại gọi là 33 Thiên Cung.

Nhân duyên sinh ra cõi trời 33 là do một người vợ lạnh nhạt với chuyện dâm ái, trong lúc tịnh cư đã giữ năm giới và làm mười điều thiện, sau khi qua đời thì phẩm hạnh sáng chói hơn cả mặt trăng mặt trời, sống ở phía trên cõi người, giống như vẫn mang một nỗi lo đau đáu, do vậy gọi là Đao Lợi Thiên.

Tên tiếng Phạn của Đế Thích Thiên là Indrah (Nhân Đà La), tên đầy đủ là Sakro Devanam Indrah, sống tại Hỉ Kiến Thành trên đỉnh núi Tu Di. Mẹ của Phật Thích Ca Mâu Ni - phu nhân Maya sau khi chết đã lập tức thăng lên cõi trời này, sau đó, Phật Thích Ca Mâu Ni vì để độ hóa cho mẹ mình đã thăng lên Đao Lợi Thiên, giảng Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện Kinh cho mẹ.

Tôi hạ giáng thế giới Ta Bà, đã đến Đế Thích Thiên, từng đi qua:

1. Thiện Pháp đường - nơi Phật Đà giảng kinh.

1. Vườn Chúng Xa - những cỗ xe thần túc.

1. Vườn Tạp Lâm - là nơi thắng cảnh của Đế Thích.

1. Vườn Hỉ Lâm - nơi có những niềm vui vô thượng.

1. Vườn Thô Ác - nơi có các dụng cụ thần thánh của chư Thiên.

1. Tứ Bảo tháp - nơi có xá lợi của Phật Đà.

1. Đế Võng Minh Châu - quang minh tối thắng.

Đế Thích Thiên và tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) nhân duyên rất sâu, bởi vì Đế Thích Thiên công chúa và công tử đều theo tôi hạ sinh ở nhân gian. Hơn nữa, Đế Thích Thiên công chúa và công tử chính là:
Lư Phật Thanh.
Lư Phật Kì.

Nói ra cũng kì lạ, ngay sau đó lập tức có rất nhiều (vô số) Đế Thích Thiên nhân hạ sinh ở nhân gian. Những thiên nhân này tay đều kết ấn Đế Thích Thiên, nói cách khác là những đứa bé sơ sinh khi vừa mới ra đời, đứa nào tay cũng kết ấn Đế Thích Thiên, thần diệu phi phàm. Những đứa bé sơ sinh do Đế Thích Thiên nhân chuyển thế do tôi ấn chứng có thể nói đã có vô số rồi.

Phật Thích Ca Mâu Ni và Đế Thích Thiên Chủ có nhân duyên rất sâu, còn có "Phật thuyết Đế Thích sở vấn kinh" truyền đời.
Ngoài ra, Chân Phật Kinh của Chân Phật Tông cũng là Đế Thích hỏi Liên Hoa Đồng Tử, có thể thấy sự tương đồng về nhân duyên.

Đế Thích Thiên ở trong mandala Thai Tạng Giới chính là một nhóm người trong viện Thích Ca. Có thể nói bản địa của Đế Thích Thiên tức là Phật Thích Ca Mâu Ni. Còn tôi thì do Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh giáo hóa. Tam Sơn tức là ba thân của Phật Thích Ca Mâu Ni. Do vậy, nhân duyên của tôi và Đế Thích Thiên thật sự là không có lời nào có thể nói hết.

🌟

Chứng nghiệm sứ mệnh lớn

Đến ngày hôm nay tôi mới biết nhiệm vụ và sứ mệnh thật sự của mình khi đời này hạ giáng thế giới Ta Bà. 35 vị Phật đã đưa chỉ thị của Phật cho tôi là:
Đi chứng nghiệm Phật, chứng nghiệm Bồ Tát, chứng nghiệm Kim Cang, chứng nghiệm Hộ Pháp, chứng nghiệm chư Thiên.
Dẫn dắt những người có căn khí lớn này tu hành.
Rồi từ căn khí lớn đó mà đi độ hóa chúng sinh.

Chứng nhận cho những người tiếp nối chuyển thế và hóa thân này là Rinpoche (Hoạt Phật) và Kim Cương Thượng Sư, kết hợp sức mạnh lớn nhất để triển khai đại sứ mệnh cứu độ.

Tôi biết ở thế giới Ta Bà có rất nhiều người có căn cơ kiếp trước cực kì tốt, bản địa của những người họ đều là vị Phật nào đó, Bồ Tát nào đó….

Nhưng đáng tiếc là, trong lục đạo luân hồi, chìm nổi trong biển dục, chướng ngại đeo bám, họ đã quên mất cái gốc của mình, không có cách nào quay đầu để bước đến bờ bên kia, bản tính thanh tịnh từ lâu đã ô nhiễm, những kí hiệu Phật trên thân của những người này đã trở nên rất mờ rồi.
Mặc dù đã mờ nhưng kí hiệu thì vẫn còn đó.
Tôi cần tìm ra và chỉ cho họ thấy rõ kí hiệu Phật.
Sau đó giáo hóa họ.

Tuy nhiên, tôi cũng hiểu rằng, nhiệm vụ này vô cùng gian khó. Chỉ ra được kí hiệu Phật thì rất dễ thôi, dùng thần thông của diệu quan sát trí là có thể biết được. Nhưng cái khó là cần họ phải đi trên con đường tu hành lâu dài, không chỉ tự tu mà còn cần đi độ chúng sinh. Nếu như những Rinpoche hoặc Kim Cương Thượng Sư này có thế bền vững mãi như vậy thì quả là điều quá tốt!

Nhưng, nếu như những thói quen mới không thể thay đổi được thì nghiệp chướng tái hiện, tôi có cố gắng hết sức để kéo họ thăng hoa thì họ cũng cố hết sức để chìm xuống. Những Rinpoche (Hoạt Phật) này hoặc Kim Cương Thượng Sư cũng có thể đọa vào địa ngục Kim Cang.

Do vậy:
Chứng nghiệm dễ.
Giáo hóa khó.
Độ chúng sinh càng khó.
Cuối cùng tôi đã hiểu nhiệm vụ của cuộc đời này, sứ mệnh lớn của cuộc đời này. Tuy nhiên, nhiệm vụ quá lớn, thực sự khiến tôi trong lòng lo lắng như có lửa đốt.


### 11. Tu xuất Bổn tôn nguyên thần của chính mình


Tha lực Bổn tôn

Ngày nay, rất nhiều hành giả Mật giáo và những nhân sĩ của các tôn giáo tông phái khác đều có một quan niệm rất lớn nhưng lại rất sai, cho rằng pháp Bổn tôn chỉ là một pháp tu cao linh ở sau lưng mà thôi, có nghĩa là tất cả đều chỉ là tha lực. Cảnh giới cao nhất của tu hành pháp Bổn tôn chẳng qua chỉ là có được sự gia trì, trợ giúp và cảm ứng của Bổn tôn, tất cả pháp lực đều đến từ tha lực Bổn tôn.

Vì thế, có người chủ trương:
Không cần có Bổn tôn.
Cần tiễn Bổn tôn đi.
Thậm chí hàng phục Bổn tôn.
Ngoại giới đã có người đề xuất những ý kiến kiểu như thế này.

Kì thực, chủ trương kiểu này là chỉ biết một mà không biết hai, những gì mà họ biết thì cũng chỉ là cái lớp vỏ bọc bên ngoài mà không biết cái cốt lõi bên trong.

Tuy nhiên, kết quả của sự truyền bá sai lầm này cũng sẽ khiến cho rất nhiều hành giả Mật giáo không biết cần phải làm sao, thậm chí cho rằng điều này là sự thật, bèn từ bỏ luôn pháp Bổn tôn, cuối cùng cũng bỏ luôn pháp tu trì Mật giáo, đổi sang tu pháp khác, điều này là cực kì đáng tiếc.

Cũng có người hỏi tôi thế này:
"Lư Sư Tôn, có tha lực Bổn tôn hay không?"
Tôi trả lời như sau:
"Không sai, thật sự là có tha lực Bổn tôn, Bổn tôn cho chúng ta sự gia trì, trợ giúp, cảm ứng, pháp lực, đây đều là tha lực Bổn tôn, tuy nhiên đây chỉ là một hiện tượng trong số những cảnh giới cảm ứng mà thôi. Đã có được sự tương ứng tha lực Bổn tôn rồi, chúng ta còn cần phải tu xuất ra được tự lực Bổn tôn, có được tự lực Bổn tôn rồi thì mới xem như là đạt được thành tựu."

Tôi nói:
"Bên ngoài đồn rằng, pháp Bổn tôn toàn là tha lực, đó là điều sai lầm. Chân Phật Mật Pháp của chúng ta không chỉ có tha lực Bổn tôn mà còn phải tu xuất Bổn tôn nguyên thần của chính mình, đây chính là tự lực Bổn tôn. Chân Phật Mật Pháp có thể khiến người ta tức thân thành Phật, điều này hoàn toàn không phải là hư vọng. Tôi là người đã đi qua con đường này, làm sao có chuyện không hiểu đạo lý này."

Tôi còn nói:
"Còn có những kiểu người không hề tu Mật giáo, chỉ là đứng bên ngoài cánh cửa Mật giáo nhòm vào xem xét mà đã bắt đầu phê bình pháp Bổn tôn của Mật giáo rồi, cho rằng Bổn tôn không tốt, là tha lực, cần phải tiễn Bổn tôn đi, tất cả chỉ dựa vào chính mình mà tu, việc này là thực sự không chấp nhận được. Tôi viết chương sách này chính là muốn cho bọn họ xem xem làm sao tu xuất được tự lực Bổn bôn. Một khi đã tu xuất được tự lực Bổn tôn rồi thì có thể tức thân thành Phật, thực sự không sai!"

🌟

Tự lực Bổn tôn

Tôi cho rằng:
Tự lực Bổn tôn của Mật giáo chính là nguyên thần mà Đạo gia nói đến.
Đạo gia tu luyện pháp nguyên thần, tôi đã viết trong cuốn "Thông linh mật pháp thư", chính là:

1. Quan sát nguyên thần của chính mình (pháp quán thần).

1. Nạp và xả khí của sao Thiên Cương [ chính là sao Bắc Đẩu ], quang minh hiển thần (pháp bồi thần).

1. Khai tượng chân quyết (pháp hiển thần).

1. Rút thần hợp nhất (pháp hợp thần).

1. Thân ngoại hóa thân hiển thần thông (pháp xuất thần).

Đạo gia tu luyện nguyên thần của chính mình, cùng với Mật giáo tu luyện tự lực Bổn tôn của chính mình, mặc dù phương pháp khác nhau, nhưng nguyên lý thì giống nhau. Đạo gia nói về "tinh, khí, thần", Mật giáo thì tu "khí, mạch, điểm", căn bản là liên thông với nhau không khác biệt.

Đặc điểm của tự lực Bổn tôn của Mật giáo như sau:

1. Tự lực Bổn tôn - chính là Phật thức chân chính của hành giả, là thân thể mới, cùng với thân thể xương thịt là hai, mà cũng là một.

1. Tự lực Bổn tôn - có đầu, tay, chân, cơ thể, nhưng không có thực thể.

1. Tự lực Bổn tôn - là khi trí huệ khí hiển lộ và phát ra thì mới xuất hiện, là năm khí của cơ thể người kết hợp lại mà thành, chủ yếu là mệnh khí.

1. Tự lực Bổn tôn là khí đi vào trung mạch, chuyển hóa thành thân ánh sáng ngũ sắc.

1. Tự lực Bổn tôn có thể tu thành 32 tướng, 80 vẻ đẹp kèm theo, có thể biến hóa ra vô số để đi làm lợi ích chúng sinh.

1. Tự lực Bổn tôn là sắc thân của Phật, đại diện cho Phật tính.

1. Chỉ có người đã tu chứng tự lực Bổn tôn thì mới có thể ấn chứng tự lực Bổn tôn của người khác, mới có thể cảm nhận và nhận biết được.

1. Thành tựu tự lực Bổn tôn thì Phật quả kiếp này sẽ thành tựu.

🌟

Công pháp

Hành giả Mật giáo phải tu được chuyết hỏa định, nhờ chuyết hỏa đi lên, minh điểm hạ xuống mà sinh ra tứ hỉ tứ không.
Lúc này minh tướng sẽ xuất hiện.
Tính Không trở nên kiên cố và xuất hiện rõ ràng.
Kết quả của "lạc không song vận" là sẽ sản sinh ra ánh sáng. Chỉ cần sau khi tất cả chướng ngại đều được giải thoát, sự quang minh chân chính cuối cùng sẽ xuất hiện, đó là tự lực Bổn tôn thuần tịnh.
Tự lực Bổn tôn không phải là do quán tưởng mà ra.
Tự lực Bổn tôn không phải là vọng tưởng.
Tự lực Bổn tôn không phải là huyễn ảo.
Tự lực Bổn tôn chính là sự hiển hiện trạng thái tâm vi tế nhất, còn được gọi là "thắng nghĩa quang minh".
Đó là "dương thần".

Lại có người hỏi tôi, "dương thần" là cái gì?
Tôi đáp:
"Trạng thái tâm phân làm hai loại, một loại là trạng thái tâm ô trược, một loại là trạng thái tâm vi tế. Sự xuất hiện của trạng thái tâm ô trược là xuất ra âm thần, còn trạng thái tâm vi tế là dương thần. Có một số người khi ngủ, trạng thái tâm ô trược sẽ chu du bên ngoài thì đây chính là hiện tượng xuất âm thần. Ngoài ra, khi người ta chết, nếu không trải qua sự tu luyện thì cũng giống như hiện tượng xuất âm thần."

🌟

Bổn tôn pháp tổng thuyết

Thế giới ngày nay, nhân loại ngày càng tự cao tự đại, ngay cả giới tôn giáo cũng như vậy. Một số người tu hành mới nếm được pháp vị đã tự nhận vơ là mình đã đạt đến tận cùng giới hạn rồi.

Người người tranh dành đứng đầu, tự coi mình là vua, đây chính là:
Linh tiêu bảo điện để ai ngồi
Bao đời vua chúa cũng thay nhau
Ta nay kẻ mạnh nên làm chủ
Anh hùng hào kiệt nào dám tranh.

Mỗi một người tu hành đều trở thành kẻ mạnh, giống như Tinh Vân Đại Sư thì làm ra một Phật quang nhân phái, Chứng Nghiêm pháp sư thì làm một Từ tế nhân phái, đều có một kiểu khí thế thống nhất giang hồ. Còn những pháp sư khác thì cũng làm to tát như bão táp cuồng phong, tranh giành địa bàn, người nào cũng không thích sự nhỏ hẹp, người người đều vì gia nghiệp của bản thân.

Đương nhiên, bọn họ đều vẫy ngọn cờ Phật giáo, nhưng liệu có phải là lập tâm đoan chính muốn tu thành tựu Phật Bồ Tát hay không thì đó lại là một chuyện hoàn toàn khác!

Lại còn có kiểu người ngu si, không hiểu nghĩa đế sâu xa của pháp Bổn tôn, chỉ biết Bổn tôn là gia trì, trợ giúp, tương ứng mà thôi. Con người cần tự lực, không thể dựa dẫm vào tha lực, liền quyết định từ bỏ, tiễn đi, hàng phục Bổn tôn. Muốn la hét đánh lộn cùng với Bổn tôn Phật Bồ Tát.

Trên thực tế, nghĩa đế sâu xa của pháp Bổn tôn của Mật giáo là tha lực Bổn tôn gia trì, tự lực Bổn tôn xuất hiện, hai cái này hợp nhất, không có sự phân biệt, có tha lực, cũng có cả tự lực thì đó mới là ý nghĩa quan trọng cơ bản của sự thành Phật.

Con người đã học “cái gì tròn vành vạnh, sáng rực rỡ, tồn tại suốt xưa nay?” Lửa không thể đốt cháy, nước không thể nhấn chìm một viên ngọc mani sáng chói. Làm sao tiễn? Làm sao bỏ? Rồi làm sao mà hàng phục?


### 12. Pháp Vương Ganden Tripa


Pháp Vương tặng quà

Trong Mật tông Tây Tạng, dưới Dalai Lama thì vị Pháp Vương cao nhất là Ganden Tripa. Vào 10 giờ sáng ngày 5 tháng 9 năm 1996, ngài đã đến thăm Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Pháp Vương Ganden Tripa hiện là vị Pháp Vương cao nhất của dòng Mũ Vàng [ Gelug – Hoàng mạo phái ] trên toàn thế giới.

Pháp Vương Ganden Tripa là người kế thừa biểu tượng của tổ sư phái Mũ Vàng Tsongkhapa, là vị Ganden Tripa thứ 100 đại diện cho Tsongkhapa. Ba ngôi chùa lớn của phái Mũ Vàng Tây Tạng là tu viện Ganden, tu viện Drepung, và tu viện Sera.

Pháp Vương Ganden Tripa là chủ trì của chùa Ganden. Pháp Vương Ganden Tripa có địa vị chỉ dưới Dalai Lama mà thôi.

Pháp Vương và tôi gặp gỡ ở Chân Phật Mật Uyển.
Những món quà mà Pháp Vương tặng tôi gồm có:

1. Một bộ áo bào của Pháp Vương Mật giáo.

1. Một chiếc chày kim cang của Pháp Vương.

1. Một chiếc chuông kim cang của Pháp Vương.

1. Một chiếc trống cầm tay của Pháp Vương.

1. Cam lộ hoàn do chính Dalai Lama đích thân niệm chú.

1. Ba món pháp bảo của tổ sư Mật giáo.

1. Thuốc quý giá nhất của Mật giáo.

Pháp Vương Ganden Tripa nói với tôi:
"Chiếc áo bào của Pháp Vương này là chỉ vào những lúc pháp hội lớn nhất mới mặc. Chiếc áo bào Pháp Vương này có pháp lực vô cùng, từng mũi kim sợi chỉ đều được trì chú mà may thành. Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn mặc áo bào Pháp Vương này thì chính là một Đại Pháp Vương."

Pháp Vương Ganden Tripa nói:
"Chày, chuông, trống đều là pháp khí mà Pháp Vương đã sử dụng nhiều năm, tượng trưng cho dòng chảy pháp cao nhất của phái Mật tông Mũ Vàng chảy trong người ngài."

Pháp Vương Ganden Tripa còn nói:
"Cam lộ hoàn là niệm chú đến khi tái sinh mới dừng niệm chú. Thuốc trân quý nhất của Mật giáo không được để phơi dưới ánh mặt trời, chỉ khi ngồi thiền trong phòng tối mới được uống, công lực được tăng lên hàng trăm lần."
Ngoài ra, ba món pháp bảo của tổ sư Mật giáo thì là bí mật.

🌟

Pháp Vương tung khăn khata

Pháp Vương Ganden Tripa và Lạp Định Rinpoche, Thiên Thanh Geshe đến Seattle Lôi Tạng Tự và biệt thự Cầu Vồng dâng khăn khata lên Phật Bồ Tát.
Lúc đó Pháp Vương tung ra 10 chiếc khăn khata, 10 chiếc khăn đều treo trên tay Phật Bồ Tát.

Thiên Thanh Geshe nói:
"Nhìn chung, khi Pháp Vương tung khăn khata, nếu trong 10 chiếc khăn khata mà có 3 chiếc treo trên tay thì là bình thường. Còn như lần này thì là khác hẳn, 10 chiếc khăn khata tung ra đều treo trên tay cả, nói thẳng ra là bất bình thường."

Pháp Vương Ganden Tripa nói:
"Phật Bồ Tát ở Seattle Lôi Tạng Tự và biệt thự Cầu Vồng quả nhiên phi phàm. Tôi vừa tung khăn khata thì lập tức đã cảm ứng được đến Phật Bồ Tát đều vươn tay ra tiếp nhận, do vậy mà việc có 10 chiếc khăn khata thì cả 10 chiếc đều treo trên tay thật là bất khả tư nghì."

Pháp Vương Ganden Tripa ca ngợi biệt thự Cầu Vồng. Ngài ấy cho rằng đã đi qua rất nhiều đạo tràng trên thế giới rồi, nhưng địa linh khí ở đây thì là số một.
Pháp Vương nói:
"Đây là nơi vô cùng quý giá cho việc thiền định."

🌟

Pháp Vương thuyết pháp

1 giờ chiều ngày 7 tháng 9 năm 1996.
Pháp Vương Ganden Tripa và tôi cùng lên ngồi pháp tọa, tôi ngồi ở ghế chính giữa, Pháp Vương ngồi bên tay phải của tôi. Ở trước mặt phía dưới là vị Thượng sư chủ trì - Thượng sư Liên Thế.

Tôi và Pháp Vương cùng gia trì một pháp hội siêu độ.

Trong bài giảng pháp của Pháp Vương Ganden Tripa, ngài đã nhấn mạnh việc tu hành Mật giáo cần phải:

1. Chính pháp - Phật Thích Ca Mâu Ni đã truyền thụ chính pháp, bất kể là pháp Hiển giáo hay Mật giáo đều cần làm theo, người học Mật giáo không được cho rằng Mật giáo là nhanh nhất và tức thân thành Phật nên coi thường Tiểu thừa hoặc Đại thừa. Chúng ta cần dựa vào Hiển pháp làm cơ sở, rồi tiến tới tu Mật giáo, chỉ cần là chính pháp thì cứ làm theo chính pháp.

1. Chính niệm - tu hành cần có chính niệm, đây là một trong số bát chính đạo, là một trong những phẩm chất quý giá của việc niệm pháp, phân biệt và rời xa tà niệm. "Khởi tín luận" viết: "Nếu tâm chạy tán loạn thì lập tức nghĩ đến và trụ ở trong chính niệm." "Huệ viễn quán kinh sớ" viết: "Xả tướng nhập thực được gọi là chính niệm."

1. Bồ đề tâm - tâm cầu tìm chân đạo, tâm cầu tìm chính giác. Hành giả cần có Bồ đề tâm hạnh nguyện, cần có Bồ đề tâm thắng nghĩa, cuối cùng cần có Bồ đề tâm tam ma địa.

1. Căn bản Thượng sư cần lấy việc khai ngộ làm gốc - Pháp Vương Ganden Tripa nhấn mạnh nhất vào Căn bản Thượng sư. Ngài nói, truyền thừa Mật giáo vô cùng quan trọng, Căn bản Thượng sư là vô cùng quan trọng, những chỉ dạy của Căn bản Thượng sư là gốc cho sự khai ngộ của các đệ tử. Thượng sư tương ứng pháp là một đại pháp cơ bản rất quan trọng, không có Căn bản Thượng sư thì sẽ không có sự gia trì và quán đảnh của dòng truyền thừa, không có sự gia trì và quán đảnh của dòng truyền thừa thì không có được sự khai ngộ.

1. Bổn tôn pháp - một vị tối thắng tối tôn mà ta vốn có, hơn nữa còn xuất thế gian, do vậy được gọi là Bổn tôn. Và cũng vì có được sự tôn sùng nhất trong số chư Tôn nên gọi là Bổn tôn. Trong Mật giáo, một vị Bổn tôn mà có duyên nhất với ta thì được gọi là Bổn tôn trí huệ.

Pháp Vương Ganden Tripa cho rằng pháp Bổn tôn cực kì quan trọng, hành giả Mật giáo cần tương ứng được với Bổn tôn, cuối cùng sau khi đã thành tựu Bổn tôn thì lấy cõi tịnh độ Bổn tôn làm nơi trở về.

🌟

Liên Sinh Hoạt Phật thuyết pháp

Đối với pháp Bổn tôn thì tôi nhấn mạnh vào tự lực Bổn tôn.
Đầu tiên, tâm mạch ngũ sắc cần phát ra được tịnh quang.

1. Tịnh quang của tâm mạch ngũ sắc này đòi hỏi hành giả cần phải thấy được minh điểm vi tế của ngũ sắc, màu cầu vồng màu xanh ngọc giống như những hình con mắt trên đuôi của chim khổng tước, hoặc giống như những viên sỏi ném xuống ao tạo nên những gợn sóng, nhưng những gợn sóng này phải có màu ngũ sắc, hoặc giống như chùm đuôi ngựa chuỗi ngọc sáng lấp lánh. Đây là cái thấy giai đoạn một.

1. Minh điểm ngũ sắc từ từ tập hợp lại, hiển hiện biến hóa, có dọc có ngang, đôi khi thành hình nửa chuỗi vòng ngọc, có khi thì là hình hoa sen, có khi là đế võng minh châu, có khi là bảo tháp, từ từ lớn dần lên, đầu tiên to bằng cái bát, rồi to bằng cái khiên, như một chuỗi kim cương. Đây là cái thấy giai đoạn hai của hành giả Mật giáo, quan trọng nhất là ở chuỗi kim cương. Sự hình thành nên chuỗi kim cương là quan trọng nhất. "Kim châu kinh" viết: "Muốn có mật ý của chư Phật thì quán thân là chuỗi kim cương. Muốn có được công đức của chư Phật thì đừng tách rời chuỗi kim cương. Muốn biết tất cả các hình tướng chung và riêng của tất cả mọi pháp thì nên quán tưởng sự tồn tại của chuỗi kim cương. Muốn lĩnh ngộ được hết tất cả mọi trí huệ bí mật thì nên quán tưởng ánh sáng của chuỗi kim cương."

1. Chuỗi kim cương di chuyển nhanh giống như sao băng, trong sự chuyển động xoáy mà hiện ra một tập đoàn Phật bán thân. Sự xuất hiện của Phật chính là giai đoạn thứ ba.

1. Đến giai đoạn thứ tư là xuất hiện Phật toàn thân và Phật song thân. Ánh sáng tính Không của minh điểm phóng đại cho đến khi phủ kín khắp hư không pháp giới. Lúc này là tâm quang của Phật đều hòa nhập vào tâm mạch ngũ sắc trong tâm của hành giả.

1. Lúc này hành giả có thể nhìn thấy được 42 Bổn tôn tĩnh tịch, 58 Bổn tôn phẫn nộ.

1. Biểu hiện bên ngoài là tất cả hiển hiện, toàn bộ quy về tâm mạch ngũ sắc. Trong ánh sáng cầu vồng ngũ sắc, hiển hiện tự lực Bổn tôn.
Đây là đại thành tựu.

Pháp Vương Ganden Tripa nghe tôi nói như vậy, biết rằng cảnh giới mà tôi nói đến thực sự là vô cùng cao siêu.

Pháp Vương Ganden Tripha tặng tôi áo bào Pháp Vương, đây là một ấn chứng trân quý vô thượng. Tôi không những có được ấn chứng của chư Phật mà còn có cả ấn chứng của Pháp Vương nhân gian.


### 13. Trưởng lão Ngộ Minh và những người khác


Mới gặp Ngộ Minh

Lần đầu tiên tôi gặp trưởng lão Ngộ Minh là ở sân bay Seattle nước Mỹ. Khi đó, ông là chủ tịch hội Phật giáo Trung Quốc. Trưởng lão Ngộ Minh nhận lời mời đến Seattle Lôi Tạng Tự.

Khi mới gặp, con người ông vui vẻ nồng nhiệt, nhưng vẫn có sự uy nghiêm của tượng Phật trong chùa. Khuôn mặt ông đầy đặn như trăng tròn, mày rậm mắt đẹp (thủa thanh niên), bây giờ thì có nét từ bi, da dẻ hồng hào, có một chút vết hằn và một vài hạt mụn cơm nho nhỏ. Trưởng lão Ngộ Minh dáng người đẫy đà nhưng không phải là quá cao.

Diện mạo bên ngoài của trưởng lão Ngộ Minh rõ ràng là:
"Vầng trán cao rộng, mặt có tướng Phật."
Tôi còn nhớ khi mới gặp tôi, ông nói:
"Chúng ta là long hoa hội thượng."
"Chúng ta là anh em."

Sau này, người ngoài phê bình trưởng lão Ngộ Minh rằng:
"Mặt tròn đầy đặn thì là Phật Bồ Tát long hoa hội thượng sao? Hai người tướng mạo gần giống nhau thì là anh em sao?"

🌟

Nhân duyên hội ngộ

Sự hội ngộ của tôi và trưởng lão Ngộ Minh đương nhiên là có nhân duyên. Trưởng lão Ngộ Minh tự nói:
"Từ rất rất lâu rồi đã có lời đồn đại rằng có một vị thần đồng giáng sinh tại Gia Nghĩa, hóa ra thần đồng Gia Nghĩa này chính là Lư Thắng Ngạn."
(Đây là ấn tượng đầu tiên của tôi đối với trưởng lão Ngộ Minh.)

Về sau, có hai người cùng đến quy y trưởng lão Ngộ Minh.
Ngộ Minh hỏi:
"Vì sao đến quy y?"
Đối phương đáp:
"Thần đồng Lư Thắng Ngạn khuyên như vậy."
Trong lòng trưởng lão Ngộ Minh nghĩ, quả nhiên là kì lạ, ta và Lư gì gì đó hoàn toàn không quen biết, chưa từng gặp mặt, tại sao Lư Thắng Ngạn lại khuyên tín chúng đến quy y.
(Đây là ấn tượng thứ hai.)

Nhờ có hai ấn tượng này mà mới đưa đẩy cho nhân duyên chín muồi. Trưởng lão Ngộ Minh làm chủ tịch hội Phật giáo, tại Los Angeles nước Mỹ đã xây dựng chùa Hộ Quốc, vẫn luôn có một suy nghĩ muốn bay qua Seattle để xem xem Lư Thắng Ngạn là loại người nào.

Lấy thân phận là chủ tịch hội Phật giáo đến thăm Lư Thắng Ngạn thì cũng có chút khó khăn, áp lực quá lớn. Áp lực không chỉ là từ các đoàn thể Phật giáo khác mà thậm chí từ ngay nội bộ của chính mình.

Trưởng lão Ngộ Minh nói:
"Các cán bộ trọng yếu của ủy ban nói tuyệt đối đừng đi gặp Lư Thắng Ngạn. Thậm chí, những đệ tử thân cận của tôi cũng đều bảo đừng đi."
Tuy nhiên, trưởng lão Ngộ Minh vẫn kiên trì:
"Lư Thắng Ngạn cũng đã xuất gia rồi, đi gặp ông ta thì có gì không tốt?"

Cũng chính vì như vậy, đường đường là một chủ tịch hội Phật giáo Trung Quốc, hội trưởng hiệp hội Tăng già thế giới, ông đã đáp máy bay từ Los Angeles đến Seattle, ngay cả một người tùy tùng đi theo cũng không có.
Khi đó, tôi rất cảm động.

🌟

Bước đệm cho sự hòa hợp

Thế giới nội tâm của trưởng lão Ngộ Minh, đối với ba chữ Lư Thắng Ngạn không phải là đặc biệt yêu thích, nhưng chí ít cũng là thái độ bình thường.

Kì thực, trưởng lão cũng hiểu, chính trị cũng như tôn giáo, đều đầy tính chất tranh đấu. Phẩm chất tăng lữ thanh tịnh của hành giả, dưới tính cục bộ của các phe phái, cũng đều có những sự thay đổi to lớn. Những phái của dân thường như phái Thái Hư đại sư và phái Viên Anh pháp sư tranh đấu với nhau, gần đây thì có phái hội Phật giáo Trung Quốc và phái Phật Quang Sơn, cũng đấu nhau tranh quyền đoạt lợi, trong đấu ngoài tranh.

Trưởng lão Ngộ Minh là một người mang tư thái của đại sứ hòa bình, muốn đóng vai trò là nhân vật trung gian kết nối.

Lư Thắng Ngạn là một nhân vật khá gây tranh cãi, nguyên nhân chủ yếu nhất là sự tuyên bố Liên Hoa Đồng Tử giáng sinh. Mặc dù mọi người đều còn cảm thấy khá mơ hồ về danh hiệu Liên Hoa Đồng Tử này, nhưng như thế cũng đã là quá đủ để gây tranh cãi rồi. Năm xưa, Ấn Thuận pháp sư được gọi là Ấn Thuận đạo sư, cách xưng hô này đã từng gây nên nhiều ồn ào và tranh đấu. Cũng may, mọi người còn chưa biết đến Liên Hoa Đồng Tử. Giả dụ từ đầu tôi nói là A Di Đà Phật hạ giáng thì Lư Thắng Ngạn đã chết từ lâu rồi.

Tôi rất muốn đi theo những bước chân của trưởng lão Ngộ Minh. Tôi thật lòng không muốn làm một cái cây vẫy ngọn cờ riêng đứng một mình, gà và chó nên có thể cùng kêu, chứ không nên già đến chết cũng không thèm qua lại. Bước tiến trước của trưởng lão Ngộ Minh khiến tôi sinh lòng muốn tái hòa nhập vào giáo giới, các bên hòa hợp với nhau.

Khi trở về Đài Loan, hai lần tôi đến chùa Hải Minh.
Ở Mỹ, tôi đến thăm chùa Hộ Quốc.
Trưởng lão Ngộ Minh thường nói với người ta:
"Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn là thần đồng Gia Nghĩa."
"Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn nổi tiếng khắp thế giới."

Tuy vậy, hàng rào ngăn cách mà giới Phật giáo dựng lên cực kì kiên cố, chỉ có dựa vào sức lực của một mình trưởng lão Ngộ Minh thì vẫn không thể đủ. Mỗi một đỉnh núi trong giới Phật giáo (ý chỉ các trưởng lão đứng đầu các phái) từ lâu đã chia năm xẻ bảy, đường ai nấy đi, cho đến khi già chết cũng không qua lại với nhau, Chân Phật Tông và giới Phật giáo cũng chỉ là một trong số các mối quan hệ kiểu đó mà thôi. Chỉ dựa vào một mình trưởng lão Ngộ Minh thì cũng chẳng thể cứu vãn được tình hình.

Tôi lấy một ví dụ:
Ba vị đại cao tăng sống ở Mỹ được đồn đại nhiều nhất gồm Tinh Vân đại sư của Tây Lai Tự ở Los Angeles, Tuyên Hóa thượng nhân của Vạn Phật Thành ở San Francisco, và Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn của Lôi Tạng Tự ở Seattle.

Hồi đầu, khi Tinh Vân đại sư đến Los Angeles, Tuyên Hóa thượng  nhân ở San Francisco cũng không nhiệt tình hoan nghênh, mọi người trong lòng cũng ngầm hiểu nhưng không ai nói ra. Người trực tiếp đánh phủ đầu Tinh Vân, chính là Tuyên Hóa thượng nhân. (Cục di dân có người mật báo rằng tăng đoàn của Tinh Vân đại sư là giả hòa thượng, giả ni cô. Chỉ có luôn luôn mặc tam y không bao giờ rời thân mới là hòa thượng thật, ni cô thật.)

Khi tôi mới đến Seattle nước Mỹ, tôi đã bị tăng đoàn ở Mỹ vu cáo là: buôn ma túy. (Hải quan có tư liệu, xin tham khảo cuốn Mưa mùa đông ở Seattle.) Tôi bị vu cáo là buôn ma túy. Nhưng tôi thật lòng thật sự nói với mọi người rằng, tôi đã sống ở thế giới Ta Bà này 52 năm rồi, tôi chưa từng nhìn thấy viên thuốc ma túy một lần nào!

Giữa tôi và Tinh Vân:
Kể từ khi pháp sư Huệ Tung, đại đệ tử của Tinh Vân đến quy y tôi, tình thế đã thay đổi, Tinh Vân luôn ngầm công kích. Còn tôi thì dựa vào lí mà phê bình ông ta.

Tôi nói cho mọi người biết, đây chính là giới Phật giáo, ngay cả một nước Mỹ đơn thuần cũng không phải là ngoại lệ. Nước Mỹ đã thế thì Đài Loan lại càng không phải ngoại lệ.

Tuyên Hóa thượng nhân thì thôi không nói đến cũng được!
Còn Tinh Vân đại sư theo như miệng của Huệ Tung nói ra thì không thể nào ngửi nổi!

🌟

Bổn tôn của trưởng lão Ngộ Minh

Có người hỏi tôi: "Bổn tôn của trưởng lão Ngộ Minh là ai?" Tôi cũng chẳng cần phải liên tưởng, cũng không cần phải quan sát, tôi lập tức nói: "Quan Thế Âm Bồ Tát."
Vì sao vậy?

Câu chú mà trưởng lão Ngộ Minh niệm hàng ngày hàng giờ là: chú Đại Bi.
Bài kệ mà trưởng lão Ngộ Minh thường trì tụng là:
"Quán Tự Tại Bồ Tát, Phổ Đà Lạc Già thường nhập định, tùy duyên phó cảm mĩ bất chu, tâm thanh cứu khổ độ quần mê, cố hào danh vi Quán Tự Tại."

Trưởng lão Ngộ Minh trụ trì Hải Minh Tự, chủ tôn của Đại Bi Viện đều là Quan Thế Âm Bồ Tát. Trưởng lão Ngộ Minh trì chú Đại Bi, tự nói rằng trong chớp mắt có thể nhập vào trạng thái khinh an, âm thanh của chú Đại Bi không ngừng vang lên, không niệm và vẫn tự niệm, giống như ngựa chạy tự do, nước sông tự chảy, gần như có cảm giác không giữ lại được…

Trưởng lão Ngộ Minh mỗi khi gặp kiếp nạn thì liền trì Thánh hiệu Quan Âm và chú Đại Bi. Ông từng ở tại nhà ngục phía đông cũ của chùa Pháp Hoa ở Hàng Châu thầm cầu nguyện Bạch Y Đại Sĩ rằng: "Bồ Tát hiện trăm nghìn vạn tỉ thân, vạn đức trang nghiêm, tốt nhất xin hãy che trở, ban cho một bức tượng Thánh trang nghiêm, để con dễ dàng tập trung quán tưởng…"

Mấy ngày sau, quả nhiên ông mơ thấy một bức tượng Thánh Quan Âm trang nghiêm. Suốt hai mươi năm ông chưa từng quên dung mạo của Thánh, cũng luôn luôn nhớ về ngài từng giờ.

Tuy nhiên, hơn 20 năm sau, có người đã vứt bỏ một bức tượng Quan Thế Âm Bồ Tát bằng đồng nặng 250kg, bỏ mặc một xó tại một hội quán xiêu vẹo. Người phụ trách hội quán nhớ đến trưởng lão Ngộ Minh, thế là liền đem bức tượng tặng cho trưởng lão Ngộ Minh.

Trưởng lão Ngộ Minh vừa nhìn, hóa ra là một bức tượng Quan Âm bằng đồng thau, ông kinh ngạc vì chính xác là dung mạo của vị Thánh trong mơ mà ông quán tưởng.

Trưởng lão Ngộ Minh nói:
"Điều ước 20 năm trước, 20 năm sau thành hiện thực, đây là sự kì bí của nhân duyên, cũng là Phật Bồ Tát có linh cảm."

Bổn tôn của trưởng lão Ngộ Minh là Quan Thế Âm Bồ Tát, đây là điều không còn nghi ngờ gì, tuy nhiên, đã có một vấn đề xảy đến. Khi mới gặp trưởng lão lần đầu, rồi gặp lần hai, rồi gặp lần ba, tôi lại phát hiện ra sau lưng của ông còn có một vị đã từng bị lửa thiêu cháy, đầy thương tích, diện mạo hoàn toàn không phải là Quan Âm.

Tôi rất ngạc nhiên, nhưng lại không dám hỏi, trong lòng bối rối. Vấn đề này nằm trong tâm trí tôi rất lâu, làm sao mà sau lưng trưởng lão Ngộ Minh lại còn có một vị "Quan Âm cháy xém" được. Đây nhất định là có nhân duyên đặc biệt. Tôi tỉ mỉ đọc những sách mà trưởng lão Ngộ Minh viết, cuối cùng rốt cục tôi đã tìm được đáp án. Trong cuốn "Nhân Ân Mộng Tồn" của ông viết, trang 243, có ghi lại như thế này:
"Có một nhân sĩ sống xa quê tại New York đã gửi thư đến bàn rằng sẽ thỉnh một bức Thánh tượng của Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm của Đại Bi Viện để gửi sang Mỹ cúng dường. Thế là anh đóng vào thùng hàng, chuyển đến Cao Hùng, thương lượng với con tàu vận tải Phục Bình Luân để chuyển đồ đi New York. Bức Thánh tượng cao khoảng một mét mốt, được đẽo từ gỗ đàn hương và dát vàng, có 24 cánh tay, trên mỗi bàn tay đều có một con mắt và đều cầm pháp khí.

Tuy nhiên, một điều không may nằm ngoài dự tính, khi Phục Bình Luân đến cảng Hudson đã bị tàu chở dầu của Na-uy đâm trúng và bốc cháy, vì thế mà bức Thánh tượng Quan Âm cũng gặp tai họa của Hồi Lộc. [ ND: Hồi Lộc là một trong những vị thần lửa trong truyền thuyết dân gian Trung Quốc. ]

Tôi đọc xong đoạn văn này thì thốt lên, lạ thay! Lạ thay!
Lại tương ứng rồi. Sự quan sát tỉ mỉ của tôi cùng với lời tự thuật của trưởng lão Ngộ Minh đã lại khớp với nhau, như vậy là đã rõ ràng cả rồi.
Vị Quan Âm 24 cánh tay này đã luôn ở bên cạnh Ngộ Minh.
Còn Ngộ Minh thì bảo Ngài đến chỗ của nhân sĩ ở New York đã cúng dường, nhưng Ngài không chịu đi. Ngài lại trở về theo bên cạnh trưởng lão Ngộ Minh.

🌟

Phụ lục: sự hỗn loạn của giới Phật giáo Đài Loan

Đối với sự hỗn loạn của giới Phật giáo Đài Loan, tôi chẳng dám nhiều lời. Nhưng mọi người hãy thử đọc một bài báo dưới đây thì sẽ hiểu. Bài báo này được in vào ngày 17 tháng 9 năm 1996, trên tờ Thế Giới Nhật Báo.

(Phóng viên Đài Bắc ngày 17 đưa tin.)
Hội thảo "Cách mạng Phật giáo" với mục tiêu "hội nhập Phật giáo", ngày hôm qua, ngay trong ngày đầu tiên của cuộc họp đã mạnh dạn đưa ra phương án hội nhập Phật giáo, yêu cầu từ các chùa Phật, đạo tràng, đoàn thể Phật giáo trở lên cần tái tổ chức thành "Tổng hội Phật giáo toàn quốc" mở rộng to lớn hơn. Có pháp sư đề nghị có thể bắt chước hệ thống Thiên Chúa giáo, tổng hội sẽ được hưởng quy chế giống như của Giáo hội Công giáo, và hội trưởng giống như Giáo Hoàng. Có các ủy ban dưới quyền để quản lý toàn diện tất cả các sự vụ của Phật giáo, cùng hưởng những tài sản của giáo hội và phân bổ nguồn lực một cách thống nhất.

Nếu kế hoạch này được thực hiện thì sẽ là một bước cải cách Phật giáo Đài Loan đã tồn tại suốt một trăm năm nay, do mỗi một đạo tràng tự phát triển một hệ sinh thái riêng, gây ảnh hưởng rất sâu sắc.

Chủ tịch giáo hội Phật giáo Trung Quốc - trưởng lão Tịnh Tâm đề xuất rằng đây là một điều lý tưởng, nhưng vẫn cần chờ các trưởng lão Phật giáo cùng bàn luận. Nhưng cũng có pháp sư đề xuất, hiện tại Phật giáo có các đạo tràng có thực lực, ví dụ như Trung Đài thiền tự, Phật Quang Sơn, Từ Tế công đức hội ngày hôm qua đều có đến tham dự đại hội giáo giới này, sau này có ủng hộ phương án hội nhập hay không thì vẫn còn rất khó nói.

Trưởng lão Tịnh Tâm đề xuất, hội nhập Phật giáo là mục đích chủ yếu nhất của việc tổ chức buổi hội thảo lần này, bởi vì Phật giáo Đài Loan đã trở nên cực kì hỗn loạn, nguyên nhân chính là vì thiếu mất một giáo đoàn trung ương có sức mạnh. Mỗi một đạo tràng nếu đều là một cá thể tự phát triển, thích gì làm nấy, mạnh ai nấy làm, thì lo ngại rằng sẽ không còn ai chú ý đến vấn đề phát triển tổng thể của Phật giáo, nếu vậy sự phát triển của Phật giáo có hạn,  cũng không có cách nào theo kịp bước tiếng của xã hội.

Chủ tịch quỹ tài trợ văn hóa và tôn giáo Phật Giáo Thanh Niên - pháp sư Tịnh Diệu cũng có kiến nghị cụ thể rằng nên thành lập "Tổng hội Phật giáo Trung Hoa Dân Quốc", làm theo dạng thức của Thiên Chúa giáo, hội trưởng sẽ giống như Giáo Hoàng, các ủy viên có thể tuyển cử làm Hồng Y giáo chủ của Giáo Hoàng. Các ủy ban sẽ được thành lập để thực hiện các nhiệm vụ của họ vì tất cả lợi ích của giáo giới, và cũng sẽ có những người phát ngôn và quan hệ công chúng để định hình lại hình ảnh của Phật giáo. Ý kiến này đã nhận được sự tán thành của không ít các pháp sư.

Tịnh Diệu cho rằng khi Phật Đà nhập Niết Bàn đã truyền Phật pháp cho tăng đoàn, người xuất gia có trách nhiệm để cho chính pháp trường tồn, giúp chúng sinh thoát khổ được vui, do vậy nên có "một giáo hội trung ương có thực quyền và sức mạnh cụ thể để kêu gọi công chúng", kết hợp giáo nghĩa với hành chính, tạo tầm cao mới cho Phật giáo hiện đại.

Trưởng lão Tịnh Tâm chỉ ra rằng muốn có một giáo hội trung ương có sức mạnh, thì điều quan trọng đầu tiên là giáo hội phải cung cấp được những tài nguyên thiết thực, do vậy, việc tạo dựng năng lực tài chính của giáo hội trung ương là một chủ đề quan trọng khác của hội nghị lần này. Ví dụ, các kênh tài chính rộng mở, kênh đầu tư, chế độ bảo hiểm hoàn thiện để cho những tăng nhân già những năm cuối đời không còn phải lo lắng, chăm sóc các đạo tràng nhỏ yếu, v.v… phân bổ nguồn lực hợp lí mới có thể phát các chức năng thiết yếu của giáo hội trung tâm. Ông có ý thức về sứ mệnh nên mới tổ chức hội nghị tìm kiếm sự đồng thuận.

Trong một cuộc thảo luận nhóm sau đó về việc quản lý tài chính của Phật giáo, pháp sư Tịnh Diệu chủ trì đã chỉ ra rằng tài sản của các ngôi chùa Phật giáo Đài Loan hiện được đăng ký dưới tên của sư trụ trì. Trong trường hợp vị này qua đời, thân nhân của vị trụ trì đó sẽ được kế thừa những tài sản Phật giáo vốn do giáo giới xây dựng nên. Như vậy, những người có tâm hoằng dương Phật pháp lại phải rất lao tâm khổ tứ để tái xây dựng đạo tràng. Ông đề nghị, cách thức mà đạo Cơ Đốc, Thiên Chúa giáo của phương Tây thống nhất quản lý bất động sản của nhà thờ rất đáng để tham khảo học hỏi. Nếu như đạo tràng và các bất động sản đều thuộc về giáo hội trung ương hoặc giới Phật giáo cùng hưởng thì pháp sư chẳng qua cũng chỉ là mượn nơi để hoằng pháp, không cần phải bận tâm về việc xây chùa, sinh lão bệnh tử của tăng lữ đều được tăng đoàn chăm lo, như vậy thì tăng lữ có thể nhất tâm hoằng pháp. Điều này có thể là giải pháp cho nguồn lực không đồng đều của giáo giới.

Nhưng cũng có tín đồ chỉ ra rằng mỗi đạo tràng đều vì lợi ích riêng,  lại cộng thêm những hạn chế của luật pháp chính phủ, cho nên rất khó để ủng hộ những tài sản của chùa cho giáo hội, trừ phi phải thay đổi luật pháp trước, nếu không sẽ rất khó thực hiện điều này.


### 14. Quang và khí


Vài câu cảm thán

Cho đến năm nay, năm 1996, tôi mới công khai chỉ rõ: "Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử chính là A Di Đà Phật!" Trong lòng tôi cũng có đôi chút cảm xúc.

Thế gian này, người người nói Nam mô, nhà nhà thờ Quan Âm, các tín đồ Phật giáo thì mở miệng toàn là Nam mô A Di Đà Phật. Tuy nhiên, có được mấy người có thể hiểu Phật? Lại có được mấy người miệng niệm Phật mà trong lòng có Phật? Sao mà không cảm thán đây!

A Di Đà Phật hạ sinh, đứng trước mặt con người, con người có thể biết được hay không?

Tôi phát hiện ra, con người miệng niệm Phật, nhưng bọn họ lại phỉ báng Phật, đuổi Phật đi, thậm chí muốn giết Phật!
Tín đồ Phật giáo chỉ có lầm rầm rập đầu trước Phật gỗ, lầm rầm niệm A Di Đà Phật, cầu nguyện được vãng sinh Tây phương tịnh thổ, thế nhưng khi A Di Đà Phật chân chính hóa thành thân người đứng trước mặt bọn họ thì bọn họ không những không nhận ra mà còn thóa mạ Ngài nữa.

Bọn họ một mặt niệm danh hiệu của Phật, một mặt lại đuổi Phật đi, bảo Phật hãy rời xa những đám người đang niệm danh hiệu của Phật, đây đúng là điều khóc chẳng được, cười chẳng xong.

Tôi từng trông thấy một cảnh thế này:
Rất nhiều tín đồ Phật giáo cầm đá ném vào Phật.
Tôi chính là vị Phật đó.
Tôi đến thế gian.
Nhưng, thế nhân không biết.

Tôi còn nhớ hồi trẻ tôi đọc Kinh Thánh.
Chính bản thân Chúa Jesus cũng có rất nhiều cảm thán. Ngài đến từ chỗ của Thượng Đế Jehovah, là con trai của Thượng Đế, là người cứu độ mà Thượng Đế ban cho loài người.
Thế nhưng, thế nhân không nhận ra ngài, cho rằng là ngài có tâm tham vọng. Thế là, các giáo sĩ và con người đã đem đóng đinh ngài lên thập tự giá để xử tử ngài.

Con người thà phóng thích tên đại tặc Barabbas còn hơn là phóng thích Jesus, không đóng đinh ngài đến chết thì không được. Đương nhiên kết quả là, Jesus đã chết.

Nhưng, Jesus nói:
"Khi ta bị treo lên, ta sẽ dẫn vạn người đến với ta!" Ý nói rằng, đợi đến khi ta chết rồi thì thế nhân mới biết.
Tôi đọc đoạn kinh văn ngày mà không biết phải nói sao.

Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử chính là A Di Đà Phật, tiếc thay thế nhân không biết. Người muốn vãng sinh đến nơi của Ngài cũng chính là những người đã bài trừ Ngài. Tôi chỉ có thể nói thế này, những con người này vô tội, bởi vì họ cũng hoàn toàn chẳng biết gì về những việc họ làm!

🌟

Thiện quán quang khí

Những pháp mà đời này tôi đã học là rất nhiều, Đạo, Hiển, Mật đều có cả, đến cả lục hào [ ND: lục hào: Một pháp bói toán thời cổ đại, nổi tiếng linh nghiệm nhưng rất khó học ] tôi cũng hiểu rõ, bát quái cũng tinh thông, có thể biết thiên địa lý, hiểu rõ về quỷ thần, quy luật âm dương trời đất đều nắm rõ. Chuyện lớn nhỏ trong tương lai, những lành dữ tai ương quá khứ tôi đều nhìn được giống như nhìn ảnh trong gương.

Tôi đây chính là:
Mấy đời hưng, mấy đời bại, thảo luận cùng thần minh.
Biết hung định cát, đoạn tử ngôn sinh.
Lời nói như vũ bão, hạ bút quỷ thần kinh.
Sai khiến trời đất ta làm tốt, hiểu rõ nhân quả suốt ba thời.

Tôi giỏi quan sát quang khí.
Tôi phát hiện ra trên thế giới này có một hiện tượng khiến con người vô cùng sợ hãi, hiện tượng này chính là "ma nhập". Tôi phát hiện ra có rất nhiều những con ma ám lên thân con người ta, tuyệt đối không hề ít, tôi cũng tuyệt đối không phải là chuyện bé xé ra to. Ma nhập là một hiện tượng rất phổ biến.

Trong sự quan sát tỉ mỉ của tôi, tôi có thể nhìn thấy ánh sáng, thấy khí, mỗi một người ở trước mắt tôi thì đều giống như hư huyễn. Nghĩa là ở đây có một mặt chân thực và cũng có một mặt hư huyễn. Thực tế là cái chân thực chưa chắc đã chân thực, cái hư huyễn chưa chắc đã hư huyễn.

Tôi phân tích như sau:
Chúng sinh cho rằng thế giới hữu hình là chân thực, trên thực tế chỉ là vẻ ngoài. Kì thực, thứ đang thực sự kiểm soát là thế giới tâm linh hư huyễn. Cơ thể vật lí này bị tâm linh điều khiển, thể xác chỉ là một con rối, tâm mới là chủ nhân.

Ngày nay, hiện tượng ma nhập là, con người này mặc dù có vẻ có tâm trí, nhưng đằng sau của cái tâm trí đó lại còn có một cái linh đang khống chế anh ta. Cái tâm trí của người này đã không còn cách nào tự chủ được. Hiện tượng này như là một cỗ xe song mã, hoặc cỗ xe do nhiều con ngựa cùng kéo.

Hiện tượng ma ám này nặng thì là tẩu hỏa nhập ma, mắc bệnh tâm thần, nhẹ thì là bị xung phạm, xung sát, bị trộm khí, v.v…

Các thể loại linh bám lên thân là rất nhiều kiểu, có linh động vật, linh địa ngục, linh ác quỷ,… Ngay cả "phi nhân" được nhắc đến trong kinh Phật cũng "ra quân". Trong sự quan sát của tôi, hiện tượng này càng ngày càng nghiêm trọng. Ngược lại, muốn tìm được một người có thể thực sự tự chủ được thì vô cùng khó khăn.

Một số người biểu hiện bên ngoài là người hoàn toàn bình thường, tuy nhiên, trong thế giới nội tâm thì thực sự là người có nhân cách dị thường. Nguyên nhân gì khiến anh ta nhân cách dị thường, những gì tôi phát hiện được là: "Ma nhập".

Trong sự quan sát tỉ mỉ của tôi:
"Phi nhân" trong kinh Phật là chỉ tinh linh của loài ma, "phi nhân" trên phương diện này tương đối nhiều, quang và khí của chúng vô cùng phức tạp, hiện lên rất nhiều màu sắc, phần đông những "phi nhân" là thuộc kiểu này. Còn pháp lực của chúng thì cũng đều cao hơn con người, nên rất dễ khống chế tâm linh của con người thông thường, con người bình thường sẽ theo ý muốn của "phi nhân" mà đi làm một số việc.

Điều nghiêm trọng là, khả năng của những "phi nhân" trong kinh Phật này tương đối mạnh, vượt xa linh động vật thông thường. Thậm chí, "phi nhân" còn hoạt động trong giới tôn giáo, từ lâu đã xâm nhập vào các đoàn thể tôn giáo. Các nhân vật đầu não của đoàn thể tôn giáo kì thực cũng bị "phi nhân" ám lên người. Ý tôi muốn nói rằng, chớ thấy tổ chức của anh ta to, có thực lực, sự nghiệp tôn giáo hoành tráng, nhưng lại chẳng biết rằng đó chỉ là một tổ chức do tập đoàn "phi nhân" khống chế.

Chúng ta biết rằng:
Kê đồng là hầu như được linh cấp thấp nhập vào thân. Một số người thông linh hoặc thầy bói đều là có linh cấp thấp nhập vào người.

Đáng tiếc là "phi nhân" trong kinh Phật đều đã xông ra, thâm nhập trong thời kì mạt pháp. Bọn họ xuất hiện để điều khiển người tu hành, khiến người tu hành lầm tưởng rằng mình đã "tương ứng", hoặc đã đạt đến cảnh giới rồi, sau khi hiển hiện được một ít thần thông nhỏ liền tự cao tự đại. Hiện tượng này cực kì nhiều.

Tôi cho rằng, muốn không bị "ma nhập", người tu hành cần phải đi theo bát chính đạo của Phật Đà. Ngay tại đây ngay lúc này, bát chính đạo đã xuất hiện những tia sáng của nó.

1. Chính kiến - hiểu rõ về lý thuyết tứ diệu đế, trí huệ của vô lậu.

1. Chính tư duy - suy ngẫm về sự tăng trưởng của trí huệ chân chính.

1. Chính ngôn - thanh tịnh khẩu nghiệp.

1. Chính nghiệp - thanh tịnh thân nghiệp.

1. Chính mệnh - thân khẩu ý thanh tịnh, làm theo chính pháp.

1. Chính tinh tấn - chăm chỉ thực hành chính pháp.

1. Chính niệm - ý niệm đúng đắn, không có tà niệm.

1. Chính định - thiền định thanh tịnh.

🌟

Quang khí phức tạp

Tôi quan sát thấy, trong những hành giả hiện đại thì người có quang khí phức tạp nhất là Thanh Hải Vô Thượng Sư. Tôi đã nhìn mấy lần mà lần nào quang khí của bà cũng không giống nhau. Cũng giống như con người của bà ta, lúc thì là một tì kheo ni, lúc thì lại là người mặc đồ trắng đội mũ trắng, lúc thì lại trang điểm thế tục, lúc thì lại trang điểm như một quý phu nhân…

Thân phận của bà ta có nguồn gốc rất phức tạp, chính xác đã phản ánh quang khí phức tạp của bà. Quang khí biến đổi thì đương nhiên nhân cách cũng biến đổi, ngay cả quần áo cũng thay đổi.

Bà ta trang điểm thành một Nữ Vương Bệ Hạ, người khác cho rằng rất lạ, nhưng tôi thì không, bởi vì tôi biết nguyên nhân chính là cao linh sau lưng bà là Đại Phạm Thiên Vương.

Trong Ấn Độ giáo, Đại Phạm Thiên Vương chính là chủ thần của Ấn Độ giáo, là chúa tể khai thiên lập địa, vốn dĩ nổi danh thiên hạ. Tính cách của Đại Phạm Thiên Vương là độc đoán, cũng thích biến hóa.

Trong "Thập nhị thiên báo ân kinh" có viết: "Phạm Thiên là chúa tể của Thiên Vương, là cha của chúng sinh, khi vị này vui thì thế gian được yên ổn không loạn lạc. Vào thời kì sơ khai, vị này sáng tạo ra thế gian, chúng sinh không loạn, là do vị này vui. Khi vị này tức giận, thế gian bất an, có đủ loại bệnh, ngay cả cây cỏ cũng đều ủ rũ, chúng sinh bị mê hoặc, ai ấy đều như người say."

Chính bởi cá tính của Đại Phạm Thiên Vương, cho nên các Thiên Chúa do ngài hóa hiện ra, Thiên Đế là do ngài hóa hiện, Thượng Đế là do ngài hóa hiện, Jesus là do ngài hóa hiện, Allah là do ngài hóa hiện, thậm chí các giáo đồ của Ấn Độ giáo cũng nói Phật Đà cũng là do ngài hóa hiện….
Quang khí của Đại Phạm Thiên Vương thay đổi liên tục, sự hỉ nộ của ngài là vô thường, thân phận biến hóa thay đổi rất nhiều.

Quang khí phức tạp trên người Thanh Hải Vô Thượng Sư mà tôi quan sát được chính là cũng biến hóa như vậy. Hơn nữa, lời nói và hành động của bà ấy đều là hình ảnh của Đại Phạm Thiên Vương. Các đệ tử của Thanh Hải Vô Thượng Sư, dưới quang khí của Đại Phạm Thiên Vương, ai ai cũng như người say.

Chú thích thêm: Cha của chúng sinh là Đại Phạm Thiên Vương, nhưng, trong "Chư thuyết bất đồng kí" quyển thứ 8 có viết: "Gốc mà có thể sinh ra toàn bộ chúng sinh hữu tình, thì sẽ được gọi là chủ của tất cả sự sinh ra. Nhưng thực sự thì chúng sinh đã sinh ra từ trước trong vô thủy, chẳng phải do Phạm Thiên Vương sinh ra. Đấng Như lai cũng là như vậy. Từ những chúng sinh kém cỏi nhất, nhỏ nhất như sợi tóc, cho tới những chúng sinh lớn lao, bậc giỏi giang siêu việt, đều như nhau cả, đều từ Phật tâm mà sinh ra.”

🌟

Khí đen mãnh liệt nhất

Trong số các hành giả đương đại, người có khí đen phủ kín toàn thân, hơn nữa đám khí đen còn mạnh nhất, chính là Lâm Vân đại sư.

Điều nực cười nhất là, Lâm Vân hay giảng khí, nhưng toàn thân lại đầy khí đen. Gần đây khi quan sát Lâm Vân đại sư, tôi phát hiện ra vốn dĩ một người khí đen bám đầy thân như ông, giờ ngay cả đám khí đen cũng không muốn ông ta nữa rồi. Khí đen đã yếu đi, quang khí khác cũng chẳng vào nữa, thân thể ông ta xem ra đã rất yếu, e rằng đã mắc bệnh kinh niên rồi.

Tôi nhận ra cao linh ở sau lưng Lâm Vân là Đại Tự Tại Thiên Trưởng Tử, đương nhiên cũng là một vị thần của đạo Bà-la-môn, được gọi là Thần Chướng Ngại hoặc Thường Tùy Ma. Quang khí của nó là màu đen đặc, do vậy quang khí trên người của Lâm Vân cũng là màu đen đặc.

Trong "Tứ Bộ Pháp" có viết:
"Đại Tự Tại Thiên Trưởng Tử luôn hừng hực tâm tham, thích nữ sắc, thích chạm vào phụ nữ và ôm ấp họ, thường sống ở chỗ các Thiên Nữ…."

Xung quanh Lâm Vân có nhiều phụ nữ theo, điều này cũng là một trong những sự tương ứng.

Còn nữa, Lâm Vân tự xưng là Hắc giáo, thật sự là không tính mà hợp. Tất cả mọi điều về Lâm Vân, trong chương trước tôi đã nói rồi, ở đây không cần phải nhắc lại nữa.
Việc tu hành, cần cẩn thận! Cẩn thận!

Bởi vì:
Đạo đức cao rộng ma chướng cao
Thiền cơ vốn tĩnh sinh ma quái
Tâm ta chính trực theo trung đạo
Ngoại giáo ta vạch đường phân chia
Thân ý chẳng còn màng ái dục
Chưa đạt tính Không tự ưu phiền.
Vui gì khi chỉ có tâm tà
Cuối cùng chính đạo sẽ diệt tiêu.

Như thế nào mới là chính đạo?
Xưa nay có năm:
Một là, chân như.
Hai là, bát nhã.
Ba là, duy thức.
Bốn là, du già.
Năm là, trung quán.

Tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn), cuộc đời này đã đi trên con đường du già, cũng chính là tương ứng với Bổn tôn, rồi lại tu xuất được Phật tính Bổn tôn của chính mình.

Tôi đã đi con đường tu hành này một cách đầy gian khổ, đầy tinh tấn.
Tứ gia hành.
Thượng sư tương ứng.
Bổn tôn.
Bảo bình khí.
Chuyết hỏa.
Minh điểm.
Vô lậu.
Vô thượng mật.
Kim cang pháp.
Đại viên mãn.

Quá trình này tuyệt đối không phải một bước lên trời. Tôi đã cưỡng lại được tâm tham danh lợi, tâm tham tình dục. Có một bài kệ rằng:
Gốc của tình dục luôn như thế,
Có tình có dục lẽ bình thường,
Những vị sa môn khi tu luyện,
Dứt dục quên tình tức là thiền.
Cẩn thận gìn giữ tâm cho vững,
Như trăng hôm đó sạch bụi trần,
Thực hành tiến bộ không mắc lỗi,
Thành tựu viên mãn Đại Giác Tiên.

Có người cho rằng việc tu hành của tôi chỉ là thuận mồm nói khơi khơi vậy thôi. Họ làm sao biết được tôi đã dốc toàn bộ tinh lực cả đời mình. Công pháp của tôi mặc dù lấy du già làm chính, nhưng trên thực tế, chân như, bát nhã, duy thức, trung quán đều bổ trợ.

Tôi đây xuất gia, bồ đề tâm ở đó.
Lập chí xuất gia, mang ý chí phi thường,
Gạt hết sang bên, chuyện xưa nay ân ái.
Chẳng tạo ngoại duyên, cũng giữ không nhiều chuyện.
Đầy đủ âm dương, trong mình thành tự có.
Viên mãn công thành, gặp Phật gặp Như Lai.
Kiến tính Minh tâm, quay về nơi Cực lạc,
Vượt thắng hơn xa, mấy việc vặt gia đình.
Tuổi già nhanh tới, nghiệp chướng sẽ càng ghê.

🌟

Hòa thượng Quảng Khâm

Tôi và hòa thượng Quảng Khâm vẫn có một nhân duyên nhỏ. Trước khi chính thức đề cập đến, tôi viết ra đây một câu chuyện tưởng tượng, câu chuyện này như sau:
Một chàng trai độc thân trẻ tuổi qua đêm tại một nhà trọ ở vùng ngoại ô vắng vẻ.
Nửa đêm.
Có một cô gái trẻ đến gõ cửa.
Thế là nảy sinh tình một đêm.
Sáng sớm ngày hôm sau, bình minh vừa ló rạng, chàng trai với tay sang cô gái nằm gối bên cạnh, phát hiện ra cô đã cứng đờ, tim ngừng đập. Càng đáng sợ hơn là khóe miệng cô chảy máu loang ra cả một mảng lớn trên tấm ga giường.

Chàng trai hoảng sợ, không biết phải làm gì.
Chàng trai đi vào phòng tắm, mở nước lạnh xả lên đầu, muốn bình tĩnh lại để nghĩ cách xử lý, rồi trở lại phòng ngủ. Trong nháy mắt, anh sững người ra.

Trên cái giường đó, cô gái đã biến mất, ngay cả tấm trải giường cũng vẫn trắng tinh, một chút vết tích cũng không có, căn bản là như chưa hề có chuyện gì xảy ra.

Thế là, chàng trai bắt đầu đi điều tra, kết quả là:
Căn phòng này thực sự có một cô gái trẻ từng bị giết, cái chết rất đáng sợ, tấm trải giường đầy máu. Hơn nữa, chỉ cần có chàng trai độc thân nào ở tại phòng này, cô ta liền xuất hiện.

Vào lúc chập tối, khi chàng trai sắp rời khỏi nhà trọ, lúc phóng xe đi, anh ta ngoái đầu nhìn về cửa sổ của căn phòng nọ. Anh nhìn thấy ở ô cửa sổ có một cô gái đang đứng. Ánh mắt ai oán đó cứ nhìn chằm chằm vào anh ta.

Câu chuyện tôi viết ở trên đầy tính hư huyễn. Câu chuyện nhỏ này chẳng có liên quan chút nào đến hòa thượng Quảng Khâm, nhưng vì sao tôi lại kể ra? Nguyên nhân mà tôi kể ra là mối quan hệ giữa tôi và hòa thượng Quảng Khâm bản chất cũng hư huyễn như vậy.

Lão hòa thượng Quảng Khâm khi còn sống, trong một lần thuyết pháp đã từng nhắc đến tôi:
"Những người tu hành chúng ta, chí ít cũng cần tu được giống như Lư Thắng Ngạn, có thể thấu đáo, rõ ràng, minh bạch."
Pháp sư Liên Thể đã kể lại với tôi câu nói này.
Lão hòa thượng Quảng Khâm nói:
"Thông, chính là thông."

Sau khi lão hòa thượng Quảng Khâm viên tịch, có người tặng tôi một tấm ảnh ông khởi linh, trên trời có ánh sáng chiếu lên cỗ quan tài của ông. Có người tặng tôi một bức tượng nhỏ của lão hòa thượng Quảng Khâm, bức tượng của ông nho nhỏ và thật sự trông rất giống ông ấy.

Bây giờ thì, vấn đề lại ở chính bức tượng nhỏ này.
Tôi giữ bức tượng này một thời gian, thỉnh thoảng nhìn đến, thấy có quang khí ở trên bức tượng, hình dạng của nó giống như ánh mắt sáng lấp lánh. Bức tượng nhỏ trở thành hai, một bức thì vẫn ngồi yên bất động, một bức khác thì trở thành quang khí, cứ rụt rụt rè rè, căng ra co lại.
Tôi cũng không bận tâm.

Có một đêm, tôi cảm thấy toàn bộ từ trường của chiếc giường đều thay đổi, cảm giác về linh khí bao trùm đó hoàn toàn không hề đơn giản, tôi tỉnh dậy.
Có một "người ánh sáng" đứng trong phòng tôi.
Tôi chăm chú nhìn ông, ông chính là lão hòa thượng Quảng Khâm.
Lão hòa thượng niệm Phật một tiếng.
"Ông đến rồi ư?" - Tôi hỏi.
"Không đến, không đi, không dấu vết!"
(Câu nói mà lão hòa thượng đáp lại tôi này chính là một câu kệ lúc lâm chung của ông.)

"Tôi có nhiều việc lắm đây!"
"Có dấu vết gì đâu!" - Lão hòa thượng vẫn nói như thế.
"Phải làm sao?" - Tôi hỏi.
"Chân chất niệm Phật!" - Lão hòa thượng nói.
Tôi chú ý đến ánh sáng trên người Quảng lão, ánh sáng này lưu động, tỏa ra bốn xung quanh, cả căn phòng không đèn mà sáng rõ.
"Là nhập lưu."
"Chính là nhập lưu."

Tôi lại chú ý đến thân thể trong vùng ánh sáng của Quảng lão, căn bản là không khí, chỉ là có đường viền mà không có máu thịt ở trong, xuất hiện ở trạng thái trong suốt. Tôi đột nhiên ngộ ra, tôi nói:
"Tự tính không minh."
Quảng lão trả lời tôi:
"Chính là tự tính không minh."

Tôi lại nói:
"Quảng lão không trở lại cõi Ta Bà nữa sao?"
Ông đáp:
"Hà tất phải để tâm vướng bận!"
Tôi hỏi lại lần ba:
"Thế là không đến nữa?"
Quảng lão đáp:
"Xuất thế cùng Phật."

Tôi chớp chớp mắt, "người ánh sáng" này từ mạnh thành yếu, chỉ còn lại một điểm, rồi cũng tiêu tan biến mất. Cả căn phòng tối trở lại, trở về nguyên như ban đầu.

Cảnh tượng này căn bản giống như nằm mơ, hơn nữa chỉ trong vài phút đã kết thúc rồi. Tôi gõ vào đầu mình vài cái, thật sự là một sự huyễn ảo, kể cho người ta nghe, người ta sẽ cười cho. Bạn nói rõ ràng là có, người ta sẽ bảo bạn là đồ thần kinh. Sau đó tôi lại ngủ tiếp.

Sáng hôm sau tỉnh dậy, tôi nhìn đến bức tượng, quang khí đã biến mất, thật sự là đã đi rồi. Tôi nghĩ, lời nói của hòa thượng Quảng Khâm rất có ý nghĩa.
"Nhập lưu" - đây chính là đã hòa nhập vào dòng chảy pháp, nhập vào dòng chảy của Thánh nhân, đây quả vị Tu-đà-hoàn của sự thực tu thực chứng.

"Tự tính không minh" - đây cũng chính là sự thanh tịnh, là diện mạo gốc, là tự tính vốn có, là quả vị Tư-đà-hàm.

" Hà tất phải để tâm vướng bận" - câu nói này cũng khó hiểu, ngẫm một hồi thì là chẳng chần chừ lần lữa, là ý rằng sẽ không trở về, không tái sinh, đây đã là quả vị A-na-hàm rồi.

"Xuất thế cùng Phật" - một Thánh giả thông thường an trụ trong thanh tịnh tịch diệt thì chỉ có vào lúc Phật xuất thế gian thì mới lại đến, tự tính vốn dĩ không tịch sẽ lại giúp đỡ truyền bá Phật pháp, đây chính là đặc tính của quả vị A-la-hán.

Chà! Cuối cùng tôi đã hiểu.
Ôi Quảng lão! Quảng lão!
Ngài đã nhập vào Tứ Thánh Giới rồi!


### 15. Hồ sơ tối mật


Ở chỗ Phật Tissa

Tại Phật Quốc vốn có hai hồ sơ tối mật:
Thứ nhất: Phật Thích Ca Mâu Ni và Phật Di Lặc.
Thứ hai: A Di Đà Phật và Liên Sinh Hoạt Phật.
Hai hồ sơ tối mật này đều được lưu giữ tại chỗ của Phật Tissa. Tuy nhiên, một điều rất rõ ràng là hai hồ sơ tối mật này đều đã bị lộ ra.

Trước tiên, chúng ta bàn về hồ sơ tối mật thứ nhất.
Phật Tissa là tên của Cổ Phật.

[ ND: Chính là Để sa Phật, Sankrit: Tiwya, Pàli: Tissa. Cũng gọi Đế sa Phật, Đề sa Phật, Bổ sa Phật, Phất sa Phật ]

Hồ sơ thứ nhất này đã được hé lộ ở trong bộ "Bà sa luận", phẩm thứ 177, viết rằng: "Như bộ kinh khắc đã nói, quá khứ có Phật, hiệu là Tissa, hoặc viết là Pusya. Vị Phật đó có hai đệ tử Bồ Tát chăm chỉ tu phạm hạnh. Một người là Thích Ca Mâu Ni, một người là Maitreya, tức Di Lặc. Khi đó, Phật quan sát hai đệ tử xem ai sẽ có được căn tính viên mãn chín muồi trước, thế rồi biết là Từ Thị [ ND: Từ Thị Bồ Tát - tức là Di Lặc Bồ Tát ] sẽ chín muồi trước, có thể an tịch trước rồi sau sẽ chín. Rồi Phật quan sát thêm về chúng sinh hữu tình mà hai vị này đã hóa thân thành xem ai sẽ có căn tính chín muồi trước, thì theo thực tế lại thấy hóa thân của Thích Ca Mâu Ni sẽ chín muồi trước.

Hồ sơ này rất cơ mật, trong hồ sơ này có huyền cơ là:

1. Ai thành Phật trước?

1. Ai sẽ hóa thân ở cõi Ta Bà trước?

Phật Tissa quan sát, sự tu hành "duy thức đại thần biến" của Di Lặc Bồ Tát đã phát huy công lực rất lớn. Còn huệ lực bát nhã của Phật Thích Ca Mâu Ni thì vẫn chưa bằng Di Lặc Bồ Tát, vì vậy hợp lý mà nói thì nên là Di Lặc Bồ Tát thành Phật trước.

Nhưng, Phật Tissa lại quan sát thấy, duyên phận của Phật Thích Ca Mâu Ni và chúng sinh sẽ chín muồi trước, nhân duyên của Di Lặc Bồ Tát và chúng sinh là sau này, cho nên Phật Thích Ca Mâu Ni sẽ hóa thân hạ sinh cõi Ta Bà trước, và hơn nữa sẽ ở tại thế giới Ta Bà mà thành Phật.

Tuy nhiên điều khó khăn nằm ở chỗ, rõ ràng là Di Lặc Bồ Tát sẽ thành Phật trước! Hai đệ tử này, ai trước ai sau đã trở thành một vấn đề lớn. Sau đó, Phật Tissa đã dùng năng lực thần thông.

Trên núi, tại Phu Ni Sư đàn, Phật Tissa đã đi vào khám Phệ Lưu Li, ngồi tư thế kiết già, nhập vào "Hỏa giới định" suốt bảy ngày bảy đêm, trải qua trạng thái hỉ lạc vi diệu, uy quang hừng hực.

Phật Thích Ca Mâu Ni đến, Phật Tissa đã dùng uy quang thần thông để gia trì cho Thích Ca Mâu Ni.

Phật Thích Ca Mâu Ni đứng một chân cảm thán [ về Phật Tissa ] một bài kệ:
Trong số những bậc đa tài trong trời đất
Trong mười phương xứ cung chư thiên thệ
Trong những bậc Trượng phu Ngưu vương đại sa môn
Tìm khắp mọi nơi chẳng có ai bằng ngài.

[ ND: Với mười đại thần lực, đấng Như Lai tự nhận mình ở địa vị của Ngưu Vương – ý rằng không ai có thể chiến thắng được ngài. Vui lòng xem thêm Đại Kinh Sư Tử Hống – (Kinh Trung Bộ) ]

Chính bởi vì Phật Tissa đã gia trì sức mạnh thần thông cho Thích Ca Mâu Ni, cho nên Phật Thích Ca Mâu Ni đã vượt qua chín kiếp, ở trước mặt Di Lặc Bồ Tát, đã đắc Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác, cũng thành Phật trước, và cũng hóa thân xuống cõi Ta Bà. Vốn dĩ Di Lặc cần thành Phật trước, nhưng kết quả lại là Phật Thích Ca Mâu Ni vượt lên trước.
Đây là một trong những hồ sơ bí mật nhất của Phật Quốc.

Về sau, Phật Thích Ca Mâu Ni ở thế giới Ta Bà đã dùng pháp môn bát nhã để quảng độ chúng sinh. Hơn nữa, Ngài đã dự đoán cơ duyên Di Lặc Bồ Tát hạ sinh, dự đoán về long hoa tam hội của Di Lặc thành Phật. Tuy nhiên, căn cứ theo lời dự đoán, thời cơ Di Lặc hạ sinh vẫn còn rất rất xa…

🌟

Cổ Liên Tiên Sinh

Trong những cuốn sách thời kì đầu tôi viết, tôi đã từng nhắc đến một vị Cổ Phật, tôi gọi là Cổ Liên Tiên Sinh. Kì thực, thân phận thực sự của Ngài chính là Phật Tissa.

Tôi (hóa thân Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) cũng nằm trong một bộ hồ sơ tối mật ở chỗ của Phật Tissa. Tuy nhiên, hồ sơ này đã không được xem là tối mật nữa vì đã được công khai ra với thế giới rồi.

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chính là hóa thân của Tây phương cực lạc thế giới A Di Đà Phật, kiếp này đổi tên là Liên Hoa Đồng Tử hạ giáng cõi Ta Bà, dùng Mật pháp để quảng độ chúng sinh.

Do vậy, trong những cuốn sách tâm linh của tôi đã nhắc đi nhắc lại những lời phó thác của A Di Đà Phật. Trên thực tế, khi mới có được thiên nhãn, tôi đã mượn "thần túc thông" để vân du khắp huyễn cảnh hư không bao la, huyễn cảnh hư không này chính là thế giới cực lạc. Liên Hoa Đồng Tử chính là A Di Đà Phật, từ lâu đã sẵn sàng bước ra nhận sứ mệnh.

Tuy nhiên vấn đề ở chỗ, sự việc này đúng hay là không đúng đây. Bởi vì kể từ khi Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn xuất đạo cho đến nay thì đã gặp phải hết những đợt khảo nghiệm này đến đợt khảo nghiệm khác, tai kiếp trùng trùng, sự phỉ báng nhận được chất cao như núi, nhấn chìm biển cả.
Giới Phật giáo không chấp nhận.
Xã hội không chấp nhận.
Bị xem là nhân vật gây nhiều tranh cãi nhất.
…………….

Lúc này, tại Phật Quốc của Tứ Thánh Giới cũng đã mở lại cuộc thảo luận. Có một nửa các vị Phật chủ trương triệu hồi Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn về thiên thượng giới, tiêu hủy hồ sơ tối mật. Một khi đã dùng lửa trời để đốt cháy hết rồi thì xem như sẽ không có chuyện gì nữa.

Nói cách khác là, Liên Sinh Hoạt Phật đi thực tập bất lợi, không có cách nào đạt được mục đích độ hóa chúng sinh, chi bằng triệu hồi trở về.
Triệu hồi thì có nghĩa là chết.
Hội nghị cơ mật của đại pháp đường chư Phật toàn bộ đều hóa đốt.
Làm như vậy thì tất cả sẽ xong xuôi hết.

Ý kiến của chư Phật là muốn nói rằng:
"Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn là do chư Phật tiến cử, phái xuống thế giới Ta Bà để độ hóa chúng sinh, nhưng nay ngược lại lại dẫn đến những sự dội ngược từ giới Phật giáo. Đặc biệt là Lư Thắng Ngạn vừa là A Di Đà Phật chuyển thế, chúng sinh niệm danh hiệu của Phật nhưng lại vừa giết Phật, như vậy thì cực kì không tốt. Thế nhân căn bản là những con người không có huệ nhãn, thả rông cái ác, giết hại cái thiện, giữa chính và tà đã hỗn loạn nhập nhằng hết cả. Như vậy thì sẽ cực kì tổn hại đối với thanh danh lẫy lừng của A Di Đà Phật."
Vì thế, quyết định triệu hồi.

Duy có Phật Tissa nói như thế này:
Để cho Phật Tissa hạ phàm, hóa danh là Cổ Liên Tiên Sinh, gia trì cho công lực của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, để cho chính ngài vượt qua được cảnh khốn cùng, mau chóng khai ngộ.

Để cho Phật Tissa dẫn dắt, để cho ngài chuyển ra nước ngoài, khiến giới Phật giáo mất đi mục tiêu công kích vào ngài, để cho ngài phát triển mạnh ở nước ngoài, nhờ đó mà giữ được thọ mạng của ngài.

Để Phật Tissa hướng dẫn:
"Hỏa giới định."
"Thành tựu cầu vồng."
"Vô tu du già."
"Vô niệm."

Phật Tissa nói:
"Nếu như triệu hồi Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn thì chẳng phải là thừa nhận thắng lợi của Thiên Ma sao, sẽ khiến cho [ đối với chúng sinh ] danh dự cao quý của Phật tổn thất nặng nề. Nếu như Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn trong đời sống này có thể chứng được minh - không, chứng vô sinh sinh, chứng thân ngoại hữu thân, chứng vô tu là tu, thì không cần phải triệu hồi nữa."

Sau này, tôi nghiêm túc tinh tấn thực tu:
Thực trụ đại thủ ấn.
Không lạc đại thủ ấn.
Hằng hà đại thủ ấn.
Viên mãn đại thủ ấn.

Phật Tissa nhận định tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) đã chứng được minh - không, vô sinh sinh, thân ngoại hữu thân, vô tu là tu. Vô minh đã trừ bỏ, phiền não đã cạn tận, đã đắc Vô trụ niết bàn đại thủ ấn, công đức viên mãn.

Phật Thích Ca Mâu Ni thọ kí tôi là: "Hoa Quang Tự Tại Phật."
Do vậy, tôi vẫn chưa được triệu hồi.
Nhiệm vụ và sứ mệnh của tôi vẫn có thể tiếp tục.
Đây chính là hồ sơ tối mật đó!


### 16. Gián điệp đến từ Phật quốc


Tự ngã định hình

Tôi rất hoan hỉ khi bản thân sống một mình tại một căn phòng nhỏ và rất tối, tự mình minh tưởng một vài sự tình, tôi nghĩ xem bản thân mình là cái gì?

Tôi được chư Phật phái xuống thế giới Ta Bà!
Tôi phải thay tên đổi tính để che giấu thân phận!
Có một nhiệm vụ đặc biệt!
Có quyền lợi và pháp lực lớn vô hạn!
Làm việc rất gian khổ!
Sự cản trở và chướng ngại vô hạn!

Tôi nghĩ, tôi đây chẳng phải là gián điệp đến từ Phật quốc thì là cái gì? Nhiệm vụ của tôi là khai phá Phật tính của nhân loại, dùng pháp môn đặc biệt để giúp hiển lộ Phật tính của nhân loại, sau đó tiếp ứng họ đến Phật quốc.

Tôi thật sự nghĩ bản thân là gián điệp. Tôi dùng tên hiệu là Liên Hoa Đồng Tử để ẩn núp ở nhân gian, tôi dùng nhãn quang sắc bén để quan sát giới Phật giáo. Tôi tự cảm thấy một gián điệp như mình đây thật sự quá vĩ đại, tôi có ảnh hưởng giống như một anh hùng vô danh của toàn thế giới vậy.

Nhiệm vụ này không phải là để phục vụ cho một đất nước, mà là phục vụ cho toàn nhân loại. Những sự nghiệp mà các bậc hiền nhân trước đây đã làm toàn bộ đều đặt lên đôi vai tôi, chỉ có nhiệm vụ của tôi mới là chân thực, mới là thực tế, các đại sư khác đều quá lơ là rồi.

Người gián điệp tôi đây luôn phải chuẩn bị cho sự hi sinh, công việc rõ ràng là rất gian khổ. Tôi nghĩ, mình đã bị vận mệnh gắn với vai trò là con tốt qua sông, con tốt qua sông thì chỉ có cách tiến lên trước.

[ ND: Trong bàn cờ tướng, khi con tốt/binh đã qua sông thì không thể quay trở lại được ]

🌟

Giáo đoàn hùng mạnh

Các tín đồ Phật giáo ở Đài Loan biểu hiện bên ngoài thì vô cùng hưng thịnh, nhưng trên thực tế thì biến tướng khắp nơi. Phật giáo ở vào đỉnh của thời kì vàng, nhưng an ninh công cộng thì ngày một suy đồi, lòng người bại hoại, việc này là sao đây? Sự lý thú của Phật giáo không còn nằm ở tận gốc rễ, mà chỉ còn ở những biểu hiện bề mặt, giống như trồng cây trên cát, vô cùng nông cạn ngờ nghệch!

Đầy rẫy các "đỉnh núi" Phật giáo, các giáo đoàn Phật giáo cùng tranh giành quyền lực, đã bẻ gãy biểu tượng của Phật giáo, còn những việc đã làm thì vẫn chưa triển khai vào việc hiển lộ Phật tính.

Chúng ta không thể phủi tay phủ nhận các đoàn thể hùng mạnh đang hoằng dương đủ loại hình hoạt động của phương diện Phật pháp. Tuy nhiên, trong con mắt gián điệp là tôi đây, bọn họ vẫn luôn chỉ có chăm chăm thiên về Phật giáo nhân gian. Cái họ làm là pháp nhập thế, hơn nữa lại càng ngày càng nhập thế, tinh thần xuất thế càng ngày càng không còn nữa.

Lấy Sơn Đầu Đại Vương Tinh Vân Đại Sư làm ví dụ:
Tổ chức hoành tráng.
Tuyên truyền hoành tráng.
Phe phái hoành tráng.
Tiền tài hoành tráng.
Chính trị hoành tráng.

Sự kì vọng gần đây của Tinh Vân Đại Sư là: "Phật Quang Hội thế giới sẽ trở thành một đại xã đoàn số một mang tính quốc tế." Ở đây ám chỉ rằng muốn qua mặt cả hội Rotary, hội Sư Tử, hội Đồng Tế, hội Thanh Thương, v.v… đương nhiên là càng muốn qua mặt hội công đức Từ Tế.

Tinh Vân Đại Sư có thể thành tựu được "Thế giới quốc tế đệ nhất đại xã đoàn", điều này không có gì phải nghi ngờ.
Sức mạnh tài chính của Tinh Vân Đại Sư có thể đào tạo được rất nhiều cử nhân Phật học, thạc sĩ Phật học, tiến sĩ Phật học, việc này cũng không có gì phải nghi ngờ.
Tinh Vân Đại Sư muốn đạt được giải Nobel Hòa Bình, chịu khó chờ lâu một chút thì cũng có thể đạt được.
Tinh Vân Đại Sư đào tạo tổng thống quốc gia, cũng cho thấy năng lực của ông ấy.
Tinh Vân Đại Sư xây dựng vương quốc tôn giáo là hoàn toàn có khả năng.

Gián điệp đến từ Phật Quốc tôi đây chỉ muốn bình luận về ông ta là:
"Những thứ này đều là lãng phí vô ích."
"Tinh Vân Đại Sư là ông rốt cục đã dạy được bao nhiêu đệ tử hiển lộ được Phật tính?"

Không phải là bao nhiêu người đạt được tiến sĩ Phật học!
Mà là hiển lộ Phật tính!

Còn bản thân ông thì sao? Ông đã kiến tính hay chưa? Minh tâm hay chưa? Tự chủ sinh tử hay chưa? Không phải là tự mình thành lập vương quốc tôn giáo thì coi mình như là tông phái Phật giáo số một đâu!

🌟

Từ thiện cứu tế thế giới

Tổ chức từ thiện cứu tế thế giới của pháp sư Chứng Nghiêm cũng là một giáo đoàn hùng mạnh. Sự phát triển của giáo đoàn này được gọi là bản sao của nữ tu Theresa của Thiên Chúa Giáo Ấn Độ. Nữ tu Theresa đã đạt được giải Nobel Hòa Bình, pháp sư Chứng Nghiêm cũng đã hết sức nỗ lực theo gót.

Nữ tu Theresa đã dựa vào thanh danh của chính mình để hiệu triệu chúng sinh làm việc thiện, thế nhân đều biết đến tên bà, những việc bà làm là bố thí ba-la-mật.

Những việc pháp sư Chứng Nghiêm làm cũng giống như vậy, chính là bố thí ba-la-mật.

Trong Phật pháp, bố thí ba-la-mật được xếp thứ nhất trong số 10 ba-la-mật, 10 ba-la-mật này cũng phân biệt bởi mười vị Bồ Tát, có mặt trong hư không tạng viện trên mandala Thai Tạng Giới. Tên gọi của 10 ba-la-mật Bồ Tát như sau:
• Bố Thí ba-la-mật.
• Giới ba-la-mật.
• Nhẫn Nhục ba-la-mật.
• Tinh Tấn ba-la-mật.
• Thiền ba-la-mật.
• Bát Nhã ba-la-mật.
• Phương Tiện ba-la-mật.
• Nguyện ba-la-mật.
• Lực ba-la-mật.
• Trí ba-la-mật.

Trong bố thí ba-la-mật lại có ba loại:
• Bố thí tiền.
• Bố thí pháp.
• Bố thí sự không sợ hãi.

Gián điệp đến từ Phật quốc là tôi đây đương nhiên biết rõ vị cao linh ở sau lưng của bà ấy. Đối với bốn tham vọng sự nghiệp lớn mà bà theo đuổi, tôi không có gì phản đối. Con đường mà pháp sư Chứng Nghiêm đã đi vẫn là Phật giáo nhân gian, chúng sinh theo bước chân của bà mà đi tế bần cứu khó, đi xây dựng bệnh viện, trường học…

Tôi từng nghe nội dung bài thuyết pháp của pháp sư Chứng Nghiêm, nói về những nỗ lực trong việc bố thí từ thiện, đạo lý làm người, trong số 10 ba-la-mật cũng đã có được nguyện ba-la-mật, lực ba-la-mật, phương tiện ba-la-mật.

Tôi quan sát bà ấy thì thấy thiếu mất thiền ba-la-mật, bát nhã ba-la-mật, trí ba-la-mật, những thứ khác thì cũng tàm tạm.

Nếu như pháp sư Chứng Nghiêm có thể thâm nhập thiền định, có được toàn bộ Phật trí của thập phương Phật, tu trì nội pháp, đắc được thậm thâm bát nhã, tự mình khai mở hiển lộ Như Lai chân trí, rồi dùng pháp tu trì của chính mình để dạy lại cho chúng sinh tu trì thì đây mới là sự khai ngộ "thực tế", không phải là sự khai ngộ "lý thuyết".

Nói thẳng ra, tổ chức từ thiện cứu tế thế giới của pháp sư Chứng Nghiêm đã thành công, bố thí ba-la-mật cũng cực kì thành công, chúng sinh phát thiện tâm, phát bồ đề tâm từ bi hỉ xả, đây đều là những việc vô cùng tốt.

Tuy nhiên, một câu nói quan trọng nhất là:
Thế giới Ta Bà này là hư huyễn, không phải là vĩnh viễn. Công đức của Lương Võ Đế năm xưa ở đâu? Do vậy, pháp xuất thế cũng rất quan trọng đó! Nhập thế, xuất thế đều quan trọng như nhau!

Trong mắt tôi, trái đất là một hạt cát.
Công đức ở đâu?
Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác mới là báu vật vô giá chân chính.


### 17. Khẩu quyết bí mật về Nhị quán


Bài giảng của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn trong pháp hội tại Singapore.

Các vị Thượng sư, pháp sư, các vị đồng môn:
Good morning [xin chào], và Happy New Year [chúc mừng năm mới]
(Vỗ tay)

Vốn dĩ tôi cho rằng buổi sáng hôm nay sẽ chỉ còn lại khoảng mấy trăm người. (Chú thích: pháp hội được tổ chức vào buổi tối hôm trước ở Singapore, hội trường IMM có thể chứa được 20 nghìn người.) Thế nhưng không ngờ đến bây giờ mọi người vẫn ngồi chật kín ở đây. (Vỗ tay) Buổi sáng hôm nay, tôi sẽ kể cho mọi người nghe một chút về những điểm quan trọng khi trong quá khứ tôi tu chuyết hỏa định và cả một số tâm đắc của bản thân tôi về tu học Nội pháp. Bài nói chuyện này của tôi sẽ là tôi nghĩ gì thì nói đấy, tôi nghĩ đến tu như thế nào, tâm yếu, khẩu quyết thế nào thì tôi sẽ nói ra như thế, không có trình tự, cũng không theo một sự quy củ nào cả, hy vọng sau khi các bạn nghe xong, sẽ cảm thấy có được một chút những tâm yếu và khẩu quyết mà Sư Tôn truyền thụ. (Vỗ tay)

🌟

Bốn quán đảnh của Mật giáo

Trang tin của hãng thông tấn Viên Chứng vào thời gian này (tháng 10/1995) đã nhắc đến Nội pháp, ngay trang nhất đã đăng bài Sư Tôn giảng về Nội pháp. Nội pháp kì thực chính là Nhị quán, trong Mật giáo là quán đảnh xếp thứ hai. Xếp thứ nhất chính là Ngoại pháp, xếp thứ hai chính là Nội pháp, xếp thứ ba gọi là Mật pháp, xếp thứ tư gọi là Mật mật pháp. Rốt cục thì bốn quán đảnh này chủ yếu là tu cái gì?

Trước đây tôi đã nói rồi, quán đảnh thứ nhất là tu quán, chính là tu ý niệm của bạn, quán tưởng của bạn, tư duy của bạn, suy nghĩ của bạn, đây gọi là tu quán.

Thứ hai là Nội pháp, tôi cho rằng nó nằm ở việc tu khí. Khí là vô hình, nhưng có thể hiển hiện trên thân thể bạn thì đây gọi là Nội pháp, chủ yếu là nằm ở việc tu khí.

Thứ ba là Mật pháp, chính là pháp kim cang và phạm vi của vô thượng mật, đó là tu dục, là dục niệm. Mỗi người chúng ta đều có dục vọng, chính là nói đến cái dục này.

Thứ tư là Mật mật pháp, tầng quán đảnh thứ tư là tu tính Không. Người học Phật chúng ta đều biết rằng Phật Đà nói về tính Không, do vậy người xuất gia được gọi là tiến nhập Không môn, nghĩa là bạn xuất gia thì chủ yếu là tu tính Không. Những thứ trên thế giới này vì sao gọi là đại viên mãn? Là bởi vì không khí bao trùm tất cả mọi thứ, do vậy gọi là đại viên mãn. Trên đây là bốn quán đảnh của Mật giáo.

Tối hôm qua tôi đã nói rằng Nhị quán là tu khí, bởi vì bạn có thể tu khí được thì mới có thể đi tiếp vào vô thượng mật. Bởi vì trong vô thượng mật, bạn tiếp tục phát triển nâng cao hơn thì mới đạt đến đại viên mãn. Do vậy, Nhị quán là điểm chính của Mật pháp. Tổ Sư của chúng ta đã từng nói như thế này, Tam Bảo của Hiển giáo là Phật - Pháp - Tăng, Tam Bảo của Mật giáo là Khí - Mạch - Điểm. Giữa Hiển và Mật có những điểm khác nhau. Hiển giáo là tu quán, đây là Ngoại pháp của Mật giáo thông thường, đều thuộc về phạm vị của Hiển giáo. Nhưng nội chứng tam muội trong phạm vi của Mật giáo thì khi bạn nội chứng được Mật giáo tam muội rồi thì bạn có thể hiển xuất ra được thần và khí của bản thân. Đây chính là điều khác biệt của tu hành Mật giáo. Ngày hôm nay tôi đặc biệt nói chuyện với mọi người về Nhị quán, về mối quan hệ giữa bản thân Nội pháp, chuyết hỏa, minh điểm, vô lậu.

Còn nhớ vào tháng trước tôi đã đi Hawaii, Sư Tôn đã "hạ hải" [nghĩa là xuống biển bơi] ba ngày. "Hạ hải" không phải là làm kỹ nữ đâu nhé. (cười) [hạ hải trong tiếng Đài Loan còn là từ lóng, có nghĩa là dấn thân làm kỹ nữ, gái điếm]

Tôi xuống biển là để đi *swimming*, là đi bơi. Có mấy đồng môn đi cùng, mọi người bèn cùng thi, họ thi cái gì? Thi lặn. Thi lặn là làm cái gì? Chính là thi xem ai có thể ở dưới nước được lâu nhất. Mọi người nghĩ xem ai đã thắng?
(Có người đáp "Sư Tôn".)
Sao lại nói nhỏ thế nhỉ?
(Mọi người hét lớn trả lời "Sư Tôn" và vỗ tay.)

Thực sự là Sư Tôn đã chiến thắng (vỗ tay), lặn dưới nước lâu nhất. Đây là vì bạn đã tu Bảo bình khí đến khi đã chứng nghiệm được thì bạn có thể ngừng thở được rất lâu.

🌟

Thở - nguồn gốc của tuổi thọ

Việc thở rất quan trọng. Khi thân thể bạn có khí thì cái thần của bạn sẽ hiển hiện ra, trên mặt người sẽ có ánh sáng, cảm giác của bạn cũng sẽ khác đi. Khi thân thể bạn không có khí, bạn sẽ giống như bánh xe xẹp lép. Không có khí, bạn sẽ cảm thấy cả con người mình mệt mỏi, rất uể oải. Ngày nay, nhìn chung là tu Hiển giáo thì không chắc là bạn sẽ có cảm giác thấy gì, cảm giác cũng không đến được cái gì cả. Còn tu Mật giáo thì chắc chắn sẽ có cảm giác bên trong thân thể có một luồng khí, luồng khí này là không ngừng sinh ra và dùng không hết. Nhị quán chính là tu luồng khí này.

Trong Mật giáo có nói đến rồi, bạn có nhớ trong cuốn "Diêu Trì Kim Mẫu giải thoát chân kinh" có viết: khí từ đâu đi vào thì bạn sẽ thu hồi khí từ chỗ đó. Nếu bạn có thể khiến cho khí của bạn bảo tồn được mà không thoát ra ngoài, không mất đi, làm cho thần và khí bên trong thân thể của chính bạn không rò rỉ ra ngoài, hoàn toàn bảo trì được thì cũng chính là cách để kéo dài tuổi thọ, làm cơ thể chắc khỏe. Hơn nữa, trong Mật giáo dạy bạn tu Nội pháp, chính là dạy bạn cách sống lâu khỏe mạnh. Bạn có thể sống lâu, bạn có thể giữ chắc được tinh, khí, thần của cơ thể chính mình, thì bạn có thể sống lâu khỏe mạnh, có thể tự do làm gì tùy ý, có thể lợi dụng thân thể xương thịt này để tu hành cho tốt, không chỉ là tu tính mà còn cả tu mệnh, gọi là "tính mệnh song tu". (vỗ tay)

🌟

Tu trì vô lậu và khí, mạch, minh điểm

Vậy thì, thế nào là không lậu? Làm sao để không lậu? Chúng ta ngày nào cũng đều lậu cả, sự lậu này có cái là hữu hình, có cái là vô hình. Trên phương diện vô hình, bạn phiền não thì chính là có lậu, bạn nghĩ quá nhiều cũng chính là lậu, suy nghĩ không thanh tịnh cũng là lậu, bạn toát mồ hôi, bài tiết cũng chính là lậu.

Tôi nói như vậy, bạn thử chú ý đến bản thân bạn, thân tâm bạn nếu như có lậu, bao gồm thân lậu, tâm lậu, khẩu lậu, ý lậu, suy nghĩ cũng sẽ có lậu. Vậy thì trong nội pháp của Nhị quán, bạn cần bảo trì cho thân tâm chính mình vô lậu, phải bảo trì được rất tốt, thân khẩu ý của bạn đều cần phải vô lậu, làm được như vậy thì tinh, khí, thần của bạn mới có thể vĩnh viễn được giữ chặt. Khi bạn luyện tập Nội pháp sẽ sản sinh ra quang minh, có thể phóng tỏa ánh sáng mạnh mẽ, thậm chí là dùng ánh sáng trên thân bạn để mà đi gặp và tương ứng với ánh sáng của vũ trụ.

Người tu hành đôi khi sẽ tịnh khẩu, nguyên nhân của việc tịnh khẩu là để bế khí. Mọi người thấy Sư Tôn nói rất nhiều, người nói nhiều rất khó tránh khỏi việc bị lậu, nhưng Sư Tôn khi nào nên nói thì mới nói, khi không nên nói thì không nói. Bình thường tôi nói những điều có ý nghĩa, những điều không có ý nghĩa tôi không nói. Nói quá nhiều cũng là một dạng rò rỉ khí, đây là rò rỉ từ miệng.

Vậy còn sự rò rỉ từ thân, mọi người đều biết, nam tinh nữ huyết, đây chính là lậu. Nếu tu hành Nhị quán đến pháp vô lậu thì phụ nữ sẽ không còn chảy máu, đàn ông thì sẽ không còn xuất tinh, những điều này chúng ta gọi là Bạch bồ đề và Hồng bồ đề. Bạch bồ đề chính là minh điểm, Hồng bồ đề cũng là minh điểm.

Chúng ta làm một thực nghiệm, dùng ống hút để hút đầy nước bên trong, sau đó từ từ ấn giữ một đầu, ấn chặt, ấn một đầu ống hút, thế là xong, bên trong vẫn còn nước, không hề chuyển động, đây là một phương pháp. Do vậy, trong "Tát già lục thế biến" có nhắc đến rằng, đầu của bạn ấn ép xuống họng, ép xuống, thì cũng giống như bóp chặt khí quản lại, đây chính là một trong những pháp vô lậu của "Tát già lục thế biến". Đây chính là một khẩu quyết đó! Ấn vào điểm họng, lúc này chính là ấn giữ đầu trên của ống trung mạch, bạn cứ giữ được như vậy, giữ vững được minh điểm, đây chính là khẩu quyết rất quan trọng.

Sau đó, bạn cần đẩy nước lên trên, đẩy lên trên. Bạn biết cái máy bơm ở nông thôn ngày xưa đó! Bơm cái này để mồi nước, ấn xuống thế này, thì nước sẽ nâng lên trên, nước dâng lên rồi thì sẽ từ cái miệng này chảy ra ngoài. Nhưng Sư Tôn thì thỉnh thoảng làm thế này, thân thể hơi vặn một chút, phần dưới bất động, chỉ có phần trên cử động, sau đó đầu quay trái phải (Sư Tôn thị phạm). Làm như thế này chính là có tác dụng bơm, chính là ép cho nước ở phía dưới đi lên trên, đây cũng là khẩu quyết.

Khẩu quyết này vô cùng quan trọng, thế là tôi đã dạy các bạn hai khẩu quyết rồi: khẩu quyết thứ nhất là bạn ấn giữ ống mạch, nước có thể dâng lên mà không rò rỉ mất; khẩu quyết thứ hai là, không chỉ dừng lại ở đó, mà còn phải đẩy lên trên, làm như vậy có thể đưa minh điểm trong trung mạch di chuyển thẳng lên trên, đây là điểm thứ hai trong "Tát già lục thế biến", là ý nghĩa số một trong pháp nâng lên.

Thân thể con người chúng ta có lậu, rò rỉ hết thì tức là chết, đến cuối cùng thì chẳng còn gì nữa, chính là đi đời. Nếu bạn có thể giữ vững tinh thần khí, hơn nữa còn có thể làm nó thăng hoa, biến thành khói, biến thành nhiệt, sau đó lại tập trung lại, lại cô đặc lại, lại hóa thành một điểm của thân thể… Khi tu hành, trong quá trình tu pháp, Nhị quán là rất bí mật. Bởi vì bản thân có cách nâng lên thì mới có thể giữ vững được. Tổ sư từng nói về "giáng" - là rơi xuống, "đề" - là nâng lên, "trì" - chính là có thể giữ điểm đó ở trên cao, "tán" - nghĩa là phân bố khắp toàn thân, đây chính là "giáng, đề, trì, tán".

Trước đây khi học pháp này, tôi đều lấy toàn bộ tiền lương hàng tháng của mình cúng dường cho thầy của mình. Thượng sư sẽ luôn dạy bạn khẩu quyết quan trọng, điểm quan trọng của nó nằm ở đâu, thân thể chuyển động như thế nào, ý niệm cần quan sát thế nào. Chuyển động của thân thể chính là kim cang quyền, ý niệm cần quan sát thế nào, còn có cả chính bạn cần trải nghiệm thế nào, đi nghiên cứu đạo lý của bản thân sự trải nghiệm đó, cái này đều vô cùng quan trọng. Trước đây, khi sư phụ dạy chúng tôi đã dạy hết sức tỉ mỉ, vô cùng tường tận. Ví dụ như minh điểm đi đến đâu thì sẽ cần phải làm gì. Minh điểm chạy đến chỗ nào thì sẽ cần phải làm thế nào. Cần phối hợp với ngoại công kim cang quyền của bạn, kim cang quyền cùng với minh điểm của bạn, một cái là bên ngoài, một cái là bên trong, hai thứ cùng phối hợp với nhau thì bạn có thể khiến minh điểm sản sinh ra một loại tác dụng, loại tác dụng này chính là có thể khiến thân thể của bạn có được lợi ích rất tốt.

🌟

Nhị quán Nội pháp – nới lỏng năm luân xa

Trước đây, sư phụ đã dạy chúng tôi rất tỉ mỉ, rất cụ thể. Thầy nói, việc hít thở của con người thông thường thì chỉ hít thở ở mũi và họng mà thôi. Tuy nhiên, việc hít thở của người tu Nội pháp chúng ta thì nhất định cần phải hít thở đến đan điền, hít thở chắc chắn cần phải đến đan điền. Sư phụ tôi nói, đan điền này vẫn chỉ được coi như là điểm trung gian thôi, nay việc hít thở của các trò là cần phải hít thở xuống đến tận gót chân, xuống đến tận đầu ngón chân của các trò. Điều mà sư phụ tôi dạy chính là khẩu quyết. Bạn không làm được như thế thì phải làm sao? Thì dùng suy ý để dẫn dắt hơi thở xuống đến tận đầu ngón chân.

Mọi người đều biết, việc hít thở của Nội pháp cần đi qua phổi, đi qua trung mạch, mạch trái phải, xuống đến tận đan điền. Có hại gì đâu khi bạn dẫn hơi thở xuống đến tận mật luân, có thể làm được không? Bạn dẫn khí hơi thở xuống đến tận đầu ngón chân, có thể làm được không? Đây là một khẩu quyết, giờ thì tôi đã lại dạy cho bạn rất nhiều khẩu quyết rồi đó!

Chúng sinh thông thường hít thở chỉ ở giữa vùng mũi và họng, sự hít thở của hành giả phải đến tận gót chân của mình, đương nhiên sẽ bao gồm cả mật luân, hạ đan điền. Điều này sẽ giúp cho toàn thân bạn đâu đâu cũng đều có khí lực, có khí và có lực. Hôm nay bạn hãy học cách hít thở trước, dẫn hơi thở của bạn đến mật luân, đến hạ đan điền, đến gót chân. Bạn có thể vận chuyển khí đến gót chân của bạn thì đã thành công một nửa rồi. Việc hít thở của bạn chỉ ở mũi và họng thì bạn cũng không khác gì con người thế gian, cuối cùng cũng chết, cũng đi đời, sẽ chẳng có thành tựu gì cả. Tu Nội pháp hoàn toàn nằm ở hơi thở. Lúc trước tôi nói là toàn bộ hơi thở chỉ xuống đến hạ đan điền, hôm nay tôi nói với mọi người thêm một khẩu quyết rất quan trọng, đó là đưa hơi thở của bạn đến mật luân, đến gót chân.

Vẫn có nhiều người nói rằng “nhưng đệ tử bị viêm khí quản, hệ thống tiêu hóa của tôi không tốt, đệ tử hít thở không thông suốt”, nếu vậy thì bạn nhất định càng cần luyện tập hơi thở cho tốt. (vỗ tay) Sau này mọi người đều cần phải học kim cang quyền, kim cang quyền là cái gì? Kim cang quyền là làm mềm, thả lỏng toàn bộ vi huyết quản và dây thần kinh, khí mạch, khí huyết của thân thể và tất cả những nơi khí huyết di chuyển tới suốt từ đầu đến gót chân, khiến cho tất cả đều thông. (vỗ tay)

Tôi đã từng kể, có ba ông lão đã rất già đến hơn trăm tuổi đang làm ruộng ngoài đồng. Có một người tu hành đi đến, cảm thấy rất kỳ lạ, vì sao ba ông lão nào có thể sống lâu đến vậy? Là nguyên nhân gì? Bèn hỏi một ông lão, vì sao ông lại sống lâu được như thế? Ông trả lời rất hay, bởi vì bà vợ của tôi rất xấu xí. (vỗ tay) Ồ lạ nhỉ, nói là vợ rất xấu xí thì mọi người đều vỗ tay, lẽ nào vợ của các anh đều rất xấu sao? Ha ha ha! (Sư Tôn cười)

Vợ xấu, do vậy ông ta mới sống lâu, là vì sao? Bởi vì ông ta lậu ít. Vợ của bạn quá xinh đẹp, bạn thấy đẹp thì trong lòng thích thú - anh hùng bản sắc - anh hùng vốn dĩ là háo sắc. Vợ anh mà xinh đẹp thì anh sẽ lậu nhiều hơn người khác, làm sao anh có thể sống lâu được đây? Bởi vậy, ông lão này nói bởi vì bà vợ của ông rất xấu, nhìn đã thấy không ưa nổi, không thể chủ động đến gần thân mật được, thế nên lậu ít hơn người khác, nên ông lão sống lâu. Có lý, điều này chính là vô lậu, bởi vì bạn vô lậu nên mới sống lâu.

Người tu hành lại đi hỏi ông lão thứ hai xem vì sao sống được đến hơn trăm tuổi. Ông lão thứ hai nói, mỗi buổi tối khi đi ngủ, tôi đều để hở mũi ở bên ngoài chăn, hít thở rất dễ dàng. Đây chính là nói về sự thông khí, khí của bạn có thể thông suốt thì sẽ sống lâu, khí của bạn không thông thì coi như xong. Hôm nay tôi nói cho mọi người biết, khí vào, khí ra đều thông suốt thì thân thể sẽ khỏe mạnh. Nay nếu khí vào khí ra của bạn không tốt thì sẽ có bệnh, khí bị chặn lại. Nếu khí của bạn không thể vào, chỉ có khí đi ra mà không có khí đi vào, thì sớm muộn gì bạn cũng sẽ chết rất nhanh. Do vậy, khí vào - khí ra chính là một phương pháp trường sinh, bạn đã hiểu chưa?

Khí thông thì mọi thứ đều thuận, khí không thông thì sẽ dừng lại, tắc nghẽn, trăm bệnh phát ra, trong Đông y gọi là "khí huyết bất thông". Bạn đau ở chỗ nào thì đảm bảo ở chỗ đó khí huyết không thông. Chỗ nào có bệnh thì chỗ đó chính là khí huyết không thông. Nếu khí của bạn đều thông thuận thì mắt sẽ sáng. Nếu tai không bị nghẽn thì tai bạn thông, mũi bạn hít thở rất trơn tru thì mũi bạn thông. Các cơ quan bài tiết, cơ quan tiêu hóa, toàn thể "câu lạc bộ" ngũ tạng đều vô cùng trơn tru thì chính là thông khí, thông khí thì sẽ sống lâu.

Người tu hành hỏi ông lão thứ ba: "Làm sao ông sống lâu vậy?" Ông lão thứ ba trả lời: "Hàng ngày tôi đều “exercise”, đều vận động." Tôi nói cho mọi người biết, luyện tập này là kim cang quyền. Hàng ngày bạn cần vận động, thả lỏng năm luân xa của bạn, các luân xa trên thân đều cần mềm và lỏng, tất cả khí huyết cực kì thịnh vượng, thì sẽ giữ được sự vô lậu của bản thân, đây là cách sống lâu khỏe mạnh.

Hôm nay tôi lại nói với mọi người về nền tảng của tu Nội pháp. Thứ nhất, nhất định cần vô lậu. Thứ hai, nhất định cần thông khí. Thứ ba, cần thả lỏng năm luân xa, toàn bộ mạch luân trên thân đều được thả lỏng, đều được làm mềm. Khi cần cứng thì cứng, cứng rồi thì rất cương chắc, khi cần mềm thì mềm, giữa mềm và cứng cần điều chỉnh vừa đủ, đây chính là cơ sở của Nội pháp. Trong nội pháp, việc điều chỉnh thân thể bạn chính là làm như thế này, bạn không được lười đâu!

🌟

Luyện kim cang quyền

Các bạn biết rằng mỗi buổi sáng Sư Tôn đều đánh kim cang quyền. Khi ở khách sạn, sáng sớm các bạn đừng có đến gõ cửa phòng Sư Tôn, bởi vì khi đó tôi đang bận đánh kim cang quyền, lúc đó mà bạn bước vào phòng thì nắm đấm này của tôi tung ra một cái là đấm trúng mũi bạn bẹp dí luôn đó. (mọi người cười)

Đồng thời, trong lúc luyện kim cang quyền, trong phòng sẽ phát ra tiếng binh binh bang bang. Khi tôi đánh kim cang quyền, các bạn đừng khởi tâm nghi ngờ Sư Tôn đang làm cái gì thế nhỉ? Vì sao trong phòng lại có âm thanh vọng ra như thế? Cửa lại còn đóng chặt, các bạn cũng đừng tìm cách nhìn trộm đấy nhé! Bởi vì khi Sư Tôn đánh kim cang quyền thì tôi không mặc gì hết! Do vậy thôi thích ở một mình một phòng, vì tôi có thói quen đánh kim cang quyền, nếu có thị giả ở cùng thì không tiện lắm, nên tôi ở một mình một phòng.

Vì sao cần cởi hết quần áo để đánh kim cang quyền? Bởi vì khí trên thân thể tôi cần đến được tận bề mặt của da, nếu tôi có mặc quần áo hay đeo thêm đồ gì trên người, hoặc đi giày dép, thì khi khí đi đến sẽ bị chặn lại! Khí sẽ bị nghẽn lại. Do vậy khi bạn luyện kim cang quyền, tốt nhất là "trần như nhộng". (mọi người cười) Thế nhưng bạn đừng có đi ra ngoài đường mà luyện kim cang quyền đấy nhé (cười), hoặc ở những nơi công cộng mà luyện kim cang quyền thì không được, bạn sẽ bị bắt đi đó.

Bởi vì quần áo sẽ chặn sự lưu thông của những lỗ khí trên da, hơn nữa đeo thắt lưng cũng sẽ ảnh hưởng đến sự lưu thông của khí. Nếu như toàn thân bạn đều trần trụi thì khí có thể tự do ra vào, hít thở qua da. Người tu hành chúng ta tu đến cuối cùng thì sẽ đều như vậy, việc hít thở không còn chỉ là ở mũi, cũng không phải hít thở từ miệng, mà sẽ trở thành hít thở từ bề mặt da đó! Khí từ lỗ chân lông thoát ra, cũng có thể từ lỗ chân lông mà đi vào, điều này rất khác biệt! Đến lúc này thì việc hít thở của chúng ta đã rất vi tế rồi, vi tế đến mức gần giống như thai tức, hơi thở mạnh phát ra có thể biến thành cơn cuồng phong, “*super wind”*, bạn thật sự có thể thở mạnh ra, biến thành cơn cuồng phong “*super wind”*, còn hít vào thì trở thành thai tức.

[Thai tức, trong Đạo giáo là phép hít thở như còn ở trong bào thai mẹ.]

🌟

Bảo bình khí và bất lậu minh điểm

Tôi dạy mọi người tu Bảo bình khí là dạy mọi người trước tiên cần hiểu cách giữ khí và tán khí, luyện tập cho khí của bạn ở khắp toàn thân, đến đầu ngón chân, đầu ngón tay, bất kì chỗ nào cũng đều có khí chạy đến. Sau đó lại dạy bạn về pháp vô lậu! Theo quy tắc mà làm thì bạn sẽ không được ham dục, dục niệm quá đà thì cũng giống như vợ quá xinh đẹp vậy! Hoặc chồng quá đẹp trai vậy! Đều không phải là điều tốt. Cần xấp xỉ ở mức như Sư Tôn thì tốt hơn chút (mọi người vỗ tay), Sư Tôn thì thấp thấp, lại có phần hơi béo, ngũ quan thì cũng bình thường, diện mạo cũng không phải là quá xuất chúng. Có rất nhiều phụ nữ xinh đẹp xuất chúng, rất nhiều đàn ông cao lớn đẹp trai, những người này đều cần mua bảo hiểm, bởi vì họ đều không được an toàn, không an toàn vì sẽ khiến rất nhiều người khởi lên suy nghĩ không tốt. Đối với anh ta cô ta cũng không tốt! Mà đối với người khác cũng không tốt đâu!

Khẩu quyết tu hành căn bản chính là ở đây, bạn tuyệt đối không được tham dục. Bạn tham dục thì chính là lậu, đây là sự rò rỉ, trong thời gian ngắn thì không có can hệ gì, nhưng về lâu dài thì bạn sẽ mắc bệnh đó! Mắc bệnh gì ư? Vốn dĩ tóc bạn đen sẽ trở thành tóc trắng, tóc sẽ trở nên bạc, sẽ chảy nước mắt không vì lý do gì cả, cũng sẽ chảy nước mũi nữa. Không chỉ như vậy, răng cũng lung lay, da sẽ mất đi vẻ sáng bóng. Nếu như bạn quá chìm đắm vào tình dục thì xung quanh mắt bạn cũng sẽ trở thành như gấu trúc, sẽ có hai quầng mắt đen, không những ở trên lậu mà ở dưới cũng lậu. Thân thể còn toát mồ hôi, đi toilet, đi tiểu tiện, sẽ "đi tiểu như nước lạnh". "Đi tiểu như nước lạnh" là cái gì? Khi tiểu tiện ta thường run một tí, giống như là sợ lạnh, run khi lạnh, có nghĩ là lạnh mà run lên, vô hình trung, thân thể bạn sẽ yếu đi.

Tôi đọc một bài kệ:
Mỹ nữ eo thon đeo bảo kiếm
Không chém thánh hiền chém phàm phu
Mặc dù chưa thấy đầu rơi xuống
Xương tủy đã khô tự bao giờ.

Phải thật chú ý đó! Đôi khi tôi xem tướng, có người vợ rất xinh đẹp, giống như Tiên trời mỹ nữ, thân hình thì như trái hồ lô, chà! Rất đẹp! Rồi nhìn sang anh chồng ở bên cạnh thì, chà! Giống như que tre vậy, còn khô héo nữa. Vợ xinh đẹp quá mà! Con mắt vừa liếc một cái! Thì cũng như ánh điện lóe lên! Cái eo thì cong mềm như cành liễu! Rất mềm mại! Còn anh chồng thì, chà! Giống như cọng rơm vậy, cũng uốn éo, nhưng mà giống như sắp ngã nhào rồi, đã khô héo hết rồi!

Do vậy, cần mau chóng tu Nội pháp. Trong Nội pháp có vô lậu, có chuyết hỏa, có minh điểm, vô lậu chính là tinh chất của minh điểm và chuyết hỏa. Nhờ có vô lậu nên mới có khí lực để nâng chuyết hỏa lên, nhờ có vô lậu mà minh điểm mới có thể bảo tồn được! Mới có thể vận chuyển được! Có chuyết hỏa thì mới có thể đốt cháy được minh điểm. Có minh điểm mới có thể phóng quang được! Ba thứ này đều có liên quan đến nhau.

Bạn sa đà quá độ vào tình dục, lậu quá nhiều, chuyết hỏa làm sao nâng lên được? Bạn không có tài nguyên, không có minh điểm, nguồn tài nguyên của bạn không tốt thì chuyết hỏa không nổi lên được, minh điểm không cứng chắc được! Minh điểm chính là tinh, chuyết hỏa chính là nhiệt độ thân thể của bạn, là lửa của sinh mệnh. Vô lậu chính là khí mà bạn tu hành đó! Giữa khí, mạch, minh điểm thì khí chính là sức mạnh thân thể của bạn, mạch chính là các đường dẫn tinh của bạn, chính là mạng lưới giao thông, là các con đường cao tốc, chính là* “highway”*, minh điểm chính là nguyên tố sống của thân bạn.

Hôm nay tôi nói với mọi người về nội dung Nhị quán của Mật giáo, là ở sự tụ khí của sinh mệnh bên trong thân thể bạn, và tập hợp tất cả các dây mạch thần kinh trong thân thể bạn, trung mạch, mạch trái mạch phải, tất cả các ống giao thông của mạch, minh điểm chính là vật chất bài tiết của toàn thân, chính là nguyên tố tinh khí của bạn, ba thứ này liên quan đến nhau, chính là yếu tố quan trọng nhất của nội pháp.

Khí của bạn chính là nhờ việc tu tốt pháp bảo bình khí, khí sẽ sản sinh ra lực và sự cứng chắc, khi bạn có thể nín thở, dùng ý nghĩ để đưa khí của bạn đến tận đỉnh đầu, đến gót chân, đến mười đầu ngón tay, khí đầy ắp toàn thân, bao gồm cả lớp da của bạn cũng có khí. Đợi đến khi bạn dùng hết phần khí này rồi thì sẽ xả hết khí thải này ra, rồi lại hít vào không khí tươi mới để sử dụng, đây chính là cách sống lâu khỏe mạnh.

Bạn hiểu được "Tát già lục thế biến", vận dụng chúng, thì có thể giữ vững được minh điểm, có thể nén xuống yết hầu, có thể làm động tác lắc mình, có thể nâng minh điểm lên, khi minh điểm hạ xuống thì bạn lại nâng lên, lại hạ xuống, lại nâng lên, lại hạ xuống, lại nâng lên. Dùng nội hỏa, chuyết hỏa của bạn để đốt cháy minh điểm, hóa chúng thành khí của toàn thân, rồi lại hóa thành hạt xá lợi, rồi từ các hạt xá lợi mà phóng xuất ánh sáng, như vậy bạn có thể tức thân thành Phật, thành tựu được quả vị của Mật giáo. (vỗ tay)

Tôi nhắc nhở mọi người về sáu khẩu quyết:

1. Nhật nguyệt triều thiên. [hai mắt nhìn lên trên]

1. Đầu lưỡi chạm vào hàm trên.

1. Nén cổ họng.

1. Bụng ép về phía lưng.

1. Co chặt người lại.

1. Thượng hành khí thoát ra hết.

"Tát già lục thế biến" chính là sáu khẩu quyết của pháp nâng. Thực hiện những điều này có thể chứng đắc vô lậu, nhưng pháp này không thể truyền lung tung được.

Sư phụ của tôi là Liễu Minh Hòa Thượng, Sakya Chứng Không, Đại Bảo Pháp Vương thứ 16 Karmapa, Thubten Dhargye Rinpoche. Thubten Dhargye Rinpoche khi dạy những thứ này cho một đệ tử nào đó thì cần phải xem nhân phẩm người đó rồi mới dạy, bởi vì sau khi thầy dạy cho pháp này rồi thì anh ta có thể lấy 108 bà vợ. Pháp vô lậu rất quý giá, tu được vô lậu thì anh ta sẽ không còn là một phàm phu bình thường nữa, bởi vì phàm phu thì đều lậu cả! Sau khi anh ta học được công phu này rồi, mà nếu như anh ta có tâm thuật bất hảo thì sẽ là một người đàn ông "thực thụ" trong số những người đàn ông.

Sau khi học được công phu Nội pháp này của Mật giáo rồi, Thubten Dhargye Rinpoche thường nói, trên phương diện thời gian vô hình, muốn lâu thì lâu, muốn ngắn thì ngắn. Trên phương diện hữu hình, cũng là muốn lâu thì lâu, muốn ngắn thì ngắn. Như vậy mà nói thì pháp vô lậu này, tôi cần phải đặc biệt chỉ một dạy một, truyền dạy qua lời nói và tai nghe (khẩu truyền). Chắc chắc bản thân bạn phải là một người có tâm cực kì tốt, phẩm tính cực kì đoan chính. Bạn không được như ong bướm thích hoa, đến đâu cũng như bướm tìm hoa, hôm nay bông này, ngày mai bông khác, mỗi ngày mấy bông. Do vậy, muốn truyền dạy pháp này không thể công khai ở đây mà nói cho mọi người được. "Tát già lục thế biến" không thể tùy tiện công khai dạy mọi người được. Nhưng trước tiên, bạn cần kéo chuyết hỏa, trước tiên bạn cần tiết dục, hạ những ham muốn tính dục của mình xuống mức thấp nhất, đến khi điều này trở thành bình thường thì có thể bắt đầu tu được rồi.

🌟

Pháp chuyết hỏa [lửa tam muội]

Tôi đã truyền pháp chuyết hỏa rồi, cũng đã nói về khẩu quyết dùng hoàn toàn hơi thở, quán tưởng một nửa chữ Phạn "Ah", phương pháp dùng hoàn toàn hơi thở, để làm cho bụng nóng lên trước, sau đó từ nhiệt này biến thành hỏa, từ hỏa lại hóa thành quang. Bởi vì nhiệt này biến thành hỏa, nhờ hỏa lại nâng minh điểm lên, rồi lại hòa tan minh điểm, thế rồi hỏa này có thể dâng đến hoa sen nghìn cánh ở đây. Bồ đề tâm nguyệt dịch của hoa sen nghìn cánh hóa thành nước, chính là một nửa còn lại của chữ "Ah". Hai thứ lửa và nước ở tâm luân kết thành một chữ Ah hoàn chỉnh. Rồi lại nhờ sau khi chữ Ah này tan ra, sau khi tan lỏng ra, sẽ sản sinh ra một thứ ánh sáng viên mãn hòa lẫn thủy hỏa. Có thể nói như thế này là đã thành tựu quả vị chuyết hỏa Nội pháp Nhị quán rồi, cũng có thể nói là đã nội chứng Mật giáo tam muội.

Tôi đã giảng giải về pháp chuyết hỏa, mọi người có thể đọc thật cẩn thận, thật cẩn thận để xem xem tu pháp chuyết hỏa như thế nào. Đầu tiên bạn hãy học tu pháp chuyết hỏa cho tốt, dục vọng giảm xuống hết mức có thể, bản thân mỗi ngày đều cần vận động, nghĩa là đánh kim cang quyền, thông khí, vô lậu, bạn làm được như vậy thì chuyết hỏa sẽ rất dễ nhen lên.

Rốt cục đến lúc nào thì chuyết hỏa mới được xem là đã nhen lên? Bởi vì cũng có thể nói rằng chuyết hỏa, có lúc thì dùng ngọn lửa lớn mãnh liệt, có khi thì dùng ngọn lửa nhỏ và chậm, giữa hai kiểu ngọn lửa này cần có sự điều hòa vừa đủ. Ngọn lửa nhỏ thì hơi thở mảnh, chậm, dài, ngọn lửa lớn thì hơi thở thô, nhanh, ngắn. Đây chính là nhịp điệu hơi thở mà lúc trước Thượng sư Liên Huyên có nói đến, thuộc về việc phóng hơi thở, thuộc về kiểu hơi thở thô, nhanh và ngắn, cách thở này có thể gọi là "võ hỏa". Thế nhưng người tu pháp chúng ta đầu tiên cần dùng lửa nhỏ, còn gọi là "văn hỏa", sau đó, đợi đến khi lửa sắp nhen lên rồi thì có thể dùng lửa nhanh khỏe hơn, mãnh liệt hơn, rồi dùng gió nhanh để thổi mạnh, thổi bùng lên chuyết hỏa này.

"Văn hỏa", "võ hỏa" này cần điều tiết sao cho khéo léo. Nếu như bạn dùng toàn bộ là võ hỏa thì mắt sẽ đỏ lên, đầu sẽ đau, mũi sẽ rất khô, miệng khô lưỡi đắng, toàn thân sẽ bồn chồn bất an, sẽ sinh bệnh. Răng cũng sẽ đau và sưng viêm lên. Thường xuyên dùng "võ hỏa" thì sẽ có hiện tượng này.

Do vậy, Sư Tôn chủ trương là bình thường hãy dùng hơi thở mảnh, chậm, dài, cứ liên tục điều tiết đến khi khí của bạn đã đủ rồi, lửa của bạn đã được nhen lên, thì lúc đó mới dùng "võ hỏa" mạnh hơn để đốt cháy lên, sẽ rất nhanh làm cho chuyết hỏa dâng lên. Phương pháp này cũng là một khẩu quyết rất quan trọng đối với các bạn, rất quan trọng, cực kì quan trọng.

Trong chuyết hỏa định, tôi còn nói về việc bạn cần chạm đầu lưỡi lên hàm trên, còn cần phải nâng hậu môn, đây là để làm thông trung mạch. Tôi còn nói rằng cần làm sao để kéo thẳng trung mạch của bạn, trung mạch của bạn cần phải thẳng, từ đỉnh luân cho đến mật luân, trung mạch phải rất thẳng, rất thông, rất mở rộng, cần để cho tất cả khí có thể vận chuyển trong trung mạch, như vậy sẽ tương đối dễ nâng chuyết hỏa. Một khi khí của bạn đủ, chuyết hỏa sẽ rất dễ nâng lên, nếu khí của bạn không đủ thì chuyết hỏa sẽ rất khó nâng lên, sẽ rất khó sản sinh ra tác dụng lên thân thể bạn.

🌟

Bí mật thành công - vô lậu, chuyết hỏa, minh điểm

Bí mật thành công của Nội pháp chính là vô lậu, chuyết hỏa và minh điểm. Minh điểm cần phải hiểu được về giáng, đề, trì, tán. Bồ đề tâm nguyệt dịch này hạ xuống, chuyết hỏa nâng lên, kết hợp tại tâm luân để khai mở tâm luân, phóng xuất ánh sáng. Bí quyết để chuyết hỏa nâng lên là dùng hơi thở hoàn toàn, dùng hoàn toàn sức mạnh của việc hít thở gió, sử dụng suy nghĩ của bạn, tập trung tinh thần, dùng hai nửa của chữ "Ah", lợi dụng sự thả lỏng của mạch luân nhờ tập kim cang quyền, để làm cho khí được thông suốt, tất cả đều là bí quyết thành công.

Công phu vận khí đã đủ, việc tu Bảo bình khí đã đủ, thì có thể tu chuyết hỏa. Trong "Mật tông đạo thứ đệ quảng luận" có nói đến rốt cục thì có cần tu Sơ quán trước không? Hay là tu Nhị quán trước? Hay là cần tu khí trước rồi mới lại tu quán? Hay là tu cả hai thứ cùng lúc? Tổ sư dòng Mũ Vàng ngài Tsongkhapa cũng nói rằng ở đây không có quy định chắc chắn. Sơ quán và Nhị quán có thể tu đồng thời. Sơ quán và Nhị quán, có người tu Ngoại pháp thành tựu trước rồi mới tu Nội pháp, có người thì tu Nội pháp trước rồi mới tu Ngoại pháp, hoặc là tu cả hai cùng lúc, đều có thể được, tùy theo nhân duyên của mỗi người mà tu hành.

Tôi cũng yêu cầu mọi người rằng, khi ở Seattle Lôi Tạng Tự tôi đã truyền phương pháp chuyết hỏa định, mọi người sau khi trở về thì băng ghi hình chuyết hỏa định mà mỗi người thỉnh về hãy đem ra xem cho cẩn thận, xem tôi đã giải thích phương pháp chuyết hỏa định như thế nào. Cái này thuộc về Nội pháp. Khi bạn đã tu thành công chuyết hỏa định rồi, khi đã nâng được chuyết hỏa lên, bạn tự nhận định mình đã nâng được chuyết hỏa lên rồi, thì cần tu pháp vô lậu. Trước tiên để Sư Tôn xem xét xem bạn rốt cục có phải là Anh Trư hay không phải Anh Trư [Trư Bát Giới]. Nhất định cần phải xem xét. Nếu  như tôi không xem xét, sau khi bạn học xong được pháp vô lậu rồi, bạn sẽ đi làm Anh Trư, vậy thì tôi biết giải thích với vợ bạn thế nào đây? Có đúng thế không? Tóm lại là cần phải xem xét đã, để tránh được những sai phạm.

🌟

Khẩu quyết bí mật

Pháp vô lậu là một đối một, là từng người một, “*one by one*”, còn dạy cho bạn ấy à! Làm sao để co rút lại, việc này cần quán tưởng ra, không hề đơn giản chút nào. Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát cần xuất hiện trong hư không, khi bạn làm động tác "nhật nguyệt triều thiên", Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát sẽ hiện thân, đây là một khẩu quyết rất quan trọng, rất bí mật, tôi dạy bạn điều này là bạn kiếm được món lời rồi đó.

Một vài người bảo, Lư Sư Tôn á! Nói cho đến giờ vẫn chẳng có gì ấn tượng cả, chẳng có được cái gì cả! Không có cái gì cái gì chứ, chẳng phải là có điều hay ho đó sao! (vỗ tay) Có thứ hay ho thì không thể nói ra! Bạn bảo tôi nói thế nào đây? Bạn dạy tôi xem phải nói thế nào? Phật Đà nói đến đây cũng đều "không thể nói", "không thể nói". Kì thực, "không thể nói" chính là có cái lý bên trong nó. Độ hóa chúng sinh không thể công khai toàn bộ những khẩu quyết rất bí mật này ra được, không thể hoàn toàn không giữ lại chút bí mật nào mà nói ra hết được. Bởi vì nói ra những điều này, người có tâm thuật bất hảo có được sẽ lợi dụng những điều này! Anh ta có thể làm rất nhiều việc, tất cả những thứ được gọi là bí mật của Mật giáo chính là nằm ở đây.

Chà! Lúc này, bạn sẽ hít khí "nhật nguyệt thiên địa", năng lượng của vũ trụ cùng với năng lượng của chúng sinh trên thế giới, toàn bộ đều tập trung trên thân bạn, bạn có thể hít khí của trời đất, chính là "hấp tinh đại pháp" trong bộ phim "Đông phương bất bại" đó. Võ công của toàn bộ con người trên thế giới đều ở trên người bạn. (vỗ tay)

🌟

Tức thân thành tựu

Sau khi thành tựu tu hành Nhị quán Mật giáo Nội pháp rồi, bạn sẽ biết, hóa ra các thứ của Mật giáo mới là Phật pháp quý giá nhất. (vỗ tay)

Bạn tu hành Mật giáo Nhị quán thành tựu rồi, bạn sẽ biến thành quả bóng không sợ bị đá, đá thế nào bạn cũng vẫn chắc khỏe, đá thế nào bạn cũng vẫn có khí lực. Tính đàn hồi của thân thể bạn rất tinh nhuệ, tràn đầy năng lượng của vũ trụ. Cái này có cảm giác chân thực, học Phật học đến mức này thì thân thể bạn vô cùng sung mãn, suy tưởng của bạn chắc chắn vô cùng sống động, bạn có thể giao tiếp với vũ trụ, toàn bộ những lý luận của Phật giáo đều nằm trong con người bạn, mọi thành tựu, mọi quả vị đều nằm trong con người bạn. Bạn không chỉ đạt được thành tựu tâm, bạn còn đạt được thành tựu thân, bạn có thể tức thân thành Phật. Ánh sáng không đến từ bên ngoài, mà từ bên trong thân thể của chính bạn mà sản sinh và phát ra, đây là Phật pháp vĩ đại nhất. Đây là siêu khoa học, Phật học khoa học. Là Phật pháp vĩ đại nhất, đây là Phật pháp quý giá. Chân Phật Mật Pháp là như vậy! (vỗ tay)

Không phải chỉ ở trên phương diện Phật học lý luận. Trên phương diện Phật học lý luận thì chỉ cần là “*professor*” [giáo sư] đọc kinh là sẽ hiểu biết, người giảng dạy thì cần hiểu Phật học lý luận, các tiến sĩ Phật học sẽ hiểu. Tuy nhiên, đối với phần thực tu khí, mạch, minh điểm thì chưa chắc các giáo sư tiến sĩ đã hiểu được. Cái này buộc phải đi học, phải đi bái thầy, sư phụ dạy cho bạn đánh kim cang quyền như thế nào, minh điểm đi đến đâu, kim cang quyền làm cái gì, đây chính là phần thực tu chân chính.

Từ Nội pháp tiến nhập vào vô thượng mật, từ vô thượng mật lại đi tiếp vào đại viên mãn, bạn sẽ trực tiếp đến được quả vị Phật. Hy vọng mọi người tham khảo cho kĩ băng ghi hình mà tôi đã giảng về chuyết hỏa định, mọi người trước tiên hãy học bảo bình khí cho tốt, luyện cho khí dư đầy thì mới tu chuyết hỏa. Hãy giảm ham muốn tình dục của bạn thì hồi sau bạn có thể thành tựu. Khi bạn đã hiểu rồi thì tôi sẽ lại dạy cho bạn pháp vô lậu, phương pháp vận chuyển minh điểm như thế nào, thế rồi bạn sẽ thành tựu được nhị quán. Nhị quán thành tựu rồi thì khoảng cách đến việc thành Phật đã không còn xa nữa rồi! (vỗ tay)

Hôm nay thời gian cũng không còn nhiều nữa, tôi nói đến đây thôi, cảm ơn mọi người!
Om mani padme hum.

Sư Tôn lại nói thêm một chút về khi quán đảnh thì quán tưởng chuyết hỏa:
Trung mạch trong suốt, quán tưởng đan điền có một nửa chữ Ah, kích cỡ bằng hạt gạo. Giống như số ㄎ, một ngọn lửa màu đỏ nhen lên đốt cháy chữ ㄎnày.
Vậy đó, cảm ơn mọi người!


### 18. Phương pháp quy y Liên Sinh Hoạt Phật


Cách 1: Gửi thư trực tiếp tới Tông ủy hội
Vào 7 giờ sáng (theo giờ địa phương của bạn), chọn ngày mồng
1 hoặc 15 âm lịch hàng tháng, quay mặt về hướng mặt trời mọc
(hướng đông).
Chắp tay lại, nghĩ tới Sư Tôn, kính cẩn niệm Tứ quy y chú ba
lần:
Namo Guru bei.
Namo Buddha ye.
Namo Dharma ye.
Namo Sangha ye.
(Nam mô Gu-ru pêi.
Nam mô Bút-đa yê.
Nam mô Đa-ma yê.
Nam mô Sang-ga yê)

Và niệm:
“Con xin nương nhờ vào sự dẫn dắt của Liên Sinh Hoạt Phật,
xin được quy y Chân Phật Tông.” Sau đó đảnh lễ, lạy 3 lần.
Tiếp đó gửi thư theo đường bưu điện tới Tông ủy hội – Chân
Phật Tông, nêu rõ mong muốn quy y của bạn để được ban quy
y. Ghi rõ: tên, địa chỉ, tuổi và kèm theo một khoản cúng dường
tùy hỷ. Sau khi Tông ủy hội nhận được thư này sẽ thực hiện yêu
cầu xin quy y của bạn.

Thư gửi về địa chỉ:
Grand Master Sheng-yen Lu
17102 NE 40th Ct.
Redmond, WA 98052, USA.
Điện thoại (Tel): 425 - 885 - 7573. Fax: 425 - 883 - 2173

Sau khi nhận được thư xin quy y, Tông ủy hội sẽ gửi chứng
nhận quy y đến cho bạn, kèm theo một tấm ảnh Liên Sinh Hoạt
Phật và hướng dẫn cụ thể về cách thức bắt đầu tu Tứ Gia Hành.

🌟

Cách 2: Đến gặp mặt trực tiếp Sư Tôn hoặc Thượng sư.
Bạn có thể được ban quy y trực tiếp từ Lư Sư Tôn, hoặc từ một
vị thầy Acharya (Thượng sư) của Chân Phật Tông, người có thể
thay mặt Sư Tôn ban quán đảnh quy y. Để làm điều này bạn có
thể đến các chùa Chân Phật Tông, các phân đường, hội nhóm
đồng tu, hoặc tham gia các pháp hội của Chân Phật Tông gần
nhất.

🌟

Cách 3: Đăng kí quy y trên Website.
Vào trang web Chân Phật Tông Việt Nam ([chanphat.org](http://chanphat.org/)) và
đăng kí quy y tại đó theo hướng dẫn.

🌟

Lưu ý sau khi quy y:
Những hành giả đã quy y Chân Phật Tông thì sẽ có được sự
gia trì của dòng truyền thừa. Bởi vậy tốt nhất không nên quy y ở
những tông phái khác thêm nữa. Nếu không dòng truyền thừa
sẽ bị “méo mó” và đệ tử sẽ mất đi lực gia trì truyền thừa của
Chân Phật Tông.

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/123-sao-bang-va-cay-phong-do.md
# Title: 123. Sao băng và cây phong đỏ
---

## Sao băng và cây phong đỏ


🪷 Tĩnh tâm để suy ngẫm

Văn tập: 123
Xuất bản: 06/1997
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


Tôi thường nhìn lên bầu trời, đó đã trở thành một thói quen, luôn cảm thấy bầu trời mang đến cho tôi vô vàn liên tưởng bất tận. Bầu trời bao la và tĩnh lặng.

Vì thường nhìn lên trời, bạn sẽ thấy được sao băng, và khi nhìn thấy sao băng, bạn sẽ giơ tay chỉ về hướng đó, nhìn kìa! Sao băng!

Không có bất kì âm thanh nào, tất nhiên là không nghe được rồi, sao băng ở nơi xa xôi bên ngoài bóng đêm, chỉ trong thoáng chốc, kéo theo ánh sáng thành một đường thẳng rơi xuống, rồi biến mất, cảm giác này, thật khiến người ta bối rối!

Hồi nhỏ, tôi nghe người ta nói khi nhìn thấy sao băng có thể ước một điều ước, bản thân tôi đã quên mất dưới những vì sao băng, tôi đã ước bao nhiêu điều. Gần đây, tôi càng ngày càng thích sao băng, không phải vì chuyện ước nguyện, mà là, chỉ cần nhìn thấy sao băng, trong lòng đã có một cảm giác rung động.

Cảm giác rung động đó là một loại cảm xúc, cảm thấy thời gian thật sự trôi qua rất nhanh, mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng, mỗi năm, đều như sao băng.
Cảm thấy đã từng vượt qua bao biển cả!
Cảm thấy nhiều chuyện đều đã rất xa xôi rồi!
Cảm thấy ánh chớp lửa đá!
Còn nữa, cảm thấy phóng khoáng!

Nhìn thấy sao băng, tôi thích, không vì lý do gì cả, chỉ là thích trong tâm hồn bao la và tĩnh lặng, tìm kiếm khoảnh khắc linh cảm chớp nhoáng đó!

Tôi cũng từng nhìn thấy mưa sao băng.
Nhiều vì sao băng lần lượt rơi xuống, thật là phi thường!
Người bạn thời niên thiếu nói:
"Sao vậy!"
Tôi nói:
"Thật là vô thường!"

Tôi nghĩ rằng hồi đó khi nhìn thấy mưa sao băng mà có thể nói hai chữ "vô thường", phải chăng tôi đã trưởng thành sớm!

Ngoài sao băng ra, tôi còn thích ngắm lá phong đỏ, chúng ta biết rằng đất nước của lá phong là Canada, còn tôi sống ở Seattle, rất gần Canada, nghe nói, lá phong ở thắng cảnh Nikko của Nhật Bản cũng rất đẹp.

Tôi sống ở sơn trang Cầu Vồng, tôi nhờ Thượng sư Liên Ấn đi mua cây phong đỏ, tôi muốn biến sơn trang Cầu Vồng thành sơn trang Lá Phong.
Tôi nói:
"Phải là lá phong thật đỏ, thật đỏ."

Seattle có bốn mùa rõ rệt, khi mùa thu đến, lá cây chuyển vàng, còn lá phong chuyển đỏ, này! Chính là khung cảnh như thế, khiến tôi lặng lẽ đọc từng chiếc lá phong đỏ, tôi thường nói với các đệ tử, đi, đi ngắm lá phong nào, đi ngắm lá phong đỏ nào!

Tôi thực sự rất thích lá phong đỏ, chúng tôi ngắm lá phong đến nỗi phải bật cười, trên thảm cỏ xanh mướt, chúng tôi cùng nhau chia sẻ nụ cười của những chiếc lá phong đỏ.

Đã nhiều năm rồi, mỗi mùa thu, đây là một khoảnh khắc rất đẹp trong cuộc đời, chúng tôi lái xe đi ngắm lá phong đỏ.

Sau mùa lá phong đỏ, lá cây bắt đầu tàn rụng, không trung đầy lá bay, thảm cỏ phủ đầy lá rụng.
Lúc này, tuyết đầu mùa sẽ đến.

Tại sao tôi lại thích lá phong đỏ?
Chỉ vì màu đỏ ấy, nghe nói khi lá càng đỏ thắm thì càng gần đến lúc tàn rụng, có lẽ chính điều này đã hút hồn tôi, cuộc đời thường khi ở thời khắc rực rỡ nhất, lại được chôn vùi trong đống lá rụng.

Liên tưởng sao băng với lá phong đỏ lại với nhau, chỉ vì ở điểm này, chúng rất giống nhau, ánh sáng của sao băng, màu đỏ của lá phong, tất cả đều là một sự khai sáng, tất cả đều được tạo nên từ sự tích lũy của cả một đời.
Khi nhìn thấy sao băng, lòng tôi bay bổng.
Khi nhìn thấy lá phong đỏ, lòng tôi cũng bay bổng như thế.

Lúc này, điều tôi muốn nắm bắt là ánh sáng của sao băng, sắc đỏ của lá phong, như thể có một cảm giác rằng, tôi muốn nắm bắt khoảnh khắc linh cảm chớp nhoáng, nắm bắt nó, chỉ cần nắm bắt được nó, tôi sẽ không còn là một người suy tư bị trói buộc nữa.
Nắm bắt ánh sáng.
Nắm bắt sắc đỏ.
Đó chính là sự sống!

Địa chỉ liên hệ của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn

**Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U. S. A.


### 01. Hoa tulip trong tâm


Các pháp sư của Seattle Lôi Tạng Tự nói:
"Sư Tôn, đi xem hoa tulip đi!"
"Hoa tulip ư?"

Họ kể với tôi, ở phía bắc Seattle, cách đó khoảng một tiếng rưỡi lái xe, có một vùng đất rộng lớn, nơi đó nông dân trồng hoa tulip hàng năm, và mỗi năm vào giữa tháng tư, khi hoa tulip nở rộ, thu hút hàng vạn người đến ngắm hoa.

Thế là, vào một buổi sáng chủ nhật, đoàn xe khởi hành.
Nơi đó, đúng vào mùa hoa tulip, người và xe cộ rất đông đúc, chúng tôi đi đến vài khu vực trung tâm, tưởng chừng như đang lạc vào một rừng hoa.

Những bông hoa ấy, thật đáng kinh ngạc, hóa ra có tất cả các màu sắc, tôi thực sự đã nhìn thấy hoa tulip đen.
Những bông hoa ấy, thật choáng ngợp, trải dài thành từng mảng lớn, nối liền với bầu trời.
Những bông hoa ấy, thật xúc động lòng người, bởi vì chúng thực sự mọc rất kỳ diệu, thậm chí trong một bông hoa có đến ba màu, năm màu.
Chiếc váy xanh rộng ấy, thân hình thanh mảnh ấy, gương mặt tươi cười ấy, dáng vẻ yêu kiều ấy.
Có người nói:
"Người đẹp hơn hoa!"

Chúng tôi dạo bước trên cánh đồng rất lâu, khi tôi nhìn những bông hoa tulip, chợt cảm thấy vô cùng bình yên và tĩnh lặng, như thể mọi người đều đã rời đi, vạn vật im lìm, tôi đứng lặng yên, nhìn hoa, dường như đang trò chuyện cùng hoa.

Tôi cảm nhận được, hoa đang cười, hoa đang e thẹn, hoa đang vui mừng, hoa đang im lặng không lời, hoa........

Đi ngắm hoa tulip, cảm giác của tôi rất tuyệt, hoa thật đẹp, hoa thật tĩnh lặng, hoa thật kỳ diệu, và tôi lĩnh hội được:
Phong phú!
Trọn vẹn!
Không thể diễn tả bằng lời!

Đoàn xe của chúng tôi, giữa trung tâm của mùa hoa, đã tản ra, mỗi người về nhà riêng. Khi xe tôi trở về Seattle Lôi Tạng Tự và Chân Phật Mật Uyển, tôi mới nhận ra, khoảng đất trống hai bên cổng Lôi Tạng Tự cũng trồng đầy hoa tulip đủ màu sắc.

Cả khu vườn bên cạnh cổng Chân Phật Mật Uyển cũng trồng đầy hoa tulip. Hoa nở rất rực rỡ, đỏ, vàng, trắng.
Trái tim tôi đập nhanh hơn bình thường, có một cảm giác kỳ diệu không thể diễn tả thành lời, như một sự khai thị, thoáng qua trong giây lát!

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn ơi!

Trong Mật giáo:
Thượng sư Sakya Chứng Không đã ban cho tôi quán đảnh Kim Cương Acharya.
Kalu Rinpoche đã công nhận"tôi.
Ông Kháp Khắc Rinpoche đã ban cho tôi tòa Pháp Vương.
Đức Giáo chủ phái Hoàng giáo Ganden Tripa đã ban tặng pháp phục của Pháp Vương.
Tạp Thừa Rinpoche đã chủ trì đại lễ tọa sàng của tôi.
Một trong ba đại tự viện Tây Tạng - Tu viện Drepung, đã mời tôi lên tòa thuyết pháp.
.............

Tôi nhận ra rằng, đây là những hoa tulip mà tôi đã phải đi rất xa, hoặc phải tìm kiếm mới có được, đây chỉ là hoa tulip bên ngoài, hoa tulip bề mặt, là hoa tulip của người khác, không phải hoa tulip vĩnh cửu.
Trong khi:
Seattle Lôi Tạng Tự cũng có hoa tulip.
Chân Phật Mật Uyển cũng có hoa tulip.

Lúc này, tôi nhận ra rằng thực ra trong tâm mình, vốn đã có "hoa tulip", tôi đã sớm thiền định đạt được nội lực thâm sâu, các pháp môn Mật giáo như pháp Đại Viên Mãn, pháp Đại Thủ Ấn, pháp Đại Viên Thắng Huệ, pháp Đại Uy Đức, tôi đều đã chứng đắc thành tựu cao nhất.
Bồ Tát Di Lặc giáng hạ, cúng dường tôi mũ miện màu đỏ.
Mười vạn không hành mẫu trong hư không tán thán!

Tôi nhận ra rằng, bất kì hình thức khen ngợi hay công nhận nào cũng đều không phải là thực tế, có thể nói, ngay cả giải Nobel thế giới cũng không phải là thực tế, sẽ không bao giờ là thực tế, những sự công nhận đó chỉ là bề ngoài, là phụ thêm, là một trò chơi, chỉ là do bạn muốn và người khác trao cho bạn mà thôi.

Những bông hoa tulip bên ngoài chỉ là phần thưởng.
Những bông hoa tulip bên ngoài chỉ là ảo ảnh, như trăng trong nước.
Những bông hoa tulip bên ngoài chỉ là một ham muốn, thậm chí là ham muốn làm cho mình mù quáng.
Cuối cùng tôi đã hiểu ra, bất kì hình thức công nhận nào cũng chỉ là ảo ảnh, điều quan trọng nhất là - hoa tulip trong tâm bạn.
Bạn phải tự công nhận chính mình, đó mới là điều chân thực.

Ngày hôm đó sau khi trở về nhà, trong lòng vô cùng bình yên, đó thực sự là một buổi chiều tà đáng yêu, tôi công nhận những bông hoa tulip trong tâm mình.


### 02. Dòng suối nhỏ bên cạnh bia Long Thần


Bên cạnh chùa Lôi Tạng Tự Seattle, ở bên tay phải, có một bia Long Thần, tảng đá này xuất hiện rất kỳ diệu, chính là tảng đá lớn được lấy ra từ ngọn đồi khi khởi công xây dựng Lôi Tạng Tự, cũng chính là đá do địa linh kết tụ, trên đá có vẽ hình rồng, đó chính là bia Long Thần.

Bia Long Thần phía sau có ba cây thông sừng sững, to lớn hùng vĩ, và quanh cây thông có một dòng suối nhỏ uốn lượn, nếu không chú ý cũng không dễ nhận ra.

Mỗi lần, sau khi cúng dường trước Phật, theo thông lệ, tôi lễ bái điện Địa Tạng, lễ bái chư Thiên, kính lễ Long Thần Hộ Pháp. Mỗi lần, có nhiều pháp sư đi theo tôi.

Một ngày nọ, sau khi viết xong chương sách, tôi lẻn ra khỏi Chân Phật Mật Uyển một mình, nhân lúc các pháp sư không để ý, tôi lẻn đi xem dòng suối nhỏ bên cạnh bia Long Thần.

Tôi cảm thấy, được một mình thật tuyệt!

Dòng suối nhỏ ấy, đầy ắp nước, đang chảy róc rách, nước trong suối, dĩ nhiên là nước mùa xuân và tuyết tan.

Tôi nghe thấy hơi thở của dòng suối, tôi nghe thấy nhịp đập của dòng suối, tôi nghe thấy tiếng thì thầm của dòng suối, tôi nghe thấy bước chân của dòng suối......

Một cảm nhận, tôi ý thức được sự cô đơn của mình, đồng thời cũng ý thức được sự cô đơn của dòng suối nhỏ, lúc này, chỉ có bốn chữ thích hợp: "Một mình tận hưởng."

Dòng suối nhỏ ấy, chảy róc rách, trông thật trọn vẹn, tôi không thể biết được nguồn cội của nó, cũng không thể biết được nó sẽ đi về đâu, nhưng tôi biết rằng:
Đến từ nơi cao.
Đi về chốn thấp.
Uốn lượn rồi lại uốn lượn.
Dòng chảy cô đơn.

Tôi nghĩ về bốn câu này, bốn câu rất bình thường, nhưng lại toát ra một sức hấp dẫn, bốn câu này vang vọng trong tâm trí tôi.

Không khí ở đây thật mát mẻ, hai bên dòng suối mọc đầy hoa dại màu vàng, trong không khí có một mùi hương thơm ngát, rất tinh khiết và đậm đà. Tôi một mình bên cạnh ba cây thông khổng lồ, bia Long Thần và dòng suối nhỏ.

Lôi Tạng Tự không có pháp sư nào bước ra, không có pháp sư nào bước vào, không ai theo sau tôi, không ai nói chuyện không ngừng, tất cả đều im lặng, mọi thời gian và không gian, trong một khoảnh khắc, tất cả đều im lặng, bóng mát của cây thông thật dễ chịu.
Tôi chỉ nghĩ đến bốn câu.
Tôi chợt nhận ra, bốn câu này vừa bình thường làm sao, lại vừa phi thường làm sao.

Sơ tổ Thiền tông - Tổ sư Đạt Ma, ngài từ Thiên Trúc đến Đông Thổ hoằng dương Phật pháp, ngài yêu cầu đệ tử của mình thực hành bốn hạnh:
Một, hạnh báo oán - tất cả quả khổ đều do nghiệp tự tạo, tự mình cam tâm chịu đựng.
Hai, hạnh tùy duyên - khổ vui tùy duyên, được mất tùy duyên.
Ba, hạnh vô sở cầu - có cầu đều khổ, không cầu thì vui.
Bốn, hạnh tịnh pháp - thanh tịnh thân, thanh tịnh khẩu, thanh tịnh ý.

Ôi! Dòng suối nhỏ bên cạnh bia Long Thần!
"Đến từ nơi cao", chẳng phải là tự mình cam tâm tình nguyện sao? "Đi về chốn thấp", chẳng phải là được mất tùy duyên sao? "Uốn lượn rồi lại uốn lượn", chẳng phải là không cầu thì vui sao? "Dòng chảy cô đơn", chẳng phải là thân khẩu ý thanh tịnh sao?

Gần đây tôi nhận ra, bất kể lúc nào nơi đâu, chỉ cần khi cô tịch, đi vào trong tâm hồn mình, dù đang ở trên chiếc xe đông đúc, hay đang ngồi thiền một mình, chỉ cần tập trung tinh thần, tôi có thể lắng nghe tiếng nói của chính mình.

Giống như hôm nay, thật là một buổi sáng tuyệt vời, có thể thiền định vô tận, không ai quấy rầy, bầu trời rộng mênh mông vô hạn, giữa những cây thông có vài chú sóc nhỏ nhảy qua nhảy lại, nhưng, chỉ thoáng hiện rồi biến mất giữa những cành lá thông dày đặc.

Cô đơn có những lợi ích của sự cô đơn, cô đơn là đôi cánh của tâm hồn, có thể bay về phía bầu trời xanh, bay về phía mặt trời, bay về phía dòng suối nhỏ, bay về phía sự lĩnh hội của chính mình......
Hãy nghĩ về việc Tổ sư Đạt Ma quay mặt vào tường chín năm.
Hãy nghĩ về bốn hạnh của Tổ sư Đạt Ma.
Hãy nghĩ về bốn câu nói của dòng suối nhỏ.

Xướng một bài thơ:
*Sau mưa tuyết xuân trong sáng và mỹ lệ
Chỉ có dòng suối nhỏ
Có thể gột rửa mọi u oán
Bên bia Long Thần một vòng nước
Ngọc biếc tựa như chải búi tóc thông xanh
Tổ sư Đạt Ma đến từ vạn dặm xa
Hỏi ta năm nào
Thực sự có thể trở về
Chỉ nói tùy duyên không mong cầu
Mọi được mất đều không màng tính toán.*


### 03. Con đường trên núi Cầu Vồng


Mỗi kỳ nghỉ cuối tuần, tôi và các đệ tử thường đi leo núi ở ngoại ô, có khi chúng tôi leo núi ngay tại nhà mình - núi Cầu Vồng.

Thành thật mà nói, núi phía sau biệt thự Cầu Vồng có đường núi khá dốc, độ dốc lớn, đi lên không dễ dàng và không thể đi nhanh được. Đường núi uốn lượn quanh co, đặc biệt là đường mòn xuống núi chỉ đủ cho một người qua lại, với những bậc thang đất thô sơ, phải nắm chặt dây thừng, có những đoạn khá nguy hiểm.

Núi phía sau biệt thự Cầu Vồng, nếu chúng tôi không đi leo núi thì hoàn toàn vắng bóng người, chỉ có rừng cây lớn, thảm cỏ nguyên sơ, làn gió nhẹ thì thầm, tôi luôn cảm thấy mát mẻ và thú vị khi ở trên núi tại sơn trang Cầu Vồng của mình.

Hình dáng của núi, hàng cây dài và những bông cúc dại nở rộ như sao trời, thường xuất hiện trong giấc mơ của tôi......

Có một lần, một đệ tử đi theo sau tôi.
Tôi hỏi: 
"Anh làm công việc gì?"
Vị đệ tử tại gia từ xa đến nói: 
"Xuất bản tạp chí."
"Tạp chí gì vậy?"
"Tạp chí Sự Thật?"
"Kết quả thế nào?"
"Phá sản rồi!" - Đệ tử đáp.
"Tại sao vậy?"
"Mọi sự thật trong thế gian này, thực sự khó mà tìm thấy!"
Nghe câu này, tôi bỗng giật mình, đó là một câu nói sâu sắc, cũng là câu nói của người từng trải sóng gió, rất dễ hiểu, nhưng, đầy ý vị.

Tôi nghĩ đến một chuyện khác.
Có một vị thường trú ở Lôi Tạng Tự làm mất một chiếc chìa khóa, thầy ấy luôn cho rằng một người khác đã lấy trộm, nên đã chạy đến kể với tôi, và bắt đầu chỉ trích cùng buộc tội.
Tôi nói:
"Tôi không thể xác định lời nói của thầy có đúng hay không, mỗi việc đều có sự thật của nó, thầy phải điều tra, đưa ra bằng chứng thực tế, bởi vì khi chỉ trích ai đó, cần phải có trách nhiệm, nếu không sẽ trở thành một sự tổn hại."

Mặc dù tôi nói như vậy, nhưng không thể ngăn thầy ấy đi loan truyền khắp nơi, thầy ấy ra nhiều cử chỉ, lớn tiếng chỉ trích người kia. Sau đó, một ngày nọ, một chiếc chìa khóa rơi ra từ một cuốn sách cũ trong phòng của chính thầy ấy.

Vị thường trú đó, kể từ khi tìm thấy chìa khóa, đã trở nên im lặng hơn, nhưng thầy ấy vẫn cho rằng người kia đã lấy trộm chìa khóa của mình, rồi lén lút đặt lại vào trong cuốn sách cũ của thầy.

Từ sự việc này, tôi nhận ra:
Trong thế giới Ta Bà, nhiều chúng sinh có kiểu chấp trước như vậy, và tự cho rằng quan điểm và nhận định của mình đều mang tính uy quyền. Ngay cả khi bạn không tự cho mình là uy quyền, nhưng thực tế, mỗi người đều đã rơi vào chiếc lồng của uy quyền.

Sự phê phán của con người thường dựa trên giả định, hoặc những nhận định nhất thời. Những giả định và nhận định này, đôi khi cách xa sự thật rất nhiều. Tôi nhận thức được rằng, những lời đồn đại không dựa trên đầy đủ tình hình thực tế như thế này chắc hẳn là rất phổ biến.
Tôi hiểu rằng, sự thật chính xác thật khó nhận thức đầy đủ.
Ngược lại, tổn hại từ uy quyền lại vô cùng phổ biến.
Con người thật là sinh vật kỳ lạ.

Chúng ta là những người thực tu Phật pháp, hiểu rõ về "nhất thực tướng ấn":
"Nhất thực tướng ấn là pháp ấn của thực tướng các pháp. Nhất thực tướng là chỉ lý chân thật, không hai không khác, xa lìa các tướng hư vọng, ấn nghĩa là tin. Bởi vì tất cả kinh đại thừa do Như Lai thuyết giảng đều dùng lý thực tướng để ấn định lời dạy, ngoại đạo không thể xen tạp, thiên ma không thể phá hoại. Nếu có thực tướng ấn thì đó là lời Phật dạy, nếu không có thực tướng ấn thì đó là lời ma nói."

Chân tướng của Phật lý vốn là "không thể nói", nhưng thường dùng "hư không" (tính Không) để tượng trưng cho bộ mặt thật của chân lý.
Tính Không — chân tướng.
Hư vọng — mây biến thành mưa, mưa biến thành nước, nước biến thành băng, băng biến thành khí, khí biến thành mây...

Từ đó, đạo Phật của chúng ta là:
Người giác ngộ là người chứng được tính Không, nhìn nhận về lục đạo luân hồi, tất cả nhân duyên, thiên đường địa ngục, giống như mây biến thành nước, nước biến thành băng vậy.

Tổ sư thiền tông xác định như sau:
"Không nghĩ thiện, không nghĩ ác của Lục Tổ là: nghĩ ác như dùng xích sắt trói buộc mình, nghĩ thiện như dùng xích vàng trói buộc mình, đều là sự trói buộc cả, chỉ có chứng nhập tính Không mới là giải thoát thực sự."

Có phải vậy không?
Không phải vậy sao?
Nhiều luận điểm bảo vệ lại khác nhau!

Tôi thích suy nghĩ về những vấn đề này khi leo núi, thậm chí khi leo núi, tôi không nhận ra rằng mình đang trầm tư, tôi như cảm thấy mình đã hòa mình vào núi rừng.


### 04. Mảnh vàng dưới ánh nắng


Dưới ánh nắng, xuyên qua rừng cây, tạo nên một cảm giác rất đặc biệt, mặt trời đang ở chính Ngọ, ánh dương vàng óng được tô điểm bởi cành lá sum suê, dù là trên lối mòn, trên người hay trên thân cây, đều có những mảnh vàng lấp lánh rực rỡ.

Đôi khi, không chỉ là mảnh vàng, nếu bạn chú ý xung quanh, giữa những tán lá rậm rạp, có ánh sáng bảy sắc, có cầu vồng.

Đó là lúc sương mù dày đặc bao phủ, hoặc sau cơn mưa, cảm giác lúc ấy, mọi thứ thật tươi mới, và tràn đầy niềm vui, một chút hơi lạnh, thực sự rất thư thái, ánh nắng, không khí, cây cối, và những thảm thực vật nhỏ bé, tất cả đều chào đón bạn.

Rừng cây trên núi Cầu Vồng rất khác biệt, khu rừng này không có hiểm nguy, có những chú hươu hiền lành, có tiếng chim hót líu lo. Nhưng lại không có rắn, tại sao không có rắn, có lẽ vì nằm ở vùng lạnh, loài rắn hiếm khi xuất hiện.
Núi Cầu Vồng có chim trĩ, tôi đã từng thấy.
Núi Cầu Vồng có sóc, tôi đã từng thấy.

Rừng trên núi Cầu Vồng có bầu không khí dịu dàng và vui tươi, nhưng cũng không nên mù quáng đi vào với tâm trạng quá phấn khích, vì nếu quá đắm chìm trong cảm xúc, chỉ một lúc sau, bạn sẽ bị lạc, mất phương hướng, đi vòng quanh mà không tìm được lối ra. Lúc đó, cảm giác về cái đẹp sẽ biến mất, và niềm vui cũng không còn nữa. Rừng thì rộng lớn, và rừng thì phức tạp.

Tôi thích những mảnh vàng lấp lánh giữa cành lá dưới ánh nắng, như một ảo ảnh, cũng là một sự mơ hồ, chúng ta yêu thích ánh sáng và yêu thích cầu vồng. Điều này khiến tôi nhớ đến năm xưa, thầy của tôi, Hòa Thượng Liễu Minh, người đã từng dạy tôi cách nhìn ánh nắng bằng pháp tụ quang.
Hòa Thượng Liễu Minh nói:
Pháp tụ quang trước tiên phải thanh tịnh thân, khẩu, ý.

Phải chọn thời điểm và hướng đối diện với mặt trời khi mới mọc, hoặc lúc mặt trời lặn.
Khi quan sát mặt trời, không nhìn trực tiếp, mà nhìn phía trên, phía dưới, bên trái, bên phải của mặt trời.
Ngồi thiền quán tưởng, xung quanh mặt trời có nhiều điểm sáng, có những vòng hào quang lấp lánh (đỏ, trắng, vàng, xanh dương, xanh lá).
Hành giả Mật giáo tiếp tục quán tưởng ở giữa trán mình có chữ Om ( ཨོཾ ) màu trắng, dùng sức mạnh của Bảo bình khí đưa nó ra ngoài, bay vào trong ánh sáng mặt trời, hòa hợp làm một, sau đó dùng ý niệm thu chữ ཨོཾ về lại giữa trán mình.
(Pháp này tu trong một tháng.)

Tiếp theo, bắt đầu tháng thứ hai, vẫn quan sát ánh sáng xung quanh mặt trời, rồi quán tưởng ở cổ họng mình có chữ Ah( ཨཱཿ ) màu đỏ, tương tự dùng sức mạnh của Bảo bình khí, đưa chữ ཨཱཿ bay ra ngoài, quán tưởng chữ ཨཱཿ hòa hợp làm một với ánh sáng mặt trời, sau đó dùng ý niệm của mình, thu hồi chữ ཨཱཿ trở về cổ họng mình, tu pháp như vậy cũng trong một tháng.

Tháng thứ ba tu pháp, cũng giống như phương pháp trên, sau khi quán tưởng hào quang mặt trời, nên quán tưởng ở vùng tim có chữ Hum( ཧཱུྃ ) màu xanh lam, là chú tự, dùng sức mạnh của Bảo bình khí, đưa nó ra ngoài, đi vào ánh sáng mặt trời hòa hợp với nhau, cuối cùng thu hồi chữ ཧཱུྃ trở về vùng tim của mình.

Pháp tụ quang này lấy ý niệm làm chủ, kết hợp với Bảo bình khí của mình, sức mạnh của hít vào và thở ra, đưa ánh sáng trắng, ánh sáng đỏ, ánh sáng xanh lam, ba loại màu sắc khác nhau, từ năng lượng mặt trời, dẫn vào thân hành giả Mật giáo, lan tỏa khắp toàn thân, đạt đến sự hợp nhất giữa ánh sáng bên trong và ánh sáng bên ngoài, toàn thân phóng đại quang minh, thành tựu thân cầu vồng.

Hòa Thượng Liễu Minh nói:
Pháp tụ quang khi có mặt trời, hãy nhìn mặt trời; khi có mặt trăng, hãy nhìn mặt trăng; khi có ánh sáng của sao, hãy nhìn ánh sáng của sao; nếu cả ba đều không có, hãy nhìn ánh sáng đèn màu đỏ.
Pháp tụ quang này mỗi ngày tu hai lần, cần tu ba năm.
Pháp tụ quang từ ý niệm kết hợp với Bảo bình khí, có thể giúp hành giả Mật giáo và ánh sáng vĩ đại nhất của vũ trụ hấp thụ lẫn nhau, hòa hợp làm một, đạt thành tựu lớn về thân cầu vồng.

Từ pháp tụ quang có thể thấy được:
Ánh sáng minh điểm.
Ánh sáng chuỗi kim cang.
Ánh sáng Bổn tôn.
Ánh sáng tịnh thổ.

Đây thực sự là một điều kỳ diệu, từ những mảnh vàng lấp lánh dưới ánh nắng, tôi liên tưởng đến những lời dạy của Hòa Thượng Liễu Minh, hành giả Mật giáo có thể hòa hợp làm một với đại nhật. Đại nhật thì bao la rộng lớn, con người và vũ trụ thì vô cùng phức tạp, trong khi pháp Mật giáo lại có năng lực mạnh mẽ, và ý niệm trong đó thì vô cùng tinh tế.

Chân Phật Mật Pháp là kinh nghiệm của các vị tổ sư, cũng là tri thức của các Ngài, đã luôn được lưu giữ trong ký ức của tôi.

Tôi thực sự đã nhận được sức mạnh kỳ diệu, và thực sự đạt được yoga vững chắc, lòng kiên trì và nghị lực của tôi đã giúp tôi tìm thấy tâm mình, và an định nó.

Trong tâm trí tôi, có một năng lượng hoạt động kỳ lạ, liên tục và tỏa sáng vô tận, tôi hiểu rõ ràng thế nào là khai ngộ, đây không phải ảo ảnh, cũng không phải quá trình, không phải giấc mơ, không phải tưởng tượng.
Người thế tục khó có thể hiểu được.
Nhưng, rồi một ngày nào đó! Thế gian sẽ hiểu.


### 05. Tìm kiếm thác nước


Gần sơn trang Cầu Vồng có khoảng sáu, bảy thác nước, những thác nước này có cái ẩn sâu trong thung lũng tuyệt đẹp, có cái nằm giữa những ngọn đồi nhỏ bao quanh, có những cái ở trong rừng cây, thậm chí có những cái đổ thẳng xuống từ trên cao, tạo ra âm thanh trầm đục trong thung lũng hẹp.

Một số thác nước nằm không xa đường cao tốc, nhưng có những thác phải đi qua nhiều đường mòn núi, thậm chí là vách đá cheo leo, đi mãi không ngừng, mới đến được suối thiêng không bị thế tục chạm đến.

Thế của thác nước, mỗi nơi một khác.
Có cái như nghìn quân vạn mã cuồn cuộn, khí thế kinh người.
Có cái nhỏ nhắn tinh khiết và trong sáng, chỉ phát ra một chút âm thanh.
Có cái phân nhánh chảy tràn, cọ xát thân mình giữa những khe đá hẹp.
Có cái thực sự rất đẹp, với dáng vẻ uyển chuyển nhất, dịu dàng tuôn chảy xuống, tỏa ra từng điểm sương mù.

Tôi thích thác nước.
Tôi luôn cảm thấy thác nước có một bầu không khí tuyệt vời, bầu không khí của thác nước gần như lấn át tất cả các bầu không khí khác. Khi chúng ta đi đến bất kì hướng nào của thác nước, bất kì ai cũng sẽ nhận thấy mỗi góc đều mang đến cảm nhận khác nhau.

Tôi nhận thấy, thác nước trong thung lũng rừng núi yên tĩnh, khi bạn tiến gần nó, nó thực sự đang tự thỏa mãn với niềm vui của chính mình, thực sự đắm chìm trong thế giới riêng, thực sự nó chỉ đang chảy xiết mà thôi, nó chỉ không ngừng di chuyển, nó chưa từng nhìn ngó xung quanh, nó không bao giờ lãng phí thời gian, bầu không khí của nó mạnh mẽ đến vậy.

Thác nước có điều đặc biệt.
Mỗi lần tôi đến xem nó, bầu không khí ấy luôn tồn tại, một bông hoa có thể héo tàn, nhưng dòng nước của thác bộc lộ sức mạnh kiên cường bất tận.
Dù thế nào đi nữa, thác nước đều là tinh linh.

Tôi từng nói với các đệ tử:
Dưới thác nước, kết ấn trì chú.
Âm thanh trì chú phải vang hơn cả tiếng thác nước. Chỉ nghe thấy âm thanh chú ngữ của mình, mà không nghe thấy tiếng nước thác ầm ầm.
Để tâm mình, dưới thác nước, không có chút sợ hãi nào.

Tôi lại nói:
Dưới thác nước, nhập định.
Buông bỏ thân tâm.
Hòa thân tâm mình vào trong thác nước, lúc này, hành giả Mật giáo sẽ nhận được sức mạnh lớn lao, sức mạnh đến từ thác nước, đầy tinh tấn, không gì không thể phá vỡ, vĩnh cửu, mạnh mẽ, và đầy hoài bão.
Sau khi xuất định, hãy dấn thân vào sự nghiệp chốn hồng trần.
Bạn là một dũng sĩ tràn đầy niềm tin.

Trong cảm nhận dưới thác nước, tôi nhớ đến cảm nhận về bốn yoga của Đại Thủ Ấn:
1. Yoga chuyên nhất - minh triệt.
2. Yoga ly hý - hiểu rõ tâm mình, tự tính.
3. Yoga nhất vị - Phật, bản thân, ngoại cảnh, tất cả không có tự tính, hợp làm một.
4. Yoga vô tu - vô tu là tu, nhậm vận.

Tôi cảm thấy thiền định trước thác nước cũng là một phương pháp tuyệt vời. Khi chúng ta ngồi thẳng lưng, nhìn thác nước, lắng nghe tiếng nước, tâm thức quay về thế giới tĩnh lặng bên trong, thậm chí quán tưởng thân tâm mình đều không; Phật, bản thân và ngoại cảnh, cả ba hòa quyện vào nhau, trong một khoảnh khắc, mây bay trên bầu trời, cá nhảy trong vực sâu, Bổn tôn như huyễn hiện ra.

Hoặc, hoàn toàn không điều chỉnh ý niệm, đi theo dòng nước thác, đi theo âm thanh thác nước, hoàn toàn không quan tâm. Vào thời khắc này, Pháp thân chân thật hiển hiện. Tại sao vậy? Pháp thân chân thật hiển hiện vì tâm không trụ vào đâu cả. Trong Đại Thủ Ấn, là có thể không thể, là khổ là vui đều không nghĩ đến, vui vẻ sáng suốt vô niệm, không phân biệt không khác biệt, đó là niệm vô niệm.

Loại thiền định này có "hữu sở y" và cũng có "vô sở y". Nếu có thể, khi ở dưới thác nước, buông bỏ hình tướng của thác nước, nhận ra tất cả đều không, hiểu rõ vạn cảnh đều không có tự tính, hoặc thấy bản thân và ngoại cảnh đều biến mất không còn. Đây chính là:
Lìa các tác ý và chấp thật
Cũng không để sắc trói buộc tâm
Tự tâm vô ngại như con trẻ
Theo tự minh thể tâm làm chủ
Vọng niệm khởi thì quán tự tính
Nên biết thanh sắc là không khác
Lìa các chấp thật đừng trụ biên,
Sẽ thấy Mật pháp tối thượng nghĩa.

Tìm kiếm thác nước, từ thác nước để cảm nhận bốn yoga của Đại Thủ Ấn, đây chính là chân tướng của Mật pháp, điểm này là điều duy nhất quan trọng, chúng ta đi tìm thác nước, đi dạo chơi, rèn luyện thể chất, không hề lãng phí thời gian và sức lực.
Đi tìm thác nước, sẽ nhận được sức mạnh lớn lao.
Đi tìm thác nước, sẽ tìm thấy tự tính.
Đi tìm thác nước, sẽ đạt được sự thanh tịnh.


### 06. Gió xuống núi


Seattle Hoa Kỳ, nằm ở khu vực Tây Bắc của bản đồ Hoa Kỳ, gần Vancouver của Canada, thời tiết ở đây có bốn mùa rõ rệt.
Mùa xuân — phong cảnh tươi đẹp, với hoa tulip, hoa nhài, hoa hồng, hoa anh đào... Seattle trở thành thành phố hoa, đẹp không thể tả xiết. 
Mùa hè — không khí oi bức tràn ngập, người người tắm biển, tắm hồ và tắm nắng.
Mùa thu — ánh nắng mặt trời dần dần phai nhạt, lá cây vàng, lá phong đỏ, cảnh tượng tàn phai khắp nơi.
Mùa đông — cành khô, mây dày và mưa, tuyết rơi, băng giá, đất trời lại một lần nữa trắng xóa tinh khiết.

Tôi có cảm xúc rất sâu sắc về mùa đông ở Seattle. Mùa đông ở Seattle gần như toàn bộ là mùa mưa, dưới những đám mây đen nặng nề, không thể nhìn thấy ánh mặt trời, mưa rả rích không ngừng, có lúc là mưa như trút nước, có lúc là mưa phùn, thỉnh thoảng chỉ ngừng khoảng một ngày, rồi lại bắt đầu, đôi khi mưa mùa đông ở Seattle, một khi bắt đầu, kéo dài suốt hai tháng.

Trong mùa mưa đông, mặt đất gần như một màu đen, chỉ khi tuyết rơi, mặt đất mới trắng tinh khôi, thời tiết vừa lạnh vừa cóng vừa tuyết vừa mưa.
Nơi này, người mắc chứng trầm cảm rất nhiều.

Mùa đông ở Seattle kéo dài rất lâu, thường bắt đầu từ tháng 11 mỗi năm và kéo dài đến tháng 4 năm sau.

Tôi xin nói thêm về sơn trang Cầu Vồng.
Sơn trang Cầu Vồng nằm ở phía Đông Seattle, có đường cao tốc số 90 dẫn đến đó, từ Seattle đến sơn trang Cầu Vồng mất khoảng một giờ lái xe.

Thời tiết ở sơn trang Cầu Vồng về cơ bản không khác nhiều so với Seattle, nhưng địa thế cao hơn. Vị trí địa lý của sơn trang Cầu Vồng nằm trong thung lũng giữa bảy ngọn núi, nên theo phong thủy, đây là huyệt "thất tinh lạc địa".

Do vị trí địa hình cao, là cửa ra vào của dãy núi Rocky, vào mùa đông, nơi đây lạnh hơn đồng bằng, tuyết rơi cũng vậy, thường thì sơn trang Cầu Vồng đã có tuyết rơi trong khi Seattle vẫn chưa. Chỉ cần vượt qua một ngọn núi là đến khu trượt tuyết nổi tiếng Snoqualmie, một địa điểm trượt tuyết nổi tiếng vào mùa đông. Từ sơn trang đến Snoqualmie chỉ mất hai mươi phút.

Sơn trang Cầu Vồng có một vấn đề khiến chúng tôi đau đầu, đó là ở đây có gió xuống núi, loại gió xuống núi này đến cùng mùa đông, thổi từ cửa gió của dãy núi Rocky, gió xuống núi đến núi Cầu Vồng rồi thổi thẳng xuống.
Gió mạnh đến mức đáng sợ.
Thổi giật các cây cối.
Tiếng gió xuống núi rít lên rất đáng sợ.
Đủ loại âm thanh gào thét.

Khi gió xuống núi thổi mạnh, tường rào bị thổi đổ, lều bạt bị thổi bay, cây bị thổi ngã, thùng rác biến mất, ngay cả việc đi bộ cũng rất khó khăn, đi ngược gió còn khó hơn đi lùi.
Thượng sư Liên Hương nói:
"Sơn trang Cầu Vồng có gió xuống núi không tốt!"

Khi gió xuống núi đến, dường như phá hủy phần lớn mọi thứ, hành vi của gió xuống núi thô lỗ, đầy tham vọng, dữ dội và xảo quyệt, đến thì đến đi thì đi. Đối với gió xuống núi, con người cho đến nay chỉ có thể tìm hiểu nguyên nhân và giải thích nguồn gốc của nó, chứ không hề có biện pháp giải quyết nào.

Thực tế, con người tuy nghiên cứu về sự biến đổi thời tiết đất, nước, lửa, gió, tuyết, mưa, sương mù, sương giá, nhưng những hiện tượng này vẫn không thay đổi theo các thiết bị khoa học, tất nhiên, gió xuống núi là điều không thể thay đổi được.

Chúng tôi đã từng tu pháp Hộ Ma cho gió xuống núi.
Cúng dường thần núi và thần gió.
Cầu xin thần gió nhân từ hơn, thần gió nho nhã hơn, thần gió lịch sự hơn.
Tình hình dường như đã cải thiện.

Tuy nhiên, mặc dù đã tốt hơn một chút, khi không thực hiện Hộ Ma thì vẫn còn tất cả những ồn ào huyên náo.
Họ vẫn như vậy, tại sao?

Tôi nhận ra rằng, bất kì lời giải thích nào cũng không có ý nghĩa gì, tất cả những lời giải thích chỉ là sự trốn tránh, chúng ta chỉ có thể đối diện với thực tế của gió xuống núi.

Tôi nhận ra, trong Ấn Độ giáo có ba vị thần lớn, thần Sáng Tạo Đại Phạm Thiên, thần Hủy Diệt Đại Tự Tại Thiên, thần Bảo Hộ Biến Tịnh Thiên. Tôi hoàn toàn ý thức được đạo lý của ba vị thần này và muôn vàn đạo lý của thế gian.

Đức Phật đã dạy như sau:
"Thế giới phải trải qua thành, trụ, hoại, không; còn con người phải trải qua sinh, lão, bệnh, tử, khổ."
Ngũ Đài Sơn - thánh địa Phật giáo của Trung Quốc, mỗi năm phải chịu tuyết lớn phong tỏa núi trong ba tháng.
Tây An - cố đô của Trung Quốc, mỗi năm có mùa gió cát, đưa tay không thấy năm ngón.
Còn sơn trang Cầu Vồng thì có gió xuống núi.

Sau khi gió xuống núi đi qua, chỉ sau vài ngày, mặt trời sẽ xuất hiện, vạn vật trên mặt đất sẽ lấp lánh ánh sáng, cây cối xanh đến kinh ngạc, buổi sáng sớm chim chóc hót vang, và khắp nơi đều có hoa, ngay cả hoa cúc dại cũng rất đáng yêu.
............
Đây chính là luân hồi và cũng là nhân duyên vậy!


### 07. Ngôi sao cô đơn


Vào một đêm sâu lắng, tôi vô tình ngước nhìn lên bầu trời, chỉ thấy một màn đen bao phủ, và chỉ có một ngôi sao đang lấp lánh.
Những ngôi sao khác đâu rồi?
Liệu những ngôi sao khác đã bỏ rơi ngôi sao này, hay chính ngôi sao này đã bỏ rơi những ngôi sao khác, dù thế nào thì ngôi sao này vẫn cô đơn đi trên con đường của riêng mình.

Tôi từng đến thăm cố đô Agra ở Ấn Độ, trên một con đường nhộn nhịp, tôi nhìn thấy một thanh niên, trên người anh ta ngoài chiếc khố sạch sẽ quấn quanh hông ra thì chẳng có gì khác, đôi tay anh đang đẩy một chiếc xe kéo hai bánh, trên xe có một người đang nằm.

Khi tôi nhìn kĩ người nằm trên xe, tôi sững người, rất bất ngờ, người này toàn thân được quấn vải, hóa ra đó là một thi thể.
Trên thi thể có những bông hoa màu vàng, có vòng hoa đặt trên thi thể.

Chiếc xe tôi đang ngồi và chiếc xe chở thi thể của chàng thanh niên di chuyển song song với nhau, tôi nhìn thấy rõ ràng, trực tiếp và công khai như vậy.
Hoàn toàn không có người đưa tang hay xe đưa tang.
Hoàn toàn không có quan tài, không có xe linh cữu.
Hoàn toàn không có người thân bạn bè.
Tất cả đều đơn giản như vậy.

Hướng dẫn viên nói với chúng tôi:
"Đây là người sẽ được hỏa táng ở một bãi cát kín đáo, hoặc sẽ được đẩy đến bờ sông (sông thiêng) để hỏa táng. Người Ấn Độ đã quá quen thuộc với những thi thể như thế này, không có gì đáng ngạc nhiên cả, cái chết hiện diện khắp nơi, chúng tôi sống cùng cái chết mỗi ngày."

Tôi đã đến Varanasi tham quan khu hỏa táng bên sông Hằng, thi thể nằm xếp hàng từng dãy, lửa cháy không ngừng.

Trong cả cuộc đời mình, đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy nhiều thi thể được xếp hàng như vậy, đang chờ hóa thành tro bụi.
Tôi nhớ lại lời của hướng dẫn viên: "Cái chết hiện diện khắp nơi, cái chết ở cùng chúng tôi."

Tôi cảm nhận rằng, lời Đức Phật dạy quả thật là chân lý, có sinh ắt có tử. Cái chết giống như sông Hằng của Ấn Độ, nuốt chửng thi thể của người Ấn Độ, không chỉ nuốt chửng thi thể, nó còn nuốt chửng tất cả mọi thứ của con người, như tình yêu, địa vị, tiền bạc, hư vinh, hạnh phúc, đau khổ, kiến thức... Tất cả mọi thứ, tất cả những gì tích lũy được, cuối cùng đều thuộc về sông Hằng.

Khi một người chết đi.
Giống như một ngôi sao cô đơn trên bầu trời.
Chỉ đi một mìni.

Tôi đã từng lắng lòng suy nghĩ kĩ về điều này.
Sự ra đời của tôi, tuổi thơ của tôi, những năm tháng học hành trưởng thành, sự nghiệp thời trai trẻ, việc học Phật xuất gia, việc sáng lập Chân Phật Tông, sự tu hành chứng ngộ, và cuối cùng, sự ẩn cư của tôi, cuối cùng tôi sẽ đối mặt với:
Cái chết.

Sau khi chết, tôi không thể viết sách nữa.
Sau khi chết, tôi không thể vẽ tranh nữa.
Sau khi chết, tôi không thể hoằng pháp nữa.

Trong một thời gian ngắn, tôi đương nhiên đã chứng kiến nhiều vị sư phụ qua đời.
Sư phụ Liễu Minh đã mất, Đại Bảo Pháp Vương thứ 16 đã mất, Thượng sư Sakya Chứng Không đã mất, hòa thượng Tuệ Tam đã mất, hòa thượng Hiền Đức đã mất, Thượng sư Phổ Phương đã mất, cư sĩ Lý Bỉnh Nam đã mất.......

Tôi đã chứng kiến nhiều vị sư phụ qua đời.
Tôi là người quan sát, nhưng......
"Người quan sát cũng là người bị quan sát, người trải nghiệm cũng là người bị trải nghiệm."
Một ngày nào đó, các đệ tử của tôi sẽ nói:
"Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đã mất."

Vào lúc này, tôi muốn nói với tất cả các đệ tử rằng:
"Sách của tôi vẫn tồn tại, tranh của tôi vẫn tồn tại, Chân Phật mật pháp của tôi vẫn tồn tại, và quan trọng nhất là, tình thương của tôi vẫn tồn tại."

Vào lúc này, trên bầu trời phương Tây sẽ xuất hiện một cầu vồng, với ánh sáng rực rỡ bao la, một đóa sen lớn bằng mặt trăng sẽ từ từ hiện ra, tôi sẽ trẻ trung hơn hiện tại, ánh sáng của tôi mạnh mẽ và vĩnh cửu, chiếu soi khắp mười phương, đây là khoảnh khắc giải thoát khi nhân duyên ở cõi Ta Bà đã đến.

Tiếng cười của trẻ thơ đã biến mất, giấc mơ đã tan vỡ, hôn nhân và gia đình con cái đều đứt đoạn, Phật sự của Chân Phật Tông đã không còn, trên con đường như vậy, cái chết chính là kẻ kết thúc tất cả, hơi thở không còn tồn tại, tất cả cũng sẽ không tồn tại.
Liệu tôi sẽ trở thành một ngôi sao cô đơn gần mặt trăng?
Liệu tôi sẽ cô độc trong bóng tối?
Liệu tôi sẽ phải đi một mình?
Không!

Đây không phải là cái chết, mà là tái sinh, là một dạng giải thoát. Bản thân tôi sẽ trải nghiệm nó, với ánh sáng từ chính mình (tử quang), trở về biển thánh Tỳ Lô của ý thức vũ trụ (mẫu quang), "tịnh quang tử mẫu" hợp nhất, đạt được "ánh sáng quả vị". Đây không phải là cái chết, nó là vĩnh hằng.


### 08. Trung ấm


Đoạn văn trước đã viết về ngôi sao cô đơn, điều này làm tôi nhớ đến trung ấm (linh hồn).
Có đệ tử gửi thư hỏi tôi:
"Những điều được ghi trong 'Tử Thư Tây Tạng' có thật không?"
Câu trả lời của tôi như sau:
"Khi một người chết đi, tứ đại (đất, nước, lửa, gió) tan rã, chỉ còn lại thần thức của mình, thần thức này được người thường gọi là linh hồn, trong Mật giáo gọi là trung ấm, 'Tử Thư Tây Tạng' được viết dựa trên những ảo tưởng phát sinh từ sự tự ý thức của thân trung ấm."

Lưu ý:
Phật môn Hiển giáo ít khi đề cập đến hiện tượng trung ấm sau khi chết.
Phật môn Mật giáo có pháp cứu độ trung ấm, pháp dịch chuyển thần thức, pháp trung ấm tự cứu, pháp ly xá, pháp đoạt xá, v.v...

Theo cá nhân tôi: Những ghi chép trong "Tử Thư Tây Tạng" dựa trên sự tu tập của hành giả Mật giáo, những người không thể tức thân thành Phật, rơi vào trung ấm, và những hiện tượng do tự ý thức của họ biến hiện. Trọng điểm nằm ở bốn chữ "tự thức biến hiện", vì vậy khi hỏi tôi có thật không, tôi trả lời: "Tự thức biến hiện."

Theo hiểu biết của tôi, cái chết của mỗi người đều khác nhau, tùy thuộc vào công phu tu hành của từng người. Đệ tử Chân Phật Tông Mao Hợp Quản khi vãng sinh đã: Một, nhất tâm bất loạn. Hai, biết trước thời điểm ra đi. Ba, tịnh niệm không dứt. Bốn, trì chú niệm Phật. Năm, ngồi ngay ngắn chắp tay. Sáu, hương lạ tỏa khắp phòng. Bảy, Phật A Di Đà hiện thân. Tám, ánh sáng cầu vồng xuất hiện. Chín, nhạc trời vang vọng. Mười, hỏa táng có xá lợi. Mười một, hiện thân báo điềm lành.

Có người khi chết:
Nghiệp thiện mạnh cảm ứng với đường thiện. (trời, người, atula)
Nghiệp ác mạnh cảm ứng với đường ác. (địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh)
Có nhiều biến hiện, tất cả đều tùy thuộc vào nghiệp lực.

Pháp cứu độ trung ấm của Mật giáo ghi chép hiện tượng cảm ứng trong mười bốn ngày:

Ngày thứ nhất: thấy ánh sáng xanh lam rực rỡ, Tỳ Lô Giá Na Phật hiện ra, cần nhanh chóng hòa nhập vào ánh sáng xanh, đừng theo ánh sáng trắng yếu ớt.

Ngày thứ hai: thấy ánh sáng trắng tinh khiết, A Súc Như Lai hiện ra, cần nhanh chóng hòa nhập vào, đừng theo ánh sáng sương mù.

Ngày thứ ba: thấy ánh sáng vàng tinh khiết, Bảo Sinh Như Lai hiện ra, cần nhanh chóng hòa nhập vào, đừng theo ánh sáng vàng nhạt.

Ngày thứ tư: thấy ánh sáng đỏ rực rỡ, A Di Đà Phật hiện ra, cần nhanh chóng hòa nhập vào, đừng theo ánh sáng đỏ yếu ớt.

Ngày thứ năm: thấy ánh sáng xanh lục tinh khiết, Bất Không Thành Tựu Phật hiện ra, cần nhanh chóng hòa nhập vào, đừng theo ánh sáng xanh lục nhạt.

Ngày thứ sáu: thấy ánh sáng rực rỡ ngũ sắc, năm vị Phật cùng hiện ra, cần nhanh chóng hòa nhập vào, đừng theo các ánh sáng màu khác.

Ngày thứ bảy: các vị của năm bộ hiện ra, cầm dao lưỡi liềm, bình đựng xương sọ người, mỗi vị đều có ánh sáng trí tuệ, không được sợ hãi, có thể hòa nhập vào, đừng theo ánh sáng yếu ớt.

Ngày thứ tám: phẫn nộ tôn uống máu của Phật bộ hiện ra, với ngọn lửa trí tuệ, chín mắt, tỏa ánh sáng như tia chớp, không được sợ hãi, cần hòa nhập vào.

Ngày thứ chín: phẫn nộ tôn uống máu của Kim Cang bộ hiện ra, ánh sáng xanh, ba mặt, tỏa ánh sáng như tia chớp, không được sợ hãi, cần hòa nhập vào.

Ngày thứ mười: Phẫn nộ tôn uống máu của Bảo bộ hiện ra, ánh sáng vàng, ba mặt, tỏa ánh sáng như tia chớp, không được sợ hãi, cần hòa nhập vào.

Ngày thứ mười một: Phẫn nộ tôn uống máu của Liên Hoa bộ hiện ra, ánh sáng đỏ, ba mặt, không được sợ hãi, cần hòa nhập vào.

Ngày thứ mười hai: Phẫn nộ tôn uống máu của Yết Ma bộ hiện ra, ánh sáng xanh lục, ba mặt, không được sợ hãi, cần hòa nhập vào.

Ngày thứ mười ba: Tám vị phẫn nộ tôn hiện thân, tám vị tôn nữ hình dáng khác thường hiện thân, mỗi vị ngự tại tám phương, bao quanh hai lớp, mỗi vị đều hiện tướng hung ác tàn bạo, hành giả khi thấy hiện tượng này nên trì chú niệm Phật.

Ngày thứ mười bốn: Lại hiện ra bốn vị phẫn nộ tôn nữ thân hình khác thường bảo vệ bốn cửa, bên ngoài có hai mươi tám tôn nữ thân hình khác thường. Khi thấy hiện tượng như vậy, không nên sợ hãi, chuyên tâm trì chú niệm Phật, sẽ có thể vãng sinh tịnh thổ.

Nếu thân trung ấm (linh hồn), do nghiệp lực và chấp trước, bỏ lỡ cơ hội vi diệu của sáu ngày đầu, cũng bỏ lỡ sự cứu độ của chư vị phẫn nộ tôn trong tám ngày tiếp theo, thì sau đó vua quỷ và lính quỷ sẽ xuất hiện, thân hình cao lớn hung dữ, thực hiện những hành động tàn bạo.

Sau mười bốn ngày, nghiệp lực hiện tiền, có nghiệp gió sắc như dao, có hố đen tối lớn, có tiếng kêu thét thảm thiết và nhiều hiện tượng khác nữa.

Tôi tự biết rằng:
Chư Phật Bồ Tát đều từ bi với chúng sinh, nên khi một người rơi vào trung ấm (linh hồn), năm bộ Phật tôn và các vị phẫn nộ tôn biến hóa từ năm bộ Phật, trong mười bốn ngày, lần lượt phóng quang để nhiếp thọ chúng sinh.

Điều đáng sợ nhất là, người thường khi vừa nhập vào trung ấm (linh hồn), như trong mộng huyễn, tâm vô cùng kinh hãi, không thể tự chủ, mơ mơ hồ hồ, không thể tự cứu, ngược lại còn bị nghiệp lực của mình cuốn theo, đi theo ánh sáng yếu ớt, mờ nhạt, như sương khói, và thế là đọa lạc.

Vì vậy Mật giáo dạy mọi người, khi rơi vào trung ấm (linh hồn), ghi nhớ bốn điều:
Một, nhất tâm bất loạn.
Hai, không được sợ hãi.
Ba, niệm Phật trì chú.
Bốn, tùy niệm nhiếp nhập vào đại quang minh.
Ngay cả khi đã qua mười bốn ngày, hành giả vẫn giữ bốn điều trên, huyễn tướng cũng sẽ tan biến, ánh sáng liền hiện.


### 09. Liên tưởng về hạt giống


Đến thăm một vườn hoa xinh đẹp, không khí thật tĩnh lặng, trong lòng không gợn chút sóng lăn tăn, đây là lúc tuyệt vời nhất để ngắm hoa.

Thưởng thức muôn màu sắc của hoa cùng nụ cười rạng rỡ của chúng, không gian tràn ngập bầu không khí bình yên vô tận.

Chúng tôi thong thả đến cửa hàng bán hạt giống, nơi bán đủ loại hạt giống hoa, được đựng trong từng túi giấy nhỏ, kèm theo những hình ảnh đầy màu sắc của hoa khi nở, cùng đất trồng dinh dưỡng và các dụng cụ làm vườn. Có một cụ già ngậm tẩu thuốc, ngồi cô đơn sau quầy thu ngân, ông ấy luôn ở đó một mình, chờ đợi khách hàng ghé thăm.

Đột nhiên, trong đầu tôi nảy ra những ý nghĩ kỳ lạ:
Một, liệu có hạt giống của hoa mẫu đơn, mà khi gieo xuống, lại mọc lên thành hoa bìm bìm không?
Hai, liệu có loài hoa nào, một khi đã nở, sẽ không bao giờ tàn không?

Tôi bảo một đệ tử đi hỏi cụ già.
Người đệ tử không dám.
Đệ tử nói:
"Đó là những câu hỏi rất vô nghĩa, người ta sẽ coi mình là người bị bệnh tâm thần!"

Tôi nghĩ về hai câu hỏi này, tuy có vẻ kỳ lạ, nhưng thực ra rất đỗi bình thường. Từ câu hỏi đầu tiên, tôi liên tưởng đến thức, duy thức, chủng tử thức. Còn có nhân duyên, nhân quả, thập nhị nhân duyên.
Từ một hạt giống, tôi nghĩ đến túc mệnh, định mệnh.
Tại sao hạt giống của hoa mẫu đơn không thể mọc thành hoa bìm bìm?
Tại sao loài có gai thì nhất định phải sinh ra gai?
Tại sao hoa năm cánh không thể mọc thành sáu cánh?

Trong Phật giáo, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý là sáu thức.
Thức thứ bảy là Mạt-na thức.
Thức thứ tám là A-lại-da thức.
Thức thứ chín là Am-ma-la thức.
Thức thứ mười là Vô lượng thức.
Trong đó, thức thứ tám được giải thích là chứa đựng hạt giống của tất cả các pháp, là gốc rễ của tất cả pháp hữu vi, dù hữu lậu hay vô lậu. A-lại-da thức này được gọi là chủng tử thức.

Phật giáo nghiên cứu về thức, có Duy thức, có Pháp Tướng tông, có Vạn pháp duy thức.

Trong đó ba tính của duy thức là:
Một, tính biến kế sở chấp.
Hai, tính y tha khởi.
Ba, tính viên thành thật.
Trong đó, tính thứ hai là pháp nhân duyên sinh ra từ hạt giống.

Về vấn đề duy thức, trong Phật pháp, đây là điều vô cùng thâm sâu, từ biến đổi ban đầu, biến đổi thứ hai, biến đổi thứ ba, mà hiển hiện ra các loại thức.

Tôi cũng nghĩ rằng hạt giống cũng có sự biến đổi lớn, một biến thành mầm, hai biến thành cây con, ba biến thành thân, bốn biến thành lá, năm biến thành hoa, sáu biến thành quả........

Nếu nghiên cứu sâu về hạt giống của hoa, chẳng phải sẽ biến thành học thuyết duy thức của hoa trong hình thái ý thức sao?
Duy thức duy tâm của con người có thể thành Phật, vậy duy thức duy tâm của hoa có thể thành gì?

Câu hỏi đầu tiên của tôi là "có loài hoa nào, một khi đã nở, sẽ không bao giờ tàn không?"
Câu trả lời là "không có."

Bởi vì tất cả hiện tượng trên thế giới này đều là phân mảnh, con người là phân mảnh, đất đai là phân mảnh, mọi sự việc đều là phân mảnh, tất cả những gì có hình tướng đều là phân mảnh, sự sống là phân mảnh, nên hoa cũng là phân mảnh.
Phân mảnh là bình thường.
Phân mảnh cũng là vô thường.
Vì vậy, vạn hành vô thường là bình thường.

Tôi rất tâm đắc với ba câu trong Kinh Niết Bàn:
Tất cả các thế gian, sinh ra đều về cõi chết, tuổi thọ tuy vô lượng, cuối cùng cũng phải có lúc kết thúc.
Thịnh ắt sẽ suy, hợp rồi sẽ tan, tuổi trẻ không tồn tại mãi, sắc đẹp rồi sẽ bị bệnh tật xâm chiếm.
Bánh xe khổ đau không có giới hạn, luân hồi không ngừng nghỉ, ba cõi đều vô thường, mọi cái có đều không có niềm vui.

Phật dạy:
Các hành vô thường, là pháp sinh diệt;
Sinh diệt đã diệt, tịch diệt là vui.

Đại sĩ Duy Ma Cật dạy:
"Thân này như bọt nước, không thể tồn tại lâu; thân này như huyễn ảo, sinh ra từ điên đảo; thân này như giấc mộng, sinh từ vọng tưởng; thân này như bóng, hiện ra từ nghiệp duyên."
Thân người này như hoa vậy!

Vì thế, từ việc nghiên cứu thân người, tiến tới nghiên cứu các loại nghiệp, các loại duyên của thân người, rồi đi vào thức của nghiệp duyên, từ thức lại đi vào hạt giống.
Hạt giống sinh ra tất cả.
Còn duy thức chỉ là phân biệt tất cả mà thôi!
Đây là liên tưởng về hạt giống.


### 10. Hiên nghe mưa


Thỉnh thoảng, tôi bước đến hiên hóng mát của sơn trang Cầu Vồng, ngồi trên ghế gỗ của hiên, không có một chút suy nghĩ hay một chút nhớ nhung nào, lúc đó, thật tuyệt!

Đôi khi, những hạt mưa bay lất phất, rơi trên mái gỗ của hiên, âm thanh lộp độp, như thể tâm hồn được nghỉ ngơi thật sâu.
Tôi rất muốn đặt tên cho hiên hóng mát này, gọi là: 
"Hiên nghe mưa."

Lắng nghe mưa thật kĩ, dù tiếng bước chân của mưa có vẻ hỗn loạn, nhưng, trong hỗn loạn, tự nó cũng tạo ra trật tự.

Âm thanh của mưa cũng có trật tự, tôi bật cười, trật tự này cũng là một kiểu tự nhiên phải không! Tôi nghĩ đến tâm hồn con người, tâm hồn có lúc tỉnh thức, tâm hồn cũng cần có lúc nghỉ ngơi, tâm hồn cũng phải có trật tự! Trật tự của tâm hồn chính là trạng thái thiền định.

Tôi tự nhận thấy:
Con người sống trên thế giới này, có rất nhiều chuyện gây nên sự hỗn loạn trong tâm hồn!
Cũng có rất nhiều hiện tượng gây nên sự mê hoặc trong tâm hồn!
Còn có những xung đột tâm hồn.
Những nút thắt tâm hồn.
Sự cực đoan của tâm hồn.

Tôi nghĩ, tất cả những điều này là khi tâm hồn đã lạc lối, tâm hồn mất đi trật tự, tâm hồn không thể phát huy chức năng một cách hiệu quả và khách quan, tâm hồn đã bệnh, tâm hồn mất đi tác dụng ổn định, sẽ tạo ra những cơn cuồng phong bão tố.

Khi tôi ngồi trong hiên nghe mưa lắng nghe tiếng mưa…
Bãi cỏ bên cạnh hiên, xanh đến long lanh, một mảnh tĩnh lặng, tiếng mưa rơi tí tách trên hiên, cũng rơi xuống tâm hồn tôi.

Khi mưa lớn, ầm ầm rào rào.
Khi mưa nhỏ, tí tách tí tách.
Khi tôi lắng nghe tiếng mưa, đồng thời cũng đang lắng nghe tâm hồn của chúng sinh!

Tâm hồn chúng sinh trở nên hỗn loạn và bất an, đánh mất trật tự, có những vết thương và nỗi buồn, mang đầy thương tích, nước mắt đầm đìa, con người trở nên thất vọng, tuyệt vọng, nghẹt thở, méo mó, làm tổn thương lẫn nhau, ô nhiễm, đấu tranh, và có những ý niệm xấu xa...

Tại sao lại như vậy?
Có người nói:
Đó là do lòng tham gây ra!
Con người quá tham lam!
Người tham tiền, tham sắc, tham danh, tham vị!
Kẻ xu nịnh càng thêm xu nịnh!
Kẻ tội lỗi càng thêm tội lỗi!
Vì lòng tham, không từ thủ đoạn, trở thành sân hận!
Vì lòng tham, đánh mất lý trí, trở thành si mê!
Tham, sân, si là nguồn gốc tội lỗi của tâm hồn.

Người này nói rất đúng, thế giới chúng ta đang sống là một thế giới đầy tham, sân, si. Tham, sân, si này tràn ngập trong tâm hồn mỗi người, thậm chí ở mọi nơi, thậm chí ở mỗi quốc gia. Do tham, sân, si mà có tham vọng và cạnh tranh, có bạo lực và tổn thương, những hiện tượng này, từ cá nhân đến quốc gia, đều là như vậy. Thực ra, chỉ cần tĩnh tâm suy nghĩ một chút, những hiện tượng này ở khắp thế giới đều giống nhau!

Tuy nhiên, chúng ta chắc chắn phải sống trong quốc gia đầy tham, sân, si; chúng ta chắc chắn phải sống ở nơi đầy tham, sân, si; chúng ta chắc chắn phải sống giữa đám đông đầy tham, sân, si; sống như vậy, tâm hồn và thể xác khó tránh khỏi bị tổn thương; bạn, tôi, họ đều như thế, không một ai là ngoại lệ.

Tôi hiểu:
Tôi học Phật vẫn bị tổn thương!
Không học Phật cũng vẫn bị tổn thương!
Từ nhỏ đã bị tổn thương!
Đến già vẫn bị tổn thương!
Liệu tôi có thể không bao giờ bị tổn thương không?
Câu trả lời rất đơn giản, chỉ có ba chữ: "Không thể nào!"

Từ tiếng mưa đứt quãng, tôi nghe được vài từ: "Hãy xem tất cả tổn thương như không có tổn thương, chỉ có như vậy mới là không bao giờ bị tổn thương."
Nghe mưa nghe được gì?
"Tổn thương là đẹp, tổn thương là tình yêu!"
"Tổn thương là tự nhiên, tổn thương là trạng thái chân thực!"

Trong hiên nghe mưa, tôi nghe mưa và nghe ra triết lý, dù có nhiều chuyện xảy ra với bản thân tôi, nhưng hãy tự hiểu đây là động thái của cả thế giới, bạn thấu hiểu nó, nhìn thấy sự thật, bạn tu thành bốn chữ: "Như không có gì!"


### 11. Thiên Mã đang bay 


Từ cổng chính của sơn trang Cầu Vồng nhìn ra, có thể thấy núi Thiên Mã, chỉ cần ngắm nhìn dáng vẻ hùng vĩ tuyệt đẹp của núi Thiên Mã, tôi đã đắm say.

Bất kể là lúc nào nhìn núi Thiên Mã, nó luôn khác biệt, buổi sáng và hoàng hôn khác nhau, giữa trưa và đêm tối khác nhau, xuân hạ thu đông đều khác nhau.

Núi Thiên Mã vàng óng, núi Thiên Mã xanh thẫm, núi Thiên Mã trắng bạc, núi Thiên Mã đen tuyền, ngoài ra, còn có một mảng đỏ tươi.

Nhìn núi Thiên Mã, không phải cố ý chú ý đến nó, mà là tình cờ, bước ra khỏi cổng lớn, nhìn ra ngoài cửa sổ, đã chạm đến thị giác. Ngọn núi này thực sự luôn đồng hành cùng chúng ta; có khi, bạn sẽ nhớ về điều gì đó; có khi, trong lòng bạn sẽ gợn sóng; có khi, tâm trạng sẽ khác đi; có khi, nhận được một số gợi ý; hoặc có khi, bạn nhìn núi Thiên Mã, chẳng là gì cả, hoàn toàn tĩnh lặng.

Tôi và các đệ tử ngắm núi Thiên Mã.
"Đây là thiên mã gì vậy?"
"Thiên mã trái, đầu ngựa ở bên trái, bay về bên trái là thiên mã trái. Nếu đầu ngựa ở bên phải, bay về bên phải là thiên mã phải." - Tôi đáp.
"Thiên mã có bay không?" - Đệ tử hỏi.
"Anh thấy nó động? Hay tĩnh?" - Tôi hỏi lại.
"Động tĩnh đều nằm trong tâm mình." - Đệ tử trả lời.

Đệ tử này hiểu được thiền cơ, mỗi người nhìn một ngọn núi, mỗi người có cách nhìn khác nhau, đó là do suy nghĩ khác nhau của mỗi người, điều này tạo ra những quan điểm hoàn toàn khác nhau, đó là thiền cơ, là triết lý, cũng là một nghệ thuật.

Bạn nói núi Thiên Mã là tĩnh, đó là vì tâm bạn tĩnh.
Bạn nói núi Thiên Mã là động, đó là vì tâm bạn động.

Trước đây tôi thường nghĩ, đã đến lúc tôi cần tìm kiếm sự tĩnh lặng thực sự, tôi đã trải qua sự dạy dỗ của nhiều vị thầy, cũng trải qua việc tìm hiểu qua sách vở, thực sự tu hành suốt bao nhiêu năm, tôi đã từng ăn chay, cũng từng tiết dục, tôi đã từng tu khổ hạnh, tự giam mình..........

Tôi biết những phương pháp tu hành này chỉ là một phương tiện, chỉ là một công cụ, không nhất định thực sự có lợi ích.
Tổ sư Naropa nói: "Đừng làm gì cả!"
Đừng làm gì cả! Có phải là thiền định không? Đúng vậy, đó là thiền định.

Một câu nói rất quan trọng của Longchenpa:
"Khi hành giả ngồi thiền, nếu chấp vào tính Không, cần biết rằng tâm chấp vào tính Không vẫn là vọng tâm. Vọng tâm này hẳn có nơi trú ngụ, nơi trú ngụ ấy là gì? Nó có hình dạng gì? Màu sắc gì? Từ đâu phát ra? Nhất định ở đâu? Cứ như vậy mà truy cứu, truy cứu không có gì, thì tâm tìm kiếm tâm đi về đâu? Cứ truy cứu, truy cứu mãi, truy cứu đến mức không còn gì để truy cứu nữa, ngay đó mà an trụ, một khi bừng ngộ, thì vọng niệm chấp không sẽ tan biến!"

"Kinh Kim Sí Điểu Phi Không" nói:
Chân tâm không có biên giới,
Không có trong ngoài,
Không có nơi chốn.

Thượng sư của tôi từng dạy tôi:
"Trong một sát-na, khi nhận ra đạo lý này, hãy an trụ như vậy, đừng chấp trước, đừng hướng ngoại, đừng phân biệt, nay định trước chưa định, tự nhiên sinh khởi, đây là giáo lý không hai của trí tuệ A Đạt Nhĩ Mã Phật."

"Kinh Phổ Thành" nói:
"Chư Như Lai trong quá khứ đều thấy được tự tính này mà thành Phật, không có pháp nào khác để tu, cũng không có gì để đạt được. Chư Như Lai hiện tại và vị lai cũng thấy được tự tính này mà thành Phật, không có pháp nào khác để tu, cũng không có gì để đạt được."

Tôi thể ngộ được: "Niệm hiện tiền chính là bản tâm, không chấp trước, không kìm nén, không phóng túng, không thu giữ, tự nhiên an trụ."

Tôi thể hội được:
Tam độc (tham, sân, si) là vô tự tính, về căn bản là không tồn tại, thế là giải thoát rồi.
Ngũ môn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) là minh không, thế là giải thoát rồi.
Lục thức (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) là thể tính minh không, cũng được giải thoát trong bản không.

"Kinh Vân Hải" nói:
Tam độc ngũ môn lục thức các cảnh giới,
Tùy hiển bản lai giải thoát trụ bản nguyên;
Vô đoạn vô trụ pháp tính thượng giải thoát,
Vô duyên Phật tính vô chấp tự hiển hiện.

Sau khi tôi giác ngộ, nhìn thấy núi Thiên Mã, sự tĩnh lặng của dãy núi có một độ sâu nhất định, bất kể nó đang động, bất kể nó đang tĩnh, bất kể nó có bay hay không bay, dường như không cần phải quan tâm, cũng không cần đi tìm kiếm sự tĩnh lặng, bởi vì không tìm tự đến, không mời tự tới.

Hiện tại, tôi không còn nảy sinh sự mê muội và hỗn loạn như người thường, tôi bây giờ là "không minh", không phân biệt quá khứ, hiện tại, tương lai, tôi đang ở trong một thế giới rộng mở, rất an nhiên tự tại, chính là tĩnh lặng quán chiếu trên chính mình mà an trụ trong bản nhiên tự tại.

Tôi nhìn núi Thiên Mã:
Rất đẹp.
Rất tự nhiên.


### 12. Sự bập bùng của lửa Hộ Ma


Tôi ngồi một mình ở ngay phía trước lò Hộ Ma, khói lửa uốn lượn bay lên. Xung quanh có rất nhiều đệ tử đang trì tụng chân ngôn của Bổn tôn bằng giọng lớn.

Pháp hội Hộ Ma (cúng lửa) tại sơn trang Cầu Vồng đang diễn ra. Ở sơn trang, chúng tôi thường xuyên có những pháp hội như thế này.

Tôi tập trung chú ý vào nghi quỹ cúng dường của mình, chú ý đến sự biến đổi của cúng phẩm, chú ý đến lửa, chú ý đến thủ ấn cũng như ý niệm của mình.

Ngọn lửa Hộ Ma vấn vít cuộn lên, khi to khi nhỏ, ngọn lửa này kết nối với chư Phật Bồ Tát Bổn tôn, là cây cầu nối giữa các tầng ý thức. Pháp Hộ Ma của Mật giáo là một dòng kênh đầy hoan hỷ và vui thích, qua đó chúng ta gửi lòng thành kính của mình đến chư Phật Bồ Tát.

Tôi chăm chú nhìn vào ngọn lửa, như thể xung quanh không còn đệ tử nào, tôi quán tưởng Bổn tôn ở giữa ngọn lửa, rồi quán tưởng bản thân hòa nhập vào lửa. Ngay lúc này đây, lửa, Bổn tôn và tôi, ba thành một, đây là một sự tôn kính, một tình yêu sâu sắc, một pháp yoga, một sự cúng dường hợp nhất giữa trời và người.

Tôi biết pháp Hộ Ma, rất thanh tịnh, ý nghĩa của nó rất sâu rộng, nói thật ra, nó có thể bao hàm tất cả các pháp cúng dường, bên trong chứa đựng vô lượng ý nghĩa, không ngạc nhiên khi Đại sư Tsongkhapa nói rằng Hộ Ma là một trong ba đại thành tựu của Mật giáo.

Đối với Hộ Ma (cúng lửa), nhiều lời cầu nguyện khiến tôi vô cùng kinh ngạc, mỗi lần cầu nguyện đều có cảm ứng. Đây đương nhiên là những sự kiện kỳ diệu. Ví dụ: bệnh nhân với căn bệnh trầm trọng bỗng nhiên khỏi bệnh, tai họa đột nhiên biến mất, dập tắt tai ương, tăng thêm lợi ích, được sự kính mến, khiến kẻ thù lui bước, cầu phúc được phúc, cầu siêu được siêu độ...
Cảm ứng đã xảy ra!
Không để lại dấu vết gì!
Vì vậy, ngọn lửa Hộ Ma (cúng lửa) cứ uốn lượn bập bùng cháy!

Hộ Ma có ý nghĩa nội tại sâu sắc về mặt ý niệm, nghi quỹ tạo thành ý thức, hai điều này không thể tách rời. Thông qua hành giả chủ trì Hộ Ma, kết nối với chư Phật Bồ Tát trong ý thức vũ trụ, nhờ vào lửa, có kỹ thuật và năng lực riêng, từ đó hình thành phần bề mặt và phần ẩn tàng của ý thức, cả phần bề mặt và phần ẩn tàng đều vô cùng quan trọng.

Về phần bề mặt — (pháp nhập thế).
Cúng phẩm.
Đốt cháy trong lửa.
Chư Phật Bồ Tát nhận cúng dường.
(Chỉ cần chư Phật Bồ Tát giáng xuống nhận cúng dường, những điều cầu nguyện sẽ có hiện tượng ứng nghiệm.)
Phóng quang gia trì.

Còn về phần ẩn tàng — (pháp xuất thế).
Điều này là ở cá nhân hành giả, hành giả tu tập chuyết hỏa định, bên ngoài làm Hộ Ma (cúng lửa), bên trong tâm và linh lực tĩnh lặng, chuyết hỏa phát sinh liên tục, các mạch trung tâm và các luân xa trong cơ thể hoàn toàn mở ra, chuyết hỏa uốn lượn trong cơ thể, tạo nên cảm giác ấm nóng.

Chuyết hỏa uốn lượn không ngừng, nhiệt linh lực càng tăng cường, bồ đề tâm nguyệt dịch hạ giáng, thủy và hỏa hòa hợp, tràn đầy trong trung mạch và các luân xa, đây là cảnh giới đại lạc, vô cùng an lạc và thoải mái, là cảm nhận về thế giới Cực Lạc, không thể nghĩ bàn.

Với sự hòa hợp của chuyết hỏa và bồ đề tâm nguyệt dịch, ngoài cảm giác hỷ lạc, còn vì chuyết hỏa đốt cháy tất cả chướng ngại, khiến nội tâm đạt được an lạc và dễ dàng đi vào đại định trong sáng, từ sự an lạc nội tâm nhìn ra mọi hiện tượng bên ngoài, tất cả đều an lạc.
Vọng tưởng điên đảo tự nhiên dừng lại.
Nội tâm trở về tĩnh lặng.
Đại tự tại.
Hoàn toàn dừng bặt.
(Đây chính là cảnh giới định của Tam ma địa.)

Sự phát sinh của chuyết hỏa, cùng với sự hạ giáng của bồ đề tâm nguyệt dịch, cộng thêm tác dụng của lửa cháy, sẽ tạo ra ánh sáng bùng nổ của lửa, ánh sáng như mặt trời, ánh sáng như mặt trăng, hào quang như sao Thổ, và tia sáng như tia chớp.
Đủ loại hào quang, như vòng tròn cầu vồng, bao quanh thân hành giả.
(Đây là cảnh giới tịnh quang.)

Đây là:
*Tựa như ban ngày nắng chiếu rọi
Nghìn kiếp đen tối bỗng sáng bừng
Diệu tâm vốn tịnh tỏa ánh sáng
Luân hồi nhiều kiếp nghiệp tiêu tan.*

Người đời thường chỉ nhìn thấy phần bề mặt của Hộ Ma mà không biết rằng Hộ Ma cũng có phần ẩn tàng.

Nhiều pháp Mật giáo không phải là những mảnh rời rạc bên ngoài, mà là sự hợp nhất giữa trong và ngoài, giữa ý niệm và hành động, không có khoảng cách giữa chúng.

Lửa và cúng phẩm, lò Hộ Ma vẫn ở đó, tôi (người chủ trì) kết ấn dồn dập trong không gian.

Chư Phật Bồ Tát cảm ứng theo lời triệu thỉnh, hiện thân trong không gian, tỏa ánh hào quang, thật vô cùng trang nghiêm, khiến đại địa ngày càng trở nên tươi đẹp.


### 13. Hiểu lý lẽ


Gần đây tôi đọc "Nhân Minh Nhập Chính Lý Luận", sách này do Đường Huyền Trang dịch, tác giả là Thương Yết La Chủ - đệ tử của Trần Na.

Nhân Minh là một trong ngũ minh, thuộc về học thuật logic.
"Nhân Minh Đại Sớ" nói: "Hiểu rõ nghĩa nhân này, nên gọi là Nhân Minh."

Học thuyết này do tiên nhân Túc Mục sáng tạo từ trước thời Đức Phật, sau đó được luận sư Đại thừa Phật giáo Trần Na hệ thống hóa và hoàn thiện.

Trần Na tự mình cũng viết: "Nhân Minh Chính Lý Môn Luận".

Nội hàm của "Nhân Minh Nhập Chính Lý Luận", nói theo ngôn ngữ hiện đại chính là Logic Học, trong đó đề cập đến rất nhiều thuật ngữ, có lập, có phá, có lượng, có so sánh. Theo lý thuyết Phật giáo, học Nhân Minh có lợi ích cho cả tự ngộ và giúp người khác ngộ, đối với tất cả sự lý đều hiểu rõ hơn, đây có lẽ cũng là "diệu quan sát trí"!

Nhân thì có thể sinh, nên có nhân quả.
Tu tập từ nhân địa, trở thành nhân của tu hành, do tu mà chứng quả.
Nhân thì có thể sinh, hỗ trợ nhân thành duyên, đó chính là nhân duyên.
Nhân cũng có thể biến, đây chính là nghiên cứu về năng lượng, gọi là "nhân năng biến".

"Kinh Lăng Nghiêm" nói: "Phật giáo lấy nhân duyên làm tông, giáo lý của Đức Phật từ nông đến sâu, nói tất cả các pháp không ngoài hai chữ nhân duyên."

"Kinh Duy Ma Cật" nói: "Lực mạnh là nhân, lực yếu là duyên. Trước sau tương sinh, đó là nhân. Hiện tướng giúp đỡ nhau, đó là duyên. Các pháp cần nhân duyên kết hợp với nhau, sau đó mới thành lập."

Không chỉ Phật giáo như vậy, thực ra, đối với bất kì sự lý nào, muốn hiểu rõ, cần phải vận dụng lập luận của logic Nhân Minh.

Ngoài ra, tôi nhận thấy, trong "Thích Lượng Luận" có bốn chương, đó là "Hai đế của Phật giáo, Phật pháp, Bát nhã Ba la mật đa, và Nhân Minh".

Tôi dùng logic Nhân Minh để xem xét Tiểu thừa, Đại thừa, Kim Cương thừa, để phân tích so sánh, tôi sẽ hiểu rõ hơn về sự lý, sáng tỏ hơn, và không còn mâu thuẫn xung đột.
Tiểu thừa chú trọng tâm xuất ly.
Đại thừa chú trọng tâm bồ đề.
Kim Cang thừa chú trọng kiến giải về tính Không.

Trong giáo pháp của Đức Phật, cốt lõi cơ bản chính là ba yếu tố thiết yếu của đạo bồ đề: tâm xuất ly, tâm bồ đề và kiến giải về tính Không.

Theo Tiểu thừa, không bao giờ được phạm mười nghiệp bất thiện, không được sát sinh. Nhưng trong Đại thừa, nếu giết một người mà có thể cứu được trăm người, đối với một vị Bồ Tát thì được phép giết. Mặt khác, theo Kim Cương thừa, khi việc giết tương đương với việc siêu độ, dù đã phạm nghiệp sát sinh nhưng ngược lại mang lại lợi ích lớn hơn cho chúng sinh. Đối với người hiểu rõ sự lý, sẽ không thấy mâu thuẫn xung đột.

Vì vậy, nhiều giáo pháp trong Phật giáo, Tiểu thừa, Đại thừa, Kim Cương thừa, tuy nhìn bề ngoài có vẻ mâu thuẫn, nhưng thực tế không hề mâu thuẫn.

Trong cách tu tập của Kim Cương thừa, có nhiều điều mà trong Tiểu thừa và Đại thừa đều không được phép làm, nhưng Kim Cương thừa lại cho phép, tôi cho rằng điều này liên quan đến việc chú trọng vào kiến giải về tính Không. Do đó, đối với một hành giả đã phát triển thân tâm đến cấp độ vô thượng, tự kỷ luật đã đạt đến mức siêu việt, có thể nói rằng họ được phép làm bất kì hành vi nào, đây chính là giáo pháp của Kim Cương thừa, cũng là một con đường nhanh chóng để thành Phật.

Ví dụ như Vô thượng Du già Mật tục, Tiểu thừa không được phép làm, Đại thừa không được phép làm.

Còn Kim Cương thừa dựa vào kiến giải về tính Không, dựa vào Không-Lạc đại định mà tu tập, đạt được sự chứng nghiệm thiền định tối hậu.

Tuy nhiên, Kim Cương thừa không phải là không giữ giới, mà là thọ giới từ truyền thừa "Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ", người xuất gia vẫn là hành giả của Thanh văn thừa (Tiểu thừa), và giáo nghĩa Đại thừa, trong tâm bồ đề vẫn phải bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ. Đây chính là Kim Cương thừa bao hàm nền tảng của Tiểu thừa và Đại thừa.

Tôi nghiên cứu Kim Cương thừa, biết rằng trong bốn bộ pháp Mật giáo: Sự bộ, Hành bộ, Du già bộ, Vô thượng bộ, tuy có vẻ đa dạng phức tạp, hệ thống cũng nhiều, mật pháp cũng nhiều, nhưng nếu dùng Nhân Minh để quan sát kĩ, Kim Cương thừa quả thật kế thừa Phật giáo Ấn Độ và tuân theo giáo pháp một cách đúng đắn.

Trong bốn bộ pháp chủ yếu là để cung cấp phương pháp tu tập thực tiễn cho người có căn cơ khác nhau, giúp người học từng bước tiến lên, cho đến khi thành Phật.

Dĩ nhiên, cuối cùng là Vô thượng mật bộ, chỉ người có căn cơ thượng thượng mới có thể tu.
Học tập Kim Cương thừa phải giữ giới.
Học tập Kim Cương thừa phải phát tâm bồ đề.
Học tập Kim Cương thừa phải hiểu rõ lý tột cùng của tính Không.

Tôi biết rằng, để đạt được thành tựu, một người nhất định phải tỏa ra ánh sáng của chính mình, ánh sáng này là Nhân Minh, là hợp lý, hợp logic, phải nhìn thấy mọi việc rõ ràng hơn người khác, không chút mơ hồ, không chút mâu thuẫn, không dựa dẫm, cũng không bám víu.

Tôi tự biết, dưới Nhân Minh, dưới ánh sáng của chính mình, tất cả năng lượng đều được phát ra, chuyển động của tư tưởng chính là một giá trị, tôi dùng Nhân Minh để quan sát, sự lý của thế giới này hiện ra từng điều một, tự do, tự chủ, rõ ràng, nhiều việc, đều có thể lắng lòng suy ngẫm thật kĩ.


### 14. Cho cá ăn ở hồ Mead


Thời còn đi học, trong quá trình học tập, tôi đã từng đọc một đoạn vấn đáp mang tính triết học như sau:
Hai người quan sát cá.
Một người nói:
"Cá thật vui vẻ làm sao!"
Người kia phản bác:
"Anh không phải là cá, làm sao biết cá vui vẻ?"
Người đã nói cá vui vẻ ban đầu, cũng đáp lại:
"Anh cũng không phải là tôi, làm sao biết tôi không biết cá vui vẻ?"
Cuộc đối đáp này khiến tôi suy ngẫm.
(Đây cũng là một dạng logic.)

Tôi và một số đệ tử từng đến Stone City [thành phố Đá] ở bang Nevada, gần thành phố Đá có một hồ nhân tạo là hồ Mead.

Nước hồ Mead đến từ băng tuyết của dãy núi Rocky. Mặc dù hồ Mead là hồ nhân tạo nhưng diện tích bao phủ rất lớn. Nước uống của Las Vegas và nhiều thành phố thuộc bang Arizona đều phụ thuộc vào nguồn nước từ hồ này.

Bên bờ hồ Mead còn có đập Hoover, là nhà máy thủy điện, cung cấp điện cho Las Vegas và nhiều thành phố khác.

Phong cảnh hồ Mead rất đẹp, xung quanh là những dãy núi trập trùng, dưới ánh mặt trời, tất cả đều ánh lên màu vàng rực rỡ. Đó là một ngày nắng đẹp dễ chịu và đáng yêu, mặt hồ như gương, yên bình với màu xanh lam lục như một tấm vải trải giữa mây trắng và núi non, thực chất là phản chiếu của mây trắng và núi non in vào giữa mặt hồ.

Hướng dẫn viên nói với chúng tôi:
"Đi cho cá ăn ở bờ hồ nào!"

Cho cá ăn là một trải nghiệm mới mẻ.
Hướng dẫn viên nói: 
"Trong hồ Mead có hai loại cá, một loại là cá vược, một loại là cá chép, chúng to lắm, to lắm, cho chúng ăn thật thú vị."
Anh ta còn nói:
"Cá ở hồ Mead không được bắt hoặc câu, chúng được bảo vệ!"

Sau đó, chúng tôi dừng xe gần bờ hồ, bước lên cầu phao của bến tàu, chúng tôi nhìn thấy rất nhiều cá bơi lội tự do tự tại. Có bao nhiêu con cá? Không đếm được chi tiết, nhưng chắc phải có vài trăm vài nghìn con, chúng không sợ người, ngược lại hễ có người đến, chúng lập tức tụ tập lại, như thể đã biết trước những người này đến để cho chúng ăn, đến để cúng dường chúng.

Chúng tôi xé bánh mì thành từng miếng nhỏ ném xuống nước, đàn cá nổi hết lên mặt nước, há miệng tranh ăn, trong khoảnh khắc, hàng trăm cái miệng cùng mở ra, miệng cá to bằng quả trứng gà, những con cá thực sự rất lớn, cảnh tượng tranh ăn rất hùng vĩ và hoành tráng, đàn cá nhảy lên lộn xộn thành một đám...

Tôi ném xuống đúng hai ổ bánh mì.
Nhìn đàn cá làm người ta hoa mắt.
Tôi có chút suy tư...

Chúng tôi ở hồ Mead có một sự việc xảy ra, đó là cho cá ăn. Theo logic mà nói, chúng tôi không hề có ý định trước, chúng tôi không nghĩ đến việc cho cá ăn, chỉ là hướng dẫn viên mang theo rất nhiều bánh mì, ngoài ra, những con cá này cũng tự nhiên kéo đến.

Vì vậy, sự không định trước, cộng với việc tự nhiên kéo đến, tạo nên khung cảnh vĩ đại của việc cho cá ăn.

Bất chợt, tôi có một sự giác ngộ, âm thanh bơi lội của cá rất tuyệt vời, cả mặt hồ tràn ngập những âm thanh sôi động, dường như làm rung động trái tim tôi, khi lắng nghe âm thanh này, tôi đồng thời cũng tràn đầy những suy tưởng huyền diệu.

Ở nơi cho cá ăn đầy ắp những con cá, con người và cá ở đó tạo ra một hiệu ứng kỳ lạ, chúng thể hiện nhu cầu mạnh mẽ, còn chúng tôi chỉ vì một cảnh tượng nhất thời mà thực hiện một sự bố thí xa lạ. Tôi nhìn cá, nhìn miệng cá.
Tôi có hạnh phúc không?
Cá có hạnh phúc không?
Những con cá ăn được bánh mì có hạnh phúc không?
Những con cá không ăn được bánh mì có hạnh phúc không?
Nỗi khổ của cá là gì?
Và niềm vui của cá là gì?

Tôi chợt nhớ đến bài học thời còn đi học, một người muốn hiểu cá, phải đặt cá vào tâm mình, một người muốn hiểu hoa cỏ cây cối, cũng phải đặt hoa cỏ cây cối vào tâm mình, một người muốn hiểu thiên nhiên, nhất định phải đặt mây trời và đá núi vào tâm mình, và sau đó mới có thể thấy hết mọi thứ!

Cho cá ăn là một trong những hoạt động du lịch.
Thử hỏi cho cá ăn có vui không?
Câu trả lời của tôi là:
"Rất phức tạp."

Chúng ta cho chúng ăn, nhìn ngắm chúng, rồi quên chúng. Đó chính là logic của việc cho cá ăn, chúng ta rời đi, lập tức tất cả trở nên im lặng, mặt hồ trở nên tĩnh mịch, trở nên trống rỗng, tiếng động của sự sống đã xa dần.


### 15. Đập Hoover


Đập Hoover ở bang Nevada.
Đó là một con đập khổng lồ được xây dựng nhân tạo trong thung lũng, với các công trình như nhà máy điện lớn, đường xả lũ, đập bê tông cốt thép, cầu lớn, trạm biến áp, đường dây cao thế...

Nơi đây, ngoài nhà máy thủy điện, đã trở thành một điểm du lịch, từ trên cao nhìn xuống, đập nước trông thật hùng vĩ và hoành tráng.

Ở đây có một đài tưởng niệm để vinh danh Tổng thống Hoover đã thúc đẩy việc xây dựng đập, bên cạnh đài tưởng niệm là hai thiên thần được đúc bằng đồng, toát lên vẻ trang nghiêm yên tĩnh.

Mọi người có thể ngắm nhìn hồ nước của đập.
Có thể tham quan nhà máy điện, toàn bộ khu vực sạch sẽ đến mức đáng ngạc nhiên.
Mọi người có thể hình dung được sự gian khổ khi xây dựng đập trong thung lũng.

Tôi đương nhiên biết rằng, nhiệt điện là sử dụng sự đốt cháy của than để tạo ra năng lượng. Trong khi điện hạt nhân là sử dụng hạt nhân để tạo ra năng lượng. Còn có điện gió, là sử dụng gió để tạo ra năng lượng.

Còn về thủy điện:
Là tận dụng nước từ nơi cao rơi xuống nơi thấp.
Do độ chênh lệch tạo ra lực lớn.
Lực này đẩy các tua-bin. (máy phát)
Từ tua-bin tạo ra tác dụng điện từ.
Từ tác dụng điện từ tạo ra điện năng.
Đó chính là logic của thủy điện.

Tại đập Hoover tôi đã nghĩ về logic của thủy điện, đây thực sự là một điều kỳ diệu, từ dòng chảy của nước lại có thể tạo ra điện, đây là một nguyên lý chuyển đổi. Giống như nguyên lý vận hành của xe lửa ban đầu.
Đốt than.
Hơi nước vào máy hơi nước.
Hơi nước đẩy pit-tông.
Pit-tông kéo quay bánh xe sắt.
Và thế là, xe lửa chạy.

Tôi chợt nghĩ ra:
Quá trình tu trì của hành giả Mật giáo, từ thiền định sinh ra năng lượng, từ năng lượng sinh ra ánh sáng. Khi hành giả đạt được thành tựu siêu việt trong trạng thái thiền định thâm sâu, họ sẽ chứng đắc "tịnh quang".

Mật giáo có ba loại tịnh quang:
1. Căn bản tịnh quang (mẫu tịnh quang) -- Thể quang minh thanh tịnh căn bản của vũ trụ.
2. Đạo tịnh quang (tử tịnh quang) -- Thể quang minh thanh tịnh của bản thân hành giả.
4. Quả tịnh quang (hợp tịnh quang) -- Chính là sự hợp nhất giữa mẫu tịnh quang và tử tịnh quang.

Tổ sư Mật giáo có nói:
"Sự sinh khởi của mẫu tịnh quang chắc chắn phải sinh ra trong khoảnh khắc khi niệm trước đã diệt, niệm sau chưa đến, chính là lúc vô niệm vậy."
Lại nói:
"Sự sinh khởi của tử tịnh quang là ở trạng thái không tưởng tượng, không tư lự, không phân biệt, không thiền định, không hồi tưởng, không khởi niệm." (Đây là pháp Sáu Không của Tổ sư Tilopa.)

"Không thiền định" trong pháp Sáu Không có nghĩa là trong khi thiền định, không nghĩ rằng mình đang thiền định, có như vậy mới có thể nhập định.

Về chứng nghiệm tịnh quang, một số tổ sư cho rằng:
Cần đạt được tịnh quang vào thời điểm trạng thái tỉnh thức sắp kết thúc và trạng thái ngủ vừa bắt đầu, tịnh quang được ứng dụng để hợp nhất thiền định thâm sâu và giấc ngủ.
Khi thiền định thâm sâu, sinh ra tịnh quang.
Khi ngủ sâu, sinh ra miên quang [ánh sáng trong giấc ngủ].

Ba cấp độ của tịnh quang:
1. Quang — đã sinh ra ánh sáng.
2. Nhiên — hiển phát ánh sáng.
3. Trì — duy trì sự cháy sáng lâu dài, an trú lâu trong ánh sáng linh thiêng.

Đã từng có người nghi ngờ, một con người với thân thể vật chất, làm sao có thể tạo ra tịnh quang?

Khi đó tôi trả lời rằng, đây cũng là nguyên lý chuyển đổi, chúng ta hãy nhìn nước, dòng chảy của nước có thể tạo ra lực, lực có thể quay máy phát, máy phát có thể tạo ra tác dụng điện từ, có thể sản xuất điện, và khi điện được thông, liền tạo ra ánh sáng.

Tôi còn nói thêm, khi một người đi vào trạng thái thiền định thâm sâu sẽ tạo ra được lực, lực này làm xoay chuyển năm luân xa trong thân hành giả (mi tâm, cổ họng, tim, rốn, mật), nhờ tác dụng khai mở của năm luân này mà sinh ra tịnh quang, đây là khoa học của cơ thể người, là nguyên lý chuyển đổi.

Tôi nói, nếu tôn giáo biến thành sự sùng bái tượng thần, tín ngưỡng và nghi lễ đơn thuần, thì sẽ không tạo ra được sức mạnh, cũng không sinh ra được tịnh quang.

Tôn giáo phải tập trung vào sự tu dưỡng nội tâm, có thể phát huy được chức năng của nó, không chỉ là về tinh thần, mà còn là một sự chứng nghiệm thực sự, là sự chuyển hóa của cá nhân, cũng là sự chuyển hóa của toàn thể, đó chính là Mật giáo.

Vẻ đẹp và sự vi diệu của chân lý không nằm trong niềm tin và giáo điều, mà nằm trong nguyên lý chuyển hóa, điều rất khó đo lường, rất khó trải nghiệm, nhưng có thể chạm đến được, nó thực sự có điện có ánh sáng.


### 16. Sự phát sinh của vô thường


Có một nữ y tá trẻ đẹp, mới hai mươi tuổi, dáng người uyển chuyển duyên dáng, như một bông hoa, gương mặt tràn đầy sức sống tuổi trẻ.

Một ngày nọ, cô thay phiên cho bạn thân, trực tại phòng bệnh AIDS.
Cô tiêm thuốc cho bệnh nhân AIDS.
Không ngờ, kim tiêm lại gãy mất.
Và chiếc kim đã gãy, thật không may lại cắm vào cánh tay của nữ y tá.

Trong một khoảnh khắc, chính là khoảnh khắc khi sự việc vừa xảy ra, tất cả mọi người xung quanh, kể cả bản thân cô, đều sững sờ. Trong phút chốc, gương mặt xinh đẹp của nữ y tá tái nhợt.

Trong giây lát, tất cả mọi người đều kinh hãi thốt lên, tất cả mọi người đều bất lực, tất cả mọi người đều không thể giúp được gì.

Vô thường đã xảy ra.

Rồi trong mùa đông năm nay, đầu đông đã có một trận tuyết rơi.
Một đứa trẻ hàng xóm, với sự hứng khởi cao độ đã cầm một tấm ván trượt tuyết, trượt xuống từ sườn đồi, đứa trẻ hò hét vui vẻ, cực kì phấn khích.
Tuyết rất dày, độ dốc lớn, tấm ván trượt tuyết chạy rất nhanh.
Kết quả là đã trượt lên con đường bên cạnh sườn đồi.
Bất ngờ, một chiếc xe tải đã rẽ ra, đâm vào đứa trẻ, trong khoảnh khắc ấy, thật thảm không nỡ nhìn.

Vô thường đã xảy ra.

Ngoài ra, có một đệ tử Chân Phật Tông, tướng mạo thật thà chất phác, khoảng bốn mươi tuổi, rất chăm lo cho gia đình, rất chuyên cần trong công việc, thích giúp đỡ người khác, tâm địa hiền lành.
Sức khỏe anh rất tốt.

Ngày hôm đó, anh vừa cắt xong cỏ ở cả sân trước và sân sau.
Lên giường đi ngủ.
Nửa đêm, cơ thể bỗng co giật, chuột rút.
Được đưa đến bệnh viện, anh đã ra đi.
Bác sĩ không thể lý giải được.
Đây thật sự là quá vô thường.

Ba câu chuyện tôi viết ra đây đều là sự thật. Ba sự kiện vô thường này đều đến quá nhanh, hoàn toàn không có bất kì dấu hiệu báo trước nào, đây không phải là chuyện kể, cũng không phải tưởng tượng, mà là những sự thật đã xảy ra xung quanh tôi.

Thế giới này chìm trong bầu không khí u sầu, niềm vui nhất thời thường là nỗi buồn vĩnh cửu, một gia đình mất đi một đứa trẻ, một gia đình mất đi người chủ, ngôi nhà chắc chắn trở nên trống rỗng lạ thường.

Còn cô y tá bị nhiễm máu AIDS kia, đây có thể xem là nhân quả gì? Là hình phạt gì? Dù cô có nhận được bao nhiêu lời xin lỗi hay bồi thường, cuộc sống của cô cũng trở nên vô nghĩa.

Cuộc đời cô là bóng tối, cuộc đời thật vô tình, cuộc đời quá nặng nề, những ngày tương lai hoàn toàn không dám tưởng tượng.

Nỗi buồn nghẹn ngào luôn ở đó, bạn không thể quên nó, không thể dùng cách giải trí nào hay tôn giáo nào để che giấu nó. Khi tôi ngồi xuống và suy nghĩ về ba sự việc này, tôi hiểu được ý nghĩa của vô thường, nó đến mà không cần mời, đôi khi mang đến nỗi đau tột cùng, vô thường như bóng theo hình, là một sự chờ đợi.

Dù bạn làm gì, bạn cũng không thể tránh khỏi nó.
Cả tình yêu cũng kết thúc.
Cả hận thù cũng kết thúc.
Cả tình cảm cũng kết thúc.
Cả thù oán cũng kết thúc.

Dường như, khi vô thường đến, ý nghĩa mà cuộc sống bộc lộ trở nên hoàn toàn vô nghĩa.

Khi tôi nghĩ về vô thường, suy nghĩ càng làm sâu sắc thêm nỗi buồn, trong đó chỉ có đau khổ, trong đó chỉ có nước mắt, hoặc là một số hối tiếc, dằn vặt và nhiều thứ khác, tất cả nỗi buồn sẽ ập đến với tôi, khiến tôi cảm thấy vô cùng bất lực.

Tôi nhớ đến một số vị đại sư trong giới tôn giáo, họ nói rằng, việc cầu nguyện Phật, Thần, Thượng đế ban phúc hộ trì chỉ là sự sùng bái hình thức thông thường, không có ý nghĩa. Việc cầu xin Phật, Thần, Thượng đế là một loại mê tín, là một sự phụ thuộc, dựa dẫm, là hình thức bên ngoài của tôn giáo.

Nghĩ kĩ thì điều đó có lý.
Nhưng khi nghĩ lại, dưới sự đè nén của vô thường, con người mang theo bùa hộ mệnh, treo vật may mắn trên xe, cầu nguyện Phật, Thần, Thượng đế, chắp tay, lạy lạy, tụng kinh, chùa chiền và nhà thờ, chẳng phải cũng mang lại sự an tâm và thỏa mãn tinh thần sao?

Tu hành quá nghiêm túc rồi.
Đôi khi, niệm Phật, trì chú, thực hiện nghi lễ tôn giáo, cúng dường Phật, cũng là một điều an ủi.
Tôi cho rằng, sự sùng bái hình thức bên ngoài cũng là một phương tiện.


### 17. Sự kết nối truyền thống


Khi tôi ở Ấn Độ, tôi đã từng nghiên cứu về vấn đề hệ thống đẳng cấp bốn giai cấp của Ấn Độ. Theo lời kể của người địa phương, tôi mới hiểu rằng sự phân chia bốn giai cấp ở Ấn Độ quả thực rất nghiêm trọng. Con người sinh ra đã không bình đẳng, nhưng trong truyền thống Ấn Độ, điều này lại là vô cùng bình thường.

Sự phân chia bốn giai cấp của Ấn Độ bắt nguồn từ "Kinh Vệ Đà":
Đại Phạm Thiên Vương (thần Sáng Tạo) sinh ra bốn giai cấp.
1. Bà-la-môn: người sống thanh tịnh, có thể xuất gia hoặc tại gia, tu tập thanh tịnh để cầu Niết bàn.
2. Sát-đế-lợi: hoàng tộc, cai quản ba giai cấp còn lại.
3. Phệ-xá: những thương nhân buôn bán.
4. Thủ-đà-la: nông dân và nô lệ.

Theo "Kinh Vệ Đà", Bà-la-môn sinh ra từ miệng của Đại Phạm Thiên Vương, Sát-đế-lợi sinh ra từ cánh tay, Phệ-xá sinh ra từ hông, và cuối cùng Thủ-đà-la sinh ra từ bàn chân của Đại Phạm Thiên Vương. Trong bốn giai cấp này, Bà-la-môn được xem là cao quý nhất, còn Thủ-đà-la là thấp hèn nhất.

Điều tôi nghe được ở Ấn Độ là ranh giới giữa bốn giai cấp được phân chia rất rõ ràng, không chỉ rõ ràng mà còn có khoảng cách rất lớn giữa các giai cấp.

Hệ thống bốn giai cấp là một truyền thống, cũng chính là tập quán, ví dụ:
Không ăn chung — người thuộc các giai cấp khác nhau không được ăn cùng nhau.
Không mặc giống nhau — trang phục của bốn giai cấp khác nhau.
Không ở chung — bốn giai cấp sống tách biệt.
Không đi chung — phương tiện đi lại của bốn giai cấp đều khác nhau.

Về phương diện hôn nhân, đối tượng kết hôn tất nhiên cũng không chung hôn nhân, họ không kết hôn hay cưới gả lẫn nhau.

Thậm chí nghiêm trọng hơn, một người Bà-la-môn cao quý hoàn toàn không cho phép người thuộc các giai cấp khác chạm vào, ngay cả chân cũng không được phép, nếu người thuộc giai cấp khác chạm vào phải lập tức đi rửa chân, vì đó là sự ô nhiễm, là bẩn thỉu.

Nghiêm trọng hơn nữa, người Bà-la-môn cao quý cũng không được ăn thức ăn do người không thuộc giai cấp Bà-la-môn nấu.
Người thuộc giai cấp thấp hèn khi gặp người thuộc giai cấp cao quý, chỉ có thể nằm phủ phục trên mặt đất, không dám ngẩng nhìn.
Người thuộc giai cấp thấp hèn không có quyền lên tiếng.
Và nhiều điều khác nữa.

Ở Ấn Độ, nam nữ có bình đẳng không? Câu trả lời dĩ nhiên là phủ định. Điều này có thể thấy rõ trong Bát kính pháp do Đức Phật thiết lập.

Sau khi Như Lai thành đạo được mười bốn năm, di mẫu của Ngài cầu xin xuất gia, Đức Phật không cho phép, vì chính pháp vốn có thể tồn tại một nghìn năm, nếu nữ giới xuất gia thì sẽ giảm đi năm trăm năm. Cuối cùng, sau khi Ananda ba lần thỉnh cầu cho phép nữ giới xuất gia, Đức Phật không thể từ chối, bèn giảng Bát kính pháp, nhờ đó nữ giới mới được thọ giới xuất gia.

Bát kính pháp như sau:
1. Tỳ kheo ni dù một trăm tuổi, gặp tỳ kheo mới thọ giới, cũng phải đứng dậy đón tiếp, lễ bái, trải tòa sạch và mời ngồi.
2. Tỳ kheo ni không được mắng nhiếc, phỉ báng tỳ kheo.
3. Không được nêu tội của tỳ kheo, nói lỗi của họ, nhưng tỳ kheo có thể nói lỗi của tỳ kheo ni.
4. Tỳ kheo ni học pháp, đã học giới, phải từ chúng tăng cầu xin đại giới.
5. Tỳ kheo ni phạm giới, phải trong nửa tháng, trong chúng tăng ni cầu pháp sám hối.
6. Tỳ kheo ni phải từ tỳ kheo cầu người giáo thọ.
7. Không được kết hạ an cư tại nơi của tỳ kheo.
8. Sau khi kết hạ an cư, phải đến chúng tăng, cầu pháp sám hối.

Từ những giới luật do Đức Phật thiết lập, có thể thấy rõ vấn đề nam nữ có bình đẳng ở Ấn Độ hay không!

Tôi đã từng suy nghĩ về vấn đề truyền thống, suy nghĩ về vấn đề tập quán, suy nghĩ về vấn đề bình đẳng nam nữ...

Tôi nhận ra rằng truyền thống và tập quán có sức mạnh rất lớn. Nói về Ấn Độ, mặc dù các truyền thống và tập quán cũ đã được thay thế bằng dân chủ và tự do trong thời hiện đại, và dù có nhiều người hô hào dân chủ tự do, nhưng truyền thống hôn nhân vẫn ràng buộc phần lớn các gia đình Ấn Độ. Giữa người giàu và người nghèo vẫn còn khoảng cách, mỗi nghề nghiệp đại diện cho một tầng lớp mới của riêng họ, và bản sắc gia tộc cùng truyền thống của họ vẫn chưa biến mất.

Ngoài Ấn Độ ra, các quốc gia khác, có lẽ đã thực hiện dân chủ tự do từ rất lâu, nhưng tôi vẫn nhận thấy, mỗi quốc gia đều có truyền thống và tập quán riêng của mình, chỉ là chúng không quá hiển nhiên, không quá bề nổi, không nổi lên trên bề mặt, không dễ dàng được mọi người biết đến, mà chỉ tồn tại bên trong.

Tôi nghĩ về Chân Phật Tông mà tôi đã sáng lập.
Chỉ vì là "mới", dưới áp lực mạnh mẽ của các thế lực truyền thống, gần như không có chỗ đứng để tồn tại.
Truyền thống cũ là tốt? Hay là mới?

Tôi đã cải cách việc tụng kinh và quán tưởng dài dòng của Mật giáo, biến nó thành một kinh, một chú, một Bổn tôn, giúp rút ngắn thời gian, cô đọng tinh túy, đơn giản và mạnh mẽ.
Chân Phật Mật Pháp của tôi là mới, tôi đã từ bỏ gánh nặng truyền thống cũ.
Điều này có mâu thuẫn không?

Truyền thống tất nhiên sẽ phủ nhận, nhưng tôi nghĩ đến Đức Phật, Đức Phật ngày xưa cũng đã thoát ra khỏi khuôn khổ truyền thống.


### 18. Đạo Quả của Virupa


Tôi đã từng học giáo pháp "Đạo Quả" từ Thượng sư Sakya Chứng Không. "Đạo Quả" là giáo pháp cao nhất, sâu sắc nhất và rộng lớn nhất của dòng Sakya (Hoa giáo) trong Phật giáo Tây Tạng. Chúng ta có thể nói rằng, nó bao gồm toàn bộ con đường tu tập từ khi bắt đầu là phàm phu cho đến khi thành tựu viên mãn quả vị Tứ thân Như Lai. Nói chung, hành giả Mật giáo cho rằng truyền thừa "Đạo Quả" có thứ lớp rõ ràng nhất, giáo pháp đầy đủ nhất, với các yếu quyết được trình bày chi tiết.

Cái gọi là "Đạo" chỉ các đạo pháp của Mật giáo như bốn tầng quán đảnh (bình, mật, tuệ, viên), năm đạo, mười ba địa, ba mươi bảy bồ đề phần, v.v.

Cái gọi là "Quả" là sau khi tu tập Phật pháp, đạt được ba loại đức của quả là tự lợi, lợi tha, và lợi cả mình lẫn người.

Tác giả của những câu kệ kim cang trong "Đạo Quả" là Virupa. Tiểu sử của Virupa kính ghi như sau:

Virupa là người thuộc dòng dõi Sát-đế-lợi (hoàng tộc) ở Ấn Độ, đã từ bỏ ngôi vua, thọ giới xuất gia dưới sự hướng dẫn của Thắng Thiên thuộc "Nhất Thiết Hữu Bộ" tại chùa Nalanda, pháp danh là Hộ Pháp. Sau khi Thắng Thiên viên tịch, Virupa trở thành vị thượng tọa của tất cả các học giả tại chùa Nalanda.

Khi Hộ Pháp mới vào chùa Nalanda, Thắng Thiên dạy ông tu học Yoga Thượng Lạc Luân, ông tiếp tục tu tập không gián đoạn cho đến khi trở thành trụ trì của chùa, nhưng trải qua nhiều năm khổ tu lâu dài, vẫn không có dấu hiệu tương ứng nào.
Virupa vô cùng thất vọng.
Ông ném chuỗi hạt mang theo bên mình vào cầu tiêu, thề không tu tập nữa.

Tuy nhiên, trong giấc mơ đêm đó, ông thấy Vô Ngã Phật Mẫu hiện thân, an ủi và khuyến khích ông, bảo ông sám hối tội lỗi, và dùng nước hoa tẩy rửa chuỗi hạt cho ông, đồng thời hứa sẽ gia trì để ông nhanh chóng thành tựu.

Ngày hôm sau khi tu pháp, Virupa đã tu pháp sám hối, nhặt lại chuỗi hạt và nỗ lực tu tập. Vào ban đêm, ông thấy được đàn thành của mười lăm thiên nữ trí tuệ hóa thân, và nhận được bốn quán đảnh viên mãn. Sau đó bảy ngày, ngày nào cũng có dấu hiệu tương ứng.

Điều nổi tiếng nhất là khi Virupa rời khỏi chùa Nalanda, ông đến rừng Varanasi để tu hành. Tại khu rừng Varanasi, ông từng dùng song vận gia trì cho Sukhasiddhi lúc đó đã 61 tuổi, khiến bà trở thành thiếu nữ 16 tuổi.

Virupa chu du khắp nơi, từng chặn dòng sông Hằng, cũng từng khiến mặt trời ngừng lặn. Ông hiển lộ rất nhiều thần thông.

Theo truyền thừa "Đạo Quả" tại Ấn Độ:
Long Thụ - Thích Ca Thiện Hữu - Xí Nhiên Chủ - Tỳ Bà Ba - Đông Tỷ Hách Lỗ Hạ - Vô Địch Nguyệt.

Truyền thừa "Đạo Quả" tại Tây Tạng:
Vô Địch Nguyệt - Trác Di Dịch Sư - Sakya Cống Khước Kiệt Ba - Cống Ba Wa - Cống Cát Ninh Ba - Các đời truyền thừa Sakya - Thượng sư Sakya Chứng Không - Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.

Sau khi viết xong lịch sử "Đạo Quả" và Virupa, điều khiến tôi xúc động nhất là, đoạn Virupa tu tập Thượng Lạc Luân đã để lại ấn tượng sâu sắc nhất.
Virupa tu tập Yoga Thượng Lạc Luân nhiều năm mà không có cảm ứng.
Trong cơn tức giận, ông ném chuỗi hạt vào cầu tiêu, thề không tu pháp nữa.
Đêm đó, Vô Ngã Phật Mẫu hiện thân.
Virupa sám hối và nỗ lực tu tập trở lại.
Bảy ngày liên tiếp có dấu hiệu tương ứng.

Tôi cảm thấy rằng câu chuyện này có thể truyền cảm hứng cho nhiều hành giả Mật giáo, bởi tôi biết có nhiều hành giả Mật giáo tu tập không ngừng nghỉ, một năm trôi qua, năm năm trôi qua, mười năm trôi qua, cô độc một mình, mà chư Phật Bồ Tát không có chút cảm ứng nào. Những người thiếu kiên nhẫn, giống như Virupa, đều muốn từ bỏ!
Hành giả nghi ngờ Mật pháp không đúng đắn.
Hành giả nghi ngờ Mật pháp không toàn vẹn.
Hành giả nghi ngờ này, nghi ngờ nọ, tự hỏi liệu mình có đi sai đường, tu sai pháp, hoặc thậm chí liệu có Phật Bồ Tát thật sự tồn tại hay không?

Bây giờ tôi muốn nói với mọi người rằng, đó chính là nghiệp chướng của bản thân. Câu chuyện của Virupa dạy chúng ta rằng, bất kì thành tựu nào cũng đến từ sự chuyên tâm nhất trí, bất kì thành tựu nào cũng đến từ nghị lực, bất kì thành tựu nào cũng đến từ sự rèn luyện.

Thành tựu trong Mật pháp chắc chắn không phải là thứ nhặt được, không phải là chỉ chạm vào là có cảm ứng kỳ diệu. Tôi cho rằng, phải bỏ công sức khổ luyện, phải trải qua nhiều năm khổ tu, đây là việc thiêng liêng nhất, là đại sự của đời người, không hề dễ dàng.

Ví dụ như tôi tu đại pháp A Di Đà, Bổn tôn của tôi chính là A Di Đà Phật.
Dĩ nhiên không chỉ tu tập mười năm.
Việc tu pháp của tôi giống như ăn cơm, ăn đã lâu đến nỗi hoàn toàn không còn ý thức về sự tồn tại của việc ăn cơm, mọi thứ đều bình thường.
Thật sự, trong một thời gian rất dài, không có dù chỉ một chút dấu hiệu tương ứng nào. Nhưng tôi không nản lòng, tôi kiên trì không buông bỏ.
Chỉ là tôi đã từng nghĩ, hay đổi Bổn tôn đi, có lẽ Địa Tạng Bồ Tát mới là Bổn tôn của mình.
Tuy nhiên, điều tuyệt vời đã xảy ra, tôi thấy A Di Đà Phật, tôi thật sự nhìn thấy, ánh sáng đó, khác biệt chính là khác biệt, liên tục bảy ngày, đều có dấu hiệu tương ứng.
Cảm nhận của bản thân tôi, người khác sẽ không bao giờ biết được. Chỉ là, tôi hiểu được cảm xúc của Virupa khi ông ấy đạt được dấu hiệu tương ứng!


### 19. Thích đi bộ đường dài


Bốn chữ "đi bộ đường dài", dường như đã lâu lắm rồi tôi không nghe thấy.
Thời tiểu học, tôi rất thích bốn chữ này. Khi học ở trường tiểu học Đại Đồng ở Cao Hùng, Đài Loan, chỉ cần nghe đến "đi bộ đường dài" là tôi sẽ nhảy cẫng lên vì phấn khích.

Chúng tôi đã đi bộ đường dài đến núi Thọ Sơn, Kỳ Tân, sông Ái Hà, lầu Xuân Thu, hồ Đại Bối (hồ Trừng Thanh), núi Quan Âm, núi Đại Cương, v.v...
Tôi nghĩ, đi bộ đường dài có lẽ tương đương với dã ngoại, chỉ là tại sao thời đó lại dùng cụm từ "đi bộ đường dài", có thể là vì phải đi bộ thật xa một chút!

Dã ngoại của người hiện đại là ngồi xe đến ngoại ô, sau đó mới đi bộ.
Còn đi bộ đường dài ngày xưa thực sự là đi bộ.

Tại sao tôi đặc biệt thích đi bộ đường dài, khi nghĩ kĩ, thực ra cũng không nói được lý do tại sao. Tôi chỉ cảm thấy đi bộ đường dài là việc làm thư thái cả thân lẫn tâm, là khi tâm trạng được phóng khoáng là lúc thư giãn nhất, giống như chim nhỏ được thả ra khỏi lồng, tự do tự tại!

Rời khỏi thời tiểu học, bước vào trung học, đại học, bước vào xã hội, sự cạnh tranh của xã hội mang tính toàn diện, nội dung cuộc sống cũng thay đổi, tiếp theo là những xung đột giữa con người, sự rối ren giữa các giáo phái, nỗi đau của sự công kích và phỉ báng, những nỗi buồn này là không thể tránh khỏi. Đôi khi tĩnh tâm suy nghĩ, thời học sinh thật sự quá đơn thuần.

Hiện tại chúng tôi sống trong tăng đoàn, hàng ngày trải qua cuộc sống tu hành đơn điệu, thỉnh thoảng, mọi người cùng đi đi bộ đường dài, dã ngoại, vẫn cảm nhận được niềm vui khó tả, vì vậy, trong tăng đoàn, tôi đặc biệt khuyến khích mọi người đi bộ đường dài, dã ngoại.

Trong bầu không khí trong lành của núi cao, chúng ta có thể nhìn thấy những cánh đồng xanh mướt, những dãy núi trùng điệp, màu xanh rì của cây cỏ, mặt đất nở rộ trăm hoa, những dòng suối uốn lượn, và ở xa xa là những dãy núi phủ đầy tuyết trắng.

Chúng tôi đã rời xa thành phố lớn, rời xa thị trấn, rời xa nhà cửa cao tầng, rời xa đám đông, như thể đang hòa mình vào núi sông đất trời, tất cả hiện ra đều là màu xanh, cùng với biển xanh, bầu trời xanh, cả đất trời đều phong phú và tươi đẹp.
Chúng tôi hát!
Chúng tôi nhảy múa!
Chúng tôi nói cười!
Tất cả đều hết mình......
Tôi nhớ lại thời học sinh và những chuyến đi bộ đường dài.
Chúng tôi hôm nay vẫn đang đi bộ đường dài.
Đi bộ đường dài thật sự là tuyệt vời quá!

Tôi nhận ra rằng, vùng ngoại ô không bị ô nhiễm, nước như ánh mắt long lanh, núi như đôi mày nhíu lại, những ngọn núi cao vút, dòng nước trong vắt khiến tâm hồn đang phiền muộn hoàn toàn lắng xuống. Sự thiêng liêng của những đám mây trắng, sự mênh mông của đất trời khiến người ta chìm đắm trong suy tư, mọi ràng buộc đều biến mất. Giữa con người với nhau, lời nói và cử chỉ trở thành những tình cảm dịu dàng đầy niềm vui, đi bộ đường dài thật là phong phú và tươi đẹp biết bao!

Chúng tôi đi qua một cây cầu khỉ, đi qua một con suối nhỏ hẹp và lầy lội, chúng tôi đi xem thác nước rộng lớn...
Cầu khỉ là tiếng hét ngạc nhiên.
Suối lầy lội là sự chạm nhẹ cẩn thận.
Thác nước lớn là vẻ đẹp trang nghiêm.
Cảm nhận trong lòng tôi được sinh ra từ những chuyến đi bộ đường dài.

Khi tôi lắng lòng suy nghĩ, tôi càng ngày càng không thích hình thái xã hội và quốc gia phức tạp, nơi nhà nước có những kẻ độc tài kiểm soát tự do của con người, tâm trí người dân bị đàn áp, các ràng buộc truyền thống tạo ra đủ loại gông cùm, chính trị gia dùng những lời hứa vô tận để lừa gạt chúng sinh, sự tham nhũng đáng sợ và sự phân hóa khủng khiếp, cùng với những xung đột bất tận giữa người với người và cuộc chạy đua vô tận vì danh lợi.

Cái giá của sự trưởng thành, thực ra là:
Đau khổ.
Buồn phiền.
Không hạnh phúc.
Sự đối lập giữa người với người.

Xã hội và quốc gia của người trưởng thành, bề ngoài là tự do, dân chủ, nhưng do áp lực ràng buộc từ xã hội, kinh tế, chính trị, thực tế lại là một nhà tù, chỉ là nhà tù này lớn hơn mà thôi.

Khi tôi nghĩ đến những điều này, tôi càng nhớ về thời thơ ấu, lúc nhỏ không có ý niệm về thiện ác, lúc nhỏ không hiểu thế nào là phi lý, lúc nhỏ không biết thế nào là quyền uy, thế nào là danh lợi địa vị, tâm hồn thuở nhỏ không phải là tâm hồn rời rạc, mà là trọn vẹn, tự do, trong sáng.

Tôi đề xướng đi bộ đường dài.
Đi bộ đường dài đưa tôi trở về thời tiểu học.
Cả đêm không ngủ được.
Nửa đêm thức dậy, xem có mưa không?
Đi bộ đường dài khai mở thân tâm.
Đi bộ đường dài là cảnh giới giải thoát.


### 20. Hoa cúc dại màu vàng


Trên đường đi, chúng tôi đi theo con đường số 90 hướng về phía Đông, chúng tôi đến Leavenworth [ngôi làng nước Đức] để dã ngoại.

Trên đường đi, tôi nhìn ra ngoài cửa sổ xe, đây là thói quen của tôi, tôi ngắm nhìn những dòng suối uốn lượn, những dãy núi xa xa, những mảnh đất xinh đẹp.

Từ Seattle Lôi Tạng Tự đến ngôi làng nước Đức mất khoảng hai tiếng rưỡi đồng hồ.
Vào lúc sáng sớm.
Có chút mưa phùn, trời âm u, trong xe hơi lạnh, tôi thấy một vài vị pháp sư sợ lạnh đang quấn chặt áo khoác màu đỏ.
Có vài cư sĩ tại gia đang nói cười vui vẻ, cũng có một vị pháp sư đang tập trung vào chuỗi hạt của mình, và một số người khác đã chìm vào giấc mơ ngọt ngào.

Tôi quay đầu về phía cửa sổ, thế giới bên ngoài cửa sổ vẫn thu hút sự chú ý của tôi hơn, tôi nhận thấy dọc theo con đường, những bãi cỏ xanh nở đầy từng mảng lớn hoa cúc dại màu vàng, hoa cúc dại màu vàng trong ánh sáng buổi sớm hiện lên một màu vàng rực, có vẻ đẹp vi diệu.

Bỗng nhiên, tôi nhớ đến một bức ảnh, đó là Cống Đường Thương Hoạt Phật, ngài ngồi giữa một cánh đồng hoang, và cánh đồng đầy những bông hoa cúc dại màu vàng nhỏ nhỏ, Cống Đường Thương Hoạt Phật ngồi dưới một chiếc ô, giữa đám hoa cúc dại.

Bức ảnh đó để lại ấn tượng sâu sắc trong tôi, nghe nói, đó là thảo nguyên Cam Túc, vào ngày đại pháp hội Thời Luân Kim Cang của tu viện Labrang, các pháp hội của người Tạng đều được tổ chức trên thảo nguyên rộng lớn, và Cống Đường Thương Hoạt Phật đã chụp ảnh giữa đám hoa cúc.

Ngoài ra, trong ấn tượng của tôi, trên động Vỏ Sò ở sơn trang Cầu Vồng cũng thường xuyên mọc đầy hoa cúc dại màu vàng, phủ kín cả sườn đồi, từng có một vị pháp sư chạy lên động Vỏ Sò để tĩnh tọa, nhìn từ xa, nửa người chìm hẳn trong đám hoa.

Bản thân tôi cũng từng nghĩ như vậy, tìm một ngày hoa cúc dại vàng nở rộ, cẩn thận tránh xa mọi người, khẩn trương chạy đến sườn đồi sau khu rừng, rồi ngồi xuống, và đi vào thiền định.

Xem cảm nhận có khác biệt không, bởi vì hoa cúc dại ở gần kề như vậy, hoa cúc dại rõ ràng, mềm mại, duyên dáng muôn phần đang áp sát bên mình, thật là làm say lòng người, thật sự vinh quang.

Thiền định giữa đám hoa cúc dại hẳn là một bức tranh làm say lòng người.

Nói một cách nghiêm túc, trong trăm hoa, mẫu đơn là vua của các loài hoa, lan thì có hương thơm kín đáo, hoa trà có vẻ đẹp thanh tao, hoa mơ thì e thẹn đáng yêu, thủy tiên có vẻ đẹp cao quý thoát tục, hoa sen vàng có dáng vẻ tiên nữ, thược dược cũng rất xinh đẹp, hoa lựu có vẻ đẹp kiều diễm, hoa quế thì tỏa hương thơm ngát, hoa mai với vẻ đẹp rực rỡ chịu được giá lạnh, hoa đào thì rực rỡ, hoa sơn trà như ngọc quý, hoa hồng thì lộng lẫy. Còn có hướng dương, phượng tiên, hoa mào gà, hoa poppy, hoa chuông, hoa ly, thiên điểu, phù dung, hoa tulip, v.v...

Hoa cúc tuy thách thức sương giá, nhưng hoa cúc dại màu vàng hẳn là vô danh, chỉ vì chúng mọc khắp núi đồi.
Tuy nhiên, tôi nghĩ chỉ có hoa cúc dại màu vàng này mới có thể tô điểm cho đất trời nơi thôn dã, với gấm vóc rực rỡ, hương thơm nồng nàn, muôn hoa như những chấm nhỏ, phân bố như những vì sao, dần dần nhuộm khắp đất trời, những bông hoa vàng nhỏ dày đặc ấy làm lòng người hân hoan.

Viết một bài kệ:
"Dãy núi Triều Thiên nối liền trời, đồng bằng đất rộng vàng khắp nơi, hoa cúc vàng nhỏ sinh vô tận, tôi vui chắp tay trước hoa trời."

Tôi nghe nói, mẫu đơn là vua của các loài hoa, những giống quý lạ của nó được chia thành năm loại, đó là:
Hoàng Lâu Tử.
Ty Hồ Điệp.
Tây Qua Thu.
Vũ Thanh Nghê.
Đại Hồng Sư.
Lại truyền thuyết rằng, mẫu đơn Lạc Dương đứng đầu thiên hạ, đây là khi Võ Tắc Thiên ngự giá đến thượng uyển, viết một bài thơ:
"Sáng mai dạo thượng uyển, hỏa tốc báo xuân hay, trăm hoa đêm nở rộ, chớ đợi gió sớm lay."

Kết quả, trăm hoa không dám trái lệnh, chỉ trong một đêm đã nở hoa, chỉ có mẫu đơn là không chịu tuân phục, nên bị Võ Tắc Thiên đày đến Lạc Dương.

Tuy nhiên, dù các loài hoa danh tiếng có vẻ đẹp yêu kiều thì chúng đều có mùa, có nơi riêng, chỉ có hoa cúc dại màu vàng là nở rộ khắp nơi, đẹp đẽ tràn đầy trước mắt.

Tôi từng suy ngẫm về đạo lý "thần thánh và bình phàm", điều gì là thần thánh, điều gì là bình phàm? Cùng một khúc gỗ, nếu tạc thành tượng Phật thì trở nên thần thánh, nếu đẽo thành chiếc ghế thì lại trở nên bình phàm.

Nếu là một mảnh đất xây thành ngôi chùa, nó sẽ trở thành nơi thần thánh, tràn đầy không khí trang nghiêm, còn nếu đào thành hố phân, nó sẽ trở nên bình phàm. Không chỉ bình phàm mà còn thấp hèn.

Nếu kim cương nhiều, nhiều như đá sỏi, và nếu thủy tinh lại hiếm có, thì điều gì là thần thánh, điều gì là bình phàm?

Nếu mẫu đơn mọc khắp mọi nơi, mẫu đơn còn thần thánh nữa không?

Nếu hoa cúc dại vàng nhỏ lại hiếm, phải dùng thủy tinh tốt nhất mới có thể nuôi được, thì hoa cúc dại nhỏ bé ấy còn bình phàm nữa không?

Điều gì là thần thánh? Điều gì là bình phàm?


### 21. Đi bộ đường xa ngắm cá


Gần ngôi làng nước Đức, dưới sườn núi, có một trại nuôi cá với những ao cá hình chữ nhật rất lớn, các ao hình chữ nhật được xếp song song, rất nhiều, rất nhiều.

Bên cạnh ao cá có nhà máy bơm để bơm nước ngầm, bơm nước để nuôi cá, nước được lưu thông giống như nước tự nhiên khi cá sinh sống.

Phía trên ao cá, người ta dùng cây tre để treo một sợi dây dài, đầu dây buộc một con đại bàng làm bằng giấy, con đại bàng giấy bay phấp phới theo gió. Có người hỏi tôi tại sao lại có đại bàng giấy?

Tôi dùng logic của mình để suy luận:
Trong các loài chim bay, có một số loài sống nhờ cá, ví dụ như chim bói cá bên bờ ao là loài lao xuống, lướt trên mặt nước, rất nhanh chóng cắn lấy cá nhỏ rồi nuốt cá. Đại bàng giấy tất nhiên là giả, nhưng đại bàng là vua của các loài chim, nhiều chim nhỏ đều sợ đại bàng, khi có đại bàng ở đó, các loài chim ăn cá không dám đến gần, do đó, để tránh cá nhỏ bị tấn công bởi các loài chim nên mới có đại bàng giấy.

Bên cạnh ao nuôi cá có con sông, nơi đó dường như có một không gian rất rộng lớn, nhiều cây to, nhiều bóng râm xanh, dãy núi ở nơi xa hơn, phải đi qua một khoảng đồng bằng rộng lớn hơn nữa mới có thể đến chân núi.

Chúng tôi đến bên ao cá để ngắm cá:
Có "cá sa môn" đuôi nhỏ, mảnh như sợi chỉ.
Còn có loại lớn hơn, kích cỡ như cây bút máy.
Chen chúc ken dày.

Có thể tưởng tượng được dáng bơi uyển chuyển của cá, cá là vẻ đẹp động, cá có hình dáng riêng của mình, được tạo hình trong không gian mà con người tạo ra, và tồn tại, sinh sống trong không gian đó.

Chúng tôi tiếp tục tìm cá lớn.
Không có con nào đuôi lớn cả, không một con đuôi lớn nào, lạ thật, sao lại không có cá đuôi lớn nhỉ?
Có người nói:
"Đã bị bán hết cho siêu thị rồi!"
"Chuyện gì vậy?"

Chúng tôi đi hỏi người quản lý trại nuôi cá, câu trả lời của anh ta khiến chúng tôi ngạc nhiên, anh nói: Trại nuôi này do chính phủ Mỹ thành lập, nuôi cá sa môn giống, khi cá giống phát triển đến một mức độ nhất định, trại nuôi sẽ thả chúng về sông suối, giúp kéo dài sự sống của cá trong các dòng suối.

Hóa ra trại nuôi cá do chính phủ Mỹ thành lập không phải là cơ sở kinh doanh, không phải là nơi tư nhân nuôi cá, nuôi tôm, nuôi hàu.

Thì ra trại nuôi cá này, điều mà nó tạo ra, là cầu nối giữa cá giống và cá trưởng thành, là nơi hỗ trợ cá giống phát triển, đây là một khái niệm hoàn toàn mới của thời hiện đại, tư duy này khác với người đời thường, đầy ắp tư tưởng, không gian do tư tưởng tạo ra, khi cụ thể hóa nó, sẽ hình thành sản phẩm của trại nuôi cá.

Trại nuôi cá này không phải là khái niệm hẹp, không phải để bán cá.
Trại nuôi cá này là khái niệm rộng lớn, khi cá được nuôi trưởng thành sẽ được thả về sông, lý tưởng nuôi cá là: "Để mọi sông suối hồ ao ở Mỹ đều có cá."
Trại nuôi cá này tạo ra mối quan hệ giữa con người và cá, tôn trọng cá, tôn trọng cuộc sống của cá, hay tôn trọng một quy tắc, một nguyên tắc.

Ở Mỹ:
Có những loại cá được phép câu.
Có những loại cá được bảo vệ.
Có những nơi được phép câu cá.
Có những nơi được bảo vệ.
Nguyên tắc này là để cá có thể sinh sôi nảy nở, tồn tại và phát triển mãi mãi.

Ở Mỹ, rừng cú được bảo vệ, cá voi ở tiểu bang Maine được bảo vệ, gấu được bảo vệ, tất cả các loài động vật quý hiếm đều được bảo vệ, ngay cả người thổ dân cũng được bảo vệ, vì thế mới có phạm vi "khu bảo tồn người thổ dân".

Ngày nay, bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên, bảo vệ cây xanh, bảo vệ môi trường, bảo vệ động vật là những quan niệm hoàn toàn mới của thời đại. Đây không chỉ là những danh từ trừu tượng, cũng không phải là những lý tưởng, mà đã được đưa vào thực hiện. Thực ra, thế hệ mới đã nhận thức được quan niệm mới này, và kết quả thực tế chính là bảo vệ chính mình.

Tôi lắng lòng và suy ngẫm kĩ:
Liệu việc chính phủ Mỹ chi tiêu ngân sách công có hoàn toàn vô ích và ngu ngốc không?
Liệu việc Mỹ bảo vệ cá có phải là giả tạo không?
Liệu nước Mỹ có thực sự từ bi và không hề xa cách không?

Hãy nghĩ về thành phố lớn New York của Mỹ, nơi con người sống trong những hộp như ngăn kéo, ở bên ngoài phải cẩn thận cướp giật, cẩn thận trộm cắp, cẩn thận bạo lực, cẩn thận tổn hại, cẩn thận phá hoại. Con người thật mong manh, gần như đang sống giữa tội ác.
Con người ở đó, chờ đợi, quan sát, như một con tắc kè hoa.

Tôi đang nghĩ:
Con người có nỗi buồn, con người có đau khổ, con người có bất lực, con người có bất đắc dĩ...
Ai sẽ bảo vệ?


### 22. Rượu và cam lộ


Tại ngôi làng nước Đức, chúng tôi tham quan một nhà máy bia nhỏ.
Nguyên liệu làm bia gồm lúa mạch và lúa mạch đen, ngoài ra còn có các loại gia vị khác.

Chúng tôi tham quan lò hơi nấu bia và quy trình sản xuất bia, nhà máy bia đương nhiên mời chúng tôi uống bia Đức miễn phí, mỗi người một ly.

Lúc này, tôi đương nhiên nhớ đến vấn đề năm giới:
Một, sát sinh.
Hai, trộm cắp.
Ba, tà dâm.
Bốn, vọng ngữ.
Năm, uống rượu.

Về giới không uống rượu, Đức Phật đã dạy rõ trong kinh điển:

"Rượu là gốc rễ của mọi điều ác bất thiện, nếu có thể đoạn trừ nó, sẽ tránh xa được nhiều tội lỗi." - Kinh Niết Bàn.

"Nếu tay cầm đồ đựng rượu đưa cho người khác, khiến họ uống rượu, thì năm trăm đời không có tay, huống chi là tự mình uống? Không được dạy tất cả mọi người uống, và tất cả chúng sinh uống rượu, huống chi là tự mình uống!" - Kinh Phạm Võng.

"Người uống rượu có sáu điều mất mát: một là mất của cải, hai là sinh bệnh, ba là gây gổ đánh nhau, bốn là tiếng xấu lan truyền, năm là nóng giận bộc phát, sáu là trí tuệ ngày càng suy giảm." - Kinh Trường A Hàm.

"Không được uống rượu, không được ham thích rượu, không được nếm rượu." - Kinh Sa Di Ni Giới.

Ngoài ra, trong "Kinh Phân Biệt Thiện Ác Sở Khởi" có nói: "Phật dạy, ở trong thế gian, người thích uống rượu say sưa, sẽ mắc ba mươi sáu điều mất mát."

Tôi hiểu rõ giới luật về rượu và tác hại của nó. Những thảm họa do người ta uống rượu quá độ thực sự rất đáng sợ. Những ví dụ đơn giản như giết người sau khi uống rượu, hành vi tình dục bừa bãi sau khi uống rượu, lái xe sau khi uống rượu, tất cả đều là những tai họa với rượu là nguyên nhân chính.

Phật Thích Ca Mâu Ni khuyên răn và cấm đệ tử uống rượu là một sự thấu hiểu trước thời đại, rượu và tất cả các chất gây nghiện đều nằm trong giới cấm này.

Tuy nhiên, tại ngôi làng nước Đức, tôi đã không cấm đệ tử của mình uống bia.
Tại sao vậy?
Bởi vì đối với người Đức, bia giống như nước lọc, uống bia rất sảng khoái, như một loại thức uống giải khát.
Mỗi người chỉ uống một ly nhỏ, không đến mức say.

Trong truyền thống của làng Đức, khi có người mời bạn uống rượu mà bạn từ chối, đó sẽ là một hành vi rất bất lịch sự.

Ngoài ra, trong giới luật của Chân Phật Tông của tôi:
Nhấp môi một chút là cam lộ thơm ngon.
Say rượu là phạm giới nặng.

Có lẽ khi tôi nói như vậy, sẽ khiến các đệ tử Phật ngạc nhiên lắc đầu, hoặc thậm chí thở dài, cho rằng tôi "hết thuốc chữa".

Tuy nhiên, tôi nói như sau:
Giới luật của Phật là để ngăn cấm những đệ tử không thể tự kiểm soát bản thân, không được chạm đến một giọt chính là vì bạn không thể tự chủ.
Nếu chỉ nếm thử nhẹ nhàng, không đắm chìm, không uống quá độ, thì làm sao là tội?

Tôi tự giáo dục bản thân, tôi ngày càng có thể kiểm soát tâm mình, tôi hoàn toàn không lạc lối, tôi cũng không sa ngã, tôi biểu hiện tất cả sự lễ nghĩa, đời sống tu hành của chúng ta là thanh tịnh, lại thêm vẻ đẹp tinh tế.

Chúng ta có thể nếm thử rượu, trong sự nếm thử không đánh mất tính cách ôn hòa, mỗi đệ tử đều có thể thể hiện tài năng tuyệt vời, mọi người học cách tự chủ, kiểu sống này đại diện cho vẻ đẹp trang nghiêm, chỉ cần có thể phù hợp với sự tự chủ theo trung đạo, thì không tính là phạm giới, điều này cũng phát sinh từ truyền thống.

Bài kệ trung đạo là:
*Pháp do nhân duyên sinh
Ta nói chính là không
Cũng gọi là tên giả
Cũng là nghĩa trung đạo.*

Tôi nói, rượu là thuốc độc, đúng vậy. Tôi nói, rượu là cam lộ, đúng vậy. Hai quan điểm này đều là phương tiện để đi vào trung đạo, soi chiếu cả hai đế, tâm tâm tịch diệt, tự nhiên tuôn chảy vào biển Nhất thiết trí, đây gọi là quán đệ nhất nghĩa của trung đạo.

Giới luật là để ngăn cấm tai họa, giới luật là để ngăn cấm tổn hại, giới luật là để ngăn cấm tạo nghiệp, giới luật là để ngăn cấm tâm phóng túng, để tất cả nguồn gốc tai họa phân cách với hành giả, không để nguồn tai họa phá hoại sự thanh tịnh của hành giả.

Tuy nhiên, Phật Thích Ca Mâu Ni cũng giải thích về giới luật, giới luật là một chuyện, sự siêu việt của bậc thánh là một chuyện khác, bậc thánh là tự chủ, là trạng thái phong phú của sự thanh tịnh, tất cả đều là thanh tịnh, không có cái gọi là ô uế, cái gọi là thanh tịnh, lúc này giới luật cũng như không có.

Giới luật là công thức.
Thanh tịnh là sự tồn tại vốn có.
Sự tồn tại vốn có không bao giờ có thể bị chuyển biến.
Đây không phải là mâu thuẫn.
Đây là sự siêu việt tức thì của Đại Viên Mãn.


### 23. Điệu múa gà


Trên đường phố của làng Đức, có một nhà hàng tên Cà phê Mocha, được cho là nhà hàng có quy mô lớn nhất của làng, có thể chứa khoảng sáu mươi người. Thảm trải sàn kiểu Đức chiếm toàn bộ không gian, giữa nhà hàng đặt một cây đàn hạc, cây đàn rất cao, có hình dáng cổ kính, như thể tất cả bàn ghế trong nhà hàng đều bày tỏ sự kính trọng sâu sắc đối với nó.

Thực tế đúng là như vậy, cô gái chơi đàn hạc mặc áo choàng dài màu xanh nhạt, tóc buộc gọn gàng, khi những ngón tay cô chạm vào dây đàn, âm thanh đã làm chủ thính giác của tất cả mọi người trong sự tĩnh lặng của nhà hàng.

Âm thanh của đàn hạc rất đẹp, giai điệu du dương và tinh tế của những bài hát Đức lan tỏa đến mọi ngóc ngách. Bữa tối hôm đó, sáu mươi người đã trải qua thời gian ở đó, và sau mỗi bài hát kết thúc, chúng tôi đều vỗ tay nhiệt liệt.

Trước cây đàn hạc có một lọ thủy tinh nhỏ để đựng tiền boa. Cô gái Đức chơi đàn hạc quá hay, nên chiếc lọ thủy tinh nhanh chóng đầy những tờ một đô la, năm đô la, và thiếu nữ trong trang phục xanh lại càng chơi hăng say hơn.

Chủ nhà hàng nữ có thể nói là rất phấn khích và coi trọng chuyến ghé thăm của chúng tôi. Bà không chỉ chuẩn bị một bữa tối thịnh soạn mà còn đặc biệt mời người cha già của mình, con trai, con gái và em gái đến. Họ cùng nhau chào đón chúng tôi, chuẩn bị âm nhạc và vũ điệu, chính thức biểu diễn các điệu múa Đức cho chúng tôi xem.

Cậu con trai của chủ nhà hàng mặc quần yếm, quần đùi, áo sơ mi hoa, khoảng tám tuổi, rụt rè tặng tôi một bông hoa màu vàng, rồi quay người chạy đi.

Ba thế hệ trong gia đình họ biểu diễn điệu múa gà của Đức cho chúng tôi xem. Họ vui vẻ nhảy theo vòng tròn trong tiếng nhạc, ánh đèn chiều tối chiếu lên khuôn mặt mỗi người, dường như tỏa ra ánh sáng nội tại của riêng họ, tạo thành những sắc màu rực rỡ.

Điệu múa gà rất đơn giản:
Đầu tiên, dùng tay tượng trưng cho mỏ nhọn của gà.
Tiếp theo, dùng hai vai nhúc nhích, tượng trưng cho cánh gà.
Thứ ba, lắc lư mông, tượng trưng cho dáng đi của gà.

Vì rất đơn giản, nên một vài vị pháp sư cũng nhảy theo, họ xếp thành một hàng, hoặc vây quanh thành vòng tròn, tiếp tục nhảy múa, trong khoảnh khắc đó, giữa mọi người, không cần lời nói đã giao tiếp được với nhau.
Nụ cười là tình cảm.
Nhảy múa là sự tôn kính.

Trong giây phút đó, tất cả thời gian và suy nghĩ đều dừng lại, bạn và họ chỉ là sự biểu lộ của tâm, hoàn toàn thành kính. Vào lúc này, lúc nhảy điệu múa gà, có lẽ không còn khoảng cách về niềm tin, không còn hình tượng pháp sư, cũng không có ý nghĩa đặc biệt nào, chỉ cảm nhận được niềm vui hòa quyện trong ánh mắt và nụ cười của nhau.
Người nhảy múa rất vui.
Người xem vỗ tay đến đau cả tay.

Tôi nghĩ rằng:
Ngôn từ là thừa thãi.
Hình tượng không quan trọng.
Niềm tin cũng không cần thiết nữa.
Ý thức cũng có thể buông bỏ.

Trong khoảnh khắc nhảy điệu múa gà, chúng ta không có những thứ này, nhưng vẫn cảm thấy xúc động, tất cả chúng ta đều nắm bắt được cảm giác hòa quyện đó. Tôi nhận ra rằng vũ điệu có màu sắc và sức mạnh đáng kinh ngạc, múa là sự chuyển động bên ngoài, nhưng cũng có cảm nhận bên trong.

Trong vũ điệu, là sự kết hợp giữa bên ngoài và bên trong, tỏa sáng, ánh sáng này chắc hẳn là ánh sáng của sức mạnh tuệ giác toàn diện.

Trong Mật giáo, trong Đại Mandala Kim Cương Giới, là:
Ở trung tâm là một vị Phật, bốn ba-la-mật, bốn phương Đông Nam Tây Bắc, mỗi phương có một vị Phật và bốn Kim Cang, bốn phương Đông Nam, Đông Bắc, Tây Nam, Tây Bắc, mỗi phương lại có hai Kim Cang.

Bốn vị Bồ Tát cúng dường này là:
Kim Cang Ca Bồ Tát
Kim Cang Vũ Bồ Tát
Kim Cang Man Bồ Tát
Kim Cang Hí Bồ Tát

Tôi thường tự hỏi, trong thế giới Ta Bà này, niềm vui cao nhất là gì? Đó là thưởng thức âm nhạc (kim cang ca), ngắm nhìn điệu múa (kim cang vũ), tự mình ăn mặc đẹp đẽ, hoặc ngắm người khác ăn mặc đẹp đẽ (kim cang man), hay là xem một vở kịch, hoặc tự mình diễn một vở kịch (kim cang hí). Giữa cõi trời và cõi người, có gì khác biệt?
Ca, vũ, man, hí là nguồn suối của niềm vui!

Bất chợt, tâm tôi trở nên tĩnh lặng, tôi nhận ra rằng bình phàm chính là thần thánh, sắc chính là không, uế chính là tịnh, cõi người cũng là cõi trời, thiền định chính là phi thiền định. Thực ra, không có bên ngoài, cũng không có bên trong, chỉ có tổng thể.

Khi nhảy điệu múa gà:
Không có một chút suy nghĩ nào.
Suy nghĩ không thể nuôi dưỡng sự thiêng liêng.


### 24. Bên ngoài và bên trong


Vị Pháp Vương Ganden Tripa, giáo chủ của phái Gelug (Hoàng giáo), còn được gọi là Pháp Vương Ganden Dipa, đã đích thân đến thăm Seattle Lôi Tạng Tự ở Mỹ, và trao tận tay cho tôi một áo bào Pháp Vương. Khi khoác lên mình chiếc áo bào của Pháp Vương, về mặt bên ngoài, tôi đã trở thành Pháp Vương Liên Sinh.

Sau đó, một vị Pháp Vương tối cao của phái Nyingma (Hồng giáo), Orgyen Kusum, còn gọi là Pháp Vương Nyingpa (H.H. Orgyen Kusum Lingpa), đã dẫn theo Hungkar Dorje Rinpoche đến thăm Seattle Lôi Tạng Tự.

Vị Đại Pháp Vương Hồng giáo này đến từ Tây Tạng, là hóa thân của Bồ Tát Kim Cang Thủ, được công nhận là bậc đại thành tựu của phái Nyingma (pháp Đại Viên Mãn). Trong tự truyện do chính ông viết có đề cập rằng, ngay cả Đức Dalai Lama cũng từng xin ông truyền dạy và quán đảnh pháp Đại Viên Mãn.

Vị giáo chủ Hồng giáo này để gặp tôi, nghe nói đã tìm kiếm từ trong rương ra chiếc áo bào Pháp Vương tốt nhất, và mặc vào người. Chiếc áo bào Pháp Vương này có lẽ nặng vài cân, thắt đai vàng ở eo, trên áo thêu nhiều biểu tượng cát tường.

Ngày Pháp Vương Hồng giáo đến đúng vào thời điểm sau ba tháng mùa mưa liên tục, mặt trời xuất hiện ngày đầu tiên, tất cả cây cối trong làn gió nhẹ đều khoác lên mình sắc màu rạng rỡ, bầu trời trong vắt, xanh thẳm, một bầu không khí dịu dàng, tĩnh lặng phản chiếu ánh nắng ban mai, Lôi Tạng Tự tràn đầy trang nghiêm, mái ngói vàng hoàn toàn tinh khiết và bao la.

Pháp Vương Orgyen Kusum Lingpa nói:
"Trong kiếp này, tôi đang tìm kiếm nhiều vị Pháp Vương của mình, tôi cảm nhận được rằng Liên Sinh Hoạt Phật sẽ là người đầu tiên mà tôi tìm thấy."
Tôi mỉm cười, không đáp lại.

Pháp Vương Orgyen Kusum Lingpa nói:
"Tôi cảm nhận được rằng, Liên Sinh Hoạt Phật là người đầu tiên tôi tìm kiếm. Liên Sinh Hoạt Phật có thể dựng cờ pháp lớn nhất tại Mỹ."
Tôi vẫn khiêm tốn mỉm cười. Đó là tháng năm năm 1997, một ngày nắng ấm.

Sau khi Pháp Vương Hồng giáo đã đi, tôi bước vào Chân Phật Mật Uyển, có vài đệ tử đang ngồi trên tấm thảm trải sàn.
Họ đứng dậy.
Tôi ngồi kiết già ở vị trí cũ quen thuộc, dường như đó là một vị trí có quyền uy, có thể nói chuyện với mọi người.
Đệ tử hỏi:
"Tìm kiếm Pháp Vương ư?"
"Có vẻ như vậy." - Tôi trả lời.
"Pháp Vương là..."
"Đó chỉ là bên ngoài." - Tôi nói tiếp: "Giáo chủ Ganden Tripa đã trao cho tôi áo bào Pháp Vương rồi, thực ra trong Mật tông Tây Tạng, địa vị của giáo chủ Ganden Tripa ngang hàng với Panchen Lama và Dalai Lama, giáo chủ Ganden Tripa, Panchen và Dalai có địa vị ngang nhau, Dalai Lama nhìn thấy giáo chủ Ganden Tripa đến còn phải đứng dậy đón! Hôm nay, giáo chủ Ganden Tripa đã trao cho tôi áo bào Pháp Vương, về mặt bên ngoài, đó đã là phước lành lớn nhất và cao nhất, không cần phải cầu gì thêm nữa."
"Vị Pháp Vương Hồng giáo này ngoại hình giống như Sư Diện Không Hành!" - Đệ tử nói.
"Ha! Đó cũng chỉ là bên ngoài." - Tôi đáp.
"Điều gì mới thực sự là bên trong?"
"Bên trong là khi một hành giả đã khám phá ra chân lý, đã trải nghiệm được chân như, đã chuyển hóa bản thân thành chân như, vì vậy, với tư cách là một bậc trí giả, vị hành giả đó đang mở cánh cửa tâm linh cho chúng sinh, truyền dạy những điều mình đã khám phá, đã trải nghiệm cho những người đang tìm kiếm."
"Pháp Vương, giáo chủ đều là bậc trí giả sao?"
Tôi trả lời:
"Danh xưng Pháp Vương, danh xưng giáo chủ, danh xưng Rinpoche (Hoạt Phật), tất cả đều là bên ngoài, kể cả Kim cương Thượng sư cũng vậy, đó chỉ là những danh xưng. Ngay cả khi có những nhân vật có thẩm quyền với những danh xưng này, nếu tâm của họ bị ràng buộc, họ bị mắc kẹt trong ảo tưởng, thì những địa vị quyền uy bên ngoài đó đều vô nghĩa."
Tôi nói tiếp:
"Lấy bản thân tôi làm ví dụ, tôi là người sáng lập Chân Phật Tông, đồng thời tôi sở hữu áo bào Pháp Vương Ganden Tripa, nhưng nếu tôi không có công phu tu tập bên trong, không có chân như vĩ đại và tối thượng, thì đó chỉ là danh tướng, không phải thành tựu."

Ý tôi là:
Danh tướng là bên ngoài.
Danh tướng là những tràng vỗ tay và hoan hô tạm thời.
Danh tướng là tấm bằng khen.
Danh tướng sẽ bị loại bỏ khi chạm vào thực tại.

Tôi nói với đệ tử của mình:
"Thực ra, chân như không có con đường nào cả, chân như không liên quan gì đến danh tướng bên ngoài, chân như hoàn toàn là sử dụng tâm của chính mình, có lẽ ngay cả tâm cũng không cần, lúc đó, bạn sẽ khám phá ra chân như."

Nói xong, tôi đứng dậy, rời đi, và bước vào phòng riêng của mình.


### 25. Hoa đỏ và hoa vàng


Đó là một buổi sáng yên tĩnh, tôi đã hẹn gặp một đệ tử đến từ Nhật Bản. Anh là một người trẻ tuổi, với đường nét khuôn mặt thanh tú, gương mặt có hình dáng đẹp, đôi mắt lộ ra nụ cười. Anh học Phật rất hiệu quả, đi lại nhanh nhẹn, cơ bắp trông rất săn chắc, cảm nhận tu tập của anh rất tốt.

Anh nói: "Con đã dành nhiều năm theo Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật, Sư Tôn thường chỉ dạy con trong mơ. Con học cách tĩnh tâm, kiểm soát ý nghĩ của mình. Con nghĩ rằng không có sự nghiệp nào có thể thực sự giải quyết vấn đề của cuộc đời, con không phù hợp với công việc đời thường, con chỉ thích hợp với con đường tu hành, hiểu sâu sắc rằng tu hành mới thực sự có ý nghĩa và chiều sâu, tương lai nhất định sẽ đến đây xuất gia."

Tôi trả lời: "Người trẻ tuổi có sự tỉnh ngộ như vậy, quả thật không bình thường, con có căn cơ lớn."

Tôi trò chuyện với chàng trai trẻ tuổi này một lúc, nhận ra rằng đây không phải là sự bốc đồng nhất thời, cũng không có cái gọi là mê muội hay buồn rầu. Tư tưởng, ký ức, kinh nghiệm và kiến thức của người thanh niên này đều phong phú và chính xác. Nếu anh bước vào xã hội vẫn có thể phát huy năng lực bình thường trong công việc, anh có thể tồn tại trong xã hội hiện đại.

Chỉ là anh tự nói mình không phù hợp với công việc đời thường, ý anh muốn nói về đức tin của mình, về hệ tư tưởng của mình, về những điều anh theo đuổi, không phải là danh lợi bên ngoài, mà là giải quyết các vấn đề "nội tại" của cuộc sống, cùng với nhiều hình ảnh về sự sống.

Anh hỏi tôi: "Con khó hiểu về nhận thức về 'không' và 'có', xin Sư Tôn chỉ dạy."
Tôi hỏi: "Không và có, trong Phật giáo đã được thảo luận rất nhiều, quan điểm của con như thế nào?"
Anh cho rằng: "Tất cả đều là không. Đời sống và hiện tượng vật chất đều chỉ là tạm thời, khi vô thường đến, có sinh ắt có tử, tất cả những gì có, sẽ trở thành không."
Tôi nói: "Đó là đoạn kiến."
Anh hỏi: "Lẽ nào Sư Tôn cho rằng, con người và tất cả hiện tượng trong thế giới Ta Bà này là có sao?"
Tôi nói: "Đó là thường kiến."
Anh hỏi: "Trong giới Phật giáo có người nói tất cả đều không, cũng có người nói tất cả đều có, lại có người nói lúc có, lúc không, nói rằng tục đế là có, chân đế là không, cũng có người nói ngược lại, chân đế là có, tục đế là không."
Tôi nói với anh:
"Nói không là đoạn kiến. Nói có là thường kiến. Nói lúc có lúc không là mâu thuẫn. Quan điểm của tôi là 'duyên khởi tính không', tư tưởng Trung quán của Bồ Tát Long Thụ chính là 'duyên khởi tính không', đó là cảm nhận của tôi."

Đức Phật đạt được giác ngộ chân chính bằng cách quán xét đạo lý về sự luân chuyển và diệt tận của mười hai nhân duyên, vì vậy có "Kinh Duyên Khởi Thánh Đạo" và "Kinh Duyên Khởi".

Tất cả mọi sự vật đều nương theo duyên mà sinh khởi, tất cả pháp hữu vi đều từ duyên khởi mà có. "Trung Luận" nói: "Duyên khởi nghĩa là thể tính mà khởi, nương duyên mà khởi, nên gọi là duyên khởi."

"Kinh Diệu Pháp Liên Hoa" nói: "Hạt giống Phật từ duyên mà nảy mầm."

Hoa Nghiêm tông nói về bốn loại duyên khởi:
1. Nghiệp cảm duyên khởi — Tiểu thừa.
2. A-lại-da duyên khởi — Đại thừa Thủy giáo.
3. Như Lai tạng duyên khởi — Đại thừa Chung giáo.
4. Pháp giới duyên khởi — Đại thừa Viên giáo.

Chỉ có Đại thừa Đốn giáo là chủ trương "tất cả đều không", vô tướng ly ngôn, nên không có thuyết duyên khởi của giáo tướng.

Nói thêm về tính không, pháp do nhân duyên sinh ra, xét đến cùng không có thực thể, đó chính là không. Bồ Tát Long Thụ nói về "duyên khởi tính không", tính không này là "tự tính không", là sự trống rỗng của tự tính, nhưng từ duyên khởi mà sinh ra tất cả.

Tôi chủ trương "duyên khởi tự tính không" là vì "không mê mờ nhân quả". Bởi chủ trương "tất cả đều không" thì cả thiện ác cũng là không, nhân quả cũng là không, như vậy sẽ là một điều vô cùng đáng sợ, thế giới này sẽ trở nên hỗn loạn.

Trước đây, Đốn giáo từng nói:
"Hoa đỏ và hoa vàng không hề chịu nhuộm màu, nhưng khi nở ra, liền là hoa đỏ, là hoa vàng, làm gì có chuyện nhân duyên duyên khởi?"

Tôi trả lời:
"Đó là duyên khởi từ hạt giống, hạt giống của hoa đỏ tự nhiên sẽ nở ra hoa đỏ, hạt giống của hoa vàng tự nhiên sẽ nở ra hoa vàng. Nếu nghiên cứu sâu hơn, bên trong hạt giống rốt cuộc đã có gen di truyền của nó, không phải tự nhiên sinh ra hoa đỏ, tự nhiên sinh ra hoa vàng mà không có nguyên nhân."

Tôi chủ trương và tán đồng thuyết "duyên khởi tính không" của Bồ Tát Long Thụ, "tự tính không" là đúng, nhưng tất cả đều nương theo duyên mà sinh khởi. Nếu không phải như vậy, mà chỉ nói "tất cả đều không" thì sẽ dẫn đến hỗn loạn lớn. Nếu tất cả đều là không, vậy quả vị Phật còn tồn tại không? Nếu ngay cả thành Phật cũng không có thì tu hành để làm gì? Phải trái, thiện ác, chính tà đều không có nhân quả nữa.


### 26. Kim cương Thượng sư


Họ đi đến siêu thị gần đó, mua các loại thực phẩm bao gồm bánh mì, bánh quy, kẹo, cùng với nhiều đồ uống và trái cây, sắp xếp những thực phẩm này ngăn nắp trước đàn thành, ngoài ra còn mua nhiều chậu hoa rực rỡ để trang trí Chân Phật Mật Uyển, khiến đàn thành nhỏ trông như một khu chợ hoa đầy màu sắc.

Ngày hôm đó, tâm trạng mọi người rất tốt, không khí toát lên vẻ trang nghiêm. Tôi lắc chuông và trống trước, thanh tịnh hóa trước, rồi mới triệu thỉnh.

Sau đó, tôi mời pháp sư Liên Hải, pháp sư Liên Ninh và pháp sư Liên Liêm hướng về đàn thành làm đại lễ bái.
Tôi lắc chuông trống, làm đại cúng dường. Tụng chú tứ quy y.
Đương nhiên, tôi tuân theo nghi quỹ từng bước tiến hành nghi lễ quán đảnh.

Tôi phải đứng trước đàn thành, hướng về chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, chư Thiên trong hư không, tụng tên của ba vị pháp sư, giới thiệu họ, rồi thỉnh cầu Ngũ Phật giáng lâm đàn thành, ban quán đảnh cho ba vị pháp sư.

Quán đảnh này là quán đảnh Kim cương Thượng sư, tức là quán đảnh A Xà Lê, sau khi trải qua nghi lễ quán đảnh chính thức này, vị pháp sư đó sẽ trở thành một vị thầy quán đảnh có đủ tư cách, có thể chính thức hoằng dương Chân Phật Mật Pháp.

Cảnh tượng quán đảnh thật trang nghiêm và sinh động, tôi dùng chuông kim cang, chày kim cang, bảo bình kim cang, mũ miện kim cang, bảo tháp xá lợi để chạm đỉnh đầu ba vị, tôi lần lượt triệu thỉnh ngũ Phật phóng quang, lần lượt dạy họ cách quán tưởng. Ngay tại khoảnh khắc này, ngũ phương Như Lai, vị Căn bản Thượng sư của tôi và ba vị Thượng sư tương lai kết nối thành một đường thẳng.

Chính là dòng pháp lưu của Ngũ phương Như Lai, thông qua bàn tay tôi, chảy vào tâm của họ. Trong tương lai, ba vị Thượng sư này, đầu đội mũ Ngũ Phật, thân khoác pháp y, tay phải cầm chày kim cương, tay trái cầm chuông kim cương, chính là biểu trưng của Kim Cang Tát Đỏa.

Cuối cùng của nghi lễ quán đảnh là trao chứng thư A Xà Lê.

Tôi nói với ba vị Kim cương Thượng sư:
"Vào khoảnh khắc này, các vị phải ghi nhớ thật kĩ lời nguyện mà mình đang phát ra, đây là quán đảnh bất thoái, bất thoái nghĩa là đạo tâm vĩnh viễn không thối lùi. Không chỉ vậy, còn phải hộ trì Phật Đà, hộ trì Phật giáo, hộ trì tông phái, hộ trì Căn bản Thượng sư. Ngoài ra, phải thâm nhập kinh tạng, như thật tu pháp, phát tâm bồ đề, quảng độ chúng sinh."
Tôi nói:
"Kim là không đổi màu, cương là không đổi thể. Đạo tâm kiên cố không lùi, đó là điều quan trọng nhất, kim cương chính là một sự bền bỉ liên tục. Huệ mạng của Như Lai phải nhờ các Kim cương Thượng sư kế tục, quảng truyền."

Tôi đã kể một giai thoại về Đại sư Liên Trì:
Thuở xưa, khi Đại sư Liên Trì đang du phương, ngài vốn hằng ngưỡng mộ chùa Đông Lâm ở núi Lư, ngưỡng mộ Phật pháp uyên thâm của cao tăng Huệ Viễn thời Đông Tấn. Đại sư Huệ Viễn là vị tổ khai sáng pháp môn trì danh niệm Phật của Tịnh Độ tông.

Đại sư Liên Trì gặp trưởng lão Vân Đào tại cầu Hổ Khê, và trưởng lão Vân Đào đã sớm nhận được chỉ dẫn trong mộng từ Đại sư Huệ Viễn rằng hôm nay Cửu Tổ của Liên Tông sẽ đến.

Vì vậy, cửa chùa được mở rộng, toàn thể chư tăng trong chùa ra tận cổng đón tiếp.

Tất cả chư tăng thị giả đều cảm thấy khó hiểu, bởi vì người họ đón tiếp chỉ là một vị sư trẻ ba mươi tuổi - Đại sư Liên Trì.

Đại sư Liên Trì và trưởng lão Vân Đào đàm luận kinh điển suốt ba ngày ba đêm.
Khi sắp rời đi, toàn thể chư tăng trong chùa thỉnh cầu Đại sư Liên Trì để lại một câu yếu chỉ.
Đại sư Liên Trì đáp:
"Thực chất niệm Phật."
Một vị tăng trong chùa không hài lòng, lớn tiếng nói:
"Chỉ có một câu này thôi sao, ngay cả đứa trẻ đốn củi ở núi Lư cũng biết nói."

Liên Trì mỉm cười, chắp tay: "Đứa trẻ ba tuổi biết nói, nhưng cụ già tám mươi khó thực hành. Câu này tuy bình dị chẳng kỳ lạ, nhưng ý nghĩa thì sâu xa." Toàn thể tăng chúng trong chùa lặng im.

Tôi kể giai thoại này là để ba vị Kim cương Thượng sư hiểu rằng, một hành giả chân chính, con đường tu hành phải vững vàng từng bước, thực tế từng bước, không chỉ có tâm phát khởi ban đầu, mà còn phải có tâm dài lâu, phải kiên trì không để đạo tâm thối lui. Một bậc đại thành tựu, chắc chắn là người tu hành với tâm dài lâu, thực chất niệm Phật, thực chất trì chú, thực chất tu pháp. Hai chữ "thực chất" này, chẳng phải chính là ý nghĩa của kim cương sao!

Thông thường, một hành giả có thể có phát tâm ban đầu tốt, nhưng sau vài năm, khi nhiều tình huống bắt đầu thay đổi, về mặt tâm trí, về mặt nhân sự, họ cảm thấy hoàn toàn không còn phù hợp nữa, tâm phát khởi ban đầu đã không còn, từ phát tâm đã trở thành đổi tâm, sự chia tách là điều không thể tránh khỏi. Vì vậy, mới có chuyện người xuất gia hoàn tục.

Có người mang danh Kim cương Thượng sư, nhưng không có thực chất của một Kim cương Thượng sư.

Tôi nói với ba vị Kim cương Thượng sư:
Muốn đi từ chân núi lên đến đỉnh núi, đương nhiên phải đi qua rừng, đồng cỏ, đá ngầm, những con đường nhỏ gập ghềnh khó đi, còn một quãng đường dài phải đi, đó chính là phải vững vàng từng bước, thực tế từng bước, không được lùi bước mới có thể đạt đến đỉnh cao của ngọn núi, và điểm cuối cùng đó chính là đại thành tựu của đỉnh quang minh.


### 27. Hai dải cầu vồng


Tôi cùng tất cả các pháp sư và một số cư sĩ tại gia đi xe về hướng Bắc, dùng bữa tại một thị trấn nhỏ tên Paseo vào lúc chiều tối.

Lý do chúng tôi đến Paseo ăn tối là vì các pháp sư muốn chúc mừng sinh nhật năm 1997 của tôi trước.

Hôm đó là một ngày có mưa nhỏ, mưa đến rồi lại đi, trên bầu trời thỉnh thoảng có mây đen, sau khi mây tan đi, ánh nắng lấp lánh hiện ra. Paseo là một thị trấn nhỏ kiểu nông thôn, có nhiều bụi cây, một vùng đồng quê rộng lớn, những bụi cây và cỏ xanh mướt, những cây có rễ sâu đang nhú ra những chiếc lá mới, giữa những bụi cây, có một tòa nhà hình vuông với mái ngói đỏ, đó là nơi nhà hàng tọa lạc.

Nhà hàng này theo phong cách phương Tây, khi bước vào, bà chủ bưng một bó hoa xinh đẹp, mặt rạng rỡ niềm vui đón chào tôi, chúc tôi "sinh nhật vui vẻ", thực ra sinh nhật tôi không phải ngày này, nhưng tôi vẫn cảm ơn bà ấy!

Nhà hàng kiểu Mỹ theo phong cách phương Tây, có quầy bar, có sàn nhảy nhỏ, chỗ ngồi có thể chứa khoảng trăm người, tôi thấy một bàn bi-a nhỏ và một thiết bị bắn phi tiêu.

Tôi ngay lập tức bước đến, không tỏ vẻ ngại ngùng hay tò mò, tôi cầm cây gậy và chơi bi-a snooker một cách tự nhiên.

Tất cả các pháp sư và cư sĩ tại gia đứng xung quanh xem tôi chơi bi-a. Họ tỏ ra rất tò mò, có lẽ vì đây là lần đầu tiên trong đời họ thấy tôi chơi bi-a!

Đôi khi, tôi chơi từ từ, cẩn thận nhắm bóng.
Đôi khi, tôi trở nên mạnh mẽ, đánh bóng vào lỗ một cách nhanh chóng.
Họ vỗ tay.
Tiếng vỗ tay vang lên.
Có người nói: "Đánh hay lắm."

Tôi chơi khoảng mười lăm phút, thành tích cũng tạm được. Tôi nói với mọi người rằng khoảng ba mươi năm trước, tôi đã từng thích chơi bi-a một thời gian, còn bây giờ thì không, đương nhiên là không rồi. Bi-a có kỹ thuật riêng của nó, có những kỹ năng riêng, đó là trò chơi và cuộc thi đấu của người đời.

Lúc này, sư tỷ Trần Hiểu Phong kêu lên:
"Nhìn kìa, hai dải cầu vồng."

Tất cả chúng tôi ùa ra cửa nhà hàng. Ồ! Thực sự có hai dải cầu vồng, ngay tại cửa nhà hàng, treo cao trên không, hình vòm cung, bảy sắc rực rỡ vô cùng, đẹp vô cùng, giống như hai vòng hoa lớn được ban tặng từ chư Phật, Bồ Tát và chư thiên. Thiên nhiên quả thực kỳ diệu, bầu trời cũng rất kỳ diệu, những dải cầu vồng dài ấy lại xuất hiện đến hai dải.
Bầu trời rộng lớn này, tràn đầy sự trang nghiêm.
Thế giới này tràn ngập vẻ đẹp vi diệu.
Hai dải cầu vồng trở thành ý thức vô biên.

Có người nói:
"Đột nhiên có hai dải cầu vồng này, là chư thiên chúc mừng sinh nhật Liên Sinh Hoạt Phật. Là chư Phật Bồ Tát bày tỏ lòng kính trọng đối với Liên Sinh Hoạt Phật."
Tôi nhìn cầu vồng, không nói một lời nào.

Tôi nhớ lại, chúng tôi thực sự có duyên với cầu vồng. Tôi biết, từ khi tôi cạo đầu xuất gia, trên bầu trời đã xuất hiện cầu vồng ngay vào lúc cạo đầu; sau đó, vào ngày sinh nhật, trên bầu trời đều có cầu vồng; ngày khánh thành và khai quang chùa cũng có cầu vồng; khi có đại pháp hội, trên trời hiện cầu vồng; khi tôi tìm đất lành để xây sơn trang, trên mảnh đất của sơn trang, cầu vồng hiện lên, nên đặt tên là sơn trang Cầu Vồng.

Khi tôi đi du lịch, bên cạnh máy bay luôn hiện ánh cầu vồng, lại có nhiều dải cầu vồng, máy bay bay vào giữa những dải cầu vồng như thể được đeo vòng hoa. Nhiều người nói với tôi:
"Liên Sinh Hoạt Phật là bậc đạo sư trong các đạo sư."

Đối với nhiều người, Liên Sinh Hoạt Phật là đạo sư của họ, Phật pháp mà Liên Sinh Hoạt Phật giảng dạy là chân như trong chân như, là chân như mà rất ít người có thể hiểu được. Một vị đạo sư chân chính, có lẽ người đời không hiểu được, nhưng lại là điều tất yếu, nếu không, người đời sẽ lạc lối, đạo sư là người diễn giải chân như, đạo sư đã đi qua con đường đó, chỉ vào chân như để dạy dỗ chúng ta.

Tuy nhiên, bản thân tôi cảm thấy, tôi phải đồng hành cùng đại chúng, tôi hát bài hát của họ, tôi nhảy điệu múa của họ, tôi chơi bi-a cùng họ, tôi nếm rượu của họ, tất nhiên, tôi cũng tôn thờ những gì họ tôn thờ, tôi cầu nguyện nước chú Đại Bi. Nhưng những điều này không có nghĩa rằng tôi là người thế tục.

Tôi sở hữu chân như, nhưng chân như này không nhất định được mọi người trải nghiệm, và không ai có thể lấy được chân như từ trong tâm tôi.
Tôi chỉ dạy mọi người con đường.
Con đường tìm kiếm chân như trong tâm mình.

Trong thế giới này, con người thường nhìn vào bề ngoài, chùa to hay chùa nhiều không nhất định có chân như, hoặc làm nhiều từ thiện, làm từ thiện tốt, cũng không nhất định có chân như, chân như không ở bên ngoài! 

Sự xuất hiện của hai dải cầu vồng!
Đó là bản lai diện mục.


### 28. Dạy pháp Tứ gia hành


Tôi đi máy bay từ Seattle ở Mỹ đến Los Angeles ở California, thời gian bay là 2 tiếng 40 phút, độ cao bay trên tầng mây, dưới bầu trời xanh, đất liền ở phía dưới rất xa, tầng mây trải dài vô tận.

Tôi quen ngồi bên cửa sổ, quen nhìn ra ngoài, quan sát những biến chuyển đa dạng của tầng mây và hình dáng của mây. Hoặc là, tôi đọc sách, khi mỏi vì đọc sách thì nhắm mắt lại.

Khi vừa lên máy bay, tôi đã thực hiện nghi quỹ đi máy bay:
Quán tưởng Bổn tôn an trụ ở đỉnh đầu.
Tôi trì chú Bổn tôn.
Tôi tĩnh định.

Trong lịch trình này, tôi sẽ giảng dạy pháp Tứ gia hành và truyền quán đảnh Tứ gia hành. Mỗi đệ tử mới bắt đầu đều phải tu tập pháp Tứ gia hành trước, đây là pháp môn cơ bản nhất của Mật giáo.

Pháp Tứ gia hành của Chân Phật Mật Pháp gồm có: pháp Đại lễ bái, pháp Đại cúng dường, pháp Tứ quy y và pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát.

Tôi thường nói:
Đối với đệ tử mới bắt đầu, phải làm Đại lễ bái 100.000 lần, Đại cúng dường 100.000 lần, trì chú Tứ quy y 100.000 biến, và tu pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát cho đến khi tương ứng.
Tương ứng chính là chứng nghiệm và cảm nhận.

Tu hành Mật giáo phải có thứ tự, tiến dần từng bước một, không được nhảy cấp. Khi muốn tiến lên một cấp để tu Mật pháp cao hơn, nhất định phải xin quán đảnh từ Căn bản Thượng sư hoặc các vị Thượng sư mới được tu.

Mỗi khi tu một pháp, đều phải có tương ứng mới được tiến lên một cấp.
Mật giáo có câu: "Một pháp tương ứng thì tất cả pháp đều tương ứng."
Lại nói: "Một pháp thông thì vạn pháp thông."
Vì vậy, chúng ta không thể xem thường pháp Tứ gia hành.

Nói một cách đơn giản, khi pháp Tứ gia hành chưa tương ứng thì các pháp khác cũng khó tương ứng; ngược lại, một khi pháp Tứ gia hành đã tương ứng thì các pháp khác cũng dễ tương ứng theo.

Pháp Mật giáo tuy có nông có sâu, nông thì như một sự rung động bề mặt, còn sâu thì như sự rung động từ chiều sâu bên trong. Điều này cũng giống như trong Duy thức học, từ nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân, ý cho đến Mạt-na thức, A-lại-da thức, và Am-ma-la thức là thức sâu nhất.

Pháp Mật giáo có nội dung rộng lớn, nội dung ấy chính là toàn bộ lĩnh vực, khi tu pháp thì hoạt động bên ngoài cũng tác động đến ý thức bên trong. Tầng ý thức sâu bên trong tuy quan trọng, nhưng tầm quan trọng của nó vẫn thể hiện ở bề mặt, có thể nói trong ngoài là một, có sự liên kết và không thể tách rời.

Đại lễ bái, Đại cúng dường, Tứ quy y và Kim Cang Tâm được kết hợp với nhau một cách tinh xảo và vi diệu, nhằm thiết lập chiều sâu trong các pháp gia hành cơ bản. Sau đó, từ đây phát triển và mở rộng, khi từng pháp đều tương ứng thì sẽ đi vào trí tuệ vô thượng của Như Lai.

Pháp Tứ gia hành không hề nông cạn, trong đó pháp Kim Cang Tâm và Bách tự minh chú là pháp thù thắng độc nhất của Mật giáo. Bách tự minh chú giống như Tâm Kinh, và Bổn tôn của pháp Kim Cang Tâm là Kim Cang Thủ Bồ Tát, chính là Kim Cang Tát Đỏa - vị Tổ sư của Mật giáo, là Pháp Vương Tử của Ngũ phương Ngũ Như Lai. Từ sự tương ứng của pháp Kim Cang Tâm sẽ sinh ra dòng pháp lưu bất tận, cho đến khi đạt được sự tương ứng sâu sắc và giác ngộ chân như.

Tôi nói:
"Chỉ có thực tu mới có chiều sâu."
"Một giọt nước là cả đại dương."
"Một hạt cát là cả ngọn núi."

Chúng ta thường lấy một ví dụ, pháp Tứ gia hành là nền móng kim cang để xây tháp báu kim cang, nếu không có nền móng kim cang vững chắc thì làm sao có được tháp báu kim cang? Tăng cường pháp Tứ gia hành chắc chắn sẽ xây dựng được tháp báu kim cang.

Tu Mật pháp, đừng cầu nhanh, đừng hỗn loạn, đừng nhảy cấp.
Hãy tu tập vững chắc.
Chắc chắn sẽ tương ứng.
Các bậc đại thành tựu đều nhất định như vậy.


### 29. Bước ra khỏi truyền thống


Lại một mùa hoa phượng đỏ, lần này không phải tôi tốt nghiệp, mà là con gái tôi Lư Phật Thanh tốt nghiệp. Sau khi tốt nghiệp trung học, Lư Phật Thanh một mình đến học tại Đại học Santa Clara ở California Hoa Kỳ, với chuyên ngành Chính trị và Luật.

Lư Phật Thanh đứng đầu trường về thành tích học tập, đồng thời, nó không chỉ học giỏi mà còn đứng đầu trong các hoạt động nhóm, giao lưu câu lạc bộ, phục vụ cộng đồng, v.v. Giờ đây nó đã tốt nghiệp đại học, trong mùa này, là một khung cảnh tràn đầy niềm vui.

Phật Thanh có thành tích học tập xuất sắc, đương nhiên còn là nhân vật nổi bật, chúng tôi có thể biết được điều này qua việc trường cử nó tham dự lễ nhậm chức của Tổng thống Hoa Kỳ.

Phật Thanh tất nhiên sẽ tiếp tục học, nguyện vọng của nó là lấy bằng J.D - Tiến sĩ Luật, vì vậy nó đã nộp đơn vào các trường.
Đại học Washington và Đại học Seattle ở bang Washington đều đã chấp nhận nó.
Một trường đại học danh tiếng ở bang New York cũng đã nhận nó.
Và nhiều nơi khác.

Về phản ứng cá nhân, tôi và Thượng sư Liên Hương đều mong Phật Thanh trở về bang Washington để học tiến sĩ, để chúng tôi là cha mẹ có thể ở gần chăm sóc nó.

Nhưng, Lư Phật Thanh đã xa chúng tôi bốn năm, nó nói:
"Con đã quen với khí hậu nóng và khô của California, sống trong những ngày đầy nắng, con không còn thích nghi với mưa phùn và tuyết mùa đông của bang Washington, những cây cao và lá nặng trĩu ở đó thiếu đi sự vui tươi. Suy nghĩ của con đã trưởng thành, không thể bị uốn nắn và định hình bởi tư tưởng gia đình.
"Tất nhiên, tình cảm gia đình và mối quan hệ ruột thịt là không thể quên, mỗi người đều là một phần của tổng thể, nhưng bước ra khỏi truyền thống, vượt ra khỏi chính mình, cũng là điều bình thường, cũng là điều thiêng liêng, mong bố mẹ hãy chúc phúc cho con."

Tôi có thể hình dung những từ ngữ và cử chỉ khi Lư Phật Thanh nói chuyện. Nó đã không thuận theo chúng tôi trở về bang Washington để học tiến sĩ. Chúng tôi không có phản ứng cảm xúc, cũng không buồn bã, chỉ là chúng tôi biết rằng, sự quan tâm và tình yêu thương của chúng tôi, khoảng cách sẽ ngày càng xa hơn, và có thể, thời gian đoàn tụ sẽ rất ít.

Tôi vốn là người cởi mở, và luôn luôn tùy thuận, tôi ủng hộ tư tưởng của nó, tôi hỗ trợ lý tưởng của nó, kiến thức, niềm tin, hành động và cuộc sống của nó. Đối với nó, chúng tôi chỉ cần trao cho nó sự khích lệ thực chất là đủ.

Phật Thanh có suy nghĩ riêng của Phật Thanh, Phật Thanh có những điều Phật Thanh theo đuổi, Phật Thanh có những thứ Phật Thanh ngưỡng mộ, Phật Thanh có hình ảnh bản thân của riêng Phật Thanh, nó không còn là Lư Phật Thanh bé nhỏ ngày nào nữa, nó đã trưởng thành rồi.

Sự độc lập của Lư Phật Thanh, tôi khẳng định điều đó.
Tư tưởng của Lư Phật Thanh, tôi cũng khẳng định.
Sự tự chủ của Lư Phật Thanh, tôi vẫn khẳng định.
..........

Hãy nghĩ về bản thân tôi ngày xưa! Sau khi tốt nghiệp trường Công nghiệp Cao Hùng, tôi đã một mình đến Trường Trắc Lượng ở Đài Trung để học đại học, và trong quá trình tự học, tôi đã dần dần mất đi cơ hội thường xuyên đoàn tụ với gia đình.

Những quan sát bất thường về hiện tượng nguyệt thực, những thiết bị đo lường phức tạp, các môn học đa dạng, nghiên cứu của tôi về địa chất học, những nghi vấn về độ chính xác trong đo đạc, tất cả đã tạo nên những lý tưởng tươi đẹp cho tương lai của tôi.

Tôi bước vào con đường viết sách, thời gian đã qua, có những vinh quang riêng.
Không lâu sau đó, tôi bước vào hành trình tôn giáo một cách kỳ diệu, điều này trong cuộc sống bình thường của tôi là một sự mất kiểm soát đặc biệt.
Bởi vì hành trình tôn giáo và nghề đúc học ở trung học, nghề đo đạc học ở đại học không có một chút liên quan nào.
Nghĩ lại, thật là điên rồ.

Tôi có những trải nghiệm tâm linh riêng, tôi có những kinh nghiệm tôn giáo riêng, tôi có những phát minh kỳ diệu riêng, tôi đang hoằng dương Chân Phật Mật Pháp, tôi hình thành hệ thống tư tưởng tôn giáo của riêng mình, và tiến hành thực tu thực chứng.
Dĩ nhiên, lời phỉ báng như núi, lời chỉ trích như biển.
Điều này cho thấy sức mạnh của truyền thống, sức mạnh của Phật giáo truyền thống là đề cao từ bi, nhưng lại khắp nơi có những vây hãm và tàn sát có chủ đích, tôi từng mang đầy thương tích, trở thành một người hoằng pháp bị tổn thương nặng nề.

Tôi nhận ra:
Truyền thống tất nhiên rất vĩ đại, nhưng, truyền thống cũng rất tàn nhẫn.
Phật giáo nói về từ bi, nhưng, đằng sau là toàn chiến tranh.

Nhưng tôi đã khóc rồi, tôi chắc chắn sẽ đứng dậy lần nữa, tôi suy nghĩ độc lập, tôi muốn đi đến tận cùng của cuộc đời, cho đến khoảnh khắc cái chết đến, tôi đã chấp nhận lối sống như vậy, nỗ lực của tôi chính là sự an toàn của tôi.

Tôi đã bước ra khỏi truyền thống, bước ra khỏi chính mình.

Lư Phật Thanh đã tốt nghiệp đại học, nó đang đi xa dần, nó có thế giới tư tưởng độc lập của riêng mình, nó có tự do tự chủ, tôi không muốn giao gánh nặng truyền thống cho nó, hãy để nó tự đứng vững trên đôi chân của mình!


### 30. Ôn hòa


Tôi thường nghĩ về một vấn đề, khi nào loài người mới có được hòa bình thực sự?

Tôi nhớ có một thánh triết đã nói như sau:
"Con người sống thành nhóm, trải qua một lối sống hời hợt, chẳng bao lâu sẽ trở nên nhàm chán, cảm thấy vô nghĩa. Dần dần, do cá nhân hoặc tập thể tìm kiếm sự thay đổi, xung đột và bạo lực sẽ nảy sinh."
Trật tự bị phá vỡ.
Tổn thương ngày càng sâu sắc.
Hỗn loạn vô tận không ngừng.

Gần đây tôi đọc "Lịch sử Phật giáo Tây Tạng", có những vị vua Tây Tạng ủng hộ và bảo vệ Phật giáo, cũng có những vị vua hủy diệt Phật giáo, cuộc đấu tranh giữa Phật giáo Ấn Độ và Phật giáo Trung Quốc, cuộc đấu tranh giữa Phật giáo Ấn Độ và Bön giáo (Hắc giáo), sự tranh giành quyền lực giữa các đại gia tộc Tây Tạng, người Mông Cổ khi bảo vệ khi phá hủy đạo Phật, sự kiềm chế lẫn nhau giữa bốn phái Phật giáo (Hồng, Hoàng, Bạch, Hoa). Ở Tây Tạng, cuộc đấu tranh giữa các gia tộc quyền lực diễn ra vô cùng khốc liệt.

Toàn bộ "Lịch sử tôn giáo Tây Tạng" mô tả chi tiết về sự tan hợp hợp tan giữa các vua chúa, quần thần, gia tộc, dân tộc khác và bốn phái, khi thì hỗn loạn, khi thì hòa bình, khi thì cân bằng quyền lực, khi thì bạo loạn lại nổi lên.

Tôn giáo là lòng từ, là tình thương, nhưng vẫn dẫn đến xung đột và đau buồn, làm sao loài người có được hòa bình thực sự!

Trong chiến tranh thực sự, những chiếc xe tăng khổng lồ, máy bay phản lực bay thấp, chiến hạm hùng mạnh, và sự tàn sát trên bộ dưới biển trên không, các chính trị gia nói về hòa bình nhưng dùng vũ lực làm con bài mặc cả, chiến tranh vẫn xảy ra khắp nơi trên thế giới, khi hỗn loạn không ngừng, khắp nơi có những người phụ nữ khóc lóc, hoặc vì con, hoặc vì chồng.

Nên nói như sau:
Nước mắt của con người là một sự bất lực.
Con người tự nhiên có ham muốn giết chóc.
Tôn giáo cũng phát triển trong đấu tranh.
Vũ khí chiến tranh mới liên tục được phát minh, và buôn bán qua lại để kiếm lợi.
Sự tồn tại của quốc gia dựa vào vũ lực.
Hòa bình tồn tại trong trạng thái cô lập.

Cá nhân tôi nghiên cứu sâu về tâm hồn con người, tôi nhận ra tham vọng và cạnh tranh đôi khi mang tính tấn công, và chỉ đơn thuần so sánh với nhau đã sinh ra đố kỵ và ghen tị, cũng mang lại thù địch và nguy hiểm.

Tâm hồn là sâu thẳm, tâm hồn cũng rất tinh tế, từ lòng đố kỵ, từ sự cạnh tranh, từ sự kiềm chế lẫn nhau, có thể dẫn đến những biểu hiện thô bạo và tàn nhẫn không thể kiểm soát. Với phân tích đơn giản, tôi nhận ra nguyên nhân rất nhỏ, nhưng kết quả lại đáng sợ, đó là sự ưa thích bạo lực, là hận thù vô tận, là sự ngược đãi, là sự đe dọa, là sự bôi nhọ. Sự ôn hòa hoàn toàn mất đi, chỉ còn lại bạo lực.

Xung đột là nguồn gốc của bạo lực, bạo lực có thể thấy ở khắp mọi nơi.
Các hình thức chia rẽ khác nhau mang lại xung đột và đau khổ.
Phải chăng hòa bình tạm thời đều phải dựa vào cách mạng?
Tâm hồn con người rốt cuộc là chuyện gì?
Chính trị là chủ nghĩa vũ lực.

Chủ nghĩa quốc gia dẫn đến chiến tranh, chủ nghĩa kinh tế cũng là một yếu tố của chiến tranh, con người không học được cách cân bằng từ cái chết, chiến tranh vẫn tiếp diễn, không có sự bình yên hoàn toàn, đường chân trời lúc hoàng hôn tràn ngập những chiến trường đẫm máu.

Tôi lại nhận ra rằng, trong thiền định tĩnh lặng, tôi đã hiểu được ý nghĩa thực sự của tĩnh lặng, hóa ra tĩnh lặng mới chính là bình yên, trong tĩnh lặng không nhất thiết phải có suy nghĩ, tĩnh lặng không nhất thiết phải có động thái, tĩnh lặng chính là trí tuệ, không cần phải trải nghiệm những điều khác, cũng không phải là một sự trốn tránh, không thể mô tả được.

Thiền định là có trật tự nhất.
Thiền định là đức hạnh.
Thiền định có thể tìm thấy sự bình an.
Trái tim bình an.

Bầu trời là vô tận, cơ thể an tĩnh là siêu việt, chỉ nhận thức được phẩm giá và sự trang nghiêm, và là người bạn thân thiện với mọi sự vật, giữa chúng và tôi là sự bình an.

Tất cả mọi thứ trên trái đất đều liên quan mật thiết đến nhau, phải xử lý con người và sự việc một cách cẩn thận, phải quan tâm đến người khác, phải khoan dung, phải từ bi, phải tu dưỡng.

Tôi mong mỏi từ tận đáy lòng:
Giữa chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang Hộ Pháp, không hành và chư thiên, có sự bình an; trong tất cả cõi Phật thanh tịnh, có sự bình an; trong 28 cõi trời, có sự bình an; trong 33 cõi trời, có sự bình an. Tôi mong mỏi từ tận đáy lòng, trong tất cả nhân loại có sự bình an. Những loài bay trên không, bò trên đất, bơi trong nước, đều có sự bình an. Cõi atula có bình an, cõi địa ngục và ngạ quỷ có bình an.
Nguyện không gây tổn hại lẫn nhau, nguyện quan tâm lẫn nhau.
Nguyện những người tu hành thanh tịnh, trong tâm có bình an.
Nguyện trí tuệ tăng trưởng, bình an tăng trưởng.


### 31. Pháp vô lậu là báu vật tuyệt vời


Tôi học được pháp vô lậu từ vị Thượng sư của mình. Pháp vô lậu trong Mật giáo có quán tưởng, có thần chú, có thủ ấn, thực hành hàng ngày khi thức dậy, lâu dần sẽ đạt được cảnh giới thân vô lậu.

Ngoài quán tưởng, thần chú, thủ ấn ra, còn có ba thức kim cang quyền pháp, ba thức này là thức ngồi, thức quỳ, thức đứng, vận dụng âm Hum dài, âm Hum ngắn, khiến cho pháp vô lậu mà mình tu luyện càng thêm kiên cố, càng thêm kiên cố như kim cương bất hoại.

Việc học tập pháp vô lậu của tôi chia làm ba phần:
1. Quán tưởng, trì chú, thủ ấn.
2. Ba thức kim cang quyền.
3. Sáu thế thay đổi của Sakya.

Sáu thế biến của Sakya này gồm hai mắt hướng lên trời, lưỡi chạm vòm họng, ép yết hầu, khí đi lên thoát ra, bụng áp sát lưng, nâng hậu môn.
Ngoài ra, nắm tay cứng và hít mạnh ngón giữa v.v…, cũng là phương pháp bảo vệ minh điểm.

Tôi hiểu sâu sắc rằng nền tảng của pháp vô lậu là Bảo bình khí, bởi vì âm Hum nhất định phải dùng Bảo bình khí để vận chuyển, nếu không có sự vận chuyển của Bảo bình khí, việc tu tập trên bề mặt sẽ không đạt được thành tựu.

Sau khi học được pháp vô lậu, tôi biết đây là báu vật tuyệt diệu của Mật giáo, hành giả nam đạt thành tựu sẽ vĩnh viễn không rò rỉ minh điểm (tinh), hành giả nữ tu thành công sẽ vĩnh viễn không rò rỉ kinh huyết. Ngay cả khi hành giả nam sử dụng pháp song vận cũng không bị rò rỉ.

Lúc này hành giả yoga chính là:
1. Yogi có lực.
2. Yogi kiên cố.
3. Yogi vô lậu.

Hành giả yoga có được phẩm chất như vậy, khi tu tập chuyết hỏa định sẽ đạt hiệu quả gấp bội, bởi vì vô lậu, nên chuyết hỏa dễ dàng dâng lên. Hành giả yoga có được phẩm chất như vậy mới có thể tiến hành tu Vô Thượng Mật Bộ Tục của quán đảnh thứ ba, mới đủ tư cách tu tập pháp song thân.

Cá nhân tôi cho rằng, pháp vô lậu là chìa khóa chuyển hóa từ phàm phu thành thánh triết, pháp này không được truyền dạy bừa bãi. Không được truyền cho người không xứng, vì vậy đây là bí mật trong bí mật, là điều bí mật nhất của Mật giáo. Khi muốn truyền pháp này, nhất định phải quan sát trong một thời gian, chỉ có thể truyền dạy cho người có căn cơ thượng thừa, phẩm chất thượng thừa, vì vậy không được truyền cho người không xứng đáng.

Tại sao pháp vô lậu lại là báu vật tuyệt diệu của Mật giáo, tôi cho rằng, một người muốn tu hành, nếu không tu tập pháp vô lậu, chắc chắn sẽ có những hiện tượng sau đây:
Cơ thể bị quấy nhiễu định kỳ.
Tinh lực không thể tập trung.
Lãng phí thời gian.
Quá nhiều giấc mơ.
Rò rỉ tinh khí, rò rỉ máu, trật tự tu hành không hài hòa.

Ảnh hưởng đến tinh thần và ý thức hệ tư tưởng, con người cũng trở nên mệt mỏi, não bộ rối loạn.

Tôi tự nhận thấy, nhiều người tu hành ban ngày còn giữ được, nhưng khi ngủ lại là một mảng tối đen. Cả đời bị quấy nhiễu, khi đêm xuống, họ chìm trong cảm giác sợ hãi, lo sợ mộng dâm cướp đi tinh khí.

Người mới tu hành, định lực chưa đủ, không thể siêu thoát và bất khả xâm phạm, họ thường xuyên bị quấy nhiễu trong giấc ngủ, rò rỉ hết lần này đến lần khác, đau khổ không thể tả, liên tục lãng phí sinh mệnh, liên tục lãng phí tinh lực, không có khả năng tự cứu.

Chúng ta biết rằng giấc ngủ rất quan trọng. Quá nhiều quấy nhiễu, quá nhiều giấc mơ, quá nhiều trằn trọc, những hiện tượng sinh lý ảnh hưởng đến tâm lý, sự tu hành thân tâm hợp nhất mới là cấu trúc hoàn chỉnh, và cũng là điều tuyệt đối cần thiết.

Pháp vô lậu của Mật giáo giúp giấc ngủ có trật tự, thậm chí điều chỉnh ánh sáng và những nhận thức sâu sắc hơn sẽ xuất hiện, não bộ càng tĩnh lặng, sự thấu hiểu càng sâu. Ngày đêm đều trong trạng thái tu hành, hoàn toàn không mâu thuẫn.

Sự hài hòa giữa thân và tâm rất quan trọng, Mật giáo tu thân, cũng chính là tu tâm. Chúng ta là người tu hành, nếu cuộc sống hàng ngày không hài hòa, thường xuyên rò rỉ tinh khí, phụ nữ thì kinh nguyệt không đều, sự hỗn loạn và vô trật tự đó cứ tiếp diễn, cùng với sự đấu tranh tâm lý không ngừng, não bộ sẽ trở nên suy nhược thần kinh, làm sao có ngày thành công trong tu hành được.

Vì vậy có người chủ trương, chỉ tu tâm, còn thân không cần quản, đó là lời ngu xuẩn.
Thân sẽ ảnh hưởng đến tâm, không có thân làm sao có tâm, vì vậy thân tâm đều phải tu, cũng chính là tính mệnh song tu, đây là điều không có bất kì lựa chọn nào.
Sự quấy nhiễu của cơ thể không thể tránh né.
Tâm là trừu tượng.
Thân tâm là tổng hòa của tĩnh tọa.

Một người có trí tuệ không chỉ tu tâm mà còn phải điều dưỡng cơ thể của mình, giảm bớt dục vọng của mình, còn phải tu Pháp thân của Mật giáo, khiến cả hai không mâu thuẫn xung đột, trong đó là trật tự vĩ đại, là vẻ đẹp của sự hài hòa, dù tỉnh táo hay đang ngủ đều là vô lậu.

Tu hành sinh lý là điều quan trọng.
Trong sinh lý có tâm, có thức, có não, chúng là một thể.

Pháp vô lậu là bảo vật nhiệm màu của tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn), bảo vật nhiệm màu này rất quý giá, là tinh túy của Mật giáo.


### 32. Vô Thượng Mật Bộ Tục


Gần đây, nhiều người sau khi đọc "Mật Giáo Áo Nghĩa Thư" đã đặt ra nhiều câu hỏi về Vô Thượng Mật Bộ Tục.

Vì vậy, tôi đã tổng hợp ngắn gọn về nguyên lý của Vô Thượng Mật Bộ Tục và trình bày trong bài viết ngắn này. Còn về phần thực hành, do là bí mật nên tôi xin lược bỏ, phần thực hành sẽ do các Kim cương Thượng sư chân chính trực tiếp hướng dẫn.

Nguyên lý và nguyên tắc của Vô Thượng Mật Bộ Tục như sau:
Vô Thượng Mật Bộ Tục còn được gọi là tu hành lòng tham, hay Yoga song thân, cũng có người gọi là pháp độ dâm nữ.

Vô Thượng Mật có cảnh giới cao nhất là thanh tịnh. Nghĩa là trong hành vi "tham", thông qua sức mạnh tự chủ của niệm lực, vận dụng lý trí, cùng với thiền định tĩnh lặng, trí tuệ căn bản tỏa sáng, pháp này thể hiện sự tôn nghiêm vô hạn.

Vô Thượng Mật là hành vi thanh tịnh, đây là quan niệm duy nhất khi tu hành pháp này.
Hành giả nam, hành giả nữ, đều phải thành tựu Nhị quán của Mật giáo.
Điều kiện của hành giả nam là thành tựu pháp vô lậu, nhận thức được tính không.
Điều kiện của hành giả nữ là thành tựu Nhị quán, có quan niệm thanh tịnh, hiểu biết về Vô Thượng Mật.
(Còn nhiều điều kiện khác, tuy nhiên điều kiện chính yếu nhất là thành tựu quán đảnh thứ hai, và hiểu biết về Vô Thượng Mật.）

Ưu điểm của pháp này:
Chuyết hỏa cháy mạnh.
Minh điểm dễ tan chảy.

Những lợi ích khác còn có: khí dễ dàng đi vào trung mạch, trung mạch dễ dàng thông, năm luân xa dễ dàng mở ra, lửa dễ dàng bốc lên, minh điểm dễ dàng tan chảy, đại lạc và tịnh quang đều dễ dàng chứng minh, đồng thời có thể nhanh chóng thiền định thành Phật.

Về mặt thiền định:
Không tính và đại lạc song vận, nên gọi là Dục lạc định.

Về mặt khí, mạch, minh điểm:
Khí với khí kết nối.
Mạch với mạch giao nhau.
Điểm với điểm tan hòa.
Ánh sáng với ánh sáng chiếu rọi.

Miệng chạm miệng, mật tiếp mật, hình thành sự kết nối giữa trung mạch với trung mạch, tạo thành một vòng tròn.

Từ đó khí tuần hoàn đối lưu, chuyết hỏa tuần hoàn đối lưu, minh điểm hòa hợp, năm luân xa của trung mạch tỏa sáng, cả hai đều tỏa ra ánh sáng thanh tịnh. 

Ý nghĩa thanh tịnh như sau:
Đàn thành Vô Thượng Mật đều hóa thành hoa sen thanh tịnh.
Hành giả nam hóa thành Bổn tôn.
Hành giả nữ hóa thành Phật Mẫu Bổn tôn.
Mật luân của hành giả nam hóa thành chày kim cang.
Mật luân của hành giả nữ hóa thành hoa sen.
(Nên đây còn gọi là pháp kim cang liên hoa song vận.)

Vô Thượng Mật chuyển hóa từ tứ hỷ (bốn đại lạc) thành tứ không (bốn không tính). Do trung mạch mở, năm luân xa mở, nên tịnh quang hiển hiện. Vì vậy, tu pháp này có thể dần dần chuyển hóa sắc thân vật chất, và ánh sáng thanh tịnh dần dần tăng trưởng, cho đến khi hoàn toàn hóa thành ánh sáng, đạt được thành tựu lớn của ánh sáng cầu vồng.

Theo lời giải thích của các tổ sư Mật giáo về pháp thành tựu bí mật, tu Mật giáo đơn tu cũng có thể thành tựu, chỉ dựa vào sức mạnh của bản thân. Còn song tu là kết hợp sức mạnh của hai người, sức mạnh của hai người càng thù thắng hơn, càng dễ dàng và nhanh chóng đạt được thành tựu.
Đơn tu là một đường thẳng. (trung mạch)
Song tu là một hình tròn. (trung mạch)
Khí của đơn tu là lên xuống. Khí của song tu là đối lưu tuần hoàn.

Tổ sư Mật giáo nói:
Ưu điểm của pháp song thân là khí công vận chuyển nhanh chóng, liên tục xoay chuyển không ngừng, minh điểm hạ tan cũng đặc biệt nhanh, chuyết hỏa cùng khởi động.
Đơn thân không có ưu điểm này.

Song thân là hình thức cao nhất của Mật pháp, cảm nhận về đại lạc, tịnh quang, không tính của nó là phi thường, trí tuệ của nó là vô thượng. Vì vậy, đây là sự tổng hợp của trí tuệ, thiền định và đại lạc.

Các tổ sư Mật giáo tu tập Vô Thượng Mật Bộ Tục và đạt được thành tựu rất nhiều, họ chuyển hóa sắc thân, tịnh quang tăng trưởng, đạt được thành tựu lớn của ánh sáng cầu vồng.

Vô Thượng Mật Bộ Tục (pháp song thân) có thể nhận thức được trạng thái vĩnh hằng, đi vào trạng thái thiền định tĩnh lặng, đó là tổng hòa của tu tập tĩnh định.

Vô Thượng Mật là có trật tự chứ không phải hỗn loạn. Đó là một vẻ đẹp của trật tự vĩ đại và sự hài hòa hoàn toàn.
Vô Thượng Mật chuyển hóa từ hành vi tham dục thành tu hành thanh tịnh.
Cách vận hành của Vô Thượng Mật là từ bản nhiên, đến không còn cái ngã, chính là vô ngã.

Cuối cùng tôi xin tuyên bố:
Người không đủ điều kiện không thể tu tập pháp này.
Người chưa được Kim cương Thượng sư truyền khẩu, chưa quán đảnh, không như pháp, không thể tu tập.


### 33. Một cái cây già


Đứng trước một cây già trong sơn trang Cầu vồng, đôi khi, chỉ cần suy nghĩ một chút là những suy tưởng đã miên man như dòng sông, chảy mãi không ngừng.

Trước khi tôi sinh ra, nó đã sống.
Sau khi tôi rời khỏi thế giới này, nó vẫn sống.

Thời gian sống của nó vượt xa tôi, nghĩ lại, cây có lẽ là sinh vật cổ xưa nhất trên trái đất, một cây già có thể đã chứng kiến tất cả những xấu xa trong lịch sử, trải qua chiến tranh, đao binh, lửa khói. Trải qua biết bao câu chuyện trần gian, trải qua những buồn vui ly hợp, trải qua ân oán tình thù giữa người với người, và còn có những thứ mà một cây già sợ nhất - hỏa hoạn và sét đánh.

Một cây già đứng vững vàng, không hề hấn gì, ít nhất là trang nghiêm, là cao quý, tiết lộ rằng nó là một người im lặng vĩ đại.

Khi tôi ở một mình với một cây già, nhìn những chiếc lá vươn cao tới tận mây trắng, tôi cảm nhận được sự vĩ đại và vĩnh cửu, nhìn những chiếc lá xanh tươi của nó, tôi không thể phân biệt được liệu nó đang ở tuổi thanh xuân, trung niên hay tuổi già, trong những năm tháng vĩ đại của nó, tôi không thể phân chia được.

Sự hiểu biết của tôi về một cây già thực sự không nhiều, như tuổi tác của nó, tuổi thọ của nó, quá khứ và tương lai của nó, trí tuệ và cảm xúc của nó, tình trạng sinh trưởng hiện tại, nguồn gốc của nó.

Tất nhiên, những gì tôi hiểu là:
Cũng im lặng như vậy.
Cũng tĩnh lặng như vậy.

Tôi biết, toàn bộ trật tự của Trái đất, hình thức cao nhất của nó là tự nhiên, và cây cối là một trong những yếu tố duy trì trật tự tự nhiên. Trên toàn bộ Trái đất, cần phải có những khu rừng cố định, bởi vì chúng bảo vệ không khí trong lành tự nhiên. Để hệ sinh thái tự nhiên của Trái đất tiếp tục tồn tại, chúng ta phải bảo vệ hệ sinh thái rừng, và bảo vệ hệ sinh thái rừng chính là bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên.

Từ một cây già, tôi nhận thức được một loại lòng từ bi không thể nghĩ bàn trong cõi mờ mịt của tự nhiên, đồng thời cũng nhận thức được sự kết nối không thể tách rời của toàn thể thế giới, điều này dường như là một sự sáng tạo kỳ diệu do trời đất tạo nên.

Cái gì là bất diệt?
Tự nhiên chính là bất diệt.
Đôi khi, tôi nghĩ như thế này:
Trời là bất diệt!
Đất là bất diệt!
Cây là bất diệt!

Tôi đã từng tưởng tượng như vậy, khi tôi ở Đài Loan, có những người buộc một miếng vải đỏ lớn quanh cây to, rồi tôn thờ như một đền thờ. Một cây già trở thành biểu tượng thiêng liêng sâu sắc không thể đo lường, cư dân địa phương đến cầu xin, đó là một loại phước lành, và sự thiêng liêng này không bao giờ tách rời khỏi niềm tin của người dân địa phương.

Hiện tượng này không chỉ có ở Đài Loan, tôi cũng đã thấy ở Ấn Độ và Nepal, dưới một cây già, người ta đặt một bát sữa bò, một số hoa cúc vạn thọ, một tảng đá lớn phủ tro trên đó, cùng với một số loài hoa khác. Mọi người đều biết rằng nơi đó đã trở nên thiêng liêng, họ dâng sữa tươi, hoa tươi để cúng bái và cầu nguyện.

Một cây già, giống như cây già này:
Không ai được phép chạm vào nó.
Không được phỉ báng nó.
Cây là thiêng liêng, cây là bất diệt!

Tôi có một cảm giác, tại sao người xưa lại kính trọng trời? Bởi vì trời không bao giờ cho con người biết những điều của nó; tại sao người xưa lại kính trọng đất? Bởi vì trong lòng đất chứa đầy sự sống; tại sao có người lại xem cây cối là thiêng liêng? Bởi vì những hiểu biết của chúng ta về một cây già thực sự quá ít.

Trời, đất, cây, đều có tính biểu tượng, đều có những điều kỳ diệu, dù là hư ảo hay thực tế, khi bạn không thể hiểu rõ nó hoàn toàn, nó mới trở nên thiêng liêng, chỉ cần sự thật không hiện hữu, nó sẽ trở nên thiêng liêng.
Tôi đồng cảm với cây.
Cây sẽ trở nên thiêng liêng.

Tôi có thể dùng một miếng vải đỏ lớn quấn quanh cây, đó chính là sự đồng thuận với một nguyên tắc, tạo nên khoảng cách giữa mình và cây, con người trở thành người cầu nguyện với cây, và cây trở thành đối tượng được cầu nguyện. Một cây già tượng trưng cho sự tồn tại đầy phẩm giá.
Nếu không đồng cảm với nó.
Tương lai của nó có thể sẽ bị chạm đến bởi rìu hoặc cưa.

Thật sự vào một buổi sáng tuyệt đẹp, tôi trầm tư trước một cây già, tôi ở một mình bên nó, nó thật hoàn hảo, thân cây vĩ đại, rễ cây bám chặt vào đất, ăn sâu vào lòng đất, vững chắc và không thể bị phá hủy.
Tôi cảm thấy nó đáng kính.
Tôi thích được ở gần nó.
Thậm chí, tôi muốn chắp tay trước nó, để tỏ lòng kính trọng với thiên nhiên.


### 34. Lễ tốt nghiệp của Lư Phật Thanh


Thượng sư Liên Hương và tôi đặc biệt bay từ Seattle đến San Jose, California để tham dự lễ tốt nghiệp của Lư Phật Thanh.

Ngày 14 tháng 6 năm 1997, Phật Thanh tốt nghiệp tại trường đại học Santa Clara,  chuyên ngành Chính trị học, Luật học và Tâm lý học.
Phật Thanh là cử nhân Luật.
Nó sẽ tiếp tục học tập để lấy bằng Tiến sĩ Luật.

Lễ tốt nghiệp được tổ chức tại quảng trường đại học Santa Clara, đây là lần đầu tiên trong đời tôi tham dự lễ tốt nghiệp đại học tại Mỹ.

Tôi cảm thấy lễ tốt nghiệp của sinh viên đại học Mỹ so với lễ tốt nghiệp trong nước, rõ ràng tự do và cởi mở hơn nhiều.

Sinh viên tốt nghiệp vốn phải đội mũ vuông, nhưng có những sinh viên rất sáng tạo, họ đeo mặt nạ sói, mặt nạ hổ, mặt nạ voi, còn khoa Kịch nghệ thì toàn bộ là nhân vật từ các vở opera cổ điển; sinh viên khoa Kỹ thuật thì đồng loạt đội mũ bảo hộ lao động, thậm chí còn có một sinh viên hóa trang thành nhân vật chính nam trong Star Trek. Lễ tốt nghiệp này trông giống như một vũ hội hóa trang vậy.

Khi các sinh viên tốt nghiệp lên sân khấu nhận bằng tốt nghiệp, có người rất nghiêm túc, có người hò hét ầm ĩ, có người nhảy múa lên sân khấu, có người nhảy disco. Hiện tượng kỳ lạ đủ kiểu này, ở đất nước dân chủ tự do, mọi người chỉ mỉm cười nhìn nhau.

Có một vài sinh viên đại học đã có con, họ mặc áo tốt nghiệp đội mũ vuông, bế con tham dự lễ tốt nghiệp. Có sinh viên tốt nghiệp mang bầu to, cũng có sinh viên tốt nghiệp trông có vẻ hơn 50 tuổi, trông giống như một đứa trẻ già.

Lễ tốt nghiệp có hát quốc ca Mỹ.
Hiệu trưởng phát biểu. Khách quý phát biểu. Đại diện sinh viên tốt nghiệp phát biểu, vị đại diện sinh viên tốt nghiệp này đến từ khoa Triết học, bài phát biểu mang đậm chất triết học.
Có thả bóng bay lên trời.
Có thả bồ câu hòa bình bay lên trời.

Khi Lư Phật Thanh lên sân khấu nhận bằng tốt nghiệp, chúng tôi đứng dậy, vỗ tay, hò reo, thổi còi. Đội hình của chúng tôi rất đông đảo, vì ở San Francisco có Tử Liên Đường, ngoài ra, đồng môn từ khắp nơi trên thế giới cũng nghe tin đến tham dự lễ tốt nghiệp của Phật Thanh, vì vậy khi đứng dậy hò reo, chấn động cả hội trường, trở thành tiêu điểm chú ý của các sinh viên tốt nghiệp và khách mời.

Lư Phật Thanh có thành tích học tập xuất sắc, nhận được danh hiệu Sinh viên Xuất sắc từ trưởng khoa Đại học Santa Clara, Sinh viên Danh dự ngành Chính trị học, và là Thành viên Danh dự Quốc gia do Hiệp hội Omega trao tặng, đồng thời tham gia chương trình học tập ở nước ngoài của trường với tư cách là sinh viên trao đổi quốc tế Đài Loan.

Về khả năng lãnh đạo, Phật Thanh đã tham gia Hội Sinh viên Đại học Santa Clara, Ủy ban Quan hệ Sinh viên, phụ trách kế hoạch tài chính và hoạt động gây quỹ trong Hội Sinh viên, giữ chức thư ký Hội Sinh viên, và làm gia sư cá nhân tại Trung tâm Học tập dành cho Giáo sư.

Phật Thanh đã thực tập tại một văn phòng luật sư nổi tiếng ở Seattle. Cô còn giữ chức Phó chủ tịch Hội Sinh viên, Chủ tịch Bộ phận Quan hệ Công chúng của Liên đoàn Hội Hy Lạp và các vị trí khác.

Về kinh nghiệm phục vụ xã hội, Phật Thanh đã giúp Liên đoàn Ô nhiễm Độc tố Silicon Valley thực hiện nghiên cứu điều tra, làm việc trong bếp của nhà tạm trú dành cho người nghèo, giới thiệu khuôn viên đại học cho học sinh trung học sắp tốt nghiệp, hỗ trợ học sinh tiểu học trong các hoạt động ngoại khóa, làm trợ giảng trong nhóm dịch vụ cộng đồng của trường đại học, và hỗ trợ người nhập cư mới học tiếng Anh.

Phật Thanh có thành tích học tập đạt loại A.
Phật Thanh tốt nghiệp thủ khoa.

Lư Phật Thanh đã tốt nghiệp đại học, cảm nghĩ của tôi như sau:
Tôi cảm thấy tất cả thật sự rất tuyệt vời, trong lễ tốt nghiệp, cảm thấy vô cùng bình yên.
Tốt nghiệp, là một sự kết thúc, cũng là một khởi đầu mới, là một dấu chấm đầy ý nghĩa, mang lại nhiều xúc động.
Lễ tốt nghiệp khiến người ta cảm thấy rất trọn vẹn, rất phong phú, và không thể diễn tả bằng lời, đó thực sự là một ngày tuyệt đẹp với gió nhẹ thổi, ánh nắng mùa hè rực rỡ.
Tôi tôn trọng sự lựa chọn và quyết định của Lư Phật Thanh.
Nó muốn theo học học vị cao nhất là Tiến sĩ Luật.

Tôi chúc phúc cho tương lai của con gái trên sân khấu chính trị, kinh tế, xã hội và giáo dục của Hoa Kỳ, đóng vai trò tốt nhất. Chúc phúc cho con gái hướng tới tương lai tươi sáng, với tài năng và nỗ lực, tạo nên triển vọng tương lai rạng rỡ cho chính mình.


### 35. Làm thầy giáo


Tôi đã thấy trong Chân Phật Báo bài kệ tán thán mà đệ tử ở Bắc Kinh, Trung Quốc viết cho tôi:
*Pháp thân thánh khiết bất động. Đại hỷ vĩnh viễn tương tục.
Không được cũng không mất đi. Đại lạc vô cùng vô tận.
Bốn ma không dám hoại tôi. Trí tuệ quang minh vô thượng.
Ma thấy cũng biến thành Phật. Thần thông độ sinh luân hồi.
Vô tâm vô sự vô lỗi. Bất sinh bất tử Như Lai.
Muôn loài đều có bồ đề. Ngũ trí đồng thể đại bi.*

Ngoài ra, Liên Hoa Chính Đằng đã viết một bài thơ mới "Xuân phong hóa vũ" cho tôi:
*Cỏ non cần mưa nuôi dưỡng
Mới có thể lớn mạnh
Nơi gió xuân thổi qua
Không còn lạnh lẽo
Mặt trời luôn mong mỏi
Đem hơi ấm đến trái tim mỗi người
Để ánh dương soi đường*

*Trưởng thành không tránh khỏi bất an và hoang mang
Đối diện tương lai mờ mịt
Trên đường đời mưa gió triền miên
Thầy luôn kiên nhẫn đồng hành
Dạy con mạnh mẽ không sợ buồn đau
Hướng về niềm hy vọng của mình*

*Gió xuân hóa thành mưa, gió xuân hóa thành mưa
Còn mãi trong tim con
Tình yêu của thầy
Con sẽ không bao giờ quên
Từng chữ từng câu, từng lời từng lẽ
Kỷ niệm sâu đậm
Cảm ơn thầy
Đã tận tâm chăm sóc con.*

(Vào ngày sinh nhật lần thứ 53 của tôi, cả trang báo Chân Phật đều là những bài thơ chúc mừng. Tôi đọc từng bài, từng câu từng chữ, lòng vô cùng xúc động!)

Bên cạnh sự xúc động, tôi cũng có một vài cảm nhận. Khi còn nhỏ, tôi quả thật hết sức bình thường. Lúc học tiểu học, nhìn thấy vẻ uy nghiêm của thầy cô, nên khi làm bài văn với chủ đề "Ước mơ của em", tôi đã không chút do dự viết: "Làm thầy giáo."

Tuy nhiên, cho đến ngày hôm nay, tôi đã nhận ra rằng hai chữ "thầy giáo" không phải là điều mà tôi đã tưởng tượng một cách ngây thơ.
Hai chữ "thầy giáo" là một gánh nặng trĩu vai.

Tất nhiên tôi là một giáo viên Phật học, giáo viên Phật học rất khác với giáo viên thông thường, tôi nhận thức được sự từ bi mà các giáo viên thông thường chưa từng chạm đến, tôi nhận thức được sự bất diệt trong Phật học. Nó rộng lớn hơn, sâu xa hơn, mang tính thiêng liêng không thể đo lường, hoàn toàn khác với một giáo viên thông thường.

Tôi nhận ra rằng làm giáo viên Phật học khó khăn hơn làm giáo viên thông thường, giáo viên thông thường chỉ truyền đạt kiến thức về cuộc sống, còn giáo viên Phật học không chỉ coi trọng trí tuệ để tồn tại mà còn phải coi trọng trí tuệ sau khi chết. Điều này có vẻ như mơ hồ, trừu tượng, hư vô, nhưng Phật học là một điều thuộc về tâm linh, và trong lĩnh vực này, vẫn tồn tại vẻ đẹp hài hòa ở dạng thức cao nhất.

Dù gánh nặng của tôi với tư cách một người thầy rất lớn, nhưng tôi không sợ hãi, cũng không bao giờ do dự hay hối tiếc.

Tôi cảm thấy giáo dục thực sự quá quan trọng trong thế giới Ta Bà này. Phật Thích Ca Mâu Ni là vị đạo sư vĩ đại của cõi người và cõi trời. Nói một cách đơn giản, Phật Thích Ca Mâu Ni là người thầy của tâm, Ngài dạy chúng ta làm chủ tâm mình, nắm bắt sự tự tại của tâm, điều khiển tâm mình một cách tự nhiên, an định tâm mình, và bước vào con đường Niết bàn thanh tịnh vĩnh hằng.

Tất cả những thành tựu này đều được nuôi dưỡng bởi giáo dục. Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp trong bốn mươi chín năm, Ngài chắc chắn là người thầy của vũ trụ. Tôi cảm thấy rằng chúng sinh được hình thành nên, mọi sự tồn tại đều được hình thành.

Tôi là một người thầy dạy người tỉnh thức.
Dạy người tuân thủ quy tắc.
Dạy người điều hòa tâm mình.
Dạy người phát triển trí tuệ Như Lai.

Khi đệ tử tán thán tôi, tôi nhận ra mình phải đón nhận mọi thử thách, trong lòng tôi đó là trách nhiệm không thể trốn tránh, đây trở thành trách nhiệm của một người thầy, tôi phải dẫn dắt mọi người đến với sự tự do tự tại của tâm, sự giải thoát của tâm, sự làm chủ của tâm, đây cũng là một lời cam kết trọn vẹn.


### 36. Đại học Hoa Quang Tử Liên


Tôi giảng dạy trong ba ngày tại Đại học Hoa Quang Tử Liên ở San Francisco.
Nội dung giảng dạy là: "Cảnh giới mới của Phật Vương".
Buổi sáng hai tiết, buổi chiều một tiết, buổi tối một tiết, tổng cộng bốn tiết mỗi ngày. Ba ngày tổng cộng mười hai tiết học.
Hai tiết buổi sáng do tôi giảng chính.
Tiết buổi chiều và tiết buổi tối dành để trả lời câu hỏi của học viên.

Trong ba ngày giảng dạy, có bục giảng, có bảng đen, có sách giáo khoa, tôi đứng giảng, tay cầm thước chỉ, tôi thực sự trở thành một giáo viên.

Tôi nhận ra rằng cảm giác đứng giảng bài hoàn toàn là một trải nghiệm năng động, có thể đi qua đi lại, điều này không thể có được khi ngồi giảng, ngôn ngữ cơ thể kết hợp với lời nói làm cho bài giảng thêm sinh động.

Nghe nói các học viên nghe tôi giảng bài đều cảm thấy vui vẻ, họ không buồn ngủ, bởi vì theo họ, cách giảng dạy của tôi rất hài hước, nội dung thú vị và sinh động, không có cảm giác gò bó, còn bản thân tôi thì trò chuyện thật thoải mái.

Tôi cầm thước chỉ trên tay, có lúc chỉ vào bảng đen, có lúc gõ nhẹ lên bàn, có lúc dùng như cây đũa chỉ huy, có lúc vung lên như một thanh kiếm. Vào lúc đó, tôi không còn ý thức về việc mình đang cầm thước chỉ nữa, cây thước trong tay đã hòa làm một với tôi, đây là điều tự nhiên hình thành, không phải do rèn luyện mà có. Tôi tự cảm nhận mình đứng yên lặng, hiện diện trong khoảnh khắc giảng dạy.

Tất cả các phòng học của Đại học Hoa Quang Tử Liên đều chật kín sinh viên, tôi chỉ giảng dạy trong một phòng học lớn nhất, còn sinh viên ở các phòng học khác xem qua màn hình, theo dõi truyền hình từ mỗi phòng học.

Tôi nói về những trải nghiệm tâm linh và quá trình tu tập của mình, những kinh nghiệm này đều là chân thực. Có người nói rằng "Chân thực không thể được con người trải nghiệm, không có con đường nào dẫn đến chân thực, cũng không có ngôn từ nào có thể diễn tả chân thực, chân thực rất khó được tìm kiếm và khám phá." Theo hiểu biết của tôi, câu nói này rất giàu triết lý, bởi vì trải nghiệm về "chân lý tuyệt đối" là điều vô cùng khó diễn tả.

Tất cả kiến thức không thể mô tả được chân như.
Tất cả khái niệm không thể diễn tả được chân như.
Tất cả ví dụ không thể cụ thể viết ra được chân như.

Nhiều bậc tu hành thời xưa đã nói về kinh nghiệm của họ, về trạng thái siêu ý thức trong thiền định, về chân thực thiêng liêng của họ.
Tôi nói:
Chân thực không phải là giác quan.
Chân thực không phải là khẩu vị.
Chân thực không phải là tư tưởng.
Chân thực không phải là lý thuyết.
Không phải ngôn từ cũng không phải hình ảnh.

Trong các công án Thiền tông, điều này đã được thể hiện rất rõ ràng.
Khi Thiền sư Dược Sơn đang tĩnh tọa, một vị tăng chạy đến hỏi: "Thầy đang ngồi trầm tư suy nghĩ gì vậy?"
Dược Sơn đáp: "Ta đang suy nghĩ về điều không thể suy nghĩ được."
Vị tăng ngạc nhiên: "Làm sao có thể suy nghĩ về điều không thể suy nghĩ được?"
Dược Sơn đáp: "Không suy nghĩ."
Vị tăng muốn Dược Sơn giảng giải, vì ông không hiểu "không suy nghĩ" là gì.
Thiền sư Dược Sơn im lặng hồi lâu.
Vị tăng này không thể lĩnh hội được.

Vì vậy, thiền sư Dược Sơn nói: "Giải thích điều này không khó, nhưng điều quan trọng nhất là phải nắm bắt ý nghĩa của nó ngay lập tức mà không cần suy nghĩ, như vậy mới có thể gần với Đạo. Nếu suy nghĩ quá nhiều, anh sẽ càng đi càng xa, vì thế, tốt nhất là không nói gì cả, để tránh thêm nhiều ràng buộc."

Trong ba ngày giảng dạy, tôi đã hoàn toàn chạm đến "tâm tuyệt đối".

Đạt Ma hỏi Thần Quang:
"Ngươi cầu gì?"
Thần Quang đáp:
"Tâm con bất an, xin sư phụ an tâm cho con."
Đạt Ma nói: "Đưa tâm ngươi ra đây, ta sẽ an tâm cho ngươi."
Thần Quang ngần ngừ hồi lâu, nói: "Con đã tìm nó nhiều năm rồi, nhưng bây giờ vẫn không tìm thấy."
Đạt Ma nói: "Tốt, việc an tâm đã hoàn tất."

Quả thực việc an tâm đã hoàn tất. Khi tĩnh tọa cần không suy nghĩ về việc tĩnh tọa, không có hệ thống nào tồn tại, không có phương hướng, không có những mẫu mực đặc biệt và cố định, không có ngôn từ và hình ảnh, chỉ trong trạng thái vô tâm hoàn toàn, bạn mới có thể thấy được bản lai diện mục chân thực.

Tôi đã giảng dạy ba ngày tại Đại học Hoa Quang Tử Liên, ba ngày trôi qua rất nhanh. Vào buổi tối ngày cuối cùng, đó là một đêm trăng sáng, bên cạnh mặt trăng còn có những tia cầu vồng bảy sắc ẩn hiện. Trong bầu trời đêm tĩnh lặng ấy, nhiều vì sao lấp lánh, chúng như những viên kim cương gắn trên trời, tôi chỉ vào một ngôi sao hình chữ thập ở phương Nam và nói, ngôi sao này bắt đầu di chuyển rồi.
"Di chuyển rồi?" - Các học viên không hiểu tôi đang nói gì.


### 37. Trời ban dị tượng


Ngày 18 tháng 5 âm lịch năm 1997, đó chính là ngày sinh nhật của tôi.
Tôi đang làm lễ khai quang an tọa cho các tượng Phật và Bồ Tát tại Kim Cang Lôi Tạng Tự ở New York.
Tôi đã chủ trì một buổi lễ Hộ Ma Kim Cang Tát Đỏa tại Quảng trường Madison Garden, buổi lễ này kéo dài từ sáng đến 3 giờ chiều mới kết thúc.

Tôi vội vã trở về nhà hàng gần Kim Cang Lôi Tạng Tự để ăn trưa.
Chính vào lúc đó, khoảng hơn 3 giờ chiều ngày 18 tháng 5 âm lịch, chúng tôi nhìn về phía Nữ thần Tự do Chiến thắng.

Vốn dĩ đang là một ngày trời nắng gắt, từ đường chân trời, những dải sương mù mỏng manh bay đến, dần dần tiến về phía thành phố New York. Chỉ trong khoảnh khắc, từ đường chân trời xa xôi đến toàn bộ thành phố New York đều bị sương mù bao phủ. Cùng lúc đó, đất bỗng nổi gió xoáy, lá cây bên ngoài nhà hàng rơi lả tả, gió mạnh gào thét, Nữ thần Tự do biến mất, biển nối liền New York với New Jersey sóng gió dâng lên dữ dội.

Mưa rào ập đến, những hạt mưa với đường nét mềm mại đẹp đẽ đập xuống mặt đất, đường nhựa nhanh chóng ướt đẫm, vừa có gió vừa có mưa, cửa sổ phủ đầy giọt nước.

Bỗng nhiên, sấm chớp nổi lên, tiếng sấm rền vang như những loạt đại bác liên hoàn vang vọng khắp chân trời.
Kéo dài khoảng mười phút.
Mây tan, mưa ngớt.
Sương mù biến mất, Nữ thần Tự do xuất hiện trở lại.
Sấm dừng.
Gió lặng.
Cột buồm của những chiếc thuyền nơi đường chân trời đứng thẳng, bất động trong yên tĩnh.
Ánh nắng gay gắt bắt đầu nô nức tỏa nhiệt.

Ban đầu tôi không có cảm nhận đặc biệt gì về thời tiết, nhưng những đồng môn thì khác, họ nói:
"Đây là điềm lạ từ trời ban xuống!"

Tôi nhớ ra rồi, tại các Lôi Tạng Tự trên khắp thế giới, mỗi khi một Lôi Tạng Tự khánh thành, khai quang và treo biển hiệu, thật không thể nghĩ bàn, vì Lôi Tạng Tự có chữ "Lôi" (sấm sét), nên cảm ứng được tiếng sấm rền vang, âm thanh sấm sét vang dội khắp trời đất.

Hơn nữa, hôm đó lại đúng vào ngày sinh nhật của tôi, và vào ngày sinh nhật của tôi cũng luôn có những hiện tượng kỳ lạ không thể nghĩ bàn, khi thì mặt trời có cầu vồng bao quanh, khi thì tiếng sấm rền vang.

Ngoài ra, chúng tôi còn thực hiện nghi lễ Hộ Ma Kim Cang Tát Đỏa.

Điều kỳ lạ hơn nữa là, sương mù, gió, mưa, sấm sét chỉ đến trong vòng mười phút, và sau mười phút, mọi thứ lại trở về trạng thái ban đầu.

Tôi đã dùng tiền riêng để mua Kim Cang Lôi Tạng Tự ở New York, dành cho các đồng môn của Chân Phật Tông tại khu vực đại New York tu tập.

Vị trí này rất tốt, nằm ngay bên cạnh tòa tháp Thương mại Thế giới" (cao 107 tầng), chỉ cần đi bộ vài phút là có thể đến. Kim Cang Lôi Tạng Tự cùng với tầng hầm tổng cộng có bảy tầng, công trình kiến trúc rất vững chắc, bề ngoài nguy nga, bên ngoài tòa nhà được an trí Ngũ phương Ngũ Như Lai và pháp luân. Đàn thành ở tầng một, chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, chư Thiên, ánh vàng lấp lánh, khí lành nghìn tia, trang nghiêm tĩnh mịch, với các tượng Phật theo phong cách Mật tông Tây Tạng, các đồ trang trí theo phong cách Mật tông Tây Tạng, khiến người ta phải chú tâm.

Tôi biết, họ đã rất cẩn thận trong việc chọn mua tượng Phật, sử dụng những vật liệu tốt nhất và chắc chắn nhất để xây dựng đàn thành, mỗi phần đều được chăm chút tỉ mỉ, đặc biệt là trần nhà, nơi đặt đại mandala của Kim Cang Tát Đỏa, vô cùng trang nghiêm, mỗi màu sắc đều rực rỡ, sơn dầu toát ra hương thơm đặc trưng, ở mặt chính của đàn thành còn vẽ hoa văn tám cát tường, hai bên có ba pháp tọa: cao, trung bình và thấp.
Còn có điện Địa Tạng Bồ Tát.
Còn có điện Liên Hoa Đồng Tử.
Còn có điện Kim Cang Tát Đỏa.

Vốn dĩ đại điện có hai cây cột lớn, được trang trí thành những lá phướn Tây Tạng bao phủ toàn bộ cột, vô cùng đẹp mắt.

Tôi ngồi trên pháp tọa cao nhất trong đại điện, khoanh chân lại, tay phải cầm trống, tay trái cầm chuông, tôi lắc chuông và đánh trống, cảm thấy rất tự tại.

Tôi biết, tôi đang làm tĩnh lặng bản thân, đang vận dụng tâm lực của mình, tôi làm mọi việc rất thận trọng, quán tưởng rất tỉ mỉ, thể hiện năng lượng không mệt mỏi, dâng hiến cả cuộc đời và thời gian của mình.

Có lẽ biết, có lẽ không biết, đây chính là sứ mệnh và trách nhiệm.

Tôi quan tâm đến đệ tử của mình như yêu thương con cái của chính mình vậy, tôi dạy không phân biệt cùng một phương pháp giáo hóa, tôi cũng hiểu rằng cùng một cách giáo hóa sẽ tạo ra những hiệu quả khác nhau, bởi mỗi đệ tử đều có căn cơ và tập tính khác nhau, tôi phải vận dụng thật khéo léo để thích ứng với sự cứu độ rộng lớn.

Cuộc đời như ảo ảnh.
Sinh mệnh trôi qua nhanh chóng.
Vì sự cứu độ vô tận mà đời đời kiếp kiếp tôi hoằng dương Phật pháp trong cõi người này, tôi đã cung cấp sự chăm sóc tỉ mỉ, cung cấp tình cảm của mình, trách nhiệm của tôi vĩnh viễn không bao giờ dừng lại!


### 38. Madison Square Garden


Không ai ở New York mà không biết Madison Square Garden.
Madison Square Garden thậm chí còn nổi tiếng trên toàn thế giới.

Có người nói với tôi:
"Các buổi hòa nhạc, biểu diễn ca nhạc, diễn thuyết diễn ra tại Madison Square Garden đều là những sự kiện có quy mô lớn nhất, hoành tráng nhất, nổi tiếng nhất, mang tầm thế giới. Những buổi biểu diễn âm nhạc thông thường sẽ không được tổ chức tại Madison Square Garden, vì không có sức hút đủ lớn sẽ trở nên lép vế. Tiền thuê Madison Square Garden rất đắt, và nơi này có sức chứa tới hàng vạn người, nếu không phải sự kiện quy mô lớn thì không thể tổ chức ở Madison Square Garden được."

Tiền thuê đắt đỏ, giá thuê hai ngày khoảng hơn trăm nghìn đô la Mỹ.

Tôi ngồi thuyết pháp tại Madison Square Garden, đây là một sự kiện mang tính lịch sử, tôi ở thành phố lớn nhất thế giới là New York, tại Madison Square Garden - địa điểm lớn nhất thế giới, đối diện với hàng vạn người để truyền thụ pháp Uế Tích Kim Cang.

Lại có người nói với tôi:
"Các pháp hội hay truyền pháp của giới Phật giáo chưa từng được tổ chức tại Madison Square Garden. Các bậc đại sư, đại hòa thượng nổi tiếng thế giới, chưa có ai dám tổ chức ở Madison Square Garden. Có một vị pháp sư nổi tiếng là pháp sư Thánh Nghiêm đến New York hoằng pháp, ông đã thuê Hội quán Trung Hoa ở phố Tàu, Hội quán Trung Hoa có sức chứa năm trăm người, nhưng bậc danh sư Pháp sư Thánh Nghiêm khi thuyết pháp tại Hội quán Trung Hoa, người ngồi thưa thớt, tôi thấy khoảng hai trăm người."
Vị này nói: "Trong giới Phật giáo, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn là người đầu tiên tổ chức tại Madison Square Garden."

Ngồi trên pháp tọa cao trên sân khấu của Madison Square Garden, nhìn về phía đám đông trải rộng như hình quạt, tâm tôi bình lặng, tôi từ tốn giảng về pháp Uế Tích Kim Cang, hai bên hội trường có hai màn hình lớn, tất cả mọi người trong hội trường, từ Nam đến Bắc, từ Đông sang Tây đều có thể nhìn thấy rõ ràng từng cử chỉ của tôi.

Không một chút âm thanh nào, ngay cả khi một cây kim rơi xuống đất cũng có thể nghe thấy, không có người ở hàng trước che khuất tầm nhìn của người ở hàng sau, thiết kế của Madison Square Garden là hạng nhất, cao dần lên và mở rộng về hai bên, hệ thống âm thanh rất tốt, ngoài ra, còn có thiết bị ghi hình và bố trí sân khấu, tạo nên một không gian rộng lớn.

Tôi đột nhiên cảm thấy rằng mình đang ngồi trong một không gian vô tận, khoảng không và vạn vật đều hiện diện trước mắt tôi, tôi nhìn ra xa như thể tầm nhìn kéo dài đến nơi không thể với tới, vô hạn và vô biên.

Khi ánh đèn dịu xuống, không gian trở nên vô cùng tận, vào lúc này, cần phải có một không gian như thế để tượng trưng cho Phật pháp rộng lớn và lòng từ bi, việc Phật pháp có thể được hoằng dương tại Madison Square Garden, điều này thật tuyệt vời.

Âm thanh thuyết pháp của tôi tạo nên một không gian riêng, Uế Tích Kim Cang đang được truyền bá một cách chính xác.
Chú Uế Tích Kim Cang được tôi niệm ra từ miệng:
"Ôm chuy-lu tu-lan hùm rưa."

Tôi kết ấn Uế Tích Kim Cang.
Quán tưởng Uế Tích Kim Cang:
Trước tiên quán tưởng trong hư không hiện ra một vị Phật Thích Ca Mâu Ni, từ tâm của Ngài phóng ra ánh sáng xanh lam rực rỡ, hướng lên đỉnh đầu chính giữa. Và trong ánh sáng xanh lam rực rỡ ấy biến hóa thành ba mặt, tám tay, chín mắt của Uế Tích Kim Cang Đại Quyền Thần Vương Phật.
Tóc ngài màu đỏ thắm, thân màu xanh lam, cánh tay màu đen, mặt màu xanh lục, trên cánh tay có rồng quấn quanh để làm trang nghiêm.
(Hình tướng này có thể tham khảo pháp tướng của Uế Tích Kim Cang Đại Quyền Thần Vương Phật.)

Tiếp theo quán tưởng hành giả mật tông từ trong tâm mình phóng ra ánh sáng xanh lam rực rỡ, và trên không trung, Uế Tích Kim Cang Đại Quyền Thần Vương Phật từ tâm của Ngài cũng phóng ra ánh sáng xanh lam rực rỡ chiếu xuống, hai luồng ánh sáng gặp nhau giữa không trung, hòa nhập vào nhau. Hành giả mật tông phát ra một tiếng "Hùm", hóa thành Uế Tích Kim Cang Đại Quyền Thần Vương Phật ba đầu tám tay. Hành giả và Kim Cang không hai không khác.

Ghi chép về Uế Tích Kim Cang như sau:
"Ucchusma, trước Như Lai chắp tay đảnh lễ dưới chân Phật và bạch Phật rằng, con thường nhớ vô lượng kiếp trước tính tham dục nhiều, có Phật ra đời, hiệu là Không Vương, Ngài dạy rằng người đa dâm sẽ thành đống lửa dữ, dạy con quán sát khắp toàn thân tứ chi, các khí lạnh nóng, chư Phật đều gọi con là Hỏa Đầu, con nhờ sức hỏa quang tam muội nên thành A La Hán, phát tâm đại nguyện, khi chư Phật thành đạo, con làm lực sĩ hàng phục ma oán."

Tôi truyền thụ kinh nghiệm của mình.
Tôi truyền thụ quan điểm của mình.
Tôi truyền thụ tư tưởng của mình.
Tôi truyền thụ ngôn từ của mình.
Đây chính là lực gia trì của truyền thừa từ Căn bản Thượng sư, đây chính là điều "bất cộng"!

Trong Phật pháp, trong lĩnh vực này, tất cả mọi vấn đề đều có phương pháp giải quyết, tôi là người truyền dạy cách loại bỏ vấn đề.

Tôi viết bài kệ của mình:
*Là Đại Kim Cang hiện mười phương.
Hóa giải tai ương thành cát tường.
Uế trược trừ tận tự tỏa sáng.
Tất cả ma tà tâm thanh lương.*


### 39. Bí mật của tâm


Trong một công án Thiền tông, tôi đã đọc được một điển tích:
Khi Đỗ Hồng Tiệm làm Tể tướng, có lần ông cùng thiền sư Vô Trụ đàm luận về thiền trong một ngôi chùa. Lúc này, trên cây bên ngoài chùa có một con quạ kêu: "A! A! A!"
Thiền sư Vô Trụ hỏi Tể tướng Đỗ:
"Ngài có nghe tiếng quạ kêu không?"
Tể tướng Đỗ đáp: 
"Vâng, có!"

Lúc này, con quạ kêu xong rồi bay đi, thiền sư Vô Trụ lại hỏi Tể tướng Đỗ : "Bây giờ, ngài còn nghe tiếng quạ kêu nữa không?"
Tể tướng Đỗ thành thật đáp: 
"Con quạ đã bay đi rồi, không còn nghe thấy tiếng nó nữa."
Thiền sư Vô Trụ nói: 
"Ta vẫn còn nghe được tiếng quạ kêu."

Tể tướng Đỗ ngạc nhiên hỏi: 
"Con quạ đã bay đi, tiếng kêu đã không còn từ lâu, vì sao vẫn còn nghe được tiếng quạ kêu?"
Thiền sư Vô Trụ đáp:
"Đây là bí mật của tâm."

Thiền sư Vô Trụ giải thích như sau:
"Nghe hay không nghe, không liên quan đến tính nghe, vốn không sinh, làm sao có diệt? Khi có âm thanh, thì âm thanh tự sinh; khi không có âm thanh, ấy là trần cảnh âm thanh tự diệt. Nhưng tính nghe này không theo âm thanh mà sinh, không theo âm thanh mà diệt; ngộ được tính nghe này thì không bị âm thanh chi phối, nên biết rằng âm thanh là vô thường, tính nghe không sinh diệt. Vì vậy, con quạ có đến có đi, nhưng tính nghe của con người không đến không đi."

Tôi giải thích đơn giản như sau:
Quạ có đến có đi.
Tâm không đến không đi.
Không nên bị âm thanh bên ngoài chi phối.
Cần giữ tâm không bị cảnh chuyển.
Như vậy mới nhập vào thiền định.

Nói cách khác, tâm của một người đã đạt thành tựu là bất động, có thể đoạn trừ tất cả phiền não, không bị dao động bởi các phân biệt khi thế này khi thế khác. Môi trường không thể ảnh hưởng đến tâm của một người đã đạt thành tựu.
Vì vậy, người đạt thành tựu là:
Dùng tâm chuyển cảnh.
Chứ không phải tâm theo cảnh chuyển.

Sau khi đọc lời giải thích của thiền sư Vô Trụ, tôi tự nhận thấy, bản chất của tâm là một không gian vô hạn, và trong sự tĩnh lặng bao la đó, tâm có thể tạo nên thiên đường, tâm có thể tạo nên địa ngục, kiến tạo mọi sự vật, tuy nhiên, sự trống rỗng hoàn toàn chính là điều không thể đo lường được.

Tôi bàn về vấn đề an tâm.
Trên thế giới này, có nhiều điều hạnh phúc, cũng có nhiều điều đau khổ, tức là những điều khiến người ta thoải mái và những điều khiến người ta bất an.
Người tu hành cần trải nghiệm những điều này, mỗi lần trải nghiệm có thể nói đều là một sự thử thách, và đều để lại dấu vết.

Mỗi một trải nghiệm đều tạo ra những phản ứng khác nhau, và dĩ nhiên cũng sinh ra nhiều phiền não, trong đó có buồn đau, khổ sở, đau thắt ruột, mâu thuẫn, xung đột.

Nếu chúng ta đi sâu vào thế giới nội tâm sẽ hiểu rằng, phiền não có thì hiện tại, có thì quá khứ, khi phiền não đã qua đi thì phiền não đã được tránh khỏi.
Điều này chứng minh rằng:
Phiền não có đến có đi.
Còn tâm không đến không đi.

Người tu hành cần khám phá thế giới nội tâm của "ngã" và "phi ngã", cũng như cái gọi là "bên ngoài" và "bên trong".

Khi một người đạt đến cảnh giới thành tựu, tâm họ là tự do, tâm họ là tự chủ, không bị ô nhiễm bởi phiền não bên ngoài, tâm là siêu việt, bởi vì người thành tựu hiểu rằng, một tâm tự chủ thoát khỏi mọi kinh nghiệm và phản ứng, nhờ có thể vận dụng "tâm trí", tất cả nhiễu loạn không còn tồn tại, tâm có thể chuyển hóa mọi hoàn cảnh, ngay cả khi hoàn cảnh chưa thay đổi, tâm vẫn là ánh sáng tự thân, bất động, hoàn toàn tỉnh thức, và an định vĩ đại.

Tôi đã lĩnh ngộ:
Khi con quạ kêu — Tất cả lời đồn, phỉ báng, tổn thương, tống tiền, thách thức, bài xích đều đổ lên người hành giả, chỉ cần có "ngã", tất sẽ có phản ứng, có phiền não.

Khi con quạ bay đi — Tất cả trở thành quá khứ. Phiền não cũng không còn.

Tuy nhiên, một người thành tựu cần thực sự hiểu rằng, chỉ cần không có "ngã", sẽ buông bỏ được tất cả chấp trước, tâm sẽ hoàn toàn tỉnh thức, tâm sẽ hoàn toàn tự chủ tự do, tâm không có biên giới, tâm là ánh sáng, tâm là đại viên mãn, nhờ đó có thể đạt được đại trí huệ của Như Lai, thong dong bước vào đại an định.
Bên ngoài phiền não chồng chất.
Bên trong ánh sáng vô tận.


### 40. Chứng lượng


Quá trình tu tập Mật giáo cần phải bàn về chứng lượng:
Bạn đã đạt được đại lạc chưa?
Trung mạch của bạn đã thông chưa?
Ngũ luân của bạn đã khai mở chưa?
Chuyết hỏa của bạn đã dâng lên chưa?
Minh điểm của bạn đã tan chảy chưa?
Tịnh quang của bạn đã xuất hiện chưa?
Bạn đã vô lậu chưa?
Bạn đã chứng tính không chưa?

Chứng lượng trong Mật giáo và Hiển giáo, mặc dù khác nhau, nhưng ý nghĩa của chúng cũng có điểm tương đồng. Hiển giáo có thể nói như sau:
Bạn có giữ giới không?
Bạn có đắc định không?
Bạn có trí huệ Phật không?

Chúng ta học tập Mật giáo, hàng ngày tu tập theo thứ tự, từ chứng lượng có thể thấy được công lực của chính mình, tự mình có thể đánh giá chính mình, từ sự hiểu biết rõ ràng về bản thân để chứng minh sức mạnh của chính mình. Một người đạt thành tựu chắc chắn phải có chứng lượng, điều này không thể nào giả mạo được.

Tôi thực tu Bảo bình khí.
Tôi vận chuyển chân khí, khởi động chuyết hỏa, tôi dùng khí và chuyết hỏa để thông mạch. Tôi vận dụng chuyết hỏa để tan chảy minh điểm, tôi vận dụng tác dụng đốt cháy nhỏ giọt để khai mở ngũ luân và sinh ra tịnh quang, tôi dùng trí huệ của Như Lai để chứng minh:
Căn bản hỷ.
Căn bản trí.

Tôi tự nhận thức, ý nghĩa của kim cang bất hoại thực sự có hai:
Kim cang tâm bất hoại — tính không.
Kim cang thân bất hoại — vô lậu.

Trong Mật giáo có sự thanh tịnh của thân, khẩu, ý, điều này cũng giống như sự thanh tịnh trong Hiển giáo, đều là pháp môn bất nhị của Đức Phật. Tuy nhiên, trong thế giới nội tâm sâu sắc, chứng lượng của Mật giáo không thể diễn tả bằng lời, không thể biểu đạt qua ngôn ngữ, văn tự là vô dụng.

Chỉ có thực tu mới có chứng lượng.
Chứng lượng không phải là ngôn ngữ văn tự.
Có là có.
Không có là không có.

**(Hết.)**

---

---
# File: sach-tam-linh/131-chuyen-la-ve-sieu-do.md
# Title: 131. Chuyện lạ về siêu độ
---

![image](/img/img_e101da2e90387e6b186280a47a11d7ad.jpg)



## Chuyện lạ về siêu độ


🪷 Tình nghĩa của quỷ thần

Văn tập: 131
Xuất bản: 11/1998
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


Về thế giới trung ấm (linh hồn), tôi tự nhận mình là người hiểu rõ nhất.
Theo kinh điển nói: "Khoảng thời gian từ lúc trước khi chết cho đến sau khi chết và trước khi tái sinh, hình dạng âm thể mà chúng sinh có được, gọi là trung ấm."
Thế giới linh hồn, trong kinh Phật có nhiều thuyết khác nhau:
Câu Xá Luận - có linh hồn.
Đại Thừa tông - khi có khi không, không nhất định.
Thành Thật tông - không có linh hồn.

Việc nói "có linh hồn" hay "không có linh hồn", tạm thời không bàn đến. Nhưng, mọi người có thể xem một bộ kinh điển, kinh này tên là "Trung Ấm Kinh", do Trúc Phật Niệm dịch vào thời Diêu Tần, trong kinh văn có nói Phật Thích Ca Mâu Ni đi vào thế giới linh hồn, tập hợp các linh hồn trong thế giới linh hồn, thuyết giảng đại pháp siêu độ, phóng hào quang rực rỡ độ u minh.

Ngoài ra, lễ Vu Lan tháng bảy của người Trung Quốc, dựa theo tích Tôn giả Mục Liên xuống địa ngục cứu mẹ, đã phát triển thành lễ cúng dường chư tăng và siêu độ.
Trong Phật pháp có:
Pháp thí ngạ quỷ.
Pháp thí đèn quang minh.
Pháp thí thực.
Du già diệm khẩu.
Trung ấm nghe dạy được độ.
…………………….

🌟

Tôi nói, tôi hiểu rõ nhất về thế giới linh hồn, nguyên nhân chính là vì tôi đã thực sự bước vào không gian của thế giới linh hồn, tôi đã cảm nhận được, đã trải nghiệm, đã tự thân chứng nghiệm.

Từ khi bắt đầu học Phật cho đến ngày nay, tôi đã làm vô số pháp sự siêu độ, có thể nói là siêu độ khắp nơi, siêu độ mọi lúc. Tôi hiểu rằng, thường xuyên làm pháp thí thực siêu độ, Phật Thích Ca Mâu Ni dạy rằng, sẽ được năm phúc báo: thứ nhất, tướng mạo từ bi; thứ hai, pháp lực tăng trưởng; thứ ba, thọ mạng kéo dài; thứ tư, không tai không nạn; thứ năm, biện tài vô ngại.
Ngoài ra, phúc đức tăng trưởng, sau khi chết được vãng sinh Phật quốc.

Tôi nhận thấy linh hồn có một số đặc điểm chung:
1. Thân do ý sinh - chỉ được hình thành từ ý niệm, không phải từ tinh huyết, nên gọi là thân do ý sinh.
2. Cầu thân - các linh hồn rất khao khát có được thân thể, thích nhất là tìm cách nhập vào thân thể khác, giống như người rơi xuống biển muốn bám vào phao nổi vậy.
3. Di chuyển nhanh - do chỉ có ý niệm nên cử động rất nhanh chóng, ý thức đặc biệt nhạy bén.
4. Thích hương - ưa mùi thơm. Nhưng không nhất định có tiêu chuẩn, có một số linh hồn lại coi mùi hôi là thơm.
5. Ngũ uẩn - ngũ uẩn sinh ra từ "thân do ý sinh" đặc biệt mạnh mẽ, mạnh hơn nhiều so với thân xác thịt, vì thế quỷ thần đều có năng lực siêu nhiên, chỉ là khả năng lớn nhỏ không giống nhau, nhỏ thì là ma quỷ, lớn thì là thần.

🌟

Cuốn sách này có tên là "Chuyện lạ về siêu độ", nội dung chủ yếu xoay quanh thế giới linh hồn, trong đó có nhiều nhân quả đan xen, đủ để cảnh tỉnh người đời. Những gì hiện ra trước mắt độc giả là bức tranh về luân hồi, tác dụng khuyến thiện của Phật pháp, và sự phán xét của chân như.

Tôi đã tu học Phật pháp gần ba mươi năm, hoằng pháp khắp thế giới, vì vậy những nhân vật, địa điểm, thời gian được viết trong sách, tôi không muốn ghi chép quá chi tiết, tên người cố gắng dùng tên giả, tránh những phiền phức không đáng có và những tranh cãi vô căn cứ.

Nhưng, tôi có thể nói như thế này:
Tất cả đều là sự thật.
Độc giả tin cũng được.
Không tin cũng chẳng sao.
Tin hay không, tùy ở bạn.

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn**

**Sheng-yen Lu
**17102 NE 40th CT
Redmond WA 98052
U. S. A.


### 01. Gương cổ


Tôi đang làm lễ siêu độ cho con gái quá cố của một đôi vợ chồng.
Trong bức ảnh, cô gái có dáng vẻ dịu dàng thanh tú, đứng dưới một cây hoa anh đào, đẹp tựa bức tranh, gương mặt rất linh động.
Tôi triệu thỉnh cô ấy, niệm tên cô: "Khương Gia Hân".
Trong các buổi lễ siêu độ của tôi, tôi thường thấy được linh hồn người chết chậm rãi đi đến, có lúc người thân của họ cũng nhìn thấy được, thấy được hay không đều do cơ duyên.

Tôi ngồi trên pháp tọa, bỗng nhiên cảm thấy lạnh buốt.
Tôi quay đầu hỏi: "Cô ấy mất như thế nào?"
Hai vợ chồng đáp: "Là nhảy sông tự tử, toàn thân ướt đẫm."
"Chuyện gì đã xảy ra vậy?"
Người vợ đưa cho tôi một mảnh giấy nhỏ, thì ra là bài thơ tuyệt mệnh của Khương Gia Hân, thơ rất đẹp, nhưng thật sầu thảm:
Chiều đông mưa buốt giá,
Bên song nghe mưa rơi;
Người thương chưa thấy bóng,
Khổ luyến lệ đôi dòng.

🌟

Từ xa, tôi thấy trong sương mù sông nước có một thiếu nữ áo trắng, quả nhiên tà áo tung bay đang tiến đến.
Tôi hỏi vợ chồng họ Khương: "Có thấy không?"
Người vợ nói: "Khi nhắm mắt lại, tôi thấy có một dòng sông, từ trong sóng nước, một người bước ra, đúng là Gia Hân không sai, nhưng bóng dáng khi gần khi xa, ẩn hiện trong làn sương."
Người vợ nói xong! Đau đớn tột cùng!
Tôi không nói gì nữa.

Trước tiên làm lễ thí thực, sau đó thành kính tụng kinh chú, kết ấn quán tưởng, tôi triệu thỉnh Bổn tôn Quan Thế Âm Bồ Tát phóng quang gia trì cho Khương Gia Hân, thanh tịnh Khương Gia Hân, Khương Gia Hân trông rất an tường.
Tôi lĩnh hội ý chỉ của Bồ Tát.
Sau khi xuống tòa, đôi vợ chồng hỏi tôi:
"Gia Hân sẽ đi đâu?"
"Nam Hải!" - Tôi đáp.
"Nam Hải xa lắm không?"
"Trong gang tấc."
Hai vợ chồng sửng sốt một lúc.

🌟

Buổi siêu độ này, tôi cảm thấy kết quả rất tốt đẹp. Tôi thỉnh cầu Quan Thế Âm Bồ Tát, và Ngài đã quang lâm, thật là ánh tường vân tỏa rực rỡ, hào quang hộ pháp thân, chân dung hiện giữa mây, chân đạp tòa sen báu.

Còn Khương Gia Hân cũng rất tốt, lặng lẽ an nhiên tiếp nhận nước thanh tịnh từ cành dương liễu trong bình cam lộ tế độ của Bồ Tát.
Tôi nhìn theo cho đến khi áng mây lành của Quan Thế Âm Bồ Tát dần xa, trong chớp mắt ánh vàng biến mất mới xả định.
Tôi nói Khương Gia Hân đã về Nam Hải!

Tuy nhiên, vài ngày sau, vợ chồng họ Khương lại tìm đến tôi.
Vợ chồng họ nói:
"Siêu độ không linh!"
"Sao lại không linh?"
"Sau khi siêu độ, vợ chồng tôi đều mơ thấy Gia Hân, thấy con bé vẫn còn dưới đáy nước, toàn thân ướt đẫm, vẻ mặt buồn rầu."
"Ôi!" - Tôi không nói được gì.
"Vẫn còn ở dưới nước, toàn thân ướt đẫm, làm sao mà về được Nam Hải? Như vậy chẳng phải là siêu độ không linh sao!"
"Chuyện này là thế nào đây?" - Tôi lẩm bẩm tự hỏi.
"Thế nào là thế nào, phải hỏi thầy mới biết chứ!"

Khi gặp vấn đề như thế này, tôi cảm thấy rất lúng túng, rõ ràng Bồ Tát đã đưa cô ấy về Nam Hải, sao lại còn ở dưới đáy sông, phải chăng đã đi rồi lại về, hay là có điều gì sai sót.
Tôi gãi đầu, nghĩ mãi không ra.

Thông thường trong các buổi siêu độ của tôi, người thân chủ lễ đều được những giấc mơ tốt lành, mơ thấy vãng sinh Phật quốc, tỏa ánh vàng, cưỡi hoa sen, cưỡi thiên mã, cảnh giới trang nghiêm, bước vào thành phố ánh sáng, nét mặt vui tươi.
Vậy mà cha mẹ của Khương Gia Hân lại cùng mơ thấy dưới đáy nước, ướt sũng, vẻ mặt sầu não, thế này chẳng phải là điều rất không hay sao.

🌟

Sau khi siêu độ, người thân có những giấc mơ không tốt lành, điều này tất nhiên rất quan trọng đối với tôi. Vào thời điểm đó, tiếng tăm về việc siêu độ của tôi rất lớn, nhiều nhà thỉnh cầu, tôi làm pháp sự hết lòng, lấy tâm "vô duyên đại từ, đồng thể đại bi" để thực hiện. Đồng thời, công phu thiền định của tôi sâu dày, pháp lực phi phàm, đây là điều tôi khá tự hào.
Nay xảy ra chuyện như vậy, làm sao tôi có thể bỏ mặc, làm sao có thể không quan tâm được.
Đương nhiên là tôi lo lắng.
Tôi nói với cha mẹ của Khương Gia Hân: "Hãy làm lễ siêu độ một lần nữa."
"Có tác dụng không?"
"Có." - Tôi kiên quyết nói.

Lần này, tôi dùng Du Già Diệm Khẩu, pháp này là khi A Nan Tôn Giả đang tọa thiền trong rừng, có quỷ đói Diệm Khẩu xuất hiện, A Nan không biết cách đối phó, bèn đi cầu kiến Phật Thích Ca Mâu Ni, và Phật Đà đã truyền dạy pháp Du Già Diệm Khẩu.
Trước tiên tôi quán chữ Phạn, sau đó khởi thần biến.
Kết ấn bước vào mandala.
Chính là:
*Nam Bắc Đông Tây bốn cõi châu,
Trăm nghìn cõi nước cũng đáp ứng;
Đỉnh núi Tu Di an cung điện,
Cô hồn dưới đất thoát khổ sầu.*

Trên đầu tôi đội mũ Ngũ Phật, đúng như bài kệ: "Năm phương Ngũ Phật oai thần lớn, kết giới hàng ma khắp cõi trần, đêm nay Tỳ Lô hiện trên đỉnh, một chiêm một lễ đều quy chân."

Pháp sự lần này kinh động chư linh, rất nhiều chúng sinh cõi linh giới đến lễ bái tôi, họ gọi tôi là:
"Nam Mô Tận Hư Không Biến Pháp Giới Chủ Kim Cang Bí Mật Chủ Đăng Bảo Tòa Bồ Tát Ma Ha Tát."
Nhập vào thiền định thâm sâu, tôi thấy hết thảy mọi sự trong thế gian.

Tôi nhìn thấy:
Cô hồn Khương Gia Hân.
Tôi rất kinh ngạc, sao cô ấy chưa đến chốn Nam Hải Bồ Tát? Quả thật việc siêu độ của tôi không đủ lực, thật là thảm!
Tôi lại nhìn thấy Quan Thế Âm Bồ Tát hiện thân, thấy từng lớp mây rực rỡ bay lượn, nghìn tia khí lành ẩn hiện, Bồ Tát tỏa ánh vàng rực rỡ, trên thân trang sức như ráng chiều, Nam Hải Bồ Tát đứng trước cô hồn.
Bồ Tát hỏi Khương Gia Hân:
"Cô là ai?"
"Con là Khương Gia Hân."
"Cô không phải."
"Con đúng là Khương Gia Hân." - Cô hồn phản đối.

Bồ Tát không nói gì, từ trên thân lấy ra một tấm gương cổ, rọi tấm gương cổ này về phía cô hồn.
Chỉ thấy linh quang chớp lóe, nghìn sợi xanh biếc mảnh mai, một điểm đỏ thắm tận đáy lòng, bản tính vốn không, linh diệu có công năng kỳ lạ.

Vừa soi xong, cô hồn Khương Gia Hân biến mất, thay vào đó là một người phụ nữ khác, khuôn mặt đầy vẻ thê lương và oán hận, tiều tụy như lá thu tàn.
"Cô là ai?" - Bồ Tát lại hỏi.
"Con là Ôn Cầm." - Cô ta vừa nói vừa khóc.
"Đừng khóc nữa, không được khóc! Hãy kể sự thật cho Bồ Tát nghe, Bồ Tát sẽ không phạt con đâu!"

Lúc này Ôn Cầm mới kể ra tất cả sự thật:
Ôn Cầm cũng là người chết đuối dưới sông, sau đó mới đến Khương Gia Hân, hai linh hồn đã trở thành chị em thân thiết, thề nguyện sẽ mãi bên nhau.
Sau khi Khương Gia Hân được Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn ban ân gia trì, đã được Nam Hải Bồ Tát đưa về tịnh thổ Tử Trúc Lâm ở Nam Hải.

Ôn Cầm trở thành cô hồn lang thang, cuối cùng mới nghĩ ra diệu kế, trước hết biến hóa thành Khương Gia Hân, báo mộng cho cha mẹ của Gia Hân, để Liên Sinh Hoạt Phật làm phép siêu độ lần nữa.
Hy vọng Nam Hải Bồ Tát từ bi, cũng đưa Ôn Cầm về Nam Hải, như vậy, Ôn Cầm và Khương Gia Hân hai người có thể mãi mãi bên nhau.
Ôn Cầm kể đến đây, mọi sự thật đã sáng tỏ.

🌟

Nam Hải Bồ Tát hỏi Ôn Cầm:
"Quê ở đâu?"
"Đạm Thủy, Đài Bắc."
"Bao nhiêu tuổi?"
"Năm nay hai mươi hai."
"Làm nghề gì?"
"Ở vũ trường nọ tại Đài Trung, nghệ danh là 'Mai Tử'."
Bồ Tát nói: "Sinh thời cô xinh đẹp như vậy, sao lại nhảy xuống nước?"
"Mẹ con là một người phụ nữ điếc, hai mẹ con nương tựa vào nhau mà sống, nhà nghèo rớt mồng tơi, không đủ cơm ăn qua ngày, con đành phải làm vũ nữ kiếm sống. Nhưng bản tính con ít nói ít cười, tuy bề ngoài rực rỡ như hoa đào, mà trong lòng lạnh như sương tuyết."

Ôn Cầm lại nói: "Sau đó có một khách quen đến, đã chi rất nhiều tiền cho con, nhưng dần dần hắn có những cử chỉ vô lễ, con cương quyết từ chối, nào ngờ hắn bỏ thuốc vào đồ uống, khiến con đau đớn không muốn sống!"
"Rồi sao nữa?"
"Con nói mình là một người con gái trinh bạch. Ai ngờ hắn bảo con đừng giả vờ đạo mạo, con nói con sẽ chết, hắn cười nhạo rồi bỏ đi."
Ôn Cầm nói: "Thân con tuy nghèo, nhưng chuyện tà vạy không làm, tính tình cương trực, nghĩ lại cuộc đời mình, lại gặp phải kẻ vô lại như thế, chỉ còn cách chết để giữ trong sạch mà thôi."
Bồ Tát nghe đến đây, vô cùng xúc động.

Tôi định nói.
Bồ Tát quay sang bảo tôi: "Không cần nói thêm, ngài hãy dùng pháp lực bí mật, chuyển hóa năm độc bên trong của Ôn Cầm là tham, sân, si, nghi, mạn, biến nghiệp của năm độc thành cảnh giới giải thoát và chính biến tri. Ngài hãy hiển hiện pháp lực thân, khẩu, ý của Bổn tôn để tịnh hóa và gia trì cho cô ấy. Ta - Quan Thế Âm Bồ Tát sẽ tự nhiên thỏa mãn nguyện vọng của cô ấy."

Tôi là một hành giả du già chân chính.
Trong một sát-na, tâm không tán loạn.
Hòa nhập vào trạng thái hợp nhất của Bổn tôn, chân ngôn và trí huệ.
Nam mô Quang Vô Lượng.
Tôi cùng Ôn Cầm và chúng sinh đều bình đẳng như hư không.
(Câu này có năng lực gia trì mạnh nhất.)
Từ trong tính Không, tất cả mọi nhiễm ô đều được tịnh hóa hoàn toàn.
Hum! Hum! Hum!
Thành tựu viên mãn trang nghiêm vi diệu không thể nghĩ bàn.

Khi tôi hoàn tất pháp sự, Nam Hải Bồ Tát lập tức đưa Ôn Cầm về Nam Hải.
Tôi nói:
"Xin Bồ Tát dừng bước!"
"Chuyện gì vậy?"
"Đổi vật này lấy vật kia!" - Tôi nói.
"Tôi đã giúp Ôn Cầm tu pháp Đại Viên Mãn tịnh hóa." - Tôi tiếp tục: "Giờ đây, tôi nghĩ Bồ Tát nên để lại bảo vật có thể soi thấu nguyên thần kia."
"Bảo vật? Gương cổ?"
"Đúng vậy." - Tôi phủ phục: "Xin tạ ơn Bồ Tát!"
Bồ Tát mỉm cười, rồi hỏi lại tôi:
"Nam Hải ở đâu?"
"Trong tấc lòng!" - Tôi đáp.
"Vậy gương cổ ở đâu?" - Bồ Tát lại hỏi tôi.
Tôi không nói nên lời.

Bồ Tát nói: "Khi ngài nhìn thấy tướng bên ngoài của thế giới này, đừng để bị che mờ, tự nhiên, nó có điều kỳ diệu bên trong. Tự tính vốn thanh tịnh chính là tấm gương cổ chiếu sáng đó, khi đi vào tự tính thanh tịnh ấy, trong tay ngài sẽ có được gương chiếu yêu, hiện giờ ngài xin gương cổ của ta, gương cổ của ta ở ngay trong tấc lòng, chính ngài cũng có gương cổ."
Bồ Tát dẫn Ôn Cầm đi.
Tôi không kìm được sự kinh ngạc, và tự mình cũng phải bật cười.

🌟

Sau sự việc này, tôi đến một vũ trường nọ.
Gọi tên Mai Tử.
Quả nhiên ở đây có một vũ nữ tên Mai Tử, họ nói: "Cô gái này chẳng biết phong nhã gì cả, khách hàng tốt với cô ta như vậy, vậy mà lại đi tự tử!"


### 02. Ma vạn tửu


Có một thời gian, vào buổi tối trước khi nghỉ ngơi, tôi thường uống một ly rượu nhỏ, với món nhắm đơn giản chỉ là đậu phộng rang và cá khô.

Tôi chẳng bao giờ kén chọn rượu, nhưng loại tôi hay uống nhất là rượu Ngũ Long Nhị Hổ, một loại rượu bổ (rượu thuốc) sản xuất ở Trung Quốc Đại Lục, chỉ uống một ly nhỏ.

Về sau, rượu Ngũ Long Nhị Hổ đổi tên thành rượu Ngũ Long Nhị Bổ, là vì Hiệp hội Bảo vệ Động vật Thế giới.
Nhị Hổ biến thành Nhị Bổ.
Ha ha! Thú vị thật!

Ngoài rượu Ngũ Long Nhị Hổ, tôi cũng uống Trúc Diệp Thanh, Mai Quế Lộ, Nhị Quả Đầu, Gia Phạn Tửu, Thiệu Hưng...
Về rượu ngoại, có Louis XIII, Blue Label, XO, Remy Martin, rượu vang đỏ, rượu vang trắng, rượu băng...
Khi thì tôi tự rót tự uống một mình.
Khi thì có Thượng sư Liên Hương làm bạn.

Nhiều đệ tử Chân Phật Tông biết tôi hay uống rượu, nên từ khắp nơi trên thế giới gửi tặng rượu ngon (rượu danh tiếng), ví dụ như rượu Tửu Thần của Trung Quốc (báu vật trong làng rượu), rượu nhân sâm của Dư Nhân Sinh, rượu Thập Toàn Đại Bổ, rượu Dưỡng Mệnh của Nhật, rượu gạo Nhật Bản... Cả đời này uống rượu, tôi chưa bao giờ phải bỏ tiền mua.

Tôi xin đặc biệt nói rõ:
1. Người xuất gia không được uống rượu.
2. Tuy nhiên, khi rượu được dùng làm dẫn thuốc thì có thể được khai giải.
3. Trong Mật giáo, rượu được xem là cam lộ. Ý nghĩa của cam lộ này chỉ dành cho hành giả thực sự có thể thọ dụng được rượu.
4. Hễ uống say thì sẽ là phạm giới.
5. Hễ sau khi uống rượu mà nói năng lộn xộn, hành vi thất thường, động tay đánh nhau, làm chuyện tà dâm, đều là phạm giới.
6. Uống rượu quá độ thì rượu không phải cam lộ, mà là thuốc độc.
7. Hành giả Mật giáo nếu chưa đạt cảnh giới, không được động đến rượu.
Tôi viết như vậy, mọi người ắt hiểu được.

🌟

Một đêm nọ, trời rất lạnh, tôi ngồi một mình tự rót tự uống.
Bên ngoài tối đen, tôi chỉ thắp một ngọn đèn cô đơn, đang cảm thấy vô cùng buồn chán, nghĩ thầm, giá như lúc này có một người tri kỷ bầu bạn thì tốt biết mấy.
Đang nghĩ như vậy, bỗng có một vật đen to lớn từ ngoài tường bay vào, rơi xuống từ xà nhà, còn xoay hai vòng trên không trung, rồi không lệch chút nào, ngồi xuống ngay chiếc ghế đối diện với tôi.
Cả đời này tôi chẳng sợ trời chẳng sợ đất.
Nhưng việc này cũng khiến tôi tỉnh ngủ ngay tức khắc.

Trong nháy mắt, chỉ trong phút chốc, trước mặt tôi xuất hiện một cụ già tóc bạc phơ. Trong giây lát, tôi cũng đứng ngây ra như phỗng.
Ông ấy nói:
"Đừng sợ!" - Cụ già tóc bạc nói: "Tôi không có ác ý, chỉ vì thấy Hoạt Phật một mình tự rót tự uống, quá cô đơn, nên đặc biệt đến làm bạn."
Tôi hỏi:
"Quý danh?"
Ông đáp: "Họ Vạn."

Ông lão tóc bạc xách một bình rượu to, tất nhiên bên trong toàn là rượu.
"Rượu gì vậy?"
"Rượu Quỷ."
"Rượu Quỷ là gì?"
"Rượu Quỷ là tên một loại rượu, là đặc sản của Hồ Nam, Trung Quốc đấy, uống rượu mà không biết đến loại rượu nổi tiếng này thì thật phí!"
Ông lão tóc bạc tuy tuổi cao nhưng lời nói rất mạnh mẽ, cử chỉ hào sảng, lấy ra hai bát to, rót đầy cả hai, mỗi người một bát uống cạn, rồi hét lớn: "Thật đã quá! Thật đã quá!"

Ông lão đột ngột hỏi tôi:
"Ngài biết tôi là ai không?"
"Họ Vạn."
"Họ Vạn là do tôi nói với ngài thôi, tôi là Ma Vạn Tửu đây, ha ha! Ma men uống rượu với ma men, mới đúng là ma men danh xứng với thực!"
Ma Vạn Tửu chỉ vào bát rượu lớn trước mặt tôi: "Uống đi!"
Tôi nâng bát lên và uống.
Ma Vạn Tửu nói: "Tôi không quen ép khách, cứ tùy ý ngài thôi, Hoạt Phật muốn uống bao nhiêu thì uống!"

🌟

Thật lòng mà nói, với hoàn cảnh như tôi, nếu không có tu luyện, rèn được định lực cực mạnh, mà đổi lại là người bình thường, đột nhiên xuất hiện một ông lão, trong đêm tối đen như mực, cùng uống rượu với mình, lại tự xưng là Ma Vạn Tửu, trong bầu không khí như vậy, không bị dọa chết vì sợ hãi đã là may mắn lắm rồi!
Người có gan to một chút, có lẽ cũng phải rùng mình ớn lạnh, nói năng lắp bắp run rẩy được thì đã là khá lắm rồi.

Nhưng hôm nay tôi là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, cả đời này tôi đã từng trải qua nhiều trận mạc, cũng gặp ma quỷ nhiều rồi. Tôi rất bình tĩnh, tôi nhìn chăm chú vào mặt ông ta, mặt ông không hề đỏ vì rượu, chỉ thấy một màu xanh tím ghê rợn, đôi mắt phóng ra hai tia sáng lạnh lẽo.

Ông nói:
"Quả nhiên Hoạt Phật là Hoạt Phật thật, định lực đủ mạnh, thật đáng khâm phục!"
"Không dám! Chỉ là gặp nhiều rồi thôi."
"Để tỏ lòng tôn kính Hoạt Phật, tối nay tôi mời khách."
"Mời khách?"
"Đúng vậy, tôi có chút pháp lực, có thể lấy đồ ăn được, không biết Hoạt Phật còn muốn uống rượu gì nữa?"
Tôi trầm ngâm không nói, không biết nên uống rượu gì đây?

Ông ta nói: "Có rồi! Hoạt Phật đã từng đến Sơn Tây, tỉnh Sơn Tây Trung Quốc nổi tiếng về rượu Phần, đúng là uống rượu phải uống Phần, rượu Phần phải uống, ha ha! Vậy lấy một chai rượu Phần tỉnh Sơn Tây đi!"

Ma Vạn Tửu vừa nói xong, chỉ thấy miệng ông lẩm bẩm niệm chú, đột nhiên giơ tay chộp vào không trung, trên tay liền xuất hiện một chai rượu Phần.
Tôi tận mắt nhìn thấy Ma Vạn Tửu vung tay không về phía hư không, liền có ngay một chai rượu, đúng là ảo thuật, thuật pháp kỳ diệu khiến người ta khâm phục.

Ma Vạn Tửu nói: "Có rượu mà không có đồ nhắm thì mất hứng quá!"
"Ông lại muốn lấy đồ ăn à?"
"Đúng vậy."
"Lấy đồ ăn bằng cách nào?"
"Xin cho tôi một cái đĩa không và một chiếc khăn tay."
Tôi chuẩn bị xong xuôi.
Ma Vạn Tửu đặt đĩa không lên bàn, lấy khăn tay phủ lên đĩa, miệng lẩm bẩm niệm chú, rồi tay nhanh chóng kéo khăn ra, hô lớn: "Cấp cấp như luật lệnh!"
Tôi nhìn trên đĩa.
Một con cá vược hấp gừng thơm phức.
Tôi há hốc mồm, trợn mắt kinh ngạc.
"Đây là lấy vật từ hư không sao?"
"Đây là phép ngũ hành xê dịch đại vận chuyển, ma quỷ cũng có thần thông đấy." - Ma Vạn Tửu cười ha hả.

Chúng tôi có rượu có thức ăn, ăn uống thoải mái vui vẻ!
Ma Vạn Tửu bỗng nhiên lại nói: "Chúng ta có rượu có thức ăn, chỉ thiếu ngâm thơ, chúng ta làm thơ đi!"
Vạn ngâm: "Thiên biến vạn hóa xuyên qua tường."
Tôi đối: "Đưa trăng và gió dài bóng đêm."
Vạn ngâm: "Cớ sao uống rượu sầu chưa dứt."
Tôi đối: "Chỉ bởi độ sinh tự bận mình."

Tiếp:
Vạn nói: "Có duyên quý trọng khó gặp lại."
Tôi đối: "Rượu Phần, cá vược say gió chiều."
Vạn nói: "Người ma tương phùng duyên sắp tận."
Tôi đối: "Nhiều chén không bằng một chén nồng."

Ma Vạn Tửu nói: "Cái gì mà nhiều chén không bằng một chén, không đúng, không đúng."
"Vậy phải nói sao?"
"Phải là một chén không bằng nhiều chén."
Tôi nói: "Một chính là nhiều, nhiều chính là một."
Ma Vạn Tửu nói: "Câu cuối, đừng dùng một chén nồng, hay nhiều chén nồng nữa, mà đổi thành: một chén một chén một chén nồng."
"Như vậy rất hay!"

🌟

Về Ma Vạn Tửu, dựa vào kiến thức của tôi, thật sự có rất nhiều điều đáng ngờ. Vị Ma Vạn Tửu này, tự xưng là ma, tôi quan sát khí sắc trên mặt ông ta, đúng là một ma thật. Ma là "ý sinh thân", tự nhiên có thể đi vào bất cứ đâu.
Mật giáo có nói rằng:
Ma (trung ấm) chỉ có hai nơi không thể đến được, thứ nhất là tử cung của người mẹ tương lai, thứ hai là kim cang bảo tọa của Phật.
Thứ nhất là cảnh giới luân hồi.
Thứ hai là cảnh giới niết bàn.
Ma một khi vào hai cảnh giới này sẽ "chết" ngay.

Ma Vạn Tửu vào nhà tôi cùng uống rượu, về điểm này, tôi không hề nghi ngờ gì.
Nhưng việc Ma Vạn Tửu vươn tay lấy rượu Phần từ hư không, và biến ra món cá vược hấp gừng trên bàn, điều này khiến tôi vô cùng khó hiểu. Việc lấy vật từ không trung, phép ngũ hành xê dịch đại vận chuyển, chỉ có thần tiên mới làm được điều này. Ma quỷ thông thường không có pháp lực như vậy, ma không có khả năng gọi gió gọi mưa, vì không thể sai khiến được thần gió thần mưa, ma cũng không thể ở trong đền lớn, vì sợ thần sấm.
Vậy tại sao Ma Vạn Tửu lại có thần thông lớn như vậy?
Làm sao có thể thực hiện được phép ngũ hành xê dịch đại vận chuyển?

Tôi đang suy nghĩ thật kĩ.
Ma Vạn Tửu bỗng biết được, ông ta nói:
*Kiếm ấn cao vút với lư hương, 
Càn Khôn Cấn Tốn bút phong sừng;
Rùa hạc đàn thư Khôn Thân địa,
Thiên môn thánh địa lắm tiên nhà.*

Tôi kêu lên "À!" một tiếng:
"Ông đã được phong thủy đất tiên."
"Hoạt Phật thật giỏi, tôi chỉ đọc một bài kệ này, Hoạt Phật đã biết ngay là nhờ địa khí mà tôi có được thần thông, giỏi thật! Giỏi thật! Thì ra Hoạt Phật cũng là một bậc đại sư về phong thủy địa lý."

Lời nói của ông ta khiến tôi nghĩ mình không nên nghi ngờ nữa. Tuy nhiên, tôi lại thắc mắc, Ma Vạn Tửu thích uống rượu, nhưng lại có tài làm thơ làm kệ, vậy ông ta là nhân vật thế nào?
Ma Vạn Tửu mỉm cười nhẹ nhàng, như thể ông ta lại biết được tôi đang nghĩ gì?
Ông ta nói:
"Bốn tháng nữa chúng ta sẽ có duyên gặp lại, lúc đó mọi chuyện sẽ sáng tỏ."
"Ông có thể tiên đoán tương lai sao?" - Tôi kinh ngạc, điều này còn thần kỳ hơn nữa.
"Tôi là kẻ nghiện rượu, làm sao lại nói dối được." - Trong lời nói của Ma Vạn Tửu, dường như điều gì ông ta nói ra đều chắc chắn sẽ thành sự thật, ông ta rất tự tin về năng lực của mình.
Ma Vạn Tửu uống cạn thêm một bát lớn nữa, rồi đứng dậy cáo từ, biến mất trong chớp mắt.

🌟

Sau chuyện này, tôi không hề kể với ai về việc gặp Ma Vạn Tửu, kể ra thì người ta cũng chưa chắc đã tin.
Tôi vẫn bận rộn như thường lệ, rất nhanh đã quên bẵng cuộc hẹn bốn tháng sau.

Vào một buổi trưa bốn tháng sau, có một người thanh niên đến xin gặp tôi, yêu cầu tôi nhất định phải siêu độ cho người cha quá cố của anh ta.
Người thanh niên đưa cho tôi xem tấm ảnh, ồ! Chính là Lão Tửu.
Tôi hỏi:
"Anh họ Vạn phải không?"
"Vâng, Vạn Tông Nhân. Sư phụ sao biết được ạ?"
Tôi không trả lời, chỉ nói: "Tôi nhất định sẽ giúp cụ siêu độ!"

Đến ngày siêu độ, trên bàn thờ bày rất nhiều cúng phẩm, trong đó nổi bật nhất là có rượu Phần và cá vược hấp gừng.
"Sao cúng như vậy?" - Tôi chưa kịp hỏi.
"Bố tôi báo mộng nói nhất định phải có hai món này, một là rượu Phần, hai là cá vược hấp gừng. Chúng tôi không biết tại sao lại cần hai món này, nhưng giấc mộng rất rõ ràng, nên chỉ còn cách làm theo!"
"Cái ông nghiện rượu này..." - Tôi lẩm bẩm.
"Vâng." - Vạn Tông Nhân nói: "Lúc còn sống bố tôi nghiện rượu như mạng, biệt danh là Ma Vạn Tửu."
"Khi còn sống ông làm nghề gì?" - Tôi hỏi.
"Giáo sư Quốc học."
"À..." - Tôi đã hiểu ra tất cả.


### 03. Chiến tranh của người âm


Tôi ngồi trên pháp tọa.
Hát bài kệ:
*Đại Nhật tối thắng xin cúi lạy
Vô tận Tam Bảo Thánh Quan Âm
Tôi theo lời dạy cứu u minh
Chỉ mong từ bi ban gia trì.*

Tôi dùng tâm lực để triệu thỉnh:
"Nhất tâm triệu thỉnh, mặt trời tựa như mũi tên, thỏ ngọc tựa như con thoi, muốn thịt xương tách rời, thấy giọng nói và hình dung không còn tồn tại. Đầu tiên đốt hương quý, trước hết triệu thỉnh linh hồn Tôn Thị, chỉ mong được nhờ sức mạnh Tam Bảo, dựa vào lời bí mật, đêm nay lúc này đến pháp hội, nhận cam lộ pháp thực đã bày ra này."
Kết ấn câu triệu bí mật.

Niệm chân ngôn triệu thỉnh:
"Ôm pu-pu-ti-li ka-li-tua-li ta-tha-yê-tô-yê."
Cô hồn nghe triệu thỉnh mau mau đến.
Tôi niệm chú triệu hồn này, kết ấn câu triệu linh hồn, dùng tâm ý để triệu hồn, linh hồn nhất định sẽ đến.

Mắt tôi nửa nhắm nửa mở, ở trong huyễn quán, tôi nhìn thấy trên trời có treo một vầng trăng đẹp đẽ mát rượi, nhẹ nhàng tỏa ra những ánh bạc nhàn nhạt lấp lánh, phủ lên mặt đất yên ả, khiến cho mặt đất nhuộm thành một vùng màu trắng bạc.
Có một hình bóng đang thả bước dưới trăng đi đến, cô hồn đang đi dạo dưới trăng này nhất định là cô hồn nhà họ Tôn, là Tôn Tế không sai.

Thế nhưng đúng vào lúc này, đột ngột có tiếng rít, một tiếng hú chói tai, thì ra là một âm linh cực to lớn, hai mắt lóe lên ánh sáng xanh khủng bố, trên tay cầm dao sắc, lao về phía Tôn Tế muốn giết.
Tôn Tế sợ đến mức bán mạng chạy trốn.
Nhưng âm linh to lớn này giống như con sói nhanh nhẹn bám theo rất sát, Tôn Tế la hét: "Cứu! Cứu tôi với!"
Tôn Tế không còn đường thoát, chỉ còn cách trốn sau người tôi.

Âm linh to lớn này chạy đến trước mặt tôi.
Lần này tôi nhìn rất rõ hắn. Là một nam tử hán trông rất to khỏe, ngũ quan hung ác, cơ bắp toàn thân lồi ra, tay cầm dao sắc, ánh mắt tức giận. 
"Trả Tôn Tế đây!"
"Anh là ai?"
"Tôi là Mao Công."
"Tôn Tế và anh có oán thù à?"
"Hừ! Ngôi mộ đẹp đẽ của Mao Công tôi, ông ta không tránh đi, đã chiếm nhà tôi rất lâu rồi, tôi hận ông ta rất lâu rồi!"

Tôi dùng lời nói tốt đẹp khuyên hắn:
"Đêm nay con cháu của Tôn Tế làm pháp sự, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn tôi làm chủ đàn, cô hồn Tôn Tế xứng đáng được hưởng cam lộ, được Bồ Tát Tam Bảo quán đảnh gia trì, sớm rời khỏi ác đạo, cũng sớm siêu sinh thôi."
Mao Công hét lớn:
"Không đúng, không đúng, Tôn Tế chiếm ngôi mộ của tôi, mỗi lần pháp sự phải là tôi hưởng thụ mới phải, chứ không phải là ông ta."
"Là Tôn Tế." - Tôi nói.
"Không phải, là Mao Công tôi."

Tôi ngồi trên pháp tọa, tự cảm thấy buổi siêu độ đêm nay có phiền phức, Tôn Tế và Mao Công ở trong tình huống bế tắc. Nói về siêu độ, công đức chủ hôm nay là Tôn gia, đương nhiên phải siêu độ cho Tôn Tế mới phải.
Nhưng lại có một vị Mao Công xuất hiện, không thể thương lượng mà cứ nằng nặc đòi hưởng thụ hương hoa, muốn đuổi công đức chủ đi, còn nói Tôn Tế đã bá chiếm ngôi mộ của hắn. Ngay lúc này cũng không thể hiểu được ai đúng ai sai, tôi cảm thấy khá khó xử, khá phiền toái.
Tôi ngẫm nghĩ rồi nói:
"Đêm nay, tôi phải bảo vệ Tôn Tế. Đây là trách nhiệm của tôi."

Mao Công gầm lên giận dữ:
"Pháp sư, đừng có trách, tính khí tôi nóng nảy lắm đó!"
Mao Công cầm dao sắc, vung một chiêu Hoa Sơn cái đỉnhv à xông thẳng đến. 
Tôi vội vàng kết ấn, hai tay đan nội phộc, mười ngón tay ngửa lên, hóa ra một bánh xe lửa lớn, bay lên bảo vệ đầu.
Tôi niệm chú: "Fa-cha! Fa-cha! Fa-cha!"
Dao sắc kia vừa chạm vào bánh xe lửa lớn thì "rắc" một tiếng, gãy luôn.

Mao Công nổi cơn thịnh nộ, lao nhanh về phía trước, hai tay muốn tóm lấy cổ tôi.
Hai tay tôi lật bàn tay lại giữ trước ngực, duỗi hai ngón trỏ ra, mở ra, khẽ đung đưa.
Tôi niệm:
"Ôm wa-zư-la na-chia-a-hùm."
Chữ Hum trên thủ ấn bay ra một vòng lửa lớn, vòng lửa lớn này đốt ngay Mao Công khiến hắn kêu lèo xèo, không thể chạy trốn.
Tôi nói với Tôn Tế đang trốn sau lưng mình:
"Đừng sợ, tất cả vô sự rồi, ông ra đi!"
Thân thể Tôn Tế không kìm được sự run rẩy, tướng mạo của Tôn Tế lúc này lại giống bộ dạng của một học sinh. 
Tôn Tế nói:
"Đa tạ Hoạt Phật đêm nay đã cứu, đến già cũng khó quên!"

🌟

Làm xong pháp sự, tôi rời khỏi pháp tọa.
Con cháu của Tôn Tế đi nhanh về phía trước:
"Hoạt Phật, không có chuyện gì chứ?"
"Có chuyện gì là sao?" - Tôi hỏi ngược lại.
Con cháu của Tôn Tế nói:
"Là như thế này, trước kia chúng tôi mời pháp sư đến giúp siêu độ, pháp sư làm pháp sự nhiều lần xảy ra chuyện, có người thì ngay ở trên pháp tọa bị chóng mặt không chịu nổi, có người thì ngồi trên pháp tọa nước mũi chảy thành dòng, có người thậm chí bị ốm, pháp sự chỉ làm được một nửa, có người bị nghiêm trọng hơn nữa, chúng tôi không dám nói…………"
"Nói đi, không sao đâu!"
"Có một vị pháp sư làm pháp sự xong, trở về nhà không lâu thì không ngờ đã chết rồi."
"Có chuyện này ư?"
"Đúng vậy."
"Hừ! Mao Công này cũng quá hung hãn rồi!" - Tôi nghĩ thầm.

Con cháu của Tôn Tế kể với tôi:
Kể từ sau khi Tôn Tế qua đời, trong nhà suy thoái, thường xuyên có sự cố phát sinh, chúng tôi được Tôn Tế báo mộng, nói rằng tình hình không tốt, không có được cơm áo, thường xuyên bị người khác cướp mất.
Còn nói, mộ phần có chỗ không đúng, chúng tôi đã mời thầy phong thủy đi xem phong thủy, cũng không tìm ra được chỗ nào không đúng, đã mời nhiều thầy phong thủy rồi, mỗi người đều nói khác nhau. Việc này cứ mãi không giải quyết được.
Con cháu của Tôn Tế sau đó nghe danh của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn mới đặc biệt đến mời tôi chủ trì pháp sự.

Tôi nghe xong lời kể chi tiết của họ, bản thân cảm thấy việc này quả nhiên có một số tranh chấp, xem ra muốn hóa giải việc này, không phải tôi thì chẳng có ai làm được. Tôi tự nghĩ, tôi chỉ là làm siêu độ, pháp sự xong xuôi là tôi không còn việc gì nữa, không muốn lại tiếp tục dây dưa thêm việc.
Nhưng sự việc này đã đến tay tôi, nếu tôi không quản, nếu tôi không đi hóa giải, trong thiên hạ này còn có ai có thể hóa giải đây?
Thế là tôi lại việc đáng làm thì phải làm.
Tôi kể với họ chuyện vừa xảy ra ở trên pháp tọa, tôi nói:
"Việc này cứ để cho tôi lo liệu."
Chà! Họ rất vui mừng, họ chẳng còn để ý gì khác ngoài việc khoa chân múa tay vì sung sướng.
Tôi hỏi:
"Mao Công là ai?"
Họ lắc đầu:
"Không biết!"
Tôi nói:
"Có khả năng ngôi mộ của Tôn Tế đã xâm chiếm vào phần mộ của Mao Công, việc này tôi phải tự mình đi xem phong thủy thì mới biết được."

🌟

Ngôi mộ của Tôn Tế nằm ở một bên của núi Đông Sơn, nơi đó là một khu nghĩa địa lớn, mọi người tập trung rất đông.
Tôi nghĩ đến bài thơ Vịnh Hoa của quốc sư Ngộ Đạt:
*Hoa nở đỏ đầy cây, hoa rụng trơ vạn cành
Chỉ còn lại một đóa, ngày mai theo gió bay.*

Bài thơ Vịnh Hoa này tuy là chỉ hoa, nhưng cũng không phải là không chỉ người, nhìn hoa nở hoa rụng, nhìn người sinh người diệt, những ngôi mộ đầy ngọn núi, đây cũng là khắp chốn hoa rơi!

Chúng tôi đi đến trước ngôi mộ của Tôn Tế.
Tôi tràn đầy tin tưởng nói với họ:
"Chú ý những ngôi mộ lớn nhỏ trước sau trái phải, chắc chắn có một ngôi mộ của Mao Công, tìm ra được là sẽ hiểu rõ nguyên nhân thôi."
"Vâng." - Họ chia nhau ra đi tìm.
Họ và tôi triển khai tìm kiếm theo kiểu cuốn chiếu, ngay cả những đám cỏ dại cũng lật lên nhìn, ngay cả những ngôi mộ nhỏ cũng đều kiểm tra kĩ, càng tìm kiếm phạm vi càng rộng, những ngôi mộ trong phạm vi 50 mét đều đã kiểm tra hết rồi.
Cả trăm dòng họ đều có, nhưng không có một người nào họ Mao. 

Tôi không tin.
Lại tiếp tục tìm kiếm, vẫn không có.
Họ nhìn tôi.
Mặt tôi đỏ lên trông rất khó coi, mồ hôi túa ra đẫm lưng.
Tìm không ra ngôi mộ của Mao Công, xem ra suy luận của tôi chắc chắn sai rồi, nhưng làm sao có thể sai được chứ? Thật sự nghĩ không thông.

Tôi đứng tại nơi đó, hoang mang.
Sau đó, tôi nói với họ rằng:
"Tôi đi loanh quanh gần đây tìm một nơi thiền định!"
"Thiền định là cái gì?"
"Tức là ngồi xuống một lúc, yên lặng suy nghĩ!"
"Được thôi! Chúng tôi cũng mệt rồi, mọi người ngồi nghỉ một lát!"

Tôi tìm được một cái cây, bên dưới cây khá râm mát, tôi nhắm mắt lại tĩnh tọa rồi dần dần đi vào trong công phu thiền định rất sâu.
Trong công phu thiền định, thân thể ở trong trạng thái nghỉ ngơi, tâm linh cũng tạm thời dừng hoạt động, lúc này không một hình trạng, đẹp đẽ tuyệt diệu cực kì, không thể mô tả giải thích được.

Tuy rằng tôi là tôi, nhưng lại không còn là một đơn vị chịu giới hạn, mà là trong tri giác, ánh sáng nhỏ như hạt đậu biến thành một hồ ánh sáng rực rỡ bao la, mở rộng ra xung quanh trong vòng một trăm dặm toàn là những vòng tròn ánh sáng.
Chìm vào trong những vòng tròn ánh sáng lớn đó, thân tâm thư thái, lại có thể nhận biết được niềm vui sướng trong ánh sáng rực rỡ, trong tầng ý thức như gần như xa, tôi nghĩ đến hai chữ Mao Công, tóm lại, ý thức tự ngã mở rộng ra, tồn tại cùng với ánh sáng, cùng một thể sinh ra.

Tôi quan sát vật thể. 
Bề ngoài của vùng phụ cận núi Đông Sơn đó rất rõ ràng, như cây cối hoa lá, như thảm cỏ xanh, hoặc những nấm mộ lần lượt đều lui đi.
Tôi ở ngay trong trạng thái thiên nhãn mở rộng ra, lúc này tôi đang đi vào trong lòng đất, đi tìm ngôi mộ của Mao Công, ngay cả bên dưới mặt đất cũng rõ ràng như dưới ánh mặt trời. Đây mặc dù là một dạng biến hóa nội tại của tâm, nhưng rất rõ rệt, tôi đã nhìn thấy vị Mao Công kia rồi. Tất cả những việc này xảy ra đột ngột và khó tin như vậy, tôi nhìn thấy hắn nằm đó, nhờ vào sức mạnh của tâm tôi mà tôi biết hắn chính là Mao Công.

Còn phía trên của Mao Công, tôi lại nhìn thoáng qua, trong lòng chấn động, thì ra bên trên chính là nấm mộ của Tôn Tế. Tôi không thể nào đưa thiên nhãn nhìn đi chỗ khác, cảnh tượng trước mắt tôi khó mà khiến người khác tin được, tôi nhìn chằm chằm, nhìn chăm chú, nhìn đờ đẫn về phía cảnh tượng đó, chính tôi cũng không dám tin vào những gì mà thiên nhãn của mình nhìn thấy.
Tôi ra khỏi thiền định.

Tôi nói với họ rằng:
"Lúc đầu mọi người chôn Tôn Tế, mảnh đất này trước đó đã có chôn Mao Công rồi, chỉ là do quan tài bị chôn sâu quá, hoặc là đã bị vùi lấp sau nhiều năm, khi mọi người đi tìm đất, cho rằng đây là đất chưa có người chôn. Mọi người đào đất nhưng vẫn chưa đào đến quan tài của Mao Công, cho nên mọi người đã chôn Tôn Tế xuống. Như bây giờ, Tôn Tế ở trên, Mao Công ở dưới, chỗ mà hai người này ở giống như là nhà chung cư vậy."
Họ nghe xong thì cũng đờ người ra. 
"Có chuyện như vậy ư?"
"Có." - Tôi khẳng định nói: "Lần này tôi tận mắt nhìn thấy!"
"Tận mắt ư? Trong đất ư?"
"Đúng vậy."
Họ lắc đầu.

Một người lớn tuổi trong họ nói:
"Hôm nay cũng đã chẳng nghĩ ra cách nào, thôi thì cứ tạm thời tin tưởng Hoạt Phật một lần, đây cũng là lần cuối cùng rồi, vậy thì bây giờ sẽ phải làm gì?"
Tôi nói:
"Tôn Tế và Mao Công chiến tranh với nhau đã lâu, bây giờ cách để đẹp cả đôi bên là trước tiên đào ngôi mộ của Tôn Tế lên, nhặt xương, tìm một nơi có phong thủy tốt rồi chôn lại từ đầu. Còn với Mao Công, cũng giúp hắn nhặt xương, ở nguyên chỗ cũ, sửa sang thành một ngôi mộ đơn sơ cho hắn, như vậy cả hai đều không bị thiệt thòi, được không?"
"Thật là có thi thể của Mao Công ở bên dưới không?" - Họ vẫn không tin.
"Lần này chúng ta đánh cược." - Tôi hơi bực.
"Không cần đánh cược, tin tưởng Hoạt Phật là được rồi." - Cụ già nói.
Họ bàn bạc.
Sau đó đồng ý làm theo ý tưởng của tôi.

🌟

Khoảng một tuần sau là ngày lành giờ tốt để động thổ, họ thuê công nhân lên núi. Những người công nhân cùng bắt tay vào làm.
Rất nhanh chóng mở quan tài của Tôn Tế ra, sau 6 năm quả nhiên cũng đã phân hủy gần hết rồi, rất dễ nhặt xương cho vào bình (kim đẩu). 
Công nhân thu dọn công cụ.
"Khoan đã, còn có một chiếc quan tài nữa!" - Họ nói.
"Ở đâu?"
"Chính là ở bên dưới quan tài vỡ này!"
"Thật ư?" - Công nhân hoài nghi.
"Là thật đó."
"Trong cách chôn chưa từng có chuyện chồng lên nhau trên dưới thế này!" - Công nhân cảm thấy rất kỳ lạ.
Công nhân lại đào xuống nữa.
"Mẹ ơi! Quả nhiên vẫn còn một chiếc quan tài nữa!"
Trong lòng tôi thở ra một hơi nhẹ nhõm.

Họ biết chuyện gì đang diễn ra, quan tài ở bên dưới này chắc chắn là Mao Công. Khuôn mặt của họ lộ ra vẻ kinh ngạc, rồi họ quay mặt ra nhìn tôi. 
Đầu lâu của Mao Công cũng đựng vào trong bình kim đẩu.
Bây giờ đã có hai bình kim đẩu. 

Con cháu của Tôn Tế tin lời tôi, linh hồn tổ tiên được an lành, nghiệp chướng của người dương dần dần giảm nhẹ, đồng thời được tổ tiên phù hộ, phúc báo cũng sẽ lớn lên. Họ y theo lời của tôi mà dời mộ đến nơi có phong thủy tốt. 

Sau đó con cháu của Tôn Tế quả nhiên đã có phúc báo. 
Sự nghiệp hanh thông, thành lập một công ty khởi nghiệp.
Sinh ra được mấy cháu trai thông minh.
Người có bệnh lâu ngày dường như cảm thấy dễ chịu hơn rất nhiều, giống như đã nhẹ đi, rồi bình phục. Người khỏe mạnh thì đều sống lâu.
Tất cả đều tốt đẹp, dường như ai nấy đều trở nên sáng láng hơn.
Con cháu của Tôn Tế đều quy y Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, trước đây ở Đài Loan, cứ đến dịp lễ Tết là họ đều tặng tôi rất nhiều quà.
"Cảm tạ Thánh Tôn!"
"Không cần cảm ơn, việc nên làm thôi."

🌟

Còn về Mao Công, con cháu của Tôn Tế cũng không phá bỏ lời hứa, họ mời công nhân xây một ngôi mộ nhỏ, còn lập một tấm bia mộ cho mộ của Mao Công.
Nghe nói, Mao Công không phải là không có con cháu, chỉ là con cháu đã chuyển nhà đến một nơi rất xa rồi.
Con cháu của Mao Công từng trở về tìm lại ngôi mộ để cúng tế, nhưng lúc đó tìm kiếm thế nào cũng không tìm được, như thể đã tiêu biến rồi. 
Mấy năm sau, con cháu của Mao Công lại quay trở về tìm, lần này họ giật mình kinh ngạc, hóa ra không ngờ ngôi mộ của Mao Công đã xuất hiện rồi. Con cháu của Mao Công này cũng không hiểu ra làm sao, không biết là có chuyện gì, cũng không có ai nói cho họ biết có chuyện gì.
Thông tin tôi nghe được từ phía khác là Mao Công lúc còn sống vốn là một gã đồ tể, mổ lợn.

🌟

Từng có người có nghi ngờ về sự việc này:
"Pháp sư siêu độ Tôn Tế, lần nào Tôn Tế cũng không được siêu độ, thì ra là Mao Công cầm dao đuổi theo Tôn Tế."
"Vấn đề là, Mao Công cầm dao đuổi Tôn Tế, vì sao không một nhát chém luôn Tôn Tế? Phải đợi đến khi Liên Sinh hoạt Phật đến siêu độ thì mới xem là kết thúc vụ này?"
Câu trả lời của tôi là:
"Có lẽ Mao Công đuổi theo Tôn Tế, cầm dao sắc chỉ là hù dọa Tôn Tế chứ không thật sự muốn giết ông ta, Mao Công chỉ là muốn có được cúng phẩm siêu độ mà thôi, giết ông ta thì cũng chẳng có ích gì."

Còn một đáp án khác là:
"Cảnh giới của linh hồn là cảnh giới của "ý sinh thân", ở đây còn có sự trói buộc của luật âm khác nữa. Thế nào là sống? Thế nào là chết? Người này sống thì người kia chết, người này chết thì người kia sống, sống sống chết chết không có hồi kết, cũng có thể nhiều lần sống nhiều lần chết, mọi người đọc kinh Địa Tạng thì có thể hiểu được chết rồi sống, sống rồi chết của linh hồn."


### 04. Luật lệnh âm phủ


Tôi vô cùng ngưỡng mộ những hành giả có thành tựu lớn trong tu hành, và luôn hướng lòng về những ngôi chùa cổ có lịch sử lâu đời.

Tôi biết rằng trong dãy núi ở khu Môn Đầu Câu, ngoại ô phía tây Bắc Kinh, Trung Quốc có một ngôi chùa tên là Đàm Trạch Tự. Ngôi chùa này được xây dựng từ thời Tây Tấn. Ban đầu chùa có tên là Gia Phúc Tự, đời Đường đổi tên thành Long Tuyền Tự, sau đó lại đổi thành Vạn Thọ Tự, Tụ Vân Tự.

Cuối cùng, vì phía sau chùa có một hồ rồng, dưới chân núi có một cây giá, nên mới được gọi là Đàm Giá Tự.

Chùa có nhiều di tích cổ, cung điện hành cung của vua chúa thời nhà Thanh cũng nằm trong chùa Đàm Giá, đó là cung Vạn Tuế và cung Thái Hậu.
Ở phía đông Đại Hùng Bảo Điện có một cây bạch quả nghìn năm tuổi, được vua Càn Long phong là cây Đế Vương.
Ngoài ra trước chùa có bốn cây tùng, được đặt tên là Tứ Tùng Thanh - Kỳ - Cổ - Quái.

Kiến trúc chính của chùa Đàm Giá gồm có Thiên Vương Điện, Đại Hùng Bảo Điện, Tam Thánh Điện, Tỳ Lô Các, Phương Trượng Viện, Quan Âm Điện, Giới Đàn và nhiều công trình khác. Chùa được xây dựng theo sườn núi, kiến trúc cao thấp xen kẽ hài hòa, khí thế nguy nga tráng lệ, xung quanh chùa là những ngọn núi trùng điệp xanh tươi, những cây tùng cổ thụ vững chãi, phong cảnh tuyệt đẹp.

Tại sao tôi viết về chùa Đàm Giá?
Chủ yếu là vì trong chùa Đàm Giá có một tượng Thiên Thủ Quan Âm rất linh thiêng, tượng rất lớn, và tôi đã có duyên với ngài.
Hơn nữa, chùa Đàm Giá từng mời tôi làm lễ khai quang chúc mừng cho điện Phật khi hoàn thành.
Ngoài ra, bài viết này cũng có chút liên quan đến chùa Đàm Giá.


🌟

Có một hậu duệ của hoàng tộc nhà Thanh dâng tặng tôi rất nhiều lễ vật, ông họ Lê tên Uy, ông biết tôi tu Mật giáo.

Trong số lễ vật có bảy báu vật mạ vàng, tám cát tường mạ vàng, một tòa mandala bằng vàng, hai chiếc đèn bạc, mười gói gỗ đàn hương, mười khăn khata lớn, hơn mười tấm vải làm long bào (các màu gấm) v.v.
Lê Uy nói với tôi:
"Xin thầy nhận cho!"
"Quá quý giá rồi."
"Xin làm phiền Hoạt Phật!"
"Ông cầu điều gì?"

Lê Uy thành thật nói với tôi:
"Tôi có một người em họ tên là Thi Thanh Hóa, hồi nhỏ sống ở nhà tôi, tình cảm hai bên rất tốt đẹp. Sau đó cậu em này qua đời, thực ra đã mất nhiều năm rồi, tưởng đã quên lãng từ lâu! Không ngờ gần đây thường xuyên gặp người em họ này trong mơ, trong mơ cậu ấy có vẻ không được tốt lắm, em họ tôi liên tục yêu cầu nhờ Liên Sinh Hoạt Phật siêu độ cho cậu ấy, cứ yêu cầu nhiều lần như vậy."
Tôi cười:
"Chuyện này thường xảy ra lắm!"
Tôi hỏi Lê Uy:
"Ông làm sao biết được tôi là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn?"
"Thấy sách của thầy."
"Chuyện này thường xảy ra lắm, ha ha!" - Tôi lại hỏi ông ta: "Sao ông biết cúng dường những lễ vật này?"

Lê Uy trả lời: 
"Lê Uy tôi là hậu duệ hoàng tộc nhà Thanh, sinh ra trong dân tộc Mãn, nhưng cũng đã đi khắp vùng đất Hán-Tạng-Mông, nên cũng biết đôi chút về lễ vật Mật tông Tây Tạng. Hoạt Phật là nguồn gốc của lợi lạc cho tất cả chúng sinh, là người kế thừa giáo pháp quý báu của Đức Phật, đối với vị Pháp vương nắm giữ Phật pháp, chúng tôi đương nhiên phải biết cúng dường tôn kính."
Lê Uy lại nói:
"Thưa Liên Sinh Hoạt Phật, sau khi thầy làm xong pháp sự, tôi còn muốn cúng dường thầy vài bộ kinh Phật, và nhiều tượng Phật cổ, tháp xá lợi. Ở nhà tôi còn có đệm ngồi và tựa lưng của Pháp Vương, thậm chí cả bộ cà sa, có mandala kim cang, có ghế bành da hổ."
"Sao ông lại có những thứ này?"
Lê Uy trả lời:
"Ông nội tôi hồi đó trong cung, có vài vị đại Lama thường xuyên vào triều yết kiến. Đó là Lama Mạn Lang, Lama Tô Đồ, Lama Mã Khúc Kiệt, Lama Tạp Tát Khắc... và nhiều vị khác."
"Ông nội ông làm quan chức gì?"
Lê Uy trả lời:
"Đại thần sống ở đất Tạng."
"Thảo nào!" - Tôi thầm nghĩ.

🌟

Tôi thực hiện pháp sự cho Thi Thanh Hóa, hoàn toàn theo nghi thức Phật giáo Tạng truyền.
Thiết lập các loại đàn thành.
Tôi dùng "Giáo giới Kim Cang hợp tu tịch tĩnh và phẫn nộ".
Thỉnh mời Kim Cang Thủ Đại Luân Kim Cang, Năng Đoạn Kim Cang, Thắng Lạc Kim Cang, Song Thân Kim Cang, Bí Mật Kim Cang, 13 vị Đại Uy Đức Kim Cang, Mật Tập Kim Cang, Bạch Thắng Lạc Kim Cang...
Tôi rải đồ ăn.
Rải torma.

Đây là:
Đối với các cô hồn đang phiêu bạt nơi hoang vu không nơi nương tựa, và những chúng sinh trong cõi u minh đang khao khát nơi an thân và Phật pháp, chúng tôi đã trải rộng mây pháp từ bi, rưới xuống những giọt cam lộ no đủ, thỏa mãn cơn đói của u linh, cũng thỏa mãn tâm nguyện hướng Phật, trong đêm tối mịt mùng, thắp lên ngọn đèn soi đường quang minh.

Pháp sự chúng tôi làm đây, thuận theo giáo huấn quang minh của Phật Đà, là thứ tự viên mãn của con đường giải thoát, giúp chúng sinh cõi u minh đạt được bảo vật vô thượng, biến cõi giới không ánh sáng thành kim quang rực rỡ.
Chỉ cần là người có đủ duyên.
Ắt được Phật tiếp dẫn, vãng sinh Tây phương.

Pháp sự này rất trang nghiêm long trọng.
Chư tôn hạ giáng thọ cúng.
Nhiều u linh có ánh sáng bị bụi trần che mờ nhiễm ô cũng đã trở thành pháp thân thanh tịnh.
Tất cả đều cát tường viên mãn.

Điều duy nhất khiến tôi kinh ngạc và bất an là:
"Cô hồn Thi Thanh Hóa không đến!"
Thi Thanh Hóa này có phải đang bị vô minh mê muội chi phối không? Nếu không thì tại sao cô hồn chính lại không đến?

Một buổi siêu độ theo nghi thức Phật giáo Tạng truyền, chư tôn đều giáng lâm thọ cúng, nhiều u linh được thọ hưởng cam lộ cúng dường, nhưng chủ nhân thật sự cần được siêu độ là Thi Thanh Hóa lại không đến, không thấy bóng dáng đâu, không có mặt?
Tôi mơ hồ quá.
Tôi ngẩn người ra, làm sao có thể như vậy được?

🌟

Sau khi xuống pháp tọa, tôi tự thấy mình thật lúng túng.
Tôi nói: 
"Tôi phải làm thêm một lần pháp sự nữa, tôi tin rằng lần triệu thỉnh này, cô hồn Thi Thanh Hóa nhất định sẽ đến. Tôi thực sự không hiểu, tại sao chư tôn đều đến mà riêng cô hồn lại không đến."
Lê Uy nói:
"Thưa Liên Sinh Hoạt Phật, thầy đừng để tâm, tất cả phẩm vật cúng dường, tôi vẫn sẽ dâng cúng đầy đủ."
"Không phải vấn đề tiền bạc." - Tôi nói: "Đây là vấn đề trách nhiệm, nếu là một vị pháp sư khác, họ sẽ chẳng quan tâm cô hồn có đến hay không!"
Lê Uy đáp:
"Tất cả xin để Hoạt Phật quyết định!"

Tôi nói với Lê Uy:
"Hôm nay, không phải tôi coi thường ai, nhưng mọi việc trên trời dưới đất, không có gì tôi không biết. Tôi không phải là người nói suông, tôi thực sự có bản lĩnh. Trên thế giới này, người như tôi đã không còn nhiều!"
Lê Uy cười:
"Tôi biết, tôi biết, tôi không trách thầy đâu!"

Tại sao tôi phải giải thích đi giải thích lại với Lê Uy như vậy, ở đây tôi cần phải nói rõ, bởi vì tôi là người suốt đời không nói dối, không lừa gạt ai. Pháp sự siêu độ thành công, tôi sẽ nói là thành công, không thành công thì tôi nói không thành công, cô hồn có đến hay không, tôi đều biết rõ ràng. Không đến mà nói là đến, đến mà nói là không đến, những chuyện như vậy, tôi sẽ không bao giờ làm.

🌟

Pháp sự lần đầu không thành.
Tôi làm lần thứ hai.
Tôi chuẩn bị "gỗ sét đánh", trong Đạo gia, loại gỗ này gọi là "kinh đường mộc", chỉ cần đánh một tiếng là bên trong có "sấm ngầm".
Thi Thanh Hóa vẫn không đến đàn thành của tôi.
Tôi dùng gỗ sét đánh để kinh động anh ta.
Hội trường làm pháp sự rất trang nghiêm.

Riêng phần cúng phẩm, hoa tươi được bày biện ngũ sắc rực rỡ khắp nơi, hương thơm tỏa khắp mười phương, xung quanh treo đầy những thangka thêu dệt lộng lẫy, đàn tràng được trải thảm đỏ rực như ráng chiều, trong lư báu, khói trầm hương tỏa bay lên nghi ngút. Về phần quả cúng, quả được chất cao như tháp như lầu. Các loại kẹo bánh cũng vậy, có chocolate, kẹo thơm, kẹo đường phèn, kẹo bạc hà, món nào cũng tinh xảo.

Về phần món chay, có hạt dẻ to tròn, vải thiều tươi đào tươi, táo đỏ bánh hồng khô, hạt thông nho khô, mứt, nhiều loại bánh ngọt. Đường ngọt rưới lên, hoa văn xếp đặt công phu, bánh bao lớn cả mâm và bánh đào chúc thọ.

Ngoài ra còn có nấm hương, mộc nhĩ, măng non, kim châm, hoàng tinh, váng đậu, đậu phụ, rau xanh mười vị, trăm món cao lương.

Trong mandala của tôi gồm có:
Phật Thích Ca Mâu Ni và hóa thân.
Ngũ phương Ngũ Như Lai.
Kim Cang Tát Đỏa.
Phật Nhiên Đăng.
Heruka (Bí Mật Phật).
Chư vị Bồ Tát.
Không hành mẫu.
Hộ pháp.
Chư thiên (bao gồm các vị địa thần).

Đàn thành mà tôi thiết lập như vậy là theo giáo hóa của Đức Phật, để chế định thứ tự "thánh tính". Đây là đàn thành lấy Phật làm trung tâm, là đàn thành cao nhất, hàm chứa các loại thánh tính và pháp lực khác nhau.
Tôi cũng chuẩn bị các pháp khí như kiếm trí tuệ, chày kim cang, chuông kim cang, thiên cung, bảo tiễn.

Trên pháp tọa, tôi không dùng ấn triệu thỉnh để triệu thỉnh, mà dùng Bất Không Quyến Sách vô cùng đặc biệt để triệu thỉnh.

Bất Không Quyến Sách bay ra, dùng "móc bất không" để móc cô hồn Thi Thanh Hóa, nhất định phải móc được.
Kết quả, "bất không" cũng thành "không".
"Móc bất không" quay về, trên móc trống rỗng.
Cá chưa cắn câu.
Vì sao vậy? Không biết được!
Móc bất không của Bất Không Quyến Sách là một hóa thân khác của Quán Tự Tại Bồ Tát. "Bất Không" có nghĩa là "không rơi vào không" và "nhất định". Vị Quan Âm này có một mặt ba mắt tám tay, móc lấy cá của thiên nhân để cứu độ chúng sinh, "tứ lục nhiếp pháp" của ngài rất nổi tiếng, "móc quyến sách" ắt phải có được.
Hiện giờ, hồn của Thi Thanh Hóa vẫn chưa đến!

🌟

Tôi thực sự nổi giận.
Tôi giơ cao gỗ sét đánh đập mạnh ba cái xuống pháp tọa.
"Bịch!" "Bịch!" "Bịch!" ba tiếng vang lớn.
Làm kinh động cả bốn phương.
Nghe nói rằng.
Ba tiếng vang lớn này, như ba tiếng "sấm ngầm", vang vọng trong trời đất, thấu tới âm phủ địa phủ, ngai vàng của Diêm Vương trong điện cũng đổ nhào, cả điện Diêm Vương rung chuyển, khiến văn võ bá quan trước bậc thềm đều ngã nhào.
Đó là:
Sấm sét âm u rền đất trời,
Quỷ thần sông biển đều kinh hãi.

Diêm Vương thấy văn võ bá quan ai nấy đều lộ vẻ kinh hãi trên gương mặt, liền hỏi: "Mọi người có biết đây là chuyện gì không?"
"Đây là do Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn dùng pháp, móc gọi cô hồn Thi Thanh Hóa mà ra."
"Móc gọi Thi Thanh Hóa, cần gì phải dùng đến kinh đường?" - Diêm Vương hỏi.
"Diêm Vương có điều chưa rõ, cô hồn Thi Thanh Hóa phạm tội ngũ nghịch, đã bị đày xuống kim cang địa ngục, vĩnh viễn không được hưởng cúng phẩm nhân gian, đây là luật lệnh của âm phủ. Vì vậy, Thi Thanh Hóa không thể triệu thỉnh được, cũng không thể tìm được, không thể móc về được."
"Đã như vậy thì cứ cho người báo với Hoạt Phật là được, báo sớm đi, để tránh phải dùng đến kinh đường mộc, làm rung chuyển âm phủ, chư thần bất an."
"Dạ." - Văn võ bá quan đồng thanh đáp.

🌟

Trong khoảnh khắc, giữa hư không.
Mùi hương trời phảng phất lan tỏa,
Muôn hoa tiên rực rỡ đua nở.
Tròn xoe xoe,
Giữa ánh sáng rực rỡ, ráng chiều lấp lánh, khí lành bốc lên nghi ngút.
Hiện ra một vị tôn quý, dải lụa thêu phất phơ như vòng thoát tục, nhiều đầu nhiều tay nhiều mắt, mỗi gương mặt đều lộng lẫy như ngọc, trang nghiêm như xuân về, nửa oai nghiêm nửa mỉm cười như đóa anh đào nở, bước đi nhẹ nhàng, mùi hương tỏa ra, vô số hộ pháp run rẩy theo sau.
Đó là:
Mây thơm lớp lớp,
Ngọc khánh lanh canh.
Chính là Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát. Vị Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát này có hai mươi bảy mặt, bốn mươi hai tay tượng trưng cho nghìn tay, và mỗi bàn tay có một con mắt, tượng trưng cho nghìn mắt.
Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát có năm bộ, chủ về tức tai, điều phục, tăng ích, kính ái, câu triệu. Ngài là vị Bồ Tát có đại pháp lực.
Tôi hỏi:
"Bồ Tát từ đâu đến?"
"Từ chùa Đàm Giá!"
"Vì sao vậy?"
"Thi Thanh Hóa là người xuất gia ở chùa Đàm Giá, pháp danh của anh ta cũng là Thích Thanh Hóa. Hôm nay, Bồ Tát đến thay cho anh ta!"

Tôi nghe xong, giật mình kinh ngạc:
"Tại sao Thích Thanh Hóa không đến? Sao phải nhờ Bồ Tát thay thế?"
"Thích Thanh Hóa phạm tội ngũ nghịch, bị đày xuống kim cang địa ngục, không thể hưởng cúng phẩm, đó là luật lệnh của âm phủ. Ta là Bồ Tát đến đây vì Thích Thanh Hóa từng quét dọn điện Quan Âm bảy năm, có duyên với ta, nên ta mới đến."
"Thanh Hóa ở âm phủ chịu hình phạt gì?"
"Mỗi ngày cắt tai một lần, chặt ngón tay một lần, cắt thận một lần..."
"Ôi! Hình phạt quá khổ sở." - Mồ hôi tôi tuôn đầm đìa.
"Đúng vậy." - Bồ Tát nói: "Ta đã báo cho Hoạt Phật biết, ta sẽ trở về chùa Đàm Giá."
Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát vừa dứt lời, giữa hư không đã trở nên tĩnh lặng!

🌟

Tôi bước xuống pháp tọa.
Lê Uy tiến đến hỏi:
"Thế nào?"
Tôi hỏi lại: "Thi Thanh Hóa là người xuất gia ở chùa Đàm Giá, sao ông không nói?"
"Hoạt Phật đã biết?"
"Biết rồi, tôi còn biết anh ta phạm tội ngũ nghịch, tội rất nặng, âm phủ không tha về được, ngay cả tôi cũng bất lực."

Lúc này Lê Uy mới chủ động kể cho tôi:
Thi Thanh Hóa vốn tâm địa hiền lành, xuất gia từ nhỏ ở chùa Đàm Giá, pháp danh cũng là Thích Thanh Hóa. Đáng tiếc sau này đạo tâm không vững, bị một người phụ nữ đến chùa dâng hương quyến rũ, từ đó phạm tà dâm, trở nên phóng đãng.
Thích Thanh Hóa nghe lời người phụ nữ đó, trong chùa làm điều trái phải, dụ dỗ các tu sĩ không vững tâm tu hành phạm tà dâm, đồng thời chiếm đoạt tài sản của chùa.

Thích Thanh Hóa lợi dụng Phật giáo, lừa gạt tiền bạc của người khác, tự mua nhà cửa đất đai, kinh doanh việc đời như một thương gia.
Lại còn tà dâm với nhiều phụ nữ, nhiều thê thiếp.
Sau đó:
Thích Thanh Hóa bỗng nhiên mất trí, tự cầm dao mổ, chạy vào điện Quan Âm chùa Đàm Giá, quỳ trước Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát.
Hắn gào lớn: "Bồ Tát quở trách con, không nên nghe lời phụ nữ, gây chia rẽ trong chùa, phá hoại hòa hợp tăng đoàn, con xin tự cắt tai mình."
Hắn tự cắt đứt tai của mình.
Hắn lại kêu: "Bồ Tát phạt con, không nên lừa gạt tiền bạc của người, chiếm đoạt tài sản chùa, bắt con chặt ngón tay."
Hắn tự chặt đứt ngón tay mình.
Rồi lại kêu: "Bồ Tát quở trách con, không nên tà dâm với phụ nữ, phạm tội tà dâm, khiến con phải cắt thận, con xin cắt."
Hắn một nhát tự cắt thận mình ra, máu me đầm đìa, thật khủng khiếp.
Người chứng kiến đều xúc động, mọi người chạy đến xem thì hắn đã chết!

Tôi nghe xong, đúng là:
Cắt tai.
Chặt tay.
Cắt thận.
Lời của Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát đã ứng nghiệm, tôi càng thấm thía, luật lệnh âm phủ quả thật nghiêm khắc đáng sợ.

🌟

Ngũ nghịch tội có nhiều cách giải thích, trong đó "Kinh Ngũ Nghịch" nói: Một là giết cha. Hai là giết mẹ. Ba là giết A La Hán. Bốn là làm thân Phật chảy máu. Năm là phá hòa hợp tăng.

Thi Thanh Hóa phạm tội phá hòa hợp tăng, tức là trong khi đại chúng tăng ni đang hòa hợp hành pháp sự, tu tập Phật đạo, dùng thủ đoạn ly gián, khiến họ tranh chấp, rồi bỏ bê pháp sự.

Phá hòa hợp tăng thoạt nhìn có vẻ không nghiêm trọng, nhưng thực ra đây là tội nặng nhất. Bề ngoài không phải là giết, nhưng thực chất là giết chết đạo tâm của người tu hành, tội này trong ngũ nghịch là nặng nhất.

Tôi siêu độ cho Thi Thanh Hóa, bề ngoài dường như không có hiệu quả gì, vì theo luật lệnh âm phủ, ngay cả hồn phách cũng không thể triệu thỉnh được. Tuy nhiên, xét về ý nghĩa sâu xa, Thi Thanh Hóa vốn ở kim cang địa ngục (vô gián địa ngục), chẳng có ngày thoát ra.

Nhưng nhờ nhân duyên của thần chú siêu độ, sau mười sáu kiếp, sẽ thoát khỏi kim cang địa ngục, đến biên địa địa ngục. Sau mười sáu kiếp nữa, sẽ chuyển sinh làm người hạ tiện, rồi mười sáu kiếp sau đó, chuyển sinh vào nhà phú quý, mười sáu kiếp tiếp theo, chuyển sinh làm người tu hành, và mười sáu kiếp sau nữa, có thể chứng được quả vị.

Đây là nhân duyên quả báo của Thi Thanh Hóa. Tuy nhiên, trong đó cũng có thể có biến đổi, phải xem tạo hóa của bản thân Thi Thanh Hóa.

Theo giới luật Mật tông:
Nghiệp sát là nặng nhất.
Bởi vì vạn sinh vạn vật trong thiên hạ đều cùng một thể, kẻ phạm nghiệp sát là do từ bỏ tâm từ bi"
Tuy nhiên nghiệp sát không chỉ là giết hại sinh mạng.
Tội giết hại đạo tâm của người, còn nặng hơn cả nghiệp sát sinh.


### 05. "Hổ thành phố"


Khi bắt đầu học nghi lễ, tôi có hai sư phụ:
Thứ nhất, pháp sư Thiện Tứ ở chùa Từ Âm.
Thứ hai, pháp sư Thượng Lâm ở chùa Từ Minh.
Sau khi có khả năng thông linh, tôi thực sự có thể thấy tướng. Chỉ cần đứng trước bài vị của người đã khuất, tôi có thể thấy được họ đã qua đời như thế nào.

Thời đó, mẹ tôi và tôi thường đi tụng kinh, trợ niệm cho người khác. Phần lớn là làm từ thiện, có khi đi cùng với đoàn tụng kinh.

Một lần nọ.
Có một người tên Ngô Dụ qua đời, đoàn tụng kinh chúng tôi đến tụng kinh cho ông ta. Pháp sư chủ trì không phải là tôi, tôi chỉ đứng ở một bên.

Khi tôi vừa nhắm mắt, bỗng thấy một con hổ khổng lồ, nhanh nhẹn như vượn, con hổ này chạy qua các ngọn cây, nhảy lên mái nhà, phi nhanh giữa các điện các, chạy vun vút, cuối cùng, nhảy phóng xuống, đứng thẳng hiên ngang.
Con hổ khổng lồ đó chạy về phía tôi, tôi rất hoảng sợ.
Con hổ chạy qua bên cạnh tôi, miệng ngậm một người, tôi nhìn kĩ, chính là Ngô Dụ.

Tôi nói:
"Ngô Dụ bị hổ cắn chết."
Mọi người xung quanh cười tôi:
"Lư Thắng Ngạn thông linh đến tận rừng nguyên sinh rồi, làm gì có hổ trong thành phố ở Đài Loan?"
Pháp sư chủ trì cũng tỏ vẻ nghi ngờ:
"Con thấy chắc chắn không?"
"Chắc chắn." - Tôi cảm thấy oan ức.
Pháp sư chủ trì nói:
"Điều này không thể nào, ở Đài Loan có người bị rắn độc cắn chết, nhưng chưa từng nghe ai bị hổ cắn chết cả!"
Mọi người lại cười ồ lên chế giễu tôi.

Cuối cùng, chủ nhà đến nói với chúng tôi rằng Ngô Dụ đã bị xe hơi đang chạy tốc độ cao đâm chết trên đường.
Tất cả chúng tôi đều sững sờ.
Tôi nhớ lại ngày xưa trên các cột điện thường có cảnh báo như sau:
Đường như miệng hổ.
Người đi đường phải cẩn thận.
Xe hơi chẳng phải là "hổ thành phố" sao? Loài hổ của đô thị.
Mọi người nhìn nhau, rồi nhìn về phía tôi.

🌟

Tôi có thêm một câu chuyện lạ về "hổ thành phố".
Ở Đài Loan, tôi có một người bạn là luật sư, họ Đới, tên Nguyên Phóng, là người rất trọng nghĩa khí, gương mặt vuông vắn chính trực, thuộc tuýp người "thấy chuyện bất bình là tuốt gươm tương trợ", làm việc gì cũng quên ăn quên ngủ.
Một lần nọ, anh ấy nói với tôi:
"Thầy Lư à (lúc đó anh ấy gọi tôi như vậy), thầy có biết tại sao phần lớn luật sư và thẩm phán đều mặc đồ đen, đen nhiều trắng ít không?"
"Tôi không biết."
Anh ấy nói:
"Đen tối mù mịt."
Tôi hỏi: "Vậy tại sao lại vừa có đen vừa có trắng?"
Anh ta đáp:
"Vì họ nói chuyện đen trắng lẫn lộn (tiếng Đài)."
Chúng tôi cùng phá lên cười.

Luật sư Đới nghiêm túc nói với tôi: "Nhưng mà, tôi hiểu rõ đạo lý nhân quả của Phật giáo, trong quan trường cũng là nơi tốt để tu tâm sửa tính. Có những lúc, tôi không nhận thù lao, vì một chút công lý mà tôi cũng dốc hết sức, không đòi hỏi bất cứ đền đáp nào. Thời buổi này, người như tôi đã hiếm lắm rồi. Tôi nửa đen nửa trắng, giống như thái cực, hợp với đạo vậy."
Tôi không nói gì thêm.

Một ngày nọ.
Có một cuộc điện thoại khẩn cấp gọi đến, là phu nhân Đới gọi, nói rằng luật sư Đới Nguyên Phóng gặp tai nạn giao thông, ông ấy bị một chiếc xe quân sự lớn đâm từ phía sau.
Cả người văng lên cao, bị hất văng rất xa, hiện đang nằm trong bệnh viện, bất tỉnh nhân sự, tình trạng nguy kịch.

Lúc đó tôi chưa học được pháp trung ấm nghe dạy được độ, cũng chưa học được pháp quang uẩn thiên thức, chỉ mang theo một chiếc áo hải thanh rồi vội vã đến bệnh viện.

Tại bệnh viện, có rất nhiều người đang vây quanh...
Phu nhân Đới thấy tôi liền nói:
"Thầy Lư đã đến, để thầy ấy xem có cách nào không!"
Phu nhân Đới tin vào khả năng thông linh của tôi, hỏi tôi:
"Cần chuẩn bị gì không?"
"Không cần!"
"Cần trì chú không?"
"Không cần!

Tôi chỉ khoác chiếc áo hải thanh mà tôi thường mặc lên người luật sư Đới Nguyên Phóng mà thôi. Phòng bệnh im lặng, mọi người đều chăm chú nhìn động tác của tôi. Sau khi khoác xong, tôi đứng sang một bên. (Chiếc áo hải thanh này đã theo tôi tụng kinh trì chú nhiều năm.)
Có người hỏi:
"Làm vậy để làm gì?"
Có người thì thầm:
"Làm thế có tác dụng gì không?"
Phu nhân Đới đáp: 
"Thầy Lư có ý của thầy ấy, cứ để vậy đi! Chúng ta không cần hỏi tại sao!"

Lúc đó tại hiện trường, có vài người thân bạn bè tỏ vẻ không đồng tình, cho rằng khoác một chiếc áo đen lên người là không may mắn, họ rất phản cảm.
Nhưng sau khi phu nhân Đới lên tiếng, mọi người đều kìm nén lại.

Sau đó.
Luật sư Đới Nguyên Phóng tỉnh lại sau ba ngày, sức khỏe dần dần hồi phục, cho đến khi bình phục hoàn toàn.
Sau khi tỉnh dậy, anh ấy kể lại như sau:
Anh thấy mình đi cùng một đoàn người rất đông, bước vào một đại sảnh, phía trên có một người ngồi trông giống như quan chức cao cấp.
Bắt đầu điểm danh.
Từng người một được dẫn ra khỏi đại sảnh, không biết bị dẫn đi đâu, nhưng chắc chắn không phải nơi tốt đẹp gì, bởi vì ai nấy đều như tù nhân bị áp giải, thất thểu bước đi.
Sắp đến lượt luật sư Đới Nguyên Phóng.
Luật sư Đới bỗng nhiên cảm thấy có một người tiến đến, khoác lên người mình một chiếc áo hải thanh. Anh quay đầu nhìn lại thì người đó đã đi mất, không nhìn rõ người đó là ai, tóm lại là trên người đã mặc áo pháp.
Gọi tên: "Đới Nguyên Phóng!"
"Có." - Anh bước lên phía trước.
Hai vị quan lại bước đến, định áp giải anh đi.
Lúc này, vị quan cao cấp phía trên nói: "Khoan đã, người này tụng kinh trì chú nhiều như vậy, lại khoác áo hải thanh, áo hải thanh có hào quang, sao lại đến chốn này, có lẽ nhầm rồi."
Hai vị quan giám binh không dám lên tiếng!
"Thả hắn về." - Vị quan cao cấp phía trên nói.
"Tuân lệnh."
Luật sư Đới Nguyên Phóng là người duy nhất được thả về.
.............

Kể từ sau vụ tai nạn xe, luật sư Đới đã thay đổi rất nhiều, chỉ cần có thời gian rảnh là tụng kinh Phật, trì mật chú, niệm danh hiệu A Di Đà Phật, cố gắng làm nhiều việc thiện, chuyên tâm tu hành.

🌟

Tôi có thêm một câu chuyện nữa, cũng liên quan đến "hổ thành phố".
Khi còn trẻ, tôi cùng mẹ và vị pháp sư chủ trì đi tụng kinh siêu độ cho người khác. Pháp sự này do vị pháp sư chủ trì đứng ra nhận, tôi chỉ là người phụ giúp.

Đó là một gia đình giàu có, phòng khách biệt thự được trang hoàng rất lộng lẫy, hoa cúc vàng trắng khắp nơi, cả căn phòng ấm áp.
Pháp sư chủ trì ngồi vào vị trí.
Tôi ngồi ở một bên.
Cả phòng đầy khách.

Bất chợt tôi nhìn thấy một vùng đất trống không một ngọn cỏ xanh, là vách núi quanh đồi, có hai con hổ đang đánh nhau.
Một con hổ không chống đỡ nổi, rơi xuống vách núi, như thể đất rung chuyển, quả là một thảm họa khủng khiếp, chắc chắn có thương vong!

Nhìn thấy cảnh tượng như vậy, chẳng bao lâu sau, tôi lại thấy trên đỉnh cao xuất hiện nhiều oan hồn, có người đứt tay đứt chân, có người đầu một nơi thân một nẻo, cũng có người còn nguyên vẹn, đếm kĩ thì có hai mươi bảy vị, lũ lượt kéo đến.
Những oan hồn đứt tay đứt chân hét lớn:
"Kim chỉ! Kim chỉ!"
Tôi biết họ đang yêu cầu pháp sư khâu lại thân thể cho họ.
Tôi nhìn về phía pháp sư chủ trì, thầy ấy hoàn toàn không hay biết gì.
Các oan hồn tiến đến gần pháp tọa, tình thế càng lúc càng nguy cấp...

Tôi lập tức kết ấn chỉ, khắp không gian tràn ngập chỉ, rồi kết ấn kim, khắp không gian tràn ngập kim.
Các oan hồn nhặt lấy kim chỉ.
Chỉ trong chốc lát.
Những người đứt tay đứt chân, đầu một nơi thân một nẻo, tất cả đều được khâu lại nguyên vẹn, các oan hồn vô cùng hoan hỷ.

Rồi đến tiệc tối tụ hội, khách khứa đông đảo, tôi lại kết ấn biến hóa ra vô vàn phẩm vật cúng dường để đãi hai mươi bảy vị.
Đang lúc tôi vui vẻ kết ấn thì pháp sư chủ trì phát hiện, thầy ấy trừng mắt nhìn tôi, vẻ mặt không vui.
Tôi cười hì hì với thầy ấy rồi thu tay về.

Sau đó, tôi mới biết được rằng, người con trai trẻ của gia chủ đã tham gia chuyến đi của trường, xe buýt du lịch đã va chạm với một chiếc xe tải lớn trên con đường uốn quanh vách núi cao, khiến xe buýt rơi xuống vực, lộn nhào nhiều vòng, rơi xuống tận đáy suối. Trên xe có tất cả ba mươi chín học sinh, hai mươi bảy người thiệt mạng, chỉ có mười hai người sống sót...
Hai mươi bảy người, đúng là hai mươi bảy người.
Trong số đó quả thật có người đứt tay đứt chân, và người đầu một nơi thân một nẻo, vách núi quá sâu.

Sau buổi pháp sự đó.
Pháp sư chủ trì trách tôi nhiều chuyện:
"Từ nay về sau không được tham gia đoàn tụng kinh nữa, là ta chủ trì hay là ngươi?"
Tôi cúi đầu, im lặng không nói, rồi khẽ đáp: "Lần sau con không dám nữa!"


### 06. Ma thắt cổ


Thời kỳ đầu, Chân Phật Tông không gọi là Chân Phật Tông, mà được gọi là Linh Tiên Tông. Vì Linh Tiên Tông đã bị người khác đăng ký mất, nên mới đổi tên thành Chân Phật Tông.

Thời kỳ Linh Tiên Tông, nơi tôi ở được gọi là Linh Tiên Tinh Xá.
Tinh xá này của tôi từng bị các pháp sư phái khác chỉ trích:
1. Linh — nghĩa là ma quỷ.
2. Tiên — nghĩa là tiên nhân ngoại đạo.
3. Tinh — nghĩa là yêu tinh.
4. Xá — nghĩa là tụ tập nhảy múa.
Loại diễn giải cưỡng ép này, tôi đã từng thấy trong một tạp chí Phật giáo nọ, do một vị pháp sư viết. Vị pháp sư này, nhiều năm trước, cũng đã sớm quy tiên, trở thành ma quỷ yêu tinh.

Ban đầu, tôi đặt tên "Linh Tiên" là do thiên khải, tức là do trời chỉ dạy. Hơn nữa, việc tu đạo chứng quả ở Trung Quốc được chia thành chín phẩm: phẩm thứ nhất là Cửu Thiên Chân Hoàng, phẩm thứ hai là Tam Thiên Chân Hoàng, phẩm thứ ba là Thái Thượng Chân Nhân, phẩm thứ tư là Phi Thiên Chân Nhân, phẩm thứ năm là Linh Tiên, phẩm thứ sáu là Chân Nhân, phẩm thứ bảy là Linh Nhân, phẩm thứ tám là Phi Tiên, phẩm thứ chín là Tiên Nhân.

Hai chữ "Linh Tiên" này của tôi có nguồn gốc của nó. Không phải như vị pháp sư kia nói, cái gì mà một giuộc quỷ linh, ngoại đạo, yêu tinh.
Tuy nhiên, đối với những lời phê bình như vậy, tôi chỉ mỉm cười bỏ qua, nhưng vị pháp sư ấy nói cũng không sai, tôi là người thấy được rất nhiều quỷ thần, có nhiều cảm ứng kỳ lạ mà người ngoài thực sự không thể hiểu được.

🌟

Khi còn ở Linh Tiên Tinh Xá.
Vào một mùa đông nọ, trong nhà rất lạnh, tôi bị lạnh đến tỉnh giấc. Khi vừa tỉnh dậy, tôi chợt nhìn thấy một cảnh tượng khiến toàn thân toát mồ hôi lạnh.
Lúc đó, mọi suy nghĩ trong đầu tôi bỗng chốc ngưng đọng, da đầu tê dại, toàn thân không khỏi run rẩy.
Khi tôi miêu tả như vậy, độc giả chắc hẳn sẽ thấy lạ: Lư Thắng Ngạn đã gặp ma quỷ nhiều như vậy, vốn chẳng sợ ma, đồng thời còn là tổ sư của ma quỷ, là vua bắt ma, vậy mà lại run rẩy toàn thân, có phải là nhầm lẫn gì không.

Thực ra không sai:
Một, nhìn thấy đột ngột thì sẽ giật mình.
Hai, toàn thân run rẩy không hoàn toàn là do sợ, mà là vì thời tiết quá lạnh.
Ba, con ma này không bình thường, mà là ma thắt cổ. Ma thắt cổ là ma treo cổ chết, lưỡi dài tóc dài, bảy lỗ đều chảy máu, vô cùng kinh khủng.
Răng tôi đánh lập cập.

Nói chung, nếu tôi đã có sự chuẩn bị tinh thần thì sẽ không bị giật mình, chỉ khi hoàn toàn không có sự chuẩn bị mới bị sợ. Có một lần, tôi thức dậy giữa đêm để đi tiểu, mò mẫm vào nhà vệ sinh trong bóng tối, đang lúc tiểu tiện thì có con ma bám vào bên tai tôi nói chuyện. Lúc đó tôi đang trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê, đêm khuya không một bóng người, tối mờ mịt, bỗng nhiên bị gọi, giật mình! Tôi hoảng hốt đến nỗi nước tiểu cũng ngừng lại.
Chuyện này nghe cũng buồn cười!

Sau đó, có những con ma biết tính của tôi, chúng thường báo hiệu trước bằng một tiếng "đinh đoong", như thể bấm chuông điện vậy. Hoặc là một tiếng chuông, hoặc tiếng mõ, hoặc một làn hương trầm, hoặc hiện màu sắc trước. Tôi liền biết ngay "những vị khách" ấy đến, đây là nghi thức chào hỏi giữa hai bên, tránh đột ngột xuất hiện từ phía sau làm người ta hoảng sợ!

Con ma thắt cổ hỏi:
"Có phải Pháp sư Lư không?"
"Phải... phải... phải... ạ." - Tôi vẫn còn run.
"Pháp sư sợ ma sao?" - Con ma thắt cổ cười, nụ cười trông còn khó coi hơn cả khóc.
"Không sợ." - Tôi lấy hết can đảm nói.
Con ma thắt cổ chế giễu tôi:
"Người vẫn còn run kìa!" - Con ma thắt cổ nói một cách thân thiện.
"Tại trời lạnh!" - Tôi đáp.
Con ma thắt cổ nói: 
"Pháp sư Lư, thầy không cần sợ, tôi không có ác ý, không phải đến để hại thầy đâu. Tôi nghe nói pháp sư Lư tu Phật học Đạo, pháp thuật cao cường, có thể giải quyết khó khăn cho người khác, hôm nay đến đây là đặc biệt để cầu xin thầy!"
"Cầu xin tôi?"
"Vâng."

Tôi không sao hiểu nổi, vì tôi đâu có quen biết con ma thắt cổ này!
Ma thắt cổ nói: "Tôi họ Khổng, tên Nguyệt. Vài ngày nữa, gia đình tôi sẽ đến nhờ thầy siêu độ cho tôi. Cho nên, hôm nay tôi đặc biệt đến trước để cầu xin sự giúp đỡ!"
"Giúp như thế nào?"
"Xin pháp sư Lư cho tôi một tờ giấy thông hành, trên đó phải ghi rõ: Thần núi thần sông, xin nhường đường, đi lại thông suốt không trở ngại."
"Cái này..."
"Pháp sư không cho sao?"
"Từ chối thì không hay, nhưng đồng ý ngay cũng quá vội vàng, không biết lấy tờ giấy thông hành này để làm gì?"

Tôi là người rất cẩn thận, thầm nghĩ trong lòng, con ma thắt cổ Khổng Nguyệt này, muốn lấy "giấy thông hành thập phương viễn hành", chắc chắn không phải để đi du lịch khắp nơi, nhất định có mục đích gì đó, nếu là việc thiện thì tôi không tiện từ chối, còn nếu là việc ác thì tôi có thể không cần cho.

"Nhất định phải nói cho pháp sư biết sao?"
"Nhất định." - Tôi lại hỏi: "Tại sao không đi cầu xin Thành Hoàng Bồ Tát, mà lại cầu xin tôi?"
Ma thắt cổ đáp:
"Giấy thông hành của Thành Hoàng Bồ Tát chỉ có hiệu lực trong phạm vi một huyện một thành, có giới hạn khu vực, còn giấy thông hành của pháp sư Lư, tôi đã tìm hiểu rõ ràng, thông hành vô ngại khắp mười phương thế giới. Những bậc cao nhân xuất thế như pháp sư Lư được chư thần kính ngưỡng, thế gian này không còn mấy người!"
Nghe ma thắt cổ Khổng Nguyệt nói vậy, tôi rất kinh ngạc, hỏi: "Cô biết thân phận của tôi ư?"
"Nếu không biết, sao phải đến gặp pháp sư Lư?"

🌟

Ma thắt cổ Khổng Nguyệt thành thật kể cho tôi nghe:
Lúc còn sống, Khổng Nguyệt là người học giỏi nhất, rất tự trọng bản thân, dung mạo xinh đẹp, vóc dáng mảnh mai, ai thấy cũng mến.
Có người anh họ tên Tôn, là kẻ vô lại phóng đãng, đã thèm thuồng sắc đẹp của Khổng Nguyệt từ lâu.
Một đêm nọ, Tôn lẻn vào phòng đọc sách của Khổng Nguyệt.
Hắn vừa sờ soạng ngực, vừa cưỡng hôn.
Tôn đã nổi cơn thịnh nộ, muốn cưỡng hiếp.
Khổng Nguyệt quyết liệt chống cự, Tôn dùng tay bóp cổ, định cưỡng bức. Khổng Nguyệt muốn hét lên, nhưng không thể phát ra tiếng, chỉ còn rên rỉ!
Nàng vùng vẫy dữ dội, kêu lên:
"Tôi sẽ chết!"
Tôn không tin.
Sau đó, tiếng rên rỉ ngừng bặt, đầu gục sang một bên, hắn nâng đầu lên, đầu lại gục xuống, thử hơi thở thì thấy đã tắt thở.
Tôn hoảng hốt kinh hãi, muốn bỏ trốn!
Hắn lấy một sợi dây vải, quấn qua xà nhà, bế Khổng Nguyệt lên, treo cổ nàng lên đó, tạo dáng như tự thắt cổ.
Thấy mắt nàng trợn ngược, lưỡi thè ra.
Tôn dọn dẹp hiện trường rồi lẻn đi.
Một thời gian sau, hắn chuyển đến nơi xa.

Cái chết của Khổng Nguyệt khiến cả nhà kinh hoàng, nhưng không ai nghi ngờ đây là một vụ giết người. Họ chỉ nghĩ rằng vì cô học quá giỏi, lần kiểm tra này điểm hơi kém, bị bạn học chế giễu ở trường, nên đã nghĩ quẩn mà tự vẫn.
Ma thắt cổ Khổng Nguyệt xin "giấy thông hành thập phương" là để đi tìm Tôn.

🌟

"Được, tôi sẽ cho cô." - Tôi ghét nhất là bọn dâm tặc.
Khổng Nguyệt mừng rỡ khôn xiết: "Có được giấy thông hành này, dù hắn có trốn ra nước ngoài, tôi cũng có thể tìm được hắn."
Khổng Nguyệt chắp tay trước ngực, nhắm mắt, sụp lạy xuống đất, nói một cách biết ơn: "Pháp sư Lư, tiểu nữ không biết lấy gì báo đáp, xin ghi nhớ suốt đời."
"Cô định lấy được giấy thông hành rồi đi tìm hắn phải không?"
"Đúng vậy."
"Khoan đã!" - Tôi nói: "Thành Hoàng Bồ Tát ở đường Trung Hiếu là đạo hữu của tôi, cô có thể đến gặp Ngài trước, xin lấy bùa dịch bệnh, khiến hắn mắc bệnh dịch, da thịt lở loét trong hai năm, rồi mới lấy mạng hắn, hắn còn sống được hai năm nữa."
Khổng Nguyệt vô cùng ngạc nhiên: "Pháp sư Lư, thầy đã biết tên Tôn còn sống được hai năm nữa sao?"
"Tôi biết, tôi đã thầm tính toán rồi."
Khổng Nguyệt nói:
"Quả nhiên là bậc thần thông đại sư, việc gì cũng biết."

Ngoài ra, tôi còn giúp cô ấy:
"Cô đến gặp Thành Hoàng Bồ Tát, xin thêm một viên thuốc trị đau đầu, nói là tôi Lư Thắng Ngạn yêu cầu, Ngài không dám không cho đâu!"
"Để làm gì?" - Khổng Nguyệt ngạc nhiên hỏi.
"Để cho em trai cô uống! Cô rất quan tâm đến em mà!"
Khổng Nguyệt òa khóc:
"Đại sư, tình cảm chị em chúng tôi rất sâu đậm, tôi luôn bảo vệ em trai, chỉ tiếc là em ấy bị chứng đau đầu nhiều năm nay mà tôi không giúp được gì. Giờ đây, có viên thuốc trị đau đầu, em trai tôi sẽ được cứu rồi, vô cùng cảm kích, vô cùng cảm kích."

🌟

Khoảng nửa tháng sau, một vị khách tên Khổng Huệ Minh đến gặp tôi, anh ta còn đưa vợ con cùng đi.
Tôi bảo một đệ tử:
"Hãy hỏi xem họ có phải đến để cầu siêu cho Khổng Nguyệt không."
Đệ tử quay lại báo với tôi:
"Đúng vậy."

Tôi bước ra ngoài, Khổng Huệ Minh nhìn thấy tôi, dùng ánh mắt nghi hoặc nhìn chằm chằm vào tôi và hỏi: "Pháp sư quen biết Khổng Nguyệt sao?"
"Phải." - Tôi không giấu giếm.
"Lúc còn sống?"
"Không, sau khi chết!"
"Sau khi chết, làm sao có thể được?" - Anh ta càng thêm nghi ngờ.
"Người học Phật sao có thể nói dối!" - Tôi điềm tĩnh trả lời. Tôi nói thêm: "Tuy Khổng Nguyệt chết vì thắt cổ, nhưng còn có nỗi oan khuất khác!"
Khổng Huệ Minh nghe xong, sững người.

Vợ của Khổng Huệ Minh quỳ xuống trước mặt tôi và nói: "Pháp sư quả thật thần thông, biết hết mọi chuyện. Lúc đầu tôi đã cảm thấy cái chết của Khổng Nguyệt không đơn giản như vậy, giờ nghĩ lại càng thấy kỳ lạ."
Khổng Huệ Minh hỏi:
"Có nỗi oan khuất gì vậy?"
"Không tiện nói!"
"Tại sao không tiện?"
"Rồi sẽ biết." - Tôi đáp.
"Bao lâu nữa sẽ biết?"
"Hai năm."
"Sẽ xảy ra với ai?"
"Người họ Tôn."
"Là anh họ của cô ấy." - Khổng Huệ Minh kinh ngạc vô cùng.
"Đúng vậy."

Tôi nói với con trai của Khổng Huệ Minh: "Chứng đau đầu của cháu đã khỏi hẳn rồi phải không?"
Em trai của Khổng Nguyệt trả lời:
"Bị đau đầu nhiều năm, rất khổ sở, nhưng quả thật một tuần trước đã khỏi hẳn, thật kỳ lạ! Nhưng sao pháp sư biết được?"
Tôi mỉm cười nhẹ, không đáp.

Lúc này Khổng Huệ Minh, vợ của Khổng Huệ Minh, và em trai Khổng Nguyệt đều quỳ xuống.
"Lư Thắng Ngạn, không không, là Lư pháp sư, không không, là đại sư Lư, con nghe người ta nói về thầy, bảo rằng thầy như thần minh vậy, có thể biết trước mọi việc, là vị Phật sống, là bậc thần thông đệ nhất, hôm nay được gặp, quả nhiên danh bất hư truyền!"
"Đại sư cái gì cũng biết!"
"Đại sư nhất định phải cứu Khổng Nguyệt!" - Bà Khổng thất thanh nói, gần như rơi nước mắt.
"Chuyện này nhất định rồi."

Tôi lên pháp tọa:
"Nhất tâm triệu thỉnh, học tử Khổng Nguyệt, giai nhân khuê các, phấn son tô điểm tranh sắc, long diên hương xạ hương ganh hương thơm, mây tan mưa tạnh, hồn tiêu nơi vườn Kim Cốc, trăng khuyết hoa tàn, ruột đứt đoạn trong thư phòng đêm tối, than ôi! Dung nhan thuở trước nay còn đâu, dương liễu cỏ thơm lạnh xương đầu, như thị như thị, cô hồn Khổng Nguyệt mau đến đàn."
Tôi nói:
"Khổng Nguyệt Khổng Nguyệt, có duyên có phận, trên tòa Pháp Vương, không thiên không lệch, trực nhận lĩnh hội, chớ để lỡ qua, quy y Phật ta, vĩnh bất thoái đạo, thọ chính pháp ấn, mà được chính giác, trong cõi thanh lương, đều lên đài sen, nơi cõi Cực Lạc, cùng đến bỉ ngạn."

Tôi tụng:
Bảy lỗ máu chảy vì bị sát hại,
Bị xô lên xà nhà thắt cổ,
Lưỡi thè dài chịu khổ đau,
Tranh cãi giận dữ không ngừng nghỉ,
Đêm nay đúng thời khắc này,
Hãy đến thọ nhận vị cam lộ.

Khổng Nguyệt đột nhiên hiện thân và nói với tôi:
"Đại sư, đọc mấy thứ này làm gì, cho tôi xin giấy thông hành đi khắp mười phương là cấp bách!" - Khổng Nguyệt mỉm cười duyên dáng, trông rất đẹp! (Cô ấy không còn chảy máu bảy lỗ và thè lưỡi dài nữa.)
Tôi rút từ trong tay áo ra tờ giấy thông hành:
"Ở đây!"
Tờ giấy thông hành tự động bay về phía ngọn nến, trong chớp mắt hóa thành tro, rồi tro bụi bay lên không trung.

Tôi không quan tâm Khổng Nguyệt có muốn tôi tụng hay không!
Tôi tụng:
"Na-mô su-lu-ba-ya. Ta-tha-ga-ta-ya. Khổng Nguyệt Khổng Nguyệt, nếu nghe được danh hiệu Diệu Sắc Thân Như Lai, sẽ khiến cô không phải chịu xấu xí, các căn đầy đủ, tướng hảo viên mãn, thù thắng trang nghiêm, trên trời dưới đất, là bậc đệ nhất."
Khổng Nguyệt từ xa đáp lại:
"Cái này thì con muốn!" - Giọng nói dần xa dần.

🌟

Cả nhà của Khổng Huệ Minh hoàn toàn tin tưởng vào năng lực tâm linh của tôi, phát sinh niềm tin mãnh liệt. Họ đều đến quy y với tôi, theo tôi học Phật pháp. Tôi dạy họ tam quy y, giữ ngũ giới, niệm Phật và trì chú.

Khổng Huệ Minh vốn là người không tin vào điều gì cả, một kẻ "răng sắt", nhưng sau khi đến chỗ tôi và hỏi han vài lần, anh ta như biến thành một người khác, thay đổi hoàn toàn một trăm tám mươi độ. Gia đình anh ta thờ Tây phương Tam Thánh, sớm tối niệm Phật, thậm chí còn tụng kinh A Di Đà.

Người mới học Phật thường có một sự nhiệt tình khó che giấu. Họ thường xuyên đến Linh Tiên Tinh Xá, giúp việc này việc kia, có lúc chỉ cần rảnh rỗi là chạy đến chỗ tôi. Là người mới học Phật, đương nhiên họ cũng bắt đầu viếng thăm các chùa khác, từ những ngôi chùa gần nhà cho đến những ngôi chùa nổi tiếng, họ đều đi hết.

Một ngày nọ, Khổng Huệ Minh nói với tôi:
"Con có một câu muốn hỏi sư phụ, không biết có được phép nói không?"
"Cứ nói đi!"
"Người bên ngoài nói thầy là tà đạo!"
Tôi mỉm cười, không đáp không biện. Ngược lại hỏi anh ta:
"Anh nghĩ sao?"
Khổng Huệ Minh nói:
"Thực ra ban đầu con quy y sư phụ là vì thầy nói gì cũng đúng, nên lòng tin không lay chuyển. Nhưng sau khi đến các chùa khác, nghe họ nói về thầy, ai cũng bảo thầy là người luyện tà pháp, là tà môn ngoại đạo, là kẻ thông đồng với ma quỷ, là yêu ma quỷ quái, có người còn nói thầy là thầy bói bịp bợm, lừa tiền lừa tình, toàn là chuyện không căn cứ. Chúng con nghe họ nói về thầy, càng nghe càng sợ, một thời gian không dám bước chân đến nhà thầy nữa. Sau đó, quan sát lâu ngày, phát hiện thầy vốn chẳng bao giờ đòi hỏi tiền bạc của ai, bản thân cũng cư xử đoan chính, không giống người luyện tà pháp, mọi hành vi đều như người bình thường, dần dần chúng con mới dám đến gần lại."

Tôi nói với Khổng Huệ Minh:
"Có một vị đại tu hành từng nói với người khác rằng, Lư Thắng Ngạn đã bị ma nhập rồi, tất cả thần thông của ông ta đều là lời ma quỷ, ông ta đã thành yêu ma, không quá ba năm nữa, sau khi ma quỷ lợi dụng xong, ông ta sẽ bị hút kiệt mà chết." - Tôi nói tiếp: "Kết quả là, tôi vẫn sống bình thường, ngược lại, vị đại tu hành ấy mới là người đã qua đời."
Khổng Huệ Minh bật cười.
Tôi cũng mỉm cười rạng rỡ.

Qua Khổng Huệ Minh, tôi biết được đôi chút tin tức về họ Tôn. Mặc dù đã biết trước rằng toàn thân anh ta sẽ nổi nhọt, nhưng khi nghe tin họ Tôn quả nhiên bị nổi mụn nhọt khắp da, trong lòng tôi vẫn thầm kinh ngạc.

Tôi biết Khổng Nguyệt đã cầm "bùa dịch bệnh" của Thành Hoàng Bồ Tát đi tìm họ Tôn, họ Tôn chắc chắn sẽ bị trúng độc, toàn thân thối rữa, và sau đó quả nhiên toàn thân anh ta thối rữa.
Tất cả đều nằm trong tính toán.

Điều không thể tính toán được đã xảy ra, thật không ngờ người nhà họ Tôn lại mang bát tự của họ Tôn đến nhờ tôi chữa bệnh ngoài da. Tôi bấm tay tính toán một hồi, rồi nói với giọng rất kiên quyết:
"Nghiệp chướng quá nặng, không thể cứu được!"
Người nhà họ Tôn ảm đạm ra về!
Cả đời tôi rất hiếm khi nói những lời nặng nề như vậy, nhưng không thể không nói thế!
Hai năm sau họ Tôn qua đời, nguyên nhân tử vong là: suy thận.


### 07. Pháp thuật úp hồn


Ông Cao Cảnh Học nhờ tôi siêu độ cho người vợ quá của ông ấy, người vợ quá cố là người Tân Trúc, Đài Loan, tên thường gọi là Tiểu Ngọc.

Khi siêu độ, tôi thường dùng thiền quán để quan sát tình trạng siêu độ, quan sát những luồng khí mờ ảo. Vì có khả năng thiền quán nên tôi không khiêm nhường, khí phách khá tự cao.

Tôi tự biết mình không phải hạng phước mỏng bát tự thấp mà có thể thấy thần thấy ma; mà là do tôi thực sự tu tập Phật pháp, có tu có chứng, tôi là Kim cương Thượng sư chân chính độ chúng sinh, là thầy của vạn vạn người.

Ngoài thiền quán ra, khi siêu độ, đôi khi tôi cũng tự nhiên xuất thần. Thế nào là tự nhiên xuất thần? Đó chính là thần thức của tôi sẽ xuất du, có một số người khi ngủ thì thần thức sẽ xuất du, còn tôi khi đang thiền quán, thần thức đôi khi cũng sẽ xuất du, điều này chỉ xảy ra trong những tình huống đặc biệt.

Tôi siêu độ cho Tiểu Ngọc. Đó chính là lúc xuất thần:
Tôi đến một ngôi làng nhỏ, làng thật sự quá nhỏ, chỉ có một con đường, vài hộ gia đình, làng nằm lưng chừng núi. Khi đến ngôi làng nhỏ này, bất ngờ gặp phải trận mưa lớn, tôi muốn tránh mưa nên gõ cửa từng nhà một, gõ mãi mà không một nhà nào mở cửa, dường như chẳng có ai ở vậy.

Tôi đứng loanh quanh dưới mái hiên một căn nhà khác, nhìn tấm biển địa danh, trên đó viết hai chữ "Mông Ấp", tôi thầm nghĩ, đây là chốn quỷ quái gì vậy, hai chữ địa danh "Mông Ấp" này, nghe cũng chưa từng nghe qua.

Đang đi đi lại lại chán chường, bỗng nhiên cánh cửa mở ra, một cụ già bước ra, mời tôi vào trong. Nhà cụ già trông rất chật hẹp và xập xệ, phòng khách cũng không có ghế sofa, cụ già bê ra một cái ghế đẩu nhỏ mời tôi ngồi, rồi lấy ra vài thứ trái cây mời tôi ăn.
Cụ già nói:
"Mưa lớn trên núi, xin đừng chê bai."
"Cảm ơn đã cho tá túc!" - Tôi chắp tay.
"Đây là nơi nào vậy?"
"Mông Ấp."
"Dân làng đi đâu cả rồi?"
"Dời đi rồi."
"Sao cụ không dời đi?"
"Chỉ vì một cô gái yếu đuối tên Tiểu Ngọc!"

Tiểu Ngọc! Cái tên vừa lọt vào tai, tôi giật mình kinh hãi, trời ơi! Hôm nay tôi xuất thần, mê mê mẩn mẩn, hồn bay phách tán, lang thang khắp nơi, lại quên mất mình đang ngồi trên pháp tọa để siêu độ. Thực ra việc xuất thần này có nguyên do, chính là vì đến đây để siêu độ cho Tiểu Ngọc!
"Tiểu Ngọc làm sao vậy?" - Tôi hỏi.
"Ngủ say rồi!"
"Ngủ say rồi cũng có lúc tỉnh."
"Tiểu Ngọc vĩnh viễn không tỉnh nữa." - Cụ già nói: "Chính vì cô ấy không bao giờ tỉnh lại, nên tôi phải ở đây trông nom cô ấy, không thể dời đi được."
Tôi nói:
"Để tôi xem Tiểu Ngọc, có cách nào không!"

Cụ già dẫn tôi vào xem Tiểu Ngọc, cô ấy khoảng 27, 28, dáng người mảnh mai yểu điệu, dung nhan kiều diễm, chỉ có điều mí mắt nhắm nghiền, ngủ say như chết, không hề cử động, đúng là một nàng công chúa ngủ trong rừng.
"Phải làm sao đây?" - Tôi hỏi.
"Phải làm sao đây?" - Cụ già hỏi lại: "Hôm nay, lão đã đợi ngài, đợi suốt hai năm rồi, Tiểu Ngọc đã ngủ say đúng hai năm, giờ chỉ có ngài mới đánh thức được cô ấy, ngài đến đây không phải để cứu cô ấy sao?"
"Cụ già là ai?" - Tôi chợt giật mình kinh ngạc.
Cụ già hóa thành một luồng gió, căn nhà biến mất, Tiểu Ngọc cũng biến mất, cả ngôi làng cũng biến mất, tất cả đều biến mất.
Tôi ngồi trên pháp tọa....

🌟

Tôi hỏi ông Cao Cảnh Học:
"Vợ ông an táng ở đâu?"
"Mông Ấp!"
"Mông Ấp là chỗ nào?"
"Lưng chừng núi."
Tôi viện cớ nói:
"Thưa ông Cảnh Học, tôi nghĩ phong thủy nơi an táng của vợ ông có thể có vấn đề, tôi cần phải lên lưng chừng núi một chuyến để xem xét phong thủy cho vợ ông."
"Vâng, dĩ nhiên rồi." - Ông Cao Cảnh Học nói.

Tôi cùng ông Cao Cảnh Học lên lưng chừng núi, vừa nhìn thấy, tôi thực sự kinh hãi, "Mông Ấp" mà tôi đã xuất thần đến không phải là một ngôi làng nhỏ, mà là một nghĩa địa nhỏ. Đó là:
Hoàng hôn tháo lớp trang điểm tàn, 
Gió tây ngoài cửa sổ thổi lạnh qua màn the, 
Nghe tiếng chuối xào xạc, 
Từng cơn từng cơn mưa nhỏ rơi, 
Nơi nào cùng người tán gẫu đây?

Câu "Nơi nào cùng người tán gẫu đây?" khiến tôi vô cùng kinh ngạc.
Ông Cao Cảnh Học kể với tôi:
Hai năm trước, Tiểu Ngọc được an táng tại đây, nơi này là nghĩa địa tư nhân khai thác, chỉ có hơn mười ngôi mộ, sau đó có một nhà máy chọn được mảnh đất này, muốn dời nhà máy đến đây, hai bên đã giao dịch xong.

Nhà máy trả chi phí di dời cho chủ nghĩa địa, hơn mười ngôi mộ đã được chuyển đến nghĩa địa khác, sau đó lại nghe nói chủ nhà máy có ý kiến khác, không xây dựng nhà máy nữa, vì vậy mảnh đất này cứ thế bị bỏ hoang, nhà máy không dời đến, những ngôi mộ chưa di dời thì vẫn ở nguyên đó, là như vậy đó.

Trong lòng tôi thầm nghĩ, thảo nào "mười nhà thì chín nhà trống". May mà không ai trả lời, nếu không tôi chẳng phải là đã vào mộ người khác để trú mưa sao, quả thật là người và ma ở chung một phòng.

Vậy thì, cụ già là ai? Ông ta cũng là ma ư? Tiểu Ngọc đương nhiên là ma, nhưng cụ già là người nào?

Ông Cao Cảnh Học dẫn tôi đến trước mộ Tiểu Ngọc, tôi lấy ra la bàn, cố ý đặt xuống một chút, thực ra long mạch ở đây không tệ, là nơi sinh ra người hiền tài!
Người xinh đẹp, đỉnh núi cao nhọn
Đá xếp hàng, hạ huyệt giữa trời;
Thiên Ất, Thái Ất rồng hai bên,
Đất này ắt sinh người tài.

Phía trước bên trái ngôi mộ Tiểu Ngọc không xa, có một cây bách được buộc dải vải đỏ, dưới gốc cây có một miếu thổ địa nhỏ. Tôi tiến lại gần xem, trên đó khắc "Thổ Địa Mông Ấp". Bên trong miếu có một pho tượng, dáng vẻ và y phục giản dị, chính là cụ già lúc nãy. Bên trong miếu cũng trống trải vắng vẻ, chỉ có vài tờ vàng mã và vài nén hương cắm nghiêng, lại thêm ít đồ cúng bị sóc gặm nhấm, khói hương tồi tàn.
Tôi chắp tay.
Cao Cảnh Học nói:
"Nơi này vắng người, miếu thổ địa đương nhiên ít người đến cúng bái, giống như bỏ hoang vậy!"
Tôi không đáp lời, cùng ông Cao Cảnh Học xuống núi.

🌟

Giờ vấn đề đặt ra là, cụ già rõ ràng chính là Thổ Địa Mông Ấp, vị thổ địa này thật tốt bụng, luôn chăm sóc cho Tiểu Ngọc, nhưng tại sao Tiểu Ngọc lại bị hồn phách tán loạn, hoàn toàn không thể tỉnh lại?

Thổ Địa Công Công còn nói ông ấy đã đợi tôi, đợi suốt hai năm rồi, lại nói chỉ có tôi mới có thể cứu Tiểu Ngọc tỉnh lại, việc cứu Tiểu Ngọc tỉnh lại dường như đã trở thành trách nhiệm của tôi vậy, đồng thời tôi cũng hiểu rằng, những việc liên quan đến dương gian âm phủ như thế này, chỉ có tôi mới làm được, người khác không thể làm, cũng làm không nổi.

Tôi nói thẳng với ông Cao Cảnh Học:
"Hồn phách của Tiểu Ngọc đã mất tích!"
"Sao lại mất tích được?"
"Ông có biết không?"
"Không biết." - Cao Cảnh Học đáp.

Cao Cảnh Học chỉ kể với tôi rằng, sau khi Tiểu Ngọc qua đời, để lại một đứa con, lúc còn sống cô ấy rất chăm lo việc nhà, làm việc gì cũng ngăn nắp có trật tự, việc gì cũng dặn đi dặn lại cẩn thận, nhưng sau khi chết thì thật sự không từng mơ thấy, cô ấy hoàn toàn không còn tỉ mỉ, chu đáo như lúc còn sống nữa. Cao Cảnh Học đã từng cầu nguyện ở đền thờ, xin vợ mình báo mộng, nhưng kết quả vẫn là con số không.
Cao Cảnh Học nhờ người "gọi hồn".
Gọi không được!
Tìm không thấy hồn!
Cao Cảnh Học chỉ nghi ngờ, cho đến hôm nay, tôi mới nói cho ông ấy biết, hồn phách thật sự đã mất tích rồi!

🌟

Để tìm kiếm hồn phách của Tiểu Ngọc, tôi khởi động dùng chú Linh Quan:
"Linh Quan truyền tấu Tôn sứ giả, đốc đồng đương trực niên Nguyệt Quan, bản nhật bản thời thụ sự Công Tào, đương phương uy linh Thành Hoàng, cấp cước đẳng thần, văn ngô hiệu triệu, hỏa tốc đáo đàn, thính lệnh thư phù, hữu sự sai khiến. Cấp cấp luật lệnh."
Tôi lại niệm:
"Ôm ah hùm. Công Tào mau đến. Sô-ha."
Tôi đốt một lá phù, phù này là "vân quỷ phi".
Thủ ấn là: "Dùng tay trái bấm vào giờ của ngày hôm nay, vì là giờ Ngọ, nên bấm đốt trên cùng của ngón trỏ, dùng ngón cái tay trái ấn vào."

Trong chốc lát.
Vị thần đến là Thành Hoàng Tân Trúc uy linh hiển hách. Thành Hoàng dẫn theo bốn vị tướng đến đàn, vị tướng thứ nhất chuyên trừ yêu tà, vị tướng thứ hai chuyên bảo vệ hồn phách, vị tướng thứ ba chuyên hộ trì tu đạo, vị tướng thứ tư chuyên bắt ma diệt tà. Bốn vị tướng này, mặt có màu vàng, trắng, xanh, đen.
Thành Hoàng hỏi rõ nguyên do.
Liền ra lệnh cho Bạch Diện Tướng Quân đi tra xét.
Đi nhanh về nhanh.

"Không tìm thấy hồn phách của Tiểu Ngọc." - Bạch Diện Tướng Quân báo cáo.
"Điều đó tôi biết rồi, hồn phách của Tiểu Ngọc thuộc loại gì?"
"Loại mất tích."
"Chính vì mất tích nên mới bảo ngài đi tìm chứ!" - Tôi kêu lên.
Bạch Diện Tướng Quân đáp:
"Chính vì đã tìm rồi mà không thấy, nên mới xếp vào loại mất tích."
"Vậy hỏi cũng như không." - Tôi nổi giận.
Bạch Diện Tướng Quân ung dung nói:
"Điều tra cũng vô ích thôi."
Tôi cho Bạch Diện Tướng Quân lui về.

Thẳng thắn mà nói, về phương diện triệu thỉnh thần tướng, công pháp của tôi là bậc nhất, hễ tôi triệu thỉnh, không vị nào là không đến đàn.
Có khi, ngay cả kết ấn, vẽ phù cũng không cần. Chỉ cần niệm: "Thiên thanh, địa linh, tôi Liên Sinh gọi về, mau giáng lâm." Chỉ đơn giản vậy thôi, vạn thần trên trời dưới đất, hễ nghe tôi triệu thỉnh, nhất định sẽ đến đàn.

Uy thần của tôi, thần nào mà không phục!
Ma nào dám cản!
Chỉ là, có những vị thần quả thật thần thông rộng lớn, quá khứ hiện tại tương lai không gì là không biết. Nhưng các vị thần địa phương nhỏ, năng lực quả thật rất hạn chế, bảo họ đi điều tra chút việc nhỏ, họ cũng không làm được, điều tra rồi cũng như không, thật khiến tôi tức điên lên.
Hỏi Cao Cảnh Học, không biết.
Hỏi Thổ Địa Mông Ấp, không cần hỏi.
Hỏi Thành Hoàng Tướng Quân, hỏi cũng như không.

🌟

Theo như tôi biết, hồn phách của người thường có rất nhiều nơi đến, có người vãng sinh về cõi Phật, có người lên thiên đàng, có người đầu thai chuyển thế, có người xuống ba đường ác đạo, có người dừng lại ở trạng thái linh hồn, không thể kể hết.
Nhưng tất cả đều có thể tra cứu được.

Về trường hợp mất tích, hoàn toàn không có hồ sơ để tra cứu, có thể là do bậc cao nhân thu về, tức là những người có đạo hạnh cao thâm, dùng pháp thuật thu hồn phách, bắt hồn phách của người đó đi, để bí mật luyện công, việc bí mật luyện công này khiến họ hoàn toàn mất tự do, tự nhiên hồn phách sẽ mất tích.

Ngoài ra, còn có một trường hợp nữa là hồn phách bị người khác úp xuống, tự mình không thể thoát ra được. Phép này gọi là phép úp hồn. Phép úp hồn được thực hiện như sau:
Lấy tóc và móng tay của người đó bỏ vào một cái bình sành.
Bên trong bình sành dùng giấy vàng viết bát tự và địa chỉ của người đó.
Chọn ngày trực Thu để làm phép. Bày hương án.
Đọc:
"Om hum hum. Pháp lực dạt dào, vạn dặm kim quang, thu hồn phách ngươi, vào trong bình ta, mệnh lệnh của ta, ai dám cản đường. Cấp cấp phụng mệnh Trung Thiên Tinh Chủ, Bắc Cực Tử Vi Đại Đế luật lệnh cương."
Đợi khi hồn phách người đó vào bình, rồi dùng phù "vũ tiệm nhĩ" vẽ lên vải đỏ, niêm phong miệng bình là xong.

Phép úp hồn có thể tốt hoặc xấu.
Về mặt tốt, chỉ vì người đó đang gặp vận hạn không tốt, tạm thời úp hồn phách lại, đợi khi vận chuyển tốt rồi thả ra, có tác dụng tránh hung họa.
Về mặt xấu, triệu hồn phách người khác về, úp vĩnh viễn không cho ra, sau thời gian bốn lần 49 ngày, tức là 196 ngày, hồn phách người đó sẽ vĩnh viễn chìm sâu, vận khí vĩnh viễn không thông!

🌟

Về việc bị cao nhân thu về, tôi ở trong thiền định quan sát, quan sát bầu trời ban đêm, nói một cách nghiêm túc, chỉ cần là bậc cao nhân, khi ngủ vào ban đêm, xung quanh họ sẽ "rực rỡ ánh sao", thân được ánh sao bảo hộ, còn người phàm thì không có điều này.

Trong tu Mật tông, đây gọi là "dạ tu" (dạ luân), cũng chính là pháp miên quang, ngủ trong đại quang minh.
Theo Mật tông, đây là tu khí, an trụ tại Tâm luân và Mật luân của hành giả. Khi khí của toàn thân phần trên tập trung vào Tâm luân, và khí của toàn thân phần dưới tập trung vào Mật luân, sẽ sinh khởi giấc ngủ sâu, và lúc này, điểm sáng của tâm cũng đồng thời phát khởi quang minh.
Ngủ sâu trong quang minh của tự tâm, chính là pháp miên quang.

Theo quan sát của tôi, những bậc cao nhân tu đến cảnh giới này rất hiếm gặp. Tuy vẫn có, nhưng quả thật là số ít trong số ít. Sau khi suy xét kĩ lưỡng, tôi thấy không có chuyện cao nhân thu về.

Ở đây, tôi muốn nói đôi điều về việc tu hành. Đối với một số vị đại sư ở Đài Loan hiện nay, thẳng thắn mà nói, những vị đại sư này có tổ chức lớn, danh tiếng lớn, địa vị lớn.

Tuy nhiên, theo quan sát của tôi, về mặt chứng đắc tu hành, họ hoàn toàn không có điểm nào. Không những không có "rực rỡ ánh sao", cũng chẳng ngủ trong "đám mây đại quang minh", hay ngủ trên "hoa sen", mà ngược lại còn ngủ trong "bóng tối đen kịt", thật là trời ơi! Tất cả đều là phàm tăng, phàm ni còn nhiều phiền não. Những vị đại sư này tuy được tiếng tăm vang dội thiên hạ, nhưng tôi biết, đó chỉ là chút phúc báo từ kiếp trước mà thôi, về mặt thực tu thì tuyệt đối chưa đủ tư cách. Tin hay không tin, cứ chạm vào lương tâm là biết.

Gọi là "Tinh Vân" thì thật ra là "mây đen" mới đúng.
Gọi là "Thượng Nhân" thì thật ra là "hạ nhân" mới đúng.
Nói là "Thánh Nhân", thực chất chỉ là "người thừa".
Nói là "Hoạt Phật", thực chất chỉ là "con khỉ sống".
"Đại sư" chính là "đại bại".
"Thượng sư" chính là "thua nhất".

Thẳng thắn mà nói, đối với những nhân vật được gọi là lãnh đạo tinh thần của Phật giáo này, họ chẳng có thực tu gì cả, chỉ mượn danh Phật giáo mà thôi. Viết về họ, tôi cảm thấy ngòi bút của mình cũng trở nên ô uế, thật không đáng chút nào.

🌟

Hồn phách Tiểu Ngọc không tỉnh, tôi khẳng định đó là phép úp hồn.
Tôi nói với Cao Cảnh Học:
"Khi còn sống, Tiểu Ngọc có bị úp hồn không?"
"Úp hồn là gì?" - Cao Cảnh Học không biết.
"Là như thế này, như thế kia... thế này thế nọ..., không biết có không?" - Tôi giải thích cho Cao Cảnh Học.
"A! Hình như có!" - Cao Cảnh Học kêu lên: "Khoan đã, để tôi nghĩ xem, đúng rồi, là ở điện Bắc Cực, nhờ một đạo sĩ làm."
"Chính là vậy."

"Sau khi làm phép úp hồn, chúng tôi cứ bận rộn mãi nên quên bẵng chuyện úp hồn luôn. Thì ra Tiểu Ngọc hồn phách không tỉnh là vì bị úp hồn, sau khi úp hồn xong thì quên luôn, đã nhiều năm rồi."
"Điện Bắc Cực còn không?"
"Còn, ngay ở gần đây."

Tôi và ông Cao Cảnh Học đến điện Bắc Cực, tìm được người phụ trách. May mắn thay, họ còn lưu sổ ghi chép việc làm phép úp hồn, trong quyển sổ cũ tìm thấy tên Tiểu Ngọc. Chúng tôi vào phòng kho, nhìn thấy cảnh tượng làm chúng tôi đứng sững - bình úp hồn chất đống khắp nơi, trên tủ dưới tủ, chồng chất lên nhau. Mạng nhện và bụi bám đầy, phải mất mấy tiếng đồng hồ mới tìm được, nhưng lúc này người ngợm đã lấm lem bụi bẩn!
Tìm được bình úp hồn.
Tôi giải phóng hồn phách của Tiểu Ngọc.
Vụ việc đến đây là kết thúc viên mãn!


### 08. Người phụ nữ có vết đen lớn


Một phụ nữ trẻ tìm đến tôi.
Cô ấy tên là Ôn Mạn. Cô ấy để lại cho tôi ấn tượng sâu sắc, bởi vì trên mặt cô ấy, quanh vùng mắt bên phải có một vết đen lớn. Cô ấy khiến tôi nhớ đến Phán Quan Đen Trắng trong đền Thành Hoàng, một nửa mặt trắng, một nửa mặt đen, cũng giống như biểu tượng thái cực trong Đạo giáo, một nửa trắng, một nửa đen.
"Dấu của Bà Mụ." - Tôi đoán.
(Theo phong tục của người Đài Loan chúng tôi, khi ai đó sinh ra mà trên người có một vết xanh đen nào đó, người ta thường nói đó là dấu của Bà Mụ.)
Cô ấy nói: "Không phải bẩm sinh đâu."

Cô ấy lấy từ trong túi xách ra một tấm ảnh, đưa cho tôi, tôi vừa nhìn liền giật mình, trong ảnh là một mỹ nữ:
Đường cong tuyệt mỹ đầy quyến rũ
Dáng vẻ kiều diễm chuẩn Tây Thi
Đôi mày cong cong như núi biếc
Cặp mắt long lanh tựa nước thu.
Khuôn mặt tựa như sen trắng nở
Đôi môi chúm chím trái anh đào
Da mịn như ngọc không tì vết.

Tôi hỏi: "Đây là...?"
Cô ấy đáp: "Chính là tôi."
"Chụp từ bao giờ?"
"Một năm trước."
"Chuyện gì xảy ra với khuôn mặt cô vậy?"
"Chuyện dài lắm."

🌟

Ôn Mạn kể cho tôi, thời đại học cô ấy là hoa khôi trường, từ nhỏ đã rất xinh đẹp, tài sắc vẹn toàn, vừa biết hát, vừa biết múa, vừa biết đàn piano, vừa biết đàn tranh cổ, ai thấy cũng phải trầm trồ, vẻ đẹp của cô ấy nổi tiếng đã lâu!

Không những thế, Ôn Mạn còn học giỏi top đầu, biết vẽ tranh, tài năng nức tiếng. Sau khi tốt nghiệp, cô làm thư ký tại một công ty lớn, người theo đuổi rất nhiều. Nhưng vì gặp nhiều người quá nên Ôn Mạn trở nên kén chọn, chẳng ai vừa ý, gặp nhiều người quá nên nhân duyên cứ thế trì hoãn, và bản thân cô ấy cũng không vội.

Khoảng một năm trước, cô ấy đi chơi núi với đồng nghiệp và vào một ngôi miếu cổ.
Trong miếu có một đạo sĩ già, người này theo truyền thuyết địa phương là truyền nhân của Trương Thiên Sư thuộc Chính Nhất Pháp Môn, có một số pháp thuật, bình thường không mặc áo đạo, chỉ khi làm phép mới mặc.

Vị đạo sĩ già này nhìn thấy Ôn Mạn, đối xử với cô ấy đặc biệt ân cần, họ cũng nhờ đạo sĩ xem tướng, ông nói rất chuẩn xác. Ôn Mạn cũng nhờ đạo sĩ xem tướng cho mình, ông nói rất nhiều điều, đều rất chính xác, khiến Ôn Mạn kinh ngạc về tài xem tướng của ông.

Sau đó vị đạo sĩ già nói có một chuyện bí mật, muốn nói riêng với Ôn Mạn.
Ôn Mạn không nghi ngờ gì, liền đi theo ông ta vào phòng trong.
Vào đến phòng trong, vị đạo sĩ già tỏ vẻ vô cùng phấn khích, định nói điều gì đó.
Ôn Mạn hỏi:
"Có chuyện bí mật gì vậy?"
Đạo sĩ già đáp:
"Nhìn kĩ dung nhan của cô, ta biết giữa chúng ta có một duyên phận từ kiếp trước."
"Duyên phận gì vậy?" - Ôn Mạn không hiểu ý ông ta.
"Kiếp trước chúng ta là vợ chồng."
Mặt Ôn Mạn đỏ bừng lên.

Đạo sĩ già ngồi xích lại gần Ôn Mạn: 
"Có thể cùng ta chung đêm được không?"
Ôn Mạn giật mình kinh hãi:
"Là người tu đạo sao dám có những ý nghĩ như vậy!"
"Chỉ muốn mơ một giấc mộng uyên ương thôi, thế là đủ rồi. Đây là để giải duyên kiếp trước, nếu không, tai họa sẽ đến, lời ta nói ra đều linh nghiệm."

Ôn Mạn nghe xong, lòng buồn bã không vui, trong lòng thật bất an, cảm thấy vị đạo sĩ già này tuy xem bói rất chuẩn, nhưng hóa ra lại là một "lão dê cụ", nếu không đồng ý với ông ta thì còn bị đe dọa là sẽ gặp tai họa, đúng là thủ đoạn của một gã lang băm!
Ôn Mạn nói:
"Đây là thủ đoạn của kẻ lang băm, xin lỗi tôi không thể đồng ý."
Vị đạo sĩ già thoáng giận dữ.
Lão đạo sĩ dùng một ngón tay ấn vào trán Ôn Mạn một cái, nói:
"Đáng tiếc thay! Đáng tiếc thay!"

Ôn Mạn không thèm để ý đến ông ta nữa, vội vã rời khỏi miếu cổ cùng với các đồng nghiệp, cô không hề kể cho ai nghe về những lời lỗ mãng mà lão đạo sĩ đã nói với cô trong miếu.

Kể từ khi bị lão đạo sĩ ấn một cái vào trán, trên trán Ôn Mạn xuất hiện một chấm tím. Ban đầu cô nghĩ do bị ấn hơi mạnh nên sẽ tự biến mất, cũng chẳng để tâm, nhưng sau khi rửa mặt, nó không những không mất đi mà còn chuyển từ tím sang đen, như thể có giọt mực nhỏ lên mặt vậy. Càng rửa càng rõ, lau thế nào cũng không sạch, dường như nó ở ngay dưới da.

Vài ngày sau, vết đen dần dần lan rộng, lan đến vùng quanh mắt phải, rồi lan ra cả nửa mặt bên phải. Cô hoảng loạn, tìm đến tất cả các bác sĩ da liễu nhưng chẳng ai biết đó là triệu chứng gì, uống thuốc hay bôi thuốc đều không có tác dụng. Ai nhìn thấy cô cũng cười nhạo, một mỹ nữ đã trở thành xấu xí, những người trước đây theo đuổi cô, tặng hoa hồng cho cô, giờ đây bóng dáng cũng chẳng thấy đâu.

Nghĩ lại, đây cũng là tình cảm bình thường của con người, ai mà muốn cưới một người phụ nữ nửa mặt trắng nửa mặt đen về nhà? Ôn Mạn trước đây thích soi gương, trang điểm nhẹ nhàng. Giờ đây, không còn trang điểm nữa, tóc tai bù xù, mặc quần áo thô sơ, chân đi giày vải, bỏ hết đồ trang sức, tự biến mình thành như bóng ma, hoàn toàn sống trong tâm thế quay lưng với thế giới.

Cô ấy đến miếu cổ tìm vị đạo sĩ già.
Đạo sĩ già không có ở đó, nhưng ông đã dặn đệ tử:
"Sau này sẽ có một người khách là phụ nữ tên Ôn Mạn đến xin gặp, hãy nói với cô ấy là đạo sĩ không gặp."
Ôn Mạn cứ khăng khăng đòi gặp.
Đệ tử của đạo sĩ nói:
"Sư phụ dặn rằng, mời cô đi tìm bậc cao minh khác!"
Khi Ôn Mạn quay lưng định bước đi, đệ tử của đạo sĩ nói:
"Sư phụ chúng tôi bảo rằng, trên đời này, ngoài người ra, không còn ai là bậc cao minh nữa đâu, cô đừng hy vọng nữa!"
Ôn Mạn khóc.

🌟

Ôn Mạn bắt đầu đi tìm các cao nhân giang hồ, bị lừa mất không ít tiền. Tìm đến các đạo sĩ, đạo trưởng, toàn là một lũ bất tài vô dụng, rồi lại tìm đến các vị trưởng lão trong giới Phật giáo, nhưng các vị trưởng lão đều bó tay, đứng trơ ra như gỗ.
Các đạo sĩ, đạo trưởng làm phép xong, cuối cùng nói:
"Ma quỷ rất lợi hại!"
Các vị trưởng lão nói:
"Nghiệp chướng sâu nặng, phải sám hối!"
Lễ bái Thủy Sám, lễ bái Lương Hoàng Sám, không lễ bái thì thôi, càng lễ bái càng đen!

Cuối cùng, có người bảo cô ấy đi tìm Lư Thắng Ngạn.

Tôi giúp cô ấy thiền định quan sát.
Tôi chăm chú nhìn vết đen lớn trên mặt cô ấy, nhìn mãi, nhìn đến khi tâm bất động, bỗng thấy một con chó đen nhỏ nhảy ra từ mặt cô ấy, rồi lại nhảy vào, cứ như vậy ra vào vô số lần. Con chó đen khi thì nhảy vào trong mắt, khi thì nhảy lên sống mũi, khi thì nhảy ra từ miệng, từ tai, liên tục "gâu gâu gâu" sủa không ngừng.

Sau khi quan sát, tôi kinh ngạc vô cùng, pháp Cẩu Tinh đã tái xuất giang hồ, đây là "Bí Luyện Cẩu Hồn Thần Pháp", vốn là thuật Mao Sơn, không phải Chính Nhất Pháp Môn, xem ra pháp thuật của lão đạo sĩ không đơn thuần.

Phương pháp tu luyện pháp Cẩu Tinh được tóm tắt như sau:
Bí quyết luyện Cẩu Tinh là trước tiên phải nuôi một con chó đen, cho nó ăn uống đầy đủ, huấn luyện cho nó hiểu ý người, bảo nó làm gì thì nó làm nấy.
Cẩu Tinh có thể canh gác, lấy đồ vật, cắn người, chiếm giữ thân xác người...

Khi tu luyện, chọn một căn phòng vắng người, lập một đàn tràng nhỏ, dựng một bài vị "Cẩu Tinh Hành Giả", chuẩn bị năm bát thức ăn cho chó, ba chén rượu và nhang đèn.

Hành giả bí luyện cầu nguyện:
Pháp luyện Cẩu Tinh,
Khiến chó thông linh;
Ra vào theo chủ,
Lai vãng hữu tình.
Cẩu tinh biến hình,
Cẩu tinh nghe lệnh;
Nhật nguyệt tinh quang,
Nguyên hanh lợi trinh.

Sáng tối thay đổi cúng phẩm, còn phải niệm tên của con chó đen. Thông thường, chỉ cần cúng tế 49 ngày, con chó đen sẽ tự động tuyệt thực không ăn, sau khi tuyệt thực thì chết.
Con chó đen phải được chôn ở hướng Tuất của đàn thành.
Sau đó, sáng tối chuyển sang niệm chú hiện thần:
"Đông phương cẩu tinh tốc giáng thần, Tây phương cẩu tinh tốc hiện hình, Nam phương cẩu tinh tốc đắc lệnh, Bắc phương cẩu tinh thông chân linh."

Kết quả, pháp Cẩu Tinh sẽ có hiệu nghiệm, cẩu tinh sẽ hiện ra chân hình trong 7 ngày, 14 ngày, 21 ngày, 28 ngày.

Như vậy là có thể vận dụng Cẩu Tinh rồi!

🌟

Tôi nói với Ôn Mạn sự việc đúng là như vậy.
Ôn Mạn nói: "Gặp phải chuyện này, nghiệp chướng thật nặng nề. Sư phụ Lư đã biết được sự việc này, không biết có giải được không?"
"Giải được!" - Tôi đáp.
"Bằng cách nào vậy?"

Tôi nói: "Khi xưa học Phật, Hòa thượng Liễu Minh đã dạy tôi pháp môn Lục Quan Âm. Pháp môn Lục Quan Âm, mỗi vị đều có đối tượng cứu độ riêng. Thánh Quan Âm chuyên cứu độ chúng sinh cõi ngạ quỷ; Thiên Thủ Quan Âm chuyên cứu độ chúng sinh cõi địa ngục; Mã Đầu Quan Âm chuyên cứu độ chúng sinh cõi súc sinh; Thập Nhất Diện Quan Âm chuyên cứu độ chúng sinh cõi atula; Chuẩn Đề Quan Âm chuyên cứu độ chúng sinh cõi người; Như Ý Luân Quan Âm chuyên cứu độ chúng sinh cõi trời."
"Vậy phải cầu Mã Đầu Quan Âm cứu độ phải không?"
"Đúng vậy." - Tôi đáp.
"Cầu Mã Đầu Quan Âm cứu độ cần bao nhiêu tiền?" - Ôn Mạn hỏi.
"Tùy tâm!" - Tôi đáp.
"Tùy tâm là bao nhiêu?" - Ôn Mạn hỏi lại.
Tôi mỉm cười, nói với cô ấy: "Trong thế giới Ta Bà này vốn là thế giới của tiền, làm bất cứ việc gì cũng cần đến tiền. Ngay cả giới tôn giáo hay đoàn thể từ thiện cũng dùng tiền để phân chia đẳng cấp, sám hối, siêu độ, pháp hội, v.v…, mở miệng ra là bao nhiêu tiền, đến nhà thờ cũng vậy."

Tôi nói tiếp:
"Nhưng ở chỗ tôi, mọi thứ đều tùy ý. Đây là lời dặn dò của Hòa thượng Liễu Minh - sư phụ của tôi năm xưa. Hòa thượng Liễu Minh nói rằng, khi đạt đến cảnh giới tu hành, khắp nơi đều là vàng. Lá rụng là vàng, mưa là vàng, núi là vàng, nước là vàng, đại địa là vàng, vậy tiền giấy của thế gian dùng để làm gì? Sư phụ bảo tôi, sau này Lư Thắng Ngạn xuống núi hành đạo, tạo điều kiện thuận lợi cho người khác, mọi thứ đều tùy ý là được!"
"Thầy không tham tiền sao?"
"Đủ dùng là được, mọi thứ phải hợp tình hợp lý!" - Tôi nói: "Cô cứ đi hỏi thiên hạ, nếu Lư Thắng Ngạn mở miệng đòi tiền người ta, vi phạm lời thề năm xưa, tôi xin viết ngược ba chữ Lư Thắng Ngạn. Nếu tôi định giá, kiếp sau phạt tôi làm rùa!"
Ôn Mạn cười:
"Tại sao phải làm rùa?"
"Vì ăn ít đó mà!"

Tôi mỉm cười, Ôn Mạn cũng cười, rất vui vẻ, cô ấy biết rằng tôi, Lư Thắng Ngạn, không phải là một pháp sư lừa tiền người khác.
Lúc này Ôn Mạn mới nói với tôi rằng việc tôi đoán ra cẩu tinh đang bám trên mặt cô ấy là chính xác một trăm phần trăm.
"Có ai nói cho cô biết không?" - Tôi hỏi.
"Không ạ."
"Vậy sao cô biết?"
Ôn Mạn nói: "Ngay đêm xuống núi từ chỗ lão đạo sĩ, tôi nằm mơ thấy một con chó đen đuổi theo. Tôi chạy rất hoảng sợ nhưng không thoát được, khi nó đuổi kịp và nhảy lên thì biến mất ngay trước mắt tôi. Sau đó nhiều đêm liền tôi đều mơ thấy con chó đen ấy, lạ là lúc nào cũng là con chó đó. Nó rất nghịch ngợm, cắn nát nhiều đồ đạc trong nhà, có lúc còn biến thành một người đàn ông nho nhã, trong mơ còn cầu hôn tôi nữa!"
Nghe xong, tôi càng chắc chắn quan sát của mình không hề sai.

🌟

Tôi thiết lập đàn thành Mã Đầu Minh Vương, treo thangka, một đầu hai tay, thân màu xanh đen, ba mắt tròn mở to, nanh nhọn lộ ra ngoài, tóc và râu đỏ vàng dựng đứng, trên đầu là đầu ngựa màu xanh lục. Tay phải cầm tích trượng đầu lâu, tay trái cầm dây thừng. Đầu đội vương miện năm đầu lâu, cổ đeo chuỗi năm mươi đầu người, thân khoác da người và da voi, mặc váy da hổ, trang sức bằng rắn để trang nghiêm, hai chân phải co trái duỗi, đạp lên nam nữ ma, lấy nhật luân hoa sen làm tòa ngồi, oai nghiêm đứng giữa ngọn lửa trí huệ bát nhã rực cháy.

Tôi kết ấn Mã Đầu Minh Vương.
Trì chú Mã Đầu Minh Vương:
"Ôm a-mi-li-tô na-pô hùm fa-cha."
"Ôm sê pê-ma-ta-chi ha-ya-chi-wa sê hùm pây."

Mã Đầu Minh Vương có pháp phá độc, tất cả các linh động vật trên thế gian như hổ sói rắn rết làm hại hữu tình, thậm chí cả rồng độc Ca Xoa, nọc độc vô cùng mãnh liệt, nếu bị nhập thân hoặc cắn phải, khi mọi chân ngôn đều không thể cứu hộ, chỉ có tụng chân ngôn Mã Đầu Minh Vương này, gia trì lên sợi chỉ trắng, tụng 108 biến, cứ 108 biến thì thắt một nút, tổng cộng thắt 21 nút, sau đó buộc vào cánh tay trái, tức thì tà độc kia sẽ bị phá tan, mọi thứ đều được phục hồi.

Sau khi tu pháp xong, buộc sợi chỉ trắng vào cánh tay Ôn Mạn, đêm đó cô ấy mơ thấy con chó đen đang chạy, thần Kim Cang đuổi theo nó, thần Kim Cang bắt được con chó đen, một tay xách nó lên, ném đến chỗ Luân Vương, đi vào luân hồi lục đạo.

Ôn Mạn đến nói với tôi:
"Vết đen lớn vẫn chưa hết sao?"
"Đừng vội, nó sẽ tự nhiên phai dần thôi. Hồn con chó đen đã được siêu độ rồi."
"Thật vậy sao?"
"Thật đấy."

Quả nhiên, khoảng một tuần sau, vết đen lớn trên mặt Ôn Mạn nhạt dần từng chút một, đồng thời phạm vi cũng thu nhỏ lại. Sau khoảng hai tuần, vết đen lớn hoàn toàn biến mất, mọi thứ đều trở lại bình thường.
Ôn Mạn vui mừng khôn xiết. Nhan sắc rực rỡ như xưa.

Một hôm, Ôn Mạn đang đi trên phố thì thấy lão đạo sĩ đi tới. Lão đạo sĩ cũng nhìn thấy Ôn Mạn, giật mình kinh ngạc, hỏi: "Ai có thể giải được?"
Ôn Mạn nói với ông ta:
"Là Lư Thắng Ngạn giải đấy!"
Lão đạo sĩ tức giận:
"Lại là hắn, hắn phá hỏng việc tốt của ta nhiều lắm rồi!"


### 09. Hồn ma tự cầu siêu độ


Một hôm, tôi ngồi tĩnh tọa tại đàn thành ở nhà mình. Khi ngồi đến lúc vô cùng tĩnh lặng thì nghe thấy tiếng thì thầm bên ngoài cửa sổ.
Hỏi: "Từ trước đến giờ ở đâu?"
Đáp: "Âm phủ địa ngục."
Hỏi: "Đến đây làm gì?"
Đáp: "Cầu xin Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn siêu độ!"
Hỏi: "Sao không vào?"
Đáp: "Đàn thành có kết giới, chúng ta là dị vật, không thể vào được."

"Ngươi hãy nói to lên, ngài sẽ nghe thấy! Liên Sinh Hoạt Phật từ bi với chúng sinh, ân huệ lan đến cả loài ma quỷ, ngài sẽ siêu độ cho ngươi."
"Tôi không dám!" - Ma nói.
"Sao lại không dám, chỉ cần một lòng cầu xin là được!"
Lại hỏi: "Ngươi không dám, vậy tại sao lại đến?"
Đáp: "Ở địa ngục chịu cực khổ, nghe danh Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn là bậc chân tu hành duy nhất giữa trời đất, là bậc chân từ bi duy nhất giữa trời đất, vì vậy, không có suy nghĩ nào khác, tôi đến cầu xin ngài."

Tôi nghe hai người nói chuyện đến đó thì lên tiếng:
"Ai đang nói chuyện bên ngoài vậy? Vào đi!" - Tôi lập tức gỡ bỏ "kết giới", cho hai người vào.
Vừa nhìn thấy hai người này, tôi lập tức hiểu ra.
Người đang hỏi kia không phải ai khác, chính là Thần Cửa nhà tôi. Thần Cửa cũng là một vị Hộ pháp, không ngờ Thần Cửa nhà tôi lại còn giúp tôi lôi kéo khách, còn bảo người ta lớn tiếng gọi chủ nhân.
Tôi và Thần Cửa nhìn nhau mỉm cười.

Ngoài ra, vị khách không mời này cũng là người quen cũ của tôi, tạm thời tôi gọi anh ta bằng biệt danh là Bàng Phi.
Nhìn thấy Bàng Phi, tôi thực sự giật mình.
"Lâu quá không gặp!" - Tôi nói.
"Vâng."
"Ở chốn âm ty nơi nào?"
"Không dám dối, ở trong địa ngục tối tăm."
"Địa ngục tối tăm thế nào?"
"Thân ở chín suối, không một tia sáng, chẳng biết ngày đêm, chỉ mong được thấy lại ánh mặt trời!" - Bàng Phi đáp.

Trước tiên, tôi phải nói với mọi người rằng Bàng Phi là một nhân vật, một nhân vật không tầm thường, khi còn sống, ông ta từng là đối thủ của tôi, sau đó trở thành bạn, và cuối cùng là đệ tử của tôi. Có lẽ mọi người sẽ rất tò mò, Bàng Phi - một nhân vật có ân oán với Lư Sư Tôn, thực sự là ai?

Tôi viết một bài kệ để giải thích:

*Bàng Phi xuất thân chẳng tầm thường, một đời hành sự như mãnh sư
Cũng là bá chủ khắp một phương, môn đồ dưới trướng ngày càng đông.
Mọi việc trên đời đen với trắng, tranh đoạt hai chữ lợi với danh.
Bàng Phi hét ra một hiệu lệnh, cũng là tranh giành chiếm địa bàn.
Sòng bạc ca vũ là nghề nghiệp, vây thầu đoạt thầu càng cao siêu,
Thỏa mãn thân tâm mọi nhu cầu, yêu hết tất cả những châu báu.
Sắc đẹp chỉ là thân thụ dụng, tự nhiên mà đến không vướng bận,
Sinh mệnh treo bên rìa mây trắng, hôm nay an vui cứ an vui.
Có người đến xin giết Thắng Ngạn, nguyện dâng tiền bạc mua đầu thân,
Bàng Phi vốn đã gật đầu rồi, Hộ pháp hiển hiện hộ thân tôi.
Hai người gặp nhau duyên thật lạ, chuyển địch thành bạn lại quý nhau,
Bàng Phi vốn là đại kỳ tài, sao lại lưu lạc chốn giang hồ.
Sau này cũng muốn học Phật pháp, tu sửa sám hối nơi hiền đức
Tôi cho quy y và thọ ký, nguyện xin từ bi được theo về.
Tiếc thay nghiệp sát quả nặng nề, tham sân si báo tụ đầy thân,
Có người lén đến giết Bàng Phi, nổ hai phát súng mạng về trời.
Bàng Phi chết rồi đọa địa ngục, vốn ở trong chốn tối tăm kia,
May còn chưa quên hạt giống Phật, mong chờ truyền thừa không đứt đoạn.*

Bài kệ này viết về cuộc đời của Bàng Phi, tôi lại viết thêm một bài thơ cho ông ấy:
*Ai ngờ sóng gió đất đảo lộn
Thân mạng bỗng chốc phải quy tiên;
Nay đến cầu tôi đại siêu độ
Mong thấy Hoạt Phật thoát ngục khổ.*

🌟

Tôi thật sự tính toán cho Bàng Phi và thấy rằng việc siêu độ cho ông ta rất khó khăn, bởi vì nghiệp sát của ông ta quá nặng, mang theo hơn bốn mươi oan hồn, nếu những oan hồn này không được siêu sinh thì Bàng Phi cũng không thể siêu sinh được.
Tôi hỏi:
"Trong ngục tối, ngoài bóng tối ra còn gì nữa?"
Bàng Phi đáp:
"Trống rỗng không có thức ăn, trước sau trái phải đều là nước, khó đi một bước, chỉ có thể ngồi khô héo."
"Còn gì nữa không?"
"Chỉ thấy lửa ma trơi bay đến, khoảng hơn bốn mươi ngọn, trong đó đều là những oan hồn bị tôi giết, bay đến chỗ tôi liền cắn đầu cắn mặt tôi, đau đớn dị thường."

"Vậy làm sao ông đến được chỗ tôi?"
Bàng Phi đáp: "Trong ngục tối, tôi ngồi khô héo, lúc nào cũng bị bốn mươi ngọn lửa ma trơi tấn công, không có việc gì làm, cuối cùng mới nhớ ra mình đã quy y theo ngài, liền niệm thần chú ngài dạy: 'A ha sa sa ma ha'. Khi niệm đủ 300.000 lần, có một vị Bồ Tát xuất hiện, ban thức ăn cho tôi, đây là lần đầu tiên sau nhiều năm."
Bàng Phi lại nói: "Tôi hỏi Bồ Tát làm sao thoát khỏi ngục tối này? Bồ Tát bảo hãy đi cầu xin Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Tôi lại hỏi, thân đang ở trong ngục, làm sao đi cầu xin được? Thế là Bồ Tát đưa tôi đến đây, lát nữa, Bồ Tát sẽ đưa tôi về."

Lúc này, tôi nói với Bàng Phi phải tiếp tục niệm chú không được ngừng, niệm đủ 300.000 lần sẽ được ban thức ăn. Niệm đến 3 triệu lần thì còn tuyệt hơn nữa, tôi bảo Bàng Phi hãy về trước, rồi tôi mới nghĩ cách siêu độ cho ông ta.
Thế là, Bàng Phi chắp tay cúi chào, rồi biến mất.

🌟

Tôi tu pháp, triệu thỉnh vị Bồ Tát đã đưa Bàng Phi đến chỗ tôi.
Khi Bồ Tát vừa đến, tôi đã nhận ra, thì ra là Liêu Vương (Liêu Phủ Thiên Tuế).
"Sao phải phiền đến tôi?" - Tôi hỏi.
"Ngài có đại năng!" - Liêu Vương đáp.
"Tại sao ngài lại cho ông ta thức ăn? Và tại sao lại chỉ dạy ông ta?"
"Hắn là chắt của ta!"
"Thì ra là vậy."
Tôi chợt hiểu ra.

Tôi suy nghĩ, trong chuyện này hẳn có nhân quả nghiệp báo, Liêu Vương là trưởng bối của Bàng Phi, Bàng Phi là bá chủ một phương, nói cho cùng, Bàng Phi đã từng tha mạng cho tôi, sau này lại trở thành đệ tử của tôi, lại còn trì chú "A Ha Sa Sa Ma Ha", như vậy, tôi không thể không cứu Bàng Phi.

Tuy nhiên, việc cứu Bàng Phi ra khỏi ngục tối tuyệt đối không phải là chuyện siêu độ thông thường có thể làm được, không phải chỉ đơn giản là mua sắm đồ cúng, tế lễ các vong linh, tụng vài câu kinh chú, kết vài ấn quyết là xong. Bàng Phi đã tạo quá nhiều nghiệp sát, tự có sự quở phạt của cõi âm, không thể dễ mà độ thoát!

Trước tiên, tôi nghĩ đến việc tìm Bồ Tát Quan Thế Âm, vị Bồ Tát đầy lòng từ bi nhất. Trước đây tôi thường phiền đến Ngài, nay tôi quyết định tự mình đến Nam Hải. Chuyến đi Nam Hải này của tôi không phải bằng máy bay hay tàu thủy, mà tôi ngồi thiền định trên đàn thành của mình và đã đến nơi. Tôi xin thành thật nói với mọi người rằng tôi có phép "bay như mây", ra vào pháp giới tự tại vô cùng. Tu hành thật tuyệt vời, tôi có thể ra vào hai mươi tám cảnh giới, tôi là một tiên ông thật sự.

Thế giới Nam Hải này quả thật phi phàm:
*Mây lành khắp chốn tỏa hào quang
Sương thiêng may mắn hương tỏa bay
Phổ Đà Nam Hải ngoài nghìn dặm 
Tất cả đều từ một tâm sinh.
Sen xanh thanh tịnh và đẹp đẽ,
Đại địa càn khôn thật tự do.
Nước tám công đức theo sóng dạt ,
Trong rừng trúc tím thọ nghìn thu.
Sự nghiệp độ sinh khó bàn luận,
Từ bi cứu khổ trọn vẹn nhất.*

Quan Âm Bồ Tát vừa thấy tôi, rất ngạc nhiên!
"Sao ngài lại đến đây?"
"Để cứu Bàng Phi. Tôi đặc biệt đến bái kiến Bồ Tát, cúi xin từ bi, ban cho một phương cách!"
"Là Bàng Phi à, việc này quá khó." - Bồ Tát nói.

Khi tôi nghe hai chữ "quá khó", cũng tự biết không ổn lắm.
Quan Thế Âm Bồ Tát nói:
"Nếu dùng pháp lực để cứu Bàng Phi thì rất dễ. Phải biết rằng nước cam lộ trong tịnh bình của ta có thể trị được nghiệp ác, chỉ cần rảy một giọt là độ được một ác linh. Rảy bốn mươi giọt thì độ được bốn mươi ác linh. Rảy thêm một giọt nữa, Bàng Phi sẽ thoát khỏi địa ngục tối tăm. Nước cam lộ trong tịnh bình của ta còn có thể tịnh hóa trời đất, tịnh thiên thì trời trong, tịnh địa thì đất linh. Nếu đem tất cả nước cam lộ trong tịnh bình rảy hết ra, thì tất cả u hồn trong địa ngục đều được độ thoát, như vậy cõi địa ngục sẽ hoàn toàn trống rỗng."

"Ồ! Tuyệt quá, vậy thì Địa Tạng Vương Bồ Tát cũng có thể thành Phật, mười vị Diêm Vương cũng thất nghiệp hết, tôi cũng không cần phải siêu độ cho các vong linh nữa!"
"Đừng vội mừng quá sớm." - Bồ Tát nói: "Liên Sinh Hoạt Phật, phương pháp cứu người độ đời có rất nhiều, nhưng tuyệt đối không thể không để ý đến một hai điều."
"Một hai điều gì vậy?"
"Pháp có thể trị được sinh linh trong thế gian, có thể độ được nỗi khổ của u minh, nhưng không thể lay chuyển được nhân quả nghiệp lực!"
"Đã có thể làm địa ngục trống không, sao lại không thể lay chuyển?" - Tôi cảm thấy lời Bồ Tát có chút mâu thuẫn.
Bồ Tát đáp:
"Ngài chỉ biết một mà không biết hai, nơi này độ hết, nơi khác lại sinh, bên này sinh bên kia chết, bên này chết bên kia sinh."
Nghe xong, tôi thực sự chấn động! Tôi nói:
"Thảo nào Phật Thích Ca Mâu Ni giảng về năm điều không thể nghĩ bàn. Thứ nhất, số lượng chúng sinh không thể nghĩ bàn. Thứ hai, nghiệp lực không thể nghĩ bàn. Thứ ba, long lực không thể nghĩ bàn. Thứ tư, thiền định lực không thể nghĩ bàn. Thứ năm, Phật pháp lực không thể nghĩ bàn."
"Đúng vậy."

Sau khi trò chuyện đến đây với Bồ Tát, tôi nói:
"Đã không có cách, tôi xin cáo từ."
"Khoan đã, sao không uống chút ngọc dịch Nam Hải?"
"Tôi có việc gấp, không dám ở lâu."
Quan Thế Âm Bồ Tát thấy tôi vội vã như vậy, cũng không giữ lại, chỉ dặn dò tôi:
"Việc này có thể tìm một vị Bồ Tát, nhất định sẽ có hiệu quả, ngài hãy đi tìm Liên Hoa Sinh Đại Sĩ! Đó là Guru Thượng sư của ngài, nhân duyên việc này nằm ở nơi Ngài ấy."

🌟

Tôi rất cảm tạ Quan Thế Âm Bồ Tát đã chỉ dẫn, để cứu Bàng Phi, cần phải tìm Guru Rinpoche (Liên Hoa Sinh Đại Sĩ).
Tôi thành kính cầu nguyện đến Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.
I-ma-hô.
Con nhất tâm đảnh lễ
Guru Rinpoche - bậc đã viên mãn thành tựu sự nghiệp vĩ đại của chư Phật.
Chuli - Seh.
Kính lễ một lạy đến Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, bậc quang minh thanh tịnh.
Kính lễ hai lạy đến Padmasambhava, bậc có công đức như biển.
Kính lễ ba lạy đến Thượng sư Thái Dương Quang, bậc trừ diệt tất cả nghiệp đen.
Kính lễ bốn lạy đến Thích Ca Sư Tử, bậc điều phục và giải thoát chúng sinh.
Kính lễ năm lạy đến Sư Tử Hống Thanh, bậc hàng phục ngoại đạo ma vương.
Kính lễ sáu lạy đến Thượng sư Ái Tuệ, bậc trí tuệ vô biên.
Kính lễ bảy lạy đến Thượng sư Liên Hoa Vương, bậc tự tại trong tam giới.
Kính lễ tám lạy đến Bố Úy Kim Cang, bậc khiến yêu tà kinh hãi.
Kính lễ chín lạy đến Thượng sư Hải Sinh, bậc sinh ra tôn quý.
Con nhất tâm cầu nguyện, tán thán, đảnh lễ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ...
(Những danh hiệu trên đều là tôn danh của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.)

Tôi vận khởi pháp thuật bay như mây, trên thân do ý sinh ra của tôi có ánh sáng đỏ, ánh sáng trắng, ánh sáng vàng và ánh sáng đa sắc, nâng đỡ cầu vồng tuyệt đẹp, bay lượn giữa hư không.
Bay như mây lên đến thế giới Núi Đồng Orgyen.
Thế giới Núi Đồng của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ rốt cuộc ở đâu?
Là ở nước Udyana, nước Ma Kiệt Đà, nước Shambhala, nước Đại Thực, nước Bengal, nước Ma La, nước La Sát, nước A Hạ, nước Châu Tây, nước Đại Hùng, Tây Tạng, Hán địa, nước Thát Ca Nhĩ, Bồ Đề Đạo Tràng, Kashmir...
Thực ra có thể nói phải.
Cũng có thể nói không phải.

Cho dù nói thế nào, phải hay không phải, tôi đã thực sự gặp được Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, thấy được Thế giới Núi Đồng.
Tôi thấy:
"Tam thiên đại thiên thế giới hoàn toàn thấm đẫm trong ánh hào quang ngũ trí, nơi đây là biển hoa sen của không hành mật trí."
"Ánh sáng của đàn thành nhật nguyệt là quang minh không lạc rốt ráo thanh tịnh, chiếu đến cung điện của ngũ phương Phật tổ."
"Trong cung pháp giới của Bổn tôn trung ương chứa đựng tất cả chư thiên và chúng sinh hữu tình của thế gian."
Đây thật là một thế giới kỳ diệu!

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ thấy tôi đến, rất đỗi hoan hỷ:
"Liên Sinh đến đây có việc gì?"
Trước tiên tôi cúng dường chuông kim cang và chày kim cang làm bằng vàng, sau đó cúng dường mandala bằng vàng.

"Bậc Thượng sư tối thượng, xin gia trì cho con, với lòng đại bi vô thượng để cứu độ chúng sinh."
"Là vì Bàng Phi phải không?"
"Đại Sĩ đã biết rồi."

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ gật gật đầu, cười ha hả, tiếng cười trong không gian vừa sâu vừa rộng, đã ban cho tôi sự gia trì của chữ "Ha"!
Đại Sĩ nói: "Quan Thế Âm Bồ Tát không cứu Bàng Phi, mà đẩy việc này sang cho ta, đây chính là lòng từ bi của Bồ Tát, bởi vì việc này chỉ có ta mới làm được, các vị Bồ Tát khác khó mà thực hiện được."
"Tại sao vậy?" - Tôi hỏi
"Mật pháp của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, có lúc từ bi dịu dàng, có lúc phẫn nộ hàng phục, lần lượt thị hiện đủ loại phương tiện không thể nghĩ bàn, không chỉ đầy đủ oai lực hàng ma, mà còn trong một sát-na có thể điều phục tất cả người ác, trong một cái búng tay có pháp bí mật tối thượng khiến người ác vãng sinh Phật quốc."

Tôi nhớ lại, trong "Liên Sư Ứng Hóa", Liên Hoa Sinh Đại Sĩ ở Đồng Châu đã sử dụng thần chú phản hồi của Sư Diện Không Hành Mẫu, khiến năm trăm ngoại đạo kẻ chết người bị thương, thần chú phản hồi này quả thật lợi hại!

Còn nữa, ở thành Đồ Phu, thành Đồ Phu toàn là những kẻ hung ác.
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ quyết định: "Muốn điều phục những chúng sinh nghiệp ác này, chỉ có cách hóa hiện thành đồng loại với họ, dùng đồng loại để điều phục đồng loại mới có khả năng thành công."
Đây chính là: "Tâm thì cực kì từ bi, hành động thì cực kì độc."

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ phát nguyện muốn lập tức cứu độ những kẻ ác này, dùng chân ngôn mật chú phẫn nộ giết chết hết bọn chúng, chấm dứt hành vi tà ác của họ, khiến họ không thể làm ác được nữa.

Liên Sư tập hợp hồn phách của những kẻ ác, phóng quang chiếu sáng họ, khiến nghiệp ác được thanh tịnh, sau đó búng tay một cái, trực tiếp đưa họ về cõi Phật.
Đây chính là: "Pháp sát sinh siêu độ."

"Bàng Phi đã giết bao nhiêu người?"
"Bốn mươi người."
"Hãy giết Bàng Phi bốn mươi lần, rồi siêu độ y."
Tôi kinh hãi: "Đây là pháp sát sinh siêu độ!"
"Đúng vậy."
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói: "Chỉ có giết Bàng Phi bốn mươi lần, trong một cái búng tay, con mới có thể cứu Bàng Phi ra khỏi địa ngục tối tăm."
"Guru Rinpoche muốn con làm việc này sao?"
"Đúng vậy." - Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói: "Con hãy nhận pháp chỉ của ta, tự mình xuống địa ngục tối tăm giết Bàng Phi, giết liên tiếp bốn mươi lần, Bàng Phi chết bốn mươi lần, nghiệp ác tiêu trừ, tự khắc sẽ được siêu độ vãng sinh Phật quốc."
"Con không thể." - Tôi kinh hãi tột độ.
"Giết chính là từ bi, vì từ bi mà giết! Nếu không giết, Bàng Phi không thể được cứu. Đây chính là lý do Quan Thế Âm Bồ Tát tìm ta, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, ra mặt."

Cuối cùng tôi đã hiểu tại sao Quan Thế Âm Bồ Tát không trực tiếp cứu Bàng Phi!
Tôi cũng hiểu được sự đáng sợ của nhân quả. Khi Liên Hoa Sinh Đại Sĩ bảo tôi giết Bàng Phi, phải thể hiện tâm từ bi cứu độ, phải trì chú phản hồi của Sư Diện Không Hành Mẫu, sát sinh chính là cứu độ!
Tôi vẫn còn do dự không quyết:
"Có thể không cần giết không?"
"Không thể." - Liên Hoa Sinh Đại Sĩ dứt khoát nói.

🌟


Tôi tiến vào địa ngục tối tăm.
Bàng Phi thấy tôi, hét lên thảm thiết: "Cứu mạng!"
Tôi giơ cao pháp chỉ của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, vừa giơ lên, thân thể tự nhiên biến đổi, trong từng sát-na, tôi hóa thành "một đầu hai tay ba mắt, thân màu nâu đỏ, diện mạo biến thành vị Heruka phẫn nộ, nanh vuốt nhe ra, tóc dựng đứng phẫn nộ, lông mày và râu như lửa cháy, tay phải nâng chày kim cang chín chấu được làm từ thép trời, tay trái cầm chày phổ ba đâm xuống, đầu ngón tay là bọ cạp đen, thân trên khoác áo gấm, thân dưới mặc váy nâu, tư thế đứng đạp lên một con hổ dữ tợn, an trú giữa ngọn lửa rực cháy".

Tôi hóa thành Guru Dorje Drolö (Phẫn Nộ Liên Sư).
Tôi bắt đầu tụng:
"Hùm hùm hùm. Ôm ah hùm. Pê-cha gu-ru chô-wo lưa-lua-ka. Sa-ơ-wa sit-đi hùm hùm."
Tôi lại tụng thần chú Sư Diện Không Hành Mẫu:
"Ah-ka-sa-ma la-sa-sa-ta la-sa-ma-la-yê. Pây."

Sư Diện Không Hành Mẫu hiện ra ở phía trên.
Thân màu xanh lam.
Một mặt hai tay, tay phải cầm dao phay kim cang, tay trái nâng chén sọ người.
Mặt há miệng, nanh nhọn, lưỡi cuộn.
Ba mắt trợn phẫn nộ, tóc đỏ xoăn lên.
Đầu đội vương miện năm sọ người, cổ đeo chuỗi năm mươi mốt đầu người, mặc váy da hổ.
Vai trái mang kachangka (thiên trượng).
Đứng trên nhật luân hoa sen. 
Tôi lại tụng thần chú phản hồi.

Lúc này, Sư Diện Không Hành Mẫu dùng dao phay kim cang, từ trên xuống dưới, chém vào não của Bàng Phi.
Còn Phẫn Nộ Liên Sư thì dùng chày kim cang đâm vào tim Bàng Phi.
Bàng Phi thét lên một tiếng thảm thiết, ngã xuống đất chết.
Chết rồi lại sống.
Rồi lại chết.
Rồi lại sống.
Cứ như vậy chết bốn mươi lần.
Và sống lại bốn mươi lần.
Máu tươi và não, gan mật tràn lan, thảm cảnh không nỡ nhìn.
Giết bằng tâm từ bi, hành động tuy độc ác nhất nhưng tâm lại từ bi nhất, người đời làm sao hiểu được?

Thật kỳ lạ, quanh Bàng Phi vốn có bốn mươi oan hồn lửa ma trơi ngày ngày cắn xé y, mỗi lần giết Bàng Phi thì một oan hồn biến mất, giết đủ bốn mươi lần, tất cả oan hồn đều tiêu tan.

Sau khi bị giết bốn mươi lần, "ý sinh thân" của Bàng Phi đã biến đổi, làn da chuyển thành màu vàng kim rất đẹp, diện mạo trở nên hiền hòa, tay phải còn cầm viên mani bảo châu, đầu đội mũ miện Ngũ Phật, thân khoác thiên y, chân đạp hoa sen trắng, trước ngực Bàng Phi đeo chuỗi hạt bồ đề.
Bàng Phi tụng:
"A ha sa sa ma ha".
Bàng Phi từ từ bay lên.
(Phật tính đã hiển lộ.)
Trong khoảnh khắc, tôi đã đứng ngây người kinh ngạc.

Tôi nhớ đến Phật khẩu của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, Ngài đã tự thân tuyên thuyết với tôi: "Chúng sinh là Phật, Phật là chúng sinh. Một khi nghiệp báo được giải thoát, thoát ra liền có pháp lực sâu, chuyển hóa từ đất lên trời, Phật tính tự nhiên bay lên, phải diệt trừ nghiệp chướng mới như ý."
Lần này, tôi đã lĩnh ngộ sâu sắc.
*Thanh tịnh vốn dĩ chính là Phật.
Nhân duyên quyết định che Pháp thân.
Thấy được biển pháp tính ban sơ.
Lần này siêu độ thù thắng nhất.*

Khi Phật tính của Bàng Phi bay lên, y đã ba lần đảnh lễ cảm tạ tôi, cuối cùng y đã thoát khỏi "địa ngục tối tăm vĩnh viễn không được siêu sinh".
Lạ thay! Pháp siêu độ này thật hiếm có!


### 10. Âm dương ẩn tình


Một đôi vợ chồng mang theo ảnh và tử vi của con gái đến gặp tôi để hỏi về hôn nhân của con. Khi tôi xem xét, thấy rất kỳ lạ.
Con gái của họ tên là Thiệu Khanh, ba mươi tuổi, chưa kết hôn.
Thiệu Khanh là cô gái có điều kiện rất tốt, học vấn cao, có thu nhập ổn định, ăn nói tao nhã, người cũng xinh đẹp.
Không thiếu người cầu hôn Thiệu Khanh, nhưng cô luôn từ chối. Không phải cô vô tình như gỗ đá, cũng không phải muốn đi tu, chỉ là hễ nhắc đến chuyện hôn nhân là cô lắc đầu, tránh né không muốn bàn.
Chuyện này khiến cha mẹ cô lo lắng không yên.

Khi tôi chiêm bói.
Về cảm ứng tâm linh, tôi thấy có điều gì đó mơ hồ, nên hỏi cô gái có duyên phận hôn nhân không? Đáp "có". Hỏi khi nào, đáp "hiện tại". Hỏi đối tượng là ai? Đáp "không biết".
Tôi ngạc nhiên sững sờ.
Thế là tôi lại hỏi, đối tượng rốt cuộc là ai để tôi có thể trả lời cho người ta, câu trả lời là: "Vô hình."
"Vô hình là gì?"
Đáp: "Người đã khuất."

Điều tôi muốn nói với mọi người là, người hỏi tất nhiên là tôi, người trả lời chính là thần Phật mà tôi thờ phụng. Sau khi nhận được câu trả lời, tôi phải chuyển lại cho đôi vợ chồng đang hỏi chuyện.

Lần hỏi việc này, câu trả lời như đã nói trên, bản thân tôi cũng rất bối rối, không biết phải nói ra sao, nhưng không nói cũng không được, cuối cùng đành phải thành thật nói với đôi vợ chồng này.
Tôi đáp: "Thiệu Khanh đã có duyên hôn nhân rồi, chính là hiện tại, đối tượng là vô hình, là người không ai biết, là người đã khuất."

Tôi đã chuẩn bị tinh thần để họ mắng tôi là "thần kinh".
Tuy nhiên, vợ chồng họ Thiệu không mắng tôi, mà kéo tôi sang một bên, kể cho tôi nghe một chuyện kỳ lạ không thể tưởng tượng nổi.

🌟

Thiệu Khanh có một người anh họ, hơn cô bốn tuổi, từ nhỏ đã rất mến mộ Thiệu Khanh, thề sẽ cưới cô làm vợ.
Sau đó, người anh họ này mắc bệnh và qua đời.

Khi Thiệu Khanh hai mươi lăm tuổi, một đêm trong giấc mơ, bỗng thấy một người đi vào từ cửa sổ. Nhìn kỹ lại, hóa ra là người anh họ đã mất, giờ đã là một người đàn ông phong độ. Trong mơ, anh họ nói với Thiệu Khanh: "Đừng sợ, anh là anh họ của em đây, anh yêu em, sẽ không mang đến tai họa gì cho em đâu, đêm nay anh sẽ kết hôn với em."
Người anh họ này dáng vẻ tuấn tú.
Trong mơ, Thiệu Khanh cũng không từ chối.
Hai người quấn quýt bên nhau trong mơ, khiến Thiệu Khanh vô cùng sung sướng.

Sau khi tỉnh dậy, Thiệu Khanh cảm thấy không ổn, anh họ đã qua đời từ lâu, giấc mơ này thật hay giả, thật khó nói, lại cảm thấy vô cùng xấu hổ, cũng không dám kể cho cha mẹ nghe.
Thế nhưng, đêm thứ hai anh họ lại đến, đêm thứ ba lại đến, đêm thứ tư lại đến...
Đêm đêm cùng gối chung giường.
Đây đã trở thành một "mối tình bí mật giữa âm dương".

Ban đầu, Thiệu Khanh cho rằng đây chỉ là một giấc mộng xuân, rồi sẽ không có chuyện gì, nhưng người anh họ đêm nào cũng đến, đêm nào cũng đòi hỏi, dần dần, Thiệu Khanh biết được anh họ là ma, là người âm, là linh hồn, nên tự nhiên cảm thấy sợ hãi.
"Anh là ma sao?" - Thiệu Khanh hỏi.
"Phải, anh là ma."
"Ma không hại người sao?"
"Anh không hại em đâu, ngược lại anh yêu em."
"Gia đình muốn em kết hôn." - Thiệu Khanh nói với anh họ.
"Chúng ta đã là vợ chồng rồi, em không được lấy ai khác."
"Không được." - Thiệu Khanh nói.
"Nếu em kết hôn, người đó chắc chắn sẽ chết."
"Là do anh hại phải không?"
"Đúng vậy."

Người anh họ ma này cũng rất quyết liệt, hễ Thiệu Khanh có bạn trai, chỉ cần thân mật một chút là đối phương hoặc bị ngã, hoặc gặp tai nạn xe, hoặc bị bệnh, gặp tai nạn các kiểu, khiến Thiệu Khanh không dám thở mạnh!

Thiệu Khanh ngay cả việc có bạn trai cũng không dám, huống chi là chuyện kết hôn. Chuyện này, ban đầu chỉ mình Thiệu Khanh biết, sau đó bị cha mẹ ép quá, cô đành phải kể lại toàn bộ sự việc cho cha mẹ nghe.
Cha mẹ cô kinh ngạc vô cùng.

🌟

Gia đình Thiệu Khanh vốn là một gia đình theo đạo Cơ Đốc. Trong tình thế hoảng loạn, họ đành phải kể cho một mục sư nghe. Khi mục sư nghe chuyện này cũng rất kinh ngạc, liền triệu tập tất cả anh chị em trong nhà thờ, không nói cho họ biết nguyên nhân bệnh tình, chỉ bảo Thiệu Khanh bị bệnh, và mọi người cùng đến nhà cô cầu nguyện.

Ngày hôm đó, Thiệu Khanh mệt lả, mọi người vây quanh cô, do mục sư dẫn đầu cầu nguyện. Để thể hiện sự trang nghiêm, mục sư mặc áo thánh màu trắng, tất cả anh chị em trong nhà thờ cũng mặc áo thánh.
Họ bắt đầu đọc "Kinh cầu nguyện", cầu xin Đức Chúa Cha trên trời, Đức Chúa Trời Jehovah, mong được Jehovah dẫn dắt...
Rồi họ đọc tên Thiệu Khanh, cầu mong bệnh tình của cô mau chóng bình phục.

Chẳng bao lâu sau khi đọc kinh xong, Thiệu Khanh bỗng ngồi bật dậy, mắt trợn tròn, mọi người tưởng cô đã khỏi, đang định vỗ tay ngợi khen!
Nào ngờ Thiệu Khanh lại quát to vào mặt mục sư:
"Ta muốn ngươi chết!"
Lúc đó, mục sư đứng sững người, không biết phải làm sao!

Mọi người đều liên tưởng đến cảnh trong phim "The Exorcist", chỉ khác là khuôn mặt Thiệu Khanh không biến dạng, thân thể cũng không bay lơ lửng trên giường, nhưng dù vậy, mục sư đã sợ gần chết, liên tục nói: "Xin Chúa dẫn dắt, xin Chúa dẫn dắt, xin..." Buổi cầu nguyện vội vàng kết thúc, mục sư chuồn mất, mọi người cũng chuồn theo.

Điều không ngờ hơn nữa là ngay trong ngày hôm đó, mục sư bỗng nhiên bị "đột quỵ", cả khuôn mặt méo xệch, mắt miệng lệch sang một bên, nửa người tê liệt, vợ mục sư thấy tình hình không ổn, không kịp cầu nguyện nữa, vội vàng đưa đi cấp cứu.

Tất cả những ai tham gia buổi cầu nguyện đều lo sợ rằng mình cũng sẽ gặp chuyện tương tự. Vợ mục sư đã đi thăm từng nhà một, dặn dò các anh chị em trong nhà thờ không được lan truyền chuyện này ra ngoài.

Thiệu Khanh từng nói chuyện với anh họ ma:
"Anh không sợ mục sư sao!"
"Không sợ."
"Anh không sợ mục sư, vậy sợ gì?"
"Thượng Đế, Phật Tổ."
"Mục sư có thể cầu xin Thượng Đế trừng phạt anh mà?"
"Ông mục sư đó cầu không được đâu, ông ta chỉ làm cho có việc thôi."
"Vậy em sẽ tìm mục sư khác."
"Đừng làm khó nhau, chúng ta đang sống rất tốt mà!" - Anh họ ma nói.
"Chuyện này không bình thường." - Thiệu Khanh nói thật lòng.
"Thời buổi này rất nhiều chuyện không bình thường, có người đồng tính, có người chuyển giới, có người lưỡng tính, thiếu gì." - Anh họ ma lý luận có lý.
Thiệu Khanh nói:
"Em vẫn thấy không ổn!"
Anh họ ma nói:
"Em mà mời họ đến nữa, anh sẽ xử lý từng người một."

🌟

Vợ chồng họ Thiệu bất đắc dĩ phải thỉnh một tượng Phật Tổ về nhà trấn trạch. Phật Tổ này đã được một vị đại sư khai quang, vị đại sư còn khẳng định rằng Phật Tổ sẽ linh vô cùng, bảo đảm vạn linh vạn nghiệm.

Ngay ngày đầu thỉnh về nhà, họ bỗng nghe tin vị đại sư nhập viện phẫu thuật, hóa ra là có vấn đề về tim.
"Có phải anh làm không?" - Thiệu Khanh lại hỏi.
"Không."
"Không phải anh thì còn ai nữa?"
"Đã bảo không phải là không phải, vị này là đại sư giả, còn không lo được cho bản thân, anh không cần phải trêu chọc ông ta, ông ta tự ngã thôi, hoàn toàn không cần phải đối đầu với ông ta."
"Rốt cuộc có cách nào để mời anh đi không?"
"Không có cách nào cả!" - Anh họ ma nói.

Anh họ ma còn phô trương thần thông của mình, ban ngày thì ở trong thân tượng Phật Tổ, nháy mắt đưa tình với Thiệu Khanh, tối đến thì ra ngoài ngủ với Thiệu Khanh, người khác đều không nhìn thấy, Thiệu Khanh đành bất lực với anh ta.

"Em lại phải nghĩ cách khác sao?"
"Tùy em!" - Anh họ ma thờ ơ đáp.
"Anh không phải sợ Phật Tổ sao?"
"Phải, anh sợ Phật Tổ."
"Nhà mình đã thỉnh Phật Tổ về rồi."
"Đó đâu phải Phật Tổ, đó chỉ là khúc gỗ thôi!" - Anh họ ma cười ha hả không ngừng.

🌟

Cha mẹ Thiệu Khanh còn hỏi ý kiến rất nhiều bậc cao nhân, nhưng cuối cùng đều không đi đến đâu. Ban đầu các cao nhân đều nói: "Được."
Kết quả là: Không được.
Cuối cùng là: chuồn mất dạng.

Cha mẹ Thiệu Khanh hỏi tôi:
"Thầy có thể không?"
Tôi không trả lời trực tiếp, chỉ nói: 
"Anh họ ma đã đến."
Cha mẹ cô hốt hoảng: 
"Ở đâu vậy?"
"Ở ngoài cửa."
"Sao lại ở ngoài cửa?"
"Tệ xá có kết giới, cả nhà tôi là một mandala Mật giáo." - Tôi nói với cha mẹ cô: "Hai bác cứ ngồi đây, để tôi thiền định một chút rồi ra gặp anh ta."

Tôi ngồi xuống, nhắm mắt, thần thức bay ra ngoài.
Tôi tìm thấy anh họ ma.
Anh họ ma vừa thấy tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) xuất hiện bằng thần thức, cũng thực sự giật mình, biết rằng người đến không có ý tốt.
Anh họ ma thổi một luồng khí vào đầu tôi, luồng khí này vô cùng lạnh lẽo, nếu bị thổi trúng, cả đầu sẽ đông cứng thành băng, tôi hiểu ra tại sao mục sư vừa về đến nhà đã bị đột quỵ.

Tôi kết ấn Hỏa Thiên, tay phải xòe năm ngón, ngón cái co vào lòng bàn tay, ấn vào đốt giữa của ngón lửa.
Toàn thân tôi bốc lửa, khí lạnh lẽo không thể xâm nhập.
Anh họ ma không biết lấy từ đâu ra một lưỡi dao cong, vung tay chém một nhát về phía chân tôi.
Bây giờ tôi cũng hiểu ra tại sao những người hay can thiệp vào chuyện này lại lần lượt ngã bệnh.

Hai tay tôi kết ấn kim luân: trước tiên hai tay đan nội phộc, hai ngón giữa duỗi thẳng và dựng đứng, đầu ngón chạm vào nhau. Hai ngón cái và hai ngón trỏ cong thành hai vòng tròn.

Tôi hóa thành pháp luân vàng xoay tròn trong không trung, pháp luân này là kim cang bất hoại, không gì có thể phá vỡ, chỉ cần pháp luân xoay một vòng, bất cứ thứ gì chạm vào đều bị nghiền nát thành bụi.
Lưỡi dao cong vừa chạm vào.
Tiếng kim loại va chạm. Một tiếng "keng" vang dội.
Lưỡi dao cong gãy nát.

Anh họ ma kinh hãi: 
"Ông là ai?"
"Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn."
"Thì ra ông chính là Lư Thắng Ngạn." - Anh họ ma vốn đã biết tôi, dù không biết cũng chắc chắn đã từng nghe danh.
"Thế nào?" - Tôi hỏi.
"Xin thụ giáo!" - Anh họ ma nói: "Xin Hoạt Phật đừng can thiệp chuyện này, đây là duyên kiếp từ trước, do Thiệu Khanh nhớ thương tôi, không phải lỗi của tôi."
Tôi nói:
"Hôm nay dù thế nào đi nữa, đã rơi vào tay tôi thì tôi nhất định phải can thiệp. Huống chi anh vô cớ làm hại không ít người, lại chiếm đoạt người phụ nữ lương thiện. May mà anh chỉ chiếm đoạt Thiệu Khanh, nếu gặp phụ nữ đẹp nào cũng chiếm đoạt như vậy thì hậu quả còn nghiêm trọng hơn."
Anh họ ma rất tức giận, nhưng có lẽ hắn cũng hiểu rằng tôi không phải dễ trêu chọc, nên không dám manh động gì.

Tôi khuyên anh ta:
"Tôi là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, đã thấu tỏ trí huệ Như Lai, lại có bí quyết lớn để siêu độ linh hồn trung ấm, tôi có thể dẫn dắt anh đến thế giới mà anh hằng mong ước. Anh không nên tự tạo nghiệp chướng nơi cõi người, cảnh giới hiện tại của anh thật tầm thường và u tối, như đang tự tạo tội trong mộng, buông thả tâm mình, phóng túng dục vọng, nghiệp báo tương lai sẽ khổ không thể tả. Những điều này anh phải hiểu rõ, dục vọng là hư ảo không thật, hôm nay gặp được tôi, để tôi dẫn dắt anh, chẳng phải tốt hơn sao?"
Anh họ ma nghe xong lời tôi, cúi đầu trầm ngâm nói:
"Nhưng, tôi không thể xa Thiệu Khanh!"
Tôi nói:
"Dục vọng như con thú đuổi theo mặt trời, uổng công chạy nhọc trên đồng hoang."

Tôi lại hiển hiện "biển dục" cho anh họ ma xem, biển dục không có điểm dừng, nhiều người chìm đắm trong đó, mệt mỏi kiệt sức, sóng to gió lớn, khiến người ta khiếp sợ...
"Tôi... " - Anh họ ma vẫn còn lưu luyến không rời.
Tôi quát lớn một tiếng...
"Nếu còn tiếp tục, sấm sét thiêu thân, một tiếng sét đánh, hồn phách đều tiêu!"
Anh họ ma cúi đầu hổ thẹn.

Tôi đọc một bài kệ:
*"Tiếp dẫn anh về cõi diệu dục,
Người như thiên thần cõi Dục giới
Thời đại thanh bình như Hiền kiếp,
Con đường dễ bước, hãy đi theo."*
Anh họ ma cuối cùng cũng gật đầu.

Tôi đưa thần thức quay về thân thể đang thiền định của mình. Phép mầu này chính là "xuất thần", là bước đầu tiên của pháp đoạt xá của Mật giáo. Tôi dùng Mật pháp giảng về Không, thân tôi thực ra là cái vỏ rỗng, lời tôi nói là pháp tự tại, tâm tôi chính là trí huệ Phật, đệ tử chỉ cần học pháp của tôi, chắc chắn sẽ chứng Bồ đề.
Tôi xuất thiền.

Cha mẹ Thiệu Khanh hỏi:
"Thầy gặp được anh ta không?"
"Gặp rồi." - Tôi trả lời với giọng bình thản.
"Anh ta có gây khó dễ gì với thầy không?"
"Không." - Tôi đáp - "Tôi sẽ không sao đâu, con gái Thiệu Khanh của hai bác cũng sẽ không sao nữa, theo tôi thấy, mọi việc đã viên mãn rồi."
"Còn phải làm gì nữa không?"
"Không cần làm gì cả, hai bác cứ quan sát Thiệu Khanh mấy đêm nay xem có khá hơn không, hiện giờ tôi chỉ cần làm một buổi lễ siêu độ."
Cha mẹ Thiệu Khanh cảm thấy phần nào an tâm.

🌟

Cha mẹ và bản thân Thiệu Khanh đến tham dự buổi lễ siêu độ của tôi.
Họ kể rằng kể từ hôm đó về nhà, đêm đó Thiệu Khanh ngủ yên ổn suốt đêm, anh họ ma không xuất hiện, đây là chuyện chưa từng có. Những đêm tiếp theo, anh họ ma dường như đã biến mất, ra đi không một lời từ biệt, hoàn toàn không còn những giấc mơ ma quỷ nào nữa.
Thiệu Khanh hỏi tôi:
"Thầy thực sự gặp được anh ấy sao?"
"Thật vậy."
"Có bằng chứng gì không?"
"Ở đuôi lông mày phải của anh ta có một nốt ruồi to!"
"Ôi!" - Thiệu Khanh kinh ngạc đến sững sờ.

Tôi lên pháp tọa.
"Nhất tâm triệu thỉnh, hỡi các bậc hiền tài xưa kia, những học trò nghèo nơi lều tranh, những danh sĩ từng đỗ Tam khoa, những người từng dạo bước nơi trường thi. Đom đóm trắng bay tán loạn, ba năm học hành công dã tràng nghiền mòn nghiên mực sắt, mười năm dài dằng dặc vất vả công trình. Than ôi, bảy thước lụa đỏ ghi tên họ, nay một nấm đất vàng phủ kín văn chương. Những văn nhân, cử tử như thế, xxx, mau đến bàn thờ."
(Anh họ ma vốn là một người đi học.)
"Học cổ học kim, văn chương gấm vóc, kẻ sĩ dưới ánh tuyết trộm chút ánh sáng học hành vất vả, chí hướng trong căn phòng lạnh lẽo, số phận trắc trở, bảng vàng không ghi tên. Hồn phách u uất, hãy đến thụ hưởng vị cam lộ."

Tôi tu Mật pháp.
"Hô!
Nương vào năng lực mandala của bậc Kim Cang Trì Thượng Sư thành tựu,
Nguyện con cùng vô lượng chúng sinh trung ấm hữu tình,
Tự nhiên vãng sinh,
Và được giải thoát vào trong pháp thân quang minh Không tính."
"Om ah hum! Hum hum hum!
Tam thân như biển, chư Phật hiển hiện trong quang minh,
Khiến trung ấm tịnh trừ tất cả chướng ngại,
Trung ấm hiện ra trí tuệ thần thông,
Wa-cha-la sa-ma-ya cha-cha sa-ơ-wa ka-na cha-ka-la pu-ta hô."

Tôi thấy trung ấm đi vào trong ánh sáng.
.................

🌟

Sau khi tôi chữa khỏi bệnh cho Thiệu Khanh, cả nhà đã quy y Chân Phật Tông. Không chỉ gia đình Thiệu Khanh, mà cả họ hàng và bạn bè của họ, sau khi chứng kiến câu chuyện của Thiệu Khanh, cũng đều đến quy y. Lần quy y này có đến hơn trăm người, thật là chấn động. Tuy nhiên, chính vì thế mà khiến nhà thờ không hài lòng, mục sư và vợ căm ghét tôi đến mức nghiến răng nghiến lợi. Sau khi mục sư bị đột quỵ, trải qua phục hồi chức năng đã khỏi được bảy phần, chỉ là miệng hơi méo, không kiểm soát được dây thần kinh mặt. Mục sư và giáo dân đã từng cầu nguyện cho tôi, còn gửi đến nhiều "tờ rơi tuyên truyền".

Tôi đọc những tờ rơi tuyên truyền này thì cười ha hả. Thẳng thắn mà nói, khi học trung học, tôi đã tốt nghiệp lớp sư phạm trường Chủ nhật, từng làm giáo viên tại nhà thờ và cũng là giáo viên lớp học Kinh thánh. Tôi đã từng biên tập tờ rơi tuyên truyền, và lúc đó, tôi cũng là phóng viên thường trực của Báo Phúc Âm.

Nói về nhà thờ, có một chuyện đặc biệt cần nhắc đến, lúc đó có một vị trưởng lão, thấy tôi dạy học nghiêm túc ở nhà thờ, vừa học vừa hành đều tốt, vừa là giáo viên trường Chủ nhật, vừa tham gia đội thánh ca, vừa làm phóng viên báo chí, lại còn biên tập tờ rơi tuyên truyền, đến Giáng sinh thì tôi lại phụ trách chương trình "Đêm Giáng Sinh", vị trưởng lão này đặc biệt có thiện cảm với tôi, chủ động giới thiệu con gái ông ấy là Chiêm Thục Phân cho tôi, mời tôi đi ăn cơm. May mắn là lúc đó không phải do tôi định lực tốt, mà vì trong lòng tôi đã có người khác từ trước, đó chính là cô bé hàng xóm xinh xắn dễ thương - Cao Thuần Tâm.
Thôi, trở lại việc chính.
Thiệu Khanh thực sự đã khỏi bệnh.
Nhà thờ tuyên truyền rằng tôi là ác quỷ. Nhưng ác quỷ như tôi thực sự có một số năng lực, thứ năng lực mà tín đồ Cơ Đốc giáo không bao giờ hiểu được. Sau khi tu luyện và chứng đắc Mật giáo, tôi có thể ra vào mười pháp giới, tôi đã gặp Chúa Jesus, tôi đã gặp Đức Chúa Trời Jehovah.

Trong cõi chư thiên.
Chúa Jesus đang độ sinh, đang thương yêu nhân thế.
Đức Chúa Trời Jehovah đang độ sinh, đang thương yêu thế nhân.
Họ là Thiên Chúa.
Jehovah, Jesus, Thánh Linh đều có cảnh giới Thiên Chúa.


### 11. Bồ Tát ma


Một đệ tử tên là Kim Ký đến quy y với tôi, là người Vân Nam, Trung Quốc. Vị đệ tử này rất thành tâm, đem hết của cải trong nhà ra bố thí, một lòng học pháp.
 Nhìn thấy tướng mạo trang nghiêm của vị đệ tử này, trong lòng tôi rất vui mừng. Thế là trước tiên tôi ban cho anh ấy quán đảnh kết duyên, vừa quán đảnh đã thấy điềm tương ứng. Tôi lại ban cho anh ấy quán đảnh Bổn tôn, anh ấy tu pháp cũng có cảm ứng. Tôi rất hoan hỷ, ta chuẩn bị truyền thụ cho anh ấy "Hỷ Kim Cang Bổn Tục" (Phật Thuyết Đại Bi Không Trí Kim Cang Đại Giáo Vương Nghi Quỹ Kinh) mà năm xưa Sakya Chứng Không Thượng Sư đã truyền cho tôi, và ban cho anh ấy bốn loại quán đảnh.

Đúng vào lúc này.
Tôi nằm mộng:
Trong mơ, tôi và các đệ tử đều hóa thành chim, bay tự do tự tại trên bầu trời, khi thì tôi bay trước, khi thì tôi bay sau, các đệ tử đều bay theo tôi.
Chúng tôi đều có cánh hai bên sườn, xòe cánh bay lượn, rất là đắc ý.
Khi quay lại nhìn xuống, thấy có một người đang cầm cung tên, đối diện với chúng tôi, đang chuẩn bị bắn tên.
Tôi nhìn kĩ người này, chính là Kim Ký.
Tôi hét:
"Đừng bắn, đừng bắn!"
Nhưng Kim Ký không nghe, đã bắn mũi tên ra rồi.
Tôi hét lên một tiếng rồi tỉnh giấc. Tôi nhìn đồng hồ, đúng năm giờ sáng.

Ở đây, tôi cần phải giải thích rằng, thông thường, giấc mơ là do tập khí tạo thành, giấc mơ không nhất thiết là thật. Tuy nhiên, đối với một hành giả Mật tông, khi tu hành đến mức có chứng đắc, giấc mơ của họ là thật.
Giấc mơ của Tổ sư phái Bạch giáo Milarepa đều linh nghiệm.
Giấc mơ của tôi Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn cũng đều linh nghiệm.
Vì vậy, tôi cân nhắc xem có nên tạm dừng bốn loại quán đảnh này để quan sát thêm không. Bốn loại quán đảnh đó là:
1. Bình quán
2. Mật quán
3. Tuệ quán
4. Danh quán (đại lạc trí tuệ quang minh quán đảnh)

🌟


Nói đến quan sát, đây là:
Mắt thấy mới là thật,
Cảnh mộng chưa hẳn đúng;
Nếu tin vào cảnh mộng,
Uổng phí kiếp nhân sinh.

Con người tôi là thế này:
"Mua trâu học cày ruộng, dựng chòi hướng suối rừng; Biết đời không còn mấy, tạm lui về non xanh vài năm. Danh lợi rồi cũng là khách phù du, có thể làm thơ có thể nhập định giống thần tiên; Muôn vật trên đời đều giả tạm, chẳng cần bận tâm chuyện kim tiền."

Còn về con người Kim Ký thì:
*Thấy sắc mà vui cũng thường tình
Cũng có duyên phận ở trong đó
Chỉ vì không giả không thành thật
Trong có cơ mưu không thể hỏi.*

Quan sát kĩ Kim Ký, tôi phát hiện ra rằng việc anh ta dốc hết của cải để học pháp là vì sau này về sẽ kiếm được nhiều tài sản hơn.
Kim Ký đối với chúng tôi thì hết sức cung kính, nghe lời răm rắp, hoàn toàn thuận theo vị Căn bản Thượng sư của mình, nhưng đối với người khác thì lại tỏ ra hung hăng, kiêu ngạo vô cùng.
Tôi nhận ra Kim Ký:
"Thiếu trung hậu, chỉ khôn ngoan xảo quyệt mà thôi!"
"Chuyên tâm học pháp là có mục đích, tướng mạo tuy trang nghiêm, dù có duyên với Phật, e rằng tương lai sẽ đi vào cõi mờ mịt, chẳng phân biệt được đúng sai thiện ác."

Vậy nên duyên phận giữa người với người rất khó đoán.
Có người trước thiện sau ác.
Có người trước ác sau thiện.
Có người thiện ác lẫn lộn.
Có người trung tính.
Không thể kể hết.
Đối với Kim Ký, cuối cùng tôi đã hiểu rõ.

🌟

Tôi không ban bốn quán đảnh cho Kim Ký, cũng không truyền Hỷ Kim Cang Bổn tục. Chỉ truyền cho anh ấy: Pháp tùy hứa đặc biệt của Sắc Giới Tự Tại Thiên Nữ, pháp tùy hứa của các Hắc Diệu Âm, pháp quán đảnh ba mươi bảy vị của Bạch Tản Cái Phật Mẫu và các pháp khác.
Kim Ký rất nỗ lực tinh tấn, quả nhiên cũng có tương ứng.

Sau đó anh ta cứ ở bên tôi, chờ đợi tôi truyền thụ Hỷ Kim Cang Bổn Tục, Mật Tập Kim Cang Bổn Tục (vua của Mật giáo phụ tục), Thắng Lạc Kim Cang Bổn Tục (vua của mẫu tục), Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, Thời Luân Kim Cang, Đại Uy Đức Kim Cang...
Cũng chờ đợi tôi ban cho bốn loại quán đảnh.
Nhưng tôi không làm vậy.

Sau đó anh ta cũng y theo cuốn sách Đạo Quả, nguyên tác của Virupa, Sakya Pandita giảng giải và Pháp Hộ dịch sang tiếng Hán. Anh ta tự tu luyện mà không theo khẩu truyền của Căn bản Thượng sư, cứ thế đui tu mù luyện.
Anh ta tu đến mức:
Giáng bất thiện xảo - minh điểm mất đi nhanh chóng.
Đề bất thiện xảo - minh điểm trôi xuống dần dần.
Trì bất thiện xảo - đại lạc biến mất trong chốc lát.
Tán bất thiện xảo - ma bệnh từ đó sinh ra.

Ma và hiện tượng mê loạn đã xuất hiện. Kim Ký chưa được tôi quán đảnh, cũng không có cảnh giới quán đảnh mà đã tu, anh ta quá nóng vội và hoàn toàn không có nơi nương tựa, duyên phận của anh ta chỉ đến mức tùy hứa Bổn tôn, không thể kham nhận đại pháp, công đức của anh ta cũng chưa đến mức độ của đại pháp, đồng thời tịnh tín không đủ, nếu tôi mà truyền thụ hoặc quán đảnh một cách mù quáng, theo phán đoán về quán đảnh mà nói, cũng là vi phạm giới luật.

Kim Ký nói:
"Đã đắc đạo rồi." (không ăn không ngủ)
Tôi thấy:
"Là bị ma nhập rồi."

Kim Ký thấy thần thấy quỷ, tự ý thay đổi thần chú lung tung, tụng niệm bừa bãi, tiên đoán bậy bạ, chẳng có gì đúng cả, lại còn chấp trước thần thông, tà thuyết giáo lý, hành sự lộn xộn, đúng là thành bệnh tâm thần, không ai hiểu nổi. Bản thân anh ta cũng biết mình đã rơi vào cảnh ma, nhưng không thể thoát ra được.

Than ôi, biết bao sinh mệnh linh thiêng, bị vạn ma quân chém đứt.
Anh ta không theo giáo giới khẩu truyền của sư phụ.
Không có nơi nương tựa.
Làm sao dám thách thức ma thiên!

🌟

Trước tiên tôi vẽ phù, lệnh cho anh ta ăn uống ngủ nghỉ bình thường.
Vô hiệu.
Tôi dùng pháp đóng cọc kim cang để kết giới, kết ấn kim cang chỉ, hét lớn âm "Hum", từ tự tâm phóng hào quang chữ "Hum", bắn vào anh ta, để đuổi hết ma chướng trong mười phương.
Anh ta vẫn bất động.

Tôi dùng hỏa cúng hàng phục, hàng phục nghĩa là tiêu diệt và xua đuổi, tôi biết khẩu quyết của hỏa cúng là: "Chú chân thật, lửa chân thật, ta chân thật, nghi quỹ chân thật, pháp này ắt thành tựu."
Hỏa cúng hàng phục này có thể diệt trừ tử ma, diệt trừ bệnh ma, diệt trừ ngoại ma, diệt trừ chướng ngại ma, diệt trừ thiên ma, v.v...
Sau khi làm hỏa cúng, anh ta vẫn không thay đổi.
Tôi vô cùng kinh hãi, chuyện này chưa từng xảy ra bao giờ.

Bất đắc dĩ, tôi đành cầu nguyện Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.
"Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi hùm sê. Ánh sáng trí huệ vĩ đại bất diệt, xin hiển hiện, nguyện pháp giới hiển hiện cầu vồng quang minh của bậc đại thánh, trong cung điện thiêng liêng vĩ đại của tịnh thổ Núi Đồng, hóa thân của tam thân, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ."

"Nhất tâm cầu thỉnh, quy y đảnh lễ, nương vào sự chứng ngộ của Ngài, ban cho con thành tựu, qua thần lực gia trì của Ngài, xin xua tan chướng ngại của con và chúng sinh khác, tịnh hóa chướng ngại bên ngoài, tịnh hóa chướng ngại bên trong, tịnh hóa chướng ngại bí mật. Cầu xin Ngài hiển hiện quang minh, thị hiện lòng từ bi."

Rồi trong lúc "chưa sinh" và "bản tịnh".
Trong khoảnh khắc hiển hiện thân trang nghiêm đại lạc của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ hỏi tôi:
"Gọi ta có việc gì?"
"Kim Ký." - Tôi đáp.
"Đây là nghiệp lực của sự kiêu ngạo."
"Vâng." - Tôi nói: "Con đã dùng hỏa cúng hàng phục và các pháp khác nhưng không thành. Con thật ngu xuẩn và mê muội."
"Không phải ngu xuẩn, cũng không phải mê muội đâu, nếu con quan sát tương lai, đây ngược lại là các Hộ pháp Không hành đang chăm sóc con như từ mẫu vậy."
"Con không hiểu."
"Đến lúc thì sẽ hiểu." - Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói.
"Nếu con không đuổi ma trong người anh ta đi, làm sao gọi là hộ trì chúng sinh?"
"Ma trong người Kim Ký, không cần đuổi, nó sẽ tự đi."
"Giờ con phải làm sao?"
"Cứ để mặc anh ta!" - Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói.

🌟

Đối với ma trong người Kim Ký, tôi hoàn toàn bất lực, hỏi Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, Ngài chỉ bảo cứ để tự nhiên, tôi không cam tâm, dùng pháp nhiếp triệu siêu độ, dùng móc dùng cọc, vẫn không hiệu quả.
Kim Ký vẫn trong trạng thái điên loạn!

Cuối cùng, tôi thực sự không còn cách nào khác, bèn hóa thành Hàng Tam Thế Minh Vương. Trong khoảnh khắc, tôi biến thành Trailokya Vajra. Ba mặt, mặt chính màu xanh, bên phải vàng, bên trái xanh lục, miệng há nanh nhọn, lưỡi cuộn. Mỗi mặt đều hiện lông mày dựng đứng, ba mắt tròn đỏ phẫn nộ. Trên trán đeo năm đầu lâu, cổ đeo tràng hoa đầu người máu tươi nhỏ giọt, các đầu người nối liền nhau, thắt lưng quấn váy da hổ.

Tóc đỏ rực cháy hướng lên, tám vị Long Vương vĩ đại trang nghiêm an tọa. Trong sáu cánh tay, hai tay đầu cầm chày và chuông, kết Kim Cang quyền, hai lưng dính vào nhau, hai ngón út móc vào nhau, hai ngón trỏ duỗi thẳng, tạo thành ấn Hàng Tam Thế Minh Vương, hai tay phải phía dưới cầm móc câu và dây thừng, hai tay trái phía dưới cầm đầu lâu và trượng. Hai chân phải duỗi trái co, đứng trên nhật luân.

Hàng Tam Thế Minh Vương phun ra ánh lửa, ánh sáng tụ lại bừng cháy như lửa kiếp tận, thiêu đốt về phía thân thể của Kim Ký.

Lúc này, ma trên người Kim Ký chạy ra, hét to:
"Đừng đốt, đừng đốt, là ta đây, là ta đây."
Tôi nhìn kĩ.
Con ma xuất hiện này, không phải ai khác, chính là bản sao y hệt của hóa thân Hàng Tam Thế Minh Vương của tôi.
Tôi đứng chết lặng, sững sờ.
Tôi hóa thân thành Hàng Tam Thế Minh Vương để trừ ma, ma thì đã ra thật, nhưng lại cũng là Hàng Tam Thế Minh Vương.
Thật là quá trùng hợp, quá kịch tính, quá không thể tin được.

Giờ đây, hai vị Hàng Tam Thế Minh Vương đối diện nhau. Hàng Tam Thế Minh Vương dẫn tôi đến nơi khác để nói chuyện.
"Ngươi là yêu ma?" - Tôi rất kinh ngạc.
"Không, là Kim Cang Bồ Tát."
"Sao Kim Cang Bồ Tát lại nhập vào người Kim Ký?" - Tôi vô cùng bối rối.
"Phụng chỉ hành sự." - Hàng Tam Thế Minh Vương nói.
"Ngài làm tôi rối quá."
"Xin lỗi! Trước đó không báo cho Hoạt Phật biết."
"Bảo sao tôi dùng pháp gì cũng không linh, bảo vật hàng ma trong tay đều vô hiệu, tôi cứ tưởng đây là ma lợi hại, không ngờ lại là Minh Vương xuất hiện."
"Không phải ma quỷ, là Minh Vương, nên dùng pháp tất nhiên vô hiệu."
"Tôi muốn biết câu trả lời, vì sao ý trời lại như vậy?" - Tôi hỏi.

Vì Hàng Tam Thế Minh Vương đã hiện nguyên hình, biết chuyện này cũng không cần giấu giếm nữa, nên Minh Vương kể rõ đầu đuôi cho tôi:
Trong vòng nhân quả tuần hoàn, Kim Ký là một thân phận rất đặc biệt, kiếp trước anh ta là một người tu hành, rất tinh tấn, nhưng đáng tiếc tâm thuật không ngay thẳng.
Kiếp này theo đuổi Phật pháp, vẫn còn cuồng nhiệt, có thể thâm nhập, có cảnh giới ngộ.
Tâm thuật không ngay thẳng vẫn y như cũ.

Người này lưu lại ở Chân Phật Tông, anh ta sẽ có được nhiều Mật pháp, sẽ trở thành A Xà Lê cao hơn rất nhiều Thượng sư. 
Nhưng càng có pháp lực cao, ma lực càng tinh xảo, về sau lòng tham quyền lực của anh ta tăng lên rất nhiều, chắc chắn sẽ dốc sức phá hoại toàn bộ Chân Phật Tông, cuối cùng tự lập tông phái riêng, tương lai thật đáng sợ.
Chân Phật Tông không còn là tông phái tu hành nữa.
Chân Phật Tông biến thành tông phái đấu tranh quyền lực.
Chia năm xẻ bảy.
Sụp đổ.
(Nghe đến đây, tôi thầm kinh thán.)

Hàng Tam Thế Minh Vương nói tiếp:
Vì Chân Phật Tông có các Mật pháp thực tu, từ Tứ gia hành, Thượng sư tương ứng, Bổn tôn pháp, Ngũ Đại Kim Cang Minh Vương, Vô thượng mật, Đại viên mãn.
Chính pháp tự nhiên có Hộ pháp thần bảo hộ, khi tất cả Hộ pháp Minh Vương hiểu rõ mọi nhân quả trước sau, đều rất lo lắng.
Vì vậy trước tiên đã báo mộng cho Liên Sinh Hoạt Phật.
Tất cả Hộ pháp Minh Vương cùng nhau nghĩ cách, cách đó chính là để Hàng Tam Thế Minh Vương nhập vào tâm của Kim Ký, giả dạng yêu ma, quấy nhiễu tâm của Kim Ký, khiến anh ta mê muội.
Liên Sinh Hoạt Phật thi triển bất kì pháp nào cũng đều vô hiệu.

Vì vậy Kim Ký sẽ nghĩ rằng pháp lực của Liên Sinh Hoạt Phật không có gì đặc biệt, rất tầm thường, chi bằng rời khỏi Chân Phật Tông!
Chỉ cần Kim Ký rời khỏi Chân Phật Tông, tương lai của Chân Phật Tông mới được bảo toàn.
Đây chính là kế hoạch của tất cả Kim Cang Minh Vương Hộ pháp.
Nghĩa là:
Sau khi Kim Ký rời khỏi Chân Phật Tông, bệnh ma sẽ tự nhiên dần dần biến mất.
Nếu Kim Ký không rời đi, Hàng Tam Thế Minh Vương sẽ mãi mãi quấn lấy anh ta, khiến anh ta không sống không chết.

🌟

Tôi đã hiểu rõ toàn bộ nguyên nhân kết quả.
Bồ Tát là Bồ Tát, cũng là ma. Minh Vương là Minh Vương, cũng là ma.
Tôi gọi Kim Ký đến:
"Không còn cách nào nữa!" - Tôi nói.
Kim Ký trả lời:
"Pháp lực của tôi lớn, ma lực cũng lớn, sư phụ giờ đã vô dụng, không đáng để tôi quan tâm!"
"Vậy anh hãy đi tìm bậc cao minh khác đi!" - Tôi nói.
"Đúng vậy, tôi đã nhận được điềm báo, nếu tôi rời khỏi Chân Phật Tông, bệnh ma sẽ tự khỏi, điều này rất hợp ý tôi."
"Phải, phải." - Tôi gật đầu.
Kim Ký đã đi rồi. Từ đó về sau không còn tin tức gì về anh ta nữa.


### 12. Sơn trang thủy tử linh


Một đêm, khoảng 2 giờ.
Bỗng nghe có người gõ nhẹ vào cửa sổ dài sát đất, tôi bò dậy, kéo rèm ra và hít một hơi lạnh.
Bên ngoài cửa sổ, vô số linh hồn hài nhi chen chúc nhau, tôi thấy có đến hàng vạn, đủ các chủng tộc. Tôi mở cửa sổ, vội hỏi:
"Có chuyện gì?"
Đáp:
"Cô quạnh đáng thương!"
"Hãy mau đi đầu thai." - Tôi nói.
"Đợi lâu quá rồi, trong lòng thật hoang mang."

Một linh hồn hài nhi nói:
"Chúng con đông quá mà nhà cửa thì ít quá, khó tìm lắm! Khó tìm lắm!" (Nhà cửa tức là thân xác con người.)
Tôi hỏi linh hồn hài nhi đang đối đáp:
"Mẹ con là ai?"
"Là cô Vân."
"Là cô Vân sao, cô Vân là đệ tử của ta, ta đâu biết cô ấy phá thai, bỏ con!" - Tôi giật mình kinh ngạc.
"Sư Tôn Lư còn nhiều điều chưa biết lắm!" - Linh hồn hài nhi nói - "Tất cả chúng con đây đều là con của cô Vân."
"Bao nhiêu đứa? Có nhầm không?"
"Không nhầm."
Tôi đếm thử, linh hồn hài nhi của cô Vân có đến năm đứa, tôi thực sự rùng mình sởn gai ốc, cô Vân còn trẻ, chưa kết hôn mà đã bỏ đi năm đứa con.
Tôi sững sờ.

Linh hồn hài nhi nói: "Chúng con biết Liên Sinh Hoạt Phật Lư Sư Tôn là bậc cao sĩ giác ngộ, độ dương độ âm, có pháp thí, tài thí, vô úy thí. Vì vậy, chúng con đã hẹn nhau, không sợ lộ mặt, đặc biệt đến cầu xin Lư Sư Tôn ban cho chúng con một nơi an trú cho linh hồn."
Tôi nói:
"Chùa Lôi Tạng ở Seattle có điện công đức!"
"Quá nhỏ, không thích hợp cho linh hồn hài nhi."
"Các con muốn nơi nào?"
"Cầu Vồng sơn trang." - Linh hồn hài nhi nói: "Cầu Vồng sơn trang rộng bốn mươi mẫu, cây cối hoa lá sum suê, có chư vị Bồ Tát, đêm trăng thanh vắng, rất thích hợp để nghe kinh."
"Làm sao an trí?"
"Lập vô số tượng thủy tử linh."
"Lập như thế nào?"
"Bất cứ nơi đâu cũng được."

Linh hồn hài nhi nói: "Nếu hàng vạn linh hồn hài nhi được vào Cầu Vồng sơn trang, linh hồn sẽ không còn phiêu bạt, tâm thần sẽ không còn mê muội. Như vậy, sẽ không quấy nhiễu cha mẹ ở dương gian, không giáng họa giáng ương, điều này sẽ cứu được cha mẹ ở dương gian, cũng cứu được hàng vạn linh hồn hài nhi. Linh hồn hài nhi cũng có linh lực, có thể khiến Cầu Vồng sơn trang rực rỡ như một vương quốc."
Tôi cười ha hả:
"Vậy Cầu Vồng sơn trang chẳng phải thành vương quốc của linh hồn hài nhi sao?"
"Đúng vậy." - Linh hồn hài nhi đồng thanh reo hò.
"Từ từ đã, từ từ đã, ta còn chưa đồng ý!" - Tôi nói.
Linh hồn hài nhi khóc:
"Trong cô tịch, chúng con đã bàn bạc với nhau, cảm thấy con đường này nhất định thông suốt. Bởi vì Liên Sinh Hoạt Phật là người có lòng từ bi nhất, Liên Sinh Hoạt Phật cũng là thần nhân, không sợ thân xác đẫm máu của chúng con, cũng không sợ sự u mê của chúng con, tuyệt đối sẽ không xua đuổi chúng con - những linh hồn hài nhi, không từ chối khiến chúng con đứng ngoài cửa!"

Tôi trầm ngâm.
Tôi nói: "Cầu Vồng sơn trang là địa thế 'thất tinh lạc địa', có Ngũ phương Phật, bát đại Bồ Tát, Kim Cang Hộ pháp, tứ đại Thiên vương, chư thiên hộ pháp. Có long thần, thổ địa, sư thần, làm sao có thể nói cho là cho được?"
Linh hồn hài nhi nói:
"Chuyện này không sao cả. Chúng con vào đó chính là để quy y Như Lai, thọ Bồ Tát giới, sám hối nghiệp chướng, nghe kinh tu hành, gột rửa tội nghiệp của mình. Tuyệt đối không dám làm bậy, nếu có làm bậy, Kim Cang Hộ pháp cũng không tha cho chúng con đâu, chúng con thật sự chỉ cầu xin một nơi an thân lập mệnh!"
Linh hồn hài nhi khẩn thiết cầu xin.

"Thưa Sư Tôn Lư, nếu Ngài không mở cửa Cầu Vồng sơn trang, chúng con - những đứa con của cô Vân, do có duyên gần gũi với cô Vân đã lâu, khiến cô ấy thân thể suy yếu, tinh khí bị đoạt, đi đứng như ma mị, mọi việc không suôn sẻ, không ai có thể trừ khử được, đây là do nhân quả vậy. Lẽ nào Sư Tôn Lư thấy đệ tử như vậy mà không cứu giúp?"
"Các con ghê thật, lời này nghe như đe dọa!"
"Không phải đe dọa đâu, chúng con là linh hồn hài nhi, mỗi đứa đều có lãnh địa riêng, sự thật là như vậy."
"Ta cũng biết đó là sự thật, trong kinh điển Phật môn có một bộ 'Phật Thuyết Trường Thọ Diệt Tội Hộ Chư Đồng Tử Đà-la-ni Kinh', kinh này nói rất rõ ràng."
"Sư Tôn Lư có cứu cô Vân không?"
"Cứu."
"Vậy chúng con đã có chỗ nương thân rồi!" - Các linh hồn hài nhi reo hò.
Tất cả bọn họ muốn đảnh lễ tôi.

Tôi nói:
"Hãy khoan, ta còn phải thỉnh giáo ba Bổn tôn."
Linh hồn hài nhi nói:
"Lư Sư Tôn là chủ nhân của sơn trang, chủ nhân đã đồng ý thì ba Bổn tôn chắc chắn sẽ đồng ý."
"Sao lại nói vậy?"
"Chẳng phải đã nghe nói rằng Mật giáo Căn bản Thượng sư là tổng nhiếp của Tam Bảo Phật, pháp, tăng sao? Chư tôn đàn thành đều nương theo Căn bản Thượng sư mà sinh khởi."
"Tuy nói vậy, cũng phải tôn trọng, tôn trọng."

Đúng lúc đó, tại một nơi không xa trong hư không, Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn, Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật, và u minh giáo chủ Địa Tạng Vương Bồ Tát hiện thân, gật đầu mỉm cười.
Các linh hồn hài nhi đảnh lễ tôi.
Đảnh lễ ba Bổn tôn.
Hàng vạn vạn linh hồn hài nhi bay về phía Cầu Vồng sơn trang.

🌟

Tôi nói với Thượng sư Liên Ấn:
"Hãy nhanh chóng đúc tượng thủy tử linh (linh hồn hài nhi)."
Tượng thủy tử linh có hai dạng: tư thế đứng và tư thế ngồi.
Rất trang nghiêm, rất đáng yêu.
Được đúc đồng thời ở Đài Loan và Trung Quốc Đại Lục.
Mỗi linh hồn một tượng, hoặc nhiều linh hồn một tượng, pháp sư Liên Vạn ở Cầu Vồng sơn trang cũng tự tay đúc, làm ra những tượng với diện mạo rất dễ thương, ai thấy cũng yêu thích.
Việc cúng dường linh hồn hài nhi, tất cả tùy tâm.

Tại Cầu Vồng sơn trang, các linh hồn hài nhi sẽ được phân chia theo màu sắc trang phục thành các khu vực: khu trắng, khu đỏ, khu vàng, khu xanh lá, khu xanh dương, khu đen. Sau khi cúng dường, muốn tìm linh hồn hài nhi của mình sẽ rất dễ dàng.

Các Thượng sư và pháp sư ở Cầu Vồng sơn trang hàng ngày sớm tối tụng kinh, trì chú, niệm Phật, cúng thí thực, cúng dường, tu pháp, sám hối, hồi hướng...
Linh hồn hài nhi an thân lập mệnh.
Linh hồn hài nhi phúc huệ tăng trưởng.
Linh hồn hài nhi thủ hộ bình an.
Linh hồn hài nhi thành tựu Phật quả.

🌟

Tôi viết hai bài kệ:
*Hài linh tới tấp loạn thế gian
Một khi quy y thấy thiên đường
An định hồn phách tắm cam lộ
Ngày ngày tu hành chứng Phật tiên.*

Lại nữa:
*Phá thai đâu phải phá là xong
Vốn có nhân quả khổ liên hoàn
Cúng dường linh nhi hóa thái bình
Tăng phúc tăng huệ thọ thêm dài.*

Ghi chú: Cá nhân tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) cảm thấy rất vui mừng khi có thể cứu độ các linh hồn hài nhi trong thiên hạ và siêu độ thủy tử linh. Làm được như vậy, yêu ma không sinh, quỷ quái ngày càng ít, đây là pháp sự cầu an. Nếu không tin, hãy xem phần phụ lục của sách này: Phật Thuyết Trường Thọ Diệt Tội Hộ Chư Đồng Tử Đà-la-ni Kinh.


### 13. Khai thị trong buổi đại pháp hội Hộ Ma Đại Uy Đức Kim Cang


(Khai thị của Liên Sinh Hoạt Phật tại pháp hội tổ chức tại Meydenbauer, Seattle, Hoa Kỳ ngày 13 tháng 9 năm 1998.)

Các vị Thượng sư, pháp sư, xin chào mọi người!
Trước tiên, chúng ta đảnh lễ chư vị tổ sư qua các đời - Liễu Minh Hòa Thượng, Thượng sư Thubten Dhargye, Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16, Thượng sư Sakya Chứng Không, nhất tâm kính lễ chư Phật Bồ Tát và chư thiên hộ pháp.

Hôm nay chúng ta tu pháp Hộ Ma Đại Uy Đức Kim Cang Minh Vương, sau đó sẽ truyền quán đảnh pháp Vãng sinh Ma Ha Song Liên Trì nhanh nhất cho mọi người.

Thông thường, khi thực hiện Hộ Ma Đại Uy Đức Kim Cang Minh Vương, chúng ta sẽ truyền quán đảnh Đại Uy Đức Kim Cang Minh Vương cho mọi người. Nhưng hôm nay chúng ta lại truyền pháp Vãng sinh Ma Ha Song Liên Trì nhanh nhất. Tại sao vậy? Mọi người biết rằng, A Di Đà Phật là một Pháp thân Phật, hóa thân của Ngài là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, và Đại Uy Đức Kim Cang Minh Vương là Hộ pháp của Ngài. Vì vậy, có thể nói A Di Đà Phật, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Uy Đức Kim Cang và Liên Hoa Đồng Tử thuộc cùng một hệ thống. Cũng có thể nói rằng, Liên Hoa Đồng Tử chính là A Di Đà Phật, và A Di Đà Phật, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Uy Đức Kim Cang, ba thân hợp làm một thân, nên hôm nay truyền pháp Vãng sinh Ma Ha Song Liên Trì nhanh nhất là phù hợp. Đây là điều tôi muốn giải thích rõ với mọi người, thứ tự quán đảnh này là có thể được.

Thông thường, làm Hộ Ma gì thì quán đảnh pháp đó, ví dụ sau này các bạn đừng làm Hộ Ma Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu mà lại truyền quán đảnh Lục Độ Mẫu; hoặc làm Hộ Ma Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát mà lại truyền quán đảnh Quan Thế Âm Bồ Tát, như vậy là không phù hợp.

Có lẽ có người sẽ hỏi, hôm nay pháp hội Hộ Ma thế nào? Mỗi lần làm Hộ Ma, tôi đều quán tưởng, trì chú, nhập Tam ma địa. Lần Hộ Ma này, khi chưa đbỏ cúng phẩm vào lò và chưa đốt lửa, Đại Uy Đức Kim Cang đã giáng xuống thân tôi. Tôi không nói dối, trước mặt chư Phật Bồ Tát, tôi cũng không dám nói dối, khi chưa đốt lửa, tôi đã nhập Tam ma địa, Đại Uy Đức Kim Cang đã giáng xuống thân tôi, hợp nhất với tôi. Điều này khác với việc bị quỷ thần nhập, quỷ thần nhập có khi còn gây phiền phức cho bạn, ở Hồng Kông có thể bạn sẽ lên Thanh Sơn, ở Mỹ bạn sẽ "bay qua tổ chim cúc cu". Khi Phật Bồ Tát hợp nhất với bạn, toàn thân bạn sẽ rất mát mẻ, trong lòng rất hoan hỷ, và cảm thấy tràn đầy pháp lực. Hộ Ma hôm nay rất tốt, thật là SO SPECIAL, SO NICE AND SO WONDERFUL. Thành thật mà nói, tôi rất ít khi làm Hộ Ma tốt như vậy, Hộ Ma hôm nay thật hoàn hảo.

Hôm nay tôi cũng muốn báo cáo với mọi người rằng, điện Hộ Ma ở Cầu Vồng sơn trang đã hoàn thành được một nửa. Ban đầu dự kiến sẽ hoàn thành vào dịp pháp hội này, nhưng ở các nước phương Tây, bạn không thể vội vàng được, chỉ riêng việc xin giấy phép đã kéo dài nửa năm. Tại sao lại lâu như vậy? Bởi vì còn phải lắp đặt thêm hệ thống thoát nước, sau khi thiết kế xong còn phải kiểm tra thẩm định, lúc thì người phụ trách bị ốm, lúc thì người phụ trách đi nghỉ phép, lúc thì vợ họ sắp sinh con, nên hồ sơ cứ bị trì hoãn, cuối cùng khi hồ sơ được duyệt thì công nhân lại thường xuyên nghỉ, vì thế mà kéo dài đến tận bây giờ. Tuy nhiên tôi tin rằng, với thời gian, mọi việc sẽ tốt đẹp và hoàn thành. Tôi hy vọng sẽ hoàn thành trước khi gió núi thổi đến, nếu không mái nhà sẽ bị thổi bay mất.

Có một vấn đề tôi thường xuyên nghĩ đến, Cầu Vồng sơn trang có rất nhiều đất trống, rất nhiều cây, khuôn viên rộng 40 mẫu Anh, quy đổi theo đơn vị Đài Loan là khoảng 30 giáp [khoảng 162.000 m2]. Tôi đang tự hỏi nên tận dụng như thế nào cho tốt? Chư Phật Bồ Tát đã chỉ dạy rằng, sau này sơn trang Cầu Vồng sẽ trở thành sơn trang Thủy Tử Linh, rừng cây và toàn bộ ngọn núi sẽ được dựng tượng các vong linh thai nhi (tượng hài linh), tức là tượng Địa Tạng Đồng Tử, khắp núi non.

Tôi nhận thấy vấn đề của các vong linh thai nhi rất nghiêm trọng. Có những cha mẹ chụp X-quang khiến thai nhi dị dạng, sinh ra đã khuyết tật hoặc thiểu năng trí tuệ, thậm chí tử vong hoặc gặp nhiều rắc rối, khiến trẻ không được bình an, người lớn cũng không thể an tâm. Theo lời Phật dạy, như vậy rất khó tu hành, đồng thời cũng sẽ gây ra nhiều tai ương, cơ thể bị ảnh hưởng, tâm hồn cũng bất an. Vì vậy, Sư Tôn cho rằng, việc biến sơn trang Cầu Vồng thành sơn trang Thủy Tử Linh cũng rất tốt, có thể chăm sóc tất cả các vong linh thai nhi, cúng dường, tụng kinh trì chú và phóng quang chiếu rọi cho các em, khiến các vong linh được bình an, có thể tu hành tốt. Mẹ tôi có thể trở thành người dẫn đầu của các vong linh thai nhi, là Bồ Tát của các vong linh thai nhi, là Quan Thế Âm Thủy Tử Linh Bồ Tát. Ý tưởng này đã nhận được sự gia hộ của chư Phật Bồ Tát và chư thiên hộ pháp.

Khi chúng được tụng kinh gia trì, được năng lượng trì chú, thậm chí được vãng sinh, điều này sẽ giúp người lớn được bình an trong tâm, tránh được tai ương và có thể tu hành tốt. Các vong linh thai nhi ở trong sơn trang, ở dương gian được Thượng sư Liên Ấn gia trì, còn ở cõi trung ấm có mẹ tôi chăm sóc, mẹ tôi giống như viện trưởng của một nhà trẻ vậy, như thế cũng tốt.

Sau này nếu ai muốn cúng dường vong linh thai nhi của mình, bao nhiêu tượng cũng được, hoàn toàn tùy ý! Thậm chí chỉ cúng một đồng, hoặc miễn phí, cũng đều được. Nếu bạn nói rằng một đồng cũng không có, cũng không sao cả, bạn muốn bao nhiêu tượng, chúng tôi sẽ cho bạn bấy nhiêu, tất cả đều miễn phí, do Sư Tôn cúng dường. Sư Tôn cho rằng trong cảnh giới của linh hồn trung ấm, điều quan trọng nhất là sự bình an và thanh thản của tâm hồn.

Tổ tiên của chúng ta, nếu được bình an và thanh thản trong cõi trung ấm, thì con cháu ở dương gian cũng sẽ được khỏe mạnh, tai ương cũng sẽ tiêu tan, tâm hồn cũng được bình an, đây là quy luật tương hỗ. Nếu họ không được bình an, họ sẽ tìm đến bạn, bởi vì nhân duyên giữa cha mẹ và con cái sâu đậm nhất, nên khi họ không được bình an, chắc chắn họ sẽ tìm đến người thân của mình, đây hoàn toàn là quan hệ nhân quả.

Qua con mắt pháp của tôi quan sát, cái chết không tự nhiên là điều đau khổ nhất, sinh mệnh không thể bị hủy hoại một cách tùy tiện. Nhưng nếu bạn có thể cúng dường họ, giúp họ được bình an trong tâm, đó là phúc báo vô thượng. Trong cõi trung ấm là như vậy, ở dương gian cũng vậy, tâm phải được bình an thì mới có thể tu hành, tâm mới có thể tỏa sáng. Chỉ có tâm an tịnh mới có thể phóng quang.

Ngoài ra, có người cũng đặt ra vấn đề hiến tặng nội tạng khi người chưa mất, như giác mạc, tim, thận... Có người cho rằng khi người chết, cần có ba ngày để thần thức hoàn toàn rời khỏi cơ thể, sau đó mới có thể động đến thi thể, nhưng điều này dường như không khả thi trong thời đại ngày nay. Ở bệnh viện, ngay khi người ta chết, họ lập tức động đến thi thể, đưa vào nhà xác hoặc xử lý thi thể. Trừ khi bạn ở nhà, sau ba ngày mới xử lý, để cho thần thức rời đi một cách an lành. Khi hiến tặng nội tạng, có trường hợp thần thức chưa hoàn toàn rời khỏi, bác sĩ đã phải tiến hành lấy nội tạng.

Theo lời dạy của chư Phật Bồ Tát, khi bạn phát tâm bồ đề và muốn hiến tặng nội tạng lần cuối cùng, tất cả chư Phật Bồ Tát sẽ phóng quang gia hộ cho bạn. Lúc này tâm bạn sẽ rất an bình, sẵn sàng hiến tặng tim, thận, giác mạc của mình để lợi ích chúng sinh khác. Tâm nguyện này là một nghiệp trắng, sẽ tỏa ra một luồng ánh sáng cát tường màu trắng. Khi đó, chư Phật Bồ Tát sẽ đến hộ trì cho bạn, phóng quang tiêu trừ khổ đau của bạn và tiếp dẫn thần thức của bạn vãng sinh Tây phương. Vì vậy, phát tâm bồ đề và hiến tặng nội tạng của mình lần cuối cùng để lợi ích chúng sinh khác, đó chính là hạnh của Bồ Tát.

Vì vậy, nếu có người nói rằng không được hiến tặng nội tạng của mình cho người khác, vì cơ thể bạn bị động chạm, thậm chí bị mổ xẻ, bạn sẽ rất đau đớn, thần thức của bạn sẽ không được bình an, quan điểm này không phù hợp với Phật pháp. Khi bạn hiến tặng nội tạng lần cuối cùng, tâm bạn sẽ tỏa ra ánh sáng trắng, chư Phật Bồ Tát sẽ phóng quang gia hộ cho bạn, khiến bạn không phải chịu đau đớn và tiếp dẫn bạn vãng sinh Tây phương. Vì vậy, tôi khẳng định rằng, việc hiến tặng nội tạng là được phép!

Ngoài ra, về việc làm thế nào để tiêu trừ nghiệp chướng? Trong cuộc đời con người, thực sự có quá nhiều khó khăn, có bệnh tật của bản thân, bệnh tật của con cái, khó khăn trong sự nghiệp... đủ loại phiền não đè nặng lên chúng ta. Nhưng tôi cảm thấy, chúng ta vẫn nên gánh chịu ở cõi người thì tốt hơn; nếu gánh chịu ở cõi súc sinh thì đau khổ hơn nhiều, vô minh quá nặng; còn nếu gánh chịu ở địa ngục, càng đau khổ hơn nữa. Vẫn là gánh chịu ở cõi người tốt hơn, khi nghiệp đã trả xong, tự nhiên sẽ tiêu tan. Còn về cách tiêu trừ nghiệp chướng thì sao? Theo Mật giáo, cần phải trì chú, niệm Phật, làm Hộ Ma, cúng dường, cầu nguyện chư Phật Bồ Tát phóng quang gia hộ cho mình, chư Phật Bồ Tát Kim Cang Hộ Pháp đến kết giới, bảo hộ. Ngoài ra, chúng ta cần phát tâm bồ đề, làm việc thiện, tạo nghiệp trắng, tránh để nghiệp đen càng ngày càng nhiều. Giống như tôi đã từng nói trước đây, có tám phương pháp tiêu trừ nghiệp chướng, mọi người đọc xong sẽ hiểu rõ.

Vì vậy chúng ta cần làm nhiều việc thiện, mỗi ngày dành thời gian cố định để niệm Phật, trì chú, tụng kinh, siêu độ tiêu tai, làm Hộ Ma, cúng Phật, sám hối, làm liên tục không ngừng, và còn có pháp sám hối Bách tự minh chú của Kim Cang Tát Đỏa, giúp chuyển hóa nghiệp của bạn thành không. Tất nhiên không phải là hôm nay bạn trì chú xong thì nghiệp sẽ tiêu trừ ngay, có những nghiệp nặng, có những nghiệp từ đời trước đã thành định nghiệp, đã in dấu trên thân bạn. Định nghiệp rất khó thay đổi, là nghiệp mà đời này bạn nhất định phải gánh chịu, cần phải có năng lực pháp lực rất lớn, rất nhiều công đức mới có thể tiêu trừ được.

Kinh Phật cũng đề cập đến "định nghiệp không thể chuyển", ngay cả Như Lai cũng không thể chuyển. Nếu như vậy, mọi người chắc chắn sẽ rất nản lòng, vì thế chúng ta phải tìm cách chuyển định nghiệp thành bất định nghiệp. Cơ bản thì nghiệp vẫn phải gánh chịu, nên chúng sinh rất khổ.

Tôi cũng đang tìm cách để trong đời này độ được nhiều người hơn, nhiều chúng sinh hữu duyên hơn, đây là ước nguyện trong tâm tôi, mong rằng nghiệp của chúng sinh có thể nhanh chóng thanh tịnh, mong rằng nghiệp của chúng sinh nhanh chóng tiêu trừ, không còn đau khổ, chỉ có hạnh phúc, như Tứ vô lượng tâm đã dạy, phải đầy đủ niềm vui và nhân của niềm vui, cũng như thoát khỏi khổ đau và nhân của khổ đau.

Điều này khiến tôi nhớ ra rằng, mỗi khi mở Chân Phật Báo, trang 2 thường đăng bài viết của Sư Tôn, cuối cùng cũng có mục "Chân Phật Luận Kiếm" của tôi, đôi khi phía trước cũng đăng tải ý kiến của tôi, hoặc đăng những bức ảnh Sư Tôn thuyết pháp thường ngày.

Cá nhân tôi nghĩ rằng, có thể đăng ít bài viết của tôi hơn, bởi vì những bài viết đó đều sẽ được xuất bản thành sách, tốt nhất là đăng nhiều bài viết của các Thượng sư, pháp sư và đồng môn hơn. Về hình ảnh cũng vậy, không nên đăng quá nhiều. Khi mở Chân Phật Báo ra, phía trước, phía sau, ở giữa đều có rất nhiều ảnh, giống như một tập ảnh vậy, tôi nghĩ sau này tôi sẽ tự xuất bản tập ảnh riêng. Tốt nhất là chỉ cần một tấm ảnh, một hoặc hai bài viết là đủ, nên đăng nhiều bài viết của các Thượng sư, pháp sư và đồng môn hơn, như vậy mọi người đều công bằng, có cơ hội được đăng bài. Cũng nên đăng những tấm ảnh đẹp trai, xinh gái của các bạn, Sư Tôn ngày càng già, ngày càng khó nhìn, ngày càng xấu, các bạn đăng ảnh của Sư Tôn, Sư Tôn nhìn thấy sẽ đau đầu. Điều này rất quan trọng, phải bình đẳng, bởi vì mọi người đều là Phật mà! Không phải chỉ có Sư Tôn mới là Phật. Nếu chỉ có Sư Tôn mới là Phật thì Sư Tôn cũng không cần làm vị Phật này nữa.

Tất cả đều bình đẳng, tất cả mọi người đều có thể độ chúng sinh, đều có thể đăng bài, có thể đăng ảnh. Bài của tôi có thể đăng ít đi, một tấm ảnh một bài là đủ, nhiều nhất là hai bài.
Thôi, hôm nay nói đến đây.
Om mani padme hum.


### 14. Chân Phật Bảo Sám - Liên Sinh Hoạt Phật khai thị ngắn gọn ý nghĩa Chân Phật Kinh và bái sám


Sám hối (sám ma) là một phần rất quan trọng trong Phật pháp. Trong Phật pháp có các nghi quỹ lễ sám, đây chính là "sám pháp".

Trong Phật pháp có các pháp sám hối sau:
1. Lương Hoàng Bảo Sám - Pháp sám hối đạo tràng từ bi do Vua Lương Vũ Đế soạn sau khi đọc Đại Tạng để cầu siêu cho Hoàng hậu Hi Thị.
2. Thủy Sám Pháp - Pháp sám do pháp sư Ngộ Đạt nương theo vị thần tăng tu sám hối mà soạn ra pháp Từ Bi Thủy Sám.
3. Kim Quang Minh Sám Pháp - Pháp sám do đại sư Thiên Thai căn cứ vào kinh Kim Quang Minh mà sáng tác.
4. Quan Âm Sám Pháp - Pháp sám dựa theo kinh Quan Âm để tiêu trừ độc hại.
5. A Di Đà Sám Pháp - Pháp sám nương theo Phật A Di Đà, thần lực siêu việt thanh tịnh.
6. Pháp Hoa Sám Pháp - Do đại sư Thiên Thai căn cứ vào kinh Pháp Hoa mà soạn, còn gọi là Lục Căn Sám Pháp và Pháp Hoa Tam Muội Sám.
7. Dược Sư Sám Pháp - Sám văn được soạn dựa theo "Kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bản Nguyện Công Đức".
8. Phương Đẳng Sám Pháp - Sám văn do đại sư Thiên Thai căn cứ vào kinh Đại Phương Đẳng Đà-la-ni mà soạn.

Chân Phật Bảo Sám dựa theo pháp sám Chân Phật Kinh thanh tịnh ba nghiệp do tâm quang phát lộ, thấm nhuần mọi ý của Liên Sinh Hoạt Phật. Chân Phật Kinh là đại trí đại huệ, tức là Bát nhã. Bát nhã này thâm sâu như biển cả, rộng lớn như hư không, cũng là không có biên giới, phàm là chư Phật chân chính, trí huệ chân chính, đều là vô lượng vô biên. Chân Phật Kinh có hương vị thơm ngát, hoàn toàn là đức hạnh viên mãn, là trang nghiêm Tây phương Chân Phật, đầy đủ tất cả. Vì vậy, nếu thâm nhập được Chân Phật Kinh ắt sẽ đạt được trí huệ như biển.

Thế nào là "chân"? Cái gọi là chân tức là sự thật. Tôi đã từng nói với tất cả đệ tử và độc giả rộng khắp rằng, các vị quy y Chân Phật Tông, học tập Chân Phật Mật Pháp, nếu được một pháp tương ứng mà không thành Phật, tôi Lư Thắng Ngạn xin chịu trách nhiệm. Tôi viết và thuyết pháp một cách chân thật, điều này là sự thật nghìn lần, cảnh giới Ma Ha Song Liên Trì của Liên Hoa Đồng Tử cũng là sự thật nghìn lần, nếu có một câu không thật, tôi nguyện tan xương nát thịt. Vì độ chúng sinh, để mọi người thành tựu tịnh độ Liên Hoa Đồng Tử, tôi đã phát nguyện "tan xương nát thịt", như vậy không phải là "thật" hay sao?

Liên Hoa Đồng Tử độ chúng sinh cũng là dùng nguyện lực thật để độ chúng sinh, tôn chỉ này chính là "chân", tất cả đều là thật sự, không phải vọng tưởng, cũng không phải hư ảo. "Chân" chính là "tôn chỉ", là có công dụng, chính là chân lý.

Thế nào là Phật? Phật chính là bậc giác ngộ, là bậc thánh nhân tự giác và giác tha, giác hành viên mãn. Đạt được giác hành viên mãn này chính là Phật. Khi chứng ngộ vốn có hai trí huệ, một là vô thượng chính trí, tức là A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, hai là nhất thiết chủng trí, tức là Bồ Tát bát nhã. Từ chân tu hành mà đạt được Phật địa, đạt đến địa vị thành Phật.

Phật này có thể mở rộng ra:
Phật nhật: phá trừ vô minh của chúng sinh, như mặt trời phá tan bóng tối. Ví như Phật pháp từ bi rộng lớn, độ sinh vô tư, như ánh mặt trời chiếu khắp đại địa.
Phật ấn: là thật tướng các pháp, chính là pháp ấn quyết định bất biến của chư Phật.
Phật thừa: là trí huệ minh tâm kiến tính của pháp Nhất thừa.
Phật tính: là tất cả chúng sinh đều có Phật tính, là bản tính giác ngộ bất biến bất cải, là thực thể bất sinh bất diệt, chính là chân như.

Thế nào là kinh? Kinh trong tiếng Phạn là sutra, còn gọi là chân lý mà chư Phật mười phương nói, trên khế hợp với pháp tính trí huệ mà chư Phật mười phương nói, dưới thuận hợp với chân lý mà chúng sinh mười phương cần đi theo, tức là lời giảng về đạo lý tu hành, đó chính là kinh. Kinh vốn là do Như Lai thuyết.

Thế nào là Chân Phật Kinh? Một bậc giác ngộ đã đạt được minh tâm kiến tính, Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Lư Thắng Ngạn tôn giả, đã viết xuống trí huệ của Phật mà ngài đã thấm nhuần thông suốt. Đây là điều mà tất cả Như Lai đã thuyết, cho nên là Chân Phật Kinh đích thực.

Núi sông đất trời, vạn vật muôn loài, tất cả mọi thứ đều nằm trong Chân Phật Kinh.
Đó là:
Viên thông vô ngại, tức lý tức sự;
Tức một tức nhiều, tức y tức chỉ.

Cần biết rằng, Liên Hoa Đồng Tử là một trong những hóa thân của Phật, là sự nương dựa đúng đắn, biến hóa vô cùng, thường hóa hiện sông núi đại địa để nuôi dưỡng chúng sinh, và Chân Phật Kinh là như ý bảo châu biến hóa, là ánh sáng chiếu rọi chúng sinh, không thể nghĩ bàn! Chúng sinh tin nhận phụng hành sẽ có công đức vô lượng vô tận.

Về ý nghĩa của sám hối, nó giống như việc rửa sạch nghiệp chướng của bạn. Bản thân việc sám hối chính là sự tẩy rửa, "tẩy" là dùng nước để rửa, "rửa" là lau đi nghiệp chướng, để nghiệp chướng được nước gột rửa và tan biến đi.

Trước đây thường dùng một ví dụ như thế này: giống như một chiếc áo dơ bẩn cả trăm năm, bẩn thỉu đã rất lâu rồi, gần như cả trăm năm, nhưng một khi đã sám hối, giống như đem chiếc áo đó đi giặt trong nước, vừa nhấc lên đã sạch sẽ, phơi khô xong, nó lại trở nên sạch sẽ, như một chiếc áo mới vậy.

Vì thế, khi bạn sám hối xong, giống như đã được tắm gội sạch sẽ một phen, tất cả sẽ trở thành vô cùng sạch sẽ. Dù quá khứ của bạn như thế nào, sau khi sám hối xong, khi bạn đã thấu hiểu ý nghĩa của việc sám hối, thân tâm bạn sẽ hoàn toàn trong sạch.

Trong con người chúng ta có hai loại nghiệp: hắc nghiệp và bạch nghiệp. Hắc nghiệp là gì? Đó là những nghiệp chướng do thân khẩu ý tạo ra. Bạch nghiệp là gì? Đó là tất cả những hành vi và ý niệm thiện lành của bạn.

Có một ví dụ như thế này, việc sám hối giống như điều gì? Giống như một căn phòng tối om, không có chút ánh sáng nào, nhưng khi bạn bước vào trong, cầm một que diêm hay một chiếc bật lửa, vừa đánh lửa lên, ánh sáng tỏa ra, bạn có thể nhìn thấy cả căn phòng. Chỉ một ngọn lửa nhỏ thôi mà căn phòng tối đen ban nãy, giờ đây bạn có thể nhìn thấy rất rõ ràng.

Sám hối là như vậy đó, chỉ cần có một chút ánh sáng đi vào, nghiệp đen của bạn sẽ tan biến, sẽ tiêu tan đi, nghiệp đen sẽ được tẩy sạch, đây cũng là một hình thức sám hối. Một ý nghĩa của việc sám hối của chúng ta là để xóa bỏ bóng tối.

Trong Mật giáo mà nói, đó chính là để một chút ánh sáng tỏa ra từ bên trong cơ thể bạn, ánh sáng này không phải đến từ bên ngoài, mà là một chút ánh sáng được sinh ra từ bên trong cơ thể bạn. Chỉ cần trong tâm bạn có ánh sáng tâm, một chút ánh sáng phát ra, thì tất cả nghiệp chướng đều sẽ không còn, đều sẽ được tiêu trừ.

Ngày nay chúng ta là những chúng sinh trong thế giới Ta Bà, bản thân chúng ta không ai biết rằng trong thân thể mình có ánh sáng, không một ai biết trong thân thể có ánh sáng, tất cả đều bị che lấp. Trong Mật giáo cũng có nói về cách làm cho ánh sáng của bạn phát lộ, tất nhiên là phải tiêu trừ nghiệp chướng của thân khẩu ý.

Nói về thân thể, thân thể của bạn phải ngay thẳng, tôi đã nói thân phải ngay thẳng, vậy làm sao để thân được ngay thẳng? Trong Hiển giáo nói rằng thân thể bạn không được tạo nghiệp chướng. Con người chúng ta có hai tay, bạn không thể mọc ra tay thứ ba, nếu mọc ra tay thứ ba thì tay đó để làm gì? Đây chính là nghiệp của thân thể. Tôi chỉ đưa ra một ví dụ thôi, bởi vì trên thân thể bạn có sáu giác quan, nghiệp do sáu giác quan tạo ra rất là ghê gớm, đó là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể và ý, đây chính là lục giác, lục căn của chúng ta.

Sáu căn thanh tịnh thì đó là bạch nghiệp, còn nếu sáu căn phạm tội, tạo nghiệp chướng thì đó là hắc nghiệp, là nghiệp chướng đen tối. Người tu hành chúng ta phải chuyển hóa nghiệp chướng đen tối thành nghiệp chướng trong sáng. Thân phải ngay thẳng, nghĩa là thân thể không được tạo nghiệp.

Khẩu phải ngay thẳng, miệng lưỡi cũng phải chân chính, tức là không nói dối, không nói đâm thọc, không nói lời thô ác, không nói lời phù phiếm. Nói phù phiếm tức là nói chuyện vô bổ, những điều không cần thiết thì đừng nói, nói nhiều chuyện vô ích chính là nói phù phiếm. Không nói đâm thọc nghĩa là hay xúi giục, nói xấu người này người kia, cả ngày cứ đi nhà này sang nhà khác để bàn tán thị phi, khiến mọi thứ rối loạn lung tung, đó chính là nói đâm thọc. Ác khẩu là nói lời thô tục. Vọng ngữ là nói lời dối trá lừa gạt người khác, đây chính là khẩu nghiệp.

Theo kinh Phật đã nói, đừng nói những lời vọng ngữ, hai lưỡi, ác khẩu, thêu dệt, như vậy thì sẽ không phạm khẩu nghiệp. Ngược lại bạn nên nói gì? Hãy nói lời thiện, những lời khuyên thiện, nói những điều tốt đẹp, nói những lời dịu dàng, những lời thấu hiểu lòng người, những lời thiện ngữ, nhu ngữ, quan tâm. Tất nhiên những lời này cần phải nói, nếu bạn không nói được những lời như vậy thì thà làm người câm, thà không nói gì còn hơn để tránh tạo ác nghiệp.

Vì vậy này các hành giả, người tu hành thường không nói những lời vô ích, mà phải nói những lời giúp ích cho người. Trí ngữ, tức là những lời có trí tuệ, những lời có trí tuệ và có ích cho người, những lời quan tâm đến người khác, những lời khuyên người làm việc thiện, đây là những lời cần phải nói, đây thuộc về bạch nghiệp.

Đây chính là về khẩu nghiệp, các con phải nhớ những lỗi lầm do miệng lưỡi gây ra.

Còn về ý niệm, những nghiệp do ý niệm tạo ra là vô hình, về mặt pháp luật thì đây là hợp pháp. Khi ý niệm của bạn phạm tội, người khác không thể thấy được, nhưng Phật nhãn của chư Phật Bồ Tát có thể thấy được, trong cõi vô hình đây cũng là một loại nghiệp.

Nói chung, ý nghiệp rất là lợi hại, bởi vì sau khi ý niệm sinh khởi, thân và miệng của bạn mới phạm nghiệp. Có thể nói ý nghiệp là nghiệp nguyên thủy, là loại nghiệp sinh ra sớm nhất, bởi vì sau khi có ý thức mới sinh ra hành động. Về ý nghiệp của con người, theo kinh Phật nói, nó giống như ngựa phi, không ngừng nghỉ, người học thiền định sẽ biết, vừa ngồi xuống là biết ngay, ôi, ý nghiệp cứ chạy đi chạy lại không ngừng, không lúc nào dừng lại.

Làm thế nào để thanh tịnh ý nghiệp? Trong Mật giáo có nói, phải đưa ý niệm, tâm của bạn quy về không, đặt nó lên trên hư không, trên bề mặt đó là ngoại không, thực ra cái hư không bên ngoài đó được thu nhiếp vào nội tâm, có cả ngoại không và nội không, thực ra ngoại không và nội không hòa hợp làm một.

Bạn dùng cái không bên ngoài để dẫn dắt cái bên trong, pháp tính không bên trong của bạn. Khi ý nghiệp của bạn, theo như trong "Phổ Thành Kinh Điển" có nói, khi bạn có được ngoại không rồi, sẽ dẫn phát nội không bên trong bạn, nội ngoại không hợp nhất, chính là pháp tính không, khi bạn sinh ra được pháp tính không, trong thân thể bạn sẽ sinh ra vòng hào quang, một loại ánh sáng hình tròn, sẽ được sinh ra, đây chính là điều chúng ta cần.

Hành giả Mật giáo quán chiếu ánh sáng, phải thấy được ánh sáng bên ngoài và ánh sáng trong tâm của mình, dùng ánh sáng bên ngoài để dẫn khởi ánh sáng trong tâm xuất hiện. Khi ánh sáng của bạn phát sinh, ngay khi ánh sáng hiển lộ, có thể nói đây chính là ý nghĩa của sám hối. Bên trong bạn sẽ hoàn toàn sáng suốt, tâm quang vừa lộ vừa hiện, thân tâm bạn sẽ hoàn toàn sáng suốt, bởi vì vốn dĩ bạn bị nghiệp chướng trói buộc từng lớp, không thể thấy được ánh sáng.

Khi ý niệm của bạn có thể nhập vào cảnh giới không, tâm quang phát lộ, đó cũng chính là ý nghĩa của sám hối được sinh khởi, đạt được trạng thái toàn thân quang minh hiển hiện. Trong Mật giáo sử dụng phương pháp này, về mặt lý thuyết là dùng phương pháp này để hiển lộ ánh sáng.

Ý niệm ở đâu? Quy về không, dừng lại ý niệm của bạn đến vô niệm, khi quy về trạng thái không, ánh sáng tâm bên trong bạn mới có thể hiển lộ, đây gọi là ý thanh tịnh.

Khi thân thể bạn ngay thẳng, thân thanh tịnh, khẩu vốn dĩ cũng thanh tịnh, thì khi ý niệm quy về không, đạt đến trạng thái vô niệm, trạng thái như cõi trời phi tưởng, đó chính là trạng thái ý thanh tịnh.

Khi thân khẩu ý được thanh tịnh rồi thì tâm quang sẽ tự nhiên hiển lộ, đây chính là phương pháp tu hành của Mật giáo. Nhưng để có được ý niệm thanh tịnh, bạn cần phải mượn phương pháp thiền định để đạt được ý niệm thanh tịnh, mượn cách tu khí mạch minh điểm để đạt được ý niệm thanh tịnh. Vì vậy khi chúng ta tu khí, thực ra là đang điều tâm, điều ý. Khi khí rất bình ổn, rất dài, thì khí không động, tâm của bạn cũng không động, khí vừa động thì tâm liền động. Cho nên Mật giáo tu khí chính là đang điều tâm, khi bạn tu cho khí được vi tế, chậm rãi, dài lâu, tâm của bạn sẽ dần dần quy về trạng thái tĩnh chỉ, liên tục trong trạng thái tĩnh chỉ, như vậy ý niệm không còn vọng động bay nhảy, tất cả đều được thu nhiếp về, trở thành trạng thái bất động.

Khí ngưng hẳn rồi, bất động rồi, thanh tịnh rồi, ý niệm của bạn cũng tiến vào trạng thái thanh tịnh, lúc này sẽ sinh ra trạng thái vô cùng thanh tịnh, trong thời khắc vô niệm này, ánh sáng của bạn sẽ hiển lộ, đây là điều được đề cập trong "Phổ Thành Kinh", rất quan trọng.

Vậy thiền định là tu cái gì? Là tu để tâm quang phát lộ. Khi thân khẩu ý thanh tịnh, thực sự thanh tịnh, tâm quang sẽ phát lộ, đây chính là bí quyết. Tại sao bảo bạn phải thanh tịnh thân khẩu ý? Bởi vì thanh tịnh thân khẩu ý là để tâm quang phát lộ, khi tâm quang vừa phát lộ, bạn liền khai ngộ. Tất cả ác nghiệp của bạn sẽ không còn nữa.

Tất cả đều trở nên thanh tịnh, điều này có thể nói là từ trong việc lễ sám hối, trong bất kì một bản sám văn nào, ý nghĩa quan trọng nhất đều nằm ở chỗ này. Từ sự thanh tịnh của thân khẩu ý mà sinh ra tâm quang phát lộ.

Chân Phật Bảo Sám chính là dựa vào lực truyền thừa gia trì của Căn bản Thượng sư, dựa vào lực bát nhã vô thượng viên mãn của Phật, mà chân thành phát lộ sám hối, nương nhờ vào uy lực gia trì của Phật để thanh tịnh những nghiệp đen tối từ vô thủy vô minh đến nay, khiến cho ánh sáng tự thân hiển lộ.

Om mani padme hum.


### 15. Sự linh nghiệm của Hoàng Mẫu


Pháp sư Bích Yến

Trong 4 năm qua tại Seattle Lôi Tạng Tự, mỗi thứ Bảy vào giờ đồng tu, trong thư viện có một người tình nguyện hy sinh không được nghe những lời khai thị quý báu nhất của Sư Tôn trong buổi đồng tu, phát tâm dạy tiếng Trung cho người dân vùng Seattle rộng lớn. Người âm thầm phát nguyện và thực hành hạnh Bồ Tát này chính là cô giáo trường Trung văn của Lôi Tạng Tự - sư tỷ Liên Hoa Chân Ngộ.

Ngày 18 tháng 10, như thường lệ trước khi đi ngủ, cô ấy thực hành một thời khóa tu Chân Phật Mật Pháp. Trong lúc trì chú, cô nhìn thấy rất rõ ràng một cảnh tượng: bầu trời xám xịt, một chiếc xe đang lao nhanh về phía cô. Trong lòng cô cảnh báo đó là tai nạn xe, nhưng sau đó cô không để tâm nhiều. Sáng sớm ngày 19 tháng 10, cô vẫn như mọi ngày cúng dường, lễ Phật, rồi lái xe vừa trì chú vừa đi làm. Lúc 7 giờ 25 phút, khi xe đến ngã tư đường 170 STREET NE và 15 AVE ở Seattle, có hai cụ bà nắm tay nhau định băng qua đường, nên cô dừng xe chờ đợi. Bất ngờ một tiếng động kinh hoàng vang lên bên tai, xe bị va chạm mạnh từ phía sau, phần đuôi xe hoàn toàn bị phá hủy, đầu xe của đối phương bị bẹp thành hình tam giác, nát bét. Cô hoảng hốt, thực sự đã xảy ra tai nạn xe, và bầu trời lúc đó cũng xám xịt y như trong cảnh tượng đã thấy đêm qua.

Xe cứu thương nhanh chóng đưa cô ấy đến bệnh viện. Do không có thương tích bên ngoài đặc biệt nên cô được xuất viện ngay. Tuy nhiên, trong cả tuần tiếp theo, từ cổ đến chân, toàn thân không chỗ nào là không đau. Nghỉ ngơi vài ngày, vết thương không những không thuyên giảm mà còn trở nên tệ hơn. Ngực gần như không thở được, đau từ ngực trước thẳng đến lưng sau, cả cột sống đau đến mức không thể duỗi thẳng. Mỗi ngày phải đi khám bác sĩ hai lần nhưng hoàn toàn không có chút tiến triển nào. Cột sống bị lệch đè lên dây thần kinh, thường xuyên khiến cô đau đến mức toát mồ hôi lạnh, nước mắt tuôn trào, hoàn toàn không thể tu pháp, trì chú, chứ đừng nói đến ngồi thiền.

Ngày 31 tháng 10, khi biết mình không thể đến Lôi Tạng Tự dạy trường Trung văn được nữa, cô mới lịch sự gọi điện đến chùa, trình bày tình trạng của mình và nhờ các pháp sư sắp xếp cho học sinh. Khi pháp sư biết được tình trạng thương tích của cô liền nhanh chóng báo lên Sư Tôn. Sư Tôn vì lòng từ bi mà nhíu mày, lập tức vào mật đàn, đích thân vẽ một lá phù dừng đau và một lá phù chỉnh xương. Khi Sư Tôn cầm bút chu sa chuyên chú ngưng thần nhập quán, trong khoảnh khắc hư không tràn ngập linh khí, hiện ra một vị Diêu Trì Hoàng Mẫu vô cùng đặc biệt, đầu đội mũ phượng bảy màu, dung mạo trang nghiêm tuyệt mỹ phi thường. Sau khi ra khỏi đàn, Sư Tôn nói: Uống phù này cô ấy sẽ khỏi. Bởi vì: 1. Cô ấy có lòng tôn kính và tin tưởng một trăm phần trăm đối với Căn bản Thượng sư của mình, 2. Rất coi trọng Phật pháp, thường làm việc tốt đẹp cho người khác, hy sinh bản thân để người khác có thể nghe được những lời khai thị quý báu của Sư Tôn, và âm thầm làm việc thiện không muốn người khác biết, 3. Tự mình ngày ngày tinh tấn thực tu. Đây là do tâm thiện tích tụ ánh sáng của cô cảm ứng, Diêu Trì Hoàng Mẫu thích giúp đỡ người có tâm địa thiện lương. Một lời nói của Sư Tôn khiến chúng tôi - những người bình thường tu trì chưa đủ thực chất - phải sững sờ.

Tối hôm đó, sư tỷ Chân Ngộ cố chịu đau đến Lôi Tạng Tự nhận hai lá phù. Với lòng thành kính, cô về nhà tắm rửa sạch sẽ rồi vào mật đàn. Điều kỳ diệu là: hai lá phù do Sư Tôn đích thân vẽ đã giúp cô có thể hoàn thành một thời khóa tu pháp Thượng sư tương ứng và trì tụng 1080 biến thần chú Thượng sư. Sau khi uống lá phù thứ nhất, đêm đó là đêm ngon giấc và yên bình nhất kể từ khi gặp tai nạn xe hai tuần trước.

Sáng sớm hôm sau, ngày 1 tháng 11, vừa thức dậy cô liền vào mật đàn, lại như pháp tu trì 1080 biến thần chú Thượng sư rồi uống lá phù còn lại. Ngay lập tức toàn thân mát mẻ, tất cả cơn đau nhức nơi cột sống kỳ diệu biến mất như lời Sư Tôn nói, hoàn toàn khỏi hẳn, tinh thần sảng khoái. Bác sĩ gia đình và bác sĩ chuyên khoa cột sống của cô đều kinh ngạc cho rằng điều này thật không thể tin được, bởi theo chẩn đoán chung của họ thì cần phải nghỉ ngơi và điều trị một thời gian dài mới có thể đi làm lại. Còn theo nguyên lý Đông y, thương tổn gân cốt phải mất một trăm ngày mới có thể phục hồi.

Ngày 1 tháng 11, cô đã gửi email đến phòng kế toán Đại học Washington báo với cấp trên rằng ngày 2 tháng 11 có thể đi làm lại.

Phép màu thần diệu như vậy khiến cô không thể diễn tả hết lòng biết ơn với Sư Tôn, Kim Mẫu và chư Phật Bồ Tát, những giọt nước mắt lăn trên khoé mắt. Cô nói: "Con nguyện đi khắp nơi làm chứng và kể về lòng đại từ đại bi, thần lực kỳ diệu và pháp môn Chân Phật thù thắng vĩ đại của Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật."

Chỉ vì cô hoàn toàn tin tưởng và nương tựa vào Căn bản Thượng sư, giữ tâm nguyện Bồ Tát, là hành giả Chân Phật, tinh tấn thực tu hàng ngày, nên trong khúc quanh không thể tránh khỏi của cuộc đời, cô đã cảm ứng được Sư Tôn, Kim Mẫu và chư Phật Bồ Tát đích thân đến cứu độ giải nạn.

Căn bản Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật của Chân Phật Tông là hiện thân tổng thể của thân, khẩu, ý của tất cả chư Phật trong mười phương ba đời, đầy đủ tất cả thần thông diệu pháp cứu độ thế gian, với nguyện lực đại bi xem nỗi đau của chúng sinh như nỗi đau của chính mình, xem nỗi khổ của chúng sinh như nỗi khổ của chính mình. Dù bệnh khổ khó chịu đựng, đau đớn khó kham, nhưng trong trái tim đại bi của bậc thành tựu, tất cả đều trở thành lời nói nhẹ nhàng: "Có thể giúp được người khác thì bản thân chịu một chút khổ cũng không sao."


### 16. Sự thần kỳ của Bồ Tát Mẹ


Ngày 2 tháng 4 năm 1998, sau khi mẹ tôi Lư Ngọc Nữ Bồ Tát vãng sinh Phật quốc, ngoài việc để lại hạt xá lợi, hoa xá lợi, răng xá lợi, còn có rất nhiều hiện tượng thần kỳ xảy ra, điều này hiển nhiên chứng tỏ thần thông của Bồ Tát Mẹ không hề bị ngăn ngại. Vì số xá lợi mà mẹ tôi để lại (phần còn lại sau khi đã phân phát), tôi đã tìm được hai mảnh đất ở Cầu Vồng sơn trang để chôn cất bảo tồn kỷ niệm, một mảnh đất cao hơn, một mảnh đất thấp hơn, trong hai mảnh đất này, chọn một mảnh.

Hai mảnh đất có tên học thuật như sau:
Địa lý trường thọ của mảnh đất cao:
Càn phong sơn cao diệc thọ trường,
Đinh sơn Đinh thủy sa nhược hoàn;
Bính Đinh thủy lai triều chủ đa,
Đồng nhan hạc phát hựu khang nhiên.

Địa lý hiền tăng của mảnh đất thấp:
Lạp sơn tăng đạo chiêu tràng tràng,
Bảo cái chung cổ chiếu phan kỳ;
Hiền tăng xuất lai hoằng Phật pháp,
Tốn Quý giao lưu ngộ Phật lý.

Cuối cùng tôi đã chọn mảnh đất thấp để an táng, nguyên nhân chủ yếu nhất là có hai chữ "hiền tăng". Khu đất này khá rộng rãi, phía sau gần với hồ Song Liên, phía trước nhìn về phía núi Thiên Mã, bên phải là núi Kỳ, bên trái là núi Cổ.
Sau khi an táng, mọi việc đều yên ổn.

🌟

Tháng 10 năm 1998, thời tiết ở Seattle bước vào mùa thu, lá cây bắt đầu vàng, thời tiết dần trở lạnh, mưa thu cũng nhiều hơn.
Đây là mùa nghe mưa rơi.
Sáng sớm rửa núi xanh thêm,
Gió Tây thổi càng thêm lạnh lẽo,
Nghe tiếng chuối,
Từng đợt từng đợt âm thanh mưa nhỏ.
Mưa thu Seattle, so với mưa đông Seattle, mang đến một cảm xúc khác, một hương vị khác trong lòng.

🌟

Một buổi tối tôi nằm mơ.
Mẹ Bồ Tát hiện ra ngồi trên bảo tọa, vẫn trong trang phục của Nam Hải Bồ Tát, mẹ chỉ xuống phía dưới bảo tọa cho tôi xem.
Ôi! Tôi giật mình, thì ra nước đã ngấm vào dưới bảo tọa, nước đang dần dần dâng cao.
Tôi cầm một quả trứng ốp la dâng cúng Mẹ Bồ Tát.
Không ngờ trứng ốp la lập tức hóa thành nước.
Tôi nghĩ trong lòng, có "thủy phạm" rồi.

Lúc này tôi tỉnh giấc, giấc mơ rất rõ ràng, nhìn đồng hồ thì đã năm giờ sáng, tôi nghĩ liệu có phải nơi chôn cất xá lợi của Mẹ đã bị ngập nước, nhưng dù sao đây cũng chỉ là một giấc mơ thôi, mơ chưa chắc đã là thật, nghĩ vậy rồi tôi lại ngủ tiếp.
Trong giấc ngủ, lần này không phải là mơ.

Mẹ Bồ Tát lớn tiếng gọi tôi:
"Thắng Ngạn ơi! Mau gọi Thượng sư Liên Ấn đến lấy xá lợi lên! Nhanh lên! Nhanh lên!"
Mẹ gọi liên tục nhiều lần, tôi lại bị đánh thức, nhìn đồng hồ thì đã sáu giờ sáng. Tôi thức dậy đánh răng rửa mặt thay quần áo.

Tôi nói với Thượng sư Liên Hương vừa mới thức dậy:
"Đêm qua mẹ báo mộng, dưới xá lợi có nước, hai lần liên tiếp, tôi nghĩ chắc phải dời lên chỗ cao thôi."
"Có nhầm không đấy, mới chôn có nửa năm."
"Chắc chắn không nhầm đâu, Mẹ Bồ Tát linh lắm!"

Lúc bảy giờ, tôi gọi điện báo cho Thượng sư Liên Ấn, bảo thầy lập tức lấy xá lợi lên.
Thượng sư Liên Ấn lấy xá lợi lên, kêu to: "Dưới này quả nhiên có nước, bình đựng xá lợi phía dưới đã bị ướt."
Mọi người đều kinh ngạc, mẹ thật thiêng.

🌟

Vào lúc 1 giờ chiều ngày 16 tháng 10 năm 1998, Mẹ Bồ Tát được dời đến nơi ở mới cao hơn, là nơi có địa lý trường thọ.
Tôi đã làm lễ an táng xá lợi theo nghi quỹ Mật giáo.
Mẹ Bồ Tát cười rất vui vẻ.
Tôi đặc biệt cầu nguyện với mẹ, xin mẹ phóng đại quang minh phổ chiếu gia trì tất cả đệ tử Chân Phật Tông, khiến mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành.
Mẹ Bồ Tát gật đầu đồng ý.
Ha ha! Tuyệt quá!

**(Hết.)**

---

---
# File: sach-tam-linh/145-song-tung-phut-giay-trong-sang.md
# Title: 145. Sống từng phút giây trong sáng
---

![image](/img/img_3d50dfb85060562a12f34ac03adf3941.jpg)



## Sống từng phút giây trong sáng


🪷 Cảnh giới tâm linh đại lạc quang minh

Văn tập số: 145
Xuất bản năm: 04/2001
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời dẫn


Giữa dòng đời hối hả, đôi khi chúng ta tự hỏi: "Điều gì mới thực sự là giá trị vĩnh cửu?" Nếu bạn đang tìm kiếm một khoảng lặng để thanh lọc tâm hồn, để tìm lại bản ngã thuần khiết nhất của chính mình, thì cuốn sách **"Sống từng phút giây trong sáng"** (tác giả Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) chính là một món quà tinh khôi dành cho bạn.

**Một hành trình trở về với sự thuần khiết**

Cuốn sách không phải là những giáo điều khô khan hay những triết lý xa vời. Thay vào đó, tác giả dẫn dắt người đọc đi qua những câu chuyện có thật, những trải nghiệm tâm linh huyền bí nhưng đầy tính nhân văn. Với giọng văn nhẹ nhàng như hơi thở, cuốn sách thì thầm vào tai ta một sự thật giản đơn: Mọi thứ trên đời rồi sẽ thành quá khứ, mỗi sinh mệnh rồi sẽ tịch diệt, và tất cả vật chất cuối cùng cũng hóa hư không.

Vậy, chúng ta còn lại gì? Đó chính là sự "trong sáng" trong tâm hồn ngay tại giây phút này.

**Hương vị của trái dâu tây giữa hiểm nguy**

Bạn sẽ bắt gặp hình ảnh một người lữ khách bị gấu đuổi trên đầu, hổ chờ dưới chân, nhưng vẫn bình thản hái trái dâu tây bên vách đá để thưởng thức vị ngọt lành. Hình ảnh ấy là một ẩn dụ tuyệt đẹp về thái độ sống: Đừng để quá khứ (con gấu) làm bạn ám ảnh, cũng đừng để tương lai (con hổ) làm bạn sợ hãi. Hãy trân trọng "ngay lúc này", sống trọn vẹn với một trái tim lương thiện và một trí tuệ minh mẫn.

**Những bài học nhân quả lay động lòng người**

Qua từng chương sách như *Trời biết, Thành Hoàng xử án đêm, Chết rồi sống lại...*, người đọc sẽ được chiêm nghiệm về luật nhân quả hiện hữu một cách vi diệu. Cuốn sách khẳng định một niềm tin mạnh mẽ vào đạo đức: Người sống thiện, sống có lương tri thì dù ở cảnh giới nào cũng nhận được sự bảo hộ và an lạc. Những câu chuyện về sự thức tỉnh, về cái giá của sự ô nhiễm tâm hồn hay sức mạnh của lòng từ bi sẽ khiến bạn phải dừng lại, suy ngẫm và tự soi chiếu lại chính hành vi của mình.

**Tại sao bạn cần cuốn sách này trên kệ?**

**"Sống từng phút giây trong sáng"** không chỉ là một cuốn sách để đọc, mà là một tấm gương để soi. Nó giúp bạn gạt bỏ những bụi bặm của tham sân si, của những toan tính đời thường để tìm về cảnh giới "đại lạc quang minh". Đọc sách, bạn sẽ thấy lòng mình nhẹ tênh, nhận ra rằng sống thiện và sống trong sáng chính là cách ngắn nhất để đạt được hạnh phúc đích thực.

Hãy lật mở từng trang sách để cảm nhận sự vỗ về của trí tuệ, để thấy rằng giữa thế gian đầy biến động, chúng ta vẫn có thể giữ cho mình một khoảng trời riêng thanh tĩnh. Cuốn sách là lời nhắc nhở dịu dàng rằng: Mỗi phút giây bạn sống trong sự chân thành và đạo đức, chính là lúc bạn đang chạm tay vào thiên đường.

Đừng bỏ lỡ cơ hội sở hữu cuốn sách quý giá này. Hãy để **"Sống từng phút giây trong sáng"** trở thành người bạn đồng hành, giúp bạn đi qua những giông bão cuộc đời bằng một tâm thế bình thản và một trái tim rạng ngời ánh sáng.

🪷 Nhóm dịch thuật Upala Việt Nam.


### Lời mở đầu


**Cảnh giới tâm linh đại lạc quang minh**

Gần đây, Phật ở trong tâm thường nhắc tôi ba câu, vừa bình dị vừa đầy trí huệ, ba câu đó như sau:
*Mọi thứ đều sẽ thành quá khứ.
Mỗi sinh mệnh đều sẽ tịch diệt.
Tất cả đều sẽ thành hư không.*

Tôi thường nghĩ đến ba câu nói này, và tôi biết, mọi phiền não của thế gian xoay vần đều sẽ qua đi. Mỗi con người, có sinh ắt có tử, bao nhiêu nhân vật anh hùng từ thủa nghìn năm, giờ đây đều im lặng ở cõi vĩnh hằng, sinh mệnh thực sự đã thuộc về cõi tịch diệt. 

Tất thảy mọi thứ vật chất luân chuyển trong tay con người, có cái thì sẽ tan biến, có cái thì gây phiền não, đừng phí tâm nghĩ suy vì tiền tài vật chất làm gì. Bởi vì mọi thứ rồi cũng biến thành hư không mà thôi. 

Ngẫm nghĩ ba câu nói này, trong lòng sẽ khá chấn động! 
Tuy vậy, trong lòng cũng lập tức cảm thấy sự mới mẻ không gì sánh bằng. 

Trong quá khứ tôi thường đề cập đến lịch sử Trung Quốc, từ Đường, Ngu, Hạ, Thương, Chu đến Tần Hán Tam Quốc, Ngụy Tấn Nam Bắc triều, cuối cùng đến Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, v.v…

Mỗi triều đại lại nối tiếp triều đại.
Mỗi hoàng đế lại nối tiếp hoàng đế.
Mỗi cung điện lại nối tiếp cung điện.
Mỗi triều thiên tử lại nối tiếp chúng thần dân. 

Bất kể là cái gì, tất cả đều sẽ thành quá khứ, tất cả đều sẽ tan biến vào hư không, mọi thứ như nhau, đều là hư không, đều không tồn tại. Con người đau khổ cũng tốt, hết đau khổ cũng tốt, trong dòng chảy mạnh mẽ của thời gian rốt cục đều không có ý nghĩa thực sự nào. 

🍃

Tôi nhớ có một câu chuyện cổ kể như thế này:
"Có lữ khách gặp một con gấu đuổi theo. Anh ta kinh hoàng tháo chạy, kết quả là bị ngã xuống vách núi. Vừa may anh bám vào được một cây cổ thụ to nên không chết. Nhưng bên dưới cây cổ thụ lại có một con hổ đói chờ vồ anh ta, nó đi vòng quanh gốc cây. Điều thú vị là ở một cành cây bên cạnh cây cổ thụ lại có rất nhiều dâu tây. Lúc này trên đầu có gấu, dưới chân có hổ." 

Vị tổ sư Thiền tông đã dạy chúng ta, người lữ khách lúc này đã muốn với lấy vài quả dâu để ăn, muốn thưởng thức vị ngon ngọt của trái dâu, không muốn bỏ lỡ cơ hội đó, nhưng trên đầu lại có gấu, dưới chân còn có hổ.
Tổ sư nói:
Trên đầu có gấu chính là quá khứ. 
Dưới chân có hổ chính là tương lai.
Tương lai cũng có thể xoay chuyển.
Vì sao không nhớ đến "ngay giây phút này", tận hưởng sự mát lành của hiện tại. 

Cá nhân tôi cảm thấy câu chuyện cổ này mang nhiều triết lý. Là con người, chuyện quá khứ không cần hoài tưởng; chuyện tương lai, cũng chẳng biết thế nào được! Không cần lo lắng quá sớm làm gì. May rủi bất định. Họa phúc còn tùy. Người có may mắn sẽ tự có lộc trời ban. 
Thế nên giờ hãy cứ ăn dâu tây đã!

🍃

Con người tôi hiện tại đã lĩnh ngộ sâu sắc trí huệ bát nhã của Như Lai. Tôi sống trong hiện tại, sống trong sự tươi mới.

Trong cuộc đời chúng ta, tôi biết điều có giá trị nhất chính là "bát nhã". Chúng ta trong hiện tại chỉ cần luôn ghi nhớ rằng:
Lúc này đừng tạo nghiệp ác.
Lúc này chú ý nhân quả.
Lúc này chớ chìm đắm trong luân hồi.

Nghĩ được như vậy, chắc chắn sẽ có được: "Tâm mát mẻ của giây phút hiện tiền".
(Tháng 4 năm 2001)

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn | Sheng-yen Lu
**17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Nhân duyên viết cuốn sách này


Một đêm, trong lúc tôi nằm mộng. Thấy mây bay vần vũ, có hai vị đồng tử cầm cờ Phật hiện thân trên không trung. Hai vị đồng tử hướng về tôi kính lễ. 
"Liên Sinh Hoạt Phật, chủ nhân chúng con có lời thỉnh mời."
"Chủ nhân của các người là ai?"
"Chủ nhân của chúng con là Thiện Quang Phật."

Tôi nhất thời không nhớ ra Thiện Quang Phật là ai. Trong số ba nghìn tên các vị Phật thường có rất nhiều tên gần giống nhau, thậm chí các vị Phật có cùng tên với nhau cũng rất nhiều. Nhưng tôi cũng không tiếp tục hỏi thêm nữa, liền cùng với hai vị đồng tử cưỡi mây bay đi. 

Một lát sau chúng tôi đến một nơi có tên gọi là "Thúy Hoa Động Thiên", tôi đi vào trong tòa đại điện lấp lánh. Thiện Quang Phật rời khỏi chỗ ngồi xuống nghênh đón. 
"Liên Sinh, ngài hẳn là vẫn khỏe đấy chứ?" 
Tôi ngẩn người ra, bởi vì tôi thật sự không nhận ra vị Thiện Quang Phật này là ai. 

Bản thân mỗi vị Phật có Pháp thân, Báo thân, Ứng thân. 
Pháp thân — quang minh vô tận.
Báo thân — ba mươi hai tướng Như Lai trang nghiêm.
Ứng thân — ứng thân biến hóa.

Lấy ví dụ chính tôi:
Pháp thân — quang minh vô tận như Đại Nhật.
Báo thân —  A Di Đà Phật - Liên Hoa Đồng Tử.
Ứng thân — Liên Sinh Hoạt Phật - Lư Thắng Ngạn.

Thấy tôi ngẩn ra, Thiện Quang Phật lập tức hiểu ngay. Ngài cười và nói:
"Liên Sinh, tôi hiện Báo thân này, ngài đương nhiên không thể nhận ra. Ngài xem xem tôi là ai?"

Khuôn mặt Thiện Quang Phật biến qua biến lại vài lần. Cuối cùng tôi cũng nhìn ra, chính là Văn Xương Đế Quân của Cung Từ Tế. Văn Xương Đế Quân của Cung Từ Tế và tôi - Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, đã từng gặp mặt nhiều lần. Tôi biết ông ấy, ông ấy biết tôi, biết nhau rất rõ. Không ngờ sau khi thành Phật ông lại lấy hiệu là Thiện Quang Phật. 

Thiện Quang Phật nói với tôi:
 "Con người thời nay tham dục ngày càng nặng, người có tâm trong sáng thì quá ít. Mặc dù họ văn minh tiến bộ, nhưng thiện quang hầu như không có. Tôi thấy con người rơi vào tam đồ [ba đường ác] như vậy, không thể không cảm thấy bi thương. Hôm nay mạo muội thỉnh ngài tới là muốn mượn tài năng của ngài viết nên một cuốn sách, nhờ đó mà cứu thế nhân, giúp con người mau mau tỉnh ngộ, cẩn thận tránh phạm giới tham dục. Tài năng này mới thực là có ích."
Tôi hỏi: 
"Vậy còn tài liệu dùng để viết thì sao?"
Thiện Quang Phật đáp: 
"Tài liệu thì có, nhưng sẽ dùng phương thức của ngài để viết. Tôi sẽ phái người đem đến cho ngài, ngài chỉ cần viết là được."
"Thế người này là ai?"
"Là người họ Lữ."

Tôi ở tại Thúy Hoa Động Thiên của Thiện Quang Phật tham quan tiên cảnh tuyệt đẹp, cùng Thiện Quang Phật chuyện trò, thưởng thức hoa thơm trái ngọt nơi tiên giới, sau đó từ biệt ra về. 

🍃

Không lâu sau, tôi có dịp đến Phật Kiền Viện thắp hương. Trụ trì Phật Kiền Viện liền hỏi tôi:
"Tiên sinh có phải họ Lư không?"
"Vì sao ngài biết?"
"Tối qua Đức Thiện Quang Phật xuất hiện nói hôm nay sẽ có một vị họ Lư tới vãn cảnh, cần nhanh chóng đưa tập bản thảo này cho vị đó."
"Bản thảo ư?"

Trụ trì đưa cho tôi một phong bì lớn. Tôi xem nhanh qua, bên trong là bản giấy viết tay đã cũ sờn, nội dung đều là các bản văn khuyên làm việc thiện.
Tôi hỏi:
"Là ai đã viết vậy?"
"Không biết." - Trụ trì đáp: "Khi tôi tiếp nhận vị trí trụ trì này, bản thảo này đã có rồi. Tôi có xem lướt qua một chút, cảm thấy nếu bị mất thì rất đáng tiếc, bèn gìn giữ đến nay. Thật không ngờ Thiện Quang Phật nói tôi chuyển giao cho ngài."

Tôi biết có hỏi nữa cũng sẽ không biết thêm được điều gì. Trước khi rời đi, tôi hỏi vị trụ trì: 
"Xin hỏi, trụ trì ngài quý danh là gì?"
"Tôi họ Lữ."
Đây chính là nhân duyên viết ra cuốn sách này!


### 02. Thảm họa lớn


Một hôm có nhà văn nổi tiếng tên Tạ Nhuận đến tìm tôi. 
Tạ Nhuận biết tôi đã viết hơn trăm cuốn sách, mỗi ngày đều viết không gián đoạn, nên vô cùng khâm phục. Còn tôi cũng biết Tạ Nhuận là nhà văn có tài năng hơn người, hạ bút xuống là nghìn chữ, lý luận sắc bén độc đáo, chỉ có người phi thường mới đạt được. Tôi cũng rất ngưỡng mộ ông ta. Một người như vậy tới tìm mình, tôi đương nhiên thấy rất vui. 

Tạ Nhuận hỏi tôi:
"Liên Sinh Hoạt Phật, tôi nghe người ta nói ngài biết thông linh âm dương?"
"Có biết chút chút."
"Có thể giúp tôi hỏi chuyện một chút được không?"
Tôi cười:
"Tiên sinh phong thái ưu tú, nổi danh trong ngoài, triết lý thông thấu mà còn có chuyện khó khăn không giải quyết được sao?"
Tạ Nhuận rất nghiêm túc nói:
"Ngài nói cũng đúng. Tôi cả đời trước nay đều không mê tín những chuyện âm dương quỷ thần, cũng chẳng tin chuyện thông linh. Đối với những thứ ngài viết tôi lại càng cười vào mũi. Nhưng đây là chuyện quá khứ rồi, xin ngài đừng để bụng. Năm nay tôi 64 tuổi, đời này nói về tài hoa thì tuyệt đối không thua ai, nói về năng lực cũng không thua kém người ta. Thế nhưng trong giới học thuật từ trước tới nay tôi đều không được trọng dụng. Trong sự nghiệp có vài lần có cơ hội nhưng cũng đều bị lỡ mất. Ngài xem, tôi là nhà văn nổi tiếng đấy, nhưng kì thực tôi đã bị trầm cảm vì luôn bị người ta gạt qua một bên."
"Có chuyện như vậy ư?" - Tôi rất kinh ngạc. 
Tạ Nhuận nói:
"Ngài thấy đấy, tôi nổi tiếng nhưng thực tế tiền không có, quan chức cũng không, gia đình ly tán, đến nhà cũng không có nốt. Sức khỏe tôi cũng không còn được tốt như trước, cả đời chỉ có ôm mấy cuốn sách cũ nát mà thôi. Thực sự là khó khăn liên miên, dường như trong cõi vô hình có bàn tay nắm lấy toàn bộ công danh lợi lộc đẩy ra ngoài vậy, giống như có vị thần vận mệnh trong cõi vô hình điều phối, tôi không rõ hà cớ nào lại bị như thế này, đành nhờ ngài hỏi giúp."
"Được thôi!" - Tôi nói. 

Ngay trước mặt Tạ Nhuận, tôi nhắm mắt lại, trong lòng hướng tới ba vị Bổn tôn thỉnh nguyện. 
Diêu Trì Kim Mẫu.
A Di Đà Phật.
Địa Tạng Bồ Tát.
Rồi niệm:
"Ở đây có Tạ Nhuận, muốn biết nhân quả, linh cơ thần toán, chân truyền đạo diệu, mau ban đáp án, đẩy lui mê võng, dự báo viên mãn. Cấp cấp như luật lệnh." 

Đột nhiên trước mắt tôi nhìn thấy luồng ánh sáng trắng, bên trong có một cái động lớn. Từ trong động bước ra một cậu bé mặc áo xanh, trong tay cầm một quyển sách ghi danh. Cuốn sách ghi danh đó quả nhiên có ghi tên Tạ Nhuận. Cậu bé mặc áo xanh đó mở cuốn sách cho tôi xem. Tôi xem xong cảm thấy kinh ngạc.

Thì ra vốn dĩ Tạ Nhuận sẽ được là người có địa vị, ở trường học không những là giáo sư, có thể làm đến hiệu trưởng, thậm chí gia nhập bộ máy hành chính, có tiền, có quan chức, gia đình viên mãn, sức khỏe khang thái, thọ đến 89 tuổi. 

Con người Tạ Nhuận này:
Tấm lòng trung thành.
Một lòng có hiếu.
Vì sao lại thành ra như thế này!

Xem tới cuối cùng thì thấy mặt sau có viết vài chữ nhỏ. Tạ Nhuận lúc còn trẻ, có lần để kiếm chút tiền nhuận bút, rất tiếc đã thiếu suy nghĩ mà viết ra sáu cuốn dâm thư [sách khiêu dâm] rất rất mỏng, rồi in ra thành loại sách kiểu rẻ tiền. Cách viết mô tả rất trực tiếp, chân thực, ôi ôi a a, viết bừa cho xong không có cơ sở gì cả. 

Tạ Nhuận chính vì "sáu cuốn tiểu thuyết màu vàng" [tiếng lóng để chỉ những loại sách có nội dung và hình ảnh khiêu dâm] này mà vợ con, tiền tài, lộc thọ, sức khỏe đều tiêu tan hết. Xem đến đây, tôi đã hiểu hoàn toàn. 

Tôi mở mắt ra hỏi:
"Hồi còn trẻ, ông làm việc gì?"
"Đi học, toàn là trường hàng đầu."
"Có sáng tác không?"
"Có, tôi gửi bài đăng báo."
"Có xuất bản sách không?"
"Hồi đó thì không."
"Tôi nói có." - Tôi kiên quyết. 
"Thật sự là không có."
"Sách mỏng, màu vàng." - Tôi nói thẳng luôn.

Tạ Nhuận lúc này miệng há to, sắc mặt đỏ lựng, biểu lộ một vẻ mặt không thể tin được. 
"Ôi, ngài đã biết, quả nhiên là có, quả nhiên có."
"Sáu cuốn?"
"Đúng vậy, sáu cuốn." - Tạ Nhuận gật gật đầu. 
"Chính là sáu cuốn sách màu vàng này đã lấy đi vận may lẽ ra ông đã có, khiến ông ngày càng thảm hại. Hôm nay, nếu không phải do đời trước ông sống có đạo đức thì thọ mệnh cũng không giữ được."

Tạ Nhuận vô cùng sợ hãi. 
"Nghiêm trọng đến mức này cơ à!"
Tôi đáp: 
"Những cuốn sách màu vàng khiến con người ta dao động tâm trí, dẫn dắt họ đến tà dâm. Nam nữ cùng đọc rồi dẫn đến những hành vi phóng túng, mất hết cả danh dự tiết hạnh."
Tôi nói:
"Trong trời đất, chỉ có cầm thú, trống mái loạn luân, bất chấp xấu hổ, bất chấp liêm sỉ, việc đáng khinh mà vẫn làm. Là con người, đứng đầu vạn vật, cần lấy tiết hạnh làm trọng. Một khi loạn luân, cho dù là người cũng không bằng cầm thú. Giới tà dâm này là ma chướng đứng đầu, là căn bệnh tàn phá đứng đầu. Đã tu hành, mọi dâm dục đều phải cắt bỏ tận gốc."
Tôi lại nói:
"Nhân loại chúng ta từ sắc dục mà sinh ra, mỗi người đều mang trong mình hạt giống sắc dục, do đó tập khí này rất nặng. Kì thực dựa vào nhân quả mà nói, con người do sắc dục sinh ra rồi cũng vì sắc dục mà chết. Hiểu được đạo lý này thì cần phải tiết chế ham muốn để không sa đà vào dục. Lợi ích của việc tiết dục có thể giúp cho sống lâu khỏe mạnh, sự nghiệp thăng tiến, vận hạn tốt sẽ đến. Nếu như kích động người ta háo sắc dâm dục, tất nhiên tiêu tan sức khỏe khí lực, đạo đức gia đình suy đồi, hung thần sẽ đến, tất cả kết quả nhận được sẽ trái ngược với ý muốn."

Tạ Nhuận nghe xong rồi chỉ nói: 
"Vậy còn vợ chồng thì sao?"
"Là vợ chồng cũng không được tham đắm dục vọng, tóm lại cũng cần có sự tiết chế một chút. Nếu không biết kiểm soát cũng sẽ khiến tiêu tan sinh lực."
Tạ Nhuận nói:
"Tôi đã tỉnh ngộ rồi, có thể sám hối được không?"
Tôi đáp:
"Theo như tôi biết, viết sách hoặc vẽ tranh khiêu dâm, hoặc tạc tượng khiêu dâm, phải chờ đến khi các sách, tranh, tượng này bị tiêu hủy hết thì nghiệp chướng này mới hết. Nếu không, mãi mãi nghiệp chướng này sẽ bám theo."
Tạ Nhuận sợ hãi nói:
"Nghiêm trọng đến vậy sao?"
"Đúng vậy" - Tôi nói. "Sáu quyển sách màu vàng mà ông viết, nếu như vẫn còn được lưu truyền thì sẽ vĩnh viễn ảnh hưởng đến tận sau này. Hãy nghĩ mà xem, nếu thế thì nghiệp chướng làm sao tiêu trừ được đây?"

Tạ Nhuận nghe tôi giảng rằng chỉ vì một chút tiền nhuận bút viết sách dâm thư, tạo nghiệp gây ra họa lớn đến mức như vậy, giờ ông ta không biết phải làm sao?

Tôi nói với Tạ Nhuận:
"Xem ra chỉ có hai cách thôi, một là ông hãy viết sách khuyên răn người đời bài trừ tà dâm, hai là nếu có gặp sách khiêu dâm thì lập tức tiêu hủy."
Tạ Nhuận đáp:
"Như vầy được đó!"

🍃

Tạ Nhuận vui vẻ ra về. Sau đó, ông ta viết một bức thư cảm ơn tôi. Tạ Nhuận nói thần toán của tôi quả thực linh nghiệm. Đồng thời ông ta cũng tin thần bái Phật, không dám nói các chuyện nhân duyên quả báo là nhảm nhí nữa. 

Tạ Nhuận để chứng minh cho lời nói của tôi là chuẩn xác, không ngờ đã gửi đến tôi bộ sáu cuốn sách màu vàng mà ông ta viết. Hóa ra ông ta vẫn còn giữ lại, dùng bút danh là "Dâm Căn". Tên sách là: "Vui thú trong vui thú" , "Khoái lạc của giao hoan", "Phu nhân Tổng giám đốc" v.v…

Tôi nhớ lại lúc bản thân mình còn trẻ, có lần đi bộ đến một tiệm sách ở chợ đêm Lục Hợp đường số 2 ở Cao Hùng, dường như tôi đã trông thấy những cuốn sách này. Những cuốn sách như thế quả thực đã làm hại không ít đến giới thanh niên học sinh sinh viên.

Tạ Nhuận xin tôi thay ông ấy tiêu hủy sáu cuốn sách tà dâm mà ông ta đã viết để bày tỏ sự sám hối. Trong lúc tiêu hủy, tôi viết ra một câu kệ của Phật, lời rằng:
*Kẻ háo sắc không tỉnh giấc mộng
Hôn trầm mê muội là tà dâm
Tai họa sớm muộn sẽ tìm đến
Phải nhớ sắc-không là viên minh.*


### 03. Trời biết


Có một cậu thanh niên tên Thôi Gia, tướng mạo cao lớn tuấn tú đĩnh đạc, đúng tiêu chuẩn của một soái ca. Thôi Gia đến hỏi tiền đồ tương lai ra sao, tôi bèn thỉnh thần minh trong hư không. Thần minh đáp: "Trời biết."

Tôi nghe xong cảm thấy rất buồn cười, đương nhiên có trời mới biết rồi. Nhưng tương lai của Thôi Gia ra sao, thực sự cũng không có đáp án hay sao. 

Tôi hỏi lại. Thần minh vẫn trả lời đầy chắc chắn: "Trời biết." 
Tôi hỏi lại lần thứ ba. Thần minh vẫn đáp: "Trời biết." 
Nhưng nói thêm một câu rằng: "Bởi vì trời biết người này, cho nên anh ta được gia tăng công danh lợi lộc, tiền đồ xán lạn vô cùng."

Tôi bèn hỏi lại Thôi Gia: 
"Vì sao thần minh chỉ nói rằng: Trời biết?"
Thôi Gia ngẩn ra một lúc rồi đỏ ửng mặt, tự cảm thấy rất ngại ngùng kể cho tôi nghe câu chuyện như sau. 

Lúc Thôi Gia còn là sinh viên đã thuê trọ tại nhà một người dân sống ở gần trường đại học. Nữ chủ nhân của nhà trọ là một thiếu phụ có vóc dáng vô cùng xinh đẹp, đến nỗi khiến bao người động lòng tương tư. Cô ta thường xuyên trang điểm rất sành điệu, con mắt nhìn rất mê hoặc người khác, lại còn lúc nào cũng lộ vẻ tình ý. Tâm thần Thôi Gia cũng bị làm cho dao động. 

Một hôm, ông chủ nhà đi vắng. Thôi Gia đi ngang qua phòng của chủ nhà thấy cửa không đóng.  
Thiếu phụ ở trong đó.
Ánh mắt nồng nàn mãnh liệt nhìn Thôi Gia.
Thân thể cũng liên tục mời gọi Thôi Gia.
Thôi Gia đứng im bất động, bốn mắt gặp nhau.
Thôi Gia cũng bị kích động, thực lòng cũng không kiềm chế được nữa… 

Thiếu phụ cất lời:
"Người ta không ai biết đâu." 
Thôi Gia lập tức bị kích động cực kì, anh bước vào một bước rồi dừng lại. 
Thiếu phụ lại nói:
"Vui vẻ một chút thôi, không ai biết đâu."

Thôi Gia khí huyết dâng cao, ham muốn dục vọng cũng trào lên. Nhưng đột nhiên anh nhớ lại lúc đi học từng được học câu Bốn biết: "Trời biết, đất biết, anh biết, tôi biết. Cho dù người ta không biết nhưng trời biết đó."
Thôi Gia nói với thiếu phụ: 
"Người ta không biết, nhưng trời biết." 
Thiếu phụ hỏi: 
"Trời biết thế nào được?"
Thôi Gia đáp: 
"Trời biết, trời biết, ông Trời biết!"
Anh sải bước rộng, quay người đi ra. 

Buổi tối hôm đó, thiếu phụ lại đến gõ cửa phòng Thôi Gia. Mùi thơm trên người thiếu phụ từ ngoài cửa tỏa vào trong phòng, bay thẳng tới mũi của Thôi Gia. Anh mấy lần chực muốn ra mở cửa phòng. Chỉ cần mở cửa là có thể ôm ngay cái thân thể ngọc ngà thơm tho ấm áp đó, vì sao lại không nhỉ?

Nhưng Thôi Gia vẫn nhớ như vầy: "Trời biết, trời biết, trời biết". Người ta không biết, nhưng ông Trời biết, có thể lừa người, nhưng không thể lừa được Trời. Rốt cục, anh nhất định không mở cửa nữa. 

Sáng sớm hôm sau, Thôi Gia mau chóng dọn tới chỗ một người bạn học khác để ở. Câu chuyện này anh không dám kể cho bất kì ai, kể cả người bạn học, chỉ nói rằng chỗ cũ không phù hợp nên dọn đi mà thôi. Bây giờ quả nhiên đúng là người không biết, nhưng trời biết. 

🍃

Thôi Gia lại kể cho tôi một câu chuyện kỳ lạ khác. Cũng vào thời gian học đại học, Thôi Gia đã chuyển chỗ trọ khoảng năm lần. Sau lần có chuyện về người thiếu phụ đó xảy ra thì Thôi Gia đã chuyển đến ở một nơi trọ khác. Có một đêm đang lúc anh ngủ say thì trong mơ nghe thấy một tiếng nói: 
"Trời biết, mau tỉnh dậy! Trời biết, mau tỉnh dậy! Trời biết, mau tỉnh dậy!" 

Thôi Gia nghe rất rõ ràng, liền bật ngay dậy. Anh đến bên cửa sổ nhìn ra, hóa ra nhà hàng xóm bị cháy, khói nóng dày đặc. Anh tức tốc gọi các bạn học cùng trọ tại đó dậy, lập tức gọi điện thoại cho cứu hỏa rồi khẩn cấp tháo chạy.

Trong lúc Thôi Gia tháo chạy, ngọn lửa đã lan tới nhà trọ của anh, chẳng mấy chốc nhà trọ đã chìm trong lửa lớn. Trận hỏa hoạn này đã làm chết và bị thương nhiều người. Đám cháy đã thiêu rụi sáu căn hộ ở tầng hai của tòa nhà. Tổn thất về tiền bạc cũng không ít. 

Thôi Gia nghĩ lại tình huống lúc đó, nếu như không nghe thấy tiếng gọi "Trời biết, mau tỉnh dậy!" đánh thức anh, có lẽ anh vẫn ngủ say. Anh và đám bạn hẳn cũng sẽ bị nhấn chìm trong biển lửa, biến thành bộ xương cháy đen rồi. Bây giờ nghĩ đến vẫn còn thấy sợ. 

Trước đó Thôi Gia vốn không tin vào quỷ thần, cũng không tin theo tôn giáo. Trải qua chuyện này, anh nhận ra rằng thần minh là có tồn tại trong cõi vô hình. Tiếng gọi: "Trời biết, mau tỉnh dậy!" không phải là do thần minh nói thì là ai nói được?

Tôi nói với Thôi Gia:
"Trong cõi vô hình đúng là có quỷ thần, cho nên ở trong cái gọi là "phòng tối" mà tự lừa dối mình, vẫn còn "mắt thần như điện". [Thần linh sẽ ngay lập tức thấy rõ mọi chuyện, nhanh như điện.]
Thôi Gia đáp:
"Đúng là trời biết thật." 
Tôi nói: 
"Anh thật đúng là Liễu Hạ Huệ thời nay, vững tâm bất loạn." [Liễu Hạ Huệ: tên một chính nhân quân tử đời Xuân Thu, người nước Lỗ, nổi tiếng giữ được đức hạnh về sắc dục.]
Thôi Gia đỏ mặt:
"Là do may mắn thôi."

Ôi! Thiện ác chỉ nằm trong một niệm.
Một bước sa chân hận nghìn năm.
Lúc hối quay đầu tuổi đã trăm...

Tôi nói với Thôi Gia:
"Với con người hiện đại, chuyện nam nữ hẹn hò xảy ra thường xuyên, mối quan hệ càng ngày càng phức tạp. Tam cương ngũ thường [Đạo đức do Khổng Tử đặt ra, con người cần tuân theo. Tam cương là ba mối quan hệ vua tôi), cha con, chồng vợ. Ngũ thường là năm điều phải luôn có trong đời là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.] - những mối quan hệ lớn của con người, từ lâu đã không còn ai luận bàn đến nữa. Nhưng sở dĩ con người và cầm thú có điểm không giống nhau, chính là vì con người có luân lý. Nếu như con người không có luân lý thì so với cầm thú cũng không có gì khác biệt cả. Còn những ai không màng gì tới luân lý thì thực cũng không bằng cầm thú. Dù vậy, con người cũng sinh ra từ nhục dục, thế nên nhục dục cũng là một trong những bản tính của con người. Tập tính làm nên như vậy, nên muốn không dâm dục thực ra cũng là rất khó." 

"Vậy làm sao để cảnh tỉnh bản thân?" - Thôi Gia hỏi. 
Tôi đáp:
"Trong "Kinh Bốn Mươi Hai Chương" có nói, hãy coi người già như mẹ, người lớn như chị, người trẻ tuổi như em gái, người nhỏ tuổi như con gái. Sống với tâm như thế thì có thể diệt được những suy nghĩ về nhục dục."
"Nếu như không thể suy nghĩ được như vậy thì lại phải làm thế nào?"
"Hãy học cách quán bất tịnh. Bên ngoài người con gái đẹp chỉ là một tấm da mỏng, nếu như lột bỏ lớp da này thì chỉ còn là một khối xương cốt. Sau đó nếu phanh cái thân thể đó ra, chỉ thấy lục phủ ngũ tạng, máu mủ dịch nhầy, đầy phân và nước tiểu, hôi thối tanh khai, kinh tởm vô cùng."
"Nếu như quán không được, thì phải làm thế nào?"
"Khi ham dục bùng cháy, lúc không thể tự chủ được, hãy nghĩ đến hậu quả. Nếu bước tới một bước, rất có thể sẽ tiêu tan hết tiền tài, danh dự. Không những bại gia nhục tổ, tiếng ác sẽ còn bay xa tới tận quê hương, thậm chí ảnh hưởng đến con cháu. Sự nghiệp tiền đồ một đời toàn bộ sẽ bị hủy hoại. Nghĩ tới hậu quả sẽ khiến tâm thần kinh hoảng, sợ đến dựng tóc gáy. Khi đó cái đầu bốc lửa cũng lập tức nguội lạnh."
"Nếu vẫn không tự mình kiềm chế được thì lại phải làm sao?"
Tôi đáp:
"Khoái lạc nhất thời nhưng rồi hậu hoạn vô cùng lớn!"
Thôi Gia nói:
"Từ chuyện này mới thấy, con người thích nhiều lạc thú, dù biết là niềm vui nhất thời vẫn có người dù chết cũng không hối." 
"Lời của Phật rằng, lạc tức là không, sắc tức là không."
"Người phàm phu không thể hiểu được điều này." 
Tôi đáp: 
"Họa phúc không tự đến, chỉ do con người tự tạo."

🍃

Trên thực tế những lời đối đáp giữa tôi và Thôi Gia thực sự là vấn đề lớn của xã hội đương đại. Về việc này, chỉ có thể là mỗi người dựa vào tu dưỡng và lương tâm mình tự biết, rồi phải nhờ định lực của sự tu hành nữa. 

Tôi nói với bạn, trong thế giới tâm linh tự đã có quỷ thần, bạn có thể cho rằng người ta không biết, nhưng thực tế không thể lừa được trời cao. Trời biết đấy! 

Tôi theo đây cầu nguyện rằng, mỗi người sẽ biết trân trọng sự trong sạch của bản thân. Mỗi người nếu đều biết tu hành thì sẽ có thể siêu thoát khỏi khổ trong luân hồi.


### 04. Trên trời tụ hội


Vào ngày 5 tháng 5 âm lịch, ngày Địa Lạp, cũng là ngày Ngũ Đế sẽ chọn người cho các vị trí quan chức. Các chúng thần đều tụ hội ở trên trời. Hôm đó tôi cũng đến dự. Có lẽ sẽ có người hỏi, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn vì sao cũng đến dự hội?

Tôi sẽ đáp rằng: 
*Ngủ chốn bồng lai tiên đảo,
Bỗng chốc bay lượn hư không
Ngồi nơi ánh sáng chói lòa
Đi nơi sấm rền chớp lóe
Một giáp nhật nguyệt vận hành
Chứng nghiệm tông phái Chân Phật
Sớm chiều đông mọc tây lặn
Mười phương pháp giới đều thông.*

Ngày tụ hội hôm đó, hàng vạn vị thần tiên đều tới, có thể kể đến như: Ngọc Hoàng Đại Đế, Tam Nguyên Tam Quan, Tứ Đại Thiên Vương, Ngũ Nhạc Đại Đế, Thập Điện Diêm Quân, Văn Xương Đế Quân, Quan Thánh Đế Quân, Huyền Thiên Thượng Đế, Tử Vi Đại Đế, Đẩu Mẫu Tinh Quân, Nguyệt Cung Ngũ Đế, Tứ Hải Long Vương, v.v...

Còn có Phật Thích Ca, Bồ Tát Phổ Hiền, Bồ Tát Quan Âm, Bồ Tát Chuẩn Đề, Bồ Tát Văn Thù, Phật Kim Túc, Bồ Tát Đại Thế Chí, Bồ Tát Địa Tạng, Phật Dược Sư, Phật A Di Đà, Bồ Tát Hoa Nghiêm, v.v…
Họp mặt thảo luận rất nhiều.
Trong các cuộc thảo luận có nhắc đến một người khiến tôi phải giật mình sửng sốt.

Bởi vì không tiện nhắc đến họ tên, cho nên tôi sẽ dùng một cái tên giả, tạm gọi là Thái Vọng. Nói về địa vị thì Thái Vọng là một vị đứng đầu của chính đảng, nói về tài năng thì cũng là người có tài đáng nể trên thế gian. 

Ngũ Đế nhắc đến Thái Vọng, tuyên bố rằng: 
"Thái Vọng nên để cho vị trí đứng đầu."
Thuộc hạ đáp: 
"Rõ." 
Nhưng Đông Nhạc Đại Đế bèn đứng dậy nói:
"Thái Vọng không thể được."
Ngũ Đế hỏi: 
"Vì sao vậy?"
Đông Nhạc Đại Đế đáp: 
"Thái Vọng tài vị đều tốt, nhưng gần đây đã xâm hại một thiếu nữ khiến cô ấy có thai. Cô gái vô cùng đau đớn đã nhảy lầu mà chết. Nay cô ấy oán hận, hiện đang ở chỗ tôi đây."
Oa! Tôi nghe mà trong lòng cũng cảm thấy sốc. 

"Vậy ai sẽ được lên làm?" - Ngũ Đế hỏi. 
"Là người đứng cạnh cái cây kia." - Thuộc hạ đáp. 
"Thái Vọng thì sẽ ra sao?"
Thập Điện Diêm Quân nói: 
"Thái Vọng kiếp trước công đức sâu dày, vốn dĩ sẽ được vào vị trí đứng đầu và kiếp này được hưởng phúc rất lớn, nhưng lại phạm trọng tội nên không những bị mất vị trí đứng đầu mà cả sự giàu sang cũng mất. Hơn nữa thân thể còn mắc phải ác bệnh, có ngày sẽ rơi vào lục đạo luân hồi."
Chúng thần đồng thanh nói: 
"Rõ!"

🍃

Trong thời gian bầu cử, trên thực tế, tất cả các ứng cử viên của cuộc bầu cử đều đã trực tiếp đến thăm viếng tôi, hoặc viết thư riêng, hoặc gọi điện thoại. 
Tôi đều trả lời:
"Tôi sẽ gia trì!"
Thái Vọng hỏi tôi:
"Có đắc cử không?"
Tôi đáp: 
"Làm nhiều việc thiện cũng có thể giúp ích đấy, không được ngưng nghỉ, phải liên tục làm việc thiện." 
"Thời hạn đã gần kề rồi, phải làm sao?"
"Sám hối tội lỗi của bản thân, hướng đến hư không phát nguyện cả đời làm việc thiện." 
Thái Vọng nói: 
"Tôi có tội gì đâu, hà cớ gì mà phải sám hối?"
Tôi im lặng không nói, không trả lời. 

Kết quả bầu cử được thông báo, quả nhiên người đứng cạnh cái cây hôm đó được chọn vào vị trí đứng đầu. Thái Vọng đã không được chọn. Vốn dĩ mọi người đều ủng hộ Thái Vọng nhưng ai ngờ lại có sự việc vô cùng đáng kinh ngạc kia. Những việc trên đời nằm ngoài dự liệu của người ta thật sự là nhiều! Vị trí đứng đầu không đạt được, tài phúc cũng thu hẹp lại!
Tôi hỏi người bên cạnh Thái Vọng:
"Sức khỏe Thái Vọng ra sao?"
"Không biết."
Tôi lại hỏi một người thân cận khác. Vị thân cận này đáp:
"Không thể nói cho người khác, ông ta đã mắc phải căn bệnh không thể chữa được."
"Ai chà. Đúng là thế sự vô thường." - Tôi thở dài. 

Tôi lo lắng thay cho Thái Vọng. Bởi vì tôi biết, người nào đã phạm vào giới tà dâm thì đang giàu có sẽ mất hết của cải, lập tức bị loại tên khỏi bảng vàng, vướng vào lao lý, sống sẽ gặp nhiều chuyện không may và tai nạn ngoài ý muốn... 

Tôi nhìn Đông Nhạc Đại Đế: 
"Làm sao để giải trừ nghiệp của Thái Vọng?"
Đại Đế đáp: 
"Khó." 
"Khó thế nào?"
"Biển nghiệp mênh mông, không gì khó cắt đứt hơn sắc dục. Thái Vọng và cô gái kia có nghiệt duyên, tương lai sẽ bị vướng vào lục đạo luân hồi, vĩnh viễn vô hạn."
"Đúng là oan oan tương báo phải không?"
Đại Đế đáp:
"Đúng vậy." - Đại Đế nói tiếp: "Cô gái này do kết oán hận với Thái Vọng, sẽ đầu thai làm vợ hoặc con gái, tương lai sẽ là chồng giết vợ hoặc vợ giết chồng, hoặc là cha giết con, con giết cha. Báo ứng vô cùng bi thảm." 
Tôi rất đau lòng!

Đại Đế nói: 
"Ân ái vợ chồng, hiếu dưỡng cha con, đến đây sẽ đều không còn nữa."
Tôi hỏi Đại Đế: 
"Muốn giải nghiệp duyên, phải thoát khỏi lục đạo luân hồi. Tôi biết rất khó, nhưng phải làm sao đây?"
Đại Đế đáp:
"Chỉ có tu hành thôi."
"Tu hành bắt đầu từ đâu?"
"Sám hối, giữ giới, làm mười điều thiện."

Tôi lại hỏi: 
"Làm sao thoát khổ của luân hồi?"
Đại Đế trả lời: 
"Tâm là Phật. Phật là tâm. Vô nhân, vô ngã, vô chúng sinh, tam tâm tứ tướng quét sạch sẽ, thập ác bát tà cần trừ tịnh, không nhiễm vào ân ái tình dục, không sinh lòng tham sân si ái, giờ Tý - Ngọ - Mão - Dậu cần ngồi thiền, trong mười hai canh giờ không được buông lơi, muốn trốn khỏi Diêm Vương thì phải thường làm bạn với Di Đà, Quan Âm. Trong lúc mơ hồ siêu tam giới, một tiếng sét vang thoát luân hồi." 
"Nếu nghiệt duyên cứ đeo bám?"
"Vô sinh pháp nhẫn." 
"Thế nào là Vô sinh pháp nhẫn?"
"Tu hành quả vị, tham sân si sẽ không sinh ra!"
Đông Nhạc Đại Đế nói với tôi:
"Kiểu nhân quả báo ứng này của Thái Vọng, thật ra không phải chỉ có một mình Thái Vọng mà có ở mọi chúng sinh. Trong con mắt của Thần Phật, mọi chúng sinh đều lăn qua lộn lại trong hồng trần. Và tương lai, chính ngài, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn cũng sẽ gặp chuyện giống như thế. Gặp người con gái đẹp chạy đến dụ dỗ thì chính ngài cũng cần cẩn thận đó."

Tôi trong lòng kinh hãi:
"Thế phải xử lý làm sao?"
"Phật nói cần lặng lẽ bỏ đi." 
"Gần gũi thì bị cho là vô lễ, giữ khoảng cách thì bị oán trách."
"Chỉ cần không hổ thẹn với lương tâm mà thôi!" 
"Nếu bị xã hội hiểu lầm thì sao?"
"Thì coi như tiêu nghiệp chướng."
"Bị người đời chửi mắng?"
"Không sinh lòng hận thù."
"Đây là ý gì?"
"Vô sinh pháp nhẫn!"

🍃

Tôi nghe Đông Nhạc Đại Đế nói xong những lời này, thấy cũng không thể lơ là bỏ qua những khảo nghiệm của bản thân. Tôi sau này rồi cũng sẽ gặp nhiều thử thách, những thử thách kiểu này thường sẽ không bao giờ có hồi kết, tôi nhất định phải lần lượt vượt qua.

Khi tôi bị người ở thế giới này hiểu lầm hoặc chửi mắng, cần hiểu rằng chính họ đã giúp tôi tiêu trừ nghiệp chướng, cũng là giúp tôi đạt đến được quả vị Vô sinh pháp nhẫn. Tôi không cần phải phủ nhận, chỉ cần im lặng tiếp nhận, một chút sân hận cũng không khởi lên, chuyển mình đối mặt với hư không rộng lớn. 
Vô nhân, vô ngã, vô chúng sinh.
Tôi là Hoa Quang Tự Tại Phật chân chính!


### 05. Chết rồi sống lại


Có người đến hỏi về thọ mệnh thế nào. Tôi đáp: 
"Tôi không bao giờ đoán tuổi thọ của người ta." 
Đây là quy tắc nhiều năm của tôi, ai cũng biết.
Người đó nói:
"Tôi không hỏi tuổi chết, chỉ muốn hỏi có sống lâu không?"
Tôi đáp: 
"Lâu."
Người đó vui vẻ ra về, đem tin tức về việc sống lâu nói cho tất cả mọi người biết. Người nhà, hàng xóm và bạn bè thân hữu đều vui mừng cho anh ta.

🍃

Khoảng hai năm sau, người đàn ông "có số sống lâu" này, khi đó 49 tuổi, ở ngay trước cửa nhà mình đột nhiên thấy mọi thứ quay cuồng, rồi ngất xỉu ngã lăn ra đất bất tỉnh. Cấp cứu đến bệnh viện thì bác sĩ nói rằng đã có dấu hiệu chết thật rồi, nên tính sẽ trả về nhà chuẩn bị lo tang lễ.

Con trai anh ta là Tưởng Hưng đến chỗ tôi, hung hăng hỏi tội: 
"Bố tôi nói sẽ sống lâu mà sao 49 tuổi đã chết!"
Tôi đáp:
"Không thể nào."
"Làm sao mà không thể, rõ ràng đã chết rồi, Lư Thắng Ngạn ông là tên lừa đảo. Cái gì mà đệ nhất thần toán, có mà bói toán bịp bợm."
Tôi không biết nói gì, chỉ có thể lắp bắp: 
"Cái này... Cái này..."
"Cái này cái gì. Trả lại mạng người đây!"
"Tôi đền một mạng thì tôi làm sao còn mạng mà sống chứ?"
"Không phải là mạng sống thì tôi không muốn bất kì cái gì khác." - Tưởng Hưng nổi điên lên giơ nắm đấm muốn đánh tôi.
Tôi nói: 
"Tôi sẽ giúp bố anh xem lại vì sao thọ mệnh lại như vậy, rồi báo lại cho anh biết được chứ?"
"Hãy cho chúng tôi biết một lý do tử tế, nếu không chắc chắn tôi sẽ không bỏ qua cho ông đâu. Tôi sẽ công khai trên truyền thông rằng ông là một tên bịp bợm!" - Tưởng Hưng nổi giận phừng phừng.

Tôi định tâm, vận khởi nguyên thần.

*Học tập càn khôn trong trời đất
Vốn là Bồ Tát xuống thiên cung
Ánh sáng xuyên suốt luôn bảo hộ
Bao nhiêu Hộ pháp xếp hai hàng
Lư vàng chìm trong làn khói hương
Pháp thân thanh tịnh tính tự nhiên
Một tiếng sấm rền ba nghìn cõi
Vượt thẳng tam giới chứng niết bàn.*

Tôi đuổi theo bố của Tưởng Hưng. Trên đường đến suối vàng, tôi trông thấy hai người mặc áo màu xanh lục áp giải bố của Tưởng Hưng đi phía trước.
Tôi vừa đến thì bố của Tưởng Hưng nhìn thấy bèn la lên:
"Lư Thắng Ngạn cứu mạng! Lư Thắng Ngạn cứu mạng! Xin cứu mạng!"
Tôi ngăn hai người áo xanh lại:
"Người này thọ mệnh vẫn chưa tới, vì sao lại bắt đi làm người âm?"

Hai người áo xanh nhìn thấy trên người tôi tỏa ra tam quang liền rập đầu lạy, rồi từ trong tay áo lấy ra một tập văn kiện cho tôi xem. Dưới tên của bố của Tưởng Hưng có viết rất nhiều thứ, đều là những phúc lộc lúc còn sống và quả nhiên là tuổi thọ rất dài.
Thế nhưng ở phía sau lại có ghi chú: "Vào ngày X tháng Y năm Z đã gian dâm một cô gái nên lập tức bị tước đoạt tuổi thọ, chỉ sống đến 49 tuổi..."
Tôi đọc mà giật mình.

Tôi hỏi bố Tưởng Hưng:
"Có chuyện này không?"
"Đó chỉ là vì hưng phấn nhất thời, nay tôi biết sai rồi! Tôi nhất định sẽ hối cải, nhất định siêng năng làm việc thiện. Lư Thắng Ngạn cứu tôi với, Lư Thắng Ngạn cứu tôi."
Tôi không đành lòng, bèn hỏi hai người mặc áo xanh:
"Còn có thể cứu được không?"
"Không." - Hai người mặc áo xanh lắc đầu: "Sách lớn đã viết rồi, không thể nào tiếp tục sống. Trừ phi người phạm tội lập lời thề và được thần minh áp ấn, nếu không thì không thể cứu được."
"Tôi có thể thề" - Bố của Tưởng Hưng hét to.
"Ai áp ấn?"
Hai người mặc áo xanh nói: 
"Trên người ngài có tam quang là Phật quang, linh quang, kim quang, chính ngài có thể áp ấn!"

Hai người mặc áo xanh áp giải bố Tưởng Hưng quay mặt hướng về biển lớn mênh mông bắt lập lời thề rằng: 
"Thề bỏ tà dâm đến hết thọ mệnh của mình, vĩnh viễn không thay lòng. Nếu còn phạm tội thì lập tức tai họa sẽ đến. Từ nay về sau nỗ lực khuyến cáo mọi người giữ giới. Nỗ lực làm việc thiện cho tới khi chết. Trở thành Phật tử, nỗ lực tu hành."
Rồi tôi áp ấn vào tập văn kiện lớn. Hai người mặc áo xanh liền đẩy bố Tưởng Hưng vào trong biển…

🍃

Nói về phía bố Tưởng Hưng, vốn dĩ tim đã ngừng đập, nhiệt độ cơ thể cũng tụt xuống, đôi mắt trở nên trắng dã, hai chân duỗi thẳng, đây gọi là "mắt trợn chân duỗi".

Người đã chết một ngày, xung quanh con cái bạn bè thân cận đều đã tụ tập một đám. Nhưng đột nhiên máy đo tim lại bắt đầu "tu tu" rồi tim đập trở lại, quanh tim dần có hơi ấm, tứ chi dần dần có cảm giác. Mí mắt giật giật. Ngón tay cử động.

Bố Tưởng Hưng đột nhiên tỉnh dậy, không ngờ chết rồi mà sống lại, muốn uống nước. Vụ chết rồi sống lại đã làm kinh động giới báo chí, cũng được đăng lên báo.
Tưởng Hưng hỏi:
"Sau khi chết đi thì thế nào?"
Đáp: 
"Như ảo mộng."
"Cái gì ảo mộng?"
Đáp: 
"Hư không."
Tuy bố Tưởng Hưng không nói gì, nhưng kể từ đó hễ ông gặp ai cũng luôn khuyên răn không được tà dâm và nói rõ họa của tà dâm.

🍃

Một hôm, bố Tưởng Hưng tới tìm tôi.
"Lư Thắng Ngạn, tôi tới tìm ngài!"
"Tôi biết ông sẽ tới."
"Tôi tới cảm ơn ngài đã cứu tôi, cũng giúp tôi áp ấn."
"Không có gì." - Tôi nói.
"Tôi tới quy y ngài học pháp, bái ngài làm thầy."
"Rất tốt."
"Mời Sư Tôn ngồi."

Tôi ngồi trên bồ đoàn, vững chắc bất động. Bố Tưởng Hưng đoan đoan chính chính hướng về tôi lễ bái quy y.
Tôi nói:
"Tam quy y của tôi ở đây so với tam quy y của các pháp sư trên thế giới đại khái không giống nhau. Tam quy y của các pháp sư trên thế giới là quy y Phật không đọa địa ngục, quy y pháp không đọa ngạ quỷ, quy y tăng không đọa luân hồi. Pháp luân thường chuyển."
"Tam quy y của tôi là quy y Phật phải định ba tâm, quét sạch lục dục, thường giữ thanh tịnh, bất loạn chân tính, đây mới là quy y Phật. Quy y pháp là không nói, không nhìn, không làm những việc phi lễ giáo. Thân không làm những việc bừa bãi, miệng không nói những lời tệ hại, phải nhất tâm suy nghĩ đúng đắn, đây mới là quy y pháp chân chính. Còn quy y tăng là giữ thân thanh tịnh, siêu xuất tam giới, biết nơi Pháp thân chân chính mà an thân lập mệnh. Hiểu sinh ra từ đâu, chết đi về đâu, biết con đường đến cửa sinh cửa tử, hiểu thấu nơi Pháp thân thanh tịnh để thường trụ bất diệt, đây mới là quy y tăng chân chính."

Bố Tưởng Hưng nghe xong càng hiểu về tam quy y chân chính.
"Lời của Sư Tôn là chân lý. Tôi muốn báo đáp ơn quy y!"
Bố Tưởng Hưng hỏi tôi:
"Sau này Sư Tôn thân đi về đâu để tôi còn hầu phụng?"
Tôi đáp: 
"Không vướng bận việc đi Nam về Bắc, tôi phiêu du khắp năm châu thế giới, muốn hỏi thân ở đâu thì tôi thường tu ở trên trời tịnh diệt. Tôi nói cho ông hay, ông không cần phải phụng sự tôi hay báo đáp tôi. Nếu như ông dựa vào tam quy ngũ giới mà nỗ lực tu hành không ngừng nghỉ, thì chính là phụng sự, cũng chính là báo đáp rồi."
Bố Tưởng Hưng kính lễ rồi đi.

Sau này tôi được biết bố Tưởng Hưng in rất nhiều sách thiện, in "Ngọc Lịch Bảo Sao Khuyên Thế Văn" và "Cao Vương Kinh" tặng người ta, in tặng cả "Chân Phật Kinh". Ngoài ra đối với việc không tà dâm, ông gặp ai cũng đều nỗ lực khuyên răn.

Bố Tưởng Hưng sau này xuất gia làm tăng. Tăng nhân trong chùa có lần nghe thấy tên Lư Thắng Ngạn đã không ngớt lời nhục mạ. Chỉ riêng bố Tưởng Hưng không nói gì mà chỉ một tiếng niệm Phật.

Ông viết một bài kệ gửi cho tôi.
*Kệ người ta Tiên Phật
Ta tự có Phật Tiên
Hồng trần cuồn cuộn chảy
Tịnh tâm tự an nhàn.*

Bố Tưởng Hưng đã ngộ ra rồi đó!


### 06. Ô nhiễm và phỉ báng


Cuộc đời này của tôi có cảnh ngộ rất kỳ lạ. 
Khi 26 tuổi, tôi đã du ngoạn đến những cảnh giới vô cùng huyễn ảo, lên tận thiên đình, xuống tận địa phủ, xem lai lịch các kiếp trước của bản thân, từ đó viết cuốn "Mạn đàm linh cơ thần toán". Tiếng tăm tôi nổi lên, nhưng vì thế mà cũng làm dấy lên vô số những lời công kích phỉ báng. 

Tôi đã nghĩ như vầy, nếu không ngao du đến các cảnh giới cực kì huyễn ảo thì không có được đại pháp độ chúng sinh, tôi vẫn sẽ chỉ là một tên kỹ sư đo lường mà thôi.
Nghề nghiệp: Đo đạc.
Tín ngưỡng: Cơ Đốc.
Sở thích: Viết sách.
Kết hôn sinh con.
Kết thúc một đời.
Cuộc đời này của tôi chắc chắn cứ bình thường vô vị giống như bao người trên thế gian mà thôi. Không gió to sóng lớn, cứ tầm thường xoàng xĩnh, không biết vì sao mà sinh ra, cũng không biết vì sao mà chết đi. 

Thế nhưng tôi đã được mở thiên nhãn, đã nhìn thấy được thiên đường địa phủ, biết được nhân quả tiền kiếp, thu thập được nhiều chuyện tâm linh lạ kỳ, được chính các vị linh sư vô hình chỉ dạy Phật đạo. 

*Tôi đã đắc vô vi đại đạo
Thành Phật thành Tiên vượt cõi trời
Siêu sinh thoát tử tôi đã đắc
Điều ấy sao có thể xem thường
Trao pháp nhất định phải thành kính
Mật pháp tiết lộ nửa công khai
Vạn bạc, nghìn vàng, truyền cũng khó
Giao phó hậu nhân thật kĩ càng.*

🍃

Bởi vì tôi đã đắc Chân Phật, mười phương pháp giới đều thông suốt, lại có thể hoằng dương Phật pháp độ chúng sinh, tự nhiên vì thế mà làm dấy lên những miệt thị phỉ báng trong cõi hồng trần. 

Đầu tiên là bài viết "Bình luận về Lư Thắng Ngạn" trong tạp chí "Cây Bồ Đề", sau đó còn có hội "Dã thảo sơn nhân" xuất bản hai cuốn sách lăng mạ tôi. 
Một cuốn là "Lư Thắng Ngạn yêu ngôn hoặc chúng". 
Một cuốn là "Lư Thắng Ngạn yêu ma quỷ quái".
Báo, tạp chí, sách, các ấn phẩm xuất bản lên tiếng miệt thị cực kì nhiều, có kể ví dụ ra thì cũng không xuể. 
Đại sư của giới tôn giáo cũng chỉ trích tôi là: "Đại Thiên ma." "Đại ngoại đạo." "Tà sư." "Đại bịp bợm." "Tên hề lớn." "Lừa tiền gạt sắc." "Tâm thần bệnh hoạn." "Mơ mộng hão huyền." "Lừa đảo." "Ma quỷ của giới tôn giáo"…

Tất cả những danh từ này đều được khoác lên người tôi. Vài năm gần đây lại có hai cuốn sách được lưu hành trên thị trường, một là "Vì sao tôi rời bỏ Chân Phật Tông", hai là "Tôi yêu thầy tôi".  Còn nữa… v.v và v.v. 

Tôi tự cảm thấy, tôi còn sống trên đời này thì cái đống miệt thị phỉ báng kia chắc sẽ chất cao như núi, sâu như biển. Quả thật là quá vẻ vang! Những lời sỉ nhục này hầu hết là nghe sai đồn bậy. Hầu hết là không đúng sự thật. Đương nhiên cũng có những kế hoạch cố ý nhằm giăng bẫy buộc tội tôi. Cũng có những đệ tử Chân Phật Tông vì không đạt được lợi ích, như con chuột trong hũ gạo, ra mặt làm hại chính sư phụ mình, giống như Đề Bà Đạt Đa hại Phật Thích Ca Như Lai, Judas hại Chúa Jesus vậy…

Thế nhưng những điều bôi nhọ này đối với tôi mà nói đương nhiên không ảnh hưởng gì. 

*Tôi chỉ nhẫn nhịn không nói ra
Nghĩ rằng người đời không hiểu hết
Thuyền pháp đã sẵn người khó độ
Tưởng là đủ duyên hóa vô duyên
Mắt phàm chẳng thấy Phật trụ thế
Sao vượt tam giới dứt tử sinh
Thời cơ lỡ mất, than đành chịu
Biết tới bao giờ gặp hữu duyên.*

Tôi đương nhiên biết rằng bôi nhọ và phỉ báng đối với tôi vô hại bởi trong tim tôi có Phật, có Như Lai. 
Một là, tất cả đều sẽ qua đi.
Hai là, có sinh ắt có tử.
Ba là, tất cả đều sẽ thành hư không.
Tôi là cao nhân đắc đạo, an nhiên ung dung tự tại, một chút xíu cũng không bị ảnh hưởng gì, trái lại còn cười ha ha, đúng là người đời không biết phân biệt hàng tốt hàng xấu.  
Tôi là Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật.
Tôi là Hoa Quang Tự Tại Phật.
Tôi là như như bất động.
Đối với tôi mà nói, bôi nhọ và phỉ báng đều là thay tôi tiêu nghiệp chướng đó thôi!

🍃

Vậy bôi nhọ và phỉ báng có nhân quả báo ứng không?
Xin kể một sự việc như sau:
Có nam thanh niên tên Lý Tấn, là một nhân viên văn phòng. Người này tính tình trung thực và cũng không có thói hư tật xấu gì. Bỗng dưng một ngày anh ta mắc chứng bệnh dễ ngất xỉu. Bất kể lúc nào, vừa nói đến xỉu là xỉu liền. Hơn nữa, sau khi ngất xỉu, chỉ mấy phút sau anh ta đã tỉnh, lại trông như bình thường, có thể nói là "xỉu chớp nhoáng".

Lý Tấn đi khám bác sĩ, bác sĩ kiểm tra thấy bình thường. Có người thấy giống như chứng động kinh nên cho thuốc uống, bệnh vẫn không thuyên giảm. Nghe nói có phương thuốc hướng dẫn rằng, với bệnh "dê điên" này, mỗi khi phát tác thì chỉ cần lấy một ít rễ cỏ để ở trước mũi cho người bị bệnh ngửi sẽ tỉnh lại. Thế nhưng Lý Tấn khi phát bệnh không cần phải có rễ cỏ cũng tự nhiên sẽ tỉnh lại. Với bệnh này bác sĩ cảnh cáo anh ta không nên đi chơi ở biển, lỡ xỉu dưới biển là tiêu đời luôn. Cũng không được đến những nơi vách đá, ngã xuống một cái là cũng đi đời.

Lý Tấn bèn đi hỏi thần linh. Thần linh nói: "Xung phạm". Uống thêm nước bùa cũng không khỏi. Lý Tấn lại đi quy y học Phật nhưng bệnh vẫn vậy. 

Tóm lại, những nơi có thể tìm đến, Lý Tấn đều đã tìm đến rồi. Sau này có người bảo anh ta đi tìm Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, anh ta liền nghiêm túc đến tìm tôi. Cuối cùng, tôi cũng đã gặp Lý Tấn. 

Tôi nhắm mắt ngồi im, sau đó mở mắt ra hỏi: 
"Anh có nói điều gì đó không đúng!"
"Tôi thường thường trung thực, không hề nói bậy." - Lý Tấn đáp. Người nhà của anh ta đều xác nhận Lý Tấn là người trung thực, an phận giữ mình. 
Tôi nói: 
"Anh nhớ có người con gái tên là Vương Tư không?"
"Vương Tư?" - Lý Tấn nghĩ rất lâu nhưng chẳng nhớ ra. 
Người nhà cũng giúp Lý Tấn nghĩ, nghĩ rất lâu mới miễn cưỡng kể về một người con gái tên gọi là Vương Tư. Khoảng 10 năm trước, hàng xóm của Lý Tấn có một cô gái có tên gọi như vậy. 
"Cô gái này thì sao?" - Lý Tấn hỏi. 
"Cô ấy tìm anh." - Tôi đáp.
"Vì sao lại tìm tôi?" - Lý Tấn sửng sốt. 

Người nhà của Lý Tấn thì rất trầm mặc ít nói, mãi sau họ mới kể lại rằng Vương Tư là một phụ nữ đã lỡ thì. Có một lần hàng xóm tụ tập buôn chuyện, tình cờ nhắc đến Vương Tư, nói rằng đến giờ mà cô này vẫn chưa lấy chồng, vẫn còn là trinh nữ. 
Mọi người bắt đầu đàm tiếu. 
Có người nói: "Vương Tư không thích chuyện ấy ấy."
Có người nói: "Vương Tư quá cổ lỗ sĩ."
Có người nói: "Vương Tư là thủ tiết với người khác, đến chết cũng không lấy chồng."
Có người lại nói: "Vương Tư chưa từng sống giả dối đâu." 
Còn Lý Tấn nói: "Theo như sách xem tướng mà nói thì dáng đi của Vương Tư không phải là dáng điệu của gái còn trinh." 

Chỉ một câu nói bình phẩm này mà lan truyền gần xa, khi truyền đến tai của Vương Tư thì lại càng khó nghe. Sau đó người ta càng lan truyền đi thì càng điêu ngoa, tới mức như vẽ thêm chân cho rắn vậy. 

Vương Tư muốn ra mặt nói cho rõ ràng, nhưng lại không tiện mở miệng. Có điều nghĩ nhiều mà không thể nói ra, thực sự uất ức không chịu nổi. Cuối cùng Vương Tư uất ức mà chết, cũng có thể nói vì sân hận mà chết! Cái chết của Vương Tư cũng không khiến quá nhiều người để ý đến. Cô ấy cũng không phải là người có tiếng tăm gì. Người chết đi rồi thì những lời đồn đại đều tự nhiên tan đi như khói. 

Còn về bản thân Lý Tấn, anh ta cũng không nhận thấy rằng chỉ bởi một câu nói đùa này mà đã giết chết Vương Tư. Ý của Lý Tấn là đây vốn dĩ chỉ là một lời nói vô tâm mà thôi.

10 năm sau, Lý Tấn đã chuyển nhà mấy lần. Chuyện của Vương Tư đã bị quên lãng. Đến hôm nay, Lư Thắng Ngạn tôi nhìn thấy đứng sau Lý Tấn có một cô gái, tên cô này chính là Vương Tư. 

"Vương Tư tìm tôi có việc gì? Tôi không có hại chết cô ấy." - Lý Tấn biện hộ. 
"Đúng là không phải, nhưng mấy lời nói đùa chính là nguyên nhân." 
"Đó là trong sách xem tướng nói thế." 
"Việc có liên quan đến danh tiết của người ta, chính mình không biết thì không được nói bừa." - Tôi nói. 
"Tất cả mọi người, bao gồm cả truyền hình, báo chí đều hay nói quá lên mà!" - Lý Tấn cho rằng tự do ngôn luận là không có tội. 
Tôi cũng cảm thán: 
"Anh nói cũng không sai. Truyền hình, thời báo, tạp chí ngày nay rất ít nhắc đến những việc thiện, trên báo toàn là mấy chuyện cướp hiếp giết. Những tin tức đồn đại nhảm nhí thì nhanh chóng được truyền đi truyền lại, lợi bất cập hại. Giống như thanh kiếm Thái A, trong nhiều trường hợp sự thực còn chưa rõ, truyền thông đã phán quyết rồi. Truyền thông bây giờ hầu như đều phạm phải điều này. Không biết đúng sai ra sao đã bôi nhọ những người có liên quan, hủy hoại danh tiết của người ta, đây là phạm tội nói vọng ngôn." 
"Truyền thông vậy, tôi đương nhiên cũng vậy." - Lý Tấn không phục. 
"Anh hãy nghĩ xem, anh nói cô ấy như thế thử hỏi cô ấy sống làm sao!" 
Lý Tấn im lặng không nói. 

Người thân của Lý Tấn bèn hỏi tôi: 
"Vậy bây giờ nên làm sao?"
Tôi bèn quay ra hỏi cô gái Vương Tư vô hình kia: 
"Nên thế nào?"
Vương Tư đáp: 
"Sau khi tôi chết thì linh hồn không nơi nương tựa, may sao có Táo Thần thu nhận nên tôi mượn tạm cái bếp trong nhà để lưu trú. Tôi cũng không muốn đòi mạng, bởi nếu đòi mạng thì oan oan tương báo, sinh sinh tử tử lại càng đau khổ. Táo Thần nói với tôi, nếu bây giờ Lý Tấn mỗi sáng sớm thức dậy, mặt quay về phía bếp nấu trong nhà bếp, đảnh lễ 9 lạy, miệng niệm: "Nam mô A Di Đà Phật" 10 lần, hồi hướng cho Vương Tư, Vương Tư này sẽ sớm có ngày siêu thoát."
"Niệm lạy đến khi nào?"
"Cho đến khi đủ 10 năm, Vương Tư siêu thoát rồi, Lý Tấn sẽ không sao nữa!"
"Phải 10 năm mới khỏi à?" - Tôi kinh ngạc. 
Vương Tư đáp: 
"Không phải, chỉ cần Lý Tấn mỗi ngày 9 lạy, miệng niệm Nam Mô A Di Đà Phật 10 lần thì chứng ngất xỉu sẽ lập tức không phát tác nữa, tôi cũng sẽ không quấy rầy anh ta nữa."

Tôi nói với Lý Tấn điều đó. Người thân bạn bè của Lý Tấn thấy làm chuyện này quá được, rất đơn giản, dễ như ăn bánh. Chẳng phải giải ách tiêu tai gì, không phải tốn nhiều tiền, không phải đốt nhiều giấy vàng mã, cũng không cần mời nhà sư về tụng kinh siêu độ hay cần làm công đức gì cả, lại cũng không cần phải thay Vương Tư làm tượng vàng, xây chùa xây miếu nữa. 
Lý Tấn không thể không làm!

🍃

Kể ra cũng kỳ lạ. Chứng ngất xỉu bất thình lình của Lý Tấn, thường thì cứ mỗi hai, ba ngày lại chắc chắn xảy ra một lần. Cũng có khi một ngày xảy ra hai, ba lần. 

Nhưng kể từ khi hàng ngày lúc sáng sớm, anh hướng về bếp nấu, quỳ gối lạy 9 lần, miệng niệm "Nam Mô A Di Đà Phật" 10 lần, thì từ ngày hôm đó cả tuần liền đều không bị chứng ngất xỉu nữa, cứ y như chứng ngất xỉu đã được tiêu trừ rồi. 

Tuy vậy, Lý Tấn vẫn không tin chuyện ma tà lắm. Một hôm anh ta cố ý không lạy không niệm nữa, kết quả hôm đó lại bị ngất xỉu hai lần. Lý Tấn không còn dám không tin nữa, lại ngày ngày lễ lạy, ngày ngày niệm Phật 10 lần. Quả nhiên, căn bệnh "lăn quay ra đất" từ đó biến mất không dấu vết.

Thêm một câu chuyện lạ kì nữa. Lý Tấn có đứa con gái mới 4 tuổi. Có lần cô bé kinh ngạc nhìn thấy một cô gái ngồi khoanh chân trên cái bếp trong nhà bếp. Cô gái này chắp hai tay và cũng niệm Phật. Hỏi con gái Lý Tấn hình dáng cô gái này thế nào. Con gái Lý Tấn nói, cô gái này không hề đáng sợ mà thường mỉm cười vẫy tay với cô bé. Theo mô tả về quần áo thì đúng là Vương Tư. 

Người nhà và bạn bè của Lý Tấn thấy câu chuyện tâm linh kì lạ này, ai ai cũng đều tin rằng trên đời này có tồn tại quỷ thần, không thể nào không tin những chuyện nhân quả báo ứng. Trong cõi vô hình, thực sự số mệnh cũng đã định. 

🍃

Tại đây tôi khuyên mọi người:
Trong năm giới của Phật giáo, có một giới là không được vọng ngữ. Giới này dễ phạm phải, bởi vì con người đối với khẩu nghiệp thường coi nhẹ, dễ a dua theo số đông. Người tu hành chúng ta chuyện gì không biết thì tốt nhất không nên nói ra. Bất kì điều gì liên quan đến danh tiết của người khác thì không được khinh suất mở miệng ra nói. 

Người đời thường thích nói xấu sau lưng người khác, điều này là không đúng. Hãy nói bớt đi một câu, niệm Phật thêm một câu! Truyền thông là một vũ khí giết người. Dư luận đàm tiếu lại càng dễ kích động đến tình cảm con người. Những lời bàn tán của đại chúng sẽ lan đi mãi. Ôi miệng lưỡi thế gian thật đáng sợ... Nếu không đưa tin trung thực sẽ phạm ngay vào nghiệp chướng.


### 07. Giữa thê và thiếp


Một hôm, có người đàn ông khoảng 50 tuổi đến chỗ tôi hỏi chuyện. Buổi chiều hôm đó thời tiết oi bức, người đàn ông liên tục kêu nóng nên xin một ly nước mát để uống. 

Tôi từ tốn đi lấy hai cốc nước to và một cốc nước nhỏ rồi rót nước lạnh vào. Một cốc to thì để trước mặt người đàn ông, còn một cốc to một cốc nhỏ thì để qua bên cạnh.
Người đàn ông hỏi: 
"Tôi chỉ xin một cốc nước thôi, vì sao lại để thêm một cốc to một cốc nhỏ?"
Tôi cười: 
"Dù chỉ có một mình ông đến, nhưng còn một người lớn một người nhỏ nữa đi theo, làm sao có thể chỉ mời mỗi ông uống mà không mời họ được!" 
Người đàn ông này giật thót mình, mặt xanh lét:
"Bọn họ là ai thế?"
Tôi đáp: 
"Là hai mẹ con."
"Có thể mời họ rời đi được không?"
"Bây giờ thì không thể, nhưng cũng có thể thử xem!"
Người đàn ông nói: 
"Hôm nay tôi đến chính là để hỏi chuyện này, hy vọng có thể giải trừ hoạn nạn."

🍃

Người đàn ông này tên Uông Đăng, là một người có tiếng trong giới công nghiệp. Ông ta thường được xướng danh trong các tạp chí doanh nghiệp. Công ty ông ta quản lý tiếng tăm nổi như cồn cả trong nước lẫn trên thế giới. Con người này đương nhiên là có nhiều phụ nữ chủ động tới quan tâm và "dâng hiến" rồi.
Gia tài của Uông Đăng thì rất khủng! 
Danh lợi thanh tựu.
Có tên tuổi ắt có tiền!
Là một quý ông phong độ khiến người khác phải ghen tỵ, xung quanh Uông Đăng luôn có nhiều phụ nữ tìm cách gần gũi, bao gồm cả chính nữ thư ký của ông ta. 

Uông Đăng cũng đã có vợ có con, gia đình tương đối viên mãn. Ông ta quan tâm đến gia đình, coi trọng việc giáo dục con cái. Ông ta cũng vốn xem trọng sự nghiệp, có thể nói là tất cả mọi thứ đều vô cùng hoàn mỹ. 

Chính ông ta cũng biết rõ nam nữ đều có phối ngẫu trời định, nếu làm đảo lộn thì tình cảm vợ chồng sẽ gặp mâu thuẫn. Nếu đảo lộn, không còn hòa hợp nhau thì rồi mọi người sẽ giống như cầm thú, việc dứt lông cắm sừng nhau sẽ chẳng còn là chuyện xa vời. Thêm nữa, dù sự việc có giữ cực kì bí mật, dù anh tự cho rằng thần không biết quỷ không hay, nhưng sẽ sớm có ngày vỏ trứng dày cũng nứt, sẽ có ngày scandal nổ ra, tiếng xấu lan rộng, danh dự bị hạ thấp, anh sẽ không còn mặt mũi nào nữa. Vì vậy Uông Đăng thường rất thận trọng!

Tuy nhiên, có một lần Uông Đăng tham dự hội nghị ở xa. Ở đó có cô gái trẻ đặc biệt phục vụ riêng ông ta. Vừa nhìn thấy cô gái này, Uông Đăng lập tức giật thót vì thấy rất giống người yêu đầu tiên của mình. 
Thế rồi Uông Đăng kể về người yêu đầu. 
Cô gái nói: 
"Giá như em chính là người tình ngày xưa của anh." 
Liếc nhìn danh thiếp, Uông Đăng thấy cô gái trẻ này tên Dương Hân.

Dương Hân phục vụ Uông Đăng rất tận tình, làm mọi điều có thể chỉ trong vài ngày ngắn ngủi đó. Ông ta bắt đầu thấy có cảm tình đặc biệt đối với cô gái. 
Uông Đăng khen ngợi Dương Hân: 
"Em phục vụ thật tốt."
Cô gái đáp: 
"Chỉ cần anh thích, việc gì em cũng có thể làm." 
Chính vì câu nói này mà Uông Đăng dao động thần phách!

Thân thể mảnh mai của Dương Hân, khuôn mặt tươi tắn của Dương Hân, nét trẻ trung của Dương Hân, mùi thơm của Dương Hân, sự trong sáng của Dương Hân… Tất cả đều không thể tìm thấy trên người của vợ ông ta. 

Con người sinh ra từ sắc dục, vì thế bị thói quen rất mạnh mẽ. Uông Đăng không phải là người ngớ ngẩn, ông ta cũng có dục vọng, chỉ vì đạo đức xã hội kiềm giữ ông ta lại, thế thôi. 

Đến một đêm. Dương Hân lấy cớ cần gửi văn kiện khẩn nên đến khách sạn nơi ông ta ở. Thế là hai người đã đi quá giới hạn. Uông Đăng nhất thời không thận trọng, đã rơi vào hố sâu của đau khổ! 

Trước tiên có thể thấy sự vui vẻ nhất thời sẽ mang đến khổ đau vĩnh hằng. Dương Hân có thai, sinh ra một bé gái. Giấy không gói được lửa, sự việc đã lộ ra. 
Đây chính là:
*Mỹ nữ trót làm điều nhục nhã
Liên lụy ngay danh tiết cả đời
Người thân không cách nào che đậy
Kết mối oan gia cởi sao đây?*

🍃

Về phía người vợ hiện tại thì: "Ai chẳng mong sống hạnh phúc tới già, đáng thương thay phận đàn bà phòng không gối chiếc. Cạnh ao thơm, ôi đôi uyên ương tan tác, từ đó chẳng còn mong chắp cánh cùng bay. Mọi hy vọng giờ đều tan vỡ, có chuyện gì để mà vẻ vang. Tâm trí tự lừa gạt, tình thế bị áp lực tới mức điên cuồng. Kết cục là tạo ra oan gia nghiệp chướng."

Cá nhân tôi thì thấy đây vốn là cuộc chiến tranh giữa phụ nữ với nhau. Ví dụ như cuộc tranh đấu giữa mẹ chồng với con dâu, chiến tranh giữa chị chồng với em dâu, cuộc giành giật giữa thê và thiếp, v.v… Từ xưa tới nay, sự thảm khốc của chiến tranh thì mọi người đều có thể cảm nhận được. 

Cuộc chiến trong cung đình của Võ Tắc Thiên, cuộc chiến trong cung đình của Lữ Hậu, cuộc chiến trong cung đình của Từ Hy, đều dùng đủ mọi xảo kế có thể cho đến khi đối phương gục ngã đến chết mới thôi. Thế mới thấy tâm địa con người lúc đó thật đáng sợ. 

Đương nhiên, cuộc chiến này đều là do bởi hai chữ: "Chiếm hữu". 
Tuyệt đối không có hai chữ: "Khoan dung". 
Người phụ nữ nên thận trọng trong việc ghen tuông khi bị phản bội thì sẽ có phần tốt hơn. 

Theo tôi biết, người xuất gia cũng không ngoại lệ. Có một vị đại sư bên cạnh có vài tì kheo ni phục vụ. Mấy tì kheo ni này vì muốn tranh giành sự yêu mến nên đã cạnh tranh lẫn nhau. Tranh đấu với nhau đến cuối cùng, phía bên thua không ngờ đã hại chết chính sư phụ mình. 
Tâm lý này gọi là "trút giận". 
Đập búa chìm thuyền, chết thì cùng chết.
Thà làm ngọc vỡ còn hơn ngói lành.

Tôi thấy rằng phụ nữ mà biến từ yêu thành hận thì sức mạnh cực kì đáng sợ. Đương nhiên tôi không nói chỉ có phụ nữ sai. Trên thực tế, Uông Đăng đã sai rồi, sai tới mức không thể chấp nhận được. 

Người vợ hiện tại của Uông Đăng tuyệt đối không thể nào nhẫn nhịn, chịu đựng được việc kề bên gối chồng có một người khác. Còn Dương Hân cố gắng chịu đựng, nhưng sự chịu đựng cũng có giới hạn nên cô ta trút tâm trạng này lên Uông Đăng. Cả đôi bên đều theo kiểu: "Có nó thì không có tôi, có tôi thì không có nó!" Uông Đăng lúc này thực sự rất đau khổ!

Chúng ta đều biết bốn chữ "nữ nhân họa thủy". [Khi Hán Thành Đế cho Triệu Hợp Đức làm phi tần thì bị can ngăn: đây là cái họa nước, nước sẽ dập mất lửa, do nhà Hán được ví như lửa, người đẹp ví như nước. Từ đó Tư trị Thông giám viết "hồng nhan họa thủy" với ý người đẹp như nước gây ra họa.]
Nhưng hãy nghĩ sâu thêm một chút. Nếu như không có "nam nhân họa tiên" [đàn ông gây ra họa trước] thì sẽ không có "nữ nhân họa thủy". 

Lý do tại sao xảy ra chuyện, là bởi vì có chữ "dục". Nam nữ vướng vào dục thì thường sẽ đem lại rất nhiều đau khổ. Tai hại theo đến khôn lường, có thể mất mạng, mất nước, đổ thành, phá sản. Nhưng tiếc thay, người đời vui thích trong thú ấy, hy sinh cả mạng sống, đến chết cũng không biết hối hận hay xấu hổ. Đây chính là tư tưởng: "Thà chết dưới hoa thì làm ma cũng phong lưu". 

Ngày nay đối với việc chơi gái, phần lớn đều là người ta thỏa thích đi tìm vui thú. Người người "tìm hoa hỏi liễu", ai ai cũng làm cái việc "cướp ngọc trộm hương", ngày càng phổ biến! Chưa kể đến loạn luân, trai bao gái bao, lại thêm đồng tính luyến ái, cũng là những việc tạo nên sóng gió không kém. 

Nhìn chung, có rất nhiều cái chết do sắc dục dẫn tới. Mọi người có thể nghĩ xem:
Dâm phụ giết chồng, chồng giết dâm phụ.
Chồng giết gian phu, gian phu giết chồng.
Vợ giết bồ, bồ giết vợ, v.v…
Theo thống kê: 
Cứ mười người thì có tới bốn người chết trực tiếp do phát sinh tình cảm từ sắc dục mà giết người, bốn người chết do nguyên nhân gián tiếp, việc giết người vì tình ái cũng chiếm tỉ lệ rất cao.

Còn có những nam nữ chìm đắm trong sắc dục mà bị hao tổn sinh lực, cái chết kiểu này thì không nhìn thấy được, mọi người thường không nhận ra, những người vì sắc dục mà chết đều là do tự mình chuốc lấy. Người ta nói rằng họ tự nhiên mà chết nhưng thật ra không phải, mà chính là vì mỗi ngày đều tàn phá bản thân, vì tham dục mà mất mạng. Từ đây có thể thấy người chết trong thiên hạ phần lớn là chết thảm.

🍃

Trước kia tôi có viết một bài kệ:
*Mỹ nữ eo thon mang bảo kiếm
Không trảm thánh hiền trảm phàm phu
Tuy rằng không thấy đầu rơi xuống
Xương tủy đã khô tự bao giờ.*

Những chuyện sắc dục này, người bình thường xem là phúc phần lớn, nhưng người tu hành lại xem là họa lớn.
Phàm phu chuốc lấy thì gặp họa.
Thánh hiền hiểu thấu, đức hạnh chí cao, an lạc chí đại. 

Hãy ngẫm nghĩ, ngẫm nghĩ mà xem!
Một là, không có được sắc dục, dẫn đến oán hận. 
Hai là, có được sắc dục nhưng khi hết mặn nồng, cũng dẫn đến oán hận. 
Ba là, có được sắc dục nhưng lại đánh mất, cũng dẫn đến oán hận. 
Tóm lại vẫn đều là nguy cơ trùng trùng, họa hoạn liên miên. 

🍃

Chuyện ngoại tình của Uông Đăng và Dương Hân dẫn đến cuộc chiến tranh giữa vợ con và người tình. Uông Đăng đối với việc chăm sóc Dương Hân dần dần chuyển từ "nóng" sang "lạnh", cảm thấy chán chường mệt mỏi, dần dần cũng mất đi sự kiên nhẫn. Ông ta thấy sự bình yên của gia đình trước đây bị chính mình đánh mất vì một bước đi sai lầm, nên giờ đây đau khổ liên miên. 

Nói về phía Dương Hân, do oán hận lâu, có một lần nghĩ không thông, cô đã mang đứa con gái mới vài tuổi nhảy xuống sông tự tử. 
Dương Hân đã chết. Con gái cũng chết. 
Đây thực sự là thảm kịch của việc ngoại tình. 

Sau bi kịch này, Uông Đăng thường ngủ mơ thấy ác mộng, giữa đêm tỉnh dậy, cảm thấy thân thể lạnh run, rồi mất ngủ và lo sợ. Trong bóng đêm lại nhìn thấy Dương Hân và con gái cầm tay nhau nhìn chằm chằm vào ông ta. 

Tiếp đó xảy đến những việc lạ lùng! Uông Đăng cảm thấy Dương Hân dường như cứ luôn ở cạnh ông ta. Nửa đêm có tiếng bước chân đi trên nền nhà, ghế bị dịch chuyển, cửa tự động mở, trên tường cũng phát ra những tiếng động lạ, lại thường có tiếng bước chân chạy của trẻ con. 

Những việc trên cũng chưa đáng kể gì! Bếp ga rõ ràng đã tắt rồi nhưng lại thấy bị bật lên. Kì lạ hơn nữa là Uông Đăng trở nên khó ngủ, xương khớp đau nhức. Sáng khi ngủ dậy, phát hiện toàn thân chỗ bên này có một vết bầm tím, chỗ bên kia cũng có một vết bầm tím, thậm chí mặt và cổ cũng có vết bầm tím rất khó coi, giống như bị người ta đánh đến mặt mày bầm dập vậy.

Uông Đăng đi hỏi thần linh. Thần linh nói: "Bị ma đánh."
Thỉnh bùa của Ngũ Phủ Thiên Tuế về treo ở nhà, cửa ra vào và cửa sổ đều dán bùa, nhưng mặt mũi vẫn sưng bầm.
Thỉnh kiệu thần Ngũ Phủ Thiên Tuế và kê đồng về nhà làm pháp, kiệu thần diễu quanh nhà một vòng, kê đồng cầm cây kiếm cá mập chặt chém đến mức toàn thân chảy máu, vừa vẽ bùa vừa đọc chú, sử dụng phép thuật trên toàn thân, kết quả vẫn vô ích. 

Uông Đăng kể xong những sự việc kể trên, liền cho tôi xem phía trước ngực và sau lưng ông ta, quả nhiên có một khối màu xanh đỏ trông như những vết tẩm quất giác hơi đang rất thịnh hành bây giờ. Làm giác hơi xong chẳng phải là cũng có những vết xanh xanh đỏ đỏ hay sao. Tôi nhìn xong cũng thấy kinh ngạc! 

Tôi hỏi: 
"Anh đã gặp bác sĩ chưa?"
"Đương nhiên, bác sĩ không tìm ra nguyên nhân. Đi hỏi thần minh, tôi cũng đi rồi. Thần minh nói là do ma đánh, nhưng làm pháp rồi cũng vô dụng. Hôm nay đặc biệt đến tìm ngài, hy vọng có thể giúp giải trừ khổ nạn này." 
Tôi quay đầu hỏi con ma vô hình là Dương Hân:
"Muốn giải quyết như thế nào?"
Dương Hân đáp:
"Tôi vì hận riêng mà chết, ngậm oán hận, uất ức không hết được." 

Tôi giải thích đạo lý của việc oan oan tương báo không hồi kết cho Dương Hân nghe.
Dương Hân hỏi: 
"Vợ ông ta oán hận nên chửi mắng tôi thậm tệ, có thể không báo oán không?"
Tôi không biết trả lời thế nào cho phải! 
Dương Hân nói: 
"Tôi gặp nạn này, trong lòng bất bình, phải thấy hai bọn họ bị báo ứng thì mới thỏa nỗi hận."
Tôi nói với Dương Hân: 
"Nếu tôi làm pháp khiến cô phải rời đi thì sao?"
"Vô dụng thôi." - Dương Hân đáp. "Bởi tôi có luật lệnh." 

Dương Hân thản nhiên lấy ra một lá cờ nhỏ màu đen. Lá cờ nhỏ này quả nhiên là luật lệnh của âm phủ địa ngục, thảo nào Ngũ Phủ Thiên Tuế cũng không làm gì được. 
"Nếu tôi siêu độ cô vãng sinh thì sao?"
"Tôi không muốn đi." - Dương Hân nói chắc như đinh đóng cột. 
"Nếu tôi có luật lệnh của Địa Tạng Vương Bồ Tát thì sao?"
Dương Hân đáp: 
"Ông làm sao mà có được!"
"Tôi có thể ra lệnh cho Chuyển Luân Thánh Vương bắt cô, gửi cô đến các nơi lục đạo luân hồi, để cho mẹ con cô đi tái sinh, tránh lưu lại dương thế để liên tục hiện hình làm hại người khác. Trong việc này cô cũng có lỗi vì cô đã không kiềm chế được dục vọng của mình, không thể đổ tội hết cho vợ chồng Uông Đăng được."

Tôi lấy ra luật lệnh của Địa Tạng Vương Bồ Tát. Luật lệnh này là: 
*Một lá cờ thông đạt trời đất
Ma ha yết đế độ chúng sinh
Hào quang huy hoàng nghìn tia sáng
Đảnh lễ Bồ Tát ơn bảo hộ.*

Cờ lệnh này vừa giơ ra, trên không đầy ắp cờ phướn ô lọng tỏa ánh sáng hào quang vạn trượng, bên dưới ô lọng có Địa Tạng Bồ Tát, bên dưới nữa lại có hoa sen bảy sắc, thanh tịnh tự nhiên. Phía trước có ba ngọn đèn vàng nhỏ, xung quanh là các chuỗi ngọc, ánh sáng lan tỏa khắp nơi. Địa Tạng Bồ Tát tay nắm bảo tọa sen vàng, nói: 
*Bảo tọa sen vàng
Thương xót thế nhân
Phóng quang chiếu đến
Phật quốc hiện tiền.*

Tôi nhận thấy ánh sáng của sen vàng vừa chiếu vào mẹ con Dương Hân thì oan nghiệp lập tức bị tiêu trừ. Trong chớp mắt, oán khí cũng không còn nữa. Cái tâm ương ngạnh, cái tâm báo thù, cái tâm phẫn nộ đều tiêu tan hết. 

Dương Hân lúc này thấy những vinh hoa trần thế cũng đã bị hủy hoại hết, không luyến tiếc cõi Ta Bà nữa, liền nảy sinh lòng muốn siêu sinh về nơi thánh cảnh. Thế là hai mẹ con nhập vào đài sen, điềm lành hiện trên không trung, chỉ trong sát-na đã đi vào cõi Phật.

🍃

Tôi biết, pháp độ hóa chúng sinh "chân không diệu dụng" này chính là Phật pháp của Di Lặc Bồ Tát tương lai sẽ hạ giáng xuống cõi Ta Bà, là Phật pháp của Long Hoa Tam Hội quảng độ chúng sinh. 

Đây cũng là "duy thức thần biến" của Bồ Tát Di Lặc. Chỉ cần có ánh sáng từ tâm của Bồ Tát Di Lặc chiếu vào tâm của chúng sinh, mọi nghiệp chướng của chúng sinh đó sẽ được tiêu trừ lập tức, chỉ trong một sát-na. Tâm của chúng sinh đó sẽ chuyển hóa thành tâm của Bồ Tát Di Lặc. Đây chính là "duy thức thần biến", nếu chúng sinh nào được ánh sáng chiếu vào sẽ lập tức biến đổi, đều được độ đến cõi Phật.

Theo tôi biết, khi chư Phật, Bồ Tát độ chúng sinh thì các pháp không giống nhau, nhưng kết quả của việc độ thì sẽ là: 
Đại Nhật Như Lai - Chân như.
Thích Ca Như Lai - Bát nhã.
Long Thụ Bồ Tát - Trung quán.
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ - Du già.
Di Lặc Bồ Tát - Duy thức.
A Di Đà Phật - Tịnh thổ.
Nay tôi vận dụng luật lệnh của Địa Tạng Bồ Tát, tương tự "duy thức thần biến", lá cờ này vốn dĩ là ở cõi trời bên ngoài cõi trời, vốn là thành Phật thành Tiên, không còn cần cái gì cả, siêu sinh nhẹ như một sợi lông mà thôi. 

🍃

Uông Đăng hỏi tôi: 
"Làm sao thoát khỏi việc này?"
Tôi đáp: 
"Đã giải thoát rồi." - Tôi huơ huơ cây cờ nhỏ trong tay. 
"Dùng pháp gì vậy?"
"Tâm như người họa sĩ, có thể vẽ thế gian, ngũ uẩn từ đó sinh, không cách nào không tạo."
"Tâm pháp này là pháp gì?"
"Là ánh sáng của tâm linh."
Tôi nói với Uông Đăng:
"Tương lai khi Bồ Tát Di Lặc hạ giáng độ chúng sinh, Long Hoa Tam Hội, chính là dùng "duy thức thần biến". Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức, Bồ Tát Di Lặc chỉ dùng ánh sáng tâm linh mà chiếu, tâm chúng sinh đều biến hóa thành tâm của Bồ Tát Di Lặc. Do đó, Long Hoa Tam Hội, chúng sinh đều được độ hóa cả."
Uông Đăng nghe xong nói: 
"Tôi cũng muốn học Phật!"

Tôi nói: 
"Tốt lắm. Người học Phật có thể nhìn thấy rõ được cuộc đời ham muốn hưởng thụ vật chất, những ham muốn hưởng thụ vật chất này chỉ có được sự kích thích tạm thời. Niềm vui nhất thời thực ra chỉ là liên tiếp những cơn hôn mê điên đảo. Hơn nữa, chúng sẽ mãi làm nhiễu loạn sự an nhiên của tinh thần, không có niềm vui khoan khoái nhẹ nhàng làm sao mà có được hạnh phúc chân chính."
"Học Phật phải thế nào?"
"Đầu tiên cần loại bỏ tham, sân, si."
"Có lợi ích gì?"
"Trong tâm là ánh sáng."
Uông Đăng quỳ xuống bái tôi làm thầy. 

Uông Đăng ra về, quả nhiên những chuyện kỳ lạ trong nhà đều không còn nữa. Chứng mất ngủ cũng hoàn toàn khỏi, những vết bầm tím trên người cũng không thấy nữa, xương cốt cũng không còn đau. Ông ta thường nói, Liên Sinh Hoạt Phật bất khả tư nghì, Lư Thắng Ngạn là không thể nghĩ bàn!

Cả nhà Uông Đăng đều quy y cửa Phật, nỗ lực bố thí, làm việc thiện!


### 08. Ma nữ


Tại một buổi yến tiệc. 
Trong số nhiều người ở đó thì có người biết tôi, cũng có người không biết tôi. Có một người biết tôi đã thỉnh cầu tôi xem khí sắc cho mọi người ở đó.

Trong số đó có một người tên là Từ Minh hỏi tôi:
"Mới chỉ nghe danh Lư Thắng Ngạn, chưa từng gặp người thật, xin mời nhìn thử xem tôi thế nào?"
Tôi chăm chú nhìn Từ Minh rồi ngạc nhiên nói:
"Trên người ông Từ có ma khí."
Tất cả nghe xong đều ngẩn người ra.
Có người nói:
"Lư Thắng Ngạn thích nói đùa!"
"Lư Thắng Ngạn sỉ nhục người ta!"
"Lư Thắng Ngạn nói lời vô trách nhiệm. Những lời nói thế này làm sao có thể tùy tiện nói ra được."
Mọi người nhìn chằm chằm vào Từ Minh.

Chỉ có Từ Minh là không hoảng hốt, ông ta nói: 
"Lư tiên sinh nói đúng rồi, tôi quả thực bị nhiễm khí ma."
Nghe xong câu này, mọi người đều tái mặt. 
Từ Minh hỏi tôi: 
"Làm sao để trừ ma khí?"
Tôi đáp: 
"Về nhà tĩnh tâm tụng "Kinh Hoàng Đình" sẽ lập tức thấy kỳ diệu vô cùng. Cần dùng tâm giữ giới, sau ba tháng sẽ tự nhiên tiêu trừ."
Tôi dặn Từ Minh mỗi ngày đọc ba lần "Kinh Hoàng Đình", trai giới ba tháng, không gần phụ nữ, tự nhiên ma khí sẽ hết."
Từ Minh cảm ơn tôi. Từ Minh hỏi: 
"Lư tiên sinh biết trên người tôi có ma khí, nhưng không biết là ma khí này đối với tôi có hại hay vô hại?"
Tôi đáp: 
"Thân nhiễm ma khí đương nhiên là không tốt. Tuy nhiên theo như tôi quan sát kĩ thì thấy ma khí này là của một phụ nữ, đối với ông không oán không hận. Rõ ràng là nhiễm trên người nhưng cũng không có ý hại ông, nên thực ra ma khí này cũng không đáng ngại lắm."
Từ Minh nghe xong vô cùng thán phục: 
"Lư Thắng Ngạn quả nhiên danh bất hư truyền."

🍃

Trong bàn tiệc, Từ Minh kể cho tôi và mọi người nghe câu chuyện kỳ lạ như sau:
Từ Minh là thương nhân, có lần đến Tokyo Nhật Bản đàm phán thương mại, ở tại phòng trên tầng 6 của một khách sạn lớn. Buổi đêm trong khi ngủ mơ, anh ta cảm thấy bên mình có ai đó nằm cạnh. Không ngờ đó là một phụ nữ, sắc diện không tệ, có những đường cong cơ thể đẹp đẽ, hơi thở thơm như hoa lan, cảm giác hệt như một người còn sống. Bởi vì Từ Minh đang ngủ mơ nên không nhận rõ được là thật hay mơ, cứ thế mà quan hệ với cô ta. Hai người ân ái xong thì vô cùng thỏa mãn. Đến lúc Từ Minh tỉnh lại, không thấy có dấu hiệu gì của giấc mơ vừa xong, cũng không thấy người phụ nữ nào, cửa sổ vẫn đóng, rất kỳ lạ. Anh ta cho là chỉ là một giấc mơ mà thôi. 

Đêm thứ hai, người phụ nữ lại đến. Sau khi làm "việc đó" xong, Từ Minh hỏi cô ta ở đâu, cô ta trả lời mình ở tầng 7, phòng XX. Từ Minh ngày hôm sau tỉnh dậy cũng không thấy người phụ nữ đâu. Lần này anh ta cảm thấy chuyện không bình thường. Anh đi thang máy lên tầng 7 tìm người phụ nữ, nhưng thang máy không dừng lại ở tầng 7 mà chỉ dừng ở tầng 8, 9, 10,… 

Từ Minh xuống hỏi lễ tân:
"Phòng XX ở tầng 7 có ai ở đó?"
Lễ tân đáp:
"Không có ai."
"Vì sao lại không có ai?"
"Vì cả tầng 7 đang tu sửa lại toàn bộ các phòng ốc, nên không thể có người ở được!"
Từ Minh nghe vậy thì lập tức mắt chữ O mồm chữ A! 

Đêm thứ ba, ở trong mơ người phụ nữ đó lại đến, ôm lấy Từ Minh đòi được ân ái. Lần này Từ Minh từ chối.
Từ Minh hỏi:
"Cô từ đâu tới?"
"Ở tầng 7 phòng XX".
"Cả tầng 7 đang tu sửa lại không có người ở, rốt cục cô là người hay là ma?"
Người phụ nữ vừa nghe vậy thì nước mắt chảy dài. 
Từ Minh thảng thốt:
"Cô bình tĩnh nói, đừng khóc, tôi chỉ muốn hiểu cho rõ ràng đây rốt cục là chuyện gì?"
Người phụ nữ nói với Từ Minh:
"Do có việc muốn nhờ vả nên tôi mới lấy thân mình ra để chiều chuộng."
"Chuyện gì?"
"Ở quê anh có phải có người tên Từ Uyên không?"
"Đúng vậy. Là người cùng thôn, cũng là bạn học."
"Từ Uyên là kẻ phụ tình vô tình vô nghĩa nhất trong thiên hạ. Năm đó, tôi và anh ta tình cờ gặp nhau ở Nhật Bản. Tôi đã giúp đỡ anh ta mọi chi phí du học, đồng thời cũng trao thân cho anh ta. Hai người cũng đã thề non hẹn biển rằng hắn sẽ không cưới ai ngoài tôi, tôi cũng không lấy ai ngoài hắn. Không ngờ rằng Từ Uyên học xong về nước, một đi không trở lại, biến mất không dấu vết, bặt vô âm tín, nghe nói đã cưới người khác rồi. Tôi đau đớn cùng cực. Tiền bạc của tôi tích cóp cả đời tất cả đều đưa hết cho anh ta rồi, tất cả tình nghĩa cũng đã dành cho anh ta. Tôi đời này vừa buồn vừa hận, chỉ có chết mà thôi." - Người phụ nữ òa khóc. 
Từ Minh kinh hãi:
"Cô thật sự là ma sao?"

Người phụ nữ mặt mày đang đau khổ ấy đột nhiên biến đổi dần thành con ma treo cổ lưỡi dài lê thê, máu chảy ra từ bảy lỗ. Từ Minh kinh hoàng lùi lại mấy bước, nghĩ tới người phụ nữ quyến rũ mấy đêm nay chính mình đã ôm ấp, tưởng rằng mình đã gặp được giai nhân với sắc đẹp miễn bàn. Không ngờ vẻ đẹp diễm lệ chỉ là lớp vỏ bề ngoài, thực tế lại chỉ là một con ma. Tưởng là tuyệt thế giai nhân, hóa ra là hôi tanh bẩn thỉu. 

Người phụ nữ nói:
"Anh giúp đỡ tôi, tôi không làm hại anh."
Từ Minh tâm thần sợ hãi hỏi: 
"Giúp thế nào?"
Người phụ nữ nói: 
"Trên người tôi có một cây trâm vàng, tôi có thể nhập vào nó. Anh lên tầng 7 của khách sạn phòng số XX, kêu lên tên họ của tôi, phòng này chính là nơi tôi treo cổ tự tử chết. Gọi tên tôi, tôi sẽ nhập vào cây trâm vàng. Khi về quê, anh chỉ cần ném cây trâm vào trong nhà Từ Uyên, làm vậy là đã giúp được tôi rồi. Tôi tuyệt đối sẽ không hại anh."
"Tầng 7 đã phong tỏa hết, không có cách nào đi vào." 
Ma nữ nói:
"Người ta sửa lại phòng ốc thì làm sao lại không có đường đi chứ. Có một lối đi khác."

Từ Minh cầm lấy cây trâm vàng rồi tìm lối đi khác lên tầng 7, gọi tên của người phụ nữ. Sau đó trở về quê hương mình, Từ Minh y theo lời ma nữ nói, đến nhà Từ Uyên và ném trâm vàng vào trong vườn nhà anh ta. Cũng vừa hay hôm đó là ngày thăng chức của Từ Uyên. Từ Uyên mở tiệc chiêu đãi tại nhà, khách khứa tụ tập rất đông. Mọi người nâng rượu cụng ly. Từ Uyên cực kì vui vẻ. Vợ của Từ Uyên ở trong nhà cũng bận rộn tíu tít tiếp đãi khách. 

Thế rồi Từ Uyên đột nhiên cảm thấy một luồng gió lạnh. Chóng mặt. Ngã lăn ra đất.
Xe cấp cứu đến, bác sĩ nói: 
"Uống rượu quá nhiều dẫn đến huyết quản bị đứt, não đã chết rồi, không thể cứu được nữa!"
Từ Uyên đã chết!
Rồi đến vợ Từ Uyên cũng mắc bệnh không hề nhẹ. 

Từ Minh kể xong câu chuyện kỳ lạ này, mọi người mới hiểu ra trên người anh ta có ma khí là như thế nào. Tất cả đều lắc đầu thở dài. 

🍃

Tôi thấy người trên thế gian này không ai là không hy vọng sống lâu khỏe mạnh cả đời. Ai cũng đều mong muốn có thể thăng quan phát tài, đây cũng là việc thường tình không lạ. Thế nhưng những kẻ thích lăng nhăng đâu đâu cũng thấy, lại còn chỗ nào cũng tùy tiện thề thề thốt thốt. Khi tham đắm sắc dục, tùy tiện thề nguyện sẽ rất dễ đắc tội với quỷ thần. 

Mọi người đều không hề kiêng dè, họ không biết rằng thật ra, một khi đã lập lời thề nguyện là sẽ có "Thề Thần" ghi lại. Đừng nên mạo muội thề thốt lung tung. Người quân tử phải trọng lời thề, một lời thề đáng giá nghìn vàng. Tiểu nhân thề thốt chỉ chớp mắt là quên, vô tình vô nghĩa sẽ sớm mắc tội với thiên địa vô hình. 

*Muốn sống lâu an bình khỏe mạnh
Phải bỏ dâm nhất định luôn nhớ
Muốn thăng quan phát lộc phát tài
Với quỷ thần đừng nên đắc tội. *

Cái chết của Từ Uyên là do vô tình vô nghĩa mà chết, chính là tội đáng chết! Từ Minh thân nhiễm ma khí cũng là do tham dâm mà nên, cũng may chưa bị hại gì, chỉ cần trai giới là có thể tiêu trừ. 

Con người thời nay phát lời thề nguyện dễ dàng như ăn bắp ngô. Nếu không biết giữ lời thề nguyện thì lật mặt cũng dễ dàng như lật trang sách vậy. 
Thật là bi ai!


### 09. Kim ấn của Quan Thánh Đế Quân


Tôi thường cảm thán, thế gian từ nghìn năm nay trong cõi hồng trần cuồn cuộn, người tỉnh ngộ thì ít, người u mê thì nhiều. Người thành tựu trên thế gian khó tìm, trái lại những người vô duyên thì đâu đâu cũng thấy. Thật khiến người ta vừa giận vừa thương. 

Nghĩ đến câu hát: 
*Than ôi, phú quý lợi danh hão huyền, mê hoặc người ta quá mức.
Trên trần thế biết bao Phật tử, mắc kẹt hồng trần cả thôi.
Chỉ biết hưởng phúc thế gian và những may mắn thế lực
Đều không nghĩ đến những mối nợ nghiệp âm thầm đến buộc vào thân.*

Chứng ngộ của tôi, nói thật ra là vô cùng tự nhiên, là không hình không tướng, là không thể nói bằng lời. Mọi người nghi ngờ tôi, có lẽ người tu hành cũng nghi ngờ tôi, việc này cũng không có gì lạ. Bởi những thứ thuộc về chứng ngộ thì có nhìn cũng không nhìn thấy được, có nghe cũng không nghe thấy được, hoàn toàn vô hình vô tướng. Cũng không có cách nào để nói, kể cả nếu có thể dùng núi Tu Di làm bút, nước bốn biển làm mực, thì cũng không thể viết ra được. 

Chỉ có thể nói như thế này: 
*Minh tâm kiến tính.
Tự chủ sinh tử.
Thập phương pháp giới.
Phóng đại quang minh.*

🍃

Có lần đang dạo chơi khắp mười phương pháp giới, huệ nhãn trông xa, tôi bỗng thấy thiện khí lan tỏa trong không gian, từ không trung hiện điềm lành. 
Hóa ra là Quan Thánh Đế Quân cùng Châu Thương tướng quân và Quan Bình cùng tiến về phía trước. 
[Quan Thánh Đế Quân là đại tướng quân Quan Vũ của nước Thục Hán thời đại Tam Quốc, sau trở thành thánh và được phụng thờ. Châu Thương (hoặc Chu Thương) là một vị tướng đi theo Quan Vũ. Quan Bình là con trai trưởng của Quan Vũ.]

Tôi cũng lại nhìn thấy từ dưới trần gian có một người đang từ từ bay lên trời, thân được bao bọc bởi mây đỏ, quỳ trước Đế Quân. Quan Thánh Đế Quân ban kim ấn cho con người lương thiện này.

Tôi rất ngạc nhiên hỏi: 
"Người này là ai?"
Đế Quân trả lời tôi: 
"Ôn Bình tiên sinh."
"Xin hỏi hành giả bay lên được này thành tựu như thế nào?"
"Vị hành giả bay lên được này thành tựu chỉ đạt được nửa người phàm nửa thánh nhân."
"Được nửa phàm nửa thánh cũng đã là hiếm có rồi, tôi sẽ ghi nhớ tên họ ông ta."
Đế Quân cười: 
"Hữu duyên hay vô duyên, ngày sau tự biết."
Tôi đáp: 
"Nếu Ôn Bình tiên sinh biết được căn nguyên sinh tử là có duyên với xứ Phật."

Quan Thánh Đế Quân, Châu Thương, Quan Bình ban tặng kim ấn cho Ôn Bình tiên sinh, nhân duyên vừa khéo khiến tôi gặp được. Ôn Bình tiên sinh, vào ngày 13 tháng 10 âm lịch được Quan Thánh Đế Quân hạ giáng ban cho kim ấn, thật không phải là việc đơn giản. 

Thì ra là Ôn Bình tiên sinh này đã thờ phụng Quan Thánh Đế Quân được 20 năm rồi. 
Hàng ngày, Ôn Bình sáng tối thắp hương, suốt 20 năm không gián đoạn. 
Sáng tối dâng cúng trái cây. 
Sáng tối đều niệm một lần "Giác Thế Chân Kinh" của Quan Thánh Đế Quân. 
Sự sùng kính này đã làm cảm động tới Quan Thánh Đế Quân. Ôn Bình tiên sinh trong giấc mơ đã gặp được Đế Quân, cũng biết Đế Quân ban tặng kim ấn cho mình. Kim ấn này chỉ được ban tặng chứ không dễ mà có được.

🍃

Trước đây tôi đã từng kể chuyện về pháp sư Chứng Nghiêm của hội công đức Từ Tế khi còn trú tại miếu Vương Mẫu Nương Nương ở Đài Đông. [Pháp sư Chứng Nghiêm là tôn đức Ni vĩ đại của Phật giáo, xếp thứ 2 trong 50 người ảnh hưởng nhất Đài Loan 400 năm gần đây, vượt qua Tôn Trung Sơn (cha đẻ của Đài Loan). Là người phụ nữ duy nhất trong 10 vị anh hùng Đài Loan, nhiều lần được đề cử Nobel Hòa Bình cùng vô số giải thưởng khác.]

Lúc đó pháp sư Chứng Nghiêm không có nơi trú ngụ, gian khổ vô cùng, đã hướng về Vương Mẫu Nương Nương phát lời khẩn cầu. Vương Mẫu Nương Nương (Diêu Trì Kim Mẫu) thấy đây là một vị ni sư hiếu thuận, liền ban cho pháp sư một vòng nạm vàng như ý. Việc ban tặng vòng nạm vàng như ý này cũng là việc không dễ gì mà có được. 
Từ đó vận số của bà ấy đã thay đổi!

Với lòng từ bi cộng với sự nỗ lực vô biên, lại có thêm "vòng nạm vàng như ý" của Vương Mẫu Nương Nương, bà đã lập nên Hội Công Đức Từ Tế nổi tiếng toàn cầu.

Mọi người ngày nay đều biết đến hoạt động cứu giúp thế giới vô cùng thành công của pháp sư Chứng Nghiêm. Nhưng chỉ một mình tôi biết đó chính là nhờ "vòng nạm vàng như ý" của Vương Mẫu Nương Nương đã phóng đại quang gia hộ.

🍃

Chúng ta quay lại nói về chuyện kim ấn của Ôn Bình tiên sinh. 
Vị Ôn Bình này, trước đây lúc chưa có kim ấn, gia cảnh cũng đã tương đối khá giả, ông mở quán ăn và cũng làm bất động sản. Nhưng kể từ khi có được kim ấn, công việc kinh doanh ăn uống của ông ta đột nhiên phất lên nhanh chóng, khách tới nườm nượp. Quán của người ta thì tiêu điều, riêng quán của Ôn Bình thì đông vui nhộn nhịp. Ông ta mở thêm nhiều quán ăn nữa, quán nào cũng đông khách, Bắc Nam đều có chi nhánh. 

Có được tiền lại dùng để mua nhà mua cửa, kinh doanh bất động sản lại càng phát triển. Ôn Bình tiên sinh nhanh chóng trở thành triệu phú, tiếng tăm vang xa. Trở thành triệu phú rồi, mọi người ai cũng biết đến ông ta. 

Ôn Bình sống tại dinh thự, từ nước ngoài nhập về một chiếc siêu xe, quần áo cũng mặc toàn hàng hiệu, ăn toàn đồ sơn hào hải vị. 

Một ngày nọ. 
Ôn Bình tiên sinh bất ngờ đến thăm tôi. Ông ta hỏi: 
"Phú quý có bao nhiêu?"
Tôi đáp: 
"Đời này đã có quá nhiều rồi."
Ông ta có vẻ không vui: 
"Tôi có thể thăng thiên không?"
"Tôi là thiên đường, ông là địa ngục." - Tôi đáp.
Ông ta càng nóng mặt: 
"Lư Thắng Ngạn, ông có biết trên người tôi mang thứ gì không?"
"Biết mà cũng không biết." - Tôi đáp. 
"Đúng là ăn nói hàm hồ, xem ra ông cũng chẳng biết gì. Người ta nói ông thần toán cao minh, hóa ra chỉ là thuật sĩ giang hồ mà thôi."
"Không biết mà cũng biết." - Tôi nói.
"Cái gì mà không biết lại cũng biết hả?"
"Tôi tuy nói không biết nhưng kì thực là biết, cho nên mới nói không biết mà lại là biết."
"Bất kể là biết mà không biết, không biết mà biết, hôm nay ông phải cho tôi một câu trả lời, tôi sẽ phục ông, nếu không nói được thì chỉ là nói phét. Tôi mà cho người vạch rõ chiêu bài của ông thì ông vĩnh viễn không thể sống tiếp được đâu."

Tôi nhìn con người thích hạch sách này rồi viết xuống hai chữ: "Thiên tỷ".
Ông ta hỏi:
"Hai chữ này có ý nghĩa gì?"
"Tỷ chính là ấn chương, thiên chính là ở trên trời ban cho."
Ông ta im bặt không nói. 
Tôi nói tiếp:
"Thân mang thiên tỷ, lẽ ra đáng chúc mừng. Nhưng ông lại chỉ muốn biết cách gom góp tài bảo. Cần phải hiểu được đạo lý của việc tu thân thanh tịnh. Nếu ông không cẩn thận, khi vận may hết thì tai họa sẽ giáng xuống đầu, đến lúc đó sẽ phản lại phúc của ông."
Ôn Bình trong lòng nổi giận, cự nự: 
"Tôi thấy ông chỉ hiểu được chút tà thuật giang hồ, xem ra không phải có tài năng thực sự. Cái gì mà đạo lý tu thân thanh tịnh, tôi không tin những lời nói hồ đồ của ông."

Ôn Bình tiên sinh đi rồi. Tôi cũng chỉ biết thở dài. 

🍃

Sau này, tôi nghe người ta nói lại rằng, Ôn Bình tiên sinh nói với mọi người: "Lư Thắng Ngạn thần toán không chuẩn, không linh nghiệm, toàn là nói dựa nói nước đôi, chỉ Đông nói Tây, chỉ Tây nói Đông. Ông ta chỉ là thuật sĩ giang hồ, miệng tuy nói ra lời Phật nhưng chỉ là tà thuật ngoại đạo. Dù thế nào mọi người cũng đừng để ông ta lừa. Xem ra ông ta chỉ là kẻ lừa tiền gạt sắc thôi."

Ôn Bình cũng cùng với một số tăng nhân trong chùa miếu chỉ trích tôi là "lừa đảo, đại bịp, đại thiên ma, đại ngoại đạo".

Ôn Bình tiên sinh vẫn tiếp tục phô trương, khoe khoang sự giàu sang. Ông ta bỏ không ở căn nhà hiện có, tự mình mua một mảnh vườn lớn rồi san phẳng toàn bộ mảnh đất này, xây lên tòa dinh thự như của các vị vua châu Âu. Dinh thự giống như cả một tòa lâu đài. Bốn phía đều có những bức tượng được chạm khắc nghệ thuật kiểu Baroque. Tòa lâu đài kiểu hoàng cung này, mỗi viên gạch, mỗi tấm ngói, mỗi bức tường, đều được chạm khắc chế tác tỉ mỉ mà làm thành. 

Dinh thự được làm từ những vật liệu tốt nhất trên thế giới. Tất cả đều là dát vàng dát ngọc, lung linh lấp lánh, toát lên vẻ huy hoàng tráng lệ. Đá cẩm thạch của Ý tỏa sáng cả bốn phía. Kiểu cách trang hoàng được làm giống như cung điện Versailles, lâu đài Château de Fontainebleau ở Pháp, và như cung điện Hampton Court ở Anh Quốc. Trong vườn có thác nước, thiết kế như vườn hoa. Cửa sổ cửa chính đều chạm khắc rồng thần. Khiến người ta ai nấy đều kinh ngạc, cảm thán vô cùng! Sự xa xỉ của Ôn Bình khiến ai ai cũng kinh thán! 

Thế rồi Ôn Bình bị bạn xấu lôi kéo đến quán bar, từ đó bị mê muội với những ánh đèn xanh đỏ ở đó. Mỗi đêm đều nhất định phải tới quán bar tìm vui thú. 
Ở quán bar có nhạc Nakasi [một thể loại âm nhạc truyền thống phổ biến ở Đài Loan và Nhật Bản, thường gắn liền với những yếu tố liên quan đến văn hóa của tầng lớp lao động, hay chơi ở các quán rượu], có thể hát karaoke.
Ở quán bar có gái phục vụ bàn, gái quán bar cô nào thân hình cũng thon thả với những đường cong gợi cảm, mặc váy xẻ tà cao, tranh nhau khêu gợi khiến người ta hoa mắt. 
Ở quán bar có đồ nhắm rượu, có đồ ăn ngon, có rượu, có gái hầu rượu theo cách rất kỳ lạ.
Gái bar mời khách uống rượu. 
Khách hỏi: 
"Uống thế nào?"
Gái bar đáp: 
"Mớm cho uống!"
"Mớm như thế nào?"
Gái bar sẽ uống một ngụm rượu, ngậm trong miệng, rồi sẽ lấy rượu trong miệng chuyển sang miệng của khách. Miệng kề miệng thành chữ "Lữ", sau đó gái bar sẽ mớm rượu này vào miệng của khách. [Chữ Lữ 呂 là do hai chữ khẩu (miệng) ghép lại.] Khách uống rượu cũng giống như được hôn vào môi của gái bar, thậm chí là nếm luôn cả lưỡi của gái bar. Hai người ôm ấp đùa giỡn với nhau.
Lúc diễn tấu nhạc Nakasi cũng lại được cùng gái bar múa may bay bướm. 

Ở quán bar.
Có thể hát ca.
Có thể nhảy múa.
Có thể đùa giỡn.
Có gái đẹp, có rượu có thịt. 
Ôn Bình đã bị mê đắm, bị say rồi. 
Ôn Bình bây giờ làm gì còn nghĩ được đến những điều răn trong "Giác Thế Chân Kinh" để mà kiêng rượu thịt cơ chứ. Ngay từ đầu phải không được lẫn lộn thanh-trọc, không được tham ăn uống, bởi vì tham ăn uống thì sẽ sát sinh. Lại lưu ý nhất là rượu, vì rượu chính là thuốc độc. Ba ly vào bụng là mặt đỏ tâm mê, sẽ trở nên vô cùng kích động. Rượu chỉ cần uống quá đà là sẽ giống như người bị điên, việc gì cũng có thể làm, trong cơn say không biết là say, trong điên đảo mãi không tỉnh được. Khi bị say rồi thì liêm sỉ cũng mất, đức hạnh cũng chẳng còn nghĩ tới nữa, vừa bạo lực, vừa hung hăng. Sau đó con người sẽ ngày càng lạm dụng và kiêu ngạo.

Lại nói về chữ sắc, trong "Giác Thế Chân Kinh" lấy lễ tiết làm gốc, tuyệt đối không thể nào không có cấm kỵ. Phải thanh tịnh tâm, phải giảm tham dục, phải giữ thật chặt cái tâm nhảy nhót như khỉ, cái ý lồng lộn như ngựa này, rồi còn phải biết liêm sỉ. Đây cũng chính là chỗ để phân biệt giữa bậc Thánh và người phàm. Nghĩ mà xem, người không phải là cầm thú, chỉ có cầm thú mới trống mái lẫn lộn. Nếu như không thấy xấu hổ, không thấy hổ thẹn, thì cũng chẳng khác gì cầm thú. 

Ôn Bình trong lúc say rượu đã mê một gái bar tên Mai Phi. Bạn xấu xúi giục ông ta:
"Dẫn ra ngoài đi!"
"Dẫn ra ngoài làm gì?"
"Làm thịt" - Bạn xấu nói. 
"Làm thịt là thế nào?"
"Làm thịt từng em từng em một, đêm nay ông là hoàng đế."

Mai Phi được Ôn Bình dẫn ra ngoài. Sau lần đó, Ôn Bình đã đem gần như tất cả gái bar dẫn ra ngoài. 
Gái bar đều là phi tử. 
Ôn Bình trở thành hoàng đế. 
Ném đi từng nắm từng nắm lớn tiền giấy đầy màu sắc.

Một lần, Ôn Bình chợt cảnh giác hỏi bạn xấu:
"Làm thế này có tội không?"
Bạn xấu nói: 
"Đây là dùng tiền để trao đổi, mua bán bằng tiền, làm sao mà có tội! Anh thích, họ cũng thích, hai bên đều tự nguyện."

Những cô gái bar này đương nhiên chỉ vì kiếm tiền, biết rằng Ôn Bình là một đại gia nên không ngần ngại phục vụ. Những cô gái bar như thế cứ vậy mà trở nên u mê, cũng là nghiệp chướng sâu nặng. Họ làm sao biết tam tòng tứ đức, sớm đem thân mình đi mua vui cho kẻ khác rồi. 

Gái bar thật tội nghiệp. Tội nghiệp vì họ không hiểu tự tính, tội nghiệp vì họ không hiểu ý nghĩa đời người, tội nghiệp vì dẫn dụ người khác mê muội, tội nghiệp vì đọa vào luân hồi, tội nghiệp vì không biết đến tu hành, tội nghiệp vì chỉ sống để kiếm tiền, tội nghiệp vì không nghề nghiệp chân chính, tội nghiệp vì chẳng hiểu sinh tử.

Có một số cô gái bar cũng thờ thần, nhưng lại là thờ anh Trư Thần, chính là anh chàng Trư Bát Giới háo sắc trong Tây Du Ký. Trư Thần Trư Bát Giới luôn muốn ôm lấy gái đẹp. Những cô gái bar thờ Trư Thần, chính là thờ để mà những người đàn ông trong thiên hạ đều trở thành anh Trư. 
Ấy là vì tiền. 
Lễ bái tà thần. 
Lấy tà dẫn tà,
Cùng vào luân hồi. 

Cũng có nhiều cô gái bar hay những cô gái ở nơi buôn bán dâm lại thờ ông Bách Tính, ông Ứng, với mục đích có đông khách. Hoặc là họ cầu tà thần dã quỷ báo mộng cho trúng số, trúng bạc. Rốt cuộc đều vì mục đích cuối cùng là một chữ "tiền".

🍃

Như tôi biết, trong linh giới đã xảy ra chuyện như sau.  
Vào ngày 24 tháng 12 âm lịch, chính là ngày Táo Quân (Tư Mệnh Chân Quân) chầu trời tấu những việc thiện ác của con người. Ông Táo nhà vị Ôn Bình tiên sinh này lên trời khởi tấu với Quan Thánh Đế Quân. 
Tư Mệnh Chân Quân tấu:
"Sinh bởi sắc.
Chết bởi sắc.
Như mơ không tỉnh.
Tỉnh chưa ngộ.
Ngộ chưa tỉnh.
Hôn hôn trầm trầm.
Thấy thực tế.
Người bại hoại.
Đều do tà dâm."

Quan Thánh Đế Quân nghe xong liền nổi giận. Người đã đeo kim ấn của Đế Quân được trăm vị thần tài giúp đỡ, đi đâu cũng gặp may mắn, có mọi cơ hội kỳ diệu. Không những vậy có thể gặp được duyên Phật, chết đi sẽ được siêu sinh lập tức. Người đã được đeo kim ấn làm sao lại có thể đê tiện như vậy!

Đế Quân ra lệnh cho Châu Thương thu hồi kim ấn. Châu Thương thăng lên không, hướng ra ngoài bay đi. Chỉ vừa nghe trống trời vang lên một tiếng đã thấy kim ấn ở ngay trong tay Châu Thương rồi. 

Kim ấn này giáng thế không rõ tháng năm nào, không rõ lai lịch ban đầu ra sao, tên khởi nguồn là Thiên Tỷ Kim Ấn, xuất nhập vốn không ai hay.

🍃

Tôi biết chuyện thì cảm thấy lo lắng thay cho Ôn Bình, bèn nhờ người mau chóng truyền đạt tin tức này cho ông ta, bảo ông ta mau mau sám hối. Tuy nhiên Ôn Bình không nghe. Ông ta nói không tin, tiền kiếm được trong đời này cho dù tiêu xài hoang phí cũng không hết. 
"Chỉ cần không chơi cờ bạc, còn ra vào quán bar, vũ trường, dẫn gái bar gái nhảy ra ngoài thì tuyệt đối không thể tiêu hết tiền." 

Ôn Bình nói như vậy quả thực cũng không sai. Đã là một đại gia thì kỵ nhất là cờ bạc, đã cờ bạc thì dù có bao nhiêu tiền thì cũng sẽ tiêu tan hết. Đặc biệt là cờ bạc, cần phải mở to mắt, làm đại gia kỵ nhất là cờ bạc. Còn nếu không cờ bạc, chỉ tiêu xài vào quán bar, vũ trường thì tiền của Ôn Bình này quả thực tiêu không hết, xài không cạn. 

Ôn Bình cũng nằm mơ thấy Châu Thương đến thu hồi kim ấn. 
Ôn Bình hỏi: 
"Kim ấn đã ban cho, vì sao lại lấy lại?"
Châu Thương đáp: 
"Không chỉ thu hồi kim ấn, mà còn muốn thu hồi mạng của ngươi."
Ôn Bình hỏi: 
"Sao lại muốn lấy mạng?"
Châu Thương đáp: 
"Chưa nghe sao, "Giác Thế Chân Kinh" đã nói, Đăng Đồ Tử có muốn nếm thử Thanh Long Yển Nguyệt đao không?"
[Đăng Đồ Tử là người nước Sở, một kẻ rất háo sắc, nên người đời sau hay dùng tên này để ám chỉ gọi những kẻ háo sắc. Thanh Long Yển Nguyệt đao là vũ khí nổi tiếng của Quan Vân Trường, là loại binh khí mũi nhọn, cán dài, lưỡi có hình bán nguyệt, trên đao có khắc hình rồng.]
Ôn Bình trong mộng mơ mơ hồ hồ, nhưng cũng không sợ hãi. Ông ta thật ra không hề sám hối. 

Kim ấn bị thu hồi, vốn dĩ tưởng chỉ là một tấm ấn chương của trời mà thôi, chưa chắc sẽ có chuyện gì xảy ra. Thế nhưng trời có lúc gió mưa khó đoán, con người có lúc họa phúc chẳng ngờ. Câu nói này tuyệt đối không sai. 

Hệ thống nhà hàng của Ôn Bình đột ngột xảy ra chuyện, là chuyện gì vậy? Tập thể mấy trăm người đều phải đi bệnh viện cấp cứu do bị ngộ độc thức ăn, trong thức ăn có nhiễm khuẩn. Việc xảy ra dù không có người chết nhưng cũng không phải chuyện nhỏ. 

Hệ thống nhà hàng của Ôn Bình có mấy tiệm. Điều kỳ lạ là liên tiếp mấy tiệm đều xảy ra sự cố, đều có hiện tượng ngộ độc thực phẩm. Tin tức nhanh chóng được đưa lên báo.

Tình hình kinh doanh của nhà hàng đi xuống rất nhanh. Vốn dĩ việc buôn bán rất đông khách, nay biến thành hoang vắng tiêu điều. Việc làm ăn mau chóng trở nên tồi tệ, không thể trở lại thịnh vượng như trước, mỗi ngày đều mất thêm tiền. Cuối cùng từng tiệm lần lượt đều phải đóng cửa. Cho dù có mở lại tiệm mới, làm truyền thông quảng cáo lại từ đầu, thì đừng ngạc nhiên khi sẽ không có gì khởi sắc.

Vận mệnh thay đổi, việc kinh doanh xây dựng của Ôn Bình, sự nghiệp bất động sản lúc trước vốn rất hưng thịnh, giờ đây cũng đi xuống nhanh chóng.

Trong một trận mưa rất to, đất đá bị cuốn trôi khiến cho khu Đại Xã do Ôn Bình xây dựng, toàn bộ móng của tòa cao ốc bị phá hỏng. Phía trên là cao ốc, phía dưới bị trống rỗng khiến toàn bộ tòa nhà bị nghiêng, trở nên hết sức nguy hiểm. Việc bồi thường lên đến nghìn vạn Đài tệ. Tổn thất này không chỉ là vấn đề tiền bạc mà còn lộ ra việc liên quan cấu kết với quan thương, cho nên bồi thường xong tiền rồi vẫn không tránh được tố tụng, tình thế vô cùng thảm hại!

Điều tồi tệ nhất đã xảy đến. Ôn Bình uống rượu quá độ làm tổn thương gan rồi mắc bệnh xơ gan, chỉ trong nửa năm không còn cách nào cứu chữa nữa. Ôn Bình đã chết rồi! 

🍃

Chuyện Ôn Bình có được kim ấn rồi lại để mất kim ấn, cuối cùng trả giá là cái chết, khiến tôi nghĩ thế gian càng ngày càng trở nên đen tối và ô nhiễm. 

Ngày nay ngành kinh doanh mại dâm nở rộ khắp nơi. Rất nhiều thanh thiếu niên sớm đã tiếp xúc với sách ảnh khiêu dâm dẫn đến những tư tưởng không lành mạnh. Ngành buôn bán mại dâm cũng bắt đầu từ những sách khiêu dâm. Vô hình trung, mỗi một cuốn dâm thư được xuất bản đã hại đến cả trăm nghìn vạn người. 

Người viết sách khiêu dâm kiếm được tiền nhuận bút cao. Nhiều tác giả cho rằng là tự mình tùy hứng, độc giả đọc hay không đọc là do họ tự nguyện, làm sao có thể đổ tội lên đầu tác giả được. Tuy nhiên tác giả có thể nghĩ xem, nếu như chính họ không viết thì làm sao có sách để bày bán trong hiệu sách? Trên kệ sách có những hình nam nữ khỏa thân thì là kiệt tác của ai? Thanh thiếu niên đi qua hiệu sách bị những cuốn sách này thu hút, là ai đã tạo ra tà duyên như vậy?

Theo tôi biết, một bạn tiểu học của tôi họ Trương, vốn đầu óc thông minh, thành tích học tập rất tốt, cấp ba thi đỗ được vào một trường danh tiếng, nhưng về sau lại mê muội với sách khiêu dâm, thường lén lút mua sách. Tuy lúc đó chính phủ đã có lệnh cấm bán sách khiêu dâm nhưng nhiều người vẫn lén lút vi phạm. 

Bạn học họ Trương mê sách khiêu dâm, thích "tự sướng". Anh ta còn giới thiệu sách cho tôi xem. Tôi vừa nhìn thì đã kinh hãi, thật may là tôi không mê nổi. Có điều bạn học họ Trương chưa đủ sức, khí huyết chưa định, trước tiên là mất đi chân nguyên [tinh khí của con người]. Sau này thân thể khô héo, tinh khí tiêu tan, trở thành một người gầy gò bủng beo, mắc phải hàng trăm thứ bệnh. 

Cha mẹ cậu ta thấy vậy lo sợ nhưng cũng không biết phải làm sao. Cuối cùng, bạn học họ Trương sau này bị điên, phải vào bệnh viện tâm thần. 

Cái gì đã làm hại cậu ta? Chính là sách ảnh khiêu dâm. 
Tác giả của những sách ảnh khiêu dâm chính là gián tiếp giết người. 

Tôi nhận thấy người bị tranh ảnh khiêu dâm làm hại đương nhiên không chỉ có một cậu bạn họ Trương. Số thanh thiếu niên bị hại không biết bao nhiêu mà kể. Nhất là tuổi trẻ tò mò, nhìn thấy đủ thể loại, lại được mô tả đến mức hình dung rõ ràng, thì ngay lập tức sẽ có ý muốn mua về, thậm chí còn giới thiệu bạn bè mua và lan truyền. Mắt lầm tâm lẫn, tinh thần điên đảo, thân tâm mỗi người sớm đã bị hao tổn rồi. Những suy nghĩ cũng trở nên không đúng đắn, không bình thường. Và không phải chỉ mỗi thanh thiếu niên định lực không vững, ngay cả những người già và trung niên cũng rất thích đến đó. Người già trung niên không tự chủ được ý nghĩ của mình đâu đâu cũng có. 

🍃

Tôi ở Châu Âu đến Hà Lan, sang Đan Mạch đều thấy có những gái gọi sau lồng kính trưng bày.
Ở Bangkok Thái Lan thấy có những gái gọi đang tắm. 
Ở Hồng Kông có "nhất lầu nhất phụng".
Còn Đài Loan có dịch vụ "gái gọi tận phòng".

Tôi đến New York nước Mỹ có lần gặp phải một cô gái da đen khoác áo trễ vai, chặn đường đưa cho tôi một tờ giấy có viết:
"Ông muốn hẹn hò với tôi ko?"
Tôi lắc đầu. 
Cô gái da đen nói: 
"Tôi có thể làm cho ông thấy mình như hoàng đế."
Tôi vẫn lắc đầu. 
Cô ta vẫn nói: 
"Tôi rất khéo thổi, ông sẽ lên thiên đường ngay."
Tôi nói: 
"Không."
Cô gái da đen đó liền cởi phăng áo khoác ra. Nói cho bạn biết, bên trong hoàn toàn không mặc gì, hoàn toàn không có đồ lót. Tôi hoảng hồn biến sắc chạy luôn, còn cô ta thì cười ha ha. 

Ngày nay ngành công nghiệp tình dục trên thế giới không phải chỉ mỗi tôi bàn tới. Đọc báo chí đều thấy có quá nhiều vụ tàng trữ đồ nhơ bẩn, quá nhiều nơi dẫn dụ người ta vào cạm bẫy. Lại thêm những lý do sa ngã vào sắc dục như gái "bán hoa" đến mời gọi, dâm phụ tự động nhảy vào lòng ôm ấp, v.v… Những việc này rất dễ khiến người ta sảy chân.

Chúng ta đều bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh, lại cũng có thể bị bạn bè xấu xúi giục, hàng ngày nếu không dựa vào định lực tu hành, thực sự sẽ rất dễ sa ngã. 

Tôi đến nước Pháp lại thấy:
Đổi vợ.
Chuyển giới.
Đồng tính.
Tôi thấy đạo đức con người đã suy đồi, nhân tính cũng suy đồi hết cả. Thân tâm nhiều người vô hình trung đã bị tổn hại, sớm đã hao tổn tinh thần, lại càng nghiêm trọng hơn là bị bệnh mà mất mạng, không có con cái nối dõi. Lúc đó mới nghĩ tới thì hối hận không kịp nữa rồi. Tôi khuyên mọi người đừng mắc vào những cái bẫy của sắc dục.

🍃

Ôn Bình tiên sinh có được kim ấn của Quan Thánh Đế Quân, lẽ ra đã được đại cát đại lợi, nếu như cẩn thận trân trọng thì quả là một chuyện tốt lành. Thật đáng tiếc, sau khi có được phúc lớn lại phạm sắc giới, Quan Thánh Đế Quân liền thu về kim ấn. Vốn dĩ đại cát đại lợi giờ chuyển thành đại hung đại họa. 
Ôi chao:
Họa… ôi chao… liền kề phúc.
Phúc… ôi chao… liền kề họa.
Buồn vui cùng một cửa… chao ôi.
May rủi cùng một nơi... chao ôi.
Đây chính là trong họa có phúc, trong phúc có họa, buồn vui đời người luôn đi kèm với nhau, may rủi cũng cùng một nguồn. 

Giả như Ôn Bình tiên sinh từ đầu không có kim ấn, ông ta cứ thế thong dong sống qua ngày tháng, chí ít cũng là không ưu không phiền. Có được kim ấn, phúc phận liền tới, vận may tới thì dục vọng cũng tới, dục vọng tới thì họa cũng đến luôn. Kim ấn có được kiểu này có vẻ giống như một bài thử nghiệm thì đúng hơn. 

Bản thân tôi nhận ra, trong cõi vô hình luôn có quỷ thần theo dõi. Người làm việc thiện thì sẽ thay đổi được vận mệnh, có được lộc, có được thọ, sẽ gia tăng phúc phần, gia tăng trí huệ. Người làm việc ác sẽ giảm thọ, sẽ mắc bệnh, sẽ mất lộc, đột nhiên chết trẻ, thậm chí bị thu hồi lộc. 

Câu chuyện về Ôn Bình tiên sinh là một minh chứng rất rõ ràng.

🍃

Tôi có đệ tử, anh ta có được một bức phù lục gia hộ về sức khỏe do chính tôi vẽ và gia trì. Anh thường đem theo bức phù sức khỏe này bên mình, cực kì trân quý. Tới một lần trong khi giao thiệp, anh ta đã gặp một cô gái xinh đẹp, hai người cùng trò chuyện rất vui vẻ. Cô gái xinh đẹp này liếc mắt ngụ ý với anh ta. Đồng nghiệp cũng khích anh ta "tới" luôn. 

Người đệ tử lúc này tâm đã nhảy nhót lung tung, trong lúc tâm thần bất định, đột nhiên nghe bên tai có tiếng nói: "Không được!"
Quái lạ! Đó rõ ràng là tiếng của Sư Tôn, nhưng không thấy người đâu cả. Một lúc sau lại có tiếng nói: "Không được!" 
Xung quanh rõ ràng không có Sư Tôn, vậy thì âm thanh này từ đâu đến? Anh ta nghi là quỷ thần. 

Người đệ tử này vốn là nhân viên ngoại vụ của công ty, việc phải đi giao tiếp xã hội là khó tránh. Bình thường thì có thể kiềm chế tâm ham sắc, có thể tự chủ được. Anh ta tự biết một khi đã vướng vào sắc dục là có thể dính tới lao tù, cần phải tránh từ đầu. Ở nhà cũng đã có vợ đẹp con thơ, lại tu Chân Phật Mật Pháp, thọ nhận giới Bồ Tát. Con người này vốn dĩ sẽ không tham sắc. 

Tuy nhiên lần này, anh ta gặp cô gái đẹp kia dường như là oan gia kiếp trước, vừa gặp đã cảm thấy cực kì có duyên. Cô gái có vẻ mặt ngây thơ, có cơ thể mềm mại, xem ra không phải là gái giang hồ mà giống như là bạn học. Hai người mới nói chuyện đã cảm thấy rất hợp nhau, điều này đã khiến anh ta đặc biệt quan tâm. Đến khi cô gái gợi ý thì anh ta không muốn cự tuyệt, lại thêm đồng nghiệp xúi giục nữa. Trong lòng đã nghĩ đến chuyện dục, anh ta tính hay là cứ thuận nước đẩy thuyền đi. Tâm thần đã hỗn loạn cả, nhưng bất ngờ anh ta lại nghe thấy tiếng nói lần thứ ba: "Không được!"

Anh ta bỗng nhiên sực tỉnh. Vốn là người tu Mật pháp, lại đã nhận giới Bồ Tát, anh chợt nhớ đến câu nói của tổ sư Mật giáo: "Hữu lậu giai đọa." [còn có lậu thì chắc chắn còn đọa lạc]

Con người khi ý niệm về dục không khởi lên thì tinh khí sẽ phân bố ở ngũ tạng, lưu thông ở mạch trái, mạch phải và tĩnh mạch. Khi dục niệm khởi lên, lửa dục sẽ cháy, ngũ tạng giống như bị lửa đốt, tinh tủy bắt đầu chạy loạn rồi từ thận phải thoát ra ngoài. Cho dù chưa thoát ra ngoài thì tâm dục cũng đã bị kích động, giống như ngọn lửa lớn đốt cháy nước trong chảo, từ từ sẽ trở nên khô cạn. Đây cũng là thực tế cho thấy chỉ riêng ý nghĩ về dục đã có thể đủ làm tổn thương thân thể. Người trẻ tuổi dục niệm rất mạnh, nếu không tiết chế thì nghĩ nhiều sẽ sinh bệnh. Đây cũng là chuyện thường gặp. 

Lúc đó, người đệ tử này đột nhiên tỉnh ngộ, lập tức tháo chạy. Tối hôm đó, bạn của anh ta đưa cô gái về chỗ ở. Người bạn đã cùng cô gái qua đêm. Anh bạn này mới chỉ ngủ một đêm thôi đã mắc bệnh, đường tiểu bị viêm, tiểu tiện không được, đau đến tái xanh mặt, phải khẩn cấp đưa đi bệnh viện cấp cứu. Lúc này mới biết cô gái có vẻ mặt ngây thơ đó đã mắc bệnh tình dục. 

Người bạn dù không chết, nhưng cũng suýt mất mạng. Ôi chao thật đáng thương!

Tất cả bạn bè đều cười anh bạn là kẻ ngốc gặp phải tai ương. Sau đó, người đệ tử đến kể cho tôi nghe chuyện này và cho rằng mình giữ được thân chính nhờ mang theo phù hộ thân của Sư Tôn vẽ. 
Anh ta hỏi tôi: 
"Có phải "không được" là tiếng nói của Sư Tôn không?"
Tôi chỉ cười. 
Anh ta hỏi lại lần nữa.
Tôi đáp: 
"Trong cõi vô hình đều có quỷ thần."


### 10. Thần ban phúc lộc


Những chuyện thần toán linh nghiệm hoặc là sự tích của tôi thường luôn là chủ đề khiến mọi người bàn tán sôi nổi. Ví dụ ngày trước, trong phân đội của tôi (liên đội trắc lượng số 5802), phó liên trưởng tên Ngụy Thanh Bình trong tay cầm mấy đồng xu, muốn tôi lập tức đoán xem tổng cộng là bao nhiêu xu. 
Tôi đáp: 
"14 xu."
Phó liên trưởng Ngụy cũng chưa biết là bao nhiêu. Ông ta đếm một lúc thì trố mắt, thực sự không ít hơn, không nhiều hơn, chính xác là 14 xu. Sự việc này đã khiến cho Ngụy Thanh Bình quy y cửa Phật, niệm Phật tụng kinh. 

🍃

Lần khác. 
Có một người "răng sắt" [tiếng lóng chỉ người luôn luôn không tin vào chuyện tâm linh quỷ thần], luôn cười nhạo những người tin theo thần toán của tôi. Khi đến chỗ tôi, ông ta lập tức dùng những lời lẽ điên cuồng xỏ xiên.

Tôi mời ông ta lên phía trước. Ông ta buông lời hỏi: 
"Ông có thể đoán xem tối qua tôi đã làm gì không?"
Tôi đáp: 
"Chơi mạt chược."
Vị "răng sắt" này ngẩn ra, có vẻ như không dám tin làm sao tôi có thể đoán trúng như thế. Ông ta lại nói: 
"Đúng là chơi mạt chược, nhưng ông có thể đoán xem thua bao nhiêu không?"
Đây là một câu đố khó, mọi người đều nhìn tôi. 
Tôi đáp:
"880 đồng."
Vị "răng sắt" la lớn: 
"Chuẩn, chuẩn, chuẩn, quả nhiên chuẩn, chuẩn như thần, chuẩn đến mức khiến người ta không dám tin, thiên hạ làm gì có chuyện như vậy!"
Mọi người vỗ tay hoan hô. 

"Răng sắt" kể: 
"Vốn dĩ tôi chỉ thua 800 đồng, thua xong tôi liền tính toán. Chuẩn bị đi thì có một người ngồi cạnh cho vay 80 đồng. Tôi nghĩ, vay 80 đồng thì làm được gì, coi như chơi cho vui đi. Kết quả là 80 đồng cũng thua nốt. Vừa đúng là thua mất 880 đồng. Tự mình thua 800 đồng, 80 đồng tiền người ta giúp tôi cũng thua luôn, chính là như vậy."

🍃

Lần khác nữa.
Có người trẻ tuổi vốn dĩ không tin bói toán, anh ta chỉ là bị người nhà lôi đến chỗ tôi. Ngồi rút vào trong xó, anh ta cơ bản không muốn ra nói chuyện. 

Người nhà gọi. Anh ta hét lớn:
"Bói toán đều là lừa gạt người ta, là thuật sĩ giang hồ, là bịp bợm, bịp bợm, đại bịp bợm."
Tôi rất bình tĩnh nói với anh ta:
"Thế gian này có thật ắt có giả. Kẻ lừa bịp cũng có nhiều, nhưng anh có thể nhận ra ai là thật, ai là giả không?"
Anh ta đáp:
"Tôi không quan tâm, chính ông là tên lừa đảo."
Tôi nói: 
"Tôi có thể biết được một số chuyện của anh!"
"Tôi không tin." - Anh ta rất kiên quyết.
Tôi nói: 
"Chân phải của anh có một vết rách, bị chảy máu. Hôm qua anh chạy xe bị ngã có phải không?"
Anh ta mở to mắt nói: 
"Tôi chẳng nói cho ai biết chuyện này, những người nhà này cũng không biết, chỉ có mình tôi biết, làm sao mà ông lại biết?"

Anh ta vén ống quần lên cho mọi người xem, chân phải quả nhiên bị thương, vết máu đã khô, anh ta tự bôi thuốc.
Anh ta đi đến trước chỗ ngồi của tôi cho tôi xem bói. 
Mọi người hoan hô! 

🍃

Nhìn chung chuyện thần toán linh nghiệm cũng nhiều, chuyện không linh nghiệm cũng có. Nếu như không linh nghiệm thì sao? Xin nghe tôi kể câu chuyện sau. 

Một vị quan chức cao muốn làm tới cục trưởng. Có ba người nữa cùng cạnh tranh vị trí này. Vị quan chức này họ Đặng, còn ba người kia họ Triệu, Trần, Lương. 
Người họ Đặng đến hỏi tôi: 
"Có thể nhận chức cục trưởng không?"
Tôi đáp: 
"Có thể."

Trải qua thời gian khoảng nửa năm, người nhậm chức cục trưởng không phải là người họ Đặng mà là người họ Trần. Người họ Đặng rất tức giận, đến chất vấn tôi rằng khi đó xem bói đã nói có thể làm cục trưởng, vì sao hôm nay lại không đúng như vậy. Thế thì còn bói cái gì mà bói? Cái gì mà xem bói số một? Vốn dĩ không linh không ứng, chẳng phải là lừa bịp hay sao?

Họ Đặng hỏi: 
"Nói đi, ông nói thế nào đây?"
Tôi không trả lời được, cũng đỏ cả mặt. 
Họ Đặng lại gặng hỏi: 
"Chẳng phải ông nói là có thể được hay sao? Sao lại xảy ra chuyện này?" 
Tôi ngậm miệng không nói được gì, chỉ có thể đáp: 
"Thực ra là tôi không biết. Tôi chỉ là nghe Tư Lộc Thần [vị thần ban phúc lộc] nói mà thôi, ngài ấy nói thế nào thì tôi nói lại như thế."
"Tư Lộc Thần? Tư Lộc Thần ở đâu?"
"Tư Lộc Thần vô hình." 
"Đúng là lời nói rác rưởi." - Họ Đặng cực kì bất mãn.

Khi tôi xem bói không đúng, mọi người chất vấn tôi, có thể thấy tình cảnh của tôi vô cùng khó xử, tinh thần tự nhiên cảm thấy buồn lắm. Thật sự tôi không thể nói được lời nào, chỉ có nhìn ông Trời. Tôi lúc đó cũng chỉ biết kêu trời mà thôi. 

Chính lúc này.
Trước mắt tôi đột nhiên sáng rực, Tư Lộc Thần xuất hiện, trong tay cầm một chữ "dâm", đưa cho tôi xem rõ ràng, phía dưới chữ "dâm" có ngày tháng cụ thể. 
Tôi nói với họ Đặng: 
"Ông phạm giới tà dâm!"
Họ Đặng đáp: 
"Làm gì có."
"Vào ngày X tháng Y."
Họ Đặng vẫn nói: 
"Không có." 

Tôi hồ đồ mất rồi. Rõ ràng trên tay Tư Lộc Thần có cầm chữ "dâm", lại có ghi ngày tháng cụ thể, chỉ thị rất rõ ràng, làm sao lại không có chuyện đó, tôi không tin. 
Tôi nói:
"Xin hãy suy nghĩ cho cẩn thận."
Họ Đặng nghĩ một lúc, lại cẩn thận tính đếm ngày tháng, vẫn đáp: 
"Không có." 

Lúc này Tư Lộc Thần lại chỉ cho tôi thấy họ Đặng lén lút nhìn trộm cô gái hàng xóm tắm. Tôi vừa nghe Tư Lộc Thần nói là nhìn trộm cô gái tắm, trong bụng rất buồn cười nhưng không dám cười. 
Tôi nói với họ Đặng:
"Không phải là tư thông, chỉ là nhìn trộm cô gái tắm thôi." 
Họ Đặng nghe xong thì đến lượt ông ta thấy mình ngốc rồi. Ông ta không nói gì nữa mà cúi đầu đi thẳng.

🍃

Theo tôi được biết, tình huống của họ Đặng là thế này. Họ Đặng vốn thực sự có thể làm cục trưởng. Tuy nhiên, khoảng mấy tháng trước, có một cô gái độc thân dọn đến làm hàng xóm, dáng hình rất đẹp, cô ta lại cũng rất tự nhiên phóng khoáng. Họ Đặng cũng nhiều phen chủ ý đưa mắt liếc cô ta. 

Cửa sổ nhà họ Đặng khéo làm sao lại nhìn qua phòng tắm của cô gái. Vào ngày X tháng Y, cô gái hàng xóm đi tắm, quên không kéo rèm cửa sổ, vừa hay họ Đặng nhìn thấy, liền đi lấy ống nhòm nhìn từ đầu đến cuối, từ đầu đến chân, miệng lưỡi không ngừng nói lời tâng bốc, trong lòng cũng kích động hưng phấn. Mồm thì nói: "Có thể cùng cô gái này mây mưa một lần thì cũng không uổng kiếp này!" Mắt nhìn tâm nghĩ. Tim cũng đập không giữ được. 

Tư Lộc Thần nói: 
"Cho dù chuyện giữa họ Đặng và cô gái hàng xóm chưa thành, nhưng họ Đặng đã lén nhìn cô gái tắm trong khi lẽ ra phải lập tức tránh đi. Ông ta không những không tránh mà lại còn nhìn lén từ đầu đến cuối, không những mắt nhìn thấy mà lòng cũng kích động. Trong lòng khởi tà dâm, mặc dù chưa làm việc tà dâm thì cũng coi như phạm giới tà dâm. Vì thế cho nên bị tước đi lộc vị, phải sau sáu năm nữa mới lên được cục trưởng."

🍃

Một ngày nọ, có vị trung tướng tên Lữ Cố đến chỗ tôi. 
Lữ Cố hỏi:
"Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, nghe nói ngài xem bói là số một, cho nên hôm nay tôi đến thỉnh vấn ngài. Nhớ hồi nhỏ, cha mẹ tôi mời đến một vị rất giỏi thần toán là Diệp sư phụ. Ông ta xem bói cho tôi, nói rằng năm 18 tuổi tôi sẽ đậu thủ khoa trong kì thi đại học toàn quốc. Sau đó tôi sẽ vào trường quân đội học cao học, đến 27 tuổi sẽ lấy được bằng tiến sĩ, đi Mỹ ba năm lại lấy được bằng tiến sĩ khác, khi 53 tuổi sẽ làm lên tới chức Thượng Tướng." 

Lữ Cố nói tiếp:
"Vị thầy bói cao tay Diệp sư phụ này không giống như các vị sư phụ khác, muốn nhờ ông ta đoán mệnh nhất định phải cúng nhiều tiền. Ông ta đoán mệnh cũng cần xem người, người nào mệnh ít ông ta không xem, đồng thời phải ghi tên đặt hẹn trước chứ không có thể tùy ý đến mà xin xem bói được. Diệp sư phụ xem cho tôi cực kì chính xác. Đúng là năm tôi 18 tuổi đã đứng đầu trong kì thi đại học toàn quốc. Nhưng 27 tuổi lấy được bằng tiến sĩ thì hơi sai một chút, phải đến năm 29 tuổi tôi mới lấy được bằng tiến sĩ, ba năm đi Mỹ, lấy được bằng tiến sĩ khác. Việc 53 tuổi lên được Thượng Tướng, cái này cũng sai. Bây giờ tôi 56 tuổi vẫn chỉ là Trung Tướng, chỉ suýt được làm Thượng Tướng mà thôi. Bây giờ tôi muốn hỏi Lư sư phụ, xin ngài xem xem vận mệnh tôi đời này có khi nào lên được Thượng Tướng không?"

Tôi dùng phương pháp thần toán của mình tính số mệnh cho Lữ Cố. Tôi bấm thủ quyết chữ "lộc". Lại ấn thủ quyết xem thời gian. Cuối cùng dùng thủ quyết "triệu thỉnh". 
Tôi niệm:  
"Chú khởi phiên vân nhiễu tải, chỉ hướng pháp giới hư không. Động xứ như thược khai tỏa, tĩnh xứ như nhật phá hồng. Chiếu kiến âm dương giao cảm, hiện xuất Tư Lộc tiên ông. Cấp cấp như Thái Thượng Lão Quân luật lệnh."
Câu chú này niệm 3 lần. 

Tư Lộc Thần như ánh sao từ từ lớn dần rồi xuất hiện. Tôi hỏi vận mệnh đời này của Lữ Cố thế nào. Tư Lộc Thần trả lời cũng giống như Diệp sư phụ đã bói toán. 
Tôi lại hỏi: 
"Có thể đạt được tiến sĩ, nhưng sao lại trễ hai năm?"
Tư Lộc Thần đáp: 
"Vốn dĩ ông ta có thể có được bằng tiến sĩ đúng năm đó, nhưng có lần ông ta cùng vài sinh viên trẻ đi nhậu say, sau đó vào nhà thổ. Bạn học cổ xúy ông ta, ông ta vì không muốn mất mặt nên đã ngủ cùng gái lầu xanh một đêm. Vì thế nên bị muộn hai năm." 
Tôi hỏi: 
"Chỉ ngủ một đêm cùng gái lầu xanh mà bị muộn hai năm ư?"
Tư Lộc Thần đáp: 
"Đừng thấy gái lầu xanh dựa cửa uốn éo mời gọi mà bị mê muội. Là quân tử phải biết thương lấy thân mình, phải biết sợ mà giữ thân như ngọc, một cánh hoa rơi cũng có thể làm ngọc bị xước. Cuối cùng ngọc trắng nhuốm bẩn, phá tài, tổn thương thân, hại cả một đời, nhiễm độc thành họa lớn." 
Tư Lộc Thần lại nói: 
"Muộn mất hai năm chỉ là bị phạt nhẹ, nhiễm độc rồi sẽ chết, tiến sĩ thì có thành tiến sĩ đấy, nhưng cũng lại thành tiến tử." [Trong tiếng Trung, chữ "sĩ" và "tử" đọc lên gần giống nhau.]

Tôi uốn lưỡi không nói.
Tôi lại hỏi Tư Lộc Thần:
"Lữ Cố lẽ ra lúc 53 tuổi lên được Thượng Tướng, nhưng vì sao nay đã 56 tuổi mới chỉ được làm Trung Tướng, và không biết có thể đạt được danh vị cao nhất không?"
Tư Lộc Thần viết hai chữ đưa cho tôi, hai chữ này là: 
"Mạc Sách."
"Mạc Sách có nghĩa là gì?" - Tôi tò mò hỏi. 
Tư Lộc Thần đáp: 
"Tên người." 
"Người này với Lữ Cố có liên quan ư?"
"Đương nhiên." - Tư Lộc Thần nói. "Lữ Cố được coi là tài sĩ thế gian, văn võ song toàn, lúc trẻ tuổi phạm lỗi lầm với gái điếm mà bị muộn mất hai năm, mới chỉ là bị phạt nhẹ. Sau tuổi trung niên lại không biết sửa lỗi mà lại thích "trai đẹp". Người tên Mạc Sách này trẻ tuổi lại tài hoa, cũng là một vị cấp dưới đẹp trai phong độ. Lữ Cố đã ở cùng Mạc Sách tám năm. Ông ta được làm đến Trung Tướng đã là may mắn lắm, lại còn dám nghĩ đến việc làm tới Thượng Tướng ư? Lữ Cố mải cầu địa vị cho bản thân, không biết tự mình đã gây ra bao nhiêu nghiệp chướng."
"Lữ Cố tương lai sẽ thế nào?" - Tôi hỏi. 
"Báo ứng vào người con." 
"Con ông ta thế nào?"
"Tuyệt tự chết yểu." - Tư Lộc Thần nói. 

Tôi nghe mà kinh hãi. Tôi nói cho Lữ Cố nghe việc ông ta lấy bằng tiến sĩ bị muộn mất hai năm. 
Lữ Cố trả lời: 
"Đúng là có chuyện này. Lúc còn trẻ tôi cùng một đám bạn đi chơi, mọi người chơi rất vui, không ngờ lại như vậy, thật sự là bị muộn hai năm." 

Lại nói đến vì sao chưa lên được Thượng Tướng, tôi viết hai chữ "Mạc Sách" đưa cho ông ta xem. Ông ta vừa nhìn thấy hai chữ "Mạc Sách" này liền cúi đầu không nói. 
"Có chuyện này không?" - Tôi hỏi. 
"Có." - Lữ Cố gật đầu. 
Lữ Cố đứng dậy nói với tôi: 
"Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, ngài quả nhiên là đệ nhất thần toán. Tuy vậy, cuối cùng tôi cũng hiểu rồi, số phận con người ta dù có trời định nhưng trên thực tế cũng có thể thay đổi. Đổi qua đổi lại, chỉ tại tâm mình."
"Nói hay lắm, hy vọng ông tự tâm rút kinh nghiệm, tránh gặp phải báo ứng!"

Khi Lữ Cố ra về, tôi đưa cho ông ta một tờ giấy ghi lời nhắc nhở: "Nam nữ ở cùng phòng, thật dễ điên đảo âm dương. Xấu hổ và đáng buồn khi làm nhơ thân trong sạch. Sớm tự làm mất danh tiếng, còn phải lãng phí tiền tài, thêm chịu đựng vết thương do chính mình gây ra. Xin hãy quay đầu xem con cái, quả báo rõ ràng không tốt lành."

Sau đó không lâu. 
Quả nhiên đứa con trai độc nhất của Lữ Cố gặp tai nạn xe chết, đúng là tuyệt tự! Tư Lộc Thần thật lợi hại.

🍃

Lại có một chuyện liên quan đến Tư Lộc Thần. 
Có người tên Viên Mậu, là chủ một xí nghiệp sản xuất ngũ kim [năm thứ kim loại: vàng, bạc, đồng, sắt, thiếc], nhiều năm trước đã đến xem bói chỗ tôi, Tư Lộc Thần nói ông ta 15 năm sau sẽ thành đại gia. 

Thế nhưng chỉ sau khoảng hơn 10 năm, công xưởng do Viên Mậu quản lý đã bị phá sản. Viên Mậu vì vay rất nhiều tiền nên nợ nần chồng chất, chạy ra nước ngoài trốn. Từ lúc lưu vong ở nước ngoài không có cách nào quay trở về nước được nữa. 

Viên Mậu ở nước ngoài thì rất khổ cực. Ông ta bán hàng ở chợ trời, thu nhập cực kì ít. Ông ta cũng làm thêm nghề công nhân xây dựng. Trước đây vốn làm ông chủ nhà máy, bây giờ phải ở trên nóc nhà bò tới bò lui. Việc xây dựng lại không phải chuyên môn, nên kết quả ông ta lại bị đuổi việc.

Viên Mậu làm việc ở một quán ăn, cứ thế chật vật sống qua ngày. Sau này, Viên Mậu ở nước ngoài biết được chỗ tôi ở bèn bắt xe buýt tìm đến. Ông ta ngồi xe buýt tổng cộng ba ngày hai đêm. 

Sáng sớm tôi nhìn thấy ông ta thì giật mình. Viên Mậu khi xưa mặc áo vest, tóc vuốt keo bóng loáng, đi ra ngoài là có xe hơi xịn màu đen đưa đón, có tài xế và thư ký riêng. Viên Mậu bây giờ thì tóc muối tiêu, không chăm chút gì vẻ bề ngoài, mặc một chiếc áo khoác cũ kĩ, mặt đầy nếp nhăn, bụi bặm đầy mình. Một vẻ ngoài nhìn rất đáng thất vọng, trông rất tội nghiệp. 

Tôi mời ông ta vào trong phòng, rót cho một cốc sữa ấm, rồi lại mời ăn bánh mì, ông ta cũng chưa ăn sáng gì cả. 
Viên Mậu hỏi: 
"Tư Lộc Thần nói 15 năm sau tôi sẽ trở thành đại gia, vì sao giờ lại thế này?"
"Bây giờ bao nhiêu năm rồi?" - Tôi hỏi lại ông ta. 
Viên Mậu dùng ngón tay tính: 
"Vừa đúng 15 năm, Tư Lộc Thần nói không đúng, ngài xem bói không linh rồi!"
"Tôi…" - Tôi chưa biết trả lời ra sao. 
Viên Mậu mặt rầu rĩ và thất vọng hỏi:
"Vì sao lại không chuẩn không linh vậy?"
"Việc này…"

Viên Mậu kể: 
"Năm đó, lúc nhà máy của tôi đang làm ăn rất phát đạt, cũng có mời ngài đến xem phong thủy địa lý, rồi cũng theo ý của ngài mà sửa lại một số chỗ có khuyết điểm. Lại cũng mời ngài xem bói, ngài nói 15 năm sau nhất định đại phát, 15 năm sau là đỉnh cao nhất của đời người. Nhưng bây giờ sau đúng 15 năm, tôi sụp đổ như vầy, ngài nói xem thế nào?"
"Tôi… tôi cũng không biết…" - Tôi toát mồ hôi. 
Viên Mậu hỏi: 
"Bây giờ tôi cùng đường rồi, ngài nói tôi phải làm sao?"
"Tôi lại giúp ông xem bói có được không?"
"Bói? Xem như thế nào?" - Ông ta dường như có chút tức giận. 

Tôi nhắm mắt lại. Quả nhiên tôi nhìn thấy Tư Lộc Thần, tay trái và tay phải đều dắt theo một đứa trẻ con. 
"Con của ai vậy?" - Tôi hỏi. 
Tư Lộc Thần đáp: 
"Con của Viên Mậu, chết từ trong bào thai." 
A! Thế là đã rõ, hơn 10 năm trước Viên Mậu đã sát sinh, có trẻ con, cho nên mới có hai đứa bé này.
Tôi nói: 
"Viên Mậu, ông đã sát sinh rồi, người phụ nữ của ông phá thai làm chết hai đứa con."
Viên Mậu đáp: 
"Phá thai nhiều, tội nặng như vậy sao?"

Tư Lộc Thần lại hiện ra, lắc đầu với tôi, dùng tay chỉ vào hư không, trên hư không xuất hiện một ni cô. Vị ni cô trẻ tuổi xinh đẹp bước ra, tay trái tay phải mỗi bên dắt theo một đứa trẻ con ban nãy. Việc này làm tôi kinh hãi, lập tức hiểu ngay. 
Tôi nói: 
"Viên Mậu, ông yểu thọ rồi, ông đã làm ô nhục một ni cô! Hai đứa bé này chính là do ni cô sinh ra có phải không?"
Giờ đến lượt Viên Mậu toát mồ hôi hột. 
"Việc này… việc này… Ni cô này cũng thích tôi mà!"
"Ừm!" - Tôi thở dài. "Trong chùa có Phật có Bồ Tát, có Kim Cang, có Hộ pháp. Tăng ni là người tu hành thanh tịnh, nếu như đi quyến rũ thì tội càng nặng thêm. Ông hành động không kiểm soát, quan hệ với ni cô, liên tục có hai đứa con rồi lại phá thai, như vậy là phạm nghiệp tội rất lớn. Hôm nay sụp đổ như vậy chính là tự mình gây ra."
"Là như vậy sao?"
"Đương nhiên là vậy." - Tôi đáp.
"Sau này tôi phải làm sao?"
"Phát nguyện trì giới. Tôi cho rằng ông cần phải viết bài sớ, trong đó ghi rõ ra tên họ, ngày tháng năm sinh, ký tên vào. Thề trước trời đất rồi đốt văn sớ này, nói với trời đất từ nay sám hối việc đã qua, từ giờ về sau cẩn thận suy nghĩ hành động. Nhất định phải biết run tay sợ hãi, tuyệt đối không phạm vào tà dâm, vĩnh viễn đoạn trừ nghiệp gốc, một lần nữa quay về con đường ngay thẳng. Không chỉ riêng việc này, mà từ đây tâm phải luôn giữ ý thiện, lúc nào cũng phải mở miệng nói lời khuyên người khác đừng tà dâm. Kinh Phật đã nói, từ bỏ tà dâm sẽ có được năm phước [trường thọ, phú quý, an khang, đức lành, thiện thệ], cũng tránh được rơi vào ba đường ác. Phải tự mình nỗ lực."

Viên Mậu nghe xong, luôn miệng nói "phải, phải".

Có một bài thơ nói về người tu hành phạm giới dâm như sau:
*Người ta xuất thế tu hành
Sao còn tìm đến tán tỉnh
Hủy hoại giới hạnh tiếng tăm
Bất chấp Phật gia thanh tịnh
Mắt thần bỗng chốc như điện
Nam nữ lợi dụng thời cơ
Tội ấy phạt không hề nhẹ
Đúng là dấn thân vào bẫy.*

Tôi tiễn Viên Mậu về, còn cho ông ta 2000 USD, kỳ vọng ông ta sẽ vĩnh viễn ăn năn hối lỗi.

🍃

Đối với câu chuyện của Viên Mậu, tôi có chút cảm tưởng. Tôi đã từng xem bộ phim "Tiếng chim hót trong bụi mận gai". Nội dung phim kể về một vị cha xứ cùng một cô gái có tình cảm với nhau. Cô gái này đối với cha xứ có nội tâm khao khát muốn chinh phục. Đối với bộ phim này, tôi liên tưởng đến:
Tín nữ đi quyến rũ tăng sĩ đã xuất gia.
Tín nam đi dụ dỗ ni cô đã xuất gia.
Tăng sĩ và ni cô dụ dỗ nhau.
Chuyện như thế không phải là không có. Gặp được những chuyện kiểu này thì giới truyền thông là có hứng thú nhất, ngay lập tức sẽ loan tin rộng rãi dù chưa cần biết sự thật thế nào. Dù sao đi nữa, càng là chuyện tai tiếng liên quan đến người tu hành vi phạm đạo đức xã hội thì càng phải đăng tin. Càng có nhiều người xem, càng bán được nhiều. 

Trào lưu hiện đại đã thay đổi rồi. Truyền thông có khả năng gây ra những lộn xộn nhầm lẫn, còn sự thật thế nào thì có ai đi truy cứu? Truyền thông đương nhiên chính là đội tuyên truyền những vụ lùm xùm kiểu như thế này. 

Người tu hành nếu như phạm vào dâm dục, trên phương diện nhân quả, càng nghĩ càng thấy tồi tệ. Đây là đã biết Phật pháp mà lại phạm pháp. 

Luật nhà Phật đã nói, người tạo nghiệp tà dâm sẽ gặp phải báo ứng là vợ con mất trinh tiết, cắt đứt đường con cháu, sau khi chết đọa vào ba đường ác, trở thành súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục, trăm nghìn vạn kiếp, không dễ mà thoát ra để lại được làm người. 

Người phạm giới dâm dục sẽ đánh mất địa vị, bại hoại danh dự, tổn thất tiền tài. Người thích dâm sẽ mắc nhiều bệnh, rất dễ già yếu, không thể sống lâu. 
Nói về ảnh hưởng thì sẽ bị xã hội chửi mắng, kết oán thù sâu nặng. Cuối cùng là danh dự bị tổn hại!
Phụ nữ đi quyến rũ tăng.
Đàn ông đi dụ dỗ ni.
Tăng và ni cùng nhau phạm tội.
Đây là hành vi xấu đứng đầu trong vạn việc tà dâm. 

Cho nên Phật đã đưa ra giới luật, trong năm giới của đệ tử xuất gia thì giới dâm là nặng nhất. Thánh nhân xuất thế, hiền nhân nhập thế, những trí thức lớn hiểu rõ đạo lý, sớm đã nhìn ra căn nguyên của dâm dục. Có người chủ trương đoạn trừ, có người chủ trương tiết chế, Mật giáo thì chủ trương loại bỏ chướng ngại dục niệm, chuyển hóa dâm dục thành việc tu hành. 

🍃

Trong phạm vi của cuốn sách này, tôi nỗ lực dùng lời thiện để khuyên răn, không gì hơn là hy vọng mọi người phá bỏ quan niệm mê lầm, từ khoái lạc thế gian đạt được cực lạc thanh tịnh. 
Mật giáo tu pháp:
Thân — quang minh phong mạch.
Khẩu — khí điểm cùng chảy.
Ý — đại lạc thanh tịnh.

Tôi đương nhiên biết rằng, tăng ni khi chưa đắc chính đạo, người chưa phải là thần thánh, ai chẳng có lúc sai. Tuy thế phải tận lực giữ giới, biết đạo lý về họa dâm, phải liên tục sám hối. Ai ai cũng phải biết cách chuộc lỗi, kiên quyết đoạn tuyệt. 

Đối với những cuốn kinh điển và sách thiện có ích cho con người phải quảng bá lưu truyền, khiến cho con người trên khắp thế gian hiểu rằng việc hưởng thụ vật chất là không ích lợi gì. Phóng túng dâm dục sẽ đọa lạc vào đau khổ, không nên đề xướng. Làm như vậy mới khiến xã hội cát tường bình an, đạo đức xã hội từ từ tốt đẹp, nhân tâm thuần hậu. 

Tôi viết bài kệ:
*Cả sự nghiệp vốn lấy thân làm gốc
Tổn hại thân có biết bao kiểu trò
Tàn khốc nhất không gì hơn dâm dục
Thân như ngọc, người quân tử gìn giữ
Tâm trung trực để dưỡng sức tu thân.*


### 11. Thành Hoàng xử án đêm


Một đêm, đột nhiên xuất hiện hai sứ giả đến mời tôi đi. 
Tôi hỏi: 
"Đi đâu?"
Đáp: 
"Thành Hoàng."
"Có chuyện gì?"
"Không rõ."
Tôi cùng hai vị sứ giả đi đến miếu Thành Hoàng. Tôi với Thành Hoàng Bồ Tát có tình bạn vô cùng tốt đẹp. Mỗi khi tôi có chuyện, tôi thường thỉnh Thành Hoàng Bồ Tát giúp đỡ. Thành Hoàng Bồ Tát có việc cũng mời tôi giúp đỡ. Đặc biệt là Thành Hoàng Gia Nghĩa nơi tôi sinh ra và Thành Hoàng Đài Trung nơi tôi lớn lên. 

Lúc tôi đến miếu Thành Hoàng Bồ Tát thì đã là nửa đêm, đèn đuốc sáng trưng. Tôi trông thấy Thành Hoàng Bồ Tát oai nghiêm ngồi ở trên, bên trái phải là văn phán quan, võ phán quan, đầu trâu mặt ngựa. 

Thành Hoàng trông thấy tôi đến thì lập tức kêu người đem bàn ghế, tôi ngồi xuống một bên. 
Tôi hỏi: 
"Là xử án đêm à?"
"Đúng."
"Vì sao mời tôi đến?"
"Có liên quan đến ngài!"
"Tôi?"
"Đương nhiên không phải thẩm vấn ngài." - Thành Hoàng Bồ Tát cười: "Ai có thể thẩm vấn ngài đây, trừ phi đó là Thái Sơ Cổ Phật, Nguyên Thủy Phật, ha ha."

🍃

Tội phạm được đưa lên. Tội phạm này quỳ gối, tay chân đều bị xích. Tôi nhìn tội phạm giật mình, hóa ra là Trịnh Khoa. 

Trịnh Khoa là ai? Trịnh Khoa này vừa sáng hôm nay đem theo rất nhiều sách tôi viết đến nhà tôi một mực muốn quy y, bái tôi làm thầy. Tôi nhìn anh ta một lòng một ý muốn quy y, ý chí vô cùng kiên định bèn nhận quy y cho anh ta. Buổi sáng vừa nhận quy y cho ba đệ tử, buổi tối không ngờ một người đã thành tội phạm của Thành Hoàng, đương nhiên việc này khiến tôi giật mình sửng sốt. 

Tên tội phạm Trịnh Khoa này vẫn chưa phát hiện ra sự có mặt của tôi. Có lẽ là do Thành Hoàng Bồ Tát sắp xếp cho chỗ ngồi của tôi ở trong bóng tối, khiến anh ta không nhìn ra tôi là ai. 

Thành Hoàng hỏi Trịnh Khoa: 
"Ngày X tháng Y, ngươi đã hiếp dâm một cô gái, biết tội chưa?"
"Biết tội!" - Trịnh Khoa cúi đầu. 
"Có sám hối không?"
"Sám hối!"
"Vì sao ngươi lại sám hối?"
"Bởi vì tôi đọc sách của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Trong sách nói tội này:
Thứ nhất là hại danh tiết người ta. Chuyện lớn cả đời của một người con gái, chỉ trọng chữ "tiết", hãm hiếp cô ta rồi khiến cô ta mất trinh tiết. Ngói đã vỡ không thể lành. 
Thứ hai là hại đến phong tục. Liêm sỉ của làng quê mất sạch sẽ. Nếu kẻ mặt người dạ thú, người ngu si trông thấy gương đó mà lại bắt chước, kết bè đảng cùng âm mưu làm việc gian tà thì cuối cùng sẽ hủy hoại hẳn cả phong tục. Những điều xấu xa kiểu này chắc chắn sẽ tạo kiếp nạn."
"Nói hay lắm!" - Thành Hoàng nói: "Ngươi biểu hiện sự sám hối của mình thế nào?"
"Tôi đi quy y Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn."
"Khi nào?"
"Sáng hôm nay."
"Vị Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn này dạy ngươi cái gì?"
Trịnh Khoa đáp:
"Ngoài thọ giáo Tam quy y ra, còn dạy tôi một bài kệ."
"Đọc nghe xem!"
Trịnh Khoa đọc:
*”Người nghĩ về ngày chết
Lửa dục sẽ dịu ngay
Người ngu nghe điều này
Chau mày kêu xui xẻo
Rốt cục trăm năm sau
Cùng vào lò hỏa thiêu
Bồ Tát quán cái chết
Biển khổ sẽ vượt qua.”*

Thành Hoàng nghe xong thì cảm động, chúng quỷ thần cũng thế. Thành Hoàng Bồ Tát nói: 
"Đêm nay xử án ngươi, vốn định trị ngươi trọng tội, nhất định phải khiến thịt da hư thối, xương cốt cắt rời cho tới khi chết mới thôi. Nay ngươi đã quy y Tam Bảo, đã thực sự sám hối thì tội chết có thể miễn, nhưng tội sống khó tha, hai chân ngươi sẽ bị đem đóng đinh."

Lính quỷ ở hai bên xông lên, đè Trịnh Khoa nằm xuống, một tiếng đóng đinh đau đến thấu xương. Trịnh Khoa hét to một tiếng, rồi không còn biết gì nữa.

🍃

Khoảng một tháng sau, Trịnh Khoa chống nạng đến tìm tôi. 
Tôi hỏi: 
"Có chuyện gì vậy?"
"Buổi tối ngày con xin quy y thầy, ngủ qua một đêm, tỉnh giấc thấy hai chân đau vô cùng, không có cách nào đi lại được!"
"Là nghiệp chướng phải trả ngay à?"
"Chính con cũng không rõ. Con nghĩ có phải là con quy y sai người rồi không? Sao lại có thể hôm nay quy y, ngày mai liền không đi lại được. Thế nhưng sư phụ truyền thụ Tam quy y là chính lý Phật pháp, lại còn giảng rằng đừng làm việc ác, thực hành việc thiện, tự thanh lọc ý nghĩ. Tất cả đều là lời chư Phật dạy, đều là giáo pháp của Đức Phật, không thể nào sai được, cho nên con mới đến thỉnh giáo!"

Tôi cười, không muốn kể toàn bộ cho anh ta. Tôi hỏi: 
"Đã đi khám bác sĩ chưa?"
"Đã khám rồi, nhưng không tìm ra nguyên nhân vì sao lại bị như vậy. Cũng uống nhiều phương thuốc bí truyền nhưng đều vô hiệu. Có người nói đây là xúc phạm tới quỷ thần, con thỉnh pháp sư làm pháp tiêu trừ nhưng cho đến nay vẫn chưa đỡ. Vì thế đến thỉnh giáo sư phụ xem xem là nguyên nhân gì."

Đương nhiên từ đầu tôi đã biết nguyên nhân hậu quả, chỉ là không muốn nói rõ thôi.
Tôi nói: 
"Để giúp anh tra xem."
Tôi hỏi: 
"Trước khi quy y, anh có phạm trọng tội gì không?"
"Trọng tội ư?" - Trịnh Khoa nghĩ một lúc, lắc đầu, lại hỏi lại tôi: "Thế nào gọi là trọng tội?"
"Trong Phật giáo, có năm loại hành vi tội ác có tính nghiêm trọng nhất: một là sát sinh, hai là trộm cắp, ba là tà dâm, bốn là vọng ngữ, năm là nghiện rượu. Ngoài ra, nếu nói về giới sát sinh, giết đàn ông, giết phụ nữ, giết trẻ sơ sinh, giết súc sinh, phá chùa miếu, đều là hành vi cực kì nghiêm trọng. Còn nữa, làm hại sư phụ Phật giáo, làm hại tăng chúng, làm hại bạn bè, làm hại chủ nhân, làm hại người tin tưởng mình thì cũng vậy." 
Trịnh Khoa nói: 
"Không có."
"Anh nghĩ kĩ đi, chúng sinh ở cõi Ta Bà, mọi hành động suy nghĩ có việc gì mà không tạo nghiệp đâu, anh thật sự một chút cũng không phạm sao?"
Trịnh Khoa im lặng không nói. 
Tôi hỏi: 
"Cái đêm X ngày Y thì sao?"
Trịnh Khoa đột nhiên sợ hãi: 
"Sư phụ đã biết!"
"Đã biết."
"Đó cũng tính là nghiệp sao?" - Trịnh Khoa hỏi tôi.

Trịnh Khoa kể với tôi câu chuyện như sau. 
Một lần có cơ hội bất ngờ, anh ta cùng một đồng nghiệp nữ ngồi tán dóc, hai người nói chuyện rất vui vẻ. Trịnh Khoa cảm thấy đối phương là người rất đáng yêu, bất chợt nói:
"Cùng cô tán dóc lâu như vậy, tôi thấy chúng ta vẫn có chút không giống nhau đó!"
Người phụ nữ hỏi:
"Cái gì không giống nhau?"
Trịnh Khoa đề nghị:
"Thôi, không cần phải nói thêm nữa, nói sang quan điểm triết học nhân sinh, nếu có chút màu sắc kích thích hiện thực thì sao nhỉ?"
Người phụ nữ không hiểu:
"Kích thích hiện thực?"
"Cô xem cấp độ phim ảnh, có cấp R, cấp X đó." [các cấp độ đánh giá mức độ nhạy cảm của phim ảnh]
"Chúng ta không làm cái đó!" - Người phụ nữ kêu lên.
"Đương nhiên không phải, chúng ta chơi trò oẳn tù tì."
"Oẳn tù tì?"
"Đúng vậy, là chơi oẳn tù tì, kéo, bao, búa, ai thua thì cởi quần."
"Chuyện này không được, nếu tôi thua thì... " - Người phụ nữ nói. 
"Không chắc là cô thua, có thể tôi thua." - Trịnh Khoa nói. 
Người phụ nữ nghĩ mình có thể thắng, lại cũng muốn cho Trịnh Khoa mất mặt một chút nên cuối cùng đồng ý chơi oẳn tù tì. 
Vậy là hai người hô: 
"Oẳn tù tì, ai thua thì cởi quần." 
Quả nhiên cực kì vui và kích động! 

Trong lúc chơi, Trịnh Khoa thua trước, phải cởi hết chỉ còn quần lót, may thay sau đó lại thắng, đến lượt người phụ nữ thua. Bởi vì Trịnh Khoa đã cởi trước, nên người phụ nữ không thể nào không cởi, coi như có qua có lại. 
Cuối cùng là một tiếng la: "Bao!"
Người phụ nữ phải cởi hết đồ. 
Người phụ nữ muốn bỏ chạy. 
Trịnh Khoa kéo cô ta lại, anh ta sớm đã thấy huyết mạch muốn nổ tung, trong lòng đã "dậy sóng", trong lúc không tự kiềm chế được đã yêu cầu "tiến thêm bước nữa".
Người phụ nữ nói: 
"Việc này không được đâu!"
Trịnh Khoa nói: 
"Oẳn tù tì thêm một lần nữa, để cho vận mệnh quyết định."
Người phụ nữ lại cho rằng mình sẽ không thể thua. 

Lần chơi này, Trịnh Khoa ra kéo, cô ta thì ra bao. Kéo đã thắng, bao đã thua. Trịnh Khoa lợi dụng tiến tới. Người phụ nữ thì nửa từ chối nửa chiều theo. Cứ như vậy, hai người đã thành "đối thoại kiểu đặc biệt".

🍃

Trịnh Khoa hỏi tôi:
"Là do con chơi thắng mà được, cũng tính là tội tà dâm sao?"
"Việc này…" - Tôi trợn mắt không thốt ra lời. 
Cuối cùng tôi nói: 
"Chúng ta tu hành chính là tu tâm. Trò chơi oẳn tù tì kéo búa bao đương nhiên không tính là nghiệp, nhưng ngươi khởi tâm bất chính, lấy trò chơi để đạt tới mục đích gian dâm của mình, đây chính là nghiệp."
Trịnh Khoa nói với tôi: 
"Con nói thật với sư phụ điều này, vốn dĩ con không dám nói nhưng bây giờ thì không thể không nói. Con mới quy y được hai ngày thì hai chân đã không thể đi lại được. Sau đó con đã thỉnh giáo rất nhiều pháp sư Phật từ ngoại giới, họ đều cùng nói với con rằng…"

Tôi đợi Trịnh Khoa nói tiếp thì anh ta lại im bặt. 
Anh ta lại hỏi tôi một câu: 
"Có thể nói không?"
"Đương nhiên có thể." - Tôi cười. 
"Rất khó nghe đó!"
"Chuyện khó nghe tôi cũng đã từng nghe rồi!" - Tôi rất thản nhiên. 
Trịnh Khoa nói:
"Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn là đại thiên ma đến, là tà sư ngoại đạo lớn nhất trong giới tôn giáo, là tên đại bịp lừa tiền gạt sắc. Những gì ông ta nói đều là giả, ông ta là tên lừa gạt lớn nhất. Rất nhiều người đã bị ông ta lừa, ông ta gạt tiền đỉnh cao, lừa tình số một. Xung quanh có rất nhiều đệ tử nữ đều mê muội ông ta, đều bị ông ta lừa gạt. Bọn họ nói: pháp sư Phật giáo chính tín thì con không đi quy y, lại đi quy y một ác ma ngoại đạo, thế nên vừa quy y xong thì hai chân mới bị không cử động được. Đây chính là bằng chứng rõ nhất về kẻ thiên ma ngoại đạo này."
"Còn nói gì nữa không?" - Tôi bình thản hỏi. 
"Hết rồi. Bọn họ nói là do con quy y nhầm người rồi nên mới bị như vậy."
"Tôi từ lúc 26 tuổi đến nay là 57 tuổi, 30 năm nay những lời nói cũ rích này đã nghe chán rồi. Không có gì mới hơn à?"
"Không có."
Tôi nói với Trịnh Khoa: 
"Được. Tôi nể mặt các pháp sư Phật giáo, nể mặt họ chửi mắng, tôi nhất định sẽ chữa khỏi chân cho anh. Chữa không được, tôi không phải là Lư Thắng Ngạn."
Trịnh Khoa nghe vậy rất vui. 

Trước tiên tôi tìm đến người huynh đệ có tên Thành Hoàng Bồ Tát. Tôi nghĩ rằng chỉ cần nói là được, nói là có thể nhổ đinh ra khỏi chân của Trịnh Khoa, nhổ xong thì tất sẽ khỏi. 
Không ngờ Thành Hoàng Bồ Tát nghe xong lắc đầu:
"Lão Lư à, lần này ông thua rồi, đinh ở chân này không phải là đinh thường mà là đinh trời, là Ngọc Hoàng lão gia đưa xuống đó!"
"Nghiêm trọng đến mức này sao?" - Tôi xanh mặt.
"Ông biết Trịnh Khoa là ai không?"
"Không biết."
"Trịnh Khoa đời trước chính là tiến sĩ Vu Thao dưới triều vua Sùng Trinh thời Minh. Vu Thao trong thời gian nhậm chức ở Giang Ninh tổng cộng đã gian dâm chín người."
"Ối! Hắn ta liên tục phạm tội, tội này không thể tha."
"Đinh trời không thể rút ra!"
"Ra là thế."

Lần này tôi thảm rồi. Tôi chỉ còn cách đành đi tìm Ngọc Hoàng lão gia. Có lẽ có người sẽ nghĩ như sau, Thành Hoàng Bồ Tát là anh em huynh đệ của ngài, gặp thì còn được, nhưng Ngọc Hoàng lão gia mà lại nói đi tìm là tìm được, Liên Sinh Hoạt Phật là người như thế nào vậy?

Tôi nói thế này: 
*Bao kiếp không biết ngày tháng
Lai lịch vô thủy vô chung
Tên tôi Kim Cương Bất Hoại
Sinh tử vô cùng huyền bí
Chính là Di Đà ở đây
Khỏi đi vạn dặm tìm gặp.*

Tôi ở cõi trời Thiện Pháp Đường gặp Ngọc Hoàng Đại Đế. Tôi nói luôn là muốn Ngọc Hoàng lão gia nhổ đinh trời ở chân của Trịnh Khoa. 
Ngọc Hoàng lão gia cũng khó xử. Ngọc Hoàng nói: 
"Muốn nhổ đinh trời, nói khó thì khó, nói dễ thì dễ. Tóm lại, tam tâm tứ tướng quét sạch sẽ, thập ác bát tà phải thanh trừ, ân ái tình dục không được nhiễm, tham sân si ái nghiệp không sinh."
"Điều này tôi hiểu, lại còn cần ngài phải nói."
Ngọc Hoàng Đại Đế lại nói: 
"Cây đinh trời này mặc dù do ta giao xuống, nhưng phải theo luật trời mà hành sự. Luật trời tổng cộng có 3000 quyển, cho dù là Cửu Thiên Đại Thần cũng phải theo luật mà xử. Nếu không theo luật trời mà phạm vào các điều luật, đều phải đọa lạc, vạn kiếp khó siêu sinh."

Tôi không muốn cùng Ngọc Hoàng lão gia tranh luận nhiều, liền vẫy vẫy tay tạm biệt rồi đi tìm Phật Tổ. Pháp thân này của tôi vốn là xuyên khắp tam giới, cũng trải khắp thiên địa hư không. Tây phương Linh Sơn Đại Lôi Âm Tự tôi cũng tự nhiên có thể nói đến là đến được, vốn dĩ chính là diệu pháp vô cùng, không hình không tướng, cũng không có dấu vết gì.

🍃

Tôi đến Linh Sơn.
Đầu tiên là Vi Đà và Già Lam ra đón tôi.
Đại Ca Diếp và A Nan đều bước xuống bục.
Bát Đại Kim Cang đứng hai bên. 
Tôi nhìn thấy Mã Minh, Long Thụ, Hiếp Tôn Giả, Thương Na A Tu, Cưu Ma La Thập, Bát Nhã Đa La, v.v…
Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi trên pháp tọa kim cương có tám con sư tử lớn, hỏi: 
"Liên Sinh từ đâu tới?"
"Đông phương tới Tây phương, mười vạn tám nghìn dặm."
"Mất bao nhiêu lâu?"
"Một niệm."
"Vì sao đến đây?"
"Vì Trịnh Khoa."
"Đây chỉ là chuyện nhỏ, ngài thực ra là vì điều gì, chuyện này hoàn toàn vô lý."
"Chuyện tuy là nhỏ, nhưng đã nói ra miệng thành chuyện lớn rồi, giờ thành có lý vô cùng."
Phật Thích Ca Mâu Ni cười: 
"Tên tiểu tử Liên Sinh này xuống cõi Ta Bà, miệng lưỡi trở nên lanh lợi rồi. Ông nói xem, ta phải làm thế nào mới giúp được ông đây?"
"Phật ban luật xuống rằng đinh trời có thể rút ra!"
Phật Tổ nói: 
"Ta là Phật độ người, luôn lấy giới làm thầy. Quy tắc Phật nghiêm minh dựa theo pháp mà làm. Con đường tu hành không thể làm loạn. Thế giới huyễn mộng này đều phải dựa vào chân tâm. Khi vô minh còn chưa hết, chưa hiểu tự tính thì đều có nhân quả, sẽ trồng xuống mầm tai họa."

Tôi đáp: 
"Phật cảnh cáo không vọng ngữ, nói phải giữ lời, từ uy tín đó mà giáo hóa thay đổi, đó gọi là đức hạnh. Hôm nay xin hãy vì đệ tử khởi lòng nhân từ bi mẫn, đệ tử cũng đã có lời hứa, xin ngài bố thí giúp đỡ cho."
Phật Tổ nói: 
"Ông phải tự lượng sức mình chứ."
Tôi đáp: 
"Đệ tử cũng dựa vào khả năng có thể thành công được nên mới làm."
Phật Thích Ca Mâu Ni trầm ngâm nói:
"Việc này có cách giải quyết như sau. Ông hãy nhớ lại năm xưa Mục Liên Tôn Giả định cứu mẹ chỉ dựa vào công lực của một mình bản thân, đương nhiên chỉ nhờ vậy thì không thể nào vào địa ngục cứu mẹ rồi. Sau đó đã phải dùng công lực của nhiều người, nếu có thể kết hợp công lực của các thánh tăng thì sẽ thành công. Bây giờ Thành Hoàng không có cách nào giúp được ông, Ngọc Hoàng lão gia cũng không có cách nào, trong luật Phật của ta cũng phải giữ quy định rõ ràng. Nhưng ông không nghĩ rằng có thể tập hợp sức mạnh của nhiều người đi giải trừ hoạn nạn của Trịnh Khoa được hay sao?"

Linh quang của tôi chợt lóe lên, tôi biết rằng đã có cách rồi. Tôi rập đầu trước Phật tổ, nhiễu quanh ba vòng. Rồi tôi rời khỏi Tây phương Linh Sơn Đại Lôi Âm Tự. 

🍃

Tôi vẽ chín lá linh phù rồi hóa đốt. 
Tôi kêu gọi chín người thế thân. 
Chính tôi cũng thế thân.

Một hôm, tôi chơi bóng rổ ở sân bóng phía sau chùa Seattle Lôi Tạng Tự ở Mỹ. Bóng lăn đi, tôi đuổi theo bóng chạy tới tận đường biên, nơi giao nhau giữa sân xi-măng và đất bùn. Do sân xi măng cao, sân đất lại thấp, tôi bị trẹo chân khiến chân bị thương. Tổn thương gân cốt tới 100 ngày, đau tới mức tôi phải kêu la oai oái. 

Kể cũng kỳ lạ, trong vòng ba tháng tôi bị thương ở chân, ở Lôi Tạng Tự Seattle lần lượt người này đến người khác, tổng cộng chín người đều bị thương ở chân, tính cả tôi thì đúng mười người. 
Mọi người cũng đều thấy lạ. 
"Là chịu nạn thay?" - Có người hỏi. 
Tôi chỉ mỉm cười. 
"Việc này thật kỳ lạ, có mười người bị thương ở chân?"
"Thật sự là quá kỳ lạ." - Tôi cũng nói như vậy. 
"Làm gì có chuyện kỳ lạ như vậy. Tất cả đều cùng thời gian này."
"Thật là trùng hợp." - Tôi nói. 
Tập hợp mười người chịu thay bị thương ở chân. 
Chân của Trịnh Khoa đã khỏi, không đau nữa, cũng có thể đi lại được rồi. 

🍃

Tôi dạy Trịnh Khoa cách quán bốn cảm giác:
Phàm phu nghĩ dâm dục, đời đời thường đổi thay, khi sinh làm thân nữ, thấy nam là thích ngay, đời này làm thân nam, lại yêu thân thể nữ. Khi thấy họ nhơ bẩn, thì làm gì còn yêu. 

Khi ngủ dậy, hãy nghĩ đến cảm giác thứ nhất: 
Mặc tưởng sáng sớm vừa ngủ dậy khi hai mắt còn lim dim, đừng vội súc miệng. Lúc này miệng còn dinh dính, lưỡi còn đóng cặn, thực sự là rất bẩn. Cần nghĩ tới những cô gái xinh đẹp, cho dù miệng có nhỏ xinh như trái anh đào, nhưng khi không thoa phấn thoa son thì cũng ghê như vậy thôi. 

Khi say rượu, hãy nghĩ đến cảm giác thứ hai: 
Mặc tưởng uống rượu quá độ, ngũ tạng đảo lộn, chẳng mấy chốc liền nôn sạch ra, nôn hết những gì chưa tiêu trong bụng. Con chó đói ngửi thấy còn vẫy đuôi thối lui. Cần nghĩ đến gái đẹp nhẹ nhàng chuốc rượu, ngọc nữ ăn uống nhỏ nhẹ, nhưng khi tàn tiệc tan hoang, trong bụng họ cũng ghê như vậy thôi.

Khi bị bệnh, hãy nghĩ đến cảm giác thứ ba: 
Mặc tưởng khi ốm liệt giường, mặt mày sạm đen, người ngợm tiều tụy. Hoặc là mụn nhọt lở loét, máu mủ lẫn lộn, hôi thối không thể gần. Cần nghĩ đến những cô gái trẻ đẹp, dáng hình xinh xắn, khi mà bệnh tật khổ đau ập đến thân thì hình dạng của họ cũng ghê như vậy thôi. 

Khi thấy nhà vệ sinh, hãy nghĩ đến cảm giác thứ tư: 
Mặc tưởng sau khi thông bồn cầu, phân và nước tiểu chất đống, ruồi nhặng đâu đâu cũng bu quanh. Cần nghĩ đến những dung nhan yêu kiều, cho dù có tắm đẫm nước thơm và xức nước hoa, thì sau khi thức ăn tiêu hóa, cũng ghê như vậy thôi.

Tôi nói với Trịnh Khoa:
"Dâm niệm một đời, đủ mọi ác niệm đi theo."
Ví dụ:
Tâm tham luyến.
Tâm chiếm hữu.
Tâm ghen tuông.
Tâm đố kỵ.
Tâm ràng buộc.
Tâm làm hại.
Tâm hủy diệt.
(Hai loại tâm sau cùng sẽ khởi lên khi mong cầu không đạt được.)
Trịnh Khoa nghe xong lời cảnh cáo của tôi, luôn miệng nói phải. 

Tôi nói: 
"Nhìn thấy vợ con người ta xinh đẹp, bèn khởi lên ý niệm gian tà. Ý nghĩ này một khi khởi lên, mặc dù chưa làm thật, cũng khó thoát khỏi hình phạt của quỷ thần."
Trịnh Khoa đáp: 
"Bản thân con sẽ ghi nhớ."

🍃

Sau này, Trịnh Khoa đi quy y một vị pháp sư xuất gia, tôi cho rằng rất tốt. Trịnh Khoa cũng hiến tặng một mảnh đất cho vị pháp sư xuất gia này xây đạo tràng, tôi cho rằng cũng rất tốt. Trịnh Khoa cũng giúp vị pháp sư này tuyên truyền Phật pháp, cũng vô cùng tốt. 

Chỉ là tôi nghe có tin đồn, anh ta trong lúc tuyên truyền Phật pháp, khi nhắc đến tên tôi thì dường như khẩu khí không được thiện cảm lắm. 

Có một lần, từ xa nhìn thấy anh ta, tôi vẫy vẫy tay với anh. Anh cúi đầu làm bộ như không thấy, mau lẹ bỏ đi. 
Tôi đuổi theo lên phía trước gọi to: 
"Trịnh Khoa."
Anh ta quay đầu lại, vẻ rất lạnh nhạt. 
"Gần đây khỏe không?" - Tôi hỏi thăm. 
"Đương nhiên rất khỏe. Sau khi rời khỏi ông, tất cả đều tốt."
"Ồ!" - Tôi ngẩn người ra. 
"Ông không hiểu à?" - Anh ta hỏi lại tôi. 
"Tôi không hiểu cái gì?" - Tôi ngạc nhiên hỏi. 
"Vị pháp sư cao nhân đó nói với tôi, ông là gian tà, bỏ bùa ngải người ta. Khi tôi đi quy y ông thì liền bị bỏ bùa, do vậy lập tức hai chân không cử động được. Sau đó ông lại dùng phép để giải trừ, lúc này hai chân lại có thể cử động được. Đây chính là cách ông dùng để khiến người ta tin vào phương pháp của ông. Tôi bây giờ đã hiểu được hành vi của ông, ông chính là thiên ma, là tà giáo, là ngoại đạo, ông là chuyên gia lừa đảo!"
"Ui chà! Hóa ra là như vậy!" - Tôi gục gặc đầu. 
"Vốn dĩ là như vậy đấy."
"Tôi không còn gì để nói."
"Ông rõ là không có gì để nói rồi."
Trịnh Khoa quay người bước nhanh đi. 

Trong lòng tôi cảm thán! Không bỏ rơi một chúng sinh nào, không bỏ rơi một chúng sinh nào có đúng không?
*Liên Sinh chảy máu đâu thể nói
Chẳng muốn Trịnh Khoa biết sự tình
Thuyền đến bến sông người khó độ
Tưởng rằng hữu duyên lại vô duyên.*


### 12. Quạt trời


Có một đệ tử 50 tuổi tên là Đào Đồng đến gặp tôi hỏi chuyện. Đào Đồng đã kết hôn được 30 năm, thế nhưng người vợ không thể sinh con. 
Đào Đồng hỏi: 
"Tôi có thể có con được không?"
Tôi đáp: 
"Không."
"Làm sao để có con? Hoạt Phật cao minh, có thể giúp người trị bệnh, giúp người như ý."
"Vận mệnh nếu có thì sẽ có, vận mệnh không có thì đừng cưỡng lại!" - Tôi đáp. 
Đào Đồng nghe xong rất thản nhiên. 
"Việc này thực sự cưỡng lại cũng không được, tất cả đều là mệnh số. Chỉ là tôi muốn hỏi, số mệnh tôi rốt cục là có hay không có con thôi."
Tôi đáp: 
"Không có."

🍃

Hai năm sau lần hỏi chuyện đó, vợ của Đào Đồng bất ngờ sinh đôi, là hai đứa con trai. Hai đứa bé tướng mạo đều đẹp, trán cao, mũi cao, dái tai rất dày. Hai đứa trẻ mặt mày tuấn tú, khiến người khác phải ghen tỵ. 

Vợ chồng Đào Đồng bế con đến cho tôi xem, đồng thời muốn tôi đặt tên cho hai bé. Tôi đặt tên là Đào Kính và Đào Hiền. 
Đào Đồng nói: 
"Chúng tôi tin tưởng thần toán của Liên Sinh Hoạt Phật nhiều năm, vì vậy nên sinh được hai đứa con này liền nghĩ nhờ Liên Sinh Hoạt Phật đặt tên. Đây là vì lòng thành kính ngưỡng mộ đối với danh tiếng của Hoạt Phật. Chỉ là hai năm trước có nhờ Hoạt Phật bói xem số mệnh có thể có con được không. Câu trả lời là không có, nhưng bây giờ lại có con. Như vậy là thế nào?"
Đào Đồng này đúng thực là khéo ăn nói. 

Tôi cũng không khỏi cảm thấy buồn lòng. Thần toán đã nói sai, làm sao có thể trả lời, làm sao có thể không đỏ mặt. Đào Đồng không có ý trách cứ, thậm chí ông ta còn đem con đến cho tôi đặt tên, người ta vẫn kính ngưỡng mình. Chỉ là ông ấy muốn hiểu rõ thần toán vì sao lại sai. Nếu như đổi lại là người khác, không chừng đã lờ mình đi, rồi sớm đã chỉ trích sau lưng, chửi mắng mình, rồi đi đâu cũng rêu rao rằng thần toán không chuẩn không linh. 

Tôi nói: 
"Việc lạ xảy ra ắt có nguyên nhân, hôm nay tôi nhìn tướng mạo ông khác nhiều so với lúc trước. Bây giờ ông có khí đỏ ở trên đầu, trước kia thì có khí đen bao quanh. Thật sự là không giống trước đây."
Đào Đồng nói: 
"Tôi biết Hoạt Phật giỏi xem sắc khí, cũng muốn biết nguyên nhân có con."
Tôi đáp: 
"Việc này để tôi tìm hiểu rõ rồi sẽ cho ông biết!" - Tôi cúi đầu đỏ mặt. 
"Cảm ơn thầy!" - Đào Đồng nói. 

🍃

Buổi tối hôm đó tôi nằm mơ, trong mơ thấy chính mình đi đến một cái miếu cổ. Miếu cổ này màu sắc, mùi hương đều toát lên vẻ cổ kính, thực sự trông rất tuyệt diệu. 

Lúc tôi đến vừa hay là lúc gióng chuông đánh trống, hai bên là quỷ thần quỳ phục trước miếu. Chủ thần của miếu là Oai Linh Công đứng trước miếu, hai tay chắp lại nghênh đón.

Tôi đứng lại không dám tiến lên trước. 
Oai Linh Công hô to: 
"Nghênh tiếp Liên Sinh vào điện, tại sao lại đứng ngoài miếu?"
"Tôi có đức có năng gì đâu?" - Tôi hổ thẹn nói. 
"Tâm cao cả là có đức, luôn tận lực là có năng." - Lời của Oai Linh Công đầy vẻ triết lý. 

Tôi ngồi trong ngôi miếu lớn. 
Oai Linh Công ngồi ghế chủ, tôi ngồi ghế khách, quỷ thần hai bên đồng thời dâng rượu và đồ ăn. Rượu và đồ ăn cũng không phải loại tầm thường. Tuy rằng không thể so sánh với những món ăn trên tiên giới với nước tiên canh ngọc nhưng cũng không thua kém là mấy, rượu cũng rất mạnh, vào miệng là ngấm ngay. 

Uống rượu mạnh vào, mặt tôi lại càng đỏ. 
Oai Linh Công cười: 
"Tôi vốn dĩ có hai người hầu quạt, gặp lúc trời nóng, hai người này có thể giúp quạt mát cho chúng ta. Quạt trời này chỉ cần phẩy một cái thì oi bức sẽ biến thành mát mẻ. Nếu quạt hai cái thì sẽ tạo thành băng lạnh, quạt ba cái thì tuyết rơi sương giá, trời đất đều biến sắc."
"Thế thì có khác gì quạt Ba Tiêu trong Tây Du Ký đâu?"
"Tuy không phải, nhưng cũng không thua kém đâu."
Tôi hỏi Oai Linh Công:
"Hai người hầu quạt này vì sao lại không ở đây?"
"Đầu thai xuống phàm trần rồi."
"Đầu thai vào nhà nào?"
"Vào nhà Đào Đồng."

Tôi vừa nghe là Đào Đồng thì vô cùng kinh ngạc. Đúng thật là không uổng công đi xa để tìm kiếm, đã có thể dễ dàng tìm được. 
"Đào Đồng vận mệnh vốn không có con!" - Tôi nói. 
"Đúng vậy." - Oai Linh Công đáp.
"Vì sao số mệnh không có con, nhưng hai người hầu quạt lại đầu thai vào nhà ông ta?"
"Đào Đồng đã đến miếu của tôi, cầu thỉnh tôi nhiều lần. Tôi nhìn thấy mặt ông ta có khí đen, mặc dù ông ta rất chân thành nhưng tôi đều chưa đáp ứng."
Oai Linh Công nói tiếp:
"Sau đó có lệnh của Ngọc Hoàng, muốn Oai Linh Công tôi ban hai vị hầu quạt cho Đào Đồng, khiến cho đường con cái ông ta được rạng sáng."
"Cải biến vận mệnh."
"Không sai."
"Vì sao mà lại đổi được vận mệnh?"
Oai Linh Công đáp: 
"Việc cải mệnh này là bởi một chuỗi nhân quả, tôi cũng không rõ cụ thể. Nhưng tôi biết Đào Đồng cứu được mạng sống một cô gái tên là Ngô Yến. Đồng thời ông ta tâm địa trong sạch, từ chối tà dâm, nên được sống thêm 20 năm, có được nhiều lợi lộc, lại được trời ban cho hai con trai. Tương lai của hai đứa con trai này đều rất xuất chúng, nhiều phúc lộc, sẽ không bị nghèo đói. Về sau Đào Đồng lại đến miếu của tôi. Tôi thấy tướng mạo ông ta cũng thay đổi, quả nhiên có hào quang đỏ bao phủ, khí sắc thay đổi cả."
"Hóa ra là như vậy."
Tôi cùng Oai Linh Công trò chuyện vô cùng vui vẻ. 

🍃

Sau này có lần gặp lại Đào Đồng, tôi nhắc đến việc thay đổi số mệnh. Tôi nói hai đứa con trai của ông là hai vị hầu quạt trời xuống. 
Đào Đồng hồi đáp: 
"Thật là đúng lắm. Bởi vì trước hôm sinh bé, quả nhiên tôi mơ thấy muôn vàn ánh sáng rực rỡ chiếu xuống bao phủ trên nóc nhà. Trên không trung hạ xuống hai cái quạt. Hai cái quạt này không phải là loại quạt thường thấy, là quạt cổ, những nếp quạt rất tinh tế, nhìn thấy vô cùng rõ ràng. Mơ xong, vợ tôi liền sinh con. Giấc mơ này vô cùng kỳ lạ, không dám nói với ai. Hôm nay ngài nói rồi thì tôi mới nói."
"Có liên quan đến việc của Ngô Yến."
"Ngài biết rồi à?"
"Mời ông tự mình kể rõ."

Thế là Đào Đồng kể về câu chuyện mà chính ông ta gặp phải. 

🍃

Một đêm, Đào Đồng đi dạo bên bờ sông, trông thấy một cô gái trẻ tuổi đứng bên bờ sông khá lâu. Sau đó không ngờ cô ta từ từ đi xuống giữa lòng sông, thoáng một cái đã sắp chìm không thấy đâu. 

Khi đó đã rất khuya, bốn phía không có người, ông ấy bèn hô to mấy tiếng cứu người, nhưng không thấy có ai tới. Đào Đồng gần như không nghĩ ngợi gì mà chạy tới, lao xuống nước cứu người. 

May thay Đào Đồng khi còn trẻ là người nhái trong đội Hải quân lục chiến, lại thường thích bơi lội. Đã trải qua huấn luyện cứu hộ nên ông ấy rất nhanh chóng đã cứu được cô gái lên bờ. Hỏi tên họ, chính là Ngô Yến. Đào Đồng hỏi cô ta nguyên nhân. Ngô Yến đáp, bởi vì tuổi trẻ non nớt nên bị tập đoàn cờ bạc lừa đảo thua mất ba triệu Đài tệ. Sau đó cô bị công ty đòi nợ cho người hàng ngày bám theo đòi tiền. Cô sợ người nhà bị liên lụy, bản thân không có đường sống, nợ cũng không thể trả được, cho nên mới tìm đến đường chết. 

Đào Đồng nghe xong, tự nhiên động lòng trắc ẩn, bèn giúp đỡ Ngô Yến trả hết nợ cờ bạc. Ngô Yến vô cùng cảm kích Đào Đồng không những cứu sống, lại còn giúp đỡ cô ta trả hết nợ, bản thân việc trả nợ này không khác gì cứu sống cô thêm một lần nữa. Ngô Yến biết rằng Đào Đồng không có con nối dõi bèn tình nguyện hiến thân, tự nguyện làm vợ bé để sinh con cho Đào Đồng. 

Vợ của Đào Đồng thấy Ngô Yến trẻ tuổi, cũng khá ưa nhìn. Bà thấy người này chỉ là nhất thời lỡ bước, tính tình lương thiện, nên cũng đồng ý cho Đào Đồng lấy về làm vợ bé. Nếu như sinh con trai thì cũng là ý tốt của ông trời. 

Tuy nhiên Đào Đồng nói: 
"Nếu làm thế là lợi dụng người trong lúc khó khăn, ấy là bất nhân. Vốn dĩ lúc đầu có ý tốt nhưng rốt cục lại là dâm dục, ấy là bất nghĩa. Chồng già vợ trẻ, là hành vi không đứng đắn, không có luân lý." - Đào Đồng một mực từ chối. "Tôi thà không có con, nhất định không làm như thế." 

Ngô Yến và vợ Đào Đồng nhiều lần khuyên ông ta lấy vợ sinh con, nhưng Đào Đồng luôn kiên quyết từ chối, từ đầu tới cuối đều không đồng ý. Sau đó không lâu, vợ Đào Đồng tự nhiên lại có thai, khi đi khám thì lại là song thai.

Đây chính là:
*Vận mệnh đổi thay thật kỳ diệu
Phú quý cát tường cùng kéo đến
Cứu người bỏ dâm là chân thiện
Thuận buồm xuôi gió vận mở ra.*

🍃

Đào Đồng từng kể chuyện này với một vị pháp sư xuất gia. 
Pháp sư này phán: 
"Nói như thế, nếu ông không sinh con, Lư Thắng Ngạn xem bói là chuẩn. Ông sinh con rồi, Lư Thắng Ngạn lại nói, việc xảy ra là có nguyên nhân, vận mệnh thay đổi, như vậy cũng là chuẩn. Vậy bói tới bói lui đều là Lư Thắng Ngạn đúng, tôi thấy thần toán thế này có thể tin được không? Lư Thắng Ngạn có thể tin được không?" 
Đào Đồng trả lời:
"Kinh Phật có nói, thế gian có định pháp, cũng có bất định pháp, mọi việc vô thường, mọi thứ đều nằm trong sự biến đổi. Bản thân Phật Đà cũng không tán đồng Túc mệnh luận, ngài vốn cho rằng vận mệnh có thể thay đổi được, vì vậy có thể học để lập mệnh. Mục đích của thần toán không có gì khác ngoài dạy người ta đạo lý tìm may mắn tránh rủi ro, dù chỉ nghĩ đến thôi cũng đã là một việc tốt. Đối với việc của tôi, là do nhân duyên quả báo, không có con là do mệnh, có con là do vận, đây cũng chính là sửa vận mà thôi."
Pháp sư hỏi: 
"Làm sao biết được Lư Thắng Ngạn bói toán đúng hay không đúng, hay là dùng phương pháp này để trốn tránh trách nhiệm?"
Đào Đồng đáp: 
"Lư Thắng Ngạn đã biết chuyện về Ngô Yến rồi."
"Không phải là ông ta điều tra trước mà biết sao."
"Việc này…" - Đào Đồng không trả lời được. 

Pháp sư nhận định: 
"Lư Thắng Ngạn là xấu, cũng là ngoại đạo."
Đào Đồng trả lời:
"Hoạt Phật đã từng dạy chúng tôi cái gì là tà, phải giữ năm giới làm mười việc thiện, cũng có nghĩa nếu làm ngược lại sẽ là tà. Không giữ năm giới, không làm mười điều thiện, chính là làm ác tạo nghiệp, đồng nghĩa là tà giáo. Thế còn cái gì là ngoại đạo, trong Phật điển cũng có giảng, ngoại đạo có rất nhiều nhưng tóm lại, cầu pháp nằm ngoài tâm là ngoại đạo. Hoạt Phật dạy chúng tôi, Phật pháp chính là tu tâm Phật để chết đi được siêu sinh, minh tâm kiến tính là chính đạo."
Pháp sư nghe xong không có lời gì để nói. 

Nhưng rồi pháp sư lại tranh luận: 
"Nghe nói ông ta lừa tiền!"
Đào Đồng nói: 
"Hoạt Phật một đời làm việc đều để mọi người tùy tâm tùy ý, sao có thể nói là lừa tiền. Tài sản của Lôi Tạng Tự ngài cũng không lấy."

Pháp sư á khẩu, rồi lại nói: 
"Nghe nói ông ta lừa tình!"
"Ngài trông thấy rồi à?"
"Chưa." - Pháp sư bổ sung: "Đều là nghe người ta nói vậy."
Đào Đồng đáp:
"Tôi đã biết Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn nhiều năm rồi, khoảng thời gian có liên lạc cũng không thể tính là ngắn. Mỗi ngày ngài đều chỉ có viết sách, vẽ tranh, tu pháp, thỉnh thoảng giúp người gặp ác nạn. Đến nay viết sách xuất bản cũng đã được hơn 140 cuốn sách, tu pháp thì không ngày nào gián đoạn. Con người này luôn hết lòng đồng cảm với thế gian, giữ gìn chân tính. Con người này lời nói và hành động như một, thế gian liệu có được mấy người. Trong công việc thì để người ta tùy hỷ, người ngoài có thể không biết chứ ai tiếp xúc với ngài đều biết. Ở ngoài đồn đại ngài lừa tiền, thật vô cùng oan uổng. Mặc dù bên ngoài bị người ta phỉ báng nhiều như vậy, ngài vẫn thản nhiên không dao động. Ngài chỉ nói với chúng tôi hai câu. Một là không cần phải giải thích, học nhẫn nhục ba-la-mật. Hai là nhờ đó mà tiêu nghiệp chướng. Ba mươi năm bị phỉ báng, ngài đã học được sự khoan dung bao la. Hơn nữa, đức độ của ngài đến quỷ thần cũng ngưỡng mộ."

Pháp sư không nói lời nào nữa. 

🍃

Đào Đồng về kể lại với tôi chuyện này. Tôi cũng không nói gì.

Trong lòng tôi nghĩ, một đời này học Phật tu đạo, siêu sinh thoát tử mới là chuyện quan trọng, những thứ khác đều là cành lá thôi. Đối với những đồn đại phỉ báng bên ngoài, từ trước đến nay tôi đều không để ý. 

Bởi sinh tử đại sự, tôi học pháp tu Mật, đóng cửa khổ luyện, đến giờ mới coi như được minh tâm kiến tính, biết thập phương Phật, biết lục đạo luân hồi. Lẽ ra cũng muốn hé lộ toàn bộ thiên cơ, nhưng e rằng người xấu biết được thì tôi cũng khó thoát khỏi sự soi xét của ông trời. 

Nói về Phật pháp thì vô cùng tận, những gì tôi đạt được đều thực sự là như vậy, nhưng người thế gian không biết. Làm sao thức tỉnh con người đang ngủ mơ trong thế gian đây? Tôi nói thật mà người thế gian vẫn nghĩ là giả.

Sư phụ tôi cũng đã cảnh báo tôi, người đã đắc chân đạo chỉ có ba lựa chọn: 
Một, lập tức nhập Niết bàn (viên tịch).
Hai, đốn nhập sơn hải (ẩn cư).
Ba, giả điên giả khùng (ngụy trang).
Nếu như không làm như vậy sớm muộn sẽ bị người hại chết, khả năng sống không cao. 

Tuy vậy, con người này của tôi chính là không đành lòng nhìn người đời trầm luân trong hồng trần cuồn cuộn, không nỡ nhìn biển khổ chúng sinh xương cốt như núi. Cho nên tôi chỉ có cách viết sách truyền pháp. 

Ngày qua ngày, năm qua năm, tôi sẽ ở bờ bên kia chờ đợi vậy! Còn đối với những lời đồn đại ở bên ngoài, cứ để kệ chúng đi!


### 13. Người trong mộ


Ban đêm nguyên thần của tôi đi dạo, chỉ là dạo chơi trong mười phương pháp giới không có mục đích gì cụ thể. 

*Hư không vốn dĩ thiên ngoại thiên
Ngộ đạo ta làm Đại La Tiên
Vạn quyển kinh sám đều vô dụng
Sinh tử vốn đến từ tâm điền.*

Tôi đến một thành phố ở thế giới cõi âm. Thành phố này đang lúc rất nhộn nhịp, người đông đúc, có nhiều người là thương gia, ăn, mặc, ở, đi lại trăm thứ đều có. Cũng có những quán ăn vặt, quán cóc, rất náo nhiệt. 

Tôi đi tản bộ trên đường lớn, chiêm ngưỡng những phong cảnh đẹp đẽ ở nơi đây, tự nhiên cảm thấy chỗ này có vẻ rất giống nơi náo nhiệt nhất ở khu Đông Đài Bắc, xe cộ nườm nượp. 

Đang đi tà tà, bỗng nhiên trước mặt tôi xuất hiện một cô gái trẻ xinh đẹp. Lúc đầu cô ta cúi đầu đi, sau đó ngẩng đầu lên, nhìn thấy tôi ngay trước mặt thì kêu "a" một tiếng.

Tôi hoàn toàn không để ý đến tiếng kêu "a" của cô gái này lắm, bởi việc tôi đi lang thang ở thành phố này thực sự cũng tương đối khác thường rồi. 

Thành phố này là thành phố của ma, thân ma không có ánh sáng, nên nếu thân có ánh sáng thì đúng là khác thường. Còn tôi, tôi là thân ánh sáng, ánh sáng cực kì mạnh, giống như ánh sáng cầu vồng. Nếu cô gái này đi qua kêu "a" lên vì thấy lạ thì tôi đương nhiên là không để ý. 

Cô gái này dừng chân, hét lên với tôi: 
"Lư Thắng Ngạn!"
"Ui chà!" - Ở đây quả nhiên có người nhận ra tôi. 
"Cô quen tôi hả?" - Tôi cảm thấy tò mò. 
"Đương nhiên, tôi là độc giả lâu năm của ngài, sách của ngài xuất bản hầu hết tôi đều có, cũng đều đọc hết rồi."
"Cô tên là gì?"
"Tạ Kỳ."
"Tên nghe rất hay, người cũng rất đẹp."
"Cảm ơn!" - Tạ Kỳ rất vui.

Tạ Kỳ nói tiếp: 
"Gặp được ngài ở đây, thật là tốt quá. Tôi nghĩ, vận may có thể rời khỏi đây của tôi đến rồi. Tôi sẽ có thể rời khỏi thành phố này, đi đến một nơi tốt đẹp hơn."
"Tôi không thể nào đem cô đi." - Tôi có chút kinh ngạc. "Tôi không thể nào cứ thế đem cô đến một pháp giới khác được."
"Ngài nhất định sẽ giúp tôi, không phải thế sao?"
"Giúp là giúp, nhưng không thể nào đem một ma nữ theo bên cạnh được."
"Cái này đương nhiên." - Tạ Kỳ nói: "Thời khắc đã đến rồi, xin ngài làm ơn dùng đại lực gia trì."
"Làm sao cô biết tôi sẽ giúp cô?"
"Ma có ngũ thông." - Tạ Kỳ cười, khi cười cô giống như hoa hồng đang nở, vô cùng xinh đẹp, khiến người khác rung động. 

Chúng tôi đến một tiệm cà phê gần đó uống cà phê. Tạ Kỳ gọi một ly Jamaican Blue Mountain coffee.
Tôi lắc đầu nói: 
"Tôi không uống cà phê."
"Vì sao?"
"Không ngủ được."
"Ở đây có bán loại không có caffein."
"Chà! Hóa ra thành phố âm phủ này cũng đã phát triển đến mức này rồi, cũng có bán loại cà phê không có caffein, vậy thì tôi uống một ly cappuccino không có caffein."

Tôi cùng Tạ Kỳ trò chuyện rất vui vẻ. Tôi hỏi cô ấy vì sao chết. Vẻ mặt cô đột ngột thay đổi, than thở: 
"Đại gia lấy vợ bé chỉ để có con nối dõi, cần gì phải chọn gái trẻ đẹp chứ. Gái trẻ đẹp cũng chỉ là cái đầu lâu má phấn tô son mà thôi, tất cả đều chỉ là ảo ảnh ngắn ngủi. Đại gia mải yêu chiều gái đẹp, trong khi vợ cả ở nhà thì lạnh lẽo cô đơn. Lúc nào cũng đắm chìm trong thú vui dâm đãng, họ đâu biết là thực sự nguy đến tính mạng."
"Cô là vợ bé của người ta à?"
"Đúng vậy."
"Vợ bé cũng tốt mà. Các ông đều thích vợ bé!" - Tôi nói. 
Tạ Kỳ thở dài: 
"Sau vợ bé lại có vợ bé nữa, Lư Thắng Ngạn, ngài có hiểu không? Có tiền người ta lấy bốn, năm vợ cũng không thấy là nhiều đâu!"
"Đúng là như vậy!"
"Đúng là lũ đại gia!" - Tạ Kỳ nói. 
"Thế còn cô?"
"Nhảy lầu chết."
"Thật là nhảy lầu chết à?"
"Đương nhiên là thật." - Tạ Kỳ nói: "Tôi tức khí ầm ầm đi nhảy lầu luôn."
"Không phải trong sách tôi đã khuyên người ta không nên tự sát sao?"
"Vào lúc đó đầu óc tôi đều trống rỗng, thật không nghĩ đến điều này."
"Vậy cô ở thành phố này thì có gì là không tốt?"
"Lư Thắng Ngạn, ngài rốt cục thực sự không biết hay là giả vờ không biết? Người tự sát, cứ mỗi khoảng thời gian rất ngắn hoặc vào ngày mồng một âm lịch đều sẽ phải chết lại một lần, thảm thương vô cùng, đau thấu tim gan. Thành phố này nhìn bên ngoài thì vậy, nhưng mà ở trong thì nội tâm ai ai cũng thê thảm."
"Ôi!" - Tôi trong lòng cũng thấy thê lương. 
"Thế nên cầu thỉnh ngài giúp tôi rời khỏi thành phố này." - Tạ Kỳ nói.
Tôi gật gật đầu. 

🍃

Lại kể chuyện có một ngày kia, có người tên Trần Đức đến tìm tôi. Trần Đức này tướng mạo cao lớn, mặc quần áo vest. Sau khi vào phòng cởi áo khoác ngoài ra, anh ta nới lỏng cà vạt, lấy tay chỉ chỗ cổ cho tôi xem. Tôi nhìn thấy một khối u to như quả trứng gà. 
Trần Đức nói: 
"U ác tính."
"Phẫu thuật chưa?"
"Bác sĩ bảo mổ, nhưng u ác này đã phát triển rất to, đã phạm vào dây thần kinh, phẫu thuật rất khó khăn. Dùng hóa trị thì tóc sẽ rụng hết, người cũng sẽ gầy rộc, vi huyết mạch cũng sẽ vỡ. Vẫn còn đang nghiên cứu xem nên chữa trị như thế nào."
"Tôi sẽ thiền định, kiểm tra cái u ác này giúp anh!"
"Tốt quá!"

Tôi nhắm hai mắt, tập trung tinh thần, thiền định đi đến nơi "tự nhiên hóa hiện", cũng là nơi tùy tâm tự đến. Đây cũng là Không, trong Không sẽ có tin tức. Trong sự vắng bặt mênh mông tất sẽ có sự sáng tỏ. Giây phút này, tôi là vô tri nhân. [Vô tri là không dùng ý thức để nhận biết. Ý của tác giả ở đây là ngài nhập định để tâm không, không chấp trước, không dùng ý niệm trước để gán ghép, định danh cho sự vật và hiện tượng. Như mặt nước phẳng lặng, để cái gì thuận duyên theo chiêu cảm sẽ tự nhiên nổi lên mặt nước vậy. Nhờ đó sự kiện muốn xem sẽ tự hiện ra chính xác mà không bị bóp méo bởi tâm chấp trước.] Vô tri nhân thì mới cảm nhận được âm dương. Điều này được gọi là trong tĩnh có động, hoặc là trong động có tĩnh. Tri là ngộ - thấy biết, và không nhận biết thì cũng là vô tri vậy. 

Giống như lúc trước có người hỏi: "Gà có trước hay trứng có trước?"

Vấn đề này quả nhiên không dễ trả lời. Bởi vì gà từ trứng nở ra, do đó trứng có trước mới đúng. Thế nhưng trứng lại do gà đẻ ra, nên gà có trước cũng đúng. Không có gà, làm sao có trứng? Không có trứng, làm sao có gà? Vấn đề này bàn tới bàn lui, tranh cãi cả ngày cũng không đạt được kết luận gì. Mọi người liên tục tranh luận không có hồi kết. 

Nhưng người tu thiền thì biết: 
1. Khi thế giới còn hỗn mang, căn bản là không có trứng cũng không có gà.
2. Hai khí thanh - trọc phân chia. Cơ bản thì có thể coi thanh khí giống như lòng trắng trứng, trọc khí giống như lòng đỏ trứng. Cũng có thể nói, thanh khí nhẹ bay lên trên trời, trọc khí nặng hạ xuống dưới đất.
3. Trời đất âm dương giao cảm, hai khí thông linh với nhau, cũng như vô cực sinh thái cực vậy. 
4. Thái cực sinh âm dương. Lúc này giống như trứng nở ra gà. 
Nhờ vào thiền định, vị thiền giả sẽ biết đáp án của câu hỏi này là: "Trứng có trước rồi mới có gà." Nếu hiểu được đạo lý này sẽ biết được chỗ của thiên cơ.

Tôi (Lư Thắng Ngạn) hiểu được đạo lý trên, nhờ đó tôi đủ khả năng nhìn thấy được chút đạo lý từ khối u ác tính này. Khi phân tách từng lớp của khối u, tách đến tận cùng, tôi nhìn thấy bên trong có linh quang. Có một con ma ngồi ở trong đó, con ma này trông rất quen. Tôi nhìn kĩ hơn một chút nữa, không ngờ lại là Tạ Kỳ. 
Tôi hỏi: 
"Nhà cô ở chỗ nào đó?"
Đáp: 
"U ác."
"Bác sĩ mổ khối u đi thì cô sẽ đến ở chỗ nào?"
"Ở khắp nơi trên thân thể."
"Nếu hóa trị toàn thân thì sao?"
"Ở hư không cao nhất."
Tôi nói: 
"Tạ Kỳ, cô đừng tranh cãi với tôi, ở hư không cao nhất ư, cô sẽ không có năng lực đó đâu. Cô chỉ có thể quay về thành phố địa ngục mà thôi."
"Không sai. Bây giờ tôi cầu xin ngài độ hóa."
"Cô thực là muốn độ hóa đến phát điên rồi, tự nhiên vô duyên vô cớ chui vào trong cơ thể Trần Đức, hại Trần Đức có u ác, cô làm như vậy là hoàn toàn không có đạo lý."
Tạ Kỳ đáp: 
"Tôi không làm những việc không có đạo lý. Đây là Trần Đức tự làm tự chịu, không trách tôi được, đều là có nhân duyên cả."
"Nhân duyên gì?"
"Ngài tự đi hỏi Trần Đức đi!"

Thế là tôi từ trong thiền định xuất ra, mở hai mắt. Tôi nói với Trần Đức:
"Có một con ma chết oan tên là Tạ Kỳ đang ở trong khối u ác trên cổ anh. Cô ta nói với tôi, cô ta với anh có một chút nhân duyên cho nên mới đến ở trong cái u ác đó. Không biết là anh có biết chuyện của oan ma tên Tạ Kỳ này hay không?"
Trần Đức nghe xong thì hốt hoảng. Anh ta kể lại:
"Tiết Thanh Minh năm nay, tôi đưa cả gia đình lên núi tảo mộ. Người nhà nhổ cỏ dại và dây leo quanh mộ của tổ tiên, dọn dẹp cực kì sạch sẽ. Tiếp đến là bày đồ ăn hoa quả lên bàn cúng, toàn là những món tổ tiên khi còn sống thích ăn. Nổi lửa châm hương, cả nhà cùng nhau cúng bái cầu nguyện tổ tiên. Cuối cùng thì đốt vàng mã."

Lại nói, tục Thanh Minh tảo mộ của người Trung Quốc với tục Thanh Minh tảo mộ của người Tây vốn có nhiều chỗ không giống nhau. Người Trung Quốc cúng tổ tiên đồ ăn uống. Người Tây cúng tổ tiên mỗi hoa. Trước đây người Tây cười dân Trung Quốc đúng là mê ăn uống, cúng đồ ăn như thế người trong mộ có thể bò ra ngoài để ăn cúng phẩm được đâu. Tuy nhiên người Trung Quốc cũng phản bác lại người ngoại quốc rằng, người Tây vào tiết Thanh Minh cúng lên bó hoa tươi thì người Tây trong mộ cũng có bò ra để nhận hoa được đâu.

Tổ tiên của Trần Đức có ra ngoài để ăn đồ cúng được không, Trần Đức đương nhiên cũng không biết. Trong lúc cúng bái, Trần Đức cảm thấy rất vô vị bèn đi loanh quanh các khu mộ. Anh ta nhìn thấy phía bên phải, cách khoảng 30 mét có một ngôi mộ mới, liền đi tới xem. Trên bia mộ của ngôi mộ mới này khắc mấy chữ là "Mộ của ái nữ Tạ Kỳ".

Trần Đức vừa nhìn đã biết ngay đây là người đầu bạc tiễn người đầu xanh, trong mộ là một thiếu nữ trẻ. Khi nhìn kĩ hơn thấy trên bia mộ có một tấm ảnh, anh ta tiến lên phía trước để xem. Thì ra đó là một cô gái có dáng hình rất dễ thương, có đôi mắt to, gương mặt thanh tú, vô cùng xinh đẹp. 

Trần Đức trong tích tắc đã bị mê hoặc luôn. Trần Đức kêu lên một tiếng: "Thật đáng tiếc."
Trần Đức vô tình chắp hai tay: "Tương lai tôi lấy vợ, chỉ cần xinh đẹp như người trong mộ này là tốt rồi."
Trần Đức còn lấy máy ảnh chụp lại hình của Tạ Kỳ trên bia mộ, lén đem rửa ra một tấm, đem theo bên mình. Anh ta nghĩ, chỉ cần có được người vợ xinh đẹp như Tạ Kỳ là tốt lắm rồi. 

🍃

Tôi nghe xong câu chuyện của Trần Đức, cảm thấy không thể tưởng tượng được. 
Tôi hỏi: 
"Anh thật sự làm như vậy hả?"
"Thật."
Trần Đức lấy từ trong ví ra một tấm ảnh. 
Tôi vừa nhìn thì đúng thực là Tạ Kỳ. 
"Thật là không thể tưởng tượng được, anh bị sắc đẹp mê hoặc rồi, đến mức làm cả việc như thế này! Chẳng trách bị oan ma này bám lấy thân."
"Vậy giờ phải làm sao?" - Trần Đức sợ hãi. 

Tôi nói với Trần Đức, tôi cần dùng hai pháp. 
Pháp thứ nhất: cần làm một đàn thành, siêu độ hồn ma của Tạ Kỳ, đọc kinh trì chú. Dùng năng lực của kinh và chú giúp cho Tạ Kỳ an thân lập mệnh, chuyển thế đến nơi tốt đẹp hơn. 
Pháp thứ hai: tôi sẽ dùng pháp giếng vàng. Tôi lấy bút thần, chấm những chấm đỏ trên cái u ác, niệm: "Nhất họa thành giang, nhị họa thành hà, tam họa tứ họa thành kim tỉnh. Thử bút phi phàm bút, nãi thị Lư Sơn tú tài bút. Chỉ thiên thiên thanh, chỉ địa địa ninh, chỉ nhân trường sinh, chỉ quỷ chuyển thế khứ, cấp cấp như luật lệnh."

Câu chú nguyên gốc là: "Chỉ quỷ diệt vong". Tôi sửa thành: "Chỉ quỷ chuyển thế khứ".
[Chỉ quỷ diệt vong: chỉ vào quỷ, quỷ phải chết. Chỉ quỷ chuyển thế khứ: chỉ vào quỷ, quỷ đi tái sinh.]
Tôi yêu cầu Trần Đức đến chỗ tôi thêm vài lần. Pháp giếng vàng này có pháp lực lớn, việc chấm dấu đỏ trên khối u khiến khối u lần đầu đã tiêu bớt đi nhiều, lần hai thì thu nhỏ hẳn lại. Cứ làm như vậy bảy lần, khối u này trở thành nhỏ như hạt trân châu. Tôi làm tổng cộng mười lần pháp giếng vàng, quả nhiên khối u hoàn toàn biến mất, hoàn toàn nhẵn nhụi. 

Đây chính là:
*Bút thần chấm xuống hồn ma sợ
Hốt hoảng siêu thoát khỏi tam giới
Giếng vàng bí pháp truyền thế gian
Một tiếng sét vang thoát khổ ải.*

Trần Đức được cứu rồi. 
Trần Đức cũng không phải chịu khổ do phẫu thuật nữa. 
Nếu như Trần Đức không tìm đến tôi, không chừng anh ta sẽ phải làm phẫu thuật hoặc làm xạ trị hóa học. Một người đang vốn dĩ khỏe mạnh như vậy, phải chịu đau đớn đến sống dở chết dở. Chịu đau đến sống dở chết dở mà bệnh khỏi thì kể ra cũng còn tốt, nhưng nếu không khỏi thì cũng như sống mà chịu tội thôi. 

Trần Đức cầm ảnh của Tạ Kỳ định đưa cho tôi. 
Tôi nói: 
"Anh cầm lấy đi!"
"Không nguy hiểm à?" - Trần Đức sợ hãi. 
"Bây giờ không nguy hiểm nữa, để làm lưu niệm, lưu niệm, ha ha ha!"

🍃

Chuyện giống kiểu của Trần Đức, theo như tôi được biết, có rất nhiều ví dụ giống như vậy. Đây không phải là một câu chuyện đặc biệt duy nhất. 

Ví dụ thứ nhất:
Có một anh chàng biết tin cô gái trẻ hàng xóm qua đời. Anh ta với cô gái này cũng có thể coi là quen thân, nên khi cô gái chết anh ta đến viếng, ở cạnh quan tài mà than rằng: "Đáng tiếc, đáng tiếc."

Ngay đêm đó, người anh ta lúc nóng lúc lạnh, trong khi hoảng hốt thì anh nhìn thấy cô gái này. Cũng từ đó về sau mỗi ngày vào lúc 4 giờ chiều, anh ta lại cảm thấy có một luồng gió lạnh thổi đến, thân thể bắt đầu thấy lạnh, cảm giác như cô gái lại tới. Anh chàng nhận thấy bản thân dần dần yếu đi, tinh thần hoảng hốt, nửa đêm thường tỉnh dậy vã mồ hôi, trong lòng thì run sợ. 

Bác sĩ cho rằng anh ta bị cảm nên cho thuốc cảm. Sau đó anh chàng này tìm đến tôi, tôi vừa nhìn đã biết là bị "xung phạm".
Kiểu bị xung phạm này chỉ dùng hai cách:
Một là tống sát, đem người âm đưa đi. 
Hai là kết giới nhà, phòng ngủ, hoặc làm hộ thân trên chính người bệnh, khiến cho người âm không tới quấy rầy được. Làm vậy là sẽ ổn.

Vấn đề xung phạm, tôi đã nghiên cứu từ rất lâu. Có nhiều người dễ bị xung phạm, trong khi nhiều người khác lại không bị. Nhìn chung, ai có bát tự thấp [giờ, ngày, tháng, năm sinh] thì dễ bị xung phạm. Người có bát tự cao, dương khí mạnh thì không dễ bị xung phạm. 

Theo tôi biết, người sinh vào tháng 2 hoặc tháng 11 âm lịch có tỉ lệ bị xung phạm khá cao. Bị xung phạm nếu không nhanh chóng chữa trị, để thời gian kéo dài sẽ bị ám ảnh thần kinh, thấy thần thấy ma, nói năng lộn xộn, nhìn thấy ảo giác, nghe thấy ảo thanh, tâm thần bất bình thường. Theo danh từ của y học thì gọi là chứng hoang tưởng, ảo tưởng, trầm cảm, tâm thần phân liệt. 
Trên phương diện linh học thì gọi là xung phạm, bị nhập.

Ví dụ thứ hai:
Có một cô gái bị mắc bệnh đau khớp tay. Bệnh đau khớp tay này đã bị nhiều năm, đương nhiên cô ta đã đi khám Đông, Tây y đủ cả. Dán, bôi, uống, tiêm, châm cứu… Từ đầu tới cuối, bệnh đau khớp tay vẫn không chữa khỏi. Cuối cùng cô ta tìm đến tôi. 

Tôi thiền định quan sát, nhìn thấy trên khớp tay cô bị quấn quanh bởi hồn phách của một cậu con trai. Bệnh đau tay này rõ ràng là do bị xung phạm, khiến người ta mắc bệnh ngoài ý muốn. 

Tôi nhìn thấy cậu con trai này, và ngạc nhiên hơn, đây chính là bạn trai của cô gái. Chàng trai này nhiều năm trước bị chết đuối ở biển, khi đó cô gái đã vô cùng đau đớn tiếc thương. Tính toán thời gian cô gái bị đau tay và thời gian người bạn trai bị chết thì quả nhiên là trùng hợp. Tôi giúp cô gái này trị khớp tay bị xung phạm, lập tức khỏi ngay. Bác sĩ chữa trị thì nhiều năm rồi vẫn không chữa khỏi. Tôi lại chữa khỏi hết bệnh, thật cũng không tưởng tượng được. 

Ví dụ thứ ba: 
Có một cô gái cũng là kiểu người dễ bị xung phạm. Cô này chỉ cần gặp phải người đang có tang, hoặc là đi trên đường gặp phải đám tang, vừa trông thấy thôi thì đã không tránh kịp. Ngay khi về đến nhà là vận rủi sẽ đeo bám lấy không thể hết được. Sau đó cô sẽ bị nhức đầu, không ăn được cơm, buồn nôn, mất ngủ, tinh thần hoảng loạn, lúc nóng lúc lạnh, cầm dao thái rau cũng sẽ cắt trúng tay, đi đường cũng bị ngã khiến thân thể bị thương. Tóm lại là đen đủi nào cũng gặp phải. 

Có thể bạn sẽ cho rằng cô gái này là có bệnh tâm lý, lúc đầu tôi cũng có suy nghĩ như vậy. Sau này, khi bị xung phạm, cô ta tìm đến chỗ tôi lúc cơ thể bị sốt rất cao, hai mắt sụp xuống, quanh mắt có quầng thâm như gấu trúc. Nặng hơn nữa là phía sau người phụ nữ này thực sự có người âm đi theo. Lúc này tôi mới xác nhận rằng cô thực sự bị xung phạm. Vấn đề xung phạm của người phụ nữ này cực kì khó chữa khỏi. Bởi vì chữa xong sẽ bị lại, có chữa tiếp nữa cũng sẽ bị lại. 

Vì thế tôi dạy cô trì chú Bất Động Minh Vương, trong nhà cũng thờ Bất Động Minh Vương, tu pháp Bất Động Minh Vương, kết ấn Bất Động Minh Vương. Cô tu pháp rất nghiêm túc. Khi gặp phải đám tang, cô kết ấn đọc chú ba lần, Bất Động Minh Vương sẽ hiện thân bảo vệ, từ đó về sau đều không gặp phải bất kì chuyện gì nữa. 

Do vậy, tôi thường khuyên người có bát tự thấp, người có âm khí nặng hay người dễ bị xung phạm, cần đọc chú Kim cang, thờ Kim cang Hộ pháp, tu pháp Kim cang, thì sẽ được bảo hộ. Đây là một bí pháp bảo hộ vô cùng quan trọng. 

🍃

Theo tôi biết, con người sở dĩ bị xung phạm thường là do tâm ý đã động. Tâm ý đã động có căn nguyên từ dục vọng. Tâm ý đã động mặc dù vô hình, nhưng ma quỷ sẽ sớm biết được. Khi đã bị ma quỷ biết được thì sẽ dễ bị xung phạm (bị nhập). 

Tôi đã từng vào đến địa ngục Phong Đô, thấy có người phải chịu cảnh ngộ rất nặng nề. Những người lên 28 tầng trời hưởng phúc lành phần lớn là những người có tâm thanh tịnh không ham dục. Còn những người bị xuống địa ngục Phong Đô thì đại đa số đều là những người có dục vọng nặng. 

Tại địa ngục Phong Đô, tôi thấy nghiệp đen cao như núi, nghiệp bẩn sâu như biển. Nghiệp chướng của những người này cùng các loại việc ác khác nhau họ làm trong khoảng thời gian còn sống thực sự rất nhiều, ví dụ như: giết người, bắt cóc, cướp giật, phóng hỏa, trộm cắp, v.v… Trong số đó phạm vào nhiều nhất chính là tà dâm. Tội tà dâm con người dễ phạm, mà không chỉ dễ phạm, lại còn phạm rất nhiều lần. 

Theo nhân quả luân hồi mà nói:
Gian dâm với vợ người khác, chiếm đoạt con gái nhà lành sẽ phải ở trong địa ngục Phong Đô chịu khổ 500 kiếp mới được chuyển cõi giới khác. Được chuyển cõi thì sẽ thành động vật làm lừa, trâu, ngựa thêm 500 kiếp mới đủ để có thể lấy lại thân người. Được làm người rồi thì cũng không phải là người cao quý gì, mà sẽ chỉ được làm gái điếm. 

Gian dâm với quả phụ hoặc ni cô hoặc người tu hành đều bị đọa xuống địa ngục Phong Đô chịu khổ 800 kiếp mới được chuyển cõi. Chuyển cõi rồi sẽ bị làm dê làm lợn, bị giết làm thức ăn cho loài người thêm 800 kiếp nữa mới được trở lại làm thân người.  Được làm người rồi cũng không phải là người có được phẩm chất tốt đẹp gì, sẽ bị mù, câm điếc hoặc tàn tật. 

Những điều trái với luân thường, ví dụ như cha loạn luân với con gái, mẹ loạn luân với con trai, anh chị em loạn luân với nhau, người già loạn luân với người trẻ, người trẻ loạn luân với người già, nam loạn với nam, nữ loạn với nữ, sẽ phải ở trong địa ngục chịu khổ 1500 kiếp mới được chuyển cõi, chuyển cõi rồi thì thành rắn thành chuột. Lại thêm 1500 kiếp nữa mới được trở lại thân người, có được thân người thì cũng không thể sống lâu, hoặc là chết trong bụng mẹ hoặc là chết khi còn sơ sinh, không thể sống để hưởng cuộc sống được. 

Còn những người viết sách khiêu dâm, sách được xếp loại dâm dục khiến tâm trí con người ta bại hoại, tội này nghiệp càng nặng. Chết sẽ rơi vào địa ngục vô gián, địa ngục này muốn thoát ra tương đối khó, phải đợi đến khi sách khiêu dâm hoàn toàn không còn tồn tại nữa thì mới có thể ra khỏi địa ngục vô gián. 

Tôi đã từng nói, sự tai hại của sách khiêu dâm trên thực tế là không thể kể hết được. Những cô gái trẻ xuất thân từ gia đình có giáo dục một khi đã tiếp xúc thì rất dễ bị dẫn dụ, hồn xiêu phách tán, rất khó kiềm chế được lửa dục khi đã cháy lên, trở thành gái làng chơi, gái lẳng lơ. 

Sách khiêu dâm, tranh ảnh khiêu dâm khiến phụ nữ thủ tiết thì mất danh tiết, khiến con gái còn trinh thì mất trinh tiết. Còn những sinh viên trẻ tuổi, vừa thấy sách dâm tranh dâm thì dục vọng nổi lên hừng hực, sẽ nhiễm thói quen xấu là thủ dâm. Việc này không chỉ có con trai mà con gái cũng nhiễm. Người trẻ tuổi thủ dâm không kiểm soát được dẫn đến thân thể bị ảnh hưởng, bị chết yểu, hoặc mắc phải năm, bảy thứ bệnh. 

Sách khiêu dâm chỉ hại đến bản thân mình thì không nói làm gì, nhưng nếu viết và truyền bá sách ảnh khiêu dâm thì sẽ còn làm loạn tâm trí, làm hại đến luân thường kỉ luật của vô số người khác nữa. Họa dâm này còn lớn hơn nhiều. Do vậy tôi cho rằng sách ảnh khiêu dâm gây họa lớn vô cùng.

Tôi biết, biển nghiệp mênh mông, khó từ bỏ nhất chính là sắc dục. "Tiền, sắc, danh, ăn, ngủ", năm loại ham muốn này đều vốn không dễ từ bỏ. Trong đó khó bỏ nhất chính là sắc dục. Tại cõi Ta Bà này, thế gian nhiều hỗn tạp, trong việc nam nữ giao tiếp hàng ngày, dễ phạm nhất chính là hai chữ "tà dâm".

Tôi thấy, các anh hùng cái thế "dời núi lấp sông" vừa gặp sắc dục là biến thành con gấu đen [tiếng lóng, chỉ kẻ ngốc]. Có một số nhân tài rất ưu tú, vừa gặp sắc dục thì danh tiết bại hoại, tiếng tăm tuột dốc. Từ xưa đến nay, bất kể là thánh hiền hay là phàm ngu thì cũng đều là một dạng giống nhau cả. 

Thế giới ngày nay không giống như thời trước. Trong thế giới ngày nay, các trào lưu liên quan đến sắc dục ngày càng thịnh hành, đủ loại sách tình dục ngập tràn, đạo đức thời xưa đã bị quên lãng. Là thanh niên hay là người già, ai ai cũng suy nghĩ nông nổi, thích gái làng chơi, hay còn gọi là "gái hư". 

"Thanh sắc khuyển mã" [thanh chỉ múa hát, sắc chỉ nữ sắc, khuyển chỉ thú vui nuôi chó, mã chỉ thú vui cưỡi ngựa, ở đây phiếm chỉ lối sống xa hoa buông thả suy đồi của vua chúa ngày trước] nay đã thành điều quen thuộc bình thường, mọi người đều như thế, không còn cảm thấy e ngại nữa. Mọi người nói chuyện đều thích nói chuyện ong bướm tục tĩu, nghe chuyện sắc tình. Mặt khác, những cơ hội cho dâm dục tăng gấp bội, dục niệm ngày càng cháy dữ dội. Nếu cứ để như vậy, tâm sẽ luôn luôn làm nô lệ cho những thứ bên ngoài, còn trí thì sẽ bị cảm xúc dẫn dắt.

Chúng sinh thật tội nghiệp, từng người từng người cứ chìm vào biển khổ nghiệp đen, trở thành các phần tử của địa ngục. Cần phải biết báo ứng của dâm dục rất khủng khiếp!
1. Vợ con phải trả nghiệp thay.
2. Tiếng tăm sụp đổ.
3. Con cháu chịu quả báo.
4. Đang giàu thành nghèo.
5. Đang ở vị trí cao thành kẻ bị sa thải.
6. Đang sống thọ thành chết yểu.
7. Chịu cảnh lao tù.
8. Địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.

Chúng ta là người tu hành, phải nhìn rõ được "sắc tức là không". Giờ đây, ở đâu tôi cũng khuyên chúng sinh phải nhận ra cái tâm chứng ngộ, từ bỏ những chướng ngại của sự quyến rũ. Những thứ gọi là "phấn trắng phù dung" [đóa hoa phù dung phủ lớp phấn trắng – ám chỉ những cô gái trang điểm xinh đẹp] vốn dĩ chỉ là đầu lâu phủ thịt, "mặt hoa da phấn" cũng chỉ là da thịt máu phân, hôi thối vô cùng. Cần phải chú ý từng bước đi, cẩn thận dễ sảy chân lắm đó!
Mọi người hãy cùng ra khỏi sự mê hoặc, cùng quay lại con đường giác ngộ đi thôi!


### 14. Tướng trấn giữ Nam Thiên Môn


Hôm đó chính là ngày 9 tháng Giêng âm lịch, ngày đản sinh của Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn. Tôi theo các thần linh đến Linh Tiêu Bảo Điện chúc thọ. 

Các thần đến tham dự đều phải đi qua Nam Thiên Môn. 
Tướng giữ cửa Nam Thiên Môn không phải Tứ Thiên Vương, cũng không phải Tứ Thiên Quân, lại càng không phải là Tứ Thần Tướng, mà là Thác Tháp Thiên Vương Lý Tĩnh, chỉ huy Kim Tra, Mộc Tra, Na Tra.

Lần lượt từng người phải điểm danh mới có thể vào trong. 
Tôi đối với việc xếp hàng điểm danh thì cũng không có vấn đề gì, chỉ là hàng người rất dài, chờ đợi xếp hàng rất lâu, nên cảm thấy lãng phí thời gian. 

Về nguyên tắc: 
*Thập phương pháp giới trời biển rộng
Chỉ như sợi lông trong tay tôi
Nhập vào hư không là vô tận
Đâu cần xếp hàng tốn thời gian.*

Tuy nhiên các thần xếp hàng thì tôi cũng xếp hàng. Tôi không muốn làm con lạc đà giữa đàn cừu, nên tôi cũng sẽ theo phong tục. Vạn thần đều có thiệp mời, chỉ mình tôi là không có. Là do tôi tự đến, tự xếp hàng. 

Cuối cùng cũng đến lượt mình. Thần canh giữ tháp Lý Tĩnh thấy tôi không phải là thần, mà là người, bèn dọa tôi một phen:
"Người nào đến đây?"
Tôi đáp:
"Chính tôi."
"Thiệp mời có không?"
"Chính là Bản tính."
Thác Tháp Thiên Vương vừa nghe nói tới Bản tính, do cũng biết một chút thiên cơ nên không dám coi thường liền hỏi lại:
"Thế Bản tính từ đâu?"
"Từ linh quang mà ra."
"Linh quang an thân ở đâu?"
Tôi đáp: 
"Nơi quy y."
"Lại quy y ở đâu?"
"Ở Vô Phùng Bảo Tháp, tụng Chân Phật Kinh."
Lúc này Lý Tĩnh và Kim Tra, Mộc Tra, Na Tra, bốn vị vừa nghe Chân Phật Kinh chợt hiểu, nhận ra ngay: 
"Hóa ra là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn."

Bốn vị tướng giữ Nam Thiên Môn liền hướng về tôi chắp tay cúi đầu kính lễ. Vạn thần đều vô cùng ngạc nhiên. Trong tích tắc, tôi hóa thành thân ánh sáng, trụ tại hư không rộng lớn.

*Nơi tôi ngủ nhà tranh đất rộng
Chớp mắt đã lướt biển thăng không
Ngồi một chỗ quang minh thanh tịnh
Nơi tôi đi mười phương mênh mông.*

Tướng trấn giữ Nam Thiên Môn biết đây là điều lạ thường của thế giới Ta Bà, không thể tưởng tượng được, người phàm trần mà lại có khả năng huyền bí kỳ diệu như vậy.

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, chỉ có Phật và Phật biết, chúng sinh làm sao hiểu được? Chúng sinh nếu như hiểu được Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn thì sao còn gọi là ma, là tà, là quỷ, là lừa đảo, là tên hề, là kẻ đồi bại? Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn rốt cục là ai?
Nói cho bạn đây:
Tây phương một điểm linh quang xá lợi.
Bầu trời Nam Thiên Môn tiếng sét vang rền.

🍃

Lại nói chuyện vạn thần xếp hàng. Đến lượt một vị tên Tỉnh Tuyền Long Vương. Vị Long Vương này trên tay cầm thiệp mời chúc thọ. Tướng trấn giữ Nam Thiên Môn chuẩn bị cho phép Tỉnh Tuyền Long Vương vào trong Nam Thiên Môn. Đột nhiên trong không trung có một tiếng nói lớn: 
"Làm gì có kẻ dâm người hại người lại được vào trong Nam Thiên Môn."
Tỉnh Tuyền Long Vương sợ hãi, vội cãi: 
"Tôi không có, tôi không có."
"Vẫn dám nói là không có?" - Trong không trung hiện ra một con mắt trời. 
"A! Mắt trời như điện, từng li từng tí đều thấy rõ." - Chúng thần cảm thán. 

Tỉnh Tuyền Long Vương mồ hôi chảy ròng ròng, đổ sụp xuống đất không đứng dậy được. Bảo tháp của Thác Tháp Thiên Vương Lý Tĩnh liền phóng ra một luồng ánh sáng vàng, hút Tỉnh Tuyền Long Vương vào trong tháp. Một lúc sau, bảo tháp phóng thả Tỉnh Tuyền Long Vương ra thì vị này đã hóa thành tro bụi rồi. 

Chúng thần bàn tán với nhau. Hóa ra nơi ở của Tỉnh Tuyền Long Vương là miếu Long Vương ở một nơi trên biển. Trong đó có thờ phụng bốn vị Long Vương là Đông Hải, Tây Hải, Nam Hải, Bắc Hải, còn Tỉnh Tuyền Long Vương ở điện thờ bên cạnh, hương hỏa vô cùng thịnh vượng. 

Ở gần miếu Long Vương có một cô thôn nữ, cô thôn nữ này rất dễ thương, lại có khí chất thông minh, thường đến miếu Long Vương làm việc tình nguyện. Có một lần, cô thôn nữ đến trước Tỉnh Tuyền Long Vương xin quẻ hỏi chuyện tình duyên. 
Đây gọi là:
*Tình trời mênh mang
Ngọt ngào như mật
Trí huệ đều mê
Thôn nữ muốn gả.*
Rốt cục nhân duyên ở nơi nào?

Hôm đó cô thôn nữ ăn mặc rất lộng lẫy, gương mặt trang điểm thêm son phấn, càng nổi bật lên cái miệng anh đào xinh xắn. Mặc dù không phải tuyệt thế giai nhân, kiều diễm hơn người, quốc sắc phương dung, nhưng cũng là ngọc nữ giai nhân, thơm tho sạch sẽ. 

Thôn nữ xin quẻ, bói đi bói lại cũng không có được đáp án chính xác. Cuối cùng trong lòng cô cũng rối loạn, chỉ ước muốn mình có thể gả được cho ai đó, ngẩng đầu lên thì nhìn thấy tượng Tỉnh Tuyền Long Vương. Bức tượng này được chạm khắc tinh xảo, tướng mạo trông rất đẹp đẽ. 
Thôn nữ ước: 
"Nếu như giống Tỉnh Tuyền Long Vương thì cũng là tốt quá rồi!" 

Thế là Tỉnh Tuyền Long Vương ngồi trên pháp tọa nghe được, từ phía trên nhìn xuống, trong tích tắc đã hồn xiêu phách lạc. Lúc đó, Tỉnh Tuyền Long Vương cảm thấy tiếng nói nụ cười của cô thôn nữ ai thấy mà không yêu cơ chứ! Trong đầu bắt đầu hiện ra một màn kịch lộn xộn, vẽ lên một bức tranh với màn diễn bí mật, lột bỏ hết áo quần, không chừa chỗ nào. 

Tỉnh Tuyền Long Vương này đột nhiên vì một câu nói của cô thôn nữ mà đã rúng động tâm phàm. Kể từ đó, thường mỗi khi cô gái ngủ mơ, Long Vương hiện thân, thỏa mãn được ý thích. Long Vương - thôn nữ, hằng đêm ân ái giống như là vợ chồng vậy. 

Long Vương đã quên luôn quy tắc của thần linh: 
1. Tâm địa trong sạch.
2. Luật trời nghiêm giữ. 
3. Nuôi dưỡng tinh thần. 
4. Bảo vệ bách tính. 
5. Việc xấu không làm. 
6. Chuyên cần chăm chỉ.

Tỉnh Tuyền Long Vương đã phạm giới tà dâm. 
Trong đêm khuya thanh vắng, không ngờ rằng thần linh đã xâm phạm thôn nữ, không ngờ rằng thần linh đã xâm phạm tới con người. 

Hóa ra trong cõi vô hình, ông trời đã an định đạo lý giữa thần và người, đó là đạo lý bản thiện, người có ngày thụ thai của người, thần có ngày thụ thai của thần. Giờ đây loạn cả đạo lý thường tình, thần mất đi tư cách của thần, bại hoại đức hạnh, vi phạm luật trời, mất thần quang, xóa thần tịch của chính mình, phải bị đọa vào địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ. 

Cho dù là thần ở cõi trời thứ chín, Tam Đài Bắc Đẩu cũng phải giữ luật trời, hay dù có hạ cấp làm ba ông đầu rau [Táo Quân] thì cũng phải giữ luật như vậy. Tỉnh Tuyền Long Vương khó thoát khỏi sự tra xét của mắt trời, đương nhiên bị phạt nặng, thịt nát xương tan. 

Tỉnh Tuyền Long Vương đã đánh mất huyết mạch thần được truyền qua bao đời nay, đây là việc ngỗ nghịch nhất, tư cách làm thần sẽ bị xóa bỏ vĩnh viễn. Đồng thời thanh danh của họ tộc Long Vương cũng bị hủy hoại. Bị đến cõi âm làm quỷ, có thể nào không hận vô cùng! Trên đầu chữ "sắc" có một con dao mà! [Chữ "sắc" trong tiếng Hán 色 có phần trên là chữ "đao", cho nên nói rằng trên đầu chữ sắc có một con dao là vì vậy. Thành ngữ chỉ rằng việc đam mê sắc dục sẽ dẫn tới hậu quả đau đớn.]
Lúc này cái chết đã hé lộ ra rồi!
Sống tham vui thú nhất thời.
Chết chịu khổ đau vĩnh viễn.

🍃

Sau này, tôi có cơ hội đến miếu Long Vương ở bờ biển. Miếu này quả nhiên đẹp lộng lẫy huy hoàng, Tứ Hải Long Vương oai phong lẫm liệt.
Đến điện thờ bên cạnh thì thấy trên bàn cúng dường chẳng có vật gì, phía trên vẫn có viết mấy chữ nhỏ là "Tỉnh Tuyền Long Vương", nhưng tượng thì đâu rồi?

Tôi đi tìm trụ trì. Trụ trì nói: 
"Điện này xảy ra chuyện kỳ lạ!"
"Chuyện kỳ lạ gì?" - Tôi giả như không biết. 
"Chính là vào ngày 9 tháng Giêng năm ngoái, tượng thần tự nhiên đổ xuống bàn cúng, rơi xuống đất, do vậy mà bị vỡ. Hôm đó không mở cửa điện, không có ai vào miếu, việc tượng thần tự nhiên đổ xuống vỡ thực là vô cùng ly kỳ."
"Oa!"
Trụ trì nói tiếp:
"Tôi thấy tượng thần bị đổ, cũng tính là quét dọn sạch sẽ, chuẩn bị đến tiệm bán đồ thờ Phật hoặc đến xưởng điêu khắc để đặt làm một bức tượng mới về cúng dường."
"Sau đó thì sao?"
"Tối hôm đó, tôi ngủ mơ thấy Tứ Hải Long Vương đến nói với tôi, Tỉnh Tuyền Long Vương phạm luật trời, đã bị tước bỏ tư cách làm thần, không cần phải đúc tượng cúng dường nữa. Tôi gặp giấc mơ này không hẳn lập tức tin ngay. Xin quẻ thì cũng thấy như thế, nhưng tôi vẫn chưa tin hẳn, vẫn đi đến xưởng điêu khắc đặt làm tượng Tỉnh Tuyền Long Vương. Nhưng có điều lạ là mỗi lần đến để đặt làm thì người thợ làm tượng đều bị ốm. Khi khỏi ốm, muốn làm tượng thì lại ốm tiếp, đến mức người thợ này không muốn làm tượng Tỉnh Tuyền Long Vương nữa." 
Tôi càng tò mò: 
"Chuyện như thế thật là kỳ lạ, vậy rốt cục thì sao?" 
"Rốt cục thì là như thế đó, không có thêm rốt cục nào nữa." - Trụ trì nói. 

Đúng lúc tôi định rời đi, trụ trì đột nhiên chạy đến nói với tôi:
"Chúng tôi ở đây còn có một chuyện kỳ lạ nữa. Ven biển có một làng nhỏ, ở đấy có cô thôn nữ, trong thời gian đó bỗng nhiên có thể giúp người ta xem bói, có thiên nhãn, có thể xem nhân quả ba kiếp. Hỏi vì sao cô ta lại biết xem bói, lúc đầu cô ta không nói, sau đó mới tự nhận là do Tỉnh Tuyền Long Vương dạy. Cô ta xem bói rất chuẩn, ngài có thể đến đó xem xem."

Tôi theo lời của vị trụ trì này tìm đến cô thôn nữ. Chỉ vừa nhìn cô gái, tôi đã thấy trên người cô ta có khí của Tỉnh Tuyền Long Vương. Nói chung, khi thần khí nhập vào thân thể của người phàm, thân thể của người phàm này cũng sẽ được nhiễm một chút thần khí. Cô thôn nữ sử dụng chút thần khí này để xem nhân quả ba kiếp, thay thần xem bói, tuy vậy, dù chỉ dựa vào chút thần khí thì bói cũng đã rất chuẩn rồi. 
Cô thôn nữ xem thai, biết được sẽ sinh con trai hay gái. 
Cô nói trai thì sẽ là trai. 
Cô nói gái thì sẽ là gái. 
Chỉ dựa vào chút thần khí này cũng đủ để gây bàn tán xôn xao rồi. 

Tôi ngồi trước mặt cô thôn nữ, cô quan sát nhân quả ba kiếp của tôi. Cô kêu "hứ" lên một tiếng, lắc đầu, xong lại gật đầu, cuối cùng lại lắc đầu, bối rối nói với tôi:
"Xin lỗi, tôi không xem bói cho ông."
"Vì sao?"
"Xem cái gì cũng không thấy."
"Vì sao lại như vậy?"
"Tôi cũng không biết vì sao. Bình thường tôi xem nhân quả ba kiếp sẽ xuất hiện hai hình ảnh. Hình ảnh phía trước thể hiện kiếp trước, hình ảnh phía sau thể hiện kiếp sau, luôn luôn hiện lên rất rõ ràng trước mắt. Nhưng khi xem cho ông thì không thấy hình ảnh nào, không có kiếp trước cũng không có tiếp sau. Việc này... việc này... tôi cũng không hiểu."
"Không kiếp trước, cũng không kiếp sau, đây chính là không sinh không tử, cũng là thoát khỏi sinh tử, đây chính là chính đạo." - Tôi nói. 
Cô thôn nữ hỏi lại tôi: 
"Chính đạo là gì?"
Tôi đáp:
"Minh tâm kiến tính, thoát khỏi sinh tử, chính là chính đạo. Ngược lại, vẽ phù niệm chú, đạp mây đẩy sương, bay trên không trung, đạp bước Bắc Đẩu, hô sấm khiển tướng, vung đậu thành binh, ngũ độn biến hóa, tất cả pháp thuật đều không phải là chính đạo. Ngoài ra, xem sao đoán bệnh, tính toán bói mệnh, giỏi biết ba đời, cát hung họa phúc, cũng không phải là chính đạo. Còn nữa, vận chuyển khí công, hái thuốc luyện đan, uống sữa nuốt tinh, tất cả những thứ có hành động tạo tác, đạo hữu hình cũng không phải là chính đạo."
"Ông nói những điều này đều không phải chính đạo, nhưng chúng có hữu dụng không?"
Tôi đáp: 
"Những điều này chỉ được coi là bàng môn rẽ nhánh, có thể dùng để trợ giúp cho chính pháp, nhưng không thể giúp thoát khỏi sinh tử. Chúng ta là người học Phật, cần phải hiểu đạo lý đích thực, hiểu được trí huệ đại bát nhã của sinh tử. Biết vạn pháp do tâm sinh, vạn pháp do thức tạo. Tu hành phải đạt tới mức trời - người hợp nhất, Phật - ta hợp nhất, thân - tâm hợp nhất, đạt tới chân lý bất nhị - không hai. Đây mới là Chân Phật chân chính, là pháp môn Bất nhị."
Cô thôn nữ hỏi: 
"Có thiên nhãn, có thể xem nhân quả ba đời, cảnh giới này thế nào?"
"Sinh mệnh khó có, biển khổ khó thoát, Diêm Vương khó tránh, địa ngục khó trốn."
"Tôi cứ tưởng đã rất cao rồi!" - Thôn nữ nói. 
"Không cao, chẳng qua chỉ là nhiễm một ít rìa ngoài của thần khí mà thôi!" - Tôi đáp. 
Thôn nữ lại nói: 
"Ông nói ông đắc chính đạo, vì sao không hiện thân để tôi tin tưởng, tôi sẽ bái ông làm thầy!"
Tôi nói: 
"Được, cô dùng thiên nhãn xem thử xem!"
Thôn nữ dùng thiên nhãn xem thì kinh hãi, lập tức quỳ xuống khẩn thiết cầu xin quy y. 

Tôi nói với thôn nữ: 
"Hiện tại - quá khứ - vị lai, ba tâm này bất khả đắc. Bốn tướng nhân, ngã, chúng sinh, thọ giả đều không thể có. Lúc đó mới có thể tránh được lục đạo luân hồi, thật sự giải thoát."

Thôn nữ rốt cục nhìn thấy cảnh tượng gì vậy?
Hóa ra cô ta nhìn thấy nhụy hoa sen mới nở ngậm một viên ngọc, phía trên tọa ngồi một vị Như Lai chân thật, từ miệng tỏa ra ánh sáng vàng, đang giảng chân kinh. Người ngồi ở dưới nghe giảng kinh, không ngờ chính là Tỉnh Tuyền Long Vương. 
Đương nhiên cô thôn nữ lập tức muốn quy y tôi rồi.


### 15. Đại lạc chân chính


Tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) học Phật nhiều năm, từ kinh nghiệm của chính bản thân mình thấy rằng, trong năm giới của Phật giáo thì có giới sắc là dễ phạm vào nhất. Vì sao vậy? 

Bởi vì hạt giống của dục là từ bẩm sinh của loài người mà ra. Do con người vốn từ nhục dục sinh ra, nên không dễ dàng thoát bỏ. 
Cần phải thanh lọc tâm, giảm ham dục. Có điều mới nghĩ đến đã thấy là "nói dễ hơn làm" rồi. 

Chúng ta biết rằng, con người có tình dục chủ yếu bởi muốn có được cảm giác "hưởng lạc". Nếu như hiểu được cặn kẽ thì hưởng lạc của tình dục kiểu này chính là: Mắt tham sắc, tai tham thanh, mũi lưỡi tham hương vị, thân tham tiếp xúc, ý tham dâm.

Khi mê đắm vào dục, lúc cao trào nhất, sự tiếp xúc da thịt qua lại khiến trong tích tắc sản sinh ra cảm giác cực khoái, minh điểm [giọt tinh, tinh huyết] sẽ xuất ra. Việc theo đuổi sắc dục như vậy không phải chỉ có ở thanh thiếu niên. Trung niên, người già cũng mê đắm không biết chán. Vì sao lại vậy? 

Tôi thấy dưới con mắt thế gian thì tình dục là thứ khoái lạc nhất trong số những lạc thú của con người. Khoái lạc của tình dục bao gồm cùng lúc cả mắt - tai - mũi - lưỡi - thân - ý, cũng chính là tổng hợp toàn bộ sáu căn, sáu ý thức của lạc. Như vậy, người thế gian muốn tìm kiếm khoái lạc sẽ thấy rằng khoái lạc trong quan hệ nam nữ chính là lạc thú lớn nhất của đời người rồi, không có gì khác hơn được. 

Một đời tham dục, hệ lụy đi cùng là:
1. Tà duyên còn chưa đến, đã sinh tâm huyễn vọng.
2. Khi truy cầu lạc thú, đã sinh tâm tính kế.
3. Truy cầu mà không được, đã sinh tâm sân hận.
4. Điên đảo vì dục tình, đã sinh tâm chiếm hữu.
5. Khởi lên yêu thích người, đã sinh tâm đố kỵ.
6. Khi thèm muốn chiếm đoạt, đã sinh tâm sát hại.

Thiệt hại của tà dâm thực sự vô cùng tận, cũng là chuốc lấy họa hủy hoại đạo đức nhanh nhất. Cũng có thể nói, chính vì tà dâm nên người ta hoàn toàn mất đi liêm sỉ, luân lý bị tổn hại, mọi loại ác nghiệp từ đây mà ra, mọi loại thiện nghiệp tan thành mây khói. Do vậy người xưa có câu, "vạn ác dâm vi thủ" [trong vạn điều ác thì dâm đứng đầu]. 

Tôi quan sát dục vọng của con người đều không ngoài những thứ như tiền, sắc, danh, ăn, ngủ. Trong đó tâm tham sắc là dễ khởi nhất, bất kể nam nữ. Cho dù trời có sinh ra là kẻ ngu đần cũng đều dễ động lòng tham dục. Một chút liếc mắt đưa tình đủ khiến cái tâm dao động, không tự kiềm chế được nữa, hoàn toàn không còn e sợ cái gì. Nhân tính dù thiện lành, nhất thời đều mất hết. Muốn tiêu trừ bệnh này, khó lắm!

Khi tôi học Phật pháp đã tự thấy tâm dục của con người rất ghê gớm, chẳng chỗ nào mà nó không chạy đến. Giống như khi miệng đã nếm thử vị, càng chìm đắm thì càng điên cuồng. 

Tôi cũng biết rằng, nếu có dâm niệm cả đời thì cả đời ác niệm sẽ đi theo. Tu hành sẽ biến thành ô hành, tu đạo trở hành đạo dâm ô, suy đồi đạo đức xã hội, thực sự không nói nổi nữa. 
Kết quả bây giờ đã xảy ra: 
"Trời người giao tranh."

🍃

Sau này, tôi học Mật giáo, phát hiện ra rằng tu luyện Mật giáo thực sự có pháp để đoạn dục [trừ bỏ dục]. Bình thường Hiển giáo muốn trừ bỏ suy nghĩ dâm dục sẽ dùng: 
1. Bất tịnh quán [quán sự dơ bẩn của thân thể]
2. Bạch cốt quán [quán thân thể là đống xương trắng]
3. Trí huệ bát nhã [trí huệ tính Không]

Còn Mật giáo thì tu khí, mạch, minh điểm. Khí thông các kinh mạch, mạch sinh ra hỏa quang, minh điểm sẽ không rò rỉ ra ngoài. 

Trong quá trình tu luyện, khi khí thông kinh mạch, trong thân tự nhiên sẽ sinh ra một kiểu "khoái lạc". Khi minh điểm càng thông mạch, càng sinh ra "đại cực khoái". Kiểu khoái lạc này vượt xa khoái lạc từ việc quan hệ nam nữ thông thường. Sau khi đạt đến "đại khoái lạc" chân chính, loại khoái lạc của quan hệ nam nữ chẳng còn đáng để nhắc đến nữa. Nhờ vậy có thể đối trị lại dâm dục. 

Tôi ngộ rằng: 
Khí - đại lạc (tuần hoàn khắp cơ thể).
Mạch - quang minh (thanh tịnh không gì sánh bằng).
Minh điểm - Phật tính (kiên cố bất động).

Cuối cùng tôi từ "nhân tính" tu thành "Phật tính", một cách tự nhiên đạt đến đại lạc, quang minh và tính Không. 

Tôi thấy nhân loại thật đáng thương làm sao! Thật là ngốc làm sao! 
Con người từ dục niệm mà sinh ra, lại từ dục niệm mà chết. Chỉ theo đuổi một chút xíu khoái lạc trong tích tắc, vốn chỉ chốc lát là qua đi, để rồi phạm phải nhiều ác nghiệp như vậy. Thật là không đáng mà!

Tôi thực lòng nói cho mọi người biết, tôi đã thực sự đạt tới chứng ngộ, đạt tới đại lạc chân chính.

**(Hết)**


### Nhà văn, họa sĩ Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật


*Sách viết bát nhã trí *
*Tranh họa cảnh ngao du *
*Giữa đậm nhạt thưa dày *
*Động tĩnh hiện thiền duyên*

**Giới thiệu vắn tắt về nhà văn, họa sĩ Liên Sinh Pháp Vương – Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, người sáng lập Chân Phật Tông.**

Liên Sinh Hoạt Phật có được truyền thừa Đạo - Hiển - Mật, nguồn gốc sáng lập Chân Phật Tông là:
- Năm 1969, tại Ngọc Hoàng Cung ở Đài Trung, Đài Loan, được Diêu Trì Kim Mẫu mở thiên nhãn, mở ra một cuộc đời khác.
- Từ năm 1969 đến 1972, được vị thầy tâm linh Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh truyền pháp, quy y Ấn Thuận Đạo Sư, Liễu Minh Hòa Thượng, Thanh Chân Đạo Trưởng (có được đại pháp truyền thừa của Trung mật và Hồng giáo (Nyingma) Tạng mật), tiếp nhận truyền thừa của pháp Đạo - Hiển - Mật.
- Năm 1981, quy y Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16 của Bạch giáo (Kagyu), nhận quán đảnh Đại Viên Mãn bí mật.
- Ngày 16/6/1982 di cư sang Mỹ, sau đó nhập thất ba năm để học pháp và tu hành, trong thiền định được Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền dạy pháp Đại Viên Mãn, Phật Thích Ca Mâu Ni xoa đầu thọ ký, công khai tác giả là Liên Hoa Đồng Tử chuyển thế, Bồ Tát Di Lặc ban cho mũ miện đỏ.
- Năm 1983, quy y Thubten Dhargye Thượng sư của Hoàng giáo **(Gelug),** Sakya Chứng Không Thượng sư của Hoa giáo (Sakya). Năm 1984, đổi tên Linh Tiên Chân Phật Tông thành Chân Phật Tông.
- Năm 19/3/1986, ngài xuống tóc xuất gia.

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn là một họa sĩ.**

Liên Sinh Hoạt Phật được ca ngợi là bậc thư họa kỳ tài. Năm 1993, lúc 50 tuổi mới ngài bắt đầu học vẽ tranh, theo học nữ sĩ Chu Mộ Lan, hậu duệ của đại sư Triệu Thiếu Ngang, một bậc thầy của trường phái hội họa Lĩnh Nam Trung Quốc. Trong năm đầu tiên học vẽ tranh, ngài đã phát hành tập tranh đầu tiên lấy tên là "Nét bút nguệch ngoạc", sau đó tự phát triển thành một dòng riêng, bất kể là tranh trừu tượng hay tượng hình thì đều rất thoải mái tự nhiên.

Thư pháp là để trở về với bản chất thực, với trình độ cực khéo léo nhưng lại như thể vụng về, Liên Sinh Hoạt Phật vẽ tranh giống như tu hành Trung quán, trung dung không thiên lệch, vô tư và tự tại. Ngài đã dùng cách vẽ tranh để truyền đạt thiền cơ và Phật pháp, là người đương đại đầu tiên có thể kết hợp hoàn hảo giữa nghệ thuật, tâm linh và Phật pháp.

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn còn là một tác giả viết rất nhiều sách để truyền dạy Phật pháp, khuyên người tu hành hướng thiện.**

Văn tập Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn có đề tài đa dạng, ngài viết sách mỗi ngày suốt 50 năm không hề gián đoạn, tinh tấn và nghị lực phi thường. Sự nghiệp sáng tác của Liên Sinh Hoạt Phật có thể tạm chia thành các giai đoạn:

- Giai đoạn văn nghệ (1945–1968) – thể hiện tài năng sáng tác thông qua các tập thơ và tản văn.

Năm 1967, tác phẩm đầu tiên "Tập thơ Khói mỏng" ra đời – tác giả tự ví mình là người làm vườn trồng xuống những mầm non sáng tác.

- Giai đoạn học pháp (1969–1984) – dùng những sáng tác về Linh học, Đạo pháp, Mật pháp để thu hút tầm nhìn của người đời.

Năm 1975, cuốn sách tâm linh đầu tiên "Mạn đàm linh cơ thần toán", đã tạo nên một cơn chấn động.
Năm 1983, cuốn "Tọa thiền thông minh pháp" bắt đầu truyền bá Mật pháp công khai với thế giới.

- Giai đoạn hoằng pháp (1985–1988) – Dung hợp truyền thừa Đạo - Hiển - Mật, tự sáng lập Chân Phật Mật Pháp phổ biến thế giới.

Năm 1986, Chân Phật đại pháp – cuốn sách "Chân Phật – Bí mật trong bí mật" đã phổ biến khắp thế giới.

- Giai đoạn đi khắp nơi (1989–2000) – du hành khắp thế giới, hoằng pháp khắp toàn cầu, ghi chép lại những gì thấy nghe.

Tháng 5/1992, hoàn thành sáng tác văn tập số 100 – thực hiện được điều không thể trong con mắt của người đời.

- Giai đoạn ẩn cư (2001–2006) – viết sách truyền pháp chưa từng gián đoạn, tình nghĩa thầy trò nhờ đó mà khăng khít.

Tháng 10/2002, sáng tác đầu tiên theo phong cách tiểu thuyết – cuốn "Tâm sự của ông lão ấy".

- Giai đoạn chuyển pháp luân lớn sau kỳ ẩn cư (2007 đến nay) – minh tâm kiến tính, đại lạc khai ngộ, trong sách chứa đầy tư tưởng bát nhã minh triết.

Tính đến tháng 4/2026, tác giả đã xuất bản 307 cuốn sách.


### Vì sao cần quy y?


Vì sao con người cần tìm thầy để quy y? Vì trong thánh điển đã nói rất rõ ràng, "sợ hãi" và "che chở" chính là hai chủng tử của quy y. Nói đơn giản là, tất cả chúng sinh đều có bản năng sợ hãi, vì sợ hãi nên cần tìm cầu sự che chở, và có được sự che chở rồi thì sẽ cần nương dựa, chính là tìm đến nơi quy về để nương dựa.

Và người thật sự có thể che chở cho chúng sinh nhất định phải là một người đã hoàn toàn thoát khỏi sợ hãi và đau khổ phiền não, người này chính là Phật, một người đã hoàn toàn đạt đến chính giác, có thể hướng dẫn con người thoát khỏi phiền não.

Trên nguyên tắc, đối tượng mà người đời cần quy y phải là:
1. Thánh giả hoàn toàn giải thoát khỏi sợ hãi và phiền não.
2. Thánh giả có đại thần thông có thể giải thoát người khác khỏi đau khổ.
3. Thánh giả có tâm từ bi đối với tất cả chúng sinh, có lời thề nguyện độ chúng sinh lớn lao.
4. Thánh giả khai ngộ cả trên lý thuyết và thực tiễn.

Quy y Phật cũng giống như một nghi thức "đăng ký", và vì bạn đã đăng ký cho nên Phật sẽ chỉ dẫn cho bạn đi vào cánh cửa của kho tàng Phật pháp quý báu, Phật sẽ chỉ dẫn cho bạn đạt được sự giải thoát phiền não đau khổ hoàn toàn.
Quy y pháp, pháp là công khóa của việc tu hành, tức là chỉ dẫn một con đường, một con đường duy nhất.
Quy y tăng, tăng nhân trợ lực cho tu hành, tu hành cần có bạn đạo.

**Vì sao Liên Sinh Hoạt Phật xứng đáng để bạn lựa chọn quy y?**

Quy y Liên Sinh Hoạt Phật Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Lư Thắng Ngạn Mật Hành Tôn Giả là vì vị Thánh giả này đã đi lại vô số lần đến Ma Ha Song Liên Trì tịnh thổ. Trong lĩnh vực Phật pháp bao la quảng đại, ngài có thể chỉ điểm cho bạn cách đi như thế nào, nhờ có một vị Kim cương Thượng sư đã minh tâm kiến tính chỉ dẫn mà bạn có thể thoát khỏi khổ não sợ hãi và mê lầm. Cho nên Liên Sinh Hoạt Phật chính là đối tượng mà bạn nên quy y. 

**Cách thức quy y Liên Sinh Hoạt Phật để có được truyền thừa Chân Phật Tông**

*Cách 1: Nhận quy y trực tiếp*
Bạn có thể được ban quy y trực tiếp từ Liên Sinh Hoạt Phật, hoặc từ một vị Thượng sư (được xác nhận chính thức bởi Tông Ủy Hội) của Chân Phật Tông, người có thể thay mặt Liên Sinh Hoạt Phật ban quán đảnh quy y. Để làm điều này bạn có thể đến các chùa Chân Phật Tông, các phân đường, hội nhóm đồng tu, hoặc tham gia các pháp hội của Chân Phật Tông gần nhất.

<u>Địa chỉ liên lạc:</u>
Liên Sinh Hoạt Phật - Chân Phật Mật Uyển
Văn phòng Tông Ủy Hội Chân Phật Tông thế giới
True Buddha Foundation
17102 NE 40th CT, Redmond, WA 98052 - 5479 U.S.A. 
Tel: (425) 885-7573 
Fax: (425) 883-2173
Email: tbsblessing@gmail.com

*Cách 2: Xin quy y online*
Vui lòng liên hệ tại website: chanphat.org để được hướng dẫn cách thức đăng ký quy y trực tuyến và thực hiện nghi thức quy y.

**Đặt mua văn tập Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn**
Liên hệ Nhóm dịch thuật Upala Việt Nam
Website: chanphat.org
Facebook: facebook.com/chanphat.org
Email: love@chanphat.org

---

---
# File: sach-tam-linh/147-dung-danh-mat-tam.md
# Title: 147. Đừng đánh mất tâm
---

![image](/img/img_77f1dbac04359dc2c4682f93b4f7384b.jpg)



## Đừng đánh mất tâm


🪷 Lời thổ lộ của người tu hành

Văn tập: 147
Xuất bản: 07/2001
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời tựa


**Thần Suối ở suối Đại Giáp**

Có một năm, tôi sống bên bờ suối Đại Giáp.
Khi mùa thu đến, nhiều dòng suối lớn nhỏ đều đổ vào suối Đại Giáp, khiến thung lũng vốn trông hoang vu giờ đây trở nên mênh mông với dòng nước chảy, nhiều tảng đá từng nhô lên mặt nước giờ đều đã chìm hết.

Tôi đứng bên bờ suối, ngắm nhìn dòng nước róc rách.
Trong khoảnh khắc ấy.
Dòng nước róc rách tỏa ánh sáng, khiến thân tâm tôi vô cùng xúc động.

Thần Suối suối Đại Giáp hiện thân, trong tất cả các vị thần, Thần Suối có dung mạo đoan trang nhất, thần thái sáng ngời nhất, đồ trang sức trên đầu trang nghiêm nhất, ánh sáng toả ra từ thân Thần Suối như mây trôi nước chảy, rực rỡ muôn màu, thật tuyệt diệu làm sao!

Thần Suối hỏi tôi:
"Ngươi là ai? Vì sao thân có ánh sáng?"
"Tôi là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn." - Tôi xưng danh.
"Ta có nghe qua."
Tôi ca ngợi Thần Suối:
"Ánh sáng trên thân Người đẹp quá!"
Thần Suối đáp:
"Ánh sáng trên thân ta có thể chiếu từ ngọn núi này sang ngọn núi kia, khiến cả hai ngọn núi đều hóa thành sắc vàng kim, đây là sắc màu đẹp nhất thiên hạ, trần gian không thể sánh được."
"Vâng, tôi biết." - Tôi phụ họa theo.
Thần Suối nói:
"Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, ngươi cũng có chút danh tiếng, nhưng chỉ là ánh sáng đom đóm nhỏ nhoi mà thôi!"
"Thật vậy sao?"
Thần Suối lắc đầu: "Danh không xứng với thực!"
Tôi nói với Thần Suối:
"Đừng nhìn vẻ bề ngoài của tôi, hãy nhìn vào tâm tôi."
Thần Suối nhìn vào tâm tôi, chỉ thấy một vùng sáng rực rỡ, trắng đến chói mắt, hoàn toàn không có điểm tận cùng. Trời không còn nữa, đất không còn nữa, núi không còn nữa, sông không còn nữa, đó đích thực là một đại dương ánh sáng.
Thần Suối vô cùng kinh ngạc: "Đây là gì vậy?"

Tôi đáp:
"Đại dương ánh sáng Tỳ Lô Giá Na."
Thần Suối thè lưỡi ra, không thể rụt lại được nữa: "Tục ngữ có câu, chỉ cần có được một chút ánh sáng đã tưởng mình là số một thiên hạ, đó chính là nói về ta đấy. Ta nghe nói, ánh sáng lớn nhất là của Đại Phạm Thiên Vương và thiên thần cõi Sắc Cứu Cánh, cứ nghĩ họ mới là những bậc phi thường nhất. Giờ được thấy đại dương ánh sáng Tỳ Lô Giá Na mới biết thế giới rộng lớn, mình giỏi vẫn còn có người giỏi hơn, đây mới thực sự là vô lượng vô tận, và mới nhận ra sự nhỏ bé vô minh của bản thân, nếu không gặp được Ngài, ta đã tự làm trò cười cho thiên hạ rồi."
Tôi nói với Thần Suối:
"Đây là pháp vô thượng!"
"Pháp vô thượng là gì?" - Thần Suối hỏi.
Tôi đáp:
"Tâm."
"Tâm ư? Tất cả sự tu hành đều là tâm."
"Đúng vậy. Chính là tâm đấy, tâm này vốn là Phật tính kim cương, giống như mặt trời vậy, quang minh vô tận, rộng lớn vô biên. Tự tâm của chúng ta vốn thanh tịnh, chỉ cần vọng niệm không sinh, thì tất cả quang minh sẽ tự nhiên hiển hiện trong đó."

"Vì sao ánh sáng có lớn có nhỏ, có mạnh có yếu, thậm chí có những nơi không có ánh sáng?"
Tôi đáp:
"Tâm Phật tính kim cương chỉ vì bị mây đen ngũ uẩn che phủ, giống như mặt trời bị mây che, không thể chiếu sáng. Chỗ tối tăm thì không có ánh sáng, mây dày hay mỏng quyết định sự mạnh yếu, lớn nhỏ của ánh sáng. Những đám mây đen ấy chính là vọng niệm, phàm duyên, phiền não và các tà kiến vậy!"
Thần Suối đã hiểu ra:
"Tất cả đều do tâm tạo."
Cuối cùng Thần Suối xin tôi viết một cuốn sách về "tâm"!
Tôi nhận lời Thần Suối, và đó chính là cuốn sách này: "Đừng đánh mất tâm."

Địa chỉ liên lạc của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn:

**Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U. S. A.


### 01. Cảm giác hợp nhất thật tuyệt


Khi Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo, Ngài đã suy nghĩ rằng, xa lìa tất cả dục vọng, đi vào trạng thái tịch tĩnh, đó là điều thù thắng nhất.
Thêm nữa, khi nhập vào thiền định, có thể hàng phục các ma.

Nhiều người hỏi tôi về vấn đề thiền định.
Tôi thích trả lời:
"Vô trụ. Vô niệm."
Vấn đề thiền định này, phạm vi quá rộng lớn, từ xưa đến nay các bậc thánh giả đều đang tìm kiếm pháp môn thiền định này.

Tôi rất thích đoạn văn dưới đây, xin hãy suy ngẫm về nó:
"Chân lý sâu sắc nhất của Phật là pháp "vô vi nhi vô bất vi" [nghĩa là không làm gì nhưng không có gì không làm], hướng vào trong không trí cũng không đắc, hướng ra ngoài cũng không mong cầu, bên trong không chỗ đắc là pháp vô vi, bên ngoài không mong cầu cũng là pháp vô vi. Như người xưa nói: 'Biết việc ít thì phiền não ít, đến chỗ không mong cầu thì không lo âu.' Khi tu đến cảnh giới bên trong không chỗ đắc, bên ngoài không mong cầu, tâm không còn chấp trước, trong việc tu hành không tạo các nghiệp ác, lúc đó không còn vọng niệm nào, gọi là 'vô niệm'."

Vô trụ chính là pháp vô vi.
Vô niệm chính là không còn bất kì vọng niệm nào.
Thiền định chính là không chấp trước, buông bỏ tất cả.

🌟

Tôi đã nhập vào thiền định theo phương pháp vô trụ, vô niệm.
Có một lần, tôi an trú trong thiền định.
Cửa trời mở ra, ánh sáng lưu ly vô tận tỏa chiếu về phía tôi, từ trong ánh sáng lưu ly hiện ra một vị Đại Hộ Pháp Kim Cang Minh Vương, chính là Đại Uy Đức Kim Cang.

Kim Cang Thần cất tiếng nói lớn:
"Ta là Hộ pháp thần của ngài."
"Con xin cảm tạ Đại Uy Đức tôn quý." - Tôi thành tâm biết ơn.

Đại Uy Đức Kim Cang quả nhiên là Bố Úy Kim Cang, vị Hộ pháp thần có nhiều đầu, nhiều tay, nhiều chân, đầu như đầu trâu, sừng dài, mắt phẫn nộ, nanh vuốt, oai mãnh phi thường, ma quỷ vừa thấy đã bỏ chạy tán loạn, Đại Uy Đức Kim Cang có thân màu xanh.

Tôi cầu nguyện Đại Uy Đức Kim Cang nhập vào thân tôi.

Chỉ trong một sát-na.
Dòng chảy pháp nhanh như ánh sáng lập tức nhập vào.
Thân thể tôi kiên cố như thép.
Đầu tôi mọc sừng, mắt tỏa sáng rực rỡ, miệng nhe nanh vuốt, phun ra ngọn lửa. Những chiếc sừng cũng phóng ra tia chớp.
Đầu hóa thành nhiều đầu, thân mọc nhiều tay, chân mọc thêm nhiều chân, tay cầm đủ loại pháp khí.
Thân hình càng lúc càng cao lớn, cao đến mức đứng trên mặt đất mà thân và đầu vươn tận mây xanh.

Lúc này Đại Uy Đức Kim Cang Minh Vương chính là tôi, tôi chính là Đại Uy Đức Kim Cang Minh Vương, hai là một, một là hai, hai hợp thành một.
Tôi bước đi, mặt đất rung chuyển.
Tôi phun lửa, hư không hóa tro tàn.
Thân tôi lay động, biển cả đảo lộn.

Tôi đi vào trong biển lớn.
Long cung rung chuyển dữ dội sáu lần.
Long Vương hiện thân quỳ xuống cầu xin: "Xin đừng lay, đừng lắc, Liên Sinh, xin đừng lay, đừng lắc."

Tôi vút thân lên không trung.
Hư không cũng nổi gió xoáy.
Tôi xin nói với mọi người, đây là sự thật. Cảm giác thiền định thật tuyệt, cảm giác hợp nhất thật tuyệt.
Đây chính là sự tương ứng của Mật giáo.
Trong thiền định là sự thanh tịnh của tâm.
Trong hợp nhất chính là pháp vô vi nhi vô bất vi.

🌟

Tôi xin thật lòng nói với mọi người rằng, "thiền định hợp nhất" là sự tương ứng vĩ đại của Mật giáo, là sự dung hợp làm một của dòng chảy pháp vũ trụ, cảm giác ấy tràn đầy thanh tịnh quang minh, là niềm đại lạc vô tận.
Nếu bạn không tin, tôi cũng không ép.
Không nói chuyện biển với ếch ngồi đáy giếng, bởi vì chưa từng thấy biển.
Không nói chuyện băng với côn trùng mùa hạ, bởi vì côn trùng mùa hạ chưa từng thấy băng.
Không bàn cảnh giới tu hành với người nông cạn, bởi vì không có duyên.

Tôi, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, biết mình nhỏ bé, nên tu hành tu tâm, giờ đây cuối cùng đã hiểu được hư không, đại hải. Đã thấy được dòng chảy pháp chân thật của vũ trụ, thấu hiểu được đạo lý thâm sâu, những điều tôi nói ở đây chính là pháp môn vô thượng, và pháp môn vô thượng này chính là "tâm".


### 02. Thái Dương Tinh Quân và Thái Âm Tinh Quân


Tôi ở Cung Từ Tế, điện phụ bên phải thờ Thái Dương Tinh Quân và Thái Âm Tinh Quân, tôi bước lên trước chắp tay cung kính.
Thái Dương Tinh Quân là Nhật Thiên.
Thái Âm Tinh Quân là Nguyệt Thiên.
Tôi thành kính đảnh lễ. Nghĩ về công đức vô lượng vô biên của nhật nguyệt.

Bỗng nhiên, Thái Dương Tinh Quân và Thái Âm Tinh Quân cùng giáng xuống, hai vị đại thần đều hiện thân Phật, một vị có danh hiệu là Thái Dương Minh Minh Châu Quang Phật, vị kia có danh hiệu là Thái Âm Linh Long Bảo Quang Phật.
Hai vị Phật vô cùng hoan hỷ, chắp tay chào hỏi.
Phật thăm hỏi tôi:
"Liên Sinh, lâu không gặp, có khỏe không?"
Lòng tôi xúc động, không nói nên lời:
"Con..."
Hai vị Phật gật đầu, chỉ nói:
"Ta biết, ta biết..."

Từ hư không truyền đến tiếng lòng của hai vị Phật: "Này hành giả! Nếu phải chịu rất nhiều khổ sở, hãy tự nghĩ như thế này, trong vô số kiếp quá khứ, chắc hẳn đã có nhiều mối nhân duyên oán hận, những nỗi khổ trong đời này chính là nghiệp báo từ đời trước, quả của ác nghiệp đã chín muồi. Điều này ngay cả chư thiên có túc mệnh thông cũng chưa chắc hiểu rõ hoàn toàn, vì vậy, hành giả phải cam tâm chịu đựng, không chỉ thế, còn phải hoan hỷ chấp nhận, đừng oán than kêu oan, phải có thể gặp khổ mà không lo âu, vì sao phải như vậy? Bởi vì hiểu rõ nhân quả, như thế mới càng gần với Phật đạo."
Tôi chân thành cảm tạ lời chỉ dạy của hai vị Phật.

Khi hai vị Phật bay lên không trung, cùng đọc một bài kệ:
*Không ta không người.
Phàm thánh như một.
Kiên định bất di.
Nhật nguyệt vận hành.*

Nghe được bài kệ này, tôi bừng tỉnh ngộ.
Mặt trời và mặt trăng vận hành trong hư không, ánh sáng chiếu rọi khắp nơi, tự nhiên không có cái tôi.
Đối tượng được chiếu rọi, không phân biệt người tốt, người xấu, người ác, người thiện, phàm thánh đều được chiếu sáng bình đẳng như nhau.
Đây chính là chư Phật Bồ Tát, không phân biệt, tĩnh lặng vô vi mà chiếu sáng khắp nơi.
Nhật nguyệt vận hành, tự nhiên vĩ đại, vạn cổ không tịch.

Lời dạy của hai vị Phật Thái Dương Minh Minh Châu Quang Phật và Thái Âm Linh Long Bảo Quang Phật khiến tôi liên tưởng đến:
Chuyện xưa kia khi Phật Thích Ca Mâu Ni còn tu hạnh Bồ Tát, có xả thân cho hổ và cắt thịt cho diều hâu ăn.

Có người thắc mắc:
Khi cho hổ ăn, tâm Phật có oán hận không?
Khi cho diều hâu ăn, tâm Phật có oán hận không?
Khi Phật xả thân, tâm có oán hận không?
Câu trả lời là tâm hoàn toàn tĩnh lặng, không lo không khổ!
Câu trả lời này khiến phàm phu khó hiểu và vô cùng kinh ngạc, làm sao có thể như vậy được!

Gần đây, có một triết lý tôi muốn mọi người cùng suy ngẫm.
Có một người rất thích bơi lội, thường xuyên bơi ở biển. Một ngày nọ, anh ta gặp phải một con cá mập ăn thịt người, và con cá mập này đang rất đói.
Người bơi giỏi kia vừa thấy cá mập thì hoảng hốt bỏ chạy. Nhưng dù có giỏi bơi đến đâu, làm sao bơi nhanh hơn được cá mập?
Một tiếng kêu thảm thiết! Chìm xuống đáy biển!
Cá mập ăn thịt người đã cắn nát và nuốt chửng người bơi giỏi kia.
Giờ đây câu hỏi đặt ra là:
"Cá mập ăn thịt người có tội không?"
"Người kia có oán hận cá mập trong lòng không?"

Câu trả lời là như thế này:
"Trong mắt cá mập, con người chỉ là thức ăn của nó, ăn thức ăn thì có tội gì?"
"Người bị ăn thịt kia chỉ là thức ăn, làm sao thức ăn có thể oán hận cá mập được?"
Mọi người hãy suy ngẫm về triết lý này, rồi đối chiếu với việc Phật Thích Ca Mâu Ni xả thân cho hổ và cắt thịt cho diều hâu.

Dường như trong đó có điều huyền diệu, nếu bạn hiểu được, thì đại triệt đại ngộ đã không còn xa.


### 03. Tôi mặc bộ đồ jean


Một ngày nọ, tôi chợt nảy ra một ý nghĩ.
Vì thời tiết quá nóng nực, nên tôi cởi bỏ y phục Lama, cởi long bào, thay vào đó là bộ quần áo jean ngày xưa.

Soi gương, thấy cái đầu trọc lóc không hợp chút nào, tôi liền tìm một chiếc mũ đội lên, vừa hay che được nắng. Khi đội mũ lên, như thể nhìn thấy bóng dáng ngày xưa của mình, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đã biến mất.

Tôi bước ra ngoài, gặp người quen, họ dường như không nhận ra tôi.
Tôi chào hỏi mọi người.
Người ta ngước nhìn tôi, không nhận ra tôi là ai, rồi đi qua bên cạnh, họ không thể nhận ra tôi ngay được.
Tôi đi qua đám đông.
Đám đông cũng chẳng có phản ứng gì.

Cuối cùng, có một người cứ nhìn chăm chú vào mặt tôi, dường như đã nhận ra tôi, anh ta chắp tay chào tôi.

Thật kỳ lạ! Mặc quần áo jean, đội thêm mũ vào, trông như thành một người khác vậy, trang phục Lama và quần áo jean khác nhau quá nhiều.

Lúc này, tôi chợt nhớ ra, trước đây tôi từng viết về việc tôi và Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật ngồi trong một quán cà phê ở Đài Bắc.
Phật Thích Ca mặc vest thắt cà vạt.
Phật Thích Ca uống cà phê.
Tôi trò chuyện với Phật Thích Ca, Ngài ấn chứng cho tôi là Hoa Quang Tự Tại Phật, chúng tôi nói chuyện về những chuyện xưa.

Khi bài viết này được đăng tải.
Giới Phật giáo náo loạn!
Làm sao Phật Thích Ca có thể mặc vest được?
Làm sao Phật Thích Ca có thể uống cà phê? Ngài uống cà phê hiệu gì? Có caffeine hay không caffeine?
Tôi bị chỉ trích thậm tệ!
Giờ đây tôi đã hiểu ra: "Tôi không thể trách móc mọi người, bởi vì trong ấn tượng của họ, Đức Phật phải có búi tóc trên đầu, khoác áo cà sa, ngồi tòa kim cương, có đủ 32 tướng tốt. Vậy mà giờ đây, Đức Phật trong bút pháp của tôi lại mặc vest, uống cà phê, không biết có đi giày da hay đi chân trần nữa? Một Phật Thích Ca như vậy, làm sao Phật tử có thể chấp nhận được!"
Tôi hiểu chúng sinh chỉ nhìn "hình tướng bên ngoài".
Tôi khó tránh khỏi bị chỉ trích.
Nhưng điều tôi nhấn mạnh là phải nhìn vào "tâm".

Tôi hiểu rõ ràng rằng, dù Phật Thích Ca có hóa thân thành thương nhân giàu có, thành tổng thống quan chức, thành người buôn gánh bán bưng, hay thành kẻ hành khất lang thang, tôi vẫn luôn cảm nhận được tâm Phật, khí chất của Phật.
Tôi nhận biết tâm Phật, tâm ấy không đổi dù hình tướng bên ngoài có thay đổi thế nào.
Khi ở Hawaii, Tahiti, tôi từng mặc áo Hawaii!
Khi ở Nhật Bản, tôi từng mặc quần đùi!
Phật tâm bất biến!
Người tu học Phật, điều quan trọng là "tâm", không phải hình tướng bên ngoài. Dù hình tướng bên ngoài có trang nghiêm đến đâu, nếu nội tâm xảo trá, thì người như vậy có ích gì? Chúng ta không thể bị mê hoặc bởi hình tướng bên ngoài!

Các vị Tổ sư của Mật giáo.
Có vị sống trong nghĩa địa (thi đà lâm).
Có vị lẩn quẩn ở chợ cá, ăn ruột cá.
Có vị bị giam trong ngục tù.
Lục Tổ Huệ Năng của Thiền tông còn giã gạo trong bếp!

Tôi muốn nói với mọi người rằng, một vị Phật chân chính là người tùy duyên, người ấy có thể chịu đựng cả khổ lẫn vui, có thể cao quý, cũng có thể thấp hèn, có thể ở những nơi dơ bẩn nhất, có thể ở trong tù ngục, có thể nhận lời khen ngợi, cũng có thể chịu đựng sự phỉ báng.
Chỉ có Phật tính là không đổi!


### 04. Hương Tích Bồ Tát nói như vầy


Hương Tích Bồ Tát, vị Bồ Tát này ít người biết đến!
Khi gặp vị Bồ Tát này, tôi thấy Ngài ăn mặc rất giản dị, vóc dáng trung bình, dung mạo bình thường, phong thái nhã nhặn, không kiêu ngạo cũng không tự ti.
Hào quang tỏa ra từ thân Bồ Tát vô cùng dịu dàng.
Tôi hỏi:
"Bồ Tát chưởng quản cửa nào?"
Hương Tích Bồ Tát đáp:
"Cửa giới."
(Quan Âm Bồ Tát - cửa từ bi, Văn Thù Bồ Tát - cửa trí huệ, Phổ Hiền Bồ Tát - cửa đại hạnh, Địa Tạng Bồ Tát - cửa đại nguyện.)
"Thì ra Hương Tích Bồ Tát là vị Bồ Tát của trì giới."
"Đúng vậy."
Tôi thỉnh giáo Hương Tích Bồ Tát về vấn đề trì giới và giữ giới.

Hương Tích Bồ Tát kể cho tôi một câu chuyện:
Có một cụ già ăn chay từ trong bụng mẹ, bởi vì khi mẹ cụ mang thai, hễ ăn đồ mặn là nôn, nên gọi là ăn chay từ trong thai.
Từ khi sinh ra, cụ đã tự động ăn chay. Đồ mặn là không thể đụng vào.
Cụ ăn chay suốt hơn sáu mươi năm.

Năm ấy cụ bị bệnh, bác sĩ khuyên nhất định phải phẫu thuật và truyền máu.
Cụ già kiên quyết không chịu:
"Máu là đồ mặn."
Người nhà không biết làm sao, bèn nói:
"Vậy tìm máu của người ăn chay để truyền."
Cụ già vẫn kiên quyết:
"Máu nào cũng là đồ mặn cả."
Người nhà giảng giải:
"Máu của người ăn chay là đồ chay."
Cụ già biện giải:
"Vậy thì máu của cừu cũng là đồ chay, máu của bò cũng là đồ chay rồi!"
Người nhà bó tay.

Cuối cùng bác sĩ thật sự không còn cách nào khác, đành phải dùng thuốc mê, để cụ già ngủ mê rồi mới truyền máu.
Tôi hỏi Hương Tích Bồ Tát:
"Cụ già có phá giới không?"
"Là giữ giới!"
"Tại sao?" - Tôi hỏi: "Rõ ràng cụ già đã bị truyền máu mặn."
"Cụ già giữ giới trong tâm, tâm đã giữ giới thì chính là giữ giới. Những điều khác, có thể không bàn tới, có thể bỏ qua được."
"Nói về giữ giới, giữ giới trong tâm là điều quan trọng nhất." - Tôi nói.
"Đúng vậy." - Hương Tích Bồ Tát đáp.

Tôi hỏi:
"Khi hành giả Mật giáo uống rượu, họ chuyển hóa rượu thành cam lộ, uống rượu nhưng không say, không bị rượu khống chế. Khi ăn thịt, họ dùng thần chú độ cho thần thức của động vật, dùng hơi thở thanh tịnh hóa. Như vậy có phạm giới không?"
Hương Tích Bồ Tát đáp:
"Vẫn là giữ giới!"
"Tại sao vậy?"
"Rượu đã không còn là rượu, thịt đã không còn là thịt, đã không phải rượu thịt thì làm gì có phạm giới!"
Hương Tích Bồ Tát nói với tôi:
"Trong giáo pháp của Phật Thích Ca Mâu Ni, Ngài thường dạy về định pháp và bất định pháp, nghĩa là Phật pháp là sống động, không phải chết cứng. Thái quá hay bất cập đều không tốt, quan trọng nhất là tâm. Phật dạy rõ ràng rằng, quá gắt không tốt, quá lỏng cũng không tốt, không gắt không lỏng mới là tuyệt diệu nhất!"

Trong bài này, tôi muốn nói với mọi người rằng:
Một hành giả tùy duyên có ba phương thức tu tập:
1. Tu khổ hạnh (không khổ)
2. Tu lạc hạnh (không vui)
3. Khổ lạc đều nhận (không khổ không vui)

Dù tu theo cách nào trong ba cách này, phải giữ được trong khổ mà không thấy khổ, trong vui mà không thấy vui. Hiểu rằng tất cả đều do duyên sinh, đều do nghiệp nhân đời trước cảm ứng, khi duyên hết thì cũng thành không.
Thuận cảnh không mừng. Tâm bất động, vui cũng là không.
Nghịch cảnh không lo. Tâm bất động, khổ cũng là không.
Tùy duyên hành đạo, thanh tịnh không nhiễm, chính là giữ giới!


### 05. Thật là kỳ diệu


"Quân tử giao tình, thanh nhạt như nước
Chấp tướng tìm cầu, gần xa nghìn trùng
Hỏi ta thấy sao, lặng lẽ quên lời
Xuân đến hoa nở, bầu trời sáng trăng."
~ Đại sư Hoằng Nhất

Cá nhân tôi rất ngưỡng mộ cuộc đời phong phú tuyệt vời của Đại sư Hoằng Nhất (tiên sinh Lý Thúc Đồng). Ngài đa tài đa nghệ, từ âm nhạc đến kịch nghệ, từ kim thạch đến hội họa, từ thi từ đến thư pháp.

Tài nghệ của Đại sư Hoằng Nhất xuất chúng, tác phẩm có phong cách riêng, dù là âm nhạc, kịch nghệ, kim thạch, hội họa, thơ ca hay thư pháp, đều mang dấu ấn của riêng ngài, khiến người ta thán phục!

Sau này, vào năm 39 tuổi, ngài xuất gia làm tăng.
Học tập tông phái nghiêm khắc nhất là Luật tông.
Thật không ngờ:
Phi Phật thư bất thư [không viết gì ngoài sách Phật].
Phi Phật ngữ bất ngữ [không nói gì ngoài lời Phật].

Đôi khi, khi nghĩ về Đại sư Hoằng Nhất với phong cách độc đáo của ngài, tôi càng cảm thấy cuộc đời như một giấc mộng đẹp mà buồn, có những giấc mộng lãng mạn tuyệt vời, cũng có sự thanh tịnh tâm hồn của Phật pháp, cuộc đời như mộng này, bao nhiêu điều kỳ diệu đang chờ được kể ra....

Mỹ học của Đại sư Hoằng Nhất bao gồm:
Cõi người.
Cõi trời.
Đan xen thành cõi đào nguyên.

Bản thân tôi cũng thích hội họa, như mọi người đã biết, tôi đã xuất bản nhiều tập tranh. Một ngày nọ, vị thiên nữ nghệ thuật từ cõi trời cũng xuống chỉ dạy tôi vẽ tranh, thiên nữ là tiên nữ, sự chỉ dạy của thiên nữ không chỉ tinh xảo, không chỉ tự nhiên tuôn chảy, không chỉ dạt dào rực rỡ, không chỉ siêu phàm, không chỉ tinh tế, không chỉ lung linh,.... Tôi không thể dùng bút mực để diễn tả hết tài hoa của thiên nữ nghệ thuật.

Một ngày nọ.
Tôi hỏi thiên nữ nghệ thuật:
"Tranh của tôi có thú vị không?"
"Thua Bát Đại Sơn Nhân."
Tôi lại hỏi:
"Tranh của tôi có hình tướng không?"
"Thua Tề Bạch Thạch."
Tôi hỏi tiếp:
"Tranh của tôi có đẹp không?"
"Thua Đại sư Hoằng Nhất."
Dù tôi hỏi thế nào.
Thiên nữ nghệ thuật đều trả lời rằng người khác hơn tôi.
Tôi nản lòng, muốn ném bút vẽ, không bao giờ vẽ nữa!
Tôi nói với thiên nữ nghệ thuật:
"Thế này nhé! Tôi sẽ để tâm hồn hoàn toàn trống rỗng, người hãy nhập vào thân tâm tôi, tay tôi sẽ là tay người, rồi tôi chuẩn bị sẵn bút, mực, giấy, tất cả mọi thứ, chúng ta hợp nhất để vẽ, tranh vẽ như thế sẽ thần kỳ tuyệt diệu, trở thành kiệt tác của trời người!"
Thiên nữ nghệ thuật cười lớn.

Thiên nữ nghệ thuật nói với tôi:
Nếu có tâm.
Sẽ có tranh.
Tâm nếu thuần tịnh.
Tranh sẽ thành chân.

Thiên nữ nghệ thuật chỉ dạy tôi: "Hãy nghe ta từ từ nói cho ngài biết, Bát Đại Sơn Nhân có nét mạnh mẽ nhưng thiếu linh hoạt biến hóa; Tề Bạch Thạch có hình tướng nhưng thiếu đi sự mềm mại; Đại sư Hoằng Nhất có vẻ đẹp nhưng chưa đạt đến sự dung hòa. Mỗi người đều có điểm mạnh, cũng có điểm yếu. Tuy nhiên, trong tranh của ngài có phong cách riêng, cũng có điểm mạnh điểm yếu, đặc biệt trong tranh của ngài, một bông hoa là cả thế giới, một hạt cát là thiên đường, có cảnh giới mà từ nghìn xưa các nhà triết học, nghệ sĩ đều theo đuổi. Nghệ thuật chính là cảm xúc trong tâm, có tâm thì có thần trong đó. Ngược lại, về mặt này, Bát Đại Sơn Nhân, Tề Bạch Thạch, Đại sư Hoằng Nhất đều phải bái ngài làm thầy."
Tôi há hốc mồm, không dám tin.
Thiên nữ nghệ thuật nói với tôi:
Hãy tiếp tục không ngừng vun đắp khu vườn bí mật trong tâm hồn!
Vẽ tranh chính là vẽ tâm.
Có tâm ắt có thần!


### 06. Mỹ nữ quốc sắc thiên hương


Một lần nọ, khi tôi đang ngồi trên pháp tọa thuyết pháp, vào lúc kết thúc buổi thuyết pháp, trong đám đông có một người phụ nữ xinh đẹp tên là Lại Mặc Hương.
Cô ấy nói:
"Tối nay tôi chưa ăn cơm, đói bụng quá!"
Mấy người đàn ông xung quanh vội vàng nói:
"Để tôi mời cô đi ăn!"

Trong đám đông, cũng có một phụ nữ trung niên có biệt danh là Đại Thẩm, với khuôn mặt tất nhiên là bình thường, bà ta lớn tiếng:
"Tối nay tôi cũng chưa ăn cơm, đói muốn chết!"
Mấy người đàn ông nhìn nhau, không ai nói gì.
Đại Thẩm kêu lên:
"Sao không ai mời tôi đi ăn vậy?"
Mọi người nghe xong cười ồ.

Câu chuyện này khiến tôi liên tưởng đến vấn đề ngoại hình của con người. Thực tế, người hiện đại khi cưới vợ, trẻ đẹp là một yếu tố rất quan trọng, phụ nữ xấu xí thì việc lấy chồng sẽ khó khăn hơn.
Có người đàn ông nào không muốn cưới vợ đẹp?
Có người đàn ông nào không bị gương mặt xinh đẹp thu hút?

Tôi nhớ trong kinh Phật có nói:
"Thiên thần dâng ngọc nữ lên Phật, muốn phá hoại tâm ý Phật. Phật dạy: Túi da chứa đầy uế tạp, ngươi đến đây làm gì. Đi đi, ta không cần. Thiên thần càng kính ngưỡng, bèn hỏi về đạo ý. Phật giảng giải cho, liền chứng quả Tu Đà Hoàn."

Đoạn kinh văn này kể rằng, thiên thần dâng các ngọc nữ lên Phật, những ngọc nữ này đều là tuyệt sắc giai nhân, đẹp đẽ phi thường, như ngọc quý vậy, khiến người ta vừa nhìn đã phải mê mẩn tâm thần. Ý đồ của thiên thần là muốn Phật khởi tâm dâm dục.

Tuy nhiên, Phật dạy: thân người chỉ là một lớp da bọc bên ngoài, tức là cái túi da, cái bao da. Bên trong túi da này chứa toàn phân, nước tiểu, thịt, máu, toàn là những thứ tanh hôi, chẳng có gì quý báu.

Mỹ nữ có đôi mắt đẹp, chiếc mũi đẹp, đôi tai đẹp, cả gương mặt đều đẹp. Nhưng nếu tách rời từng bộ phận ra, đẹp ở chỗ nào?

Phật Đà nói với thiên thần:
"Đi đi. Ta không cần."
Trong tư tưởng của Phật, Ngài hiểu rằng cuộc đời là vô thường, những biến đổi như sinh lão bệnh tử là bất tận. Những ngọc nữ này tuy đẹp, nhưng một khi đau ốm thì sao? Sau khi bệnh sẽ trở nên xấu xí. Rồi khi già thì sao? Già rồi tóc bạc mặt nhăn, già nua lụ khụ. Nhan sắc thanh xuân được bao lâu?

Trong kinh điển còn nói:
"Phật dạy: Không có gì mạnh bằng ái dục về sắc, sắc dục là tham vọng lớn nhất."
Nghĩa là, không có gì mãnh liệt hơn sắc dục, lòng tham đắm nữ sắc là tai họa vô biên, bất tận. Nhiều người càng già càng ham mê sắc dục, nên nói rằng, đó là tham vọng không bờ bến!

Tôi rất thích hai bài thơ:
*Ái dục quấn quanh chẳng dứt rời,
Phiền não theo cùng mãi nổi trôi,
Ngục tù quan lại còn ân xá,
Gia nghiệp trói người chẳng thứ thôi.*

Lại:

*Năm này qua năm khác
Việc cứ mãi dây dưa
Da nhăn màu héo úa,
Tóc bạc tủy khô già.*

*Gió lạnh nổi da gà
Xương cũng hao mòn hết.
Thiếu nước sao chịu nhiệt
Thiếu lửa sao chịu lạnh.
Thân ảo như bọt nước,
Tứ đại chẳng bền lâu.*

Tôi thường suy ngẫm về hai bài thơ này.
Có người hỏi tôi:
"Sắc đẹp có đáng yêu không?"
Tôi đáp:
"Vừa đáng yêu vừa đáng sợ!"
"Tại sao vậy?"
"Nếu yêu thích nó, ắt bị nó trói buộc. Nếu xa lánh nó, ắt bị nó oán hận!"
"Vậy phải đối phó thế nào?"
Tôi đáp:
"Cần dùng tâm quán chiếu thấu suốt, giữ tâm thanh tịnh vô vi để tránh thị phi."

Đây chính là:
Trên nền lưu ly không chút bụi,
Tĩnh tọa kinh hành thật thảnh thơi,
Gấm vóc dệt thành hàng cây lá,
Son phấn vẽ nên những lầu đài,
Mưa hoa rơi rắc khắp thiên hạ,
Mây thơm lan tỏa Bồ Tát về,
Chốn nào chợt sinh Phật tử mới,
Sen hồng lại thấy một đóa khai.
Tâm ta ở nơi đâu?
Tâm chính là Phật.


### 07. Bay trên đầu ba tiên nhân


Tôi tu thiền định, ngồi thẳng lưng vô niệm.
Đỉnh đầu mở ra, hiện lên ba luồng ánh sáng, chính là Phật quang, linh quang và kim quang. Ba luồng ánh sáng này phóng ra thu vào, thẳng tắp xuyên lên tận mây xanh.

Đây là một bài thơ:
*Điểm đầu sợi tóc thông tin tức
Khắp cõi rõ ràng không ẩn che
Cực tĩnh đỉnh nhãn chợt lấp lánh
Trong cửa trần lao ngập ánh vàng.
Tự mình thấu suốt tự mình biết
Tám vạn hào quang hỏi được ai.
Mình ta đảm đương mình ta hiện
Trên đỉnh Tu Di đội Tu Di.*

Vào lúc đó, có ba vị tiên nhân từ xa đến, định bay qua đỉnh đầu của tôi. Do ba luồng ánh sáng hình thành, chiếu khắp trời đất, uy quang tràn ngập hư không, thật không thể tưởng tượng, khiến thần thông bay lượn của ba vị tiên nhân không thể tiến lên được.

Ba vị tiên nhân này, một vị là La Thông tiên nhân, hai vị còn lại là Tĩnh Hàm tiên nhân và Tĩnh Bích tiên nhân, cả ba vị đều vô cùng kinh ngạc.
Tĩnh Hàm tiên nhân nói:
"Ta Bà thế giới vốn đục ngầu không trong, đây là người nào vậy?"
Tĩnh Bích tiên nhân nói:
"La Thông tiên nhân, ngài đã tu được thiên nhãn thông, sao không nhìn thử xem?"

Thế là, La Thông tiên nhân liền dùng thiên nhãn quan sát, sau khi nhìn xong, vô cùng kinh ngạc:
"Ôi! Trên đời sao có chuyện như thế này! Sao lại có người như thế này! Tôi dùng thiên nhãn quan sát mà không biết người này là ai!"
Ba vị tiên nhân đều sững sờ.
Tĩnh Hàm tiên nhân hỏi:
"La Thông tiên nhân, thiên nhãn không thể đo lường được, vậy đó là ai?"
La Thông tiên nhân đáp:
"Thiên nhãn của tôi có thể thấy được tâm người ác, cũng có thể thấy được tâm người thiện, một người giữ năm giới, tôi chỉ cần nhìn là biết. Còn có các vị tiên nhân trên trời, tôi đều có thể quan sát rõ ràng. Thậm chí ánh sáng trên thân Tu Đà Hoàn, ánh sáng trên thân Tư Đà Hàm, ánh sáng trên thân A N Hàm, ánh sáng trên thân A La Hán, tôi đều có thể phân biệt được. Còn có các vị Bồ Tát, Bích Chi Phật, tôi cũng có thể phân biệt. Cho dù là chư Phật ba đời, tôi cũng có thể biết đó là chư Phật ba đời!"

"Vậy người này là ai?" - Tĩnh Hàm tiên nhân hỏi.
La Thông tiên nhân đáp:
"Trừ phi người này đang nhập vào đại thiền định vô thượng của vô thượng thượng 'vô niệm vô trụ vô tu vô chứng', nếu không thì tôi không thể nào không thấy được!"

Hai vị Tĩnh Hàm và Tĩnh Bích nghe xong, đều không thể tưởng tượng nổi, vẻ mặt vô cùng kinh ngạc.
Ba vị tiên nhân chắp tay, cùng nhau cầu xin tôi xuất thiền định.
"Xin hãy xuất thiền định! Chúng tôi tuy là ba vị tiên nhân thông minh trí tuệ, tuy tinh tấn dũng mãnh vô song, tuy tu hành đã mười kiếp, nhưng vẫn hết sức ngưỡng mộ bậc thánh nhân đang trong thiền định vô thượng!"

Tôi xuất thiền định, chắp tay chào ba vị tiên nhân.
Ba vị tiên nhân hỏi tôi:
"Ông là ai?"
"Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn."
"Ôi!" - Ba vị tiên nhân kinh ngạc.
"Thế gian Ta Bà đồn ông là tà đạo!" - La Thông tiên nhân nói.
Tôi đáp: 
"Lời đồn sao có thể dễ dàng tin được, điều đáng tin nhất chính là sự thật."
Ba vị tiên nhân hỏi tôi:
"Làm sao nhập vào đại định 'vô niệm vô trụ vô tu vô chứng'?"

Tôi đáp:
"Thế giới Ta Bà này hay ba cõi trời, vốn là thế giới của ham cầu, vì có ham cầu nên mới có trời và người. Người thực sự có trí tuệ, hiểu được tâm vô vi, chỉ thuận theo duyên mà chuyển, sinh ra khổ lạc không hữu. Chỉ cần người thực sự giác ngộ, khi vào cảnh giới tịch tĩnh niết bàn, hiểu rằng có cầu ắt khổ, vô cầu tất lạc, đạt đến trạng thái vô tham không còn mong cầu, lúc ấy vạn hữu đều không, không vô sở không, lạc vô sở lạc. Đó chính là đại thiền định 'vô niệm vô trụ vô tu vô chứng'."
Ba vị tiên thốt lên thật không thể nghĩ bàn.
Ba vị tiên nhân nói với tôi:
"Sao không truyền pháp cho người?"
"Đã truyền rồi!" - Tôi đáp.
"Vậy thì người đời sẽ thành Phật." - Ba vị tiên rất mừng.
"Không dễ đâu."
"Tại sao vậy?"

Tôi thở dài:
"Người tu hành hiểu rõ rằng có cầu ắt khổ, không cầu sẽ được vui. Nhưng, người đời mãi mê muội, biết thì biết vậy, nhưng làm không được."
Ba vị tiên cũng than thở:
"Người đời ai cũng biết thần tiên tốt đẹp, chỉ là danh lợi không thể quên!"
Tôi hỏi lại ba vị tiên:
"Các vị tu pháp gì mà thành tiên được?"
Ba vị tiên đáp:
"Chúng tôi dùng pháp điều tức, tức là điều dưỡng chân khí tiên thiên, cho đến khi xuất huyền nhập tẫn, đạt được thiên nhất thần thủy, thấm nhuần trăm nghìn kinh mạch toàn thân. Lúc này, mầm thuốc tự nhiên sinh ra, chân dương nguyên thần bắt đầu vận chuyển, xuyên qua tam quan, chuyển đến ngũ đỉnh. Đến được ngũ đỉnh, thật ngọt ngào miên man, kỳ diệu khó tả, vô hạn cảnh vui sinh khởi, kết thành một hạt thánh thai. Thánh thai này chính là cửu khúc châu, hào quang rực rỡ, một điểm linh tính thành tựu tiên đạo."

La Thông tiên nhân đặc biệt chỉ rõ:
"Chúng tôi tu pháp Tam gia quy nhất, trong thân người có tinh khí thần, tinh khí thần quy về trong một tính, luyện thành công phu Tam hoa tụ đỉnh. Còn Ngũ khí triều nguyên, tức là tâm can tỳ phế thận trong thân người, thiên ngũ sinh thổ, là trung ương Ất Mậu, sau khi thông suốt một khiếu, điều chuyển hô hấp, liền đưa Ất sang Mậu, khiến Ất Mậu nhị thổ trở về tiên thiên, thu lấy tinh hoa ngũ tạng, quy về tiên thiên nhất tính, luyện thành Ngũ khí triều nguyên."
Tĩnh Bích tiên nhân nói:
"Tam hoa tụ đỉnh, Ngũ khí triều nguyên, đợi khi thời khắc đến, chính là người tu tĩnh mấy xuân thu, vô cùng vô tận biết bao giờ nghỉ, một tiếng hống vang kinh động trời đất, chấn vỡ càn khôn bốn cõi châu."

Ba vị tiên nhân hỏi tôi:
"Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, hiện giờ tu hành thế nào?"
Tôi đáp:
"Quét nhà."
"Quét nhà?" - Ba vị tiên cười.
"Quét nhà chẳng phải là Thổ ở trung ương Ất Mậu sao?"
Ba vị tiên chợt tỏ ngộ. Lại hỏi:
"Ngoài quét nhà ra, còn tu như thế nào?"
Tôi đáp:
"Giặt quần áo."
"Giặt quần áo ư? Có nhầm không vậy?"
Tôi đáp: 
"Giặt quần áo chính là thanh lọc khí của ngũ tạng đó!"
Ba vị tiên lại chợt tỏ ngộ. Lại hỏi:
"Vậy còn tu pháp gì nữa?"
Tôi đáp:
"Lau nhà."
"Lau nhà là sao?" - Ba vị tiên lúng túng.
Tôi nói:
"Khi tôi lau sàn nhà, tôi là hành giả thanh tịnh. Tôi biết chúng sinh có nhiều ô uế, vì muốn tẩy trừ những nhơ bẩn của chúng sinh mà ngày ngày tôi lau sàn. Hạnh thanh tịnh này của tôi, trước hết là xa lìa ô uế của chính mình, sau đó mới xa lìa ô uế của chúng sinh. Không chỉ tự độ mà còn độ người, không chỉ tự lợi mà còn lợi người. Lau sàn nhà chính là đạo bồ đề trang nghiêm vậy."
"Quét nhà, giặt quần áo, lau sàn là tu hành sao?"
"Đúng vậy." - Tôi nghiêm trang đáp.
"Đây là pháp tu gì vậy?"
"Vô tướng tu hành."
"Vô tướng tu hành tu như thế nào?"

Tôi đáp:
"Tâm của Chân Phật."

Tôi ngâm một bài kệ, đó là "Bài tụng của Đạt Ma Đại sư", dần dần vang xa:

*Trên đỉnh Lăng Già ngồi bảo nhật
Giữa có kim nhân khoác áo vải
Hình như đại địa thể như không
Tâm tựa lưu ly sắc như tuyết
Không mài không đánh vẫn sáng trong
Vén mây cuốn sương tâm thấu suốt
Dùng đóa sen thơm trang nghiêm thân
Tùy duyên xúc cảnh luôn hoan hỷ.
...*

*Ở đâu đi đâu cũng quy tịch. 
Chưa từng nghẹn ngào trong tịch tĩnh.
Dùng cánh tay này để truyền đèn.
Sinh tử đến đi như ánh chớp.
Nếu ai chí thành tâm không nghi
Lửa kiếp thiêu đốt đèn chẳng tắt.
Một pháp chân như luôn tồn tại
Chưa ngộ cứ mê sẽ tắt thôi.*

Ba vị tiên chắp tay tiễn tôi.
Pháp tu của tôi chính là:
"Quét nhà, giặt quần áo, lau sàn nhà vậy!" (Dạy bằng thân còn hơn dạy bằng lời.)


### 08. Tìm người yêu


Có một người đàn ông tên là Du Câu đến hỏi tôi về duyên phận hôn nhân.
Tôi hỏi:
"Có bạn gái không?"
Anh ta đáp: 
"Không."
Tôi khép hờ mắt rồi mở ra và nói: 
"Không phải là không có, mà là có đến ba người mới đúng, phải không?"
Du Câu ngỡ ngàng, ấp úng không thốt nên lời.

Cuối cùng anh ta nói: 
"Vì có đến ba người, nên chẳng thể quyết định được nên cưới ai, vì vậy, vì vậy, mới nói là không có."
Tôi bảo anh ta:
"Tuyệt vời thay! Tiếng đàn tuyệt vời, mênh mông vô bờ, khúc nhạc như dòng nước chảy trên non cao ấy, người phụ nữ đó mới chính là có duyên với anh."
Du Câu hỏi:
"Thầy nói vậy là sao?"
Tôi đáp:
"Tôi thấy một thiếu nữ trẻ trung đang gảy đàn cổ tranh, tiếng đàn của cô ấy như núi non hùng vĩ, như nước chảy mênh mang, người này mới chính là vợ tương lai của anh."
Du Câu kinh ngạc: 
"Sao thầy biết được trong ba người có một người là giáo viên dạy đàn cổ tranh?"
Tôi trả lời:
"Đó chính là thần tướng."
Tôi nói thật với Du Câu:
Trong tâm có người.
Trên tướng có người.
Đồng thanh tương ứng.
Đồng khí tương cầu.

Ý tôi là, anh có ba người bạn gái, nhưng thực ra trong lòng anh đã có sự cân nhắc rồi. Trong tâm anh hiện ra ba người, trên tướng mạo cũng hiện ra ba người. Trong số đó, có một người gảy đàn cổ tranh, phát ra âm thanh tuyệt diệu, âm thanh này hòa hợp với tai nghe, lòng anh đã tràn ngập những khúc nhạc tuyệt vời, và trong ba người, người này chính là người đồng điệu với anh!
Du Câu hỏi:
"Thầy nhìn thấy được sao?"
"Phải."
"Thầy cũng nghe được sao?"
"Phải."
Du Câu kính phục nói:
"Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn quả nhiên là bậc thần tướng."
Về sau Du Câu quả nhiên cưới cô gái dạy đàn cổ tranh làm vợ.

🌟

Tôi nêu ví dụ này để giải thích rằng "tướng do tâm sinh". Trình độ cao nhất của việc xem tướng chính là nhìn thấu tâm của người đó, thấy được họ đang nghĩ gì. Những gì người ta nghĩ trong tâm sẽ hiện lên phía trên đầu, có thể hiện ra hình tướng của những suy nghĩ trong tâm, hoặc trên đỉnh đầu, hoặc ở giữa trán, hoặc ở thái dương. Điều còn vi diệu hơn nữa là không chỉ thấy được hình tướng mà còn nghe được cả âm thanh.
Vì vậy tôi nói:
"Tu hành ở tâm, không phải ở hình thức."
Nghĩa là, tu hành trước tiên phải nhiếp phục tâm mình. Bề ngoài bạn có tỏ vẻ giữ giới nghiêm túc, không biểu hiện qua hành vi, vẻ ngoài trang nghiêm thiêng liêng, nhưng trong tâm đã lén lút nuôi dưỡng những vọng tưởng dâm dục từ lâu.
Trong mắt tôi, chỉ cần nhìn là thấy ngay.

Có một vị đại hòa thượng, tướng mạo rất tốt.
Tôi chỉ khẽ cười khinh thường.
Người ta hỏi tôi "tại sao".
Tôi nói:
"Tâm ý ông ấy rối như tơ vò, ngay cả một niệm cũng không đạt được, huống chi là vô niệm!"

Người học Phật, Phật do tự tâm tạo thành, rời khỏi cái tâm này thì tất cả chỉ là hình thức bề ngoài mà thôi, tâm chính là Phật, Phật chính là tâm! Ngoài tâm không có Phật, ngoài Phật không có tâm, nhưng chúng sinh điên đảo, không biết tự tâm là Phật.

Nói một cách nghiêm túc:
Niệm Phật là để đạt nhất tâm, tụng kinh là để được trí tuệ, giữ giới là để được sinh về trời, bố thí là để được phúc báo. Nếu không minh tâm kiến tính, muốn tu hành thành Phật là không thể đạt được.
Hãy suy nghĩ kĩ! Hãy suy nghĩ kĩ!


### 09. Bi tình ở Cố Cung


Tôi viết vài câu về Cố Cung (Tử Cấm Thành), những gì tôi viết khác với cái nhìn của người thường:

Thăm Tử Cấm Thành, vốn là ngắm hoàng cung thuở xưa
Đây là niềm vui, nhưng cũng là nỗi bi thương
Hoàng thành kín cổng cao tường, ai người lộ mặt
Chẳng thấy được mặt vua Minh Thanh
Cũng chẳng thấy được mặt hoàng thân quốc thích
Mái ngói thành nối tiếp mái ngói thành
Nỗi bi thương nối tiếp nỗi bi thương
Tôi có điều muốn nói
Sao Sùng Trinh
Trân Phi
Và cả Phổ Nghi
Chỉ còn lại ba dãy bảy tòa trống trải
Treo lên vầng trăng cô độc sáng vằng vặc.
...

Khi tôi đi trong Cố Cung, cảm xúc dâng trào vô hạn. Tòa hoàng thành còn lại từ lịch sử này chứa đựng vô vàn câu chuyện kể không hết, nơi đây hiển nhiên là nơi tráng lệ, hùng vĩ, khiến người ta xúc động dạt dào, bản thân tôi cũng đắm chìm trong không khí uy nghi của Cố Cung như một thực tại ảo.

Thế nhưng, trong hoàng thành, nghĩ đến những cuộc tranh giành quyền lực khốc liệt nơi cung đình, đủ loại thủ đoạn độc ác, cay nghiệt, hèn hạ, không từ thủ đoạn nào để tiêu diệt đối thủ, nơi đây có kẻ nói dối, trộm cắp, lừa đảo, cướp bóc...

Nhưng dưới dòng chảy của lịch sử:
Hoàng đế.
Văn võ bá quan.
Hoàng thân quốc thích.
Hoàng hậu phi tần.
Trong những tình tiết nhạt nhẽo, tẻ nhạt, hay cao trào, tất cả đều trôi vào cõi vô thường kỳ diệu của "đời người ngắn ngủi".
Để lại những câu chuyện lịch sử "đa dạng muôn màu", hoàng thành thuở xưa, tiếng người ồn ã, vang mãi không thôi. Cố Cung ngày nay cũng vẫn ồn ã tiếng người như vậy, vang mãi không thôi, đó chính là nỗi bi thương của Cố Cung.

🌟

Trong cõi u minh, tôi đã từng gặp Hoàng đế Sùng Trinh, tôi hỏi ông một câu hỏi rất ngớ ngẩn.
"Tại sao bệ hạ lại tự vẫn?"
"Ta đau khổ tột cùng!"
"Dù có đau khổ đến đâu, cũng phải sống một cách có ý nghĩa." - Tôi nói.
"Chỉ còn hai con đường."
"Hai con đường nào?"
"Tự sát hoặc bị giết."
"Bệ hạ chọn…"
"Tự vẫn còn giữ được chút tôn nghiêm!" - Hoàng đế Sùng Trinh nói: "Không phải ta hèn nhát, không phải ta sợ hãi, không phải ta phiền não, đây là định mệnh, là định mệnh đau khổ của đế vương, khi định mệnh đã đến, ta chọn cách từ bỏ cuộc sống một cách trang nghiêm."
Nghe xong, lòng tôi không khỏi run rẩy.

Trong cõi u minh, tôi cũng gặp một người dân thường tự tử.
Tôi cũng hỏi anh ta: "Tại sao anh lại tự vẫn?"
Đáp: "Sống quá phiền não."
"Phiền não chuyện gì?"
"Tiền!"
"Tiền thì kiếm là có mà!" - Tôi nói.
"Số tiền tôi nợ không phải là có thể kiếm để trả được. Chủ nợ kéo đến tận cửa, người đòi nợ bức bách, trước khó khăn này, chỉ còn cách từ bỏ cuộc sống, lúc này chết là dễ nhất, nhắm mắt một cái là xong hết, còn sống thì quá khó khăn."
Tôi nghe xong mà bàng hoàng.
Tôi lẩm bẩm: "Lẽ nào không còn con đường thứ hai sao?"
Anh ta hỏi lại: "Còn đường nào nữa?"
Tôi nhất thời không trả lời được.

🌟

Gần đây tôi nghiên cứu về vấn đề tự tử, và nhận ra một sự thật không thể tránh khỏi: trước đây tôi cho rằng phần lớn những người tự tử đều là kẻ ngu ngốc, hoặc không có lý do rõ ràng, hoặc hành động trong mơ hồ. Nhưng thực tế, không hoàn toàn như vậy.

Ví dụ:
Hoàng đế Sùng Trinh.
Tôi hỏi mọi người:
"Nếu bạn là Sùng Trinh, bạn sẽ làm gì?"
Không tự vẫn cũng khó.
Ngược lại, tự vẫn lại dễ.
Bỏ khó chọn dễ, đó là lẽ thường tình.

Tất nhiên, những người phản đối tự tử sẽ nói "sống thật tốt", "sống thì vẫn còn hy vọng". Nhưng, đứng ở vị thế của Hoàng đế Sùng Trinh, quân địch đã đến chân thành, người thân đều mất, văn võ bá quan, kẻ đầu hàng đã đầu hàng, người chết đã chết, không còn đường lui.
Sống có thật sự tốt không?
Sống có còn hy vọng không?

Trong tình huống này, tôi thử đặt mình vào vị trí của Hoàng đế Sùng Trinh để tìm lối thoát:

Tôi sẽ vỗ tay cười lớn: "Có duyên thì ở, vô duyên thì đi, mặc cho gió nhẹ đưa mây trắng trôi." Mọi sự mọi vật trong thế gian này đều do duyên số định sẵn, Hoàng đế Sùng Trinh lên ngôi từ năm 16 tuổi, cũng đã từng nỗ lực chấn hưng đất nước.

Đáng tiếc quốc lực đã suy, tệ nạn quá sâu, muốn vực dậy mà không còn sức. Sùng Trinh đã làm hết những gì có thể làm, nhà Minh đến tay ông, đó là vận số của quốc gia. Riêng cá nhân ông hối tiếc vì sinh ra trong hoàng tộc, nhưng sinh ra là hoàng tử, đi đến bước này cũng là do số mệnh sắp đặt. Muốn oán trách ai cũng không thể oán trách được ai, như lời Phật dạy, một miếng ăn miếng uống đều có định số, đã là định số thì chi bằng vỗ tay cười lớn.

Phật dạy tùy duyên, đây chính là tùy duyên.
Khi một người sắp chết, khó lòng giữ được tâm bình thản, tuy nhiên, nếu một người lấy thái độ nhập thế để vun đắp cuộc đời, rồi lại dùng thái độ xuất thế, không còn ham muốn với thế sự, thì quả thật có thể siêu thoát trần thế, có thể tùy duyên với khổ vui, có thể tùy duyên với được mất. Cảnh giới tùy duyên, tuyệt diệu biết bao!

Lúc này:
Một lòng quyết tử, cất tiếng cười vang!
Một lòng chịu chết, ha ha cười lớn!
Đó chính là cảnh giới tùy duyên của gặp gỡ, thích nghi, thuận theo và an vui.
Vấn đề của duyên, thật không thể tưởng tượng được.
Vấn đề của nhân quả, thật không thể tưởng tượng được.

Ai cũng biết vận mệnh là vô thường, thường khi con người đạt đến đỉnh cao của cuộc đời, tai ương liền âm thầm giáng xuống, phúc chính là họa, họa chính là phúc, phúc họa vốn tương sinh.

Khi tai họa ập đến, hãy cắn răng chịu đựng! Hãy nuốt nước mắt vào trong! Hãy cố gắng rút con dao găm trên lưng ra, hãy cố gắng vượt qua thung lũng tử thần, hãy cố gắng tái sinh từ ngọn lửa, hãy cố gắng thoát khỏi nỗi sợ hãi kinh hoàng.
Nước mất, nhà tan, danh tàn, tiền cạn...

Khi mọi hy vọng trong cuộc đời đều bị chôn vùi, một người giác ngộ phải nghĩ như thế này: đây là số mệnh do trời định sẵn, vận số của bản thân, chính là phải đi đến bước này mới có ý nghĩa, mới có hàm ý sâu xa, mới có thể cảnh tỉnh người đời. Khi mọi nỗ lực đều trở nên vô ích, tất cả hóa thành tro bụi, rơi xuống vũng bùn sâu thẳm, lúc này mới thực sự lĩnh ngộ.
Bình tâm tĩnh khí đón nhận vô thường.
Vô ngã tất yếu của cuộc đời.
Mơ hồ, mơ hồ, có và không, được và mất đều như nhau, đó là Niết bàn.

🌟

Khi tôi đi ngang qua Cố Cung, tôi cũng nhớ đến nỗi bi thương của một vị cao tăng.
Vị cao tăng này đã đắc đạo, ngài có thần thông tự tại, thấu suốt được núi ngũ uẩn, vượt qua sông sinh tử, mọi nghiệp lực không còn trói buộc được Pháp thân của ngài.
Pháp thân này không sinh không diệt, không tăng không giảm, không nhơ không sạch, không tốt không xấu, không đến không đi, không đúng không sai...

Cao tăng quán xét, trong nhân duyên của mình, còn một sát nghiệp chưa giải.
Thế nên, cao tăng từ biệt các đệ tử!
Cao tăng rời khỏi tự viện của mình!
Cao tăng dặn dò mọi việc, không đem theo thị giả!
Ngài đi đến một thành phố xa xăm khác, tại nơi đó, ngài bị một kẻ vô lại xa lạ giết hại!
Nghiệp duyên đã trọn!
Có thể mỉm cười chấp nhận bị giết!

Tôi chợt hiểu ra ý nghĩa sâu xa trong cái chết của Hoàng đế Sùng Trinh! Tôi chợt hiểu được sự cam tâm tình nguyện của vị cao tăng khi bị giết!


### 10. Biến và bất biến


Có một đệ tử đến hỏi tôi:
"Thưa Sư Tôn, Phật tính là bất biến hay biến đổi?"
(Đây là một vấn đề lớn.)
Tôi không trả lời, im lặng.
Đệ tử lại hỏi:
"Sư Tôn biết hay không biết?"
Tôi nói:
"Bạn hãy đọc một công án thiền, đó là cuộc đối thoại giữa Thiền sư Tam Tạng và Thiền sư Huệ Hải, rồi sẽ hiểu."
Người đệ tử gãi đầu, tự mình đi đọc sách.

Công án này như sau:
Thiền sư Tam Tạng hỏi Thiền sư Đại Châu Huệ Hải:
"Xin thầy cho biết, Phật tính rốt cuộc có biến đổi hay không?"
Thiền sư Huệ Hải đáp: 
"Có biến đổi."
Thiền sư Tam Tạng nói: 
"Thầy nói sai rồi, Phật tính là bất động."
"Tôi không sai, chẳng qua ông không có Phật tính mà thôi!" - Huệ Hải nói.
"Ai bảo tôi không có Phật tính, tất cả chúng sinh đều có Phật tính." - Tam Tạng không hiểu hỏi.
Thiền sư Huệ Hải đáp:
"Nếu nói Phật tính không biến động, vậy làm sao chuyển tham sân si thành giới định huệ, làm sao chuyển lục thức thành lục thông, làm sao chuyển phiền não thành bồ đề, chuyển vô minh thành trí huệ bát nhã. Nếu chân như bất biến, thì tất cả đều không thể chuyển, phải không?"
Thiền sư Tam Tạng không nói được gì.
Rồi Thiền sư Tam Tạng nói:
"Như vậy xem ra, chân như Phật tính là có thể biến đổi."

Thiền sư Huệ Hải chuyển hướng câu chuyện:
"Phật tính là bất biến, nếu Phật tính có thể biến, vậy còn là Phật tính nữa không?"
Thiền sư Tam Tạng không nhịn được nữa:
"Sao lúc thầy nói biến, lúc nói bất biến, là đạo lý gì vậy?"
Thiền sư Huệ Hải đáp:
"Cần biết rằng một người giác ngộ, sau khi thấy được Phật tính, sẽ hiểu được mối quan hệ giữa Phật tính và vạn vật. Dù biến hay bất biến, tất cả đều là Phật tính. Ngược lại, nếu chưa thấy được Phật tính, biến cũng không phải, không biến cũng không phải."
Thiền sư Tam Tạng trầm ngâm suy nghĩ, vô cùng kinh ngạc!

🌟

Từ "biến" và "bất biến", tôi liên tưởng đến ba vấn đề:

Có vị pháp sư xuất gia đến thỉnh giáo tôi:
"Chúng tôi là người xuất gia, sống ở Lôi Tạng Tự, hàng ngày quét dọn chùa, tiếp đón khách thăm, mua sắm cho nhà bếp các thứ, bận rộn không ngớt, đến thời gian tự tu tập cũng không có, như vậy có đúng không?"

Lại có vị pháp sư khác nói:
"Thầy xem vị pháp sư kia, ở Lôi Tạng Tự, suốt ngày ngồi trong thiền phòng của mình, không quét dọn sân chùa, cũng chẳng tụng kinh lễ sám, chẳng làm việc gì cả, ai gọi cũng không nhúc nhích, nói rằng đang tham thiền, người ngoài không được quấy rầy, vị pháp sư như vậy, ngoài ăn cơm ra thì chỉ tham thiền, như thế có đúng không?"

Lại có các pháp sư tranh luận với nhau:
Một vị nói:
"Ẩn cư phải vào núi sâu!"
Vị khác nói:
"Ẩn cư phải ở chốn thị thành!"
Lại có người bảo:
"Phải ở giữa trần thế chuyển đại pháp luân độ chúng sinh mới đúng?"
Hoặc là:
"Ẩn cư vĩnh viễn không ra đời mới đúng?"

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người rằng, những nghi hoặc này chính là vấn đề của "tâm". Một người có tâm tự tại và tâm giải thoát, dù làm bất cứ việc gì, ở trong bất cứ hoàn cảnh nào, đều có sự tu dưỡng và kiến giải xuất chúng. Người như vậy, làm gì cũng đều đúng.

Nói cách khác, một người có tâm không tự tại, tâm chưa giải thoát, dù họ làm gì đi nữa, đều điên đảo khắp nơi, chướng ngại khắp chốn, phiền não khắp chỗ. Những người như vậy, hoàn toàn không thể chuyển hóa, chưa thấy được Phật tính!

Tôi nói với mọi người:
Những nghi hoặc lớn, vấn đề lớn của thế gian này, biến và bất biến, động và tĩnh...
Câu trả lời đều nằm ở chỗ: "Tâm của bạn có tự tại không? Tâm của bạn có giải thoát không? Tâm thống nhất tất cả, tâm sinh thì vạn pháp sinh."


### 11. Tì kheo thanh tịnh


Trong đạo Phật, người xuất gia nam gọi là tì kheo, nữ gọi là tì kheo ni, hai chữ "tì kheo" này vốn là từ tiếng Phạn.

Tì kheo có ba nghĩa:
Thứ nhất, phá ác - không làm các điều ác, làm tất cả điều thiện. Thanh tịnh thân, khẩu, ý của mình.
Thứ hai, khất sĩ - trên cầu quả Phật, mong đạt được trí huệ Như Lai, dưới hóa độ chúng sinh, mong mọi chúng sinh đều thành tựu quả Phật.
Thứ ba, trừ ma - nếu thật sự xuất gia, thiên ma ngoại đạo đều sẽ khiếp sợ, việc trừ ma này không nhất thiết là trừ ma bên ngoài, đôi khi là trừ ma ngũ uẩn trong tâm mình.

Cá nhân tôi cảm thấy, người đời nay, vì tu hành mà hoàn toàn từ bỏ nhập thế, chọn con đường xuất thế để trở thành tì kheo thanh tịnh, điều này đương nhiên rất tốt.
Bởi vì:
"Đời người ngắn ngủi, phiền não chất chồng."
"Ba cõi không an, tựa như nhà lửa."
"Thế giới con người tràn ngập khổ, không, vô thường."
"Phổ Hiền Bồ Tát dạy rằng, mỗi ngày ta sống là mỗi ngày sinh mệnh giảm bớt đi, như nước cạn dần mỗi ngày, cá sống trong đó có gì vui?"
"Cuộc đời như điện chớp, tựa đá lửa."
"Đời người như mộng huyễn bọt ảnh."

Phật Thích Ca Mâu Ni dạy rằng:
"Phật dạy, từ biệt cha mẹ xuất gia, nhận biết tâm, đạt đến cái gốc, hiểu rõ pháp vô vi, gọi là sa môn. Thường hành trì hai trăm năm mươi giới, đi đứng thanh tịnh, tu tập bốn đạo chân thật, thành tựu A La Hán. Bậc A La Hán có thể phi hành biến hóa, thọ mệnh lâu dài nhiều kiếp, làm chấn động cả trời đất."

Người xuất gia trong đạo Phật là người rời bỏ gia đình thế tục, đến đạo tràng của Phật pháp tăng, vĩnh viễn không còn tham gia vào những việc thế tục nữa.

Tại sao không còn tham gia vào những việc thế tục nữa, những việc thế tục đó là:
Một là gia đình.
Hai là quyến thuộc con cái.
Ba là sự nghiệp.
Ba việc này, mỗi việc đều có phiền não tranh chấp, có rất nhiều nỗi khổ não xảy ra. Vì vậy, để đoạn trừ phiền não, để phát tâm bồ đề, để hiểu rõ Phật tính của mình, mới chọn con đường xuất gia.

Tôi nghĩ rằng:
Người tại gia, dễ đánh mất "tâm".
Người xuất gia, siêng tu giới định huệ, dập tắt tham sân si, chính là tu tâm pháp.

🌟

Có người hỏi tôi:
"Tu hành tu tâm, nhất định phải xuất gia sao?"
Tôi trả lời:
"Xuất gia tất nhiên tốt. Nhưng nếu vì nhiều lý do không thể xuất gia, chỉ cần tâm xuất gia là được."
"Thế nào là tâm xuất gia?"
"Tuy thân chưa xuất gia, nhưng tâm thanh tịnh, đó chính là tâm xuất gia."
"Làm sao để tâm thanh tịnh?"
Tôi đáp: 
"Pháp tâm vô vi."
"Thế nào là pháp vô vi?"
"Vô vi nhi vi chính là pháp vô vi." - Tôi nói.
"Vô vi nhi vi, nói đơn giản, là nghiêm túc làm mọi việc, nhưng không chấp trước vào thành quả được mất, không đặt trong tâm." - Tôi nhấn mạnh.

Tôi nói tiếp: "Nếu muốn đạt được trí huệ Như Lai, cần trực tiếp thấy được bản tính của chính mình. Bản tính này chính là người tự tại, là người vô sự, và là người vô tác. Sự tự tại, vô sự, vô tác, vô vi này chính là tâm xuất gia của tâm thanh tịnh."
"Điều này thật thâm sâu khó lường!"
Tôi đáp:
"Đây chính là tâm pháp vậy."

Thành thật mà nói, thần thức (nguyên thần) của tôi có thể đi đến bất cứ nơi đâu, có thể tự tại phi hành trong mười pháp giới hư không, nhiều việc có thể tùy tâm như ý, có thể làm chủ sinh tử, có thể tự chủ sinh, tự chủ chết, khi thân này hư hoại có thể đổi sang thân khác, đây mới thực sự là Hoạt Phật.

Danh hiệu của tôi là Liên Sinh Hoạt Phật, ý nghĩa chân thật là:
Liên - hành giả thanh tịnh như hoa sen.
Sinh - hóa sinh trong thế giới Ta Bà.
Hoạt - tất cả đều là tâm tự tại, tâm tự chủ.
Phật - tượng trưng cho trí huệ Như Lai.
Om mani padme hum.


### 12. Chân Phật Kinh phóng quang


Có một người lạ tên là Tống Viên. Anh đến kể cho tôi nghe một chuyện kỳ lạ.
Anh theo một người bạn đến tham dự buổi pháp hội Chân Phật Bảo Sám ở Lôi Tạng Tự. Bản thân Tống Viên từ trước tới nay chẳng theo tín ngưỡng tôn giáo nào, anh ngẫu nhiên đến thăm bạn, vừa hay người bạn chuẩn bị đi ra ngoài. Anh hỏi bạn đi đâu, bạn nói đi tham gia pháp hội, anh ta cũng tiện và rảnh nên đi theo bạn tới pháp hội luôn.
Người tham dự pháp hội cũng không ít, mỗi người được phát một cuốn Chân Phật Kinh. Anh lật lật sách, đọc một chút, thấy một câu chú: "Om guru liansheng siddhi hum.", Tống Viên cũng tò mò mà niệm mấy tiếng rồi ngáp một cái.

Tống Viên tìm một góc tường ngồi xuống, ngao ngán nhìn một đám đông người hát hát niệm niệm, quỳ quỳ lạy lạy. Thế rồi Tống Viên ngủ gật luôn. Trong giấc mơ, bỗng nhiên anh nghe thấy có người nói ngay bên tai anh:
"Chân Phật Kinh này hay lắm!"
"Chân Phật Kinh là bộ kinh quý cực linh nghiệm."
"Chân Phật Kinh đem theo người có thể bảo vệ anh đó!"

Tống Viên tỉnh dậy, nhìn trái nhìn phải, chẳng có ai đang nói chuyện với anh cả, mọi người khác đều đang bái sám, chẳng có ai để ý đến anh cả. Tống Viên cảm thấy rất khó hiểu, đưa tay xoa xoa đầu, nhưng cũng không bận tâm.

Cuối cùng pháp hội Chân Phật Bảo Sám cũng kết thúc. Trước khi ra về, Tống Viên hỏi pháp sư của chùa: "Cuốn Chân Phật Kinh này thì sao?"
Pháp sư trả lời: "Có thể tặng cho anh đó!"

Người bạn trước khi đi về còn cười với anh rằng: "Kinh sách miễn phí, cậu có thể lấy thêm mấy cuốn. Nhưng cậu lấy Chân Phật Kinh làm gì? Lẽ nào cậu về nhà niệm kinh sao?"
Tống Viên mặt đỏ bừng: "Thì... cái này là mở sách ra là có lợi ích mà!"

Sau khi Tống Viên lấy Chân Phật Kinh về thì tiện tay cất Chân Phật Kinh trong chiếc tủ đầu giường ngủ. Một hôm, anh đột nhiên thấy chiếc tủ đầu giường của mình phát sáng, anh liên tiếp vài lần nhìn thấy những tia sáng kỳ lạ. Anh tìm trong tủ đầu giường. Chẳng có vật gì phát ra ánh sáng cả, chỉ có một cuốn Chân Phật Kinh.

🌟

Năm đó, đoàn thể công ty anh đi du lịch, thuê nguyên một chiếc xe du lịch loại lớn. Trước khi Tống Viên rời nhà đi thì anh lại một lần nữa nhìn thấy cuốn Chân Phật Kinh phát sáng. Tiện tay anh cầm lấy cuốn Chân Phật Kinh đặt vào trong ba lô hành lý, khoác ba lô trên lưng.

Đây là chuyến du lịch kéo dài 3 ngày 2 đêm. Vào ngày thứ hai, xe đi tới vùng núi, vùng núi này vừa mới trải qua một trận mưa lớn.
Đường núi ngoằn ngoèo uốn khúc, hết khúc cua này lại tới khúc cua khác, nhưng tài xế vẫn không hề giảm tốc độ. Một vài đồng nghiệp nữ sức khỏe tương đối yếu mau chóng bị say xe, có một người còn bị nôn nữa. Tống Viên vẫn khỏe nên mau mắn lấy lọ "cao Con Hổ" đưa cho đồng nghiệp nữ kia. Tay anh cầm chiếc ba lô lên.

Thế rồi, chuyện xảy ra trong tích tắc. Chiếc xe du lịch loại lớn dường như mất điều khiển, từ trên đường bay lên không trung rồi rơi xuống vách đá vực sâu. Bởi vì khoảng cách giữa đường núi và thung lũng rất rộng nên toàn bộ người trên xe không còn ai sống sót. Chỉ có Tống Viên trên tay ôm ba lô, dường như có một sức mạnh rất lớn kéo anh ta, chiếc ba lô văng ra ngoài cửa sổ, còn cả người anh cũng bất ngờ bị kéo văng ra ngoài cửa sổ xe, dường như Tống Viên và chiếc ba lô đều cùng bị một lực kéo văng ra ngoài cửa sổ xe. Trước khi cả chiếc xe rơi xuống vực thì Tống Viên đã bị kéo văng ra ngoài xe rồi, anh ngã lên bãi cỏ bên đường, cánh tay chỉ bị trầy xước mà thôi.

Khi Tống Viên tỉnh táo lại thì chiếc xe du lịch đã lộn nhào mấy vòng và nằm im lìm bất động dưới thung lũng sâu. Toàn bộ người trên xe đều bất động, đồ đạc văng tán loạn tứ phía. Đây là một vụ tai nạn xe khách thảm khốc.

Mặc dù Tống Viên bị một phen vô cùng sợ hãi, nhưng anh là người duy nhất còn sống sót. Sau sự việc anh hồi tưởng lại, việc này nhất định là do cuốn Chân Phật Kinh đã cứu anh. Anh nghĩ lại buổi pháp hội Chân Phật Bảo Sám có người nói bên tai mình rằng: "Chân Phật Kinh đem theo người có thể bảo vệ anh đó!", rồi liên tiếp mấy lần anh nhìn thấy cuốn Chân Phật Kinh phát sáng, thế là Tống Viên bắt đầu niệm Chân Phật Kinh. Anh đã quy y Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Bất kể bên ngoài người ta chỉ trích Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn ra sao, anh từ đầu tới cuối vẫn vững chắc đạo tâm, không hề dao động. Anh thực sự cho rằng Chân Phật Kinh đã cứu anh một mạng.

🌟

Câu chuyện của Tống Viên khiến tôi chú ý. Đương nhiên tôi tin cuốn Chân Phật Kinh đã cứu mạng sống của Tống Viên, nhưng tôi lại có một suy nghĩ khác. Vì sao Chân Phật Kinh lại không thể cứu sinh mạng của tất cả mọi người trong xe, mà chỉ cứu mạng sống của mỗi một người chứ?

Đúng vào lúc tôi đang suy nghĩ như vậy, tôi phát hiện ra có một vầng hào quang đến gần, bên trong hào quang là một vùng núi rừng xanh biếc, trong rừng xuất hiện một vị thần, vị thần này nói với tôi:
"Liên Sinh, thấy ngài có thắc mắc nên tôi đặc biệt tới đây nói cho ngài biết."
"Ông là thần gì?"
"Phúc Đức Chính Thần."

Phúc Đức Chính Thần nói với tôi, ông là vị Phúc Đức Chính Thần bảo hộ vùng rừng núi đó, là thần thổ địa của nơi xảy ra sự việc tai nạn xe du lịch.
Phúc Đức Chính Thần nói, buổi tối trước ngày xảy ra vụ tai nạn xe, Phúc Đức Chính Thần vẫn như thường lệ, ông thắp một ngọn đèn thần. Cầm đèn trên tay, ông đi tuần cả vùng núi rừng, đi đến nơi có dòng chảy xiết của thung lũng, bỗng nhiên ông phát hiện ra Thất Gia tướng quân và Bát Gia tướng quân của miếu Thành Hoàng cầm theo khoảng một trăm lính quỷ hừng hực khí thế chiếm đóng khu thung lũng, trên tay mỗi quỷ đều cầm theo dụng cụ hình phạt, bộ dạng giống như muốn bắt người vậy.

Phúc Đức Chính Thần trông thấy Thất Gia, Bát Gia và lính quỷ có mặt tại đây liền biết là sắp có chuyện xảy ra, có tới cả trăm lính quỷ thì sự việc nhất định không hề nhỏ. Còn Thất Gia, Bát Gia cũng trông thấy Phúc Đức Chính Thần.

Phúc Đức Chính Thần tiến tới hỏi: 
"Tướng quân vất vả rồi, có chuyện gì mà tới đây?"
Bát Gia tướng quân đáp:
"Ở đây không có việc của ông, tiểu thổ địa ạ, ông mau về đi ngủ đi!"
"Việc này…"

Bát Gia tướng quân nói:
"Theo luật âm của miếu Thành Hoàng thì miếu thổ địa không được can dự."
Phúc Đức Chính Thần lắp bắp nói:
"Nhưng mà vùng núi non thung lũng này tôi vẫn luôn bảo vệ cẩn thận."

Thất Gia tướng quân nghe xong cảm thấy cũng có lý, ông không nói gì, từ trong áo lấy ra văn kiện truy nã. Phúc Đức Chính Thần vừa đọc xong thì kinh hãi, hóa ra là sẽ có tai nạn xe lớn, tổng cộng cần bắt 50 người, trong danh sách ghi rõ tên từng người một, tổng cộng là 50 người cả nam cả nữ.

Trong số đó có một người tương đối đặc biệt, đó là người cuối cùng trong danh sách 50 người, tên của người này chính là Tống Viên. Vì sao người này tương đối đặc biệt, bởi vì 50 cái tên khác đều có màu xám tro, chỉ có tên của người này là có một điểm ánh sáng.
Phúc Đức Chính Thần hỏi:
"Có cửa sống ư?"
"Không sai."
"Vì sao Tống Viên lại được sống tiếp?"
"Người này có một cuốn kinh điển phòng thân bảo vệ."
"Là kinh gì?"
"Chân Phật Kinh."

Phúc Đức Chính Thần trong lòng đầy từ bi, nên ông cũng hỏi một vấn đề tương tự:
"Kỳ lạ, trên xe có Chân Phật Kinh, vì sao không thể bảo vệ sinh mạng của mọi người trong xe, mà lại chỉ bảo vệ mạng sống của mỗi một người?"
Bát Gia trả lời:
"Tống Viên này đã đọc Chân Phật Kinh, cũng niệm tâm chú Liên Hoa Đồng Tử. Còn những người khác vẫn chưa biết Chân Phật Kinh, cũng chưa từng niệm tâm chú. Tất cả sinh tử đều có định số, giữa trời đất này, tất cả họa phúc, lành dữ đều có nghiệp tồn tại. Trời đất quỷ thần chỉ là người chấp hành, khi nào bắt chỉ là vấn đề thời gian mà thôi."

Phúc Đức Chính Thần nghe xong, trong lòng buồn bã, lê thê trở về miếu thổ địa nhỏ của mình.

🌟

Phúc Đức Chính Thần nói:
"Bởi vì Liên Sinh Hoạt Phật thương tiếc cho vụ tai nạn xe này, cũng nghĩ tới câu hỏi tương tự, do vậy tôi mới hiện thân để nói cho ngài hay."
Tôi chắp tay cảm tạ Phúc Đức Chính Thần. Phúc Đức Chính Thần rất hoan hỷ rời đi.
Tôi đau lòng thay!

Thượng Thiên vốn rất ưu ái con người, do vậy mới đưa xuống rất nhiều kinh điển tu hành để cứu người. Những kinh chú này vốn đều là những lời dạy bảo chân thành, cũng là tấm lòng của Phật Bồ Tát, có thể nói giống như một sợi sinh cơ. Con người chỉ cần bám chắc lấy sợi sinh cơ này là có thể giữ được mạng sống, chỉ cần chăm chỉ đọc kinh niệm chú, mọi việc ác đừng làm, mọi việc thiện đều làm, thanh tịnh thân, khẩu, ý của chính mình, đưa vào thực hành trong cuộc sống hàng ngày, đây chính là con đường trở về cõi trời, cũng chính là con đường hóa giải tai họa, gia tăng phúc huệ.


### 13. Tượng Liên Hoa Đồng Tử uy linh hiển hách


Đệ tử Chân Phật Tông Trương Sâm tu trì pháp tương ứng Thượng sư đã có cảm ứng, trong giấc mơ, ông được đích thân được Căn bản Thượng sư ban cho nước quán đảnh.

Sau khi được ban nước quán đảnh trong mơ, ông tự nói rằng bản thân thực sự đã thay đổi.
Khi đọc kinh điển, ông có thể ghi nhớ được.
Đối với những câu chữ trong kinh Phật có ý nghĩa sâu xa mà trước đây không hiểu, từ đó về sau ông đều có thể lĩnh hội, vừa đọc là hiểu ngay.
Trước đây ở nách ông có một cục u thịt to bằng viên bi, sau khi được nước quán đảnh, cục u thịt này tự động thu nhỏ lại, ngày càng nhỏ đi, nhỏ đến mức không thể nhìn thấy nữa, thực sự đã biến mất.
Còn có một điều quan trọng nhất:
Trương Sâm hỏi Căn bản Thượng sư:
"Con có được vãng sinh không?"
Căn bản Thượng sư trả lời:
"Nhất định vãng sinh!"

Đêm đó, Trương Sâm đích thân đến cõi tịnh thổ của Liên Hoa Đồng Tử, tận mắt thấy được Ma Ha Song Liên Trì, được hưởng niềm vui thù thắng, pháp duyên thật đặc biệt!

Việc đích thân đến cõi tịnh thổ của Liên Hoa Đồng Tử, tận mắt thấy được Ma Ha Song Liên Trì này, theo lời Trương Sâm thì không phải là mơ, mà còn chân thật hơn cả mơ, rõ ràng từng chi tiết!

Những sự việc này được bố của Trương Sâm là Trương Truyền biết được, đáng tiếc Trương Truyền là người nổi tiếng "răng sắt".
Trương Sâm mô tả quan điểm sống của bố mình:
Một, chỉ tin vào tiền.
Hai, không có quỷ thần.
Ba, không có thiên đường địa ngục.
Bốn, tôn giáo toàn là lừa đảo.
Năm, con người cũng như các loài động vật khác, chết là hết, chẳng còn gì.

Trương Sâm hy vọng dùng sự cảm ứng của mình để tác động đến bố là Trương Truyền quy y theo Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, nhưng mọi nỗ lực đều vô ích, Trương Truyền ngược lại còn khinh thường con trai, cho rằng Trương Sâm đã bị thôi miên.
Trương Sâm tranh luận:
"Cục u thịt nhỏ đi là sự thật!"
Trương Truyền nói:
"Là trùng hợp thôi."
"Con hiểu được hết kinh Phật!" - Trương Sâm lại nói.
Trương Truyền trả lời:
"Đọc lâu thì tự nhiên hiểu."
"Con đã đích thân đến Ma Ha Song Liên Trì!"
"Ngày nghĩ gì thì đêm mơ thấy cái đó." - Trương Truyền trả lời.
"Không phải mơ!"
"Làm sao chứng minh?"
Bố con cãi qua cãi lại, hai người tranh cãi đến đỏ mặt tía tai rồi giận dỗi bỏ đi.

Một ngày nọ, khi Trương Sâm vắng nhà, lúc trở về, anh phát hiện tượng Liên Hoa Đồng Tử trong mật đàn của mình đã biến mất. Anh nghĩ chắc chắn là bố đã lén lấy đi khi anh vắng nhà. Anh đi tìm bố, và bố quả thật đã thừa nhận. Anh yêu cầu bố trả lại tượng Sư Tôn Liên Hoa Đồng Tử.
Bố Trương Truyền nói:
"Tao đã đập vỡ nó trong cơn giận dữ."
"Sao bố có thể làm vậy!"
"Phá bỏ mê tín thôi." - Bố anh nghiêm giọng đáp.
"Nghiệp tội đó!"
"Tao không sợ." - Bố anh nói.

Trương Sâm rất đau lòng, bức tượng Liên Hoa Đồng Tử này đã được thờ phụng suốt mười năm, sớm tối anh đều thành kính cúng dường, đảnh lễ, tụng kinh, cầu nguyện, tu pháp... Bức tượng Liên Hoa Đồng Tử mà anh một lòng yêu kính, giờ đây đã bị bố đập vỡ, nhưng, đó là bố mình, anh vẫn phải thuận phục, đành phải nhẫn nhịn nuốt giận, rồi đi thỉnh về một bức tượng Liên Hoa Đồng Tử bằng đồng khác để thờ phụng.

Trương Sâm lo sợ việc bố mình đập vỡ tượng Liên Hoa Đồng Tử sẽ có báo ứng.
Thế nhưng, chẳng có chuyện gì xảy ra.
Trương Truyền vẫn bình an vô sự.
Cứ mỗi lần gặp Trương Sâm, Trương Truyền lại nói:
"Anh thấy chưa, phá bỏ mê tín là đúng đắn."
Trương Sâm không nói gì.

Khoảng một năm sau sự việc đó, Trương Truyền do huyết áp cao, bị đột quỵ não và hôn mê nhập viện, bất tỉnh nhân sự.
Hồn phách của Trương Truyền đến được âm phủ, bị quỷ sứ áp giải quỳ trước mặt Diêm La Vương, Diêm La Vương vô cùng nghiêm khắc.
"Kẻ phá hoại tượng thánh, đưa vào đại ngục!"
"Thật sự có địa ngục sao?" - Trương Truyền kinh hãi.
"Sao lại không có, tất cả chúng sinh do lục thức tạo nghiệp, cảm ứng ác báo từ lục căn mà ra, đó chính là địa ngục. Kẻ ác nghiệp tràn đầy vào địa ngục A Tỳ, kẻ tạo đủ nghiệp từ lục căn vào địa ngục Vô Gián. Kẻ thân khẩu ý tạo sát đạo dâm vào mười tám đại địa ngục. Kẻ chỉ tạo một nghiệp vào ba mươi sáu ngục. Kẻ lục căn chỉ phạm một căn vào trăm lẻ tám ngục."
"Thời gian ở địa ngục tính như thế nào?"
Diêm Vương đáp:
"Một ngày đêm ở địa ngục bằng một vạn sáu nghìn hai trăm câu-chi năm ở nhân gian."
Trương Truyền lè lưỡi kinh hãi.
"Một khi vào địa ngục, không có ngày thoát ra!"

Khi Trương Truyền sắp bị áp giải xuống địa ngục, bỗng thấy một người bước vào điện. Vừa nhìn thấy người này, Diêm La Vương lập tức bước xuống khỏi ngai để nghênh đón.

Trương Truyền nhìn thấy mà giật mình kinh hãi! Bởi vì người này không phải ai xa lạ, chính là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Hoạt Phật nói với Diêm La Vương rằng, người này là cha của đệ tử của ngài, tuy ông ấy không thích pháp tượng của ngài và đã phá hủy pháp tượng, nhưng bình thường ông không làm điều ác lớn nào, chỉ là do không hiểu biết mà thôi. Ngài không muốn bỏ rơi người này, mong Diêm Vương có thể tha thứ và cho ông ấy được hoàn dương.

Diêm Vương trả lời:
"Vì hắn đã phá hủy tượng của ngài, nhưng ngài lại xin tha cho hắn, tất nhiên ta sẽ làm theo ý Hoạt Phật."
Trương Truyền vừa nghe xong, trong lòng vô cùng vui mừng, không kìm được buột miệng hô to:
"Om guru liansheng siddhi hum."

Thần chú này Trương Truyền đã nghe Trương Sâm tụng niệm không ngớt, trong lòng Trương Truyền thuộc nằm lòng, chỉ là miệng không chịu tụng mà thôi!
Vừa niệm thần chú!
Ầm một tiếng vang lớn!
Trương Truyền tỉnh lại từ cơn hôn mê.
Từ đó Trương Truyền quy y theo tôi.

Ngày quy y, Trương Truyền hỏi tôi:
"Ngài đã xuống âm phủ cứu tôi phải không?"
"Tôi không biết." - Tôi đáp.
"Sao ngài lại không biết, rõ ràng là ngài mà."

Tôi mỉm cười, viết tặng Trương Truyền một bài thơ:
Cảnh giới u minh thường hiện thân
Khắp cõi đi về là lẽ thường
Sóng ấm hoa đào, cá nhớ con
Vô duyên độ thành người hữu duyên.

🌟

Có người hỏi tôi, tất cả tượng Phật đều được làm từ đất đá, keo sơn, vàng bạc đồng sắt, vốn dĩ chỉ là hình tượng giả, tại sao phải cung kính?
Tôi trả lời:
Phật Thích Ca Mâu Ni từng dạy rằng, chúng sinh xây dựng già lam (chùa chiền), đúc tạc hình tượng, thắp hương rải hoa đốt đèn, ngày đêm sáu thời đi nhiễu tháp, giữ trai giới lễ bái, tất cả công đức ấy, đều thành Phật đạo.

Tại sao những việc này là công đức? Bởi vì những hành vi này có thể "nhiếp tâm", có được "nhất niệm nhiếp tâm" chính là tu tập nội tâm.

Tu hành cần đoạn trừ tam độc (tham, sân, si), phải luôn giữ thanh tịnh lục căn, thân tâm an định, trong ngoài thanh tịnh, đây không phải chuyện dễ dàng, cũng không phải ai cũng có thể lập tức thấu hiểu được Phật lý thâm sâu.

Do chúng sinh căn cơ chậm chạp, trí tuệ kém cỏi, không thể hiểu được Phật trí, nên phải bắt đầu tu từ "nhiếp tâm một niệm", tất cả tượng Phật đều như chân dung diệu tướng của Như Lai, chùa chiền như cõi Phật thanh tịnh.

Do đó:
Lấy thân mình làm lò lửa.
Lấy pháp làm lửa.
Lấy trí tuệ làm người thợ khéo.
Lấy lục độ ba la mật làm hình tướng.
Rèn luyện chính mình thành Chân Phật.

Sau khi ngộ nhập Chân Phật mới có thể hiểu được ý nghĩa của sắc thân vi diệu thường trụ rốt ráo.
Vì vậy tôi cho rằng, một người tu hành chân chính phải tu cả bên ngoài lẫn bên trong, nếu không sẽ dễ đi lạc đường.

Lại có người hỏi, tượng Phật vốn là tướng giả, tu hành là "mượn giả tu thật". Vậy thì việc thắp hương, rải hoa, thắp đèn, cúng trà, cúng quả là để làm gì?
Tôi trả lời:
Tuy tượng Phật là giả, nhưng ý nghĩa là để "nhiếp tâm một niệm".
Ý nghĩa của việc thắp hương là để xông ướp các nghiệp ác vô minh hôi tanh, khiến tất cả đều tiêu tan, hương được thắp lên chính là hương của chính pháp vô vi.

Hương có năm ý nghĩa:
1. Hương giới - bỏ ác tu thiện.
2. Hương định - đạo tâm không thoái chuyển.
3. Hương tuệ - tự thanh tịnh nội quán.
4. Hương giải thoát - có thể đoạn trừ vô minh.
5. Hương giải thoát tri kiến - thông đạt vô ngại.

Ý nghĩa của việc thắp hương là thắp lên hương của thế gian để tiếp dẫn ý nghĩa chân thật của Như Lai!
Nói về việc rải hoa, đó là thường nói chính pháp, những đóa hoa công đức, lợi lạc chúng sinh, ban rải khắp nơi, nơi chân như tính, trang nghiêm phổ thí, những đóa hoa công đức này được chư Phật tán thán!

Lại nói về việc thắp đèn:
Lấy thân làm đế đèn.
Lấy tâm làm tim đèn.
Lấy hạnh làm dầu đèn.
Lấy sáng làm lửa đèn.
Đây gọi là đèn chính giác, chiếu phá tất cả vô minh tăm tối.

Tôi đã nói về ý nghĩa của thắp hương, rải hoa, thắp đèn, đó chính là khi người tu hành làm những việc này phải quán tưởng như vậy. Vốn dĩ hương, hoa, đèn... đều là những việc bình thường, nhưng một khi thâm nhập Phật pháp thì trở nên rất thâm sâu.

Ngoài ra, cúng trà, cúng quả cũng như vậy.

Lấy một ví dụ, khi chúng ta đảnh lễ tượng Phật, tuy đang lạy Phật giả, nhưng với "nhiếp tâm nhất niệm", thì cung kính Phật như Phật đang hiện diện. Lễ là cung kính, lạy là phủ phục, đó gọi là cung kính chân tính, khuất phục vô minh, đây chính là lễ bái.
Không dùng tâm, tất cả đều là giả.
Một khi dùng tâm, tất cả đều là thật.
Chỉ đơn giản vậy thôi!

Lại có người thắc mắc hỏi:
"Người đời nay đốt vàng mã thì sao?"
Tôi đáp:
"Trong kinh Phật không có việc này."
"Đốt vàng mã không có trong kinh Phật, vậy có nên bỏ không?"
Tôi đáp:
"Đốt vàng mã, ai cũng hiểu đó là giả, nhưng tượng Phật cũng là giả, cúng hương, cúng hoa, cúng đèn, cúng trà quả đều là giả, tất cả đều là tác dụng của tâm. Đương nhiên đốt vàng mã cũng có tác dụng của tâm."
"Liên Sinh Hoạt Phật tán thành hay không tán thành việc đốt vàng mã?"
Tôi trả lời:
"Không đốt vàng mã mà tâm an thì có thể không đốt, không đốt vàng mã mà tâm không an thì vẫn có thể đốt."
"Vậy thì..."
Tôi nói:
"Chỉ là hai chữ ‘an tâm’ mà thôi!"

Nghi vấn cuối cùng là, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, tại sao thầy lại để hình tượng còn sống của mình cho người đời lễ bái?
Tôi trả lời:
Đây là chuyện chúng sinh thời nay không thể hiểu được. Họ đem những nghi hoặc của thế gian áp dụng vào trí tuệ xuất thế gian.
Một người đã giác ngộ, không còn sinh tử nữa, nghĩa là không sinh không diệt, tuy thân xác tôi còn sống nhưng tâm linh đã thành Phật từ lâu.
Chân như Phật tính vốn không phải hình tướng phàm phu, vốn dĩ là vô tướng, dùng hình tượng của tôi chỉ để cầu một sự tương ứng, tương ứng với Căn bản Thượng sư mà thôi.
Nói cho cùng, hình tượng này cũng chỉ là tạm thời, thân xác tôi rồi cũng già đi, vậy thì hình tượng này đâu phải là "tôi"!

Tượng Liên Hoa Đồng Tử tượng trưng cho bậc giác ngộ, người thờ phụng tượng tự quán chiếu:
1. Luôn nhớ nghĩ đến Căn bản Thượng sư không ngừng.
2. Tinh tấn trì giới tu hành không dứt.
3. Nhiếp tâm nhất niệm, đoạn ác hành thiện.
4. Minh tâm kiến tính, giác ngộ thành Phật.


### 14. Cứu người tốt khỏi khổ luân


Lý Đức là một doanh nhân lớn, đồng thời cũng là một nhà hảo tâm. Nói đến những việc thiện của ông, ai ai cũng biết đến.
Ông là một tấm gương điển hình của phong trào "Người tốt việc tốt" toàn quốc.
Hễ có thiên tai là ông quyên góp tiền cứu trợ, không bao giờ chậm trễ.
Cứu giúp người nghèo khó, chỉ cần ông biết được là nhất định sẽ ra tay. Cúng dường tiền bạc, quan tài, thuốc men, xây trường học, phát học bổng, xây dựng viện mồ côi, viện dưỡng lão, giúp đỡ người khuyết tật, ông không bao giờ nề hà.
Bắc cầu, làm đường cũng là do ông.

Khi vị đại thiện nhân này qua đời, tang lễ vô cùng long trọng!
Một ngày nọ, có người tên Lý Ứng đến tìm tôi, viết tên một người lên giấy, nhờ tôi quan sát xem người này sau khi mất đã đi về đâu.
Trên tờ giấy là hai chữ:
"Lý Đức."
Tôi hỏi:
"Có phải đại thiện nhân Lý Đức không?"
Lý Ứng trả lời:
"Vâng đúng vậy. Ông ấy là bố tôi."

Trong lòng tôi nghĩ, Lý Đức là người mà tôi đương nhiên biết rõ, ai cũng biết ông ấy, ông là người làm việc thiện nổi tiếng nhất cả nước, thậm chí là người làm việc thiện nổi tiếng trên toàn thế giới, một người thiện như vậy chắc chắn sẽ được vãng sinh lên cõi trời, điều này không cần phải hỏi nữa.

Nhưng, tôi vẫn nhắm mắt lại.
Tôi bỗng giật mình kinh ngạc, bởi vì câu trả lời của tôi, ngay cả bản thân tôi cũng không dám tin, tôi kéo Lý Ứng sang một bên.
"Không xong rồi! Ông ấy đang ở địa ngục!"
Lý Ứng tỏ ra khá bình thản, trả lời:
"Chúng tôi biết."
"Sao các người biết?" - Tôi hỏi.
"Sau khi bố mất, mẹ tôi cảm nhận được, ông thường về nhà, tay đeo còng, chân mang xiềng xích, mặc quần áo rách rưới, đi tới đi lui trong phòng khách, thường làm mẹ tôi tỉnh giấc."

Lý Ứng nói: "Ban đầu chúng tôi hoàn toàn không tin lời mẹ nói, cho rằng vì bố vừa mới mất không lâu nên mẹ tinh thần hoảng hốt, ngày nghĩ gì đêm mơ thấy đó, suy nghĩ lung tung nên mới xuất hiện tình trạng này."

Lý Ứng nói tiếp: "Sau đó, hai em gái cũng mơ thấy tình trạng của bố không được tốt, như đang đối chất với ai đó trong địa ngục, rồi còn thấy một kẻ thù rút dao định giết bố, ngay thời khắc nghìn cân treo sợi tóc thì tỉnh giấc. Kỳ lạ nhất là giấc mơ của hai em gái giống hệt nhau, cùng một ngày, cùng một giấc mơ."

Tôi nghe xong, không nói gì, chỉ viết vài chữ lên một tờ giấy trắng: "Ông Lý Đức, chuyện năm 25 tuổi."

Tôi đưa mảnh giấy cho Lý Ứng, để anh ta mang về cho mẹ xem.
Mẹ của Lý Ứng vừa nhìn thấy thì giật mình:
"Mau tìm Lư Thắng Ngạn!"
"Tại sao?"
"Người này có năng lực lớn, chắc chắn có thể cứu được Lý Đức."
"Chuyện năm 25 tuổi này là chuyện gì vậy?" - Lý Ứng hỏi.

Lúc này mẹ của Lý Ứng mới kể lại đầu đuôi câu chuyện:
Khi Lý Đức còn trẻ, sống không đàng hoàng.
Điên rồ yêu một ni cô trẻ tuổi.
Kết quả là ni cô có thai.
Ni cô sẵn lòng hoàn tục để lấy ông. Lúc đó Lý Đức lại đem lòng yêu mẹ của Lý Ứng, hai người đã quyết định kết hôn.
Lý Đức rơi vào tình thế khó xử.
Lý Đức nói với ni cô rằng không thể cưới cô ấy về nhà nữa.
Ni cô trong cơn tức giận đã tự vẫn, một lúc chết hai mạng.
Đó là chuyện năm 25 tuổi.
Đúng như một bài thơ đã viết rằng:
"Người đã tu hành xuất thế, sao còn tìm kiếm tình duyên, phá giới hạnh hủy danh tiếng, chẳng giữ Phật môn thanh tịnh. Mắt thần sáng như điện, sau khi chết ắt đền, u minh hình phạt nặng, đúng tự mình sa bẫy."

🌟

Lý Ứng quay lại tìm tôi.
"Xin thầy nhất định phải cứu bố tôi!"
"Xin lỗi, tôi không có khả năng." - Tôi thành thật nói.
"Tại sao vậy?"
"Vì nhân quả." - Tôi thở dài.
"Hơn 50 năm làm việc thiện, không thể lấy công chuộc tội sao?" - Lý Ứng nói:
"Hoa nở trước kết trái trước, hoa nở sau kết trái sau, việc trước được trước, việc sau được sau."
"Mẹ con nói nhất định phải cầu xin thầy, thầy chắc chắn có năng lực."
"Tôi..."
"Thầy đã đồng ý rồi!"
"Cái này..."
Lý Ứng cứ mãi van nài, cuối cùng tôi đành phải nói:
"Tôi sẽ cố gắng hết sức."

Tôi ngồi thiền trong mật đàn, vận chuyển thanh khí từ hư không, đưa thanh khí lên cầu Thước, rồi xuống lầu trọng, từ cung giáng, qua phòng đan, chuyển vào phương thốn rồi nhập vào cửa vĩ lư, lên dọc sống lưng, xuyên qua gối ngọc, rồi thông lên trời.

Tôi gặp được Diêm La Vương, trình bày lời thỉnh cầu của Lý Ứng.
Diêm La Vương cười:
"Liên Sinh, ông cũng đến âm phủ để nhờ vả à!"
"Không, không phải ý đó!" - Mặt tôi đỏ bừng.
"Không phải ý đó thì là ý gì?"
Tôi không trả lời được.

Diêm La Vương nói:
"Trời đất vô tư."
Tôi hỏi:
"Hiện giờ Lý Đức thế nào?"
Diêm La Vương trả lời: "Lý Đức là người thiện, khi mới đến âm phủ, gặp người có thù oán, người đó rút dao chém ông ấy, đã giết chết Lý Đức. Nhờ vậy, mối thù oán cũng tan, nhân quả giữa hai người đã cân bằng. Sau khi Lý Đức chết, oan hồn tỉnh lại, các vị Diêm La cùng xét xử. Dù bị giết hại nhưng Lý Đức vẫn bình tâm, ông tự nói rằng đây là báo ứng của mình, không có nhân xấu sao có quả xấu. Ông cầu xin tha thứ cho kẻ thù, đồng thời cũng nhận tội lỗi của mình, nguyện từ nay tích đức tu hành."
Các vị Diêm La thấy được tâm của Lý Đức.
Tâm rất bình an.
Tâm sáng như đèn vàng.
Tâm hiện hoa sen.
Tâm thanh tịnh hiển bày.
Các vị Diêm La đều kính phục công đức tu hành của Lý Đức.

Chỉ thấy trên núi Tây Nam có một vầng trăng sáng, một luồng ánh sáng trắng hóa thành một chiếc áo cà sa trắng, đưa linh hồn của Lý Đức lên thiên giới.
"Ah! Lý Đức đã lên thiên giới rồi!" - Tôi kinh ngạc thốt lên.
"Đúng vậy." - Diêm La Vương nói.
"Vậy là tôi đã đến đây vô ích rồi."
Diêm La Vương đáp:
"Cũng không phải vô ích đâu, để cho người đời biết rằng, tất cả nhân quả đều có ý nghĩa tốt đẹp, một bậc chân tu chính là người có tâm bình đẳng, họ hiểu rằng mọi điều xảy ra đều có nhân duyên quả báo. Muốn biết nhân kiếp này, xem việc làm kiếp trước, muốn biết quả kiếp sau, xem việc làm kiếp này. Lý Đức không phải được ông cứu, cũng không phải được chư vị Diêm La cứu, mà chính sự sám hối sâu sắc đã cứu ông ấy."

Tôi nhớ đến lời Phật Thích Ca Mâu Ni:
Phật dạy, chúng sinh có mười điều thiện, cũng có mười điều ác. Thế nào là mười? Ba điều về thân, bốn điều về miệng, ba điều về ý. Ba điều về thân là: sát sinh, trộm cắp, tà dâm. Bốn điều về miệng là: nói đâm thọc, nói ác độc, nói dối, nói thêu dệt. Ba điều về ý là: ganh ghét, sân hận, si mê. Mười điều này không thuận theo đạo thánh, gọi là mười nghiệp ác. Nếu dừng được những điều ác này thì gọi là mười nghiệp thiện.

Ngài cũng dạy về tầm quan trọng của sám hối:
Phật dạy, người có nhiều lỗi lầm mà không tự sám hối, để tâm buông lung, tội lỗi sẽ đến với thân như nước chảy về biển, dần dần trở nên sâu rộng. Nếu người có lỗi, tự biết mình sai, sửa ác làm thiện, tội sẽ tự tiêu tan, như bệnh được đổ mồ hôi, dần dần sẽ thuyên giảm.

🌟

Sau khi Lý Đức lên thiên giới, trong nhà có hiện tượng kỳ lạ:
Vợ của Lý Đức mơ thấy chồng mình, mặc thiên y, toả ánh sáng rực rỡ, bay lượn trên không trung.
Bà hỏi ông đang ở đâu?
Ông đáp tầng trời thứ ba. Ở tầng trời thứ ba, tất cả đều là những vị chủ công đức, là thiên chủ công đức.
Bà hỏi có gặp Lư Thắng Ngạn không?
Ông đáp có gặp. Ngài ấy đang thuyết kinh ở tầng trời thứ ba.
Nói xong thì biến mất.
Vợ Lý Đức cảm thấy rất lạ.

Sau khi tỉnh giấc, sáng sớm hôm đó, lại xảy ra một chuyện kỳ lạ nữa, trong khu vườn nhà họ Lý có một hồ sen lớn và vườn hoa, tất cả hoa sen, chỉ trong một đêm, đủ loại lớn nhỏ đủ màu, bỗng nhiên đồng loạt nở rộ.
Trong vườn trồng nhiều loại hoa, kỳ lạ thay, cũng cùng lúc đồng loạt nở rộ, rực rỡ năm sắc, đẹp tuyệt trần, hương thơm ngào ngạt.
Phu nhân họ Lý cho rằng đây là điềm lành.

Chưa hết, trong vườn nhà họ Lý có một cây bách, ban đầu cành lá đều khô héo, thân cây cũng trong tình trạng chết khô, đang định đào lên vứt đi, bỗng nhiên phát hiện mọc ra cành lá mới và phục hồi sức sống, cành lá sum suê.

Tất cả đều là phép màu, là chuyện không thể tưởng tượng được, phu nhân họ Lý cho rằng điều này có liên quan đến việc Lý Đức lên thiên giới.
Sự việc kỳ lạ xảy ra trong vườn nhà họ Lý, có cả trăm người cùng chứng kiến.

Phu nhân Lý Đức đích thân mang theo một xe tải quà lớn nhỏ đến tệ xá để cảm ơn tôi đã cứu Lý Đức lên thiên giới.
Tôi lắc đầu:
"Không phải tôi."
"Không phải thầy thì là ai?"
"Là chính Lý Đức." - Tôi nói.
"Ở âm phủ, làm gì có chuyện tự cứu mình chứ!"
Tôi nói:
"Lý Đức vốn là người có tâm thiện lương, ở âm phủ ông ấy một lòng sám hối tội lỗi, tội từ tâm khởi thì dùng tâm mà sám hối. Khi tự tính của Lý Đức được thanh tịnh, tất cả đều thanh tịnh, ngay cả tự tính rộng lớn cũng thanh tịnh, vạn pháp đều thanh tịnh, tự nhiên nghiệp chướng tiêu trừ, từ âm phủ trực tiếp siêu thăng lên cõi trời, bởi ở âm phủ có một con đường trực tiếp dẫn lên thiên giới."
"Thật vậy sao?"
"Đúng vậy." - Tôi đáp.
Lý phu nhân lại nói:
"Trong mơ Lý Đức nói với tôi rằng thầy đang thuyết pháp ở tầng trời thứ ba, chuyện đó là thế nào?"
"Có thật vậy sao?" - Tôi hỏi lại.
"Rõ ràng lắm."
"Lần sau nếu mơ thấy ông ấy thì hỏi kĩ lại nhé!" - Tôi cười ha ha.
"Những món quà này vẫn để lại đây!" - Lý phu nhân nói.
"Tôi không thể nhận, không công không dám nhận lộc."
"Đã mua rồi."
"Vậy để tôi giúp chuyển đến viện cứu trợ nhé!"

🌟

Việc Lý Đức được lên thiên giới khiến tôi cảm động sâu sắc. Ông ấy đã một lòng làm việc thiện suốt 50 năm, nhưng chỉ vì khi còn trẻ phạm phải một lỗi nhỏ về dục vọng mà phải xuống âm phủ chịu quả báo nhân quả. Qua đó có thể thấy sự tai hại của những ý niệm tình dục còn đáng sợ hơn bất cứ điều gì. Kinh Phật dạy chúng ta, muốn đoạn trừ tình dục phải đoạn từ trong tâm, phải hiểu rằng tình dục này sinh ra từ ý niệm.
Dục sinh ra từ ý.
Ý do tư tưởng sinh.
Hai tâm đều tịch tĩnh.
Không sắc cũng không hành.

Phàm là chuyện tình dục đều sinh ra đủ loại khổ não, cũng sinh ra nhiều rắc rối theo sau, khi rắc rối đã sinh ra, lại còn có nhiều lo âu phiền não. Không những thế, còn sinh ra đủ loại chuyện đáng sợ.
Như việc Lý Đức nảy sinh tình dục với ni cô, ni cô mang thai rồi tự vẫn, tất cả những ân oán tình thù này đều do tình dục gây ra.

Tôi thường khuyên mọi người hãy suy nghĩ:
Niềm khoái lạc của tình dục rất ngắn ngủi.
Khoái lạc cũng là không.
Lục trần duyên ảnh đều là không.
Chỉ có thanh tịnh mới là đại lạc.
Không có phiền não, mãi mãi tự tại.
Lo âu và sợ hãi chỉ vì không buông được sự chấp trước vào niềm vui tạm bợ.

Phật Thích Ca Mâu Ni cảnh báo các vị tì kheo và tì kheo ni xuất gia rằng, phải quán tưởng tình dục như bùn lắng ở đầm lầy, một khi đã sa vào thì sẽ chìm xuống, rất khó thoát ra khỏi vũng bùn này.

Điều quan trọng nhất của người tu hành là tu tâm, phải biết rằng niềm vui của tình dục chỉ là niềm vui nhỏ nhoi, là quả khổ, là phiền não đáng sợ, và cuối cùng cũng chỉ là không. Hiểu được đạo lý này mới có thể thoát khỏi nỗi khổ sa lầy.


### 15. Người kết liễu ác quỷ


Tôi nhớ thời Đức Phật.
Tại nước Ma-kiệt-đà, dưới chân núi Tỳ-phú-la, có một trưởng giả tên Kiều-đề, nhà ông là một trang viên lớn, có khoảng hơn 500 người cùng sinh sống.
Trang viên này xảy ra chuyện kỳ lạ, trong vòng một năm, vô cớ có rất nhiều người thân lần lượt chết trong khi đang ngủ trên giường.
Nghĩa là tối hôm trước đi ngủ vẫn bình thường, sáng hôm sau đã thấy chết trên giường, không còn cử động.

Nếu chỉ xảy ra thỉnh thoảng thì không có gì lạ. Điều kỳ lạ là trong vòng một năm đã có hơn 300 người chết, ngày nào cũng có người chết một cách bí ẩn.
Những người còn lại vô cùng hoảng sợ, lần lượt bỏ trốn.
Trang viên này trở thành ngôi nhà ma nổi tiếng.
Khi Phật Thích Ca Mâu Ni du hóa, Ngài đã ghé thăm trang viên này, thấy được tình cảnh thê thảm của nó, trong lòng sinh khởi tâm từ bi cứu độ.
Phật Đà chủ động vào ở trong trang viên.

Đêm đó. 
Phật thấy trong sân vườn bừng lên ngọn lửa lớn, trong ánh lửa có một con ác quỷ ăn thịt người, trông rất dữ tợn đáng sợ.
Con ác quỷ đó vươn cánh tay khổng lồ ra, cánh tay có thể duỗi dài, năm ngón tay của nó như móng vuốt thép, vươn vào tận phòng ngủ của Phật.
Móng vuốt thép của ác quỷ nhắm thẳng vào tim Phật.
Phật bị mổ bụng.
Tim bị móc ra.
Ác quỷ định nuốt trái tim vào bụng, không ngờ rằng, tim của Đức Phật không phải là tim, mà là một vị Địa Tạng Vương Bồ Tát tỏa ánh sáng rực rỡ, đứng trước mặt ác quỷ.
Ác quỷ vừa nhìn thấy, lập tức co rúm người lại!
Bởi ai cũng biết, Địa Tạng Vương Bồ Tát là giáo chủ cõi u minh, chủ yếu cai quản địa ngục, ác quỷ làm sao là đối thủ, lập tức bị Địa Tạng Vương Bồ Tát đưa về giam giữ ở thế giới u minh.

Ngày hôm sau, Phật bước ra khỏi trang viên, mọi người đều rất kinh ngạc.
Từ đó trang viên lớn được bình an vô sự.
Phật được người dân dưới chân núi Tỳ-phú-la tôn xưng là Đức Thích Ca Mâu Ni "người kết liễu ác quỷ".

🌟

Tôi cũng có một câu chuyện tương tự.
Nhà ông Đặng Tín có bảy người, cũng xảy ra chuyện kỳ lạ tương tự, tối đi ngủ vẫn bình thường, sáng ra đã chết.
Liên tiếp ba người.
Đặng Tín hoảng sợ vô cùng.
Đi hỏi thần.
Thần nói là do ác quỷ.

Đặng Tín thỉnh thần trừ ác quỷ, đồng cốt và kiệu thần cùng đến nhà ông. Kiệu thần vừa tới liền lao thẳng vào phòng ngủ, từ phòng ngủ đuổi sang bếp, từ bếp đuổi ra phòng khách, rồi ra khỏi cổng chính, chạy vòng quanh nhà nhiều vòng, cuối cùng đuổi đến một cái ao lớn. Nghe nói ác quỷ chạy xuống ao, đồng cốt cầm kiếm và kiệu thần đều nhảy xuống ao, đánh nhau dưới nước.
Chẳng bao lâu sau, đồng cốt và kiệu thần nổi lên mặt nước, lên bờ.
Cắm lá cờ lệnh bên ao.
Nói rằng đã nhốt được ác quỷ dưới ao, ác quỷ đã bị thương nặng, không thể hại người nhà nữa, nhà cửa từ nay bình an vô sự.
Đồng cốt trở về đền.

Ngày hôm sau, truyền đến tin không may, đêm đó đồng cốt lên giường ngủ ngon lành, nhưng chẳng bao giờ xuống giường nữa, đã chết.
Đặng Tín và những người nghe tin đều hoảng sợ.
Đặng Tín không dám ở trong nhà nữa, cả nhà dọn đi!
Căn nhà này trở thành ngôi nhà ma nổi tiếng.

Có người không tin điều tà, thuê lại ngôi nhà ma này từ Đặng Tín với giá rất rẻ, cả gia đình dọn vào ở.
Đêm đó không có chuyện gì.
Nhưng sáng hôm sau tỉnh dậy, cả nhà đều nằm ngủ bên ngoài, không biết tại sao?
Người không tin điều tà đó lập tức bỏ chạy.

Còn có tin đồn kỳ lạ hơn là, một người vô gia cư vào ở trong nhà ma, sáng hôm sau, toàn thân trần truồng, quần áo trên người đều biến mất, bị ném vào bụi cỏ, người vô gia cư này cũng không dám ở nữa.

Có người theo đạo Thiên Chúa thuê làm nơi tụ họp, vì giá thuê thực sự quá rẻ, nhất là họ tin vào Chúa Trời, Chúa Jesus. Vị trí nhà ở trung tâm, nên họ đã thuê, sửa sang bên trong một thời gian, rồi cắm thập tự giá lên mái nhà.

Ba tháng trôi qua.
Tại nhà thờ, mỗi Chủ nhật đều có lễ cầu nguyện, hát thánh ca, giảng đạo, và không có chuyện gì xảy ra.
Trong một buổi giảng, mục sư kể câu chuyện Chúa Jesus trừ tà, nói về việc Chúa đuổi quỷ, quỷ nhập vào một đàn lợn, và cả đàn lợn đã nhảy xuống vực chết hết. Mục sư giảng đến phần hứng khởi, tiện thể nhắc đến việc nhà thờ này vốn là nhà ma, nhưng người theo đạo Chúa không sợ ma, ma mới là kẻ sợ Chúa Jesus, rồi mắng nhiếc ma quỷ một trận.
Tối hôm đó, mục sư lên giường đi ngủ.
Đến nửa đêm, mục sư đã được "Chúa gọi về".

🌟

Đặng Tín tìm đến tôi.
"Nghe nói thầy chuyên bắt ma!"
"Đúng vậy."
"Con ma nhà tôi rất hung dữ!"
"Không sợ."
"Sao thầy không sợ?"
"Tôi là tổ tiên của ma."
"Sao lại là tổ tiên?"
"Tôi hiểu bản tính của ma."
Đặng Tín hỏi:
"Thầy bắt nó thế nào?"
"Không vào hang cọp sao bắt được cọp con, tôi sẽ đến ở."
Đặng Tín hoảng sợ:
"Sẽ chết mất!"
Tôi vỗ tay cười lớn:
"Chết thì đáng tiếc, nhưng sống thì cũng phiền não chán ngắt!"
Đặng Tín không hiểu ý nghĩa trong lời nói của tôi.
Tôi nói với anh ta:
"Tôi đùa đấy."

Tôi chỉ mang theo một bình sứ đựng nước rất nhỏ, đến ở nhà ông Đặng Tín. Thật lòng mà nói, vừa vào nhà tôi đã thấy ma.
Con ma này cầm một sợi dây thừng to, chuyên siết cổ người, hóa ra là một con ác quỷ chết treo!
Tôi chào ma:
"Chào!"
Ma ngạc nhiên:
"Chưa từng có ai chào tôi cả!"
"Anh là ác quỷ à?" - Tôi hỏi.
"Tôi không thích người ta quấy rầy tôi."
"Đặng Tín quấy rầy anh?"
"Hắn vừa dọn vào đã rảy nước thánh, dán bùa chú, muốn đuổi tôi đi!"
"Còn đồng cốt thì sao!"
"Hắn đến bắt tôi."
"Còn mục sư?"
"Hắn chế giễu tôi." - Ma phẫn nộ: "Hầu như tất cả mọi người đều không có thiện ý với tôi, nên tôi lấy mạng họ!"
"Anh đi với tôi đi!" - Tôi nói.
"Ông có bản lĩnh gì?" - Ma cười nhạo.

Tôi không nói gì, chỉ nghiêng bình sứ ra, từ trong bình bước ra khoảng trăm con ma treo cổ, có nam có nữ, có già có trẻ.
Con ma đờ người ra, vẻ mặt ngây dại.
"Chuyện gì vậy?"
"Về nhà thôi!" - Tôi nói.

Cả trăm con ma treo cổ đó rất thân thiện nắm tay con ma treo cổ kia, người nói câu này, kẻ nói câu kia, họ kể cho con ma mới về việc Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đối xử với ma rất tốt, trong đoàn ma của Hoạt Phật.
Ma gặp nhau.
Ma theo nhau.
Ma hợp nhau.
Ma vui với nhau.
Thế giới của ma rất tuyệt vời, những con ma có duyên còn có thể tu hành, đúng là thiên đường của ma!
Con ma treo cổ mới động lòng.
"Làm sao đi theo?"
"Hãy vào trong bình sứ."
"Bình sứ nhỏ như vậy sao?"
Đám ma cười lớn:
"Không nhỏ đâu, không nhỏ đâu, bên trong là một thế giới mới, đẹp đẽ bao la, đẹp đẽ mênh mông, đúng là Shangri-La thực sự!"
"Sao lại như vậy được?" - Con ma treo cổ mới ngạc nhiên.
"Đó là tâm của Liên Sinh Hoạt Phật."
Đám ma dẫn con ma treo cổ mới vào trong bình sứ.

Vừa bước vào, như một bài thơ:
*Như Lai kim khẩu nói, tán thán cõi Liên Sinh.
Như vào thành Trường An, cửa Đông Tây Nam Bắc.
Vào rồi một thành lớn, không khác đế đô nào.
Liên Sinh Phật trưởng tử, Văn Thù thầy bảy Phật.
Thọ ký và hồi hướng, quả vị được vãng sinh.*

Khi bước vào:
Gió hòa nắng đẹp, thành lớn vô biên, con người và chư thiên đều an lạc, đầy đủ mọi thứ, có thể tùy tâm biến hóa hình dạng, thân thể tỏa sáng, thân có hương thơm.
Nơi này thanh tịnh, không có tạp nhiễm, có nước công đức, cây báu, nhà bảy báu, ao sen, âm nhạc vi diệu, tất cả đều đầy đủ.
Những bài ca ở đây là tịch tĩnh, thanh tịnh, trong sạch, sáng tỏ, ly trần, ly cấu, rạng rỡ, đáng yêu, không chướng ngại, không phiền não.
Nơi này:
Tùy theo tâm nguyện của chúng sinh.
Khiến tất cả được thấy Phật, đạt tâm thanh tịnh.
Có người hỏi tôi:
"Chuyện gì vậy?"
Tôi đáp:
"Hồi tâm tức là Phật!"

🌟

Tôi là một hành giả tu pháp, một hành giả không còn phiền não sân hận, có thể khiến địa ngục không còn tội lỗi ô uế, trong đường súc sinh không còn vô minh kiêu mạn. Có thể khiến chúng sinh cõi ma trong khoảnh khắc được vãng sinh tịnh thổ.

Hành giả tu pháp ở giữa chúng sinh cõi ma nhỏ bé, chuyển bánh xe pháp lớn nhất, thắp ngọn đuốc pháp sáng nhất, đánh trống pháp vang nhất, hướng tâm ma quỷ về tâm Phật, lập tức thanh tịnh tâm ma quỷ, độ vô lượng vô biên ác quỷ.

Những ác quỷ này trong vô thức, tâm không còn sân hận, tâm linh tĩnh lặng, đi vào bình nhỏ, hòa vào nước thanh tịnh, liền được chuyển hóa.

Hành giả tu pháp trong cõi Ta Bà có thể trong một niệm kéo dài thành vô lượng vô số trăm nghìn ức na do tha kiếp. Cũng có thể đem vô lượng vô số trăm nghìn ức na do tha kiếp thu gọn lại thành một niệm.

Hành giả tu pháp có thể trong một niệm, đem tịnh độ của chư Phật ba đời thu vào trong một bình sứ nhỏ, huống chi là kinh đô của thiên tử, thành Trường An.
Hành giả tu pháp là hạnh trang nghiêm tịnh thổ của Bồ Tát, không phải trí tuệ của người thường có thể đo lường được.
Vì sao vậy?
Vì tâm của hành giả tu pháp vượt trên tất cả đo lường!
Biển pháp giới vô lượng vô biên!
Biển hạnh Bồ Tát cũng vô lượng vô biên!

🌟

Nhà ma ám của Đặng Tín không còn ác quỷ nữa.
Nhà ma đã trở thành nhà cát tường.
Người ta đồn rằng Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đã đấu pháp với ác quỷ ba ngày ba đêm, ngói nhà bay tung hết, Hoạt Phật phóng sấm sét liên hồi, trời long đất lở, ác quỷ bị đánh nát thành từng mảnh.
Đó chỉ là lời đồn thôi!
Thực ra con ác quỷ này đã được đồng loại dẫn dắt vào trong bình sứ, được tịnh hóa bằng nước thanh tịnh, và trong tích tắc đã được vãng sinh về tịnh thổ.

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người:
Một người giác ngộ, sau khi cảm ứng đạo giao, tâm địa rộng mở, linh quang tỏa chiếu, mới biết rằng linh quang của ta và linh quang của ác quỷ vốn bình đẳng không khác, không thể không tôn trọng ác quỷ.
Chỉ cần ác quỷ một lần hồi tâm, một lần thanh tịnh.
Ác quỷ cũng được vãng sinh!


### 16. Tâm không lo lắng


Có một vị xuất gia tên Thích Thưởng Thiên, khi giảng kinh thuyết pháp, thường hay nhắc đến Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.
Ông ta không gọi pháp hiệu của tôi là Thích Liên Sinh, cũng không gọi tôi là Liên Sinh Hoạt Phật, càng không nhắc đến Hoa Quang Tự Tại Phật, mà thẳng thừng gọi tôi là "thằng nhóc họ Lư".

Khi Thích Thưởng Thiên phê bình tôi, cảm xúc rất kích động, giọng điệu cao ngạo, nói năng gấp gáp, như nước chảy ào ào không ngừng.
Ông ta nói:
"Hiện nay trong giới Phật giáo có một con đại thiên ma đang quấy phá, chính là thằng nhóc họ Lư đó."
"Không giống Phật, không giống Đạo, không giống Thần, loại người này chỉ cần nhìn một cái là biết ngay đó là tà."
"Đức Phật đã quở trách thần thông, vậy mà thằng nhóc họ Lư này chuyên giảng về thần thông, việc giảng thần thông hoàn toàn trái ngược với trí tuệ Phật. Đại thiên ma đương nhiên có thần thông, tà ma quỷ quái cũng có tiểu thần thông, có thần thông chẳng có gì là hiếm lạ, không thể tin vào thần thông, không thể quy y theo thằng nhóc họ Lư."
"Thằng nhóc họ Lư nói rằng nó uống cà phê với Phật Thích Ca Mâu Ni, trong khi Phật đã nhập diệt hơn hai nghìn năm trăm năm rồi, trong giới Phật giáo có vô số trưởng lão đại đức tu hành chứng đạo, chưa từng có ai uống cà phê với Phật, vậy mà thằng nhóc họ Lư bịa ra câu chuyện như thế, lại có người tin theo nó, nó không phải là Hoạt Phật, mà là trò hề."
"Thằng nhóc họ Lư muốn nổi tiếng đến phát điên rồi, cách tốt nhất là nói rằng nó thấy được tiền kiếp của mình là Liên Hoa Đồng Tử, lại còn có thể lên đến hai mươi tám tầng trời, xuống đến địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, đến được mười phương pháp giới, cảnh giới tu hành cao không thể tưởng, như vậy là có thể lừa được chúng sinh thiên hạ, muốn lừa gạt điều gì, mọi người đều hiểu rõ."
"Kẻ này chắc chắn là nói dối bịa đặt, là nằm mơ, thằng nhóc họ Lư này đem cả giấc mơ ra nói thành thật, thích dùng trí tưởng tượng đáng sợ để dọa mình và nạt chúng sinh thiên hạ."
"Lôi thằng nhóc họ Lư thầy bói này ra đây!"
"Lôi thằng nhóc họ Lư gian ác này ra đây!"
"Lôi đại thiên ma tà thần này ra đây!"
"Chân Phật Tông, thằng nhóc họ Lư tự so sánh mình với Chân Phật, vậy các tông phái khác chẳng lẽ là Giả Phật Tông sao, hắn là kẻ thù của Phật giáo, lôi hắn ra đây!"

Thích Thưởng Thiên nói đến đây, thở hổn hển, hận không thể chặt Lư Thắng Ngạn thành vạn mảnh, nuốt chửng Lư Thắng Ngạn trong một hơi, biến Lư Thắng Ngạn thành tro, căm ghét đến nghiến răng ken két.
Tôi nghe đệ tử kể lại.

Tôi chỉ mỉm cười:
"Không sao đâu, không có gì đáng để ý."
Đệ tử nói:
"Sư Tôn không để ý, nhưng chúng con thì có."
Tôi nói:
"Mọi chuyện rồi sẽ qua đi thôi."
"Tuy mọi chuyện sẽ qua đi, nhưng hiện tại thật khó chịu đựng!"
Tôi đáp:
"Tranh chấp trên sừng ốc sên có ích gì, cuộc đời như ánh chớp thoáng qua."
"Thưa Sư Tôn, phải xử lý thế nào ạ?"
"Không cần xử lý, cứ để mọi việc tự nhiên."
"Sư Tôn không phản bác ông ta sao?"
"Lòng như biển cả, dung chứa được vạn sông."

Tôi viết một bài kệ cho đệ tử này, đây là bài kệ của Bạch Vân thời nhà Nguyên:
*Ta Bà khổ, đời như mảnh bèo trôi,
Muỗi mòng trong mi tranh lợi nhỏ,
Trên sừng ốc sên danh hão huyền,
Một chút hòa khí khó có được.*

*Ta Bà khổ, ánh sáng lại bóng tối
Vinh nhục buồn vui bao giờ dứt,
Đúng sai ta người khi nào thôi,
Con đường sinh tử thật xa xôi.*

Tôi nói với đệ tử:
"Hãy đi tu hành đi, những việc khác không cần để ý đến."
"Sư Tôn, thầy có an tâm không?"
"Tôi an tâm." - Tôi đáp.
"Sư Tôn, thầy có phiền não không?"
"Tâm không vướng bận." - Tôi đáp.
Tôi cũng nói với đệ tử này:
"Thật ra tất cả chúng sinh trong thế gian này đều có Phật tính, Chân Phật chính là Phật thật trong mỗi người. Vì vậy chư Phật tổ sư thuyết pháp là để người ta tỉnh ngộ ra Chân Phật vốn có trong mình, không cần phải tìm cầu bên ngoài, đó chính là ý nghĩa của Chân Phật Tông. Người ngoài lại cho rằng Chân Phật Tông tôn sùng mình mà hạ thấp tông phái khác, đó là một sự hiểu lầm. Chỉ cần tu đến khi tâm quang hiển lộ, tự nhiên sẽ hiểu được ý nghĩa của Chân Phật, đến lúc tâm quang tỏa chiếu, Chân Phật tự hiển bày!"

🌟

Khoảng nửa năm sau sự việc đó.
Thích Thưởng Thiên bất ngờ đến tìm tôi. Vì không biết trước ý định của vị pháp sư này nên tôi cảm thấy lo lắng, chỉ còn cách thận trọng đối phó.

Khi gặp Thích Thưởng Thiên, tôi thấy vị pháp sư này có diện mạo đoan chính, phong thái khá điềm đạm, lời nói rất lịch sự, vẻ khiêm nhường, khiến tôi nhớ đến câu "Nghe có thể là giả, thấy mới là thật".
Thích Thưởng Thiên nói:
"Hôm nay đến thăm đột ngột, thật đường đột, mong ngài thứ lỗi!"
"Không biết thầy có điều chi chỉ giáo?"
"Nghe nói ngài chữa khỏi nhiều bệnh nhân tâm thần phải không?"
"Vâng." - Tôi gật đầu.
Thích Thưởng Thiên nói:
"Sự việc là như thế này, mẹ tôi mắc chứng suy nhược thần kinh đã nhiều năm, từng phải nằm viện, thăm khám nhiều bác sĩ nhưng tình trạng vẫn không khá hơn. Bản thân tôi là pháp sư, đã làm lễ sám hối, cầu nguyện chư Phật Bồ Tát, uống nước chú Đại Bi nhiều năm rồi, bệnh tình của mẹ tôi là nỗi đau trong lòng tôi. Khoảng một tháng trước, mẹ tôi bỗng nhiên bị nhập, tự xưng là Quan Thế Âm Bồ Tát nhập, nói chắc như đinh đóng cột rằng phải tìm Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Bản thân tôi không mấy tin vào chuyện nhập hồn, nhưng Quan Thế Âm Bồ Tát liên tục nhập nhiều lần, lần nào cũng nói như vậy. Sau đó tôi hỏi mẹ tôi có biết Lư Thắng Ngạn không, thực ra bà không biết chữ, hoàn toàn không biết ngài..."

Nghe xong câu chuyện này, tôi chỉ cười ngây ngô.
Thích Thưởng Thiên nói: "Bây giờ, theo lời Quan Thế Âm Bồ Tát mà tôi đặc biệt tìm đến ngài, không biết ngài có cách gì không?"
Tôi nói:
"Thầy có tin tôi không?"
"Cái này..." - Thích Thưởng Thiên không trả lời.
"Thế này nhé! Sư phụ tôi truyền cho tôi ba lá phù, chuyên trị bệnh tâm thần, đây là phù 'thượng yểm', đốt phù thành tro, chia làm ba lần. Nhiều người chỉ cần uống ba lần nước bùa này, tự nhiên ngủ say, sau khi tỉnh dậy, bệnh tâm thần sẽ khỏi."
"Thần diệu vậy sao!" - Thích Thưởng Thiên ngạc nhiên.
"Thần diệu hay không còn chưa biết, nhưng cứ mười người thì chín người chỉ cần ba lá phù là khỏi hẳn bệnh, dễ như trở bàn tay vậy!"
"Dễ như trở bàn tay?"
"Nghĩa là rất dễ dàng!" - Tôi nói.
Thích Thưởng Thiên cười.
Tôi cũng cười.

Tại đàn thành, tôi rất nghiêm túc vẽ ba lá phù này, tôi đặc biệt cầu nguyện, đây là do Bồ Tát chỉ dẫn mà đến, nhất định không thể thất bại, phải linh nghiệm mới được. Tôi một lòng thành kính, Bồ Tát nhất định sẽ cảm ứng.

Trị bệnh chỉ dùng phép thần tiên.
Cứu cấp phải nhờ cách của trời.
Nương nhờ Bồ Tát vô lượng thọ.
Cấp cấp luật lệnh khó nghĩ bàn.

Tôi tụng:
"Ma ha bát nhã ba-la-mật. Cấp cấp như luật lệnh." (ba lần)

Thật kỳ lạ thay:
Mẹ của Thích Thưởng Thiên đã khỏi hẳn bệnh tâm thần, hoàn toàn bình thường, không còn chút dấu hiệu bất thường nào, và cũng không còn lúc khỏe lúc yếu nữa.
Thích Thưởng Thiên vô cùng kinh ngạc.
Bởi vì chỉ với ba tờ giấy vàng bình thường mà lại hiệu nghiệm hơn cả thuốc Đông y lẫn Tây y uống nhiều năm.
Thật không thể nghĩ bàn!

🌟

Thích Thưởng Thiên lại đến tìm tôi.
Lần này không phải vì bệnh của mẹ mà đến tìm tôi.
Thích Thưởng Thiên nghiêm túc nói:
"Tôi muốn quy y với thầy!"
"Không được! Không thể được!" - Tôi xua tay.
"Tại sao ạ?"
"Vì thầy đã xuất gia, đã có sư phụ rồi!" - Tôi đáp.
"Tôi muốn nhận thêm một sư phụ nữa!" - Ông ấy tỏ vẻ thành kính, định quỳ xuống ngay lập tức.
Tôi nói:
"Không thể vì tôi chữa khỏi bệnh cho mẹ thầy mà thầy muốn quy y với tôi!"
Thích Thưởng Thiên trả lời:
"Không phải vì bệnh của mẹ, mà là có nhân duyên khác."
"Nhân duyên khác?" - Tôi tò mò.
"Vâng. Có nhân duyên khác!"

Thích Thưởng Thiên kể lại chi tiết như sau:
Thích Thưởng Thiên ngồi thiền trong tịnh thất của mình, suy ngẫm về vấn đề ba lá phù của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, về nguyên lý của phù chú và nước Đại Bi. Cứ nghĩ cứ nghĩ, bỗng bất tri bất giác, ông dần rơi vào trạng thái mơ màng.

Đột nhiên ông nghe thấy hai vị quan mặc đồ đen gọi ông:
"Pháp sư, mời đi lối này!"
Thích Thưởng Thiên đi theo hai vị quan về phía Nam được một đoạn đường, thấy một tòa thành bằng sắt lớn.
Tòa thành sắt này, lửa trên cháy xuống, lửa dưới cháy lên, cả tòa thành ngùn ngụt lửa cháy, ánh lửa bùng phát, vô số tội nhân trong thành kêu gào thảm thiết, âm thanh vô cùng khủng khiếp, Thích Thưởng Thiên nghe mà run sợ.
Ông hỏi các vị quan:
"Đây không phải là thành Đại Thiết Vi của địa ngục sao?"
Các vị quan đáp: "Đúng vậy."
"Tại sao tôi lại đến đây?" - Thích Thưởng Thiên hỏi.
"Một lát nữa ngài sẽ hiểu rõ." - Hai vị quan trả lời.

Các vị quan dẫn Thích Thưởng Thiên vào thành Đại Thiết Vi, họ chứng kiến cảnh người chịu hình phạt trong địa ngục, cảnh tượng thống khổ, giống như những gì được mô tả trong "Kinh Địa Tạng", Thích Thưởng Thiên tận mắt nhìn thấy cảnh địa ngục, sợ đến há hốc mồm, không nói nên lời.

Sau đó, Thích Thưởng Thiên diện kiến Diêm La Vương.
Diêm La Vương đối với Thích Thưởng Thiên khá lịch sự, không có vẻ nghiêm khắc lắm, chỉ lấy ra một cuốn sổ và lật xem.
"Sổ gì vậy?" - Thích Thưởng Thiên hỏi.
"Sổ thiện ác."
"Của ai vậy?"
"Của ngươi."
"Thiện ác gì?"
Diêm La Vương nói:
"Đời này của ngươi, thiện công ghi chép không ít, nhưng theo sổ này thì sau khi chết ngươi sẽ phải vào địa ngục móc mắt và cắt lưỡi đấy!"
Thích Thưởng Thiên kinh hoàng:
"Tôi có tội gì?"
"Tuy ngươi có đôi mắt, nhưng xem ra đôi mắt này cũng không đáng tin, vì đôi mắt của ngươi không đáng tin nên một số suy nghĩ cũng không đáng tin, trong khi thuyết pháp, ngươi đã nói ra hết những suy nghĩ không đáng tin đó, điều này đã tạo thành nghiệp tội. Ngươi phải nhớ kĩ một điều, hiểu đúng về một người thật không dễ dàng!"
"Tôi đã phỉ báng bậc thánh hiền?"
"Đúng vậy."
"Ai vậy?"
"Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn."
"Mọi người đều nói vậy, tôi chỉ nghe theo thôi."
"Tam sao thất bản."
Diêm La Vương hỏi Thích Thưởng Thiên:
"Theo ngươi biết, trong cõi chúng sinh, người lên thiên đường nhiều hay xuống địa ngục nhiều?"
Thích Thưởng Thiên đáp: "Người được vãng sinh lên trời hiếm như lông phượng sừng lân, kẻ đọa ba đường địa ngục nhiều như cá vượt sông!"
"Đúng vậy, đúng vậy, cho nên cõi chúng sinh thường không phân biệt được đen trắng, đảo lộn phải trái, lẫn lộn thật giả, không rõ thiện ác, tùy tiện phê phán người khác, há chẳng phải sai lầm lớn sao!"
Thích Thưởng Thiên không lời đối đáp.

Diêm La Vương nói với Thích Thưởng Thiên:
"Ở thế giới Ta Bà ngày nay, trong số các bậc cao tăng đại đức thực sự đạt được tâm ấn của Phật Thích Ca Mâu Ni, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn là một trong số đó. Sự chứng ngộ của ngài đã đạt đến vô thượng, là bậc Mật chủ của thời nay. Thế nhưng lời đồn đại ở thế giới Ta Bà lại đi ngược chiều, tạo ra những sai lầm đáng cười. Có thể thấy chúng sinh phần lớn đều mù quáng, không lạ gì người sinh về trời ít mà kẻ đọa địa ngục lại nhiều!"
Thích Thưởng Thiên kinh hãi:
"Giờ phải làm sao?"
"Hãy quy y đi!" - Diêm La Vương nói.
"Tôi..."
"Hãy đi nhận truyền thừa, tâm ấn Như Lai."

Ta muốn đời này được gặp Phật.
Phật với ta nay đâu xa xôi.
Chỉ cần một niệm tâm quy thuận.
Không cần ba (a-tăng) kỳ mắt liền khai.

Thích Thưởng Thiên cảm thấy việc quy y với Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn là một sự đấu tranh tâm lý rất lớn. Giới Phật giáo đều nói ngài là đại ma vương, là đại ngoại đạo. Giờ đây ông tự mình đi quy y, chắc chắn sẽ bị giới Phật giáo chỉ trích, sau này ông sẽ phải gánh chịu áp lực nghìn cân hữu hình lẫn vô hình.

Thích Thưởng Thiên cũng cảm nhận rằng, vạn vật đều đang trong trạng thái biến động, mọi thứ thay đổi trong từng khoảnh khắc, không thể nắm bắt được. Trước đây sư phụ từng dạy ông rằng, Phật học là sự bất biến tương đối trong biến động, và trong cái bất biến tương đối đó lại có biến động, giờ đây ông đã thấu hiểu được điều này.

Căn bệnh của mẹ.
Lời của Diêm La Vương.

Thích Thưởng Thiên từ biệt Diêm La Vương, lại đi đến một tòa thành sắt khác. Trong thành sắt, ông thấy một vị hòa thượng đang thuyết pháp giáo hóa tội nhân, tội nhân nghe pháp rất đông, người đông như nước. Vị hòa thượng này thuyết pháp, trời rải hoa mưa xuống, tội nhân cảm động sám hối, ai nấy đều được thanh tịnh, phát tâm bồ đề.

Thích Thưởng Thiên chen đến trước pháp tòa, ngước nhìn lên, vị hòa thượng này không phải ai khác, chính là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.
Thích Thưởng Thiên nói:
"Ngài có biết tôi không?"
"Ông là Thích Thưởng Thiên."
"Tại sao ngài đến địa ngục thuyết pháp?" - Thích Thưởng Thiên tò mò hỏi.
"Thế còn ông, tại sao ông lại đến địa ngục?" - Hoạt Phật hỏi lại.
Thích Thưởng Thiên đáp:
"Tôi bị nghiệp lực dẫn dắt đến đây!"

Hoạt Phật nói:
"Trong chúng sinh ở đường ác, cũng có người từng gieo thiện căn trong quá khứ, thiện lực khá mạnh, chỉ vì nhất thời phạm phải ác nghiệp mà thôi. Chỉ cần một niệm phát tâm là có thể thoát khỏi tội khổ. Tôi dùng Phật lực cứu độ, có thể khiến họ thoát khỏi tội khổ địa ngục, sớm được ra khỏi địa ngục, sớm thoát ba đường ác, trở về cõi người cõi trời."

Thích Thưởng Thiên nhìn lại Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, Hoạt Phật đã hiện ra kim thân trượng sáu, hào quang tỏa sáng nơi đầu, sau lưng và toàn thân rực rỡ.
Vàng ròng trăm luyện hiện toàn công.
Giải hành tương ứng cùng chư Phật.
Lạ thay mười phương đều trải việc.
Chỉ trong nháy mắt thấy rồng bay.

Thích Thưởng Thiên xuất định sau thời tọa thiền, liền quyết định quy y với Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Không chỉ riêng ông, toàn bộ chư tăng ni và cư sĩ trong chùa đều đến quy y, việc này gây chấn động khắp nơi.
Dĩ nhiên, trong chùa cũng có người không phục, những người không phục tự động rút lui.
Cũng có người phê phán rằng Thích Thưởng Thiên đã tẩu hỏa nhập ma.
Có cao tăng chỉ trích Thích Thưởng Thiên tu tà pháp.
Tuy nhiên, điều kỳ diệu là Thích Thưởng Thiên xuất gia học Phật nhiều năm, tu hành ít có cảm ứng, nhưng khi vừa tu Chân Phật Mật Pháp, thiên nhãn lập tức khai mở, từ đó tu hành tiến bộ nhanh chóng, có nhiều tâm đắc. Những người theo Thích Thưởng Thiên tu Chân Phật Mật Pháp đều hoan hỷ tán thán, bởi vì sự tương ứng đến rất nhanh chóng!

Tại ngôi chùa của Thích Thưởng Thiên cũng xảy ra một sự việc kỳ lạ tương tự.
Có một vị tăng tên Thích Hằng Thuận, ông không phục việc Thích Thưởng Thiên quy y.
Thích Hằng Thuận do bệnh phải nhập viện mổ, trong quá trình phẫu thuật, khi đang mê man vì gây mê, ông cũng được đưa xuống địa ngục.
Trong địa ngục, ông bị hành hình.
Đúng lúc nguy cấp, có một người hiện thân đến cứu ông, và người hiện thân đó chính là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.
Thích Hằng Thuận lần này trong lúc gây mê phẫu thuật, đã thấy mọi việc rõ ràng.
Vừa xuất viện, ông lập tức trở về chùa, sám hối với Thích Thưởng Thiên, và ngay lập tức đăng ký quy y, tu tập Tứ gia hành của Chân Phật Mật Pháp.
Hai sự việc này, gần như giống hệt nhau.

Đây chính là:
Chẳng phải do căn lành huân tập
Sao đạt công đức lập đại danh
Chợt thấy gió mát thổi lửa nghiệp
Trong hào quang ngọc hiện kim dung.


### 17. Tác dụng của thẻ hộ mệnh


Có một viên chức tên là Ngô Khoan, trên đường về nhà nhặt được một thẻ hộ mệnh bằng đồng, lúc đó thẻ rất bẩn và đã bị gỉ sét.
Ngô Khoan đã dùng nước rửa thẻ hộ mệnh, rồi dùng dầu đồng đánh bóng, trông như mới vậy. Anh quan sát thẻ rất kĩ, trên thẻ có chú luân, được sắp xếp bằng chữ Tạng.

Ngô Khoan không hiểu chữ chú Tạng.
Anh mang thẻ đi hỏi một vị Rinpoche (Hoạt Phật) Tây Tạng.
Vị Rinpoche Tây Tạng nói với Ngô Khoan:
Chú luân trên thẻ hộ mệnh thuộc về Mật giáo Kim cương thừa, được tạo thành bằng cách sắp xếp tâm chú của chư tôn xung quanh, làm thành thẻ hộ mệnh, tương đương với một mandala pháp, dùng để hộ trì.
Vị Rinpoche nói:
1. Hình tròn tượng trưng cho nguyệt luân.
2. Chữ chú ở trung tâm tượng trưng cho chủng tử tự.
3. Các chữ chú bao quanh là thần chú.

Cuối cùng Rinpoche (Hoạt Phật) nói với Ngô Khoan rằng thần chú trên thẻ hộ mệnh này rất đặc biệt, hiếm thấy ở Tây Tạng, nhưng bên trong chứa đựng đại đà-la-ni của Đại Nhật Như Lai, không thể xem thường.
Ngô Khoan nghe xong rất vui, tuy không hiểu đây là thần chú gì nhưng vẫn chắp tay lễ bái thẻ hộ mệnh rồi treo nó ở cửa phòng ngủ.
Chỉ một lòng thành kính chắp tay này đã sinh ra điều kỳ lạ.

Có lần Ngô Khoan bị ốm sốt cao.
Trong cơn mê sảng, anh thấy có hai người muốn vào phòng ngủ, hai người này anh không quen biết, mặt xanh nanh nhọn trông như quỷ, khiến Ngô Khoan trong lòng rất sợ hãi.

Một con quỷ nói:
"Vào ăn thịt hắn đi."
Con quỷ kia nói:
"Ta sẽ ăn gan trước, ngươi ăn thận."
Bệnh của Ngô Khoan đúng là viêm gan và có chút nước ở thận.
Ngô Khoan nghe vậy, sợ đến thất kinh!

Hai con quỷ đang định bước vào.
Chợt thấy trên tường cửa phòng ngủ, tấm thẻ hộ mệnh bỗng tỏa ra vầng sáng trắng, chắn ngay cửa ra vào.
Hai con quỷ lao vào.
Bị lưới ánh sáng co giãn, hất văng ngã ngửa, đầu sưng mặt bầm.
Hai con quỷ không phục.
Thò tay vào lưới sáng, tay lập tức bốc cháy, kêu lên xèo xèo.
Một con quỷ nói:
"Thẻ hộ mệnh ghê gớm quá!"
Con quỷ kia nói:
"Xem thử là thẻ hộ mệnh gì!"

Hai con quỷ nhìn kĩ, la lớn: "Đây là thẻ hộ mệnh của Bạch Liên Hoa Đồng Tử, là thẻ chú của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, thẻ hộ mệnh này có đại thần thông, có ánh sáng mười phương, có cứu độ bình đẳng, có cõi Phật tịnh thổ."
Hai con quỷ thất vọng bỏ đi, chớp mắt đã không còn tăm tích.

Ngô Khoan nhìn thấy rõ ràng, nghe rành mạch, ghi nhớ trong lòng, sau đó Ngô Khoan dưỡng bệnh nhiều ngày rồi cũng khỏi hẳn.
Ngô Khoan cầm thẻ hộ mệnh đến hỏi pháp sư trong chùa, pháp sư không biết đó là thẻ chú gì. Nhưng vừa hỏi đến Liên Hoa Đồng Tử, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, mặt pháp sư liền biến sắc.
"Đừng hỏi, đừng hỏi."
"Tại sao vậy?"
"Đó là đại tà ma!" - Pháp sư vội vàng bước đi.
Ngô Khoan đuổi theo.
Pháp sư quay đầu nói:
"Vị Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn này, tốt nhất đừng dính dáng!"

Ngô Khoan trở về suy nghĩ kĩ về vấn đề này, thẻ hộ mệnh rõ ràng đã cứu anh, lại nói có đại thần thông, lại nói có ánh sáng mười phương, lại nói có cứu độ bình đẳng, lại nói có cõi Phật tịnh thổ, sao lại là đại tà ma được?

Ngô Khoan là một người thích tìm tòi nghiên cứu, đồng thời cũng là người khá sáng suốt. Anh hiểu rằng những điều nghe được thật ra không đáng tin cậy, nhiều khi tin tức truyền hình cũng không phản ánh sự thật. Hơn nữa, nếu bạn dựa vào những điều nghe được để tin tưởng, thường đó chỉ là niềm tin mù quáng, như vậy cuộc đời này thật uổng phí.
Ngô Khoan quyết định đi thăm Lư Thắng Ngạn.
Để nghe thử người này thuyết pháp nói những gì.

Ngô Khoan đã có nhiều dịp trò chuyện với Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, mua về nghiên cứu hàng trăm cuốn sách của ngài, tham dự nhiều buổi pháp hội và lắng nghe cẩn thận những lời giảng dạy của ngài. Có lần trong chuyến đi Canada, tình cờ được ngồi phía sau Hoạt Phật, theo sau ngài ba ngày theo cách độc đáo và thu thập được không ít tư liệu. Điều khiến người ta phải thán phục là vị này có một nền tảng văn hóa vô cùng phong phú, có ý chí kiên định như núi kim cang, tông phái Chân Phật do ngài sáng lập với hơn 30 tòa Lôi Tạng Tự và hơn 300 chi nhánh cùng trung tâm hoằng pháp trên toàn thế giới, không thể nào một sớm một chiều mà có thể có được.

Ngô Khoan nhận thấy ý chí và tư tưởng triết học của Liên Sinh Hoạt Phật đã đạt được thành tựu rất lớn. Từ khi còn trẻ, ngài đã bị kìm hãm, bị giới tôn giáo đàn áp, lớn lên trong sự phỉ báng, sớm bị quy chụp thành "ma", thành "tà", thành "đại ngoại đạo" trong giới Phật giáo. Nhưng ngài vẫn luôn bình thản, chỉ có một mục tiêu duy nhất, đó là "thực tu Mật pháp". Những lời xấu, những tin tức tiêu cực đổ lên người ngài, tất cả đều trở thành nguồn động lực cho sức sống của ngài.

Ngô Khoan cho rằng, Lư Thắng Ngạn là người có sức sống mãnh liệt nhất, hơn nữa sức sống của người này vẫn đang không ngừng dâng cao, tiềm năng của ngài không thể đánh giá thấp. Ngay cả trong những thời điểm bị phỉ báng và đả kích dữ dội nhất, Chân Phật Tông do ngài sáng lập vẫn không hề có dấu hiệu suy thoái, như thể được "thần thông" truyền thừa của ngài bảo hộ.

Điều khiến Ngô Khoan kinh ngạc là, anh nhận ra:
Về mặt thực tu Mật giáo Hộ Ma hỏa cúng.
Nhiều người tự xưng là người theo phái Mật giáo, đối với phương diện tu hành này, chỉ là "ảo ảnh trong sa mạc" và "lời nói suông giữa hoang dã".
Nói suông rốt cuộc chẳng ích gì.
Nhưng việc Chân Phật Tông thực tu Mật giáo Hộ Ma là một sự thật hiển nhiên trước mắt.
Hơn nữa, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn thực sự rất nhiệt thành cứu độ chúng sinh, pháp tu và sự cứu độ của ngài chưa từng gián đoạn một ngày nào, vẫn tiếp diễn đến tận hôm nay. Khi có thời gian, bản thân ngài thích ẩn tu để có đủ không gian và thời gian tĩnh tu, khai phát tri thức mới, sáng tạo ra những lý luận Phật học mới.

Ngô Khoan chỉ ra:
1. Tư tưởng của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn quá mới mẻ và tiên phong, nên bị bên ngoài hiểu lầm là "tà".
2. "Thần thông" của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn bị giới Phật giáo kìm hãm, họ cho rằng ngài đã lạc vào tà đạo và là người bệnh tâm thần.
3. Việc Liên Sinh Hoạt Phật thấy được thần linh, thấy được ma quỷ, làm sao giống một người bình thường được, đối với những lời chỉ trích từ người ngoài mà vẫn thản nhiên, nếu không phải bệnh tâm thần thì là gì?
4. Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn cho rằng, các tôn giáo trên thế giới đều có tầng bậc riêng, đều có lý do hình thành và cảnh giới riêng của mình, vì thế bị giới Phật giáo phê phán là "đại ngoại đạo".
5. Lối sống chân thật của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn bị giới Phật giáo xem là phi lý, không phải cách tu hành truyền thống của đạo Phật.
6. Truyền thông liên tục đưa tin sai lệch, tam sao thất bản, càng truyền càng tệ.
7. Công tác truyền thông của Chân Phật Tông còn quá yếu.

Ngô Khoan cho rằng, do thời gian đã quá lâu, cùng với nhiều yếu tố bên ngoài và thành kiến, việc xây dựng lại hình ảnh của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn và Chân Phật Tông là vô cùng khó khăn, việc bác bỏ những lời đàm tiếu từ bên ngoài cũng tốn rất nhiều công sức. Tuy nhiên, công tác truyền thông của Chân Phật Tông vẫn phải nỗ lực, phải tích cực hơn nữa, bởi chỉ cần cố gắng, Chân Phật Tông nhất định sẽ có ngày thoát khỏi những kết luận sai lầm về "ma", "tà", "ngoại đạo".
Ngô Khoan đã viết một bản báo cáo quan sát và gửi cho tôi.

🌟

Một ngày nọ, Ngô Khoan đến tìm tôi.
"Con muốn quy y với Sư Tôn!"
"Con chưa quy y sao? Ta biết con là Ngô Khoan mà."
"Đúng vậy, con đã quan sát Sư Tôn được ba năm rồi."
"Lâu thế."
"Theo quy định của Mật giáo, chẳng phải phải quan sát thầy ba năm sao?"
"Phải."
"Sư Tôn thấy cách quan sát của con thế nào?"
"Rất chính xác." - Tôi kính phục anh ấy.
Ngô Khoan nói:
"Con thấy có một điều Sư Tôn làm mà con vẫn chưa hiểu. Sư Tôn quản lý Chân Phật Tông theo cách vô vi, sao không từ bỏ vô vi mà chuyển sang tích cực điều hành?"
Tôi đáp:
"Tôi không chú trọng đến sự phát triển của tông phái, mà chỉ quan tâm đến việc tu tập của cá nhân."
Ngô Khoan suy nghĩ một lúc rồi nói:
"Cuối cùng con đã hiểu!"

Ngô Khoan hiểu rằng tôi muốn mọi người đều thành Phật chứng quả, chứ không phải muốn Chân Phật Tông trở nên lớn mạnh để trở thành tổ chức tôn giáo số một thế giới.
Cuối cùng Ngô Khoan lại hỏi một câu:
"Sư Tôn biết rõ nhiều người có căn tính xấu, nghiệp chướng nặng nề, là những kẻ phá hoại Phật pháp, nếu cho họ quy y, có thể sẽ làm tổn hại đến uy tín của Chân Phật Tông, biết rõ như vậy, tại sao vẫn cho họ quy y?"

Tôi trả lời:
"Tôi độ hóa chúng sinh, từng phát đại nguyện rộng lớn, dù thịt nát xương tan cũng độ chúng sinh, không bỏ một chúng sinh nào. Bởi vì không bỏ một chúng sinh nào, nên chỉ cần tự nguyện đến quy y, có duyên đến quy y, tôi đều tiếp nhận tất cả."
Tôi nói tiếp: "Tôi tất nhiên đem hết sức mình làm công việc độ hóa, chỉ cần đã tận lực thì trong lòng an nhiên. Còn kết quả thế nào, đó là chuyện khác, tôi không tính toán hậu quả. Trong tông phái có người tốt kẻ xấu, tôi hiểu rõ, tôi hy vọng có thể chuyển hóa họ."
Ngô Khoan đề nghị:
"Sao không loại bỏ cái xấu, giữ lại cái tốt?"
Tôi nói:
"Cho dù là cỏ dại cũng có Phật tính, tất cả đều bình đẳng."
Ngô Khoan nóng vội:
"Nhưng, họ phá hoại cả tông phái?"
Tôi đáp:
"Sự thành bại của tông phái, tùy duyên mà đến. Nhưng, đời này độ không được họ, còn có đời sau, còn có đời sau nữa, còn có vô số đời, tôi có niềm tin."
Ngô Khoan lắc đầu:
"Hy sinh như vậy quá lớn!"

Tôi viết cho Ngô Khoan một bài kệ:
Ta Bà vốn là Cực Lạc quốc
Cỏ dại cũng hiện thân tịnh diệu
Vốn cùng nguồn gốc một Phật tính
Mầm thiêng nảy nở chẳng hay xuân.

🌟

Một lần khác.
Ngô Khoan đi dự đại pháp hội tại một ngôi chùa lớn, hôm đó có rất đông người, Đại Hùng Bảo Điện chật kín người. Bởi vì chùa tổ chức truyền Ngũ giới, Bồ Tát giới và Xuất gia tam đàn đại giới, cũng có các bài giảng pháp của các vị đại hòa thượng.

Trong Đại Hùng Bảo Điện, mọi người xếp hàng để cúng dường trước Phật.
Đại hòa thượng lên tòa.
Đại chúng tụng kệ.
Các thí chủ lần lượt xếp hàng lên cúng dường.
Ngay lúc đó, một người phụ nữ bỗng run rẩy toàn thân, như một đồng cốt lên đồng vậy, đứng giữa Đại Hùng Bảo Điện múa tay và bước đi như điệu bộ của đồng cốt, cử chỉ vô cùng kỳ quặc.

Sau đó, người phụ nữ lên đồng lẩm bẩm niệm thần chú gì đó không rõ, cầm một ly nước trong, nhấp một ngụm rồi phun vào vị đại hòa thượng chủ trì.
Mọi người thấy không ổn, vội chạy đến kéo cô ta lại.
Người phụ nữ lên đồng miệng thì chửi bới đại hòa thượng, tuôn ra đủ thứ lời tục tĩu, không hề kiêng dè, trông như một kẻ điên, sức mạnh phi thường, hai người tiến lên kéo cô ta lại thì bị giật ngược, y phục rách bươm, mặt bị cào xước, rồi còn bị cô ta đánh ngã xuống đất.Mọi người đứng ngây ra, không biết phải làm sao!
Tình cảnh vô cùng hỗn loạn.

Lúc này, một vị pháp sư đã từng học Kim cương thừa, tự xưng là có thể hàng ma bước ra, tay phải kết ấn kim cang chỉ, chỉ vào người phụ nữ lên đồng, miệng niệm: "Hùm hùm hùm fa-cha sô-ha."
Vị pháp sư hy vọng người phụ nữ lên đồng sẽ ngã xuống và dừng lại.
Nào ngờ người phụ nữ lên đồng cười lớn:
"Ngươi muốn hàng phục ta sao, ngươi là giả mạo, đừng có giả bộ, lừa gạt chúng sinh, ngươi chỉ là kẻ học đòi."
Vị pháp sư này rất lúng túng, tiến lên định ra tay.
"Ngươi dám!" - Người phụ nữ lên đồng trừng mắt giận dữ.
Người phụ nữ lên đồng hét lớn: "Trong này chỉ có một người là tu hành chân chính, người đó mới là hành giả thật sự."

Người phụ nữ lên đồng chỉ thẳng vào Ngô Khoan.
Ngô Khoan không hiểu vì sao người phụ nữ lên đồng lại tìm đến mình, anh hoang mang, bối rối, chỉ biết thầm niệm trong lòng:
"Căn bản Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, xin thầy phóng quang gia trì cho người phụ nữ lên đồng này, để cô ấy bình tĩnh lại, đừng náo loạn nữa. Trước Phật cúng dường, cần giữ trang nghiêm thanh tịnh, om guru liansheng siddhi hum."
Ngô Khoan niệm thần chú của Sư Tôn:
"Om guru liansheng siddhi hum."
Tay giơ cao bùa hộ thân của Liên Sinh Hoạt Phật, bước tới phía trước.
Ấn một cái vào hư không.

Lập tức người phụ nữ lên đồng trở nên vô cùng cung kính, chắp tay lại, quỳ xuống trước bùa hộ thân và đảnh lễ ba lần.
Sau đó ngã người ra phía sau và tỉnh lại.

Mọi người thấy Ngô Khoan bước ra, tay giơ cao một vật, miệng niệm thần chú, chỉ trong chốc lát đã hàng phục được người phụ nữ lên đồng điên loạn, ai nấy đều vô cùng ngưỡng mộ và kính phục Ngô Khoan, cho rằng anh có pháp lực cao cường.
Có người hỏi:
"Trong tay là vật gì vậy?"
Ngô Khoan đáp: "Bùa hộ thân của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn."
"Anh còn không?"
"Còn vài cái, tôi sẽ chia cho mọi người!"

Ngô Khoan kể cho mọi người về công năng của bùa hộ thân và những trải nghiệm của mình, ai nấy đều thán phục không thể tin nổi, tất cả đều muốn có bùa hộ thân, Ngô Khoan hứa ngày mai sẽ mang nhiều bùa đến tặng mọi người kết duyên.

Ngô Khoan cũng chỉ dạy cách sử dụng bùa hộ thân, cứ nửa tháng một lần, phải quán tưởng Căn bản Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đứng trước mặt, phóng quang gia trì bùa hộ thân, sau đó trì tụng Liên Hoa Đồng Tử tâm chú: "Om guru liansheng siddhi hum" (108 biến), như vậy bùa hộ thân sẽ luôn linh nghiệm.

Có người chạy đến hỏi cô đồng:
"Vừa rồi là chuyện gì vậy?"
Cô đồng đáp:
"Tôi không biết gì cả."
"Cuối cùng sao cô tỉnh lại được?"
Cô đồng trả lời:
"Tôi chỉ thấy một vị Phật, cao như núi kim cương, phóng ra ánh sáng rất mạnh, chiếu vào tôi một cái, tôi liền tỉnh lại. Còn về những gì vừa xảy ra trong điện, tôi hoàn toàn không biết."

Sau sự việc này, Ngô Khoan càng thêm tin tưởng vào Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, anh nghiêm túc tu tập Chân Phật Mật Pháp và nhận ra rằng việc tu tập quả thật đã mang lại những chứng lượng tương ứng.

Anh nhận ra rằng chỉ cần "dốc lòng" hòa nhập, dòng chảy pháp ánh sáng giữa vũ trụ sẽ từ đỉnh đầu rót xuống, khiến toàn thân cảm thấy vô cùng mát mẻ, rất vững chãi, rất thoải mái, rất an nhiên, như đang tắm trong biển ánh sáng lớn.
Tu pháp rất hoan hỷ.
Tu pháp rất quang minh.
Tu pháp rất thanh tịnh.

Ngô Khoan có một chuyện linh ứng trong lúc tu pháp, anh kể lại rằng: Có một lần, sau khi tu pháp xong, tinh thần sảng khoái, anh ngồi nghỉ một chút, không ngờ nhập định.

Anh cảm thấy thân mình nhẹ bỗng, như chim bay lượn, nhìn thấy núi non, đồng bằng, thành phố và làng mạc bên dưới càng lúc càng nhỏ dần. Bay đến một nơi, vùng đất này vô cùng bằng phẳng, mặt đất không phải cát đá mà tỏa ánh sáng mềm mại, có hồ sen ngũ sắc, có cầu vàng, trong cảnh giới có lâu đài điện các đan xen, vô cùng tráng lệ, lại còn có cây báu với cành lá lung linh rực rỡ.
Gió hòa dịu nhất.
Thiên âm hòa nhã nhất.
Tất cả đều tinh khiết tuyệt mỹ.

Ngô Khoan thấy trên cầu vàng có một người, trông giống như người bố đã khuất của mình, lại đến gần hơn nữa, quả nhiên là bố anh.
Gương mặt của bố anh trông đẹp hơn lúc sinh thời, mặt như ngọc, y phục như mây sương, thấy con thì vô cùng vui mừng.
"Bố đến đón con đây!" - Bố của Ngô Khoan nói.
"Đây là nơi nào?"
"Chính là cõi Tây phương! Vì con tu học Chân Phật Mật Pháp, hồi hướng cho bố, nên bố đã đến được cõi Tây phương!"

Ngô Khoan nghe xong vô cùng xúc động, anh theo bố tham quan lâu đài bảy báu, hàng nghìn cây tiên, lá ngọc bích, hoa cánh vàng, hồ sen...
Cuối cùng Ngô Khoan từ biệt bố, tự nhiên tỉnh khỏi định, thở dài, thật không thể nghĩ bàn!
Từ đó Ngô Khoan lập chí nguyện, nhất định phải vãng sinh Tây phương.
Tu pháp càng thêm kiên định, đạo tâm càng vững vàng, đã chứng được "thần túc thông" rồi!


### 18. Truyền kỳ Lôi Tạng Tự


Khi tôi 26 tuổi đã khai mở thiên nhãn, đó là pháp do Diêu Trì Kim Mẫu ban cho. Lúc đó trong lòng vô cùng biết ơn, tôi đã viết một bài kệ ghi lại:
*Thân gánh trọng trách tuổi còn xanh
Siêu việt thế gian rạng công danh
Tịnh hóa Ta Bà là sứ mệnh
Chỉ Phật mới chống được vô thường.*

Diêu Trì Kim Mẫu cũng nói với tôi:
"Liên Sinh, trong tương lai con sẽ có chùa, đặt tên là Lôi Tạng Tự. Lôi - tiếng sấm vang vọng mười pháp giới; Tạng - tàng chứa Như Lai hiển chân như."
Tôi nói:
"Con không có tiền, làm sao xây chùa được?"
"Sẽ có Lôi Tạng Tự, và không chỉ một ngôi đâu!"
"Sao, không chỉ một ngôi, đừng đùa con chứ!"
Lúc đó tôi thật sự nghĩ vậy, khi ấy tôi đang phục vụ trong đơn vị đo đạc quân đội, mới chỉ là một sĩ quan cấp úy (sau này thăng lên cấp tá), lương tháng còn không đủ ăn, làm sao có thể xây chùa được, chẳng phải là mơ giữa ban ngày là gì.

Nhưng dù là giấc mơ, tôi vẫn ghi nhớ trong lòng. Bỗng nhiên tôi nảy ra ý tưởng, không xây được ngôi chùa lớn thì xây một Lôi Tạng Tự nhỏ bằng gỗ cũng được mà! Tôi đem ý tưởng của mình kể cho người thợ mộc nghe.

Người thợ mộc hỏi:
"Lôi Tạng Tự lớn cỡ nào?"
"Một thước vuông."
"Nhỏ vậy sao!"
"Nhỏ trước lớn sau." - Tôi nói.
"Mái hiên?"
"Chạm khắc thành hình chùa."
"Hai cánh cửa?"
"Dùng thần cửa, Uất Trì Cung và Tần Thúc Bảo."

Lôi Tạng Tự nhỏ bằng gỗ này có lẽ là ngôi chùa nhỏ nhất thế giới, cũng là tòa Lôi Tạng Tự đầu tiên trên thế giới. Chiều cao của nó không đến đầu gối người, tôi đặt ngôi chùa nhỏ này trên bàn thờ trong nhà mình. Bên trong thờ một tượng Phật A Di Đà cao tám tấc.
Tôi hết lòng cúng dường Lôi Tạng Tự.
Kính lễ Lôi Tạng Tự.
Chiêm ngưỡng Lôi Tạng Tự.
Tôi bất ngờ thấy ngôi Lôi Tạng Tự nhỏ nhất thế giới này thường xuyên tỏa sáng, trong lòng vô cùng kinh ngạc, phải chăng ngay cả ngôi chùa nhỏ bé này cũng có thần linh.

🌟

Năm đó, có một ông Lữ Gia là chủ tịch hội đồng quản trị của một công ty. Một hôm, ông Lữ Gia lái xe Mercedes về nhà vào ban đêm, đi qua chân núi, lúc đó khu vực chân núi rất hoang vắng, đặc biệt là vào ban đêm.
Trên đường đi qua chân núi, ông gặp phải năm tên côn đồ, mỗi tên cưỡi một chiếc xe máy đuổi theo ông.
Lữ Gia biết bọn chúng không có ý tốt.
Hoảng sợ lái xe.
Trong khi những chiếc xe máy phía sau đuổi theo gấp gáp.

Do quá căng thẳng, Lữ Gia đã đâm vào một cái cây bên đường, xe không thể di chuyển được nữa, phần đầu xe hư hỏng nặng. May mắn là ông vẫn còn tỉnh táo, sau khi kiểm tra cơ thể thì thấy không bị thương nặng, quả là trong cái rủi có cái may. Lữ Gia hoảng hốt chạy khỏi xe, đầu óc mơ hồ, lảo đảo bước đi trong bụi cây rừng rậm mà không biết phương hướng.

Năm tên côn đồ cũng xuống xe máy, vẫn không từ bỏ ý định bắt ông để gây rắc rối.
Lữ Gia bỏ xe chạy trốn, năm tên kia bám riết không tha. Ông tự nhủ mình chắc chắn sẽ bị bắt, có thể bị bắt cóc để đòi tiền chuộc, điều này không thể tránh khỏi. Thậm chí tính mạng cũng khó bảo toàn, có thể bị thủ tiêu, chuyện này vẫn thường thấy trên báo chí.

Lữ Gia càng nghĩ càng sợ, trong lúc hoang mang, bỗng nhiên nhìn thấy phía trước có một ngôi miếu nhỏ, ngôi miếu cũng tỏa ánh sáng.
Lữ Gia vội vã chạy vào miếu.
Trong miếu có một vị sư thấp người và mập mạp.
Lữ Gia thở hổn hển, nói:
"Có người đuổi theo tôi, cho tôi trốn một lúc!"
Vị sư đáp:
"Ông cứ ẩn náu ở đây, sẽ không ai biết đâu, cứ yên tâm."

Một lúc sau, năm tên kia đã đuổi đến gần miếu, nhưng không hề bước vào bên trong, chúng đứng nói chuyện ở ngoài, Lữ Gia nghe rõ từng câu từng chữ, trong lòng càng thêm kinh hoàng!

Chỉ nghe năm người nói:
"Chúng ta đã đợi nhiều ngày rồi, lần này không thể để hắn thoát được!"
"Mạng của hắn đáng giá hàng triệu."
"Nếu không chịu trả tiền, giết phăng hắn đi!"
"Lạ thật, chạy đi đâu rồi?"
"Nơi này trống trải, chẳng có gì cả, vậy mà người lại biến mất không dấu vết!"

Lữ Gia nơm nớp lo sợ trốn trong miếu nhỏ, nghe tiếng bọn côn đồ nói chuyện ồn ào, biết chúng đang ở gần đó, nhưng điều khó hiểu là bọn chúng không hề vào miếu, chỉ đi vòng quanh miếu, một lúc sau, tiếng người xa dần, rõ ràng đã bỏ đi.

Lữ Gia hỏi vị sư thấp người và mập mạp:
"Pháp hiệu của Đại sư là gì? Để sau này tôi báo đáp ơn cứu mạng."
Vị sư đáp:
"Khi đến lúc ông sẽ biết."
"Đây là chùa gì vậy?"
"Lôi Tạng Tự."
"Tôi chưa từng biết ở đây có Lôi Tạng Tự!"
Vị sư chỉ mỉm cười không đáp.

Lữ Gia bối rối nói:
"Giọng nói của những người này, tôi không quen một ai cả, tại sao họ lại muốn bắt cóc tôi?"
Vị sư nói: 
"Họ bị lòng tham chi phối, cố gắng theo đuổi những thứ mình không có và mong muốn có được."
"Họ mong muốn có được gì?"
"Tiền bạc."
Vị sư bảo Lữ Gia: 
"Lòng tham của con người là vô tận, một ham muốn được thỏa mãn lại nảy sinh ham muốn mới, cuộc đời chính là sự theo đuổi những ham muốn như vậy, chỉ có người nhìn thấu được lòng tham mới thực sự có thể an tâm."
Lữ Gia nói:
"Cảm ơn lời chỉ dạy của Đại sư! Sau này có duyên, tôi sẽ xây dựng Lôi Tạng Tự, tạc tượng Phật."
Vị sư cười lớn.

Lữ Gia rời khỏi Lôi Tạng Tự, mới đi được vài chục bước, quay đầu lại, ông sững sờ, ngẩn người.
Ngôi Lôi Tạng Tự sừng sững đã biến mất.
Lữ Gia không tin Lôi Tạng Tự có thể biến mất, quay lại tìm, chỉ thấy một mảnh đất trống, chẳng có gì cả, nhìn quanh một vòng, chẳng thấy chùa đâu, trống trải hoàn toàn, đi thêm về phía trước thì thấy một cái hố sâu.
Ma ư? Gặp ma rồi sao?
Lữ Gia nổi da gà, vội vã bước nhanh rời đi!

Sau sự việc đó, Lữ Gia hỏi người dân địa phương xem có ngôi chùa nào ở gần đây không, họ trả lời rằng khu vực đó chỉ là một rừng keo lớn, chưa hề được khai phá, làm gì có chùa chiền gì?
Lữ Gia lại hỏi các viên chức quản lý chùa, hoàn toàn không có Lôi Tạng Tự nào cả.
Lữ Gia cảm thấy như mình đang mơ!

Một ngày nọ, Lữ Gia cùng bạn đến thăm nhà tôi, người bạn đến để hỏi về vận may trong kinh doanh.
Lữ Gia nhìn thoáng qua ngôi miếu nhỏ trên bàn thờ của tôi, sững sờ.
Trên đỉnh ngôi miếu cao một thước của tôi có ba chữ: "Lôi Tạng Tự".

Lữ Gia quỳ xuống đảnh lễ Lôi Tạng Tự.
Lữ Gia thỉnh cầu:
"Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, ngài có thể mở cửa chùa cho tôi xem được không?"
"Được." - Tôi nói.
Tôi mở cửa chùa.
Bên trong thờ một tượng A Di Đà Phật thấp người và mập mạp.
Lữ Gia vừa thấy liền chỉ vào tượng A Di Đà Phật, nói: "Chính là ngài, chính là ngài, chính là ngài, đúng rồi, chính là ngài."
Mọi người không hiểu ý của Lữ Gia, sau đó Lữ Gia mới kể lại toàn bộ câu chuyện từ đầu đến cuối.
Người nghe đều xúc động.

Sau đó, Lữ Gia quy y Chân Phật Tông, theo tôi học Chân Phật Mật Pháp, và ông cũng tích cực xây dựng Lôi Tạng Tự. Lữ Gia tu hành chỉ nguyện vãng sinh Tây phương Cực Lạc, tôi dạy ông rằng, hãy nhất tâm tinh tấn niệm danh hiệu A Di Đà Phật, tất sẽ được vãng sinh. 
Đúng là:
*Tây phương có duyên tự đạt được.
Một câu Di Đà tối thượng thừa.
Hóa miếu hóa Phật đều đã thấy.
Nhất tâm chuyên chí tự nhiên thành.*

🌟

Đây là một câu chuyện kỳ lạ khác về Lôi Tạng Tự mà tôi đã trải qua:
Trong năm tôi khảo sát phong thủy địa lý, có lần tôi leo lên một ngọn núi lớn, ngọn núi toàn là những đỉnh nhọn chót vót, vách đá dựng đứng.

Để tìm long điểm huyệt, thực tế thường không có đường đi, có lúc không chỉ hoang vắng không bóng người, tất nhiên cũng chẳng có lối mòn, tôi cầm chiếc la bàn trên tay, chỉ dựa vào niềm tin mà tiến bước.

Nhìn ra xa, là những đỉnh núi uốn lượn trập trùng, và từng mảng rừng rậm bạt ngàn, khi thì vượt qua suối, khi thì xuyên qua rừng, lúc bất đắc dĩ còn phải leo những vách đá nguy hiểm, thật ra việc xem phong thủy địa lý cũng có thể nói là vô cùng vất vả.
Cuối cùng, tôi đã tìm được một long huyệt vô cùng quý giá.
Long - là rồng sống.
Huyệt - là nơi khí tụ tán.

Toàn thân tôi ướt đẫm mồ hôi, vô cùng mệt mỏi. Nhìn quanh, bỗng thấy một căn chòi tranh nghiêng nghiêng như một điều kỳ diệu.
Lúc đó tôi nghĩ, nơi đỉnh núi cao này, chắc không thể có người đến khai hoang trồng trọt, nên đây không phải nhà nông.

Rất có thể là căn chòi nghỉ do những công nhân lâm nghiệp thời trước dựng lên khi đốn gỗ, vì nhìn quanh có thể thấy dấu vết đốn cây, cây cối ở đây chỉ cao ngang thắt lưng, là những cây được trồng lại sau khi đốn hạ.

Tôi bước vào chòi, bên trong che được nắng, mát rượi, lập tức cảm thấy rất dễ chịu. Trong chòi mọc đầy cỏ dại, có vài bao thuốc lá đã ẩm mục, bên trong có một chiếc áo mưa cũ, mở ra vẫn có thể trải xuống đất được, ngoài ra chẳng có gì khác.

Tôi gần như không chút do dự nằm xuống chiếc áo mưa, có lẽ vì đã đi bộ nửa ngày trên núi, tiêu hao quá nhiều thể lực, mệt mỏi khiến mí mắt không còn nghe lời, cứ thế díp lại, vừa gục đầu xuống thì đã ngủ thiếp đi.
Không biết đã ngủ bao lâu.
Có cảm giác hai bóng người to lớn đang tiến đến gần tôi, đứng nhìn tôi, rồi từ từ quỳ xuống, hai người chắp tay nói với tôi:
"Liên Sinh Sư Tôn, xin ngài thu nhận chúng tôi!"
"Các người là ai?" - Tôi hơi giật mình.
"Chúng tôi là ma!"

Ma ư? Giữa ban ngày, đang buổi chiều, sao lại gặp ma giữa ban ngày thế này!
Tôi nghĩ vậy, không ngờ hai người họ cũng biết được, liền nói:
"Chúng tôi là hai con ma được địa khí, có chút thần lực, nên có thể hiện thân giữa ban ngày, chúng tôi được địa khí chính là từ long huyệt mà ngài vừa xem đó."
"Đã là địa lý ma, có chút thần lực, sao còn cần tôi thu nhận?" - Tôi hỏi ngược lại họ.
Hai người đáp:
"Ma đạo vẫn là ma đạo."
Con ma kia nói rõ hơn: "Ma đạo là hạ phẩm, giữa núi non hiểm trở này, không có người qua lại, kiếm ăn rất khó khăn."
"Ha!" - Tôi cũng đang nghĩ vậy. 
Tôi hỏi:
"Vậy theo tôi thì sao..."
"Có thể thăng tiên phẩm." - Hai con ma đáp.
"Ai nói vậy?" - Tôi thấy lạ vì sao họ lại biết trả lời như thế.

Một trong hai vị địa lý ma đứng dậy đảnh lễ tôi lần nữa, rồi kể lại một đoạn nhân duyên.
Hai người họ là thổ dân, sức mạnh vô song.
Được chôn gần long huyệt, được địa khí, nên trở thành địa lý ma.

Một ngày nọ, có một vị thần tiên đi ngang qua nơi này.
Hai con ma bị bắt quả tang khi trộm túi của thần tiên, họ khẩn khoản van xin, thần tiên động lòng thương xót mới bảo với họ:
"Một thời gian nữa, sẽ có một bậc đại tu hành là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đến núi này tìm long huyệt. Vị Hoạt Phật này vừa xây xong một ngôi Lôi Tạng Tự nhỏ, đang thiếu hai vị thần cổng. Các ngươi làm ma đất ở đây sống cũng chẳng sung sướng gì, chi bằng theo Hoạt Phật tu hành. Ngôi Lôi Tạng Tự này có người cúng dường, ăn mặc không lo, lại được theo Hoạt Phật tu học Phật pháp, tương lai có thể thành tiên thành Phật, mau đi! Mau đi!"
Hai con ma nghe xong, trong lòng vô cùng hoan hỷ.

Tôi hỏi:
"Vị thần tiên đó là ai?"
Hai con ma đáp:
"Huyền Thiên Thượng Đế."
Tôi "À" một tiếng, lúc này đã hiểu ra tất cả!

Sự việc là như thế này, ngôi Lôi Tạng Tự làm bằng gỗ cao một thước, bên trong thờ tượng A Di Đà Phật cao tám tấc.

Ngày khai quang, thiếu hai vị thần cổng là Uất Trì Cung và Tần Thúc Bảo. Tôi thỉnh hai vị thần cổng đến, khi hai vị vừa đến, trên mặt có vẻ khó xử. Tôi đương nhiên biết ngôi miếu quá nhỏ, không thể chứa được thần lớn, nên đành thỉnh hai vị trở về.

Tôi thỉnh Huyền Thiên Thượng Đế, vì Huyền Thiên Thượng Đế có hai vị tướng hộ pháp là Quy và Xà. Vì vậy, Huyền Thiên Thượng Đế mới giới thiệu hai vị địa lý ma đến bảo hộ ngôi Lôi Tạng Tự nhỏ bé này.

Hai vị hộ pháp là địa lý ma này không thể xem thường vì họ là chúng sinh ma đạo, vốn là những người có sức chịu đựng bền bỉ. Họ không chỉ từ bỏ mọi việc ác, theo A Di Đà Phật, thực tu bát nhã ba-la-mật một cách chắc chắn, mà còn ngày đêm không rời A Di Đà Phật.
Hai vị địa lý ma không rời Phật, nên không hoại các căn lành.
Vì bảo hộ, lại còn hóa độ chúng sinh.
Không có phiền não, có thể tự độ, lại có thể độ người.
Cuối cùng, hai vị địa lý ma không chỉ thoát khỏi ma đạo, mà còn thành tựu quả vị Bồ Tát.
Đó chính là:
Mắt ma mù lòa, nếu không được Phật dẫn dắt, ắt sẽ vào đường khác, không thể thành tựu.
Ma nếu thấy Phật, mắt thấy thì tâm thanh tịnh, nghe Phật thuyết pháp thì hoan hỷ, nhờ pháp mà được đại trí tuệ, theo pháp tu hành mà được giải thoát.

Có bài kệ:
Hồ sen mỗi ngày hoa đều nở
Ánh sáng tứ sắc chiếu bảo đài
Tay vàng từ bi vươn xa tới
Chúng sinh bận chi không nghĩ về.

Và:
Nơi hồ máu khô, hồ sen nở
Khi cây kiếm héo, cây báu xanh
Phật ma xưa nay không tướng trụ
Ở chốn vô trụ tự viên thành

Tôi thường nói rằng, cho dù là đạo địa ngục, đạo ngạ quỷ hay đạo súc sinh, cũng đều có thể tu hành và thành tựu giải thoát. Chỉ cần nhổ sạch cội rễ của nghiệp chướng, buông bỏ hết những duyên trong ngoài nơi tâm, khi ngọn lửa trí tuệ vừa được thắp lên, trong khoảnh khắc, tất cả nghiệp chướng đều hóa thành tro bụi.


### 19. Địa ngục thiêu đốt


Có một đệ tử nữ tên là Trần Hương đến để hỏi việc sau khi mẹ cô ấy qua đời thì linh hồn đã đi đến nơi nào. 
Tôi thiền định quan sát, rất thương xót nói:
"Ở trong địa ngục thiêu đốt!"
Trần Hương không tin:
"Mẹ tôi sao có thể xuống địa ngục! Tôi không tin."
Tôi nói:
"Mẹ cô khi còn sống là người nóng giận quá mức nên mới xuống địa ngục thiêu đốt!"

Sau khi Trần Hương trở về nhà thì hỏi thăm bố về cuộc đời của mẹ mình, bởi vì khi Trần Hương còn nhỏ xíu thì mẹ cô ấy đã qua đời rồi.
Bố cô trả lời:
"Mẹ con bản tính lương thiện, chỉ là tính khí quá nóng nảy, rất dễ tức giận, lúc còn sống, hao tâm tổn sức chăm sóc gia đình này, bởi vì tâm quá nhỏ hẹp, đòi hỏi quá cao, sống không hòa hợp với hàng xóm, không dễ chung sống với người làm và người nhà, có xung đột với bạn bè, với người ngoài thì kiện tụng, chỗ nào cũng tranh giành phần thắng."
"Là sân nộ ư?"
"Hễ gặp chuyện bất bình là sôi gan phẫn nộ." - Bố Trần Hương nói.
Trần Hương lại quay trở lại tìm tôi. 
"Sư phụ Liên Sinh, làm sao cứu mẹ?"

Tôi lại thiền định, sau khi xuất định nói:
"Khó cứu!"
"Vì sao?"
"Ngọn lửa mãnh liệt cháy hừng hực, khó đi vào!"
"Dập tắt lửa luôn đi!"
"Ngọn lủa này không phải lửa thường." - Tôi nói.
Trần Hương trong lòng bất an: 
"Nhất định phải cứu. Sư phụ Liên Sinh, ngài nhất định phải nghĩ cách, tôi không tiếc mọi thứ để cứu mẹ thoát khỏi khổ sở."
Tôi nói:
"Có thể thỉnh Thủy Thần đi cứu!"
"Thủy Thần nào?"
"Đại Vũ."
Tôi niệm chân ngôn:
"Hạ Nguyên Đại Vũ Thủy Quan Đế, khai đê dẫn thủy tác trường hà, trực tu tự tự phân minh niệm, hạ giáng hiện thân độ địa ngục."
Thế là Đại Vũ hiện thân.

Đại Vũ nhận lệnh đến địa ngục thiêu đốt, không lâu đã trở về, cũng chỉ có Đại Vũ trở về mà thôi, toàn thân Đại Vũ bị cháy đen, vô cùng thảm hại.
Tôi hỏi Đại Vũ:
"Vì duyên cớ gì?"
Đại Vũ nói:
"Khi tôi đi vào địa ngục thiêu đốt, lửa cháy bừng bừng, quần áo và mặt đều bị cháy xém."
"Ngài không biết niệm bài vè tránh lửa à?"
"Đương nhiên không biết, Đại Vũ tôi chỉ trị thủy, biết tính chất của nước, biết bài vè tránh nước, tôi không phải trị lửa. Liên Sinh Hoạt Phật, ngài làm sai rồi."

Tôi xoa đầu nghĩ:
"Tôi chỉ nghĩ đến dùng nước để khắc lửa, không ngờ Thủy Thần Đại Vũ chỉ biết trị nước, không biết trị lửa, tôi thật sự sai rồi!"
Tôi nói với Đại Vũ:
"Xin lỗi! Ngài về đi!" - Tôi dùng ấn giải tán.
Thủy Đế Đại Vũ liền trở về trời.

Sau đó, tôi nghĩ đến Hỏa Đầu Kim Cang có thể đi vào địa ngục thiêu đốt, bản thân Hỏa Đầu Kim Cang tức là tụ tập lửa lớn, là lửa kim cang, có thể thiêu hủy tất cả uế khí, mẹ của Trần Hương chỉ cần gặp được Hỏa Đầu Kim Cang thì tất cả nghiệp chướng cũng tự nhiên biến thành tro tàn, như vậy thì có thể thoát khỏi khổ sở của địa ngục thiêu đốt.

Tôi niệm: 
"Nhất hỏa đông chiếu.
Thập giới viên chương.
Thích Ca ứng hóa.
Đại Quyền Thần Vương.
Tu-lan tu-lan tu-lan rưa rưa rưa." (chú ngữ)
Chỉ trong giây lát, hỏa quang tam muội, đủ loại tướng tốt lành linh dị, Hỏa Đầu Kim Cang liền xuất hiện. Trên đầu có lửa, xung quanh có lửa, chân cũng dẫm trên mây lửa. 
Hỏa Đầu Kim Cang nhận lệnh đi làm.
Lần này, lửa đi vào địa ngục thiêu đốt, đương nhiên là có thể đi, lửa tan vào lửa mà.

Nhưng cũng chỉ có một mình Hỏa Đầu Kim Cang trở về, vẫn không có cách nào cứu được mẹ của Trần Hương ra khỏi địa ngục thiêu đốt.
Hỏi Hỏa Đầu Kim Cang chuyện này là sao. Kim Cang trả lời:
"Lửa thêm vào lửa, cũng như lửa được thêm dầu, càng cháy hừng hực!"
"Cứu bà ấy thôi!"
"Hễ chạm vào bà ấy là cháy khét, kêu xèo xèo!"
"Thế nào mới được?"
"Hết cách."
Hổ Đầu Kim Cang cũng trở về trời rồi.

Cuối cùng, tôi nghĩ đến U Minh Giáo Chủ Địa Tạng Vương Bồ Tát, Bồ Tát là đại ca của tôi, địa ngục do đại ca quản lý, nhất định sẽ có cách cứu mẹ của Trần Hương mới phải. 
Tôi đi thỉnh giáo Địa Tạng Vương Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát trả lời dứt khoát:
"Nhất tâm bất loạn thì có thể cứu!"
"Làm sao để cho mẹ Trần Hương nhất tâm bất loạn chứ?"
"Yêu cầu bà ấy niệm Phật trì chú, niệm Phật nhất tâm bất loạn chính là kết quả của tịnh nghiệp, là cảnh cửa lớn của tịnh thổ."
"Bà ấy không chịu niệm Phật thì phải làm sao?"
Địa Tạng Vương Bồ Tát cảm thán:
"Chúng sinh ngu si, chỉ một câu Phật mà cũng không chịu niệm, làm sao mà cứu chứ?"

Địa Tạng Vương Bồ Tát nói tiếp:
"Một câu A Di Đà Phật là thuốc a-già-đà, không có bệnh gì là không chữa được, là vua ngọc như ý, không có nguyện ước gì không thỏa mãn được, là con thuyền từ bi chở qua biển khổ sinh tử, không có khổ nào mà không độ được, là ngọn đèn trí huệ của đêm dài vô minh, không có bóng tối nào không xua tan được, chỉ một lần nghe qua tai cũng đã có duyên, chỉ một lần có lòng tin và niệm là đã có thể tương ứng, chỉ niệm một câu, câu này liền hóa hoa sen, ra khỏi hố lửa, thăng vào các cõi trời."
Tôi nói với Trần Hương phải làm thế này thế nọ mới có thể cứu.
Trần Hương lắc đầu, mẹ cô ấy căn bản là không biết có Phật.
Tôi đã nghĩ rất lâu, cuối cùng nghĩ ra một diệu kế. Tôi phải đích thân đi vào địa ngục thiêu đốt một chuyến.

Tôi đã đi đến địa ngục thiêu đốt, tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) là loại người gì mà chỉ niệm bài vè tránh lửa là đi vào được!
Tôi niệm:
"Tứ đại thường điều.
Bất phiền bất nhiệt.
Phục hà tu hỏa.
Bất tu hà hữu. 
Rang. Yang. Kang." [Ram. Yam. Kham.]

Tôi hiện ra pháp thân ánh sáng tướng đẹp trang nghiêm đi vào trong địa ngục thiêu đốt, quanh thân tôi có ánh sáng bao quanh, lửa độc không thể đến gần. 
Tôi nhìn thấy mẹ của Trần Hương ở trong lửa độc, cảnh ngộ của bà ấy thật sự là không thể hình dung nổi, cái khổ này không ai có thể chịu đựng được, giống như:
Lửa độc như rắn độc, quấn quanh thân thể, miệng thè lưỡi, khiến bà ấy khó thoát.
Lửa độc như mùi xác chết, như thịt tanh hôi xộc lên mũi, khiến bà ấy khó thoát.
Lửa độc như chôn sống, người ở trong hố, đất cát chôn xuống, hít thở khó khăn, khiến bà ấy khó thoát.
Lửa độc như giun dế đói bụng, nghìn vạn con bò lên người, cắn vào da thịt, khiến bà ấy khó thoát.
Lửa độc như nham thạch núi lửa, cuồn cuộn chảy đến, hễ chạm vào người là ngũ tạng nát bấy, xương trắng hóa tro, khiến bà ấy khó thoát.
………….

Tôi nhìn thấy thảm cảnh ấy thì trong lòng không chịu nổi, chỉ mong chúng sinh đều phát tâm, bi tâm, huệ tâm, tinh tấn tâm, tín tâm, định tâm, nhu nhuyễn tâm. 
Tôi nói với mẹ của Trần Hương:
"Tôi là Liên Sinh."
Mẹ của Trần Hương nói:
"Ông là Liên Sinh!"
"Xung quanh đây là cái gì?"
Mẹ Trần Hương đáp:
"Lửa (Phật)." [Trong tiếng Trung, phát âm chữ "lửa" ("hỏa" gần giống âm Phật.]
Hợp lại câu nói của mẹ Trần Hương tức là:
"Ông là Liên Sinh Hỏa (Phật)!"
Chính là một câu Phật hiệu:
Giống như Đại Thế Chí Bồ Tát nói: "Ta nhớ xưa kia hằng hà sa kiếp, có Phật xuất thế, tên gọi Vô Lượng Quang, mười hai Như Lai nối tiếp nhau từng kiếp, vị Phật sau cùng tên là Siêu Nhật Nguyệt Quang. Vị Phật ấy dạy tôi niệm Phật tam muội, ví dụ có người, một người chuyên nhớ, một người chuyên quên, hai người như vậy, gặp như không gặp, thấy như không thấy. Còn như hai người nhớ nhau, nỗi nhớ sâu đậm, như vậy cho dù đời này đến đời khác, cùng một hình ảnh, chẳng lạ lẫm nhau. Thập phương Như Lai nhớ thương chúng sinh, như mẹ nhớ con, nếu con đi mất, dù nhớ thì sao, nếu con nhớ mẹ, như mẹ nhớ con, mẹ con bao đời, cũng không xa cách. Nếu tâm chúng sinh, nhớ Phật niệm Phật, Phật đến hiện tiền, nhất định thấy Phật, không đi xa Phật, phương tiện không giả, tự đắc tâm khai, như người nhiễm hương, thân có mùi thơm, như vậy gọi là hương quang trang nghiêm. Nhân địa của ta, dùng tâm niệm Phật, nhập vô sinh nhẫn, nay ở cõi này, gom người niệm Phật, quy về tịnh thổ, Phật hỏi khéo léo, ta không lựa chọn, đều thu lục căn, tịnh niệm liên tục, đắc tam ma địa, ấy là đệ nhất."

Tôi liền dạy mẹ Trần Hương niệm một câu: 
"Tôi là Liên Sinh Phật."
Sinh tử mênh mông bến đò xưa.
Di Dà khơi động con thuyền chở.
Cuộc đời có duyên nay được gặp.
Mau lên thuyền ấy về nghỉ ngơi.
Chỉ một câu Phật này đã bất khả tư nghì, chỉ thấy một đóa hoa sen thanh tịnh trang nghiêm, xoay tròn xung quanh, ánh sáng rực rỡ của nó đã phá vỡ không gian mà đi.
Mẹ Trần Hương vãng sinh rồi.
Mẹ Trần Hương thăng thiên rồi.

🌟

Sau khi mẹ Trần Hương vãng sinh, bố Trần Hương cũng có cảm ứng. 
Bệnh dạ dày của bố Trần Hương rất nghiêm trọng.
Trong một lần nằm mơ, mẹ Trần Hương đến bảo ông ấy: "Bệnh dạ dày của ông là do một loại quả báo của nghiệp sát kiếp trước, nếu muốn khỏi bệnh thì đi quy y Liên Sinh Hoạt Phật đi! Ông ấy là Liên Hoa Đồng Tử, cũng chính là ứng hóa của A Di Đà Phật, quy y rồi thì túc nghiệp sẽ sạch, sau đó chịu đau khổ chỉ khoảng một tháng là sẽ khỏi hoàn toàn."
Trần Hương đưa bố đến quy y. 
Quả nhiên một tháng sau, bệnh dạ dày đã khỏi hẳn! Bệnh dạ dày của bố Trần Hương là căn bệnh nhiều năm, tất cả cảm ứng thật sự là bất khả tư nghì!

Bản thân Trần Hương thờ cúng pháp tướng Liên Hoa Đồng Tử, hoan hỷ lễ bái, sớm tối cô ấy tu Thượng sư tương ứng pháp.
Cô cảm ứng thấy mẹ thăng thiên, có được tướng thiên nhân, từng nhìn thấy mẹ mình hiện thân hai lần, trên người có mùi thơm, mặc thiên y, đội mũ miện, trên người có ánh sáng, cưỡi bạch mã bay qua bay lại ở trên trời.


### 20. Quỷ Mặt Xanh


Có một đệ tử Chân Phật Tông tên là Trang Trụ làm nghề chăn nuôi đến xin phù chống dịch, tôi vẽ cho anh ấy nhiều lá phù, anh ấy rất vui.
Trang Trụ xin phù chống dịch, không phải một hai lá, cũng không phải năm mười lá, mà là một lúc bốn mươi lá, vẽ đến đau nhức cả tay.
"Tại sao lại cần đến bốn mươi lá?" - Tôi thắc mắc.
"Mình cần, họ hàng cũng cần, bạn bè cũng cần."
"Họ hàng, bạn bè có nhiều người làm nghề chăn nuôi đến thế sao?"
"Nếu dư thì để dành sang năm dùng."
"Sang năm đến xin nữa là được mà!" - Tôi nói.
Trang Trụ nói: "Sư Tôn là người rất bận rộn, sang năm không biết có gặp được Sư Tôn hay không, thôi thì xin trước cho chắc ăn."

Câu chuyện về việc Trang Trụ xin phù chống dịch:
Có một năm, dịch gà bùng phát.
Rất nhiều trại gà đều gặp tai ương, dịch gà rất nguy hiểm, những con gà vốn khỏe mạnh, hoạt bát, chỉ cần nhiễm bệnh, không phải một hai con, mà là hàng nghìn hàng vạn con, tất cả đều kiệt sức, chỉ trong vòng hai, ba ngày, tất cả đều gục ngã, đào đất chôn còn không kịp.
Xác gà chất cao như núi.
Ngay cả những con sống sót cũng khó tránh khỏi phát bệnh.
Chủ trại câm lặng nhìn trời, muốn khóc mà không còn nước mắt.
Tất cả vốn liếng đều tiêu tan, ngành chăn nuôi sợ nhất là dịch bệnh. Như người nuôi bò gặp bệnh bò điên, người nuôi lợn gặp bệnh lở mồm long móng, người nuôi gà gặp cúm gà, thật sự là thảm khốc.

Trang Trụ rất chú trọng vệ sinh môi trường.
Anh ấy cũng dán những lá phù chống dịch mà tôi đã cho.
Một đêm nọ, Trang Trụ ngủ ở căn nhà trong trại gà, anh ấy có hai nhà, một căn trong thành phố, một căn ở chân núi nơi có trại gà.
Anh ấy ngủ đến nửa đêm.
Nghe thấy bên ngoài nhà có tiếng người ồn ào đi lại, anh ấy thắc mắc, giữa đêm hôm khuya khoắt sao lại có nhiều người đi lại bên ngoài trại gà thế này.
Anh ấy mở cửa sổ nhìn ra, quả nhiên thấy nhiều cái đầu người đang lắc lư bên ngoài.

Anh ấy nghe thấy họ nói chuyện:
"Quỷ Mặt Xanh! Trại gà này của ai vậy?"
"Trang Trụ."
"Quỷ Mặt Xanh, sao chúng ta không vào trong?"
Quỷ Mặt Xanh này có vẻ là đại ca, Quỷ Mặt Xanh nói:
"Ngươi không thấy sao? Trại gà này có ánh sáng của bùa phép!"
"Bùa phép! Mặc kệ bùa gì, cứ xông vào thôi!"
"Bùa này không giống bình thường."
"Của ai vậy?"
Quỷ Mặt Xanh nói:
"Là bùa chống dịch do chính tay Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn vẽ, bên trong bùa này là nơi ở của Chung Quỳ Thiên Sư, chúng ta mà vào trong đó là sẽ bị Chung Quỳ nuốt chửng."
Đám quỷ nghe xong, tất cả đều khiếp sợ.
"Vậy phải làm sao?"
Quỷ Mặt Xanh vẫy tay: "Đến nhà khác thôi!"
Như một cơn gió, Quỷ Mặt Xanh và tất cả các quỷ dịch bệnh đều hoảng sợ bỏ chạy.
Trăng đã lên, sao cũng đã mọc, Trang Trụ nghe rõ mọi chuyện, trong lòng đã hiểu rõ.

Kết quả:
Vài trại gà xung quanh nhà Trang Trụ đều bị dịch gà, chỉ trong vài ngày, dù là gà đẻ trứng, gà lai hay gà ác (gà thịt), tất cả đều chết hết!
Chỉ có trại gà nhà Trang Trụ thoát khỏi dịch bệnh, không một con nào chết, Trang Trụ vui mừng khôn xiết.

Những chủ trại khác đến tìm Trang Trụ:
"Sao anh không sao cả vậy?"
"Tôi có dán phù."
"Tôi cũng có dán mà." - Người chủ trại nói.
"Phù có khác nhau, công lực cũng khác nhau." - Trang Trụ nói.
"Phù của ai vậy?"
Trang Trụ nói:
"Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn."
"Ban đầu tôi cũng định xin phù của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, nhưng có một pháp sư nói đó là tà, nên tôi không dám xin nữa. Thế là xin phù của vị pháp sư đó, chết tiệt! Chẳng có tác dụng gì cả!"
Trang Trụ nói:
"Chỉ cần thử một lần là biết ngay chính tà, không cần nói suông!"
Trang Trụ nhấn mạnh:
"Lời đồn dừng lại ở người trí."

🌟

Một lần khác.
Bệnh lở mồm long móng trở nên nghiêm trọng, chân của lợn nổi các mụn nước, sau đó thì bị thối rữa, toàn thân lợn phù nề, thật kinh khủng!
Xác lợn chết thả trôi sông, gây ô nhiễm nguồn nước!
Xác lợn đem đốt, ảnh hưởng không khí, ai nấy đều phải bịt mũi!
Xác lợn chôn xuống đất, nước ngầm cũng không thể uống được!
Thịt lợn bị bệnh lở mồm long móng, không ai dám ăn!
Dịch bệnh thật đáng sợ.
Nhiều trại chăn nuôi lớn đều gặp tai ương, ngành chăn nuôi kêu than thảm thiết, chỉ có Trang Trụ là bình an vô sự, thảnh thơi tự tại! Trang Trụ đến tham dự pháp hội Kim Cang Mật giáo của tôi, nói với tôi rằng chỉ có trại của anh ấy là không sao.

Theo như tôi biết, là như thế này:
Những năm gần đây dịch bệnh hoành hành, đều có ý trời!
Bởi vì lòng người đã thay đổi!
Kẻ xấu giả dạng người tốt, người tốt thật sự lại gặp họa! Ngay cả tư pháp cũng không còn công bằng!
Xã hội đại loạn!
Trong giới tôn giáo, "tôn giáo hình thức" nở rộ, còn người tu thật thì bị chôn vùi!
Chạy đua vũ khí, tất cả đều ganh đua trong việc giết hại đồng loại, vũ khí càng tinh vi, càng chính xác, càng lợi hại, hại càng nhiều người, thì lại được gọi là siêu cường!
Trời nổi giận!
Thế nên dịch bệnh lan tràn khắp thế giới!

Quỷ Mặt Xanh nhận chỉ thị từ thiên đình, hoành hành khắp cõi Ta Bà, đội quân ma của Quỷ Mặt Xanh đi đến đâu đều không ai có thể cản được cờ lệnh xanh trong tay hắn.

Chỉ có tôi - Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn biết chuyện này, nên cũng chỉ có tôi mới có thể phá giải dịch bệnh lở mồm long móng, cứu giúp trâu, dê, lợn thoát khỏi tai ương.
Tôi biết trong tay Quỷ Mặt Xanh có cờ lệnh xanh từ thiên đình.
Tất cả bùa chú đều không thể chống đỡ!
"Phải làm sao đây?"

Ngày hôm đó, Quỷ Mặt Xanh tay cầm cờ lệnh xanh, dẫn theo một đội quỷ binh quỷ tốt đông đảo, đi ngang qua trại chăn nuôi của Trang Trụ.
Một đám quỷ dịch bệnh chuẩn bị xông vào, chuẩn bị ăn uống no say, gặm nhấm thỏa thích, chờ đợi mệnh lệnh của Quỷ Mặt Xanh.
Phó tướng nói:
"Lần trước có dịch bệnh, chúng ta đã tha cho hắn, lần này trong tay có cờ lệnh xanh, mọi ánh sáng bùa phép đều lu mờ, pháp lực bùa chú đều mất hết hiệu lực, có thể vào được rồi chứ!"
Quỷ Mặt Xanh đáp:
"Khoan đã, ta nhận thấy phù của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn lần này khác với mọi khi, ánh sáng phù có điều khác lạ!"
"Mặc xác ánh sáng phù với không ánh sáng phù, có cờ lệnh xanh là chỉ thị của thiên đình, ánh sáng phù cũng vô dụng thôi!"
Đám quỷ xoa tay chờ đợi.

Quỷ Mặt Xanh đang chuẩn bị ra lệnh, chợt thấy bên trong trại chăn nuôi phát ra ánh sáng xanh từ phù chú, từ trong ánh sáng xanh hiện ra vị thần tướng của phù chú, vị thần tướng này không phải ai khác, chính là thần dịch bệnh Quỷ Mặt Xanh.

Đây chính là:
Kẻ gây dịch bệnh là Quỷ Mặt Xanh.
Kẻ ngăn dịch bệnh cũng là Quỷ Mặt Xanh.

Quỷ Mặt Xanh đang gây dịch bệnh hét lên:
"Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn thật lợi hại, đây là bí mật trong bí mật, pháp trong pháp, ngài đã biết được thiên cơ, ta không thể tự giết mình, Quỷ Mặt Xanh đánh Quỷ Mặt Xanh, chúng ta rút lui thôi!"
Đám quỷ lại hoảng sợ rút lui!

Trại chăn nuôi của Trang Trụ, không có một con lợn nào mắc bệnh lở mồm long móng.
Đó chính là vì Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn là một vị cao tăng đắc đạo, người thực sự hiểu được "tâm trời".


### 21. Liên Hoa Đồng Tử trụ đỉnh


Phương Hoằng là đệ tử Chân Phật Tông, cô là nữ quản lý của một câu lạc bộ. Có một lần, cô đến gặp tôi.
Cô nói với tôi:
"Thưa Sư Tôn, con nghe thầy thuyết pháp, con rất xúc động. Thầy dạy phải thường xuyên quán tưởng Bổn tôn trụ đỉnh phải không ạ?"
"Đúng vậy."
"Nhưng con làm việc bận rộn quá, cứ bận là con dễ quên mất Bổn tôn! Phải làm sao đây ạ?"
"Cái này..." - Tôi nhất thời cũng không nghĩ ra cách đặc biệt nào.

Ngược lại, Phương Hoằng có vẻ rất vui, cô tháo một cái kẹp tóc ra khỏi mái tóc buộc của mình, ở giữa kẹp tóc, cô lấy ra một tượng Phật rất nhỏ, tượng Phật này chỉ lớn bằng một phân, như hạt đậu Hà Lan vậy, đem ra gần xem mới biết là tượng Liên Hoa Đồng Tử được chạm khắc bằng gỗ đàn hương.

Phương Hoằng nói:
"Xin Sư Tôn khai quang."
Tôi theo nghi quỹ, gia trì và khai quang cho Liên Hoa Đồng Tử. Thỉnh Liên Hoa Đồng Tử trụ nơi tượng gỗ đàn hương, hộ trì cho Phương Hoằng.

Phương Hoằng nói:
"Con nghĩ tới việc Chân Phật Tông có tám vị Bổn tôn, lại có chư Phật Bồ Tát, lại có Kim cang Hộ pháp, lại có các thiên thần, trong một lúc, con cũng không biết nên chọn vị Bổn tôn nào. Suy nghĩ một hồi, con thấy Liên Hoa Đồng Tử là tốt nhất, bởi vì một vị Liên Hoa Đồng Tử tương đương với ba vị, Liên Hoa Đồng Tử tức là A Di Đà Phật, lại là hóa thân của Căn bản Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, đây chẳng phải là một hóa ba, ba hóa một sao! Lại thêm vì Căn bản Thượng sư từng được Phật dặn dò, Căn bản Thượng sư sẽ không từ bỏ chúng con, nên con đã chạm khắc tượng Liên Hoa Đồng Tử nhỏ nhất, trang trí trên kẹp tóc."

Phương Hoằng nói tiếp:
"Đeo trên tóc, trên kẹp tóc, khi đi đứng nằm ngồi, xưng niệm trì chú 'Om guru liansheng siddhi hum', là thật sự trụ đỉnh rồi!"
"Ha ha!" - Tôi cười lớn.
Phương Hoằng hỏi:
"Từ nay về sau, làm sao để Liên Hoa Đồng Tử thường xuyên phóng quang gia trì?"
Tôi đáp:
"Cứ hai tuần một lần, con quán tưởng Liên Hoa Đồng Tử trong hư không phóng quang, gia trì tượng Liên Hoa Đồng Tử gỗ đàn hương nhỏ của con, hai tay kết ấn Liên Hoa Đồng Tử, miệng tụng thần chú Liên Hoa Đồng Tử 108 biến, đó chính là phóng quang gia trì."
"Còn bình thường thì sao ạ?"
"Khi nào nhớ tới thì xưng danh trì chú là được!"
"Có điều cấm kỵ gì không ạ?"
"Hoàn toàn không có điều cấm kỵ nào."

🌟

Sau khi Phương Hoằng đeo tượng Liên Hoa Đồng Tử trụ đỉnh, đã có nhiều điều kỳ lạ xảy ra:
Một đêm nọ, trong giấc mơ.
Liên Hoa Đồng Tử hiện thân bảo cô:
"Ngày mai xin nghỉ, đừng đi làm."
"Không được, ngày mai là ngày nghỉ, công việc bận rộn lắm."
"Nhất định đừng đi làm."
"Không được!"
"Tuyệt đối không được đi làm."

Sáng hôm sau tỉnh dậy, cô nhớ rõ mồn một giấc mơ Liên Hoa Đồng Tử đã nhiều lần căn dặn không được đi làm.
Trong lòng cô có linh cảm chẳng lành, muốn xin nghỉ, nhưng vì trách nhiệm công việc, định không xin nghỉ, nhưng lời chỉ dạy của Liên Hoa Đồng Tử vẫn còn văng vẳng bên tai!
Cô vẫn đến câu lạc bộ, không xin nghỉ.
Chỉ là tối hôm đó, cô liên tục trì chú: "Om guru liansheng siddhi hum. Cầu mong bình an vô sự."

Quả nhiên, tối hôm đó, tại câu lạc bộ có hai nhóm xã hội đen xảy ra cãi vã, dẫn đến ẩu đả, trong đó có người mang súng, bắn thủng vài lỗ trên trần nhà, đồng thời làm đổ tủ rượu, tình hình rất hỗn loạn.
Tất cả khách hàng hoảng sợ tháo chạy.

Bản thân Phương Hoằng lại khá bình tĩnh, xử lý mọi việc cho đến khi cảnh sát đến. Có một viên đạn lạc bay sượt qua người cô, quả thật rất nguy hiểm, may mắn là tất cả mọi người đều bình an vô sự, không ai bị thương vong.

Phương Hoằng kể lại trải nghiệm này.
Cô cho rằng Liên Hoa Đồng Tử đã bảo hộ cho cô, đã nhiều lần khuyên răn không nên đi làm, khi thật sự đi làm thì biến việc lớn thành nhỏ, việc nhỏ thành không.
Khi Phương Hoằng kể về giấc mơ, không ai nghe mà không trầm trồ thán phục! Nhờ đó độ được không ít người quy y.

🌟

Phương Hoằng dần tiến bộ trong việc tu pháp, cô tuân theo nghi quỹ Chân Phật Mật Pháp một cách nghiêm túc, không chút qua loa trong việc quán tưởng theo thứ tự, kết ấn, trì chú, nhập Tam ma địa.
Dần dần cô cảm nhận được Liên Hoa Đồng Tử đang hộ trì cô trong hư không, và khi nhập Tam ma địa, cô đã có được cảm ứng.
Đúng là:
Tĩnh lặng chớ để tạp niệm sinh
Nguồn cội rõ ràng phải phân minh
Sát-na cảm ứng không hư vọng
Gặp lành tránh dữ hiện rõ ràng.

Trong một lần nhập Tam ma địa, Phương Hoằng bỗng thấy một tia sáng trắng lóe lên trước mắt, trong ý thức, cô thấy nhiều bạn học đang nằm trong bệnh viện. Tia sáng trắng chỉ lóe lên trong chốc lát, hình ảnh các bạn học nằm viện cũng chỉ thoáng hiện trong ý thức vài giây.

Sau khi tu pháp xong, trong lòng cô thấp thỏm không yên.
Cô nói với mẹ:
"Vừa rồi khi tu pháp, con thấy nhiều bạn học nằm viện!"
Mẹ cô cười:
"Con lo lắng quá rồi, đừng để ý làm gì, vì trong lòng con đang nghĩ tới hôm nay là buổi họp mặt hội cựu học sinh, con sẽ đi tham dự, nên mới hiện lên cảnh tượng như vậy thôi."
"Tuy chỉ trong thoáng chốc, nhưng rất rõ ràng."
"Đã vậy thì con hãy niệm thần chú Liên Hoa Đồng Tử, cầu xin Liên Hoa Đồng Tử bảo hộ con đi." - Mẹ cô đề nghị.
"Vâng." - Phương Hoằng đáp.

Phương Hoằng tụng thêm hai chuỗi thần chú Liên Hoa Đồng Tử, cầu xin Liên Hoa Đồng Tử bảo hộ mọi sự bình an, gặp hung hóa cát.

Nhà hàng nơi tổ chức họp mặt hội cựu học sinh cách nhà Phương Hoằng một đoạn đường, cô phải đi xe máy tới đó. Đang đi được nửa đường thì xe bỗng dưng chết máy. Phương Hoằng trong lòng rất sốt ruột, bởi bình thường chiếc xe chẳng có vấn đề gì, vậy mà hôm nay có buổi họp mặt hiếm hoi thì xe lại hỏng.
Trời nắng nóng, hơi nước bốc lên từ mặt đường nhựa.
Cô lẩm bẩm trong miệng: "Tức chết mất!"

Cô đẩy xe máy vào lề đường, tự kiểm tra sửa chữa, toàn thân ướt đẫm mồ hôi, nhưng xe vẫn không chạy được.
Cuối cùng, không còn cách nào khác, cô phải gọi thợ sửa xe đến, nhờ xe cứu hộ kéo về tiệm sửa. Hóa ra là do nhiều chỗ tiếp xúc dây điện bị hỏng và bugi bị tắc nghẽn. Đến khi sửa xong và cô chạy xe đến nhà hàng thì đã trễ một tiếng rưỡi, bữa tiệc đã kết thúc.
Dù buổi họp mặt đã kết thúc, nhưng mọi người vẫn chưa về, đang trò chuyện rất sôi nổi.
Phương Hoằng đến muộn, vội vàng giải thích và mọi người cũng không trách cô.

Khoảng mười, hai mươi phút sau, một số bạn học bắt đầu đau bụng, vài người mặt tái nhợt, chân đứng không vững.
Có người ngã xuống bất tỉnh, sùi bọt mép.
Tất cả những người tham dự bữa tiệc đều có triệu chứng như vậy.
"Ngộ độc thực phẩm!" - Phương Hoằng kinh hoàng kêu lên.
Thế là cô vội gọi xe cấp cứu.

Xe cấp cứu nhanh chóng đến nơi, tất cả được đưa đến bệnh viện cấp cứu, truyền nước. Toàn bộ bạn học nằm trong phòng bệnh, xếp thành một hàng dài, cảnh tượng này chính xác là những gì Phương Hoằng đã thấy trong lúc tu pháp sáng nay, trời ơi! Quả nhiên đã ứng nghiệm!
Những người nhẹ hơn, đã an toàn và có thể về nhà vào buổi tối.
Những người nặng hơn, phải nằm viện theo dõi hai ngày.

Sau khi kiểm tra nguyên nhân, là do hải sản không tươi, nhà hàng chịu trách nhiệm toàn bộ chi phí y tế, còn tặng mỗi người một phong bao lì xì.
Sự việc này đã được đưa tin trên báo chí và truyền hình.

Trong vụ ngộ độc thực phẩm tập thể này, người duy nhất không sao chính là Phương Hoằng, bởi vì xe máy của cô hỏng giữa đường, không kịp đến dự tiệc. Nghĩ lại, Liên Hoa Đồng Tử đã cảnh báo trong lúc tu pháp, và việc xe máy hỏng cũng không phải ngẫu nhiên, mà là sự sắp đặt của số mệnh.
Phương Hoằng kể chuyện này với mẹ.
Mẹ cô nói:
"Lạ thật! Chuyện chưa xảy ra, thần linh sao biết được!"

🌟

Trong lúc tu pháp, có một lần, trời bên ngoài tối đen, mưa lớn không ngớt, và thật trùng hợp là điện lại bị cắt, trong nhà hoàn toàn không có ánh sáng. Lúc này, tượng Liên Hoa Đồng Tử trên kẹp tóc của Phương Hoằng bỗng tỏa ra ánh sáng, chiếu sáng cả căn phòng như ban ngày.
Phương Hoằng chứng kiến điều kỳ diệu như vậy, vô cùng xúc động, đạo tâm càng thêm kiên cố.
Đúng là:
*Ánh sáng tịch chiếu thật kỳ diệu
Chiếu khắp trời đất khó nghĩ bàn
Tượng gỗ cũng tỏa hào quang sáng
Đáng ghi vào sách câu chuyện này.*

Trong những ngày ấy, cũng là lúc bên ngoài sóng gió dồn dập, Căn bản Thượng sư Lư Thắng Ngạn giáng sinh vào thời mạt pháp, đề xướng thực tu Chân Phật Mật Pháp, bị một số người theo Phật giáo hình tướng nhận lầm là tà ma ngoại đạo, chỉ trích rất nhiều. Ngoài ra, một số người gây phong ba bão táp đối với Căn bản Thượng sư, tin đồn thất thiệt lan truyền, tạo nên áp lực chồng chất, mọi việc đều rất bất đắc dĩ.

Nhưng Liên Sinh Hoạt Phật không giải thích, cũng không biện bạch, Ngài chỉ dùng một bài kệ đáp lại:
*Lều tranh của ta là vũ trụ
Sớm tối thường treo một ngọn đèn
Chứa hết thị phi không phân biệt
Dạy hết vạn tượng cùng tham thiền.*

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn cho rằng, tất cả những lời chỉ trích từ bên ngoài, Ngài hoàn toàn không quan tâm, cũng chẳng để ý gì cả!

Phương Hoằng gặp một người tu hành khuyên cô:
"Chân Phật Tông là tà giáo!"
"Lư Thắng Ngạn là đại thiên ma!"
"Tiếng tăm rất xấu!"
"Đừng có tin bừa!"
"Tôi dẫn cô đi gặp sư phụ của tôi, sư phụ tôi mới là Phật giáo chân chính, sư phụ tôi đã cao tuổi lắm rồi, có thiên nhãn, người tu khổ hạnh đã chứng đắc, tôi dẫn cô đi quy y với người, cô gặp là hiểu ngay."
Phương Hoằng không từ chối được, đành phải đi theo xem sao.

Vị lão hòa thượng mà Phương Hoằng gặp, tướng mạo rất trang nghiêm, cũng rất hiền từ hòa nhã, nam nữ đến bái kiến lão hòa thượng rất đông, lần lượt đảnh lễ lão hòa thượng và dâng lên cúng dường, Phương Hoằng ở trong đám đông, hướng về phía lão hòa thượng đảnh lễ.

Lão hòa thượng vừa thấy Phương Hoằng, lập tức ngăn cản không cho cô đảnh lễ.
"Cô không cần đảnh lễ."
"Tại sao vậy?" - Phương Hoằng ngạc nhiên.
Lão hòa thượng chắp tay:
"Trên đỉnh đầu cô có Phật, hiện ra tám vạn bốn nghìn tướng; từ tám vạn bốn nghìn tướng lại tỏa ra tám vạn bốn nghìn hào quang, khi cô vừa bước vào cổng chùa, tĩnh lặng tột cùng khiến thiên nhãn trên đỉnh đầu khai mở, trong cõi trần lao tràn ngập ánh kim quang!"
"Sư phụ đã thấy rồi!" - Phương Hoằng dùng tóc che chiếc kẹp tóc.
"Trong một sợi lông thông suốt tin tức." - Lão hòa thượng nói.
Phương Hoằng hỏi:
"Vị Phật trên đỉnh đầu là Phật nào?"
Lão hòa thượng cười hì hì:
"Di Đà dạy ta niệm Di Đà, làm sao ta lại không biết Ngài, chính là A Di Đà Phật!"
Phương Hoằng rất kinh ngạc.
Lão hòa thượng hỏi:
"Sư phụ cô là ai?"
"Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn."

Lão hòa thượng giật mình, rồi hỏi tiếp:
"Ngài dạy cô tu pháp gì? Có dạy cô niệm Phật không?"
"Con tu Chân Phật Mật Pháp, Ngài cũng dạy chúng con niệm Phật, Ngài tự mình cũng niệm Phật, Ngài nói, trong đi đứng nằm ngồi, một câu Di Đà không dứt, thật thà niệm Phật!"
"Ồ!" - Lão hòa thượng im lặng không nói.
Lão hòa thượng nói với Phương Hoằng lời cuối: "Trên đỉnh đầu cô có ánh sáng, toàn thân có ánh sáng, đã có tương ứng, tu hành không tệ!"
Phương Hoằng rất vui mừng.

Lão hòa thượng nói với thị giả của mình: "Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, ta thật sự không hiểu được Ngài, ta không biết nói gì. Nhưng, đệ tử Phương Hoằng của Ngài, quả thật toàn thân tỏa ánh sáng, không thể nghĩ bàn, đệ tử không thể nghĩ bàn, xem ra, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn mới thật là vô cùng không thể nghĩ bàn!"


### 22. Thông báo trước kia


Tôi đang tĩnh tọa ở nhà.
Thần Hộ pháp trong nhà dẫn một hồn ma nữ đến gặp tôi, tôi không biết vì duyên cớ gì?
Hồn ma nữ nói với tôi:
"Sư Tôn từ bi!"
Tôi hỏi thần Hộ pháp:
"Chuyện gì vậy?"
Thần Hộ pháp đáp:
"Hồn ma nữ này tên là Triệu Tiêu Huệ, bà có một người con gái tên là Triệu Tình. Triệu Tình học Phật, ngày đêm nhớ thương mẹ không biết đã vãng sinh nơi nào. Triệu Tình học theo Bà-la-môn nữ, cúng dường chư Phật, tụng Kinh Địa Tạng, niệm danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát, mong được gặp mẹ một lần."
"Việc này liên quan gì đến tôi!"
"Triệu Tình đã tìm đến các vị trụ trì ở chùa, các pháp sư đều cười cô ấy, nói âm dương cách biệt, làm sao gặp được, ngược lại còn bảo cô đừng phí tâm sức. Triệu Tình tìm đến các thuật sĩ giang hồ, thuật sĩ dùng phép, nói có thể du hành địa phủ, nhưng cô ấy chỉ thấy vài ảo ảnh, cũng chẳng có câu trả lời. Giờ đây, Triệu Tình nghe danh Ngài, muốn đến gặp Ngài."
Nghe xong, tôi mới hiểu rõ sự tình.

Triệu Tiêu Huệ nói:
"Triệu Tình nhớ thương tôi quá đỗi, còn tôi thì đang ở âm phủ, âm dương cách biệt, vốn không dễ gặp nhau, cũng không thể gặp được, xin Sư Tôn khai thị cho con gái!"
"Sao bà lại ở âm phủ?" - Tôi hỏi.
"Vì đã sát sinh quá nhiều."
"Việc này dễ giải quyết, bà có thể khuyên con cháu in một vạn cuốn Chân Phật Kinh, nhờ công đức in kinh, hồn phách bà có thể sinh lên cung điện Mani ở cõi trời ba mươi ba."
"Nhưng làm sao con báo cho con cháu biết được!"

Đúng vậy! Triệu Tiêu Huệ đã chết, làm sao báo cho con cháu được, nghĩ đến tôi cũng thấy buồn cười.
Triệu Tiêu Huệ nói:
"Xin Sư Tôn chuyển lời giúp."
"Tôi có thể chuyển lời, nhưng Triệu Tình làm sao tin được tôi!"

Triệu Tiêu Huệ kể cho tôi nghe tất cả mọi chuyện, tôi nhớ rõ từng điều, cuối cùng, Triệu Tiêu Huệ vui vẻ theo thần Hộ pháp ra về. Trước khi đi, Triệu Tiêu Huệ còn quy y với tôi, xin tôi quán đảnh để bà trở thành một đệ tử cõi âm của tôi.

🌟

Quả nhiên Triệu Tình đến tìm tôi:
"Nghe nói thầy thông thiên đạt địa, pháp lực cao cường, là bậc kỳ nhân trong thiên hạ, tôi có một nguyện cầu, xin thầy làm phép cho tôi được gặp mẹ một lần!"
"Tôi thấy được, cô không thấy được.""Tại sao vậy?"
"Mắt thịt phàm phu, làm sao thấy được!"
"Vậy tại sao thầy thấy được?"
"Tôi có thiên nhãn. Tôi đã gặp mẹ cô rồi!"
"Khi nào vậy?"
"Đêm qua."
Triệu Tình lắc đầu, dường như không dám tin:
"Nói suông không đủ, thầy có bằng chứng gì không?"
Tôi cười ha hả, lấy giấy bút viết vài chữ đưa cho cô ấy, trên giấy tôi chỉ viết:
"Con yêu! Con đã giấu mảnh giấy trong túi áo của mẹ, mẹ đã thấy rồi, mẹ cũng nhớ con lắm!"
Triệu Tình vừa đọc mảnh giấy của tôi, lập tức quỳ xuống, nước mắt tuôn trào, kêu lớn:
"Đúng rồi, đúng rồi, thật rồi, thật rồi, thật không thể tin được, thật không thể nào!"

Thì ra sự việc là như thế này:
Hằng ngày Triệu Tiêu Huệ gọi Triệu Tình là "búp bê"!
Triệu Tình đã lén bỏ một mảnh giấy vào túi áo của mẹ, viết bốn chữ "Mãi mãi nhớ mẹ". Chỉ có cô ấy biết điều này, cô không nói ra, không ai có thể biết được.

Tôi nói:
"Cô còn lén đổi tất cho mẹ, từ đôi tất trắng thành đôi tất đỏ, đôi tất mà mẹ cô thích mang lúc còn sống."
Triệu Tình nói:
"Đúng là như vậy."
Tôi hỏi:
"Cô còn điều gì thắc mắc nữa không?"
Triệu Tình khóc không nói nên lời.

Vì vậy, tôi bảo Triệu Tình chuẩn bị in ấn một vạn cuốn Chân Phật Kinh, nhờ công đức in kinh, mẹ của Triệu Tình có thể sinh lên cung điện Mani ở cõi trời ba mươi ba.
Triệu Tình rất mừng rỡ, gật đầu đồng ý.

Đây là:
*Một quyển chân kinh chứa tâm Phật
Người in người tụng công đức lớn
Nếu cực thấu tỏ tôn chỉ này
Nhận ra trong sách ẩn ngọc quý.*

🌟

Nhưng, khi Triệu Tình kể chuyện này cho vị ni trụ trì ở chùa, vừa nghe đến tên Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, ni sư liền lắc đầu.
Triệu Tình nói:
"Tất cả đều là sự thật."
Ni sư hỏi:
"Ông ta không điều tra trước sao?"
"Không thể nào, vì chuyện này chỉ mình con biết mà thôi!"
Mặc dù ni sư lắc đầu, tuy còn nghi ngờ, nhưng cũng đành chịu!

Triệu Tình muốn đến quy y theo tôi học Mật giáo.
Ni sư ngăn cản cô:
"Dễ bị người ngoài chỉ trích lắm!"
Triệu Tình nói:
"Miễn là sự thật, con sẽ đi quy y, không sợ gì cả!"
Ni sư cuối cùng nói:
"Ông Lư Thắng Ngạn này có lẽ tài năng quá lộ liễu, sớm bị người khác ganh ghét, phỉ báng. Có thể ông ấy chưa biết cách bảo vệ mình tốt, để tài năng của mình phát huy đúng lúc thích hợp. Thế này đi! Nếu khả năng tiên tri và thiên nhãn của Lư Thắng Ngạn là thật, ta cũng sẵn sàng quy y theo ông ấy. Con hãy đi nói với Lư Thắng Ngạn rằng, nếu ông ấy có thể khiến con thực sự tin phục, cũng hãy khiến ta thực sự tin phục một lần."

Triệu Tình thọ nhận quy y quán đảnh, tôi dạy cô ấy trước hết phải tu tập pháp Tứ gia hành.

Triệu Tình hỏi:
"Mẹ còn nói gì với thầy nữa không?"
"Nhiều lắm."
"Chắc hẳn còn điều gì quan trọng hơn."
Tôi đáp:
"Nhờ công đức in kinh của cô, mẹ cô đã được sinh lên cung điện Mani thành người trời rồi. Mẹ muốn cô tinh tấn tu tập Mật pháp, cuộc đời quý báu, thời gian quý báu, hãy phát huy hết trí tuệ tài năng của mình, phát huy tối đa tiềm năng của mình, coi trọng việc thực tu mới là điều quan trọng nhất."
"Bản thân con còn điều bí mật nào nữa không?"
"Có."
"Bí mật gì vậy?"
"Dưới lòng bàn chân cô có một nốt ruồi đỏ đấy!"
"Ồ! Đúng thật."

Triệu Tình nói với tôi rằng ni sư trụ trì cũng muốn quy y học Mật pháp, tôi liền viết một bức mật thư gửi cho ni sư.
Ni sư vừa mở thư ra xem, sững người, nhưng rồi nhanh chóng thông suốt, lập tức âm thầm đến quy y thọ quán đảnh.

Trong mật thư tôi chỉ viết vỏn vẹn một câu:
"Đã xuất gia rồi, vạn pháp đều không, xin hãy lấy tấm ảnh chụp chung năm xưa dưới đáy rương, đốt đi!"
Ni sư vừa đọc xong, lấy chiếc rương cũ ra, quả nhiên trong ngăn đáy còn một tấm ảnh, đó là tấm ảnh chụp chung với người yêu trước khi xuất gia, kỷ vật duy nhất mà bà không nỡ vứt bỏ.
Ni sư làm theo lời tôi, đốt tấm ảnh!
Sau đó, thật sự đến quy y!

🌟

Tuy Triệu Tình không thể trực tiếp gặp mẹ mình, nhưng vẫn có cảm ứng. Một lần nọ, bên ngoài cửa sổ của cô xuất hiện một con chim rất lạ, trông giống như một con công nhỏ, vô cùng đẹp.
Con chim nhỏ kêu ríu rít, âm thanh rất dễ nghe, nghe như đang hát vậy!
Con chim không chịu bay đi, cứ nhìn chằm chằm vào Triệu Tình, còn chớp chớp mắt nữa!
Triệu Tình rất ngạc nhiên!

Con chim bay vào trong, không đậu chỗ nào khác mà chỉ đậu trên một quyển Chân Phật Kinh, rồi dang cánh bay lên, lại hạ xuống, rồi lại dang cánh bay lên, làm như vậy ba lần liền, như thể đang muốn chỉ điều gì đó cho cô. Cuối cùng, con chim xinh đẹp bay ra ngoài cửa sổ, bay đi mất, từ đó không thấy nữa....

Triệu Tình cho rằng:
Ở cõi tịnh thổ có những con chim đủ màu sắc kỳ diệu, có thể phát ra âm thanh hài hòa, trang nhã, đó là do Phật A Di Đà hóa hiện. Còn hôm nay, con công nhỏ xinh đẹp này chưa từng thấy bao giờ, bay vào nhà như thế, có lẽ là do mẹ cô hóa hiện ra.
Đặc biệt là chim nhỏ đậu trên quyển Chân Phật Kinh, dang cánh bay lên ba lần liên tiếp, có thể đó chính là điềm báo cho Triệu Tình.
Công đức in Chân Phật Kinh đã giúp mẹ được sinh về cung điện Mani ở cõi trời ba mươi ba, ba lần chính là ám chỉ cõi trời ba mươi ba vậy.

Triệu Tình trong lúc tu tập Chân Phật Mật Pháp đã từng có trải nghiệm như vậy, đây chính là "trang nghiêm xúc tam muội".
Triệu Tình quán tưởng mẹ mình đứng giữa hư không.
Từ hư không di chuyển đến đỉnh đầu.
Từ đỉnh đầu đi vào tâm.
Hợp nhất.

Lúc này chính là:
*Bảo tính công đức tâm
Nhẹ nhàng xoay trái phải
Chạm tới sinh thắng lạc
Hoan hỷ hiện dung nhan.*

Triệu Tình cho rằng, mẹ của cô là một vị thiên nhân, giáng xuống thăm Triệu Tình, đi vào tâm của Triệu Tình, khiến cô cảm nhận được cảm giác chạm xúc không thể nghĩ bàn, như thể nhẫn nhục đạt được đoan chính, tướng mạo thiên nhân bình đẳng tuyệt diệu.

Có ánh sáng thanh tịnh xuất hiện, không phải ánh sáng của thiên nhân, cũng không phải ánh sáng của chính mình, không phải của họ không phải của ta, tự nhiên hiện hữu, rốt ráo như hư không, rộng lớn vô biên tế.

Triệu Tình tương lai sẽ thành tựu:
Ánh sáng trang nghiêm thanh tịnh.
Một niệm trong một thời.
Mẹ con sẽ hội hợp.
Cũng độ được chúng sinh.


### 23. Chân thực Phật pháp tiêu tai ban phúc kinh


Đại lễ bái
Một lễ bái chư Phật mười phương.
Hai lễ bái chư Bồ Tát.
Ba lễ bái Hộ Pháp Kim Cang.
Bốn bái Bình đẳng một cúi đầu.

Tịnh khẩu nghiệp chân ngôn: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.
Tịnh thân nghiệp chân ngôn: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.

Tịnh ý nghiệp chân ngôn: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.

Niệm văn cầu thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật gia trì
Ôm A Hùm [Om Ah Hum]
Kính đem thân khẩu ý thanh tịnh.
Cúng dường Tỳ Lô Giá Na Tôn.

Pháp thân Phật Nhãn Phật Mẫu Thánh.
Báo thân Liên Hoa Đồng Tử thân.
Ứng Thân giáo chủ Liên Sinh Phật.
Ba thân không khác, đại Phật ân.

Cung kính Chân Phật đại truyền thừa.
Thần thông ban trải đầy thế giới.
Phóng quang chiếu rọi khắp ba thời.
Hóa hiện không ngừng chứng nhất như.
Đệ tử tha thiết thường cầu tới.
Soi chiếu quang minh, phúc huệ tăng.

Xưa đến thọ ký, Phật Thích Ca.
Phó thác ân cần, A Di Đà.
Di Lặc Bồ Tát ban hồng quán.
Liên Hoa Đại Sĩ mật pháp truyền.
Thánh Tôn xin thỉnh đừng quên nguyện.
Cứu độ chúng sinh chúng con đây.
Hộ niệm như thế xin nhiếp thọ.
Thành tựu nhanh nhanh thỉnh gia trì.

Nam mô Tỳ Lô Giá Na Phật.
Nam mô Phật Nhãn Phật Mẫu.
Nam mô Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Chân Phật hải hội thập phương tam thế chư Phật Bồ Tát Ma Ha Tát.

Niệm thánh cáo (3 lần)
Tây phương Liên Trì hải hội, Ma Ha Song Liên Trì, thập bát đại Liên Hoa Đồng Tử, Bạch Y Thánh Tôn, Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng sư, Chủ Kim Cương Chân Ngôn Giới Bí Mật Chủ, Đại Trì Minh Đệ Nhất Thế Linh Tiên Chân Phật Tông. Lư Thắng Ngạn mật hành tôn giả.

Hương tán
Lư hương sạ nhiệt. Pháp giới mông huân.
Chân Phật hải hội tất diêu văn. Tùy xứ kết tường vân.
Thành ý phương ân. Chư Phật hiện toàn thân.

Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần)
Nam mô Chân Phật hội thượng chư Phật Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần)

Phụng thỉnh hai Phật tám Bồ Tát
Nam mô Pháp Giới Tối Thắng Cung Tỳ Lô Giá Na Phật.
Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới A Di Đà Phật.
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Kim Cương Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Diệu Cát Tường Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.

Khai kinh kệ
Phật pháp rộng sâu rất nhiệm màu.
Trăm nghìn vạn kiếp khó tìm cầu.
Nay con nghe thấy chuyên trì tụng.
Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm sâu.

**Chân thực Phật pháp tiêu tai ban phúc kinh**
Tôi nghe như vầy.
Một thời, Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử tại Ma Ha Song Liên Trì, ngồi trên pháp tọa hoa sen lớn màu trắng, xung quanh là mười bảy đóa hoa sen lớn khác.

Hoa màu xanh phát ánh sáng xanh.
Hoa màu vàng phát ánh sáng vàng.
Hoa màu đỏ phát ánh sáng đỏ.
Hoa màu tím phát ánh sáng tím.
Mỗi đóa hoa sen tỏa ra hương thơm tinh khiết vi diệu.

Bạch Liên Hoa Đồng Tử âm thầm vận thần thông làm Ma Ha Song Liên Trì biến hóa thành ánh sáng vàng kim chói lọi. Tất cả hương hoa tỏa mạnh ra thơm ngát. Tiên thảo cũng tỏa ngát hương thơm. Chim Bạch hạc, Khổng tước, Anh vũ, Xá lợi, chim Ca lăng tần già, chim Cộng mạng, đều hóa màu vàng kim, cùng hót lên âm thanh hòa nhã của cõi trời.

Trong hư không xuất hiện ánh sáng vàng kim cùng âm thanh cõi trời thanh tịnh vi diệu. Có hương thơm nồng tỏa trong các thế giới, có tầng các bằng vàng trên không trung, tất cả cùng phát hào quang hoa rực rỡ. Mọi chốn nở đầy hoa sen vàng kim và hoa trời bay phấp phới khắp hư không.

Lúc bấy giờ,
Ma Ha Song Liên Trì chấn động mạnh mẽ. Vô lượng chư Thiên đều cảm nhận được, chư Phật, chư Bồ Tát cùng chư Thanh Văn cũng đều cảm nhận được, tất cả liền đi đến Ma Ha Song Liên Trì. Ba mươi ba vị thiên chủ cõi trời cũng vội đến Ma Ha Song Liên Trì. Tập hợp liền hai mươi tám loại thiên chúng, Đế Thích, Phạm Vương, bát bộ, tứ chúng. Rộng giảng nói pháp yếu.

Lúc bấy giờ:
Kim Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Đại trí huệ.
Bạch Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Pháp giới.
Lục Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Vạn bảo.
Hắc Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Hàng phục.
Hồng Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Hạnh nguyện.
Tử Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Đoan nghiêm.
Lam Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Quả đức.
Hoàng Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Phúc túc.
Tranh Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Đồng chân.

Chư Thiên thấy vậy cảm thấy kinh ngạc lạ kỳ. Thế là Đế Thích từ trong chỗ ngồi đứng dậy, cúi đầu hướng về Bạch Liên Hoa Đồng Tử mà thưa rằng: "Thánh Tôn, thật hy hữu hiếm có. Ma Ha Song Liên Trì do nhân duyên nào mà xuất hiện ánh sáng đại quang hoa rực rỡ này?"

Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử nói: "Đó là vì để thuyết giảng cho các ông vậy."
Đế Thích nói: "Thánh Tôn uy quyền tối tôn. Chỉ mong Thánh Tôn vì chúng sinh mà tuyên thuyết. Tất cả trời người sẽ đều biết phải hướng quay về."

Lúc bấy giờ Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử nói với Đế Thích cùng các đại chúng: "Lành thay lành thay. Nay ta vì các ông và chúng sinh đời mạt thế, cùng những người hữu duyên trong đời tương lai, giảng cho tất cả đều biết đạo lý chân thực Phật pháp và tiêu tai ban phúc."

Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử liền nói tiếp:
"Chư Phật, Bồ Tát cứu độ chúng sinh.

Có:
Tối Thắng thế giới,
Diệu Bảo thế giới,
Viên Châu thế giới,
Vô Ưu thế giới,
Tịnh Trú thế giới,
Pháp Ý thế giới,
Mãn Nguyệt thế giới,
Diệu Hỷ thế giới,
Diệu Viên thế giới,
Hoa Tạng thế giới,
Chân Như thế giới,
Viên Thông thế giới.
Bây giờ sẽ có Chân Phật thế giới."

Thế là Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác cùng chư Thánh chúng nghe Thánh Tôn khai diễn Chân Phật thế giới.
Biết được sự cát tường, thiện thệ, đại bi, nhân quả của quá khứ - hiện tại - vị lai, là do Thánh Tôn vì chúng sinh hóa thân thị hiện, ai nấy hoan hỷ chưa từng có, cúi đầu tán thán mà hát lên bài kệ:

Thánh Tôn đại từ bi.
Vô thượng bí mật tôn.
Quá khứ sớm tu chứng.
Giới siêu phàm thoát tục.
Nay lập Chân Phật giới.
Xót thương chư chúng sinh.
Hóa thân làm giáo chủ.
Hạ giáng cõi Ta Bà.
Lành thay hiệu Liên Sinh.
Vì chúng sinh quảng thuyết.
Chúng con đều đã nghe.
Nguyện sẽ đại hộ trì.

Lúc bấy giờ, Thánh Tôn Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử nói với đại chúng:
"Tu hành lấy vô niệm làm chính giác Phật bảo. Lấy thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh làm Pháp bảo. Lấy Chân Phật Thượng sư làm Tăng bảo."

Thánh Tôn nói với đại chúng:
"Nếu có thiện nam tử, tín nữ tử vào ngày 18 tháng 5 hàng năm, tắm rửa trai giới, mặc y phục sạch sẽ, hoặc vào ngày 18 hàng tháng, hoặc ngày sinh thần của mình ở trước mật đàn, phụng thỉnh hai Phật tám Bồ Tát, tụng "Chân Thực Phật Pháp Tiêu Tai Ban Phúc Kinh" thì cầu gì tùy tâm, sẽ có cảm ứng. Có thể cúng dường hương, hoa, đèn, trà, quả, chí thành cầu nguyện, đều được như ý."

Thánh Tôn nói với đại chúng:
"Những vị quan chức, quý nhân, sa môn, cư sĩ, người tu đạo, phàm tục trong thế gian, nếu nghe kinh này, thêm thọ trì tụng niệm thì những người này bổng lộc chức vị tối thắng, thọ mệnh kéo dài, cầu trai được trai, cầu gái được gái, có được phúc nhiều vô lượng, là đại phúc bảo kinh tăng ích.
Những vong linh, oan thân trái chủ chưa được cứu độ mà còn ở trong chốn u minh, nếu có thể trì tụng kinh này, ấn tống kinh này thì người chết sẽ được lên trời, oan gia trái chủ sẽ bỏ đi, hiện tại còn gặt hái được phúc đức.
Những người nam, người nữ nào hoặc bị tà ma xâm phạm, hoặc bị quỷ thần hãm hại, hoặc có ác mộng hỗn loạn, nếu thọ trì kinh này, ấn tống kinh này thì tà ma sẽ bỏ chạy. Họ lập tức sẽ được an lạc.
Những ai có bệnh tật đeo bám, phải trả nhân quả nghiệp báo của kiếp trước hoặc có các bệnh do quỷ thần, nếu thọ trì kinh này, ấn tống kinh này thì tai ương sẽ được cứu, bệnh tật sẽ tiêu trừ.
Những ai có ác vận, dính phải kiện tụng, bị giam cầm tù tội nhưng có thể trì tụng kinh này, ấn tống kinh này thì tai họa sẽ được giải trừ, điều hung sẽ hóa thành cát tường.
Nếu hai nước xảy ra chiến tranh, có thể trì tụng kinh này, lập tượng cúng dường, sẽ được gia tăng uy lực, chiến thắng chắc chắn.
Người đọc tụng, người ấn tống, người bố thí, tất cả sẽ được cát tường như ý viên mãn, tiêu trừ các độc hại, có thể diệt sinh tử khổ."

Tây phương Chân Phật hải hội, tại Ma Ha Song Liên Trì, Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử đều ở trong đó mà nói chú rằng:
“Ôm, gu-ru, lién-sâng, sít-đi, hum” [Om guru liansheng siddhi hum] (vô số lần)

Thánh Tôn khi giảng xong kinh này, Đế Thích cùng chư đại chúng, Thiên long, Bát bộ, Tứ chúng cung kính hành lễ, tín thọ phụng hành.
Chân Thực Phật Pháp Tiêu Tai Ban Phúc Kinh (Hết!)

Hồi hướng kệ
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật tịnh độ.
Trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ tam đồ.
Nếu có kẻ thấy nghe, đều phát lòng bồ đề.
Hết một báo thân này, đồng sinh cõi Cực Lạc.

**(Hết.)**

---

---
# File: sach-tam-linh/148-suc-manh-cua-than-chu.md
# Title: 148. Sức mạnh của thần chú
---

![image](/img/img_b92e9f5b2497c5ba72b67db285f593a2.jpg)



## Sức mạnh của thần chú


🪷 Tiết lộ mật mã giữa quỷ và thần

Văn tập số: 148
Xuất bản: 09/2001
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

**Ghi chú:** Thần chú trong bản gốc vốn được ghi chép thuần bằng chữ Đài Loan (Trung Quốc). Do đặc thù của Mật giáo, mọi thần chú nên được đọc giống như khẩu âm của vị Thượng sư đã quán đảnh trao truyền pháp. Các phiên âm chú trong văn tập này được ghi lại theo khẩu âm của Liên Sinh Hoạt Phật (tác giả) hoặc phiên âm tiếng Trung trong nghi quỹ của dòng phái. Các bản phục hồi Phạn ngữ của thần chú không được đặt trong bản dịch này (chúng vốn chỉ để tham khảo) để tránh việc sử dụng thần chú không thích hợp. 


### Lời mở đầu


**Dùng chú ngữ để hạ sốt**

Để mở đầu cuốn sách này, trước tiên tôi kể một câu chuyện nhỏ xảy ra từ nhiều năm trước.

Một ngày nọ, đệ tử tên gọi Trần Kiện vội vội vàng vàng đến trước cửa nhà tôi xin được gặp.
"Anh có việc gì? Sao mà chạy vội vàng như vậy?" - Tôi hỏi.
"Không phải việc của con ạ!" - Trần Kiện trả lời.
"Là của ai?"
"Là của hàng xóm nhà kế bên."
"Hàng xóm nhà kế bên? Thế sao anh lại vội vàng căng thẳng như vậy?" - Tôi cười.

Trần Kiện trả lời với đầy vẻ nghiêm trọng:
"Sư Tôn! Con thường hay kể với hàng xóm về sự vĩ đại của thầy, nói rằng pháp lực của Sư Tôn rất cao cường, có năng lực tiêu tai giải ách tuyệt đối. Chỉ cần tới tìm Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn là tất cả mọi khó khăn đều được giải quyết dễ dàng như dao sắc chẻ tre. Hôm nay đứa con trai mười tuổi độc nhất của nhà hàng xóm bị sốt cao liên tục, con thay hàng xóm đến cầu Sư Tôn."
"Bị sốt cao thì cần khám bác sĩ!" - Tôi nói.
"Đã khám rồi, cũng uống thuốc rồi, nhưng cơn sốt vẫn không hạ!"
"Tìm Xích Cước Tiên (thầy lang), tìm cách chữa trị theo Đông y!" - Tôi lại nói.
"Họ đều đã đi tìm bác sĩ, thầy lang cả rồi, nhưng không có chút hiệu quả nào. Bây giờ nghĩ tới Sư Tôn, họ muốn xin phù chú."
"Tôi là phù tử tiên à, ha ha!" [phù tử tiên: người có năng lực vẽ phù]

Tôi cũng "cấp cấp như luật lệnh" đi theo Trần Kiện. Tới cửa nhà của hàng xóm Trần Kiện, tôi vừa nhìn thì ôi thảm rồi, bởi vì trước cửa có hai con ma viêm não đang chuẩn bị đi vào. Tôi nói với hai con ma viêm não: "Đợi chút, ta đi trước."

Tôi vươn tay đẩy hai con ma ra, chúng ngã lăn ra đất giơ cả bốn chân lên trời, tức giận kêu la ầm ĩ. Trần Kiện hỏi tôi:
"Sư Tôn! Thầy vừa mới nói chuyện với ai vậy?"
Tôi đáp:
"Với không khí."

Tôi đi vào nhà, gặp chủ nhà là hai vợ chồng họ Đặng, mặt mày âu sầu, họ cầu xin tôi cứu con trai họ bởi vì cậu bé đã sốt cao nhiều ngày chưa đỡ.
Tôi nói:
"Thật may mắn là gặp được tôi, nếu không thì con trai của hai người coi như xong rồi đó!"
"Làm cách nào để cứu bé?" - Họ hỏi.
"Niệm chú."
"Niệm chú có thể hạ sốt sao?" - Họ há hốc mồm vì ngạc nhiên. 
"Để xem đã!"

Tay phải tôi kết Bảo thủ ấn (ngón tay đeo nhẫn vươn ra hơi uốn cong, ngón tay cái đè lên ba ngón tay kia), tay trái kết Kim cương quyền ấn (ngón giữa, ngón đeo nhẫn, và ngón út nắm lấy ngón tay cái, đầu ngón tay trỏ uốn cong đặt lên lưng ngón tay cái) rồi đặt vào hông.

Tôi dùng Bảo thủ ấn viết một chữ "Vam" lên trán của đứa bé đang sốt.
Niệm ba tiếng: "Vam. Vam. Vam."
Chân trái dậm xuống đất ba lần.
Rồi tôi nói:
"Xong rồi. Sẽ sớm hạ sốt thôi!"
Họ đều không dám tin:
"Như thế là có thể hạ sốt sao?"

Thực tế là chỉ khoảng hai phút sau, đứa con trai duy nhất của nhà họ Đặng đã hạ sốt liền, hoàn toàn bình thường. Cơn sốt cao vừa hạ thì cậu bé cũng tỉnh táo trở lại, cứ như chẳng hề bị ốm gì!

Con trai nhà họ Đặng nói:
"Trong lúc chóng mặt vì bị sốt cao, con nhìn thấy trước mặt có một chiếc xe đang cháy chạy về phía con, ở phía sau cũng lại có một chiếc xe đang bốc cháy hừng hực chặn đường thoát của con, con sắp bị chết cháy mất. Lúc này, từ trên không trung có một người niệm chú, cưỡi mây bay đến, đưa tay chỉ vào con, thế là một cơn mưa lớn trút xuống. Cơn mưa này nhanh chóng dập tắt hai chiếc xe đang bốc cháy, thế là con được cứu sống và tỉnh dậy." 
"Con có nhận ra người đến từ trên không trung không?"
"Chắc chắn có!"

Cậu bé nói, rồi chỉ vào tôi:
"Chính là người này."
"Oa! Vạn tuế!" - Trần Kiện kêu to.

Tôi gật gật đầu. Vợ chồng họ Đặng vô cùng tin tưởng và bái phục.

Việc này chính là:

*Mật chú nhất tâm, cần mạnh mẽ.
Nỗ lực chăm tu, tiến bộ nhanh.
Tương ứng đạt thành, trời sẽ giúp.
Thành tựu tột bậc, Đại La Tiên.*

Mật chú này rốt cuộc là gì? Dùng chú ngữ để hạ sốt rốt cuộc là thế nào? Đây chính là hành giả niệm chú để mời thỉnh Thủy Thần của cõi trời.

Chủng tự "Vam" trong mật chú chính là "nước". Lấy nước để dập lửa thì lửa sẽ tắt thôi, và thế là cơn sốt cũng tiêu tan, đơn giản là như vậy.

🌟

Mật chú còn được gọi là đà-la-ni, có nghĩa là tổng trì, nói cách khác nghĩa là bao gồm vô giới hạn tất cả các pháp. Chúng ta còn gọi mật chú là:
Chân ngôn.
Ánh sáng của chú ngữ.
Tâm của Như Lai.
Viên ngọc vô giá.

Cá nhân tôi nghĩ rằng thời gian con người tồn tại trên thế giới này chẳng phải là dài, thời gian thực sự được dùng đến lại càng ngắn. Nếu chỉ theo đuổi giàu sang phú quý, rồi trong một sát-na trút hơi thở cuối cùng, thì giàu sang phú quý cũng là hư không.

Bởi vậy ngay từ đầu tôi đã cho rằng, việc đại sự lớn nhất của cuộc đời này chính là vấn đề sinh - tử. Có thể hiểu được thực sự rõ ràng về sinh tử, có thể hiểu làm sao thoát khỏi sinh tử mới là điều có ý nghĩa nhất.

Khi bước vào con đường tu trì Phật pháp, tôi nhận ra Phật pháp là vô thượng, thù thắng vi diệu, Phật pháp có rất nhiều bảo bối quý giá tuyệt vời, ví dụ như:
Tính không chân như.
Trí huệ bát nhã.
Trung quán chính kiến.
Duy thức thần biến.
Du già nhất vị.

Tôi đã thấy rất nhiều người tu hành theo học Thiền tông, rất nhiều người cũng niệm Phật tụng kinh tu pháp môn Tịnh độ. Cũng có rất nhiều người học giới luật của Phật giáo, khởi đầu từ giữ giới luật. Các tông phái liên quan tới Phật giáo lại càng nhiều, tất cả đều có thể giúp người ta an lạc như ý. Lúc số mệnh kết thúc có thể vãng sinh Phật quốc, có thể thoát khỏi sinh tử luân hồi, có thể minh tâm kiến tính, thấu triệt hoàn toàn, nhập thế hay xuất thế đều được viên mãn.

Sau này trên con đường tu tập Phật pháp của mình, trong quá trình tu học Du già nhất vị, tu học Mật tông chân ngôn, tôi đã biết được rằng Mật tông chân ngôn có thể giúp viên mãn tất cả mọi thiện nguyện, thành tựu tất cả mọi việc, thậm chí tiêu tai, tăng ích, kính ái, hàng phục, có được phú quý, có được trường thọ, gia đình viên mãn, thậm chí cũng có thể đạt được Vô thượng bồ đề (thành Phật).

Những chân ngôn chú ngữ này vốn là do Phật Bồ Tát thương xót nỗi khổ của chúng sinh, do mong muốn cứu độ chúng sinh bớt khổ cực mà từ chính miệng mình tuyên thuyết đà-la-ni. Khi tu học những chú ngữ này, chúng sẽ giúp ta được an lạc, giúp ta được lợi ích, giúp ta được như ý, giúp ta được cát tường. Không chỉ như vậy, chúng còn giúp diệt tội tiêu nghiệp của ta trong kiếp này, đưa ta tới Phật quốc.

Ngài Tsongkhapa sáng lập Hoàng giáo (Gelugpa) của Mật tông Tây Tạng đã nói: "Niệm Phật là niệm danh hiệu và hình tướng của Phật. Niệm chú là niệm tâm của Phật."

Cuốn “Mật tông yếu nghĩa” nói: 
"Niệm chú kết hợp với niệm Phật thì công đức như một biển núi Tu Di. Nếu chỉ niệm Phật không niệm chú, công đức chỉ nhỏ như ngọn núi Hương Sơn."

Cuốn “Nhỏ như hồ Anavatapta” nói:
"Pháp môn Tịnh độ mặc dù có thể bao phủ mọi tầng lớp chúng sinh, tuy nhiên người vãng sinh vẫn không dễ đạt được thượng phẩm thượng sinh. [Thượng phẩm thượng sinh: Vãng sinh - hóa hiện ra tại "chỗ cao nhất" tại cõi Tịnh độ. Tại các cõi tịnh độ của các vị Phật thường có các nơi hạ phẩm, trung phẩm và thượng phẩm, trong đó lại phân ra nhiều hồ sen các cấp độ. Tùy theo chiêu cảm nghiệp phước mà một cá nhân có thể sinh ra tại vị trí nào.] Nếu tu hành theo Mật giáo thì có thể tùy ý vãng sinh mười phương tịnh độ, có thể nắm chắc trong tay được thượng phẩm thượng sinh."

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn nói:
"Niệm Phật có được danh hiệu và hình tướng của Phật, trì chú có được tâm Như Lai của Phật, vừa niệm Phật vừa trì chú, trong ngoài đều thành tựu, viên mãn toàn thiện."

Cho nên:
*Niệm Phật đạt tới tự minh tâm.
Trì chú đắc thành Như Lai tâm.
Tràn ngập trong ngoài, niềm vui sướng.
Một câu chân ngôn Quan Thế Âm.*

(Tháng 9 năm 2001)

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 0**1. Mọi tai ương hóa bụi trần**


Một người đàn ông tên là Thẩm Định, anh là thuyền trưởng của một con tàu đánh bắt cá ở ngoài khơi xa. Lúc Thẩm Định ở Hồng Kông, có người bạn rủ anh tới hỏi chuyện một vị thầy tướng số rất nổi tiếng lúc bấy giờ về xem bói theo phương pháp Thiết Bản Thần Số.

Thiết Bản Thần Số ngoài việc dùng bát tự ngày giờ tháng năm còn có khả năng tính toán dựa trên chính xác đến từng phút lúc sinh ra. Nếu như ta biết được chính xác cả năm tháng ngày giờ phút, thì việc tính toán ra kết quả sẽ cực kì chuẩn. Thẩm Định thấy rằng Thiết Bản Thần Số của Thiệu Khang Tiết quả nhiên đúng là khiến người ta kinh ngạc!

Thầy tướng số xem bói cho Thẩm Định:
Cha anh tuổi Thìn (rồng), mẹ anh tuổi Thân (khỉ). Chuẩn rồi.
Có ba anh trai, một em gái. Việc này cũng chuẩn luôn.
Thầy tướng số nói, lúc Thẩm Định lên 10 tuổi, mẹ anh đã qua đời, việc này càng khiến cho Thẩm Định kinh ngạc. Bởi vì quả thực năm anh 10 tuổi người mẹ đã bị bệnh mà chết.

Tiếp đó lại nói đến vận mệnh của cá nhân Thẩm Định.
Cả đời sống nhờ vào sông nước. (Thẩm Định ở trên thuyền đánh cá ngoài biển xa.) 
30 tuổi gặp người bạn họ Tạ, chắc chắn bị lừa mất tiền. (Năm 30 tuổi, có một người bạn họ Tạ mượn anh 70 vạn Đài tệ rồi trốn luôn.)

Việc khiến cho Thẩm Định càng không khỏi kinh ngạc là anh ta có một "hồng nhan tri kỷ" ở bên ngoài, họ Trương, không ngờ Thiết Bản Thần Số cũng bói ra được. Lại còn đoán được cả tiền lương mỗi tháng của Thẩm Định có bao nhiêu, rất chính xác, thực sự khiến anh ta phải tròn mắt há mồm.

Cuối cùng thầy tướng số xem tới tuổi thọ của Thẩm Định. Thầy tướng số im lặng không nói gì. Thẩm Định sốt ruột muốn biết.
"Sống tới bao nhiêu tuổi?"
"Anh không cần phải biết." - Thầy tướng số nói.
"Thọ mệnh dài ngắn không quan trọng, tôi có thể xoay xở được!"

Thầy tướng số vẫn kiên quyết không nói.
Thẩm Định tức giận:
"Tôi đã nói rồi, tôi không quan tâm, có sinh có tử, thời gian ngắn dài chẳng tính, sống lâu cũng chưa chắc đã tốt. Hôm nay tôi nhất định phải biết, nếu thầy không nói, tôi sẽ không đi ra khỏi nhà thầy đâu."

Thầy tướng số cảm thấy khó xử. Thẩm Định vẫn cứ kiên trì. Cuối cùng thầy tướng số chỉ còn cách lấy ra cuốn sách Thiết Bản Thần Số của Thiệu Khang Tiết, mở sách ra, bên trong có một dòng, bảo Thẩm Định tự mình đọc, dòng chữ này viết:
"37 tuổi, chết."

37 tuổi! Đầu của Thẩm Định muốn nổ tung ra vì choáng.
Chết tiệt! 37 tuổi! Bây giờ Thẩm Định đã 35 tuổi, như vậy chỉ có thể sống hai năm nữa. Mà ông thầy tướng số này xem bói chuẩn xác như vậy thì có lẽ sẽ chẳng thể nào thoát được số mệnh rồi. Anh ta miệng thì nói là không quan tâm, nhưng kì thực trong lòng đang rối như tơ vò.

Thẩm Định hỏi:
"Có thể hóa giải không?"
"Tất cả đều là trời định, chỉ có tích lũy việc thiện mới có thể thay đổi số mệnh. Tôi không thể giúp anh được."
"Làm việc thiện à?"
"Đúng vậy."
"Giống như Liễu Phàm Tứ Huấn ư?" - Thẩm Định đã từng đọc cuốn sách Liễu Phàm Tứ Huấn rồi. [Liễu Phàm Tứ Huấn: tên một tác phẩm được viết bởi Viên Liễu Phàm, đời nhà Minh, Trung Quốc, vào khoảng năm 1550. Ông viết tác phẩm này nhằm giáo dục con trai, với nội dung khẳng định con người có số mệnh đã định, nhưng hoàn toàn có thể thay đổi được nếu thay đổi hành vi trong cuộc sống của mình.]
"Cũng gần như vậy!"
"Thời gian chỉ còn hai năm, liệu có kịp không?"
Thầy tướng số chỉ mỉm cười, không đáp.
"Trên thế giới này còn có ai có thể giúp tôi thay đổi vận mệnh không?"
Thầy tướng số đáp:
"Theo như tôi biết, thần số của Thiệu Tử là vô cùng chính xác, việc thay đổi được vận mệnh cũng có, nhưng rất hiếm. Anh đi tìm người này hỏi thử xem, xem ông ta có thể thay đổi được không!"
"Ai?"
"Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn."
"Ông ấy có thể làm được sao?"
"Chỉ là thử xem sao!"

🌟

Lúc Thẩm Định đến tìm tôi, ban đầu anh không nói gì đến chuyện anh đã xem bói Thiết Bản Thần Số ở Hồng Kông. Anh chỉ trình lên một lời nhắn là muốn đoán về thọ mệnh.
Tôi nói:
"Tôi không xem về thọ mệnh dài hay ngắn."
"Vì sao? Tiền tài vợ con, phúc lộc thọ hỷ, chẳng phải là đều có thể xem được sao?"
"Anh nói không sai, nhưng xem về thọ mệnh, nếu như là số chết yểu thì người ta sẽ sợ hãi. Để tránh việc ngoài ý muốn xảy ra, tôi không xem!"
"Xin hãy ngoại lệ một lần!" - Thẩm Định yêu cầu.
"Không được."

Cuối cùng Thẩm Định nói:
"Thế này vậy! Thọ mệnh đương nhiên sẽ là hai con số, ông không giúp tôi đoán con số đứng trước, ông đoán giúp tôi con số đứng sau đi vậy!"
Tôi nghĩ ngợi, cảm thấy cũng có thể được. Bởi vì nói ra con số đứng sau thì cũng không thể cho thấy thọ mệnh dài hay ngắn, cũng tương đối vô nghĩa. Nhưng tôi không hiểu vì sao Thẩm Định lại muốn tôi đoán con số thứ hai.
Tôi tính một lúc, sau đó viết ra một con số: 7.

Thẩm Định nhìn con số 7 nói:
"Chuẩn quá! Đúng là 7."

Lúc này Thẩm Định mới nói cho tôi biết anh ta đã đi xem bói Thiết Bản Thần Số ở Hồng Kông. Đáp án chính là "37 tuổi, hết mệnh". Thẩm Định cầu xin tôi cách để "chuyển yểu thành thọ", cầu xin tôi xem có thể giúp anh ta thay đổi số mệnh không!

Tôi nói:
"Để thử xem!"

Tôi liền nhập thiền định sâu. Trong thiền định, tôi nhìn thấy Quan Thế Âm Bồ Tát mặc thiên y màu trắng. Vị Bồ Tát này vô cùng trang nghiêm, tay cầm tịnh bình và một nhành cây liễu, phong thái rất hân hoan tự tại.

Bồ Tát nói với tôi:
"Ngài chỉ cần nói với Thẩm Định niệm Bạch Y Quan Âm Đại Sĩ linh cảm thần chú, mỗi ngày 20 biến, tự ta sẽ cứu anh ta. Ngài cũng không cần phải dạy anh ta cách niệm thế nào, anh ta tự sẽ biết câu chú này."

Tôi xuất ra khỏi thiền định, nói với Thẩm Định:
"Anh biết niệm chú."
"Nói vớ vẩn!"
"Bồ Tát nói vậy!"
"Bồ Tát trêu tôi à! Cả đời này tôi chưa từng niệm chú bao giờ."
Tôi nói:
"Có một vị Bạch Y Quan Thế Âm Bồ Tát nói với tôi rằng anh sẽ niệm Bạch Y Quan Thế Âm Đại Sĩ linh cảm thần chú!"
"A!" - Thẩm Định giật thót mình.

🌟

Thẩm Định kể với tôi thế này.

Khoảng 10 năm trước, bác gái của Thẩm Định qua đời. Trước khi chết, bà lấy một bức tranh tặng cho Thẩm Định, bức tranh này chính là Bạch Y Quan Thế Âm Bồ Tát, bên rìa bức tranh đích thực có viết Bạch Y Quan Thế Âm Đại Sĩ Linh Cảm Thần Chú!

Khi đó bác gái rất cẩn thận dạy cho Thẩm Định niệm từng từ từng từ một. Thẩm Định thực sự đã từng niệm câu chú này rồi, hơn nữa còn phát âm rất chuẩn, bởi anh đã được bác gái dạy cho. Bác gái nói, bức tranh và câu chú này, tranh thì bà đã thờ cúng rất lâu rồi, chú thì bà trì cả đời rồi, rất có linh ứng, không thể vứt bỏ được.

Thẩm Định trân trọng nhận lấy bức tranh. Anh cũng đã niệm chú Bạch Y Đại Sĩ một thời gian. Sau này khi bác gái đi rồi, anh cũng cất bức tranh đó luôn, chưa từng treo lên, hơn nữa cũng không còn niệm chú Bạch Y Đại Sĩ linh cảm thần chú nữa.

Tôi nói với Thẩm Định:
"Mau mau treo bức tranh tướng của Đại Sĩ lên."
"Vâng."
"Mỗi ngày niệm Bạch Y Quan Âm Đại Sĩ linh cảm thần chú 20 biến."
"Vâng."
"Có cần tôi dạy anh niệm không?"
"Không cần, tôi vẫn còn nhớ cách niệm thế nào!"
Thẩm Định còn có thể viết ra câu chú này ngay tại chỗ.

**Bạch Y Quan Âm Đại Sĩ Linh Cảm Thần Chú:**

Nam mô đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn quảng đại linh cảm Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần)
Nam mô Phật.
Nam mô pháp.
Nam mô tăng.
Nam mô Cứu khổ cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát.
Tan-chi-tô, ôm, ka-la-fat-tô, ka-la-fat-tô, ka-hua-fat-tô, la-ka-fat-tô, la-ka-fa-tô, sô-ha.
Thiên La Thần. Địa La Thần. Nhân ly nạn. Nạn ly thân. Nhất thiết tai ương hóa vi trần.
Nam mô Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật.

🌟

Sau khi Thẩm Định về nhà, anh đã treo bức hình linh thánh của Bạch Y Quán Âm Đại Sĩ lên, cung kính thờ cúng. Mỗi ngày trước khi niệm chú, anh đều rửa sạch tay và thắp hương, đứng trước hình linh thánh của Bạch Y Quan Âm Đại Sĩ mà thành tâm đảnh lễ, sau đó mới niệm chú.

Niệm chú xong anh còn đọc bài văn hồi hướng:

*Nguyện được tiêu trừ mọi phiền não chướng ngại.
Nguyện có được trí huệ chân lý quang minh.
Cầu cho tất cả tội chướng được tiêu trừ.
Đời đời làm theo Bồ Tát đạo.*

Thẩm Định còn dùng khẩu ngữ nói thêm:
"Xin Quan Thế Âm Bồ Tát ban phúc bảo vệ, gặp nạn không chết, sống lâu may mắn!"

Đấy là lúc ở nhà, anh có thể niệm chú đúng quy chuẩn, nhưng anh là thuyền trưởng của tàu đánh bắt cá ngoài biển xa, ở ngoài nhiều, ở nhà ít. Trong một góc phòng của mình trên tàu, anh đã dán một bức tranh Bạch Y Quan Âm Đại Sĩ, vẫn đảnh lễ và cung kính niệm chú mỗi ngày y như vậy, từ đầu tới cuối đều không gián đoạn.

Đồng nghiệp cười anh ta:
"Mê tín."
"Thần kinh."
"Bị điên."

Thẩm Định lờ đi. Không chỉ như vậy, mỗi khi có cơ hội làm việc thiện thì anh đều hết sức nỗ lực để làm.

Vào năm Thẩm Định 37 tuổi, có lần tàu cá của anh đang ở Hawaii, ngày hôm sau cần phải đi tới đảo Guam, thì buổi tối hôm đó Thẩm Định bỗng nhiên đau bụng dữ dội. Anh tới bệnh viện cấp cứu, kiểm tra thì thấy là đau ruột thừa, cần phải mổ lập tức, thế là Thẩm Định phải nhập viện ở Hawaii để làm phẫu thuật. Tàu cá theo hành trình đã định, không thể nào chờ anh, liền tự rời đi, đợi tới khi Thẩm Định mổ xong thì gặp lại sau.

Kết quả là:
Tàu cá đang trên đường đi tới đảo Guam thì gặp bão, bị bão đánh chìm. Đồng nghiệp trên tàu không một ai may mắn sống sót. Cả tàu cả người đều mất tích. Công ty tàu cá điều trực thăng đi tìm kiếm, cũng điều cả các tàu khác đi tới nơi xảy ra sự cố để tìm kiếm cứu nạn, không ngờ một vết tích cũng không tìm thấy. Tàu và người dường như đều biến mất hoàn toàn.

Chỉ có một mình Thẩm Định bởi vì bị viêm ruột thừa cấp tính phải ở lại Hawaii để mổ, không lên tàu, nên đã thoát khỏi kiếp nạn này.

🌟

Sau này Thẩm Định lại tới Hồng Kông, lại đi gặp ông thầy tướng số Thiết Bản Thần Số, Thẩm Định nói với thầy tướng số:
"Thiệu Khang Tiết không chuẩn rồi!"
Thầy tướng mệnh rất kinh ngạc:
"Nguyên nhân gì vậy?"
"Chẳng có gì! Tôi trì Bạch Y Đại Sĩ thần chú mà thôi!"
Thầy tướng mệnh nói:
"Bạch Y Đại Sĩ thần chú siêu nhiên như vậy, quả nhiên là việc hiếm thấy, chính tôi đây cũng muốn trì tụng!"

Kể từ sau sự việc này, Thẩm Định lại càng tin tưởng vững chắc vào Bạch Y Quan Thế Âm Bồ Tát, biết rằng Bồ Tát từ bi cứu khổ, có cầu tất linh ứng, chỉ cần tin tưởng tuyệt đối, thành tâm thỉnh cầu, thì cực kì siêu phàm. Sau này Thẩm Định đã quy y Chân Phật Tông.

Tôi dạy Thẩm Định tu Tứ gia hành, Thượng sư tương ứng pháp, cuối cùng là lấy Bạch Y Quan Thế Âm Bồ Tát để làm Bổn tôn tu hành của chính anh.

Thẩm Định cũng thương xót những người bạn cùng tàu cá của mình phải chôn xác trong bụng cá, nên anh đã tụng Bạch Y Quan Thế Âm Thần Chú, tổng cộng 12 nghìn biến. Sau đó anh hồi hướng cho bạn bè cùng tàu.

Đêm đó, anh mơ thấy tàu cá của mình lại tiếp tục hành trình ra ngoài biển khơi, xung quanh tàu có hơn 50 con chim màu trắng bay vòng vòng. Cuối cùng dường như những con chim trắng đều hướng về anh để chào tạm biệt, lần lượt từng con sải cánh bay lên cao mà đi mất.

Sau khi tỉnh giấc mơ, anh tin rằng đó là linh hồn của những người bạn cùng tàu đều đã được Bạch Y Quan Thế Âm cứu độ. Tất cả đều đã rời xa biển khổ rồi.

Việc này chính thực là:

*Sớm tối chăm lễ siêng trì chú.
Bạch Y Quan Âm thường nhập mộng.
Đồng nghiệp trên tàu đều độ hóa.
Có duyên gặp gỡ hưởng phúc này.*


### 0**2. Chuỗi hạt của ông nội**


Ngày xưa, khi tôi giúp người ta xem bói về đất cát (xem phong thủy địa lý), tôi không chỉ xem những thứ hữu hình mà còn xem cả những thứ vô hình. Những thứ vô hình chính là "quỷ thần".

Tôi nói cho mọi người biết một bí mật lớn:
Tôi từng đến Cao Hùng xem phong thủy cho một đại gia giàu có tiếng tăm. Vừa bước vào cửa tôi đã phát hiện ra trong nhà đầy "quỷ nghèo", tất cả đều tới để đòi nợ. Tôi lập tức biết ngay đại gia này sắp đại bại, cuộc sống sắp đi xuống, kinh tế sắp lụi tàn. Quả nhiên không lâu sau đại gia này đã thất bại thê thảm.

🌟

Một lần khác, tôi đến xem phong thủy cho một người nghèo. Anh sống trong nhà "tam hợp viện" ở nông thôn. Tôi lập tức nhìn thấy trong cửa ngoài cửa, quỷ thần đông như kiến, trên lưng những quỷ thần này đều đang vác hàng bao tải cát vàng chuyển vào trong nhà tam hợp viện. Quỷ thần đông như đội quân kiến xếp hàng đi vào tam hợp viện để chuyển cát vàng. Tôi liền biết người nhà này sắp phát đạt rồi.

Sau đó quả nhiên người này về sau cũng có cả tiếng tăm, được làm ủy viên Quốc hội, doanh nghiệp mà ông tham gia quản lý cũng liên tục phát triển, trở thành đại gia giàu có nhất nước.

🌟

Khi tôi nhìn người thì cũng có kinh nghiệm thế này:

Xung quanh người đó là quỷ nghèo tới đòi nợ thì người này chắc chắn sắp mất tiền. Xung quanh người đó có phúc thần đi theo thì người này chắc chắn sẽ phát tài.

Bởi vậy nói tới nói lui, tất cả đều là do quỷ thần tạo nên, nói cách khác là do bàn tay vô hình tạo ra.

Có một lần, tôi tới một khu chợ đêm trước cửa một ngôi miếu để ăn nhẹ, phía trước ngôi miếu có một mảnh đất trống với một quán ăn nhỏ. Quán ăn nhỏ này chỉ bán bốn thứ:

1. Canh hầm thuốc bắc.
2. Mì.
3. Lòng lợn.
4. Rau luộc.

Xung quanh quán ăn bày rất nhiều bàn ghế, tất cả đều kín người ngồi. Rất nhiều khách tới đây ăn, khách đông giống như bầy kiến đang tranh nhau ăn một miếng bánh vậy.

Tôi mở thiên nhãn để xem thì giật nẩy mình. Hóa ra trên mảnh đất trống này phải có đến cả hơn trăm người khách tới ăn, hơn nữa quỷ thần cũng phải có tới hơn trăm người. Những quỷ thần này đều đang kéo khách tới đây ăn.

Quỷ thần kéo khách tới.
Khách không tới không được.

Hơn nữa thực tế là món canh hầm thuốc bắc của quán ăn này cũng nổi tiếng khắp xa gần, hương vị rất ngon, mỗi tối dòng người kéo đến ăn đông như thủy triều vậy. Công việc kinh doanh cứ như vậy tiếp diễn, kiếm tiền dễ như múc nước, dễ như nước từ vòi cứ thế chảy vào không ngừng.

Có người kể, chủ của quán ăn này mỗi ngày trở về nhà đếm tiền, đếm nhiều tới mức sung sướng cười ha ha!

Có người kể, chủ của quán ăn nhỏ này đã có tới mấy căn nhà cao tầng rồi, là một tỉ tỉ phú rồi.

Thế nên tôi đặc biệt quan sát tướng mặt của người chủ quán ăn. Diện mạo của người này có khí đen u ám, mũi hóp, miệng cong, mắt ti hí và bộ mặt xương xẩu. Xem ra thì cơ bản là không có tướng đại gia, ngược lại trông có tướng của một ông già lôi thôi lang bạt hơn.

Tôi cảm thấy ông lão này:
"Chẳng có gì hay cả!"

Nhưng ông lão này lại cứ thế phát tài, thực sự là kỳ quái! Không chỉ kiếm được nhiều tiền mà lại còn có nhiều quỷ thần ở bên cạnh giúp ông ta kéo khách tới, giúp ông ta rửa bát quét dọn lau bàn, việc này mới càng khiến người ta thấy kỳ quặc!

Tôi nghi ngờ ông lão này khả năng biết nuôi "tiểu quỷ", những quỷ thần này chắc đều là do ông lão nuôi cả. Ấy nhưng xem ra lại cũng không giống lắm. Ông lão mặc dù có tướng mạo tầm thường nhưng trên người cũng không thấy bị nhiễm tà khí.

Tôi đứng từ xa nhìn mảnh đất và quán ăn nhỏ. Tôi trông thấy những tia sáng đỏ nhỏ như sợi tơ đang tỏa lên từ dưới mặt đất tạo thành một đám mây đỏ âm thầm che phủ toàn bộ khu vực. Tôi cho rằng có vẻ như địa lý phong thủy nơi này rất tốt nên giúp cho quán ăn nhỏ đại phát kiếm được cực kì nhiều tiền.

Tôi nói cho mọi người biết, việc kinh doanh của các hàng quán khác hoàn toàn không giống như vậy, hoàn toàn đìu hiu, việc kiếm sống rất khó khăn. Sự việc này khiến tôi cảm thấy rất kỳ lạ!

🌟

Một hôm, có người xếp hàng đến hỏi việc, ông ta muốn xin tôi giúp đặt tên cho cháu trai. Tôi vừa ngẩng đầu lên nhìn thì thật trùng hợp làm sao, chính là ông lão của quán ăn nhỏ kia.

Tôi nói:
"Việc buôn bán của ông thật là tốt!"
"Đâu có! Đâu có!" - Ông ta rất khách khí.
"Ô! Việc buôn bán của ông vì sao lại có thể tốt như vậy?" - Tôi rất tò mò.
"Do vận may thôi!" - Ông nói, để lộ ra hai hàm răng đen.
"Vận may thì cũng chẳng thể nào khác biệt nhiều so với
các quán khác như vậy được!" - Tôi nói.
"Ngài bói cho tôi xem vì sao?" - Ông yêu cầu. Rồi ông viết tên họ, ngày tháng năm sinh, địa chỉ.

Tôi vừa quan sát liền phát hiện ra một chú âm truyền đến làm rung động đầy ắp cả đất trời, hơn nữa còn có mùi thơm của gỗ đàn hương đưa tới. Rồi tôi nhìn thấy cả những vòng tròn ánh sáng rực rỡ, trong những vòng tròn ánh sáng đó có các vị phúc thần, việc này thực sự khiến người ta kinh ngạc!

Tôi nói:
"Ông biết niệm chú!"
"Không biết." - Ông lão tên Phan Cát thẳng thừng đáp.
"Tôi nghe thấy âm thanh của chú ngữ, ngửi thấy mùi đàn hương, nhìn thấy phúc thần đi theo ông."
"Không thể nào!"

🌟

Tôi giúp người ta hỏi việc đã lâu rồi, vô cùng linh nghiệm. Trong số những gì tôi từng nói ra, rất ít người ở trước mặt tôi mà lại thốt lên ba tiếng "không thể nào". Thiên nhãn, thiên nhĩ của tôi mới là không thể nào sai được. Còn nếu có chỗ nào sai, nhất định là có nguyên nhân của nó và tôi cũng có thể tìm ra nguyên nhân của chỗ sai đó.

Tôi hỏi:
"Trong nhà có ai biết trì chú không?"
"Vợ con, cháu chắt đều không biết." - Phan Cát đáp.
"Thế còn có người nào biết không?" - Tôi lại hỏi.
"Người đã chết có tính không?"
"Tính."
Phan Cát kể:
"Trong gia tộc nhà chúng tôi chỉ có ông nội Phan Lễ của tôi là biết trì chú. Ông tôi cả đời kính ngưỡng Phúc Đức Chính Thần. Ông đã xây một ngôi miếu thờ Phúc Đức, làm người trông nom miếu Phúc Đức. Có lần có một vị pháp sư tặng cho ông nội tôi một chuỗi tràng hạt, còn dạy ông nội niệm An thổ địa chân ngôn. Ông nội liền cầm chuỗi tràng hạt đó niệm chú An thổ địa chân ngôn đến hết đời, ông niệm nhiều tới mức cả chuỗi hạt đều bị đen cả, đen tới mức nhẵn bóng cả lên."
"Thế chuỗi hạt của ông nội đâu?" - Tôi biết mình đã tìm ra đáp án rồi. 
"Ông nội trao cho cha tôi, cha tôi trao lại cho tôi. Nhưng tôi không biết đã cất ở đâu rồi, phải về nhà hỏi vợ tôi xem."

Phan Cát về nhà hỏi vợ. Người vợ trả lời rằng:
"Chuỗi hạt được cuộn lại và giấu ở một góc trong quán ăn, bị kẹt vào trong khe, chẳng ai để ý đến cả!"

Phan Cát về nhà kiểm tra, quả nhiên là thấy chuỗi hạt ở đó. Ông ta cầm chuỗi hạt đen sì bóng loáng ấy đến cho tôi xem. Phan Cát không biết tầm quan trọng của chuỗi hạt này.

Tôi bảo Phan Cát:
”Ông nội Phan Lễ của ông niệm An thổ địa chân ngôn, kính lễ Phúc Đức Chính Thần, ngưỡng mộ Phúc Đức Chính Thần, chắp tay lạy Phúc Đức Chính Thần, ca ngợi Phúc Đức Chính Thần. Chính bởi vậy nên ông đã được Phúc Đức Chính Thần gia hộ.”

🌟

An thổ địa chân ngôn là:

"Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.”

Trước khi tụng kinh, nhất định cần phải niệm chú này, cũng chính là để mời địa thần bốn phương đến để bảo hộ cho việc tụng kinh.

Phan Lễ cả đời tụng chú này, cung kính niệm, tự nhiên khiến cho các thần Thổ Địa cảm động mà tới gia hộ. Chú này không phải là câu chú của Phật Bồ Tát Kim Cang, cũng không phải là một câu chú lớn, nhưng vẫn không thể coi thường. Nó cũng có công lực bất khả tư nghì.

Nếu như có chúng sinh bị quỷ thần quấy nhiễu, tụng chú này thì quỷ thần sẽ rút lui, hơn nữa lại còn được quỷ thần kính trọng.

Nếu như có chúng sinh mắc phải các loại bệnh tật, tụng chú này thì tất cả bệnh tật cũng sẽ khỏi, thậm chí hoàn toàn không mắc bệnh, thân thể vĩnh viễn khỏe mạnh.

Trong quá khứ tôi từng dạy mọi người niệm chú này. Chú này có hiệu quả cực kì lớn đối với các bệnh ngoài da, ví dụ như bệnh nứt da kẽ ngón chân, bệnh viêm da mãn tính, bệnh chàm hình đĩa, v.v… Rất nhiều người mắc bệnh ngoài da đều khỏi, bởi vì câu chú này sẽ làm Phúc Đức Chính Thần cảm động mà tới, các ngài sẽ xử hết sạch những vi khuẩn gây bệnh ngoài da.

Nếu như có người nhất tâm chỉ trì tụng chú này, giữ được năm giới và làm việc thiện, tương lai người đó cũng sẽ không bị đọa xuống địa ngục và tam ác đạo. Người đó cũng có thể siêu sinh vào cõi người cõi trời, được hưởng cuộc sống sung sướng.

Nếu có người cầu xin tài phúc thì câu chú này là tốt nhất. Tất cả các vị Phúc Đức Chính Thần sẽ dẫn dắt chúng quỷ thần lũ lượt tới để giúp đỡ cho người đó, người đó sẽ có được mọi sự bảo vệ của Thổ Địa quỷ thần, gia tăng tài phúc vô cùng vô tận.

Phan Lễ cả đời trì chú này, rốt cuộc có được công lực lớn. Chuỗi hạt của ông nội để lại cho người cha, người cha lại để lại cho người cháu, vậy mà người cháu vẫn còn được hưởng tài phúc. Thực sự là bất khả tư nghì!

Tôi viết một bài kệ:

*Niệm Phật trì chú bao phúc lạc.
Truyền xuống Ta Bà cõi thế gian.
Nhất tâm một lòng thành kính niệm.
Thần linh giúp đỡ mãi muôn đời.*

🌟

Liên quan đến An thổ địa chân ngôn, tôi lại kể một câu chuyện như sau.

Có một khoảng thời gian bệnh dịch hoành hành trên cả nước, động vật và gia súc trong nhà chết rất nhiều. Tôi nhìn thấy rất nhiều những con quỷ bệnh dịch đến chiếm chỗ ở và cắn chết vật nuôi. Rất nhiều người chăn nuôi đến xin tôi cứu.

Thật bất ngờ là tôi phát hiện ra từ góc đông nam bầu trời có năm ôn thần đã hạ xuống phàm trần. Những ôn thần từ trên trời xuống đó đã khiến cho bệnh dịch hoành hành, gà, vịt, bò, dê, lợn đều sẽ mắc bệnh. Trong lòng tôi rất lo lắng.

Tôi gặp Thành Hoàng Bồ Tát, Bồ Tát nói:
"Không phải việc của tôi, đây là ý trời!"
"Ý trời giáng tai họa, người dân chịu kiếp nạn, tôi không thể làm ngơ!"
"Quản sao được, lòng người cũng bại hoại rồi!"
"Thấy chết không cứu, lòng khó mà yên." - Tôi nói.
Thành Hoàng Bồ Tát nói:
"Lư Thắng Ngạn, ngài ngày ngày cứu người, nhưng đây là nghiệp quả do con người tự gây nên. Nếu có một ngày chính ngài bị người ta hại, thử xem ai sẽ đến cứu ngài?"
Tôi nói:
"Khi người ta hại tôi thì đó là nghiệp chướng của tôi. Nhưng bây giờ nhìn đám gia súc gia cầm này gặp nạn, tôi không đành lòng!"

Thế là Thành Hoàng Bồ Tát dạy cho tôi một pháp.

Lấy bốn thanh tre dài khoảng 53cm, cạo bỏ đi phần màu xanh. Cần chọn ngày "Thành nhật" để chặt tre. Viết lên thân tre An thổ địa chân ngôn bằng chữ Phạn hay chữ Hán đều được. Vào ngày "Trừ nhật" sau giờ Ngọ thì khai quang. Niệm Chân ngôn lên mỗi thanh 108 biến, hoặc càng nhiều càng tốt. Chọn ngày "Định nhật" để đóng bốn thanh tre vào bốn góc của trang trại. Làm như vậy xong thì bệnh dịch sẽ không thể xâm phạm vào gia súc trong trang trại.

Tôi dạy cho những người chăn nuôi cứ theo pháp này mà làm. Quả nhiên hữu hiệu!

Chỉ cần cắm lên bốn thanh tre có viết An thổ địa chân ngôn vào bốn góc trang trại gia súc, bệnh dịch sẽ không phát sinh, dù chỉ một con bị bệnh chết cũng không có. Ngược lại, rất nhiều người chăn nuôi không biết pháp này. Năm đó khi bệnh dịch hoành hành, ngay cả việc chôn gà chết, lợn chết cũng không kịp. Chúng chết hàng loạt thảm thương vô cùng, thực sự rất đau lòng. Xác súc vật chết chất cao như núi.

🌟

Có một lái buôn đến kể với tôi.

Một đêm nọ anh ta nghe thấy bên ngoài trang trại có tiếng thì thầm. Nhưng kì thực không phải người mà là mấy con quỷ bệnh dịch, cả một bầy đến bên ngoài trang trại.

Một con quỷ nói:
"Cánh đồng này có ánh sáng thần chú, không thể vào được."
"Chú gì đấy?" - Con quỷ khác hỏi.
"Thần chú An thổ địa."
"Thần chú An thổ địa nhỏ bé như vậy làm sao mà ngăn được tôi, xông lên!"
"Không được!"
"Vì sao không được?"
"Thần Thổ Địa tuy là vị thần nhỏ, nhưng cũng là chính Thần."
"Chúng ta có pháp chỉ, có lệnh trời! - Quỷ hét to.
Con quỷ kia nói:
"Nhưng mà thần chú này lại được chính Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai quang đó!"
"Ui!" 
Bầy quỷ không nói gì nữa. Một con bảo:
"Đi thôi. Đến nhà khác kiếm đồ ăn. Đây không chỉ là thần chú Thổ Địa nhỏ bé đâu, mà còn có cả chỉ thị của Phật đó! Không đụng tới được!" 
Bầy quỷ lần lần lữa lữa mãi mới chịu đi, tiếng quỷ huyên náo rồi dần dần tan đi ở phía xa…

🌟

Tôi thực sự nói cho mọi người biết:

Có rất nhiều người giàu. Sự giàu có của họ rất nhiều khi là do được quỷ thần giúp đỡ.
Có rất nhiều kiếp nạn. Nguyên nhân của kiếp nạn cũng rất nhiều khi là do quỷ thần gây ra.
Tất cả đều là họa do lực lượng vô hình làm nên.

Mặc dù Khổng Tử từng nói "Kính quỷ thần nhi viễn chi" [cung kính giữ khoảng cách với quỷ thần]. Câu nói này không phải là cho rằng không có quỷ thần, chỉ là không nên đùa với họ mà thôi.

Mọi người có thể chú ý thấy trong Kinh Thánh, chúa Jesus cũng từng bắt quỷ, cũng từng hàng phục ma. Trong quy tắc của Tiểu Phẩm Thần Chức của Thiên Chúa giáo cũng đã ban bố nghi thức đuổi ma [exorcism] của Giáo Đình. Cha Amorth 75 tuổi của Thiên Chúa giáo cũng chính là một vị thầy bắt quỷ nổi tiếng.

Quỷ thần vô hình rất đáng để chúng ta chú ý!


### 0**3. Răng kim cương**


Nhớ lúc tôi còn nhỏ, mẹ tôi Lư Ngọc Nữ từng kể một câu chuyện cho chúng tôi nghe.

Có một bà lão tuổi đã cao, tất cả răng của bà không ngờ đều rụng hết sạch chứ không chỉ là "răng lung lay, tóc điểm bạc". Bà lão bị rụng hết cả hàm răng nên ăn thứ gì cũng rất khó khăn, thực sự là đồ ăn cứng hay mềm đều không ăn được, chỉ có thể ăn thức ăn là chất lỏng mà thôi.

Con dâu của bà rất hiếu thuận, luôn luôn để ý chăm sóc mẹ chồng. Thấy mẹ chồng răng rụng hết, ăn uống rất khổ sở, trong lòng cô cảm thấy rất buồn nhưng cũng không nghĩ ra cách gì hay cả.

Con dâu sinh được một đứa con trai. Con dâu cho con trai bú sữa. Thật khéo là sữa của con dâu rất nhiều, nhiều đến mức dư thừa, bình thường sau khi cho con trai bú xong, sữa mẹ vẫn tiếp tục chảy ra, hơn nữa càng chảy lại càng tiết ra nhiều sữa. Khi nhìn sữa cứ tiếp tục tiết ra, con dâu nghĩ đến mẹ chồng, thế là cô thuận tay ôm lấy mẹ chồng vào trong lòng. Mẹ chồng tuổi đã cao, thể trọng cũng rất nhẹ, không khác gì cô ôm một đứa trẻ vậy, thế là con dâu cho mẹ chồng bú sữa. Mẹ chồng không có răng và cũng chỉ có thể mút, nên bà cũng bú luôn sữa của con dâu cho tới khi no bụng.

🌟

Kể ra cũng kỳ lạ! Đứa bé lớn lên khỏe mạnh. Còn mẹ chồng kể từ khi bú sữa của con dâu, tình trạng tinh thần và thân thể đều tốt hơn rất nhiều so với lúc trước. Càng kỳ lạ hơn là khi đứa trẻ bắt đầu mọc răng, việc này đương nhiên là bình thường, nhưng lợi của mẹ chồng đang mềm lại trở nên cứng dần, bởi vì lợi cứng lại nên răng lại mọc ra. Thật không thể ngờ là bà lão từ chỗ răng rụng hết cả đã lại mọc ra 38 cái răng mới.

Bạn nói xem, chuyện này có kỳ lạ không? Hồi đó khi tôi nghe chuyện này, cảm thấy không thể nào có chuyện như thế. Mẹ tôi Lư Ngọc Nữ nói với chúng tôi:

1. Dinh dưỡng trong sữa mẹ vượt trội tất cả các sản phẩm sữa khác.
2. Sữa mẹ có hàm lượng canxi rất cao.
3. Lòng hiếu thảo của con dâu làm cảm động tới trời.

Câu chuyện đó tôi nghe nhiều thành quen. Sau này có một bác sĩ Đông y nói với tôi, sữa mẹ không những dinh dưỡng cao mà trẻ con bú sữa mẹ thường khó mắc bệnh, lại có khả năng miễn dịch tự nhiên. Bác sĩ nói với tôi, trong y học truyền thống Trung Quốc, sữa mẹ còn được gọi là rượu tiên. 
Rượu tiên.
Rượu tiên.
Ngay chốn nhân gian này lại có.

🌟

Đời này của tôi nhờ có năng lực siêu nhiên nên tôi tận lực cứu người, độ hóa chúng sinh, cũng bởi thế mà tôi cũng gặp được càng nhiều trải nghiệm kỳ lạ. Những trải nghiệm này kỳ diệu phi phàm, rất nhiều điều là bất khả tư nghì. Có một chuyện cũng liên quan đến răng.

Một cư sĩ tên gọi là Tưởng Duy, anh đến gặp tôi để hỏi chuyện.
"Anh muốn hỏi chuyện gì?" - Tôi hỏi.
Anh không nói gì, chỉ há miệng ra cho tôi xem.

Tôi nhìn vào răng cửa trên trong miệng anh thì thấy ngay chính giữa thiếu mất một chiếc răng, để lộ ra một lỗ hổng cực kì rõ ràng.

Tưởng Duy nói:
"Cái răng cửa này tự nhiên lỏng ra, rồi không bao lâu thì rụng xuống, bây giờ biến thành một khe hở ở chính giữa hàm răng. Thứ nhất là nhìn rất khó coi, thứ hai là khi nói sẽ phát ra gió, thứ ba là nước bọt cứ văng lung tung, thứ tư là theo sách tướng nói thì không giữ được tiền tài."
"Anh muốn…?" - Tôi hỏi.
"Liệu có thể xin một lá phù cho mọc răng mới được không!" - Tưởng Duy nói. 
"Ha!" - Tôi cười, nói: "Thế thì phải đi đến nha khoa chứ."

Tưởng Duy nói:
"Thứ nhất, phí khám nha khoa rất đắt. Thứ hai, bởi vì không có chân răng nên cần phải nối với hai chiếc răng trái phải, giống như bắc cầu. Thứ ba, nếu có thể mọc răng mới thì là tốt nhất."
"Làm gì có chuyện mọc răng mới, đây cũng không phải là răng sữa của trẻ con."
"Nghe người ta nói ngài không có gì là không thể làm được!"
"Nói lung tung!"
"Không phải nói lung tung, là thật đó." - Tưởng Duy nói.
Tôi bảo Tưởng Duy:
"Ở chỗ tôi đây có phù giúp trẻ con mọc răng, có phù trị bệnh đau răng, có phụ trị bệnh viêm răng, có phù trị bệnh sâu răng. Nhưng tình trạng của anh không có phù nào thích hợp."
"Ngài cho tôi lá phù mọc răng là được rồi."
"Không thể được." - Tôi nói.
"Vì sao thế?"
"Đó là cho trẻ con, anh đâu phải là trẻ con."
Tưởng Duy thuyết phục:
"Thì cứ thử xem!"
"Đạo của phù chú là tâm thành tắc linh, không có chuyện thử xem."
"Tôi đến cầu phù mọc răng, như vậy cũng là rất thành tâm rồi."
Tôi nhắc lại lần nữa:
"Đó là cho trẻ con."
Tưởng Duy nói:
"Cứ xem như tôi là trẻ con cũng được."
"Phù không có hiệu quả, đừng trách tôi đó!"
"Sẽ không trách."

Tôi không thể cự tuyệt yêu cầu của Tưởng Duy nữa, đành miễn cưỡng vẽ một lá "Phù mọc răng" đưa cho anh. Anh có được lá phù này, nhưng tất nhiên hiệu quả thì hoàn toàn không có. Trẻ con thông thường vào thời kỳ mọc răng, nếu vẫn không nhìn thấy mầm răng, uống phù này vào lập tức răng sẽ mọc ra, thử 100 lần thì thành công cả 100 lần.

🌟

Tưởng Duy vẫn không bỏ cuộc, lại đến tìm tôi. Tưởng Duy nói: 
"Bạn tôi nói, ngài là người có nhiều cách nhất, pháp lực cao cường, rất nhiều chuyện vốn không thể, vào tay của ngài đều biến thành có thể, rất nhiều kỳ tích, hy vọng rằng ngài cũng làm nên kỳ tích trên người tôi."
Tôi cười khổ:
"Bảo người trưởng thành mọc răng mới, đây chẳng phải là cố ý tìm phiền phức sao?"
"Thế mới là kỳ tích, đấy mới gọi là kỳ tích."

Cuối cùng tôi nói với Tưởng Duy:
"Thế này đi! Tôi biết trong Mật giáo có một vị Bồ Tát tên là Kim Cương Nha Bồ Tát [Vajrayaksa Bodhisattva], tôi đi thỉnh giáo ngài ấy, hỏi ngài ấy cách mọc răng mới, nói không chừng lại có cách truyền dạy lại cho anh."

Tưởng Duy vui vẻ ra về. Tôi vì Tưởng Duy liền chọn ngày giờ lập đàn thành Kim Cương Nha Bồ Tát, sắp đặt chỗ ngồi hoa sen của Kim Cương Nha Bồ Tát, hương hoa đèn trà quả cũng được bày ra để cúng dường.

Tôi niệm Tịnh pháp giới chân ngôn: “Ôm, ram, sô-ha.”
Tay kết thủ ấn Kim Cương Nha Bồ Tát.
Quán tưởng Kim Cương Nha Bồ Tát hạ giáng để nhận cúng dường.

*Nguyện hương hoa thơm này
Đầy mười phương pháp giới
Cúng dường mọi chư Phật
Tôn pháp các Thánh hiền
Trong đất Phật vô biên
Vui mừng làm Phật sự
Dạy cho khắp chúng sinh
Đều cùng chứng bồ đề.
Đất nước lửa gió mau hiện thân
Cấp cấp luật lệnh gọi Bồ Tát
Một lòng cầu thỉnh Kim Cương Nha
Đàn thành cúng dường thực biến hóa.*

Tôi nhìn thấy Kim Cương Nha Bồ Tát phóng quang giáng xuống đàn thành, kim thân Bồ Tát cao lớn ngồi xuống tòa sen quý, xung quanh tỏa ra vô số vòng tròn ánh sáng rực rỡ.

Tôi khẩn trương hỏi:
"Có diệu pháp nào khiến cho người trưởng thành mọc răng mới không?"
Kim Cương Nha cười lớn:
"Ngài biết răng kim cương của tôi để làm gì không?"
"Tôi chỉ biết về răng, không biết để làm gì?" - Tôi bối rối.
"Tôi không ở đây để dạy người ta cách mọc răng mới. Răng kim cương của tôi tượng trưng cho sự dũng mãnh kiên cường và sự rắn chắc của răng có thể nhai vỡ tất cả ma chướng, nghiến vỡ tất cả tham sân si của con người thế gian, hễ có ma đến là nghiền nát ma, hễ có quỷ đến là nghiền nát quỷ, chính là nghiền nát tất cả tà ma ngoại đạo."
"Chà! Tôi hiểu rồi!" - Tôi gật gật đầu.

Kim Cương Nha Bồ Tát lại nói:
"Nhất Kế Phật Mẫu [Ekajati Buddha] với một búi tóc, một mắt, một răng cũng tượng trưng cho sức mạnh này. Ngoài ra còn có răng ngựa của Mã Đầu Minh Vương [Hayagriva] cũng tượng trưng cho điều này. Cộng thêm răng kim cương của tôi, vậy là thành Nha Tam Tôn."
"Có cách làm cho người trưởng thành mọc răng mới không?" - Tôi lại hỏi.
"Không có."
"Việc này cần thỉnh giáo Bồ Tát nào?"
"Không biết."

Tôi chẳng còn lựa chọn nào khác đành tiễn Kim Cương Nha Bồ Tát đi. Trên thực tế tôi cũng biết, Bồ Tát hay tất cả các vị trí giả trong thập pháp giới đều không ai biết diệu pháp nào để khiến người trưởng thành mọc răng, ngay cả đến Nha Tam Tôn cũng không biết.

🌟

Tôi cho rằng bản thân mình đã biết mọi thứ, biết trời, biết đất, biết người, biết pháp, biết chân lý. Kết quả là cuối cùng hóa ra những gì mình biết rất có hạn, bản thân mình chẳng biết tí gì, bản thân mình chẳng thể làm gì, bản thân mình là kẻ ngu si.

Tôi nghĩ đến lòng từ bi của Phật Bồ Tát. Đối với bệnh khổ phiền não của chúng sinh, các ngài nhất định sẽ giúp diệt trừ, và cũng nhất định giúp hóa giải, và cần giúp một cách vui vẻ. Ngoài thanh tịnh nghiệp của bản thân ra cũng cần thanh tịnh nghiệp của người khác.

Trên phương diện giải trừ nghiệp của người khác, cần hướng dẫn người khác hiểu được về nhân quả nghiệp báo mà họ sẽ phải chịu trong quá trình trải qua cuộc đời. Cần tháo gỡ nút thắt nhân quả, có quá nhiều nút thắt nhân quả cũng giống như có sợi dây tự trói mình vậy.

Chỉ bằng cách thanh tịnh nghiệp, các nút thắt mới có thể tháo ra. Nếu nghiệp chướng hoàn toàn không còn nữa, Phật tính tức khắc hiển hiện. Tu đến khi Phật tính có thể hiển hiện chính là đã giác ngộ, đắc chứng rồi. Đây mới là lòng từ bi chân chính, là Bồ Tát chân chính, lợi mình lợi người, tự mình giác ngộ và giúp người khác giác ngộ.

🌟

Quay lại chủ đề chính, muốn nghĩ đến việc cứu giúp thế giới, bản thân mình cần có năng lực (chứng lượng), ít nhất là quanh mình cần phải có giới thần bảo vệ được mình, có Vi Đà Hộ Pháp đi theo, có Kim Cang Thần bảo hộ, có Đại Uy Đức Kim Cang, ngoài ra còn có thiện thần, thiên long bát bộ, Hộ pháp, v.v… Khi tôi đưa ra luật lệnh, các vị sẽ cùng giúp đỡ.

Tôi nhất định cần có năng lực để giúp giải thoát nỗi khổ của người khác, như vậy mới có thể độ người đi vào cửa Phật, bất kể thế nào thì đây là vấn đề thực tế. Vấn đề thực tế chưa giải quyết được thì làm sao người khác có thể khởi lòng tin, làm sao sinh ra được tín tâm?

Ý tôi muốn nói rằng, rất nhiều người ban đầu khi vào cửa Phật là bởi vì Phật pháp giúp cho nguyện vọng của họ có thể thành hiện thực.

Lấy Tưởng Duy làm ví dụ. Tưởng Duy cầu mọc răng mới. Nếu không mọc được răng mới thì có nói gì về Phật pháp anh ta nghe cũng không vào. Nếu có thể mọc răng mới thì Tưởng Duy sẽ quy y cửa Phật ngay.

Độ con người vào cửa Phật chính là như vậy. Đây chính là:

*Tây phương có đường ít người ưa
Một câu Di Đà tối thượng thừa
Độ người học Phật gieo cảm ứng
Có cảm ứng rồi tự muốn tu.*

Do vậy tôi nóng lòng muốn giúp Tưởng Duy. Thế nhưng, tôi phát hiện ra chính mình rất vô dụng, không có khả năng, không có phương pháp.

Tôi tự trách mình, cho dù thông thiên thông địa cũng chẳng thông được một chiếc răng mới. Phật Bồ Tát thần tiên nhiều như vậy, một phép thần thông để giúp việc này cũng không có thì làm sao cứu thế giới chứ.

Phật pháp liệu có thể mở to cái miệng Tưởng Duy ra, trồng vào lợi anh ta một mầm răng, rồi từ từ nó sẽ lớn lên thành chiếc răng không? Hoặc là hô lên một tiếng "Biến!". Thế là biến ra một chiếc răng mới. Ngay cả một chút thần thông như vậy cũng không có, làm sao bảo người ta tin đây? Tôi thực sự buồn phiền.

🌟

Một lần nữa gặp Tưởng Duy, tôi nói với anh:
"Mọc răng mới e là không được đâu!"
"Cái gì? Người ta đều nói ngài thần thông quảng đại."
"Tôi nói không được là không được." - Tôi đỏ mặt.
"Thế còn gọi gì là thần thông!" - Anh có vẻ hơi trách móc.
"Như vậy đi!" - Tôi nói. "Tôi dạy anh một câu thần chú, câu chú này rất hay. Chỉ cần tụng đủ 100 nghìn biến thì mọi lời cầu nguyện tốt đẹp đều thành tựu. Nếu tụng đủ 350 nghìn biến thì thành tựu tất cả, không có gì là không đạt được. Thoát khỏi mọi bệnh tật bất kể là bệnh gì, càng có thể tụng nhiều thì càng thoát khỏi mọi tai họa, tất cả ma chướng đều bị tiêu diệt. Nếu tụng đủ 8 triệu biến thì tự mình vãng sinh đến Phật quốc Cực Lạc."

Tưởng Duy xúc động:
"Được. Tôi chỉ cần mọi ước nguyện tốt lành đều thành tựu thôi."

Tôi dạy anh niệm:
*"*Om guru liansheng siddhi hum.*" *(Ôm, gu-ru, lién-sâng, sít-đi, hùm)
"Đây là chú gì vậy?"
Tôi đáp:
"Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, còn gọi là chú mọc răng."
"Bất kể là Liên Hoa Đồng Tử hay không Liên Hoa Đồng Tử, chỉ cần mọc răng được là tốt!"

Tưởng Duy niệm chú, không ngờ lại rất tôn kính. Anh tắm rửa sạch sẽ, rẩy tịnh thắp hương, ngồi thẳng niệm chú, chắp tay hoa sen. Đầu tiên anh loại bỏ hết tất cả suy nghĩ hỗn tạp, quán tưởng trong hư không có một vị Phật phóng quang đến chiếu vào Tưởng Duy, và trong miệng Tưởng Duy mọc lên một chiếc răng mới.
Sau đó lại niệm: *"*Om guru liansheng siddhi hum.*"*

Sau khi Tưởng Duy trì tụng Liên Hoa Đồng Tử tâm chú được 100 nghìn biến, nửa đêm nằm mơ thấy một vị Bồ Tát hạ giáng. Vị Bồ Tát này hỏi anh ta vài câu hỏi rất sâu sắc:
"Vì sao đánh trống?"
"Trống không đánh không nghe âm thanh!" - Anh đáp.
"Vì sao anh tới đây?" - Bồ Tát hỏi.
"Hàm răng không đủ, làm sao mở miệng!"
Bồ Tát nói tiếp:
"Bởi vì anh đã đánh trống rồi, vậy thì ta đặc biệt bổ sung khiếm khuyết của anh!" 

Bồ Tát lập tức dùng tay sờ đầu anh, rồi lại dùng tay chạm vào mặt anh, ấn ấn vào quanh miệng anh. Tưởng Duy lập tức cảm thấy toàn thân thanh nhẹ, lợi dường như sưng lên, rồi cũng dường như cứng lại, giống như thực sự đã mọc răng mới rồi.

🌟

Chuyện lạ đã xảy ra!

Kể từ khi Tưởng Duy có giấc mơ này thì lợi của anh thực sự trở nên cứng hơn, chỗ khe hở nơi răng cũ bị rụng từ từ nhô lên một chấm màu trắng. Chấm màu trắng từ từ lớn dần, chẳng ngờ nó thực sự là một chiếc răng mới đang mọc ra.

Kỳ tích! Kỳ tích!
Thực sự quá thần kỳ rồi!

Tưởng Duy chạy đến nói cho tôi hay. Tôi không nói gì, tôi chỉ nói với anh rằng từng có một vị Lama Hồng giáo ở Tây Tạng đã 73 tuổi, răng đã rụng hết sạch. Vị Lama này trì chân ngôn bảy chữ của Liên Hoa Bộ, chính là câu "Ôm, a-lua-li-cưa, sô-ha" vô số lần, không ngờ lợi của ngài lại mọc lên bảy chiếc răng mới. Câu chuyện này được lan truyền khắp Tây Tạng, tôi được một vị Hoạt Phật Tây Tạng (Rinpoche) kể lại cho nghe.

Trong lòng tôi cũng vui mừng thay cho Tưởng Duy.

Kì thực khi lợi trong miệng của Tưởng Duy cứng lại, tôi cũng đã có cảm ứng kỳ lạ. Cái răng khôn ở hàm dưới bên trái của tôi vô duyên vô cớ lại bị đau. Tôi đi khám nha sĩ, nha sĩ nói với tôi rằng anh ta không tìm thấy nguyên nhân bị đau răng, bởi vì răng khôn không bị sâu, lợi cũng không bị sưng, dây thần kinh không bị viêm, răng khôn vẫn rất chắc chắn.

Nha sĩ tiêm một mũi giảm đau, cơn đau tạm thời dừng, nhưng khi thuốc hết hiệu lực thì nó lại đau!

Tôi rất buồn. Tôi biết "Phù khỏi đau răng" bèn cung kính vẽ một lá phù, đốt phù rồi hòa vào nước uống. Bình thường phù này rất hiệu quả, nhưng tôi uống xong thì chẳng thấy gì. Tôi thử vẽ thêm nhiều lá phù nữa, rồi uống nhiều lá phù, vẫn vô hiệu!

Cuối cùng tôi đã hiểu ra câu truyền miệng mà người ta vẫn thường nói: "Đau răng không phải là bệnh, chỉ là đau tới mức muốn lấy tính mệnh người ta."

Tôi lại đi khám nha sĩ. Nha sĩ nói:
"Thế này vậy! Răng khôn đến một độ tuổi nào đó thì cần phải nhổ đi, thật ra là từ đầu nên nhổ nó đi rồi, chi bằng nhổ luôn cho xong, nhổ đi vậy!"
Tôi nói: "Được!"

Tôi nhổ răng khôn xong thì cơn đau cũng không còn nữa. Vào ngày mà tôi nhổ cái răng khôn đó, cái răng mới của Tưởng Duy đã mọc ra. Có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn, là ngài thế thân cho Tưởng Duy sao?"
Tôi chỉ cười. 
Đây là pháp thế thân, hay chỉ là sự khéo trùng hợp?
Tôi cũng không biết.

🌟

Cá nhân tôi cảm thấy, Tưởng Duy vì muốn mọc cái răng mới mà trì chú, việc này thực sự là lãng phí như việc dùng búa tạ đập vỏ hạt vậy, cũng giống như chuyện bé xé ra to vậy.

Liên Hoa Đồng Tử tâm chú là một câu chú có thể trực tiếp đưa người ta đến Phật quốc, Phật quốc này chính bản thân tôi đích thân tự chứng nghiệm, tôi không hề nói dối. Tôi thực lòng thực sự nói cho mọi người biết rằng, trì Liên Hoa Đồng Tử tâm chú chính là trở thành Liên Hoa Đồng Tử.

Thật may sao, Tưởng Duy sau khi mọc được cái răng mới đã có được lòng tin lớn đối với chú này mà niệm chú không ngừng. Anh nói với mọi người: 
"Câu chú này cực kì hiệu nghiệm, thực sự bất khả tư nghì đó!"

Có một bài thơ như sau:

*Hỡi thế nhân ơi xin niệm chú
Tội chướng ác nghiệp chóng tiêu trừ
Nhà tù thế gian cần thấy rõ
Danh lợi khác chi nến tù mù.
Sinh lão bệnh tử lẽ tự nhiên.
Tình cảm đến đi rồi tan biến.
Chi bằng chuyên tâm niệm Phật chú
Cực Lạc thế giới chóng an cư.*

(Bài thơ này cũng như một lời thức tỉnh vậy.)


### 0**4. Thoát nạn lở đất**


Pháp sư Thích Chiêu Dẫn và tôi cùng thảo luận Phật pháp.
"Lư Sư Tôn tự mình nói rằng đã ngộ đạo, tôi xin mạn phép hỏi đã ngộ đạo gì vậy?"
Tôi đáp:
"Đạo này ngôn ngữ chẳng thể nói."
"Vậy làm sao biết?"
"Lạnh ấm tự biết." [Thiền ngữ, ý nghĩa là người nào thực sự trải nghiệm được “đạo”, được “kiến tính” rồi thì người đó sẽ tự biết.]
"Nếu nói như vậy thì ai cũng nói được!" - Thích Chiêu Dẫn nói.
"Đúng là ai cũng nói được, nhưng cần tự mình xem xét mình đã thực sự tự tại hay chưa."
"Đạo có hình dạng không?"
"Đạo vốn không phải là một sự vật."
"Bởi vì đạo chẳng có hình dạng gì, làm sao dựa vào điểm gì để cân đối?" – Thích Chiêu Dẫn hỏi.
"Tự nhiên."

Pháp sư Thích Chiêu Dẫn tự nhận bản thân đã học thiền 20 năm. Lần này ông đến cùng Lư Thắng Ngạn thảo luận Phật pháp, muốn nhất định có thể khiến tôi một lần và mãi mãi không dám mở mồm nữa. Chỉ cần có thể tìm ra một lỗi nhỏ xíu khi nói chuyện Phật pháp của Lư Sư Tôn là sẽ phải truy đến cùng.

Nhưng tôi mỉm cười, lời lẽ rất chặt chẽ.

"Lư Sư Tôn, ông chẳng phải Phật, cũng chẳng phải Đạo gia, khiến người ta phê phán!"
"Cao như đỉnh núi, sâu như đáy biển, xin hỏi ông hai thứ này có liên quan với nhau không?"
Thích Chiêu Dẫn lại hỏi:
"Vì sao cần phải dính dáng đến chư thiên?"
"Tận cùng tam thiên đại thiên thế giới, chẳng có gì ngoài bong bóng."
Thích Chiêu Dẫn có vẻ không biết phải hỏi gì nữa, ông nói:
"Lư Sư Tôn tự nhận là có thần thông, liệu có thể cho tôi thấy bằng chứng không?"
"Tôi muốn cứu ông!"
"Cứu tôi!" - Thích Chiêu Dẫn lạnh lùng cười từ chối: "Tôi có thể tự độ, đâu cần ông đến độ?"
Tôi trả lời:
"Độ và tự độ, chẳng phải việc gấp. Trước mắt ông sắp gặp một tai nạn!"
"Tướng sĩ dọa người, đều cùng một giuộc!"
"Tin hay không tin, hoàn toàn tùy ông!"
"Thử nói xem!"
"Xung quanh ông có bốn người mặc áo đen đang muốn lấy mạng ông!"
"Làm sao để bảo vệ?"
"Cần niệm chú Ma Lợi Chi Thiên [Marici Bodhisattva] là có thể tránh được!" 
"Câu chú này tôi từng học qua rồi, cũng từng niệm, nhưng lâu rồi không niệm."

Tôi trang trọng nói:
"Pháp sư niệm chú Ma Lợi Chi Thiên: Ôm ma-ri-chi yê sô-ha.”
Xin hãy niệm thêm:
"Xin bảo vệ tôi khỏi nạn thống trị.
Xin bảo vệ tôi khỏi nạn cướp bóc.
Xin bảo vệ tôi khỏi nạn đi đường.
Xin bảo vệ tôi khỏi nạn nước lửa.
Xin bảo vệ tôi khỏi nạn binh đao.
Xin bảo vệ tôi khỏi nạn ma quỷ.
Xin bảo vệ tôi khỏi nạn trúng độc.
Xin bảo vệ tôi khỏi ác thú, côn trùng có độc, người ác làm hại.
Mọi lúc mọi nơi xin bảo vệ tôi."

Pháp sư Thích Chiêu Dẫn đáp:
"Ông nhìn thấy xung quanh tôi có bốn người mặc áo đen, nhưng tôi lại chẳng nhìn thấy. Ông muốn tôi niệm chú Ma Lợi Chi Thiên, việc này tôi có thể niệm được. Nhưng ông nói tôi sắp gặp nạn, nếu không có gì xảy ra thì chắc chắn tôi sẽ nói thần thông của ông là giả, ngay cả việc ông ngộ đạo cũng là "tri kiến" mà thôi, hoàn toàn chẳng phải là thực sự ngộ đạo."
Tôi đáp: "Tùy ông!"

Pháp sư Thích Chiêu Dẫn chắp tay một cái rồi đi.

🌟

Tôi thực lòng thực sự nói cho mọi người biết, ngay khi pháp sư Thích Chiêu Dẫn đến gặp tôi, tôi đã cảm ứng thấy vị pháp sư này sắp gặp ác nạn vào thân, bởi vì xung quanh ông có bốn vị minh sứ mặc đồ đen đang chờ sẵn. Bốn vị minh sứ này đi trước pháp sư, tranh nhau đi vào nhà tôi, nhưng ngay từ đầu đã bị tôi chặn lại, họ chỉ có thể lảng vảng ở bên ngoài cửa, không thể đi vào trong nhà.

Tôi thường âm thầm ở trong bóng tối mà cứu độ chúng sinh như vậy. Rất nhiều tai nạn của con người, có nhiều lúc chính bản thân họ chưa chắc đã biết. Tôi cũng không nói cho họ biết, chỉ là cứ bận rộn giúp đỡ họ trong âm thầm mà thôi, giúp hóa giải tai nạn của họ.

Nhưng kì thực con người vốn không thể miễn hoàn toàn khỏi tai nạn. Phật Thích Ca Mâu Ni từ lâu đã nhìn rõ: "Cuộc đời cơ bản là vô thường."

*Tam giới hừng hực như đám lửa
Xuất gia chưa phải đất an thân
Vô thường bấy lâu luôn chờ sẵn
Sửa soạn thân tâm về nơi xưa.*

Tôi biết con người thế gian rất sợ tai nạn và kiếp số. Bởi vậy tôi thường xuyên tu pháp, giúp đỡ mọi người vượt qua tai nạn trong bí mật. Tôi cũng niệm chú Ma Lợi Chi Thiên rồi hồi hướng cho pháp sư Thích Chiêu Dẫn. Có sự trợ giúp của tôi, Thích Chiêu Dẫn đã được cứu rồi.

Vốn dĩ, pháp sư Thích Chiêu Dẫn sống một mình tại một cái chòi sâu trong núi Bát Quái ở Chương Hóa. Pháp sư Thích Chiêu Dẫn tu thiền định, ngồi tư thế kiết già. Pháp sư vốn là một du học sinh du học ở Nhật Bản, sau này cảm thấy hứng thú với Phật pháp nên đã xuất gia tại tu viện Soto Zen nổi tiếng ở Kyoto. Dòng chảy pháp của ông ấy không ngờ là xuất phát từ Nhật Bản.

Sau khi tôi biết Lục Tổ Huệ Năng, chính bởi vì việc tranh giành áo tổ Thiền tông mà từ đó ngài không còn truyền pháp nữa. Từ đó Thiền tông liền "một hoa nở năm cánh", đây chính là thời kỳ nở rộ của Ngũ Gia sau này. Ngũ Gia này chính là: Lâm Tế tông, Tào Động tông, Ngưỡng tông, Vân Môn tông, Pháp Nhãn tông. Thiền tông còn có một tên gọi là Tâm tông.

Tên gọi Thiền tông bắt đầu vào triều đại nhà Đường. Thiền chính là tu tư duy. Tu tư duy chính là suy ngẫm về chân lý, là pháp tu tĩnh lặng, hơi thở, ý niệm, ngẫm nghĩ.

Đại sư Thiền tông đầu tiên ở Trung Quốc là Sơ Tổ Đạt Ma, một người Ấn Độ, vào triều đại Lương Ngụy đã đến Trung Quốc truyền Phật Tâm tông. Pháp của ngài chủ yếu là ngồi yên lặng mặc niệm, phát bồ đề tâm, công phu tập trung tĩnh lặng, nhìn bên ngoài giống như thiền định, bởi vậy gọi là Thiền tông.

Thiền tông nhấn mạnh:
*"Bất lập văn tự.
Giáo ngoại biệt truyền.
Trực chỉ nhân tâm.
Kiến tính thành Phật."*

🌟

Vào một đêm tối mưa bão, Thích Chiêu Dẫn một mình thiền định suy ngẫm, bên ngoài căn chòi mưa to như trút nước đã ba ngày ba đêm. Thích Chiêu Dẫn biết rằng thị trấn nhỏ ở dưới núi đã bị ngập rồi, nếu mưa cứ tiếp tục không ngớt thì e rằng sẽ gây ra lụt lớn.

Đột nhiên bên ngoài căn chòi có tiếng khóc của trẻ con vọng đến, tiếng khóc hòa lẫn với tiếng mưa rơi rào rào lộp bộp.
"Ma mi! Ma mi!" [Mẹ ơi! Mẹ ơi!]
Thích Chiêu Dẫn căng tai ra nghe ngóng:
"Ma mi! Ma mi!" - Tiếng gọi liên tục, không hề sai, là tiếng trẻ con khóc.
Nghe lại thì dường như lại biến thành:
"Marici! Marici! Marici!"
Ông niệm một câu:
”Ôm ma-ri-chi yê sô-ha.”

Trong mưa gió bão bùng, Thích Chiêu Dẫn vội vàng đứng dậy, khoác áo mưa, xỏ vào đôi ủng cao, tay cầm đèn pin, lập tức đi ra ngoài căn chòi, hướng về phía âm thanh kia để đi tìm đứa trẻ con đang khóc. "Ma mi! Marici!"

Tiếng khóc này rốt cục là "Ma mi" hay là "Marici", ông cũng cảm thấy lẫn lộn cả. Âm thanh lúc thì ở phía trước, lúc thì ở phía sau, lúc ở bên trái, lúc ở bên phải, có vẻ như đang chơi trò trốn tìm với Thích Chiêu Dẫn. Ông đi trong cơn mưa bão suốt một tiếng đồng hồ. Tiếng khóc không còn nữa. Ông đợi rất lâu, nghe ngóng rất lâu, một tiếng hơi thở cũng không có. Ông đột nhiên nhớ ra khu vực xung quanh đây vốn chẳng có nhà nào, bởi vì không có nhà nào ở trong núi sâu thì làm sao mà có tiếng trẻ con khóc đây?

Thích Chiêu Dẫn vội vàng quay trở về căn chòi. Thế nhưng khi ông đang vội vàng quay trở về, ông đứng sững lại: "Căn chòi đã biến mất."

Căn chòi đã bị đất đá lở từ trên vách núi chôn vùi, trở thành một ngọn đồi nhỏ. Đất đá ở trên núi vẫn tiếp tục từng đám từng đám lăn xuống. Ngay cả nơi ông đang đứng cũng rất nguy hiểm. Thích Chiêu Dẫn kinh hoàng thất sắc, vội vội vàng vàng bỏ chạy khỏi nơi mình đã ẩn tu 20 năm.

Tính mạng ông đã cứu được rồi!
Nhưng tất cả đồ đạc cá nhân đều không còn gì nữa!

Sau chuyện đó, Thích Chiêu Dẫn nhớ lại, trong cõi vô hình thực sự có tồn tại kiếp nạn này, từ đầu đã được Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn nhìn ra rồi. Bốn vị minh sứ mặc đồ đen đó chính là đang chờ để bắt ông. Nhờ có Liên Sinh Hoạt Phật yêu cầu ông niệm chú Marici, lúc này ông mới bắt đầu thấy tầm quan trọng của câu chú hộ thân này. Thích Chiêu Dẫn mặc dù học Thiền tông nhưng ông cũng có để ý tới các tông phái khác. Chú Marici ông đã từng niệm từ lâu. Sau khi bảo ông tiếp tục niệm, ông cũng thực sự có niệm.

Tục ngữ nói:
*Có thắp hương có bảo vệ!
Có ăn cơm có năng lượng!*

Ma mi!
Marici!
Thực sự nghe rất giống nhau.

🌟

Sau khi Thích Chiêu Dẫn rời khỏi núi Bát Quái, ông đã đi ở nhờ tất cả các ngôi chùa ở trong tỉnh. Vốn quen với sống ẩn cư một mình trong căn chòi sâu trong hang núi, một mình tu hành, thực hành khổ hạnh đầu đà, bây giờ ông thay đổi hình thức, sống nhờ ở rất nhiều chùa, thực sự là một trải nghiệm mới.

Ông làm quen với nhiều hành giả, cũng nghe rất nhiều người nhắc đến Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Nhìn chung mà nói, những lời phê phán cũng nhiều, do những lời đồn đại tiêu cực nhiễm vào ý thức nên đại bộ phận người tu hành đều tương đối bài trừ Liên Sinh Hoạt Phật, chỉ có một số ít người giữ được thái độ quan điểm của riêng mình. Đây cũng chính là tình trạng phổ biến trong giới tôn giáo.

Thích Chiêu Dẫn chỉ nghe mà không phát biểu ý kiến. Khi người khác nhắc đến thiên ma hoặc ngoại đạo, ông giữ im lặng. Ông tự biết những gì mình đã trải qua. Ông có lòng muốn thay Liên Sinh Hoạt Phật giải thích, nhưng con người nhỏ bé như ông, tiếng nói cũng chẳng có trọng lượng gì, cơ bản là chẳng có cách nào vượt qua được giới hạn này, nghĩ nhiều cũng chẳng cần thiết. Vậy nên ông luôn luôn giữ im lặng trầm mặc.

Thích Chiêu Dẫn đến tìm tôi, nhắc lại những gì ông đã nghe người ta nói. Ông nói:
"Sao ông không thay đổi hết mọi thứ trong quá khứ, dùng phương thức mới để độ hóa chúng sinh, xây dựng cơ sở cho pháp môn!"
Tôi đáp:
"Đã bị mọi người có định kiến rồi, muốn làm lại từ đầu, tưởng là dễ, thật ra khoảng cách vẫn còn xa lắm."
"Nên có hy vọng mới đi!"
"Thành kiến cũ đã in sâu trong tâm trí con người rồi, dù có bao lâu con người cũng sẽ chẳng buông bỏ. Tôi đã quen rồi, tất cả cũng chẳng phải là vấn đề gì!"
"Ông nghĩ rằng không cần thiết sao?" - Thích Chiêu Dẫn nói.
"Đúng vậy. Đây cũng là nguyên tắc tự rèn luyện của tôi."
"Như vậy danh dự sẽ bị hủy hoại!"
"Rèn luyện bản thân, danh dự không còn quan trọng, việc này là thể nghiệm cần thiết để thành Phật."
Thích Chiêu Dẫn gật gật đầu.

Tôi nói với Thích Chiêu Dẫn:
"Năm đó, khi tôi xuống núi rời xa Liễu Minh Hòa Thượng, sư phụ nói với tôi, con người kiểu như tôi thì chỉ có ba con đường. Thứ nhất, lập tức đi nhập niết bàn. Thứ hai, lập tức ẩn cư trong núi sâu, không xuất thế. Thứ ba, giả điên khùng trong nhân gian."
"Ồ!"
Tôi cười:
"Nhưng tôi đã thành tựu được niềm vui tự tại rồi, tôi chẳng để ý bên ngoài người ta bình luận tôi ra sao!"
"Ông có hối hận không?" - Thích Chiêu Dẫn hỏi.
"Không!"
"Ông có đau khổ không?"
"Không!"
"Thế còn những thứ như danh dự, khen ngợi, mỉa mai, đau khổ?"
"Chẳng có chút gì liên quan đến tôi! Tôi chỉ là chơi trò chơi thần thông, tất cả đều là thể nghiệm mà thôi!"

Thích Chiêu Dẫn cung kính mời tôi lên pháp tọa, sau đó chính thức đảnh lễ tôi ba lần, ba cái đảnh lễ cúi đầu.
"Vì sao lại đảnh lễ như vậy?"
"Cảm tạ ơn cứu mạng!"
"Không phải tôi cứu, là ông tự cứu mình!"
"Nhưng cũng nhờ ông chỉ điểm cho!"
Tôi không nói gì.

Thích Chiêu Dẫn nói với tôi trước khi rời đi:
"Tôi rất muốn thoát khỏi thế gian đầy phiền não này!"
Tôi nói với ông:
"Xuất ly khỏi thế gian, chính ở tại tâm mình. Tâm nếu đã tự tại, chính là đã xuất ly!"
"Ý ông là cần thích nghi với thế gian?"
"Không! Cơ bản là chẳng có thế gian nào." - Tôi trả lời.

Thích Chiêu Dẫn suy nghĩ rất lâu, cuối cùng gật gật đầu. Ông đã hiểu rồi, ông nói:
"Tôi đã hiểu pháp rồi, nhưng muốn ứng dụng được, nếu có thể ứng dụng được vào thực tế, thì mới là Chân Phật!"

Có một bài kệ:

*Một hai ba bốn năm sáu bảy
Nhất tâm bất loạn vãng sinh ngay
Lời Phật nói dễ như trở tay
Bước đi toàn thân lún bùn lầy.*


### 0**5. Triệu hồi pháp lực**


Tôi có một giấc mơ rất kỳ lạ!

Tôi bay qua những ngọn núi trùng điệp. Khi bay đến đỉnh núi cao nhất, tôi nhìn thấy một vị Rinpoche Tây Tạng (Hoạt Phật) đang ngồi trên một nơi bằng phẳng, bên cạnh có hai vị Lama, một người cầm dải cờ, một người đang thổi tù và.

Tôi bay một cách thoải mái tự do ở khoảng không phía trên vị Rinpoche Tây Tạng này. Vị Rinpoche này hỏi hai Lama bên trái phải:
"Người Hán này là ai?"
Lama trả lời:
"Là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn."
Người kia nói thêm:
"Lư Thắng Ngạn rất nổi tiếng, có pháp lực cao cường, đã từng đến tu viện Drepung thuyết pháp."
Rinpoche Tây Tạng lẩm bẩm với chính mình một lúc rồi nói:
"Ta muốn thu hồi pháp lực của ông ta!"

Sau khi mộng cảnh đó kết thúc, tôi lại có một giấc mơ khác cũng liên quan đến vị Rinpoche Tây Tạng này.

Tôi và vị Rinpoche cùng đứng bên bờ một con sông lớn, nước sông cuồn cuộn dâng lên những cơn sóng dữ dội. Tôi cũng không rõ sông sâu thế nào, hơn nữa khả năng nổi được trên con sông này rất ít. Tôi nhìn thấy một chiếc lá rơi trên sông, nhưng nó không thể nổi được, rất nhanh chóng bị nhấn chìm trong nước. Con sông lớn với dòng nước dữ dội này nguy hiểm tới mức dù một chiếc lông ngỗng cũng không thể nổi được.

Rinpoche Tây Tạng nói với tôi:
"Lư Thắng Ngạn, ông dùng pháp lực băng qua sông trước đi. Không được phép dùng thần thông để bay qua, phải đi trên mặt nước để qua sông!"
Đây là ông ta muốn thử nghiệm công lực của tôi.

Trước tiên tôi quán tưởng Tổ sư dòng truyền thừa trên đỉnh đầu mình, tay kết Thủy thiên ấn, miệng tụng Tỵ thủy quyết:

*Một vùng nước vô tình.
Nghìn thu chẳng ai qua.
Nay tôi dậm bước tới
Biển cả hóa nương dâu.
Cấp cấp như luật lệnh.
Cấp cấp như luật lệnh.
Cấp cấp như luật lệnh.*

Tôi bước trên mặt nước, quả nhiên mặt nước rắn đặc lại như mặt đất khô. Tôi cứ đi từng bước từng bước, chẳng có việc gì xảy ra cả, rất nhanh chóng đã đến được bờ bên kia.

Bây giờ tới lượt Rinpoche Tây Tạng đi qua sông. Ông ta lưỡng lự một lúc rồi học theo tôi sải nhanh những bước lớn đi trên mặt nước. Không ngờ nghe một tiếng "bõm", ông ta liền bị rơi xuống nước, toàn thân ướt sũng, vô cùng thảm hại. Trong phút chốc Rinpoche Tây Tạng chìm xuống dưới nước, sắp chết rồi!

Đúng lúc này, có một con chim đại bàng cánh vàng bay đến, nó chính xác là Hộ pháp của Rinpoche Tây Tạng. Nó túm lấy cổ áo của Rinpoche kéo ông ấy lên rồi thả trên mặt đất khô ráo.

Rinpoche Tây Tạng rất bối rối. Ông ta quay đầu về phía tôi và nói: 
"Tôi muốn thu hồi pháp lực của ông!"

🌟

Giấc mơ thứ hai này vô cùng không bình thường. Thời gian này rất nhiều vị Rinpoche Tây Tạng đến quy y tôi. Tôi cùng chủ trì pháp hội với giáo chủ phái Gelugpa, ngài Ganden Tripa Rinpoche. Tôi đã gặp mặt Dalai Lama. Tôi đã lên thuyết pháp tại ba chùa lớn ở Tây Tạng, là người Hán duy nhất ngồi trên pháp tọa thuyết pháp. Tiếng tăm của tôi đã truyền đi khắp Ấn Độ, Tây Tạng. Rất nhiều vị Rinpoche Tây Tạng đến quy y tôi, trong số đó có một người là chủ tịch Quốc hội của chính phủ lâm thời Tây Tạng, ngài Jigme Lhundrup Rinpoche.

Tranh pháp tướng của tôi được thờ cúng tại:
Tu viện Ganden Shartse Sockpa Khangtsen.
Tu viện Drepung Tsawa Khangtsen.
Và những nơi khác.

Tôi nghĩ một mặt nếu cứ như thế này, tôi chắc chắn sẽ cùng Mật tông Tây Tạng kết thành mối nhân duyên sâu đậm, việc này đương nhiên là việc tốt, bởi vì truyền thừa của tôi xuất phát từ Tây Tạng. Nora Rinpoche (Gara Lama), Liễu Minh Hòa Thượng, Thubten Nyima, Thubten Tare, Thubten Dhargye, Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16, Sakya Chứng Không Thượng Sư, và các vị khác.

Tuy nhiên cũng có mặt không tốt, bởi vì pháp lực của tôi quá cao cường, tiếng tăm vang lừng, rất dễ khiến cho người khác phải chau mày khó chịu. Đương nhiên cũng có những vị Rinpoche Tây Tạng không phục tôi. Tôi cảm thấy vị Rinpoche trong hai giấc mơ này chính là một người không chấp nhận tôi, nhắc đi nhắc lại là muốn thu hồi pháp lực của tôi. Hai giấc mơ này là một lời cảnh báo, có vẻ là điều không mấy tốt lành.

Việc này chính là:

*Không hướng chân như ngộ bản tính
Uổng phí đảm đương Pháp Vương thân
Chưa mở bồ đề đi gánh vác
Tranh cường đấu thắng sao thành chân.*

🌟

Từ trước tới nay tôi tu Mật giáo, lập đàn trì chú, tam nghiệp tương ứng, diệt trừ chướng ngại, tăng trưởng trí huệ, thân là phàm phu, tu thành Thánh nhân, uy đức thần lực, bất khả tư nghì.

Tâm pháp mà tôi có được là khi Đại Nhật Như Lai vượt khỏi tam thế (quá khứ, hiện tại, tương lai), ở cung điện Pháp Giới Tối Thắng của cõi trời Sắc cứu cánh thiên, đã tuôn chảy pháp yếu nội chứng cho Kim Cang Tát Đỏa và những vị khác. Tôi đã nhận được quán đảnh từ nhiều vị thầy, đạt được tất cả pháp yếu bí mật của Đại, Hiển, Mật, thành lập Chân Phật Tông, kiến lập Mandala. Thành tựu của tôi chỉ có một vị Phật mới có thể làm được.

Tôi biết đại công đức mà tôi tu tập được, trên thế gian rất hiếm khi nghe nói đến, bởi vì Chân Như chính là bản thân tôi.

Bởi vậy:

*Bốn tầng bí mật
Lớp lớp thâm sâu
Tam nghiệp huyền bí
Mật thừa khéo dùng.*

Tôi mơ hai giấc mơ rất rõ ràng và sống động. Nhờ ý thức của tôi là một với Phật tính, trọn vẹn không khiếm khuyết, không xa rời căn tính, không tạo nên những ảo tưởng, không tạo nghiệp, nên giấc mơ này không giống với những giấc mơ của con người bình thường.

Ngoài giấc mơ, trong thiền định của tôi cũng hé lộ một cảnh tượng thú vị. Tôi thấy mình đang đi trong một cõi địa ngục, ở đây hoàn toàn không có đèn, không phân biệt được phương hướng. Tâm tôi lưu xuất ra ánh sáng từ bên trong để soi đường. Ngoài ra, trên đỉnh đầu tôi có ba ngọn đèn vàng, đó là ánh sáng truyền thừa của tôi. Lúc này trên không trung có một con chim lớn lượn vòng xuống, nó dùng mỏ gắp ba ngọn đèn của tôi đi mất. Tiếp theo xung quanh xuất hiện những con mãnh thú gầm gừ, vô cùng dữ tợn, có rất nhiều ác quỷ phát ra những âm thanh ghê rợn. Thực sự là một cõi giới đáng sợ. Tôi nhìn thấy một vị Hộ pháp lớn, cưỡi ngựa, đội mũ tre đan, thật bất ngờ đó là Hùng Thiên Đại Thần. Tôi thực sự kinh ngạc! Những cảnh tượng này chỉ lóe lên rồi biến mất khiến cho tôi cảm thấy cực kì hoang mang.

🌟

Thế rồi sau đó không lâu, có một vị Lama Tây Tạng, ngài Sonam Rinpoche, từ Ấn Độ đến tìm tôi. Ngài ấy bí mật nói cho tôi biết:
"Liên Sinh Hoạt Phật, họa lớn rồi!"
"Họa gì vậy?"
"Có một vị là Chod Khang Rinpoche, pháp lực thâm hậu, nắm giữ địa vị trụ trì cao quý trong tu viện, muốn lập đàn thành để thu hồi lại pháp lực của ngài."
"Chod Khang Rinpoche à?" - Tôi ngẫm nghĩ: "Không biết vị này là ai?"
"Ngài không biết ông ấy, nhưng ông ấy biết ngài." - Lama Sonam nói.
"Vì sao muốn thu hồi pháp lực của tôi?" - Tôi thực sự không hiểu gì hết.
Lama Sonam nói:
"Bởi vì ngài nổi tiếng quá!"
"Tôi vốn đâu có mong cầu nổi tiếng."
"Chod Khang Rinpoche cho rằng ngài dẫm chân vào địa bàn của ông ấy?"
"Tôi chẳng có địa bàn nào cả."
"Ngài đến Ấn Độ nhưng lại không đến thăm ông ấy!"
"Ông ấy ở tu viện nào?"
"Ngài đã đến tu viện Drepung, rồi cũng đi tu viện Ganden, nhưng lại không đến tu viện Sera khiến Chod Khang Rinpoche nổi giận, ông ấy nhất định sẽ dạy ngài một bài học!"
"Như vậy cũng bị coi là có tội sao?"
"Đúng vậy."
"Chod Khang Rinpoche có pháp lực gì?” - Tôi hỏi.
Lama Sonam nói:
"Chod Khang Rinpoche từ lâu đã là một pháp sư nổi tiếng ở khắp vùng Tây Tạng. Ông ấy nổi tiếng từ rất sớm, rất nhiều pháp sư khác đều bị đánh bại dưới tay của ông ấy. Ông ấy chỉ cần thực hiện một đàn pháp, đối phương nếu không hộc máu mà chết lập tức thì cũng bị bệnh tới chết đi sống lại, cũng có người bị ngã ngựa đến mức trọng thương, cũng có người bị rơi xuống vực mà chết…"
"Lợi hại thế sao!" - Tôi nói.
Lama Sonam nói:
"Theo như tôi biết, Chod Khang Rinpoche có hai vị đại Hộ pháp thần, một vị chính là Hùng Thiên Đại Thần (Dorje Shugden) tiếng tăm lẫy lừng, một vị là thần Đại Bàng Kim Sí Điểu (Garuda). Hai vị đại Hộ pháp này đã ra lệnh cho ông ấy trở thành người vô địch."

Dường như tôi đã hiểu được phần nào, tôi hỏi:
"Chẳng phải là có lệnh cấm tu pháp Hùng Thiên Đại Thần này sao?"
Lama Sonam đáp:
"Mật tông Tây Tạng phân làm hai phái, một phái chủ trương không được tu, phái kia chủ trương có thể tu, nhưng bởi vì tu Hùng Thiên có được sức mạnh lớn, lại nhanh chóng thành tựu, bởi vậy người tu Hùng Thiên Đại Thần cũng càng ngày càng đông. Đây chính là nguy cơ phân rã của Tạng mật!"

[Dorje Shugden - Hùng Thiên Đại Thần từ xưa đã là một pháp tu nổi tiếng, rất uy lực của Hoàng giáo (dòng Gelugpa), được rất nhiều vị đứng đầu dòng phái tu tập này(bao gồm cả thầy của Đức Dalai Lama). Tuy nhiên sau khi vị Bổn tôn này đã hại chết quá nhiều người ở nhiều dòng phái, Đức Dalai Lama đã ra lệnh chính thức trong Hoàng giáo không được tu. Ngài giải thích rằng ngày nay các vị thành tựu giả đã không thể khống chế được vị "Bổn tôn" này nữa. Điều này gây phản ứng dữ dội và gần như tách Hoàng giáo ra làm hai dòng chảy lớn. Sự kỳ thị giữa hai dòng đã ở mức vô cùng khốc liệt.]

Lama Sonam nói tiếp:
"Cần có sự phòng bị!"
"Phòng bị thế nào?"
"Lấy Hộ pháp đối đầu với Hộ pháp!" - Lama Sonam nói.

Sau khi Lama Sonam cảnh báo tôi xong liền vội vã rời đi. Bản thân tôi lúc đó rất coi trọng lời cảnh báo này của Lama Sonam, bởi vì nó rất hợp với hai giấc mơ gần đây của tôi. Nhưng đối diện với vấn đề này, tôi chỉ có thể nâng cao cảnh giác, dựa vào bất biến ứng phó với vạn biến, vẫn giữ nguyên trạng thái tĩnh lặng trong mắt bão.

🌟

Trong không trung, quả nhiên Hùng Thiên Đại Thần đã đến rồi, ngài xuất hiện, quả là:

*Bốn vó* *đạp đất bao kỳ diệu
Nón lá đội trời cũng hiên ngang
Tự do ẩn hiện không chướng ngại
Oai phong thúc ngựa vượt mây ngàn.*

Hùng Thiên Đại Thần dùng chày kim cang hướng vào đỉnh đầu tôi đánh một cái. Nếu là một hành giả bình thường, lĩnh cú đánh này chắc chắn đầu sẽ bị vỡ toác chảy máu rồi đau đớn trút hơi thở cuối cùng! Một mảnh linh hồn sẽ đi tới báo danh với Diêm Vương.

Thế nhưng bình thường tôi vẫn tu pháp Hộ pháp, Đại Uy Đức Kim Cang lúc nào cũng ở bên cạnh tôi. Đương nhiên Đại Uy Đức Kim Cang một cách tự động sẽ hiện thân trên đỉnh đầu tôi, như thế bốn phía xung quanh trên dưới tôi đều được ngài che chắn hoàn toàn. Ngài hiện tướng phẫn nộ dữ tợn với nhiều đầu, nhiều tay, nhiều chân.

Tôi quan sát tình hình này và nhận ra nếu Đại Uy Đức Kim Cang đến để đánh Hùng Thiên Đại Thần, điều này dù chẳng có gì là không tốt, nhưng hà tất phải như vậy!
Tôi liền vội gọi Đại Uy Đức Kim Cang lui về.

Sau đó tôi tự động tách đầu mình thành tám mảnh. Một âm thanh nứt vỡ vang lên, đầu tôi tách mở ra giống như hoa sen nở. Ngồi ở trên hoa sen là Đức Phật A Di Đà hiện 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp!

Đây là:

*Trăng in hồ sen hồ in trời
Gió kêu cây trúc cây kêu gió
Thế gian bao nhiêu khách tu hành
Tưởng nhầm Di Đà ở núi xa.*

Hùng Thiên Đại Thần vừa trông thấy "phổ hiện từ quang bách vạn tầm. Liên hoa quốc lý nhất chi khai" [ánh sáng từ bi hiện khắp nơi, hoa sen nở thắm tràn cõi Phật], lập tức biết đúng một trăm phần trăm là Phật A Di Đà Như Lai. Ngài nhanh chóng thu chày kim cang về, chắp tay một cái rồi đi mất.

Như vậy là đã giải quyết ổn thỏa xong một trận đại chiến rồi! Lúc đầu tôi cho rằng Hùng Thiên Đại Thần đã bỏ đi thì chuyện này có lẽ cũng kết thúc. Nhưng hóa ra vẫn còn chuyện khác xảy ra sau đó.

🌟

Mỗi khi tu pháp, trước hết tôi triệu thỉnh bằng câu chú: "Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng.” [chú Quán Không] 
Tiếp theo tôi niệm:
”Ôm a hùm sô-ha." [chú Triệu thỉnh]

Khi tôi triệu thỉnh thì chư tôn đều hiện thân. Nhưng lần này rất yên tĩnh và xa xăm, ngay cả một cơn gió cũng không có, một cái bóng cũng không có. Tôi cảm thấy vô cùng kì lạ, dường như chú lực của tôi đã mất tiêu sạch rồi.

Tôi lại triệu thỉnh bốn phương thổ địa bằng câu chú:
”Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.”
Tay kết ấn, chân dậm xuống đất.

Bình thường bốn phương thổ địa lập tức hiện thân. Bây giờ ngay cả bốn phương thổ địa cũng không đến nữa, dường như tôi niệm chú về cơ bản là không còn linh nghiệm. Bốn phương thổ địa họ đều không nghe thấy, có niệm mà như không niệm. Việc này khiến tôi vô cùng ngạc nhiên, thật sự là mọi pháp lực đều đã mất hết. Tất cả sức mạnh đều không tạo ra được nữa, tôi giống như quả bóng bị xì hơi vậy.

Bình thường tôi cúng dường, niệm Cam lộ chân ngôn: "Na-mô, su-lu-pa-ya, ta-tha-ga-ta-ya, ta-ti-ya-tha, ôm, su-lu, su-lu, pô-la-su-lu, pô-la-su-lu, sô-ha.”

Sau đó rắc cam lộ, tất cả quỷ thần chúng đều sẽ tới để hưởng cúng dường. Bây giờ mọi thứ hoàn toàn trống rỗng, nước là nước, không phải là cam lộ.

Vấn đề nghiêm trọng rồi đây! Tôi niệm chú biến đổi thức ăn cũng vô hiệu, triệu thỉnh bất kì vị nào cũng vô hiệu, niệm nước chú Đại bi cũng vô hiệu, nói chung là niệm chú gì cũng đều mất hết sạch hiệu ứng. Pháp lực của tôi thực sự hoàn toàn không còn nữa. Mất đi pháp lực của mọi chân ngôn là một việc rất tồi tệ! Tôi đã trở thành người phàm 100% rồi!

Tôi nghĩ đến công việc cũ của mình là bấm ngón tay dự đoán để đoán xem là nguyên nhân gì. Tôi đưa tay ra, thỉnh cầu các vị thần thánh đi lại trong không trung tới chỉ dẫn. Quái lạ! Ngón tay cũng không còn nhảy và rung lên nữa. Linh lực biến mất, tôi không bói ra gì cả. Tôi đếm ngón tay để xem, đầu ngón tay cũng không cong lại, không thể xem dự đoán được!

Tôi ngước nhìn trời, hư không chính là hư không, tất cả đều không có gì. Đột nhiên tôi nhớ ra, ba ngọn đèn vàng trên đầu tôi thì sao nhỉ? Ba ngọn đèn vàng này của tôi là hóa hiện của lực truyền thừa gia trì, sao lại không thấy đâu nữa?

Tôi lập tức tỉnh ngộ. Có khả năng trong lúc tôi đang đối phó với Hùng Thiên Đại Thần, đại bàng Kim Sí Điểu thừa lúc tôi không đề phòng, đã lén lấy cắp ba ngọn đèn vàng này đi, việc này rất hợp với mộng cảnh trong thiền định lúc trước của tôi. Tôi biết rằng lực gia trì của truyền thừa một khi đã mất thì tất cả chú pháp đều vô hiệu lực.

🌟

Mật giáo Cương Tông viết:
"Mật tông dựa vào trí tuệ thần thánh tự giác ngộ được cái Ngã cùng Phật tính, trực tiếp truyền dạy cho con người phàm phu ở cõi Ta Bà, từ đó mà người tu tập được gia tăng thần lực, có được sức mạnh bất khả tư nghì.

Tuy nhiên Mật giáo cực kì nhấn mạnh lực truyền thừa. Người tu tập có chí, khi nhập vào đại Mandala, có được quán đảnh của Kim cương Thượng sư, khi đó sẽ có được lực truyền thừa gia trì. Nếu không có lực truyền thừa gia trì, tất cả chú pháp đều vô hiệu và bị xem là trộm pháp."

Còn nữa:
"Lực truyền thừa gia trì là nền tảng quan trọng nhất của việc học Mật giáo, bởi vì lực truyền thừa gia trì này đến từ vũ trụ hư không, tác động tới trí huệ tự tâm vốn có, đây là trí huệ gốc của Mật pháp truyền thừa."

Tôi đã biết mình chỉ cần lấy lại ba ngọn đèn vàng này thì pháp lực của bản thân tự nhiên sẽ hồi phục. Thế nhưng tôi sẽ buộc phải đi đối mặt với Chod Khang Rinpoche. Tôi thấy Chod Khang Rinpoche đúng là lợi hại. Tôi thực lòng không muốn để Bổn tôn của mình xuất hiện chỉ để đi lấy lại ba ngọn đèn vàng. Phải làm sao đây?

Thật may! Tôi cũng là một người nắm giữ truyền thừa của Mật pháp. Tôi nắm rất rõ bí mật trong bí mật. Mặc dù ba ngọn đèn vàng của tôi đã bị lấy mất, tôi vẫn có thể thắp lên ba ngọn đèn vàng giống như vậy. Tôi có vô lượng “ba ngọn đèn vàng” cơ mà!

🌟

Kinh Đại Luân Kim Cang đà-la-ni viết: "Tụng chú này hai mốt biến, có thể thành tựu tất cả chú pháp, việc thiện mau chóng thành tựu. Có thể thành tựu tất cả ấn pháp, tất cả đàn pháp, có thể nhập vào đàn thành đại Mandala mà không cần có một đàn thành thực sự."

Kinh Đà-la-ni tập viết: "Tụng chú này ba bảy hai mốt biến, lập tức có thể đi vào tất cả Mandala, mọi việc đều thành. Tụng chú kết hợp với thân ấn hoặc các loại ấn pháp, nếu kết thủ ấn, tụng mọi chú pháp, rất dễ đạt được thành công. Nếu là người chưa từng được nhận quán đảnh đàn thành thì không được làm mọi thủ ấn. Tuy nhiên nếu người nào tụng chú này, lập tức giống như đi vào đàn thành, được kết ấn và sử dụng mà không bị coi là trộm pháp."

“Đại Tạng Mật yếu” viết: "Theo giáo pháp, tất cả chân ngôn thủ ấn đều phải được nhận từ thầy. Nếu chưa đi vào đàn thành quán đảnh, thì kết thủ ấn, làm pháp sẽ mắc tội trộm pháp, làm việc gì cũng không thành. Nếu đứng trước tượng của Như Lai, tụng chú này hai mốt lần cũng giống như nhìn thấy Phật, lập tức cũng như được vào mọi Mandala, cầu xin mọi pháp đều được thành tựu."

Tôi lập tức thỉnh Đại Luân Kim Cang đà-la-ni. Quán tưởng đỉnh đầu tôi là tất cả các vị thầy của dòng truyền thừa hóa thành ba ngọn đèn vàng.

Tôi tụng chú Đại Luân Kim Cang:
”Na-mô, sư-tưa-li-ya, ti-uây-ka-lan, ta-tha-ga-tha-lan, ôm, uây-la-chi uây-la-chi, ma-ha-chia-cưa-la, fa-chi-li, sa-ta-sa-ta, sa-la-tưa sa-la-tưa, tưa-la-yi tưa-la-yi, uây-ta-ma-ni sa-pan-chia-ni tưa-la-ma-ti, xi-ta, cưa-li-ya, tưa-lan, sô-ha.”

Tụng 21 biến. Tôi nhìn lên đỉnh đầu mình, đâu chỉ có ba ngọn đèn vàng mà có vô số ngọn đèn vàng tỏa ánh sáng rực rỡ, tạo thành một vòng kim cương.

Có điện rồi! Tôi giải phóng ra công lực mạnh nhất!

*Trên đầu đèn vàng tỏa nghìn tia
Bay ra hoa sen nở chùm chùm
Hết thảy pháp lực đều viên mãn
Trân châu óng ánh ngọc lung linh.*

🌟

Sau đó tôi biết được tin tức rằng:

Ở chỗ Chod Khang Rinpoche, chuyện rất kỳ lạ là ba ngọn đèn vàng mà ông ta dùng đại bàng Kim Sí Điểu lấy trộm của tôi đó đột nhiên bay lên không và biến mất. Chod Khang Rinpoche triệu thỉnh Hùng Thiên Đại Thần, không ngờ Hùng Thiên Đại Thần lờ ông ta đi như không nghe thấy lời kêu gọi. Chod Khang Rinpoche mặt tối sầm, khí lực yếu ớt, ba lần mắc bệnh nặng rồi từ đó sống vật vã với những căn bệnh dai dẳng, trở thành một ông già bất hạnh.

Chod Khang Rinpoche nói với người ta: "Bất kì vị thầy nào ta cũng đánh được, nhưng lại không đánh được Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Pháp lực của ông ta thực sự vô cùng bất khả tư nghì, dù đã bị mất ba ngọn đèn vàng, ông ta vẫn có thể hiện lên hàng nghìn ngọn đèn khác."

Tôi thực lòng thực sự nói cho mọi người biết, tôi căn bản không có làm pháp gì đối với Chod Khang Rinpoche, thực sự là không làm gì hết.


### 0**6. Mùa xuân ở hồ bơi**


Từ nhỏ tôi đã thích bơi lội, bởi vậy trong suốt quá trình trưởng thành, từ suối nhỏ, sông lớn đến hào nước, hồ bơi, bãi biển đều có dấu chân của tôi. Kiểu bơi mà tôi biết sớm nhất là bơi chó, sau đó là bơi tự do, tiếp theo là bơi ếch, bơi ngửa, bơi sải, cuối cùng là bơi bướm, bơi nghệ thuật. Khi tôi ở Đài Loan, vào những ngày đi xem phong thủy địa lý cho người ta mà gặp thời tiết ấm áp, hễ nhìn thấy có con suối nhỏ nào trong núi là tôi liền nhảy xuống nước, trông thấy hồ là tôi liền reo lên sung sướng.

Còn nữa, khi ở Mexico, tôi đã học lặn với bình dưỡng khí đeo trên lưng, hông buộc một khối chì, đội mũ lặn thủy tinh loại lớn, lắp chân vịt, lặn xuống vùng biển sâu nguy hiểm. Tôi còn học cả ngôn ngữ giao tiếp khi ở dưới nước nữa! Thích nước đã là thiên bẩm của tôi rồi.

Có một ngày, tôi đến bể bơi ở trung tâm rèn luyện sức khỏe để đi bơi, lúc đó là vào khoảng xế chiều. Vì không phải là ngày nghỉ nên hồ bơi chẳng có một ai, hoàn toàn vắng vẻ. Tôi tráng người trước, thay đồ bơi và đội mũ bơi. Khi tôi vừa xuống nước thì đột nhiên cảm thấy lạnh run người. Tôi cũng không nghĩ nhiều về điểm này bởi vì nước thực sự rất lạnh.

Tôi bơi ếch và để đầu nhô lên mặt nước, tôi vẫn thường để đầu nhô lên khỏi mặt nước, không cần phải một nổi một chìm và nhịn thở dưới nước. Cứ như vậy tôi bơi nhẹ nhàng thư giãn.

Bỗng nhiên tôi phát hiện ra nước trong hồ bơi sóng sánh một cách không bình thường, giống như là có cơn gió thổi tới làm cho nước sóng sánh nhấp nhô theo. Trước mặt tôi giống như có một màn sương mù dày đặc, mọi thứ trở nên mờ mịt. Hình như trước mặt có ai đó đang bơi tới. Người này có vẻ không để ý thấy sự tồn tại của tôi, cứ hướng thẳng tới tôi mà bơi tới. Người này bơi xuyên qua người tôi, cơ thể tôi giống như bị điện giật, ngay lập tức có một làn sóng điện chạy qua người. Tôi quay đầu nhìn xung quanh nhưng không thấy một ai cả.

Hồ bơi này vốn chỉ có mỗi một mình tôi, hoàn toàn không có ai khác. Cái lạnh làm tôi không kìm được lại run lên một chặp nữa. Lần này tôi chú ý tới cái lạnh run đó và biết là mình đã gặp ma rồi, con ma này còn vừa đi xuyên qua cả người tôi nữa!

🌟

Nếu một người bình thường gặp phải trường hợp như thế, người đó sẽ không có cảm giác gì, cho tới khi về nhà sẽ bị sốt từng cơn nóng lạnh, sẽ phải tìm người để xử lý cơn bệnh và diệt trừ rung động xấu. Việc này gọi là bị xung phạm.

Người bị xung phạm có lúc gặp ác mộng, nghiêm trọng hơn thì sẽ bị trầm cảm, mất ngủ, cuối cùng sẽ mắc bệnh tâm thần. Tôi thì không giống như thế. Tôi chỉ cần dùng pháp Chuyết hỏa [pháp nội hỏa, còn goi là tumo, tsalung] là có thể đẩy được tà khí ma khí nhiễm trên thân ra ngoài. Chỉ như vậy là xong, không có gì phải lo lắng cả.

Tôi vốn không thích lo mấy chuyện thường gặp kiểu như vậy, nhưng hồ bơi này hay có người đến bơi, nếu như bị xung phạm, họ sẽ đều dễ mắc bệnh nặng. Bởi vì lòng từ bi của mình, tôi không thể nào làm ngơ coi như không biết. Tôi trèo lên thành hồ bơi, mở thiên nhãn ra quan sát.

Tôi lập tức nhìn thấy một cô gái mặc đồ bơi, dáng người cô rất đẹp và hấp dẫn, các đường cong thực sự rất gợi cảm, làn da trắng mịn, ngũ quan vô cùng xinh đẹp. Cô có đôi mắt to tròn, trông cô mới khoảng mười sáu tuổi. Cô đang ở cách tôi không xa.

🌟

Tôi gọi: 
"Này!"
"Ông nhìn thấy tôi à, tôi cứ nghĩ là không ai nhìn thấy tôi cả!" - Cô gái rất kinh ngạc. 
"Tôi là Lư Thắng Ngạn, đương nhiên là có thể nhìn thấy rồi."
"Đã nghe qua đại đanh của ông."
"Cô họ gì?" - Tôi hỏi.
"Mọi người gọi tôi là Tiểu Thúy."
"Sao cô lại ở đây?"
"Tôi bị đột tử!"
"Sao không đi khỏi chỗ này?"
"Tôi là ma bị kẹt ở đây, không đi được. Nếu tôi đi ra khỏi đây, bên ngoài có mặt trời, mặt trăng, sứ thần đi tuần ban ngày, sứ thần đi tuần ban đêm, rồi các vị thần khác, ma nhỏ như tôi làm sao có thể đi lung tung!" - Tiểu Thúy nói. 
"Cô làm sao mà bị chết?"
"Khi hồ bơi này mới xây xong, tôi đến đi bơi, vừa xuống nước thì chân bị chuột rút. Ba, bốn phút sau là tôi đã chết rồi!"
"Người nhà không siêu độ sao?"
"Bố mẹ tôi đều đã qua đời, chỉ có ít tiền giấy người ta đốt cho tôi bên hồ bơi này thôi." - Tiểu Thúy nói.
Tôi nói:
"Tôi có thể siêu độ cho cô, tiếp dẫn cô thoát khỏi khổ luân! Tôi có đại pháp lực!"
Tiểu Thúy nghe xong rất vui mừng, liên tục nói cảm ơn:
"Cảm ơn! Cảm ơn!"

🌟

Người tu hành chúng ta phát bồ đề tâm chủ yếu nằm ở việc "trên cúng Tam Bảo, dưới giúp đỡ bốn loại chúng sinh". Bởi vậy tại đàn thành trong nhà mình, tôi cũng sắp xếp một đàn tràng nhỏ, đàn tràng nhỏ này tôi đặt tượng Địa Tạng Vương Bồ Tát làm chủ tôn. Hương, hoa, đèn, trà, quả, tùy khả năng mà sắp đồ cúng, thành tâm cúng dường. Phía trước tượng Địa Tạng Vương Bồ Tát, tôi lập bài vị của Tiểu Thúy.

Tôi nhập đàn tràng, ngồi thẳng ngay ngắn.
"Ôm, ram, sô-ha."
"Ôm."
Tôi niệm:
*"Nguyện những hương hoa này
Thành mây đầy mười cõi
Cúng dường mọi chư Phật
Tôn pháp chư Thánh hiền.
Trong cõi Phật vô biên
Hoan hỷ làm Phật sự
Để cho mọi chúng sinh
Đều cùng chứng bồ đề."*

Thế là trong hư không tự nhiên xuất hiện vô tận đồ cúng phẩm. Tôi lại đọc kinh Địa Tạng. Cứ như vậy tôi cúng ba ngày.

Thông thường khi tôi tu pháp như thế, Địa Tạng Vương Bồ Tát nhất định sẽ đích thân hạ giáng đến đàn tràng, cầm tích trượng, đứng trên hoa sen từ từ hạ xuống. Hơn nữa con ma Tiểu Thúy cũng sẽ được dẫn đến trước đàn tràng, rồi Địa Tạng Vương Bồ Tát sẽ phóng quang gia trì cho cô, sau đó sẽ tiếp dẫn cô đi.

🌟

Tuy nhiên lần này điều khiến tôi lấy làm kỳ lạ là tất cả nghi quỹ, tôi không bỏ qua bước nào, cũng không có chút nào sơ xuất, nhưng linh hồn Tiểu Thúy từ đầu tới cuối đều không đến.

Càng kỳ lạ hơn nữa là không chỉ linh hồn của Tiểu Thúy không đến, mà bất ngờ là ngay cả Địa Tạng Vương Bồ Tát cũng chẳng đến. Tôi không tin Địa Tạng Vương Bồ Tát lại không đến, tôi đâu có đắc tội gì với ngài. Chẳng có lý do gì mà họ lại không đến. Đàn tràng của tôi tuy nhỏ, cúng phẩm tuy ít, nhưng pháp lực của tôi thì dư thừa, lực kêu gọi một khi đã phát đi thì có thể đến được khắp thập phương pháp giới. Pháp sự của tôi thường bách linh bách nghiệm, hiếm khi nào có sai sót.

Triệu thỉnh hồn ma Tiểu Thúy mà cô không tới, triệu thỉnh Địa Tạng Vương Bồ Tát không được, lẽ nào pháp lực của tôi lại mất hết rồi, niệm chú cũng không linh nữa? Nhưng thực tế là pháp lực vẫn linh. Tôi sẽ cần kiểm tra xem việc này rốt cục là thế nào. Tôi liền đi tìm người anh em kết nghĩa của tôi - Thành Hoàng Bồ Tát, người luôn lo quản cô hồn dã quỷ!

Tôi hỏi vì sao pháp sự không linh? Thành Hoàng Bồ Tát nói với tôi:
"Việc của Tiểu Thúy tôi không quản!"
"Sao cơ? Không quản?"
"Đúng vậy. Đừng can thiệp vào chuyện của Tiểu Thúy."
"Tôi chuyên can thiệp vào chuyện bất bình trong thiên hạ!" - Tôi nói.
Thành Hoàng cười hi hi nói:
"Ngài làm vậy có phải vì cô ta rất xinh đẹp không?"
"Vớ vẩn, tôi đâu có phải anh chàng họ Trư!" - Tôi tranh luận.
"Nếu như ngài vô tình gặp hồn ma một kẻ lang thang nhem nhuốc, thử hỏi ngài có siêu độ hay không?"

Tôi nhất thời á khẩu, nhưng lại kiên trì nói:
"Linh hồn của một người con gái xinh đẹp hay linh hồn của một gã lang thang, đối với bồ đề tâm thì bình đẳng không khác biệt!"
Thành Hoàng Bồ Tát nói với tôi:
"Đừng bị mê hoặc bởi hình tướng bên ngoài!"

Thành Hoàng Bồ Tát thật lòng nói cho tôi biết:
"Cô hồn của Tiểu Thúy, pháp sự bình thường không thể siêu độ được. Bên ngoài thì ta thấy sự việc là một thiếu nữ xinh đẹp đi bơi, chân bị chuột rút, chết đuối trong nước. Nhưng thực tế là cô ta bị Ngũ Lôi đánh chết. Ngũ Lôi ở đây không nhất định là sấm sét mới được gọi là Ngũ Lôi. Những thứ như lở đất, chết đuối, chết cháy, tai nạn xe, bị đánh bởi gậy gộc (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ) đều được gọi chung là Ngũ Lôi."
"Vì sao cô ta bị Ngũ Lôi đánh chết?"
"Tiểu Thúy có nhân quả của Tiểu Thúy, kiếp trước cô ta đã giết người!"
"Giết người cũng có thể siêu độ mà!"
"Không chỉ một người đâu!"
"Bao nhiêu?"
"Trên trăm người!"
"Oa! Nhiều thế à!" - Tôi sợ sững cả người.

Thành Hoàng Bồ Tát nói:
"Trong một bữa yến tiệc, chỉ vì một việc vớ vẩn mà cô ta sinh lòng oán hận, đã bỏ thuốc độc vào trong canh, lập tức đã giết hại hơn trăm người! Bởi vì nghiệp này mà cô ta phải chết đuối, mà phải chết trăm lần. Không chỉ như vậy, vào ngày mồng một âm lịch hàng tháng, cô sẽ phải chịu cảnh chết đuối một lần."
"Nói về tâm của cô ta, thực sự giống như rắn rết bọ cạp. Nói về quả báo của cô ta, cũng cực kì đau đớn."

Tôi không ngừng thở dài tiếc thay cho Tiểu Thúy.

🌟

Tôi lại đến hồ bơi, vờ như không có chuyện gì xảy ra.

Khi tôi đang bơi, có rất nhiều hiện tượng lạ xảy ra. Nước trong hồ bơi đó đột nhiên trở nên rất lạnh, lạnh như nước đá vậy, khiến người ta lạnh quá phải lên bờ. Nước trong hồ bơi đột nhiên dậy sóng dữ dội, giống như sóng biển, gió bên ngoài thì không hề lớn, trong hồ bơi cũng chỉ có một mình tôi bơi, sóng nước không thể nào mạnh như vậy, khiến tôi sặc mất mấy ngụm nước.

Tư thế bơi của tôi thường rất đẹp đẽ, khi bơi ếch chân tôi đạp rất khéo. Lúc bơi về phía trước, đột nhiên tôi phát hiện có người đang kéo chân tôi, giữ chặt chân không cho tôi đạp nước nữa, hơn nữa lại còn kéo chân xuống dưới. Quay đầu lại nhìn thì chân không bị kéo nữa, nhưng vừa quay đầu đi thì chân lại bị kéo như vậy. Cứ như thế khiến cho tôi bơi vô cùng mất sức.

Lúc tôi lặn xuống nước bơi về phía trước, liền giống như bị một tấm lưới vô hình chặn lại, không thể tiến lên trước. Tôi quay người về phía sau, cũng lại là một tấm lưới vô hình, không có cách nào quay lại. Bên trái không có lối ra. Bên phải không có lối ra. Tôi nghĩ đến việc này giống như người cá bị sa lưới. Tôi ở trong lưới, bên trái bên phải đều không có lối thoát, tôi sắp hết không khí rồi!

Ở trong nước, tâm tôi niệm một câu chú: "Hum".

Một đường ánh sáng xanh phóng ra. Lưới đã bị phá. Tôi nhanh chóng trồi lên mặt nước, hít một hơi khí! Không muốn chơi đùa kiểu này nữa nên tôi đi tới phòng thay quần áo. Vừa mở cửa phòng tắm bỗng tôi giật mình nhảy dựng lên!

Tiểu Thúy mặt xanh xao đang đứng ở bên trong.
Tôi nói:
"Tôi muốn đi tắm."
"Tôi giúp ông kì lưng." - Tiểu Thúy dịu dàng nói.
"Tôi luôn luôn tự mình tắm."
"Một lần ngoại lệ cũng được mà."
"Vừa nãy cô chơi đùa còn chưa đủ hay sao?" - Tôi có phần hơi nổi giận.
"Tôi chỉ đùa chút thôi, không muốn làm thật đâu." - Tiểu Thúy nói.
"Đùa cũng không thể dùng pháp làm đóng băng bốn phía, làm như vậy sẽ lấy mạng người ta đó. May sao đó là tôi, nếu là người khác thì sẽ không thể thở được."
"Tôi thử pháp lực của ông đó mà!"

Tôi nhìn Tiểu Thúy. Gương mặt của cô quả thực có thể khiến người ta bị "hạ gục". Làn da trắng mịn màng, cơ thể đẹp đẽ, ai gặp cô đều không thể không thích cô. Người con gái như vậy làm sao có thể xấu xa, lòng dạ sao có thể độc ác như rắn bọ cạp thế nhỉ?

Tôi hỏi Tiểu Thúy:
"Cô có muốn siêu thoát không?"
"Đương nhiên."
"Nhưng vì sao cô lại hại tới cả trăm người vậy?"
"Nhất thời hồ đồ."
"Cô có hối hận không?"
"Tôi hối hận đã nhất thời kích động."
"Bởi vì cô đã hại chết hơn trăm người, tôi chẳng có cách nào siêu độ cho cô cả!" - Tôi xấu hổ nói.
"Chẳng phải ông đã nói có thể siêu độ cho tôi sao, rằng ông có đại pháp lực!"

🌟

Tôi suy ngẫm thấy bản thân tôi ở trong tình thế không phân biệt được đúng sai đã lập tức đồng ý tiếp dẫn Tiểu Thúy thoát khỏi bánh xe khổ ải, tự mình nói rằng có đại pháp lực mà chưa tìm hiểu chuyện này có nguyên nhân gì. Có lẽ tôi bị Thành Hoàng Bồ Tát nói trúng rồi. Không rõ nếu như hôm nay con ma này không phải là Tiểu Thúy mà là một con ma lang thang bẩn thỉu, liệu tôi có chủ động giúp như vậy không nhỉ?

Kì thực có rất nhiều hồn ma nữ xinh đẹp làm rung động lòng người, khi còn sống cũng không phải là dạng người tốt đẹp như họ nói, bọn họ thường nói quá lên. Nói dối tới mức hoa trời rơi rụng loạn xạ. Ghen tỵ, ghen tuông, lòng dạ hẹp hòi, tính toán tâm kế, lòng dạ thâm hiểm, độc ác. Rất nhiều phụ nữ giở những thủ đoạn còn ghê gớm hơn cả đàn ông.

Ngẫm đến những người phụ nữ như vậy thì đúng là họ tuy có đáng yêu nhưng cũng là đáng sợ nhất, kinh khủng nhất. Thử nghĩ mà xem, xưa nay khắp nơi có bao nhiêu anh hùng hào kiệt, cả một đời tiếng tăm lừng lẫy đều bị hủy hoại trong tay của phụ nữ đó thôi.

Tôi cảm thấy rất băn khoăn, ngẫm nghĩ về việc có nên cứu Tiểu Thúy không. Cuối cùng, có lẽ là nhân duyên đưa đẩy, tôi vẫn quyết định cứu cô ta. Thêm nữa, từ lúc ban đầu đã đồng ý cứu cô ta rồi, tôi cũng không thể nào nuốt lời. Tôi vẫn lập đàn tràng và làm mọi pháp sự như thường. Chỉ là từ một đàn tràng này, trong đầu tôi quán tưởng thành mười đàn, trăm đàn, nghìn đàn. Tôi trì tụng Thiên chuyển luân chân ngôn.

“Ôm, va-ji-la, ku-hưa-ya, ka-ba, sa-ma-ya, hùm.” (7 biến)

Lần siêu độ này vốn là để độ một người. Nhưng trong một sát-na đã biến thành độ cả nghìn người. Tiểu Thúy phạm tội ác cũng chỉ có hơn trăm người thôi! Một tiếng sét vang lên như chập điện! Thủ ấn của tôi chỉ lên trời! Trăm người lập tức thăng thiên.

Việc thăng thiên này minh chứng cho:

*Tâm này bình đẳng một câu chú
Bất kể sang hèn hay hiền ngu
Tận gốc nghiệp đen muốn tiêu trừ
Đại pháp tung ra tự như như. *

Tôi trông thấy Địa Tạng Vương Bồ Tát dẫn theo Tiểu Thúy đến trước đàn tràng của tôi, trên người Tiểu Thúy vẫn bị khí đen trói chặt. Tôi hét lên: 
"Cô giết chết hơn trăm người, tôi đã siêu độ cho họ thăng thiên, còn cô sao vẫn chưa thăng thiên?"
Tiểu Thúy hét to: 
"Hơn trăm người đã đươc độ nhưng tôi vẫn bị trói!"

Tôi nghe xong cũng không nói nhiều nữa. Từ trên đỉnh đầu mình, tôi lưu xuất ra một chữ "Ram" (chữ Phạn) màu đỏ, biến thành một hình tam giác lửa màu đỏ, ngọn lửa lớn này hướng về phía Tiểu Thúy, thiêu cô cháy thành tro.

(Cho dù Tiểu Thúy đã mắc vào năm tội vô gián, dùng chữ “Ram” này để thiêu cháy cô thì cũng diệt hoàn toàn mọi nghiệp tội.)

Tiểu Thúy bị thiêu thành tro cho thấy nghiệp chướng của cô cũng đã được diệt sạch hoàn toàn. Tôi nhìn thấy một dải ánh sáng màu trắng như ngọc mani, trong sáng tinh khiết, tỏa ra ánh sáng thanh tịnh chiếu khắp pháp giới. Địa Tạng Vương Bồ Tát cầm viên ngọc mani trên tay bay lên không trung.

Địa Tạng Vương Bồ Tát nói:
"Liên Sinh thật lợi hại, chú pháp như thần!"
Tôi chắp tay:
"Đa tạ Bồ Tát đã xuống đàn tràng!"

🌟

Trong câu chuyện này, tôi đã dạy cho mọi người một mật pháp, đại pháp này là cực kì bí mật. Người tu hành, chỉ cần ngồi thẳng ngay ngắn, ổn định tâm trí, những chuyện quá khứ, hiện tại, tương lai đều không vướng bận đến thân tâm. Đây chính là pháp giới Tam ma địa (Samadhi).

Quán tưởng trên đỉnh đầu mình có chủng tự chữ Phạn "Ram" tỏa ánh sáng ra khắp nơi, giống như trăng tròn. Sau đó chữ này biến thành hình tam giác có ngọn lửa màu đỏ đang cháy. Ngọn lửa hình tam giác này thiêu cháy thân tâm của chính mình.

Tụng chú: "Ram" 21 biến.

Pháp này có thể thiêu đốt hết tất cả nghiệp chướng của người tu hành!

🌟

Còn pháp nữa:

Trước tiên người tu hành cầm chuỗi tràng hạt trên tay phải, cuốn tràng hạt bằng tay trái, sau đó lại chuyển tràng hạt sang tay phải. Hai tay chụm lại kết thủ ấn hoa sen với chuỗi hạt đặt ở bên trong, đưa thủ ấn lên trước trán và tụng.

Ôm, ram, sô-ha. (Thanh tịnh tất cả)

Ôm, huai-lu-chia-na, ma-la, so-ha. (Thanh tịnh và gia trì chuỗi hạt)

Ôm, va-ji-la, ku-hưa-ya, ka-ba, sa-ma-ya, hùm. (Chú Thiên chuyển luân)

Chú này nghĩa là đọc một lần tương đương với đọc nghìn lần. Đây là pháp bí mật, cũng chính là pháp nhân lên nghìn lần, một đàn pháp trở thành một nghìn đàn pháp.

🌟

Theo những gì Thành Hoàng Bồ Tát nói với tôi, bởi vì tôi đã cứu Tiểu Thúy được siêu sinh, nên chính bởi nhân duyên này mà tôi phải chuyển kiếp về nhân gian một lần nữa. Thành Hoàng Bồ Tát cười tôi thích "lắm chuyện", lắm chuyện có nghĩa là sẽ phải tái sinh nhiều kiếp. Nhưng tôi mặc kệ, một lòng cứu người là được!

Tôi cũng đã phát lời thề nguyện lớn, nguyện rằng đời đời kiếp kiếp độ hóa chúng sinh, lục thời hành đạo chẳng có gì phải nghĩ ngợi. Tôi dạy người ta niệm Phật trì chú tu pháp là để cứu chúng sinh bớt khổ. Bởi vì chúng sinh đã trầm luân trong bể khổ mà không tự ý thức được, tôi sẽ nỗ lực đến hơi thở cuối cùng!


### 0**7. Ma chó**


Có một lần tôi cùng người bạn đến dự một bữa tiệc tối. Tào Tông, chủ nhân của bữa tiệc, đã giới thiệu tôi với mọi người ở đó, khi giới thiệu ông nói: 
"Vị này là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Bình thường mọi người muốn gặp ngài ấy không dễ đâu, bởi vì ngài rất nổi tiếng, cực kì bận. Những chuyện xem bói của ngài nổi tiếng trong thiên hạ. Các chứng bệnh nguy nan ngài đều dễ dàng chữa khỏi. Liên Sinh Hoạt Phật có thiên nhãn đó!"

Mọi người nhìn tôi, không ai nói gì cả. Lúc ăn tiệc, chủ nhân Tào Tông lại nói:
"Hoạt Phật, xin xem thử khí sắc của chúng tôi bình thường hay không bình thường?"

Tôi nhìn mọi người một lượt. Mọi người đều im lặng không nói câu gì, chờ đợi tôi nói. Tôi cười:
"Phần lớn mọi người đều bình thường."
Chủ nhân Tào Tông bắt bẻ câu chữ:
"Ngài nói phần lớn mọi người đều bình thường, vậy thì phần nhỏ mọi người là không bình thường, vậy người nào là không bình thường vậy?"
Tôi nói:
"Có thể nói sao? Không phiền chứ?"
"Đương nhiên không phiền." - Tất cả mọi người đồng thanh nói.
Tôi nói:
"Một người là anh Phan, Phan Thanh, có một chút…"
"Có một chút gì?"
"Có một chút khí kỳ lạ trên người."
"Xin nói rõ ràng hơn một chút, là khí gì, khí đàn ông ẻo lả, khí phụ nữ, hay khí đào hoa…?"

Mọi người ồ lên cười trêu chọc Phan Thanh. Phan Thanh nói với tôi:
"Đó là khí gì, ngài có thể nói rõ, tôi thực sự không phiền đâu!"
Tôi thẳng thắn nói:
"Có linh hồn của một con chó trên người anh."
Mọi người đều ngẩn người ra. Phan Thanh nói:
"Bản thân tôi chẳng có cảm giác gì cả!"
Chủ tiệc Tào Tông nói với tôi:
"Hoạt Phật, có phải ngài nhìn sai rồi không?"
Tôi trả lời:
"Tôi nghĩ là không sai đâu. Con ma chó này mới theo bên người thôi, trước mắt sẽ không có động tĩnh gì, sau này có thể sẽ có chuyện."
Phan Thanh nói:
"Chúng ta cứ ăn cơm trước đã, đợi ăn cơm xong, tôi sẽ nói chuyện riêng với Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn để khỏi làm ảnh hưởng đến mọi người."

🌟

Mọi người ăn tối xong. Phan Thanh cùng tôi đến một căn phòng khác. Phan Thanh rất nghiêm túc nói với tôi:
"Ngài nói rất chuẩn!"

Phan Thanh kể cho tôi nghe:
"Nhà tôi có nuôi một con chó becgie Đức, bình thường nó rất trung thành và ngoan ngoãn nên được mọi người cực kì cưng. Nhưng mấy tháng gần đây, con chó này không có chuyện gì cũng sủa loạn lên. Ban ngày sủa, ban đêm sủa, làm phiền đến chúng tôi và hàng xóm. Hàng xóm không chịu đựng được lần lượt chạy qua không ngớt phàn nàn. Chúng tôi mắng nó nó cũng không nghe, đánh nó nó cũng vẫn sủa không ngừng. Thực sự không còn nghĩ ra cách gì nữa. Chúng tôi cũng cho rằng con chó becgie này khả năng bị điên rồi. Muốn đem cho, nhưng nhà nào muốn nhận nuôi một con chó điên chứ. Đuổi nó ra khỏi nhà thì lại cảm thấy mình vô trách nhiệm. Cuối cùng, tôi đã bỏ thuốc trừ sâu Parathion vào thức ăn của nó, như thế mới làm cho nó yên tĩnh ra đi được."

Tôi nghe xong gật gật đầu.
Phan Thanh hỏi tôi:
"Nếu bây giờ con ma chó này bám lên người tôi, sau này nó sẽ làm gì?"
Tôi đáp:
"Tôi cũng không biết."
"Liệu có ám lên người một thời gian rồi sẽ đi không?"
"Cũng có thể."
"Nếu vậy thì tốt!" - Phan Thanh nói.
"Như vậy đúng là tốt nhất!"

🌟

Từ góc nhìn của tôi, việc ma chó bám lên người này, nếu Phan Thanh không chủ động tìm tôi nhờ giúp đuổi nó đi, tôi cũng sẽ không chủ động. Hơn nữa hiện tại bản thân Phan Thanh đang rất tốt, không có gì dị thường, anh cũng không mấy bận tâm. Bởi vậy tôi cũng không tiện nói gì.

Khoảng ba tháng sau. Tào Tông đến tìm tôi, đồng thời cũng nói cho tôi biết:
"Phan Thanh chết rồi."
"Làm sao mà chết? - Tôi sửng sốt.
"Bị viêm gan cấp tính, nhập viện không chữa kịp."
"Trời đất! Thực sự là quá nhanh!"
Tào Tông nói với tôi:
"Sau khi Phan Thanh chết, trong nhà xảy ra hiện tượng quái dị khiến người nhà của Phan Thanh rất sợ hãi. Bây giờ họ rất muốn mời Hoạt Phật đến giúp đỡ."
"Hiện tượng quái dị gì vậy?"
Tào Tông nói:
"Vợ của Phan Thanh liên tiếp mơ thấy Phan Thanh trở về, nói với vợ rằng, xin hãy mời Lư Hoạt Phật đến giúp đỡ, nếu không cả nhà đều sẽ gặp nguy hiểm.”

Hiện tượng mà họ nói rất kỳ quái là: trong nhà xuất hiện một thứ mùi quái dị, mùi này rất khó ngửi, giống như mùi của chó hoang lâu ngày không tắm, mùi này rất lâu không hết. Người nhà lần lượt sinh bệnh, bà Phan toàn thân phù nề, da khô nứt nẻ. Cô con gái nhỏ Phan Tịnh mắc bệnh đau đầu. Con trai lớn Phan Minh rất kỳ quái, hai mắt đỏ ngầu, giống như mắt chó điên.

Sau khi Phan Thanh chết thì mới xảy ra những hiện tượng này. Tính tình của Phan Minh cũng thay đổi. Cậu trở nên dễ cáu bẳn và trầm uất, đi tới đi lui, cực kì âu sầu. Còn có việc lạ nhất là đồ đạc trong nhà có hiện tượng bị dịch chuyển. Rõ ràng quần áo để ở bên này lại tự động chạy sang bên kia. Mũ đội đầu trong phòng tắm vô duyên vô cớ lại thấy ở ghế sofa. Sách vở trên bàn lại thấy rơi trên sàn nhà, không phải chỉ một hai cuốn, mà là toàn bộ đều rơi xuống sàn nhà. Nhà đã quét dọn sạch sẽ lại bừa bộn ra khắp sàn. Trong bếp rõ ràng không có người, nhưng lại có tiếng dao dĩa bát đĩa. Ban đêm, mọi người đều ngủ rồi, trong phòng phát ra âm thanh giống như có người đi lại khắp nơi, không chỉ là âm thanh đi lại mà còn có tiếng đánh vào tường nữa…"

Tào Tông vừa mở miệng là tuôn một tràng dài. Tôi nói:
"Chúng ta qua đó xem sao!"

🌟

Nhà của Phan Thanh là một ngôi biệt thự sang trọng ở vùng ngoại ô, cửa vào còn có một đài phun nước nhỏ được trang trí thêm núi và cây giả. Phòng khách rất rộng rãi, sàn nhà lát đá cẩm thạch. Cửa sổ được vẽ trang trí đẹp đẽ, đồ đạc trong nhà tinh tế đắt tiền.

Phan Thanh khi còn sống chịu trách nhiệm quản lý một công ty thương mại lớn, gia cảnh không phải hạng tầm thường. Bà Phan và hai đứa trẻ đều ở nhà. Tôi nhìn Phan Minh thì thấy hai mắt của cậu đỏ ngầu, cậu đã được bác sĩ khám và cho dùng thuốc, nhưng từ đó tới nay đều không khỏi. Con ma chó này thực sự đã nhập lên người Phan Minh rồi.

Tôi nói:
"Ma chó ở trên người Phan Minh."
Phan Minh không nói gì, đứng ngay dậy, hai mắt nhìn trừng trừng vào tôi, bộ dạng hung dữ. Mọi người đều kinh hãi.
Tôi nói:
"Không phải sợ, tôi đến để làm pháp."
Lúc này Phan Minh nói:
"Cháu có một cơn thúc giục rất muốn nhào lên phía trước cắn Lư Hoạt Phật, nhưng cháu đang kìm nén cảm giác này xuống."
Tôi nói:
"Đừng lo lắng, tôi có thể giải quyết được!"
"Xin Hoạt Phật hãy đuổi nó đi!" - Bà Phan nói.
"Không cần đuổi đi!" - Tôi nói. "Tôi chỉ cần ngồi thiền trên sàn nhà cẩm thạch trong phòng khách một chút là được rồi, mọi người xin giữ im lặng."

Tôi ngồi trên nền đá cẩm thạch trong phòng khách, uy nghi như Phật, ngồi tư thế kim cương kiết già, hai tay kết pháp giới định ấn, lưng thẳng, hai vai ngang thẳng, đầu cúi cho cằm chạm vào yết hầu, lưỡi đặt lên vòm miệng, mắt không chớp. Tôi ngồi như vậy, an định thân tâm.

Tôi niệm 3 biến:

"Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng.” [chú Quán không]

Lực gia trì của Như Lai, lực gia trì của pháp giới, công lực tu hành của tôi, ba thứ hợp lực lại, tôi biến thành hư không. Con ma chó đó không nhìn thấy tôi.

Tôi lại niệm thầm:

“Na-mô, sa-ơ-wa, ta-tha-ga-ta, fa-lua-cưa-tưa, ôm, san-pa-la, san-pa-la, hùm.” (3 biến) [chú Biến đổi thực phẩm]

Tôi hóa thành một đống xương.
Tôi biến thành một đống xương tỏa mùi thơm hấp dẫn ngon lành, con ma chó vừa nhìn thấy, làm sao mà không thèm rỏ dãi. Con ma chó vừa nhảy ra vồ vào đống xương liền nhập vào trong người tôi. Vậy là ma chó đã ra khỏi người Phan Minh. Ma chó bám lên người tôi. Tôi đứng dậy, nói với người nhà của Phan Thanh:
"Ma chó đã ở trên người tôi rồi, tôi đem nó đi, từ nay về sau, mọi người đều được bình an, hoàn toàn vô sự."

Tôi nói như vậy, và trên thực tế gia đình họ Phan đúng thực là như thế.

🌟

Sau khi tôi rời khỏi nhà họ Phan, cái mùi kỳ quái của chó hoang lâu ngày không tắm, da thịt bốc mùi hôi thối khiến người ta muốn nôn mửa trong nhà họ cũng biến mất. Bà Phan toàn thân phù nề, da khô nứt nẻ, kể từ ngày hôm đó, bà tiểu tiện nhiều lần hơn, dần dần khỏi chứng bệnh phù nề. Hiện tượng da khô của bà cũng dần dần khỏi, mới qua hai ba ngày, những bệnh này không ngờ đã hoàn toàn khỏi hẳn. Bà Phan cảm thấy rất kì lạ, bà không cần dùng thuốc, thực sự là kỳ tích.

Con gái Phan Tịnh cũng vậy, chứng bệnh đau đầu giống như được ai đó nhấc khỏi tảng đá trong đầu đi, bây giờ đầu rất nhẹ nhàng thư thái.

Phan Minh hai mắt đỏ ngầu như mắt chó điên cũng từ từ khỏi, tính tình trở lại tốt hơn, lại là một chàng thanh niên khỏe mạnh.

Những hiện tượng quái dị trong nhà đều biến mất.
Không có chuyện đồ đạc tự động dịch chuyển.
Không có âm thanh kỳ quái.
Nhà họ Phan vô cùng cảm kích tôi.

Vấn đề bây giờ không còn ở nhà họ Phan nữa mà nằm trên người tôi. Cá nhân tôi cảm thấy linh hồn của con chó becgie này có linh lực rất mạnh. Nó ở trong người tôi chạy lồng lộn muốn thoát ra ngoài! Tôi chưa sẵn sàng thả nó ra. Thân thể của tôi giống như một cái chuồng bằng thép nhốt nó lại, nó không thể thoát ra, mất tự do, không thể đi hại người nữa.

Nó nói với tôi:
"Tôi muốn cắn gan của ông!"
Tôi biết Phan Minh cũng chính là bị như vậy mà chết. Tôi nói:
"Cho ngươi cắn!"
Nó cắn một cái vỡ luôn cả răng. Bởi vì gan của tôi đã biến thành chày kim cang.
"Tôi muốn cắn tim của ông!"
Nó cắn một cái, tim của tôi đã biến thành một khối inox - sắt không gỉ.
"Tôi muốn cắn ruột của ông!"
Nó cắn một cái, ruột của tôi đã biến thành đá granit.
Nó kêu gào, sủa điên cuồng.
"Ông đúng là ruột gan sắt đá!"

Tôi cười lớn ha ha ha.

🌟

Mặc dù con ma chó này không làm gì được tôi, nhưng uế khí của nó cũng ảnh hưởng đến tôi không ít. Ngôi nhà thân thể của tôi cũng bị ám đầy uế khí.

Tôi bèn niệm chú tịnh thủy.

*"Vô cực chân thủy
Dịch thể tiên minh
Tịnh tẩy linh thai trí huệ sinh
Vạn vật tư nhuận vinh
Hà nhĩ trừng thanh
Tu đạo thượng Ngọc Kinh."*

Tôi niệm chú tịnh tâm:

*"Thần thành tịnh tu
Ý thành tịnh tu
Khí thành tịnh tu
Ngũ tạng thành tịnh."*

Tôi niệm chú tịnh khẩu:

*"Hầu thanh tịnh tu
Thiệt thanh tịnh tu
Xỉ thanh tịnh tu
Tam nghiệp thanh tịnh."*

Tôi niệm chú tịnh thân:

*"Thể khiết tịnh tu
Thanh khiết tịnh tu
Chỉnh khiết tịnh tu
Nhất tâm khiết tịnh."*

Tôi lại niệm chú thanh tịnh ba nghiệp:

*"Thân trung chư nội cảnh
Tam vạn lục thiên thần
Động tác lý hành tạng
Tiền kiếp tịnh hậu nghiệp
Nguyện ngã thân tự tại
Thường trụ tam bảo trung
Đương ư kiếp hoại thì
Ngã thân thường bất diệt
Tụng thử chân văn thì
Thân tâm khẩu nghiệp giai thanh tịnh
Cấp cấp như luật lệnh."*

Sau khi tôi niệm xong, thân tâm thanh tịnh, uế khí không còn. Điều không ngờ là: linh hồn con chó sau khi nghe chú này của tôi, thân tâm của nó cũng được thanh tịnh, nó yên lặng nghe tôi trì chú. Chú vừa kết thúc, ba nghiệp của con chó cũng thanh tịnh, tôi lấy làm vui mừng.

Cuối cùng, tôi niệm thần chú thanh tịnh trời đất:

*"Thiên địa tự nhiên*
*Uế khí phân tán
Động trung huyền hư
Hoảng lãng thái nguyên
Bát phương uy thần
Sử ngã tự nhiên
Linh bảo phù mệnh
Phổ cáo cửu thiên
Can la đáp na
Đỗng cương thái huyền
Trảm yêu phược tà
Sát quỷ vạn thiên
Trung sơn thần chú
Nguyên thủy ngọc văn
Trì tụng nhất biến
Khư bệnh diên niên
Án hành ngũ nhạc
Bát hải tri văn
Ma vương thúc thủ
Thị vệ ngã hiên
Hung uế đãng tận
Đạo khí trường tồn
Cấp cấp như luật lệnh."*

Vừa niệm chú này lên, con ma chó lập tức co rút lại còn một nửa, không thể cử động được, nó đã bị trói chặt lại. Con ma chó tru lên:
"Đừng niệm nữa, đừng niệm nữa, tôi muốn quy y!"
"Ngươi muốn quy y à, tốt lắm!" - Tôi nói.

Con chó này cũng khá tinh khôn, bởi vì nếu nó không quy y tôi, tôi chỉ cần niệm ba biến Tịnh thiên địa thần chú thì linh hồn nó càng co rút lại nhỏ hơn nữa, hoặc giả chỉ một tiếng sấm rền là linh hồn cũng bị tiêu diệt!
"Thả tôi ra, tôi sẽ quy y ngay!" - Con ma chó lại tru lên.

Đương nhiên là tôi muốn thả nó ra, bởi vì nó bám lên thân tôi mà tôi lại quy y cho nó thì chẳng phải tôi tự quy y cho mình sao. Thân tâm tôi hoàn toàn thả lỏng, con ma chó liền chuồn ngay ra ngoài. Lúc này thì đã muộn, ma chó vừa thoát ra ngoài thì rất khôn ranh, không ngờ việc quy y chỉ là giả vờ, nó muốn trốn thoát.

Ma chó có một ít thần thông nhỏ. Nó nhảy vọt lên trời để trốn đi, nhưng trên không trung có một vị thần đánh nó một cái, nó lại bị ngã xuống. Nó muốn trốn vào đất, nhưng dưới mặt đất có một vị thần đã chặn nó lại. Nó muốn chuồn theo bên trái, bên trái có một vị thần đứng canh. Nó muốn chuồn theo bên phải, bên phải có một vị thần đứng canh.

Con ma chó tru tréo:
"Tiêu rồi tiêu rồi, thiên la địa võng, tôi không trốn được, tôi đã thật sự muốn quy y rồi!"

Ma chó phủ phục dưới đất, biểu hiện sự chân thành muốn quy y. Tôi cười lớn ha ha ha. Tôi nói:
"Yêu tinh chó như mày nhất định cần phải dạy dỗ mới có thể ngoan ngoãn được. Điều này chả lẽ ta còn không rõ sao. Thế nên từ đầu ta đã bí mật niệm An thổ địa thần chú rồi.

*"Nguyên thủy an trấn
Phổ cáo vạn linh
Nhạc độc chân quan
Thổ địa chi thần
Tà xã hữu tắc
Bất đắc vong kinh
Hồi hướng chính đạo
Nội ngoại trừng thanh
Các an phương vị
Bị thủ đàn đình
Thái thượng hữu mệnh
Sưu bộ tà tinh
Hộ pháp thần vương
Bảo vệ tụng kinh
Quy y đại đạo
Nguyên hưởng lợi trinh
Cấp cấp như luật lệnh."*

Ma chó ngoan ngoãn không dám ho he gì nữa.

Tôi ban cho ma chó Tứ quy y:

Quy y Kim cương Thượng sư, nam mô gu-ru pây.
Quy y Phật, nam mô bút-đa yê.
Quy y pháp, nam mô đa-ma yê.
Quy y tăng, nam mô sang-ga yê.

Tôi niệm Tứ quy y chân ngôn.
Và chân ngôn có thể biến đất bẩn thành đất sạch. (Ôm peo khan)

Ma chó lần lượt tiếp nhận. Ban đầu tôi vốn định đưa ma chó lên Tây phương Cực Lạc thế giới, nhưng nó đã giết chết Phan Thanh, lại có bản tính tinh ranh, nếu ngay lập tức cho nó đến Cực Lạc thế giới, đối với nó như vậy quá dễ dàng. Trong khi đó những người bị nó hại thì vẫn còn ở cõi âm gian, lại thấy ma chó không ngờ lại được tới Tây thiên, sẽ cảm thấy thiện ác đảo lộn hết cả, như vậy là không công bằng.

Vậy thì cho nó xuống địa ngục vậy! Nhưng làm như thế cũng không được, bởi vì con ma chó này nhờ vào chủng nghiệp tốt quá khứ, đời này gặp được Kim cương Thượng sư ban cho Tứ quy y, vừa mới nhận xong Tứ quy y đã lại được niệm chân ngôn. Như vậy kể ra cũng đã là có duyên với Phật, thế mà lại bị tống xuống địa ngục, e rằng khó có thể siêu sinh, địa ngục cũng không phải nơi có thể tu hành được. Tôi hơi có chút băn khoăn.

Lúc này một vị thổ địa thần hiện đến, dắt con ma chó đi và nói:
"Hoạt Phật, không cần băn khoăn nữa, để tôi đem nó đi!"
Tôi thấy vậy vô cùng vui mừng:
"Ngài đưa nó đi trông chùa, thật hay quá! Nó có thể canh giữ ở chùa miếu!"
Thổ địa thần hướng về tôi chắp tay cung kính:
"Xin hãy an tâm."

Tôi viết một bài kệ:

*Trời tròn đất vuông là luật lệnh.
Chư Phật từ bi trao tâm ấn.
Mở lòng quy y được chân ngôn.
Trở về bờ kia là thanh tịnh.*


### 0**8. Phật Thích Ca nói như vầy**


Có một thương nhân tên là Cố Toàn. Anh bị mắc bệnh ung thư dạ dày, đã đi chữa trị khắp nơi nhưng rốt cuộc không thấy có gì cải thiện, ngược lại bệnh ngày càng nặng hơn, Đông y Tây y đều bó tay. Anh ta cũng lại nghe theo những phương pháp bí truyền được mách cho nên đã tiêu tốn rất nhiều tiền để mua phương thuốc bí truyền, nhưng đều vô hiệu.

Tới lúc bệnh nguy cấp, Cố Toàn đi tới một ngôi đền nhờ kê đồng cầu xin thần linh: "Nếu căn bệnh ung thư này có thể chữa khỏi, con thề nguyện xây chùa, cả đời ở chùa làm công quả."

Thần linh đáp:
"Sẽ khỏi."
Cố Toàn nói:
"Xin hỏi thần linh nào chữa được ung thư?
Thần linh đáp:
"Phật Thích Ca Mâu Ni."
"Làm sao để tìm được Phật Thích Ca Mâu Ni? Phật Thích Ca Mâu Ni sống ở đâu?"
"Tới chùa Phật tìm đi."

🌟

Cố Toàn cả đời chưa từng đến một ngôi chùa Phật giáo nào, nên vừa tới chùa anh liền hỏi Phật Thích Ca Mâu Ni ở đâu. Pháp sư nói với Cố Toàn rằng Phật Tổ ở Đại Hùng Bảo Điện. Cố Toàn đi tới Đại Hùng Bảo Điện, ở trong có đặt một bức tượng vàng chính là Phật Thích Ca Mâu Ni.

Anh lạy Phật, nói lời hứa nguyện, nhưng Phật Tổ vẫn ngồi im bất động, không hề chữa bệnh cho anh.
Cố Toàn hỏi pháp sư:
"Phật Tổ biết trị bệnh sao?"
"Tâm thành tắc linh."
"Tôi có thể tìm Phật Thích Ca Mâu Ni biết trị bệnh ở đâu?"
Pháp sư buồn cười quá nhưng nén không cười, vẫn trả lời:
"Tâm thành tắc linh."
Cố Toàn lại hỏi:
"Tôi muốn tìm gặp Phật Thích Ca Mâu Ni để chữa bệnh, xin hỏi có thể tìm ở đâu?"
Pháp sư đáp lại bằng một câu kệ:
"Phật ở Linh Sơn tìm đâu xa, Linh Sơn ở ngay trong tim bạn."
"Trong tim?" - Cố Toàn không hiểu.

Vị pháp sư này bị Cố Toàn hỏi tới hỏi lui, không kiên nhẫn thêm được nữa, cuối cùng pháp sư bảo anh ta: 
"Đi tìm Lư Thắng Ngạn đi."
"Vì sao cần tìm Lư Thắng Ngạn?"
"Bởi vì……" - Pháp sư nói: "Bởi vì Lư Thắng Ngạn và Phật Thích Ca Mâu Ni thường ngồi uống cà phê cùng nhau."

Vị pháp sư này hóa ra đã từng đọc qua sách của tôi, tôi từng viết về chuyện cùng với Phật Đà ngồi uống cà phê trong tiệm cà phê, may sao ông lại nhớ được chuyện này.

Cố Toàn nghe xong rất vui mừng, anh nói:
"Tôi cũng muốn cùng uống cà phê với Phật Thích Ca Mâu Ni!"
Pháp sư thúc anh:
"Mau đi, mau đi, tìm Lư Thắng Ngạn dẫn đi gặp!"

Cố Toàn thực sự tới tìm tôi. Tôi nói với Cố Toàn:
"Phật Thích Ca Mâu Ni là thái tử nước Ấn Độ, con vua Suddhodana, người cai quản thành Kapilavastu, mẫu thân của ngài là nữ hoàng Maya. Ngài sinh ra ở vườn Lumbini, phía đông thành Kapilavastu, tên ngài là Siddhartha. Lúc còn trẻ tuổi, Phật Đà đã suy ngẫm về những hiện tượng trong cuộc sống, ngài nghĩ về cảnh khổ cực của người nông dân, ngài chứng kiến những con thú cắn xé nhau tranh giành thức ăn, ngài căm ghét sự thù địch trong cuộc sống…

Trong một chuyến đi du ngoạn khắp thành phố, ngài đã chứng kiến hiện tượng sinh lão bệnh tử. Bởi vậy Phật Đà đã lén đi khỏi nhà, tu khổ hạnh sáu năm. Sau đó ngài giác ngộ rằng khổ hạnh là phi đạo, ngài bèn tắm sạch sẽ ở sông Nairanjana và nhận cúng dường một bát sữa gạo từ một cô thôn nữ. Cuối cùng, ngài ngồi thẳng như núi dưới gốc cây bồ đề mà suy ngẫm, quan sát về Tứ đế và Thập nhị nhân duyên, trở thành bậc Chính giác Thế tôn, làm thầy của trời người. Kể từ đó, suốt bốn mươi năm, ngài đã đi khắp nơi, cảm hóa và giảng dạy cho rất nhiều tầng lớp chúng sinh. Năm 487 trước Công Nguyên, Phật Đà đã nhập niết bàn dưới hai cây sala gần thành Kushinagar."

🌟

Tôi kể tóm tắt về cuộc đời của Phật Tổ. Cố Toàn nghe xong đột ngột tỉnh ngộ. Cố Toàn nói:
"Hỏi thần linh, thần linh nói bệnh ung thư sẽ khỏi nhưng cần tìm Phật Thích Ca Mâu Ni để chữa. Bây giờ tôi đã hiểu câu chuyện về Phật Thích Ca Mâu Ni rồi, xem ra, bệnh ung thư này không khỏi được rồi!"
Tôi nói với Cố Toàn:
"Không phải thế đâu!"
"Lẽ nào ông có phương thuốc bí truyền?"
"Không phải tôi có phương thuốc bí truyền. Để chống chọi với bệnh ung thư cần dựa vào lòng tin. Có rất nhiều trường hợp người mắc bệnh ung thư rồi vẫn sống khỏe lại, anh có thể tin tưởng vào Phật Đà, học giáo pháp của Phật Đà, từ đó có được đạo giải thoát."
"Đây chính là diệu pháp trị bệnh của Phật Thích Ca Mâu Ni sao?"
"Đúng vậy."

Cố Toàn vô cùng tò mò:
"Phật Đà đã viên tịch hơn 2500 năm trước rồi, làm sao mà ông cùng Phật Thích Ca Mâu Ni uống cà phê được?"
Tôi nói:
"Anh có tin không?"
"Tin."
"Bởi vì anh đã tin tôi, tôi sẽ nói rõ cho anh hiểu. Kì thực lý do rất đơn giản, Phật Đà mặc dù đã nhập niết bàn, nhưng linh quang vẫn bao phủ khắp nơi. Việc này cũng giống như Quan Thế Âm Bồ Tát vậy, khắp nơi cầu nguyện ngài, ngài đều hiện ở khắp nơi. Phật Đà có địa vị cao chẳng kém Bồ Tát, đương nhiên nơi nào cầu ngài, ngài sẽ xuất hiện ở nơi đó. Còn tôi, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, cũng tu xuất ra linh quang. Tôi dùng linh quang của tôi gặp linh quang của Phật Đà cùng uống cà phê, đây gọi là lấy linh gặp linh, việc này cũng bình thường thôi!"

Tôi nói:
"Không chỉ như vậy, mỗi người sau khi qua đời, cơ thể vật lý của người đó mặc dù đã bị hủy diệt, nhưng linh hồn vẫn còn tồn tại. Sau khi một người khác chết đi, hai linh hồn này có thể cùng gặp nhau. Ý của tôi muốn nói về sự khác biệt giữa sống và chết, một cái là có thân thể xương thịt, một cái không có thân thể xương thịt, sống chết là nhất thể. Khi còn sống là dương gian, còn khi chết đi là âm gian."

Tôi nói tiếp:
"Tôi có thể tu xuất linh hồn ra khỏi thân xác. Chỉ cần định tâm, ngồi tư thế hoa sen, vận khí, mạch, điểm, quang làm cho nguyên thần của bản thân xuất ra khỏi nhục thân là có thể nhập vào pháp giới, tôi gặp Phật Thích Ca Mâu Ni ở trong pháp giới đó!"

Cố Toàn nghe xong không thực sự hiểu hết, tuy vậy anh nói:
"Bởi vì ông có thể gặp Phật Thích Ca Mâu Ni, vậy xin giúp tôi cầu xin Phật Đà làm sao để chữa bệnh ung thư!"
"Ồ!" - Tôi lẩm bẩm một lúc. "Tôi gặp Phật Đà, cũng cần có cơ duyên, cứ để tự nhiên đi."
"Bất kể là thế nào, tôi xin ông giúp tôi."
"Được!" - Tôi gật gật đầu. "Nhưng anh cũng cần phải nghe tôi, anh thờ Phật Thích Ca Mâu Ni, niệm tụng một bộ kinh, trì thánh hiệu Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, chuyên tâm không thay đổi, có được không?"
"Được!"

🌟

Cố Toàn rất tận tâm tận lực thờ cúng tượng Phật Thích Ca Mâu Ni. Tôi dạy anh trì Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, trì thánh hiệu. Cố Toàn tin tưởng vào mười chữ này trong bản kinh Cao Vương Kinh: "Năng diệt sinh tử khổ, tiêu trừ chư độc hại."

Bởi vì Cố Toàn mắc bệnh nặng nên việc thờ cúng lại càng thành tâm, anh đọc kinh trì thánh hiệu luôn rất cẩn thận.

Việc này chính là:

*Niệm kinh cần mong niệm đến cùng
Cuối cùng mọi niệm thu về chung
Biển khổ thế gian lặng sóng gió
Thuyền lá vững trôi đến liên bang. *[liên bang: vùng đất hoa sen]

🌟

Một đêm nọ, tôi mơ một giấc mơ kỳ lạ. Tôi thấy tôi một mình cô độc đi bộ trên con đường nhỏ, cứ đi, cứ đi. Đột nhiên tôi nghe thấy những tiếng khóc của một nhóm người già trẻ nam nữ vọng lại về phía mình, giống như họ đang chạy nạn vậy. Nhóm người này có khoảng trăm người.

Tôi hỏi:
"Có chuyện gì vậy?"
Một người nói với tôi:
"Một toán trộm xâm nhập vào trong làng và giết người, chúng tôi đang chạy trốn!"
"Ai là thủ lĩnh?"
Đáp: "Cố Toàn."

Trong mơ tôi lập tức hiểu ra nguyên nhân từ kiếp trước khiến Cố Toàn mắc bệnh ung thư. Rõ ràng việc Cố Toàn từng giết rất nhiều người đã kết thành oan khí. Nghiệp chướng của Cố Toàn sâu nặng, xem ra để cứu anh ta cũng không phải là một việc dễ dàng! Trong lòng tôi muôn phần đau khổ, nỗi buồn từ trong trào ra, nước mắt tôi rơi xuống như mưa.

Đúng lúc tôi đang cảm thấy buồn và bất an, trong hư không có tiếng nói:
"Liên Sinh, lại có chuyện gì đau buồn vậy?"
Tôi đáp:
"Cố Toàn!"

Tôi trả lời, ngẩng đầu nhìn lên hư không, đứng trong hư không chính là Quan Thế Âm Bồ Tát. Bồ Tát cười mỉm, tay cầm cành liễu tịnh bình, ngài úp ngược tịnh bình và nói: "Liên Sinh, ngài nhìn xem!"

Từ trong tịnh bình phóng ra một luồng ánh sáng trắng, ánh sáng trắng này có màu sắc kỳ diệu và trang nghiêm, công đức thành tựu vô lượng, bình đẳng tuyệt diệu, bất khả tư nghì, quảng đại vô biên, lớn nhỏ tùy biến, vượt qua tam ác đạo. Trong ánh sáng trắng này có đàn ông, phụ nữ, người già, người trẻ, có rất nhiều các gia đình khác nhau. Tôi vô cùng kinh ngạc trước cảnh tượng này.

Quan Thế Âm Bồ Tát nói:
"Đây đều là những linh mệnh đã bị giết bởi Cố Toàn, ta đã gom tất cả họ lại rồi, những linh mệnh này tương lai đều là hoa sen hóa sinh từ chính giác thanh tịnh của Đức Phật A Di Đà Như Lai, cùng một cảnh giới, không phân biệt nữa."
Tôi vui mừng:
"Những người mà Cố Toàn đã giết đều được Bồ Tát độ hóa rồi sao?"
"Đúng vậy."

Quan Thế Âm Bồ Tát lại nói:
"Ta ở Đại Lôi Âm Tự, Thích Ca Như Lai đến dặn dò rằng nếu có gặp Liên Sinh, truyền cho ngài ấy một câu thần chú, bảo ngài ấy dạy cho Cố Toàn, chú này có thể làm cho Cố Toàn được thanh tịnh, thân tâm an lạc, tiêu trừ ung thư."
"Là chú gì?"

Quan Thế Âm Bồ Tát liền nói thần chú:

“Tan-chi-tha, ưa-lan-ti, ưa-lan-mi, sư-li-pây, sư-li-sư-li, mua-chê-sư-chư, san-pua-pa-tâu, sô-ha.”

Tôi ghi nhớ lại thần chú này rồi chắp tay tiễn Quan Thế Âm Bồ Tát. Bồ Tát cưỡi mây cát tường từ từ đi khuất.

🌟

Tôi truyền lại cho Cố Toàn câu chú này. Cố Toàn ngày đêm trì tụng, vô cùng tinh tấn dũng mãnh. Khoảng hai tháng sau, Cố Toàn lại đi kiểm tra bệnh ung thư dạ dày, không ngờ phát hiện ra kỳ tích. Bệnh ung thư đã hoàn toàn biến mất, các tế bào ung thư dường như chưa từng có. Cố Toàn đã hoàn toàn khỏi bệnh rồi.

Cố Toàn vui sướng nói cười không ngớt. Tôi cũng cảm thấy vui mừng cho anh.

Việc này chính là:

*Một câu thần chú không vọng tưởng
Từng lời từ tâm tự tỏa lan
Rồi cũng từ đây gột sạch sẽ
Ung nhọt mất gốc tự biến tan.*

🌟

Sau này khi tôi đọc Đại Tạng Kinh, đọc đến "Phật thuyết liệu trĩ bệnh kinh", quả nhiên câu chú trong bản kinh giống hệt câu chú mà Phật Thích Ca Mâu Ni đã truyền cho tôi. Tôi vô cùng kinh ngạc phát hiện ra thêm rằng bệnh trĩ được nói đến trong kinh đó không chỉ nói riêng đến mỗi bệnh trĩ mà còn chỉ những bệnh ung thư và khối u. Mọi người đọc bản kinh này là có thể biết được ngay.

Tôi đặc biệt trích bản kinh này ở đây:

➖➖➖➖➖➖➖➖➖➖➖➖ 

**Phật thuyết liệu trĩ bệnh kinh.**

Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Phật ở thành Vương Xá, trong khu vườn Trúc Lâm, cùng với 500 vị đại tỳ kheo, có rất nhiều tỳ kheo bị mắc bệnh trĩ, thân thể gầy yếu, đau đớn đeo bám, cả ngày lẫn đêm, phiền não vô cùng.

Ngài A Nan tôn kính thấy sự việc này đã đến chỗ ở của Thế Tôn, sau khi đảnh lễ cúi đầu ngay trước đôi chân Phật, A Nan đứng dậy và thưa với Thế Tôn. Thưa Thế Tôn, nay thành Vương Xá có nhiều tỳ kheo, thân mắc bệnh trĩ, thân thể gầy yếu, đau đớn đeo bám, cả ngày lẫn đêm, phiền não vô cùng, Thế Tôn, những bệnh khổ này, có cách nào trị không?

Thế là bấy giờ Phật bảo A Nan, ông có thể nghe kinh chữa bệnh trĩ này, đọc tụng thọ trì, nhớ lấy không quên, rồi lan truyền rộng rãi cho những người khác biết, thì những bệnh khổ này đều được chữa lành. Những bệnh u nhọt như trĩ phong, trĩ nhiệt, trĩ huyết, trĩ do phong-nhiệt-huyết kết hợp lại, u chảy máu, u trong bụng, nhọt trong mũi, nhọt trong răng, nhọt trong lưỡi, nhọt trong mắt, nhọt trong tai, nhọt trên đỉnh đầu, mụn tay chân, mụn lưng, trĩ hậu môn, các loại u nhọt sinh ra từ các đốt xương toàn thân. Ai muốn những ung nhọt này đều được khô dần và tiêu biến, chắc chắn khỏi bệnh, đều nên trì tụng thần chú này, thần chú như sau:

“Tan-chi-tha, ưa-lan-ti, ưa-lan-mi, sư-li-pây, sư-li-sư-li, mua-chê-sư-chư, san-pua-pa-tâu, sô-ha.”

A Nan, từ đây đi về hướng Bắc, có ngọn núi tuyết lớn, trên đó có cây phasala tên gọi là Nan Thắng (Sudurjaya), cây có ba loại hoa. Thứ nhất là hoa mới nở, thứ hai là hoa nở bung, thứ ba là hoa tàn khô. Giống như hoa đó khi khô sẽ rơi xuống, với những tỳ kheo bị mắc bệnh, u nhọt trên người sẽ khô và rơi xuống như hoa, không còn chảy máu, không còn mưng mủ, không còn đau đớn, hoàn toàn bình phục.

Người thường xuyên tụng kinh này, biết được túc mệnh, có thể nhớ được sự việc trong bảy kiếp quá khứ, thành tựu chú pháp. So-ha.

Rồi Đức Phật lại nói chú khác:

“Tan-chi-tha, chan-mi-chan-mi, sưa-chan-mi, sưa-mô-ni, sưa-mô-ni sô-ha.”

Phật giảng xong kinh này, A Nan tôn kính cùng đại chúng đều vô cùng hoan hỷ, tin tưởng làm theo.

🌟

Cá nhân tôi cảm thấy trong những khổ đau của thế giới ta bà này thì bệnh khổ là nhiều nhất. Trong kinh Phật nói có 440 thứ bệnh sinh ra bởi tứ đại đất - nước - lửa - gió, tất cả mọi bệnh khổ đều đau khổ tột cùng, đặc biệt là bệnh ung thư, trước mắt vẫn là căn bệnh không thể chữa khỏi!

Câu chú chữa bệnh mà Phật Thích Ca Mâu Ni truyền lại là: “Tan-chi-tha, ưa-lan-ti, ưa-lan-mi, sư-li-pây, sư-li-sư-li, mua-chê-sư-chư, san-pua-pa-tâu, sô-ha.”

Chú này ở ngoài kia khó gặp, số người biết không nhiều. Nó vốn được ghi chép lại trong Hoa Đại Tạng Kinh bộ thứ nhất, tập thứ năm, trang 16868. Câu chú này đã cứu được rất nhiều người!

🌟

Tôi lại lấy một ví dụ khác.

Có người tên là Hà Thái. Anh đến trước cửa nhà tôi cứ quỳ không chịu đứng dậy. Tôi kéo anh ta dậy, anh vẫn cương quyết không đứng dậy, nhất định muốn tôi cứu anh thì anh mới đồng ý đứng dậy. Thế rồi tôi gật đầu, anh mới bèn đứng dậy.

Hỏi anh:
"Có chuyện gì?"
Anh đáp:
"Ung thư giai đoạn cuối."
"Ung thư gì?"
"Ung thư tuyến bạch huyết dưới nách." - Hà Thái kéo ống tay áo lên cho tôi xem. Tôi vừa nhìn đã kinh hãi, bởi vì phần da ở đây đầy những nốt sần đỏ, các tế bào ung thư đã phát tác từ lâu, đồng thời đã lan đến phổi, xương và các nơi khác.

Tôi lắc đầu, tự biết rằng bệnh của anh có lẽ không thể cứu được, tôi hỏi:
"Bác sĩ nói sao?"
Hà Thái đáp:
"Tôi sẽ chết trong vòng nửa năm."

Tôi nói với Hà Thái tôi sẽ cố gắng hết sức để giúp anh, nhưng sức mạnh cũng có hạn, anh cần tự mình hướng về Phật Thích Ca Mâu Ni cầu nguyện!

Tôi truyền cho anh câu chú trị ung thư của Phật Thích Ca Mâu Ni. Tôi lại dạy anh sau khi niệm chú xong cần niệm thêm lời cầu nguyện sau:
"Đệ tử là Hà Thái, nay mắc bệnh ung thư rất đau đớn, con cầu nguyện Phật Đà ban cho đại gia trì, chỉ duy nhất cầu nguyện ngài ban phát thêm lòng từ bi giúp bệnh ung thư tiêu trừ, kéo dài thọ mệnh.
Na Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Na mô thập phương Phật
Na mô thập phương pháp
Na mô thập phương tăng."

Sau khi Hà Thái trở về nhà, làm theo cách tôi hướng dẫn. Anh tu khoảng 21 ngày sau thì trong lúc ngủ nửa tỉnh nửa thức, anh nhìn thấy Phật Thích Ca Mâu Ni hiện lên trước mặt. Phật Thích Ca Mâu Ni hiện lên nói chuyện với anh:
"Hà Thái, bệnh của anh không cứu được, đi cùng ta thôi!"
"Không, con vẫn muốn sống!" - Hà Thái kiên trì.
"Đời người là biển khổ, cũng là nhà cháy, đi theo ta chẳng phải tốt hơn sao!"
"Không, con còn có tâm nguyện chưa hoàn thành, con vẫn muốn sống." - Hà Thái càng kiên trì hơn.
"Tâm nguyện này cần bao nhiêu năm mới xong?"
"5 năm."
Phật Thích Ca Mâu Ni nói:
"Được, 5 năm thì 5 năm, vậy anh cứ tiếp tục trì chú đi!"

🌟

Nói ra kể cũng kỳ lạ. Sau khi có được giấc mơ này, bệnh của Hà Thái dường như nhẹ hơn, thân tâm khỏe mạnh như người bình thường. Nhưng ung thư thì vẫn chưa hết, chỉ là tạm thời không trở nên tồi tệ hơn mà dừng lại ở giai đoạn này.

Cứ như vậy Hà Thái thực sự đã sống thêm được 5 năm nữa. Thời hạn 5 năm đã đến, ung thư mưng mủ lên rồi anh ta cũng đi luôn. Dù bệnh ung thư của Hà Thái không chữa khỏi, nhưng đã không trở nên xấu đi, chờ anh hoàn thành được tâm nguyện xong thì mới ra đi.

Đối với việc của Hà Thái, tôi cho rằng không phải là chú trị ung thư không có hiệu quả, mà là thọ mệnh đã hết, ngay cả Đại Phật Kim Tiên cũng khó cứu được, nếu có thể cứu thì trên thế giới làm gì còn có người chết. Thế nhưng chú trị bệnh ung thư có thể kéo dài thọ mệnh, đây là một phát hiện tình cờ.

Tôi tin rằng niệm chú trị ung thư cũng có thể vãng sinh Phật quốc, nếu không thì Phật Thích Ca Mâu Ni cũng sẽ không hiện thân đến tiếp dẫn Hà Thái vãng sinh!


### 0**9. Lời thề viên mãn**


Cư sĩ Lý Vỹ quy y lão hòa thượng Quảng Khâm. Mẹ của anh là Hoàng Thị cũng là đệ tử của lão hòa thượng. Một năm sau khi lão hòa thượng viên tịch, Hoàng Thị cũng vì mắc bệnh mà qua đời. Lúc còn sống, Hoàng Thị rất nhân ái hào phóng, yêu thích Phật giáo.

Có một lần Lý Vỹ tham gia một cuộc hành hương lên núi. Cuộc hành hương này là mọi người xếp hàng từ chân núi, cứ đi ba bước lại lạy một lạy, cứ như vậy vừa đi vừa lạy cho tới tận Đại Hùng Bảo Điện trên đỉnh núi, mỗi người miệng đều niệm danh hiệu Phật. Đi trước nhất là những người xuất gia, trên tay cầm liễu âm. Liễu âm là một loại pháp khí phát ra âm thanh *tinh tinh tinh*. Mọi người nghe âm thanh này như mệnh lệnh ra hiệu tất cả cùng quỳ, cúi đầu, đi tiếp về phía trước hoặc niệm Phật hiệu.

Nhóm người tham gia hành hương xếp thành một hàng dài uốn lượn, và vẫn liên tục có người đến gia nhập, cảnh tượng này vừa trang nghiêm vừa náo nhiệt. Lợi ích của việc hành hương cũng rất lớn.

Thứ nhất, leo núi vận động được khỏe mạnh.
Thứ hai, thành tâm lạy Phật tu hành.
Thứ ba, niệm Phật.
Thứ tư, không sinh ra vọng niệm.

Con đường hành hương lên núi lởm chởm khó đi, có khoảng hơn một cây số đều là đường đất, bởi vậy đối với người đi chuyến hành hương này thì đây cũng là một bài thử nghiệm. 

Lý Vỹ theo đoàn người hành hương lên núi, anh rất kiền thành niệm Phật quỳ lạy. Tình cờ anh quay đầu lại thì trông thấy một nhóm phụ nữ đi hành hương, một người trong đó đeo túi hương, diện mạo cực kì giống với mẹ anh. Lý Vỹ hoảng hốt. Anh vẫy tay với bà. Bà cũng vẫy tay với anh.

Lý Vỹ đoan chắc người phụ nữ này là mẹ mình. Anh vội vàng tách mình ra khỏi hàng người hành hương, đi xuống mấy chục bước. Anh nhìn lại thì không thấy người phụ nữ có diện mạo giống mẹ mình đâu nữa. Lý Vỹ không tin, nhưng thực sự là người này đã biến mất.

Lý Vỹ tin vào khả năng nhìn tốt của mắt mình, người phụ nữ đó là mẹ mình, không thể nào nhìn nhầm được. Nhưng trong tích tắc bà đã biến mất rồi. Người khác cho rằng Lý Vỹ hẳn là bị hoa mắt.

Lý Vỹ nói:
"Rõ ràng là trong nhóm người phụ nữ có một người là mẹ, hơn nữa còn vẫy tay với nhau, đi xuống vài bước chân thì lại biến mất, vậy chuyện này là thế nào đây?"

Lý Vỹ nói rõ ràng là mẹ.
Người ngoài nói không thể nào, người đã chết không thể hồi sinh, đây là hoa mắt thôi. Hai bên tranh luận qua lại.

Có người bảo Lý Vỹ:
"Đi tìm Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn."
"Tìm ông ấy làm gì?" - Lý Vỹ hỏi.
"Ông ấy có năng lực siêu nhiên!" - Người kia đáp.

🌟

Lý Vỹ nói với tôi:
"Xin nói cho tôi sự việc đó thực sự là thế nào!"

Tôi cầu thỉnh Phật Bồ Tát, Phật Bồ Tát ban cho một bài kệ:

*Với lời nguyện vững chắc
Đeo túi hương diệu kỳ
Thán công đức chư Phật
Đến thị hiện từ bi.*

Tôi nói với Lý Vỹ:
"Người mẹ đáng kính của anh có khuôn mặt tròn tròn, lông mày mảnh và dài, đôi mắt hiền từ, hàm răng có một đặc điểm đặc biệt, đó là một chiếc răng cửa dưới nghiêng sang phải, đó là một chiếc răng bọc vàng."
Lý Vỹ nói:
"Cực kì chuẩn! Ngay cả đến chiếc răng đặc biệt này ngài cũng biết được, thật sự năng lực phi phàm. Xin hỏi đại sư, mẹ tôi hiện về là vì lý do gì?"
Tôi nói:
"Tâm nguyện của mẹ anh chưa hoàn thành!"
"Là tâm nguyện gì?"
Tôi trả lời:
"Lúc còn sống, mẹ anh tốt bụng thích làm việc thiện, bà đã làm tình nguyện trong chùa nhiều năm rồi. Bà từng phát lời thề trước Phật Bồ Tát rằng muốn xây dựng con đường cho đoàn người đi hành hương, nhưng kinh phí cho công trình này rất lớn, bà vẫn chưa có được khả năng để tiến hành việc này. Lời nguyện đưa ra chưa được bao lâu thì bà cũng đã sinh về Tây phương rồi, bởi vậy lời thề nguyện này vẫn chưa hoàn thành. Thế là vào lúc dòng người đi hành hương, bà đã đặc biệt hiện lên trước con trai mình, có lẽ là hy vọng con trai sẽ hoàn thành lời nguyện xây đường lớn cho việc hành hương đó!"

Cư sĩ Lý Vỹ kể với tôi:
Mẹ anh thực sự đã làm việc tình nguyện trong chùa nhiều năm. Mẹ anh cũng thực sự là người tốt bụng thích làm việc thiện. Tiền của mẹ, tiền của con gái cho mẹ cũng được dành phần lớn để làm từ thiện.

Đối với việc mẹ phát nguyện xây dựng con đường hành hương, bản thân anh cũng chưa từng nghe mẹ nói đến. Lý Vỹ nói cần hỏi lại bố anh mới có thể hiểu rõ được, có lẽ bố anh mới biết được chuyện này.

🌟

Lý Vỹ trở về nhà hỏi bố. Ông Lý xác nhận đúng là có việc này. Nhưng hoàn cảnh kinh tế của họ luôn không dư dả gì, bởi vậy có phát nguyện nhưng vẫn chưa làm được.

Lý Vỹ trở lại nói với tôi:
"Lư đại sư! Thần toán của ngài thật khiến người ta vô cùng kinh ngạc, việc của dương gian có thể biết rõ, ngay cả việc của âm gian cũng chuẩn xác. Thật là bất khả tư nghì!"
"Anh đi hoàn thành lời nguyện của mẹ anh đi!" - Tôi nói.
Lý Vỹ đáp:
"Không phải tôi không làm, tôi cũng muốn làm, chỉ là vẫn thiếu gió đông."
"Gió đông?"
"Là tiền đó."
Tôi nói:
"Tôi truyền cho anh một câu chú, anh sẽ có tiền liền!"
Lý Vỹ cười:
"Lư đại sư nói đùa rồi."
"Không, là thật đó." - Tôi nghiêm túc nói: "Bởi vì mẹ anh đã phát nguyện xây con đường hành hương, anh tiếp nối di nguyện của mẹ nên tôi mới sẵn lòng truyền câu chú này cho anh. Anh niệm chú này, không tới mấy năm anh sẽ giàu có. Hãy nhớ, khi đã giàu rồi, lập tức đi thực hiện lời nguyện."
Lý Vỹ nói:
"Thật là có câu chú này sao?"
Tôi nói:
"Tuyệt đối là thật."

Tôi lấy ra một bộ kinh, cuốn này là "Vũ bảo Đà-la-ni kinh", kinh viết rằng: “Nếu có thiện nam tử viết ra và tiếp nhận câu chú này, sẽ có được mọi niềm vui, an ổn. Nếu có người ăn chay, sống chay tịnh, không ăn rượu thịt, ngày đêm thường tụng, sẽ được phú quý.”

Vẻ mặt Lý Vỹ có chút bối rối:
"Cần ăn chay, cần sống độc thân à?"
Tôi nói:
"Thế này đi! Trước tiên anh đừng lo lắng. Pháp của tôi cứ tự nhiên là được rồi. Tôi không cần anh phải ăn chay, không cần anh phải sống chay tịnh. Chỉ cần trước khi ăn cơm, anh niệm một biến “Ôm a hùm”, rồi anh mới ăn. Khi nào có quan hệ nam nữ, cũng niệm một biến “Ôm a hùm”, rồi anh mới làm."

Tôi lại dạy anh:
"Muốn tụng câu chú này, lần thứ nhất cần tụng 800 biến. Sau đó mỗi ngày chia làm ba thời, buổi sáng, buổi trưa, buổi tối, mỗi thời tụng 108 biến."
"Chú có dài không?"
"Không dài, chỉ có vài chữ thôi, rất đơn giản."

Tôi viết ra câu chân ngôn:

*"*Ôm, va-su-đa-rê, sô-ha.”

Lý Vỹ đọc xong nói:
"Câu này đơn giản, có thể làm được."
Tôi nói với Lý Vỹ:
"Đừng xem thường ba chữ “Ôm a hùm”, ba chữ này là Tam tự minh, minh ở đây chính là thanh tịnh, cũng chính là biến hóa thành thanh tịnh, chính là phạm hạnh. Ba chữ này bất khả tư nghì, ý nghĩa thâm sâu, cực kì quan trọng. Ngoài ra, Vũ bảo Đà-la-ni chân ngôn thực sự có thể giúp có được phú quý. Câu chú này ít người biết, quý giá phi thường. Tôi không dễ gì truyền cho câu chú này, ai có lời thề nguyện chân thực tôi mới truyền cho."
"Cần quán đảnh không?"
"Cần. Các câu chú trong Mật giáo đều cần quán đảnh thì mới có lực gia trì của truyền thừa."

Tôi ban quán đảnh cho Lý Vỹ. 

Việc này chính là:

*Vốn dĩ nên sống đời chay tịnh
Cớ sao người đời lại coi khinh
Không vương cõi tục tức là Phật
Biến hóa thanh tịnh là hiển minh
Phàm phu vốn dĩ chính là Phật
Chỉ là mê tiền đã thành tính
Nay truyền câu chú mong thí thiện
Vọng tâm giác ngộ nở hoa xinh.*

🌟

Lý Vỹ có tín tâm đối với tôi, có tín tâm với Vũ bảo Đà-la-ni chân ngôn. Lý Vỹ cũng không phải người mới bước vào cửa Phật, anh biết học Phật cần phát năm đại nguyện:

*Chúng sinh vô biên thề nguyện độ
Phúc trí vô biên thề nguyện gom
Pháp môn vô biên thề nguyện học
Như Lai vô biên thề nguyện làm
Bồ đề vô biên thề nguyện chứng
Pháp giới ích lợi khắp muôn người.*

Lý Vỹ vốn có lòng muốn học Phật, cũng rất hiếu thuận với cha mẹ, coi lời thề nguyện của mẹ cũng như lời nguyện của mình, mẹ chưa hoàn thành được, bản thân nhất định muốn hoàn thành.

Mỗi lần anh niệm chú xong, anh lại hồi hướng:
"Nguyện tất cả mọi lời cầu thỉnh của chúng sinh hữu tình, thế gian và xuất thế gian, mọi đại nguyện thù thắng mau chóng được thành tựu."

Lý Vỹ tu được một năm. Tình hình kinh tế của bản thân vẫn chưa cải thiện, vẫn chưa có chứng nghiệm, nhưng anh không nản lòng. Một đêm nọ, anh có một giấc mơ kỳ lạ: anh mơ thấy mẹ mình đến, mang anh cùng bay đi.

Anh hỏi mẹ:
"Khi nào thì điều kiện kinh tế sẽ tốt hơn?"
Mẹ đáp:
"Khi đủ duyên!"
Anh lại hỏi:
"Nguyện ước làm đường hành hương liệu có hoàn thành được không?"
"Khi đủ duyên!"

Họ bay tới một đỉnh núi nhỏ, hai người cùng hạ xuống mặt đất. Người mẹ chỉ vào ngọn núi nhỏ nói: "Hãy nhớ, ở bên trái có một miếu thổ địa, bên phải có một ngôi mộ hoang, phía trước có một cây cầu nhỏ tên gọi là cầu Phổ Lợi." "Còn ngọn núi này?" - Lý Vỹ hoài nghi.
"Mua nó."
"Ngọn núi hoang này có ích lợi gì?" - Lý Vỹ lưỡng lự.
Người mẹ không nói gì khác ngoài câu:
"Mua nó."

Mơ đến đây, Lý Vỹ liền tỉnh lại, lúc này mới biết là mình vẫn nằm trên giường, nhưng lời nói của mẹ trong mơ vẫn còn vang bên tai, hai tiếng "mua nó" rất rõ ràng.

🌟

Có một ngày, một người bạn của anh tình hình kinh tế gặp khó khăn nên cần bán bất động sản của mình. Anh ta tìm đến Lý Vỹ, sẵn sàng bán cho Lý Vỹ với giá tốt. Người bạn đưa Lý Vỹ đi xem ngọn núi nhỏ đó. Lý Vỹ vừa tới thì vô cùng kinh ngạc, bởi vì nó chính là ngọn núi nhỏ anh gặp trong mơ. Bên trái có miếu thổ địa công, bên phải có một ngôi mộ hoang, ở giữa có một cây cầu. Lý Vỹ nói với bạn:
"Cây cầu này tên là Phổ Lợi."
Người bạn nói:
"Khi tôi mua chỗ này thì đã có cây cầu đó rồi, tên cầu là gì trước giờ tôi cũng không chú ý."

Hai người tiến lên phía trước xem, chính là tên Cầu Phổ Lợi. Người bạn được một phen kinh ngạc.
"Anh từng đến đây rồi à?"
Lý Vỹ đáp:
"Đến trong mơ."
Người bạn nói:
"Lý Vỹ này đúng là thích nói đùa!"

Lý Vỹ làm theo lời dặn của mẹ trong mơ, anh thực sự đã mua được ngọn núi hoang này với giá rất rẻ. Sau khi mua xong, Lý Vỹ thấy rất hoang mang. Mẹ muốn anh trồng cây ăn quả sao? Trồng vải, trồng nhãn, trồng mận, đu đủ, chuối,… 

Có người cười Lý Vỹ thật ngốc. Muốn trồng cây ăn quả để phát tài ư, bây giờ làm gì còn cửa!

Lý Vỹ cũng cảm thấy mình ngốc thật! Cứ cách vài ngày, anh lại đi lên núi, cảm thấy ngọn núi này chẳng có điểm gì hay ho cả. Trồng cây ăn quả thì anh cũng không phải chuyên gia. Việc khai phá đất đồi núi để làm thị trấn vẫn chưa phát triển tới nơi này. Xây linh cốt tháp thì bản thân anh chưa từng nghĩ đến. Xây một ngôi chùa thì ai sẽ tới nơi hoang vu hẻo lánh này mà xây. Đồng thời ngọn núi này cũng không phải là mảnh đất có phong thủy tốt để xây nghĩa trang.

Lý Vỹ chẳng nghĩ ra được gì. Rất nhiều người cũng không nghĩ ra được gì. Lý Vỹ mua ngọn núi nhỏ này hoàn toàn do gặp giấc mơ nọ. Anh nói với mọi người, mọi người cười, bảo anh "vào trại đi". [tiếng lóng, ý nói rằng bị tâm thần]

Lý Vỹ phát hiện ra, từ sau khi anh mua ngọn núi này, có một dòng suối nước trong mát chảy ra từ một vùng trũng trên núi. Anh không để ý tới, nhưng con suối này mỗi ngày một chảy mạnh hơn, tiếng suối chảy rầm rì, nước suối đổ vào một cái hồ nhỏ ở gần đó. Lý Vỹ dường như có linh cảm, anh lấy bình múc nước suối lên, đem đi kiểm tra. Kết quả kiểm tra quả nhiên nước suối này có chất lượng cực kì tốt, chính là suối nước khoáng thiên nhiên. Nước suối này không có chất béo, carbohydrates và protein. Nó chứa natri, canxi, magie, sắt, flo,… Báo cáo kiểm định nói chất lượng nước suối không chỉ xuất sắc mà còn có những khoáng chất thiết yếu và dễ hấp thụ bởi cơ thể con người. Nó không có chất lắng đọng, uống vào vị rất thanh mát.

Là nước suối thiên nhiên. Thế là vận may của Lý Vỹ đã đến rồi. Anh thành lập một xí nghiệp sản xuất nước khoáng. Anh tìm đến tôi nhờ đặt tên.
"Xin ngài đặt một cái tên đẹp cho nước suối này."
Ban đầu tôi đặt tên là: "Tinh khiết thanh mát tràn đầy."
Lý Vỹ nói:
"Bị trùng ý."
Tôi lấy một tên khác:
"Phổ Lợi."
Lý Vỹ nói:
"Chính là cái tên này, tương ứng rồi!"

Hóa ra tên cây cầu ở đó chính là cầu Phổ Lợi. Anh đặt tên cho ngọn núi nhỏ của mình là núi Phổ Lợi. Nước suối chảy ra từ trong núi được gọi là Nước khoáng thiên nhiên Phổ Lợi. Đây không phải là tương ứng thì là gì!

Nước suối thiên nhiên Phổ Lợi được đưa ra thị trường, doanh số bán hàng của nó liên tục tăng như tên lửa, thành tích bán hàng cực kì tốt, ai ai cũng tán dương!

Nước suối thiên nhiên Phổ Lợi phổ biến khắp cả nước, ai nấy đều thích uống. Các thương hiệu nước suối thiên nhiên khác đều thua Phổ Lợi.
Thực sự là:
*Phổ cập thiên hạ
Lợi ích chúng sinh.*

Việc càng kỳ lạ hơn là nước suối của ngọn núi nhỏ kia cứ tuôn chảy không ngừng. Dường như ở bên dưới ngọn núi nhỏ kia có một cái hồ lớn ngầm dưới đất với nguồn nước không bao giờ cạn.

🌟

Lý Vỹ có được phúc báo này nhưng không quên lời nguyện. Anh lập tức hoàn thành việc xây đường hành hương lên núi, trước tiên là để hoàn thành lời thề nguyện của mẹ.

Lý Vỹ làm việc thiện, bố thí giống như mẹ mình. Bây giờ anh đã là một người rất giàu có, mỗi lần ủng hộ là cả một khoản tiền rất lớn, rất nhiều các đoàn thể Phật giáo biết tin này đã đến để xin tài trợ.

Lý Vỹ đã đóng góp cho việc xây chùa, xây bệnh viện… Tôi đã xem những chương trình biểu dương Lý Vỹ trên truyền hình.

Một năm nọ tôi về nước, khi đi qua một tòa nhà rất lớn và sang trọng, tôi hỏi:
"Là công ty của ai vậy?"
"Của Lý Vỹ."

Tôi ồ lên một tiếng, rồi cũng không nói gì thêm. Sau này tôi nghe nói Lý Vỹ luôn muốn đến tìm tôi, nhưng tôi luôn không gặp anh. Cho đến một lần anh cho xe đến đón tôi, tôi mới đến nhà Lý Vỹ. Cửa nhà của Lý Vỹ có cả nhân viên bảo vệ đứng canh. Trong nhà rất có phong cách, Lý Vỹ đã trở thành tổng giám đốc của nhiều công ty rồi. Lý Vỹ từ trên tầng đi xuống, nhìn thấy tôi thì anh vô cùng thân tình, bảo người phục vụ tiếp đãi tôi rất cẩn thận.

Anh nói:
"Vì sao ngài không đến tìm tôi?"
Tôi nói:
"Xin lỗi, tôi bận quá!"
"Bận việc gì?"
"Độ chúng sinh!"
"Ngài có muốn tôi giúp gì không?" - Lý Vỹ nói.
"Ồ! Không có!"
Tôi hỏi lại anh:
"Anh tìm tôi có việc gì không?"
"Không có việc gì, chỉ muốn gặp Lư đại sư thôi, bây giờ đã là Đại Hoạt Phật rồi."

Chúng tôi nói chuyện một lúc. Tôi hỏi:
"Bây giờ anh còn niệm Vũ bảo Đà-la-ni chú không?"
Anh đáp:
"Vẫn niệm. Ngày trước tôi niệm nhiều, bây giờ bận quá nên niệm ít ." - Anh ngại ngùng đỏ mặt.

Tôi nghiêm túc bảo anh đừng quên trì chú.
Anh gật gật đầu đáp:
"Vâng. Vâng. Vâng."


### **10. Chú Phật Đỉnh Tôn Thắng**


Có một người đàn ông tên là Triệu Huy đến tìm tôi để hỏi về vận mệnh. Anh vừa bước vào cửa nhà, tôi đã cảm ứng thấy ngay.

Triệu Huy này trên đầu có một đám khí đen. Quả nhiên có hai con ma theo anh tới, tuy nhiên hai con ma bị thần giữ cửa chặn lại ở bên ngoài. Chúng ở ngoài cửa làm huyên náo ồn ào.

Triệu Huy ngồi xuống trước mặt tôi. Tôi nhìn mặt Triệu Huy, trên mặt anh có khí sắc màu xám tro, một vùng khí mốc meo bám lên người anh. Tôi thở dài khi nhìn con người này từ đầu tới chân, thậm chí nhân quả ba kiếp, da thịt xương không có một chút nào là thiện lành cả, có còn gì để nói đây!

Triệu Huy hỏi:
"Vận mệnh ra sao?"
Tôi đáp:
"Nói thật lòng, tôi không dám nói vận mệnh cuộc đời anh!"
"Xin nói thật đừng ngại!"
Tôi nói:
"Cha mẹ mất từ nhỏ, được người thân nuôi dưỡng!"
"Đúng rồi. Chết tiệt! Rất chuẩn!"
"Lúc nhỏ số khổ, thất học, làm việc lặt vặt, đánh nhau, phải đi trại cải tạo."
"Đúng luôn."
"Thanh niên trở thành kẻ trộm, đã ngồi tù hai lần!"
"Đúng thật. Đến việc này ông cũng biết."
"Đến nay không có gì cả, ai gặp cũng tránh!"
"Đúng thế."
"Bây giờ anh vẫn còn giao du với bọn côn đồ sao?" - Tôi hỏi.

Triệu Huy gục gặc đầu. Tôi nói đến đây thì không muốn nói tiếp nữa. Bởi vì tôi biết, kiểu người như Triệu Huy này có một danh từ mà con người hiện đại dùng để gọi, chính là "cặn bã". Bởi vì anh chưa từng làm bất kì công việc nào đàng hoàng tử tế, cả một đời toàn lêu lổng, cuộc sống suy đồi, sống qua ngày một cách vô độ, cờ bạc gái gú hút sách, thậm chí dùng ma túy, trộm cướp lừa đảo.

Triệu Huy hỏi tôi:
"Khi nào tôi mới giàu có?"
Tôi cười khổ trong lòng:
"Phải đợi thêm!"
"Đợi đến bao giờ?"
"Tôi không biết."
Triệu Huy hơi tức giận:
"Nghe người ta nói ông là đệ nhất thần toán, chuyện gì cũng biết, bây giờ bói cho tôi, sao lại nói là không biết. Liệu hồn đấy! Tôi hỏi ông đã ăn cơm no chưa đấy?"
"Xin lỗi, thực tế là vận mệnh của anh thực sự khó đoán!"
"Dù có tệ thì cũng có chút vận may, bói cho tôi xem nào. Đừng làm tôi tức giận, nếu không tôi sẽ cho ông biến mất khỏi quả địa cầu này cho xem!"

Tôi nghe xong nghĩ bụng đây đúng là khủng bố!
Tôi nói:
"Triệu Huy, nếu tôi giúp anh, anh có nghe theo tôi không?"
"Nghe. Lão tử này tuy là một kẻ côn đồ, nhưng vẫn biết nói chuyện ân oán."
Tôi nói:
"Tôi muốn giúp anh thay đổi vận mệnh. Trên nguyên tắc, vận mệnh của anh toàn một màu xám xịt. Cả đời này e rằng mãi mãi không ngóc đầu lên được. Chỉ duy nhất thay đổi vận mệnh mới có thể phát đạt. Nếu anh nghe theo tôi, tôi mới đồng ý giúp anh thay đổi!"
"Nói lôi thôi cái gì nữa! Mau nói đi!"
Tôi nói:
"Có hai con ma bám theo anh. Nếu hai con ma này không rời đi thì vĩnh viễn không có ngày anh ngóc đầu lên được. Hai con ma này là thế nào đấy?"
"Hai con ma?" - Triệu Huy không hiểu gì.
"Anh đã từng giết người sao?" - Tôi hỏi.
"Không có chuyện này, tôi từng đe dọa giết người ta, nhưng thực tế chỉ mới làm bị thương thôi, vẫn chưa thực sự giết người."
"Anh tự mình nghĩ kĩ xem, nếu chưa từng giết người, hai con ma này từ đâu tới, anh đã đắc tội với người âm ở đâu?"
Anh xoa xoa đầu. Triệu Huy nói:
"Chết tiệt! Có rồi, tôi đã ăn trộm mộ của người ta hai lần, trộm mộ là đắc tội với người âm sao?"
Tôi nói:
"Đúng rồi."
"Chết tiệt! Tôi chỉ trộm những thứ được chôn theo người ta thôi mà, đâu có làm tổn hại người ta. Bọn họ đi theo tôi làm cái gì?”
"Trộm mộ là phạm pháp đó. Đào mồ mả của người ta, người âm làm sao không nổi giận, hai con ma này bám theo anh nên anh lúc nào cũng gặp xui xẻo!"
"Phải làm sao?" - Triệu Huy hỏi.

🌟

Khi đó tôi nghĩ nên truyền cho anh một câu chú để giúp anh có thể cải vận lập mệnh. Nhưng làm sao để cân bằng lại những nhân duyên quả báo trong chuyện này?

Bố thí - được phúc.
Keo kiệt - nghèo đói.
Phóng sinh - trường thọ.
Sát sinh - đoản mệnh.

Tôi biết Phật pháp vô thượng, thù thắng vi diệu, Mật tông chân ngôn như ngọc mani quý giá, có thể viên mãn tất cả thiện nguyện, thành tựu tất cả mọi việc.

Nhưng muốn truyền cho Triệu Huy ngọc quý mani, anh ta có tư cách không? Tôi quan sát nhân quả ba kiếp của Triệu Huy, có một kiếp anh làm nghề giết mổ lợn. Lại có một kiếp anh từng kinh doanh buôn bán mại dâm. Còn kiếp này, cho dù anh có không trộm cắp thì thực tế cũng không có chút thiện căn nào cả.

Tôi hỏi Triệu Huy:
"Anh đã từng làm việc thiện nào chưa?"
"Việc thiện à?" - Triệu Huy lắc đầu nguầy nguậy.
"Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói khoác, không nói lời tục tĩu, không nói dối, không ác khẩu, không tham lam, không tức giận, không ngu si. Đây là mười điều thiện."
"Hầy! Tôi không có việc ác nào là chưa từng làm!"
"Nghĩ kĩ xem, có thể có một việc tốt nào đó?" - Tôi không thể đem Mật pháp quý giá của thế gian truyền cho một người đã phạm phải tất cả mọi việc ác.

Triệu Huy nghĩ rất lâu, rồi anh nói:
"Có một lần, tôi đã ăn trộm trong chùa Phật rất nhiều đồ, chủ yếu là tiền cúng để mua dầu mua hương. Tôi nhét tiền đầy túi, ngay cả thùng công đức tôi cũng lấy đi. Họ lắp khóa cũng chẳng có tác dụng gì. Tiện tay tôi lấy luôn cả bức tranh trên tường. Đem về nhà xem thì ra là một bức pháp tướng của Phật Thích Ca Mâu Ni. Tôi vừa nhìn thấy tranh Phật liền nghĩ vứt vào sọt rác. Chết tiệt! Tranh Phật thì đáng giá mấy đồng tiền, vứt nó đi là xong. Sau đó nghĩ lại, thấy bức tranh Phật này cũng đẹp, tôi liền tiện tay treo nó lên tường. Tôi nhìn thấy hình Phật chắp tay lại, cũng bắt chước hướng về Phật chắp tay một cái. Xin hỏi, đây có phải là việc thiện không?"
"Ồ!" - Tôi á khẩu.

Bức Phật tướng lấy trộm được, đem treo trên tường, có được tính là việc thiện không? Hành động hướng về Phật chắp tay, có được tính là việc thiện không? Chính tôi cũng hồ đồ mất rồi.

Triệu Huy nói:
"Tôi đã làm một việc đại thiện, hi hi!"
"Việc đại thiện gì?” - Tôi rất ngạc nhiên.
"Tôi đến tìm ông, chính là việc đại thiện đó!"
"Ồ!" - Tôi lại á khẩu.

Tôi nói với Triệu Huy:
"Mọi chúng sinh vốn đều có tâm gốc thanh tịnh, thuần khiết, giống như trăng tròn. Ngay cả ngạ quỷ trong tam ác đạo, chỉ cần tụng chú ba biến, thì tất cả ngạ quỷ lập tức có được Mật pháp thậm thâm, vượt qua hết thảy ác nghiệp trói buộc, có được đầy đủ mọi công đức. Nếu tôi truyền cho anh câu chú này, anh chắc chắn sẽ thay đổi được vận mệnh, có được thành tựu lớn." 
Triệu Huy rất vui mừng:
"Mau! Mau!"

Tôi truyền cho Triệu Huy chú đà-la-ni Phật Đỉnh Tôn Thắng.

*"*Ôm, a-mi-li-ta, tưa-ka, fa-tợ, sô-ha.*"* (tâm chú)

[Sau này Tôn Sư truyền quán đỉnh thêm một câu tâm chú khác của Phật Đỉnh Tôn Thắng: Ôm, bờ-rùm, sô-ha. Ôm a-mi-ta, a-yu-la ta tê, sô-ha.]

🌟

Tôi lấy kinh Phật Đỉnh Tôn Thắng Đà-la-ni ra đưa cho Triệu Huy xem. Trong kinh này viết:

“Phật nói với Đế Thích rằng, chú này còn được gọi là chú Tịnh trừ - Phật Đỉnh Tôn Thắng Đà-la-ni có thể diệt trừ tất cả tội chướng nghiệp báo, có thể phá tan mọi khổ đau của ác đạo. Đà-la-ni này được chư Phật tán thán và tuyên thuyết nhiều như toàn bộ cát của tám mươi tám sông Hằng cộng lại, tùy hỷ thọ trì, được ấn chứng xác thực bởi trí huệ của Đại Nhật Như Lai.

Nếu ai dù chỉ thoáng nghe được Đà-la-ni này, người đó sẽ không phải chịu trừng phạt bởi những ác nghiệp và tội chướng tích tập từ hàng nghìn kiếp trước, những nghiệp báo khiến họ phải xoay vòng trong luân hồi sinh tử dưới tất cả mọi dạng thức của ác đạo: địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, thậm chí là không phải làm thân kiến bọ.

Nhờ công đức có được từ việc nghe thoáng qua Đà-la-ni này, khi kiếp sống hiện tại kết thúc, người đó sẽ được tái sinh về Phật quốc tịnh độ, cùng với tất cả chư Phật Như Lai và Chí Bổ Xứ Bồ Tát.”

[Chí Bổ Xứ Bồ Tát: trong các bản văn dịch ra tiếng Việt còn gọi là Nhất Sinh Bổ Xứ, dịch từ tiếng Phạn là Ekajati Pratibaddha Bodhisattva, để chỉ các bậc Đẳng giác Bồ tát, địa vị cao nhất của hàng Bồ Tát. Trong kinh điển có nói, Bồ Tát Di Lặc là vị "Bồ Tát nhất sinh bổ xứ", hiện cư trú tại cõi trời Đâu Suất, đến lúc thọ mệnh ở đó hết, ngài sẽ hạ sinh ở nhân gian, và thành Phật để kế tục Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.]

Tôi nói với Triệu Huy:
"Lấy một nắm đất, tụng đà-la-ni này 21 biến, rải lên trên thân người chết thì người chết lập tức được sinh ở cõi trời."

Triệu Huy nghe xong liền lập tức làm theo.

Tôi đưa Triệu Huy ra ngoài cửa, Triệu Huy ném ra hai nắm đất theo hướng mà tôi chỉ. "Bùm" một tiếng. Hai con ma biến mất, hồn ma bay lên trời đi mất! Hai con ma không còn, khí đen trên người Triệu Huy cũng từ từ nhạt dần.

🌟

Phật Đỉnh chú viết:
“Người trì chú này có thể xóa sạch tất cả nghiệp tội của một trăm kiếp, có thể diệt trừ ác bệnh, được an lạc, tăng tuổi thọ, thay đổi được tất cả vận mệnh. Nếu lúc lâm chung trì chú này sẽ được vãng sinh Phật quốc tịnh độ.”

Tôi truyền cho Triệu Huy thủ ấn Tôn Thắng. Tôi lại truyền dạy cách quán tưởng khi tụng chú, quán tưởng tim mình hóa thành một đĩa mặt trăng. Trong đĩa mặt trăng có một chữ Kham tiếng Phạn phóng quang phổ chiếu tất cả chúng sinh.

Chúng sinh nào chạm tới được ánh sáng này thì nghiệp chướng được tiêu diệt, thân tâm thanh mát, đạt được đại trí huệ.

Triệu Huy đã nghĩ thông suốt mọi việc.

Anh có được chú Phật Đỉnh Tôn Thắng Đà-la-ni rồi liền trì tụng vô cùng chăm chỉ. Không chỉ như vậy, anh còn tin tưởng vào việc "lấy một nắm đất, tụng đà-la-ni này 21 biến, rải lên trên thân người chết thì người chết lập tức được sinh ở cõi trời".

Việc này thật tốt. Triệu Huy không nói với bất kì ai, một lòng một dạ trì tụng câu chú, liên tục không ngừng. Triệu Huy mỗi đêm đều đến nghĩa trang, lấy đất đã được trì chú, bất kể là người chết có quen biết với anh hay không, anh đều rải đất lên phần mộ của họ. Làm việc này xong, Triệu Huy tự mình cảm thấy rất có ý nghĩa. Sau khi rải đất hết một khu nghĩa trang, anh lại đến rải đất ở nghĩa trang khác. Dấu chân của Triệu Huy đã in lại ở rất nhiều nghĩa trang rồi.

🌟

Có một lần, tôi nhìn thấy Triệu Huy thì giật nảy mình vì kinh ngạc. Trước, sau, trái, phải của Triệu Huy đều là ma. Nhưng những con ma này không phải là ác ma đến đòi nợ mà là một bầy ma tốt. Triệu Huy đã có được sự ủng hộ giúp đỡ của bầy ma.

Tôi nói:
"Anh trở thành người nuôi ma rồi!"
Triệu Huy trả lời:
"Tôi chỉ có thể làm việc thiện như thế này thôi!"

Khí sắc của Triệu Huy cũng thay đổi rồi. Khí màu xám đen không còn nữa, bây giờ trên mặt có ánh sáng đỏ ánh sáng trắng, vẻ mặt đầy sự hài lòng vui vẻ. Thực tế là vận khí của Triệu Huy cũng đã cải thiện luôn. Vốn dĩ sức khỏe của anh rất không tốt, sau khi trì chú, trông anh đã có khí lực hơn, khả năng miễn dịch cũng tăng lên (thật ra là do ma tốt giúp đỡ). Các bệnh trước đây anh vốn có từ từ từng bệnh đều khỏi, anh cũng không uống thuốc gì cả nhưng chúng cứ dần dần khỏi.

Triệu Huy vốn có địa bàn riêng, thu tiền phí bảo kê, những hàng quán nhỏ đó đều kinh doanh rất tốt, đưa cho anh nhiều lợi tức. Anh cũng không có lòng tham, đem trả lại tiền cho những người bán hàng. Những người này càng ngày càng ngưỡng mộ anh.

Cha mẹ nuôi của anh đều đã qua đời, để lại cho anh một khoản tiền. Anh lấy tiền mở một tiệm ăn, không ngờ tiệm ăn phát đạt. Anh lại chuyển qua đầu tư, không ngờ hết lần này đến lần khác đều thuận lợi. Anh đã trở thành doanh nhân giàu có.

Anh đã kết hôn, sinh con. Anh làm trưởng xóm, trưởng làng, trưởng thôn. Bây giờ anh đã là nghị viên rồi.

(Rất nhiều người ủng hộ nghị viên Triệu Huy, kì thực nguyên nhân chính là rất nhiều ma tốt đã ủng hộ nghị viên Triệu Huy.)

🌟

Triệu Huy kể cho tôi nghe một chuyện:
"Chú Tôn Thắng cũng có thể hộ thân!"

Triệu Huy kể, có một lần, đối thủ cùng tranh chức phái một tay súng ngoại đạo tới chuẩn bị hạ thủ hành sự. Tay súng ở cách anh rất gần. Tay súng đã chỉ thẳng súng vào ngực anh. Triệu Huy lo lắng niệm một câu: "Ôm, a-mi-li-ta, tưa-ka, fa-tợ, sô-ha."

Tay súng bóp cò. Triệu Huy cho rằng mình tiêu đời chắc rồi. Không ngờ "cạch" một tiếng, viên đạn kẹt lại trong súng.

Tay súng của đối phương hét lớn:
"Chó chết, có ma!"
Tay súng vội vã tháo chạy!

Triệu Huy nói:
"Đây chỉ là một trong những sự việc nguy hiểm đã được hóa giải, vẫn còn rất nhiều kỳ tích không thể đếm được. Mỗi khi anh gặp nguy cấp nhất đều xuất hiện những chuyển biến, tất cả đều được hóa giải hết, thực sự không thể tưởng tượng được!"

Tôi thấy xung quanh anh ngày càng tụ tập nhiều ma tốt hơn, họ toàn là đến giúp anh. Rất có thể anh sẽ từ một nghị viên địa phương trở thành nghị viên của tỉnh, rồi lại lên nghị viên Quốc hội Đài Loan chưa biết chừng.

Tôi viết một bài kệ:

*Mật chú gia trì đất bình thường
Rắc lên người chết là pháp môn
Gặp phải nơi sông cùng núi hẻm
Lại thắp lên một vùng càn khôn.*


### **11. Quang minh chân ngôn**


Tôi đi chơi đến một vùng hồ nhỏ ở nơi vô cùng hẻo lánh. Tôi tìm thấy một lùm cây mà từ đó có thể vọng nhìn ra cánh đồng trải rộng, lại có thể tránh được ánh nắng mặt trời chói chang, nhìn ngắm mặt hồ nước lấp lánh như thủy tinh, cảm giác rất thư thái tự tại.

Tôi nhắm mắt lại, yên tĩnh ngồi thiền. Đột nhiên, tôi nghe có tiếng thì thầm bên tai.
"Người này trên thân có ánh sáng!"
"Ánh sáng rất mạnh!"
"Liệu ông ấy có làm hỏng việc của chúng ta không?"
"Rất khó nói!"
"Chúng ta đi báo cáo với Đô Đô!"
…

Tôi mở mắt ra, nhìn thấy bên dưới gốc cây sam có vài đứa trẻ con đang vừa nhảy vừa nói chuyện. Nhưng trong chốc lát lại không thấy chúng đâu nữa. Những đứa trẻ này đương nhiên không phải là người, mà là ma. Tôi rất bình tĩnh, đứng dậy, đi trên con đường nhỏ dốc xuống hồ, tới một cửa hàng buôn bán.

Tôi hỏi người chủ cửa hàng:
"Ở đây thường có người đến bơi không?"
"Có."
"Có xảy ra chuyện ngoài ý muốn không?"
Người chủ trả lời không giấu giếm:
"Mỗi năm đều có vài vụ. Trẻ con tiểu học thích nghịch nước, lại không biết nguy hiểm hay không nguy hiểm, khó tránh khỏi xảy ra việc ngoài ý muốn. Sức nước ở hồ này cũng rất kì lạ, cũng có vài chỗ rất sâu."
"Có bảng cảnh báo không?"
"Có." - Chủ cửa hàng nói. "Nhưng đối với tụi học sinh, có biển cảnh báo cũng như không!"

Tôi đứng bên bờ hồ, quả nhiên trông thấy vài đứa học sinh đang cởi quần áo xuống nước. Mùa hè gặp hồ nước hay như thế này, ai mà chẳng muốn xuống nước chơi. Tôi không nói gì, cũng đi thay đồ bơi rồi xuống nước cùng tụi trẻ con.

Tụi học sinh ở dưới nước té nước vào nhau, cùng nhau la hét, xô đẩy nhau, cũng có vài đứa bơi đến chỗ sâu. Tôi phát hiện ra nước hồ này, bên ngoài trông thì phẳng lặng, nhưng ở dưới có những dòng chảy ngầm rất mạnh. Đất dưới hồ mềm, rất dễ lún xuống. Trong hồ cũng có rong rêu mọc dưới nước, có thể quấn vào chân của người bơi. Nước hồ ở gần bờ khá ấm, còn ở phía xa bờ thì lạnh.

Khi tôi thấy tụi học sinh không chú ý, tay phải tôi kết ấn, vẽ lên không trung một chữ Ah tiếng Phạn, ấn hướng về tụi học sinh.

Dùng thiên nhãn, tôi nhìn thấy có bốn đứa học sinh đang bơi, đồng thời cũng có bốn con ma nhỏ khác. Bốn con ma nhỏ này cũng đang nhanh chóng rẽ nước tiếp cận bốn đứa học sinh kia. Nhưng đi tới một điểm thì chúng không tiến lên tiếp được nữa. Hình như có một tấm lưới khí vô hình đã bao trùm lấy bốn đứa học sinh.

Bốn con ma nhỏ dù có làm cách nào cũng không thể đến gần bốn đứa học sinh được. Cuối cùng, bốn con ma nhỏ sức tàn lực kiệt, chán nản bỏ đi! Trước khi rời đi, chúng còn trừng mắt nhìn tôi một cái. Tôi cũng nhếch mép cười đáp lại cái nhìn của chúng.

🌟

Bốn đứa học sinh chơi thêm một lúc nữa rồi lên bờ. Tôi hỏi:
"Chơi vui không?"
Chúng đáp:
"Vui lắm ạ. Lần sau lại đến chơi!"
Tôi nói:
"Ở đây cấm bơi, rất nguy hiểm! Cảnh sát có biển cảnh báo kìa!"
Chúng nói:
"Chẳng phải ông cũng vừa xuống chơi đó sao!"
"Ơ..." - Tôi cười ha ha, á khẩu không nói được gì.

🌟

Buổi tối hôm đó tôi nằm mơ. Có một con quỷ nước đến gần tôi, nó biến thành một con rắn nước rất to đến bơi tới bơi lui quanh giường tôi, nhưng không có cách nào tiếp cận hơn được.

Con quỷ nước lại hiện nguyên hình, lắc đầu vẫy tai. Từ trong miệng nó nhổ ra những cành rong rêu rất dài. Những cành rong rêu này muốn quấn lấy cổ tôi khiến tôi nghẹt thở mà chết. Thật đáng tiếc, khi cành rong rêu vươn tới gần mặt tôi liền dừng lại.

Con quỷ nước lại nhổ ra nước, nước ngập hết cả phòng tôi, muốn cho tôi chết đuối. Cũng như vậy, xung quanh tôi đầy nước nhưng trên người tôi thì ngay cả một giọt nước cũng không thể bám lên được.

Con quỷ nước lại nhổ ra đất bùn, mùi rất kinh khủng, ngửi trúng là muốn nôn, nhưng tôi vẫn an nhiên như thường. Quỷ nước phát hiện ra xung quanh tôi và xung quanh chiếc giường của tôi được bao bọc bởi một lớp khí vô hình, giống như lưới ánh sáng vậy.

Giường hóa thành hoa sen.
Tôi hóa thành chày kim cang.

Quỷ nước biết là gặp phải cao thủ rồi, nó quỳ xuống, chắp tay. Tôi hỏi:
"Ngươi là Đô Đô?"
"Đúng."
"Ngươi đã hại bao nhiêu sinh mệnh rồi?"
"Thật xấu hổ!"
"Vì sao làm vậy?"
Đô Đô đáp:
"Luân hồi."
Tôi hỏi:
"Làm sao mà ngươi chết?"
"Tự sát."
"Sao không tu hành?"
"Không có sư phụ dạy. Nếu có thể bái ngài làm thầy thì có thể thành tựu rồi."

🌟

Thế rồi Đô Đô rất tò mò hỏi tôi:
"Sao trên người ngài lại có ánh sáng? Xung quanh lại có lưới ánh sáng?"
Tôi nói:
"Trên người ta có ánh sáng và lưới ánh sáng là do ta tu tập Quang minh chân ngôn mà có được. Nếu ngươi không tiếp tục làm hại sinh mệnh người ta nữa, ta sẽ truyền cho ngươi Quang minh chân ngôn, ngươi và bầy quỷ nhỏ đều có thể siêu sinh. Trong kinh điển đã nói, nếu chúng sinh nào gây ra mười tội ác, năm tội chết người, bốn trọng tội, thân hoại mệnh chung, đọa vào mọi ác đạo, dùng chân ngôn này gia trì 108 biến, người chết lập tức được vãng sinh Tây phương Cực Lạc tịnh thổ. Còn nữa, nếu có chúng sinh nào nghe được chân ngôn này hai, ba hoặc bảy biến, lập tức tất cả mọi tội chướng đều bị diệt trừ."

Quỷ nước Đô Đô nghe xong vô cùng vui mừng, quy y ngay tại đó, cầu xin được nhận chân ngôn.

Tôi niệm:
"Ôm, a-ma-ka, vai-rô-cha-na, ma-ha-mu-tưa-la, ma-ni-pa-tưa-ma, chi-fa-la, la-fa-ơ-ta-ya, hùm.”

Tôi nói:
"Quang minh chân ngôn này cũng chính là do Phật Vairocana [Đại Nhật Như Lai] đại quán đảnh. Khi tụng chú này, quán tưởng ở tâm vòng nguyệt luân có một chú tự, chữ Ah tiếng Phạn màu vàng kim, phóng tỏa ánh sáng phổ chiếu tất cả chúng sinh. Chỉ cần được chạm tới ánh sáng thì có thể rũ bỏ mọi khổ đau, có được niềm vui. Câu chú này chính là quy y Đại Nhật quang minh ấn của Đại Nhật Như Lai, như có được ngọc quý, như có được hoa sen, như có được sinh mệnh mới, như có được quang minh, lập tức siêu sinh, mãn nguyện."

Tôi nói với Đô Đô:
”Buổi chiều ngày mai, ta sẽ vẽ ra Quang minh chân ngôn, ném vào trong hồ, hy vọng các người đều trì tụng cho tốt, tự cứu độ cho mình." 
Quỷ nước Đô Đô cúi đầu lạy rồi đi.

🌟

Buổi chiều hôm sau, tôi vẽ Quang minh chân ngôn lên giấy vàng rồi ném xuống hồ nước.

Tôi cung kính trì niệm:

*"Quang minh chân ngôn nhập hồ này
Nước hồ biến thành nước sạch
Người muốn rửa chân
Nước sẽ rửa chân
Người muốn rửa đùi
Nước sẽ rửa đùi
Người muốn rửa hông
Nước sẽ rửa hông
Người muốn rửa cổ
Nước sẽ rửa cổ
Người muốn rửa sạch lục phủ ngũ tạng
Lục phủ ngũ tạng sẽ được rửa sạch
Người muốn rũ sạch tâm bẩn
Tâm sẽ được sạch trong
Người muốn được quán đảnh
Sẽ được ánh sáng quán đảnh."*

Tôi niệm:
*"Quang minh chân ngôn nhập hồ này
Giống như kho báu vô lượng ở đây
Lưới ánh sáng phủ khắp hư không
Phát lên pháp âm vi diệu
Truyền đi lời Phật nói
Quanh hồ mở rộng bốn phía
Ngập tràn tia lấp lánh
Diễm lệ tột cùng
Gió lành từ thiên nhiên
Khe khẽ thổi quanh hồ
Nước hồ ấm áp dịu dàng
Sóng dập dờn quện mùi hương thơm ngát
Bất khả tư nghì."*

Tôi nhìn thấy Đô Đô hóa thành một con rắn nước lớn, các con ma nhỏ hóa thành một đàn rắn nước nhỏ, kéo đến bên hồ nước để nhận quán đảnh Quang minh chân ngôn.

Tôi vừa mới quán đảnh xong liền có gió thổi tới cây quý, phát ra tiếng Phật.

Rắn nước lớn nhỏ đều có được niềm vui. Nước trong hồ êm đềm lấp lánh, phảng phất hương thơm.

Rắn nước lớn nhỏ lập tức hóa thành rồng, rẽ sóng nước cưỡi gió bay lên, từ từ bay lên trời đi mất.


### **12. Ma trong mắt**


Có một người đàn ông tên là Vương Ân, khoảng ngoài 40 tuổi, gia cảnh khá giả. Có lần ông đi qua một nghĩa trang thì gặp gió thổi tung đầy cát bụi rơi trúng vào trong mắt ông.

Hai mắt của Vương Ân đỏ lên rồi ngứa, ông lập tức đi khám bác sĩ. Sau khi được bác sĩ chữa trị, hai mắt không còn đỏ, không còn ngứa nữa, nhưng lại có chút mờ đục. Thị lực của Vương Ân liền trở nên rất kém, đồng thời mỗi ngày lại có xu hướng kém thêm một chút. Ông đã trải qua nhiều lần chữa trị mà vẫn không thấy hiệu quả gì, cho đến cuối cùng thì ông bị mù luôn, không nhìn thấy gì cả. Tất cả mọi việc di chuyển đi lại của Vương Ân đều phải dựa vào cây gậy chống của mình hoặc nhờ người nhà dẫn đường.

Cứ như vậy ông trải qua những ngày tháng tối đen không còn thấy ánh sáng. Trong vòng hai năm, ông đã tìm đến tất cả những bác sĩ nhãn khoa nổi tiếng, tất cả các biện pháp Đông y cũng đều đã thử. Nghe nói ở đâu có cao nhân dị sĩ, Vương Ân đều thử đi tìm gặp, kể cả là tướng sĩ kê đồng nổi tiếng ông cũng đều đến gặp. Nhưng không chỉ thuốc thang vô hiệu, ngay cả biện pháp châm cứu cũng đều không giúp ích gì. Ông cũng đi cầu thần Phật, cũng lễ lạy nhưng không có dấu hiệu chuyển biến gì hết.

🌟

Năm đó tôi từ Mỹ về Đài Loan hoằng pháp. Vương Ân nhờ người đến tìm xin được gặp. Nhưng bởi vì hành trình hoằng pháp của tôi đã được sắp xếp rất chặt, về cơ bản hầu như không còn thời gian dư thừa nào để gặp người ngoài, do vậy ông đã bị từ chối.

Vương Ân nói với người nhà:
"Nghe nói Lư Thắng Ngạn Hoạt Phật có phép thần thông kì lạ, tôi nhất định cần đi gặp ông ấy!"
Người nhà trả lời nói:
"Ông ấy chẳng có chút thời gian rảnh nào."
Vương Ân nói:
"Vậy thì đến sân bay đón! Đi thử một phen xem sao!"
Người nhà nói:
"Nghe nói ông ấy hễ về tới Đài Loan, vừa xuống máy bay là có cả vạn người đến sân bay đón tiếp, không ai tới gần được cả."
Vương Ân nói:
"Tôi nhất định phải đi!"
"Đi cũng chẳng ích gì."
"Đi thì còn có cơ hội, nếu không đi thì hoàn toàn không có cơ hội nào." - Vương Ân kiên trì.

Người nhà không thể thuyết phục được Vương Ân, chỉ có thể thuận theo ý muốn của ông. Họ đưa Vương Ân đến sân bay quốc tế. Theo lý lẽ mà nói, nếu Vương Ân chờ ở khu vực sảnh đón tiếp sau khi nhập cảnh để gặp tôi thì chắc chắn cơ hội gần như bằng không. Bởi vì sảnh đón tiếp ở sân bay cả nghìn vạn người, dòng người như sóng biển, ngay cả đến mẹ ruột hay mẹ vợ tôi cũng chẳng thể đến gần. Tôi nhanh chóng bị cả biển người vây quanh, trong chốc lát tôi sẽ được che chắn để lên xe rồi rời đi!

Nhưng gia đình của Vương Ân ở Đài Loan là người có quan hệ rộng, họ giúp thu xếp cho Vương Ân có được một tấm thẻ thông hành của nhân viên đặc biệt, Vương Ân có thể đi vào trong khu vực hải quan, có thể đi qua văn phòng xuất nhập cảnh, trực tiếp đi tới nơi ngay cạnh chỗ máy bay hạ cánh. Việc này cũng thật sự lợi hại.

🌟

Tôi vừa bước xuống máy bay, mới vừa đi qua cửa đã nhìn thấy một người đàn ông mặc Âu phục, hai mắt đeo kính râm, quỳ xuống trước cửa máy bay, ngoài ra có một người phụ nữ đứng cạnh hỗ trợ ông.

Người đàn ông nói với tôi:
"Tôi là Vương Ân, đặc biệt tới nghênh tiếp Hoạt Phật về nước!"
Tôi nói:
"Vâng! Vâng! Cảm ơn!"
Tôi đỡ ông dậy.
Ông lại nói:
"Tôi là Vương Ân."
Tôi đáp:
"Vương Ân! Ồ! Vương Ân!" - Kỳ thực tôi chẳng biết Vương Ân là ai!

Chúng tôi sánh bước đi, Vương Ân đi bên cạnh nói với tôi:
"Hoạt Phật! Tôi đã mắc bệnh hai năm nay, mắt mù rồi, cầu xin gặp Hoạt Phật không được, nay đặc biệt đến đây đón ngài, xin Hoạt Phật gia trì cho hai mắt này sáng lại."

Tôi nghe xong, lúc này mới hiểu ra.
Đối với tôi mà nói thì đây là chuyện thường gặp vì rất hay có người chen qua đám đông đến gần tôi, cầu xin gia trì. Nhưng Vương Ân này vào lúc tôi vừa xuống máy bay thì đã quỳ dưới cửa máy bay để xin gia trì rồi, việc này cũng khá hiếm. Trước ngực ông ấy còn có đeo thẻ thông hành của nhân viên thực hiện nhiệm vụ đặc biệt nữa.

Tôi không nói gì thêm, đưa bàn tay ra vỗ vỗ lên đầu của Vương Ân. Rồi tôi dùng kiếm ấn điểm một cái trên mí mắt của Vương Ân. Tôi nói: "Đã gia trì rồi!"

Vương Ân luôn miệng nói:
"Cảm ơn! Cảm ơn! Cảm ơn!"

Lúc này những người đón tôi đã đến rồi. Trước ngực họ cũng đeo thẻ thông hành của nhân viên thực hiện nhiệm vụ đặc biệt. Họ nói bởi vì máy bay đến sớm, thành ra họ đến đón tôi bị muộn mất một chút. Đệ tử Chân Phật Tông rất đông. Họ làm việc trong cục cảnh sát hàng không, cục hải quan, cục di dân, cục xuất nhập cảnh, v.v… Họ vừa đến, Vương Ân liền lùi cách xa tôi một chút.

Tôi vẫy tay chào Vương Ân, ông đương nhiên không thấy. Chúng tôi nhanh chóng đi vào khu vực dành cho khách VIP.

🌟

Vương Ân nhận được gia trì xong liền trở về nhà. Kì thực mắt của ông vẫn chưa hồi phục lại thị lực. Thậm chí, dù chỉ hồi phục một chút xíu xiu cũng không. Nhận được gia trì so với việc không nhận được gia trì chẳng khác gì nhau cả.

Chỉ là đêm đó, Vương Ân nghe thấy có hai người thì thầm nói với nhau: 
Một người nói:
"Lư Thắng Ngạn này chút xíu nữa là đẩy hai chúng ta ra ngoài rồi!"
Người kia nói:
"Ông ấy vỗ đầu một cái, tôi liền lùn đi một nửa, nếu ông ấy vỗ thêm cái nữa là tôi biến mất tiêu rồi!"
"Ông ta vừa chạm vào mí mắt, tôi như bị động đất!"
"Tôi thì ngã lộn nhào!"
"Có bị thương không?"
"Nguyên khí bị tổn hại nặng!"
"Cơn động đất này mấy độ?"
"E là cũng phải đến tám độ!"
"Nơi này còn có thể ở được nữa không?"
"Đã ở đây hai năm rồi, không nỡ chuyển đi!"

Vương Ân nghe xong bị “sốc toàn tập”!

Vương Ân nói to với hai người đang thì thầm nói chuyện này:
"Các người là ai? Có phải các người đang ở trong mắt tôi không? Tôi và các người không oán không thù, xin hai người đi ra đi!"

Vương Ân nói xong, đối phương im lặng không thấy nói gì. Vương Ân cảm thấy vẫn nên đến tìm tôi một lần nữa. Ông cho rằng tìm tôi có thể có hiệu quả, đã có chút cảm ứng rồi.

Nhưng người nhà phản đối.
"Đừng có mê tín thế!"
"Tôi rõ ràng nghe có tiếng nói!"
"Đó là ông tưởng tượng ra thôi!"
"Chỉ một lần nữa thôi!"
Người nhà đáp:
"Ông không phải chỉ mới một lần, mười lần, năm mươi lần ông đã đi tìm những kỳ nhân dị sĩ rồi, mỗi lần đều tràn đầy hy vọng đi gặp. Ai ai cũng gặp, nhưng người nào người nấy chẳng có cách gì, cuối cùng cũng đều khiến ông thất vọng mà thôi. Tôi thấy hay là thôi đi!"
Vương Ân nài nỉ:
"Chỉ một lần này thôi, tôi thực sự nghe thấy tiếng nói đó!"
"Chắc chỉ là mơ thôi!"
"Chỉ một lần thôi, làm ơn đi!" - Vương Ân kiên trì nài nỉ.

🌟

Tôi ở Đài Loan hoằng pháp, hành trình quả nhiên rất dày. Bắc bộ, Trung bộ, Nam bộ đều có pháp hội lớn, đều tổ chức ở sân vận động kín người không còn một chỗ trống. Không chỉ như vậy, tôi còn phải đến các phân đường và trung tâm hoằng pháp trên khắp Đài Loan.

Có một lần trong nhà hàng ăn cơm, một thị giả nói với người khác:
"Có nên báo cáo Sư Tôn không?"
"Tôi không muốn, Sư Tôn bận quá rồi!"
Tôi quay đầu lại hỏi:
"Có chuyện gì?"
Thị giả đáp:
"Có một người mù tên là Vương Ân, ngồi xe đi theo chúng ta hai, ba ngày rồi, một mực cầu xin gặp. Chúng con đã từ chối nhiều lần, ông ta vẫn sống chết bám theo. Chúng con đều sắp không chịu được nữa rồi!"
"Ồ! Vương Ân! Tôi biết rồi! Cho ông ấy vào đi!"

Vương Ân và người nhà nhanh chóng đi vào nhà hàng. Tôi lại gia trì cho Vương Ân một lần nữa. Tôi nói:
"Tôi có Nhãn minh kinh và Nhãn minh chú, giao cho người nhà ông, người nhà sẽ dạy ông niệm, niệm rồi mắt sẽ sáng lại."
Vương Ân vui lắm.
Tôi viết Nhãn minh kinh ngay tại chỗ, giao cho người nhà Vương Ân.

➖➖➖➖➖➖➖➖➖➖➖➖ 

Phật Thuyết Nhãn Minh Kinh như sau:

Nam mô Quang Minh Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm. 

Hai mắt tựa đèn vàng. 
Phật ngự Tây phương một tòa tháp. Như Lai hội thượng một tạng kinh. Văn Thù Bồ Tát cưỡi sư tử. Phổ Hiền Bồ Tát cưỡi tượng vương. 

Hai mắt tựa thiên đường. 
Trong người có ma. Trong mắt có ma. Màng che trong mắt thảy tiêu trừ. 
Trong người có màng. Trong mắt có màng. Mây mù trong mắt thảy tan đi.
Trong người sáng suốt. Trong mắt sáng suốt. Trong mắt điểm sao thảy sáng ngời. 

Người tụng được Nhãn Minh Kinh. Đời đời kiếp kiếp mắt sáng ngời. Khổng Tước Minh Vương linh cảm ứng. Quan Âm Bồ Tát hộ an ninh. 

"Ôm xi-tiên-tua pô-chuy-na. Nam mô Quang Minh Địa Tạng Vương Bồ Tát. Sô-ha."

➖➖➖➖➖➖➖➖➖➖➖➖

Tôi đưa Nhãn Minh Kinh cho người nhà Vương Ân.

Vương Ân có được Nhãn Minh Kinh thì vô cùng vui sướng, giống như có được gia tài. Kinh văn này chỉ có Bồ Tát Thánh hiệu và một vài đoạn nhỏ chú văn, rất dễ nhớ, đọc cũng rất nhanh. Vương Ân đã học thuộc lòng rồi.

Mỗi ngày Vương Ân đều đọc vô số lần. Vào buổi chiều ngày thứ 49 (bảy bảy bốn mươi chín ngày), trời đột nhiên nổi sấm chớp. Vương Ân cảm thấy sợ hãi, run rẩy từ đầu tới chân. Vương Ân cảm thấy có hai vật gì từ trong nhãn cầu của mình lăn ra ngoài, vừa giống như nước mắt lại không giống nước mắt, vừa giống viên ngọc lại vừa không giống viên ngọc. Hai thứ này vừa lăn ra khỏi mắt thì mọi thứ bắt đầu thay đổi.

Lúc trời nổi sấm sét, Vương Ân không phải chỉ nghe thấy tiếng sét, mà ông còn cảm thấy cả ánh sáng của tia chớp. Kể từ hôm đó, mắt của Vương Ân mỗi ngày một tốt hơn. Thị lực từ từ có thể nhìn thấy đồ vật. Mắt bị mù không ngờ hoàn toàn khỏi hẳn.

Vương Ân hét lớn:
"Lư Sư Tôn vạn tuế! Phật Thuyết Nhãn Minh Kinh vạn tuế! Hai mắt đã hoàn toàn hồi phục lại thị lực rồi!"

Việc này chính là:

*Việc đời đều theo lẽ tự nhiên
Khỏi bệnh phải nhờ thiện nhân duyên
Chân kinh xuất hiện tựa gương sáng
Lo gì vạn vật không hiện tiền.*

🌟

Trong thời gian hoằng pháp, có một lần tôi ngồi cao trên pháp tọa, đột nhiên phát hiện ra có thứ gì đó bay vào trong mắt. Mắt tôi đột nhiên bị cộm, có cảm giác bị nhói đau, mắt đỏ lên, rất khó chịu.

Đêm đó, tôi nhỏ vài giọt thuốc nhỏ mắt rồi lên giường đi ngủ.
Tôi cũng nghe có tiếng nói:
"Lư Sư Tôn, Lư Hoạt Phật, đắc tội rồi!"
Tôi chẳng hiểu gì cả:
"Chuyện gì?"
"Chúng tôi ở chỗ Vương Ân, bây giờ Vương Ân đã đẩy chúng tôi ra, bây giờ oan có đầu, nợ có chủ, chúng tôi đến nhà ông ở vậy!"

Trong lòng tôi lập tức hiểu ra chuyện này.
"Mấy người là ma trong mắt đúng không?"
"Đúng vậy."
"Mắt tôi rồi sẽ ra sao?"
"Sẽ bị mù." - Ma trong mắt nói.
"Tôi có thể đuổi các người từ trong mắt của Vương Ân ra, lẽ nào tôi không thể đuổi các người ra khỏi đây?"
Ma trong mắt nói:
"Người trong cuộc thì mù, người ngoài cuộc thì tỏ."

Tôi hỏi:
"Các người tổng cộng đã hại bao nhiêu người rồi?"
Ma trong mắt đáp:
"Vô số."
Tôi nói:
"Tốt lắm! Các người hại vô số người, hôm nay, thiên đường có lối các người không đi, địa ngục không cửa lại muốn đâm đầu vào, tôi tha cho các người cũng không được!"
Ma trong mắt kêu to:
"Tôi không sợ!"

Tôi nhắm chặt hai mắt lại để cho chúng không còn chỗ nào để chạy!

Mắt tôi chảy nước mắt, đây không phải nước mắt giống bình thường, mà là nước có "độ nổi thấp" trong huyền thoại chảy từ chân núi Côn Lôn, thậm chí một cọng lông vũ cũng không thể nổi được. Nước không ngừng dâng lên, biến hai mắt tôi trở thành hai biển lớn. Còn hai con ma ở trong mắt thì kêu la ầm ĩ:
"Chúng tôi chết chìm rồi, chúng tôi không biết bơi, thả chúng tôi ra!"
Tôi nói:
"Không!"

Cuối cùng, hai con ma trong mắt hoàn toàn chết chìm. Hai con ma trong mắt này hại người rồi kết cục là hại mình. Tôi, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn thì chẳng tổn hại dù một sợi tóc!


### **13. Chú Phản hồi**


Mật giáo dựa vào ba nguyên tố chính để tu hành, ba nguyên tố này chính là: 

1. Chú (chân ngôn).
2. Ấn (thủ ấn, thân ấn).
3. Quán tưởng (niệm lực).

Cũng chính là: miệng tụng chân ngôn, tay kết thủ ấn, ý niệm quán tưởng Bổn tôn. Như vậy, thân, khẩu, ý thanh tịnh, đạt đến tam nghiệp chuyển thành tam mật. Phương pháp tu hành như vậy chính là cách hành trì của Mật giáo.

Tổ sư sáng lập Hồng giáo (Nyingma) của Mật giáo là ngài Liên Hoa Sinh Đại Sĩ (Padmashabhava). Trong quá trình tu hành của ngài, ngài đã từng bị 500 kẻ ngoại đạo tấn công. 500 kẻ ngoại đạo này niệm chú triệu tập quỷ trâu thần rắn xuống, dùng pháp lực để hại chết Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Tình hình của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ khi đó vô cùng nguy cấp, ngài đã ở bên bờ vực của cái chết, bởi 500 kẻ ngoại đạo này toàn là những cao nhân các phái tà giáo, đã tu hành nhiều năm, có thể gọi gió hô mưa, rắc đậu thành binh, có thể đánh bay thần bạt quỷ. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ sụp xuống bên dưới một cái cây to, thấy mình sắp mất mạng đến nơi rồi! Lúc này, Nhất Kế Phật Mẫu hiện thân.

Hình tướng của Nhất Kế Phật Mẫu là: một búi tóc, một mắt, một răng, nhưng ngài là một trong các vị Phật Mẫu có pháp lực vô thượng. Ngài là thầy của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, cũng là Bổn tôn của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, lại đồng thời là Hộ pháp của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Vị Nhất Kế Phật Mẫu này đóng vai trò của cả ba thân phận.

Nhất Kế Phật Mẫu truyền dạy cho Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chú Phản hồi. Câu chú này là bí mật tối thượng trong Mật giáo, không phải ai cũng có thể được truyền.

1. Không truyền cho kẻ ác.
2. Không truyền cho người không trong truyền thừa.
3. Không truyền cho người có tâm không kiên định.
4. Không truyền cho người không thể giữ bí mật.

Thế nào là người có tâm không kiên định? Nhìn chung đệ tử theo sư phụ, lúc mới bắt đầu thì chắc chắn là cung kính nghe lời. Nhưng sau một thời gian liền xuất hiện tâm không kiên định. Ví dụ chính là những đệ tử nổi loạn như Đề Bà Đạt Đa, Judas và vô số những người khác nữa. Bởi vì chú Phản hồi là một chú lớn, là vô thượng chú, không thể tùy tiện. Thế nào gọi là chú Phản hồi?

1. Hồi: quay ngược lại. Đối phương đánh ra chú gì thì sẽ đẩy ngược lại chú đó. Đối phương sẽ nhận lại báo ứng tương đương với uy lực của câu chú đã đánh ra.
2. Phản: che chắn. Đối phương đánh ra chú gì, sẽ cản lại toàn bộ chú của đối phương, khiến chúng hoàn toàn không có tác dụng gì cả, hoàn toàn mất đi chú lực.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ có được chú Phản hồi của Nhất Kế Phật Mẫu, chú này vừa niệm lên, liền bật ngược trở lại đối phương. Một trận sấm sét đùng đùng nổ ra! Khuấy lên một màn sương dày đặc!

500 tên ngoại đạo tà sư toàn bộ đều nằm thẳng cẳng, tất cả đều bị chú Phản hồi đánh ngược lại mà chết.

Đây chính là một trận đánh huyền diệu của chú Phản hồi nổi tiếng!

🌟

Tôi có một người bạn tên là Phùng Phương.

Người bạn Phùng Phương này thực sự xinh đẹp như quốc sắc thiên hương, từng có người viết thư tình miêu tả cô như sau: "Dáng người em duyên dáng thanh cao như chim hồng nhạn. Từng bước chân đi của em giống như hoa sen trắng nở trên mặt nước xanh. Eo của em thon thả như quấn khăn lụa. Chiếc cổ thon dài, cánh tay, gót chân, khuôn mặt để lộ ra làn da trắng trẻo mịn màng không cần son phấn, diễm lệ vô song. Mái tóc đen dài bóng mượt buông xuống như thác nước. Đôi mày cong cong thanh mảnh. Đôi môi đỏ mọng ngọt ngào như trái anh đào che đi hàm răng trắng đều như những vỏ sò nhỏ. Đôi mắt lấp lánh đầy quyến rũ…"

Mọi người đều ca tụng vẻ đẹp của Phùng Phương. Điều quan trọng nhất là Phùng Phương rất thoải mái và tự tin, bởi vậy cô càng toát lên một sức lôi cuốn tự nhiên. Người ái mộ cô rất nhiều! Trong số đó có một thầy phép thuật nổi tiếng tàn ác. Hắn cũng viết thư tình gửi cho Phùng Phương.

*"Nàng là tuyệt sắc mỹ nhân
Ta trao cho nàng viên đá quý mà tổ tiên truyền lại
Để biểu đạt lòng ái mộ của ta
Ta mời thần tiên đến làm mai mối
Xin đừng nỡ lòng từ chối ta
Xin đừng vô tình
Ta có được nàng
Chẳng còn phải đi tìm kiếm nơi đâu nữa."*

Tên thầy phép tà ác này làm thơ tình cũng không tệ nhỉ!

Đáng tiếc là Phùng Phương hoàn toàn không thích thú gì hắn, bởi vậy đã từ chối hắn. Tên thầy phép tà ác hừng hực phẫn nộ, chẳng ngờ lại đi nói với người ta: "Phùng Phương có gì mà xuất sắc, phụ nữ đẹp như cô ta đầy đường kia kìa. Vì cô ta dám coi thường tôi, tôi sẽ để cho cô ta biết thế nào là pháp lực của tôi. Tôi muốn cô ta cả đời này bi thảm, khiến cô ta phải quỳ gối đến cầu xin tôi. Mà cho dù có quỳ gối tới cầu xin, tôi cũng mặc kệ cô ta."

Thầy phép tà ác không chỉ nói với một người mà nói với rất nhiều người. Tuy nhiên Phùng Phương không sợ hãi, cũng không quan tâm. Tên thầy phép này cuối cùng thực sự đã làm phép. Hắn dùng máu của gà trống trắng để vẽ bùa, và dùng ngọc để ấn lệnh cho bùa, dùng gạo tốt để cúng cho quỷ thần…

Những quỷ thần mà hắn cúng rất kỳ dị: đều là toàn thân đen sì, có hai đầu, vô cùng dữ tợn đáng sợ, trên tay còn cầm rắn độc, tay trái cầm rắn xanh, tay phải cầm rắn đỏ. Thần này được gọi là Tinh Thần Giáng Quỷ.

Một buổi tối, Phùng Phương đang nằm ngủ mơ thì mơ thấy tên thầy phép đến yểm phép lên cô. Hắn đóng rất nhiều đinh lên đầu cô, mỗi chiếc đinh đều dính đầy máu gà. Sau khi tỉnh lại thì cô bắt đầu mê sảng, tinh thần hoảng hốt. Sau đó Phùng Phương thường xuyên mất ngủ, buổi tối không thể nào ngủ được, dùng đủ mọi phương pháp cũng không thể nào ngủ được. Cuối cùng cô phải uống thuốc. Lúc đầu mới uống thuốc thì còn ngủ được, về sau thuốc cũng không có tác dụng nữa. Phùng Phương trở nên kiệt quệ tinh thần, diện mạo khô héo, ủ ê, cuối cùng không ngờ bị tâm thần, tính khí thất thường. Bệnh của cô được các bác sĩ khoa thần kinh chẩn đoán là: bị chứng hoang tưởng.

🌟

Phùng Phương cho rằng có một nhóm người rất đông đến làm hại cô. Ví dụ: 

Có một chiếc máy bay đang bay trên trời, Phùng Phương sẽ cho rằng máy bay đó tới để bắt cô.
Người đưa thư tới phát thư, cô sẽ cho là người đưa thư là kẻ xấu ngụy trang đến để giết cô.
Chó mèo trong nhà Phùng Phương đều đã được đem cho người ta, bởi vì cô cho rằng chó mèo trong nhà đều đã bị kẻ xấu bắt mất linh hồn, thay thế vào đó là linh hồn của kẻ xấu đến để làm hại cô.
Cơm lấy cho cô ăn, cô cho rằng đó là thuốc độc, trừ khi cô tự nấu.
Mỗi ngày cô đi tắm nhiều lần, cảm thấy mình bị nhiều thứ bẩn bám vào, rửa mãi mà không sạch được.
Quần áo của cô mỗi ngày cũng được giặt rất nhiều lần.
Cô nhìn người ta luôn thấy người nào trên người cũng bẩn, đều có vết bẩn, cô rất sợ bị dính lên người.
Cô nói năng lung tung.
Cô cười hi hi, rồi lại tự cười một mình, có lúc lại khóc, cho rằng trên thế giới này không có một người tốt nào cả, người nào cũng muốn làm hại cô! Cô không ngủ, không ăn.
Thỉnh thoảng cũng ngủ hai, ba ngày, có lúc lại hoàn toàn không ngủ chút nào. Cô la hét ầm ĩ, nghĩ gì làm đó.

Tình trạng của cô nghiêm trọng tới mức:
Cô cởi hết quần áo rồi chạy ra chợ.
Đem thức ăn ném hết ra ngoài đường lớn.
Đập vỡ hết bóng đèn, cô nói những gì phát sáng đều là ma quỷ.

Việc này giống như một bài thơ cổ:

*"Họa lớn có ngày ập đến thân
Phải biết bệnh tật là bất phân
Vọng tưởng đóng lại thì vẫn đó
Hiểu được thực tướng là điều cần
Mọi bệnh xảy đến đều do nghiệp
Tiêu nghiệp mới thực là diệu quyết
Chỉ có tu hành thoát sinh tử
Mọi tai ương mới hóa bụi trần."*

Phùng Phương vốn dĩ là một đại mỹ nhân, bây giờ mắc phải bệnh nặng, chẳng mấy chốc cô đã biến thành một bộ xương khô héo. Phùng Phương được một đệ tử đưa tới gặp tôi.

Tôi vẽ phù Thượng Yểm đưa cho cô, thật bất ngờ là không có hiệu quả gì! Tôi làm kết giới trên người cô, cũng không có phản ứng luôn!

Tôi lo lắng, chỉ còn cách ngồi thiền để quan sát. Khi que hương cháy được một nửa, tôi đột nhiên nhìn thấy một khu rừng lớn, trong khu rừng có một con đường nhỏ, tận cùng con đường nhỏ dẫn đến một thần đàn. Tôi trông thấy một người mặc đồ đen đang cúng tế một thần quỷ rất kỳ quái, chính là một thần quỷ toàn thân mặc đồ đen. Sau đó tôi nhìn thấy người mặc đồ đen này cầm dao nhuốm máu cật lực chặt một người con gái. Người con gái này quả nhiên chính là Phùng Phương…

Tôi nhìn thấy mà kinh hãi. Tôi hỏi người nhà của Phùng Phương, người nhà trả lời đúng là như vậy.

Người nhà kể: Phùng Phương từ chối tên thầy phép tà ác, đã đắc tội với hắn, thầy phép thực sự đã giáng bùa phép lên Phùng Phương. Có người tận mắt chứng kiến thầy phép cũng đích thân nói với rất nhiều người rằng hắn muốn Phùng Phương cả đời thê thảm!

Bình thường mà nói, phù Thượng Yểm và kết giới rất lợi hại. Nhưng thầy phép thuật và thần quỷ kia không ngờ lại còn lợi hại hơn khiến tôi lấy làm ngạc nhiên.

Sau đó tôi tra cứu trong sách cổ, hóa ra thần quỷ đó vào thời kỳ thượng cổ được xếp vào thần quỷ nghìn năm, không phải tên gọi là Tinh Thần Giáng Quỷ mà gọi là thần quỷ Khương. Bởi vì đây là thần quỷ từ thời thượng cổ nên phù Thượng Yểm và pháp kết giới đều mất đi công hiệu. Tôi thấy có lẽ nên đến tìm thầy phép thuật tà ác kia để thương lượng với niềm tin rằng gặp mặt trực tiếp sẽ có thêm được chút cảm tình. Chỉ cần người ta có một chút biết lẽ phải thì đều có thể thương lượng được.

🌟

Sau đó tôi đã đến gặp thầy phép thuật tà ác.

Người này họ Cố, được một sư phụ ở Trung Quốc Đại Lục truyền dạy phép thuật cho, các tín đồ ở đó đều rất sợ hắn, bởi vì thuật bùa ngải của hắn rất lợi hại. Chỉ cần trúng phải bùa phép thì không ai không bị điên cả.

Tôi nói:
"Tôi đến đây vì Phùng Phương!"
Thầy phép đáp:
"Cô ta không biết lễ độ, đáng bị như vậy."
"Có thể tha cho cô ấy không? Cô ấy chịu khổ như vậy đủ rồi, hẳn là cô cũng biết mình mắc tội rồi." - Tôi nói với thầy phép về nhân tình.

Thầy phép nói:
"Phùng Phương trúng bùa, ai nấy đều biết. Cô ta tâm thần thất thường, việc làm ăn của tôi càng phát đạt. Ông là ai mà dám đến đây đòi hỏi?"
"Tôi là Lư Thắng Ngạn!"
"Hóa ra là ông, ông cũng có một tí danh tiếng đấy, nếu ông trúng phải bùa chú của tôi, vậy thì lại càng có chuyện vui, càng tuyệt vời!"
"Chúng ta không oán không thù, tôi đến để cầu xin ông!"
"Cầu xin tôi? Hay là đến thách thức đây? Nếu tôi không tha cho Phùng Phương thì sao? Đấu pháp không?"
"Không!"
"Lư Thắng Ngạn, ông đi về đi, chúng ta so tài một phen!"
"Không!" - Tôi nói.

Thầy phép cơ bản là không để ý tới tôi, hắn còn bận lo chuyện làm ăn của hắn. Tôi như hít phải một đám bụi bẩn, đem cái mặt nóng của mình dán vào cái mông lạnh của người ta, người ta chẳng thèm đếm xỉa gì đến mình. Thế nhưng sự việc không phải chỉ có như vậy là xong. Thầy phép này thực sự cho thần quỷ Khương tới làm phép giáng yểm vào tôi!

Những biện pháp phòng hộ của tôi đều bị vô hiệu hóa. Nói cách khác là Hộ pháp của tôi vừa nhìn thấy Khương, tự biết không địch nổi liền biến mất không còn dấu vết. Ngay cả cái ô vô hình bảo vệ lúc ngủ ban đêm cũng không còn nữa. Tự nhiên "tôi" bắt đầu cảm thấy đầu óc quay cuồng, đầu như bốc hỏa, lúc thì lạnh, lúc thì nóng, trong đầu trống rỗng.

“Tôi” không ăn được gì, vị giác không còn nữa. Ngủ cũng không giống ngủ, mà nếu như có ngủ thì cũng mơ lung ta lung tung cực kì hỗn loạn. Bên trong cơ thể như có lửa thiêu đốt.

"Tôi" cảm thấy cuộc đời mất đi mục tiêu, chẳng biết sống vì cái gì, có suy nghĩ muốn tự tử mỗi ngày một thêm mãnh liệt. Con người, khi chết đi rồi thì chẳng còn gì cả. Kì thực cho dù có nỗ lực thế nào, anh hùng hảo hán, thần tiên tu sĩ, phú quý vinh hoa, cuối cùng cũng đều đi vào con đường chết. Thôi tôi chết đi cho xong!

Cuộc sống là khổ, là hư vô, là vô thường, tôi cảm thấy chẳng còn chút ý nghĩa nào và lý do gì để sống nữa.

🌟

Nhưng rồi tôi đột nhiên tỉnh giác, rõ ràng là bản thân bị trúng bùa giáng đầu rồi! Tôi phát hiện ra xương cốt toàn thân vô cùng đau nhức, giống như trăm thứ bệnh phát sinh. Tôi muốn nhập thiền để quan sát xem chuyện gì xảy ra nhưng cũng không thể nhập định được. Thỉnh thoảng tôi định được một chút thì thấy rắn xanh, rắn đỏ đang bò lung tung trong người mình.

Thần quỷ Khương nghìn năm này quả nhiên lợi hại. Tôi không nghĩ ra cách gì để có thể trị lại Khương. Tôi bắt đầu nhìn thấy huyễn ảnh, cũng nghe thấy huyễn thanh, tôi nghĩ mình chẳng còn cách ngày bị tâm thần điên loạn bao xa nữa!

Thời gian này thực sự là:

*Mây núi mờ mịt nước lạnh băng
Hoàn toàn trống rỗng tựa thần kinh
Dưới núi gầm gừ vọng tiếng hổ
Trong rừng chạy loạn đám người bùn
Sóng bụi dưới nắng tan theo gió
Mưa thấm không hoa tản mát rơi
Thế gian khi không còn chỗ đứng
Dù là thần tiên cũng hóa điên.*

Tôi thấy rắn xanh, rắn đỏ bò tới hệ thống bài tiết nước tiểu của tôi. Tôi mắc phải căn bệnh rất kỳ quái, cứ cách năm phút tôi lại phải đi vệ sinh một lần, nước tiểu đi ra chỉ có vài giọt, nhưng cứ luôn có cảm giác rất muốn đi tiểu, không đi không được, đây là chứng tiểu rắt, nghĩa là đi tiểu lắt nhắt.

Càng thảm hơn là có lúc cảm thấy rất buồn tiểu, thấy là bụng khá đầy rồi, nhưng khi vào tới toilet thì không thể đi được. Tôi nghĩ tôi có khi cần phải đến bác sĩ khám. Cho dù có đi tiểu được thì vẫn cảm thấy cần phải đi tiểu tiếp ngay lập tức. Không chỉ như vậy, việc đại tiện cũng rất thảm! Tôi cảm thấy buồn nôn, chóng mặt, mất cảm giác thăng bằng.

Đi khám bác sĩ và uống thuốc đều không có hiệu quả. Nghĩ đến những ngày tháng ăn không ra ăn, ngủ không ra ngủ, thực sự tôi sống không bằng chết!

Tôi nhìn thấy hung thần ác quỷ xuất hiện, nhập vào trong người, khiến cho lục phủ ngũ tạng của tôi đều bị sưng viêm và mất cân bằng, các chức năng đều không hoạt động. Tôi thực sự bị hoang tưởng mà nghĩ đến việc chết.

Tôi cảm thấy sống trên đời này, khổ do bệnh là cái khổ số một trong thiên hạ. Thân tâm con người bị mắc bệnh mãn tính hoặc bệnh không thể chữa được, chi bằng chết đi cho xong. Nói thật lòng, nếu như có cách chết nào an lạc một chút, tôi rất sẵn sàng dùng.

Tôi nghĩ đến chuyện tự sát. Rất nhiều người mắc bệnh mãn tính, không thể chịu đựng được sự dày vò của bệnh nữa, tìm cách thoát khỏi giường bệnh mà đi tự sát. Trước đây tôi cho rằng những người tự sát thật là ngốc, bây giờ tôi không nghĩ thế nữa rồi, bởi vì chỉ có người nào từng bị bệnh hành hạ mới hiểu được những người bệnh đó vì sao lại muốn tự sát. Bệnh khổ thực sự là thiên hạ đệ nhất khổ. Làm con người có gì hay. Đời này của tôi cho dù đã cứu được vô số người, nhưng cũng bị người ta làm hại vô số lần. Đã đi đến bước đường này rồi, tôi cảm thấy có đáng để sống tiếp không?

Tôi đấu tranh giữa hai bên sống và chết!

*Mặt trời đã quyết lặn về tây
Hồn ta chưa quyết về nơi ấy
Chốn ngộ trên núi không một vật
Xem xem hiếu tử để ai làm.*

Thế rồi "một mảnh ý nghĩ của tôi" lại suy luận:
Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn tự sát rồi!
Hoa Quang Tự Tại Phật tự sát rồi!
Liên Hoa Đồng Tử tự sát rồi!
Điều này trái ngược với những bài giảng pháp của tôi ngày trước. Tôi đã từng nói tự sát chính là giết Phật, thân thể này chính là công cụ để thành Phật, tự sát khác nào giết Phật.

Linh hồn tự sát không thể lên trời, chỉ có luân hồi trong ba đường ác, đồng thời trí huệ suy giảm, cho dù có được tái sinh làm người thì cũng chỉ là người bại liệt.

Tôi là thầy của người ta, nếu tự sát rồi, thực sự là chuyện siêu nực cười cho người và trời! Thế nhưng những nỗi khổ tập trung lại trên người "tôi", tám loại khổ của nhân gian mà Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói đến, "tôi" đều có hết. "Tôi" thực sự khổ không lời nào nói hết! "Tôi" khổ tới mức không thể chịu đựng được thêm nữa. "Tôi" thực sự không muốn sống nữa.

Nếu như tôi chết thật thì đúng là một trò cười lớn. Người sáng lập Chân Phật Tông, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn tự sát chết rồi! Còn có Chân Phật Tông nữa không? Những người thân bên cạnh tôi sẽ rất đau khổ. Những người oán thù tôi sẽ rất vui sướng. Đúng là kẻ khóc người cười!

Khi thầy phép họ Cố dùng pháp lực để bẻ gãy đầu của tôi, rắn xanh, rắn đỏ len lỏi vào trong não tôi, khiến đầu tôi như muốn nổ tung thành tám mảnh! Ở giữa có một đàn thành, chính là Bổn tôn của tôi. A Di Đà Như Lai đến ngồi an tịnh ở đó. Có thể nói, toàn thân tôi đều đã chết, chỉ còn lại Bổn tôn của mình, đây chính là kết tinh sau nhiều năm tu hành của tôi. Thầy phép họ Cố muốn giết Bổn tôn của tôi. Rắn xanh, rắn đỏ muốn ăn sạch Bổn tôn của tôi.

🌟

Lúc này, Bổn tôn của tôi bình tĩnh không chút hoang mang, niệm một câu chú Phản hồi.

"…"

Ánh chớp lóe lên:*
Tứ chi bỗng phân tán
Thân này đi về đâu
Hình thể này cũng mất
Tên tuổi cũng bằng không
Dài ngắn nhìn cỏ thu
Thưa dày hỏi gió đêm
Xin anh thử nhìn lên
Ngẫm việc này cho kĩ
Đừng ép người thái quá!
Đừng ép tôi thái quá!*

Sau khi Bổn tôn A Di Đà Phật của tôi niệm xong câu chú Phản hồi làm xuất hiện một ánh chớp lóe lên, tôi thấy mình đang nằm trên giường không cử động, toàn thân kiệt sức, giống như một người sắp chết. Nhưng ý thức trong tâm tôi thì vẫn rất rõ ràng, rắn xanh, rắn đỏ trong người đã biến mất, thầy phép họ Cố cũng không thấy đâu nữa.

Trong hư không chỉ thấy rắn xanh, rắn đỏ đang bám riết lấy cắn thầy phép họ Cố, hắn cố gắng đánh lại nhưng càng bị rắn xanh rắn đỏ quấn chặt. Những tiếng thét thê lương của thầy phép họ Cố xé toạc bầu trời đêm.

Các triệu chứng bệnh của tôi chẳng mấy chốc đã biến mất hết. Thân thể mỗi ngày một khỏe trở lại, khoảng một tuần sau tôi đã hoàn toàn bình phục.

Còn về phía Phùng Phương cũng giống như vậy. Đột nhiên tất cả mọi chứng bệnh của cô đều từ từ hết hẳn, người hoàn toàn tỉnh táo. Sau khi chăm sóc lại thân tâm một thời gian, cô đã hồi phục lại thân thể khỏe mạnh.

Cá nhân tôi thì như vừa trải qua một cơn ác mộng! Riêng cơn ác mộng của Phùng Phương thì dài hơn rất nhiều!

Nói về phía thầy phép họ Cố, hắn bị chính tà thần Khương nghìn năm mà hắn ta thờ cúng quay lại cắn, thoát thân không kịp. Cuối cùng hắn đã bị tâm thần rồi!

🌟

Điều tôi muốn nói cho mọi người biết là, chú Phản hồi quá quan trọng, quá bí mật, quá vô thượng, do vậy chỉ có thể truyền một cách bí mật, xin thứ lỗi cho tôi không thể viết câu chú ra đây. Có những sự việc đem lại cho tôi bài học rất lớn. Cần xem trọng những câu chú, cần sống cuộc đời thanh tịnh, cần kính cẩn tu hành. Đó chính là:

*Khởi đầu Mật giáo chú ngữ coi trọng
Sống đời thanh tịnh sắc thân trang nghiêm
Tâm không lay động mong muốn cứu đời
Giải được một nghiệp tăng thêm một huệ
Bổn tôn ở bên luôn được an lành
Độ thế phi thường vẫn sống bình thường
Tinh tấn vững chắc chính niệm kiền thành
Năm qua tháng đến vô tận vô biên.*

Om. Ah. Hum.

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/150-sung-sot-truoc-quy-than.md
# Title: 150. Sửng sốt trước quỷ thần
---

![image](/img/img_ad63175b63655b294e0bad2ea8abe7f0.jpg)



## Sửng sốt trước quỷ thần


Văn tập: 150
Xuất bản: 17/10/2010
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu


Trước khi đi vào cuốn sách.

Thế nào là quỷ thần?
Đối với người bình thường mà nói, đây không phải là một câu hỏi dễ giải đáp. Bởi vì người bình thường không nhìn thấy, không nghe thấy, thậm chí không cảm giác thấy. Vì thế, những chuyện về quỷ thần tương đối khiến người ta mê hoặc. Và càng bởi vì hễ nhắc đến quỷ thần là bao gồm những chuyện huyễn biến kì quái, cho nên rất nhiều người cho rằng quỷ thần không có liên quan gì đến cuộc sống hiện thực, không ăn khớp. Có người phủ nhận có quỷ thần, không tin rằng có quỷ thần, quỷ thần là những thứ do bộ não con người nghĩ ra.

Quan niệm không có quỷ thần này, cá nhân tôi cho rằng sai hoàn toàn. Bởi vì những người từng đọc sách của tôi đều biết, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn là người thông linh, có thể giao tiếp với quỷ thần.

Cá nhân tôi cho rằng quỷ thần là:
Vô hình.
Tinh thần.
Khí.
Thức.
Linh hồn.

Những danh từ này, mặc dù vô hình vô tướng, nhưng, những thứ vô hình vô tướng trong thế giới hiện thực lại nhiều vô cùng, quỷ thần chỉ là một lĩnh vực trong số đó mà thôi. Đây cũng là hiện tượng tự nhiên, tôi càng cho rằng, quỷ thần không phải là sản vật không tưởng trong bộ não của nhân loại, mà là một dạng tồn tại thật sự.

Quỷ thần không những không tách rời cuộc sống hiện thực của con người mà trên thực tế, không ngờ lại còn chi phối phần lớn cuộc sống của con người.

Tôi rất thẳng thắn nói với mọi người, trong con mắt tôi, các hiện tượng phát sinh trong giới đại tự nhiên, ví dụ, lớn thì như họa chiến tranh giữa các quốc gia, nhỏ thì như vận mệnh của mỗi cá nhân (giàu sang, nghèo hèn và sống chết). 
Gió mưa sấm sét.
Sự vận hành của mặt trời mặt trăng.
Động đất.
Lũ lụt.
Hỏa hoạn thiêu đốt.
Bão.
Máy bay đâm.
v.v…

Đều có quỷ thần trong đó. Những quỷ thần này không chỉ ở trong đó, thậm chí rất nhiều sự việc đều do quỷ thần thao túng.

Khi tôi vừa mới khai mở thiên nhãn, điều thực sự khiến tôi vô cùng sửng sốt là:
Một người thường xuyên bị rụng tóc, trong con mắt của tôi, không ngờ tôi nhìn thấy trên đầu người đó có một bầy cừu nhỏ li ti đang bò, chúng đang gặm nhấm “cỏ” trên đầu của người đó.
Một thanh niên có cánh tay thường xuyên đau buốt, trong con mắt của tôi, không ngờ tôi nhìn thấy một con rắn kim tuyến dài và mảnh đang quấn lấy cánh tay anh, đang ăn những dây thần kinh của anh.
Một người mắc bệnh ngoài da, trong con mắt của tôi, không ngờ tôi nhìn thấy nhiều quỷ đói, đang thè những cái lưỡi dài ra liếm da của người đó.
Người mắc bệnh ung thư, cái u này lại đến cái u khác, tôi nhìn ra đó là con quỷ này đến con quỷ khác. 
Tôi phát hiện ra, rất nhiều bệnh tật đều là kiệt tác của quỷ thần. Ảnh hưởng của quỷ thần đối với nhân loại, từ lớn tới nhỏ, từ ngoài vào trong, có thể nói là không loại trừ bất kì cái gì. Thậm chí, tôi có thể nói thế này, con người hiện đại phổ biến chứng bệnh trầm cảm, bệnh ức chế, không kiểm soát được cảm xúc tình cảm, tinh thần thất thường, bệnh tâm lí, rất nhiều là do quỷ thần ám vào thân mà thành bệnh. 

Tôi nói quỷ thần không hề ngu muội. 
Thật ra, sự xuất hiện của các tôn giáo lớn trên toàn thế giới, khảo sát nguồn gốc của chúng, đều đến từ quan niệm về quỷ thần.
Tôn giáo nguyên thủy cho đến tôn giáo hiện đại ngày nay đều là như vậy.
Sức mạnh của tôn giáo đến từ những quỷ thần quang minh, có thể đối trị đủ mọi khó khăn sinh tồn của nhân loại. 
Đối trị sự bức hại của quỷ thần….

Còn tôi, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, đời này sống trong thế giới này, chính là để dùng quỷ thần quang minh đối trị với quỷ thần tà ác, hướng dẫn con người tu hành sức mạnh của tôn giáo để đến với tịnh thổ quang minh lí tưởng.

Cuốn sách này sẽ khiến bạn khó quên!
Cực sửng sốt!

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Quỷ cây


Đó là một pháp sự siêu độ.
Tôi nhận làm pháp sự siêu độ tổ tiên cho gia tộc họ Lí thanh thế lẫy lừng. Ngồi trên pháp tọa cao ở chính giữa, tôi đội mũ Ngũ Phật, trên tay cầm sớ văn, đọc xong một lần sớ văn, tôi triệu thỉnh tổ tiên các đời của nhà họ Lí.
Tôi niệm:
*Trà khuynh tam điện phục tam điện
Tam chi tín hương thiêu vị cán
Ngô kim sắc lệnh cấp sắc lệnh
U nhân gian chi tốc tốc phản.
*(Nghĩa rằng: Rót trà dâng cúng lạy ba lần, Tín hương ba cây chưa cháy hết, Nay tôi cấp tốc ra sắc lệnh, Hồn ở âm gian mau trở về.)
Tôi niệm câu chú triệu thỉnh linh hồn u linh này, nói với các chúng sinh u minh [u chúng] rằng đây là pháp sự siêu độ:

*Muốn kết thượng duyên với hoa sen
Thị - phi, ta - người phải bỏ hết
Hôm nay lúc này đến tụ họp
Hoan hỉ cùng lên giải thoát thuyền.*

Tôi niệm xong chú triệu thỉnh, phải đợi một lúc để các linh hồn u minh tập trung đông đủ, sau đó y theo nghi quỹ làm siêu độ. 
Nghi quỹ không có gì khác ngoài thỉnh Phật phóng quang gia trì cho u chúng, mời u chúng nghe pháp ngữ, cúng dường u chúng, thí pháp thí thực, tụng kinh bái sám.
Tôi ngồi trên pháp tọa, có thể nhìn được rất xa, đồng thời, tôi có thể biết linh hồn tổ tiên họ Lí đã đến hay chưa.

Đợi một lúc, tôi phát hiện ra tình hình không được bình thường!
Thông thường siêu độ của tôi rất linh nghiệm. Tôi có thể biết u chúng đã đến hay chưa, biết u chúng có đắc được pháp hay không, biết u chúng đã vãng sinh đến nơi nào. Thậm chí, có thể nói với những người tham gia siêu độ rằng có nhìn thấy linh hồn tổ tiên của mình đến hay không!

Pháp sự siêu độ của tôi rất nổi tiếng, không cần bói chén tôi cũng biết được mọi thứ. Thậm chí tôi phát đại từ bi tâm, muốn ngày đêm thi hành pháp siêu độ, để chúng sinh u minh đau khổ đều được đưa đến Cực Lạc thế giới, sinh ra làm hoa sen cửu phẩm. Pháp siêu độ này là một đại pháp vô thượng đó!

Thế nhưng pháp sự siêu độ lần này, tổ tiên nhà họ Lí không có một ai đến cả. Cũng vì tôi đã triệu thỉnh u chúng nhà họ Lí rồi mà tổ tiên họ Lí vẫn chưa đến, điều này khiến tôi cảm thấy rất dị, cũng khiến tôi hoang mang.

Tôi không phải người phàm, tôi là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Tôi hiểu vạn vạn pháp, tôi không chỉ có thể sai thần khiến quỷ mà còn có thể thỉnh Phật Phật đến, thỉnh Bồ Tát Bồ Tát đến, thỉnh La Hán La Hán đến, chư Thiên cũng đến, chư Tiên cũng đến, huống hồ là những linh hồn âm gian nhỏ bé.

Tôi không tin!
Tôi đập sắc lệnh xuống!
Mau chóng đến đây! Cấp cấp như luật lệnh!

Sắc lệnh lần này của tôi có pháp lực vô cùng mạnh. Nói chung, chúng sinh u minh trong danh sách của sắc lệnh không thể chạy thoát, sự nhiếp triệu như thế giống như sắt đập vào nam châm, nhất định sẽ hút vào, cho dù kẻ không muốn mơ giấc mộng luân hồi cũng phải đến pháp hội của tôi một lần.

Tôi tràn đầy tự tin.
Nhưng đợi một lúc, tổ tiên các đời nhà họ Lí cũng vẫn bặt tăm tin tức, vắng vẻ trống không, không ai đến dù chỉ một người.
Vốn dĩ, pháp sự siêu độ này, tôi có thể cứ y như trước mà vẽ hồ lô, cứ tiếp tục làm, sẽ chẳng có ai biết được, người ta mời tôi đến làm siêu độ, tôi cứ theo nghi quỹ mà làm siêu độ, không cần biết linh hồn người ta có đến hay không, đến thì làm, không đến cũng làm, tất cả sự tình cứ báo cáo kết quả là xong.
Nhưng, tôi không như vậy!
Tôi cảm thấy việc này không bình thường, có điều quái dị, căn bản là không hợp lí. Tôi nhất định phải làm rõ chân tướng.

Tôi lại đợi một lúc, không đợi được nữa, tôi đứng dậy, rời khỏi pháp tọa. Người chủ sự là Lí Nga hỏi tôi:
”Hoạt Phật cần nghỉ ngơi sao?”
”Không!”
”Hoạt Phật không mệt, không có việc gì thì sao phải dừng lại?”
”Không làm được nữa!” - Tôi nói.
”Vì sao?” - Lí Nga kinh ngạc.
”Có điều kì quặc, tôi phải kiểm tra trước đã rồi mới siêu độ được!” - Tôi nói.

Chủ sự Lí Nga rất tin tưởng tôi, thấy tôi nói như vậy thì cũng không hỏi tiếp nữa. Tôi im lặng không nói, tôi biết chuyện này có thể có phiền phức lớn, nhưng tôi rất muốn biết cái kết cục của chuyện này.
Tôi làm pháp sự siêu độ, triệu tập u chúng, u chúng không đến, sự việc kiểu này căn bản là hiếm có. Trên nguyên tắc, pháp lực của tôi không mất đi, tâm niệm của tôi là chân thành không thay đổi, tôi ban bố pháp chỉ nhiếp triệu. 
Tròn vành vạnh.
Rõ rành rành.
Ý tinh tươm.
Lời gọn ghẽ.
Vì sao u chúng không đến chứ?
Nếu u chúng không có cách nào đến thì chỉ có hai nguyên nhân. Thứ nhất, tổ tiên các đời nhà họ Lí đều đã không còn luân hồi trong lục đạo nữa, tất cả đã được sinh ra làm cửu phẩm liên hoa, u chúng nhà họ Lí đều đã được sinh ra trong tịnh thổ, tất cả quyến thuộc đều bình đẳng như nhau, toàn bộ đều là chính giác liên hoa sinh. Nếu quả thực là như vậy thì thật sự tôi cũng tiết kiệm được sức lực, Phật huệ sáng chói chang, trừ ngu si u ám, đáng chúc mừng!
Thứ hai, u chúng quyến thuộc nhà họ Lí, theo như tôi biết, ai cũng có nhân duyên mê nhiễm, đã u mê càng u mê, đã ô nhiễm càng ô nhiễm, trong đó, trong đục khác nhau, tối sáng khác biệt, ở đây chắc chắn họ có linh của lục đạo luân hồi, nhưng những linh hồn này lại không đến thì là điều quái lạ, là kì dị, nhất định có nguyên nhân bất khả tư nghì!

Tôi siêu độ không thành, đương nhiên tự cảm thấy lòng mình chưa yên. Trong nội tâm tôi, nếu không hợp với bản tính của mình, không thể lợi mình lợi người, thì về lí là có thiếu sót, tóm lại, cần phải kiểm tra rõ đầu đuôi ngọn ngành, như vậy mới không thấy hối hận, tội lỗi.

Tôi thiền định tĩnh tọa.
Cảm thông đến chư Phật.
Tôi cảm ứng thấy một tướng trang nghiêm, có một tịnh thổ, ánh sáng mạnh và chói vô cùng. Vùng đất ấy giống như tấm gương. Lúc này, không trung xuất hiện chuỗi ngọc của 33 cõi trời, những chuỗi ngọc ấy đều tỏa ra ánh sáng vàng kim, không hề có chút vẩn đục.

Chuỗi ngọc của 33 cõi trời một khi xuất hiện thì nhất định sẽ có Đại Bồ Tát đến. Quả nhiên, tôi nhìn thấy nghìn mắt nghìn tay ở khắp nơi, thì ra là:
*Nghìn tay trang nghiêm hộ trì khắp.
Nghìn mắt sáng soi chiếu khắp nơi.
Trong tâm vô vi từ tâm khởi.
Trong lời chân thật bí mật truyền.*
Là Thiên Thủ Thiên Nhãn Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát hiện ra kim thân.

Bồ Tát nói với tôi:
”Liên Sinh, chuyện này không cần điều tra! Liên Sinh, chuyện này không cần điều tra! Liên Sinh, chuyện này không cần điều tra!“
Tôi chắp tay, niệm một câu tâm chân ngôn của chú đại bi:
”Om fazila darma toli.” 
(Namo sanmanto wutonam fazila darma seh.)
Trong một sát-na:
Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát giống như cơn gió lớn thổi qua, rồi huyễn hóa biến mất, giống như một tờ giấy được chú ngữ thổi vào rồi biến mất. 
Chú âm vừa kết thúc, dường như tôi nhìn thấy một cây đa rất lớn, cành lá sum suê, là một cây đa to rất xanh tươi, lóe lên một cái rồi biến mất!

Tôi xuất định, trong lòng nghĩ về cảnh tượng mà tôi đã nhìn thấy trong thiền định:
Quả nhiên căn cứ theo thiền định của tôi, nhìn thấy Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát đến chỉ thị không cần điều tra nữa. Vậy thì hẳn là không cần điều tra nữa, bởi vì phải biết rằng Quan Thế Âm Bồ Tát là một vị Bồ Tát vĩ đại vô cùng, Bồ Tát là vị đứng đầu trong tám vị đại Bồ Tát, quá khứ ngài là Chính Pháp Minh Như Lai, là vị đại Bồ Tát có duyên nhất với chúng sinh ở thế giới Ta Bà. Bồ Tát xuất hiện để thông báo rằng, không cần điều tra nữa, thế thì không cần phải nghiên cứu điều tra rõ làm gì, tất cả việc siêu độ đến đây là kết thúc.

Tôi có thể thông báo với Lí Nga là pháp sự siêu độ không cần làm nữa. Tất cả kết thúc rồi.
Đây là chỉ thị của Bồ Tát. Bồ Tát đã nói rồi thì cứ thế mà làm!
Vì thế, cũng không còn việc gì nữa!

Tuy nhiên, tôi vẫn nghĩ lại, giữa trời đất này, bất kì việc gì cũng đều là nhân duyên, tức là đều có nguyên nhân cả. Tôi biết triệu gọi linh hồn tổ tiên nhà họ Lí mà họ không đến, nhưng nguyên nhân là gì chứ? Nguyên nhân thì Bồ Tát lại không nói, vì sao Bồ Tát không nói rõ nguyên nhân, đây khác nào sơ xuất của Bồ Tát, Bồ Tát nên thông báo với tôi nguyên nhân, để tôi không phải lưỡng lự chưa quyết chứ! 

Muốn tôi không điều tra cũng được, nhưng cần nói cho tôi biết nguyên nhân chứ!
Nói qua loa cho xong như vậy, sao có thể được chứ?
Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát giống như là ỷ đại uy quyền thế để “áp bức” Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn nhỏ bé này!
Về điểm này thì tôi không phục!
Còn nữa, trong thiền định, Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát vừa biến mất thì tôi nhìn thấy một cây đa rất to, cây đa to này là chuyện gì đây chứ?

Dưới trùng trùng nghi hoặc, tôi nhất tâm nhất niệm phóng đại quang minh đi khắp thập phương thế giới, chính là:
*Đây ánh sáng trang nghiêm
Một niệm là lập tức
Phổ chiếu khắp chư Phật
Hết thảy đều biết hết.*

Vì vậy, tôi nhanh chóng biết rằng, tại rất nhiều Phật quốc trang nghiêm không hề có quyến thuộc của nhà họ Lí vãng sinh, ở các Phật quốc không có linh hồn của người nhà họ Lí.
Tôi lại tìm đến Minh Vương, trong âm giới, trong sách quỷ, cũng không có quyến thuộc của nhà họ Lí, cũng không tìm được linh hồn của người nhà họ Lí.
Tôi hết sức ngạc nhiên!
Phật quốc không có, âm giới cũng không có, ngạc nhiên quá đi mất thôi! Linh hồn nhà họ Lí chạy đi đâu hết rồi không biết.
Đi tìm Thành Hoàng Bồ Tát vậy!
Thành Hoàng Bồ Tát là anh em kết nghĩa của tôi. Ngài ấy cũng chuyên môn cai quản cô hồn dã quỷ, linh hồn phiêu bạt ở nhân gian, ngài ấy nhất định sẽ biết.

Tôi vừa đến gặp ngài thì Thành Hoàng Bồ Tát đã gọi lớn:
”Nhà trinh thám vĩ đại của chúng ta đã đến rồi!”
”Không có việc thì không bước vào đại điện!” - Tôi nói.
”Là việc siêu độ nhà họ Lí sao?” - Bồ Tát đã biết chuyện rồi.
”Không sai.”
”Việc này, ôi! Việc này.” - Bồ Tát lắc đầu.
”Lão huynh cũng không có cách nào giúp sao?”
”Siêu độ không được, thôi bỏ qua đi! Hà tất phải nhiều chuyện?”
”Đây là vấn đề thể diện đó!”
”Từ lúc nào mà Liên Sinh Hoạt Phật cũng có vấn đề về thể diện thế, cái người mà ngay cả danh dự cũng đều phá bỏ thì sao mà lại có vấn đề thể diện chứ?”
”Nói đúng lắm, nhưng nói chung cũng nên biết rõ ngọn nguồn ngóc ngách chứ nhỉ!” - Tôi ngại ngùng nói.

Thành Hoàng Bồ Tát nghiêm mặt nói với tôi:
”Việc này, ngài đi hỏi Lí Nga đi, Lí Nga biết rất nhiều, có liên quan đến việc của Đại Dong Công, cô ấy sẽ nói rõ với ngài đầu đuôi ngọn ngành.”
”Đại Dong Công?” [Ông Đa Lớn]
”Đúng vậy! Ngài mau đi đi!”

🌟

Tôi tìm đến Lí Nga, hỏi việc của Đại Dong Công, thế là, Lí Nga mới kể với tôi một câu chuyện bí mật mà không ai biết của nhà họ Lí.
Đó là vào thời đại Nhật Bản chiếm cứ. 
Nhà họ Lí là một gia tộc lớn. Trưởng bối của gia tộc là Lí Hằng, lấy vợ là Hà Thị, Hà Thị rất xinh đẹp. Có một người em họ tên là Lí Cảnh thầm ái mộ Hà Thị, hai người nảy sinh tình cảm, hẹn gặp nhau dưới gốc cây đa lớn của nhà họ Lí.

Không lâu sau thì Lí Hằng phát hiện ra sự việc này. Lí Hằng và Lí Cảnh phát sinh tranh chấp, Lí Hằng đánh chết Lí Cảnh rồi lén lút chôn dưới gốc cây đa. Không ngờ cây đa lớn ấy lại có phong thủy, địa linh rất dày, sau khi Lí Cảnh chết thì uy linh hiển hách, thường xuyên hiện thân.
Đầu tiên là hắn bắt Lí Hằng đi.
Tiếp theo lại bắt con trai trưởng của nhà họ Lí, hễ là con trai thì thọ mạng đều không dài, còn những người con gái đi lấy chồng thì đều vô sự. Còn hễ là con trai nhà họ Lí thì đại bộ phận đều có chuyện, vì thế, nhà họ Lí có rất nhiều góa phụ.

Sau khi Lí Cảnh chết, dường như đã đưa ra một lời nguyền rủa, muốn tất cả đàn ông của nhà họ Lí đều phải chết theo hắn!
Cuối cùng:
Kê đồng lên đồng, nói rằng Lí Cảnh không phục, muốn nhà họ Lí phải xây dựng một nhà thờ họ ở dưới gốc cây đa để thờ cúng. Nhà thờ họ này chính là ngôi miếu Đại Dong Công, Lí Cảnh chính là chủ thần của miếu Đại Dong Công này.

Ngôi miếu này vừa xây lên thì vô cùng hưng thịnh, linh cảm dị thường, xa gần đều biết. Nhờ có ngôi miếu Đại Dong Công này mà chuyện những người đàn ông nhà họ Lí chết mới dần dần yên ổn. 
Lí Nga nói:
”Lí Cảnh là thần đó!”
Tôi nói:
”Là quỷ địa lí!”

Tôi bỗng tỉnh ngộ:
Cây đa lớn mà tôi nhìn thấy trong thiền định thì ra không phải là vô duyên vô cớ, cũng không phải là kết quả của sự vô thức. 
Tôi hoài nghi Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát cũng là huyễn hóa của cây đa lớn (Đại Dong Công), lá cây huyễn hóa thành nghìn con mắt, cành cây huyễn hóa thành nghìn cánh tay để mà lừa gạt tôi. Đại Dong Công này huyễn hóa thành Quan Âm Bồ Tát thì cũng thật là siêu. Trong lòng tôi nổi lên một cơn giận dữ, nếu thật sự là hắn huyễn hóa thành Quan Thế Âm Bồ Tát thì tôi không thể tha cho Đại Dong Công.

Tôi hỏi Lí Nga:
”Lí Hằng chết vì nguyên nhân gì?”
”Tim tê liệt!”
”Những người khác trong dòng họ chết vì nguyên nhân gì?”
”Tim tê liệt!”
Tôi đã hiểu rồi, đó là những cành cây của cây đa lớn đâm vào tim của người trong gia tộc khiến họ tử vong.

🌟

Lần này, tôi tìm đến miếu Đại Dong Công.
Miếu Đại Dong Công này giống như Lí Nga nói, uy linh hiển hách, người ta thấy ngay một cây đa lớn trăm tuổi ở phía sau miếu, cái cây này cực kì to lớn, vô cùng tươi tốt, cành lá xanh mướt bóng mượt, rễ thô và khỏe, thân cây rõ ràng là bảy, tám người cũng không ôm xuể.

Trước miếu khói hương nghi ngút, có rất nhiều người đến để xin quẻ, rất nhiều người đốt vàng mã, bên trong miếu treo đầy những bức hoành. Tất cả đều đúng là uy linh hiển hách, cầu gì được nấy, cảm thông thiên địa, thần uy thập phương, v.v…

Và tôi nhìn thấy:
Thì ra linh hồn quyến thuộc nhà họ Lí đều đang ở dưới cây đa to này, bận rộn ra vào, họ đều trở thành lao dịch dưới tay của Đại Dong Công, là những con ma bị Đại Dong Công khống chế. Những con ma này cứ lập lòe trước mắt tôi, e rằng có tới hơn trăm người.
Rồi tôi nhìn thấy Lí Cảnh (Đại Dong Công) đã không còn thân phàm phu nữa. Hắn có mặt người, mình chim, trên tai còn đeo hai con rắn xanh, dưới chân còn dẫm lên hai con rùa, trên tay cầm lá cờ đen, quả nhiên là tướng đầy hung dữ, có dáng vẻ của hung thần.

Ngôi miếu này quả nhiên linh khí rất nặng, địa linh tuôn ra ào ào tập trung tại cây đa lớn, chẳng trách mà Lí Cảnh vừa được chôn ở đây thì lập tức trở thành quỷ địa lí. Nếu hắn biết tu hành thì có thể không chỉ là một quỷ địa lí, mà còn có thể trở thành địa tiên.

Địa linh này là:
*Phi phàm kim quang tuôn trào khí
Kinh thiên động địa chẳng bình thường
Đất này vốn là kim quang huyệt
Quỷ quái xung quanh gào thét luôn.*

Đại Dong Công Lí Cảnh này cũng không phải hạng xoàng, sớm đã biết tôi đến, hắn to tiếng với tôi:
”Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, bớt lo chuyện nhàn rỗi đi!”
”Đâu phải chuyện nhàn rỗi, tôi siêu độ cho linh hồn nhà họ Lí mà.”
”Linh hồn nhà họ Lí do tôi cai quản, ông siêu độ không được đâu!”
”Làm gì có cái lí ấy!” - Tôi không phục.
”Tôi có chỉ lệnh.” - Lí Cảnh giơ cao cái cờ đen trong tay.
Tôi nói:
”Anh đã phạm giới dâm!”
Lí Cảnh đáp:
”Tôi và Hà Thị kiếp trước có nhân duyên.”
Tôi lại nói:
”Anh đã phạm giới sát!”
Lí Cảnh đáp:
”Tôi bị giết trước mà thành ra oan hồn, oan hồn báo thù, có được chỉ lệnh, không coi là phạm giới sát.”
Tôi nói:
”Anh mê hoặc dân thường!”
Lí Cảnh đáp:
”Tôi chỉ giúp người ta, cho người ta mãn nguyện, sao có thể coi là ác chứ?”

Đến đây thì tôi á khẩu, Đại Dong Công Lí Cảnh này nói không phải là không có đạo lí. Nếu Lí Cảnh và Hà Thị có nhân quả ba đời thì chuyện này cũng rất khó nói. Còn về giới sát, Lí Cảnh càng thảm hơn, vào buổi tối không trăng lặng gió, anh bị Lí Hằng dùng cái xẻng sắt đập mạnh vào đầu mà chết, đầu vỡ toang, não bắn ra khắp nơi.
Lí Cảnh có được địa linh hóa thành lệ quỷ, có được âm lệnh của Minh Vương, hướng đến nhà họ Lí phục thù, đây cũng không coi là giới sát.
Lí Cảnh có được địa linh của cây đa lớn, tận dụng linh hồn nhà họ Lí để làm những việc thay trời xuống nhân gian giải ưu, tiêu tai giải ách, bảo vệ dân thường, đây cũng không xem là mê hoặc chúng sinh được!

Cuối cùng tôi đã hiểu:
Thành Hoàng Bồ Tát nói với tôi, siêu độ không được, thôi bỏ qua đi! Nguyên nhân của việc hà tất phải nhiều chuyện chính là đây.
Tôi nói với Lí Cảnh:
”Anh đã phạm vào luật trời!”
”Tôi đâu có phạm?”
Tôi nói: 
”Anh giả mạo Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát chính là mạo phạm luật trời đó!”

Lí Cảnh nghe xong, lắp bắp không nói nên lời. Hắn ta thẹn quá hóa cuồng, cả cây đa lớn dậy lên những tiếng vang, liên tiếp những cơn gió lớn dữ dội vô song nổi lên, mang theo một số lượng rất lớn bệnh dịch và virus, người bình thường bị cơn gió này thổi trúng thì không thể đứng vững, ai trúng gió sẽ này sẽ bị bệnh lở loét, thậm chí là chết. 
Cơn gió lớn thổi về phía tôi, tôi từ từ bay lên, đứng trên cơn gió, đung đưa theo gió, tự do tự tại cưỡi gió mà bay. 

Lí Cảnh thấy không ổn, liền tung ra hai con rùa khổng lồ dưới chân để chúng đến cắn tôi. Hai con rùa khổng lồ ấy vừa biến hóa lập tức giống như hai ngọn núi nhỏ, chúng hít thở cứ như là tiếng gào rít giận dữ, sự di chuyển của chúng có thể khiến con người gặp phải những tai họa khủng khiếp, giống như là động đất vậy. Hai con rùa khổng lồ này há miệng ra thì giống như biển cả, độ sâu của nó nói đơn giản là sâu không thấy đáy. 

Con rùa này hít vào thì giống như một cơn gió lạnh băng buốt tận xương, gió cuộn một cái thì con người sẽ bị hút vào trong bụng rùa, trở thành bữa điểm tâm cho con rùa khổng lồ.
Tôi thấy vậy thì cũng kinh khiếp!
Muốn chạy, nhưng chạy không được!
Tôi yên lặng làm quán tưởng, tưởng tượng chính mình là núi Tu Di, đỉnh núi vươn tới chín tầng trời, còn chân núi thì đâm xuống tận suối vàng. Ngọn núi khổng lồ này là ngọn núi duy nhất trên đời. Núi Tu Di cũng là cột chống trời, cột chống trời thì không thể sụp đổ được, bởi vì cột chống trời mà sụp đổ thì mặt đất cũng không duy trì được nữa, vậy thì mặt trăng, mặt trời và những vì sao làm sao còn có thể chuyển động quanh núi Tu Di được đây!
Tôi trì chú, kết ấn.
Nhập vào trong núi Tu Di.

Hai con rùa khổng lồ thấy tôi biến mất, trước mắt lại hiện lên một ngọn núi khổng lồ, đứng sừng sững yên ắng bất động. Đương nhiên, hai con rùa khổng lồ không có cách nào rung chuyển được núi Tu Di, hiển nhiên chúng rút lui!
Lí Cảnh thấy vậy, lập tức lại hóa thành Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát, cành cây hóa thành nghìn cánh tay, lá cây hóa thành nghìn con mắt, thân cây trở thành hình tướng của Bồ Tát. Lí Cảnh vừa duỗi tay ra, một tia kim quang phóng thẳng đến tôi. Kim quang này không phải là ánh sáng bình thường:
*Một tia kim quang sáng chói lọi
Trăm nghìn địa linh lực vây quanh
Nghìn dặm long khí ào ào tới
Tung ra túm lấy mãi không dừng.*

Kim quang giống như mũi tên bắn vào tôi. Tôi dùng thủ ấn bức tường kim cương và chú ngữ, biến hóa thành một bước tường kim cương để chặn lại kim quang này. Không ngờ một tiếng sét vang lên, bức tường kim cương vỡ làm đôi, âm thanh ấy dội ngược lại, kim quang kia phóng thẳng vào tim tôi. Tôi giống như bi trúng tên, nội tâm tê liệt một lúc, tim cũng không còn đập nữa. Còn đầu thì thấy quay cuồng, mất đi cảm giác.

Tôi nghĩ:
Lần này tôi chết chắc rồi.
Tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) niết bàn rồi.
Tất cả quy về hư không rồi.
Đúng vào lúc này.
Có thiên âm từ trong tim tôi tuôn trào, thiên âm vô cùng tuyệt vời, tim tôi giống như hoa sen nở ra tám cánh, có một người ngồi bên trong những cánh hoa, ngâm nga rằng:
*Tôi đây* *Lư Thắng Ngạn
Ngồi ngay trong đài sen
Nghìn đóa hoa quanh mình
Tái hiện nghìn Thích Ca
Một đóa trăm triệu cõi
Một cõi một Thích Ca.*

Thần biến này khiến Đại Dong Công Lí Cảnh vô cùng sửng sốt, thì ra trong tim của Lư Thắng Ngạn còn có một Lư Thắng Ngạn nữa!

Thật ra, đây cũng không thể xem là thần biến. Trong “Thực Tướng Kinh” có nói: Phật quán thấy trong tâm phiền não của tất cả chúng sinh, có thân Như Lai ngồi kiết già, ngay ngắn bất động, đầy đủ đức tướng.

“Thiên Đài” viết: Pháp thân chư Phật và bản thân là cùng một thể, cái hiện lên khi quán trong tâm Phật chính là thể của pháp thân chư Phật, đó cũng là cái gọi là tâm là Phật.

“Chân Thực Kinh” viết: Nơi thế gian phàm nhân mà đức Phật cư ngụ, đều có đủ tám vạn bốn nghìn phiền não. Nếu thấy được thực tướng của những phiền não này, lí trí đã hợp, thì có thể thị hiện tám vạn bốn nghìn tướng tốt quang minh. Nếu người tu hành biết điều này thì tâm chính là Phật, có thể thấy được thực tướng từ trong mọi phiền não.

Lư Thắng Ngạn ở trong tim nói với Lí Cảnh:
”Chủ nhân của anh đến rồi đó!”
Lí Cảnh quay lại nhìn, trong bầu trời *xanh biếc không vương làn mây mỏng, chim trắng bay xa tận chân trời*, có một vị Bồ Tát, có nghìn mắt nghìn tay, *ánh sáng chân thiện mĩ, tướng mạo vượt chúng sinh, hiện vô lượng châu báu, áo đan hoa trang nghiêm, Bồ Tát đại từ bi, trừ thế gian u tối*.

Lí Cảnh vừa nhìn thấy thì hồn bay phách tán, đến từ hư không chính là Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát. Còn Lí Cảnh (Đại Dong Công) lúc này cũng đang hiển hiện tướng Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát, một thật một giả chạm mặt nhau rồi.
Bồ Tát hừ một tiếng:
”Còn chưa hiện hình sao!”
Lí Cảnh chỉ còn biết run rẩy hiện thân là một cây đa to một trăm phần trăm.

Bồ Tát không nói nhiều, bèn phóng thần lực vĩ đại thu nhỏ cây đa lại hết mức, cắt hết cành lá, bộ dạng của cây đa to đã bị chặt đi không thể ngắn hơn được nữa, giống như cái gì nhỉ, à giống như một cây kim, Bồ Tát bỏ cây kim vào trong tịnh bình.
Bồ Tát hướng về tôi cúi đầu:
”Liên Sinh, cảm tạ công lao!”
”Bồ Tát, vất vả rồi!” - Tôi chắp tay lại.
Bồ Tát nói:
*Tổ kiến tinh xảo như tác phẩm thủ công
Lớp này lớp nọ được kết nối dày đặc
Là thân cát bụi lại về với cát bụi
Ý thức quang minh lại cất giữ cùng nhau.*

Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát ngâm xong bài thơ này bèn từ từ bay lên hư không, biến mất về nơi xa xăm!

🌟

Đoạn kết của sự việc này như sau:
Tôi lại một lần nữa lên pháp tọa, triệu thỉnh tổ tiên các đời nhà họ Lí và các linh hồn quyến thuộc nhà họ Lí, họ lũ lượt kéo đến trước đàn thành của tôi, không thiếu một ai, họ nghe tôi giảng kinh thuyết pháp, tôi bố thí nước pháp cam lộ thanh tịnh và bố thí thức ăn ngon.

Cuối cùng, tôi lần lượt siêu độ các linh hồn nhà họ Lí vãng sinh đến Phật quốc thanh tịnh. Có người nói Phật quốc rất xa, thật ra không xa, chỉ cần lĩnh ngộ được thì nghìn nghìn tỉ tỉ dặm cũng chỉ là trong một tấc vuông mà thôi.
Tôi từng có lần đi qua ngôi miếu Đại Dong Công, phát hiện ra cây đa lớn và ngôi miếu đã không còn nữa, hỏi thăm người đi đường thì họ trả lời:
Cây đa lớn không biết vì sao mà bỗng nhiên khô héo rồi chết! Còn ngôi miếu cũng vì ảnh hưởng đến kế hoạch đô thị nên chính phủ đã chuyển ngôi miếu đi nơi khác!
Người dân địa phương nhờ ngôi miếu này mà hưng thịnh, vốn dĩ không muốn chuyển ngôi miếu đi, muốn đấu tranh, thế nhưng cây đa lớn đột nhiên vô duyên vô cớ mà chết, vì vậy mà việc di dời ngôi miếu cũng không quan trọng nữa.

Tôi đi gặp Thành Hoàng, Thành Hoàng nói:
”Không gặp Lư Thắng Ngạn!”
”Vì sao chứ?”
”Nếu tôi mà gặp ngài thì miếu Thành Hoàng của tôi đây cũng biến mất thôi!”
Tôi cười vang:
”Chính thần và quỷ cây khác nhau!”
Thành Hoàng đáp:
”Cần biết rằng thật và giả vốn cùng một thể, si mê hay tỉnh ngộ đều do chính bản thân thôi!”
Tôi ngẫm nghĩ, quả nhiên là như vậy.
Sự khác biệt giữa thần và quỷ là: tịnh nghiệp thiện tư mà thành thần, oán ghét vọng niệm mà sinh quỷ.


### 02. Hàng rết độc


Ngày xưa, Liễu Minh Hòa Thượng kể với tôi một câu chuyện có thật.
Có một người thanh niên tên là Hoàng Nghĩa, bản tính thích du lịch, anh một thân một mình đi du lịch đến Vân Nam, Quế Châu ở tây nam Trung Quốc. Hoàng Nghĩa đến một vùng núi ở Miêu Động, tình cờ ở Miêu Động đang cử hành lễ hội Khiêu Nguyệt [lễ hội nhảy múa dưới trăng], lễ hội lớn này được ghi chép trong sách cổ như sau:

“Theo tục của người Miêu, hàng năm vào tháng đầu xuân, nam nữ ăn mặc đẹp cùng nhau nhảy múa dưới trăng, nam thì thổi khèn, đi phía trước để dẫn dắt, nữ gõ mõ đi phía sau để đáp lại, lượn vòng khéo léo suốt cả buổi mà không hề lộn xộn, cuối ngày mới mang đồ cá nhân trở về, đùa vui cười nói hát ca cho đến tận sáng sớm mới tan.”

Hoàng Nghĩa tham gia vào lễ hội Khiêu Nguyệt của người Miêu. Đó là một lễ hội rộn rã vào thời tiết mùa xuân tháng ba, hoa đào hoa lê đều nở rộ. Ngày hôm đó bầu trời quang đãng, ánh trăng vô cùng tươi đẹp, tộc người Miêu Động đã chuẩn bị rượu và thức ăn rất phong phú tại mảnh đất trống trên đỉnh núi, còn có đủ loại nhạc khí, khèn, sáo, trống, đàn dây, v.v…

Nam nữ ăn mặc lộng lẫy đều đến mảnh đất trống tràn ngập ánh trăng này, âm nhạc vang lên, rất nhiều nam nữ thiếu niên thổi khèn du dương và vui tai, đi thành hình tròn, vừa múa vừa hát. Bình thường là nam thổi khèn, nữ thì đong đưa chuông phụ họa.
Hoặc là tất cả mọi người cùng ca múa vòng quanh.
Hoặc là hai người múa đôi với nhau. 
Suốt cả đêm đều không biết mệt mỏi. Nhảy múa đến lúc cao điểm nhất, Hoàng Nghĩa bị một thiếu nữ Miêu Động cuốn hút, thiếu nữ khi nhảy múa đã bộc lộ ánh mắt mê hoặc người khác, khiến tâm thần anh dao động.
Vẻ xinh tươi của cô gái.
Cái eo thon uốn éo như con rắn nước, khiến Hoàng Nghĩa không có cách nào chống cự được.
Thiếu niên nam nữ trong lúc nhảy múa tâm đầu ý hợp, cô gái ấy cũng để mắt đến Hoàng Nghĩa, ánh mắt hai người chạm nhau, rồi cả hai dính chặt lấy nhau. Hai người nhảy thành một đôi, càng dính vào nhau chặt hơn. 
Thân thể đầy nhiệt tình của cô gái Miêu Động, trái tim Hoàng Nghĩa sớm đã rần rần máu nóng. 
Hai người tay nắm tay, rời khỏi đám đông, đi vào rừng sâu, tìm đến một nơi bí mật.

Khi Hoàng Nghĩa đến Miêu Cương, từng có người bạn khuyên anh:
”Du lịch Miêu Động phải cẩn thận!”
”Vì sao?”
”Đừng yêu con gái địa phương!”
”Nếu yêu thì sao?”
”Yêu rồi thì không trở về được đâu!”
”Vì sao không trở về được?”
”Người Miêu có thuật cổ trùng [giáng sâu độc] đó!”

Thế nào là sâu độc? Thế nào là giáng? Hoàng Nghĩa căn bản không hiểu lắm. Thế nhưng, Hoàng Nghĩa đi tham gia lễ hội Khiêu Nguyệt quả thật đã yêu phải một cô gái Miêu Động.

Hoàng Nghĩa được mời đến nhà của người Miêu Động, trở thành con rể của người Miêu Động. Ban đầu Hoàng Nghĩa thật sự yêu cô vợ mới của mình. Kết hôn hai năm, những tập tục của cuộc sống rất không quen, nhưng cũng có thể chịu đựng được, nhưng ngày tháng cứ tiếp tục kéo dài như vậy, anh cảm thấy không biết phải làm sao.

Cá tính Hoàng Nghĩa thích du lịch, thời gian trôi qua quá đơn điệu, làm sao mà chịu đựng nổi, lẽ nào cả đời anh phải chết già ở Miêu Cương sao. Nhiều lần Hoàng Nghĩa nhắc đến việc muốn đi, vợ của Hoàng Nghĩa cũng hiểu sắp không thể giữ được chồng mình nữa.

Có một hôm. Vợ nói với Hoàng Nghĩa:
”Anh có thể đi!”
Hoàng Nghĩa vui mừng hét lớn:
”Thật không?”
Vợ nói:
”Anh đi rồi, sau này không gặp lại anh nữa, đoạn nhân duyên này của chúng ta vĩnh viễn tan biến, anh có thể nghĩ lại không?”
Hoàng Nghĩa nói:
”Sẽ không đâu, anh chỉ về một chuyến, rồi sẽ trở lại!”
(Thật ra Hoàng Nghĩa căn bản không muốn quay trở lại.)
Vợ nói với Hoàng Nghĩa:
”Xin anh hãy cân nhắc thêm!”
Hoàng Nghĩa căn bản là không muốn nghĩ lại nữa, vội vàng thu dọn hành lí đơn giản, rồi vội vàng đi xuống núi.
Người vợ khóc tiễn anh, nhưng nước mắt cũng không giữ lại được trái tim của Hoàng Nghĩa.

🌟

Hoàng Nghĩa rời khỏi vùng núi Miêu Động thì trời đã tối. Dưới núi có một thị trấn rất rất nhỏ, một ngôi làng có khoảng hai, ba trăm người sinh sống, có hai nhà trọ nhỏ, anh tiến vào nhà trọ, muốn nghỉ ngơi qua đêm. Chủ nhà trọ liếc nhìn anh rồi nói phòng trọ đã kín, xin mời tìm nhà khác. Hoàng Nghĩa tìm đến nhà trọ khác, anh chưa mở miệng ra thì người trong nhà trọ đã nói với anh là kín phòng rồi, xin mời đi nhà khác.
Hoàng Nghĩa nói:
”Tôi có thể trả thêm tiền!”
”Không được, kín rồi.”
”Một phòng bình thường thôi cũng được!” - Hoàng Nghĩa nói.
”Ngay cả một phòng cũng không có.”

Hoàng Nghĩa rất ngờ vực, ở thị trấn nơi hoang vu này, đêm nay cả thị trấn rất hiếm có người ngoài, vì sao nhà trọ lại đầy kín chứ? Hoàng Nghĩa đi bộ trên con đường cuồn cuộn cát vàng, trên đường ngay cả một người đi đường cũng không có, anh cảm thấy cái thị trấn im lặng như tờ này có chút kì dị!

Thị trấn này chỉ còn một quán ăn nhỏ vẫn còn mở cửa, anh đi vào trong, bên trong quán ăn có một bàn khách, vốn dĩ họ vẫn đang nói cười, vừa thấy anh đi vào, mọi người đều mặt mày biến sắc, ngậm miệng lại im thin thít, ai nấy đều nhìn anh.

Hoàng Nghĩa gọi một bát mì. Ăn xong, lúc trả tiền, anh hỏi chủ quán:
”Ở đây có nơi ở trọ không?”
Chủ quán đáp: 
”Hai nhà trọ chắc là đầy phòng rồi, không có chỗ cho anh đâu!”
”Đúng vậy.” - Hoàng Nghĩa nói.
”Đi ra khỏi quán này về bên phải, nhà thứ ba, anh thử gõ cửa, có lẽ anh có thể tìm được chỗ trọ, bình thường người không tìm được chỗ trọ thì chỉ có tìm đến đó thôi.” - Chủ quán có ý nói gì đó.
Nhưng Hoàng Nghĩa không nghi ngờ điều gì khác, bèn đi gõ cửa ngôi nhà thứ ba.

Cửa mở ra.
Có một ông già liếc nhìn Hoàng Nghĩa một cái rồi cũng không nói gì nhiều, mời anh vào, thì ra bên trong là tiệm quan tài, cái lớn cái nhỏ xếp đầy hai bên. Đi ra vườn sau, vườn sau có hai gian phòng trông rất lộn xộn. Hoàng Nghĩa hỏi:
”Đây là phòng gì?”
Ông già đáp:
”Đây là nhà xác, hiện tại không có người ở, có thể để cho anh ở.”
Hoàng Nghĩa rùng mình một cái. 
”Không!” - Hoàng Nghĩa dự định không ở.
Ông già nói:
”Nơi đây là chân núi Miêu Động, không ngủ ngoài trời được, ngoài trời có nhiều dã thú, thôi cứ ngủ một đêm đi! Ma thì có gì mà sợ, người mới đáng sợ chứ!”
Hoàng Nghĩa nghĩ cũng phải, bèn thu hết can đảm ở lại một đêm.
Ông già đòi tiền trọ của Hoàng Nghĩa, rồi rót trà mời nước khá ân cần, lại còn dẫn Hoàng Nghĩa vào trong cửa tiệm. Ông già hỏi:
”Anh muốn chiếc nào?”
”Chiếc nào cái gì?”
”Quan tài.”
”Sao tôi lại cần quan tài chứ?”
Ông già đáp:
”Vô thường. Có ai biết được tối nay lên giường đi ngủ, sáng mai còn có thể xuống giường được không!”
Hoàng Nghĩa nói:
”Tôi vẫn còn trẻ, không muốn chết đâu!”
Ông già trả lời:
”Mạng người vô thường như trong một hơi thở, thời gian hữu hạn nên phải trân trọng, đời này phép phù thủy thì khó lắm, xem xem thời gian còn được mấy ngày.”
Hoàng Nghĩa nghe không hiểu ông già nói cái gì.
Ông già nói với Hoàng Nghĩa: 
”Anh hãy về phòng, soi gương mà xem, nhìn xem ở đầu mũi anh hiện lên cái gì, nhìn kĩ vào!”

Hoàng Nghĩa trở về phòng, soi gương thật kĩ xem thử, dưới chân mũi mình có một vết xanh, vết bầm xanh này hiện lên hình con rết. Hoàng Nghĩa cũng không biết là ý nghĩa gì. Hoàng Nghĩa vì đi bộ xuống núi nên đã mệt rồi nên ngáp liên tục, nên cũng tắt đèn lên giường, chỉ một lúc sau anh đã ngủ rất say, từ lâu đã chìm vào giấc chiêm bao.

Buổi tối hôm đó, thị trấn nhỏ ở dưới núi Miêu Động nổi cuồng phong, gió thổi mạnh đến nỗi nhà nào nhà nấy đều đóng chặt cửa sổ, mặt trăng trên bầu trời cũng trốn sau mây đen, mặt đất là cả một vùng đen thẫm, chỉ còn tiếng chó sủa liên tục, âm thanh của tiếng chó nghe như thổi vào chiếc loa vậy, vô cùng bi thương!

Một vệt ánh sáng trắng lóe lên trên bầu trời đen kịt. Ánh sáng trắng giống hình một con rết cực lớn. Ánh sáng trắng chiếu vào gian nhà xác nơi Hoàng Nghĩa đang ngủ say. Chỉ nghe thấy một tiếng kêu thảm thiết. 
Hoàng Nghĩa đã chết rồi!
Dưới trận cuồng phong, tiếng thét mặc dù rất dữ dội và thê lương, nhưng ngay lập tức nó bị chìm nghỉm khi có gió thổi qua.

🌟

Liễu Minh Hòa Thượng nói với tôi:
Tộc người ở khu vực Miêu Cương tin tưởng vào Vu Độc giáo, nhà nhà đều nuôi cổ trùng, những cổ trùng này rất kì dị, nếu bạn nuôi cổ trùng tốt thì sinh kế gia đình sẽ rất tốt, ai làm ruộng thì ngũ cốc sẽ được mùa, ai buôn bán thì kinh doanh hưng thịnh, thọ mạng sẽ dài thêm, thân thể sẽ khỏe mạnh, hôn nhân sẽ viên mãn. Tóm lại, tất cả sẽ như ý cát tường.

Lấy một ví dụ để nói, cái thứ gọi là cổ trùng này tương tự như việc nuôi tiểu quỷ của thầy phù thủy. Nuôi tiểu quỷ tức là thu nhận linh hồn của những đứa trẻ sơ sinh bị chết non, nhận về để cho mình sử dụng, nuôi dưỡng linh hồn của tiểu quỷ, sau đó, hi vọng tiểu quỷ này nói gì nghe nấy, lợi dụng tiểu quỷ để đi làm kinh doanh, đi kết giao bạn bè, đi kiếm tiền, đi gây ảnh hưởng lên người khác, khiến cho người nuôi quỷ có được danh lợi.

Còn cổ trùng không phải là linh hồn của con người, mà là linh hồn của côn trùng độc, người Miêu sẽ đem những con rắn độc, rết độc, nhện độc, bò cạp độc, v.v… về nuôi chung, chúng sẽ cắn xé lẫn nhau, rồi lần lượt từng con sẽ chết. Trong số đó sẽ có một con không chết, thì con đó chính là con độc nhất. 
Nếu rắn độc không chết thì đó chính là “xà cổ”. 
Nếu rết độc không chết thì nó sẽ là “ngô công cổ”. 
………

Nuôi cổ trùng có người tốt, người thiện.
Nuôi cổ trùng cũng có người không tốt, người ác.
Cổ trùng của kẻ xấu nếu phóng vào kẻ thù thì kẻ thù sẽ trúng độc giáng xuống mà chết. Đây là phương pháp sử dụng “vu cổ” [thuật phù thủy dùng cổ trùng] để sát hại kẻ thù.

Có một số người sau khi chết vì bị trúng vu cổ, toàn thân sẽ có màu đen, giống như bị trúng độc vậy, nếu giải phẫu thân thể của người đó, rạch dạ dày ra thì bên trong dạ dày sẽ đầy cổ trùng, vô cùng đáng sợ.

Người Miêu nuôi cổ trùng phải biết cách chăm sóc cổ trùng, nếu chăm sóc tốt thì sẽ cực kì may mắn phát tài, chăm sóc không tốt thì cổ trùng sẽ cắn ngược lại, cổ trùng mà cắn ngược lại thì cũng rất lợi hại.
Có người nói cổ trùng là chất độc.
Có người nói cổ trùng là vi khuẩn.
Có người nói cổ trùng là linh động vật.
Những cách nói khác nhau.

Tôi hỏi Liễu Minh Hòa Thượng:
”Vì sau cô gái người Miêu lại phóng độc với Hoàng Nghĩa?”
Liễu Minh Hòa Thượng đáp:
”Ngược lại của yêu chính là hận, yêu và hận là một thể hai mặt, cô gái người Miêu cần tình yêu, cũng có thể phóng độc, chia tay rồi, cũng có thể phóng độc, đây chính là yêu đến cực điểm thì mọi người cùng chết, không phải anh chết thì là tôi chết.”
Tôi lại hỏi:
”Vậy những người ở thị trấn kia đã biết Hoàng Nghĩa bị trúng độc rồi, vì sao không có ai ra mặt cứu anh ta?”
Liễu Minh Hòa Thượng đáp:
”Con người trên thế gian này, dĩ nhiên có người nghĩa hiệp, nhưng dẫu sao cũng chỉ là thiểu số, người bình thường thì tránh rắc rối là tốt hơn cả. Ở Miêu Cương, trúng độc là chuyện thường gặp, phương pháp giải cứu thì có, nhưng cũng sẽ gặp nhiều phiền phức, đôi khi giải cứu không xong, ngược lại người đi cứu người lại bị chết, chuyện này cũng có. Muốn cứu Hoàng Nghĩa, thật ra cũng không phải là dễ dàng, đồng thời, cứu được Hoàng Nghĩa rồi thì lại đắc tội với người phóng độc, tương lai của bản thân e rằng cũng sẽ chết dưới cổ trùng.”

Tôi hỏi:
”Làm sao biết việc phóng độc có thành không?”
”Cổ trùng là loài sống, sẽ báo cáo lại với chủ nhân!”
”Nếu như cứu được Hoàng Nghĩa?”
”Chắc chắn phải giết chết cổ trùng.”

Tôi nói:
”Chúng sinh thế giới Ta Bà này theo đuổi danh lợi, ái tình, thật sự là những kẻ chạy theo hoàn cảnh. Suy nghĩ luôn nằm trong những ảo tưởng, suy nghĩ ảo tưởng không có lúc nào dừng lại. Có ai thật sự có thể thoát khỏi cái vòng danh lợi, cái vây hãm của ái tình chứ?”
Liễu Minh Hòa Thượng nói với tôi, trong sách cổ có ghi lại, cổ trùng còn có rắn mối độc, châu chấu ngựa độc, bọ hung độc, tằm vàng độc. 
Tôi vẫn còn có một thắc mắc:
”Nếu người nuôi cổ trùng, có một ngày không muốn nuôi nữa thì phải làm sao?”
Liễu Minh Hòa Thượng trả lời rằng:
Thời cổ đại, có một phương thuật chuyên môn đánh đuổi cổ trùng, phải tìm 12 đồng nam, tuổi khoảng 10 đến 12 tuổi, trên đầu quấn vải đỏ, người mặc áo lót đen, tay cầm trống lắc lớn và cứ lắc thùng thùng thùng thùng. 

12 đồng nam này tượng trưng cho 12 Kim Giáp Thần, do một vị thầy phù thủy dẫn đầu, dẫn dắt 12 đồng nam này hát bài hát hàng phục cổ trùng như sau:

*Cổ trùng ơi cổ trùng
Chớ điên cuồng ngang ngược
Chúng ta là Kim Giáp Thần ở trên trời
Không ma quỷ nào chặn được!
Kim Giáp Thần sẽ không thương xót
Sẽ quét sạch bay lũ cổ trùng
Sẽ đốt lửa đuổi lũ chúng bay
Sẽ lôi chân, lôi cánh chúng bay
Trên thân chặt thành nhiều đoạn
Lấy hết máu, lấy hết ruột gan
Chúng bay còn không mau chạy
Bằng không sẽ thành thức ăn cho Kim Giáp Thần!*

Vừa hát vừa lắc trống, 12 đồng nam nhảy điệu múa đuổi quỷ, thầy phù thủy sẽ quăng cái hũ nhỏ màu đen dùng để nuôi cổ trùng xuống sông, để cho cái hũ nhỏ theo dòng nước chảy đi, như thế là tiễn cổ trùng đi rồi.

Phương thuật này, con người hiện đại đã rất ít dùng, con người hiện đại muốn tiễn cổ trùng đi, chỉ đem cái hũ nhỏ nuôi cổ trùng len lén bỏ vào phòng nhà trọ, rồi sau đó bỏ chạy. Bởi vì đó là phòng nhà trọ nên khách trọ thoắt đến thoắt đi, cổ trùng đói bụng sẽ không thể quay đầu đi tìm chủ nhân của chúng nữa, sẽ tìm đến những người khách lạ mặt mà hạ thủ, vì thế những người khách lạ mặt sẽ gặp tai ương. Đó là những việc tồi tệ mà những kẻ xấu nuôi cổ trùng rồi không muốn nuôi nữa sẽ làm để hại người.

🌟

Trong cuộc đời độ hóa chúng sinh của tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) cũng có một câu chuyện có thật về việc giáng rết độc giống như vậy. 

Tôi có một đệ tử họ Mạnh tên Vạn, anh ấy mở phòng trọ (khách sạn). Anh vội vội vàng vàng tìm đến tôi. Anh kể cho tôi một sự việc kì lạ:

Tháng trước khách sạn của anh có một người khách phương xa đến ở trọ, yêu cầu một căn phòng, nhưng lại không hề ở đó, anh ta bỏ đi, để lại một cái vại sành nhỏ màu đen, trên miệng vại được dán lại, không biết đó là vật gì. Người dọn dẹp thông báo cho lễ tân, lễ tân thông báo cho anh, tất cả mọi người có mặt ở đó mở miệng vại sành ra xem, bên trong trống không, không có cái gì cả, chiếc vại sành này xem ra cũng không đáng bao nhiêu tiền, mọi người thuận tay bèn vứt nó vào thùng rác, rồi xe rác chở đi đổ ở bãi rác rồi!

Mọi người cũng không lưu ý đến sự việc này nữa, nhưng vấn đề là, nội trong vòng một tháng, khách sạn của anh đã có hai người khách bị chết, hai người khách đều chết trong cùng một căn phòng, căn phòng này chính là căn phòng có chiếc vại sành bị để lại. Nguyên nhân hai người khách chết rất li kì, vẫn đang sống khỏe mạnh ở khách sạn, không có bệnh gì, ấy vậy mà sau một đêm, sáng hôm sau nhân viên dọn dẹp đi dọn phòng, gõ cửa không ai trả lời, mở cửa ra tiến vào thì mới phát hiện ra khách đã nằm chết rồi. Toàn thân đen thẫm. Không rõ nguyên nhân chết. 

Khách sạn xảy ra sự việc này khiến danh dự không tốt lắm, tin xấu truyền đi, có ai còn dám đến ở nữa, vì thế anh mới vội vã đến xin ý kiến.

Tôi nhắm mắt lại thiền định quan sát thì cũng không nhìn thấy gì hết, cả một vùng tối đen, cuối cùng chỉ nhìn thấy ánh sáng trắng lóe lên. Khi ấy, căn bản là tôi không hề nghĩ đến cổ trùng. Tôi nói với Mạnh Vạn:
”Tôi tới khách sạn giúp anh tẩy tịnh vậy!”

Mạnh Vạn đương nhiên vô cùng vui mừng, Lư Sư Tôn muốn đích thân đến căn phòng đó để tẩy tịnh là việc vô cùng khó có được.

Tôi theo Mạnh Vạn vào căn phòng đó. Tôi là một người thông linh, vừa bước vào phòng tôi lập tức cảm nhận thấy một bầu không khí không thoải mái, một khối tà khí đập thẳng vào người. Tôi vội vàng niệm chú tránh tà thì cũng không kịp nữa! 

Tôi rùng mình ớn lạnh, trong tâm thầm nghĩ: “Không tốt! Không hay!” Mở mắt ra nhìn, tôi chỉ thấy một vệt ánh sáng trắng dài dài, bên trong có một thứ gì đó đang nhúc nhích ngọ nguậy, dường như là rất nhiều chân, nhưng nhìn không được rõ. 

Tôi niệm chú Đại Bi, gia trì cho chén nước, rồi vẩy về hướng đông, ánh sáng trắng lại lóe lên ở hướng tây, vẩy về hướng tây thì ánh sáng trắng lại lóe lên ở hướng đông, vẩy về hướng nam thì ánh sáng trắng lóe lên ở hướng bắc, vẩy về hướng bắc thì ánh sáng trắng lóe lên ở hướng nam, vẩy lên trên thì ánh sáng trắng rơi xuống dưới đất, ánh sáng trắng này chạy rất giỏi, bởi vì nó có nhiều chân. Tôi thấy không có cách nào, bèn kết thủ ấn, bấm thời gian và niệm An Thổ Địa chân ngôn: “Namo samanta buddhanam om duru duru devi soha.”

Có một thần địa chủ toàn thân sưng phù hiện ra. Tôi vừa nhìn thấy mà kinh hãi! Thần địa chủ là linh bảo vệ của khách sạn này, tôi chỉ thấy hình dạng của ông ta rất kì quái. Cái cổ tròn tròn, cái miệng dài như lợn, hai bắp đùi to như voi. Tôi hỏi:
”Làm sao mà bộ dạng như thế này?”
Thần địa chủ đáp:
”Tôi bị cắn.”
”Cắn ở đâu?”
”Bị cắn vào miệng, vào cổ, vào đùi, nên mới biến thành như vậy.”
”Lợi hại ghê, nó là cái gì?” - Tôi hỏi.
Thần địa chủ đáp:
”Là con rết độc!”
”Chỉ là con rết độc thôi mà, thần địa chủ sao lại không chịu được?” - Tôi hoài nghi.
Thần địa chủ nói:
”Con rết độc này không phải là con rết độc bình thường, là con rết độc truyền đời, cho nên bất luận là đẳng cấp nào, chúng tôi đều thua nó. Còn nhớ thời cổ đại, Thiên đế ở trung ương chính là Hoàng đế, khi ấy có một thần trời chính là Xi Vưu, Xi Vưu vì muốn tranh vị trí của Thiên đế bèn xuống mặt đất đi tìm người cùng hắn tạo phản, kết quả là tìm đến tộc Miêu ở phương nam cùng hắn hợp lực tác chiến. Xi Vưu bèn học thuật nuôi cổ trùng của dân tộc Miêu. Còn hôm nay cổ trùng này là do Xi Vưu truyền xuống, không giống cổ trùng bình thường, chúng thần đều không chịu nổi!”

Tôi nghe xong rất sửng sốt:
”Chẳng trách mà nước chú Đại Bi không vẩy được tới nó!”
Thần địa chủ nói:
”Thần địa chủ ở nơi này đều bị nó cắn bị thương rồi, đau tới kêu oai oái luôn! Nếu là người thì đã chết từ lâu rồi!” - Thần địa chủ rất kinh sợ.
Tôi hỏi:
”Thế thần nào có thể trị được con rết ác độc này?”
Thần địa chủ đáp:
”Không nghĩ ra!”
”Không nghĩ ra, vậy ông có lợi ích gì chứ, mời ông đi cho!”
Thần địa chủ quay vù một cái rồi đi mất!

Tôi lại kết ấn Cửu thiên, triệu thỉnh đại thần cao hơn đến, tôi niệm: “*Thiên địa tự nhiên, uế khí phân tán, động trung huyền hư, hoảng lãng thái nguyên, bát phương uy thần, sử ngã tự nhiên, linh bảo phù mệnh, phổ cáo cửu thiên, càn la đáp na, đỗng cương thái huyền, trảm yêu phọc tà, sát quỷ vạn thiên, trung sơn thần chú, nguyên thủy ngọc văn, trì tụng nhất biến, khước bệnh diên niên, án hành ngũ nhạc, bát hải nhưu văn, ma vương thúc thủ, thị vệ ngã hiên, hung uế đãng tận, đạo khí trường tồn, cấp cấp như luật lệnh.*”
Lúc này, hư không vang lên một tiếng sét. 

Người đến là:
”Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thanh Phổ Hóa Thiên Tôn.” Vị đại thần này là Hộ pháp thần vương, tương đối uy lực, khí thế phi phàm. Chúng tôi chắp tay vái chào nhau. 
Phổ Hóa Thiên Tôn hỏi:
”Pháp sư cho gọi, không biết có việc gì?”
”Vì chuyện con rết độc.”
Đại thần nói:
”Việc này Thiên đế đã biết, ngài cứ trở về đi.”
Tôi lại hỏi:
”Làm sao để truy bắt nó?”
Đại thần đáp:
”Thiên đế chỉ nói, cứ để tự nhiên.”
Phổ Hóa Thiên Tôn cười cười, rồi vừa chắp tay lại đã ẩn mình lui đi. 

Tôi đứng sững tại chỗ, không biết phải làm sao. Thần địa chủ không nghĩ ra cách, Phổ Hóa Thiên Tôn và Thiên đế đều nói để tự nhiên, ý đó có nghĩa là bảo tôi nuôi dưỡng con rết độc sao? Tôi không làm sao mà nghĩ được, thật ra tôi thật sự không nghĩ ra cách đối phó với con rết, con rết rất giỏi chạy, nhất là nó là rết tinh nghìn năm.

🌟

Tôi trở về nhà mình tắm gội tịnh thân, rồi soi gương. Tôi nhìn thấy phía trên chóp mũi của mình có một khối màu xanh đen, nhìn kĩ hơn, trời ơi, là hình con rết!
Tôi kinh hãi!
Tôi nhớ đến Hoàng Nghĩa, tôi đã trúng phải rết độc rồi, đêm nay con rết tinh nghìn năm này muốn đến lấy mạng tôi. Tôi nghĩ chắc chắn là trong tích tắc tôi đi vào căn phòng ở khách sạn đó tôi đã bị xung phạm rồi. 
Tôi hiểu rõ bản thân mình, mỗi lần đi vào một ngôi nhà, ngôi nhà này có sinh khí, có vượng khí, tôi sẽ cảm nhận thấy, ngược lại, ngôi nhà có tử khí, có tuyệt khí, tôi cũng sẽ cảm nhận thấy, còn với ngôi nhà có tà khí, có ma khí, tôi lại càng cảm thấy rõ mồn một. Giống như khi đi vào căn phòng của khách sạn, tôi có một cơn ớn lạnh, đó chính là khí của linh động vật vừa tà vừa xấu, tồi tệ quá, tôi đã bị xung phạm rồi!

Tôi nghĩ, đêm nay tôi phải làm kiết giới:
Dưới mặt đất tôi làm nền móng kim cương.
Tại không trung tôi làm lưới võng kim cương.
Ở bốn xung quanh tôi làm cọc gỗ kim cương. 
Liên kết bốn cọc gỗ lại với nhau, làm thành bức tường kim cương.
Trên bức tường lại nổi lửa, trở thành kim cương hỏa viện.
Còn tôi thì nằm ngủ ở giữa.
Tôi muốn khiến cho con rết tinh nghìn năm làm thế nào cũng không xông vào được, khiến cho nó kiệt quệ sức lực, thậm chí bị lửa kim cương đốt cháy xèo xèo, thiêu nó thành than, thiêu chết nó. Đó là pháp kiết giới của Mật giáo.
Tôi cũng cần tự mình biến hóa:
Niệm chú: Ram Yam Kham. 
Giường hóa hành hoa sen, tôi nằm trên hoa sen, toàn thân sinh ra chuyết hỏa. 
Gió thổi qua, tôi trở thành chày kim cương bất hoại lấp lánh ánh vàng kim.
Chày kim cương nằm trên hoa sen hòa nhập vào hư không rồi biến mất.
Tôi ẩn thân rồi.

Đây chính là pháp Miên quang của Mật giáo, là pháp bí mật ngủ ẩn trong đại quang minh. Cho dù là rết tinh nghìn năm có thể tiến vào bên trong kiết giới của tôi, nó cũng không tìm thấy tôi, từ lâu tôi đã hòa làm một với hư không rồi, không sợ bị làm hại, bởi vì hư không là vĩnh viễn bất hoại. Trên thế giới này, bất kì thứ gì cũng đều sẽ hư hoại, thứ duy nhất không hư hoại chính là hư không. Rết tinh nghìn năm dù có lợi hại thế nào cũng không thể làm hại đến hư không.

Đúng vào lúc này, thần Hộ pháp của tôi là Đại Uy Đức Kim Cang Minh Vương hiện thân, toàn thân ngài cháy bừng bừng, đầu trâu, nhiều tay nhiều chân, uy mãnh và đáng sợ vô cùng. Kim Cang Minh Vương nói với tôi:
”Không cần kiết giới, không cần miên quang!”
Tôi nhìn chằm chằm vào ngài:
”Ngài muốn tôi chết sao? Tôi mà chết thì ngài được tự do, ngài không cần phải bảo vệ pháp của tôi nữa, thế là ngài vui rồi!”
Ngài nói: 
”Không phải như vậy, cần tự nhiên!”
Tôi nói:
”Ngài và Thiên đế giống hệt nhau, giống hệt Phổ Hóa Thiên Tôn, đều nói là cần tự nhiên, tự nhiên chính là bị ăn thịt đó, bị ăn thịt rồi thì còn sống được sao? Ngài muốn hại tôi à?”
Đại Uy Đức Kim Cang Minh Vương nói:
”Yên tâm! Có tôi ở trên đầu!”

Tôi cho rằng Đại Uy Đức Kim Cang Minh Vương còn có phương pháp khác để xử lí rết tinh, Kim Cang Minh Vương muốn thu nạp con rết tinh, cho nên không cần kiết giới, không cần miên quang, đợi con rết tinh xông vào bẫy thì sẽ thu nạp nó.

Đêm đó, tôi thản nhiên đi ngủ, chẳng làm pháp gì cả, giống như một phàm phu, ngủ say như một con lợn chết. 
Đây chính là:
*Giấc ngủ tâm mê có muôn kiểu
Một mớ hỗn độn nghiệp phiền não
Một nửa đời người là trong mộng
Hiểu rõ đầu đuôi khó lắm thay.*
Qua giờ Tí, trong không trung có một khối tà khí bổ nhào về phía tôi, khí lạnh ấy khiến tôi rùng mình tỉnh dậy!

Tôi mở to mắt nhìn, ôi mẹ ơi! Con rết ấy đang nhắm thẳng đầu vào tôi, toàn thân dài tới vài trượng [1 trượng bằng 10 thước, 1 thước bằng 0,33m], nhiều chân ngọ nguậy, có thể cưỡi gió, há to miệng, trong miệng đầy răng sắc trắng ởn, nó chỉ cần cắn một cái thì khí của tôi sẽ bị nó hút hết, và tôi sẽ chết chắc không có gì phải nghi ngờ, một cái mạng nhỏ bé thế là từ nay đi tong rồi!

Tình huống này có đôi chút giống với bộ phim điện ảnh Dị Hình, cái con rết đó chảy nước dãi, răng cọ tới cọ lui, nước dãi nhỏ tong tỏng trên người tôi. Tôi thảm rồi, tôi xong rồi, lần này chết chắc rồi, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn cả đời tên tuổi anh hùng lừng lẫy, lần này hồn quy về chín tầng trời, sau này không còn cơ hội sống nữa!

Tôi muốn quán tưởng thế nào, trong đầu cũng trống rỗng, muốn kết thủ ấn cũng không kịp, miệng muốn niệm Phật trì chú, niệm Phật nào, trì chú nào, nhất thời cảm thấy quá nhiều Phật, quá nhiều chú, lại sợ hãi quá độ nên chỉ kêu lên được mỗi: “A, a, a.” Âm “a” này cũng là chú. Chỉ thấy từ trong miệng tôi xuất hiện một vật, vật này gặp gió thì dài, không ngờ lại có thể giãn nở. Vật này vừa xuất hiện thì biến thành một con vật cực kì khổng lồ, là một con gà trống khổng lồ, đó là sao Ngang. Thiên Ngang Tinh hiện thân, con rết tinh vừa nhìn thấy Thiên Ngang Tinh thì thu nhỏ lại, sợ tới mức run rẩy.

Thì ra thế giới này một vật khắc một vật, con rết sợ nhất chính là gà trống, mỏ của gà trống mổ xuống một phát thì thân con rết cũng đứt lìa, mổ xuống hai phát, hai tiếng “tục, tục” thì con rết đã bị nuốt gọn vào trong bụng. Đây là con yêu quái rết già nghìn năm đã thành tinh, nhưng con gà trống là Thiên Ngang Tinh của 28 vì sao ở trên trời, là Hoàng Cân lực sĩ gà trống. Thiên Ngang Tinh vừa xuất hiện, rết tinh tự biết đã gặp phải khắc tinh rồi. 

Cái mỏ nhọn của Thiên Ngang Tinh mổ xuống, con rết tinh chết ngay lập tức, mổ thêm phát nữa thì con rết đã nằm gọn trong bụng Thiên Ngang Tinh. 
Chà! Tốt quá rồi! Vạn tuế!
Tôi lại sống rồi.
Con rết tinh vừa chết thì trên bầu trời xuất hiện rất nhiều đốm ánh sáng sao màu xanh lam, có lẽ tới cả hàng trăm hàng nghìn, thì ra là những linh hồn của những người mà ngày xưa đã bị rết tinh ăn thịt, bây giờ tất cả đều được nhả hết ra.
Tôi biết, tôi cần phải siêu độ cho những linh hồn này!

🌟

Sau sự việc ấy, tôi hỏi Đại Uy Đức Kim Cang:
”Vì sao Thiên Ngang Tinh lại xuất hiện?”
Đại Uy Đức Kim Cang Minh Vương đáp:
”Bởi vì ngài là Thiên Ngang Tinh!”
”Nói nhảm quá!”
”Ngài quên ngài tuổi gì rồi à!”
”Tôi tuổi Dậu, con giáp thứ mười, tôi tuổi con gà.” - Tôi ớ người ra.
”Sinh vào năm Ất Dậu, là thuộc tuổi con gà.”
”Vì sao ông không nói sớm cho tôi biết, để tôi khỏi phải sợ!” - Tôi trách móc Đại Uy Đức Kim Cang Minh Vương.
Minh Vương đáp:
”Nếu sớm nói với ngài thì làm gì có vở kịch vui để mà xem?”
Tôi truy đuổi Đại Uy Đức Kim Cang Minh Vương, muốn đánh cho ông ấy một trận. Minh Vương hóa thành một cơn gió rồi đi mất!

Sau sự việc ấy, Mạnh Vạn, người kinh doanh khách sạn nói với tôi, kể từ sau khi Lư Sư Tôi rẩy tịnh thì tất cả mọi thứ trong khách sạn đều bình thường, không phát sinh sự việc gì, kinh doanh cũng đặc biệt tốt, thu được nhiều lợi nhuận.

Mạnh Vạn mời tôi ăn cơm. Không ngờ thần địa chủ cũng đem theo các thần ở địa phương đó đến, họ đều từng bị con rết cắn, thân thể đều rất thảm hại, sưng đỏ vẫn còn chưa hết. Họ quỳ xuống cầu xin tôi chữa trị. Tôi nói:
”Tôi không biết chữa thế nào?”
Thần địa chủ nói:
”Nước bọt của Lư Sư Tôn!”
”Nước bọt, nước bọt của tôi ư?”
”Đúng vậy, nước bọt của Thiên Ngang Tinh mà bôi vào thì các vết sưng tấy sẽ khỏi!”
”Đây cũng là lấy một thứ để khắc một thứ!”
Thần địa chủ và thần địa phương trút bỏ được sưng tấy, vui vẻ sung sướng trở về! Nhưng một lúc sau, họ lại chạy tới. 
”Lần này là việc gì đây?” - Tôi hỏi.
”Chúng tôi đều muốn quy y Lư Sư Tôn!”
”Được! Được!” 
Bữa ăn hôm ấy, tôi ăn một cách đầy bận rộn.


### 03. Cái tay lợn


Có một lần, tôi đang ngủ trưa, trong lúc mông lung, tôi nghe thấy âm thanh rất ồn ào bên nhà hàng xóm, đó là mấy người phụ nữ đang nói chuyện với mẹ Lưu. 

Mấy người phụ nữ nói:
”Trước cửa miếu Quan Đế có lều xiếc, đang biểu diễn ca nhạc và xiếc, chúng ta mau đến xem đi!”
”Các cô có mấy người đi?”
”Tính cả mẹ nữa tổng cộng là bảy người.”
”Các cô đi đi! Tôi không đi, tôi bận lắm, tôi đang đan áo len, đứa nhỏ đang chờ được mặc áo len!”
”Đi xem xiếc đi mà, khi nào về lại đan vẫn kịp mà!” - Mấy người phụ nữ nói. 
”Không đi, không đi.” - Tiếng mẹ Lưu nói.
”Chúng tôi đã cố ý đến tìm mẹ đi, đoàn ca múa tạp kĩ này rất nổi tiếng, đi chỗ nào biểu diễn cũng rất sôi động, không xem thì phí, nếu mẹ không đi thì chúng tôi cũng không đi.”
”Được rồi! Được rồi! Mọi người có ý tốt như vậy, tôi không đi cũng không được!”

Thế là, bảy người phụ nữ dắt díu nhau đi qua trước cửa nhà tôi. Lúc này, tôi bất thình lình nhỏm dậy, mẹ Lưu nhà hàng xóm chẳng phải là đang bị ốm sao? Sao bỗng dưng đã khỏe rồi, lại còn có thể ngồi dậy đan áo len, lại còn có thể cùng với một đám phụ nữ đi xem ca nhạc tạp kĩ chứ?

Bản thân tôi không có hứng thú lắm với ca nhạc tạp kĩ, nhưng gần đây tôi viết một chương sách về “Diễn biến hí kịch Đài Loan”, nên tôi cũng muốn tìm hiểu thêm về ca nhạc tạp kĩ, vì thế, một cách tự nhiên, tôi cũng muốn đi xem ca nhạc tạp kĩ một chút.

Mẹ Lưu cùng với sáu người phụ nữ đi phía trước, tôi đi theo sau, đi qua mấy con đường khá dài mới tới miếu Quan Đế. Trước lều xiếc ở trước miếu Quan Đế, quả nhiên người đông như biển, bao vây thành một bức tường người tự nhiên, căn bản là không thể chen vào được. Sau đó, tôi lấy một chiếc ghế đẩu rồi kiễng chân lên, đứng lên cao để xem kịch.

Về cơ bản, mấy người phụ nữ kia và tôi chẳng nhìn thấy đang diễn cái gì, chỉ nghe thấy tiếng vai đào võ đang hát và diễn kịch, đang vung cây đao lớn. 
Tiếng chiêng trống vang vọng: “Chát chát tùng tùng chát.”
Mọi người khen hay. Mấy người phụ nữ xoay người lách, tôi cũng xoay người lách, nhưng không tìm được khe hở nào có thể chen vào để xem được! Phải làm sao đây?

Một người phụ nữ trong số đó nói:
”Có rồi, tôi nhớ phía sau lều xiếc có một cái hố, đi vào hố này sẽ đến được bên dưới sân khấu, từ bên dưới có thể đi đến chỗ đám người đứng ở hàng đầu, như vậy chúng ta có thể xem kịch được rõ!”
Sáu người phụ nữ nói:
”Sao không nói sớm!”
Mau, mau, bọn họ đi hướng về phía sau sân khấu, phía sau quả nhiên không có người, bên dưới sân khấu quả nhiên có một cái hố nhỏ. Cái hố ấy quả thực rất nhỏ. Mọi người đồng tâm hiệp lực để cho mẹ Lưu đi vào trước, những người khác thân hình nhỏ nhắn hơn một chút, từng người nghiêng người để lách vào. Người cuối cùng có thân hình béo nhất, có lẽ bình thường không vận động, nên lách mãi mà vẫn bị kẹt ở cửa hố, kêu oai oái!

Mọi người nói:
”Kịch hay lắm!”
”Giỏi lắm!”
Chỉ có người cuối cùng là thở hổn hển, hầu như không thể cử động! Cuối cùng khó khăn lắm mới chen vào được, nhưng có một cánh tay vẫn còn kẹt lại ở miệng hố.
Bấy giờ tới lượt tôi. Tôi rất muốn bò vào, bởi vì bò vào đó thì lập tức có thể xem được ca nhạc tạp kĩ rất rõ ràng. Đúng vào lúc tôi đang định chui qua, đầu vừa mới vươn ra, thì đụng vào tường, binh! Tôi tỉnh dậy, hóa ra chỉ là một giấc mộng Nam Kha!

Nếu bảo là mơ thì cũng chẳng có chuyện gì, mơ không phải là sự thật. Vấn đề là mẹ Lưu nhà hàng xóm, mẹ Lưu bị làm sao? Đúng vào cái lúc tôi đang ngủ mơ thì mẹ Lưu đã chết rồi, chết thật rồi! Tin tức truyền đi, tôi bàng hoàng sửng sốt!
Thêm nữa, miếu Quan Đế căn bản là không hề có diễn ca nhạc tạp kĩ! Bên dưới sàn diễn cũng không có cái hố nào!

Chỉ có một tin tức vô cùng đặc biệt:
Hộ gia đình nuôi lợn ở gần đây có một con lợn nái sinh ra bảy con lợn con, sáu con đầu tiên thì bình thường, một con cuối cùng thì không ngờ lại chết. Chết rồi thì cũng thôi, không có chuyện gì to tát cả, vấn đề là con lợn nhỏ thứ bảy bị chết này vừa sinh ra thì một trong số bốn chân của nó lại là tay người.

Sự việc này các phóng viên báo đài đều biết, họ chụp ảnh, đưa tin tức, các tờ báo lớn đều đăng tin này, tiêu đề là: “Chuyện lạ nhân gian”, nội dung là “cái tay lợn”.
Sự việc này vừa được công bố thì dòng người lũ lượt kéo đến xem, quả nhiên cái chân lợn không phải là chân lợn, mà lại là tay của con người. Cái cánh tay nhỏ ấy còn có vân tay mờ mờ nữa, có thể nhìn ra được. Sự việc này khiến tôi rất kinh ngạc. 

Tôi ngẫm nghĩ, mơ vốn không thật, nhưng những gợi ý trong giấc mơ đó lại có ý vị sâu xa. Cái chết của mẹ Lưu chính vào lúc tôi mơ thấy mẹ Lưu, tôi nhìn thấy, đó là sự thật. Trong mơ, tôi mơ thấy mẹ Lưu đi xem ca nhạc tạp kĩ với đám người, lúc này cái chết của mẹ Lưu treo trên móc, vô cùng chính xác.

Ngoài ra, cũng có điều không chính xác, miếu Quan Đế không hề có ca nhạc tạp kĩ, điểm này tôi nghĩ không thông, trong mơ có buổi biểu diễn ca nhạc tạp kĩ, nhưng thế giới hiện thực lại không có. Bên dưới sân khấu trong mơ có cái hố, tôi đích thân đi kiểm tra, kết quả là căn bản không có cái hố nào, điểm này hoàn toàn không chính xác.

Con lợn nái của nhà nuôi lợn sinh ra được bảy con lợn con, điều này ăn khớp với bảy người phụ nữ đi xem ca nhạc tạp kĩ. Con lợn cuối cùng bị chết, một cánh tay trong đó với cánh tay bị kẹt lại ở miệng hố, cũng là một ấn chứng.
Giấc mơ này của tôi có thật có giả. 
Có ấn chứng.
Có điều không chính xác.
Việc này khiến tôi cảm thán, mộng cảnh quả nhiên là một thế giới kì lạ huyễn ảo, dường như thật mà không phải thật, dường như có mà vẫn không có, cũng không phải hiện thực, là tình hình thực tế mà cũng là thế giới tâm linh. Nói mơ là thật, nhưng đó lại là thứ không nhìn thấy được, nói mơ hoàn toàn là giả, thì đó cũng là thứ không nhìn thấy được, đây đúng là kì lạ huyễn ảo! Kì lạ huyễn ảo!

Tôi viết một bài thơ:

*Mộng cảnh chưa chắc thật.
Vẫn xuất hiện tình huống.
Tay lợn không che được.
Luân hồi vẫn như thường.*

🌟

Lại liên quan đến cái tay lợn, ở đây tôi lại có một chuyện như sau:
Có một hôm, sếp của tôi tìm tôi, ông ấy cầm theo tên và bát tự của con gái đến hỏi tôi về nhân quả tiền kiếp. 
Bé gái họ Nhan, tên Đình.
Tôi cẩn thận thiền định quan sát:
Tôi nhìn thấy khói, khi khói tan đi thì xuất hiện một cái chuồng, có rất nhiều động vật bị nhốt ở trong đó. 
Không phải cá nuôi trong lồng.
Không phải chim bay trong lồng.
Mà là thịt súc sinh, mà là lợn đang bị người ta thưởng thức. Tôi nhìn thấy lợn, vô cùng chính xác!

Tôi từng nói, thiền quán và nằm mơ không giống nhau, thiền quán nằm ở giữa tỉnh và mơ. 
Không phải là hoàn toàn tỉnh táo.
Cũng không phải là nằm mơ.
(Trong cuốn sách tâm linh đầu tiên của tôi, tôi mô tả “vân du huyễn cảnh vũ trụ” chính là việc đi du lịch dưới tình trạng như vậy. Có người nói đó là tôi đi khi nằm mơ. Xin lỗi, đó tuyệt đối không phải là mơ, mà là thiền quán.)
Tôi thật sự đã nhìn thấy kiếp trước của Nhan Đình là một con lợn.
Nhưng làm sao tôi dám nói chứ! Đối phương là con gái sếp của tôi, tôi mà nói ra thì sẽ đắc tội với người ta mất.
Tôi ngây người ra, không thể nói gì.

Sếp tôi nói:
”Lư Thắng Ngạn, tôi nghe người ta nói anh có rất nhiều truyền kì, người đến thỉnh giáo anh đông như cá diếc qua sông. Tiếng tăm anh lớn, người người đều nói anh thần toán cực kì chuẩn, lần này xin anh hãy nói thử nhân quả kiếp trước của con gái tôi, tương lai của nó sẽ ra sao, anh nói thế nào thì tôi cũng không để bụng đâu, cứ đúng sự thật mà nói là được!”
Tôi ngập ngừng, vẫn không dám nói. 
Sếp thấy bộ dạng muốn nói mà lại ngập ngừng của tôi, trong lòng bỗng dưng có một điều muốn bộc bạch, ông ấy tự mình nói: “Chúng tôi biết là kiếp trước của nó khả năng không phải là tốt lắm, vì thế nên mới đặc biệt có ý đến thỉnh giáo, xin hãy thẳng thắn nói hết đừng giấu điều gì, anh nói cái gì chúng tôi sẽ nghe anh, kiếp trước của nó có phải là một thứ gì đó rất bẩn phải không…”
Tôi nói:
”Đúng vậy. Kiếp trước cháu bé là con lợn.”
Sếp nghe tôi nói là lợn, chính ông ấy cũng không ngạc nhiên chút nào, hình như chính ông sớm đã biết được đáp án rồi.
Sếp nói với tôi:
”Ngày khác anh đến nhà tôi, anh xem xem cái vết trên tay của con gái tôi, rồi hãy nói kĩ hơn đi!”

🌟

Tôi chọn một ngày nghỉ để đến nhà sếp Nhan. Nhà ông ấy mặc dù không được coi là biệt thự, nhưng cũng rất đẹp, đất rộng 60 bình [1 bình là 3,3 mét vuông], đất xây dựng là 40 bình, trên dưới có hai tầng, phòng khách rất sang trọng, có giá sách bày rất nhiều sách triết học, tôn giáo, tâm linh, có một hàng sách không ngờ toàn là sách của tôi xuất bản.
Tôi rất kinh ngạc. Ông ấy nói:
”Lư Thắng Ngạn, sách mà anh viết tôi đã đọc từ lâu rồi, sách của anh không thuần là tôn giáo, trong tôn giáo gồm có triết lí, có ích lợi rất lớn trên phương diện tu dưỡng tâm hồn, đọc sách rồi con người cũng sẽ lạc quan và bình thản hơn.”

Sếp Nhan gọi Nhan Đình tới, cô bé rất nhỏ, mới hơn hai tuổi, Nhan Đình đưa bàn tay phải ra cho tôi xem. 
Tôi giật nảy mình.
Đó không phải là bàn tay người, mà là móng lợn, căn bản đó chính là cái tay lợn. 
Bàn tay trái của Nhan Đình chính là một cánh tay người bình thường, còn bàn tay phải không ngờ lại là cái tay lợn, đây là lần đầu tiên trong đời, con mắt của chính tôi nhìn tận mắt cái tay lợn. Phía trước bàn tay có mấy sợi lông đen. Hình dạng bàn tay chính là móng lợn. Ở giữa thì tách ra thành hai múi, hai múi này hẳn là hai cái móng. 

Sếp Nhan nói:
”Khi mẹ của Nhan Đình sinh con bé thì ba ngày trước khi sinh đã mơ thấy một người đầu lợn thân người đi vào cửa nhà mình, rồi còn xông vào phòng ngủ, chạy vào trong bụng mình. Cô ấy hét lớn rồi tỉnh dậy. Ba ngày sau thì sinh ra Nhan Đình, vừa sinh ra thì bàn tay phải đã có hình dạng như vậy rồi!”
Sếp Nhan nói:
”Ngày nay khoa học phát triển, thủ thuật chỉnh hình có thể thay đổi được hình dạng của bàn tay, thậm chí có thể cắt bỏ đầu ngón chân để nối tiếp vào đầu ngón tay, làm cho hình dáng giống với bàn tay của con người. Về phương diện này thì chúng tôi đang suy nghĩ, nhưng tôi không biết vì nhân duyên gì mà lại sinh ra đứa con gái như vậy?”

Tôi vì vấn đề nhân duyên của sếp Nhan mà đi tìm kiếm đáp án, tôi cho rằng đáp án hẳn là rất đơn giản: 
Tôi nhập sâu vào thiền quán tiền kiếp của sếp Nhan, kiếp trước ông ấy là một đồ tể chăng?
Kết quả không phải.
Nhập sâu vào thiền quán, có lẽ kiếp trước ông ấy cũng là lợn, lợn mà sinh con thì đương nhiên con cũng là lợn.
Kết quả không phải.
Nhập sâu vào thiền quán, chắc ông ấy đắc tội với Thiên Bồng Nguyên Soái, đập vỡ tượng của Thiên Bồng Nguyên Soái Trư Bát Giới.
Kết quả không phải.
Lại nhập sâu vào thiền quán, hẳn là kiếp trước ông ấy là nhà nuôi lợn, nhà nuôi lợn đương nhiên có duyên với lợn?
Kết quả lại càng không phải.
Nhập sâu vào thiền quán, hay sếp Nhan thuộc tuổi con lợn, hoặc là con gái ông ấy tuổi con lợn?
Kết quả đều không phải.
Nhập sâu vào thiền quán, cũng có thể sếp Nhan từng bán ruốc thịt lợn, hoặc từng bán món thịt lợn kho nhừ?
Kết quả là không có chuyện đó.
Nhập sâu vào thiền quán……

Ấy thế mà tôi lại không tìm ra nhân duyên gì.
Những chuyện trên thế giới này thật là kì quái làm sao! Chỉ vì sếp Nhan là sếp trực tiếp của tôi nên trong lòng tôi càng sốt ruột, càng sốt ruột thì lại càng không tìm ra đáp án, tâm của tôi trở nên quá không tĩnh lặng rồi, tôi không có cách nào định tâm xuống như bình thường để mà dần dần quan sát rõ ràng.
Hay là kiếp trước sếp Nhan quá hám gái như anh Trư, nên kiếp này các em gái anh Trư tìm đến cửa nhà ông ấy?
Kết quả cũng không phải.

Tôi dùng hết mọi phương pháp thần toán để tìm hiểu, kết quả đều cho ra những đáp án phủ định, phủ định của phủ định, vậy nhân duyên này nằm ở đâu?
Về phía tôi, tôi cảm thấy vô cùng bối rối, khi ấy, tôi đã được công nhận là thần toán số một, là một nhân vật rất siêu đẳng, mọi người ngưỡng mộ và tôn trọng, rất nhiều những việc khó khăn và bệnh tật phức tạp tôi đều có thể giải quyết một cách dễ dàng. Nhưng hôm nay gặp sếp của mình thì lại bó tay không có kế sách nào.

Chút xíu nữa thì tôi đã muốn nói với sếp của mình là xin lỗi, xin thứ lỗi. Đúng vào lúc ấy, sếp Nhan trao cho tôi bát tự của một người, đó là bà Nhan, bởi vì từ bản thân ông Nhan không tìm được đầu mối nào, không có được một chút manh mối thì chỉ còn cách kiểm tra đến bà Nhan.

Lần kiểm tra này, tôi phát hiện thấy ánh sáng ban mai. 
Tôi trông thấy một cái giếng, là giếng, miệng giếng dùng đá để xây lên, tôi nhìn thấy nước bên trong giếng lấp lánh phát quang.
Giếng chính là đáp án.
Câu hỏi của tôi là, cái giếng và Nhan Đình thì có liên quan gì với nhau?
Khi tôi nhắc về cái giếng với bà Nhan, lúc đầu bà Nhan không nghĩ ra, sau đó bà ấy đã nhớ ra được. Bà Nhan nói:
Còn nhớ khi xưa sống ở làng Bạch Sa ở Bành Hồ, gió cát ở đó rất mạnh, mặt đất hoang vu, phải dùng tường đá để chặn gió, ở nơi chặn gió thì trồng ruộng lạc và một ít rau cải, khoai lang. Người ở địa phương đó có nghề bắt cá và nuôi lợn, sản phẩm nổi tiếng của Bành Hồ là lạc và khoai lang.

Trong nhà rất nghèo, chỉ có năm hết Tết đến mới có thịt lợn để ăn. Nhớ có một năm, kinh tế càng kém hơn, mọi người trong nhà bàn bạc Tết năm nay chỉ ăn cơm với cá khô và lạc, không mổ lợn, lợn đều đem bán hết. Khi ấy bà Nhan đang học cấp hai, vừa nghe nói là không mổ lợn, đến cả năm mới cũng không có thịt lợn để ăn, trong lòng cảm thấy hết sức buồn chán. Thế là trong lòng nảy ra một ý định!

Bà ấy đứng ra triệu tập vài người cùng có ý muốn ấy vây bắt một con lợn cái, đuổi nó tới lui, đuổi tới một cái giếng, dọa cho con lợn nhảy xuống giếng. Con lợn chết rồi, nổi lên trên miệng giếng. Người làng cho rằng con lợn trượt chân mà ngã xuống giếng. (Việc nuôi lợn ở địa phương đó, có nhà thì nuôi trong chuồng lợn, có nhà thì thả lợn đi lang thang giữa các con hẻm trong nhà.)

Thế là con lợn bị rơi xuống giếng này trở thành thức ăn cho ngày Tết, lại còn được dùng để cúng cho trời đất. Cuối cùng, tết năm ấy, trong ngôi làng nhỏ này, ai ai cũng có thịt lợn để ăn.

Bà Nhan kể rõ tình tiết. 
Sếp Nhan thì đờ người ra
Nhân quả ba đời của Nhan Đình đã được tìm ra rồi!
Sếp Nhan hỏi tôi:
”Bây giờ phải làm sao?”
Tôi đáp:
”Con người trên đời ngày nay mong cầu lục căn thanh tịnh, có người nào mà không phạm vào một nghiệp chứ? Giữa trần thế mênh mông, đại bộ phận là tù nhân của địa ngục. Cha mẹ, anh em, chị em, con cái có duyên gặp gỡ, có khi là thiện duyên thì cũng là an ủi, có khi là ác duyên, oan thân trái chủ đến, khiến con người cay đắng lắm thay. Phần lớn người mắc nợ dùng tiền để trả nợ, trả xong rồi thì cũng dừng nghiệp báo… Còn như giết hại tính mạng thì khá phiền phức, trải qua kiếp bụi trần cứ ăn thịt giết hại lẫn nhau không ngơi nghỉ. Người bình thường cho rằng sinh được con trai, sinh được con gái đáng lẽ phải chúc mừng, con người phàm phu làm sao nhìn được nhân quả thật sự, chỉ có người minh nhãn mới có thể biết hết thấy hết nhân quả ba đời.”

Sếp Nhan hỏi:
”Làm sao để hóa giải?”
Tôi đáp:
”Cả nhà mấy người đều quy y Tam Bảo, làm mười điều thiện, chăm chỉ trì chú niệm Phật, tu pháp sám hối, tự nhiên sẽ diệt tội diệt chướng, không những có thể trừ hết nghiệp chướng mấy đời mà ngay cả quả báo của oan thân trái chủ cũng không còn nữa, cuối cùng, có thể siêu sinh tịnh thổ đó!”
Nhà họ Nhan nghe vậy rất vui mừng.

Có một bài kệ như thế này:

*Ăn món ngon thì khởi lòng tham
Ăn món dở thì lòng tức tối
Chóp chép nhóp nhép cho no bụng
Xuất xứ món ăn chẳng hay biết
Đời người một bữa ăn
Tham sân si đủ cả
Người trí suy nghĩ thiện
Sẽ vượt được sinh tử.*


### 04. Vua ma cờ bạc


Nhắc đến thành phố sòng bài Las Vegas thì ai cũng biết. Người thích du lịch phần lớn đều đã từng đến đây.

Điểm thu hút con người đến với thành phố sòng bài này không chỉ là đánh bạc mà còn có sự nở rộ của những phong cảnh khu vực xung quanh có tính giải trí cực cao như đập Hoover, v.v…

Hơn nữa ở thành phố sòng bài, kiến trúc, mô hình, kì quan và địa điểm trình diễn của mỗi khách sạn lớn càng làm tăng sự khao khát của du khách.

Tôi là một người thông linh, vừa tu Đạo, vừa tu Mật giáo, sau khi chứng ngộ, tôi đã đến được Đế Đô của thiên thượng giới. Đế Đô là cung điện mà Ngọc Hoàng Đại Đế (Huyền Khung Cao Thượng Đế) ở, tục gọi là Linh Tiêu Bảo Điện. 

Tôi thuật lại Đế Đô mà tôi nhìn thấy như sau:
Linh Tiêu Bảo Điện nguy nga tráng lệ, mọi người cho rằng chỉ có một, thật ra không đúng, nó có năm tòa thành lớn và mười hai tầng lầu hợp thành, ở giữa nó là một tòa thành lớn, đồ sộ đến tận đỉnh, là nơi Đế Thích Thiên (Indra) thường cư trú.
Chỉ riêng đi vào tòa thành ở trung tâm đã có chín cánh cổng vàng. Những không gian khác của năm tòa thành lớn và mười hai tầng lầu có rất nhiều cây, những cái cây này không phải là cây như chốn nhân gian, mà là cây trân quý, là:
Châu thụ - cây sẽ sinh ra trân châu.
Ngọc thụ - cây sẽ sinh ra ngọc thạch.
Tuyền thụ - cây sẽ sinh ra thiên nhạc.
Thường thụ - cây sẽ sinh ra quần áo.
Minh thụ - cây sẽ phóng tỏa ánh sáng.
Giáng thụ - cây ra phấn nhiều màu sắc.
Diêu thụ - cây sẽ sinh ra những món ăn cõi trời.
Quả thụ - cây trường sinh bất lão.

Không chỉ như vậy, đình đài lầu gác, suối chảy thác nước trong vắt và ngọt thơm, không trung có đế võng minh châu vĩnh viễn sáng chói và rực rỡ, bước đi trên mặt đất tự nhiên sẽ sinh ra ngọc ngũ sắc lộng lẫy, xinh đẹp cực kì.

Những gì tôi mô tả về Đế Đô ở thiên thượng giới chỉ là một bộ phận nhỏ trong số đó, còn đại bộ phận thì không có bút mực nào có thể mô tả được.

Viết về thành phố sòng bài Las Vegas vì sao lại liên tưởng đến Đế Đô? Bởi vì trung tâm thị chính của Las Vegas ở trên không cũng giăng một lưới đèn lớn, vùng trời trên cả một con phố đều là đèn, hơn nữa đèn còn thay đổi, nên khiến tôi liên tưởng đến đế võng minh châu ở trên vùng trời của Đế Đô.

Thật ra cả thành phố sòng bài này tại nhân gian của thế giới Ta Bà cũng được xem là một thắng cảnh, có nhiều chỗ đáng xem. 

Thiên thượng nhân gian khiến tôi cảm hoài:
*Xưa kia lầu ngọc dễ từ bỏ
Du ngoạn phương xa cũng vô tâm
Vô ý mà nay tới sòng bạc
Trong lòng vấn vương nét tây phương.*

🌟

Tôi du lịch thành phố sòng bài, đi bộ trên con đường lớn, trong lòng nghĩ đến thiên thượng giới. 

Quả nhiên có một người đi đường nhìn thấy tôi.
”Phịch” một tiếng, người đó quỳ ngay xuống, mọi khách du lịch trông thấy cảnh tượng ấy đều vô cùng ngạc nhiên!
Tôi kéo anh đứng dậy. Tôi nói:
”Trên đường phố mà quỳ như vậy không hay lắm, mau đứng dậy nói chuyện đi!”
Anh nói:
”Không! Trừ phi Sư Tôn đồng ý với tôi một việc, bằng không tôi sẽ quỳ mãi không đứng dậy!”
”Không thể như vậy được, đứng dậy rồi nói.”
”Sư Tôn nhất định phải đồng ý thì tôi mới đứng dậy!”

Lúc này người đi đường càng ngày càng đông, lại còn vây xung quanh, hiếu kì nhìn xem hai người một già một trung niên này rốt cục là có chuyện gì. Tôi vội vàng nói:
”Được rồi! Tôi đồng ý với anh. Chúng ta vừa đi vừa nói.”
Anh ấy nghe tôi đồng ý thì lập tức đứng dậy.

Thì ra người đệ tử quỳ xuống này vốn họ Quản tên Lược, bản thân vốn là một người làm ăn, trước kia làm ăn cũng rất khá. Sau này anh ta mê đánh bạc. Quản Lược đã thua bạc không ít tiền, tuy nhiên vẫn chưa tỉnh, vẫn cứ tiếp tục mê muội, giống như bị trúng độc vậy. Tại thành phố Atlantic, Quản Lược đã thua khá nhiều tiền, tại thành phố Reno, Nevada cũng đã thua không ít, bây giờ vào đêm nay, tại Las Vegas, anh ta cũng thua gần như sạch sẽ, sắp sửa hoàn toàn đi tong rồi. 

Quản Lược là một đệ tử cũ đã quy y nhiều năm, đáng tiếc là anh ta không thực tiễn mỗi ngày một tu, không nắm rõ nghi quỹ tu pháp, có thể nói thế này, việc quy y của anh ta chỉ là một cái danh, điều rất đáng tiếc là anh ta vẫn còn chưa thật sự nhập môn nữa!

Quản Lược nói:
”Quy y Sư Tôn sao lại càng đánh càng thua chứ? Tôi có đem theo ảnh Sư Tôn bên mình, cũng vẫn thua như thường!”
Câu hỏi này tôi không biết phải trả lời ra sao, khóc cười đều chẳng được. Quản Lược yêu cầu tôi:
”Sư Tôn đã đồng ý với tôi rồi, đêm nay tôi muốn thắng lớn một lần, chỉ một lần này thôi, tôi muốn thắng tất cả số tiền!”
”Điều này…” - Tôi do dự.
”Sư Tôn không được nuốt lời!” - Quản Lược nói: “Sư Tôn vừa mới nói rằng tôi đồng ý với anh rồi, quân tử nhất ngôn, ra roi thúc ngựa, điều này không được thay đổi đâu đấy!”
”Tôi có nói như vậy sao?” - Tôi cự lại.
”Vừa mới nói xong, không thể nào quên được, trời biết đất biết, nếu Sư Tôn nói lời mà không giữ lời thì người làm đệ tử làm sao tin phục được?”
Tôi im lặng không nói.

Tôi bảo Quản Lược:
”Đánh bạc là tham niệm cực lớn, nhất thiết phải từ bỏ, nhất là tục ngữ đã nói, đánh bạc lâu thì chẳng có nhà nào thắng. Nghĩ mà xem, sòng bạc ở Las Vegas này, một sòng bạc có bao nhiêu nhân viên, tiền lương của họ từ đâu mà có? Một sòng bạc có bao nhiêu chi phí, kinh phí từ đâu mà có? Nước, điện, thuế, v.v… kinh phí từ đâu mà có? Những con bạc đúng là đứa con có hiếu của núi lửa, muốn vĩnh viễn rời xa phiền não thân tâm thì nhất định phải đoạn trừ thói quen xấu.”
Quản Lược trả lời:
”Điều này tôi biết, nhưng Sư Tôn hãy giúp tôi một lần đi!”

Ngay tại chỗ, tôi lấy giấy bút. Tôi dùng bút vẽ một tấm phù, kết thủ ấn sắc lệnh. Rồi tôi xếp phù thành hình bát quái nhỏ, đưa cho Quản Lược đeo. Tôi nói:
”Tôi đã ra sắc lệnh cho một con ma cờ bạc đi bên cạnh để giúp anh, sau khi xong việc, hãy lập tức từ bỏ suy nghĩ đánh bạc đi!”
Quản Lược vui sướng dị thường, tự mình bỏ đi.

🌟

Đêm hôm ấy, tôi ngủ tại khách sạn Caesars Palace, đến khoảng bốn rưỡi sáng thì tôi bỗng giật mình tỉnh dậy. Tôi nhìn thấy phía trước giường có một người, nhìn kĩ lại thì không ngờ là con ma cờ bạc mà tôi đã ra sắc lệnh đi theo giúp Quản Lược.
Trong lòng tôi hiểu: thôi thế là xong!
Ma cờ bạc nói: 
”Tôi chạy trốn về đây!”
”Vì sao?”
”Nhà cái của họ có ba con ma cờ bạc!”
”Ngươi yếu không địch lại mạnh đúng không?”
”Đúng vậy.”
”Quản Lược thảm rồi! Sòng bạc của họ có cao thủ nuôi ma sao?”
Ma cờ bạc đáp:
”Cao thủ nhiều như mây. Cả sòng bài đầy ma cờ bạc đi đi lại lại, đều là những bóng ma lắc lư. Nhìn thì tưởng là con người đang đánh bạc, kì thực đều là ma cờ bạc đánh lẫn nhau, là một thành phố thế giới của ma thật sự.”
”Tôi gia tăng thêm ma cờ bạc!”
”Chẳng ích gì đâu!”
”Vì sao?” - Tôi hỏi.
”Bọn họ có hơn trăm hơn nghìn, bất kì ai cũng không thể thắng được họ, họ còn có ma cờ bạc lão luyện trên trăm năm trấn giữ, người nào có thể thắng chứ?”
Tôi sửng sốt.

Tôi hiểu, thế giới con người và thế giới linh hồn vốn có những chỗ chồng chéo lên nhau, tức là cùng tồn tại như một. Bởi vì con người không thể nhận biết thế giới linh hồn, cho nên chỉ biết có nhân gian, không biết đến sự tồn tại của những linh khác. 

Có đôi khi, nhân loại bị các linh của thế giới linh hồn chi phối, tùy theo nhân duyên mê nhiễm của họ mà mê lại càng mê, nhiễm lại càng nhiễm, biểu hiện bề ngoài là người này bị trúng độc rất sâu, thật ra trong đó là có ma quỷ tác quái.

Lúc trước tôi cho rằng chỉ cần tôi phái một con ma cờ bạc đi theo Quản Lược đánh bạc thì Quản Lược nhất định sẽ thắng. Căn bản là tôi không ngờ rằng đối phương cũng có ma cờ bạc trấn thủ, hơn nữa còn có tận ba con, vậy thì Quản Lược thua chắc rồi.
Trước tiên tôi cho con ma cờ bạc này trở về, còn tôi đi tìm Quản Lược. Sắc mặt của Quản Lược thảm đến mức xanh lét, anh ta nói:
”Lúc mới bắt đầu thì cũng tốt, thắng được không ít, trong lòng thật sự cảm tạ Sư Tôn giúp đỡ. Sau đó, không ngờ tình huống chuyển biến xấu, tôi đã dốc ra hết số tiền thắng được, không những đã dốc ra sạch sẽ mà còn thua thêm một ít nữa!”

Tâm thần tôi hơi dao động. Quản Lược lại nói:
”Tôi cho rằng có Sư Tôn ra tay thì mười phần chắc chín, không ngờ, hầy, tôi thấy tôi đang gặp vận xui, nên liên đới tới Sư Tôn cũng gặp vận xui rồi!”
Lúc này dường như là tôi đang đánh bạc vậy. Tôi đến Las Vegas nhưng chưa bao giờ đánh bạc.

Từng có người nói, nếu Sư Tôn đánh bạc thì chắc chắn sẽ thắng. Dùng thiên nhãn để chơi poker, từ trước đã biết được mấy điểm, nhà cái nhất định sẽ thua sạch.
Cò quay (roulette) có thể dùng ý nghĩ để khống chế, muốn cò quay ra mấy điểm thì sẽ là từng ấy điểm, đặt cược vài lần là nhà cái chắc chắn sẽ thua.
Tung xúc xắc, tôi đặt cược các con số. Người ta tung xúc xắc, tôi hô con số, tôi muốn nói mấy điểm thì nó sẽ là từng ấy điểm, nhà cái sao mà không chết yểu chứ. 

Như ở máy đánh bạc, chỉ cần tay tôi ấn xuống thì tất cả chuông đều liên tục vang lên tiếng “tinh, tinh”, tất cả số tiền sẽ đổ ào ra, tay tôi sẽ đếm tiền đến đau cả tay.
Còn có cả cò quay lớn nữa, chỉ cần một cú đánh là thu được cả mấy vạn đô la, thậm chí gom lại thì đến cả triệu…

Tôi nói với Quản Lược:
”Tôi thật sự ấm ức đây, tôi giúp anh phụng thỉnh vua ma cờ bạc vậy!”
Tôi vẽ một hình vua ma cờ bạc, có sừng dài, hai mắt đỏ, khoác áo dài màu đen, cưỡi một con ngựa quý, toàn thân bốc lửa.
Tôi niệm: “Gia cảnh nợ nần vì cờ bạc, không còn mặt mũi gặp người thân, thỉnh cầu quân vương từ núi xuống, thi triển pháp lực cứu nguy nan.”
Chú: “*Vô thượng đổ vương, tạm trú hắc sơn, chưởng khống kiếp nghiệp, đổ quốc chí tôn. Bát phương vĩnh trấn, thổ uế trừ phân, nhất tâm triệu thỉnh, bảo ngã tùy thân, cấp cấp như luật lệnh*.”

Tôi niệm chú này xong chỉ thấy phương bắc có một khối khí đen, từ núi Càn La Đáp Na, giáng xuống Động Cương Thái Huyền, một vị lão quái mặc áo đen cưỡi ngựa quý, toàn thân là lửa. Đó không phải là ai khác, chính là vua ma cờ bạc.
Tôi đưa hình của vua ma cờ bạc cho Quản Lược đeo. Lần này Quản Lược sợ hãi:
”Có được không?”
Tôi đáp:
”Được! Đem thế chấp hết!” - Tôi thật sự nổi giận rồi.
Quản Lược hăm hở đi.

🌟

Quản Lược vừa đi vào sòng bài. Vua ma cờ bạc phóng ra ánh sáng lửa lớn, chiếu sáng khắp cả sòng bài. Những con ma cờ bạc vừa nhìn thấy vua ma cờ bạc giá lâm thì kinh hoảng thất sắc.
Có con thì lập tức tháo chạy.
Có con thì bị thiêu tới mức cháy xèo xèo.
Cả sòng bạc lúc này đều dưới quyền thống trị của vua ma cờ bạc. Vua ma cờ bạc là một “anh linh hảo hán”, quản lí toàn bộ sòng bạc trong thiên hạ.

Quản Lược ngồi trước một bàn poker, chơi một đối một. 
Quản Lược cược toàn bộ.
Quản Lược muốn lá bài nào thì sẽ được lá bài đó. Sát phạt tới mức nhà cái tay chân lúng túng. Nhà cái liên tục đổi tới năm người chia bài, đồng thời, các quân bài poker được chơi một lần, xáo trộn một lần và được thay thế bằng các quân bài mới. Năm người chia bài, năm người đều thua. 

Người quản lí vô cùng sửng sốt, không biết chuyện gì đang xảy ra. Có rất nhiều khách trong sòng bạc đến xem và chứng kiến Quản Lược thắng được số tiền lớn. Nhiều hệ thống giám sát trong sòng bạc đều chú ý đến Quản Lược để xem anh ta có giở trò hay không, kết quả là mọi thứ đều bình thường, không bắt được bài của Quản Lược.

Quản Lược đánh bài khí thế như cầu vồng.
Thắng được rất rất nhiều đô la Mĩ.
Quản Lược đánh bài cả đêm, sau khi tính toán, điều thật sự bất ngờ là số tiền thắng được chính xác bằng số tiền mà anh ta đã thua trong suốt 5 năm qua, không ngờ lại thắng lại hết, toàn bộ đều giành lại, hoàn toàn cân bằng.
Quản Lược nói với tôi:
”Thừa thắng xông lên, sẽ lại thắng tiếp được mấy bàn nữa nhỉ!”
”Không được!” - Tôi nói.
”Khó mà có được tay bốc hên như vậy, thắng thêm một ít, toàn bộ chi phí ăn ở của Sư Tôn tôi sẽ lo hết!”
Tôi nói với anh:
”Phúc phần của mỗi người là số mệnh rồi, một miếng ăn một miếng nước đều có định số. Ngày hôm nay anh có thể thắng là vì gặp được Sư Tôn, lại có vua ma cờ bạc âm thầm trợ giúp, tuyệt đối không được sinh lòng tham vô độ. Cần biết rằng nếu lòng tham lam của anh vĩnh viễn không dừng lại thì vua ma cờ bạc cũng sẽ không ở bên anh mãi, ai dám bảo đảm số tiền mà anh đã thắng được này sau mấy ngày sẽ lại trả về nhà cái hết!”
Quản Lược không nói gì.

Tôi lại nói:
”Nếu anh còn tiếp tục đánh bạc, cần biết rằng biển cờ bạc cũng vô lượng vô biên. Số tiền hôm nay thắng được chẳng qua là sắc màu hư ảo, đừng vui mừng, sẽ chỉ uổng công mà thôi. Nếu anh tiếp tục mê đắm cờ bạc, tôi cũng không có cách nào cứu anh đâu. Thế thì lần này tôi dùng đại lực để mời vua cờ bạc đến cũng vô dụng thôi.”
Quản Lược hỏi:
”Phúc báo của đệ tử ra sao?”
Tôi đáp:
”Cũng xấp xỉ chạm đáy rồi, phải thức tỉnh đi, bằng không thì đúng là đồ ngu xuẩn đó.”
Quản Lược nói:
”Nghe lời Sư Tôn, không đánh nữa!”
”Như vậy còn được!”

Tại sòng bạc, tôi giải thích tỉ mỉ cho anh ta về pháp Tứ gia hành, muốn Quản Lược tu trì cho tốt. Quy y không chỉ là quy y một cái tên, có duyên có phận gặp được một báu vật chân chính, có được một báu vật lớn thật sự anh lại không muốn, lại muốn những thứ ở bên ngoài thân, nên biết rằng biển khổ vô biên, quay đầu là bờ đó.

Tôi nói với mọi người, đời người như một ván bài, con người giống như con rối, mặc dù có buồn có vui, nhưng kết quả chỉ là một sự trống không mà thôi!

🌟

Tại thành phố sòng bài Las Vegas, tôi đột ngột phát khởi một suy nghĩ:
Thuế ở bang Nevada này nghe nói là thấp nhất, đó là vì chính phủ tỉnh bang hi vọng nhiều người có thể chuyển đến sống ở bang này. Bang này có rất nhiều đất trống đang chờ con người đến mở mang.
Sa mạc.
Khí hậu khô hanh.
Chính phủ tỉnh bang có thể cho bạn đất, chỉ cần bạn đưa ra kế hoạch phát triển là được.
Tôi nghĩ đến việc xây dựng một tòa Lôi Tạng Tự của Chân Phật Tông tại ngọn núi ở vùng phụ cận của thành phố sòng bạc, lấy tên là Tài Thần Lôi Tạng Tự, trong chùa thờ cúng các vị thần tài của Mật giáo như Hoàng Tài Thần, Hồng Tài Thần, Lục Tài Thần, Hắc Tài Thần, Bạch Tài Thần, Ngũ Lộ Tài Thần, Tài Thần Tổng Trì…
Rồi còn bí mật thờ cúng một vị vua ma cờ bạc nữa. 

Đương nhiên, Lôi Tạng Tự hiển nhiên phải có Đại Hùng Bảo Điện, chủ tôn bên trong đó là Phật Thích Ca Mâu Ni, Dược Sư Như Lai, A Di Đà Như Lai.
Còn có Ngũ phương Kim Cương Như Lai, Ngũ Đại Hộ Pháp, Chư Thiên…

Tài Thần Lôi Tạng Tự này có đủ mọi thứ, bất kể là pháp nhập thế hay pháp xuất thế. Cần biết rằng, Las Vegas là thắng cảnh thế giới, con người trên toàn thế giới đã đến nước Mĩ thì đều muốn đến thành phố sòng bạc này chơi một chuyến, đi Mĩ mà chưa đến thành phố sòng bạc thì đó là một điều rất đáng tiếc.

Đến thành phố sòng bạc thì phải đến Tài Thần Lôi Tạng Tự trước để bái Thần Phật để xin quẻ, thỉnh cầu Thần Tài gia trì cho vận bài bạc được thịnh vượng. Tài Thần Lôi Tạng Tự nhất định sẽ tiếng thơm vang dội!
Tuy nhiên, nếu đánh bạc thua thì sao, thua sạch sẽ, phải làm sao đây? Vậy thì, tứ đại đều không, tự do tự tại, chính tại Tài Thần Lôi Tạng Tự mà hiểu rõ cuộc đời hư ảo, hiểu thấu về sòng bạc, thế rồi xuất gia đi!
Pháp nhập thế không được thì hãy xuất gia đi!
Tài Thần Lôi Tạng Tự sẽ có rất đông người xuống tóc đi tu!

Viết một bài thơ, ghi ra như sau:

*Buông bỏ thân tâm Phật hiện tiền.
Trần thế tầm thường pháp âm vang.
Tùy duyên đến đi đều có thể.
Thành phố sòng bạc chẳng có đêm.*


### 05. Hành khách vô hình


Đệ tử Trần Sâm của tôi mua một chiếc xe nhập khẩu hiệu Oldsmobile mới toanh. Anh lái chiếc xe đến hàn xá của tôi, muốn chở tôi đến nhà anh, nhà của Trần Sâm có sắp đặt một đàn thành mới (tượng Phật cũng mới toanh), chủ yếu là anh muốn mời tôi đi khai quang điểm nhãn.

Trần Sâm lái xe, tôi ngồi phía sau. Thùng xe rất rộng, nội thất trang trí mới lạ, mọi thứ sạch sẽ sáng sủa, xe mới có mùi thơm đặc biệt, ngửi rất dễ chịu. Chỗ ngồi của xe có hai ghế phía trước, hàng ghế phía sau có thể ngồi được ba người, ghế có màu trắng sữa, làm bằng da thật, ngồi xuống sẽ không bị xẹp xuống mà sau đó nó lại phồng lên, vô cùng thoải mái. Xe khi chạy không có tiếng động, rất êm, điều hòa trên xe rất tốt, nhiệt độ vừa phải, điều chỉnh hoàn toàn tự động. Từ hàn xá của tôi đến nhà của Trần Sâm mất khoảng nửa giờ lái xe, lúc đầu xe chạy chậm, sau đó chạy nhanh hơn một chút, xe cũng không rung lắc, rất đầm.

Trần Sâm nói: 
”Sau này Sư Tôn muốn đi đâu, con sẽ lái xe phục vụ!”
Tôi nói:
”Cảm ơn! Không dám làm phiền!”
Trần Sâm nói:
”Con nói thật đó, chỉ cần Sư Tôn không ghét, con sẽ dành thời gian đưa đón!”
Tôi nói:
”Công việc của anh đã quá bận rồi, anh cứ lo việc của anh đi!”
”Thật đó, con thật sự có thể làm được mà.” - Anh hấp tấp thanh minh.
”Được thôi!” - Tôi tạm thời đồng ý với anh.

Chiếc xe rẽ vào một khúc quanh nhỏ. Bỗng “khậc” một tiếng, chiếc xe dừng lại, chiếc xe tự nhiên chết máy. Trần Sâm vội vàng khởi động lại, hết sức vặn chìa khóa, toàn thân toát mồ hôi, nhưng dường như chẳng ích gì, một tiếng động nhỏ cũng không có.

Trong xe, Trần Sâm sờ cái nọ sờ cái kia, lại còn lấy ra cuốn sổ tay để tra, một lúc sau thì xuống xe, ngó cái này cái nọ, khoanh tay rồi lại gãi đầu. Bỗng nhiên tôi nhìn thấy có một người ngồi bên trái tôi. Cửa ở hàng ghế sau vẫn chưa mở, làm sao có người vào đây ngồi được. Đương nhiên, cái người này là một hành khách vô hình. 

Tôi nhìn cô ấy:
Hành khách này im hơi lặng tiếng vào ngồi bên trái tôi, vóc dáng cô ấy vô cùng mềm mại, mặc áo vải lưới mỏng màu trắng, khuôn mặt trắng tinh, lại cũng giống như ánh nắng ban mai, như hoa sen trắng nở trên mặt nước xanh.
Người phụ nữ này đẹp kì lạ.
Eo thon.
Tóc đen nhánh búi cao.
Môi hồng thơm tho.
Lông mày dài và mảnh.
Đôi mắt quyến rũ.

Cô ấy thấy tôi cứ nhìn chằm chằm vào cô ấy thì khẽ cười, không ngờ cô ấy còn có hai lúm đồng tiền trên đôi má duyên dáng hút hồn nữa. Tôi dùng ngôn ngữ tâm linh nói chuyện với cô trong tâm:
”Cô là…?”
”Phùng Phức.”
”Chuyện này là…?”
”Đi nhờ xe.”
”Đi nhờ xe tới chỗ nào thì xuống?”
”Đến nhà hàng xóm của Trần Sâm.”
Tôi mở cửa sổ xe, gọi Trần Sâm quay vào trong xe để lái xe, Trần Sâm sốt ruột đến nỗi chẳng biết làm sao, đang định liên lạc với người của garage đưa xe đến kéo.
Tôi bảo Trần Sâm xe có thể chạy được rồi, anh ấy dùng chìa khóa xe để thử lại thì thật sự đã khởi động được xe. 
Trần Sâm hét lên:
”Lạ thật! Sao bây giờ lại nổ máy được nhỉ?”
Trần Sâm nói:
”Đây là xe mới, xe mới mà lại đột ngột chết máy, rồi đột ngột lại khởi động được, về phải đi đổi lập tức!”
Tôi nói với Trần Sâm:
”Không cần đổi xe!”
”Đổi, nhất định phải đổi!”
”Không cần đổi xe đâu, chỉ bị chết máy một lần thôi, lần sau sẽ không bị chết máy đâu!”
”Sao Sư Tôn biết lần sau sẽ không bị chết máy?”
”Trực giác của tôi bảo vậy.” - Tôi không dám nói có hành khách vô hình đi nhờ xe. Tôi nói với Trần Sâm, nếu lần sau lại xảy ra chuyện chết máy như thế này thì đổi xe cũng không muộn, tôi tin rằng sẽ không bị nữa đâu, cơ duyên kiểu này không nhiều!

Bầu không khí vô cùng kì dị.
Trần Sâm lái xe mới đưa tôi đến nhà anh ta để khai quang đàn thành. Nửa đường thì chiếc xe đột ngột dừng lại, rồi lại đột ngột khởi động. Một con ma khẽ khàng đi nhờ xe, ngồi bên cạnh tôi. Hiện tượng này, nếu đổi lại là người khác thì khả năng đã bị dọa gần chết rồi, thế nhưng cũng chưa chắc, bởi vì người khác không nhìn thấy sự tồn tại của hành khách vô hình, sẽ cho rằng chỉ là xe gặp một sự cố bất ngờ mà thôi. 

Trong lúc xe chạy, tôi và Phùng Phức dùng ngôn ngữ tâm linh để nói chuyện với nhau:
”Cô đến nhà hàng xóm của Trần Sâm có việc gì sao?”
”Tìm Cao Nhân!”
”Cao Nhân là ai thế?”
”Là bạn trai của tôi.”
Trong lòng tôi vô cùng tò mò, một hồn ma của âm gian lại tìm người bạn trai ở dương gian, âm dương cách biệt, tìm đến thì cũng có tác dụng gì? Đây chẳng phải là ngu ngốc sao? Tôi hỏi:
”Tìm Cao Nhân làm gì?”
”Yêu cầu anh ta cưới tôi!” - Phùng Phức nói.
Tôi thấy nực cười trong lòng. Phùng Phức biết ngay, cô ấy nói:
”Ngài chớ cười tôi ngu ngốc! Khi xưa chúng tôi là một cặp tình nhân tâm đầu ý hợp, hai người đã phát lời thề, anh ấy không lấy ai ngoài tôi, tôi không lấy ai ngoài anh ấy. Sau đó tôi bị bệnh, hồn quy về Li Hận Thiên, nhưng tôi vẫn nhớ lời thề của mình, tôi sẽ không lấy ai ngoài Cao Nhân, tôi nhất định muốn cưới anh ấy.”
Tôi nhắc nhở Phùng Phức:
”Nhưng cô đã chết rồi mà!”
”Tôi không quan tâm, tôi vẫn muốn cưới anh ấy.”
”Ồ…” - Đương nhiên tôi hiểu, sự vô minh của chúng sinh thật sự không chỉ là con người vô minh mà ngay cả hồn ma cũng vô minh. Con người có thể khăng khăng giữ một niềm tin, nhất định không từ bỏ. Ma cũng như thế, cứ khăng khăng giữ một niềm tin, ràng buộc đến cùng, không hề biết sợ là gì. Sự ngu si của ma còn đáng sợ hơn, không có cách nào xoay chuyển được!

Tôi hỏi:
”Lúc cô còn sống, hai người có vật đính ước không?”
”Có.” - Phùng Phức nói: “Tôi mang theo bên người, để tôi cho ngài xem!”
Thì ra là một viên ngọc san hô to màu đỏ, bên dưới là một miếng vàng được khảm rất tinh xảo, có thể đeo trước ngực. 
Phùng Phức nói: 
”Cao Nhân cũng có một viên san hô to, cũng là màu đỏ, nhưng gài vào cổ áo tây.”

Nói qua nói lại, xe đã đến nhà của Trần Sâm. Nhà Trần Sâm và nhà Cao Nhân là hàng xóm của nhau, bởi vì là biệt thự đôi nên chỉ cách một bức tường, hai nhà cũng như một nhà.

Tôi tạm biệt Phùng Phức, cả hai cùng nói “bái bai”. 

Tôi lần lượt dựa theo nghi quỹ, triệu thỉnh Phật Bồ Tát khai quang điểm nhãn cho đàn thành trong nhà Trần Sâm. Sau khi mọi thứ xong xuôi, tôi hỏi Trần Sâm:
”Hàng xóm anh là ai?”
Trần Sâm đáp:
”Là Cao Nhân. Chúng tôi rất thân, tháng sau cậu ấy sẽ lấy vợ.”
”A! Thì ra là vậy.” - Trong lòng tôi xao xuyến. 
Lòng từ bi của tôi nổi lên, tôi nói với Trần Sâm: 
”Nếu Cao Nhân có xảy ra chuyện gì thì hãy tìm tôi! Tôi có thể giúp cậu ta.”
Trần Sâm đáp:
”Cao Nhân sẽ chẳng gặp khó khăn gì đâu. Cậu ấy có công ty do tổ tiên để lại, kinh doanh rất tốt, nghe nói cô gái kia cũng là con cháu đại gia, môn đăng hộ đối. Thân thể Cao Nhân rất tráng kiện, cậu ấy chơi quần vợt, kĩ thuật đánh bóng hạng nhất. Khi còn đi học, môn thể thao nào cậu ấy cũng tham gia, lại cao to đẹp trai, ai cũng mê cậu ấy, đó là một thanh niên tuấn tú.”
Tôi nói:
”Trời có gió mây bất trắc, người có họa phúc một sớm một chiều!”
Trần Sâm nói:
”Sư Tôn nói cũng phải.”

🌟

Chưa đến mấy hôm sau.
Trần Sâm và bố mẹ của Cao Nhân vội vàng đến tìm tôi. 
”Quái lạ! Quái lạ! Cao Nhân đang khỏe mạnh bình thường, bỗng dưng ngất xỉu ngã lăn ra đất, rồi lại đột ngột tỉnh lại, miệng lẩm bẩm mấy từ, cũng không biết là nói cái gì, đưa đi bệnh viện kiểm tra thì cuối cùng cậu ta đã bị đưa vào khoa tâm thần, uống thuốc xong thì trấn tĩnh lại một chút, nhưng khi hết dược tính thì miệng lại liên tục lẩm bẩm, người cũng liên tục run rẩy, bây giờ chỉ còn cách tiêm và uống thuốc.”
”Bác sĩ nói sao?” - Tôi hỏi.
”Sóng não đều bình thường, không tìm ra nguyên nhân bệnh!”
”Bây giờ cậu ta ở đâu?”
”Đang ở nhà nghỉ ngơi.”

Tôi cùng với Trần Sâm và bố mẹ của Cao Nhân bốn người đi trên chiếc xe ô tô mới đến nhà của Cao Nhân. Tôi vừa trông thấy Cao Nhân thì đã thấy ngay Phùng Phức ở bên cạnh Cao Nhân. Khi Phùng Phức nhập vào người Cao Nhân, hai người biến thành một người, lúc thì biến thành Cao Nhân, lúc lại biến thành Phùng Phức, cái miệng cũng biến đổi tới lui, vì thế những lời nói ra cứ lập bà lập bập. 

Tôi nghĩ đến một vấn đề, nếu tôi dùng cách cưỡng chế để đuổi Phùng Phức ra khỏi người của Cao Nhân thì phải trì ba câu chú:
Thứ nhất: 
*”Thái thượng đài tinh, ứng biến vô đình, khu tà phược mị, bảo mệnh hộ thân, trí huệ minh tịnh, tâm thần an ninh, tam hồn vĩnh tại, phách vô tang khuynh, cấp cấp như luật lệnh*.”
Thứ hai:
”*Đan chu khẩu thần, thổ uế trừ phân, thiệt thần chính luân, thông mệnh dưỡng thần, la thiên xỉ thần, khư tà vệ chân, hầu thần hổ bí, khí thần dẫn tân, tâm thần đan nguyên, lệnh ngã thông chân, tư thần luyện dịch, đạo khí trường tồn, cấp cấp như luật lệnh*.”
Thứ ba:
”*Linh bảo thiên tôn, an úy thân hình, đệ tử hồn phách, ngũ tạng huyền minh, thanh long bạch hổ, đội trượng phân vân, chu tước huyền vũ, thị vệ ngã thân, cấp cấp như luật lệnh*.”

Câu chú thứ nhất là để khiến cho Cao Nhân tâm thanh tịnh.
Câu chú thứ hai là để khiến cho Cao Nhân khẩu thanh tịnh.
Câu chú thứ ba là để khiến cho Cao Nhân thân thanh tịnh.

Tay tôi kết ấn khu trục, tôi hét lên một tiếng Hum rồi ấn vào giữa lưng của Cao Nhân. 
”Phịch” một tiếng.
Phùng Phức từ trên người của Cao Nhân ngã ra. Cú ngã này sẽ khiến Phùng Phức không chết thì cũng trọng thương. Bởi vì ấn khu trục của tôi có pháp lực rất cao, sẽ khiến cho lực ngưng tụ của linh hồn bị dao động đến tan ra mà không thể hợp lại được. Mặc dù điều này tốt nhưng lại bất lợi cho Phùng Phức.

Tôi nghĩ đến nhân duyên tôi từng cùng Phùng Phức đi cùng xe, lại còn nói chuyện rất vui vẻ, tôi không có ấn tượng xấu với cô ấy. Chúng tôi lại còn cùng nói “bái bai” với nhau, tôi sao có thể nhẫn tâm tung một chưởng mà đánh chết cô ấy chứ?
Thế là tôi bỏ câu chú thứ nhất, cũng bỏ luôn câu chú thứ ba, chỉ niệm mỗi câu chú thứ hai, rồi đưa cho Cao Nhân một cốc nước cam lộ để uống.

Phùng Phức nhập vào người Cao Nhân nói chuyện, là giọng nữ:
”Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn cứu tôi!”
Mọi người nghe thấy tiếng phụ nữ nói thì đều giật nảy mình.
”Cô là Phùng Phức!”
”Đúng.”
”Cô muốn tôi cứu cô, lời này có gì sai sai! Là cô nhập vào Cao Nhân, tôi đến cứu Cao Nhân chứ sao lại là cứu cô?”
”Ngài cứu được tôi thì cũng là cứu Cao Nhân. Ngài giúp cho nguyện vọng của tôi thì tôi sẽ tự thoát ra!”
”Âm dương cách biệt, làm sao thỏa ý nguyện được?”
”Cao Nhân có thể cưới linh vị của tôi, cử hành một lễ cưới âm, như thế là hoàn thành tâm nguyện của tôi!”
”Lễ cưới âm ư?”
”Đúng vậy.”
”Thế thì thế nhân sẽ cười cho!” - Tôi nói.
”Nếu không làm thế thì tôi sẽ không ra đâu!” - Phùng Phức nói.
”Cô cho rằng tôi không thể đuổi cô ra sao?” - Tôi hơi tức giận.

Phùng Phức nói:
”Hoạt Phật, tôi biết ngài, biết pháp lực của ngài cao cường, ngài muốn trừ bỏ tôi thì đơn giản lắm, nhưng tôi biết con người ngài rất từ bi, tâm ngài rất mềm yếu, sẽ không vô duyên vô cớ mà giết tôi đâu, đây cũng là lí do mà tôi đi nhờ xe của ngài đó.”
”Vậy là cô đã có kế hoạch cả rồi?” - Cô ấy nói trúng nhược điểm của tôi.
”Không dám nói là dùng kế, mà là nhân duyên như vậy!”
Tôi khuyên Phùng Phức: 
”Đọa vào âm gian cực ngu si
Khổ đau đeo bám chẳng thanh thản
Nhân duyên dương thế đều khó kết
Hôn nhân âm thế càng khổ thêm.”

Phùng Phức trả lời:
”Đa tạ Hoạt Phật đã khuyên răn
Cái đạo lí này tôi cũng hiểu
Chỉ là nỗi lòng không cởi được
Xong được nguyện này là chấm dứt.”

Tôi hỏi:
”Cao Nhân sắp kết hôn nên cô cố ý tới để phá đám đúng không?”
Phùng Phức trả lời:
”Có thể cùng cưới.”
”Cùng cưới ư!” - Đầu tôi cũng muốn vỡ ra rồi.

🌟

Tôi nhớ trước đây có tập tục cưới vợ cõi âm. 
Cha mẹ mơ thấy con gái đã chết sớm muốn đi lấy chồng. Cha mẹ không biết làm thế nào, bèn lấy đồ vật của con lúc còn sống, và một chút tiền, cộng thêm những vật của cõi âm như tiền giấy, dùng giỏ rau hoặc một cái bao nhỏ gói lại, đặt ngay ngắn bên đường hoặc dưới gốc cây. Cha mẹ và người nhà sẽ nấp ở gần đó. Nếu có chàng trai trẻ đi qua, vì tò mò mà nhặt cái giỏ rau hoặc cái gói đó lên, mở ra xem, thì cha mẹ và người nhà sẽ xông ra, hô hoán lên với chàng trai trẻ là:
”Con rể ơi!” - Bố mẹ gọi.
”Dượng ơi!” - Anh chị em gọi.
……..

Chàng trai trẻ sẽ cảm thấy bối rối, sao bỗng dưng lại có một đám người họ hàng thế này. Nghe mọi người giải thích, thì ra là cô dâu cõi âm muốn tìm một người chồng có nhân duyên ở nhân gian.
Những chàng trai trẻ bình thường có người nghe xong thì bỏ chạy không dám ngoảnh đầu lại!
Tuy nhiên, cũng có người đồng ý kết hôn với cô dâu cõi âm.
Đại bộ phận thanh niên trẻ sẽ không cưới, thế nhưng bên nhà gái sẽ ra điều kiện, sẽ cho con rể tiền và không ít của hồi môn. “Tiền bạc sẽ động lòng người”, vừa nghe đến của hồi môn thì sẽ có người đồng ý.
Nhà trai chẳng hề mất phí tổn gì.
Chỉ cần cưới về một cái bài vị để thờ cúng.
Không hề tổn hại, hơn nữa còn có lời, cớ sao mà không chịu chứ!
Còn như những thông gia giàu có, sau này nhận hay không nhận, hoàn toàn do tự mình quyết định. Nói không chừng sống hòa thuận vui vẻ thì lại có thêm một đống người thân thích, tương lai sự nghiệp của bản thân sẽ càng có lợi.
Từ lâu tôi đã nghe đến chuyện cưới cô dâu cõi âm rồi!

Tôi không chỉ nghe nói mà có một lần, tôi ra ngoài giúp người ta xem phong thủy. Trên đường đi qua một ngôi làng, tại con đường lớn ở cổng làng có một cái cây to, trên cái cành cây đua ra có treo một cái gói. Bên trong cái gói này có cái gì thì nhìn không rõ, nhưng có một gói hương cắm xiên vào, đó là loại hương để cúng thần.
Tôi rất tò mò, muốn lấy xuống để xem cụ thể, hoặc tôi cho rằng ai đó để quên, ai đó bỏ đi, nên lấy và đem tới đồn cảnh sát. Người bên cạnh khuyên tôi:
”Đừng chạm vào!”
Tôi hỏi:
”Vì sao?”
”Chạm vào là ngài sẽ trở thành tân lang đó!”
Tôi chẳng hiểu gì cả. Người bên cạnh giải thích:
”Đó là để gả cô dâu cõi âm đó!”

Tôi nghe xong mới hiểu ra, thì ra cái gói đó là để chờ một chú rể nhân gian có duyên. 

🌟

Tôi hiểu ý của Phùng Phức, Phùng Phức cũng đồng ý, chỉ cần nhà họ Cao quyết định cưới Phùng Phức vào nhà thì Phùng Phức sẽ lập tức rời khỏi thân của Cao Nhân, bệnh tình của Cao Nhân sẽ tự nhiên mà khỏi.
Tôi hỏi ý cha mẹ của Cao Nhân. Cha mẹ Cao Nhân rất kinh ngạc, song họ biết Cao Nhân thật sự có một người bạn gái là Phùng Phức, cả hai thật sự có vật đính ước, là ngọc san hô đỏ, về điều này thì cả cha mẹ Cao Nhân đều biết.

Cha mẹ Cao Nhân là người thông tình đạt lí, chỉ cần bệnh của con trai nhanh chóng khỏi thì hôn nhân âm gian có thể làm được. Bố Cao Nhân còn vui mừng hơn nữa vì: “Song hỉ lâm môn, quá tốt rồi!”

Thậm chí, bố Cao Nhân còn nói:
”Nếu có chuyện tốt như vậy thì tôi cũng muốn!”
Mẹ của Cao Nhân ở bên cạnh, lập tức mắng bố Cao Nhân là già mà còn không đứng đắn!

Bây giờ vấn đề không còn nằm ở nhà trai, mà là đối tượng mà Cao Nhân sắp kết hôn. Vị hôn thê của Cao Nhân rất yêu Cao Nhân. Khi Cao Nhân phát bệnh, cô đã ân cần chăm sóc, hơn nữa không hề có ý hủy hôn, thậm chí muốn chăm sóc cho Cao Nhân suốt đời nếu như Cao Nhân vẫn không khỏi bệnh. Vị hôn thê cũng đồng ý có thể cưới bài vị của Phùng Phức.

Nhưng cha mẹ của vị hôn thê thì không dễ dàng thông qua như vậy. Họ suy nghĩ đến vấn đề hiện thực trước mắt:
”Chứng bệnh tâm thần của Cao Nhân không rõ, không dễ chữa, nên hôn nhân tạm hoãn, đợi đến khi khỏi bệnh thì mới kết hôn.”
”Nếu chữa không khỏi, chưa hoàn toàn bình thường, thì nên hủy hôn.”
”Cưới cô dâu cõi âm là mê tín, không có gì phải suy xét.”
”Cưới cô dâu cõi âm là mất danh dự, không có gì phải cân nhắc.”
”Chúng tôi đường đường gả con gái đi, lại đi cùng với một bài vị, còn ra cái thể thống gì nữa, không được, không được.”

Tôi mất thời gian dài khai thông cho nhà gái, nhưng cha mẹ của vị hôn thê vẫn kiên quyết không đồng ý. Cuối cùng, tôi chỉ còn cách xuất chiêu hiểm. 

Tôi hỏi:
”Mấy người có thờ thần không?”
”Có thờ.”
”Mấy người có tin bói chén đổ hào không?” - Tôi hỏi.
Họ đáp:
”Bói chén cũng có xác xuất, cho nên tin mà cũng không tin!”
Tôi nói:
”Được, chúng ta có thể lấy 12 hào làm chuẩn, nếu xuất hiện 12 hào ngửa (khẳng định) thì mấy người có tin tôi không?”
”12 hào ngửa, 12 lần đổ chén, không thể nào, tỉ suất cơ hội ấy là quá ít. Không thể có tiếu bôi (hai hào ngửa), không thể có hào phủ định (hai hào úp), không thể có khả năng đó!”
Tôi nói:
”Được, lấy 12 hào làm chuẩn, nếu xuất hiện 12 hào, mấy người sẽ đồng ý cho Cao Nhân cưới linh bài chứ?”
”Người anh em già, ông nhất định sẽ thua!” - Họ nói.
”Xuất hiện 12 hào, không thể nào, quên cái chuyện cưới linh bài đi!” - Họ đồng ý chuyện này sẽ do thần minh quyết định.

🌟

Nghi thức bói chén được tiến hành ở trước mặt thần minh. 
Có cha mẹ của phía nhà trai, Cao Nhân và vị hôn thê, và tôi. Bố của đằng nhà gái đổ chén. (Tình trạng tinh thần của Cao Nhân hôm đó khá ổn.)
Đương nhiên tôi đã có mẹo nắm chắc phần thắng, có lẽ có người sẽ cho rằng vũ khí bí mật của Liên Sinh Hoạt Phật nhất định là Phùng Phức, thật ra không phải, Phùng Phức đã nhập vào người Cao Nhân từ lâu, không có cách nào phân thân được.

Hôm đó, tôi triệu thỉnh hai vị Bốc Bôi Đồng Tử và Phiên Bôi Đồng Tử đi theo, hai đồng tử này vốn là đến từ miếu Ngũ Phủ Thiên Tuế. Tôi đã thương lượng để mượn họ.
Tôi yêu cầu Bốc Bôi Đồng Tử và Phiên Bôi Đồng Tử nhất định phải làm xuất hiện 12 hào thánh.
Vừa bắt đầu đổ chén thì hai đồng từ này đã rất bận rộn. Họ phải bắt kịp hào để lật hào! Động tác vừa nhanh vừa chuẩn!
Một hào, hai hào, ba hào, bốn hào, năm hào…
Oa! Toàn bộ đều là hào ngửa (hào thánh). 
Ông bố bên nhà gái dừng lại nói:
”Không thể nào, không thể nào, hào này có ma, phải đổi cái hào khác!”
Tôi chẳng hề phản đối, nói:
”Muốn đổi thì đổi!”
Lại đổ bát! Sáu hào, bảy hào, tám hào, chín hào, mười hào… Tất cả đều là hào ngửa (hào thánh). 
Bố của nhà gái hét lên đòi dừng lại:
”Không được, không bói nữa, tôi quyết định con gái tôi không cùng gả với cái linh bài, mọi người sẽ cho rằng đây là truyện tiếu lâm mất.”
Mọi người đều sững người ra.

Thật may, con gái của ông nói:
”Vẫn còn hai hào nữa, chưa chắc đã là hào thánh, sao không thử xem!”
Bố cô bĩu môi, đổ bát ra, kết quả là hào thứ 11 là hào thánh, hào thứ 12 mọi người nhìn rõ ràng là hai hào úp lên nhau phủ quyết, cuối cùng một cái lại bật ra, lật ra, vẫn là hào thánh.
Bốc Bôi Đồng Tử và Phiên Bôi Đồng Tử đã hoàn thành nhiệm vụ, cúi đầu chào rồi đi!
Bố cô gái rất không tin, lại đổ bát. ….
Hào thứ 13 là hai hào úp phủ quyết. 
Sau đó thì đều hỗn loạn cả lên… Bố cô gái cúi đầu chán nản. 

🌟

Điều khiến người ta kinh ngạc nhất là kể từ sau lần bói chén, Phùng Phức đã ra khỏi người Cao Nhân, bệnh của Cao Nhân không thuốc mà khỏi, hoàn toàn như người bình thường, tất cả mọi thứ thật sự đã tốt trở lại.
Hiện tượng này chính là hiện tượng bị ma nhập, bây giờ, ma đã ra khỏi thân, hiện tượng bị ma nhập tự nhiên tiêu biến.

Tôi phát hiện ra, có một số hồn ma, dựa vào nhân duyên nhân quả và vui thích sống nhờ trên thân thể người khác, mượn năng lượng của người đó, không chỉ lợi dụng năng lượng của cơ thể người đó mà còn có thể gây ảnh hưởng đến nhục thể, tư tưởng, tình cảm, động tác, ngôn ngữ hành vi của người đó. 

Ví dụ Phùng Phức sống nhờ trên người Cao Nhân, khiến anh ta:
1. Ăn nói lung tung.
2. Tinh thần thất thường.
Cá nhân tôi phát hiện thấy, ma và thần thật ra không khác nhau nhiều lắm. Ma và thần đều là linh khí, sự khác biệt là khí chất khác nhau, năng lực khác nhau, năng lực lớn thì là thần, năng lực nhỏ thì là ma.

Có một số con ma cũng biết tu hành, tu chính linh khí của mình, gia tăng năng lực cho mình, tu hành rồi thì sẽ biến thành ma tiên, không chỉ có thể hiển hiện, dần dần có thể biến thành thần mà con người bình thường vẫn quỳ lễ. 

Tôi còn phát hiện thấy:
Trong tu hành Mật giáo, có một điều chính yếu là thông trung mạch và thông ba mạch bảy luân xa, cuối cùng là kinh mạch toàn thân mở ra. Vì sao phải như vậy? Bởi vì kinh mạch toàn thân mở ra thì mới có thể ấn chứng tính Không (Phật tính).

Nếu kinh mạch bị tắc nghẽn, kinh mạch tắc dương, thì ma và linh bên ngoài có thể xâm chiếm, bám vào những nơi bị tắc nghẽn, khiến trăm thứ bệnh trên thân thể phát tác! Cho nên, trong Mật giáo thì kinh mạch đều thông là vô cùng quan trọng. Khi kinh mạch đều thông thì linh lực do có thể tràn đầy toàn thân nên đạt đến cảnh giới Phật và ta hợp nhất. 

Đúng thời hạn, Cao Nhân cử hành hôn lễ. Trong một lần anh ta cưới hai người vợ, một người là người dương, một người là người âm, gây xôn xao lớn trong giới truyền thông. 
Những bài đưa tin chỉ ra rằng: “Chú rể Cao Nhân làm theo chỉ thị của một người thông linh nên mới một lần cưới hai vợ.”
Trong những bài báo còn nói: “Không biết đêm nay động phòng hoa chúc, chú rể sẽ làm thế nào đây?”

Hôn lễ này tổ chức rất lớn, rất nhiều khách khứa, cũng có rất nhiều người lạ vì ngưỡng mộ mà đến xem cảnh tượng náo nhiệt. Tôi phát hiện thấy những hồn ma bạn bè của cô dâu cõi âm Phùng Phức cũng khá đông, bạn mở to mắt ra xem thì sẽ thấy giống như cái chợ lẫn lộn cả người và ma. 
Khi tất cả kết thúc thì tôi cũng mệt rồi, Trần Sâm lái xe đưa tôi về nhà.

Khi xe đang chạy, có một người ngồi bên trái tôi, không ngờ là Phùng Phúc, tôi giật nảy mình:
”Đêm tân hôn, cô ở đây làm gì?”
”Những cảnh tình ý, chi bằng chạy trốn.”
”Chuyện ấy…”
”Người ta là thực thể.”
”Cô có ghen tị không?”
”Ghen tị thì không, tôi đã trải qua sống chết rồi, biết biển khổ là một giấc mộng, sẽ không bám chấp vào những thứ này!”
”Nhưng chẳng phải là cô vẫn cứ cưỡng ép muốn hôn nhân cõi âm đó sao?” - Tôi cười cô ấy.
Phùng Phức nói:
”Đúng là một vọng tưởng điên đảo, cũng vẫn là trống rỗng, bây giờ thì tôi tỉnh ngộ rồi!”
”Có thể tỉnh ngộ là tốt nhất!” - Tôi nói: “Bây giờ cô đi đâu?”
”Đi theo ngài!”
”Tôi…”
Phùng Phức cười, cô ấy cười trông rất xinh đẹp. Cô ấy nói:
”Đừng lo, không phải là tôi muốn kết hôn với ngài đâu!”

Phùng Phức muốn quy y. Cô ấy nói:
*Cực Lạc thế giới thanh tịnh thổ.
Không có ác đạo và khổ đau.
Mong người ngu si giống như tôi.
Cùng sinh cõi Phật Vô Lượng Thọ.*


### 06. Chính tà giao chiến


Tôi đang đi dạo trong một công viên, khi ấy đã là gần nửa đêm, công viên rất vắng người, nhưng vẫn có một người đang chạy bộ, ngoài người này ra thì chẳng thấy còn ai khác.

Không lâu sau, lại xuất hiện một người nữa, người này mặc đồ đen toàn thân, dáng người cao gầy. Tôi quan sát người đó từ xa, thấy xung quanh người này có nhiều đốm linh quang. 
Cảnh tượng đó là một người cao gầy mặc đồ đen, gió khẽ thổi hiu hiu, bộ quần áo đen khẽ bay bay, toàn thân và linh quang xung quanh như đom đóm lập lòe. Người này xuất hiện một cách đặc biệt như vậy thì đó tuyệt đối không phải là một phàm phu bình thường.

Trước tiên, người này nhìn chăm chú vào cậu thiếu niên đang chạy bộ, nhìn một lúc thì cảm thấy không có gì, lại quay đầu qua nhìn tôi. Tôi vẫn chầm chậm dạo bước, tôi nghĩ, cái người mặc đồ đen này là ai? Bởi vì đối phương có thể khởi động năng lượng linh quang của bản thân, cái công lực tỏa ánh sáng lấp lánh ra xung quanh đó, nếu không có công phu chuyên chú và dung nhập thì không thể làm được. Trong lúc tôi đang suy nghĩ thì người này đã đến sau lưng tôi mà không hề phát ra một tiếng động nào.

Người mặc đồ đen nói với tôi:
”Ông trông giống một người!”
”Ai?” - Tôi hỏi ngược lại hắn.
”Lư Thắng Ngạn.”
”Ồ!” - Tôi không nói là phải, cũng không nói không phải. Lí do tôi không trả lời là bởi vì tôi chưa rõ thân phận đối phương là ai, đặc biệt đối phương là một người có hiện tượng tu linh mang phẩm chất riêng, nên tôi cần trả lời thận trọng một chút.

Người mặc đồ đen nói:
”Ông không phải là Lư Thắng Ngạn, ông chỉ giống Lư Thắng Ngạn thôi, bởi vì ông thiếu sức hấp dẫn của Lư Thắng Ngạn, Lư Thắng Ngạn béo hơn ông một chút!”
Tôi nói:
”Đúng vậy, cũng từng có người nhận nhầm tôi là Lư Thắng Ngạn.”
”Ha! Trên đời này có rất nhiều người trông giống nhau, ông có thể giả lấy thân phận của Lư Thắng Ngạn được đó!”
Tôi tò mò hỏi hắn:
”Sao anh biết ông ta?”
Hắn đáp:
”Trong giới tôn giáo không ai là không biết ông ta, mà khả năng không chỉ có giới tôn giáo, tiếng tăm ông ta rất lớn, trên truyền hình, trên báo chí, trong sách, đều có thể thấy ông ta. Tôi và ông ta có một chút hiềm khích!”
”Hiềm khích?” - Tôi nghe xong, trong lòng rất kinh ngạc.
”Ông ấy đã thu nhận rất nhiều đệ tử của tôi, đồng thời cũng hủy hoại rất nhiều pháp thuật của tôi. Tôi phải tìm ông ta để đòi lại sự công bằng cho tôi.”

Trong đầu tôi cứ nghĩ mãi người này là ai? Nhưng nghĩ không ra, tôi đâu có thu nhận đệ tử của hắn? Đâu có làm hỏng pháp thuật của hắn?

Tuy nhiên, tôi ngẫm nghĩ lại…
Tôi thu nhận đệ tử bất kể hoàn cảnh xuất thân của họ, bất kì ai chỉ cần muốn quy y tôi thì tôi đều cho quy y, tôi không từ chối một chúng sinh nào. 
Có một số đệ tử không đơn thuần, từ lâu họ đã dạo chơi qua rất nhiều nhóm tôn giáo, từng học thiền hiện đại, từng học khí công nguyên cực, cũng có người học Pháp luân công, Trung công, Hương công, môn Thái cực, Nhân điện, Thiên đế giáo, các môn phái lớn của Mật tông, Nhất quán đạo, Cơ đốc, Thiên chúa, v.v…

Tóm lại, có rất nhiều các vị thầy khí công đến quy y tôi, Hoạt Phật của các môn phái lớn của Mật tông cũng đến quy y tôi, cũng có những vị xuất gia tu hành mấy chục năm của Phật giáo đến quy y tôi. Rất nhiều người học tập thiền định, khí công, Mật tông, linh học, đã từng bái rất nhiều minh sư, từng tu rất nhiều môn cũng đến quy y tôi.
Làm sao tôi phân biệt được ai là đệ tử của ai?

Hơn nữa, hành đạo trong thiên hạ, giúp người ta hỏi chuyện và chữa trị tâm linh, thanh trừ tạp linh tạp khí của đối phương, giúp người giải trừ những vấn đề khó khăn, tiêu tai giải ách, e rằng cũng vô ý đắc tội với người ta, nên cũng có khả năng phá hoại pháp thuật của người ta.

Tôi không nói gì. Hắn nói:
”Nếu tôi thật sự đụng độ Lư Thắng Ngạn, tôi nhất định sẽ khiến ông ta chết rất thê thảm!”
Hắn vừa nói còn vừa nghiến răng. Tôi thấy sờ sợ trong lòng. Tôi hỏi:
”Anh là ai?”
Người mặc đồ đen đáp:
”Dương Thông ở pháp môn X.”

Hắn xưng danh hiệu, nhưng tôi không nhận ra, thật sự là không nhận ra, bởi vì trong giới tôn giáo có tới hàng trăm môn phái, ai cũng có thể tự sáng lập giáo phái, những giáo phái mới xuất hiện thì tôi chẳng biết ai cả. Tôi chỉ cảm thấy kinh ngạc, bởi vì người tu hành mà cũng pha tạp sự sân hận lớn đến vậy sao?
Dương Thông ở pháp môn X này rảnh rỗi quá rồi, nửa đêm ở trong công viên mà lại còn đem bí mật muốn tu pháp đánh đổ Lư Thắng Ngạn ra mà kể với tôi.
Hắn nói:
”Tôi có bát tự và địa chỉ của Lư Thắng Ngạn!”
Tôi nói:
”Anh có vật tượng trưng cho tinh thần không?” (Ý nói lông tóc, móng tay.)
Hắn nói:
”Lư Thắng Ngạn nếu không phải là đồ ngu xuẩn thì cũng là đồ kiêu ngạo. Thứ nhất, ông ta công khai hết bát tự của mình. Thứ hai, ông ta chia lông tóc tặng cho các đệ tử làm kỉ niệm. Đệ tử của ông ta đều coi đó là xá lợi tóc vô cùng trân quý. Tôi đây cũng thu thập được một ít, tôi sẽ tu pháp để đánh đổ ông ta.”

Đương nhiên tôi chẳng muốn hắn tu pháp hại tôi. Tôi thận trọng hỏi hắn nguyên do:
”Đệ tử của anh vì sao lại chạy tới chỗ của Lư Thắng Ngạn của Chân Phật Tông chứ?”
Dương Thông trả lời: 
”Tôi có một đại đệ tử, đã theo tôi tu trì rất lâu, có một lần anh ta tiến hành bế quan tu luyện, thời gian cũng tương đối dài, trước khi xuất quan không cẩn thận đã tẩu hỏa nhập ma, có hơi bị tâm thần thất thường. Anh ta được Lư Thắng Ngạn chữa khỏi rồi, sau khi khỏi, anh ta cho rằng pháp lực của Lư Thắng Ngạn cao hơn tôi, bèn đem theo một đám đệ tử đi quy y ông ta.”
Tôi nghĩ một lúc, mang máng nhớ là hình như có chuyện này.

Dương Thông lại nói:
”Pháp môn X coi trọng việc tu luyện nhìn thấu bản chất và chữa trị tâm linh, rất nhiều đồ đệ của tôi đều có thể khai mở năng lực trên phương diện này, nhưng không phải là một trăm phần trăm các đệ tử học tập đều có thể thành tựu, những người có căn cơ hơi kém tu luyện rất lâu không thể thành tựu thì đều chạy tới Chân Phật Tông hết.”
”Còn nữa.” - Dương Thông tiếp tục nói: “Tôi tu thiền kiêm khí công, người được tôi chữa trị tâm linh rất nhiều người đã khỏi. Nhưng cũng có người nghiệp chướng nặng, có một người bị giãn phế quản, một người bị gan xơ cứng, một người bị chảy máu ruột, một người bị bệnh tiểu đường, một người bị viêm khớp mãn tính, một người bị thống phong, đều chạy tới chỗ của Lư Thắng Ngạn hết.”

Tôi hỏi:
”Thế bọn họ đã khỏi chưa?”
Hắn đáp:
”Họ đã khỏi rồi, cũng đã quy y Lư Thắng Ngạn rồi. Nhưng tôi tức không chịu nổi!”
Tôi nghĩ thầm, năng lực thua người khác, nên tự mình nỗ lực tu luyện hơn nữa mới phải, sao lại tức không chịu nổi chứ. 
Tôi khuyên Dương Thông:
”Thật ra Lư Thắng Ngạn đâu có đắc tội với anh!”
”Sao lại không, ông ta thu nhận đệ tử của tôi!”
”Thật ra ông ta giúp đỡ anh đấy chứ!”
”Đâu có, ông ta phao tin đồn về pháp môn X, rằng pháp lực của ông ta cao hơn tôi.”
”Đâu phải là ông ta nói!”
”Mặc dù không phải là ông ta nói, nhưng cũng chẳng khác nào ông ta nói, Lư Thắng Ngạn thật sự đã cướp mất rất nhiều đệ tử của tôi rồi.”

Tôi nói:
”Xã hội ngày nay tôn trọng ý chí tự do của cá nhân, tín ngưỡng cũng là tự do, đệ tử của pháp môn X chạy qua Chân Phật Tông, chấp nhận Chân Phật Tông, có lòng tin đối với hiệu quả Mật pháp của Chân Phật Tông. Tuy nhiên, cũng có ai dám đảm bảo những đệ tử của pháp môn X này ở lại Chân Phật Tông sẽ ở lại Chân Phật Tông mãi mãi chứ? Chắc chắn họ sẽ không chạy tới chỗ khác sao?”
Tôi nói tiếp:
”Ý tôi muốn nói rằng, con người hiện đại học tập tu luyện Mật giáo, đều có xu hướng chạy lung tung, tức là chạy khắp các đạo tràng, dừng lại một chút ở tông phái khác, kết một chút duyên, rồi sau đó lại chạy tiếp. Nhận thức được điều này rồi, đệ tử như nước chảy, đâu cần phải nổi giận chứ.”

Dương Thông vẫn rất tức giận:
”Thế nhưng tôi muốn lật đổ Lư Thắng Ngạn là điều chắc chắn. Ai bảo ông ta không tôn trọng Dương Thông của pháp môn X chứ!”
Tôi kêu oan trong lòng, bởi vì tôi thật sự không nhận ra Dương Thông. 
Thế nhưng cũng không cần phải kêu oan, trong cuộc đời này của tôi cũng không ít lần phát sinh sự việc kiểu này. Căn bản là tôi không quen biết đối phương, nhưng đối phương lại cứ bán mạng mà chửi bới phỉ báng và công kích tôi, không chỉ như vậy, họ không từ bất kì thủ đoạn tồi tệ nào, ngay cả những trò bỉ ổi vô liêm sỉ nhất họ cũng đều làm, thật sự là đáng sợ và yểu thọ.

Chỉ vì tôi là:
Quá nổi danh.
Cây lớn thu hút gió lớn.
Cái đinh nhô lên cao.
Nên người người kêu đánh.

🌟

Tôi đi dạo trong công viên, gặp phải Dương Thông của pháp môn X, sau sự việc ấy, tôi cũng không để trong lòng, tôi gần như quên luôn chuyện người ta muốn lập âm mưu với tôi. Mãi cho đến khi tôi có một giấc mơ kì quái.
Trong mơ, tôi giống như là đi vào một nơi hết sức ẩn mật ở phía bắc địa cầu, nơi này thuộc về một không gian khác. Có một vị Diễm Hỏa Lôi Thần sống ở đó. Vị Diễm Hỏa Lôi Thần đó bị giam cầm trong không gian này.

Diễm Hỏa Lôi Thần từng tham gia vào trận chiến cuối cùng ở trên trời, đã giết chết rất nhiều vị thần, thiêu họ cháy đen, rồi sau đó ăn họ sạch sẽ. Diễm Hỏa Lôi Thần tướng mạo vô cùng đáng sợ, miệng rộng, răng nhọn, tóc đỏ, mắt trợn trừng, toàn thân bốc lửa, ngón tay như tia chớp.

Tôi mơ thấy Diễm Hỏa Lôi Thần. Vị Lôi Thần này cực kì phẫn nộ, ông ta muốn ăn thịt tôi. 
Diễm Hỏa Lôi Thần phóng ra một tia chớp tóe lửa, mười đầu ngón tay là mười tiếng sét, những chiếc răng sắc giống như những thanh kiếm bay phóng thẳng vào tôi. Miệng há ra giống như thiên la địa võng chụp xuống! 

Tôi thấy vị hung thần này căn bản là không thể nói lí, tôi chỉ là ở trong giấc mơ rơi nhầm vào không gian của ông ta thôi mà ông ta đã muốn đặt tôi vào chỗ chết rồi, thật là tàn nhẫn quá! Diễm Hỏa Lôi Thần muốn ăn thịt tôi, tôi phải làm sao đây?
Tôi chỉ còn cách lấy hung bạo để chặn hung bạo thôi. 

Tôi niệm chú phản hồi của Độ Mẫu. 

Nghe nói Diễm Hỏa Lôi Thần trời không sợ, đất không sợ, bất luận là Phật giác ngộ, Bồ Tát từ bi, La Hán tự giác ngộ, thần Kim cương Hộ pháp, ông ta đều không sợ, ông ta chỉ sợ mỗi chú phản hồi của Sư Diện Không Hành Mẫu thôi. 

Tôi vừa niệm chú này thì mười tiếng sét đều nổ ngay cạnh ông ta, hàng nghìn lưỡi gươm sắc đều bay ngược lại, bắn về phía ông ta, chính ông ta đã ngã vào trong thiên la địa võng. Ngọn lửa sáng rực đã thiêu Diễm Hỏa Lôi Thần thành than đen. 
Một tiếng nổ dữ dội!
Bắn tung ra thành một đống tro tàn!

Mộng cảnh này, đối với tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) mà nói thì không hề có ý nghĩa thắng lợi, ngược lại lại là một vết nhơ trong sự thanh tịnh, là một chút khổ não trong trạng thái không có phiền não. Đối với một người giác ngộ mà nói, hữu tình thành tựu tất cả thiện nghiệp là hình thức sinh mệnh đã đạt đến thành tựu viên mãn nhất. 
Là từ bi vô hạn!
Là từ bi rộng lớn của trí huệ viên mãn!

Thế mà nay, tôi lại có một giấc mơ kì quái, trong mơ không ngờ lại giết Diễm Hỏa Lôi Thần, điều này có hàm ý gì đây? Trong mơ tôi đã phạm vào giới sát, phạm vào giới sát tức là đã phạm vào luật trời, điều này là vô cùng nghiêm trọng.

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người rằng:
Thế nhân nằm mộng là giả. Cho dù là trong mơ giết người thì đương nhiên không phải là thật, cũng không có ai thật sự bị giết cả.
Nhưng tôi lại mơ thấy rơi vào một không gian khác. Gặp phải Diễm Hỏa Lôi Thần. Diễm Hỏa Lôi Thần tấn công tôi, bị tôi dùng chú phản hồi chặn ngược lại, kết quả là Lôi Thần đã chết rồi. Đây khả năng không phải là mơ! Mà là Diễm Hỏa Lôi Thần bị giam trong một không gian khác đã thật sự chết rồi!
Tôi phạm giới sát rồi! 
Tôi phạm vào luật trời rồi!

Thì ra là như thế này, người giống như tôi đây có thể tự chủ giấc mơ của chính mình. Cố nhiên tôi có thể tùy ý ngao du thập pháp giới, bất kì một không gian nào tôi cũng đều có thể đi, nhưng sẽ không vô duyên vô cớ mà rơi vào không gian của Diễm Hỏa Lôi Thần. Không gian của Diễm Hỏa Lôi Thần tương đương với thiên lao. Thiên đế cũng không hạ lệnh cho tôi đi trừng phạt Diễm Hỏa Lôi Thần, hay Diễm Hỏa Lôi Thần phải chết dưới tay tôi!
Sau đó, tôi điều tra ra, thì ra là do Thái cực đồ quấy phá. Thái cực đồ có một âm một dương, có người dùng sức mạnh âm để bọc lấy tôi, khiến tôi trong mơ một khi trở nên mơ hồ thì không thể tự chủ được nữa. Nếu có thể tự chủ thì tôi lập tức có thể tỉnh khỏi giấc mơ.

Thái cực đồ này là của ai? Thì ra là Dương Thông của pháp môn X tự cho rằng pháp bảo của mình là lợi hại nhất. Hắn ta dùng Thái cực đồ làm pháp với tôi, khiến tôi ở trong mơ phạm vào nghiệp sát, tự nhiên sẽ bị trời trách phạt, chiêu này thật sự là quá lợi hại, tôi tuyệt đối không thể ngờ tới.

Cái chết của Diễm Hỏa Lôi Thần giống như người bị phán tội tù chung thân, bị nhốt trong nhà lao, đột nhiên có một tên sát thủ đi vào trong nhà lao giết chết tù nhân trong nhà lao này, xin hỏi, tên sát thủ này có tội hay không? 
Còn nữa, đấu pháp thông thường là sai khiến quỷ thần. 
Đối phương sai quỷ thần đi tìm bạn để gây phiền phức.
Hộ pháp của bạn sẽ bảo vệ và hàng phục đối phương.

Trong Mật giáo mà nói thì: đó là sự tranh cường đấu thắng giữa Hộ pháp với nhau, Hộ pháp của ai yếu thì người đó sẽ lụi bại. 
Hôm nay, Dương Thông của pháp môn X không hề sử dụng quỷ thần như vậy, mà là dùng pháp bảo Thái cực đồ để chỉ dẫn cho đối phương ở trong mơ đi tạo nghiệp, trở thành kẻ phạm vào luật trời, từ đó sẽ bị trời phạt. Đây chính là kế “mượn dao giết người”. 

Thử nghĩ mà xem, cho dù là Phật Thích Ca Mâu Ni giáo chủ Phật giáo, Tam Thanh tổ sư của Đạo giáo là Nguyên Thủy Thiên Tôn, Thái Thượng Lão Quân, Thông Thiên Giáo Chủ, cũng không thể vô duyên vô cớ mà giết một vị Diễm Hỏa Lôi Thần.
Có lẽ có người sẽ nói, Diễm Hỏa Lôi Thần này là ma quỷ hung thần, hắn ta động thủ trước, Lư Thắng Ngạn chỉ là tự vệ, tự vệ thì không coi là tội.
Nhưng Lư Thắng Ngạn sao có thể tiến vào không gian của Diễm Hỏa Lôi Thần chứ?
Lạ là lạ ở Thái cực đồ!

🌟

Tôi vội nghĩ cách bảo vệ chính mình. 
Phương pháp của Mật giáo là trang nghiêm bản thân, trụ trong tấm “lụa trời”. 
Phương pháp này dùng văn tự đơn giản giải thích thì như thế này: tôi có thể dùng Man thiên hoa cái bố trí ở phía trên, ở bên trên nữa lại đặt một cuốn kinh Kim Cang, còn dưới chân thì đặt chày kim cương chữ thập, tương đương với chân dẫm lên nền móng kim cương. Đầu tôi đội mũ Ngũ Phương Phật, mặc áo pháp có chủng tử tự của Ngũ Phật, tay phải cầm chày kim cương, tay trái cầm chuông kim cương, miệng tụng bách tự minh chú của Kim Cang Tát Đỏa, ý niệm trụ trong tam ma địa của Kim Cang Tát Đỏa.

Tôi triệu thỉnh tám vị đại Kim Cang bảo hộ:
Hàng Tam Thế Minh Vương Kim Cang. Đại Tiếu Minh Vương Kim Cang. Đại Luân Minh Vương Kim Cang. Mã Đầu Minh Vương Kim Cang. Vô Năng Thắng Minh Vương Kim Cang. Bất Động Minh Vương Kim Cang. Bộ Trịch Minh Vương Kim Cang. Đại Uy Đức Minh Vương Kim Cang.
Tôi luôn luôn bảo vệ như vậy, thiên binh thiên tướng thiên lôi cũng không thể làm gì được tôi!

Tôi dùng “thần túc”, đất nhờ nước, nước nhờ gió, gió nhờ không khí, khi gió lớn nổi lên thì nước nhiễu đất động. Tôi lại trụ ở nơi sâu nhất của đất là hỏa địa. Khi lửa nổi lên, tôi lại trụ trong cảnh giới thiên hiện thần diệu. 

Cảnh giới mà tôi đi đến thì thiên binh thiên tướng thiên lôi cũng không thể đi lại được. Tôi ở trong Tịnh Trụ thế giới, ở trong Pháp Đồng cảnh giới, trong Xuất Thế cảnh giới, ở trong Thanh Tịnh viên, trong Kim Cương sát, trong Tịch Diệt thiên, trong Tối Viễn thiên, trong Vô Không thiên… 

Cuối cùng, tôi đi gặp Phật Thích Ca Mâu Ni. Phật hỏi:
”Vì sao mà đến?”
”Muốn thoát khỏi luật trời!”
”Luật trời nào?”
”Giết Diễm Hỏa Lôi Thần!”
”Diễm Hỏa Lôi Thần sao rồi?”
”Chết rồi!” - Tôi nói.
Phật Thích Ca Mâu Ni nói:
”Sinh tử tuần hoàn sao tránh được, chưa dứt tâm này chỉ uổng công, giờ đây đừng mơ giấc luân hồi, chỉ tới nhân gian lần này thôi.”
Phật nói tiếp:
”Tất cả những việc này đều là nhân duyên, căn duyên ở đâu thì đi tới đó tìm căn duyên, việc có liên quan đến cái chết thì sao không đi hỏi Thần Chết chứ?”
Một lời nói đánh thức người trong mộng, vì sao tôi lại cứ nghĩ đến việc bảo vệ bản thân, sao không đi hỏi Thần Chết chứ:

1. Nguyên nhân cái chết của Diễm Hỏa Lôi Thần là gì?

1. Nghiệp sát trong mơ của Lư Thắng Ngạn, nhân duyên của cái chết này là gì?

Tôi niệm chú: 
”*Tam giới nhị thập ngũ hữu, các hữu sinh trụ dị diệt, kì trung chủ tể chi tinh, vô thường tử vong chi thần, kì thỉnh linh cảm hiện thân*.”
Tôi niệm 3 biến.

Thần Chết không giống như người bình thường miêu tả là bộ dạng mặc áo đen đội mũ đen, tay cầm lưỡi liềm, cũng không phải là Diêm La Vương, càng không phải là Hắc Vô Thường, Bạch Vô Thường cầm cái bảng hiệu câu hồn. 

Vị Thần Chết mà tôi biết là một vị đại thần của vũ trụ thâm mật, tuyệt đối không phải như người bình thường gọi là Tử Ma, Ác Quỷ, Tà Thần. Trái lại, thần lực của vị Thần Chết này không người nào có thể chống cự được. Thử nghĩ mà xem, già trẻ xưa nay, ai có thể thoát khỏi thần lực của Thần Chết, cho dù là người thần thông cái thế thì cũng khó mà tránh được cái chết, không có một người nào, một sinh vật nào là ngoại lệ. 

Ngay cả Phật Thích Ca Mâu Ni cũng phải cảm thán: sinh mạng như ngọn nến trong gió, vô thường đến rất nhanh, có sinh ắt có tử. 

Tôi cũng tự biết:
*”Tự biết hôm nay rời thai mẹ
Cuối ngày đã biết Thần Chết đến
Đến đi vốn dĩ vô sở đắc
Ma Ha Song Liên đã mở ra.”*

Thần Chết không phải là một thần nhỏ, không phải là tà thần, không phải là ma, Thần Chết này không thể coi thường, là một vị chủ tể thâm mật chân chính giữa trời đất, là người khởi nguồn và kết thúc của sinh mạng.

Thần Chết hiện thân trước mặt tôi, tôi thật lòng thật sự nói để mọi người biết rằng, ngài căn bản là vô hình vô tướng, chỉ là quang khí trời đất dày đặc, cái trạng thái ấy không có cách nào hình dung được.

Khi Thần Chết xuất hiện, trong hư không dường như có một bài thơ: *“Người thương đều đã chết, đau thương không nỡ nhìn, thức vừa rời thân thể, xác đã vào áo quan, bếp lửa đêm vắng lặng, gió thu lạnh bức rèm, khuyên người khi còn sống, quán lúc chết trước tiên.”*

Đây rõ ràng là lời nhắc nhở tôi, cũng là nhắc nhở người đời đó!
Thần Chết nói:
”Liên Sinh triệu thỉnh tôi, có điều gì sai khiến?”
”Muốn hỏi về cái chết của Diễm Hỏa Lôi Thần.”
Thần Chết đáp:
”Cái chết của Diễm Hỏa Lôi Thần là tự sát, tự mình giết mình!”
Tôi nghe xong mà ngơ ngác, có phải là mình đã nghe lầm không. Thần Chết nói:
”Không phải ngài giết ông ta!”
”Rõ ràng là tôi mà!” - Tôi nói.
”Ngài chỉ niệm chú thôi. Cái chết của Diễm Hỏa Lôi Thần là pháp lực của chính mình phản hồi lại mà giết chính mình!” - Thần Chết nói.
”Tôi không hề phạm vào luật trời sao?” - Tôi bỗng nhiên tỉnh  ngộ.
”Căn bản là không hề.”
”Là tôi tự hù dọa mình rồi!”
”Người thiên hạ đều tự mình hù dọa mình, cũng đều là tự làm tự chịu thôi!”
”Phật Thích Ca đã biết từ lâu rồi sao?” - Tôi hỏi.
”Đã biết.”

Tôi thừa cơ hỏi về thời điểm chết của bản thân. Hầy! Hầy! Hầy! Tôi cũng muốn biết trước để mà chuẩn bị từ sớm.

Thần Chết nói: “Cần phải tra danh sách.”
Thần Chết tra một lúc rồi nói:
”Thời điểm chết của ngài chưa quyết định.”
Tôi sững người ra:
”Chưa xác định thời điểm sao? Không phải là từ khi chưa sinh ra thì cái chết đã định rồi sao?” 
”Đúng vậy. Phàm phu bình thường khi còn chưa sinh ra thì ngày chết đã định rồi, đó chính là mọi thứ đều có trời đất an bài. Chỉ duy có một loại người là ngoại lệ.”
”Người nào?”
”Người đại tự tại.”
”Loại người này sẽ chết ra sao?”
”Cao hứng khi nào muốn chết thì khi ấy sẽ chết. Cái chết kiểu này cũng không phải là cái chết thật, mà là siêu sinh.”
”Tôi hiểu rồi.” - Tôi nói.
Tôi chắp tay cung tiễn Thần Chết.

🌟

Bản văn này mặc dù có tiêu đề là “Chính tà giao chiến”, nhưng nội dung bên trong thì lại không có ý vị chiến tranh, không có cảnh tượng đấu pháp. Nhiều nhất cũng chỉ có niệm chú phản hồi mà thôi!

Dương Thông của pháp môn X vốn là một người tu hành, có thể coi là một nho sĩ thông thái có khả năng tiêu diệt nghìn quân, ấy thế mà vẫn vì cái danh lợi phù phiếm, cho dù là tiến một bước, hay lùi một bước, hắn ta không thể không biết rõ.

Nhưng một người kiêu ngạo thì có khác gì tà!
Tôi chỉ vừa mới cúi nhìn thì tim gan đều lạnh hết cả! Con người như vậy khi nào mới tu được đến đại tự tại chứ!


### 07. Thái Bạch Kim Tinh


Cuộc đời tôi gặp không ít chuyện linh dị, trong số đó có việc rất thực tế, lan truyền rộng rãi ai ai cũng biết, đó là áo lót của tôi, là áo mặc bên trong tôi từng mặc qua, không phải là mặc một ngày, hai ngày, mà là đồ mặc một năm, hai năm, có hiệu nghiệm rất thực tế.

Đệ tử của tôi, vì buổi gặp mặt với Tổng thống mà xin áo lót của tôi để mặc. Tức là anh ấy mặc đồ cũ của tôi ở bên trong, bên ngoài mặc áo sơ mi trắng, quần tây. Sau khi Tổng thống gặp mặt anh thì có ấn tượng rất tốt đẹp.
Không lâu sau.
Đệ tử của tôi được tổng thống phong chức làm bộ trưởng của đất nước đó. 

Đây chỉ là một trong số các ví dụ, vẫn còn có rất nhiều ví dụ khác. Ví dụ, có một người là cô Lâm Chân. Cô ấy luôn muốn được gặp Thủ tướng, nhưng lần nào cũng bị lỡ cơ hội. Cô Lâm Chân xin áo lót của tôi để mặc, đi tham dự yến tiệc, không ngờ Thủ tướng lại chủ động chào hỏi cô ấy, có ấn tượng đặc biệt sâu sắc đối với cô ấy.

Có thể nói thế này, Thủ tướng trước kia đối với cô Lâm Chân rất bình thường, bây giờ thì rất nghiêm túc chú ý đến cô ấy. 
Cũng không lâu sau.
Cô Lâm Chân trở thành bí thư trọng yếu của Thủ tướng. Chức vụ này chính là chức vụ mà cô Lâm Chân mơ ước đã lâu rồi.

Những ví dụ như thế này rất nhiều, được lan truyền ra ngoài, hễ ai mặc áo lót của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn mà cầu chức vụ thì nhất định sẽ được tuyển nhận, thế nhưng, lại có vấn đề rồi, áo lót mà tôi thường xuyên mặc chỉ có khoảng chục cái. 
Rất nhiều đệ tử tặng cho tôi đồ lót, yêu cầu tôi mau mau thay đi. 
Có một đệ tử làm nghề bán hàng bách hóa, tặng tôi một đống áo lót và chỉ có một yêu cầu là đổi lấy một cái áo lót cũ của tôi. 

Áo lót cũ của tôi không chỉ có hiệu nghiệm đối với cầu chức vụ, khởi nguồn của nó là từ Thái Bạch Kim Tinh, có thể nói như vậy là bắt đầu từ việc Thái Bạch Kim Tinh đề bạt áo lót của tôi, nhờ có sự đề bạt của Thái Bạch Kim Tinh mà tôi liên tục gặp phiền phức. Áo lót của tôi thường xuyên mặc không hết, không chỉ là mặc không hết mà còn có thể mở tiệm bán áo lót nữa.

🌟

Nguồn gốc của việc này là như sau:

Có một người là cô Thẩm Thiến, từ nhỏ đã mắc chứng bệnh suy thoái mô cơ, cô ấy luôn không có sức lực, phải ngồi trên xe lăn. 

Năm 12 tuổi, một đêm, cô có một giấc mơ, mộng cảnh rất thực: 

Cô ấy mơ thấy mình đi đến một cõi trời rất trang nghiêm, mặt trời và mặt trăng ở đây rất thanh tịnh và sáng rõ, có cung điện chạm trổ bằng vàng ngọc, có đầy đủ mọi báu vật, những báu vật ấy được làm thủ công đẹp tuyệt vời, trên đời hiếm thấy.

Cô ấy nhìn thấy trên đầu mình đội mũ miện, trên người đeo chuỗi ngọc, mặc thiên y, toàn thân sáng trong tinh khiết. Hễ cô nghĩ đến báu vật gì thì báu vật ấy tự nhiên bay đến và đeo trên người cô. 

Ở trên cõi trời này, bỗng dưng cô ấy nghĩ đến những món ăn ngon ở nhân gian, kết quả là nghĩ đến cái gì liền xuất hiện cái đó, sơn hào hải vị đều bày ra trước mắt, cô thỏa thích tận hưởng, ăn uống tự nhiên đến no nê. 

Lúc này, cô ấy lại nhìn thấy chính mình ở nhân gian, thân thể mình bị teo cơ, chịu đủ mọi đau đớn, khổ đau vô hạn, đi lại rồi những lúc nóng lạnh rất bất tiện, đủ mọi phiền não thân tâm, khổ não không khi nào dừng dứt, nội tâm đau đớn.

Đột nhiên có một cụ già đi đến. Trên người cụ già này có ánh lửa không nhiễm bẩn cháy hừng hực, có nhật nguyệt, đầy đủ mọi diệu tướng trang nghiêm. 

Cô cúi đầu chào cụ già, hỏi cụ già là ai. Cụ già đáp:
”Thái Bạch Kim Tinh. Đặc biệt tới để cứu cô!”
Hỏi:
”Thân tâm khổ não, làm sao cứu được?”
Thái Bạch Kim Tinh đáp:
”Duy nhất một người!”
”Người nào?”
Thái Bạch Kim Tinh đáp:
”Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn!”
Cô ấy lại hỏi Thái Bạch Kim Tinh:
”Nhân gian không có cao nhân nào khác ư?”
Thái Bạch Kim Tinh đáp:
”Hiếm lắm. Nhưng chính xác là phải cầu ngài ấy.”
”Có thể gặp được người này không?”
”Gặp được cũng tương đối khó!”
”Gặp rồi cầu xin cái gì?”
”Chỉ xin một chiếc áo lót để mặc!” - Thái Bạch Kim Tinh trả lời.
”Áo lót ư?”
”Đúng vậy, áo lót.” - Thái Bạch Kim Tinh trả lời chắc nịch. 

Mơ đến đây thì tỉnh lại.
Thẩm Thiến mơ thấy giấc mơ như vậy, mơ thấy chính mình đến cõi trời, một cụ già tự xưng là Thái Bạch Kim Tinh muốn cô ấy đi tìm Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, xin áo lót của tôi để mặc thì mới khỏi được. Giấc mơ kiểu như thế này ngay đến chính bản thân cô cũng chưa chắc đã tin, huống chi người nhà của Thẩm Thiến nghe xong cảm thấy không thể tưởng tượng nổi, cũng cảm thấy rất nực cười, giấc mơ như thế thì ai buồn chú ý đến chứ, chỉ cười rồi cho qua mà thôi.

Bởi vì chẳng ai tin giấc mơ này, nên cũng quên luôn. Mãi cho đến một hôm, Thẩm Thiến tổ chức sinh nhật, bạn bè của Thẩm Thiến tặng cho cô một món quà sinh nhật, đó là mấy cuốn sách mới xuất bản, tác giả của những cuốn sách đó không ngờ lại là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.
”Là ông ấy!”
”Ai?”
”Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.” - Thấm Thiến vô cùng sửng sốt.
”Đúng là có người này!”
”Tác giả của những cuốn sách này chính là ông ấy.”

Lúc này, Thẩm Thiến và người nhà của cô mới cảm thấy giấc mơ kia không phải là giấc mơ điên đảo vọng tưởng vớ vẩn, mà là thật sự có con người này. Thẩm Thiến và gia đình mới hào hứng có suy nghĩ đi tìm tác giả của cuốn sách.
Họ hỏi nhà xuất bản.
”Lư Thắng Ngạn đang ở Mĩ.”
”Có trở về không?”
”Có, thỉnh thoảng.”
”Nếu ông ấy trở về, muốn xin gặp một chút!”
”Khó gặp lắm, lộ trình dày đặc, không dễ đâu.” - Phía nhà xuất bản trả lời. (Câu trả lời này cũng là sự thật.)

Thẩm Thiến và người nhà vô cùng thất vọng. Sau đó, bố của Thẩm Thiến từng nghĩ một mình bay đến Mĩ để xin gặp Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, thỉnh cầu một chiếc áo lót của Lư Thắng Ngạn đem về. Trước đó ông gọi một cuộc điện thoại đến Mĩ.
Phía bên Mĩ trả lời:
”Hoạt Phật đi châu Âu rồi.”
”Ồ!”

Bố của Thẩm Thiến muốn hỏi khi nào trở về, nhưng chưa kịp mở miệng thì bên kia nói rằng có cuộc điện thoại khác đang chờ, nên đã ngắt điện thoại.

Thẩm Thiến và người nhà cô ấy muốn gặp tôi, nhưng không có cách nào, cho nên sự việc lại bị kéo dài. Có một năm, tôi trở về nước, làm pháp hội tại cung thể thao, Thẩm Thiến và người nhà đến tham dự, nhưng bởi vì biển người đông nghìn nghịt, không vào được cung thể thao, cho dù có vào được thì cũng không có cách nào gặp mặt nói chuyện. 
Họ lại tiu nghỉu trở về.

Trong thời kì tôi về nước chủ trì pháp hội, có một lần thiền định, tôi thấy một cụ già đến, cụ đưa tay ra nói với tôi:
”Mau đưa áo lót đây!”
Tôi cười cười nói:
”Tôi có nợ gì cụ đâu!”
Cụ già đáp:
”Áo lót chữa bệnh, có người đang cần.”
”Cụ già là ai thế?”
”Thái Bạch Kim Tinh.”

Tôi xuất định, cảm thấy những gì nhìn thấy trong thiền định rất kì lạ. Thái Bạch Kim Tinh không ngờ lại đến để xin áo lót của tôi, ha ha! Áo lót của tôi đáng giá rồi.

Ngày hôm sau, thị giả của tôi đưa cho tôi xem một bức thư, bức thư này chính là do Thẩm Thiến viết. Cô ấy viết rõ ràng giấc mơ của cô ấy, cũng viết ra cả quá trình tìm gặp tôi. Tôi rất kinh ngạc, bảo thị giả hẹn gặp Thẩm Thiến. 

Tôi cởi áo lót của mình ra, giặt sạch sẽ trước, rồi gấp lại gọn gàng, sau đó cho vào một phong bì thư lớn. Tôi tận tay giao cho Thẩm Thiến. Thẩm Thiến ngồi trên xe lăn do bố mẹ cô đưa tới, cầm lấy áo lót của tôi, tôi thấy khóe mắt Thẩm Thiến ứa nước mắt, nhưng họ đều rất vui mừng.

Tôi nói:
”Hi vọng cô có thể đứng dậy được!”
”Sẽ được!” - Thẩm Thiến nói.
Bố mẹ Thẩm Thiến nói:
”Bất kể là Thẩm Thiến khỏe lại hay không khỏe lại, chúng tôi đều rất cảm kích thành ý của Hoạt Phật.”

Bố mẹ của Thẩm Thiến nói lời này, tôi có thể hiểu được. Cần biết rằng bệnh tình của Thẩm Thiến nếu có thể khỏi thì đã khỏi từ lâu rồi. Thẩm Thiến đã khám rất nhiều bác sĩ, có bao nhiêu bác sĩ cho thuốc và tiêm, bố mẹ Thẩm Thiến cũng đã gặp bao nhiêu kì nhân dị sĩ, bao nhiêu thầy khí công, bao nhiêu bác sĩ đông y, từng hỏi rất nhiều thần thánh… Suốt từ đó đến nay, họ vẫn luôn ôm ấp hi vọng.
Cuối cùng là thất vọng.
Lúc này đã là sợi dây hi vọng sống cuối cùng trong sự tuyệt vọng rồi.

🌟

Thẩm Thiến mặc áo lót của tôi vào. “Tuyệt vời ông mặt trời!” Lũ tiểu quỷ trên người Thẩm Thiến nhao nhao lên vì không lẩn trốn được nữa, chúng nhao nhao chạy trốn, từ trên người của Thẩm Thiến ngã ra, kêu cha kêu mẹ!
Lũ tiểu quỷ này sống trên người Thẩm Thiến đã nhiều năm rồi, chúng luôn ở trên người Thẩm Thiến mà an cư lạc nghiệp. Chỉ trong một chốc, Thẩm Thiến vừa mặc áo lót của tôi vào thì giống như một cơn đại địa chấn, tất cả đều rung lắc mà rơi ra.

Lũ tiểu quỷ này biết không thể sống trên người của Thẩm Thiến được nữa, đành thở ngắn than dài, lần lượt đi tìm nơi khác để tá túc. 

Sau khi Thẩm Thiến mặc nội y cũ của tôi, khí sắc của cô đã thay đổi, ăn uống khác hẳn so với trước kia, đã có khẩu vị, giấc ngủ rất sâu, rất say, hoàn toàn không bị quấy nhiễu, tinh thần rất phấn chấn.
Thức ăn ăn vào dường như hấp thụ được, cảm giác của hệ tiêu hóa đã chuyển biến tốt đẹp. Trước kia những thứ ăn vào như đá ném xuống biển, không hấp thụ được, có cảm giác ăn vào mà cứ như không, bây giờ thì cảm thấy ăn là hấp thụ được.

Thẩm Thiến thường xuyên mời y tá đến để làm những việc như xoa bóp phục hồi chức năng vận động, các y tá cho rằng đã có kì tích xuất hiện:

1. Da dẻ trở nên sáng bóng hơn.

1. Cơ thịt bắt đầu có tính đàn hồi sơ bộ.

1. Các khớp xương hoạt động linh hoạt hơn một chút.

1. Một số bộ phận đã bắt đầu có thịt.

1. Cảm thấy những nơi trước kia không có cảm giác gì nay đã có cảm giác.

1. Đã có một chút sức lực.

Thẩm Thiến mới mặc áo lót của tôi tổng cộng được ba tháng, thế mà đã có thể đứng dậy khỏi xe lăn, có thể bước đi được rồi. Chà! Nói một cách đơn giản là quá tuyệt vời. Thẩm Thiến bao nhiêu năm đã là một đứa bé không có sức lực, không có cách nào đứng dậy đi lại được, thế mà nay thật sự đã đứng dậy được rồi!

Sự việc này đương nhiên là gây xôn xao, lưu truyền rộng khắp. Sự việc này cũng gây náo động như đại pháp hội tổ chức tại sân vận động ở Hongkong của tôi. 

Đại pháp hội tổ chức tại sân vận động ở Hongkong, có một đứa bé trai ngồi xe lăn cũng đến tham gia, đó là đứa trẻ bị mắc bệnh bại liệt trẻ em, đã phải ngồi xe lăn ba năm. Pháp hội vừa kết thúc, đứa bé đã đứng dậy đi lại được, không chỉ đi được mà còn biết chạy nữa!

Mẹ của đứa bé lúc thì khóc, lúc thì cười, bà ấy không dám tin, chỉ sau một buổi pháp hội mà con trai của bà không ngờ đã khỏi rồi! Bà ấy chạy theo đứa bé! Sự việc này đã gây chấn động.

Việc của Thẩm Thiến cũng như vậy, cô ấy ngồi trên xe lăn đã lâu, những người chứng kiến đều tặc lưỡi kinh ngạc.

🌟

Trên sự việc này: 
Áo lót cũ của tôi có thể giúp người, điều này khiến tôi hết sức vui mừng, thế nhưng người muốn có áo lót của tôi nhiều như cá diếc qua sông, phải làm sao đây?
Áo lót mới thì có rất nhiều, là do đệ tử tặng, có cả một nhà kho. Nhưng tôi không thể nào mỗi ngày mặc mười chiếc áo lót được!
Chẳng bao lâu, áo lót cũ của tôi đã bị thỉnh rất nhiều, còn lại không tới vài chiếc. Đột nhiên linh quang lóe lên, bây giờ thì tốt rồi, tôi dùng kéo để cắt áo lót của tôi, cắt thành những mảnh nhỏ, một chiếc áo lót cắt thành trăm miếng vải nhỏ, khi nào cần cho thì cho một miếng.

Có người mang mảnh vải nhỏ này theo người!
Có người thì đun với nước uống.
Cũng có người thì đốt thành tro, rồi hòa vào nước uống.
Điều kì lạ là, thỉnh một miếng vải nhỏ, chỉ cần dùng xong thì cũng khỏi bệnh. 

Nhưng về phía tôi thì lại nảy sinh vấn đề lớn. 
Áo lót cũ đã dùng hết rồi, không còn nữa, thật sự là ngay đến một chiếc cũng không có. 
Tôi chỉ có thể kêu lên là dừng lại. STOP, xin lỗi! Không còn áo lót cũ nữa! Người bệnh ào đến như ong. Họ cứ gào lên đòi áo lót, muốn áo lót. 

Tôi thương mà không thể giúp được gì.
Tôi nói với những người thỉnh áo lót của tôi, đợi tôi ba năm, hoặc một, hai năm, tôi cần mặc những chiếc áo lót mới trở thành cũ mới được!


### 08. Pháp vương và Quốc vương


Phật Thích Ca Mâu Ni vì là con trai của vua Tịnh Phạn ở nước Ca Tì La Ấn Độ nên được gọi là thái tử Siddhartha. [Tất Đạt Đa]

Phật Thích Ca Mâu Ni vì xuất gia tu hành mới trở thành giáo chủ của Phật giáo, là một vị đại Pháp vương vô thượng lưu truyền nghìn đời. 

Từng có học giả nghiên cứu rằng nếu Phật Đà không xuất gia tu hành, ngài chỉ thừa kế vương vị của phụ thân, trở thành Quốc vương, thì tiếp sau đó sẽ bị Quốc vương khác, ví dụ vua Lưu Li, tiêu diệt. 

Thái tử Siddhartha của gia tộc Thích Ca suốt cả một đời sẽ không ai biết đến, trong toàn bộ lịch sử Ấn Độ, số Quốc vương nhiều như vậy, chinh chiến dày đặc như vậy, hưởng phúc ngắn ngủi như vậy, thọ mệnh chỉ như giọt nước trong biển cả. 

Còn nữa, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ của Mật giáo đã sinh ra từ hoa sen trên biển Đạt Lạp Quách Khiếu. Ngài ấy là hóa thân từ thân khẩu ý của Phật Thích Ca, Phật Di Đà và Quan Thế Âm. Được Quốc vương đưa về nuôi dưỡng, trở thành con vua, sẽ tiếp tục thừa kế vương vị trở thành Quốc vương. Nhưng ngài ấy từ bỏ vương vị để tu hành Mật giáo, trở thành đại Pháp vương vô thượng lừng lẫy xưa nay.

Vào thời Phật Đà, rất nhiều người đã bỏ vương vị để xuất gia tu hành, thậm chí có tám vị vương tử theo Phật Đà xuất gia. Đặc biệt, rất nhiều Quốc vương mặc dù chưa xuất gia, nhưng cũng hộ trì Phật pháp, hết sức cung kính đối với đại Pháp vương vô thượng. Những thực tế về Quốc vương cung kính Pháp vương này có lấy ví dụ cũng không thể kể hết…

🌟

Trong giáo hóa của Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật Đà từng nói, một đại thành tựu giả đều có thể đi khắp thập phương pháp giới. 

Có thể ở tứ Thánh giới, Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn.
Có thể ở chư Thiên, vô sắc giới, sắc giới, dục giới, làm Thiên vương của ba cõi trời.
Có thể ở Tứ vương thiên có phúc báo lớn nhất.
Ở biển thì là Long vương của biển.
Ở đất thì là Kiên Lao Địa Thần.
Ở âm giới thì là Diêm La Thiên Tử. 
Ở nhân gian thì là Quốc vương, là Chuyển luân thánh vương.

Từ trong kinh Phật, có thể thấy rằng, rất nhiều đại thành tựu giả tu hành, nếu không muốn thăng lên thiên giới mà lựa chọn lưu lại nhân gian, thì họ sẽ là một vị Quốc vương, một vị vua có phúc báo lớn nhất.

Cá nhân tôi trong khi đọc kinh Phật thường xuyên đọc thấy, đại tu hành giả nếu ở tại nhân gian thì người đó chính là một Quốc vương tôn quý. (Chuyển luân thánh vương.)
Làm Pháp vương tốt hơn?
Hay là làm Quốc vương tốt hơn?

Có một bài thơ nói rằng: 

*Thiên thượng nhân gian và địa ngục
Khiến ta thăng trầm đến bao giờ
Phi điệp có rễ như không trồng
Cát bụi sinh tử tự trói buộc.*

Bài thơ này nên giải thích như sau:
Quốc vương mặc dù là phú quý, nhưng rốt cuộc sinh mạng và phú quý đều không kéo dài lâu, những cát bụi sinh tử sẽ đến rất nhanh chóng. 
Làm Quốc vương rồi thì sẽ bị các sự vụ của đất nước trói buộc, vĩnh viễn không thể thoát ra được, đặc biệt là giữa các nước với nhau thường có tranh chấp đấu thắng, đó là điều khó tránh, làm Quốc vương rồi cũng cực kì nguy hiểm.
Muốn làm Quốc vương thì phải thăng trầm trong danh vị, phải dốc kiệt tâm lực, điều này thì có khác gì so với địa ngục đâu?

Nếu như là Pháp vương, Pháp vương và Quốc vương rất khác nhau:
Pháp vương sống tại hư không trong mười phương pháp giới.
Pháp vương tự do tự tại.
Pháp vương không có ưu phiền.
Pháp vương có sinh mạng không bị ràng buộc.
Pháp vương là vô lượng quang minh, vô lượng thọ mệnh, vô lượng thanh tịnh, vô lượng cực lạc, vô lượng trân bảo, vô lượng trí huệ, vô lượng thù thắng bình đẳng, vô lượng viên mãn vô lậu…
Pháp vương là bậc giác ngộ.
Quốc vương là người u mê.
Pháp vương là người thắng.
Quốc vương là kẻ bại.
Pháp vương là người tỉnh, Quốc vương là người mơ, hai người cứ thế cứ thế… 

🌟

Tôi lấy vài ví dụ về sự tương tác giữa Pháp vương và Quốc vương như sau:

Ví dụ thứ nhất:

Khi tôi đang học trường Trắc Lượng. 
Tổng thống đến trường Trắc Lượng để thị sát, hiệu trưởng Doãn Trung Kì tặng tập thơ “Tuyển tập khói mỏng” của tôi cho Tổng thống, Tổng thống xem xong thì rất vui mừng. 

Tổng thống hẹn gặp tôi tại phòng hiệu trưởng. Tổng thống vỗ vào vai tôi:
”Nỗ lực cố gắng!”
Tôi cúi chào ông ấy.
Tổng thống nói:
”Cứ tự nhiên, cậu là nhà thơ, tôi hỏi cậu, cậu thấy đất nước sẽ phát triển như thế nào trong tương lai?”
Câu trả lời của tôi rất ngắn gọn, chỉ có bốn từ:
"Cởi mở! Gần dân!”
Tổng thống nói:
”Nói hay lắm!”

Ví dụ thứ hai:
Ví dụ thứ hai này thì mọi người đều biết. 
Bố tôi Lư Nhĩ Thuận và nguyên Thủ tướng Nhật Bản Yasuhiro Nakasone là bạn thân nhiều năm. Nakasone và bố tôi thường thư từ cho nhau. 

Nakasone lúc chưa lên chức Thủ tướng, biết tôi là người thông linh, bèn hỏi tôi:
”Khi nào thì lên chức Thủ tướng?”
Tôi tính toán cẩn thận, nói rằng 12 năm nữa. 
Yasuhiro Nakasone không tin, bởi vì bản thân ông cho rằng 4 năm nữa là được rồi. Sau này đã chứng minh đúng là 12 năm. Yasuhiro Nakasone hết sức thán phục. 

Khi Yasuhiro Nakasone nhận chức thủ tướng từng đặc biệt mời bố tôi Lư Nhĩ Thuận đến Nhật Bản, họ cùng nhau trò chuyện rất vui vẻ, ông ấy đã tặng bố tôi rất nhiều quà.

Ví dụ thứ ba:
Cuộc tổng tuyển cử Tổng thống của Đài Loan. 
Ông Trần từng đến Seattle Lôi Tạng Tự ở Mĩ.
Ông Tống từng gọi điện thoại và gửi thư.
Ông Liên từng gửi thư.

Rất nhiều người hỏi tôi: “Ai sẽ trúng cử?”
Tôi không trả lời. Chỉ nói:
”Xem xem trên mặt ai có ánh sáng!” (Seattle có nhà văn Điêu Trùng Sinh có cùng cách nhìn giống tôi.)

Ví dụ thứ tư:
Tại phòng Tổng thống ở khách sạn quá cảnh ở sân bay Trung Chính Đào Viên, Giản Hán Sinh thay mặt một người nọ đến hỏi tôi:
”Xu hướng tương lai ra sao?”
”Kinh người!”
”Có thay đổi sao?”
”Thay đổi lớn.”
”Tình hình chính trị ra sao?”
”Nằm ngoài tưởng tượng của mọi người, tất cả đều thay đổi.”

Ví dụ thứ năm:
Vào thời của Tổng thống Mĩ Bush Cha, khi ông ấy nhậm chức Tổng thống, đã đặc biệt gửi một thư mời, mời tôi tham dự đại lễ nhậm chức của ông ấy. 
Và thời kì Tổng tống Clinton, vị Tổng thống này đọc sách của tôi, đó là bản dịch của cuốn “Ngày đặc biệt bên hồ”. Ông ấy đọc cuốn “Ngày đặc biệt bên hồ” rồi còn đặc biệt viết một lá thư để khen ngợi. 

Vào sinh nhật của tôi, tổng Thống Clinton và phu nhân Hillary từ Nhà Trắng ở Washington gửi thư đến chúc mừng tôi:
”Chúc mừng sinh nhật! Hillary và tôi thành tâm chúc mừng ngài tương lai thân thể khỏe mạnh và hạnh phúc. Sinh nhật vui vẻ! Vào thời khắc thần kì này, rất hân hạnh được gửi lời chúc tốt đẹp nhất đến gia đình và bạn bè của ngài. Chúc ngài sức khỏe và hạnh phúc trong năm tới.”

Khi tổng thống Clinton gặp sự cố với cô Lewinsky, tôi từng viết một bài đăng trên báo. 
Người ta nói:
”Tổng thống Clinton sẽ phải từ chức.” (Người dân kêu gào từ chức.)
Tôi nói:
”Sẽ không đâu. Vị tổng thống này có đủ định lực.”

Tổng thống Clinton này bẩm sinh đã có năng lực thiền định, có thể trụ tâm một chỗ không tán loạn, có thể phá bỏ tất cả suy nghĩ hỗn loạn. Tổng thống Clinton có khả năng xử lí mọi công việc của đất nước rất nghiêm túc, dưới ảnh hưởng của sự cố với cô Lewinsky, ông ấy vẫn xử lí rất tốt các vấn đề chính trị, kinh tế và ngoại giao. Đặc biệt nền kinh tế Mĩ, người Mĩ luôn khẳng định sự xuất sắc của tổng thống Clinton, điều này làm giảm bớt tổn hại của vụ bê bối với Lewinsky.

Định lực của tổng thống Clinton đến từ đâu? Định lực thu về mọi sự tán loạn và trí tuệ quán chiếu tất cả sự việc của ông ấy dường như là bẩm sinh. 

“Không sai! Tôi nhận định rằng kiếp trước của Tổng thống Clinton là một vị đại Lama Tây Tạng chuyển thế.” 

Nhận định này không chỉ có một mình cá nhân tôi nói như vậy. Gung Thang Tshang Rinpoche cùng tham dự buổi lễ nhậm chức của tổng thống Clinton, nhìn thấy tổng thống đứng trên bục diễn giảng, đôi mắt ông ấy cứ liên tục nhìn chăm chú vào vị Rinpoche mặc trang phục Lama màu đỏ ở cái bàn phía trước mặt. 

Gung Thang Tshang Rinpoche nói:
”Tổng thống Clinton chính là chuyển thế của Changling Rinpoche.” 

Ví dụ thứ sáu:

Tại Nepal, một tiểu quốc trên dãy Himalayas, tu viện Karma Lekshey của Bạch giáo Tạng mật, được trụ trì bởi Kacheng Rinpoche. 
Tôi đã tham quan cung điện hoàng gia cũ ở Nepal. Tôi đã rất ngạc nhiên bởi quốc kì của Nepal. Nói chung, quốc kì của các quốc gia khác đều có hình chữ nhật, riêng quốc kì của Nepal là hình tam giác.
Vua Nepal là cha truyền con nối.
Tôi suy ra từ quốc kì hình tam giác của Nepal, rồi lại xem sao trên trời, từ đó nhận định rằng: Quốc vương và vương thất Nepal chắc chắn sẽ có thay đổi lớn, chế độ Quốc vương và vương thất cha truyền con nối sẽ sụp đổ. 
Không được vài năm, quả nhiên là như vậy. Quốc vương và vương thất đã thiệt mạng trong một vụ nổ súng. Vương thất Nepal đã sụp đổ.

Ví dụ thứ bảy:

Có một ngày vào buổi chiều. 
Một vị Thượng sư đưa một người đàn ông trung niên có khuôn mặt đen đúa đến chỗ tôi. Người này có tướng mạo khác thường. Ông ấy là một nhân vật quyền quý của đoàn Bangladesh cạnh Ấn Độ. 
Tôi truyền thụ mật pháp cho ông ấy. 
Tặng cho ông ấy chiếc chày kim cương rất phi phàm. 
Ông ấy đến chỗ tôi chỉ hỏi một việc:
”Có giành được chức Thủ tướng không?”
Tôi đáp:
”Được.” (Bởi vì trên trời, ông ấy là chủ nhân của một chòm sao nhỏ.)
Ông ấy rất vui mừng ra về, tự mình cố gắng phấn đấu!

Ví dụ thứ tám:

Tôi ở Indonesia, Indonesia gặp hạn hán. Tôi đã cầu mưa công khai ở Đại lễ đường Senayan. Sau khi pháp hội cầu mưa kết thúc, chỉ 15 phút sau đã có mưa to trên tất cả các hòn đảo ở Indonesia.
Sự việc gây chấn động thế giới.
Tôi đã gặp anh rể của Tổng thống Suharto lúc bấy giờ.
Hoàng thân quốc thích của Indonesia đã tìm tôi khắp nơi, tôi không thể tránh né được việc gặp họ.
Tôi đã chỉ điểm cho một số công việc của anh rể Tổng thống Suharto. Và cả việc của bản thân ông Suharto và vợ ông ấy. 

Khi Suharto buộc phải từ chức, ngài Tổng thống nghĩ ngay đến Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Ngay lập tức, ông ấy gửi con gái út của mình đến Seattle Mĩ để xin gặp mặt. 
Tôi chỉ điểm cho ông ấy mấy việc.
Con gái của Suharto vội vàng trở về. 
Xem xét những hành động của Tổng thống Suharto có thể thấy ông ấy đã chấp nhận những đề nghị mà tôi đưa ra. Nhưng cũng có một bộ phận nhỏ ông ấy không có cách nào làm được!

Ví dụ thứ chín:
Có một nhân vật quyền quý ở một quốc gia Đông Bắc Á đến tìm tôi. Ông ấy và đoàn tùy tùng đi đến bằng bốn chiếc ô tô màu đen. Ông ấy đưa ra danh thiếp. Tôi giật nảy mình, bởi vì ông ấy là một nhân vật có quyền thế rất mạnh ở đất nước của mình. 
Ông ấy chỉ hỏi một việc:
”Vị trí nguyên thủ quốc gia?”
Tôi thiền định:
Tôi nhìn thấy Thượng đế Chuyên Húc ở phương bắc, lại nhìn thấy vị Thượng đế này có rất nhiều bề tôi đi theo, trong đó có một vị là Thủy Thần Huyền Minh. Vị Thượng đế ở phương bắc này ngồi trên một cỗ xe quý, xung quanh có rất nhiều quỷ thần quỳ xuống nghe lệnh, hình dạng của những quỷ thần này đều vô cùng quái dị, có mặt người mình rồng, có mặt người mình chim, có mặt người mình hổ, có mặt người mình trâu, cũng có mặt người mình lợn, có một số căn bản không phải hình động vật, mà là hình dạng vô cùng kì quái. (Điều này có nghĩa là vị quyền quý này có tướng của nguyên thủ quốc gia.)

Tôi lại nhìn thấy:
Vị Thượng đế phương bắc Chuyên Húc này làm ba việc có vẻ không ổn cho lắm:

- Ông ấy biến thành con quỷ sốt rét, truyền bệnh sốt rét cho mọi người.

- Ông ấy biến thành con quỷ tham ăn, hút hết vàng bạc châu báu của người ta vào bụng mình.

- Ông ấy biến thành con quỷ khó bảo, hung dữ không gì sánh bằng, không nghe bất kì lời nói của bề tôi tốt nào, làm xằng làm bậy, nói đơn giản là không có cách nào ngăn cản được.

(Điều này tức là cái người quyền quý này mặc dù có tướng nguyên thủ quốc gia, nhưng thật sự là một bạo chúa, để ông ta làm Tổng thống thì sẽ không hay cho đất nước đó.)

Tôi xuất định, nói với con người quyền quý này:
”Ông có tướng Tổng thống.”
Tôi lại bổ sung:
”Nhưng tốt nhất là không nên làm Tổng thống!”

Ông ấy rất kinh ngạc hỏi:
”Cả cuộc đời tôi chỉ có một mục tiêu này, ông bảo tôi không làm là vì sao?”
Tôi thận trọng trả lời:
”Nếu ông làm Tổng thống thì nhất thiết phải tận trung với cương vị, nghe bề tôi hiến kế, làm một vị quân chủ thương yêu dân.”
”Đương nhiên! Đương nhiên!” - Ông ấy nói.

Về sau, con người quyền quý này thật sự đã làm Tổng thống. Nhưng kết cục không tốt. Bởi vì trong thời gian ông ấy làm Tổng thống, ông ấy đã tham ô rất nhiều rất nhiều tiền, sau khi xuống chức đã bị tống vào tù. 

Có người biết sự việc này bèn hỏi tôi:
”Vị Tổng thống quyền quý này là Bắc Đế Chuyên Húc chuyển thế sao?”
Tôi đáp:
”Chỉ là một phân linh của Bắc Đế Chuyên Húc mà thôi! Nếu đúng là Bắc Đế Chuyên Húc chuyển thế thì ông ấy chắc chắn phải thống trị một nước lớn.”

Ví dụ thứ mười:

Khi tôi sống tại Seattle nước Mĩ, có một nữ sĩ bay từ Hawaii đến tìm tôi, bà ấy là cháu gái của Quốc phụ Tôn Trung Sơn, là nữ sĩ Tôn Tuệ Phương. 

Nữ sĩ Tôn đem tặng tôi rất nhiều món quà của Hawaii. Bà ấy thỉnh cầu tôi:

- Gia trì cho bộ trưởng Diêm.

- Dùng linh lực để biết về Quốc phụ Tôn Trung Sơn tiên sinh.

Đối với điểm thứ hai, trong lòng tôi có sự khao khát, vì sao? Bởi vì từ lâu, có một người rất nhiệt tình đối với môn tâm linh học là tiến sĩ Tàng Quảng Ân đến tìm tôi. Ông đã từng yêu cầu nhà lãnh đạo tôn giáo Nhật Bản, ông Shinji Takahashi, thông linh để đi tìm gặp Quốc phụ Tôn Trung Sơn. Kết quả là có được hai đáp án:

- Quốc phụ Tôn Trung Sơn đang ở trong địa ngục.

- Vẫn đang đấu tranh.

Tôi nghe xong, đương nhiên không tin. Lần này thì tốt rồi, sau khi gặp nữ sĩ Tôn Tuệ Phương, tôi rất muốn xem thử về Quốc phụ Tôn Trung Sơn. 

Tôi thiền định nhìn thấy như sau:
Tôi nhìn thấy Quốc phụ Tôn Trung Sơn ở trong một cảnh giới, cảnh giới này mặc dù không phải là cao lắm, nhưng cũng không thấp. Như vậy là đã bác bỏ thuyết địa ngục của Takahashi Shinji. 

Quốc phụ Tôn Trung Sơn đang tấu một loại đàn tương tự như đàn tranh, tiếng đàn vừa thê lương vừa sục sôi. Khi tấu đàn như vậy, có gió mây xuất hiện ở hướng tây bắc, rồi dần dần đầy ắp bầu trời, cả bầu trời đều kín hết. 

Tiếp tục đánh đàn, gió bão nổi lên, là cơn mưa đá lớn, mặt đất trở thành những đống đổ nát.
Tiếp tục đánh đàn, mặt đất chấn động, con người đều run rẩy.
Tiếp tục đánh đàn, núi lở đất nứt.

Tôi thấy thế rất kinh hãi. Sau sự việc ấy, có người hỏi tôi:
”Lời dự đoán này là gì?”
Tôi không nói gì, chỉ bảo:
”Đây là âm nhạc đầy bi thương!”

Ví dụ thứ mười một:

Trong bài văn “Tình cảnh bi thảm ở cố cung”, tôi từng viết về hoàng đế Sùng Trinh. 
Tôi và Sùng Trinh hỏi đáp với nhau.
”Vì sao ông tự sát?”
”Tôi đau khổ cùng cực!”
”Dù đau khổ thế nào thì cũng phải sống có ý nghĩa chứ?” - Tôi nói.
”Chỉ còn lại hai con đường.”
”Hai con đường nào?”
”Tự vẫn hoặc bị giết.”
”Tự vẫn cũng khá trang nghiêm đó nhỉ!”
Hoàng đế Sùng Trinh nói:
”Tôi không phải là kẻ hèn nhát, tôi không sợ hãi, tôi không phiền não, đó là vận mệnh của tôi, là vận mệnh đau khổ của đế vương, khi vận mệnh đến thì tôi lựa chọn vứt bỏ đời người một cách trang nghiêm.”

Cá nhân tôi cảm thấy Sùng Trinh là một hoàng đế rất bi thảm.
Thử nghĩ mà xem. 
Binh lính kéo đến dưới thành.
Hoàng hậu, phi tử, hoàng tử và công chúa đều bị giết.
Nước mất, nhà tan, thân bại danh liệt, tiền tài tiêu tan.
Không tự sát thì sẽ bị người ta giết.

Thử hỏi:
Bạn sẽ làm thế nào?

Vị hoàng đế bi thảm như vậy, trong lịch sử Trung Quốc có rất nhiều, trong lịch sử nước ngoài cũng có rất nhiều. Hoàng đế, Quốc vương, Tổng thống, mặc dù ở nhân gian cực kì được tôn sùng, nhưng nỗi khổ của họ thì cũng cực kì khổ đó!

Làm một Quốc vương, địa vị quyền lực chỉ là sự phồn thịnh cực kì nhất thời. Tuy nhiên, nếu nhất thời sai lầm thì di họa cũng thật khủng khiếp!

Trong bản văn này, điều tôi muốn nói với mọi người là, giữa Quốc vương và Pháp vương có sự tồn tại của nhân duyên quả báo. 

Một nhà tu hành lớn là bất khả tư nghì, nhà tu hành lớn vốn dĩ là tu hành pháp môn vô niệm, chứng ngộ “không đến, không đi”. Không có ngu si, không có vọng niệm, không có lòng tham, đó là vô thượng chính đẳng chính giác. 

Một nhà tu hành lớn là ở tại mọi tướng đều rời xa mọi tướng. Tất cả mọi hành vi là pháp vô vi, là lí pháp không có nhân duyên tạo tác, cũng chính là pháp vô sinh diệt biến hóa mà vẫn thường trụ. 

Như thế mới là:
Phiền não đã dừng.
Sinh tử đã hết.

Thế nhưng, một nhà tu hành lớn nếu còn có một ý niệm, thì ý  niệm này sẽ có sự đến đi, có sự đến đi rồi thì sẽ có triển vọng, có triển vọng rồi thì sẽ có lành dữ. Sức mạnh của ý niệm của nhà tu hành lớn là vô cùng lớn, sức mạnh này là bất khả tư nghì, như mặt trời, như mặt trăng, như trái đất, như sông núi.

Chỉ một ý niệm này cũng đã là Tổng thống rồi. 
Cho nên một nhà tu hành lớn nếu không chứng ngộ tứ Thánh giới, vẫn ở trong lục đạo luân hồi không ngừng nghỉ, ở tại nhân gian thì người đó sẽ là một Quốc vương:

- Chính nhân.

- Chính nguyện.

- Chính hành.

Trở thành Quốc vương chính là:

- Một niệm ái.

- Một niệm tài bảo.

- Một niệm địa vị.

Phật pháp là pháp môn vi diệu, tu hành có công đức lớn, có sức mạnh lớn bất khả tư nghì, dù trải qua tỉ kiếp, nếu một ý niệm không rời được, thì không phải bạn muốn thành Phật sẽ thành Phật, cũng không phải bạn muốn làm Tổng thống thì sẽ làm Tổng thống.

Cổ đức nói:
”Rễ sâu quả đẹp, chỉ có tu mới đạt được những điều lớn lao!”


### 09. Truyền kì về quả chanh dây


Một ngày nọ, tôi ngồi một mình trong phòng khách.
Một lão thổ địa công hiện lên trước mặt tôi, vị thổ địa công này là không mời mà đến. Tôi cảm thấy rất ngạc nhiên, bởi vì thổ địa công vẫn luôn là do tôi triệu thỉnh thì ông ấy mới đến, không triệu thỉnh mà ông ấy đến thì nhất định là có sự cố đặc biệt. 

Tôi hỏi:
”Có việc gì sao?”
Thổ địa công đáp:
”Không có gì, không có gì.”
”Không có gì, vậy thì tốt quá!” - Việc trong thiên hạ này tôi quản quá nhiều quá phiền rồi, không có việc gì thì đúng là thiên hạ thái bình.

Thổ địa công nói:
”Thấy Hoạt Phật ngồi một mình, nhàn nhã không có việc gì, tôi bèn nghĩ tìm Hoạt Phật rủ đi ra ngoại thành chơi một chút!”
”Thế cũng được!” - Tôi chưa bao giờ nghĩ lão thổ địa công này cũng quan tâm đến vậy, biết cuộc sống nhàm chán của con người hiện đại, xem ra văn hóa giải trí của nhân loại cũng dần dần lưu hành trong thế giới thần minh vô hình rồi.

Lão thổ địa công nói:
”Tại trụ sở của tôi có núi xanh biếc, có suối trong veo, có rừng cây và vườn trái cây rộng lớn mấy trăm dặm, những cây ở đây đều xanh tươi um tùm, quả tươi ở đây thì sai trĩu trịt.”
Tôi nghe xong thì ứa nước miếng. Vừa leo núi, vừa có hoa quả tươi để ăn, đây đúng là chuyện hay nhất trên đời.
Tôi lập tức đồng ý. 

Thế là, thổ địa công đi trước, tôi theo sau. Trước tiên tôi trở về phòng, ngồi xếp bằng, nhắm mắt tĩnh tâm.
Đây chính là:
*Huệ nhãn nhắm lại dừng đường sống
Không đến không đi không thị phi
Hình tướng bên ngoài đều tĩnh lặng
Nghìn dặm đến đi chẳng khó chi.*

Địa bàn của lão thổ địa công quả nhiên là núi sông xinh đẹp, còn có một thác nước nhỏ, những tia nước bắn lên mặt, cảm thấy vô cùng mát mẻ, cái nóng nực đều tiêu tan. Lão thổ địa công tiếp tôi rất tốt, chiêu đãi tôi ăn những sản vật nổi tiếng của địa phương là bánh dẹt, bánh gạo lạnh, mì dẹt. Sau đó còn mời tôi về miếu thổ địa công để ăn hoa quả tươi.

Tôi thấy miếu thổ địa của lão thổ địa công xây dựng rất đẹp, mặc dù miếu không to lắm, nhưng mới xây dựng chưa lâu, hết sức tráng lệ và trang nghiêm, cửa miếu quay về hướng đông, đây gọi là mở ra cửa sáng, đón ánh nắng rực rỡ của mặt trời mọc. 

Hoa quả được bày ra, là dâu tây và chanh dây. Những quả dâu tây vừa to vừa đỏ, mọng nước và vị ngọt, không hề chua, một quả dâu tây to cắn hai miếng là hết. Loáng một cái tôi đã ăn hết dâu tây. Tôi lại cầm lên quả chanh dây, chanh dây thì phải cắt ra trước, một nhát cắt chia thành hai nửa, hạt ở giữa có màu đỏ, màu cam, màu sắc rất đẹp. Đầu tiên tôi dùng lưỡi liếm, phát hiện ra chẳng có vị gì cả! Tôi cắn vào hạt, cũng chẳng có vị gì cả!

Quả chanh dây vốn có vị chua chua ngọt ngọt, thanh nhẹ dễ chịu, còn đây chỉ có một chút nước, một chút dịch, còn mùi vị thì không có một chút nào!
Tôi ngẩng đầu nhìn thổ địa công, thấy ông ấy cũng đang nhìn tôi.
”Có chuyện gì vậy?” - Tôi hỏi.
Thổ địa công xoắn hai tay vào nhau.

Tôi vừa nhìn thấy vậy thì lập tức hiểu ra. Tôi chợt nghĩ đến một câu nói lưu truyền trong nhân gian: “Trên đời không có bữa trưa nào miễn phí!” Thổ địa công tìm tôi đi chơi, ăn đồ ăn ngon ở địa phương, lại mời tôi ăn hoa quả tươi, làm gì có chuyện thuận lợi như vậy chứ, lần này tôi đã bị trúng kế rồi!

Đời này tôi bẩm sinh đã lương thiện trong sáng, tôi thường bị người ta bày kế, không chỉ người ngoài bày kế với tôi mà ngay cả Thượng sư Chân Phật Tông cũng dùng kế để bẫy tôi. Hôm nay, thậm chí thần minh cũng bày kế với tôi, trên thực tế, tôi phát hiện ra người và thần như nhau, đều giỏi bày kế.

Tôi hỏi lại:
”Không phải là đến đây để chơi đúng không?”
Thổ địa công thẹn đỏ mặt:
”Tiện một công thì giúp cho chút việc!”
”Tôi biết ngay mình bị lừa rồi mà!” 
”Giúp người là tốt mà! Hoạt Phật thích nhất như vậy mà!”
”Thích thì thích, nhưng hôm nay là ngày nghỉ của tôi, ngày nghỉ thì không phải đi làm, ông không biết sao? Hai ngày cuối tuần.”
”Xin lỗi! Xin lỗi!” - Thổ địa công luôn miệng xin lỗi.
”Xin lỗi thì có ích gì, tôi đã bị ông lừa đến đây rồi, rốt cuộc chỗ ông có chuyện gì?”
Thổ địa công vui mừng khôn xiết và biết rằng tôi sẽ tận lực vì chuyện này.

Thổ địa công một năm một mười kể với tôi:

Người xây dựng ngôi miếu thổ địa này là vợ chồng Khưu Đan, có nghĩa là vợ chồng Khưu Đan là thí chủ của thổ địa công. Ở địa phương này, Khưu Đan có tám miếng đất, đã dùng khoảng năm miếng đất để trồng cây chanh dây. Những nông dân trồng trái cây ở vùng lân cận đều trồng dâu tây và chanh dây. 

Vấn đề là:
Người khác trồng chanh dây thì quả rất thơm, độ ngọt rất vừa, thu hoạch rất tốt, tiêu thụ cũng rất tốt, họ đều kiếm được rất nhiều tiền.
Chỉ độc mỗi quả chanh dây của Khưu Đan bên ngoài thì trông giống chanh dây của người ta, cắt ra trông cũng như vậy, nhưng lại không có mùi vị gì cả, cũng không có hương thơm.
Đây là quả gì vậy?
Khưu Đan tự cười:
”Quả không mùi không vị.”

Trồng quả chanh dây mà lại trồng ra được quả không mùi không vị, cũng không thơm, cũng không ngọt, cái loại quả như vậy làm sao có thể bán được, làm sao tiêu thụ được chứ, cả một đống chanh dây cao như núi tặng người ta cũng không ai cần, thuê người ta vận chuyển đi thì cũng phải trả một khoản tiền. Vợ chồng họ muốn khóc mà không khóc nổi, kể chuyện này ra cũng không ai tin.
Ở đây rốt cục là có chuyện gì?

Vợ chồng Khưu Đan thường đến miếu thổ địa công kể khổ với thổ địa công, giống như là khiếu nại với thổ địa công vậy, cầu xin thổ địa công làm cho quả chanh dây ngọt và thơm, được mùa lớn và thu hoạch lớn. Ngày cũng cầu, đêm cũng cầu. Vào ngày mồng hai và mười sáu hàng tháng cũng bày lễ phẩm thịnh soạn để cúng tế thổ địa công, đốt cả tiền vàng. Thổ địa công nhận được khiếu nại của vợ chồng Khưu Đan, vì họ là thí chủ của mình nên ông ấy cũng “cấp cấp như luật lệnh”. 
Giúp xem núi xem nước.
Kiểm tra chất dinh dưỡng của đất đai.
Chú ý khí hậu.
Ngăn chặn âm sát ma quỷ vào vườn quả phá quấy.
……….

Thế nhưng khi thu hoạch, chanh dây của người ta vẫn thơm ngọt rất ngon, cũng chỉ có chanh dây nhà Khưu Đan là không mùi không vị. 
Phải làm sao?
Chuyên gia nông nghiệp lấy thổ nhưỡng của người ta và thổ nhưỡng ở ruộng của mình để làm hóa nghiệm thì thấy thành phần hoàn toàn giống nhau. 
Phương pháp và trình tự trồng trọt hoàn toàn giống hệt nhau.
Đã cầu thổ địa công rồi, cũng bái Phật rồi, cũng cầu thần rồi. 

Khưu Đan cảm thán:
Người đánh cá thì chẳng thể săn bắn.
Người săn bắn thì chẳng thể đánh cá.
Cũng giống như người trồng trọt.
Cũng có vận này vận kia.

Thổ địa công vì việc của Khưu Đan mà đã nghĩ hết mọi cách nhưng chẳng có tác dụng gì, khi không còn biết phải làm sao nữa thì mới đến tìm tôi.
Tôi cười khổ:
”Tôi có phải chuyên gia nông nghiệp đâu!”
Thổ địa công đáp:
”Nhưng ngài chắc chắn có cách!”
Tôi nói:
”Để tôi về nghiên cứu xem sao.”

Thổ địa công này đã ăn đồ của Khưu Đan thì phải giúp Khưu Đan, giống như tôi lần này, ăn đồ của thổ địa công rồi thì phải giúp thổ địa công thôi. Điều này cũng đúng, gặp mặt chưa chắc đã là chuyện hay, mời ăn chưa chắc đã phải là việc tốt, người đến thì bất thiện, người thiện thì chẳng đến, không có việc gì thì chẳng đến điện Tam Bảo.”

🌟

Mấy hôm sau. 
Tôi đang ở nhà mình hỏi chuyện. Có người chuyển đến một tờ đơn, trên đó có viết họ tên Khưu Đan, tôi nhìn thấy thì cười lớn ha ha. 
Khưu Đan hỏi:
”Vì sao tiên sinh lại cười?”
Tôi nói:
”Anh trồng ra thứ quả không mùi không vị, sao không tức cười chứ!”
Khưu Đan sửng sốt:
”Làm sao tiên sinh biết được?”
Tôi nói:
”Đương nhiên là biết.”
Khưu Đan nói:
”Tiên sinh chưa đoán đã biết, quả nhiên là lợi hại, có thể đoán được nguyên nhân của quả không mùi không vị không?”
Tôi nói đùa:
”Nguyên nhân thì tạm thời chưa rõ, nhưng tôi đến vườn quả của anh xem xem, có lẽ có thể biết được, nói không chừng thổ địa công ở nhà anh đã ăn vụng hết rồi!”
”Thật không? Trong vườn quả đúng là có miếu thổ địa công!”
”Tôi nói đùa với anh thôi, thổ địa công ở nhà anh rất tốt, rất quan tâm đến nhà anh!”
Khưu Đan cười khổ. Tôi nói:
”Khưu Đan, cái quả không mùi không vị này của anh đặt tên không hay rồi!”
”Vậy thì nên gọi là quả gì?”
”Quả ma chết.” - Tôi nói.
Quả chanh dây có một cách phát âm khác nghe rất giống với quả ma chết, Khưu Đan cũng không nhịn được cười.

🌟

Tôi đến vườn chanh dây của Khưu Đan. Tôi chắp tay chào thổ địa công, miếu thổ địa công này giống hệt như lần trước tôi đã thấy. Thổ địa công thấy tôi đến thì vô cùng vui mừng.

Khưu Đan đem ra một số tư liệu, đó là những cuốn sách về cải tiến nông nghiệp, phương pháp trồng chanh dây, canh tác đất, phân bón, sâu bệnh, v.v…

Khưu Đan nói:
”Thổ nhưỡng bình thường, phân bón bình thường, trồng trọt bình thường, mọi thứ đều bình thường, nhưng chanh dây trồng ra lại thành quả ma chết.”
Tôi lại ăn thử, quả nhiên không ngọt, không thơm, không chua.
Nhưng điều quái lạ là, quả người khác trồng thì lại ngọt ngọt thơm thơm chua chua.
Tôi nói thẳng, tôi không phải là chuyên gia nông nghiệp, đối với việc trồng trọt hoa quả tôi rất a-ma-tơ, về phương diện này thì tôi không thể giúp được Khưu Đan. 

Điều tôi giúp Khưu Đan là đến xem phong thủy của vườn quả, tôi đi một vòng trên trên dưới dưới, cảm thấy mảnh đất này không có một chút gì bất thường cả, mọi thứ hữu hình tôi đều xem xong hết rồi, không có một chút vấn đề nào, vậy thì chắc chắn là có thứ vô hình.

Những thứ vô hình thì phải hỏi thổ địa công, nhưng thổ địa công không cần hỏi, bởi vì tôi đã biết thổ địa công này cũng không biết. 

Ở gần đó có một ngôi miếu Tam Sơn Quốc Vương, Tam Sơn Quốc Vương là Sơn Thần, nói không chừng đi hỏi là biết được. 

Tôi phụng thỉnh Tam Sơn Quốc Vương: 
”*Tự tâm cảm hiện, thần thân lai nghênh, thần thân thường tịch, vô hữu lai khứ. Như kim nhất tâm, thác thắng đức lực, hữu lai hữu khứ, tốc tốc hiện hình. Phụng thỉnh Tam Sơn Quốc Vương, cấp cấp như luật lệnh*.”
Tam Sơn Quốc Vương này bèn hiện thân, trên tay cầm vũ khí, giống như bảo kiếm, có màu xanh lơ, trong suốt như thủy tinh, tỏa ánh sáng lạnh ra khắp xung quanh. Tam Sơn Quốc Vương có ba vị, khi các vị đến thì mỗi người cưỡi một con ngựa quý, đều là ngựa hiếm có trên đời.

Tôi vừa thấy vậy thì nói:
”Đây là ba con ngựa quý, là ngựa xích thố, lục nhĩ và đạo li.”
Tam Sơn Quốc Vương ca ngợi:
”Liên Sinh rất có mắt nhìn!”
Tôi chắp tay với Tam Sơn Quốc Vương, thỉnh hỏi về chuyện lạ liên quan đến chuyện Khưu Đan trồng quả chanh dây. Tam Sơn Quốc Vương trả lời:
”Khu vườn quả đó lúc chưa trồng chanh dây có ba tổ kiến lớn, có mấy vạn tỉ con kiến sống ở trong đó. Khưu Đan đã châm lửa đốt tổ kiến, chẳng khác gì tiêu diệt ba vương quốc kiến.”
”Kiến mà lại lợi hại đến vậy sao? Chết rồi vẫn có thể tác quái.”
Tam Sơn Quốc Vương trả lời:
”Liên Sinh không biết, ba đại vương quốc kiến này không phải là kiến bình thường, mặc dù chúng hình dạng nhỏ, nhưng có bộ óc rất ghê gớm đáng sợ, trên người mọc ra đôi cánh biết bay, trong miệng không những có đôi kìm, mà còn có một cây kim. Kiến này có biệt hiệu là kiến tham ăn, tham ăn tức là ăn không biết no. Kiến tham ăn chuyên thích ăn ngọt, chua, thơm.”

“Lũ kiến tham ăn này bị đốt hóa thành linh hồn, vẫn đến để ăn quả chanh dây, thổ địa công sao lại không biết chứ?”
”Bởi vì chúng nhỏ bé, đợi khi thổ địa công ngủ rồi thì chúng mới tới, cho nên thổ địa công không biết.”

Tôi hỏi:
”Làm sao để đối phó với linh hồn của lũ kiến tham ăn này?”
”Không có cách gì.”
”Vì sao?”
”Khưu Đan và lũ kiến tham ăn có nhân quả với nhau.”

Bây giờ, cuối cùng tôi đã hiểu nguyên nhân rồi, vì Khưu Đan đã thiêu cháy ba vương quốc kiến, khiến cho lũ kiến tham ăn ăn hết sạch hương vị của quả chanh dây. Lũ kiến tham ăn chỉ ăn quả của nhà Khưu Đan, không ăn quả của nhà khác, đây cũng là nhân duyên nhân quả. Sau đó, tôi hỏi Khưu Đan, Khưu Đan trả lời, quả nhiên là có chuyện này.
Khưu Đan hỏi tôi: 
”Đốt ba tổ kiến lửa nghiêm trọng như vậy sao?”

Tôi lấy hai bài “Luật lệnh của cõi Trời” đưa cho Khưu Đan đọc:

Thứ nhất:
*Côn trùng cây cỏ là trời sinh
Sao nỡ nhẫn tâm đối xử tệ
Từ tâm yêu thương được thiên phúc
Thanh danh gia đình được an khang.*
Giữa trời đất, vạn vật đều do khí âm dương của đất trời sinh ra. Con người chính là linh của vạn vật, vì vậy không thể xem thường mà vứt bỏ vạn vật trong vũ trụ. Tất cả sinh linh của vạn vật dựa hoàn toàn vào sự yêu thương và bảo hộ của thế nhân và sự nhân từ của trời, thế nhân cũng phải yêu thương vạn vật để làm tròn ân tình của trời đất, để mở rộng lòng nhân từ quảng đại của thượng thiên, phát huy đại đức của thượng thiên. 

Thượng thiên không phụ người có lòng nhân từ, nếu có thể cứu một mạng thì sẽ có một kế hoạch kéo dài mạng sống ấy. Nếu là vài mạng thì sẽ kéo dài vài mạng. Nhiều người có thể được tăng tuổi thọ một kỉ, hai kỉ, ba kỉ, thậm chí là vài kỉ, dựa theo tính mạng có thể được cứu của người đó mà tính. [Người xưa tính 1 kỉ là 12 năm.] Ví như cứu vài vạn mạng, thậm chí vô lượng số mạng, có thể có được sự đền đáp về công danh, hoặc dựa theo công quả của họ mà được đền đáp làm tiên, thậm chí càng có thể nhập thần tịch. 

Thứ hai:

*Tàn sát sinh linh cực bất nhân
Trời xanh căm giận họa liên miên
Oan oan tương báo khi nào dứt
Ta ăn thân chúng chúng ăn ta.*

Đối với động vật, Thánh nhân chỉ giữ mà không làm tổn thương, dùng nhưng không diệt, như thế chính là lưu ý đến nhân và ái. Con người và vạn vật, sống và chết, linh và sâu bọ, có thể không biết ư? Vì trời sinh vạn vật, con người nên chở che, sao nỡ làm tổn thương, sẽ có được đức như trời. 

Con người đời nay có người làm nghề săn bắn, sát sinh để nuôi sống mình, giết hại sinh linh để nuôi mạng người, niềm vui ăn uống có một bữa ăn mà giết mấy mạng sống, một ngày giết mấy chục mạng sống, thậm chí có người một ngày giết trăm nghìn mạng sống, giết những gì mà trời sinh ra, chẳng phải là một sai lầm lớn sao!

Nhưng những loài chim thú sinh ra từ bào thai, từ trứng cũng như cha con, vợ chồng của loài người, chúng cũng rất mừng vui, sao nỡ nhẫn tâm làm chúng bị thương, kinh sợ, gây tai họa và giết chúng, tội ấy sâu nặng lắm, nói tóm lại, sao có thể tránh khỏi tội. 

Trời sinh vạn vật, cũng sinh ra thế nhân, vì thế nên nhân từ và yêu thương, sinh linh con người và loài sâu bọ không có sự khác biệt, vì vậy không thể nhẫn tâm tàn sát, bởi nếu làm thế thì trời sẽ phẫn nộ, làm tổn hại đến tạo hóa của trời, báo ứng sẽ tuần hoàn, luật lệ có điều rõ ràng như vậy.

Khưu Đan đọc xong, trong lòng kinh hãi. Khưu Đan hỏi tôi: 
”Trên đất của tôi có tổ kiến lớn, mà tôi lại muốn trồng cây ăn quả, thì tất phải ảnh hưởng đến tổ kiến, nếu tôi không thể đốt tổ kiến thì phải làm thế nào chứ?”
Câu trả lời của tôi như sau:
”Bởi vì luật lệnh của thượng thiên là phải tránh sát hại sinh linh, cá nhân tôi đề nghị như sau. Thứ nhất, hãy để dành không gian sống cho kiến, hoàn toàn không đụng vào tổ kiến, ở những nơi không ảnh hưởng đến tổ kiến thì mới trồng cây ăn quả. Thứ hai, nếu thật sự là trồng cây có trở ngại thì phải nghĩ cách mời toàn bộ lũ kiến trong tổ kiến chuyển nhà đi nơi khác, dùng xẻng xúc toàn bộ tổ kiến đi, di chuyển toàn bộ vào sâu trong núi, giống như giúp lũ kiến chuyển đến nhà mới.”

Khưu Đan thở dài một hơi rồi lại hỏi tôi: 
”Bây giờ sự việc đã rồi, nên làm gì đây?”
Tôi nói:
”Tam Sơn Quốc Vương nói là không có cách nào.”
”Nhất định tiên sinh phải nghĩ cách giúp tôi!” - Khưu Đan khổ sở van nài.
Tôi nói:
”Như thế này đi! Tôi giúp anh làm một đàn pháp siêu độ, siêu độ cho linh hồn của những con kiến trên đám đất này!”

Tôi lại nói thầm mấy lời vào tai Khưu Đan, đó là “núi không chuyển thì đường phải chuyển”. 
Người khác trồng quả chanh dây. 
Còn Khưu Đan phải trồng mướp đắng.
Linh hồn của lũ kiến tham ăn này thích nhất là ăn đồ ngọt, ăn đồ chua, ăn thứ có mùi thơm. Thứ duy nhất chúng không thích là đắng, vì thế tôi bảo Khưu Đan trồng mướp đắng. 

Khưu Đan trồng mướp đắng thì được mùa lớn, từng quả mướp đắng vừa to vừa mập vừa mướt vừa đắng, mướp đắng thu hoạch cao ngất như núi, giá cả lại tốt, kiếm được rất nhiều tiền. 

Mỗi lần Khưu Đan đến thăm tôi, nhất định sẽ tặng tôi một thùng carton mướp đắng, để tôi mãi mãi chẳng thể ăn hết đau khổ. 

Điều kì lạ nhất là, quả nhiên lũ kiến tham ăn này không ăn mướp đắng, bởi vì cho dù có ăn hết chất đắng thì mướp đắng sẽ trở thành không đắng, hoặc mướp đắng biến thành mướp ngọt, như vậy thì cũng vẫn có thể bán được! 
Câu chuyện này của Khưu Đan cho chúng ta một sự cảnh tỉnh, không thể tùy tiện sát hại những sinh linh trong thiên hạ!

Viết một bài kệ:

*Con nhím xù gai để tự vệ
Con sên mang vỏ cầu an cư
Côn trùng tự nhiên cần vui vẻ
Mưa hoa gió thơm đều là xuân.*


### 10. Hồn thiêng anh hùng


Một hôm, tôi đi thăm cung Huyền Minh. Chủ thần trong cung này là Thủy Quan Đại Đế nói với tôi rằng:
”Liên Sinh, có thể giúp tôi một chuyện được không?”
Tôi hỏi:
”Chuyện gì vậy?”
Thủy Quan Đại Đế nói:
’Cung Huyền Minh của tôi có thờ phụng năm doanh trại binh mã thần tướng, năm doanh trại binh mã này gần như đã tề tựu đông đủ, nhưng lại thiếu mất một vị Trung Đàn Tướng Quân, đã chọn tới chọn lui rồi vẫn chưa chọn được ai.”
”Ngài muốn tôi giúp ngài tìm sao?”
”Đúng vậy.”
”Điều kiện thế nào?”
”Điều kiện không hề khắt khe, con người ngày nay chỉ cần có nghĩa khí, hành động thuần lương thiện, có tinh thần anh hùng là được.”
Tôi cười:
”Ngài nói không khắt khe, thật ra ba điểm này, nghĩa khí, lương thiện, anh hùng, con người hiện đại làm gì có chứ. Con người hiện đại là nói đến hành động tùy tiện trái pháp luật, trái ngược đạo lí và đạo đức, quay lưng với lễ nghĩa và lương tâm, đe dọa chiếm tài sản, nhẫn tâm hại người thôi!”

Thủy Quan Đại Đế nghe xong thì lắc đầu thở dài. Thủy Quan Đại Đế nói:
”Cũng không phải là tôi làm khó ngài, mặc dù Trung Đàn Tướng Quân này thật sự khó tìm, nhưng theo như tôi biết, vào giờ Ngọ ngày mai, ở giao lộ Trung Sơn, sẽ có một người là ông Ngụy Hậu là một lựa chọn tốt nhất, xin ngài giúp tôi đưa đến đây là được.”

Tôi nói:
”Vì đã có đối tượng rồi thì việc này dễ làm thôi.”
Thủy Quan Đại Đế nói:
”Ngài đồng ý rồi nhé!”
”Đương nhiên.”
Thủy Quan Đại Đế mừng rỡ:
”Liên Sinh đưa Trung Đàn Tướng Quân Ngụy Hậu đến đây, tôi sẽ mời ngài một bữa cơm.”
”Không cần đâu, đưa một vị anh hùng đến cung này là chuyện nhỏ thôi mà!”

Về phía tôi mà nói thì đây đương nhiên là một việc rất đơn giản. Tôi có thiên nhãn, cũng có lệnh cưỡng chế, còn có mật pháp, muốn bắt một linh hồn vạm vỡ chỉ cần chuẩn bị một tịnh bình, nói một tiếng luật lệnh là linh hồn đó sẽ bị hút vào trong tịnh bình, thế là có thể đưa đến cung Huyền Minh để giao cho Thủy Quan Đại Đế được rồi.

🌟

Ngày hôm sau, từ rất sớm tôi đã đến giao lộ Trung Sơn, bởi vì tôi sợ lỡ mất thời cơ, linh hồn này mà đi mất thì sẽ thất lễ với Thủy Quan Đại Đế. Tôi vừa đến giao lộ Trung Sơn đã thấy người và xe ở đây nườm nượp chạy qua chạy lại rất náo nhiệt. 

Nhìn qua một lượt, tôi giật thót mình, tôi không chỉ nhìn thấy dòng người qua lại mà cũng nhìn thấy thần của các chùa các cung khác. 
Có Đặng Thiên Quân của chùa Linh Quan.
Có Tạ Nguyên Soái của điện Văn Võ.
Có Chu tướng quân của Thánh Đế Quân.
Có Vi Đà Thần của chùa Từ Âm. 
Đó là những vị mà tôi biết, còn một số quỷ thần thì tôi không biết, số lượng cũng không ít, tất cả đều tụ tập ở giao lộ Trung Sơn.

“Làm cái gì thế này?” - Tôi ngạc nhiên sửng sốt. 
Có ba vị thần thân người đầu chim ở bên cạnh nói với tôi: 
”Tôi là Đại Loan, em gái tôi là Thiếu Loan và Thanh Loan. Chúng ta đã từng gặp mặt nhau rồi, không nhận ra sao?”
Tôi nghĩ một lúc:
”Ồ! Thì ra là ba vị thị giả của Vương Mẫu Nương Nương!”
”Đúng vậy, đúng vậy.”
Tôi hỏi:
”Mọi người tụ tập ở đây làm gì vậy?”
Đại Loan hỏi ngược lại tôi:
”Liên Sinh, ngài đến chỗ này làm gì vậy?”
Tôi nói:
”Tôi đợi Ngụy Hậu!”
Đại Loan nói:
”Chúng tôi cũng phụng chỉ đến đợi Ngụy Hậu đây, mọi người đều là phụng chỉ đến đợi Ngụy Hậu đó.”

Lúc này tôi mới biết là lần này tôi thảm rồi. Chỉ có một Ngụy Hậu mà những chùa miếu khác nhau đều phụng chỉ đến đợi người này, ai ra tay trước tiên thì người đó sẽ thắng, đây là cùng tranh giành nhân tài, tranh giành như thế này thì chẳng phải là làm tổn hại cảm tình lẫn nhau sao?
Đại Loan nói:
”Sẽ không đâu.”
Đặng Thiên Quân nói:
”Tranh giành một cách quân tử.”
Vi Đà hộ pháp thần nói:
”Thiếu thốn nhân tài.”

Tôi hỏi Vi Đà hộ pháp thần:
”Ngụy Hậu này là loại người nào?”
Vi Đà hộ pháp thần nói:
”Ngụy Hậu từ nhỏ đã gặp bất hạnh, cha mẹ đều mất, anh ta phụng dưỡng cha mẹ nuôi rất thành kính, nhẫn nhục chịu đựng, không hề có lời oán ghét. Lớn lên đi học luôn giành vị trí xuất sắc. Khi ra đi làm thì giữ mình thanh khiết và lòng tự trọng, phụng sự việc công, cẩn thận tỉ mỉ. Ngụy Hậu làm người thì trung với việc, nghĩa với nhà, nghĩa với bạn, hiếu đễ với đồng bào.”

Vi Đà hộ pháp thần nói tiếp:
”Có một chuyện khiến người ta ca ngợi. Ngụy Hậu lớn lên rất cao to đẹp trai, nhưng lại là một người không dấn bước vào con đường xấu xa, tấm lòng ngay thẳng, hành vi cũng đoan chính. Anh ta có một người em trai của bố mẹ nuôi, người em trai này cưới được một người vợ rất xinh đẹp, đôi mắt đong đưa và động tác uốn éo để lôi kéo Ngụy Hậu bằng mọi cách có thể. Một ngày nọ, khi cậu em trai của anh ra ngoài, trời đổ mưa lớn, vợ của em trai giả vờ sợ sấm và bí mật vào phòng của Ngụy Hậu. Sấm sét ầm ầm, cô ôm lấy Ngụy Hậu, mặt áp vào lồng ngực nở nang của Ngụy Hậu, vòng tay ôm cổ Ngụy Hậu, chu cái miệng anh đào lên. Người bình thường ở trong hoàn cảnh này thì chẳng ai là không rơi vào bẫy của những người phụ nữ lẳng lơ thích mồi chài đàn ông, lập tức sẽ mềm nhũn mà lao vào ôm ấp tấm thân ngọc ngà thơm tho, sẽ thông dâm với nhau, hai người sẽ quấn chặt lấy nhau làm bại hoại đạo đức. Nhưng Ngụy Hậu không bị “phòng tối” lừa gạt, anh ta rất kiên định và vững chắc, suốt một đời giữ sự chính trực. Ngược lại, Ngụy Hậu còn khuyên vợ của em trai mình là không được tà dâm, tránh vì mắc phải tà dâm mà không có cách nào tự thoát mình ra được, đến khi mà không tự mình thoát ra được thì sẽ phát sinh rất nhiều tai họa. Ví dụ như vợ chồng trở mặt nhau, vợ chồng giết hại nhau, tiếng xấu lan xa, bại hoại danh tiết, trên thì phụ tổ tiên, dưới thì phụ người thân. Ngụy Hậu nói với em dâu rằng, vào lúc suy nghĩ động loạn, chúng ta cần biết sợ hãi, giống như đến gần vực sâu, như đi trên băng mỏng, dù không ai biết nhưng không được ngu muội, cách duy nhất là phải thận trọng, kiên trì giữ vững đạo đức của con người. Người em dâu sau khi được Ngụy Hậu khuyên giải thì ngọn lửa dục tiêu tan, cúi đầu bỏ đi.”

Tôi cảm thán:
”Chà! Loại người này rất hiếm có.”
Thế nhưng tôi lại thay đổi suy nghĩ:
”Con người giống như vậy, giữ lòng nhân hậu, chính trực vô tư, nên được hưởng tuổi thọ và phúc phận, vì sao lại gặp phải cái chết thảm bất đắc kì tử, đây chẳng phải là thượng thiên không nhân từ sao?”
Vi Đà hộ pháp thần bảo tôi:
”Theo như tôi biết, cái chết đột ngột của Ngụy Hậu cũng là sinh ra đã có định số, chỉ vì kiếp trước có một khoảng thời gian anh ta làm nghề giết mổ. Nhân duyên quả báo này, luận về sự khác biệt lớn nhỏ nặng nhẹ trước sau thì hồn thiêng của anh ta lập tức sẽ được nhận chức vị thần, cái chết kiểu này thì không được xem là tàn nhẫn, ngược lại lại là thăng quan tấn lộc đó.”
Tôi gật gật đầu.

Khi sắp đến giờ Ngọ, tôi trông thấy một người thanh niên chạy xe máy tới, bên cạnh xe máy của người thanh niên này có một chiếc xe tải. Phía sau người thanh niên này còn có một chiếc xe khách tư nhân, chiếc xe khách tư nhân này rất vội vàng, chỉ muốn vượt lên trước. 

Muốn vượt thì cần vượt bên trái, chứ không phải là vượt lên ở bên phải, nhưng chiếc xe khách tư nhân này lại vượt ngược chiều, vì thế đã trở thành chiếc xe tải to ở bên trái, ở giữa là người đàn ông chạy xe máy, bên phải là xe khách, ba xe chạy song song, xe khách tư nhân muốn vượt xe máy và xe tải. 

Lúc này, bên đường có một đứa bé chạy xộc ra, xe khách tư nhân bèn phanh để dừng lại, nhưng vì đang vượt xe nên tốc độ xe chạy nhanh, thân xe nghiêng sang trái, trong tích tắc đã đụng vào người đi xe máy, người đi xe máy cả người cả xe đều chui xuống gầm xe tải. 
”Binh” một tiếng! 
Rồi lại một tiếng “rắc”!
Bánh của chiếc xe tải lớn cán lên chiếc xe máy, và bánh xe cũng cán lên thân thể của người thanh niên. Lúc này, máu thịt bắn tứ tung, vô cùng thê thảm. Chiếc xe máy đã vỡ vụn tan tành. 

Trong tích tắc, tiếng người nhốn nháo, tiếng người gọi, tiếng còi xe bấm inh ỏi, tiếng hú của xe cảnh sát…

Tôi đứng ngây ra nhìn!
Một dải hồn thiêng bay vọt lên không, đến khi cách mặt đất khoảng một trượng [khoảng 3,3 mét] thì cứ lơ lửng ở đó.
Lúc này, lẽ ra tôi cần phải mở nắp của tịnh bình ra, niệm chú Nhiếp hồn để hút dải hồn thiêng này vào trong tịnh bình, rồi đem về đưa cho Thủy Quan Đại Đế, hoàn thành nhiệm vụ mà ngài ấy đã giao phó. 

Nhưng đúng vào lúc này, ba con chim xanh Đại Loan, Thiếu Loan và Thanh Loan đã bay lên, lao thẳng đến hồn thiêng chuẩn bị dùng mỏ để tha đi!

Đặng Thiên Quân tay cầm cờ triệu hồn, khẽ vẫy vẫy, anh linh ấy bèn giống như di chuyển về hướng cờ gọi hồn. Những vị thần khác, có vị thì dùng dây thừng trói tiên, có vị thì dùng chuông gọi hồn, có vị thì dùng bảo tháp, có vị thì dùng túi phong hỏa…

Đúng vào lúc này, chỉ thấy Vi Đà hộ pháp thần dưới chân đầy kim quang lấp lánh, giống như chớp điện, điện quang thạch lửa tóe ra. Vi Đà hộ pháp thần bay nhanh hơn bất kì pháp khí nào, thậm chí nhanh hơn cả ba con chim xanh, trong một sát-na đã tóm được hồn thiêng của Ngụy Hậu, trong chớp mắt chỉ còn là một chấm nhỏ ở chân trời, ngay cả hình bóng cũng không còn nữa.

Các vị thần khác ngây ra nhìn, một số thần muốn dùng pháp độn để đuổi theo, hoặc dùng thuật phi hành, tung không, độn quang, kiếm quang, nhưng tất cả đều không kịp.

Cần biết rằng ở chỗ của Phật Đà, Vi Đà hộ pháp thần nổi tiếng là “cấp cước thần”, tốc độ bay của ngài là nhanh số một, là siêu âm và siêu quang, rất hiếm có thần quỷ nào nhanh hơn ngài.

Nhớ năm xưa, Phật Thích Ca Mâu Ni vào năm 487 trước Công Nguyên ở bên ngoài thành Câu Thi đã nhập niết bàn dưới hai gốc cây sa la, sau khi hỏa thiêu thì đã có được xá lợi của Phật Đà. Lúc ấy có một “cấp cước thần” đã ăn trộm xá lợi của Phật Đà, trộm xong thì bỏ chạy. “Cấp cước thần” này chạy nhanh như gió. Các vị La Hán đều đứng ngây ra, không một người nào có thể đuổi kịp, mọi người đều cuống cả lên, mặc dù tôn giả Đại Ca Diếp biết bay cũng không bay nhanh bằng “cấp cước thần”. 

Lúc này, Vi Đà hộ pháp thần vì làm việc nghĩa không thể chểnh mảng đã lập tức đuổi theo, chỉ một lúc sau đã bắt được “cấp cước thần”, lấy lại được xá lợi của Phật Đà. Điều này từ lâu đã cho thấy tốc độ rất nhanh của Vi Đà hộ pháp thần, chúng thần không ai bì kịp.

Giống như sao băng, đã biến mất rồi. 

Tôi đứng ở nơi đó, nhìn thấy anh linh của Ngụy Hậu đã bị Vi Đà hộ pháp thần đưa đi mất một cách hết sức nhẹ nhàng. Lúc này tôi vẫn còn chưa mở nắp tịnh bình, còn chưa niệm được một câu chú Nhiếp hồn nào, đương nhiên là tôi thua chắc rồi. Các thần tản đi, chỉ còn lại mình tôi đi bộ về nhà.

🌟

Tôi đến cung Huyền Minh để gặp Thủy Quan Đại Đế.
Thủy Quan Đại Đế tươi cười bước ra khỏi cửa cung, đích thân ra ngoài cửa cung để đón tôi, trong lòng tôi bồn chồn bất an, bởi vì tôi còn chưa kịp ra tay thì anh linh của vị hảo hán ấy đã bị người khác cướp mất rồi, tên tuổi lừng lẫy cả một đời của tôi đã bị hủy hoại cả rồi, còn mặt mũi nào mà gặp Thủy Quan Đại Đế nữa, tình cảnh này hết sức xấu hổ. 

Thủy Quan Đại Đế mời tôi lên ghế trên, rồi còn dặn dò thuộc hạ lập tức bày tiệc. Tôi hấp tấp xua tay:
”Hãy khoan, hãy khoan.”
Thủy Quan Đại Đế nói:
”Đại hỉ, ngày đại hỉ đương nhiên nên chúc mừng một chút chứ.”
Trong lòng tôi hết sức buồn khổ, đúng vào lúc định nói rõ tình huống ngày hôm đó thì Thủy Quang Đại Đế nói:
”Liên Sinh Hoạt Phật quả nhiên bất phàm, đúng vào ngày hôm đó, Vi Đà hộ pháp thần đã phụng pháp chỉ của ngài mà đưa anh linh của Ngụy Hậu đến đây rồi, ngay cả Vi Đà hộ pháp thần cũng đều nghe theo pháp chỉ của ngài, Thủy Quan Đại Đế tôi thật sự bái phục.”

Tôi nghe xong thì sững người ra, trong lòng hơi yên tâm, cuối cùng có thể ăn uống no nê một bữa rồi.
Thì ra Vi Đà hộ pháp thần này từ lâu đã có tha tâm thông, có thể biết trong lòng tôi muốn gì, đồng thời ngài ấy còn hiểu “hòa quang tiếp vật”, hòa quang tiếp vật ở đây tức là thái độ xử lí công việc một cách khiêm tốn và sáng suốt, là cảnh giới cao nhất về cách cư xử và giao tế. 

Tôi thầm cảm kích ngài ấy.
Vì Đà hộ pháp thần chính là một trong những vị đại hộ pháp của tôi. 

Viết một bài kệ:

*Cầu gặp Hộ pháp đâu phải dễ
Nguy như bóng nổi trên biển sóng
Phải thường ở cùng với Hộ pháp
Tu hành gặp nạn mới không lo. *

(**Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/152-song-tung-phut-giay-ruc-ro.md
# Title: 152. Sống từng phút giây rực rỡ
---

![image](/img/img_d0baea89f09f711b3665e2009302f435.jpg)



## Sống từng phút giây rực rỡ


Văn tập: 152
Xuất bản: N/A
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu


Làm sao để bỏ tình dục?

Đến nay, tôi đã xuống tóc xuất gia cho khoảng hơn 300 vị tì kheo và tì kheo ni rồi, tôi tự tay dùng dao cạo để cạo tóc cho họ. Tôi nghĩ, sau này các pháp sư xuất gia của Chân Phật Tông sẽ ngày càng nhiều.

Từng có tì kheo, tì kheo ni xuất gia hỏi tôi:
"Ham muốn tình dục của con vẫn chưa dứt, trong tâm thường xuyên dao động, vậy con phải làm sao?"
Tôi đáp:
"Chuyển hóa."
"Chuyển hóa thế nào?"
Tôi nói:
"Dội nước lạnh để tắm, chạy bộ, đọc kinh thư, ngắm mây trời, múa kim cang quyền!"
"Phương pháp kiềm chế và chuyển hóa này con đều làm theo rồi, nhưng không thể kiềm chế ham muốn tình dục được lâu, ngược lại lại sinh ra lo lắng."
Tôi nghe xong, biết rằng tình trạng này rất nghiêm trọng.

🌟

Phật Đà từng nói: "Ta biết cái gốc của dục, cũng từ ý mà sinh ra."
Ý nghĩa của câu này là: tình dục là một thứ rất tinh tế, cũng là do nhân duyên sinh ra. Nếu như không có nhân duyên thì bạn cứ thế bình bình đều đều sống qua ngày. Nhưng một khi nhân duyên đến, một khi ý niệm đã nảy sinh thì chỉ cần một ý nghĩ, một sự tưởng tượng, một cái chạm khẽ là cảm xúc sẽ bùng phát, muốn cưỡng lại cũng không cưỡng được, muốn kiềm chế cũng không kiềm chế được, giống như nước lũ ồ ạt, trong phút chốc đã trở thành họa lớn!

Nhìn từ góc nhìn của Phật pháp thì tình dục là phản ứng sinh lý chắc chắn sẽ có. Tâm lý và sinh lý có quan hệ nhân quả với nhau.

Có một so sánh rất hay thế này:
Tình dục giống như cỏ dại. Chúng ta lấy một tảng đá to để đè tình dục xuống, giống như cỏ bị đá đè cho chết nát. Nhưng chỉ cần nhấc tảng đá lên thì cỏ lại từ từ mọc trở lại, tình dục cũng sống lại. Cỏ mọc nhanh hơn bất kì thứ gì khác, thậm chí còn tươi tốt rậm rạp hơn trước kia. Một khi đã bung ra thì càng dễ vượt qua tầm kiểm soát!
Làm sao đây?

🌟

Phật Đà từng dạy chúng sinh tam vô lậu học. Tam vô lậu học này chính là Giới - Định - Huệ.
Giới --- giữ giới luật.
Định --- thiền định.
Huệ --- trí tuệ bát nhã.
Cá nhân tôi cho rằng, vấn đề giới luật rõ ràng chính là công phu kiềm chế và chuyển hóa. Giới luật thì ai ai cũng biết, nhưng để giữ được giới luật thì vẫn cần phải tốn rất nhiều công phu.

Một hành giả tu thiền, hoặc một hành giả Mật giáo, bản thân trong khi tu trì pháp đã có công phu thiền định giúp từ bỏ ham muốn. Nếu tu có được công lực thì trên phương diện này không chỉ có thể kiểm soát được ham muốn mà còn có thể làm cho nó thăng hoa.

Tôi chọn phương thức nói thẳng để so sánh mô tả như sau:
Ham muốn tình dục của mỗi người đến từ sinh lý và tâm lý.
Trên phương diện tâm lý, chúng ta dùng trí huệ (bát nhã) của Như Lai để làm cho ngọn lửa ham muốn chuyển hóa thành tâm trong sáng. Trên phương diện sinh lý, chúng ta thiền định để tu xuất chuyết hỏa, tập trung tâm trí khiến cho cội nguồn sinh mệnh ở bộ phận sinh dục (tinh tử - minh điểm), bị chuyết hỏa đốt cháy, khiến minh điểm hóa thành khí. Vận chuyển khí này tới khắp toàn thân để thông kinh mạch, khiến cho tinh thần của người tu hành biến thành Phật kim cương bất hoại.

Tôi nói cho mọi người được biết:
Chỉ cần tinh tử minh điểm của cội nguồn sinh mệnh hóa thành khí thì thân thể vật lý này đạt được vô lậu, việc này sẽ khiến cho ham muốn tình dục tiêu biến!

Hành giả nữ nếu có thể hóa kinh huyết thành khí thì cũng đạt được sự vô lậu trên thân thể vật lý, ham muốn tình dục cũng sẽ tiêu biến không còn nữa!

Đây chính là dùng tu hành thiền định để khiến cho ham muốn tình dục hoàn toàn thăng hoa. Tôi thực lòng thực sự nói cho mọi người biết, tôi đã dựa vào pháp này để tu hành, đã chứng đắc Đại Trì Minh Kim Cương Thượng sư vô lậu.

Trên phương diện bát nhã, Phật Đà dạy chúng ta các pháp:
Quán bạch cốt.
Quán bất tịnh.
Muốn đoạn trừ tình dục thì vẫn phải dựa vào Giới - Định - Huệ đó!

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn | Sheng-yen Lu
**17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Sách đại thiện


Cuốn sách "Sống từng phút giây trong sáng" là cuốn văn tập thứ 145 mà tôi đã từng viết trước đây. Nhân duyên tôi viết cuốn sách đó cũng khá đặc biệt. Có thể nói, cuốn sách đó là Phật yêu cầu tôi viết, là thần yêu cầu tôi viết. Phật ở đây chính là Thiện Quang Phật, còn thần chính là Văn Xương Đế Quân.

Thiện Quang Phật lúc đó nói với tôi:
"Con người ngày nay tham dục càng ngày càng nặng, người thanh tâm quả dục ngày càng ít. Mặc dù xã hội văn minh tiến bộ hơn nhưng thiện quang thì dường như chẳng tồn tại. Thấy tình hình như vậy, tôi không muốn nhiều người đời đọa vào tam đồ, thương xót không nguôi. Hôm nay tôi mạo muội mời ngài đến là vì muốn mượn tài năng của ngài để viết nên một cuốn sách nhằm cứu thế nhân, khiến con người mau chóng tỉnh ngộ, thận trọng tránh xa tham dục, như vậy mới có lợi ích thực sự."

Sau khi tôi viết xong cuốn "Sống từng phút giây trong sáng", tôi biết Thiện Quang Phật (Văn Xương Đế Quân) vô cùng vui mừng. Thiên nhân trên cõi trời cũng tán dương, Phật Bồ Tát hoan hỉ. Phật Bồ Tát nói với tôi, cuốn sách này là đại thiện, là cuốn sách quảng độ chúng sinh, chính xác là điểm chính nằm ở chỗ: "Mắt không thấy sắc, tai không nghe âm thanh, mũi không ngửi mùi hương, miệng không tham mùi vị, thân không chạm những nơi nhạy cảm, suy nghĩ không vọng niệm, như vậy thì cũng sẽ chẳng bị ngoại cảnh tác động tới tâm."

Phật Bồ Tát nói với tôi:
"Viết sách thiện cần phải viết sao cho không giống những cuốn sách rao giảng đạo đức. Bên ngoài nó cần giống như một cuốn sách văn học tổng hợp, nhưng nội dung ẩn chứa bên trong lại là sách tâm linh. Khuyên răn đạo đức như vậy mới không lộ liễu. Đây là sách thiện số một trong thiên hạ."

Tôi nghe xong thấy vui sướng tột cùng.

Hơn thế nữa, hư không giới còn truyền tới tôi một sự việc cảm ứng tâm linh, đây chính là một sự việc kì lạ liên quan đến cuốn sách "Sống từng phút giây trong sáng", tôi ghi lại như sau:

Có một độc giả tên là Lý Quát đã mua một cuốn "Sống từng phút giây trong sáng" về đọc. Anh cảm thấy cuốn sách này rất hay, đọc xong gặt hái được rất nhiều điều bổ ích.

Anh có một người em gái mắc chứng bệnh chán ăn. Chứng chán ăn này vô cùng kì quái, nguyên nhân ban đầu là do tự bản thân muốn giảm béo. Ban đầu cô em gái của Lý Quát ăn một bữa bỏ một bữa, thêm nữa đến bữa ăn thì cô chỉ ăn một lát bánh mì nhỏ, một cọng rau, một miếng cá nhỏ hoặc một miếng thịt nhỏ. Cô ăn giống như mèo ăn vậy.

Lượng ăn của em gái Lý Quát giống như mèo con, quả nhiên cô trở nên gầy đi, cô vô cùng sung sướng, vô cùng thích thú. Bởi vì thân thể của cô nay đã trở nên mảnh mai. Thế nhưng gặp vấn đề rồi đây. Mặc dù cô giảm cân thành công nhưng cô ăn uống càng ngày càng ít, biến thành mắc bệnh chán ăn. Về sau, em gái Lý Quát cảm thấy chỉ cần ăn một lát bánh mì là đã giống như ăn một ổ bánh mì vậy, bởi vậy cô chỉ cắn một miếng rồi không ăn nữa. Rau, cá, thịt cô hoàn toàn không ăn, dù một miếng cũng không. Rau, cá, thịt ăn vào là muốn nôn ra ngay. Mỗi bữa cô chỉ ăn đúng một miếng bánh mì và uống nước trắng. Cô luôn cảm thấy bụng đã no rồi, hoàn toàn không có cảm giác thèm ăn.

Tình trạng đáng sợ đã xảy ra. Em gái Lý Quát vốn thuộc tạng người to béo, bây giờ trở thành gầy như que diêm, giống như da bọc xương vậy. Tóc cô trở nên khô, hốc mắt hõm sâu, khuôn mặt giống như đầu lâu, tay chân như cây que. Khi đi lại cô cần có người đỡ, gió thổi qua một cái là người cũng bay luôn.

Cô không thể ăn thức ăn, hễ ăn là nôn ra, cũng chẳng còn cảm thấy ngon miệng. Người nhà khuyên cô nhưng cô không thể nuốt được đồ ăn, một miếng nhỏ xíu cũng khiến cô khó nuốt vào, người nhà vô cùng buồn phiền. Người nhà mời bác sĩ chữa bệnh, thậm chí mời cả bác sĩ tâm lý nhưng đều không có hiệu quả gì!

Có kê đồng nói cô đã xung phạm tới cương thi rồi! Có thầy phù thủy nói cô đã rơi vào đạo ngạ quỷ rồi! Có người nhập thần nói cô bị người ta bỏ bùa rồi! Mỗi người nói một khác, cũng đã dùng tới trăm phương cứu chữa rồi nhưng vẫn không có hiệu quả.

🌟

Lý Quát cũng lo lắng thay cho người em gái của mình. Một đêm nọ, Lý Quát bỗng mơ thấy một vị thần đến bảo rằng: "*Sống từng phút giây trong sáng* là cuốn sách đại thiện, một cuốn sách được một phần công đức, trăm cuốn sách được trăm phần công đức, hãy mua về tặng cho người khác đọc, là việc đại thiện, khi đó bệnh của em gái anh có thể bình phục."
Giấc mơ này rõ ràng như một với hai vậy.

Lý Quát cho rằng việc này đơn giản, anh bèn mua luôn một trăm cuốn sách "Sống từng phút giây trong sáng" rồi đem tặng cho người thân, bạn bè, đồng nghiệp đọc. Đồng thời, Lý Quát cũng cầu nguyện tới thần linh trong hư không, hy vọng những gì thần linh chỉ thị trong giấc mơ không phải là lời nói hão huyền mà sẽ có linh nghiệm thật sự.

Sau sự việc này, quả nhiên kì tích đã xảy ra. Em gái Lý Quát bất ngờ muốn uống sữa, có sự chuyển biến tốt đẹp. Dần dần cô có thể ăn được cả một lát bánh mì hoặc hai lát bánh mì. Tiếp đó cô đã đồng ý ăn cơm, việc ăn uống dần dần trở nên bình thường. Chỉ một tháng cô đã bình phục như bình thường.

🌟

Chứng bệnh chán ăn đến một cách rất kì lạ, rồi đi một cách cũng rất kì lạ, ngay cả bác sĩ cũng chẳng hiểu ra làm sao.

Sự việc này liệu có phải do pháp lực của cuốn sách "Sống từng phút giây trong sáng" sinh ra không? Cũng không ai biết cách nào để chứng minh, bởi vì tất cả đều là sự vô hình, vì là vô hình nên chẳng có cách nào kiểm chứng truy cứu. Người tin thì sẽ tin, người không tin thì vẫn cứ không tin, tin hay không tùy bạn!
(Sự việc này tôi đã kiểm chứng thông qua thông linh, là sự việc có thật.)


### 02. Nhân duyên viết cuốn sách "Sống từng phút giây rực rỡ"


Tôi viết cuốn sách "Sống từng phút giây trong sáng" là có nhân duyên rất lớn. Sau khi tôi viết xong, toàn bộ cõi giới hư không truyền đến vô số tràng vỗ tay hưởng ứng. Cá nhân tôi đối với cuốn sách này cũng tự cảm thấy có chút hài lòng. Viết xong cuốn sách, tôi cũng cảm thấy thân tâm của mình nhẹ nhõm hơn rất nhiều.

Sau cuốn sách "Sống từng phút giây trong sáng", tôi vẫn tiếp tục sáng tác mỗi ngày, ngày ngày tôi đều cố định một ít thời gian để viết sách, từ trước đến nay vẫn chưa ngừng nghỉ một ngày nào. Kết quả là tôi đã viết xong thêm các cuốn:

Văn tập 146: Chú chim cô đơn trong hư không
Văn tập 147: Đừng đánh mất tâm
Văn tập 148: Sức mạnh của thần chú
Văn tập 149: Trăng trong nước
Văn tập 150: Thần quỷ đáng kinh ngạc
Văn tập 151: Tâm sự khi độc cư

🌟

Khi tôi viết cuốn sách thứ 151 đến phần kết thúc, có một hôm, tôi ngồi dưới ngọn đèn trên chiếc bàn viết nhỏ. Trong lúc tôi cầm bút lên trầm tư suy nghĩ, cây bút trên tay tôi đột nhiên động đậy, nói cách khác là đầu bút chấm một chấm, rồi lắc bên trái bên phải, lắc trên lắc dưới!

Tôi ý thức được ngay rằng đây là việc tự động viết do thông linh. Thế nào gọi là tự động viết? Tôi giải thích với mọi người một chút.

Tự động viết là một dạng hiện tượng của thông linh, nói cách khác là người thông linh cầm một cây bút trên tay, trước mặt để một tờ giấy, có thể che mắt lại, ý thức thả lỏng, nói cụ thể hơn là không được để những suy nghĩ của mình xen lẫn vào, hoàn toàn để cho linh ở trong hư không dẫn dắt, trên giấy viết ra cái gì thì chính là ý định của thần linh.

Khi tôi biết rằng có thần linh hạ giáng, tôi cũng cảm thấy rất vui, bèn mau mắn lấy ra một tờ giấy, thế là thần linh nhanh chóng viết chữ lên giấy, thần linh viết ra chữ: "Văn tập số 152 - Sống từng phút giây rực rỡ".

Mắt tôi không bị che, tôi nhìn thấy rõ ràng như một với hai, chữ của thần linh nghiêng nghiêng, nét bút như rồng rắn, giống như đại sư mỹ thuật đang vẽ vậy.

Tôi hỏi:
"Nội dung là gì?"
Thần linh đáp:
"Phần tiếp theo của cuốn* Sống từng phút giây trong sáng*, cũng là viết về giới tà dâm."
Tôi nói:
"Một cuốn là đủ rồi!"
Thần linh nói:
"Chưa đủ."
Tôi nói:
"Vì sao chưa đủ?"
Thần linh nói:
"Đạo đức con người đã quá bại hoại rồi."
Tôi hỏi:
"Nhất định cần phải viết sao?" (Vì tâm lý tôi cho rằng sách có cùng tính chất thì một cuốn là đủ rồi.)
Thần linh đáp:
"Nhất định."
"Vì sao cần phải viết nhiều như vậy?"
"Con người rất dễ quên." - Thần linh đáp.

Không ngờ vị thần linh này lại trả lời rằng con người dễ quên, có thể thấy là thần linh khá có nhân tính, có khả năng hiểu được chính mình.

🌟

Chính tôi cũng biết, tôi thuyết pháp đã 30 năm, viết sách tới cuốn thứ 152 rồi, những pháp tôi cần nói đều đã nói rồi, những gì cần viết cũng đều viết cả rồi, người hiểu được tấm lòng của tôi cũng đã biết từ lâu rồi. Tuy nhiên, vẫn còn có rất nhiều người dù đã nghe pháp rồi, đã đọc sách rồi, nhưng vẫn không hiểu được tấm lòng của tôi, tôi lại phải một lần nữa thức tỉnh mọi người lại từ đầu vậy!

Lý do tôi vẫn tiếp tục viết sách không ngơi nghỉ là vì tôi e rằng đệ tử dễ quên, con người là giống hay quên. Tôi vốn có suy nghĩ rằng, tôi thực sự chẳng thể chịu nổi sự ngột ngạt của chốn nhân gian này nữa, chi bằng tôi rời khỏi chốn nhân gian này, hoặc sẽ sống những tháng ngày phiêu bạt, thay đổi không gian, thay đổi quỹ đạo. Bên ngoài kia trời cao biển rộng nhường ấy, tôi muốn chẳng thuyết pháp nữa, chẳng viết sách nữa.

Nhưng sau đó tôi nghĩ lại, không được, không được, con người rất mau quên. Dựa vào những gì hiện tại có thể thấy thì nếu tôi không thuyết pháp hoặc không viết sách nữa, một khi tôi bỏ đi rồi thì tình hình sẽ rất tệ, tông phái sẽ chẳng còn hy vọng. Tôi luôn luôn chẳng thể yên lòng, nên vẫn muốn hết lần này tới lần khác đánh thức đạo tâm của con người. Tôi mong mỏi những nỗ lực viết sách của tôi sẽ khiến cho người đời sau hiểu được:
Chân lý Phật giáo.
Chính tín chính niệm.
Chân Phật Mật Pháp.
Trung quán chính kiến.

Cứ thế, tôi viết hết cuốn này tới cuốn khác, đây mới chính là giá trị cuộc sống này của tôi, cũng là giá trị lưu lại sau khi tôi chết. Cứ thế, đối với một đời hoằng pháp này của tôi, tôi mới xem như yên tâm, mới xem là có được sự an lòng.

🌟

Tôi hỏi:
"Thần linh là ai?"
Thần linh đáp:
"Thiện Quang Phật (Văn Xương Đế Quân)."
"Vẫn là ngài à?"
"Tôi thúc giục ngài liên tục, ngài viết liên tục, đây là ý nguyện của của ngài của tôi!" - Thiện Quang Phật trả lời.
Tôi nói:
"Thiện Quang Phật thật từ bi!"
Thiện Quang Phật nói:
"Thiện tai! Thiện tai!"


### 03. Lời của Thần Lửa


Năm đó, thị trấn Đại Hồ xảy ra hỏa hoạn. Đúng lúc tôi ở gần đó giúp người ta xem phong thủy, vừa nghe nói có hỏa hoạn, tôi cũng hiếu kì theo dòng người đi xem. Đây không phải là tôi góp vui theo đám đông để đi xem hỏa hoạn, mà vì đám khói dày đặc chỉ cách đó có hai con đường lớn thôi.

Ngoài ra, còn một lý do khác nữa, đó là tôi là người thông linh, tôi biết về sáu giới. Sáu giới ở đây chính là địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới, thức giới. Sáu giới này chính là tất cả pháp giới, tôi có thể ra vào pháp giới, có thể tôi đi tới đó sẽ giúp ích được gì cho đám cháy.

Nói đơn giản là:
Tôi có thể cầu mưa, Mật giáo có thần chú cầu mưa.
Tôi có thể dừng lửa, Mật giáo có thần chú dừng lửa.

Có một vị thần rồng luôn theo bên tôi, tên là Ma Tọa Long Vương, ngài có thể tạo mây làm mưa, giúp ích rất nhiều đối với hỏa hoạn hoặc hạn hán. Long Vương trong tiếng Phạn chính là Naga, là một trong những vị bất khả tư nghì mà Phật đã nói đến. Long Vương cũng có sức mạnh đại thần thông.

Có hai câu chú Long Vương mà tôi niệm là:
"Ôm. Naga. Naga. Mi."
"Na-mô san-man-tô mô-thô-nam wa-rư-la mi."

🌟

Quả nhiên, vụ hỏa hoạn này sức lửa rất mạnh với từng đám từng đám cháy lớn. Những ngôi nhà ở đây phần lớn là xây dựng thấp trái với quy định, lối đi lại hẹp, do vậy khi có cháy thì lửa đỏ kèm theo khói dày lan tỏa khắp mọi nơi. Tôi nghe thấy tiếng xe cứu hỏa kêu u u. Mọi cư dân sống ở đây đều hoảng hốt hỗn loạn, mỗi khi khí gas nổ thì lại vang lên những tiếng ồn rất lớn.

Tôi mở thiên nhãn, nhìn thấy quạ lửa, nhìn thấy sứ giả lửa, nhìn thấy Thần Lửa, Thần Lửa vẫn còn ngồi tại ghế thần, toàn thân mặc áo đỏ, ngồi ngay ngắn trên đám mây tại không trung.

Tôi biết thế này là xong rồi, bởi vì chỉ cần Thần Lửa xuất hiện thì chắc chắn hỏa hoạn ở đây sẽ thiêu rụi sạch sẽ mọi thứ, sẽ chỉ còn lại một mảnh đất cháy xém. Thần Lửa xuất hiện biểu thị rằng Thần Lửa đã nhận được pháp chỉ, là ý chỉ của cõi trời.

Bởi ý chỉ của cõi trời, pháp chỉ đã ở đây rồi thì cho dù tôi có niệm chú cầu mưa, niệm chú dừng lửa cũng chẳng có tác dụng gì, miễn cưỡng dùng pháp lực thì cũng vẫn vi phạm vào luật lệnh của trời. Một khi phạm vào luật lệnh của trời thì ngay cả tôi cũng sẽ gặp tai ương!

Tôi không dám niệm chú dừng lửa:
"Hỏa chân quân, hỏa chân quân.
Hỏa tinh linh, hỏa tinh linh.
……
Nhất cú chân ngôn.
Mật chuyển bất dĩ.
Tùy phong nhi khứ..
Tàng thân đình tức.
Cấp cấp như luật lệnh".

Câu chú ngữ này vốn dĩ chỉ cần niệm lên là sẽ có chuyển biến kì lạ hoang đường, pháp lực cũng rất mạnh, cũng sẽ làm long trời lở đất, có thể khiến cho quạ lửa bay nháo nhác, khiến sứ giả lửa chẳng thể giữ nổi ngọn cờ hiệu, Thần Lửa cũng chẳng thể ngồi yên trên ghế thần nữa.

Nhưng tôi không dám hấp tấp, chỉ im lặng đứng nhìn một cách tuyệt vọng, nhìn ngọn lửa cháy lớn nuốt gọn bao nhiêu ngôi nhà.

Lúc này, tôi nghe thấy sứ giả lửa nói thầm:
"Ngôi nhà này có ánh sáng cát tường bảo vệ rồi!"
"Ngôi nhà này không thể thiêu cháy được!"
"Ngọn lửa phải nhảy qua ngôi nhà này thôi!"

🌟

Quả nhiên, khi ngọn lửa liếm tới ngôi nhà nọ, sức lửa liền trở nên yếu đi, Hỏa Tinh bỏ qua ngôi nhà đó và tiếp tục thiêu cháy các ngôi nhà khác.
"Vì sao lại có ánh sáng cát tường bảo vệ ngôi nhà này?"
"Cự dâm."
"Cự dâm là cái gì?"
"Là cự tuyệt dâm loạn."
"Người sống trong nhà này là ai?"
"Từ Xương."
Tôi âm thầm viết xuống cái tên Từ Xương.

Trận hỏa hoạn này khiến khu vực bị thiêu cháy tương đối lớn, các cửa hàng cửa tiệm xung quanh đều bị thiêu sạch, nhưng ai nấy đều rất kinh ngạc bởi vì duy nhất có một căn nhà không bị cháy, lửa đã bỏ qua. Xung quanh căn nhà đó đều bị cháy, nhưng lửa lại chẳng đốt tới nhà của Từ Xương, thật là vô cùng kì quái, ai cũng bảo là kì lạ!

🌟

Có người hỏi tôi:
"Nhà xung quanh đều gặp Hồi Lộc, chỉ có có mỗi một nhà là vô sự, vì sao vậy?"[Hồi Lộc là một trong ba vị thần lửa trong thuyết của Trung Quốc, ở đây nói nhà gặp Hồi Lộc nghĩa là nhà đều bị lửa thiêu hủy.]
Tôi đáp:
"Tôi biết."
"Mau mau nói cho chúng tôi biết câu trả lời đi!"
Tôi đáp:
"Vì lửa nhảy qua!"
Người này trợn mắt nhìn tôi một cái rồi tức giận bỏ đi! Tôi cười lớn ha ha ha.

Kì thực, tôi thật sự biết lý do chứ không phải không biết, đây là biết thì nói là biết, không biết thì nói là không biết. Chuyện này thực sự là tôi biết.

Mặc dù tôi biết Chúc Công hạ giáng [Chúc Công là một trong ba vị thần lửa trong thuyết của Trung Quốc], lửa thiêu trụi cả thị trấn Đại Hồ, duy nhất một căn nhà là không bị cháy, nhưng tôi cũng không vội vã muốn biết câu chuyện về "Từ Xương cự dâm", do vậy tôi cũng không cố ý đi tìm Từ Xương.

Nhưng điều không ngờ là Từ Xương lại chủ động đến tìm tôi.

🌟

Đó là một buổi sáng sớm, có người gõ cửa nhà tôi. Người này tuổi trung niên có khuôn mặt vuông vức, khí chất anh hùng quảng đại. Cửa vừa mở ra, anh đã vội vàng giới thiệu với tôi anh tên là Từ Xương.
"Có chuyện gì không?" - Tôi khách khí hỏi.
"Đêm ngủ tôi mơ thấy thổ địa công nhắn nhủ rằng cần đưa chuyện cự dâm viết thành bản thảo, giao cho Lư Thắng Ngạn."
"Văn bản giao cho tôi làm gì?"
"Thổ địa công nói ngài sẽ lựa chọn để viết thành sách để khuyên nhủ người đời, đây là một việc thiện lớn."
Đến đây thì tôi đã hiểu rồi. Con mắt của quỷ thần linh nghiệm như vậy đó.

Tôi khen ngợi Từ Xương:
"Mỹ nữ tán tỉnh dụ dỗ, nhưng anh lại cự tuyệt, anh thực là thánh nhân đó!"
Từ Xương nói:
"Do may mắn thôi, may mắn thôi! Ngài cứ đọc bản thảo thì sẽ biết!"

Từ Xương giao cho tôi bản thảo rồi vội vã rời đi. 

🌟

Tôi đọc xong bản thảo, trong lòng kinh ngạc. tôi biên tập lại bản thảo của Từ Xương như sau:

Từ Xương có một người bạn họ Triệu, lấy vợ là một "gái bán hoa". Cô khá xinh đẹp, nhưng biểu hiện có phần lả lơi, không giữ khoảng cách đối với Từ Xương, hay nói nhiều lời tục tĩu. Bản thân họ Triệu lại không để tâm lắm.

Một hôm, một mình vợ của họ Triệu ở nhà, Từ Xương đến nhà tìm họ Triệu. Vợ họ Triệu nói:
"Anh ấy đi công tác rồi, lần đi công tác này sẽ đi cả tháng không về, thấy nhà người ta vợ chồng có đôi có cặp, tôi chẳng thể kiềm chế được mà nóng mặt nóng lòng."

Từ Xương nghe xong thấy có gì đó không đúng lắm, quay người định bỏ đi. Vợ họ Triệu nói:
"Mặt tôi nóng thật đây này, anh sờ thử mà xem." - Vợ họ Triệu thật sự áp khuôn mặt với làn da mịn màng mềm mại lên Từ Xương. Đôi mắt to tròn đó, đôi lông mày như núi mùa xuân đó mới quyến rũ làm sao. Cái miệng nhỏ xinh như trái anh đào, cái lưỡi thơm đưa đẩy. Cái thân thể nóng bỏng uốn éo như con rắn đó bám dính lên người Từ Xương.

Vợ họ Triệu nói:
"Đời người ngắn ngủi, anh không cảm thấy chúng ta nên làm gì đó sao?"
"Làm gì ư?"
"Đúng vậy. Việc giữa hai người chúng ta đó." - Cô thổi một nụ hôn gió.
Cuối cùng, Từ Xương đã hiểu ra.
"Đời người ngắn ngủi, đừng kiềm chế cái sự sung sướng, hãy làm cái việc mà hai ta thích làm, anh là người anh thân thiết duy nhất của em đó."
…

🌟

Từ Xương không phải là không động lòng, tim anh đập thình thịch trong lồng ngực, và cũng "nóng mặt nóng tim" như vậy, toàn thân anh bị kích thích, thân thể cũng nóng rực lên. Từ Xương biết vợ họ Triệu là gái làng chơi, bình thường hay nói linh tinh vớ vẩn, những lời nói ra toàn là những câu chuyện dâm đãng tục tĩu, không ngờ lần này cô lại thực sự gạ gẫm anh. Đây chính là khi tà duyên đến, muốn cưỡng cũng không cưỡng lại được.

Vợ họ Triệu cố ý gạ gẫm Từ Xương, Từ Xương vốn chẳng có cách nào cự tuyệt. Chỉ là, trong lòng Từ Xương cảm thấy nhấp nhổm không yên, đột nhiên nghĩ đến sáng nay vừa mới đọc một cuốn sách thiện, những con chữ trong sách thiện nhảy nhót trước mắt anh.

Thơ rằng:
*"Gặp người xinh đẹp tim nhảy loạn
Vứt bỏ đạo đức họa tự tìm
Hoan hỉ gìn giữ trọn Tam Bảo
Tu trì công đức phúc đến ngay."*

Tiêu đề bài thơ là: Mỹ sắc hủy hoại tâm ngọc

Lời văn trong sách đó viết rằng: Dâm sắc đứng đầu trong vạn điều xấu, người quân tử cần cẩn trọng, trong mọi trường hợp đều không được để suy nghĩ có một chút bất cẩn, kiên quyết cự tuyệt phòng ngự như hổ. Do vậy, đức năng có vững chắc hay không là dựa vào tự mình bảo vệ, nếu không, e rằng một khi đã gây ra vụ rùm beng thì sẽ dẫn đến thân bại danh liệt.

Thấy người có sắc đẹp, mặc dù thân vẫn chưa có hành động nhưng suy nghĩ đã trỗi dậy rồi. Suy nghĩ đã trỗi dậy thì tinh thần cũng bị dao động, khiến cho tâm trí chắc chắn sẽ bị quấy nhiễu. Cẩn thận! Cẩn thận!

🌟

Người có sắc đẹp thì ai cũng thích, giống như một đồ vật đẹp thì ai cũng say mê, bởi vậy cũng không dễ dàng gì để cự tuyệt sắc đẹp. Ý nghĩ khởi lên thì tinh thần sẽ động loạn, tâm trí đã chạy loạn thì khó mà giữ được bản thân. Cho dù vẫn chưa có được cơ duyên để hành động, nhưng ý đã loạn rồi thì chỉ cần gặp được cơ duyên, đạo đức tất sẽ bị hủy hoại, mất đạo đức rồi thì thân này sẽ gặp nguy hiểm.

Để phòng chống những tổn hại do tham sắc gây ra, trước tiên cần nghiêm khắc với tâm mình, tâm không được chạy lung tung, hãy cẩn thận với suy nghĩ của mình trước tiên. Vì một khi suy nghĩ nổi lên thì mắt giống như kẻ trộm, tai giống như kẻ cướp, trộm cướp cùng xâm phạm thì sẽ chẳng thể làm chủ được thân tâm.

Do vậy, phải bảo vệ chính mình từ bên trong, còn bên ngoài cần đặc biệt bảo vệ tai mắt của mình. Một khi tai mắt không quan tâm thì tâm trí sẽ định, ý nghĩ sẽ dừng lại, thường xuyên không nghĩ điều xấu.

Bản văn này thật sự là một cú đánh thẳng vào mặt! Cũng giống như một tia chớp lóe lên. Trong tâm trí Từ Xương đã bị cảnh báo rằng:
Đây là họa, chẳng phải phúc.
Đây là khổ, chẳng phải sướng.

Nếu như anh làm chuyện này, chắc chắn sẽ chẳng được lợi gì, bởi vì chuyện giữa hai người kiểu này chẳng qua cũng chỉ là sự say mê nhất thời để có được chút khoái lạc nhất thời. Sự tham đắm khoái lạc nhất thời này không phải là một lần rồi vô hại, mà sau này sẽ hết lần này tới lần khác không thể tự mình kiểm soát được, dẫn tới vĩnh viễn chẳng thể nào dừng lại được!

Hơn nữa, sau khi làm việc này rồi, hai người lại cần phải cực kì bí mật, sẽ có rất nhiều những tai họa theo sau nó, rất có khả năng sẽ hại tới mức làm hai gia đình tan nát. Bản thân hiểu luân lý nhưng lại vứt bỏ luân lý, đi ngược lại với đạo đức tự nhiên thì còn tồi tệ hơn cả thú vật!

Nếu như người bạn họ Triệu biết được thì không biết sẽ còn xảy ra việc lớn gì nữa. Mọi người trong xã hội biết được là anh đã ngoại tình thì anh sẽ bị người đời cười nhạo, thế thì còn mặt mũi nào để tồn tại trên cõi đời này nữa!

Từ Xương nghĩ về điều này và đột ngột dừng lại, thở hắt ra, chính anh không nhịn được mà cười lớn ha ha. Anh nghĩ đến cả đời nuôi chí lớn, chỉ vì một ham muốn nhất thời mà bị hủy hoại, có đáng không? Bản thân là người có chí khí, để cho chí khí của bản thân mình bị hủy hoại trong tay của một gái bán hoa, có đáng không? Anh tin rằng nếu anh làm như vậy, anh cũng sẽ hối hận vô cùng.

Thế nên, Từ Xương lấy một lý do giải thích rằng mình còn có việc khác cần làm, rồi vội vội vàng vàng rời khởi nhà họ Triệu. Từ Xương nói:
"Câu chuyện cự tuyệt cám dỗ này trước nay tôi chưa hề kể với người nào khác."

🌟

Tôi đọc xong bản thảo của Từ Xương, biết rằng trong cõi vô hình đều có quỷ thần, hóa ra "phòng tối lén lút, mắt thần như điện" là đúng thật. Điều tôi bái phục là Từ Xương rõ ràng đã động lòng, nhưng vào thời điểm động lòng đó lại có thể nảy sinh tâm sáng suốt, phân biệt đánh giá được lợi hại, lập tức nhận ra nguy hiểm mà biết quay đầu một cách đầy lý trí, đây thực sự là một việc không phải tầm thường.

Nếu là người bình thường, chỉ cần tâm ham muốn khởi lên, thì bất kể là về sau có hối hận hay không hối hận, họ vẫn cho rằng may mắn sao khi được "mỡ dâng miệng mèo", sẵn sàng phong lưu một phen, chuyện tương lai vẫn còn chưa tới, bất kể là hậu quả ra sao thì cứ "chén" trước đã rồi tính sau. Đây gọi là dục tâm đã khởi thì chí lớn cũng tiêu. Người bình thường chẳng có cách nào tự mình kiểm soát được.

Theo như tôi biết, con người vốn chẳng được làm nên từ vàng, bạc, đồng, sắt, mà thân này do khí, huyết, tinh, cốt mà nên, cho dù là vợ chồng quan hệ tình dục thì cũng cần phải tự mình tiết chế.

Khí huyết của con người đi qua sáu kênh, mỗi ngày đi qua hết một kênh thì sáu ngày mới đi hết sáu kênh. Sáu kênh này là: thái dương, dương minh, thiếu dương, thái âm, thiếu âm, quyết âm. Hoàn thành một vòng tuần hoàn đi qua toàn bộ sáu kênh mới gọi là hoàn thiện vòng tuần hoàn khí huyết.

Con người khi thèm tình dục thì tim đập nhanh và đổ mồ hôi, thân nhiệt tăng lên và mất kiểm soát tinh thần, đây là bởi vì xương khớp mở ra, các mạch được thả lỏng, tinh tủy xuất ra ngoài, khí huyết trong một kênh sẽ bị mất đi.

Khi một kênh bị thiếu hụt thì phải đợi sau bảy ngày mới có thể hồi phục được. Đó là vì sao có câu nói "thất nhật lai phục" [bảy ngày thì phục hồi], và cũng là ý nghĩa của việc bảy ngày tu dưỡng. Nếu là vợ chồng thông thường sinh hoạt tình dục quá độ, chưa tới bảy ngày đã lại quan hệ thì tinh huyết sẽ bị mất liên tục, khiến tinh khí không có cách nào hồi phục được!

Do vậy, nền tảng của việc giảm dục bảo dưỡng thân của cổ nhân chính là:
• Khi 20 tuổi thì 7 ngày một lần là chuẩn.
• Khi 30 tuổi thì 14 ngày một lần là chuẩn.
• Khi 40 tuổi thì 28 ngày một lần là chuẩn.
• Khi 50 tuổi thì 45 ngày một lần là chuẩn.
Khi 60 tuổi thì kinh nguyệt đã tắt. [khí huyết không còn khả năng hồi phục]

Vợ chồng bình thường nếu không tiết chế tình dục, cho rằng mình còn trẻ thì sẽ chẳng gặp trở ngại gì nên cứ tha hồ "tung hoành", gây tổn thương ngày này qua tháng khác, khiến sáu kênh li tán, khí huyết băng hoại, tinh tủy khô cạn, khi đó sẽ gặp rất nhiều bệnh tật mà chết sớm thôi! Cần phải cảnh giác! 

Người hiểu được cách tiết chế tình dục có thể giảm bệnh sống lâu. Người không biết tiết chế tình dục thì nhiều bệnh tổn thọ. Còn người mà dâm loạn thì xem như cam lòng chịu giáng xuống làm súc sinh. Đáng thương làm sao!


### 04. Sự trong sáng thực sự


Một đêm nọ, trong giấc mơ, Diêu Trì Kim Mẫu đến bảo với tôi:
"Ngày mai có chân nhân đến, phải đặc biệt chú ý!"
"Chân nhân nào?"
Kim Mẫu trong mơ trả lời tôi:
"Người này hào phóng bố thí một cách hoàn toàn tự nhiên, nhân đức hồn hậu cảm động cả trời đất, từ nội tâm cho đến tính cách đều sâu sắc hợp lý, thái độ hành vi chính đạo thanh cao ngút trời."
"Chân nhân này họ gì, tên gì?"
Kim Mẫu nói:
"Vương Hi."
"Con nên làm gì?"
"Truyền dạy Vô Cực Chính Pháp."
…

Ý của Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn là muốn tôi truyền dạy cho Vương Hi khẩu quyết tâm yếu của vô thượng đạo công tối tôn quý "Tiên Thiên Vô Cực Chính Pháp".

Mộng cảnh này vô cùng rõ ràng, nhưng cũng khiến tôi cảm thấy khá ngạc nhiên, bởi vì trong số các đệ tử của tôi, người đến cầu xin pháp Tiên Thiên Vô Cực Chính Pháp này cũng không ít, nhưng tôi cân nhắc kĩ lưỡng thì thấy rằng họ đều không thích hợp, do vậy tôi không truyền dạy. Cũng có rất nhiều người không phải đệ tử biết tôi sở hữu Tiên Thiên Vô Cực Chính Pháp cũng bí mật đến cầu xin tôi truyền dạy pháp này, nhưng tôi cũng không truyền.

Bởi vì Tiên Thiên Vô Cực Chính Pháp là pháp số một trong Đạo công, được xem là vô thượng pháp, là vô đẳng đẳng pháp, là pháp vi diệu nhất. Người không thích hợp mà truyền pháp, không được phép truyền mà lại truyền đều không được. Nếu việc truyền dạy mà không đúng thì sẽ dẫn tới nhiều điều tai ác, điều tai ác dẫn tới hành động bất nhân, bất nhân dẫn họa đến, người truyền và người nhận chắc chắn sẽ bị phạt theo luật của trời đất.

Diêu Trì Kim Mẫu kể với tôi về sự ứng xử đạo đức trong quá khứ của Vương Hi. Kim Mẫu nói, Vương Hi là người hiểu đạo hiểu lý, có thể phân biệt được đúng sai chính tà của sự việc. Con người Vương Hi biết khi nào nên tiến khi nào nên lùi, tiến cũng quan sát và đánh giá xem cái gì là đúng cái gì là sai, lùi cũng nghiên cứu và đánh giá xem cái gì là sai cái gì là đúng. Người biết phân biệt đúng sai sẽ biết được điểm mấu chốt giữa được mất ở đâu, có thể phân biệt được đúng sai thì tiến cũng không nghi ngại, lùi cũng không ưu phiền. Vì biết tiến biết lùi nên có thể nói chuyện về đạo.

Diêu Trì Kim Mẫu nói, con người Vương Hi thuận đạo lý của trời, hợp với quần chúng, không dối mình, không tự kiêu, chính trực thật thà, đạo đức vững chắc.

🌟

Quả nhiên, ngày hôm sau, trong danh sách những người đến hỏi chuyện có một vị tên là Vương Hi. Vương Hi này bề ngoài đường vệ, bước đi ngay ngắn, hơn nữa trên người có tỏa ra thiện quang, quả nhiên là một nhân tài. 

Trước tiên tôi kiểm tra anh ta:
"Đời người là gì?"
Vương Hi đáp:
"Đời người là biểu hiện của sinh tử luân hồi."
"Tu hành là gì?"
"Đi ngược lại dòng chảy sinh tử, tìm kiếm con đường nhập Niết bàn."
Tôi hỏi:
"Anh có chuyện thị phi không?"
Đáp:
"Không quan tâm chuyện thị phi, không can dự vào chuyện thị phi!"
Tôi hỏi:
"Anh không can dự vào chuyện thị phi là vì sao?"
Vương Hi trả lời:
"Lương tâm trong sáng."
Tôi hỏi Vương Hi:
"Tuổi thọ của anh sẽ ra sao?"
"Trường thọ." - Vương Hi đáp.
"Anh có thể trường thọ là bởi vì anh không tà dâm đó nhỉ!"
"Tiên sinh đã biết rồi sao?" - Vương Hi sửng sốt. "Tôi từng nằm mơ thấy có một vị thần đến nói với tôi rằng, thọ mệnh của tôi vốn chỉ sống đến 43 tuổi thôi, nhưng do tôi đã cự tuyệt tà dâm, bởi vậy thọ mệnh sẽ kéo dài gấp đôi. Câu chuyện này chỉ có tôi biết, chưa hề nói với người nào khác, làm sao mà ngài biết được?"
Tôi nói:
"Cũng là do thần minh nói cho tôi biết. Cái gọi là thần toán cũng là do thần minh nói cho tôi biết."
Tôi nói:
"43 tuổi mắc bệnh ung thư."
"Đúng vậy."
"Sau đó mơ thấy thần minh đến làm phẫu thuật."
"Đúng vậy."
"Thần minh phẫu thuật xong, bệnh ung thư cũng biến mất."
"Chính xác." - Vương Hi nói. "Quả nhiên là thần toán siêu phàm!"

🌟

Câu chuyện thần linh làm phẫu thuật của Vương Hi là một việc vô cùng kì diệu, người bình thường có lẽ sẽ cho là rất hoang đường nhảm nhí, nhưng tôi cho rằng sự việc này rất đáng kể lại.

Vương Hi đã bị mắc bệnh ung thư đến giai đoạn cuối, nặng tới mức hôn mê, đã bị minh sứ áp giải xuống âm gian. Nhưng nửa đường đi thì gặp Nguyệt Cung Ngũ Đế, chính là Thanh Đế, Hoàng Đế, Bạch Đế, Hắc Đế, Xích Đế. Ngũ Đế nói:
"Cần trả lại người này cho năm chúng tôi!"
Minh sứ bèn nói:
"Thọ mệnh đã hết."
Ngũ Đế nghiêm túc nói:
"Người này thọ mệnh mặc dù đã hết, nhưng vì đã từng từ chối dâm loạn, do vậy được kéo dài tuổi thọ, năm chúng tôi sẽ đưa ông ấy đến Nguyệt Cung để chữa trị bệnh của ông ta."
Minh sứ không dám nói nhiều, cũng không dám kháng cự Nguyệt Cung Ngũ Đế, nhưng trông thấy Ngũ Đế mỗi người đều tự mình thổi một hơi tiên khí vào Vương Hi.

Vương Hi tự cảm thấy thân thể nhẹ bẫng lâng lâng, chân rời khỏi mặt đất bay lên, cuối cùng anh bay ra khỏi âm gian, rồi lại bay thoát ra khỏi nhân gian, nhìn thấy bầu trời đêm xanh thẳm, thấy vùng nông thôn trắng xám. Vương Hi được một vầng ánh sáng nhỏ màu vàng kim bao bọc xung quanh, theo Nguyệt Cung Ngũ Đế bay thẳng đến vầng trăng tròn sáng trên trời cao.

Vương Hi nói, nằm trên bàn phẫu thuật ở Nguyệt Cung, Nguyệt Cung Ngũ Đế đứng xung quanh, thực sự cũng không phải là cầm dao cầm kéo phẫu thuật như ở nhân gian. Nguyệt Cung Ngũ Đế hoàn toàn chẳng làm gì cả, nhưng anh cảm thấy thân thể chính mình đã có sự chuyển hóa rồi. Xương cột sống được tách ra, bụng và eo được mở rộng ra hết mức, miệng anh bị bành to ra, cầu mắt bị lấy ra khỏi hốc mắt, cổ và vai hoàn toàn bị tách ra khỏi vị trí của chúng, lục phủ ngũ tạng hoàn toàn tách rời. Vương Hi nói, đó là hiện tượng toàn thân hoàn toàn bị phân tách ra, phân tách ra để rửa sạch, việc rửa sạch thanh tịnh này là cho ánh sáng đi qua.

Tiếp đó, rửa sạch xong, thân thể lại được ghép trở lại như ban đầu, cổ nối với vai, miệng thu nhỏ lại, trở về trạng thái nhỏ như ban đầu, hai cầu mắt trở về trong hốc mắt, bụng và eo thu nhỏ lại, xương sống trở lại cố định, lục phủ ngũ tạng trở về trong thân thể. Vương Hi tự cảm thấy mình đã trở lại hình dạng ban đầu.
Nguyệt Cung Ngũ Đế nói:
"Bệnh của anh đã khỏi rồi!"

Vương Hi hoàn toàn không có cảm giác mình trở về giường bệnh ở chốn nhân gian như thế nào, chỉ biết là mình đã tỉnh lại sau khi hôn mê. Sau khi tỉnh lại thì anh hồi phục với tốc độ thần tốc! Trải qua nhiều cuộc kiểm tra mà không tìm thấy ung thư, các tế bào ung thư đã hoàn toàn biến mất, cứ như là chưa hề có bệnh ung thư. Việc này là sao vậy? Các y bác sĩ cũng chẳng thể hiểu nổi.

🌟

Câu chuyện về Vương Hi từ chối dâm loạn là như thế này:

Từ khi còn trẻ, Vương Hi đã thích tu đạo. Vương Hi cho rằng, từ góc độ của tu đạo thì việc hưởng thụ đời sống vốn là nguồn gốc của đau khổ.

Rất nhiều người cho rằng khoái lạc lớn nhất ở nhân gian là tình dục, nam nữ quấn lấy nhau cùng làm "chuyện đó" thì ai nấy đều thấy sướng cả.

Vương Hi có cách nhìn khác. Cái sự sướng này rất ngắn ngủi. Sướng xong thì cũng là lúc cái khổ bắt đầu, bắt đầu sự trống rỗng. Không tiết chế tình dục thì sẽ mắc nhiều bệnh, dễ lão hóa. Kết quả của việc dâm loạn là đánh mất địa vị, bại hoại danh dự, tiêu tán tài sản, gia đình bất hòa, vợ con li tán, xã hội lăng mạ, kết sâu oán thù.

Về mặt nhân quả thì:
Tu đạo thất bại.
Sau khi chết đọa vào đạo súc sinh, trăm nghìn vạn kiếp không dễ chuyển thế thành người. 
Vợ không tiết hạnh, đoạn tử tuyệt tôn.

Do vậy, Vương Hi cho rằng:
Dâm loạn là khoái lạc ngắn ngủi tạm thời, vì cái khoái lạc này mà đi đổi lấy cái nguồn gốc của đại họa vĩnh viễn thì không đáng. Vương Hi nói, từ chối tà dâm là sự trong sáng thực sự!

*Bởi đâu Vương Hi tránh tà dâm
Bởi vì tu đạo nên hiểu rõ
Bởi đâu kiên quyết giữ nghiêm chỉnh
Bởi vì dâm dục là lò thiêu.*

Vương Hi có không ít diễm phúc đối với phụ nữ, không ngờ có ba lần bị phụ nữ đẹp quyến rũ, nhưng cả ba lần anh đều kiên quyết cự tuyệt, chẳng trách mà thần tiên cõi trời đã cứu anh khỏi bệnh hiểm nghèo.

🌟

Vương Hi là thầy giáo dạy đàn piano. Anh từng dạy đàn cho vợ lẽ của một vị đại gia, mọi người gọi cô vợ lẽ này là dì Oanh.

Dì Oanh tuổi tác cũng tương đương với Vương Hi. Dì Oanh khá xinh đẹp, diện mạo cũng không phải là xấu, eo thon nhỏ nhắn, hàm răng trắng đều. Cô thích đeo khuyên tai lớn bằng vàng và các đồ trang sức ngọc trai đá quý, cử chỉ động tác đều biểu lộ nhiều tình cảm, hơn nữa cô còn hay mỉm cười tình tứ, thường xuyên xịt nước hoa đầy quyến rũ.

Như thường lệ, Vương Hi đến dạy đàn piano tại nhà của dì Oanh. Ngày hôm đó, chủ nhân không ở nhà, người hầu trong nhà cũng không ở đó. Dì Oanh khoác trên vai tấm áo kết bằng lá thường xanh, đeo thắt lưng bằng lông thỏ, trang phục có phần lả lơi, nhưng lại có một sự quyến rũ duyên dáng.

Vương Hi rất nghiêm túc dạy học. Nhưng dì Oanh lại hoàn toàn lơ đãng, thường xuyên ấn nhầm ngón tay lên tay của Vương Hi một cách nhẹ nhàng mơn man đầy cố ý. Hơn thế nữa, cô còn mở to đôi mắt sáng lấp lánh đẹp mê hồn, đưa mắt nhìn xung quanh, rồi lại nhìn thẳng vào mặt Vương Hi. Vương Hi không dám nhìn vào cô.

Khuyên tai của dì Oanh bị rơi ra một chiếc, Vương Hi liền cúi xuống giúp cô nhặt lên, dì Oanh nói:
"Anh giúp tôi đeo lên tai được không?"
Vương Hi khựng lại, bất động.
Dì Oanh nói:
"Con người anh thật kì lạ, nếu là người khác thì đã nóng lòng muốn giúp tôi đeo từ lâu rồi."
Bộ dạng dỗi hờn của dì Oanh thật khiến người ta phải mê đắm, khiến cho trái tim người bình thường cũng phải loạn nhịp.

Vương Hi vẫn nghiêm túc hướng dẫn cho cô cần phải đặt ngón tay trên phím đàn như thế nào, Vương Hi làm mẫu. Dì Oanh đưa tay ra, muốn Vương Hi trực tiếp dạy. Vương Hi không dám cầm tay cô, dì Oanh nép người vào sát Vương Hi, gần như dính vào anh. Mùi hương từ cơ thể thơm tho quyến rũ mê hoặc người khác ấy lập tức xộc lên mũi anh.

Dì Oanh túm lấy tay Vương Hi đặt lên ngực mình, nói với Vương Hi: "Hôm nay đừng học đàn nữa, tim tôi đập loạn rồi, thân thể cũng nóng rực rồi, sắp chết vì không chịu được nữa rồi!"
Vương Hi kinh ngạc:
"Cô ốm, phát sốt rồi ư?"
"Đúng vậy, tôi muốn anh giúp tôi hạ sốt đó!" - Cô thổi nhè nhẹ một hơi vào Vương Hi. Cả người dì Oanh đã dán chặt lên người Vương Hi, hai cánh tay ôm chặt lấy Vương Hi, hơi thở cô trở nên dồn dập. Vương Hi biến sắc, thất kinh!

Vương Hi muốn đứng dậy, nhưng anh không cử động được một chút nào. Anh cảm thấy ngọn lửa ham muốn trong cơ thể của dì Oanh đã nóng rực tới mức như thiêu như đốt rồi, nóng tới mãnh liệt, nóng tới hừng hực, dù có mưa như trút cũng không thể dập tắt được.

Dì Oanh thì thầm bên tai Vương Hi:
"Chao ôi! Hãy làm tôi sướng đi mà! Tôi sẽ sướng muốn chết mất!"

Vương Hi biết tình huống này đã trở nên vô cùng nguy cấp rồi, anh dùng sức để thoát ra khỏi vòng tay ôm chặt của cô, vội vàng thoát thân, lao ra cửa tức tốc rời đi.

Sau đó Vương Hi cũng không dám trở lại nhà dì Oanh dạy đàn cho cô nữa. Chủ nhà ba lần mời anh tới, nhưng Vương Hi đều khéo léo từ chối, nói rằng thực sự mình rất bận, không dành ra được tí thời gian nào. Cơ bản là anh không dám nói ra lí do thật sự.

🌟

Vương Hi nói đã có ba lần xảy ra tình huống tương tự như vậy rồi. Anh luôn lập tức dừng lại, không dám dấn sâu vào. Vương Hi nói, tu đạo vốn dĩ là để kiểm soát tâm mình, cần rèn cho ham muốn tình dục không khởi lên, huống hồ là chuyện tà dâm bất chính. Tà dâm là chuyện vi phạm đạo đức luân lý, nếu như tham lam một chút khoái lạc nhất thời thì sau này nhất định sẽ chịu khổ nhiều kiếp.

Vương Hi nói:
"Sau này chủ nhà mà biết được thì tôi phải làm sao? Sau này cô vợ lẽ không chịu chia tay chồng thì tôi phải làm sao? Sau này hai người thực sự có tình cảm thì tôi phải làm sao? Sau này cả xã hội biết được thì tôi phải làm sao? Sau này sự nghiệp tôi sẽ thế nào? Sau này danh dự của tôi ra sao? Sau này gia đình của tôi sẽ thế nào? Còn nữa….."

Vương Hi nói:
"Tôi mà làm thế thì có còn là người tu đạo nữa không?"

Đây chính là:
*Việc hại đến thân
Muôn kiểu muôn trạng
Nhưng việc tệ nhất
Là phạm tà dâm.*

Vương Hi quả nhiên là một chân nhân quân tử, tôi bèn truyền dạy tâm yếu khẩu quyết của Tiên Thiên Vô Cực Chính Pháp cho anh ta.

🌟

Vương Hi liệu có phải là một Liễu Hạ Huệ thời hiện đại không? Liễu Hạ Huệ nổi tiếng nhất với sự việc "gái đẹp ngồi bên, lòng vẫn không loạn". Việc của Liễu Hạ Huệ là thế nào? Ông ấy không có ham muốn tình dục ư?

Có người cho rằng chữ Hạ trong tên Hạ Huệ được đặt rất hay, bởi vì là "hạ" nên không thể "thượng".

Người đời sau chế nhạo ông rằng Liễu Hạ Huệ cơ bản là "bất lực"!
Hạ --- bất lực.
Thượng --- tình dục mạnh mẽ.

Có văn nhân chế nhạo Liễu Hạ Huệ là:
Khi mỹ nữ lẻn vào phòng Liễu Hạ Huệ, nàng ôm chặt lấy cổ Liễu Hạ Huệ, ngồi lên trên đùi Liễu Hạ Huệ rồi uốn a uốn éo tấm eo thon của cô, Liễu Hạ Huệ không phải là không có cảm hứng tình dục, cũng chẳng phải là ông "bất lực"! Chỉ là vì bữa tối hôm đó Liễu Hạ Huệ ăn cơm đã bị đau bụng, khi mỹ nữ lao mình vào ông là đúng lúc ông đang bị đau bụng đó thôi. Ông đang phải chịu đựng cơn đau bụng này, chẳng còn lựa chọn nào khác, làm gì còn tâm trạng nào mà làm "chuyện đó"!

Văn nhân giễu cợt Liễu Hạ Huệ là mỹ nữ ngồi trong lòng mà tâm vẫn không loạn, căn bản chẳng phải vì ông là chính nhân quân tử gì cả, mà vì ông có nguyên nhân khác.

Đối với việc này, tôi có quan điểm khác. Cá nhân tôi cho rằng ham muốn tình dục mạnh hay yếu có liên quan đến thể chất của mỗi người. Một số người thì ham muốn tình dục rất mạnh, mạnh tới mức không hãm hiếp người khác thì không chịu nổi, đây là một dạng thèm khát. Một số người thì ham muốn tình dục rất yếu, yếu tới mức dường như ngay cả nghĩ cũng chẳng nghĩ đến, đây là một dạng lãnh cảm. Dạng thèm khát và dạng lãnh cảm này không chỉ là do nhân tố về sinh lý thể chất mà đương nhiên cũng có cả yếu tố tâm lý tạo thành.

Vương Hi và Liễu Hạ Huệ liệu có phải là dạng lãnh cảm hay không cũng không nên đem ra chế nhạo, việc này cũng rất khó đánh giá.

🌟

Tôi luôn cho rằng, bản năng tình dục của nam nữ là nhu cầu con người rất chính đáng, không thể nói đây là phạm tội ác, hoặc là điều xấu xa, không phải là vấn đề to tát gì cần giữ bí mật. Một người bình thường đều có quyền trải qua cuộc sống hôn nhân tình dục thông thường. Giới luật của Phật giáo là chỉ cần bạn không phải là người xuất gia thì đều có thể có tình dục.

Giới luật của Phật giáo và pháp luật của xã hội chỉ muốn người ta không được loạn luân, không được ngoại tình, không được "bóc bánh trả tiền", không được ham mê tình dục, cần phải biết tiết chế tình dục của bản thân.

Những cân nhắc của Vương Hi không hề sai. Nếu người đàn ông chủ nhà biết được dì Oanh có người tình bí mật thì có khả năng sẽ giết chết Vương Hi. Nếu như dì Oanh yêu Vương Hi và không muốn chia tay, dì Oanh cũng có thể tự sát. Nếu Dì Oanh và Vương Hi cùng yêu nhau, khả năng cả hai sẽ cùng chết vì tình. Gia đình của Vương Hi sẽ tan vỡ, vợ của Vương Hi cũng có thể mang theo con cái đi tự tử. Xã hội sẽ đồn đại, danh dự bại hoại, sự nghiệp đều bị ảnh hưởng...

Người bình thường nếu không có cách nào để đè nén sự đấu tranh nội tâm về nhu cầu tình dục thì lâu ngày sẽ tạo thành họa hoạn vô cùng tận. Trong xã hội hiện đại ngày nay việc này rất phổ biến. Chúng ta có thể thấy các sự vụ liên quan tới tình dục dường như là nguồn tin tức dồi dào cho các tin nóng trên báo.

Mặt khác, tăng ni xuất gia bị cấm tình dục, điều này là để tu dưỡng phạm hạnh thanh tịnh, cấm tình dục là vì tình dục có thể cản trở tiến trình tu đạo. Người xuất gia từ bỏ tình dục là vì muốn tu trì tới được sự thanh tịnh như trời và sự thanh tịnh như thánh. Trên phương diện này đương nhiên cần phải vượt qua được tình dục.

🌟

Mật pháp mà tôi tu học rất quan tâm đến vấn đề xử lý ham muốn tình dục của con người, hoàn toàn là một dạng "chuyển hóa" và "thăng hoa", không phải là miễn cưỡng áp chế.

Tu khí, mạch, minh điểm trong Mật giáo, trong tiến trình tu trì, khi đạt đến thiền định ở cấp độ sâu nhất, cùng với sự vận chuyển của khí, sự thông suốt của mạch, sự nâng lên và vô lậu của minh điểm, đều sẽ đạt đến sự khinh an và đại lạc. Đại lạc này vượt lên trên sự khoái lạc tình dục, so với sự ôm ấp giữa nam nữ để thỏa mãn cảm giác ham muốn thì đại lạc nồng đượm, ngọt ngào dễ chịu và kéo dài hơn rất nhiều.

Có được khinh an.
Có được đại lạc.
Có được diệu hỉ.
Có được vô lậu.

Tôi sống một cuộc sống thanh tịnh với tình dục một cách rất tự nhiên, tôi không có nhu cầu với khoái lạc tình dục của nam nữ nhân gian. Cá nhân tôi cho rằng, nam nữ thuộc dạng thèm khát thì đương nhiên việc kiềm chế rất khó, nếu có thể tu khí, mạch, minh điểm thì ngược lại lại rất tốt, có thể khiến tình dục thăng hoa, khi tới giai đoạn khiến cho tinh huyết trong cơ thể đạt tới khả năng hóa thành khí thì tình dục đã được chuyển hóa, vậy là, vấn đề tình dục đã được giải quyết xong rồi.

Trên phương diện này thì tu trì Mật giáo sẽ có được chứng nghiệm lớn.


### 05. Tôi uống trà cuống sâm


Tì kheo, tì kheo ni xuất gia thực sự không còn tình dục sao? Họ làm cách nào để giải quyết vấn đề tình dục của bản thân?

Hành trình tu hành rất gian khổ, trong Phật giáo mà nói thì giới luật xuất gia là cấm tình dục. Rất nhiều hành giả dùng phương pháp Chỉ Quán.
Chỉ --- kiềm chế.
Quán --- chuyển hóa một cách hợp lý.

Ở đây, dùng phương pháp quán bạch cốt, quán bất tịnh, quán tính không đều là một trong những phương pháp chuyển hóa hợp lý, đều có thể dẫn đến thành tựu phạm hạnh ở mức độ đội trời đạp đất.

Trong suốt 20 năm tôi sống tại Seattle, tôi thường uống trà cuống sâm. Các pháp sư ở chùa Seattle Lôi Tạng Tự biết mỗi ngày tôi đều không thể thiếu trà cuống sâm, cũng có rất nhiều đệ tử biết đồ uống của tôi là trà cuống sâm. Rất nhiều đệ tử ở phương xa tìm đến các hiệu thuốc đông y để tìm mua cuống nhân sâm, gói lại thành từng gói, rồi gửi đến Seattle Lôi Tạng Tự, lý do chính là vì tôi, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn uống trà cuống sâm.

Thế nào gọi là trà cuống sâm? Tôi lấy một ví dụ để giải thích.
Trong một dịp tôi đến hoằng pháp tại Thiền Quán Đường tại Bắc Carolina, đường chủ là Liên Hoa Lệ Nga đã đặc biệt đến một tiệm thuốc Đông y ở khu vực China Town ở Bắc Carolina để mua trà cuống sâm về pha cho Sư Tôn uống.

Liên Hoa Lệ Nga nói:
"Tôi muốn mua trà cuống sâm!"
Thầy thuốc Đông y nói:
"Không bán."
"Vì sao không bán?" - Liên Hoa Lệ Nga rất ngạc nhiên.
"Bởi vì trà cuống sâm có hại cho con người."
"Có hại ư?" - Liên Hoa Lệ Nga không hiểu vì sao.
Thầy thuốc Đông y nói:
"Bà mua cuống sâm về pha thành trà rồi cho chồng bà uống, chồng bà sẽ bị yếu sinh lý đó. Chồng bà trở thành bất lực thì đây chẳng phải là hại người thì là cái gì, cho nên tôi không bán cuống nhân sâm!"
"Hả?" - Liên Hoa Lệ Nga nhất thời không thốt lên lời.

Cuối cùng, Liên Hoa Lệ Nga nói lợi nói hại một hồi mới có thể mua được một ít, thế là đã giải quyết được vấn đề đồ uống của tôi.

🌟

Tôi thực lòng thực sự nói để mọi người biết:
Trong Đông y, phần giữa của củ nhân sâm là một thực phẩm đại bổ, phần rễ nhân sâm có tác dụng thanh mát hạ nhiệt. Còn cuống của củ sâm thì thường bị cắt bỏ đi, bởi vì chẳng có ai ăn cuống của củ nhân sâm cả.

Thầy thuốc Đông y cho rằng chẳng có ai ăn cuống nhân sâm, vì phần này là cực kì âm hàn, nếu ăn cuống nhân sâm thì sẽ bị bất lực. Không những bị bất lực mà thậm chí dương vật cũng dần dần thu nhỏ lại đến mức bằng hạt đậu hoặc hạt lạc. Liên Hoa Lệ Nga đi tìm mua cuống nhân sâm đã bị thầy thuốc Đông y mắng cho là có ý định hại chồng thành bất lực chính là vì nguyên nhân này. Tuy nhiên, cuống nhân sâm cũng có tác dụng tốt. Người ta nói ăn một chút cuống nhân sâm có thể dừng chảy máu cam.

Suốt 20 năm qua, tôi uống trà pha từ cuống nhân sâm, vậy tôi có bị bất lực không? "Cái đó" của tôi có bị biến thành nhỏ như hạt đậu không? Để mọi người đoán thử xem! Ha ha!

Thực tế là vì tôi tu luyện "chuyết hỏa định", cần phải biến nhiệt của toàn thân thành "thuần hỏa", đồng thời phải loại bỏ "tạp hỏa" trên thân thể. Tạp hỏa là chỉ hỏa khí vô minh, khiến người ta bồn chồn lo lắng bất an, khiến người ta sinh ra ngọn lửa vô minh, bao gồm cả lửa tình dục, tất cả đều cần tiêu trừ hết.

🌟

Con người hiện đại không biết tầm quan trọng của việc tiết dục, rất nhiều người vẫn bán mệnh mà uống những viên thuốc nhỏ màu xanh lam ấy (thuốc viagra). Nghe nói đây là loại thuốc bán chạy số một thế giới, chính là "bảo bối" của con người hiện đại. Trong khi đang là thời đại thế nhân đều uống viagra, duy nhất một mình tôi uống trà cuống sâm.

Tôi bất ngờ phát hiện ra tôi dường như càng đi càng rời xa thế nhân, khoảng cách không chỉ là một đoạn thôi đâu, mà là tôi đi con đường ngược lại hoàn toàn. Tôi không có những hứng thú của người đời, còn người đời cũng không có những hứng thú của tôi. Người đời uống viagra còn tôi lại uống trà cuống sâm, rốt cục thế nào mới là tốt?

Thiện tai! Thiện tai!


### 06. Luật lệnh của Minh Vương


Trong một lần thiền định sâu, tôi đã đến âm gian, Minh Vương cung kính nghênh đón tôi, thái độ đối với tôi vô cùng tôn trọng, mời tôi ăn toàn của ngon vật lạ.

Tôi lấy làm ngạc nhiên trong lòng, cười hỏi Minh Vương:
"Nhiệt tình quá mức, tất có âm mưu!"
Minh Vương nói:
"Không có. Là việc chính sự thôi!"
"Chính sự gì?"
Minh Vương nói:
"Tu thân dưỡng tính nhấn mạnh vào từ bỏ dâm, sắc, bằng không chắc chắn sẽ làm tổn hại đến tinh khí bên trong, bên ngoài chắc chắn sẽ bại hoại hành vi đạo đức. Tai hại của dâm sắc giống như lưỡi gươm sắc lẻm lợi hại, sẽ rỉa tinh rục cốt, nguyên khí cạn kiệt rồi thì có muốn tu đạo cũng chẳng thể thành được. Tệ hơn nữa là làm bại hoại luân thường đạo đức, gây tội sâu nặng. Sao mà người ta lại chẳng cẩn thận với dâm sắc gì hết!"
"Điều này tôi biết." - Tôi nói.

Minh Vương nói:
"Thiên thượng giới đã ban hạ luật lệnh, luật lệnh này đã giao đến tay tôi đây, bây giờ tôi lại muốn giao luật lệnh này vào tay ngài, xin ngài công bố rộng rãi cho con người được biết!"
"Vì lẽ gì mà lại giao luật lệnh của Minh Vương vào tay tôi?"
Minh Vương nói:
"Dưới bầu trời này, chẳng có mấy người có thể nhập vào sâu trong thiền định. Dưới bầu trời này, có thể ra vào mười pháp giới cũng chẳng có nổi mấy người. Dưới bầu trời này, ngày ngày viết sách không gián đoạn, lại càng chẳng có mấy người. Dưới bầu trời này, lại càng hiếm có người nào có thể cùng nói chuyện với Minh Vương tôi đây!"
"Vì thế nên ngài chọn tôi?"
"Chính xác." - Minh Vương nói.
Tôi hỏi:
"Từ xưa đã có luật lệnh rồi mà!"
Minh Vương đáp:
"Luật lệnh lần này càng rõ ràng cụ thể hơn."

🌟

Minh Vương giao cho tôi luật lệnh của Minh Vương, tôi đọc xong mà mắt thấy tâm run.

Tội tình dục tà dâm này bao gồm:

1. Nghe âm thanh mà tinh thần khuấy động — nghe những ngôn từ dâm đãng mà tâm trí trở nên bị kích động.
2. Xem trộm cảnh hành dâm — xem phim ảnh khiêu dâm.
3. Thích nói những lời dâm đãng — vọng ngôn khuê tình.
4. Quấy rối tình dục — dùng tay để lạm dụng quấy rối người khác.
5. Sáng tác tranh ảnh khiêu dâm — viết sách vẽ tranh mô tả về tình dục.
6. Tội tà dâm trong tâm tưởng — khi chưa có cơ hội để thực hiện hành vi xấu, trong đầu đã tưởng tưởng ra những huyễn cảnh. Khi kế hoạch hãm hại chưa thành thì sinh ra tâm bày kế hãm hại. Gặp người có nhan sắc thì sinh lòng mê muội. Người khác có người yêu mà mình chưa có thì sinh ra tâm bất bình ghen tị, người ta xinh đẹp mà mình xấu thì sinh ra tâm đố kị. Thấy người ta xinh đẹp thì đã sinh ra tâm hy vọng hão huyền.
7. Tìm kiếm lạc thú — mua bán tình dục.
8. Tà dâm bừa bãi — tự mình phóng túng.
9. Tổ chức mại dâm và buôn bán nô lệ tình dục — lừa người ta vào các đường dây mua bán tình dục.
10. Hãm hiếp, hiếp dâm — hiếp dâm người khác là phạm trọng tội.
11. Vi phạm luân thường — hành dâm bất chính.
12. Hành dâm trước mặt thần Phật — địa điểm bất chính.
13. Hành dâm dưới ba ánh sáng — hành dâm dưới ánh sáng mặt trời, mặt trăng và sao.
14. Làm hại người tu đạo — phạm tội hủy hoại tiết hạnh.
15. Thời gian không đúng — hành dâm vào ngày thánh đản, ngày cha mẹ qua đời.

Những luật lệnh của Minh Vương này chủ yếu bao gồm: nhãn dâm, nhĩ dâm, thủ dâm, khẩu dâm, thân dâm, tâm dâm.

Trong bản văn gồm 15 điều này, vẫn còn có một đoạn chú thích nhỏ nữa, có thể nói là vô cùng tỉ mỉ chi tiết. Tất cả những điều trên đều là nghiệp tội.

🌟

Tôi nhớ có một đệ tử hỏi tôi:
"Tôi bỏ tiền ra để mua tình dục thì có bị tính là tội không?"
"Là tội!"
"Đối phương cần tiền còn tôi đưa tiền, mỗi người đều có thứ mình muốn, rất công bằng."
Tôi đáp:
"Mua bán tình dục là phạm vào điều số bảy."

Lại có một đệ tử nữ hỏi tôi:
"Đối phương có nhu cầu, tôi đáp ứng anh ta, có tính là tội không?"
"Là tội!"
"Sư Tôn, chẳng phải ngài dạy chúng tôi là cho người khác niềm vui sao? Tôi cho anh ta vui, lại không mong cầu đáp trả, vẫn tính là tội sao? Đây chính là "từ" và "xả" trong từ bi hỉ xả đó!"
"Việc này…"- Tôi nhất thời không thốt nên lời.
Còn bây giờ, câu trả lời của tôi là:
"Điều thứ tám, tà dâm bừa bãi, tự mình phóng túng."

Còn nữa, một nam thanh niên len lén hỏi tôi:
"Tôi có thể quy y ngài không?"
"Đương nhiên có thể, tôi không từ bỏ một chúng sinh nào!" - Tôi nói.
"Nhưng tôi có thói quen xấu."
"Cậu là người đồng tính à?" - Tôi cho rằng anh ta là người đồng tính luyến ái.
"Không." - Anh nói. "Thói quen xấu của tôi nói ra thì rất ngại. Tôi có thói quen lấy trộm quần lót của phụ nữ đã mặc qua rồi tự mặc lên mình, tôi cũng thu thập lại để ngắm chúng, như vậy thì có tội không?"
"Có việc thế này sao?" - Tôi rất kinh ngạc.
Anh cúi đầu.
Tôi nói:
"Việc này thuộc về tội tà dâm trong tâm tưởng. Khi chưa có cơ hội để thực hiện hành vi xấu, trong đầu đã tưởng tưởng ra những huyễn cảnh. Nhưng cậu cứ quy y trước đã. Tôi sẽ nghĩ cách giúp cậu loại bỏ thói xấu này."

Ngoài ra, tôi nhận thấy đồng tính luyến ái là một trong những vấn đề quan trọng nổi cộm của xã hội đương đại. Ở đây có nhân tố thể chất, cũng có cả nhân tố tâm lý. Nếu như xuất phát từ quan điểm tôn giáo để đánh giá thì rất khó tránh khỏi bị quy vào vi phạm luân thường, hành dâm bất chính. Nhưng nếu xuất phát từ quan điểm nhân quả của Phật giáo thì trên thế gian này, tất cả sự ham muốn tình dục giữa nam và nữ, giữa nam và nam, giữa nữ và nữ đều tồn tại nhân duyên. Phật giáo đáng quý ở chỗ Phật Bồ Tát đều hiểu rất rõ về nhân quả.

Khi một vị Đại Bồ Tát trào dâng lên niềm từ bi, trong một tình huống nhân duyên nhân quả, đối với vấn đề tình dục nam nữ, bất kể là hợp với lẽ thường, hay là ngược với lẽ thường, Phật Bồ Tát vẫn luôn chỉ giáo hóa chúng sinh đoạn trừ cái ác làm nhiều việc thiện nhằm thay đổi sự ràng buộc bện xoắn không ngừng dứt của nhân duyên quả báo.

Đối với vấn đề đồng tính luyến ái, sự giáo hóa của tôi là, dưới nguyên tắc là không vi phạm vào phép tắc nhân quả thì vẫn cho phép tu pháp, từ đó dần dần giảm bớt nhu cầu tình dục của bản thân.

🌟

Tình dục và nhân quả có mối liên quan. Trong luân hồi chuyển thế vô hạn này, những người đóng vai trò là đối tượng của tình dục cũng ràng buộc lẫn nhau liên miên không dừng dứt, tạo thành những sự vướng mắc oán thù phức tạp đời đời kiếp kiếp. Có những đối tượng thì tương thân tương ái, có những đối tượng thì oán ghét và hãm hại.

Người tu hành vĩ đại chỉ có thể bằng sự quán chiếu sâu sắc thấu triệt về nhân quả, trong định huệ mới có thể loại bỏ hoàn toàn được những vướng mắc trong tâm, cắt đứt mọi ràng buộc, dựa vào lòng bi mẫn vô hạn để nhìn thấu suốt vấn đề tình dục ngu muội vô tri của cuộc đời này, để mà dứt bỏ thoát ly khỏi nó.

Tôi biết có một nhà văn, trong những tác phẩm của mình, ông đã mô tả cuộc đời của chính mình, rằng ông ta thích thủ dâm trước tượng Phật. Khi còn trẻ, ông đã ngồi học bài trong chùa để mong có được sự tập trung. Buổi tối tranh thủ lúc không có người, ông đến trước tượng Phật, rồi cứ thế cứ thế, ông ta thủ dâm cho Phật xem. Ông ta nói làm như vậy rất kích thích, sảng khoái cực kì. Việc làm này là một dạng tâm lý phản kháng. Đương nhiên ông ta đã phạm vào tội "Hành dâm trước mặt thần Phật - địa điểm bất chính".

🌟

Tôi hỏi Minh Vương:
"Con người ngày nay uống thuốc viagra để có thể cương cứng và tăng cường khoái cảm, là vì sao?"
Minh Vương trả lời:
"Đối với chuyện tình dục, có rất nhiều giới cấm, ví dụ, không được quan hệ tình dục khi đang nổi giận, khi luyện tập vận động, khi say rượu hoặc ăn no, hoặc khi bụng đói, hoặc sau khi mới khỏi bệnh nặng, trước khi sinh con, sau khi mới sinh con, trong khi đang có kinh nguyệt, khi đang mắc phong hàn, khi uống các loại thuốc kích dục..."
"Viagra có phải là thuốc kích dục không?" - Tôi hỏi.
Minh Vương đáp:
"Nếu người dùng bị bệnh yếu sinh lý và phải uống thuốc này để hồi phục thì được xem là thuốc. Còn nếu không bị bệnh, hoặc do cơ thể suy giảm một cách tự nhiên do tuổi tác, thì cấm tuyệt đối. Nếu chỉ nhằm mục đích kéo dài khoái lạc, tăng cường tần suất thì tuyệt đối không được uống, nếu uống sẽ bị coi như là dùng thuốc kích dục."
Tôi nghe mà kinh hãi.

Minh Vương lại nói:
"Có hai điều cấm kị mà con người dễ phạm phải. Một là dịp nhật thực, hai là dịp nguyệt thực."
"Vì sao?"
"Vì khi đó từ trường có sự biến đổi lớn, âm dương xung khắc mạnh mẽ."
"Nếu vẫn quan hệ vào hai ngày này thì sao?"
"Dễ sinh ra quái thai."

Minh Vương nói với tôi:
"Luật lệ của Minh Vương này, hy vọng rằng sau khi ngài xuất định, sẽ công bố rộng rãi cho nhiều người biết. Đây cũng chính là những phương pháp để bảo vệ thân, ổn định mạng sống. Nó cũng là nguyên tắc để có được phúc lành, tránh được họa tà dâm, có thể nói là vô cùng tường tận. Không chỉ là không thể phạm vào bất kì điều tà dâm nào, mà cho dù là vợ chồng quan hệ thì con người cũng rất dễ khinh suất, cần chú ý những điều cấm liên quan đến trời, đất, và con người!"

Tôi chắp tay kính lễ Minh Vương.
Minh Vương cũng chắp tay, lặp đi lặp lại ý nguyện giao phó cho tôi.


### 07. Truyền kì về một họa sĩ


Họa sĩ Tào Vĩ, danh tiếng không nhỏ, là một họa sĩ trẻ được nhiều người biết đến. Anh vẽ tranh thủy mặc Trung Quốc, sau này còn vẽ cả tranh theo trường phái phương Tây, từng ở phương Tây học kĩ thuật vẽ tranh sơn dầu. Các tác phẩm của anh được triển lãm trên khắp thế giới, giành được không ít giải thưởng, nhận được nhiều lời bình luận tốt đẹp. Phong cách vẽ tranh của Tào Vĩ rất phóng khoáng, cũng rất thời thượng, đủ cả tả thực, ấn tượng, trừu tượng, tâm linh. Tranh của anh vẽ rất tài hoa.

Trong thời gian tôi còn xem bói hỏi chuyện, nghe nói anh từng muốn đến gặp tôi, tôi cũng rất phấn khởi mong được gặp Tào Vĩ, nhưng có lẽ là cơ duyên vẫn chưa tới. Về sau, có một khoảng thời gian, mọi tin tức về Tào Vĩ đều bặt tăm. Tôi cũng gần như quên luôn chuyện về Tào Vĩ.

🌟

Một hôm, có một gia đình đặc biệt tới tìm tôi. Họ đưa ra một tấm ảnh chụp một người con trai, hy vọng tôi có thể cứu người con trai trong ảnh. Họ nói với tôi người con trai này họ Tào tên Vĩ. Tôi giật nảy mình kinh ngạc:
"Là họa sĩ Tào Vĩ sao?"
"Đúng vậy, nó là họa sĩ."
"Là họa sĩ Tào Vĩ sống tại Pháp sao?" - Tôi không dám tin đây chính là anh ta.
"Chính xác."

Tôi nhìn người con trai trong tấm ảnh. Tào Vĩ trong ấn tượng của tôi khác hẳn với người trong ảnh. Tào Vĩ trong ảnh có dáng vẻ và tinh thần mong manh yếu ớt, thân thể gầy gò, trên khuôn mặt anh là đôi mắt chẳng có chút thần thái, khuôn mặt hốc hác, nhìn giống như cương thi!
"Cậu ta mắc bệnh gì?" - Tôi hỏi.
Người nhà đáp:
"Không có bệnh."
Lại có một người nhà khác trả lời:
"Có nhiều ý kiến khác nhau."

Cha của Tào Vĩ nói với tôi:
"Bệnh của Tào Vĩ vô cùng kì quái. Nó đột nhiên cảm thấy toàn thân không còn chút sức lực nào, thế rồi nằm lăn ra. Gọi cấp cứu đưa đi bệnh viện, kiểm tra nhưng không tìm ra nguyên nhân nào. Suốt thời gian qua, các phương pháp kiểm tra bằng y học hiện đại đều đã được dùng tới, nhưng vẫn không biết bệnh là do đâu. Các bác sĩ cũng thử phán đoán, rồi sử dụng rất nhiều phương pháp, nhưng hoàn toàn vô hiệu."

Tôi hỏi ngày sinh của Tào Vĩ rồi nhìn vào tấm ảnh, tôi thiền định. Tôi nhìn thấy hai đồng tử mặc áo xanh, cầm cờ gọi hồn, từ hướng Đông bay về hướng Tây. Còn có nhiều tăng nhân cầm cá gỗ và liễu âm, miệng lầm rầm niệm kinh, đi theo sau là một đám người. Cảnh tượng này dường như là một đám đưa tang lớn.

Tôi lắc đầu nói:
"Gần như không còn hy vọng hồi phục."

Nghe vậy, người nhà chìm trong tuyệt vọng. Cha của Tào Vĩ đã nước mắt đầm đìa. Tôi hỏi:
"Bác sĩ nói thế nào?"
Người nhà đáp:
"Cũng nói như ngài, không sống được bao lâu nữa!"

Tôi nói:
"Từ lâu tôi đã ngưỡng mộ đại danh của họa sĩ Tào Vĩ, nhưng từ hồi nào đến giờ vẫn chưa có dịp gặp mặt. Tôi ngưỡng mộ tài hoa của cậu ấy, đã từng tham quan triển lãm tranh của cậu ấy, hâm mộ đã lâu. Tôi cũng cảm thấy rất đáng tiếc!"
Cha Tào Vĩ nói:
"Vì Lư đại sư đã biết Tào Vĩ nhà tôi rồi, vậy thì xin hãy cứu lấy nó, xin cứu lấy nó, xin hãy đưa tay ra cứu lấy nó!"
Tôi lẩm nhẩm một lúc rồi nói:
"Tôi giúp cậu ấy làm một pháp thế thân thử xem sao!"

Tôi cắt một hình nhân bằng giấy, rồi làm pháp lên đó. Tôi đưa cho người nhà Tào Vĩ đem về nhà, dặn chọn một ngày trực Trừ, đem hình nhân giấy này ra đốt tại cửa sau của ngôi nhà, sau đó xem tình hình ra sao rồi tính tiếp.

Tôi thiền định quan sát. Tôi phát hiện ra sau khi đốt hình nhân giấy xong, có hai người phụ nữ xinh đẹp hoàn toàn khỏa thân, hai người phụ nữ này đều quyến rũ cực kì, đôi mắt lúng liếng đưa tình, dáng điệu đầy khiêu khích mời gọi. Hai người phụ nữ xinh đẹp này đi theo người giấy tới cửa sau, và cũng bị đốt hóa thành khói. Cảnh tượng này là thế nào đây? Tôi không biết. Nhưng, tôi hiểu, Tào Vĩ đã bị hai hồn ma phụ nữ ám.

Sau sự việc này, người nhà của Tào Vĩ nói, tinh thần của Tào Vĩ có chút chuyển biến tốt, cũng đã ăn được một bát cháo. Nhưng chỉ được có hai ngày, anh ta lại hoàn toàn như trước đây, nằm bẹp một chỗ, toàn thân không có chút sức lực nào, bộ dạng lại y như trước.

Người nhà của Tào Vĩ lại đến tìm tôi. Tôi lại cắt hình nhân giấy, lại làm pháp thế thân. Tào Vĩ lại khỏe lên được đúng hai ngày. Tôi lại làm tiếp, cũng lại khỏe được hai ngày nữa. Nhưng sau hai ngày thì anh ta lại nằm bẹp một chỗ giống như xác chết vậy!

Điều quái lạ là, mỗi lần tôi làm pháp thế thân xong, hễ tôi thiền định là lại thấy xuất hiện hai mỹ nữ, cũng lại hoàn toàn khỏa thân. Tôi chú ý kĩ hơn thì phát hiện ra các mỹ nữ này, mặc dù đều là quốc sắc thiên hương, nhưng họ đều là những người khác nhau. Tôi cũng nhìn kĩ hơn thì họ đều không phải là cùng một người, người sau còn xinh đẹp hơn người trước. Tôi thấy mình cũng bị lú lẫn mất rồi. Rốt cục là có bao nhiêu mỹ nữ khỏa thân đây? Những mỹ nữ lõa thể này vì sao lại cứ đeo bám Tào Vĩ?

🌟

Tôi hỏi cha của Tào Vĩ:
"Có rất nhiều mỹ nữ lõa thể vây xung quanh Tào Vĩ, đếm không xuể!"
Cha Tào Vĩ vẻ mặt đầy nghi hoặc:
"Không thể có chuyện này!"
"Ông nghĩ kĩ lại xem!"
Cha Tào Vĩ nói:
"Cá tính Tào Vĩ thế nào tôi hiểu rõ nhất. Nó là một họa sĩ, tính khí mặc dù có qua loa đại khái, bản chất cũng phong lưu, nhưng cũng chỉ có một cô bạn gái đã nhiều năm. Phụ nữ ngưỡng mộ nó thì có, nhưng nó đối với họ cũng chỉ như chuồn chuồn chạm nước mà thôi, nó không phải là đứa háo dâm, đối với người khác vẫn giữ nguyên tắc, không thể nào có nhiều mỹ nữ như vậy được…"

Cha Tào Vĩ không nghĩ ra được vì sao. Tôi đương nhiên lại càng chẳng nghĩ được là vì sao. Sau đó, em gái của Tào Vĩ biết được chuyện này, cô nhớ rằng anh của cô đã từng vẽ hàng trăm bức tranh mỹ nữ khỏa thân, từng triển lãm tranh mỹ nữ khỏa thân, tạo ra sự rúng động đối với thế giới.

Tranh khỏa thân của Tào Vĩ từng gây ra những cuộc tranh cãi rất lớn. Bởi vì những bức tranh khỏa thân này đều có tính chất khiêu dâm cực độ. Những vùng kín của họ đều được phô bày ra, cực kì tả thực, chi tiết đến từng sợi lông tóc. Những tư thế gợi tình của các mỹ nữ này mang rất nhiều biểu hiện dâm đãng.

Những bức tranh mỹ nữ khỏa thân này chính là nguyên nhân tạo nên những tranh cãi trong xã hội và truyền thông: "Đây là nghệ thuật? Hay là khiêu dâm?

🌟

Những nghệ sĩ bảo vệ giá trị truyền thống thì cho rằng: trong tranh khỏa thân của Tào Vĩ xuất hiện những cận cảnh về bộ phận riêng tư nhạy cảm, đồng thời khuôn mặt của mỗi một mỹ nữ khỏa thân này đều nhấn mạnh vào dục vọng và dục lạc, đây là chủ nghĩa lăng mạ nghệ thuật. Những hình ảnh quá trắng trợn, rõ ràng là chứa đựng ý định gợi tình, có dụng ý phá hoại thuần phong mỹ tục và hại người khác. Họ nhận định Tào Vĩ chỉ là đang bán tranh khiêu dâm, nhưng lại thông qua lớp vỏ bọc là sáng tạo nghệ thuật, cao giọng rêu rao là nghệ thuật tự do, điều này sẽ đem đến cho xã hội rất nhiều mối bất an.

Những nghệ sĩ bảo vệ giá trị truyền thống nói:
"Nghệ thuật tự do" cần dựa trên thước đo là không vi phạm vào sự tự do của người khác. Còn thứ nghệ thuật ở đây chỉ là sắc tình, là dâm ô tục tĩu, hoàn toàn không thể đề cao đức hạnh. Ngược lại, những bức tranh này còn bôi nhọ sự tôn nghiêm của phụ nữ, khiến con người ta bị ám ảnh nhiều hơn về tình dục. Thật khiến người ta phải lo lắng muôn phần!

Còn Tào Vĩ thì giải thích rằng: Từ xưa tới nay tranh khỏa thân thời nào cũng có, bất luận là tư thế thái độ thế nào cũng đều là một dạng nghệ thuật thể hiện vẻ đẹp của cơ thể người, đặc biệt là những biểu cảm của khuôn mặt luôn khó thể hiện nhất, ở đây thuần túy là sự cân nhắc kĩ lưỡng của người họa sĩ nhằm mô phỏng bản chất tự nhiên của con người. Nhiệm vụ của họa sĩ là thể hiện nhân tính, nhân tính là tự nhiên, lõa thể là chính đại quang minh, không có gì là mất mặt cả. Phạm vi của nghệ thuật không thể chỉ là lý trí và đạo đức, không thể cứ bám chặt mãi vào truyền thống mà không muốn thay đổi.

Tào Vĩ cho rằng: anh không hề phản đối những ý kiến của người khác, vấn đề nảy sinh là vì nhận thức của mỗi người không giống nhau. Người đời đối với tranh khỏa thân vẫn thường có thành kiến, đó là bởi vì quan niệm của bản thân họ đã bị bó hẹp và giới hạn. Bản thân anh là người quang minh lỗi lạc, anh tự nhận mình hoàn toàn không phải là người khinh đời, bất cần đời và thích nổi loạn.

Đôi bên tranh cãi trên các phương tiện truyền thông. Chẳng bên nào nhượng bộ. Mỗi bên đều khư khư giữ quan điểm của mình.

🌟

Sau khi tôi biết Tào Vĩ đã vẽ rất nhiều tranh khỏa thân, tôi liền cùng với người nhà của Tào Vĩ đến phòng vẽ tranh của anh ở dưới tầng hầm.

Khi xem xong bộ sưu tập của anh, điều khiến tôi kinh hãi là:
"Những mỹ nữ này chính là những người mà tôi nhìn thấy trong thiền định."
Có cô tóc vàng.
Có cô tóc nâu.
Có cô tóc đỏ.
Đều là những mỹ nữ tự do phóng khoáng lõa thể!

Điều khiến cho tôi càng kinh hãi hơn nữa là khi tôi dùng thiên nhãn để quan sát là: không ngờ những cô gái xinh đẹp trong tranh vẽ này lần lượt đều sống dậy. Những mỹ nữ này giống như sống trong lầu cao đình các nơi hoàng cung vậy. Cuộc sống hàng ngày của các cô là ở trong những khu vườn rất đẹp, có vô số các sân khấu và đình các trùng điệp.

Sự việc xảy ra ở đây giống như thời cổ đại Hạ Kiệt và Ân Trụ đã xây dựng nên rất nhiều cung điện cực kì xa xỉ. [Hạ Kiệt - vị vua cuối cùng triều đại nhà Hạ, Ân Trụ là vua Trụ đời nhà Ân (Thương) là hai ông vua nổi tiếng về hoang dâm và tàn bạo.]

Trụ Vương còn xây dựng cả Lộc Đài, rồi còn có Khuynh Cung, Quỳnh Thất. Ba nghìn mỹ nữ thu thập trong dân gian đã bị ép vào cung để cho Trụ Vương thỏa mãn việc hành lạc điên cuồng. Ông đem thịt treo trên cây [gọi là Nhục Lâm], đào hố đổ rượu xuống [gọi là Tửu Trì], cho gọi các mỹ nữ lõa thể đến cười hi hi ha ha, cùng chạy đuổi nhau trong Nhục Lâm và Tửu Trì. Ông cho gọi những nhạc sĩ tấu lên những giai điệu dâm đãng, ai nghe thấy thì ngay cả xương cốt cũng mềm nhũn ra, rồi gọi mỹ nữ đến nhảy múa những điệu múa dâm đãng. Trụ Vương này chẳng phải là người nào khác, mà chính là Tào Vĩ.

Trong sự quan sát bằng thiên nhãn của tôi, Tào Vĩ và các mỹ nữ ăn chơi vô độ, no nê ngày ba bữa nhưng lười chảy thây, khiến cho ngay cả xương cốt cũng thối rữa ra.

Tôi đưa ra quyết định lập tức:
"Đốt hết những bức tranh khỏa thân này đi!"
Người nhà nói:
"Không được!"
"Vì sao?"
"Một là, chúng là những tác phẩm có giá trị. Hai là, chúng rất đắt. Ba là, Tào Vĩ rất yêu thích chúng."
Tôi nói:
"Tính mạng và tranh, cái nào quan trọng hơn?"
Người nhà nói:
"Tính mạng quan trọng!"
Tôi kiên quyết:
"Vậy phải đốt đi!"

Sau khi những bức tranh này bị đốt, quả nhiên đã xuất hiện kì tích. Vốn dĩ cả thân thể và tinh thần Tào Vĩ đều suy nhược, gầy như bộ xương, không còn chút hy vọng bình phục nào. Từ sau khi đốt xong những bức tranh khỏa thân, thân thể anh đã có thay đổi lớn rõ rệt. Dường như gánh nặng được nhấc ra thì toàn thân cũng trở nên nhẹ nhõm. Anh ta giống như cây khô bắt đầu mọc chồi non. Giống như hồi sinh từ đống tro tàn vậy.

Tào Vĩ có thể ăn uống trở lại, có thể đứng được khá lâu, khí huyết cũng dần dần trở nên khoan khoái. Căn bệnh suy nhược của anh quả nhiên đã hoàn toàn bình phục rồi! Chỉ sau ba tháng, anh lại là một Tào Vĩ đầy sức sống.

🌟

Tôi hỏi Tào Vĩ:
"Khi anh vẽ mỹ nữ, anh có tâm trạng thế nào?"
Đáp:
"Tôi cảm thấy vui thú, nhưng không phải là dâm thú."
"Thật không?"
Tào Vĩ cười nhưng không đáp.
Tôi hỏi:
"Tranh của anh cực kì khiêu dâm, ý niệm của anh có bị tác động không?"
Tào Vĩ trả lời:
"Tôi vẽ với tâm trí của một họa sĩ."
Tôi nói:
"Anh vẽ tranh mỹ nữ khỏa thân làm kích động đến tâm dâm dục của con người trong thiên hạ, hơn nữa không chỉ có con người trong thiên hạ bị kích động, mà ngay cả chính tâm trí anh cũng bị kích động, đây chính là nguyên nhân chủ yếu khiến đọa vào tam đồ ác đạo."
Tào Vĩ sợ hãi nói:
"Sau này tôi không dám vẽ nữa."
Tôi nói:
"Từ xưa đến nay thời nào cũng có những họa sĩ vẽ tranh nam nữ khỏa thân, họ vẽ để phô bày sức mạnh và vẻ đẹp của cơ thể. Tranh vẽ cơ thể người thể hiện được sự duyên dáng thanh lịch kì thực cũng là một đề tài rất hay để vẽ tranh, đặc biệt là vẻ đẹp của những đường cong cơ thể do trời đất ban tặng. Những tranh vẽ kiểu này đều không nên bị chỉ trích quá nghiêm khắc. Tuy nhiên, nếu nhấn mạnh vào biểu hiện về tình dục, thêm vào đó những mô tả tỉ mỉ về các biểu hiện khiêu dâm, thì sẽ kích động tâm trí người khác về dâm dục, điều này sẽ ảnh hưởng đến âm đức của anh."
Tào Vĩ đã tỉnh ngộ.

🌟

Tôi kể với Tào Vĩ một câu chuyện cổ.
Ngày xưa có một người là Lý Bá Thời vẽ ngựa, vì tài vẽ ngựa mà nổi danh. Lý Bá Thời buổi sáng cũng nghĩ đến ngựa, buổi tối cũng nghĩ đến ngựa, giờ nào phút nào cũng đều nghĩ đến ngựa.

Có một hôm, Lý Bá Thời ngủ trưa. Vừa hay một người bạn thân của Lý Bá Thời là thiền sư Thông Tú đến tìm anh ta, thấy anh ta đang ngủ, nhìn thấy thoắt một cái anh ta biến thành ngựa, rồi thoắt một cái anh ta lại biến thành người.

Thế là thiền sư Thông Tú khuyên Lý Bá Thời rằng nếu cứ nghĩ mãi về ngựa thì: "Kiếp sau sẽ đọa vào thai ngựa!"

Lý Bá Thời lúc này mới hổ thẹn, sợ hãi!


### 08. Đứt ruột


Sau khi viết xuống xong chương "Truyền kì về một họa sĩ", tôi lại nhớ đến câu chuyện của một họa sĩ khác là Điền Ninh. Điền Ninh tướng mạo rất đẹp, là một nhân vật điển trai nho nhã khá hấp dẫn.

Điền Ninh tìm đến tôi để xem thần toán. 
Tôi nói:
"Khí sắc rất tốt."
Điền Ninh rất vui mừng.

Bởi theo như quan sát của tôi, lai lịch của Điền Ninh rất tốt. Anh xuất thân là người huyện Ninh Bảo tỉnh Hà Nam, truyền thuyết nói rằng vùng đất này có núi Chung Cổ, là nơi các vị hoàng đế xưa cúng tế hàng trăm vị thần.

Điền Ninh sinh ra ở nơi có địa khí. Hơn nữa, kiếp trước của anh có "thần cách". "Thần cách" là gì? Đó chính là vào nhiều kiếp trước anh đã từng là một vị thần trên trời chuyển thế.

Vị thần này tên gọi là Nguyên Triệu Thiên Thần, là một vị thần tự nhiên, cai quản núi sông đại địa, thường phi hành trong không trung, chu du bốn biển, thích sự bao la rộng lớn của thiên nhiên cảnh vật. Mỗi khi ngài phi hành thì phóng tỏa ra rất nhiều ánh sáng rực rỡ chói lọi.

Vị thần này sống giữa những tầng mây, ở một nơi được gọi là Nguyên Phố. Nguyên Phố là vườn hoa của Thiên Đế, do các thiên thần quản lý.

Tôi nói với Điền Ninh về những điều này. Điền Ninh cho rằng tôi đang nói chuyện thần thoại, anh ta nghe xong chỉ cười cười. Đúng là chuyện này nghe rất giống thần thoại, tin cũng được, không tin cũng được, cười một cái là xong.

Nhưng, bất kể là Điền Ninh tin hay không tin, khi anh ta tự in danh thiếp cho mình, phía dưới cái tên Điền Ninh còn in thêm hai chữ nữa, hai chữ này chính là "Nguyên Triệu". Nguyên Triệu chính là tên tự của Điền Ninh.

Theo tôi, sở dĩ Điền Ninh trở thành một họa sĩ lớn chủ yếu là vì anh ta thích vẻ đẹp của thiên nhiên bao la. Anh có rất nhiều nhân duyên lớn đối với núi non xanh thẳm, với những sông hồ nước bạc ngút mắt tận chân trời.

🌟

Một khoảng thời gian sau, tôi gặp lại Điền Ninh, tôi vô cùng sửng sốt, bởi vì khí sắc của Điền Ninh hoàn toàn khác với trước kia. Tôi hỏi:
"Anh bị bệnh ư?"
"Không có."
"Đã xảy ra chuyện gì vậy?"
"Không có."
"Nguyên khí của anh đã mất hết!" - Tôi nói thẳng thắn.
Điền Ninh nhún nhún vai, điệu bộ là không quan tâm, hai tay dang rộng.

Tôi thực sự quan tâm đến người bạn họa sĩ này, tôi nói:
"Có muốn tôi xem thần toán cho anh không?"
"Không cần."
Tôi nói với Điền Ninh:
"Nguyên khí của anh bị thương tổn, mặt anh có khí mốc, phải cẩn thận!"
Điền Ninh nói:
"Cảm ơn ngài đã quan tâm, tôi không sao, mọi việc đều rất tốt đẹp."

Trên thực tế, Điền Ninh không nói, nhưng tôi đã nhìn ra cả. Trên đỉnh đầu Điền Ninh vốn dĩ có một vòng tròn ánh sáng trắng, nhưng nay vòng tròn ánh sáng này đã biến mất. Trong lòng tôi âm thầm lo lắng, không phải là vì vòng tròn ánh sáng trắng đã biến mất, mà là vì trên đỉnh đầu anh bây giờ có một đám sương mù u ám, đám sương mù này từ từ bao phủ lấy toàn thân anh ta. Một khi đám sương mù này bao phủ toàn thân thì tai họa sẽ đến.

Tôi tìm đến một người bạn thân nhất của Điền Ninh, hỏi:
"Tình hình Điền Ninh dạo này tốt không?"
"Cực kì tốt!"
"Tốt thế nào?"
"Anh ta đào hoa lắm."

Bạn thân của Điền Ninh kể cho tôi nghe:
Điền Ninh lên chuyến tàu muộn nhất, chuyến tàu này là chuyến tàu đêm cuối cùng. Trên toa tàu chỉ có mỗi anh và một cô gái. Khéo làm sao là cô gái và Điền Ninh vừa hay lại ngồi đối diện nhau, bốn mắt nhìn nhau.

Điền Ninh rất thích cô gái này, cô là cô gái đẹp nhất trong số tất cả những cô gái đẹp. Cô không chỉ đẹp mà còn rất cuốn hút. Cô gái không trang điểm, nhưng vẫn rất quyến rũ. Cô để mặt mộc nhưng lại rất có "chất". Cô gái cũng không hề né tránh ánh mắt nhìn của Điền Ninh, hơn nữa lại còn liên tục đáp lại ánh nhìn của anh.

Điền Ninh hỏi cô:
"Cô chỉ có một mình sao?"
"Đương nhiên là một mình, trên toa xe này còn có ai nữa?" - Cô gái lém lỉnh trả lời.
Điền Ninh cười, quả nhiên thấy mình hỏi thật ngốc.
"Còn chồng cô?"
"Chồng tôi mới qua đời!"
Oa! Một quả phụ mới!

Cô gái biểu hiện cười mà như không cười. Khi đôi mắt cô hướng tới Điền Ninh, trong lòng Điền Ninh chao đảo. Mái tóc của cô mềm mỏng và bóng mượt, cái miệng của cô nhỏ xinh như trái anh đào, răng của cô trắng đều như vỏ sò, làn da của cô mịn màng mỏng manh tới mức dường như một hơi thở khẽ cũng có thể làm tổn thương. Cô mặc đồ màu đen, vừa khéo làm nổi bật vẻ đẹp nõn nà của da thịt và sự duyên dáng của thân thể.

Điền Ninh và cô gái trò chuyện vô cùng vui vẻ. Trong câu chuyện, cô gái tâm sự rằng chồng cô mới qua đời, bản thân cô phải làm việc kiếm sống. Điền Ninh lập tức đề nghị rằng anh ta sẵn sàng thuê cô làm người mẫu để anh vẽ tranh. Cô gái nói:
"Người mẫu thì thân thể phải đẹp mới được, tôi có thể làm được sao?"
Điền Ninh nói:
"Trong vạn người mới tìm được một người như cô."
"Thật sao?" - Mắt cô gái lấp lánh.
Điền Ninh cảm thấy phấn khích, anh nói:
"Có thể thử nghiệm ngay bây giờ! Tôi vừa gặp cô là biết ngay!"

Không ngờ cô gái không hề né tránh, cô rời khỏi chỗ ngồi, đi tới ngồi trên đùi của Điền Ninh. Bất ngờ, tấm thân ngọc ngà mềm mại thơm tho này ôm chặt lấy Điền Ninh, tinh thần của Điền Ninh hoàn toàn bị choáng ngợp rồi. Hai tay anh chẳng thể để yên được nữa, cuối cùng ngay cả miệng anh cũng chẳng thể yên, hai người đã miệng kề miệng rồi. Chuyến tàu đã dừng, hai người xuống tàu rồi cùng dắt nhau tới một nhà nghỉ đêm.

Mặc dù cô gái này mới vừa trở thành quả phụ, nhưng lại là một cô gái có dục vọng hừng hực. Một khi ham muốn tình dục của cô bị kích động thì cô lập tức ngốn ngấu lao vào, cô "cháy" hết mình và hoang dại thỏa mãn như không hề có ai bên cạnh. Cô gái này giống như con bạch tuộc vươn tám xúc tu của nó quấn chặt lấy Điền Ninh. Dường như cô gái này còn có nhiều "kinh nghiệm" hơn cả Điền Ninh, cô vừa "tấn công" vừa "phòng ngự", khéo léo thay đổi đủ kiểu. Điền Ninh như thể con mồi để thỏa mãn tình dục của cô.

🌟

Tôi lo lắng cho Điền Ninh. Bởi vốn dĩ trên người Điền Ninh có khí tiên thiên, anh là một người tài thích hợp để tu hành, tôi đã có ý độ hóa cho anh tu hành, thậm chí thường ngày tôi còn dạy anh rằng:
*Ác nghiệp tạo ra trong quá khứ
Là do vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nghiệp chướng hết thảy cần sám hối.*

Tu hành cần có dòng chảy pháp thanh tịnh của Bồ Tát gột rửa sạch sẽ những nghiệp chướng của kiếp quá khứ, khôi phục lại ánh sáng thanh tịnh, không được gây nên nghiệp tội mới. Thậm chí tôi còn muốn độ cho Điền Ninh xuất gia, vì anh có duyên phận xuất gia.

Tôi nghĩ Điền Ninh mà xuống tóc xuất gia thì tốt biết bao!
"Một đường dao cạo xuống, nguyện cắt bỏ mọi ác nghiệp."
"Hai đường dao cạo xuống, nguyện tu hành mọi thiện nghiệp."
"Ba đường dao cạo xuống, nguyện độ hóa tất cả chúng sinh."
Chứng quả viên mãn bồ đề. Đời đời kiếp kiếp hộ trì Phật pháp, phát bồ đề tâm, hành Bồ Tát đạo.

Nhưng giờ đây, mọi giấc mộng đều đã tỉnh. Trong thiền định yên tĩnh giữa đêm dài, tôi đã nghĩ nhiều như vậy cũng chẳng có tác dụng gì. Trong lòng tôi ngổn ngang cảm xúc. Điền Ninh đã sa đọa rồi! Anh ta đã bị sập hố tình dục rồi.

Tôi nhìn thấy toàn thân Điền Ninh bị bao phủ bởi một đám sương mù, bên trong có một con ma đang thổi ra khí, con ma này mặc áo màu tía, quần soóc, đi chân trần, hai tay cầm con dao mổ lợn. Trong cơn tức giận, con ma này lao tới Điền Ninh, hét lớn:
"Tao moi ruột mày ra! Tao cắt ruột mày!"
Đám sương mù từ từ bao trọn lấy Điền Ninh.

Tôi hỏi con ma:
"Anh là ai?"
"Tôi là người bán thịt lợn." (Sau này tôi đã chứng thực được rằng anh ta là chủ của một lò giết mổ lợn.)
"Anh muốn làm gì?"
"Muốn giết người này!"
"Vì sao?"
"Nó gian dâm với vợ tôi, tôi muốn lấy mạng nó!"

Tôi nghe xong lại càng buồn bã lo lắng thay cho Điền Ninh. Chồng của người quả phụ kia quả nhiên không phải là người dễ nhượng bộ. Đừng tưởng là anh ta chết rồi, hóa ra anh ta hóa thành ác quỷ, anh ta muốn bảo vệ người vợ của mình, gây bất lợi cho Điền Ninh.

Tôi muốn cứu Điền Ninh. Tay trái tôi kết ấn Thời Thần, tay phải tôi kết ấn chỉ thị. Tôi niệm chân ngôn:
"Thiên viên địa phương, luật lệnh cửu chương, chỉ thị thiên sứ, tốc giáng lâm đường."

Thế là từ trên trời một vị thần hạ giáng, đó là một vị Công Tào đang trong phiên trực nhật. Công Tào hỏi:
"Tôi thừa lệnh mà xuống đây, không biết có chuyện gì?"
Tôi nói:
"Vì chuyện của Điền Ninh!"
Công Tào trả lời:
"Tiếc thay! Đạo đức suy đồi, lòng người thay đổi, tham dục thêm nặng, càng lún càng sâu, khó mà kiểm soát. Ý niệm của con người nằm tại tâm, tâm nằm tại thân, người khác không thấy nhưng thần thì đã biết rồi. Giờ đây, chuyện của Điền Ninh thần tiên đều đã biết, anh ta sớm đã bị tước bỏ thần tịch, không thể cứu được nữa, thật bi ai!"
Tôi hỏi:
"Đã bị tước bỏ thần tịch, thế thì anh ta sẽ không gặp chuyện gì xấu chứ?"
Công Tào đáp:
"Điền Ninh vốn có thần cách, nhưng lại bày kế hoạch lợi dụng cơ hội gian dâm với người ta, anh ta phạm phải 15 tội. Ngoài việc anh ta bị tước bỏ thần tịch, linh hồn anh ta cũng đã bị giáng cấp, sau khi chết sẽ đọa vào địa ngục kim cang, ở trong địa ngục bị cắt mổ. Anh ta sẽ chuyển thế làm súc sinh, chuyển thế làm động vật dưới nước."
"Thế thì đáng tiếc quá, có còn cơ hội nào không?"
Công Tào lại nói:
"Điền Ninh phải mau chóng tỉnh ngộ và hối cải, cần làm việc thiện mỗi ngày. Anh ta cần sám hối với Tư Mệnh Thần, ví dụ như sám hối trước các thần Tinh Tú, thần Nhật Nguyệt, sám hối trước Ngũ Nhạc thần cai quản sông núi, sám hối trước Tỉnh Tuyền Trạch Đạo thần………"
"Vì sao cần sám hối nhiều lần như vậy?"
Công Tào đáp:
"Mặc dù anh ta có thần cách, nhưng lại không hiểu các điều cấm trong tình dục. Không phát huy những cái thiện lành của thiên tính, thay vào đó lại để cho những xấu xa tội lỗi trỗi dậy, hoàn toàn mất định hướng, chìm sâu vào trong biển khổ. Anh ta đã hành dâm dưới ba ánh sáng mặt trời, mặt trăng và sao, xúc phạm tới cả núi sông, đã hành dâm bừa bãi ở những nơi hoang dã!"

Tôi đã cực kì sốc khi nghe những điều này.
"Nếu Điền Ninh không sám hối thì sẽ thế nào?"
Công Tào trả lời:
"Ruột anh ta sẽ bị đứt thành từng đoạn."
Công Tào nói xong rồi biến mất như một cơn gió thơm thoảng qua!

Bởi vì sự tình đã vô cùng nguy cấp, tôi nghiêm túc đến tìm Điền Ninh, nói với anh rằng tôi đã biết tất cả mọi việc. Điền Ninh nghe xong nhưng vẫn rất thờ ơ, rất lạnh nhạt.
Anh ta nói:
"Đúng là chồng quá cố của cô gái này là người giết mổ lợn, nhưng anh ta còn có thể làm gì được nữa!"
Điền Ninh lại nói:
"Tôi ở cùng với cô gái này, chỉ thấy ghen tị với uyên ương chẳng ghen tị với thần tiên, đây mới là khoái lạc lớn nhất của con người thế gian, tôi chẳng quan tâm tới trời trăng sao, sông núi biển gì sất."
Tôi nói với Điền Ninh:
"Họa phúc không cửa, người tự vác về. Thánh nhân không còn dục vọng, sự không còn dục vọng này mới là đại lạc chân chính, là cái lạc của tự do, là cái lạc trong sự ung dung, chẳng có ai cũng chẳng có ta."
"Ông nói gì tôi chẳng hiểu. Tôi căn bản chẳng phải là thánh nhân."
"Mau mau sám hối đi!"
"Chẳng oán chẳng trách, chẳng có gì tôi phải sám hối!"
"Anh sẽ bị đứt ruột đó!"
"Dù có phải làm ma tôi vẫn cứ phong lưu!"
Điền Ninh cơ bản là không thèm nghe những gì tôi nói.

🌟

Tôi gửi cho Điền Ninh một lá thư:
"Dâm vốn là không, lạc này cũng là không, dù có sướng muốn chết cũng là không. Vì sao cả đời cứ mắc vào dâm? Cũng là vì cứ chạy theo cái lạc ngắn ngủi nhất thời này. Phải biết cái sung sướng này thực sự là không. Cái sự sung sướng này trước khi "hành sự" không có, sau khi "hành sự" cũng chỉ là một miền hư không trống rỗng, cũng chẳng có gì."

"Nam nữ ở chung, mối quan hệ lớn nhất của con người, con người sở dĩ khác cầm thú là vì con người có đạo đức. Nếu con người làm những việc suy đồi, mang thân người mà lại làm những việc như cầm thú, thì thân tuy là người nhưng thực sự cũng chẳng bằng cầm thú."

"Hơn nữa, tất cả chúng sinh đều từ tình dục mà sinh ra, do vậy con người cũng có tập tính cố hữu hướng về tình dục. Vì vậy phải đề phòng để không bị chìm sâu vào trong tình dục đến mức không thể tự kéo mình ra. Cần làm theo phương pháp bất tịnh quán, bạch cốt quán, lạc không quán mới có thể trừ bỏ được dâm niệm, nhờ đó mà làm thuần tịnh lại chính niệm!"

Thư gửi đi, giống như viên sỏi ném vào biển lớn. Một chút tin tức phản hồi cũng không có. Điền Ninh đã hoàn toàn không thể cứu được nữa rồi!

🌟

Có người nói rằng:
Lư Thắng Ngạn khuyên người ta đừng tà dâm, vào thời đại này, lời khuyên này thật là viển vông. Đây là thời đại tự do, nam nữ hoàn toàn tự do. Là thời đại tự do yêu đương, con người ta muốn làm gì thì làm đó.

Người ta nói: "Chỉ cần bạn thích, có gì là không thể!"
Người ta nói: "Chẳng cần phải là thiên trường địa cửu, chỉ mong một lần có nhau là được rồi!"
Thời nay thịnh hành:
Viagra.
Bao cao su.
Đồ chơi tình dục. (biến thái)
Các cuộc truy hoan. (tiệc thác loạn)
Vũ nam thoát y.
Đồng tính luyến ái.
Các tư thế làm tình tục tĩu dâm đãng.
Vũ nam, trai bao.
Tự sướng.
…

Ai cũng có thể thấy tính chất phản loạn của thế giới ngày nay, công nghiệp tình dục ngày càng phổ biến, còn con người từ lâu đã chẳng còn biết sợ hãi trước cái hại của tình dục rồi, đã trở nên bất tri bất giác đối với những hậu họa do tình dục tạo ra.

Thậm chí, trào lưu cũng đã thay đổi, từ sự hưởng thụ vật chất nay chuyển hướng thành hưởng thụ tình dục, công khai thúc đẩy quán bar ngày thứ sáu, tình một đêm, tình ngẫu nhiên, bạn tình, hẹn hò trên mạng…

Còn tôi là một người tu hành đã đi qua cái thời đại tân tiến này, tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) là con người chịu được sự cô độc, là người ngồi trước cái bàn này mà viết văn, thâm nhập vào trong thiền định, hiểu được con người trong pháp giới, là người thực sự quan sát được họa hoạn của tình dục, nhờ vào năng lực thông linh mà tôi tràn đầy lo lắng quan tâm đến con người.

Tuy nhiên, trong khi tôi cực lực đề xướng việc giữ năm giới trên phương diện không được tà dâm, tôi sâu sắc hiểu được một điều rằng, tôi đã gặp không ít khó khăn và thất vọng, thậm chí ngay đến bản thân tôi cũng bị lôi kéo liên lụy vào những chuyện thế nhân phức tạp.

🌟

Tôi tuyệt đối bài trừ tà dâm, bởi vì nếu một người tu hành mà tà dâm thì chắc chắn không thể nào tu hành thành tựu.

Kinh Lăng Nghiêm viết:
"Như nấu cát thành cơm."
Mọi người hãy nghiền ngẫm câu nói này sẽ có thể hiểu được.

Tôi thông linh trong mười pháp giới, tôi hiểu được vấn đề tình dục có liên hệ mật thiết đối với những họa phúc của con người thế gian. Không chỉ người tu hành mới cần giữ giới như vậy, ngay cả người bình thường cũng cần giữ giới về tình dục, tuyệt đối không thể chỉ có tín đồ Phật giáo mới cần giữ giới còn người khác thì không cần giữ giới bởi vì người khác nằm ngoài vấn đề nhân quả. Tôi có thể nói rằng, chuyện tình dục có quan hệ tới hạnh phúc của mỗi người, không ai thoát khỏi quy luật này.

Điều đáng buồn là, con người hiện đại tự xem mình là "hiện đại", cho nên đối với những cảnh báo của tôi về giữ giới dâm, cho rằng tôi quá viển vông, quá bảo thủ, quá nghiêm túc, quá phong kiến, quá nhút nhát, quá hèn. Điều này khiến cho tôi sâu sắc thấy rằng con người hiện đại đã đánh mất lý niệm, chỉ theo đuổi hưởng thụ khoái lạc, hưởng thụ cái sung sướng của tình dục là chính, từ lâu đã không còn giữ được lập trường. Còn về luân lý, ngay cả luân lý cũng chẳng còn nữa.

Tôi thấy:
Cha loạn luân với con gái.
Anh trai em gái loạn luân.
Con người quan hệ tình dục với chó.
Xâm hại tình dục trẻ em.

Tôi đã thấy, và thực sự không thể chịu nổi sự suy đồi của chúng sinh, thật sự không chịu được sự bại họa của thánh giáo. Một hành giả thông linh như tôi đây, người bị giới Phật giáo xem là loại "dị", chẳng còn lựa chọn nào khác là viết cuốn sách "Sống từng phút giây trong sáng", "Sống từng phút giây rực rỡ".

Tôi là người đã giác ngộ, tôi cũng hiểu rõ con người, tôi muốn viết về những tai hại của họa tà dâm, bởi vậy tôi ngồi tại chiếc bàn này để viết, xuất bản hai cuốn sách như vậy. Dưới sự quan tâm mạnh mẽ về đạo đức xã hội ngày nay, có thể nói rằng, cũng cần phải có dũng khí cực lớn mới có thể viết và xuất bản những cuốn sách với nội dung như vậy.

🌟

Hưởng thụ khoái lạc tình dục, nếu thực sự xem xét một cách thấu đáo, thì cái sướng này chỉ là chốc lát. Căn nguyên và kết quả của nó đều là khổ, là không, là vô thường. Con người chỉ có được cái sướng tạm thời, không biết rằng sau đó là bi ai vĩnh viễn.

Háo dâm và không biết tiết chế sẽ mắc nhiều bệnh, dễ lão hóa, không thể sống lâu, đánh mất địa vị, bại hoại danh dự, tài sản ly tán, sinh ra oán thù. Người tạo dâm nghiệp, trên phương diện nhân duyên quả báo, sẽ không thể chuyển thế làm người, sẽ luân hồi vào đạo súc sinh. Vấn đề dâm dục thực sự là mầm họa lớn.

Tôi nói như vậy, mọi người vẫn chưa hiểu sao? Phật giáo giữ giới không tà dâm, một cách đại khái có thể phân chia về mặt tâm linh và về mặt nhục thể. Về mặt nhục thể thì đại bộ phận mọi người sẽ dựa vào Mật giáo để tu trì.

Chúng ta đều biết, không phải là không có những người sẵn có thiên tính thánh nhân, tuy nhiên những trường hợp như vậy rất hiếm. Những người phàm bình thường thì chiếm đại đa số. Vì sao con người lại say mê vào dâm dục? Đây là vì trong nhục thể của mỗi người từ đầu đã có trồng hạt giống dâm dục. Con người sinh ra từ tinh của cha và huyết của mẹ, bởi vậy con người bẩm sinh đã có hạt giống dâm dục.

Ham muốn tình dục trong nhục thể mỗi người có thể nhỏ nhẹ, có thể từ từ, hoặc có người thì mãnh liệt, gấp gáp, nhưng khi duyên phận đã đến thì con người ta sẽ như say như mê. Quan hệ tình dục một cách đúng đắn, đối với tín đồ Phật giáo là cư sĩ tại gia, thì cần phải phù hợp với Phật pháp, không nên cấm cản, nhưng cần phải tránh xa tình dục không đúng đắn, nhất định cần phải tránh xa. Còn đối với tì kheo và tì kheo ni xuất gia thì nhất định cần phải từ bỏ hoàn toàn tình dục, không chỉ dựa vào tu dưỡng tâm linh, mà cũng cần phải thực tu.

🌟

Tôi là một hành giả thực tu Chân Phật Mật Pháp. Tên phương diện này có ba pháp:

1. Pháp chuyết hỏa — Pháp này còn được gọi là Chuyết hỏa định, cần dùng pháp Bảo bình khí để tu luyện chuyết hỏa.
2. Pháp vô lậu — Vận dụng chuyết hỏa để hóa minh điểm thành khí. Rồi lại vận dụng Sakya lục thế biến để ngăn chặn việc rò rỉ tinh ra ngoài.
3. Pháp minh điểm — thủy giáng hỏa thăng, minh điểm bốc hơi, vận hành đến toàn thân, mở ra ba mạch bảy luân xa, toàn thân thanh tịnh quang minh.

Nếu tu luyện thành công ba pháp này thì có thể đạt tới:
1. Tình dục hoàn toàn tiêu trừ. (Đại lạc chân chính sẽ được tạo ra.)
2. Tinh, huyết, minh điểm hoàn toàn không rò rỉ mất đi.
3. Toàn thân tỏa ra ánh sáng tịnh quang.
(Trong Mật giáo, cảnh giới này chính là đại lạc quang minh.)

Tôi là một hành giả thực tu Chân Phật Mật Pháp, tôi thực sự đã ấn chứng được pháp chuyết hỏa, pháp vô lậu, pháp minh điểm. Tôi biết và cũng rất hiểu hiển nhiên là con người khó có thể hoàn toàn không còn nhu cầu tình dục nữa, nhưng thông qua trải nghiệm thực tu của tôi, không phải chỉ có dựa vào việc tu dưỡng tâm linh là được, mà tôi thực sự đã chứng minh được vô lậu, thanh tịnh, quang minh và đại lạc chân chính, vô cùng bất khả tư nghì.

Tôi là một hành giả thanh tịnh chân chính.
Tôi đã chứng được vô lậu.
Tôi đã chứng ngộ Đại Viên Mãn của việc thực tu Mật giáo.

Đương nhiên tôi biết, trên thế giới này người làm được giống như tôi đã rất ít rất hiếm rồi. Tôi hy vọng sẽ có nhiều chúng sinh trong thiên hạ có thể thực tu Chân Phật Mật Pháp, khi đó thì tịnh thổ chính ở ngay nhân gian thực sự có thể thành hiện thực đó!

🌟

Phần cuối của chương sách này, tôi muốn kể nốt câu chuyện về Điền Ninh.

Văn Xương Đế Quân nói: "Theo luật tự nhiên thì cái họa từ dâm dục sẽ rất mau chóng gặp quả báo. Còn con người thì chẳng biết sợ hãi, vẫn cứ vô tri mơ mộng. Nếu như không tự kiểm điểm bản thân và tu sửa thì tai ương sẽ đến lập tức. Bởi vậy nên thế nhân hãy nghe lời tôi nói. Chỉ duy nhất người nào có trí huệ và đạo đức thì mới gặp được may mắn, từ xưa nay đều như vậy. Người nào bất thiện thì sẽ bị giáng tai ương.

Người xưa đã hiểu rõ về giới. Những sự dâm loạn thời Xuân Thu đều dẫn đến bại quốc vong gia. Những công kích mỉa mai về thói phong nhã, quan hệ lén lút và theo đuổi những thú vui trác táng, nhưng nghịch lý vẫn là con người tự giết chết bản tính của mình, hơn nữa tham dâm là tự mình đánh mất danh dự. Khi con người làm những việc suy đồi thì đến trời cũng phải tức giận.

Quế thơm trong vườn thượng uyển, nhưng người không trong sạch thì cũng khó được mời vào thưởng thức. Trời ban ân huệ, nhưng người ô danh thì sao có thể được hưởng. Chớ tham lam tính kế cả đời tìm cách gian dâm với người khác hoặc tình nguyện để người khác lạm dụng, tiếp tay cho việc mua bán tình dục, nghiệp báo sẽ vô cùng thảm khốc. Khi đó thì ai sẽ là người gột sạch tâm hồn ta đây?"

Điền Ninh vì dâm dục mà đã gặp phải báo ứng rất thảm hại!

Vào một đêm mưa bão, Điền Ninh đang đi bộ trên đường. Gió thổi làm cây cối nghiêng ngả, cành cây va đập vào nhau tạo nên những tiếng vù vù. Không có mấy người đi lại trên đường. Một tấm bảng hiệu bị gió thổi bay, tấm bảng hiệu này làm bằng sắt nguyên tấm, mỏng nhưng vô cùng sắc.

Tấm bảng bị gió thổi xoay tít, trong một sát-na, không ngờ tấm bảng xẹt ngang bụng Điền Ninh. Nếu chỉ có quần áo bị rách thì không phải là vấn đề lớn, nhưng bụng anh cũng bị thương nặng. Tấm bảng sắt cắt xẹt qua bụng anh nghiêm trọng tới mức ruột của anh xổ ra ngoài. Ruột anh bị đứt, máy chảy tràn khắp mặt đất, Điền Ninh ngã vật xuống đất và gào lên thảm thương!

Xe cứu thương đã đến, nhưng vì Điền Ninh bị mất quá nhiều máu nên đã qua đời rồi!

Điền Ninh đã phạm vào tội:
"Gian dâm với quả phụ, làm bại hoại tiết hạnh của người khác, phải chịu khổ trong địa ngục 800 kiếp, cho tới khi được giải thoát thì sẽ phải làm dê làm lợn cho người ta xẻ thịt. 800 kiếp nữa mới được trở lại làm người, nhưng cũng sẽ bị điếc bị câm."

Tôi viết một bài thơ:
*"Chúng sinh si mê trong biển dục.
Sắc tình mê mải nghĩ không dừng.
Khi sống chẳng biết tu thanh tịnh.
Chết đến nơi rồi vẫn vô tri."*


### 09. Miếu Lâm Thủy Phu Nhân


Miếu Lâm Thủy Phu Nhân chính là ngôi miếu thờ Trần Tĩnh Cô, thần thánh ở miếu này khá linh nghiệm, tín chúng rất đông. Trụ trì của ngôi miếu là Trần Chính kể cho tôi nghe một câu chuyện rất kì lạ, tôi thuật lại như sau:

Một buổi tối nọ, trụ trì Trần Chính ngủ mơ. Mơ thấy Trần Tĩnh Cô đến, dáng vẻ rất xinh đẹp duyên dáng, tay phải cầm bảo kiếm, tay trái cầm pháp loa bằng sừng trâu, giống như hình tượng chủ thần được thờ trong ngôi miếu. Trần Tĩnh Cô mặc trang phục thần, màu vàng kim sáng lấp lánh.

Trần Tĩnh Cô có hai đồng tử đi theo bên cạnh để phục vụ. Một người tay cầm phất trần của thần tiên, một người tay cầm quạt thần, diện mạo như ngọc, rất sáng sủa.
Trần Chính chắp tay chào:
"Là phu nhân phải không?"
Trần Tĩnh Cô đáp:
"Đúng vậy."
"Phu nhân giá lâm có gì căn dặn vậy?"
Trần Tĩnh Cô nói:
"Gần đây có một người là Linh Viên tiên sinh thường xuyên đến ngồi trong miếu. Người này trên đầu có mây sắc màu rực rỡ đi theo, trên người còn tỏa ra ánh sáng ngũ sắc. Ông ta ngồi xuống là cũng có mấy thiên nhân đến ngồi bên cạnh bầu bạn, người nào cũng có ánh sáng tỏa ra hòa lẫn vào nhau."
Trần Chính nghe xong, rất ngạc nhiên hỏi:
"Tiên sinh Linh Viên này tướng mạo bên ngoài cũng bình thường, vì sao lại có chuyện như vậy?"
Trần Tĩnh Cô nói:
"Người trần mắt thịt làm sao biết được chuyện linh dị!"
Trần Chính lại hỏi:
"Nếu người này lại đến thì phải làm gì?"
Trần Tĩnh Cô trả lời:
"Những lần trước Linh Viên tiên sinh đến, bởi vì ông ấy và ta cùng đẳng cấp, ta ngồi trên, ông ấy ngồi dưới, thế nên trong lòng ta cảm thấy có chút bất an. Nay anh có một chiếc ghế hoa sen làm bằng đàn hương, là vật quý giá nhất trong miếu này, có thể lấy ra để mời ông ta ngồi, thêm nữa là mời ông trà thơm, làm như vậy là ta cảm thấy an tâm rồi."
Trần Chính nói:
"Xin theo chỉ thị."

Trần Chính hỏi Trần Tĩnh Cô:
"Vị Linh Viên tiên sinh này có lai lịch thế nào?"
Trần Tĩnh Cô nói:
"Người này là đại đệ tử của đạo viện Mã Bá Tu ở núi Kim Lăng Lư Sơn, ông tu đạo pháp của Lư Sơn Đạo Viện khoảng hơn 20 năm rồi. Ông đã tu xuất được linh khí, có một chút thần thông, ta và Lư Sơn đạo viện Mã Bá Tu có quan hệ thầy trò, do vậy ta và Linh Viên tiên sinh là cùng đẳng cấp."
Trần Chính kinh ngạc:
"Chẳng phải phu nhân là Trần Tĩnh Cô sao?"
"Đây là phân linh."
"Phân linh là gì?"
"Là thảo đầu thần của Trần Tĩnh Cô."
Trần Chính càng nghe không hiểu:
"Thảo đầu thần là gì?"
Trần Tĩnh Cô đáp:
"Chủ tôn là Trần Tĩnh Cô, các phân linh tách từ chủ tôn ra thì nhiều như cỏ, được gọi là thảo đầu thần. Thảo đầu thần chính là phân linh phân thân."

Trần Chính vẫn cảm thấy mù mờ, tuy nhiên Trần Tĩnh Cô muốn Trần Chính đừng hỏi thêm nữa, chỉ cần nghe theo chỉ thị của bà mà làm theo là được rồi.

🌟

Sau khi tỉnh dậy, Trần Chính làm đúng theo ý chỉ của chủ thần trong miếu Trần Tĩnh Cô, cứ mỗi lần thấy vị Viên Linh tiên sinh đến là anh ta lại đặc biệt bê ghế hoa sen ra, mời Viên Linh tiên sinh ngồi, đồng thời đặc biệt pha trà mời ông. Anh mua loại trà ngon nhất để ủ trà, mời Linh Viên tiên sinh uống. Trần Chính đối với Linh Viên tiên sinh rất cung kính.

Trần Chính phát hiện ra quả nhiên là Linh Viên tiên sinh có một chút khả năng siêu nhiên. Nếu ông nói là sẽ mưa thì trời sẽ mưa, nói là có sấm chớp thì sẽ có sấm chớp, nói rằng lần này có bão sẽ bị ngập lụt thì thực sự là bị ngập lụt lớn. Ông nói còn đúng hơn cả dự báo thời tiết, bởi vì cục khí tượng thường đưa ra cảnh báo muộn. Cục khí tượng chính là "đồ chập cheng" mà.

Trần Chính và Linh Viên tiên sinh nói chuyện rất vui vẻ.

🌟

Một khoảng thời gian sau, lại có một đêm, Trần Chính lại mơ thấy Trần Tĩnh Cô đến, lần này Trần Tĩnh Cô chỉ nói:
"Không cần đem ghế hoa sen ra mời Linh Viên tiên sinh ngồi nữa, cũng không cần phải pha trà mời nữa."
"Vì sao vậy?" - Trần Chính chẳng hiểu gì hết.
"Mây sắc màu trên đầu Linh Viên tiên sinh đã biến mất, ánh sáng ngũ sắc trên thân cũng biến mất rồi. Ông ta đã là một phàm phu, những thiên nhân đi theo bên cạnh ông cũng đều rời xa ông ta rồi."
"Vì sao vậy?" - Trần Chính há hốc miệng vì ngạc nhiên.
Trần Tĩnh Cô nói đầy tức giận:
"Hỏi ông ta là biết ngay!"

Sau khi tỉnh dậy, có thể nói là Trần Chính cảm thấy rất hoang mang. Cách đây không lâu, Trần Tĩnh Cô muốn Trần Chính hậu đãi Linh Viên tiên sinh, bây giờ đột nhiên lại nói một đằng làm một nẻo, bảo rằng không cần phải cung kính đối với Linh Viên tiên sinh nữa, khiến Trần Chính chẳng hiểu ra làm sao cả. Nhưng cũng chỉ biết làm theo đúng như lời dặn!

🌟

Trần Chính đột nhiên trở nên lạnh nhạt với Linh Viên tiên sinh, Linh Viên tiên sinh dường như cũng nhận thấy điều đó.

Trần Chính thử dò hỏi Linh Viên tiên sinh:
"Gần đây ông đã làm việc gì vậy?"
"Có việc gì không đúng sao?"
"Trần Tĩnh Cô vô cùng tức giận đó!" - Trần Chính nói.
Linh Viên tiên sinh cúi đầu trầm tư một lúc rồi nói:
"Thảo nào những linh cảm và cảm nhận của tôi gần đây có chút thay đổi, dường như nhiều cảm ứng của tôi đều không còn chuẩn nữa, pháp lực cũng biến mất. Những pháp mà tôi tu trước đây đều trở nên không linh nghiệm nữa. Hộ pháp theo thân cũng bỏ đi rồi, tự tôi cũng cảm thấy tinh thần hoảng hốt."
"Rốt cục ông đã làm chuyện gì sai trái ư?" - Trần Chính hỏi.
"Bản thân tôi không làm gì sai, chỉ là…."
"Chỉ là cái gì?"
Linh Viên tiên sinh nói:
"Tôi có một người bạn muốn gian dâm với người phụ nữ hàng xóm, nghĩ cách để dụ dỗ cô ấy, nhưng từ đầu tới cuối đều bị cô cự tuyệt. Người bạn này biết tôi có pháp thuật bí mật bên mình liền đến tìm tôi. Tôi nhất thời ngại từ chối anh ta, liền vẽ cho anh một tấm bùa, bùa này là "trà dẫn xuân tâm". Sau khi tôi đưa lá bùa cho người bạn, không lâu sau, người phụ nữ hàng xóm đã tự tìm đến anh ta và đã bị anh ta lợi dụng. Hai người họ đã làm chuyện đó rồi."
Trần Chính kinh hãi:
"Tấm bùa tà này cũng là phép thuật làm hại tâm trí người ta đó!"
Linh Viên tiên sinh bừng tỉnh ngộ:
"Thật hổ thẹn! Thật hổ thẹn!"

Sau khi Linh Viên tiên sinh đi khỏi, ông thật lòng hối hận, ra sức làm việc thiện.

🌟

Trần Chính ở miếu Lâm Thủy Phu Nhân cũng kể với tôi rằng Lâm Thủy Phu Nhân Trần Tĩnh Cô rất linh nghiệm, bà thường đến trong giấc mơ của Trần Chính để chỉ điểm cho anh.

Ví dụ:
Có một lần ngôi miếu tổ chức tiệc lớn (làm nhiều mâm). Có người đề nghị cần làm 100 mâm cỗ, mỗi mâm 10 người, tổng cộng là 1000 người. Lại có người kiên quyết phản đối, nói rằng tính ra không chỉ có 1000 người, nên cần phải làm 200 mâm, cho khoảng 2000 người mới đủ. Hai người này cứ tranh cãi mãi không dừng. Tiệc 100 mâm và 200 mâm khác nhau rất nhiều, số tiền phải chuẩn bị cũng khác rất nhiều.

Đêm đó, Trần Tĩnh Cô lại đến bảo với Trần Chính: "160 mâm."

Kể ra thì cũng rất kì lạ, 160 mâm cỗ này vừa hay người ngồi kín cả, không thừa một mâm nào, cũng không thiếu một mâm nào. Những người khách đến tham dự này dường như cũng là do Trần Tĩnh Cô mời tới, thực sự là không tăng không giảm, thực sự là chuẩn như vậy.

🌟

Trần Chính cũng nói một chút với tôi:
"Trần Tĩnh Cô cũng nhắc đến ngài đấy!"
Tôi cũng giật mình kinh ngạc:
"Nhắc đến tôi chuyện gì?"
Trần Chính nói:
"Trần Tĩnh Cô nói trên đầu người này chẳng có ánh sáng, quanh thân cũng chẳng có ánh sáng, chẳng có điểm gì khiến người ta ngạc nhiên cả!"

Tôi gật gật đầu, Trần Tĩnh Cô thấy rất chuẩn, bởi vì bình thường tôi đều che tất cả tịnh quang trên thân tôi lại.

Trần Chính lại kể:
"Có một lần, Trần Tĩnh Cô lại bảo người này có một vị Phật ở trước mặt. Khi vị Phật này biến mất thì phía sau lại có một vị Phật khác sinh ra. Vị Phật sau biến mất thì bên phải lại có một vị Phật sinh ra. Vị Phật bên phải biến mất thì bên trái lại có một vị Phật sinh ra. Trước, sau, trái, phải có bốn vị Phật hạ giáng, phát ra ánh sáng màu vàng kim. Bốn vị Phật tỏa ra ánh sáng vàng kim này mỗi bước chân đều nở hoa sen, hoa sen to như cái bánh xe vậy. Ánh sáng vàng kim này, ban đầu thì nhỏ như hạt đậu, sau đó thì như quả táo ta, rồi ánh sáng lớn bằng cái cốc, rồi ánh sáng tràn đầy khắp cả thành phố, rồi ánh sáng bao la như trời. Trần Tĩnh Cô rất kinh ngạc."

Trần Chính hỏi:
"Thế con người phàm phu là ngài đây rốt cục là ai?"
Tôi đáp:
"Lư Thắng Ngạn."
"Lư Thắng Ngạn là ai?"
Tôi đáp:
"Phàm phu."

🌟

Đối với việc Linh Viên tiên sinh vẽ bùa, chỉ là một lần bất cẩn, vẽ ra một tấm bùa "trà dẫn xuân tâm", mà đã phạm tội với trời, khiến mây sắc màu trên đỉnh đầu, ánh sáng quanh thân, pháp lực đều biến mất. Nghiệp tội này nặng đến mức nào? Thiên thượng giới vì sao lại biết?

Cổ đức nói:
"Quân tử phải cẩn thận suy nghĩ hành động, phải biết không được đi vào con đường tà ác, không lén lút lừa gạt, tránh không để rơi vào cạm bẫy, không được phụ người thân. Mỗi khi tâm trí dao động dẫn tới hành động, thì phải biết run sợ như bước đến vực sâu, như bước trên băng mỏng, âm thầm nhưng không được lén lút giấu giếm, thận trọng khi ở một mình, kiên quyết giữ vững nền tảng đạo đức."

Đặc biệt, người biết đạo pháp thì phải hiểu rõ:
Chính đạo — thuận lẽ trời, hợp lòng người, không lừa mình, không tự kiêu, ngay thẳng thật thà, kiên cố vững chắc.
Tà đạo — phản lẽ trời, trái nhân tình, ngược luân lý, hoại đạo nghĩa.

Linh Viên tiên sinh nên hiểu rõ khi nào nên tiến, khi nào nên lùi, không vì tình riêng mà làm việc không đúng. Không được vì tình cảm bạn hữu mà bỏ qua việc cần phải "tiến cũng quan sát và đánh giá xem cái gì là đúng cái gì là sai, lùi cũng nghiên cứu và đánh giá xem cái gì là sai cái gì là đúng".

Linh Viên tiên sinh cũng nên hiểu rằng, trên đầu ba trượng có thần minh, có thần đi tuần ban ngày, có thần đi tuần ban đêm, có Công Tào thần, có Tư Lộc thần, có thần tuần tra ban ngày, có thần tuần tra ban đêm, mọi nơi mọi chốn không có nơi nào lọt qua được các thần.

Cần biết rằng, đối với thần minh cõi trời, ngay cả chỉ một suy nghĩ gian dâm các thần cũng đều biết hết, huống chi là việc cầm bút vẽ bùa! Bởi vậy mới nói, suy nghĩ khởi lên, tâm thần dao động, ý khởi tâm động rồi thì tâm trí chắc chắn sẽ hỗn loạn. Cảnh giác! Cảnh giác!

🌟

Bùa "trà dẫn xuân tâm" có pháp lực như thế nào? Đây chính là "tà tâm chiêu tà quỷ", phù này có quỷ xấu hỗ trợ mà thành!

Ngày xưa có một câu chuyện thế này:
Có một phù tử tiên trông thấy một cô gái. Cô gái này rất xinh đẹp quyến rũ, phù tử tiên lập tức bị cuốn hút, cứ nhìn chăm chú vào cô gái, trong lòng cảm thấy đầy kích động. Đây gọi là "vừa thoáng thấy người đẹp, lòng khởi tâm tư rồi".

Phù tử tiên nhỏ nước dãi vì thèm muốn, không chịu được liền vẽ một tấm bùa "mỹ nhân tự đến tương tựu", rồi để trên đoạn đường mà bình thường cô gái hay đi qua. Điều chẳng ngờ là ngày hôm đó, cô gái không đi qua đoạn đường đó, mà lại có một con lợn xề béo núng nính múp míp. Con lợn này vừa dẫm trúng lá bùa thì lập tức bị động dục.

Mỗi đêm, con lợn bị động dục liền điên cuồng chạy đến nhà của phù tử tiên, nó cứ đâm mõm vào cửa nhà phù tử tiên, nó đâm mạnh tới nỗi tạo thành những tiếng "binh, binh" rất lớn! Con lợn gây ồn ào dọa cho phù tử tiên sợ xanh mặt, không thể trốn được. Phù tử tiên này mới học đạo pháp được một nửa, anh ta chỉ biết vẽ phù mà không biết giải phù, đúng là mất mặt hết chỗ nói. Đây là chuyện cười về phù tử tiên.

🌟

Cá nhân tôi nhận thấy:
Những thứ bùa ngải này không phải là sản vật của riêng Trung Quốc. Ở Ấn Độ, Sri Lanka, Myanmar, Thái Lan, các nước Đông Nam Á, bùa ngải, phép thuật giáng đầu là một tập tục khá phổ biến trong xã hội. Có những loại bùa là chính đại quang minh, và đương nhiên cũng có những loại bùa là hắc ám tà ác.

Con người thông thường có sự hiểu nhầm trầm trọng về phù chú, cho rằng phù chú đều thuộc về sức mạnh ma quái, thần quỷ vớ vẩn, đều là mê tín. Kì thực phù chú chính là một dạng sức mạnh tinh thần. Những loại phù chú mà tôi đã học đều có thể giúp người tiêu tai giải ách, có thể chữa bệnh trừ bệnh, có thể nhờ quỷ thần giúp đỡ, có thể thông thiên triệt địa, có thể biến hóa, có thể phi hành…

Thiện ác của phù chú không nằm ở bản thân tấm phù. Phù chú là trung lập, phù phân thành thiện ác là do người dùng phù!

Tôi nói:
"Tu đạo gian khổ, có người thành công, có người thất bại. Cũng có người tu đạo được nửa đường thì tâm sa ngã, đi vào con đường sai lầm, trở thành người tu đạo thất bại."

Muốn tránh khỏi những họa do sắc tình gây ra, trước tiên phải nghiêm khắc với tâm mình. Tâm đừng chạy ra ngoài, trước tiên cần thận trọng khi suy nghĩ dao động. Khi tâm niệm khởi lên thì mắt như trộm, tai như cướp, trộm cướp đã xâm nhập thì thân tâm chẳng thể tự chủ nữa. Nếu đã bảo vệ tâm mình từ bên trong, thì cũng cần đặc biệt bảo vệ tai mắt bên ngoài, tai mắt không quan tâm thì tâm trí tất sẽ an định, ý niệm sẽ chính, chính tức là không tà.

Cần nghiêm khắc khi ý niệm khởi lên, phải cẩn thận khi suy nghĩ dao động. Vừa gặp người đẹp đã khởi tâm tư thì bất luận là đã phạm sai lầm hay chưa phạm đều sẽ bị luật trời giáng hình phạt xứng đáng.

Người tu hành, hãy cẩn thận!


### 10. Những đứa trẻ câm


Có một người là Trịnh Châu đến hàn xá của tôi hỏi chuyện, anh ta viết ra tên tuổi bát tự của người con trai, hỏi xem tương lai của đứa con sẽ thế nào. Tôi ngồi yên lặng thiền định.

Sau đó, tôi viết một bài kệ trên tờ giấy trả lời như sau:
*"Thói xấu lâu ngày đã thành tật
Trước đây chẳng biết rõ đúng sai
Khẩu nghiệp quá nặng e khó nói
Sám hối mới mong tránh nghiệp này."*

Trịnh Châu đọc xong bài thơ nói:
"Không hiểu lắm."
"Con trai ông thân thể có khuyết tật gì không?" - Tôi hỏi.
"Có."
"Là khuyết tật gì?"
"Bị câm."
Tôi chỉ vào dòng thứ ba của bài thơ: "Khẩu nghiệp quá nặng e khó nói", tôi nói với Trịnh Châu:
"Chẳng phải là rất chuẩn sao?"
Trịnh Châu gật gật đầu, nói:
"Đúng là rất chuẩn."

Trịnh Châu nói:
"Bây giờ vợ tôi lại đang mang thai nữa, bởi đứa con đầu bị câm, nên trong lòng vợ tôi có chút bất an. Vợ tôi đã chụp X-quang, bác sĩ nói đó là một đứa con gái, không biết đứa con gái này liệu có bị câm giống như đứa con trai không?"
Tôi lại ngồi yên thiền định. Không ngờ câu trả lời là: "Không biết."

Trịnh Châu nói:
"Tiên sinh là người cao minh, nghe người ta nói không có chuyện gì là ngài không biết, sao lại có chuyện là ngài không biết ở đây, hay là tiên sinh thử xem kĩ lại một lần nữa xem sao!"

Tôi gật đầu, rồi lại ngồi tĩnh lặng.

Lần này khi tôi vừa tĩnh lặng thì tinh thần tôi trở nên cực kì sáng rõ. Đột nhiên trước mắt tôi có một đường ánh sáng đỏ, đó là Công Tào thần hiện thân. Công Tào nói với tôi:
"Liên Sinh, người hỏi chuyện Trịnh Châu này bởi vì khẩu nghiệp rất nặng, cuộc đời ông ta có hai người con, con trai con gái đều bị câm, ngài hãy mau khuyên ông ta hối cải thì có thể cứu được đứa con gái, tránh được nghiệp chướng bị câm!"

Tôi lập tức xuất định, kể lại tỉ mỉ cho Trịnh Châu những gì tôi nghe được trong thiền định, tôi yêu cầu Trịnh Châu đừng phạm khẩu nghiệp nữa.

Trịnh Châu hoang mang hỏi:
"Khẩu nghiệp gì?"
Tôi đáp:
"Công Tào thần nói như vậy, tôi cũng không biết, anh về nhà tự mình nghĩ lại xem."

Trịnh Châu trở về nhà. Sau đó, vợ Trịnh Châu sinh được một đứa con gái, quả nhiên cũng bị câm. Con trai bị câm, con gái cũng bị câm, cả nhà đều bình thường không ngờ lại có hai đứa con bị câm, nói thẳng ra là họ thật khó mà chấp nhận được điều này. Vợ chồng Trịnh Châu không dám sinh con nữa.

🌟

Một ngày nọ, Trịnh Châu đến tìm tôi, nói lại vấn đề lần trước tôi đã thần toán được. Trịnh Châu hồi tưởng lại những lời nói hành động của mình. Thực sự anh ta có vài lần buôn chuyện về những cuộc ngoại tình của người khác. Đồng thời, Trịnh Châu rất thích kể những chuyện cười tục tĩu, kể chuyện cười tục tĩu là sở trường của Trịnh Châu, anh thường khiến người khác bối rối chỉ biết cười gượng.

Trịnh Châu nói:
"Chuyện cười tục tĩu làm cho người ta thư giãn, khiến người ta thoải mái, có gì là không được, việc này sao có thể tính là khẩu nghiệp?"

Trịnh Châu lấy một ví dụ, anh kể một chuyện cười của anh.
Có một người mẹ nghiêm túc nói với con gái rằng, khi đi chơi với bạn trai, cần phải đoan trang, không được tùy tiện. Mẹ dạy con gái rằng nếu bạn trai muốn hôn con, con phải nói "đừng"! Nếu bạn trai đưa tay xuống dưới, con phải nói "dừng lại"! Cô con gái đồng ý. Kết quả là, cô con gái trở về nhà đã khóc lóc ầm ĩ.

Người mẹ nói, chẳng phải đã dạy con cách ứng đối hay sao? Cô con gái trả lời: "Anh bạn trai này vừa hôn, lại vừa đưa tay xuống dưới, do vậy con cứ hét lên "đừng dừng lại, đừng dừng lại"!

Kho chuyện cười tục tĩu của Trịnh Châu rất nhiều, anh có thể kể đến mức nước bọt văng tung tóe, kể từ sáng đến tối. Mỗi khi đi chơi đây đó, trên xe du lịch, trong văn phòng làm việc, anh lúc nào cũng có thể kể chuyện trơn tru. Biệt danh của Trịnh Châu là: Hoàng Thái Tử. [Chữ "hoàng" trong Hoàng Thái Tử đồng âm với chữ "hoàng" có nghĩa là màu vàng. Trong tiếng lóng Đài Loan, màu vàng ám chỉ những sách, tranh ảnh, tài liệu khiêu dâm.]

Tôi nghe chuyện cười tục tĩu của Trịnh Châu xong thì cười lớn ha ha. Đánh giá mức độ của câu chuyện cười này thế nào là một chuyện khác, mỗi người sẽ có ý kiến khác nhau về việc chuyện cười này có tục tĩu hay không. Nhưng trong Phật giáo có một giới luật, đó là giới vọng ngữ. Giới vọng ngữ bao gồm nói khoác, nói lời thêu dệt, nói lời hai lưỡi, ác khẩu. Trong đó thì nói lời thêu dệt [ỷ ngữ] chính là nói những lời vô nghĩa, nói nhảm, bao gồm cả kể chuyện cười tục tĩu có tính chất khiêu dâm.

Con người bình thường trong xã hội đối với chuyện cười tục tĩu của Trịnh Châu có thể chỉ cười xòa, cho rằng chẳng có vấn đề gì to tát. Nhưng mọi người thử nghĩ xem, chuyện cười kiểu này mà vào trong chùa Phật, kể cho tăng lữ tu hành nghe, bạn nói xem sẽ thế nào? Đương nhiên là không được.

Tôi lấy ra một điều trong luật trời đưa cho Trịnh Châu đọc.
"Người thích nói ỷ ngữ dâm từ, xảo ngôn hí ngữ làm rối loạn tâm trí người khác, thích phóng đại để miêu tả những hành vi xấu xa, dùng lời lẽ vu khống khoác lác để hạ thấp người khác, vu oan cho danh dự người khác, lừa gạt tình cảm của phụ nữ… đều mắc tội khẩu nghiệp. Phạm một lần được tính là 10 lỗi, phạm 20 lần tính là một tội, một tội sẽ bị tước một phần thọ mạng, một trăm tội sẽ bị tước ba phần thọ mạng, giáng phú quý một cấp, tùy theo tội mà sẽ bị tước đi tuổi thọ và phúc lộc, người phạm tội nặng thì họa sẽ liên lụy đến con cái, chuyển thế sẽ bị khiếm khuyết."

Trịnh Châu đọc xong mà choáng váng.

🌟

Tôi yêu cầu Trịnh Châu phải bỏ thói khẩu nghiệp. Trịnh Châu nói:
"Bỏ khẩu nghiệp thì con cái tôi thực sự có thể nói được sao?"
Tôi nói:
"Công Tào thần nói như vậy."
"Cần hối cải như thế nào?"
"Trước tiên cần lập lời thề không nói ỷ ngữ nữa."

Tôi đưa cho Trịnh Châu một tờ sớ văn thề nguyện như sau:
"Ngày… tháng… năm… Nay lập lời thề, nguyện bỏ giới dâm, bao gồm ỷ ngữ. Đệ tử là… nguyện trai giới, tắm rửa sạch sẽ, thắp hương mong giải trừ chướng ngại. Kính cẩn tuyên thề trước Văn Xương Đế Quân. Người xưa nói: trong trăm việc thiện thì hiếu đứng đầu, trong vạn việc ác thì tà dâm đứng đầu. Từ hôm nay trở đi, con thề không phạm giới khẩu nghiệp ỷ ngữ, cho đến khi hết thọ mệnh này, con sẽ không bao giờ để tâm trí ngu muội nữa. Nếu còn tái phạm, tự mình nhận hình phạt. Con nguyện sám hối, hộ pháp thần minh, từ bi thương xót, hộ trì bảo vệ, mãi được khang ninh. Đệ tử… xin luôn cẩn thận nghiêm túc."
Áp ấn đóng dấu.

Sau khi Trịnh Châu điền xong vào tờ sớ văn này, tôi đưa Trịnh Châu đến trước miếu thờ Văn Xương Đế Quân thắp hương rồi hóa sớ. Tôi nhìn thấy Công Tào thần trực nhật ngày hôm đó đem tờ sớ văn bay lên trời.

Từ hôm đó, Trịnh Châu cẩn thận mồm miệng, không kể chuyện cười tục tĩu nữa, thay vào đó là kể chuyện cười không còn yếu tố tục tĩu dâm sắc, kể cũng vẫn hay như vậy. Không chỉ vậy, Trịnh Châu còn hành thiện bố thí.
Cứu trợ người nghèo.
In ấn sách thiện.
Xây cầu làm đường.
Đóng góp xây chùa.
Làm tượng Phật vàng.
Niệm Phật trì chú.

🌟

Về sau, vợ Trịnh Châu có một giấc mơ, mơ thấy mình cùng đứa con gái đi bộ trên sa mạc, thời tiết rất nóng, miệng khát vô cùng, cơn khát thật khó mà chịu đựng nổi. Trong mơ, vợ Trịnh Châu buột miệng niệm: "Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát cứu mạng."

Bồ Tát lập tức xuất hiện, phóng đại quang minh, ngồi trên hoa sen quý, cưỡi mây ngũ sắc, cô chỉ thấy Bồ Tát cầm cành dương liễu trong tịnh bình vẩy nước cam lộ lên sa mạc. Trên sa mạc xuất hiện một ốc đảo xanh mát, trong đó có một cái ao, nước trong ao trong suốt, vợ con Trịnh Châu đều uống nước từ cái ao trên ốc đảo này. Uống xong nước mát trong ao thì cũng vừa tỉnh giấc mơ.

Kể ra thì cũng kì lạ. Vợ Trịnh Châu vốn hay bị các chứng bệnh ngạt mũi, khó thở, đau đầu, từ sau khi có giấc mơ này thì hoàn toàn không còn những chứng bệnh này nữa. Điều kì lạ nhất là con gái của Trịnh Châu có thể nói được, thực sự là có kì tích như vậy. Bác sĩ trước đây chẩn đoán cô bé sẽ bị câm bẩm sinh lại đến chẩn đoán bệnh tình cho bé, nói rằng bé đã hoàn toàn như người bình thường. Sự việc thực sự khiến người ta khó mà tin được, chỉ thấy bác sĩ chặc chặc lưỡi không hiểu vì sao lại như vậy.

🌟

Cả nhà Trịnh Châu đã quy y Chân Phật Tông. Con gái Trịnh Châu đã khỏi bệnh câm bẩm sinh, nhưng con trai thì vẫn không có hiện tượng chuyển biến tốt đẹp nào. Trịnh Châu đến hỏi tôi. Tôi thiền định quan sát, trông thấy một khối thép. Tôi cười khổ, trả lời: "Đây là định số rồi."

"Thép" chính là chắc như thép, không thể thay đổi được. Tất cả mọi bệnh tật đều thuộc về có định số và không định số. Bệnh không định số thì có thể thay đổi, còn bệnh do định số thì không thể thay đổi được!


### 11. Thần Trư Ca


Có một người bạn nhờ tôi giúp một thương gia lập ban thờ. Thương gia kia biết đến tiếng tăm của tôi và nói rằng không mời được tôi lập ban thờ thì không được.

Trong khi tôi giúp người ta xem địa lý phong thủy, tôi không chỉ xem dương trạch, âm trạch, mà tôi còn giúp người ta lập ban thờ. Tôi giúp người ta lập ban thờ vô cùng chuẩn xác, vô cùng linh nghiệm, thế nên tôi nổi tiếng khắp nơi là vì vậy.
Khẩu quyết xem phong thủy khi lập ban thờ là:
Sa thủ pháp. (hai bên có điểm tựa)
Thủy thần pháp. (đón tài thần)
Tiên mệnh pháp. (hướng phát đạt)

🌟

Theo lời mời, tôi đã đến nhà của thương gia kia. Ông ta thỉnh về một bức tượng kim thân của một vị thần minh, hai tai có thể quạt ra gió, mũi miệng kéo dài, cởi trần để lộ ngực và bụng, cái bụng tròn căng, trên tay cầm đinh ba, đây đích xác là thần Trư Ca không trật vào đâu được. Thần Trư Ca này chẳng phải là ai khác, mà chính là Trư Bát Giới trong Tây Du Kí. Trư Bát Giới tượng trưng cho thói tham ăn háo sắc.

Tôi vừa nhìn là biết ngay, hóa ra thương gia này không phải muốn lập ban thờ để cúng Thổ Địa Công (Phúc Đức Chính Thần) mà là muốn cúng thần Trư Ca háo sắc.

Tôi hỏi thương gia:
"Tương lai ông định kinh doanh gì?"
Thương gia nói:
"Quán rượu."
(Nếu là quán rượu ở Hồng Kông hoặc hải ngoại thì sẽ là nơi để ăn uống. Nhưng ở Đài Loan thì quán rượu là hình thức kinh doanh sắc tình, thực sự là nơi để uống rượu và còn có cả tửu nữ ngồi bên cạnh phục vụ nữa.)

Tôi nghe xong thì giật thót. Bỏ xừ! 
Tôi nghĩ thầm:
Người theo đạo Phật có ba loại nghề nghiệp không được làm, một là nghề đồ tể (vì sát sinh), hai là nghề cờ bạc (vì thúc đẩy lòng tham), ba là nghề liên quan tới sắc tình (thúc đẩy dâm dục). Ba loại nghề nghiệp này liên quan đến vấn đề giới luật, cũng sẽ ảnh hưởng đến nhân duyên quả báo, bởi vậy đừng nên vướng vào những nghề này. Tuy nhiên, thương gia mời tôi đến không phải là người theo đạo Phật, còn tôi là hành giả Mật giáo, tôi có thể giúp anh ta lập ban thờ không?

Hơn nữa, tôi biết luật trời. Trong quán rượu này, đàn ông và gái hầu rượu sẽ cùng uống rượu hành lạc, uống rượu chỉ là một hình thức trá hình mà thôi. Kì thực ở đây chính là ý khởi tay động, tay chân sờ mó, thừa cơ dấn thân, khéo léo lừa gạt, ôm ấp bỡn cợt, kề tay kề miệng, v.v… đây đều phạm vào tội khẩu dâm, thủ dâm, thân dâm.

Rất ít người thực sự đến quán rượu để uống rượu. Hầu hết đều là những kẻ ham mê tửu sắc, rượu chỉ là phương tiện để dẫn tới sắc, tiếp theo sau đó là từng đôi từng cặp kéo nhau vào phòng sau, thế rồi hai hợp làm một, hai thân thể trần trụi quấn chặt lấy nhau.

Phạm vào tội khẩu dâm, thủ dâm, thân dâm sẽ bị giảm thọ giảm lộc, sự nghiệp đi xuống, lâm cảnh khốn cùng. Nếu chuyển thế làm người thì chân tay sẽ bị teo tóp, khuyết tật, tay chân thiếu ngón hoặc bị ngắn, mụn nhọt lở loét, bán thân bất tọa, v.v…

🌟

Hôm nay, nếu tôi giúp cho thương gia này lập ban thờ cho quán rượu, giúp khai quang điểm nhãn cho Trư Bát Giới, vậy chẳng phải là gián tiếp đẩy người ta xuống hố lửa hay sao?

Nếu tôi khai quang cho thần Trư Ca, thần Trư Ca sẽ rất linh nghiệm! Thần sẽ bám theo rất nhiều đàn ông, khiến tâm trí họ luôn bồn chồn ngứa ngáy khó cưỡng lại được, mỗi đêm đều muốn tới quán rượu.

*Thèm tới rỏ nước dãi
Mắt đắm đuối si mê
Tâm không ngừng nghĩ ngợi
Mũi khìn khịt không dừng!*

Thế rồi ba hồn bảy vía bay lên tận trời, tâm thần hỗn loạn, linh hồn cũng đã bay mất từ lâu, muốn sướng như tiên, muốn được chết trong dục vọng! Thần Trư Ca này thực sự có đủ lợi hại, là tà thần mạnh nhất trong số các tà thần, có thể giúp cho các cơ sở kinh doanh sắc tình phát đạt.

Tôi quyết định nên dừng lại ở đây, không thể lập ban thờ cho vị thương gia kia được, không thể khai quang điểm nhãn cho thần Trư Ca.

Tôi nói:
"Tôi không đủ năng lực!"
Thương gia nói:
"Vì sao?"

Tôi không thể diễn đạt được rõ ràng nguyên nhân vì sao, chỉ là tôi cứ đứng sững ở đó. Mặc dù tôi hiểu đại nghĩa, ghét cái ác như kẻ thù, giúp kẻ yếu trong cảnh nguy nan, nhưng trong một khoảnh khắc, tôi lại không tiện thẳng thừng từ chối thương gia, bởi vì khi người bạn của tôi tìm tới tôi, tôi đã lập tức nói đồng ý rồi, bây giờ làm sao để rút lại lời hứa đây? Tôi thực sự rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan, không biết quyết định thế nào.

🌟

Đúng vào lúc này, trước mắt tôi hiện lên linh quang, Diêu Trì Kim Mẫu nói nhỏ bên tai tôi: "Con cứ khai quang đi! Tất cả mọi việc này sẽ do ta lo liệu."
Tôi nghe xong cảm thấy tinh thần phấn chấn hẳn.

Diêu Trì Kim Mẫu đã muốn lo liệu thì không còn vấn đề gì nữa. Danh xưng chính thức của Diêu Trì Kim Mẫu là Vô Cực Diêu Trì Đại Thánh Tây Vương Kim Mẫu Thiên Tôn, là Tiên Thiên Tây Phương Kì Diệu Nhất Khí, sống ở phương Tây, thuộc về yếu tố đất, là một trong những vị chí tôn tối cao của ngũ phương. Theo dân gian thì Tây Vương Mẫu chính là Kim Mẫu, là Tây Hoa chí diệu, là Động Âm cực tôn. Kim Mẫu và Mộc Công cùng nhau cai quản hai khí âm dương, nuôi dưỡng đại địa, tạo nên vạn vật, tiên nữ trong tam giới thập phương đều nằm trong sự quản lý của Diêu Trì Kim Mẫu.

Trong "Đạo Tạng Đạo Tích Kinh" có ghi chép lại:
"Vương Mẫu thượng điện nằm ở phía Đông và Tây, ngài mặc áo khoác vàng kim, văn thái hiển minh, diện mạo sáng rực rỡ, ấm áp và tôn nghiêm, đeo linh phi đại thụ, eo gài bảo kiếm, đầu đội mũ miện hoa rực rỡ với trâm cài, ruy-băng rủ xuống hai bên, nhẹ nhàng đặt chân lên huyền phụng. Diện mạo của ngài khoảng ba mươi tuổi, hình thể duyên dáng, có thiên tư, linh hiển tuyệt thế, là một vị cao linh thực sự."

Diêu Trì Kim Mẫu nói:
*"Bởi có huyền cơ nên ta xuống
Giúp con khai quang đừng ngại ngần
Tình dục chúng sinh tâm đã nhiễm
Khuyên người cuộc sống hãy nâng niu."*

Tốt! Thế là tôi khai quang:
"Thiên chi thần, địa chi thần, nhật nguyệt thần, khai quang lai bố quang, điểm nhãn quang quán chiếu thế giới, khai khẩu quang, khai khẩu hô hoán, khai nhĩ quang, thính văn thanh âm, khai tâm quang…"
Tôi cứ thế niệm chú khai quang này, niệm rất nhiều biến.

Tôi thầm nghĩ trong đầu, Trư Bát Giới này không hiểu sao vẫn chưa đến nhỉ. Trên bàn cúng, thịt và rau đã sẵn sàng, chỉ riêng món bánh bao Sơn Đông đã chuẩn bị tới 108 cái, còn có mấy bình rượu lúa miến, rượu cao lương Đài Loan, rượu Nhị Oa Đầu của Trung Quốc đại lục rất hiếm có nữa.

"Đùng" một tiếng! Trong không trung hạ giáng xuống một vị Trư Bát Giới, Trư Bát Giới này ngoạm một miếng đã xơi hết chục cái bánh bao, rồi uống hết sạch một bình rượu cao lương.

🌟

Quán rượu này sau khi được tôi khai quang thì công việc kinh doanh quả nhiên rất hưng thịnh, khách đến uống rượu nườm nượp. Bãi trông xe không đủ chỗ nên xe còn phải xếp đầy dưới lòng đường. Khách khứa đông vui tấp nập, tiền kiếm được cũng như nước cuồn cuộn chảy về. Ông chủ và các gái phục vụ người nào người nấy cười tít mắt!

Tôi xem tình hình mà sốc vô cùng, việc này thế nào là tốt? Việc kinh doanh tốt, trong lòng tôi trỗi lên một thoáng hài lòng thật khó mô tả, bởi nhờ việc xem địa lý phong thủy của tôi, việc khai quang của tôi mà tình hình được như vậy, nhưng đồng thời tôi cũng cảm thấy rất lo lắng. Đây là một quán rượu sắc tình làm con người ta bị ô nhiễm, việc kinh doanh của quán rượu phát đạt như vậy, chẳng phải là làm hại nhiều người hơn sao? Quán rượu kiếm được tiền, họ cũng chẳng chia cho tôi, tôi chẳng lấy một xu nào, nhưng tôi lại lo lắng về vấn đề chính nghĩa! Tôi đã thỉnh Trư Bát Giới tới hại người, thật là tệ hại.

Còn Diêu Trì Kim Mẫu thì sao đây? Ngài chẳng phải sẽ lo liệu hay sao? Liệu ngài có cố ý hại tôi không?

🌟

Ông chủ nhà hàng mời tôi đến xem địa lý vô cùng hưng phấn khi thấy tình hình kinh doanh phát đạt như vậy, thấy từng xấp từng xấp tiền thu về, đàn ông người nào người nấy đều biến thành mõm lợn, nhìn thấy tửu nữ đều kêu "muah muah".

Ông ta lại mời tôi đến xem địa lý, khai quang thần Trư Ca, mở thêm tới hai chi nhánh nữa, ông sung sướng cười tới mức miệng không khép lại được.

Con người ta gặp chuyện vui thì tinh thần cũng trở nên hào sảng, ông ca ngợi tôi với mọi người, rằng thầy Lư xem phong thủy là số một, thầy Lư khai quang thần Trư Ca là linh nghiệm nhất, hại tôi phải khắp nơi giúp người ta khai quang, tôi gần như đã biến thành "Trư Ca lão sư" rồi!

🌟

Một ngày nọ, tôi đi qua quán rượu kia và nhảy dựng lên vì ngạc nhiên. Chẳng có một bóng người, cửa cũng khóa kín. Tôi tới hai quán rượu khác để xem thì cũng kinh ngạc, cửa chính đóng kín, đến một người cũng không có, đèn đóm đều tắt hết. Ba quán rượu đều ở trong tình trạng giống hệt nhau. Có chuyện gì đây?

Khi công việc kinh doanh đạt đến đỉnh điểm hưng thịnh, khách khứa đông nườm nượp, nức tiếng xa gần, mỹ nữ vây quanh đông như mây, sĩ nông công thương, quan chức tụ tập, ông chủ quán rượu đã nổi danh trong giới kinh doanh tài chính.

Ông chủ thương gia đến thăm tôi. Tôi hỏi:
"Có chuyện gì xảy ra vậy?"
Ông chủ rầu rĩ đáp:
"Tôi đã đem toàn bộ tiền đi đầu tư vào khai thác mỏ, các mỏ đều gặp tai biến, tất cả tiền bạc của tôi đều hết sạch, liên lụy tới ba quán rượu, bây giờ tôi vẫn còn nợ chưa trả được, trở thành kẻ không một xu dính túi."
Ông chủ hỏi tôi:
"Thầy xem phong thủy có sai sót gì chăng?"
Tôi cười:
"Tôi chỉ làm phong thủy cho quán rượu, đâu có xem phong thủy cho các khoáng mỏ!"
"Thầy nói cũng đúng."
Ông chủ cười khổ:
"Vì sao thần minh lại không giúp tôi?"
Tôi nói:
"Thần Trư Ca cũng đã giúp cho quán rượu của ông kinh doanh phát đạt, ông ta được thờ cúng tại quán rượu chứ cũng có ở khoáng mỏ đâu! Huống hồ thần linh ở khoáng mỏ và thần Trư Ca hoàn toàn không hề có liên quan gì đến nhau. Việc này giống như muốn diễn đại kịch thì phải cúng Tây Tần Vương Gia, muốn làm thợ mộc thì cần cúng Lỗ Ban Tiên Sư vậy."

Ông chủ buồn rầu bỏ đi, tôi nhìn bóng lưng ông mỗi lúc một xa dần, trong lòng không khỏi cảm thán. Sự đời nhiều biến hóa, có người từ khốn cùng trở thành giàu có, lại có người từ giàu có thành khốn cùng, giàu nghèo hoán đổi, phúc họa thật sự là liên quan chặt chẽ với nhau. Nếu không có phúc của ba quán rượu thì làm sao có họa của khoáng mỏ?

Thế nên, chưa chắc đã là may, cũng chưa chắc đã là họa.

🌟

Một khoảng thời gian sau, ông chủ này lại khiến tôi ngạc nhiên sửng sốt. Hóa ra ông chủ đã xuất gia rồi, giờ ông là một nhà sư đầu trọc, tướng mạo tràn đầy viên mãn, vô cùng trang nghiêm, đã rũ bỏ hoàn toàn mọi khí chất con buôn. Con người này đã hoàn toàn thay đổi rồi.

Tôi hỏi:
"Ông xuất gia rồi sao?"
"Đúng vậy."
"Vì duyên cớ gì vậy?"
"Tôi mơ thấy rất rõ ràng, trong giấc mơ có một nữ thần hiện thân, bảo tôi vốn là một người xuất gia, kiếp này về lý nên xuất gia."
Tôi đột ngột hiểu ra đây là Diêu Trì Kim Mẫu.

Ông nói:
"Trước đây tôi là một kẻ vô minh."
"Còn bây giờ thì sao?"
"Bây giờ mới hiểu rõ đạo lý của Phật là chân thực không hư giả, là chân như bất biến như thường."
"Ông tu cái gì?"
"Tu bản lai diện mục, bản lai diện mục là thường hằng, bất biến, bất dị, cũng chính là những điều bất sinh bất diệt, bất tăng bất giảm, bất cấu bất tịnh trong "Tâm Kinh", tức là pháp vô vi. Đây cũng chính là Phật tính, Pháp thân, Như Lai tạng, thực tướng, pháp giới, pháp tính, tính không."
"Trước kia ông là…"
"Là vọng tâm."
"Còn bây giờ?"
"Là chân tâm."
"Trước kia và bây giờ?"
"Tất cả mọi pháp đều dựa vào trải nghiệm chân như, bởi vì nhân duyên nên mới có biểu hiện sinh diệt."

🌟

Pháp sư xuất gia nói:
"Tất cả mọi thứ trong cuộc đời đều biến đổi. Tôi bây giờ là người không sát sinh, cũng không trộm cắp, lại càng không tà dâm, không vọng ngữ, cũng không uống rượu. Ngay cả quần áo sang trọng tôi cũng không mặc, không nghe ca hát nhảy múa, không ngủ trên giường rộng, không ăn uống tùy tiện, không tích trữ tiền bạc châu báu của cải."
"Đây chính là giữ giới!"
"Chính xác."

Tôi nói với pháp sư xuất gia:
"Bây giờ ông xuất gia mới là sự nghiệp vĩ đại, sự nghiệp này là chỉ dạy chân lý về vũ trụ nhân sinh, là đại sự nghiệp giúp chúng sinh chuyển mê thành ngộ, liễu sinh thoát tử."

Tôi thán phục Vô Cực Diêu Trì Đại Thánh Tây Vương Kim Mẫu Thiên Tôn. Về cơ bản, ngài muốn tôi khai quang thần Trư Ca, muốn cho việc kinh doanh của thương gia kia hưng thịnh, sau đó thì phải đóng cửa quán rượu, chính là từ thịnh chuyển suy, dẫn tới việc ông chủ xuất gia. Việc này từ đầu tới cuối đều nằm trong sự sắp đặt của Kim Mẫu, Kim Mẫu đã biết hết mọi việc.

Tôi cảm thấy Diêu Trì Kim Mẫu vì nhân duyên đại sự mà xuất hiện tại cõi giới này, đó chính là vì nhân duyên độ hóa chúng sinh.


### 12. Oan hồn


Có người tên là Giang Trung đến hỏi về vận mệnh. Trước tiên, tôi vẽ một chiếc xe ô tô lên trên một tờ giấy, tôi nói: "Anh làm nghề này."

Người bên cạnh nói:
"Mua bán xe ô tô ư?"
Giang Trung lắc đầu.
Một người khác lại đoán:
"Sửa chữa xe ô tô ư?"
Giang Trung vẫn lắc đầu.
Lại có một người nữa nói:
"Tôi đoán chắc chắn đúng, anh là tài xế."
Giang Trung vẫn lắc đầu, nói:
"Mọi người sẽ không đoán trúng được đâu. Tôi làm ô tô đồ chơi, người lớn lái xe to, trẻ con lái xe nhỏ."
Mọi người đều cười.

Tôi ngẩng đầu nhìn mặt Giang Trung, chuẩn bị xem thêm về vận mệnh của Giang Trung thì đột nhiên thấy mặt của Giang Trung biến đổi. Giang Trung vốn cạo tóc rất ngắn, bây giờ trở thành tóc dài phủ kín cả đầu, mặt vốn hồng hào trơn bóng, bây giờ trở thành tái mét, còn thêm bảy lỗ chảy máu, mặt mày cực kì đáng sợ, đặc biệt là hai con mắt lóe lên ánh nhìn cay độc.

Tôi sợ tới nỗi không thốt lên lời, ngừng lại một lúc, tôi nói:
"Vận mệnh của anh thì đi vào bên trong tôi sẽ nói!"
Giang Trung theo tôi đi vào phòng riêng không có người nào khác. Tôi nói:
"Trên người anh có oan hồn bám theo."
Giang Trung ban đầu không thừa nhận, cứ nhìn trân trối.

Tôi lại nói:
"Đó là một phụ nữ, dưới cằm có một nốt ruồi! Nếu anh không đuổi oan hồn này ra khỏi thân thì vận mệnh cả đời anh sẽ bị oan hồn này ngăn trở."
Giang Trung vẫn không thừa nhận. Tôi nói:
"Hai người đã hẹn ước với nhau là cùng chết, nhưng lúc đó anh lại đổi ý, bởi vậy cô ấy không cam lòng!"

Giang Trung thất kinh, quỳ xuống trước tôi, mồm năm miệng mười tỉ mỉ tường thuật lại cho tôi nghe sự việc anh đã trải qua.

🌟

Giang Trung là người sản xuất xe ô tô đồ chơi. Văn phòng của nhà máy tuyển về một nữ kế toán, cô gái kế toán mới đến xinh đẹp đáng yêu, đã lập gia đình, mới kết hôn được một năm. Bản thân Giang Trung cũng là người đã yên bề gia thất, vợ anh là người rất ghê gớm.

Cô kế toán rất đồng tình với cảnh ngộ của Giang Trung, ngày tháng trôi qua, từ đồng tình không ngờ trở thành ái tình, cô kế toán đã yêu Giang Trung, Giang Trung cũng yêu cô gái kế toán một cách vô thức. Bởi vì vợ của Giang Trung ghen rất ghê gớm nên từ đầu tới cuối, chuyện tình của hai người đều tiến triển một cách lén lút, vô cùng bí mật.

Hễ có cơ hội là chàng trốn vợ, nàng trốn chồng, suốt cả một thời gian dài đã thông gian với nhau vô số lần. Hai người thề non hẹn biển là sống cũng sẽ bên nhau mà chết cũng sẽ bên nhau.

Tục ngữ nói, cái kim trong bọc lâu ngày cũng sẽ lộ ra, việc của hai người này sớm muộn cũng sẽ bị người ta phát hiện. Có một lần, Giang Trung viết cho cô gái kế toán một mảnh tin nhắn rất thân mật, bị chồng cô ta đọc được, người chồng lập tức không cho vợ đi làm nữa. Anh ta cũng thông báo cho vợ của Giang Trung.

Vợ Giang Trung rất lợi hại, cô cầm thắt lưng da đánh cho Giang Trung một trận với tất cả sự thù ghét và đau xót của cô. Giang Trung không ngớt kêu gào.

Một cặp uyên ương đã tan nát rồi. Chẳng ngờ là cô gái kế toán kia cũng lại là một kẻ si tình, cô đã yêu Giang Trung sâu đậm, không có Giang Trung thì cô không sống nổi. Cuối cùng, hai người hẹn sẽ cùng chết.

Đúng là cuộc sống thực sự đáng quý, nhưng giá trị của tình yêu lại càng lớn hơn, vì tình yêu mà người ta đều có thể vứt bỏ cuộc sống.

Cô gái kế toán uống thuốc trừ sâu trước, thế rồi chết. Đến lượt Giang Trung, anh cũng chạm môi, nhưng lúc đó anh lại thoái lui, thế nên anh vẫn sống.

Đây là toàn bộ câu chuyện giữa Giang Trung và cô kế toán.

🌟

Ở đây, tôi phải đau đớn mà nói rằng:
Chuyện tình dục luôn luôn sinh ra tai họa, hậu quả của nó luôn vô cùng đáng tiếc, thế nhân không biết kị húy, vẫn cứ mê muội dấn thân vào, đến mức rất nhiều người đã chết vì tình dục. Có người thì cả đôi cùng nhảy xuống sông tự vẫn, có người thì cả đôi cùng nhảy vào lửa tự thiêu, có người thì cả đôi cùng treo cổ tự vẫn, có người thì cả đôi cùng uống thuốc độc mà chết, những người này thực sự là quá si tình. Cái hại của tình dục mới bi ai làm sao!

🌟

Giang Trung kể lại như sau:
Sau sự việc này, các đơn đặt hàng của công ty anh cũng sụt giảm trầm trọng. Còn thân thể của Giang Trung thì giống như quả bóng bị xì hơi, không chỗ này bệnh thì chỗ kia bệnh, tinh thần của anh thì suốt ngày ủ dột, nhưng không tìm ra được nguyên nhân thực sự khiến anh bị bệnh. Phiền toái nhất là anh bị mất ngủ và rất hay mơ thấy ác mộng. Cho dù có uống thuốc an thần thì cũng vô hiệu. Giang Trung cầu xin tôi cứu giúp.

Tôi nói với Giang Trung:
Anh thấy cô kế toán xinh đẹp đáng yêu, vừa dịu dàng vừa ân cần chu đáo, thế là khởi lên tâm tư yêu mến. Khi suy nghĩ này khởi lên thì thân tâm liền chìm đắm trong đó, chỉ riêng việc này đã khó thoát khỏi sự trừng phạt của quỷ thần. Đặc biệt là anh đã có vợ rồi, đối phương cũng có chồng rồi, mỗi người đều đã có gia đình riêng, hai người đã làm loạn mối quan hệ đạo đức gia đình, tất cả tình nghĩa đều chẳng còn gì nữa. Vợ chồng đã không còn tình nghĩa, nhân duyên hoàn toàn thay đổi, hành vi này của hai người chẳng khác cầm thú là bao.

Mặc dù cô kế toán này cũng ái mộ anh, nhưng anh phải khéo léo từ chối, bởi vì nếu cứ tiếp tục như vậy sẽ là sự sỉ nhục lớn đối với chồng của cô gái, cũng có thể nói rằng việc này tương đương với việc sỉ nhục cha mẹ ruột và cha mẹ chồng của chính cô gái. Đặc biệt là chồng cô, anh ta phải chịu sự sỉ nhục và đau đớn đến tậm xương tủy, việc này thực sự không khác gì giết anh ta. Hơn nữa, con người hiện đại cho rằng tình yêu là vô giá, tình yêu vượt lên trên hết thảy mọi thứ, kì thực chỉ là lén lút quan hệ mà thôi. Không biết tiết chế tình dục, làm loạn hết cả đạo đức trong tình dục, sẽ gây ra rất nhiều oán hận, dẫn tới hại đến tính mạng.

Trước đây tôi đã từng viết:
Phụ nữ sẽ chết vì nhục nhã.
Chồng cô sẽ chết vì phẫn uất.
Cả hai sẽ cùng tự vẫn.
Hoặc chồng giết vợ, hoặc vợ giết chồng, chồng giết tình địch, tình địch giết chồng, tình địch giết vợ, v.v…

Giang Trung nghe xong, mồ hôi túa ra như tắm, cúi đầu không nói gì. Tôi cho rằng anh ta cũng đã phát tâm sám hối rồi. Tôi đồng ý với Giang Trung: "Tôi sẽ giúp anh siêu độ cho cô ấy!"

🌟

Tôi cho rằng chỉ cần dùng Mật pháp cứu độ trung ấm là chắc chắn có thể khiến cho oan hồn ám lên người Giang Trung nhờ có được lợi ích của Phật pháp mà sẽ rời khỏi người Giang Trung, rồi linh hồn sẽ được gửi đi lục đạo luân hồi mà chuyển thế, đồng thời cũng giải thoát được sự ràng buộc này. Tôi lấy sinh thần bát tự và thời gian chết của cô gái, tên tuổi cô và nơi an linh vị, thế rồi tôi làm một ngọn đèn đẩu, thắp đèn, chuẩn bị sẵn sàng hương, hoa, trà, quả.

Tôi niệm:
"Từ vô thủy đến nay, chúng ta đã nhiễm thói xấu tham, sân, si rất nặng nề nghiêm trọng, mỗi người đều chìm đắm trong ngũ dục lục trần, có thể nói là bị đủ loại vô minh bao phủ che mờ. Do vậy, bất kể là người sống hay người chết đều nên biết giác ngộ. Hãy rời xa tất cả tập khí bất hảo, đến gần với thiện tri thức, học tập Phật pháp, cách xa thế giới sân hận phẫn nộ, cách xa nhân duyên ác, giống như một câu trong "Kinh Lăng Nghiêm" đã nói: "Như người nhiễm hương thơm thì thân sẽ có mùi thơm." Tự nhiên sẽ cởi bỏ được những ràng buộc, người sống sẽ được thành tựu, người chết sẽ được siêu sinh.

Tôi nói:
"Con người tuyệt đối không được tự sát, bởi vì mỗi người sinh ra đều đã có sẵn Phật tính, Phật tính này nếu so sánh với Phật thì cũng không khác biệt, mỗi người tu hành đều có thể thành Phật, tự sát sẽ giống như giết Phật, làm thân Phật chảy máu, tội này cực kì nặng, do vậy anh phải sám hối thì mới có thể giải thoát được."

Tôi nói:
"Những oan ức hiện tại cần buông bỏ, tất cả oan ức đều giống như mộng huyễn, tất cả tình cảm cũng giống như bong bóng ảo ảnh, đời người cũng giống như sương, như điện, phải rời bỏ mọi oán trách thì mới có được giải thoát."

*Trường Giang cuồn cuộn chảy về Đông
Bọt sóng cuốn trôi sạch anh hùng
Thị phi thành bại một kiếp sống
Khi ngoảnh đầu lại vẫn là không
Non xanh vẫn còn đó
Hoàng hôn đỏ mấy lần.*

Linh hồn cô gái trong ngọn đèn đẩu cất tiếng nói:
"Sư phụ, cứu, cứu!"
Tôi nói:
"Muốn tự cứu mình thì phải buông bỏ oán trách đi!"
"Chúng tôi đã bị trói rồi!"
"Ai trói?"
"Cửu Thiên Huyền Nữ."
"Vì sao Cửu Thiên Huyền Nữ trói?"
Linh hồn cô gái đáp:
"Tại miếu Huyền Nữ, hai người chúng tôi đã lập lời thề độc rằng sống hay chết cũng ở cùng nhau, hai người đã bị Huyền Nữ trói bằng sợi chỉ đỏ. Nay tôi ở trên người anh ta cũng đã tìm cách vùng vẫy để thoát ra nhưng không được, do vậy mới cầu cứu!"

Tôi nghe xong mà kinh hãi:
"Đây đúng là tự rước vạ vào thân, không thể cứu được."

Tôi hỏi Giang Trung xem có việc này không, Giang Trung nghĩ một lát rồi thừa nhận là có việc đó. Năm đó hai người yêu nhau say đắm, tại một ngọn núi ở miền Trung, có miếu Cửu Thiên Huyền Nữ, hai người đã quỳ trước thần đàn, mỗi người đều cầm ba que hương và đã phát ra lời thề độc: "Nguyện đời đời kiếp kiếp kết làm vợ chồng, tình yêu giữa hai người vĩnh viễn không thay đổi. Xin Cửu Thiên Huyền Nữ nương nương làm chứng."
Hai người cùng nói:
"Nguyện không thay lòng, Huyền Nữ làm chứng."

🌟

Việc này đúng là chẳng thể ngờ đến! Lời thề nguyện này hóa ra chẳng phải là không có gì, Cửu Thiên Huyền Nữ thực sự đã dùng sợi chỉ đỏ để buộc hai người lại với nhau. Nhân đây tôi cũng muốn khuyên mọi người đừng tùy tiện phát lời thề, cần phải nghĩ thật rõ ràng cẩn thận đã rồi mới phát ra lời thề. Bởi vì một khi thề thốt sẽ có Thề Thần biết, trong Mật giáo cũng có thần samaya, đừng cho rằng cứ thề rồi chẳng sao cả, thề cũng chỉ giống như ăn rau cải ấy mà. Kì thực, một khi đã phát ra lời thề thì Thề Thần trong cõi vô hình sẽ kiểm chứng, ai vi phạm lời thề sẽ gặp hình phạt vô hình.

Việc này, nếu là người khác giải thì chắc chắn sẽ không thể giải được. Thật may đó là tôi, bởi vì tôi là bạn thân với Cửu Thiên Huyền Nữ. Cửu Thiên Huyền Nữ là ai? Vị nữ thần này cũng là người đi theo bên cạnh Diêu Trì Kim Mẫu. Thời cổ đại, nữ thần này là thầy của vua Hoàng Đế, vua Hoàng Đế và vua Xi Vưu nước Cửu Lê ngày xưa chiến tranh, Cửu Thiên Huyền Nữ đã hạ giáng, dạy vua cách dùng binh phù ấn kiếm, giúp vua Hoàng Đế chế tạo ra trống quỳ ngưu tám mặt, do vậy đã đại thắng Xi Vưu.

Vào thời đại Xuân Thu, Cửu Thiên Huyền Nữ đã hóa thân là Nam Thiên Ngọc Nữ, giúp vua Việt phá quân Ngô, đã chỉ dạy đội quân sáu nghìn người, sau đó ngài đã rời đi không lời từ biệt, cứ thế mà tan biến đi mất. Việt Vương ở núi Nam đã cho xây miếu Tiên Nữ để tưởng niệm, miếu Tiên Nữ này chính là miếu Cửu Thiên Huyền Nữ.

Cửu Thiên Huyền Nữ có một đệ tử tên gọi là Bạch Vân Động. Người này có được tất cả mọi đạo pháp của Huyền Nữ, về sau đã bay lên trời cai quản sách đạo của Cửu Thiên Huyền Nữ.

Cửu Thiên Huyền Nữ có dòng máu Đạo pháp bẩm sinh, tương truyền rằng Huyền Nữ biết Tiên Thiên Vô Cực Chính Pháp. Còn tôi, tôi cũng có dòng máu Đạo pháp bẩm sinh, cũng là từ một pháp mạch truyền xuống, trên người tôi có pháp ấn của Tiên Thiên Vô Cực Chính Pháp.

Chính nhờ mối liên hệ này mà tôi biết Cửu Thiên Huyền Nữ.

🌟

Cửu Thiên Huyền Nữ nói:
"Muốn tháo sợi chỉ đỏ buộc hai người này vốn là một việc rất khó khăn. Nhưng bây giờ thì tốt rồi, ngài đã tới để thông báo thì tôi còn lời gì để nói nữa. Ngài chỉ cần dùng "tiễn phù" để cắt là được."

"Tiễn phù" là một trong những tiên thiên pháp. Tôi dùng "tiễn phù" giải cứu Giang Trung khỏi hoàn cảnh khó khăn, cũng giúp cho oan hồn ám trên người Giang Trung được giải thoát, ra lệnh cho oan hồn đi luân hồi trong lục đạo.

Cửu Thiên Huyền Nữ lưu lại cho thế nhân đôi lời về giới dâm:
"Khi bạn có ý định lợi dụng gian dâm với vợ của người khác, cần lập tức tự nghĩ, nếu như lúc này vợ của ta cũng bị người khác lợi dụng, ôm ấp người đàn ông khác trên giường, nói những lời lẽ ong bướm, quấn quít rên rỉ trong sung sướng, còn ta thì đứng bên cạnh, nhìn thấy những cảnh tượng này, trong lòng chắc chắn đau đớn như bị đâm trúng, mắt rực lên ngọn lửa căm thù phẫn nộ muốn truy sát kẻ kia, không thể một giây chậm trễ. Ngay lúc này, ai có thể chịu nhịn được?

Lại thử nghĩ đến việc lợi dụng để gian dâm với vợ của người khác, hậu quả là kẻ mạnh sẽ nắm quyền, kẻ yếu sẽ suốt đời ôm hận, cả dòng họ sẽ ôm nỗi ô nhục không thể nào giải thoát. Vợ chồng cũng sẽ cắt đứt mối quan hệ trăm năm tốt đẹp, thậm chí sống chết không lường trước được, biến hóa đa đoan. Hoặc âm thầm bày kế báo thù, hoặc bí mật hãm hại đến chồng, con, cháu, mang tiếng xấu cả đời, hủy hoại thanh danh.

Con người giữa trời đất này nhận được sự ưu ái của ngũ hành, có tư chất cương chính xuất sắc, vợ chồng đến với nhau hợp với đạo lý của trời đất và mối quan hệ đạo đức gia đình, là lẽ thường tình của đạo làm người. Nếu vượt qua đạo đức mà loạn luân thì cũng không khác gì các loài cầm thú. Hơn nữa, như loài chim sư cưu khi đã chọn được cặp với nhau thì sẽ không "lăng nhăng", một con nhạn đau buồn thà kêu khóc một mình chứ không tìm bạn đời mới, trong trường hợp này thì con người cũng chẳng bằng loài chim, thật uổng phí khi được gọi là con người bởi vì những người kiểu này cũng chẳng bằng cầm thú!

Con người bình thường cần giữ giới dâm, người tu hành lại càng nên từ bỏ dâm dục. Nói tóm lại, gốc của dâm niệm nằm ở thói háo sắc, muốn cắt bỏ dâm căn thì trước tiên phải nghiêm khắc đoạn trừ sắc. Một khi đã háo sắc thì sẽ háo dâm, tiếp đó là thân này làm điều bất chính, không thể tự mình kiềm chế trước sự quyến rũ của sắc đẹp, tất sẽ chẳng thể kiểm soát được nhiều hành vi. Cho dù đã có vợ con thì cũng không thể ngăn được người ta phạm vào những điều xấu xa bẩn thỉu lầm loạn, những loại người này cũng là ngu si vô tri.

Người háo dâm thì con cháu chắc chắn sẽ bị chết yểu, thế hệ sau chắc chắn sẽ không thể thịnh vượng. Khi đó thì quỷ thần trong trời đất ở xung quanh quan sát, mắt thần như điện luôn ở bên cạnh ta, những hành vi xấu xa của ta sẽ làm trời người phẫn nộ, nhất định sẽ có báo ứng. Tai họa đã khởi lên thì trong chớp mắt sẽ ập đến. Nói đến đây chẳng thể không đau lòng. Bỏ mạng bởi kiếm sắc, chặt đầu ngay trên giường, giấc mộng Dương Đài vẫn còn chưa dứt thì tuyền đài nhỏ hẹp đã khép lại. Thanh lân bích huyết cũng đều biến thành bụi hồng, mỹ nhân vốn là hổ cái đắp phấn son, ăn thịt người cũng chẳng chừa lại xương cốt. Vậy mà người ta lại chẳng tin! Sao người ta lại chẳng biết tin!"
[Dương Đài là tên gọi một ngọn núi, nơi thần nữ núi Vu Sơn làm mây mưa, Dương Đài tượng trưng cho chốn mộng mị. Có câu thơ: Người đương giấc bướm Dương Đài, Giấc tàn nhường thấy hiên cài ngẩn ngơ. Tuyền đài là âm phủ.] 

Tôi đọc xong những lời nhắn nhủ về giới dâm của Cửu Thiên Huyền Nữ, trong lòng cũng thấy cảnh giác. Tôi lại càng mong muốn con người trong thiên hạ hãy luôn cảnh giác!


### 13. Quyến rũ tăng


Khi còn trẻ, tôi đã từng nghe câu chuyện về quyến rũ tăng. Câu chuyện này rất có tính cảnh tỉnh, trong đầu tôi không thể quên được, lại càng không thể rũ bỏ nó ra khỏi đầu. Tôi hy vọng thông qua câu chuyện này, hành giả tu hành sẽ càng thêm chú ý giữ giới.

Tình tiết của câu chuyện quyến rũ tăng như sau:

Có một tăng nhân kiên trì theo khổ hạnh, chịu đựng gió sương, sống một mình trong một túp lều cỏ trên núi cao để tu hành. Tăng nhân cứ âm thầm sống như vậy suốt 20 năm. Đồ ăn của ông chỉ là cỏ dại rau rừng trên núi. Quần áo của ông thì rách nát hết cả, chỉ đủ để che thân thể mà thôi.

Về sau, có người lên núi đã phát hiện ra tăng nhân này. Thế rồi, một đồn mười, mười đồn trăm, người ta cho rằng tăng nhân này vì sống khổ hạnh nên đã quá lạc hậu so với chúng ta. Tăng nhân này đã 20 năm không xuống núi, đã phải chịu rất nhiều khó khăn gian khổ, đặc biệt là có khả năng sống sót một mình, khiến người ta trong lòng vô cùng bái phục. Cho dù mùa đông lạnh giá, ông cũng có thể sống sót qua ngày.

Có người đồn rằng tăng nhân ở cùng với hổ, rắn, thế mà không bị hổ rắn làm hại, thậm chí hổ và rắn độc đều trở thành hộ pháp của tăng nhân. Sau khi những tin tức này được lan truyền đi, những người sống dưới núi lũ lượt kéo đến thăm tăng nhân. Ban đầu vốn không có đường mòn, dần dần đã hình thành nên một con đường nhỏ cong cong như sừng dê dẫn thẳng đến chỗ tăng nhân tu hành. Con đường này về sau càng ngày càng tốt vì rất nhiều người đi lại.

Chỗ ở của tăng nhân cũng được cải thiện rất nhiều. Người dưới núi cũng chuẩn bị giúp tăng nhân xây một ngôi chùa lớn, có thể chứa được nhiều người hơn đến đây để theo tăng nhân tu hành. Đức hạnh của tăng nhân lại càng được lan truyền đi xa hơn, trong vòng vài năm xa gần đều hay tiếng. Mọi người đều nhận định ông ấy là một vị cao tăng.

Dưới ngọn núi cao này có một viên ngoại, viên ngoại chính là một địa chủ có tiền có thế, ông ta có rất nhiều tiền, thế lực rất mạnh. Hàng năm vào dịp sinh nhật của viên ngoại, người dân tại địa phương sẽ tụ tập, tất cả mọi người đều đến chúc mừng sinh nhật viên ngoại, thậm chí làng xóm lân cận cũng mau chóng đến cùng tham gia, cảnh tượng rất linh đình, náo nhiệt như đón năm mới vậy.

🌟

Sinh nhật năm đó.
Viên ngoại theo tiền lệ đã tổ chức tiệc lớn để chiêu đãi khách khứa đến chúc mừng sinh nhật ông ta. Nhưng viên ngoại phát hiện ra người ta đã trở nên lạnh nhạt, chỉ có từng tốp đôi ba người đến, thậm chí có rất nhiều nhân sĩ không thấy có mặt. Điều này khiến cho viên ngoại cảm thấy vô cùng kì lạ.

Hóa ra là cao tăng cử hành pháp hội. Trong con mắt của người dân, vị cao tăng này từ lâu đã vượt qua viên ngoại rồi, ông ta đã trở thành nhân vật ở tầm cỡ lãnh đạo. Ông ta thuyết pháp cũng giống như một trận cuồng phong, thế là lại liên tiếp có thêm nhiều truyền kì. Ông ta khiến mọi người ngưỡng mộ, do vậy pháp hội của ông đều luôn có nhiều dòng người lũ lượt kéo đến.

Cao tăng có dáng hình khỏe mạnh. Trì giới, phẩm đức đều vô cùng cao thượng. Nhân sĩ trong vùng ai nấy đều đã trở thành đệ tử của cao tăng. Cao tăng đã trở thành nhân vật tiếng tăm lừng lẫy sáng chói.

Trước tình hình như vậy, trong lòng viên ngoại cảm thấy rất khó chịu. Trước đây, viên ngoại ở dưới núi là người có tiền khiến ai nấy ngưỡng mộ, ông ta cũng thường làm việc thiện, tiếng lành lan truyền khắp xa gần, ai cũng nói ông là người tốt.

Nhưng người được gọi là cao tăng ở trên núi kia chẳng phải tốn một đồng một hào nào, chỉ nhờ vào những lời đồn đại mà đã lôi kéo được hết cả mọi người. Viên ngoại tự cảm thấy dường như chính mình đã khô héo rồi, thanh danh chỉ còn cách sự méo mó một bước nữa thôi. Khi mọi người tán thán cao tăng ở trước mặt viên ngoại, viên ngoại bề ngoài không để lộ ra biểu hiện đố kị, nhưng phía sau thì đã nghiến răng kèn kẹt vì tức giận cao tăng rồi.

🌟

Buổi chiều lảng bảng một ngày nọ.
Mấy người thị nữ hộ tống một chiếc kiệu, ngồi bên trong kiệu là một phu nhân xinh đẹp như hoa như ngọc, đến chỗ ở của cao tăng. Phu nhân xinh đẹp này đến nghe cao tăng thuyết pháp khai thị. Phu nhân xinh đẹp này tự gọi mình là Quan phu nhân ở huyện láng giềng, diện mạo duyên dáng yêu kiều, lông mày cong cong như trăng khuyết, đôi mắt lúng liếng đa tình, cái mũi xinh xắn, cái miệng nhỏ xinh như trái anh đào. Khi nàng cất tiếng nói thì như chim oanh đang hót. Quan phu nhân bước đi thì trang sức trâm cài phát ra những âm thanh leng keng như tiếng chuông, dáng điệu uyển chuyển. Người phụ nữ này vừa xinh đẹp vừa duyên dáng.

Cao tăng khép mắt thuyết pháp. Phu nhân xinh đẹp và các thị nữ không ngừng xuýt xoa tán thán. Cao tăng thuyết pháp xong định đi vào phòng trong. Phu nhân xinh đẹp và các thị nữ không chịu, cho rằng cao tăng thuyết pháp vô cùng tuyệt vời, nên thỉnh cao tăng tiếp tục thuyết pháp. Thế là, cao tăng lại kể về nguồn gốc chuyện Phật Đà xuất gia, kể chuyện hay đến nỗi phu nhân xinh đẹp khóc như mưa, trong lòng cảm động sâu sắc. Cao tăng nói đến khi mặt trời lặn, phu nhân xinh đẹp và thị nữ vẫn có ý chưa muốn về.

Trời đã tối, đường núi vô cùng gập ghềnh, Quan phu nhân này vốn đã có dự định lên núi nghe cao tăng khai thị rồi có thể sớm xuống núi, không ngờ vừa nghe cao tăng nói là nàng đã thấy hứng thú đến mức trời tối cũng không biết, thời gian trôi qua thật nhanh.

Ở trên núi, một khi mặt trời đã khuất thì màn đêm ập xuống rất nhanh, bốn bề xung quanh là bóng đêm đen kịt, chim thú không ngớt kêu lên những tiếng gọi nhau. Mọi người đều biết đường núi gập ghềnh khó đi, bởi vậy chỉ còn có cách lưu lại trên núi một đêm.

Nơi ở này của cao tăng ban đầu chỉ là nơi một người tu hành, suốt 20 năm ông đều sống trong lều cỏ, rất thô sơ chật hẹp. Về sau đệ tử nhiều lên, các đệ tử đã giúp cho sư phụ xây lên một giảng đường, giảng đường cũng là đại hùng bảo điện, hai bên trái phải có mấy căn phòng, khi có pháp hội mới có người ở, còn bình thường thì chẳng có ai, cao tăng vẫn sống một mình.

Quan phu nhân xinh đẹp và mấy thị nữ muốn ở lại, đương nhiên là không có vấn đề gì. Quan phu nhân một mình ở căn phòng bên phải, các thị nữ thì ở trong những căn phòng bên trái. Đêm đó, mọi người đều đi ngủ từ sớm.

🌟

Đến khoảng nửa đêm, cửa phòng của cao tăng có tiếng gõ cửa cộc cộc, âm thanh rất nhỏ, nhưng rất gấp gáp. Cao tăng mở cửa thì thấy bên ngoài là phu nhân xinh đẹp yêu kiều. Nhưng khuôn mặt nàng lại hơi tái, vẻ mặt rất đau đớn tuyệt vọng, giống như bị bệnh. Phu nhân xinh đẹp đưa hai tay ôm lấy đầu, rõ ràng là nàng đang rất đau đớn.

Tăng nhân sửng sốt:
"Phu nhân bị bệnh gì?"
"Để ta vào trong phòng rồi nói, bên ngoài gió to quá!"

Tăng nhân không nghi ngờ gì nàng, để nàng vào trong phòng trước, tăng nhân đi lấy một cốc trà đưa cho phu nhân xinh đẹp uống. Tinh thần của phu nhân đã có chút ổn định lại.

Phu nhân xinh đẹp nói:
"Sư phụ, thầy phải cứu ta!"
"Đương nhiên ta sẽ cứu phu nhân, nhưng ta không phải là bác sĩ."
"Thầy chắc chắn có thể cứu được đệ tử."
"Nếu có thể cứu thì ta nhất định sẽ cứu!"

Lúc này, phu nhân xinh đẹp mới nói: nàng có một căn bệnh bẩm sinh rất kì lạ, từ khi còn trẻ đã bị bệnh rồi. Bệnh này hễ phát sinh là đầu đau ghê gớm, đau tới mức không thể chịu đựng được, đau tới mức khiến cô lăn lộn trên mặt đất.

Muốn chữa khỏi căn bệnh này cũng rất đơn giản, chỉ cần một người đàn ông chạm rốn mình vào rốn của cô, nói ra thì rất kì lạ, nhưng hễ chạm vào là đầu không còn đau nữa. Trước đây là cha cô có thể cứu được cô. Sau khi cô gả cho người ta thì là chồng cô cứu cô.

Phu nhân xinh đẹp nước mắt giàn giụa nói:
"Cũng khá lâu rồi ta chưa bị lại bệnh này, nhưng đêm nay dường như bệnh lại phát tác, do vậy ta đặc biệt tới để xin sư phụ cứu ta!"
Tăng nhân nói:
"Ở đây chẳng có người đàn ông nào khác!"
Phu nhân xinh đẹp nói, giọng nhõng nhẽo như đứa trẻ:
"Chính vì không có người nào khác nên mới đến để cầu xin sư phụ cứu mạng đó!"

Đột nhiên, phu nhân này thét lên một tiếng rồi ngã lăn ra đất, thực sự là nàng ta lăn qua lăn lại trên mặt đất, hai tay ôm lấy đầu, bộ dạng cực kì thê thảm. Cao tăng sững người lại. Nếu không cứu thì phu nhân xinh đẹp trước mặt đây sẽ bị chứng bệnh đau đầu quái ác làm cho nàng không thể chịu đựng nổi, có thể không cứu sao? Muốn cứu thì phải cởi quần để chạm rốn của mình vào rốn của phu nhân.

🌟

Cao tăng nhìn phu nhân xinh đẹp trước mắt mình, cho dù nàng đang vô cùng đau đớn, nhưng tư sắc của nàng vẫn vô cùng duyên dáng quyến rũ. Mái tóc dài buông xõa, áo quần lả lơi để lộ ra làn da vừa trắng vừa mềm, vừa mượt vừa trơn, bộ ngực kia, eo thon kia, rồi cả cặp đùi tròn trịa nõn nà như ngọc, người bình thường nhìn thấy chắc chắn sẽ phát sinh sự thèm khát dâm dục vô cùng.

Tăng nhân nghĩ:
Đây không phải là tham dâm lạc nhất thời. Mà là chỉ chạm một cái rồi thu về, không hề gây thương hại gì. Cứu một mạng người còn hơn xây tháp Phật bảy tầng, bất chấp những lo lắng nguy hiểm sau này!

Thế là tăng nhân cởi quần rồi đưa rốn mình chạm vào rốn của phu nhân xinh đẹp. Nhưng muốn chạm vào được cũng không phải dễ dàng, tuy vậy vừa chạm vào một cái, quả thực là phu nhân đã khỏe lên. Lập tức hai tay hai chân của phu nhân xinh đẹp quắp chặt lấy cao tăng, phu nhân như một con bạch tuộc quấn chặt lấy cao tăng, chặt đến mức ngạt thở muốn chết.

🌟

"Kinh Lăng Nghiêm" viết: "Thập phương Như Lai, xem chuyện hành dâm, đều là lửa dục. Bồ Tát thấy dục, như tránh hầm lửa. Nếu chẳng đoạn dâm, người tu thiền định, khác chi nấu cát, mong được thành cơm, qua trăm nghìn kiếp, vẫn là cát nung."

🌟

Mấy ngày sau. Viên ngoại ở dưới núi sai người gửi một lá thư đến cao tăng ở trên núi.

Trong thư chỉ có một bài thơ trào phúng:
*"Sáng ra đánh trống tối gõ chuông
Cao tăng tu định tiếng tăm đồn
Tiếc thay trăm năm xá lợi tử
Đã chảy hết vào hai cánh sen."*
Cao tăng đọc xong thì mặt mày biến sắc.

Trong lòng cao tăng tràn ngập hối hận. Ông thử sắp xếp lại suy nghĩ của mình, vì sao lúc đó ông đã không nhìn ra sự phá hoại. Tổ sư chẳng phải đã dạy ta như vậy hay sao?

Khi nhìn thấy phu nhân xinh đẹp nằm thẳng ra đó, cần phải xem như đó là một người đã chết, cựa quậy một chút cũng không, xương cốt trơ cứng không còn biết gì nữa. Phu nhân xinh đẹp này đầu rỗng tuếch, không một chút trí tuệ, có gì đáng yêu.

Nhìn thấy phu nhân xinh đẹp thân thể như ngọc nằm thẳng ra đó, da dẻ dù có trắng trẻo nhưng chỉ thay đổi một cái là thành tím tái, rồi chuyển thành đen sì, chỉ là bộ xương khô lạnh lẽo, có gì đáng yêu.

Nhìn thấy phu nhân xinh đẹp da trắng mịn màng, cần phải biết rằng bên dưới làn da đó toàn là máu thịt và mạch máu, những lớp thịt thối rữa bọc quanh xương, có gì đáng yêu.

Nhìn thấy phu nhân xinh đẹp như hoa như nguyệt, nhưng vốn chỉ là một đám đầu lâu xương sọ, lỗ mắt sâu hoắm, lỗ mũi hõm sâu, răng vàng khè và khí đen tỏa ra, một cái đầu lâu như vậy có gì đáng yêu.

Nhìn thấy phu nhân xinh đẹp với eo thon quyến rũ, phải xem như da thịt đang thối rữa, dần dần róc ra, dạ dày và ruột cũng thối rữa, dịch vàng rỉ ra, thối không ngửi nổi. Cái eo thon thơm tho, những đường cong mỹ miều, hóa ra chẳng quyến rũ tí nào, có gì đáng yêu.

Nhìn thấy phu nhân xinh đẹp lăn qua lăn lại, cần biết rằng đám xương cốt đó giống như cái máy, bên trong xương cốt đó giống như tổ ong, chỗ nào cũng nhức nhối, cái đám xương trắng cứng đặc đó có gì đáng yêu.

Nhìn thấy phu nhân xinh đẹp, phải thấy rằng toàn thân chỉ là thịt thối, hoặc gân cơ, hoặc xương khô, da thịt thối rục hết, gân cơ cũng thối rục hết thì chỉ là đống xương chồng chéo, thế rồi khắp cơ thể là dòi bọ côn trùng, nằm teo quắt trên mặt đất, tất cả đều đen sì và thối rữa, kinh dị tới mức không dám nhìn, có gì đáng yêu.

Đã biết là không thể yêu nổi, hà cớ gì vẫn cứ đâm đầu chuốc vạ vào thân?

🌟

Nói một cách nghiêm túc thì không hẳn là chính cao tăng đi tìm rắc rối, mà là phu nhân xinh đẹp kia đã đến kích động, dùng vẻ đẹp của mình để ve vãn và quyến rũ, chính là phu nhân xinh đẹp đã tự mình tìm đến.

Cao tăng tự than:
"Vì sao bản thân tu hành nhiều năm, sống cuộc sống độc thân thanh cao, thế mà lại đi làm cái việc vô liêm vô sỉ, bẩn thỉu tội lỗi như vậy! Vì một lúc không thể tự chủ được mà đã đem cái gốc sinh mệnh của mình cho vào cửa rắn độc của phụ nữ, dùng cái dương chất của mình cho vào miệng rắn, thật quá ngu si!"

Cao tăng càng nghĩ thì tinh thần càng run sợ, người sởn gai ốc kèm theo cảm giác tức giận bản thân vô cùng. Tuy nhiên, ông hối hận thì đã muộn rồi.

"Kinh Bốn Mươi Hai Chương" cũng nói: "Xem phụ nữ già cả như mẹ mình, xem phụ nữ lớn tuổi hơn như chị gái, xem phụ nữ nhỏ tuổi hơn như em gái, nhỏ tuổi hơn nhiều thì xem như con gái của mình. Xem phụ nữ như vậy sẽ phát sinh tâm muốn độ họ giải thoát, dập tắt mọi ý nghĩ xấu."

"Kinh Phạm Võng" cũng viết: "Tất cả nam tử là cha ta, tất cả nữ nhân là mẹ ta, ta đời đời được sinh ra từ họ, do vậy cần phát tâm hiếu thuận, tâm từ bi."

🌟

Sau này, cao tăng biết được rằng, phu nhân xinh đẹp kia chẳng phải là Quan phu nhân của thôn láng giềng, cũng chẳng phải là phụ nữ từ gia đình lương thiện, mà chỉ là một kĩ nữ xinh đẹp có tiếng mà thôi. Viên ngoại kia đã bỏ tiền ra để yêu cầu cô ta tới. Viên ngoại và một số người hiến kế cho ông đã cẩn thận lên kế hoạch đó. Tất cả mọi việc chính là như vậy. Mục đích của ông ta chính là tìm cách quyến rũ cao tăng.

Sau đó, ông ta đã đem chuyện cao tăng buông thả trong tình dục này công khai với mọi ngươi xung quanh, nói rằng cao tăng đã lén cướp ngọc trộm hương, mất hết đạo lý mà loạn luân, bại gia nhục tổ, làm mất mặt cả Phật tổ, tiếng xấu lan truyền khắp xa gần trong thôn.

Cao tăng tự trách mình ghê gớm. Là một người tu hành không tham dâm sự, chỉ một bước sai lầm mà đã tự chôn sống mình. Họa này đối với một hành giả thật quá ác liệt!
Thật quá bi ai!
Thật quá đáng sợ!
Hãi hùng thay! Hãi hùng thay!

Điều khiến mọi người kinh hoàng sửng sốt nhất là cao tăng đã treo cổ tự sát mà chết. Người ta nói rằng sau khi cao tăng này tự sát chết, vợ của viên ngoại sinh được một đứa con trai, đứa con trai này khi lớn lên đã phung phí tất cả gia sản của viên ngoại, khiến viên ngoại phải đi lang thang bên ngoài, trở thành kẻ ăn mày xin ăn từng bữa. Phu nhân xinh đẹp kia thì mắc bệnh, toàn thân lở loét mà chết. Còn những người can dự vào việc bày kế hãm hại tăng nhân, ai nấy đều bị điên rồi bỏ đi mất tích.

🌟

Quan điểm và cảm nghĩ của tôi đối với việc quyến rũ tăng như sau:

Cao tăng mặc dù đã tu hành đến cảnh giới không tệ, nhưng ở mức độ nào thì vẫn còn nhiều tranh cãi. Trong định giới của Phật pháp thì có sự phân biệt:
1. Trong lòng vẫn có suy nghĩ về tình dục thì vẫn rất dễ bị ảnh hưởng từ bên ngoài mà sinh ra những tham niệm về tình dục. Cần phải tu bất tịnh quán, bạch cốt quán, khiến cho những suy nghĩ về tham niệm không còn sinh ra nữa.
2. Mặc dù trong tâm từ lâu đã không còn muốn tình dục, nhưng cần phải tăng cường sự kiên định không nghĩ tưởng này, nói cách khác là điều này phải giữ được liên tục không gián đoạn. Cần tu bất tịnh quán, bạch cốt quán để cho tham niệm vĩnh viễn không khởi sinh ra nữa.
3. Để tâm mình giữ vững cố định trong trạng thái quang minh trong sáng, thanh tịnh không vướng bẩn, trong sự an lạc kì diệu, trong sự thư thái quý giá. Trạng thái đại lạc quang minh này do chính thân tâm chứng minh được, có thể mọi lúc an trụ trong sự viên mãn, biết được rằng đây mới là thân đại lạc viên mãn. Đến được cảnh giới này thì những yêu hoặc đến từ bên ngoài cũng không còn tác dụng gì.
4. Sắc chính là Không.
5. Thức chính là Không.
6. Sắc vô sở hữu.
7. Phi tưởng phi phi tưởng.
8. Diệt tận định.

Nói thẳng ra, tôi, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, từ lâu đã đạt tới cảnh giới thứ ba được nói đến ở trên, cảnh giới này chính là đại lạc quang minh. 

Thế nào là đại lạc? Là chứng thực được bằng chính thân tâm của mình, cái lạc này mới là vĩnh viễn, sẽ không mất đi, vượt lên hẳn cái lạc của nam nữ thế tục. Cái lạc của nam nữ thế tục sẽ bị mất đi, còn cái lạc của tôi không bị mất đi, là vô lậu, đây mới gọi là đại lạc.

Thế nào là quang minh? Quang minh là trạng thái từ từ sinh ra nhờ vào sự thanh tịnh của thân tâm. Quang minh ở đây cũng chính là tự tại, có thể nhỏ như hạt gạo, có thể to như núi Tu Di, có thể thường lạc khinh an, có thể tự chủ tất cả, có thể không còn giới hạn, có thể đạt được tất cả những gì ta muốn. Tất cả đều trong sáng, thanh tịnh, không bụi bẩn. Từ đó, tiến nhập vào cảnh giới: bất thoái, bất động, độc giác, Phật.

Đối với cao tăng, vì không chịu nổi danh dự bị hủy hoại nên không có cách nào tiếp tục sống, đã treo cổ tự sát, tôi thực sự không thể hiểu nổi!

Lẽ nào cao tăng không hiểu sao? Tự sát tức là giết Phật, trong tâm mỗi người đều có Phật tính, ai nấu đều là Phật tương lai, tự sát cũng tương đương với giết Phật.

Giết Phật, giết cha, giết mẹ, giết hòa thượng, giết A-xà-lê, giết thánh nhân (bao gồm A La Hán, Bồ Tát) là bảy nghịch tội. Là phạm tội ba-la-di (parajika), là tội vứt bỏ Phật pháp, là tội chặt đầu, tội không thuốc nào cứu chữa được. Tội không thể tha thứ.

🌟

Tôi cho rằng cao tăng có hai con đường để lựa chọn:

1. Tăng phá giới — tăng đã phá giới thì sẽ thành tăng phá giới, phá giới thì tức là phá giới, đừng tái phạm là được. Đối với những suy đồi, phỉ báng, châm chọc, đau khổ đến từ bên ngoài có thể không tác động đến tâm, tu hành cho tốt định giới chân thực của đại lạc quang minh. Thử nghĩ đến Phật Đà trong những kiếp quá khứ đã tự thuật lại nhân quả, cũng là một vị tăng đã từng phá giới, Phật Đà cũng đã từng phạm giới dâm. Đạo cần chăm chỉ mới có được, đạo không phải lười nhác mà có được. Phải càng tinh tấn hơn, tránh xa những lời xì xào.

2. Hoàn tục — nếu như tự mình thấy rằng mình đã phá giới rồi, tăng phá giới thì khó tiếp tục làm tăng nữa, nhưng vẫn không nên tự sát, nếu như thực sự không có cách nào đối diện với đại chúng thì có thể hoàn quy thế tục, nhưng hoàn quy thế tục hoàn toàn không phải từ đó tùy ý buông thả, có thể vui vẻ ca hát nhảy múa với kĩ nữ, có thể ăn thịt uống rượu, có thể kiếm tiền chơi bời, hưởng thụ vinh hoa phú quý. Mà là với thân phận khác, nói cách khác là với thân phận cư sĩ để tiếp tục tu hành, nói không chừng có thể độ được càng nhiều người hơn.

Biết xấu hổ, biết hối hận! Nhưng không có nghĩa là trở nên lười biếng buông thả!

🌟

Còn đối với những người như nàng kĩ nữ, viên ngoại, cổ đức có một câu rằng:
"Thà khuấy nước nghìn sông, tâm đạo nhân đừng nhiễu."

Còn nữa:
"Người đã tu hành xuất thế, sao còn ve vãn tán tỉnh, hủy hoại giới hạnh hại thanh danh của người ta. Người không chú ý tới sự thanh tịnh của Phật môn, thì mắt thần giận dữ như điện, kẻ cố tình sắp đặt cạm bẫy thì tội nhân quả không hề nhẹ, sự oán hờn giận giữ sẽ còn đeo đẳng ràng buộc mãi về sau."

Còn nữa:
"Kẻ làm hủy hoại đức hạnh của người khác là nặng nhất trong các ác nghiệp, khi còn sống sẽ phải chịu đủ loại trừng phạt báo ứng như tai họa, giảm thọ, diệt tử tuyệt tôn. Sau khi chết thì linh hồn vĩnh viễn chịu đau khổ."

Viên ngoại chỉ phải chịu quả báo là gia tài cạn kiệt, phải đi lang thang làm kẻ ăn mày, đây có thể coi là báo ứng rất nhẹ rồi. Còn nàng kĩ nữ kia thì quá vô tri, mắc phải chứng bệnh lở loét mà chết, sau khi chết phải xuống ác ngục, đây chính là báo ứng của sự ngu ngốc. Còn những kẻ hiến kế bị điên mà bỏ đi mất tích là quả báo trong kiếp hiện tại, trên thế giới này có rất nhiều kẻ vô công rồi nghề chuyên a dua để gây phiền toái cho người khác.

Đối với cao tăng trong câu chuyện quyến rũ tăng, linh hồn sau khi treo cổ tự sát mà chết chắc chắn sẽ rất thê thảm! Tội này nghiệp nặng lắm thay!

Cổ hiền Uông Chu từng nói:
"Trong mọi ác nghiệp thì dễ phạm phải nhất là sắc tình, làm bại hoại đạo đức và tự chuốc lấy họa, do vậy đừng vướng vào tội này. Người đời đã nói trong vạn ác thì dâm đứng đầu. Hãy suy nghĩ về một chữ dâm này, ác nghiệp trong thế gian nhiều vô cùng, nhưng vì sao mà dâm lại là tội ác lớn nhất?

Một khi dâm niệm sinh ra thì kéo theo mọi suy nghĩ khác. Tà duyên chưa đến đã sinh ra tâm huyễn vọng, thế rồi tìm cách quyến rũ, sinh ra tâm hãm hại người khác. Khi bày kế hãm hại lẫn nhau thì sẽ sinh ra tâm sân hận, khi điên đảo tham đắm vào tình dục sẽ sinh ra tâm tham ái, ghen tị khi người khác có tình ái mà mình không có sẽ sinh ra tâm đố kị, chiếm đoạt tình cảm của người khác sinh ra tâm sát hại.

Liêm sỉ mất hết, luân lý còn đâu, mọi loại ác nghiệp, từ đây mà ra, bao nhiêu thiện nguyện, từ đây mà mất, do vậy mới nói, trong vạn điều ác, tà dâm đứng đầu.

Khi khởi lên dâm niệm thì sự quang minh chính đại đã bị che lấp, tâm cũng điên đảo rồi! Trên đời có người trung hậu thiện lành nhưng lại không có con cháu thừa tự, có tài sĩ văn nhân suốt một đời lận đận, tất cả nguyên nhân đều nằm ở đây. Khi bản thân khởi lên suy nghĩ tà dâm thì phải lập tức cắt đứt suy nghĩ, cắt đứt ác duyên là cái gốc của mọi rắc rối.

Thái Thượng không nói về bản thân cái đẹp, mà nói về việc nhìn thấy người ta xinh đẹp thì khởi tâm tư, mà một khi đã khởi tâm tư rồi thì đã chẳng thể thoát tội rồi!"

Đọc xong lời dạy của cổ hiền, thân tâm tôi cũng lấy làm kinh sợ!


### 14. Chuyện lạ về siêu độ


Ngày xưa.
Tôi nhận lời mời đến siêu độ cho một thanh niên, gia đình của người thanh niên này rất giàu có, ông nội và bố của anh đều là nhà buôn lớn. Pháp sự được tổ chức tại sân chính ở nhà họ, cúng phẩm được chuẩn bị rất phong phú. Tôi lên pháp tọa ngồi.

Vừa lên ngồi chưa được bao lâu, tôi đã nhìn thấy Tư Mệnh Chân Quân (Táo Thần) của gia đình này, cầm sợi vải trắng, trên đó có viết hai chữ "dâm báo" đưa cho tôi xem. Tôi nhìn thấy thì im lặng coi như không biết gì. Nhưng trong lòng tôi vô cùng kinh ngạc.

Tôi ngồi trên pháp tọa xem xét sớ văn, biết được thanh niên này họ Từ, tên Bản, 25 tuổi đã chết rồi, nguyên nhân chết không rõ. Bởi tôi đã lên pháp tọa rồi, do vậy không thể vì Tư Mệnh Chân Quân cho tôi xem hai chữ "dâm báo" mà không siêu độ nữa. Tất cả mọi thứ vẫn được cử hành theo đúng nghi thức.

Khi triệu thỉnh tiếp dẫn linh hồn, pháp sư hoặc người chủ sự cần phải bói chén để hỏi xem linh hồn đã đến chưa, còn tôi thì luôn nhìn bằng chính mắt mình xem linh hồn đã đến hay chưa, đây là điểm đặc biệt trong việc siêu độ của tôi. Khi tôi nhìn thấy linh hồn đến rồi sau đó linh hồn đi mất, thì mới gọi là đã thực sự siêu độ được, bằng không, siêu độ mà chỉ khiến cho linh hồn trôi vào trong các lỗ rỗng thì chỉ là siêu độ giả ở mức độ nông mà thôi.

Tôi đọc xong chú triệu thỉnh, cũng đã đốt xong sớ văn, nhưng tôi thấy linh hồn của Từ Bản vẫn chưa đến. Tất cả vẫn trống rỗng xa xăm.

Pháp sự như vậy thì không thể tiếp tục tiến hành được nữa. (Nếu là pháp sư khác thì họ vẫn cứ thế làm tiếp, bởi vì mọi người khác cũng chẳng thể nhìn thấy.) Còn tôi thì biết nếu có làm tiếp cũng chỉ là siêu độ giả, nên tôi không làm.

Tôi lại dùng ấn móc câu trong Mật giáo để câu linh hồn về, rồi búng ngón tay mấy cái, nhưng kết quả là linh hồn vẫn chưa đến. Nhưng Tư Mệnh Chân Quân (Táo Thần) lại đến, ông lại cầm lên sợi vải trắng và giơ cho tôi xem hai chữ "dâm báo".

🌟

Tư Mệnh Chân Quân tục gọi là Táo Thần, vào triều đại nhà Thương, nhà Chu đã thường hiển hiện. Táo Thần là quan cai quản trong bếp, là vị thần của bếp lửa, dân gian cho rằng ngày 3 tháng 8 âm lịch là sinh nhật của Táo Quân, vào ngày 24 tháng Chạp sẽ tiễn Táo Thần lên trời, đây chính là "lên trời báo việc tốt, dưới đất giữ bình an".

Kì thực, Táo Thần là hóa thân của Hỏa Thần, sau này trở thành vị thần bảo vệ nhà bếp. Trong tín ngưỡng dân gian Trung Quốc, Táo Thần không chỉ có nhiệm vụ chăm lo nhà bếp luôn đỏ lửa mà còn kiêm luôn việc quản lý công đức tai họa thiện ác của cả nhà. Mỗi năm Táo Thần lên trời báo cáo một lần, theo đó sẽ quyết định họa phúc năm tới của nhân gian.

🌟

Tôi hỏi Táo Thần:
"Linh hồn của Từ Bản ở đâu?"
Táo Thần đáp:
"Không có."
Tôi nói:
"Khi sống làm người, chết rồi thành ma, bây giờ linh hồn không có ư, tôi không tin!"
Táo Thần vẫn nói:
"Không có."
"Hay là ông giấu mất linh hồn của Từ Bản rồi?"
Táo Thần lắc đầu đáp:
"Làm gì có."

Tôi sững người lại. Táo Thần không hề giấu linh hồn của Từ Bản, còn tôi dùng công văn của âm phủ triệu thỉnh, nếu linh hồn của Từ Bản ở trong âm gian thì từ lâu đã phải bay tới đây rồi, thế nhưng vì sao vẫn chưa đến, tôi hoàn toàn không hiểu được. Tóm lại, không thấy linh hồn của Từ Bản đâu cả!

Tại dương gian, Từ Bản đã chết rồi. Tại âm gian, không tìm thấy linh hồn Từ Bản đâu, vậy thì anh ta ở chỗ nào? Ở trong bốn đại đất, nước, lửa, gió chăng?

Tôi đọc một câu chú:
"Ôm tun-chu-li mi-li-li fan-tu-li hưa-li-li hu-lu hu-lu hum."

Đại ý câu chú này là:
Có thể tìm khắp cát bụi trong đất.
Có thể tìm khắp thế giới trong nước.
Có thể tìm khắp mọi thứ trong lửa.
Có thể tìm khắp đại kiếp phong luân.
Tất cả mọi nơi trú ẩn trong các thế giới vi tế, mọi thứ đều có thể hiển hiện!

Kết quả là: "Không có gì hết."

Tôi biết câu chú này là câu chú đại uy thần lực trong số trăm nghìn vạn tỉ câu chú triệu thỉnh. Nếu như triệu thỉnh mà linh hồn vẫn không đến thì thực sự pháp sự không cần phải làm nữa, có làm cũng như không. Thế nên tôi rời khỏi pháp tọa.

Tôi nói với người chủ sự:
"Tôi không làm nữa!"
Người chủ sự nói:
"Có chỗ nào sai sót sao? Tiền không đủ nhiều sao?" (Ông ta cho rằng tiền thuê tôi làm pháp sự ít quá.)
"Không phải không đủ tiền, mà là có điều rất cổ quái!"
"Cái gì cổ quái?"
Tôi nói thẳng:
"Bầu không khí rất kì lạ, linh hồn thì không đến, có liên quan đến dâm báo, tôi chẳng có cách nào là siêu độ được!"
Người chủ sự nói:
"Sao có thể thế được! Sao lại có điều phi lý này! Một pháp sự siêu độ bé tí mà pháp sư nói không làm là không làm. Lại còn cái gì mà bầu không khí, linh hồn, dâm báo, chúng tôi mời người khác tới làm là xong."

Tôi cúi đầu cáo từ người chủ sự và bạn bè thân hữu của gia chủ có mặt tại đó, thế rồi tôi bối rối rời đi.

🌟

Tôi đã từng vì chuyện siêu độ này mà trong lòng cảm thấy rất buồn, bởi vì sự việc như thế này thực sự rất hiếm có. Tôi đã lên pháp tọa, rồi lại đi xuống, nói với người chủ sự rằng không thể làm siêu độ được, trong xã hội ngày nay cơ bản là chẳng có chuyện như vậy. Trong đời này của tôi cũng rất hiếm gặp tình huống như thế, chỉ mới có một, hai lần mà thôi. Những lần khó nhất thì cũng chỉ đợi lâu hơn một chút là làm được.

Tôi tuyệt đối không phóng đại, cũng không tự cao ngạo hay vì bất kì nguyên nhân gì khác, bởi vì tôi thực sự biết rằng linh hồn của Từ Bản không đến, thực sự là tìm không ra linh hồn của Từ Bản. Linh hồn không đến thì siêu độ cái gì?
Tôi quá thật thà.

Tôi không nói dối hay làm siêu độ giả.

🌟

Tôi muốn biết linh hồn của Từ Bản rốt cục đã đi đâu, thế là tôi đi đến miếu Thành Hoàng tìm người bạn già của tôi là Thành Hoàng tôn thần.
Tôi hỏi:
"Linh hồn của Từ Bản ở đâu?"
Thành Hoàng đáp:
"Phải giở sổ đăng kí ra tra."
"Thế thì ngài tra đi! Làm ơn nhanh nhanh chút!"

Thành Hoàng tra sách khoảng mười lăm phút, không ngờ trả lời rằng:
"Trong sổ này không có."
"Có gì sai hay sao, anh ta ở khu vực do ngài quản, người chết rồi, linh hồn thì không có dữ liệu, sao có thể như vậy được?"
Thành Hoàng đáp:
"Có hai loại người sau khi chết sẽ không trải qua việc đăng kí thông tin, một loại là người tu hành sẽ trực tiếp thăng thiên, nhưng loại người này rất hiếm. Loại người thứ hai là phải chịu báo ứng trừng phạt rất nặng, cơ thể và linh hồn bị diệt sạch hoàn toàn, do bị diệt sạch nên không có tư liệu."
"Chẳng lẽ Từ Bản thăng thiên sao?"
"Không thể nào. Nơi tôi cai quản ngay cả đến một người tu hành chân chính cũng không có."
"Vậy Từ Bản bị diệt sạch hoàn toàn thể xác và linh hồn sao?"
"Không phải là không có khả năng này."
Thành Hoàng nói:
"Con người ngày nay phạm tội thì giết người là đại ác, hãm hiếp người khác là hiểm độc, hiếp rồi giết là cực kì tàn ác, không một ai thoát khỏi bị trừng phạt."

Tôi cảm tạ Thành Hoàng tôn thần đã cho biết thông tin.

🌟

Sau khi tôi trở về nhà, vì chuyện này mà tôi cứ ngẫm nghĩ mãi. Tôi rõ ràng đã nhìn thấy Tư Mệnh Chân Quân cầm sợi vải màu trắng, trên đó có viết hai chữ "dâm báo", chỉ có phạm tội dâm mà thể xác và linh hồn đều bị diệt sạch sao? Thể xác và linh hồn bị diệt sạch hoàn toàn cũng có nghĩa là ngay cả đến linh hồn cũng chết rồi.

Tôi ngồi trước đàn thành, nhắm mắt thiền định. Đột nhiên, tôi nhìn thấy trước mắt mình xuất hiện một màn hình chiếu phim, trên màn hình lần lượt hiện lên từng con chữ: 

"Phụ nữ giúp việc, thường dễ gian dâm, vào nhà họ Từ, bởi vì khốn khó, thiếu gia Từ Bản, liền loạn nhân tính, hủy hoại phong tục, khó kể thành lời. 

Tuổi trẻ ham muốn, thì đâu cũng tới, như kẻ đói khát, thèm thuồng phát điên, hành dâm trong bếp, tội càng thêm nặng, hành dâm bừa bãi, cầm thú khác chi.

Điên cuồng bất chấp, nội ngoại bất phân, ni cô xinh đẹp, chùa Phật chẳng tha, bại hoại thanh tịnh, nơi chốn tu hành, vô cùng dâm ác, tội gấp trăm lần, thoát sao khỏi tội.

Góa phụ hàng xóm, tấm lòng trinh bạch, vẫn tới vãn ve, khuấy động tâm tư, tiết hạnh lâu nay, bỗng chốc tan tành, tội này cực ác, không gì sánh bằng.

Gặp cô gái xinh, nghĩ thân hấp dẫn, bèn muốn dâm loạn, cưỡng bức hiếp dâm, người đẹp kháng cự, dù chết không theo, thế là ép chết, rồi hiếp không tha.

Gian dâm giúp việc, dâm hại ni cô, không tha quả phụ, như kẻ điên cuồng, gái xinh đã chết, đem chôn đồi hoang, vẫn không hối cải, dụ dỗ gái lành.

Ở nơi âm phủ, cô gái kể tội, phái hai La Sát, nhai sạch Từ Bản, từ người tới xương, từ hồn tới phách, một phát nuốt trọn, diệt tận xác hồn."

Tôi đọc những con chữ từ trong tâm tôi hiện trên màn hình, từng chữ từng câu đều vô cùng rõ ràng, đọc xong mà kinh hãi. Quả nhiên Từ Bản này tội dâm tày trời.

Hành dâm với giúp việc nữ trong nhà trước mặt Táo Thần.
Hành dâm với ni cô xuất gia trước mặt Phật.
Làm bại hoại danh tiết của quả phụ hàng xóm.
Hãm hiếp và giết chết con gái nhà lành.

🌟

Từ Bản là do La Sát Quỷ Quốc phái hai La Sát ác độc đến ăn sạch sẽ, sau khi bị nuốt vào bụng La Sát thì linh hồn cũng không thoát ra được. Tóm lại, hai La Sát ác độc kia đã tiêu hóa hoàn toàn linh hồn và thể xác của Từ Bản rồi.

Tôi có lời khuyên thế nhân:
Đừng mê đắm vào tình dục, bởi nếu đã mê vào tình dục rồi thì rất dễ thành bệnh hoạn, khi mà sướng đến cực điểm thì cũng là lúc bi kịch sinh ra, điều này cổ nhân đã từng nói đến từ rất lâu rồi. Người mê đắm vào tình dục thì cũng trở nên vô đạo đức, dâm dục vô cùng, sẽ lặp đi lặp lại, sẽ không thể dừng lại cho tới khi chết.

Đây chính là:
*Nhiễm dần ô uế
Sa đọa hạ lưu
Phóng túng dâm loạn
Xấu xa không chừa.*

🌟

Tình cờ khi đi trên đường, tôi gặp một cụ già, cụ già gọi tôi:
"Lẽ nào là Lư Thắng Ngạn, Lư sư phụ phải không?"
"Là tôi!" - Tôi nói.
"Ngài không nhận ra tôi sao?"
"Tôi chỉ thấy ông hơi quen." - Tôi nói. "Mỗi ngày tôi đều gặp khoảng trăm người, do vậy tôi rất xin lỗi, tôi không nhận ra được."
Cụ già giới thiệu với tôi:
"Tôi họ Tô, là quản gia của nhà họ Từ, tôi đã chứng kiến Từ Bản trưởng thành, hôm siêu độ cho Từ Bản tôi cũng ở đó."
"Ồ! Hóa ra là vậy!" - Tôi đã nhớ ra quản gia Tô rồi, tôi đã gặp ông mấy lần, tôi từng hướng dẫn cho ông cách bố trí pháp đàn như thế nào.
"Tối hôm đó tôi đã nghe thấy những lời ngài nói sau khi ngài rời khỏi pháp tọa."
"Xin lỗi! Tôi thực sự không có cách nào siêu độ cho Từ Bản."
Cụ già vỗ vỗ vào vai tôi:
"Ngài nói mới đúng, ngài mới là pháp sư "xịn"!"
"Xịn ư!"
Cụ già nói:
"Xịn tức là xịn đó!"
Cụ già nói nhỏ với tôi:
"Chúng tôi biết rất rõ những hành vi của Từ Bản, trong lòng rất buồn, nhưng chúng tôi lĩnh tiền lương của nhà họ Từ, sao dám nói gì!"
Cụ già thở một hơi dài:
"Từ Bản tội dâm tày trời, tiểu tử yểu thọ!"

🌟

Cụ già kể rằng:
Giúp việc nữ trong nhà họ Từ có bốn người, còn quản gia nam chỉ có một người. Một buổi tối khuya nọ, cụ già ngủ không được, muốn hút một điếu thuốc bèn ngồi dậy, đi vòng ra vườn hoa phía sau, định ngồi ở đó hút một điếu thuốc.

Bỗng nhiên cụ nghe thấy tiếng rên của một giúp việc nữ khá xinh đẹp họ Thẩm: "Hây! Hây!" Cụ già nấp vào một chỗ tối để quan sát, thì giật nảy mình, hóa ra dưới ánh trăng, hai con người trần trụi đang làm cái "chuyện đó", người ở trên chính là Từ Bản.

Giúp việc họ Thẩm đã là một phụ nữ trung niên, ở nhà cũng đã có chồng. Về sau cụ già phát hiện ra họ còn làm "chuyện đó" trong bếp nữa. Điều không ngờ tới là giúp việc nữ có bốn người thì Từ Bản đều "câu" cả bốn, khiến cho bốn người giúp việc còn suốt ngày ghen tuông lẫn nhau nữa!

Tôi hỏi:
"Có chuyện dan díu với ni sư không?"
Cụ già giật nảy mình:
"Ngài cũng biết ư?"
Tổ tiên nhà họ Từ có một nhà thờ tổ, sau này mở rộng ra nên đã mời một số ni cô đến ở tại chùa, Từ Bản lại nhắm ngay một ni cô trẻ tuổi, ni cô đó cũng không cự tuyệt. Sau này trụ trì biết được, ni cô trẻ tuổi đó liền bỏ đi nơi khác.

"Thế còn người quả phụ?"
Cụ già nói:
"Ngài đều biết hết cả rồi! Ôi! Ôi! Tên tiểu tử yểu thọ này thực sự đã quá điên cuồng rồi, và còn, và còn…"
"Không thể nói được, tóm lại, không thể nói được…."
"Cuối cùng thì Từ Bản làm sao mà chết?" - Tôi hỏi.
Cụ già nói:
"Chết cũng rất li kì! Chết cũng li kì! Lúc ăn cơm, vừa nuốt một miếng cơm xong, cậu ấy ngồi đó bất động, thế rồi ngã lăn ra chết luôn!"
Cụ già và tôi đều thở dài.

🌟

Tôi có bài thơ cảnh tỉnh thế nhân:

Người giúp việc giữ gìn trinh tiết
Chỉ mong gả cho người mình yêu
Xa gia đình chỉ bởi phận nghèo
Xa cha mẹ, tình thân như nước

Xin đừng thèm cỏ non phía trước
Xin đừng tham ly nước trên bàn
Tiếng tăm gia đình luôn khó giữ
E rằng chẳng vốn dễ giấu ai.

Người giúp việc đâu phải hạ tiện
Cũng vẫn biết nhục nhã ê chề
Nhưng phải đành chiều lòng cậu chủ
Ác nghiệp kia cũng nặng kém gì.

Người gia chủ cũng đừng tưởng nghĩ
Giúp việc cần hầu hạ chủ nhân
Bất chấp cả người đã có chồng
Cố lợi dụng giở trò đồi bại.

Người quả phụ phòng đơn gối chiếc
Người tốt sẽ biết giúp bảo toàn
Nếu cưỡng dâm, cậy tiền cậy thế
Thì tội lỗi suốt đời chẳng nhẹ

Nghiệp này do ai định đoạt chứ
Khoái lạc chỉ như làn khói tan
E từ đây mất con cháu hiền
E từ đây bại hoại khó thoát.


### 15. Cầu tự


Có cặp vợ chồng Chu Ích kết hôn đã nhiều năm nhưng không có con, đã đi khám bác sĩ khắp nơi, cũng cầu thần bái Phật, uống đủ loại thuốc thang, nhưng hoàn toàn chẳng có tin vui gì.

Tình cảm của vợ chồng Chu Ích rất tốt đẹp, quấn quít như như chim cá, hai người cùng đến hỏi chuyện.
Hỏi: "Liệu sẽ có con không?"
Tôi bói rồi nói: "Không."
Hỏi: "Có cách chữa trị bí mật nào không?"
Tôi đáp: "Không."
"Thế thì cả đời này chẳng còn hy vọng gì rồi!"
"Đúng vậy."
"Nghe người ta nói tiên sinh cao minh, không có gì là không thể làm, liệu có thể giúp chúng tôi không?" - Hai người khẩn thiết nài nỉ.
Tôi đáp: "Thực sự không có cách nào."

Vợ chồng Chu Ích kể cho tôi nghe:
Cha họ là một người giàu có tiếng khắp vùng nọ, Chu Ích là con một, nên bây giờ chỉ còn hy vọng duy nhất là vợ chồng Chu Ích có thể sinh được con trai để nối dõi tông đường. Giờ đây anh kết hôn đã nhiều năm nhưng vẫn không có con trai, ngay cả con gái cũng chẳng có.

🌟

Những người thế hệ trước không có quan niệm hiện đại như những người trẻ. Vợ chồng Chu Ích có suy nghĩ tương đối thoáng trong việc này, họ cảm thấy không có con cũng không có gì nghiêm trọng lắm. Nhưng những người già thì không hề nghĩ như vậy, họ cảm thấy không có con cháu nối dõi là việc rất nghiêm trọng, sẽ bị mọi người ở địa phương cười nhạo và khinh bỉ. Đặc biệt họ là nhân vật có tiếng tăm trong vùng, tuyệt đường con cháu thì cũng giống như một điều cực kì tội lỗi vậy.

"Bác sĩ đã kiểm tra kĩ rồi chứ?" - Tôi hỏi.
"Bình thường."
"Sinh con trong ống nghiệm đi!"
"Đã thất bại rồi!"
Tôi nói:
"Ở đây tôi có phù cầu tự, nhưng tôi đã hỏi cao linh, các ngài nói, cho dù có đưa phù cầu tự cho hai người thì cũng vô hiệu, do vậy tôi thực sự rất xin lỗi!"
Vợ chồng Chu Ích vô cùng tuyệt vọng ra về.

Trước lúc họ rời đi, tôi lấy ra một cuốn "Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh" đưa cho vợ chồng Chu Ích, tôi nói:
"Niệm đủ 1000 biến."
"Sẽ có con sao?"
"Chỉ có hy vọng vào kì tích." - Tôi cũng cảm thấy vô vọng thay cho họ.

🌟

Trên thực tế, vợ chồng Chu Ích không chỉ niệm có một nghìn biến, hai người họ mỗi người niệm tới năm nghìn biến, cộng vào là một vạn biến, nhưng vẫn không có kì tích gì. Đến cả tôi cũng cảm thấy nản lòng.

Tôi đương nhiên biết rằng, Cao Vương Kinh là một bản kinh điển rất linh nghiệm, được lưu truyền từ triều đại nhà Đường tới nay, đã có rất nhiều sự tích cảm ứng. Nhưng giờ đây vợ chồng Chu Ích đã niệm xong cả vạn biến nhưng Quan Thế Âm Bồ Tát cứ đi đâu mất rồi, tôi đương nhiên cũng cảm thấy tức giận bất bình.

Chu Ích này cũng rất thoải mái:
"Lư Sư Tôn, đừng nóng, đừng nóng, không thể trách Bồ Tát không linh, là do chúng tôi không có phúc phận!"
Vợ Chu Ích rất lương thiện:
"Chúng tôi cảm thấy Cao Vương Kinh rất hay, niệm thấy tâm an, không cần cầu gì cả, mọi thứ đều là duyên phận, cứ để thuận theo tự nhiên đi! Chúng tôi tiếp tục niệm kinh."

🌟

Hoàng đế không vội. Nhưng thái giám lại vội muốn chết đi được. Người già trong nhà không thể chờ thêm, họ bất chấp hậu quả thế nào, đã bỏ tiền ra mua về một cô gái trẻ đến từ một vùng nông thôn hẻo lánh để làm vợ lẽ của Chu Ích, hy vọng Chu Ích có thể sinh hạ được một đứa con.

Chu Ích nói không. Nhưng người vợ rất hiền từ nói:
"Việc lấy thêm vợ lẽ để sinh con trai xưa nay vẫn thường có, để thỏa mãn ý nguyện của các bậc tiền bối, có thể thử xem!"
Chu Ích vẫn cương quyết không chịu. Nhưng cha mẹ và vợ cùng tán đồng, cuối cùng Chu Ích cũng mềm lòng rồi!

🌟

Buổi tối động phòng hoa chúc, Chu Ích nhìn ngắm kĩ cô gái kia, trông cô cũng không cục mịch, mặt tròn, người tròn trịa nhưng không béo, đúng như dân gian vẫn nói là cô thuộc tuýp người dễ sinh con cái. Nhưng cô gái này nước mắt đầm đìa, khóc thút thít.

Chu Ích hỏi cô:
"Cô có gì uất ức sao?"
Cô gái đáp:
"Không dám!"
"Không dám tức là có rồi, có thể kể rõ ràng tỉ mỉ cho tôi nghe, tôi có thể giúp cô giải quyết!" - Chu Ích chân thật nói.
Cô gái thấy Chu Ích là người rất thật thà, do vậy cũng không muốn giấu anh. Cô gái nói:
"Bởi vì cha mẹ tôi đi làm ruộng thuê cho người ta nhiều năm, thu nhập eo hẹp, chật vật sống qua ngày. Gần đây không có việc làm nên đã vay mượn tiền của người ta để làm kinh doanh nhỏ, nhưng kinh doanh thất bại, khoản nợ khó trả, do vậy đã bán đi con gái của chính mình."
Cô gái lại nói:
"Khi còn đi học, có một người bạn học cùng thôn, hai người tính cách tương đồng, tình cảm đã vượt quá mức bạn bè nam nữ, trong lòng tôi đã tự hứa sau này muốn gả cho người kia, còn bạn trai tôi cũng nguyện rằng nếu không phải là tôi thì sẽ không cưới ai khác. Nay gặp chuyện này, vì thế nên khóc."

Chu Ích nghe xong, trong lòng cũng thấy buồn. Thế là đêm đó anh đã có một quyết định: anh sẽ trả cô gái về cho cha mẹ cô, không đòi lại số tiền đã mua cô nữa. Đêm đó, cô gái ngủ trên giường, còn anh thì ngủ trên ghế sofa.

Ngày hôm sau, cha mẹ và vợ anh hỏi, Chu Ích kể rõ toàn bộ câu chuyện. Cha mẹ và vợ anh thấy cũng chẳng còn cách nào khác.

🌟

Một thời gian sau, Chu Ích có một giấc mơ, anh kể với tôi:
"Anh mơ thấy một cung điện ở trên trời vô cùng diễm lệ, có rất nhiều lầu các tỏa ra ánh sáng nhiều màu sắc rực rỡ, nhưng ở nơi đó lại rất phẳng, cát phủ đầy trên mặt đất. Có hai đồng tử đang chơi ở trước cung điện, rồi bỗng nhiên Quan Thế Âm Bồ Tát hiện thân. Quan Thế Âm Bồ Tát vô lượng trang nghiêm, vô lượng hương thơm tỏa ngát khắp nơi, vô lượng ánh sáng như mặt trăng vằng vặc. Hai đồng tử trông thấy Bồ Tát đến thì vui mừng khôn xiết, một cậu thì kéo tay trái Bồ Tát, một cậu thì kéo tay phải Bồ Tát, hai đồng tử theo Bồ Tát đi xuyên qua những đám mây…". Mơ đến đây thì anh liền tỉnh dậy.
Tôi đoán giấc mơ này, trong lòng rất vui mừng.

Tôi nói:
"Anh đã trả cô gái kia về nhà, việc này đã thay đổi việc anh không có con rồi."
Tôi còn nói:
"Trên trán anh đã xuất hiện hai vạch con cái rồi, đây là điềm báo đại hỷ."
Chu Ích nói:
"Nhiều năm không có con, có thể nào do tôi nghĩ nhiều quá nên nằm mơ không?"
Tôi trả lời:
"Lần này thì chắc chắn có con rồi!"

Sau đó, người vợ kết hôn nhiều năm vẫn chưa từng có thai, chẳng ngờ thực sự đã có thai. Đêm trước khi sinh, người vợ cũng mơ thấy Quan Thế Âm Bồ Tát mỗi tay bế một đứa bé đến, kết quả là cô thực sự đã sinh đôi. Hai đứa trẻ này khi vừa sinh ra đều kết thủ ấn Đế Thích Thiên.

🌟

Theo tôi được biết, việc mua phụ nữ về làm vợ lẽ cũng là một tội, mặc dù là dùng tiền để mua bán, nghe thì có vẻ hợp lý. Nhưng hãy thử suy nghĩ lại, chuyện kết hợp giữa nam nữ, cho dù có hoàn cảnh nghèo hèn thì người con gái cũng có tâm nguyện riêng của cô, ép người ta làm vợ là đã đi ngược lại với ý nguyện của cô gái rồi.

Đặc biệt là còn có chuyện khó coi hơn là thường thường các cô gái trẻ hay phải lấy những ông già, nói cách khác là trâu già gặm cỏ non, hoa nhài cắm bãi cứt trâu. Trong vấn đề này còn phát sinh cả những chuyện các cô vợ lẽ trẻ đẹp yếu ớt bị các bà vợ cả bắt nạt ngược đãi, khiến các cô gái thường căm hận oán ghét, buồn chán muốn chết. Người gặp cảnh ngộ éo le như vậy từ xưa đến nay luôn có, thật khiến người ta thương xót vô cùng.

Phần lớn những hoàn cảnh có ba vợ bốn thiếp là vì không có con nên người đàn ông mới lấy nhiều vợ, nhưng phải thừa nhận rằng chỉ có số ít đàn ông mượn lý do này. Sự thật là những người giàu có không kiềm chế được dục vọng của bản thân nên mới lấy nhiều vợ.

Còn giữa những người vợ cả và vợ lẽ thì phát sinh sự căm ghét tị nạnh tranh đấu lẫn nhau, sự tranh giành trở nên xấu xa bẩn thỉu thối nát không giấu nổi. Cái tai hại của việc này không chỉ có như vậy mà thôi. Vì thế, nếu không phải vì vạn bất đắc dĩ thì đừng làm cái việc tạo ra nghiệp xấu ác như vậy.

Hãy nghĩ mà xem:
Viên ngoại ngày xưa, thê thiếp có bao nhiêu người!
Ngày nay thì sao, ngày nay là những nhà đại gia, lấy bao nhiêu là vợ!
Đời này đến đời khác bại hoại! Hãy thật cẩn thận!

🌟

Con người trên thế gian này, hễ mỗi khi gặp họa đến thì lại nói rằng là do vận mệnh đã định đoạt, kì thực cũng nên nghĩ kĩ một chút xem bản thân mình bình sinh đã phạm phải việc gì, đặc biệt là những tội liên quan đến tình dục thì báo ứng sẽ đặc biệt tới nhanh.

Có hậu quả ngày hôm nay thì hãy nên tự trách mình trước, từ đó thay đổi làm lại từ đầu. Người có thể tiết chế những ham muốn mới có thể chuyển họa thành phúc, trời sẽ ban cho những điều tốt lành.


### 16. Huyện trưởng Doãn


Thật sự có một người tên là Doãn Tiền tranh cử chức huyện trưởng. Doãn Tiền hỏi tôi: "Có trúng được chức này không?"

Thần minh cho tôi thấy một bài thơ, thơ rằng:
*"Nhất tâm ứng cử nhiều thuận lợi
Được lòng nhân sĩ khắp nơi nơi
Cờ phướn như biển bay phấp phới
Trúng cử trúng cử đúng mong chờ."*

Doãn Tiền đọc xong bài thơ thì cười vui sung sướng:
"Thơ hay, có dấu hiệu trúng cử."

Doãn Tiền từ lâu đã muốn chức huyện trưởng, có được bài thơ này, ông cho rằng chỉ cần tiếp tục tiến lên phía trước là tự nhiên các cử tri sẽ ồ ạt mà đến, sẽ có rất nhiều nhân sĩ nổi tiếng, các nhân vật "nặng kí" sẽ thực sự xuất hiện để hỗ trợ cho ông đứng vững trên bục tranh cử, không những thế, cờ và biểu ngữ ủng hộ sẽ xuất hiện ở khắp mọi nơi. Bản thân ông chỉ cần trong lòng nghĩ đến chức huyện trưởng thì thế nào ông cũng thực sự trở thành huyện trưởng Doãn.

Doãn Tiền vui mừng cầm bài thơ ra về. Trong bài thơ có hai chữ "trúng cử", "trúng cử". Sự việc này có một đối thủ tranh chức tên là Lã Kim biết được. Lã Kim đột nhiên đến thăm tôi vào một buổi tối nọ. Lã Kim nói:
"Cũng muốn xin thần minh cho tôi một bài thơ."

Thế là, thần minh cũng cho Lã Kim một bài thơ, thơ rằng:
*"Trên đời không hoa đâu cần trồng
Chân trời ngày mới đến nhanh thôi
Tiến lên phía trước đừng lui bước
Thần minh thấy chắc trăm phần trăm."*

Lã Kim đọc bài thơ này, có một vài điểm không hiểu lắm, đó là không hoa là gì? Ngày mới là gì? Tham gia vào cuộc bầu cử đương nhiên là không thể rút lui, lại còn trăm phần trăm là sao? Xem ra chỉ có cái câu "trăm phần trăm" này mới là có ý nghĩa nhất.

Lã Kim hỏi tôi ý nghĩa của bài thơ như thế nào. Tôi trả lời:
"Vận khí của ông đang tốt, không cần đi tìm cũng có được, những điều tốt đẹp sắp đến, trăm phần trăm chẳng phải là rất tốt đúng không?"
Lã Kim nói:
"Doãn Tiền có được hai chữ "trúng cử", sao tôi lại không có?"
Tôi nói khẽ vào bên tai ông ta:
"Ông ấy mới có hai chữ, còn ông thì có cả trăm."
Lã Kim lúc này mới hoan hỉ ra về.

🌟

Trước kia, mỗi lần có bầu cử thì luôn có rất nhiều người muốn ra tranh chức sẽ đến chỗ tôi để hỏi xem có thể trúng cử hay không, có số trúng cử không. Nếu có số trúng thì mới tranh cử, không trúng thì sẽ không tranh cử, hoặc hỏi khi nào ra tranh cử thì mới là tốt nhất. Doãn Tiền và Lã Kim, Doãn Tiền thì đã chuẩn bị từ rất lâu rồi, còn Lã Kim vào phút cuối mới ra tranh cử.

Tôi quan sát hai người này. Tôi thấy Doãn Tiền ngồi trên ghế huyện trưởng, nhìn thấy thần minh quận thủ của địa phương gửi đến biển cờ và đội trống. Tôi nói Doãn Tiền sẽ trúng cử, chắc là sẽ không sai.

Tôi lại quan sát Lã Kim, phát hiện thấy Lã Kim cũng ngồi trên ghế huyện trưởng, nhìn thấy một vị quan mặc áo đỏ của cõi trời gửi cờ nhiều màu sắc cho Lã Kim, trên đó có viết chữ huyện trưởng Lã.

Hay rồi, lần này hai người đều trúng cử chức huyện trưởng, một huyện sao có thể có hai huyện trưởng được, đây là việc không thể nào có, nhưng quan sát của tôi thực sự là như vậy, hai người đều có khả năng được trúng cử, rốt cục vấn đề này nằm ở đâu?

Kì thực, thần minh đưa ra hai bài thơ cũng rất đáng để ngẫm nghĩ. Hai bài thơ này khiến cho nhân sĩ ở địa phương rất đau đầu, họ tranh cãi không có hồi kết.

Về phía tôi, khi đó tiếng tăm của tôi rất lớn, thần toán của tôi nổi tiếng khắp các châu lục, nhân sĩ ở các nước trên thế giới đều biết tiếng mà tìm đến, họ chen lấn trước cửa nhà tôi tới mức thực sự khiến cho cửa nhà tôi bị hỏng, tôi phải làm phiền tới một đệ tử làm nghề sản xuất đồ đạc trong nhà làm một chiếc cửa mới.

Hơn nữa, mỗi lần đến dịp bầu cử, bao gồm ở các cấp cao nhất là bầu cử tổng thống, thị trưởng thành phố, nghị viên, cho đến các cấp dưới là thôn, xã, người ta đều đến để hỏi về chuyện bầu cử.

Tôi vốn là người tu hành, tham dự vào các việc thế tục nhiều quá thì không tốt. Bởi vậy Diêu Trì Kim Mẫu nói với tôi: "Di cư đến nước Mỹ đi!"

Đây cũng là một trong những lí do khiến tôi vội vàng đưa Thượng sư Liên Hương, Phật Thanh, Phật Kì đáp máy bay tới định cư tại Seattle nước Mỹ.

🌟

Kết quả bầu cử huyện trưởng đã có rồi. Người lẽ ra trúng cử thì không trúng cử, người lẽ ra không trúng cử thì lại trúng cử, nằm ngoài dự liệu của mọi người. Ai trúng cử, ai thất bại đương nhiên người bình thường không thể dự liệu được. Nhưng theo như những cuộc trưng cầu ý kiến thì giữa hai người này không có sự khác biệt là mấy. Cá nhân tôi cũng cảm thấy kì lạ, nếu căn cứ theo cuộc trưng cầu ý kiến thì vì sao người có kết quả ủng hộ cao lại thất bại, còn người có kết quả ủng hộ thấp thì lại trúng cử.

Trong thiền định, tôi bay đến cõi trời để gặp quận thủ thần. Tôi hỏi:
"Vì sao như vậy?"
Quận thủ thần đáp:
"Là tước lộc."
"Nguyên nhân chủ yếu là ở đâu?"	
"Phạm tội tà dâm."
"Người vốn dĩ sẽ trúng cử vì phạm vào tội tà dâm nên bị thần minh trên trời tước đi lộc vị, phải không?"
"Chính xác."
Trong lòng tôi nghĩ, vẫn lại là một chữ "dâm" này gây nên mọi chuyện.

🌟

Quận thủ thần giao cho tôi một bài "Giới sắc phú" [bài phú khuyên răn từ bỏ sắc dục], mong rằng người đời đọc xong, trong lòng sẽ được cảnh tỉnh. Bài "Giới sắc phú" như sau: 

"Tình thiên lồng lộng, dục giới mịt mờ, trí huệ đã mê, khờ dại khó bỏ. Ghi nhớ quan hệ vợ chồng, đạo đức gia đình cần giữ, để rồi tới đời con cháu, vẫn giữ nghiêm khuê môn chẳng hư hại. Nhỡ đâu có kẻ khoét vách, nếu thật là chẳng có mối mai ong bướm rập rờn thì sao lại có kẻ vượt tường lén lút quan hệ, để rồi chẳng trả hết món nợ uyên ương. Trong vạn tội ác, tà dâm đứng đầu, mắt thần quan sát, trăm thứ tai họa giáng đầu, không chỉ yểu mạng mà phúc cũng bị tước đi. Suốt đời sống đau khổ trong nghèo khó, không người thừa tự. Khi chết đi thì mộ hoang chẳng ai chăm nom.

Ai ai cũng nhớ được Trung Dung, nhưng không ai nhớ Cửu Kinh có dạy phải tránh xa sắc dục. Người người đọc hết cả luận ngữ, nhưng không nhớ điều răn dạy phải kiêng sắc từ thuở thiếu thời. Huyết khí phần lớn là do chưa định, kẻ trí, người ngu ai giữ được giới sắc không thay đổi thì sẽ là người biết điều hòa. Trước mồi nhử tiền tài, hoặc bị kẻ mạnh cưỡng ép, người yếu sẽ không có sức lực để chống đỡ.

Hình phạt đối với quả phụ chính trực nhưng bị kẻ gian dâm làm cho ô uế, đó là hổ thẹn với chồng mà thường xuyên khóc thầm. Kẻ phóng đãng sàm sỡ gái trinh hàng xóm khiến cô dâu mới gánh chịu bao điều tiếng nghi ngờ. Cho rằng dễ gian dâm với người ở nên cha con cùng chung chạ. Cho rằng chị vú dễ xâm phạm nên hãm hại đến mức không có thuốc chữa. Giúp việc nữ xinh đẹp thường bị sư tử cái ghen tuông hành hạ. Cặp kè với trai đẹp thì thói xấu đồng tính luyến ái càng khó biết. Kĩ nữ cũng chỉ là đầu lâu đắp thịt nhưng vẫn mê đắm điên cuồng. Bồ Tát rủ mày cũng giận kẻ làm ô nhục tới ni cô thanh tịnh."

🌟

Kinh Truyện nói:
Trai có vợ, gái có chồng, đừng nên thiếu tôn kính với họ.

Sách Lễ Kí nói: trong ngoài dâm loạn thì cũng chẳng khác gì làm trò cầm thú, chắc chắn sẽ bị tiêu diệt. Còn như người có lưỡi mà nói những lời ong bướm nịnh nọt, nếu có một chút nào sai sót, thì sẽ dụ người ta rơi vào nơi xấu xa, do vậy sẽ bị trừng phạt phải trầm luân nơi biển khổ.

Tự cho mình là văn nhân tài tử, thường xuyên khoe rằng mình có thú phong lưu, cuối cùng khiến cho nam nữ độc thân khi còn chưa đủ tuổi đã "quan hệ" dưới trăng. Bàn chuyện trong phòng the, nói ra những lời gây tổn hại đến sự hòa hợp của trời đất. Xằng bậy viết sách tà dâm thì vạn kiếp phải chịu khổ trong địa ngục.

Diễn xuất trong những phim ảnh dâm ô, với những âm thanh, những bộ dạng, những tiếng cười kia, ai mà chẳng bị kích thích. Bí mật vẽ tranh khiêu dâm, phơi bày những cơ thể lõa lồ và những tư thế khiêu dâm, ai mà không bị kích động. Nghe những ca khúc nhục dục giai diệu đầy dục vọng, hồn đã bay phách đã lạc. Ngụy tạo là thuốc tiên bổ dương thái âm, đều chỉ là dẫn dụ người ta sa vào tam đồ, làm sao mà tội không nặng gấp trăm lần.

Đã có lời giáo huấn nên vứt bỏ những khúc ca nước Trịnh, lời khuyên này nên nghe. Hãy nghĩ đến những lời tụng của nước Lỗ, đều không có những lời xấu tà. Những lời ấy vẫn còn, sao vẫn không thôi nghĩ đến dâm để thay vào đó là những đạo đức tốt. Không suy nghĩ để giữ được đạo vô vi. Hễ có sự vật sẽ có phép tắc đi kèm với nó.

Hãy nghĩ đến cám dỗ cũng như khi trượt tay nơi vách đá, thì lửa dục sẽ khó cháy, từ đây mau chóng quay đầu, đừng ngụp lặn trong làn nước đen. Sai có thể sửa, tự mình vẫn có thể tìm được phúc, làm điều thiện có thể thay đổi, tai họa đã định cũng có thể bất ngờ tiêu trừ. Có người áo xanh dẫn đi, Hồng cử sĩ dù đã lên tuổi thượng thọ vẫn được đăng chức, giấy vàng gửi tới, thông báo đã đỗ khoa thi, được làm quan cao.

Thoát bởi đó, xoay chuyển cũng bởi đó, báo ứng phân minh, không thể trốn thoát. Còn như đã vi phạm mà lập tức sửa chữa thì tội cũng sẽ không giáng lên người biết sám hối, người đó cũng đã bước vào vùng đất thanh tịnh trong mơ.

Đừng làm những việc trái với lễ nghĩa thì sẽ tích lũy được công đức mênh mang như trời đất. Biết quay đầu thành thực, trong luân thường kỉ cương chỉ chú trọng hiền đức, chẳng quan tâm sắc đẹp, vui thú cùng vợ con, sắp đặt hôn nhân đúng lễ nghĩa để con cái có được hạnh phúc gia đình đầm ấm.

Đừng ham vẻ đẹp tươi non mơn mởn bên ngoài, tưởng màn loan đẹp mộng, nhưng ngẩng đầu nhìn mới thấy mặt người mơ hồ, lời nói mới mẻ như chim phượng, nhưng cũng chỉ là bóng ma thè lưỡi kinh hồn mà thôi.

Giữ được tấm lòng như sắt thì chẳng thể nào vướng vào tấm lưới pháp luật. Trên đầu chữ sắc vốn đã có dao, nguy hiểm thấy rõ, sống chỉ hưởng được sự vui sướng hữu hạn, chết đi chịu nỗi khổ cực vô cùng. Có thể nhẫn, kiên trì nhẫn nại chịu đựng thì thần minh ngưỡng mộ. Nhìn điều dâm, nghĩ điều dâm, nói điều dâm thì đều khiến trời phẫn nộ, cần mau chóng cự tuyệt.

Hát câu gió mát trăng thanh thì càng phải nêu cao cảnh giác với khe sương sông tuyết. Đối với thú vui vợ chồng cũng đừng ham mê quá nhiều. Chuyện chăn gối của người khác cũng đừng dễ dãi rêu rao. Tình chốn lầu xanh chẳng hề nghiêm túc, đừng nên chìm đắm quá ba năm. Ngọc không tì vết, bởi nhàn nhã mà viết nên bài phú này."

🌟

Từng chữ từng từ trong bài phú này đều mô tả tỉ mỉ sinh động về toàn bộ vấn đề, mỗi lời đều khiến người đọc sáng mắt kinh tâm. Đọc xong sẽ hiểu nguyên nhân của những việc tước lộc, giảm thọ, tuyệt tự, ốm yếu, bệnh tật, mất tiền, nghèo khó, đột tử, bị chết vì nước, chết vì lửa và những tai họa bất ngờ khác…

Sự việc bầu cử cũng có thần minh quan sát kiểm tra. Trong vạn việc ác tà dâm đứng đầu, xin các chính nhân quân tử hãy cẩn thận, cẩn thận!


### 17. Tai họa bất ngờ


Tôi đến làm khách tại nhà của Thái Lương, Thái Lương là bạn cùng học với tôi. Con trai của Thái Lương là Thái Liêm từ trong phòng học đi ra, khi đi ngang qua phòng khách, Thái Lương gọi con lại, nói với con:
"Đây là bác Lư, con chào bác Lư đi!"

Thái Liêm chỉ gật đầu với tôi một cái rồi vội vàng đi mất. Chỉ trong một tích tắc tôi nhìn mặt Thái Liêm, tôi giật thót mình. Tôi nghĩ thầm trong lòng, đôi mắt ấy sao trông rất ác, da mặt có chút vàng vọt.

Tôi hỏi:
"Con trai mấy tuổi rồi?"
"18 tuổi."
"Vừa đúng tuổi nổi loạn."
Thái Lương nói:
"Thái Liêm rất tốt, từ nhỏ nó đã ngoan ngoãn, thích đọc sách, ít ra ngoài, hầu như hay trốn trong phòng."
"Cậu ấy thích sách gì?" - Tôi hỏi.
"Chúng tôi là cha mẹ nó, con cái sống yên ổn tại nhà sẽ không bị hư đâu, nó không đi ra ngoài gây phiền phức là rất tốt rồi."
Tôi nói với Thái Lương:
"Tôi tặng cho Thái Liêm một cuốn sách về tu dưỡng tâm linh, vừa hay tôi có đem theo cuốn sách đó đây."
"Cảm ơn!"
Tôi nói:
"Con cái đọc sách gì thực ra cũng cực kì quan trọng, làm cha mẹ cũng cần chú ý xem con mình đọc sách gì."

🌟

Chỉ mới vài ngày sau, Thái Lương cầm một chồng sách, vội vã bối rối đến tìm tôi. Ông ấy tức giận đến nỗi toàn thân run lên, ném sách tung ra đất. Tôi nhặt sách lên, lướt qua bìa thì thấy số sách này chính là những cuốn:
"Quỷ sắc."
"Góa phụ quyến rũ."
"Tiểu ni cô xuống núi."
"Những cuộc tình phóng túng của Võ Tắc Thiên."
"Trò chơi với nước."
"…."

Thái Lương nói:
"Tên tiểu tử này cả ngày trốn trong phòng, tôi cứ nghĩ là nó ngoan, ông xem nó đọc sách gì đây, những sách nó đọc toàn là cái thể loại này, cả một thùng sách toàn là sách này, không chỉ có sách mà còn có cả tranh ảnh, tất cả đều là ảnh nam nam nữ nữ khỏa thân, tư thế nào cũng có, toàn là lũ yêu tinh phá hoại."

🌟

Lần trước, Thái Lương nghe lời tôi nói nên đã bí mật vào phòng con trai, để ý xem con ông đọc sách gì. Thái Liêm kia vùi đầu trong sách, rất tập trung chăm chú, hoàn toàn không ngờ bố lại đi vào phòng. Một tay cậu ta cho vào trong quần sờ xoạng "tự sướng". Thái Lương liếc nhìn tên sách thì chính là cuốn: "Dâm phụ cướp trai".

Bên trong cũng có vài tấm ảnh, lại còn là ảnh màu, có ảnh nữ sinh mặc váy, có ảnh thì mặc quần áo của nữ tu, đều là những tư thế nam nữ ôm ấp, miệng của các cô gái đó đều mở to, đôi mắt lúng liếng đưa tình.

Thái Lương tức điên. Thái Liêm đầu cúi gằm.
Thái Lương hỏi:
"Vì sao lại đọc loại sách này?"
"Cũng là kiến thức mà."
"Đây là tiểu thuyết khiêu dâm đúng không?"
"Các bạn con còn đọc những sách bá đạo hơn thế này."
"Bá đạo cái gì?"
"Bọn họ đều có đầy kinh nghiệm."
"Tụi bay mới học cấp ba mà!"
"Theo điều tra thì có tới 50% học sinh cấp ba đã có kinh nghiệm này rồi. Như con còn bị coi là lạc hậu đó."

Thái Lương sốc tới nỗi suýt nữa là cặp kính rơi xuống đất. Đương nhiên Thái Lương biết rằng bây giờ là thời đại tự do, luân lí đạo đức đều chẳng còn, thịnh hành tự do yêu đương, thanh thiếu niên học sinh thông thường từ rất sớm đã rơi xuống đáy của biển dục rồi. Những ngành công nghiệp sắc tình đầy ắp trong xã hội, khắp nơi có các tiệm bán "đồ chơi người lớn", phim "cấp 3" cũng có thể xem bất kì lúc nào. Đây là một dạng phong trào, nhưng chính mắt nhìn thấy con trai mình cũng như vậy thì ông không thể nào kiềm chế được. Thái Lương cũng vẫn bị sốc nặng!

🌟

Thái Lương hỏi tôi:
"Làm sao đây?"
"Dạy nó về kiến thức tình dục đúng đắn."
"Đám sách này thì sao?"
"Tất cả sách khiêu dâm đều đem đốt hết."
"Hướng dẫn nó thế nào?"
"Chuyển hướng sự chú ý của cậu ta, cổ vũ cậu ta tham gia vào các hoạt động ngoại khóa tốt lành."
"Thế còn suy nghĩ của nó thì sao?"
"Từ xưa đến nay, các tài nhân chí sĩ vì sao thân thể yếu ớt? Vì sao yểu thọ? Phần lớn họ đều vì ham dục mà bị như vậy. Trước khi họ lao vào sắc dục họ cũng đã biết sẽ như vậy, sau khi thỏa mãn xong, họ cũng có hối hận. Nhưng tâm ham dục một khi đã cháy lên thì tất cả lương tri đều biến mất. Họ luôn cho rằng chỉ một, hai lần thì sẽ không bị tổn hại gì, lần sau nhất định sẽ không tái phạm nữa. Lần sau lại nghĩ như thế, rồi lần nào cũng nghĩ như thế. Dục vọng càng ngày càng tăng lên, tới mức họ không thể tự kiềm chế được nữa, thế là tinh lực cạn kiệt! Tinh lực khô cạn! Trở nên yếu ớt! Bệnh tật! Rồi chết!"
"Thằng con tôi mới 18 tuổi!"
"Những cuốn sách kia đã dạy hư nó. Tuổi này vẫn còn trẻ, thủ dâm sẽ làm hại đến thân thể nó. Ở tuổi này nên cắt bỏ sắc dục, tuyệt đối không thủ dâm để làm vững chắc tinh tủy, xây dựng cái gốc tâm linh tinh khiết."
"Có một số sách nói thỉnh thoảng làm một, hai lần thì vô hại!"
"Người trẻ tuổi ý chí không vững, rất khó để kiềm chế."
"Sau khi kết hôn thì sao?"
"Tuổi 20 thì bảy ngày một lần.
Tuổi 30 thì mười bốn ngày một lần.
Tuổi 40 thì hai mươi tám ngày một lần.
Tuổi 50 thì bốn mươi lăm ngày một lần.
Tuổi 60 thì không quan hệ tình dục nữa, bởi vì thiên quý đã hết."

(Con trai đến 16 tuổi thì thiên quý đến, và đến 64 tuổi thì thiên quý cạn. Con gái thì 14 tuổi thì thiên quý đến, và đến 49 tuổi thì thiên quý cạn. Thiên quý là gì? Đó chính là thiên nhất thần thủy, nói cách khác là tinh tủy huyết mạch.)

🌟

Sau khi Thái Lương trở về thì không còn tìm đến nhà tôi nữa. Về sau, tôi nghe được một tin đồn là con trai của Thái Lương bị nghi là do một người hàng xóm đâm chết rồi! Tôi nghe mà thất kinh.

Người ta kể rằng sự việc là thế này:
"Hàng xóm của Thái Liêm là một thiếu phụ. Chồng cô là doanh nhân, thường xuyên ra nước ngoài làm việc. Thiếu phụ này thích đọc sách, thường mượn Thái Liêm sách để đọc, hai người rất thân thiết. Kết quả đã diễn tới thành "dâm phụ cướp trai". Kể từ đó hai người thường xuyên tới lui. Chồng của thiếu phụ biết được, trong lúc tức giận đã đâm chết Thái Liêm. Cuộc đời của chàng trai trẻ này kết thúc một cách lãng xẹt như vậy!

🌟

Tôi nghe xong có một chút cảm tưởng thế này:
Người trẻ tuổi, huyết khí mạnh mẽ dồi dào, nhưng tính cách vẫn chưa ổn định, những sách ảnh đồi trụy đừng nên tiếp xúc, vì một khi đã tiếp xúc rồi thì e rằng không có cách nào tự kéo mình ra được.

Thanh niên thời hiện đại, đương nhiên không chỉ có sách ảnh, mà cả phim "cấp ba", băng đĩa khiêu dâm, lại thêm các cửa hàng đồ chơi người lớn, các tụ điểm mại dâm, sức mê hoặc của những thứ này lại càng khó cưỡng lại.

Bởi thế, việc giáo dục trẻ em và thanh thiếu niên vô cùng quan trọng. Nếu chúng đã bị nhiễm thì nên giúp chúng mau chóng hối cải. Thân thể khỏe mạnh là rất quan trọng, phẩm chất đạo đức rất quan trọng, tu dưỡng tâm linh rất quan trọng.

Về nguyên tắc mà nói thì việc tham gia vào các hoạt động ngoại khóa lành mạnh là rất tốt, ví dụ như leo núi, đi bơi, du lịch, giao lưu gặp gỡ, tham quan cảnh sắc thiên nhiên, các hoạt động gắn liền với thiên nhiên đất trời. Tham gia các đợt trại mùa hè, trại mùa đông về Phật pháp, có tín ngưỡng tôn giáo thì cũng rất tốt để biết giữ mình khỏi sát sinh, trộm cắp, tà dâm, vọng tưởng, uống rượu.

Biết được nghiệp tội của tà dâm, dù có lén lút trong phòng tối thì mắt thần như điện, sẽ bị tước hết phúc lộc, giảm tuổi thọ, chết sớm. Những phú quý cả đời sao lại chỉ vì sự sung sướng ngắn ngủi mà đánh mất cạn kiệt.

Có những tội mà dù có trả cũng không thể trả hết. Có những tội lỗi mà muốn rửa cũng không thể rửa sạch. Thần minh trong trời đất, Tư Lộc Thần cũng sẽ chẳng ban phúc cho những loại người này, đây chính là số phận do tự mình gây nên.

Rất nhiều nhân tài học cao học rộng, nhưng vận mệnh lại nghèo khó bất hạnh. Đây là vì sao? Cần tự mình suy nghĩ xem bản thân mình đã gây nên tội lỗi gì? Đã phạm phải tội tà dâm gì?

Những tội tà dâm, nguy hiểm sao! Nguy hiểm sao!
Hãy hối cải đi! Bằng không sẽ gặp tại họa bất ngờ đó!


### 18. Tránh họa tà dâm


Để kết thúc cuốn sách này, tôi viết mộ bài văn nhỏ nói về tránh họa tà dâm.

Tôi khuyến nghị mọi người hãy giữ được mười phương pháp này:
1. Đọc nhiều sách về tu dưỡng tâm hồn.
2. Giữ 5 giới.
3. Kính Phật kính thần.
4. Trân trọng tinh, khí, thần của chính mình.
5. Đừng nghe chuyện phi lí, đừng xem chuyện phi lí.
6. Đừng nói những điều liên quan đến sắc tình.
7. Gặp sách khiêu dâm cần đốt hết.
8. Chuyện phòng the cần tự biết tiết chế. (Người xuất gia cần biết giữ thanh tịnh.)
9. Thức dậy thì lập tức ngồi dậy.
10. Mọi người cùng đều khuyên nhau giữ những phương pháp này.

Chúng ta biết rằng, thấy người xinh đẹp, liền khởi tâm tư, trong "Thái thượng cảm ứng thiên" từ lâu đã giải thích rất rõ ràng rằng sẽ có ba Thi Thần ghi chép lại. ["Thái thượng cảm ứng thiên" là một kinh điển của Đạo giáo, nội dung chủ yếu là khuyên người ta giữ đạo đức, quy phạm.] Cũng có Táo Thần, Gia Thần ghi chép lại, ở trên nữa lại có Tam Đài Bắc Đẩu quan sát.

🌟

Háo sắc háo dâm chắc chắn sẽ âm thầm bại hoại đạo đức. Trong cõi vô hình vốn đã có định số, háo sắc háo dâm sẽ tổn hại đến danh dự, hại đến lợi ích của bản thân. Cuộc đời lẽ ra sẽ được giàu sang phú quý thì sẽ bị tước hết. Nếu phúc phận nông thì lại càng thê thảm, tồi tệ tới mức khó mà chịu đựng được. Mọi người không thấy sao, tổng thống phải từ chức, thủ tướng phải từ chức, đều là vì nguyên nhân này cả.

Háo sắc háo dâm, trên thực tế, sẽ gặp phải rất nhiều tai họa bất ngờ, bởi vì luân lý tự nhiên đã loạn, luân lý con người cũng loạn, tình nghĩa cũng chẳng còn, tất sẽ có một phe chịu oan ức. Hoặc chồng giết vợ, hoặc vợ giết chồng, hoặc chồng giết kẻ gian dâm, hoặc hai kẻ gian dâm hại chồng, hoặc tự sát, hoặc cùng chết, v.v… Tất cả những việc làm này đều sẽ bị tước đoạt thọ mệnh.

Cần biết rằng khi lửa dục đã cháy lên thì sẽ miệng khô môi khát, hai người cùng bị mất rất nhiều tinh huyết, nếu không tiết chế thì sẽ cạn kiệt tinh lực, xương tủy khô cạn. Không chỉ như vậy, sẽ gặp phải đủ loại bệnh tình dục, ví dụ như bệnh AIDS, u ác tính, bệnh giang mai, có người thì chết trẻ, có người thì chết bệnh, kẻ háo sắc chắc chắn sẽ chết.

Lại nói, người háo sắc háo dâm thì tâm thuật cũng đã trở nên bất chính, bởi vì một khi dâm niệm khởi lên thì bất kì suy nghĩ nào cũng đều sai lầm. Từ đó sinh ra lòng tham, sinh ra sân hận, tất cả những suy nghĩ vô minh đều từ đó mà ra, giống như sinh tâm vọng tưởng thì sẽ sinh tâm bày mưu, sinh tâm đố kị, sinh tâm hại người, dây dưa đeo bám không ngừng, tâm vượn ý mã không lúc nào yên ổn, ác nghiệp đều do đây tạo ra.

Háo sắc háo dâm khiến có người trở nên ác độc tới mức:
Giao cấu với trẻ em.
Gian dâm với thiếu nữ.
Loạn luân với quả phụ.
Làm ô uế tăng ni.
Là loại người không bằng cầm thú, những tội này tạo nghiệp gấp trăm lần!

Tôi thấy bốn loại người này bây giờ cũng chẳng thiếu. Ngày nay, lòng người đã hỏng, hỏng tới mức độ không thể tưởng tượng được nữa rồi.
Có người thì giao cấu với chó hoặc với thú vật.
Cha mẹ và con trai con gái loạn luân.
Anh chị em loạn luân.
Ông gian dâm với cháu gái.
Bà gian dâm với cháu trai.

Những hành động này còn tệ hại hơn cả súc vật, loạn hết cả luân thường đạo lý. Những người này sẽ nhận được quả báo thảm hại là đọa vào tam ác đạo địa ngục, ác quỷ, súc sinh, chết đi sống lại báo ứng cũng vẫn không hết.

🌟

"Kinh Lăng Nghiêm" viết:
"Bồ Tát thường cảm thấy hài lòng với vợ mình và chuyện khuê phòng của mình, dâm dục quá độ đã là không được, huống chi dám loạn luân với vợ của người khác."
"Tốc Báo Lục" viết:
"Ta không dâm vợ người, người không dâm vợ ta."
Luật âm phủ viết:
"Kẻ gian dâm với con gái người khác sẽ bị quả báo tuyệt tự. Gian dâm với vợ của người khác sẽ gặp quả báo là con cháu cũng dâm loạn."

Cần phải biết rằng tất cả sắc tướng vốn là không, là huyễn, tất cả dâm lạc đều cực kì ngắn ngủi, vẻ đẹp yêu kiều quyến rũ kia chỉ là lớp lông bên ngoài, bên trong toàn là phân tiểu tanh hôi. Cần phải biết nhịn, trăm lần nhịn, kiên nhẫn, nhẫn nhịn mạnh mẽ để tránh họa. Đừng đánh mất lương tri, cần dựa vào sức mạnh trí tuệ để quán chiếu, cần có chính niệm để giữ mình.

Cần phải biết rằng trên đầu ba trượng có thần minh, có Tam Đài Bắc Đẩu ở đó, có dày đặc quỷ thần thường xuyên quan sát kiểm tra. Trên người cũng lại có thần Tam Thi, trong nhà có Táo Thần, thần nhà cửa, đừng cho rằng không ai biết việc của mình làm.

Phúc lạc trên thiên giới có thể có được, khổ luân nơi địa ngục chỉ sảy chân là sẽ sa vào. Cần phải thấy vực sâu mà biết quay ngựa, cần thấy biển khổ mà biết quay đầu. Khi gặp lúc rất khó khăn không có cách nào tự mình kiềm chế được, cần phải nghĩ sẽ có đại họa đó!

Mau tỉnh ngộ! Mau tỉnh ngộ!

**(Hết.)**



---

---

---
# File: sach-tam-linh/154-hao-quang-cua-tri-hue.md
# Title: 154. Hào quang của trí huệ
---

![image](/img/img_fc14c9a3879b2131b92295d681cec930.jpg)



## Hào quang của trí huệ


🪷 Triết lý của Như Lai

Văn tập: 154
Xuất bản: 04/2002
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu - Đạo tâm


Tôi viết bài văn nhỏ này dành cho các đồng tu mới quy y, mới học Chân Phật Mật Pháp.

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người, một người tức thân thành tựu như tôi đây thật sự đã đến Ma Ha Song Liên Trì, nhìn thấy kiếp trước của mình là Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử. 

Tu hành Chân Phật Mật Pháp thật sự rất có chứng nghiệm, không chỉ là thân thể an khang, trường thọ tự tại, cát tường như ý, phúc huệ tăng trưởng mà còn có thể nhậm vận biến hiện bốn thân, năm trí, hóa thân cầu vồng, chứng hết vô thượng bồ đề.

Mới quy y, bạn phải tin tưởng Thượng sư truyền thừa, tin tưởng Phật, tin tưởng pháp, tin tưởng Thánh hiền tăng. Đây chính là đạo tâm. 

Tu Chân Phật Mật Pháp đương nhiên phải mất thời gian tương đối dài mới có thể có được thành quả, tuyệt đối không được hễ gặp trắc trở là buông bỏ. Chân Phật Mật Pháp dùng để giải thoát phiền não, dùng để tự chủ sinh tử, dùng để minh tâm kiến tính, vì thế càng đòi hỏi đạo tâm kiên cố.

Trên thế giới này, có một người vĩnh viễn mãi mãi có đạo tâm kiên cố, người này chính là tôi Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, tôi vĩnh viễn mãi mãi sẽ không thối lùi đạo tâm. 

Cuộc đời này của tôi có rất rất nhiều tai nạn, nếu đổi lại là người khác thì đã nản lòng từ lâu rồi, không tu nữa. Chướng ngại của tôi hết cái này đến cái khác, không ngơi không nghỉ, nhưng, tôi càng ngày càng kiên định ý chí của mình. Nếu tôi không là Như Lai thì ai là Như Lai, từ lâu tôi đã gánh vác gánh nặng của Như Lai rồi. 

Xin nói với các vị, tôi còn không thối lui đạo tâm, sao các bạn lại thối lui đạo tâm chứ? Mọi người hãy đến so đạo tâm với tôi xem ai kiên cố nhất?
Nguyện cùng các đồng tu của Chân Phật Tông cùng nỗ lực cố gắng!

**Địa chỉ liên lạc của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn**

**Sheng-yen Lu**
17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
USA


### 01. Ngã mạn


Căn cứ theo lời dạy của Mật giáo, Kim cương Thượng sư tổng nhiếp Tam Bảo Phật pháp tăng, còn tương đương với Kim Cang Tát Đỏa truyền pháp, cho nên Kim cương Thượng sư vô cùng tôn quý, hành giả học Mật nhìn thấy Kim cương Thượng sư thì phải làm đại lễ bái ngũ thể đầu địa [toàn thân nằm rạp xuống đất để lạy].

Chính vì thế này mà có người cho rằng Kim cương Thượng sư cũng đang làm cái việc sùng bái cá nhân, sẽ khiến cho Thượng sư cao hơn người một bậc, dễ sinh ra ngã mạn. Ngã mạn tức là kiêu ngạo tự mãn, coi thường người khác.

Theo quan điểm của tôi, đúng ra là không có việc này, ngược lại còn khắc phục thói quen kiêu mạn. Tôi nhận thấy thế này:
Hành giả Mật giáo đảnh lễ Thượng sư là khắc phục sự ngạo mạn của hành giả Mật giáo.
Thượng sư đảnh lễ Truyền thừa Thượng sư là khắc phục sự ngạo mạn của Thượng sư.
Truyền thừa Thượng sư đảnh lễ Tổ sư là khắc phục sự ngạo mạn của Truyền thừa Thượng sư.
Theo thứ tự chính là hành giả đảnh lễ Thượng sư, Thượng sư đảnh lễ tôi, tôi lại đảnh lễ Tổ sư Thubten Dhargye.
Mặc dù tôi là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, là hóa thân của Liên Hoa Đồng Tử, là hóa thân của A Di Đà Phật, nhưng bất kể bạn là hóa thân của Phật nào, nhìn thấy Tổ sư thì vẫn phải quỳ xuống đảnh lễ, người tu hành trước tiên phải hàng phục ngã mạn của chính mình.

Không loại bỏ tâm ngã mạn, cho dù tu thiền định thành tựu thì chắc chắn vẫn sẽ giáng cấp làm Atula Vương hoặc Ma Vương. 
Hành giả Chân Phật phải ghi nhớ:
Khắc phục ngã mạn, là Phật.
Nâng cao ngã mạn, là Ma.


### **02. Xuất gia**


Tôi hoan nghênh người có chí tu hành xuất gia, ý nghĩa của xuất gia là có thể càng chuyên tâm tu hành hơn, càng chuyên trách hoằng pháp hơn. Trên nguyên tắc, xuất gia cũng tức là cống hiến thân tâm cho Phật Thích Ca Mâu Ni, đương nhiên chúng ta phải ca ngợi Phạm hạnh thanh tịnh này. 

Thế nhưng cũng không phải người người đều có nhân duyên xuất gia, cho nên cũng đừng miễn cưỡng nhất định phải xuất gia. Người tu hành tại gia cũng có thể tu, tất cả tự nhiên là tốt. Có nghĩa là bạn xuất gia cũng được, không xuất gia cũng được.

Trong Chân Phật Tông, nếu như muốn xuất gia, bạn phải cân nhắc ba điểm:
1. Cá nhân có bị tàn tật hoặc bệnh hiểm nghèo không? Có bị bệnh tâm thần không? Có vết nhơ về đức hạnh không?
2. Cha mẹ hoặc phối ngẫu có đồng ý không?
3. Có thể chịu đựng được đời sống tu hành đạm bạc, đơn điệu, hiu quạnh không?

Tôi đã ngẫm nghĩ, ba điểm này có lẽ là quan trọng nhất, nghĩ rõ ràng rồi thì mới có thể xuất gia. Nếu xuất gia rồi mà cảm thấy có vẻ không phù hợp, bạn lại có thể hoàn tục, bởi vì tất cả điều này căn bản là tự do, không ai có thể ngăn chặn bạn hoàn tục, bạn chỉ cần lại để tóc, cởi bỏ tăng phục (trang phục Lama) tức là hoàn tục rồi. Hoàn tục không hề mất mặt, vẫn cứ tiếp tục tu Chân Phật Mật Pháp của bạn thôi. Bởi vì bạn chỉ là không muốn chuyên trách mà thôi!

Tôi nói xuất gia là việc của đại trượng phu, nhưng cư sĩ tại gia mà tu được thành đại thành tựu thì càng là cực giỏi đó!
Cả đời tôi tôn trọng tự do.
Cả đời tôi tôn trọng dân chủ.
Dưới tư tưởng của Chân Phật Tông: miễn cưỡng là một loại tội ác!


### 03. Phân linh


Quá khứ, tôi từng hỏi Diêu Trì Kim Mẫu: “Thế nào là phân linh?”
Diêu Trì Kim Mẫu trả lời: “Thảo đầu thần.”
Ý nghĩa của “thảo đầu thần” chính là phân linh nhiều giống như cỏ vậy, phân bố khắp mặt đất, cho nên các thần thánh ở thiên thượng giới đặt cho phân linh một biệt hiệu là “thảo đầu thần”. 
Ví dụ: 
Nam mô ba mươi sáu vạn tỷ mười một vạn chín nghìn năm trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật.
Trăm nghìn triệu hóa thân của Tỳ Lô Giá Na Phật.
Sáu mươi vạn triệu na-do-tha hằng hà sa do tuần hóa thân của Lô Xá Na Phật.
Ngay cả Quan Thế Âm Bồ Tát cũng có ba mươi hai ứng hóa thân, mỗi một ứng hóa thân lại phân thân ra vô số, cũng tức là phân thân vô tận, vì pháp là như thế, vì thần lực biến hiện. 

Theo như tôi biết, phân linh của Liên Hoa Đồng Tử là vô tận, trong số các đệ tử Chân Phật Tông có rất nhiều ứng hóa thân của Liên Hoa Đồng Tử, tôi chỉ là một người trong số đó, một người giác ngộ tương đối sớm. Là một thảo đầu thần Đại Bạch Liên Hoa đã khai ngộ.

Tôi nhận ra được mấy vị là phân linh của Diêu Trì Kim Mẫu: Thượng sư Liên Từ, giáo thọ sư Liên Hoa Xuân Liên, Liên Hoa Hựu Trinh, Liên Hoa Tố Minh, v.v…

Cá nhân tôi cảm thấy phân linh của chư tôn đương nhiên là rất cao quý. Nhưng phân linh giống như cỏ, phân bố khắp mặt đất, phân linh như trăng hiện bóng trên nước. Phật quốc tịnh thổ là “hóa thành” [là một cõi được hóa ra], phân linh cũng là một dạng huyễn hóa mà thôi. 

Biết được chính mình là phân linh rồi thì càng phải thận trọng, phải biết dè dặt lo sợ, phải chính pháp, chính tri, chính kiến, chính niệm, chăm chỉ tu hành, chăm chỉ hoằng pháp, phải biết phân linh huyễn thân giống như bọt tụ lại, nếu tâm thần bị vật chất trói buộc thì cũng vẫn đi luân hồi trong lục đạo!

Thảo đầu thần! Nếu như bị ô nhiễm.
Thảo đầu thần! Nếu như sa đọa.
Một lần bị đốt hết lửa rồi!
Muôn kiếp không còn khói.


### 04. Cảm ứng


Tu Mật giáo rất dễ có được cảm ứng, đây là điều mọi người đều biết. Đầu tiên là Kim cương Thượng sư của Mật giáo tổng nhiếp Tam Bảo Phật, pháp, tăng, có đầy đủ vô lượng công đức của chư Phật, có đại gia trì lực bất khả tư nghì. 

Một Kim cương Thượng sư đại thành tựu gia trì cho một người, người này bản thân còn chưa tu hành, chỉ cần một lòng tịnh tín, thì ở đây giống như một người cầm một bình đầy pháp nhũ đổ vào trong bát rỗng của một người, người được gia trì lập tức có được pháp nhũ đầy ắp, đã có được sự thỏa mãn tương ứng.

Chưa bắt đầu tu hành, mới vừa quy y, hoặc mới nhận quán đảnh mà đã có hiện tượng cảm ứng rồi, việc này trong Mật giáo rất nhiều. Nếu như trong tu trì Mật pháp liên tục có các kiểu hiện tượng cảm ứng thì cũng đừng quá kinh ngạc, bởi vì đây là hiện tượng tương ứng bình thường. Về mặt tâm lý hãy duy trì một dạng như gần như xa, không giữ không bỏ là tốt nhất, có cảm ứng cũng được, không có cảm ứng cũng được, đừng quá chấp vào nhất định phải có cảm ứng.

Có cảm ứng rồi có thể nói với Thượng sư, có thể nói với đồng môn kim cương, tốt nhất là thỉnh Thượng sư khai thị, cùng với đồng môn kim cương cổ vũ lẫn nhau. Đừng nói với người ngoài, vì sao? Bởi vì người ngoài chưa chắc đã tin, sẽ gây ra những sự phỉ báng, dễ sinh phiền não. 

Ngoài ra, người có cảm ứng rồi, tối kỵ khoe khoang, tối kỵ khởi tâm kênh kiệu ngạo mạn, phải biết rằng tự cao tự đại chính là chủng tử của ma. Rất nhiều người hễ sinh ra cảm ứng là lập tức nhập ma, nguyên nhân chính là ở đây, cho nên những người này càng tu hành càng đi chệch khỏi chính tri kiến, nhập ma mà không tự biết. 

Thân khẩu ý thanh tịnh, có được cảm ứng là điều bình thường.
Tu trì Mật pháp, có được cảm ứng của các vị Hộ pháp là bình thường.
Tuyệt đối đừng cho rằng đây là cảnh giới tối cao, đã vượt qua tất cả đồng môn, pháp sư, Thượng sư rồi. Khởi lên suy nghĩ này tức là đã nhập ma rồi đó!


### 05. Tự tịnh ý mình


Từng có một đệ tử sơ sơ cúng dường một khoản tiền, nói với tôi:
”Xin Sư Tôn dạy tôi đại thần thông cảm ứng!”
Tôi trả lời: 
”Ở chỗ tôi học Phật là học tự tịnh ý mình, không phải học thần thông.”
Đệ tử nói: “Phật chẳng phải có thần thông sao?”
Tôi đáp: “Phật có thần thông. Nhưng người có thần thông không nhất định là Phật.”
Tôi nói với anh ta, ma cũng có thần thông, tà thần chính thần đều có thần thông, quỷ cũng có thần thông, ngoại đạo cũng có. Thần thông chỉ là hiện tượng hiển phát ngẫu nhiên của việc học Phật tu đạo, có thể nói là sản phẩm phụ, không chấp vào nó thì mới không phạm sai lầm, không đi vào đường rẽ.
Nếu chuyên tu thần thông, rất dễ tham vào cảnh ấy, vọng niệm sinh ra, thế là nhập vào mê hoặc, cuối cùng chắc chắn sẽ đọa vào tà ma ngoại đạo. Tham các loại thần thông cảm ứng sẽ càng ngày càng rời xa giáo hóa của Phật Đà, trở thành yêu ma quỷ mị.

Vậy rốt cục Phật Đà dạy chúng ta cái gì?
Vẫn là câu nói cũ:
Mọi ác không làm.
Làm mọi điều thiện. 
Tự tịnh ý mình.
Là điều Phật dạy.

Tôi đã viết 150 cuốn sách rồi, nghiêm túc mà nói, trăm nghìn vạn văn tự tổng kết quy về bốn chữ: “Tự tịnh ý mình”. 

Tam nghiệp của Mật giáo chuyển thành tam mật: thân mật, khẩu mật, ý mật. Thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh, chính là tự tịnh ý mình đó!

Tu tâm, tự tịnh ý mình, sẽ thành Phật.
Chỉ học thần thông, sẽ thành Ma.
Hành giả tu học Chân Phật Mật Pháp phải biết phân biệt cẩn thận kĩ càng!


### 06. Chính kiến


Chính kiến là một trong bát chính đạo, bát chính đạo lấy chính kiến đứng đầu, vì thế chính kiến là quan trọng số một. Chính kiến nghĩa là kiến giải chính xác, cũng tức là hành giả đối với nhân duyên quả báo, đối với logic Phật pháp, đối với tam pháp ấn, đối với tứ đế, bát chính đạo, thập nhị nhân duyên đều tin tưởng, tiếp nhận và hiểu rõ. 

Chính kiến về Mật giáo đặc biệt quan trọng, học tập Mật giáo nhất định phải dựa vào một vị Kim cương Thượng sư có truyền thừa chân chính, cũng tức là phải xác lập một vị Căn bản Thượng sư, một lòng tịnh tín, chuyên tâm tu trì. Bởi vì an trụ tâm ở nơi một vị căn bản, thường luôn nhớ đến căn bản mới có thể không loạn không động, đây là chính kiến của Mật giáo.

Phật giáo hiện nay không nhất định là Phật giáo, có rất nhiều giáo phái khác nhau lan tràn, có phái thì dùng công pháp để hiệu triệu, có phái thì dùng thần thông để hiệu triệu, có phái dùng khí công để hiệu triệu, còn có phái dùng ma quỷ để mê hoặc người đời, v.v…

Những giáo phái này thu hút đệ tử, tranh cướp cúng dường, mở rộng địa bàn, dùng bất kì thủ đoạn tồi tệ nào. Thường xuyên có rất nhiều người thiếu chính kiến đã lầm đường lạc lối, ngày càng lún sâu vào cạm bẫy mà vẫn cho rằng mình đã thật sự gặp được “minh sư”, đã học được đại pháp vô thượng, đã sắp thành Phật tác Tổ rồi, thật ra đã nhập ma đạo rồi đó!

Những người này phải nhớ lại chính kiến của Mật giáo, là một Căn bản Thượng sư, một Căn bản Bổn tôn, một Căn bản Hộ pháp, chăm chỉ mà tu. Đừng tham thần thông tà thuật, đừng tham kỳ lạ tham nhiều, đừng chấp vào huyễn thị huyễn thính, đừng dễ dàng tin những lời phỉ báng mà phân vân không quyết định. 

Đừng tin mù quáng.
Đừng mê tín.
Lý trí rất quan trọng.
Thử hỏi chính bạn, bạn có chính kiến không?
Muốn thành tựu Mật giáo, muốn chấm dứt sinh tử, từ đầu đến cuối đều phải chính kiến!


### 07. Thượng sư Acharya chân chính


Khi tôi truyền thụ pháp Thời Luân Kim Cang, được Thượng sư Thubten Dhargye tự tay viết trao quyền: “Trao pháp mạch, truyền thừa pháp Thời Luân cho Thubten Qimo [Kỳ Ma], là thề ước samaya.” Việc trao truyền thừa pháp này chính là truyền thừa, Thượng sư Acharya chân chính nhất định phải có truyền thừa.

Tôi có mũ Pháp Vương của Milarepa, áo Pháp Vương của Ganden Tripa, ấn Pháp Vương của giáo chủ Sakya, chuông, chày, bình kim cang của Tổ sư, pháp bản do Tổ sư đích thân trao truyền, v.v… Những món đồ được ban cho này chính là tín vật của Thượng sư Acharya.

Hai tín vật quý giá nhất, đáng tự hào nhất là Kim Cang Thủ Bồ Tát và Kim Cang Hợi Mẫu bằng đất sét do chính tay Cam Châu Hoạt Phật nặn. Hai báu vật này được bày tại Biệt thự Cầu Vồng, là do Cam Châu Hoạt Phật tặng cho Thượng sư Thubten Dhargye, Thượng sư Thubten Dhargye tặng cho tôi.

Có Mật pháp của truyền thừa, tôi kính sư, trọng pháp, thực tu, thật sự đã sản sinh chứng lượng. Lúc này tôi càng thương xót chúng sinh, phát đại bồ đề tâm, sẵn lòng hoằng dương giáo lý và sự pháp đến toàn thế giới, sẵn lòng gánh vác sự nghiệp của Như Lai, cống hiến sinh mệnh và thời gian cho Phật.

Tôi có tín niệm kiên định đối với truyền thừa của chính mình.
Tôi có tín tâm tuyệt đối đối với Chân Phật Mật Pháp.
Tôi tương ứng tất cả pháp. Mười vạn Không Hành Mẫu hiện thân hoan hô chúc mừng.
Bổn tôn hiện thân nói:
”Không cần có chùa của chính mình, không cần có địa bàn của chính mình, không cần có tiền của chính mình. Có được những thứ trên mặt đất sẽ mất đi những thứ trên trời. Ngài - Liên Sinh Hoạt Phật, chứng lượng đầy đủ, đại từ đại bi, trí huệ hiển phát, ngũ trí vẹn toàn, đức hạnh cao quý, tất cả sinh từ đều có thể chấm dứt, có thể không mê không hoặc.” 

Nếu có người hỏi tôi thế nào là Thượng sư Acharya chân chính?
Câu trả lời của tôi là: 
”Vui lòng đọc kĩ bài viết ngắn này từng chút một!”


### 08. Tự cao tự đại


Thanh Hải Vô Thượng Sư từng nói với đệ tử của bà ấy: “Hiện tại trên thế giới có mấy vị minh sư, tôi chính là minh sư, các bạn gặp được tôi rồi thì không cần phải đi tìm minh sư khác, bởi vì tôi chính là minh sư.”

Thanh Hải Vô Thượng Sư nói như vậy có thể xem là khá trung đạo, rất khách khí.
Có một người họ Lý nói thế này: “Pháp mà Phật Thích Ca Mâu Ni truyền là pháp nhỏ, còn tôi truyền đại pháp. Ngày xưa là người tu pháp, còn tôi truyền là pháp tu người.” 
Có người hỏi họ Lý kia: “Hiện nay trên thế giới có ai đang độ chúng sinh?”
Họ Lý đáp: “Chỉ có mình tôi. Không có ai khác.”
Nói như vậy thì đương nhiên trên trời dưới đất chỉ có họ Lý kia là Phật, người khác đều là ma. Ông ta phê bình đại hòa thượng là hóa thân của ma, Sai Baba ở Ấn Độ là bị đại mãng xà nhập, Chân Lý giáo của Nhật Bản là quỷ của địa ngục, thầy khí công ở Đại Lục đều là bị linh động vật nhập.
Họ Lý kia nói chính ông ta mới là chính đạo duy nhất.

Tôi còn biết có một người họ Tiêu, ông ta nói thế này:
”Tôi là hóa thân của Đại Nhật Như Lai, là chủ của nghìn Phật vạn Phật trên thế giới, Lư Thắng Ngạn chỉ là một Phật nhỏ bé, đều nằm dưới quyền quản lý của tôi.”

Tốt thôi! Hôm nay tôi viết bài văn ngắn này là muốn nói rằng, thông thường con người đều nói mình đã đắc đạo rồi, cũng khai ngộ rồi. Người khác đều không tốt, chỉ có mình là tốt nhất, ca ngợi chính mình, phỉ báng người khác, so sánh ai to, so sánh cảnh giới của ai cao.

Còn ở đây tôi muốn nói với mọi người, học Phật tu hành nhất định phải mở to mắt ra mà nhìn:
Ai đang tự cao tự đại?
Ai đang khen mình chửi người?
Ai thật sự có diệu pháp?
Ai có thể tâm không tán loạn?
Ai là ẩn sĩ đại giác ngộ?


### 09. Bốn tầng quán đảnh


Quán đảnh của Chân Phật Tông rất nhiều, ý nghĩa của quán đảnh là: “Kim cương Thượng sư đại diện cho chư tôn dùng dòng chảy pháp thanh tịnh gia trì rót vào đệ tử.”

Còn về bốn tầng quán đảnh cũng tức là quán đảnh từ nông đến sâu, từ mới tu đến Đại viên mãn, Đại viên mãn là quán đảnh ở cấp độ cao nhất.
Sơ quán — thân khẩu ý thanh tịnh.
Nhị quán — tu hành khí mạch minh điểm.
Tam quán — Vô thượng mật.
Tứ quán — Đại viên mãn.
Tổng thể mà nói, đệ tử Sơ quán là nhiều nhất, bao gồm quán đảnh chư tôn, quán đảnh pháp gia hành, quán đảnh pháp tương ứng Thượng sư, v.v…
Đệ tử Nhị quán thì ít hơn, Nhị quán bao gồm pháp chuyết hỏa, pháp minh điểm, pháp vô lậu. Trong đó pháp vô lậu không truyền cho người “phi pháp khí”. 
Vô thượng mật bộ của Tam quán, tính cho đến hiện tại thì chỉ có một người đã được quán đảnh. Chỉ có một vị Kim cương Thượng sư duy nhất.
Tứ quán Đại viên mãn tính cho đến hiện tại thì vẫn chưa có ai được quán đảnh.

Tôi nói, chỉ cần thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh, nhất định vãng sinh Phật quốc. Khí mạch minh điểm thành tựu là thân kim cương bất hoại. Thành tựu Vô thượng mật là đại lạc quang minh. Thành tựu Đại viên mãn, chứng nhập tính Không, tức thân thành Phật, đại thành tựu cầu vồng. 

Vì sao Nhị quán, Tam quán, Tứ quán lại ít người? 
Tôi nói, Sơ quán là thân, khẩu, ý thanh tịnh, sự thanh tịnh này là gột sạch tham sân si. Bạn thử nghĩ xem, gột sạch tham sân si, với người hiện đại mà nói, đã là rất khó rồi!
Tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) có pháp bảo trân quý vô thượng, là vạn vàng khó mua, vô giá, vô đẳng đẳng.
Tôi nói: “Người nào có dũng khí, có đại bồ đề tâm thì hãy đến đây!”


### 10. Cúng dường (1)


Trước kia, tổ sư của Mật tông Tây Tạng ban cho đệ tử một quán đảnh thì đệ tử phải cúng dường Thượng sư mấy con trâu mấy con cừu. Pháp càng lớn thì phải cúng dường càng nhiều trâu cừu. 

Điều thú vị nhất là Nga Ba Lạt Ma cầu Thượng sư Marpa quán đảnh một pháp, thuộc về pháp Vô thượng mật.
Thượng sư Marpa nói: “Phải bỏ hết chướng ngại bám chấp, quán đảnh này phải cúng dường Thường sư tất cả tài sản.”
Nga Ba Lạt Ma không do dự, khẩn trương đem tất cả trâu cừu trong nhà đến cúng dường Thượng sư Marpa, nhưng chỉ để lại một con cừu què chân, ngài nghĩ rằng con cừu què chân này chắc là Thượng sư không cần đến!
Thượng sư Marpa biết được, nói với Nga Ba Lạt Ma: “Toàn bộ tài sản tức là toàn bộ, ngay cả con cừu què chân cũng cần.” Thế là Nga Ba Lạt Ma cũng ôm luôn cả con cừu què chân đến cúng dường Thượng sư.

Theo cách nói của Mật giáo, đại mật pháp vô thượng là quý giá vô cùng, phải trân trọng. Để cho đệ tử cầu pháp biết trân trọng, không thể xem thường, cho nên mới phải cúng dường quý giá.
Hơn nữa, vàng bạc tài bảo chính là chướng ngại lớn cho sự bám chấp của người tu hành, yêu cầu bạn có thể buông xả cũng là rất quan trọng.

Thế nhưng ở chỗ tôi thì là cúng dường tùy ý!
Các bạn tuyệt đối đừng hiểu lầm rằng Mật pháp của tôi không trân quý, không hiếm có, không phải là báu vật trong báu vật, không phải là siêu việt. 
Tôi có lý do của tôi, Mật pháp vô thượng mà tôi có được tuyệt đối không phải là dùng tiền vàng, châu báu, kim cương, xe hơi, nhà lầu là có thể đổi lấy được. 
Thứ tôi cần các bạn cúng dường là:
”Mỗi ngày thanh tịnh thân khẩu ý của chính mình, nghiêm túc tu trì, người người sớm thành tựu, người người đi ra ngoài hoằng pháp độ chúng, tự giác giác tha, cúng dường pháp như vậy chính là cúng dường lớn nhất mà bạn dành cho tôi.”


### 11. Cúng dường (2)


Ý nghĩa gốc của cúng dường là: cúng lên trên ngụ ý thân thiết, phụng sự, tôn kính; bố thí cho phía dưới, ngụ ý đồng cảm, thương xót, yêu thương. 
Tu lục độ Bồ Tát: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ. Trong đó bố thí xếp vị trí đầu tiên.
Bố thí lại được phân thành: tài thí [bố thí tiền], pháp thí [bố thí pháp], vô úy thí [bố thí sự không sợ hãi].

Tại đây, tôi đặc biệt chỉ ra một đoạn kinh văn trong Kinh Kim Cang: "Tu Bồ Đề! Nếu tất cả các núi Tu Di chứa trong tam thiên đại thiên thế giới, có người dùng thất bảo tích tụ nhiều như số núi ấy mà bố thí, hoặc có người thọ trì đọc tụng kinh Bát Nhã Ba La Mật này cho dù chỉ bốn câu kệ, vì người khác mà giảng thuyết, thì phúc đức của người bố thí so với người trì kinh trăm phần không bằng một phần, trăm nghìn vạn ức phần, thậm chí tính toán tỉ dụ thì cũng không thể so bì được.”
Ở đây chính là nói rằng: “Trong tất cả cúng dường, cúng dường pháp là số một.”
Tài thí là tế nhân sinh mệnh, pháp thí là độ nhân huệ mệnh. Tài thí là nhất thời, pháp thí mới có thể thật sự khiến chúng sinh thoát khổ được vui, giải thoát luân hồi, chấm dứt sinh tử, pháp thí mới là vĩnh viễn. 

Tôi nhìn thấy Phật giáo ngày nay lại trái ngược, tài thí là số một, pháp thí không có, đáng thương xót xa làm sao!
Phật giáo ngày nay, xây chùa lớn, xây bệnh viện, xây đại học, xây đài truyền hình, người bố thí tiền thì nhiều! Còn người bố thí pháp thì rất rất ít, thật sự xót xa thay!

Tôi nhấn mạnh: 
Đệ tử Chân Phật Tông không cần dùng tiền bạc, châu báu để dúng dường Căn bản Truyền thừa Thượng sư là tôi đây. Đệ tử nghiêm túc tu trì Chân Phật Mật Pháp chính là cúng dường tôi rồi.
Tôi có kho tàng vô cùng tận, tôi là Đại Phúc Kim Cang. Những kho tàng này không phải ở trên mặt đất, mà là ở trên trời.


### 12. Ấn chứng


Có một người vừa mới quy y Mật giáo không lâu thì đã đội mũ Pháp Vương của Mật giáo, mặc quần áo Pháp Vương, chụp một tấm ảnh gửi đến chỗ tôi, muốn tôi phong anh ta làm Pháp Vương XX. 
Hỏi: “Vì sao làm như vậy?”
Anh ta đáp: “Bởi vì thất nghiệp đã lâu, nay muốn làm nghề Pháp Vương.”
Tôi hỏi: “Bốn bộ pháp của Mật giáo là gì, là bốn bộ nào?”
Anh ta không trả lời được.
Lại hỏi: “Bốn bộ pháp của Mật giáo là Sự bộ, Hành bộ, Du già bộ, Vô thượng bộ. Thành tựu mỗi một bộ đều phải ấn chứng, anh đã có được ấn chứng chưa?”
Mặt anh ta ngây ra, chẳng ngờ lại hỏi ấn chứng là cái gì. 

Tôi thật lòng thật sự nói cho mọi người biết, tu pháp của Mật giáo nhất định phải tuần tự từng bước mà làm:
Thứ nhất, tìm một vị Kim cương Thượng sư thật sự có truyền thừa. Nhận quy y, xin quán đảnh. 
Thứ hai, một lòng tin tưởng sự truyền pháp của Thượng sư, học tâm yếu khẩu quyết của thầy.
Thứ ba, thực tu.
Thứ tư, tu trì tương ứng đến một cảnh giới thì thỉnh Kim cương Thượng sư ấn chứng chỉ bảo, ấn chứng là thật thì mới tiến lên một bậc. Theo thứ tự mà tu hành, theo thứ tự mà ấn chứng.

Người được nhắc đến trong bài viết ngắn này đương nhiên là làm xằng làm bậy, là hão huyền muốn làm Thượng sư, lừa mình lừa người muốn làm Pháp Vương. Không trung thực tu hành, chỉ muốn nổi tiếng và được lợi, xem ra thật ngây thơ nực cười làm sao!

Mỗi một pháp của Mật giáo thực tu đến khi xuất hiện cảnh giới, nhất định phải có Thượng sư ấn chứng, bởi vì nhận giả thành thật, nhận huyễn thành thật, không tin lời dạy của Căn bản Thượng sư thì rất dễ nhập ma cảnh mà không tự biết. 
Mũ Pháp Vương, áo Pháp Vương không phải là thứ tự mình đi mua để đội!
Phải là Căn bản Thượng sư ấn chứng cho bạn rồi sẽ đội cho bạn!


### 13. Trì giới


Có người cho rằng Mật giáo tương đối lỏng, không nói đến giới luật!
Tôi nói: “Đây là hiểu lầm Mật giáo, cực sai đặc biệt sai!”
Chỉ cần là tín đồ Phật giáo, bất kể là Hiển giáo hay Mật giáo đều biết phải trì giới, đều phải học tập tam vô lậu học, tam vô lậu học tức là giới-định-huệ.
Giới là dừng dứt hành vi ác.
Định là định tâm một chỗ.
Huệ là phá bỏ vọng tưởng chứng chân thật.
Nói một cách đơn giản, trì giới thì thanh tịnh tâm được an, tâm an thì dễ nhập định, có định rồi thì có thể quán chiếu rõ ràng và sinh trí huệ.

Phật giáo có rất nhiều giới luật, từ năm giới, tám giới, mười giới, Bồ Tát giới, hai trăm năm mươi điều giới, v.v… Những giới luật này, thật ra là Hiển-Mật giống nhau đều phải giữ giới. 

Mật giáo còn có năm mươi điều giới luật về hành vi ứng xử của trò để cung kính Căn bản Thượng sư, còn có mười bốn đại giới căn bản của Mật giáo. Mật giáo còn có giới cấm thủ kiến, biệt giải thoát giới, tính giới, v.v… theo như tôi biết thì còn kĩ hơn và nghiêm khắc hơn giới Đại thừa và giới Tiểu thừa.
Phạm giới Mật giáo thì xuống địa ngục kim cang, quả báo tàn khốc của nó là:
Nuốt viên sắt nung đỏ.
Uống nước sắt nung chảy.
Mặc áo sắt nung đỏ.
Ngồi giường sắt nung đỏ.
Nơi đây vĩnh viễn không có ngày thoát ra. Rất đáng sợ.

Tu trì Chân Phật Mật Pháp nhất định phải giữ giới luật. Sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni niết bàn đã yêu cầu đệ tử Phật lấy giới làm thầy, bởi vì giữ giới là cái gốc của thành tựu. 

Nếu có người nói không giữ giới luật cũng có thể thành Phật thì đó là phá vỡ samaya. 
Tôi nói: “Không giữ giới luật làm sao có thể khiến trời người khởi lòng tin? Không giữ giới luật là đi ngược lại Thánh đạo, thuận theo phàm tình, không thể thoát cửa sinh tử và cắt đứt đường luân hồi!”


### 14. Tinh thần trì giới


Từ xưa đến nay, vì coi trọng sự tinh nghiêm của giới luật, để Phật pháp có thể lâu dài trụ tại nhân gian nên đặc biệt nhấn mạnh tinh thần trì giới.

Khi thọ giới, Sư Tôn hỏi giới đệ tử: “Có thể chịu đựng được mười việc không?”
Giới đệ tử đáp: “Có thể.”
Mười việc là gì? Mười việc này khiến người ta kinh hãi:
1. Xẻ thịt cho chim ăn.
2. Xả thân cho hổ ăn.
3. Chặt đầu tạ ơn trời.
4. Bẻ xương lấy tủy.
5. Lấy thân ra đốt nghìn đèn.
6. Móc mắt ra bố thí.
7. Lột da làm kinh sách.
8. Chọc tim quyết chí.
9. Thiêu thân cúng Phật.
10. Cắt máu vẩy đất.

Mười điều này chính là tinh thần xả thân của giới Bồ Tát Đại thừa. Đương nhiên không phải là dạy mọi người làm như vậy, bởi vì đây là hành vi tự làm hại mình, tôi cho rằng không thích hợp với ngày nay nữa. Nhưng bạn thọ giới, thủ giới, có thể chịu đựng được mười việc này thì không đến mức tùy tiện đi phá giới đâu. Chí ít cũng học bậc cổ đức tinh thần trì giới kiên định đi!

Ngày nay có rất nhiều người thọ Bồ Tát giới của Chân Phật Tông, cũng không ít người thọ giới xuất gia, nhưng người thật sự có thể giữ, có thể chịu đựng được thì không nhiều, đây là việc khiến tôi tương đối lấy làm tiếc. Một chút tinh thần trì giới cũng không có, thật khiến người ta đau lòng bó tay!

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người:
Thông hiểu giới luật, giới luật tinh nghiêm thì gọi là luật sư.
Tu thiền nhập định, minh tâm kiến tính thì gọi là thiền sư.
Hiểu rõ Mật pháp, tu pháp hoằng pháp thì gọi là pháp sư.
Ba cái này hợp làm một thì chính là Kim cương Thượng sư chân chính.


### 15. Chân Phật Tông


Có người phê bình Chân Phật Tông thích nhất là nói:
”Chỉ có anh là Phật thật, còn chúng tôi đều là Phật giả chắc?”
Tôi nghe xong thì cảm thấy rất buồn cười, kiến giải của tôi là thế này:
”Vì tôi đã đến Pháp Tính thổ nơi thân thật của Phật cư trú, chứng minh Pháp-Báo thân của Phật. Biết đến cõi Phật thật, cho nên mới xác lập tông phái của chính mình gọi là Chân Phật Tông.”

Tôi lại nhấn mạnh:
”Thích Ca xuất thế, tùy căn khí chúng sinh sắc hay cùn mà tùy bệnh cho thuốc để thu hút độ hóa người hữu duyên, sau khi Phật diệt độ, các đệ tử dựa theo các giáo pháp mà phân tông để kết tập Tam tạng. Thật ra, pháp pháp tương thông, cho nên đều hay cả, tông nào cũng đều là Chân Phật.”
Ý tôi muốn nói rằng, tôi là Chân Phật, mọi người cũng đều là Chân Phật, chỉ cần là Phật pháp thì đều là Chân Phật, tôi không phê bình người khác là Giả Phật.

Người thích Bát nhã bộ và các kinh thì học tập Thiền tông.
Người thích kinh A Di Đà, kinh Vô Lượng Thọ, kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật thì học tập Tịnh Độ tông.
Người thích kinh Đại Nhật, kinh Kim Cương Đỉnh thì học tập Mật tông.
Người thích kinh Phạm Võng thì học tập Luật tông.
Người thích Trung luận, Bách luận, Thập Nhị Môn luận thì học tập Tam Luận tông.
Người thích kinh Pháp Hoa thì học tập Hiền Thủ tông.
Người thích kinh Lăng Già, kinh Giải Thâm Mật, luận Thành Duy Thức, luận Du Già Sư Địa thì học tập Pháp Tướng tông.

Bởi vì tôi sớm có duyên khá sâu với Mật tông cho nên tôi lấy Mật pháp để học tập, tôi chắt lọc tinh hoa, tạo nên chiếc bè quý báu số một để vượt qua biển sinh tử, lên bờ niết bàn.

Tôi thật sự đã chứng minh Pháp-Báo thân.
Ấn chứng thành tựu của thế giới Chân Phật.
Chân Phật Tông dựa vào nhân duyên này mà độ hóa chúng sinh hữu duyên!
Chân Phật Tông của tôi là kết hợp toàn bộ các tông, chỉ cần là Phật pháp thì toàn bộ đều là Chân Phật, chứ không phải coi nhau như nước với lửa. Tôi là thật, mọi người cũng là thật.
Người hiếu học ham nghiền ngẫm, hay suy nghĩ cẩn thận đi!


### 16. Thực tu


Còn nhớ khi tôi ở Đài Trung nhậm chức tại đội trắc lượng ở Nam Môn Kiều, buổi tối một ngày nọ, linh sư vô hình giáng xuống, truyền dạy Mật pháp cho tôi ba năm, mỗi đêm một tiếng đồng hồ. Khi ấy, tay chân tôi đều bị linh sư vô hình tác động, tôi bỗng phát hiện ra, thì ra giữa trời đất thật sự có quỷ thần, thật sự có linh giới, thật sự có vô hình.
Tôi lập lời thề nguyện, đây là lúc trong cuộc đời này tôi phải nghiêm túc thực tu. 

Về sau có một lần, tôi lười biếng, tôi nói: “Cớ gì phải học pháp chứ? Thật sự đến khi dùng tới thì linh sư đến giúp đỡ là được rồi.”
Vừa nói ra điều này thì tôi đã bị liên tiếp quở trách!

Tôi học Mật nhiều năm, tại Seattle nước Mỹ bế quan ba năm ở Linh Tiên Các. Từ khi được Diêu Trì Kim Mẫu khởi linh nhãn cho đến nay đã ba mươi năm rồi. Tôi tự nhận ưu điểm duy nhất của mình là thực tu rất có sức kiên trì, ngày ngày thực tu.

Tôi mang nhóm máu O, cá tính rất mạnh, lại rất có tính kiên nhẫn, làm việc gì cũng phải làm đến cùng, làm đến nơi đến chốn, không lười biếng. Tôi ngốc như vậy đó, hâm như vậy đó, cực kì nghiêm túc tu hành.

Tôi thường nói sáng tác và thực tu là hai việc quan trọng của tôi trong cuộc đời này, đây là việc tôi phải làm mỗi ngày, việc sáng tác của tôi mỗi ngày một tăng trưởng, cũng giống như việc thực tu của tôi mỗi ngày một tăng trưởng, không ai có thể đánh đổ.

Nói cho mọi người biết, tôi là Kim cương Thượng sư chân chính, vì sao? Chính là vì ngày ngày thực tu Chân Phật Mật Pháp.
Hiện nay trong xã hội này, Thượng sư giả mạo quá nhiều, họ nói: 
”Chỉ cần gia trì một cái là ba mạch đều thông hết.”
”Hễ gia trì là sẽ có thánh thai.
”Hễ gia trì là sẽ sống trên trăm tuổi.”
”Hễ gia trì là pháp luân sẽ tự động chuyển, tự mình không cần tu.”
Những lời này là thật hay giả? Không cần đến hỏi tôi, hỏi Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là biết, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói: “Kính sư, trọng pháp, thực tu.”
Xin hành giả nhớ rõ: có nghị lực, có nhẫn nại, đừng tham thần kỳ, đừng tham thành tựu cấp tốc. Chất phác chân chất mà tu hành đi!


### 17. Kính sư


Trước đây tôi học Phật, sư phụ mà tôi theo học rất nhiều, tôi đã quy y đạo sư Ấn Thuận, pháp sư Lạc Quả, pháp sư Đạo An. Liễu Minh Hòa Thượng, Thượng sư Thubten Dhargye, Đại Bảo Pháp Vương 16, Thượng sư Sakya Chứng Không, Thượng sư Phổ Phương, v.v…
Giới sư phụ mà tôi thọ Bồ Tát giới là pháp sư Hiền Đốn, pháp sư Huệ Tam, pháp sư Giác Quang. Sư phụ mà tôi học kinh sám là pháp sư Thiện Tứ, pháp sư Thượng Lâm.
Linh sư vô hình là Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.
Đối với sư phụ của mình tôi tận lực phụng sự, đối với giáo pháp mà sư phụ khai thị tôi một lòng tịnh tín. Giáo huấn của sư phụ tôi mãi mãi không dám quên, không làm trái ý chỉ của sư phụ.

Đương nhiên tôi cũng từng bị sư phụ của mình mắng, từ đầu tới cuối tôi đều không dám cãi lại, chỉ có nhẫn nhịn. Tôi cho rằng sư phụ đang dạy tôi nhẫn nhục ba-la-mật. Tóm lại, tôi luôn phục tùng sư phụ của mình.

Trong số các vị thầy tôi đã quy y, tôi từng quy y một Thượng sư (chưa kể tên trong bài viết này), khai thị và lời nói hành động của Thượng sư này trái với giới luật và Phật pháp, tôi và Thượng sư này nhân duyên không đủ, thế là tôi giữ khoảng cách không thân, tôi vẫn cung kính Thượng sư này, không dám phê bình, bởi vì ông ấy cũng đã từng dạy tôi.

Ý tôi muốn nói rằng: “Phàm là sư phụ đã từng dạy tôi, tôi đều cung kính đảnh lễ, tuyệt đối không dám làm trái ý chỉ.”
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ khi cưỡi ngựa báu bay lên trời đã nói: “Người kính sư, trọng pháp, thực tu sẽ đắc!”
”Kính sư, trọng pháp, thực tu” này tôi đã đều làm được rồi. Tôi biết tu học Mật tông không có sự gia trì của sư phụ truyền thừa thì tuyệt đối không thể có thành tựu.
Tôi nói với mọi người một chút: 
”Các vị đại thành tựu của Mật giáo đều là những người kính sư, là người tương ứng với sư phụ của mình.”
Không kính sư, tự xưng đắc đại thành tựu, chỉ có quỷ mới tin.


### 18. Pháp đầy đủ nhất


Rất nhiều người học Phật thích đi khắp nơi để “chạy đạo tràng”. “Chạy đạo tràng” này được gọi là “du tông”, lướt qua tông phái này một tí, lướt qua tông phái kia một tí. Chúng sinh giống như nước, lúc thì chảy về Đông, lúc thì chảy về Tây. 

Tôi nghe có lời đồn rằng: “Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đã quy y mấy chục vị Thượng sư, pháp sư. Tôi muốn học tập ông ấy, đi khắp nơi quy y, nhận quán đảnh thì có gì là không được?”
Người khuyên can vừa nghe nói vậy thì cảm thấy cũng có lý, nhất thời cũng không trả lời được. 

Hôm nay tôi nói thế này. Người muốn học Phật có thể đi tới nhiều các đạo tràng khác, không phải là đi xem sự náo nhiệt mà là đi để so sánh, nghiên cứu, thảo luận nhiều hơn, đến khi bạn thật sự nhìn rõ ràng minh bạch, bạn thấy tất cả đều hài lòng rồi, thì sau đó đến quy y tôi cũng chưa muộn. 
Tôi không hạn chế mọi người đi tìm hiểu các vị tài đức khác. 
Nhưng bạn có thể quay đầu lại xem xét Chân Phật Mật Pháp. Từ pháp Tứ gia hành đến Đại viên mãn, từ Ngoại pháp đến Nội pháp, từ pháp nhập thế đến pháp xuất thế, từ pháp Bổn tôn đến pháp Kim cang, từ cộng pháp [pháp phổ thông] cho đến bất cộng pháp [pháp đặc biệt], từ pháp hỏa cúng cho đến pháp thủy cúng, thậm chí pháp Đại viên mãn, Đại thủ ấn, Đại viên thắng huệ, Đại uy đức cao nhất của Tạng mật. 
Pháp của Chân Phật Mật Pháp là đầy đủ nhất.
Bạn muốn học cái gì là có cái đó.
Tôi có thể thành thật nói cho mọi người biết, những gì bạn muốn đi ra ngoài học thì ở chỗ tôi đều có, thật nhất mà cũng chính xác nhất. Thậm chí cái gì bên ngoài không có thì ở chỗ tôi đều có, tôi là hành giả tu chứng “tổng hợp mọi thứ”. 

Bạn quy y một Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn là tương đương với quy y mấy chục vị Thượng sư, pháp sư, như vậy vẫn chưa phải là khác biệt sao? Vẫn còn chưa đủ sao?
Nên nói như thế này, quy y Chân Phật Tông tức là tối thượng rồi, không thể tìm được pháp nào đầy đủ hơn nữa.
Còn chạy lung tung khắp các đạo tràng giống như con ruồi không đầu thì thật sự đáng đánh đòn!


### 19. Không thể phỉ báng Mật tông


Lúc trước học Phật, văn chương phỉ báng Mật tông không ít, cá nhân tôi cũng đã đọc một số, đại bộ phận phê bình Mật giáo có pháp chư Thiên, đưa chư Thiên vào trong Phật pháp, làm hỗn tạp đạo Bà-la-môn, thậm chí Mật giáo là đạo Bà-la-môn. 
Còn nói, tu khí, mạch, minh điểm không phải là Phật thuyết, lẫn lộn với ngoại đạo tu khí công, tu thông tam tiêu, đại tiểu chu thiên tuần hoàn, tu tinh khí thần. Cho nên phê bình tu khí, mạch, minh điểm không phải là Phật pháp. 

Cũng có người phê bình yoga bí mật của Mật giáo là một phái trong Ấn Độ giáo, căn bản là bàng môn ngoại đạo, là thuật của tả đạo, không phải chính đạo. Những văn tự phê bình loại này vô cùng nhiều. Đặc biệt là Homa (pháp hỏa cúng) của Mật giáo cũng bị công kích rất nhiều, cho rằng tương tự đạo thờ Thần Lửa của Ba Tư. 

Tôi biết, có một lần đại sư Hoằng Nhất diễn giảng nói với chúng sinh, trước kia ông ấy cũng phê bình Mật giáo, cho rằng Mật giáo là ngoại đạo, là tà pháp. Về sau ông ấy đọc “Đại Nhật Kinh Sớ” mới hiểu ý nghĩa sâu xa của Mật giáo, biết Mật giáo vốn có mật ý thậm thâm, từ đó hết sức sám hối.

Đại sư Hoằng Nhất cho rằng đừng nhìn biểu hiện bề ngoài của Mật giáo, phải nghiên cứu sâu nội tại yếu nghĩa, sau khi thật sự hiểu rồi thì không dám phê bình nữa. Phỉ báng Mật giáo là tội lớn về phỉ báng pháp, tuyệt đối đừng tùy tiện bắt chước người khác mà phỉ báng theo.

Bởi vì Mật giáo bí ẩn thâm sâu, pháp của Mật giáo không thể tùy tiện cho người ta thấy, cho nên mới gọi là Mật. 
Tôi nói:
Pháp chư Thiên là pháp của Hộ pháp.
Pháp nội chứng tức là pháp khí, mạch, minh điểm.
Yoga bí mật là pháp thanh tịnh.
Pháp hỏa cúng là pháp quang minh.
Trong những pháp này là diệt chướng tăng huệ, chuyển phàm thành Thánh, uy đức thần lực, bất khả tư nghì!
Nếu bạn phỉ báng tức là đã phỉ báng Pháp Thân Như Lai Tỳ Lô Giá Na Phật.
Bởi vì bảy ngày đầu tiên sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo đã dùng thân của Đại Nhật Như Lai ở tại cung Kim Cương Pháp Giới thuyết pháp môn nội chứng, chính là Kinh Đại Nhật.


### 20. Vọng tưởng vô minh


Phật Đà ở dưới cây bồ đề đắc chính giác, lời đầu tiên đã nói:
”Thực tướng thân tâm của tất cả chúng sinh và Pháp Thân Như Lai (Tỳ Lô Giá Na) vốn bình đẳng không có một chút khác biệt, tất cả công đức thế gian, xuất thế gian của chúng sinh đều thành tựu, đều đầy đủ cả. Chỉ vì vọng tưởng vô minh mà không thể phát hiện ra ánh sáng mình vốn có, công đức mình vốn có.”
Xin chú ý bốn chữ “vọng tưởng vô minh” này, chỉ cần loại bỏ vọng tưởng vô minh thì chúng sinh sẽ bình đẳng không khác gì Phật.

Hành giả Mật giáo dựa vào tam mật mà tu: 
Thân mật — tay kết ấn khế.
Khẩu mật — miệng tụng chân ngôn.
Ý mật — tâm quán chính niệm.
Từng có người nói thế này: “Tu hành Mật giáo trọng quán tưởng. Ví dụ quán tưởng cúng phẩm biến hóa, từ một biến thành nhiều, đầy ắp hư không, quán tưởng này là giả, giả tức là vọng tưởng. Dùng cúng dường giả thì chẳng phải là lừa Phật Bồ Tát sao, đây không phải vọng tưởng vô minh thì là cái gì?”
Tôi trả lời thế này:
”Muốn loại bỏ vọng tưởng vô minh, đích thực là lấy huyễn dừng huyễn, dùng tưởng niệm để dừng vọng niệm. Có nghĩa là lấy giả tu thật.”
”Quán tưởng cúng dường biến hóa này cố nhiên chỉ là tư duy, nhưng xuất phát từ chân tâm, lại thêm miệng tụng chân ngôn gia trì kiên cố, tay kết ấn khế, tức là được Như Lai tam mật gia trì, sức mạnh bất tư nghì này thậm chí có đầy đủ tất cả chân thực.”
Đây chính là thần biến gia trì, thật sự biết tâm mình.
Người ngoài cho là giả.
Trong Mật giáo, sau khi trải qua thần biến gia trì của Như Lai thì tất cả chính là “thật của thật”. 

Thế nhân ngày nay gặp được tôi truyền rộng rãi Chân Phật Mật Pháp, thật ra, chân như tức là thân ta, Phật pháp tức là thể ta, tam mật nghiệp dụng, trùng trùng thâm diệu, mật mật bí ẩn, nếu tách rời tam mật thì vĩnh viễn không có ngày thành Phật!
Chú-ấn-quán. Thân-khẩu-ý. Tam mật tương ứng, thần biến gia trì, tu giả thành thật, tức thân thành Phật.


### 21. Tự do tâm chứng


Hành giả tu hành Mật giáo, ngoài do Căn bản Thượng sư của chính mình ấn chứng ra thì tự mình ấn chứng chính mình, tự do tâm chứng này có được không?
Tôi nói, cái này phải là người có đầy đủ kiến giải chính xác mới có thể làm được, hành giả như vậy phải có chứng lượng thực tu, có đại bi tâm, thông đạt giáo lý hành quả, trí huệ hiển phát ra, ngũ độc đã chuyển thành ngũ trí, đức tính khiêm tốn.
Tự do tâm chứng trước tiên phải ấn chứng:
Tâm mình có thanh tịnh không? Khẩu có thanh tịnh không? Thân có thanh tịnh không?
Khí có đủ không? Mạch có thông không? Minh điểm có vô lậu không?
Có đại lạc không?
Có tịnh quang xuất hiện không?
Có tâm Không không?
Có quả địa viên mãn cực điểm không?
Ấn chứng cuối cùng là: “Pháp nội chứng của Pháp Thân Như Lai cho dù là Bồ Tát chính giác cũng không thể đoán biết, duy có Phật và Phật với nhau có thể biết.”

Con người ngày nay chính là thời đại mạt pháp, nếu toàn bộ đều tự do tâm chứng thì không dễ phân biệt được thật giả. Người vọng ngữ rất nhiều rất nhiều, chưa đắc nói là đắc, chưa chứng nói là chứng, chỉ vì cái lợi trước mắt mà thèm muốn thanh danh lợi lộc, thế là tự lừa mình lừa người, lấy giả làm thật, như vậy là đã nhập vào ma đạo, lúc mệnh chung chắc chắn đọa địa ngục!

Kết quả của tự do tâm chứng là sẽ xuất hiện:
1. Người vọng ngữ nói chính mình đã khai ngộ rồi.
2. Người điên (tâm thần bệnh hoạn) cũng nói chính mình đã khai ngộ rồi.
3. Người nhập ma đều nói chính mình đã thành Phật rồi.
4. Người bị ma nhập đều nói mình có đại thần thông.
5. Đại thành tựu giả thì lại là người bị ma trêu chọc.

Tôi cảm thấy vẫn nên chân chất tu hành đi! Đừng có suy nghĩ mình đã đạt đến cảnh giới nào đó, tự nhiên là tốt, bằng không dễ chấp tướng, sẽ tự hủy hoại huệ mệnh của mình.


### 22. Hiển-Mật


Hiển giáo — giáo pháp hiển minh dễ hiểu.
Mật giáo — giáo pháp nội chứng sâu thẳm huyền bí, vì có ý nghĩa thâm sâu, bí mật khó hiểu nên được gọi là “Mật”. Đối với người chưa quy y lại không được cho họ thấy giáo pháp của Mật giáo, cho nên gọi là Mật giáo. 
Hai phái Hiển-Mật thật ra đều là pháp môn thành Phật mà Phật Thích Ca Mâu Ni đã truyền.

“Kinh Đại Nhật” nói: 
”Sau khi Phật thành đạo, trong sát-na, trong hư không chư Phật khắp nơi nhiều như hạt vừng đều tán thán xưng thị pháp thành Phật, tại nơi mũi mình đã làm quán tưởng nguyệt luân chữ Om để chứng tự tâm bồ đề.”
Nói cách khác là, Thích Ca Như Lai thành đạo, trong bảy ngày đầu tiên, lấy Pháp thân Tỳ Lô Giá Na Phật, ở tại cung Kim Cương Pháp Giới, với các Thánh chúng như Kim Cang Tát Đỏa tự nhận pháp lạc, nói pháp môn tự nội chứng là Kinh Đại Nhật. Rồi ngài lại ở cung điện Chân Ngôn nói “Kinh Kim Cương Đỉnh”.
Đây chính là khởi nguồn của Mật giáo.
Truyền thừa của Mật giáo là Kim Cang Tát Đỏa kế thừa trực tiếp từ Đại Nhật Như Lai, và Đại Nhật Như Lai trở thành chủ tôn của Mật giáo. Đại Nhật Như Lai cũng chính là Tối Cao Hiển Quảng Nhãn Tạng Như Lai, Phật Nhãn Phật Mẫu cũng thế.

Mọi người có thể nghĩ xem — Đại Nhật Như Lai, Phật Nhãn Phật Mẫu, Liên Hoa Đồng Tử, Liên Sinh Hoạt Phật. Bí mật của pháp môn truyền thừa này ở trong đây, từ rất sớm tôi đã cho mọi người thấy điều này. Chính là Chân Phật Tông này là giáo phái của tất cả bí mật của Như Lai, tự bản thân tông phái này đã là một bí mật lớn.
Trong Chân Phật Kinh.
Đại Bạch Liên Hoa.
Pháp tọa sư tử.
Thần thông nhậm vận.
Từ bi vạn đức.
Thuyết pháp thanh tịnh.
Chư Phật Bồ Tát.
Hoan hỷ tán thán.

Chân Phật Tông vì thuận theo pháp đời, vì để cho hạt giống Phật mãi mãi không đứt đoạn, cho nên đại thù thắng!
Từ nay về sau, tất cả giáo pháp sắc chỉ đều nên phụng hành.


### 23. Pháp hiệu


Đệ tử của Chân Phật Tông pháp hiệu dùng chữ “Liên” [hoa sen] để làm biểu trưng, bên trong có rất nhiều ý nghĩa:
1. Liên tức là sinh ra từ bùn mà không nhiễm, biểu thị từ phàm nhập Thánh.
2. Tu chứng đắc quả, vãng sinh Ma Ha Song Liên Trì.
3. Người người đều là liên hoa hóa sinh, người người đều là Liên Hoa Đồng Tử.
4. Thế giới của Ma Ha Song Liên Trì thông với thế giới Hoa Tạng của Phật Thích Ca Mâu Ni, thông với thế giới Hoa Tạng của A Di Đà Phật, thông với thế giới Hoa Tạng của Đại Nhật Như Lai, cũng tức là thế giới Mật Nghiêm Quốc. 
5. Tổ sư của Mật giáo là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.
6. Căn bản Truyền thừa Thượng sư của Chân Phật Tông là Liên Sinh.
7. Thượng sư truyền thừa là Liên Sinh, tất cả các đệ tử Chân Phật Tông sẽ là Liên X hoặc Liên Hoa XX, đây là sự thông suốt của bình đẳng tính trí, đại viên kính trí, pháp giới thể tính trí, thành sở tác trí, vô phân biệt trí.
8. Truyền thừa Thượng sư và các đệ tử không hai không khác, chính là du già, chính là tương ứng.
9. Trí huệ ta và người khác bình đẳng chính là bình đẳng tính trí. Pháp hiệu có chữ giống nhau là biểu trưng nổi bật nhất của Chân Phật Tông, Căn bản Thượng sư đảnh lễ bất khả tư nghì chúng sinh, ý nghĩa của nó là ở đây. Tất cả chúng sinh đều có Phật tính.
10. Nhờ ta và người khác bình đẳng mới có thể tu được vô hận, vô oán, mới có thể tiến vào vô niệm, khai ngộ “vô niệm là Phật”. 

Tôi viết một bài kệ:
A Di Đà chính giác,
Liên Sinh khéo trụ trì.
Như Lai tịnh liên chúng.
Chính giác liên hoa sinh.


### 24. Mật của Mật giáo


Chữ Mật của Mật giáo được các vị thầy giải thích khác nhau, nhưng đại thể là như sau:
Có người nói, tôn giáo này lấy chân ngôn bí mật làm chủ, cho nên gọi là “bí mật giáo”. 
Có người nói, lập đàn trì chú, tam nghiệp tương ứng tam mật, lập tức ứng diệt chướng tăng huệ, chuyển phàm thành Thánh, uy đức thần lực, bất khả tư nghì, gọi là “bí mật giáo”. 
Còn nữa, Đại Nhật Như Lai ở tại Pháp Giới Tâm Điện khai thị hai bộ bí mật, cho nên gọi là “bí mật giáo”. Pháp môn này sâu xa huyền bí, thậm thâm ẩn mật, không dễ cho người ta thấy, từ tên gọi bí mật này đã trở thành đặc tính của tôn giáo này. 

Mật giáo lập ra mười trụ tâm, chín trụ tâm đầu thì Hiển giáo cũng có, còn tâm thứ mười sau cùng là tâm bí mật trang nghiêm, bí mật ở đây chính là pháp môn vô tận của lục đại tam mật ngũ tướng ngũ trí của hai bộ Kim cương giới, Thai tạng giới, cái này ngay cả Bồ Tát đẳng giác cũng không thể thấy nghe, là tâm địa của bí mật giáo, vì thế gọi là Mật giáo. 

Hành giả tu Mật giáo dựa vào ba mật môn tự xưng là tam nghiệp, được tam mật của Như Lai gia trì, cho đến khi dung hợp làm một, không còn trải qua kiếp số nữa, một khi đã nhập vào pháp giới thì tức thân thành Phật, đây chính là bí mật của đại du già gia trì thần biến. 

Cá nhân tôi nhận thấy thế này:
Pháp môn của Mật giáo phân thành rất nhiều cấp độ, cũng tức là dựa vào căn khí mà xác lập cách dạy, nếu căn khí chưa tới mà miễn cưỡng dạy pháp thì chắc chắn không thể nào tiếp nhận, thậm chí còn bị phỉ báng, cho nên người chưa nhập môn Mật pháp thì không tiện công khai, như vậy cũng là Mật.

Hơn nữa, chân ngôn, ấn khế, quán tưởng đều vượt qua cảnh giới thậm thâm của văn tự ngôn ngữ, sự tương ứng của nó cũng không thể nào dùng lý lẽ thường tình của thế gian để mà suy đoán, dùng lập trường quan điểm thế gian thì rất khó hiểu được, cho nên ý nghĩa bí mật thượng thừa này tự nhiên cũng là một sự bí mật. 

Đại viên mãn của Mật giáo chính là không thể nói, không thể tuyên truyền, vô hình vô tướng, vô câu vô thúc, cái này đương nhiên lại càng là Mật.


### 25. Đại bồ đề tâm


Chúng ta biết rằng tu hành có Tiểu thừa, Đại thừa. Phật giáo Tiểu thừa tu hành chứng quả có cái gọi là Thanh Văn bồ đề và Độc Giác bồ đề. Còn Phật giáo Đại thừa tu hành chứng quả là Vô Thượng bồ đề, Vô Thượng bồ đề là bồ đề cao nhất đạt được trên quả vị Phật. 

Nghiêm túc mà nói, cái gọi là phát đại bồ đề tâm chính là phát tâm vô thượng chính đẳng chính giác. Đại bồ đề tâm này là hành Bồ Tát đạo, độ hóa tất cả chúng sinh của tứ sinh lục đạo cửu hữu nhập tâm của niết bàn. Tâm này vô biên không giới hạn, cho nên gọi là đại bồ đề tâm. 

Giống như tôi (Liên Sinh Hoạt Phật) phát nguyện rằng sẵn lòng đời đời kiếp kiếp ở tại thế giới Ta Bà độ hóa chúng sinh, sẵn lòng phân thân xả cốt độ hóa chúng sinh, địa ngục chưa trống thề không thành Phật. Sự phát nguyện này chính là đại bồ đề tâm. Phát nguyện rồi thì cũng phải đi thực hành. 

Nếu có người phát nguyện:
Muốn xây dựng đoàn thể Mật giáo lớn nhất thế giới. 
Muốn xây dựng chùa chiền lớn nhất thế giới.
Muốn xây dựng hội từ thiện lớn nhất thế giới. 
Sự phát bồ đề tâm này cũng xem là lớn, nhưng chỉ là đoàn thể tôn giáo, chùa chiền, hội từ thiện, so với việc độ hóa tứ sinh (noãn sinh, thai sinh, thấp sinh, hóa sinh), lục đạo (trời, người, atula, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh), lại còn đời đời kiếp kiếp, thì hiển nhiên là nhỏ bé hơn rất nhiều. 

Hành giả Chân Phật tu pháp, hành pháp, nhất định phải phát đại bồ đề tâm. Nhớ rằng, không chỉ là tu cho chính mình mà còn tu vì chúng sinh, chúng sinh là đầu tiên, mình ở sau cùng, có như vậy mới có thể giảm thiểu nghiệp lực liên lụy, có thể tức sinh thành tựu. 

Ngược lại:
Chùa của tôi.
Địa bàn của tôi.
Tên tuổi của tôi. Lợi ích của tôi. (thanh danh lợi lộc)
Đó không phải là đại bồ đề tâm, đại bồ đề tâm là nghĩ vì chúng sinh, không nghĩ vì chính mình!
Không phải là đại bồ đề tâm thì là tâm gì?
Đáp án rất đơn giản, là tâm tư lợi.


### 26. Hiển-Mật viên thông


Còn nhớ khi tôi đến tu viện Drepung, đối diện với hai nghìn Lama lên ghế thuyết pháp, tôi nhắc đến yếu nghĩa của tu pháp Mật giáo.
Khi rời pháp tọa, khenpo trụ trì tu viện Drepung nói với tôi:
”Những gì ngài nói họ không hiểu đâu.”
”Vì sao?” - Tôi rất ngạc nhiên.
Khenpo nói với tôi:
”Các Lama của tam đại tự [ba tu viện lớn của phái Gelugpa ở Lhasa là Ganden, Drepung, Sera] chỉ học tập năm bộ đại luận của Hiển giáo, sau khi hoàn thành khóa học ở tam đại tự thì họ mới đến Thượng mật viện hoặc Hạ mật viện, hoặc các grwa tshang [học viện của tăng chúng] để học tập Mật giáo.”

Tôi bỗng nhiên tỉnh ngộ, thì ra ở Tây Tạng tu trì Mật pháp, đầu tiên phải tu 12 năm Phật pháp của Hiển giáo trước là có thật, sau đó mới tu 8 năm Mật pháp, tổng cộng là thời gian 20 năm mới xem là Hiển-Mật viên thông.

Từ đây có thể biết Mật pháp thật sự rất quý giá, thời kỳ đầu muốn cầu một pháp thì phải đem tất cả của cải làm cúng dường, lại còn phải vượt suối băng rừng, đi một quãng đường rất dài, trên đường lại rất nguy hiểm. Còn ngày nay, Chân Phật Mật Pháp có thể phổ biến rộng rãi, mọi người phải biết trân trọng cơ duyên học pháp này. Hành giả học Mật giáo chúng ta phải biết Phật giáo có hai tông Hiển-Mật, Hiển thì lý pháp [giáo lý, lý luận] nhiều, Mật là sự pháp nhiều [thực hành, làm pháp]. Hiển là đạo lý cơ bản của Phật pháp, không thể bỏ qua một bên, người học Mật cũng phải tăng cường nghiên cứu giáo lý, có quan niệm Phật pháp chính xác, học Mật như vậy mới không sai lệch.

Chân Phật Tông chủ trương Hiển-Mật viên thông, mặc dù bắt đầu từ Mật pháp, nhưng cá nhân tôi bình thường thuyết pháp đều vô cùng coi trọng “thứ tự bồ đề đạo”, “thứ tự Mật tông đạo”. 

Hiển giáo là chiếc áo.
Mật giáo là cổ áo.
Không thể nào vứt đi cái áo mà chỉ giữ cổ áo.


### 27. Đàn thành


Mở đầu tu Mật giáo là phải lập đàn thành, tức là lập đàn trì chú tu pháp. Cuốn sách “Mật Tông Đạo Thứ Đệ Quảng Luận” cũng bắt đầu luận bàn từ kiến lập mandala (đàn thành). 
Có người nói với tôi:
”Đàn thành là giả, là tướng bên ngoài!”
Tôi trả lời:
”Để cúng dường, để tu pháp, để niệm tụng, để trang nghiêm, để tiện lợi, cho nên mới kiến lập mandala. Quán đảnh Mật giáo cũng phải vào đàn thành để quán đảnh.”
Tôi nói: 
”Lập đàn thành hình vuông, bố trí chư tôn tại đây để cúng tế là bản thể của đàn thành. Đàn tràng này chính là nơi Thánh chúng tụ hội, chốn vạn đức giao quy.”
Kinh Đại Nhật viết: “Ba-la-mật môn đại bi vạn hành nhiều như số vi trần trong mười phương thế giới tựa như hoa tạng. Tam thừa lục đạo vô lượng ứng thân tựa như rễ thân cành lá, rực rỡ đan xen, vì các vòng tròn bánh xe công đức này nên gọi là mandala.”
Tôi thật lòng nói cho mọi người biết:
Phật trụ hư không là bí mật.
Đàn thành là phương tiện.
Hành giả tiện lợi tu pháp, từ dòng chảy pháp của Phật đi vào trong đàn thành, rồi lại từ trong đàn thành trút xuống đầu hành giả. Cho nên nói rằng hư không, đàn thành, hành giả gọi là “ba tầng pháp giới môn”. Đây là ý nghĩa chân thực của Mật giáo.
Chúng ta chính là mượn ba loại phương tiện bí mật này để quán đảnh cho chúng sinh sữa của Phật tính.
Bạn nói đàn tràng là giả, là tướng bên ngoài!
Tô nói không phải là giả, là phương tiện. Hôm nay tôi lấy công đức chân thực của Như Lai gom lại một chỗ, thậm chí là hội tụ dòng chảy pháp quang minh của chư tôn nhiều như vi trần của mười phương thế giới, quán đảnh tất cả chúng sinh, khiến họ thành tựu Đại Nhật Tâm Vương. 
Nghĩ xem, nghĩ xem!
Bản chất diệu giác, thuần tịnh dung diệu!


### 28. Tức thân thành Phật


Rất nhiều người học Phật, kiên trì học Hiển giáo thì phải ba đại a-tăng-kỳ kiếp mới có thể thành Phật. Một tiểu kiếp là 16.798.000 năm, hai mươi tiểu kiếp là một trung kiếp, bốn trung kiếp là một đại kiếp, như vậy một đại kiếp là 134.384.000.000 năm. Và ba đại a-tăng-kỳ kiếp căn bản là niên hạn vô lượng vô số không thể tưởng tượng được. 
Cho nên người học Phật, đối với tức thân thành Phật của Mật giáo, không dám gật bừa. 

Thế nhưng, xin hãy đọc luận điểm thấu đáo của “Phá Tướng Luận” sau đây:
*Hỏi: “Như Phật đã nói, ta ở trong ba đại a-tăng-kỳ kiếp chịu khổ vô số mới thành Phật đạo. Thế mà bây giờ nói chỉ có quán tâm, kiểm soát ba độc thì gọi là giải thoát?
Đáp: “Điều Phật đã nói không phải là không có căn cứ. A-tăng-kỳ kiếp này cũng chính là tâm ba độc. A-tăng-kỳ trong tiếng Phạn dịch ra tiếng Hán là không thể đếm. Ở trong tâm ba độc này có hằng hà sa ác niệm, trong mỗi một niệm đó đều là một kiếp, cho nên cũng như cát sông Hằng không thể đếm được, vì thế nói là ba đại a-tăng-kỳ. Tính của chân như vì đã bị ba độc che phủ, nếu không vượt qua được tâm độc ác nhiều như hằng hà sa này thì sao gọi là giải thoát. Nay nếu có thể chuyển tâm ba độc tham sân si thành ba giải thoát thì gọi là được độ ba đại a-tăng-kỳ kiếp. Chúng sinh thời mạt thế căn độn ngu si, không hiểu cách nói ba đại a-tăng-kỳ bí mật của Như Lai bèn nói trần kiếp thành Phật chưa xong, chẳng phải là làm hỏng người tu hành khiến họ rút ra khỏi đạo bồ đề.”*

Đây chính là giải thích về ba đại a-tăng-kỳ kiếp chính là niệm ba độc không thể đếm, chỉ cần một niệm khởi lên thì biến thành vô lượng hằng hà sa kiếp rồi.
Muốn tức thân thành Phật chỉ cần kiểm soát được ba độc là sẽ siêu việt ba đại a-tăng-kỳ kiếp, tự nhiên trong sát-na thành tựu Phật đạo.
Vì sao Mật giáo có thể tức thân thành Phật? Tôi cho rằng:
1. Phật-ta hợp nhất. (Ứng thân)
2. Thần biến gia trì. (Báo thân)
3. Pháp giới tính Không. (Pháp thân)
Tu như thế, hiển hiện như thế. 
Mật giáo là Pháp thân, Báo thân, Ứng thân, ba thân cùng tu cùng chứng, vì thế có thể tức thân thành Phật!


### 29. Không sát sinh


Có một vị tổ sư Mật giáo câu cá bên bờ sông Hoàng Hà. 
Một đứa bé bước nhanh đến hỏi ngài: 
”Phật giáo có giới luật là không sát sinh, vì sao ngài lại sát sinh?”
Tổ sư quay đầu lại nhìn đứa bé, cười vang ha ha nói: 
”Con chính là do ta câu lên đó.”

Còn nữa, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ ở thành phố đồ tể đã giết sạch lũ thổ phỉ cường bạo ở trong thành phố đồ tể này, những kẻ hung ác nhất đã phạm tội giết người và đốt phá. Sau đó, ngài đã tu pháp siêu độ từ bi nhất để thanh tịnh linh hồn của những thổ phỉ cường bạo này, chỉ một cái búng tay đã đưa họ đến Tây phương Cực Lạc thế giới. 

Trong hai ví dụ trên, biểu hiện bề ngoài là tổ sư Mật giáo đều đang sát sinh, nhưng trên thực tế lại là siêu độ từ bi nhất. Ý định gốc của các vị đều không phải là sát sinh, mà là một dạng cứu độ, thật sự đang cứu người giúp đời. 

Đối với việc này, tôi có phân tích như sau:
Hiển giáo không sát sinh, hơn nữa phải phóng sinh, là từ bi thương xót động vật, bảo vệ sinh mạng hữu hình của động vật, trưởng dưỡng tâm từ bi.
Sát sinh của tổ sư Mật giáo chính là độ sinh, càng là từ bi và khéo léo, độ hóa thanh tịnh linh mệnh của chúng vãng sinh Phật quốc, càng là đại từ bi. 

Thật ra hành giả Mật giáo nếu đạo hạnh chưa đến được cảnh giới của tổ sư thì vẫn phải giữ năm giới làm mười thiện, đây tuyệt đối là giới luật của Phật giáo. Người có thể “sát sinh rồi siêu độ” thì giống như pháp tính Như Lai, quả địa viên mãn cực điểm, tiếp dẫn chúng sinh bất khả tư nghì!

Hành giả Mật giáo ngày nay chỉ được cái bề ngoài, đều chẳng có giới lực kim cang, cách Thánh rất xa, tình người hời hợt, chỉ cần biết có pháp như thế này là được rồi, tuyệt đối đừng có làm pháp sát sinh, e rằng không lợi ích được linh mạng mà ngược lại còn hại đến pháp môn Mật giáo. 
Thận trọng! Thận trọng!


### 30. Ăn mặn ăn chay


Có người hỏi Dalai Lama: 
”Mật giáo ăn mặn hay ăn chay?”
Dalai Lama trả lời: 
”Bản thân tôi thì ăn chay, nhưng các Lama thì không hề ăn chay.”
Lại hỏi: 
”Không ăn chay tức là sát sinh, chẳng phải là phạm năm giới sao?”
Dalai Lama trả lời hơi qua loa, đại khái là không ăn chay không phải là sát sinh, sát sinh và ăn chay không hề có liên quan nhiều đến nhau. Dalai Lama cười gượng gạo nói: “Các Lama không sát sinh, nhưng cũng không ăn chay.”

Bản thân tôi khi ở chùa Drepung, cùng ăn cơm với khenpo trưởng lão, trên bàn ăn toàn là món mặn. Theo như tôi biết, ăn chay là Phật giáo Trung Quốc dưới ý chỉ của Lương Võ Đế Tiêu Diên mới mệnh lệnh cho tăng lữ ăn chay, đây là sản phẩm của Phật giáo Trung Quốc, là vì bồi dưỡng lòng từ bi và tránh kết ác duyên. 

Ăn chay đương nhiên có lợi ích, nhưng tuyệt đối không phải là nhân tố chủ yếu của thành Phật, nếu ăn chay có thể thành Phật thì trâu ngựa dê đều thành Phật rồi.
Rất nhiều người mới phát tâm học Phật, mới đầu không quen ăn chay thì trước tiên phải ăn ba loại thịt thanh tịnh (không nhìn thấy giết, không nghe tiếng giết, không vì mình mà bị giết), đây là sự tiện lợi trước khi ăn chay. 

Còn ở chỗ tôi, hành giả Chân Phật có phải ăn chay không?
Tôi trả lời: “Tùy ý.”
Nhưng hành giả ăn mặn phải hà khí thanh tịnh, phải trì chú Văn Thù vãng sinh để siêu độ, dùng Mật pháp siêu độ các loại thịt, hóa thành món ăn thanh tịnh. Sau đó lại khiến cho linh mệnh của những chúng sinh bị ăn có được lợi ích, như vậy là có thể ăn. Bởi vì bạn đã từ bi chúng, lại siêu độ cho chúng rồi, nên cũng không kết ác duyên. 

Về phương diện ăn mặn ăn chay, Hiển-Mật khác nhau, nhưng xin nhớ rõ bài kệ của Phật Đà:
*Uống một ngụm nước sạch
Tám vạn bốn nghìn trùng
Nếu như không trì chú
Khác nào giết chúng sinh.*
Đạo lý vi tế ở đây không thể không thận trọng suy nghĩ rõ ràng!


### 31. Rượu thịt cúng Phật


Giáo chủ Hoàng giáo của Tạng mật - Pháp Vương Ganden Tripa đến Seattle Lôi Tạng Tự, tặng tôi một chiếc áo bào Pháp Vương. 

Khi Pháp Vương Ganden Tripa đến Seattle lại trùng vào dịp Thánh đản của vị Kim Cang Phật mà ngài thờ phụng, ngài nhờ pháp sư của Lôi Tạng Tự đến siêu thị mua giúp một bình rượu và thịt bò, thịt cừu. Pháp Vương nói ngài phải tu pháp cúng dường Kim Cang Phật. 

Sau sự việc này, có một vị pháp sư lén đến thỉnh giáo tôi:
”Rượu thịt đồ mặn có thể cúng Phật sao?”
Tôi nói với vị pháp sư này:
Hiển giáo coi uống rượu và ăn thịt đều là phạm đại giới. 
Nhưng Mật giáo thì lại có cách nghĩ khác.
Mật giáo cho rằng chư Phật căn bản là không có tâm khác biệt. Rượu thịt trong mắt Phật cũng không phải rượu thịt. Ví dụ: con người thấy rượu là rượu, atula thấy rượu là đao thương kiếm kích, ngạ quỷ thấy rượu là lửa cháy hừng hực, địa ngục thấy rượu là ao máu, Phật thấy rượu ngược lại là đại cam lộ. 
Phật thấy rượu là đại cam lộ, rượu đương nhiên có thể cúng.
Tôi nói:
Hành giả thanh tịnh, rượu thịt thanh tịnh, uống rượu ăn thịt là thanh tịnh.
Hành giả cấu uế, rượu thịt cấu uế, uống rượu ăn thịt là cấu uế.
Hãy thận trọng suy nghĩ rõ ràng!
Một hành giả có chứng lượng sẽ hóa rượu thành nước cam lộ, hóa thịt thành thực phẩm thanh tịnh, sẽ độ hóa linh mệnh, đương nhiên có thể uống rượu ăn thịt, sẽ không bị loạn tính.
Một hành giả không có công lực, uống đến say xỉn, lại tham ăn đầy bụng thịt thì sẽ phạm đại giới căn bản của Mật giáo, nghiệp tội sâu nặng, sau khi chết chắc chắn đọa vào địa ngục kim cang.
Hai người này nhìn bề ngoài thì giống nhau, nhưng tịnh-cấu khác nhau!
Tôi cho rằng:
Đồ chay cúng Phật, rượu thịt đồ mặn cúng Phật là bình đẳng, không có khác biệt. Nhưng, bạn muốn uống rượu ăn thịt thì phải xem công lực.
Bị thịt làm cho ô uế, bị rượu làm cho loạn tính thì nhất định phải cấm!


### 32. Vì sao học Phật tu hành


Đã viết nhiều bài về “tư tưởng triết học của Như Lai” rồi, bây giờ trở về điểm ban đầu, vì sao phải học Phật tu hành?
Có rất nhiều người có nghĩ cũng không nghĩ được vì sao phải học Phật, vì sao phải tu hành. Con người sống thì cứ sống thôi, chết rồi thì thôi, vì sao phải khổ sở đi học Phật tu hành để tróc buộc chính mình. 
Có người hỏi tôi:
”Có thể hưởng thụ thì hưởng thụ, học Phật gì chứ, giữ giới gì chứ!”
Lại có người nói với tôi:
”Tôi cũng không muốn làm Phật, làm Bồ Tát, tu hành làm cái gì!”
Còn có người nói:
”Tôn giáo đều là lừa người ta, nói vớ nói vẩn, cái gì mà nhân quả, cái gì mà thiên thượng giới, địa ngục giới, ông đây chẳng tin cái gì hết.”

Đối với những người như thế này, chúng ta càng phải kiên trì giải thích, chúng ta tặng họ những cuộc sách học Phật cơ sở. 
Bản thân tôi đã lĩnh ngộ được điều gì thì tôi nói cho họ biết kinh nghiệm và cách nghĩ của mình.
Tôi nói, đời người chính là sinh lão bệnh tử khổ. Khổ, không, vô thường. Sau khi nghiên cứu chân nghĩa của sinh mệnh, cảm thấy hưởng lạc rất ngắn ngủi tạm thời, sinh mệnh rất ngắn ngủi, đời người rất huyễn ảo. Để đột phá mục đích của cuộc đời, giải quyết vấn đề sinh tử mới là hành vi của một người trí.

Nghĩ mà xem…
Hiện tượng vô thường của đời người.
Sự mong manh của sinh mạng.
Ý nghĩa chân chính của việc sống, sự trống rỗng của tâm linh.
Có được vinh hoa phú quý rồi, cũng lại chẳng mang đi được gì, vinh hoa phú quý có hưởng lạc gì chứ?…….
Từ những điều này sinh ra tâm cảnh giác!
Tôi thật sự lĩnh hội được rằng trong thời gian một đời ngắn ngủi, điều có giá trị nhất chính là bền lòng đi nỗ lực tu hành, tự chủ sinh tử, minh tâm kiến tính, thành tựu tự tại.
Ngoài điều này ra, đều là rác rưởi của vọng tưởng điên đảo!


### 33. Thượng sư gia trì lực


Ở Tây Tạng, có câu chuyện như sau lưu truyền:
Có một Lama trèo lên một cái cây to, trên cây có tổ ong rất lớn, ong mật bay ra vây xung quanh Lama. Lama khẽ nói với bầy ong mật: “Đừng đốt ta!” Kể cũng lạ, bầy ong mật cứ như không nhìn thấy vị Lama này, căn bản là không đốt ông ấy!

Có một vị Lama khác nhìn thấy vậy thì hết sức kinh ngạc, liền hỏi bí quyết để không bị ong đốt. Vị Lama không bị ong đốt nói không có bí quyết gì cả, chỉ nói với ong mật là đừng đốt tôi mà thôi.

Lama tò mò này trèo lên cây, dùng lời nói tương tự nói với bầy ong: “Đừng đốt ta!” Không ngờ bầy ong mật không hề cảm kích, cùng tiến lên trước, đốt sưng vù đầu Lama tò mò này, khiến ông ta kêu ông kêu bà, không ngừng xin tha.

Cùng một câu nói, vì sao kết quả khác nhau?
Nghe nói, trước khi vị Lama thứ nhất trèo lên cây đã thỉnh cầu Thượng sư gia trì cho mình, thế là ong mật liền nghe lời ông ấy. Vị Lama thứ hai vì không có Thượng sư gia trì, chỉ là thấy sao học vậy, kết quả là bị ong đốt đầy đầu. 

Kinh điển Phật hiệu của Hiển giáo, người người cầm lên là có thể đọc, không có hạn chế đặc biệt gì. 
Mật giáo thì khác, pháp bản của Mật giáo đều có in: “Chưa nhận quán đảnh, xin đừng giở đọc.” Chú ngữ của Mật giáo cũng vậy, chưa quy y nhận quán đảnh, chưa có lực gia trì của Thượng sư thì niệm cũng như không niệm, tương đương trộm pháp, còn phạm giới samaya, niệm chú tu trì sẽ không sản sinh pháp lực tương ứng.

Có quy y, có quán đảnh, có lực gia trì của Thượng sư, như vậy mới có thể đi tu hành như pháp, mới có thể từ trong mê hoặc, điên đảo, vọng tưởng, bám chấp, vì Thượng sư gia trì, dòng chảy pháp quán đảnh mà Phật tính vốn có có thể hiển hiện.

Thượng sư gia trì lực chính là chìa khóa thành tựu của tu Mật!


### 34. Mật giáo trân quý


Ngày xưa, Tỳ Lô Giá Na Phật truyền yoga vô thượng bí mật tối đại thừa giáo cho Kim Cang Tát Đỏa, Kim Cang Tát Đỏa mấy trăm năm mới gặp được Long Thụ Bồ Tát để truyền thụ. Long Thụ lại mấy trăm năm nữa mới truyền cho Long Trí Acharya. Long Trí lại mấy trăm năm nữa mới truyền cho Kim Cang Trí Acharya. Kim Cang Trí du hành về phương Đông mới truyền cho hòa thượng của Đông Thổ. 

Phật môn Mật giáo này từ Pháp thân Như Lai cho đến hòa thượng Đông Thổ mới chỉ có sáu vị Acharya mà thôi, Mật giáo như vậy đương nhiên là trân quý.
(Hòa thượng ở đây là chỉ Bất Không Tam Tạng và Nhất Hành thiền sư.)

Còn nữa, “Mật Giáo Cương Tông” viết:
”Mật giáo do Phật của chúng ta tự giác Thánh trí đã truyền thẳng cho phàm phu bị trói buộc, vì thế người tu tập có thần lực nhanh chóng, có sức mạnh bất khả tư nghì. Nhưng tôn giáo này tuyệt đối coi trọng nghi quỹ, người có trí tu tập, khi vào mandala được Kim cương Acharya quán đảnh thì nhập đàn tu pháp, nếu không thì bị gọi là trộm pháp, nó chiêu cảm cái ác đến cũng bất khả tư nghì. Vì thế nước ta từ Đường Tống về sau, tông này sẽ tuyệt, không ai dám nghiên cứu.”
Từ đây có thể biết, “tự giác Thánh trí” của Như Lai là vô cùng trân quý!
Lại còn “không ai dám nghiên cứu” thì còn lợi hại đến mức nào. Thần lực nhanh chóng, siêu việt tông khác, lại càng là tiêu điểm chú ý của con người.

Phật Thích Ca Mâu Ni từng dùng năm vị để so sánh với năm kho tàng:
Sữa là Kinh tạng.
Pho-mát là Luật tạng.
Bơ sống là Luận tạng.
Bơ chín là Bát nhã tạng.
Đề hồ là Mật tạng. [Đề hồ là chất tinh túy nhất trong sữa, được ví với Phật pháp tối cao.]
Đề hồ là tinh hoa nhất của sữa, Mật giáo cũng là tổng trì tinh hoa của Phật pháp. Có câu nói, nếu rời tôn giáo này thì vĩnh viễn không có ngày thành Phật.
Mật giáo ít được nghe thấy, nay đã gặp được, phải biết vui mừng!


### 35. Pháp Tài Thần


Có người hỏi tôi:
”Tiền, sắc, danh, ăn, ngủ” là năm ham muốn lớn của con người, còn gọi là năm nguồn gốc của địa ngục, vì sao Mật giáo lại có pháp Tài Thần?”
Tôi đáp:
Mật giáo vì độ chúng sinh, bi nguyện quảng đại, biết người đời đều yêu tiền, cho nên “tiên dĩ dục câu khiên, tái lệnh nhập Phật trí” [trước tiên lôi kéo họ bằng sự ham muốn, sau đó đưa họ vào Phật trí].
Hỏi: Tu pháp Tài Thần làm sao nhập Phật trí?
Đáp: Phương pháp tu trì pháp Tài Thần cũng sẽ tu được pháp vị, con người tự nhiên sẽ chuyển hóa dục vọng, cuối cùng thậm chí chuyển thức thành trí, đắc thành tựu.
Hỏi: Mật giáo có pháp Tài Thần gì?
Đáp: Hoàng Tài Thần, Hồng Tài Thần, Lục Tài Thần, Hắc Tài Thần, Bạch Tài Thần, Ngũ Lộ Tài Thần. Ngoài ra còn có pháp bảo bình Long Vương, pháp Địa Thần, pháp Sơn Thần, v.v… đều là pháp Tài Thần.
Hỏi: Tu pháp Tài Thần muốn tương ứng cần có điều kiện gì?
Đáp: Điều kiện tu pháp tương ứng nhất định phải phát bồ đề tâm, sau khi có được đại tài, nhất định phải thí pháp tài, phải có nguyện hành thiện bố thí. Vì thế bồ đề tâm quảng đại, phúc đức sẽ đến liên tục, đồng thời hành thiện bố thí cũng có thể chuyển hóa tham dục thành từ bi thanh tịnh.
Hỏi: Pháp Tài Thần của Mật giáo chọn pháp nào tốt nhất?
Đáp: Bình đẳng, bình đẳng. Chỉ cần tương ứng rồi thì chính là pháp Tài Thần tốt nhất.

Tôi nói: Tinh thần trong pháp Tài Thần chính là “xả”, xả chính là đắc, có xả mới có thể có đắc, xả một phần đắc một phần lợi ích, xả được mười phần thì đắc được mười phần lợi ích, xả toàn bộ thì sẽ đắc được tất cả. Giống như trên tay bạn có một thứ mà bạn cứ nắm chặt không buông thì làm sao có thể lấy được báu vật quý giá hơn!
Pháp vị của được-mất nằm ở đây.


### 36. Phẫn nộ Kim Cang Thần


Kim Cang Thần, tức là vị thần tay cầm pháp khí kim cang, thủ hộ Phật pháp. Kim Cang Thần là giáo lệnh luân, biểu thị giáo lệnh rất kiên cố, có thể phá tất cả kẻ địch, vì thế gọi là giáo lệnh luân.

Trong Hiển giáo, thần thủ hộ Phật giáo thường thấy là Hộ pháp Già Lan và Hộ pháp Vi Đà.
Trong Mật giáo, Kim Cang Thần phẫn nộ rất rõ ràng, thậm chí Kim Cang Thần phẫn nộ cũng là hóa thân của chư Phật Bồ Tát. Chẳng phải Phật giáo muốn con người không sân hận mà hãy nhẫn nhục sao? Vì sao lại hiện tướng phẫn nộ? 

Phật giáo có một câu rằng, cái gọi là:
Bồ Tát hiền từ, từ bi lục đạo.
Kim Cang trợn mắt, hàng phục tứ ma.
Cũng tức là Phật Bồ Tát vì hàng phục độ hóa ma thiên, ác thần, tà quỷ, dạ xoa và những người ác chắc chắn không thể nói lý, chỉ có cách bên trong mang lòng từ bi, bên ngoài hiển tướng phẫn nộ để khiến họ quy thuận Phật. 
Trong Mật giáo Tây Tạng, Kim Cang phẫn nộ rất đặc biệt còn vì có nguyên do đặc thù.
Thời kỳ đầu Tây Tạng thịnh hành hắc giáo, sùng bái đại tự nhiên, gặp núi thờ núi, gặp lửa thờ lửa, gặp trâu thờ trâu, gặp ngựa thờ ngựa, gặp lợn thờ lợn, gặp rắn thờ rắn,….
Thế là,
Văn Thù Bồ Tát nhập Tam ma địa, sinh ra Đại Uy Đức Kim Cang, giáo hóa người Tạng. (đầu trâu)
Quan Thế Âm Bồ Tát nhập Tam ma địa, sinh ra Mã Đầu Kim Cang, giáo hóa người Tạng. (đầu ngựa)
Tỳ Lô Giá Na nhập Tam ma địa, sinh ra Kim Cang Hợi Mẫu, giáo hóa người Tạng. (đầu lợn)
Tổ sư nhập Tam ma địa, sinh ra tôn giả Rahula, giáo hóa người Tạng. (thân rắn)
Và khác nữa.
Mật tông Tây Tạng đặc biệt nhiều Kim Cang phẫn nộ, đều là sự từ bi của Phật Bồ Tát và các tổ sư, đều là để thích ứng với việc độ hóa.
Hành giả Mật giáo tu trì năm pháp đại Kim Cang tương ứng cũng tức là đến gần với thành Phật rồi, pháp Kim Cang của Mật giáo có sự tinh túy sâu xa trong đó. 


### 37. Pháp song thân


Mật giáo có ba pháp môn đặc thù, đó là:
1. Pháp Tài Thần.
2. Pháp Kim Cang.
3. Pháp song thân.
Đặc biệt là pháp môn song thân song tu là khiến người ta khó bề tưởng tượng nhất, hoài nghi không hiểu Phật giáo chẳng phải là dạy người ta không tà dâm sao, vì sao lại có pháp song thân?

Pháp song thân đến từ Ấn Độ, dân tộc Ấn Độ trưởng thành sớm, tâm sắc dục nặng, tổ sư Mật giáo tùy theo căn tính chúng sinh mà thích ứng lập ra pháp song thân để độ hóa.
Đây chính là dụng ý “không đoạn dâm nộ si, cũng không cùng với chúng” của Duy Ma Cật Đại Sĩ mà lập ra.
Cũng tức là “tiên dĩ dục câu khiên, tái lệnh nhập Phật trí.”
Tôn chỉ của nó là song thân cũng có thể tu pháp, từ tu pháp sản sinh trí huệ, từ trí huệ nhìn thấu dâm dục, tiến tới dừng dục thanh tịnh, chuyển dục niệm thành tính Không, từ tính Không đắc căn bản trí. Pháp song thân này nếu y theo tôn chỉ mà tu đương nhiên là thanh tịnh số một.
Ở trong đây là:
Vô lậu.
Tính Không.
Đại lạc.
Thanh tịnh.
Pháp này cũng chính là “lấy ngọc trong miệng rắn” mà Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói. Nếu không y theo tôn chỉ mà tu, nếu không biết kỹ xảo và phương pháp, tu tập lệch lạc sẽ dễ đọa vào địa ngục kim cang, phải cẩn thận đó! Đây là pháp môn tu trì nguy hiểm nhất.

Trên nguyên tắc mà nói, pháp song thân dễ bị phỉ báng nhất, tổ sư Liên Hoa Sinh Đại Sĩ cũng bị người bạn tốt của ngài là Kim Quang Thanh Niên và Trì Quang Nữ (vợ) phỉ báng!
Kỹ xảo và phương pháp của pháp này phần nhiều đã thất truyền. Cũng rất dễ khiến người ngoài hiểu lầm và gây sốc cho xã hội, vẫn là không tu thì hơn!
(Tổ sư Tsongkhapa là tu pháp quán tưởng đơn thân.)


### 38. Mật giáo lý thú


Cá nhân tôi phát hiện ra sự lý thú của Mật giáo và Hiển giáo hoàn toàn khác nhau, tôi nhìn ra Hiển giáo độ chúng sinh là “vua Cổn trị thủy”, còn Mật giáo độ chúng sinh là “vua Vũ trị thủy”.
Vua Cổn trị thủy là cách phòng thủ.
Vua Vũ trị thủy là cách khơi thông.
Phòng thủ và khơi thông này đều là vì tham sân si.
Bất kể là Hiển giáo hay Mật giáo, đều không thể phủ nhận, trong lòng người đều có nghiệp chướng tham sân si tích lũy nhiều kiếp tồn tại. Hiển giáo là tiêu diệt tham sân si, Mật giáo là thuận theo tham sân si mà tu.
Tôi chỉ ra:
Tham — pháp Tài Thần.
Sân — pháp Kim Cang.
Si — pháp song thân.
Đây là sự lý thú đặc thù của Mật giáo, trực tiếp xưng hô tham Phật, sân Kim Cang, si Bồ Tát, hoặc là dục Bồ Tát.
Mật giáo lý thú hiển thị thuận theo tham sân si, dùng phương thức tu pháp để thỏa mãn nguyện của chúng sinh, là một dạng phương thức tuyệt diệu. Sau khi tu được pháp vị, tự sẽ hiểu tham là không, sân là từ, si là huệ. Sau cùng chuyển hóa, không được không mất, hàng phục chính mình, nhìn thấu dâm dục, cuối cùng thăng hoa, đắc Phật huệ căn bản. 

Mật giáo cho rằng dâm nộ si đều là Phật pháp. Chỉ là tùy căn tính tu pháp của mỗi người để mà độ hóa. Thêm nữa vì Mật giáo đà-la-ni có thể che chặn tất cả ác, có thể ngăn chặn ác không sinh, giữ cho ác không tạo tác, tăng trưởng ý niệm trí huệ, vì thế mà có sự lý thú này. Chú ngữ Mật giáo có thể chuyển ô nhiễm thành thanh tịnh. 

Người đời nay không hiểu sự lý thú của Mật giáo, không thâm nhập tìm hiểu Mật giáo mà còn phổ biến khiến cho đại chúng cảm giác và liên tưởng về Mật giáo là kỳ dị, thần bí, tà giáo, chú thuật, thịt rượu. 
Nói nghiêm túc, sự lý thú của Mật giáo, mục đích cuối cùng là chuyển hóa tất cả ô nhiễm thành không ô nhiễm, tự tịnh ý mình, thanh tịnh số một.


### 39. Tâm yếu khẩu quyết


Tu hành Mật giáo có cái gọi là Thứ tự sinh khởi và Thứ tự viên mãn, ở đây đều có phân tầng lớp thứ tự rõ ràng.
Mật giáo phải dựa theo thứ tự mà quán đảnh, theo thứ tự mà đi tu chứng. Nếu không như vậy thì sẽ vô cùng nguy hiểm. Bởi vì thành tựu Mật giáo càng lớn thì những nguy nan của nó càng lớn.
Tôi cho rằng người tu Mật trước tiên phải tu thân khẩu ý thanh tịnh, sau đó lại tu khí mạch minh điểm, dựa theo thứ tự tiến nhập Vô thượng mật, sau cùng mới là Đại viên mãn. 

Trong Bạch giáo của Tạng mật chính là:
Ly hý du già.
Nhất vị du già.
Vô tu du già.
Thứ tự tu hành chia nhỏ hơn là: tứ gia hành, Thượng sư tương ứng pháp, Bổn tôn pháp, Bảo bình khí, chuyết hỏa, minh điểm, vô lậu, mở năm luân xa, Kim cang pháp, Vô thượng mật, Đại viên mãn. 

Mật pháp của Mật giáo, cố nhiên có thể tham khảo theo pháp bản mà tu, nhưng những tâm yếu khẩu quyết bí mật nhất trong đó thì sẽ không thể tìm thấy trên pháp bản, phải do Thượng sư khẩu truyền, người ngoài không thể biết được. Vì thế kinh nói: “Tất cả Mật pháp, nếu không từ Thượng sư đích thân truyền tâm yếu khẩu quyết thì việc tu hành không thể có thành tựu.”
Ví dụ: 
Khí làm sao để đi vào trung mạch, nhất định phải có khẩu quyết của Thượng sư chỉ dẫn mới biết được.
Kỹ xảo và phương pháp của Sakya lục thế biến vô lậu, nhất định phải có khẩu quyết của Thượng sư mới có thể ấn chứng đúng lúc. 
Giáng, đề, trì, tán của pháp minh điểm làm sao để hướng dẫn? Không có khẩu quyết của Thượng sư thì cũng không được. 
Còn có nâng minh điểm bay qua núi Tu Di, nhất định phải có Thượng sư đích thân thị phạm tư thế yoga.
Tương tự như vậy. 

Nếu loại bỏ tâm yếu khẩu quyết của Thượng sư, đương nhiên không biết bí quyết, không biết phải theo cái gì, làm sao có thể tương ứng, giống như người mù gặp phải vách núi, nguy hiểm cực kì.
Tâm yếu khẩu quyết của Mật giáo đích thực là vô cùng bí mật, người học Mật có thể không thận trọng ư?


### 40. Tu quán ý niệm


Phật Thích Ca Mâu Ni vào thời đại Phật giáo nguyên thủy coi trọng nhất phương pháp tu hành tu quán ý niệm, các đệ tử ở trong hang động nhập định tu quán. Tôi từng đến thăm hang động của tôn giả A Nan và Xá Lợi Phất trên núi Linh Thứu ở Ấn Độ. 

Hang động tu hành của tổ sư Mật giáo Naropa và Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, trong cõi vô hình, càng hợp với môn phong thủy của Trung Quốc, có thể nói là sáng sủa trong vắt, hơn nữa còn chảy ra pháp nhũ thanh tịnh, rải khắp pháp giới.

Phật Đà dạy rất nhiều pháp quán tưởng, như quán đếm hơi thở, quán bất tịnh, quán bạch cốt, quán duy thức, quán pháp giới, mười sáu bài quán tịnh thổ, ba bài quán thiên đài. 

Với hành giả Mật giáo mà nói, hành giả khi tụng chú cũng phải làm quán tưởng:
1. Quán tướng tốt của Bổn tôn.
2. Quán chủng tử tự của Bổn tôn.
3. Quán tự thân là Bổn tôn.
4. Quán chủng tử tự của tâm nguyệt luân của tự thân.
5. Quán tâm nguyệt luân của tự thân bày ra chân ngôn.

Mật giáo coi trọng chân ngôn, thủ ấn, quán tưởng. Trong đó quán tưởng còn có quán ngũ tướng thành thân, quán ngũ tự nghiêm thân, quán nhập ngã ngã nhập, quán nguyệt luân, quán chữ Ah.
Cá nhân tôi nhận thấy, trên thế giới này, muốn lấy một vật để tượng trưng cho tướng bồ đề tâm thật sự không có vật nào đại diện. Sau cùng chỉ có mặt trăng tròn thanh tịnh là có thể tượng trưng. Mật giáo dạy bạn tay kết ấn kim cang, quán tâm là mặt trăng tròn, sáng tịnh vô cấu, nội ngoại trong veo, cực kì mát mẻ, trên đời không gì sánh bằng, hành giả an tâm tịnh trụ, dung nhập vào trong mặt trăng, ánh sáng đầy ắp tam thiên đại thiên thế giới. Như vậy có thể khiến vọng niệm không sinh, thân tâm thanh tịnh, đại bồ đề tâm kiên cố không thối chuyển.

Đây là:
*Nguyệt luân trong tim chính thân mình
Quang minh thanh tịnh tử quang sắc
Thiền trí đều nhập kim cang phược
Siêu nhập Như Lai tịch tĩnh trí.*


### 41. Quán chữ Ah


Ngày xưa.
Sư phụ nói với tôi: “Có một pháp quán rất quan trọng.”
”Là pháp quán gì?”
Sư phụ đáp: “Quán chữ Ah. Tam mật là: tay kết ấn khế, miệng tụng đà-la-ni, tâm quán chữ Ah gốc không sinh.”
”Thế nào là chữ Ah gốc không sinh?” - Tôi hỏi.
Sư phụ đáp: “Chấm dứt sinh tử, không sinh vào tam giới lục thú nữa, thường trụ trong không sinh không diệt là cảnh giới của đại niết bàn.”

Hành giả ngồi thẳng ngay ngắn, đối diện với một cái cột, trên cái cột có vẽ một mặt trăng sáng màu trắng, trong mặt trăng có vẽ hoa sen tám cánh, trên hoa sen có chữ Ah tiếng Phạn hoặc Tạng, lúc này hành giả hít vào thở ra đều là chữ Ah, miệng tụng chữ Ah, cứ tu như vậy lâu ngày sẽ có thành tựu.
Tu được thành tựu, mở mắt nhắm mắt, nhìn thấy mặt trăng chữ Ah hết sức rõ ràng, rồi dẫn mặt trăng chữ Ah vào trong thân hành giả, lúc này, mặt trăng chữ Ah bên ngoài thân và mặt trăng chữ Ah bên trong thân hợp nhất. 
Thành tựu pháp quán này thì trong sát-na tức thân thành Phật, cắt đứt vọng kiến về sự khác biệt phiền não bồ đề sinh tử niết bàn.

Sư phụ nói: “Phật hiệu của A Di Đà Phật vì sao thắng tất cả Phật của thập phương tam thế, nhân duyên ấy nằm ở một chữ, chính là chữ Ah. Chữ này cũng là chữ chung của tất cả chư Phật Bồ Tát, muốn vãng sinh Tây phương, tu quán chữ Ah, nhất định vãng sinh.”

Theo tôi được biết, Phật Thích Ca Mâu Ni nói, trong tâm tất cả chúng sinh đều có Phật tính, đều có chủng tử thành Phật, Như Lai chưa nói ra chủng tử này là gì. 
Trong Mật giáo, chủng tử chính là chữ Ah, chỉ cần một niệm quán chữ Ah, tốc độ thành Phật sẽ thắng nghìn kinh vạn điển, tức thân thành Phật là điều không có gì phải nghi ngờ.
Đây là gan óc của Mật giáo, đại bí mật của Mật giáo, du già đại tương ứng nằm trong đó, là Phật không khác.


### 42. Lựa chọn Bổn tôn


Thường xuyên có đệ tử hỏi tôi: “Vị Phật Bồ Tát nào có thể làm Bổn tôn?”
Câu trả lời của tôi là: “Bổn tôn tức là vị đầu tiên nhất. Trong số các Phật Bồ Tát, hành giả lấy vị nào đó làm gốc, trong đời đời kiếp kiếp vốn có nhân duyên tiền định với mình, thì đó chính là Bổn tôn.”
Tôi lại nói: “Vị đặc biệt có nhân duyên, đặc biệt hợp ý nhất, đặc biệt thích nhất, đặc biệt kính trọng nhất tức là Bổn tôn.”

Mật giáo lựa chọn Bổn tôn, đầu tiên là che mắt lại, hành giả cầm hoa, được Thượng sư dẫn vào đàn thành, sau đó ném hoa, hoa ném trúng vị nào thì vị đó chính là Bổn tôn. Ngày xưa, đại sư Không Hải đã ném trúng Đại Nhật Như Lai, vì thế hiệu kim cang của đại sư Không Hải chính là Biến Chiếu Kim Cang.

Bây giờ, rất nhiều đệ tử thỉnh Căn bản Thượng sư của mình quyết định Bổn tôn căn bản cho mình, Căn bản Thượng sư phải suy đoán nhân duyên của đệ tử xem có nhân duyên với vị nào, hợp hay không hợp, nếu là hợp thì vị đó chính xác là Bổn tôn. 

Có một số đệ tử vừa mới quy y nhận quán đảnh, ở trong mơ, trong định, nhìn thấy Phật Bồ Tát đến hiển hiện sờ đầu gia trì, thế là liền tự mình lựa chọn vị này là Bổn tôn của mình, việc này cũng được.

Có người hỏi: “Bổn tôn có thể có hai vị không, có thể có ba vị không?”
Đáp: “Trên nguyên tắc là một vị. Nhưng nhân duyên đặc thù thì cũng có thể có hai, ba vị.”
Lại hỏi: “Bổn tôn đã lựa chọn đầu tiên, tự mình cảm thấy không hợp, muốn đổi thì có được không?”
Đáp: “Thật ra đã lựa chọn Bổn tôn rồi thì không nên thay đổi. Chỉ cần nghiêm túc tu trì, mong cầu viên mãn, cuối cùng ắt tương ứng. Bởi vì Phật và Phật thông nhau, Bồ Tát và Bồ Tát thông nhau, cần không nghĩ phân biệt, phổ đồng cung kính.”
Hỏi: “Chân Phật Tông có tám đại Bổn tôn, có thể chọn bên ngoài tám vị này không?”
Đáp: “Tám đại Bổn tôn chỉ là tính nguyên tắc. Các vị trong Kim cương giới, Thai tạng giới đều có thể làm Bổn tôn.”
Tôi thay đệ tử chọn Bổn tôn có một bí mật, đó là dựa vào thiên tính của đệ tử để lựa chọn Bổn tôn của họ.


### 43. Tứ quy y và lục quy y


Hiển giáo quy y có ba, đó là quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng. Quy y có ý nghĩa là thân tâm quy về dựa vào Tam Bảo. Tam Bảo Phật, pháp, tăng chính là chư Phật, chính pháp, thánh tăng. Tức là dựa vào Phật pháp tu trì, hiển lộ lại Phật tính vốn có.

Mật giáo trên nền tảng tam quy y này có thêm quy y Kim cương Thượng sư, tức là biến thành tứ quy y. Chúng ta niệm chú tứ quy y là: “Namo guru beh, namo buddha ye, namo dharma ye, namo sangha ye.”

Mật giáo cho rằng, đặt Kim cương Thượng sư đặt trên Phật, pháp, tăng là vì để khiến người học tu Mật hiểu Mật pháp duy có Thượng sư truyền thụ mới được, học Mật không có Thượng sư không được, đây là căn bản quan trọng nhất. Ngoài ra, thân của Thượng sư chính là biểu trưng Phật Đà trụ thế, khẩu của Thượng sư biểu trưng Phật Đà thuyết pháp, ý của Thượng sư biểu trưng tự tính thanh tịnh của Phật Đà. Đây chính là Kim cương Thượng sư tổng nhiếp Tam Bảo Phật pháp tăng.

Mật giáo cũng có lục quy y, lục quy y này là ngoài tứ quy y ra lại thêm quy y Căn bản Bổn tôn và quy y Căn bản Hộ pháp. 
Chúng ta biết rằng Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp là ba căn bản của tu hành Mật giáo. 
Thượng sư là gia trì căn bản.
Bổn tôn là thành tựu căn bản.
Hộ pháp là sự nghiệp căn bản.

Trên nguyên tắc, tu trì Mật giáo nếu không có tâm yếu khẩu quyết của Căn bản Thượng sư gia trì và hướng dẫn cho hành giả Mật giáo thì làm sao có thể vào Mật pháp?
Nếu không có dòng chảy pháp uy đức của Căn bản Bổn tôn quán đảnh, hành giả Mật giáo làm sao có thể vào các bí mật của chư Phật, làm sao có thể tương ứng?
Nếu không có Căn bản Hộ pháp ngày đêm thủ hộ hành giả Mật giáo, hành giả sớm đã bị ma xâm nhập, thành món điểm tâm của thiên ma rồi, hoặc tẩu hỏa nhập ma rồi!
Ba căn bản này vẫn lấy Thượng sư là quan trọng nhất.
Bởi vì Bổn tôn và Hộ pháp là Thượng sư ban cho thì mới như pháp để đi tu trì.


### 44. Phóng quang gia trì


Từng có một tấm ảnh, tôi đứng, tay kết ấn giơ cao, trước mặt tôi có rất nhiều đệ tử đang quỳ, có một vệt ánh sáng từ hư không giáng xuống chiếu đến các đệ tử. Ánh sáng đó trắng màu sữa, rất óng ánh long lanh. 

Đây là một tấm ảnh phóng quang gia trì, khi tôi đang gia trì cho các đệ tử, có người cầm máy ảnh ngẫu nhiên chụp được.

Thật ra trong Mật giáo, chúng ta thường thỉnh cầu Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp từng giờ từng phút gia trì cho chúng ta, sự gia trì này đương nhiên là phóng quang gia trì. Không chỉ là Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp phóng quang gia trì cho chúng ta, trong khi chúng ta tu Mật pháp cũng phải biết tự mình quán tưởng phóng quang. 
Ví dụ:
Chúng ta tụng chú Đại Bi phải quán tưởng trong tâm nguyệt luân của mình có một chữ Phạn “Hri” [Seh] phóng quang chiếu vào trong nước, tụng chú xong thì nước này chính là nước chú Đại Bi.

Chúng ta tụng Phật Đỉnh Tôn Thắng đà-la-ni chú phải quán tưởng trong tâm nguyệt luân của mình có một chữ Phạn “Khan” phóng quang chiếu khắp tất cả chúng sinh, chúng sinh chạm vào ánh sáng này thì nghiệp chướng tiêu trừ, thân tâm thanh tịnh, đắc đại trí huệ.

Chúng ta tụng quang minh chân ngôn thì phải quán tưởng trong tâm nguyệt luân của mình có một chữ Phạn “Ah” màu vàng kim phóng quang chiếu khắp tất cả chúng sinh, chúng sinh chạm vào ánh sáng này thì đều thoát khổ được vui. 
Cái khác cứ thế suy ra…

Trong Mật giáo mà nói, phóng quang gia trì là bất khả tư nghì, ánh sáng từ hư không đến, đi vào trong tâm của hành giả, rồi lại từ chú tự phóng ra đi cứu độ chúng sinh, cứ thế, tận hư không giới, sinh tử lục thú hữu tình nhanh chóng đắc đại thành tựu. 

Người thật sự hiểu được cách tác pháp của Mật giáo sẽ biết sự quý giá của Mật giáo, Mật giáo có thể thỏa mãn lục đạo chúng sinh, sinh lão bệnh tử sầu bi khổ não hễ được phóng quang gia trì thì có thể vĩnh viễn đắc giải thoát. 
Tôi nói cho mọi người biết: 
Phóng quang gia trì là vô cùng chân thực.


### 45. Phóng quang triệu thỉnh


Có người hỏi tôi: 
”Mật giáo triệu thỉnh chư tôn là triệu thỉnh thế nào?”
Tôi trả lời: 
”Tay kết ấn triệu thỉnh, tụng chú triệu thỉnh. Hành giả nên niệm vị có nhân duyên với mình trước, chư Phật Bồ Tát, tất cả Tam Bảo đầy khắp hư không, có ở khắp mọi nơi. Hơn nữa, mười phương chư Phật, các đại Bồ Tát kim thân sừng sững, ngồi tòa hoa sen báu thành các vòng tròn xung quanh tầng tầng lớp lớp vô tận, tỏa ánh hào quang.”
”Triệu thỉnh có khẩu quyết bí mật không?”
Tôi trả lời:
”Có.”
Ví dụ tôi muốn triệu thỉnh Bổn tôn A Di Đà Phật của tôi, khẩu quyết bí mật chính là phóng quang triệu thỉnh, quán tưởng trong tâm nguyệt luân ở tim mình có chủng tử tự “Seh” của A Di Đà Phật phóng ánh sáng đỏ ba lần, ánh sáng đỏ từ trung mạch xung lên lỗ đỉnh đầu, đi vào hư không. Lúc này A Di Đà Phật tự nhiên sẽ theo ánh sáng triệu thỉnh của hành giả mà giáng xuống.

Ngoài ra còn có một khẩu quyết bí mật là hành giả giơ móc kim cang triệu thỉnh, quán tưởng cái móc của móc kim cang móc vào đám mây của Phật Bồ Tát, như vậy Phật Bồ Tát tất nhiên sẽ đáp lại lời mời mà đến. 

Còn có:
Quán tưởng tòa hoa sen đi thỉnh mời.
Quán tưởng y phục của Phật Bồ Tát lay động mà đến.
Quán tưởng Phật Bồ Tát nhấc bước chân.
Quán tưởng đồ trang sức của Phật Bồ Tát vang lên tiếng leng keng.

Đại thể mà nói, Mật giáo triệu thỉnh các vị là dùng phóng quang triệu thỉnh là chủ yếu nhất, ba lần phóng ánh sáng này đều dựa vào vận tâm mà làm, có nghĩa là tự tâm phóng đại quang minh, chỉ cần tự tâm phóng đại quang minh thì vô lượng Phật Bồ Tát đều phóng ánh sáng chiếu đến thân ta. 

Ý nghĩa của phóng quang rất rộng lớn, có ý nghĩa nhiếp triệu, có ý nghĩa quy mệnh, có ý nghĩa đột ngột thức tỉnh, có ý nghĩa cúng dường, có ý nghĩa công đức, còn có ý nghĩa tất cả pháp vô lượng. Trong Mật giáo có ý nghĩa là vô lượng quang. Vận tâm phóng quang triệu thỉnh, Phật Bồ Tát chư tôn nhất định giáng lâm.


### 46. Tầm quan trọng của pháp Tứ gia hành


“Pháp nào quan trọng nhất?”
”Pháp Tứ gia hành quan trọng nhất.” - Tôi đáp.
”Vì sao?”
”Bởi vì pháp Tứ gia hành là nền móng thành tựu Mật giáo, nền móng không kiên cố thì tu pháp gì cũng đều là xây lâu đài trên không.”
Chúng ta khởi đầu tu Mật pháp, trước tiên phải xây nền móng, cái gọi là “gia hành” có ý nghĩa là phải gia tăng thêm một phần lực mới có thể tu hành. 

Mỗi pháp trong Tứ gia hành đều có ý nghĩa sâu, tôi chỉ rõ như sau:
1. Pháp tứ quy y.
2. Pháp đại lễ bái.
3. Pháp đại cúng dường.
4. Pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát.

Ở đây pháp tứ quy y là trì chú tứ quy y để kiên cố đạo tâm. Pháp đại lễ bái là để tiêu trừ nghiệp chướng. Pháp đại cúng dường là để gia tăng phúc huệ. Pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát là sám hối nghiệp tội. Muốn tu Mật giáo phải có hai loại tư lương là phúc và huệ, nếu không có đủ hai loại tư lương này, đạo tâm không vững, ma chướng bộc phát thì không có tư cách tu Mật pháp. 

Mật điển có nói: “Chưa tu hai tư lương mà muốn thành Phật chẳng khác gì muốn nấu cát thành dầu.”
Rất nhiều người học Mật giáo nhiều năm, càng học nhiều pháp thì càng nhiều ma chướng, thậm chí đến cuối cùng không ngờ lại dao động. Đây là chuyện rất nực cười, chứng tỏ nền móng pháp Tứ gia hành của anh ta chênh vênh, căn bản là ngay cả pháp Tứ gia hành cũng không tương ứng, bởi vì nếu có tương ứng thì căn bản là sẽ không dao động.

Đừng coi thường pháp Tứ gia hành. Đạo tâm kiên cố, tiêu trừ nghiệp chướng, sám hối nghiệp tội, tăng phúc tăng huệ quả nhiên cực quan trọng. 
Vì thế, pháp Tứ gia hành phải nghiêm túc tu trì, gắng đạt tới viên mãn.


### 47. Bí mật của quán Không


Cá nhân tôi phát hiện ra một bí mật nhỏ, cũng chính là trong việc tu pháp của một hành giả Mật giáo, trước tiên phải quán Không, bởi vì quán Không rất quan trọng. Chỉ cần bạn dừng tâm niệm của mình lại, làm cho tư tưởng suy nghĩ của mình trống rỗng, chính vào sát-na im bặt vắng lặng này, dòng chảy pháp của ý thức vũ trụ sẽ trút xuống đỉnh đầu đi vào trong thân tâm bạn. 

Cá nhân tôi nhận thức là làm như thế này. Đầu tiên tôi quán tưởng mình ngồi trên tòa hoa sen tám cánh, và trước mặt mình có nguyệt luân tỏa sáng. 
Tôi niệm chú quán Không (tịnh tam nghiệp chân ngôn):
”Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng.” 
Tụng chú 5 biến. 
Quán tưởng nguyệt luân càng ngày càng to ra, to đến vô tận. 
Tôi và nguyệt luân thanh tịnh tan nhập vào nhau. 
Tất cả đều không.
Chính vào lúc này, dòng chảy pháp quang minh đi vào trong thân tâm tôi, đầy ắp thân tâm tôi, lập tức tương ứng tám cảm giác:
1. Cảm giác động — thân thể rung rung.
2. Cảm giác ngứa — toàn thân như có sâu bò, có cảm giác ngứa ngáy.
3. Cảm giác nhẹ — thân nhẹ như mây bay.
4. Cảm giác nặng — thân nặng như núi, im lìm bất động.
5. Cảm giác lạnh — thân lạnh như nước, mát lạnh như băng. 
6. Cảm giác ấm — thân nóng như lửa, ấm áp dễ chịu.
7. Cảm giác ráp — quanh thân giống như tấm gỗ kiên cố.
8. Cảm giác trơn — toàn thân trơn như mỡ.

Vì thế tôi nói thế này, chỉ cần tu một đàn pháp thì tương đương với dòng chảy pháp thanh tịnh của vũ trụ quán đảnh cho bạn một lần, cũng tức là bạn và dòng chảy pháp tương ứng, bạn dung nhập vào trong dòng chảy pháp, bạn và Phật Bồ Tát sản sinh ra sự đối lưu, bạn và Phật Bồ Tát đã thông nhau.
Quán Không này là bí mật số một của yoga Mật giáo.


### 48. Thuyết ba lực


Phật giáo có rất nhiều tông phái, đương nhiên mỗi tông phái lại có ý kiến riêng của mình, có nông có sâu, mỗi phái lại tùy theo nhân duyên kiếp trước và căn khí lớn nhỏ của người tu học mà khác nhau.

Kiến giải của cá nhân tôi đối với Thiền tông, Tịnh Độ tông, Mật giáo như sau:

Thiền tông là không lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật. Ở trong đây chính là tịnh trí diệu minh, thể tự không tịch. 

Còn Tịnh Độ tông là người niệm Phật vãng sinh, nhờ có sự hồi hướng có nguyện lực đại bi của A Di Đà Phật, có lòng tin trì danh hiệu ngài mà nhập vào niệm Phật tam muội, dùng thân phàm phu tạo nghiệp trong một đời cũng trực tiếp vãng sinh đến thế giới Cực Lạc, hóa sinh cửu phẩm liên hoa.

Còn về Mật giáo, do Kim cương Acharya truyền dạy gia trì quán đảnh, lập đàn trì chú tu pháp, kết ấn tu quán, nhiếp triệu Bổn tôn, cuối cùng, chân như chính là thân ta, Phật pháp chính là thể ta. Trùng trùng thâm diệu, mật mật huyền bí.

Từ đây có thể nói:
Thiền tông — tự lực.
Tịnh Độ tông — tha lực.
Mật giáo — tự lực, tha lực, Thượng sư lực.

Tôi nói rõ như sau:
Thiền tông tức là tu tư duy, trực tiếp nghiên cứu nhân tâm, hiểu thấu đáo nguồn gốc của tâm mà thành Phật, hoàn toàn dựa vào tự lực để mà kiến tính thành Phật.
Tịnh Độ tông là được Phật tiếp dẫn, hoàn toàn dựa vào tha lực. Trì danh niệm Phật, tịnh niệm nối tiếp nhau, chí tâm xưng danh hiệu Di Đà, diệt trọng tội sinh tử của tám tỉ kiếp, vãng sinh Phật quốc.
Còn về Mật giáo, ngay từ đầu đã có ba lực, đầu tiên là lực gia trì của Căn bản Thượng sư, đến khi tương ứng Bổn tôn thì sẽ có lực của Bổn tôn (tha lực), sau cùng là khai phát Phật tính của bản thân hành giả (tự lực), Phật tâm hiển phát, thế là tức thân thành Phật!

Tôi cảm thấy Thiền tông khó nhất, Tịnh Độ tông dễ nhất, còn Mật giáo thì có cấp độ nặng nhất, cũng là có ý nghĩa sâu nhất. 


### 49. Tôn sùng Cao Vương Kinh


Có người hỏi: 
”Trong nghi quỹ của Chân Phật Mật Pháp vì sao có niệm Cao Vương Kinh?”
Tôi đáp: 
”Cao Vương Kinh là hồng danh của thập phương tam thế tất cả Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, chúng ta niệm Cao Vương Kinh tương đương với từng vị Phật Bồ Tát hiện lên trước mặt và ta lần lượt đảnh lễ.”
Hỏi: 
”Cao Vương Kinh hiệu nghiệm thế nào?”
Đáp: 
”Cao Vương Kinh thịnh hành vào thời Đường, hiệu nghiệm như thần, là hiệu nghiệm số một.”
Hỏi: 
”Có hiệu nghiệm gì?”
Đáp:
”Về phương diện xuất thế, có thể diệt khổ sinh tử. Về phương diện nhập thế, có thể tiêu trừ các độc hại. Về phương diện sám hối, tụng đủ 1000 biến, trọng tội đều tiêu diệt, có thể đạt đến cảnh giới thường lạc ngã tịnh.” 
Hỏi: 
”Nghi quỹ Chân Phật Mật Pháp có thể niệm thêm Tâm Kinh không?”
Đáp:
”Tâm Kinh là sự cô đọng của Đại Bát Nhã Kinh, Kim Cang Kinh, là cảnh giới khai ngộ. Hiển giáo Mật giáo đều coi trọng, nghi quỹ Mật pháp muốn niệm thêm Tâm Kinh cũng được.”

Cá nhân tôi nói thế này: 
Ngày xưa tôi ở Ngọc Hoàng Cung ở Đài Trung, được Diêu Trì Kim Mẫu mở thiên nhãn, cuốn kinh điển đầu tiên mà tôi có được ở Ngọc Hoàng Cung ở Đài Trung chính là Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, vì thế, tôi tôn sùng Cao Vương Kinh, tôi cho rằng đây là duyên phận.

Sau đó niệm thì tôi phát hiện ra Cao Vương Kinh là tên gọi chung của Phật Bồ Tát mười phương, mỗi khi niệm một lần thì ánh sáng đều chiếu đến hư không pháp giới, tương đương lễ kính Tam Bảo, tương đương pháp giới đại quán đảnh, tương đương dòng chảy pháp ánh sáng của pháp giới thanh tịnh, vô cùng bất khả tư nghì!

Vì thế, tôi mới đưa vào trong Chân Phật Mật Pháp, mong rằng hành giả Chân Phật người người có hiệu nghiệm. Đương nhiên tôi biết cảnh giới chân thực của Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh là cảnh giới chí cao vô thượng, là cảnh giới đạt đến bỉ ngạn, cảnh giới này rất sâu, nghĩa lý về đại không vô tướng, không thể coi thường. Tôi cũng học thuộc lòng. 
Hai kinh điển này tôi đều cung kính như nhau!
Cao Vương Kinh, hồng danh của thập phương tam thế tất cả Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, kính lễ Tam Bảo!
Tâm Kinh đạt đến bỉ ngạn, tịch nhiên an trụ!


### 50. Phật thị hiện quyền năng


Có một pháp sư Hiển giáo từng hỏi tôi:
”Căn cứ theo Phật điển, khoảng thời gian sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni niết bàn cho đến khi Di Lặc Phật chưa thị hiện được gọi là thế giới không có Phật. Có nghĩa là thời kỳ không có Phật cư trú trên thế giới. Cách nói này ngài cho rằng có đúng không?”
Tôi hỏi ngược lại pháp sư: 
”Ông học Phật để làm gì?”
Pháp sư đáp: 
”Thành Phật.”
Tôi nói: 
”Vì đã chẳng thành được Phật thì ông học Phật gì chứ?”
Pháp sư á khẩu. 

Theo như tôi biết, sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni niết bàn, có rất nhiều vị tức thân thành Phật, ví dụ: xứ Orgyen vị Phật thứ hai Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, tổ sư Milarepa, tổ sư Tsongkhapa, v.v… Văn Thù Bồ Tát tại Bắc phương thành chính giác, hiệu là Cực Hoan Hỷ Tạng Ma Ni Bảo Tích Vương Phật. Đại đệ tử Xá Lợi Phất của Phật hiệu là Hoa Quang Phật. Năm trăm La Hán tương lai thành Phật, hiệu là Phổ Minh Phật. Rồi trong “Diệu Pháp Liên Hoa Kinh” nói: “Sa Kiệt La Long Vương Nữ là đứa bé tám tuổi, trong sát-na lập tức phát bồ đề tâm, rồi thành bậc Chính Đẳng Chính Giác tại Nam phương Vô Cấu thế giới.” Đây là chuyện Long Nữ Thành Phật.

Tôi nói với pháp sư: 
”Đây đều là những ví dụ về thành Phật, Thiền tông cũng có rất nhiều người thành Phật, họ đều kiến tính thành Phật rồi.” 
”Lục Tổ Đàn Kinh” viết: “Nếu nhận thức được bản tâm, thấy được bản tính của mình thì gọi là Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật.”
Pháp sư nói thật như đếm: 
”Thế sao kinh điển lại nói như vậy!”
Tôi đáp:
”Phật Thích Ca Mâu Ni tuyệt đối không cản trở chúng sinh vào thời gian này thành Phật, cũng sẽ không ngăn cản chúng sinh tức thân thành Phật, đây là người đời sau hiểu nhầm ý của kinh. Theo như tôi biết, Phật Thích Ca Mâu Ni thị hiện tại thế giới Ta Bà là Phật thị hiện quyền năng, còn Di Lặc Phật ở Long Hoa Tam Hội quảng độ chúng sinh cũng là Phật thị hiện quyền năng. Thật ra ở khoảng giữa này cũng có rất nhiều ví dụ thành Phật đó!”

Thiền tông có thể kiến tính thành Phật. Mật giáo có thể trong một đời đồng thời viên chứng ba thân Pháp, Báo, Ứng, chứng đắc vô thượng bồ đề, tức thân thành Phật. “Mật Giáo Cương Yếu” viết: “Căn cơ Mật giáo tuy có sự khác biệt lớn nhỏ nhưng đều do cha mẹ sinh ra nhục thân, một đời tức thân thành Phật.”


### 51. Hợp thành một thể


Yếu nghĩa của Mật giáo nằm ở du già, mà du già có nghĩa là tương ứng, tương ứng đương nhiên là rất ẩn mật. Vì thế “Mật Giáo Cương Yếu” viết: “Nghĩa của mật là thâm sâu, là vi diệu bí mật, tức là kín đáo khó hiểu. Cảnh giới tướng rất bí mật, tự giác chứng trí tu chứng pháp môn.” 

Cá nhân tôi hiểu rằng du già tương ứng thì sẽ có tác dụng thần biến gia trì, có thần biến gia trì thì sẽ có ba thân bất khả tư nghì:
1. Tự tính thân.
2. Gia trì thân.
3. Thọ dụng thân.
Pháp du già Mật giáo, đại sư Ấn Quang từng nói: “Mật giáo dùng tam mật thần biến gia trì, có thể khiến phàm phu hiện sinh chứng quả. Sức mạnh công đức này không thể dùng tâm tư, không thể dùng ngôn luận, vì thế nói là sức mạnh bất tư nghì.”
Do đó, “Đại Nhật Kinh” viết:
*Pháp vô tướng thâm sâu
Người trí kém không hiểu
Để đáp ứng điều này
Kiêm nói pháp hữu tướng.*
Pháp hữu tướng này trọng điểm là quán tưởng “nhập ngã ngã nhập”:
1. Nguyệt luân thanh tịnh.
2. Xuất hiện chủng tử chữ Phạn.
3. Bổn tôn xuất hiện.
4. Bổn tôn trụ đỉnh, thu nhỏ, tiến vào tâm hành giả, ngồi trên hoa sen trong tim, rồi lại phóng to ra lớn bằng hành giả.
5. Hành giả và Bổn tôn không hai không khác, trong sát-na, hành giả chính là Bổn tôn, Bổn tôn chính là hành giả. 

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người, khi tay kết ấn khế, miệng tụng chân ngôn, quán tưởng nhập ngã ngã nhập, tức là bình đẳng với tam mật của Như Lai, cùng có đức dụng vô tận, đây chính là chân lý của tương ứng du già.

Hành giả chỉ cần tương ứng rồi thì sẽ hợp làm một thể, giống với Bổn tôn, từ cánh cửa này mà được vào pháp giới. 
Tôi chân thành nói: “Chân thực không giả.”


### 52. Khẩu quyết nhập-trụ-dung


Trên thực tế, tu pháp của Mật giáo phân thành hai bộ phận lớn, bộ phận thứ nhất là tu pháp tam mật tương ứng, bộ phận thứ hai là tu pháp khí mạch minh điểm.

Theo như tôi biết, tu hành hai bộ phận này đều có khẩu quyết ba chữ nhập-trụ-dung, khẩu quyết này khá quan trọng.

Trong bộ phận tam mật tương ứng, chính là đón Bổn tôn tiến vào trong thân của hành giả, Bổn tôn thường trú trong thân của hành giả, Bổn tôn và hành giả tan vào nhau. Đạt đến tan vào nhau rồi thì lập tức mười phương vô biên Bồ Tát cho đến tất cả Hộ pháp đều đến vây quanh, trong kim cang trang nghiêm, trước ngực phóng ra ánh sáng lớn, vô lượng trăm nghìn vạn ánh sáng từ lỗ chân lông phóng ra, chiếu đến mười phương thế giới. 

Chỉ cần thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh, tam mật tương ứng, như pháp tu hành nhập, trụ, dung, chứng được bản trí, rồi nhập bản địa, tâm sinh hoan hỷ, tiến dần từng bước, sau cùng thành tựu pháp thân tự tại của Như Lai.

Trên phương diện tu pháp của bộ phận thứ hai là khí mạch minh điểm. 
1. Hít một hơi khí đi vào đan điền của hành giả.
2. Hơi khí này thường trụ trong đan điền.
3. Hơi khí này tan vào mọi kinh mạch, đi đến từng lỗ chân lông.
(Đây là khẩu quyết về nhập-trụ-dung của khí.)
Về phương diện nhập, nhất định phải đi vào đan điền. Phương diện thường (trường) trụ là phải nín thở càng lâu càng tốt, theo như tôi biết, chỉ cần giữ được hơi khí này càng lâu thì khí càng có thể đi vào trung mạch. Khẩu quyết quan trọng sau cùng là hít trước thở sau, khi không nín thở được nữa thì hít vào một hơi trước, khi ép xuống như vậy thì khí đều vào trung mạch. Tiếp đó là dẫn khí đến kinh mạch toàn thân, tan vào từng lỗ chân lông. 

Mọi người có thể nghĩ xem, so sánh giữa bộ phận thứ nhất và bộ phận thứ hai, nhập-trụ-dung thật sự quá quan trọng.
Bây giờ bạn có thể hiểu vì sao Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói: “Tất cả công đức của Mật giáo đến từ Bảo bình khí.”


### 53. Thuyết của ngoại đạo


Mật giáo thường bị người ta chỉ trích là ngoại đạo, đương nhiên là có rất nhiều nhân tố, thế nhưng những nhân tố này đều đến từ những học thuyết không rõ ràng và những chỉ trích sai lầm không thật.

Ví dụ, nói Mật giáo là Bà-la-môn giáo, đó là vì có người cho rằng Mật giáo hấp thụ rộng rãi chư thiên, tương tự như Bà-la-môn giáo. Thật ra Mật giáo độ chúng sinh thoát ly biển khổ sinh tử, siêu xuất tam giới, hoàn toàn giống với triết lý của Phật giáo Đại thừa.

Cũng có người cho rằng Mật giáo tôn sùng thần thông, dùng thần lực để hỏi lành dữ họa phúc, nhân quả ba đời, cầu mưa trị bệnh, chiêm tinh địa lý, những hiện tượng này không khác gì tác dụng của ma quỷ, vì thế Mật giáo là tà thuyết ngoại đạo.

Trên nguyên tắc mà nói, Mật giáo được nói thành bói toán tướng mệnh, chiêm tinh địa lý, cầu mưa trị bệnh, đây chỉ là bề ngoài lặt vặt của Mật giáo. Thuần Mật giáo chân chính là giới lực kim cương, đạo tâm bồ đề, chấm dứt sinh tử, tức thân thành Phật. Cũng tức là cắt đứt mê hoặc chứng chân thực, nó rất khác với một số Thượng sư giả mạo làm những trò lừa tiền gạt sắc.

Có người nói Mật giáo làm Hộ Ma là tục lệ cúng lửa của đạo Zoroastrianism Ba Tư, cho nên không thể tu pháp Hộ Ma. Theo như tôi biết, Hộ Ma của Mật giáo tổng trì ấn khế, làm gì đều có nghiệm chứng. Kết đàn tác pháp đều nằm ở sự vận tâm. Pháp Hộ Ma này không tách rời một chữ “tâm”, vì thế, tổ sư Tsongkhapa cho rằng Hộ Ma là một trong ba đại thành tựu.

Lại có người nói tu hành Nội mật - thứ tự viên mãn của Mật giáo là tu hành khí mạch minh điểm, khí mạch minh điểm là tu mệnh, cũng tức là nhục thân tu hành, thế thì rời xa tâm rồi, vì thế là ngoại đạo. Tôi nói, Mật giáo tu khí chủ trương tâm khí hợp nhất, khí tức là tâm, tâm tức là khí, nghĩa là khí không rời tâm, nhờ tu khí để ấn chứng tâm chứ không hề rời xa tâm. Sau cùng dùng khí mạch minh điểm để ấn chứng tâm bí mật trang nghiêm, đây là tâm địa của Mật giáo, sao có thể phê bình là rời xa tâm chứ!

Tôi cho rằng nay gặp được Mật giáo là may mắn ba đời, đó là duyên phận thù thắng hiếm có, tuyệt đối đừng buột miệng phỉ báng!


### 54. Sự cần thiết của tu khí


Có một thầy thuốc Đông y nổi tiếng kể với tôi rằng ông ấy từng chữa bệnh cho một đại hòa thượng, vừa dùng tay bắt mạch thì hết sức ngạc nhiên, không ngờ gần như kinh mạch toàn thân đều bị tắc nghẽn, thậm chí tất cả các mạch đều đã thành “âm mạch” xấu.

Bác sĩ Đông y cũng nói còn có một tì kheo ni già, bị bệnh từ lúc trẻ tới lúc già, khí huyết lộn xộn, quanh năm suốt tháng đau yếu luôn, nhìn rất đáng thương. Tự độ mình còn khó, làm sao mà độ chúng sinh?

Bác sĩ Đông y hỏi đại hòa thượng: 
”Thân thể kiểu này thì làm sao tu hành?”
Đại hòa thượng trả lời: 
”Chúng tôi là tu tâm, không tu thân.”
”Tu thân luyện khí cũng rất quan trọng mà!” - Bác sĩ Đông y nói.
”Đó là ngoại đạo!” - Đại hòa thượng trả lời.

Cá nhân tôi phản đối luận điệu của đại hòa thượng, nghĩ xem tổ sư Thiền tông Bồ Đề Đạt Ma từ Thiên Trúc đi thuyền xuống phía Nam, trở thành vị tổ đầu tiên của Trung Hoa. Phép tắc là dùng tâm truyền tâm, các thầy chặt chẽ gửi gắm bản tâm. Nhưng nhìn thấy người của Thiếu Lâm Môn ngồi khô tham thiền, lâu ngày khí huyết suy kiệt, e rằng sẽ sa đọa theo hướng xấu, vì thế mà truyền thụ võ công quyền pháp, sau đó dạy dịch cân kinh.

Bồ Đề Đạt Ma cho rằng: “Khí huyết thông suốt, tha hồ tung hoành, một gậy một hớp [nước], tùy bệnh cho thuốc.”
Tổ sư Đạt Ma nói, chỉ tu tâm mà không tu thân e rằng sẽ sa đọa theo hướng xấu, vì thế mới có võ công Thiếu Lâm truyền đời.

Mật giáo chủ trương tính mệnh song tu, có nghĩa là tâm quan trọng, thân cũng quan trọng, bởi vì sự khỏe mạnh của thân thể là cái gốc của tu hành.
Mật giáo lại càng chỉ rõ:
”Luyện khí chính là điều tâm.”
”Tâm bình thì khí sẽ hòa.”
Người nhiều phiền não, tâm họ phân tán, khí sẽ không cách nào điều hòa được. 
Người tu khí, khí huyết thông suốt, thân thể thư thái, tâm họ tự nhiên ôn hòa, kết quả sau cùng là cũng có thể đoạn trừ phiền não.
Mật giáo cũng có quyền pháp kim cang, đó là công dụng dẫn khí!
Tôi chủ trương: “Tâm khí hợp nhất. Tu khí là bắt buộc!”


### 55. Vận dụng tứ đại để tu trì


Mật giáo nhận định sơn hà đại địa, tất cả mọi vật, đều là sự kết tinh của tứ đại đất-nước-lửa-gió, thế giới này gọi là “khí thế giới”. 
Thế nhưng, nhìn lại nhân loại, thân thể người cũng là một trong khí thế giới. 

Theo tôi được biết, tu trì Mật giáo vốn là vận dụng nguyên tố của tứ đại, dùng đặc tính của tứ đại để sinh ra thực tướng bát nhã ba-la-mật, vô thượng chính đẳng chính giác, biển Tỳ Lô Giá Na đại quang minh, chứng đắc căn bản trí của Như Lai. 

Nhờ tứ đại tu khí mạch minh điểm, tôi phân tích như sau:
1. Địa — mạch.
2. Thủy — minh điểm.
3. Hỏa — chuyết hỏa.
4. Phong — khí.
Pháp khí mạch minh điểm, nguyên lý nguyên tắc thật sự chính là hành giả tu khí đến một trình độ nhất định, dựa vào Kim Cang Hợi Mẫu chuyết hỏa định, dùng khí thổi lửa để sinh ra chuyết hỏa. Nhờ chuyết hỏa đi lên mà thông trung mạch, cho đến lỗ đỉnh đầu, xúc động hoa sen nghìn cánh, dẫn minh điểm rơi xuống, sinh ra tác dụng “giọt cháy”. 
Tác dụng “giọt cháy” là thủy đi lên hỏa đi xuống, thủy rơi xuống dưới, hỏa cháy lên trên, từ đó sản sinh ra ánh sáng, rồi thông năm luân xa của trung mạch và các kinh mạch khác.

Khi trung mạch được mở ra, Tâm luân của năm luân xa được mở ra. Tâm quang sẽ tự nhiên phát lộ, tất cả vọng tưởng tự nhiên không khởi, tính thường thanh tịnh, cắt đứt phiền não, chỉ thấy Phật tính và Phật quốc tịnh thổ sáng tỏ, hành giả tức thân thành Phật.

Pháp khí mạch minh điểm này tôi phân thành Bảo bình khí, pháp Chuyết hỏa, pháp Minh điểm, pháp Vô lậu, thông trung mạch, mở ngũ luân, v.v… Mỗi pháp này phải dựa theo thứ tự mà tu, trong đó có cực kì nhiều tâm yếu khẩu quyết, nếu không có Thượng sư truyền miệng, hoàn toàn đui tu mù luyện thì không được!
Pháp này thành tựu, siddhi ắt thành, thầy có khẩu quyết, có thể nương dựa.


### 56. Thân mandala


Có một lần tôi cùng rất nhiều đệ tử leo núi, trong đó có mấy người đến từ châu Âu phải đáp chuyến bay buổi chiều để trở về.
Khi ấy có hai đệ tử biết Bổn tôn của họ là Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật liền lập tức quỳ xuống, dâng lên cúng dường, thỉnh cầu tôi quán đảnh Bổn tôn cho họ. 
Khi ấy tôi chỉ mặc đồ Lama, không có pháp khí tịnh bình, không đội mũ miện, không có pháp tọa, đương nhiên càng không có đàn thành.
Tôi ngẫm nghĩ một lúc rồi gật đầu nói:
”Được, tôi quán đảnh Bổn tôn cho hai người, hai người kết ấn Dược Sư, miệng tụng chú Dược Sư, quán tưởng Dược Sư Như Lai trụ đỉnh.”
Tôi đưa tay ra sờ đầu đệ tử.
Chỉ một lúc sau là quán đảnh kết thúc.
Sau đó tôi giải thích với đệ tử
Mật giáo quán đảnh cần phải ở đàn thành mandala, bởi vì trong đàn thành hội tụ đầy đủ công đức của chư tôn. Kim cương Thượng sư đội mũ miện, lên pháp tọa, dùng pháp tướng hoặc tịnh bình quán đảnh, lần lượt tượng trưng lực Bổn tôn, lực Thượng sư, lực pháp giới gia trì quán đảnh cho đệ tử, quán đảnh như vậy mới là quán đảnh như pháp.

Ở nơi rừng núi hoang vu vốn dĩ là không được, không như pháp. Thượng sư không đội mũ miện, không lên pháp tọa, không có pháp khí, không có đàn thành, đều là không như pháp.
Nhưng, vì sao tôi có thể làm như vậy?
Tôi nói, tôi đã tương ứng Ngũ Phật. Trong một ý niệm, Ngũ Phật đã trụ đỉnh hóa thành mũ miện, mặt đất mà tôi đứng trên đó lập tức hóa thành tòa hoa sen, tay tôi chính là pháp khí. Mi tâm luân, Hầu luân, Tâm luân, Tề luân, Mật luân của tôi có Ngũ Phật Ngũ Kim Cang trụ ở đó, thân tôi có Thánh hiền tụ hội, vạn đức giao quy, căn bản chính là mandala.

Hôm nay tôi nói với hành giả Chân Phật, tu trì khí mạch minh điểm có thể tu được thân mandala.
1. Khí — tác dụng của tất cả thành tựu.
2. Mạch — hóa thành tất cả cảnh giới, Phật quốc tịnh thổ.
3. Minh điểm — Phật.
4. Chuyết hỏa — tịnh quang.
Nếu có thể tu chứng khí mạch minh điểm và đạt đến chuyển hóa mới biết thực tướng Chân Như. Chân Như không có tự tính, tùy biến không giữ tự tính. Ô nhiễm, thanh tịnh, chân thực, vọng tưởng hoàn toàn giao với nhau, mọi thứ đều vô ngại, trùng trùng vô tận. Mật giáo tuyệt đối trọng nghi quỹ, nghi quỹ không chu toàn tức là không như pháp!
Nhưng, duy có người tu chứng thân mandala mới có thể siêu việt! Mới có thể tổng trì vô lượng Phật pháp mà không để rò rỉ mất.
Ai có thể chứng minh: “Chân Như tức thân ta.”
Tôi đáp:
”Pháp khí mạch minh điểm.”


### 57. Bí quyết tu khí


Uy nghi như Phật, ngồi thế kim cang kiết già hoặc bán già, hai tay kết pháp giới định ấn, cột sống vươn thẳng, hai vai mở ngang, gập cổ để cho cằm ép vào yết hầu, đầu lưỡi đặt lên hàm trên, mắt không chớp, nhìn thẳng phía trước hai thước [khoảng 2/3 mét]. Ngồi như vậy để lắng yên thân tâm.

Hít một hơi khí vào đan điền, thượng khí ép xuống, hạ khí nâng lên, như một bảo bình. Nín thở thật lâu cho đến khi không nín được nữa thì lúc này, khẩu quyết quan trọng là trước tiên hít vào một hơi để cho khí dư thừa đi vào trung mạch, đến được tim, dung nhập vào các mạch luân, đi đến từng lỗ chân lông và thoát ra ngoài. Khí chưa dung nhập sẽ giống như bắn ra, thở hắt ra.

Bí quyết tu khí là:
Cột sống vươn thẳng — trung mạch mới có thể thẳng.
Ép yết hầu — thượng khí sẽ ép xuống.
Nhíu hậu môn — hạ khí sẽ nâng lên.
Đầu lưỡi chạm hàm trên — khí mới có thể vào trung mạch.

Mục đích quan trọng nhất mà Mật giáo tu Bảo bình khí là khiến khí vào trung mạch, chỉ cần khí vào trung mạch thì có thể sản sinh tác dụng, chúng ta gọi là khí vào trung mạch, tức là khí trí huệ. Tu Bảo bình khí lâu ngày thì kinh mạch toàn thân đều thông suốt, khí tuần hoàn trôi chảy và khí đủ.
Đạo gia gọi là sự tuần hoàn của đại chu thiên, tiểu chu thiên. 

Hành giả Mật giáo phải hiểu thượng hành khí, hạ hành khí, biến hành khí, tâm khí. Từ tác dụng của khí mà tu được chuyết hỏa, tu được minh điểm trong veo thanh tịnh, tu được minh điểm vô lậu, đạt đến đại lạc, quang minh, tính Không.


### 58. Có lậu đều đọa


Chữ “lậu” này vốn là tên gọi khác của phiền não, có hàm nghĩa là “lậu tiết” và “lậu đọa”. Mỗi con người ngày đêm phiền não không ngừng, cho nên một vài nguyên khí từ lục căn chảy ra ngoài không ngừng, như thế này sẽ biến thành có lậu đều đọa. Đọa tức là sẽ rơi vào trong ba đạo ác. 

Theo như tôi biết, lậu cũng có khẩu lậu, thân lậu, ý lậu.
Khẩu lậu — vọng ngữ, hai lưỡi, ác khẩu, thêu dệt. 
Thân lậu — giết, cướp, dâm, rượu.
Ý lậu — tham, sân, si.

Quá khứ tôi đọc “Diêu Trì Kim Mẫu Giải Thoát Chân Kinh”, Kim Mẫu cũng nói: “Lậu tiết sẽ chết, tinh thần của con người lậu tiết ở chỗ nào thì phải thu về từ chỗ đó.” Có thể thấy có lậu tức là thân thể có phiền não ô nhiễm.
Thì ra thân thể của mỗi con người có thể nói đều là thể có lậu, ví dụ: 
Nữ chảy máu kinh.
Nam chảy tinh dịch.
Trong Mật giáo, máu kinh mà nữ chảy ra chúng ta gọi là hồng bồ đề, tinh dịch mà nam chảy ra chúng ta gọi là minh điểm hoặc bạch bồ đề. 
Trong tu pháp của Mật giáo có pháp vô lậu, có thể khiến hành giả nam vĩnh viễn không chảy tinh dịch, hành giả nữ vĩnh viễn không chảy máu kinh. Pháp vô lậu này có thể khiến hành giả Mật giáo tu thành thể kim cang vô lậu, thân kim cang, thân thể bất hoại. 

Cá nhân tôi nhận thức thế này, lậu cũng có phân biệt hữu hình và vô hình, vô hình là các phiền não tham sân si, hữu hình là chảy máu kinh, chảy tinh dịch. Bất kể là vô hình hay hữu hình đều ảnh hưởng đến người tu hành.

Một hành giả chân chính, về phương diện vô hình là thanh tâm quả dục, cắt hết tất cả phiền não; về phương diện hữu hình là tu pháp vô lậu, hoàn toàn khiến tinh huyết không rò rỉ mất một giọt nào, như vậy mới là thân tâm đều đắc giải thoát, đây mới là không còn gì lo lắng sợ hãi.
Thân tâm đều giải thoát, rời xa tất cả nhiễm mắc mới gọi là vô lậu.


### 59. Giới thiệu vắn tắt về quán tu pháp vô lậu


Trong Mật giáo, quán tu pháp vô lậu được gọi là độc bộ pháp, là pháp cực bí mật của bí mật, không thể tuyên thuyết với người chưa được quán đảnh. Vì thế ở đây tôi chỉ giới thiệu một cách đơn giản.

Cơ sở của pháp này nằm ở Bảo bình khí, nhất định phải tu Bảo bình khí cho đến khi khí đủ. Có thể vận khí vào trung mạch, từ trung mạch xung lên đỉnh mới có thể tu trì pháp này.
Có ba bí quyết tu pháp: 
1. Chú — Hum.
2. Ấn — ấn nắm chặt. Ngón cái cho vào trong, bốn ngón còn lại ép chặt, hai tay nắm chặt.
3. Quán tưởng.
Cách quán tưởng là: đầu tiên quán tưởng Tề luân có một chữ Hum, đuôi của chữ Hum đưa vào Mật luân, móc lấy hoa sen trắng (nam) hoặc hoa sen đỏ (nữ). Hai tay hành giả kết ấn nắm chặt, hạ xuống. Hành giả tu Bảo bình khí một hơi thì hét lớn một tiếng Hum, hai tay kết ấn nắm chặt giơ lên trên. Lúc này dùng khí xung đỉnh, chữ Hum kéo hoa sen cùng đi lên, theo trung mạch đến lỗ đỉnh đầu, Mật luân (gốc) theo đó bị cuốn ngược lên đi vào trung mạch, đạt đến lỗ đỉnh đầu.
Tại lỗ đỉnh đầu, thứ tự là chữ Hum, hoa sen, nhục kế (hành giả nam), hành giả nữ thì không có nhục kế. 
Tôi giải thích là:
Hoa sen trắng chính là tinh dịch, hoa sen đỏ chính là máu kinh. Gốc Mật luân là dương vật, đến đỉnh đầu của hành giả thì hóa thành nhục kế, vì thế mà hành giả nữ không có nhục kế.
Pháp này trọng điểm nằm ở một hơi Bảo bình khí.
Khí xung đỉnh, kèm theo đó là nâng tinh huyết đến đỉnh đầu, trong Mật giáo gọi là “nâng minh điểm bay qua núi Tu Di”, có thể nâng minh điểm tức là có thể đắc được vô lậu.

Pháp vô lậu phải phối hợp với ngoại công là ba thức kim cang quyền, có thể khiến tinh huyết trụ vững mà không lậu tiết.

Theo tôi được biết, hành giả chỉ cần bền lòng, tu trì vào sáng sớm mỗi ngày thì nửa năm sẽ có hiệu nghiệm, chậm nhất là ba năm.
Tu hành pháp này thành tựu, minh điểm sẽ không mất đi một giọt nào, tinh thần sung mãn, tu những pháp khác chỉ cần làm ít mà được nhiều. 

Chú ý: tâm yếu khẩu quyết của pháp vô lậu phải được Kim cương Thượng sư trực tiếp nói rõ.


### 60. Phân biệt chứng nghiệm


Có đệ tử hỏi: 
”Tu thân khẩu ý thanh tịnh là chứng nghiệm cái gì?”
Tôi trả lời:
”Du già nhất vị.”
Đệ tử lại hỏi: 
”Tu khí mạch minh điểm là chứng nghiệm cái gì?”
Tôi đáp:
”Tịnh quang xuất hiện.”
Tôi nói, tam mật tương ứng tức là tam mật của thân khẩu ý hành giả và tam mật thân khẩu ý của Bổn tôn tương ứng, dung hợp không phân biệt, lúc này chính là Nhất vị du già, nhục thân mà cha mẹ sinh ra cũng chính là thân của Bổn tôn.

Hành giả dựa vào tam mật tương ứng, tu pháp tức, tăng, hoài, tru, có thể diệt tội trừ tai, cầu an, trừ bệnh tật, tăng phúc huệ, tăng kính ái, đẩy lùi tất cả kẻ thù,… vô lượng công đức bất khả tư nghì.
Tôi nói, tu khí mạch minh điểm, dựa vào pháp chuyết hỏa minh điểm, đầu tiên có thể xuất hiện ánh sáng minh điểm, sau đó lại xuất hiện chuỗi ánh sáng kim cang, sau cùng sẽ xuất hiện Bổn tôn và tịnh thổ của Bổn tôn. Sau cùng, tịnh quang của hành giả sẽ dung nhập vào trong pháp giới của vũ trụ. 

Tu khí mạch minh điểm chỉ cần thành tựu pháp chuyết hỏa thì có thể tu pháp phowa, pháp mộng quán, pháp huyễn thân, pháp tịnh quang, pháp thiên thức.
Đây là sáu pháp của Naropa.
Còn pháp kim cang có thể thành tựu được tất cả sự nghiệp.
Vô thượng mật, mật hành chứng ngộ thanh tịnh.
Đại viên mãn, tự tại nhậm vận.
Những pháp môn này, trong những bài khai thị hoằng pháp của tôi suốt hai mươi năm, tôi đều đã giải thích rất tường tận tỉ mỉ kĩ càng rõ ràng, những gì nên nói đều đã nói rồi, những gì không nên nói cũng đã nói chút chút rồi, còn lại những gì chưa nói là bí mật của bí mật và một vài kỹ thuật cực cơ mật, dành cho những người có căn khí hữu duyên sẽ trực tiếp giải thích.

Điều tôi chứng nghiệm là: pháp không có lỗi gọi là chính, trí không thiếu sót gọi là toàn diện, ra khỏi giấc mộng sinh tử gọi là tri giác.


### 61. Hiện tượng của tương ứng


Có người hỏi:
”Hành giả Mật giáo tụng chú, tu pháp. Khi tương ứng sẽ xuất hiện hiện tượng gì?”
Tôi trả lời:
”Hành giả Mật giáo tụng chú, tu pháp, nỗ lực dụng công thì sẽ có rất nhiều hiện tượng tương ứng, những hiện tượng này thấy được trong thiền định, hoặc thấy được trong mơ, thậm chí có thể thấy được lúc tỉnh táo. Ví dụ: nhìn thấy Phật Bồ Tát Bổn tôn, nhìn thấy thân mình bay trong hư không tự do tự tại, hoặc đích thân đến Phật quốc tịnh thổ, đây đều là các tướng của đại chứng nghiệm.”
”Còn có nhìn thấy tòa hoa sen, ăn quả trắng nhổ ra vật đen, hoặc nuốt nhật nguyệt tinh, nhìn thấy thân mình tỏa ánh sáng, dùng lược chải đầu thì có rất nhiều sâu rơi ra, đều là tướng của nghiệp tội được tiêu diệt.”
”Có người lúc trước đọc không hiểu kinh sách, giờ đây vừa nhìn đã hiểu, có thể nắm được hết mà không quên, mỗi câu có thể diễn giải đa nghĩa, trí huệ tăng trưởng, thông hiểu tất cả kinh luật luận. Vừa nghĩ đến Bổn tôn là Bổn tôn sẽ hợp nhất với chính mình, cái này đã đến gần với tướng của thành tựu rồi, cũng chính là Nhất vị du già.”
”Có người nhìn thấy các loại ánh sáng, có người nhìn thấy hoa sen đặc biệt, có người nhìn thấy khói, nhìn thấy lửa, nhìn thấy ánh sáng, hoặc nhìn thấy tượng Phật ô lọng cờ phướn lay động, hoặc nghe thấy thiên nhạc ở trên trời, hoặc răng rụng lại mọc lại, tóc bạc chuyển thành đen, đây đều là các hiện tượng tốt về tham sân si đã được tiêu diệt.”

Tôi nói, hành giả Mật giáo đã có hiện tượng tương ứng, đừng khởi lên tâm chọn lựa, đừng vui mừng như điên, hãy dùng tâm bình thường để đối diện với chúng. Vẫn tiếp tục nỗ lực dụng công, đừng kiêu căng ngạo mạn với người khác, nhưng, có thể cùng đồng môn sư trưởng cổ vũ lẫn nhau, không phải vì danh lợi mà tán thưởng thì có thể nói ra.

Khi pháp môn tam muội đắc tương ứng, phúc huệ tăng trưởng thì sẽ biết tất cả cảnh giới gặp được đều là như mộng như huyễn, pháp giới cũng là một tâm.
Lúc này cần biết, như như bất động, thần thông nhậm vận, chứng vô thượng chính đẳng chính giác, chỉ cầu thành Phật mà thôi.


### 62. Chân Phật Mật Pháp cửu phẩm thành tựu


Hỏi:
”Tu trì Chân Phật Mật Pháp, sau khi tương ứng sẽ có thành tựu gì?”
Tôi đáp:
”Đại khái có thể phân thành chín phẩm thành tựu.”
Từ thành tựu ban đầu cho đến thành tựu cao nhất, tôi lần lượt nói rõ như sau:
Phẩm thứ nhất: tâm tưởng sự thành. Phàm trong lòng nghĩ đến việc gì là Hộ pháp liền giúp bạn đi hoàn thành. Thần của thiên long bát bộ cung kính bạn, bạn có thể đuổi tà trói ma, có thể giúp người trị bệnh.
Phẩm thứ hai: sai khiến quỷ thần. Có thể triệu thỉnh các thần trên trời giáng xuống, có thể đọc được kho tàng pháp trên trời dưới đất, có thể vào long cung, có thể vào cung điện của thần núi.
Phẩm thứ ba: hiểu rõ số mệnh. Biết được số mệnh của mình hoặc người khác, thành tựu địa tiên, đi lại trong không trung, có thể đến thiên thượng giới đắc tiên đạo.
Phẩm thứ tư: Trì Minh Tiên Vương. Ở trên trời đã có thân phận là thiên chúa, phúc đức trí huệ có được ba giới không thể sánh bằng, thần túc phi phàm.
Phẩm thứ năm: Chuyển Luân Thánh Vương. Đã đắc năm thần thông, thọ mạng đã vô tận, sống ở thế giới hữu dư, tất cả tự do tự tại, tướng mạo hoàn hảo.
Phẩm thứ sáu: quả vị Bồ Tát từ sơ địa trở lên.
Phẩm thứ bảy: quả vị Bồ Tát từ ngũ địa trở lên.
Phẩm thứ tám: quả vị Bồ Tát từ bát địa trở lên.
Phẩm thứ chín: chứng vô thượng chính đẳng chính giác, là Thiên Nhân Sư, Phật.
(Quả vị của mười địa Bồ Tát là: hoan hỷ địa, ly cấu địa, phát quang địa, diễm huệ địa, cực nan thắng địa, hiện tiền địa, viễn hành địa, bất động địa, thiện huệ địa, pháp vân địa.)

Tôi nói, tu trì tương ứng Chân Phật Mật Pháp, chín phẩm thành tựu này chỉ là tôi phân chia một cách đại khái, bởi vì quả vị của những cảnh giới này vốn dĩ là bất khả tư nghì. Có người đến phẩm thứ hai đã có thiên nhãn, cũng có người ở phẩm thứ bảy đã có Phật nhãn, những cái này không thể nói chính xác được, cho nên chỉ đưa ra cho mọi người tham khảo.


### 63. Một chú một pháp một Bổn tôn


Có đệ tử hỏi tôi: 
“Trì nhiều chú tốt hay là trì một chú tốt?”
Tôi đáp:
”Bình đẳng, bình đẳng.”
Đối với vấn đề này, có thể mở rộng ra là tu một pháp tốt hay là tu nhiều pháp tốt? Tương tự, tu một Bổn tôn tốt hay là tu nhiều Bổn tôn tốt?

Trước đây, sư phụ của tôi chỉ thị rằng, về phương diện này phải xem ý nguyện của hành giả Mật giáo, có một số hành giả thích nhiều chú nhiều pháp nhiều Bổn tôn, thời gian của hành giả cũng đủ, hành giả là người xuất gia chuyên môn bỏ công vào việc tu trì, thế thì có thể nhiều chú nhiều pháp nhiều Bổn tôn.
Bởi vậy nói, chỉ cần bạn có đủ thời gian, bạn muốn tu ba pháp, năm pháp, mười pháp, thậm chí một trăm pháp, một trăm vị cũng được.

Nhưng vì người hiện đại tu Mật giáo, bản thân ở nhà ít thời gian, ở bên ngoài làm việc rất bận, không thể nào tu nhiều chú nhiều pháp nhiều Bổn tôn, như vậy chỉ có thể một chú một pháp một Bổn tôn. Phải biết rằng chỉ tu một chú một pháp một Bổn tôn, nhờ có sự chuyên nhất này mà được gọi là “môn nhanh đạt thành tựu”, tức là tương đối dễ tương ứng.
Cho nên:
Nhiều chú nhiều pháp nhiều Bổn tôn có lợi ở chỗ kết duyên rộng.
Một chú một pháp một Bổn tôn là nhanh chóng tương ứng nhất.

Tôi thường nói với người ta rằng, chỉ cần bạn tương ứng một vị rồi thì muốn tương ứng với các vị khác cũng rất dễ. Đây chính là tương ứng một pháp thì sẽ tương ứng mọi pháp, tất cả công đức đều thành tựu. Cho nên hành giả nên bắt đầu từ một chú một pháp một Bổn tôn để thực tu mới phải, khi mới bắt đầu đừng tham nhiều.

Hành giả Chân Phật chúng ta phải nhớ rõ, chú Thượng sư, chú Bổn tôn, chú Hộ pháp, ba chú này phải trì đủ số lượng. Chỉ cần bạn tương ứng với pháp Thượng sư tương ứng rồi thì pháp Bổn tôn và pháp của Hộ pháp cũng sẽ nhanh chóng tương ứng. Bởi vì Bổn tôn và Hộ pháp đều vì bạn đã tương ứng với Thượng sư mà hoan hỷ giáng xuống.


### 64. Các cách trì chú


Có người hỏi:
”Nghe nói có nhiều cách trì chú, dùng cách nào là tốt nhất?”
Tôi đáp:
”Trì chú có nhiều cách, cách nào tốt nhất thì cũng phải xem nhân duyên của người đó mà xác định, mỗi người có thói quen khác nhau, công đức đều có sự thiện xảo.”
Tôi kể ra các cách trì chú như sau:
1. Trì cao giọng — cao giọng niệm tụng này có công đức là khiến người nghe được chú đều có thể diệt nghiệp tội. Trì cao giọng có thể lần tràng hạt, cũng có thể không lần tràng hạt.
2. Trì nhỏ giọng — chỉ là cho chính mình nghe, không chậm không nhanh, đọc từng chữ rõ ràng, cách trì này dễ định tâm.
3. Trì kim cang — răng môi không động, lưỡi không chạm vào vòm họng, chỉ hơi động trong miệng. Đây là cách niệm ở nơi đông người, như là khi đi ra ngoài du lịch, ngồi tàu xe, ngồi máy bay cũng có thể trì tụng.
4. Trì theo hơi thở — đây là trong hơi thở quán tưởng có chân ngôn chữ Phạn, thở ra thì chữ đi ra, hít vào thì chữ đi vào, từng chữ rõ ràng, như chuỗi minh châu, không được gián đoạn. Đây là cách người quán đếm hơi thở kiêm trì chú, công đức thù thắng, sự quán tưởng tuyệt diệu.
5. Trì du già — quán tưởng trong tâm của hành giả có nguyệt luân trong veo thanh tịnh, trung tâm nguyệt luân là chủng tử chữ Phạn, xung quanh nguyệt luân là chú tự tiếng Phạn xoay tròn về bên phải, quán chú tự xoay tròn đến hết lại lặp lại từ đầu, đây gọi là trì du già. Trì du già nếu nhập tam muội, Bổn tôn sẽ hợp nhất với chính mình, công đức vô lượng.

Trì chú cũng có thể dùng chú ngữ gia trì cho chuỗi hạt bảy biến, như vậy niệm một biến tương đương với một nghìn biến, đây chính là pháp thiên chuyển luân mà trước đây tôi từng truyền thụ, cách niệm này có công đức nhanh chóng.


### 65. Mật chú là thuyền pháp


Rất nhiều người trì tụng mật chú đều rất muốn biết hàm nghĩa của mật chú, vì thế cứ liên tục hỏi tôi ý nghĩa của câu chú này là gì.
Tôi nói với đệ tử: 
”Vì hàm nghĩa của mật chú rộng lớn, dịch ra sẽ không đúng, cho nên không dịch.”
Ngoài ra, “Niết Bàn Sớ” viết: “Chân ngôn là bí mật ngữ tuôn chảy từ tâm Phật, người dịch không hiểu được, cho nên không dịch.”
”Hiền Thủ Bát Nhã Sớ” viết: “Chú là pháp bí mật của chư Phật, không thể giải thích, nhưng nên trì tụng, không cần phải cố giải thích.”
Trong “Thủ Lăng Nghiêm Kinh” viết: “Pháp bí mật mật chú của chư Phật duy có Phật và Phật với nhau có thể hiểu được, không phải là điều mà bậc Thánh có thể thông đạt, nhưng trì tụng thì có thể diệt đại họa, nhanh chóng lên được thánh vị.”

Tôi đơn giản lấy một ví dụ:
Giả sử chúng ta sinh bệnh, đi tìm bác sĩ.
Bác sĩ cho chúng ta thuốc tốt, nhưng bác sĩ lại không nói với chúng ta thành phần hóa học của loại thuốc tốt này là bao nhiêu protein, bao nhiêu canxi, bao nhiêu sắt, bao nhiêu amino axit, v.v… bác sĩ chỉ đưa thuốc cho chúng ta.
Chúng ta chỉ cần uống thuốc thì tự nhiên sẽ khỏi bệnh khỏe thân.

Lại nói, mật chú của Mật giáo ngày nay, tất cả chúng sinh và Bồ Tát nhân vị mặc dù không hiểu được, nhưng chỉ cần trì tụng là sẽ lên được thuyền pháp, thân tâm trở thành Tỳ Lô pháp thân, đi trên Phổ Hiền đại hải, tự nhiên được lìa sinh tử, thành tựu mười thân vô ngại Phật quả.

Tôi nói, chú là không sinh không diệt, là vô tướng vô bất tướng, là không chọn lựa, là nghĩa tối thắng của mọi pháp, là nghĩa vô nhân tịch tĩnh vô trụ niết bàn của mọi pháp, không thể dùng ngôn ngữ hay văn tự, cho nên nói rằng không thể dịch.

“Bát Nhã Kinh” nói:
”Tổng trì như thần dược
Lại như cam lộ trời
Chữa các bệnh nghi hoặc
Người uống thường an vui.”


### 66. Om bhrum


Có người hỏi tôi:
”Om bhrum là chú gì?”
Tôi đáp:
”Chú này là tâm chú một chữ trong “Văn Thù Nghi Quỹ Kinh”, còn gọi là Đại Luân nhất tự chú, nó được phát âm là bu-lin.” [Lưu ý: trong Chân Phật Tông có thể dùng cách đọc “brôm” hoặc “bu-lin” hoặc “brừm” đều được.]
Lại hỏi: 
”Vì sao sau khi tu Chân Phật Mật Pháp xong đều niệm chú này?”
Tôi đáp:
”Căn cứ theo kinh nói, nếu tụng tất cả chân ngôn, tu Mật pháp mà sợ rằng không thành tựu, thì dùng chú này tụng khi kết thúc, nhất định sẽ thành tựu. Nếu không thành tựu và không hiện hiệu nghiệm thì thần của chú này ngay lập tức sẽ vỡ đầu thành bảy phần, phải biết chú này có thể trợ giúp tất cả chân ngôn mau chóng đắc thành tựu.”
Hỏi:
”Om bhrum công đức thế nào?”
Đáp:
”Ngoài có thể giúp tất cả chân ngôn mau chóng thành tựu ra, nếu tụng chú này, bốn phương trong vòng năm trăm trạm, tất cả quỷ thần ác đều chạy trốn, các tinh diệu xấu và các thiên ma không dám đến gần. Chú này giống như ngọc như ý, có thể thỏa mãn tất cả nguyện vọng, có thể hàng phục ác ma, có thể phá tất cả ác chú của thế gian, có thể bố thí sự không sợ hãi cho tất cả chúng sinh, có thể cho tất cả chúng sinh niềm vui.”
Hỏi:
”Vì sao “Om bhrum” có công đức lớn như vậy?”
Đáp: 
”Câu chú “Om bhrum” này là tâm của Văn Thù Bồ Tát, là đỉnh cao nhất của tất cả chư Phật.”

Liên quan đến Đại Luân nhất tự chú, thật ra chỉ có âm “bhrum”, còn “om” có ý nghĩa là cung kính quy về, “bhrum” mới là chú chính. Câu chú này tôi được Phổ Phương Kim cương Thượng sư truyền dạy, cho nên đặt làm chú sau cùng trong Chân Phật Mật Pháp, chủ yếu vẫn là để trợ giúp cho tất cả chân ngôn nhanh chóng thành tựu có hiệu ứng. Tại đây, chúng ta phải cảm ơn Phổ Phương Kim cương Thượng sư đã truyền dạy.

Còn nữa, cũng có người hỏi tôi, vì sao sau khi niệm ba biến “Om bhrum” rồi lại niệm “Om mani padme hum”? Tôi nói, đây là đại minh lục tự chân ngôn, người người đều biết. Muốn hiểu về đại minh lục tự chú có thể tự tham khảo “Đại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương Kinh” là sẽ hiểu. Sau cùng tụng chú này là có vô lượng tam muội pháp môn, mau chóng đắc quả vị Bồ Tát.

Tôi có thể nói thế này, cả vùng Tây Tạng đều đang niệm “Om mani padme hum”!


### 67. Bổn tôn thật giả


Người tu trì Thiền tông thường cho rằng khi tham thiền, nếu thấy Phật đến, hoặc tổ sư đến, thì phải nghĩ rằng đây là yêu ma, hoặc xem như mộng huyễn, đều nên phá bỏ mới là đúng. Vì thế mới có cách nói “Phật đến giết Phật, ma đến giết ma”.

Thiền tông cho rằng kết đàn, thủ ấn, tụng chú của Mật giáo chẳng phải là hữu tướng hay sao, và Thiền tông tự xem mình là pháp môn vô tướng, hễ thấy người trì chú là phỉ báng, nói là phi tu hành.

Thế nhưng tôi lại nói thế này, trong pháp giới vô tận vốn dĩ có vô tận pháp môn, pháp môn vô tướng chỉ là một trong số vô tận pháp môn mà thôi. Thế giới Cực Lạc của A Di Đà Phật là một trong các pháp môn, lầu gác Di Lặc chính là pháp môn của tương lai. Trong Mật giáo mà nói, không có một Phật nào không nhờ thần chú mà đắc thành đạo độ chúng sinh, đây cũng là thác sự hiển pháp môn trong thập huyền môn [môn mượn việc để bày pháp, một trong mười huyền môn do Hoa Nghiêm tông lập ra]. Vì thế, trong Mật giáo mà nói, trong thiền định, trong mơ, trong lúc tỉnh, nhìn thấy Bổn tôn đến phóng quang, sờ đầu, ban báu vật, tặng thuốc pháp… nếu gặp phải những việc như thế này thì là tướng của phúc huệ tăng trưởng, đừng sinh tâm nghi hoặc, đây là cát tường như ý. Chúng ta chỉ dạy mọi người đừng chấp vào tướng thấy, đừng sinh ý nghĩ chọn lựa, nên coi những cảnh giới mà chúng ta gặp phải là khích lệ hành giả, tránh vì chấp trước mà nhập ma cảnh.

Hành giả Mật giáo nhìn thấy Bổn tôn, hoặc có thể cho rằng ma cũng có thể huyễn hóa thành Bổn tôn mà đến, lúc này nên làm thế nào? Tôi dạy mọi người, khi Bổn tôn xuất hiện, hành giả không biết là thật hay giả, có thể niệm ba biến tâm chú Căn bản Thượng sư “Om guru liansheng siddhi hum” để xem đó là thật hay giả.
Nếu là ma hóa thành Bổn tôn thì nó sẽ lập tức ẩn đi.
Nếu là Bổn tôn thật thì sẽ hiển hiện càng rõ ràng.
Còn có một cách nữa là hành giả loại bỏ ngã chấp của tự thân, Bổn tôn do ma hóa ra cũng sẽ ẩn đi.


### 68. Thủ ấn trong hư không


Thủ ấn là ấn khế do ngón tay kết thành, thủ ấn tượng trưng tâm, Phật và thể tính của tất cả chúng sinh bình đẳng, không có sự khác biệt.

Ấn khế bí mật mà Mật giáo truyền dạy là có ý nghĩa bí mật ảo diệu của nó, mười ngón tay chính là mười pháp giới và còn tượng trưng cho đất, nước, lửa, gió, không.
Lại có một thuyết là:
Ngón cái — Pháp giới thể tính trí.
Ngón trỏ — Đại viên kính trí.
Ngón giữa — Bình đẳng tính trí.
Ngón áp út — Diệu quan sát trí.
Ngón út — Thành sở tác trí.
Tay phải kết ấn là phúc, tay trái kết ấn là trí, v.v…

Thủ ấn đầu tiên mà tôi kết là do linh sư Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh truyền thụ, khi ấy là tôi tĩnh tọa, hai tay chắp lại, từ từ các ngón tay tự động gập duỗi xoay tròn, các thức thủ ấn lần lượt được kết ra. Vì vậy, thủ ấn của Chân Phật Tông có rất nhiều là thủ ấn được truyền dạy từ hư không, chân thực không giả, tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) tuyệt đối không khoác lác, thủ ấn của tôi đích thực là do hư không trực tiếp truyền thụ. Tôi học thủ ấn thật sự là linh diệu bất khả tư nghì, thủ ấn biến hóa khôn lường không một chút trở ngại, thần kỳ dị thường.

Khi ấy, Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh nói với tôi: “Thủ ấn thông với tâm, cũng tức là thân giống như ý, thân tâm hợp nhất, biến hóa vô cùng.”
Thủ ấn có thể thông tâm, tất cả sẽ không còn chướng ngại. 

Khi tôi học được ấn tâm trong tâm, trong sát-na đã hiểu, thì ra kết thủ ấn sau đó lại tiếp xúc thì sẽ trực tiếp xúc động tâm của Bổn tôn, lúc này tâm của hành giả và tâm của Bổn tôn vốn là tương thông. 

Tôi nói thế này, tay kết ấn khế, kim cương trang nghiêm, vô lượng trăm nghìn vạn ánh sáng lần lượt phổ chiếu!


### 69. Cốt lõi của tu pháp Mật giáo


Tu pháp Mật giáo có Tiền hành, Chính hành, Hậu hành. Sau đây là cốt lõi của Chính hành:
Hành giả ngồi trước Bổn tôn của đàn thành, kết thủ ấn của Bổn tôn, quán tưởng Bổn tôn ở phía trước và phía trên hành giả. Bổn tôn phóng đại quang minh chiếu rọi mười pháp giới tất cả chúng sinh, sau khi mười pháp giới tất cả chúng sinh được ánh sáng bồ đề tâm của Bổn tôn chiếu đến, tất cả nghiệp tội từ vô thủy đến nay, tất cả nghiệp chướng, tất cả ma nạn, tất cả bệnh nạn, tất cả tai nạn đều tiêu trừ, đều tiêu diệt, mười pháp giới tất cả chúng sinh đều phát bồ đề tâm, hành Bồ Tát đạo, hành Phật đạo. 

Sau đó quán tưởng mười pháp giới tất cả chúng sinh đều chuyển thành Bổn tôn, phóng đại quang minh, hợp nhất trước mặt hành giả. Bổn tôn sau khi hợp nhất lại phóng quang chiếu đến hành giả, dùng ánh sáng quán đảnh cho hành giả, khiến cho tất cả nghiệp tội từ vô thủy đến nay, tất cả chướng ngại, tất cả ma nạn, tất cả bệnh nạn, tất cả tai nạn đều hóa thành khí đen, từ lỗ chân lông thoát ra và tiêu tan. Hành giả phát bồ đề tâm, hành Bồ Tát đạo, hành Phật đạo.

Tiếp theo quán tưởng Bổn tôn từ đỉnh đầu đi vào trung mạch của hành giả, ngồi trên hoa sen ở tim hành giả, Bổn tôn phóng quang và biến to ra hoàn toàn bằng với hành giả, trong sát-na, hành giả chính là Bổn tôn, Bổn tôn chính là hành giả, không hai không khác.
Thu hồi thủ ấn chạm vào đỉnh đầu và giải ấn. 
Trì chú Bổn tôn 108 biến trở lên, hoặc 1080 biến, càng nhiều càng tốt.
Trì chú xong, kết tam muội da định ấn, quán tưởng chính mình tiến vào chữ Om, chữ Om tiến vào nguyệt luân, nguyệt luân thu nhỏ lại thành một điểm ánh sáng, điểm sáng này đi thẳng vào hư không, hòa tan vào hư không, ngoài hư không ra thì không có thân tâm nữa. 
Ta chính là hư không, hư không chính là ta, Như Lai Như Lai, thường tịch vô trụ.

Tôi dạy đệ tử Chân Phật quán tu như vậy, mỗi ngày một lần tu, hoặc mỗi ngày ba lần tu, đây là cốt lõi của phần Chính hành quan trọng nhất của tu pháp Mật giáo. 
Chính hành bao gồm quán tưởng, trì chú, nhập tam ma địa.


### 70. Thủ ấn Liên Hoa Đồng Tử và cách lắc chuông chày


Nguồn gốc thủ ấn Bổn tôn Liên Hoa Đồng Tử của Chân Phật Tông là khi Liên Sinh Hoạt Phật nhập vào tam ma địa của Bổn tôn đã tự động kết ra thủ ấn này, tay phải là ấn thuyết pháp, tay trái là ấn cầm hoa sen, biểu trưng là:
Ấn thuyết pháp — biểu thị khéo thuyết tất cả pháp.
Ấn cầm hoa — biểu thị sáu căn thanh tịnh, thân khẩu ý thanh tịnh, lìa cấu bẩn giống như hoa sen. 

Có người hỏi: 
”Liên Hoa Đồng Tử chính là Liên Hoa Đồng Tử, sao lại là chuyển hóa của A Di Đà Phật?”
Tôi giải thích như sau:
Lấy Quan Thế Âm Bồ Tát để nói, vị Bồ Tát này có rất nhiều hóa thân, ví dụ Lục Quan Âm là có sáu vị, Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm, Thánh Quan Âm, Mã Đầu Quan Âm, Thập Nhất Diện Quan Âm, Chuẩn Đề Quan Âm, Như Ý Luân Quan Âm. Quan Thế Âm Bồ Tát còn có ba mươi hai ứng thân, sự chuyển hóa của ngài là vô tận, là bất khả tư nghì.

Còn Liên Hoa Đồng Tử thật sự mà nói là do Đại Nhật Như Lai sinh ra, trụ nơi Phật Nhãn Phật Mẫu, A Di Đà Phật ứng hóa, có thể xem là ba thân của Đại Nhật Như Lai, Phật Nhãn Phật Mẫu, A Di Đà Phật hợp nhất chuyển hóa, như vậy thì càng thù thắng hơn.

Lại có người hỏi: 
”Cách lắc chuông chày của Chân Phật Tông đều không giống với Tạng mật và Đông mật, là vì sao?”
Tôi trả lời:
Đây cũng là khi Liên Sinh Hoạt Phật nhập vào tam ma địa của Bổn tôn, tiến vào tâm của Kim Cang Tát Đỏa, khi tay cầm chuông kim cang, chày kim cang thì biến hóa thành Kim Cang Thủ Bồ Tát, thế là Bồ Tát lắc chuông chày để mà truyền dạy. 
Pháp lắc chuông chày này là có được từ truyền thừa hư không, không phải truyền thừa nhân gian, cho nên cách lắc không giống những chỗ khác. 

Chân Phật Mật Pháp và các tông phái Mật giáo có cái gọi là cộng pháp và bất cộng pháp, còn Liên Hoa Đồng Tử siddhi (tịnh thổ), Liên Hoa Đồng Tử Bổn tôn, thủ ấn, chân ngôn và cách lắc chuông chày kim cang, có thể nói chỉ Chân Phật Tông mới có, cho nên đây là bất cộng pháp. 
Bổn tôn Liên Hoa Đồng Tử vì là bất cộng pháp, cho nên thật sự hiếm có.


### 71. Mật chú là kho tàng pháp vô tận của chư Phật


Phật Đà thuyết pháp có Hiển có Mật. Hiển thì nói rộng về Phật lý tính tướng, hiểu và ngộ về lý của không-hữu, tu chứng Pháp thân, đạt đến bỉ ngạn. Mật thì chỉ trì tụng Mật chú, không thêm vào những hiểu biết, nhưng cũng âm thầm chứng Thánh vị. 

Khi tôi mới học mật chú, Liễu Minh Hòa Thượng nói với tôi hai điều bất tư nghì và khó tưởng tượng: 
Thứ nhất, hành giả học Mật tu trì pháp cúng gạo, cúng gạo là đặt gạo vào trong lòng bàn tay, tụng xong chú cúng dường thì đem gạo biến thực, vẩy đi. Nếu chim ăn được gạo cúng này, vì là gạo đã được gia trì bằng mật chú, đời tương lai chắc chắn sẽ thành Phật. 
Thứ hai, nếu có người đi dưới tấm biển gỗ của chùa, mà trên tấm biển gỗ có khắc chú lục tự đại minh, v.v… gió thổi qua tấm biển, bụi trên tấm biển gỗ rơi xuống, đúng lúc rơi trúng lên người đi đường, thì nghiệp chướng của người đi đường này toàn bộ tiêu trừ, hạt giống bồ đề gieo vào trong tâm, đời tương lai của họ chắc chắn thành Phật. 

Sau khi nghe xong hai điều này, tôi có ấn tượng sâu sắc, mãi khắc ghi trong lòng. Mật chú giống như là thể của pháp giới bí mật, có tác dụng của tam mật bất khả tư nghì, là tối thượng thừa trong tất cả các pháp, chú ngữ là pháp giới vô tướng, chư Phật từ đây mà sinh ra, là pháp tạng vô tận. 

Tôi đọc chú tạng thì phát hiện ra:
Phật vì thương xót chúng sinh vị lai mà nói tất cả mật chú, nếu có tứ chúng thọ trì mật chú, mười vạn, trăm vạn, vô lượng kiếp sau, các tội ngũ vô gián đều diệt hết. 
Nếu có người trì tụng mật chú, tất cả Bồ Tát sẽ xem người đó là bạn thân, nơi họ sinh sống đều có thể gặp được chư Phật, mau chóng đắc thành tựu vô thượng bồ đề. 
Nếu có chúng sinh phước mỏng, người không có hoặc ít thiện căn, người không có căn khí, người không có bồ đề phần, người này trì tụng Phật chú một biến thì sẽ sinh ra mầm căn khí bồ đề, huống hồ tụng trì thường không lười biếng, vì thiện căn này mà nhất định thành Phật. 
Trì tụng mật chú, trong chú tạng có nói, lục độ vạn hành, tự nhiên đầy đủ. 


### 72. Mật chú là kho tàng của thiền định


Trong bản văn ngắn này, tôi đặc biệt khai thị pháp Mật chú bố quang nhập Tam ma địa, pháp này cực kì ít truyền công khai, vì thế nó cực kì quý giá.

Tay hành giả kết ấn Bổn tôn, sau đó lập tức quán tưởng Bổn tôn của chính mình đi vào trong thân mình, trong sát-na biến thành Bổn tôn, ba mươi hai tướng tốt tám mươi vẻ đẹp, thân ánh sáng viên mãn. Quán tưởng chính mình dùng ấn khế của Bổn tôn chạm vào đỉnh đầu bố ra chữ Om, chạm vào họng bố ra chữ Ah, chạm vào tim bố ra chữ Hum, chạm vào rốn bố ra chữ So, chạm vào Mật luân bố ra chữ Ha. (chữ Phạn)
Chữ Om an Đỉnh luân, màu trắng, phóng vô lượng ánh sáng, trừ hết tất cả nghiệp chướng.
Chữ Ah an Hầu luân, màu đỏ, chiếu đến mọi ngu dốt tối tăm, phát ra trí huệ Như Lai.
Chữ Hum an Tâm luân, màu lam, tất cả thanh tịnh như lưu ly, nhanh chóng đến bỉ ngạn.
Chữ So an Tề luân, màu vàng, ngồi trên tòa hoa sen, cấp tốc chuyển pháp luân.
Chữ Ha an Mật luân, màu lục, cát tường và viên mãn, mau đắc tướng tịch diệt.
Bố tự [bố trí chữ] như vậy, lại nghĩ đến ánh sáng màu sắc, sẽ dễ trở thành tướng chân thực của Bổn tôn. Làm như vậy có thể diệt được các tội và được cát tường, có thể đắc đại trí huệ và thanh tịnh, rất nhanh chóng nhập Tam ma địa, đạt được thành tựu của Bổn tôn, vì mỗi một chữ trong mật chú đều bất khả tư nghì.

Mật chú này vốn là “vì cái gốc không sinh”, thế nên đắc không sinh không diệt; từ không sinh không diệt mà đắc vô sở đắc, sau đó thì vô sinh diệt; từ vô sinh diệt mà vô cấu; từ vô cấu mà đắc vô đẳng giác; từ vô giác mà đắc vô thủ xả [không chọn lựa]; từ vô thủ xả mà đắc bình đẳng; từ bình đẳng mà đắc vượt lên nhân quả. Thế rồi nhập thắng nghĩa đế, chứng minh pháp giới chân như, đây chính là đã nhập Tam ma địa.

Tôi nói, xin hãy chú ý đoạn văn trên, đoạn văn này là thứ tự của nhập Tam ma địa, bắt đầu từ “cái gốc không sinh” liên tục cho đến khi chứng pháp giới chân như.
Đại Bi Tâm Kinh viết: “Đà-la-ni là kho tàng của thiền định, trăm nghìn tam muội sẽ thường hiện tiền.”


### 73. Phát bồ đề tâm lớn nhất


Ngay khi mới chứng ngộ, tôi đã phát nguyện “không bỏ rơi một chúng sinh nào”, còn muốn “phân thân xả cốt độ chúng sinh”, khi vừa phát bồ đề tâm như vậy thì trên trời dưới đất chấn động lớn. 

Tôi biết, ngày xưa Phật Đà độ chúng sinh là không độ người nữ xuất gia, cũng không được mang theo vợ con. Phật đặt ra giới luật không sát sinh, không tà dâm, không uống rượu. Phật Đà cảnh cáo đệ tử: “Người sống mà háo sắc không thể thành Phật, họ không được có vợ. Người sống mà thích giết không thể thành Phật, không thể ăn thịt chúng sinh hữu tình. Người sống mà loạn tính không thể thành Phật, cho nên không được uống rượu.” 

Nói như vậy thì giới luật Phật giáo là rất nghiêm khắc, đối với đông đảo chúng sinh, người nào làm được thì độ, người nào không làm được thì bỏ. 

Thế nhưng tôi lại phát lời nguyện “không bỏ rơi một chúng sinh nào”, nguyện vọng này là phải không lựa chọn ô nhiễm hay thanh tịnh, bất kể là tại gia hay xuất gia, bất kể là có hay không có vợ, bất kể là nam hay nữ, bất kể là sát sinh hay không sát sinh, bất kể là ăn chay hay ăn mặn, v.v… Bởi vì con người thời nay là hàng dung tục, lấy vợ đẻ con, uống rượu ăn thịt, căn bản là chuyện bình thường. Tập tính kiểu này rất khó lập tức sửa đổi. Nếu bạn không đi độ họ thì đến ngày nào họ mới có thể tu Phật pháp? Đến ngày nào mới có thể được thoát khỏi sinh tử? Huống hồ con người kiểu như thế này chiếm số đông nhất ở trần thế.

Vì thế, tôi nói: 
Cho phép bạn có vợ, nhưng đừng dính vào tà dâm.
Cho phép bạn ăn có thể ăn thịt, nhưng phải trì chú vãng sinh, tu pháp siêu độ.
Cho phép bạn có thể uống rượu, nhưng chỉ uống ít đừng say, không được loạn tâm tính.
Tôi nói, cho phép đệ tử đi cầu công danh chức vị, đi cầu phúc lộc giàu sang, đi cầu gia đình quyến thuộc viên mãn, đi cầu vàng bạc tài bảo xe hơi nhà lầu, đi cầu khỏe mạnh sống lâu, đi cầu hạnh phúc nhân gian mỹ mãn…
Đây là vì “không bỏ rơi một chúng sinh nào”, vì thỏa mãn tâm tư của chúng sinh mà đưa ra lời nguyện này, tôi độ chúng sinh rất bao dung rộng lượng, không từ chối một chúng sinh nào. 
Chỉ mong chúng sinh hiểu mà tu pháp trì chú, ngày ngày gia tăng, sớm thành Phật đạo!


### 74. Pháp hộ thân và pháp kết giới


Hành giả Mật giáo tu tập các pháp Mật giáo, pháp hộ thân và pháp kết giới đều cực kì quan trọng, nếu không có kết giới đàn thành và tự mình làm pháp hộ thân thì rất dễ trở thành món điểm tâm cho thiên ma ăn. 

Hành giả mỗi lần tu pháp, trong Chân Phật Tông có pháp mặc giáp hộ thân, tức là tay kết ấn kim cang, niệm Kim Cang Thủ Bồ Tát chân ngôn, dùng ấn chạm vào năm chỗ là trán, họng, tim, vai phải, vai trái, thế là thành mặc giáp hộ thân. 

Hành giả thường ngày lấy sợi dây do đồng nam đồng nữ tết (hoặc sợi dây được thanh tịnh qua lửa), niệm tụng một biến Kim cang chú thì thắt một nút, làm như vậy cho đến khi đủ 21 nút thắt, sau đó đeo lên cổ mình, hoặc đeo lên tay, có thể tránh được tất cả ác quỷ tà ma, đây cũng là pháp hộ thân. 

Phàm là tất cả sợi dây hộ thân, hoặc thẻ bài hộ thân, đều có tác dụng hộ thân, tốt nhất là cứ nửa tháng lại niệm tụng chân ngôn 21 biến, sau đó thỉnh cầu Kim cang Hộ pháp gia trì cho dây hoặc thẻ, làm pháp như vậy thì đều đạt được hiệu nghiệm.

Hành giả làm pháp kết giới đàn thành, có thể dùng một chén nước sạch hoặc nước thơm cúng tại đàn thành, niệm tụng chân ngôn Kim cang Hộ pháp, 108 biến hoặc 1080 biến, quán tưởng Kim cang Hộ pháp phóng quang gia trì cho nước sạch hoặc nước thơm, lấy nước thơm vẩy ra tám phương và trên dưới đàn thành để kết giới, làm như vậy thì bên trong phạm vi được vẩy nước, tất cả ác quỷ và tà ma không dám tiến vào. 

Pháp kết giới này có thể dùng với đàn thành, hoặc dùng để kết giới nhà ở, thậm chí cũng có thể kết giới đất đai, chỉ có điều là mỗi nửa tháng phải làm pháp một lần thì mới có hiệu nghiệm. 

Pháp kết giới này cũng có người ứng dụng với người bị bệnh, dùng nước thơm vẩy lên thân người, niệm tụng chân ngôn Kim cang Hộ pháp, bệnh nhân kêu lên một tiếng, các bệnh do bị ma nhập hoặc quỷ quấy nhiễu sẽ tự được giải thoát. Nếu chọn làm pháp vào ngày trực Trừ thì càng có hiệu nghiệm lớn.


### 75. Pháp gặp tất cả quỷ thần


Có người hỏi tôi: 
”Liên Sinh Hoạt Phật có thể gặp tất cả quỷ thần, vì sao ngài được thấy còn chúng tôi lại không được thấy?”
Tôi cười đáp:
”Diêu Trì Kim Mẫu đã mở thiên nhãn cho tôi khi tôi 26 tuổi cho nên tôi mới nhìn thấy. Việc nhìn thấy tất cả quỷ thần này cũng phải có căn khí mới được thấy, bằng không nếu hành giả nỗ lực tinh tấn thì tự nhiên đến lúc cũng sẽ được thấy.” 
”Thiên nhãn tu thế nào?”
Tôi đáp: 
”Tâm luân mở ra, từ nhu tâm mà ánh sáng phát lộ, chính là lúc thiên nhãn mở ra, lập tức có thể nhìn thấy vô lượng Phật, vô lượng Bồ Tát, đều là thân hữu thù thắng. Có thể đến các tịnh thổ của Phật, đi nghe khai thị của chư Phật, đích thân nghe được diệu pháp.” 
Tôi lại nói: 
”Mật giáo tu khí, mạch, minh điểm, đầu tiên thông Trung mạch, sau đó mở năm luân xa, đây là cách tu trì thiên nhãn chính quy nhất.”
”Có Mật pháp nào khác có thể nhìn thấy tất cả quỷ thần không?”
Tôi đáp: 
”Có Mật pháp khác có thể nhìn thấy tất cả quỷ thần, lấy ngưu hoàng, niệm tụng chú Chuẩn Đề Phật Mẫu, niệm đến khi hành giả nhìn thấy ngưu hoàng hóa thành khói hoặc hóa thành lửa thì lập tức lấy ngưu hoàng bôi lên mắt và uống ngưu hoàng, lập tức nhìn thấy quỷ thần chúng.” 
Tôi lại nói: 
”Theo như tôi biết, nếu hành giả nhiễu quanh cây bồ đề theo chiều bên phải, trì niệm tâm chú của Phật Thích Ca Mâu Ni đủ một triệu biến, cầu nguyện Phật Thích Ca Mâu Ni gia trì thiên nhãn thì lập tức nhìn thấy Phật Bồ Tát La Hán xuất hiện để thuyết pháp cho người đó.”

Trước kia tôi từng dạy người ta nhìn tổ tiên của chính mình, phương pháp này là như sau. Lấy vài giọt nước mắt mà người chết chảy ra cho vào trong nước hoa, cúng tại đàn thành, niệm tụng Mật chú, niệm cho đến khi nước hoa phát ra ánh sáng thì lấy nước hoa này bôi lên mí mắt thì lập tức nhìn thấy tổ tiên của chính mình và tất cả quỷ thần chúng. 

Khi nhìn thấy tất cả quỷ thần thì đừng kinh đừng sợ, chỉ xem như là điều tự nhiên, đừng chấp đừng mê, hành giả có thể từ trong việc nhìn thấy tất cả quỷ thần này mà hiểu được tất cả đạo lý thiện ác lành dữ, tất cả mọi việc khó khăn đều có thể tiên tri biết trước được. 

Pháp nhìn thấy tất cả quỷ thần này chỉ cần bền lòng thì thật ra không hề khó!


### 76. Tướng sám của pháp sám hối


Từng có nhiều người hỏi tôi: 
”Tu pháp sám hối làm sao biết được tội đã diệt?”
Tôi đáp: 
”Tướng sám.”
Quá khứ tôi từng nói với đệ tử, tu pháp sám hối, nếu nhìn thấy Bổn tôn đến sờ đầu, biểu thị Phật Bồ Tát đã tha thứ cho lỗi lầm của bạn, đã có được tướng sám.
Cũng có rất nhiều đệ tử sau khi tu pháp sám hối thì mơ thấy mình chải đầu, từ trên đầu rơi ra rất nhiều rất nhiều sâu nhỏ, đây chính là đã có được tướng sám. 
Còn có đệ tử mơ thấy chính mình bay lên hư không, tắm gội giữa trời đất thanh tịnh, rửa sạch những cáu bẩn của chính mình, đây cũng là tướng sám. 
Tướng sám còn có ăn đồ màu trắng nôn ra đồ màu đen, từ các lỗ chân lông trên người bò ra sâu màu đen, Bổn tôn khai thị cho bạn, nuốt mặt trời hoặc mặt trăng, đuổi trâu đen hoặc ngựa ác đi, tự thân ngồi trên tòa sư tử, tiến vào trong cung điện của Phật Bồ Tát, thấy thân thể mình phóng ánh sáng trắng, tự thân có mùi thơm, bước lên núi màu trắng, ngồi trên thuyền pháp đi qua biển lớn, v.v…

Nếu tụng Bách tự minh chú mười nghìn biến mà không thấy tướng sám, tụng hai mươi nghìn biến cũng không thấy thì nên tụng đủ bảy trăm nghìn biến, cần biết rằng người này kiếp trước đã tạo nên tội vô gián, khi tụng đủ bảy trăm nghìn biến thì có thể thấy tướng sám. 

Trong Phật pháp có rất nhiều pháp sám hối, Hiển giáo Mật giáo đều có, Hiển giáo có Lương Hoàng Bảo Sám, Thủy Sám, Đại Bi Sám, Pháp Hoa Sám, v.v… Pháp sám chủ yếu nhất của Mật giáo là pháp Kim Cang Tâm bách tự minh, tụng chú 100 âm cũng chính là chuyển hóa tất cả nghiệp tội thành không cảnh, tất cả quy về hư không. 

Từng có một người ngày xưa phỉ báng Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, về sau đã hiểu ra, quy y Chân Phật Tông, khi tu pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát thì nhìn thấy trong miệng mình nôn ra một vật, hóa ra là một con rắn màu đen. Sau khi nôn ra rắn đen thì người này tu pháp tương ứng thần tốc, hiện nay đạo tâm kiên cố, cảnh giới phi phàm.

Con người chỉ cần thật sự sám hối, Phật Bồ Tát từ bi đều sẽ xuất hiện tướng sám.


### 77. Pháp biết chuyện tương lai


Có người hỏi Sư Tôn:
”Có biết chuyện tương lai không?”
Tôi đáp:
”Biết.”
”Nếu biết có tai nạn thì có thể tránh được không?”
Tôi đáp:
”Tận lực tìm cách thoát, nhưng thoát được hay không thì cũng là số mệnh.”
”Biết trước việc tương lai, trong Mật giáo có phương pháp này không?”
Tôi đáp: 
”Rất nhiều!”

Tôi dạy mọi người lấy một tấm gương sáng treo ở trong đàn thành, thanh tịnh qua lửa. Hành giả mua hoa thơm, trước tiên niệm tụng chú Bổn tôn 108 biến để gia trì cho hoa thơm. Sau đó lấy hoa thơm, lại tụng một biến chú, ném hoa vào mặt gương, lặp lại như vậy 21 lần, 49 lần. Hành giả ngồi thẳng nhìn chăm chú vào gương, trong gương sẽ có văn tự xuất hiện nói cho bạn việc tương lai bạn muốn biết. 

Tương tự, lấy một bát sạch đổ đầy nước sạch, đầu tiên niệm chân ngôn 108 biến, gia trì cho hoa thơm. Sau đó niệm một biến chân ngôn, lấy một cánh hoa ném vào nước trong bát, 21 lần, 49 lần, sau đó chú ý nhìn nước trong bát, có thể hiện lên văn tự nói cho bạn việc tương lai bạn muốn biết. 

Tương tự, lấy quả cầu thủy tinh thuần tịnh, hơ qua lửa và đặt tại đàn thành. Hành giả niệm Mật chú 108 biến, gia trì cho hoa thơm. Sau đó niệm một biến chú lấy một cánh hoa ném vào quả cầu thủy tinh, làm 21 lần hoặc 49 lần, nhìn chăm chú vào quả cầu thủy tinh, có thể hiện lên văn tự hoặc cảnh tượng nói cho bạn việc tương lai muốn biết.

Còn tôi thì không cần như vậy, khi tôi nằm trên giường cầu nguyện Bổn tôn, khi sắp ngủ nhắm mắt lại, trước mắt hiện lên một điểm sáng màu trắng, sau đó sẽ biến thành một mặt sáng, việc tương lai đều hiện lên trên mặt sáng này, giống như xem phim vậy. 

Nhưng hiện tại tôi nghĩ thế này, biết việc tương lai thật sự là không có ý nghĩa, chi bằng việc gì cũng không biết, bởi vì biết trước thì cũng lại kinh sợ!

Chăm chỉ tu Mật pháp, tâm không ưu phiền, tất cả tùy duyên đi, chấm dứt sinh tử là quan trọng!


### 78. Mật pháp trị bệnh


Khi tôi 26 tuổi được Diêu Trì Kim Mẫu mở thiên nhãn, Thanh Chân Đạo Trưởng truyền thụ phù chữ Thượng, phù chữ Quỷ, nhiều thầy truyền đại Mật pháp, thanh danh lẫy lừng.

Khi ở Đài Loan, tôi chuyển nhà nhiều lần, chủ yếu là để “trốn”, bởi vì sau khi tôi tương ứng Mật pháp, biết chuyện tương lai, trị tất cả những bệnh nan y đều có linh nghiệm thần kỳ. Người người truyền tụng không ngớt, mỗi ngày có đến cả trăm cả nghìn người tìm đến, cho nên không thể không chuyển nhà. 

Tôi từng hùng hồn nói, những người bị bệnh tâm thần được tôi dùng chân ngôn Mật giáo và thuật phù để chữa khỏi có thể dùng tàu hỏa để chở. Có bác sĩ khoa thần kinh thậm chí còn nói với người nhà bệnh nhân là đi tìm Lư Thắng Ngạn Sư Tôn. Khoảng thời gian đó, xe ô tô xếp hàng dài trước cửa nhà tôi đến cả cây số, không chỉ chính tôi không chịu nổi mà cả hàng xóm cũng không thể chịu nổi. Sau đó, tôi di cư đến Mỹ, tình hình mới cải thiện một chút. 

Nếu là bệnh nhân tâm thần do quỷ thần gây ra, hành giả lấy cành dương liễu hoặc cỏ cát tường, gia trì chân ngôn 108 biến hoặc 1080 biến, phe phẩy trên thân người bệnh thì quỷ thần sẽ bỏ đi. 
Nếu bệnh nhân sống ở rất xa hoặc không thể tự đến, hành giả ở tại đàn thành vẽ hình của bệnh nhân lên giấy, trên đó viết họ tên và bát tự của bệnh nhân, tụng chân ngôn, lấy cành lựu đánh vào bệnh nhân ở trên giấy, ma quỷ ở trên thân của bệnh nhân này không ở nổi, bệnh sẽ hồi phục. 

Phù chữ Thượng mà Thanh Chân Đạo Trưởng truyền là chuyên môn chữa bệnh, có thể chữa nghìn loại bệnh, vô cùng linh nghiệm thần kỳ, phù được vẽ ra thì bệnh cũng tiêu trừ. 

Nếu là bệnh rất nặng cực nặng, tốt nhất là dùng Hộ Ma (hỏa cúng) của Mật giáo, khi làm Hộ Ma thì dùng những cúng phẩm màu trắng hoặc sữa bò cho vào lò, khi tụng chân ngôn thì kèm theo tên của bệnh nhân, một khi có tương ứng thì bệnh nặng cũng có thể khỏi.

Chính tôi cũng từng mắc bệnh. Các bác sĩ bó tay, tất cả thuốc đều vô hiệu. 
Tôi bất đắc dĩ vẽ ba lá phù chữ Quỷ, niệm chân ngôn, cầu Diêu Trì Kim Mẫu. Đốt hóa uống vào thì kỳ tích xuất hiện, không ngờ đã khỏi bệnh. Tôi tuyệt đối không nói khoác.
Thuật phù và chân ngôn đều có thể chữa bệnh, thật sự quá bất khả tư nghì!


### 79. Bí mật vào thiên cung


Hành giả Mật giáo tu pháp lâu ngày, cực kì muốn tận mắt nhìn thấy thắng cảnh thiên cung, hoặc muốn vào long cung, hoặc atula cung, hoặc hang động của đại sơn thần, nhưng từ đầu tới cuối đều không thấy được, không vào được. 

Hồi đầu Sakya Chứng Không Thượng sư đã bí mật truyền một pháp như sau:

Hành giả lấy tháp năm tầng, tháp bảy tầng, to nhỏ không quan trọng, dựng đàn thành của tháp tùy theo khả năng mà cúng dường hương hoa. Hành giả niệm tụng, tay kết căn bản ấn, tụng chân ngôn, di nhiễu tháp thuận chiều kim đồng hồ, tụng chân ngôn đạt đến 600.000 biến, dùng căn bản ấn để ấn vào tháp. 
Căn bản ấn ấn vào tháp bảy lần, tụng chú bảy lần rồi nói:
*Thất cá căn bản ấn.
Ấn khai thập lục trượng.
Nam thiên thiết tháp khai.
Hành giả tự tiến lai.*
(Thập lục trượng tượng trưng cho mười sáu Bồ Tát của Kim cương giới.)
Vào đêm cùng ngày, Bổn tôn sẽ hiện thân đưa hành giả đi vào trong thiên cung, hoặc long cung, hoặc atula cung, hoặc hang động của đại sơn thần, sau khi đi vào thì có thể có được cam lộ trời tuyệt diệu, hoặc ăn thuốc pháp, hoặc có được pháp tạng mật pháp quý báu, hoặc nhìn và nghe thấy khai thị của Bồ Tát, thật sự thù thắng phi phàm.”

Tôi nhớ khi tôi một mình du lịch Nhật Bản, tôi đã đến hồ Kawaguchi, đêm ấy mưa suốt không thôi, khách sạn nhỏ không ngờ đầy kín khách, tôi cứ loanh quanh mãi ở hồ Kawaguchi dưới chân núi Phú Sĩ. May mắn thay lễ tân khách sạn đã giúp tôi tìm được phòng nghỉ ngơi của nhân viên phục vụ để tôi nghỉ tạm. Đêm ấy, tôi lập tức tiến vào hang động của thần núi Phú Sĩ, được đại sơn thần của núi Phú Sĩ chiêu đãi, chẳng khác gì được ở trong đại cung điện của thần núi núi Phú Sĩ, đây chính là cảm ứng do từng tu pháp nhập thiên cung đó!

Sau khi vào thiên cung, cầu tiêu tai được tiêu tai, cầu tăng ích được tăng ích, cầu kính ái được kính ái, cầu hàng phục được hàng phục, tất cả đều như ý cát tường.


### 80. Sờ đầu và vỗ


Có người thấy tôi chữa bệnh cho người ta, dùng tay ấn vào đầu của người bệnh, hoặc bảo người bệnh quay người lại để dùng tay vỗ vào lưng của người bệnh, làm xong thì bảo là xong rồi. 
Người đó hỏi tôi:
”Làm sao mà sờ đầu và vỗ lại có thể chữa bệnh?”
Tôi đáp:
”Đúng thế. Đây chính là Mật pháp.”
Có một số người bệnh thì ngay tại chỗ đã khỏi bệnh, có một số người thì qua một đêm là bình phục. Sờ đầu và vỗ này chính là kỳ diệu như vậy!

Thật ra muốn đạt đến cảnh giới như thế này cũng không phải là một lúc mà có thể thành tựu được, lại càng không phải là dễ như trở bàn tay. 

Mọi người có thể nghĩ mà xem, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn tôi 30 năm qua trì tụng chân ngôn không lười nhác, niệm Phật không lười nhác, tu pháp không lười nhác, làm Hộ Ma không lười nhác, thanh tịnh không lười nhác, cúng dường không lười nhác, bố thí không lười nhác…
Tôi và Bổn tôn lúc nào cũng ở cùng nhau.
Thượng sư lúc nào cũng trụ đỉnh.
Hộ pháp luôn ở xung quanh.
Chư Phật và các đại Bồ Tát, và các thiên long bát bộ đều luôn luôn giáng xuống. 
Khi tôi đưa tay ra sờ đầu người bệnh, và dùng tay để vỗ vào lưng người bệnh, tôi đã sớm âm thầm niệm “Om Ah Hum”, dùng ba chú tự này để gia trì cho tay mình, sau đó lại dùng “Om Ah Hum” để gia trì lên thân người bệnh. 
Cho nên khi chạm vào người bệnh là bệnh của họ sẽ tiêu trừ, khi vỗ vào lưng người bệnh là tất cả quỷ mị lập tức rời đi, bệnh của người bệnh sẽ khỏi. 

Tôi vốn là một hành giả có đạo tâm kiên cố, tu trì giới hạnh, vĩnh viễn không thối chuyển. Cho dù thiên ma dùng mọi phương pháp để làm tôi lung lay đạo tâm, tôi vẫn tinh tấn như thường, vì thế tôi mãi mãi được chư thiên kính ái, bảo hộ, gia trì.

Một lần nữa tôi khuyên các đệ tử:
Giữ giới, niệm tụng, dựa theo lời dạy mà phụng hành. Tuyệt đối đừng đánh mất đạo tâm, chắc chắn sẽ chứng quả, viên mãn mau chứng vô thượng chính đẳng bồ đề.


### 81. Pháp kính ái


Nhìn chung mà nói, bốn đại pháp tiêu tai, tăng ích, kính ái, hàng phục trong Mật giáo thuộc về sự nghiệp nhập thế, bốn đại pháp này trong các trước tác của tôi đều đã giới thiệu tường tận, ở đây tôi không lặp lại nữa. 

Khi cá nhân tôi phục vụ chúng sinh, tôi nhìn thấy chúng sinh đau khổ vì gia đình bất hòa cũng không kém gì đau khổ vì bệnh tật trên người. Đây là chồng không vui với vợ, vợ không vui với chồng, vợ chồng không hòa hợp, phản bội lẫn nhau, từ đây mà sinh ra khổ não, khó mà kể cho hết. 

Trước kia tôi giúp người ta tu pháp kính ái thì có hai cách:

Lấy sợi dây màu đỏ cúng tại đàn thành, niệm tụng chân ngôn, tu Mật pháp, khi niệm chân ngôn thì trong chân ngôn niệm thêm tên của vợ chồng, nếu là tu pháp Kurukulle Phật Mẫu thì phải niệm thế này: “Om kurukulle chuli. Sắc lệnh XXX và XXX kính ái viên mãn. Soha.” 
Mật pháp phải dựa vào tất cả nghi quỹ của pháp kính ái mà làm để gia trì cho sợi dây màu đỏ. Tu pháp 7 đàn, 21 đàn, 49 đàn. Sau đó lấy giày của nam nữ mỗi người một chiếc (nam trái nữ phải), dùng sợi dây đỏ buộc vào nhau rồi đặt ở dưới giường ngủ của vợ chồng. Làm như vậy thì vợ chồng chắc chắn sẽ yêu kính lẫn nhau. 

Cách thứ hai là dùng bảy lọ nước hoa, cũng làm pháp kính ái như trên để gia trì, nhỏ nước hoa vào trong bồn tắm để tắm, bảy bình thì nhỏ bảy giọt, tắm bảy lần, thì vợ chồng sẽ hồi tâm chuyển ý, vợ chồng hòa hợp như ngày đầu, cực kì ân ái. 

Hai pháp này nói chung đều có thể cứu vãn nguy cơ của cuộc hôn nhân một cách kỳ diệu. Nếu là cực kì nghiêm trọng thì phải dùng đến cách làm Hộ Ma kính ái. Pháp kính ái không chỉ vợ chồng hết mực kính trọng nuông chiều nhau lại từ đầu, không phải chỉ có kính ái mà cũng có thể cầu con nữa! 

Cầu trai được trai, cầu gái được gái, vợ chồng cầu kính ái đều nằm trong Mật pháp, Mật pháp khiến nhập thế, xuất thế đều được viên mãn.


### 82. Pháp hàng phục 


Có người nói: 
”Pháp hàng phục của Mật giáo giống như bùa ngải của phù thủy!”
Còn nói: 
”Pháp hàng phục là chuyên môn hại người, bảo người ta mọc u thì sẽ mọc u, bảo người ta gặp tai nạn thì sẽ đụng xe mà chết, v.v…”
Những lời bàn này xem ra rất kinh khủng, nhưng trên thực tế thì không hề như vậy. 

Cái gọi là pháp hàng phục của Mật giáo là để hàng phục tất cả quỷ thần ác độc và ác long quái thú làm tổn hại đến tất cả hữu tình. Ngoài ra là hàng phục tất cả kẻ ác hại nước hại dân, những kẻ có tâm phản đạo, và kẻ diệt Tam Bảo phỉ chân ngôn, hoặc kẻ gây khó khăn trở ngại cho người trì chú. Với những kẻ ác như vậy, hành giả trì chú vận dụng tâm đại từ bi tu pháp mà đối trị. 

Kinh Mật Giáo viết: “Nếu vì oán thù cá nhân của chính mình, vì lợi ích cá nhân của chính mình mà tu pháp hàng phục thì chắc chắn sẽ tự chuốc lấy tai họa.”
Điều này tức là tu pháp hàng phục là vì việc công chứ không phải là vì oán hận và thù địch cá nhân. 

Kinh Mật Giáo viết: “Nếu những kẻ ác thân tâm bất an, hoặc bị bệnh nặng, hoặc mạng sống sắp hết, thì nên khuyên họ sám hối cải tội, nếu đã hối lỗi thì niệm tụng tiêu tai cho họ, người đó sẽ tránh được tai nạn.” 

Tôi nói, tu pháp hàng phục, hành giả phải có tâm đại từ bi. 
1. Vì lợi ích chung mà tu.
2. Vì cứu độ người ác mà tu.
Pháp hàng phục của Mật giáo tuyệt đối không giống như người ngoài nói là giống bùa ngải phù thủy, cũng tuyệt đối không phải là hại người, mà ngược lại chính là cứu người. 

Tu pháp hàng phục, trong chân ngôn phải có thêm mấy chú tự sau: “Hum hum hum fat cha.” 
Và “thân ấn” là vô cùng đặc biệt, phải ngồi xổm, chân trái đè lên chân phải. 

Tôi Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chưa làm pháp hàng phục, nguyên nhân là vì con người tôi thích tất cả tự nhiên, thế giới nhân gian này tự có nhân quả lẽ trời tồn tại, cái gì phải đến sẽ đến, cái gì phải đi tự sẽ đi, tất cả không cần miễn cưỡng!


### 83. Pháp đắc đại trí huệ


Có một lần ở vườn Lộc Dã ở Ấn Độ, tôi và các đại đệ tử lễ bái tháp xá lợi nơi Phật Thích Ca Mâu Ni lần đầu tiên chuyển pháp luân. Ở trước tháp, Geshe Thiên Thanh và các Lama đã chuẩn bị 108 cây nến và cúng phẩm hương hoa đèn trà quả. Tôi và các đại đệ tử ở trước tháp xá lợi đã tu một đàn pháp. Nơi đây Phật Đà lần đầu tiên nói pháp tứ đế, độ cho năm tì kheo. 

Trước khi tu pháp, chúng tôi đi nhiễu tháp thuận chiều kim đồng hồ, vừa nhiễu tháp vừa trì chú. Tôi trì tâm chú Thượng sư. 
Tu xong một đàn pháp, chúng tôi nhập định, tay kết thủ ấn, đầu lưỡi niệm chú, tâm quán tưởng chữ Phạn, thân khẩu ý tam nghiệp tương ứng. 

Tôi lắng tâm quán tưởng trên đỉnh đầu mình có một chữ Phạn “Han”, xung quanh chữ này có ánh sáng giống như ánh sáng của mặt trăng, tôi tụng “Om” tổng cộng 21 biến. Đây cũng chính là chân ngôn tịnh pháp giới, có thể khiến tam nghiệp thanh tịnh, tất cả tội chướng đều tiêu trừ, lại có thể hoàn thành tất cả mọi việc, tự thân thanh tịnh, mười phương pháp giới cũng thanh tịnh. 

Chính vào lúc này, tôi nhìn thấy Phật nhãn, tức là mắt của Phật Thích Ca Mâu Ni, tròn đẹp và sáng, hình tượng vi diệu này thật sự không thể nào dùng ngôn ngữ bút mực để miêu tả. Thật sự là thù thắng vô cùng. 

Con mắt của Như Lai sáng tịnh vô nhiễm, như ngọc mani, quang minh viên giác, mắt Phật tỏa ra ánh hào quang của hoa sen tuyệt diệu chiếu đến tôi đang ngồi thẳng ngay ngắn, trong sát-na, dùng huệ đoạn chướng, thành đại viên giác, tịch diệt vô sinh. Tôi tự biết mình đã đắc đại trí huệ rồi, tất cả nghĩa kinh đều mở ra. 

Vì sao có thể như vậy?
1. Nơi Phật Đà sinh ra, nơi Phật Đà từ Đao Lợi Thiên thả xuống bậc thang báu, nơi Phật Đà thành đạo, nơi Phật Đà chuyển pháp luân, đều có vô lượng chư Phật Bồ Tát, thiên long bát bộ tụ họp, có vô lượng tam muội. 
2. Đi nhiễu tháp xá lợi theo chiều kim đồng hồ đắc được sáu ba-la-mật.
3. “Om” thanh tịnh mười phương pháp giới.
Có thiên thời, địa lợi, nhân hòa, theo Kinh Mật Giáo nói: “Đắc đại trí huệ, lìa xa trần cấu, nhất định thành tựu A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.”


### 84. Pháp kính đàn nhĩ báo


Theo như tôi biết, về phương diện pháp nhĩ báo thì có rất nhiều phương pháp tu luyện, Đạo gia có pháp linh đồng nhĩ báo, pháp thiện ác đồng tử nhĩ báo, pháp quỷ thần nhĩ báo, sáu thần thông của Phật pháp cũng có thiên nhĩ thông, v.v… 

Mật giáo cũng có pháp nhĩ báo, trong pháp Thất Phật câu tri Phật Mẫu tâm Đại Chuẩn Đề đà-la-ni có nhắc đến pháp kính đàn nhĩ báo, pháp ấy như sau:

“Phật nói: nếu có người nhất tâm tịnh ý, tụng đủ 200.000 biến, 400.000 biến, 600.000 biến, pháp nhập thế xuất thế đều có thể toại nguyện. Hoặc là người xuất gia, hoặc là người tại gia, thường ngày dùng nước sạch súc miệng, quay mặt về hướng Đông, nhìn vào gương kết ấn Chuẩn Đề, tụng chú 108 biến, 49 ngày như thế không gián đoạn, có việc cát tường, Chuẩn Đề Bồ Tát lệnh cho hai Thánh giả thường theo người ấy, tâm nghĩ đến điều gì thì đều ở bên tai nói rõ hết.”

Hai Thánh giả này là ai? Trong kinh văn không nói, nhưng tôi biết đó là Nan Đà Long Thần, Ổ Ba La Đà Long Thần, hoặc là hai tịnh cư thiên tử Câu Tố Đà. 

Từ rất sớm tôi đã tu pháp thiện ác đồng tử nhĩ báo, sau đó, tôi dạy pháp thiện ác đồng tử này cho mẹ tôi, vì thế tinh xá Linh Tiên ở Đài Trung Đài Loan có thờ hai vị là thiện ác đồng tử một tay chỉ trời một tay chỉ đất. 

Cá nhân tôi cho rằng:
Pháp linh đồng nhĩ báo là phương thuật của Đạo gia, cấp độ tương đối thấp, tương tự như nuôi tiểu quỷ. Người tu hành chính pháp không nên tu học. Chi bằng học tập pháp kính đàn nhĩ báo thì sẽ được lợi hơn. Pháp này đơn giản là lấy một tấm gương sạch, chưa từng sử dụng, đặt trước tượng Chuẩn Đề, hàng tháng vào đêm ngày 15 tùy theo khả năng mà cúng dường hoa hương đèn trà quả. 

Ở trước gương trì chú Chuẩn Đề, tay kết ấn, miệng tụng chú, lấy gương làm đàn thành, sẽ đắc thành tựu. 

Sau khi tụng chú xong thì phải cất gương vào trong hộp. Pháp kính đàn này không được cho người khác thấy, nếu bị thấy thì sẽ không tốt không thành, phải bí mật, pháp này cũng không thể nói ra, tự mình biết là được. 

Muốn tu thành tựu pháp kính đàn nhĩ báo thì phải có tâm yếu khẩu quyết, nhất định phải thỉnh cầu Căn bản Thượng sư truyền thụ.


### 85. Ấn tâm trong tâm


Khi tôi học tập Mật giáo đã được sư phụ truyền thụ độc bộ pháp của ấn tâm trong tâm. Sư phụ nói: 
”Pháp này nhất định phải mật truyền, chớ để người khác biết!”
Tôi hỏi: 
”Người nào có thể truyền?”
Sư phụ đáp: 
”Tâm tử!”
Ý của sư phụ là nói rằng Mật giáo có rất nhiều pháp không truyền cho người không có căn khí, và cũng có rất nhiều pháp không được truyền cho người không có đạo tâm kiên cố, ấn tâm trong tâm chính là một trong số các pháp đó.

Sư phụ nói, tâm tử tức là đệ tử tâm tâm tương ấn với mình, nghĩa là đệ tử sẽ không rời bỏ sư phụ, ví dụ Thượng sư Marpa coi Milarepa là tâm tử nên đã giao pháp của truyền thừa vào tay ngài. 

Thời nay, tâm tử tương đối khó tìm, bởi vì con người hiện đại lòng người phức tạp, chẳng hề đơn thuần, mới có chút thành tựu nhỏ đã khoe khoang là mình đã hơn cả sư phụ rồi. Con người hiện đại cũng không biết cảm ơn báo đáp, người tư lợi là nhiều, người hữu tín hữu nghĩa ít, người có tín tâm kiên cố, từ đầu tới cuối đạo tâm kiên cố thì càng ít. 

Vì thế sư phụ nói truyền thụ ấn tâm trong tâm nhất định phải chọn người để truyền, hơn nữa phải quan sát nhiều năm, nếu truyền thụ sai người thì chính mình và tông phái sẽ nhận lấy tổn hại lớn, thậm chí sư phụ cũng sẽ bị liên lụy, sẽ bị trời khiển trách.

Tại đây tôi không dám nói ra ấn tâm trong tâm, tôi chỉ muốn nói rằng, chỉ cần học được pháp này rồi thì giơ tay vẫy một cái là chư Phật Bồ Tát, La Hán Độc Giác, 28 thiên chúng, Đế Thích Thiên Vương, Đại Phạm Thiên Vương, Tứ Đại Thiên Vương, Diêm La Vương, Long Vương, Thánh hiền, thiên long bát bộ, quỷ thần chúng, hễ nghe triệu thỉnh là muốn gì đều được. 

Tôi từng nói, Mật pháp muốn linh nghiệm thì nhất định phải có Bổn tôn giáng lâm phóng quang thì mới linh nghiệm, chỉ cần Bổn tôn và ta hợp nhất, làm tất cả các pháp đều sẽ thành tựu, cho nên học được ấn tâm trong tâm là cực kì quan trọng. 

Đại bộ phận tổ sư Mật giáo coi ấn tâm trong tâm là độc bộ pháp, không truyền bừa, không phải là tâm tử thì không truyền, bởi vì truyền bừa chẳng phải là phúc, ngược lại còn có họa nữa!


### 86. Pháp hùng biện


Khi tôi mới xuất đạo, sư phụ nói với tôi: 
”Tương lai con phải hoằng pháp khắp thế giới, nhưng thầy thấy con bản tính trầm lặng, không phải là hạng khéo ăn khéo nói, phải làm sao mới được?”
Tôi thật sự là người hiền như khúc gỗ, cá tính hướng nội, tôi rất sợ lên bục diễn giảng. Tôi ấp úng nói với sư phụ: 
”Mong thầy dạy cách!”
Sư phụ nói với tôi:
”Đầu tiên quán tưởng trên đầu lưỡi có chữ Han, sau đó quán tưởng trên lưỡi biến thành chữ Hum, tiếp theo trì tụng “Om Han Hum” 108 biến, sau này lưỡi sẽ hoạt bát hơn!”

Sư phụ truyền thụ cho tôi một pháp:
Quán tưởng Hầu luân của chính mình sinh ra hoa sen tám cánh, trên hoa sen xuất hiện chữ Ah, quán tưởng chữ Ah biến thành nguyệt luân, nguyệt luân lại biến thành chữ Hum, chữ Hum biến thành chày kim cang năm chấu, lại quán tưởng chày này di chuyển đến lưỡi, đây gọi là lưỡi kim cang. Quán tưởng xong thì trì tam tự chú “Om Ah Hum” 108 biến, sau này sẽ có thể thao thao hùng biện.

Về sau tôi lại có được một pháp:
Tâm luân hành giả hóa thành nguyệt luân hoa sen tám cánh, ở giữa nguyệt luân có chữ Phạn Di, trên chữ Di, phía trên chữ Di có sắp xếp dòng “Om a-ra-pa-cha-na di”, chính là tâm chú của Văn Thù Bồ Tát, tâm chú hóa thành kiếm của Văn Thù Bồ Tát, mũi kiếm vừa chạm đến đầu lưỡi của hành giả, hành giả chuyển động lưỡi trái phải lên xuống. Trì tâm chú Văn Thù Bồ Tát 108 biến. 

Cầu nguyện hồi hướng:
Thỉnh cầu Văn Thù Bồ Tát gia trì lưỡi kim cang để lợi cho việc hoằng pháp.
Trước nay nhìn tường được việc gì?
Gắng mở tâm ra thấy căn nguyên.
Ngồi trên pháp tọa một Phật tử.
Hễ mở lời ra tự nhiên tròn.

Tu tập pháp này thành tựu, chỉ cần mở miệng ra thì sẽ hùng biện thao thao bất tuyệt, từng chữ như châu ngọc, độ chúng sinh vô tận, người người tín phục, cùng chứng đạo vô thượng.


### 87. Bí mật mở ra Tâm luân


Mật giáo nhìn ánh sáng, đầu tiên là nhìn điểm sáng, sau đó nhìn chuỗi kim cương, tiếp theo nhìn tấm màn kim cương, cuối cùng nhìn Phật quốc tịnh thổ, lúc này hành giả Mật giáo đã có đủ thiên nhãn. 

Muốn có ngũ nhãn lục thông, mở ra Tâm luân, tâm phóng quang là quan trọng số một. 
Ở đây, tôi truyền thụ pháp mở ra Tâm luân, pháp này cực kì trân quý.
Đầu tiên tu khí mạch minh điểm, để cho giọt cháy hoạt động tại Tâm luân, tức là minh điểm giáng xuống Tâm luân, chuyết hỏa đi lên đến Tâm luân, thủy hỏa giao nhau hòa lẫn tại Tâm luân. Như vậy có thể mở ra Tâm luân. 
Hành giả Mật giáo quán tưởng thân mình hoàn toàn thanh tịnh trong suốt như lưu ly, không dính một hạt bụi, ở trong tâm rỗng bên trong đó có một đóa hoa sen tám cánh không cành màu đỏ, trên hoa sen xuất hiện nguyệt luân, trong nguyệt luân là chữ Hum. Xung quanh nguyệt luân sắp xếp thuận theo chiều kim đồng hồ câu chú “Om guru liansheng siddhi hum” ở rìa của nguyệt luân, thế rồi quán tưởng từng chữ từng chữ chú tự xoay tròn xung quanh và lặp lại, từng chữ phóng quang xán lạn, chữ không cần quán tưởng to, nguyệt luân cũng không cần quán tưởng to, càng nhỏ càng tốt. 

“Om guru liansheng siddhi hum” vừa tĩnh tọa vừa nội quán, đây là pháp quán tưởng bánh xe tám chữ trong tim, có thể mở ra Tâm luân. 

Mỗi lần tu quán tưởng xong thì lập tức nghĩ nguyệt luân hoa sen thu vào trong chữ Hum ở giữa, chữ Hum thu vào trong một điểm sáng, điểm sáng này xung thẳng lên đỉnh đầu, trong sát-na tan vào trong hư không, vô tận vô lượng, thế là ta chính là hư không, hư không chính là ta, tất cả đều vô sở đắc, như lai như lai, như thế như thế. 

Tôi nói cho mọi người biết đây là cảnh giới gì, đây chính là cảnh giới đạt đến bỉ ngạn của “Quán Tự Tại Bồ Tát, hành thâm bát nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không” trong Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh. 

Tám vạn bốn nghìn các diệu tướng.
Đắc thành Di Đà phi bản tính.
Xa xôi mười nghìn tỉ cõi Phật.
Chính là tịnh thổ ở tại tâm. 

Lành thay! Lành thay!


### 88. Nghi quỹ tu pháp chư tôn


Nghi quỹ tu pháp chư tôn mà Chân Phật Tông Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn truyền thừa xuống, nghiêm túc mà nói, là tóm tắt nghi quỹ chư tôn của Tạng mật, vốn dĩ một đàn pháp phải ba, bốn tiếng đồng hồ, nay đơn giản hóa thành bốn mươi phút, nhưng không mất đi phần cốt lõi của nó, vì thế thích hợp nhất với con người hiện đại bận rộn. 

Nghi quỹ tu pháp phân thành ba đoạn lớn:
Tiền hành bao gồm:
Triệu thỉnh.
Đại lễ bái.
Đại cúng dường.
Tứ quy y. 
Tứ vô lượng tâm.
Mặc giáp hộ thân.
Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. 
Chính hành bao gồm:
Quán tưởng.
Kết ấn.
Tụng chú.
Cửu tiết Phật phong.
Nhập Tam ma địa.
Hậu hành bao gồm:
Tán kệ.
Cầu khấn.
Sám hối.
Hồi hướng.

Trong nghi quỹ Tạng mật, ngay khi triệu thỉnh, nhất định trước tiên phải triệu thỉnh Căn bản Truyền thừa Thượng sư gia trì tu pháp viên mãn, để biểu thị không quên cái gốc. Tụng tâm chú Thượng sư 7 biến, 21 biến, 49 biến, v.v… sau đó mới bắt đầu theo thứ tự mà tu pháp. Các tổ sư cho rằng làm như thế này thì hiệu quả sẽ tốt hơn. 

Cá nhân tôi nhấn mạnh đệ tử Chân Phật Tông phải lĩnh hội được chi tiết mỗi một bước quán tưởng, trì chú, thủ ấn và tâm yếu của nghi quỹ tu pháp. Đặt tâm vào sự viên mãn của nghi quỹ, tu pháp như vậy, ngày ngày tinh tấn, không thoái tâm ban đầu, nhất định có thể tức sinh thành Phật. 

Tôi nói, nếu đi du lịch bên ngoài, ở trên máy bay, có thể chỉ tu Chính hành, nếu không được nữa thì tụng chú cũng được!


### 89. Mật giáo Đại viên mãn


Phật Đà nói: “Từ nghe nghĩ tu, khởi giới định huệ, tu hành như vậy, có tu có chứng, như lý như lượng. Bồ Tát dựa vào thiện tri thức, nghe hiểu chính pháp, luôn nhớ duy trì không quên, nhờ luôn nhớ duy trì không quên mà khởi tâm quan sát, nhờ khởi tâm quan sát mà tư duy như lý, nhờ tư duy như lý mà khởi giữ giới thanh tịnh, nhờ giữ giới thanh tịnh mà khởi mười đường thiện, nhờ mười đường thiện mà khởi ba loại hành vi thanh tịnh, nhờ ba hành vi thanh tịnh mà khởi không buông thả, nhờ không buông thả mà khởi trí huệ phương tiện, nhờ trí huệ phương tiện mà khởi sáu ba-la-mật, nhờ sáu ba-la-mật mà khởi bồ đề tâm, nhờ bồ đề tâm mà khởi Bồ Tát đại bi.”

“Lặp lại, thiện tri thức có thể truyền đạo, dạy nghề, giải thích nghi hoặc, khai hiển Pháp thân huệ mệnh, vì thế có thể dựa vào họ. Giác ngộ vô thường, vì thế có thể không lười nhác. Trì giới là bạn, vì thế không tạo ác. Lấy kinh tạng làm con mắt, vì thế có thể không mê hoặc. Lập đàn trì chú, vì thế có thể tăng trưởng phúc huệ. Thâm nhập một pháp, vì thế có thể nhất tâm. Từ trong thiền định mà thâm nhập, vì thế có thể tịnh tâm. Dùng sáu ba-la-mật khởi chính hành, vì thế có thể khai trí lợi tha. Bồ đề tâm và đại bi tâm nhậm vận, vì thế có thể báo bốn ơn sâu. Chứng đại viên mãn, đắc vô thượng chính đẳng chính giác.”

Vị Phật thứ hai Liên Hoa Sinh Đại Sĩ của xứ Orgyen nói: “Vạn vật thế gian, chẳng có cái nào không phải là không. Con người sống nơi đây, không có ai là không khổ. Vô thường đến rất nhanh, khẩn trương sớm tu hành. Người kính sư, trọng pháp, thực tu sẽ đắc!”

Có rất nhiều đệ tử hỏi tôi:
”Thế nào là quán đảnh Đại viên mãn?”
Tôi đáp:
”Tâm của các bạn ở đâu?”
Các đệ tử không hiểu ý của tôi, thế nên tôi nói, tất cả Phật pháp vì nhân duyên mà sinh, tự tính vốn là không, không có người làm, không có người nhận, người thông đạt được như vậy có thể ngộ nhập niết bàn. 
“Ngã không, tha không, pháp không, ngã pháp đều không.” - Đây chính là quán đảnh Đại viên mãn. 

Theo bốn tầng quán đảnh của Mật giáo là Sơ quán “thân khẩu ý thanh tịnh”, Nhị quán “khí mạch minh điểm”, Tam quán “vô thượng mật bộ”, Tứ quán “Đại viên mãn”. 
Quán đảnh Đại viên mãn này là vô hình, vô tượng, vô câu vô thúc, không kiểu dáng, là quán đảnh bất khả thuyết.

**(Hết.)**

---

---
# File: sach-tam-linh/159-tam-su-cua-ong-lao-ay.md
# Title: 159. Tâm sự của ông lão ấy
---

![image](/img/img_47e2998e130046bea917742bcd44c6dd.jpg)



## Tâm sự của ông lão ấy


Văn tập: 159
Xuất bản: 01/09/2002
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu


N**goài luật lệnh Minh Vương**

Tôi nằm trên giường, vừa mới tu xong pháp miên quang, tôi chuyển thần thức của mình vào trong tam muội Tì Lô Tính Hải đại quang minh ở trong hư không. 

Thần thức như mọc thêm hai cánh, bay vút lên cao, từ mặt đất chui lên, bay thẳng vào mây xanh, tôi chỉ có thể bình tâm tĩnh khí. Đây chính là sự tắm mình siêu nhiên vĩ đại đầy an tịnh của pháp ngủ trong biển ánh sáng rộng lớn của tu hành Mật giáo. 

Thế nhưng, đêm nay bất bình thường, tôi hơi hốt hoảng!

Khi thần thức tôi bay lên, gặp phải bức tường chắn, cái lưới trời khổng lồ ấy chặn tôi lại, giống hệt như tôi là con cá đang bơi, đột nhiên bị tóm gọn trong lưới của ngư dân. Đầu tiên tôi cảm thấy hơi chóng mặt, không hiểu vì sao lại bị nhốt lại.

Thần thức của tôi rơi xuống, xung quanh là một vùng đen tối dày đặc, thế giới âm u nổi lên trên ánh sáng xa xăm, bóng tối dày đặc hoàn toàn vô tận. Lúc này, tôi biết mình đã rơi vào địa ngục lạnh lẽo vô hình.

Đến cảnh giới địa ngục, một lúc sau tôi đã tiến vào cung điện của Minh Vương, bóng tối hoàn toàn tan biến. Minh Vương nhìn thấy tôi đến, cười ha ha đón tôi:
”Hoan nghênh Liên Sinh Hoạt Phật!”
”Đây mà coi là lối đón khách sao? Dùng thiên la địa võng cưỡng ép tôi đến đây, như thế này là thất lễ rồi.” - Tôi cười đùa.

Minh Vương nắm chặt tay tôi, nói:
”Đừng câu nệ tiểu tiết, đừng chú ý chuyện vặt vãnh. Không mời như vậy thì ngài sẽ không đến. Tôi đã chuẩn bị những món ngon hiếm thấy trên đời để đền bù cho sai sót của tôi rồi.”
”Đa lễ ắt có âm mưu!” - Tôi nói.

“Đúng thế. Ngài đoán đúng rồi.” - Minh Vương nói: “Lần trước thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật phát đi luật lệnh Minh Vương, luật lệnh này vừa phát ra, quả nhiên là ngọn đèn sáng tức thì, cũng khiến cho thế nhân có được tâm trong sáng mát lành ngay lập tức. Điều này giống như ngọn đèn vô tận, luôn luôn sáng tỏ, khiến thế nhân loại bỏ hết tất cả hạt giống thiện ác, không bị ô nhiễm, đồng thời có rất nhiều người có được sự cảnh giác cảnh tỉnh, có người thậm chí sám hối trước Phật, có người đến miếu thần sám hối, có người sám hối với lòng mình, có người giữa trời đất ngửa đầu lên sám hối với trời xanh, có người sám hối với địa phủ. Người sám hối thật sự là rất rất nhiều. 

Lòng tôi hết sức vui mừng.

Minh Vương nói:
”Tôi đưa ngài đi xem một địa ngục, ngài tuyệt đối không thể nào tưởng tượng nổi. Ngài có thể nói với thế nhân, phạm vào tội tình dục tà dâm thì kết cục sẽ như vậy.”
Tôi nói:
”Địa ngục này tôi không cần xem, vẫn lại là mổ não, moi tim, cắt gan, chặt chân, chặt tay, móc mắt, châm kim, cắt tay, cắt mũi…”
Minh Vương nói:
”Ở đây khác, các hình phạt địa ngục này đương nhiên đều có, nhưng địa ngục bây giờ khác rồi, có một địa ngục là nơi những kẻ phạm tà dâm đến.”
”Khác ư?” - Tôi tò mò: “Khác thế nào?”

Minh Vương chỉ cho tôi xem, tôi nhìn thì run sợ. Tôi nhìn thấy những con trùng nhỏ màu đỏ, rất nhiều rất nhiều, những con trùng nhỏ màu đỏ đó thân thể chuyển động uốn éo, những con trùng nhỏ màu đỏ này ở trong nước ẩm ướt, ở trong bùn nhão tanh hôi, con nào con nấy lăn lộn, co duỗi.

Những con trùng nhỏ màu đỏ này sống trong sự hỗn độn chưa khai sáng, không có trời, không có đất, căn bản là không có không gian, không có thời gian. Chúng cứ co quắp, ngọ nguậy, rồi kêu gào, rồi tranh thức ăn, chúng kêu gào những tiếng the thé, chúng đang ăn thịt lẫn nhau. Ngọn lửa bùng lên, chúng bị lửa thiêu cháy khét. Nước đổ ào tới, chúng bị ngạt thở. Khi những con vịt lửa kéo đến, chúng lại bị ăn thịt bị xé toạc. Thế giới ở nơi đây là một đống hỗn độn tiếng rít chói tai, chạy nhảy, thét gào, bóp chết, ăn thịt, đánh nhau.

Dường như tôi nghĩ ra rồi. Tại nhân gian, chúng là những con trùn quế nhỏ dài ngọ nguậy trong những rãnh nước hôi thối, còn cả những con giun đỏ sống dưới những tảng đá ẩm thấp nữa…

Minh Vương nói:
”Nhân gian cũng có địa ngục, hãy nhìn những người sống trong nơi đen tối kia, ngọn lửa tham dục, thân thể uốn éo, sẽ hóa thành những con trùng nhỏ màu đỏ, đi sâu vào trong đất thối nát, ở trong nước, càng ngày càng nhỏ, cứ lăn vòng vòng, trôi nổi trong gió lạnh, liên tục cho đến khi dập tắt, sinh mệnh lụi tàn.”
”Đây chính là địa ngục!” - Tôi ngây người ra.
”Địa ngục nhân gian!” - Minh Vương nói.

Tôi liên tưởng đến trên thế giới này thật sự có quá nhiều quá nhiều địa ngục, trong đất bùn nhão bên dưới tảng đá to, bên trong cống rãnh hôi thối, tôi rùng mình từ chân lên tới đầu, toàn thân lạnh buốt. Đây có lẽ là báo ứng đầu tiên mà nhân loại theo đuổi rồi!

Vào lúc tôi rời đi, Minh Vương giao cho tôi một quyển nhật kí. Tôi hỏi:
”Của ai vậy?”
Minh Vương đáp:
”Của một người. Đem về viết thành một cuốn sách đi.”
Cuốn sách này chính là:
”Tâm sự của ông lão ấy”

(Tháng 6/2002)

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn | Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 00. Tâm đắc khi viết cuốn sách này


Viết cuốn sách này, tôi cảm thấy khá chần chừ, có thể nói là khó nắm bắt. Tôi muốn mô tả đầy đủ tình dục lưỡng tính của nam nữ một cách thấu đáo và ướt át để thấm sâu vào những cảm nhận của con người, nhưng quả thật tôi sợ rơi vào khuôn sáo cũ, trở thành tiểu thuyết lãng mạn. 

Thế nhưng, thông qua việc viết văn thành sách mà không nhắc một chút nào đến tình dục, hoặc nói qua loa một cách đơn giản, thậm chí chỉ nói ẩn và nói kín đáo, thì làm sao biểu đạt được sự mê hoặc của tình dục, cái sức mạnh quyến rũ con người kì diệu của nó, cái đặc sắc của nó, từ đó tiết lộ một cách sâu sắc cái dục tâm phổ quát trong bản chất con người. Viết về vấn đề này, chỉ có cách diễn tả nó ra thì người ta mới cảm nhận được sức hấp dẫn của tình dục.

Vì vậy, khi viết cuốn sách này, tôi ở trong tình thế tiến thoái lưỡng nan. Cũng may, tôi vẫn luôn nghĩ thế này, văn học chính là văn học, nó vượt lên những hình thái ý thức khác, tính siêu việt của nó vượt qua thiện ác thánh tục, viết về cái tục nhưng không có nghĩa là tôi tục, chỉ cần nó xuất phát từ sự lo lắng đầy thiện ý thì không có gì cấm kị cả. 

Sự miêu tả về tình dục trong cuốn sách này chỉ biểu đạt một cách sơ lược chứ hoàn toàn không hề hạn chế, trên phương diện này cũng có rất nhiều tầng lớp, cảnh giới có cao có thấp, người đọc đừng ngại quan sát với con mắt khách quan, đừng lấy con mắt săm soi để xem xét bản thân tác giả. Tôi chỉ viết ra những cái thật của tình dục mà thôi.

Nếu bạn thấy ghê tởm và buồn nôn, bạn hãy cố gắng hết sức dùng con mắt trung lập. 
Tôi viết cuốn sách này không phải viết Kinh Thánh.
Tôi viết cuốn sách này không phải viết văn dâm dục.
Trong cuốn sách này ẩn giấu sự đánh thức và thương xót.

Trong cuốn sách này, tôi thường xuyên nhắc đến hai chữ “khổ” và “lạc”, hai chữ này là điểm mấu chốt lớn của tình dục.
Tình dục là lạc?
Tình dục là khổ?

Có một người là Vương Đại Tiết hỏi đại sư Liên Trì - tổ sư của Phật giáo Tịnh Độ Tông:
Vương Đại Tiết hỏi:
”Đệ tử tự đọc bài văn về giới sát của đại sư, cho nên duy trì ăn chay trường, đã tuân thủ giới sát rồi, chỉ còn tâm sắc hừng hực, lửa dục cuồn cuộn, không thể nào lắng xuống và dập tắt được, xin thầy chỉ dạy cho con cách từ bỏ.”
Đại sư Liên Trì trả lời:
”Sát sinh là việc khổ, vì vậy nói nó là tàn ác thì dễ. Tình dục là việc khoái lạc, vì vậy nói nó là tàn ác thì khó. Ở đây ta có một so sánh, sát sinh là bỏ thuốc độc vào trong thức ăn dở, cũng là sự tàn ác của việc giết hại, vì thế có thể không sát sinh. Thế còn sắc tâm tình dục là bỏ thuốc độc vào trong thức ăn ngon, vì thế khó mà nói đây là tàn ác, khó mà ngăn cấm, thế nhân tham thức ăn ngon mà quên đi thuốc độc. Người có trí tuệ phải suy nghĩ cẩn thận.”

Ngạn ngữ phương Tây có câu:
”Sự khoái lạc nhất thời là nỗi bi ai vĩnh hằng.”
Ai nghe cũng thấy sợ hãi.

Nếu dùng khổ và lạc để so sánh với tình dục thì:
Mắt thấy sắc đẹp, tình dục dâng cao. Tai nghe những ngôn từ lời nói phóng túng dâm đãng thì ý chí cũng bay biến. Mũi ngửi thấy mùi hương kích thích thì dẫn đến mê nghiện. Lưỡi giống như hoa lan thơm ngát, dịu dàng tiếp xúc, thân thể chạm vào nhau thì trống căng lên, thế là mơ mộng hão huyền. 
Những khoái lạc này đều nằm trong ý niệm.
Thời gian không kéo dài.

Lại nói về phương diện khổ, cái hại của sắc dục, đối với bên trong thân thể thì chắc chắn làm tổn thương tinh lực, đối với bên ngoài thân thể thì chắc chắn làm bại hoại hành vi. Cái hại của dâm dục như thanh kiếm vừa nhanh vừa sắc, róc tinh khắc cốt, nguyên khí mất hết thì sẽ làm suy đồi đạo đức luân thường, gây nên tội lỗi sâu dày.

Cái khổ của dâm dục có tính lâu dài, tinh khí của con người là hết sức quý báu, buông thả dục vọng bừa bãi mà không chút gì luyến tiếc thì chẳng mấy chốc mà tinh kiệt khí cạn, nước cạn thì lửa nóng, tinh thần lơ đễnh, mắc bệnh mà chết yểu.

Tô Đông Pha nói:
”Làm tổn hại thân thể và tinh thần là cái sai lầm số một, người háo sắc tất sẽ chết, sao không cẩn thận chứ!”

Vấn đề chính là ở đây. Cái lạc của tình dục là sướng trước khổ sau, cho nên người đời rất khó từ bỏ. Khoái lạc là cái biểu hiện ra bên ngoài, còn đau khổ lại có tính tiềm ẩn, thế nhân rất khó nhận thấy được. Ví dụ của đại sư Liên Trì là cực kì hay!

Tôi còn muốn nói với mọi người rằng, tình dục giống như leo núi, cứ leo mãi leo mãi, leo đến đỉnh cao nhất, đến khi sức cùng lực kiệt rồi thì lại phải bắt đầu leo xuống núi. Lên đến đỉnh núi chỉ hưng phấn được một chốc một lát mà thôi. Khi xuống núi rồi thì chân tay đều đã yếu mệt, rã rời sống qua ngày, sự trống rỗng sau khi sung sướng qua đi kéo đến tấn công.

Qua một thời gian ngắn sau lại đi leo núi, leo tới đỉnh rồi lại xuống núi, cứ như vậy leo tới leo lui, lên lên xuống xuống, cứ như vậy mà trở thành tật khó sửa. 

Vấn đề lại nảy sinh rồi. Bởi vì luôn chỉ leo một ngọn núi, leo lâu ngày sẽ thấy chán, bạn lại muốn leo ngọn núi khác, leo hết núi này lại đến núi khác, leo đến cuối cùng thì vẫn cứ chán, cũng vẫn có những cơn gió núi lạnh lẽo cô quạnh, nhưng dục vọng không dừng, không thôi được việc leo núi. Leo đến chết thì cũng là không.


### 01. Ông lão ấy là ai?


Minh Vương giao cho tôi một quyển nhật kí, quyển nhật kí này từ đâu mà có? Thì ra đây là một ông lão, sau khi đọc xong hai cuốn sách “Sống từng phút giây trong sáng” và “Sống từng phút giây rực rỡ” của tôi thì trong lòng cảm thấy hổ thẹn. Ông lão này vốn có thói quen viết nhật kí, đã ghi chép lại những chuyện phong lưu màn trướng trong quá khứ. Bây giờ ông lão viết thêm vào phía sau một vài bài văn sám hối, thế rồi sau đó đem quyển nhật kí ra hóa đốt giữa trời.

Minh Vương nhận được quyển nhật kí ấy thì rất coi trọng, hơn nữa còn gật đầu với ông lão, ngầm thừa nhận sự sám hối của ông, cảm thấy cần thiết phải công khai quyển nhật kí này với đời, cho rằng khi công khai chuyện này với đời sẽ giúp ích nhiều cho “nhân tính”, sẽ có sự cảnh tỉnh với những người tham dục, có thể chuyển biến thói sống của phàm phu vốn chỉ tạm thời. Bởi thế, Minh Vương đã giao quyển nhật kí này cho tôi, muốn tôi viết sách cho ra mắt công chúng.

Tôi mở quyển nhật kí ra, quả thật tôi sợ tới mức nhảy dựng lên, ông lão ấy không ngờ là ông ấy! Ông ấy là ai?

Cá nhân tôi cho rằng, quyển nhật kí này vốn mang tính bí mật, vốn là ông lão ấy tự mình viết ra để tự tiêu khiển. Tác phẩm kiểu này vốn đứng ngoài ranh giới, không thể công khai, thậm chí không thể đăng lên nơi thanh nhã, thậm chí trong tác phẩm gốc cũng có những ý đồ xấu làm hại nhân tâm, bị gọi là tác phẩm xúi giục người ta gian dâm. Tuy vậy, sau khi tôi viết lại thì nó trở nên có tính nghệ thuật hơn, có ý cảnh hình tượng hơn, sẽ không đến mức bị người có đạo học thảo phạt.

Ông lão ấy là ai? Mọi người nhất định là rất tò mò, tôi quyết định sẽ không nói tên thật của ông ấy ra, tôi cũng không muốn mọi người ngờ vực vô căn cứ. Nếu như có người muốn tiêu phí vô số tinh lực, hao tổn tâm sức để khảo chứng, lần theo những tung tích trong sách, tôi cũng cho rằng không cần thiết.

Tôi sẽ giúp ông lão ấy lấy một cái tên giả: 
Họ Trần, một cái họ rất phổ thông.
Tên Bình, một cái tên rất bình dân.

Ông lão ấy là ai? Để tôi dọa mọi người sợ một chút, đương nhiên tôi quen biết ông ấy, ông ấy là đệ tử Chân Phật Tông, có địa vị cao trong xã hội, ông ấy là một người khiêm nhường luôn phục vụ đại chúng. Về mặt ngoại hình, ông ấy rất được mọi người yêu thích, cao to đẹp trai. Hi vọng tôi mô tả như vậy sẽ không gây ra sự chú ý của mọi người trong tông phái, khiến bị hiểu lầm là cố ý tiết lộ điều cơ mật mà còn làm bộ làm tịch. 

Khi tôi viết cuốn sách này, trên quan niệm ý thức, nó là một quyển nhật kí, nhưng cũng là một cuốn tiểu thuyết. Theo tiêu chuẩn của sự sáng tạo, tôi không thể nhật kí hóa nó, cũng không thể hoàn toàn tiểu thuyết hóa, vì vậy có thể nói đây là sự tổng hợp nhật kí và tiểu thuyết. Xét trong sự sáng tạo của tiểu thuyết thì nhật kí tương đối nhạt. Viết theo phương thức sáng tác của tôi thì thậm chí tôi sẽ viết nó thành tiểu thuyết dạng tản văn hóa.

Ban đầu tôi muốn dùng ngôi thứ hai để viết, nhưng dùng chữ “bạn” không phải là thói quen của tôi, muốn dùng ngôi thứ ba để viết, dùng chữ “ông ấy”, thì lại cảm thấy có khoảng cách. Phương thức tự thuật của chữ “ông ấy” có cảm giác xa lạ. Cuối cùng tôi cảm thấy dùng chữ “tôi” là được, như vậy hợp với lối viết văn nguyên thể của tôi, lâu nay tôi là người luôn dùng ngôi thứ nhất để viết văn, dùng “bạn” hay dùng “ông ấy” đều không quen. 

Bất luận nói thế nào, “tôi” ở đây hoàn toàn không phải là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, mà là ông lão kia, ông Trần Bình. Ý tưởng gốc của cuốn sách này là thuật lại những trải nghiệm của Trần Bình, phân tích tâm lí của Trần Bình, tổng hợp lại, để cùng thể hiện bản chất con người trong diễn biến tâm tư về dục vọng. Đây cũng có thể xem là thảo luận về nhân tính, tìm kiếm cội nguồn của nhân tính, khiến cho nhân tính trong sáng như nước sạch, trực tiếp bộc lộ hình tượng trung tâm của ông lão.

Tôi biết dụng ý của Minh Vương khi giao cho tôi quyển nhật kí này, là muốn mượn nhật kí của ông Trần Bình để cảnh giác người đời. Chuyện của ông ấy là một ví dụ đặc thù, khá thực tế, có cảm giác sâu sắc và chân thực đối với tâm lý con người. Với con người cụ thể, với trải nghiệm cuộc sống chân thực cụ thể, cuốn sách này càng có nhiều ngụ ý hơn hai cuốn “Sống từng phút giây trong sáng” và “Sống từng phút giây rực rỡ”, là một lối viết trực tiếp hiện thực nhất.

Trước khi viết cuốn sách này, tôi cần đặc biệt giải thích rằng:
1. Tâm sự của ông lão ấy là nói thẳng vào bản chất dục vọng của con người.
2. Ông lão ấy là ai? Tôi biết, mọi người không biết.
3. Tôi dùng ngôi thứ nhất để viết, nhưng đây cũng là nói về chính “bạn”, cũng là nói về “người ta”.
4. Tâm sự của ông lão ấy dạy người ta phải giữ giới.
5. Tuyệt đối không được dâm loạn.
6. Xin mọi người đừng hỏi tôi ông lão ấy là ai.

Tôi viết một bài kệ:

*Năm xưa đã từ biệt lầu ngọc
Cuộc đời phong lưu đã trôi xa
Giờ đây mái đầu hai màu tóc
Hôm nay ngắm trăng trăng lưỡi liềm
Gối đầu chợt thấy nhớ loài chim
Nhật kí ghi lại mùa lá rụng
Niệm Phật trì chú nốt quãng ngày
Bỗng dưng hồi tưởng nước mắt rơi.*


### 02. Sự tò mò về nhà ga sau


*Năm ấy, tôi đi huấn luyện ở núi Thành Công, bởi vì tôi đã thể hiện những nỗ lực của bản thân, làm tốt công việc tu bổ đường xá, cho nên toàn liên đội được nghỉ một ngày. *

*Ví như là ngày nghỉ theo quy định thì những học sinh thụ huấn hay đi chơi, thông thường là mặc quân phục, nhưng ngày nghỉ của chúng tôi không phải là ngày nghỉ theo quy định, cho nên chúng tôi được châm chước, mọi người hết thảy đều mặc thường phục xuống phố.*

*Tôi mặc bộ âu phục bình thường, bên trên mặc áo sơ mi hoa, hai tay chẳng cầm theo gì, tôi đứng ở trước ga tàu hỏa Đài Trung. Nói thật lòng, học sinh thụ huấn được nghỉ, mọi người đều hết sức phấn khởi, nhưng khi thật sự đi ra ngoài chơi thì lại mù tịt không biết làm gì. Đi xem phim, đi dạo phố, đi mua sắm, đó là những việc bình thường nhất, đợi đến khi ngày nghỉ kết thúc thì lại lũ lượt trở về doanh trại.*

*Tôi đứng trước ga tàu hỏa Đài Trung nhìn xung quanh, nghĩ đến bản thân xem mình muốn làm gì. Phố xá cũng đã đi dạo rồi, đồ thì không mua. Tên những bộ phim thì nghe không hấp dẫn, không muốn xem. Một mình chẳng có bạn bè, thế là tôi liền đi đến ga tàu hỏa.*

Ga tàu hỏa đúng thật là dòng người đông đúc hối hả, mỗi đoàn tàu vào ga lại tuôn ra bao nhiêu là nam nam nữ nữ, khi chuyến tàu rời ga thì lại hút vào bao nhiêu là nữ nữ nam nam. Phần lớn mọi người đều chẳng có ai nhàn nhã, bước chân đều vội vàng gấp gáp. Có người vừa mới bước ra khỏi ga tàu thì đã giơ tay lên vẫy, một chiếc xe taxi nhấn ga lao tới, vừa ra khỏi tàu hỏa thì đã chui ngay vào xe taxi, tăng tốc vọt đi. Đột nhiên, lại một chiếc xe taxi khác vội vàng lao đến, phanh “két” một cái, cửa xe mở ra, một tiểu thư phong cách hiện đại xuống xe, hối hả rảo bước vào ga tàu, giày cao gót phát ra tiếng “lạch cạch, lạch cạch”. 

Trần Bình cảm thấy mình là thoải mái nhất, cũng nhàn nhã nhất, chí ít thì hiện tại là như thế. Mua một gói hạt dưa vậy, hạt này tới hạt khác bỏ vào trong miệng, những động tác dùng răng và lưỡi linh hoạt, rồi lại dùng miệng để nhổ vỏ hạt ra ngoài. Đây chính là ngày nghỉ, ha ha! Trần Bình không nén được sự chế giễu ngầm trong lòng mình.

*Tôi cắn hạt dưa, bước vào trong nhà ga. Bên trong nhà ga cũng rất đông người, người thì mua vé, người thì đợi tàu, người thì xếp hàng ở cửa vào, còn có cả những người bán đồ, người đánh giày, người bán kem que kem cốc.*

*Tàu hỏa đến rồi, tiếng kêu “tu, tu”, tàu hỏa đi rồi, cũng kêu “tu, tu”, còn có cả tiếng xả hơi rất lớn nữa, đây chính là cuộc đời. 
Có ai đó vỗ vào vai tôi.*

*“Trần Bình!”
Tôi quay đầu lại nhìn, thì ra là Liên Phụ, một sĩ quan già. *

Người Đài Loan chúng tôi tự gọi mình là “khoai tây”, còn những sĩ quan già đến Đài Loan tòng quân thì gọi là “lão khoai sọ”. Lão khoai sọ chẳng nói gì thêm, túm lấy tay Trần Bình kéo đi.

*“Đi đâu đây?”
”Chú có dám đi không?” - Lão khoai sọ hỏi.
”Chẳng có gì là em không dám!” - Tôi tràn đầy khí thế tuổi trẻ.
Lão khoai sọ nói:
”Dám thì đi theo anh, anh thấy chú còn non lắm!”
”Hầy! Em còn lâu mới non!” - Tôi biểu hiện bộ dạng của một lão giang hồ. 
”Thế thì hôm nay chú cứ bám theo anh.”
”Bám thì bám, ai sợ gì ai!”*

*Lão khoai sọ đi trước, tôi nối gót theo sau, từ ga tàu hỏa Đài Trung đi qua cầu vượt, đi đến nhà ga tàu hỏa ở phía sau, phía trước nhà ga sau có một nhà hát rất nổi tiếng, tên là Kịch Viện Quốc Tế, phía sau của Kịch Viện Quốc Tế chính là khu “đèn đỏ” nổi tiếng, những cái tên nổi tiếng này ở liền cạnh nhau, cũng không biết là Kịch Viện Quốc Tế nổi tiếng hay là khu đèn đỏ kia nổi tiếng. Có lẽ cả hai đều rất nổi tiếng, bởi vì Kịch Viện Quốc Tế  là nơi chuyên môn diễn ca vũ đoàn, múa thoát y mà trở nên nổi tiếng. Những học sinh dự quan thụ huấn chúng tôi chưa chắc đã biết gì mấy, nhưng điểm này thì ai cũng biết. *

*Tôi bị lão khoai sọ kéo tới đây, trong lòng thật sự có đôi chút lưỡng lự. Nói thẳng ra, từ khi tôi sinh ra đến nay, tôi chưa hề thật sự đụng chạm tới phụ nữ, tôi thuộc tuýp người hay xấu hổ, bình thường nói chuyện với con gái, mặt tôi cứ bất giác đỏ ửng lên. Tôi cứ đắn đo liệu có muốn đi theo ông ấy không, hay là tôi đứng ở ngoài cửa đợi ông ấy.*

*Rẽ vào trong một con ngõ nhỏ ở Kịch Viện Quốc Tế, tôi lại nhìn thấy ở trên lối đi có một hàng ghế, trên ghế ngồi đầy những cô nàng yến oanh. Bên trong ngõ này có mấy nhà, nhà nào cũng có những cô gái nữ sinh đang ngồi trước hiên. *

*“Lão khoai sọ, anh đến rồi à!” - Một cô gái cất giọng khàn khàn: “Bảo là yêu mà sao lâu như vậy mới tới!” Cô gái nói một cách đầy thân thiết và cảm động, người quen gặp nhau, họ chẳng hề xã giao, đã kéo ngay lão khoai sọ đi lên tầng.*

*Tôi vội kêu lên:
”Ơ, còn em?”
Lão khoai sọ quay đầu lại nói:
”Tìm một cô đi!”
”Lát nữa gặp nhau thế nào đây?” - Tôi lại kêu lên.
”Đợi anh ở hành lang!”*

*Bộ dạng tôi căng thẳng khiến những cô gái kia che miệng cười. Tôi lén nhìn những cô gái ấy, họ ríu ra ríu rít không ngừng, có một cô ngẩng đầu lên đưa mắt liếc tôi, mái tóc đuôi ngựa buộc túm lại bằng chiếc khăn màu xanh in hoa, mặt mũi nhìn sáng sủa sạch sẽ, vóc dáng không béo, ngũ quan xinh xắn.*

*Tôi cúi đầu đi vào trong con ngõ kín, bây giờ lại cúi đầu, bị một cô gái túm lấy tay, kéo đến một căn phòng nhỏ ở trên tầng. Tôi thật sự cũng không nói rõ được vì sao mà mình lại đến nơi này, chỉ là đang đi lang thang ở ga tàu hỏa, bị lão khoai sọ kéo đến đây, thế là đi theo ông ấy đến. *

Vấn đề bây giờ là, Trần Bình cả đời chưa từng trải qua sự việc kiểu này, hoàn toàn là người “mới vào nghề”, bộ dạng non nớt như vừa mới ra đời, có một cảm giác tò mò mới mẻ.

Trong lúc bạn bè tán dóc thì có nghe nói đến cái gì mà ở đường Tự Do tại Bình Đông, phía sau nhà chính phủ thành phố Cao Hùng, đằng sau ga tàu hỏa Đài Trung, phố Hoa Tây ở Vạn Hoa Đài Bắc… Bây giờ thì Trần Bình thật sự đã rơi vào những cạm bẫy đó rồi, cái mùi vị ở trong lòng ấy là những cảm xúc phức tạp.

Trần Bình nghe nói có một tác giả văn học, khi sáng tác đã viết về gái điếm. Để trải nghiệm tình huống chân thực, ông ấy đã giả vờ là khách làng chơi, đi vào trong phòng rồi, đợi đến khi tất cả đều sẵn sàng, tác giả đó liền lộ ra thân phận, ông ấy sẵn sàng trả món tiền gấp vài lần, nhưng không hề làm cái việc đó, mà là muốn nói chuyện với cô gái kia. Cô gái ấy cũng vừa lòng, thế là, ông ấy liền viết ra được một tác phẩm rất chuẩn xác.

Trần Bình cũng nghĩ mình chắc sẽ làm theo như vậy, bởi vì Trần Bình thật sự cả đời cũng chưa từng trải qua hoàn cảnh này. Đi vào phòng, căn phòng chỉ có một ô cửa sổ nhỏ, một chiếc giường rất nhỏ, một cái tủ đầu giường nhỏ, ở trên để giấy vệ sinh. Cô gái kia dùng chậu rửa mặt đổ nước sạch vào đó, trong nước có một cái khăn, Trần Bình nghĩ, chắc khăn đó là khi xong việc thì dùng để lau cho sạch.

Cô gái kia cởi hết quần áo, Trần Bình nhìn cô ấy, khóe môi cô ấy khẽ nhếch lên, ngũ quan đúng là rất xinh đẹp, trên mặt có một chút tàn nhang, nhìn toàn thân thì cũng khá ổn, cả cánh tay và ngón tay đều dài và thanh mảnh, sơn móng tay màu đỏ bóng bẩy ướt át.

Trần Bình và cô gái không hẹn mà cùng cười, tâm lí căng thẳng của Trần Bình đã thoải mái hơn một chút.

*Tôi nói: “Tôi là xử nam.”
Cô ấy nói: “Tôi là xử nữ.”*

*Căn bản cô ấy không tin tôi “còn zin”. 
”Tôi thật sự là xử nam, tôi…”
”Theo truyền thống thì nếu chúng tôi tiếp một xử nam thì phải đưa một phong bì đỏ cho người đó.”
”Bao nhiêu tiền?”
”Một hào.”*

*Tôi không nói chuyện nữa. *

*Trong lòng tôi nghĩ, hay là dừng lại ở đây thôi, trả tiền, không làm gì cả, rồi cứ thế bỏ đi, nhưng làm sao mở miệng ra đây? Nói là muốn học tập nhà văn kia ư, nhưng bản thân mình không phải nhà văn, có thể nào trả tiền xong, không làm gì cả, lập tức sẽ bị ăn chửi, bị cho rằng mình coi thường cô ta không?*

*Tôi cảm thấy hơi chóng mặt, lại cảm thấy hơi ngất ngây, vậy thì rất dễ để thoát ra khỏi tình huống này, chỉ cần nhắm mắt lại là xong rồi. *

*Cô ấy thì đã nằm trên giường từ lâu rồi. Tôi ngả người về phía trước, đưa hai tay ra, lập tức tôi bị giữ chặt lại, cô ấy giống như con bạch tuộc túm chặt lấy người tôi.
Hai tay tôi chậm rãi sờ mó.
Cô ấy cũng cong người chuyển động phối hợp.*

Trần Bình từng nghe bạn học nói, có một số cô gái chẳng hề động đậy, giống như một cái xác chết vậy, có cô còn nằm đọc báo, muốn làm thế nào thì tùy anh. 

Nhưng cô gái này thì không như thế. Trong lúc sờ mó, Trần Bình nghe thấy thật sự có gió đang chuyển động, là sự cùng chuyển động giữa người với người. Cả người anh tan vào trong cái mớ hỗn độn nguyên thủy, chẳng phân biệt nổi anh anh tôi tôi. Trần Bình muốn có cái cảm giác này, cái cảm giác này có sắc thái rất phong phú, là cái cảm giác mà anh đã thèm khát rất lâu, rất lâu rồi.

Trần Bình khoanh hai tay lại, sức khỏe anh rất tốt. Anh nỗ lực bảo vệ ngọn lửa bên trong cơ thể mình để nó tiếp tục nóng rực như vậy, không để nó nguội tắt. Cô ấy kêu lên:
”Thời gian lâu quá rồi.”
”Phải làm sao?”
”Phải tăng giá.”
Trần Bình gật gật đầu.

Trần Bình rất thật thà, cô ấy cũng rất kì lạ. Ngọn lửa ấy từ dưới chân đi lên, toàn thân nóng rực, cái nóng dâng lên tận mặt, vô tình nét mặt cô ấy cũng sáng lên, cô không hề nhận thấy là mình đã trở nên mơ hồ rồi, dường như cô ấy không phải là gái điếm, không phải là đang bán mình, mà thật sự đã biến thành bạn gái, người yêu của Trần Bình. Ban đầu là cô ấy giả vờ, bây giờ đã trở thành thật rồi.

Cuối cùng, lửa và lửa quấn quýt lấy nhau, hai thân thể đều run rẩy, từ liên tiếp vồ vập cho đến lúc dịu nhẹ, từ đỏ thành trắng, trở thành hồ nước yên ả sau những cơn sóng cuộn trào.

Cô ấy nhìn đồng hồ, kinh ngạc kêu lên:
”Anh phải trả gấp ba tiền đấy!”
”Tôi trả, tôi trả.” - Trần Bình nói.
Cô ấy cười tươi để lộ lúm đồng tiền: 
“Nói thật nhé, đây giống như là lần đầu tiên trong đời tôi, sự kích thích này ấy.”

Trần Bình có cảm nhận được, nhưng gái điếm vốn là giỏi giả vờ nhất nên không biết là thật hay giả.

Cô ấy nói:
”Anh có tài năng trời ban đó, làm rất tốt, bất kì cô gái nào gặp anh đều sẽ yêu anh thôi!”
Cô ấy lại nói:
”Ít nhất một tuần anh hãy đến tìm tôi một lần.”
Trần Bình không nói gì.
”Có được không hả?” - Cô ấy nũng nịu.
Trần Bình chỉ gật đầu.

Tấm biển hiệu ở nhà của cô gái điếm này là “Nhà kĩ nữ Hồng Nương”, cô gái ấy là một con chim oanh oanh, nghe nói là nhân vật chính mang thẻ đỏ ở trong cửa tiệm này.

Trần Bình ra khỏi cửa tiệm, nhìn trên hành lang, không thấy lão khoai sọ đâu, cô gái có cái giọng khàn khàn bảo anh:
”Lão khoai sọ đợi anh năm mươi phút rồi, vừa mới đi xong. Này cậu trai trẻ, cái đó của chú mày bị đông lạnh hả?”

Trần Bình không nói gì, bước chầm chậm ra khỏi con ngõ nhỏ. Ga tàu hỏa chẳng thay đổi chút gì, vẫn là những dòng người tấp nập, ánh nắng dường như vẫn còn gay gắt. 

*Trong tâm tư của tôi, tôi cảm thấy dường như hơi loạn, cũng hơi mù mờ, không ngờ lại chẳng tìm được một điểm trọng tâm nào, hai chân cũng mất đi mục tiêu, lang thang đi trên phố. Tôi lại trở về ga tàu, đi vào phòng đợi, ngồi trên một băng ghế dài. Trên băng ghế ấy, người ngồi sát người, người chen chúc người, người nhìn người, dưới chân có bình nước ngọt, khói thuốc là là dưới mông.*

*Lúc này, tôi hoàn toàn không có cảm giác hưng phấn hay thích thú gì, dường như đầu óc trở nên trống rỗng, thân thể trống rỗng, bản thân dường như cũng trở nên không còn một chút linh khí nào. Không ngờ tôi lại đi vào nhà thổ, quan hệ lần đầu tiên trong đời với một cô gái điếm. Có thể coi điều này là gì? Có thể coi là vô vọng tháo gỡ một mớ lộn xộn.*

Trần Bình không hiểu sao mình lại làm như vậy.
Đó là sự tò mò thông thường khó tránh khỏi sao?
Là cái tâm thích phô trương của mình không chịu nổi một sự kích động sao?
Không thể tha thứ cho sai lầm của người khác, nhưng mình thì không ngờ lại hoàn toàn ngu ngốc?

Thế rồi, lão khoai sọ (sĩ quan già) đã đến, cơ duyên trùng hợp, bây giờ Trần Bình đã thử rồi, tâm hiếu thắng đã thỏa mãn rồi, tâm tò mò đã thỏa mãn rồi, nhưng lại chỉ cảm thấy bản thân mình dường như đã đánh mất cái gì đó, bỏ quên cái gì đó.

Nếu có người hỏi:
”Ở đó có cái gì?”
Trần Bình sẽ đáp:
”Có rừng rậm nguyên thủy.”
”Đương nhiên, có cả suối nước.”
”Đương nhiên, có cả hang đá.”

Điều đáng an ủi duy nhất của Trần Bình là lần đầu tiên anh đi chơi ở ngoại ô, có núi có sông, chỉ là không có di tích cổ gì, bởi vì không ngờ có quá nhiều người đi du lịch, đã phá hoại hết cảnh đẹp rồi, Trần Bình cho rằng, đó là chỗ không đáng duy nhất.

Trở về nơi đóng quân, lão khoai sọ Liên Phụ không tán gẫu quá nhiều với Trần Bình. Nhưng các bạn học cùng tổ ở khu đóng quân lặng lẽ rỉ tai nhau lan truyền nói rằng Trần Bình đã đi tới nơi đó rồi, hơn nữa Trần Bình có thiên phú, thời gian rất lâu.

Trần Bình có dặn dò lão khoai sọ không được nói lung tung, với một người cũng không được nói, nhưng bí mật kiểu này lão khoai sọ chỉ nói với một người, và người này cũng chỉ nói với một người thôi, ai cũng bảo là không được nói, thế là cả liên đội đều biết hết.

Bất kể người ta nói gì, anh đều giữ im lặng.

Điều càng bực mình hơn là, khoảng một tuần sau, cái bộ phận ấy phát ra mùi, cái mùi của nó rất khó chịu, khiến người ta muốn nôn, giống như là có kim đang châm vào, lại còn rỉ ra thứ gì đó màu vàng vàng. Bản thân anh cũng biết căn bệnh đáng ghét này.

Bản thân Trần Bình là nhân viên điều trị, trong quân đội cũng làm thêm một vài công việc ở phòng khám. 

*Tôi tự biết phải chữa thế nào, thế là, tôi tùy tiện vơ lấy một ít thuốc rồi uống, sau bốn, năm ngày thì đã diệt trừ sạch hoàn toàn cái mùi khó chịu ấy, không còn cảm giác đau khổ nữa, không còn rỉ ra cái thứ vàng vàng nữa. *

Trần Bình vẫn tiếp tục uống thuốc, uống cho đến khi vi khuẩn hoàn toàn hết sạch mới dừng lại.

*Trên những bệnh án ở phòng khám, tình cờ tôi nhìn thấy bản kê của sĩ quan già, trên đó viết hai chữ: “Giang mai.”
Tôi giật nảy mình sửng sốt.*

🌟

(Đây là phần đầu của quyển nhật kí. Ở đoạn cuối của phần đầu, Trần Bình bổ sung thêm một tờ giấy trắng, viết một bài văn sám hối.)

*Căn cứ theo luật lệnh Minh Vương mà Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đã viết, nghiệp tội mà tôi đã phạm vào là điều thứ bảy: “Tìm hoa hỏi liễu, mua bán tình dục.”*

*Bản thân tôi là phần tử trí thức, cũng là một người lớn lên từ trong một gia đình nhỏ hòa thuận vui vẻ, hiểu đạo đức luân lí làm người, không biết sao mà hiện đại có học phái mới đề xướng phá bỏ luân thường đạo lí, phá bỏ lễ tiết, tất cả chủ trương tự do, chuyện tình dục giống như phá bỏ đê sông, mặc cho ham muốn chảy tràn lan, khiến cho những thanh niên ngày nay đều rơi xuống đáy cùng của biển dục vọng.*

*Thanh niên ngày nay lập chí như núi, ít người còn giữ thân như ngọc, mối họa cuộc đời đã cực kì cấp bách, nhân họa cũng đang đến gần. *

*Có thể những người trẻ hiện đại, khi họ thấy tôi đã dâng hiến lần đầu tiên của cuộc đời mình cho gái điếm ở căn phòng vui vẻ sẽ hét lên:
”Siêu tàn bạo!”
”Cừ quá!”
”Rất táo bạo!”
”Rất đỉnh!”*

*Tuy nhiên, tôi thật sự hơi sợ. Tôi có một dự cảm không tốt lắm, cảm thấy sẽ đem đến bất hạnh, hoặc tai họa, trong lòng có cảm giác âm u, dù có muốn quên đi hay xua tan nó đi chăng nữa thì điều đó hoàn toàn không thể.*

*Tự mình quan sát chính mình, cảm thấy bản thân mình rất cổ quái, hình như không bình thường, rồi hình như lại bình thường, không hiểu mình vì sao bỗng dưng lại làm như vậy. Cái tâm lí con người này đúng là thay đổi trong phút chốc, càng quan sát bản thân thì sự thay đổi càng hiện rõ, cảm thấy mình rất kì quái lập dị và lạ lùng.*

*Thế nhưng, tôi cảnh giác được rằng bất kì sự việc nào cũng đều có báo ứng, tôi chỉ mới đi có một lần mà thôi, lần đầu tiên trong đời, một lần thực tế, chẳng qua chỉ là thực tiễn một lần những huyễn tưởng ngày xưa mà thôi. Nó có đau, có viêm, có chảy ra dịch vàng, cũng đã mắc bệnh rồi, tôi đã trải nghiệm nhân quả, có nhân thì sẽ có quả.*

*Có lẽ có người nói, ông không biết mặc cái mũ gì gì đó à (bao cao su), hừ! Tôi cảm thấy dùng bao cao su giống như đi bơi mà lại đi giày hoặc đi tất vậy, nghĩ thử đi, có dễ chịu không?*

*Có một sự việc rất không hay, lão khoai sọ (sĩ quan già), sếp Liên Phó của liên đội chúng tôi, ngay cả cái mũi cũng bị thối rồi!*

*Sự việc này của tôi, nghĩ trước nghĩ sau, có thể nói là kết quả của việc gặp phải bạn xấu và duyên xấu, có thể xem là một lần sảy chân để hận nghìn đời. Chuyện đó xảy ra khiến tôi thường nghĩ đến ham muốn, không kiềm chế được, trong đầu luôn tồn tại cái dáng vẻ dâm đãng của chim oanh oanh, đây đều là cái họa của lần đầu tiên đó!*

*Tôi về sau không biết tích phúc cho mình, chỉ tạo nghiệp ác vô hạn, nhỏ thì mất đi nguyên dương, lớn thì loạn luân vô kỉ luật, khinh bỉ chính mình, tự dẫm chân vào nước sôi lửa bỏng, coi sự buông thả dục vọng là đại lạc của cuộc đời, thật sự cần phải sám hối!*


### 03. Cơn giông tố


*Sau khi tốt nghiệp, tôi phục vụ ở một địa phương ở miền Bắc, sống tại nhà dì dượng của mình. Nhà của dì dượng tôi nằm trên núi, sườn núi chính là nơi có bệnh viện mà tôi phục vụ. Vì sao tôi lại sống ở nhà dì dượng? Thứ nhất là khoảng cách gần, thứ hai là để đỡ tiền thuê nhà, thứ ba là việc làm ăn kinh doanh của dượng tôi rất lớn, dượng là thương nhân kinh doanh tốt, kiếm được nhiều tiền nên nhà to rộng, có rất nhiều phòng trống. Dì dượng tôi rất nhiệt tình mời nên tôi đã dọn qua đó ở.*

*Nói thẳng thắn, tôi rất thích nhà của dì dượng, có sân thượng rộng rãi, có thể nhìn thấy thành phố lớn ở phía dưới, cũng có thể nhìn thấy cảnh núi non ở khoảng cách gần, có rừng cây, có những bụi trúc, có những lùm cây nhỏ, khi mây mù che phủ có cảm giác huyễn ảo như mơ, đẹp không sao tả xiết.*

*Từ sân thượng nhìn ra vườn hoa trước sân nhà, vườn hoa trồng rất nhiều hoa hồng, còn có hoa đỗ quyên trắng duyên dáng yêu kiều, còn có rất nhiều loài hoa mà tôi không biết tên, từng đám từng đám, từng cụm từng cụm. Vườn hoa này phải thuê người tới chăm sóc.*

*Còn nhớ có một lần tôi đến nhà dì dượng làm khách, tôi cũng từng đứng trên sân thượng này, nhìn xuống màn sương mù dày đặc phủ lên toàn bộ ngọn núi, sương mù bay là là cách mặt đất rất gần, bay cả lên trên sân thượng, dùng tay quạt quạt cũng xua được sương đi, điều này thật là kì lạ.*

*Dượng tôi thường xuyên đi du lịch nước ngoài để kinh doanh, ông ấy là người rất bận rộn. Dì thì lớn hơn tôi mười tuổi, dì nói với tôi:
”Trần Bình, dọn qua đây ở đi.”
Tôi nói:
”Vâng.”
”Đừng chỉ nói vâng, nói dọn là dọn luôn, phải làm luôn!”*

*Tôi không thể lay chuyển được dì, không phải là tôi không bằng lòng, mà là cá tính của tôi không muốn mắc nợ người thân hoặc tình cảm của người thân. Nếu sống một mình thì tôi được tự do tự tại, tương đối dễ kiểm soát chính mình, nhưng tôi thật sự thích điều kiện sống ở nhà dì dượng, vì thế tôi mới dọn qua ở. *

*Vậy mà tôi cũng đã sống ở đó hơn hai năm.*

*Ngày tôi dọn vào nhà lại đúng lúc dượng tôi đi nước ngoài. Dì ôm chăn bông trên tay đi trước mặt tôi lên tầng rồi quay đầu lại bảo tôi:
”Phòng ở trên tầng đều trống, đều là phòng của cháu, nhớ là phải đóng cửa sổ, sáng sớm ở trên núi vẫn hơi lạnh đó!”
Tôi gật gật đầu.*

*Khi dì tôi đi lên tầng, chân dì đi dép lê trong nhà rất dày và êm, cẳng chân dì trắng nõn, nhìn lên phía trên, dì mặc áo trắng, váy hoa, dì đi trên, tôi đi dưới, dì chẳng hề quay đầu, vạt váy đung đưa, khiến tôi hoa cả mắt. Con người tôi trong đầu đã có ảo tưởng, dường như tôi không chịu nổi cái vẻ đẹp mặn mà này.*

*Trong các chị em gái, dì tôi là nhỏ nhất, dì đặc biệt xinh đẹp, khi còn chưa lấy chồng có rất nhiều người theo đuổi. Bên trái có một người bạn trai, bên phải có một người bạn trai, khi còn đi học dì cũng là hoa khôi của trường. Lúc còn nhỏ dì từng bế tôi, nghe nói cũng từng tắm rửa cho tôi, tôi thì không nhớ được.*

*Dì tôi bây giờ nhìn kĩ thì vẫn rất đẹp, đường nét dáng vóc rất dễ thương, kiểu tóc của dì rủ xuống vai một cách tự nhiên, những đường cong trên cơ thể rất mềm mại quyến rũ, bộ ngực tròn cong khiến người ta bị mê hoặc.*

*Tôi nhìn từ phía dưới lên và từ phía sau, những gì chiếc váy lộ ra chỉ lóe lên rất nhanh, và ngay lập tức không thể thấy được nữa. Mặc dù chỉ là một tí xíu ít ỏi, giống như một mảnh ý thức không rõ ràng và rất khó tìm kiếm, chỉ lơ lửng trước mắt, nhưng lại vẫn khiến ta ghi nhớ sâu sắc.*

*Có một buổi tối không ngủ được, tôi bèn đi xuống tầng dưới, lặng lẽ mở cửa sau, bước ra sân đi dạo. Ở sân có một cái chòi nghỉ mát, có thể nhìn ra khoảng sau núi rộng mênh mông. Khi đến gần cái chòi, tôi nhìn thấy một hình bóng, cái tư thế ấy đúng là xinh đẹp xuất chúng, cũng có một chút dáng vẻ trống vắng. Tôi bước lại gần hơn thì dì phát hiện ra đó là tôi.*

*Tôi hỏi ngu:
”Có mình dì thôi à?”
Dì tôi cười, căn bản không cần trả lời.*

*Dì dùng tay chải tóc, mái tóc đen óng ả ấy lấp lánh dưới ánh trăng. 
Tôi mở miệng nói:
”Tóc dì đẹp thật!”
Dì cũng không trả lời, chỉ có con mắt hơi động đậy, bộc lộ sự xúc động. Tôi lại nói:
”Có thể ngồi cùng dì được không?”
Dì ra ý bảo tôi ngồi xuống, tôi ngửi thấy mùi tóc thơm của dì, mùi thơm thoảng dịu ấy thật khiến người ta ngây ngất.*

“Sao khuya vậy rồi mà dì lại ngồi một mình ở sân thế này?” - Tôi hỏi.
”Có gì đâu.” - Dì nói: “Chỉ là không khí trong nhà không tốt.”
”Bên ngoài không khí tốt hơn một chút.” - Tôi lẩm bẩm với chính mình.

*Bỗng nhiên dì nói với tôi rằng dì thường hay ngồi một mình ở cái chòi này lúc nửa đêm. 
”Dì có tâm sự à?”
”Sao lại nói vậy?”
”Điều này quá rõ ràng mà, thường xuyên tối muộn không ngủ được, đi ra chòi ngồi một mình, nhất định là có tâm sự rồi.”
”Cháu cũng một mình còn gì?” - Dì hỏi ngược lại tôi.
”Cháu chỉ thỉnh thoảng thôi.” - Tôi nói.*

*Tôi lại nói:
”Có tâm sự thì cần nói ra, đừng có giữ kín trong lòng, buồn bã trong lòng sẽ sinh bệnh đó, dì có thể dốc hết tâm sự của mình với cháu, nói tất cả với cháu rồi thì tâm sự sẽ không còn nữa, dì sẽ thấy thoải mái.”
Dì “xí” một tiếng, cười: 
”Thằng bé này, nói hay gớm.”
”Thật mà.” - Tôi nói.*

*Thế là, dì kể:
Đây cũng không phải là việc gì mới, nhìn bề ngoài thì dì là người rất hạnh phúc, lấy được một người chồng giàu có, nhưng thời gian lâu ngày, cái cảm xúc mãnh liệt lãng mạn đã mất đi, giống như nhai kẹo cao su vậy, nhai lâu rồi thì chỉ có nhổ bã đi. Dì chỉ là sống trong một ngôi biệt thự rộng lớn, còn dượng thì dương nhiên là trời cao biển rộng, có rất nhiều cuộc tình ái. Dượng lúc nào cũng phóng đãng, hễ gặp người nào là đi yêu người đó, hết người này đến người khác, rất lỗ mãng. Dì không muốn theo dõi ông ấy, cũng không có dũng khí để theo dõi ông ấy. Ông ấy giống như chiếc thuyền không có dây thừng neo giữ, đụng chạm khắp mọi nơi.*

*Đàn bà ở bên ngoài, hết người này đến người kia, dì đều biết, thậm chí có người thì mua nhà, có người thì mua xe, ông ấy giàu có như vậy, chẳng ai quản được ông ấy. Dì từng tỏ ra hung dữ thì ông ấy lại càng hung hăng hơn, nói là bỏ thì bỏ, nhưng chỉ cần dì không nhắc đến nữa thì lại như cũ. Thế là dì đã trở thành kiểu người phụ nữ lấy gà theo gà lấy chó theo chó.*

*Người dì đây giống như kẻ ngốc, cứ chờ đợi một cái hẹn chẳng hề có hẹn trước, một người chồng trượng phu đến và đi không một dấu vết. Mỗi ngày, ban ngày cũng giống như mơ, ban đêm cũng giống như mơ, sống một cách hết sức nhàm chán, chết rồi cũng đáng tiếc, hoàn toàn chẳng có một ánh lửa nào, không có cảm xúc mãnh liệt, ngay cả mơ tưởng cũng không có, cuộc sống giống như uống nước lọc vậy.*

*Tôi nghe xong thì rất kinh ngạc, không dám nói đãi bôi. Tôi ngập ngừng lúng túng nói:
”Dì có thể đi tìm việc làm, đi tìm niềm hứng thú của bản thân, không cứ là phải bình bình đều đều sống qua ngày, chuyển dịch cái sự phiền não này đi!”
”Ngày tháng dài lê thê, làm thế nào mà tiêu hết thời gian chứ?”
”Cái này…” - Trong lòng tôi cảm thấy u ám. Dì có một vẻ đẹp rạng ngời không thể che giấu, vậy mà lại để cho vẻ đẹp ấy tàn tạ ư? Tôi có một niềm thương tiếc không thể nói rõ, sự thương xót này đến từ cái tự nhiên là dục vọng của bản thân chăng?
Tôi trầm mặc.
Dì tôi nói xong, cũng càng trầm mặc hơn.*

*Dưới ánh trăng, khuôn mặt của dì đặc biệt láng mịn, nhìn từ mặt nghiêng thấy dái tai của dì rất mềm và dày, môi của dì căng đầy và có một vẻ rất kiên định. Dường như chỉ còn một câu cuối cùng vẫn chưa được thốt ra, câu nói cuối cùng này là gì, tôi không dám tưởng tượng. Tôi chú ý đến cái cổ của dì, nước da trắng mịn và căng, đầy tính đàn hồi khiến người ta mơ mộng, muốn được đặt môi hôn nhè nhẹ lên cái cổ ấy của dì và trượt xuống. *

*Thế nhưng, đôi mắt của dì cụp xuống, ánh mắt lạnh lẽo, dường như lộ ra một nét hờ hững, một thứ mùi vị coi thường cuộc đời, khiến người ta không đoán được rốt cục trong lòng dì đang muốn cái gì.*

*Kinh nghiệm quan sát cuộc đời của tôi mặc dù không phải là rất đầy đủ, nhưng đối với cái thói có mới nới cũ thì tôi hiểu, đây là cái tật chung của con người rồi! Một người phụ nữ xinh đẹp như vậy, nhưng nhìn lâu rồi, sống lâu rồi, thì chắc chắn cũng sẽ chán. Đây cũng là cái lí lẽ mà một số ngôi sao điện ảnh lại li hôn, thật ra điều này không hề khó hiểu. Cũng rất dễ hiểu thôi, cái chán ở đây có nói cũng không nói rõ được, nói là yêu chẳng thà nói là ham muốn. Cũng không thể nói là công bằng hay không công bằng, trên phương diện này vẫn luôn là có một sự bất công.*

*Vì thế, tôi cũng chẳng hề có lời an ủi nào, tôi nói với dì:
”Đêm nay đẹp quá!” - Tôi chỉ nói như vậy.
”Rất thần kì.”
”Dì có thích không?”
”Thích. Chính vì chìm trong cảnh đêm ở cái chòi này mới khiến dì cảm thấy đời người như mộng, như nước, đây là lúc mà dì cảm thấy thoải mái nhất.”
”Khuya quá rồi, chúng ta đi vào đi!” - Tôi nói.
”Vậy dì đưa cháu vào.” - Dì tôi nói.
”Ngày mai cháu còn phải đi làm, cháu cần nghỉ ngơi.”*

*Dì đứng dậy, dáng người mảnh mai khiến người ta mê mẩn. Tôi ỷ mình là thế hệ sau cần lễ phép đỡ lấy cánh tay dì, dì không gạt ra. Gió nổi lên, những sợi tóc của dì phất phơ trên mặt tôi, liên tiếp những làn hương thoang thoảng khiến lòng tôi nhói lên một cảm giác không giải thích được. *

Đó là một đêm giông bão.

Những hạt mưa to như hạt đậu rơi trên những phiến ngói của mái nhà, phát ra tiếng kêu lộp độp, lộp độp, hết đợt mưa này đến đợt mưa khác, lúc to lúc nhỏ. Chớp liên tục lóe sáng, cho dù có nhắm mắt thì cũng cảm nhận được ánh chớp, có thể tưởng tượng chớp ở trên bầu trời giống như những con rắn đang chạy tán loạn, một con biến thành hai con, rồi biến thành rất nhiều con, liên tiếp con này đến con khác rồi bùng lên thành một chuỗi. 

Sấm chớp dường như ở ngay trên mái nhà, như thể sắp khiến cho mái nhà gãy làm đôi, hoặc phá tan ngôi nhà, ánh chớp lóe lên theo tất cả các hướng.

Tiếng sấm càng thêm kinh hãi, hết tiếng này đến tiếng khác không dừng, âm thanh không phải “rầm rầm, rầm rầm”, mà là “uỳnh, uỳnh, uỳnh” như pháo bắn liên tiếp. Không chỉ như vậy, nó còn giống như tảng đá khổng lồ từ trên trời dội xuống mái nhà, cả ngôi nhà đều xiêu vẹo, nứt ra.
Dường như cây đã bị sét đánh trúng và bốc cháy rồi.
Dường như những bức tường đều sụp rồi.

Mưa gào thét, tiếng sấm đùng đoàng, chớp lóe khắp nơi, cả ngôi nhà đều rung bần bật, bản thân Trần Bình cũng cảm thấy con người thật quá nhỏ bé, căn phòng tối om, dường như ngày tận thế đã đến rồi. Ánh chớp chiếu vào bên trong cửa sổ, trong phòng như những bóng ma lắc lư.

Một tiếng sấm nổ “đoàng” rồi lan ra vang rền, trái tim Trần Bình cũng đột nhiên nhói lên một cái và cũng chếnh choáng mất một lúc. Sấm chớp dường như ở ngay trên đỉnh đầu. Cơn giông bão trong cái đêm dài dằng dặc này mới thật ghê gớm làm sao.

Lúc này. Dường như anh nghe thấy tiếng dì đang gọi.
”Trần Bình! Trần Bình!”
Âm thanh rời rạc trong màn đêm, chỉ loanh quanh trong gian phòng. 

*Tôi bò dậy, dò dẫm đi xuống nhà. Đến phòng dì, tôi đẩy cửa, tôi nhìn thấy dì mặc váy ngủ, trên mặt thấp thoáng vẻ sợ hãi bất định. Trong phút chốc, dì lao bổ vào trong vòng tay tôi.*

*Tôi tự cảm thấy mình trở về thời thơ ấu, được dì của mình ôm trong lòng, cái sự dễ chịu ấy cũng đặc biệt an toàn.*

*Hai người kề sát mặt nhau, những sợi tóc của dì lướt trên mặt tôi, tay của dì ôm ghì chặt lấy cổ tôi, lại còn siết chặt tôi đến nghẹt thở không buông ra, những sợi tóc làm cổ tôi hơi ngứa. Có vẻ như thế này là an toàn rồi. Tôi cảm thấy mặt của dì cũng nóng bỏng, thân thể mảnh mai mịn màng khẽ run run, hai thân thể, một vững chãi, một run rẩy, từ từ tách nhau ra.*

*Tôi cảm thấy toàn thân mình nóng như lửa, miệng rất chát, tôi ra sức hôn, lên tóc dì, lên mắt dì, lên mũi dì, lên tai dì, cái tai màu hồng phấn, còn cả miệng dì, lưỡi và lưỡi quấn lấy nhau.*

Dì giống như cánh hoa đang từ từ nở ra, cả người đều giãn ra, thả lỏng, ngay cả nhụy hoa cũng đang run rẩy. Một lớp màn che đã bị kéo ra. Vốn con người đều ở trong lớp màn che, chỉ cần màn che được mở ra thì tất cả đều tự nhiên như thế. Nhân tính chính là như thế này, hòa quện vào nhau, tấm màn che này một khi đã mở ra thì sẽ nhìn thấy dục vọng đang nhảy nhót. Dục vọng là lửa.

Lúc này đây là thời đại nguyên thủy hỗn độn, khi mà trời, đất, gió, sông, nước, lửa, núi đều chưa thành hình. Vô cực hóa thái cực, thái cực phân lưỡng nghi, lưỡng nghi chính là âm dương, âm dương sinh vạn vật. Âm dương này hòa hợp chính là đại đạo lí sinh ra vạn vật trong thiên hạ.

Giờ này phút này chính là âm dương hòa hợp rồi. Hai người hóa thành một, hòa lẫn vào trong cái hỗn độn này, chỉ nghe thấy âm thanh đang chảy, tất cả ở trong bóng tối, không phân trên dưới trái phải, từ đầu đến chân đều run rẩy. 

Đúng là thăng thiên rồi, đúng là nhập địa rồi, trời đất đều đang xoay tròn.

Thì ra dì là một ngọn núi lửa còn hoạt động, lúc này đang phun trào nham thạch nóng chảy, có tới sáu, bảy lần những đợt bùng nổ lớn nhỏ. Núi lửa còn hoạt động phun trào sẽ như thế nào? Trời đất rung chuyển rồi, gào thét, ra sức dồn nén để phun trào tất cả lửa ở bên trong ra ngoài, dung nham tràn lan ra khắp mặt đất, thiêu hủy tất cả. 

Thì ra đạo lí âm dương hòa hợp, sự hoàn mĩ ở trình độ cao nhất, là dung hợp làm một, là bay đến tận trời cao, là cảnh giới đại lạc của thiên đường. Trong một tích tắc, dường như tất cả đều bất động, đều chết, chết đầy khoái lạc.

Nói là sướng muốn chết, thật ra là vẫn còn sống, chỉ là bước vào trạng thái sung sướng, khi mà anh ấy khiến cho cô ấy lăn lộn quằn quại khắp giường. Lặp đi lặp lại, từ đỏ, đến cam, đến xám tro, đến trắng tinh, cuối cùng là hư thoát hết, rơi vào trong cơn choáng váng, cho đến khi trở nên yên tĩnh, tĩnh lặng đến mức khác thường.

Ban đầu, cô ấy là một con cá không xương, trơn nhưng không trượt đi mất, cứ liên tục run rẩy, nhưng bây giờ thì không thể động đậy được nữa.

Anh ấy kể cho cô ấy nghe một câu chuyện:
Trước kia có một thiếu nữ Ấn Độ xinh đẹp, sống ở trong núi sâu, chưa từng nhận được sự giáo dục, cô ấy cảm thấy cơ thể dường như có bệnh, bèn đi tìm thầy phù thủy ở trong núi để chữa bệnh. Thầy phù thủy kia nói với thiếu nữ rằng bên trong thân thể cô có một con ma.

Thiếu nữ hỏi thầy phù thủy ma quỷ ở đâu? Ở chỗ nào trong cơ thể? Thầy phù thủy chỉ rõ cho cô rằng ma ở tại bộ phận sinh dục của thiếu nữ. Thiếu nữ nghe xong thì rất sợ hãi, liền yêu cầu thầy phù thủy bắt ma. Thầy phù thủy đương nhiên là rất sẵn lòng bắt ma. 

Thầy phù thủy bắt đầu bắt ma cho thiếu nữ, chuyện bắt ma không ngờ lại sung sướng như vậy, khi cơn khoái lạc vừa xuất hiện thì ma quỷ cũng chạy mất.

Thế nhưng, một lát sau, thiếu nữ lại kêu lên: “Ma quỷ lại đến rồi!” Thầy phù thủy lại bắt. Một lát sau, ma quỷ lại chạy mất.
Nhưng, chỉ một chốc, thiếu nữ lại kêu lên: “Ma quỷ lại đến rồi!” Thầy phù thủy lại bắt.

Ma cứ đến rồi đi, đi rồi lại đến, đi đi về về, tổng cộng sáu, bảy lần, thầy phù thủy không bắt nổi nữa, thiếu nữ thì được bắt ma tới mức rất sung sướng, còn thầy phù thủy thì cả người hư thoát, kêu toáng lên không chịu nổi nữa. Còn thiếu nữ này thì cứ cầu xin không chịu dừng lại.

Kể từ đó, thiếu nữ này sản sinh ra niềm hứng thú rất lớn đối với việc bắt ma của thầy phù thủy, ngày nào cũng đòi thầy phù thủy bắt ma. Thầy phù thủy ban đầu thì mệt nhoài, đến cuối cùng thì bỏ chạy mất dạng.

Nàng nói:
”Anh nói đi, thiếu nữ đó có phải là em không?”
”Anh không phải là thầy phù thủy.”
”Sau này anh có chạy mất không?”
”Không tệ như thế đâu!” - Trần Bình tự nhận là mình có tài năng thiên phú.

Nàng nói: 
”Kể từ khi có ý thức đến nay, em chưa từng bao giờ sung sướng đến như vậy, thật đó, đó là cảm giác mà mỗi người phụ nữ đều muốn tìm kiếm, muốn hòa tan vào nhau, tiến vào trong sự khoái lạc vô cùng vô tận.”

Nàng nói:
”Vừa rồi có phải là em bị điên rồi không, rít lên gào khóc, rồi lại cười hi hi, rên hừ hừ, đúng là tham lam quá, đúng là có ma quỷ ở bên trong.”
”Anh có yêu em không?” - Nàng hỏi.
”Việc này…”
”Anh có hận em không?” - Nàng hỏi.
”Việc này…”
Nàng nói:
”Em là của anh rồi.”

Về phía Trần Bình mà nói, đối với người dì của mình, anh có một tấm lòng ngưỡng mộ, có một sự mong ngóng, cũng có một sự say mê. 

*Chính tôi cũng mơ mơ hồ hồ rồi. Khi thật sự cả hai đều có tình cảm thì tôi lại sợ, nguyên nhân vẫn là vì cái lễ giáo vốn có, luân lí là sợi dây vô hình trói chặt lấy chính mình.*

Trần Bình thật sự có dục vọng. 

Trần Bình cam tâm tình nguyện, tất cả đều đến một cách tự nhiên, chẳng ai miễn cưỡng ai. Mặc dù không thể xem là hạnh phúc, tốt đẹp, không thể xem là đủ hoàn mĩ, thôi thì xem là hưởng thụ hạnh phúc tạm thời vậy!

Trần Bình tự mình tìm kiếm lời giải thích:
Thượng đế thật sự cũng có loạn luân.
Thượng đế đã tạo ra Adam và Eva, nam nữ nguyên thủy nhất đã kết hôn với nhau.
Sinh ra những anh chị em nam nữ.
Thế rồi các anh chị em lại kết làm vợ chồng với nhau. 
Cứ thế truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Đây chẳng phải là một đại gia tộc loạn luân sao?

🌟

Lần ấy, Trần Bình có một giấc mơ.

*Trần Bình tôi mò mẫm đến một nơi, nơi đó rất u ám, cảm giác tất cả đều tối đen không có ánh sáng ban ngày. Tôi muốn đi ra khỏi nơi đó nhưng không đi ra được, xung quanh đều là người chen chúc nhau thành một đám, còn tôi thì kẹt cứng trong đám người, ngay cả quay người cũng khó. *

*Đám người ấy bàn tán sôi nổi, tôi nghe thấy có tiếng đàn ông, cũng có cả phụ nữ.
”Anh này cùng với ai?”
”Với em dâu tôi.”
”Còn cô này?”
”Với bố chồng tôi.” - Một người vợ trẻ nói.
”Còn ai nữa không?”
”Với chú ba tôi.”
”Còn người này?”
”Với chị dâu tôi.”*

*Lại nghe tiếp, cũng có cả anh chị em gái đến đây, còn có cả mẹ chồng và cháu, cháu gái và ông, bố và con gái, con trai và mẹ…
”Còn anh này?” - Có người hỏi.
”Tôi và dì tôi.” - Tôi trả lời đúng sự thật.*

*Trong thế giới của bóng tối dày đặc đó, tôi cảm thấy một sự ngột ngạt, nhưng đâu đâu cũng là người, những thân thể chuyển động uốn éo va chạm vào nhau, ai nấy đều đau, đều chen lấn, hít thở hết sức khó khăn.*

*Tôi cảm giác mình như bị nhốt trong nhà tù, con người ở đây đều là một đám người lộn xộn hỗn loạn, căn bản chính là những con thú, những con thú bị săn bắt đều nhốt vào cùng với nhau. Tôi nghĩ người khác là thú vật, thật ra chính mình cũng là thú vật.*

*Những con thú này ban đầu tham lam, mê muội, hắc ám, sợ hãi, cắn lẫn nhau…*

*Tôi nghĩ, có khả năng đây là địa ngục, là địa ngục đắm chìm. *

*Tôi sợ sự đắm chìm, đắm chìm thì không còn gì nữa, lập tức bị bóng đen nuốt chửng.*

*Tôi nghe thấy có lính canh ngục tuần hành nói chuyện với nhau:
”Trần Bình cao to đẹp trai kia trừng trị thế nào đây?”
”Cho hắn chết luôn đi!”
”Chết thế nào?”
”Cho hắn một tế bào ung thư.”
”Không, cho hắn bị đâm xe.”
”Đột quỵ là được rồi. Trong não toàn là máu.”*

*Có một lính canh ngục nhiều mánh khóe, kì thực hắn chính là quỷ, hắn nói:
”Cho Trần Bình bị bất lực đi, xuất tinh sớm là hay nhất!”
”Ha ha ha!” - Đám lính canh ngục cười vang.*

*Một phán quan ra mệnh lệnh:
”Trần Bình là một thiếu niên vô lễ, sống trong nhà người thân, lại nhòm ngó người dì xinh đẹp, khởi tâm bất lương, thử hỏi đây là tâm địa gì? Cổ nhân, Cừ Bá Ngọc không lợi dụng nơi tăm tối mà sa đọa đạo hạnh, Tư Mã Ôn Công thuở bình sinh không có việc gì là không thể nói với người khác. Thế còn đây, dưới cơn giông và tam quang, mặt đất nơi mà các thần luôn nhìn thấy, mà dám hành động thách thức không biết xấu hổ. Kẻ nông nổi như vậy thì không thể nào tồn tại giữa trời đất, đã mạo phạm đến cơn phẫn nộ của quỷ thần. Có một loại người như vậy trong đám bạn bè ngao du thì không thể để cho sống tạm một ngày, hãy đem giết Trần Bình, để cho chó hoang gặm rỉa.”*

*Tôi nghe xong thì kinh hãi, mồ hôi lạnh túa ra, tay chân lóng ngóng không biết làm thế nào. Đột nhiên, có một quan âm phủ đến nói với phán quan rằng:
”Tạm thời chưa ban cái chết cho Trần Bình!”
”Vì sao?”
“Trần Bình này khổ học văn cao, hiện đang là bác sĩ giỏi cứu đời. Trước mắt vì quá rảnh mà đã làm bại hoại lễ tiết, quả nhiên là ngặt nghèo. Thấy tương lai của hắn có duyên gặp Liên Sinh Hoạt Phật, khi hắn biết sám hối, tự có thể gột rửa thân tâm, hãy để cho hắn tạm thời chưa chết đi!”
”Tội chết khó tha, tội sống khó thoát.” -  Phán quan hét lớn.*

*Tôi nghe vậy thì run rẩy sợ hãi. Mơ đến đây thì tỉnh lại.*

Trần Bình tỉnh dậy, cũng tự mình suy nghĩ, dì làm sao biết được chuyện của trời đất, chỉ vì lửa dục nhất thời mà đốt cháy cả anh cả tôi, thật là cái sai lầm ngu si, đáng thương cho cả hai con người đều đang lén lút vụng trộm, sống tạm bợ trong những ngày tháng đen tối. Đây chính là ôm một khối ăn năn cả đời, tội dâm ô chẳng thể gột rửa. Một khi đã nhuốm bẩn rồi thì cả đời tẩy không sạch. Tôi tự mình ngẫm nghĩ, thật sự lấy làm đau xót.

Trần Bình đã từng đọc về giai đoạn vua Sùng Trinh đời Tống, có một giai thoại về một vị tiến sĩ là Tào Tê Thao.

Vị tiến sĩ này tự thuật rằng, lúc sinh thời đã lén lút qua lại với người phụ nữ hàng xóm. Chồng của người phụ nữ đó biết được, muốn giết Tào Tê Thao, thế là nói dối vợ mình rằng, ngày mai tôi đi xa, mấy ngày mới trở về. Người vợ nghe xong thì rất vui mừng, cho rằng là thật, liền hẹn Tào Tê Thao, chuẩn bị cho buổi hẹn bí mật của hai người để vui vẻ suốt cả đêm.

Đến ngày hôm ấy, những người bạn thân của Tào tụ tập gặp nhau, bạn bè kéo Tào tới tham gia, Tào không chịu, nhưng bạn bè cứ kéo đi tới hội văn thơ. Chủ hội nói với mọi người rằng, hôm nay làm văn phải sánh bằng kì thi hương, làm văn xong còn có dạ yến, không say không về, nếu ai về sớm sẽ bị phạt. Hơn nữa còn lệnh cho người chặn cửa rồi, các học giả không thể ra vào được. Tào Tê Thao rất khó xử, bất đắc dĩ làm qua loa cho xong một bài văn rồi định đi về sớm.

Bạn bè nhao nhao lên rằng đã có hẹn trước là không được về sớm, hơn nữa còn có dạ yến, không được bỏ về trước. Đợi đến lúc mọi người uống rượu khuya, vì Tê Thao có tâm sự trong lòng, ông ta muốn tư thông với người phụ nữ hàng xóm xinh đẹp nên không muốn uống rượu, nhưng bị bạn bè ép uống, không thể chống lại được kiểu mời anh một chén tôi một chén. Kết quả là Tê Thao say khướt, các bạn đưa ông ta về nhà ngủ. Ông ta không thể đi đến cuộc hẹn kia!

Lại nói về người phụ nữ hàng xóm đã chuẩn bị rượu và đồ ăn, hơn nữa còn tắm gội trang điểm, tựa cửa đứng đợi Tào đến đã lâu. Hàng xóm cũng có một tên vô lại, biết hành vi của người dâm phụ này, nhìn thấy cô ta tựa cửa chờ đã sốt ruột lắm rồi, chắc có hẹn nhưng đợi mà người chưa tới.

Tên vô lại lập tức cố ý trêu ghẹo, người phụ nữ cũng không cự tuyệt, hai người ở trong phòng dan díu với nhau. Người chồng đang ẩn nấp đã nhìn thấy, lập tức cầm rìu chém chết tên vô lại, rồi chặt người phụ nữ thành nhiều đoạn, sau đó xách rìu đi tự thú. Sự việc này gây chấn động cả làng quê.

Tào Tê Thao sau khi biết chuyện thì trong lòng kinh hoàng, liền âm thầm sám hối, hơn nữa còn muốn các bạn làm chứng. Ông ta thề với trời đất thần minh, phát nguyện làm việc thiện để bù đắp lỗi lầm, vĩnh viễn không bước chân vào con đường tội lỗi. Mấy năm sau, Tào Tê Thao đã thi đậu tiến sĩ.

Vị tiến sĩ Tào này đang sống mà không biết mình sắp chết, tưởng sẽ chết mà lại được sống, giữa sống và chết chẳng dễ mà có thể biết được, may nhờ có những người bạn giúp mà ông ta mới tránh khỏi cái chết. Còn tên vô lại kia, dục vọng mới nổi lên đã nóng lòng muốn thử, chẳng ngờ có đại họa ẩn giấu, chỉ chớp mắt một cái đã chết dưới lưỡi rìu. 
Tục ngữ nói, gian thì chết, trên đầu chữ “sắc” có một con dao, thật đúng!

Còn nữa:
Phàm phu ham dục vọng, đời đời chẳng đổi thay. Khi sinh làm thân nữ, thấy nam liền thích ngay. Đời này làm thân nam, lại yêu thân người nữ. Khi thấy người nhơ bẩn, đâu còn khởi tình yêu?
Trần Bình đã cảnh giác rồi.

Nhưng, bạn có biết không, chuyện về loài bọ ngựa ấy?
Khi con bọ ngựa đực leo lên lưng con bọ ngựa cái, khi chúng làm cái chuyện hiển nhiên như trời đất ấy, thế rồi sung sướng quá, liền trút ra hết tinh lực cả đời. Khi con bọ ngựa đực trút hết ra rồi thì toàn thân mềm nhũn nằm sõng soài. Khi ấy, con bọ ngựa cái chẳng thèm quan tâm, lập tức biến con bọ ngựa đực thành bữa ăn ngon thịnh soạn, ăn sạch sẽ từ đầu đến chân.

Trần Bình không chỉ có một con bọ ngựa cái. 
Còn có một nữ y tá từ lâu đã ngưỡng mộ Trần Bình. 
Còn có một nữ bệnh nhân.
Còn có…
Trần Bình bận lắm.

*Tôi thích nghe tiếng thở hổn hển của phụ nữ, thích dùng tay dạo chơi trên thân thể họ, đè chặt hai cổ tay của đối phương xuống rồi tìm kiếm miệng họ, cái thân thể uốn éo ấm áp và hoạt bát ấy, những động tác rung rung lên xuống, trong miệng rên rỉ những tiếng “a… ôi… ây… ơ”. *

*Ở trong chỗ đó thì liên tục nảy lên, nảy lên. 
Cái mùi xác thịt đó thật sự khiến người ta say mê.
Đôi má nóng bỏng, cái lưỡi đầy nhiệt tình táo bạo, những tiếng rên ê a, đôi mắt lim dim đầy dâm đãng. *

Mỗi lần, Trần Bình đều có được sự thỏa mãn dục vọng. Còn đối phương, sau những màn vùng vẫy kịch liệt, sau những cơn lăn lộn khắp giường, vừa gầm gào vừa la hét, vừa túm vừa đập, cuối cùng cũng đạt được sự thỏa mãn cực điểm.

Giữa nam và nữ, khi ngọn lửa dục vọng nổi lên không thể nào chịu đựng nổi thì nhất định cần phải dập tắt nó. Lửa tắt rồi, nguội lạnh rồi, sau khi cơn đại hồng thủy dâng trào thì tất cả lại tĩnh lặng, ôm chặt lấy nhau, chẳng còn cái gì tồn tại, chỉ còn lại hai xác thịt hợp lại thành một, đây mới là thực tại chân thực, mới có thể chứng minh sự khoái lạc, bằng không, cái gì mới là khoái lạc?

Lửa dục vọng này là vô minh, nói khởi lên là khởi, đến từ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, đến từ sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Một khi lửa dục dâng lên tức là cái ham muốn lớn của con người đã đến rồi, đó là một sự mê hoặc, vòng đi vòng lại, từ không cho đến vô tận, rồi lại từ vô tận cho đến không.

Trong “Kinh Bản Nguyện Địa Tạng Bồ Tát”, phẩm thứ tư “Nghiệp cảm của chúng sinh cõi Diêm Phù” có viết: *“Lúc ấy, Phật nói với Địa Tạng Bồ Tát, tất cả chúng sinh còn chưa đạt giải thoát, tính thức của họ không ổn định, thói ác tạo nghiệp, thói thiện tạo quả, làm ác hay làm lành đều theo hoàn cảnh mà sinh ra, luân chuyển trong ngũ đạo, không khi nào tạm ngừng nghỉ, trải qua vô số kiếp nhiều như cát bụi vẫn gặp chướng nạn mê lầm, giống như cá theo dòng nước chảy mà bơi vào lưới, tạm thoát ra được rồi lại chui vào lưới, vì thế chúng ta phải lo nghĩ đến những chúng sinh đó.”*

Và trong phẩm thứ bảy “Lợi ích kẻ còn người mất”, Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát bạch Phật rằng: *“Thế Tôn, con xem xét những chúng sinh cõi Diêm Phù khởi tâm động niệm, không có cái gì không phải là tội. Nếu giành được sự lợi lành thì đa phần đều thối lùi cái tâm ban đầu, còn nếu gặp ác duyên thì chỉ nghĩ muốn được tăng lợi ích. Những hạng người ấy như vác đá nặng mà bước trên bùn nhão, mỗi bước chân đi đều lún sâu thêm, nặng thêm, khốn khổ thêm.”*

Hai đoạn kinh văn này có hai so sánh:
Thứ nhất, như cá theo dòng nước chảy mà bơi vào lưới, tạm thoát ra được rồi lại chui vào lưới.
Thứ hai, những hạng người ấy như vác đá nặng mà bước trên bùn nhão, mỗi bước chân đi đều lún sâu thêm, nặng thêm, khốn khổ thêm.

Trần Bình vẫy vùng trong dục vọng, biết rằng như vậy là không đúng, nhưng đúng là như cá bơi vào lưới, chỉ là tạm thời thoát ra rồi lại chui vào.
Trần Bình đúng là đi vào trong bùn lầy, trên lưng lại cõng thêm tảng đá nặng, rơi vào trong bùn lầy, muốn thoát thân cũng rất khó khăn.

Là ai hại? Kì thực chẳng có ai hại, ai nấy đều biết là tự mình tìm đến. Tục ngữ nói, tiền mà không có hai đồng sẽ không tạo ra tiếng kêu, ta và nàng ngã vào nhau đều là do dục vọng gây chuyện, tự mình ngã vào, tự mình vẫy vùng để thoát ra.
Người có được giấc mơ ấy thì cảnh giác!
Người có được kinh văn ấy thì được khai sáng!

Tâm linh của Trần Bình vùng vẫy một hồi thì cũng không cưỡng lại được sức cám dỗ của khoái lạc dục vọng. 

*Tôi kéo theo những suy nghĩ nặng trĩu, tán loạn, phiền muộn và khoái lạc dục vọng xen lẫn với nhau. Luôn nghĩ là phải kéo mình ra, nhưng càng bò ra thì càng mệt mỏi, bị những sợi tơ dục vọng quấn quanh, trở thành một con nhộng, chính mình bị nhốt trong kén, bị bao vây rất chặt, ở trong bóng tối không khác gì đã chết, không có ánh sáng, ở trong kén tất cả đều là một mớ hỗn độn. Tôi vùng vẫy nhưng hoàn toàn bị vây hãm, bị trói chặt. Một con sâu nhỏ ở trong kén, là tự mình nhả ra tơ để vây chết chính mình.*

Có một đoạn hội thoại giữa người dì và Trần Bình. 
*Dì nói:
”Có phải chúng ta đã tạo nghiệp chướng không?”
”Chắc vậy.” - Chính tôi hiểu rằng đây là nghiệp chướng.
”Tự nhiên dì trở thành một người phụ nữ xấu xa rồi, dì không giữ bổn phận, dì đã dụ dỗ cháu, dì dã có hành vi phóng túng, dì đã trở thành dâm phụ rồi.”
”Là do cháu sai.”
”Người vợ như dì đây thật hạ tiện!”
”Không, không, là cháu cam tâm tình nguyện mà.”
”Như thế này có xem là trả thù hắn không?”
”Việc này…” - Tôi nói: ”Phụ nữ bị ức hiếp đều sẽ mong báo thù.”
”Như thế này là báo thù gì chứ, đây là làm hại cháu, cũng là làm nhục chính mình.” - Khi sáng suốt, người dì luôn luôn tự trách mình như vậy.
Tôi nói:
”Cháu sẽ trân trọng.”
”Không cần phải tốn công sức để đẹp đẽ hóa, đó không phải là yêu.”
”Đó là cái gì?”
”Ham muốn.” - Dì nói: “Sẽ chẳng có kết cục nào cả.” Dì nhìn nhận rất rõ ràng.*

*Tôi cũng biết, chúng tôi sẽ không có kết cục nào, nếu có kết cục thì đó chính là trò cười cho người đời, xuống mười tám tầng địa ngục rồi. Tôi là gian phu, dì là dâm phụ, dâm phụ lại là dì của gian phu, ông trời ơi, làm sao mà sống nổi chứ?*

*Tôi nghĩ đến trên ti vi thường xuyên có những tin tức như vậy. Một cặp tình nhân đi khách sạn thuê phòng, hai người trói chặt mình vào với nhau, rồi cả hai cùng uống thuốc tự tử. Ngày hôm sau, người dọn dẹp đến để làm vệ sinh phòng, thấy cảnh tượng ấy thì thất kinh. *

*Tôi nghĩ, liệu sẽ có thể là tôi và dì tôi không?*

*Bởi vì, tôi mê đắm dục lạc, dì cũng thế. Dì nói, đàn bà đều dâm đãng cả. Con người kì quái như vậy đó, vướng víu lẫn nhau, tự gây phiền phức cho mình, có khoái lạc thì có đau khổ, đều ở trong mớ hỗn độn.*

*“Biển dục cuộn trào mãnh liệt chẳng thể ngăn chặn được.” - Dì nói.
”Dễ vào khó ra.”
”Dần dần chìm xuống thôi!”
”Chìm xuống mất hút.”
”Ừ!”*

*Bộ ngực của dì dán chặt vào người tôi. 
Tôi lại phấn khích rồi.*


### 04. Cắt bỏ “của quý” của anh


Họ đi tới một nơi, họ ở đây là chỉ Trần Bình và đồng nghiệp của anh. Họ cùng xuất phát, đi đến miền Trung tìm một người, người này không phải ai khác, chính là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.

Trần Bình hoàn toàn xa lạ với Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, chưa gặp bao giờ, chỉ là ở trong bệnh viện từng nghe đồng nghiệp nhắc đến, vì vậy chẳng qua cũng có chút ấn tượng mơ hồ. Đầu tiên là có mấy bác sĩ thì thầm kể với nhau vài câu chuyện kì quái. Chuyện vừa kì lạ mà cũng vừa quái đản.

Rõ ràng là mắc bệnh ung thư, khối u to như quả trứng gà, ba ngày trước còn kiểm tra thấy, ba ngày sau sẽ phải mổ, thế mà khối u lại biến mất. Chủ nhiệm khoa phóng xạ kia nói, việc này có liên quan đến vị Hoạt Phật kia. Trần Bình cảm thấy những phần tử tri thức này đều rất hiện đại, thế mà họ cũng không có chút gì kị húy, nói chuyện mê tín mà ai cũng nói rất hăng say.

Còn có cả những bệnh nhân mà bệnh viện từ chối cứu chữa, thật sự là bệnh khó qua khỏi, thông báo cho gia đình đón về, loại bệnh nhân này chỉ còn lại mỗi hơi thở mà thôi. Người nhà của họ đi tìm Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, nghe nói bây giờ bệnh nhân vẫn còn sống phây phây.

Có người bị bệnh tâm thần, mất ngủ 30 năm, thuốc ngủ chưa bao giờ rời thân. Bác sĩ Tiêu ở khoa thần kinh đã khám cho người này rất lâu rồi, bây giờ hoàn toàn không cần uống thuốc, chỉ uống xong một lá phù là đã trở thành một người hoàn toàn bình thường. Còn phù này chỉ là một mảnh giấy.

Còn có bác sĩ Trương ở khoa Tai Mũi Họng nói, ông ấy chữa bệnh ù tai của một bệnh nhân, chữa đã hơn hai năm, đỡ được một chút thì lại bị, lại đỡ được một chút thì lại bị. Bác sĩ Trương dứt khoát bảo người đó đi tìm Lư Thắng Ngạn, không ngờ vị Hoạt Phật đó dùng tay xoa xoa lên tai của bệnh nhân, bệnh ù tai đã khỏi hẳn rồi, căn bản không hề có tiếng gì nữa.

Những chuyện này nghe như thể truyện cười, nhưng các đồng nghiệp ở bệnh viện mỗi khi uống rượu hoặc tụ tập gặp nhau, tán dóc thì đều nhắc đến. Hơn nữa, vị Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn này, chỉ cần bạn đến hỏi thì chuyện gì ông ấy cũng biết.

Thế là mấy bác sĩ và bản thân Trần Bình đã tìm cơ hội để đến gặp. Họ lái xe đến thành phố Đài Trung, rồi còn phải rẽ vào huyện Đài Trung, đi vào trong ngõ nhỏ như ruột gà, vòng vèo mấy khúc quanh mới nhìn thấy một ngôi nhà hai tầng trông rất bình thường không có gì đáng chú ý. 

Hai cánh cửa sắt mở ra là vào ngay phòng khách, trong phòng khách có một chiếc bàn lớn mà Hoạt Phật ngồi, phía trước bàn có hai băng ghế để cho khách ngồi. Ngoài ra trong phòng khách còn có một chiếc ghế tựa dài làm bằng mây để cho khách ngồi đợi. Ghế đã ngồi kín người, những người khác chỉ có thể đứng trong phòng. Phòng khách này không lớn không nhỏ, người đông, cho nên chẳng còn chỗ mà đi lại nữa.

Phía sau phòng khách có một Phật đường nhỏ, bày bàn thờ, thờ phụng rất nhiều Phật, thần, tiên, thánh, Trần Bình chỉ nhận ra Quan Thế Âm Bồ Tát, còn những vị khác thì đều không biết. Bên dưới bàn thờ có cúng bánh ngọt, hoa quả, nước suối, bánh kẹo, v.v…

*Bác sĩ Tiêu vội vàng cảnh báo tôi:
”Đi vào Phật đường phải chắp tay, cũng phải quỳ xuống, phải vái ba lạy, không được suy nghĩ lung tung, những quy tắc này anh phải làm đó.” - Nói như thể bác sĩ Tiêu thường xuyên đến đây.*

Trần Bình nhìn thấy Hoạt Phật từ trên tầng đi xuống, trước tiên là chuẩn bị bút và giấy, rồi mài mực, sắp xếp mọi thứ xong xuôi rồi mới ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế xoay. Hoạt Phật nhìn xuống, trên tay ông ấy có một tập giấy dày, đó chính là những phiếu báo danh đơn giản mà trước đó mọi người đã viết họ tên, địa chỉ, tuổi tác. Hoạt Phật nhìn xuống chính là để đọc phiếu báo danh, mọi người nín thở yên lặng đợi Hoạt Phật đọc tên.

Không ngờ cái tên đầu tiên đọc lên là: “Trần Bình.”
”Có tôi!” - Trần Bình đi nhanh về phía trước, ngồi trên băng ghế. Bọn họ đến sớm, cho nên xếp ngay đầu tiên. Bản thân Trần Bình cảm thấy mình làm bác sĩ đã nhiều năm như vậy, bây giờ bác sĩ Trần Bình này chẳng ngờ lại trở thành giống như bệnh nhân, còn vị Hoạt Phật này nhìn như thể bác sĩ của mình vậy. Trần Bình chỉ là hứng lên thì đi, vì mọi người muốn đi nên anh đi cùng, không ngờ tên anh lại xếp đầu tiên.

*Hoạt Phật nhìn tôi một cái rồi nói:
”Sau lưng anh có một người.”
Tôi quay người lại nhìn, sau lưng tôi có rất nhiều người, không chỉ là một người. *

*Tôi nói:
”Sau lưng tôi có rất nhiều người.”
”Người này không phải là người bình thường.”
Tôi không hiểu gì cả, hỏi:
”Không phải là người bình thường thì là người gì?”
”Là lính quỷ.”*

*Hai chữ “lính quỷ” khiến bầu không khí đột ngột im phăng phắc, đám người phía sau chỉ thì thầm nói nhỏ vào tai nhau. Tôi không lạnh mà run, lại hỏi:
”Lính quỷ đứng sau lưng tôi làm cái gì?”*

*Tôi chỉ thấy cái tai của Hoạt Phật động đậy, ông ấy im lặng một lúc rồi nói:
”Lính quỷ nói, hắn muốn cắt “của quý” của anh!”*

*Bác sĩ Tiêu và mọi người nghe thấy thì tất cả đều cười vang nhà, xém chút nữa thì cả mái ngói cũng bay luôn. Thoạt đầu mặt tôi đỏ ửng, sau đó tôi tức giận:
”Sao ông có thể sỉ nhục người ta như vậy?”
Hoạt Phật bình tĩnh nói:
”Tôi nói sự thật, cũng không thể không nói, những gì tôi nói đều có bằng chứng cả.”
”Có bằng chứng gì?”
”Tự bản thân anh biết.”
”Tôi vẫn không phục!” - Tôi chống đối.*

*Vị Liên Sinh Hoạt Phật này cũng không bực, cũng không giận, nói:
”Con người không chống lại được mệnh. Nếu có một ngày anh có chuyện, anh lại đến tìm Lư Mỗ tôi, Lư Mỗ tôi sẽ giúp anh giải quyết rắc rối của anh vậy!”*

*Đến đây, tôi đứng dậy, không cần phải hỏi tiếp nữa, để cho người khác hỏi đi! Những người xếp hàng phía sau còn rất đông.*

Trần Bình cảm thấy Hoạt Phật này vô lễ, những lời hỏi đáp hoàn toàn vô nghĩa lại còn chẳng hiểu ra làm sao. Trần Bình ngồi lầm bầm khó chịu ở bên cạnh. Trần Bình cảm thấy chuyến này tự mình đến đây, vì sao mà lại đến, nói đúng ra đều là do những người xung quanh ảnh hưởng, nên bản thân nảy sinh tò mò, những con người đứng trong đứng ngoài ở đây đều là tò mò cả, đều mê tín. Những kẻ bịp bợm trong thiên hạ toàn là như vậy, đều là dọa dẫm người ta để mà lừa tiền lừa sắc.

Trần Bình đợi các đồng nghiệp hỏi xong việc rồi mới cùng ra xe đi về. Trên đường trở về, bác sĩ Tiêu nói:
”Rất chuẩn.”
”Cái gì rất chuẩn?”
”10 năm trước tôi gặp tai nạn xe, bị thương ở chân, có để lại một vết sẹo, Hoạt Phật đều biết.”

Một người là bác sĩ Hà cũng nói:
”Đích thực là rất chuẩn.”
”Cái gì rất chuẩn?”
Bác sĩ Hà là một bác sĩ già, bình thường khá trầm và ít nói, ông ấy nói:
”Tôi hỏi về vận mệnh của con gái, không ngờ Hoạt Phật lại nói, con gái ông đã chạy đến nơi sớm chuông chiều trống, hương khói lượn lờ rồi, muốn hỏi về hôn nhân thì ông hãy đi hỏi Phật Tổ đi!”
”Thế con gái ông là thế nào?” - Mọi người đều không biết con gái của bác sĩ Hà có chuyện gì.
”Năm ngoái, nó đã lén cạo đầu xuất gia rồi.”
Trần Bình nghe xong thì không nói gì.

Trần Bình nghĩ, đại khái chỉ có mình là không chuẩn, nói cái gì không biết, muốn cắt bỏ cái đó của mình, lính quỷ muốn cắt cái đó của mình, lời nói nhố nhăng gì vậy chứ, không chuẩn, không chuẩn, quá là không chuẩn.

Bác sĩ Tiêu lại kể tiếp một câu chuyện:
”Từng có một người nhà bệnh nhân đã trực tiếp từ bệnh viện bắt xe đi hỏi Hoạt Phật, Hoạt Phật vừa nhìn thấy thì đã bảo không cần phải hỏi. Người nhà hỏi vì sao không cần hỏi, Hoạt Phật trả lời rằng linh hồn của bệnh nhân đã cùng đến đây rồi, còn phải hỏi nữa sao. Hoạt Phật còn nói, bệnh nhân đã được chuyển đến phòng số bảy. Đồng thời, Hoạt Phật còn dặn dò rằng hãy chỉnh lại răng giả của bệnh nhân cho thẳng, bệnh nhân rất đau đớn vì chuyện này. Người nhà nhận được hướng dẫn lại bắt xe cũ trở về bệnh viện, đúng là bệnh nhân đã qua đời rồi, xác đã được chuyển đến phòng số bảy. Còn vấn đề với chiếc răng giả thì phải mất tới nửa ngày họ mới hiểu. Khi bệnh nhân chết, răng giả không biết vì sao mà rơi ra, đầu nhọn đã chọc vào phần thịt ở trong miệng, điều này đối với người sống mà nói thì rất đau, không ngờ người chết mà cũng đau. Anh nói xem, thần toán của Hoạt Phật có chuẩn hay không!”
Mọi người thở dài.

Bác sĩ Tiêu nói với Trần Bình:
”Trong cõi vô hình tự có vận mệnh.”
Trần Bình đáp:
”Người đoán mệnh nói ra mà chuẩn thì mọi người đều truyền tụng. Nói ra mà không chuẩn thì chẳng có ai nói đến. Người đoán mệnh thích nhất là nói rằng “Vận anh năm nay không tốt, phải chú ý đó!”, hoặc nói “Trước mắt anh có đại họa đại nạn, phải cẩn thận!”, hoặc nói “Anh đã xung phạm với sao xấu, hung thần đó, phải cúng sao giải hạn.” Miệng lưỡi của người đoán mệnh nói vớ nói vẩn, có nói liều thì cũng có thể nói trúng được một, hai điều.”
Mọi người biết tâm sự của Trần Bình nên cũng không ai nói gì, ai nấy nhắm mắt ngủ gật. 

Trần Bình không tin tà. Nhưng thật sự đã gặp phải chuyện xấu. Tục ngữ nói, chuyện may mắn rất khó thành hiện thực, nhưng nếu là tai họa thì vừa nói khỏi miệng đã ứng nghiệm rồi. Đẻ trứng gà thì không thấy, chỉ thấy một đống phân.

Đó là một buổi tối cuối thu lạnh lẽo. Bóng tối dày đặc bao vây lấy Trần Bình và dì của hắn. Trần Bình đang nằm trên người dì của hắn, dang hai cánh tay ra mò mẫm, lần sờ trong bóng đêm đặc quánh. Cô ta thì im lặng đợi Trần Bình đi vào bên trong thân thể của mình. Thế nhưng một lúc lâu vẫn không thấy động tĩnh gì. Cái đang chuyển động là gió, là bóng tối này, cô ta ý thức được đường nét của thân thể này, nhưng đường nét này lại không giống như mọi khi, không có ngọn lửa ấm nóng, ngược lại, lạnh như băng, tĩnh lặng, tiêu tan.

Đó là một vực thẳm vắng lặng, rơi xuống vô tận, sâu thẳm không biết được độ sâu, tối tăm, ở đây dường như không tìm thấy khoái lạc. Cô ta muốn phóng đãng, cô ta vẫn cứ luôn tham lam như vậy, cô ta đã hoàn toàn không còn liêm sỉ nữa, cô ta muốn dùng toàn bộ thân xác để cảm nhận, dù phải xuống mười tám tầng địa ngục, cô ta đều bằng lòng. Cô ta sợ nhất là sự trống vắng cô quạnh, mặc dù cô ta cũng hiểu, tất cả những chuyện này chỉ là ngắn ngủi, nhưng vẫn muốn tóm lấy cái đuôi của sự khoái lạc.

Kết quả là, đầu tiên thì Trần Bình vồn vã đến mức mồ hôi đầm đìa, lúc sau thì trở thành nhắm mắt ngồi im, cuối cùng thì sột soạt mặc quần áo, nghe thấy tiếng bước chân Trần Bình bỏ đi. Cô ta dè dặt nhìn Trần Bình, thấy Trần Bình buồn rầu ủ rũ.

Trần Bình đã rời xa dì của hắn!
Trần Bình đã rời xa nữ y tá!
Trần Bình đã rời xa nữ bệnh nhân!

*Tôi không mặc bộ đồ vét vải tuýt nữa, tôi không là thẳng áo sơ mi cổ trắng nữa, tôi không đeo cà vạt nữa, tôi không còn dáng vẻ bảnh bao nữa, và không còn những người phụ nữ yêu tôi như say như mê nữa.*

*Bởi vì tôi đã trở thành thái giám, công công. Không phải là không còn cái đó, mà là có cũng như không, tôi đã bị liệt dương rồi, bất lực hoàn toàn. *

*Phụ nữ nằm soài trên người tôi, dùng đủ mọi cách, liên tục kích thích đến mức đau đớn mà chẳng có cảm giác gì. Tôi lau nước mắt cho cô ta, chẳng hiểu nước mắt vì sao mà chảy, cô ta gạt tay tôi ra, soi gương vuốt lại mái tóc. Tôi rất yếu ớt, thật sự không có cách nào khởi động được, tôi hoàn toàn biến thành không phải là đàn ông.*

*Đầu tiên dì tôi cười ha ha. Sau đó thì dì không cười nữa. Dì tôi nói không sao cả, nhưng đó chỉ là giả vờ không để ý. Dì đã mua rất nhiều thuốc, rất nhiều thực phẩm bổ, nhưng chẳng hề có chuyển biến tốt đẹp. *

*Bản thân tôi là bác sĩ, chữa Tây y Đông y đủ cả, nhưng vô hiệu.*

*Điều này giống cái gì đây? Giống như tôi cầm chiếc bật lửa, xoẹt, xoẹt, xoẹt, những tia lửa tóe ra xung quanh, nhưng lửa thì không lên được, ngọn lửa ấy từ lâu đã bị cơn gió vô hình thổi tắt rồi. Tôi bật hết lần này tới lần khác, xoẹt, xoẹt, hết lần này tới lần khác thất bại. Trong bóng tối, nỗi sợ hãi đang nuốt chửng lấy tôi từng chút từng chút một, khiến tôi hoàn toàn mất tự tin.*

*Hễ nghe thấy ở đâu có bài thuốc bí truyền là tôi lại tìm đến, nhưng hoàn toàn không bước ra được khỏi màn sương mù mờ mịt, bản thân tôi vẫn cứ mãi mãi buông thõng, giống như một con sâu rơi xuống mặt đất chết quay đơ. Chủ nhân của những bài thuốc bí truyền kia ai cũng có lòng tin rằng sẽ chữa khỏi, nhưng rồi người nào cũng chẳng làm gì được.*

*Trần Bình tôi đã xem một báo cáo đánh giá về các quốc gia khác nhau:
Người Hồng Kông bình quân là 8 phút.
Người Nhật Bản bình quân là 15 phút.
Người Đài Loan bình quân là 17 phút.
Người Mĩ bình quân là 30 phút.
Người Ấn Độ là siêu nhất, 40 phút trở lên.*

*Tôi đọc xong thì bản thân không biết phải cười hay phải khóc. Trước kia tôi toàn trên một tiếng, là siêu đẳng, còn bây giờ thì 0 phút 0 giây.*

*Tôi tìm đến một người miền núi, người miền núi này có thần thuật, có thể đọc rất nhiều thần chú, gọi là pháp tán ma. *

Người miền núi này có rất nhiều phép thuật, có thể chỉ vào thú dữ, thú dữ liền đứng im bất động, sau đó đuổi thú dữ chạy vào cái bẫy mà mình đã đặt sẵn. Người miền núi này đầu tiên sẽ niệm chú, uống một ngụm rượu gạo, rồi phun vào người bệnh, ma bệnh trên người bệnh nhân bỏ đi thì bệnh sẽ khỏi. 

Người miền núi này đã bố trí một đàn pháp tán ma ở tại nhà mình, có người muốn đến nhà y để trộm đồ, nhưng bất kể là đi kiểu gì cũng đều xuất hiện một đám sương mù, không phân biệt được hướng Đông Tây Nam Bắc, cứ đi mãi không ngờ lại đi tới vách núi cao và dốc, quay về cũng là núi cao vực sâu, hướng Đông cũng là vực, hướng Tây cũng là vực, đi thế nào cũng không ra khỏi, cuối cùng chỉ có cách kêu cứu xin tha. 

Người miền núi này chuyên trị bệnh liệt dương, xuất tinh sớm (chạm vào là bùng nổ ngay). Người miền núi niệm một tràng thần chú, niệm lầm rà lầm rầm, có lúc thì chậm rãi, có lúc thì hết sức dồn dập, không ai biết là y đang niệm cái gì. Người miền núi này châm một loại hương đặc thù, mùi nồng nặc mù mịt cả căn phòng tối om. Ánh mắt của người miền núi này rất lạ lùng, con dao cong ở trong tay cứ khua lên trời, rồi lại khua xuống đất, có lúc thì khua về phía Trần Bình. Trong miệng người miền núi ngậm rượu gạo, phun vào bên trái bên phải Trần Bình. 

*Tôi trở về đồng bằng.*

*Tôi mừng thầm trong lòng là có thể tìm được một người miền núi hiểu phép thuật như vậy. Phép trị liệu này rất mới mẻ, rất nhiều người cam đoan với tôi rằng thật sự rất linh nghiệm, công hiệu như thần, lập tức sẽ có sinh khí. Tôi tự cảm thấy dường như có một chút cảm giác đó đang giật, giật, giật, điều này là thật. Nhưng “nó” nhảy giật một chút rồi lại không giật nữa. *

*“Nó” ban đầu dài dài, rồi co rút lại, trở thành ngắn ngủn, biến thành hạt lạc. Oa! Thảm rồi!*

*Tôi vô cùng hoảng sợ, vội vội vàng vàng lên núi tìm người miền núi (thổ dân) kia. Tôi nói, nó trở thành như thế này rồi, tôi phải làm sao đây? Đời này làm sao tôi có thể sống được? Nó chỉ to bằng hạt lạc Đài Loan, còn nhỏ hơn cả hạt lạc Bành Hồ nữa!*

*Người miền núi kia nhìn xong thì cũng ngây ngô, y chưa từng nhìn thấy cái đó lại nhỏ như vậy, trẻ em mới sinh ra cũng chẳng nhỏ như vậy, chỉ là một mẩu, dùng để đi tiểu.*

*Người miền núi nói:
”Trong người anh có ma quỷ.”
”Ma quỷ gì?”
”Ma quỷ biết biến to biến nhỏ.”
Tôi cuống lên, nói:
”Tôi không cần ma quỷ biến nhỏ, tôi chỉ muốn ma quỷ biến to thôi.”*

*Người miền núi mặc áo choàng, buộc thắt lưng, đeo vòng cổ ống bằng bạc, tay cầm cây gậy bằng gỗ có khắc hình động vật, cao bằng nửa người, y liên tiếp đánh xuống mặt trống treo ở trước mặt, tiếng trống “thùng, thùng”. *

*Y lầm rầm cầu nguyện. Y lại ôm một bình rượu lớn đến, cúng từng bát từng bát, cúng trời, cúng đất, cúng núi, cúng sông, rồi uống rượu thừa ở đáy bát một ngụm to. Cuối cùng y nhìn chằm chằm vào ngọn lửa đang bùng lên, ngọn lửa lúc cao lúc thấp.*

*Đột nhiên, y nói:
”Hỏng rồi, hỏng rồi, tôi hết cách rồi, ở trong người anh không phải là ma quỷ, mà là thần, có một vị thần, trên tay cầm một con dao cong, đã cắt mất cái đó của anh rồi, cho nên bây giờ chỉ còn lại một mẩu này thôi.”
Tôi hỏi:
”Có cứu được không?”
”Không cứu được.”
”Ban đầu tôi chỉ bị liệt dương mà thôi, ông làm phép xong thì mới biến thành hạt lạc, đấy là tại ông làm phép.”
Người miền núi nói:
”Đây là tai họa của anh, không phải do tôi làm phép, anh bị cắt ngay từ đầu rồi, lẽ ra ngay cả hạt lạc cũng không có đâu, có thể còn lại một mẩu thế này là đáng mừng rồi.”
”Rõ ràng là do ông làm.”
”Không phải.”
”Tại ông.”
”Tôi không quen biết anh, vì sao tôi phải hại anh?” - Người miền núi nói.*

*Tôi ngẫm nghĩ, hắn nói cũng đúng, tranh cãi cũng vô ích, nên lại vội vội vàng vàng xuống núi. *

*Tôi nhớ đến giấc mơ hồi đầu, cũng nghĩ lại những lời Liên Sinh Hoạt Phật khi thần toán đã nói, bây giờ thật sự ứng nghiệm rồi. Lính quỷ đến từ địa ngục kia trên tay cầm dao, nói là muốn cắt của quý của tôi. Quan địa ngục còn nói, tội chết khó tha, tội sống khó thoát, nhát dao này cắt xuống đã biến nó trở thành một hạt lạc rồi. *

*Bản thân tôi bây giờ không thể nào không rời xa phụ nữ, vì cho dù có gặp thì cũng chẳng có tác dụng gì, đến lúc này thì phụ nữ còn có thể thật lòng yêu thương bản thân tôi không? Sự ủ rũ của phụ nữ là điều mà người đời không thể nào hiểu được, đàn ông và phụ nữ ở cùng nhau, phụ nữ buổi tối mới có sinh khí, tối nào họ cũng hi vọng đàn ông ngủ cùng họ, họ không thể chịu đựng được sự cô quạnh, tôi hiểu nhu cầu bức thiết này, nhưng bây giờ tôi còn có cái gì nữa đâu?*

*Nếu dùng sự đụng chạm, dùng những lời đường mật, nhắm mắt lại, giao tiếp với nhau bằng tâm hồn, thì đó chỉ cho thấy là ta còn đang sống mà thôi, sẽ không thỏa mãn, cũng sẽ mất hứng, không có cảm giác chân thực, phụ nữ rất dễ đi tìm kiếm niềm vui mới, lại đi tìm một nam sinh tuấn tú, thế là họ lại lập tức hào hứng nói cười.*

*Không phải tôi muốn bỏ họ.
Không phải tôi muốn thoát khỏi sự vướng víu của họ.
Mà là tôi không thể giữ chặt lấy họ không buông, họ vẫn có thể tìm được người đàn ông tốt hơn ở bên ngoài.*

*Tôi nói như vậy có thể xem là quá thẳng không? Thật ra không thể xem là như vậy, trên người đàn ông mà không có cái thứ đó thì phụ nữ có yêu bạn không? Có thương bạn thật không? Có còn chăm sóc bạn như một người vợ không? Một người phụ nữ khỏe mạnh đương nhiên cần có tình dục, mặc dù tình dục không phải là tất cả của cuộc đời, nhưng rốt cục vẫn là cần thiết, phụ nữ phải dựa vào người đàn ông, có được sự bổ khuyết từ người đàn ông đó.*

*Còn Trần Bình bây giờ, bản thân tôi đã không còn gì rồi, đã trống rỗng rồi, đã biến thành người bất lực rồi, chỉ còn lại cái thể xác bề ngoài, đến được điểm mấu chốt quan trọng thì lại chạy trốn, trở thành ông chồng tháo chạy trên giường, họ có thể khoan nhượng không? Có thể bao dung không? Làm gì có người phụ nữ nào như vậy.*

Trần Bình chỉ còn là một bát thức ăn thừa vô vị. 
Là đầu mẩu thịt khô bạc thếch.
Là một chiêu lừa người ta mà thôi.

Trần Bình tự mình cảm thấy thế nào là địa ngục. Bản thân mình bây giờ cũng chẳng khác gì sống trong địa ngục, dù là đang sống, chưa hề chết, nhưng bản thân không còn là con rồng bay lượn trên bầu trời nữa, mà là một con sâu róm trên mặt đất, thậm chí còn chẳng được bằng con sâu róm. 

Có một sự đột ngột thay đổi trong trong suy nghĩ như thế này:
Con sâu róm hẹn gặp con sâu róm. Sẽ thế nào?
Mọi người nghĩ thử xem!
Đáp án là chân tay lóng ngóng.

Có thể chân tay lóng ngóng vẫn còn là tốt. Trần Bình bây giờ còn chẳng là cái gì cả. Vẻ bề ngoài của Trần Bình được rất nhiều người ca ngợi, có nghề nghiệp rất tốt, đẹp trai phong độ, những gì cần có đều đã có, nhà cửa, xe hơi, địa vị,…

*Có một lần tôi đi xem trình diễn thời trang, ngồi ở ngay phía trước sàn catwalk, tôi nhìn thấy một cô gái mặc váy hở vai, cô gái ấy chân dài, những đường nét thân thể đẹp vô cùng, không được coi là đầy đặn nhưng dáng vóc cũng rất đáng chú ý.*

*Nhất là khuôn mặt của cô gái, cô có cái miệng nhỏ cong cong, cái mũi cao và nhọn, vầng trán cao, khuôn mặt thuần khiết trong sáng, giống như một người thanh cao. Ánh mắt cô gái cứ chớp chớp rồi lại ngây ngây nhìn chằm chằm vào Trần Bình. *

*Tôi nhìn cô người mẫu này, cô người mẫu này trong bóng tối lờ mờ đã tiến lên trước, cái ánh mắt chờ đợi và mê hoặc người ta ấy đong đưa trước mặt tôi. Trái tim tôi đột nhiên cũng đập rộn ràng, trong chớp mắt, bản thân tôi cũng phơi phới dạt dào cơn khát tình. *

*Mỗi lần cô người mẫu này đi tới lại đưa hai mắt tìm kiếm tôi, còn hai mắt của tôi cũng dán chặt lên thân thể cô ta.*

Sau buổi diễn, có một thông báo được phát trên loa là tìm bác sĩ Trần. Thì ra là cô người mẫu từng được bác sĩ Trần khám bệnh, đó là việc của nhiều năm trước, cô người mẫu đã nhận ra bác sĩ Trần.

Cô người mẫu và bác sĩ Trần hẹn uống cà phê, ban đầu là nói chuyện bệnh lí, sau đó là nói về thời trang, nói về âm nhạc, nói về tôn giáo, nói về máy tính, nói về lí tưởng. Họ nói chuyện rất hợp nhau.

Sau nhiều lần gặp mặt, cô người mẫu và Trần Bình nói chuyện gia đình. Cô nói với Trần Bình rằng cô hi vọng có một gia đình nhỏ mĩ mãn, có chồng, có con, cô không có mong mỏi gì khác, cô sẵn lòng làm nô lệ của Trần Bình và các con, an phận nỗ lực vì gia đình, cô cho rằng như thế chính là hạnh phúc.

*Tình cảm này không biết là phát sinh từ khi nào. Tôi và cô ấy nắm tay nhau, bên tai tôi cô ấy khẽ gọi một tiếng “anh”. Tình yêu ấy đến rất nhanh và nồng nàn, Trần Bình thì đẹp trai, cô ấy thì rất xinh đẹp, nên hai người ngưỡng mộ và yêu mến nhau cũng là hợp lẽ tự nhiên thôi!*

*Trần Bình tôi qua lại với cô gái đều xuất phát từ bản tính, không có một chút gì gượng ép, không có mong cầu gì đặc biệt, cô ấy cũng không hề nũng nịu, cô ấy không kiểm soát cũng không hề chải chuốt thêm, cô ấy và tôi đều đến với nhau một cách rất tự nhiên.*

*Cô ấy hôn tôi không một chút kiêng dè, tôi ngay lập tức bị tình yêu bao vây. Trong cơn khát tình, tôi biết, giờ khắc này, chỉ cần tôi tỏ ý một chút là cô ấy sẽ đi theo tôi, cô ấy sẽ ngã vào tôi, cô ấy sẽ không chỉ để hở vai mà thôi. Mặc dù đây chính là điều mà tôi tha thiết mong muốn, nhưng tôi đành chịu bó tay. Cô ấy đã nhiều lần tỏ ý với tôi, chắc chắn là cô ấy thầm cười tôi ngu ngốc, nhưng làm sao cô ấy biết được rằng tôi là con kiến trong nồi nóng, làm sao tôi có thể khiến cô ấy mất hết hi vọng, đây chính là nỗi sợ hãi của tôi.*

*Đôi mắt của cô ấy, ánh mắt lấp ánh chờ đợi, ánh mắt này rất quen thuộc, dì tôi, cô y tá, bệnh nhân nữ, những người phụ nữ của tôi đều từng có ánh mắt như vậy. Ánh mắt đầy khao khát này, đôi mắt lim dim khẽ khàng thốt lên tiếng “anh” khiến Trần Bình tôi lập tức rơi vào trong si mê, khiến tôi ngây ngất và khoan khoái. Từ lâu tôi đã quên mất sự dịu dàng ấy, bởi vì từ lâu tôi đã ý thức rằng đã không còn cách nào tiếp tục có được cảm xúc mãnh liệt nữa.*

*Chẳng phải là tôi già rồi, chẳng phải do tuổi tác, tôi đang tuổi trai tráng, chỉ là…, chỉ là, tôi đã uống cả trăm loại thuốc mà chỗ đó vẫn chẳng thể nào giương cao mạnh mẽ được nữa.*

*Tôi chỉ có thể quay lưng rời đi.
Có tình bạn thuần khiết không?
Có tình yêu trong sáng không?*

*Mọi người đều biết nam nữ qua lại với nhau đến cuối cùng thì sẽ đều như thế, cho dù người ngu ngốc đến đâu cũng biết. Tôi không chịu nổi ánh mắt đầy mong ngóng của cô ấy, tôi không chịu nổi nét mặt cô đơn thất vọng khi cô ấy biết được chân tướng sự thật, tôi chỉ có thể lắc đầu, khuôn mặt cười khổ, hèn nhát không nói ra được lí do, tôi không xứng với tình cảm tha thiết của cô ấy, trái tim tôi chảy máu.*

*Người tôi yêu nhất chỉ cách tôi một cái với tay, nhưng lại xa tận chân trời.*

*Mối quan hệ giữa tôi và người yêu chỉ có thể yêu theo kiểu tình yêu Plato, từ lâu đã mất đi mối quan hệ hai hợp làm một rồi.*

*Chỉ có thể làm tan nát hai con người chứ không thể dung hợp.
Đây chẳng phải là hình phạt của địa ngục sao?*

🌟

Trần Bình bị liệt dương, có lẽ có người cho rằng sự việc này là mê tín, thật sự không phải, có một bài kệ rằng:
*Mĩ nữ eo thon đeo bảo kiếm
Không chém thánh hiền chém phàm phu
Mặc dù chưa thấy đầu rơi xuống
Xương tủy đã khô tự bao giờ.*

Trong một bài văn về “Bảo thân quảng tự” [cách giữ thân để có đông con cháu] có ghi chép rằng:
Thượng thư nói: Người xưa, đàn ông 30 tuổi lấy vợ, nữ 20 tuổi gả chồng, đó là khi âm dương của họ hoàn toàn đủ đầy. Nếu quan hệ mà có thai thì thai sẽ dễ nuôi dưỡng, nuôi sẽ dễ sống thọ. Hậu thế không biết tuân theo, nam chưa đủ 16, nữ chưa đủ 14 đã sớm sành đời. Vì thế ngũ tạng có những chỗ chưa phát triển đầy đủ, về sau sẽ có những bệnh kì quái, cho nên đẻ nhiều nhưng không nuôi được, dân đa phần chết trẻ.

Người xưa nói: Tiết dục thì sinh nhiều con, người hạng trung đợi phụ nữ sau khi sạch sẽ mới bắt đầu, hoặc vào đêm trăng sáng không mưa gió cũng được, những ngày bình thường thì không gần phụ nữ. Hoặc là ngủ phòng khác, giường khác, chăn khác, không chỉ dễ sinh con mà thân thể chính mình cũng được giữ gìn. Còn như người hạ đẳng thì không kể ngày giờ, hoặc ba, năm đêm một lần, loại người này chắc chắn sẽ có nội thương, như thế là đi vào chỗ chết, chắc chắn tinh sẽ lỏng như nước, không lâu sau sẽ mắc bạo bệnh mà chết.

Thánh nhân nói: Hễ là mồng một ngày rằm thì không được làm chuyện đó. Canh năm nửa đêm [tức 3-5 giờ sáng], dương khí trong người mới sinh ra, lúc này mà làm một lần tương đương với trăm lần, nên không được làm. Người đang ốm bệnh không được làm. Sau khi uống say không được làm. Khi đi xa bằng tàu xe, trong vòng hai, ba ngày không được làm. Khi có gió to mưa lớn, không được làm. Trời lạnh quá hoặc nóng quá không được làm. Vào ngày nhật thực, nguyệt thực không được làm. Sau khi đến đám tang, không được làm. Ngày giữ giới cúng tế, không được làm. Dưới ánh sáng mặt trời, mặt trăng, ánh sao không được làm [tức không được làm ngoài trời]. Ngày Canh Thân, ngày Giáp Tí, ngày sinh của mình, ngày 28 hàng tháng (ngày nhân thần tại âm) không được làm.

Thầy thuốc nói: Sau khi nam nữ quan hệ hoặc mộng tinh, không được chạm vào nước lạnh, không được ăn đồ ăn lạnh, không được uống thuốc giải nhiệt. Nếu như phải uống thuốc chữa bệnh thì phải làm theo lời thầy thuốc. Còn như phụ nữ có thai, không thể dựa hoàn toàn vào bắt mạch, như vậy mới không hỏng việc. Ngày nóng không được tham mát, ngày lạnh không được bất chấp gió mưa, nếu phạm vào chắc chắn sẽ bị chứng quyết âm [bệnh thương hàn ở giai đoạn nặng], nam sẽ bị mất dương, nữ sẽ bị mất sữa, chân tay lạnh như băng.

Cuốn sách về tiết dục giữ thân có viết:
20 tuổi, 7 ngày một lần là chuẩn.
30 tuổi, 14 ngày một lần là chuẩn.
40 tuổi, 28 ngày một lần là chuẩn.
50 tuổi, 45 ngày một lần là chuẩn.
60 tuổi, thiên quý đã cạn. [thiên quý cũng tức là hormone sinh dục của con người]

(Nam 16 tuổi thì thiên quý đến, 64 tuổi thì thiên quý cạn. Nữ 14 tuổi thì thiên quý [kinh nguyệt] đến, 49 tuổi thì thiên quý cạn. Thiên quý chính là thiên nhất thần thủy, ở nam là tinh, ở nữ là huyết.)

“Nhan quang trung” viết: Tâm ham thích của thiếu niên lúc nào cũng có, giống như ăn uống thì thích vị ngon, càng lâu thì càng cuồng, tự mình tiết giảm kiểm soát thì mùi vị sẽ nhạt đi. 

Lại có tà thuyết nói xằng bậy cổ vũ cho cái ham thích đó, nói rằng háo sắc thì mới là anh hùng hào kiệt. Thế là ôi thôi, chim cút chạy vội đi tìm bạn đời, cáo thì lẻn đi quyến rũ, đều là hạng không có trí tuệ, chạy theo cái ham muốn của mình mà vô lễ, thế thì có khác gì cầm thú. Còn những tài sĩ trẻ tuổi lại tranh giành con nhà lành, sẽ bị âm phạt, cái họa chết người ấy đáng sợ lắm thay. Ỷ có tiền mà chơi gái bừa bãi, tiêu hao gia sản, gặp bệnh hiểm nghèo là điều có thể đoán trước.

Liên Sinh Hoạt Phật nói: Thân thể của con người không phải làm bằng kim cương, cũng không phải là máy móc, là tinh huyết của cha mẹ mà thành, nên vẫn chính là cái thân thể máu thịt mà thôi. Con người ngày nay đem cái tinh thần hữu hạn để tiêu xài vô cùng thì làm gì có ai không tinh khô khí cạn. Ví dụ như một cái cây to, bốn năm người tiều phu cầm rìu chặt cây, mỗi người một rìu, ngày ngày đều chặt, thì chẳng đến vài ngày nhựa cây sẽ chảy hết, cây to cũng sẽ đổ.

Tội mà Trần Bình đã phạm:
1. Đi chơi gái điếm.
2. Bất chấp danh phận.
3. Phạm tội trong ngày giông bão.
4. Xâm phạm danh tiết.
5. Quan hệ lăng nhăng.
Có thể nói, anh ta đã phạm vào tất cả những họa tà dâm.

Trần Bình đương nhiên phải bị liệt dương.
Ôi chao, đời người được bao nhiêu, chớp mắt là trăm năm, bất cần danh tiết, không tiếc sinh mạng, thế nhân bây giờ nhiều người như vậy lắm thay!

Sau khi Trần Bình sống buông thả trong dục vọng thì đã phải nếm mùi căn bệnh liệt dương không thể thổ lộ cùng ai. Trần Bình hoang mang, sợ hãi, vùng vẫy. Sau những ngày cuống cuồng chạy khắp nơi tìm thầy thuốc, bản thân Trần Bình cũng đã trở nên mờ mịt. Trong thế giới tĩnh mịch, mặc cho người ta chế giễu mình là bất lực. Đời người như vậy có khác gì cây to đã đổ, chết khô rồi, không còn sinh khí. Thế nên, những người như Trần Bình phải tự mình suy ngẫm đi! Có nhiều phụ nữ như vậy cầm dao cầm rìu chặt ngày đêm không nghỉ, vậy thì chắc chắn sẽ nhận lấy số phận này!


### 05. Đi hỏi dị nhân


Trần Bình men theo một con đường núi, bên phải là vách núi thẳng đứng, bên trái là khe núi, nhìn có vẻ rất sâu. Khe núi này là một con suối, được người địa phương gọi tên là suối Rồng, nước suối Rồng chảy rất nhanh, phát ra âm thanh róc rách. 

*Ánh nắng chiều chiếu xuống khe núi, chiếu trên vách đá tỏa ra nhiều sắc vàng đỏ. Cây cối ở đây là cây sam rừng, mọc ken dày, ánh lên màu xanh rì bóng mượt. Suốt cả đoạn đường tôi phải leo núi trên con đường núi chật hẹp này.*

Khi xuống xe ở suối Rồng, người địa phương nói với Trần Bình đi lên núi chỉ có một lối đi nên sẽ không bị lạc đường, ở lưng chừng núi có một hộ gia đình có thể cho ngủ trọ, ngày hôm sau có thể tìm đến được dị nhân. Khi Trần Bình trèo lên được tới lưng chừng núi thì thật sự đã đầm đìa mồ hôi, trời vẫn còn chưa tối hẳn. 

*Quả nhiên tôi nhìn thấy bên đường có một chỗ núi hõm vào, có một hộ gia đình, trước cửa nhà có một cây ngân hạnh, lá cây rụng đầy trên mặt đất mà không có ai quét dọn.*

*Tôi đi tới gõ cửa, lúc đầu không có ai trả lời. Tôi gõ thêm vài lần mới có tiếng trả lời, sau đó vang lên tiếng bước chân, từ bên trong có một người phụ nữ mặc bộ quần áo đơn bằng vải hoa đi ra, bà ấy không quá lớn tuổi, khuôn mặt vuông vức, dáng dấp thật thà chất phác, thô và rắn chắc. *

*Bà ấy nói:
”Muốn ở trọ à? Muốn gặp dị nhân phải không?”
Tôi gật gật đầu.
Bà nói:
”Không dễ mà gặp được dị nhân, lần này anh đúng là gặp may, hôm qua tôi vừa nhìn thấy ông ấy mới trở về đạo quán.”*

*Bà ấy kể với tôi, người đến tìm dị nhân nhiều vô cùng, ngôi nhà của bà từng có đầy người ở, chỉ vì dị nhân đi ra ngoài nửa năm, những người tìm ông ấy biết tin tức này cho nên mới có ít người đến, vì vậy ngôi nhà này mới trông vắng vẻ như vậy, không có bóng người. Không ngờ tôi đến tìm, mà dị nhân lại trở về sớm hơn, thật là vừa đúng lúc.*

*Trong lòng tôi thầm nghĩ, thật may, nếu không gặp được thì uổng phí công sức đi tới đây một chuyến rồi, thế thì mọi việc hỏng bét.*

*Bà chủ đẩy cửa phòng, dẫn tôi đi vào, bên trong bài trí hết sức sơ sài, chỉ có một giường một bàn mà thôi. Bà từ nhà chính đi ra, cầm theo một ấm trà, rót cho tôi một chén. Bà ấy bảo tôi ăn tối lúc sáu giờ, không có món gì đặc biệt, sống ở trong núi đơn giản, gặp dị nhân mới là quan trọng. *

*Buổi tối hôm đó, tôi ăn một bát rưỡi cơm, một đĩa hạt đậu nành, một bát canh trứng, còn có mấy miếng thịt gà, cũng có thể xem là rất ngon. Trong ngôi nhà ngói ở sườn núi này vẫn có một chút khí lạnh lọt vào, vách ngăn ở trên tầng hai vẫn có gió núi thổi vào qua các khe cửa sổ đóng chặt.*

*Tối đó, tôi nói chuyện một lúc với bà chủ nhà ở gian nhà chính. Tôi hỏi bà ấy:
”Chỉ có một mình cô thôi à?”
”Một mình.”
”Cô không sợ à?”
”Một mình tôi có thể gánh được hai gánh củi to đấy!” - Bà ấy để lộ bả vai, quả nhiên là có cơ bắp, rất cường tráng.
”Còn người thân đâu?”
”Ở dưới núi.”*

*Bà ấy hỏi tôi:
”Anh từ đâu tới?”
”Đài Loan.”
”Đài Loan à? Cũng có người từ Đài Loan tới, nhưng không phải là nhiều lắm. Đầu tiên thì chỉ có người ở suối Rồng chúng tôi biết, về sau thì người ở thị trấn lại lan truyền đi cả tỉnh, bây giờ thì toàn quốc toàn thế giới đều biết rồi.”
”Đúng vậy, tôi cũng ở Đài Loan, nghe người ta nói tới, bảo tôi nhất định phải đến gặp ông ấy, sẽ có được kết quả ngoài sức tưởng tượng, cho nên tôi mới từ rất xa chạy tới đây.”
Tôi hỏi:
”Những người đến đây đều là những người thế nào?”
Bà ấy trả lời rất khéo, bà nói:
”Thì những người giống như các anh đó.”*

*Bà bảo tôi, mọi người gọi ông ấy là dị nhân chủ yếu là vì ông ấy có năng lực khác người thường, ông ấy là bạn bè với những thứ vô hình ở thế giới linh hồn, người ta tìm đến ông ấy, ông ấy tìm đến giới linh hồn, thế là rất nhiều những chứng bệnh phức tạp khó chữa của người ta đều khỏi.*

*Những lời tiên đoán của dị nhân rất lợi hại. Có một lần, ông ấy yêu cầu tất cả người trong làng đều tới ở lại trong đạo quán. Chính vào lúc mọi người ở trong đạo quán thì khu vực suối Rồng mưa lớn suốt ba ngày ba đêm, ngôi làng bị ngập lụt, có một số thôn bị chìm trong nước, đã chết rất nhiều người, chỉ có người ở thôn suối Rồng là không chết một ai.*

*Dị nhân cũng tiên đoán được khi nào sẽ có động đất, quả nhiên là xảy ra động đất. Những tiên đoán của ông ấy quá chuẩn xác, cho nên lãnh đạo cán bộ ở địa phương đều lên núi để thỉnh giáo ông ấy. Bởi tiếng tăm vang dội nên dòng người kéo đến rất đông, ảnh hưởng đến việc tu hành của ông ấy, vì thế mấy năm gần đây, ông ấy thường đi vân du bên ngoài, không thường xuyên ở trong đạo quán nữa.*

*Bà ấy nói:
”Dị nhân chuyên chữa bệnh suy kiệt. Rất nhiều người mắc chứng bệnh teo cơ đặc biệt tới tìm ông ấy, ông ấy chỉ đưa tay ra sờ vào vị trí bị teo đó, rồi đốt một mảnh giấy bồi màu vàng, niệm kinh chú, thế là đã có lực rồi. Rất nhiều bệnh nhân ngay tại chỗ có thể đứng dậy đi được, lúc lên núi thì phải có người khiêng lên, khi xuống núi thì tự đi được. Rất nhiều người còn bỏ luôn cả gậy chống ở trong đạo quán, không cần nữa, tự đi bộ về nhà được!”*

*Trần Bình tôi chính vì hai chữ “suy kiệt” này mà đến. Bản thân là bác sĩ, tôi có thể dùng pháp “chân không”, thuật “cắt ghép”, pháp cấy ghép, nhưng đây đều là những phương pháp y học mới, vẫn là phi tự nhiên.*

*Tôi thích tự nhiên, không muốn miễn cưỡng bản thân đi làm thủ thuật. Bản thân tôi cũng không hẳn là mười phần tin vào sức mạnh của tôn giáo, nhưng thật sự có sức mạnh thuộc về tôn giáo. *

Trần Bình đã đến Montreal ở Canada, ở Montreal có một nhà thờ xây dựng ở trên triền núi, cảnh vật xung quanh vô cùng đẹp đẽ. 

Truyền thuyết nói rằng ở trong nhà thờ này có một tu sĩ, cả đời ông ấy cầu nguyện cha của Chúa Jesus là ông Joseph. Mẹ của chúa Jesus là Thánh Mẫu Maria, Maria là một trinh nữ hoài thai, nên căn bản là Jesus không có cha ruột, nhưng lại có cha nuôi, chính là người thợ mộc Joseph. Thợ mộc Joseph đã nuôi lớn Jesus, vì thế có người gọi Jesus là con trai của người thợ mộc, có chút hạ thấp Jesus.

Tín đồ Thiên Chúa bình thường hướng đến Jesus, hướng đến Thánh Mẫu Maria để cầu nguyện, rất ít người hướng đến Joseph cầu nguyện. Điều kì lạ là, vị tu sĩ này lại một mực cầu nguyện ông Joseph cha của chúa Jesus, sự cầu nguyện ấy đã sinh ra sức mạnh.

Sức mạnh của tu sĩ này là, chỉ cần ông ấy sờ lên đỉnh đầu của khách và cầu nguyện thì người khách vốn bị liệt chân lập tức có thể đứng lên, có thể đứng dậy, bỏ gậy chống ra đi bộ về nhà. Một đồn mười, mười đồn trăm, trăm đồn nghìn vạn, người đến tìm tu sĩ này để cầu nguyện nườm nượp không dứt.

Tòa thánh Thiên Chúa giáo biết được sự việc này, đầu tiên là ra lệnh cấm chỉ, cho rằng có khả năng đây là yêu ma quỷ quái, sức mạnh của tà ma, sức mạnh ma quỷ, của quỷ Satan. Nhưng năng lực của tu sĩ này sau khi được chuyên gia đánh giá thì tuyệt đối là thật, rất nhiều ví dụ đã chứng minh thật sự có năng lực trên phương diện này.

Bên trong nhà thờ có treo đầy những cây gậy ba-toong lớn nhỏ, kín cả một bức tường. Những cây gậy này chính là do bệnh nhân sau khi được cầu nguyện đã vứt bỏ lại, trên thực tế, cầu nguyện đúng là có sức mạnh.

Tu sĩ Thiên Chúa giáo này về sau được phong làm Thánh, giống như Thánh nữ Jeanne d’Arc, đều là sau khi chết thì được phong làm Thánh hoặc Thánh nữ. Thiên Chúa giáo có rất nhiều thiên sứ nổi tiếng, Thánh hoặc Thánh nữ nổi tiếng mà người ngoài đều biết.

Vị tu sĩ kia chỉ có cầu nguyện cha của Chúa Jesus, không ngờ lại có được sức mạnh thần kì, đúng là không thể tưởng tượng được. Trần Bình tin những việc kiểu này, bản thân đã tận mắt nhìn thấy những cây gậy kia.

🌟

*Sáng sớm tôi thức dậy, đánh răng rửa mặt, thay một bộ quần áo sạch sẽ, rồi y theo chỉ dẫn của người nữ chủ nhà đi tới đạo quán để thỉnh giáo dị nhân. Thật sự thì chỉ cần đi theo con đường núi, rồi leo lên mấy bậc đá là đến được đạo quán rồi. Đạo quán cách ngôi nhà mà tôi ở trọ không xa, chỉ là bị một cái cây hạt dẻ vừa to vừa già chặn đường, nên từ bên ngoài không thể nhìn thấy đạo quán được.*

*Đạo quán này không rộng, có bức tường bao quanh vườn bằng đá, đạo quán này hiển nhiên là của Toàn Chân giáo, bởi vì tôi nhìn thấy bia kí của Toàn Chân giáo. Một mình tôi đi một vòng quanh hành lang vắng lặng lạnh lẽo, không dám vội vàng khinh suất, bởi vì tôi biết rất nhiều dị nhân đều có tính tình cổ quái dễ cáu kỉnh, nên tuyệt đối không được quá lơ là. Thế nhưng tôi đã đi rất nhiều vòng mà không nhìn thấy người nào khác. Đại đường của đạo quán ban đầu đóng cửa, tôi dùng lực để đẩy, không ngờ lại đẩy mở được cửa. Bên trong đại đường có một người ăn mặc kiểu đạo giả đang ngồi tụng kinh, âm thanh rất nhỏ, cho nên ở bên ngoài tôi không nghe thấy gì.*

*Đạo giả đó ngẩng đầu lên, tôi nhìn ông ấy một cái. Ông ấy có khuôn mặt rộng, khoảng chừng 40 tuổi, có khí chất anh hùng, râu ria rậm rạp.
Đạo giả hỏi:
”Đến hỏi việc à?”
Tôi gật gật đầu:
”Vâng vâng.”
”Đợi tôi mười phút, tôi sắp niệm xong rồi.” - Khẩu khí của đạo giả rất ôn hòa. Rất nhanh chóng ông ấy đã đọc kinh xong.
Chúng tôi cùng ngồi vào chỗ.*

*Trước tiên tôi thỉnh vấn đạo giả:
”Đạo trưởng chính là dị nhân mà người ta đồn à?”
”Chính là tại hạ, tiên sinh từ đâu đến, làm nghề gì?”
”Tôi từ Đài Loan tới, tôi là bác sĩ.”
Lông mày của dị nhân hơi nhướn lên:
”Từ Đài Loan tới! Làm bác sĩ! Vì sao đến đây?”
”Bởi vì đột nhiên, vô duyên vô cớ mà tôi bị liệt dương.”
”Ha ha ha!” - Dị nhân cười vang, tôi lập tức cảm thấy ngại ngùng.*

*Dị nhân nói:
”Người bình thường cho rằng chuyện gì cũng là vô duyên vô cớ, đột ngột xảy ra, thật ra phàm chuyện gì cũng đều có nhân quả, chỉ là người đời không biết mà thôi.”
Tôi ngẫm nghĩ, cảm thấy những gì dị nhân nói cũng có lí. *

*“Liệt dương không cần chữa.” - Dị nhân nói.
”Không cần chữa ư? Vì sao?” - Tôi kinh ngạc.
”Mất đi mầm tai họa, chẳng phải là quá hay sao!”
”Mầm tai họa gì?” - Tôi không hiểu.
Dị nhân nói:
”Cái đó chính là mầm tai họa, bởi vì con người có cái mầm tai họa này nên kết quả là lục đạo luân hồi, sống cũng vì cái đó mà chết cũng vì cái đó, luân hồi cũng vì cái đó, sinh ra thị phi cũng là vì cái đó, cái đó có thể khiến người ta đoản thọ hoặc bệnh tật, có thể khiến người ta tan nát nhà cửa, hung thần kéo đến khiến người ta bỏ thân mất mạng. Cái đó cực kì nguy hiểm, chẳng phải là mầm tai họa sao?”
”Ngài nói là mầm tai họa, nhưng ai ai cũng cho rằng đó là việc sung sướng mà.” - Tôi nói.
”Từ xưa đến nay, người có nhiều thê thiếp nhất, người có được chuyện sung sướng nhất là ai? Chẳng ai bằng được hoàng đế, phúc lớn mà sự khoái lạc cũng lớn, nhưng thử nghĩ kĩ xem, phần lớn họ đều không sống thọ. Đây chính là làm chuyện tình dục nhiều quá, không biết kiêng cữ, tự giảm tuổi thọ của mình.” 
Dị nhân lại nói:
”Năm dục vọng lớn của con người là tiền, sắc, danh, ăn, ngủ, cái khiến người ta chết nhiều nhất chính là sắc. Đây chỉ là cái sung sướng trong chốc lát mà thôi! Biết bao chúng sinh phần lớn đều chết vì sắc, không đau xót sao!”*

*Tôi nghe một lúc, cũng cảm thấy tương đối có lí. Chính xác, thế nhân chúng ta chính vì sự trống rỗng mới tìm kiếm tình dục, cái trống rỗng sau khi có được tình dục rồi lại khiến ta lần nữa tìm kiếm, tình dục rồi trống rỗng, trống rỗng lại tình dục, không ngừng theo đuổi, đây chính là đời người.*

*Hơn nữa, cái sướng của lửa dục đến từ đâu? Đến từ tinh và trứng, từ sự cọ sát, từ xúc giác, sắc, thanh, hương, vị, xúc, hai nhục thể ôm chặt lấy nhau, là nhơ bẩn, có gì là sạch sẽ?*

*Cái khoái lạc này là tinh huyết, là nước bọt, là mồ hôi, là cái chỗ đi tiểu, làm gì có cái gì sạch sẽ? Nhưng, thế nhân có thể nhìn ra điều đó không? Trần Bình tôi cũng chẳng nhìn ra.*

*Dị nhân đột nhiên hỏi:
”Tôi hỏi anh một câu đơn giản, anh có thể chỉ ngủ với một người phụ nữ không?”
”Tôi…”
”Câu hỏi này rất đơn giản, phụ nữ cũng có thể chỉ ngủ với một người đàn ông không?”
”Ồ…”
”Có tin hay không, đàn ông muốn rất nhiều phụ nữ, phụ nữ cũng muốn rất nhiều đàn ông.”
”Đó là chơi bời thôi.”
”Không, đó là sự mới mẻ, dục vọng của con người là thích mới ghét cũ.”*

*Tôi yên lặng nghe. Dị nhân này là bác sĩ tâm lí. Dị nhân nói:
”Đó chính là tai họa, đó chính là mầm họa. Dục vọng vĩnh viễn không thể lấp đầy, là cái hố không đáy, nam nữ đều giống nhau. Bề ngoài thì đều là những kẻ chính nhân quân tử, giữ bổn phận, thật ra tâm lí của chính mình biết rằng bản thân mình có bao nhiêu tội chướng, bản thân mình đã tạo ra bao nhiêu nghiệp, đàn ông dụ dỗ phụ nữ, phụ nữ quyến rũ đàn ông, là ai thấp hèn, là ai cam tâm tình nguyện, là ai chà đạp ai, là ai muốn trả thù ai, là món nợ ai nợ ai, rồi là ai rời xa ai. Con người nên cảnh giác, đây là mầm họa đó! Khi từ yêu biến thành hận, đàn ông muốn giết chết đàn bà, đàn bà muốn giết chết đàn ông, lúc này thì chính là điên rồi, điên cũng là do tình dục ép, không phải sao?”*

*Dị nhân nói:
”Tình dục khiến người ta hưng phấn, khiến người ta kích thích, cũng sẽ khiến người ta mắc chứng cuồng loạn, vừa yêu vừa hận, vừa hoang mang vừa mâu thuẫn, vừa khóc vừa cười, vừa quậy từng bừng vừa nhảy chồm chồm, vừa tự sát lại vừa giết người khác, nhưng cuối cùng, mọi sự quyết tâm lại trở thành uổng phí, tất cả bắt đầu lại từ đầu, sẽ càng khó thoát ra.”*

*Tôi nói:
”Vẫn không buông bỏ được.”
”Không buông bỏ được cái gì?”
”Cái tâm mê sắc dục.” - Tôi nói thật.*

Trần Bình lại nhớ đến cái lần với cô người mẫu. Hai người ở trong phòng. 

*Cô ấy rót trà cho tôi. Tôi đưa tay ra cầm thì chạm vào tay cô ấy, thế là tôi theo đà nắm chặt lấy tay cô ấy, kéo một cái, cô ấy ngoan ngoãn dựa vào người tôi, tôi liền ôm lấy eo cô ấy kéo vào trong vòng tay mình, thân thể cô ấy vừa ấm áp vừa mềm mại. 
”Em có muốn anh không?”
”Muốn.”
”Em có yêu anh không?”
”Yêu.”*

*Tôi nhìn đôi môi mọng như quả anh đào, cái lưỡi như nụ đinh hương, bèn ghé miệng vào hôn, lưỡi và lưỡi quấn lấy nhau. 
Tôi bế cô ấy lên giường.
Thân thể cô ấy uốn cong, giống như con lươn từ dưới nước quăng lên bờ, lẩn trốn hết sức nhanh nhẹn và hoạt bát. 
Cô ấy nói: “Anh!”
Tiếng gọi “anh” này khiến toàn thân tôi tê dại.*

*Đột nhiên cô ấy cầm lấy tay tôi, nhẹ nhàng đưa vào trong váy cô ấy, đặt tay tôi lên bầu ngực căng phồng của cô ấy. Toàn thân cô ấy dường như tê liệt. Tôi cũng tê liệt rồi.*

*Tôi hôn cái miệng ướt át của cô ấy, hai tay tôi dạo chơi khắp trên thân thể trắng ngần của cô ấy, kiểu vuốt ve này là một sự hưởng thụ lớn của cuộc đời. Thân thể ngọc ngà của cô ấy khẽ run rẩy, và mọi bộ phận trên người cô ấy đều trở nên rất nhạy cảm, tôi biết cô ấy có ham muốn, mặt cô ấy nóng bừng, cô ấy liên tục chủ động mở chân ra. *

*Tôi thừa nhận mình cũng có ham muốn, giống như một vòm lửa đang đốt cháy ở vùng trán, một vòm lửa đang đốt nóng ở trong người, tôi có nhu cầu ấy, dục vọng ấy giống như con sâu muốn chui ra khỏi thân thể tôi.*

*Điều tồi tệ là ở chỗ dưới của tôi, cái đó từ đầu tới cuối chẳng có cảm giác gì cả, nó chẳng hề động đậy, tôi là tôi, nó là nó. Tôi biết là tôi muốn người phụ nữ này, cô ấy cũng muốn tôi, chúng tôi say mê nhau, nhưng vào lúc vuốt ve lên đến cao trào nhất thì tôi lại rời khỏi người cô ấy, hết sức thẫn thờ.*

*Khuôn mặt cô ấy có biểu cảm ngạc nhiên, dường như muốn nói rằng, vì sao tài xế lại đột ngột phanh xe lại khi mà chẳng hề có bất kì tình huống gì xảy ra?
”Anh trân trọng việc này, muốn đợi đến khi kết hôn à?” - Cô ấy cho rằng tôi bảo thủ.
Tôi lắc đầu.
”Hôm nay không thích hợp à? Người anh không khỏe à?
Tôi im lặng lắc đầu.
“Anh sợ chịu trách nhiệm, anh không muốn kết hôn với em à?” - Cô ấy nghi hoặc.
”Không phải.”
”Anh không thích thân thể em à?”
”Không phải.”
”Vậy rốt cục là vì sao?”*

*Tôi không trả lời, tôi cũng không có cách nào trả lời được, tôi có một nỗi khổ sở chán chường, nỗi đau khổ không thể để người ngoài biết, nếu tôi nói ra thì chẳng phải là trò hề cho thiên hạ sao. Đường đường là một người phong độ tuấn tú, cao to cường tráng, nhưng tôi có thể nói gì đây?*

*Cô ấy nói:
”Đương nhiên là anh đã gặp nhiều người rồi, không muốn một người mẫu như em đây.”
”Không phải đâu. Chỉ là anh…” - Tôi muốn giải thích, nhưng vẫn không dám. 
Cô ấy nói:
”Anh không cần giải thích, em không nghe, sau này em không làm phiền anh nữa.” - Cô ấy tức tối bước xuống giường, mặc quần áo lên. 
Cô ấy nói:
”Em sẽ không bám theo anh nữa, anh cứ yên tâm, em là người phụ nữ không miễn cưỡng anh, anh đừng cho rằng em cần tiền của anh, thân phận của anh, địa vị của anh, em chỉ vì một thứ tình yêu đáng trân trọng thôi.”
Tôi thở dài một hơi:
”Anh muốn…”*

*Cô ấy chải qua mái tóc, cầm ví lên tay, đi giày rồi đạp cửa bỏ đi.
Để lại một mình tôi, trong lòng đầy căm hận, căm hận cái đó của mình. Bởi vậy tôi chỉ muốn chữa khỏi nó, bất luận thế nào cũng muốn chữa khỏi nó.*

*Trần Bình tôi rất muốn thật lòng thật sự nói với dị nhân rằng:
”Không thể nào quên cái tiếng gọi “anh” khiến người ta say ngất ngây ấy, không thể nào quên bộ ngực căng phập phồng ấy, không thể nào quên tấm thân ngọc ngà lăn lộn khắp giường ấy…”
Nhưng tôi không nói ra được rằng tôi nghiện cái lúc mà người phụ nữ thỏa mãn, cái kiểu co thắt lại ấy, cái kiểu thả lỏng ấy, cái kiểu lăn lộn vừa gồng lên vừa buông lỏng ấy. Mặt tôi đỏ bừng.*

*Dị nhân đã biết. Dị nhân nói:
”Được rồi! Tôi sẽ giúp anh thỉnh cầu chữa trị vậy!”
”Cảm ơn!” - Tôi xấu hổ nói: “Tôi không thể nào học theo ngài sống thanh tâm quả dục như thế này được.”*

*Nét mặt dị nhân bỗng trở nên nghiêm túc, hoàn toàn mang một dáng vẻ khác hẳn. Tự tay ông ấy thắp một nén hương ở trước đạo đàn, rồi còn cúng một bát cơm, một chén trà, một quả trứng, một đĩa hoa quả tươi. Trên tay ông ấy cầm một bát nước lọc hay rượu, vẩy lên trời trước, sau đó vẩy xuống đất, vẩy bốn phía, trong miệng niệm mấy chữ.*

*Dị nhân niệm:
Nhất tâm cầu thỉnh, Đông phương Mộc Công, Tây phương Kim Mẫu, Nam phương Hỏa Đức, Bắc phương Thủy Đức, Trung ương Thổ Đức.
Nhất tâm cầu thỉnh, Tử Vi Đại Đế, Bắc Đẩu Ti Mệnh, Nam Đẩu Diên Thọ, tứ phương Chân Quân.
Nhất tâm cầu thỉnh, tứ diện bát phương chư vị đồng tử, Đông phương Thanh Y Đồng Tử, Nam phương Hồng Y Đồng Tử, Tây phương Bạch Y Đồng Tử, Bắc phương Hắc Y Đồng Tử.
Nhất tâm cầu thỉnh, Trần Bình Trần Bình, ba vạn sáu nghìn hồn hồn phách phách, tiến lên trước nói nghe rõ ràng.
Hồn phách hồn phách chớ chơi đùa
Chân Quân có thỉnh mau về nhà
Nếu gặp nơi tối tăm
Sẽ chỉ cho đường sáng
Nếu rơi vào địa võng
Kéo vàng cắt đứt ngay
Chớ tham đắm cảnh đẹp
Khuyên thỉnh mau về nhà.*

*Dị nhân ấy miệng cứ niệm, tay cầm lệnh bài, tiến đến đập lên trên mặt bàn, thế rồi dừng niệm chú. 
Đôi mắt nhắm sụp xuống, ung dung thản nhiên.
Chỉ khoảng vài phút vài giây sau, dị nhân tự động có bộ dạng nghiêm túc của sự thông linh.*

*Dị nhân nói:
”Lần cầu thỉnh này, từ trên người anh có một vị quan âm phủ xuất hiện, trên tay cầm dao cong, vị quan âm phủ này đã cắt bỏ cái đó của anh.”
Trần Bình tôi nghe xong thì mặt mày xanh lét, biết dị nhân này có năng lực thông linh, quả nhiên đã nói trúng rồi, đúng là kì diệu.*

*Dị nhân trịnh trọng nói với tôi:
”Muốn khỏi thì đi tìm Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đi! Quan âm phủ nói như thế.”
Tôi nói:
”Tôi từ xa đến đây là muốn thỉnh ngài chữa giúp.” - Tôi lại vái lạy.
Dị nhân nói:
”Năng lực của tôi có thể cắt bỏ lành dữ của con người, có thể giúp người ta cầu con trai con gái, có thể hóa giải hung sát, có thể cúng tạ thổ thần, có thể giúp người ta chữa những chứng bệnh suy thoái, có thể thỉnh thần thỉnh hồn. Trong đó việc chữa trị những bệnh suy thoái ở đây là trẻ em bị bại liệt, cơ thịt bị teo, chứ không phải là cái đó bị teo.”*

*“Vì sao nhất định phải là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn  mới chữa được?” - Tôi không hiểu.
Dị nhân trả lời:
”Theo như tôi biết, vị Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn này chính là một cao tăng đắc đạo chân chính, những diễn hóa của ngài ấy không thể coi thường được, đó là một vị Đại Bồ Tát hạ phàm trần thật sự, không phải là tôi tán dương ông ấy, mà chư thiên thần thánh đều ca ngợi ông ấy. Hôm nay quan âm phủ đã hiện thân, cũng chỉ thị rằng không phải là ông ấy thì không chữa được. Đạo hạnh của tôi vẫn còn nhỏ bé, tự anh đi thỉnh ông ấy đi!”*

*“Vậy chuyến này tôi đi chẳng phải là uổng công sao?” - Tôi thật sự không cam chịu.
”Cũng không phải uổng công, tôi có một tấm linh phù, đây là thiên sư chân truyền, đeo vào sẽ gặp đại cát!”*

*Tôi nói:
”Tôi thấy đạo quán này là Toàn Chân giáo, sao cũng có linh phù của Thiên Sư?”
Dị nhân đó đáp:
”Đạo và pháp vốn là một nhà, không phải một không phải hai, pháp thì tôi học Chính Nhất phái, đạo thì tôi học Toàn Chân phái, không hề xung đột.”*

*Tôi hỏi:
”Ông từng gặp Liên Sinh Hoạt Phật chưa?”
Dị nhân đáp:
”Bạn tri âm.”
”Vì sao không sánh bằng Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn?”
”Mỗi người có sở trường riêng.” - Khẩu khí của ông ấy rất ôn hòa.
Tôi biết không cần phải hỏi thêm nữa, liền gửi một chút tiền hương đèn, vái chào các vị ở đạo đàn, rồi đi xuống núi.*


### 06. Lời uế tạp


Phật giáo nói về năm giới, năm giới này là không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngữ, không uống rượu. Không sát sinh là không giết hại sinh mạng, không trộm cắp là không lấy trộm tài sản của người khác, không tà dâm là không làm những chuyện dâm dục ngoài vợ chồng, không vọng ngữ là không nói điều lừa đảo dối gạt người khác, không uống rượu là không dùng các loại rượu hoặc thuốc độc có chất gây mê hoặc nhân tính. 

Ngày xưa, Phật Đà đã ban cho các đệ tử tại gia năm giới này sau khi họ nhận tam quy y xong, để họ trở thành những ưu-bà-tắc và ưu-bà-di, nếu đệ tử tại gia mà phá năm giới thì không còn là đệ tử Phật thanh tịnh nữa.

Trong đó, không vọng ngữ bao gồm:
Vọng ngữ. (nói dối)
Hai lưỡi. (đơm đặt thị phi)
Xấu miệng. (ăn nói tục tĩu)
Lời uế tạp. (nói phiếm, nói lời vô nghĩa)

Lời nói phiếm, vô nghĩa ở đây bao gồm những lời nói uế tạp. Lời uế tạp là gì? Chính là những truyện cười khiêu dâm mà người ta nói đến.

Đối với Phật tử thì truyện cười khiêu dâm đương nhiên là phạm giới, cái này cũng giống như phạm vào khẩu nghiệp, phàm là những lời nói phiếm vô nghĩa thì đều không được nói, huống hồ là những truyện cười khiêu dâm.

Trong bệnh viện của Trần Bình có khối người thích kể truyện cười khiêu dâm, bác sĩ nói, y tá cũng nói, ở trong phòng mổ cũng nói. Có người nói, trong phòng mổ mà kể truyện khiêu dâm sẽ khiến tinh thần hưng phấn và được giải lao, mọi người cười lớn ha ha, vì thế mà quên đi những lo lắng.

Bản thân Trần Bình không biết kể chuyện, nhưng Trần Bình lại nghe nhiều, ví dụ:
Có ba loại phụ nữ không thể lấy làm vợ. Đó là ba loại nào?
Loại thứ nhất là tiếp viên hàng không, bởi vì tiếp viên hàng không đều làm việc ở trên.
Loại thứ hai là giáo viên, bài tập về nhà đặc biệt nhiều.
Loại thứ ba là nhân viên phục vụ thang máy, cô ấy sẽ kêu lên, tiến vào thêm một chút, tiến vào thêm một chút.

Có ba loại đàn ông không thể lấy làm chồng. Đó là ba loại nào?
Loại thứ nhất là người đưa thư, ném ngay ở cửa rồi vội vàng bỏ đi.
Loại thứ hai là biên tập viên tạp chí xuất bản hàng tháng, một tháng mới ra một kì.
Loại thứ ba là thợ sơn, một cái nhà mà mấy năm mới sơn một lần.

Lại ví dụ nữa:
Đàn ông làm rất nhanh, là thành ngữ gì?
”Đời đời bất diệt.”
Phụ nữ làm rất nhanh, là thành ngữ gì?
”Gió vào nhà trống.”
Ba nghìn mĩ nhân ở hậu cung sẽ là câu:
”Ngọc không mài không thành ngọc đẹp
Que sắt mài thành kim thêu hoa.”
v.v…

Những lời nói thô tục này người bình thường cho rằng chẳng có gì, bình thường người ta tụ tập vẫn hay nói, nói xong rồi thôi, nhưng đây chính là những lời uế tạp, lời phiếm, lời vô nghĩa trong ngũ giới, có tác dụng mua vui, nhưng lâu ngày, vào những tình huống không đề phòng, sự thanh tịnh của tâm hồn cũng sẽ không gìn giữ được.

*Những gì mà tôi nghe thì còn nhiều từ ngữ tục tĩu hơn, thế nhân không ít người giỏi nói kiểu này, thậm chí nghe nói có người làm giáo viên, trước mặt hậu sinh tiểu tử mà cũng nói mấy truyện cười này, cho rằng có thể khiến tụi học sinh thích nghe giảng hơn, không đến mức lên lớp là ngủ gật. Thế nhưng chúng là những người trẻ tuổi thiếu kinh nghiệm, không biết lợi hại, hễ nghe thấy những truyện cười đồi trụy là dục vọng trào lên, từ đó dễ dàng phá bỏ sự ngây thơ của bản thân. Những học sinh ấy xương tủy còn chưa đầy đủ, kết cục là bị những lời nói tục tĩu kia làm hại, đến nỗi bỗng dưng mắc bệnh, thậm chí chết yểu, có người gặp họa cả đời, đây thật sự cũng là do sự cổ vũ vô tâm của những người bên cạnh.*

Vì vậy Phật tử phải nói lời ngay thẳng giữ quy tắc giới luật, không được nói lời tục tĩu, để tránh sau này phải vào địa ngục rút lưỡi.

Bản thân những việc dâm dục mà Trần Bình đã phạm vào không chỉ là buông thả dục vọng mà còn là thích thú tụ tập nghe những lời tục tĩu, kết bạn rồi lang thang ở những khu đèn đỏ, thích những cuộc gặp gỡ bất ngờ, tự xưng là hạt giống đa tình, cướp ngọc trộm hương làm chuyện lăng nhăng, coi cái việc bại hoại luân thường đạo lí là chuyện bình thường, khiến nó trở thành không có gì phải kiêng dè nữa.

Trào lưu thời đại đã thay đổi rồi. Con người hiện đại giống như Trần Bình đây, không biết là có bao nhiêu người từ khi còn trẻ tuổi đã mất đi sự ngây thơ, dần dần buông thả bản thân, sa vào sự buông thả dục vọng. Vốn dĩ dục vọng thì ai ai cũng có, không học cũng tự biết, phòng bị rất khó, bẩm sinh đã có nhu cầu này, lại cộng thêm ngày nay, những lễ giáo đã hoàn toàn mất đi, luân lí đã mất hết, thậm chí có người trắng trợn khởi xướng, dụ dỗ những thanh niên nam nữ bình thường đến mê loạn điên đảo, tạo nên bao nhiêu vụ bê bối làm bại hoại thuần phong mĩ tục.

Lời uế tạp không phải là những lời đứng đắn.
Nói thẳng ra, lời uế tạp cũng là một cái hại, không tốt đối với học sinh thanh niên, có ảnh hưởng không tốt, Phật tử không nên tuyên thuyết.

Dẫu rằng như thế, Trần Bình vẫn vùng vẫy và mâu thuẫn trong biển dục, khó mà nói rõ ràng, nói để cho hiểu rõ về sắc dục được. Cũng giống như một đứa trẻ, rõ ràng biết rằng ăn kẹo sẽ có hại cho răng, nhưng vẫn thích ăn kẹo, hơn nữa còn không biết kiềm chế, ngay cả buổi tối đi ngủ cũng phải ngậm kẹo đi ngủ.

Lời uế tạp cũng như thế, thích nghe và cũng sợ nghe. Trong dục vọng, Trần Bình thật sự không có cách nào thoải mái thong dong được. Khi dục vọng dâng lên thì cũng có khoái lạc, nhưng khi khoái lạc qua đi rồi thì có sự trống rỗng vô hạn, khoái lạc chỉ trong phút chốc, còn sự trống rỗng thì dài lâu.

Dục vọng là một sự vật lộn, ở đây ẩn giấu gió kiếm sương đao, bề ngoài thì mềm mại nhưng thật ra là những lưỡi kiếm, có tính nguy hiểm thật sự, sẽ dẫn đến những cái họa tự giết mình. Trong sự say mê tuyệt vời, trong sự sung sướng như tiên, sướng muốn chết ấy, có thể nói là ẩn giấu trùng trùng nguy cơ chết chóc.

Có phải là đỉnh cao của hạnh phúc không?
Hay là địa ngục của sự tuyệt vọng?

Vĩnh viễn không có kết cục, hơn nữa một khi đã rơi vào thì vĩnh viễn không biết nông sâu, mặt đầy gió xuân và mệt mỏi toàn thân là ngang nhau.

Trần Bình tự đối thoại với chính mình:
Cái gì là dục vọng?
Không biết.
Được mất của dục vọng?
Khoái lạc và trống rỗng xen kẽ nhau, được chính là mất, mất chính là được.
Dục vọng có trí tuệ không?
Vừa hay ngược lại, dục vọng một khi khởi lên thì hoàn toàn lạc đường.
Dục vọng có hạnh phúc không?
Khó có câu trả lời.
Dục vọng có nguy hiểm không?
Dục vọng là khó an bình nhất, là không bằng phẳng nhất, rất nhiều tổn hại đến từ dục vọng, nó là thứ có tình nhất mà cũng là vô tình nhất, cái người cầm dao găm đâm bạn cũng là dục vọng, dục vọng là mầm họa.
Dục vọng có khổ não không?
Nó chính là nguồn gốc của khổ não, vì sự sung sướng nhất thời mà vĩnh viễn bi ai.
Giải quyết thế nào khi dục vọng nổi lên?
Khó.
Rõ ràng biết dục vọng là không được, vì sao vẫn muốn làm?
Tham.
Dục vọng có thể khiến ta như thế nào?
Ngây ngô dại dột, càng lún càng sâu.
Dục vọng có dừng lại không?
Dục vọng của con người là vô cùng, thỏa mãn xong một ham muốn sắc dục lại sản sinh ra ham muốn sắc dục mới, quá trình của cuộc đời là hết cái này tới cái khác, dục vọng vĩnh viễn không dừng dứt.
Hình thái của dục vọng là gì?
Khoái lạc, trống rỗng, khóc cười, sướng khổ, sảng khoái, rối trí.
Con người là cái gì?
Là kẻ bị dục vọng thúc giục.

Khi các dục vọng xung đột với nhau thì sẽ thế nào?
Khi dục vọng và dục vọng xung đột với nhau thì sẽ có tranh chấp, sẽ làm tổn thương lẫn nhau, không thể thỏa mãn, sẽ buồn phiền đau khổ, dục vọng của con người là vô cùng, đau khổ cũng không bao giờ dừng dứt.

Rất khó để ngăn cấm sắc dục, sắc dục chính là một cái tham trong bản tính con người, giống như đánh bạc thì rất khó để tự mình thoát ra, hút ma túy rất khó tự mình thoát ra, cũng rất khó để tự mình thoát ra khỏi sắc. Sắc dục là đàn ông chiếm hữu phụ nữ, phụ nữ chiếm hữu đàn ông, sắc dục sâu thẳm không đáy, rất nhiều người đi xuống vực sâu này, không có cách nào tự mình thoát ra.

Trên thực tế, cái sung sướng của sắc dục vĩnh viễn không thể nắm giữ, còn người đã rơi vào rồi thì ra sức muốn nắm giữ lấy cái sung sướng, dường như có mà cũng dường như không có, rất ít người có thể có đủ trí huệ để xử lí, đại bộ phận đều là một mớ lộn xộn. Mặc dù có sợ hãi, cũng có day dứt, càng nhiều đau khổ thì càng không kể hết sự trống rỗng, giống như lừa lọc và tội ác, nhưng ai ai cũng vẫn cứ chạy theo như vịt.

Trần Bình trở về từ chỗ của dị nhân, bản thân đã nghĩ rất nhiều, cảm thấy mình rất tầm thường, giống với mọi con người bình thường, không có gì nổi bật, bản thân chỉ mong muốn có một tổ ấm nhỏ bình thường.

Trần Bình đã đến tuổi trung niên, chỉ muốn chữa khỏi, sau đó có một tổ ấm bình thường. Anh hối hận về những gì mình đã từng làm trong quá khứ, rất muốn được yên ổn làm lại từ đầu. Không muốn tiếp tục đi nữa, muốn quay đầu trở lại con đường chân chính. Chỉ mong chữa khỏi, sẽ thề cải tà quy chính.


### 07. Mưa mùa đông ở Seattle


Khi máy bay đến gần vùng trời Seattle, mọi người thường hay mở ô cửa sổ nhỏ nhìn xuống núi sông dưới chân mình, những cánh đồng xanh tươi, những ngọn đồi nhấp nhô, hồ Washington, ánh nắng phản chiếu trên mặt hồ Sammamish trong vắt như pha lê, hương thơm của không khí nơi đây, và ngọn núi Rainier ở phía xa xa thực sự khiến lòng người nao nao lưu luyến.

Seattle là một thành phố lớn ở miền Tây Bắc nước Mĩ, phía trên của thành phố này, lái xe ba tiếng đồng hồ sẽ đến thành phố Vancouver của Canada. Còn đi xuống phía dưới, đầu tiên là đến Tacoma, sau đó là tới thành phố Portland thuộc bang Oregon. 

Cái tên Seattle là tên của một tù trưởng người Indian [Anh-điêng], cũng giống như cái tên Tacoma, đều là họ tên của tù trưởng được lấy để đặt tên cho thành phố. Thành phố này mặc dù là thành phố lớn nhưng còn thua xa New York, Chicago, Los Angeles, San Francisco…

Mặc dù Seattle là thành phố lớn nhưng lại có hương vị của nông thôn, ở thành phố này có tiếng sóng biển rì rầm, có những sông hồ uốn lượn, có dốc núi, có những rừng cây tùng, sam, bách và cây bụi, có những khu nhà xây tựa vào núi mà bạn chưa từng bao giờ nghĩ đến ở nơi vách đá cheo leo đó không ngờ vẫn có người ở.

Có hai cây cầu nổi nối liền hai đô thị phía Đông và Tây, ánh tà dương chiếu xiên xiên lấp lánh chói mắt, ánh mặt trời rơi trên mặt hồ Washington, bờ Tây là trung tâm thành phố, bờ Đông là khu nhà ở đông đúc dày đặc, chốn này là thôn quê trong thành phố, thành phố trong thôn quê.

Sông ở Seattle lấp lánh trong veo. 
Không khí ở Seattle thơm mát vô cùng.
Seattle không có rắn, không có muỗi, còn phải đi đến nơi nào để tìm kiếm miền đất yên vui ở nhân gian nữa đây?

Vì thế, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn vào năm 38 tuổi đã đưa Thượng sư Liên Hương, Phật Thanh, Phật Kì từ Đài Trung của Đài Loan di cư đến Seattle. Ban đầu họ sống ở phía Bắc Seattle, ở một nơi gọi là quận Ballard. Quận Ballard chính là nơi có ngôi nhà cũ tên là Linh Tiên Các, ngài ở đó bế quan ba năm.

Sau đó, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chuyển nhà đến Redmond, quận Redmond ở phía Đông thành phố Seattle, lái xe mất khoảng hơn mười phút, ở rất gần hồ Sammamish, ngài đã xây dựng ngôi chùa tổ Lôi Tạng Tự đầu tiên của Chân Phật Tông, và bên cạnh Lôi Tạng Tự chính là Chân Phật Mật Uyển - nơi vừa là nhà ở kiêm khu làm việc.

Về sau, vừa ở và làm việc tương đối phức tạp, nên ngài lại tách ra, nhà ở chuyển về bên bờ hồ U Linh [Phantom lake], còn Chân Phật Mật Uyển vẫn ở bên bờ hồ Sammamish.

Ngoài ra, ở một nơi cách quận Redmond về hướng Đông lái xe khoảng 40 phút, nơi có những rặng núi ngang dọc, có địa lí thất tinh lạc địa tuyệt vời, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đã xây dựng một khu sơn trang, đó chính là khu Biệt thự Cầu Vồng nổi tiếng thế giới. Biệt thự Cầu Vồng này có:
Hộ Ma bảo điện.
Đại hùng bảo điện.
Song liên trì.
Tháp Tôn Thắng Phật Mẫu.
Năm tòa tháp xá lợi.
Điện của Ngũ Đại Kim Cang Minh Vương.

Dòng chảy pháp của Chân Phật Tông bắt đầu từ Lôi Tạng Tự ở quận Redmond, bắt đầu từ Biệt thự Cầu Vồng, vòng vèo chảy đi khắp toàn thế giới. Đó là Mật giáo chuyển động xoay vòng ở Tây Bắc nước Mĩ, phát triển và biến hóa, đi một vòng và lặp lại từ đầu, giống như một vết bánh xe lăn đi và Mật giáo nở rộ ở khắp nơi trên thế giới, còn Seattle Lôi Tạng Tự, Chân Phật Mật Uyển, Biệt thự Cầu Vồng là nơi khởi nguồn nguyên thủy nhất.

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn mỗi ngày sau bốn giờ chiều đều đồng tu thuyết pháp tại Lôi Tạng Tự, mỗi buổi tối thứ bảy đều gặp mặt tại Lôi Tạng Tự để thuyết pháp, ngày chủ nhật thì làm Hộ Ma tại Biệt thự Cầu Vồng. Hàng ngày, ngài viết sách tại Chân Phật Mật Uyển. Thứ bảy thì gặp mặt khách từ nơi khác đến. 

Những ngày tháng như vậy không dễ dàng thay đổi. Cứ như vậy, năm tháng trôi qua, mọi thứ lặp đi lặp lại không có nhiều thay đổi đã hơn mười năm, ý nghĩa của quãng thời gian đó chính là Chân Phật Tông đã lớn mạnh, sinh mệnh và trí huệ của đời người trưởng thành, bồi dưỡng nên sự phát triển của Mật giáo, hiểu biết về những đại thành tựu của Mật giáo.

Hết cuốn sách mới này đến cuốn sách mới khác được viết ra, Liên Sinh Hoạt Phật từ một hạt cát nhỏ bé, một cá nhân nhỏ bé đã hội tụ sức mạnh của toàn thế giới, tất cả đều bắt đầu từ quận Redmond thành phố Seattle nước Mĩ.

Đó là sự khởi đầu từ vùng sơn dã.
Bắt đầu từ hồ nước thanh tịnh và đẹp đẽ.
Chân Phật Tông này vừa xa xăm, vừa trong trẻo.

🌟

Mùa đông ở Seattle thường có mưa phùn tầm tã, đó cũng lại là một cảnh tượng khác. Toàn bộ Seattle tối đen như mực, khu dân cư hoặc vùng ngoại ô, từ sau bóng cây và vách núi, ánh đèn trong những ngôi nhà dân trở thành những ngọn lửa lay động bất định. 

Trong đêm tối, chỉ còn lại những ánh đèn đứt quãng, thấp thoáng cho thấy dấu vết của con người. 

Điều này giống với một bài thơ mà Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn viết:
*Nhằng nhịt mưa bay đẹp như một bức tranh
Bầu trời mờ mịt như một khối sương mù
Mưa rơi trên mặt đất
Mưa rơi trong đáy lòng*

*Lưu lại trong tim dấu chân ẩm ướt
Nhưng trên phố lại chẳng thấy bóng người
Vừa như tĩnh mịch
Vừa như nhớ nhung*

*Mưa Tây Thành tha thiết chân thực
Để lại những dấu vết đứt quãng
Nhắm mắt lại
Mặc cho mưa táp lên người
Cảm nhận mưa mùa đông của Seattle.*

Đúng vào một buổi tối thứ bảy trong cơn mưa mùa đông của Seattle, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn ngồi trên pháp tọa tại Lôi Tạng Tự thuyết pháp, những người ngồi trong đại điện chăm chú nghe pháp, bên ngoài đại điện thì trời đen kịt mưa mịt mù.

Có hình bóng của một người đang bước chân trên con đường rải nhựa màu than chì, tay cầm ô bước tới. Anh ta lấp ló bên ngoài cửa đại điện, gập ô lại, anh ta đẩy cánh cửa kính của đại điện. Anh cảm giác bên trong và bên ngoài đại điện là hai sự đối lập, bên ngoài điện thì vắng lạnh, bên trong điện thì ấm cúng, khiến người ta dễ chịu. Anh cởi áo khoác ngoài, bên trong anh mặc bộ đồ vest phẳng phiu, giống như những người khác, anh ngồi xuống nghe pháp.

Người này không phải ai khác, chính là Trần Bình.

Vừa hay đúng buổi tối hôm ấy, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn lại giảng về sự cảnh giác hành vi dâm dục. Ngài nói rằng muốn bỏ dâm dục, đầu tiên phải bắt đầu từ việc bỏ dâm niệm, một khi khởi lên những suy nghĩ về dâm dục thì khi gặp duyên, dâm niệm sẽ trở thành những hành vi dâm dục. 

Làm sao để bỏ những hành vi dâm dục:
1. Không ở gần bạn xấu.
2. Không đi vào những nơi xấu.
3. Không đọc sách đồi trụy.
4. Không nghe chuyện đồi trụy.

Bởi vì nếu không đề phòng bạn xấu thì chỉ một lần thôi cũng đủ để rơi vào cạm bẫy, tự nhiên sẽ nhiễm dần và thấm sâu, rơi vào con đường bỉ ổi mà không tự nhận thấy, trở thành thói quen tùy tiện làm điều xấu. Một khi đã bước vào những nơi xấu thì sẽ theo nước đẩy thuyền, khó mà giữ được chính niệm, tự nhiên trong lòng cảm thấy ngứa ngáy nóng nực, nội tâm bị chi phối bất định, dao động trong phút chốc, thế là sa vào lưới võng, hối hận cả đời. Còn như sách truyện đồi trụy chẳng qua chỉ là trò chơi của văn nhân để tán phét chuyện phiếm, những tiểu thuyết khiêu dâm và truyện cười tục tĩu tự nhiên bịa ra mà thành, không thể tin đó là những chuyện thật. Người bình thường cho rằng thỉnh thoảng đọc một chút, thỉnh thoảng nghe một chút thì cũng không hại đến đại thể, làm gì có chuyện có hại lớn. Nhưng vô hình trung, chúng đã khiến suy nghĩ của mình thay đổi, cứ bí mật âm thầm sinh sôi và tăng trưởng, một khi duyên xấu đến gần thì sẽ chịu ngay cái hại thôi!

Tóm lại, loại bỏ hành vi dâm dục, không thể lơ là phương pháp bảo vệ thân một chút nào, không được buông thả bản thân dù một chút xíu, thà rằng bị người ta cười là cổ hủ cứng nhắc cũng không được để cho mình phóng đãng. Nếu bình thường không chú ý đề phòng, tới lúc hối hận mọi thứ thì đã muộn!

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn nói như vậy, Trần Bình nghe xong, cho rằng giống như đang nói về chính mình, Trần Bình âm thầm gật đầu. Đợi Hoạt Phật thuyết pháp xong, xuống khỏi chỗ ngồi, Trần Bình tiến lên trước nói:
”Lư Sư Tôn, tôi từ Đài Loan tới đây, tôi là bác sĩ Trần, tôi có việc muốn thỉnh giáo, có thể cho tôi ngày mai gặp mặt một lần không? Trước kia, khi tôi ở Đài Loan cũng từng đến nhà của Lư Sư Tôn ở Đài Trung.”

Lư Sư Tôn nhìn Trần Bình, dường như không còn nhớ Trần Bình nữa, Trần Bình hấp tấp nói:
”Khi đó, Lư Sư Tôn nói, khi tôi gặp phiền phức thì có thể giúp tôi giải quyết, cho nên hôm nay tôi đặc biệt bay tới đây.”
Lư Sư Tôn cười, gật gật đầu.
Lư Sư Tôn nói:
”Anh chính là cái người bị cắt mất của quý đó à?”
Trần Bình sửng sốt:
”Đúng vậy, đúng vậy, sự việc đã nhiều năm rồi, trí nhớ tốt quá!”
Lư Sư Tôn đưa tay ra vỗ vỗ vào vai Trần Bình:
”Trưa mai gặp.”
”Vâng được, chính Ngọ ngày mai.”
”Ở Lôi Tạng Tự.” - Lư Sư Tôn nói.
”Sẽ đúng giờ.”
Lư Sư Tôn mở ô, đi vào trong màn mưa.

🌟

Đúng giờ Ngọ, Hoạt Phật gặp Trần Bình.
Trần Bình không ngớt ca ngợi trí nhớ của Hoạt Phật:
”Sự việc cách đây nhiều năm như vậy, khi ở Đài Loan mỗi ngày Hoạt Phật gặp ba trăm người, chỉ nói chuyện có vài câu, tối hôm qua tôi đột ngột đến Seattle, thế mà ngài lập tức có thể nhận ra tôi rồi, đây quả thật là thần kì, thật khiến người ta bái phục, nếu không phải là mắt thấy tai nghe thì cũng không dám tin.”
Hoạt Phật nói:
”Điều khiến anh khó tin vẫn còn ở phía sau.”
”Sao lại nói vậy?” - Trần Bình hỏi.

Hoạt Phật nói:
”Tôi nói với anh một sự thật, anh đừng ngạc nhiên, thật ra hơn mười năm trước, anh đến tìm tôi ở hàn xá Thái Bình ở Đài Trung, tôi hỏi việc của anh xong thì anh bỏ đi, kể từ lúc đó tôi đã quên luôn chuyện của anh rồi. Nếu là anh, anh cũng quên thôi, cho dù cách vài tháng anh đến tìm tôi thì tôi cũng không nhớ nổi đâu, huống hồ là sự việc cách đây hơn mười năm, hơn nữa anh chỉ là một trong số ba trăm cái tên, làm sao mà tôi nhớ cho được.”
”Đúng vậy, đúng vậy, hẳn là như thế. Nhưng, tối hôm qua, sao vừa gặp ngài đã lập tức nói ra tôi bị cắt mất cái ấy?” - Tôi rất kinh ngạc.
Hoạt Phật nói:
”Anh là Xích Châu Tử!” [Hạt Ngọc Đỏ]
”Xích Châu Tử là cái gì?”
”Xích Châu Tử là thần tiên!”
”Hoạt Phật trêu tôi à, sao tôi là thần tiên được?”
”Không, bây giờ đương nhiên anh không phải, nhưng anh có cốt tiên.” - Hoạt Phật nghiêm mặt nói.

Lúc này, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn mới kể một chuyện huyền diệu khiến người ta kinh ngạc tán thán.

Mấy ngày trước, ông ấy đang viết sách, lúc tập trung tinh thần, bên phải đột nhiên xuất hiện một ánh hào quang, ánh hào quang này không phải là ánh sáng bình thường, mà là ánh sáng vô ngại, lấp lánh như sợi tơ, bình thường hiếm thấy ánh hào quang này. 

Từ trong ánh sáng xuất hiện một dàn xe, những chiếc xe có đủ loại màu sắc, xe màu xanh tỏa ánh sáng xanh, xe màu trắng tỏa ánh sáng trắng, đen vàng đỏ tím, những ánh sáng màu bỗng nhiên lóe lên chói lọi, chiếu sáng như mặt trời mặt trăng. Rồi từ trong những chiếc xe xuất hiện hết người trời này đến người trời khác, mỗi người trời đều có thân sắc và tướng đẹp đặc biệt, mỗi người đều tỏa ánh sáng rực rỡ.

Trong số đó có một nữ tiên trên người mặc thiên y bằng những sợi vàng, trên thiên y có đính trân châu và rất nhiều loại ngọc quý trang nghiêm, đẹp kì diệu hiếm thấy. Nữ tiên trang điểm hết sức trang nghiêm, đầu đội mũ miện, tai đeo trang sức, tỏa sáng rực rỡ, vô cùng trang nghiêm diễm lệ.

Nữ tiên di chuyển chậm rãi, phong thái đức hạnh tự nhiên, lời nói hết sức ấm áp mềm mại, không quá chậm không quá nhanh, giống như âm thanh vô lượng vi diệu, rải đi khắp nơi mười vạn mùi thơm nhẹ nhàng tao nhã và đạo hạnh, người nào ngửi được tự nhiên sẽ không còn khởi lên một chút bụi trần nhơ bẩn nào.

“Quấy rầy Thánh Tôn rồi.” - Nữ tiên chắp tay nói.
Hoạt Phật dừng bút, cảm thấy thật bất khả tư nghì, chắp tay hướng về hư không, hư không này dường như vô tận.
”Tiên thánh từ đâu tới? Vì sao đến đây?” - Hoạt Phật hỏi. 
”Tôi là Hồng Hoa phu nhân, vì Trần Bình mà tới đây.”
”Trần Bình là ai?”
”Trần Bình là Xích Châu Tử, cũng là con của phu nhân Hồng Hoa tôi. Xích Châu Tử xuống cõi Ta Bà đã tạo nên rất nhiều tội lỗi, nếu tiếp tục như vậy thì không về trời được nữa. Bây giờ nó sắp đến gặp ngài, bộ phận đó của nó đã bị cắt rồi, xin ngài hãy cứu nó. Ngoài ra, thỉnh cầu ngài truyền dạy cho nó diệu pháp, nó còn tiếp tục sa đọa nữa thì sẽ bị tước bỏ thiên tịch, không thể siêu sinh được.”

Hoạt Phật nghe xong thì kinh hoàng. 
”Nữ tiên đã có lời dặn dò, đương nhiên tôi sẽ tuân lệnh, huống hồ đây là việc cứu người, lại càng không thể thoái thác. Tôi làm sao để cứu Trần Bình đây?”
”Xin hãy dùng phù chữ Thượng, dạy pháp biến thân.” - Hồng Hoa phu nhân nói.
”Được.” - Hoạt Phật đồng ý.

Hoạt Phật trầm ngâm một lúc rồi nói:
”Pháp biến thân phải đợi đến khi trên đỉnh đầu Trần Bình xuất hiện ánh sáng trắng thì mới truyền dạy được, đây là khẩu quyết của Tổ sư, không được chống lại. Nữ tiên đã dặn, đương nhiên tôi sẽ dạy, nhưng phải đợi đến khi trên đầu Trần Bình có ánh sáng trắng đã.”
”Việc này ngài cứ tự nhiên.” - Nữ tiên nói: “Đợi đến khi mọi việc xong xuôi rồi, chúng tôi sẽ tự cảm tạ ngài.”
”Việc cứu người là trách nhiệm của tôi, không mong cầu người ta cảm tạ.”
Nữ tiên và các vị tiên khác nghe xong thì rất xúc động.

Nữ tiên nói:
”Rất dễ nhận ra Trần Bình, ở chính giữa trán của nó có một vệt vàng công đức, đó cũng là tiên cốt, Thánh Tôn có thể nhìn ra ngay.”

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn nhận ra Trần Bình vào buổi tối hôm trước là do nhìn vào trán Trần Bình, vì thế đã nhận ra anh ta.

Nữ tiên và tiên chúng hướng đến Thánh tôn chắp tay lại:
”Chúng tôi về trời đây.”
”Xin được tiễn.” - Hoạt Phật nói.
”Không dám phiền.”
Một hương thơm tỏa ra, rồi biến mất.

*Câu chuyện huyền diệu đã được kể xong. Tôi nghe xong cũng cảm thấy thật huyễn ảo. Hồng Hoa phu nhân, Xích Châu Tử, thần tiên, người trời, điều này trong não tôi căn bản là có nghĩ cũng chưa bao giờ nghĩ tới. Cũng như tuổi thơ của chính tôi, tuổi thơ trong kí ức của tôi, nơi tôi đã sống, tôi không còn tìm thấy nữa, và những kí ức về tuổi thơ tôi đều mờ mịt, huống hồ là những kí ức về kiếp trước, hoặc là kí ức về nhiều kiếp, trong đầu tôi trống rỗng, không có chút ấn tượng nào.*

*Hoàn toàn mù tịt, tôi hỏi Lư Sư Tôn:
”Là người trời rồi thì thế nào đây?”
”Nên tu hành để trở về trời.”
”Tu thế nào?”
”Trước tiên phải giữ năm giới. Trước tiên anh phải nhận năm giới.”
”Năm giới là gì?”
”Bỏ sát sinh, bỏ trộm cắp, bỏ tà dâm, bỏ vọng ngữ, bỏ uống rượu.”*

*Tôi nghe xong thì mặt đỏ bừng:
”Nói thật lòng, căn bệnh của tôi chính là háo sắc, dục vọng không bỏ được, tôi hễ nhìn thấy phụ nữ là sẽ sinh ra ý nghĩ xấu, thế này làm sao bỏ được?”*

Lư Sư Tôn nghe xong thì cũng ngây người ra, Trần Bình này đã thổ lộ thẳng thắn quá.

Trần Bình nói:
”Nhiễm thói xấu đã lâu ngày, hễ gặp phụ nữ là tôi nghĩ ngay đến tiếng rên rỉ của họ, tiếng cọt kẹt mà chiếc giường phát ra, đủ mọi tư thế quyến rũ khi thân thể ngọc ngà của họ nằm trên giường, tất cả đều tròn đầy, bầu ngực, cặp mông căng phồng, chúng giống như móng vuốt của con mèo, túm chặt lấy tay ta không buông, rồi còn khuôn mặt nóng hổi, đôi mắt đưa tình…”

Lư Sư Tôn nói:
”Tôi thấy là hòa thượng Cao Tháp ở chùa Kim Sơn nên thay đổi câu chuyện rồi. Câu chuyện trước kia nói rằng, lão hòa thượng nói với tiểu hòa thượng, mặc dù thuyền đến đến đi đi nhiều trên con sông này, nhưng chỉ có hai con thuyền, một con thuyền là danh, một con thuyền là lợi. Bây giờ câu chuyện này thay đổi rồi, thuyền đến đến đi đi mặc dù nhiều, chỉ có ba con thuyền, một vẫn là danh, một vẫn là lợi, còn một con thuyền là sắc.”
Trần Bình nói:
”Đúng mà! Đổi hay lắm, sau khi có danh có lợi rồi thì đương nhiên sẽ là thỏa mãn sắc dục.”

Lư Sư Tôn nói:
”Ham muốn lớn của con người là tiền, sắc, danh mà thôi! Vì anh đã không thể nào thờ ơ với chữ sắc này thì tôi khuyên anh, tôi vẫn sẽ dùng phù chữ Thượng để cứu anh, nhưng phải chính dâm mới được, đừng tạo nghiệp tà dâm, nếu lại bị cắt nữa thì tôi cũng không có khả năng cứu anh đâu. Còn về việc truyền dạy cho anh pháp biến thân, phải đợi đến khi trên đỉnh đầu anh thật sự có ánh sáng trắng mới có thể truyền được, đến lúc đó, anh lại đến tìm tôi vậy. Đây chính là lệnh từ của anh nhờ giúp!”

Nói xong, Lư Sư Tôn liền vẽ phù:
”Thiên viên địa phương
Luật lệnh cửu chương
Ngã kim họa phù
Nguyện hưởng an khang.”

Phù này có chữ bí mật ở trong đó.

Thứ nhất là chữ “Thượng” [chữ Thượng ở đây là 尚 nghĩa là “còn”]. Ba nét ở trên đầu là ba vị cao nhất của vũ trụ, dùng thánh khẩu của các vị làm luật lệnh, nét giống như cái lọng biểu thị ý nghĩa là che chở. 
Thứ hai là chữ “Vũ” [chữ vũ trong từ lông vũ], vũ chính là bay lên, cái đó đã bị cắt bỏ rồi, bây giờ, chữ vũ này biểu thị lại bay lên, lại khôi phục.
Thứ ba là chữ “Quỷ”, hàm nghĩa của chữ quỷ rất sâu xa, quỷ cũng chính là con người, con người cũng chính là quỷ, ở đây là bản thân Trần Bình.
Thứ tư là chữ “Khí”, là khí tiên thiên, khí mà đứa bé trai vốn có, tiên thiên nhất khí này trút lên người Trần Bình, Trần Bình có được chân khí tiên thiên lại từ đầu, thế là hồi phục lại được thần khí ban đầu, lại khỏe như rồng như hổ. 

Phù chữ Thượng của Lư Sư Tôn là chân truyền từ Thanh Chân Đạo Trưởng (Liễu Minh Hòa Thượng), loại phù này thử trăm lần thì ứng nghiệm cả trăm lần, thần kì phi phàm, đã cứu rất nhiều người, phù này là đại chân truyền từ Thiên Y Chân Nhân, Thiên Đức Chân Nhân.

Liên Sinh Hoạt Phật vẽ phù chữ Thượng này đưa cho Trần Bình, như vậy có phải là tạo nghiệp cho Trần Bình không? Có người nói, Trần Bình háo sắc đã thành thói, là kẻ đồi bại, hà tất phải cứu hắn, cứ để cho hắn bị cắt đi, thiến rồi thì chẳng phải là rất may mắn sao, cứu loại người như vậy làm gì? Lư Sư Tôn cứu người thật chẳng cẩn thận chút nào.

Thế nhưng Hoạt Phật sớm có lời dặn trước, chính dâm thì được, đừng tiếp tục tà dâm tạo nghiệp, chỉ cần là con người thì cũng luôn nên cho người ta thêm một cơ hội, cứu người vô cùng vô tận, đây chính là mong muốn cả đời, không bỏ rơi một chúng sinh nào.

*Phù có ba lá, mỗi ngày một lá, đốt xong hòa vào nước uống.*

*Uống xong lá phù thứ nhất, tôi liên tục nôn khan, nôn rất ghê gớm, ọe liên tục, suýt chút nữa là nôn ra cả dịch dạ dày. Tình trạng này chính là để cho quan âm phủ trốn trong người tôi chẳng mấy chốc mà bị ép ra ngoài.*

*Vị quan âm phủ này đã yên ổn sống trong người tôi, tôi ăn cái thì hắn ăn cái đó, tôi uống cái gì thì hắn uống cái đó, thế mà trong chốc lát hắn bị đuổi ra ngoài, lòng không cam chịu, không sẵn sàng, nhưng hắn ngẩng đầu lên thì nhìn thấy luật lệnh của ba vị, chỉ có sợ chết khiếp, vội vã chuồn thẳng, thoát ra khỏi người tôi. Kì thực cũng không phải là chạy thoát, mà là một tiếng sấm rền vang, hắn đã bị kinh động.*

*Uống xong lá phù thứ hai, cái đó vốn dĩ đã bị co rút rất chặt, giống như hạt ngọc giấu trong cỏ, nó dần dần nhô cái đầu ra. Không chỉ như vậy, dường như đột nhiên từ bên trong, nó tỏa nhiệt và nở ra, giống như hỏa tiễn phóng thẳng ra. Nó rủ xuống, rồi lại dựng đứng lên, vừa dài vừa khỏe.*

*Uống xong lá phù thứ ba, không ngờ tôi bị chóng mặt tới mức ngủ một giấc dài. Sau khi tỉnh dậy, soi gương, ngay cả bản thân tôi cũng giật mình sửng sốt, tôi tràn trề sinh lực giống như thanh niên, khí sắc hồng hào, cả người đều thay đổi, thể lực bên trong thân thể dạt dào, chôm một câu nói trong tiểu thuyết võ hiệp thì đó là lư hỏa thuần thanh **[dày công tôi luyện]**, tâm tùy ý chuyển, công lực vô cùng, tinh lực sâu dày, cuộn trào không ngừng.*

*Quan âm phủ kia vừa nhìn thấy ánh hào quang rực rỡ như vậy thì không dám đi vào trong người tôi nữa, cầm luật lệnh của âm phủ tự đi về địa phủ gặp Minh Vương. Ban đầu Minh Vương quở trách. Quan âm phủ nói đó là ba vị tối thượng thì chính Minh Vương cũng thẫn thờ. Minh Vương nói:
”Trên thế gian này đã chẳng còn mấy người biết phù chữ Thượng, đã thất truyền lâu rồi! Chẳng lẽ đó là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn!”*

*Tổng cộng tôi ở lại Seattle Mĩ một tuần. Lúc sắp đi, tôi lại đi gặp Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn một lần. Lư Sư Tôn hỏi:
”Được chưa?”
”Được rồi.” - Tôi đáp.*

*Lư Sư Tôn nói:
”Cái lạc ở khuê phòng vốn không phải tà dâm, là niềm vui sướng vợ chồng, mặc dù không gây tổn hại hay chướng ngại, nhưng không thể chìm đắm cực độ trong dục lạc, hưởng thụ dục lạc quá độ sẽ thành bệnh, vui quá hóa buồn. Tinh lực của con người có hạn, dâm dục thì vô cùng, lấy cái tinh lực hữu hạn cung cấp cho cái dâm dục vô cùng thì chẳng có gì lạ khi trẻ tuổi đã yểu mạng, người chưa già nhưng sức thì đã suy kiệt rồi.”
”Cảm ơn đã chỉ bảo!”*

*Lư Sư Tôn lại nói:
”Lửa dục cháy lên thì tinh tủy cũng bị đốt hết, người buông thả trong dục vọng sẽ suy giảm trí nhớ, suy nghĩ cũng sẽ không tập trung, tinh thần hoảng hốt, phần lớn những người hữu dụng cũng sẽ trở thành vô dụng. Anh là bác sĩ, đương nhiên anh biết cái hại của hút ma túy, tham dục cũng giống như hút thuốc phiện, đều sẽ bị nghiện, cái ham muốn này như chất ma túy, sẽ khiến tinh lực khô kiệt, trăm bệnh xâm phạm.”
”Đã hiểu. Đã hiểu.”*

*Lư Sư Tôn đưa cho tôi một mảnh giấy, trên đó viết:
”Yên lặng quan sát thân thể ngọc ngà nằm đó, toàn thân sinh dòi bọ, gặm nhấm khắp mọi nơi, bên trong xương khớp đều là những tổ ong, cần nhớ rằng tấm thân vàng ngọc của mĩ nữ sau này cũng sẽ như vậy.
Yên lặng quan sát thân thể ngọc ngà nằm đó, da thịt đã bị gặm nhấm hết, chỉ có gân liền xương, giống như dây thừng buộc củi mới không bị rời rạc, cần nhớ rằng nước da trắng ngần của mĩ nữ sau này cũng sẽ như vậy.
Yên lặng quan sát thân thể ngọc ngà nằm đó, gân cơ đã thối rữa, xương khớp ngổn ngang, không còn ở cùng một chỗ, cần nhớ rằng mĩ nữ sẽ hóa thành xương trắng, sau này cũng sẽ như vậy.
Yên lặng quan sát thân thể ngọc ngà nằm đó, bị lửa thiêu đốt, thành một đống cháy khét, hoặc trắng hoặc xám, mắt không dám nhìn, toàn bộ đã thành cát bụi, cần nhớ rằng sau khi chết rồi thành tro, sau này cũng sẽ như vậy.
Yên lặng quan sát thân thể ngọc ngà nằm đó, ban đầu là một đống xương trắng, hoặc làm thức ăn cho dòi bọ, hoặc để cho chó gặm rỉa, hãy ngẫm nghĩ đi, có gì mà quyến luyến, cần nhớ rằng chỉ trong chớp mắt, sau này cũng sẽ như vậy.
Đây là Phật dạy quán bạch cốt.”*

*Tôi hiểu ý tốt của Lư Sư Tôn, lập tức nhận lấy, trong lòng tràn đầy cảm kích. Lư Sư Tôn nói:
”Trần duyên của anh chưa hết, lần này hãy cẩn thận, đừng đi vào vết xe đổ!”
”Cảm ơn! Xin tạm biệt!”
”Đợi sau này anh hiểu ra, nhất định phải đến tìm tôi.” - Lư Sư Tôn nói.
”Đương nhiên rồi.” - Tôi nói.
Lúc chia tay Lư Sư Tôn còn nói:
”Hãy nhớ đấy, tu hành trở về trời là quan trọng!”*


### 08. Nhục dục lại thắng rồi


*Trần Bình tôi đã sống qua một quãng thời gian thanh tịnh, nói vậy có nghĩa là, quãng thời gian này tôi sống rất đơn thuần, không có khát vọng gì, có vẻ tương đối tự nhiên và ung dung, điều này có nghĩa là tất cả đều bình thường, dục vọng cũng không khởi lên.*

*Tôi nhận được một mảnh giấy nhỏ từ dì của mình:
”Mong sớm gặp lại!
Người đã chôn vùi cuộc đời tôi!”
Chỉ vài chữ đơn giản, viết qua loa, bên dưới kí tên dì. Thế là tôi lại đi gặp dì út của mình.*

*Tôi phát hiện ra trên mặt dì út đã có nếp nhăn, da dẻ cũng đã mất đi sắc sáng bóng mịn màng, thay vào đó là một dáng vẻ càng ngày càng tiều tụy, chỉ còn lại một thể xác trống rỗng, bộ ngực căng tràn và cái eo thon dường như đã biến dạng rồi.*

*Gặp lại dì út, bản thân tôi cũng không còn cảm giác kích động như ngày xưa nữa, dì giống như một bát đồ ăn thừa vô vị. Tôi biết nghĩ như vậy là không phải, nhưng thật sự cảm giác của tôi là như vậy.*

*Dì cũng chăm chú quan sát tôi, dì nói:
”Đừng cho rằng cháu vẫn còn cường tráng, cháu cũng sắp già rồi.”
”Đúng vậy.” - Tôi nói.
”Những năm tháng đẹp đẽ nhất dì đã dành hết cho cháu rồi. Dì đã không kiềm chế được bản thân mình.” - Dì nói.
”Dì có thể làm lại mọi thứ từ đầu.”
”Muộn rồi.”
”Thời gian qua dì sống thế nào?”
”Dùng tay. Hôm nay cháu dùng tay đi!” - Dì nói rất thẳng thắn.*

*Dì đột ngột đứng thẳng dậy, một tay ôm lấy tôi, tay kia thì tìm xuống phía dưới. Chà! Dì nói đầy sửng sốt:
”Sao mà lại có thể dựng đứng được rồi?”
Tôi nói:
”Cháu là bác sĩ mà.”
”Cuộc đời của dì vốn là sống vì cháu.” - Dì rất hưng phấn.
”Phụ nữ đúng là phụ nữ.”
”Đàn ông và đàn bà giống nhau thôi.”*

*Đột nhiên tôi muốn nói với dì út rằng tôi không thể ở cùng với dì được nữa, nhưng tốt nhất là chia tay một cách tự nhiên, là tôi tự nguyện, dì út cũng tự nguyện, nên bình lặng chia tay, sau này không còn vướng mắc gì nữa.*

*Nhưng miệng tôi nhanh chóng bị chặn lại. Lưỡi của dì đã đưa vào trong miệng tôi. Tôi phát hiện ra miệng dì cũng rất khô. Tôi dịch người ra, nói:
”Cháu sợ…”
”Cháu muốn trốn à?”
”Không phải.”*

*Tôi nhìn dì út, quả nhiên thân trên của dì, hai bầu vú đã xệ xuống, chỉ còn ánh mắt là vẫn sáng ngời mang vẻ hưng phấn cao độ. Tôi không thể nói là tôi chán dì vì dì già rồi, cũng không thể nói là tôi cảm giác ngán ngẩm cái eo đã ngấn mỡ của dì, cũng không thể kích thích dì. Thật ra dì tôi đã trở thành một người đẹp hết thời, nhưng vẫn còn một chút bộ dạng thướt tha.*

*Tôi nghĩ đến:
30 như sói.
40 như hổ.
Hay nhất là câu tiếp theo, 50 như con rùa, cứ cắn lấy không chịu nhả ra.*

*Dì nói:
”Vẫn chưa đến mức khiến cháu thấy kinh tởm nhỉ!”*

*Dì nói một cách hơi cuồng loạn:
”Chúng ta cùng già như nhau, cùng có nhu cầu, dì không thể để cháu được dễ dàng, cháu không thể rời bỏ dì, không thể trốn, không thể làm tổn thương dì, dì muốn, dì muốn sướng, dì cần cái cảm giác được đi vào trong người đó.”*

*Dì òa khóc, rồi lại kêu gào, đột nhiên tôi có một tình cảm thương xót, tôi đưa tay lau nước mắt của dì. Tôi nói:
”Dì cần bình tĩnh lại!”
Dì trả lời:
”Dì chẳng có gì cả, dì muốn được thỏa mãn, dì không thể nào bình tĩnh được.”*

*Tôi ôm lấy dì, dì kêu lên cuồng dại, ánh mắt lấp lánh khác thường, tôi hiểu rõ ánh mắt ấy. Hơi thở của dì gấp gáp, toàn thân khẽ run rẩy, dì quấn chặt lấy người tôi, điên cuồng hôn tôi như mưa.
Dì nói:
”Nhất định không được rời xa dì, hãy để cho dì có cảm giác được yêu, giống như thế này. Còn những thứ khác thì cháu cứ tự do.”*

*Tôi nhắm mắt lại, hai người quấn lấy nhau thành một khối. Tôi tưởng tượng ánh mắt đắm đuối của dì như say như mê, tưởng tượng toàn thân dì ngọc ngà trắng nõn, tưởng tượng dì khoa chân múa tay cao giọng hét lên “Đây rồi! Lại nữa rồi!”, lời nói hàm nghĩa mơ hồ, hô trời gọi đất.
Tôi thua rồi, dì tôi đã thắng!
Tôi đã rơi vào nhục dục, cứ thế trầm luân!*

🌟

*Đây là một việc rất đáng sợ. Thì ra con người sẽ già đi, mấy năm không gặp dì tôi, một hoa khôi của trường học trước kia, tôi nhìn ra tóc dì đã được nhuộm đen, chân tóc đều đã trắng bạc rồi. Không chỉ như vậy, tóc còn có hiện tượng bị rụng, một số chỗ đã rụng khá nhiều, tóc trở nên lưa thưa, mái tóc đẹp ngày xưa không còn nữa. *

*Tôi nắm tay dì, phát hiện ra bàn tay không còn mềm mại trơn nhẵn nữa, da tay đã nhăn nheo, còn có cả những nốt rám đen, giống như chân gà vậy. 
Khuôn mặt sáng bóng không còn nữa.
Nếp nhăn nơi khóe mắt vừa nhiều vừa sâu. 
Miệng thì khô đanh.*

*Tôi chạm vào vai dì, phát hiện đôi vai đã gầy guộc, thân thể cũng chậm chạp trì trệ rồi, nhưng phần eo thật sự đã thô, phần mông không còn săn chắc nữa, mặt nhỏ, phần dưới thì rộng, toàn thân đều biến dạng rồi.*

*Còn nhớ trước kia tôi đã từng say đắm dì, đó đương nhiên không phải là yêu, mà là ham muốn. Khi chúng tôi ôm nhau cũng từng rì rà rì rầm nói những lời giống nhau, nào là em là của anh, anh là của em, vĩnh viễn không rời xa, vĩnh viễn không chia lìa. Lúc ấy thì đúng là yêu đến mức dữ dội cuồng nhiệt.*

*Lần này, khi dì đạt tới cơn cực khoái thì đồng thời cũng ngã vật ra, giống như người giấy, nằm im bặt, dáng vẻ yên ắng lặng như tờ, không hề run rẩy, không kêu gào, thân thể không còn khua khoắng nữa.*

*Tôi đột ngột hiểu ra, dì đã già rồi, lưng đã hơi cong, chỉ là dì không thể nào cứ thế mà vứt bỏ đi, muốn túm chặt lấy cái đuôi của thanh xuân đã tàn, bây giờ, ngay cả cái đuôi cũng không túm được nữa, đây chính là sự đáng sợ của thời gian, sự đáng sợ của tuổi tác.*

*Tôi muốn bỏ dì mà đi, nhưng, tôi không thể tàn nhẫn với dì như vậy được! Đó chỉ là sự tiếp diễn của dục vọng ngày xưa, ngày xưa thân thể của dì mơn mởn và nhạy cảm, nhưng bây giờ thì tôi không hề khởi lên một chút hứng thú nào, không hề cảm thấy kích thích, không xúc động, thậm chí còn nảy sinh một cảm giác chán ngán và căm ghét, tôi không biết như vậy có phải là càng tàn khốc hơn không.*

*Tôi rời khỏi người dì, nhận ra đó đã không còn là hưởng thụ nữa, mà là làm hết trách nhiệm của bản thân. Tôi hết sức rầu rĩ, chính tôi đã trở thành vật hi sinh, bán thể xác của chính mình, trong lòng tôi là một niềm tiếc nuối vô bờ bến.*

*Tôi nghĩ đến vấn đề dục vọng. 
Dục vọng có thể nào trở thành người bạn chung thân với tôi không? Dục vọng vốn dĩ có thể thay đổi, ái dục của hôm nay có khả năng sẽ tiêu tan vào ngày mai, bản thân dục vọng không phải là vĩnh hằng, vì vậy không thể nào có bạn tình vĩnh viễn. *

*Thân thể con người sẽ già yếu, dục vọng cũng như thế, sẽ không thể nào vĩnh viễn hết sức tươi mới. Dục vọng cũng giống như bông hoa, có nở có tàn, có lúc bừng nở rực rỡ, cũng có lúc héo úa tàn khô.
Sự khoái lạc của dục vọng chỉ lóe lên một cái rồi tắt.
Sự trống rỗng mới thật sự trở thành cái vĩnh hằng.*

*Khi dục lạc mờ dần đi, ngược lại, nỗi thống khổ lại làm tổ trong tim, rất lâu không mất đi, đau khổ nhiều, vui sướng ít, căn bản là rất khó tìm được dục lạc vĩnh hằng. Ái dục sinh ra và kết thúc đều là chớp nhoáng, ái dục vĩnh hằng căn bản không thể sản sinh trên thân thể của con người. 
Vĩnh viễn không bao giờ.*

*Có hai hình ảnh so sánh về mối quan hệ giữa tôi và dì tôi:
Giống như nhai kẹo cao su, khi mới nhai thì ngọt, nhai tới cùng thì vị ngọt hoàn toàn biến mất, hoàn toàn vô vị, chỉ muốn nhổ ra. 
Giống như nhai mía, phần đường của cây mía thì ngọt, nhưng bã mía thì chỉ muốn nhổ ra, chỉ có thể nhai vài cái rồi sau cũng muốn nhổ ra.*

Đàn bà thường trách đàn ông là đã cưới được vợ đẹp rồi, vì sao còn có nhiều mối lăng nhăng ở bên ngoài, nhưng lại chẳng hề biết rằng, dù có xinh đẹp thế nào thì cũng là mía, cũng là kẹo cao su, ban đầu thì còn ngon, về sau thì không còn ngon nữa.

Thật ra không chỉ có đàn bà trách đàn ông, đàn ông hay đàn bà thì cũng đều như nhau. Đàn bà cũng thế thôi, đối với người bạn tình lâu năm thì cũng sẽ có cảm giác mất hứng thú chứ! 

Si mê sẽ biến thành kinh tởm.
Yêu sẽ biến thành ghét.

Sự tranh chấp giữa đàn ông và đàn bà chính là trạng thái bình thường trong xã hội. Chuyện thế gian vốn dĩ chính là như vậy, ái dục là dòng nước chảy, chảy tới chảy lui.

Trần Bình phát hiện ra những điều dị nhân nói là đúng, những điều Liên Sinh Hoạt Phật nói là đúng.
Càng chạy theo thì càng trống rỗng.
Trần Bình đã bị dục vọng lừa gạt, hơn nữa còn bị lừa rất nhiều lần.


### 09. Đó là một khuôn mặt quái dị


*Còn nhớ bệnh nhân nữ đó không? Đó là một phụ nữ xinh đẹp, trên khuôn mặt nhợt nhạt của cô ấy là những đường nét thanh tú, đôi mắt mơ màng, cái mũi và cái miệng đều rất xinh xắn, tất cả kết hợp lại làm nên một vẻ đẹp rất khác. *

*Đôi mắt cô ấy mơ màng, thường hay nheo lại cũng có một chút vẻ bí ẩn. Có một lần, y tá đi ra ngoài, trong phòng khám bệnh chỉ còn lại mình tôi và bệnh nhân, cô ấy đột nhiên hôn lên miệng tôi. Sau đó cô ấy nói:
”Quên rồi. Ngày mai.”*

*Trần Bình tôi thì không quên. Tôi nhớ mãi người phụ nữ lúc nào cũng giống như đang mơ màng ấy, có đôi mắt mơ màng, khuôn mặt mơ màng, dáng điệu mơ màng. Con người chính là cái thứ như vậy, chỉ cần có một chút cơ duyên là sẽ quấn chặt lấy nhau, tự mình tìm đến rắc rối.*

Trần Bình biết:
”Mình là bác sĩ, cô ấy là bệnh nhân, phải giữ lập trường như vậy.”

Nhưng có đôi khi, bệnh nhân nói ra những mong muốn của mình. Có thể thấy sự say đắm của cô ấy, cái gọi là nỗi vấn vương nhau chẳng qua là trăng trong nước, chỉ là nhu cầu tinh thần mà thôi. Số lần đến khám bệnh của nữ bệnh nhân tăng dần lên.  

Hiện tượng này vượt quá logic và ngôn ngữ, chẳng cần phải nói gì, chỉ cần bốn mắt nhìn nhau là đã vướng mắc vào nhau rồi. Đôi mắt mơ màng ấy đã mê hoặc trái tim phiêu lưu không thể kiểm soát được của Trần Bình.

*Có một hôm.
Cô ấy dúi cho tôi một mảnh giấy, trên đó ghi thời gian và địa điểm. 
Và tôi đã đi tới đó.*

*Diễn biến tiếp sau đó là tôi đã đánh mất bản thân, tôi đã đánh mất tôi, cô ấy đã đánh mất cô ấy, cũng đánh mất cả không gian và thời gian, càng mất đi cả ngôn ngữ, chỉ là những tiếng rì rà rì rầm, hẳn cũng là những âm thanh rất đẹp đẽ, không có sự phân biệt bác sĩ và bệnh nhân, không có sự phân biệt khách và chủ, ngọn lửa dục nhanh chóng lan tràn, thiêu đốt hai người thành một. *

Đây là thứ quan hệ gì? Là thứ quan hệ mơ màng, thứ quan hệ vì nhu cầu, thứ quan hệ vì thích thú, là thứ quan hệ hối hận, là thứ quan hệ đê hèn, là thứ quan hệ tà dâm, là thứ quan hệ đáng hổ thẹn, là thứ quan hệ kích thích…

Tóm lại là chẳng ai hiểu rõ, chẳng thể giải thích rõ, cũng chưa bao giờ có một ngày bỗng dưng tỉnh ngộ, cả hai đều như ở trong mơ, cứ mặc kệ cho nó diễn ra!
Người phụ nữ mơ màng ấy thích cái mã bề ngoài của Trần Bình, cũng thích cả cái bên trong của Trần Bình, nhất là sức bùng nổ của anh…

*Cô ấy đã sướng chết ngất, rồi lại tỉnh lại, rồi lại sướng chết ngất, rồi lại tỉnh lại, cứ như vậy rất nhiều lần, cô ấy nói, cả đời này chưa từng trải qua sự giải thoát như vậy.*

*Tôi đã tự dệt cho mình một tấm lưới, quăng bản thân mình và người phụ nữ mơ màng kia vào trong lưới, gói lại càng ngày càng nhiều lớp lưới, càng ngày càng dày, hai người giống như ở trong bóng tối, ánh sáng trong tâm đều đã tắt ngấm, bản thân tôi không nhìn thấy ánh sáng, người phụ nữ không nhìn thấy ánh sáng.
Tôi và cô ấy là một mớ hỗn độn.*

*Chúng tôi đã làm cái việc rất ồn ào và không thể cắt đứt.
Nhưng đến cuối cùng thì cũng bị cắt đứt rồi. Thật ra đã rơi vào rồi thì rất khó bò trở ra. Tôi thật sự rất thích cô ấy, cô ấy mang một vẻ đẹp khác, rất thân thiết, giỏi biết ý người khác, lại không có nhu cầu mãnh liệt về mặt vật chất. Nhà cửa, xe hơi, tiền bạc, cái gì cô ấy cũng có, cô ấy chỉ là rảnh rỗi quá và điều mà cô ấy muốn là cùng với tôi rơi vào vũng bùn.*

*Thế nhưng, sau khi tôi mất đi cái đó của tôi. 
Thì chúng tôi cũng cắt đứt.
Tôi khổ sở và kiệt quệ!
Cô ấy cũng biến mất tăm.
Cô ấy biệt tăm rất nhiều năm, tôi chưa gặp lại cô ấy, cô ấy cũng không bao giờ xuất hiện ở bệnh viện nữa.*

🌟

*Sau khi trở về từ Mĩ, tôi nhớ đến người phụ nữ mơ màng này. Tôi mơ thấy một giấc mơ, một giấc mơ rất kì quái.*

Trần Bình đi bộ ở một nơi hoang dã, xung quanh không hề có dân cư, trời cũng đang tối dần, trong lòng Trần Bình bắt đầu thấy hoang mang, phía trước chẳng thấy làng xóm, sau lưng chẳng có nhà trọ. 

Trần Bình nhìn thấy một rừng cây, có ánh sáng yếu ớt từ trong rừng hắt ra. 

*Tôi hết sức mừng rỡ, cuối cùng cũng có người rồi.*

*Trong rừng có một ngôi nhà tường đất sơ sài, tôi vội vàng bước tới, gõ cửa, cửa mở ra, một bóng dáng rất quen thuộc đi vào trong mắt tôi, không ngờ chính là người phụ nữ mơ màng ấy. Cô ấy mặc bộ đồ màu trắng, trông lại càng tươi sáng xinh đẹp khiến người ta rung động. Cô ấy kẻ lông mày nhạt, đôi mắt cũng tựa như trong cơn say. *

*Cô ấy nói:
”Anh đến thật đúng lúc, đang muốn tìm anh đây.”
”Tôi cũng muốn tìm cô.” - Gặp được cô ấy tôi rất vui.
Tôi đưa tay ra muốn ôm cô ấy vào lòng.
Cô ấy lùi một bước, co người lại.
”Không, người anh lạnh lắm.”
Tôi tiến nhanh về phía trước, muốn vuốt ve cô ấy.
”Không, tôi không thể.” - Cô ấy nghiêm mặt nói: “Nghĩ đến duyên phận của chúng ta, tôi xin anh đồng ý với tôi một việc.”
”Việc gì?”
”Sau này anh phải siêu độ cho tôi, kéo tôi lên cõi trời, để tránh cho tôi phải ở âm gian làm một linh hồn cô đơn chịu khổ.”
”Cô nói gì tôi không hiểu.”
”Anh là Xích Châu Tử.”
”Xích Châu Tử?”
”Đúng vậy, anh là Xích Châu tử, có tiên cốt, phải lên núi tu hành, tu hành thành tựu rồi thì không được quên tôi đấy, phải nhớ độ hóa cho tôi.”
”Được, tôi đồng ý với cô, nhưng, còn bây giờ!”
”Anh thật sự thích tôi à?” - Cô ấy thấp giọng hỏi.
”Nhớ cô nhiều năm rồi.” - Tôi chỉ có thể nói như vậy, đây cũng là sự thật.*

*Tôi không thể kìm được sự kích thích trong người mình nữa, tôi tóm chặt lấy cổ tay cô ấy, kéo cô ấy vào lòng, cô ấy cong người né tránh, rồi đột nhiên vươn thẳng người lên, khuôn mặt quay về phía tôi. 
Tôi hét váng lên một tiếng.
Tôi
Đã nhìn thấy
Một khuôn mặt quái dị, cực kì khủng khiếp, một khuôn mặt cực kì đáng sợ, khuôn mặt đó hoàn toàn biến dạng, bảy lỗ chảy máu, da mặt dính chặt vào xương hộp sọ, bên trên còn có những con dòi đang bò. 
Tôi buông tay ra, muốn chạy, nhưng chân đã ngã khuỵu xuống. 
Cô ấy nói với tôi:
”Anh thật sự thích tôi sao?”
Tôi sợ quá choàng tỉnh dậy.
……………………………*

*Mộng cảnh này ở mãi trong đầu tôi, rất lâu vẫn không thể nào rũ bỏ được, tôi cảm thấy mộng cảnh có điều quái dị, dường như là không may mắn.*

*Trong đống tư liệu cũ mà trước đây cô ấy cung cấp cho tôi, tôi đã tìm đến một ngôi làng nhỏ ở nông thôn miền Nam, đây là nơi cô ấy đã sinh ra và lớn lên.*

*Cô ấy nói bên cạnh làng có một ngôi miếu, miếu này là miếu Ma Tổ, ngôi miếu này ngày trước rất nhộn nhịp, khói hương nghi ngút, tuổi thơ cô đã lớn lên ở mảnh đất trống phía trước miếu. Tôi nhìn ngôi miếu này, những bậc tam cấp của ngôi miếu, những dải đá vụn đã phủ đầy rêu, cho thấy ngôi miếu này cũng đã suy tàn rồi, bức tượng tiên nữ ở cửa miếu cũng đã bong tróc rất nhiều mảng sơn.*

*Ngôi nhà cô ấy từng sống ở phía sau miếu, có rất nhiều những con ngõ nhỏ quanh co chật hẹp, chỉ có thể một, hai người đi vừa. Con ngõ này giống như cái giếng trời ở trong sân nhà người ta, tôi đã từng đi xuyên qua khi tôi tới nhà người ta.*

*Tôi thật sự đã tìm được đến ngôi nhà mà cô ấy từng sống. *

*Cô ấy kể, lúc còn nhỏ nhà cô ấy rất nghèo, tường nhà do đất đắp lên mà thành khối, cửa nhà là những liếp tre dán giấy, bên trong nhà thì tối tăm mù mịt, bên ngoài ngôi nhà là một vạt đất trồng bí ngô và những dây leo bí ngô. *

*Tôi đã nhìn thấy một bức tường đổ sụp, trong nhà là một đống đổ nát, những dây leo bí ngô ngả nghiêng và khoảnh bí ngô tan hoang, căn bản là cũng không có ai sống ở nơi này, có lẽ cả nhà đã chuyển đi rồi.*

*Bên nhà hàng xóm có một bà lão đang ngồi, miệng bà lão đang lầm rầm niệm Phật, trên tay còn cầm cả chuỗi hạt đeo tay, thì ra là một vị Bồ Tát già.*

*Tôi hỏi thăm bà lão, bà ấy trừng mắt nhìn tôi một cái, cũng chẳng đáp lời, hình như tôi đã làm phiền bà niệm Phật. 
”Xin hỏi, có phải có cô Thúy Vân ở ngôi nhà này không ạ?”
Bà lão dừng đếm hạt, quan sát tôi một lúc rồi hỏi:
”Anh có quan hệ gì với Thúy Vân?”
”Cháu… Cháu là bạn của cô ấy.”*

*Bà lão nói với tôi, Thúy Vân đã chết rồi, chết vì ung thư. Tôi giật thót mình, sao mà một người còn đang khỏe mạnh đã chết rồi.*

*Bà lão nói:
”Lúc nhỏ nhà nghèo, Thúy Vân lại xinh xắn, đến miền Bắc lấy một người chồng giàu có, làm vợ bé của người ta, nhưng thường xuyên bị mẹ chồng và vợ cả ngược đãi, mấy năm nay ít về đây. Cũng có người bảo là con bé không chết vì ung thư, mà là tự sát mà chết, chúng tôi cũng không biết rõ, chỉ là chúng tôi đã chứng kiến con bé lớn lên, nên không khỏi cảm thấy thương xót mà thôi!”
Bà lão nói:
”Người trong làng này cũng đều là người thân, ai cũng biết Thúy Vân là một đứa lanh lợi nhất, không ngờ vận mệnh cũng khổ như vậy, số khổ, cũng đều xấu số, phải niệm Phật nhiều, niệm Phật nhiều hơn đi!”*

*Trên xe trở về, tôi hết sức bùi ngùi.*

Nhắc tới Thúy Vân, là cô ấy chủ động hôn anh một cái, rồi lén lút nhét cho anh một mảnh giấy. Cô ấy có đôi bàn tay nhỏ mềm mại, thường thích đặt bàn tay nhỏ nhắn này ở dưới nách anh, cô nói, ở đây ấm áp nhất.

Cô ấy là một người đa tình và dễ mến, khi cười trông rất ngọt ngào, chỉ là, hay chau mày buồn bã, khiến người ta xót thương. Trên thực tế, cô thường âm thầm giúp người khác, cứu trợ người nghèo. Anh biết những việc cô thường làm, chỉ cần thấy trên báo đăng, hay trên truyền hình đưa tin là có người nào đó cuộc sống khó khăn, rơi vào cảnh tuyệt vọng là cô ấy nhất định gom tiền để giúp đỡ họ, đều không đề tên người gửi.

Cô ấy lo lắng về sự gửi gắm khát vọng tình cảm của mình, nhưng chồng cô khi cưới cô về, sau một khoảng thời gian thì đã thay đổi tình cảm. Ở nhà chồng, cô không có được tình yêu chân chính, huống hồ còn có bà vợ cả và mẹ chồng bài xích cô.

Cô ấy nói, bản thân là người sống tình cảm, tiếc là người ta không hay, cũng không thương xót. Cô khao khát tình yêu, cô đã đọc rất nhiều tiểu thuyết Quỳnh Dao, thế nhưng bạch mã hoàng tử trong mộng đều chưa bao giờ xuất hiện. Cô cảm thấy khá thất vọng về cuộc đời.

Cô ấy tìm thấy Trần Bình, anh ta không chịu nổi sự cuốn hút của cô, một cô gái mơ màng như cô nhỏ bé làm sao, dịu dàng làm sao, thật khiến người ta không thể đoán biết.

Tình cảm giữa cô và anh ngay cả bản thân cũng không hiểu được, là tình yêu hay là dục vọng cũng không phân định được rõ. Không những là không hiểu mà thậm chí còn không biết tại sao mọi thứ lại thành ra thế này, đây chỉ có thể nói là cảm xúc mạnh mẽ chứ không phải nguội lạnh, nếu tình cảm nguội lạnh rồi thì sẽ chẳng có nhiều chuyện như vậy.

Thật ra Thúy Vân không phải người xấu, cô ấy tuyệt đối không phải là một phụ nữ có lòng dạ xấu xa, cô không có bất kì đòi hỏi quá đáng nào đối với anh, hoàn toàn không có mục đích, cô ấy chỉ là đang lấp vào khoảng trống trong vận mệnh của chính mình mà thôi. Cô không nắm chắc được vận mệnh của mình, và thế là, để cho nó không trống rỗng, cô ấy đã thêm vào một chút sắc màu.

Anh từng nói muốn chăm sóc cô, cô lắc đầu. Anh nói muốn quan tâm đến cô, cô ấy nói, cuộc đời không bắt đầu từ sự quan tâm, vận mệnh không bắt đầu từ sự quan tâm, cô ấy không hề muốn chi phối bất kì người nào.

Thật sự khi anh bị bất lực, Thúy Vân hoàn toàn không rời bỏ anh, tấm lòng cô lương thiện nên vẫn thương yêu anh. Là Trần Bình chủ động tránh mặt, anh cho rằng, không có cái đó nữa thì người đàn ông đã mất đi tất cả quyền lợi. 

Bây giờ, Thúy Vân đã chết rồi. Cô ấy xuất hiện trong giấc mơ của anh, đã lộ ra khuôn mặt cực kì đáng khiếp sợ, cô nói với anh: “Anh thật sự thích tôi sao?”
Anh sợ chết khiếp!
Anh chạy vắt chân lên cổ, sợ té cứt té đái. Cái chết của cô ấy khiến tất cả mọi ảo mộng của anh đều tan biến hết, cái chết thật đáng sợ.

Câu hỏi đặt ra ở đây là:
Nếu Thúy Vân vẫn còn sống, anh có yêu cô ấy không? Có thích cô ấy không?
Thúy Vân chết rồi thì anh lại sợ cô ấy, là vì sao?

Sự khác biệt giữa sống và chết có lớn như vậy không? Đây là một chủ đề huyền học, chủ đề này có thể tiếp diễn vô tận, vấn đề mà ai cũng gặp phải, tình yêu của mỗi người ở đâu? Sự yêu thích của mỗi người ở đâu?

Hôm nay yêu.
Ngày mai không yêu. 
Hôm nay có.
Ngày mai không có.

Có một bài thơ rằng:

*Người ta bảo Tây phương hoang vắng
Người chết đi vào cõi mịt mờ
Thân nhiễm độc chẳng hi vọng sống
Kì Sơn kia thì có Văn Vương
Bao chư hầu hướng về Thiên tử
Bốn đại châu thấy ánh mặt trời
Nhưng được vãng sinh đừng sợ hãi
Nên biết thọ mạng thật khó lường.*

Trần Bình nghĩ đến lời của bà lão: “Phải niệm Phật, niệm Phật nhiều hơn đi!”
Thế nhân đều nói niệm Phật là hành vi của những người ngu xuẩn, thế nhưng, trí huệ của Long Thọ Bồ Tát là thế nào đây? Long Thọ Bồ Tát còn viết cuốn “Luận Tì Bà Sa” phát nguyện vãng sinh tịnh thổ đó!

Trí huệ của Văn Thù Bồ Tát là thế nào đây? Bài kệ vãng sinh của Văn Thù Bồ Tát cũng phát nguyện vãng sinh tịnh thổ.

Anh ấy là Xích Châu Tử ư? Xích Châu Tử là ai?


### 10. Cửa Phật


*Trong cùng thời gian tôi qua lại với Thúy Vân, tôi còn có Tiểu Tuyết, Tiểu Tuyết là y tá trợ lí của tôi. Đối với Tiểu Tuyết, trong lòng tôi có một chút day dứt.*

*Tôi biết nói thế nào nhỉ? Tiểu Tuyết chính là Tuyết Tuyết, những người quen của chúng tôi đều gọi cô ấy là Tiểu Tuyết. Tên hợp với người, nước da của Tiểu Tuyết trắng như tuyết, cô ấy trông rất xinh xắn đáng yêu, nét mặt ngọt ngào, sống động và khả ái. Cô ấy rất tỉ mỉ chu đáo, rất biết cách quan tâm đến người bệnh, cũng biết cách chăm sóc hoa. Mọi người đều biết là người thân của bệnh nhân thường hay mua hoa đến tặng cho bệnh nhân, bệnh nhân thường nhận hoa xong thì tùy ý để đó. Tiểu Tuyết rất chu đáo, cô ấy sẽ cắm hoa vào lọ rất đẹp, biết cách thay nước, biết cách phối hợp hoa với bình, bố trí hoa lá, cắt tỉa, biết về đời sống của hoa, thậm chí có một số loại có thể đem trồng ở trong vườn hoa. Cô ấy biết cách trồng hoa, cô ấy chăm sóc từng cây hoa giống như chăm con của mình vậy. Tiểu Tuyết chính là một cô gái như vậy, cô ấy dứt khoát không phải là một người cẩu thả qua loa.*

*Tiểu Tuyết lau chùi dọn dẹp tất cả mọi thứ trong phòng khám sạch sẽ không dính chút bụi, bạn có thể dùng tay để miết thử, tay cũng vẫn sạch, cho dù đi găng tay trắng thì găng tay trắng cũng không bị đen. Còn nữa, bất kì hồ sơ, tài liệu, bệnh án nào cô ấy cũng đều sắp xếp gọn gàng đâu vào đấy, bác sĩ gọi một cái là cô ấy đã có mặt ngay bên cạnh. Hầu như cô ấy đều luôn dậy sớm và đi ngủ muộn, lúc nào cũng có mặt ở xung quanh.*

*Có một vài lúc tôi có chuyện bất bình đối với xã hội, cho rằng chúng là hoang đường, tôi bất mãn với chế độ của bệnh viện, không ngờ Tiểu Tuyết có thể phân tích thực tế, với mỗi sự việc cô ấy đều đưa ra những quan điểm độc đáo. Cô ấy không chỉ là một y tá trợ giúp tôi mà thậm chí còn trở thành một người bạn quan tâm đến tôi, khiến tôi cảm thấy trên đời này cũng vẫn còn đáng sống.*

*Tiểu Tuyết thích âm nhạc, là một người chơi đàn guitar giỏi, khi còn đi học cô ấy cũng là danh ca vườn trường. Khi đi leo núi, cô ấy cũng là dũng sĩ chăm sóc những bạn học khác. Khi đi dã ngoại, cô ấy luôn là người nhóm lửa, cô ấy nằm bò trên mặt đất, thổi đám lá khô để cho lửa bốc lên, rồi còn nấu tất cả các món ăn. Khi mọi người vây quanh đống lửa để nhảy múa, cô ấy lại đánh đàn guitar.*

*Tiểu Tuyết nhảy cũng rất đẹp, cô ấy biết môn khiêu vũ quốc tế, kĩ năng nhảy uyển chuyển, cô ấy biết tôi nhảy không tốt liền phối hợp với tôi, chỉ cần tôi khớp với nhịp phách, còn cô ấy sẽ dẫn dắt, tự nhiên có thể nhảy đẹp.*

*Cô ấy nói:
”Tập trung là quan trọng nhất.”
”Tập trung cái gì cơ?”
”Khi nhảy phải chuyên tâm vào việc nhảy.”
Tôi cố ý sát lại gần cô ấy. 
”Nghiêm túc một chút.” - Cô ấy nói.
Tôi ngửa mặt lên.
”Thả lỏng một chút.” - Cô ấy nói.*

*Thỉnh thoảng tôi ôm chặt cô ấy, cảm giác thấy cô ấy có bộ ngực căng mẩy, tôi còn ngửi thấy trong không khí có mùi thơm tỏa ra từ làn da trắng như tuyết và ấm áp của cô ấy, nghe tiếng nhạc nhẹ nhàng, trái tim tôi liền bay bổng. Tôi nhìn thấy đôi mắt đen tròn của cô ấy ánh lên vẻ long lanh, đôi môi mỏng mảnh…*

*Tôi chăm chú nhìn cô ấy, cô ấy chăm chú nhìn tôi.
”Thế này là rất tốt.” - Cô ấy nói.
”Cái gì rất tốt?”
”Tôi thích anh, nhưng không phải là yêu.”
”Vì sao không?”
”Yêu mệt lắm.” - Cô ấy nói.
”Vì sao lại mệt?”
”Đối phương quá trăng hoa.” - Cô ấy nói.*

*Tuyết Tuyết biết tôi và Thúy Vân rất gần gũi nhau, phụ nữ đặc biệt nhạy cảm, chỉ cần nhìn một cái là biết ngay, thật ra đây cũng là bản năng. *

*Cô ấy nói:
”Tôi muốn nắm chắc vận mệnh của mình, chứ không phải là giao vận mệnh của mình cho người khác nắm.”
Tôi nắm chặt lấy bàn tay cô ấy. *

*Cô ấy nói:
”Tôi không biết thế nào gọi là hạnh phúc, hạnh phúc không nhất định phải kết hôn, có chồng, có con, có gia đình mĩ mãn, có nghề nghiệp là bác sĩ, có tiền, có tên tuổi, đây gọi là hạnh phúc sao? Thật ra hạnh phúc đôi khi là một gánh nặng, thỉnh thoảng cần an ủi dỗ dành. Nói nghiêm túc, chỉ cần mỗi ngày đều có thể sống một cách trọn vẹn thì ngày hôm đó cũng chính là hạnh phúc.”*

*Tôi nghe cô ấy nói thì hơi giật mình:
”Đây là triết học gì vậy?”
”Ngay lúc này.” - Cô ấy nói: “Ví dụ như hôm nay là rất tốt.”
Khi ấy tôi và Tuyết Tuyết là một cặp đôi được người ta hết sức ngưỡng mộ. *

*Sau khi tôi và Tuyết Tuyết qua lại với nhau nhiều năm, có một buổi tối, Tuyết Tuyết đến tìm tôi, cô ấy nói:
”Chúng ta qua lại với nhau bao lâu rồi?”
”Nhiều năm rồi?”
”Giống như gì?”
”Vợ chồng.” - Tôi cố ý nói như vậy.
Cô ấy không hề lưu tâm, nhìn quanh nơi tôi ở một lúc rồi nói:
”Xem ra ngôi nhà này cần có một nữ chủ nhân.”
Tôi nói:
”Mời cô thì sao?”
”Tôi sắp kết hôn rồi, nhưng không phải với anh.” - Cô ấy cười hơi lạ.
”Với ai?”
”Không nói cho anh biết.”
Tuyết Tuyết lại nói:
”Tôi sắp đi xa.”
”Xuất ngoại à?”
”Không phải xuất ngoại.”
”Đã không phải xuất ngoại thì sao lại là đi xa?” - Tôi hỏi.
”Mặc dù không phải là xuất ngoại nhưng vẫn là rất xa, lần này không thể gặp lại.”
”Có nghiêm trọng đến vậy không?”
”Có.”
Trong lòng tôi hơi bực, tôi hỏi:
”Có phải là tôi đã mất năng lực nên cô muốn rời bỏ tôi không?”
”Tôi đã nói rồi, thân thể anh thật sự là một vấn đề nghiêm trọng, đối với người bình thường mà nói thì đích thực là như thế. Thế nhưng, đây không phải là nguyên nhân chính khiến tôi bỏ đi, con người tôi khác, có tình dục cũng được, không có tình dục cũng được, sống tự nhiên cũng là đẹp rồi, quăng mình vào trong cuộc sống có giá trị, mỗi ngày đều rất có giá trị, tôi không sống vì tình dục, việc tôi rời đi thật sự chẳng có liên quan gì đến năng lực của anh.”*

*Điểm này thì tôi tin.
Tuyết Tuyết không giống những người bình thường.
Tuyết Tuyết không phải là dì út tôi.
Tuyết Tuyết không giống Thúy Vân.*

*Cô người mẫu kia cũng đã đi lấy chồng rồi, chỉ có Tuyết Tuyết là vẫn đi cùng với tôi, thế mà cũng đã mấy năm rồi. Tôi nhìn thấy được rằng cô ấy sống rất vui vẻ, có tình dục cũng vui, không có tình dục thì cô ấy vẫn rất thoải mái, nếu Tuyết Tuyết lấy tôi, chuyện tình dục sẽ không có, nhưng cô ấy vẫn là một người biết cách sống.*

*Tôi nói, miệng đắng chát:
”Cô sắp kết hôn rồi, chúc mừng cô.”
”Việc kết hôn của tôi cũng khác người ta.”
”Khác thế nào?”
”Sau này anh tự biết.” - Tuyết Tuyết nói.
”Lần này cô kết hôn có đáng không?”
Cô ấy nói:
”Vấn đề là, giá trị quan của mỗi người không giống nhau, người này khác người kia, mỗi người có một cách nhìn khác nhau. Với tôi mà nói, con đường mà tôi đi là một cuộc sống khác, một cách sống khác, kiến thức về môn này không hề kém y học, y học đã là rất cao sâu rồi, không thể đo lường, nhưng cái cửa mà tôi đi vào là chìa khóa của sinh mạng, lại càng không thể đo lường, không thể tưởng tượng.”
Tôi nghe xong thì cũng không hiểu lắm.*

*Từ trong túi xách, Tuyết Tuyết giao cho tôi lá thư và bản thảo cô ấy viết cho tôi, cô ấy nói, đọc rồi sẽ hiểu. Cô ấy ngẩng đầu, hất tóc về phía sau, lúc ra khỏi cửa, cô ấy hôn tôi một cái rồi thoải mái bước đi.*

*Thư của Tuyết Tuyết rất đơn giản:
”Tôi xuất gia đi tu đây.”*

*Kèm theo một bài thơ của Sở Thạch triều Minh.*

*Từng hỏi bạch hạc có phải tiên
Ngày ngày bay đến tặng tiếng hót
Bèn muốn gửi sách cho bạn hiền
Chắc chắn hiểu được tấm lòng ta.
Lâu nay muốn trở về cõi vui
Bằng lòng cầm sen về nơi xa
Trăm tuổi đúng là trong nháy mắt
Ta Bà chỉ sợ mối duyên đời.*

*Tôi đọc xong thư và thơ của Tuyết Tuyết thì nước mắt rơi đầm đìa.*

🌟

Tuyết Tuyết còn gửi kèm thêm một bản thảo cho Trần Bình:
Phàm con người nhìn thấy sắc đẹp thì đều dễ khởi tâm dâm dục, tâm này một khi đã khởi lên thì bất kể có hành vi hay không, chỉ cần khởi động ý nghĩ là tâm đã gặp chướng ngại rồi.

Muốn tâm không bị chướng ngại, khi tâm dâm sinh ra, khi không thể nào dừng lại được, nên lập tức nghĩ đến chữ “chết”, nếu thấy nghĩ về cái chết không dễ thì có thể nghĩ đến việc mình bị bệnh rất khổ, như vậy cũng dễ dàng dập tắt ngọn lửa dục. Người bình thường, nếu bản thân có đau khổ, hoặc bị bệnh nặng, hoặc khổ vì đau đớn, bản thân chỉ chú ý tới bệnh khổ thì sẽ không dễ khởi tâm dâm. 

Hoặc dựa theo quán bạch cốt, quán bất tịnh mà Phật Đà dạy, nghĩ đến phụ nữ sau khi chết thì thịt rữa xương mục, hôi thối không thể lại gần, tất cả mọi sắc tướng trước mặt căn bản là ảo ảnh, là huyễn cảnh, đều không dài lâu.

Ngoài ra, phải dùng lí niệm để suy nghĩ, khi sắc đẹp ở trước mắt phải nghĩ đến vấn đề danh tiết, bất kể thế nào, danh tiết thanh cao ưu tú như châu như ngọc, nếu bước sai một bước sẽ tự hủy hoại tiền đồ của mình, lập tức biến thành hạng thối tha như rác rưởi, lúc này lí trí xuất hiện, tự mình phải biết lo, phải cẩn thận.

Cần biết rằng, niềm hoan lạc này chỉ có thể xem là sự vui sướng thoáng chốc, dâm loạn sẽ hủy hoại công danh, sẽ tước sạch phú quý, sẽ mất đi tuổi thọ, sẽ bị giết hại, sẽ không còn hậu duệ, sẽ bại hoại thanh danh. Trên thực tế, cái vui nhất thời sẽ hủy cả một đời, hỏng cả một đời. Tất cả đều vì dâm loạn, phải suy nghĩ mạnh mẽ mà thức tỉnh, tự nhiên sẽ sinh ra suy nghĩ trong sáng.

Vả lại, mặc dù con người ngày nay đang dần đánh mất các giá trị đạo đức của mình, nhưng ai ai cũng có tâm xấu hổ và thù hận. Khi xảy ra chuyện dâm loạn thì cha mẹ, anh chị em sẽ đều thấy xấu hổ nhục nhã khi gặp vợ chồng con cái chú bác cô cậu, bị người thân cùng quê chê cười, bề ngoài thì mọi người biểu hiện không nói gì, nhưng kì thực sau lưng đều không ngớt nhạo báng khinh bỉ.

Tà dâm dễ dẫn đến những điều bất trắc nhất, có người ôm hận mà chết, có người sảy thai, có mẹ con ôm mối căm hận mà nhảy sông tự tử. Nếu phụ nữ phản bội chồng mà đi quan hệ bên ngoài bị chồng biết được, thì người chồng lúc này chắc chắn cơn tức giận sẽ bùng lên, cực kì phẫn nộ, chắc chắn sẽ trả thù. Một khi tâm ác nghiệt nổi lên thì làm sao mà không phát sinh những chuyện ngoài ý muốn.

Phải coi con gái nhà người ta giống như con gái mình, phải coi vợ người ta giống như vợ mình, đều lo sợ họ sẽ bị người khác làm nhơ bẩn. Hễ con người khởi lên tâm dâm thì phải hết sức cảnh giác bản thân, mình dâm vợ của người khác, người khác dâm vợ mình thì sẽ thế nào? Nghĩ như vậy thì cái tâm dâm dục tự nhiên sẽ tắt, đây là vị thuốc nhanh nhất để chặn lửa dục.

Hơn nữa, nếu đã thông dâm với con gái nhà người ta, thì con gái mình thế nào cũng đắc tội với người khác, làm chuyện ô uế với vợ của người khác thì vợ mình thế nào cũng bị người khác làm ô uế. Từ xưa đến nay, những ví dụ kiểu này nhiều vô cùng, đạo trời sẽ chẳng bao giờ có nhầm lẫn, báo ứng luôn luôn xác đáng, hãy nhìn những người bị báo ứng vì dâm dục ai ai cũng đều như vậy.

Thơ rằng:
*Khuyên anh chớ nợ chuyện phong lưu
Nhanh nợ thì cũng nhanh phải trả
Trong nhà hãy còn đời con cháu
Lúc cần nương dựa vẫn có người.*

Khuyên anh phải coi tâm dâm là lang sói, là rắn rết bò cạp, là hồn ma quỷ sứ, là oan gia kiếp trước. Như vậy thì tất nhiên sẽ cảnh giác, trong lòng sẽ dè chừng.

Thân ta có được da thịt vốn là do cha mẹ sinh ra, không nên hủy hoại nó, đây cũng là sự khởi đầu của hiếu thuận. Hủy hoại không chỉ là những tổn thương bề ngoài mà thôi. Ví dụ một cái cây nhỏ, vừa mới có được hình hài thô sơ, đúng vào lúc sinh trưởng mạnh mẽ thì chắc chắn sẽ sợ bị chặt, cần được sớm tối bồi dưỡng và bảo vệ, như vậy mới có thể lớn lên thành cây to, sau này mới cho bóng mát.

Con người cũng như vậy, con người lớn lên từ khi là một đứa trẻ, tuổi thiếu niên thanh niên, khi cơ bắp còn chưa đầy đủ, khí huyết chưa ổn định, lúc này mà mất đi chân nguyên thì sẽ trở thành một hình thể khô gầy, tinh tủy hao tổn thì trăm bệnh bộc phát, không thể trở thành một con người trưởng thành, mà ở giữa người trưởng thành và trẻ con, khiến cha mẹ hoảng hốt, thậm chí bất lực bó tay.

Còn có những người mặc dù đã trưởng thành, nhưng lại không biết tiếc chân nguyên, ngày ngày chặt phá, chẳng mấy chốc mà tinh tủy khô kiệt, chính là vì buông thả bừa bãi trong dục vọng, khiến cho nhục thể phải chịu khổ, mắc bệnh xuất tinh sớm hay liệt dương, cho dù không phải là vấn đề âm đức thì cũng bị tước mất phúc phần hoặc bị mất bớt tuổi thọ, thật ra cũng là nghiệp chướng tự mình gây ra. Nỗi đau khổ cá nhân này cũng có thể xem là đau khổ phiền não lớn nhất, đến mức không dám kết hôn.

Người xưa không dám quên cha mẹ mà đem thân thể chính mình chà đạp chính mình, huống hồ là bôi nhọ sự thanh bạch của họ, như vậy có thể xem là tận hiếu không?

Trần Bình đọc xong bài văn này, lại đọc lại nhiều lần, trong lòng rất sợ hãi.

Tuyết Tuyết đi rồi, đi tu rồi, xuất gia vào cửa Phật rồi.

Trần Bình nghĩ đến bản thân:
Phản đạo trời.
Loạn nhân luân.
Đúng là kẻ mặt người dạ thú.


### 11.  Nhận ra đạo lí Khổ - Không


*Dường như cuộc đời Trần Bình tôi đã mất đi tiêu điểm, nặng nề đi vào giấc ngủ rồi thức dậy, bỗng thấy chỉ còn lại một mình, thế là òa khóc. Tôi cũng không hiểu rõ rốt cục là thế nào. Làm thế nào mà bản thân tôi sống sót qua ngần ấy năm?*

*Phơi bày trần trụi bản thân mình ra:
Rốt cục anh đang tìm kiếm cái gì? Tìm kiếm cái gì?
Tìm tình dục, tìm khoái lạc, tìm cái sung sướng nhất của đời người.
Kết quả thì sao?
Nói có chút thê lương còn là nhẹ.*

*Điều gì đã xảy ra trước đó?
Bản thân mình trước kia, ngoài đi làm ra, ăn no rồi, ngủ đã rồi, thì chỉ có “chơi gái”, thế nào là “chơi gái”? Tức là lúc thì dì út, lúc thì Thúy Vân, lúc thì Tuyết Tuyết, lúc thì…*

*Dục vọng chơi gái tuy là có cái vui thú của nó, nghe có vẻ rất sung sướng, nhưng kì thực vẫn luôn luôn không lấp đầy được nỗi trống trải. Nói thế nào mới có thể hiểu được nhỉ? Cơn khoái lạc qua đi thì chỉ còn cảm giác trống rỗng, lại dùng khoái lạc để lấp vào, cứ thế lặp đi lặp lại, sự thật tàn khốc nhất là vĩnh viễn không lấp đầy được, có vẻ như đầy rồi, nhưng lại vẫn chưa đầy, vừa quay người đi đã không còn tìm thấy nữa, không tìm thấy lại quay đầu lại đi tìm.*

*Cuộc sống của tôi có thể coi là lộn xộn không?
Nghiêm túc mà nói, cuộc sống cũng có thể xem là quy luật. Trên phương diện công việc thì tôi luôn được xem là gọn gàng ngăn nắp, phòng khám rất sạch sẽ, nhà tôi ở mặc dù không thể coi là gọn gàng nhưng thuê người ta đến dọn dẹp thì cũng vẫn xem là tạm chấp nhận được.*

*Điều duy nhất tôi cần làm là sắp xếp thời gian và địa điểm với phụ nữ hợp với thời gian rảnh rỗi của bản thân, cũng có thể xem là tôi sống khá thoải mái! Tóm lại, chơi gái đã trở thành thói quen rồi, thói quen cũng xem như là hợp ý tôi rồi!*

*Đó là khoái lạc tình dục phải không?
Đúng vậy.
Mà cũng không phải.
Trước kia thì đúng, bây giờ thì không.*

*Bây giờ thì sao? Bản thân tôi ngẫm nghĩ thật kĩ, dì út tôi đã già rồi, nỗi phiền muộn lộ rõ. Giờ đây việc gần gũi với dì đã trở thành một việc khổ sai, khoái lạc ngày trước không còn nữa, dường như dì đã trở thành một đống đồ bỏ đi. Tôi bị mắc kẹt trong tình thế khó xử, tâm không cam, tình không chịu, nhưng không có cách nào để thoát khỏi cái mớ vướng víu này. Khoái lạc đã biến thành đau khổ, tôi không muốn đi tới chỗ dì nhưng không đi không được, đây là thứ tình dục bị làm rối tung lên. Mỗi lần tôi đều không muốn gặp lại dì nữa, nhưng tôi lại vẫn cảm thấy thương hại, thế là tôi lại đến gặp dì.*

*Thúy Vân chết rồi, người phụ nữ khiến tôi toàn thân thư thái đã chết rồi.*

*Còn Tuyết Tuyết? Người phụ nữ khiến tôi vui vẻ đã xuất gia rồi, bác của cô ấy là một tì kheo ni già, là trụ trì của một ngôi chùa, cô ấy đã đi vào cửa Phật rồi.*

Trần Bình mở cửa ngôi nhà mình, bước ra con đường lớn, con đường vẫn đông nghịt, người đi bộ đi tới đi lui, xe ô tô, xe máy, người đi bộ, xe đạp, luôn luôn tấp nập không ngừng.

*Còn bản thân tôi thì sao? Tôi cười khẩy chính mình, bản thân vì công việc, vì chơi gái mà vẫn không bận rộn như thế. Người ta bận rộn là vì cái gì? Vì danh, vì lợi, vì sắc, vì… Con người chính là con người, ai ai cũng sống vì chính mình.*

*Tôi đi lang thang trên phố không có mục đích, bình thường bước chân tôi rất nhanh, bây giờ chúng đã trở nên chậm rãi. Giờ đây tôi đã mất đi mọi thứ, dường như chẳng còn gì nữa, nên cũng không cần phải vội vội vàng vàng như vậy.*

*Tôi quan sát người khác, phát hiện ra mỗi người hầu như chỉ chú ý đến bản thân, rất ít người chú ý đến người khác, cho dù có chú ý thì kiểu chú ý ấy cũng rất mơ hồ. Lúc này tôi mới nhận ra chỉ có một mình tôi đang đi đường, còn người khác thì đường ai nấy đi, mối quan hệ giữa người với người thật sự chẳng là gì.*

*Thêm một người, bớt một người, chẳng có bao nhiêu người chú ý đến. Trừ phi bạn là người nổi tiếng, bạn chết rồi thì mới đổi lấy được lời than thở từ một vài người. *

Trần Bình đi bộ trên phố, con phố này vốn là một con phố buôn bán, có rất nhiều cửa hàng cửa hiệu, rất nhiều người đi bộ, thế nhưng những cửa hàng ấy chẳng hề có liên quan đến mình, người đi đường chẳng hề có liên quan đến mình. Những người đi đường này thay đổi hàng ngày, hàng tháng, hàng năm, nhóm này ra đi thì nhóm khác lại đến, cuộc đời giống như chiếc đèn cù.

Trần Bình càng đi tiếp thì càng cảm thấy cô quạnh, dường như trên đường phố ồn ào náo nhiệt, chỉ có một con người cô độc, cho dù xung quanh muôn màu muôn vẻ, tiếng xe huyên náo không ngừng vang lên bên tai, nhưng bản thân vẫn cảm giác chỉ có mỗi một mình mình đang đi trên đường.

Giác ngộ rồi sao?
Giác ngộ cái gì?
Tất cả đều khổ, tất cả đều không có, tất cả đều trống không.
Có cảm giác như vậy.

Đương nhiên Trần Bình cũng nghĩ đến dục lạc của con người, thì ra dục lạc đã tạo nên phiền não và đau khổ cho chính mình, tất cả đau khổ đều sinh ra từ trong dục lạc.

Khổ và lạc là song sinh, hạnh phúc và tai họa là hàng xóm sát vách mà thôi, ở đây là nhân quả, chỉ có một đường phân cách mỏng manh. Rất nhiều người tìm kiếm lạc thú, nhưng cái họ tìm thấy lại là đau khổ, họ cho rằng hạnh phúc là vô tận, thật ra là họa hoạn liên miên.

Trần Bình phân tích chính mình, cảm thấy bản thân không có linh hồn, không có giá trị, không có ý nghĩa, bản thân căn bản chính là một mớ hỗn độn. Nghĩ mà xem, tưởng là mình cao hơn nhiều người khác rất nhiều, nhưng hóa ra là cùng một hạng. Con người rất ít khi nào đi tìm hiểu chính mình, mình chính là một cái thứ như thế đó, một bộ máy rất phức tạp.

Đam mê danh, đam mê lợi, đam mê nam nữ, đó chính là chúng sinh, một tướng chung của chúng sinh. Căn bản là mỗi con người đều chìm nổi trong biển dục, cứ thế cho đến khi già, cho đến khi chết. Ngay cả tri thức cũng thế, tri thức chẳng qua chỉ là công cụ để mưu cầu danh, mưu cầu lợi, mưu cầu nam nữ mà thôi. 

Thế giới này không có thứ gì tươi mới, bất kì một phát minh mới mẻ nào cũng đều là vì danh lợi sắc mà thôi, ví dụ thuốc viagra, thuốc tráng dương “dũng sĩ tê giác” đều là để mưu cầu khoái lạc nhất thời, cho dù có thay đổi thế nào cũng không nằm ngoài ba chữ này, cũng chẳng chơi được trò gì mới. 

Đàn ông muốn đàn bà.
Đàn bà muốn đàn ông.
Lại còn, đàn ông muốn đàn ông, đàn bà muốn đàn bà.
Khi họ ở cùng với nhau, thế giới chỉ còn lại dục lạc.
Sau đó họ làm điều đó một lần, hai lần, ba lần, không biết bao nhiêu lần, vô số lần không đếm được...…
Kết quả là, họ cùng rơi vào vũng bùn và đầm lầy, chỉ dẫn đến một sự mắc kẹt không thể chịu nổi. Bãi lầy ấy là một mớ hỗn độn của sướng và khổ, không thể tách rời, và cuối cùng là hoàn toàn trống rỗng.

Con người giống như con tằm nhả hết sợi tơ này đến sợi tơ khác từ chính cơ thể của mình, quấn lấy mình thật chặt, càng ngày càng đen tối, khi chính mình rơi vào bóng tối tức là đã chết chắc rồi.

*Tôi phân tích bản thân:
Tham dâm.
Hư vinh.
Đui mù.
Rỗng tuếch.
Hoang mang.
Nên mới có thể khiến bản thân rơi vào những cuộc chơi gái, muốn tìm kiếm khoái lạc, nhưng lại không cắt đứt được đau khổ, nhưng cứ một mực không có cách nào dừng lại bước chân của mình.*

*Tôi đã đọc hai cuốn sách của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn:
”Sống từng phút giây trong sáng”
”Sống từng phút giây rực rỡ”*

*Tôi bỗng nhiên tỉnh ngộ.
Tôi đã viết ra một bài văn thề nguyện:*

*Trung Hoa Dân Quốc, ngày… tháng… năm…
Đệ tử Trần Bình thề bỏ tà dâm. 
Trai giới chay tịnh, thắp hương dâng sớ. Kính cẩn xin thề trước tôn thần Thành Hoàng. 
Trong trăm điều thiện, trước nhất là hiếu, trong vạn điều ác, đứng đầu là dâm. Người khác cầm thú, vì có cái tâm. Nhạn ở sông ngòi, còn không lạc đàn. Con làm Phật tử, chẳng bằng loài chim. Kể từ hôm nay, thề bỏ tà dâm, đến hết thọ mạng, không đổi tâm này. Nếu có phạm vào, tức thì họa đến, nếu còn chưa đủ, họa giáng cháu con, bôi nhọ lễ giáo, tội thật không nhẹ. Khẩn thiết thỉnh cầu, hộ pháp thần minh, từ bi thương xót, soi xét lòng này, âm thầm bảo hộ, mãi được an ninh.
Đệ tử Trần Bình kính cẩn dâng sớ.*

Trần Bình đem cả một vài bản thảo nhật kí mà mình đã viết đốt trong lò hóa vàng ở trước miếu Thành Hoàng, một lúc sau đã đốt hết toàn bộ. Hóa thành tro, hóa thành khói, hóa thành hư không, giống như hóa hết toàn bộ con người mình.

Nghĩ mà xem, đúng là tội ác tày trời, từ khi còn trẻ đã phạm vào giới sắc, lang thang tới xóm làng chơi, sau đó lại phạm tội loạn luân, người và thần đều căm phẫn, rồi còn thông dâm với vợ người khác, thật không thể tha thứ. Bản thân giữ mình không nghiêm, nhiều lần chơi gái, bị phạt cắt mất bộ phận sinh dục, xuất tinh sớm, bất lực, dần dần suy kiệt hao mòn, đã không còn hi vọng phục hồi. May có Liên Sinh Hoạt Phật cứu độ, nay lại đọc được những cuốn sách quý giá, không ngờ đọc xong thì mồ hôi đầm đìa, ra sức sửa chữa lỗi lầm trước đây.

Trần Bình dần dần hiểu ra.
Lạc là nguồn gốc của khổ.
Dục là nguồn gốc của luân hồi.
Dục lạc này đều là trống rỗng. Phải lấy thanh tịnh làm tổ tông, vô vi làm gốc, tự nhiên làm cách thức vận dụng, vô ngã làm tướng. 
Trên đầu Trần Bình đã hiện ánh sáng trắng.


### 12. Đi vào núi sâu


Trần Bình lại đến Seattle Lôi Tạng Tự tìm Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Pháp sư nói:
”Hoạt Phật đi nhập thất rồi!”
”Ở chỗ nào?”
”Không ai biết.”

Trần Bình tiu nghỉu, không giấu được nỗi đau đớn trong lòng. Pháp sư nói:
”Hoạt Phật Sư Tôn dặn dò, nếu có chuyện gì, chỉ cần viết vào giấy, để ở đàn tế phía trước Chân Phật Mật Uyển, Sư Tôn chúng tôi chắc chắn sẽ biết. Ai xin quán đảnh sẽ ban cho quán đảnh, ai xin quy y sẽ ban cho quy y, ai xin gia trì sẽ ban cho gia trì, ai cầu con trai có con trai, ai cầu con gái có con gái, cầu phúc có phúc, cầu thọ có thọ…”

Trần Bình lấy giấy bút, viết hai chữ “Trần Bình” thật to, đặt trên bàn ở đàn tế phía trước Chân Phật Mật Uyển. Anh thắp ba nén hương, nguyện thầm:
”Ngày xưa có hẹn, hôm nay đến thăm, Hoạt Phật ẩn cư, sẽ biết lòng tôi.”

Trần Bình trở về khách sạn ở Seattle, đêm đó anh nằm mơ, không chỉ là một đêm nằm mơ, mà liên tiếp ba đêm, trong mơ Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn và anh tâm sự.

Hoạt Phật Lư Sư Tôn nói:
”Sắc là trạm gác đầu tiên của thời niên thiếu, con người tràn trề nhựa sống, phải cảnh giác với sắc. Trạm gác này phải canh giữ rất kĩ, nếu canh giữ không chặt thì dù có học rộng tài cao thì cũng chẳng có tác dụng gì. Vạn sự muốn thành tựu phải lấy thân làm gốc, thân thể con người là cơ thể máu thịt, tinh hoa của nó là tinh, là khí, là huyết.”

“Tinh có trong xương tủy, trên thông với tủy hải, dưới nối với vĩ lư, là thứ quý báu của thân người. Giữ gìn được tinh thì mắt tinh mũi thính, thân và tứ chi cường tráng khỏe mạnh, như mặt đất thấm đẫm nước thì cỏ cây đều được nuôi dưỡng. Lại giống như ngọn đèn dầu, dầu còn thì đèn còn, dầu khô thì đèn tắt.”

“Các nhà nho đời trước lấy tim thận tương giao gọi là thủy hỏa kí tế, tim chính là hỏa, hỏa tính bốc lên, chuyển thành lửa cháy hừng hực chính là dục hỏa. Một khi dục hỏa động thì can hỏa cũng động, thận thủy sẽ tiết ra, có thể gọi là tiết ra bên ngoài và cạn kiệt bên trong. Nam 16 tuổi thì tinh thông, người xưa sau 30 tuổi mới lấy vợ, chủ yếu là để làm vững chắc gân cốt, gìn giữ nguyên khí, đợi đến khi huyết khí [tinh lực] ổn định rồi mới không bị giống như tuổi trẻ là buổi sáng bị xuất nguyên dương. Con người bây giờ kết hôn sớm, nguyên khí tiết ra sớm, gân cốt chưa vững chắc, nguyên thần tiêu tan, rất nhiều người trẻ tuổi bị chết yểu, hoặc yếu ớt không phấn chấn, cũng là vì nguyên nhân này.”

Trần Bình nói:
”Hoạt Phật nói phải, một khi sắc dục khởi lên, nói thì cứng rắn nhưng cũng chưa chắc đã giữ chắc được lời nói, chỉ cần suy nghĩ động, hơi lơ là một chút thế là đi đời. Đặc biệt chỉ cần có lần đầu tiên thì sẽ liên tục tiếp tục, rơi vào trong đó rồi thì thói quen lâu ngày khó đổi. Sắc dục như hút ma túy, không thể tùy tiện thử, một khi đã thử thì sẽ gặp ma. Nên lấy hai cuốn sách của Sư Tôn là cuốn “Sống từng phút giây trong sáng” và “Sống từng phút giây rực rỡ” để ở cạnh bàn làm lời răn mình, thường xuyên đọc chúng để thanh tâm quả dục, hướng tới kỉ cương phép tắc xã hội và nhân quả, tin tưởng sâu sắc không nghi ngại.”

“Nếu có lúc động tâm tà dâm, lập tức ra sức loại bỏ tâm ấy, như vậy thì trước hoàn cảnh ấy mới tự có thể bừng tỉnh. Còn giữa nam nữ với nhau, nhất thiết phải tránh xa tình huống tình ngay lí gian, cho dù có thân thiết cũng nhất định phải nội ngoại phân minh, nói cười không được tùy tiện dễ dãi, như thế cái tâm ngông cuồng tự nhiên sẽ không nảy sinh, đây chính là cách sửa đổi tận gốc.”

Hoạt Phật Lư Sư Tôn nói:
”Con người bình thường dễ sa chân nhất chính là khi dâm phụ gái điếm tự động dâng hiến, lao mình vào trong vòng tay của đàn ông, lúc này khó mà kiềm chế được sự hưng phấn. Cho dù nhắm mắt không nhìn, ngồi im trong lòng không loạn thì cũng chỉ giữ được một chốc lát mà thôi.”

Trần Bình nói:
”Đúng vậy, đúng vậy, rất gian nan! Cái này phải dựa vào định lực tu trì thường ngày, phải luôn luôn nghĩ rằng đây chỉ là cái vui sướng trong khoảnh khắc, chớp mắt một cái đã thành không. Đừng để cả đời thanh bạch, cuối đời lại nhiễm độc, vì sợ hãi mà dẫn đến họa giết thân, vừa hại thân, vừa hại mệnh, vừa tổn tài, danh dự mất sạch, đủ mọi quả ác vì lí do này mà phát sinh, tội gì phải vậy?”

Hoạt Phật Lư Sư Tôn cười lớn:
”Lành thay, lành thay! Trên đỉnh đầu anh đã xuất hiện ánh sáng trắng rồi. Con người ngày nay nếu cả đời không dâm thì sẽ có được sự nghiệp cả đời. Hôm nay anh đã hối cải rồi, kiên định chí hướng, có thể một khuyên mười, mười khuyên trăm, trăm khuyên nghìn, nghìn nghìn vạn vạn người kiên định chí hướng không tà không dâm. Việc này giống như truyền đèn, một ngọn đèn sáng thì nghìn ngọn đèn đều sáng, đèn vô lượng, ánh sáng cũng vô lượng.”

Trần Bình nói:
”Nguyện cầu có được pháp biến thân. Một là sẽ bỏ nhà rời xa dục vọng, hai là sẽ phát bồ đề tâm, ba là tu mọi công đức, bốn là nguyện trở về trời.”

Thơ rằng:

*Cõi Phật vô biên đầy bao dung
Biển trời đều là liên hoa cung
Quanh liên hoa cung là trời biển
Trong đó hiện lên dáng Trần Bình.*

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn quy y và quán đảnh cho Trần Bình, truyền thụ khẩu quyết bí mật của pháp biến thân, ban cho Trần Bình đại gia trì lực.

Nguyên lí của pháp biến thân là:
1. Truyền thụ chữ bí mật.
2. Ấn chữ bí mật vào mi tâm, họng, tim.
3. Phủ chữ bí mật lên toàn thân hành giả.
4. Tự thân hành giả hóa thành chữ bí mật to lớn.
5. Chữ bí mật này cũng tức là Phật.
6. Tu hành thành tựu thì sẽ cắt đứt được phiền não, bồ đề sinh tử Niết bàn.
7. Tức thân thành Phật.

Pháp này có rất nhiều khẩu quyết bí mật, Trần Bình ở trong mơ, chính tai nghe thấy Hoạt Phật Sư Tôn truyền miệng dạy rất tường tận. Trần Bình xuýt xoa kinh ngạc, hóa ra thanh tịnh như vậy, trang nghiêm như vậy, bất khả tư nghì như vậy, giống như ngọc minh châu quý báu nhất ở ngay bên trong người mình, mà trong trăm nghìn kiếp chính mình chưa từng nhận ra. Bây giờ minh châu đã hiện, tất cả tội lỗi nhơ bẩn trong trăm nghìn kiếp toàn bộ đều được loại trừ, lập tức thành tựu viên mãn.

Đây là:

*Nếu người cầu Phật huệ
Thông đạt bồ đề tâm
Chỉ tu biến thân pháp
Tự chứng đại giác quả.*

🌟

*Tôi đã có được pháp biến thân rồi, liền chào từ biệt bạn bè, từ chức ở bệnh viện. Toàn thân tôi trở nên nhẹ nhõm, tất cả không còn hoang mang, sợ hãi, vật lộn. Đối với cuộc đời tôi cũng hiểu rõ ý nghĩa của sinh tồn, đã có được mục tiêu, cuộc đời đã có được ánh sáng rực rỡ. *

*Hoạt Phật Sư Tôn nói:
”Ma ha bát nhã ba la mật là đại thần chú, là đại minh chú, là vô thượng chú, là vô đẳng đẳng chú. Đây chính là dùng trí huệ để đến được bờ bên kia, là chính đẳng chính giác chân chính chí cao vô thượng.”
”Ý nghĩa lớn nhất của đời người chính là ở đây.”
”Tu hành đạt đến bỉ ngạn!”*

*Trần Bình tôi đã vứt bỏ mọi thứ của thế tục, tôi bước ra từ trong sự lầm lạc, khoác theo hành lí đơn giản, đi vào trong núi sâu. Tôi đã vứt bỏ sự theo đuổi danh, lợi, sắc, vứt bỏ những kí ức mơ hồ, tôi đã không còn là một con cá thiếu nước đang vật lộn và kiệt sức nữa, đã vứt bỏ những thứ thối nát của quãng đời trần gian đã qua.  *

*Đây là sự lựa chọn cuối cùng cho một cuộc đời có ý nghĩa, đó là trở về với chính mình, đi vào trong cánh rừng bao la, ở đó có một cánh đồng cao nguyên, có những mỏm đá lộ thiên, có sông suối chảy xiết trắng bạc, có một thác nước.*

*Ngay lập tức tôi biết rằng, tôi không thể quay lại sống lăn lộn trong trần thế được nữa, phiền não của trần thế quá nhiều, tất cả mọi kí ức đều phiền toái. Con người là như vậy, đem hết phiền não này đến phiền não khác khoác lên trái tim của mình, sau đó càng ngày càng nặng, đến cuối cùng thì sức nặng đó cũng sẽ đè chết chính mình.*

*Lòng tôi vui sướng đi về phía con sông lớn, từ trong thân tâm tôi phát ra tiếng gào sảng khoái. Tôi vốn như người bị nghẹt thở, bây giờ thì tôi hoàn toàn được giải thoát rồi.*

*Đỉnh núi ấy nằm cao tít tận trên khói mây, mây đang bay, căn bản không có nặng nhẹ, khói như sương, cảnh giới ở đây mở ra đầy thư giãn, chính là tự nhiên, đây là nơi mà phàm phu thế tục chưa từng được trải nghiệm.*

*Mây khói là tự nhiên.
Mây khói chợt đến chợt đi.
Thỏa thích tận hưởng mây khói.*

*Tôi giống như trải rộng ra, ở giữa núi sông đại địa, tôi đã mất đi hình thể rồi, toàn bộ con người trở nên dài dằng dặc xa vời vợi, bay đi rồi hóa thành mây khói, hóa thành tiếng róc rách của dòng sông, hóa thành cây, hóa thành núi, hóa thành sự thoải mái không thể nào gọi tên.*

*Tôi biết, đám người ở dưới núi vẫn vội vã hối hả sống qua ngày, vẫn cõng trên mình những gánh nặng nặng trĩu, vẫn có rất nhiều ai oán, rất nhiều tủi hờn, rất nhiều ân oán tình thù, rất nhiều tiếng thở than. Tôi cảm thấy tôi đã thoát ra, bây giờ ý nghĩa của sinh mệnh mới thật sự nằm trong tay của chính tôi. Trước kia không phải, trước kia là tôi ở trong xoáy nước, lúc nổi lúc chìm.*

*Tôi đã cứu chính mình!
Tôi cũng muốn cứu họ, không biết họ có bằng lòng được cứu không?
Tôi đã thanh tịnh rồi!
Còn những con người trong xã hội thì sao?*


### 13. Tâm đắc khi viết cuốn sách này (2)


Vào thời đại của Chúa Jesus trong Tân Ước Toàn Thư:
Một đôi gian phu dâm phụ đang hành dâm thì bị bắt quả tang. Pháp luật thời ấy là bắt được đôi nam nữ gian dâm thì phải đưa ra ngã tư đường, để cho mọi người cầm đá ném đến chết. 

Khi đám đông nhặt đá lên định ném chết đôi nam nữ thông dâm này, Jesus đi qua, lớn tiếng nói với mọi người:
”Trong số các người, ai không có tội thì người đó hãy dùng đá để ném hai người này.”

Đám đông sững người lại, mọi người đều nghĩ về vấn đề “tội”. Cuối cùng, từng người một trong đám đông bỏ đá xuống, từng người một lặng lẽ bỏ đi, kết quả là tất cả đều đi hết. Đôi gian phu dâm phụ kia đã được Jesus cứu rồi. Jesus đã cứu được hai mạng người.

Hãy lấy ví dụ này để nhìn thẳng vào vấn đề tình dục, nó đáng để cho mọi người ngẫm nghĩ. Ai ai cũng có tình dục, nếu nói tình dục là có tội thì ai ai cũng đều có tội. 
Jesus nói:
”Ai không có tội?”
Tội được nói đến ở đây là chỉ tội tình dục.

Nếu dựa vào giới luật của Phật giáo mà nói thì tội tà dâm bao gồm nhãn dâm, nhĩ dâm, thủ dâm, khẩu dâm, thân dâm, tâm dâm, trong đó tâm dâm là rộng nhất. Tà duyên chưa thành đã sinh tâm huyễn vọng, tính kế chưa thành đã sinh tâm hãm hại, thấy người ta có sắc đẹp thì đã sinh tâm mê đắm, người khác có mà mình không có thì sinh tâm bất bình, người ta đẹp mà mình xấu thì sinh tâm đố kị, thấy người ta đáng yêu thì mình sinh tâm mơ mộng hão huyền.

Chỉ cần nghĩ đến là đã có tội rồi. Nếu nói như vậy thì đúng là ai ai cũng có tội. 

Xét về pháp luật của nhân thế gian mà nói thì khác, pháp luật luận định tội dựa theo sự thật. 
Cưỡng hiếp là tội.
Cưỡng hiếp người dưới 18 tuổi, chưa thành niên thì tội càng nặng.
Thông dâm có phải là tội hay không thì phải xem đối tượng.
Mua bán dâm có phải là tội hay không thì pháp luật của mỗi nơi mỗi khác. 
Còn cả những chuyện dụ dỗ lừa phỉnh để gian dâm nữa.

Xã hội ngày nay đã thay đổi rồi, không chuyện lạ gì là không có, tình dục bây giờ đã phát triển thành cha với con, mẹ với con, người với thú, nam với nam, nữ với nữ,… Đối tượng càng ngày càng phức tạp, không thể tưởng tượng được. Pháp luật đặt ra quy định đối với hành vi phạm tội tính dục cũng phức tạp hơn, phạm tội trên phương diện tính dục cũng nhiều vô số kể. 

Chúng ta lại quay trở lại để ngẫm nghĩ thử:
Nếu tình dục là tội thì ai không có tội?
Nếu pháp luật cho rằng tình dục chính là tội, tôi nghĩ không có người nào là thánh nhân, bởi vì ai ai cũng có tình dục, đều có tội, đây chính là nguồn gốc tội lỗi mà Thượng Đế nhận định sao?

Trong cuốn sách này, điều tôi muốn nhấn mạnh là:
Phóng túng là tội.
Tiết chế rất quan trọng.
Tiết chế tình dục, không chỉ là vấn đề là tội hay không là tội, mà còn liên quan đến việc dưỡng sinh, sức khỏe, đức hạnh, bảo toàn sinh mạng.

Tôi đọc sách của Ngô Trạch Vân, cảm thấy rất có đạo lí.

Con người thừa hưởng khí mà hình thành, không có gì quan trọng bằng sinh mệnh, tuy nhiên lại không hề biết cách dưỡng sinh. Do đó cần phải biết bảo vệ sinh mệnh. Bảo vệ sinh mệnh, cũng là có thể dưỡng sinh. 

Nhân tâm con người cận đại đã suy đồi một cách đáng buồn, phong tục đã hoàn toàn bại hoại, trong những thứ hại đến sinh mạng con người thì tình dục là kinh khủng nhất. Trên đầu chữ “sắc” có một con dao, hễ chạm vào là sẽ bị thương, sắc giống như thuốc độc, uống vào sẽ toi mạng.

Nam nữ già trẻ bây giờ sống lẫn lộn với nhau, luân lí làm người đều đã suy bại, nếu không biết tiết chế tình dục thì e rằng sẽ có họa chết người. Nếu con người chỉ chú ý đến buông thả dục vọng, tự nguyện chấp nhận khó khăn đau khổ, cứ để tự do không tiết chế, thì phần lớn cái tâm đạo đức của họ sẽ chết trước, rồi suy nghĩ tà dâm sẽ theo nhân duyên mà sinh ra.

Nhất là thiếu niên khi hăng lên thì một là do bạn xấu dụ dỗ mà quyến luyến gái điếm, hai là sẽ sa chân rất khó quay đầu. Thậm chí còn lén lút giấu giếm làm, cho rằng như thế mới là phong nhã, đi đến những nơi chơi gái để tự khoe khoang mình phong lưu. Dùng sinh lực hữu dụng của mình tiêu phí vào tay của đàn bà con gái, cho rằng thế là sướng, kì thực là khổ. Đến khi rơi vào sự suy nhược rất sâu rồi, tinh khô tủy kiệt rồi thì chí khí sẽ tự nhiên sa đọa. Tai mắt vì thế mà điếc mù, hình hài vì thế mà gầy mòn, nhân cách vì thế mà thấp hèn, và khi ấy tất cả những bệnh hư nhược ngừng trệ lại thừa cơ xâm nhập.

Phần đông những người buông thả dục vọng thì sự nghiệp cả đời của họ, hi vọng lớn lao của họ đều vì tình dục mà quy về số không, thậm chí mất mạng, tên bị đăng vào sổ ma, hoặc chết một cách khó hiểu, đều là vì không biết tiết chế sắc dục.

Tiết chế tình dục thật sự là rất quan trọng.


### 14. Tâm đắc khi viết cuốn sách này (3)


Trong “Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh” có viết: 
*Chiếu kiến ngũ uẩn giai không. (sắc, thọ, tưởng, hành, thức)
Vô nhãn nhĩ tị thiệt thân ý.
Vô sắc thanh hương vị xúc pháp. *

Chỉ có mấy câu kinh này thôi, hãy suy ngẫm kĩ càng, đối diện với sự hỗn loạn của cuộc đời, sự dâng trào của tình dục, chúng liệu có thể khiến ta trở nên dịu mát, trở nên tĩnh lặng sâu thẳm, tâm địa trong sáng không bụi bẩn không?

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người:
Tình dục là trống không.
Khoái lạc chẳng còn nữa.

Đó là sự theo đuổi một giấc mơ. 
Cứ thế, cứ thế. 
Trong kinh Phật nói: Tất cả chúng sinh đều vì dâm dục mà có sinh mạng, dục do yêu mà sinh ra, mạng do dục mà có, chúng sinh như vậy nên vẫn ái dục, phải biết ái dục là nguồn gốc của luân hồi. 

Kinh Phật còn nói: Do những tình huống ham muốn mà khởi lên mọi sự vi phạm sai quấy, nếu tình yêu bị phản bội thì lại sinh ra oán hận, tạo nên đủ thứ nghiệp, vì thế lại sinh về địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ, từ đó có thể thấy dâm là đại họa của đời người, là cái gốc của luân hồi.

Tôi nói, chúng ta từ vô thủy đến nay, tất cả con người đều vì tình dục mà có được thân người, tình dục rất khó để diệt trừ tận gốc.

Trong giáo hóa của Phật Đà, giới tà dâm trong ngũ giới là chỉ tà dâm bên ngoài vợ chồng đều không được phép. Nhưng vẫn không được tham dục lạc chốn khuê phòng, tình dục phóng túng, cho dù là vợ chồng với nhau thì cũng phải có sự tiết chế. Nếu phóng túng tham lam thì nhất định khó tránh khỏi luân hồi trong tam ác đạo. 

Tôi nói, phiền não của đời người, ngoài theo đuổi tên tuổi địa vị ra, còn có theo đuổi tiền bạc, cái còn lại chính là sự theo đuổi tình dục. Trên kinh điển đã chỉ ra rất rõ ràng, sự theo đuổi tình dục này có thuận có nghịch, có yêu có hận, có được có mất. Người ta gọi là khi yêu thì chỉ muốn người ta sống, khi ghét thì chỉ muốn người ta chết, ở đây, bạn có thể cảm nhận thấy dấu vết của nhân tâm, cũng có thể thấy được cái bóng tối không thể nắm bắt.

Những phiền não sinh ra từ tình dục thật sự rất đáng sợ!
Đố kị là một cái hố sâu không đáy.
Ghen tuông là một cạm bẫy.
Không thể noi theo những cặp mắt giận dữ. 
Giết người, tự sát lại càng là nghiệp tội sâu nặng.

Khi tình dục sinh ra thì người thanh cao cũng biến thành thô tục, anh hùng cũng biến ra tầm thường. Con người thanh tịnh bị hủy hoại, trở nên mơ hồ, điên rồ, kì quặc và sự thông minh nhất thời không biết đã đi đâu mất, và trở thành một con số “không” mơ hồ chuẩn mực.

Trong con mắt của tôi, tình dục là biển kinh tởm, đó là những con sóng biển màu đen, thế nhân đều bị sóng nuốt gọn. Trong những con sóng đen này, có rất nhiều người lúc nhúc đang quấn lấy nhau giao hợp, những người tình đang ôm lấy nhau, còn những kẻ thù thì đang tranh đấu với nhau; lại còn có những người đang theo đuổi nhau, vướng víu rầy rà nhau khó dứt bỏ, giống như yêu mà lại không phải yêu, giống như ghét mà lại không phải ghét, vừa yêu vừa ghét vừa khóc vừa cười, ai nấy đều đang rộn ràng. 

Phía dưới đại dương màu đen này chẳng phân rõ người và thú, có những người căn bản chính là thú, chỉ là mang cái xác con người mà thôi. Đương nhiên cũng có người vui vẻ, nhưng cũng có rất nhiều tiếng khóc nỉ non bi thảm, người bị cưỡng ép, người bị chuốc say và bị hiếp dâm, người bị dụ dỗ gian dâm, biển này không có phút nào ngừng nghỉ, thế giới này sắp biến thành một lò giết mổ kiểu khác rồi. 

Nam với nam, nữ với nữ, già với trẻ, người với thú, bất kể là bình thường hay không bình thường thì đều lăn lộn, vật nhau, cứ một hồi dịu xuống lại một hồi giao hợp kịch liệt.

Tình dục này đã lôi kéo người và thú, tình dục lôi kéo chúng sinh, dắt mũi họ, mọi người cùng sa đọa. Giống như một giấc mộng, vừa rõ ràng lại vừa không rõ ràng, ai ai cũng đều ở trong đại dương đen, lúc nổi lúc chìm, biển tình dục này chẳng hề có điểm đầu, cũng không có bờ, cũng không thấy đáy, rất khó kháng cự, nó đã nuốt chửng mắt tai mũi lưỡi thân ý của con người. 

Biển tình dục này khiến con người không còn là chính mình nữa.
Biển tình dục này khiến con người tiếp tục đọa lạc.
Biển tình dục này khiến con người không thể cứu vãn.
Biển tình dục này khiến con người liên tục luân hồi, lúc nổi lúc chìm.
Có ai nhìn ra không?

Tình dục là trống không, khoái lạc là trống không, theo đuổi là trống không, không có mắt tai mũi lưỡi thân ý, không có sắc thanh hương vị xúc pháp, không có sắc thọ tưởng hành thức.
Quán Tự Tại Bồ Tát đã giác ngộ rồi.

Chân diện mục của tất cả chúng sinh, cái diện mục vốn có. 
Trong sự kinh ngạc, bạn hãy xem kĩ diện mạo vĩnh hằng của chính mình.


### 15. Phụ lục 1: Thành tựu ánh sáng cầu vồng


Ngày 26 tháng 6 năm 1998.
Hôm nay chúng ta nghe pháp sư Liên Hân nói về cầu vồng và đại thành tựu ánh sáng cầu vồng.

Chúng ta biết rằng cầu vồng rất đẹp, nhưng trên thực tế, cầu vồng cũng là huyễn hóa. Cái gọi là huyễn hóa là không tồn tại chân thực. Giống như khi chúng tôi xây dựng Biệt thự Cầu Vồng, lúc đó trên đường cao tốc I90, chúng tôi đã nhìn thấy một dải cầu vồng xuất hiện ở trên mảnh đất đó. Chúng tôi mới đuổi theo dải cầu vồng đó, đuổi theo đến mảnh đất đó, nên mới xây Biệt thự Cầu Vồng ở đó, cho nên nơi đó mới được đặt tên là Biệt thự Cầu Vồng. 

Trong Mật giáo, nói đến hóa cầu vồng tức là thành tựu rất cao. Hóa cầu vồng thông thường cũng là thân thể thu nhỏ lại, co rút lại đến cuối cùng thì biến thành một dải ánh sáng, chỉ để lại một chút lông tóc, móng tay, nhục thân của toàn thân không còn nữa, thành tựu như vậy là rất cao. 

Đây có nghĩa là biến đổi một cách huyền ảo toàn bộ những thứ vật chất, biến thành thành tựu cầu vồng. Trong Mật giáo, thành tựu cầu vồng là như vậy, tăng thêm một phần tính Không thì sẽ giảm bớt sắc thân vật chất của bạn. Đến khi bạn hoàn toàn giác ngộ được đến tính Không rồi, khi tiến nhập vào trong tính Không, thì những thứ vật chất sẽ giống như hạt cát nhỏ, rồi hóa thành không có gì, một lát sau thì toàn bộ đều không còn nữa.

Tôi nghe nói trước kia có một vị đại thành tựu giả của Thiền Tông sau khi qua đời, vị đó ngồi xếp bằng, cả người rất ngay ngắn, nhưng đệ tử của vị đó không biết, cho rằng nhục thân của vị đó vẫn tốt. Vừa chạm vào vị đó một cái thì từ đầu cho đến chân lập tức hóa thành bột, toàn thân hóa thành bột, sau đó rơi đầy trên mặt đất, rồi không còn gì nữa. Công lực như vậy cũng là rất kinh người. 

Vị đó đã dùng lửa bên trong thân thể chính mình, tức là cái gọi là nội hỏa, để hóa đốt hết toàn bộ những thứ vật chất của thân thể mình. Sau khi thiêu đốt xong hết thì vật chất hóa thành bột. Nhìn bên ngoài thì người vẫn đang ngồi xếp bằng ở đó, nhưng chỉ cần khẽ chạm vào thì sẽ vỡ ra thành bột, cho thấy toàn bộ đã được đốt hết sạch rồi. Đại thành tựu cầu vồng cũng gần như vậy: thân thể thu nhỏ lại, hóa thành ánh sáng của nội hỏa, hình thành nên một dải cầu vồng, tan vào trong hư không, nhục thân của bản thân mình hoàn toàn không còn nữa.

Từ đây chúng ta cũng có thể biết rằng, cầu vồng mặc dù đẹp, nhưng cũng là một sự thị hiện nhất thời. Vào lúc nhân duyên đầy đủ thì sẽ hiện ra một dải cầu vồng, thậm chí là hai dải cầu vồng, ba dải cầu vồng. Nhưng sau khi xuất hiện xong, vì nhân duyên cũng tản mát đi, thì cầu vồng đó không còn nữa. Mặc dù cầu vồng đẹp nhưng cũng mang tính Không.

Cuộc đời chúng ta, giống như thân thể chúng ta, kì thực mà nói đều là một dải cầu vồng. Mỗi người chúng ta đều là một dải cầu vồng, cầu vồng này cũng nằm trong sự biến hóa. Đến cuối cùng, khi thời gian của chúng ta đã đến, thì dải cầu vồng này do nhân duyên tản mát rồi nên cũng sẽ không còn nữa. 

Trong Phật giáo nói tất cả đều là huyễn, là huyễn hóa, nhục thân đều là huyễn hóa. Cuối cùng khi chúng ta đi, chỉ có nghiệp theo thân, nghĩa là bạn vẫn còn cái thần thức, nghiệp chướng lưu lại, những cái khác đều không còn. 

Cho nên hành giả tu hành xuất thế, đại bộ phận đều nhận ra rằng đời người rất hão huyền, thế giới vật chất rất hư ảo, nhục thân này rất ngắn ngủi. Sau đó, khi bạn đã nhận ra và hiểu được tính Không, dùng tu hành đại thành tựu cầu vồng của Mật giáo thì bạn mới có thể trở về nơi của tính Không.

Nếu không như vậy, bạn sẽ chấp mê vào tham, sân, si, đến cuối cùng thì chỉ có nghiệp chướng theo thân, bạn vẫn ở trong lục đạo luân hồi, luân hồi mãi không dừng.

Vì thế thật sự điểm khác nhau giữa quan niệm nhập thế và xuất thế chính là ở đây. Quan niệm nhập thế lấy công danh phú quý của thế gian làm mục tiêu, quan niệm xuất thế là phải lấy tính Không làm mục tiêu. Hành giả chúng ta nhận rõ điều này thì có thể biết được công danh phú quý đều giống như mây bay, mặc dù chúng có thể xuất hiện, nhưng cũng rất nhanh chóng tan biến, giống như cầu vồng vậy. 

Om mani padme hum.


### 16. Phụ lục 2: Tứ đại cần phải điều hòa cân bằng


Ngày 15 tháng 1 năm 1999.

Hôm nay nghe pháp sư Liên Kim thấy tuyết rơi nên nói chuyện, thế rồi có nhắc đến mỗi một sự việc đều có mặt sáng và mặt tối của nó. 

Nói như vậy thì cũng khiến tôi nhớ đến điều chúng ta nói chuyện tối hôm qua: đất nước lửa gió ở trong thân thể con người. Đất nước lửa gió ở trong thân thể chúng ta, khi mà bạn điều hòa vừa khéo thì đó là lúc thân thể bạn khỏe mạnh. Trong bốn yếu tố này, có một chỗ nào đó mà đặc biệt tăng trưởng thì sẽ có bệnh, trong Đông y cái này gọi là tứ đại không điều hòa. Tứ đại - đất nước lửa gió mà không điều ngự thì rất dễ sinh bệnh. Trong Mật giáo chuyên môn nói đến sự điều ngự tứ đại này.

Vì thế chúng ta tu chuyết hỏa, không có nước để tưới cho ẩm ướt, không có giọt cháy, không có cái giọt đó, chỉ có cháy mà không có giọt, thì thân thể của bạn sẽ biến thành hỏa khí rất mạnh, do đó mắt sẽ đỏ, đau đầu, răng lợi sưng viêm, thân thể vô cùng khô háo, nhiệt miệng, đó là bệnh thân thể bị hỏa đại. Do vậy mặc dù bạn tu chuyết hỏa, nhưng không có giọt minh điểm để tưới ẩm thì cũng không được. 

Trong Mật giáo nói đến tác dụng của giọt cháy. Chúng ta biết rằng đất ở đây chính là gân cốt và thịt toàn thân bạn phải vững chắc, đất có tính vững chắc, nước có tính thanh mát. Minh điểm trong thân thể chúng ta có minh điểm thanh tịnh và cũng có minh điểm ô trọc. Còn hỏa thì sao? Chúng ta biết hỏa là nhiệt độ. Còn gió? Đó là một động lực, chính là lực vận động của thân thể bạn. Trong Mật giáo chúng ta thường tu gió, trong “Mật tông đạo thứ đệ quảng luận” chúng ta thường nhắc đến tu gió, chính là tu khí, khí chuyển động trong thân thể chính là một động lực. Mọi sự vận động trong thân thể bạn đều do khí đang vận động trong thân thể. Chúng ta nói đến khí huyết, huyết và khí hợp cùng với nhau, máu mà không có khí vận chuyển thì sẽ không thể tuần hoàn được. Cho nên trong toàn bộ vũ trụ này cái gì sẽ vận động? Vẫn là nhờ gió.

Chúng ta biết rằng những cái gọi là tai họa mà chúng ta vừa nói đến, tai họa động đất, tai họa gió bão, tai họa hỏa hoạn, tai họa lũ lụt, đó đều là những tai họa rất lớn, đất nước lửa gió đều gây ra những tai họa rất lớn. Bên trong thân thể chúng ta cũng giống như vậy, cũng là đất nước lửa gió có tai họa, cho nên bạn cần điều hòa chúng cho vừa khéo.

Trong Mật giáo từ lửa mà tu xuất ánh sáng, từ gió mà tu lửa, từ lửa mà tu minh điểm, từ tác dụng của giọt cháy mà tu cho đất vững chắc, rồi lại từ lửa mà thân thể phóng xuất ánh sáng.

Vì thế, mở đầu Mật giáo chẳng phải là dạy mọi người tu Bảo bình khí sao? Bảo bình khí tôi đã giảng từ rất lâu rồi, đó chính là tác dụng của hai loại khí: một là thượng hành khí [khí đi từ trên xuống], hai là hạ hành khí [khí đi từ dưới lên], hai khí này nhất định bạn phải điều hòa cho thật tốt, hơn nữa còn phải biết khí nằm ở chỗ nào. 

Giống như chúng ta hít vào một hơi khí, tác dụng của Bảo bình khí là: thứ nhất, cái gọi là thượng hành khí ép xuống tức là khi khí đi vào, bạn dùng suy nghĩ để đưa khí đến đan điền, sau đó đầu lưỡi ở đây giống như cái móc, móc chặt vào. Nhìn chung mà nói, chúng ta tu Bảo bình khí, giả sử trung mạch của bạn kéo thẳng, vậy thì nếu ở đây không móc vào, bạn sẽ cảm thấy khí rất tản mát, nên nhất định phải ép xuống và móc chặt lại thì khí này mới có thể chìm xuống bên dưới, móc chặt lại thì mới khí không bị thoát ra ngoài. Bạn thật sự kéo thẳng rồi, ở chỗ họng này kéo thẳng, bạn sẽ cảm giác thấy nó trống rỗng hết. 

Hạ hành khí đi lên, chính xác là nâng hậu môn lên để đỡ khí, ở đây chính là giống như hai cái nắp, thượng khí ép xuống, hạ khí nâng lên, vừa khớp giữ chặt lấy biến thành bảo bình. Sau đó bạn giữ khí lâu, khí sẽ đi vào trung mạch, bạn giữ được khí càng lâu thì càng tốt, cho đến khi khí đi vào trung mạch. Tôi thường đếm được tới 108, một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy, tám, chín, mười, cứ thế đếm tới 108, thậm chí đến 140, 150, như vậy thì tương đương với khoảng hai phút, thậm chí hơn hai phút. Phải giữ được lâu như vậy, sau đó cho khí tan ra, cho khí tan vào bên trong mọi kinh mạch, tiến vào trung mạch. Sau đó phải hít vào một hơi khí để lấp đầy toàn bộ các lỗ chân lông.

Điểm quan trọng chính là hàm dưới thu vào - giống như cái nắp đậy chặt khí lại, hậu môn nhíu lại nâng lên, ở trên đè khí xuống. Cái này đòi hỏi bản thân bạn phải có kinh nghiệm, bạn phải tự mình thực hành tu hành, tu xuất ra khối khí đó, lúc này thượng hành khí và hạ hành khí kết hợp lại với nhau, vận dụng hai khối khí này, trước tiên bắt đầu dùng hai khối khí này, sau đó biến thành “biến hành khí” [khí đi ra khắp nơi] - biến hành khí ở xung quanh. Thực hành này phải dựa vào sức mạnh tu khí của bản thân, tu đến khi khí huyết trong thân thể chính mình đều thông.

Thủy và hỏa là như thế nào? Hỏa này - chuyết hỏa muốn đi lên thì phải dựa vào ép khí, dựa vào sự tập trung, dựa vào sức nén, vì thế cần dùng Lục táo ấn. Lục táo ấn chính là ngồi xuống, sau đó hai chân đan chéo nhau, hai cánh tay cũng bắt chéo thành hình tam giác, giữ chắc lấy hai đầu gối, kéo căng ra, ép chặt vào khu vực luân xa rốn, hai chân đều ép chặt vào khu vực luân xa rốn, giữ căng cứng, phải ép vào, ép vào khu vực bốn đốt ngón tay bên dưới rốn. Sau đó, bởi vì bạn ép chặt nó, trên ép, dưới ép, ở bên cạnh ép, tập trung khí vào một điểm, quán tưởng nó phát ra lửa, dùng sức mạnh ép để quán tưởng nó xuất ra lửa, để cho nó tỏa nhiệt. [Lưu ý: những mô tả ở đây chỉ để tham khảo, muốn thực hành cần phải được quán đảnh pháp và được thầy hướng dẫn trực tiếp từng động tác rõ ràng, không tùy tiện tập.]

Vì thế, đương nhiên bạn phải rất chú ý đến tác dụng của giọt cháy. Chính bản thân bạn phải hiểu làm thế nào để tu trì. Bởi vì bên trong thân thể chúng ta, bạn làm không tốt thì tương tự cũng sẽ xảy ra những tai họa như động đất, lũ lụt, hỏa hoạn, gió bão. 

Bởi vậy, bạn luyện khí mà luyện không tốt, khí này mà tán loạn thì ý niệm của bạn cũng sẽ tán loạn, toàn bộ tâm trí sẽ rối tung lên. Cho nên tục ngữ mới nói là tẩu hỏa nhập ma, kì thực chính là gió bão ở bên trong thân thể chúng ta, vừa mới bắt đầu tu thì do gió bão chạy tán loạn nên suy nghĩ của bạn cũng sẽ bất ổn, không giữ vững được nữa, cái này gọi là tẩu hỏa nhập ma.

Trên khắp địa cầu, những người bị tẩu hỏa nhập ma là do bị gió bão, hỏa hoạn, lũ lụt, động đất, đều dẫn tới tẩu hỏa nhập ma. Giới tự nhiên cũng có tẩu hỏa nhập ma, thiên nhiên tẩu hỏa nhập ma là khi xảy ra thiên tai về đất nước lửa gió, bởi vì không có sự điều hòa cân bằng mà! Mọi hiện tượng đều không thể nào cân bằng được, không có cách nào điều hòa được.

Thân thể bạn bị tẩu hỏa nhập ma cũng là do đất nước lửa gió, tẩu hỏa nhập ma là vì không thể khống chế được khí, khí đột nhiên chạy lên đầu, đột nhiên chạy xuống đuôi, rồi lúc thì chạy chỗ này lúc thì chạy chỗ nọ, bạn không có cách nào nắm giữ được nó. Trong Mật giáo cũng nói: tâm khí là hợp nhất. Tâm chính là suy nghĩ của bạn, hợp nhất với khí của bạn. Ý của bạn đi đến đâu thì khí của bạn sẽ đi đến đó, ý niệm chạy đến đâu thì khí chạy đến đó. Phải tu đến khi tâm khí hợp nhất.

Vậy thế nào gọi là tẩu hỏa nhập ma? Khí của bạn động loạn thì tâm của bạn cũng động loạn, nhưng đó không phải là tẩu hỏa nhập ma! Mà chính là điều tôi vừa nói ở trên. Vì thế, ánh sáng có được do chuyết hỏa đi lên, mà không có giọt minh điểm, thì bạn cũng sẽ tẩu hỏa nhập ma. Nhiệt miệng, mắt đỏ, đầu đau như muốn nứt ra, lợi sưng, toàn thân đau giống như lửa đang thiêu đốt vậy, bạn cũng sẽ bị tẩu hỏa nhập ma. Những giọt lửa rơi xuống, bạn không biết cách thu chúng lại, đại thủy lan tràn, cả người đều bị hư thoát hết, toàn bộ minh điểm đều rò rỉ hết sạch, cái này gọi là tẩu hỏa nhập ma. Toàn thân động, toàn bộ đều chấn động nứt ra, thì cũng là tẩu hỏa nhập ma.

Cho nên bạn thấy Mật giáo, bên trong thân thể này của chúng ta có thể nói là một tiểu chu thiên, toàn bộ vũ trụ chính là một đại chu thiên. Bạn phải từ tiểu chu thiên để chứng minh đại chu thiên, cũng dùng phương pháp đất nước lửa gió để làm, cũng làm tương tự. 

Trong Mật giáo nói “hữu lậu giai đọa”, tức là chỉ cần bạn còn rò rỉ, bất kể bạn là minh điểm thanh tịnh, minh điểm hoa sen nghìn cánh, hay là minh điểm thô tục, bất luận là gì, hễ còn rò rỉ thì vẫn coi như là có ma, vẫn xem là ma! Bản thân ma đó mà nói, chúng ta gọi là thế này, bạn tu đến cảnh giới rất cao rồi, nếu bạn vẫn còn có lậu, thì tức là vẫn có ma đến quấy rối bạn, chúng ta gọi là ma. Cho nên mới gọi là “hữu lậu giai đọa”, còn lậu thì đều là việc sa đọa, đó cũng xem là tẩu hỏa nhập ma.

Vì thế bạn tu Mật giáo chính là muốn có thể dùng khí hơi thở của mình để kiểm soát giọt nước và lửa cháy bên trong thân thể bạn, và bản thân đất (nhục thân) cũng phải kiên cố vững chắc. Hiểu cách vận dụng hai khí - thượng hành khí, hạ hành khí, hạ hành khí nâng lên, thượng hành khí ép xuống, như thế khiến cho bạn hình thành nên một hiện tượng vô cùng kiên cố, đây là một trọng điểm rất quan trọng. 

Bạn không biết tu cách này, vậy thì bạn chỉ có thể tu về mặt lí thuyết, tu trên suy nghĩ. Suy nghĩ của bạn thanh tịnh, đương nhiên có thể ảnh hưởng đến sự thanh tịnh của thân thể bạn, cũng đều có ảnh hưởng, bởi vì tâm khí hợp nhất mà. Hiển giáo bình thường chỉ tu tâm, không tu khí. Mật giáo thì có tu tâm, lại còn phải tu khí, từ khí mà ấn chứng tâm này, do bản thân khí có tác dụng của chuyết hỏa và giọt cháy, biến toàn bộ thân thể bạn thành trạng thái sáng rực, từ đó sản sinh ra tâm quang minh, tương ứng với ý thức của bản thân vũ trụ, đây gọi là đắc chứng.

Phương pháp này đều thuộc về phương pháp của Mật giáo, đương nhiên ở trong đây còn có rất nhiều khẩu quyết quan trọng, nhưng bạn tu tốt được Bảo bình khí rồi, tu tốt bình khí thì tự nhiên nó sẽ vững chắc. Bạn tu thượng hành khí, hạ hành khí tốt rồi thì bình khí tự nhiên sẽ kiên cố. Lại thêm quán tưởng và khẩu quyết, như vậy bạn có thể ứng dụng được rồi.

Cho nên có rất nhiều việc, đương nhiên nói ra thì có một số người không hiểu, đạo lí của toàn bộ vũ trụ và đạo lí của thân thể chúng ta. Bạn ứng dụng đạo lí của thân thể bạn, bạn sẽ khiến cho thân thể bạn trở nên vô cùng cường tráng, hơn nữa còn có sức mạnh phi thường, hơn nữa còn vô lậu, vô lậu vừa mạnh mẽ lại cường tráng, bạn sẽ trở nên vô cùng thù thắng.

Trong quá trình tu luyện này, nhất định phải có sư phụ dạy cho bạn cách làm ra sao thì mới tránh bị tẩu hỏa nhập ma, bởi vì thân thể bạn cũng giống như hiện tượng tự nhiên của vũ trụ, nó cũng sẽ tẩu hỏa nhập ma. Giới tự nhiên có hiện tượng tẩu hỏa nhập ma, con người cũng có hiện tượng tẩu hỏa nhập ma, cho nên bạn cần phải điều hòa  các yếu tố trong thân thể cho vừa khéo, phát ra ánh sáng, đây gọi là ấn chứng, đây chính là trọng điểm.

Om mani padme hum.


### 17. Phụ lục 3: Khẩu quyết khí đi vào trung mạch


Ngày 3 tháng 2 năm 1999.

Hôm nay nghe pháp sư Tâm Mĩ nói đến chuyện châu báu thật giả, con người đôi khi vì một cái hư danh mà cố gắng phấn đấu, đi làm vì cái hư danh đó, kì thực những gì mà họ làm đều không phải là chân thực. Người học Phật chúng ta, quan trọng nhất là phải chân thực, hai chữ này, chứ không phải là làm những thứ biểu hiện bên ngoài.

Đương nhiên cũng có rất nhiều người tu hành bề ngoài, người xuất gia, họ nói họ là một hòa thượng tu hành, thật ra không phải, họ hoàn toàn chỉ đang làm sự nghiệp, làm kinh doanh kiếm lời mà thôi. Hòa thượng là giả, kinh doanh mới là thật. Cho nên có một số người như thế này: hoằng pháp là giả, kiếm tiền là thật, rất đơn giản, đây chính là châu báu giả. Bạn nói họ có tu hành thực tế không? Họ hiểu được một chút da lông bề ngoài, thế là đi khắp nơi hoằng pháp, kì thực chính là vì tiền. Tiền là thật, hoằng pháp là giả, cái này là châu báu giả.

Bởi vậy những người có tu hành như chúng ta phải chú ý, bạn là một hành giả Mật giáo chân thực, bạn phải có công phu tu trì, những thứ là châu báu giả bề ngoài, bạn có thể tùy ý đến tùy ý đi. Nhưng giả sử bạn chỉ coi trọng vào những châu báu giả đó thì bạn không có những thứ chân thực nữa.

Con mắt của bạn có thể thấy được, chưa cần nói người nào khác, hãy nhìn các Thượng sư của Chân Phật Tông chúng ta, người nào đã hành trì đủ, người nào là chân thực, người nào tu trì là giả? Họ chỉ coi trọng những châu báu giả đó mà thôi, còn châu báu chân chính họ không muốn, họ muốn châu báu giả, bạn có thể nhìn được ra. Nhìn ra thì cũng không cần phải nói ra đâu, nghiệp của chính họ thì tự họ gánh chịu. Cho nên Thượng sư cũng có kiểu như vậy, pháp sư đương nhiên cũng có người như vậy, đều có cả, hiện tượng này trên thế gian rất khó tránh.

Công phu tu trì chân thực là phải có Thượng sư chỉ điểm cho bạn tỉ mỉ, nói cho bạn biết. Thượng sư có khẩu quyết quan trọng, không thể lơ là một chút nào. Ví dụ chúng ta thường nhắc đến Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã dạy Bảo bình khí là công đức của mọi Mật pháp, công đức của nó bắt đầu từ Bảo bình khí, Mật pháp bắt đầu từ Bảo bình khí. Chúng ta cũng đã nói rất nhiều lần rồi, đó là thượng hành khí phải ép xuống, hạ hành khí phải nâng lên. Vừa đúng lúc khí bên trên ép xuống, khí bên dưới nâng lên, vừa hay hợp lại thành một cái bảo bình.

Khí ở bên trong có một cái chốt ở bên trong, giống như khi bạn ép xuống, thu hàm dưới lại là ép, thế thì khí sẽ bị ấn xuống, sẽ chìm xuống đến đan điền. Hậu môn này nhíu lên, hạ hành khí sẽ nâng lên, vừa hay kết hợp lại thành bảo bình. Trọng điểm của bảo bình nằm ở trung mạch và khi bảo bình bị ép chặt như thế này, hơi thở kiểu này gọi là hơi thở đầy, có nghĩa là chật đầy rồi, khí đều đầy ở bên trong. Vậy làm sao để vận chuyển khí đầy vào trong trung mạch?

Đương nhiên mọi người đều nói dùng ý niệm, quán tưởng khí ở bên trong Bảo bình khí này đi vào trung mạch. Quán tưởng cũng có quán tưởng, nhưng một khẩu quyết quan trọng là: khi bạn giữ khí này đến lúc không thể nín được nữa, vào cái khoảnh khắc mà bạn thở khí ra, trước đó bạn hãy hít vào một hơi khí, khí này gọi là mãn tức, nghĩa là hơi thở đầy, để cho khí đã đầy lại càng đầy hơn, thì sẽ sinh ra một lực nén. Cuối cùng, khi bạn thật sự không nín thở được nữa rồi, thì cần phải hít vào một hơi khí trước, sau đó lấp đầy thân thể, toàn bộ thân thể đầy ắp khí rồi thì mới dẫn khí này ra. 

Lúc này khí đầy rồi, Bảo bình khí ban đầu bị ép chặt cho khí đi vào trung mạch, toàn bộ trung mạch đều đầy khí, khí còn thừa thì tản ra các lỗ chân lông. Cuối cùng khi bạn không nín thở nổi nữa thì mới thở hắt mạnh ra từ mũi, khí rất mạnh, khí chắc mạnh từ mũi xộc ra, đây là một khẩu quyết rất quan trọng!

Rất nhiều người khi không nín được nữa thì không biết là phải hít thêm một hơi cuối cùng để ép xuống, sau đó lại đi vào trung mạch, đây là một khẩu quyết rất quan trọng! Khi bạn tu trên thực thế, hơi khí cuối cùng đi vào đó, ép chặt Bảo bình khí để cho nó đi vào trung mạch, thế rồi tán ra các lỗ chân lông, cuối cùng không nín thở được nữa thì mới đẩy mạnh khí ra từ hai lỗ mũi, đây gọi là xạ tức. Cho nên hai điều này quan trọng như nhau.

Khí đi vào trung mạch như thế nào? Đương nhiên là cũng có dùng quán tưởng, cũng có dùng một hơi thở cuối cùng để ép nó xuống, để cho nó đi vào trung mạch, có một nửa sẽ đi vào trung mạch, một nửa thì tản ra các lỗ chân lông và khí cương mãnh từ hai lỗ mũi đi ra, đây là khẩu quyết rất quan trọng trong việc tu Bảo bình khí trên thực tế. 

Thượng hành khí ép xuống, hạ hành khí nâng lên, thế rồi hợp lại với nhau. Khi không nín thở được nữa thì lại hít vào một hơi, ép xuống tiếp, mới làm cho toàn bộ trung mạch đầy tràn, khí còn lại thì tản ra, điều này rất quan trọng! Điều này mà không có sư phụ dạy, bình thường khi bạn tu Bảo bình khí đến lúc bạn không nín thở được nữa thì bạn cứ thế thở phù ra ngoài, vậy thì sẽ chẳng có gì, như thế là không hiểu làm sao để đưa khí vào trung mạch, không hiểu cách.

Vì thế, cái này cũng không phải là Thượng sư của bạn cố ý “bán” cái điểm mấu chốt này đâu, trước kia hình như tôi cũng đã từng nói đến rằng phải hít vào một hơi thở cuối cùng, chứ không phải là lập tức thở ra. Nhưng tôi nói với mọi người, đây chính là khẩu quyết đó. Căn bản Thượng sư khi truyền pháp tu khí này phải nói rõ ràng với bạn, rất rõ ràng, để bạn biết cái điểm mấu chốt nằm ở đâu, khí sẽ đi vào trung mạch như thế nào, dùng quán tưởng không sai, nhưng cái điểm mấu chốt là hít vào một hơi cuối cùng để ép khí đi vào toàn bộ trung mạch của bạn chính là một khẩu quyết. Cho nên mới nói bạn phải chú ý lắng nghe khẩu quyết của Thượng sư, ghi nhớ cho kĩ thì bạn tu trì mới có thành tựu.

Chúng ta đừng đi quan tâm đến những châu báu giả kia, bạn tu trì có thành tựu rồi thì đây chính là châu báu thật, còn những người hoằng pháp ở ngoài kia giống như là đi ra ngoài thu của mỗi người bao nhiêu tiền, toàn bộ đều thu về hết, thu gom lại, cuối cùng sẽ không ở lại Lôi Tạng Tự làm pháp hội nữa, bởi vì sẽ phải đưa tiền kiếm được cho Lôi Tạng Tự mà, cũng sẽ không muốn đi đến phân đường làm pháp hội nữa, vì sẽ phải đưa cho phân đường số tiền đó. Tốt nhất là chúng ta làm pháp hội cũng không cần cho Sư Tôn biết, vậy thì tất cả là của mình! Bạn cho Sư Tôn biết thì lại phải cúng dường Sư Tôn, phiền phức lắm! Đừng để cho Sư Tôn biết, chúng ta tự mình làm, làm bí mật, sau đó tìm một nơi đất trống để làm, cũng không làm ở phân đường. Tìm một nơi đất trống để làm chứ cũng không làm ở phân đường, cũng không phải chia cho phân đường, kết hợp lại làm với nhau, cũng không để cho Sư Tôn biết, làm gì cũng đều tự mình làm, đây là châu báu giả - họ thích tiền.

Vì thế phải ghi nhớ, châu báu thật là sự tu hành của chính bạn, số tiền kia chuyển tới chuyển lui, cho dù đời này bạn kiếm được rất nhiều tiền, thế hệ sau tiêu hết sạch tiền của bạn, con cháu của bạn tiêu hết sạch tiền của bạn, thì bạn cũng chẳng còn gì cả!

Bạn biết không? Những người giàu sang quyền thế đều sẽ bại hoại. Người giàu sang tức là có lắm tiền, đến cuối cùng họ cũng đều chẳng có gì. Ai muốn những thứ đó thì đều là châu báu giả. Cho dù bạn có được rồi, bạn hãy xem, nếu bạn không có cái phúc phần ấy, tiền bạn có được một cách miễn cưỡng thì nơi khác cũng sẽ lấy đi của bạn, bạn mắc bệnh thì tiền cũng bị lấy đi hết. Cho dù bạn kiếm được rất nhiều thì bạn cũng lại sắp chết, thật đó! Người Đài Loan chúng ta nói một câu là “tiền nhiều thân yếu”, tiền bạc càng nhiều thì thân thể càng yếu, bạn sẽ chẳng dùng được đồng tiền đó đâu.

Bây giờ rất nhiều Thượng sư không phải là đang hoằng pháp, mà là họ ra sức hoằng tiền, đó là châu báu giả. Bạn tu hành cho tốt thì cái đó mới là của bạn.

Tiền bạc đương nhiên không phải là không quan trọng, Sư Tôn hoàn toàn không hề nói rằng tiền bạc không quan trọng. Tiền bạc là như thế này, tiền giúp cho bạn có thể làm một vài việc thiện, để cho bạn có thể dùng những tiền pháp này mà cố gắng hết mức để đi hoằng pháp làm từ thiện, để bạn độ được nhiều chúng sinh hơn. Giả dụ làm kinh doanh thì những thứ đó đều là châu báu giả.

Pháp bảo chân chính của bạn, ở đây chúng ta nói, chúng ta quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng, đó là chúng ta quy y pháp bảo, là châu báu chân chính, hãy chăm chỉ mà tu.

Om mani padme hum.

**(Hết.)**

---

---
# File: sach-tam-linh/163-do-qua-bien-sinh-tu.md
# Title: 163. Độ qua biển sinh tử
---

![image](/img/img_da3d8bd8adcb0b7c92789fec5d577ace.jpg)



## Độ qua biển sinh tử


🪷 Sự kiện lớn nhất của đời người

Văn tập: 163
Xuất bản: 03/2003
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


**Giày thần hành**

Một buổi tối nọ.
Quan Thế Âm Bồ Tát xuất hiện tại nơi tôi bế quan ẩn cư, Bồ Tát đưa cho tôi một đôi giày để đi vào. 
Tôi hiếu kỳ hỏi: 
"Đây là giày gì vậy?"
Quan Thế Âm Bồ Tát đáp: 
"Giày thần hành."
"Có tác dụng gì?"
Bồ Tát nói:
"Chúng ta muốn ngài, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, đích thân trải nghiệm cái gọi là "cảnh giới trung ấm". Có nghĩa là đích thân trải qua trạng thái chết, sau đó, viết thành một cuốn sách lấy tên là "Độ qua biển sinh tử", để con người ngày nay hiểu được rằng cuộc đời kết thúc là một sự thật."
Tôi nói:
"Có sinh tất có tử, đây là lẽ tự nhiên, còn phải viết gì nữa sao?"
Bồ Tát đáp:
"Gấp rút như lửa xém lông mày rồi."

"Vì sao vậy?"
"Chúng sinh đều cho rằng thân thể khỏe mạnh là được, nhưng lại không biết rằng trung niên, lão niên, bệnh tật, chẳng mấy chốc sẽ tới gần. Điều quan trọng nhất là cần để cho con người khắp thiên hạ có thể có được nhận thức về lúc chết, biết về dòng trạng thái của cái chết. Bất kể thế nhân có phải là tín đồ Phật giáo, Cơ Đốc giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo hay không, thậm chí con người chẳng tin tưởng vào tôn giáo nào, ngài cũng cần viết ra chân tướng chân thực của cái chết. Chân tướng này mới là quan trọng nhất."

Tôi hỏi:
"Những gì tôi viết người ta sẽ tin sao?"
Bồ Tát đáp:
"Đây không phải là mê tín, mỗi người đều sẽ chết, không có ai là ngoại lệ, cái chết là vấn đề hiện thực, không phải là mê tín. Sau khi chết cũng không phải là tận cùng, Phật giáo, Mật giáo, Cơ Đốc giáo, Ấn Độ giáo, Hồi giáo đều nhận thức giống nhau rằng sau khi chết sẽ có một cảnh giới, điều này có thể chứng minh, thế giới linh hồn là có thật. Chúng ta muốn ngài viết ra, muốn ngài đích thân đi trải nghiệm, rồi viết ra, như thế có thể cứu độ chúng sinh!"
"Thật sự có thể cứu độ chúng sinh sao?" - Tôi hỏi.
Quan Thế Âm Bồ Tát nói bài kệ:
*"Đọc rồi sẽ hiểu
Tu được giải thoát
Tin thì được độ
Ngộ là giải thoát."*

Tôi thật lòng thật sự nói để mọi người biết:
Sau khi đi đôi giày thần hành vào, tôi lập tức bị ốm. Tôi từng viết về "Nước hồ Diệp Tử trở lạnh", "Cầu nguyện ba Bổn tôn", tôi cứ nghĩ rằng mình sẽ chết lúc 58 tuổi, khả năng mình sắp chết, tôi đích thân trải qua bệnh khổ đáng sợ, bản thân bị bệnh rất nặng.
Đây không phải nói bậy!
Đây không phải vọng tưởng!
Đây không phải cuồng tín!

Đó là trải nghiệm khi tôi xỏ vào đôi giày thần hành. Những gì mà tôi gặp phải người đời khó mà tưởng tượng được. Tôi là khổ trong cái khổ, đau trong cái đau. Vốn là một người ẩn cư tinh thần kiện toàn, tự do tự tại, thập phương thế giới đều có thể gửi thân, nhưng sau khi đi đôi giày thần hành vào, tôi thật sự thấu hiểu mùi vị của bệnh tật và cái chết.

Tứ đại tôi phân tán:
"Núi lở đất nứt.
Nước ngập quá đỉnh.
Núi lửa tuôn trào.
Cuồng phong buốt lạnh."
Tôi tiến vào địa ngục Bát hàn, Bát nhiệt.

Tôi tuyệt đối không hù dọa chúng sinh, tôi thật sự đã rơi vào hố chết, sống không được chết không xong. Tôi tuyệt đối không nói quá sự thật, cũng không thổi phồng. Chỉ cần là con người thì có một ngày sẽ đều phải chết, cho dù là thân kim cương sắt thép cũng sẽ chết.
Tôi đã phải chịu quá nhiều đau khổ.
Tôi hy vọng chúng sinh có thể thoát khổ được vui.

Vì thế, tôi cần viết ra cuốn sách này, một cuốn sách rất quan trọng, là cuốn "Độ qua biển sinh tử", cuốn sách có thể trừ mọi đau khổ, chân thực bất hư.
Tôi muốn mọi người:
*Thân này chẳng dễ mà có được
Cần phải tránh xa mọi khổ đau
Mong cùng tu hành với Chân Phật
Hết báo thân này Cực Lạc sinh.*

(Tháng 3 năm 2003)

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn**
**Sheng-yen Lu**
17102 NE 40th Ct.,
Redmond, WA 98052
U.S.A


### 01. Hoa sen tám cánh mở ra


Sau khi đi đôi giày thần hành, tôi đã bị ốm rất thảm!
Thật sự không có cách nào nói rõ được, tôi dùng ba chữ để miêu tả: Thảm! Thảm! Thảm!

Tôi sẽ kể cho mọi người biết cái gì gọi là "hoa sen tám cánh nở ra". Vốn dĩ hộp sọ của tôi rất tốt, bỗng dưng nó bắt đầu nứt ra, nứt ra từng chút từng chút một.

Nhìn từ bên ngoài thì tôi tất cả đều bình thường, đầu cũng chẳng tách ra. Thế nhưng mọi người nghe xong thì đừng có kinh hãi, cũng đừng hoảng sợ, thực ra trong "vô hình", cả cái đầu tôi đã bắt đầu nứt ra rồi.

Từ chỗ thiên khiếu [lỗ đỉnh đầu] ở chính giữa đã có những vết nứt rất mảnh phân thành tám cánh, hễ tách ra một phân thì tôi đau một phân, tách ra mười phân thì tôi đau mười phân.
Một cách vô hình, tôi đã mắc chứng bệnh liệt não.

Chứng bệnh liệt não này e rằng người bình thường không thể hiểu được, tôi đã trải qua cái khổ của khổ, đau của đau. Sự trải nghiệm của tôi e rằng trên thế gian này chưa từng có người nào trải qua, có gì khổ hơn việc não bị nứt đây? Có gì đau hơn đây?

Ngày trước đọc tiểu thuyết Tây Du Ký.
Quan Thế Âm Bồ Tát đeo cho Tôn Ngộ Không một chiếc vòng kim cô. Hễ vòng kim cô thu nhỏ lại là Tôn Ngộ Không ngã lăn lộn ra đất, ôm đầu kêu đau. Đây chính là chứng co rút não.

Còn bệnh mà hôm nay tôi mắc phải không ngờ lại là chứng rạn nứt não. Vỏ não của tôi nứt thành tám cánh, từng phân từng phân nứt ra, từng tấc từng tấc nứt ra. Ông Trời ơi, đây đúng là núi lở đất nứt mà! Đúng là núi lửa phun trào mà! Đúng là máu chảy không ngừng mà! Đúng là gió lạnh thấu xương mà!

Tôi sắp chết rồi, tôi thật sự sắp chết , nỗi thống khổ đó không có từ ngữ nào của thế gian có thể mô tả nổi, và cũng e rằng không có người bình thường nào có thể hiểu được. Hóa ra cái chết là đau đớn như vậy, "hoa sen tám cánh nở ra", cái tên mới đẹp đẽ làm sao! Thế nhưng trên thực tế lại đáng sợ muốn chết.

Tôi thật sự đã hướng về ba Bổn tôn cầu nguyện: "Diêu Trì Kim Mẫu từ bi, Tây phương Cực Lạc Thế giới A Di Đà Phật, đại nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, cầu thỉnh các vị tiếp dẫn con vãng sinh đi!"
"Tôi thật sự không muốn sống nữa, 58 tuổi là được rồi, tôi nguyện được chết! Tôi nguyện vãng sinh Ma Ha Song Liên Trì!"
"Nam mô 36 vạn tỉ, 11 vạn, 9 nghìn, 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật, xin hãy tiếp dẫn con đi!"

Quan niệm cũ trong quá khứ của tôi, quan niệm cũ của người Trung Quốc là con người cần sống một thế kỷ (trăm năm), thì xem như là sống lâu nhất. Một giáp (60 năm) được xem là thượng thọ, bây giờ tôi mới 58 tuổi, còn kém hai tuổi nữa, sao có thể mong chết được? Sao có thể cầu vãng sinh?
Thế nhưng bạn có biết không? Khi trải qua chứng nứt hộp sọ, tôi không những không muốn sống nữa mà còn mong được chết.

Mọi người không ngại thì nghĩ thử xem.
Tôi cầu được chết.
Không mong sống tiếp nữa.
Sự đau đớn như vậy tôi đã không thể chịu đựng nổi nữa rồi. Chẳng trách trong tám khổ thì sinh - lão - bệnh - tử đều là một điều khổ trong số đó. Khi "hoa sen tám cánh nở ra", khi tứ đại phân rã, không lưỡng lự một chút nào, tôi quyết định chết, quyết định mau mau vãng sinh.

Khi đau khổ ập đến, tôi từng cầu nguyện ánh sáng của Phật chiếu đến tôi. Ánh sáng của Phật chiếu đến tôi ba lần. Tôi dễ chịu được khoảng mười phút. Mỗi lần mười phút, tạm thời thấy khoan khoái. Thế nhưng, cái đau của chứng nứt hộp sọ này tiếp tục kéo dài ròng rã bảy bảy bốn mươi chín ngày, ước chừng 49 ngày, không phân biệt ngày đêm.
Tôi ăn vô vị.
Tôi ngủ khó yên.
Giống như khổ hình địa ngục vậy.

Giờ đây, cuối cùng tôi đã hiểu vì sao có những bệnh nhân trong bệnh viện lại tự mình trèo qua cửa sổ, từ cửa sổ tầng cao nhảy xuống, vì sao vậy? Bởi vì mắc bệnh thật sự quá đau khổ mà!
Giờ đây cuối cùng tôi đã hiểu vì sao Ernest Hemingway lại tự sát! Vì sao Kawabata Yasunari lại tự sát! Vì sao Tam Mao lại tự sát! Còn có… [Ernest Hemingway là nhà văn, nhà báo người Mỹ. Kawabata Yasunari là nhà thơ người Nhật đã dành giải thưởng Nobel Văn học. Tam Mao là bút danh của một nhà văn, nhà phiên dịch Trung Quốc sống tại Đài Loan.]
Khi rơi vào tình cảnh như vậy, nếu như không phải là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn thì tôi đã hét lên rằng: "Tôi cũng muốn tự sát!"

Thế nhưng tôi không thể tự sát, tự sát chính là giết Phật. 
Tôi là một nhà tu hành lớn, cần độ chúng sinh, tôi là một hành giả nhẫn nhục! 
Chịu đựng nỗi khổ mà thiên hạ không thể chịu đựng nổi, là tâm khổ, là thân khổ, là bát khổ, đều phải chịu đựng!
Tôi không thể tự sát!


### 02. Phật trong hoa sen tám cánh


Một người ở bên bờ cái chết, một người sắp chết, một người mong được chết, chẳng ngờ người ấy lại là tôi. Căn bản là tôi không còn muốn bám giữ lấy sinh mạng của mình mà không buông ra nữa.

Tôi từng nghĩ như thế này…
Người sáng lập Chân Phật Tông. Năm triệu đệ tử. Các thượng sư hoằng pháp. Bao nhiêu ngôi chùa Lôi Tạng Tự, bao nhiêu phân đường, bao nhiêu trung tâm hoằng pháp.
Biệt thự Cầu Vồng.
Chân Phật Mật Uyển.
Nam Sơn Nhã Xá.
Thượng sư Liên Hương, Lư Phật Thanh, Lư Phật Kỳ…
Những sự nghiệp hoằng pháp ở thế gian Ta Bà này, người thân, công danh lợi lộc và vật chất của thế gian, nay đối mặt với cái chết, tất cả đều hóa thành hư ảo.
Tất cả đều là Không.

Mặc dù đối mặt với tứ đại phân rã cực kì đau khổ, đối mặt với chứng bệnh nứt hộp sọ, nhưng vẫn còn may là tôi tu hành đã lâu nên tinh thần vẫn xem như điềm tĩnh, thần chí của tôi vẫn luôn đặt vào Tứ niệm xứ: quán thân bất tịnh, quán thọ là khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã. Tôi anh dũng, chẳng sợ cái chết, tâm trí vẫn luôn siêu việt.

Bất kì lúc nào tôi cũng chuẩn bị cho cái chết và vãng sinh. Tôi niệm Phật trì chú không hề nao núng, ý chí đều đặt vào trong ánh sáng của Phật. Sự đau đớn của chứng nứt hộp sọ, thân thể yếu ớt, cái chết sắp xảy ra đến nơi ấy cũng chẳng quật ngã được tôi.

Tôi hiểu rằng cái chết là lẽ thường mà đời người không thể tránh khỏi. Tôi sẽ không có cách nào nói những lời khuyên nhủ cuối cùng đối với đệ tử, tôi chết trong đơn độc, đây cũng là điều không thể tránh khỏi. Tôi cảm tạ Thượng sư của tôi, cảm tạ Phật Đà, cảm tạ Phật pháp, cảm tạ Thánh hiền tăng. Tôi sắp vứt bỏ đi nhục thể này, tôi sắp tự tại viên tịch rồi, tôi sắp tiến nhập vào Tam ma địa rồi, tôi sắp tiến nhập vào niết bàn rồi, hoàn toàn giống như tất cả các thánh triết từng phát đại nguyện cứu thế qua các thời kỳ.

Tôi không chết một cách không cam lòng tình nguyện.
Không có tiếc nuối gì.
Xung quanh tôi không có ai biết là tôi sắp chết.
Không có ai cố ý quấy rầy tôi.
Tôi đã có thể ở trong tâm thái bình tịnh, chính thường mà "thiện thệ".

Trong tam muội, hoa sen tám cánh (các múi của hộp sọ) vẫn tiếp tục phân tách ra, tôi chỉ còn thấy đau đớn và yếu ớt, nhưng không hề hoảng sợ.

Một bậc thánh triết giác ngộ chân chính đối diện với cái chết thì không nên sợ hãi, mà cần phải có chính tri chính kiến kiên cường hơn. Chúng ta cần nhận thức được rằng không gian quảng đại vô biên, pháp giới quảng đại vô biên, kể từ khi có nhân loại, thời gian tuổi thọ mà nhân loại tồn tại cũng chỉ hữu hạn, còn mấy trăm vạn tỉ năm ánh sáng của vũ trụ là vô hạn.

Bất kì người nào bất kể là ở pháp giới nào đều sẽ chết, hơn nữa chẳng hề sướng một chút nào, không có một người nào là ngoại lệ, tất cả những điều này là điều tất nhiên.
Không nhập niết bàn, là lý tưởng.
Người người đều phải chết, là sự thực.

Phật Đà dạy chúng ta rằng:
"Tự nhiên là một dạng tuần hoàn sinh tồn, sinh tử là một vòng tuần hoàn lớn, chư hành vô thường, chư pháp vô ngã, niết bàn tịch tĩnh. Đó là quy luật, phép tắc của vũ trụ, cũng chính là chân lý."

Là một người đại giác ngộ, tôi hiểu chết là như thế nào. Trong khoảng thời gian đó, tôi ăn uống vô vị, thể lực yếu ớt, ngủ không được, tinh thần kiệt quệ. Đối với người bình thường mà nói thì đây là rơi vào sự nguy hiểm cực độ, như đang trải qua một thế giới tối tăm không ánh sáng, tiến vào cảnh giới trung ấm của cái chết.

Thế nhưng, sau khi hoa sen tám cánh đã nở ra hết mức, ở chính giữa hoa sen có một vị Phật ngồi, đó chính là:
"Liên Hoa Đồng Tử."
"Hoa Quang Tự Tại Phật."
"Lư Thắng Ngạn Liên Sinh Hoạt Phật."
Vị Phật này chính là Bổn tôn Mật giáo mà nhiều năm tôi đã nương vào, nương vào vị Thế Tôn đại giác đó để có được sự dạy dỗ. Đây chính là ánh sáng trí huệ Bổn tôn của nội tại chân chính của tôi. Duy có vị Bổn tôn Như Lai này của tôi trong chốc lát có thể xua tan bóng đêm tăm tối của cái chết.

Tôi trông thấy nguyên thần của mình.
Tôi trông thấy tôi.
Tôi trông thấy Phật tính.
Tôi chính là một vị Như Lai tuyệt đối trăm phần trăm.
Điều khiến tôi sửng sốt là trên chân của vị Liên Hoa Đồng Tử Phật này có xỏ đôi giày thần hành của Quan Thế Âm Bồ Tát. Tôi ở trong tam muội hoa sen tám cánh nở ra đã trông thấy rất nhiều thế giới trung ấm. Để tôi lần lượt viết ra cho mọi người biết, trạng thái hoa sen tám cánh nở ra của tôi chính là pháp Phowa của Mật giáo.


### 03. Vinh quang của Liên Hoa Đồng Tử


Pháp Phowa chuyển thức thành trí, Liên Hoa Đồng Tử bay vào hư không, giống như Bổn tôn trí huệ trụ tại hư không vậy.

Cuối cùng tôi đã hiểu:
Khi ở Bắc Kinh tôi nhìn thấy A Di Đà Phật. (Từ Bắc Kinh bay đi Thái Nguyên.)
Khi ở Hàn Quốc tôi nhìn thấy Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật và chư Tôn.
Tất cả những sự hiển thị này thì ra đều tuyệt đối giống nhau.
Khi nguyên thần của bản thân thoát khỏi sự trói buộc của nhục thể, khiến cho lục căn, lục trần, lục thức của nhục thể hoàn toàn tiêu biến, lúc này, cấp độ tu hành liền xuất hiện, đây là giáo nghĩa bí mật của Mật giáo. Tôi có thể có được cái thấy chân thực chính là như vậy.

Khi nguyên thần của bản thân (Phật tính) sống lại.
Trong hư không tràn ngập những lời ca ngợi và những bài hát vui mừng của trăm vạn Không Hành Mẫu.
Thập phương Phật, thập phương Bồ Tát.
Kim Cang Hộ Pháp.
Chư Thiên, v.v…
Tất cả đều ca ngợi, hát tụng những khúc ca hân hoan.

Tôi nói để mọi người biết, cái gọi là chứng ngộ chính là như vậy, cái gọi là thấy được Phật tính chính là như vậy, cái gọi là đại thành tựu giả chính là như vậy, cái gọi là thành Phật chính là như vậy. Điều này thật sự không có cách nào hình dung được.
Cũng có nghĩa là tất cả đã hoàn toàn hồi sinh.
Giống như mặt đất chết khô mọc lên những mầm xanh mới, giống như đồng nội trăm hoa đua nở, biến thành mùa xuân.
Giống như người đang ngủ thức dậy, tất cả đều khởi động một ngày mới từ đầu.

Chân Phật Mật Pháp của tôi đã chứng minh được một pháp giới chân thực, nhục thể của con người một khi phóng xuất ra Bổn tôn trí huệ thì thập phương Phật Bồ Tát như thể biển Phật hiển hiện, việc này giống như một vầng trăng soi bóng nghìn con sông, vạn ánh đèn trong một căn phòng, đâu đâu cũng là đèn sáng chói.

Trong Chân Phật Mật Pháp của tôi có Tỳ Lô Giá Na tịnh thổ, có Duy Tâm tịnh thổ, có Hằng Chân tịnh thổ, có Cực Lạc tịnh thổ, có Ký Báo tịnh thổ, có tịnh thổ mọi phương…
*Chân Phật Mật Pháp khó nghĩ tưởng
Bát nhã Mật giáo nơi chính giác
Tương ứng du già chư Phật trụ
Một cành ra hoa vạn năm thơm.*

Rốt cục Lư Thắng Ngạn đã chết hay chưa?
Đáp án đương nhiên là chưa chết, phàm là người có được con mắt chính kiến thì đều có thể nhìn ra được, đối với một người đã đạt giải thoát mà nói thì muốn chết chẳng qua chỉ là một sự sinh ra khác. Muốn sống tiếp thì chỉ là nguyên thần thoát ra lại trở về, có thể từ cấp độ nhân gian chuyển đến cấp độ tịnh thổ, lại từ cấp độ tịnh thổ trở về cấp độ nhân gian. Không đến không đi như vậy chính là Như Lai.

Tôi đích thực đã trải nghiệm chứng nứt hộp sọ. Trải nghiệm tứ đại phân rã. Tứ đại là đất nước lửa gió, con người chúng ta là do nhân duyên của tứ đại tạo tác mà thành, là sự cứng chắc của đất, là sự ẩm ướt của nước, là sự ấm áp của lửa, là sự chuyển động của gió mà hình thành nên. Tứ đại này nếu như không điều hòa thì nhục thân sẽ bại hoại phân tán.

Về mặt vô hình thì:
Nứt hộp sọ là đất đã bị rạn nứt rồi.
Máu rỉ ra ngoài.
Não hỏa (áp) xung lên phun ra ngoài.
Gió toàn thân bay tán loạn không tự nhiên.

May mà trạng thái tứ đại phân rã của tôi là vô hình, bác sĩ cũng không khám ra được. Tứ đại này là nguyên tố của vạn pháp, toàn bộ vạn pháp là do tứ đại hợp thành, nếu như tôi chết thật thì vạn pháp cũng quy về sự hoại diệt. Còn thân thể thật của tôi chỉ là đau đớn yếu ớt thôi chứ chưa hề hoại diệt, vì thế mà tôi vẫn còn sống được, sống để trải nghiệm chứng nứt não và tứ đại phân rã. Việc này thật là bất khả tư nghì đó!

Tôi đem phần sinh mạng còn lại của mình, cùng với tấm lòng chân thành, để viết nên cuốn sách "Độ qua biển sinh tử" này, như vậy thì mới có ý nghĩa. Bởi vì tôi hiểu rõ nhất về sự việc lớn nhất của đời người chính là cái chết. Tôi viết về cái chết, viết về vãng sinh tịnh thổ là thực tế nhất. Tôi sẽ lần lượt thuật lại tỉ mỉ về quá trình diễn ra cái chết, và còn cả cảnh giới trung ấm mà tôi đã thấy được nữa, càng cho con người thấy cần đối mặt với cái chết ra sao, bởi vì mỗi con người trên thế gian này đều khó tránh khỏi cái chết. Bạn nhất định cần biết rốt ráo để mà đối mặt, cần triệt để tìm hiểu, triệt để chứng ngộ chân lý của cái chết.

Tôi nói với mọi người rất rõ ràng như thế này:
Người sống là do người chết chuyển thế mà đến.
Người chết là nhân duyên của người sống đã hết, thế nên chết.
Kiếp trước và kiếp sau, lúc sống và lúc chết.
Lục đạo luân hồi nằm ở đó.


### 04. Định mệnh kiếp trước đời này


Tôi bế quan sống một mình tại hồ Diệp Tử, phiêu bạt nơi đất khách quê người. Tôi đây đã từng là Sư Tôn của vạn vạn người, là Đại Trì Minh Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, mà nay lại hoàn toàn ẩn dật ở bên ngoài nhân gian Ta Bà rồi.

Từ cuộc sống xán lạn quay trở về cuộc sống bình dị, thế nhưng, mặc dù không xuất hiện ở thế gian, tôi vẫn viết sách độ chúng sinh, mặc dù độc cư nhưng tôi vẫn giữ chính kiến, phẩm hạnh thù thắng và tu tập đúng đắn, căn bản là không có gì khác biệt.

Tôi độc cư.
Chịu cực khổ.
Không có bất kì sự hưởng lạc nào.
Chưa bao giờ oán trời trách người.
Bởi vì tôi đã quen thuộc với định mệnh kiếp trước đời này rồi.

Tôi bảo đảm với những đệ tử có tín tâm kiên cố rằng, tôi đích xác đã tận mắt nhìn được tiền kiếp của bản thân, thật sự tận tai nghe được tên gọi kiếp trước của mình, thật sự đã đích thân chứng Ma Ha Song Liên Trì Tịnh Thổ.

Tôi còn nhớ kiếp trước của mình, tôi đã phát lời thề nguyện cực lớn rằng tôi muốn đến thế giới Ta Bà để độ chúng sinh, lời thề nguyện này thật sự là quá lớn:
Phân thân xả cốt độ chúng sinh.
Không bỏ rơi một chúng sinh nào.

Bởi vậy, do kết quả của lời thề nguyện kiếp trước đó mà tôi tất nhiên sẽ phải chịu "thân khổ" và "tâm khổ" cực kì lớn. Tôi không hề hối hận đã chọn sống ẩn dật và độc cư. Tôi không hề hối hận mình phải chịu khổ chịu nạn. Tôi nhận thức rằng tâm của chúng sinh trên thế gian này là sinh diệt vô thường.

Bởi vì trong kí ức của mình, không biết tôi đã từng được sinh ra bao nhiêu lần rồi, cũng không biết đã từng chết bao nhiêu lần rồi, nhưng trong ý thức của bản thân, trải nghiệm về những cái chết này tôi hiểu rất rõ. Tôi không phải là một người bình thường, người bình thường hoàn toàn không biết về kiếp trước, cũng không biết về kiếp tương lai, thậm chí bản thân chết như thế nào cũng không biết.

Trên thế giới này, người có thể có tư cách viết cuốn sách này e rằng chỉ có mình tôi mà thôi.
Sinh chính là mặt trái của chết.
Chết chính là mặt trái của sinh.
Chúng chỉ là một cánh cửa.
Đi vào là sinh.
Đi ra là chết.
Thế nhưng ở đây, chết như thế nào là vô cùng quan trọng.

Người đọc cuốn sách này chắc chắn sẽ phát hiện thấy:
Thì ra Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn là:
Bảo vật — bảo vật vô thượng trân quý nhất của thế giới Ta Bà.
Ngọn đèn lớn — chiếu khắp thế gian, ánh sáng vô tận.
Ngọn đèn đang cháy — xua tan thế giới tam đồ vô minh và u tối.
Thần thánh — người có toàn bộ pháp bảo.
Chân Phật — là bậc Như Lai vô thượng chính đẳng chính giác.

Thập phương tam thế nhất thiết Phật, nhất thiết Bồ Tát Ma Ha Tát đều từng ca ngợi như thế này:
*"Đại đăng khắp pháp giới
Đèn sáng chiếu tam đồ
Nguyện hưởng công đức đó
Bảo hộ Chân Phật hưng."*

Đời người chính xác là như một giấc mộng huyễn, vũ trụ này là một dạng quy luật sinh tử, đồng thời cũng là thế giới hoạt bát sinh động, vật chất, buồn vui, khoa học, máy móc, nghệ thuật, v.v… giữa lúc sống và chết chỉ là một dạng đồ trang trí mà thôi.

Thực tướng chân chính của cuộc đời vẫn chính là tu hành, vẫn là ngộ đạo, vẫn là một cảnh giới khác sau khi chết đi, điều này thế nhân khó mà tưởng tượng được. Ở đây tôi lại một lần nữa thức tỉnh chúng sinh rằng:
Tất cả mọi thứ của thế tục cuối cùng cũng là không.
Tu hành xuất thế gian mới là nhân duyên đại sự.
Phật Đà vì nhân duyên đại sự mới xuất hiện tại thế gian.
Chúng ta cần phải tương ứng với "tam thừa bồ đề".
Tất cả những điều này không hề giả một chút nào. Đời này, bản thân tôi đã nỗ lực rất nhiều, tôi đã cố gắng hết sức để đánh thức những con người thế gian mê muội tỉnh lại, cần thoát ra khỏi danh và lợi, để duy trì sự chính tu của tâm và thực tướng của sự tương ứng.

Người mê là chúng sinh. (tiền, sắc, danh, ăn, ngủ)
Người ngộ là Phật. (bồ đề)
Sinh tử cũng là một cái cửa.
Cái cửa này lại vô cùng quan trọng. Cái chết có tính giá trị của nó, bởi vì nhận thức ở mức độ càng sâu, sự lĩnh hội càng thấu triệt, thì cái chết, bất ngờ thay lại chính là chìa khóa để mở ra tịnh thổ.
Thời điểm lâm chung là cực kì quan trọng đó.


### 05. Đừng sống uổng phí đời người


Tôi từng viết như sau:
Tôi sống ở Cao Hùng, Đài Loan tổng cộng 19 năm.
Ở Đài Trung, Đài Loan, tôi cũng sống 19 năm.
Ở Seattle bang Washington Hoa Kỳ tôi cũng đã sống 19 năm.
Bây giờ thì ẩn cư...

Đối với cuộc đời này, đúng như những lời kệ mà Phật Thích Ca Mâu Ni thường nhắc nhở chúng ta:
”*Như mộng huyễn bào ảnh
Như ánh chớp đá lửa
Như sương cũng như điện
Nên quán thấy như vậy.”*
Sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, sầu khổ, oán khổ, chịu khổ khổ, lo khổ, ốm đau khổ, sinh tử lưu chuyển khổ. Còn nữa, cái khổ của việc yêu phải xa cách, cái khổ của việc cứ phải gặp người mình ghét, khổ của việc cầu mà không được, rồi khổ của ngũ uẩn thiêu đốt.

Cho dù Phật Đà Đại Thánh cũng có chín phiền não lớn:

1. Bị Phạn Chí nữ Tôn Đà Lợi phỉ báng, ngay cả năm trăm vị La Hán cũng bị phỉ báng.
2. Bị nữ Bà La Môn Chiến Già phỉ báng.
3. Đề Bà Đạt Đa đẩy núi đè Phật, khiến Phật bị thương ở chân.
4. Bị cây đâm vào chân.
5. Bị vua Bì Lưu Ly và binh lính diệt gia tộc Thích Ca, Phật Đà đau đầu không ngớt.
6. Được Bà La Môn Kì Đạt Đa mời nhưng lại cho ăn thức ăn ngựa.
7. Gió lạnh thổi tới là cột sống đau nhói như kim châm.
8. Sáu năm khổ hạnh.
9. Vào làng của Bà La Môn, khất thực không được, trở về tay không.
...

Những nỗi khổ trong cuộc đời của Phật Thích Ca Mâu Ni, những nỗi khổ trong cuộc đời của tôi giống như bài kệ cảnh thị của Phổ Hiền Bồ Tát:
”*Mỗi ngày trôi qua
Mệnh lại giảm bớt
Như cá thiếu nước
Nào có vui gì.”*
Phần đông người hiểu rõ triết lý này đều sẽ công nhận, đời người khổ nhiều hơn vui, vì theo lối sống tạm bợ, sống uổng chết phí, trong khi sống thì đắm chìm trong ngũ dục, sao người ta không nghĩ cái chết sẽ nhanh chóng ập đến? Cái chết là việc sớm muộn, có quá nhiều quá nhiều người hết sức cố gắng làm những việc chẳng có chút ý nghĩa nào, thật sự là quá lãng phí, quá vô vị, quá đáng tiếc.

Nói như tôi đây, sống ở Cao Hùng 19 năm, học đến cấp ba thì tốt nghiệp. Sống ở Đài Trung 19 năm, sau khi tốt nghiệp đại học thì đi làm. 19 năm ở Seattle độ chúng sinh. Tôi cũng thừa nhận, thời gian tu hành độ sinh hoằng pháp quá ít, tôi còn sống được bao nhiêu năm nữa đây? Còn có thể tồn tại trên đời này bao nhiêu năm nữa?

Phàm phu đặc biệt như chúng ta đây, tôi vẫn xem là còn tốt. Những người khác ý thức tỉnh táo quá ít, cứ mãi mơ mơ hồ hồ không dừng dứt, ngay đến một câu Phật pháp cũng chưa nghe, ngay đến một pháp cũng chưa kịp tu thì đã tay không mà chết rồi.

Phật Đà cho rằng, chúng ta đã quá lờ đờ biếng nhác, thật sự đã quá buông thả lười biếng, chúng sinh chẳng hề trân trọng thời gian cuộc đời, mà lại đặt tiền bạc là quan trọng nhất, theo đuổi sự thỏa mãn dục vọng, hơn nữa lại còn cho rằng thân xác bao năm này chính là ta, thậm chí đời người là tất cả, cuộc đời là tất cả, đây là một quan niệm sai lầm.

Căn cứ theo nghĩa lý thuyết pháp của Phật Đà, sinh ra làm thân người là rất không đơn giản, khó có được cơ hội tu hành, vì vậy Kinh Lăng Già đã nói rất rõ ràng, con người có thể dựa vào nỗ lực tinh tấn của bản thân, nhờ "tâm thức chuyển thành trí huệ căn bản", đạt được sự giải thoát cuối cùng và bồ đề cuối cùng, đạt đến quả vị Phật đẳng giác.

Vì thế mà Tâm Kinh mới nói:
*”Ma ha bát nhã ba la mật
Là vô thượng chú
Là đại minh chú
Là đại thần chú
Là vô đẳng đẳng chú.”*

Nghĩa là nói rằng, sinh ra làm một con người, quyết định tinh tấn tu hành, đạt đến bỉ ngạn mới là việc đại sự có ý nghĩa nhất của đời người, là đại minh, là đại thần, là vô thượng, là vô đẳng đẳng. Cho dù bạn làm Quốc vương, làm Tổng thống, làm Thủ tướng, làm Thiên hoàng, làm Hoàng đế, thì đều không phải là "vô đẳng đẳng chú".

Tất cả pháp hữu vi như mộng huyễn bào ảnh, tôi thích nhất là bài "Mộng thơ" của Vương An Thạch, tôi đã nhiều lần trích đăng:
*”Biết đời như mộng vô sở cầu,
Vô sở cầu lòng tĩnh lặng không.
Vẫn tưởng trong mơ tùy mộng cảnh,
Thành tựu công đức tựa hà sa.”*


### 06. Cái chết xảy đến bất kì lúc nào


Vì sao phải dạy đệ tử Chân Phật Tông cần đối diện với cái chết như thế nào?

Bài kệ thứ 21, phẩm thứ 24, Kinh Pháp Cú có viết:
*"Pháp thí, thắng mọi thí
Pháp vị, thắng mọi vị
Pháp hỷ, thắng mọi hỷ
Trừ ái, thắng mọi khổ."*
Mọi người hãy ngẫm nghĩ kĩ về bài kệ này, Phật pháp là vô thượng trân quý! Trên đời này còn thứ gì quý giá hơn Phật pháp đây?

Cái chết là trực tiếp nhất, dễ nhận thức nhất, nó rõ ràng như ban ngày, là thực tướng từ sinh đến tử. Tôi nói "sinh tử vô thường", cái chết xảy đến bất kì lúc nào, đừng để đến già mới đi học đạo, những nấm mồ cô đơn đều là người chết trẻ.
Bỗng chốc, máy bay rơi, đây là thực tướng của cái chết sờ sờ ngay trước mắt.
Bỗng chốc, xe cộ đâm nhau, đây là thực tướng của cái chết sờ sờ ngay trước mắt.
Bỗng chốc, hỏa hoạn, thoát thân không kịp, đây là thực tướng của cái chết sờ sờ ngay trước mắt.
Bỗng chốc, phần tử khủng bố đánh bom, đây là thực tướng của cái chết sờ sờ ngay trước mắt.
Bỗng chốc, tàu chìm, đây là thực tướng của cái chết sờ sờ ngay trước mắt.
Bỗng chốc, động đất, đây là thực tướng của cái chết sờ sờ ngay trước mắt.
Bỗng chốc, gió xoáy, đây là thực tướng của cái chết sờ sờ ngay trước mắt.

Tôi nói cho mọi người biết, những người bị phán tội chết thì bị chém, hỏa thiêu, chết đuối, thú vật cắn, ném xuống vách núi, uống thuốc độc, bị giết,…
Còn nữa, tôi ở trong bệnh viện lớn, trông thấy người được khiêng ra khiêng vào, không chỉ là người già mà rất nhiều người trẻ tuổi, thậm chí là trẻ em, họ mắc phải bệnh nặng, có cả người bị ung thư, cũng có cả người mắc bệnh hoại huyết, cũng có người chết não, nhiễm trùng. Tám vạn bốn nghìn loại bệnh, cái chết vì bệnh tật thật sự đáng sợ!
Và còn đáng sợ hơn nữa là:
Nhân loại chiến tranh tự tàn sát chính mình.

Đối với những cái chết bất ngờ giáng xuống, không phải là không có khả năng, mà là luôn có khả năng, lúc ấy, một khi đã tiến vào cảnh giới trung ấm của cái chết thì linh hồn phải làm sao đây? Bạn có năng lực kiểm soát được không? Cái chết trong chớp mắt, bạn có thể tránh khỏi cảm giác sợ hãi không?

Bạn cho rằng đời người có thể độc lập tự chủ, cứ thế sinh tồn mãi mãi, sự tồn tại ở thế gian là một dạng quyền lợi. Nhưng bạn có biết không, mạng sống có thể mất đi bất kì lúc nào, cái chết có thể đến bất kì lúc nào, ai ai cũng có những cảm xúc buồn lo sợ hãi.

Trong quá khứ, tôi thường dạy đệ tử cần biết tu, cần phải trân trọng thời gian vô giá, phải mỗi ngày một tu, còn cần phải một ngày ba thời, nhớ đến tam căn bản. Tam căn bản chính là căn bản Thượng sư, căn bản Bổn tôn, căn bản Hộ pháp. Vì sao hành giả Mật giáo cần phải tu Hộ pháp? Cần biết rằng Hộ pháp hộ trì cho hành giả Mật giáo, tu Hộ pháp có thể tránh được rất nhiều phiền phức và khổ não, ví dụ:

1. Chú thuật của các pháp sư tà ác.
2. Thuật bùa chú.
3. Người ác hãm hại.
4. Tránh được tai vạ bất ngờ.
5. Quỷ thần hung thần ức hiếp.
6. Phi nhân cướp đoạt tinh khí.
7. Không đi vào những nơi hung ác.

…

Tuy nhiên, sinh tử vô thường cũng rất lợi hại, nếu như bạn không mỗi ngày một tu, không thường nhớ đến Thượng sư, không nghĩ đến Bổn tôn trụ đỉnh đầu, đối với nhục thể thì lơ là, với tình cảm thì buông thả, với tâm lý thì nghi hoặc, thì tam căn bản của nội tại không có cách nào thường trụ vĩnh hằng được, tự tính quang minh bất diệt vốn có cũng diệt rồi, còn cái chết vô thường thì vẫn xảy đến trong chớp mắt. Đường đường là một hành giả Mật giáo thì cũng đã trở thành món điểm tâm cho lũ ác quỷ vô thường mà thôi.

Cá nhân tôi cảm ứng thấy tam căn bản của Mật giáo cực kì quan trọng, Thượng sư là tổng trì của tất cả mọi pháp, Bổn tôn là tự tính của hành giả, Hộ pháp là thần bảo vệ ở nhân gian, ba vị này thiếu một cũng không được. Sự tu hành của bạn, nếu như có tương ứng rồi (du già) thì đối với những sự sợ hãi về cái chết, cũng giống như bình minh sương tan, tự nhiên sẽ biến mất không còn dấu vết.

Tôi thường nói:
Khi đi máy bay, cần tương ứng "Bổn tôn trụ đỉnh". (Thật ra trong bất kì trường hợp nào thì Bổn tôn trụ đỉnh cũng rất quan trọng.)
Nếu một ngày, vô thường ập đến.
Bổn tôn chỉ cần kéo một cái, Bổn tôn tự tính (chính mình) và Bổn tôn trí huệ (Phật) hợp nhất và dung hợp, thế là bạn đã trực tiếp đến tịnh thổ rồi. Ý nghĩa và giá trị của việc tôi dạy "Bổn tôn trụ đỉnh" hoàn toàn nằm ở đây, đây là trung ấm (linh hồn) trực tiếp chuyển biến mà thành tựu, là một dạng chính tri chính kiến có thể nhận biết và đã được biết đến.

Tương ứng Bổn tôn trụ đỉnh là quan trọng số một.


### 07. Thiện thệ và thăng thiên


Trong "Thượng cổ thần thoại diễn nghĩa", tôi rất thích truyền thuyết về Hoàng Đế thăng thiên. Trên thực tế, vị Hoàng Đế đánh bại Xi Vưu thời Trung Quốc cổ đại vốn xuất thân là thiên chủ của cõi trời. Các nhân vật trong thần thoại thượng cổ như: Phục Hy, Thần Nông, Hiên Viên, Toại Nhân, Hữu Sào, Nữ Oa, thậm chí Nghiêu, Thuấn, Vũ, Đế Tuấn, Đế Khốc, Hậu Nghệ, Hằng Nga, v.v… đều không phải là thần, mà là nửa thần nửa người.

Hoàng Đế cổ đại thích du sơn ngoạn thủy, thường kêu hai thần tử đi cùng, một người là Phong Hậu, một người là Thường Bá, một người mang sách, một người mang kiếm, tiêu dao vui đùa trong nhân gian.
Vì thế, dấu chân Hoàng Đế đã đi qua:
Thanh Khâu.
Động Đình.
Nga Mi.
Vương Ốc.
...

Về sau, Hoàng Đế biết rằng thời gian về trời đã đến rồi, bèn cho đúc một cái bảo đỉnh rất lớn dưới chân núi Kinh Sơn (trong truyền thuyết Đạo gia, bảo đỉnh dùng để luyện đan, thuật luyện đan của Đạo gia từ đó mà lan truyền.) Bảo đỉnh đúc xong cao một trượng ba xích [gần 4 mét], dung lượng cả chiếc vạc này có thể chứa được mười thạch ngũ cốc [khoảng 1000 lít], xung quanh chiếc vạc có chạm khắc rồng cưỡi mây, còn khắc cả quỷ thần chúng và kỳ cầm dị thú nữa.
Bảo đỉnh từng cử hành tiệc mừng công.
Các thần ở cõi trời và bách tính khắp nơi đều đến chúc mừng.

Hoàng Đế biết rằng thời gian về trời đã đến, trời đột ngột mở ra, có một con rồng thần khoác áo giáp vàng kim quang lấp lánh từ trong mây vươn mình xuống, để cho râu rồng buông thẳng xuống bên trên bảo đỉnh. Lúc này, Hoàng Đế và thần tử của ngài (các thiên thần hạ phàm), tổng cộng hơn bảy mươi người, ai nấy nhún người bay lên mây, cưỡi lên lưng rồng thần, rồi từ từ bay lên thiên đình.

Có một số tiểu quân hầu và lão bách tính ở trên mặt đất trông thấy Hoàng đế thăng thiên cũng đều muốn cùng Hoàng đế đến thiên đình, nhưng họ không có cách nào nhún người bay lên mây được, không có cách nào cưỡi được rồng, chỉ có thể chen lấn tranh lên trước để bám lấy râu rồng, nhưng râu rồng không thể đỡ nổi nhiều người như vậy, cũng có rất nhiều người liên tiếp rơi xuống, ngay cả râu rồng cũng bị đứt mất mấy sợi. Râu rồng rơi trên mặt đất mọc lên cỏ, gọi là cỏ râu rồng.
Đây là câu chuyện về Hoàng Đế thăng thiên.

Ngoài ra, câu chuyện về vua Lưu An ở Hoài Nam thăng thiên cũng rất thần kỳ.
Vua Lưu An triều Hán ở Hoài Nam thích thuật thần tiên. Thế là có Bát Công - tám ông già kỳ quái tìm đến, truyền thụ thuật thần tiên, sau đó, vua Lưu An thật sự đã học thành công thuật luyện đan. Sau khi ăn viên đan dược của chính mình thì Lưu An đã cùng với tám ông già ở trên đỉnh núi giữa ban ngày bay lên trời. Trong nhà Lưu An vẫn còn mấy viên đan dược chưa ăn hết, để ở trong chiếc hộp ở đình viện. Trong vườn nhà có gà có chó chạy tới mổ và liếm, không ngờ chúng cũng lập tức có được hiệu quả, gà cũng từ từ bay lên trời, chó cũng bay lên, toàn bộ đều bay vào trong mây, trở thành tiên gà và tiên chó.
Đây chính là truyền thuyết "một người đắc đạo, gà chó thăng thiên" nổi tiếng.

Trong Mật giáo, tổ sư Liên Hoa Sinh Đại Sĩ của Tạng mật, sự thiện thệ của ngài cũng vô cùng nổi tiếng:
Bốn đại Thiên Vương nâng chân thiên mã giáng xuống.
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ ngồi trên thiên mã.
Bay lên không trung.
Còn để lại một câu danh ngôn:
"Người kính sư, trọng pháp, thực tu sẽ đạt thành tựu."
Thiện Thệ của Phật Đà là một trong mười xưng hiệu của Như Lai, thiện tức là tốt lành, thệ tức là từ trần. Phật Thích Ca Mâu Ni tu chính đạo, nhập niết bàn, đi về nơi tốt lành (cõi Thường Tịch Quang), vì thế gọi là Thiện Thệ.

Ngày nay, chúng ta tu Chân Phật Mật Pháp, được dạy những điều quan trọng về lúc chết, đây cũng chính là tín niệm về một cái chết tốt lành. Người người đều sẽ chết, không ai tránh khỏi, người người nên hiểu rõ chết là chuyện như thế nào, hiểu cách đối mặt với cái chết, đi đến cảnh giới tốt đẹp hơn.
Đó là:
Nhập thiện môn.
Tu thiện đạo.
Thiện giải thoát.
Thiện vãng sinh.
Thiện bồ đề.

Một hành giả chân chính lúc sắp lâm chung, cũng có người sống thọ và chết tại nhà không bệnh không đau, có người thì có thiên thần dự báo thời điểm chết, có người giỏi về thoát khỏi nhục thể, có người giỏi về chuyển thế thành Hoạt Phật. Ví dụ có những đại hành giả ngồi hoặc đứng và tự giải thoát rồi đi, hoặc thân hóa cầu vồng rồi đi, hoặc toàn thân thành xá lợi là đi…

Đối với người bình thường, chúng ta cần chỉ dạy họ làm sao để loại bỏ ma. Khai thị như thế nào? Dỗ dành như thế nào? Niệm Phật như thế nào? Trì chú như thế nào? Thân trung ấm nghe dạy để được độ như thế nào? Quang uẩn thiên thức như thế nào? Như thế mới có thể thiện thệ.


### 08. Lục đạo luân hồi trong thiên nhãn


Trong thiên nhãn của tôi, sinh tử và luân hồi mà tôi nhìn thấy thật sự là có rất nhiều sự lặp lại, không chỉ nhiều sự lặp đi lặp lại mà còn sinh ra thêm nhiều nữa.

Hai chữ "luân hồi" được dùng rất thích hợp, giống như một bánh xe cứ lăn mãi không dừng lại. Vậy mà thế nhân chưa từng biết rằng trong con mắt của tôi, luân hồi còn hơn cả một cái bánh xe, nói đúng ra phải là vô hạn cấp số bánh xe luân chuyển không ngừng.

Luân hồi vô thủy vô minh. Nghĩa là không có sự bắt đầu tuyệt đối. Cũng không có sự kết thúc tuyệt đối. Ở đây có sự xuất hiện, cũng có cả tiêu biến.
Ở đây chỉ có Phật giáo nhắc đến giải thoát sinh tử luân hồi, đạt đến tính chân không chân chính, hoặc là cảnh giới niết bàn vô thượng, đây mới là đạo bồ đề vượt qua khỏi luân hồi.
Cái tôi thấy có tôi vật chất.
Còn có cả thần ngã của Bà La Môn giáo.
La ha của Hồi giáo.
Linh hồn của Cơ đốc giáo.
Trung ấm của Mật giáo.

Tôi thật lòng thật sự nói để mọi người biết, tác dụng của thân và tâm ở đây căn bản chính là một thể hợp lại đang biến hóa không ngừng, trước sau liên tục, không ngừng phát sinh ra những trạng thái chớp mắt chớp nhoáng của một chuỗi nhân duyên ảnh hưởng. Đối với tôi mà nói, không chỉ chết đi rồi mới luân hồi, lúc còn sống cũng đã xuất hiện hiện tượng luân hồi rồi.

Tôi có quen một danh nhân. Ông ta là một ông chủ lớn. Địa vị xã hội cao quý. Trong giới chính trị, kinh tế đều là nhân vật hạng nhất. Nhưng trong thiên nhãn của mình, tôi nhìn ra tinh thần của ông ta đã tiến nhập vào một sinh mạng mới, ông ấy vẫn chưa chết, nhưng mà đã giống như là đã phải chịu trên nhục thể rồi, từ lâu ông ta đã luân hồi thành một con trăn lớn. Nói cách khác là chỉ cần ông ta chết, thể hợp lại từ linh hồn và vật chất của ông ta chính là một con trăn lớn. Cái chết của ông ta chính là bước vào sự bắt đầu của một hình thái sinh mệnh mới.
Thế nhưng, bạn có tin không?
Danh nhân này vẫn còn chưa chết.
Nhưng tôi đã nhìn thấy lục đạo luân hồi của ông ấy đã bắt đầu từ lâu rồi.

Tôi dùng thiên nhãn để quan sát tướng của chúng sinh.
Có một cô gái từ lâu đã bị linh động vật của chuột nhập vào thân.
Có một cô gái khác từ lâu đã bị linh động vật hồ ly của một người bộ tộc da đỏ nhập vào thân.
Có một người đàn ông bị linh động vật của gấu nhập vào thân.
Có rất nhiều trẻ em bị linh động vật của con khỉ nhập vào thân, vì thế nên đã bị bác sĩ chẩn đoán là chứng bệnh "tâm tính nóng nảy". (Những đứa trẻ tăng động quá mức.)
Người tu hành bị ma nhập vào thân cũng không ít, bởi vì chỉ cần không phải là chính pháp chính tu, một khi đã đi vào con đường tà ma thì ma rất dễ dàng nhập vào thân. (Càng tu càng tự đại, ngạo mạn, vọng tưởng, thích trèo cao, danh lợi.)

Tôi gặp một bé học sinh mới sáu tuổi, mỗi tối lên giường đi ngủ toàn tự đập đầu mình vào giường, tới nỗi phát ra thành tiếng "binh binh".
Bác sĩ bó tay.
Đại pháp sư bó tay.
Thầy bói bó tay.
Bùa chú bó tay.
Bởi vì cô bé học sinh này kiếp trước đã giết người ở trên giường, ác nghiệp kiếp trước đã tạo ra khiến linh hồn (trung ấm) của người đó đến để đòi nợ máu, nên đến kiếp này cô bé học sinh đó phải chịu đau đớn của việc đập đầu vào giường để trả nợ. (Hiện tượng này gọi là bị ma nhập.)

Tôi dùng thiên nhãn quan sát các bệnh viện, bệnh nhân trong bệnh viện bị mổ họng, cắt thận, thay tim, cắt gan, mổ não, tách ruột cắt gan, cưa tay,... (khổ hình của địa ngục).
Tôi dùng thiên nhãn quan sát nhiều chính trị gia, những nhân vật chính trị lớn nắm trong tay quyền sinh sát, trên mặt của họ hiện lên tướng của Đại A tu la Vương, họ lấy việc tranh quyền giết người làm trò vui, chiến sự vĩnh viễn không có ngày bình yên. (Từ lâu đã luân hồi làm A tu la rồi.)
Lục đạo luân hồi hữu hình vô hình từ sớm đã viết ra trên mặt con người rồi, chỉ là sự khác biệt giữa nghiệp chướng nặng hay nhẹ mà thôi.

Lục đạo luân hồi trời, người, A tu la, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh đều là nhân duyên quả báo của kiếp trước, kiếp này, kiếp sau. Trong thiên nhãn của tôi, các linh tự sát cũng rất đáng thương, cho dù có chuyển kiếp thành người thì cũng là:
Người bị câm điếc.
Tàn tật thiểu năng.
Mắc bệnh kỳ dị.

Tôi dùng thiên nhãn quan sát một một phụ nữ trung niên, bà ấy đã quy y Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Bà ấy có nhiều kiếp không hề làm những việc độc ác phi nhân tính, kiếp này bà lại còn nỗ lực niệm Phật trì chú, tu Chân Phật Mật Pháp.

Người này hiện tại vẫn luôn độ hóa cho hàng xóm của mình, cho bạn học của mình, bạn bè thân thiết của mình quy y cửa Phật. Bà ấy vẫn chưa xuất gia, vẫn giữ thân phận cư sĩ trợ giúp Sư Tôn của mình độ hóa chúng sinh.

Bà ấy giữ giới rất chặt chẽ cẩn thận: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngữ, không uống rượu. Đặc biệt khi nói chuyện thì không dùng lời lẽ tục tĩu, không nói khoác, không nói lời lật lọng, không ác khẩu, trước nay cũng không nhiều lời, không nói những lời vô nghĩa. Không phàn nàn về mọi người hoặc mọi thứ.

Bà ấy rất có lòng từ bi, nguyện cho tất cả chúng sinh mọi niềm an vui, bà ấy cảm thấy chúng sinh quá khổ rồi, bà ấy mong loại bỏ mọi đau khổ của chúng sinh, có cách nghĩ từ bi tất cả chúng sinh. Cần biết rằng một khi đã phát tâm từ bi thì sẽ có được 12 lợi ích vô hình:
"Phúc thường theo thân, giấc ngủ an bình, có thần bảo vệ, người người tôn kính, không nhiễm độc hại, không vào chỗ hiểm, không chết chìm, không chết cháy, có được tất cả lợi ích, vô danh mà thành danh, lên cõi Phạm Thiên, vãng sinh Cực Lạc."

Bà ấy cũng đã đắc pháp Vô lậu, vô lậu này không phải là sự rò rỉ hữu hình, cũng có thể gọi là vô phiền não. Phiền não chính là tham, sân, si, do lục căn ngày đêm không ngừng tiết chảy ra. Bà ấy đã không tham, không sân, không si, là một hành giả chân chính.

Tôi dùng thiên nhãn để quan sát người nữ đệ tử này:
Tôi thấy ở giữa hai lông mày của bà có ánh sáng bạch hào, đây là một trong 32 tướng tốt. Tôi rất kinh ngạc. Tôi đã xác minh được rằng bà ấy đã đến được Ly Dục Địa của Thanh Văn Duyên Giác Bồ Tát ở địa thứ 10 rồi, sắp thành tựu Bồ Tát rồi.

Một lần trong tam muội, chính bà ấy đã nhìn thấy tôi hiện thân, hơn nữa còn nhìn thấy hơn trăm vị Bồ Tát. Tôi và hơn trăm vị Bồ Tát đều hiển hiện với báo thân đại thiên sắc thân, thật sự là quá trang nghiêm, quá thù thắng, quá khiến người ta cảm động.
Tôi nói:
Người đệ tử này chắc chắn vãng sinh Phật quốc.


### 09. Ánh sáng của đỉnh thiên khiếu


Muốn vãng sinh Phật quốc.
Cá nhân tôi nghĩ như thế này, khi một người chết, nếu như vừa đúng lúc có một vị Kim cương Thượng sư ở bên cạnh, vị Thượng sư sẽ chỉ bảo cho trung ấm (linh hồn) của người chết tìm đến con đường lỗ hổng vãng sinh tốt nhất mà đi ra, điều này vô cùng quan trọng.

Con người chúng ta có 11 đường lỗ hổng:

1. Thiên khiếu — ở chính giữa đỉnh đầu, tám đốt ngón tay tính từ chân tóc.
2. Hai lỗ tai.
3. Hai con mắt.
4. Hai lỗ mũi.
5. Miệng.
6. Rốn.
7. Âm đạo.
8. Hậu môn.

Tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) từ lâu đã tu thành tựu pháp Phowa, một trong sáu pháp của Naropa. Đường lỗ hổng ở chính giữa đỉnh đầu của tôi đã mở ra rồi, ai cũng có thể thấy, đây là một minh chứng tốt nhất. Đường lỗ hổng này nằm ở chính giữa đại não, chính là thiên khiếu, cũng tức là ở trung tâm của hoa sen nghìn cánh, trong Mật giáo thì đây là luân xa yoga, ở phía trên luân xa trán, tác dụng tinh thần ở chỗ này là rõ ràng nhất, cũng tức là luân xa chủ yếu của ý thức thanh tịnh.

Họa sĩ chúng ta khi vẽ Phật Bồ Tát, đương nhiên có ánh sáng xung quanh, mỗi lỗ chân lông đều phóng ra ánh sáng, nhưng quan trọng là hào quang ở trên đỉnh đầu. Vì sao ánh sáng ở trên đỉnh đầu lại quan trọng như vậy?
Người hợp nhất tâm
Tâm hợp nhất lý
Phật quốc thăng lên
Đi từ thiên khiếu.

Trong Mật giáo, đầu là trung tâm của ý thức giác tri, do đầu điều tiết các luân xa khác, trung ấm sinh mạng từ trung mạch thoát ra, nếu như là "quang minh phong mạch" thì tác dụng cuối cùng của nó là thoát ra từ lỗ đỉnh đầu, sau đó tiến nhập vào trung mạch của Bổn tôn, tiến nhập vào tịnh thổ của Bổn tôn.

Một vị Kim cương Thượng sư giỏi có thể dạy bảo người chết, chỉ dẫn cho việc cầu nguyện không ngừng và niệm tụng Thánh danh lặp đi lặp lại, để khiến cho người chết đạt được sự thiện thệ, vãng sinh Phật quốc tịnh thổ, nơi mà thân trung ấm đi ra chính là đỉnh đầu.

Có thể tình cờ gặp được một vị Kim cương Thượng sư giỏi vẫn là do duyên phận xưa nay đã đủ, cũng có thể xem là nhân duyên quả báo của thiện căn lớn. Có được một vị Kim cương Thượng sư đã chứng ngộ đến giúp đỡ một người phàm phu, đây cũng nhờ do duyên phận lớn từ kiếp trước của người đó mới có được.

Kim cương Thượng sư cần hiểu rằng:
Phàm phu có sáu thức: tâm, nhãn, nhĩ, thiệt, tỵ, thân, ý. Thêm mạt na thức, a lại da thức, dị thục thức, vô cấu thức, là thành mười thức.
Thức thứ tám là Như Lai Tạng Tâm.
Thức thứ chín là ly phân đoạn sinh tử.
Thức thứ mười là cứu cánh thanh tịnh.
Mà thức chính là sự nhận biết.

Kim cương Thượng sư muốn dạy cho người chết thì nên biết tâm thức của người chết này, hiểu cách tách biệt hoàn toàn thức tính của người chết. Chỉ cần có thể tách biệt được hẳn tâm hành trong bảy thức của người chết, để họ biết không thể bám chấp, thì mới có thể dạy người chết thoát ly khỏi biển khổ lúc này. Ở đây cũng phải là một vị Kim cương Thượng sư đã chứng ngộ mới có thể hiểu và phân biệt được.

Kim cương Thượng sư cần phân biệt được tâm hành của tâm chúng sinh. Chỉ dẫn cho chúng sinh sơ ngộ. Chuyển bảy thức đầu tiên nhập vào thức thứ tám, đạt được tất cả công năng không sai sót.

Sau đó, Kim cương Thượng sư cần phong kín lại hai lỗ tai, hai hốc mắt, hai lỗ mũi, miệng, rốn, âm đạo, hậu môn. Chỉ chừa lại thiên khiếu.
Việc phong kín này cần dùng "quang uẩn thiên thức pháp", đó là nhờ ánh sáng của Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp của Kim cương Thượng sư để phong kín lại mười đường lỗ hổng.
Sau đó di chuyển thần thức.
Dùng thức thứ tám Như Lai Tạng Tâm, tất cả chủng trí từ vô thủy đến nay rời xa chân tâm kiến văn giác tri, không khởi tham niệm, sân niệm, si niệm trong tam giới, sản sinh tâm chán ghét muốn bỏ tam giới. [chủng trí - trí tuệ thấu đạt được mầm mống, nguyên nhân của mọi hiện tượng]

Kim cương Thượng sư có thể vận dụng:
"Quang uẩn."
"Thiên thức."
Đây là một đại pháp vô thượng cực kì quan trọng, có thể khiến người chết - một phàm phu, trong một thời gian cực ngắn, từ trong trung ấm chứng ngộ được tất cả chủng trí của Bồ Tát, từ đó có được tác dụng diệu kỳ của thức thứ tám.

Ví dụ:
Mẹ tôi - bà Lư Ngọc Nữ, viên tịch tại Seattle nước Mỹ. Vừa hay tôi có ở đó. Tôi đã dùng pháp quang uẩn thiên thức.
Mở thiên môn.
Đóng địa hộ.
Chặn nhân đạo.
Bịt quỷ lộ.
Điều này chỉ có một bậc Kim cương Thượng sư đã tương ứng Thượng sư, tương ứng Bổn tôn, tương ứng Hộ pháp mới có thể vận dụng được quang uẩn.
Đặc biệt là trên phương diện thiên thức, ở đây là thể tính của thức thứ tám trở lên, pháp sư thông thường và phàm phu không thể hiểu hết được. Duy có bậc đại Kim cương Thượng sư đã chứng chân như, đích thân chứng thức thứ tám Như Lai Tạng mới có thể biết thiên thức.

Bởi vì khi người chết ở trong cảnh giới trung ấm, sáu thức, bảy thức có thể khởi tác, sản sinh ra đủ loại cảnh giới không tốt.
Kim cương Thượng sư muốn chỉ dẫn cần phải dùng:
Phi tâm tâm.
Bất niệm tâm.
Vô trụ tâm.
Vô tâm vô tướng.
Để mà phá bỏ.
Làm cho người chết hiểu rằng cần phải rời xa kiến văn giác tri của lục căn lục trần lục xứ, chứng thực tự tính của đại chủng trí. Nhờ tác dụng diệu kỳ của nó, từ thiên khiếu tiến nhập vào Cực Lạc tịnh thổ để mà vãng sinh Phật quốc, trở về nhập vào tự tính A Di Đà Phật.

Khi ấy, các đệ tử và anh chị em trong nhà có mặt ở đó khoảng hơn 20 người, chúng tôi cùng niệm Thánh hiệu Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát, niệm liên tục không dừng. (Bổn tôn của mẹ tôi là Quan Thế Âm Bồ Tát.)
Những người có mặt ở đó tận mắt nhìn thấy thân thể mẹ tôi nằm đó rất an lành, bỗng dưng đầu bà từ từ nhấc lên, một luồng chân khí (chân tâm) từ lỗ đỉnh đầu thoát ra ngoài. Như thế là mẹ tôi đã thoát khỏi lục đạo luân hồi rồi, đây là một bằng chứng của việc rời xa tam giới. (Sau khi hỏa thiêu có xá lợi tử, có xá lợi răng, xá lợi hoa.)

Mẹ tôi nhờ thiên thức mà sơ ngộ, nhờ sơ ngộ mà đạt được tác dụng thần kỳ, sinh ra đại trí huệ, nay bà đã là đại Bồ Tát rồi.


### 10. Đời người là khách qua đường


Thời kì đầu học Phật, tôi đã từng học khóa tụng, pháp sư dạy tôi khóa tụng là pháp sư Thiện Tứ ở chùa Từ Âm và pháp sư Thượng Lâm ở chùa Từ Minh.

Sau khi học xong khóa tụng kinh sám hối, thỉnh thoảng lúc này lúc khác có người cần, tôi đã theo đoàn đi tụng "trai thiên khoa nghi" (bái thiên cung), cũng đến nhà tang lễ giúp người ta tụng kinh siêu độ.
Thậm chí, có người vừa mới qua đời, nằm trên phản gỗ, một mình tôi đọc Kinh Cước Vỹ cho người chết. Tôi đã từng thấy bao nhiêu người chết rồi? Câu trả lời là: vô số. (Không thể đếm được.)

*"Nhướn mắt nhìn vạn vật hư huyễn
Vọng tưởng rằng tam giới là nhà
Quang minh thường tịch vô biên chiếu
Xuyên thấu bụi trần vốn ngăn che*

*Yêu thương buộc chặt khổ Ta Bà
Xuống đến hoàng tuyền lệ vẫn rơi
Ai bảo biệt ly cùng kiếp hận
Có biết thân đây chính Di Đà*

*Hoang vu lạnh lẽo khóc hết ngày
Ai còn nhớ đến lão kim tiên
Kiếp này chôn ở liên hoa thổ
Đừng để ai đến đốt giấy tiền."*

Hồi đầu, tôi niệm Kinh Cước Vỹ, theo phong tục của người đời là phải che tượng Phật tượng Thần ở trong phòng khách lại vì sợ xung với người chết. Nhưng tôi lại khác, tôi khuyên người nhà của người chết bỏ vải che ra, đặt tượng Phật ở trên đỉnh đầu của người chết, để cho Phật Bồ Tát tiếp dẫn người chết, và cũng để cho người chết nhớ đến Phật Bồ Tát.
Tôi niệm Kinh Cước Vỹ.
Thắp nến. Châm hương.
Một bát cơm trắng.
Cảm thấy đời người thật thê thảm thảm thê, đi đến cuối cùng, hai chân dừng lại, đầu ngoẹo qua một bên, thế là lìa đời.

Con người thời nay trông thấy người chết thì đều bịt mũi nhắm mắt vì ghê sợ mùi xú uế và muốn đi qua thật nhanh. Ai biết rằng ngày xưa, người chết là một mỹ nữ lụa là gấm vóc, ai trông thấy cũng phải cười vui ra mặt, thèm có được vẻ đẹp thanh khiết ấy, và cũng từng yêu cô ấy sục sôi.
Con người sinh ra như vậy.
Con người chết đi như vậy.
Trong số đó, có người xấu có người tốt, có người nghèo có người giàu, có người hèn có người sang, có người ngu có người khôn. Mỗi người trải qua nhiều kiếp, nhiều như nước như biển, tiểu thị nhân và quan cao quý nhân, nhưng nỗi khổ của cõi Ta Bà thì giống nhau.

Tôi đã thấy nhiều quá rồi, than thở rồi lại thở than. Đời người như lữ khách, là khách qua đường, thế gian Ta Bà là lữ quán.

Sau này học Mật giáo, tôi biết về bên trong cái chết của con người, mặc dù mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, mạt na thức dường như đã yếu rồi, nhưng ý thức tự ngã vẫn duy trì tiếp, giống như đang nằm mơ, giống như hôn mê, nhưng chính xác hơn là ở giữa nằm mơ và hôn mê.

Người bình thường cho rằng con người chết rồi sẽ đi vào trạng thái mất ý thức hoàn toàn, hoặc là tiến nhập vào "chân không", tất cả đều không còn nữa, chết rồi thì tất cả đều không còn. Những người chủ trương như vậy không phải là không có, họ cho rằng "con người chỉ có một kiếp", chẳng có những thứ khác, biến mất sạch sẽ hoàn toàn.

Thế nhưng, cảnh giới trung ấm mà tôi nhìn thấy chính là sau khi con người chết đi thì sẽ đi vào một giấc mộng khác, giấc mộng này đương nhiên không phải là "chân không", cũng tuyệt đối không phải là "không vô", cũng không phải là "hư không", đây chính là linh hồn.

Trung ấm chính là linh hồn.
Đạo gia gọi là nguyên thần.
Trung ấm còn gọi là trung hữu.

Tức là sau khi con người chết đi, lúc còn chưa luân hồi vào lục đạo, có một hóa sinh do vật chất vi tế hình thành để duy trì sinh lực của người đó, hóa sinh này chính là thân trung ấm. Theo cách nói thông thường của Mật giáo, thân trung ấm này trong vòng 49 ngày đầu tiên, mỗi bảy ngày lại là một lần sinh tử, trải qua bảy lượt sinh tử, chờ đợi sự an bài của nghiệp duyên, sau đó lục đạo luân hồi, lại một lần nữa đầu thai trôi dạt trong cảnh giới lục đạo.

Theo như tôi biết:
Người có tu hành, vào lúc còn sống và ngay sau khi chết - chưa luân hồi vào lục đạo, lúc ở trong trung ấm đã có thể biết ngay nơi vãng sinh trong tương lai của mình (trung ấm biết được nơi sẽ sinh ra).
Người không tu hành, sau khi chết đi sẽ trở thành một huyễn thể vô minh trôi dạt trong sinh tử. (thân trung ấm)
Một chốc lại chạy đi tìm người thân.
Một chốc lại loanh quanh nơi phần mộ.
Một chốc lại về nơi ở cũ của mình.
Một chốc lại vuốt ve những vật mà mình yêu thích.
Một chốc lại hồi tưởng về chuyện dĩ vãng.

Điều thường thấy nhất là thân trung ấm đi lại rất nhanh, thoắt đông thoắt tây, nghĩa là ý thức không chịu hạn chế gì cả, về mặt tình cảm thì rất phức tạp, về mặt ý chí thì tự do hành động nhưng lại có cảm giác lực bất tòng tâm. Cảm giác lực bất tòng tâm này là đối với vật chất nhân gian, những gì người chết nói, hay làm, người thế gian đều không cảm nhận được gì. Căn bản là không cảm giác thấy được, trừ những người thông linh.

Lấy tôi làm ví dụ:
Chứng bệnh nứt não chính là trải nghiệm về cái chết mà Quan Thế Âm Bồ Tát dành cho tôi. Tôi nói một cách rất tiêu cực rằng:
Tôi ở trong đau khổ mà thoát khỏi đau khổ. (Đau khổ sau khi chết đã được giải trừ rồi.)
Tứ đại phân tán cũng đã trải nghiệm rồi.
Bát hàn bát nhiệt cũng đã trải nghiệm rồi.
Sau khi não nứt tách, hoa sen tám cánh mở ra, vị ngồi ở trong hoa sen đó (thân trung ấm), đó là nguyên thần, chân ngã, chân Phật, chân như, bản tính, Phật tính, chân quang… mà tôi tu hành qua một thời gian dài.

Nói một cách nghiêm khắc, đây chính là niết bàn của người tu hành. Người có tu hành, người chân ngộ, hoàn toàn thoát khỏi đau khổ của lục đạo luân hồi và nhục thể. Niết bàn chính là sự thể nghiệm viên mãn. Về mặt giác tính thì vô phiền vô não, về mặt thần hành thì là tự tại, cũng là đại lực, có sẵn thập lực của Như Lai:

1. Lực trí huệ.
2. Lực túc mệnh toàn tri.
3. Lực thiền định tam muội.
4. Lực biết nghiệp báo của chúng sinh.
5. Lực biết căn tính chúng sinh.
6. Lực biết thập phương pháp giới của hư không.
7. Lực biết nhân quả.
8. Lực thiên nhãn vô tận.
9. Lực vô lậu niết bàn.
10. Lực hoàn toàn không còn mê hoặc.

Hơn nữa người tu hành đắc chứng vô thượng chính đẳng chính giác cũng có thể tùy theo ý nghiệp của thập phương chúng sinh mà thị hiện thân họ ở khắp mọi nơi.
Tôi cảm thấy điều đáng thương nhất là thân trung ấm vô minh cứ lưu lạc trong biển khổ sinh tử, họ mê muội trong cái huyễn, sinh không biết sinh, tử không biết tử. Họ kiêu ngạo, đố kỵ, lười nhác, căm phẫn, tham lam, mê sắc, ngu si… Những thứ vô minh này khiến rất nhiều người không biết tu hành, không gặp được nhân duyên tốt lành, vĩnh viễn trở thành người và súc sinh trong lục đạo luân hồi, hoặc là lữ khách trong bốn đạo khác.


### 11. Con đường giải thoát của thân trung ấm


Về con đường giải thoát của thân trung ấm, trong Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện Kinh, thật ra Phật Đà cũng đã giải thích rất tường tận rồi.

Ví dụ:
Phẩm thứ tám:
Các Diêm La Vương tán thán: "Phật bảo Diêm La thiên tử, chúng sinh Nam Diêm Phù Đề tính cách kiên cường, rất khó điều phục. Đại Bồ Tát trong trăm nghìn kiếp đã lần lượt cứu vớt những chúng sinh đó, từ lâu đã lệnh giải thoát những người bị tội báo cho đến những người bị đọa vào đường đại ác, Bồ Tát dùng lực phương tiện nhổ sạch nghiệp duyên gốc rễ, làm cho họ hiểu được các việc đời trước. Nhưng vì chúng sinh trong cõi Diêm Phù đã tạo ra thói quen xấu rất nặng, vừa ra khỏi lại trở vào, làm nhọc cho Bồ Tát phải trải qua nhiều kiếp số để mà độ họ giải thoát."

"Ví như có người quên mất nhà mình, đi lạc vào đường nguy hiểm, trong con đường hiểm đó có rất nhiều quỷ dạ xoa, cùng hổ, sói, sư tử, rắn độc, bọ cạp. Người mê muội đó ở trong đường hiểm chỉ chừng giây lát là sẽ gặp các thứ độc. Có một vị tri thức hiểu nhiều phép thuật, giỏi ngăn chặn độc, kể cả quỷ dạ xoa cùng các loài ác độc v.v…, bỗng gặp người mê muội kia đang muốn đi vào đường hiểm, bèn vội bảo rằng, ôi thôi anh kia, vì cớ gì mà đi vào con đường này? Anh có phép thuật lạ gì có thể ngăn trừ các thứ độc chăng? Người lạc đường chợt nghe lời ấy mới biết là đường nguy hiểm, lập tức lui bước, muốn ra khỏi con đường đó. Vị thiện tri thức kia nắm tay dìu dắt, dẫn ra khỏi đường hiểm."

Hôm nay, tôi trích dẫn đoạn kinh văn này, dụng ý chính là:
Người lạc đường là thân trung ấm.
Địa Tạng Bồ Tát là đại thiện tri thức.
Thiện tri thức khuyên người lạc đường đừng đi vào tam đồ.
Giúp loại bỏ tội khổ của chúng sinh, để chúng sinh sinh ra làm người trong cõi trời.
Vãng sinh Phật quốc.

Tiếp nữa: "Bởi vậy, người nam người nữ ở cõi Diêm Phù Đề vào lúc lâm chung, thần thức mê muội, không phân biệt được thiện ác, thậm chí mắt tai cũng khó thấy nghe được gì nữa. Những người thân cần phải sắp xếp cúng dường lớn, chuyển sang đọc kinh tôn quý này, niệm danh hiệu Phật Bồ Tát. Thiện duyên như vậy có thể khiến người chết thoát khỏi các ác đạo, các ma quỷ ác thần đều phải rút lui giải tán."

Điều quan trọng nhất là: "Thế Tôn, tất cả chúng sinh lúc lâm chung, nếu có thể nghe một danh hiệu Phật, một danh hiệu Bồ Tát, hoặc một câu một kệ trong kinh điển đại thừa, con xem xét thấy hạng người ấy, trừ năm tội sát hại vô gián, còn những người nghiệp ác nho nhỏ đáng phải đọa vào đường ác thì chẳng bao lâu đều sẽ tìm được giải thoát."

Kinh Địa Tạng dạy rằng:
Giúp người chết tu việc thiện.
Giúp người chết tu việc pháp.
Giúp người chết đọc kinh.
Niệm Phật trì chú.
Treo lên một ngọn cờ.
Treo lên một cái lọng.
Chút hương chút hoa cúng dường tượng Phật và tượng Bồ Tát.
Thắp hương cúng dường một câu kinh một bài kệ.
(Những điều này đều được ghi chép trong kinh, rất quan trọng.)

Vì sao cần chuyển sang đọc Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện Kinh, bởi vì kinh này có lợi cả âm dương. Bộ kinh điển này là do Phật Thích Ca Mâu Ni ở Đao Lợi Thiên Cung giảng về Địa Tạng Bồ Tát cho phu nhân Maya nghe. Địa tức là an ổn vững chắc nhẫn nại bất động như mặt đất, Tạng nghĩa là tĩnh lặng trầm tư suy nghĩ thâm mật sâu sắc. Vị đại Bồ Tát này không chỉ cứu cõi âm, mà còn cứu cả chúng sinh lục đạo. Sau khi Thích Ca Như Lai nhập diệt, trước khi Di Lặc Như Lai sinh ra, ngài đảm đương trách nhiệm to lớn cứu độ chúng sinh mà Phật Đà phó thác. Bởi vì ngài thường ở âm gian địa ngục cứu khổ cứu nạn nên mới có đại nguyện:
Địa ngục chưa sạch, thề không thành Phật.
Bởi thế chúng ta mới xưng hô ngài là: "Nam mô U Minh Giáo Chủ Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát."

Tôi sâu sắc cảm thấy rằng, nơi khổ nhất trong lục đạo chính là đạo địa ngục. Có đại địa ngục căn bản, có bát hàn, bát nhiệt, tổng cộng là mười sáu đại địa ngục. Ngoài ra còn có địa ngục cận biên, tức là mười sáu địa ngục du tăng của bốn cửa địa ngục bát nhiệt. Còn có địa ngục cô độc ở trong núi, nơi hoang dã, dưới cây, mép nước, chốn chốn biến đổi tới lui, là nghiệp chướng thế nhân chiêu cảm mà ra.

Những sự khổ cực và thời gian ở mỗi địa ngục cũng rất khác nhau. Đại địa ngục căn bản là khổ nhất, tiếp theo là địa ngục cận biên, rồi đến địa ngục cô độc.

Theo như thiên nhãn của tôi nhìn thấy:
Địa ngục không chỉ ở dưới đất, cũng không nhất định là ở dưới đáy biển, tại nhân gian cũng đã có địa ngục rồi. Tôi thường nói, các bệnh viện lớn chính là đại địa ngục, người bệnh đi vào đó đương nhiên đều là người đang phải chịu khổ, đây cũng là do nghiệp báo chiêu cảm.
Mọi người thường thấy ở những bệnh viện lớn có mổ não, cắt yết hầu, mổ tim, cắt gan, thay thận, cắt chân tay, cắt ruột, cắt dạ dày…
Ông trời ơi!
Đó chẳng phải là khổ hình địa ngục thì là cái gì?
Còn có:
Ung thư.
Tiểu đường.
Đột quỵ.
AIDS.
Tâm thần.
(Tám vạn bốn nghìn loại bệnh nhiều không thể đếm xuể.)

Những người mắc bệnh này không phải là khổ hình thì là cái gì?
Cái khổ ở nhân gian chúng ta, và sự giải thoát của thân trung ấm, về mặt cơ cấu thì thật ra rất giống nhau, nhân gian cũng khổ, không, vô thường, vô ngã như vậy. Hôm nay tôi dũng cảm nói rằng, nhân gian cũng nằm trong lục đạo luân hồi, nhục thể của nhân gian và thân trung ấm sau khi chết là vấn đề quan niệm của thế giới chủ thể và thế giới khách thể, con người cần tu hành giải thoát và sự giải thoát của thân trung ấm thật ra không có sự khác biệt lớn.
Sự khác biệt là:
Nhân gian có thực thể (nhục thể), nên rõ ràng hơn một chút.
Thân trung ấm không có nhục thể, nên hư huyễn hơn một chút.

Thế nhưng, khi chúng ta chết đi, những quang ảnh mà ta nhìn thấy sau khi chết, nhìn từ góc độ của thân trung ấm của người chết thì vẫn rất chân thực.
Ví dụ:
Một người nằm mơ. Trong mơ, người đó cho rằng tất cả đều là thật. Đến khi tỉnh dậy thì mới biết chỉ là giấc mơ mà thôi.

Vì sao Mật giáo dạy mọi người cần tu mộng, cần biết mộng, giấc mơ minh mẫn, giấc mơ rõ ràng, trong mơ biết tu. Bởi vì thân trung ấm chính là mơ.
Ở trong mơ bạn cũng có thể biết tu, niệm Phật trì chú, trong mơ cũng có thể tu pháp rất rõ ràng, quy y Kim cương Thượng sư, quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng. Đương nhiên vào lúc ở trong thân trung ấm cũng có thể giải thoát như vậy.

Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện Kinh cũng đã nói với chúng ta rất rõ ràng rằng, đối với người sắp chết hoặc người vừa mới chết, cần khuyên thỉnh họ rằng đừng đi vào đường hiểm, phải nhanh chóng xa rời đường hiểm. Nhờ thế sẽ thấy được quang minh, quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng. Bồ Tát phóng quang, khiến thân trung ấm có thể nhớ đến Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp, cảnh giới giải thoát thành thục, vào lúc bị nghiệp lực thế gian đưa đẩy đi, thân trung ấm có thể hòa nhập vào trong ánh sáng của Như Lai, và thế là trong sát-na có thể nhập vào tịnh thổ của Như Lai.


### 12. Tư lương tu hành


Tôi cho rằng muốn vãng sinh Phật quốc tịnh thổ, không chỉ là vào lúc giải thoát thân trung ấm mới hạ công phu, kì thực bản thân người chết thuở bình sinh tu hành đạo giải thoát và đạo bồ đề, chuẩn bị tư lương vãng sinh từ sớm là điều cực kì quan trọng. Bởi vì người chết sở dĩ có thể đạt được giải thoát vẫn là vì bản thân người đó lúc bình thường tư lương tu hành đã đủ, nên khi ánh sáng hiện tiền mới có thể nhận ra được, mới có thể dung nhập thành thục.

Nếu như một người bình thời ngay cả Phật pháp cũng chưa từng nghe, chưa từng nghĩ, chưa từng tu thì cho dù đại thiện tri thức có khuyên dạy thế nào, người này ở trong hôn mê đến khi nhìn thấy mọi hình ảnh vẫn ngay lập tức cho rằng đó cũng là thế giới thật sự.

Tâm thức của loại người này vẫn là tạp niệm huyễn tưởng không dừng không dứt. Tâm thức căn bản là không tìm thấy nơi nào để mà theo, cho dù người chết nghe được lời khuyên, anh ta cũng sẽ giống như lúc còn sống, cố chấp bảo thủ với ý kiến riêng, người chết căn bản không biết về một cảnh giới khác nào nữa. Thế là, họ theo nghiệp báo của chính mình mà đi lục đạo luân hồi, người chết vẫn đang mộng huyễn đó!

Vì vậy, tôi thật lòng thật sự nói để mọi người biết, lúc còn sống chuẩn bị tu hành tư lương vãng sinh là rất quan trọng, tuyệt đối cần chú ý, không thể lơ là.

Trong Mật giáo:
Cần tu Tứ gia hành. (Tứ quy y, đại lễ bái, đại cúng dường, Kim Cang Tâm.)
Giữ năm giới, làm mười điều thiện, giữ giới luật Mật giáo.
Tu pháp Thượng sư tương ứng. (Thượng sư là đại thiện tri thức.)
Tu pháp Bổn tôn. (Phật quốc tịnh thổ có thể nương dựa.)
Tu Hộ pháp. (Bảo vệ việc tu hành.)
Khí.
Mạch.
Minh điểm.
Chuyển thức thành trí. (Vô thượng mật)
Đại viên mãn.

Trong Hiển giáo:
Giữ năm giới, làm mười điều thiện.
Tu tứ Thánh đế khổ - tập - diệt - đạo.
Tu tứ Niệm xứ (quán thân bất tịnh, quán thọ là khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã).
Tu thập tín, thập trụ, thập hành, thập hồi hướng.
Tu bát chính đạo.
Tu mười ba la mật. (thập địa)
Đẳng giác diệu giác.

Bất kể là Hiển giáo hay Mật giáo, tôi cho rằng nên Hiển - Mật viên thông. Chính tôi đã đi từ con đường Đạo - Hiển - Mật, tôi không bỏ Đạo, tôi không bỏ Hiển, tôi không bỏ Mật. Tôi chuyên tu tịnh thổ, chuyên tu Chân Phật Mật Pháp, không có một chút xung đột nào.

Chúng ta biết rằng chính trí mà Phật Đà giác ngộ gọi là Bồ Đề. Bồ đề tâm cũng có nghĩa là tâm cầu tìm chính giác.

Lúc Phật tại thế, Phật dạy chúng ta ba loại bồ đề:

1. Thanh Văn bồ đề — Tu pháp tứ Thánh đế, tu tứ Niệm xứ, hành giả sẽ đạt được chính giác.
2. Duyên Giác bồ đề — Tu 12 nhân duyên, tự quán hoa nở hoa tàn mà đắc chính giác.
3. Phật bồ đề — Tu pháp vô thượng, pháp vô đẳng đẳng, đắc vô thượng bồ đề, quả vị Diệu Giác Phật, là bồ đề cao nhất.

(Khi Phật tại thế, các đệ tử đạt chứng quả rất nhiều.)

Phật giáo hiện nay lại phân thành năm thừa pháp:

1. Phật giáo Nhân thừa — tu pháp ngũ giới, sinh vào nhân gian.
2. Phật giáo Thiên thừa — tu pháp thập thiện, thăng lên cõi trời.
3. Phật giáo Thanh Văn thừa — tu pháp Tứ Thánh, đắc chứng quả A La Hán.
4. Phật giáo Duyên Giác thừa — tu pháp 12 nhân duyên, đắc chứng quả Bích Chi Phật.
5. Phật giáo Bồ Tát thừa — tu pháp lục độ, đắc chứng Đẳng Giác, Diệu Giác, chứng Phật quả vô thượng.

Cá nhân tôi thấy các pháp sư hiện đại đề xướng Nhân Thừa hoặc Thiên Thừa, dạy ngũ giới thập thiện không chê vào đâu được. Nhưng không nên chỉ dạy về Nhân - Thiên thừa ở thế giới Ta Bà, mà cũng nên đi theo bước chân của Phật Đà mới phải.

Bởi vì:
Nhân gian rốt cục là khổ, không, vô thường, vô ngã. Khổ nhiều vui ít.
Thiên thượng rốt cục là phúc báo hưởng tận thì cũng vẫn đọa lạc.
Tôi chủ trương năm thừa cùng dung nhập, Nhân, Thiên, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát đều có thể theo đại nguyện lực của A Di Đà Phật, nhất tề chứng nhập báo thổ chân thực của A Di Đà Phật.

Vì thế, Bổn tôn của tôi là:
Diêu Trì Kim Mẫu.
Địa Tạng Bồ Tát.
A Di Đà Phật.
Đó là nhân duyên của tôi, không phải vô cớ mà như vậy.

Ba loại bồ đề là chính pháp, Phật giáo ngũ thừa cũng là chính pháp, chỉ là Nhân - Thiên thừa thì vẫn nằm trong lục đạo luân hồi.

Tu pháp Mật giáo và tu pháp Hiển giáo trên thực tế có chỗ tương thông, tên gọi thì khác nhau, pháp môn tu hành khác nhau, nhưng sự tương thông là sự thật.
Chuyên nhất du già.
Ly hý du già.
Nhất vị du già.
Vô tu du già.
Tôi nói thế này, chỉ cần tương ứng Bổn tôn là có thể vãng sinh Phật quốc tịnh thổ, niệm Phật trì chú không phân tâm. Ly hý chính là pháp xuất thế gian. Đến được nhất vị rồi thì tất cả đều thông đạt, vô tu du già cũng tương đương với pháp vô vi.

Duy Thức tông đã lập nên ngũ vị:
Tư lương vị.
Gia hành vị.
Thông đạt vị.
Tu tập vị.
Cứu cánh vị.
(Trong Phật giáo cũng có ngũ vị tương tự, cuối cùng chuyển thức thành ý, kết quả là thành Phật.)

Vì sao tôi cần viết những điều này, bởi vì lúc tốt nhất để tu hành chính là ở tại nhân gian, nghĩa là lúc còn đang sống. Nghĩa là cần chuẩn bị nhận thức vãng sinh Phật quốc, thành tựu giáo pháp thành Phật quả của Phật Đà rồi, cần phải chuẩn bị tư lương này từ sớm để đợi đến sau này.

Quyết không thể chờ đợi đến lúc lâm chung hoặc lúc là thân trung ấm, lúc lâm chung cứu độ, hoặc là cứu độ thân trung ấm, ít nhất là lúc người chết còn sống đã từng nghe qua những lời dạy dỗ này. Như thế cứu độ mới tự nhiên nhất, cũng là tốt nhất. Càng tốt hơn nữa là người chết đã từng tu pháp, có tương ứng, chỉ cần nghe nhắc nhở là lập tức sáng suốt mà giải thoát.
Bởi vì:
Không có quan niệm chuyển thế.
Không có quan niệm vãng sinh.
Không có quan niệm trung ấm.
Thì làm sao chỉ dạy được?
Thậm chí người chết cũng sẽ không vứt bỏ bất kì tập tính nào, ví dụ người chết thích chơi mạt chược, họ sẽ tụ tập một số con ma mê cờ bạc để tiếp tục chơi mạt chược trong cảnh giới trung ấm mộng huyễn.


### 13. Tức thân thành Phật của Mật giáo


Tôi hiểu rất rõ rằng khi chứng bệnh nứt hộp sọ thật sự xảy đến thì tôi sẽ chết. Nhục thân già yếu lúc này, trên thực tế, chỉ là một thể xác hư huyễn.
Vì sao lại bảo cái thể xác này là hư huyễn?
Bởi vì nó đã hoàn toàn khác so với tôi thời trẻ con, đã khác xa so với tôi tuổi nhi đồng, khác rất xa tôi của thời thiếu niên, khác rất xa tôi của thời thanh niên, cũng khác xa lúc tôi tuổi trung niên.

Một người khi mắc bệnh thì cũng rất nhanh chóng bước vào tuổi già. Đời người chính là như vậy. Thời gian là một nhà phù thủy có mặt ở khắp mọi nơi, một thân thể vốn dĩ cường tráng cũng có thể bị tuổi già và bệnh tật làm thành không còn ra hình người nữa.
Hoa sen tám cánh nở ra. (chứng nứt hộp sọ)
Phật ở bên trong.
Phật chính là "tử quang".

Trong hư không có một vùng cực quang sáng rực rỡ, một vùng ánh sáng tròn tròn, đây chính là "mẫu quang" của Tỳ Lô Tính Hải.
Hay còn gọi là "pháp tính".
"Chân ngã" thật sự không hư giả và vẫn luôn bất biến, bản thể thanh tịnh và không nhiễm tạp, bản lai diện mục bất biến bất dị, bất sinh bất diệt, bất tăng bất giảm, bất cấu bất tịnh, Như Lai tạng, thực tướng, thực tính chu toàn.
Tử quang tức là chân ngã, hóa thành cầu vồng.
Mẫu quang cũng là chân ngã, là biển ánh sáng rộng lớn của Tỳ Lô Giá Na.
Cùng hợp lại với nhau.
Đây chính là pháp tức thân thành Phật của Mật giáo.

Trong tu hành Mật giáo, chúng ta vốn có sẵn Phật pháp tam mật, nhưng vì bị nhiễm nghi hoặc mà không thể chứng đắc, vì vậy mà dựa vào tâm đại bi của Phật khiến chúng sinh đứng vào hàng tam mật bình đẳng với Phật, thân kết ấn khế là thân mật, miệng tụng chân ngôn là ngữ mật, ý quán chủng tử của ngài, hoặc quán tam muội da hình của ngài, hoặc quán Bổn tôn của ngài chính là ý mật. Hàng tam mật này vì được tam mật của Như Lai gia trì mà tam nghiệp của chúng sinh và tam mật của Như Lai có thể nhập ngã ngã nhập, không hai không khác, gọi là tam mật tương ứng.
Tam mật tương ứng rồi thì thành tựu tất cả các siddhi.

Vì sao tôi có thể tu xuất "chân ngã"? Bởi vì:
Chân như tức ngã thân.
Phật pháp tức ngộ thể.
Là mật mật mật mật.
Trùng trùng và thâm diệu.

Pháp môn bí mật của Mật giáo là chân ngôn đà-la-ni, tất cả những điều dạy bí mật của Như Lai, tự giác chứng trí tu chứng pháp môn, tất cả mọi pháp Mật giáo này, pháp giới cũng hiếm nghe được, nay có được cơ hội nghe thấy, cần thấy vui mừng, chớ nói những lời xúc phạm.
(Pháp nội chứng pháp thân Như Lai này, chân ngôn thần biến gia trì, dù là bậc Đẳng Giác Bồ Tát không thể đoán biết, duy giữa Phật và Phật với nhau mới hiểu thôi.)
Ngoài tức thân thành Phật của Mật giáo ra thì còn có báo thân thành Phật nữa.

Tôi nói Hiển giáo tu Tịnh Độ tông, có một môn niệm Phật, sáng sớm mỗi ngày, súc miệng rửa mặt, mặc quần áo sạch sẽ (hoặc y phục màu xanh biển), quay về phía tây hoặc đàn thành. Chắp tay lại, không ngớt lời xưng niệm A Di Đà Phật, hết một hơi là một niệm, cứ thế mười hơi là mười niệm.
Niệm và khí hợp nhất này không giới hạn số lần xưng danh Phật.
Chỉ cần dài lâu
Khí đạt cực độ
An tường tịnh tâm
Điều giải là được.
Mục đích chính nằm ở việc khiến tâm không tản mát, tinh tấn niệm Phật không phân tâm, và như vậy đây cũng là một trong những pháp môn niệm Phật để trói tâm buộc khí vào tịnh thổ.

Phát nguyện hồi hướng, xin cung kính ghi ra như sau:
*”Đệ tử con là Liên Sinh, nhất tâm quy mệnh Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật, mong nhờ tịnh quang chiếu đến con, lời thề chở che, nay con chính niệm, xưng danh Như Lai, kinh qua mười niệm, làm bồ đề đạo, cầu sinh tịnh thổ. Phật xưa đã thề, nếu có chúng sinh, muốn về cõi ta, hết lòng tin vui, suốt cả mười niệm, nếu người đã chết, chưa đạt chính giác, riêng trừ ngũ nghịch, phỉ báng chính pháp, nay con ghi nhớ, đời này về sau, không tạo nghịch tội, không chê Đại thừa, mong mười niệm này giúp nhập vào trong biển đại thệ của Như Lai, nhờ sức mạnh từ bi của Phật mà mọi tội tiêu diệt, nhân tịnh tăng trưởng, vào lúc mệnh chung, tự biết thời điểm đã đến, thân không đau khổ, tâm không tham luyến, cũng không tản mát, kịp nhập thiền định, Phật và Thánh chúng, tay cầm chuông vàng, đến đón nhận con, kịp trong một niệm, sinh về Cực Lạc, hoa nở thấy Phật, tức nghe Phật thừa, đốn khai Phật huệ, quảng độ chúng sinh, mãn nguyện bồ đề.”*

Nếu như đệ tử cảm thấy phát nguyện hồi hướng như vậy dài quá thì có thể theo như tôi từng nói:
*”Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn nặng
Dưới cứu khổ tam đồ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả.”*

Kinh Lăng Nghiêm nói: "Ví như có người, một người chuyên nhớ, một người chuyên quên, hai người như thế, nếu có gặp cũng như không gặp, hoặc thấy mà như không thấy." (Như thế thì không tốt.)
Và: "Hai người cùng nhớ nhau, hai ký ức đều sâu nặng, như thế từ đời này tới đời kia, cùng một hình ảnh, chẳng hề khác nhau." (Như thế này là tốt.)
Và: "Thập phương Như Lai thương xót nhớ về chúng sinh, như mẹ nhớ con, nếu con chạy mất, dù nhớ thế nào, nếu con nhớ mẹ, như mẹ luôn nhớ, mẹ con không bao giờ xa nhau, nếu tâm chúng sinh nhớ Phật niệm Phật, rồi sẽ đến lúc, chắc chắn thấy Phật."

Người có thượng căn khí: tâm ở nơi Phật, nhậm vận thường che tất cả ác niệm.
Người có trung căn khí: nghĩ muốn làm việc xấu, nhưng vì nhớ đến Phật, nên điều ác không thành.
Người có hạ căn khí: mặc dù đi theo ác làm nghiệp ác, tâm thường yếu đuối, nhưng thân như có mùi thơm, tự nhiên sẽ xa rời chốn hôi thối.
Những người này niệm Phật tu tịnh độ. Lúc lâm chung, A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát và chư Thánh chúng chắc chắn sẽ đến đón họ vãng sinh về Phật quốc tịnh thổ.

Từng có người hỏi tôi, nếu ma hóa thành Phật đến để đón nhận thì làm thế nào?
Tôi trả lời như thế này:
"Niệm chân ngôn “Om guru liansheng siddhi hum” 3 lần."
Nếu là Phật thật thì ánh sáng của ngài sẽ sáng chói.
Nếu là ma hóa thành Phật thì chắc chắc sẽ tiêu biến.
Ở đây, A Di Đà Phật đích thân đến đón, lúc này sự giải thoát có được là vì đã chứng nhập vào báo thân Phật thổ.
Theo như kinh điển đã nói thì trong giai đoạn sau của thân trung ấm, cũng có sắc thân chư Thiên đến, cũng có sắc thân Hộ pháp đến, thân trung ấm giai đoạn sau đắc được giải thoát tức là ứng thân rồi.
Vì thế, giải thoát được phân thành:
Pháp thân.
Báo thân.
Ứng thân.
Chính là ba đạo giải thoát.


### 14. Âm nhãn của người sắp chết


Đây không chỉ là phát hiện của cá nhân tôi, mà là việc rất nhiều người đều biết, không chỉ là người phương đông mà người phương tây cũng thế. Khi một người sắp chết, họ sẽ nhìn thấy người âm hoặc những thứ khác, thế nhưng người thuộc giới y học lại cho rằng đó là huyễn giác.

Cũng có học giả Phật giáo nói thế này, Phật pháp có "Ban chu tam muội". Ban chu tam muội chính là Phật vị tam muội, cũng tức là người tu tam muội này đắc được thành tựu thì có thể nhìn thấy thập phương chư Phật đứng trước mặt người đó. Đứng thẳng như Phật, nghĩa là vào lúc tu, không ngồi không nằm, từ sớm đến tối, rồi lại từ tối đến khi trời sáng, không phải đi, mà là đứng, một kì kéo dài 90 ngày, chuyên niệm danh hiệu A Di Đà Phật, đó là pháp Ban chu tam muội.

Nhưng người học Phật và giới học thuật hiện đại cho rằng 90 ngày mà chỉ đứng, không ngồi không nằm, từ sáng đến tối niệm Phật không ngừng, lúc mệt chỉ bám vào một sợi dây thừng thả từ trên xuống, đây nhất định là huyễn giác.

Người của giới học thuật cho rằng, giống như người trượt tuyết chạy marathon, trượt tuyết liên tục 24 giờ không nghỉ, trong quá trình trượt tuyết họ đã nhìn thấy những người hoặc vật kỳ quái, đứng ở hai bên. Họ nhận định rằng đó là huyễn giác.

Đối với những gì mà âm nhãn của người hấp hối nhìn thấy, tại đây tôi không muốn nghiên cứu, cũng không khẳng định, cũng không phủ định, nhưng tôi lấy ví dụ thực tế để mọi người tham khảo nghiên cứu.

Có một người hấp hối nhìn thấy người bạn rất thân đã chết của mình lúc còn sống đứng ở đầu giường. Anh ta kể: "Cậu ấy mặc âu phục, áo sơ mi bên trong màu đỏ, túi áo sơ mi có cài một cây bút máy."
Người hấp hối còn không tham gia tang lễ của người đã chết. Áo sơ mi đỏ đó đã được thay vào lúc lâm chung. Chiếc bút máy là món quà của em gái người chết, cũng chỉ phối đồ tạm thời. Ai nghe thấy đều kinh ngạc.

Tôi lại lấy một sự việc có thật:
Có một người già ngớ ngẩn hấp hối, lúc còn sống ông ấy căn bản là không biết rằng con trai và con dâu đã chết vì tai nạn xe cộ. Cũng chưa bao giờ có ai nói cho ông biết, bởi vì nói cho ông biết cũng chẳng ích gì, ông ta vốn ngớ ngẩn, không nhận ra ai hết.
Ông già ngớ ngẩn lúc sắp chết lại nói một cách rõ ràng rành rọt:
"Con trai và con dâu đều đến đón tôi." - Ông già ngớ ngẩn nói: "Bọn chúng chết lâu rồi, vì sao không có ai nói cho tôi biết."
Ai nghe thấy đều kinh ngạc.

Lại có một sự việc có thật nữa:
Có một người sắp chết, trông thấy tất cả những người thân đã khuất đều hiện thân xung quanh ông ta. Ông ta lần lượt gọi tên từng người, không bỏ sót một ai. Duy nhất có một người ông ta không gọi tên. Mọi người hiếu kỳ hỏi người sắp chết:
"Vì sao người đó không đến đón ông?"
Người sắp chết cười ha ha nói:
"Làm sao nó dám đến tìm tôi chứ, lúc còn sống nó rất sợ tôi, nó không dám hiện thân, nhưng cũng không phải là không đến, trốn ở sau cánh cửa kia kìa."
Người sắp chết đưa tay chỉ. Mọi người sửng sốt.

Còn có cả bà nội tôi lúc qua đời, khi lâm chung nhìn thấy người thân đến đón, bà không đi, dùng búa đánh bọn họ, cho đến khi chính mình mệt rồi mới cất búa đi, thế rồi bà cũng đi luôn. (Sự thật này trong sách thời kì đầu của tôi, tôi đã từng kể rồi.)

Người sắp chết nhìn thấy người đã chết đến đón, thậm chí nhìn thấy người đã chết mở tiệc cho mình. Chuyện người sắp chết nhìn thấy người đã chết là chuyện thường nghe nói đến nhiều nhất, chẳng lẽ họ đều có huyễn giác sao? Hay là không phải huyễn giác?

Đương nhiên nhìn thấy người đã chết đến đón không phải là một cảnh giới rất tốt, tôi cho rằng đây là âm giới trong lục đạo luân hồi, là cảnh giới tối tăm, không thể có được đạo giải thoát.

Hiện tượng người sắp chết sinh ra âm nhãn, bất luận có phải là huyễn giác hay không thì thật sự tính chân thực là rất cao. Người sắp chết nằm trong thế giới có tính nhị nguyên, sắp chết nhưng vẫn chưa chết, tất cả những gì họ nhìn thấy thật đến như vậy, lúc này đến dạy cho người sắp chết về đạo giải thoát có lẽ là thời cơ tốt nhất.


### 15. Mật giáo minh quang


Căn cứ theo thiên nhãn của tôi quan sát:
Rất nhiều người chết nằm trong cõi Sắc giới, lúc này những gì mà họ thấy hoàn toàn khác với cõi Dục giới, cấp độ tương đối cao.
Tôi phát hiện ra trong những tài liệu ghi chép về người chết có liên quan đến người phương tây, sau khi họ chết đi, họ sẽ đi về một cảnh giới quang minh nào đó, hoặc sẽ nhìn thấy trên trời có ánh sáng. Người chết là người phương tây nhìn thấy rất nhiều ánh sáng, và còn nhìn thấy trong ánh sáng có thiên sứ, thiên sứ nói với người chết rằng thời gian còn chưa tới, có thể quay trở về trước và chờ đợi. Thế là người chết sống lại. Do vậy mới có những tài liệu về trải nghiệm cái chết được viết ra.

Trong những giáo thị của Mật giáo, có rất nhiều gợi ý rất quan trọng liên quan đến ánh sáng, nghĩa là nhờ vào sắc mà được ngộ, nhờ sắc mà được giải thoát. Nhìn thấy ánh sáng có hai kiểu: thứ nhất là con đường niết bàn được giải thoát, thứ hai là con đường lục đạo luân hồi không được giải thoát.

Con đường giải thoát thì chắc chắn là ánh sáng màu sắc lấp lánh rực rỡ.
Con đường lục đạo luân hồi thì chắc chắn là ánh sáng màu sắc tối tăm mù mịt.

Mật giáo thuyết giảng rằng, ánh sáng của lục đạo luân hồi và ánh sáng của đạo giải thoát có màu sắc giống nhau. Nhưng ở đạo giải thoát thì sáng rực rỡ lấp lánh. Còn đạo luân hồi thì u ám mờ mịt. Vì thế, sự phân biệt ở đây nằm ở phương diện quang sắc. Minh quang mà chư Phật Bồ Tát thị hiện là ánh sáng rực rỡ, là giải thoát. Còn lục đạo luân hồi là ánh sáng mờ mịt, Mật giáo cho rằng kiểu ánh sáng này có độc tính và tội ác.

Người chết nhìn thấy minh quang, thật ra là nhìn thấy tâm tính (tâm quang) của chính mình, bởi vì chính tâm quang (tâm tướng) của người chết đã hiển hiện minh quang của Phật Bồ Tát hoặc một dạng ánh sáng nào đó trong lục đạo luân hồi.
Lúc này cần làm gì?
Lúc này, sự chỉ dẫn của thiện tri thức là vô cùng quan trọng, thiện tri thức cần dạy cho người chết biết phân biệt minh quang.
Minh quang của Phật.
Minh quang của Bồ Tát.
Minh quang của cõi Người.
Minh quang của cõi Ngạ quỷ.
Minh quang của cõi Địa ngục.
Minh quang của tam đồ đều có độc tính tương đương, hoặc sản sinh ra màu sắc đặc trưng cho tội ác tham, sân, si mà bản thân thường phạm phải. Trong lục đạo luân hồi, ở đây tôi chỉ viết ra năm đạo, bởi vì suy cho cùng, minh quang của cõi trời vẫn là ánh sáng của lòng yêu thương phát ra từ trong tâm của người chết, ánh sáng này không được liệt vào giống như ánh sáng mờ mịt u ám của năm cõi kia.

Tôi nhớ tôi từng viết về sáu loại chứng nghiệm của sáu tướng trạng ngay lúc chết theo Du Già Luận. Ở đây nghĩa là khi con người chết đi, căn cứ vào tướng trạng khi chết mà có thể đoán biết được tương lai người này sẽ đầu thai về đâu.

1. A La Hán và chư Thánh chúng, muốn nhập niết bàn, tim và lỗ đỉnh đầu mấy ngày vẫn ấm.
2. Nếu là người làm mười điều thiện, đỉnh đầu luôn ấm, sau đó khí cạn hết thì lập tức sinh lên cõi trời, Dục thiên, Sắc thiên, Vô sắc giới thiên.
3. Nếu là người giữ năm giới, người này vào lúc sắp chết thì trước tiên là lạnh từ chân cho đến rốn, từ rốn trở lên thì vẫn còn ấm, sau đó khí cạn hết thì sẽ sinh vào cõi Người.
4. Nếu như lạnh từ đỉnh đầu trước, rốn cũng lạnh, dưới hông vẫn còn ấm, thì sau khi khí cạn hết, người này sẽ sinh vào cõi Ngạ quỷ.
5. Nếu như đỉnh đầu lạnh, nhưng lạnh đến đầu gối thì dừng, phía dưới đầu gối vẫn ấm, thì sau khi khí cạn hết, sẽ sinh vào cõi Súc sinh.
6. Nếu như đỉnh đầu lạnh, rốn cũng lạnh, hông cũng lạnh, đầu gối cũng lạnh, chỉ có bàn chân còn ấm, thì sẽ sinh vào cõi Địa ngục.

Tôi hiểu rõ rằng một người học Mật giáo, vì sao cần luôn luôn nhớ về tầm quan trọng của "tam căn bản", vào thời khắc này chính là cần phải nương dựa.

Bình thường bạn chẳng tin cái gì cả, chỉ tin vào tiền, tiền có thể cứu bạn sao?
Có tín ngưỡng, lại luôn luôn nhớ đến "tam căn bản", Thượng sư có thể hiện thân, Bổn tôn có thể hiện thân, Hộ pháp có thể hiện thân, đều là ánh sáng chói lòa của vãng sinh.

Vì thế:
Namo guru bei. (Quy y Căn bản Thượng sư.)
Namo buddha ye. (Quy y Phật.)
Namo dharma ye. (Quy y Pháp.)
Namo sangha ye. (Quy y tất cả Thánh hiền tăng.)
Namo Bổn tôn. (Tất cả Bổn tôn hữu duyên.)
Namo Hộ pháp. (Tất cả các vị Hộ pháp hữu tình.)
(Sáu quy y này là quy y của Mật giáo.)

Cảnh giới quy y của Mật giáo là tam quy y của Hiển giáo cộng thêm Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp mà thành. Căn bản Thượng sư Liên Hoa Đồng Tử của Chân Phật Tông cũng là một trong số các Bổn tôn, Chân Phật Tông có tám đại Bổn tôn.

Ở đây tôi đặc biệt nhấn mạnh, một thầy một pháp là cực kì quan trọng, cũng có nghĩa là một thầy, một pháp, một Bổn tôn, bởi vì trong pháp đã có Thượng sư, Bổn tôn và Hộ pháp rồi.
Người có tin có tu, bên trong cảnh giới ý thức, tất cả đều do sức mạnh tu hành quyết định mọi điểm đến.
Trên thực tế, ngoại trừ một bộ phận có liên lụy nghiệp lực ra, người chết là tự do, vãng sinh đến nơi nào mặc dù là do nghiệp lực, nhưng lực tu hành và giáo thị của đại thiện tri thức đều cực kì quan trọng.
Trong Địa Tạng Bản Nguyện Kinh, Địa Tạng Bồ Tát chính là đại thiện tri thức, người chết lúc này nếu như có lực tu hành, lại cộng thêm giáo thị của đại thiện tri thức, thì không còn gì phải nghi ngờ, người chết sẽ có xu hướng đi theo Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp. Sáu quy y đã dễ dàng khởi lên xu hướng của người chết. Tu hành để có được sức mạnh là tốt nhất.

Còn giáo thị của đại thiện tri thức thì giống như:
Lễ tang tưởng nhớ người chết được thấy trong Thiên Chúa giáo.
Lễ cầu nguyện của Hồi giáo, Cơ Đốc giáo.
Lễ Phổ lợi đa hi đà la của Ấn Độ giáo.
Khóa tụng pháp sự của Phật môn Hiển giáo. (siêu độ)
Trung ấm nghe dạy mà được độ của Mật giáo.

Tôi cho rằng, người hoàn toàn không có tín ngưỡng là nhóm người gay go nhất, là những người hoàn toàn không có nơi nương dựa, họ đã xem nhẹ sức mạnh cảm ứng. Những người chết ấy không chỉ chịu ảnh hưởng từ nghiệp lực của chính mình mà đồng thời còn chịu ảnh hưởng bởi nghiệp lực của thân quyến (người đã chết) của anh ta. Những người chết thuộc nhóm này muốn vãng sinh Phật quốc tịnh thổ là rất khó. Cho dù có đại thiện tri thức dạy bảo họ thì họ cũng cố chấp vào ý kiến riêng, căn bản là không hề tin. Về cơ bản họ sẽ theo nghiệp lực của mình mà chuyển thế. Họ còn cho rằng đại thiện tri thức lắm mồm quá, một mực đi vào hiểm đạo. Người không có tín ngưỡng để nương dựa sẽ là như thế.


### 16. Pháp chuyển thần thức của Mật giáo


Có một kiểu người không cần phải trải qua "trung ấm nghe dạy mà được độ", ví dụ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, tổ sư Milarepa,…
Người có thượng căn khí, như Tilopa, Naropa, Marpa, thì mười phần chắc chín, đương nhiên có thể tự mình giải thoát, tự mình độ mình.
Đại sư Lục Tổ Huệ Năng của Thiền tông cũng nói:
Còn mê thì thầy độ.
Đã ngộ thì tự độ.

Người có thượng căn khí của Mật giáo đã biết đại pháp thượng thừa dịch chuyển thần thức, hoàn toàn không cần đến người còn sống chỉ dạy cho thân trung ấm, trừ phi đó là một kẻ thượng căn khí giả mạo (Thượng sư giả mạo). Nếu như là Thượng sư giả thì vẫn cần phải có người ở trước di hài của anh ta để khai thị cho thân trung ấm nghe dạy mà được độ.
Nếu như không ở trước di hài thì có được không?
Đáp án là:
Cần phải có đại thiện tri thức.
Trước tiên gọi linh hồn người chết.
Linh hồn người chết đến lắng nghe.
Đại thiện tri thức giáo thị theo pháp.
Đại thiện tri thức ở đây tốt nhất là Căn bản Thượng sư của người chết, hoặc đồng môn của người chết, hoặc bạn bè của người chết, hoặc bạn bè thân thích hiểu việc giáo thị, theo pháp mà tiến hành giáo thị.

Vì sao người thượng căn khí không cần giáo thị?
Bởi vì người thượng căn khí từ lâu đã hiểu rằng thức A lại da trong tám thức của Duy Thức Luận là thức căn bản, bảy thức còn lại đều là chuyển thức. (Tám thức là Như Lai Tạng thức.)

Người thượng căn khí chuyển tám thức hữu lậu thành tứ trí vô lậu.
Cái gọi là "Thiên thức pháp" nghĩa là chuyển tám thức hữu lậu của phàm phu thành tứ trí của Phật, nghĩa là chuyển:
Thức thứ tám thành đại viên kính trí.
Thức thứ bảy thành bình đẳng tính trí.
Thức thứ sáu thành diệu quan sát trí.
Thức thứ năm thành sở tác trí.

Mật giáo còn có thức thứ chín, gọi là Am ma la thức, thức này là vô cấu thức hoặc thanh tịnh thức, tức chân như, chân tâm. Thức thứ chín là pháp giới thể tính trí. Có thể chuyển thức thành trí, đương nhiên phải là người thượng căn khí, có thể tự độ, không cần người khác đến độ, không cần phải trải qua trung ấm nghe dạy để được độ.

Bây giờ, người bế quan ẩn cư tại hồ Diệp Tử là tôi đây vì sao lại cứu độ đệ tử của mình?
Tôi thật lòng thật sự nói để mọi người biết, mọi người hãy nghe thật cẩn thận:
Mặc dù cá nhân tôi bế quan ẩn cư tại hồ Diệp Tử, người ngoài không biết hồ Diệp Tử ở chỗ nào. Người ngoài cũng không biết tôi là ai. Người ngoài cũng không hiểu tôi là đại tu hành giả gì. Người ngoài cũng không biết lai lịch quá khứ của tôi. Tôi kín đáo ẩn tu đã lâu, không nghe chuyện thế sự, danh lợi đều thờ ơ, không giao du với bên ngoài, gần như là đoạn tuyệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài, ngoại trừ việc mua rau và đồ dùng sinh hoạt ra.

Tuy nhiên, tôi thật sự lại là người giàu tình cảm, tuyệt đối không phải là người vô tình vô nghĩa. Tôi nhớ các đệ tử ngày xưa, tôi nghĩ đến các đệ tử ngày xưa, lo lắng cho các đệ tử ngày xưa, cho dù tôi rời khỏi thế giới Ta Bà đi vãng sinh, tôi vẫn tiếp tục nhớ đến các đệ tử, trong miệng không nói ra nhưng trong lòng thì tràn đầy tình cảm. Mặc dù tôi bế quan nhưng nước mắt vẫn không ngừng tuôn rơi, dường như cũng đã chảy cạn rồi, thật sự quá nhiều nỗi nhớ và lo lắng.

Tôi thẳng thắn nói với mọi người rằng:
Đệ tử Chân Phật Tông chết đi, rất nhiều người chết đã đến hồ Diệp Tử. May mắn có được sự giúp đỡ của Không Hành Mẫu. Không Hành Dũng Phụ, Không Hành Dũng Mẫu trong hư không mang thần thức của người chết đến hồ Diệp Tử nơi tôi bế quan.
Có Thượng sư, có pháp sư, trợ giảng, đệ tử…
Thậm chí, bạn học cũ ngày xưa của tôi biết tôi có tu hành, sau khi chết họ cũng đến tìm tôi. Ma có năm thần thông, họ cũng tìm đến nơi tôi bế quan ẩn cư.

Tôi nói: “Chỉ cần người thân của bạn gửi thư đến Chân Phật Mật Uyển, Không Hành Mẫu biết được, vong linh nhất định sẽ tìm đến Căn bản Thượng sư." Tôi sẽ theo pháp mà cứu độ, tiếp dẫn vong linh vãng sinh Ma Ha Song Liên Trì. Chỉ cần vong linh tìm được tôi thì nhất định sẽ được độ.

Không chỉ là các đệ tử được độ, ngay cả những vong linh không có liên quan gì cũng được độ. Từng có một vong linh Thượng sư không ngờ lại đem theo vong linh của bảy người thân thích đến tìm tôi, tôi vừa thấy họ thì giật mình, không phải là một người đến mà lại là nhiều người đến vậy, nhưng tôi cũng không phân biệt này nọ, đều y pháp mà cứu độ hết.

Tôi bế quan ở hồ Diệp Tử, rồi đến phiêu bạt khắp nơi ở Hàn Quốc. Không ngờ có một người bạn học thời cấp ba trường Trung học Công nghiệp Cao Hùng, khi ông ta vừa dứt hơi thở liền nhớ đến tôi, gọi lên tên tôi.
Tôi hỏi:
"Ông là ai?"
"Tôi là Cô Nhất đây!"
"Sao ông lại tìm được tôi?"
"Ma có năm thần thông."
"Tìm tôi làm gì?"
"Ông là bạn học của tôi, ngày xưa là bạn tốt, biết ông tu hành thành tựu, Cô Nhất tôi không tìm ông thì tìm ai?"

Trong lòng tôi thầm nghĩ, ông ta nói cũng phải, thế rồi tôi cũng tu pháp cứu độ cho người bạn học nhiều năm không gặp này.
Tôi nhất tâm quán tưởng đem cúng phẩm hóa thành vô thượng diệu cúng để cúng dường Tam Bảo. Tôi tụng Thánh hiệu Phật Bồ Tát bảo bọc cho vong linh.
Tôi dạy cho ông ta né tránh ánh sáng của lục đạo.
Tôi phái Hộ pháp bảo vệ vong linh người bạn học chống lại cảnh tượng khủng bố để ông ta không kinh sợ.
Tôi dạy ông ta mau chóng tụng Phật hiệu.

Tôi nói:
"Cô Nhất à! Bây giờ, thời điểm vãng sinh của ông đến rồi, ông phải nhất tâm niệm Thánh danh Phật, tôi giúp ông nhìn thấy minh quang của Phật xuất hiện. Khi Phật xuất hiện, ông phải vứt bỏ hết mọi ân ân oán oán của thế gian, cho đến khi không còn suy nghĩ gì nữa. Lúc này, tất cả vạn vật đã trở thành trạng thái trời trong không mây. Phật đã xuất hiện rồi, phóng tỏa ánh sáng rồi, ánh sáng rực rỡ này là ánh sáng trí huệ không che lấp không tì vết, là chân không trong suốt, Cô Nhất à! Ông hãy mau nhập vào nó, an trụ trong ánh sáng này, đừng lưỡng lự, tôi giúp ông đi đến Ma Ha Song Liên Trì, ông hãy chứng nhập vào trong đó đi!"

Bạn học Cô Nhất nghe lời tôi, ông ấy giống như ở trong mơ gặp được tôi. Khi minh quang thực tướng vừa xuất hiện, tôi liền yêu cầu ông ấy chứng nhập. Người bạn học Cô Nhất này chỉ vì nhớ đến tôi, biết tôi tu hành, mà cũng có thể đến được Ma Ha Song Liên Trì, thật là có duyên phận mà!


### 17. Sư Tôn cầm đài hoa sen


Một đệ tử Chân Phật Tông đã xuất hiện những dấu hiệu sắp chết, ví dụ như đại địa đã chìm trong nước trong lửa, đã xuất hiện hiện tượng hôn mê, người bình thường gọi hiện tượng này là trạng thái thần trí hôn mê, nhìn chung mà nói thì thời gian kéo dài tùy mỗi người mỗi khác.

Người có khả năng giữ thiền định được vững bền thì thời gian dài.
Người chưa tu định thì thời gian ngắn.
Có người chỉ búng tay một cái là đã xuất hiện trung ấm.

Đệ tử này vừa tỉnh dậy khỏi hôn mê thì đã nhìn thấy Sư Tôn cầm đài hoa sen đứng trong hư không.
Sư Tôn ra hiệu cho đệ tử lên đài hoa sen rồi vãng sinh Ma Ha Song Liên Trì.

Sư Tôn nói:
"Liên Hoa hành giả, nhân duyên với thế gian đã hết rồi, hãy quên hết mọi chuyện của thế gian, anh cần quyết định như vậy, chỉ có bước lên đài hoa sen, nhân cơ hội tốt đẹp này mà vãng sinh Ma Ha Song Liên Trì, để lợi lạc vô lượng chúng sinh thế giới mà thoát khổ được vui một cách viên mãn. Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn dùng nguyện lực của bản thân đến tiếp dẫn anh, để khiến tất cả chúng sinh cùng chứng bồ đề, đạt đến cảnh giới viên mãn cứu cánh."
Đệ tử này niệm: "Om guru liansheng siddhi hum."
Thế rồi anh ta lên đài hoa sen. Đài hoa sen này chính là trí tính.

Tính ấy vốn không.
Vô sắc vô tướng.
Chân không vô tướng.
Đài hoa sen này là ánh sáng thể tính Phổ Hiền pháp giới.

Nhưng đúng vào lúc này, vợ và con cái của Liên Hoa hành giả liền khóc to lên, kêu gào rất bi thảm:
Người vợ gọi: "Anh đi rồi, để lại em phải làm sao đây?"
Con trai kêu: "Bố ơi! Bố ơi!"
Con gái khóc: "Bố đừng chết, bố đừng đi, bố ơi bố, không được chết, không được đi."
Người vợ lại kêu lên:
"Anh nhẫn tâm bỏ đi, nợ nần phải làm sao đây?"

Liên Hoa hành giả này vốn dĩ đã lên đài hoa sen rồi, sắp thoát khổ được vui rồi, vừa nghe thấy tiếng gào khóc ai oán, vừa nghe thấy nợ nần chưa trả thì tâm thần chấn động, sinh ra ảnh hưởng không tốt. Anh ta từ trên đài hoa sen bò xuống, vừa từ trên đài sen xuống liền tự suy nghĩ, nợ của mình chưa trả, mình rốt cục đã chết hay chưa? Bản thân anh ta cũng không thể xác định được. Thậm chí anh nhìn thấy bạn bè thân thích, nhìn thấy vợ con, những tiếng kêu khóc ai oán, tất cả đều ở bên tai.

Lúc này, Minh Vương đem theo quỷ tốt cũng hiện thân. Những hình ảnh đáng sợ này liên tục kéo đến. Lợi dụng kẽ hở này, tôi nói với Liên Hoa hành giả:
"Liên Hoa hành giả ơi! Anh ở dương gian đã hết duyên rồi, hãy buông bỏ tất cả đi! Minh Vương quỷ sứ cũng đến rồi, anh mau mau nghĩ đến Hộ pháp Bổn tôn đi! Anh mau niệm chú Hộ pháp, nhất tâm bất loạn, thành tâm thành ý mà trở về lại đài hoa sen đi! Nhân gian như huyễn, thế sự như mộng, như trăng trong nước, hãy mau đến Ma Ha Song Liên Trì đi."

Liên Hoa hành giả thấy hoang mang mờ mịt...
Bởi vì tiếng vợ con gào khóc rung trời, anh ta không nỡ rời bỏ.
Người chết nhớ đến thế sự hãy còn vướng víu, vợ vẫn còn trẻ, con cái vẫn còn nhỏ, mình đi rồi, họ thật sự sẽ sống ra sao, thật sự sẽ tồn tại ra sao đây?

Tôi quát lên:
"Nhân gian dù có hình thể, nhưng tất cả biến hóa vô thường, không phải là thật có được, mau mau rời bỏ mới là cần thiết!"

Nhưng anh ta không nghe.
Minh Vương quỷ sứ đã đến, tóm lấy Liên Hoa hành giả, khóa tay xích chân lại. Tình hình của Liên Hoa hành giả đã đến mức bi thảm rồi!
Tôi nói với Minh Vương:
"Là đệ tử của tôi!"
Minh Vương đáp:
"Thánh Tôn đại bi, ngài đến tiếp dẫn đệ tử, nhưng đệ tử không muốn lên đài hoa sen, ngược lại lại còn bò xuống, bởi vì trần gian khóc ác liệt quá, đến mức khiến cho tâm linh không thể nào chịu đựng được, tâm thần tán loạn, theo lý thì cần lục đạo luân hồi."

Tôi nói với Liên Hoa hành giả:
"Đừng có chần chừ mong ngóng nữa, nhất tâm trì Thượng sư tâm chú đi!"
Anh ta niệm:
"Om guru liansheng siddhi hum."
(Thật may anh ta vẫn còn nhớ được câu chú này.)
Minh Vương và quỷ sứ liền tiêu tan.
Minh quang của đài hoa sen đã bao trùm lấy Liên Hoa hành giả, anh ta tiến nhập vào trong minh quang, hòa tan vào toàn bộ rồi vãng sinh…

Ở đây, tôi thật lòng thật sự nói với mọi người rằng:
Tôi không dám phủ nhận sinh ly tử biệt ở thế giới Ta Bà là không khổ, chính tôi cũng không dám bảo đảm rằng khi mắt trông thấy người thân chết thì bản thân tôi sẽ không khóc. Người sống biệt ly tôi còn khóc huống hồ là người chết, sao tôi có thể không khóc chứ? Thế nhưng, tôi hiểu rõ, gào khóc thật sự không có lợi ích gì. (Người chết đã chết, khóc cũng không làm họ sống lại được.)

Ngược lại, tôi nhận thấy thế này, khóc cũng được, nhưng đừng kêu gào ai oán, tốt nhất là giúp người chết nhớ về Căn bản Thượng sư, Căn bản Bổn tôn, Căn bản Hộ pháp. Rơi nước mắt và niệm Phật trì chú, khuyên người chết rằng:
"Mau mau rời khỏi khổ Ta Bà, hãy đi theo minh quang của Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp. Hãy đi theo A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát. Hãy đi theo minh quang của Thánh chúng. Đây chính là giải thoát."

Vào thời điểm này:
Người chết có thể nhìn thấy cúng phẩm của mình bị quẳng đi, quần áo yêu thích của mình bị xé bỏ, nơi mình ở đã bị dọn dẹp chẳng còn gì, xe của mình cũng bị người khác dùng. Hơn nữa, anh ta có thể nhìn thấy nghe thấy người thân khóc lóc bi ai, cũng có thể nghe thấy người thân khuyên nhủ, vì thế, hãy để cho người chết mau chóng vui vẻ mà rời bỏ đau khổ ở thế gian Ta Bà, như vậy còn quan trọng hơn rất nhiều so với gào khóc thê lương.

Để người chết bất mãn không vui.
Để người chết suy sụp khó bỏ.
Đều là điều không đúng.

Người thân cần khuyên người chết:
Liên Hoa hành giả, chết là chuyện mà người người đều sẽ trải qua, có sinh tất có tử, đừng bám chấp vào cá thể sinh mạng đã rách nát này, nếu anh không cam lòng thì cũng chẳng có cách nào lưu lại trên đời dài lâu, mau đi đi, mau đi đi, đừng nhớ đến nhân gian nữa, bởi vì như thế sẽ lưu chuyển không dừng, không hề có được điều gì. Hãy nhớ đến Tam Bảo, tam căn bản đi! Mau mau hồi hướng, nguyện người cùng niệm Phật, cùng sinh cõi Cực Lạc, trên báo bốn ơn sâu, dưới cứu khổ tam đồ, thấy Phật thoát sinh tử, như Phật độ tất cả. Chúng ta sẽ lại gặp nhau ở tây phương Cực Lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì."
Đây là nội dung quan trọng!
Gào khóc bi ai vô ích!
Hãy khuyên người chết mau chóng niệm Phật trì chú nhớ đến Tam Bảo!


### 18. Ma dọa ma


Người học Phật chúng ta hiểu rằng, ma cũng là một trong lục đạo chúng sinh, nhưng có rất nhiều sự khác biệt. Một số ma cũng có phúc báo, do vậy gọi là ma giàu có. Lại cũng có rất nhiều ma không có phúc, bị gọi là ma thiếu tiền.

Âm giới chính là thế giới của ma, còn gọi là quỷ đạo, quỷ thú, trong Phật giáo thì tức là:
Cảnh giới dạ xoa.
Cảnh giới la sát.
Cảnh giới ngạ quỷ.

Ma thông thường cũng có uy lực, những con ma có đại thần thông hơn thì được người đời tôn xưng là thần, xưng là đại thần gì gì đó. Tôi phát hiện ra, cõi ma là một trong số mười pháp giới, thế nhân chúng ta sau khi chết, thân trung ấm cũng được coi là ma chưa luân hồi.

Có rất nhiều người cho rằng người chết thì thành ma, ở đây cũng có một chút đạo lý tồn tại. Tuy nhiên, rất nhiều người cũng tin rằng, người chết thành ma thì nhất định sẽ vĩnh viễn tồn tại trong cõi ma quỷ đạo. Về điểm này thì lại không có đạo lý, trừ phi thân trung ấm của bạn bị luân hồi trong cõi ma quỷ đạo thì mới thật sự sẽ trở thành ma.

Ở đây, tôi đặc biệt nói để mọi người biết:
Trong cảnh giới thân trung ấm, quan trọng nhất là cần nhớ đến Tam Bảo tam căn bản.
Cần nhất tâm bất loạn.
Cần không kinh sợ.

Trong cảnh giới trung ấm (linh hồn), tuyệt đối không được sợ sệt, bất luận có ma quỷ khổng lồ hung ác đáng sợ đến thế nào xuất hiện trước mặt người chết thì bạn cũng đều không cần sợ hãi, bạn cần nhận định rằng:

1. Chúng cố ý đến để dọa bạn.
2. Đó là sự phản ánh của thần thức.
3. Ma chỉ là huyễn ảnh.
4. Là sự hỷ nộ của chính bạn. (nghiệp lực)
5. Là thử nghiệm định lực của bạn.
6. Nghìn tiếng sấm hung dữ nhất tề vang lên, bạn cũng đừng để ý.
7. Không sợ ma quỷ, không kinh hãi, không hoảng hốt.
8. Bản thân cần tự nghĩ, mình đã chết rồi, bất kì ma quỷ nào cũng không có cách nào hại mình được, đó chỉ là huyễn tướng thôi.
9. Không chỉ là ma dọa ma, thậm chí bình sinh bạn sợ nhất thứ gì thì chúng đều xuất hiện do thần thức phản ánh, hãy nhớ, những thứ này đều là thần thức phản ánh.
10. Lúc này hoàn toàn dựa vào định lực thiền quán và trí huệ của người chết để mà phân biệt.

Ma dọa ma này chính là hiểm đạo.
Đừng cho rằng ma dọa ma là điều không thể nào!

Phẩm "Lợi ích tồn vong" có viết:
"Ðại quỷ Vô Thường không hẹn mà đến, thần hồn vơ vẩn mịt mờ, chưa rõ là tội hay phúc, trong bốn mươi chín ngày như ngây như điếc, hoặc ở tại các ty sở để biện luận về nghiệp quả, sau khi thẩm định xong thì cứ y theo nghiệp mà thọ sinh.

Trong lúc chưa biết ra sao thì đã phải chịu nghìn muôn sầu khổ rồi, huống chi là bị đọa vào các ác đạo! Người chết đó khi chưa được thọ sinh, ở trong bốn mươi chín ngày luôn luôn trông ngóng người thân ruột thịt tu tạo phước lực để cứu vớt cho mình. Quá ngày ấy rồi thì cứ theo nghiệp mà thọ báo. Nếu là tội nhân thì phải trải qua trăm nghìn năm không có ngày được giải thoát, còn nếu là năm tội vô gián thì phải đọa vào đại địa ngục nghìn kiếp vạn kiếp, vĩnh viễn chịu đau khổ."

Đại quỷ Vô Thường là cái gì?
Thần Chết!
Hung Thần!
Quỷ dữ!
Là những đại quỷ!
"Liên Hoa hành giả tôn quý không cần sợ hãi, nhất tâm niệm Phật trì chú, không sợ không hoảng, thì đại quỷ Vô Thường sẽ tự nhiên tiêu biến!"

Nếu bạn sợ hãi, hoảng hốt, thất kinh, bạn bỏ chạy. Trông thấy một cái hang có thể chui vào để ẩn thân, và thế là tiêu đời rồi!

1. Hang động giống như trứng, bạn sẽ noãn sinh thành gà, vịt, ngỗng.
2. Hang động giống như thai, bạn sẽ thai sinh thành trâu, cừu, chó.
3. Hang động ẩm thấp, bạn sẽ thấp sinh thành ruồi, muỗi, muỗi vằn.
4. Hang động như tan chảy biến đổi, bạn sẽ hóa sinh xuống địa ngục, âm gian, v.v…

Thai sinh, noãn sinh, thấp sinh, hóa sinh chính là tứ sinh. Thai sinh là hình thành bên trong thai mẹ, sau đó mới sinh ra sinh mạng, con người cũng là như thế. Noãn sinh là sau khi thành hình trong vỏ trứng thì mới sinh ra sinh mạng, loài chim đều là như vậy. Thấp sinh là dựa vào nơi ẩm thấp mà hình thành nên sinh mạng, như loài muỗi. Hóa sinh là không dựa vào một nơi nào, chỉ nhờ vào nghiệp lực mà bỗng dưng sinh ra sinh mệnh, như chư Thiên và địa ngục, cho đến kiếp làm người đầu tiên.

Tôi nói:
Thấy hang rất dài, đi vào đó, sẽ thành rắn.
Thấy ô tô, trốn vào đó, sẽ thành rùa.
Thấy cái kiệu, trốn vào đó, sẽ thành cua.
Thấy máy bay, trốn vào đó, sẽ thành chim.
Thấy tàu hỏa, trốn vào đó, sẽ thành rết.
Thấy tàu thủy, trốn vào đó, sẽ thành cá.
Thấy nhà lầu, trốn vào đó, sẽ thành ốc.
Thấy hào trú ẩn, trốn vào đó, sẽ thành chuột đất.
...

Nói tóm lại, bạn nhìn thấy đại quỷ Vô Thường, đừng sợ hãi, đừng kinh hoảng, đừng hoảng hốt, đừng trốn chạy, đừng ẩn nấp. Chỉ niệm Phật trì chú.

Liên Hoa hành giả tôn quý cần hiểu có bốn kiểu vãng sinh:
Kiểu thứ nhất — chính niệm vãng sinh, người sắp chết tâm không đảo điên, niệm Phật trì chú, như vậy tức là chính niệm vãng sinh.

Kiểu thứ hai — cuồng loạn vãng sinh, là người sắp chết lúc còn sống làm ác nghiệp, khi hấp hối nhìn thấy đại quỷ Vô Thường đến, thấy địa ngục lửa cháy mãnh liệt khổ đau bức bách, thấy lũ lụt nhấn chìm đến đỉnh đầu, trong lúc cuồng loạn, thình lình nghe thấy đại thiện tri thức dạy anh ta cần niệm Phật một tiếng hoặc mười tiếng, anh ta nhất tâm niệm theo, thì cũng có thể cuồng loạn vãng sinh.

Kiểu thứ ba — vô ký vãng sinh, loại người này bình thường có quy y Phật môn, cũng niệm Phật trì chú, nhưng đúng lúc sắp chết thì lại không sao niệm được, tâm thần tiêu tán, trở thành không còn nhớ được gì (không thiện không ác), nhưng may nhờ ngày thường anh ta có công đức niệm Phật trì chú, cũng có thể vãng sinh tịnh thổ Phật quốc.

Kiểu thứ tư — ý niệm vãng sinh, là người này, ví dụ ở trong bệnh viện, khí đã không còn, không thể phát ra âm thanh niệm Phật trì chú, tình trạng này rất nhiều, nhưng chỉ cần suy nghĩ nhớ đến Phật là được rồi, vẫn có thể vãng sinh.

Liên Hoa hành giả Chân Phật Tông chúng ta tốt nhất là tu hành đến chân như, chân tâm của bản lai tự tính thanh tịnh. Thế gian này mặc dù có đủ loại phiền não, nhưng tự tính thanh tịnh trong suốt như hư không, đích thân chứng tám thức Như Lai Tạng, rời xa tất cả mọi tướng phân biệt, ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt, đó là tự mình chứng ngộ.

Nếu như không được như vậy thì cũng cần chính niệm vãng sinh, tu đến khi tương ứng Thượng sư, tương ứng Bổn tôn, tương ứng Hộ pháp, như thế nhất định có thể vãng sinh. Cũng vẫn không được nữa thì chăm chỉ tu tịnh độ niệm Phật, dựa vào thề nguyện của A Di Đà Phật, người sắp chết thấy Phật thoát sinh tử, đây cũng là chính niệm vãng sinh!


### 19. Mật giáo nhận biết sắc uẩn


Căn cứ theo cách nhận biết sắc uẩn của Mật giáo, hành giả cần phải ghi nhớ sâu sắc khi hiện tượng cảnh giới trung ấm xuất hiện sẽ có đủ loại quang sắc khác nhau.

Trước tiên tôi nhắc nhở mọi người rằng, quang sắc của lục đạo luân hồi đều là hiểm đạo, không được tiến vào:

1. Ánh sáng của cõi Thiên là ánh sáng trắng mờ.
2. Ánh sáng của cõi Người là ánh sáng vàng mờ.
3. Ánh sáng của cõi A tu la là ánh sáng xanh lục mờ xỉn.
4. Ánh sáng của cõi Địa ngục là ánh sáng mù mịt như sương.
5. Ánh sáng của cõi Ngạ quỷ là ánh sáng đỏ mờ xỉn.
6. Ánh sáng của cõi Súc sinh là ánh sáng xanh lam mờ xỉn.

Cần nhớ rõ, mờ xỉn là có độc tính, đừng để bị mê hoặc mà vội vã lao vào. Bởi vì chỉ cần đi vào đó là sẽ chìm nổi trong biển sinh tử, vĩnh viễn không có ngày thoát ra.

Ánh sáng cần phải dung nhập vào là:
Ánh sáng xanh lam của Đại Nhật Tỳ Lô Giá Na Phật, là ánh sáng trí huệ pháp giới trong suốt, rực rỡ.
Ánh sáng trắng trong suốt của Kim Cang Tát Đỏa Thượng sư, đó là ánh sáng từ bi của trí huệ.
Hư Không Tạng Bồ Tát hoặc Phổ Hiền Bồ Tát, hoặc các Thánh hiền khác, sẽ có ánh sáng bình đẳng tính trí chói lọi màu vàng. (Bảo Sinh Phật)
Ánh sáng diệu quan sát trí màu đỏ của A Di Đà Phật cực kì chói lóa, trong suốt lấp lánh.
Ánh sáng xanh lục đặc trưng của tây phương Bất Không Thành Tựu Phật, là ánh sáng lục thành sở tác trí, trong suốt và rực rỡ.
Ngoài ra còn có ánh sáng ngũ sắc, là ánh sáng câu sinh trí do tập khí được tịnh hóa mà thành, do tâm của năm vị trì minh chủ tôn phóng ra, trong suốt và sáng chói, vô cùng mạnh mẽ.

Về nhận biết sắc uẩn, cá nhân tôi cho rằng:
Cần hiểu và ghi nhớ nội dung chính trong đó. Không được nhận nhầm.
Cần ghi nhớ bí mật vi diệu trong đó. Không được quên mất.
Nếu bạn nhìn thấy ánh sáng cần phải dung nhập vào thì hãy tin vào ánh sáng ấy, niềm tin chắc chắn không lung lay, đồng thời hướng về ánh sáng ấy cầu nguyện, nhất tâm quán tưởng tiến nhập vào ánh sáng.

Còn đối với những quang uẩn đến từ lục đạo, chúng có sức mạnh mê hoặc, Liên Hoa hành giả đừng dao động, không được yêu thích chúng. Cần biết rằng chúng là ánh sáng do đủ loại tập khí nghiệp lực mà thành, những tập khí ấy chính là yêu thương, ngu si, vô minh, sân hận, phẫn nộ, ngã mạn, cao ngạo, cố chấp, tham lam, đố kỵ…

Người đọa lạc vào lục đạo luân hồi không chỉ là phàm phu bình thường, cũng có rất nhiều là người tu hành. Tôi có thể thấy rằng phần lớn họ đều không quá nghiêm túc, hành vi thô lỗ, một số người căn bản là không tu pháp, lười biếng buông thả, không đủ chính kiến, thậm chí bán tín bán nghi, coi thường Căn bản Thượng sư của mình, ngờ vực Căn bản Thượng sư của mình, không tôn trọng pháp của Căn bản Thượng sư của mình. Lại có một số người tin này tin nọ, lung tung lộn xộn, và vì thế, họ đều sa đọa cả.

Lúc này bắt đầu mới biết tầm quan trọng của bát chính đạo:
Chính kiến — tri kiến đúng đắn.
Chính tư duy — suy xét đúng đắn.
Chính ngữ — ngôn ngữ đứng đắn.
Chính nghiệp — hành vi đứng đắn.
Chính mệnh — nghề nghiệp đứng đắn.
Chính tinh tấn — nỗ lực đúng đắn.
Chính niệm — quán niệm đúng đắn.
Chính định — thiền định đúng đắn.

Trong "Du già diễm khẩu", "Mông Sơn thí thực", "Tam thời vấn vương", thậm chí trong "Tứ thiền bát định", trong tứ thiền định của Sắc giới và tứ không định của Vô sắc giới, sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, không vô biên xứ định, thức vô biên xứ định, vô sở hữu xứ định, phi tưởng phi phi tưởng xứ định, tôi dùng thiên nhãn đã thấy:
Quá nhiều người ngu si, phóng túng, lười biếng, bất tín, hôn trầm, trạo cử, vô sỉ, không hổ thẹn, phẫn nộ, phản phúc, keo kiệt, đố kỵ nóng giận, xúc phạm, thù hận, nịnh bợ, nói dối, kiêu ngạo, rình mò, mê ngủ, độc ác, tham, sân, cao ngạo, ngã mạn, hoài nghi…

Thế nhân lại vui với danh, lợi, những sự ca tụng, những thú vui. Rồi lại đau khổ vì suy yếu, bị phỉ báng, bị chế nhạo, bị chịu khổ.

Tôi lại càng thấy có rất nhiều đại sư, đại phương trượng, đại hòa thượng, đại tu hành giả và cả những học giả giỏi nói Phật pháp, lúc còn tại thế gian, họ rất thông hiểu, nắm rõ Phật lý, rất giỏi biện giải nghĩa lý Phật giáo, cũng nói rất nhiều Phật pháp, về phương diện hoằng pháp thì cũng rất chăm chỉ siêng năng.
Nhưng, đều là vì tám chữ:
"Thanh danh thế gian."
"Lợi ích cúng dường."
Những đại sư, đại phương trượng, đại hòa thượng, đại tu hành giả này đã thiếu mất hai chữ:
"Thực tu."

Họ không tu "tư lương vị", không tu "gia hành vị", không tu "thông đạt vị", không tu "tu đạo vị", không tu "cứu cánh vị". Phật pháp Đại thừa từ phàm phu tu đến thành Phật đã xác lập 52 bước, thập tín, thập trụ, thập hành, thập hồi hướng, thập địa, đẳng giác, diệu giác. Họ đều hiểu rõ hết. Chỉ là chẳng hề tu (thực tu).

Họ bận rộn với pháp thế gian, tất cả pháp hữu lậu của chúng sinh. Họ chú trọng kiếm tiền xây chùa lớn. Chú trọng danh vị. Mê đắm trong dòng chảy của ngã kiến, dòng chảy dục vọng, dòng chảy sở hữu, dòng chảy vô minh.

Những đại tu hành giả này ở thế gian mặc dù nói Phật pháp, nhưng không thực tu, đối với thân trung ấm không nắm rõ lắm, chưa tập thành thói quen tốt trong tâm, thậm chí đôi khi còn phỉ báng Mật giáo. Đến nỗi mà khi ở trong thân trung ấm, khi nhìn thấy tất cả huyễn tướng, họ cũng sinh ra sự kinh hoảng, vì không thực tu thiền định nên định lực không đủ, giống như trong mơ, liền rơi vào trong cảnh địa bi thảm.

Vì thế:
Giỏi thuyết pháp.
Giỏi nói lý.
Giỏi xây chùa.
Giỏi kết duyên.
Rốt cục chẳng bằng giỏi thực tu.

Trái lại, tôi nhận thấy thế này, giỏi thuyết pháp tuy cũng rất tốt, giỏi nói lý cũng rất tốt, giỏi xây chùa cũng rất tốt, giỏi kết duyên cũng rất tốt, nhưng mà giỏi thực tu càng quan trọng hơn, giỏi thực tu là đại thành tựu giả. Đại tu hành giả như thế sau khi thành tựu, lập tức tương ứng chân như, chân tâm, lập tức đã nhập chứng, không cần phải kinh qua thân trung ấm. Người thuộc đẳng cấp này thì tức thân thành tựu Phật quả, tiến nhập vào cõi vui thanh tịnh, cảnh tướng tốt lành liên miên không ngừng!

Bầu trời trong xanh không mây tỏa đại hào quang.
Xuất hiện cầu vồng lớn.
Thiên nhạc đầy ắp không trung.
Hương thơm lạ sực nức.
Ánh sáng cát tường tỏa ra bốn phía.
Trăm hoa cùng rơi xuống.
Sau khi hỏa táng thì có hạt xá lợi, xá lợi răng, xá lợi hoa, v.v…


### 20. Mười đại Minh Vương hiện thân


Khi tôi phiêu bạt ở Hàn Quốc, tôi đã đến các ngôi chùa, khi ấy mới biết các tín đồ Phật giáo ở Hàn Quốc vô cùng cung kính mười đại Minh Vương. Chùa của họ đều có điện Minh Vương, thờ cúng mười đại Minh Vương, đó là:
Tần Hoàng Đại Vương.
Sở Giang Đại Vương.
Tống Đế Đại Vương.
Ngũ Quan Đại Vương.
Diêm La Đại Vương.
Biện Thành Đại Vương.
Thái Sơn Đại Vương.
Bình Đẳng Đại Vương.
Đô Thị Đại Vương.
Chuyển Luân Đại Vương.

Nếu như mười đại Minh Vương này hiện thân, mọi người chưa chắc đã biết, bởi vì thật sự là họ có quá nhiều thân tướng. Có vị thì lấp đầy cả hư không, có vị to lớn như núi Tu Di, vị nhỏ nhất thì cũng to lớn gấp mười tám lần con người. Hình tượng đều cực kì hung dữ, lấp đầy cả thế giới, ví dụ răng nanh lộ ra ngoài, cau mày quắc mắt, miệng không ngừng kêu lên những tiếng hét "hây hây", túm đầu người ta quăng xuống, hoặc moi tim, lưỡi thì liếm dịch não, dùng miệng uống máu. Đến lúc này, người chết chắc chắn sẽ thất kinh.

Mọi người đừng cho rằng đây chỉ là nói để dọa người ta mà thôi. Xin mời đọc phẩm thứ tám "Các vị Diêm La Vương tán thán":
"Khi ấy, trong dãy núi Thiết Vy có vô lượng Quỷ Vương cùng với Thiên Tử Diêm La đều đến cung trời Ðao Lợi, đến chỗ của Ðức Phật. Ðó là: Quỷ Vương Ác Ðộc, Quỷ Vương Ða Ác, Quỷ Vương Ðại Tranh, Quỷ Vương Bạch Hổ, Quỷ Vương Huyết Hổ, Quỷ Vương Xích Hổ, Quỷ Vương Tán Ương, Quỷ Vương Phi Thân, Quỷ Vương Ðiện Quang, Quỷ Vương Lang Nha, Quỷ Vương Thiên Nhãn, Quỷ Vương Ðạm Thú, Quỷ Vương Phụ Thạch, Quỷ Vương Chủ Hao, Quỷ Vương Chủ Họa, Quỷ Vương Chủ Thực, Quỷ Vương Chủ Tài, Quỷ Vương Chủ Súc, Quỷ Vương Chủ Cầm, Quỷ Vương Chủ Thú, Quỷ Vương Chủ Mị, Quỷ Vương Chủ Sản, Quỷ Vương Chủ Mạng, Quỷ Vương Chủ Tật, Quỷ Vương Chủ Hiểm, Quỷ Vương Tam Mục, Quỷ Vương Tứ Mục, Quỷ Vương Ngũ Mục, Kì Lợi Thất Vương, Ðại Kì Lợi Thất Vương, Kì Lợi Xoa Vương, Ðại Kì Lợi Xoa Vương, A Na Tra Vương, Ðại A Na Tra Vương, v.v… Những vị Ðại Quỷ Vương như thế, mỗi vị cùng với trăm nghìn tiểu Quỷ Vương..."
Đó là vô lượng Quỷ Vương được ghi chép trong Kinh Địa Tạng.

Mọi người chớ cho rằng những ghi chép trong kinh điển này chẳng qua chỉ là khuyên răn người ta, không thật sự là những chuyện có thật, chuyện của địa ngục chỉ là Tử Hư Ô Hữu. [Tử Hư, Ô Hữu là hai nhân vật dân gian ở Trung Quốc chuyên nói khoác, không đáng tin cậy, nên tên của hai người này được dùng khi nói đến những chuyện hoang đường, không đáng tin.]

Thế còn tôi nói:
"Kinh này là Phật thuyết, sao có thể là giả!"
Cơ duyên của thân trung ấm là có khả năng gặp được mười đại Minh Vương và đại Quỷ Vương tiểu Quỷ Vương, vô lượng Quỷ Vương đó.
Trong Tạng mật, chúng ta biết rằng:
Có chư tôn của Hỷ Lạc Bộ xuất hiện.
Có chư tôn của Phẫn Nộ Bộ xuất hiện.
(Tương tự như mười đại Minh Vương và vô lượng Quỷ Vương được mô tả trong Địa Tạng Kinh.)

Nhưng trong Tạng mật mô tả dường như còn đáng sợ hơn.
Ví dụ: ba đầu sáu tay, bốn chân, mặt bên phải trắng, mặt bên trái đỏ, mặt ở giữa nâu sẫm, toàn thân tỏa ánh sáng chói lọi, chín mắt mở to, trừng mắt nhìn chằm chằm, lông mày như tia chớp, răng nanh trắng ởn, trong miệng gầm gừ "ah la ha". Sáu tay đều cầm pháp khí: pháp luân, kiếm, rìu, chuông, bát xương, lưỡi cày.

Ngoài ra còn có chủ tôn uống máu của Kim Cang Bộ: thân màu xanh đậm, ba đầu sáu tay, bốn chân đứng sừng sững, sáu cánh tay đều cầm chày, bát sọ người, rìu, chuông, bát bằng não, lưỡi cày, uống máu.
Còn có những vị uống máu như Khải Nhữ Mã, Đái Mạn Mã, Uông Thu Mã, Tu Lị Mã, Lạp Ma Ha, Bùi Đại Lệ, Bồ Tạp Ti, Cát Ti Mã, Hương Đa Lợi, Thí Mã Hạ, v.v…

13 vị tôn của Phẫn Nộ Bộ, 28 vị Đại Lực Nữ Thần, trong đó có các vị đầu sư tử, đầu hổ, đầu cáo, đầu sói, đầu diều hâu, đầu ngựa, đầu quạ, đầu chim cú.
Những vị này không chỉ uống máu mà thậm chí còn:
Ăn não, phát ra tiếng tợp tợp.
Ăn dạ dày, tống vào trong miệng.
Ăn tim, nhai nhồm nhoàm liên tục.
Ngậm xác chết, nhai mãi nhai mãi.
Nuốt con mắt, răng nanh nhe ra.
Các Đại Lực Nữ Thần này trong tay cầm những hung khí như móc câu, thòng lọng, xích sắt, giáo nhọn…
Người bình thường nhìn thấy các vị uống máu của Phẫn Nộ Bộ (đại Quỷ Vương) đều sẽ vô cùng kinh hãi, hoảng sợ quá mức mà ngất xỉu rồi chết, và như thế là hoàn toàn đi đời, người chết sẽ trở thành vật hy sinh bởi sự sợ hãi.

Vì sao lại xuất hiện các vị của Hỷ Lạc Bộ và Phẫn Nộ Bộ? Thật ra đây cũng là hình ảnh ý thức của mỗi cá nhân, bất kể là kinh điển Hiển giáo hay Mật giáo đều chứng minh rằng mỗi người đều có ý thức hỷ nộ ái ố, vì con người một ngày nào đó chết đi thì những hỷ nộ này cũng sẽ hiển hiện ra. Giống như các loài thú vật.

Bạn cũng đừng cho rằng không thể nào có, tôi đã từng nói với mọi người, nhân loại chỉ là bề ngoài giống như con người mà thôi. Thật ra có một số người từ lâu tâm đã biến thành hổ, báo, sư tử, voi, sói, chó, rắn, diều hâu, cáo, v.v…

Còn nữa, bạn cũng đừng cho rằng không thể nào có đại quỷ, có rất nhiều người lòng dạ đã không còn là con người, từ lâu đã là lòng dạ nham hiểm, sớm đã là quỷ rồi, không chỉ là quỷ mà còn là đại Quỷ Vương hung tợn.

Tất cả chư tôn của Hỷ Lạc Bộ, Phẫn Nộ Bộ, Uống Máu Bộ, Đầu Thú Bộ, Diêm La Đại Vương (mười đại Minh Vương), vô lượng Quỷ Vương hiển hiện đủ loại hình tượng đáng sợ đều là những gì tồn tại trong tâm thức chính mình biến hiện mà ra.

Tôi nói thẳng, đó là:
Người chết tự chiêu cảm.
Tâm thức người chết biến hiện.
Là một với người chết.

(Pháp tương ứng của Mật giáo, mười pháp giới đều nằm trong sự tương ứng. Pháp tương ứng của Chân Phật Tông chúng ta là tương ứng Phật, tương ứng Bồ Tát, tương ứng Kim Cang, tương ứng Hộ Pháp, trình độ thấp nhất cũng là tương ứng với chư Thiên.)
Thiên đạo cũng nằm trong luân hồi.
Điều quan trọng nhất là không được tương ứng với tam ác đạo, tốt nhất là lục đạo luân hồi đều không tương ứng.

Lúc này, nên định tâm cầu nguyện: (đừng sợ hãi bất tỉnh nhân sự)
Con nay phiêu bạt trong âm giới
Khẩn cầu Thượng sư mau tiếp ứng
Om guru liansheng siddhi hum!
Om guru liansheng siddhi hum!
Om guru liansheng siddhi hum!
Khẩn cầu Bổn tôn đừng rời bỏ
Khẩn cầu Hộ pháp cứu độ con
Kính yêu Thượng sư cùng Bổn tôn
Nhất tâm mong chờ được bảo hộ.
(Thượng sư, Bổn tôn có thề nguyện, nhất định sẽ cứu bạn.)


### 21. Nơi thân trung ấm nên ở


Tôi dùng thiên nhãn quan sát, thân trung ấm (linh hồn) thông thường vì bị cơn gió nghiệp thổi tới nên phần nhiều là phiêu bạt bất định. Giống như lông vũ bị gió thổi bay, hoặc ngựa hoang chạy lồng lộn, như trẻ con lạc mẹ chạy nhốn nháo khắp nơi. Cũng có thân trung ấm, bởi tâm không thể tự chủ bèn giống như những kẻ lang thang cứ trôi nổi khắp nơi, tình hình vô cùng đáng thương!

Thân trung ấm tự lẩm bẩm:
"Chuyện này là sao đây?"
"Rốt cục mình đang ở đâu?"
"Vì sao lại biến thành như vậy?"
"Chẳng có ban ngày, chẳng có ban đêm, từ sáng đến tối trời đều bụi mờ mịt, đây rốt cục là nơi nào?"
Đến khi thân trung ấm nhìn thấy thi hài của mình nằm trong bệnh viện mới kinh hãi: "Mình đã chết rồi ư?"
Thân trung ấm khóc lóc nỉ non, buồn bã, âu sầu, đau khổ.

Người chết trước tiên là tìm đến:
Nhà của mình.
Người thân của mình.
Công ty nơi mình làm việc khi còn sống.
Những đồ ăn mà mình thích nhất.
Nhưng rồi người chết sẽ phát hiện ra, tất cả mọi người đều không nhìn thấy mình, không nghe thấy mình. Nhà ở, công ty, thứ mình yêu thích đều không thuộc về mình, người chết trở thành không có nơi nào có thể nương thân. Tuy nhiên người chết cũng sẽ phát hiện ra rằng, thân trung ấm có một dạng năng lực, vì đã không còn vật chất thô của nhục thể nên có thể tùy ý mà đi không chút trở ngại nào, có thể thần hành, có thể xuyên qua bất kì nham thạch thổ nhưỡng, nhà ở, thậm chí là núi cao sông rộng mà không có một chút khó khăn. Ngoài những nơi Thánh địa ra thì cứ đi đi về về chẳng có gì ngăn trở.
Nghĩ cái là tới.
Nghĩ cái là đến.
Có thể nhìn thấy những thân trung ấm khác.
Đồng loại có thể nhìn thấy nhau.

Tôi thường nói: "Ngưu tầm ngưu mã tầm mã."
Nếu thân trung ấm có thiên nhãn thanh tịnh thì cũng có thể nhìn thấy được thiên giới, thấy được thiên thần. Nhưng phần đông lại là những thân trung ấm tâm thần tán loạn, họ chỉ có thể tụ tập ở thế giới Ta Bà, hoặc ở những nơi tồi tệ hơn.

Có thân trung ấm lưu luyến nhục thể của mình, trở thành ma canh xác chết.
Có thân trung ấm lưu luyến phần mộ của mình, trở thành ma giữ mộ.
Có thân trung ấm lưu luyến nhà ở của mình, trở thành ma giữ nhà.
Có thân trung ấm lưu luyến vợ mình, trở thành ma giữ vợ.
Có thân trung ấm lưu luyến tài sản của mình, trở thành ma giữ tiền.
Có thân trung ấm lưu luyến con cái của mình, trở thành ma giữ con.
(Đây là cảnh giới trung ấm tái đọa lạc.)

Tôi thấy thân trung ấm cũng đeo bám lên thân người mà họ lưu luyến, đeo bám lên thân của kẻ thù, đeo bám lên thân của tượng gỗ, như thế này gọi là nhập thân, người thế tục thì nói là bị ma nhập. (Đó là bị ma ám vào thân.)

Thân trung ấm cũng có kiểu ham ngủ, từ đầu tới cuối chỉ có ngủ, thì sẽ trở thành ma ham ngủ. Rồi còn có như: ma nơi hoang vu, ma trong rừng, ma nước, ma uống máu, ma chạy nhanh, ma ăn hương thơm, ma sống trong biển, ma giữ sắc đẹp, ma ăn thịt, ma tạo giấc mơ, ma thần thông, ma bất tịnh, ma chiếm đoạt tinh khí, ma uống rượu, ma cờ bạc… (Những thân trung ấm này thực sự rất gay go.)

Tôi cho rằng nơi thích hợp nhất đối với thân trung ấm là:

1. Nơi có Căn bản Thượng sư.
2. Chùa miếu.
3. Nơi đồng tu và hội đồng tu.
4. Tháp.

Tôi thật lòng thật sự nói để mọi người biết: lúc này, bạn nhớ về Căn bản Thượng sư thì sẽ thần hành đến nơi ở của Căn bản Thượng sư, Căn bản Thượng sư nhìn thấy bạn sẽ dạy cho bạn phương pháp của đạo giải thoát và đạo bồ đề. Vì khi bạn tại thế có tu hành nên vừa nghe là hiểu, chí ít bạn cũng có thể niệm Phật trì chú, lập tức được Phật Bồ Tát tiếp dẫn mà đi đến Phật quốc thanh tịnh.

Hoặc là bạn đến Lôi Tạng Tự, Lôi Tạng Tự là nơi có thần Già Lan, thần Vi Đà bảo vệ, Lôi Tạng Tự có Thượng sư và đồng môn, khi họ cùng tu pháp, bạn cũng cùng với họ tu pháp, tu pháp có triệu thỉnh, có hồi hướng, bạn nhất tâm triệu thỉnh theo, nhất tâm tu pháp, nhất tâm hồi hướng, tự nhiên ánh sáng của Phật Bồ Tát sẽ bao trùm lấy bạn, thế là bạn đã đến được Phật quốc tịnh thổ rồi. Đi đến Lôi Tạng Tự tu pháp thế là được giải thoát rồi.

Hoặc là đến các Phật đường đồng tu, các hội đồng tu, chỉ cần đồng tu thì cũng có nguyên tắc giống như ở chùa, chỉ cần nhất tâm tu pháp, nhất tâm niệm Phật trì chú, ánh sáng của Phật Bồ Tát sẽ chiếu trọn lấy bạn, thế là bạn đến được Phật quốc tịnh thổ.

Hoặc là, bạn có thể đi đến tháp Phật, cần biết rằng có tháp là có Phật, tháp là một công trình kiến trúc có hình dáng cao và nhọn. Đương nhiên có rất nhiều kiểu tháp, cũng có tháp năm tầng, bảy tầng, mười tầng, đương nhiên cũng có tháp xá lợi, cũng có tháp phi xá lợi, năm trăm năm lần thứ tư sau khi Phật diệt độ chính là thời kì xây dựng chùa tháp kiên cố. Trong tháp xá lợi hoặc tháp phi xá lợi đều có thần bảo hộ của Thánh giả ở đó, thần bảo hộ trông thấy thân trung ấm của hành giả Chân Phật Tông có thể tiếp dẫn cho người đó vãng sinh đến Phật quốc thanh tịnh.

Tôi nhận định là như vậy đó. Mọi người cho rằng đồng tu ở Lôi Tạng Tự không quan trọng, cho rằng đồng tu ở Phật đường không quan trọng, hội đồng tu không quan trọng, đợi đến khi thành thân trung ấm rồi thì bạn sẽ biết thôi. Khi đồng tu có cùng chung một tâm lực nhất niệm, tâm lực nhất niệm này có sức mạnh thu hút và hiệu triệu vô cùng lớn. Một đàn pháp viên mãn là dựa vào Mật pháp mà tu, không có bám chấp vào sự tình, như niệm Phật, như trì 108 biến chú, như niệm 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật, niệm một vị Phật tương đương niệm tất cả Phật, tu một pháp chính là tu vô lượng pháp môn.
Vãng sinh Cực Lạc tịnh thổ tức là sinh về tịnh thổ của chư Phật.
Thân trung ấm dựa vào sức mạnh cộng tu, sức mạnh của đồng môn cùng tu pháp, trong chốc lát có thể được hút về Phật quốc tịnh thổ, vì thế đồng tu ở chùa, đường, hội rất quan trọng.

Tôi thường nói:
Các đệ tử, Tứ gia hành rất quan trọng, là đại pháp.
Tứ gia hành là tu vững chắc Kim Cang Tâm, chính là đại tâm của Bồ Tát, đại tâm của Bồ Tát kiên cố thì không thể suy hoại, giống như kim cương vậy. (Không sợ phỉ báng.)
Tứ gia hành cần tu pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát. Trong 52 bậc vị của Đại thừa, Bồ Tát là bậc vị thứ 51, gọi là Đẳng Giác. Bồ Tát này đã gần như tương đương với Phật rồi, vì thế mới gọi là Đẳng Giác.
Nếu như lùi lại mười địa (Pháp Vân địa) thì cũng có thể gọi là Phật rồi.
Kim Cang Trì, Kim Cang Tâm, Kim Cang Tát Đỏa, đã là Pháp Vương Tử của Ngũ Phương Phật, cũng là gốc rễ hoằng pháp của Mật giáo, là giáo chủ.
Hội đồng tu chỉ tu Tứ gia hành thôi thì cũng đã cực kì tốt rồi!
Kim Cang Tâm Bồ Tát một khi đã gọi về thì thân trung ấm sẽ đến được Phật quốc tịnh thổ, lập tức giải thoát.
Đồng tu là quan trọng, cực kì quan trọng.


### 22. Các ty biện luận nghiệp quả


Từng có người hỏi tôi:
"Ở cõi âm thật sự có thẩm vấn và phán quyết sao?"
Tôi hỏi ngược lại:
"Dương gian có quan tòa thẩm phán không?"
"Có."
"Thế thì âm gian cũng có thẩm phán, là lẽ đương nhiên." - Tôi đáp.

Kinh Địa Tạng đã nói rất rõ ràng:
"Trong bốn mươi chín ngày như ngây như điếc, hoặc ở tại các ty sở để biện luận về nghiệp quả, sau khi thẩm định xong thì cứ y theo nghiệp mà thọ sinh."
"Trong bốn mươi chín ngày luôn luôn trông ngóng người thân ruột thịt tu tạo phước lực để cứu vớt cho mình. Quá ngày ấy rồi thì cứ theo nghiệp mà thọ báo. Nếu là tội nhân thì phải trải qua trăm nghìn năm không có ngày được giải thoát, còn nếu là năm tội vô gián thì phải đọa vào đại địa ngục nghìn kiếp vạn kiếp, vĩnh viễn chịu đau khổ."
"Tiếp nữa, ông Trưởng Giả, nếu là chúng sinh mang nghiệp tội, sau khi mạng chung, những người thân ruột thịt vì họ mà làm chay cúng dường để trợ giúp nghiệp đạo, thì khi thức ăn chưa làm xong hay trong lúc đang làm, chớ đem nước gạo, lá rau đổ vung vãi ra đất, thậm chí các thứ đồ ăn chưa dâng cúng cho Phật và chư tăng thì không được ăn trước. Nếu không tuân theo mà cứ ăn và không tinh sạch kỹ lưỡng, thì người chết đó hoàn toàn không được trợ lực nào cả. Nếu có thể kỹ lưỡng giữ gìn tinh sạch đem dâng cúng cho Phật cùng tăng, thì trong bảy phần công đức, người chết hưởng được một phần. Vì vậy Trưởng Giả, chúng sinh cõi Diêm Phù, nếu có thể vì cha mẹ hoặc người thân đã chết mà sửa soạn thiết trai cúng dường, chí nguyện và tấm lòng cần cù thật thà thì những người như thế, kẻ còn lẫn người mất đều được lợi ích cả.”

Trong Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện Kinh, tôi nhắc nhở như sau:

1. Có thẩm phán. Các ty tranh biện về nghiệp quả.
2. Trong vòng 49 ngày, người thân ruột thịt nên tạo phúc để cứu vớt.
3. Trai tăng có công đức.
4. Cúng Phật có công đức.
5. Chăm chỉ cẩn thận niệm Phật trì chú có công đức.
6. Siêu độ có công đức. (Diễm khẩu, mông sơn, đọc kinh sám hối, tụng kinh, hệ niệm.)
7. Người sống người chết đều được lợi ích. (Người chết hưởng một trong bảy phần công đức.)

Tôi cảm thấy, một thân trung ấm đã đến nơi thẩm vấn và phán xét ở âm gian thì cũng đủ dở tệ rồi. Nói một cách thông thường thì đây cũng không giống một người tu hành.
Các thần của ty thiện xuất hiện, dùng đá trắng để tính việc thiện.
Các thần của ty ác xuất hiện, dùng đá đen để tính việc ác.
So sánh thiện ác, sau đó xét xử.

Còn nữa, ở âm gian có một chiếc gương soi nghiệp, những gì cả cuộc đời người chết trải qua đều nằm trong gương soi nghiệp, phân minh tỏ tường, có nói dối cũng chẳng có tác dụng gì. Tôi đã tận mắt chứng kiến một Liên Hoa hành giả bị thẩm phán, do anh ta bị ác nghiệp liên lụy mà không có cách nào chứng nhập. Trong lúc mê man, anh ta bị Diêm La Vương ra lệnh cho quan cai ngục hung ác dùng dây thừng đen quấn chặt vào cổ rồi chém đầu, dịch não đều bị những con thú xung quanh hớp sạch sẽ.
Sau đó, Liên Hoa hành giả lại sinh ra một thân rỗng do ý sinh ra. Và cứ sống dậy lại bị chém chết. Chín lần chết chín lần sống. Đau đớn vô vàn.

Diêm La Vương hỏi Liên Hoa hành giả:

1. Anh từng xé nát bức tướng của Căn bản Thượng sư, rồi ném ảnh xé nát vào thùng rác, có hay không?
2. Anh từng dùng lửa thiêu cháy cả đàn kiến, có hay không?
3. Anh phát nguyện muốn in Chân Phật Kinh để bù đắp cho sai lầm xưa kia, nhưng lời nguyện đã đưa ra lại không thực hiện, có hay không?
4. Anh gần gũi với bạn xấu gian ác, bạn xấu đưa anh vào quán rượu, anh uống say rồi phát sinh hành vi tà dâm với gái quán rượu, có hay không?
5. Anh so bì danh vị mà cố ý vu oan giá họa cho một vị trưởng phòng, kết quả là anh được thay thế làm trưởng phòng, có hay không?
6. Anh không những phát sinh tà dâm với gái quán rượu, mà còn dụ dỗ phụ nữ cấp dưới của mình, những phụ nữ này mặc dù cũng cam tâm tình nguyện, nhưng anh lại dâm lạc với phụ nữ đã có chồng tới tận nửa năm, có hay không?
7. Anh keo kiệt bủn xỉn, rõ ràng có tiền bạc thừa thãi để xây chùa, anh không chịu quyên góp, lại còn bảo vợ đừng đóng góp, có hay không?
8. Anh vong ân bội nghĩa, loại bỏ luôn cả người giám đốc từng đề bạt cất nhắc anh, chỉ vì anh cầu lợi từ người khác, có hay không?
9. Mặc dù anh chưa từng tự mình giết hại người, nhưng anh đã tàn nhẫn đuổi việc mấy người cấp dưới làm việc chăm chỉ, khiến họ thất nghiệp. Một người trong số đó chẳng ngờ vì không được thu nhận mà gia đình lâm vào cảnh bần cùng, vợ lại mắc bệnh, cuối cùng anh ta đã tự sát, có hay không?
10. Anh đố kỵ với đồng nghiệp lương thiện, có đức hạnh tài năng, nên chỉ toàn dùng người của mình, chèn ép người có đức hạnh tài năng, có hay không?
11. Anh quy y Căn bản Thượng sư, mượn danh nghĩa để đến phân đường đồng tu, nhưng chỉ muốn đạt được một danh vị, có hay không?
12. Ở tại phân đường, anh toàn bàn luận chuyện thị phi của người khác, chẳng hề chuyên tâm tu pháp, đã nói bao nhiêu điều dối trá, ỷ ngữ, hai lưỡi, ác khẩu, có hay không?
13. Anh không giữ giới, không hành thiện, cũng không thanh tịnh tam nghiệp thân khẩu ý, có hay không?
14. Bạn xấu rủ anh đi săn, anh cũng đi, anh dùng súng săn đã bắn chết chim thú, có hay không?
15. Bức tường bao nhà anh đã chiếm lên đất của người khác, có hay không?
...

Liên Hoa hành giả này đáp: "Không có."
Diêm La Vương lệnh cho quan cai ngục mở gương soi nghiệp ra, phát lại toàn bộ những hành vi xấu xa ghê tởm cả đời ngay trước mắt anh ta. Liên Hoa hành giả chết lặng không nói ra lời.
Nói dối cũng chẳng ích gì.

Diêm La Vương hỏi anh ta:
"Căn bản Thượng sư của anh là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, thật ra mà nói, cá nhân anh đây có thể nói là cái gì cũng sai, nhưng anh từng niệm qua chú Tứ quy y phải không?"
Liên Hoa hành giả này trong đầu đột nhiên hiểu ra:
Namo guru bei. (Quy y Căn bản Thượng sư.)
Namo buddha ye. (Quy y Phật.)
Namo dharma ye. (Quy y pháp.)
Namo sangha ye. (Quy y tăng.)

Lúc này, bầu trời đột nhiên mở ra, có một âm thanh nói: "Liên Hoa hành giả tôn quý, cần nhất tâm trì chú Tứ quy y, cần biết rằng tứ quy y mà bản thân mình niệm, từ một câu namo bất kì trong đó đều có thể đạt được giải thoát, đừng tán loạn, hãy nhất tâm niệm đi! Sám hối tội của mình, nhất tâm quy y, chờ đợi minh quang."

Liên Hoa hành giả rớt nước mắt, nhất tâm sám hối, nhất tâm trì chú. Quả nhiên, tịnh quang xuất hiện, Diêm La Vương và quỷ tốt đều tiêu biến.

Thế là:
Một câu namo Phật.
Vạch ranh giới trời đất.
Chỉ ngay trong một niệm.
Thoát khỏi tam ác nghiệp.


### 23. Pháp sư của pháp hội siêu độ


Trong cái gọi là siêu độ chân chính thật sự cũng có pháp nghĩa bí mật của nó, tuyệt đối không phải là nghi thức biểu hiện bề ngoài mà thôi. Ở đây có Sự mật, Hành mật, Du già mật, Vô thượng mật. Đầu tiên là:
Triệu thỉnh Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, Chư Thiên.
Tiếp theo là gọi các thân trung ấm được siêu độ đến.
Cúng dường Phật và chư vị, và cả thân trung ấm.
Du già diễm khẩu, mông sơn thí thực đều nằm trong đó.

Điểm quan trọng nhất, tốt nhất là cần có Thượng sư đã chứng ngộ khai thị đạo lý đúng đắn về giải thoát cho thân trung ấm được gọi đến và cả quỷ thần, đại chúng của pháp hội siêu độ.
Quán thân bất tịnh.
Quán thọ là khổ.
Quán tâm vô thường.
Quán pháp vô ngã.
Khổ - Không - Vô thường - Vô ngã, khiến cho thân trung ấm và quỷ thần đại chúng nghe pháp đoạn tuyệt với ba nút thắt trói buộc.
Thượng sư chứng ngộ cần giảng giải, khai thị bồ đề đạo mà Đức Phật đã truyền lại, đó là thực tướng của bát nhã đạt đến bỉ ngạn, đó là nhắm vào thân trung ấm, quỷ, thần, hộ pháp long thiên có thượng căn khí mà nói, nếu như có thể minh tâm kiến tính thì tiến nhập vào trong thực tướng bát nhã, như thế là đại phúc phận chân chính.

Trong đó:
Oan thân trái chủ của rất nhiều thân trung ấm lúc bản thân còn sống đã tạo ra, có thể nhân dịp pháp hội này mà đến đòi nợ, những oán hận cùng sự liên lụy rối rắm không thể làm cho rõ ràng được. Kim cương Thượng sư chứng ngộ cần khai thị đạo lý oan thân bình đẳng, lệnh cho đôi bên hòa giải, cùng phát nguyện oan gia nên giải không nên kết, đôi bên cùng vãng sinh đến thế giới Cực Lạc, ai nấy đều hoan hỷ. 
Còn có hệ niệm ba thời nữa.
Triệu mời minh quang Bổn tôn của Phật Bồ Tát đến tiếp dẫn linh chúng và oan thân trái chủ của tổ tiên và thân trung ấm, cũng siêu độ cho quỷ thần tham gia pháp hội. Ngoài ra, đại chúng đệ tử Phật ở dương thế nghe hiểu khai thị của Kim cương Thượng sư, hiểu giáo hóa của Phật Đà, nắm lấy đạo bồ đề và đạo giải thoát mà phát triển trí huệ bát nhã, đạt được lợi ích pháp vô thượng.
Âm dương đều lợi.
Quỷ thần giải thoát.
Đại chúng tín thọ.
Đó mới là pháp hội siêu độ chân chính.

Tôi từng thấy một pháp sư giả mạo, căn bản chẳng hề có chút kiến địa nào, không quy y Tam Bảo, chưa từng thọ giới, cũng không phải tăng bảo, chưa từng tu một đàn Mật pháp nào. Thế nhưng, hắn đi theo người ta đọc kinh sám, học được mấy ngày các khóa nghi thức, thế rồi đi khắp nơi làm pháp sư.
Hắn đội mũ Ngũ Phật. (Tự mua về đội.)
Tay cầm phất trần.
Để tóc dài.
Mặc quần tây, bên ngoài khoác áo cà sa, giới y màu đỏ.
Cổ đeo chuỗi tràng hạt.
Chân đi dép xăng-đan.
Hắn kết giao mối thân tình với những cửa hàng quan tài và tang lễ, hễ có đám tang thì đều gọi hắn đến làm, cũng triệu tập một vài thành viên cơ bản, rồi hắn đi khắp nơi siêu độ cho người ta, trở thành một pháp sư giả hành nghề vì lợi ích (kiếm tiền).

Hắn niệm chân ngôn thí thực không phải do thầy dạy, làm thủ ấn cũng không phải do thầy truyền, chỉ là tang lễ sinh nghi lễ, cử hành pháp hội siêu độ càng ngày càng lớn, pháp sư kiểu ấy có hay không?
Đáp án là "có". Hơn nữa còn có rất nhiều.

Bởi vì chúng sinh trên đời không có pháp nhãn, về cơ bản là không nhìn ra, bản thân những pháp sư giả này cũng đều không thể tiêu trừ được nghiệp chướng của mình, làm sao có thể giải trừ được nghiệp chướng của người chết, cử hành nghi thức Phật giáo chỉ vì kiếm tiền mà thôi, không hề nhất tâm, đồ bố thí của người thân đều rơi hết vào trong túi của họ (pháp sư).

Pháp sư giả kia chính là:
Không như pháp.
Hôn trầm tán loạn.
Giới hạnh bất tịnh.
Làm xằng làm bậy.
Chỉ thuần túy niệm "kinh buôn bán".
Pháp sư giả cứ niệm tới niệm lui, niệm tới đâu tùy ý, lại còn hát lên những bài dân ca vùng núi, những khúc sơn ca mơ hồ, ai nghe cũng chẳng hiểu gì.
*"Em gái nhỏ trên núi hái chè í a!
Ơi chàng trai dưới núi cắt cỏ hoang!
Vui mừng chim chóc bay quanh í a!
Em cùng anh mau thành một cặp đi mà!"*

Pháp sư giả cũng niệm xằng bậy:
*"Đạo sinh ra một em bé
Một em bé lại sinh ra hai em bé
Hai em bé sinh ra ba em bé
Ba em bé sinh ra cả một đám em bé.
Cả đám sinh ra vạn vật hầy dô!"*

Và niệm:
*"Cúng phẩm hôm nay rất dồi dào hầy!
Kim châm, mộc nhĩ, miến đậu, đậu phụ, khoai tây.
Chuối, táo, quýt, đu đủ, thạch lựu.
Mọi người mau đến ăn đi nào!"*

Thân trung ấm và tất cả vong linh tham dự pháp hội lúc này, do là ma nên có sức mạnh năm thần thông, nhìn thấy rất rõ ràng, biết rằng pháp sư chủ trì pháp hội siêu độ là pháp sư giả, điều này khiến cho các vong linh mất lòng tin vào pháp sư, thậm chí sinh lòng nghi hoặc đối với cái gọi là siêu độ, càng thêm bất mãn đối với Phật pháp. Nghi quỹ niệm tụng như vậy căn bản là không thích hợp, chẳng hề có pháp lực gì.

Trong lòng vong linh bất mãn, sinh ra tức giận.
Pháp sư này đã lừa gạt thân trung ấm và chúng sinh.
Lộ rõ bộ mặt pháp sư bịp bợm.

Do vong linh đã phát sinh lòng tức giận, điều này cũng là không tốt, không còn nghi ngờ gì nữa, sân niệm này sẽ liên lụy đến bản thân họ phải đọa vào cảnh địa bi thảm. Ở đây, tôi đặc biệt nói để mọi người biết, trong lúc ở trong thân trung ấm, hãy nhớ lời nhắc nhở của đại thiện tri thức:

1. Đừng tham.

1. Đừng sân.

1. Đừng si.

Cho dù pháp sư giả lừa gạt, bạn cũng đừng tức giận; cho dù con cháu bất hiếu, bạn cũng đừng tức giận; cho dù mọi người tranh giành tài sản của bạn, cãi nhau tới nỗi không thể can ngăn, đưa lên tòa án, bạn cũng đừng tức giận. Hãy chỉ thành kính cầu nguyện Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp, Phật Bồ Tát linh quang bao bọc, khi pháp sư giả không thể cứu vớt bạn, bạn chỉ có cách tự mình cứu mình, tự độ mình thôi! Các đệ tử ạ!


### 24. Tự kiềm chế tham ái sắc tướng


Tôi từng nói, thân trung ấm có khả năng thần hành.
Nghĩ đến nơi nào là lập tức có thể thần hành đến nơi đó. Trạng thái này có một chút tính bất định, nghĩa là không có vật cố định nào có thể dựa vào, và vì không có trọng lượng nên cứ luôn ở trong trạng thái biến động không ngừng, đồng thời rất lờ mờ.

Tuy vậy, đại thiện tri thức khuyến cáo rằng:
Đừng mượn khả năng thần hành mà đi du lịch bốn đại châu: Đông Thắng Thần Châu, Tây Ngưu Hạ Châu, Nam Chiêm Bộ Châu, Bắc Câu Lư Châu. Bởi vì bất luận bạn gặp phong cảnh đẹp đẽ như thế nào, bạn đều không được say đắm, không được dao động tâm, không được hướng về đó, bởi vì khởi lòng tham hoặc quyến luyến là bạn sẽ chuyển thế đến nơi đó ngay.

Người nghiệp nặng sẽ gặp phải:
Trâu tuyết, nước mưa, bóng tối, cuồng phong.
Đại quỷ, ác quỷ, quái thú, dị tượng.

Người nghiệp nhẹ sẽ gặp thấy:
Cảnh đẹp, hoa thơm, cỏ lạ, đồ ăn ngon.
Vui vẻ, hạnh phúc, an nhàn, thư thái.
Bất kể là xấu hay là lành, đại thiện tri thức nhắc nhở bạn, hãy vứt bỏ tất cả sự tham chấp và quyến luyến đi!

Vào lúc này, lời của Lục Tổ Huệ Năng rất có đạo lý:
Không nghĩ thiện.
Không nghĩ ác.
Nhất tâm cầu nguyện Thượng sư và Tam Bảo che chở, bạn nên giữ cho bản thân duy trì thiền định đại thủ ấn với sự bất loạn, thỉnh cầu Thượng sư và Tam Bảo tiếp dẫn.
Chính vào lúc này, trong tâm nghĩ đến cái gì thì cái đó sẽ lập tức hiện tiền, vì vậy, chỉ có thể liên tục có những suy nghĩ thanh tịnh, suy nghĩ về Thượng sư và Tam Bảo không ngắt quãng, hơn nữa còn phải kiên trì đến cùng. Đây là phương pháp tối ưu, tuyệt đối không được tán loạn, ranh giới giữa giải thoát và đọa lạc chính là như thế.

Nếu một hành giả trong lòng vẫn có thói quen và tà niệm tham ái, hơn nữa, nếu không có cách nào tự kiềm chế được, bạn sẽ rất nhanh chóng thấy cảnh tượng nam nữ giao hợp. Đây chính là lúc tham ái sắc tướng xuất hiện. (Xã hội hiện đại rất nhiều người ham xem tranh ảnh "nóng", đó là thói quen tham sắc, phàm phu bình thường đều như vậy, nhưng người tu hành thì không được, phải tự kiềm chế, Phật Đà đã dạy chúng ta rằng tham dục là gốc rễ của luân hồi.)

Nếu như bạn ở trong thân trung ấm, tâm nghĩ cái gì thì cái đó sẽ xuất hiện, một khi có suy nghĩ này, bạn sẽ đặt mình ở ranh giới nguy hiểm. Bởi vì bạn nhìn thấy nam nữ giao hợp, và bạn không có cách nào tự kiềm chế, bạn sẽ vì tham ái sắc tướng mà nhập thai.

Liên Hoa hành giả cao quý, lúc này, bạn cần nghĩ đến những cuốn sách mà Sư Tôn đã viết:
"Sống từng phút giây trong sáng"
"Sống từng phút giây rực rỡ"
"Tâm sự của ông lão ấy"

Xin hãy suy ngẫm cẩn thận.
*”Tướng đỏ trắng rõ ràng
Thân thối nát xanh xao
Xin anh mở to mắt
Vẫn cùng là một người
Da thịt đã thối nát
Ngũ tạng đều hiện ra
Anh hãy nhìn cho kĩ
Còn gì đáng luyến lưu
Nhan sắc chẳng phục hồi
Chỉ còn máu tanh hôi
Nếu muốn tìm xấu đẹp
Hình dáng dần phai mờ
Thối rữa nên khó thấy
Tanh hôi không ngửi nổi
Nào biết nơi máu mủ
Trước đã từng thơm tho
Dê chó ăn thịt người
Người từng ăn dê chó
Chẳng biết người và thú
Ai thối còn ai thơm
Hình hài khi tan rã
Tứ chi vãi tràn lan
Chăm chút vẻ yêu kiều
Rốt cục quy về đâu
Vốn chỉ là xương sọ
Từng mê hoặc con người
Ngày trước tưởng là giả
Nay đã thấy thực tướng
Lửa hừng hực bốc cháy
Hài cốt bỗng hóa không
Thử xem trong đám khói
Có còn khởi tâm tham.”*
Trên đây là bài tụng "bất tịnh quán".

Vì tâm tham dục của chúng sinh mà Phật đã nói bài "bất tịnh quán", quán như vậy hồi lâu sẽ trừ bỏ được tâm tham dục, có thể vượt qua biển tình mà vượt qua biển khổ.
Rồi tụng tiếp:
*”Có yêu rồi cũng hết
Thân này được bao lâu
Vì ai uổng nước mắt
Ai giải niềm nhớ nhung
Còn nhớ lúc đẹp xinh
Thoắt cái đã trương sình
Người trẻ tuổi mới đây
Dung mạo giờ thế này.”*

"Hãy nhìn thấu chuyện nam nữ quan hệ!"
"Hãy nhìn thấu chuyện nam nữ quan hệ!"
"Hãy nhìn thấu chuyện nam nữ quan hệ!"

Nhìn thấu điều đó! Nếu như không nhìn thấu được, bạn tham người nữ thì sẽ sinh thành thai nam, bạn tham người nam sẽ sinh thành thai nữ. Ôi! Ôi! Ôi! Bạn nhập thai rồi, buồn thay! Thương thay! Lại phải luân hồi sinh tử rồi. Đôi khi nhập thai không chắc đã là thai người, đôi khi là thai ngựa, thai dê, thai gà, thai chó, thai trâu, tứ sinh đều là thai.

Nhìn không thấu sắc tướng tham ái thì thật là một đám phàm phu đông đảo, vì thế mà luân hồi sinh tử cho đến tận bây giờ, đó đều là vì tham ái sắc tướng mà ra. Tham ái sắc tướng thì sẽ luân hồi vô tận, chìm chìm nổi nổi trong biển sinh tử, chỉ vì tham dục này mà vĩnh viễn không có cách nào ra khỏi lục đạo luân hồi.
Thân trung ấm vừa thấy cửa thai.
Dương vật của nam.
Âm hộ của nữ.
Thì tâm liền hướng về đó.
Chắc chắn đọa thai không còn gì nghi ngờ!

Lúc này, duy có một câu có thể cứu được bạn: "Om guru liansheng siddhi hum".
Một tiếng "Om" này!
Tướng nam nữ giao hợp liền biến mất, vì sao vậy? "Om" là bản tướng chân như của trời đất vũ trụ, tất cả yên lặng bất động.
Một tiếng "guru" này!
Bạn nhớ đến Căn bản Thượng sư, ánh sáng của Thượng sư sẽ bao trùm lấy bạn (thân trung ấm).
Một tiếng "liansheng" này!
Không phải là tứ sinh: noãn sinh, thai sinh, hóa sinh, thấp sinh nữa. Mà là hoa sen sẽ đến tiếp dẫn bạn vãng sinh, là vãng sinh thanh tịnh.
Một tiếng "siddhi"!
Phật quốc tịnh thổ hiện lên trước mặt bạn.
Một tiếng "hum"!
Thành tựu rồi! Thành tựu rồi! Giải thoát rồi! Giải thoát rồi!

Nên nhớ kĩ Thượng sư tâm chú trong tâm, đây chính là thời khắc quan trọng nhất, là thời khắc nên dùng câu chú này. Liên Hoa hành giả tôn quý, bạn nhất định gần ghi nhớ Thượng sư tâm chú, nhất tâm nắm chắc chủ ý cần vãng sinh về Cực Lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì. Tôi đã nhiều lần giải thích câu Thượng sư tâm chú rồi, bạn còn chưa hiểu sao? Còn phân vân điều gì nữa?
Quyết tâm vãng sinh thôi!
Đừng "dở chứng" nữa!
Đừng nghe theo những lời gièm pha nữa!
Tuyệt đối đừng thay đổi!
"Om guru liansheng siddhi hum."
Câu chú này không phải để niệm cho tôi, mà là niệm cho chính bạn. Liên Hoa hành giả tôn quý, hãy niệm chú đi! Đừng tham ái sắc tướng khoái lạc nhất thời, dương vật, âm hộ, ái dục chỉ như huyễn, như tiếng vọng, như ảnh trong gương, như trăng trong nước. Khoái lạc như bong bóng rất nhanh chóng tan vỡ, thế giới Cực Lạc mới là tốt đó!


### 25. Tôi và Phật Bồ Tát là một nhà


Bế quan ẩn cư tại hồ Diệp Tử, tôi nói: "Tôi và Phật Bồ Tát là một nhà."
Tôi thường nói với Phật Bồ Tát:
"Ăn cơm thôi!"
"Tôi ra ngoài mua hoa quả!"
"Tôi muốn đi ngủ rồi!"
"Hôm nay trời nóng quá, tôi chỉ mặc áo may ô và quần đùi thôi!"
"Phật ơi! Tôi dậy rồi!"

Tôi tuyệt đối không phải là tự cao ngạo mạn, tôi đích thực là đã bế quan ẩn cư như vậy đó, thậm chí khi tôi bị ốm, tôi nói với Phật Bồ Tát:
"Tôi không muốn sống quá lâu, bệnh nghiệp khổ quá rồi, thật quá đáng sợ, để tôi không bị ốm có được không? Thôi để cho các vị tiếp dẫn tôi vãng sinh đi mà!"
Đối với cuộc đời này, tôi cười lớn ha ha.
Tôi chẳng trách cứ bất kì ai, thoải mái đến, thoải mái đi, chẳng có chuyện gì cả, căn bản tôi và Phật Bồ Tát là một nhà, ở cùng nhau.

Mọi người có biết "du già" là gì không? Du già tức là tương ứng, tức là kết hợp, cá nhân tôi và Phật Bồ Tát đã kết nối rồi, vì thế, tôi là đại thiện tri thức. Thật ra, mỗi một linh hồn thấp kém chỉ cần bắt đầu từ lúc quyết định tu hành, đừng để những tình thức sai lầm làm ô nhiễm, tâm không bị chướng ngại, chân tâm, chân như, Chân Phật, Như Lai Tạng tính vốn có, tất cả trí huệ, ánh sáng vốn có của pháp thân, làm sao mà không lộ rõ chứ?
Tu hành du già, tôi và Phật Bồ Tát là một nhà.
Mọi người đều là người một nhà!

Thân trung ấm (linh hồn) thật ra là thoát khỏi sự trói buộc của nhục thể, là khoảng thời gian lúc chưa lục đạo luân hồi hoặc chưa vãng sinh, là một dịp để trấn tĩnh và có thể phản ánh thực tướng quang minh, lúc này mà nhận thức được diện mục vốn có thì rất tốt.
Tôi nhận định như thế này:
Bệnh chướng đã hết rồi.
Đau khổ đã hết rồi.
Nhục thể đã hết rồi.
Ô uế đã hết rồi.
Thân trung ấm và Phật Bồ Tát tương ứng kết hợp, không phải là một nhà sao?
Thân trung ấm có thể cứu độ, điều này cũng chẳng kém dương gian là mấy, âm gian cũng có cứu độ mà, ví dụ như tôi thuyết pháp ở Thái Âm Sơn, độ chúng sinh ở âm gian, nhưng điều này chắc chắn cần có chính trí mới có thể khiến thân trung ấm đạt được hiệu quả và lợi ích trên thực tế.

Từng có một lần, tôi nhìn thấy một Liên Hoa hành giả. Người chết này trông thấy một trai xinh gái đẹp đang giao hợp, trong lòng thấy rất thích thú, toàn thân kích thích đê mê, thế là bản thân cũng sắp sửa nhập vào thai môn rồi.
Tôi hiện thân chặn anh ta lại. Anh ta kêu lên:
"Sư Tôn, đừng ngăn con."
Anh ta chạy về phía đông. Tôi chặn ở phía đông.
Anh ta chạy về phía tây. Tôi chặn ở phía tây.
Anh ta chạy về phía bắc. Tôi chặn ở phía bắc.
Anh ta chạy về phía nam. Tôi chặn ở phía nam.

Liên Hoa hành giả này lúc còn tại thế thích xem ảnh "nóng". Sau khi chết, thói quen không thay đổi, nhìn nam nữ giao hợp, nguyên thần liền cảm thấy đê mê, hồn phách đều lâng lâng, cho dù Sư Tôn đã hiện thân cứu anh ta, anh ta vẫn bất chấp tất cả mà tìm cách trốn lung tung, muốn nhập thai môn. Cần biết rằng thứ mê hoặc con người nhập thai môn giống như một sự tiếp xúc sung sướng, một sự cọ xát khiến khoan khoái được vài phút vài giây, thế rồi đọa thai, rồi chuyển thế trong lục đạo luân hồi.
Tôi quát:
"Đừng nhập thai môn."
Anh ta kêu lên:
"Con muốn được chết thoải mái, thà rằng chết dưới hoa hồng còn hơn, làm ma cũng phải phong lưu!"
"Hoa hồng có gai đó!"
"Quản làm sao hết được!"
Tôi khuyên anh ta:
"Mục đích tu hành là vì cái gì?"
Anh ta rất mông lung.

Tôi lại nói:
"Chân Phật Mật Pháp chính là du già, du già có điểm rất vi diệu, nhất là nhấn mạnh vào việc chế tâm một chỗ, người có thể chế tâm thì cũng là Thánh hiền, còn người không thể chế tâm là phàm phu thôi. Anh cũng đã ở trong du già tương ứng pháp rồi, cũng có công phu được một khoảng thời gian, vì thế, mục đích của tất cả quy y, tu pháp, du già luôn luôn giống nhau, đó là thoát khỏi sự trói buộc của sinh tử luân hồi. Không phải anh muốn giải thoát sao?"
Liên Hoa hành giả này lúc còn sống dù có quy y và tu pháp, nhưng không tương ứng, cho dù tôi đã nói rất rõ ràng, anh ta vẫn lắc đầu.
Tôi hỏi:
"Chính trí là gì?"
"Không biết."
"Chú Tứ quy y là gì?"
"Không nhớ được."
"Thượng sư tâm chú là gì?"
"Quên rồi."
"Chú Bổn tôn là gì?"
Anh ta giống như đã uống rượu và say bí tỉ, hỏi ngược lại tôi:
"Bổn tôn là cái gì?"

Chẳng cần phải nói nữa, tâm linh của thân trung ấm đã mang theo tập tính của kiếp trước đời này, chẳng mấy người có thể trở nên trong sáng. Cho dù anh ta đã quy y, cũng có tu một chút pháp, nhưng không tương ứng kết hợp được với sức mạnh du già. Ánh sáng của Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp và Tam Bảo chưa xuất hiện, ngược lại, thai môn vừa xuất hiện thì với tập tính vốn có, anh ta liền muốn chui vào rồi.

Đương nhiên, tu hành Chân Phật Mật Pháp cũng không phải là có kết quả chỉ sau một đêm. Một số người phải trải qua chính trí chính hành nhiều đời nhiều kiếp mới có thể hoàn toàn tịnh hành, nhưng cứu độ thân trung ấm là cần phải đánh thức chính trí, đánh thức Tam Bảo, đánh thức Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp, chỉ cần đánh thức thì sẽ được cứu. Trước lúc chết cần có chính trí, sau khi chết cũng cần chính trí, như thế mới có thể là người một nhà với Phật Bồ Tát.

Liên Hoa hành giả này đã rơi vào huyễn ảo rồi. Anh ta không thể thức tỉnh lại, tôi tiếc thay!

Lực sinh mệnh của anh ta chỉ muốn chui đến chỗ khoái lạc, anh ta không biết đó là miệng rắn độc, một khi đã chui vào thì chính là nhập thai môn. Tôi chỉ đánh thức thức tạng (chính trí) của anh ta, mà đánh thức không được Như Lai Tạng thức, thức thứ tám A lại da, ý thức Chân Phật kiến văn giác tri siêu việt của anh ấy.


### 26. Niệm Phật và trì chú


Khi tôi mới học Phật, tôi đọc được một mẩu chuyện, trong lòng rất cảm động, câu chuyện ấy như thế này:
Một bà lão niệm Phật, đưa ra một đại nguyện, muốn niệm đủ năm mươi triệu biến A Di Đà Phật mới bằng lòng vãng sinh Phật quốc. Bà lão mỗi ngày đều niệm Phật bằng cách đếm hạt đậu. Bà lão thân mắc bệnh nặng, nhưng hạt đậu không đủ nhiều, còn cách rất xa mới đến năm mươi triệu biến! Phải làm sao đây? Bà lão trong lòng rất sốt ruột, càng vội càng không còn sức.

Lúc này bà đã làm cảm động hai vị đại Bồ Tát. Hai vị đại Bồ Tát này đã hóa thành hai tăng nhân đến nhà của bà lão.
Sau khi hỏi rõ nguyên do, hai tăng nhân bảo bà lão:
"Bà có thể niệm: Nam mô 36 vạn tỉ, 11 vạn, 9 nghìn, 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật!"
Chỉ một niệm này là đã đủ số lượng rồi, hơn nữa còn vượt con số ban đầu rất nhiều nữa, ha ha!
Bà lão niệm theo:
"Nam mô 36 vạn tỉ, 11 vạn, 9 nghìn, 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật."
Những hạt đậu đổ hết ra đất. Bà lão lập tức vãng sinh. Hai tăng nhân hóa thành Bồ Tát và cũng biến mất.

Tôi đọc được mẩu chuyện này thì lập tức ghi nhớ cẩn thận trong lòng, sau đó tôi cũng niệm theo: "Nam mô 36 vạn tỉ, 11 vạn, 9 nghìn, 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật." Còn nhớ trước khi niệm Phật, tôi luôn niệm câu này, niệm Phật xong, trước khi hồi hướng, tôi cũng lại niệm thêm một lần nữa. Thuận miệng niệm ra cũng là câu này. Có cảm ứng, có chứng nghiệm. Tôi cũng dạy các đệ tử niệm câu này: "Nam mô 36 vạn tỉ, 11 vạn, 9 nghìn, 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật." Bây giờ rất nhiều đồng môn đều niệm câu này.

Tuy nhiên, tôi nói để mọi người biết, đối với việc niệm Phật, mọi người không thể làm biếng, phải niệm Phật một cách trung thực mới được, không phải là chỉ niệm một câu này là xong chuyện rồi. Trung thực niệm A Di Đà Phật, niệm một câu lại một câu, câu "Nam mô 36 vạn tỉ, 11 vạn, 9 nghìn, 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật" này là khi "cấp cứu" mới niệm thôi! Tuyệt đối không được làm biếng!

Niệm Phật có lợi ích gì?
Một môn niệm Phật, bao quát tất cả, thượng trung hạ căn, ngũ nghịch thập ác, địa ngục tướng hiện, nhất niệm đầu thành, tức chứng bỉ ngạn.
Ngẫu Ích đại sư nói: "Chư Phật thương xót chúng sinh mê lầm, tùy cơ hóa hiện giúp đỡ, dù quy về cái gốc chỉ là một nhưng có nhiều pháp môn thiện xảo, thuận tiện. Tuy nhiên, xét trong mọi phương tiện, để cầu pháp môn viên mãn, nhanh chóng và trực tiếp nhất thì không pháp nào bằng niệm Phật cầu vãng sinh tịnh thổ.”

Chúng ta cũng khuyên thân trung ấm như sau:
Tây phương ở ngay trước mặt bạn.
Bạn nhất tâm niệm Phật để làm niềm hy vọng vãng sinh Tây phương của bản thân. Đây chính là ý nghĩa quan trọng của việc chết.

Chúng ta hiểu rằng, "chú" chính là bí mật ngữ của Phật Bồ Tát, được gọi là "chân ngôn", chân ngôn đà-la-ni, từng lời chân ngôn đều là ngôn ngữ vi diệu đỉnh cao của Như Lai, tất cả bí mật ảo diệu của Như Lai, có thể tự giác Thánh trí.

Bởi thế, ngài Tsongkhapa nói như thế này:
"Niệm Phật là danh hiệu của Phật."
"Trì chú là tâm ngữ của Phật."

Trì chú có được tương ứng du già rồi thì tức là đã diệt chướng tăng huệ, chuyển phàm thành Thánh, uy đức thần lực, bất khả tư nghì, nên mới gọi là bí mật. Để luận về "niệm Phật" và "trì chú" thì cá nhân tôi chủ trương cả hai đều được, thật sự là không có phân biệt cao thấp.

Ngày xưa, Liên Trì đại sư chủ trương:
Chuyên trì danh hiệu A Di Đà Phật thì cũng hơn tất cả công đức dư thừa. Trì danh thì chí tâm niệm Phật một tiếng, lập tức diệt trọng tội của tám tỉ kiếp sinh tử. Chuyên trì danh hiệu, tức đại thần chú, đại minh chú, vô thượng chú, vô đẳng đẳng chú. Nhờ mười niệm mà được sinh, sinh tức bất thoái, uy linh bất trắc, là đại thần chú. Nhất tâm bất loạn, đoạn vô minh, kiến tự tính, là đại minh chú. Vãng sinh Cực Lạc, cuối cùng thành Phật, là vô thượng chú. Chứng vô sinh nhẫn, hồi nhập Ta Bà, phổ độ chúng sinh, là vô đẳng đẳng chú.

Liên Trì đại sư nói, niệm Phật tương đương với đại thần chú, đại minh chú, vô thượng chú, vô đẳng đẳng chú.
Niệm Phật cũng tức là trì chú.
Tôi cũng ca ngợi như vậy!

Tôi tu chân ngôn bí mật, tôi nói về "chú" như sau:

1. Là tâm Như Lai.
2. Là mắt Như Lai.
3. Mọi pháp đều vô nhiễm.
4. Thần biến gia trì.
5. Bất sinh bất diệt.
6. Liên hoa tạng.
7. Kim cương nghĩa.
8. Chân trí.
9. Cực điểm tính tịch.
10. Tức thổ tức sinh.
11. Vô dị vô tướng.
12. Pháp nhĩ thường hằng.
13. Bản giác.
14. Vô nhiễm năng chặn.
15. Thành Phật.

Tôi nói "chú" là kho tàng vô tận, sơ sơ mười lăm điều mà tôi viết ra này thì đã là khó mà suy xét không thể nghĩ bàn rồi, là bao quát khắp mọi pháp giới, không trừ một nơi nào, ứng dụng vô tận. Là thường lạc ngã tịnh, là Không.

Các đại bi vạn hạnh ba la mật như hoa tạng, nhiều như vi trần của mười phương thế giới. Trong lục đạo tam thừa có vô lượng ứng thân, nhiều như rễ thân cành lá, phát sinh đan xen. Dùng các loại công đức ấy mà tạo thành những bánh xe vòng tròn bí mật, gọi là mandala, đà-la-ni, là giáo pháp bí mật.

Tôi nói thế này:
Chỉ cần là chú ngữ bí mật của Thánh Tôn truyền thừa, bạn có được quán đảnh, thiết lập cảm ứng sóng âm của tâm linh với Thánh Tôn, tức là du già, như vậy trì chú đã có được quan hệ giao cảm. Vì âm thanh có sẵn sức mạnh vô thượng nên trì chú sẽ có được sức mạnh, sức mạnh này là tần số rung động. 

Càng bởi vì sức mạnh vô thượng của mật chú, nên các Kim cương Thượng sư qua bao thế hệ đều xây dựng phép tắc truyền pháp, nhằm giữ gìn truyền thừa chân ngôn mật chú, để không bị những kẻ có trí tuệ non kém hoặc kẻ lưu manh có được mà sử dụng xằng bậy. Đây cũng là mật chú truyền thừa, không truyền bừa, vì thế mà trở thành một trong những nguyên nhân của sự bí mật.

Chúng ta dạy cho thân trung ấm niệm Phật:
Nhắc họ thường nhớ niệm danh hiệu Phật.
Thức tỉnh họ.

Chúng ta dạy cho thân trung ấm trì chú:
Trì chú mà họ thường trì. Là để đánh thức mật chú truyền thừa của họ. Tụng chú này trong chốc lát là có thể tương ứng, có thể nhờ chú này mà dần dần bay lên kết hợp với minh quang.


### 27. Hiểu biết đúng đắn của Liên Hoa hành giả về thân trung ấm


Với sự chứng ngộ của cá nhân mình, tôi muốn chia sẻ với các Liên Hoa hành giả như thế này:
Sự tồn tại của con người trên thực tế là biến hóa liên tục. Người có thể mãi mãi bất biến là Phật Đà chứng ngộ. Khi còn là phàm phu trong luân hồi thì đều là hư huyễn không thực, người xưa là người nay, người nay cũng là người xưa.

Sống tức là khởi đầu của chết, chết cũng là khởi đầu của sống, sống chết có tính bất ổn định, muốn sống mãi và bất diệt thì chỉ có tu hành chứng quả. Từ khi nhân loại bắt đầu đến nay đều tồn tại trong huyễn vọng vô minh, sinh tử cũng là huyễn vọng vô minh, chịu sự sắp đặt của nó, người bình thường cho rằng là thực tướng, thật ra chỉ là huyễn vọng vô minh thôi, sinh tử là như nhau, ngay cả thân trung ấm cũng là như nhau, rồi ngay cả những huyễn ảnh trong khi nằm mơ cũng là như nhau. Con người căn bản chính là mê, mê đến mức không còn cách nào nhìn rõ sự thực được nữa.

Sau khi con người chết đi, thân trung ấm chỉ tồn tại tạm thời, mà thật ra sinh tử cũng là tạm thời. Cõi trời hay cõi địa ngục thì cũng chỉ là tạm thời, tất cả đều có thời hạn, giống như đời người vậy, có người trường thọ, có người đoản mệnh, đó đều là nhân quả, vô minh, nghiệp chướng.

Tôi nói để mọi người biết, muốn độ hóa chúng sinh, không chỉ là ở dương thế, không chỉ là ở thân trung ấm, không chỉ là ở âm gian, thậm chí Phật Đà cũng dùng phân thân của báo thân để thuyết pháp ở Sắc Cứu Cánh Thiên. Lô Giá Na Phật chính là Phật Thích Ca Mâu Ni.

Tu hành đều nằm ở chỗ thấu rõ các niệm tưởng sai lầm của phàm phu thông thường và kiến văn giác tri, loại bỏ những nghiệp chướng được tạo ra bởi sự hư vọng trên phương diện hành vi, khiến thực tướng chân chính hiển hiện ra. Thân khẩu ý của một người hoàn toàn thoát khỏi sự che mờ liên tục của nghiệp chướng. Khi nghiệp chướng tiêu trừ, ánh sáng của thực tướng chính trí mới hiển hiện ra.
Thân thanh tịnh.
Khẩu thanh tịnh.
Ý thanh tịnh.
Lúc đó mới có thể thật sự cắt đứt phiền não, tâm thức mới là chân ngã, chân tâm, chân như, chân Phật của Như Lai Tạng. Đó mới là pháp thân, là cảnh giới đại viên mãn.

Nhân loại từ khi luân hồi đến nay (không chỉ mỗi loài người, mà đúng ra là toàn bộ chúng sinh) thì đã có vô thủy vô minh rồi, nghĩa là có vô lượng vô biên sự vô minh. Sự vô minh của chúng sinh đương nhiên là có sự khác biệt, cũng mỗi người mỗi khác, nông sâu khác nhau, có người thông minh có người kém cỏi.
Điều chướng ngại chính là:
Ngã kiến.
Tham, sân, si.
Phiền não.
Vân vân…
Những thứ này đều là do vô minh mà có.
Muốn vô minh bị diệt đi, cần phải thấu được nhân tâm vọng tưởng, cần phải tu pháp xuất ly, có nghĩa là đạo giải thoát. Dùng Tứ niệm xứ của Phật Đà:
Quán thân bất tịnh.
Quán thọ là khổ.
Quán tâm vô thường.
Quán pháp vô ngã.

Nhờ tu hành ngũ uẩn đều không, vô minh sẽ diệt, nhờ vô minh diệt mà tâm không khởi lên, nhờ không có sự khởi lên mà nhân duyên bị diệt, mới chứng giải thoát A La Hán.

Cần biết mọi pháp đều là tâm thức, ngoài tâm thức ra thì vô pháp, cái gọi là toàn bộ cảnh giới đều do tâm thức mà sinh ra. Bát thức tâm vương [8 loại tâm thức có trong mỗi con người hoạt động như một khối, vừa có sự độc lập nhưng vừa có sự chứa đựng nhau, bổ trợ cho nhau trong việc nhận thức về đối tượng, bao gồm: nhãn thức, nhĩ thức, tị thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, mạt na thức và a lại da thức.], Như Lai Tạng thức, cất giữ tất cả trí tuệ, cất giữ Như Lai Chân Phật, nếu tâm rời xa những vọng động, tâm không còn kiến văn giác tri thì tất cả cảnh giới đều diệt, duy nhất chân tâm nguyên bản là còn, không có nơi nào là không chiếu đến.

Vì nguyên nhân này mà tam giới vốn dĩ là hư huyễn, Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới đều là hư huyễn, ngay cả lục đạo cũng là hư huyễn, đều là do tâm tạo ra. Rời khỏi tâm rồi thì không có cảnh giới lục trần nữa, tất cả cảnh giới đều từ tâm khởi vọng niệm mà sinh ra, tất cả mọi sự phân biệt là phân biệt bởi tâm.
Tương tự như:
Trăng trong nước.
Ảnh trong gương.
Ảo ảnh.
Ảo vọng.
Tâm sinh thì mọi pháp sinh.
Tâm diệt thì mọi pháp diệt.

Bởi vậy chính trí của thân trung ấm là: không kinh, không sợ, không hoảng, không loạn. Giờ đây, sắc thể đã không còn, chỉ còn là trí thân. Dựa vào trí tính để có thể xuất hiện pháp thân, báo thân của thập phương tam thế vô lượng Phật Bồ Tát, vô lượng Phật thổ trang nghiêm, là thần dụng của chân như tự tại.

Có ba điểm quan trọng:
Theo đệ nhất nghĩa đế, do chính nghĩa ô nhiễm nên mới xuất hiện sự phân biệt sinh diệt.
Vượt qua biển khổ sinh tử, chỉ cần tâm không vọng hữu, tính tự bản vô.
Cuối cùng, thân trung ấm rời xa sự bám víu vào vọng tưởng, cần biết chính trí là phi sắc phi tâm, phi trí phi thức, phi hữu phi vô, rốt cục không thể nói tướng. Ý nghĩa của nó là rời xa kiến văn giác tri, quy về chân như, sẽ kiến chứng Chân Phật.

Chân Phật là gì?
Mã Minh Bồ Tát nói:
"Chân ngã, chân như, chân Phật là tất cả phàm phu, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, chư Phật không có tăng giảm, không từng sinh ra trong quá khứ, không có sự diệt mất trong tương lai, là sự thường hằng rốt ráo. Từ vô thủy, tính ấy đã tự có đầy đủ tất cả công đức, vì thế mà gọi là tự tính có đại trí huệ quang minh nghĩa, biến chiếu pháp nghĩa, chân thực thức trí, tự tính thanh tịnh. Thường, lạc, ngã, tịnh nghĩa, thanh tịnh bất biến tự tại nghĩa."
"Bản lai diện mục có đầy đủ tất cả trí, là bất ly, bất đoạn, bất dị, bất tư nghì, thậm chí đầy đủ tới mức không có gì thiếu hụt, gọi là Như Lai Tạng, cũng gọi là Như Lai pháp thân, cũng tức là Chân Phật."

Xin ghi nhớ:
Ngũ âm pháp tự tính không sinh. Tức không có diệt.
Bản lai niết bàn.
Như Lai Tạng không có ranh giới trước.
Như Lai Tạng không có ranh giới sau.
Bạn cũng có thể đắc niết bàn giống như chư Phật.
Trong bản văn này, tôi bàn đến "chính trí của thân trung ấm", tự cảm thấy viết cũng khá sâu, có lẽ có người đọc sẽ không hiểu.

Tuy nhiên, việc tôi dạy đi dạy lại nhằm giải thích rằng mỗi cá nhân đều có Phật tính (chân thực Như Lai Tạng), đều đầy đủ viên mãn. Chẳng phải Mật giáo nói với bạn rằng bạn chính là Phật sao? Trong chính trí của thân trung ấm cũng là như thế.

Thật ra, không cần sợ hãi mọi tướng bên ngoài. Nhất niệm bất sinh, nhất tâm bất loạn là quan trọng nhất. Rời xa tâm kiến văn giác tri.

Minh quang thanh tịnh ở đây đã xuất hiện rồi, chính xác như một ngọn đèn Phật được thắp lên, năng lực tự tính này, bản lai diện mục, là nhờ truyền thừa của Căn bản Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn của tôi, đại viên mãn truyền cho các đệ tử Chân Phật Tông, đây chính là chính trí của Như Lai Tạng.


### 28. Sai khác của cảnh tướng


Có người từng hỏi tôi:
"Thân trung ấm là tất cả các tướng, thật sự là giống với những gì mà Mật tông Hồng giáo đã nói, từ ngày thứ nhất đến ngày thứ bảy là các Thánh tôn trong Hỷ Lạc Bộ hiện tiền. Từ ngày thứ tám đến ngày thứ mười bốn là các Thánh tôn trong Phẫn Nộ Bộ hiện tiền. Còn có minh giới thẩm lý và phán quyết, cảnh tướng của bảy bảy bốn chín ngày của thân trung ấm, những gì mà chúng sinh nhìn thấy đều giống nhau phải không?"
Tôi đáp:
"Pháp trung ấm nghe dạy mà được độ của Mật giáo là cảnh tướng trong tâm thức với tín chúng thông thường của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, có thể nói là cảnh tướng của Hồng giáo. Theo như tôi biết, cảnh tướng này mỗi người mỗi khác, không phải mọi chúng sinh đều giống nhau!"

"Vì sao lại như vậy?" - Anh ta nghi hoặc.
Tôi đáp:
"Anh có nằm mơ không?"
"Có mơ."
"Các giấc mơ đều giống nhau sao?"
"Không giống."
Tôi nói:
"Chính thế, chính thế, cảnh tướng trung ấm so với giấc mơ của chúng sinh thì cảm nhận càng nhiều và càng ly kỳ hơn, có thể nói là không gì là không có."
Người đó lại hỏi:
"Đây là đạo lý gì?"
Tôi đáp:
"Tâm con người như thân trung ấm, liên tục biến hóa từng sát-na, hạt giống trồng xuống là cái gì thì sẽ sinh trưởng ra cái đó! Chính là đạo lý này. Tín đồ của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ thì có chư Tôn của Hỷ Lạc Bộ và Phẫn Nộ Bộ hiện thân. Còn như thân trung ấm của tín đồ Cơ Đốc giáo, Hồi giáo, Ấn Độ giáo, Đạo giáo thì đương nhiên sẽ sản sinh ra những sự sai biệt khác nhau."

Người đó hỏi:
"Nếu là người theo thuyết duy vật thì sẽ nhìn thấy tướng gì?"
Tôi đáp:
"Hang trống."
"Hang trống là cái gì chứ?"
"Cảnh tượng gì cũng đều không có, nên tiêu cực mà rơi vào trong hang trống, nhưng cũng dựa theo nghiệp báo của anh ta, ví dụ như rơi vào dòng thác lũ mà lục đạo luân hồi, không có được một chút sự cứu độ nào, đây chính là nỗi bi ai của người theo thuyết duy vật!"
"Thuyết duy vật có đúng không?"
Tôi đáp:
"Cảnh trong mơ lúc bình thường của anh ta sẽ chính là cảnh tướng trung ấm của anh ta. Thuyết duy vật chi phối tâm tạng của anh ta, căn bản chính là không có duyên phận được cứu độ."

"Người theo chủ nghĩa duy vật thì không hiện lên cảnh tướng thẩm phán và địa ngục sao?"
Tôi cười lớn ha ha:
"Lục đạo luân hồi thuần túy là nghiệp báo, bất kể là duy vật hay duy tâm."
Anh ta lại hỏi:
"Người duy vật không có suy nghĩ về nhân quả báo ứng, chẳng phải là sẽ không hiện nhân quả báo ứng sao?"
Tôi đáp:
"Vẫn là chủng tử, chủng tử Phật giáo, người hiện đại nói, trồng nhân gì thì được quả đó, và muốn thu hoạch cái gì thì hãy trồng cái đó!"

Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện Kinh nói:
"Khi ấy, Địa Tạng Bồ Tát bạch Thánh Mẫu rằng, cõi Nam Diêm Phù Đề, tội báo phải trả như sau, nếu có chúng sinh bất hiếu với cha mẹ, hoặc thậm chí sát hại, thì sẽ đọa vào địa ngục vô gián, nghìn vạn ức kiếp không có hồi thoát ra.

Nếu có chúng sinh làm thân Phật chảy máu, phỉ báng Tam Bảo, bất kính với kinh sách tôn quý, cũng sẽ đọa vào địa ngục vô gián, nghìn vạn ức kiếp không có hồi thoát ra.

Nếu có chúng sinh giả làm sa môn, nhưng tâm không phải tâm của sa môn, phá hoại lợi ích thành thói, lừa bịp dân thường, làm trái giới luật, làm đủ trò xấu, những hạng người như thế sẽ đọa địa ngục vô gián, nghìn vạn ức kiếp không có hồi thoát ra.

Nếu có chúng sinh, trộm cắp thành thói, tiền tài lương thực, thức ăn quần áo, ngay cả những vật không phải của mình, sẽ đọa địa ngục vô gián, nghìn vạn ức kiếp không có hồi thoát ra."
(Đây là gieo nhân gì thì gặt quả đó.)
Không có liên quan gì đến việc tin hay không tin.

Tôi lấy ví dụ như sau:
Có một người bán gà, giết gà đem bán tại các chợ lớn. Đã giết đến hàng nghìn nghìn vạn vạn tỉ tỉ con gà, không thể đếm xuể, không thể tính toán. Sau khi ông ta chết. Tất cả các lỗ hổng trên khắp người đều thâm tím, trước khi chết đã vô cùng đau đớn, đó là bị gà mổ. Sau khi chết, trông thấy lũ gà vây xung quanh, tới nghìn nghìn vạn vạn triệu triệu con.
"Trả mạng cho ta!"
"Trả mạng cho ta!"
Đám linh hồn gà kêu gào.
Người bán gà này trước lúc chết cũng hét to: "Lũ gà đến đòi mạng tôi!"

Ví dụ thứ hai:
Có một người phụ nữ phải nhập viện vì ung thư tử cung. Trong lúc mê man đã trông thấy rất nhiều người (thủy tử linh), là những đứa bé mà bản thân cô đã bỏ, những đứa bé đã bị bác sĩ phá từ trong thai.
Chúng nắm tay nhau nhảy múa xung quanh giường bệnh. Chúng nhao nhao kêu lên:
"Mẹ ơi! Trả mạng cho con!"
"Mẹ ơi! Trả mạng cho con!"
Người phụ nữ này mỗi lần mơ đều trông thấy cảnh tượng như vậy nên cực kì sợ hãi. Bản thân cô cho rằng bỏ đi mấy cái thai cũng chẳng đáng kể gì, rất nhiều người chẳng phải đều như thế sao, nên cô cũng chẳng hề bận tâm. Nhưng từ khi vào viện, trẻ con nhảy múa quanh giường bệnh và kêu gào, cuối cùng cô ấy không chịu đựng được nữa, đã tự sát mà chết.

Ví dụ thứ ba:
Có một người căn bản là không tin Phật, không tin Thần, không tin nhân quả, anh ta giết người phóng hỏa, gian dâm phụ nữ vô số. Sau đó anh ta đã bị phán tội tử hình. Sau khi chết, anh ta nhìn thấy những người đã bị anh ta sát hại đều hiện thân đòi nợ, bản thân anh ta cũng rơi vào địa ngục chịu phán xét. Anh ta bị phán vào địa ngục vô gián.

Điều tôi muốn nói với mọi người bây giờ là, nói chung, Phật, thần, ma quỷ, thiên đường, địa ngục, v.v… đều xuất phát từ hình thái ý thức của chúng sinh, mỗi người mỗi khác, đây thuần túy là vấn đề về nghiệp của thân, khẩu, ý.

Người theo chủ nghĩa duy vật chẳng tin vào điều gì cả! Thế nhưng, anh ta trồng xuống hạt giống gì thì cũng vẫn là trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu. Tùy theo ý thức bản thân mà sinh ra.
Đây là sự sai khác về cảnh tướng của thân trung ấm.


### 29. Độ qua biển sinh tử


Theo như tôi biết, người tu hành cần minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử thì mới được xem là vượt qua biển lớn sinh tử. Những vong linh như vậy đã hoàn toàn đạt tới sự tịnh hóa, trong Mật giáo thì là do chuyển thức thành trí, trí này là trí căn bản, nên tức thân thành Phật.

Tu hành Hiển giáo thông thường muốn minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử cần tu đạo giải thoát và đạo Tam thừa Bồ Tát, từ A La Hán đến Bồ Tát thập địa, trải qua 52 bước, cuối cùng là đẳng giác, diệu giác mới chứng được Phật quả.

Thật ra, Mật giáo Hiển giáo đều có trung ấm cứu độ, không những Mật pháp coi trọng pháp này mà Hiển pháp cũng coi trọng tầm quan trọng của thời khắc lâm chung. Tôi cho rằng, quãng thời gian này, trong vòng bảy bảy bốn chín ngày là vô cùng quan trọng, nếu như tận dụng một cách cực kì thỏa đáng thì có thể dễ dàng vượt qua biển lớn sinh tử. Tận dụng không đúng thì sẽ sản sinh ra chướng ngại, nghiệp lực cản trở, và thế là đi lục đạo luân hồi.
Tôi nghĩ rằng cảnh giới thân trung ấm thật sự là trọng điểm, không thể coi thường.

Trong thời gian này phải trải qua:
Ngủ.
Xuất thần.
Thoát ra khỏi cái vỏ máu thịt.
Sự thanh tịnh vốn có xuất hiện.
Cảnh tướng thân trung ấm xuất hiện. (Huyễn tướng liên quan tới nghiệp chướng.)
Cảnh tướng đầu thai chuyển thế trong lục đạo luân hồi xuất hiện.
Chuyển thế.
(Thân trung ấm kết thúc.)

Những trải nghiệm này giống như ở trong một giấc mơ vậy, người bình thường trừ phi đã giác ngộ có thể tự chủ, còn phần lớn thân trung ấm đều mơ mơ hồ hồ, vọng tưởng bám chấp. Có nhiều thân trung ấm thì cho dù đã chết nhưng bản thân vẫn còn không biết, mãi đến khi biết mình đã chết thật rồi thì lại sinh ra mong muốn mạnh mẽ, hết sức hy vọng rằng mình sẽ lại có thân người nữa, thế là lại đầu thai đến một đạo bất kì trong lục đạo.

Đối với người bình thường thì đây là trạng thái thường gặp. Muốn duy trì sự sáng rõ thì rất khó, rất khó.
Bởi vì:
Trồng đậu được đậu.
Trồng dưa được dưa.

Muốn minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử, vượt qua biển lớn sinh tử, Thiền tông có một công án như sau:
Hối Am Di Quang có một hôm đến tham vấn Đại Huệ Ngụ Quảng thiền sư:
"Đến nay tôi vẫn không thể có được kinh nghiệm giác ngộ thấu triệt, bệnh nằm ở đâu?"
Đại Huệ đáp:
"Bệnh này của anh là bệnh khó nhất, bác sĩ trên đời cũng bó tay, người khác chết rồi thì không sống được nữa, anh nay sống mà chưa từng chết, muốn đến vùng đất đại lạc thì phải chết một phen mới đắc được."
"Chết một phen" ở đây thì tôi đã trải qua rồi.

Nhờ có Quan Thế Âm Bồ Tát cho tôi đôi giày thần hành mà tôi đã bị tứ đại phân rã, não phân tám phần, hiện ra Chân Phật. Tôi đã chết rồi.
"Chết một phen" này cũng không phải là chết thật, mà là tất cả phiền não, tất cả ngã kiến, tất cả ngã chấp đều đã chết rồi.
Phiền não, ngã kiến, ngã chấp này đều là do kiến văn và giác tri mà có, nếu không có những thứ này thì diện mạo thật sự vốn có, chân ngã, chân như, chân Phật mới hoàn toàn hiển lộ ra được.
Đó chính là "chết một phen".
Điều này rất đáng mừng.
Dung nhập vào trong ánh sáng Phật tính vốn có, ánh sáng Phật tính này tự nhiên tuôn chảy ra, vì sao có thể như vậy? Bởi vì phiền não đã không còn, ngã kiến không còn, ngã chấp không còn, Phật tính chân như vốn vẫn luôn ở đó, chỉ là bạn không thấy mà thôi. Đây chính là:
Mật nghĩa.
Thiền cơ.
Bát nhã.
Duy thức.
Trung quán.

Trong quá khứ tôi thường nói:
"Loại bỏ ngã chấp, bỏ chấp! Bỏ chấp! Bỏ chấp! Khi kiến văn giác tri không còn, chân như thường trụ bất hoại sẽ xuất hiện, đó là thời cơ đẹp nhất của minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử."
Thân trung ấm là thời cơ đẹp nhất.

Vì thế, cần phải thức tỉnh thân trung ấm như thế này:
"Liên Hoa hành giả, từ vô thủy đến nay lang thang khắp lục đạo luân hồi, trong biển khổ sinh sinh tử tử, cho đến tận hôm nay là vì sự vô minh của anh, sự bám chấp của anh, sự phiền não của anh. Bây giờ anh đã thoát khỏi nhục thân rồi, cũng cần phải giải thoát khỏi vô minh, giải thoát khỏi phiền não, giải thoát khỏi ngã kiến, giải thoát khỏi ngã văn, giải thoát khỏi giác tri. Nếu anh buông bỏ mọi ngã chấp thì cũng là lúc thoát khỏi tất cả sự trói buộc. Liên Hoa hành giả, hãy làm theo pháp, cầu sinh đến Cực Lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì để được hóa sinh trong hoa sen.”

Ngã chấp của con người là thế nào?
Chính là "cái tôi".
Danh lợi địa vị.
Tài sản.
Vợ con.
Cháu chắt.
Sắc dục.
v.v…

Thân trung ấm chỉ cần vứt bỏ đi ngã chấp thì sẽ loại bỏ được sự trói buộc, bởi vì chỉ cần bạn muốn cái gì là bạn sẽ bị trói buộc vào cái đó, vĩnh viễn không có cách nào vượt qua biển lớn sinh tử được. Liên Hoa hành giả cần phải thấy chán ghét lục đạo luân hồi, cần biết lục đạo luân hồi đều là khổ, không, vô thường, vô ngã.

Cứ thế, cứ thế, nhất tâm bất loạn hướng về bỉ ngạn mà đi, hướng về Tây phương Cực Lạc tịnh thổ, hướng về Ma Ha Song Liên Trì tịnh thổ, hướng về tịnh thổ hạnh phúc vui vẻ, hướng về Đông phương Lưu Ly Quang tịnh thổ...
Tịnh thổ này là đất nước mà các Thánh nhân trú ngụ, tịnh thổ này không có sự ô nhiễm của ngũ trọc.

Đối với thân trung ấm, chúng ta làm pháp sự thức tỉnh là quan trọng nhất. Thân trung ấm lúc này có thể nhớ việc duy trì "không định" là rất quan trọng.
Có thể "vô ngã chấp" là rất quan trọng.
Có thể biết vạn pháp là huyễn rất quan trọng.
Có thể như như bất động là rất quan trọng.
Có thể nhất tâm bất loạn là rất quan trọng.
Có thể quy y Thượng sư, quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng là rất quan trọng.
Niệm Phật quan trọng.
Trì chú quan trọng.
Hãy chuyển thức đến Phật thổ thanh tịnh đi! Hãy giải thoát mà chứng Phật đạo đi! Hãy an trụ trong cảnh giới pháp thân bất sinh bất diệt đi! Hãy vô sinh mà viên giác quả vị đi! Anh chính là Thánh tôn đại bi!


### 30. Chăm sóc lúc lâm chung (phần 1)


Cá nhân tôi cảm thấy, địa điểm trợ niệm cho người lâm chung cực kì quan trọng. Nếu như nơi đó quá phức tạp thì không tốt. (tối kỵ ồn ào)

Bất kể là ở bệnh viện hay ở nhà riêng, trước tiên nên sắp đặt địa điểm thanh tịnh, nếu như có Thượng sư, pháp sư thì đầu tiên quan trọng là cần tẩy tịnh. Nếu có tượng Tây phương Tam Thánh là tốt nhất. Nếu không có thì cũng có thể dùng sách, nên đặt ở chỗ mà người chết có thể nhìn thấy. (Hoặc có thể dựa vào Bổn tôn của người chết.)

Nhóm trợ niệm cần biết Bổn tôn của người chết, hoặc tịnh thổ mà người chết muốn vãng sinh. Một số người chết thích niệm Quan Thế Âm Bồ Tát thì hãy niệm Quan Thế Âm Bồ Tát, Bổn tôn của người chết là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ thì hãy trì chú của Liên Sư. Có người chuyên trì A Di Đà Phật thì hãy niệm A Di Đà Phật, cũng có người có Bổn tôn là Địa Tạng Bồ Tát, thế thì niệm Địa Tạng Bồ Tát, tuyệt đối không được trợ niệm sai.

Băng ghi âm phát niệm Phật niệm chú có được không? Có thể được, nhưng cần nhân duyên tương hợp, ví dụ người này muốn vãng sinh Ma Ha Song Liên Trì thì đừng có phát chú Thần Tài, đương nhiên phải là Liên Hoa Đồng Tử tâm chú hoặc Chân Thực Phật Pháp Tiêu Tai Ban Phúc Kinh. Có một câu chú mà có thể phát được cho bất kì người chết nào chính là chú Vãng sinh.

Tôi cho rằng:
Phát băng ghi âm.
Người trợ niệm nhất tâm trợ niệm.
Đó là sự bổ trợ lẫn nhau.

Đại thiện tri thức vào trước lúc thần thức người chết rời khỏi nhục thân, hoặc sau khi thần thức đã rời khỏi nhục thân, đều có thể ở bên tai mà khai thị cho người chết, thức tỉnh, thuyết pháp, khuyên nhủ, cảnh tỉnh, an ủi, mấy câu quan trọng nhất đương nhiên là:
Nhất tâm bất loạn.
Vô ngã chấp.
Tất cả hiện tượng là huyễn.
Niệm Phật.
Trì chú.
Dung nhập minh quang.
Phải buông bỏ tất cả phiền não, yêu ghét, tiền, sắc, danh, v.v…

Đại thiện tri thức cần tiếp dẫn cho người chết vãng sinh đến quang minh đại đạo. Hãy nhớ kĩ! Đừng có khuyên họ quay lại nhân gian để đoàn tụ. Thời gian trợ niệm nên bắt đầu từ trước và sau khi tắt thở, thời gian càng lâu càng tốt, trước linh vị cũng có thể niệm.

Nhóm trợ niệm trợ niệm, người thân ở bên cạnh và các con các cháu đừng chỉ có đứng một bên nhìn, mà cần chắp tay lại cùng niệm Phật trì chú. Về Phật hiệu thì có người chủ trương đọc Nam Mô A Di Đà Phật, có người chủ trương đọc A Di Đà Phật, tôi cho rằng thế nào cũng được. Bởi vì có liên quan đến thời gian dài của việc trợ niệm, có khi kéo dài đến 10 tiếng, 20 tiếng, nên chia lượt ra để làm, mọi người luân phiên nhau niệm Phật trì chú, âm thanh niệm khoan thai đẹp đẽ, đúng mực vừa phải. Tóm lại, quan trọng là khiến người chết yên tĩnh thoải mái.

Chúng ta biết rằng với người chết, thân tâm họ chắc chắn đau khổ, nếu có thể khiến thân thể họ dễ chịu được một chút, tâm yên ổn được một chút, thì người thân không nên khóc lóc, kêu gào, xích mích, cãi nhau, khiến họ phiền muộn thêm. Hãy làm sao để bên tai họ thần thức chỉ nghe thấy Thánh hiệu Như Lai, trong tâm họ sẽ niệm theo, hoặc miệng hoặc thần thức sẽ niệm theo, như thế mới là thoải mái tự nhiên nhất.

Nhóm trợ niệm cần chuẩn bị những thứ sau:
Liễu âm. [một loại pháp khí phát ra âm thanh tinh tinh tinh]
Mõ nhỏ.
Ba bức tượng Thánh.
Bút, giấy.
Băng ghi âm trợ niệm, một máy phát băng ghi âm.
Các phần cúng phẩm cúng dường Thánh tôn tùy ý.
Nếu niệm kinh thì đem theo kinh điển.
Pháp y, chăn vãng sinh, cam lộ hoàn, cát kim cương.
v.v…

Có một điều cũng rất quan trọng. Phần nhiều người chết ở thế giới Ta Bà này luôn có việc không thể buông bỏ, nên khi người đó còn có thể nói được rõ ràng, người thân cần hỏi cho rõ, đồng thời hứa với người chết nhất định sẽ hoàn thành, để họ yên tâm mà đi.

Người chết kỵ nhất là nhớ đến người nào, việc nào, ân gì, oán gì, ghét gì, yêu gì, điều này cần đại thiện tri thức lần lượt giải thích:
"Liên Hoa hành giả, xin anh đừng lo lắng chuyện thế sự, thế sự ở đây chỉ một nét bút là gạch bỏ được. Anh hãy nghe Thánh hiệu cho rõ ràng. Phật nói, đời người chắc chắn có phiền não, đó cũng là hiện tượng tự nhiên, không ai có thể tránh khỏi, nếu như buông bỏ tất cả, không bám chấp vào điều gì, chỉ một lòng nhớ đến Tây phương Cực Lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì, đó là tịnh thổ an lạc, có thể vãng sinh, đó là hạnh phúc nhất. Bây giờ anh cần cầu sinh Phật quốc, hãy cùng xưng niệm Thánh hiệu, Bổn tôn chắc chắn hiện thân đến tiếp dẫn anh."
Lúc này, A Di Đà Phật (Liên Hoa Đồng Tử) chắc chắn hiện thân tiếp dẫn.


### 31. Chăm sóc lúc lâm chung (phần 2)


Tôi sâu sắc cảm thấy rằng, lúc còn sống có nghe pháp, có tu pháp thì sẽ tương đối dễ độ thoát hơn một chút. Lúc còn sống hoàn toàn không nghe qua pháp, không tu qua pháp, thì sẽ tương đối khó khăn.

Trong cõi trung ấm, tôi đã gặp một sự việc:
Tôi thấy một thân trung ấm bị tai nạn xe mà chết. Thần thức của anh ta cũng bị chia năm xẻ bảy, hoàn toàn không gom lại được, đầu đi đằng đầu, thân đi đằng thân, tay đi đằng tay, chân đi đằng chân. Tôi có ý tốt, định dùng "châm" ấn của Mật giáo, để lần lượt khâu từng bộ phận đầu, thân, tay, chân của anh ta lại, giống như bác sĩ ngoại khoa đang khâu vết mổ vậy, giúp anh ta trông giống một con người hoàn chỉnh.

Cần biết rằng người chết ở nhà mình hoặc bệnh viện vẫn được xem là hạnh phúc. Nếu là những cái chết bất ngờ như tai nạn xe, máy bay rơi, chìm tàu trên biển, tai nạn trên núi, hỏa hoạn thiêu chết, bị dã thú ăn thịt, v.v… thì thật sự là quá bất hạnh rồi!
Tôi dùng "châm" ấn để giúp người bị tai nạn xe.
Tôi hỏi anh ta:
"Anh biết Phật pháp không?"
Đáp:
"Không biết."
"Biết tịnh thổ không?"
"Không biết."
"Biết A Di Đà Phật không?"
"Bà cố tôi có niệm."
"Anh có tin không?"
"Không tin!"
"Bây giờ anh muốn cái gì?"
"Tôi chỉ muốn tìm kẻ đã lái chiếc xe đâm chết tôi, sau đó tìm đến người chủ xe đã chạy trốn đó để báo thù, tôi muốn chuyển thế thành con trai của hắn để báo thù!" - Anh ta tức giận bất bình.
Tôi nói:
"Thôi bỏ đi! Vãng sinh Tây phương an lạc tịnh thổ đi!"
"Không! Tôi hận!" - Anh ta chạy như bay đi mất.

Bởi vậy tôi nói, người khi còn sống đã nghe hiểu Phật pháp, khi còn sống đã từng tu Phật pháp, lúc còn sống đã tìm kiếm Như Lai Tạng tâm, chân Phật, chân như, thì những người này có thể tương đối dễ vãng sinh Phật quốc thanh tịnh hơn. Khi ánh sáng hiện tiền thì có thể nhận ra, bằng không, mơ hồ vẫn là mơ hồ, ngay một câu Phật hiệu cũng không chịu niệm!

Lại có một ví dụ (mặc dù đã quy y, cũng từng học qua Phật pháp, lại còn từng tu pháp, nhưng vẫn bám chấp, cũng khó độ):
Thân trung ấm này biết "mọi điều ác đừng làm, nên làm mọi điều thiện, tự thanh tịnh ý niệm, là điều chư Phật dạy". Không chỉ như vậy, anh ta từng nhận quán đảnh pháp Thân đàn thành. Hai mắt hóa thành nhật nguyệt, tai hóa thành tấm màn che, đỉnh đầu hóa thành ô quý, răng hóa thành đá quý. Thân dưới là đất, nước, lửa, gió, núi Tu Di. Tự thân hóa thành đỉnh núi Tu Di để Bổn tôn an tọa.
Anh ta từng tu Mật pháp.
Có tâm từ bi, đã tu Tứ vô lượng tâm:
Từ vô lượng tâm — cho tất cả chúng sinh niềm vui.
Bi vô lượng tâm — loại bỏ đau khổ của tất cả chúng sinh.
Hỷ vô lượng tâm — thấy người ta làm điều thiện hoặc thoát khổ được vui thì sinh lòng hoan hỷ sâu sắc.
Xả vô lượng tâm — với ba tâm trên, buông xả chứ không bám chấp. Oan thân bình đẳng, không khởi tâm yêu ghét.
Hành giả này khổ tu thiền định, chí ít cũng sinh về Sắc giới Phạm Thiên, bởi vì Tứ vô lượng tâm còn gọi là Tứ phạm hạnh.

Anh ta còn biết pháp Cho - Nhận:
Khi hít khí vào thì gánh vác tất cả đau khổ của chúng sinh.
Khi thở khí ra thì thì chữa trị bệnh tật của thế nhân.
Khí đen đi vào, khí trắng đi ra.
Đây là pháp thí thân từ bi nhất. Tiêu nghiệp chướng thông thường là hít khí trắng vào, thở khí đen ra.

Trên con đường trung ấm, tôi đã tình cờ gặp hành giả này đang lang thang một mình ở âm gian.
Tôi nói:
"Anh phải đến tịnh thổ rồi chứ nhỉ!"
Anh ta đáp:
"Không!"
"Vì sao thế?" - Tôi rất kinh ngạc.
Anh ta nói:
"Người vợ yêu thương nhất của tôi và tôi đã có lời thề rằng kiếp sau chúng tôi lại tái thế làm vợ chồng. Tôi phải đầu thai làm người thì mới có thể cùng với vợ tôi làm phu thê kiếp sau. Nếu tôi đến Phật quốc tịnh thổ rồi, tịnh thổ không có phụ nữ, làm sao lại làm vợ chồng được?"
Tôi lặng người.
Anh ta thui thủi một mình đi lại ở âm gian, chờ đợi rồi lại chờ đợi…
Tôi thở than! Bám chấp vào chuyện vợ chồng kiếp sau cũng là một chướng ngại lớn cho việc vãng sinh tịnh thổ. Lúc cần buông bỏ thì hãy buông bỏ đi thôi! Vợ chồng kiếp sau, ôi chao! Ôi chao!


### 32. Chăm sóc lúc lâm chung (phần 3)


Có người nào bình thường tu pháp rất tốt, kính sư, trọng pháp, thực tu nhưng lúc lâm chung hoặc khi ở trung ấm giới lại đột nhiên dở chứng không?
Tôi bảo có.
Tôi thật lòng thật sự nói để mọi người biết, đó là những oan gia đòi nợ kiếp trước hoặc đời này, nhìn thấy một người sắp chết hoặc ở trong cảnh giới thân trung ấm thì bổ nhào đến trước để nhập vào thân, lúc này thì cả con người đều thay đổi, đây gọi là nghiệp chướng hiện tiền.

Lúc còn sống, khi nhìn thấy pháp tướng của Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn thì người này sẽ chắp tay cung kính niệm: "Om guru liansheng siddhi hum". Trong nhà anh ta treo pháp tướng của Sư Tôn, đàn thành cũng có pháp tướng của Căn bản Thượng sư Liên Hoa Đồng Tử, ngày ngày lễ bái, cung kính cúng dường.

Lúc sắp chết thì anh ta hoàn toàn đổi khác.
Anh ta gỡ pháp tướng của Sư Tôn xuống.
Kêu người ta phá bỏ pháp tướng Sư Tôn.
Chư Phật Bồ Tát ở đàn thành cũng lần lượt gỡ xuống, vứt đi hoặc tặng người khác.
Người thân cầm pháp tướng Sư Tôn nói với người sắp chết rằng: "Đây là Sư Tôn của anh đó!"
Anh ta chửi lớn: "CMN." (3 tiếng chửi thề)
Đôi mắt anh ta quắc lên: "Để tôi đốt đi!"
Người thân ngớ ra, không biết phải làm sao mới phải.
Người thân cầm pháp tướng A Di Đà Phật cho người sắp chết nhìn, anh ta cũng chửi thề.
Lúc còn sống cung kính như bảo vật, khi sắp chết thì căm hận không ngớt. Không thích Phật, không thích pháp, không thích tăng,  anh ta nhìn thấy người xuất gia, Thượng sư đi vào, là lập tức đuổi đi. Lớn tiếng chửi bới, căm ghét người niệm Phật trì chú, nghe thấy tiếng niệm Phật trì chú là hét lên bắt dừng lại, không cho niệm.
Lúc này người thân cũng đành bó tay.
Nhóm trợ niệm cũng bị mắng chửi xối xả.

Chuyện này là thế nào đây? Lúc còn sống thì kính sư, trọng pháp, thực tu, đúng vào lúc thời khắc quan trọng tới thì không ngờ niệm Phật lại thành "CMN". Con người hoàn toàn biến đổi, hoàn toàn không còn giống chút gì với trước đây nữa. Đó là vì oan hồn đã đến trước để đoạt mệnh rồi. Chủ nợ đã đến trước để đòi nợ. Nghiệp chướng hiện tiền, cản trở vãng sinh.

Lúc này, tôi lập tức hiểu ra, tức khắc bảo người nhà của anh ta mau chóng thay anh ta niệm kinh Địa Tạng, niệm ở một chỗ khác rồi hồi hướng cho anh ta. (Nếu không thể niệm kinh Địa Tạng thì niệm danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát.)
Đồng môn tu pháp sám hối để hồi hướng cho anh ta.
Nhóm trợ niệm ở trước Phật hoặc ở nơi khác hãy cứ niệm Phật trì chú như thường.
Tôi thì dùng pháp Thí quỷ thần để mời quỷ thần rời đi rồi tôi kết giới. Sau đó, người sắp chết đã chịu nhận pháp tướng của Thượng sư Tam Bảo, cũng chấp nhận niệm Phật trì chú, đã khởi tâm hoan hỷ, kết quả là đã có thể vãng sinh.

Tôi lại có một ví dụ:
Khi ở trong trung ấm giới, tôi gặp một Liên Hoa hành giả trước kia, trông thấy tôi lại làm như không thấy, thờ ơ như với người lạ.
Tôi gọi anh ta:
"Này Liên Hoa hành giả!"
Anh ta hỏi lại tôi:
"Ông là ai?"
"Tôi là Sư Tôn đây!"
"Tôi không quen Sư Tôn nào cả, ông tránh qua một bên cho tôi!"
(Đệ tử này lúc còn sống từng cúng dường tôi.)

Tôi lập tức nhìn thấy một người phụ nữ nhập vào người anh ta, muốn kéo anh ta vào địa ngục, người phụ nữ này khi còn sống đã vì anh ta mà tự sát chết.
Tôi nói với người phụ nữ ám anh ta:
"Đừng làm như thế."
Người phụ nữ đáp:
"Lúc còn sống anh ta bỏ rơi tôi, khiến tôi đau đớn không muốn sống nữa mà tự sát, vì thế bây giờ tôi cũng phải cản trở anh ta vãng sinh tịnh thổ."
Tôi nói với người phụ nữ:
"Tôi giúp hai người đều vãng sinh tịnh thổ nhé!"
"Ông là ai? Sao có thể giúp tôi được chứ?"

Tôi hóa thành Địa Tạng Vương Bồ Tát. Người phụ nữ mừng rỡ. Cuối cùng, Liên Hoa hành giả và người phụ nữ tự sát cùng vãng sinh đến Tây phương Cực Lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì. Liên Hoa hành giả là trung phẩm, phụ nữ tự sát là hạ phẩm hạ sinh.
Tôi cho rằng:
Người sắp chết hoặc người thân trung ấm đến thời điểm đó giở chứng cũng không phải là ít. Với loại người này, đại thiện tri thức khai thị, nhóm trợ niệm, người thân, Thượng sư, pháp sư cần giúp đỡ họ mau mau sám hối, đọc kinh Địa Tạng, làm pháp Thí quỷ thần, kết giới.
Quan trọng! Quan trọng!


### 33. Chăm sóc lúc lâm chung (phần 4)


Trong Mật giáo, tôi đã từng dạy pháp:
Liên Hoa Đồng Tử vãng sinh thần tốc.
Quán chữ Ah, Hum.
Quán nguyệt luân.
Quán chữ Ah.
Quán ngũ tướng thành thân.
Quán đại viên mãn Không.
Miên quang pháp.
v.v…

Thật ra những pháp này đều có thể chuyển hóa thành pháp bí mật cho người sắp chết vãng sinh. Mật pháp là có tác dụng thực tiễn chứ không chỉ là lý thuyết, ngay cả Tứ gia hành, Thượng sư tương ứng, Bổn tôn pháp, Kim cang pháp, Vô thượng mật… đều là pháp vãng sinh.

Trên phương diện duy thức:
Cũng có thể dùng duy thức thần biến, dùng kiến văn tri tâm để tìm kiếm Như Lai Tạng thức, cũng có quán duy thức thần biến.
Vô nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân, ý.
Vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.
Vô ý thức giới.
Như Lai Tạng thức, ngôi sao phương đông, tâm chân thực mà ai nấy ban đầu vốn có, chân như thu về và cất giữ tất cả công đức của quả địa thượng, cũng là pháp thân chứng quả.

Có rất nhiều pháp sư trong pháp môn tịnh độ của Hiển giáo đề xướng "dịch hành đạo", lúc còn sống trì tụng danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật, niệm niệm không quên, cho dù vào lúc lâm chung, Phật hiệu vẫn sẽ từ tâm mà vọng lên, nhờ nhân duyên niệm Phật mà có thể vãng sinh tịnh thổ.

Kinh A Di Đà nói:
"Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nghe thuyết A Di Đà Phật, rồi trì danh hiệu, nếu một ngày, nếu hai ngày, nếu ba ngày, nếu bốn ngày, nếu năm ngày, nếu sáu ngày, nếu bảy ngày nhất tâm bất loạn, thì người ấy lúc lâm chung, A Di Đà Phật và chư Thánh chúng hiện lên trước mặt người đó. Là người ấy vào lúc chết, tâm không đảo điên, thì sẽ được vãng sinh A Di Đà Phật Cực Lạc quốc thổ."

Tôi thường dạy chúng sinh rằng khi đi máy bay, đi thuyền, đi xe, hãy thỉnh Phật trụ đỉnh đầu, luôn niệm Phật hiệu. Cho dù gặp phải điều bất trắc không thể lường trước, đời người vô thường mà, thì chúng ta cũng có thể trong sát-na vãng sinh Phật quốc tịnh thổ.
Những tam học xuất thế khác như luật tông, tam luận, thiên thai, từ ân, thiền, mật, tịnh thổ, hoa nghiêm, học có nông có sâu. Nhưng vãng sinh là quan trọng!

Nói tới nói lui, tôi muốn giải thích ba lực quan trọng nhất:

Tự lực vãng sinh — đây là công đức tu hành tự thân, đã minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử, Phật tính tự tâm vốn có đã hiện. Từ Tứ gia hành, Thượng sư tương ứng, Bổn tôn pháp, bảo bình khí, chuyết hỏa, thông trung mạch, mở ngũ luân, ngũ kim cang, ngũ Phật, vô thượng mật, đại viên mãn. Theo thứ tự này mà tu, đạt được tất cả mọi trí, đắc được trí căn bản.

Lúc này:
Thân Phật và thân ta đồng thể.
Khẩu Phật và khẩu ta đồng thể.
Ý Phật và ý ta đồng thể.
Tức thân thành Phật rồi!
Mật giáo dựa vào tự lực và lực gia trì của Như Lai, tam mật gia trì, khiến nhục thân phàm phu trong một đời tức thân thành Phật, với tác dụng của sức mạnh bất tư nghì ấy mà đời này chứng đắc Phật quả. Công đức ấy không thể dùng tâm mà suy nghĩ, công đức ấy không thể dùng ngôn ngữ, văn tự mà nói, toàn bộ đều bất khả tư nghì.

Bởi vậy nói, Mật giáo là pháp nội chứng pháp thân Như Lai, ngay cả bậc Đẳng Giác Bồ Tát cũng không thể đoán biết, duy chỉ có giữa Phật với Phật mới có thể biết.
Chớ có phỉ báng!

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đã hiện chứng Hoa Quang Tự Tại Phật, chứng minh thức thứ tám Như Lai Tạng, thức thứ chín am ma la. Đó là chân ngã, chân như, chân Phật, là tự tâm vốn có, từ vô thủy đến nay.

Trong quá trình tu trì Mật pháp đã được:
Thích Ca Mâu Ni Phật thọ ký.
A Di Đà Phật ủy thác.
Di Lặc Bồ Tát ban Hồng quán.
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền dạy Mật pháp.
Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chứng minh truyền thừa chân chính:
Đại Nhật Như Lai - Phật Nhãn Phật Mẫu - A Di Đà Phật - Liên Sinh Hoạt Phật.

Truyền thừa nhân gian:
Hồng giáo — Liễu Minh Hòa Thượng.
Hoàng giáo — Thubten Dhargye Thượng sư.
Bạch giáo — Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16.
Hoa giáo — Sakya Chứng Không Thượng sư.
Và những vị sư phụ khác.

Tha lực vãng sinh — người niệm Phật chính là nương dựa vào Phật lực (tha lực) mà vãng sinh tịnh thổ. Đây chính là 48 đại nguyện của A Di Đà Phật đại từ đại bi, thu nhận chúng sinh tín nguyện niệm Phật, sức mạnh vãng sinh Tây phương tịnh thổ cũng bất khả tư nghì như vậy.

Đây là:
Nguyện lực uy đức của A Di Đà Phật.
Tam muội lực của A Di Đà Phật.
Nhiếp thọ lực của A Di Đà Phật.
Tâm nhất niệm hiện tiền của mỗi một chúng sinh và tâm của A Di Đà Phật tương ứng, một niệm tương ứng với một niệm Phật thì niệm niệm tương ứng với niệm niệm Phật.

Đây là tâm Phật và tâm chúng sinh vốn không khác biệt, Thánh nhân và phàm phu cùng một Như Lai Tạng thức, chư Phật và chúng sinh cùng một tâm nguyện.
Niệm Phật thành Phật.
Tìm Phật thành Phật.
Tất cả đủ đầy.
Hành giả bản nguyện.
(Đây là vãng sinh tịnh thổ nhờ tha lực.)

Pháp giới lực (pháp lực) vãng sinh:
Pháp giới lực này có tổng hợp sức mạnh của chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, chư Thiên. Là pháp lực khi tín nguyện và cảm ứng giao nhau, cũng bất khả tư nghì.
Bạn thực tin Liên Sinh Hoạt Phật có thể tiếp dẫn bạn, bạn sẵn lòng để Liên Sinh Hoạt Phật tiếp dẫn bạn, bạn thành tâm thành ý niệm Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, lực pháp giới ấy (pháp lực) sẽ sinh ra.

Không Hành sẽ đưa thân trung ấm đến chỗ của Liên Sinh Hoạt Phật. Do đại thiện tri thức thay đổi và khuyên bảo bạn (thân trung ấm), cuối cùng, do lực pháp giới thu nhận bạn vãng sinh đến bất kì Phật quốc tịnh thổ nào.

Chỉ một cái búng tay — Tối Thắng tịnh thổ, Diệu Bảo tịnh thổ, Viên Châu tịnh thổ, Vô Ưu tịnh thổ, Tịnh Trú tịnh thổ, Pháp Ý tịnh thổ, Mãn Nguyệt tịnh thổ, Diệu Hỷ tịnh thổ, Diệu Viên tịnh thổ, Hoa Tạng tịnh thổ, Chân Như tịnh thổ, Viên Thông tịnh thổ, Chân Phật tịnh thổ, Cực Lạc tịnh thổ… Toàn bộ đều xuất hiện.
Liên Hoa hành giả có thể đến tịnh thổ bất kì.
Đây vẫn chính là pháp giới lực đại bi vô thượng bí mật của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn!


### 34. Phụ lục: Phật tính quang minh


Bài khai thị ngày 11 tháng 5 năm 1999.

Một pháp sư có pháp hiệu là Liên Thính? Nghe nói pháp sư này có thính giác của một bên tai hơi kém, và thính giác của tai kia khá hơn một chút.

Ban đầu lấy cái tên Thính này nghe cũng rất kỳ quái, bởi vì vừa mới viết ra để dùng thì "nghe" cũng hay. Thật ra, nghe cũng là không nghe, nói thế nào bạn cũng đều không cần nghe. Không nghe, thế thì lục tặc trên thân người chúng ta sẽ bớt đi được một tặc. Lục tặc chính là sáu tên trộm gian tặc, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, đó là lục tặc, cái tai nằm trong số lục tặc này. Cái này thì rất hay. Liên Thính thì nghĩa là đừng nghe, cái gì cũng đều không nghe là tốt nhất. Cái gì cũng không nghe, thì có thể như như bất động. Còn cái gì cũng nghe thì tâm sẽ lộn xộn, tâm sẽ nhiễu động, tốt nhất là cái gì cũng không nghe.

Lấy cái tên Thính này rất hay, vừa hay tương ứng với pháp sư ấy. Thật ra, ví dụ như ông ấy cầu Sư Tôn gia trì, hy vọng cái tai này có thể nghe được, kì thực nghe không được thì cũng chẳng sao cả.

Bình thường tôi rất hiếm khi đeo kính, buổi tối khi lái xe thì cần đeo, bởi vì cần phải nhìn biển hiệu, khi lái xe thì hai bên đường quốc lộ có biển hiệu, nếu không đeo kính thì không nhìn thấy chữ trên biển hiệu.

Vì sao tôi không thích đeo kính? Vì không muốn nhìn quá rõ ràng. Không nhìn thấy thì phải làm sao đây? Thì không nhìn nữa, không cần nhìn, không nhìn được thì không cần nhìn nữa. Xem ra nhìn rất lờ mờ, cái nào cũng đẹp lờ mờ, rất tốt, bởi vì nhìn không rõ mà. Không nhìn được lại thành ra hay. Không nghe được lại cũng tốt, đều tốt cả.

Trước sau muốn cầu biết hết mọi việc, đây là sai lầm đó. Chuyện gì bạn cũng đều biết thì tâm sẽ đảo loạn, khuấy đảo chính bạn. Tốt nhất là cái gì cũng đều không biết, giảm bớt những duyên cớ bên ngoài, có thể giữ tâm quy về một, thì nhanh chóng tâm cảnh thông minh và trí huệ của bạn sẽ hiển hiện ra. Đó là ánh sáng nội tại, không phải những thứ đến từ bên ngoài.

Vì thế, chúng ta tu hành là tu ánh sáng nội tại, chứ không phải những thứ biểu hiện bề ngoài như công danh, lợi lộc, xấu, đẹp, ngon, ngọt, không nằm ở những thứ bên ngoài này, mà là nếu nội tại của bạn thật sự phát quang thì tất cả đều là tốt đẹp.

Vừa nãy pháp sư Liên Thính cũng nhắc đến vô minh, thế nào là vô minh? Cái này rất khó giải thích, vô thủy vô minh, cái vô minh từ quá khứ không có điểm khởi đầu này. Bởi vì mỗi người chúng ta đều có cái vô minh từ nhiều kiếp tích lũy lại, rất nhiều đời, không phải là đời này bạn mới có vô minh. Thật ra khi bạn sinh ra, bạn đã mang theo rất nhiều vô minh rồi, mang theo nghiệp chướng, tập tính này của bạn đã tích lũy rất dày giống như núi rồi.

Vì thế, tu hành không phải là việc dễ, chính là vì sự vô minh tích lũy nhiều kiếp của chính bạn, không có cách nào trong chốc lát có thể tháo gỡ ngay, mà không có cách nào tháo gỡ thì ánh sáng nội tại của bạn không thể hiện ra. Vì thế, sau khi con người chết đi thì tương đối có cơ hội có thể phá bỏ cái vô minh từ vô thủy này.

Trong Mật giáo có nhắc đến trung ấm thành Phật, thế nào là trung ấm thành Phật? Bạn xem ra vốn là một phàm phu mà! Một người rất vô minh, sau khi chết có thể thành Phật thì rất kỳ quái đó. Khi còn sống bạn lại còn tham, lại còn dễ nổi giận, vô minh trên người lại rất nhiều, tham sân si lấp đầy bản thân bạn, vì sao sau khi chết bạn lại có thể thành Phật chứ? Bởi vì bạn có cái cơ duyên gặp được Thượng sư của bạn cứu độ thân trung ấm cho bạn, cứu độ thân trung ấm rất lợi hại đó.

Bởi vì con người, khi tứ đại (đất nước lửa gió) đều tiêu tán thì Phật tính vốn có trong nội tại của bạn sẽ xuất hiện, trong sát-na mà thôi, sẽ hiển hiện ra ánh sáng của bạn. Lúc này, giả dụ có người hướng dẫn, nói rằng bạn cần nhận ra ánh sáng Phật tính vốn có của mình, và bạn nhanh chóng chứng thực được ánh sáng Phật tính ban sơ, trong chốc lát bạn thanh tẩy sạch sẽ toàn bộ đất nước lửa gió, lục tặc, lục căn, lục trần của bản thân, thì trí huệ nhanh nhạy và quang minh của bạn sẽ hiển hiện ra. Vì thế, kiểu này gọi là trung ấm thành Phật.

Trong Mật giáo đặc biệt có dạy về trung ấm thành Phật, nghĩa là khi bạn trở thành linh hồn, lập tức chứng thực ánh sáng Phật tính của bản thân, sau đó thành tựu, thì gọi là trung ấm thành Phật.

Đại bộ phận chúng ta vì sao có tham sân si? Là vì sao vậy? Là bởi vì thân thể này của bạn, khi nhục thể này còn tồn tại, tham, sân, si đặc biệt nặng, tập tính vô minh đều ở trên nhục thể này, nếu bạn không tu hành, bạn xem xem, mọi người theo đuổi cái gì? Khi nào người ta nghĩ tới Phật tính quang minh nội tại của chính mình, lúc nào có thể nghĩ đến chứ? Căn bản là chẳng bao giờ nghĩ đến.

Người ta sống mỗi ngày đều cứ ngu ngốc mơ hồ như thế. Bạn nói với người ta về tu hành, họ bảo đó là thần kinh. "Tu hành à? Có nhầm không đấy! Thời đại này còn tu hành ấy à?"
Họ nói: "Anh có nhầm không vậy? Thời đại này là thời đại ăn chơi nhảy múa, anh lại đi tu hành!"

Họ nhiều kiếp vô minh, lúc này tại nhân gian trôi nổi bất định, trôi tới trôi lui, đôi khi thì chìm xuống, thỉnh thoảng tăng thêm ít tiền lương thì lại vui mừng muốn chết. Thỉnh thoảng cấp trên nói với bạn mấy câu hay hay, chà! Bạn lại vui mừng muốn chết. Thỉnh thoảng bạn được thăng chức một tí, bạn cũng lại vui mừng muốn chết.

Cấp trên không để ý đến bạn, giảm tiền lương, kêu bạn từ chức, bạn liền rơi vào vực sâu đau khổ. Đi làm, kiếm tiền, sau đó thì phạm vi cuộc sống của bạn chỉ còn là giữa đồng nghiệp với nhau, giữa bạn và cấp trên, giữa bạn và cấp dưới. Khi trở về nhà thì con cái, vợ chồng, chính là cuộc sống ngày ngày cứ như thế trôi qua.

Bận kiếm tiền, bận lo thăng chức, tăng lương. Người ta chưa bao giờ nghĩ đến Phật tính của mình, ánh sáng nội tại của mình, chẳng nghĩ đến cái này, đó là vì vô minh đã che kín họ rồi. Họ cần phải gặp được Thượng sư chân chính tháo gỡ cái vô minh của họ thì ánh sáng nội tại của họ mới có thể xuất hiện, vì thế, trung ấm nghe dạy mà được độ là rất quan trọng.

Nói về mẹ tôi đi, khi mẹ tôi qua đời, tôi nhiều lần nói bên tai mẹ dặn dò rằng: "Mẹ không được nghĩ về những thứ khác, không được nghĩ đến cái gì cả. Đất nước lửa gió tứ đại phân liệt, cái còn lại chính là ánh sáng vốn có của chính mẹ sẽ xuất hiện, mẹ phải nhanh chóng chứng thực Phật tính đó." Vừa chứng thực xong thì trí huệ của mẹ tôi liền tăng trưởng, Phật tính vốn có liền xuất hiện, ánh sáng nội tại đã tỏa ra rồi.

Nhục thể này của chúng ta một khi loại bỏ được là tốt rồi, bạn không bỏ qua một bên thì nó sẽ trói chặt bạn lại, chính là vô minh đã trói chặt bạn lại, tất cả đều bị vô minh trói chặt lại, nhục thể này một khi có thể loại bỏ là thành tựu.

Đáng sợ nhất chính là cái vô thủy vô minh của bạn quá nặng, nhục thể đã mất đi rồi nhưng bạn vẫn lưu luyến cái nhục thể này, không có cách nào nhận chứng được Phật tính quang minh của bản thân, cuối cùng là lục đạo luân hồi. Bạn lại vội vàng đi tìm kiếm nhục thể, vội vã đi luân hồi, là như thế đó.

Bởi thế, vì sao mà bạn có tham sân si? Vì sao bạn lại hoài nghi, đố kỵ, ghen tuông, kiêu căng ngạo mạn? Đều là vì có nhục thể, nay nếu không còn nhục thể nữa thì tốt rồi. Những chúng sinh vô minh kia sau khi chết đi, họ vẫn tìm kiếm nhục thể, cái đó chính là vô thủy vô minh.
Om mani padme hum.

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/166-than-hanh-ky.md
# Title: 166. Thần hành ký
---

![image](/img/img_963c31fffd7d82f9fafdca47ef12d1ff.jpg)



## Thần hành ký


🪷 Một kiểu biểu hiện kỳ diệu khác

Văn tập: 166
Xuất bản: 08/2003
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


Bế quan ẩn cư tại hồ Diệp Tử, cách biệt với thế giới bên ngoài nên tôi ít biết đến mọi việc. Nhưng ngược lại, tôi lại thần hành nhiều hơn. Hóa ra, pháp môn của "tâm" có rất nhiều, mười phương pháp giới muôn hình vạn trạng, nghìn vạn sự tích nói mãi không hết, viết mãi không cùng.

Như cuốn sách "Độ qua biển sinh tử" có thể nói là ghi chép về thần hành. Tôi tự cảm thấy cuốn sách này rất quan trọng, như trong sách đã nói, đây là "việc lớn nhất của đời người". Người có tu hành, sau khi chết biết được nơi mình đi về, người không tu hành sẽ trở thành phàm thân vô minh lang thang trong sinh tử.

Trong mấy năm bế quan này, trải qua nhiều bệnh khổ, tôi từng hỏi Phật:
"Vì sao lại như vậy?"
Đáp: "Tự nhiên thôi."
"Sinh mệnh nhất định phải có bệnh khổ sao?"
Đáp: "Càng đến gần đỉnh núi cao."

Do thân thể già bệnh là chuyện tự nhiên nên tôi không quá bận tâm. Ngược lại, tôi chuyên tâm công phu vào việc tĩnh tọa thần hành, phát hiện tâm tính vô lượng vô biên, mười phương rộng lớn, trong thần hành có rất nhiều đạo lý của Phật pháp có thể viết ra được, có thể chứng minh được.

Tôi kể cho mọi người một sự việc kỳ diệu:
Khi tôi bị chứng rạn não, sinh mệnh vô cùng đau đớn, thân thể gần như không chịu nổi, rất khổ não.
Nhưng chỉ cần ngồi yên lặng, quên đi thân tâm, cảnh giới vong ngã huyền bí xuất hiện, Phật liền hiện ra, phóng quang ba lần, ngay lúc đó pháp hỷ tràn đầy, mọi gánh nặng hoàn toàn tiêu tan. Đây là con đường giải thoát tự nhiên nhất, chân thật nhất, vui vẻ nhất và hiệu quả nhất.

Trong thần hành, tôi thực hiện những việc cứu độ kỳ diệu.
Trong thần hành, tôi hiểu được tín - giải - hành - chứng.
Trong thần hành, tôi thấu tỏ thế nào là tịch tĩnh.

Đây là tập văn tập thứ 166 của tôi, đặc biệt tập hợp những câu chuyện thần hành thành sách. Khi viết cuốn sách này, trong lòng tôi không khỏi dâng trào niềm hoan hỷ, trong này pháp vị đậm đà. Tôi tự cảm nhận, sinh mệnh của thần hành không trống rỗng, chỉ có thần hành mới có ý nghĩa.

Nguyện cầu:
Những ai đọc sách này.
Đều được đại cứu độ.

Địa chỉ liên lạc của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn:

**Sheng-yen Lu
**17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U. S. A.


### 01. Đại lễ khai quang an tọa


Trong lúc thần hành:
Tôi nhìn thấy một đám đông, thực ra gọi họ là người thì không đúng, gọi là "phi nhân" cũng không hẳn đúng, mà là một đám yêu ma quỷ quái, những linh hồn lang thang trong cõi hư không.
Họ đi phía trước.
Tôi đi theo phía sau. (Tôi che đi tam quang.)

Đi đến một nơi, bỗng thấy một ngôi chùa nguy nga tráng lệ, phía trên chùa có một tấm biển đề bốn chữ "Uy Linh Hiển Hách", ngôi chùa vừa mới xây xong.
Đám yêu ma quỷ quái đều đi vào hết, tôi cũng theo sau đi vào. Thì ra ngôi chùa mới xây này đang tổ chức đại lễ khai quang an tọa, trong chùa có một vị pháp sư xuất gia đang làm lễ khai quang điểm nhãn tượng Phật, có cư sĩ tại gia mặc áo xanh đen đang tụng kinh.

Mỗi bức tượng Phật, tượng thần đều tỏa ánh vàng rực rỡ, đều là do tín đồ thành tâm thành ý cúng dường, bên trong tượng Phật, tượng thần rất nhiều, chật ních khác thường.

Đám yêu ma quỷ quái lên tiếng.
"Ta muốn nhập vào thân Tam Thái Tử." - Một tiểu quỷ nói.
"Ta muốn nhập vào thân Quan Thế Âm Bồ Tát." - Một nữ quỷ nói.
"Ta muốn nhập vào thân Thổ Địa Công." - Một lão quỷ khác nói.
"Ta muốn nhập vào thân Tế Công Hoạt Phật." - Một quỷ say nói.
"Ta muốn nhập vào thân Lão Thành Hoàng." - Một dạ xoa nói.
.....................

Tôi nhìn thấy vị pháp sư làm lễ khai quang vốn không phải là người có đạo hạnh tu hành, thân không có ánh sáng, như một đống bùn nhơ, làm sao có thể "dùng quang dẫn quang" được? Bảo sao mà thu hút một đám quỷ linh tranh nhau đến nhập thân như vậy, biết phải làm sao đây? Ngôi chùa trang nghiêm, tượng Phật Bồ Tát trang nghiêm, đại lễ khai quang an tọa trang nghiêm, vậy mà lại trở thành một đống hỗn độn như thế này.

Tôi định bỏ đi.
Nhưng bị một lão hồ tiên chặn lại, ông ta nói:
"Trên thân ngài có ánh sáng, đã trở về với bản chất thuần phác, thần thông tự tại, đã đạt đến cảnh giới phi thăng. Ngài đã tam nguyên quy nhất, tự do tự tại, cần gì phải thần hành trở về. Chi bằng nhập vào kim thân Phật Thích Ca Mâu Ni, hưởng khói lửa nhân gian. Có ngài ở ngôi chùa này, ít nhất có thể tránh được tà khí, tiêu trừ tam độc lục dục, cũng có thể tùy duyên độ chúng sinh. Ngài thấy thế nào?"

Tôi nghe xong hoảng hốt:
"Không thể, không thể, nếu tôi hưởng khói lửa nhân gian thì công phu trước đây đều uổng phí, đó không phải là điều tôi mong muốn."
Lão hồ tiên nói:
"Tiên sinh không nhập vào thân Phật Thích Ca Mâu Ni, vậy đến đây làm gì?" - Lão hồ tiên ngạc nhiên.
Tôi đáp: "Chỉ là thần hành tùy duyên thôi."
Lão hồ tiên mừng rỡ:
"Tiên sinh không nhập thân, chỉ đến tùy hỷ, vậy thì tôi đành phải nhập thân vậy!" - Lão hồ tiên lập tức nhập vào kim thân Phật Thích Ca Mâu Ni.

Tôi lặng lẽ bước ra khỏi chùa, ngẩng đầu nhìn trời, thở dài một tiếng, cái gọi là đại lễ khai quang an tọa này toàn là hình thức phiền phức, chỉ có vẻ bề ngoài.
Pháp sư ngày nay chỉ là những pháp sư "chạy kinh sám", không có công phu thực tu về ngũ giới thập thiện, lục độ ba la mật, định, huệ. Những hành giả hiện nay, người "chạy kinh sám" rất nhiều, điều này tất nhiên dễ kiếm sống, nhưng ngoài việc đi sâu vào kinh sám, cũng phải thực sự hiểu được nghĩa kinh, thực địa tu chứng, đó mới thực sự là pháp sư! (Tinh thông tam tạng, thực tu Phật pháp, lấy pháp làm thầy.)

Tôi cũng hiểu rằng:
Nếu tôi nhập vào kim thân Phật Thích Ca Mâu Ni, tôi sẽ có cơm ăn, áo mặc, chỗ ở, được người người cung kính cúng dường, được những cảm thọ tôn quý, sẽ rất hạnh phúc.
Nhưng như vậy, bản thân tôi đang thiền định tại hồ Diệp Tử sẽ thực sự "tọa hóa" mất.
Tôi cũng nghĩ, làm sao tôi có thể nhập vào kim thân Phật Thích Ca Mâu Ni được, như vậy chẳng phải là mạo danh Đức Thích Ca Mâu Ni sao.

Tôi nhớ đến Hòa thượng Đỗ Thuận đời nhà Đường, ngài là hóa thân của Bồ Tát Văn Thù, mỗi khi Hòa thượng Đỗ Thuận đi ngang qua miếu thờ tà thần hay quỷ linh.
Miếu thờ thần cây.
Miếu thờ yêu long.
Miếu trăm quỷ.
Chỉ cần Hòa thượng Đỗ Thuận nhìn một cái, miếu liền bị thiêu rụi. Nay nếu tôi nhập thân, gặp Hòa thượng Đỗ Thuận hay các vị cao tăng khác đến, há chẳng phải thảm hại sao! Tu hành hôm nay của tôi là vô sở cầu, tu hành không phải để đạt được điều gì, mà là phát tâm bồ đề, chân thành dâng hiến, trên cầu quả Phật, dưới hóa độ chúng sinh mà thôi.

May mắn thay tôi rất tỉnh táo sáng suốt, tuy tôi thần hành, nhưng tâm trong sáng thuần khiết, trong suốt vô cùng, không mê muội, không lạc lối giữa muôn lời bàn tán, tôi phải làm việc rõ ràng, trí tuệ viên mãn, ý thức chân chính, bước đi trên đại đạo chính pháp. Người đã buông xả tự tại, còn nhận sự cúng bái của người đời, còn hưởng khói hương làm gì?

Hơn nữa, trong chùa miếu, yêu ma quỷ quái quá nhiều, nhiều việc phàm tục quấn quanh, việc xem bói hỏi quẻ bận rộn không dứt, phiền não vô tận, những việc vụn vặt của thế gian, vĩnh viễn không thoát khỏi được, tôi há chẳng phải đang chìm đắm trong vòng nhân quả luân hồi và lục đạo sao?
Đặc biệt là việc mạo danh Phật Thích Ca Mâu Ni.

Mồ hôi tôi chảy ròng ròng.
Tôi lập tức rời khỏi chùa, thần hành đi nơi khác. Ánh sáng thần thông rất nhanh, trong chớp mắt đã nghìn dặm vạn dặm.
Phía sau còn vọng tiếng lão hồ tiên gọi với theo:
"Tiên sinh, xin ở lại vài ngày, làm khách một chút, làm khách một chút! Chúng tôi có đại pháp hội bảy ngày, ngài có thể ăn no nê."
Tôi xua tay, tạ từ mà đi!

Khi đang thần hành giữa hư không.
Bỗng nhiên thấy khắp nơi lấp lánh ánh lửa, như một đám đuốc lớn, chiếu sáng rực rỡ bốn phương trên dưới, tôi nhìn kĩ lại, trong ánh lửa nguyên là những con quạ giống như chim ó, chân và móng dài, lưng đen, bụng trắng, từng con phun lửa từ miệng.

Tôi kinh hãi kêu lên:
"Đó là đội quân quạ lửa!"
Đi cùng với đội quân quạ lửa là một vị thần cưỡi hai con rồng, ngồi trên xe mây, chính là Thần Lửa Chúc Dung.
"Ngài đi đâu vậy?" - Tôi hỏi.
Thần Lửa vừa thấy tôi, vốn là người quen cũ, nên không giấu giếm mà nói: "Dưới núi có một ngôi chùa mới, sau lễ khai quang an tọa đã bị yêu ma quỷ quái chiếm giữ, ta dẫn đội quân quạ lửa đi đốt chùa, để tránh nó trở thành ổ yêu quái, hại dân lành."
Tôi nghe xong, không nói nên lời.
Thầm nghĩ: "May mắn thay!"

Một hành giả tu hành, quả nhiên đâu đâu cũng là cạm bẫy, phải tránh xa mọi ham muốn, cũng phải tránh xa tà ma ngoại đạo. Dù có thần thông thần hành cũng phải giữ tâm tĩnh lặng tự tại, tịnh hóa tam độc, tương lai chỉ có một mục tiêu - Ma Ha Song Liên Trì.

Trách nhiệm của hành giả chính là hoằng pháp lợi sinh, có vậy mới có thể tỏa sáng cuộc đời tươi đẹp, kiên trì bền bỉ, tịnh niệm tương tục.

Tuy nhiên, tôi cũng nhớ đến bài thơ của Bạch Cư Dị:
*Cỏ trên thảo nguyên xa
Mỗi năm úa lại mọc
Lửa hoang đốt không hết
Gió xuân thổi lại xanh.*


### 02. Thiên biến vạn hóa vô cùng tận


Trong khi thần hành, tôi đã đến chỗ Phật Thích Ca Mâu Ni.
Tôi đi nhiễu Phật ba vòng. Lễ Phật xong, tụng kệ:
*Cúi đầu lễ Phật Thích Ca
Pháp Vương thuyết pháp Ta Bà
Chúng con đều xin quy y
Đạo sư trời người tôn kính.*

Tôi nói:
"Thưa Phật Tổ! Nay con nương theo thần lực của Phật mà đến nơi Phật Tổ ngự. Con có hai điều thắc mắc, là con hỏi, cũng là hỏi thay cho chúng sinh. Thứ nhất, con thật sự là ai? Thứ hai, thưa Phật Tổ, rốt cục Ngài ở đâu?"

Nơi Phật Thích Ca Mâu Ni ngự, không thể dùng văn tự để diễn tả, tôi chỉ có thể nói, "linh linh chiêu chiêu tịch tịch thường thường quang quang minh minh".

Phật nghe hai câu hỏi trong tâm tôi, mỉm cười đáp:
"Câu hỏi thứ nhất, ta hỏi ngược lại con, con thật sự là ai?" - Phật lại nói: "Câu hỏi thứ hai, các con thường tụng niệm thanh tịnh pháp thân Phật, ta hỏi ngược lại con, Phật thật sự ở đâu?"
Tôi nghe xong, sững sờ.
"Rốt cuộc là tôi hỏi Phật Tổ? Hay Phật Tổ hỏi tôi?"
Nhưng, tôi chợt hiểu ra.

Tôi nói: "Câu hỏi thứ nhất, không thể nói. Tự mình tu mà biết. Câu hỏi thứ hai, mười phương ba đời Phật, trăm nghìn ức hóa thân."
Phật Tổ nghe tôi trả lời.
Gật đầu mỉm cười.

Bây giờ tôi xin nói với mọi người, các vị Tổ sư Thiền tông Trung Hoa đều tham cứu câu hỏi thứ nhất này.
"Đạt Ma Tổ sư Tây lai đại ý?" [Ý của Tổ sư Đạt Ma từ Ấn Độ đến.]
"Diện mục vốn có trước khi cha mẹ sinh ra?"
"Người niệm Phật là ai?"
"Vạn pháp quy về một, một quy về đâu?"
"Phật tính là gì?"

Còn có "bánh của Vân Môn", "trà của Triệu Châu", "tiếng hét của Lâm Tế", "gậy của Đức Sơn", "ngón tay của Thiên Long", "cảnh của Giáp Sơn", "mèo của Nam Tuyền"...
Bây giờ tôi hỏi mọi người:
"Rốt cuộc các bạn là ai?"
Mọi người hãy tham cứu kĩ.

Còn về câu hỏi thứ hai: "Thưa Phật Tổ! Ngài thật sự ở đâu?"

Phật Tổ là Tam thân Như Lai, tức Pháp thân Như Lai, Báo thân Như Lai, Ứng thân Như Lai. Bất biến trùm khắp mọi nơi là Pháp thân Như Lai. Bất biến hòa hợp với trí tuệ của hành giả, thành tựu diệu công đức, là Báo thân Như Lai vậy. Chứng được lý này, tùy duyên ứng hóa, biến hóa vi diệu vô cùng, là Ứng thân Như Lai vậy.
Cho nên, Pháp thân là thể.
Báo thân là tướng.
Ứng thân là dụng.

Ví dụ, Phật Lô Xá Na có trăm nghìn triệu hóa thân, mỗi hoa là một thế giới, mỗi hoa là một Phật Thích Ca.
Tôi hỏi ngược lại mọi người:
"Thưa Phật Tổ! Ngài thật sự ở đâu?"
Nếu các bạn vẫn chưa hiểu thấu, tôi xin chỉ dẫn thêm:
"Thể tính trong tâm của tất cả chúng sinh đều bình đẳng như chân như, không sinh không diệt, không tăng không giảm, vĩnh viễn thường tại. Các bạn tự quán chiếu nội tâm, chuyển hóa vọng tâm, bên ngoài có thể hiển hiện Báo thân và Ứng thân để giáo hóa chúng sinh khác, thường lạc ngã tịnh."
Cho nên tôi nói:
Tỳ Lô Giá Na Phật (Đại Nhật Như Lai) là Pháp thân của Liên Hoa Đồng Tử.
A Di Đà Phật là Báo thân của Liên Hoa Đồng Tử.
Liên Sinh Hoạt Phật là Ứng thân của Liên Hoa Đồng Tử.

Tôi (Lư Thắng Ngạn) truyền dạy Chân Phật Mật Pháp cho đệ tử, tôi muốn trao cho đệ tử tất cả những lời chân thật, những chứng nghiệm chân thật.

Tôi thật sự đã chứng nghiệm Ma Ha Song Liên Trì ở Tây phương Cực Lạc, tuyệt đối không phải lời nói dối. Tôi thần hành vào thái hư, đích thân gặp Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử, tôi biết mình chính là Ứng hóa thân của Liên Hoa Đồng Tử. (Điều này đã được ghi lại trong sách từ hơn 30 năm trước.)

Có được sự truyền thừa từ Tỳ Lô Giá Na Phật, A Di Đà Phật, Liên Hoa Đồng Tử và Liên Sinh Hoạt Phật, chỉ cần tần số tương đồng là có thể tương ứng, có thể hiển hiện, có thể nhận được tin tức, đó chính là:
Một trăng chiếu nghìn sông.
Một âm diễn vạn pháp.
Một tâm thăng cõi Phật.
Thông qua Chân Phật Mật Pháp, thân khẩu ý được thanh tịnh, gia trì thanh tịnh thần biến, tín tâm cộng với tinh tấn, chính là thiên biến vạn hóa vô cùng tận.

Tôi xin nêu một ví dụ nhỏ:
Tại một đạo tràng phân đường của Chân Phật Tông, sau khi tu pháp xong.
Có một đệ tử đứng dậy nói: "Đêm qua trong mơ, tôi mơ thấy Sư Tôn ở Seattle nước Mỹ tặng cho tôi một món đồ..."
Đệ tử này chưa nói hết lời, lại có hai đệ tử khác đứng lên, đồng thanh nói: "Đêm qua trong mơ, chúng tôi cũng mơ thấy Sư Tôn ở Seattle nước Mỹ tặng cho hai chúng tôi món đồ."
Lúc này, vị đường chủ nói:
"Thế này nhé! Tặng món đồ gì, tạm thời đừng nói, ba người viết ra giấy, đưa cho tôi, để chúng ta biết là món gì?"

Ba người viết giấy xong, tất cả đưa cho đường chủ. Đường chủ mở giấy ra xem trước mọi người, ngược lại chính mình giật mình, thật sự rất kỳ diệu.
Bởi vì cả ba người đều viết hai chữ "Thọ Đào".
Khi thông báo điều này, mọi người đều ngơ ngác nhìn nhau.
Hóa ra ngày hôm đó đúng là ngày vía Phật A Di Đà.

Tôi nói:
Mỗi người, chỉ cần nhất tâm, nhất tâm này chính là tâm ý chuyên nhất không tán loạn. Hãy chuyên tâm niệm Sư Tôn hoặc tâm chú của Ngài "Om guru liansheng siddhi hum". Cần biết rằng khi trong tâm không còn vọng niệm tạp tưởng, đó đã là cảnh giới vượt qua "ý nghĩ".

Cần biết rằng, khi chúng ta ở trong nhất tâm, ba nghìn pháp giới đều đầy đủ, đây chính là pháp quán của Thiên Thai tông.
Chỉ cần nhất tâm kiên định tin tưởng tương ứng với Liên Hoa Đồng Tử, liền có thể tương ứng, trong một sát-na tâm niệm, có thể trực tiếp thấy, thiền định thấy, trong mơ thấy Liên Hoa Đồng Tử.

Tôi thật sự chân thành nói với mọi người, tôi có thể thần hành, tôi có thể phân thân. Chỉ cần hành giả bước vào cánh cửa của nhất tâm, bạn có thể dễ dàng giao cảm với Sư Tôn Liên Hoa Đồng Tử, sẽ được quán đảnh, sẽ được gia trì, sẽ được hộ trì, sẽ tăng phước tăng huệ, thậm chí vãng sinh Phật quốc, đến bất kì thế giới Hoa Tạng nào cũng không có gì nghi ngờ.

Đó chính là:
Nhất tâm bất loạn.
Nhất tâm bất hoặc.
Nhất tâm xưng danh.
Nhất tâm trì chú.
Nhất tâm quy mệnh.


### 03. Cứu độ người tự tử


Trong lúc thần hành.
Tôi thấy một người đàn ông đứng trên nóc một tòa nhà cao tầng, muốn nhảy lầu tự tử. Kiểu sự việc này trong xã hội hiện đại đã xảy ra rất nhiều!

Người đàn ông trên nóc tòa nhà còn trẻ tuổi, những người bên dưới tòa nhà cũng phát hiện hành vi bất thường của anh ta. Xe cứu hỏa, xe thang, đệm khí cứu người đều được mang đến, tiếng người ồn ào.
Có người khuyên giải, muốn đến gần để khuyên nhủ.
Người khuyên giải vừa đến gần.
Người đàn ông lập tức có động tác muốn nhảy xuống.
Người bên dưới hét lên kinh hãi, người khuyên giải không dám manh động.

Tôi thần hành trong hư không, không chỉ nhìn thấy người đàn ông muốn nhảy lầu này, mà còn thấy trong tâm anh ta có ma (trầm cảm), xung quanh anh ta có:
Thủy tử linh — những oan hồn thai nhi bị phá.
Tinh linh — những oan hồn chết oan.
Oán linh — những oan hồn của chủ nợ và người thân oán hận.

Thủy tử linh kêu: "Ngươi đoạt mạng ta, ngươi hãy chết đi!"
Tinh linh kêu: "Chết một lần là hết khổ."
Oán linh kêu: "Ta nguyền rủa ngươi chết đi, cùng chết hết!"
Người đàn ông này dưới sự xúi giục của các vong linh vô hình, có vẻ ý chí quyết chết rất mạnh mẽ.

Tự sát là một hạt giống của đau khổ, cuộc đời có nhiều nỗi khổ: khổ vì sinh, khổ vì già, khổ vì bệnh, khổ vì chết, khổ vì sầu, khổ vì oán, khổ vì thọ khổ, khổ vì lo âu, khổ vì bệnh não, khổ vì sinh tử luân hồi, khổ vì oan gia trái chủ. Nỗi khổ thật vô tận.

Hạt giống tự sát này sinh ra từ nội tâm con người, theo khí trôi nổi trong hư không, dẫn dụ nhiều tinh linh đến, tinh linh thì tham lam, ích kỷ, oán hận, vô minh, chúng chỉ mong con người tự tử mà thôi.

Tôi đã hiểu:
Tại sao Hemingway tự tử, tại sao Kawabata Yasunari tự tử, tại sao Mishima Yukio tự tử, tại sao Tam Mao tự tử........
Người sống chán chường!
Nỗi đau không dứt!
Dù có danh tiếng lẫy lừng, tiền tài dư dả, vì sao lại coi thường mạng sống?
Đó là khi tâm cảnh của một người thay đổi, không thể giải tỏa, từ ý niệm sinh ra ý nghĩ quyên sinh, ma tâm từ đó mà sinh!
Về điểm này, người tu hành cũng phải chú ý.

Tu Bạch cốt quán quá độ sẽ khiến cuộc đời trở nên vô nghĩa!
Tu Bất tịnh quán quá độ sẽ khiến cuộc đời trở nên nhàm chán!
Hành giả cần chú ý, "quá mức" và "chưa đạt" đều không tốt.
Hành giả nên nghĩ rằng, một niệm tinh tấn có thể vượt qua khổ não trong cõi Ta Bà từ nhiều kiếp, đến thế gian này chính là đạo tràng tu hành, phải có pháp hỷ mới có thể đạt đến chín phẩm Cực Lạc.
Tu hành là vàng ngọc.
Tự vẫn là cát sỏi.
Phải hiểu rõ sự hơn kém giữa hai điều này, đừng để một phút mê muội! Phật giáo dạy chúng ta tu hành để đạt pháp hỷ, lìa khổ được vui.
Còn tự tử chỉ có khổ không có vui, tự tử chính là "giết Phật"!

Tu hành cần có sinh mệnh, sinh mệnh cần sự sống, sống thì phải sống cho tốt, cuộc sống không dễ dàng, ai cũng biết điều đó. Nhưng vì giá trị của tu hành, sự tồn tại của sinh mệnh phải do chính mình làm chủ, giá trị tồn tại hoàn toàn ở nơi mình chứ không phải ở người khác, cũng không phải ở hoàn cảnh, không phải ở trong lời phê bình của người khác, vì vậy hành giả phải nhận rõ:
Giá trị sinh mệnh của chính mình.
Nhận biết Phật tính của mình.
Từ buông xả mà được tự tại.
Từ tự tại mà được an vui.

Hãy luôn tô điểm thêm ánh sáng và màu sắc cho cuộc đời của chính mình.

Tôi nhìn người đàn ông đó lần nữa, anh ta thực sự muốn nhảy lầu, trong tôi chợt dấy lên lòng từ bi lớn lao, muốn cứu mạng người đàn ông này.

Tôi phóng ra Phật quang, linh quang, bạch quang, ba đạo tịnh quang. Thủy tử linh, tinh linh, oán linh vừa thấy ba đường ánh sáng này thì sợ đến vỡ mật, vội vàng chạy mất tăm mất tích.

Người đàn ông bỗng tỉnh ra. Tôi hóa hiện cho anh ta thấy vài cảnh rơi xuống chết thảm, anh ta cũng không nỡ nhìn.
Tai anh ta chợt nghe tiếng cha mẹ gọi, lòng anh ta mềm lại, liền chùn chân. Người khuyên giải nhân cơ hội lao tới ôm chặt lấy anh ta, cứu được anh ta xuống.

Người đàn ông này đã được cứu. Khi tôi thần hành rời đi, nghĩ đến một bài thơ:
*Thoáng thấy có người nhảy lầu cao
Dưới chân đã chẳng còn đường nào
Đi hết núi sông tìm lại mình
Trao cho Phật pháp bình tâm an.*


### 04. Khúc tình ca buồn


Trong lúc thần hành.
Tôi nghe thấy lời cầu nguyện của một nữ đệ tử trẻ:
"Om guru liansheng siddhi hum. Sư Tôn, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, con đã làm tổng cộng 49 đàn Hộ Ma, cầu xin Kurukulle Phật Mẫu gia trì cho con được yêu thương, theo như lời thề, con nguyện được kết hôn với bạn trai."
Nữ đệ tử cầu nguyện rất tha thiết:
"Cầu xin Sư Tôn! Cầu xin Kurukulle Phật Mẫu!"

Hộ Ma của Mật giáo có năng lực rất mạnh, pháp lực rất cao, vì vậy, trong lúc thần hành, tôi cũng nghe được tiếng gọi mạnh mẽ của nữ đệ tử.
Vì nữ đệ tử này, tôi đã đi tìm hiểu về bạn trai cô ấy.
Không ngờ người bạn trai này cũng là đệ tử của tôi, thế nên, đây là chuyện nữ đệ tử yêu nam đệ tử, yêu đến chết đi sống lại.

Nữ đệ tử này chạy đến trước cửa nhà nam đệ tử, thường xuyên đợi anh ta tan làm, gặp nhau một chút, chào hỏi một chút, nói vài câu........
Còn nam đệ tử thì hơi tránh né.

Điều khiến tôi ngạc nhiên hơn nữa là nam đệ tử này cũng thực hiện nghi lễ Hộ Ma, anh ta cúng dường Ái Nhiễm Minh Vương và thành tâm cầu nguyện:
"Om guru lian sheng siddhi hum. Sư Tôn, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, con đã làm 49 đàn Hộ Ma Ái Nhiễm Minh Vương, xin gia trì cho con được kết hôn với bạn gái của con."

Vấn đề là như thế này:
Nữ đệ tử yêu nam đệ tử.
Nhưng người mà nam đệ tử yêu không phải nữ đệ tử này.
Mà là một cô gái khác. Người anh ta yêu không phải là cô ấy.

Một ngày nọ.
Nam đệ tử lái xe Mercedes chở bạn gái về nhà, hai người tình tứ nắm tay nhau, còn hôn lên má nhau nữa.
Nữ đệ tử đứng sững người, nhìn đến ngẩn ngơ!
Muốn khóc mà không còn nước mắt, cô lặng lẽ nhìn nam đệ tử tay đỡ eo cô gái bước vào nhà, "cạch" một tiếng, đóng cửa lại.
Nữ đệ tử đau lòng, cuối cùng không kìm được nữa mà rơi lệ, cô ngốc nghếch đợi anh về, nhưng lại phải chứng kiến cảnh tượng này.

Nữ đệ tử không nản chí, về nhà, lại đốt lửa cúng Hộ Ma, lại cầu nguyện, lại kêu lớn:
"Om guru lian sheng siddhi hum. Sư Tôn, Ngài có nghe thấy không?"
"Om Kurukulle Phật Mẫu. Con chỉ lấy anh ấy làm chồng, anh ấy chỉ cưới con làm vợ. Ngài có nghe thấy không?"
Lửa Hộ Ma cháy bừng bừng.

Thật không ngờ:
Nam đệ tử này rất chung thủy với bạn gái hiện tại, còn đối với nữ đệ tử đang cúng Hộ Ma kia, trong lòng anh ta không hề xao động chút nào.
Hơn nữa, nam đệ tử này tu pháp Ái Nhiễm Minh Vương rất tinh tấn, thuộc làu thần chú, đọc tụng đến hàng trăm nghìn vạn lần.

Trong lúc thần hành, tôi đã bàn bạc với Kurukulle Phật Mẫu và Ái Nhiễm Minh Vương về việc hai đệ tử này tu pháp Hộ Ma cầu tình ái.

Chúng tôi xem xét bốn điều lớn:
Một, nhân duyên quả báo về tình yêu giữa ba người.
Hai, kết quả như thế nào mới được xem là công bằng bình đẳng.
Ba, liệu dưới sức mạnh của pháp lực họ có thể vẫn giữ được lòng tin tăng tiến.
Bốn, liệu có thể đảm bảo cả ba người đều không bị tổn thương.
Kết quả thảo luận là:
Kurukulle Phật Mẫu lắc đầu.
Ái Nhiễm Minh Vương lắc đầu.
Tôi lắc đầu.

Thì ra, tình yêu là thứ mãi mãi vướng bận không thôi, không thể giải quyết được, người quá yêu chính mình tất sẽ phiền não đau khổ muôn vàn, lòng chiếm hữu quá mạnh đối với người mình yêu thì mãi mãi cứ luẩn quẩn không dứt, thuận ý ta thì vui, trái ý ta thì giận.
Câu trả lời là "để mặc tự nhiên" vậy.

Tuy nhiên, tôi vẫn thương cảm cho nữ đệ tử cúng Hộ Ma kia, tôi biết lời cầu nguyện của cô ấy sẽ không thành, dù có cúng một trăm đàn hay nhiều hơn nữa, Kurukulle Phật Mẫu cũng không thể giúp được cô ấy, ngay cả tôi cũng không thể giúp được.
Tôi lén nói bên tai cô ấy:
"Đệ tử à! Cô cầu xin tôi, vậy tôi cầu xin ai?"
Cô ấy nghe thấy tiếng nói nhưng không thấy người, nhìn quanh bốn phía, lấy làm lạ lùng!
Nhưng, cô ấy vẫn không hiểu ý của tôi.
Tôi đành phải thần hành mà đi!

Mọi tình ái trong thế gian đều do nhân duyên mà khởi sinh, có duyên sâu, có duyên cạn, có duyên kết thành quả, có duyên không thể kết thành. Dù có cúng Hộ Ma cầu nguyện, tuy có được pháp lực gia trì, nhưng định nghiệp, duyên số cũng khó mà thay đổi.
Tôi nói:
Khi đủ điều kiện rồi
Nhân duyên tự hội tụ
Nếu chưa đủ điều kiện
Cưỡng cầu cũng vô ích.

Tôi không phải nói Mật pháp không có pháp lực, mà là nói, chấp ngã, ngã kiến, thân kiến, lòng tham cầu dục vọng, tất cả pháp hữu vi, định nghiệp cũng khó chuyển.

Tôi đã cố gắng hết sức, đã nói với nữ đệ tử. Hy vọng cô ấy có thể buông bỏ, mới thực sự dứt được lửa phiền não.

Một ngày nọ, người cô ấy ngưỡng mộ đã kết hôn, cô dâu không phải là cô ấy.
Sân hận trong nhân gian là điều đáng sợ nhất, lòng sân hận nảy sinh trong tâm cô ấy không chỉ hận nam đệ tử kia, mà còn hận cả cô dâu. Thậm chí cha mẹ anh em và tất cả mọi người.

Sân hận sẽ thay đổi tất cả, lúc này đạo lý, đạo đức, trí tuệ, tôn giáo, nhẫn nhục đều biến mất không còn, trong lòng mãi mãi chứa đầy oán khí và bất mãn, cô ấy không thể nào có được niềm vui và sự an tịnh hạnh phúc.

Cô ấy không thể cân bằng tâm thái.
Căm ghét Sư Tôn không có cảm ứng.
Căm ghét pháp Hộ Ma.
Căm ghét Kurukulle Phật Mẫu không giúp đỡ cô ấy.
Cô ấy quét sạch pháp tướng của Sư Tôn trên đàn thành, dẹp bỏ tất cả tượng chư Phật Bồ Tát, cả lò Hộ Ma cũng đem cho người khác, vứt bỏ hết pháp khí, đốt cả pháp y thường mặc, cô ấy hận, hận, hận, hận vô tận......
Dù tôi có rơi lệ cũng vô ích, không thể gọi được tâm cô ấy quay về.
Cô ấy xé nát cả chứng thư quy y.

Tôi thấy xấu hổ với chính mình, không thể cứu độ được cô ấy, tôi tự trách, tôi hổ thẹn, tôi bất lực, lòng tôi đau xót, nhưng đành chịu bó tay!

Chúng sinh vì có dục vọng, vì muốn thỏa mãn dục vọng mà quy y rất nhiều, thực ra khi đã vào cửa quy y rồi, phải thực sự hiểu sâu về pháp nhân duyên, thường thì những người còn chấp trước không quên được dục vọng, đôi khi thật dễ mất đi niềm tin.
Mọi người thử nghĩ xem:
*Muôn thứ không mang được
Chỉ có nghiệp theo thân
Dục vọng chồng chất mãi
Học Phật hóa học ma.*

Khi đã vào cửa quy y rồi, phải phát tâm bồ đề, trên cầu Phật quả, dưới hóa độ chúng sinh, đó là "vô tâm" không cầu gì cả. Nghĩa là phải "tam luân thể không", không nên chấp trước. Tâm bồ đề phát khởi như vậy mới không làm tổn thương người và mình, học Phật tu hành chân chính là vô sự, vô tâm, không vướng mắc, không phiền muộn, không khổ não, không lo lắng.

Chúng ta tu pháp Hộ Ma trong Mật giáo, chỉ cầu được chư Phật Bồ Tát gia trì, hết sức mình là được.
Đồng thời, phải hiểu rằng, mọi biểu hiện trong nhân gian, thành bại thịnh suy thực ra chỉ là hiện tượng nhất thời, như nói thành, trụ, hoại, không; sinh, trụ, dị, diệt; vô thường, vô ngã, khổ, không, tất cả đều chỉ là nhân duyên mà thôi. (Tình ái toàn là nhân duyên.)

Chúng ta học Phật là:
Hướng đến thiện.
Hướng đến thanh tịnh.
Hướng đến ánh sáng.
Hướng đến giải thoát.
Học Phật tu hành là học trí tuệ giải thoát và trí tuệ bồ đề, phải tràn đầy pháp hỷ, biết đủ mới thường vui, có thể khiến thân thể khỏe mạnh, tâm trạng hoan hỷ, thấy vạn vật trong thế gian đều đẹp, việc gì cũng biết ơn, hành giả cần lan tỏa pháp hỷ của mình như làn hương, để cảm động chúng sinh hữu tình.

Cuộc sống hạnh phúc cần phải trừ bỏ tham, sân, si, đây mới là cái nhìn đúng đắn về cuộc sống. Ghen tị và sân hận là không đúng, người học Phật chúng ta phải hiểu rằng Phật giáo được xây dựng trên chính kiến về nhân quả, người đầu tiên bị tổn thương bởi sân hận chính là bản thân mình.

Đệ tử quy y ơi! Tôi muốn nói rõ ràng với mọi người, bạn có hiểu được tâm của Sư Tôn không? Quy y phải đồng tâm với Sư Tôn. Bạn có hiểu được thề nguyện của Sư Tôn không? Quy y phải làm theo nguyện. Bạn có hiểu được giáo pháp Chân Phật Mật Pháp của Sư Tôn không? Quy y phải thấu hiểu giáo pháp. Đừng để tình ái chi phối bản thân.

Tôi mong rằng hành giả Mật giáo tu pháp Hộ Ma (Hỏa cúng) hãy thể hiện nhất tâm cúng dường, nhất tâm bố thí, nhất tâm tinh tấn, nhất tâm trì chú, nhất tâm tri ân, nhất tâm quy mệnh. Chứ không phải cầu xin, cầu xin, cầu xin... Làm sao có thể thỏa mãn được mọi sự thỉnh cầu?


### 05. Việc ăn của quỷ thần


Trong lúc thần hành.
Tôi gặp một quỷ vương, quỷ vương cũng đang thần hành, tôi và quỷ vương kết bạn đồng hành, đúng thật là "hai người đồng hành".
Tôi hỏi quỷ vương:
"Khi Phật Đà còn tại thế, có người hỏi Phật về vấn đề cúng tế, Phật nói rằng có thể không cần cúng tế. Nhưng nếu người ta muốn cúng tế thì cũng có thể tùy duyên. Xin hỏi quỷ vương về vấn đề cúng tế hay không cúng tế này?"
Quỷ vương đáp:
"Ý Phật Đà là lấy tâm ý làm trọng, không phải ở hình thức siêu độ nhiều hay ít."

Tôi hỏi:
"Quỷ thần có nhận được cúng tế gì không?"
Quỷ vương đáp:
"Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn là bốn cõi thánh, hoàn toàn chỉ ở tâm ý mà thôi. Cõi trời vốn rất hạnh phúc, cúng tế trời cũng chỉ là tâm ý mà thôi. Cõi người phần lớn không nhận cúng tế, còn đạo súc sinh do si mê mà thành, họ cũng không thể nhận cúng tế. Đạo địa ngục là nơi đau khổ nhất, người thường cúng tế không có nhiều tác dụng với họ, trừ phi là bậc đại cao tăng như ngài Mục Liên. Theo tôi biết, chỉ có đạo quỷ thần mới nhận được cúng tế. Quỷ thần thực sự mong mỏi người trần có thể cúng tế họ."
"Họ ăn được thức ăn? Nhìn thấy hoa tươi?"
Quỷ vương đáp:
"Đúng vậy. Quỷ thần ăn bằng xúc chạm! Họ có thể thấy được tất cả!"

Quỷ vương lại nói:
"Tinh thần con người lấy giấc ngủ làm thức ăn, thân xác lấy thức ăn làm thức ăn. Tất cả quỷ thần đều lấy sự tiếp xúc làm thức ăn."
Tôi hỏi: "Thế nào là tiếp xúc thức ăn?"
Quỷ vương cười, nói rằng: "Súc sinh cắn súc sinh, vật này khắc vật kia, cứ ăn qua ăn lại, đó là tiếp xúc. Người ăn cơm gạo bánh mì, đó cũng là tiếp xúc. Quỷ thần cũng vậy, quỷ thần cũng là tiếp xúc, không phải cấp cao."
"Ăn cũng có phân chia cao thấp sao?" - Tôi hỏi.
Quỷ vương đáp:
"Cấp cao thì lấy tư tưởng làm thức ăn, lấy thức làm thức ăn, lấy thiền hỷ làm thức ăn. Cấp thấp thì như súc sinh cắn xé lẫn nhau, lấy thịt làm thức ăn, đạo quỷ lấy máu làm thức ăn, địa ngục lấy lửa làm thức ăn, còn đạo người cũng không phải là cấp cao."

Quỷ vương lại nói:
"Thực ra trong giới quỷ thần, thức ăn cũng có nhiều phân loại, có loài ăn khí, có loài ăn nước, có loài ăn hương, có loài ăn giấc ngủ, có loài ăn tinh khí, những loài này là tốt hơn. Có những quỷ thần thấp kém hơn, có loài ăn phân, có loài ăn nước tiểu, có loài ăn máu tanh, có loài ăn thịt, có loài ăn tinh huyết, cũng có loài ăn chất độc."
Tôi nghe xong rùng mình.

Quỷ vương nói:
"Ngài cũng đã thấy nhiều rồi, có gì đáng sợ? Người trần lấy tiếp xúc làm thức ăn, chẳng phải cũng ăn uống lung tung sao, bây giờ còn có cả bộ tộc uống nước tiểu, bộ tộc ăn chất độc nữa kìa."
Tôi gật đầu.

Tôi hỏi quỷ vương:
"Trong việc cúng tế quỷ thần, ngài cho rằng điều gì là quan trọng nhất?"
Quỷ vương đáp:
"Tâm ý quan trọng nhất, phải thực sự tiếp nhận được. Thức ăn chín là thể hiện tâm ý, một hai món, số lượng nhiều ít không phải vấn đề. Người chủ tế phải hiểu được sự biến hóa của tâm ý, đó chính là pháp cúng dường của Mật giáo, đó chính là tâm ý."
"Thức ăn chín? Tại sao phải là thức ăn chín?" - Tôi hỏi.
"Phải nấu nóng, không phải đồ hộp đóng gói, nhiều quỷ thần thích như vậy. Bởi vì chứa đựng tâm ý."
"Mông Sơn thí thực là gì?"
Quỷ vương đáp:
"Mông Sơn thí thực là phương pháp độ chúng sinh trong cõi ngạ quỷ, Mông Sơn là tên một địa phương, có một vị cao tăng tên là Cam Lộ lập ra pháp môn này để độ chúng sinh cõi ngạ quỷ, do đó gọi là Mông Sơn thí thực."
"Du già diệm khẩu là gì?"
"Là dùng sức gia trì của chư Phật Mật giáo để thí thực, có sức gia trì mạnh nhất."
"Ngoài thí thực ra, siêu độ còn bố thí gì nữa?"
"Pháp thí, tức là bố thí pháp. Lấy Lương Hoàng Bảo Sám làm ví dụ, đó chính là pháp thí, nguyên do là hoàng hậu của vua Lương do tâm đố kỵ quá nặng, không chỉ hãm hại các phi tần của vua Lương, mà ngay cả việc Lương Võ Đế bái Chí Công thiền sư làm thầy, quá thân cận với thầy, bà cũng đố kỵ. Sau khi mạng chung, đọa làm thân đại mãng xà, trong mỗi vảy trên thân đều có trùng độc cắn, đau đớn không thể tả xiết."

Quỷ vương lại nói:
"Sau đó, Võ Đế nhớ hoàng hậu, một con đại mãng xà xuất hiện trong vườn cấm, thân rắn tanh hôi phun lưỡi. Võ Đế định đuổi đi, nhưng rắn thốt ra tiếng người, tự xưng là hoàng hậu, do tâm đố kỵ nên sau khi chết đọa làm thân rắn, cầu xin Lương Võ Đế siêu độ cứu vớt để thoát khỏi nỗi khổ này. Thế là, Võ Đế tập hợp chư tăng, vì Hy hậu cầu sám hối. Chí Công thiền sư mới tập hợp tất cả các pháp sám, tập thành một bộ đại sám văn, dùng sức mạnh của danh hiệu chư Phật, tập hợp năm trăm đại tăng cùng lúc vì Hy hậu cầu sám. Lúc lễ sám hối, đại mãng xà cuộn quanh cột pháp nghe pháp. Khi pháp sám viên mãn, trong cung điện có hương trời nhạc trời, Hy hậu được sinh làm thiên nhân, thăng lên cõi trời Đao Lợi. Đó chính là pháp lực của Lương Hoàng Bảo Sám, đó cũng là pháp thí vậy."

Tôi hỏi:
"Bố thí pháp quan trọng hơn bố thí thực phẩm phải không?"
Quỷ vương đáp:
"Thí thực chỉ no được một lúc, còn thí pháp thì được sinh lên cõi trời, thí pháp mới là số một."
Tôi hỏi:
"Việc cúng thí thực có giờ giấc không?"
Quỷ vương đáp:
"Cúng Phật vào giờ Ngọ, cúng chư thiên vào sáng sớm, cúng quỷ thần vào đêm tối, cúng tinh linh vào hoàng hôn, đó gọi là bốn thời cúng thực."
Tôi nói:
"Tôi cúng dường không phân biệt thời điểm, có thức ăn là cúng!"
Quỷ vương đáp:
"Ngài là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, tâm ý đến là thời điểm đến. Chư Phật, Bồ Tát, Kim cang, Hộ pháp, chư thiên, quỷ thần đều đến. Ngài là Đại Trì Minh Kim Cương A Xà Lê, đương nhiên là khác biệt."

Tôi lại nhớ ra một vấn đề, hỏi quỷ vương:
"Còn việc đốt vàng mã thì sao?"
Quỷ vương cười ha hả:
"Cũng giống như thắp hương vậy."
"Giống như thế nào?"
"Tất cả đều ở tâm ý."
"Tâm ý gì?"
Quỷ vương đáp: "Tâm hiếu thảo, tâm biết ơn, tâm tôn kính, tâm thành kính, tâm hồi hướng, tâm siêu độ, nhất tâm nhất ý."
"Tâm siêu độ thì dùng tâm ý gì?"
"Cầu xin chư Phật gia trì thân khẩu ý được thanh tịnh để vãng sinh Phật quốc."
"Có được không?"
"Chí thành nhất tâm thì chắc chắn có cảm ứng!"
Tôi và quỷ vương vừa thần hành vừa hỏi đáp.

Trên đường đi, toàn là tôi hỏi quỷ vương, bỗng nhiên quỷ vương quay lại hỏi tôi:
"Liên Sinh Hoạt Phật, giờ đến lượt tôi hỏi ngài, tiến một bước là chết, lùi một bước là chết, nếu không tiến không lùi, cũng như nước đọng làm chết người, vậy phải làm thế nào mới là con đường thoát thân?"
Tôi đáp: 
"Kinh Hoa Nghiêm có một bài kệ:
Nếu người muốn biết rõ
Hết thảy Phật ba đời
Nên quán pháp giới tính
Tất cả do tâm tạo."

Quỷ vương gật đầu, lại hỏi:
"Phía trước có hổ, phía sau có sói, bên trái là vực sâu, bên phải là vách đá, Liên Sinh Hoạt Phật đến đây, xem phải làm sao để qua?"
Tôi đáp:
Không chấp có không.
Tình giải đều quên.
Ba đời như một.
Trải khắp hư không.

Quỷ vương vừa nghe xong, trong khoảnh khắc bay vút lên hư không, lúc này quỷ vương đã biến mất, trên không trung xuất hiện mặt đất kim cang kiên cố, có bánh xe báu trang nghiêm và ngọc mani thanh tịnh, phía trên có tràng phan báu tỏa ánh sáng, luôn phát ra âm thanh vi diệu, chuỗi vòng ngọc tỏa hương thơm mầu nhiệm, dưới tràng phan báu là một vị Bồ Tát, thân kim cang, y phục lưu ly, cưỡi voi trắng, toàn thân đều tỏa ánh sáng.
Tôi cung kính chắp tay:
"Là Phổ Hiền Vương Bồ Tát!"
"Đúng vậy."
"Bồ Tát hóa thân làm quỷ vương để độ chúng sinh!"
"Hóa thân vô cùng vô tận, muốn mượn vấn đáp để nói các loại pháp vậy."

Trong lúc thần hành, tôi cũng nghĩ rằng, những điều quỷ vương này biết thật thấu trời đạt đất, không gì không biết, làm sao chỉ là một quỷ vương nhỏ bé, chắc chắn là hóa thân của một vị đại Bồ Tát, thần thông tự tại của Bồ Tát quả thật phi phàm.
Tôi cung kính đảnh lễ Phổ Hiền Vương Bồ Tát.
Bồ Tát nói:
"Nguyện Liên Sinh Hoạt Phật diễn thuyết cảnh giới vi diệu rộng lớn, âm thanh vi diệu vang vọng khắp nơi."


### 06. Đừng quên thề ước


Trong lúc thần hành.
Tôi gặp một vị Không hành mẫu, tay cầm hoa tươi, đón tiếp tôi giữa không trung. Nhìn kĩ mới biết vị Không hành mẫu này chính là đệ tử của tôi. Do bà ấy đã từng giúp tôi độ chúng sinh ở cõi trần, nên nhanh chóng được sinh làm thiên nhân.

Tôi kinh ngạc: "Bà đã viên tịch rồi sao!"
Không hành mẫu khóc đỏ hoe đôi mắt: "Vâng ạ."
"Viên tịch thế nào?" - Tôi đau lòng.
"Hôm trước còn khỏe mạnh bình thường, tối đi vật lý trị liệu, đêm đó đã ra đi!"
Nước mắt tôi không kìm được mà tuôn rơi. Bà ấy là đệ tử tốt của tôi!

Tôi hỏi:
"Hôm nay bà đi đâu vậy?"
Không hành mẫu đáp:
"Sự nghiệp ở thế giới Ta Bà này vốn do tôi một tay điều hành. Sau khi tôi ra đi, họ bối rối không biết phải làm sao. Hôm nay đến gặp Sư Tôn là vì tôi muốn quay lại Ta Bà, tiếp tục giúp đỡ sự nghiệp của mình. Tôi sẽ đầu thai vào gia tộc đó để phụ giúp sự nghiệp."
"Tôi thấy việc này quá là hoang đường, việc đời ở Ta Bà là việc đời ở Ta Bà, chết là kết thúc tất cả, nếu bà đầu thai trở lại sẽ khiến thiên hạ cười chê."
"Nhưng, tôi quá nặng lòng với sự nghiệp!"

Tôi ngăn bà ấy lại:
"Hãy về Ma Ha Song Liên Trì đi! Vì một khi trở lại nhân gian, e rằng khó về được Cực Lạc."
"Đệ tử không muốn về." - Không hành mẫu nói, rất kiên quyết, bà ấy muốn trở về nhân gian.
"Bà đã quên lời thề rồi sao!"
"Đệ tử đã thề gì với Sư Tôn?" - Không hành mẫu đã quên mất.

Tôi hóa ra một cảnh tượng cho bà ấy xem:
Thuở xưa, bà vốn là người ở Ma Ha Song Liên Trì, theo lời thề là như thế này, tôi (Liên Sinh Hoạt Phật) xuống cõi Ta Bà, hẹn bà giúp đỡ, ban đầu bà không chịu, vì Ta Bà là ngũ trược ác thế quá khổ, không muốn xuống phàm trần, bởi vì:
Cành san hô treo sừng tê non.
Biển khổ sóng dồn khó thấy bờ.

Tôi nói:
Cực Lạc lúc này đáng dừng chân.
Phàm thánh chỉ cách một sợi tơ.
Tôi khuyên hết lời mới thuyết phục được bà ấy xuống cõi Ta Bà. Bà ấy sinh ra trước, sau đó tôi mới sinh ra, bà ấy hơn tôi vài tuổi, về mặt tuổi tác.
Tôi hứa với bà ấy:
Có A Di Đà trong tự tâm.
Vừa khởi một niệm cách nghìn núi.
Trong đó tự có ánh hồi quang.
Chớ quên lời hẹn tìm bên ngoài.
Tôi hứa với bà ấy:
Chỉ một lần này về Cực Lạc.
Trở lại Liên Trì là Quan Âm.

Đây chính là lời thề ước giữa tôi Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn với vị Không hành mẫu này, nhưng bây giờ, bà ấy đã quên hết lời thề, chỉ muốn quay về nhân gian để gây dựng lại sự nghiệp.

Khi tôi ẩn cư bế quan tại hồ Diệp Tử đã giác ngộ rằng, đường đời khó đi, đường đời quá nhiều cạm bẫy, đường đời quá nhiều ràng buộc, đường đời quá nhiều khổ nạn, đường đời khó gặp Phật pháp, dù có gặp được Phật pháp cũng chưa chắc đã tin hiểu, càng không thể hành trì chứng đắc.

Không hành mẫu ơi! Khi bà xuống cõi trần, muốn gây dựng lại sự nghiệp, sao không biết khổ, không, vô thường, liệu bà có thể không bị cảnh chuyển tâm? Không bị cảnh tướng chi phối? Không bị cảnh làm rối loạn?

Không hành mẫu ơi! Đời này bà quy y nơi tôi, tôi nhận ra bà, bà cũng từng nói: chính thầy là người muốn tôi xuống trần gian trợ giúp Chân Phật. Nay tôi đang ở hồ Diệp Tử, vì sao bà lại muốn xuống trần gian?
Không hành mẫu ơi!
Liệu bà có thể thanh tịnh hoan hỷ?
Liệu bà có thể không quên đạo tâm?
Liệu bà có thể lìa khổ được vui?
Liệu bà có thể tịnh hóa tự tâm?
Liệu bà có thể trở về Ma Ha Song Liên Trì?
Thành tựu chân chính của đời người nằm ở sự thanh tịnh của tự tâm, ở sự nhạt nhòa với danh lợi, thành tựu lớn nhất là độ chúng sinh thoát khỏi vòng khổ, chỉ có thanh tịnh vô nhiễm mới không rơi vào luân hồi lục đạo. Không hành mẫu ơi! Bà trở lại nhân gian, có tự tin, có nắm chắc không?

Tôi vừa nói xong.
Không hành mẫu hai mắt rơi lệ, toàn thân run rẩy, tôi biết, bà ấy hoàn toàn không đoan chắc có thể quay lại cõi trời được nữa. Đây cũng chính là điều tôi lo lắng.
Không hành mẫu nói:
"Thưa Sư Tôn! Tôi phải làm sao đây?"
Không hành mẫu trong lòng đang giằng xé mâu thuẫn.
Tôi lại nói với Không hành mẫu:
"Tất cả phàm phu vì tự trói buộc mình nên thân chìm trong biển khổ, như đang ở trong nhà lửa, người đời nóng lạnh hành hạ giày vò, ai cũng nói khổ nhiều vui ít. Người đời nay tuy đang ở trong biển khổ, nhưng có mấy ai nhìn thấu buông bỏ được, như đang trong mộng, không thể thoát ra."

Tôi lại nói:
"Hiện nay ở cõi Tây phương Cực Lạc, mọi âm thanh đều diễn tả diệu pháp, nước mani chảy giữa các đóa hoa, chư Như Lai thánh hiền tướng đẹp không gì sánh bằng, ngọc như ý tỏa ánh vàng kim, lầu gác trăm báu, vàng rải khắp đất. Cõi Phật tuyệt diệu như vậy mà bà không đến, biết rõ việc đời như mộng mà còn tìm mộng, biết rõ có thể rơi vào ba đường ác, lại mê mờ con đường về quê hương, bà vẫn chưa tỉnh giấc mộng lớn sao?"
Không hành mẫu nói:
"Con cháu phải làm sao?"
Tôi mỉm cười:
"Con cháu tự có phúc của con cháu, không vì con cháu mà làm thân trâu ngựa."
Không hành mẫu hỏi:
"Con đường về Tây phương phải đi thế nào?"
Tôi nói:
*Buông gánh nặng xuống sẽ nhẹ nhàng.
Dưới chân tự nhiên hoa sen nở.
Nếu một lòng thành tâm niệm Phật.
Đài sen không cần phải sắp bày.*

Không hành mẫu tụng: "Nam mô ba mươi sáu vạn tỉ, mười một vạn, chín nghìn năm trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật."

Ngay lập tức, tôi từ Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Sư Tôn biến hóa thành một vị A Di Đà Phật Vô Lượng Thọ trang nghiêm pháp giới hư không với ba mươi hai tướng tốt, toàn thân phóng hào quang rực rỡ, tay nâng một đài sen, đầy đủ tất cả. Tôi phóng đài sen ra, Không hành mẫu lập tức bước lên đài sen.

Không hành mẫu hỏi: "Đây là tôi đang niệm Phật kiểu gì vậy?"
"Niệm Phật có mười loại: niệm tịch tĩnh, niệm thanh tịnh, niệm không đục, niệm minh triệt, niệm ly trần, niệm ly vạn tượng, niệm ly cấu, niệm quang diệu, niệm khả ái lạc, niệm vô năng chướng ngại. Vừa rồi bà niệm Phật đã đầy đủ cả mười niệm rồi."
"Làm sao để đến?" - Không hành mẫu hỏi.
"Một niệm là đến. Một sát-na đều được vãng sinh."
Trong chốc lát, Không hành mẫu đã đến Ma Ha Song Liên Trì, hóa sinh từ hoa sen!


### 07. Ấn tượng về rước xá lợi ngón tay Phật


Trong lúc thần hành.
Tôi thấy trong pháp hội cầu phúc rước xá lợi "ngón tay Phật", các vị lãnh đạo quốc gia, lãnh đạo địa phương, các vị trưởng lão, đại pháp sư, Hoạt Phật trong giới Phật giáo và vô số tín đồ, tất cả đều đảnh lễ "ngón tay Phật".
Có những phụ nữ xõa tóc, để "ngón tay Phật" chạm qua.
Có người cởi áo, rải hoa, để "ngón tay Phật" chạm qua.
Có người đảnh lễ, chạm trán xuống đất, hướng về "ngón tay Phật" lạy hàng trăm nghìn vạn lần.
Việc rước xá lợi "ngón tay Phật" này quả thật là đại sự của thiên hạ, cũng là đại sự của quốc gia, đại sự của tôn giáo xã hội, đại sự của tín đồ.
"Ngón tay Phật" được thỉnh đi thờ cúng khắp nơi, dòng người đảnh lễ không ngớt, nhìn thấy dòng người như thế này, chúng sinh tôn kính xá lợi của Phật Thích Ca Mâu Ni như vậy, tôi vô cùng xúc động.
Tất nhiên tôi cũng thấy có người tranh luận về tính chân thực của "ngón tay Phật" này.

Điều này khiến tôi nhớ đến một chuyện:
Vào thời nhà Đường, Luật sư Đạo Tuyên đang đi trong đêm tại chùa Tây Minh, bất cẩn trượt chân ngã khi bước lên bậc thang.
Có ai đó đã đỡ lấy ngài Đạo Tuyên, khiến ngài không bị thương.
Sau khi đứng vững, nhìn người vừa đỡ mình, thì đó là một chàng trai trẻ.

Đạo Tuyên hỏi: "Ngươi là ai? Sao lại ở đây giữa đêm?"
Chàng trai đáp: "Ta không phải người nào khác, chính là Na Tra Tam Thái Tử, con của Tỳ Sa Môn Thiên Vương. Ta đã là Hộ pháp của pháp sư từ lâu, bảo hộ hòa thượng đã rất nhiều năm rồi!"
Luật sư Đạo Tuyên nói: "Bần tăng tu hành, không có việc thì không dám phiền Tam Thái Tử. Thái Tử thần thông tự tại, hiện giờ ở Tây Vực Thiên Trúc có Phật sự gì không?"
Thái Tử đáp: "Ta có một viên xá lợi răng Phật, đã bảo hộ ở chỗ ta rất lâu rồi, để ta dâng tặng cho Đạo Tuyên luật sư vậy!"
(Xá lợi răng Phật Thích Ca Mâu Ni của Luật sư Đạo Tuyên là do Na Tra Tam Thái Tử cúng dường, việc này giới Phật giáo đều biết. Cần biết rằng Luật sư Đạo Tuyên là tông chủ của Nam Sơn tông, giới luật là một trong Tam tạng Tam học, thông suốt các tông phái. Nam Sơn Đạo Tuyên dựa vào Tứ Phần Luật trong Ngũ Bộ Luật để hoằng dương giới luật, Tứ Phần Luật chính là Luật tông vậy.)

Cũng có người phê bình rằng xá lợi răng Phật của Luật sư Đạo Tuyên là giả, làm gì có chuyện Na Tra Tam Thái Tử tặng xá lợi răng Phật cho Luật sư Đạo Tuyên? Khiến người ta nghi ngờ.
Nhưng, tôi cho rằng, người đời không nên phê phán Luật sư Đạo Tuyên, bởi vì:
Phật diệt độ rồi.
Tượng pháp trụ thế.
Hưng phát Tỳ-ni.
Chỉ có một mình Ngài.
(Luật sư Đạo Tuyên giữ giới rất nghiêm, ba y không rời thân, mỗi ngày chỉ ăn một bữa, đi thì chống gậy, ngồi không tựa giường, rận rệp theo người.)

Ngày xưa:
Có người hỏi tôi:
"Xá lợi của Phật, xá lợi răng Phật, xá lợi ngón tay Phật, cái nào thật? Cái nào giả?"
Tôi đáp:
"Lấy ví dụ của Luật sư Đạo Tuyên mà nói, tin thì tin, không tin thì thôi, tin hay không là tùy mỗi người. Lịch sử đã trải qua hai nghìn sáu trăm năm rồi, làm sao mà phân biệt được? Ngay cả ngày đản sinh của Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật tử cũng không thể chỉ ra được một ngày chính xác. Nói đến hình tượng của Đức Phật, ngoại trừ một bức của Phú Lâu Na, hầu như không còn gì cả, tất cả đều là tưởng tượng. Thực ra xá lợi thật giả đều không quan trọng, cá nhân tôi cho rằng xá lợi Phật, răng Phật, ngón tay Phật đều có giá trị kỷ niệm. Điều quan trọng hơn là giáo pháp của Phật Đà! Đó mới chính là giá trị của cuộc đời."

Tôi nói:
Chỉ bàn về thật giả thì có ích gì, nếu không quy y thọ giới? Không có giới thể thì không thể tích lũy giới đức để thành Phật.
Chỉ bàn về thật giả thì có ích gì, nếu không nghe kinh học pháp? Không có nghe pháp thì làm sao thực tu để thành Phật.
Chỉ bàn về thật giả thì có ích gì, nếu không giữ thân khẩu ý thanh tịnh? Không có thanh tịnh thì dù có lạy đến vỡ đầu cũng không thể thành Phật.
Chúng ta dùng trì giới để đối trị tham.
Dùng thiền định để đối trị sân.
Dùng trí tuệ để đối trị si.
(Siêng tu giới, định, huệ để dập tắt tham, sân, si.)

Người thọ giới phải tiếp tục giữ giới, người niệm Phật trì chú cần giữ cho niệm được thanh tịnh liên tục, tu định tu huệ cần để tâm tính tự nhiên thì Phật tính mới có thể hiển lộ. Tu giải thoát đạo hay bồ đề đạo mới có thể tự chủ sinh tử, minh tâm kiến tính!
Những điều này quan trọng hơn việc "rước xá lợi ngón tay Phật" nhiều!

Cá nhân tôi không phản đối việc rước xá lợi Phật, "xá lợi răng Phật", "xá lợi ngón tay Phật" hoặc cầu phúc cho quốc gia, cầu phúc cho xã hội, cầu phúc cho chúng sinh; cũng không phản đối việc đại chúng chạm và lạy đầu với "ngón tay Phật".
Tôi chỉ muốn Phật tử nhớ rằng, thực ra sự tu tập nội tâm, Phật tính tự nhiên lưu lộ từ tâm mới quan trọng hơn việc lễ bái bên ngoài.

Có lần người ta hỏi tôi:
"Ngài nghĩ gì về bài văn 'Can ngăn rước Phật cốt' của Hàn Dũ?"
Bài văn này, khi tôi còn là học sinh, rất nhiều người đã từng đọc qua. Hàn Dũ là bậc danh gia về văn chương, bài này là một tác phẩm nổi tiếng. Hàn Dũ viết để khuyên can hoàng đế đương thời là Lý Thuần đừng nên nghênh đón xá lợi Phật, đại ý như sau:

1. Phật giáo truyền vào Trung Quốc vào thời Đông Hán, trước thời Đông Hán ở Trung Quốc chưa có Phật giáo.
2. Vào thời kỳ chưa có Phật giáo, các vị đế vương trị vì lâu dài, thiên hạ thái bình, bách tính an lạc.
Ví dụ như Hoàng Đế, Thiếu Hiệu, Chuyên Húc, Đế Cốc, Đế Nghiêu, Đế Thuấn, Đế Vũ, Thương Thang, Vũ Đinh, Chu Văn Vương, Chu Vũ Vương, Chu Mục Vương. Những vị hoàng đế này trị vì rất lâu, dài nhất đến cả trăm năm, chỉ có Vũ Đinh trị vì năm mươi chín năm, tuy nhiên, những vị hoàng đế này đều thọ, phần lớn sống trên trăm tuổi, chỉ có Chu Vũ Vương là ngắn nhất cũng sống đến chín mươi ba tuổi. Nhân dân đều sống rất tốt.
3. Vào thời Hán Minh Đế, Phật giáo truyền vào Trung Quốc, kết quả là Minh Đế chỉ trị vì được mười tám năm.
Các vị vua thời Nam Bắc triều tin Phật, nhưng đều không trị vì lâu và thọ mệnh cũng ngắn.
Nhân dân liên tiếp gặp chiến loạn, thiên hạ không được yên bình.
(Chỉ có Lương Vũ Đế là trị vì lâu nhất - bốn mươi tám năm, thọ nhất - trên tám mươi tuổi. Ông là vị hoàng đế mộ Phật nhất, ba lần xả thân cúng Phật. Nhưng cuối đời không tốt, bị tướng phản loạn Hầu Cảnh vây hãm, chết đói ở đài thành, tám năm sau khi ông mất, quốc gia cũng diệt vong.)
4. Đường Cao Tổ Lý Uyên từng ban lệnh loại bỏ tăng ni trong thiên hạ.
5. Khổng Tử nói: "Kính quỷ thần nhưng nên giữ khoảng cách."
6. Hàn Dũ khuyên Lý Thuần nên "ném xá lợi xuống nước hay vào lửa, vĩnh viễn diệt tận gốc rễ, dứt mối nghi ngờ trong thiên hạ, chấm dứt họa cho đời sau."

Đối với những điểm này, tôi xin giải thích như sau:
1. Trước thời Đông Hán, Trung Quốc chưa có Phật giáo. (Điểm này không cần giải thích.)
2. Trước khi có Phật giáo ở Trung Quốc, từ Hoàng Đế đến Chu Mục Vương... Những vị đế vương này là ai? Người đời làm sao biết được, bởi vì những vị đế vương này thực sự là những vị thiên nhân nửa người nửa thần. Theo tôi được biết, Tam Nguyên Tam Phẩm Tam Quan Đại Đế chính là Nghiêu, Thuấn, Vũ, những vị khác càng không cần phải nói. Thọ mệnh dài, trị vì lâu đều có lý do cả. Dân chúng dưới sự cai trị của các vị thần tự nhiên được bình an. Hơn nữa người xưa tâm thanh tịnh, ít ham muốn, thiên hạ thái bình.
3. Những vị hoàng đế về sau tham dục nhiều, càng ngày càng hoang đường, chiến loạn cũng nhiều, như người ta thường nói "lòng người không còn như xưa", không còn thanh tịnh ít ham muốn, vì thế những vị hoàng đế này tại vị không lâu, thọ mệnh cũng ngắn ngủi.
Những vị hoàng đế này đều là phàm phu tục tử, không còn là thần nhân đại đế nữa. Dân chúng đương nhiên gặp nạn!
(Về việc Lương Vũ Đế chết đói ở đài thành, thiền sư Chí Công đã giải thích rõ nhân quả của Lương Vũ Đế rồi, ở đây không cần nhắc lại.)
4. Đường Cao Tông Lý Uyên từng bức hại tăng ni khắp thiên hạ. Thực ra không chỉ riêng Lý Uyên, trong lịch sử Trung Quốc, Phật giáo đã trải qua "Tam Võ Nhất Tông pháp nạn". Chỉ cần hoàng đế sùng tín một tôn giáo nào đó là Phật giáo liền bị đàn áp, chùa chiền bị phá hủy, tăng ni bị giải tán, pháp nạn xảy ra rất nhiều.
Tôi nói:
Phật giáo bị tiêu diệt ở Ấn Độ, nhưng quốc gia Ấn Độ thế nào? Vẫn cứ y như vậy, chẳng phải giàu có thái bình gì.
Phật giáo bị tiêu diệt ở Afghanistan, ngay cả di sản văn hóa cổ đại là tượng Phật khổng lồ cũng bị phá hủy, vậy quốc gia Afghanistan thế nào? Vẫn cứ lầm than khốn khổ!
5. Khổng Tử nói "Kính quỷ thần nhưng nên giữ khoảng cách".
So sánh của Hàn Dũ không hợp logic, thứ nhất xá lợi Phật không phải là quỷ thần, Phật và Phật giáo không phải là quỷ thần, điều này khác với mê tín quỷ thần. Phật là bậc giác ngộ, tự giác và giác tha, là bậc đại thánh nhân có giác hành viên mãn.
Giáo hóa của Phật là chân lý nhập thế và xuất thế, không phải mê tín quỷ thần.
Phật đề xướng từ bi bình đẳng.
Phật pháp rộng lớn như biển, không phải chỉ là quỷ thần đơn thuần.
Trí tuệ của Phật là vô thượng chính đẳng chính giác, gọi là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Còn có nhất thiết chủng trí, đó chính là bát nhã.
6. "Ném xuống nước hay vào lửa, vĩnh viễn diệt tận gốc rễ, dứt mối nghi ngờ trong thiên hạ, chấm dứt họa cho đời sau."
Tôi nói:
Xá lợi Phật là một loại vật kỷ niệm, tỏ lòng tôn kính và biết ơn là được, việc ném xuống nước hay vào lửa chỉ là thổi phồng vấn đề lên thôi.
Tin Phật không có gì phải nghi ngờ.
Tin Phật không có tai họa gì.
Há chẳng nghe Thái Thượng có nói: "Họa phúc không có cửa, chỉ do con người tự chuốc lấy."

Trong thế giới Ta Bà này, trí tuệ chân thật của Đức Phật là sự thấu hiểu thấu đáo nhất về thực tướng các pháp. Nếu người đời không tu trì "con đường giải thoát" hay "con đường bồ đề" của Phật pháp, dù có sống đến trăm tuổi, tôi cũng không biết ý nghĩa là gì?

Trong lúc thần hành, tôi thấy chúng sinh đảnh lễ "xá lợi ngón tay Phật" một cách thành kính, trong lòng vô cùng xúc động. Thậm chí có người đảnh lễ đến tận đêm khuya, từ đêm khuya đến sáng sớm, rồi từ sáng sớm đến đêm khuya, khi cổng chùa đóng lại, họ vẫn quỳ ngoài cổng chùa, hướng vào bên trong đảnh lễ.

Tôi còn thấy các âm hồn quỷ thần cũng đến lễ bái, có kẻ thật lòng lễ bái, có kẻ đến tham gia cho vui, thậm chí còn ồn ào náo động. Nhìn kỹ mới biết, họ đang tranh giành, tranh thứ bậc, tranh cúng phẩm, giành giật thức ăn.
Thờ phụng "xá lợi ngón tay Phật" tất nhiên có rất nhiều cúng phẩm: hương, hoa, đèn, trà, quả... Đám quỷ thần cũng đến tranh giành cúng phẩm.
Nhìn thấy cảnh này, tôi không khỏi thở dài!

Thấy một vị tiên cổ cũng đến.
Tôi hỏi:
"Hàn Dũ đâu?"
"Ông ta vẫn còn ở Triều Châu!"
"Lịch sử đã trôi qua lâu như vậy, sao ông ấy vẫn còn ở Triều Châu?"
Vị tiên cổ nói:
"Năm đó Hoàng đế Lý Thuần xem tấu chương phản đối xá lợi Phật, nổi giận lôi đình, định giết Hàn Dũ, may nhờ các đại thần Bùi Độ, Thôi Quần và những người khác bảo vệ, nên ông ta chỉ bị đày đến làm Thứ sử ở vùng biên viễn Triều Châu thuộc Quảng Đông, cả đời không được toại nguyện. Hàn Dũ là mẫu người trung thành một cách mù quáng, nếu hoàng đế không cho về, ông ta sẽ ở mãi nơi đó, chết cũng ở đó!"
"Lâu đến thế sao?"
"Một niệm ba nghìn, thời gian trôi nhanh, cũng chỉ là trong chớp mắt!"
"Con người làm sao được độ hóa?"
Vị tiên cổ đáp:
"Muốn được giải thoát, chứng bồ đề, tôi cho rằng có ba nguyên tắc lớn."
"Ba nguyên tắc gì?" - Tôi hỏi.
"Thứ nhất phải thật sự có duyên gặp được bậc thiện tri thức. Thứ hai phải lấy việc thoát khỏi sinh tử làm tâm niệm. Thứ ba phải buông bỏ hoàn toàn mọi danh lợi hư ảo của thế gian. Như vậy mới được coi là người học Phật chân chính."
Tôi hỏi:
"Ai là bậc thiện tri thức?"
Vị tiên cổ cười lớn:
"Xa tận chân trời, gần ngay trước mắt."


### 08. Tam muội "nửa chết"


Ở phần đầu của bài viết, một số chương trước đều được viết là "trong thần hành". Thần hành của tôi quả thật rất kỳ diệu, tôi tự gọi đó là "tam muội nửa chết".
Tôi cho rằng:
Chết hoàn toàn - là thật sự nhập niết bàn viên tịch, thân xác tiêu diệt.
Chết nhỏ - là giấc ngủ (ngủ say không còn nhận thức).
Chết một nửa - là thần hành.

Tôi thể nghiệm được hương vị của "tam muội nửa chết", rất giống như một trạng thái hấp hối, khi sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp và nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xung quanh đột ngột thu nhỏ lại, pháp giới nơi mình đang hiện hữu chỉ một niệm là đến.

Tôi hoàn toàn an trú giữa "hữu niệm" và "vô niệm", nhưng lại có mối liên hệ mật thiết với "pháp giới". Những gì không có duyên đều trốn tránh xa lánh, còn những gì hữu duyên dù xa nghìn dặm vạn dặm cũng chỉ một niệm là đến được, niệm này tùy theo tự nhiên biến hóa.

Niệm chính là ta, ta chính là niệm, đối diện với nhiều hiện tượng, vừa chân thật vừa hư ảo, chẳng phải có cũng chẳng phải không.

Có người nói, đây có thể là hiện tượng của thân trung ấm, có người nói đây là hiện tượng xuất nguyên thần, có người nói đây là hiện tượng của thần thức. Dù nói thế nào đi nữa, có lúc thì sinh lực dồi dào, có lúc lại cảm thấy nặng nề bất lực. Cảm giác bất lực này xuất hiện khi tôi không thể độ được chúng sinh, những huyễn tượng kinh hoàng, những nỗi kinh sợ vây quanh.

Khi tôi kiệt sức, khi tôi bị hiểu lầm, khi tôi cảm thấy cuộc đời quá hư ảo, khi tôi đánh mất cảm giác về giá trị bản thân và những thành tựu rực rỡ, khi người đời không còn hiểu đúng về mình, trong thần hành tôi cũng cảm thấy mất mát như vậy.

Thần hành là một trải nghiệm tâm linh đặc biệt, rất gần với trạng thái thiền định. Trong thần hành tôi đã viết nên "Độ qua biển sinh tử", sắc thân tôi bất đắc dĩ trở nên mơ hồ, nửa sống nửa chết, chốc lát không thể thích ứng được.

Cả đời này, tôi tu hành thực sự, nhưng không phải là hành giả cứng nhắc, tôi tu trì Mật pháp rộng lớn, không giới hạn trong một tông một phái, tôi thật sự không nói dối, tôi có nội hàm thực tu, lòng tin của tôi không phải là mù quáng.

Tu tập đến mức tài, sắc, danh, ăn, ngủ - năm dục đều hóa thành không.
Thân không.
Tâm không.
Pháp không.
Tính không.
Thần hành của tôi đạt đến mười pháp giới, vô lượng cõi Phật tịnh thổ........

Trang Tử nói:
"Không ăn ngũ cốc, hít gió uống sương, cưỡi mây khí, lái rồng bay, mà du ngoạn ngoài bốn biển."
Khuất Nguyên nói:
"Ăn khí trời uống sương đêm, súc miệng bằng dương khí ngậm ánh bình minh, giữ thần minh trong sạch, tinh khí vào thô trược ra, hút nước suối tinh khiết, ôm ấp ngọc quý tinh anh, dung nhan như ngọc tươi tắn, tinh thuần khởi sắc."
Thần hành của tôi cũng là:
Vô vi.
Thanh tịnh.
Thành tựu.

Nếu nói đến vô vi, đúng vậy, ẩn cư bế quan ở hồ Diệp Tử, chỉ thấy màu xanh rồi vàng, vàng rồi xanh trên núi, năm tháng trôi qua, đó thật sự là vô vi. Nếu nói đến thanh tịnh, cũng đúng vậy, không qua lại với người đời, phải trái thành bại đều trở thành không, quả thật đã đạt đến cực điểm của thanh tịnh. Còn về thành tựu thì chỉ được chút ít, có cảm giác bất lực.

Ví dụ:
Trong thần hành, tôi vào thành Chết Oan, du hóa trong thành, thấy trong đám ma chết oan có một đệ tử ngày xưa, trông rất đáng thương. Tôi muốn đến gần để độ hóa anh ta, nào ngờ khi tôi đến bên cạnh, anh ta hoàn toàn không đếm xỉa gì đến tôi.
Tôi đến từ phía Đông, anh ta quay về phía Tây.
Tôi đến từ phía Nam, anh ta quay về phía Bắc.
Tôi bay lên không trung, anh ta cúi đầu xuống, không thèm để ý.
Tôi chui lên từ dưới đất.
Anh ta mắng tôi: "Lư Thắng Ngạn, ông có thành tựu gì mà dám đến đây nhục mạ tôi!"
"Sao anh không niệm Phật trì chú?"
"Lư Thắng Ngạn, tôi không cần sự thương hại của ông, cũng chẳng màng đến việc độ hóa của ông, mấy trò tiểu xảo của ông tôi đã thấy nhiều rồi, chẳng có gì!"
"Anh không về Maha Song Liên Trì sao?"
"Không, thành Chết Oan còn tốt hơn bất kì cảnh giới nào, ở đây ai cũng như ai, chẳng lẽ không phải bình đẳng, đây mới là bình đẳng thật."
"Ông không tin Phật độ chúng sinh sao?"
"Không tin."

Tôi thở dài:
"Dù cửa Phật rộng mở, cũng không độ được người vô duyên!"
Tôi định đưa tay gia trì cho anh ta, anh ta nhổ nước bọt.
Tôi lặng lẽ rời đi, lòng vô cùng đau buồn.

Viết một bài kệ:
*Pháp giới mười phương như lòng bàn tay.
Nói là thành tựu chưa hẳn đã thành.
Nhìn lại khách trong thành phố Chết Oan.
Vô duyên muốn độ chỉ là lời suông.*

Lại một ví dụ nữa:
Tôi thần hành đến một pháp giới tên là nước Hắc Tử. Vì sao gọi là Hắc Tử? Chỉ vì nơi này tối đen một màu, có thể nói là giơ tay không thấy ngón, nên gọi là Hắc. Còn vì sao gọi là Tử? Vì người ở cõi này, một khi chết là dứt hẳn, tất cả đều nằm như xác chết, không một ai còn sống, không còn ý thức, nên gọi là Tử.

Lòng bàn tay tôi tỏa sáng, soi thấy chúng sinh ở nước Hắc Tử nằm la liệt khắp nơi.
Tôi vô cùng kinh hãi.
Tôi nghĩ, bàn tay tôi có thể phóng ra ánh sáng, đưa tay ra có thể gia trì cho chúng sinh ở nước Hắc Tử, ánh sáng từ lòng bàn tay tôi rất mạnh mẽ, có thể chiếu vào tâm chúng sinh, tạo nên pháp lực vĩnh hằng, đây là quán đảnh của Mật giáo, cũng là gia trì của Mật giáo.

Tôi hy vọng sức mạnh gia trì có thể hòa hợp với chúng sinh được gia trì.
Ánh sáng từ lòng bàn tay tôi đã gia trì cho vài người, nhưng phát hiện chúng sinh ở nước Hắc Tử vẫn không hề cử động, vẫn nằm như xác chết, không có một chút dấu hiệu siêu thoát nào.
Tôi khóc.

Một vị Như Lai hiện thân nói với tôi:
"Chúng sinh ở nước Hắc Tử là những kẻ thật sự đã chết đen. Sau khi con người mất đi, nơi họ đến sẽ được quyết định bởi ba yếu tố: 'Tùy nghiệp, tùy tập, tùy niệm'. Nhưng chúng sinh ở nước Hắc Tử đã đoạn nghiệp, lại đoạn tập, đồng thời cũng đoạn mất niệm vãng sinh, cho nên giữa sống chết như tơ đứt, thật sự một chết là hết, lập tức đến nước Hắc Tử, vĩnh viễn không sinh. Đây cũng là một trong lục sư ngoại đạo, không nghiệp, không tập, không niệm, không bồ đề tâm, đó chính là nước Hắc Tử vậy."
"Có cứu được không?"
"Không." - Như Lai ẩn đi.

Đến đây tôi tuyệt vọng, cảm thấy bất lực, vì vậy, tôi khuyên các hành giả, phải phát bồ đề tâm, chỉ có bồ đề tâm mới có thể được cứu độ.


### 09. Năm suy hoại của thiên nhân


Trong thần hành.
Tôi thấy hai thiên nữ đến gần, dù họ có dung mạo tuyệt trần nhưng vẻ mặt lại rất hoảng sợ, cả giọng nói cũng run rẩy:
"Thưa người thần hành, xin dừng bước, cho phép chúng tôi hỏi."
Tôi dừng lại: 
"Có chuyện gì?"
"Xin hỏi có phải ngài là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn?"
"Đúng vậy."
"Chủ nhân chúng tôi kính mời Hoạt Phật quang lâm!" - Hai vị thiên nữ lúc này mới hơi mỉm cười.
Tôi hỏi: "Chủ nhân các người là ai? Sao biết tôi là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn?"
Hai vị thiên nữ đáp:
"Chủ nhân chúng tôi được cổ Phật báo mộng, nói rằng những ngày này sẽ có Liên Sinh Hoạt Phật đi qua đây, người cần giữ ngài lại, nhờ ánh sáng từ lòng bàn tay của ngài gia trì quán đảnh thì sẽ được cứu độ. Vì thế chủ nhân sai chúng tôi đến đây chờ đón thánh giá."
"Ồ! Thì ra là vậy!"

Tôi theo hai thiên nữ đến một nơi, có lầu rồng gác phượng, có hạc trắng chim tiên, có hoa lạ cỏ quý, đúng là cảnh đẹp trên thiên giới.
Hai vị thiên nữ dẫn tôi đến gặp chủ nhân của họ.
Nhìn thấy chủ nhân, tôi vô cùng kinh ngạc.

Hóa ra đó chính là năm suy hoại của thiên nhân, ánh hào quang trên thân đã mất, mùi hương trên thân đã mất, hoa trên thân đã héo tàn, thiên y đã bị ố bẩn, pháp tòa giường vàng không thể ngồi nằm được nữa, toàn thân hoàn toàn không ổn.

Vị thiên chủ trước mặt, tóc bạc xơ xác, mồ hôi hôi thối tuôn ra, toàn thân uể oải không còn sức lực, nước mắt chảy dài, không còn chút sinh khí.
Ôi! Phúc báo đã hết, nghiệp chướng hiện tiền, năm suy hoại của thiên nhân, thật chẳng khác gì kẻ bệnh hoạn!
Tôi nói:
"Ngài bị bệnh rồi!"
"Vâng." - Thiên chủ đáp, giọng nói không còn êm tai nữa, thật là đau khổ trùng trùng.

Từ lâu tôi đã biết khi phúc báo của thiên nhân hưởng hết, năm tướng suy hoại sẽ hiện ra. Giờ đây tận mắt chứng kiến, quả thật giống như người bệnh, da nhăn tóc bạc, ngồi đứng không yên, sắc mặt xanh xao ảm đạm, không biết phải làm sao?

Gió trời rõ ràng dễ chịu, vậy mà lại thấu xương thê lương!
Gió trời chỉ hơi ấm, nhưng lại nóng bức kêu khổ!
Tôi nhìn thấy thật vô cùng kinh ngạc.

Thiên chủ nói:
"Cầu xin Hoạt Phật cứu tôi! Tôi hoàn toàn kiệt sức rồi."
"Cứu bằng cách nào?"
"Quán đảnh gia trì, đó là lời cổ Phật dạy."
Tôi nói: "Ông hãy quy y Kim cương Thượng sư, quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng. Ông hãy sám hối vì ở cõi trời chỉ biết hưởng lạc, không phát bồ đề tâm, ông phải tinh tấn cầu giải thoát, đạt được Pháp thân rốt ráo."
"Làm như thế nào?"
"Không rời một niệm. Thực hành sáu ba la mật, nhập Bồ Tát địa."
Thiên chủ khẩn khoản:
"Nhất định tuân theo!"

Các thị giả của thiên chủ, cùng nhiều thiên nữ đồng thời quỳ xuống, khẩn cầu:
"Kính thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn mau cứu chủ nhân chúng tôi."

Tôi đưa bàn tay phải ra, trong lòng bàn tay có ánh sáng của chư Phật mười phương ba đời, chư Bồ Tát Ma Ha Tát tụ lại, ánh sáng từ bàn tay tôi là chữ "Om" (chữ Phạn), lực quán đảnh gia trì dẫn vào trong thân thiên sắc của thiên chủ, lan tỏa khắp thân.

Một niệm của thiên chủ cũng rất phối hợp, mỗi niệm đều thấu suốt, dung nhiếp, giao thoa lẫn nhau, không hề chướng ngại. Hóa ra thiên chủ vốn có phúc báo lớn, chỉ vì phúc báo đã hết, năm tướng suy của thiên nhân hiện ra, nếu không có người cứu độ, ắt sẽ đọa lạc.

May mắn thay, nhờ cổ Phật chỉ điểm, tôi lại quán đảnh gia trì, thiên chủ vốn có duyên với Bà Tu Mật Nữ, Vô Yếm Túc Thiên Vương, Thắng Nhiệt Bà La Môn, nên vừa điểm liền thông.
Điều thật không thể nghĩ bàn là:
Vòng hoa héo úa sống lại.
Thân ánh sáng rực rỡ.
Thiên y tự khử sạch bụi bẩn.
Hương thơm lan tỏa.
Pháp tòa giường vàng có thể tự tại ngồi nằm.
Tôi nói:
"Phật pháp trước tiên hiển thị tạng tính, làm sáng tỏ nhân thật của thành Phật, kế đến chọn lựa viên thông, chỉ ra diệu hạnh của thành Phật, sau đó trải qua sáu mươi thánh vị, viên mãn bồ đề, quy về vô sở đắc, chứng quả tột cùng của Phật địa. Ngược lại thì bảy nẻo trầm luân, nếu hướng đến đây thì thấy rõ năm ma quấy nhiễu."
Thiên chủ và thị nữ đều tán thành.

Tôi nói: "Quán đảnh gia trì chỉ là tạm thời, ngài cần phải tự mình nhất tâm tu trì, tích tụ vô lượng thọ, vô lượng quang, vô lượng công đức, như vậy mới là đúng đắn, để cho sức mạnh của mình có thể thu phát tự tại, những năng lực này vốn đã tồn tại sẵn."
Thiên chủ và các thị nữ thiên nữ, ai ai cũng đều tán thành.

Hào quang của thiên chủ, trong một sát-na, trong một niệm, hoàn toàn phục hồi. Cõi trời này trở nên rực rỡ chói lọi, vàng ngọc huy hoàng đến tột đỉnh.
Trong hư không như đế võng minh châu, cũng như những chuỗi pháo hoa nối tiếp, từng tầng từng tầng, tỏa ra khắp tám phương, vô số sắc màu như cầu vồng, rực rỡ tràn ngập bầu trời, khắp nơi kỳ hoa dị thảo đều nở rộ, đua nhau khoe sắc.

Cõi trời này tràn ngập niềm vui, âm nhạc thiên giới vang vọng khắp nơi, hương thơm lan tỏa, cam lộ tiên tương từ cõi trời tuôn chảy vô tận, loại cam lộ tiên tương này lấy mãi không hết, dùng mãi không cạn, như dòng suối chảy mãi không ngừng.

Phúc báo của thiên chủ vốn đã được tích lũy, ông ấy đã làm thiên chủ một nghìn năm, chỉ vì nghiệp chướng hiện tiền nên mới xuất hiện tướng suy. Giờ đây chư Phật mười phương ba đời, chư Bồ Tát Ma Ha Tát, lại khai mở kho tàng của ông ấy, vốn dĩ đó là năng lực của chính ông ấy, tôi chỉ dùng bàn tay mở khóa mà thôi. Chỉ cần ông ấy phát tâm bồ đề, ý thức tỉnh giác, là có thể tu trì quả vị Bồ Tát, thành tựu mười ba la mật.

Tôi lặng lẽ một mình rời khỏi cõi trời này.
Nhưng, một thiên nữ phát hiện ra, thiên nữ nói:
"Thánh giả Hoạt Phật, chúng con vô cùng cảm ơn, sao ngài không ở lại cõi trời này, hưởng thụ tất cả?"
Lòng tôi buồn bã, đáp: "Tôi còn việc khác chưa xong."
"Ngài đi rồi, có lời dạy gì cho thiên chủ và mọi người không?"

Tôi ngâm một bài kệ:
*Khai ngộ rồi chớ bảo thôi thấy Phật
Phải biết khai ngộ rồi thì mới vãng sinh
Trẻ thơ không thể rời thầy học
Con nhỏ cần có mẹ ở bên
Phải nên khổ nhiều mới biết tu
Nếu chỉ hưởng lạc sao thành tựu
Vô sinh, chân như chứng đắc rồi
Quay về Ta Bà độ hữu tình.*

Thiên nữ nghe xong bài kệ này, ghi nhớ thật kỹ, quay về báo lại với thiên chủ.
Tôi một mình thần hành đi nơi khác.


### 10. Thần hành nơi sơn hà đại địa


Trong thần hành.
Lần này không phải đến một pháp giới nào, mà là ở trên sơn hà đại địa của thế giới Ta Bà.
Nghề nghiệp ban đầu của tôi là nhân viên đo đạc, tôi học ngành Trắc lượng ở đại học, nên đã từng thấy và đo đạc rất nhiều danh sơn đại xuyên.
Thực ra sơn hà đại địa của thế giới Ta Bà thật sự rất đẹp, nếu không đẹp thì thuở ban đầu, Quang Âm thiên nhân đã không hạ giới xuống nhân gian.
Sông ngòi nhân gian tự nhiên uốn khúc chín khúc.
Núi non nhân gian tự nhiên trập trùng nhấp nhô.

Từ Nam cực đến Bắc cực, mặt trời mặt trăng và các vì sao, thủy triều lên xuống, bốn mùa thay đổi, mây trời biến hóa, các luồng khí - tất cả đều vô cùng huyền diệu. Tôi nhận ra rằng hiện tượng vật chất thể hiện ra bên ngoài, nhưng bên trong là trường năng lượng.
Ví dụ:
Trái đất tự quay và di chuyển theo quỹ đạo xung quanh mặt trời.
Từ trường của mặt trăng ảnh hưởng đến trái đất.
Núi sông nuôi dưỡng con người.
Trong sơn hà đại địa cũng có từ trường.

Bản thân tôi ngoài là nhân viên đo đạc, còn nghiên cứu về phong thủy. Cần biết rằng trái đất được tạo thành từ địa luân, thủy luân, hỏa luân, phong luân.
Con người cũng được tạo thành từ đất, nước, lửa, gió.
Con người và trái đất có mối liên hệ mật thiết, con người và phong thủy có mối liên hệ mật thiết. Tôi biết rằng hang động tu hành của Tổ sư Naropa và hang động tu hành của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đều không tách rời khỏi phong thủy. Tất nhiên phong thủy và tu hành không thể tách rời, nhưng "đất phúc người phúc ở", chắc chắn có liên quan đến phúc báo.

Tôi nói:
Ở những nơi nắng nóng oi bức sẽ có cây dừa.
Ở những vùng sa mạc hoang vu sẽ có dầu mỏ.
Khi tôi thần hành trên sơn hà đại địa tươi đẹp, có rất nhiều cảm xúc dâng trào. Trái đất vốn là một đạo tràng rất tốt để tu hành, có thể tu tập để đạt được chân như, từ bi, bồ đề và hạnh phúc. Nhưng con người không biết trân quý, lại để xảy ra bạo lực, tham lam, lừa đảo và tội ác. Vi phạm lời dạy chính pháp của Đức Phật:
Không làm các điều ác.
Làm tất cả việc lành.
Giữ tâm ý trong sạch.
Đó là lời Phật dạy.
Sơn hà đại địa tươi đẹp thế này, vậy mà lại có chiến tranh, kiếp đao binh, kiếp thủy hỏa, kiếp phong thổ, kiếp dịch bệnh, đại tam tai, tiểu tam tai...

Sơn hà đại địa này đã phủ đầy bụi bặm! Linh khí đã không còn, sơn hà đại địa bị tổn hại nghiêm trọng, thiên nhiên đã thay đổi, khắp nơi đều lỗ chỗ thương tích, khiến người tu hành tràn ngập cảm giác thất vọng, phải chịu nhiều thử thách hơn. Con người với nhau lẽ nào phải như vậy sao?

Trong quá trình hoằng pháp thời kỳ đầu, những tổn thương và phỉ báng từ người khác rất nặng nề, lúc đó tôi còn trẻ, cũng từng nhất nhất phản bác lại. Sau này trải qua một thời gian tu trì, dù người khác có làm tổn thương tôi thế nào, tôi vẫn tu nhẫn nhục, không nỡ làm tổn thương người khác nữa, tâm đã trở nên nhu hòa, tràn đầy từ bi và quan tâm, tự nhiên nhập vào vô tranh tam muội, không dám nói lời thô lỗ, ác độc, cay nghiệt. Tôi một lòng chỉ muốn hoằng dương Chân Phật Mật Pháp, gieo rắc hạt giống Phật pháp trong nhân gian. Tôi xuất gia là để cứu chúng sinh thoát khổ được vui, vì không nỡ thấy chúng sinh khổ, làm sao tôi có thể sân hận với chúng sinh được?

Khi đang thần hành trên sơn hà đại địa.
Tôi thấy ở phương Đông Nam có yêu khí.
Tôi biết rằng sơn hà đại địa ở phương Đông Nam sẽ có tai kiếp!
Với tâm từ bi, tại phương Tốn của "thiên địa lôi phong trạch thủy hỏa sơn", tôi hít một hơi, muốn thổi lên một cơn gió thần để xua tan yêu khí.

Ngay khi đang hít vào.
Từ phương Đông Nam xuất hiện ba vị thánh:
"Không được, không được, Liên Sinh, Liên Sinh, không được đâu!"
Tôi cúi đầu làm lễ với ba vị thánh:
"Tại sao vậy?"
"Đó là kiếp số!"
"Tôi là hành giả, chính vì không nỡ thấy chúng sinh khổ, muốn trừ kiếp số cho chúng sinh! Đó mới là lòng từ bi." - Tôi nói: "Chúng sinh gặp khổ nạn, ba vị thánh không cứu, liệu có hợp lý không? Không trái với việc tu hành sao?"
Ba vị thánh nói:
"Đó là cộng nghiệp!"
Ba vị thánh chỉ cho tôi thấy, trên sơn hà đại địa cắm đầy cờ hiệu, ý chỉ rằng đây là "ý trời". Tôi vô cùng kinh hãi.

Trên thế gian này, có quá nhiều người vi phạm lương tâm, quá nhiều kẻ giết chóc cướp bóc lừa gạt, quá nhiều người mang lòng xấu xa, tạo nên nghiệp chướng chung, thiên tai nhân họa sắp giáng xuống, mà người đời vẫn còn đang mơ mộng!

Đa số mọi người chẳng bao giờ tu hành, chỉ biết ăn uống và sống, cơm áo nhà cửa đi lại giáo dục giải trí, tranh giành lẫn nhau. Khiến xã hội rối loạn, quốc gia xung đột, gia đình tan vỡ, dục vọng vô tận, quay lưng với giác ngộ, hòa mình vào trần tục, thiên tai nhân họa ắt đến!

Tôi thở dài!
Nước mắt tôi tuôn trào không ngừng! Rơi đẫm mặt.
Tôi chắp tay vái chào ba vị thánh.
Ba vị thánh ẩn đi.

Tôi nhớ rằng năm xưa, Diêu Trì Kim Mẫu đã dẫn tôi đến xem một hồ nước, trong hồ hiện ra tương lai của tôi và tương lai của sơn hà đại địa. Điều khiến tôi kinh hãi là tương lai của tôi đầy rẫy ma chướng, tương lai của sơn hà đại địa cũng đầy rẫy ma chướng, thiên tai nhân họa chỉ là một phần trong đó, nhưng đã khiến tôi vô cùng đau khổ. Tai họa của nhân gian, sao mà bất hạnh đến thế! Biết bao nhiêu người chết trong bàn tay tử thần.

Đây thật là một đại họa!
Sống chết có mệnh.
Phú quý tại trời.

Chúng sinh trên thế gian nên sám hối rồi, cần phát khởi tâm hổ thẹn lớn, tâm kinh sợ, tâm chán lìa, tâm bồ đề, tâm oán thân bình đẳng, tâm niệm Phật báo ân, tâm quán tội tính Không.

Chúng sinh trên thế gian không nên tích lũy của cải thế gian nữa, được thứ ở dưới đất ắt mất thứ ở trên trời, thứ thực sự cần tích lũy là "của cải thánh giới":
Của cải đức tin.
Của cải tinh tấn.
Của cải giữ giới.
Của cải hổ thẹn.
Của cải học pháp xả ly.
Của cải nhẫn nhục.
Của cải định huệ.Phải tin tưởng vào Chân Phật Mật Pháp, nếu nghi ngờ thì không thể tu trì được, Chân Phật Mật Pháp thực sự có thể đưa bạn đến bờ bên kia, đó là điều tôi đã chứng đắc, tôi có thể đảm bảo chắc chắn, tất cả đều rất hoàn thiện. Nếu bạn có hoài nghi, nhất định không thể thành việc, đương nhiên sẽ cản trở việc tu hành của bạn.

Nếu bạn không tin lời tôi nói, vậy hãy tu Tịnh độ đi! Bạn không tin tôi, ít nhất cũng hãy tin lời Đức Phật đã dạy, nương theo việc nhất tâm niệm Phật, thân tâm về Cực Lạc, chân không diệu hữu chứng vô sinh!


### 11. Công đức thần hành


Trong lúc thần hành.
Tôi gặp một người cũng đang thần hành, thế là tôi có thêm bạn đồng hành. Trên đầu người này có ba ngọn đèn, nhờ những ngọn đèn thần này mà trong lúc thần hành, ánh sáng chiếu khắp nơi, ánh sáng này có thể phá tan bóng tối, thật kỳ diệu vô cùng.
Tôi hỏi người đó:
"Tại sao trên đầu có ba ngọn đèn thần?"
Đáp:
"Là thiện trụ công đức."
Tôi lại hỏi: "Ngài thiện trụ công đức như thế nào?"
Vị thánh đáp: "Tôi có thể khiến người đói được no, người bệnh được lành, chúng sinh tăng trưởng phúc huệ, vì vậy mới có ba ngọn đèn thần này."
Nghe xong tôi vô cùng khâm phục. Có được ba điều này đã quá đủ rồi.

Vị thánh nói:
"Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, công đức thần hành của ngài cũng rất vĩ đại! Tại sao ngài còn phải ngưỡng mộ tôi?"
Tôi nói: "Thật sự tôi chẳng có công đức gì! Trong lòng tôi vô cùng hổ thẹn. Tôi đến cõi Ta Bà này, như lời Phật dạy, chỉ là để trả nghiệp, đền nghiệp mà thôi. Tôi tự thấy nghiệp chướng rất nặng, tai kiếp chồng chất, bản thân sắp chìm đắm không ngoi lên được, chẳng có khả năng độ hóa chúng sinh, làm gì có công đức gì? Xấu hổ đến chết đi được."

Nghĩ đến rất nhiều hội công đức ở thế gian, những việc thiện và nghĩa cử của họ được mọi người ca ngợi, người có phúc báu càng lớn thì công đức càng lớn, người có phúc báu nhỏ thì công đức càng nhỏ. So sánh như vậy, công đức chẳng phải là phúc báu sao? Đây lại là nhân quả.

Người như tôi, cả đời đi lảo đảo vấp ngã, va vấp đến thâm tím mặt mày, lo cho bản thân còn chưa xong, nghiệp đời trước, nghiệp hiện tại, nghiệp tương lai của tôi, lý giải còn chưa xong, làm sao có thể chấp trước vào công đức? Tôi chỉ có thể tự vấn lương tâm, bản thân đã tạo bao nhiêu nghiệp chướng, làm sao còn nghĩ đến chuyện có công đức gì?

Tôi cũng đã nghĩ:
Kinh Kim Cang dạy: "Người tự nói có công đức chính là không có công đức. Bởi vì không có công đức mới thực sự là công đức."
Tôi cười gượng với vị thánh.

Bất chợt, trên đỉnh đầu tôi cũng hiện ra ba ngọn đèn thần.
Vị thánh nói:
"Một ngọn là chân thật, một ngọn là thành tâm, ngọn còn lại là tinh tấn. Công đức là thứ cầu cũng không cầu được, chỉ ở trong tâm mà thôi!"
"Sao tôi cũng có ba ngọn đèn thần?" - Tôi tự thấy kinh ngạc.
Vị thánh nói:
"Hành vi của ngài thể hiện tâm niệm của chính mình, tâm niệm của ngài rất chân thật, không phải tâm xấu xa, ngài luôn ôm lòng từ bi chân thật, vì vậy có được một ngọn đèn thần, ngọn đèn thần thứ nhất này chính là chân thật."
Vị thánh lại nói:
"Khi ngài gặp người ác hay người tâm niệm không tốt, họ tạo nghiệp ác, nhận quả báo xấu, ngài vẫn luôn bình đẳng cứu độ, không phân biệt người có thể độ hay không thể độ. Phát nguyện không bỏ một chúng sinh nào, ngay cả súc sinh đang chịu nghiệp báo, ngài cũng gấp rút niệm chú vãng sinh, hoặc niệm vãng sinh tịnh thổ, siêu sinh tịnh thổ, Nam Mô A Di Đà Phật. Đối với bất kì chúng sinh nào, ngài đều bình đẳng cứu độ, ngọn đèn thần thứ hai này của ngài, chính là ngọn đèn của lòng thành."
Sau cùng, vị thánh nói:
"Ngọn đèn thần thứ ba chính là ngọn đèn tinh tấn. Ngài tu pháp vĩnh hằng vô tận, ngài viết sách độ chúng sinh cũng vĩnh hằng vô tận, chưa từng thay đổi, cũng không ngừng nghỉ, người có nghị lực như vậy trên đời đã hiếm thấy rồi. Người chân tu, người nguyện hành chân thành, người tinh tấn tu hành, trong ma kiếp trùng trùng, tâm chí như vậy rất hiếm thấy, hơn nữa đã từ bỏ hết mọi hưởng thụ vật chất, tài, sắc, danh, ăn, ngủ, hoàn toàn cắt bỏ, càng nhiều khó khăn càng tinh tấn, đây mới thực sự là học Phật tu hành, đây chính là ngọn đèn thần thứ ba."

Tôi nói với vị thánh:
"Tôi nghe rằng, công đức chính là hành thiện, từ bi cứu thế, bố thí tài vật, xây chùa cúng dường. Ruộng công đức là một trong ba ruộng phúc, cung kính cúng dường Tam Bảo Phật pháp tăng sẽ được vô lượng phúc báo. Lại nữa, hương công đức chính là giới hương, định hương, huệ hương, giải thoát hương, giải thoát tri kiến hương, năm hương công đức này có thể hiển hiện Pháp thân."
Vị thánh nói:
"Đúng vậy. Thần hành của ngài cũng có công đức!"
"Thần hành thì có công đức gì?" - Tôi hỏi.
Vị thánh nói:
"Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, ngài đã chịu đựng thuận nghịch cảnh, điều phục được tâm tính của mình. Khi gặp cảnh hay gặp duyên, đều chìa tay cứu đời độ người, lúc này tâm người nhu hòa thiện thuận, đồng trần hợp quang. Không phân biệt hữu tình hay vô tình, hữu duyên hay vô duyên, đồng thể bi tâm, động tĩnh hai tướng, khế hợp như như, đó chính là công đức thần hành."
Nghe xong, tôi liền nói: "Hổ thẹn! Hổ thẹn! Tôi vô đức vô năng!"

Hai người.
Sáu ngọn đèn thần.
Thần hành trong hư không, thật đẹp biết bao.

Hai chúng tôi bay qua Đông Thắng Thần Châu (hình bán nguyệt), bay qua Nam Thiệm Bộ Châu (hình mặt người), bay qua Tây Ngưu Hạ Châu (hình tròn), bay qua Bắc Câu Lư Châu (hình vuông).

Hai người thần hành qua núi Tu Di, chính là núi Diệu Cao vậy. Núi được tạo thành từ bốn báu vật là vàng, bạc, lưu ly, thủy tinh, nên gọi là "diệu". Tất cả các ngọn núi đều thấp hơn núi Diệu Cao, nên gọi là "cao". Núi cao tám vạn bốn nghìn do tuần, rộng tám vạn bốn nghìn do tuần, là vua của các núi.

Núi Tu Di này là trung tâm của một tiểu thế giới, hình núi trên dưới đều to, chỉ riêng phần giữa nhỏ. Tứ Thiên Vương ngự ở bốn mặt sườn núi, cõi trời Đao Lợi ở đỉnh núi, dưới chân núi có bảy lớp núi vàng, bảy lớp biển nước thơm bao quanh, bên ngoài bảy núi vàng là biển nước mặn, bên ngoài biển nước mặn là núi Đại Thiết Vi, bốn đại bộ châu nằm ở bốn phương của biển nước mặn.

Trên cõi trời Đao Lợi, chúng tôi không gặp Đao Lợi Thiên Chủ, mà là một người khác. Trên đỉnh đầu người này có hàng nghìn hàng vạn ngọn đèn thần, hai chúng tôi chỉ có sáu ngọn, vậy mà người này có vô số ngọn đèn không đếm xuể.
Tôi kinh ngạc thốt lên: "Đế võng minh châu!"
Vị thánh đáp: "Không phải, đó là sư phụ của tôi đến!"
"Sư phụ ngài là ai?"
"Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật."

Tôi rất ngạc nhiên, Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật này sao lại hiện thân ở cõi trời Đao Lợi? 
Vị thánh nói: "Không cần ngạc nhiên, tôi chính là hóa thân của Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật." - Vị thánh bay vào trong tâm của Bảo Vương Phật.

Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật bảo tôi ghi nhớ một bài kệ:
Chí nhân dụng tâm.
Thanh tịnh an nhiên.
Dứt hết các duyên.
Nay nói buông tâm.
Duyên khắp tất cả.
Nơi nào có duyên.
Đều thấy Như Lai.

Trong thần hành, tại cõi trời Đao Lợi gặp được Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật, vì vậy tôi hết sức cẩn trọng, bởi bất kì một người thần hành, một thiện hữu nào, cũng có thể là đại Bồ Tát, là Phật chính giác, không thể khinh thường!

Trong Bảo Tính Luận có kệ rằng:
Chư Phật trong hoa tàn. Vàng ròng trong phân uế.
Kho báu trong lòng đất. Mầm non trong các quả.
Áo rách cũ tơi tả. Bọc lấy tướng vàng ròng.
Gái nghèo hèn xấu xí. Mang thai Chuyển Luân Vương.
Trong khuôn đất cháy đen. Có tượng báu tuyệt diệu.
Chúng sinh tham sân si. Và vọng tưởng phiền não.
Trong cảnh trần lao ấy. Đều có ẩn Như Lai.
Xuống tận ngục A Tỳ. Đều có thân Như Lai.
Pháp chân như thanh tịnh. Gọi là thể Như Lai.

Có một lần tôi gặp một bà lão, trông rất xấu xí, mắt lồi tai dị dạng, miệng méo lưng gù, khi thần hành thì nhảy chân sáo, chỉ cách mặt cỏ khoảng một thước.

Tôi để ý quan sát bà lão, nhìn dáng vẻ nhiều nhất cũng chỉ là một tiểu thổ địa bà, mà thổ địa bà còn là tốt, có khi là dạ xoa, hoặc la sát nữ già, thậm chí có thể là ma quỷ. Tôi để ý bà ta, bà ta cũng để ý tôi.
Bà lão trợn mắt quái dị cười "hì hì". Toàn thân dơ bẩn khác thường.
Bà lão bỗng nhận ra tôi: "Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, chào ngài! Có dịp thì trò chuyện nhiều nhé!"
Tôi không thèm để ý đến bà ta, trong lòng hơi khinh thường, chẳng muốn nói chuyện với bà lão chút nào.

Bà lão không để ý, cứ đi từng nhà từng nhà phát thuốc cho những người đang ngủ. Việc này là sao chứ, tại sao lại phát thuốc cho từng nhà trong làng vào lúc đêm khuya thế này, là làm việc thiện? Hay việc ác?
Bà lão phát xong.
Bay vút lên không trung, bỗng nhiên biến thành Quan Thế Âm Bồ Tát, một vị đại Bồ Tát. Ngài thường xuyên quan sát thế gian để tự do cứu khổ ban vui, người đời chỉ cần gọi danh hiệu Ngài là Ngài sẽ tìm theo âm thanh mà cứu khổ, địa vị vốn có của Ngài chính là Chính Pháp Minh Như Lai. Ngài cưỡi thiên long, toàn thân tỏa hào quang, trang nghiêm như Phật.
Tôi thật xấu hổ!
Tôi tán thán tướng đẹp trang nghiêm và công lao cứu độ chúng sinh của Quan Thế Âm Bồ Tát!
Bồ Tát nói: "Trong làng này, ta hiện thân này."
Trong lòng tôi thầm nghĩ: "Hổ thẹn! Hổ thẹn!"


### 12. Đau xót


Thần hành đến địa ngục Đại Gào Thét.
Địa ngục Đại Gào Thét được gọi như vậy vì trong ngục quá khổ sở, những chúng sinh không chịu nổi muôn vàn cực hình trong địa ngục "kêu cha gọi mẹ", thảm thiết kêu gào, nên mới có tên là địa ngục Đại Gào Thét".

Nghe tiếng kêu thảm thiết, lòng tôi đau xót không nguôi! Địa ngục Đại Gào Thét là một cơn ác mộng khủng khiếp.
Than ôi! Chúng sinh!
Bụi về bụi, đất về đất.
Nhưng thần thức về thần thức.
Linh về linh.

Sinh tử luân hồi, không có điểm khởi đầu cũng chẳng có điểm kết thúc, nhân sinh quả, quả lại thành nhân, nghiệp báo này làm sao tính cho hết được? Làm sao tính? Ngay cả bậc thánh có túc mệnh thông cũng khó hiểu tường tận.

Tại địa ngục Đại Gào Thét, tôi thấy một đệ tử trẻ, mới hai mươi lăm tuổi, vừa tốt nghiệp đại học, phong độ tuấn tú, đã qua đời.
Sau khi chết, không được vãng sinh Tây phương Cực Lạc, không được sinh lên các cõi trời, ngược lại, lại đọa vào tam đồ địa ngục, lòng tôi vô cùng đau xót!
"Chết như thế nào?" - Tôi hỏi.
"Ung thư máu."
"Sao lại đọa vào địa ngục Đại Gào Thét? Anh là hành giả Chân Phật mà!" - Tôi nhận ra anh ta.
"Mới quy y thôi."
"Chú Tứ quy y có trì tụng chưa?" - Tôi hỏi.
"Chưa ạ."
"Tu pháp không?"
"Chưa ạ."

Tôi biết rằng, thần thức chưa hề được nhận lực gia trì của quán đảnh, quy y chỉ là hư danh, thần thức chỉ bắt đầu nương tựa và nhận được sự gia trì của chư tôn khi bắt đầu tu trì, phải tự mình tu hành mới tạo được phúc báo và tiêu trừ nghiệp chướng. Giờ đây, không tu trì nên đọa vào địa ngục Đại Gào Thét, thật đáng thương thay!
Đó là:
Đạo vốn là đạo.
Sinh tử giữa trời đất.
Nuôi dưỡng vạn vật.
Sinh không thể tránh.
Tử cũng không thể tránh.
Thánh nhân không thể đặt tên.
...............

Tôi hỏi:
"Vì sao có nghiệp quả này?"
Anh ta đáp:
"Kiếp trước giết bậc thánh."
Tôi vô cùng đau xót, thế thì thảm rồi.
Đây là tội nặng nhất trong bảy nghịch tội. Giết cha, giết mẹ, giết A La Hán, làm thân Phật chảy máu, phá hòa hợp tăng, giết hòa thượng, giết A Xà Lê.
Anh ta nói:
"Vị thánh đó là một vị A Xà Lê, con hiểu lầm ngài nên đã giết ngài. Lẽ ra con phải vào địa ngục Vô Gián, nhưng sau đó, nhờ quy y nên mới được chuyển xuống địa ngục Đại Gào Thét, dù vậy ở đây vẫn không chịu nổi."
Anh ta nói thêm:
"Đây là ngục thứ tư trong tám địa ngục nóng, những chúng sinh chịu khổ ở đây, khi không thể chịu đựng nổi, đều gào thét thảm thiết."

Tôi nhìn thấy:
Viên sắt nóng bỏng bị ép nuốt vào.
Khát cháy bị lửa thiêu đốt.
Vạc đồng đun nóng thiêu thân.
Khói lửa xộc thẳng vào mũi.
Lòng tôi vô cùng đau xót! Quá khổ sở!

Đệ tử quỳ xuống, đảnh lễ tôi và cầu xin:
"Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật đã thần hành đến đây, xin hãy cứu độ con thoát khỏi đại địa ngục này."
Tôi hỏi anh ta: "Anh có biết không, nếu người muốn hiểu rõ, tam thế nhất thiết Phật, nên quán tính pháp giới, tất cả do tâm tạo."
"Con không hiểu bài kệ này." - Anh ta đáp.

Tôi nói tiếp: "Anh có biết không, vãng sinh tịnh thổ, siêu sinh thoát khổ, tín nguyện mà làm, Nam Mô A Di Đà Phật."
"Làm sao để tin tưởng và phát nguyện mà hành trì?" (Anh ta thậm chí không biết tin vào A Di Đà Phật và nguyện sinh về Tây phương.)
Tôi lại nói:
"Địa ngục Đại Gào Thét thuộc về hỏa ngục, anh phải học cách dùng lửa để tịnh tâm, dùng lửa để điều tính, dùng lửa để định không, dùng lửa để đạt chân tam muội."
Anh ta đáp:
"Con không biết."

Tôi lại dạy anh ta:
"Chân đế của thần thức chính là phải liễu ngộ được đặc tính của tâm linh, dựa vào bản chất của địa, thủy, hỏa, phong để trừ bỏ tất cả phiền não và khổ đau. Chỉ cần tâm linh ngộ được tính không giải thoát, hòa nhập vào niềm hỷ lạc vô biên, thì có thể thoát khỏi mọi ràng buộc từ địa ngục lửa và đạt được tất cả sự giải thoát."
"Con không hiểu được."
Tôi dạy đệ tử:
"Trừ bỏ dục vọng thì lửa sẽ tự kiểm soát. Giữ thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh thì lửa sẽ hóa thành mát mẻ. Cầu xin lực gia trì của A Di Đà Phật, tâm thức hướng về Tây phương, đạt được niềm hỷ lạc vãng sinh. Đạt được giải thoát rốt ráo để hồi hướng cứu độ chúng sinh, thành tựu đạo bồ đề. Tự tại không chấp trước vào sự vật thế gian, tự mình trở thành chủ tể của tam thân."
(Những điều tôi nói đã đủ rõ ràng.)

Thật đáng tiếc, người đệ tử này vẫn còn ngọn lửa sân hận, anh ta tức giận vì tuổi còn quá trẻ đã mất mạng, tức giận về nghiệp báo, tức giận vị A Xà Lê, tức giận vì mất đi người yêu, tức giận...
Anh ta không thể quán không, không thể thanh tịnh thân, khẩu, ý.

Tôi đặc biệt xin diện kiến Diêm Vương.
Muốn cứu người đệ tử mới quy y này.
Diêm Vương hỏi tôi:
"Ông có biết nhân duyên của người đệ tử này không?"
"Không biết, tôi chưa từng quán xét nhân duyên của anh ta." - Tôi thành thật đáp.
Diêm Vương nói:
"Anh ta đã phạm vào tội nặng nhất trong bảy nghịch tội, giết hại bậc thánh A Xà Lê, và vị thánh A Xà Lê kiếp trước không phải ai khác, chính là ngài, Liên Sinh Hoạt Phật!"
Nghe xong, tôi suýt ngất đi.

Diêm Vương nói: "Ngài phát nguyện không bỏ một chúng sinh nào, hoàn toàn không có tâm phân biệt, bình đẳng cứu độ tất cả, đây cũng chính là nhân duyên khiến ngài đời đời kiếp kiếp gặp tai kiếp, duyên khởi là như vậy, biết làm sao đây!"
Tôi lặng người.
Tôi nói: "Đợi đến khi hết kiếp, tôi vẫn sẽ độ hóa anh ta!" 

Tôi ngâm một bài kệ:
*Cùng tu tam muội độ người mê.
Sáu thời hành đạo chẳng nghĩ khác.
Ân cần độ hóa không phân biệt.
Bên hồ thất bảo nắm tay chơi.*


### 13. Nhập thân thần hành


Trong "Tạp Thí Dụ Kinh", tôi thấy có ghi chép một câu chuyện về thần hành, tuy nhiên đây không phải là thần hành thực sự, mà là thần hành do bị nhập thân. Tôi đặc biệt ghi lại câu chuyện này như sau để làm bài học răn dạy:

Ngày xưa có một vị tì kheo, do phạm giới nặng trong chùa nên bị đuổi ra khỏi chùa. Không những thế, tất cả tín đồ đều tẩy chay vị tì kheo này, khiến vị tì kheo vô cùng hối hận và không biết đi đâu về đâu.
Trong lúc vị tì kheo vừa đi vừa than khóc thảm thiết.
Có một con ma, con ma này cũng vì phạm giới nên bị Đa Văn Thiên Vương trong Tứ Thiên Vương đuổi đi, ma đang đi nhanh thì nhìn thấy vị tì kheo đang khóc.

Ma hỏi tì kheo: "Vì sao khóc?"

Vị tì kheo đáp:
"Tôi đã phạm giới nặng trong chùa nên bị đuổi ra, đồng thời tín đồ cũng xa lánh tôi. Tất cả phẩm vật cúng dường đều mất hết, những gì vốn có cũng không còn. Giờ đây, thân không một xu, tiếng xấu lan truyền khắp nơi, không có chỗ nào dung thân."
Con ma nói:
"Tôi là một con ma có thần lực, có khả năng thần hành. Tôi có thể giúp ông xóa bỏ tiếng xấu, đồng thời có được danh tiếng tốt và nhận lại được nhiều cúng dường."
"Làm cách nào?" - Vị tì kheo hỏi.
Con ma nói:
"Ông có thể đứng trên vai trái của tôi, tôi sẽ cho ông thần hành trong không trung, như đi trên không vậy. Mắt người phàm chỉ thấy ông bay lượn trên không mà không thấy được tôi, cho thấy đạo hạnh của ông. Nhờ đó, danh tiếng của ông ắt sẽ phục hồi và lại được chúng sinh cúng dường, nhưng cúng phẩm chúng ta sẽ chia nhau."
Vị tì kheo nói: "Được!"

Thế là, con ma khỏe mạnh cõng vị tì kheo đó, trước tiên bay một vòng lớn trên không trung quanh chùa, khiến các tăng ni kinh ngạc không thôi. Thật là kỳ diệu!

Rồi lại bay đến không trung trên thành thị, thần hành qua lại, đi trên không như đi trên đất bằng. Lúc này tin đồn lan truyền, một truyền mười, mười truyền trăm, trăm truyền nghìn, mọi người tranh nhau chạy ra ngoài xem vị tì kheo bay lượn trên không trung, ai nấy đều vô cùng kinh ngạc.
Chúng sinh đều cho rằng:
Vị tì kheo không hề phạm giới nặng.
Vị tì kheo là bậc thánh đắc đạo.
Vị tì kheo hoàn toàn bị oan.

Thế rồi tín đồ trong thành lại đồng thanh trách mắng chư tăng trong chùa, nói rằng họ đã đổ oan cho một vị tì kheo tốt.
Tín đồ cung kính thỉnh vị tì kheo trở về chùa, được ở trong chùa, được địa vị tôn quý, đồng thời cúng dường như núi như biển ào ạt đến, nhiều gấp mấy lần so với thường ngày.
Vị tì kheo rất vui mừng, không quên lời thề ước, đem một nửa phẩm vật cúng dường cho ma đại lực. Ma đại lực vô cùng hân hoan, tì kheo và ma đại lực hợp tác vô cùng ăn ý.

Cho đến một ngày.
Trên trời vốn có sáu ngày trai:
Mồng 8 và 23 là ngày thần giám sát.
14 và 30 là ngày thái tử".
Mồng 1 và 15 là ngày Tứ Thiên Vương.

Ma đại lực quên mất hôm đó là ngày rằm, lại cõng vị tì kheo thần hành thong dong trên không trung. Đúng lúc Tỳ Sa Môn Thiên Vương đi tuần tra, ma đại lực vừa thấy chủ nhân tuần hành, vô cùng kinh hãi, sợ đến nỗi vãi cả đại tiểu, lập tức vứt bỏ vị tì kheo trên vai, vội vã cắm đầu chạy trốn, không dám ngoái đầu lại.

Vị tì kheo vốn đang vui vẻ tự tại trên không trung, đột nhiên bị ma đại lực ném xuống, không kịp phản ứng, từ trên không rơi xuống đất, dưới đất có một tảng đá lớn, vị tì kheo rơi xuống, đầu vỡ nát, thân thể cũng nát bấy, chết thảm trong chớp mắt, linh hồn lập tức đọa vào tam đồ ác đạo, chịu luân hồi.
(Trên đây là ví dụ về nhập thân thần hành.)

Theo như tôi biết, thân thể con người có thể bị nhập thân, có người thậm chí không chỉ bị một linh nhập mà có thể có nhiều linh cùng lúc nhập vào một thân. Người bị nhập thân, do tác động của âm linh, sắc mặt sẽ có khí đen, khói xám, ánh sáng u ám. Khi bị quỷ thần cõi âm và địa ngục nhập, họ sẽ bị kéo xuống cõi âm.

Khi bị động vật nhập, sẽ có mùi tanh hôi.
Khi bị tinh linh nhập, sẽ có một số hiện tượng kỳ lạ.

Khi một người bị nhập thân, thần thức cũng sẽ bị đưa đi thần hành, phần lớn xảy ra trong giấc ngủ, thần hành ban đêm, thức dậy vào ban ngày sẽ rất mệt mỏi kiệt sức, nhưng thường không thể tự chủ, bị đưa đi bay lung tung, đi lung tung, mơ lung tung.

Nhập thân thần hành không chỉ có quỷ thần, động vật, tinh linh. Còn có người thân đã mất đến nhập, oan hồn đến nhập, quỷ ma đến nhập, thậm chí cả linh con nít của chính mình cũng đến nhập. Nhiều người thần hành trong mơ chính là nhập thân thần hành.

Nhập thân thần hành phần lớn không thể đến được thần giới, thiên giới, thánh giới.
Nhiều nhất chỉ có thể dạo qua thần giới, hoặc là hạ giới, địa phủ, âm giới, hoàn toàn bị linh nhập dẫn dắt như kéo mũi đi, không thể tự chủ được.
(Đến được thần giới hay thiên giới đã là trường hợp đặc biệt.)
Nếu ngày lẫn đêm đều bị nhập thân, thì đó chính là bệnh tâm thần.

Tôi thấy rất nhiều người, trong giấc mơ ban đêm, bị vô số linh động vật, sơn tinh thủy quái, oan hồn nhập thân mà thần hành, không đếm xuể. Loại nhập thân thần hành này thực ra không tốt, có khi là do oan gia trái chủ đến quấn thân, quấn quýt không thôi, những giấc mơ tham lam vô tận, tinh linh khắp nơi, nghiệp chướng bao trùm, thế giới này sớm đã mù mịt khói độc, người tu hành muốn thực hành bát chính đạo cũng gặp nhiều chướng ngại.

Tôi thật lòng nói với mọi người rằng, tham dục chính là gốc rễ của lục đạo luân hồi. Dù là người hay ma quỷ, vì quá nhiều tham dục, quá nhiều điều không buông được, nên sự chấp trước vào ái dục và oán hận, một lòng muốn nối lại duyên xưa hoặc một lòng muốn báo thù, chính là nguyên nhân của luân hồi, là quả của chuyển sinh, do đó:
Chua ngọt đắng cay.
Buồn vui hợp tan.
Sinh ly tử biệt.
Mọi khổ dồn về.
Ai cũng biết rằng nhiều dục là nguồn gốc của khổ đau, ít dục vô vi mới được tự tại. Chúng sinh vì có tình nên mới sinh ra mọi nỗi khổ, người và ma quỷ đều như nhau, tuy biết vậy, nhưng không dễ gì nhìn thấu, ai ai cũng bị trói buộc. (Bồ Tát hữu tình phải chuyển niệm khi gặp cảnh mới có thể thoát ly.)

Người tu hành muốn tránh bị nhập thân thần hành cần phải:
Ít ham muốn, vô vi.
Buông bỏ tình dục.
Vô sự vô tâm.
Buông bỏ tiền tài danh vọng.
Tùy ngộ an nhiên.
Tri túc tùy duyên.
Như như bất động.
Hành bát chính đạo.
Pháp giới rộng lớn.
Biển rộng trời cao.

Trong lúc thần hành.
Tôi gặp một đệ tử cũng đang thần hành, nhưng anh ta bị nhập thân thần hành, anh ta bị một vị linh cao cấp từ ma giới nhập vào mà thần hành.
Vị linh cao cấp này mặc áo đen, đạo hạnh không nhỏ, đã dẫn dắt đệ tử này vào con đường tà vạy, gần như không thể thoát ra được nữa.
Đệ tử này ban ngày bị nhập thân, ban đêm cũng bị nhập thân, gia đình thấy kỳ lạ, đưa vào bệnh viện tâm thần, vì anh ta bị ảo giác, ảo thính, ảo tưởng nghiêm trọng, nói năng lộn xộn, khi thì cầu cơ, khi thì bị nhập, khi thì nhảy nhót lung tung, lúc thì ồn ào, lúc thì khóc la, khi thì bay lên trời xuống đất, lúc lại đòi làm việc này việc kia...
Mọi sinh hoạt bình thường đều rối loạn hết.
Anh ta còn cho rằng mình có thể xuống nước không ướt, vào lửa không cháy, dao kiếm không thể xuyên thủng, tự cho mình còn vĩ đại hơn cả Phật Tổ!

Trong lúc thần hành, tôi thấy anh ta bị nhập thân.
Tôi quát lớn một tiếng:
"Này! Đừng có đùa giỡn với đệ tử của tôi!"
"Ngươi có biết ta là ai không?" - Ma hỏi ngược lại tôi.
"Sao tôi lại không biết, ngươi là Ma Đa Trí Thiền Định, chính là Ma Tam Muội, kẻ đắm chìm trong thiền định của chính mình."

Con ma này vừa nghe xong, biết là tôi đã rõ lai lịch của nó, liền bỏ chạy thục mạng, tôi cứu lấy thần thức của đệ tử, đưa về nhập vào thân xác, khiến thân xác và thần thức hợp nhất, rồi phong ấn lối ra của linh hồn lại. (kết giới)

Sau sự việc đó, đệ tử này đã được tịnh hóa thân thể, mọi cảm giác đều trở lại bình thường, không còn mê lạc nữa, từ bỏ hết mọi con đường tà vạy, và đã hồi phục trở thành một hành giả chân chính.
Sau khi tỉnh lại, anh ta nói với mọi người:
"Con bị ma bắt giữ, là Sư Tôn đã đến cứu con."
"Cứu bằng cách nào?"
"Ma bị Sư Tôn đuổi đi, Sư Tôn đã đưa thần thức của con trở về."
"Cảm ơn Sư Tôn." - Cả gia đình đều nói như vậy.

Tôi nói:
Khi bị nhập thân thần hành, có người cho rằng đó là thần thông, thực ra đây chỉ là một dạng của "dựa nhờ". Nếu không quá nghiêm trọng thì cũng được xem là ẩn chứa điều kỳ diệu, trong đó có sự biến chuyển của không gian, có thể nghiên cứu được, nhưng, cần phải có chính niệm mới tốt!


### 14. Ma giới


Trong thần hành, tôi cũng đã từng vào ma giới.
Mười loại ma là:
Uẩn ma — Sắc thọ tưởng hành thức, năm uẩn biến hóa, là nguồn gốc của mọi tội lỗi.
Phiền não ma — Quấy nhiễu tâm tư, làm rối loạn chính lý.
Nghiệp ma — Do nghiệp sát đạo dâm vọng mà thành ma.
Tâm ma — Do nghi ngờ, kiêu mạn, ngạo mạn mà thành ma.
Tử ma — Cướp đoạt sinh mệnh và huệ mệnh của người.
Thiên ma — Chủ tể của cõi trời thứ sáu dục giới, ngăn cản thiện niệm của người.
Thiện căn ma — Chấp trước vào thiện căn, không cầu tinh tấn.
Tam muội ma — Chấp trước vào thiền định, không cầu bồ đề.
Thiện tri thức ma — Keo kiệt về pháp, không độ hóa chúng sinh.
Bồ đề pháp trí ma — Chấp trước vào pháp bồ đề, tuy có trí tuệ nhưng ngăn che chính đạo giải thoát.
(Phật và ma, đôi khi chỉ cách nhau một niệm, một sợi tơ.)

Tôi thấy bốn vị ma ngồi ngâm thơ:
"Ta Bà rối ren việc ngang dọc, không bằng cõi này - thành an dưỡng, khổ lạc hoàn toàn không xâm phạm, mới gọi là bậc thường tự tại."
"Sống chết đều thoát gọi vô sinh, vãng sinh không bằng ta vô sinh, Phật ma đôi bên đều cùng thể, nếu chia đôi bên đạo sao thành."
"Văn Thù trí tuệ chỉ hư vô, Long Thụ biện tài cũng vụng về, nhắn gửi hành giả bậc chân tu, thế gian nào có kẻ không ngu."
"Nói thật nào có mấy ai thật, nói lý không đúng càng phi lý, tịnh uế vốn dĩ đều là bụi, vào cõi tam muội mới mơ màng."

Bốn bài thơ này, nghe qua dường như có ý vị, chỉ thiếu một chút xíu, bốn vị ma đã thấy tôi thần hành mà đến.

Một con ma nói:
"Vị Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn này, lần trước đã nhìn thấu ta, nên ta đã bỏ chạy."
Ba con ma khác tức giận nói:
"Có nên trói hắn lại không?"
"Trói hắn thì rất dễ." - Ma tam muội nói.
"Dễ như thế nào?"
"Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn là người đa tình nhất, dùng 'tơ tình' mà trói hắn thì dĩ nhiên là dễ nhất rồi."
Thế là, bốn con ma, mỗi đứa từ trong lòng bàn tay phóng ra một sợi dây, tôi bị trói chặt tứ phía, lập tức không thể cử động, trí tuệ hoàn toàn mất hết.

Bốn sợi dây này trói tôi lại rất hiệu nghiệm, đây chính là điểm yếu của tôi:
Thứ nhất gọi là dây tình thân.
Thứ hai gọi là dây tình cảm.
Thứ ba gọi là dây tình thầy trò.
Thứ tư gọi là dây tình chúng sinh.

Ma tam muội cười ha hả: "Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn không thể thoát khỏi tình thân, tình cảm, tình thầy trò, tình chúng sinh, dùng bốn sợi dây này trói ông ta là dễ nhất, người này bị tình cảm ràng buộc, thường xuyên sinh lòng bi ai, tự trách tự than, rơi lệ đau khổ, bọn ta bốn ma xem ông ta làm sao thoát khỏi lưới tình đây."
Ba con ma kia cũng cười lớn:
"Kẻ có tình có nghĩa, bị kẻ vô tình vô nghĩa trói chặt, ha ha!"
Ma tam muội chế giễu tôi:
"Lạm dụng tình cảm."
Ba con ma cũng nói:
"Thật là kẻ si tình."

Tôi bị mắc kẹt trong lưới ma, có lẽ đây cũng là nhân duyên quả báo của mình! Nguyện của tôi vẫn chưa thể viên mãn, tình duyên với chúng sinh quá nặng, cứ mãi đầu thai chuyển thế, đời đời kiếp kiếp độ chúng sinh, khi cõi chúng sinh chưa trống, làm sao tôi có thể không có tình với chúng sinh?

Tình thầy trò sâu nặng, tôi có năm triệu đệ tử, những lỗi lầm sai phạm của năm triệu đệ tử này đều đổ lên vai tôi, mà công đức phúc báo của tôi lại không đủ để bù đắp. Những lỗi lầm của đệ tử, làm sao tôi có thể nhắm mắt làm ngơ, bịt tai không nghe. Là người như tôi, làm sao có thể quên được tình thầy trò?

Nói về tình thân, đó là tình cảm ở mức độ căn bản nhất, cha mẹ ruột đời này, Thượng sư Liên Hương người đã trợ giúp độ sinh, tình cảm với con cái, đây là điều bẩm sinh, cũng là duyên phận nhiều đời, làm sao có thể từ bỏ?
Chỉ riêng ba điều này đã khiến tôi không thở nổi rồi.

Cuối cùng nói về tình cảm, tôi là Bồ Tát hữu tình, thứ này không thể thấy, không thể nghe, không thể chạm vào, nhưng có cảm ứng.
Một, có điện.
Hai, có niệm.
Ba, có giác.

Khi còn trẻ, tôi không thể thoát ra được, tôi biết rất khó để thoát ra, nhưng, một người tu hành, nhất định phải thoát ra, không thoát ra ắt sẽ chìm đắm, đây cũng là điều rất khó xử lý, cảm giác đó tê tê dại dại, không thể nghĩ bàn.

Bốn sợi dây này trói buộc tôi thật chặt, tôi rơi vào tình trạng tuyệt vọng, ngay cả thần hành cũng không thể đột phá được lưới ma. Trên dưới trái phải đều bị trói chặt.

Lưới ma càng lúc càng thít chặt, tôi đau đớn không thể chịu nổi. Tôi nghĩ, bốn loại tình này, vốn dĩ do chính tôi tạo ra từ nhân duyên của mình, người tu hành phải làm chủ nhân quả, chứ không phải để nhân duyên khống chế mình.

Muốn giải trừ nỗi đau khổ của bốn loại tình này, nhất định phải có tâm trí thật sáng suốt. Thân, khẩu, ý phải thật thanh tịnh, phải biết chuyển hóa. Về mặt cảm xúc phải luôn hoan hỷ.

Biến tình yêu nhỏ thành tình yêu lớn, vô duyên đại từ, đồng thể đại bi. Những thứ như tình thân, tình cảm, tình thầy trò, đều nên chuyển hóa thành tình chúng sinh. Nỗ lực độ hóa chúng sinh, nhưng không chấp trước vào số lượng độ được bao nhiêu, đó mới là tinh hoa của trí tuệ.
Có thể cầm lên.
Có thể buông bỏ.
Đó mới là bậc làm chủ. (Hành giả tự chủ được.)

Khi tôi lĩnh ngộ được điều này, tôi cảm nhận được sức mạnh tâm linh vô cùng lớn phát ra từ trong tâm, sức mạnh này tỏa ra ánh hào quang rực rỡ, phóng ra ánh sáng trí tuệ bát nhã vô song, không phải tiểu bát nhã mà là đại bát nhã. "Om Ah Hum", bốn sợi dây đồng thời đứt đoạn, năng lượng căn bản mà tôi tu trì hoàn toàn hiển hiện, ánh sáng rực rỡ tỏa chiếu bốn phương.

Bốn con ma đứng sững kinh ngạc.
"Nam mô ba mươi sáu vạn tỉ, mười một vạn, chín nghìn năm trăm, đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật" - Tôi đứng dậy, niệm một câu.
Tôi đã hiểu ra:
Huyễn hóa.
Nắm lấy.
Buông bỏ.
Không chấp.
Ma tam muội nói: "Có vẻ lần này ta lại phải chạy rồi."
Ba con ma kia nói: "Người này có ánh sáng màu xanh lục, màu đỏ, màu tím, màu vàng, màu vàng kim, màu cam, màu trắng, là hóa thân của cầu vồng ánh sáng, chúng ta chuồn thôi!"
Bốn con ma bay vút đi............

Đây là:
Tâm ta cảm Phật ta
Phật ta liền ứng ta
Cảm ứng không sau trước
Tâm, Phật là một thể.

Tôi biết trong "Kinh Bồ Tát Ha Sắc Dục" có nói:
Sắc đẹp của nữ nhân là gông cùm của thế gian, phàm phu đắm nhiễm, không thể tự thoát. Sắc đẹp của nữ nhân là tai họa lớn của thế gian, phàm phu vướng vào, đến chết không thoát. Sắc đẹp của nữ nhân là mối họa suy tàn của thế gian, phàm phu gặp phải, không tai ương nào không đến.

Hành giả đã từ bỏ được rồi mà còn nhớ nghĩ lại, như người được thoát khỏi ngục tù lại muốn quay vào, như người điên đã tỉnh lại thích điên tiếp, như người bệnh đã khỏi lại muốn bị bệnh, bậc trí thương xót, biết kẻ ấy điên đảo, chẳng còn sống được bao lâu!

Phàm phu xem trọng nữ sắc, cam tâm làm tôi tớ, cả đời bon chen, vì đó mà khổ nhọc, dù có nghìn mũi khoan sắt, vạn mũi tên nhọn cùng đâm vào thân, vẫn cam tâm chịu đựng, không cho là khổ, kẻ điên vui trong cơn điên, chìm đắm trong đó.

Nếu hành giả có thể buông bỏ không màng đến, tức là phá tan gông cùm xiềng xích, hết điên cuồng bệnh hoạn, thoát khỏi tai ương suy họa, được an ổn tốt lành, thoát khỏi ngục tù, vĩnh viễn không còn hoạn nạn.

Người phụ nữ có lời nói ngọt như mật, nhưng tâm địa như thuốc độc. Giống như dòng suối trong vắt, nhưng có thuồng luồng ẩn nấp. Núi vàng hang báu, nhưng có sư tử trú ngụ. Nên biết đây là mối họa, không thể đến gần. Gia đình bất hòa, do bởi phụ nữ, phá hoại tông tộc, là tội của phụ nữ, thật sự là kẻ thù âm thầm, dập tắt ánh sáng trí tuệ của người. Cũng như lưới săn vây bắt, ít ai thoát được, như lưới cao chụp xuống, bầy chim rơi vào, không thể bay lên, lại như lưới dày, đàn cá sa vào, bị mổ bụng lột da, cũng như hố sâu tăm tối, kẻ mù rơi xuống, như thiêu thân lao vào lửa. Vì vậy người trí, biết mà tránh xa, không để bị hại, ghét bỏ và coi là ô uế, không để bị mê hoặc bởi thứ này.

Trong "Kinh Đại Bảo Tích", Đức Phật nói một bài kệ:
*Núi đao rừng kiếm, tên độc khổ đau,
Nữ nhân tụ tập, vô vàn điều khổ.
Giả dối phấn son, trang điểm xinh đẹp,
Kẻ ngu ở đời, vọng khởi tham cầu.
Như chim mỏi cánh, lạc giữa biển khơi,
Chết ắt sẽ đọa, địa ngục A Tỳ.
Hiện thấy muôn khổ, đều đến với thân,
Bạn lành xa cách, cung trời mãi mất.
Thà nhảy vào ngục, chạy trên núi đao,
Nằm trên lò lửa, chẳng gần nữ sắc.*

Đọc bài kệ đến đây.
Trong tâm đại ngộ.
Sắc đẹp nữ nhân thật đáng sợ thay!
Tình dục thật đáng sợ thay!
Sợi dây tình cảm tự nhiên đứt đoạn, không còn dấu vết!

Từ bài kệ của Phật Đà, tôi chợt nhớ đến tổ tiên đầu tiên của họ Lư là Khương Tử Nha, ông cũng có một bài kệ:
*Miệng rắn tre xanh
Ong vàng đuôi nhọn
Đều chẳng độc bằng
Lòng người phụ nữ.*

Đối với bài kệ của Phật Đà và kệ của Khương Tử Nha (Khương Thượng), tôi thực sự không biết nói gì. Có lẽ những đánh giá cổ xưa này đối với nữ giới là không công bằng, nhưng chính bản thân tôi cũng không biết làm sao để biện hộ cho người khác giới, gần như tôi cũng không thể nói nên lời.

Khi tôi ở trong lưới ma, tôi đã giác ngộ rằng tình thân, tình cảm, tình thầy trò, tình chúng sinh, tất cả đều chỉ là ảo ảnh nhất thời. Tình thân là ảo ảnh nhất thời, tình cảm là ảo ảnh nhất thời, tình thầy trò là ảo ảnh nhất thời, tình chúng sinh là ảo ảnh nhất thời, đây thực chất là thế giới huyễn. Mọi người đều đang chấp trước vào duyên tình, bóng đuổi theo bóng, sau khi sinh tử, mọi tình đều trở về biển nghiệp.

Chỉ có chư Phật Bồ Tát:
Dùng tình để hóa độ.
Bi trí vô biên.
Thị hiện độ sinh.
Sắc tâm đều tịch diệt.

Tôi xin khuyên những hành giả có chí tu hành, hãy tránh xa:
1. Nhân dâm - Đây là một niệm tâm ô nhiễm, nam nữ đều như nhau, đừng khởi một niệm ô nhiễm.
2. Duyên dâm - Đây là tránh xa những nơi không thích hợp, nhiều loại duyên trợ giúp cho dâm dục, như nam nữ nhìn ngắm theo đuổi nhau đều là vậy. Nên tránh xa.
3. Pháp dâm - Đối với sách dâm, tranh dâm, vuốt ve khen ngợi, dụng cụ dâm, nhà chứa, phương pháp và vật dụng, đều phải tránh xa.
4. Nghiệp dâm - Không vướng vào nghiệp dâm, hai căn giao hợp, thành tựu sự nghiệp dâm dục, đều không được làm.

Hôm nay giờ đây, tôi viết "Sống từng phút giây trong sáng", "Sống từng phút giây rực rỡ", "Tâm sự của ông lão ấy" là để khuyên người mê, mộng huyễn hãy sớm tỉnh, kịp thời quay đầu, người thường quay đầu có thể kéo dài tuổi thọ bảo toàn tính mạng, có thể tu dưỡng phẩm hạnh, có thể phú quý lâu dài. Còn hành giả có thể giác ngộ chân tu, thanh tịnh tự tại, giải thoát phiền não.
Gắng lên, gắng lên.


### 15. Đám đông thỉnh cầu cam lộ


Tham thoại đầu của Thiền tông có một pháp như thế này:
Đầu tiên nghĩ về thân thể của chính mình đã mắc một căn bệnh nặng, hơn nữa cũng đã chết rồi.
Sau đó nghĩ về xác chết được đưa đến lò hỏa thiêu, dùng lửa thiêu đốt, trở thành một đống tro tàn, đống tro cốt này trở thành bụi, bị gió thổi bay, tan biến hết. 
Cuối cùng nghĩ về hiện tại không còn gì cả, không có một vật nào tồn tại, lông tóc xương cốt đều không thể có được.
Lúc này, niệm một câu A Di Đà Phật!
Lập tức hồi quang phản chiếu!
Hãy nhìn người niệm Phật này là ai?
Lúc này cứ thế nghiền ngẫm "Người niệm Phật là ai?", cứ thế mà suy đoán, cho đến khi quên luôn cả thân tâm, "póc" một tiếng, minh tâm kiến tính.

Dựa theo tham thoại đầu của Thiền tông, Mật giáo cũng có một pháp:
1. Ram — thân thể bốc cháy, lửa thiêu thân thể thành tro.
2. Yam — gió lớn thổi tới, thổi bay sạch tro tàn.
3. Kham — tất cả đều trống rỗng không còn.
Ram Yam Kham tức là Hỏa, Phong, Không.
Thế rồi ánh sáng hiện lên, tự tính ở trong pháp giới Đại Tỳ Lô Giá Na quang minh mà thành tựu.
Xin hãy xem tu trì Thiền và Mật, đâu có gì khác nhau?

Tôi nêu ra điều này trước, sau đó dẫn nhập vào phần chính, đó là trong khi thần hành, tôi đã đi qua vùng trời của khu hỏa thiêu, khu hỏa thiêu này có chín lò thiêu, cùng một lúc có thể thiêu được chín xác chết.

Lò hỏa thiêu thời kỳ đầu dùng gỗ để dẫn lửa, nghe nói để thiêu một xác chết cần một trăm cân Đài Loan củi gỗ [1 cân Đài Loan khoảng 600g]. Thời nay không dùng gỗ nữa, mà dùng gas hoặc điện nên lửa càng mạnh càng dữ hơn, buổi sáng hỏa thiêu, buổi chiều đã có thể nhặt "kim" rồi. Theo tập tục là bốn điểm kim, đầu, tứ chi cho vào bình tro cốt, sau đó lại cho vào tháp.

Khi tôi thần hành đến vùng trời bên trên khu hỏa thiêu thì niệm một câu: 
Vãng sinh tịnh thổ.
Siêu sinh xuất khổ.
Nam Mô A Di Đà Phật.
Nhìn thấy vùng trời phía trên khu hỏa thiêu có những đốm lửa nhỏ đều là các linh quang tập trung lại, tôi biết đám người này đều ở trong khu hỏa thiêu, lửa vừa thiêu thì họ mới chạy ra. Nhưng họ tụ tập ở đây để làm gì chứ?
Tôi rất tò mò:
"Các người ở đây làm gì vậy?"
"Chúng tôi muốn đi thỉnh cầu cam lộ!" - Trai gái già trẻ cùng đồng thanh nói.
"Cam lộ ở chỗ nào?"
"Hồ Diệp Tử."
"Hồ Diệp Tử?" - Lòng tôi càng ngờ vực, đó là nơi tôi ẩn cư, đồng thời hồ Diệp Tử là cái tên mà tôi tự đặt, không phải một địa danh, người khác không biết.
Đám người nói:
"Người ẩn cư đó là một vị Hoạt Phật, ông ấy tự xưng hồ mà mình ẩn cư như lá cây nên mới gọi là hồ Diệp Tử, người đời không biết, chúng tôi thì biết, ma có năng lực của ngũ thông, một đồn mười, mười đồn trăm, trăm đồn nghìn vạn, chúng tôi tụ tập để đi cầu cam lộ đó!"
Trong lòng tôi đã hiểu, tôi im lặng không nói gì, thần hành bỏ đi.

Ai là Cam Lộ Vương Như Lai, tôi thật lòng thật sự nói cho mọi người biết, không phải là ai khác, chính là A Di Đà Như Lai đó.
Cam lộ thủy, cam lộ pháp có thể nói là chân lý mà Như Lai dạy dỗ, có thể khiến chúng sinh giải thoát buồn bực, như được uống sương ngọt, pháp môn này có thể niết bàn Cực Lạc, mát mẻ vui vẻ.
Nước cam lộ mà tôi hóa ra:
Là Tam Hùm Thủy - Om Ah Hum, đây là viết ba chữ Hum (chữ Phạn) ở trên nước, là linh tính nội tại, có linh lực, có thể tịnh hóa chướng ngại nghiệp lực của chúng sinh, có tác dụng thần tính, có thể tụ hợp sức mạnh tâm linh trong vũ trụ rộng lớn, đạt đến lĩnh ngộ, tịnh hóa, trừ nghiệp, trừ não, phát huy linh tính đến mức độ cao nhất.

Linh hồn uống cam lộ mà tôi hóa ra sẽ mở ra cánh cửa của Phật tính, dung nhập vào trong tự tính, chìm đắm trong ánh sáng.
Linh hồn uống cam lộ mà tôi hóa ra có thể ngao du trong thời gian không gian, trong giới trung ấm, không còn phải chịu khổ đói khát, không phải chịu đủ loại ràng buộc, thậm chí vì đã tịnh hóa rồi, có thể thăng vào thiên thượng giới.

Trong lý tưởng của tôi, tôi không chỉ độ chúng sinh hữu hình, tôi cũng muốn độ chúng sinh vô hình (minh giới), đây là điều mong mỏi của tôi, tôi không chỉ muốn cho chúng sinh hữu hình mãn nguyện mà cũng muốn cho chúng sinh vô hình mãn nguyện.

Nước cam lộ có thể khiến chúng sinh minh giới buông bỏ tự ngã, buông bỏ đau khổ của sự bám chấp, tâm linh và Phật tính kết hợp với nhau, như thế có thể tiến vào thế giới Cực Lạc ở tầng sâu nhất, không còn ràng buộc, tràn ngập niềm vui.
Cho nên Mật giáo nói:
Chim ăn nước hoặc gạo mà hành giả hóa cho.
Cũng có thể vãng sinh.
Thế nên tôi ở hồ Diệp Tử, dùng chú cầu nguyện chính pháp, gia trì nước cúng, hóa thành nước cam lộ từ bi, tôi thật sự thành tâm kết hợp với ý thức vũ trụ cùng hóa thành một dạng năng lượng, năng lượng này có ích với hữu hình và giúp ích cho vô hình.

Việc hóa thực bằng cam lộ thủy của tôi không dừng lại, ở Seattle chưa từng dừng lại, khi mới đến Hồ Diệp Tử, vì hoàn cảnh nên tôi có tạm dừng một chút rồi lại tiếp tục. Tôi cho rằng đây là một trong những cách bố thí, vì thế ngày ngày hóa nước cam lộ, cho nên minh giới càng truyền càng rộng, càng truyền càng nhiều, đây là tôi vừa độ người vừa độ mình, tôi không hề nghĩ đến thân thể mình đã hư nhược, vẫn ngày ngày hóa nước cam lộ.
Đại bàng kim sí điểu
Hoang dã quỷ thần chúng
La Sát quỷ tử mẫu
Cam lộ đều tràn trề.
Ôm mu-ti sô-ha. Ôm mu-ti sô-ha. Ôm mu-ti sô-ha.
Ôm ah hùm. Hùm hùm hùm.

Nước cam lộ này không phải là lực của một mình tôi. Tôi phụng thỉnh bậc trí huệ đệ nhất - tôn giả Xá Lợi Phất, thần thông đệ nhất - tôn giả Mục Kiền Liên, đầu đà đệ nhất - tôn giả Ẩm Quang, luận nghị đệ nhất - tôn giả Văn Sức, vấn đáp đệ nhất - tôn giả Đại Tất, vô đảo loạn đệ nhất - tôn giả Tinh Tú, nghĩa trì đệ nhất - tôn giả Kế Đạo, nghi dung đệ nhất - tôn giả Hỷ, đa văn đệ nhất - tôn giả Trần Hỷ, mật hành đệ nhất - tôn giả Phúc Chướng, cúng dường đệ nhất - tôn giả Ngưu, phúc điền đệ nhất - tôn giả Bất Động, giáo hóa đệ nhất - tôn giả Hắc Quang, tinh tú đệ nhất - tôn giả Phòng Túc, thọ mệnh đệ nhất - tôn giả Thiện Dung, thiên nhãn đệ nhất - tôn giả Vô Bần.
(Mười sáu vị đại A La Hán này là bậc đại sĩ của pháp này, thị hiện như Thanh Văn.)
Nước cam lộ này cũng là các vị gia trì.
Nước cam lộ mà tôi hóa ở đây là:
*Chúng sinh là người năng được lợi
Minh giới sau này đều biết tên
Nay dùng nước này để độ chúng
Hạ hạ nhân thành thượng thượng nhân.*

Phật từng bảo tôi: "Liên Sinh, hãy dùng sức mạnh phương tiện hành bát nhã ba la mật trong nước gia trì, khiến tâm duyên chúng sinh tự tại, có thể đắc Phật sắc, đắc Phật vi diệu âm, đắc thanh tịnh giới hương, đắc tất cả pháp vị, đắc tâm nhu nhuyễn, đắc tâm thanh tịnh, đắc pháp ngữ, đó là Như Lai bình đẳng đại ý, Liên Sinh dùng cái này để độ chúng sinh là pháp Chân Như thanh tịnh, vì thế có thể gọi là Cam Lộ Vương Đệ Nhất."
Trong lòng tôi thầm than: "Hổ thẹn! Hổ thẹn!"

Có một hôm, tôi đang bố thí nước cam lộ, vẩy nước vào hư không, trong hư không có đám người lần lượt đón lấy.
Tôi nghe có người nói:
"Ơ! Đó chẳng phải là người thần hành phía trên khu hỏa thiêu sao?" - Có người nhận ra tôi.
"Đúng là ông ấy rồi!"
"Bậc Thánh mà bình phàm như phàm phu vậy." - Một người nói.
"Đó mới là không thể đánh giá con người qua diện mạo, nước biển không thể dùng đấu mà đong."
"Ngày nay muốn tìm được một hành giả bố thí nước cam lộ thật là khó lắm!"
"Người có đạo đều ẩn cư hết rồi."
Trong số đó có một người cũng khá biết về Phật pháp, người đó nói: "Tôn giả Mục Liên bị ngoại đạo dùng gậy đánh chết, tổ sư Đạt Ma cũng phải đến Tung Sơn quay mặt vào tường chín năm, Tế Công Hoạt Phật cũng bị đuổi ra khỏi chùa Linh Ẩn, đại sư Lục Tổ Huệ Năng cũng phải trốn trong đám thợ săn, hễ là bậc Thánh đều gặp phải những chuyện khó tránh."
"Đó là vì sao?"
"Phàm phu mắt thịt sao biết được!"
"Một số người chẳng hiểu gì cả, chỉ giả vờ hiểu thôi."

Đám người này đều là đến cầu nước cam lộ, có đến hàng trăm hàng nghìn người, nguyên thần (trung ấm) và nhục thân tuy khác nhau, nhưng, nhục thân chỉ là kéo theo một cái xác thịt mà thôi.
Những thần thức này lần lượt bỏ đi.
Cuối cùng còn lại một người già quỳ xuống không đi, tôi hết sức kinh ngạc:
"Chẳng phải ông đã lấy được nước cam lộ rồi sao?"
Người già trào nước mắt nói: "Tôi cũng muốn thỉnh cầu một phần cho chủ nhân."
"Cần tự đến mới ban cho." - Tôi nói.
"Ông ấy không thể đến, ông ấy là người nhảy lầu tự sát, bị hạn chế, miệng méo tứ chi đứt, ông ấy là…"
Tôi cực kinh hãi, người nhảy lầu này danh tiếng lẫy lừng, đáng thương! Đáng thương! 
Tôi đưa thêm một phần nước cam lộ cho người già.
Người già cảm ơn rối rít rồi đi.

Viết một bài kệ:
*Tự sát mà chết khó vực dậy
Đâu có cái lý được vãng sinh
Cam lộ vẩy thân gột bùn đất
Chỉ mong kiếp sau tỏ Phật địa.*


### 16. Ngôn ngữ trên trời


Trong thần hành.
Bỗng nhiên tôi gặp một người cũng đang thần hành, anh ta mở lời nói chuyện với tôi trước, nhưng giọng nói của anh ta rất đặc biệt, líu lo ríu rít, tuy nhiên hơi dịu dàng, tôi lắng nghe kĩ, biết đó là ngôn ngữ từ nơi khác, nghe một lúc lâu, tự nhiên hiểu được ý trong lời nói của anh ta.
Anh ta nói: "Phổ hỷ! Phổ hỷ!" (có nghĩa là chào hỏi "Hi")
Anh ta nói: "Khích! Khích!" (có nghĩa là "Bạn khỏe không?")
Tôi hỏi: "Anh từ đâu đến?"
Anh ta đáp: "Từ Nguyệt Ma Thiên (Dạ Ma) đến."

Tôi lập tức hiểu ra, hóa ra đó là thiên nhân từ cõi Dục giới. Dục giới là nơi cư trú của chúng sinh có dâm dục và thực dục, phía trên có sáu cõi trời Dục giới, ở giữa có bốn đại châu nơi người và súc sinh ở, cho đến địa ngục A Tỳ ở dưới, đều thuộc về Dục giới.

Ngôn ngữ của Dục giới vô cùng phức tạp, chỉ riêng ở cõi người đã có Trung Quốc, Mỹ, Pháp, Đức, Nga, Nhật, Ả Rập, Brazil, Mexico... Các quốc gia trên thế giới đều có ngôn ngữ và phương ngữ khác nhau. Nghĩ xem, ngôn ngữ của Dục giới có bao nhiêu, thật sự là không thể đếm, không thể nói, ngôn ngữ vô lượng vậy.
Theo tôi biết:
Súc sinh giới, mỗi loài đều có ngôn ngữ riêng.
Địa ngục giới cũng vậy.
Ngạ quỷ giới cũng thế.
Khó nghe nhất là ngôn ngữ của Atula giới, toàn là âm thanh sát phạt, cực kì cứng rắn, như tiếng sắt đá va chạm vậy.

Lên đến cõi trời, từ cõi trời Tứ Thiên Vương trở lên, ngôn ngữ ở các cõi trời đều khác nhau, có cái giống nhau, có cái khác nhau. Từ cõi trời Dục giới cho đến Sơ thiền của Phạm Chúng thiên, Phạm Phụ thiên, Đại Phạm thiên, đều có ngôn ngữ. Từ Nhị thiền trở lên, ngôn ngữ càng ít đi.
Theo tôi phân chia, ngôn ngữ của cõi trời có ba loại chính:
1. Ngôn ngữ.
2. Ánh sáng.
3. Thức.

Như linh giới, nếu dùng ngôn ngữ để diễn đạt, thì đó vẫn còn là linh giới bậc thấp, ở bậc trung chỉ dùng tịnh quang, còn bậc cao thì chỉ còn lại thức. Thật ra những nhận thức này chỉ có người có tha tâm thông hoặc Phật mới biết được, nếu không có tha tâm thông thì hoàn toàn không thể hiểu nổi.

Thiên nhân ở cõi trời Dạ Ma, ngôn ngữ của họ rất mềm mại, âm thanh rất nhỏ, nhưng không chói tai.
Anh ta nói với tôi:
"Người có tâm sân nặng thì âm thanh thô, người có tâm bi nặng thì âm thanh mềm, đây là bản tính tự nhiên, là công năng nguyên thủy. Người thật sự siêu việt không dùng ngôn ngữ, dùng ánh sáng thay cho âm thanh, dùng thức thay cho âm thanh, thậm chí không cần nói gì, không cần thay thế, chỉ cần ấn tâm mà thôi."

Tôi nói:
"Hóa ra đó là lý do Như Lai có ba loại ngôn ngữ: tùy tự ý ngữ, tùy tha ý ngữ và tùy tự tha ý ngữ. Như Lai có thể tùy theo ý mình để diễn đạt pháp thực tướng mà mình đã chứng ngộ. Phật có thể tùy theo căn cơ của chúng sinh mà thuyết các pháp phương tiện. Khi Phật thuyết pháp cho tất cả chúng sinh, có thể dùng một âm diễn thuyết vạn pháp, hoàn toàn tùy ý mình và chúng sinh."
Thiên nhân cõi Dạ Ma nói:
"Tuy Phật Như Lai đã thuyết tám vạn bốn nghìn pháp môn cho người đời. Nhưng những gì Ngài thuyết đều là cảnh giới chứng ngộ, không thể dùng ngôn ngữ văn tự để diễn đạt. Hơn nữa, pháp Ngài thuyết vốn là như vậy, không phải do Phật sáng tạo, cũng không phải có sau khi thuyết, thuyết cũng như không thuyết, vì vậy Phật Như Lai mới nói chưa từng nói một chữ."
"Đúng vậy, đúng vậy." - Tôi gật đầu.

Trong thần hành lại gặp ba vị thần hành.
Một vị nói: "Tiêu tiêu."
Vị khác nói: "Sơ sơ."
Vị thứ ba nói: "Hốt hốt."
Thiên nhân cõi Dạ Ma nói:
"Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, tôi không hiểu ngôn ngữ của họ, rốt cuộc đây là ngôn ngữ của cõi trời nào vậy?"
Tôi đáp: "Ba vị này là thần cây!"
Ba vị gật đầu.
Thiên nhân cõi Dạ Ma vô cùng khâm phục kiến thức uyên bác của tôi.

Ba vị thần cây lại nói với tôi một tràng "cạp cạp chí chí", vị thiên nhân cõi Dạ Ma hỏi tôi, họ nói gì vậy?
Tôi đáp:
"Họ nấu mì, mời chúng ta đi ăn mì!"
Không ngờ rằng, vị thiên nhân cõi Dạ Ma rất thích ăn mì, khi tu hành ở thế gian, không ăn gì khác, chỉ ăn mì thôi, nghe vậy anh ta vui mừng khôn xiết, liền cùng nhau thần hành đến nhà thần cây.

Trong nhà đã bày sẵn năm bát mì nóng hổi.
Vị thiên nhân cõi Dạ Ma đói đến nỗi chẳng kịp phân biệt, cầm đũa định ăn.
Tôi vận thiên nhãn nhìn, vội vàng ngăn lại.
Thiên nhân hỏi: "Sao không được ăn?"
"Anh nhìn kĩ xem, đây là mì gì?"
Vị thiên nhân cõi Dạ Ma cũng vận "thiên mục" nhìn, giật mình hoảng hốt, kêu lớn:
"Đây không phải mì, mà là giun đất!"
Tôi nói:
"Đúng là giun đất!"
Vị thiên nhân cõi Dạ Ma lập tức định trách mắng thần cây.

Tôi nói:
"Không cần trách mắng các thần cây, mỗi tầng thức có cách nhìn khác nhau. Đối với thần cây thì giun đất chính là mì của họ. Tầng thức thấp và tầng thức cao hoàn toàn khác nhau, xin đừng tức giận."
Tôi lấy một ví dụ về một ly nước:
Người nhìn một ly nước, thấy đó là một ly nước.
Ngạ quỷ nhìn một ly nước, thấy đó là một quả cầu lửa.
Quỷ địa ngục nhìn một ly nước, thấy đó là một ly máu.
Phật nhìn một ly nước, thấy tám vạn bốn nghìn sinh vật nhỏ.

Tôi nói:
"Trong tam giới, Dục giới có hành dâm và ăn uống, Sắc giới thì không có hành dâm và ăn uống nữa, chỉ có tịnh quang sắc tướng, Vô sắc giới chỉ còn tâm thức mà thôi. Vì vậy, Dục giới dùng miệng để nói, Sắc giới dùng ánh sáng làm ngôn ngữ, Vô sắc giới thì tâm thức chính là ngôn ngữ. Hôm nay, nếu dùng cái nhìn của cõi trời Dạ Ma để phê phán món mì của thần cây, thì đó chính là một sự chấp trước và thiên kiến, những con giun đất vốn là mì của họ, là món ngon của họ!"
Họ mời hai chúng tôi ăn mì.
Chúng tôi kính cẩn từ chối.

Tôi luôn nghĩ về một vấn đề, tu hành là từ tầng thấp tiến lên tầng cao, là hành vi tiêu trừ nghiệp chướng tăng trưởng phúc huệ, nhưng hiện nay con người đang sống trong thế giới hưởng thụ vật chất, ăn tất cả các loài động vật, vậy đó là tầng cao hay tầng thấp?

Chiến tranh giữa loài người, người giết người, là tầng cao hay tầng thấp? Đó được gọi là tôn giáo gì?


### 17. Thần hành ở nước Huyết Quang


Trong thần hành.
Tôi đến một vùng hoang dã, nhìn khắp bốn phương, vô biên vô tận, khắp không gian đều một màu đỏ, mặt đất cũng đỏ rực, nhìn kĩ màu đỏ trên mặt đất, chảy róc rách, hóa ra là máu.
Tôi kinh hãi vô cùng!
Mũi ngửi thấy toàn mùi tanh nồng của máu, khó ngửi vô cùng.

Vùng hoang dã này cũng có "người ở", toàn là những hồn ma đầu lìa khỏi cổ, thân thể đứt đoạn, tay chân rời rạc, máu me đầm đìa.
Nơi họ ở cũng chia thành bộ lạc, mỗi tộc một bộ lạc, cũng vô tận vô biên, tất cả đều là cảnh tượng như vậy, máu chảy, tràn ngập trời đất. Khổ thay! Khổ thay!

Viết một bài kệ:
*Da mỏng bọc máu mỡ.
Thịt thối xương như canh.
Máu mủ từ trong vỡ.
Xưa nay đao binh tranh.*

Những bộ tộc này đều là nơi tụ tập của các oan hồn sau thảm họa binh đao, bộ tộc này nối tiếp bộ tộc kia, vô tận vô biên.
Tiếng than khóc oán hận của họ, tiếng gọi cha mẹ thảm thiết khiến trời đất cũng nhuốm đỏ, thật đáng thương! Thật đáng buồn!

Tôi thần hành đến một nơi, thấy có một lớp ánh sáng bát nhã mỏng manh bao phủ một bộ tộc, trong lòng vô cùng ngạc nhiên.
"Nơi này cũng có ánh sáng bát nhã, thật kỳ lạ!" - Tôi tự nhủ.

Bước vào trong ánh sáng bát nhã, gặp một cụ già chân què, máu chảy ra, tôi hỏi:
"Đây là nước nào?"
Đáp: "Nước Huyết Quang."
"Trong nước Huyết Quang, sao lại có một bộ tộc được ánh sáng bát nhã bao phủ?"
"Nhờ oai thần của Phật, bộ tộc này hơi khác với các bộ tộc khác, đây chính là tộc Thích Ca đã bị diệt vong."
"Ah!" - Tôi giật mình kinh hãi.

Tôi nói:
"Tộc Thích Ca vẫn còn trong nước Huyết Quang sao?"
Cụ già đáp: 
"Từ xưa đến nay, các quốc gia, bộ tộc bị diệt vong, có quốc gia, bộ tộc nào mà không ở trong nước Huyết Quang, số lượng không thể đếm xuể!"

Về việc tộc Thích Ca - họ tộc của Phật Thích Ca Mâu Ni bị diệt vong, tin rằng những người học Phật đều đã rất quen thuộc.
Chúng ta là những người học Phật, khi xuất gia đều đổi họ thành "Thích", chỉ vì trong "Kinh A Hàm" có nói:
*Bốn sông đổ về biển.
Không còn tên sông nữa.
Bốn họ xuất gia rồi.
Đều gọi là họ Thích.*

Năm xưa, Đức Thích Ca Mâu Ni (Năng Nhân Tịch Mặc) vốn là Thái tử của nước Ca Tỳ La Vệ ở Ấn Độ cổ đại, phụ thân tên là Tịnh Phạn, mẫu thân tên là Ma Da. Hai chữ "Thích Ca" chính là tên của bộ tộc.

Thuở ấy, vua Ba Tư Nặc của nước Kiều Tát Di La đến cầu hôn với tộc Thích Ca, nhưng tộc Thích Ca vì có tâm tự tôn về chủng tộc nên không muốn gả công chúa.
Nhưng họ cũng không tiện từ chối, vì vua Ba Tư Nặc binh hùng tướng mạnh.
Vị vương tộc Thích Ca là Ma Ha Nam nghĩ ra một kế, đem một tì nữ tên là Mạc Lệ giả làm công chúa để gả đi.
Mạc Lệ sinh hạ một con trai, chính là Thái tử Lưu Ly Vương.

Khi Lưu Ly Vương lên 8 tuổi, vâng lệnh phụ vương đến nước Ca Tỳ La để học bắn cung. Lúc đó, thấy giảng đường của Đức Phật, ngài bước vào. Sau đó, người tộc Thích Ca biết được việc này, cho rằng con của tì nữ đã xúc phạm thánh địa, liền đào sâu bảy thước đất vứt bỏ, thay đất mới để thanh tịnh!
(Nạn phân biệt chủng tộc ở Ấn Độ từ xưa đã rất nghiêm trọng.)

Thái tử Lưu Ly biết được việc này, cảm thấy vô cùng nhục nhã. Trong lòng thề rằng: "Khi lên ngôi vua, nhất định sẽ diệt tộc Thích Ca, diệt nước Ca Tỳ La."
Về sau, quả nhiên đã diệt tộc Thích Ca.
Đức Phật vì muốn cứu người tộc Thích Ca, đã nhiều lần khuyên Lưu Ly Vương rút quân, nhưng do nhân duyên quả báo, tộc Thích Ca vẫn bị diệt.

Có một thuyết khác:
Vua Lưu Ly trong kiếp trước từng là một con cá lớn.
Bị người tộc Thích Ca bắt được, toàn bộ tộc chia nhau nấu ăn con cá lớn này.
Chỉ có một đứa trẻ không ăn, nhưng vì tò mò đã đánh vào đầu con cá ba cái, đứa trẻ này không phải ai khác chính là Phật Thích Ca Mâu Ni trong đời sau.
Do Phật đánh vào đầu con cá ba cái, nên bị chứng đau nửa đầu.
("Kinh Tăng Nhất A Hàm" quyển 26 phẩm "Đẳng Kiến" có ghi chép về việc Phật Đà bị đau đầu.)

Nay bị đau đầu như đá đè.
Như đội núi Tu Di trên đầu vậy.
Đau đớn biết nhường nào! Đau đớn thay!

Phật giáo giảng về nhân duyên quả báo, việc báo ứng có hiện báo, sinh báo, hậu báo:
Hiện báo là tạo nghiệp hiện tại liền nhận quả báo hiện tại.
Sinh báo là tạo nghiệp hiện tại đợi đến đời sau mới nhận quả báo.
Hậu báo là tạo nghiệp hiện tại phải đợi hai đời hoặc nhiều đời sau mới nhận quả báo.
(Không phải không báo, chỉ là chưa đến lúc.)

Ngay cả Đức Phật đã giác ngộ viên mãn cũng không thể cứu được tổ quốc, người trong tộc và huynh đệ của mình vì nghiệp báo đã định. Nghiệp do chính mình tạo ra từ kiếp trước, dù là bậc đại giác ngộ như Phật cũng phải chịu quả báo. Nhân duyên quả báo, không sai chạy một mảy may.

Tôi hỏi cụ già:
"Vì sao bộ tộc này lại có riêng ánh sáng bát nhã?"
Đáp: "Cũng là nhân duyên quả báo. Đức Phật xuất thân từ tộc Thích Ca này, nên dù ở trong nước Huyết Quang, Ngài thương xót tộc người chịu khổ nạn này, bèn phóng ra ánh sáng bát nhã do tu chứng của mình để bao phủ bộ tộc. Hễ người trong tộc than khổ vì máu chảy quá nhiều thì máu sẽ ngừng chảy đôi phần, hoa màu héo úa sẽ hồi sinh đôi chút, thiếu nước tưới thì có nước về, hạn hán không mưa thì trời đổ mưa, lũ lụt tràn lan thì nước rút. Đức Phật cũng tự hy sinh, thành tâm thành ý cứu độ tộc ta, cố gắng giảm bớt nỗi thống khổ mà tộc ta phải chịu đựng trong cõi u minh nước Huyết Quang này."

"Tại sao Phật không độ hóa toàn bộ tộc người về cõi Cực Lạc?" - Tôi hỏi.
"Ha ha!" - Cụ già cười lớn.
Cụ già nói:
"Chẳng phải đã nghe rằng nghiệp lực của ai người đó phải tự gánh chịu sao?"
"Vâng." - Tôi gật đầu.
"Phật chỉ dạy phương pháp tu hành, muốn thành tựu, mỗi người phải tự mình thực hành tu tập mới chứng đắc được." - Cụ già nói.
"Xin hỏi cụ già là ai?" - Tôi hỏi.
Cụ già hỏi ngược lại tôi:
"Vậy ngài là ai?"
Cụ già hóa thành một cơn gió, biến mất!


### 18. Thần hộ pháp trong lỗ chân lông


Tôi tin rằng pháp tôi tu là chính pháp.
Phật giáo về sau, tuy phân Tiểu thừa, Đại thừa, Kim Cương thừa. Lại chia thành Luật tông, Câu Xá tông, Thành Thật tông, Tam Luận tông, Thiên Thai tông, Hoa Nghiêm tông, Từ Ân tông, Thiền tông, Mật tông, Tịnh Độ tông... v.v.

Nhưng tôi cho rằng, đây là do Phật Đà tùy theo túc duyên và căn cơ lớn nhỏ khác nhau mà thuyết giảng, tất cả đều là chiếc bè báu đệ nhất để vượt biển sinh tử, đến bờ Niết bàn.

Tôi tu Mật kiêm tu Tịnh độ, những gì tu tập đều là chính pháp.
Về sự khác biệt giữa các pháp môn, tôi nhận định:
Thấy nhân thấy trí.
Thấy nông thấy sâu.
Ví dụ:
Giữ năm giới — nhân đạo.
Hành mười thiện — thiên đạo.
Tu bốn niệm xứ — giải thoát đạo.
Tu mười ba la mật — Bồ Tát đạo.
Đẳng giác diệu giác — Phật đạo.

Tôi có chính kiến đúng đắn, tư duy đúng đắn, ngôn thuyết đúng đắn, hành vi đúng đắn, pháp vụ đúng đắn, tinh tấn đúng đắn, chính niệm đúng đắn, thiền định đúng đắn. Tôi tu tập là chính pháp đó!

Tôi tu giới, thanh tịnh và thận trọng trong hành động. Tôi tu định, tâm an trụ trong tam muội. Tôi tu huệ, huệ giải thoát, huệ bồ đề.

Tôi biết chắc chắn rằng chính pháp là chân lý của vũ trụ. Còn tà môn là những gì đi lệch khỏi chân lý vũ trụ. Lại có tà pháp là những năng lực thuộc về thế giới tinh linh, những ai tu tập theo năng lực tinh linh này chính là hành tà pháp vậy.
(Tôi nhận thấy hiện nay có rất nhiều tông phái, bề ngoài đều tự xưng là chính pháp, nhưng họ không biết rằng mình chỉ đang mượn hình tướng của chính pháp, thực chất bên trong toàn là pháp lực tinh linh. Muốn tu chính pháp, nhất định phải nương theo bát chính đạo.)

Đó là: Chân như, Bát nhã, Duy thức, Du già, Tâm ấn, Nhất thiết trí, Căn bản trí, Niết bàn, Bỉ ngạn, chính là kinh được chư Phật hộ niệm, là pháp bí tạng của chư Phật, là Phật pháp được Phật Đà thuyết giảng qua năm thời kỳ trong đời mình, là pháp môn đốn ngộ trực nhập. Đó là:

Trong một lỗ chân lông thông tin tức.
Trong khắp pháp giới không che giấu.

Trong thần hành.
Tôi đến một thế giới tinh linh, thấy một người tu tà pháp ngồi trên pháp tọa cao, trong lỗ chân lông của người này ẩn chứa tám vạn bốn nghìn tinh linh, mỗi tinh linh đều có màu vàng diêm-phù-đàn, tất cả tinh linh hóa thành Như Lai, bay ra và trụ giữa hư không.

Ở chính giữa hiện ra Tỳ Lô Giá Na Phật, xung quanh có nghìn vị Phật vây quanh, trăm triệu Bồ Tát và hoa sen cùng lúc xuất hiện.

Lúc này, mười phương sơn hà đại địa đều hóa thành cõi Phật, đầy đủ bảy báu, ánh sáng chiếu khắp, lại thấy lầu gác tráng lệ, cảnh đẹp thiên cung, đẹp không thể tả.

Kẻ tu tà pháp tự xưng đã đắc vô thượng chính đẳng chính giác, miệng tụng kinh văn, ngồi trên pháp tọa thuyết pháp. Kẻ tu tà pháp có vô số người ngồi dưới pháp tọa nghe pháp, tất cả đều bị mê hoặc bởi thần lực và linh lực của y.

Kẻ tu tà pháp phóng hào quang từ bàn tay, từng tia hào quang bay đến đỉnh đầu các tín chúng, trên đầu tín chúng cũng hiện ra hào quang, tất cả đều cúi đầu đảnh lễ.

Kẻ tu tà pháp nói công lực của y đã phi phàm, có thể hóa vào lửa mà biến mất, có thể vào nước không chìm, có thể trụ giữa hư không, có thể xuyên núi xuyên tường, hoàn toàn không gặp chướng ngại.

Kẻ tu tà pháp có thể thông với tinh linh, biết được nhân quả ba đời của người thường, những gì nói ra đều linh nghiệm, mê hoặc tín chúng, không ai không tin phục. Kẻ tu tà pháp còn được các vị xuất gia lễ bái, thu nhận các vị xuất gia làm đệ tử.

Y còn phỉ báng các bậc đại đức xuất gia, phỉ báng Phật pháp Đại thừa, Tiểu thừa, Kim Cương thừa, tự tán dương mình chê bai người khác, tự xưng chỉ có mình là người duy nhất trên thế gian đắc vô thượng đạo, những người khác đều là tà pháp.

Trong thần hành, khi thấy những người như vậy, tôi vô cùng kinh hãi, rõ ràng là tám vạn bốn nghìn tinh linh, vậy mà từng cái một biến thành tám vạn bốn nghìn Như Lai. Thật là đáng sợ biết bao.
Khi thấy những người như vậy, tôi liền biết ma tinh, đại lực tinh quỷ có sức mạnh quấy nhiễu người tu hành rất lớn, quá khủng khiếp.
Cho nên người xưa nói:
"Thà nghìn ngày không ngộ, không để một phút vướng ma."
Người xưa nói:
"Đạo cao một thước, ma cao một trượng."
Lại nói:
"Dù công phu của ngươi cao thâm đến đâu, Ma Vương cũng cao thâm đến đó."

Thấy vậy, trong lòng tôi vô cùng kinh hãi, vội vàng muốn thần hành đi nơi khác, không dám lưu lại lâu trong thế giới tinh linh, cảnh giới tà pháp này chỉ là tạm thời, không thể tham đắm.

Đúng lúc định rời đi thì tôi bị phát hiện, vị hành giả tà pháp này nói:
"Nhìn kìa! Người đó chính là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, vội vàng muốn trốn chạy, không dám diện kiến bậc thánh, ta muốn gặp y để so tài, vậy mà y đã bỏ chạy mất dạng, đủ thấy y không phải là bậc thánh chứng, không có tâm thánh, chỉ là kẻ ưa thích tiểu pháp mà thôi."
Hành giả tà pháp nói:
"Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chẳng qua chỉ là kẻ bị tinh linh nhập thân, không có gì đặc biệt! Y là kẻ ngoại đạo mượn danh Phật!"
Mọi người nghe xong, vỗ tay tán thành.

Do một đời gặp quá nhiều hoàn cảnh và sự việc không như ý, từ lâu tôi đã không còn sinh tâm sân hận, có thể an trụ trong chính pháp mà không động tâm, cõi này còn gọi là cõi Nhẫn.

Tôi đã đạt được:
Cảnh giới vô sinh pháp nhẫn.
Pháp nhẫn của "thất hiền vị".
Trí huệ nhẫn như kim cương.
Trải qua đủ loại sỉ nhục, tu thành nhẫn nhục ba-la-mật.
Tôi đã tu pháp vô vi, đó là hư không vô vi, trạch diệt vô vi, phi trạch diệt vô vi, bất động diệt vô vi, tưởng thọ diệt vô vi, chân như vô vi.

Tôi không màng đến hành giả tà pháp tinh linh.
Tuy nhiên, y lại mắng:
"Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, không có tinh hoàn!"
"Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, không phải là đàn ông!"
"Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, kẻ ngoại đạo mượn danh Phật, nên đến bái ta làm thầy, muốn bái ta làm thầy, ta còn không thèm nhận, làm đồ đệ của đệ tử ta, ta cũng khinh thường, tông phái của ta không cần loại đồ bỏ hạ tiện như vậy."
"Cái gì mà Hoạt Phật, là khỉ đột thì có!"
Ha! Ha! Ha!
Tiếng cười nhạo vang lên khắp nơi.

Các lỗ chân lông trên thân thể của kẻ hành giả tà pháp ấy thật không ngờ ẩn chứa tám vạn bốn nghìn tinh linh động vật, tất cả đều chạy ra. Tôi dùng thiên nhãn nhìn thấy, chẳng qua chỉ là hồ tinh, mị tinh, hổ tinh, tượng tinh, ngưu tinh, xà tinh, chu tước tinh, sư tinh, hà mô tinh, quy tinh, v.v... Nhưng trong mắt người phàm tục nhìn vào, chúng khoác lên một lớp ngụy trang bên ngoài, thế mà biến thành nghìn Phật vạn Phật, vây quanh tôi.

Các tinh linh (linh động vật) đều phun sương độc, ánh sáng độc, muốn giết chết tôi đang thần hành, tôi muốn trốn chạy nhưng không còn đường thoát.

Những tinh linh này đều bị ô nhiễm và tham đắm, đều sân hận không nhẫn nhục, thấy sắc liền yêu, cũng chính là ngạo mạn tự cao, hoàn toàn không hiểu đạo lý, tụ tập đủ loại tà kiến, nghi ngờ chính pháp.
Chúng há miệng to, muốn xé tôi ra để ăn. (Cắn xé nuốt vào bụng.)
Không chỉ vị sư phụ kia có tám vạn bốn nghìn lỗ chân lông chứa vô số tinh linh, mà ngay cả đệ tử của y cũng đều bị tinh linh nhập thân.
(Nhảy nhót lung tung.)

Tôi không đành lòng nhìn, nhắm mắt chờ chết vậy!
Đây là tự làm tự chịu, thần hành đến thế giới tinh linh để tự tìm cái chết. 
Tôi ngâm thơ:
*Thần hành u tối, nước thu lạnh
Cô độc không bạn, càng thêm buồn
Kinh hãi thế gian vốn như thế
Chỉ còn một niệm hướng Tây hành.*

Nước mắt tôi tuôn rơi, nghĩ về cuộc sống nửa sống nửa chết khi ẩn cư tại hồ Diệp Tử, thiền định thần hành là ý nghĩa của đời tu hành, vậy mà giờ đây, lại rơi vào miệng của đám tinh linh, rơi vào tình cảnh hình thần đều diệt, sao không thê thảm cho được!

Vào lúc nguy cấp, tôi khóc lóc, lông tóc dựng đứng, các lỗ chân lông trên cơ thể mở ra, từ mỗi lỗ chân lông hiện ra từng vị hộ pháp thần, hộ pháp thần nhiều vô kể, có lẽ cũng đến tám vạn bốn nghìn vị!

Hộ pháp thần màu đen tỏa ánh sáng đen, màu xanh lục tỏa ánh sáng xanh lá, màu đỏ tỏa ánh sáng đỏ, màu xanh lam tỏa ánh sáng xanh dương, màu vàng tỏa ánh sáng vàng, màu vàng kim tỏa ánh sáng vàng kim, tất cả đều phát ra từ các lỗ chân lông của tôi.

Ngay cả Tiếu Diện Quỷ Vương trong ngón cái của tôi cũng cười ha hả mà xuất hiện.

Hộ pháp thần nói với tôi:
"Đừng kinh hoàng, đừng sợ hãi, đã có chúng tôi - các vị hộ pháp thần đây!"
"Bình thường các vị ở đâu?" - Tôi hỏi.
"Ẩn mình trong tám vạn bốn nghìn lỗ chân lông."
"Còn ai nữa?"
"Vi Đà Tôn Giả, Già Lam Tôn Giả,..."
"Còn Đại Uy Đức Kim Cang Minh Vương?" - Tôi hỏi. (Vị này là hộ pháp tối cao của tôi.)
"Hãy trì chú đi!"

Tôi niệm: "Ôm tua-li ka-la-nu-pa hùm khan sô-ha."
Chỉ trong một sát-na, Đại Uy Đức Kim Cang Minh Vương quả nhiên hiện ra như một vị khổng lồ, với nhiều tay nhiều chân, đầu hiện đầu trâu, mắt trợn miệng nứt, nanh nhọn thè lưỡi, miệng gầm lên: "Hum. Hum. Hum."
Như tiếng sấm nổ, xoay mình một cái, ánh sáng xanh bắn tóe ra.

Đám tinh linh đông đảo kia, vừa thấy cảnh tượng như vậy, sợ đến tè ra quần, tất cả đều co rút thân hình, trở thành như những con sâu bé tí.
Đại Uy Đức Kim Cang Minh Vương cũng không khách sáo, hít một hơi mạnh, "hùm tra tra", những con sâu kia đều bị cuốn vào lưỡi, nuốt hết trong một miếng.

Hành giả tà pháp thấy vậy, trốn xuống dưới pháp tọa, toàn thân run rẩy.
Tất cả đệ tử đều nhìn ngây người, tán loạn bỏ chạy. Đại Uy Đức Kim Cang Minh Vương định dùng chân giẫm họ.
Tôi khởi tâm từ bi, nói:
"Tu hành không phải là chuyện dễ dàng, họ đều có nguyên thần, chỉ là họ nhận lầm sư phụ lầm chủ, họ chưa từng làm việc xấu, chưa từng sát sinh, chưa từng hại người, chưa từng làm điều trái đạo lý, chỉ cần thành tâm sám hối, hãy tha cho họ đi!"
Đại Uy Đức Kim Cang Minh Vương giơ chân lên, nhưng không hạ xuống, thả họ đi.

Tôi nói:
"Phật pháp vô biên, quay đầu là bờ, mọi người hãy dùng tâm mà thực tu, quy y chính pháp! Đừng đi tìm cầu thần thông kỳ dị, hãy diệt trừ tam độc ngũ dục, tinh tấn nỗ lực, có vậy công đức mới tăng trưởng được, hãy nương theo chính pháp mà tu trì!"
Nói xong, tôi liền thần hành mà đi.

Tám vạn bốn nghìn hộ pháp thần, lần lượt thu về trong các lỗ chân lông, hóa ra có nhiều hộ pháp thần như vậy bảo hộ tôi, họ có những trách nhiệm:
Một, hộ trì sinh mạng của hành giả chính pháp.
Hai, bảo vệ hành giả chính pháp khỏi tai ương bất ngờ.
Ba, kịp thời ngăn chặn tà ma quỷ quái xâm hại.
Bốn, giám sát hành giả chính pháp.
Năm, quả vị của hành giả chính pháp dần tăng, quả vị của hộ pháp cũng tăng.
Sáu, thứ bậc công đức tùy theo hành giả mà tăng trưởng.
Bảy, cùng thành tựu quả vị Phật Bồ Tát.


### 19. Chần chừ nơi cửa thai


Trong lúc thần hành.
Tôi gặp một thiện nữ, vị thiện nữ này khiến lòng tôi xúc động, biết rằng đây là "người có duyên", trong lòng tôi không khỏi buồn thương..........

Thiện nữ này đã mang thai, là một bào thai nam, đứa bé trai này là một đứa trẻ ngoan được nuôi dạy tốt, vừa thông minh vừa dũng cảm, tương lai sẽ nổi danh.
Thiện nữ có cha mẹ hiền lành, tin theo Phật pháp, người chồng mà thiện nữ kết duyên cùng cũng ôn hòa lễ độ, được giáo dưỡng tốt, gia đình khá giàu có, thuộc dòng quý tộc.
Thiện nữ có tấm lòng thiện lành, thường xuyên cứu giúp người nghèo khó hoạn nạn, từ bi hỷ xả, tinh tấn tu tập pháp môn niệm Phật, tâm địa thuần khiết lương thiện.

Nhìn tổ tiên của họ, vốn đều là những danh nhân, học giả, chuyên gia trong xã hội, các đời đều truyền thống trọng đức. Một gia tộc như vậy quả thật hiếm có, không trách được lòng tôi xúc động khôn xiết.

Thành thật mà nói, lần bế quan ở hồ Diệp Tử này không giống như những lần bế quan trước đây, lần này ở hồ Diệp Tử, có lẽ tôi đã sống được một giáp rồi nên thời gian quả không tha người, tôi vốn ít khi đau ốm cũng bắt đầu sinh bệnh.

Tôi quan sát bệnh nghiệp của mình, thực ra cũng là một loại nghiệp lực trong vòng luân hồi nghiệp chướng, không nhất định là đời này kiếp này, hay đời trước kiếp trước, bản thân cũng đã tạo nghiệp, những lỗi lầm trong hành vi, nên khi bế quan tại hồ Diệp Tử, từng việc một hiện ra. (Chỉ cần là người, đều có nghiệp lực.)
Tôi thê lương tự nhủ:
Phúc báo đã hết rồi!
Nghiệp chướng hiện tiền rồi!

Mặc dù tôi tu hành nhiều năm, cũng đã khai ngộ minh tâm, tự biết nhân quả tiền kiếp đời đời kiếp kiếp, bản thân vẫn còn nghiệp lực chưa được thanh tịnh, vẫn đang luân chuyển, bệnh nghiệp ở hồ Diệp Tử này chính là để tiêu trừ nghiệp chướng vậy. Già và bệnh hoàn toàn phù hợp với quy luật tự nhiên của thế giới vật chất, ngay cả Đức Phật đại giác đại ngộ cũng không ngoại lệ!

Khi còn trai tráng, tôi rất ít khi mắc bệnh nghiệp, có thể nói là không biết đến bệnh khổ, giờ đây nếm trải bệnh khổ mới biết bệnh khổ lợi hại, trong lúc bế quan có khổ có đau, tôi gắng chịu đựng, nghĩ đến tứ niệm xứ:
Quán thân bất tịnh.
Quán thọ là khổ.
Quán tâm vô thường.
Quán pháp vô ngã.
Khổ thay! Khổ thay! Khổ thay!
Tiếng kêu khổ của tôi thấu đến trời, chư Phật Bồ Tát đều biết.

Trong trạng thái nửa sống nửa chết, tôi thần hành ra ngoài, chỉ có thần hành mới có thể tránh được sự trói buộc của nỗi đau thể xác.
Lúc này đây, thật sự vô dục, vô cầu. Tất cả mọi thứ trên đời chỉ là một giấc mộng huyễn ảo, thân xác đã không thể nắm bắt được, thì còn đâu da lông?

Tôi là người đã khai ngộ minh tâm, chỉ cần thoát ly khỏi thể xác, lập tức có thể thấy được bản địa toàn thể phong quang, có thể trở về Tây phương Cực Lạc Ma Ha Song Liên Trì. Ta chính là Phật của ta, không chút nghi ngờ gì.

Nhưng, hễ thần hành xong, trở về thể xác, cuộc sống lại có khổ có nạn, con người làm sao có thể không già không bệnh, cái chết không đáng sợ, đáng sợ là già và bệnh.
Tôi đã buông bỏ hoàn toàn rồi, nhưng, thể xác không thể thay đổi được, thể xác là do nghiệp lực và thời gian tạo thành, tôi vốn tự cho mình là người mạnh mẽ nhất, chưa từng suy nghĩ, thể xác không thể lay chuyển, vậy mà giờ đây lại lung lay sắp đổ!

Tôi nhớ đến kệ của Phổ Hiền Bồ Tát:
*Mỗi ngày trôi qua
Mạng lại giảm bớt
Như cá thiếu nước
Nào có gì vui.*

Lại nữa:
*Mênh mang quên mất sen trong lửa
Bế quan bệnh khổ đã bao năm
Nỗi đau thể xác không nơi tránh
Chỉ có thần hành đến trước Phật.*

Lại nữa:
*Già bệnh vẫn luôn là chướng đạo
Ai hay già bệnh mới chán chường
Tịnh nghiệp công đức nay hội tụ
Ham thích quá sâu khó vãng sinh.*

Phật dạy: "Có bệnh mới tốt, có già mới tốt, có tám khổ dằn vặt mới tốt, có đầy đủ khổ nạn mới tốt. Bởi vì có những điều này mới biết tu hành, mới hiểu được cách thoát khỏi nhà lửa, tình ái quá sâu đậm thì khó vãng sinh!"

Trong bài viết này, tôi viết lan man dài dòng, chủ yếu là vì đột nhiên xúc động không tả xiết, chợt muốn từ bỏ sắc thân đời này, từ bỏ sắc thân để đi vào thai môn của thiện nữ, thay đổi một sắc thân mới, việc tôi đầu thai chuyển thế này chính là pháp "chiếm nhà" của Mật giáo.

Tương lai tôi sẽ là Hoạt Phật tái thế, có thể tái xuất độ chúng sinh, tôi muốn đầu thai chuyển thế là vì độ chúng sinh, điều này đúng với thệ nguyện của tôi, đại nguyện lực độ sinh đời đời kiếp kiếp, tôi không hề tự sa ngã.

Luân hồi chuyển thế đời này sang đời khác vốn là đặc tính của Rinpoche (Hoạt Phật), cũng là nhân tố lớn để Phật pháp trụ thế, là chân lý tuần hoàn luân hồi của vũ trụ. Sự truyền thừa của Mật giáo thực ra là một loại trí tuệ, chỉ cần tự tính (Phật tính) không bị thời gian tẩy xóa, không bị vật chất cám dỗ, không bị dục vọng vùi lấp, thì tự tính sẽ không thay đổi.

Bởi vì tôi là một hành giả, trí tuệ vốn đầy đủ, chỉ cần có cơ duyên, được khai phát, tôi sẽ có thể khởi phát chính pháp, ra hoằng pháp độ chúng sinh, tôi lại có thể ngồi trên pháp tọa cao, giúp đỡ những người mê lạc quên gốc, đây là trách nhiệm của tôi.
Tôi do dự phân vân, vấn đề của tôi là:
Thiện nữ khó gặp, chuyển thế tốt hơn chăng?
Hay là vãng sinh Ma Ha Song Liên Trì tốt hơn?

Trong thần hành, tôi bị vấn đề này làm phiền não, nếu tôi tiếp tục sống ở hồ Diệp Tử, liệu có thể sống được bao lâu nữa? Cuộc sống ẩn cư cô độc này chỉ có viết lách và tu pháp, cuộc đời đã là như vậy rồi, tôi sẽ càng ngày càng già, càng ngày càng bệnh, cuối cùng, vẫn phải từ bỏ thân xác này mà ra đi.
Tôi sống ở hồ Diệp Tử còn có hy vọng gì nữa không?
Còn có điều gì chưa buông bỏ được không?
Còn có tâm nguyện nào chưa hoàn thành không?

Về phương diện này, phương diện suy nghĩ về vấn đề, tôi đã buông bỏ tất cả mọi thứ thế gian rồi, tôi đã quen với cuộc sống thường nhật, tôi có thể kiên trì đến già đến chết, cũng không bước ra khỏi hồ Diệp Tử một bước, giờ đây tôi chỉ đang chờ đợi, chờ đợi chư tôn cho tôi biết, khi nào tôi có thể viên tịch!
Đây chính là:
Cõi biển vô biên biển là không
Hiện ra cung sen vốn có sẵn
Sinh tử vòng quanh đều tịnh thổ
Di Đà dung nạp cõi riêng này.

Tôi đợi thiện thệ vãng sinh tại hồ Diệp Tử, về cõi tịnh thổ, gặp Phật A Di Đà, gặp các bậc thượng thiện nhân có tốt hơn không?
Hay là?
Tôi đầu thai vào thai của một thiện nữ.
Tôi lại trở thành một đứa trẻ thông minh trí tuệ.
Lớn lên trong một gia đình giàu có, học hành, lập nghiệp, kết hôn. Thậm chí phấn đấu cả đời, vất vả đến già.
Bản chất ban đầu tôi là Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.
Nhưng, cũng có thể, môi trường về sau sẽ thay đổi quan niệm của tôi, Bồ Tát cũng có mê hoặc kiếp trước, không biết tôi có lạc vào đường khác không? Quên mất diện mục vốn có của mình.

Liệu tôi còn có thể thông linh không?
Liệu tôi còn có tư chất trời ban không? Thông hiểu Tam Tạng kinh điển, sinh ra đã biết được chính pháp và thực tu chính pháp không? Có thể độ chúng sinh không? Liệu tôi có dần dần thoái hóa mất đi công năng vốn có không, Phật tính vốn có có tự hiển lộ không?

Tôi sợ rằng một khi chuyển thế, lại trở thành phàm phu thế tục. Về phương diện giàu có, trở thành chủ tịch của một công ty lớn, về phương diện quyền quý, trở thành quan chức cao cấp.
Liệu tôi còn là Liên Sinh Hoạt Phật không?

Tôi chuyển thế chỉ để tu hành, để xuất gia làm hòa thượng, tu hành độ chúng sinh mới là ý nghĩa của cuộc đời, là điều đương nhiên phải làm, cống hiến năng lực của mình, giảng pháp, mở rộng ra khắp thế giới, có đóng góp cho chúng sinh.
Tu hành để hiểu rõ chân lý của vũ trụ:
Chư hành vô thường.
Chư pháp vô ngã.
Niết bàn tịch tĩnh.

Tôi muốn dạy cho người đời về thật tướng, về tự tính thanh tịnh tâm của tất cả chúng sinh, tôi dạy về Pháp thân, Pháp tính, Như Lai tạng, Chân Phật.
Tôi có thể từ tướng sinh diệt từ nhân duyên khởi dụng không?

Tôi phân vân rồi lại phân vân, rất muốn liều mình lao vào cửa thai, kết thúc kiếp này. Đã làm thì làm cho đến cùng, không nghĩ ngợi gì nữa, thu nhỏ thân thể nguyên thần lại, lao vào rốn của thiện nữ.
Nhưng, nghe một tiếng quát từ hư không:
"Liên Sinh, chớ có làm bừa, mau dừng lại! Mau dừng lại! Không được! Không được!"
Tôi ngẩng đầu nhìn lên.
Đúng là Vô Cực Diêu Trì Đại Thánh Tây Vương Kim Mẫu Đại Thiên Tôn, đầu đội mũ phượng, tay trái cầm đào tiên, tay phải cầm phất trần!
Kim Mẫu nói:
"Tại sao con vào thai này?"
Nước mắt tôi chảy dài, đáp:
"Sống chưa hẳn vui, chết có gì phải lo, con muốn đi!"
Kim Mẫu hỏi:
"Con có biết đây là thai nào không?"
"Là thai của thiện nữ."
"Tuy đúng là thai của thiện nữ, nhận xét của con không sai, nhưng sao Tử Vi chiếu mệnh, đây là thai của nhân vương, không phải thai của Pháp vương. Một khi con vào thai này, sẽ sống trong dinh thự nguy nga, ăn toàn sơn hào hải vị, ra ngoài có tài xế lái xe sang, người hầu vây quanh phục dịch, sinh ra là hoàng tử, tương lai là nhân vương."
"Thật vậy sao?" - Tôi giật mình kinh hãi.
"Một khi con làm nhân vương, con sẽ phải cai quản trăm họ của một quốc gia, nhưng con sẽ không được nghỉ ngơi, trong cuộc sống phải gánh vác vô số việc lớn nhỏ, dù có nhiều tinh thần đến đâu cũng sẽ bị thiêu đốt hết, thân mang phú quý, nhưng việc tu hành không thể xuất hiện trở lại, kiếp sau này của con, từ bỏ cuộc đời tu sĩ, nếm trải cảm giác phú quý, nhưng lại không còn thời gian cho bản thân, và kết cục là hưởng hết phú quý, tất cả trí huệ Phật trong kiếp sau đều tiêu tan."
"Ôi!" - Tôi há hốc mồm.
"Con có muốn nhập thai không?"
Tôi lùi lại: "Không muốn!"
Tôi hỏi Kim Mẫu: "Cuộc sống ở hồ Diệp Tử khi nào kết thúc?"
Kim Mẫu nói:
"Buông bỏ danh hiệu Liên Sinh Hoạt Phật tôn quý, cảm nhận cảm giác về không, thần hành và trí tuệ của con chẳng phải đã giải thoát rồi sao? Không còn giả dối, không còn nhút nhát, cũng không còn bản ngã, tất cả tự nhiên vô vi, rời xa thế tục đầy ganh ghét, oán hận, xảo trá, trở về với tự nhiên, đáng lẽ phải vui mừng chứ."
"Thân con có bệnh tật."
"Bệnh tật là bồ đề." - Kim Mẫu nói.
"Con khi nào rời khỏi cõi đời này?" - Tôi hỏi tiếp.
"Đến lúc sẽ biết." - Kim Mẫu đáp.
Diêu Trì Kim Mẫu dẫn tôi thần hành đến một nơi, Kim Mẫu bảo tôi: "Để con xem thử tâm của đệ tử mà con nhớ nhung. Đây là người con nhớ nhất."

Tôi nhìn thấy cảnh này, thở hắt ra một hơi lạnh. Lòng vô cùng đau xót, người đệ tử mà tôi nhớ thương đã thay đổi.
Thấy anh ta chặt nát pháp tướng Liên Hoa Đồng Tử, tháo bức ảnh lớn của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn xuống, thay bằng ảnh của một vị pháp sư khác.
Hóa ra tất cả chư tôn Mật giáo trong đàn thành đều bị quét sạch.
Anh ta nghe theo lời phỉ báng của người khác, liền ngưng tu tập Chân Phật Mật Pháp. Sách quy y, thọ giới, đốt hết thành tro, sạch sẽ không còn gì.

Sư phụ của anh ta giờ đã là người khác, không còn là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn nữa. Trước đây, tôi luôn ân cần dạy dỗ anh ta, tôi tin rằng anh ta sẽ là một người mạnh mẽ. Trí tuệ Như Lai vốn không phải người yếu đuối có thể kiên trì được, vì thế mà tôi bị người đời chê trách, nhưng, người mà tôi đích thân phó thác cũng không thể chịu đựng được sự rèn giũa của triết lý tự nhiên, kẻ yếu đuối không có tịnh tín, trong cảm xúc ẩn chứa nghi ngờ, sợ hãi, giả dối...
Đã thay đổi rồi. Tâm vô thường.

Anh ta đi theo các pháp sư khác, trong xã hội này, pháp sư tràn lan, ai cũng có một bộ giáo lý riêng, chỉ có ai là người tinh tường mới có thể phân biệt được:
Chính pháp.
Bàng môn.
Tà pháp.
Anh ta xem tôi là "kẻ mượn danh Phật", đã coi vị sư phụ hiện tại là biểu tượng của chính pháp, tôi thấy tâm của anh ta đã suy đồi và hư hoại từ lâu, anh ta đã ảnh hưởng đến các hành giả Chân Phật khác, họ đi theo anh ta, nhiều đệ tử trong lòng yếu đuối.

Vốn dĩ tôi là hành giả dũng cảm nhất, nghị lực của tôi phi thường, nhưng khi thấy đệ tử mà mình nhớ thương đã thay lòng đổi dạ, tôi không thể kiềm chế nỗi đau trong lòng, gánh nặng quá lớn, trong thoáng chốc, suýt chút nữa thì suy sụp, không muốn độ chúng sinh nữa. Kim Mẫu an ủi tôi rằng vẫn còn rất nhiều đệ tử tốt.
Kim Mẫu bảo tôi:
"Vô vi."
Kim Mẫu bảo tôi:
"Tùy thuận."
Kim Mẫu bảo tôi: "Tùy duyên an trú. Mọi khúc mắc rồi sẽ tan biến, mọi gánh nặng sẽ không còn tồn tại."


### 20. Tộc người lắc đầu trong hư không


Trong thần hành.
Tôi thấy một nhóm "thân trung ấm" tụ tập trên không trung, họ dường như không biết đi đâu về đâu, trí tuệ chưa khai mở, không thể phân biệt đây là tình huống gì.
Họ chỉ biết lắc đầu lay động, không có khả năng phán đoán, hoang mang giữa hư không mênh mông, hoàn toàn lạc lối, tôi gọi những người này là "tộc người lắc đầu" trong hư không.

Ở cõi Ta Bà, tôi biết có "tộc người lắc đầu", vậy "tộc người lắc đầu" là gì?
1. Chỉ biết theo đuổi niềm vui ảo.
2. Dùng thuốc lắc.
3. Sống theo cảm tính.
4. Ham cao chuộng xa, không thực tế.
5. Tâm lý thích náo nhiệt.
Tôi thấy rằng, những người này chưa từng trải qua rèn luyện, cũng chưa từng chuyển hóa tâm tính, hoàn toàn không có tu hành, họ không biết sống để làm gì? Cũng không biết chết để làm gì? Chỉ thể hiện cái tâm chấp trước tìm kiếm khoái lạc kích thích mà thôi.

Giới trẻ ngày nay đã sa đọa và hoang mang hơn, không ai dẫn dắt họ nên cuộc đời trôi qua vô ích. Cả đời chỉ biết theo dòng người và trôi qua các giai đoạn:
Học hành.
Sự nghiệp.
Hôn nhân.
Sinh con đẻ cái.
Bệnh tật tuổi già.
Cái chết.
Đây là quá trình sống của mỗi người, ai cũng giống nhau cả, vì thế mà giới trẻ cảm thấy vô vị, rồi tự đánh lừa bản thân, trở thành một phần của tộc người lắc đầu đi tìm khoái cảm kích thích.

Tôi tìm thấy một người trong tộc người lắc đầu giữa hư không và hỏi:
"Các người đang làm gì ở đây?"
Tộc người lắc đầu trả lời:
"Không biết."
"Tụ tập để làm gì?"
Đáp: "Chán quá."
"Có biết tâm không?"
Đáp: "Tâm là gì?"
Tôi hỏi tiếp: "Thể xác của các người đâu?"
Đáp: "Biến mất rồi!"
"Các người có hiểu thế nào là tịnh hóa, chuyển hóa, độ hóa bản thân không?"
Đáp: "Không biết."

Tôi không thể hỏi thêm được nữa, hỏi cũng vô ích thôi, những "tộc người lắc đầu" trong hư không này quả thật mang đầy đủ tướng phàm phu.
Cả đời họ chỉ biết ham muốn xác thịt, không bao giờ tự nhận biết tâm tính của mình hay sự giác ngộ bên trong, họ chưa từng gặp được pháp duyên, dù có gặp pháp duyên cũng bỏ lỡ, chưa từng giác ngộ, chưa từng tu hành.
Quả thật là:
Phàm phu không biết tâm đầy đủ.
Lục thông vô ngại khác người thường.
Chưa từng dùng tâm để tu trì.
Không đổi thân Phật mãi phàm phu.

Tôi xúc động nói với tộc người lắc đầu rằng, đời người có một nhân duyên lớn, đó chính là tu hành. Nếu không tu hành, linh hồn sẽ thoái hóa, nhân loại sẽ hư hoại, vậy thì có gì khác với những loài động vật vô kỷ luật kia?

Thánh nhân nói: "Ăn uống, sắc dục, là bản tính!" - đó chính là nói về bản tính con người thông thường. Nhưng con người sống không phải chỉ vì ăn uống, sắc dục mà thôi. Nếu chỉ có ăn uống sắc dục, thì người với thú có gì khác nhau? Tộc người lắc đầu dùng thuốc lắc, chỉ tạo ra đám đông tò mò và cảm giác khoái lạc nhất thời, thật vô nghĩa, phụ phàng cả một kiếp người.

Chỉ có sự giác ngộ vĩ đại mới có thể tạo ra ánh sáng thanh tịnh của trí tuệ, vượt qua tứ sinh lục đạo luân hồi, vượt qua u tối của tam đồ.

Lắc đầu là sự hủy hoại tâm hồn, là sự giết chết thời gian một cách vô vị, những bài học đau thương là do chính con người tự chuốc lấy, không bao giờ tìm thấy ánh sáng trong tâm. Các người đã tìm thấy chính mình chưa? Chính mình là gì?

Có người hỏi tôi:
"Ông là ai? Ông là thánh nhân phải không?"
Tôi đáp:
"Tôi không phải thánh nhân, tôi chỉ là một người ở ẩn, một người ở ẩn đã tìm thấy chính mình."
"Vậy ông tìm thấy chính mình là gì?"
"A Di Đà Phật."
"Ông là A Di Đà Phật sao?"
Có người nghi ngờ, có người bật cười.

"Sao không quy y A Di Đà Phật và về Tây phương tịnh thổ?"
Có người xúi giục:
"Cuộc đời này vừa nhàm chán vừa vô giá trị, văn minh khoa học mang đến tai họa, con người ngày càng man rợ, giết người, đốt phá, cướp bóc, xã hội đầy bạo lực. Chỉ có tộc người lắc đầu chúng tôi mới hiểu được cái không, cái vô, chúng tôi tìm kiếm không gian sống cho riêng mình, chỉ cần vui vẻ ở hiện tại là được, mặc kệ Tây phương Cực Lạc hay thanh tịnh quang minh gì đó."
"Đúng vậy!" - Có người phụ họa.
"Chuẩn luôn, đây mới là hiện tại!"
Những đạo lý tôi giảng giải đều trở nên vô ích.

Tôi kêu lớn:
"Nếu biết mộng ảo không thật, hãy tìm thân tâm an lạc!"
"Làm sao để thân tâm được an?"
Tôi ngâm kệ:
*Tự thân vốn là Di Đà Phật
Chẳng cần tu trì đã hiển bày
Hướng vào nội tâm mà tìm cầu
Di Đà xuất thế chính lúc này.*

Một người trong số họ đã nghe và từ bỏ tộc người lắc đầu, theo tôi niệm Phật mà đi!
Chúng tôi thần hành được một đoạn đường thì gặp sứ giả bắt hồn.
Sứ giả bắt hồn nói với tôi:
"Tôi đang định đi bắt tộc người lắc đầu đây!"
"Tộc người lắc đầu sẽ bị đưa đến cảnh giới nào?" - Tôi hỏi.
Sứ giả bắt hồn đáp: 
"Theo nhân duyên mà nói, vì họ lắc đầu lắc đuôi, vì đánh mất chính mình, không biết nhìn trước ngó sau, nên sẽ bị đưa về thế giới côn trùng."
"Thế giới côn trùng!" - Tôi kinh hãi.

Người đi theo tôi nghe xong thè lưỡi, cảm thấy may mắn vì mình không có gì phải hối tiếc. Chỉ có tìm ra bản tính của chính mình, khai mở trí tuệ nội tại để nỗ lực, trải qua rèn luyện, tinh tấn, đó mới là giá trị của cuộc đời. Nếu chỉ tìm kiếm kích thích trong đời, chính là tự mình chà đạp thời gian năm tháng, đánh mất phương hướng sáng tỏ của chân tướng.


### 21. Thần hành đến nhà của đệ tử


Trong lúc thần hành.
Tôi nghe thấy tiếng kêu thảm thiết: "Om guru liansheng siddhi hum. Sư Tôn cứu con với! Sư Tôn cứu con với!"
Tôi dừng chân, bước vào nhà một đệ tử, ban đầu tưởng chẳng có chuyện gì nghiêm trọng, chắc là có người sắp chết nên mới khóc than thảm thiết như vậy.
Đệ tử này chắc chắn đã từng nghe tôi thuyết pháp, vì anh ta đốt "hương hai đầu", tức là hương cầu cứu khẩn cấp. Bình thường chỉ cần đốt một đầu là đủ, nhưng anh ta đốt cả hai đầu, đặt trong lư hương nằm, nên rất dễ cảm ứng.

Khi đến nhà anh ta, tôi giật mình kinh ngạc, hóa ra trong nhà chỉ có vợ chồng và một đứa con, tổng cộng ba người mà thôi.
Nhưng, trong nhà lại có ba mươi con ma vô hình đang cư ngụ.

Người đệ tử này mua một căn nhà có âm khí nặng, mới dọn vào không lâu, đã lập đàn thành, mặc dù đàn thành cũng được kết giới, nhưng do âm quỷ quá mạnh nên đã xâm nhập cả vào đàn thành. Ba mươi con ma này vốn đã cư ngụ trong căn nhà. Sau khi kết giới, ngược lại khiến chúng khó chịu.
Ba mươi con ma này rất giỏi quấy phá.
Chúng hiện hình cho đứa trẻ thấy, khiến nó kêu thét, sợ đến sinh bệnh, ngày đêm không ngủ được, trở thành trẻ tăng động.

Vợ chồng hai người cũng liên tiếp mắc bệnh lạ. Tỉnh dậy thấy da thịt chỗ thì bầm tím, chỗ thì đỏ ửng, trong mơ bị ma đánh rất đau.
Tường có tiếng kỳ lạ, đồ đạc tự dịch chuyển, ống nước vỡ, gas rò rỉ không rõ nguyên nhân, đèn điện lúc sáng lúc tắt, nghiêm trọng hơn là trên mái nhà có tiếng bước chân, hai, ba mươi người, xếp hàng tiến bước, trong nhà thoang thoảng mùi tử khí.
Còn nữa...........

Một ngày nọ, vợ chồng đang cùng tu trước đàn thành, sau khi tu pháp xong, nhìn về phía đàn thành, bỗng thấy các vị tôn trên đàn thành đều nhe răng, le lưỡi dài ra, cười khúc khích điên dại, khiến hai vợ chồng hoảng sợ la lên có ma.
"Viết thư đến Chân Phật Mật Uyển ở Seattle ở Mỹ đi."
"Sư Tôn đã ẩn cư rồi."
"Nhưng Không Hành Mẫu sẽ chuyển tin đến Sư Tôn, Sư Tôn nhất định sẽ tu pháp."
"Thư thì tôi sẽ viết, nhưng tôi phải đốt hương hai đầu."
"Hương hai đầu là gì?"
"Sư Tôn dạy rằng, khi khẩn cấp thì đốt hương hai đầu để cầu cứu."

Khi tôi thần hành đến nhà đệ tử và thấy hơn ba mươi âm linh này, thật ra việc trong nhà có âm linh (linh hồn) là chuyện bình thường.
Có nhà thì có linh hồn tổ tiên, linh hồn trẻ thơ.
Có nhà thì có linh địa chủ, linh thổ địa.
Có nhà thì có linh khách viếng thăm, linh người thân.
Có nhà thì có linh thần, linh cư ngụ.
Miễn là mọi việc bình an, ai sống cuộc đời của người nấy, không làm phiền nhau, thì đó là chuyện bình thường.

Khi tôi vừa đến nhà đệ tử, đám quỷ giật mình kinh ngạc:
"Ngươi là ai?"
Tôi đáp:
"Quỷ Vương."
"Quỷ Vương ư? Không giống?"- Đám quỷ nghi ngờ.

Trong dịp Trung Nguyên phổ độ, tôi đã từng gặp hóa thân của Quan Thế Âm Bồ Tát là Tiêu Diện Quỷ Vương, nên tôi liền biến thành Tiêu Diện Quỷ Vương.
Quỷ Vương đầu đội mũ Quỷ Vương, phía trên có chủ tôn Quan Âm, tóc vàng xõa rủ bay phất phơ bốn phía, mặt mũi đen nhẻm như cháy, mắt trợn trừng hung dữ, răng trắng ởn nhô ra ngoài, lưỡi đỏ như máu thè ra, tay phải cầm gông xiềng trói quỷ, tay trái cầm gậy đánh quỷ.
Đám quỷ vừa thấy, hoảng hốt kinh hãi.
Tán loạn bỏ chạy tứ phía.

Nhưng tất cả đều bị thiên la địa võng bắn trở lại, hơn ba mươi con quỷ không một con nào thoát được, chúng rất ngạc nhiên, không biết ta sẽ xử trí chúng thế nào, chúng run rẩy sợ hãi, từng con một toàn thân phát run.
Đám quỷ cầu xin tôi: "Chúng tôi không muốn đầu thai!"
Tôi nói: "Các ngươi quấy phá quá đáng rồi."
Chúng cúi đầu không nói.
Tôi hỏi:
"Các ngươi còn chỗ nào để đi không?"
Chúng đáp:
"Chúng tôi vốn sống ở cây đa lớn, sau đó cây đa bị đốn đi, trở thành một con đường, vì không có chỗ nương thân nên mới đến ở căn nhà này, giờ đây, Tiêu Diện Quỷ Vương đã đến, chúng tôi không biết phải làm sao."
Tôi hỏi:
"Có muốn về Tây phương không?"

Chúng mở to mắt: "Chúng tôi đã trêu chọc đứa trẻ, khiến nó khóc lóc làm loạn, quấy phá vợ chồng họ, không bị đọa địa ngục đã là may lắm rồi, vậy mà Tiêu Diện Quỷ Vương còn muốn đưa chúng tôi về Tây phương, có phải nhầm phương hướng không?"
Tôi nói:
"Tôi sẽ đưa các người về hồ Diệp Tử của tôi trước, tôi sẽ dạy các người Phật pháp, cùng nhau học Phật pháp, tự nhiên sẽ được vãng sinh Tây phương."

Cuối cùng tất cả bọn chúng đều gật đầu, theo tôi về hồ Diệp Tử. Tại hồ Diệp Tử còn có rất nhiều quỷ vật đang theo tôi học Phật pháp đấy!
Tôi tùy theo căn cơ, từ nông đến sâu.
Niệm Phật tam muội.
Ban chu tam muội.
Tiểu thừa thiền. (Ngã không)
Đại thừa thiền. (Ngã pháp đều không)
Nhất hạnh tam muội.
Chân như tam muội.
Dạy họ trì minh, Hộ Ma, Tam ma địa.

Đây chính là: "Về nguồn tính bất nhị, phương tiện có nhiều cửa, thánh tính thông tất cả, thuận nghịch đều tiện lợi."

Tôi cũng dạy họ rộng tu phúc huệ, tích lũy công đức. Từ tư lương vị đến gia hành vị, từ gia hành vị đến kiến đạo vị, trong một sát-na lên sơ địa, tức được căn bản trí, rồi từ căn bản trí đến nhất thiết chủng trí, chứng ngộ thật tướng các pháp.

Một ngày nọ, tôi làm cúng dường cơm trắng, từng bát cơm trắng một, bày thành một hàng, thành một mặt, thành cả một khoảng không gian rộng lớn đầy ắp cơm trắng. Khiến các quỷ thần được no đủ.
Khi các quỷ thần đang ăn cơm trắng.
Một con quỷ đứng dậy nói với tôi: "Năm ngoái Sư Tôn nói sẽ đưa chúng con về Tây phương, nhưng chưa về được Tây phương, nay đến hồ Diệp Tử đã tròn một năm, mới biết đây chỉ là hồ Diệp Tử, chứ không phải Tây phương Cực Lạc thế giới!"
Nghe xong, tôi lặng thinh không đáp.

Lại có một con quỷ đứng dậy nói: "Nay tôi đã hiểu được một pháp, chỉ cần nhắm mắt rồi mở mắt ra, đã là Tây phương Cực Lạc thế giới, nếu không hiểu được điều này, thì không phải là đệ tử của Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn."
Con quỷ thứ ba đứng dậy nói:
"Cuối cùng tôi đã hiểu, tôi đã được diện kiến A Di Đà Phật!"
Con quỷ thứ tư đứng dậy nói:
"Khi Phật Đà ngày xưa thuyết giáo, là tùy theo căn cơ chúng sinh, có người dần dần minh tâm kiến tính, có người đốn ngộ tức thời minh tâm kiến tính. Có Tiểu thừa, Đại thừa, Kim Cương thừa, có không có có. Có tiểu, thủy, chung, đốn, viên. Có tạng, thông, biệt, viên. Tất cả đều rõ ràng minh bạch."

Lúc này, trong không trung hiện ra ánh sáng, mỗi luồng sáng khác nhau, đám quỷ vô cùng kinh ngạc và vui mừng. Có kẻ thấy ánh cầu vồng, có kẻ thấy ánh sáng đơn sắc, có kẻ thấy ánh sáng tràn ngập, có kẻ thấy ánh sáng nhỏ như hạt đậu, có kẻ thấy ánh sáng như mưa rơi, có kẻ thấy ánh sáng như một ngón tay, có kẻ thấy ánh sáng to như đấu, mỗi người thấy một khác.
Lại có mây lành sáng rực, bay lên, khi chìm khi nổi, khi to khi nhỏ.

Trong đám mây lành, một Quỷ Vương xuất hiện, chính là Tiêu Diện Quỷ Vương hóa thân của Quan Thế Âm Bồ Tát. Tuy hình dáng Quỷ Vương khiến người ta khiếp sợ, nhưng ánh sáng rực rỡ tỏa ra khiến người nhìn thấy cảm thấy mát lành trong tâm. Đây chính là tướng bất khả tư nghì của Như Lai, là bản tâm từ bi cứu độ chúng sinh vậy.

Tiêu Diện Quỷ Vương nói:
*Hư không vô phân biệt. Thiên nhân bất động chúng.
Thanh tịnh trí hải sinh. Như Tu Di sơn vương.
Thắng diệu vô quá giả. Thiên nhân trượng phu chúng.
Cung kính nhiễu Liên Sinh. Hoạt Phật bản nguyện lực.
Tuyệt vô không quá giả. Năng linh tốc mãn túc.
Công đức đại bảo hải. Như Di Đà trụ trì.*

Tôi chắp tay.
Đám quỷ chắp tay.
Tiêu Diện Quỷ Vương nói:
"Thế giới Cực Lạc có cõi Phàm Thánh Đồng Cư, cõi Phàm Thánh Đồng Cư này cũng chia làm hai loại: đầu tiên gọi là Đồng Cư Uế, tiếp theo gọi là Đồng Cư Tịnh. Đồng Cư Uế đầu tiên chính là loại như Ta Bà này, những người ở trong đó có cả phàm lẫn thánh. Hôm nay Liên Sinh Hoạt Phật không hề nói dối, hồ Diệp Tử có cả phàm lẫn thánh, đây chính là Đồng Cư Uế vậy. Ta nay hiện thân, là thấy các ngươi đã dần dần đốn ngộ được thanh tịnh, nên lời hứa không mất, sẽ đưa mọi người đến cõi Phật Cực Lạc Đồng Cư Tịnh, quả báo thù thắng, không gì có thể sánh được."
Đám quỷ vui mừng nhảy nhót.
Tôi liền chắp tay lễ kính:
"Nam mô ba mươi sáu vạn tỉ, mười một vạn, chín nghìn năm trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật, chỉ mong chúng sinh, thường niệm danh Phật, đều được cứu độ."


### 22. Sơn Đại Vương mời khách


Trong thần hành.
Tôi bay qua một đỉnh núi cao, ngọn núi này không phải tầm thường, tuy không sánh được với năm ngọn núi nổi tiếng là Thái Sơn, Hành Sơn, Hoa Sơn, Hằng Sơn, Tung Sơn, cũng không phải là Côn Lôn Sơn.
Nhưng, ngọn núi này hội đủ "lý khí".
Chấn sơn tầm long thuộc quẻ khí, 
Chấn cần quẻ khí chính cư đông, 
Chấn sơn mười lăm ba mươi bước, 
Trâu dê phú quý càng anh hùng.
Khảm chiết thủy khí bước lên non, 
Đo non bước nước biết huyền bí,
Phụ mẫu càn khôn huyệt cần tri, 
Mão dậu sớm chiều định tiết khí.

Ngọn núi này, cây cối xanh tươi đẹp đẽ, dòng nước uốn lượn bao quanh, núi đá hình thù kỳ lạ, tự nhiên hòa quyện, giữa gió mây, như một chốn động thiên phủ địa của thần tiên vậy.

Ngọn núi này, thực ra cũng có động tĩnh, động là mây nước, tĩnh là cây đá, cái gọi là âm dương động tĩnh, chính là nguồn gốc tu luyện của thần tiên vậy, thần tiên thành tựu tính mệnh, tu công luyện khí, trời đất người hợp nhất, tự nhiên với thần tiên là một thể.

Cái gọi là:
Đạo ở trong ta.
Ta ở trong Đạo.
Không trong không ngoài.
Hoàn toàn là một.

Khi tôi thần hành qua ngọn núi này, không khỏi nhớ lại, ngày xưa, khi xem thiên văn quan sát địa lý, ngọn núi này quả thật là một ngọn núi đẹp.

Bất chợt, tôi thấy trên đỉnh núi, có rất nhiều người đứng, thực ra họ đều không phải là người, nhìn hình dáng khí chất, không giống thần tiên, cũng không phải là yêu tinh thủy quái, có lẽ là những vị thần nhân được hình thành nhờ địa linh.
Tôi chắp tay.
Họ cũng chắp tay.

Một người trong số họ nói:
"Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, Sơn Đại Vương của chúng tôi mời ngài tham dự đại tiệc."
"Ồ! Ngươi biết ta sao?" - Tôi rất ngạc nhiên.
"Ẩn sĩ hồ Diệp Tử, ai mà không biết!"
Tôi thầm nghĩ: "Hội không phải hội tốt, tiệc không phải tiệc lành, người thiện không đến, kẻ đến không thiện."
(Tuy nghĩ vậy, nhưng không tiện nói ra.)
Tôi hỏi:
"Sơn Đại Vương là ai?"
Đáp: "Gặp mặt sẽ biết."

Tôi cũng không khách sáo, đi theo đám đông, bước vào một động thiên phủ địa, động thiên phủ địa này toàn được làm bằng ngọc thạch, tỏa ánh sáng u tối, chính giữa là Bạch Ngọc Đường, lầu gác khắp nơi, đài trang hoàng bảy báu, lan can làm bằng san hô, vườn tược gấm hoa, quả thực chẳng thua kém gì cung điện của vua chúa trần gian.

Trong đại sảnh, những chiếc ghế sang trọng đã được bày biện.
Nhiều người đã an tọa trên ghế.
Một chỗ ngồi được dành cho Sơn Đại Vương, và một vị trí chủ tọa khác, không ngờ lại dành cho tôi. Trong lòng tôi nghĩ, rõ ràng đây là việc đã được sắp đặt từ trước.
Sơn Đại Vương bước ra, mặc áo lông vũ thông thiên.
Vừa nhìn thấy, tôi vô cùng kinh ngạc, hóa ra đó là một người bạn tu đạo từ nhiều năm trước, họ Thái. Ông ta chủ trương trong thân người có ba vạn sáu nghìn vị thần, trấn giữ các bộ phận trong cơ thể, người tu đạo cần điều khí sinh tân, giữ gìn tinh khí thần, tồn tưởng niệm chân, tĩnh tọa thủ nhất.

Đạo sĩ họ Thái trì tụng "Hoàng Đình Kinh", niệm chú kim quang, phục khí, nuốt nước miếng, tu thanh tịnh.
Ông ta thích:
Quan sát ánh sáng của nhật nguyệt tinh.
Nhắm mắt lắng tâm thông thiên giới.
Tu tập tồn tưởng.
Hóa ra ông chính là Sơn Đại Vương.

Chúng tôi gặp nhau rất vui mừng, ông ấy mời tôi dùng cơm và giới thiệu cho tôi gặp mọi người, có người quen, có người không quen. Sơn Đại Vương họ Thái quả thật có tấm lòng thành, những món ăn được bày ra không chỉ là sơn hào hải vị, mà gần như toàn là những món quý hiếm trong động phủ thần tiên, thường ngày không thể nào được thưởng thức.
Những món ngon này được chuẩn bị đặc biệt:
Sen nở rực rỡ.
Tâm đài hoa.
Bột ngọc trai long lanh.
Nhân sâm ngọt như mật.
Hoa nghìn cánh kỳ lạ.
Rượu tiên tự nhiên.
Tôi ăn uống thật vui sướng, những món này ở nhân gian hoàn toàn không thể nào được thưởng thức. Không ngờ chúng tôi đã lâu không gặp, hôm nay tái ngộ lại có một phen thịnh tình như vậy, tôi dường như không còn gì tiếc nuối, nhân duyên như thế này quả thật là nghìn năm một thuở, không phải ngẫu nhiên.
Cơm ngon rượu say.

Sơn Đại Vương nói:
"A Di Đà Phật và phàm phu, tuy có khác biệt giữa mê và ngộ, nhưng tâm Phật và tâm chúng sinh, rốt cuộc không hai."
Tôi nói:
"Cõi Tây phương An Lạc, cách đây mười vạn ức, với tâm nhỏ bé của tôi, vốn không có gì khác biệt."
Sơn Đại Vương nói:
"Thế này thì tốt rồi, vốn không có gì khác biệt, lần này, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn nhất định phải giúp một tay!"
Tôi nghe xong, sững người.
"Giúp việc gì?"
Sơn Đại Vương nói: 
"Lần này mời ngài đến, không có việc gì khác, chỉ vì ở ngọn núi này của tôi có rất nhiều kỳ nhân tu đạo, có người tu 'thiên nguyên', có người tu 'cổ kính', có người tu 'thoát xác', có người tu 'nội cảnh', có người tu 'bản chân', có người tu 'đan hỏa', có người tu 'phi kiếm', có người tu 'âm dương'... Những người tu đạo này trình độ không đồng đều, có mấy vị đạo sĩ đã lên thiên giới, trộm sách quý của thiên giới, lại trộm cả rượu tiên tự nhiên, vì thế đã phạm thiên điều..."
"Á!" - Tôi vô cùng kinh hãi.

Hóa ra những món ăn tôi vừa dùng không phải là cao lương mỹ vị của trần gian, cũng không phải là thức ăn thông thường của địa cư thiên, mà là đồ trộm được từ thiên giới, lần này tôi ăn trộm của ngon trên thiên giới, chẳng phải cũng đã phạm thiên điều rồi sao, phải làm sao đây, lẽ ra tôi không nên tham ăn như vậy.

Sơn Đại Vương nói với tôi:
"Mời ngài đến đây là bất đắc dĩ, xin hãy tha thứ. Bởi vì chúng tôi có đạo sĩ giỏi về bói toán, chuyên tinh nghiên cứu, biết phép xem đèn, thuật Hoàng Cực Dịch, phép tính phúc lộc của bốn dân [sĩ, nông, công, thương], phép Ất Kỷ, phép chiêm tinh và các thuật khác. Họ biết được ngọn núi quý này sẽ bị lửa trời thiêu rụi."
"Núi bị thiêu rụi thì sao?" - Tôi hỏi.
"Khi núi này bị thiêu, các đạo sĩ tu hành trong núi không còn chỗ để đi, động phủ của tôi sẽ hóa thành tro tàn, cỏ cây muông thú trên núi đều hóa thành tro bụi! Tất cả đều trở về hư không."
"Sao lại ghê gớm đến thế?"
"Đó là Hỏa Nha Trận."
Sơn Đại Vương và các đạo sĩ đều nhìn tôi, tôi sững người.

Sơn Đại Vương và các đạo sĩ cùng chắp tay hướng về phía tôi:
"Chúng tôi biết Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn và Thần Chúc Dung (Thần Lửa) là chỗ thâm giao, xin nhờ Hoạt Phật nói giúp một tiếng với Thần Chúc Dung."
"Đã phạm thiên điều, làm sao còn thương lượng được!" - Tôi gãi đầu.
"Mạng sống của chúng tôi đều trông cậy vào Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, mong ngài ra tay cứu giúp, ra tay cứu giúp!"

Một đạo sĩ bỗng quỳ xuống.
Có người nghẹn ngào ngâm thơ:
*Công án đã thành không thương lượng.
Đã phạm thiên điều phải đốt núi.
Chỉ cầu Di Đà đại bi độ.
Xin chiếu một tia bạch liên quang.*

Tôi thở dài, biết rằng Sơn Đại Vương và các đạo sĩ, tuy chưa tu thành tiên, nhưng cũng không phải yêu ma quỷ quái, trong lòng tôi đã nảy sinh lòng từ bi thương xót, tôi nghiến răng, gật đầu, quyết định không thể không giúp việc này.
Sơn Đại Vương họ Thái và các đạo sĩ nói:
"Quả nhiên nghĩa khí!"
Tôi nói:
"Dù có linh đơn trường sinh, dù có vạn phép tu luyện, không bằng gấp tu chính pháp, tịnh thổ mới là an lạc."
Mọi người gật đầu.
Lần thần hành này của tôi, quả thật là để ngăn cản đường đi của Thần Chúc Dung trong Hỏa Nha Trận.
Tôi cố ý hỏi:
"Đi đâu đây?"
Chúc Dung đáp: "Đốt núi."
"Đốt núi, nhưng núi rộng bao nhiêu, dài bao nhiêu, lớn cỡ nào?""
Chúc Dung lúc này bị tôi hỏi đến cứng họng. Theo tôi biết, Thần Chúc Dung là hậu duệ của Thần Mặt Trời Viêm Đế, Thủy Thần Cộng Công cũng vậy, Thổ Thần Hậu Thổ cũng thế, Thần Thời Gian Ế Minh cũng vậy, Viêm Đế có một người con gái, chính là Diêu Cơ, cũng chính là Vân Hoa phu nhân ở Vu Sơn/

Theo như Vân Hoa phu nhân kể với tôi:
"Tận cùng phương Nam, Xích Đế Chúc Dung cai quản một vùng rộng một vạn hai nghìn dặm. Vợ của Viêm Đế sinh ra Viêm Cư, Viêm Cư sinh ra Tiết, Tiết sinh ra Hí Khí, Hí Khí mới sinh ra Chúc Dung, vị Chúc Dung này không hiểu về con số, chỉ biết đốt lửa, chẳng quan tâm lớn nhỏ."
Vì thế tôi mới hỏi Chúc Dung rộng bao nhiêu dài bao nhiêu lớn cỡ nào?
Chúc Dung lập tức cứng họng.

Tôi nói:
"Hãy đốt một cây ở Nam Sơn đi!"
"Như thế sao gọi là đốt núi được?" - Chúc Dung nói.
Tôi nói:
"Chẳng phải ngươi đã nghe, một đốm lửa nhỏ có thể thiêu rụi cả đồng hoang. Đốt một cây ở Nam Sơn, từ một cây sẽ lan sang nhiều cây, rồi cả núi sẽ cháy, như vậy chẳng phải là đốt núi sao?"
Thần Chúc Dung cười ha hả:
"Nói cũng phải."

Thần Chúc Dung dẫn Hỏa Nha Trận chỉ đi đốt một cây ở Nam Sơn. Lần này, tất cả các con quạ lửa đều thong dong, chỉ một con quạ phun lửa rồi rút quân về, coi như xong việc.

Tôi đã mời Thần Thủy Ngọc canh giữ bên cạnh cây ở Nam Sơn. Khi quạ lửa vừa phun lửa xong và quay đi, Thần Thủy Ngọc liền phun nước dập tắt ngọn lửa. Nếu không dập tắt thì quả thật sẽ cháy núi. Có thể thấy lửa rất lợi hại, giống như nơi ở của Diêu Trì Kim Mẫu, bên ngoài được bao bọc bởi nước, xung quanh là núi lửa, trong núi đều sinh trưởng giữa lửa cháy, mưa to cũng không dập tắt được, vì thế phong cảnh tuyệt đẹp ở Diêu Trì thật khó mà đến được!

Nghe nói:
Sơn Đại Vương họ Thái và các đạo sĩ vô cùng cảm kích tôi. Sau này, nhiều người trong số họ tu tập pháp môn Di Đà, phát nguyện hành trì và vãng sinh về cõi tịnh thổ Tây phương Cực Lạc.
Thiên Đế (Đao Lợi Thiên Chủ) cũng biết chuyện này.
Ngài đã quở trách Thần Chúc Dung.
Thiên Đế rất bao dung với Thần Chúc Dung, có lẽ vì hai vị là họ hàng xa, hoặc có lẽ vì từ lâu đã biết bản tính của Thần Chúc Dung là như vậy.

Thiên Đế cũng biết việc này do tôi làm, biết thần hành của tôi cũng lấy lòng từ bi cứu độ chúng sinh làm khởi điểm, có thể nói là nương nhờ Phật lực từ bi, thống nhiếp các căn cơ, không sót một ai, ngay cả những phàm phu nghịch ác cũng không để sót một người, đây gọi là che chở hết người thượng-trung-hạ căn, thu nạp hết cả người giỏi lẫn người kém.

Thời kỳ mạt pháp, căn cơ con người thấp kém, có đạo sĩ tu tiên tất nhiên phải độ, lại càng không bỏ những phàm phu bị trói buộc, cứ thế mà làm thôi!

Nhân việc này, viết một bài kệ:
*Người bảo Cực Lạc là nhà ta
Tự cười thần hành núi nước xa
Một điểm từ tâm treo ánh tà
Việc đời huyễn ảo gửi không hoa.*


### 23. Cũng là thần hành


Trong thần hành.
Tôi thấy một người đang thần hành rất kém cỏi. Tại sao gọi là kém cỏi? Thứ nhất, anh ta bay rất thấp; thứ hai, phong thái thô thiển, không tự chủ được; thứ ba, anh ta phát ra ánh sáng mờ.

Tôi đặc biệt chú ý người này. Tại sao phải chú ý? Anh ta không giống Phật Bồ Tát, cũng không phải tiên, không phải thần, không phải thân trung ấm (linh hồn), cũng không phải tinh linh (sơn tinh thủy quái). Rõ ràng đây chỉ là một người, sao lại có thể thần hành được?

Tôi đành phải đi theo anh ta, vì tôi cảm thấy người này khá nguy hiểm, thần hành của anh ta lảo đảo chao đảo, như người say rượu lái xe vậy. Tôi đi theo anh ta, may mắn là không xảy ra chuyện gì, sau khi theo dõi một lúc, anh ta cuối cùng cũng tìm được đường về chỗ của mình, tôi để ý nơi này và giật mình, hóa ra là bệnh viện tâm thần.

Thì ra người thần hành này là bệnh nhân tâm thần, anh ta đang mơ, linh hồn chạy ra ngoài, đi lang thang khắp nơi.
Tôi không nhịn được cười.
Hóa ra đó là một người "vô gia cư" về mặt tinh thần.
Ban đầu tôi không muốn để ý đến người này, nhưng tôi phát hiện ra một điều kỳ lạ, hóa ra trên người anh ta phát ra ánh sáng lờ mờ, khi tôi nhìn kĩ ánh sáng đó, thì đó là một lá bùa hộ thân, một lá bùa hộ thân của Chân Phật Tông, chính nhờ ánh sáng của lá bùa hộ thân này mà anh ta mới tránh được sự nhập thân của sơn tinh thủy quái và các loại yêu ma quỷ quái.
Lá bùa hộ thân này là ai cho vậy?
Tôi kiểm tra thì mới biết hóa ra người dì của anh ta là đệ tử Chân Phật Tông.

Người này khi phát bệnh, ban đầu là mộng du, sau đó nằm xuất thần, tỉnh dậy nói toàn những câu chuyện thần thoại kỳ quặc.
Lúc thì nói mình là Ôn Phủ Thiên Tuế.
Lúc thì nói mình là Hồng Hài Nhi.
Lúc thì nói mình đánh nhau với Tôn Ngộ Không.
Lúc thì nói mình đã ăn trộm đào tiên của Diêu Trì Kim Mẫu, rồi đánh nhau với mười hai tiên cô, và các tiên cô đều thua.
Rồi lại nói Tế Công Hoạt Phật phái mình xuống trần gian để cứu độ chúng sinh, còn uống rượu tiên của Tế Công Hoạt Phật nữa.
Tóm lại, những câu chuyện kiểu này nhiều vô kể........

Do anh ta đeo bùa hộ mệnh của tôi, sau nhiều ngày quan sát thần hành, tôi phát hiện tâm thần anh ta rối loạn, nguyên thần bất ổn, độ nhạy cảm cao, ảo giác và ảo tưởng xuất hiện đầy rẫy, nghiệp chướng chất chồng.

Vì anh ta thờ cúng Ôn Phủ Thiên Tuế, nên hiểu lầm mình là hóa thân của Ôn Phủ Thiên Tuế, thay trời tuần tra, nghênh ngang tự đắc.
Khi anh ta thần hành vào rừng, bị khỉ vây đánh, anh ta tự cho mình là Hồng Hài Nhi đánh nhau với Tôn Ngộ Không.
Khi thần hành, anh ta ăn trộm táo trong vườn, có mười hai con bướm bay quanh, anh ta lại bảo mình ăn trộm đào tiên của Diêu Trì Kim Mẫu, đánh nhau với mười hai tiên cô, các tiên cô đều thua chạy, thực ra không phải tiên cô mà là bướm.
Anh ta uống nước bẩn ở nghĩa địa, lại bảo đó là rượu tiên.
Tự mình điên điên khùng khùng, lại bảo Tế Công Hoạt Phật sai xuống trần gian cứu đời.
Tự ăn một con sâu róm, rồi bảo đã đánh bại Bạch Nương Nương.
Đó chính là hành vi của vị huynh đệ bệnh tâm thần này.

Điều khiến tôi kinh ngạc nhất là anh ta kể đã từng đến Tây phương Cực Lạc, quả nhiên có làn gió vi diệu nhẹ nhàng, quả nhiên có tiếng chim hót, quả nhiên muốn ăn gì được nấy, quả nhiên muốn mặc gì được nấy, nơi ở rất tự tại tiêu dao, có thể tùy ý du hành đến bất kì thế giới nào, không phải lo lắng gì cả, không cần làm việc, đất đai tự nhiên sinh ra mọi thứ.

Tôi kiểm tra một lúc mới phát hiện ra.
Anh ta thần hành đến nước Cây Dâu.
Cây dâu rất lớn, quả thật có gió nhẹ thổi.
Có tiếng chim hót.
Trên cây dâu có tằm, chuyên ăn lá dâu, ăn hết lại mọc, ăn mãi không hết.
Tằm tự nhả tơ, như y phục trên trời, quả nhiên mặc áo như kén.
Tằm ở trên lá dâu, tự tại tiêu dao.
Tằm đi dạo trong cây dâu, mười phương thế giới đi không hết.
Cây dâu tự nhiên sinh ra lá, đương nhiên không cần làm việc, ăn, mặc, ở, đi lại hoàn toàn không phải lo.
Anh ta lại xem nước Cây Dâu như Tây hương Cực Lạc, đây là điều tôi không thể ngờ tới.

Trong kinh "Đại thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác", phẩm hai mươi "Đức phong hoa vũ" có nói rằng:

Ở cõi Phật ấy, mỗi khi đến giờ thọ trai, tự nhiên gió đức nhẹ nhàng thổi qua các lưới báu và cây báu, phát ra âm thanh vi diệu, diễn thuyết về khổ không, vô thường, vô ngã và các ba-la-mật, lan tỏa muôn loại hương thơm thanh nhã.

Những ai nghe được, tập tính trần tục tự nhiên không khởi, gió chạm vào thân an hòa thích ý, như tì kheo chứng diệt tận định. Gió lại thổi qua rừng bảy báu, hoa bay tụ lại, muôn màu ánh sáng tràn ngập cõi Phật, theo thứ tự các màu mà không xen tạp. Mềm mại sáng bóng như bông, bước chân lên lún sâu bốn tấc, nhấc chân lên rồi lại phục hồi như cũ.

Sau giờ thọ trai, những hoa ấy tự chìm xuống, đại địa thanh tịnh, lại mưa hoa mới, tùy theo thời tiết, trở lại khắp nơi, không khác gì trước, như vậy sáu lần.
(Đoạn kinh văn này khiến anh ta lầm tưởng nước Cây Dâu là Tây phương Cực Lạc.)

Cần biết rằng, Tây phương Cực Lạc thế giới là:
Tất cả chúng sinh, hoặc đã sinh, hoặc đang sinh, hoặc sẽ sinh, đều được thân tướng vi diệu như vậy, hình mạo trang nghiêm, phúc đức vô lượng, trí tuệ sáng suốt, thần thông tự tại.
Thọ dụng đủ loại, tất cả sung túc, cung điện, y phục, hương hoa, tràng phan bảo cái, vật dụng trang nghiêm, tùy ý cần gì đều như ý nghĩ.
Lại nữa, ánh sáng của hoa có vô lượng màu sắc.
Cũng không có tên gọi của năm tháng kiếp số, thọ mạng vô lượng.
(Tuyệt đối không phải là nước Cây Dâu.)

Ban đầu tôi không muốn can thiệp vào trường hợp của vị huynh đệ bệnh tâm thần này. Loại bệnh tâm thần này dường như có xu hướng ngày càng tăng, đặc biệt là những người bị tinh linh nhập. Nhưng khi thấy anh ta đeo bùa hộ mệnh của Chân Phật Tông, tôi không thể làm ngơ được. Có lẽ đây cũng là một cái duyên! Trên bùa còn có pháp tướng của Liên Hoa Đồng Tử!

Tôi đưa tay, nắm lấy nguyên thần thần hành của anh ta, đưa anh ta trở về thân xác, sau đó phong ấn huyệt bách hội - trục chính yếu của cơ thể anh ta. Từ đó về sau, anh ta không thể thần hành ra ngoài được nữa.

Vị bệnh nhân tâm thần này tuổi còn trẻ, nhưng vì thần hành quá nhiều nên thân thể rất suy nhược, mê man không tỉnh táo, sắc mặt cũng rất tái nhợt. Tôi mời Thổ Địa đến giúp đỡ, để anh ta được nghỉ ngơi yên giấc trong hai ngày. Khi tỉnh dậy, tinh thần đã khá hơn nhiều, ăn uống trở lại bình thường, không còn biểu hiện suy nhược nữa.
Bác sĩ tâm thần chẩn đoán anh ta đã bình thường.
Gia đình cũng thấy anh ta đột nhiên khỏi bệnh.
Vui mừng nhất là người dì, cho rằng bùa hộ mệnh có tác dụng.

Chỉ có tôi biết rằng, bệnh của anh ta có thể khỏi không phải là kỳ tích, mà là tùy duyên cứu độ. Trên thế gian này, người cần được cứu độ quá nhiều, nếu lần nào cũng phải cứu thì thực sự cũng không cứu hết được, việc cứu độ này hoàn toàn do duyên phận, khi duyên đến thì tôi cứu, không có duyên thì để dịp sau vậy!


### 24. Tiễn người thân đến Tây phương


Có một người thân của tôi từ khi còn trẻ đã tin theo pháp môn Tịnh độ niệm Phật. Tôi thường khuyến khích người ấy phải niệm Phật không ngừng trong từng giây phút.

Ở đây, tôi xin giới thiệu sơ lược về nguồn gốc tông phái Tịnh Độ:
Nguồn gốc Tịnh Độ tông - Đại sư Huệ Viễn ở Lư Sơn đã sáng lập tông phái này dựa trên ba kinh Tịnh Độ, đó là "Thập Lục Quán Kinh", "Vô Lượng Thọ Kinh", "A Di Đà Kinh", và thêm một luận là "Vãng Sinh Luận". Tông phái chủ trương mọi người niệm Phật cầu sinh về Tây phương tịnh thổ, vì vậy được gọi là Tịnh Độ tông. Đại sư Huệ Viễn là vị sơ tổ của Tịnh Độ tông Trung Quốc. Do pháp môn Tịnh Độ niệm Phật đơn giản dễ thực hành, nên cho đến nay vẫn hưng thịnh không suy, được đa số hành giả rất hoan hỷ phụng hành.

Nguyên lý của Tịnh Độ tông - Phật A Di Đà đã phát bốn mươi tám đại nguyện, chỉ cần trì danh hiệu của Ngài thì nhất định được cứu độ. Bởi vì chúng sinh cõi Ta Bà chìm đắm trong biển khổ, sinh tử luân hồi không dứt, mê hoặc tạo nghiệp, không thể tự độ, nên chư Phật thương xót, đặc biệt nói pháp môn Tịnh Độ, khiến họ chán lìa cõi Ta Bà, vui thích hướng về Cực Lạc, phát nguyện cầu sinh Tịnh Độ. Đây là pháp môn vi diệu và dễ thực hành nhất trong các pháp môn của Đức Phật.

Pháp tu của Tịnh Độ tông - phải bắt đầu từ "tín, nguyện, hành", tin vào tịnh thổ, sinh về tịnh thổ, hành trì tịnh thổ, nương theo bốn loại pháp môn niệm Phật để tu hành trì danh niệm Phật, quán tưởng niệm Phật, quán tướng niệm Phật, thực tướng niệm Phật hoặc Thập lục quán hoặc Vô tướng niệm Phật. Bởi vì Phật A Di Đà có thệ nguyện rộng lớn, vạn đức đầy đủ, các nghiệp đều tu tập, nhất tâm thọ trì, lâm chung vãng sinh, hoa nở thấy Phật.

Chứng minh của Tịnh Độ tông - Kinh A Di Đà nói rằng, nếu có người bảy ngày bảy đêm, nhất tâm bất loạn, khi lâm chung, Tây phương Tam Thánh đến tiếp dẫn, liền được vãng sinh Cực Lạc thế giới, hóa sinh trong hoa sen, vào địa vị bất thoái. Ở thế giới Cực Lạc, hoan hỷ nghe Phật pháp, chứng ngộ vô sinh nhẫn, các bậc thượng thiện nhân, tụ hội một nơi, cũng có thể đến mười phương thế giới cúng dường chư Phật, cũng có thể trở về cõi Ta Bà giáo hóa chúng sinh.
Tin vào thế giới Cực Lạc, trang nghiêm tột bậc.
Nguyện cầu sinh Tây phương, lìa khổ được vui.
Hành trì pháp môn niệm Phật, tịnh niệm tương tục.
Quả vị thấy Di Đà, nghe pháp ngộ đạo.

Tôi nói:
"Tu hành Mật giáo cũng cần có ba tư lương tín-nguyện-hành, chỉ cần tu đến khi tương ứng với pháp Thượng sư, tương ứng với pháp Bổn tôn, Thượng sư và Bổn tôn sẽ không từ bỏ, khi tương ứng thì có thể đến được tịnh thổ của Bổn tôn."
Tôi nói:
"Mật giáo có Trí huệ Bổn tôn (tha lực), Tự tính Bổn tôn (tự lực), Pháp giới chư tôn (pháp giới lực), vì vậy, tu hành Mật giáo từ nông vào sâu, nếu không phải căn cơ lớn thì không thể tu trì, đạo lý tức thân thành Phật cũng ở đây."

Được rồi, ở đây, tôi muốn nói về người thân tin theo Tịnh Độ niệm Phật kia.
Người ấy già và bệnh. (Già và bệnh là không thể tách rời.)
Lúc đó tôi đang bế quan ở hồ Diệp Tử, không thể trực tiếp đến thăm người ấy, nhưng trong thần hành, tôi biết người ấy bệnh rất nặng.
Đặt ống.
Mở khí quản.
Đây là:
Già bệnh sao không biết ngơi nghỉ
Đừng mơ hồ nữa mau quay đầu
Bệnh độc đều là do nghiệp tạo
Thanh tịnh nghiệp lực mới đi được.

Khi vô thường đến, tôi thần hành đến bên người thân. Tôi rất kinh ngạc, vì người ấy hồi quang phản chiếu, trong tâm thức của họ, hiện ra hình ảnh tất cả tổ tiên đã khuất vây quanh giường bệnh, chồng của họ, con trai cả, và tất cả người thân đã mất đều xuất hiện, muốn đến đón họ về cõi âm. Xin mọi người hãy nhớ, tuyệt đối không được đi theo, khi tổ tiên người thân đến đón mình, thường là do tình thân không thể cắt đứt, đó là con đường luân hồi.

Tôi lập tức dùng pháp kết giới, thả xuống lưới kim cang, ngăn cách người ấy với tổ tiên đời trước. Những tổ tiên đời trước này không thể dẫn người ấy đi được, nên lần lượt rời đi, không còn xuất hiện bên giường bệnh nữa. Có lưới kim cang rồi, tôi yên tâm hơn nhiều.

Trước đó, tôi đã tặng cho người ấy một chuỗi hạt mà tôi đã từng trì niệm Phật hiệu và thần chú, rồi tôi ghé sát tai người ấy, ân cần dặn dò:
"Phải niệm Phật! Phải niệm Phật!"
"Miệng không niệm được thì tâm phải niệm."
"Đợi Phật đến tiếp dẫn mới được đi!"
Chuỗi hạt tôi tặng, người ấy nắm chặt trong tay, trong tâm niệm Phật, hồng danh bốn chữ A Di Đà Phật này chưa từng quên, đã học từ niệm Phật đường từ khi còn trẻ, đã nhiều năm nhiều năm rồi, cả đời người ấy, tuy không học được nhiều chữ, nhưng, nhớ niệm A Di Đà Phật, đây cũng là thiện nhân duyên của người ấy vậy.

Tôi cảm thấy, cuộc đời không nhất thiết phải cao quý giàu sang, những phú quý vinh hoa này cần phải gieo trồng thiện nhân từ kiếp trước. Có người rất quý phái, có người rất giàu có, như gấm thêm hoa, phúc lộc vô tận. Nhưng khi tôi quan sát kĩ, những phú quý này đều không phải thiện nhân duyên chân chính, chỉ là ảo hóa nhất thời, tháng năm ngắn ngủi thoáng qua, tinh hoa cuộc đời không còn bao nhiêu năm, rốt cuộc không phải là nhân chính của giải thoát. Chi bằng như người thân của tôi đây, vất vả cả đời, phúc phần không nhiều, nhưng học được một câu "A Di Đà Phật", chỉ cần nhất tâm niệm Phật, niệm đến khi tâm thanh tịnh, tâm tịnh thì đất cũng tịnh, đài sen sẽ đến, được sinh trong hoa sen, tương lai gặp Phật ngộ vô sinh, cuối cùng đến cõi Phật Cực Lạc, so với những người cao quý kia còn cao quý hơn, so với những người giàu có kia còn giàu có hơn.

Người đời làm sao biết được niệm Phật tốt đẹp như thế, làm sao biết được niệm Phật đến khi tâm thanh tịnh tốt đẹp như thế, làm sao biết được từ niệm Phật nhập môn đến nhất tâm bất loạn, có thể không còn lo âu phiền não.

Có một bài kệ:
*Tây phương Cực Lạc thường tôn xưng.
Khuyên khắp thế nhân vào cửa này.
Có miệng đừng nên bàn chuyện phiếm.
Chỉ niệm Phật hiệu suốt đêm ngày.*

Tôi thường nói, tôi tu Mật pháp, nhưng cũng đề xướng niệm Phật, tôi tu Mật pháp lấy A Di Đà Phật làm Bổn tôn, niệm Phật cũng niệm A Di Đà Phật, tôi là hóa thân của Liên Hoa Đồng Tử, cõi nước Liên Hoa này chẳng phải là thế giới Cực Lạc thì là gì?

*Lời thề hoằng pháp khắp Tây phương
Phật giáo niệm Phật dễ hoằng dương.
Tịnh niệm tiếp nối không gián đoạn.
Pháp thanh tịnh thông các tông môn.*

Mật giáo dạy thân khẩu ý thanh tịnh, Bổn tôn gia trì, tự tính Bổn tôn xuất hiện, minh tâm kiến tính, tức thân thành Phật, cũng cần phải tịnh niệm tương tục không gián đoạn!

Ngày người thân của tôi sắp lâm chung, điều kỳ diệu nhất là họ hoàn toàn biết mình sắp ra đi, họ nhìn thấy Tây phương Tam Thánh đứng giữa hư không: A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát. Các ngài cầm đài sen đến tiếp dẫn, họ hoan hỷ nở nụ cười.

Họ tự biết mình sắp ra đi, dùng tay chỉ lên trời, muốn báo cho mọi người biết Tây phương Tam Thánh đã hiện thân! Họ dùng tay chỉ lên trời, chỉ cho mọi người xem.
Họ tắm rửa thân thể thanh tịnh.
Tối hôm đó họ đã lìa khổ được vui, vãng sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc, lúc lâm chung, tay vẫn còn nắm chặt chuỗi hạt tôi tặng!

Còn tôi ư? Ẩn cư tại hồ Diệp Tử, thần hành giữa non xanh, chia nửa vầng trăng trên trời, gối đầu bên một góc núi, nhìn năm tháng vội vã trôi qua, thấy biển người chìm nổi, cảm thán thay!


### 25. Tôi sẽ viết "Lắng nghe tiếng thầm thì trong tim"


Sau khi viết xong cuốn "Thần hành ký" thứ 166, lòng tôi tràn ngập cảm xúc, có rất nhiều điều muốn nói, vì vậy, tôi muốn viết một cuốn "lời tự đáy lòng", đó chính là cuốn thứ 167 "Lắng nghe tiếng thầm thì trong tim", với tiêu đề phụ: "Để ước mơ cuộc đời thêm rạng rỡ."

Tôi sống rất bình yên tại hồ Diệp Tử, mỗi ngày ngắm ánh bình minh rạng đông, hoàng hôn chiều tà, thật lòng mà nói, ánh hào quang của cuộc đời từng rực rỡ, vinh hoa phú quý cũng đã nếm trải, hàng triệu người ra đón, hàng triệu người dự pháp hội, hàng triệu tiếng vỗ tay....
Giờ đây, chỉ còn một mình tôi ẩn cư.
Từ trước đến nay, tôi chưa từng nghĩ, tương lai mình sẽ ra sao ra sao, ví dụ, liệu tôi có quay về không? Từ hồ Diệp Tử trở về Seattle, hay từ hồ Diệp Tử trở về Cao Hùng - nơi tuổi thơ, Đài Trung - nơi trưởng thành, hay là về già nơi hồ Diệp Tử?

Sau khi viết xong "Thần hành ký", vào một đêm trăng tròn, trong lúc kinh hành trên núi, tôi nhìn về phương xa, giữa thế giới sương mù mỏng manh, bỗng nhiên, như thể cánh cửa trong tâm mở ra, tôi tạm thời nhắm mắt lại, lắng nghe tiếng thầm thì trong tim mình.

Tiếng thầm thì ấy, có thể nói là hoan hỷ, cũng có thể nói là bi thương. Rốt cuộc là hoan hỷ? Rốt cuộc là bi thương? Ngay cả tôi cũng không phân biệt được, tóm lại, như thể đã lên đến đỉnh cao nhất, nhìn ngắm biển mây cuộn trào.

Giống như tôi rời xa Cao Hùng - nơi tuổi thơ, Đài Trung - nơi trưởng thành, Seattle - nơi tinh hoa cuộc đời, hồ Diệp Tử - nơi ẩn cư.
Tôi nên hoan hỷ?
Hay là bi thương?

Giả như một ngày nào đó, Tây phương Tam Thánh A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát và chư Thánh chúng, dùng tất cả châu báu tạo thành thuyền pháp lớn, thuyền pháp tỏa sáng khắp nơi, dùng chuỗi vòng ngọc đeo vào cổ tôi, trang sức cho tôi bằng các báu vật.

Dùng vô số lọng báu đủ màu sắc đón tiếp tôi, chư thiên quý báu, ánh sáng chiếu rọi lẫn nhau, tỏa sáng vô cực, tất cả trang nghiêm, để đón tôi về bờ bên kia Ma Ha Song Liên Trì, tôi được sáu căn thanh tịnh, không còn phiền não, trụ vào địa vị không còn thối chuyển, thành tựu Phật đạo.

Xin hỏi:
"Liệu tôi có thể bình thản từ bờ này đến bờ kia, từ đây, quên hết tất cả đệ tử thương nhớ, mà trong lòng không còn chút vấn vương?"
Tôi sẽ không đau buồn sao?
Tôi sẽ không nhớ nhung sao?
Còn năm triệu đệ tử của tôi ở cõi Ta Bà này nữa!
Tôi nhận ra, rời khỏi cõi người, không thể nào không nhớ nhung.
Nhưng, ở lại cõi người, cũng không thể tránh khỏi đau thương, đi cũng khổ, không đi cũng khổ, trong lòng tôi thầm nghĩ:
"Ai mà không tiếc nuối?"

Có lẽ tôi đã để lại quá nhiều mảnh vỡ của tình cảm tâm linh ở cõi người này, tôi không thể thu nhặt hết được, vì vậy, lòng tôi quá nặng nề, dù thuyền pháp rực rỡ cũng không thể chở nổi!
Hãy để tôi viết một bài thơ "Lắng nghe tiếng thầm thì trong tim":

*Không ai có thể sở hữu tháng năm vĩnh hằng
Nơi cõi người dừng chân mấy mươi năm
Khi thuyền pháp quay về đón
Làm sao tôi không rơi lệ*

*Chỉ vì gánh nặng tình nghĩa quá sâu đậm
Những lời dặn dò luyến lưu
Nói đi nói lại
Nỗi buồn chợt dâng lên trong tim
Tôi bỗng hóa thành đứa trẻ trần trụi*

*Rồi sẽ có một ngày
Rồi sẽ có một trang
Trang cuối cùng tôi viết
Các bạn hãy nghĩ xem
Xin lắng nghe lời nguyện của tôi
Tôi nguyện sẽ đưa tất cả các bạn
Tất cả cùng về.*

**(Hết.)**

---

---
# File: sach-tam-linh/169-than-hanh-vong-uu-quoc.md
# Title: 169. Thần hành vong ưu quốc
---

![image](/img/img_fbfa99de674785e5e4746c215d863392.jpg)



## Thần hành vong ưu quốc


Văn tập: 169
Xuất bản: 2003
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu


Tôi ẩn cư bế quan tại hồ Diệp Tử, hai việc chủ yếu nhất đương nhiên là:
Cắt đứt phiền não.
Chấm dứt sinh tử.

Đó là sự hành trì quan trọng nhất của người tu hành. Có sinh ắt có tử, đây là chuyện lớn số một mà đời người không thể tránh khỏi, cho nên chấm dứt sinh tử, tu diệu pháp vô thượng là thù thắng nhất.
Còn phiền não thì nhất định phải cắt đứt. Chúng ta biết rằng sự sinh ra của con người là sự bắt đầu của khổ não, từ khi hiểu chuyện, vì đói rét mà cực khổ, vì danh lợi mà bôn ba, vì hưởng lạc mà bận bịu, vì gia đình mà vất vả, nhưng những cái này vẫn chưa được xem là khổ.

Điều khổ não là, mong cầu giàu sang mà lại thành nghèo hèn, cầu bình an mà lại gặp tai họa, phải sinh li tử biệt với người mình yêu thương, kẻ thù thì ở xung quanh săm soi mình như hổ rình mồi. Chiến tranh lụt lội hỏa hoạn động đất, thiên tai địa biến, cường bạo trộm cướp liên miên, bệnh tật đột ngột giáng xuống thân, cuối cùng già ốm nhan sắc suy hoại, bệnh tật giày vò, triền miên không ngừng không nghỉ, có thể nói là phiền não vô tận.
Đợi đến khi sắp chết rồi, bao nghiệp chướng kéo đến, tứ đại phân tán, ruột gan ngũ tạng đau đớn, theo nghiệp mà nhận báo ứng, muôn kiểu khủng bố.

Nay tôi ẩn cư tại hồ Diệp Tử, muốn nói rõ với mọi người rằng:
Đời người là nắm đất vàng xấu hỏng. (Chôn tại nơi hoang dã.)
Một lò lửa cháy bừng bừng. (Hóa thành tro tàn.)
Tĩnh tâm lại mà ngẫm nghĩ, chẳng phải là giấc mộng thì là gì?
Tôi ngồi tĩnh lặng tại hồ Diệp Tử, tu công phu xuất thần nhập hóa, tôi thần hành đi quan tâm mọi người, tùy cảm tùy ứng, có cảm tất ứng. Tôi muốn mọi người hiểu sự lợi hại của nhân duyên quả báo, hãy chăm chỉ mà tiêu trừ nghiệp chướng cho đúng, chớ xoay vần theo ác duyên, tôi lặp đi lặp lại lời khuyên này với mọi người.
Khi ấy, mọi người đều sẽ đến được cõi "vong ưu cực lạc".
Mong cuốn sách này, bạn có thể lĩnh hội, chuyển hóa vận mệnh, từ họa chuyển thành phúc, hơn nữa có thể siêu phàm nhập Thánh.

Viết một bài kệ:
*Bên hồ Diệp Tử một giấc mơ.
Thần hành vạn lí lại vì ai.
Một vùng ánh sáng từ đâu khởi.
Nguyên vẫn hữu vi từ vô vi.*

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Tăng nhân gặp họa bất ngờ


Trong một lần thần hành.
Tôi trông thấy một tăng nhân xuất gia sắp có tai họa bất ngờ giáng xuống, bởi vì Thần Chết đã chờ sẵn ở bên cạnh. Tăng nhân này sẽ lái xe xuống núi, khi rẽ vòng trên đường, vì tránh xe phía trước nên rơi xuống khe núi cao và dốc mà lập tức bỏ mạng.

Tôi nhớ đến một trong số bốn vị đại Pháp Vương Tử của Đại Bảo Pháp Vương thứ 16 - Jamgoin Gongzhü, khi cậu ấy ở Darjeeling, vì né một động vật nhỏ ở trên đường nên đã đâm vào một cái cây bên đường mà mất mạng.
Tôi không khỏi toát mồ hôi lạnh thay cho tăng nhân này.
Tôi muốn cứu tăng nhân, nhưng lại chẳng thể làm gì, chỉ biết âm thầm kêu khổ.

Sau đó, khoảng một tháng sau, tôi lại thần hành đi qua ngôi chùa nọ, điều kì lạ là, tăng nhân này vẫn ở đó, vẫn còn sống, và điều khiến tôi sửng sốt là Thần Chết đã không còn đứng chờ ở bên cạnh nữa, ngược lại, trên mặt tăng nhân này còn có ánh sáng đỏ, có khí tốt lành.

Theo sự điều tra của tôi, thì ra tăng nhân đã đọc cuốn sách "Phiêu bạt nơi đất khách quê người" mà tôi viết, trong đó tôi kể về một người Hàn Quốc thích dùng những viên sỏi nhỏ xếp chồng lên nhau bảy tầng, xung quanh chùa, đó được xem như là xây tháp cúng Phật, đây chính là công đức xây tháp đó!
Tăng nhân này học theo, rất khẩn thiết!
Lại còn chắp tay nhiễu quanh tháp.
Niệm: "Nam mô ba mươi sáu vạn tỉ mười một vạn chín nghìn năm trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật."
Vì vậy, Thần Chết đã sợ hãi bỏ chạy.

Cần biết rằng khẩn thiết niệm Nam Mô A Di Đà Phật có thể trừ bỏ trọng tội sinh tử của tám tỉ kiếp, hơn thế nữa tăng nhân còn xây tháp nhiễu tháp.
Thế là:
Tất cả ác quỷ.
Đều không thể hại.
Rắn độc thuốc độc.
Đều không bị trúng.

Trong khi thần hành, tôi nhìn thấy tăng nhân rõ ràng chắc chắn phải chết không còn gì nghi ngờ, nhưng chỉ vì một suy nghĩ thiện tâm, xây tháp cúng Phật, lại nhiễu tháp niệm Phật mà tránh được nạn chết, kéo dài tuổi thọ thêm 20 năm, đây đúng là một kì tích quá ư là thần kì.
Cho nên, tôi nói, con người đều có nghiệp chướng, phải ghi nhớ luôn luôn giữ thiện niệm trong tâm, làm nhiều việc thiện, một suy nghĩ thanh tịnh là có thể được cứu rồi. Còn điều tối quan trọng nữa, phải luôn luôn nhắc nhở bản thân đừng tạo ác nghiệp.


### 02. Đứa con gái bị sứt môi


Trong lúc thần hành.
Tôi nhìn thấy vợ chồng một đệ tử sinh hạ một đứa con gái bị sứt môi, đệ tử rất lo lắng, đi hỏi Thần tại đàn thành, Thần nói rằng: "Xúc phạm Thai Thần."
Theo tôi biết, đệ tử này bản tính không xấu, ham mê duy nhất là thích câu cá.

Trước kia tôi khuyên anh ấy:
"Đừng sát sinh, đừng câu cá."
Đệ tử đáp:
"Đây là ham mê từ nhỏ đến lớn cả đời này của tôi, trừ điều này ra, tôi chẳng có sở thích gì."
Tôi lại khuyên anh:
"Tất cả sinh vật cũng giống như con người, con người sợ dao sợ súng, cá sợ móc câu lưới võng, cá thích nước, con người thích ở trong nhà, cá thích sống, con người sợ chết. Phàm là động vật có tri giác, có yêu ghét buồn vui thì cũng giống như con người, nếu giết chúng, chẳng phải là đau đớn lắm sao!"
Đệ tử đáp:
"Vậy thì tôi câu cá lên, rồi lại thả xuống nước, cho nó một con đường sống vậy!"
Tôi nghe xong, cũng chẳng thể làm gì được nữa.

Bây giờ, vợ chồng đệ tử này đã sinh ra một bé gái bị sứt môi, tôi nhập mộng nói cho anh biết: "Đây chính là nhân duyên quả báo đã đến rồi, cái móc câu mà anh câu cá, đã móc vào làm tổn thương môi miệng của cá, cho dù anh lại phóng sinh nó, nhưng vẫn làm nó đau đớn! Con gái của anh bị sứt môi, khó tránh được phẫu thuật."

Trong giấc mơ anh nói:
"Sau này tôi không dám câu cá nữa!"
"Đúng thế, đúng thế, hành giả phải giữ giới không sát sinh mới là đúng." - Tôi nói.
Đệ tử này tỉnh dậy, biết tôi ở trong mộng chỉ điểm cho anh, từ đó anh đem tất cả cần câu, công cụ ra đốt hết, hoàn toàn cai sở thích câu cá.

Tôi nói:
Động vật có huyết khí.
Cũng giống huyết khí mình.
Nó đau ta cũng đau.
Nó thảm ta cũng thảm.

Tôi thường dạy đệ tử phải đối với người khác hiền từ, cũng phải hiền từ với động vật. Chúng ta cần thường xuyên trì chú vãng sinh hoặc chú Văn Thù Sư Lợi vãng sinh. Câu chú dài trong tâm chú của Căn bản Thượng sư cũng có lục đạo kim cang chú, là đại từ đại bi độ lục đạo chúng sinh.
Săn bắn chim thú, hành hạ động vật đến chết, người tu hành không thể xem đây như một nghề nghiệp để làm việc được.


### 03. Kính cẩn in Ngọc Lịch Bảo Sao


Trong khi thần hành.
Tôi đã đến cõi u minh địa phủ. Kì thực việc thần hành của tôi có thể đưa tôi đi khắp thập phương pháp giới, chỉ cần "vô niệm", đỉnh khiếu mở ra, trung ấm đi ra thế là thần hành được rồi. Tôi tự cười mình là "bán tử tam muội", ra ra vào vào, như đến như đi, cũng độ chúng sinh.

Tại thế giới u minh, tôi thấy một quan âm phủ đang xét xử một tội nhân. Ác nghiệp mà tội nhân này gây nên ở dương gian quả nhiên làm người ta khiếp sợ, có thể nói là trùng trùng điệp điệp nhiều không sao đếm xuể, đến mức mặt tên tội nhân này không còn sắc người nữa.
Đưa những thiện nghiệp của tội nhân này ra, chỉ có một tờ giấy mỏng manh, trên đó có vài chữ, có thể thấy là tại nhân gian, con người bình thường làm việc thiện thì ít, làm việc ác thì nhiều. Như kinh Địa Tạng có nói, nhấc chân động niệm không có gì không phải là nghiệp.
Lần này thì thảm rồi!

Không ngờ quan âm phủ lại bộc lộ vẻ tươi cười hoan hỉ hỏi:
"Ai dạy anh in cuốn "Ngọc Lịch Bảo Sao" vậy?"
Tội nhân này đáp:
"Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn."
"Ông ấy đang thần hành đến đây đó, anh nên cảm ơn ông ấy, chỉ vì anh in năm nghìn cuốn "Ngọc Lịch Bảo Sao" để phát tặng cho mọi người, làm được việc thiện này nên anh vẫn chưa đáng bị chết, mau hoàn dương đi!"
Tội nhân sung sướng tột độ. Cảm ơn tôi, thế rồi thật sự đã hoàn dương rồi.
Trước khi hoàn dương, tôi khuyên người này:
"Vẫn là mọi điều ác đừng làm, hãy làm mọi điều thiện nhỉ!"

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người, năm xưa tôi giúp người ta hỏi việc, tôi đều khuyên thế nhân in nhiều sách thiện tặng mọi người, để mọi người đều biết đến.
Đặc biệt là những cuốn:
"Ngọc Lịch Bảo Sao" [Sư tỉ Thạch Mỹ Nghi đã biên dịch và đặt tên là Ngọc Linh Bửu Phiêu]
"Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh"
"Long Thư Tịnh Thổ Văn"
v.v…

Ba cuốn sách này đã ảnh hưởng đến một đời một kiếp của chính tôi, tôi luôn rộng rãi khuyên người ta in sách thiện hoặc kinh điển, chỉ vì chúng có thể giúp tất cả chúng sinh trồng thiện căn. Lấy tâm từ bi làm ruộng phúc to lớn, gặt hái vô lượng phúc, gặt hái vô lượng huệ, thậm chí vãng sinh tịnh thổ, chóng thành Phật đạo.
In sách thiện tặng người, công đức vô lượng, có lợi ích lớn, người hiểu biết đều nên phát tâm tùy hỉ, càng nhiều càng tốt.


### 04. Thiện thần và ác quỷ


Trong khi thần hành.
Thật sự tôi đã nhìn thấy quá nhiều thiện thần và ác quỷ. Tôi nói, quỷ thần chúng ở thế giới vô hình nhiều không thua kém gì thế giới hữu hình.
Điều càng thú vị hơn là, tôi thường nói: "Ngưu tầm ngưu mã tầm mã" là một định luật, ví dụ, trong lúc tôi thần hành, tôi thấy có ngôi nhà được thiện thần bảo vệ, lập tức biết người sống trong nhà này nhất định là người tốt. Rồi lại thấy ác quỷ ra ra vào vào tại một gia đình nọ, tôi liền biết thế là "toang" rồi!

Có một lần.
Tôi trông thấy mấy quỷ hung ác trốn trong một nhà nọ, sau đó theo như tôi biết, một người con trai trong nhà này mượn rượu giả điên, xin tiền bố mẹ không được, thế rồi không ngờ đã giết chết bố mẹ, phạm vào ngũ nghịch tội là giết cha giết mẹ.
Tôi sực tỉnh ngộ: "Hễ suy nghĩ nảy sinh ác tâm, quỷ hung ác sẽ đến nhập vào người!"
Cho nên, khi tôi xuất thần đến thành phố Las Vegas hay Atlantic City ở Mĩ, hay Vista Walkerhill Seoul ở Hàn Quốc, tôi cũng nhìn thấy rất nhiều ma cờ bạc ra ra vào vào.

Lại có một lần.
Tôi nhìn thấy rất nhiều thiên thần giáng xuống, thiên thần yên lặng ở xung quanh hầu hạ bên cạnh một tăng nhân, bảo vệ tăng nhân, hơn nữa có thiện thần còn tặng tăng nhân cam lộ, từ đỉnh đầu dội xuống, giống như quán đảnh vậy. Lại có thiện thần khoác lên người tăng nhân bộ quần áo mỏng nhẹ, chính là thiên y. Lại có thiện thần tặng chuỗi ngọc, đeo lên người tăng nhân.
Tôi trông thấy Phật đến rồi, Bồ Tát cũng đến rồi, Phật mang tòa hoa sen mời tăng nhân lên đài hoa sen, tăng nhân lên đài hoa sen ngồi vững, quay đầu lại cười một cái với tôi, chắp tay lại.
Tôi giật nảy mình, là ông ấy.
Chẳng bao lâu, tăng nhân, Bồ Tát, Phật đều biến mất.
Các thiên thần thiện thần dần dần tản đi.

Tôi hiểu ra:
"Ông ấy viên tịch rồi!"
Đúng vậy, ông ấy đã viên tịch, ông ấy đã tu trì rất tốt, Phật mang đài hoa sen đến đưa ông ấy đi rồi.
Tôi thật hâm mộ.

Viết một bài kệ:
*Tăng nhân viên tịch dứt sinh tử.
Công đức vô biên khỏi nghĩ bàn.
Thiên long bát bộ đều bảo hộ.
Chính pháp tìm được chốn quy về.*


### 05. Oan hồn chuyển thế


Trong lúc thần hành.
Tôi phát hiện ra một sự thật, oan hồn trên thế giới này càng ngày càng nhiều, nếu con người không nghĩ cách thì thế giới này càng ngày càng loạn, đến lúc ấy sẽ không còn kịp nữa.
Tôi cho rằng không nên có tội tử hình, nhân loại, bất kể là ai cũng đều không nên tuyên án tội tử hình cho người khác, trên trời có biết bao nhiêu ân đức, con người sao có thể phán người ta tội tử hình chứ.
Đối với những tội phạm gây nguy hiểm cho người khác hoặc phạm tội nặng, nhiều nhất là phạt tù chung thân, nên hủy bỏ tử hình, bởi vì tôi phát hiện thấy người bị xử tử hình thì đều có oan khí rất nặng, nếu chuyển thế thì lại đến để báo oán, oan oan tương báo đến khi nào dứt?
Tôi thấy thế nhân đối với kẻ phạm tội nhiều lần hoặc phạm tội nặng thì ai cũng căm giận phừng phừng, chỉ tay hét lớn:
"Cho nó chết đi!"
"Cho nó chết đi!"
"Cho nó chết đi!"
Trong lòng tôi rơi lệ, chết là hết sao? Oan oan tương báo đó! Oan gia nên giải, không nên kết, sao mọi người không biết nhân quả trước sau chứ?

Trong khi thần hành, tôi nhìn thấy những linh hồn binh lính trẻ tuổi bị chết họp thành đám mây đen kín trời kín đất, và oan khí cũng ngút trời. Giết người, phóng hỏa, trộm cướp, không từ bất kì việc xấu nào. Thiên hạ này sao có thể không có chiến tranh? Chính vì những oan hồn này chuyển thế thì thế giới này sao có thể thái bình được? Sao có thể biến thành tịnh thổ được? Nhân gian tịnh thổ có thực hiện được không?

Giữa người và người cũng sản sinh ra không ít oan khí, điều này cũng sẽ dẫn đến tai họa. Nhân loại ngày nay người tự sát nhiều như vậy, cũng để lại không ít oan hồn, những oan hồn này lại chuyển thế, rồi những người chết oan uổng lại càng nhiều hơn.

Tôi đã nhìn thấy quá nhiều oan hồn rồi.
Họ đều nghiến răng nghiến lợi!
"Chuyển thế đi báo thù!"
"Phải trả thù!"
"Cho dù chưa chuyển thế, đợi đến khi dương thế của nó suy yếu, ta vẫn sẽ đến tính sổ!"
Tôi nói:
"Tâm trả thù là ham uống cá nhân, rắp tâm ác độc thì sau này con cháu các người…"
Oan hồn trả lời tôi:
"Tôi không báo thù thì lòng không yên, bất kể là tội ác gì, Lư Thắng Ngạn ông cứ đi làm thánh hiền của ông đi!"
Muốn khuyên thiện oan hồn nhượng bộ thật sự là khó lắm thay! Trong lòng tôi thật đau đớn!


### 06. Độ hóa nghệ nhân nổi tiếng


Trong lúc thần hành.
Tôi trông thấy một nghệ nhân nổi tiếng đang lủi thủi một mình đi trên con đường ở âm gian, ông ấy lộ vẻ hiu quạnh, vô cùng cô đơn tuyệt vọng, hốt hốt hoảng hoảng, buồn rầu thê lương.

Tôi gọi tên ông ấy, ông ấy rất hoảng sợ, hỏi:
"Ông là ai?"
"Tôi là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn."
Ông ấy "ồ" lên một tiếng: "Tôi từng nghe nói đến ông, lúc nói chuyện cùng bạn bè."
Tôi hỏi:
"Tôi kiểm tra một chút thọ lộc của ông, vốn dĩ 70 tuổi mới kết thúc, phúc phần cũng nhiều, vì sao lại nhanh chóng kết thúc sinh mạng như thế này?"
Nghệ nhân nổi tiếng nói:
"Đây đều là vì lí do bình thường tôi tích nhiều việc xấu đó! Tôi ỷ mình nổi tiếng, đã bí mật qua lại thân mật với một phụ nữ đã có gia đình, vẫn chưa ai biết. Tôi lại còn dụ dỗ một góa phụ, không ngờ chồng của góa phụ đó ở cõi âm bày kế hãm hại, nên tôi đã chết. Phúc thọ vốn có đều bị tước hết, bình thường tôi sinh hoạt cũng không đứng đắn, phạm vào tà dâm, chẳng thể kể hết, nên mạng sống đã bị xóa bỏ."
"Á!" - Tôi há hốc miệng.

Nghệ nhân nổi tiếng nói: "Tham lam mĩ sắc, báo ứng rất nhanh, nay tôi phiêu bạt ở âm gian chẳng biết ngày thoát ra, hơn nữa định kì lại phải chịu phạt, biết vậy từ đầu đã chẳng làm sai."
"Ông chịu khó tu thân dưỡng tính để sửa mình và kiểm điểm bản thân."
"Tôi biết sai rồi, nhưng hối hận thì đã muộn, khi chịu hết khổ hình thì sẽ đọa vào đạo súc sinh."
Tôi nói:
"Ông đã biết sai và sám hối thì vẫn có thể cứu được, mong ông theo tôi về hồ Diệp Tử, tôi có thể cứu ông!"
"Mong đi theo Hoạt Phật, nhưng ông cứu cô hồn như tôi thế nào đây?"

Tôi nói: "Khi xưa tôn giả tới phương đông, đã được Văn Thù giáo hóa thông, Đông Thổ không có tôn thắng chú, cô hồn khó thoát khỏi trần ai."
Tôi dạy nghệ nhân nổi tiếng niệm: "Om amilita ayuer tati soha om chung soha."
Vừa niệm xong thì nghệ nhân nổi tiếng này liền theo tôi trở về hồ Diệp Tử.
Tôi dạy ông ấy pháp "vãng sinh nhanh nhất", rồi khuyên ông điều thiện, rằng người có phúc trạch thì tối kị nghiệp tà dâm, thật đáng tiếc!
Thật đáng sợ! Một chút sung sướng nhất thời khiến phúc lộc bị tước hết, bạn hãy lấy chuyện này làm sự cảnh giới. Tôi dùng chuyện này để rộng rãi khuyên răn thế nhân, Thánh nhân nói, phú quý không dâm, phải tỉnh táo, đừng lưỡng lự mà tái phạm sai lầm ngớ ngẩn.


### 07. Thận trọng lời nói hành vi rất quan trọng


Trong lúc thần hành.
Tôi gặp một vị Tinh Quan, thì ra là một trong Ngũ Văn Xương, tục gọi Ngũ Văn Xương tức là:
1. Văn Xương Đế Quân. (Thiện Quang Phật)
2. Quan Thánh Đế Quân. (Quan Công)
3. Phu Hựu Đế Quân. (Lữ Tổ)
4. Chu Y Hoàng Quân. (Chu Hi)
5. Khôi Đẩu Tinh Quân. (Khôi Tinh)
Người tôi gặp là Chu Hi phu tử, vị Tinh Quân này rất từ bi bảo tôi:
"Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, sáng tác viết văn phải thận trọng một chút đấy!"
Tôi đáp:
"Đã biết, đã biết."

Chu Hi phu tử lấy chính mình làm ví dụ, ngài ấy nói, năm xưa ngài ấy là một học vấn gia tài giỏi, tự cho mình là đúng, sáng lập nên một học phái, và rồi cũng bình luận về các học phái khác. Vốn dĩ trên đỉnh đầu mình có 32 tinh quang chiếu sáng, vì phê phán người khác mà cuối cùng mất đi 12 tinh quang, chỉ còn lại 20 tinh quang.
Tôi kinh hãi.
Chu Hi phu tử nói:
"Phê phán những thứ không nên phê phán, con người đều có lỗi mà!"
Tôi nghe xong, toát mồ hôi hột!

Tôi nghĩ đến bản thân, năm xưa tôi xuất đạo, bị mọi người vây quét, bởi vì bản thân có thiên nhãn, tràn đầy khí thế tuổi trẻ, trẻ người non dạ, nên cầm bút sáng tác chỉ rõ danh tính [mà phê phán], tự cho mình hăng hái hăm hở, mình ta canh cổng, vạn người không địch nổi.

Tôi hỏi:
"Chu Y Tinh Quân, tôi đã bị thiếu mất bao nhiêu tinh quang rồi?"
Chu Hi phu tử cười lớn ha ha:
"Ngài tự đếm là tự biết thôi!"
Tôi nói, tôi là Liên Hoa Đồng Tử chuyển thế, đến thế giới Ta Bà độ hóa chúng sinh, dựa vào viết sách để độ người là chủ yếu, một đời vì người khác, tấm lòng minh mẫn khoan dung, trở thành người sáng lập Chân Phật Tông, nhưng vẫn bị đoạt mất tinh quang, cũng phạm vào khẩu nghiệp bút nghiệp, ngay cả một người như tôi cũng không tránh khỏi phạm sai lầm, phải làm sao đây? Thật sự tôi rất hổ thẹn.
Tôi run sợ.
Chu Hi phu tử nói:
"Một trong năm giới, giới vọng ngữ, là thật đó! Phải phát lộ sám hối."


### 08. Rượu không thể say


Trong lúc thần hành.
Tôi đến một thiên giới, là nơi ở của tiên nhân, những tiên nhân này  uống "tiên tương" từ trong núi chảy ra tự nhiên, đó là một loại rượu rất trong rất thơm rất đậm, gọi là một loại rượu vì nó có vị rượu.
Theo họ nói thì:
Tiên tương này uống một ngụm, thần trí thư thái.
Tiên tương này uống một ngụm, không đói không khát.
Tiên tương này uống một ngụm, trường sinh bất lão.
Tiên tương này uống một ngụm, sung sướng dễ chịu.
Tiên tương này uống một ngụm, múa hát không ngừng.

Trong số họ có một vị là Tử Quân, ông ấy mời tôi cũng uống một chén thử xem.
Tôi nói: "Không! Tôi không uống được rượu."
Ông ấy cười lớn ha ha:
"Đây đúng là rượu không sai chạy, nhưng là rượu không thể say."
Tôi nghe xong rất ngạc nhiên, rượu không thể say, thiên hạ sao có thể có chuyện như thế, tôi lấy một chén, ngửi thử, rõ ràng là rượu có mùi thơm tinh khiết mà!
Tử Quân nói:
"Đích thực là rượu, nhưng chính xác là không say đâu!"

Tử Quân lại nói: "Tiên nhân ở nơi này đều thích rượu, nhưng tương đối biết liêm sỉ, biết rằng say rượu sẽ loạn tính, say rượu mà loạn tính thì sẽ phát sinh những việc khiếm nhã. Buồn thay người ngu không biết sự lợi hại của say rượu, làm tổn hại thiên đức, làm xằng làm bậy. Thế còn tiên tương ở đây là đồ uống có mùi rượu, nhưng tuyệt đối không say, cũng sẽ không loạn tâm tính, cái thần là ở đó!"

"Nhưng không say sao lại gọi là rượu?" - Tôi hỏi.
Tử Quân đáp: "Chỉ giúp tâm tình vui vẻ mà thôi!"
Tôi nghe xong thì rất vui mừng: "Nếu nhân gian cũng có loại rượu này thì chẳng phải là chuyện đại hỉ sao, thế thì nhân gian tịnh thổ có thể thành hiện thực rồi."

Tử Quân lắc lắc đầu:
"Rượu này duy vùng này mới có, nhân gian không thể có được. Con người nặng dục niệm, do vậy không có được tiên tương này, lòng người quá bại hoại, tiên tương sẽ không chảy ra đâu."
Tôi nghe xong không ngừng than thở! Phàm phu thiếu phúc huệ quá!

Chẳng trách năm xưa Phật Đà chế định ra giới luật, không uống rượu là một trong năm giới, vì rượu có thể làm loạn tính. Nhưng thiên thượng giới thì không bài rượu, bởi vì họ có rượu tiên uống không say. Nếu tiên nhân cũng say thì chẳng còn tư cách làm tiên nhân nữa rồi.


### 09. Mùi hương trong tâm


Trong lúc thần hành.
Tôi gặp một thần đang vội vàng đi trên đường, dường như có việc gấp phải làm, ngay cả chào hỏi cũng không, chỉ đi lướt qua thật nhanh.
Tôi hỏi:
"Có chuyện gì mà vội vàng thế?"
Thần đáp:
"Có người đốt hai đầu hương."
Đúng vậy, tôi từng nói, nếu có nggười gặp chuyện cấp bách, khẩn cấp thỉnh cầu Kim cang Hộ pháp đến cứu trợ, thì đốt hương đốt cả hai đầu, biểu thị rằng sự việc quá khẩn cấp, thần minh biết được sẽ cấp cấp như luật lệnh mà chạy đến cứu giúp.

Lại có một lần, tôi ở trong một động tiên đàm đạo giảng Phật cùng một vị thần tướng, bỗng nhiên có một mùi hương đưa đến, mùi hương này rất khẩn cấp.
Thần tướng nói: "Là hương đốt hai đầu."
"A! Ngài có việc gấp phải làm rồi!" - Tôi nói.
Thế nhưng thần tướng này chẳng hề hành động gì, ngài ấy nói: "Không vội, không vội, không cần phải đi."

Tôi rất ngạc nhiên: "Vì sao? Là hương đốt hai đầu đó!"
Thần tướng nói: "Người đốt hai đầu hương này bình thường không có tâm tôn kính trời đất, tin Phật thì có tin Phật, nhưng không kính sư, trọng pháp, thực tu, hơn nữa có nhiều lần phạm giới tà dâm, sai lầm quá lớn rồi! Đợi đến lúc gặp việc khẩn cấp mới đến ôm chân Phật, đốt hương hai đầu, chúng tôi vội vàng đi cứu anh ta thì chẳng phải thỏa lòng anh ta sao?"

"Thế hương đốt hai đầu cũng vô hiệu sao?"
Thần tướng đáp: "Vô hiệu!"
"Như thế nào mới hữu hiệu?" - Tôi hỏi.
Thần tướng nói: "Người không buông thả bản thân, loại người này, trong tâm tự nhiên có mùi hương. Người trong tâm tự nhiên có mùi hương, thiện thần tự nhiên sẽ bảo vệ, các thần đã sớm quan sát thấy rồi, những người như vậy nếu đốt hương hai đầu thì đúng là cấp cấp như luật lệnh rồi."

"Nếu kết ấn mật trong mật, tâm trong tâm thì thế nào?" - Tôi nói đến kết ấn móc câu triệu gọi.
"Ấn mật trong mật tâm trong tâm này không đúng người thì không được truyền, có nghĩa là không phải là người chân thiện thì không được truyền, người chân thiện thì trong tâm đã có mùi hương."
Tôi đã hiểu rồi.
Tôi cầu mong chúng sinh thiên hạ ai ai cũng là người chân thiện, người người tu hành giữ giới, chuyển hóa tham sân si thành giới định huệ. Cầu mong chúng sinh thiên hạ ai ai trong tâm cũng có mùi hương, hễ thắp hương là các Hộ pháp đều cảm ứng.


### 10. Hành giả “bán tử tam muội”


Trong lúc thần hành.
Tôi cười ngây ngô, tôi cười cái "bán tử tam muội" của mình, vì sao tôi lại tự trào phúng mình là hành giả "bán tử tam muội"?

Thứ nhất, tôi đã ngoài năm chục tuổi rồi, sáu mươi tuổi rồi, chẳng phải "bán tử" [chết một nửa] thì là gì?

Thứ hai, tôi ẩn cư ở hồ Diệp Tử, không xuất hiện trước công chúng, không gặp người ngoài, người ngoài cũng không nhìn thấy tôi, mặc dù vẫn sống nhưng cũng chẳng khác gì "chết một nửa".

Thứ ba, thân thể khỏe mạnh cường tráng, thời kì sắc thân sống động nhất đã qua rồi, nên cũng là "bán tử".

Thứ tư, khi tôi thiền định, hoặc nằm, hoặc ngồi, hoặc nằm nghiêng, đều lộ ra một trạng thái "sắp chết", trạng thái "sắp chết" này chính là bán tử tam muội.

Thứ năm, tôi thần hành đi ra ngoài, nếu như một đi không trở lại thì tức là chết. Trở lại sống thêm một chút thời gian, viết một chút văn chương mà thôi, há chẳng phải "bán tử" sao.

Thứ sáu, từ lâu tôi đã hiểu lời dạy của Phật Đà: "Có sinh ắt có tử, chẳng đem theo được bất kì thứ gì, chỉ có nghiệp theo thân." Vì thế tôi cũng chẳng còn tâm màng danh lợi, đã nhìn thấu và buông bỏ rồi, cũng như là "bán tử".

Thứ bảy, thần hành đi độ chúng sinh là việc có ý nghĩa, sắc thân suy yếu đã trở nên vô dụng rồi, cũng tức là "bán tử".

Thứ tám, thần hành là cái vui tự do, nhục thân là cái khổ của già bệnh, cũng tức là "bán tử".

Thị lực dường như cũng đã kém đi, tai cũng dần dần trở nên nặng hơn, răng cũng yếu đi một chút, sinh lực toàn thân đã suy yếu rồi. Đây đã không còn là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn của ngày xưa đi đường dốc cũng rất nhanh nhẹn nữa, điều này chứng minh vô thường đến rất nhanh.
Rất nhiều đệ tử già ngày xưa đã viên tịch rồi.

Có đệ tử chắp tay nói với tôi:
"Cảm tạ Sư Tôn."
Có đệ tử ngồi trên đài hoa sen quỳ xuống trước tôi.
Cũng có đệ tử sau khi được tôi dạy dỗ đã vãng sinh tây phương Cực Lạc thế giới.
…
Câu cửa miệng của tôi là: "Mạng người vô thường, như sương buổi sớm, hơi thở không còn, là đã lìa đời." Bây giờ tôi không phải là hành giả "bán tử tam muội" thì là cái gì? Hãy chăm chỉ sám hối nghiệp chướng tích lũy nhiều kiếp của bản thân đi!

Viết một bài kệ:
*Sinh tử giống như tay gập duỗi.
Đến đi mấy chốc quá chua cay.
Chỉ còn tam muội nửa chết này.
Vẫn ở hồng trần độ chúng sinh.*


### 11. Hai chiếc thuyền


Trong lúc thần hành.
Tôi gặp một đệ tử đã tạ thế, đi đến bên bờ sông, nước sông bàng bạc mênh mông mịt mù vô tận, đệ tử này rất mông lung, trong lòng không có nơi bám trụ.

Có một chiếc thuyền dừng lại bên bờ, trên thuyền có khá nhiều người, nam nữ đều có cả, trên thuyền có rượu có đồ ăn, nam nữ đang bày tiệc vui vẻ.
Thậm chí có nam nữ còn nắm tay ôm ấp nhau, thậm chí ở trước mặt mọi người còn làm cái việc thích làm đó nữa.
Đệ tử kia nhìn thấy, trong lòng liền bị mê hoặc, nhìn không rời mắt. Đây chính là cái tâm tham dục của thế nhân, rất ít người có thể thoát được.

Lúc này, trên thuyền có một cô gái xinh đẹp, ăn mặc kiều diễm, vẫy tay với đệ tử này:
"Lên thuyền đi, thuyền sắp đi rồi!"
Đệ tử động lòng, lập tức lên thuyền.
Tôi vội vàng hiện thân ngăn lại, đệ tử nhìn thấy tôi, kêu lên: "Sư Tôn!"

Tôi nói:
"Không được lên thuyền, những người ở trên thuyền đó đều đang đi đầu thai chuyển thế biến thành noãn sinh đó, kiếp sau sẽ thành gà, nam thì thành gà trống, nữ thì thành gà mái, sinh ra không lâu sẽ bị giết thịt, bị người ta ăn sạch, đau khổ vô cùng. Những khoái lạc hiện tại của những người trên thuyền này đều là giả tướng ngắn ngủi thôi, anh vẫn còn muốn lên thuyền sao?"
Đệ tử nghe xong run rẩy sợ hãi. Con thuyền kia liền rời đi!

"Bây giờ con phải làm sao?"
"Anh niệm Nam mô A Di Đà Phật đi!"
Đệ tử nghe lời tôi, bán mạng niệm Nam mô A Di Đà Phật. Lúc này đúng là một lòng trì niệm, tuyệt đối không có suy nghĩ nào khác.

Không lâu sau, thượng du lại trôi đến một chiếc thuyền, người trên thuyền này ai nấy đều chắp tay niệm Nam mô A Di Đà Phật, người người chuyên tâm trì niệm.
Tôi nói với đệ tử:
"Anh có thể lên thuyền, đây chính là thuyền pháp, đi đến tây phương Cực Lạc tịnh thổ đó."
Đệ tử lên thuyền rồi tôi mới yên tâm mà thần hành đi nơi khác.

Hành giả trong cuộc sống thường ngày, người có tâm chính trực  mới không có những hành vi tham dục, vô lễ và khinh suất, như vậy mới không bị mê hoặc. Người muốn có huệ căn phải thận trọng thanh tịnh thân khẩu ý mới không bị cuốn theo những chìm nổi trong lục đạo luân hồi, tuyệt đối không được phóng túng buông thả, một lần sảy chân để hận nghìn đời, hối hận thì đã muộn rồi!


### 12. Bài học từ hai chiếc thuyền


Trong lúc thần hành.
Đương nhiên tôi không chỉ gặp có hai chiếc thuyền, bởi vì trong thế giới của trung ấm (linh hồn) kể ra thì bất tận, không chỉ có thuyền, về cơ bản là thiên biến vạn hóa.

Nói một câu chung quy là:
"Chúng sinh trên đời đều sinh ra từ dâm dục, đều mang hạt giống dâm dục, điều dễ phạm vào nhất cũng là dâm dục. Hơn nữa, chúng sinh cũng vì dâm dục mà chết, cũng có người vì không có được dâm dục mà tự vẫn, cũng có người vì dâm dục mà giết người vì tình, lại có người vì thượng mã phong mà mất mạng. Trên thực tế, những người vì dâm dục quá độ, dâm dục đến hư nhược bản thân, vì bị tổn thương tình cảm mà chết cũng rất nhiều."
Các vị hiền đức xưa nói: "Chúng sinh vì dâm dục mà sinh, cũng vì dâm dục mà chết."

Có người cho rằng làm gì mà nghiêm trọng như thế! Có người cho rằng cả đời họ chẳng hề có hành động tà dâm. Lời nói không sai, nhưng mỗi lần bạn nhìn thấy phụ nữ yêu kiều, hoặc phụ nữ xinh đẹp, thì bạn có hay không những suy nghĩ "không sai", hoặc nhìn lâu một chút, trong lòng cũng một phen nghĩ quàng nghĩ xiên.
Bình thường nếu không có định lực, nhất định sẽ nghĩ bậy nghĩ bạ, chỉ vì không có cơ hội "tà nhân", "tà duyên" thôi, chứ cơ hội mà đến thì sẽ sinh ra nghiệp tà dâm ngay.

Hãy thử hỏi lòng mình xem:
"Bạn có phải Thánh nhân không?"
"Bạn có phải chính nhân quân tử không?"
"Bạn có thật sự không động tâm không?"
"Bạn có thật sự cả đời không tà dâm, có thể đối diện với thần minh trời đất không?"

Hành giả chúng ta một khi sản sinh ra suy nghĩ này thì lập tức hiểu rằng đây đã là tà dâm trên ý niệm rồi, lập tức quán tưởng sự trang nghiêm của Bổn tôn để đối trị. Nếu để suy nghĩ chạy lao theo sách tranh khiêu dâm, phim ảnh khiêu dâm (phim cấp ba), thì sẽ trở nên đầy dâm dục, lên xuống liên miên.
Chúng sinh tội nghiệp mãi ở trong khổ nạn của lục đạo luân hồi, muốn thoát ra cũng không biết tới khi nào. Đọc sách nói đạo lí thì cũng có tác dụng gì khi không thể làm được.
Tôi cảm thấy Phật Bồ Tát độ chúng sinh thật sự quá vất vả, muốn chuyển hóa hạt giống dâm dục của chúng sinh, nói thì dễ làm sao. Thật sự là việc không dễ dàng chút nào.

Mọi người cũng không cần ngạc nhiên, hoảng hốt, kinh hoàng đối với lời nói này của tôi, cảm thấy không còn hi vọng gì được cứu độ, cơ duyên được cứu độ nhỏ bé quá. Bạn chỉ chỉ cần một lòng hướng về Phật, nhất tâm niệm Phật. Trong cảnh giới trung ấm, chỉ cần như vậy, Phật Bồ Tát dùng ánh sáng chiếu đến bạn, lập tức toàn thân thanh tịnh, như vậy có thể vãng sinh Phật quốc tịnh thổ thanh tịnh, vĩnh viễn không chịu khổ, vĩnh viễn cực lạc.


### 13. Phù tiên


Trong lúc thần hành.
Tôi từng trông thấy một lá phù phát ra hào quang, bay xuyên trong không gian, tốc độ bay của nó cấp cấp như luật lệnh, hơn nữa còn sấm vang chớp giật, tiếng nổ ầm ầm.

Tôi nhìn nó, đó chính là:
"Phi thiên phù thức."
Bởi vì tôi từng học phù lục của Đạo gia, cho nên tôi biết.
Kì thực phù lục cũng là một phương pháp cứu đời, giống như nước chú Đại Bi của Phật giáo vậy, phù lục là từ chư Thiên truyền xuống, dụng ý đều là để đáp ứng những nhu cầu của thế nhân, có cái là để loại trừ phiền não, có có là để loại trừ đau khổ.

Ngày xưa, tôi từng hỏi Thanh Chân Đạo Trưởng (Liễu Minh Hòa Thượng):
"Vì sao phù lục lại bị cho rằng là thuật của bên ngoài?"
Thầy đáp:
"Phật lấy việc chấm dứt sinh tử là chính, vì thế không chủ trương các thuật bên ngoài, như chiêm tinh bốc quẻ, v.v…"
Tôi hỏi:
"Học phù lục có tác dụng gì?"
Thầy đáp:
"Đáp ứng việc khẩn của thế nhân, từ đó độ người ta nhập môn, rồi truyền cho họ pháp cứu cánh xuất thế."
Tôi hỏi:
"Người nào có thể học phù lục?"
Thầy đáp:
"Pháp cứu người đòi hỏi làm việc gì cũng phải hết sức chân thành, không được có một chút nào lừa gạt, tiền sắc đều phải tránh, các vị Thần Trời nhất định sẽ giáng xuống để ban ánh sáng, thế thì phù lục ấy mới có hiệu quả. Nếu kẻ lưu manh học phù lục, quỷ thần nhất định sẽ biết, phù lục không những vô hiệu mà chỉ có tà quỷ đến giúp thôi, tương lai nhân quả báo ứng tuyệt đối khó thoát được tội phạt."

Trong khi thần hành, tôi đuổi theo phù lục này.
Kết quả là tôi biết được, thì ra có một đại quý nhân mắc phải căn bệnh kì lạ, đi khắp nơi tìm thấy thuốc cao minh nhưng đều chữa không khỏi.
Cuối cùng ông tìm đến một vị phù tiên, phù tiên này cùng "phi thiên phù thức", chỉ dùng một lá là bệnh của đại quý nhân này đã khỏi rồi.
Vị phù tiên này lấy hồng bao mà đại quý nhân đưa cho đem đi cứu trợ người nghèo khổ, đó là nỗ lực làm việc thiện, tích lũy công đức, có ích cho chúng sinh.
Chả trách phi tiên phù thức của phù tiên này lại có thần công lớn như vậy.
Như sấm rung chớp giật.
Rền vang tiếng ầm ầm.


### 14. Đắp đê cứu muôn dân


Trong lúc thần hành.
Dường như tôi đã trở về Shikoku ở Nhật Bản, đến 88 ngôi chùa của Không Hải Đại Sư. Từng có người nói tôi là hóa thân của Không Hải Đại Sư, cũng có người nói, tôi là thân tương ứng của Không Hải Đại Sư.

Tôi thường xuyên nhắc đến hai câu nói của Không Hải Đại Sư:
"Cuộc đời chính là du lịch!"
"Ta sắp đi du lịch đây!" - Lúc viên tịch, Không Hải đã nói câu này.
Tôi ngưỡng mộ nhất là việc đắp đê cứu muôn dân của Không Hải Đại Sư.

Có một năm, nước sông dâng cao vượt quá cấp độ cảnh báo, Không Hải Đại Sư đã triệu tập thôn dân đắp đê ngăn lũ, thôn dân ra sức đắp đê, còn Không Hải Đại Sư thì bảy bảy bốn mươi chín ngày, suốt ngày đêm không ngủ không nghỉ tu pháp Hộ Ma Mật giáo, dùng pháp lực Mật giáo để gia trì cho đê điều.
Cuối cùng, khi cơn đại hồng thủy đến, đê điều kiên cố không gì sánh bằng, đã chặn lui cơn đại hồng thủy rút ra biển, cứu được thôn dân của ngôi làng đó.
Từ đó, thôn dân ở vùng ấy ngũ cốc được mùa, đồng ruộng không bị lũ lụt gây hại, nhân dân cũng có thể an cư lạc nghiệp.
Trong khi thần hành, tôi có một cuộc nói chuyện với Không Hải Đại Sư.

Không Hải Đại Sư nói:
"Cứu người là quan trọng, bản thân chỉ xếp thứ yếu."
"49 ngày làm Hộ Ma không ngủ không nghỉ, vất vả quá!"
"Cứu muôn dân, hi sinh bản thân, không quản ngại gì."
Tôi nói:
"Đây chính là quên mình vì người. Là việc làm của Đại Bồ Tát đó."
Không Hải Đại Sư nói:
"Phật cũng như vậy."
Tôi rưng rưng nước mắt, cảm thán các quan chức ngày nay đắp đê, quan thương cấu kết, thương nhân bớt xén nguyên vật liệu, đó không phải là cứu người là việc số một, mà là lãi kếch sù là việc số một, không quan tâm gì đến sinh mạng và tài sản của nhân dân, vì sự giàu có của bản thân mà muốn gì làm nấy.
Không Hải Đại Sư hiểu vì sao tôi rơi lệ, ngài nói:
"Tận lực là được!"

Mỗi lần tôi nhìn thấy muôn dân bị cuốn trôi trong lũ lụt thì tôi cũng cảm thấy dường như chính mình giạt trôi mất mát, không chỉ như vậy, bản thân cũng như hồn quy về Li Hận Thiên rồi. Bao nhiêu người đã mất đi sinh mạng vô giá trong những trận lũ lụt, lẽ nào tôi không có cách cứu độ họ sao?
Tôi và Không Hải Đại Sư cả hai cùng khóc.
Tiếng khóc thấu tận trời xanh.


### 15. Đối thoại của ma


Trong lúc thần hành.
Tôi nghe thấy hai con ma nói chuyện.
Một con ma nói:
"Ngôi làng phía trước có một phụ nữ sắp sinh con, mẹ con đều chết, chúng ta có thể đến uống máu."
Con ma kia nói:
"Là sinh khó à? Sao mày biết?"
Ma đáp:
"Thông lực của tao lớn hơn mày, đương nhiên không đoán cũng biết!"

Hai con ma đi phía trước, tôi nối đuôi theo sau, không phát ra âm thanh, đến một ngôi làng nhỏ, đi vào trong một nhà, cửa nhà có cắm một lá cờ nhỏ màu đen.
(Lá cờ nhỏ màu đen là biểu thị sinh khó.)
Tôi nhìn thấy lá cờ nhỏ màu đen thì thở dài một hơi, đây đúng là "sinh khổ" mà. Người mẹ sinh đẻ là khổ, trẻ sơ sinh bị chết cũng khổ, mẹ con đều mất thì khổ càng thêm khổ. Nhân gian có bao nhiêu bi kịch liên tiếp diễn ra ở khắp nơi trên thế giới.

Tôi nghĩ đến phu nhân Maya sau khi sinh hạ Đức Phật thì bảy ngày sau đó đã qua đời, cổ đại đã có chuyện như vậy. Đương đại, y học tiến bộ, những ca sinh đẻ tại các bệnh viện lớn tỉ lệ an toàn rất cao, những ca khó sinh thì mổ đẻ, nhưng cũng khó tránh được cái khổ sinh đẻ và khổ sau khi sinh đẻ.
Ngẫm nghĩ thấy, thật không biết "sinh có gì vui?"
Tôi thấy gia đình này nhà rất nghèo, chỉ mời một bà đỡ, dù không có thiện công gì, nhưng người nhà vẫn đối xử chân thành, trẻ con trong nhà cũng đông, mẹ con sinh đẻ đều chết, khiến người ta xót xa, sao có thể chịu đựng được chứ!

Thế là tôi bất chấp tất cả, lấy cái cờ nhỏ màu đen xuống, lấy xong tàng hình thần hành bỏ đi, cứu người trước mới là quan trọng.

Tôi nghe hai con ma nói:
"Lạ thế! Lạ thế! Rõ ràng có cờ đen mà."
Con ma kia nói:
"Là mày hoa mắt rồi, hoặc không linh rồi, chúng ta đi chỗ khác thôi!"
Ma nói:
"Chẳng lẽ nhà này trước khi sinh con có thiện nhân đến, giúp họ cầu nguyện trời xanh, trên trời phái thiện thần đến thu lại cờ đen rồi, gần đây tôi linh nghiệm lắm mà, làm gì có chuyện không linh, lần này đoán sai rồi, đi thôi! Đi thôi!"


### 16. Tuyên bố của trời


Trong lúc thần hành.
Tôi nhớ đến lúc còn trẻ, ở Ngọc Hoàng Cung tại Đài Trung, Thượng Thiên đã tuyên bố với tôi là:
"Một lòng hướng thiện."
"Một lòng học pháp."
"Một lòng học Phật."

Khi tôi truyền Phật pháp, có người bèn hỏi tôi:
"Chúng tôi không có nhiều tiền để làm công đức bố thí, ví dụ in sách thiện, xây cầu làm đường, cứu trợ người nghèo, chúng tôi đã không thể tự túc được chí phí sinh hoạt rồi, bảo một lòng hướng thiện, làm sao kêu chúng tôi làm việc thiện đây chứ?"
Tôi đáp:
"Cái gọi là một lòng hướng thiện không phải phương pháp kì diệu gì cả, cũng không phải là lấy tiền bố thí thì là thiện. Cái gọi là thiện chỉ là mỗi ngày làm một hoặc hai việc lợi ích cho chúng sinh mà thôi. Ví dụ, đi trên đường thấy có thủy tinh vỡ, dễ làm bị thương người đi đường, thì dọn dẹp thủy tinh đi. Trên những đoạn đường leo núi, người ta khát nước thì mời người ta một chén trà giải khát, đều là việc thiện cả."

Tôi lại nói:
"Một lòng hướng thiện, gặp người khác thì gọi lại chào hỏi, tươi cười hỏi thăm, cảm ơn anh, xin lỗi anh, giúp hàng xóm nhấc vật nặng, mở hộ cái cửa, đều là việc thiện."
(Những gì làm lợi cho người khác thì đều là gọi là thiện cả.)
Nhưng cần phải làm một cách:
Kiên trì bền bỉ.
Làm được lâu dài.

Còn nữa, thần hành của tôi là thiện.
Tôi truyền thụ Phật pháp, niệm một câu Phật, là thiện. Tu một đàn pháp, là thiện. Một ý nghĩ thiện cũng là thiện. Chỉ ra con đường sáng càng là thiện. Viết sách là thiện.
Không tham, không sân, không si đều là thiện.

Người có tiền thì thích làm việc bố thí, cứu trợ người nghèo, bố thí thức ăn, quần áo, thuốc thang, quan tài… Người cứ làm một cách miệt mài không biết chán biết mệt là người có phúc. Kinh Dịch nói: "Tích thiện chi gia tất hữu dư khánh", tức là ai tích lũy việc thiện ắt sẽ có niềm vui. Đời này giàu có cũng là vì tổ tiên tích được đại đức đó.

Tôi giúp đỡ những linh hồn trung ấm không quen biết làm pháp niệm Phật siêu độ họ, cúng dường cam lộ cho quỷ thần vô hình, xem ra trông rất ngu muội tức cười.
Nhưng đó là tôi một lòng hướng thiện đó.


### 17. Cứu được hơn mười đứa trẻ


Trong lúc thần hành.
Tôi gặp phải một chuyện không thể không kể.
Thung lũng nọ có một hộ gia đình miền núi, có một người trung niên sống bằng nghề trồng trọt hái lượm. Núi này có một dòng suối, nước suối trong vắt, mỗi khi nắng nóng có rất nhiều trẻ con đến dòng suối ở thung lũng để bơi lội, dòng suối tuy trên bề mặt phẳng lặng nhưng bên dưới lại có mạch nước ngầm.
Từng có trẻ con chết đuối ở đây.
Đã chết vài đứa rồi.
Vì thế, nơi này dựng lên một tấm bảng, nói rằng có mạch nước ngầm, cấm bơi lội.

Thế nhưng trẻ con nào có nghe lời, vẫn lén lút trốn người nhà đến chỗ thung lũng này để đi bơi. Chuyện này thu hút sự chú ý của người trung niên nọ, vì ông ấy thạo nước, trong một lần nguy cấp đã cứu được mấy đứa trẻ, vì thế ông ấy lại càng chú ý đến việc cấp cứu những đứa trẻ đi bơi, không ngờ đã cứu được hơn mười đứa trẻ.

Ông ấy còn khẩn khoản yêu cầu:
Dân làng đừng đến đây bơi.
Rồi khuyên trẻ con đừng xuống nước.
Rồi tự bỏ tiền làm biển cảnh báo.
Vẫn có người không nghe, ông lại phải làm nhân viên cứu hộ.
Trong khi thần hành, tôi nhìn thấy người trung niên này sau lưng có một con ma bám theo, nó giận tới mức nghiến răng ken két, con ma này tự lẩm bẩm:
"Vốn dĩ có trẻ con chết rồi thì mình sẽ được thay thế để đầu thai, lại bị cái người này phá hoại việc tốt của mình, thật tức chết mất."
Con ma này lại nói:
"Phải tính sổ với con người này, nhưng không xong rồi, Thượng Thiên thấy người này đã cứu hơn mười đứa trẻ, đã tích được âm đức, từ lâu đã phong cho ông ấy là Sơn Thần ở núi này rồi, căn bản là không có cách nào ra tay được."
Con ma tự nói một mình, thế rồi nó tự động bỏ đi.

Tôi kể câu chuyện này mục đích chủ yếu là cho thấy, con người chỉ cần tích âm đức thì cho dù có ma nham hiểm muốn hại người cũng không làm hại được.
Cho nên, âm thầm cứu người rất quan trọng. Khi gặp người khác cần cấp cứu, đều nên tận tâm tận lực giúp đỡ mới phải.
Tôi viết bài kệ:
*Đầu hạ nắng nôi nước mát tươi
Bao nhiêu trẻ nhỏ gặp họa tai
Tận tâm cứu người bao âm đức
Tự lĩnh tư cách được làm thần.*


### 18. Ở trên núi giăng lưới bắt chim


Trong lúc thần hành.
Tôi nhìn thấy một người đang chịu hình phạt trong địa ngục, là vì nghiệp sát rất nặng, người này chịu hình phạt đau đớn đến mức kêu cha kêu mẹ, chết đi sống lại, sống rồi lại chết, không biết bao nhiêu lần.

Tôi thấy vậy thì không chịu nổi, bèn hỏi một quan cai ngục:
"Người này khi còn sống làm nghề gì?"
Quan cai ngục đáp:
"Người này lúc còn sống ở trên núi bày thiên la địa võng, biết rằng chim từ đây bay qua bèn căng lưới bắt, cho nên nghiệp sát rất nặng, người này cho dù có chuyển thế thì cả đời rất khó phát đạt, giống như chính mình bị giăng lưới, xung quanh đều là tường, chỉ có tự mình kêu than thôi."
"Tội nặng như vậy sao?"
"Đúng vậy."
"Làm sao để sám hối tội ấy?" - Tôi hỏi.
"Phóng sinh, bảo vệ sinh linh." - Quan cai ngục đáp.
Tôi nói:
"Muốn chúng sinh không ăn thịt nữa thì khó lắm!"
Quan cai ngục đáp:
"Các vị hiền đức xưa có bốn thứ không ăn, nghe thấy giết không ăn, nhìn thấy giết không ăn, tự mình nuôi không ăn, vì mình mà bị giết không ăn. Trước tiên phải bắt đầu từ bốn thứ không ăn này, dần dần tâm từ bi tăng trưởng, tự có thể giữ giới sát sinh."
"Thế gian đến bao giờ mới không còn cảnh thôn tính lẫn nhau đây?" - Câu hỏi này của tôi thật khó trả lời.

Quan cai ngục nói bài kệ:
*"Trăm nghìn năm nay trong bát canh
Oán sâu như biển hận bất bình
Binh đao thế gian nếu muốn biết
Lò mổ tiếng kêu lúc nửa đêm."*

Tôi chẳng những biết con người tàn sát sinh vật là không đúng, nhưng cũng biết người và người giết hại lẫn nhau không ngừng nghỉ, không chỉ như vậy, tất cả những con bay trên trời, bò dưới đất, bơi trong nước, cũng loài này thôn tính loài kia, xem ra, việc sát sinh khó mà ngừng lại được.
(Muôn dân trong thiên hạ luân hồi không ngừng cũng như vậy.)

Xem ra, khi tôi đắc vô sinh pháp nhẫn, cụ túc Phật huệ, dùng chú đại thần lực, phàm là những oan mạng tôi đã từng giết qua nhiều kiếp và chúng sinh bị giết trong thập phương, đều được độ thoát, thành tựu đạo vô thượng.
Hãy niệm chú vãng sinh đi!
Mong A Di Đà Như Lai thương xót thu nhận.


### 19. Nói chuyện cùng Kim Mẫu về hiếu tư


Trong lúc thần hành.
Kim Mẫu nói với tôi:
"Hiếu thuận lớn nhất là tu hành."
"Vì sao?"
"Nhất tử thành Phật, cửu tộc thăng thiên, chính là đại hiếu. Thích Ca Mâu Ni thành Phật, mẹ của ngài là phu nhân Maya đã thăng lên thiên cung Đao Lợi."
Kim Mẫu nói:
"Hiếu đứng đầu trong vạn điều thiện."
"Vì sao?"
"Hiếu là lương tri cơ bản, cha là ngọn nguồn sinh thành, là ngọn nguồn nuôi dưỡng. Mẹ là người chí thân, là ngọn nguồn dưỡng dục. Ngay đến lương tri cơ bản này cũng không biết báo ân thì khác gì cầm thú. Ơn của cha mẹ, muôn nỗi vất vả có kể ra cũng không hết."

"Thế nào là hiếu tư?"
"Mỗi ngày nghĩ đến ơn cha mẹ chưa báo đáp, thì gọi là hiếu tư."
"Báo đáp thế nào?"
Kim Mẫu đáp:
"Cấp dưỡng cho cha mẹ thức ăn đồ uống quần áo và đồ dùng hàng ngày, phải vui vẻ ôn hòa, chăm sóc cho cha mẹ khỏe mạnh, cho cha mẹ được vui lòng, chính là hiếu thuận.
Bản thân phải trân trọng danh dự, không được phạm luật, không được mang đến phiền não cho cha mẹ, cũng là hiếu thuận đó!"

Tôi hỏi:
"Mẹ con đã không còn ở trên cõi đời này nữa rồi!" (Mẹ tôi đã thành tựu Ma Ma Quan Âm.)
Kim Mẫu đáp:
"Đây tức là con muốn dưỡng mà mẹ không còn, hiếu thuận phải làm khi còn chưa muộn. Cha mẹ già ốm, góa bụa, nghèo khổ, không có người phụng dưỡng, đều là cực khổ, tôn kính cha mẹ, người bề trên của chính mình rồi mở rộng thành lòng tôn kính cha mẹ, người bề trên của kẻ khác, đây là tận lực tận hiếu."
Tôi nói: "Con muốn xây viện dưỡng lão, trung tâm chăm sóc lúc lâm chung, nghĩa trang Chân Phật."
Kim Mẫu nói: "Tốt!"

Viết bài kệ:
*Cha mẹ là hai vị Phật, vậy mà thế nhân chẳng biết,
Không cần trang hoàng kim sắc, chẳng phải khắc từ đàn hương,
Chính là song thân hiện tại, chính là Thích Ca Di Lặc,
Có thể thành kính cha mẹ, cần chi cầu công đức khác.*


### 20. Nỗi oán hận của thủy tử linh


Trong lúc thần hành.
Tôi phát hiện ra oán khí cao ngút trời, thì ra là do linh hồn hài nhi bị phá thai tạo nên, những linh hồn hài nhi này, giống như những trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, khóc gào ầm ĩ, oán hận chảy thành sông.
Linh hồn hài nhi như núi rác.
Linh hồn hài nhi như rừng rậm.
Linh hồn hài nhi như ngân hà.
Từ lâu tôi đã phát hiện ra điều này, vì thế tôi mới lập nên "Anh linh quốc độ" tại Biệt thự Cầu Vồng, chuyên thu nhận và nuôi dưỡng những linh hồn hài nhi bị vứt bỏ.
Niệm Phật để tiếp dẫn linh hồn hài nhi vãng sinh.
Cúng dường sữa để linh hồn hài nhi trưởng thành.
Mặc quần áo để linh hồn hài nhi được ấm áp.

Trong khi tôi thần hành, tôi gặp một vị Thổ Địa Chính Thần, vị Thổ Địa Chính Thần này cũng thu nhận và nuôi dưỡng mấy đứa linh hồn hài nhi, tôi hỏi Thổ Địa Thần:
"Thu nhận và nuôi dưỡng linh hồn hài nhi có vất vả không?"
Thổ Địa Chính Thần đáp:
"Vất vả."
"Vì sao?"
"Oán khí quá nặng, rất khó xoa dịu, chúng đều trở thành oán quỷ rồi!"
Tôi nói:
"Tôi thấy linh hồn hài nhi càng ngày càng nhiều. Người phá thai càng ngày càng nhiều."
Thổ Địa Chính Thần nói:
"Đúng thế, đúng thế."
"Làm sao mới tốt đây?"

Theo kiến giải của Thổ Địa Chính Thần thì: đầu tiên, những người làm bác sĩ sản phụ khoa không được kiếm tiền từ việc phá thai, phụ nữ cần có tư tưởng đúng đắn, phá thai tức là phạm giới sát sinh. Chính phủ hoặc các đơn vị công ích công cộng nên lập ra những trạm thu nhận cô nhi và trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, hễ là cô nhi hoặc trẻ sơ sinh bị bỏ rơi đều được bao bọc ấm áp, oán khí tự nhiên sẽ tiêu trừ. Nếu có người có lòng tốt, có thể quan tâm đến vấn đề cô nhi và trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, nuôi dưỡng chúng thành người, thì thật sự là một việc công đức lớn, vô lượng vô biên.
Lời của Thổ Địa Chính Thần rất chí lí.

Tôi cảm thấy rất kì lạ, thế nhân đã lập nên những tổ chức như "hội bảo vệ động vật", nhưng vì sao không có "hội bảo vệ thai nhi" chứ?
Thậm chí phá thai còn được hợp pháp hóa nữa.
Đúng là đảo điên!


### 21. Hữu Tài tịnh thổ


Trong lúc thần hành.
Tôi nhìn thấy trước mặt có cờ tam giác bay trong không gian, có thiên nhạc vang lên khắp nẻo đường, có rất nhiều thiên nhân, thần tướng mặc giáp vàng bảo vệ một chiếc kiệu trời đang đến.
Bên trong kiệu trời này có một người ngồi, đầu đội mũ miện vàng, tay cầm bảo vật, toàn thân trang sức rất trang nghiêm, lấp lánh ánh vàng. Tôi lén liếc nhìn người này, cảm thấy vô cùng quen mặt.
Người trong kiệu trời này vừa thấy tôi liền kêu lên:
"Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn!"
Rồi người đó vội vàng xuống kiệu, chắp tay làm lễ.
"Anh là…?" - Tôi lại quên mất người này là ai.
"Tôi là Thẩm…"
"Ồ!" - Tôi đã nhớ ra rồi.

Anh Thẩm báo cáo với tôi rằng, năm xưa lúc anh nghèo khổ thất vọng đã được tôi chỉ cho trì một câu chú, chính là tâm chú Hoàng Tài Thần. Anh Thẩm lập tức trì tụng không ngừng nghỉ, cũng không biết mấy nghìn mấy vạn mấy triệu biến nữa, tóm lại, liên tục trì chú nhiều năm.
Quả nhiên sau này anh Thẩm đã phát tài, kiếm được rất nhiều tiền, con người anh cũng không ích kỉ, bỏ tiền dư ra, anh đọc Trí Độ Luận biết được rằng trong mọi ác nghiệp thì sát sinh là số một, trong mọi công đức thì phóng sinh là số một, thế là anh liên tục làm công việc cứu hộ sinh linh.
Làm cả việc cứu tế người nghèo.
Hễ anh biết ai đang gặp khốn khó, anh nhất định sẽ tận lực giúp đỡ.

Nay, Thượng Thiên giáng xuống ý chỉ, anh được thăng lên Hữu Tài tịnh thổ, Hữu Tài tịnh thổ này chính là tịnh thổ của Hoàng Tài Thần (Jambhala).
Tôi chắp tay chúc mừng anh.
Anh vui mừng hướng về tôi làm lễ, đa tạ tôi đã truyền chú và quán đảnh.
Tôi chắp tay tiễn anh.

Bây giờ tôi có một vấn đề, hiện tại tôi ẩn cư bế quan tại hồ Diệp Tử, muỗi và kiến đặc biệt nhiều, nếu không giết muỗi thì sẽ bị đốt không thể nào ngủ được. Nếu không diệt kiến thì kiến cũng sẽ đốt tôi, sẽ ngứa ngáy toàn thân, từng đám sưng đỏ.
Muỗi và kiến khiến tôi đau đầu khổ não.
Không giết những vật có sinh linh trong thiên hạ là tâm yêu thương động vật, muôn dân khắp thiên hạ, đây là đạo lí rất quan trọng.
Dám hỏi các Thánh hiền, tôi phải làm sao mới tốt đây?


### 22. Già Lan Thần


Trong lúc thần hành.
Tôi đến một ngôi chùa nọ, trông thấy 18 vị Già Lan Thần đang tụ tập ở đó, 18 vị Già Lan Thần này chính là Mĩ Âm, Phạm Âm, Thiên Cổ, Thán Diệu, Thán Mĩ, Ma Diệu, Lôi Âm, Sư Tử, Diệu Thán, Phạm Hưởng, Nhân Âm, Phật Nô, Tụng Đức, Quảng Mục, Diệu Nhãn, Triệt Thính, Triệt Thị, Biến Thị.
Tôi nhớ còn có hai vị Tôn giả bảo vệ cho Phật, một vị là Vi Đà Hộ pháp, một vị là Già Lan Hộ pháp.
Đương nhiên Phật có rất nhiều Hộ pháp, đếm cũng không đếm nổi.
Quan Thánh Đế Quân trở thành Hộ pháp Tôn giả của Phật, chỉ vì Quan Thánh Đế Quân dẫn theo mấy nghìn âm binh âm tướng, tay cầm cây thanh long đao, cưỡi con ngựa xích thố kéo đến ào ào như bão táp, cũng đến để hộ trì Phật pháp cho nên các chùa ở Trung Quốc tôn ngài làm Già Lan Tôn giả. [già lan có nghĩa là chùa.]

Già Lan Tôn giả nói với tôi ba câu để truyền dạy thế nhân:
1. Mong trời thường sinh người tốt.
2. Mong người thường làm việc tốt.
3. Mong miệng thường nói lời tốt.
"Vì sao phải truyền dạy ba điều tốt này? - Tôi hỏi.
Già Lan Tôn giả đáp:
"Thời đại ngày nay, oán khí cao ngất trời, người lương thiện đều bị người ác hại, người tốt không dám hạ sinh ở cõi Ta Bà nữa rồi. Thế nhân ngày nay, người làm việc tốt thì ít, người làm việc xấu thì nhiều, muốn sửa chữa nếp sống xã hội, chỉ có thường làm điều tốt. Còn nữa, con người ngày nay nói khoác, hai lưỡi, ác khẩu, khỉ ngữ đặc biệt nhiều, cần khuyến khích con người nói nhiều lời tốt đẹp, đặc biệt cần nói nhiều hơn những lời ca ngợi, có thể cổ vũ lòng người hướng thiện, như vậy thế giới mới còn có thể cứu được."
Tấm lòng của Già Lan Tôn giả, tôi có thể hiểu được.

Thì ra Quan Thánh Đế Quân (Huyền Linh Cao Thượng Đế) không chỉ là người trung nghĩa nghìn thu mà ngài còn có tấm lòng thương xót con người như vậy, ưa thích cái thiện của con người, được Phật tán thưởng, cho nên quý trọng như một bậc Thiên Chủ (Thiên Đế), đó chính là Già Lan Tôn giả. Ba chữ "tốt" của Tôn giả khiến người ta phải suy ngẫm.

Trong lúc thần hành.
Tôi đã hiểu được:
Thấy người được cũng như thấy mình được.
Thấy người mất cũng như thấy mình mất.
Tôi độ chúng sinh như vậy không hề hối hận, không yêu không ghét, trong tâm bình hòa, chỉ có thương xót, chỉ vì người và ta là một thể. (Tâm bình đẳng)


### 23. Đại Quỷ Vô Thường (1)


Trong lúc thần hành.
Tôi nhìn thấy một Đại Quỷ Vô Thường đang thậm thà thậm thụt trốn trong một ngôi biệt thự rất rộng lớn bề thế, ẩn thân không thấy đâu nữa, ngôi biệt thự bề thế này thuộc sở hữu của một doanh nhân tiếng tăm lừng lẫy.
Nghe đồn:
Ngôi biệt thự này do một kiến trúc sư châu Âu thiết kế kiến trúc, nhân viên công trình đến từ châu Âu, tốn hơn ba triệu đô la Mĩ.
Ngôi biệt thự có sáu cửa thoát hiểm.
Mỗi cái toilet cũng tốn hơn mười nghìn đô la Mĩ.
Phòng ngủ chính chiếm tới khoảng sáu trăm mét vuông.
Và những cái khác nữa.

Thế nhưng chủ nhân của căn biệt thự này không thể dùng tâm bình đẳng để đối đãi với người và xử lí công việc. Không chỉ như vậy, ông còn đố kị với người giàu có hơn mình, ông mưu đồ thôn tính các doanh nghiệp nhỏ khác, hợp lại thành một doanh nghiệp lớn. Ông ấy càng thích thú hơn khi doanh nghiệp mạnh hơn mình kinh doanh không tốt, để bản thân mình vĩnh viễn là doanh nghiệp lớn số một.
Sự ngang ngược, dã tâm, tham vọng, hoài bãi của ông ấy vĩnh viễn không dừng lại.
Ông ở trong thư phòng viết một bản kế hoạch.
Đại Quỷ Vô Thường đến sau lưng ông ấy, dùng xiềng xích gông ông lại, sau đó kéo đi.
Đại doanh nhân kia đầu gục xuống, thế là chết, đột tử.

Tôi hỏi: "Chuyện này là sao?"
Đại Quỷ Vô Thường đáp:
"Đời tổ tiên của ông ta đã kiếm những món lợi bất chính, con cháu đời sau cũng bất nhân bất nghĩa. Thấy người ta được thì đố kị, thấy người ta mất thì vui mừng, những phú quý hiện tại cũng không khác gì do cướp mà có, tôi đưa ông ta đi gặp Bình Đẳng Vương, đày đến đất nước người lùn."
"Đất nước người lùn ư?" - Tôi rất ngạc nhiên.
"Là nơi tụ tập của những người nhỏ bé, bản thân họ cũng thật sự là những kẻ tiểu nhân."

Tôi thở dài, vị doanh nhân lớn tiếng tăm lẫy lừng này thật ra chưa phải là già lắm, nhưng thôn tính những doanh nghiệp khác, mưu đồ không trung thực, chỉ vì muốn mình được mà không cần biết đến người khác, lợi mình hại người. Ông ấy cũng lên kế hoạch làm thế nào để phát triển vượt bậc, trở nên giàu có và đủ giàu để trở thành một trong những người giàu có và nổi tiếng trên thế giới.
Nhưng, Đại Quỷ Vô Thường đã đến rồi.
Bản thân ông ấy chẳng biết.
Ông ấy không tu hành, không biết tu hành để làm gì. Tự cứu mình và được người khác cứu đều không thành, thân làm người giàu có cũng có tác dụng gì chứ! Sáu cửa thoát hiểm có tác dụng gì chứ?
Ông ấy đã đến đất nước người lùn rồi.


### 24. Đại Quỷ Vô Thường (2)


Trong lúc thần hành.
Tôi thấy Đại Quỷ Vô Thường đi vào một bệnh viện lớn, trước tiên Đại Quỷ đảo một vòng quanh phòng xét nghiệm, rồi lại đến phòng chụp X-quang đi một vòng, đi vào phòng thử thủy tinh thể của khoa Mắt rồi dừng lại, dừng lại một chút ở khoa Nội, sau đó đi thẳng vào phòng mổ, bên trong đang tiến hành phẫu thuật cho bệnh nhân, là một cuộc đại phẫu!

Tôi nghĩ trong lòng:
"Bệnh nhân đang được phẫu thuật này có lẽ sẽ mất mạng rồi, A Di Đà Phật!"
(Người thân của bệnh nhân đang được phẫu thuật đều ở bên ngoài đau khổ khóc lóc.)
Sau đó, chỉ thấy xiềng xích của Đại Quỷ Vô Thường trói một người lôi ra, tôi vừa nhìn thấy thì kinh hãi, không ngờ người bị trói lôi đi là bác sĩ phẫu thuật chứ không phải là người bệnh đang bị mổ.

"Có nhầm không đấy? Người bị trói là bác sĩ ư?" - Tôi hỏi.
"Không nhầm." - Đại Quỷ Vô Thường đáp.
"Bệnh nhân đang được mổ thọ mạng chưa hết, trái lại, bác sĩ phẫu thuật thì đã hết thọ mạng rồi, cho nên tôi đến để bắt bác sĩ đi."
Tôi hỏi tiếp:
"Bác sĩ cứu người cứu đời, sao lại như thế chứ?"
Đại Quỷ Vô Thường nói:
"Ông có biết biệt thự nhà ông ta làm sao mà có không? Xe sang của ông ta làm sao mà có? Đồng hồ kim cương của ông ta làm sao mà có? Quần áo, giày, phụ kiện hàng hiệu của ông ta làm sao mà có? Đất đai của ông ta làm sao mà có? Bất động sản của ông ta làm sao mà có? Cổ phiếu của ông ta làm sao mà có? Tiền tiết kiệm ngân hàng của ông ta làm sao mà có? Quan hệ chính trị thương mại của ông ta làm sao mà có?"
Tôi á khẩu không nói.
Đại Quỷ Vô Thường nói:
"Ông ta chỉ giúp người có tiền, không cảm thông với người nghèo, như thế có xem là từ bi tế thế không? Cần đối xử bình đẳng, thu của người giàu cũng được, nhưng với người nghèo thì lấy bớt đi, mới là nhân từ và khéo léo, thế thì thọ mạng của ông ta có thể kéo dài được."
Vị bác sĩ nổi tiếng này đã bị Đại Quỷ Vô Thường bắt đi rồi.
Đột tử.
Chết vì lao lực ngay tại phòng mổ.

Tôi đúng là bị làm cho hồ đồ mất rồi, người bị mổ thì sống, trái lại bác sĩ mổ thì chết. Sinh mạng thật là kì quặc, người khỏe mạnh thì đi, người không khỏe mạnh thì trái lại vẫn sống tiếp. Ông trời đúng là thích trêu đùa con người!
Tôi nói với mọi người, cứu người chính là cứu bản thân, cho người ta phương tiện chính là cho mình phương tiện, học y thì tốt nhất là hãy tích âm đức, cứu sống được nhiều người thì tấm lòng ấy sẽ lợi ích tất cả, ông trời tự nhiên có mắt, tận tâm tận lực cứu người là quan trọng!


### 25. Đại Quỷ Vô Thường (3)


Trong lúc thần hành.
Tôi trông thấy Đại Quỷ Vô Thường muốn bay đến một nơi nọ.
Tôi hiếu kì hỏi:
"Lần này lại đi bắt ai đấy? Vì sao lại vội vàng như vậy?"
Đáp:
"Một người tự xưng là đại tu hành giả."

Trong lòng tôi không ngừng chấn động, đại tu hành giả làm sao mà cũng rơi vào tay của Đại Quỷ Vô Thường, đã là đại tu hành giả thì đã tự chủ sinh tử, tức thân thành Phật, muốn vãng sinh đến Phật quốc tịnh thổ nào thì chỉ cần một niệm là đến, vì sao cũng bị Đại Quỷ Vô Thường đến bắt chứ?
Đại Quỷ Vô Thường nhìn tôi nghi hoặc, rồi nói:
"Người tu hành này cũng khá có trình độ về Phật học, nhưng lại ỷ vào tài học và một chút cảm ứng của anh ta mà thường xuyên ngang nhiên phê phán tăng nhân Thánh hiền từ xưa tới nay, chỗ nào không đúng ra sao, chủ trương không đúng ra sao, viết sách có sai lầm ra sao, tăng nhân đương đại cái gì cũng sai. Thế giới Ta Bà này ngoài anh ta ra thì không hề có một người khai ngộ, người giác ngộ, Thánh hiền tăng nào khác có kiến địa thật sự. Và đại thành tựu giả, ngoài anh ta ra, cũng không người nào có thể độ chúng sinh!"
Tôi "a" lên một tiếng.

Đại Quỷ Vô Thường nói:
"Toàn thế giới, tự xưng mình là vĩ đại nhất!"
"Toàn thế giới, tự xưng mình có kiến địa sâu nhất!"
"Toàn thế giới, tự xưng mình có công đức lớn nhất!"
"Toàn thế giới, tự xưng mình đã ngộ, người khác đều chưa ngộ!"
"Toàn thế giới, chỉ mình anh ta có thể độ chúng sinh, người xung quanh đều sai!"
Tôi đáp:
"Những lời này, ngay cả Phật Đà tại thế cũng không dám nói. Tuyệt đối không thể nói, tuyệt đối không được nói khoác."

Tôi hỏi:
"Rồi anh ta sẽ thế nào?"
Đại Quỷ Vô Thường nói:
"Bị phạt trong địa ngục, mỗi ngày bảy con rắn từ bảy lỗ chui ra, bởi đây là loại Phật khẩu tâm xà. Sau đó chuyển thế thành người thiểu năng trí tuệ."
Tôi nghe xong, xém chút nữa là ngã lăn ra đất, quá đỗi bi thảm.
Trước kia tôi nói ngạo mạn chính là ma, quả nhiên đúng vậy. Bản thân có tài hoa, cần độ nhiều người mới phải, đừng quá ngạo mạn, đừng phê bình lung tung, bởi vì phạm vào ngã mạn cũng là nghiệp chướng, sao không biết người và ta là một thể chứ?
Đại Quỷ Vô Thường nói:
Đừng chê người ngắn.
Đừng khoe ta dài.


### 26. Đại Quỷ Vô Thường (4)


Trong lúc thần hành.
Tôi rất tò mò về Đại Quỷ Vô Thường, cũng có một vài điều nghi hoặc muốn hỏi, thế là tôi nói:
"Tôi có thể đi cùng không?"
"Xin cứ tự nhiên!" - Hắn chẳng hề bận tâm.
Hai vệt ánh sáng thần hành rất nhanh, chói lòa.

Tôi hỏi:
"Người tu hành tương đối có kiến địa, sao có đạo lí không thể dùng lời nói văn tự để giáo huấn người khác chứ?"
Đại Quỷ Vô Thường đáp:
"Lời nói văn tự có thể phát biểu kiến địa của mình, nhưng cố gắng hết sức không bóc mẽ yếu điểm của người khác."
"Thế thì không có cách nào sửa chữa cái sai của người khác?"
"Âm thầm biến đổi họ thôi." - Đại Quỷ Vô Thường đáp.
"Phương pháp này thế nào?" - Tôi hỏi.
"Giáo dục bằng lời nói không bằng lấy chính mình làm gương, tốt khoe xấu che, làm chứ không dạy bằng lời nói." - Đại Quỷ Vô Thường nói: "Thế nhân thích nghĩ rằng họ mới là thông minh tài trí số một, luôn luôn dùng lời nói văn tự để đi giáo huấn người khác, đi trêu chọc người khác, đi dằn vặt người khác, đi ức hiếp người khác, tự cho rằng họ đang đi bảo vệ giữ gìn nguyên tắc chân lí. Kì thực là luôn luôn hiếp đáp người khác đến mức không thể chịu đựng được, đó là tự cao tự đại, chấp vào cái tôi, là tâm sân hận."

"Xin lấy một ví dụ để dạy chúng tôi!"
"Vua Thuấn."
"Vì sao là vua Thuấn?"
Đại Quỷ Vô Thường nói:
"Vua Thuấn là thuần hiếu, đối với người sỉ nhục ông ấy, ông ấy đều giấu đi, bỏ qua không nói, bất kì việc gì đều nhún nhường, hơn nữa, ngược lại còn khen ngợi người khác, cũng tức là dùng chính mình làm tấm gương để âm thầm thay đổi người mẹ kế và em trai của mình. Không hề dùng giáo huấn của mình để đi phơi bày ác ý của người khác, thấy người khác có lỗi thì bao dung và che chở họ."
"Như vậy thì khó quá nhỉ?" - Tôi nói.
"Khó làm mà làm được thì mới là hành giả."
"Nếu chỉ thẳng ra sai lầm của người khác thì thế nào?"
"Nói một lời, viết một chữ, suy nghĩ đều vì chúng sinh, thì không xem là quá đáng. Nhưng lăng nhục, oán hận, chiếm đoạt, đấu tranh, bài trừ, biểu dương cái xấu, che giấu cái tốt,… cho thấy cái phong thái hẹp hòi của bản thân hành giả, không khoan dung độ lượng, tu hành đến mức độ này thì chính là atula. Trái lại không thể cảm động lòng người, người ngoài không khỏi bất bình."
Tôi im lặng không nói, nói chung tôi cũng hiểu phần nào.


### 27. Đại Quỷ Vô Thường (5)


Trong lúc thần hành.
Tôi đã trông thấy vô số Đại Quỷ Vô Thường đều đang lên đường, cả bầu trời giống như mây đen che kín mặt trời, đen kìn kịt, giơ tay ra cũng không nhìn thấy ngón tay. Trong lòng tôi vô cùng sợ hãi.

Tôi tìm đến một Đại Quỷ Vô Thường hỏi:
"Là tai nạn giao thông sao?"
"Đó chỉ là chuyện vặt!" - Đại Quỷ Vô Thường đáp: "Đâu cần lên đường nhiều như vậy chứ!"
"Tai nạn máy bay sao?"
"Vẫn là chuyện vặt thôi!"
"Động đất, hỏa hoạn, gió bão, lũ lụt, núi lửa phun trào?"
"Cũng vẫn chẳng đáng gì!"
"Chết trận chiến tranh sao?"
"Chuyện này thì hơi lớn rồi, một trận chết trăm nghìn vạn, lớn quá."
"Còn gì được coi là lớn nữa?" - Tôi không hiểu.
Đại Quỷ Vô Thường nói:
"Dịch bệnh. Các ngôi sao đâm vào nhau."
"Đây là cái gì chứ?" - Tôi hết sức kinh hãi: "Chẳng phải là chết hết cả sao!"

Đại Quỷ Vô Thường nói: "Do cộng nghiệp của nhân loại ở thế giới Ta Bà tạo nên. Thế gian này người tốt ít, người ác nhiều, thủy hỏa đao binh, tai nạn xe cộ, tập kích trên không, bệnh nặng, tù oan, nhà tan cửa nát, người lâm nguy, những cái này đều là chuyện vặt thôi. Thượng thiên thấy con người, người hung ác càng ngày càng nhiều, cướp bóc càng ngày càng nhiều, những kẻ tiểu nhân rắn rết quá nhiều, trọng mình khinh người, trăm mưu nghìn kế, lòng người quá suy đồi, cộng nghiệp càng ngày càng nhiều, nhân gian tất sẽ gặp họa bất ngờ."
Tôi nghe xong mà rớt nước mắt.
Tôi hỏi: "Phải làm sao?"

Đại Quỷ Vô Thường đáp:
"Ngài có thể ẩn cư ở hồ Diệp Tử, ẩn mình sám hối nghiệp tích lũy nhiều kiếp, yểm trợ cho thế đạo, khuyên người tu chính, bản thân chịu thiệt cũng vẫn bình tâm nhẫn nhục, ngày đêm tu trì niệm Phật trì chú, nhất tâm cầu vãng sinh Phật quốc tịnh thổ, ngài có thể khiến người ta thuận tiện, còn mình thì cam chịu thiệt thòi, biết đủ là vui, tự có thể vãng sinh."
Tôi nói: "Tôi lo lắng cho chúng sinh quá!"
Đại Quỷ Vô Thường nói: "Tận tâm tận lực thôi!"
"Tôi phải làm sao?"
"Giáo huấn bằng chính mình, giáo huấn bằng lời nói." - Đại Quỷ Vô Thường nói.


### 28. Đại Quỷ Vô Thường (6)


Trong lúc thần hành.
Tôi hỏi:
"Đại Quỷ Vô Thường, ngài muốn tôi lấy mình làm gương để giáo huấn, dùng lời nói giáo huấn, dù có thể độ tất cả chúng sinh, nhưng không chắc là chúng sinh đều có thể độ, trái lại còn chịu nhục, phải làm sao mới phải?"
Đại Quỷ Vô Thường đáp:
"Nhẫn chính là cửa dẫn đến mọi điều tuyệt diệu!"
Tôi nói:
"Tôi hiểu nhẫn nhục. Tôi tu nhẫn nhục mà."

Đại Quỷ Vô Thường nói: "Thế nhân ngày nay cho dù là Thánh hiền như Phật Đà, đối nhân xử thế khoan dung, cũng khó tránh phải chịu nhục, nhưng tu hành phải học ba điều!"
"Ba điều gì?"
Đại Quỷ Vô Thường đáp:
"1. Giống như đi bộ trong bụi gai, vừa đi vừa mở đường.
2. Cần quán tưởng sỉ nhục giống như những con thuyền rỗng đụng vào mình.
3. Cần quán tưởng sỉ nhục như ngói bay va trúng mình.
Chỉ cần không động tâm thì nỗi bực dọc sẽ từ từ được tan biến."

Đại Quỷ Vô Thường lại dạy tôi:
"Chỉ cần tu hành giả tu được định lực thì chắc chắn có thể vững chắc, nhẫn nhịn được. Nếu theo nguyện lực của Liên Sinh Hoạt Phật ngài đây thì ngài còn phải độ hóa những chúng sinh oán ngài, hận ngài, hại ngài, tổn thương ngài, phỉ báng ngài, giết ngài nữa, nguyện lực ấy lại càng lớn."

"Tôi phải làm thế nào?"
Đại Quỷ Vô Thường đáp:
"Thay người ta tu pháp đi! Lấy đức báo oán, dần dần linh căn của họ sẽ được tăng trưởng, ngài tu pháp cho họ, vốn chẳng thiệt thòi gì mà bản thân còn đắc được quả vị nhẫn nhục, cũng tiêu trừ được oan nghiệp giữa người và người."
"Tôi sẽ làm như vậy!"

Tôi nói:
"Xin hỏi Đại Quỷ Vô Thường, ngài là ai vậy? Bản địa của ngài ở đâu?"
Đại Quỷ Vô Thường nói:
"Dạy con cháu làm người lương thiện là nhà của tôi."
"A! Thiện Quang Phật! Ngài là Thiện Quang Phật!"
Đại Quỷ Vô Thường tỏa hào quang vạn trượng, trong không trung, khánh vân bảo tràng phóng quang, phía trước phía sau đều là Bồ Tát, Hộ pháp, Chư thiên.
Tôi chắp tay niệm:
"Nam mô Thiện Quang Như Lai."


### 29. Thiện nhân quân tử không nhiều


Trong lúc thần hành.
Tôi nhớ đến lúc nhỏ đọc Kinh Thánh: "Jesus nói, ngay cả một người tốt cũng không có, ngay cả nửa người tốt cũng không có." Giống như Thánh nhân Khổng Tử của Trung Quốc cũng nói: "Vẫn chưa gặp được thiện nhân quân tử!" Hai câu nói này khiến tôi thấy sợ hãi.
Chả trách trong kinh Địa Tạng nói: "Nhấc chân động niệm, không có cái gì không phải là nghiệp." (tạo nghiệp)

Tôi thấy:
Người thăng thiên ít.
Người xuống địa ngục nhiều.
Trên tầng mây xanh, bầu trời trống vắng, mà chẳng có người nào.
Còn dưới địa ngục, tiếng người nhốn nháo ầm ĩ, thật là đáng sợ vô cùng.

Trong lúc thần hành, tôi không khỏi cảm khái muôn phần, trong lòng thấy buồn vô hạn. Khi thần hành thường có thần minh mời tôi uống trà, hoặc mời tôi ăn điểm tâm, lại còn bày rất nhiều tiệc rượu mời tôi ăn uống, cho nên tôi chẳng hề bị đói.
Có một Địa Thần chuẩn bị sẵn bữa cơm ngon mời tôi, còn nói với tôi: "Ngài là một bậc thiện nhân quân tử, chỉ vì ngài xưa nay có tấm lòng nhân hậu, không có tâm hại người và động vật, đó chính là lí do mà Địa Thần tôi cung kính ngài."

Tôi nghe xong, trong lòng cảm thấy hổ thẹn, tôi nói:
"Tâm hại người hại động vật thì tôi không có, nhưng tôi đã phạm rất nhiều sai lầm không cố ý! Chính tôi cũng phải sám hối mới đúng. Ngài nói tôi là thiện nhân quân tử, thật không dám, thật không dám, tôi chỉ là muốn làm hết sức bổn phận làm người của mình thôi, không đòi hỏi phúc gì, có thể bình an, thuận lợi sống qua ngày, thế là rất tốt rồi."
"Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn có sai lầm sao?" - Địa Thần hỏi.
"Có."
"Có sai lầm thì phải làm sao?"
"Sau này phải cẩn thận, thân khẩu ý thanh tịnh, làm việc hợp với lòng trời, tích cực hành thiện, vì chúng sinh thiên hạ niệm Phật trì chú, tịnh hóa dục niệm của bản thân, từ nay về sau không tái phạm nghiệp, đến mức độ cả đời phải bảo vệ thân tâm."
Thần minh nghe xong thì rất vui mừng.
Rồi đem đồ ăn ngon ra mời tôi ăn.
Thật ứng với một câu nói: "Hoàng thiên vô thân, duy đức thị phụ". [một câu nói của Nho gia, ý nghĩa là trời cao công chính vô tư, luôn giúp người phẩm đức cao thượng.]


### 30. Sứ giả Hắc Quan


Trong lúc thần hành.
Xa xa có một bầy tà yêu ác quỷ kéo đến, bầy tiểu yêu tiểu quỷ này khiêng một chiếc quan tài màu đen, bên trong chiếc quan tài màu đen này có một người nằm.
Nghe nói người này rất lợi hại.
Bầy tà yêu ác quỷ này dọc đường cứ nhiếc móc liên hồi, thái độ điên cuồng ngang ngược, bọn chúng tìm đến một hộ gia đình tăm tối u ám và khiêng cái quan tài đen vào trong nhà.

Tôi hỏi Địa Thần:
"Quan tài đen này là cái gì?"
Địa thần đáp:
"Quan tài đen là ma dịch bệnh, chỉ cần khiêng vào nhà nào thì người trong nhà ai mắc bệnh sẽ mắc bệnh, ai trúng ma sẽ trúng ma, cả nhà đều suy tàn! Không cứu được."
"Đây chẳng phải là hại người sao?"
Địa Thần đáp:
"Phàm là những gia đình mờ ám, ma dịch bệnh có thể tự do ra vào, đây gọi là họa phúc không có cửa, chỉ có người tự rước vào, ma dịch bệnh trông thấy những gia đình mờ ám liền biết có thể xâm nhập, người trong nhà này chắc chắn sẽ bị yêu ma quấy rối, từ đó sẽ đau khổ chịu không thấu."
"Sao các ngài không cứu chứ?" - Tôi hỏi.
Địa Thần đáp:
"Chúng tôi không thể cứu, công lực không đủ. Sứ giả Hắc Quan cao cấp hơn chúng tôi!"
"Ai có thể cứu?"
Địa Thần đáp: "Ngài!"

"Làm sao cứu?"
"Ngài cứ đi thẳng vào trong là có thể cứu được gia đình này rồi."
Tôi không nghĩ nhiều, liền đi thẳng vào trong cửa nhà, không ai có thể chặn được thân trung ấm, tôi vừa vào trong lập tức ánh sáng lan tỏa rực rỡ.
Chỉ nghe thấy tà yêu ác quỷ nháo nhào cả lên:
"Tránh xa Lư Thắng Ngạn!"
"Liên Sinh Hoạt Phật đến cứu gia đình này rồi!"
Sứ giả Hắc Quan hét lớn:
"Mau khiêng ta ra ngoài đi!"

Tiểu yêu tiểu quỷ vội vàng khiêng quan tài đen từ cửa sau tẩu thoát nhanh như chớp, loáng một cái đã không còn dấu vết nào, chúng đã bỏ chạy sạch trơn.
Trong lòng tôi cảm thán, quả nhiên tà không thắng chính, yêu tà ngoan ngoãn tránh xa rồi, một câu A Di Đà Phật vang lên thì ma dịch bệnh cũng không dám xâm phạm.


### 31. Thứ tự độ chúng sinh


Trong lúc thần hành.
Tôi từng kể tôi đã nhổ toàn bộ cờ đen trên một ngọn núi nọ để tránh cho con người và gia súc sống trên ngọn núi này bị dịch bệnh tấn công.
Tôi nghe lũ ma dịch bệnh nói chuyện rõ mồn một.

Một con ma nói:
"Vì sao ngọn núi này rõ ràng cũng có cắm cờ đen, thế mà bây giờ lại không có?"
Ma dịch bệnh đáp:
"Có một người sống ở núi này phẩm đức tốt, cho nên mới không có cờ đen."
Hai con ma đi đường vòng sang núi khác.
Chính vào đợt dịch bệnh đó, chỉ có người và gia súc ở khu vực này tránh được nạn.

Bây giờ tôi cũng có một vấn đề:
"Độ chúng sinh có phân biệt không? Có thứ tự không?"
Tôi từng vì chuyện này mà hỏi Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn, Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Duyên phận!"

Kim Mẫu nói: "Nhìn chung đầu tiên là độ hóa người thân, sau đó độ hóa bạn bè cùng học, tiếp đến là những người hữu duyên, cuối cùng là chúng sinh vô duyên."
Kim Mẫu lại nói:
"Theo như ngài mà nói thì trước tiên độ hóa người thân, tiếp theo độ hóa đệ của ngài, sau đó là hàng xóm, người hữu duyên, cuối cùng là chúng sinh vô duyên."
Sau cùng, Kim Mẫu nói:
"Ngài ẩn cư ở hồ Diệp Tử, đương nhiên ngài độ hóa đệ tử của ngài trước, sau đó độ hóa xung quanh khu hồ Diệp Tử, cuối cùng mới là theo duyên phận khi thần hành."
Tôi gật gật đầu.

Tôi bây giờ mỗi ngày đều cầu nguyện: "Phàm là người viết thư đến Chân Phật Mật Uyển cầu siêu độ, Phật Bồ Tát tiếp dẫn đến Phật quốc thanh tịnh, phàm là người viết thư đến Chân Phật Mật Uyển cầu nguyện, hãy để cho họ được mãn nguyện!"
Tôi thần hành khắp nơi, gặp người hữu duyên thì sẽ cứu độ, tôi hi vọng có thể công bằng, công chính độ hóa chúng sinh, nhưng chúng sinh cũng cần chuẩn bị cho tốt!
Hành thiện.
Tu pháp.
Tự thanh tịnh tâm ý.
Tôi cảm thấy hành thiện, tu pháp, tự thanh tịnh tâm ý, chính là người hữu duyên rồi, Phật quốc hữu duyên, Phật pháp tương nhân, đáng khen ngợi biểu dương, đó là thứ tự độ chúng sinh tự nhiên hình thành.


### 32. Âm phủ có nhiều thiên tử hoàng đế


Trong lúc thần hành.
Tôi thấy ở trong âm phủ có rất đông thiên tử hoàng đế của các triều đại, lúc họ còn tại thế thì lẫy lừng không ai so bì nổi, nhưng sau khi chết đi thì lại đọa vào âm phủ.
Vì sao lại như vậy? Khi mới thấy thì rất kinh ngạc!
Đáp án rất đơn giản, thiên tử hoàng đế các triều đại thường thích việc lớn hám công to, thường xuyên nước tôi đánh nước anh, nước anh đánh nước tôi, gây ra rất nhiều chiến tranh loạn lạc, và người chịu khổ luôn là dân thường.

Còn nữa.
Thiên tử hoàng đế hễ vui là lập tức thăng quan gia tăng bổng lộc.
Thiên tử hoàng đế hễ giận là lập tức tru di cửu tộc.
Các thiên tử hoàng đế của Trung Quốc như vậy, nước ngoài cũng không khác mấy, những nhà cầm quyền các thời đại chỉ một sai lầm trong suy nghĩ là khiến chúng sinh trong một thành trì đều chết hết.

Thế nên trong âm phủ có mấy chữ:
"Dù thiên tử cũng đến, duy Thánh đức thăng thiên."
Ở trong âm phủ tôi đã gặp rất nhiều thiên tử hoàng đế các triều đại, thời gian đã qua lâu như vậy rồi mà nghiệp báo vẫn chưa hết, chẳng biết ngày nào được ra.
Một đời làm quan.
Chín đời làm trâu.
Câu nói này chẳng sai chút nào.
Trong âm phủ, tôi nhìn thấy những nhà cầm quyền, tôi không muốn nói ra họ là ai, thật sự là quá nhiều. Hễ anh làm tổn hại lẽ trời, giết hại sinh mạng, làm trái luân thường, chỉ một sơ suất, nói sai một câu là lập tức xác chết đầy đường. Những người cầm quyền sao không thận trọng chứ!

Ngoài ra, những nhà phát minh cũng cần chú ý.
Phát minh ra những vũ khí giết người diệt tộc.
Cầu thoát ra mà chẳng biết tới bao giờ, người Thánh đức thật quá ít rồi.
Tôi trích từ Luận Ngữ, chương Thuận Nhi:
Khổng Tử nói: "Bậc thánh nhân, ta không được thấy; được thấy bậc quân tử, ấy là khá rồi."
Khổng Tử nói: "Bậc thiện nhân, ta không được thấy; được thấy bậc hữu hằng, ấy là khá rồi."
Không có mà cho là có, trống rỗng mà cho là đầy đủ, thiếu thốn mà cho là thừa thãi, khó mà là bậc hữu hằng được!"
(Hành thiện, quý ở cái chỗ bền chí, tu hành, quý ở cái chỗ bền chí.)


### 33. Thơ thần hành


Trong lúc thần hành.
Tôi muốn viết một bài thơ thần hành tặng mọi người:

Thật sự chẳng biết chính xác thời gian
Cũng không thể biết nơi chốn tôi nên thần hành tới
Trong pháp giới đâu thể đếm hết những bước chân vô hình
Chuyện gì buồn, điều gì vui khi đến với chúng sinh Ta Bà.

Tôi thật sự rất muốn rời xa nhân thế
Bởi đến lúc phải đi thì sẽ phải rời đi
Mặc dù chẳng nói sẽ vội vàng như thế
Nhưng với tôi người phiêu bạt nổi trôi
Quãng thời gian cô tịch đang luôn chờ đợi.

Chúng ta đều biết vui buồn là ngắn ngủi
Chúng ta đều biết phải đối diện vô thường
Trở thành một câu nói ngắn gọn giản đơn
Trân trọng chào tạm biệt
Tất cả đều tự nhiên vô cùng.

Thần hành đây như những chuyến đi du hí
Tình cảm của tôi như thế vẫn dạt dào
Một lần nữa tôi mong bạn thấu hiểu
Tôi luôn bao bọc và chở che
Tu hành của các bạn chắc chắn có linh nghiệm.

Để tâm linh và tâm linh gặp mặt một lần nữa
Để lời cam kết của tôi mãi mãi chẳng đổi thay
Để trái tim chúng ta cùng chung một nhịp đập
Để giấc mộng của bạn cũng là giấc mộng của tôi
Để bạn đều đến được Vong Ưu Quốc trong trái tim tôi
Rồi ở trong cảnh giới siêu nhiên ấy
Ta vĩnh viễn mãi mãi không ngừng hát ca.


### 34. Thần tiên không nổi giận


Trong lúc thần hành.
Tôi đến một động thiên phủ địa, là nơi ở của thần tiên.
Tôi thấy một vị Thánh hiền toàn thân tỏa ánh sáng cát tường, chiếu khắp trời đất. Tôi chỉ mới được ánh sáng chiếu đến đã cảm thấy mát rượi không gì sánh bằng, mọi sự khó chịu đều tan biến.

Tôi hỏi: "Thánh tiên tên húy là gì?"
Đáp: "Đường Nhã Sơn."
"Tu hành ra sao?"
Đáp: "Không nổi giận."
Tôi nói: "Không nổi giận này cũng khó lắm, nhân gian Ta Bà, khắp nơi đều là những chuyện bất bình, giữa các quốc gia, giữa các gia đình, nhân sự công ty, giữa con người với nhau, sao có thể không nổi giận chứ?"
Đường Nhã Sơn đáp:
"Người luyện khí không nên nổi giận. Kinh Thai Tức nói: thai hình thành từ trong phục khí, khí thở từ trong thai, khí vào trong thân gọi là sống, thần rời bỏ hình gọi là chết. Thần khí hài hòa có thể trường sinh, giữ chắc hư vô nhằm dưỡng thần khí, thần hành thì khí hành, thần trụ thì khí trụ, nếu muốn trường sinh, thần khí cùng tập trung, tâm không động niệm, không đến không đi, không ra không vào, thường trụ trong tự nhiên, chăm chỉ thực hành là con đường chân đạo."

Tôi nghĩ một lúc, cảm thấy ở đây có lí lẽ.

1. Thần khí bình hòa (thiền).

1. Giữ hư vô (vô dục).

1. Tâm không động niệm (vô niệm).

1. Thường trụ trong tự nhiên (giữ giới).

1. Không đến không đi (định).

1. Chăm chỉ thực hành (tinh tấn).

Một người chỉ cần tu không nổi giận, không phẫn nộ thì thần khí có thể thường trụ, thật ra "vô sở vị" (không hề gì) cũng chính là con đường tắt.
Chửi bạn cũng không hề gì.
Đánh bạn cũng không hề gì.
Phỉ báng cũng không hề gì.
Giết bạn cũng không hề gì.
Bị lừa cũng không hề gì.

Phàm phu sở dĩ là phàm phu chính là vì có "hỏa khí", tu đến khi một chút hỏa khí cũng không còn, thần khí tập trung, tâm không động niệm thì chính là thần tiên rồi!
Thần tiên không tức giận, không có gì đáng để tức giận cả! Hãy thử suy ngẫm đi!


### 35. Đến Tri Túc Quốc


Trong lúc thần hành.
Tôi đã đến Tri Túc Quốc. Đây là động thiên phủ địa của thần tiên. Khiến tôi nghĩ đến cuộc sống ẩn cư tại hồ Diệp Tử, tôi thật lòng thật sự nói với mọi người rằng, tôi ngủ trên một tấm chiếu cỏ, tôi ăn thức ăn thô, tôi không mặc trang phục Lama nữa để hàng xóm xung quanh không cảm thấy quái dị, tôi mặc quần bò áo thô, đi ra ngoài chủ yếu là cuốc bộ, xe đạp của tôi đã bị hỏng còn chưa sửa.
Ở trong nhà nhiều, ra ngoài ít, trừ khi đi kinh hành.

Mấy năm nay, có vài lần tôi đã cận kề ranh giới cái chết, tứ đại phân tán, não phân thành tám mảnh, thế là tôi thường xuyên thần hành, trung ấm (linh hồn) từ lỗ đỉnh đầu đi ra, du hành khắp thập phương pháp giới, khiến tôi có được sự giải thoát tạm thời khỏi đau khổ của nhục thể.
Vì vậy, tôi đã hiểu:
Già khổ.
Bệnh khổ.
Chết khổ.

Thần hành ở Tri Túc Quốc, thần tiên ở đây đều "biết đủ", ví dụ Âu Dương Tu chính là một trong những thần tiên sống ở đây, Đậu Vũ Quân cũng vậy.
Họ nói:
"Tri Túc Quốc chính là Vong Ưu Quốc, ở Tri Túc Quốc chẳng có tranh giành, cũng có nghĩa là không có ưu sầu."

Tôi hỏi:
"Hoang phí thì sao?"
"Tiêu tốn phúc phận thôi!"
"Keo kiệt thì sao?"
"Tự tư tự lợi tất sẽ xuống địa ngục!" (không hiểu cần làm việc thiện)
"Thần tiên ở Tri Túc Quốc thì sao?"
"Biết đủ không hổ thẹn, biết đủ không nguy hiểm, biết đủ thường vui vẻ, biết đủ nên cái tôi thanh tịnh, biết đủ nên yên ổn, biết đủ nên quên ưu sầu, biết đủ nên tự nhiên, biết đủ nên có phúc."
"Vậy không biết đủ thì sao? Người quá yêu tiền ấy?"

Thần tiên cười lớn:
"Cái gọi là vinh hoa phú quý từ đời nọ đến đời kia đều là hôn mê và vô tri, sao không hiểu "thậm ái tất đại phí, đa tàng tất hậu vong" [câu nói của Lão Tử trong Đạo Đức Kinh, nghĩa là yêu nhiều ắt sẽ tổn nhiểu, cất giấu nhiều ắt sẽ mất nhiều.] Các thiên tử hoàng đế các triều đại trăm nghìn vạn triệu nay đâu còn nữa chứ! Các Quốc vương ngày nay tranh giành đất đai, hại người tử vong, chính là tạo cái căn lớn trong địa ngục đó!"
Tôi nghe xong mà kinh hãi.


### 36. Tôi tôn sùng Lã Tổ


Trong lúc thần hành.
Tôi chợt nghĩ một người thầy hiện đại chí ít nên có những điều kiện cơ bản nhất:

1. Biết đạo đức.

1. Biết chính pháp.

1. Tâm mềm mỏng.

1. Không hại người.

Tôi được nghe một câu chuyện xưa khiến tôi không ngớt cảm động:
Thủ lĩnh của phái Bát Tiên là tổ sư Chung Li Quyền truyền pháp đan cho tổ sư Lã Động Tân, pháp đan này là thuật tiên biến sắt thành vàng. Mục đích chính vẫn là thiện, có thể dùng pháp này để cứu tế những gia đình bần cùng thời đó.
Lã Tổ hỏi Chung Tổ: "Biến thành vàng rồi, có thể biến trở lại thành sắt không?"
Chung Tổ đáp: "Năm trăm năm sau sẽ biến thành sắt như ban đầu!"
Lã Tổ nói: "Con không muốn học đan thuật luyện sắt thành vàng, con không muốn hại con người của năm trăm năm sau."
Tổ sư Lã Động Tân có tấm lòng lương thiện thật thà.
Tổ sư Chung Li Quyền ca ngợi rằng: "Tu tiên phải tích ba nghìn hạnh tám trăm công, một lời nói này của con đã đủ ba nghìn tám trăm rồi!"

Mọi người có thể ngẫm nghĩ mà xem.
Muốn thành tựu Phật đạo, đầu tiên phải nói đến phát bồ đề tâm, nhất định phải từ bi, phải có tâm mềm mỏng, không được hại người. Trên đời này sao có được một vị thầy cao siêu khi vị thầy ấy không biết đạo đức, không biết chính pháp, tâm ác độc cay nghiệt, chuyên môn hại người chứ!
Muốn bái thầy phải nghe lời nói của người ấy, xem hành vi của người ấy!
Ở trong âm phủ, tôi trông thấy rất nhiều sư phụ xuất gia, đạo trưởng xuất gia, ưu bà tắc, ưu bà di xuất gia, rất nhiều rất nhiều sư phụ các giáo phái, họ đều đọa vào cõi âm gian địa phủ. Chỉ vì miệng nói tu hành nhưng trong tâm không hề tu hành, khẩu thị tâm phi, tâm địa quá bẩn, quá độc ác. Bọn họ đã hại rất nhiều người, các đồ đệ trở thành ma con ma cháu.
Tôi rất sùng kính tổ sư Lã Động Tân.
Ngài ấy không muốn hại con người của năm trăm năm sau.
Là tâm mềm mỏng đó!

Tôi xin mời những người quy y các minh sư thử nghĩ mà xem, trước khi bạn muốn quy y sư phụ, hãy thử quan sát sư phụ của bạn đi! Sư phụ của bạn tâm có mềm mỏng không? Sư phụ của bạn có hại người không? Chí ít sư phụ của bạn phải là một vị thiện nhân quân tử mới được.


### 37. Đừng phát minh vũ khí sát sinh hại mệnh


Trong lúc thần hành.
Vì cứu độ chúng sinh, tôi đã thâm nhập vào địa phủ sâu nhất, đáng sợ nhất, con người ở địa phủ này có thể nói là "chẳng có ngày thoát ra", tử báo vô tận, khiến người ta vô cùng thương xót! (như địa ngục vô gián)

Ở nơi này nhốt:
Người phát minh ra quải tử mã. [quải tử mã là một hình thức chiến thuật, ba kị sĩ được liên kết với nhau bằng một sợi dây da.]
Ngư Tư Huyến phát minh ra bánh xe dao dùng trong chiến tranh.
Phát minh thuốc nổ, súng cầm tay, đạn đạo, địa lôi, thủy lôi.
Phát minh khí độc. Phát minh chiến xa. Phát minh bẫy thú bằng vòng sắt nhọn.
Bom hydro, bom nguyên tử, bom hạt nhân, tên lửa các loại.
…

Chúng sinh bị nhốt ở địa phủ này, điều khiến tôi ngạc nhiên là, họ đều là những nhà phát minh tài trí giỏi nhất, ngay cả những danh nhân vĩ đại nhất thế giới cũng ở trong đó. Chỉ vì họ phát minh ra những vũ khí sát sinh hại mệnh, nghiệp ác ấy rất nặng, khiến cho rất nhiều người mất mạng, họ có nhân tính méo mó, trí tuệ càng cao, quyền lực địa vị càng nặng, ác nghiệp đương nhiên là sâu nặng nhất.

Khi họ tại thế thì ngông cuồng tự cao tự đại.
Là cha đẻ của bom hydro.
Là hạ lệnh một tiếng, toàn bộ tộc người bị phun khí độc mà chết.
Bây giờ đây, họ rơi vào tay của Diêm La, chẳng có ngày thoát ra.

Những người nổi tiếng vĩ đại nhất thế giới mà tôi nói đến cũng ở trong địa ngục này, nếu tôi nói ra tên húy của họ, bảo đảm ai nấy đều ngã ngửa ra đất.
Không phải là Adolf Hitler, cũng không phải là Mussolini.
Nổi tiếng hơn cả Hitler, Mussolini và Tojo nữa.

Trời ơi! Tất cả mọi loài động vật đều có tình yêu thân quyến, thế gian khổ nhất là sinh li tử biệt, thật khiến người ta đau đứt ruột gan, phát minh ra những vũ khí sát sinh hại mệnh, ôi! Thế gian còn chuyện gì hung ác hơn, bi thảm hơn cái này chứ?
Đao.
Tên.
Cung.
Bẫy thú.
Đều không thể làm, huống hồ là những vũ khí sinh hóa. Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người, Phật Bồ Tát có vô hạn thương yêu và bi nguyện, nhưng nhân loại lấy cái ác là quyền năng của mình, nhẫn tâm làm điều tàn ác, thì lòng nhân từ của chúng ta dù có quảng đại cũng chỉ nhỏ máu và nước mắt mà thôi!


### 38. Câu chuyện tổ chim


Trong lúc thần hành.
Tôi đã gặp một người họ Lư, người này sống ở địa ngục cô độc, đã sống trong sự cô tịch mấy đời rồi, rất quạnh hiu đau xót.

Tôi hỏi anh ta:
"Anh cũng họ Lư, chúng ta cùng dòng họ rồi, lúc tại thế anh làm nghề gì?"
Anh ta đáp:
"Tôi chuyên phá tổ chim, tổ ong, tổ kiến, kiểu vậy."
"Tổ chim vì sao mà phá?"
"Chim làm tổ ở trên xà nhà, ị phân đầy xuống đất, chủ nhân thấy thế là thiếu lễ độ bèn mời những người như chúng tôi đến phá."
"Diêm La phán tội gì?"
"Phá hoại gia đình, cho nên phải chịu cô độc mấy đời!"
Tôi nghe xong cũng thấy kinh hoàng.

Tôi nhớ khi tôi khởi công xây dựng Biệt thự Cầu Vồng, có ba tổ kiến lớn, công nhân tính dùng lửa đốt, tôi nói "không được", sau đó họ dùng túi nylon lớn di chuyển ba tổ kiến lớn đó sang ngọn núi khác.
Còn nữa, trên cổng chính của Biệt thự Cầu Vồng, chim én làm tổ, rồi đẻ ra trứng chim con, bên dưới cổng chính có rất nhiều phân chim trắng trắng đen đen.

Có đệ tử kiến nghị dẹp bỏ tổ chim để giữ được cảnh quan. Tôi nói "không được".
Chúng ta bỏ thêm chút thời gian để cọ rửa sạch phân chim đi!
Năm ấy, nếu tôi làm theo đề nghị của công nhân, đốt lửa thiêu ba tổ kiến lớn (ba ụ đất rất lớn), làm theo đề nghị phá bỏ tổ chim én, tôi không chỉ phá tan gia đình chúng mà thậm chí còn giết nghìn nghìn vạn vạn mạng động vật.
Nghiệp ấy, làm sao trả?

Còn đối với tổ ong vò vẽ, to như quả dưa hấu, ong vò vẽ có thể đốt chết người, gặp chuyện này, phải bàn bạc với chuyên gia, nên làm sao để không làm hại đến tổ ong, cũng không hại người, đẹp cả đôi bên, như vậy mới là cách đối phó tốt nhất.
Người tu hành chúng ta tâm giữ sự từ bi, biết sinh li tử biệt đều là chuyện bi thảm, gia đình con người không thể tan nát, gia đình động vật cũng không thể tan nát, đó cũng là nhân từ với con người và động vật.

Một bài kệ tôi từng đọc:
*Sinh li, trải qua rồi mới hiểu.
Ra đi, đầu cứ ngoái lại nhìn.
Lần này, không còn trở lại nữa.
Nhớ con, con có biết hay chăng?*


### 39. Đổi một vị thầy vậy


Trong lúc thần hành.
Tôi đã đến nhà của một đệ tử mà tôi rất nhớ, trong nhà họ có một người khách, người khách này tin Phật, nhưng là người của tông phái khác.

Khách nói:
"Thầy tôi là danh môn chính phái, mọi người khâm phục và ngưỡng mộ, địa vị tôn giáo xã hội cao quý, các nhân vật chính trị ai cũng nhiệt tình thăm viếng, chúng ta học Phật lẽ ra nên quy y Tam Bảo của chính phái."
Đệ tử đáp:
"Tôi tin thầy tôi, thầy tôi có phẩm chất riêng, thầy tôi hoằng Mật tông, cũng hoằng Tịnh thổ, cũng truyền chính pháp. Viết sách không ngừng, đề cập đến mọi khía cạnh cuộc sống, thầy tôi chỉ dẫn chúng tôi một lòng hướng thiện, thầy tôi cũng là một vị minh sư."
Khách nói:
"Nhưng bên ngoài, ông ấy có rất nhiều tai tiếng tiêu cực, giới tôn giáo phê bình không hay, mọi người hà tất chỉ quy y ông ấy, đổi một vị thầy khác cũng rất tốt mà!"
"Thế nào là đổi một vị thầy khác?"
"Ban đầu là thầy thì vẫn là thầy, chỉ là quy y nhiều hơn một vị thầy mà thôi! Học Phật phải xem nhiều nghe nhiều, cũng không có gì là quá đáng." - Người khách rất khiêm nhường.
Đệ tử cũng dao động, trầm ngâm không nói.

Đêm ấy, đệ tử mơ thấy đàn thành trong nhà đều bị dẹp đi hết, tượng của Căn bản Thượng sư không thấy đâu nữa, pháp cũng không tu. Có một con ma đi vào, toàn thân là gai nhọn, cầm roi da, hai mắt như điện, quất cho đệ tử ba roi.
Con ma đó nói với đệ tử:
"Bái thầy phải bái sự bền lòng của sư phụ, Căn bản Thượng sư của anh là người bền chí bền lòng số một. Anh đổi thầy, hôm nay người này, ngày mai người kia, đổi tới đổi lui, bền lòng ở chỗ nào? Tương lai làm sao đối diện với thầy?"
Đệ tử bị đánh cho ba roi, tỉnh dậy, quyết định không đổi thầy nữa.

Trong khi thần hành, tôi đã thấy cảnh tượng như vậy, trong lòng cảm thán, tôi hi vọng đệ tử Chân Phật Tông chúng ta lương thiện chính trực, là những người bền chí bền lòng, phải không có suy nghĩ lừa gạt, một việc cũng không lừa. Cho dù đổi một vị thầy cũng đừng phỉ báng vị thầy ban đầu, tuyệt đối đừng đổi người này rồi chửi người kia, phải học ưu điểm của thầy, đừng chỉ thấy những khuyết điểm của thầy.
Như vậy mới không trái với luân thường.
Cuộc đời này của tôi kính Phật, kính pháp, kính tăng, kính trời, kính đất, kính vua, kính thân, kính thầy, thậm chí kính chúng sinh.
Những trò xảo trá nham hiểm tôi không biết, làm hại người thiện lương tôi không dám, tôi không hại người, mọi người học tôi thì hãy học điều này đi!


### 40. Tộc người ăn phân


Trong lúc thần hành.
Ở âm gian, có rất nhiều người bị ngâm trong hố phân, khát thì uống nước tiểu, đói thì ăn phân. Những người này được gọi là tộc người ăn phân.
Tôi thấy họ uống nước tiểu ăn phân, trong lòng đau xót, cảm thấy  những người này bị dìm trong hố phân đã rất đáng thương rồi, lại còn phải ăn phân và uống nước tiểu nữa, càng khiến người ta xót xa.

Tôi hỏi quan coi ngục:
"Vì sao bị như vậy? Là địa ngục cống rãnh sao?"
Quan coi ngục nói:
"Thấy lợi quên nghĩa."
Quan coi ngục nói với tôi, trong đám người ăn phân này có một người đã bị dìm trong hố phân rất lâu rất lâu rồi.
"Là ai?"
Quan coi ngục đáp:
"Lữ Bố."
Tôi hết sức sửng sốt. Lữ Bố là người của thời Tam Quốc.
Quan coi ngục nói:
"Lữ Bố đầu tiên nhận thích sử Kinh Châu Đinh Nguyên làm nghĩa phụ, Đinh Nguyên coi Lữ Bố như con. Nhưng Lữ Bố đã đi nhờ vả Đổng Trác, bèn chặt đầu Đinh Nguyên rồi đi góp sức với Đổng Trác. Tiếp đó Lữ Bố lại nhận Đổng Trác làm nghĩa phụ, về sau vì Vương Doãn dâng tặng Điêu Thuyền, Lữ Bố lại dùng kích để đâm chết Đổng Trác."
"A!" - Tôi á khẩu. Liên tiếp giết chết hai nghĩa phụ.

Quan coi ngục nói:
"Con người vong ân bội nghĩa như Lữ Bố này, thấy lợi quên nghĩa, vô tình vô nghĩa, bây giờ trong xã hội nhiều lắm, rất nhiều người thấy tiền liền giết ân nhân của mình, hoặc thấy quyền lực liền hại chết bề trên ân công của mình, loại người này sau khi chết đều xuống địa ngục hết, trở thành tộc người ăn phân."
Tôi thở dài một tiếng, không nói gì nữa.

Quan coi ngục ở phía sau nói với tôi:
"Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, ngài có độ chúng sinh không?"
"Độ!"
"Người được độ là chúng sinh, người hại ngài cũng là chúng sinh."

Tôi hỏi:
"Liệu tôi có gặp phải Lữ Bố không?"
"Gặp Lữ Bố phải chạy nhanh đó! Bọn họ đều là những con trùng vô tình vô nghĩa, ăn phân, tâm rất bẩn, muốn lấy đầu của ân sư."
Đối với những đệ tử như vậy, từ lâu tôi đã sợ gần chết rồi.


### 41. Không thể cứu độ


Trong lúc thần hành.
Tôi ngửi thấy một mùi hương trầm.
Có đệ tử niệm: "Om guru liansheng siddhi hum."
Tôi thần hành phóng quang ba lần, chiếu đến đàn thành trang nghiêm trong nhà ông, gia cảnh của đệ tử này không tệ, hiểu bố thí, hiểu tu pháp, làm các việc thiện công đức, in sách thiện, xây chùa tháp, đúc tượng Phật, xây cầu sửa đường, tự mình làm việc tình nguyện…

Thế nhưng, con của đệ tử này, một đứa thì bị mềm xương và thiểu năng, một đứa thì mê đánh bạc ở café internet (dùng thuốc), một đứa thì mắc bệnh hiểm nghèo là ung thư máu, một đứa thì tâm thần thất thường, một đứa ra bờ biển bị sóng biển cuốn trôi, mất tích kể từ đó.
Nhà người ta thì năm đứa con đều đăng khoa, thăng quan tiến chức.
Còn năm đứa con nhà ông, đứa thì mắc bệnh, đứa thì chết, đứa thì phản nghịch.

Trong lúc thần hành, tôi cong gập ngón tay để thần toán, mặt tôi liền xanh mét, không thể cứu được. Tôi quay trở về hồ Diệp Tử nơi mình ẩn cư rồi lại thở dài.
Tôi ỉu xìu buồn bã. Có thể làm gì đây?
Có lẽ có đệ tử sẽ hỏi tôi, đệ tử Chân Phật tiêu chuẩn như vậy sao Sư Tôn không đưa tay ra cứu chứ?

Tôi chỉ biết lắc đầu, tôi nói đây là nhân nghiệp quả báo, và hãy nghe tôi nói đây: "Vào kiếp trước, có sáu người rời nhà đi buôn, đều kiếm được tiền, một người trong số đó khởi lòng tham, trên đường trở về đã chuốc say năm người kia, rồi giết chết họ. Đồng thời sau khi trở về nhà, anh ta tuyên bố rằng sáu người họ gặp cướp, chỉ có một mình anh ta chạy thoát. Vì có được tiền bạc của sáu người kiếm được nên từ đó gia đình anh này trở nên giàu có."
"Vào kiếp này, năm người bị giết kia đều chuyển thế đến để đòi nợ, người này dù có may mắn quy y Chân Phật, cũng tu hành theo pháp, nhưng nhân quả của năm người bị giết vẫn chưa trả hết, họ chuyển thế làm con, tất cả đều đến để đòi nợ."
Thử hỏi:
Tôi có thể cứu được không?

Đệ tử Chân Phật à! Ông và tôi đều đã biết sự lợi hại của nghĩa lí nhân quả của Phật giáo. Trong kiếp này, chỉ có luôn nhớ phải nhẫn nại, trì chú vãng sinh thật nhiều, phóng sinh thật nhiều, biết là nghiệp chướng hiện tiền, tự mình phải gánh chịu, không có ai chịu hộ. Chịu đựng được thì sẽ thoát được.

Tôi làm sư phụ, chỉ có thể khuyên ông đừng đánh mất đạo tâm, hãy trả hết nợ kiếp trước, cuối cùng sẽ đều được siêu độ đến tây phương Cực Lạc thế giới, đến Ma Ha Song Liên Trì, tuyệt đối không được có oán trách, không được có thù hận.
Từ lâu tôi đã biết, gia sản của ông sẽ bị lửa biến thành tro tàn, còn người thì giao phó cho bệnh tật, ông phải chấp nhận thôi!


### 42. Ngũ bất hoàn thiên


Trong lúc thần hành.
Tôi đã đến cõi thiền thiên thứ tư là Sắc giới, là nơi các Thánh giả chứng đắc A Na Hàm (quả bất hoàn) sinh ra, tứ thiền "ngũ bất hoàn thiên" này tức là:
Vô phiền thiên - không có mọi phiền não.
Vô nhiệt thiên - không có mọi tức giận.
Thiện hiện thiên - có thể hiện mọi thắng pháp. (hiện cũng như không hiện)
Thiện kiến thiên - có thể thấy mọi thắng pháp. (thấy cũng như không thấy)
Sắc cứu cánh thiên - cõi trời cao nhất ở Sắc giới.

Tôi đến ngũ bất hoàn thiên rồi thì có cảm nhận rất thù thắng, cảm thấy tâm trở thành hư vô, khí trở nên ôn hòa nhất, tất cả mọi lí lẽ đều trở nên rõ ràng nhất, không có khóc, không có cười, tình cảm cũng bất động, tất cả mọi thứ đều mềm mại, không hề có một chút khó chịu nào.
Đây đã là cảnh giới rất cao rồi!
Thần hành dường như bất động rồi, thế giới này đều đứng im, diệt sạch rồi.
Dường như tôi đã đến trạm cuối cùng, không trở về nữa.

Có một vị Thánh giả chứng đắc A Na Hàm nói với tôi:
"Ngài có muốn ở lại ngũ bất hoàn thiên không?"
Tôi nói:
"Không!"
Thánh giả nói:
"Nơi đây vô sinh, vì thế cũng vô tử, không có mọi khổ não, vì thế không phải hoàn trả. Chẳng phải là điều mà ngài mong muốn nhất sao?"

Tôi nói: "Theo tính cách của tôi, ngũ bất hoàn thiên hoàn toàn không thích hợp với tôi, con người tôi đây nặng tình cảm, có ý chí hoài bão độ chúng sinh mạnh mẽ, lời thề lại sâu nặng, bồ đề tâm bao la, có cái dũng của người nhân từ. Nếu như tôi ở ngũ bất hoàn thiên, hoàn toàn không biết đến đau khổ thì không thỏa đáng rồi." (Tôi gánh vác cái tình của năm triệu đệ tử.)
Thánh giả nói:
"Nói cũng phải. Ngài có quan niệm về giá trị cuộc đời của ngài."

Tôi lưu lại ở ngũ bất hoàn thiên một lúc.
Tôi bỗng nghe thấy có người niệm: "Om guru liansheng siddhi hum."
Tôi nói: "Tôi phải đi rồi, có người đang gọi tôi!"
Thánh giả đáp: "Tôi không nghe thấy. Ngài thích điều thiện, ghét điều ác. Cho nên ngài không phải là người ở ngũ bất hoàn thiên."
Tôi hỏi: "Người nào thì thích hợp với ngũ bất hoàn thiên?"
Thánh giả đáp:
"Nghe mà không nghe, thấy mà không thấy, không đúng không sai, không mong mỏi không gánh vác."


### 43. Tuần hành Tâm Thông Quốc


Trong lúc thần hành.
Tôi đã đến một đất nước rất kì diệu trong thập pháp giới, đất nước này cũng là nơi Thánh hiền cư ngụ, theo như lời họ nói thì đây là Tâm Thông Quốc.
Một trong sáu thần thông của Phật giáo có tha tâm trí và tha tâm thông, tức là trí huệ có thể biết được tâm tưởng của người khác, cũng tức là thần thông có thể biết được tâm tưởng của người khác.

Ở nhân gian, điều này không thể làm được, bởi vì:
"Không thể biết được tâm người khác."
"Biết người biết mặt không biết lòng."
"Bên ngoài trung hậu, bên trong gian trá."
Bề ngoài của con người không thể tin được, trước mặt đối diện với bạn thì gọi "Sư Phật! Sư Phật!", nhưng sau lưng thì lại đâm bạn một dao, thật đáng sợ! Đáng sợ!

Tôi sợ nhất loại người này:
Hư - không có nói thành có.
Vu - giả nói là thật.
Trá - mưu kế hại người.
Ngụy - giả vờ bản thân bị hại.

Bởi vì con người tôi đây có trái tim quá mềm mỏng, ôn hòa hiền từ, lại không bỏ rơi một chúng sinh nào, hễ quy y rồi thì tôi đều đối xử bình đẳng, không hề cảnh giác. Vì thế, tôi chỉ có bao lần đau lòng, bao lần rơi nước mắt, bao lần gánh vác nghiệp của đệ tử.
Thần hành ở Tâm Thông Quốc quả thật là bất khả tư nghì, không chỉ thân thể hoàn toàn trong suốt và sáng đẹp, ngay cả tâm niệm cũng trong suốt và sáng đẹp.

Con người ở đất nước này do thiện khí cát tường tụ lại mà thành.
Hướng đến điều nên hướng tới.
Hướng đến những điều không ích kỉ.
Gánh vác điều nên gánh vác.
Gánh vác không vì lợi ích riêng tư.
Hễ có suy nghĩ bất chính là mọi người ở đất nước này đều biết, tâm niệm có một chút xíu ô nhiễm thì bạn sẽ không có cách nào tồn tại ở Tâm Thông Quốc được, sự thù thắng của Tâm Thông Quốc này là không có hư vu trá ngụy, ai có hư vu trá ngụy thì không thể vào được.
Vì thế, cảnh giới của đất nước này rất cao.
Ít người biết đến.
Nó thật sự cách rất xa thế giới Ta Bà, vượt lên rất rất xa.


### 44. Liên hoa sinh


Trong lúc thần hành.
Tôi đã đến Ma Ha Song Liên Trì, hồ sen này từ lâu đã tụ tập rất đông các thánh đệ tử, những thánh đệ tử này xếp hàng chào đón sư phụ thần hành đến. Đây chính là:
*Hàng cây bên hồ che thấp thoáng
Chín khúc cầu vàng rực rỡ qua.
Hoa sen hóa sinh tân Phật tử.
Gió thơm vui mừng hát khúc ca.*

Tôi nhìn thấy các Phật tử ở Ma Ha Song Liên Trì trong lòng vô cùng phấn khởi, ai cũng có niềm vui trùng phùng sau bao ngày xa cách, đây chính là:
*Phật và chúng sinh như cùng nguyện.
Chân đế quyết hành bất loạn tâm.
Vạn sự trên đời đều buông xả.
Phật thọ kí ta sinh đóa sen.*

Thánh đệ tử hỏi tôi:
"Sư Tôn vẫn trở về sao?"
"Trở về!"
"Trở về làm gì?"
"Viết sách! Độ càng nhiều người hơn nữa đến Ma Ha Song Liên Trì!"
"Những gì nên viết đã viết rồi, nên nói đã nói rồi, Sư Tôn ẩn cư thần hành vẫn còn viết sao?"
"Vẫn tấm lòng ấy, viết rồi lại viết nữa, nói rồi lại nói nữa."
"Thế này thì vất vả quá!"

Tôi nói:
"Đệ tử ở thế giới Ta Bà mặc dù đông, nhưng chỉ e là chiến đấu không thắng nổi dục vọng của bản thân. Họ nghe pháp của tôi, đọc sách của tôi, đều biết việc đời như mộng huyễn, muốn hoa sen hóa sinh, nhưng nếu họ chiến thắng được dục vọng của tự tâm thì tôi đâu cần phải trở về nữa."
"Nói cũng phải!" - Các thánh đệ tử nói.

Thánh đệ tử lại nói:
"Sư phụ giúp người, người không cảm ơn, không chỉ không báo đáp mà còn sỉ nhục sư phụ, lại còn ôm hận trong lòng, niệm niệm không dừng, loại người này không độ cũng được mà!"
Tôi đáp:
"Độ chứ!" (Lời thề của tôi quá sâu nặng.)
"Bọn họ phải xuống địa ngục chịu khổ!"
"Tôi sẽ đến địa ngục cứu họ!" - Tôi kiên định trả lời.


### 45. Đi vào trong ngọn tháp đơn


Trong lúc thần hành.
Tôi một mình đi vào một ngọn tháp đơn ở một ngôi chùa u ám, bạn có thể tưởng tượng, trong bộ phim "thiện nữ u hồn", nhân vật chính bước đi trên thảm lá rụng trong rừng cây, dưới ánh trăng lờ mờ, nhìn thấy tấm biển Lan Nhã (Chùa Tháp) treo nghiêng trước cổng chùa.

Tôi thần hành vào trong, phát hiện bầu không khí cô quạnh bên trong, một làn gió mát khẽ thổi qua, lạnh buốt, khiến người ta cảm thấy rất cô đơn.
Tiến vào Đại Hùng Bảo Điện, bên trong không một bóng người, hoàn toàn vắng vẻ.
Chái nhà bên trái, chái nhà bên phải, điện trái, điện phải đều không có người, cảm giác rất thê lương, như thể cả thế giới đều chết cả rồi. Một chút sinh khí cũng không có.
Tôi đi vào bên trong tòa tháp đơn, trong cái u ám, chợt có một ngọn đèn, một người già đang viết gì đó trong ánh đèn bập bùng.
Tóm lại là có một người, trong lòng tôi hân hoan.

Tôi hỏi cụ già:
"Cụ là ai?"
Cụ già quay đầu lại nói:
"Tư Mã Thiên."
Tôi sửng sốt, là Tư Mã Thiên, là đại sử gia của đời Tây Hán, đã viết bộ Sử Kí đồ sộ.
Tôi hỏi:
"Vì sao cụ viết bộ Sử Kí?"
Tư Mã Thiên đáp:
"Ở trong thiên lao thì có thể làm việc gì chứ?"
"Ở trong thiên lao bao nhiêu năm?"
Đáp: "18 năm."
"18 năm viết Sử Kí!" - Tôi kinh hãi.

Tư Mã Thiên nói:
"Người ta cần phải khiến nỗi cô đơn thăng hoa thành hành động có giá trị. Tư Mã Thiên tôi vì Lí Lăng mà phải vào thiên lao, nếu như là người khác, chịu nỗi nhục nhã lớn như vậy, từ lâu đã đập đầu vào tường tóe máu rồi, nhưng nhất định phải thăng hoa chuyển hóa mới phải."
Tôi nghe xong thì vô cùng cảm động.
Tư Mã Thiên đã chuyển hóa nỗi nhục nhã lớn của con người thành động lực, có thể nói là nỗ lực viết sách, trong lòng tôi có cảm giác rất gần gũi.
Đúng vào lúc này.
Tư Mã Thiên biến mất, chùa tháp cũng biến mất.
Tôi lại thần hành trong hư không.


### 46. Bệnh thần hành


Trong lúc thần hành.
Bản thân tôi nghĩ, vì sao gần đây mình lại thần hành nhiều như vậy? Kì thực cũng không kì lạ, cái này gọi là bệnh thần hành.
Theo như tôi biết, thần hành có năm loại:

- Thánh thần hành - tu giới định huệ đạt được sự thần hành của Thánh quả.

- Phạm thần hành - Phạm Thiên chúng nhờ lực thần hành, tâm từ bi mà đi cứu chúng sinh khổ nạn.

- Thiên thần hành - Thiên thần dựa vào thời gian tự nhiên để tuần hành thiên hạ, gọi là thiên thần hành.

- Tiểu thần hành - tinh linh tùy theo thiện ác mà làm việc nhân duyên quả báo, chính là tiểu thần hành.

- Bệnh thần hành - giống như tôi đây, tứ đại phân tán, não phân tám mảnh, trung ấm nguyên thần tự ra vào, nhờ bệnh khổ mà thần hành, cho nên chính là bệnh thần hành.

Mặc dù tôi là bệnh thần hành, nhưng cũng muốn báo đáp bốn ơn sâu: ơn cha mẹ, ơn chúng sinh, ơn đất nước, ơn Tam Bảo.
Tôi cảm thấy bốn ơn này vẫn chưa đủ, tôi vẫn còn muốn báo ơn trời đất nữa!

Trước kia có người hỏi tôi báo ơn như thế nào?
Tôi đáp:
Dùng thiện hành báo đáp trời đất.
Dùng hiếu thuận báo đáp cha mẹ.
Dùng trung nghĩa báo đáp sư trưởng.
Dùng lịch thiệp báo đáp chúng sinh.
Dùng tu hành báo đáp Tam Bảo.

Bây cuối cùng tôi đã hiểu rõ, ơn chúng sinh không thể xem nhẹ, một cọng rau một miếng cơm, một miếng ăn một hớp nước, ăn mặc đi lại đều là ơn chúng sinh! Cũng cộng thêm cả những thuận nghịch nữa.
Tôi tu hành học Phật học Bồ Tát, trước tiên phải học độ lượng nhiều, khoan dung nhiều, bất kì cái gì cũng không được tính toán so đo, trên thực tế, căn bản là cũng không có cái gì đáng để tính toán, không có oán, cũng không có hận, người muốn báo ân thì còn có oán gì, hận gì chứ?

Báo ân không báo oán mới là Phật, là Bồ Tát.
Thánh đệ tử cần hiểu: tâm địa thanh minh.
Tất địa (Siddhi) tức là duy tâm thổ.
Thổ tịnh tâm không bệnh cũng quên.
Tu hành không tìm ở bên ngoài.
Chỉ biết báo ơn và nhường nhịn.
Nhớ kĩ! Nhớ kĩ!


### 47. Thanh kiếm triều Thương


Trong lúc thần hành.
Tôi nhớ đến món đồ cổ là thanh kiếm của triều Thương được cất giữ tại Biệt thự Cầu Vồng ở Seattle. Tôi vừa nghĩ đến thì lập tức trở về Biệt thự Cầu Vồng. Trước tiên tôi lễ mộ của tổ tiên. (Cảm ơn các pháp sư đã trông coi.)

Tôi đến thăm tháp Tôn Thắng Phật Mẫu mới, nhiễu quanh tháp xá lợi, rồi đi chào khắp xung quanh, nhìn thấy mấy đệ tử, nhưng Thượng sư Liên Ấn không có ở đó, ông ấy đã ra nước ngoài rồi.
Tôi đi vào phòng làm việc của mình, rất lâu tôi chưa trở về rồi, tôi đi xuyên qua tường không cần mở khóa. Đây là điểm lợi của thần hành.
Tôi lấy thanh kiếm triều Thương ra, đây là một món đồ cổ khó có được, được chế tác từ ngọc thạch rất đẹp, có giá trị rất cao, tôi vuốt nhẹ lên nó.

Lúc này, Đại Uy Đức Kim Cang hiện thân, ngài nói với tôi:
"Biệt thự Cầu Vồng sẽ hoang tàn, các Thượng sư pháp sư chăm sóc rồi sẽ già yếu, tất cả dụng cụ sẽ hư hỏng, ngay cả thanh kiếm triều Thương cũng sẽ đổi chủ, không biết ngài còn nhớ nhung những cái gì?"
Tôi á khẩu không nói.
Đại Uy Đức Kim Cang nói:
"Năm xưa, ngài ngồi trên pháp tọa, nghe đệ tử hát, xem đệ tử múa, thưởng thức đệ tử đánh trống, bản thân ngài cũng đánh kim cang quyền, nay làm gì còn."
Tôi trầm ngâm không nói.
"Năm xưa mọi người cùng vui vẻ nhảy điệu múa con gà của nước Đức, nhảy những bài thể thao, nay còn đâu."
Đại Uy Đức Kim Cang nói:
"Hôm nay ngài hồi tưởng lại bao chuyện ngày xưa, lại còn xem thanh kiếm triều Thương, ngài có biết thanh kiếm triều Thương này sẽ rơi vào tay ai không?"
Sẽ rơi vào tay ai, tôi chẳng hề biết. Tôi thần toán không ra.
Tôi thần hành bỏ đi.
Đại Uy Đức Kim Cang tiễn tôi.

Đại Uy Đức Kim Cang nói với tôi:
Cảnh duyên không tốt xấu.
Tốt xấu khởi từ tâm.
Tâm nếu không tốt xấu.
Vọng tình khởi làm sao.
Thanh kiếm triều Thương, mặc kệ nó rơi vào tay ai! Ha ha!


### 48. **Nước trong không cá**


Trong lúc thần hành.
Tôi đã đến nơi ban đầu tôi chờ chuẩn bị hạ sinh ở nhân gian Ta Bà - Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ. Tại Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ, tôi vốn có 12 vị thiên nữ thị giả. Ngày xưa, họ đã có một nguyện vọng, nếu tôi trở về Ma Ha Song Liên Trì, họ nguyện theo tôi trở về Ma Ha Song Liên Trì, vĩnh viễn phục vụ bên cạnh tôi.
Nhưng lúc nào tôi mới trở về Ma Ha Song Liên Trì thì vẫn chưa biết!
Tôi ngồi bên bờ Thiên Hà, thưởng thức cảnh sông nước.

12 thiên nữ hiện thân, lại gần tôi nói:
"Liên Sinh Thánh Tôn, sự trong sạch của ngài còn trong hơn cả nước ở Thiên Hà này."
Tôi cười đáp:
"Nước trong thì không có cá."
12 thiên nữ cười khúc khích:
"Thế giới Ta Bà nước đục, cho nên có thể thừa nước đục thả câu." (Làm ác sẽ chiêu gọi họa, cực điểm là đại họa.)
Tôi nói:
"Thật sự nơi nào có con người thì thị phi rất nhiều!"
12 thiên nữ thị giả nói:
"3 năm thanh tịnh bế quan tại hồ Diệp Tử, quả nhiên ngài nước trong không cá, đúng vậy, tâm nếu trong vắt còn hơn cả nước trong thì có thể kì vọng thành Phật rồi!"
Tôi nói:
"Quả nhiên Thánh nhân nói không sai, gần mực thì đen gần đèn thì sáng, ở nhân gian ngũ trọc ác thế, quan không nhận hối lộ quá ít, phần đông là áp bức người cô quả, thẳng thì bảo là cong, cong thì bảo là thẳng, muốn tìm một vị quan thanh liêm thật không dễ!"
12 vị thiên nữ nói:
"Trong những người tu hành, người có lòng dạ đen tối cũng không ít. 3 năm qua ngài bế quan, chỉ có suy nghĩ động, chính là thiện, ngòi bút động, chính là thiện, cúng dường quỷ thần, cứu người vô số, có thể tạo ra vô số việc thiện, rõ ràng đã tu xuất được một tòa bảo sơn, 3 năm bế quan này không hề uổng phí."
Tôi cảm tạ 12 thiên nữ.

12 thiên nữ hát bài ca:
*Bí mật thần hành.
Mật mật thành Phật.
Sự thanh tịnh của ngài.
Trong hơn nước Thiên Hà….*


### 49. Biết sám hối là chính đạo


Trong lúc thần hành.
Tôi thấy chúng sinh làm việc sai trái quá nhiều, giống như điều Khổng Thánh nhân nói: "Ta không thấy ai háo đức bằng như háo sắc!"
Lại nói: "Chính nhân quân tử ta chưa gặp, người bền chí đã là tốt rồi"!

Tôi thấy chúng sinh phạm sai lầm lớn, trong lòng rất sốt ruột.
Có người phạm sai lầm mà vẫn cố ý nói rằng chỉ cần vui vẻ thì có gì là không được.
Có người phạm sai lầm, mặc dù có ân hận, nhưng không chống lại được cám dỗ mê hoặc, lại tái phạm bệnh cũ. Sai lầm liên tiếp sai lầm, sửa cũng không sửa được.
Bái sám thì cũng đã bái rồi, nhưng hễ dục vọng đến thì cũng lại đi đời.
Có chúng sinh đọc sách của tôi, biết rằng cần phải làm thiện công, nhưng không làm được, biết sai phải sửa, nhưng sửa không được.
Hoặc làm việc thiện rồi nhưng trong lòng không vui thích.
Hoặc thường xuyên nói dối, càng nói lại càng khoái, lấy việc nói dối làm thú vui, rơi vào thói quen thích nói dối, mất luôn ý thức về việc đó.
Hoặc có một số người rõ ràng biết mình phạm sai lầm, nhưng lại thích liên lụy đến người khác, nói là người khác hại mình, sai lầm của mình đều đổ lên đầu người khác.
Theo như tôi biết, đó là:
Biết sai mà không sửa.
Biết thiện mà không làm.
Đổ tội cho người khác.
(Đây đều là những người không hiểu triệt để Phật lí.)

Phàm phu căn khí mỏng, định lực yếu, huệ lực yếu, có tâm ích kỉ nặng, sức mạnh sám hối không lớn, rõ ràng biết rằng sinh ra không đem theo được cái gì, chết không đem đi được cái gì, mà vẫn tham lam đến chết, vậy phải làm sao đây?
Nay tôi nói với những người này, bạn hãy học tôi bế quan ẩn cư đi, không có chuyện thị phi để mà buôn, không có ai qua lại (không có vạ miệng, vạ thân), dần dần quét sạch đến khi tâm thanh tịnh, tất cả những vật bên ngoài thân và ta cuối cùng chẳng có liên quan gì đến nhau (cũng không có vạ từ tâm).
Đó là sám hối thật sự đó!
Đợi đến khi định lực đủ rồi mới đi độ chúng sinh.
Tôi biết có nhiều người tài giỏi, nhưng Phật lí vẫn không hiểu thông suốt, đến mức gây tai họa lớn hơn, hại nhiều chúng sinh hơn, hơn nữa người càng có tài thì càng bảo thủ cố chấp, phải ẩn cư bế quan thì có lẽ mới có thể biết sám hối.


### 50. Gương soi tội lỗi


Trong lúc thần hành.
Tôi nhìn thấy một đôi nam nữ đang đối chất trước một tấm gương soi tội lỗi.
Người nữ khóc lóc:
"Anh ta quấy rối tình dục tôi!"
"Anh ta xâm hại tình dục tôi!"
"Anh ta khiến tôi đau đớn không muốn sống nữa, hủy hoại cả cuộc đời tôi, anh ta phải chịu khổ hình lớn nhất!" Người nữ khóc to.
Người nam thì hoảng hốt lo sợ, miệng nói không nên lời.

Người nữ lại khóc và nói:
"Tôi không hề phạm tội dâm, là do anh ta ép, anh ta phải gánh tội của tôi, tôi trong sạch, tôi thánh thiện, quỷ tốt các người không được bắt tôi đến đây."
Lúc này quan âm phủ cũng chẳng có cách nào phán đoán, nên bảo mở gương soi tội lỗi ra.

Thì ra…
Người nam là tổng giám đốc.
Người nữ là thư kí.
Khi tấm gương tội lỗi được treo lên, chỉ thấy người nữ lẻn vào phòng làm việc của tổng giám đốc, tự mình để lộ bộ ngực căng tròn, bên trong váy thì chẳng mặc gì, ngồi lên bàn làm việc của tổng giám đốc, hai chân giơ lên, bộ dạng thèm khát.
Tổng giám đốc đi vào phòng làm việc, nhìn thấy cảnh tượng ấy.
Muốn bỏ đi.
Nhưng cửa đã khóa rồi.
Người nữ nói với người nam mấy lời dụ dỗ. Cô nói: "Em thèm đến chết thôi!"
Người nam kinh hãi, muốn chạy.
Người nữ nói: "Dám chạy ư, anh chính là kẻ quấy rối, sàm sỡ, tôi sẽ khóc toáng lên cho xem."
Người nam luống cuống, không biết phải làm thế nào mới phải.
Gương tội lỗi soi đến đây thì dừng lại.

Quan âm phủ nói: "Cô gái này đã 16 lần bày mưu tính kế theo cách này, có đàn ông bị mắc lừa, có đàn ông thì không bị lừa. Vì thế, cô ta phạm giới dâm, đưa vào nhà lao dâm phụ, chuyển thế thành loài chim háo dâm, trải qua một nghìn kiếp mới trở lại nhân gian."
"Đàn ông bị mắc lừa, nhà tan cửa nát, chuyển thế làm nữ để mà biết chừa!"

Tôi thấy cảnh này, trong lòng thấy cảnh giác, viết một bài kệ:
*Điệu bộ mời gọi là hư giả.
Nói tới nói lui hỏng một đời.
Hành giả cẩn thận đừng bị gạt.
Nương vào định lực sinh liên hoa.*


### 51. Cảm nghĩ về thần hành


Trong lúc thần hành.
Tôi thấy thập phương pháp giới rộng lớn vô biên, thấy thắng cảnh Phật quốc vô hạn vô tận, thấy phong cảnh cõi trời đẹp đẽ dị thường. Quá hay, quá tuyệt vời. Tôi lại thấy thế giới Ta Bà xô bồ, thế giới tranh đấu của atula, thế giới thôn tính của súc sinh, thế giới đói rét của ngạ quỷ, thế giới đau khổ của địa ngục.
Càng du lịch trong pháp giới thì càng giác ngộ câu danh ngôn mà Đức Phật nói:
"Tịch diệt là vui."
Đúng là điều chí yếu.
Tôi bế quan ẩn cư tại hồ Diệp tử ba năm nay, một lá thư cũng không có, một cuộc điện thoại cũng không, một mẩu tin tức cũng không.
Đây chính là "vong ưu". Tôi sống tại Vong Ưu Quốc. [Vong ưu tức là quên hết buồn lo.]
Phật Đà nói "tịch diệt là vui", dù sao khi bạn chẳng biết gì cả thì chẳng có phiền não trong đầu, chẳng phải là tự do tự tại hay sao?

Thần hành đến thập phương pháp giới, chỉ là nhậm vận, có việc để làm mà cũng chẳng có việc để làm, điều này đối với tôi mà nói thì lo buồn hay đau khổ đều chẳng đến thân, cho nên ba năm nay, nghiêm túc mà nói, là thời gian vui vẻ nhất. (Ngoài việc thể xác đau ốm ra.)
Tôi dần dần thích ứng với việc chẳng tiếp cận với bất kì ai, không nghe thấy bất kì người nào nói những chuyện thị phi đúng sai của giới tôn giáo, hoặc là các Thượng sư pháp sư thế nào ra sao, Chân Phật Tông do chính mình sáng lập nên thịnh hay suy chẳng có can hệ gì đến tôi.
Ai tức giận?
Ai vui vẻ?
Công bằng đối với ai?
Không công bằng đối với ai?
Tôi đều không biết. (Người bán tử tam muội như tôi thì còn có mong cầu gì?)

Tôi đã tu đến mức độ "hữu pháp" cũng như "vô pháp", "mọi sự" cũng như "vô sự", thế giới này phát sinh ra những chuyện đại sự với tôi cũng như vô sự. Trong lúc thần hành, có thể cứu thì cứu, không thể cứu thì tôi hoàn toàn không đặt trong tâm, cho dù cứu rồi thì tôi cũng không đặt trong tâm nữa, cứ như vậy, cứ tùy ý mà làm thôi!
Ai muốn như thế nào!
Thì mặc kệ họ thôi!
Chẳng liên quan đến tôi, tôi chẳng muốn biết điều gì cả!


### 52. Thiên Tào Tinh Quan


Trong lúc thần hành.
Tình cờ tôi gặp Thiên Tào Tinh Quan - người quyết định "nhân vương", Thiên Tào Tinh Quan trong quá khứ cất giữ áo mãng bào đai ngọc, bởi vì Hoàng Đế là do Thiên Tào tinh quan bổ nhiệm.
Tôi hiếu kì hỏi:
"Quan Thiên Tào, chức tổng thống năm nay ai sẽ được?"
Thiên Tào Tinh Quan đáp:
"Sẽ là XX…"
Một tuần sau, tôi lại thần thành đến chỗ của Thiên Tào Tinh Quan, lần này Thiên Tào Tinh Quan nói với tôi:
"Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, lần trước tôi nói với ngài là XX sẽ làm tổng thống, thật ra có sai sót. Chỉ vì người này trong tuần vừa qua đã nhận tiền của ba doanh nhân lớn, số tiền này là tiền hối lộ, không những việc làm tổng thống bất thành mà còn có họa ngầm nữa!"
Tôi sửng sốt:
"Mới một tuần mà đã thay đổi rồi ư? Có phần nhanh quá nhỉ!"
Thiên Tào Tinh Quan nói:
"Ngài tự nhìn sao mà xem!"

Ban đêm ở hồ Diệp Tử, tôi nhìn tinh tượng thấy sao tiểu nhân bên cạnh sao tử vi quả nhiên tỏa sáng rực rỡ, che hết cả sao tử vi, đây đúng là chuyện không ngờ, mới một tuần lễ mà đã thay đổi toàn bộ rồi.
Điều này đã ứng với:
Trời có gió mây ngoài dự liệu.
Người có họa phúc một sớm một chiều.
Họa phúc không có cửa.
Chỉ có người tự chuốc.

Tinh tượng ở trên trời cũng không hẳn là đã hình thành thì sẽ không thay đổi. Mới một tuần lễ, người lẽ ra có thể làm tổng thống thì bây giờ không được làm nữa. Bạn có thấy:
Cũng có tổng thống bị khai trừ.
Cũng có tổng thống bị cách chức.
Cũng có tổng thống bị bỏ tù.
Thậm chí có tổng thống bị bắn chết.
Tôi chợt hiểu ra rằng, tranh giành cái gì chứ, cho dù tranh được địa vị cao nhất thì anh có thể biết vận mệnh tương lai ra sao không?
Tinh quang ảm đạm chẳng còn ánh sáng nữa rồi! Đáng thương làm sao!


### 53. Núi lở


Trong lúc thần hành.
Tôi đã đến núi La Phù ở chốn động thiên của thần tiên, nơi này ở giữa trời đất, nói là thiên đường cũng được mà nói là địa cư thiên cũng được, phần lớn các thần tiên đã thanh tâm quả dục, nhàn nhã tự tại.
Tôi nhận lời mời của La Phù Sơn Thần, vì thế tôi đã đi vào trong động thiên phủ địa của Sơn Thần. Động thiên phủ địa này bề ngoài nhìn không có gì khác thường, sông suối chảy róc rách, đá núi hùng vĩ, nhưng thần tiên tự có năng lực kì lạ, ung dung thoải mái, đi vào trong bụng ngọn núi lớn không có cửa một cách tự nhiên như không.

Vừa bước vào, tôi đã bị lóa mắt.
Cả tòa sơn điện được làm từ thất bảo, vàng, bạc, lưu li, xà cừ, mã não, trân châu, san hô, dạ minh châu.
Giống như lưới võng minh châu của hoàng đế, khí thế vô cùng hào hoa.
Những người phục vụ đi lại đều là những mĩ nữ tiên trời, hết sức yêu kiều.

Tôi giật thót mình: "Những người phục vụ này đều là tì thiếp ư?"
Một thần tiên đáp:
"Sơn Thần đặc biệt thích điều này, toàn là thê thiếp của ngài ấy."
Tôi lén bấm ngón tay thần toán:
"Phúc phần này chỉ được ba tháng mà thôi! Sắp hết rồi!"

Thần tiên trả lời tôi:
"Núi La Phù này sẽ gặp núi lở, đá núi do núi lở sẽ chôn vùi điện Sơn Thần này, Sơn Thần và thê thiếp đều sẽ bị đè chết, thần tiên chúng tôi biết, nhưng Sơn Thần không biết, vẫn hưởng lạc như cũ!"
"Sao không khuyên giải?"
Đáp:
"Quen thói rồi."

Sau khi buổi dạ tiệc kết thúc, tôi để lại một bài kệ cho Sơn Thần:
*Trời đất bao la nhiều huyền diệu
Hưởng lạc hay chăng hết hạn kì
Sao không thoang thoảng trà một chén
Miệng niệm Di Đà Bạch Liên Hoa.*

Sơn Thần núi La Phù xem xong bài kệ, cười khe khẽ, tiện tay để qua một bên, không hề coi trọng. Sau khi Sơn Thần tiễn chúng tôi về thì lại đi hưởng lạc với các thê thiếp yêu kiều.
Tôi thở dài!
Nghe nói, thần tiên ở núi La Phù cũng đã cảnh cáo Sơn Thần rằng chớ hưởng tận lạc thú, hãy làm nhiều việc thiện, nhưng Sơn Thần cũng không nghe. Hồi sau, núi La Phù gặp núi lở, Sơn Thần, thê thiếp và con cháu đều đoạn tuyệt, đây cũng chính là họa háo dâm đó!


### 54. Không thể giễu cợt thần


Trong lúc thần hành.
Tôi thấy một tăng nhân đi qua một ngôi chùa Ấn Độ giáo, chỉ vào Đại Phạm Thiên (Tứ Diện Thần), nói: "Thế giới mà ông sáng tạo quá không hoàn mĩ, chi bằng để tôi sáng tạo cho!"
Tăng nhân lại chỉ vào Đế Thích Thiên nói: "Ông đánh nhau với Atula Vương thì còn coi là Đế Thích Thiên Chủ cái gì chứ, căn bản là tôi không tôn trọng ông!"
Tăng nhân tự nói rằng công đức của mình to hơn Đại Phạm Thiên và Đế Thích Thiên, căn bản là xem thường tất cả thiện thần.
Bởi tăng nhân này sỉ nhục Đại Phạm Thiên và Đế Thích Thiên, 25 vị thiện thần đều khẽ khàng rời bỏ tăng nhân này.
Tăng nhân chết chìm bên bờ sông.

Muốn biết vì sao Phật Đà thuyết pháp tại nhân gian, đó là vì Đế Thích Thiên và Đại Phạm Thiên đã khuyên thỉnh.
Đế Thích Thiên nói:
"Giống như mặt trăng không khuyết nữa, ngài đã giải thoát và tự tại, xin hãy đánh thức cuộc chiến thắng lợi, thắp lên ánh sáng bát nhã, phá vỡ đêm đen của thế giới."
Ban đầu Phật Đà từ chối thuyết pháp:
"Chúng sinh vì dục vọng mà khốn khổ, mà vẫn còn chìm đắm sa đà vào trong đó, dựa vào pháp mà tôi đã chứng, cho dù có dạy dỗ chúng sinh thì cũng chẳng có nhiều lợi ích lớn."

Đại Phạm Thiên thỉnh cầu:
"Trước kia pháp truyền tại Ma Kiệt Đà vẫn là pháp hư vọng bất tịnh, vì thế trí giả, xin hãy từ bi mở rộng cánh cửa cam lộ."
Có thể thấy, Đại Phạm Thiên và Đế Thích Thiên có công đức siêu thắng, chẳng phải là này nọ, cho dù là nhờ cậy vào Phật, pháp, tăng, một tăng nhân cũng không thể xem thường thiên thần thiện thần hộ pháp.
Cho dù là Phật.
Không thể sỉ nhục Vi Đà Thiên.
Không thể sỉ nhục Già Lan Thiên.
Không thể sỉ nhục Tứ Thiên Vương Thiên.
Huống hồ là Đại Phạm Thiên, Đế Thích Thiên…

Trong khi thần hành, tôi thấy tăng nhân thời nay coi thường chư Thiên, giễu cợt nói mát, mỉa mai phỉ báng thần minh ở trên trời, thần minh sẽ bỏ họ đi rất xa.
Người có đạo hạnh còn tàm tạm.
Người không có đạo hạnh lại tự cao tự đại thì từ lâu đã thành ma rồi.
Hành giả phải chú ý, thần minh trên trời dưới trời đều không thể coi thường, ngay cả chúng sinh cũng không được coi thường, trong số chúng sinh, rất nhiều người là hóa thân của Đại Bồ Tát đó!


### 55. Tội của tư tưởng


Trong lúc thần hành.
Tại âm phủ địa ngục, đúng lúc tôi gặp hai tác giả lớn, tác phẩm của hai nhà văn lớn này lưu truyền rất lâu và rộng rãi, đến nay vẫn tiếp tục được lưu truyền. Hai cuốn sách rất nổi tiếng.

Một vị là tác giả của Kim Bình Mai, Kim Bình Mai nói đến ba người phụ nữ:

1. Phan Kim Liên.

1. Lí Bình Nhi.

1. Xuân Mai.

Trong sách mô tả cảnh phong tình lụa là của đại quan nhân Tây Môn Khánh và ba người phụ nữ này, miêu tả rất táo bạo và tỉ mỉ, sắc hương vị đủ cả, nhục dục tràn trề.

Người kia là tác giả của Nhục Bồ Đoàn, cuốn Nhục Bồ Đoàn này còn viết trực tiếp hơn, phóng đãng hơn, bẩn thỉu hơn, nhìn tên là biết nội dung, cái gọi là "nhục bồ đoàn" là hai nhục thể quấn quýt xoắn xuýt lại với nhau thành một khối tròn, rất lộ liễu.
Trong số những bạn học ngày xưa của tôi, hai cuốn Kim Bình Mai và Nhục Bồ Đoàn này vô cùng chấn động, ai ai cũng biết, và ai ai cũng đọc bởi vì lòng hiếu kì. Ngay cả tôi ở Seattle nước Mĩ cũng thấy quảng cáo về hai cuốn sách này.
Nhưng tác giả của chúng thì đã vào địa ngục rồi.

Tôi hỏi: "Tội gì?"
Đáp: "Tội của tư tưởng."
"Có nặng không?"
"Nặng chứ! Mong thoát cũng chẳng có ngày thoát, sách chúng tôi viết ra có ảnh hưởng rất lớn, đến mức đầy khắp trời đất, lòng người sẽ bị ám thị, khiến người ta phạm vào nghiệp dâm. Ngày ngày chúng tôi bị đánh 20 roi sắt, vĩnh viễn như vậy, không có ngày được giải thoát."
"Còn có những nhà văn khác ở trong địa ngục không?"
"Nhiều không đếm xuể, ngay cả những tác giả nổi tiếng của văn học cổ điển cũng bị giam ở đây, chỉ vì mô tả về nạn mại dâm mà thôi!"
"Có lỗi gì?"
"Vẫn là tội dụ dỗ tư tưởng của người khác, tội này sâu và nặng. Ngay cả những tác giả được giải thưởng Nobel cũng ở đây đó!"
"Chao ôi!" - Tôi thở hắt ra! Tôi không dám hỏi đó là ai.
Từ đây có thể thấy, viết sách, nếu là sách bất chính, sẽ dẫn đến ác báo như vậy. Những tác giả viết văn, phải thận trọng!


### 56. Phóng sinh rắn độc


Trong lúc thần hành.
Tôi trông thấy một tăng nhân đang phóng sinh, phóng sinh đương nhiên là việc thiện, nhưng tăng nhân này lại đang phóng sinh rắn độc, có thanh trúc ti, bách bộ xà, rắn đuôi chuông, v.v…

Có người thấy phóng sinh rắn độc, hỏi tăng nhân:
"Rắn độc có thể cắn chết người, vì sao lại có thể phóng sinh chúng?"
Tăng nhân đáp:
"Chúng sinh bình đẳng, ta đã ban tam quy y cho chúng."
Dân làng rất sợ hãi, bàn tán xôn xao.
Vì chuyện này mà tôi đến âm phủ hỏi minh sứ.

Minh sứ cười lớn ha ha:
"Phóng sinh cũng cần có trí tuệ của việc phóng sinh, phóng sinh là thiện, sát sinh là ác, nếu phóng sinh thứ độc thì địa ngục chúng tôi cũng phóng sinh hết cho xong, tất cả ma quỷ phạm tội đều thả hết thì xem xem nhân gian Ta Bà sẽ thế nào?"
Minh sứ lại nói:
"Phóng sinh một con cá sấu vào trong ao cá, thế thì nó sẽ ăn thịt sạch cá trong ao, đây có phải là phóng sinh không? Đây là phóng tử thì có!"
"Người tốt tâm địa lương thiện, xem tất cả động vật như nhau, nghĩa là với một con bướm một con kiến cũng đều sinh lòng trắc ẩn. Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn thấy tất cả chúng sinh đều muốn cứu giúp, nhưng cũng phải có trí huệ, có thể cứu thì cứu, không thể cứu thì cứ tùy duyên thôi."

Minh sứ nói:
Thứ có ích cho chúng sinh, cần cứu.
Thứ trung tính, cần cứu.
Thứ có hại cho chúng sinh, đừng cứu.
(Trừ phi thứ có hại cho chúng sinh đã tiến bộ, có thể cứu thì mới cứu.)

Minh sứ nói với tôi:
"Nếu ngài phóng sinh rắn độc, ngược lại còn bị cắn cho một phát, thì làm sao?"
Tôi hoảng hốt. Tôi đã bị cắn rất nhiều lần rồi, đâu chỉ có một phát chứ.
Minh sứ nói:
"Vi khuẩn cũng là chúng sinh, con người bị bệnh phải tiêm thuốc sát khuẩn, muốn phóng sinh mà vẫn là sát sinh, hãy suy nghĩ kĩ mà xem."
"Vẫn là phải niệm chú thôi, niệm chú vãng sinh!" - Tôi nói.


### 57. Đông Quách tiên sinh và con sói


Trong lúc thần hành.
Biết chuyện tăng chúng phóng sinh rắn độc, khiến tôi nhớ đến "Truyện về con sói ở Trung Sơn" của Tạ Lương triều Tống.

Trung Sơn có con sói chuyên ăn thịt người. Nó đã ăn thịt rất nhiều người rồi.
Có người thợ săn cao thủ là Triệu Giản Tử biết chuyện này, bèn hùng hổ đi vào trong núi để bắt sói. Anh gặp một vị trưởng lão nhân từ chính là Đông Quách tiên sinh, vị Đông Quách tiên sinh này khuyên Triệu Giản Tử đừng giết chết con sói, ông muốn dạy con sói ấy đừng ăn thịt người.
Thế là Triệu Giản Tử thả con sói đi. Đông Quách tiên sinh là ân nhân của con sói.
Đông Quách tiên sinh dắt con sói về nhà. Nửa đường, con sói nói:
"Tôi đói bụng rồi!"
Đông Quách tiên sinh hỏi:
"Phải làm sao?"
Sói nói:
"Tôi muốn ăn thịt tiên sinh!"
Thế là, Đông Quách tiên sinh đã bị con sói ăn thịt sạch sẽ.

"Truyện về con sói ở Trung Sơn" này từ nhỏ tôi đi học đã đọc qua rồi. Sói có tập tính của loài sói, giáo hóa chúng không dễ, rắn độc nếu không có độc thì không gọi là rắn độc, rắn độc sau khi nhận tam quy y thì sẽ không cắn người nữa sao? Rắn độc đã nhận giáo hóa rồi sao?
Lại nói con người hiện đại lập nên hiệp hội bảo vệ động vật, động cơ của hiệp hội này là thiện, tôi tuyệt đối không hoài nghi.
Nhưng họ bảo vệ hơi quá đà rồi.
Những động vật hung dữ có độc ăn thịt luôn cả người chăm sóc bảo vệ chúng. Đây chẳng phải là câu chuyện Đông Quách tiên sinh và con sói phiên bản thời hiện đại sao.

Bây giờ tôi cứ nghĩ mãi một vấn đề.
Tôi phát nguyện không bỏ rơi một chúng sinh nào, chúng sinh đều có Phật tính, ai muốn quy y tôi đều có thể quy y, bình đẳng giáo hóa, bình đẳng học Phật, bình đẳng sinh hoạt.
Nhưng chúng sinh cũng có tập tính, có một số người có độc tính, rất khó thay đổi.
Nếu tôi bị cắn thì sẽ chết.
Chẳng phải tôi sẽ trở thành Đông Quách tiên sinh sao, không bỏ rơi một chúng sinh nào, lời nguyện này có đúng hay không?
Đương nhiên, tôi độ hóa chúng sinh không ngừng, rộng rãi phóng khoáng, không hề tính toán, giống như hư không, cả đời báo ân không báo oán.
Thử hỏi thánh đệ tử, tôi thông minh hay là tôi ngu ngốc?


### 58. Miếu Thành Hoàng


Trong lúc thần hành.
Tôi đã gặp Tiểu Thành Hoàng, Huyện Thành Hoàng, Phủ Thành Hoàng, Đô Thành Hoàng cùng tuần hành, tôi rất ngạc nhiên, bốn vị Thành Hoàng cùng đi tuần, thật quá bất bình thường. Bình thường các vị ấy ở trong miếu, ngồi im bất động.

Tôi hỏi:
"Có chuyện gì vậy?"
"Có chuyện lớn rồi!"
Đô Thành Hoàng nói:
"Thành Hoàng gần gũi nhất với con người, nhân gian không thái bình, hắc đạo tụ tập đông người, đấu đá lẫn nhau, từ đó bách tính lương thiện bị hại, thần minh chúng tôi đây chỉ có cách đi tuần, thấy có người lương thiện ở trong đó thì chỉ có thể âm thầm bảo vệ họ khỏi bị tổn hại, ai cong ai thẳng tự có phán xét, cho nên thần minh ở miếu Thành Hoàng đều đi tuần hết rồi."
"Vất vả cho các thần quá!" - Tôi nói.
"Chẳng có cách nào khác, thế nhân ngày nay trộm cắp xảo quyệt nhiều quá, lòng người đã cực kì trơ tráo, tâm thuật cực kì xấu xa, chính đạo thiện hạnh bị che đậy, ăn cắp tài năng của con người, che giấu cái thiện của con người. Ngài viết sách khuyến thiện, e rằng người ta cũng chưa chắc đã tin, chưa chắc đã đọc."
"Tôi phải làm sao?"
Đô Thành Hoàng nói:
"Con người hành thiện ngày nay bị cho là tầm thường chán ngắt, cả đời vất vả mà chẳng ai biết. Trái lại, lừa gạt chiếm đoạt thì ai ai cũng ngưỡng mộ, thần minh chúng tôi cũng thấy đau buồn uất ức."

Phủ Thành Hoàng nói:
"Ngài quy về ở ẩn là đúng đó."
Huyện Thành Hoàng nói:
"Viết sách thôi!"
Tiểu Thành Hoàng nói:
"Nguy cơ biến cố khắp nơi, bế quan là phải."
"Tôi nên làm thế nào?" - Tôi lại hỏi.
Đô Thành Hoàng đáp:
"Cả thế giới đều đang loạn cào cào, thời đại thị phi chẳng minh bạch, ngài chỉ có ẩn cư bế quan rồi lặng lẽ mà biến mất."
Phủ Thành Hoàng đáp:
"Chẳng có lời nào để mà dạy người ta được."
Bốn vị Thành Hoàng và chúng thần vội vàng từ biệt, các vị vội vã đi bảo vệ những người tốt, nếu không đi, người tốt sẽ gặp tai bay vạ gió mất.


### 59. Khóc vì muôn dân trong thiên hạ


Trong lúc thần hành.
Tôi lại đến Huyết Quang Quốc, những linh hồn ở đây đều là những cô hồn dã quỷ chịu kiếp binh đao, có thể nói toàn là những thế hệ chết vì chiến tranh.
Huyết Quang Quốc không phải là một đất nước nhỏ bé.

Mọi người có thể nghĩ thử, xưa nay trong nước ngoài nước có bao nhiêu chiến dịch, bao nhiêu sinh linh lầm than, người đã chết máu chảy thành biển, xương chất cao như núi, đến cả Bồ Tát cũng khóc than.
Có thành phố nọ, người dân đều bị tàn sát hàng loạt.
Có tộc người nọ bị diệt tộc hoàn toàn.
Có đất nước nọ, toàn bộ con người đều mất nước.
Thế giới này, bao nhiêu phiến loạn, nội chiến, ngoại xâm, chiến tranh, đại chiến thế giới, thử hỏi, làm sao có thể kể hết? Số người đã chết là bao nhiêu?

Trong chiến tranh, thời kì nhiễu nhương hỗn loạn, nước mất thành vong, gia đình tan nát, vợ chồng li tán, mẹ con lưu lạc, người vô tội bị tàn sát, phụ nữ bị cưỡng dâm, trẻ em đói khát, điên cuồng chạy trốn, chồng đau vợ khóc, con gào mẹ khóc… Đây đúng là bi kịch lớn của nhân gian, sự tàn nhẫn lớn nhất.
Bao nhiêu người chết oan?
Bao nhiêu người chết cháy?
Bao nhiêu người bị cướp?
Bao nhiêu người bị cưỡng dâm?

Khi tôi thần hành đến Huyết Quang Quốc, nhìn thấy cha mẹ người ta chạy loạn lưu vong, tôi nghĩ đến cha mẹ mình mà hốt hoảng xót xa. Thấy vợ con người khác lang thang nay đây mai đó, khiến tôi nghĩ đến ân tình với vợ con mình khó chia cắt. Thấy linh hồn muôn dân lưu lạc không nơi nương tựa, khiến tôi nghĩ đến phải tử biệt với người thân của mình.
Tôi khóc vì muôn dân trong thiên hạ.
Tôi mong:
Con người hãy quý trọng mạng người.
Đừng cướp bóc tài sản của người khác.
Đừng cưỡng dâm phụ nữ.
Đừng lưu vong ăn xin phiêu bạt ngủ ngoài trời.
Đừng đốt nhà ở của người dân.

Làm một người cầm quyền, khi cần phải truyền đạt mệnh lệnh, muốn nói một câu, phải nghĩ một lần, nghĩ hai lần, nghĩ ba lần, đừng nghĩ vì bản thân, phải nghĩ vì muôn dân thiên hạ, một đời con người đã không thể tránh khỏi sinh lão bệnh tử rồi, hà cớ gì lại tạo nên nhân họa nữa?
Hòa bình chung sống với nhau không tốt hay sao!


### 60. Ma bí mật trò chuyện


Trong lúc thần hành.
Tôi nghe thấy ba con ma đang nói chuyện một cách đầy bí mật.
"Tiền bạc mà đại gia này có được đều là tiền bất chính đó, nên có quả báo hiện tiền mới phải."
Một con ma nói:
"Để cho mày lật thuyền đó!"
"Tội chưa đến mức phải chết."
Một con ma khác nói:
"Phóng hỏa biệt thự đi!"
"E rằng sẽ làm hại đến người vô tội."
Cuối cùng một con ma nói:
"Tặng cho ông ta một Thu Thu đi!"
"Như thế này là hay nhất."

Nói thẳng ra, cuộc trò chuyện bí mật này của lũ ma đều bị tôi nghe thấy hết, chỉ có điều "Thu Thu" là cái gì? Tôi cũng không hiểu, cũng không tiện hỏi, nghe xong rồi cũng thôi.
Thì ra là như thế này. Đại gia kia được người ta đưa đến quán rượu nên đã quen biết một cô gái quán bar. Cô gái này da thịt trắng nõn nà, mắt to miệng chúm chím, đại gia nhanh chóng bị mê hoặc, muốn tìm mọi cách để cưới cô gái này về nhà làm vợ bé.
Vợ cả và các con ông rất tức giận, làm ầm lên một trận rồi phân chia nhà. Đại gia và vợ bé sống với nhau.
Về sau, vợ bé dùng thủ đoạn gom hết bất động sản của đại gia này vào tay mình, rồi ôm toàn bộ gia sản bỏ đi mất.
Chạy theo người khác.
Đại gia mất cả người lẫn của.
Và nghệ danh của cô gái quán bar kia chính là "Thu Thu".

Họa đàn bà này sẽ báo ứng trên người tham sắc, trên đầu chữ sắc có một con dao, không chỉ hại thân mà còn mất tiền, không chỉ người tu hành không được chạm tới mà người bình thường cũng không được chạm tới, rất lợi hại đó.

Có một bài kệ:
*"Lời yêu toàn giả tạo.
Thật giả cứ tưởng lầm.
Xin hãy giương cao mắt.
Yêu bừa ấy ác duyên."*


### 61. Cùng Kim Mẫu nói về thiệt thòi


Trong lúc thần hành.
Rất hiếm khi tôi mới gặp được và lễ bái Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn (Tiên Vương), tôi và Kim Mẫu thảo luận vài điều quan trọng, xin lắng nghe cẩn thận và thử ngẫm nghĩ.

Tôi hỏi:
"Phải chăng con nên học nhẫn nhục?"
Đáp:
"Không phải nhẫn nhục, là tự nhiên."
Tôi hỏi:
"Có phải là con đã phải trả giá đắt rồi không?"
Đáp:
"Không phải, ngược lại đã đến được cảnh giới tối thượng thừa!"

Tôi hỏi:
"Người nhà thì sao?"
"Hoa trong gương, trăng trong nước."
"Các thánh đệ tử thì sao?"
"Duyên."
Tôi hỏi:
"Còn vàng bạc, tiền tài, nhà cửa, đất đai?"
"Huyễn."
"Bế quan hay xuất quan?"
"Tùy duyên!"

Tôi hỏi:
"Nhiều kiếp đến nay, con đã phạm bao nhiêu nghiệp rồi?"
Diêu Trì Kim Mẫu nói:
"Chuyện nghiệp báo có kể cũng không hết. Lần lượt giải nghiệp, thành Phật tác tổ."
Tôi nói:
"Phàm là những chuyện áp bức và lăng nhục thì sao?"
"Mặc kệ chúng đi."
"Việc ác lớn nhất trên đời này là gì?"
"Phát minh ra vũ khí giết người, phát minh ra vi khuẩn giết người. Vẫn là sát sinh."
"Điều gây cản trở tu hành nhất của thế nhân là gì?"
"Tham dục."

Tôi và Kim Mẫu nói chuyện vài câu đơn giản, từ đó có thể thấy, cách nghĩ của Thánh hiền và cách nghĩ của người thế tục là hai cấp độ khác nhau rất xa, là Thánh hay là phàm chính là nằm ở trong đó. Hữu tình hay vô tình, tự mình làm khó mình.


### 62. Không vào miếu quỷ


Trong lúc thần hành.
Tôi cùng đi với một vị Thiên Tào Tinh Quan, hai vệt ánh sáng bay với tốc độ thần tốc. Bỗng nhiên tôi phát hiện ở địa giới có một ngôi chùa vàng ngọc sáng rực rỡ, cá nhân tôi thích chùa miếu, gặp một ngôi chùa như vậy thì chắc chắn phải thăm viếng một phen.
Tôi hỏi Tinh Quan:
"Là chùa gì?"
Tinh Quan đáp:
"Chùa ma."

"Tôi muốn đi thăm viếng một chút!" - Tôi nói: "Đây là một ngôi chùa lớn."
Thiên Tào Tinh Quan nói:
"Tôi không thể đi vào chùa của ma, hễ tôi đi vào là họ chạy hết. Bởi vì tôi là Thiên Tào Tinh Quan, còn ngài mà đi vào thì họ sẽ đứng dậy hết!"
"Vì sao?"
"Bởi vì đứng ngồi không yên!" - Tinh Quan nói.
"Tôi có đức gì năng gì chứ?"
Thiên Tào Tinh Quan nói:
"Bây giờ ngài đang là thân trung ấm, nhưng bền bỉ niệm Phật trì chú, tu trì thiện pháp, có ánh sáng pháp thân liên tục, ngày ngày ngài lại còn bố thí nước pháp cam lộ, chưa bao giờ gián đoạn, giới quỷ thần đều biết, ngài mà đi vào trong chùa thì sao mà họ không đứng dậy che mặt cơ chứ?"
"Vậy thì không vào ngôi chùa ma này nữa." - Tôi nói.

Thiên Tào Tinh Quan nói:
"Thật ra ma cũng không nhất định là không tốt, cũng có ma có thần thông mạnh thì gọi là thần. Cũng có ma làm điều tốt giúp người, nên gọi là ma phúc thiện. Chỉ là chúng ta không tùy tiện đi vào chùa của ma, để tránh cho họ phải chạy tán loạn."
Tôi và Thiên Tào Tinh Quan bay đến Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ.
Thiên Tào Tinh Quan nói:
"Nơi này có thể ở được!"
"Vì sao chùa ma thì không thể ở được?"
Thiên Tào Tinh Quan nói:
"Cái việc cậy thế bắt nạt người khác thì chúng ta không làm."
Tôi hết sức kính trọng Thiên Tào Tinh Quan, ngài ấy là quan Thiên Tào, nếu đi vào chùa ma thì sẽ có cảm giác như mình tác oai tác phúc. Cho nên làm người cũng nên như vậy, phàm chuyện gì cũng phải có chừng mực, cần biết cảnh giác, kiêu căng ngạo mạn quá thì cũng là loại ngu dốt vô cùng!
Nếu tôi vào chùa ma thì buộc phải che ánh sáng pháp thân của mình đi!


### 63. Tiến sĩ tu hành


Trong lúc thần hành.
Tại âm phủ, tôi cũng gặp mấy người tu hành có học vị tiến sĩ, có người thật sự lấy được học vị tiến sĩ, có người được phong tặng bằng tiến sĩ danh dự, và tệ nhất là những người dùng tiền để mua lấy cái học vị tiến sĩ triết học.

Tôi rất kinh ngạc:
"Tiến sĩ tu hành sao mà cũng đến đây?"
Minh Vương đáp:
"Là Thánh hiền thật thì chẳng phải đến đây, còn những người khác, bất kể là hàm cấp gì, đều phải đến đây chơi."
"Họ là tiến sĩ Phật học, triết học mà!"
Minh Vương đáp:
"Chỉ cần không tu hành thực tế, chỉ mong mua danh cầu lợi, ví dụ như làm trưởng gì đó của hội Phật giáo, tiến sĩ Phật học, đều là hư danh mà thôi, lừa đời trộm danh thì trước tiên là suy giảm phúc, chi bằng thật thà niệm Phật."
Minh Vương lại nói:
"Người tốt cũng như vậy, biểu hiện bên ngoài là người hiền lành ôn hòa, nếu trong lòng có tâm hại người hiểm ác, giả danh sĩ, giả thiện nhân, thì cũng đều là hư danh mà thôi. Thiện nhân cũng phải thiết thực, chất phác thật thà làm việc thiện, không cần cố ý tránh tiếng tăm, cũng không háo danh, thì đây là thiện nhân thật."

Tôi nói:
"Vậy trước hết tâm bình lặng là quan trọng nhất."
Minh Vương đáp:
"Đúng thế, đúng thế."
Tôi nghe lời Minh Vương, trong lòng sợ hãi, tiến sĩ tu hành cũng đến âm phủ, trưởng gì đó cũng đến âm phủ, giả người lương thiện cũng đến âm phủ, thật khiến lòng người kinh hoàng run sợ.

Tôi nhớ Thánh hiền Trần Hi Di từng nói: "Danh là cái thứ mà con người từ xưa đến nay đều yêu thích, nhưng tiếng tăm lớn quá thì sẽ bị quỷ thần trong trời đất ghen ghét. Vì thế giữa trời đất, không một người nào có thể hưởng danh dự hoàn mĩ, chỉ cần thanh danh nổi tiếng khắp nơi thì tất sẽ có người đến phá hoại bạn, tiếng tăm vừa đến, phỉ báng đi theo. Vì thế, danh dự phải đặc biệt cẩn thận và thận trọng.
Danh cũng là phúc.
Mua hư danh tất sẽ tổn phúc.
Đại danh.
Quỷ thần ghét nhất.

Tôi cho rằng:
Con đường tu hành này quả nhiên không dễ đi, hãy thật thà niệm Phật đi!
Ngoại công và nội đức kiêm tu mới là con đường đúng đắn. Địa vị và tất cả những giải thưởng mua về đều là cái danh dự trống rỗng, đừng theo đuổi chúng nữa!


### 64. Trốn nợ


Trong lúc thần hành.
Đột nhiên tôi nghe thấy Thượng sư tâm chú: "Om guru liansheng siddhi hum."
Lại có những làn hương bay đến, tôi tóm lấy một đoạn mùi hương và ngửi, lập tức biết đó là chuyện gì.
Thì ra có một đệ tử Chân Phật Tông làm ăn thất bại, phá sản (là phá sản thật sự, chứ không phải là chỉ dẹp tiệm không có hại gì).
Chủ nợ không cam lòng, liền mời xã hội đen đến nhà đòi nợ, xã hội đen ỷ người đông và uy thế, lại có vũ khí, còn đệ tử kia của tôi thì thật sự không một xu dính túi, xã hội đen tính khí ngang ngược hỗn hào, đe dọa sát hại tính mạng, rồi còn ép con gái của đệ tử này làm gái mại dâm để trả nợ. Xã hội đen hung hãn ác độc, đệ tử không biết phải làm thế nào.
Đệ tử bị đánh đập thô bạo, mới nghĩ đến Sư Tôn, liền thắp hương niệm chú xin tôi giúp đỡ.

Trong mơ, tôi ban mộng thị chỉ điểm rằng:
"Mau đi Đông Bắc để trốn, sau này lại nghĩ cách!"
Đệ tử tỉnh ngộ:
Đông Bắc vốn là nguyên quán của ông, còn có mấy mẫu đất núi, có thể nuôi thân sống qua ngày. (Sản nghiệp của tổ tiên không đáng tiền.)
Thế là ngay đêm hôm ấy, ông rời đi Đông Bắc.
Đây là đệ tử đi trốn nợ.
...

Chuyện này khiến tôi nghĩ đến ông nội Lư Xương của tôi thời trẻ phát triển xưởng gạo, rất nhiều người nghèo khổ đến mua gạo, rồi viết giấy ghi nợ.
Ông nội tôi vào mỗi dịp cuối năm tập trung hết những giấy ghi nợ mà người ta không cách nào trả được đốt đi hết, người ta không cần trả nữa.
Bản thân mình sống được, người ta thì sống rất vất vả, có thể thư thả thì thư thả, thậm chí có thể giúp đỡ thì giúp đỡ. Bởi vì người ta thật sự kinh doanh thất bại, thật sự đang không có tiền để trả, nên có lòng cảm thông, cũng là con người với nhau mà!
(Việc phá sản gây thiệt hại này không kể ra ở đây.)

Xã hội đen đòi nợ là hại người hại thân hại mệnh, có khi làm người ta bại liệt cả đời, đó là chuyện không nhân từ, từ việc sát thương bạo lực, hăm dọa ra oai, đó là đánh mất lòng trung hậu.
Tôi hỏi Minh Vương:
"Xã hội đen đòi nợ, sát thương ra sao?"
Minh Vương đáp:
"Đạo trời quý sinh mạng, mạng người là rất quan trọng, sao nỡ sát thương chứ? Đòi nợ phải theo pháp luật mà làm, nếu dùng xã hội đen để cưỡng chế thì thật không nên làm."
Chính nhân quân tử, hãy dè chừng, hãy dè chừng!


### 65. Cảnh ở trước giường bệnh


Trong lúc thần hành.
Tôi theo mấy vị âm sứ đến một bệnh viện lớn. Sứ giả âm gian đến bệnh viện, chẳng cần hỏi cũng biết là họ đang đi bắt linh hồn (thân trung ấm) của người hấp hối.

Âm sứ đi tuần lần lượt trước các giường bệnh.
"Người này có phải là bệnh nhân bị đột quỵ do cao huyết áp không?"
"Không phải người này."
"Người này có phải bệnh nhân bị tiểu đường không?"
"Không phải người này."
"Người này có phải là bệnh nhân mắc bệnh mạch vành tim không?"
"Không phải người này."
"Người này có phải là bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối không?"
"Không phải người này."
"Người này có phải là bệnh nhân sống thực vật không?"
"Cũng không phải người này."

Âm sứ đi tuần một vòng, chỉ thấy trong phòng cấp cứu có đưa vào một thanh niên bị mất máu quá nhiều, nhịp tim đập nhanh. Âm sứ tiến lên trước tóm lấy thân trung ấm của người thanh niên này, giữ chặt linh hồn của người thanh niên rồi lôi đi.
Tôi hỏi:
"Sao lại là người này? Người già ốm thì không đi, trái lại lại bắt người trẻ à?"

Âm sứ kể với tôi:
"Người thanh niên này huyết khí tràn trề mạnh mẽ, mà lại đi đánh nhau. Đôi bên đánh nhau, người thanh niên này đã giết người, bản thân anh ta cũng bị thương và được đưa đi cấp cứu, chúng tôi đến để bắt người thanh niên này, anh ta giết người thì phải đền mạng đó!"
Tôi không nén nổi thở dài, liên tục xuýt xoa "ôi chao".
Âm sứ nói:
"Chẳng còn cách nào, anh ta giết lầm người rồi, đó là người qua đường vô tội đó!"

Tôi cảm thán, những người trẻ tuổi lớn lên được như vậy đâu có dễ, ơn dưỡng dục của cha mẹ chưa báo, sự nghiệp học hành chưa thành, mọi thứ còn chưa bắt đầu, nhất thiết đừng tự mình muốn gì làm nấy, tính tính phóng túng ngang ngược, kết bè kết đảng, không học cái tốt, chuyên học cái xấu, cha mẹ và nhà trường dạy dỗ không nghiêm, tôi thấy quả báo như vậy.
Cha mẹ tan nát cõi lòng. (Muốn khóc cũng không còn nước mắt.)
Trái tim tôi đau đớn.


### 66. Một bầy bò ngựa dê


Trong lúc thần hành.
*Tôi nghĩ đến hai bài kệ:
Năm cùng tháng tận thật đáng thương.
Lão Vương xóm Đông đốt tiền giấy.
Tức tâm tự tính Di Đà Phật.
Nét mặt bụi bặm lại một năm.*

Và:
*Nghĩ đạo súc sinh phát bồ đề.
Cha mẹ quê hương đừng mê đắm.
Càng sớm càng tốt nên trở về.
Sao phải vất vả cứ mãi đi.*

Tôi thần hành đến lò mổ, nhìn thấy một bầy bò ngựa dê, lò mổ hiện đại dường như có phần sạch sẽ và ngăn nắp hơn.
Trâu bò dê được đẩy vào trong, máy móc tự động hóa, đồ tể nay là máy móc, thế là tất cả thành phẩm của bò ngựa dê đều đi ra. Một số trở thành sản phẩm đóng hộp.
Thế còn, vẫn có những lò mổ hoạt động theo hình thức cũ, vẫn có đồ tể giết bò, giết ngựa, giết dê, nghe nói những đồ tể giết mổ đều rất tàn nhẫn.
Tôi cảm thấy đạo địa ngục đáng thương làm sao!
Cũng không để mê đắm vào đạo người nơi cha mẹ quê hương.
Đạo súc sinh bị giết mổ, càng khiến người ta kinh hoảng!

Tôi đọc kinh Nhân Quả Ba Đời:
Kiếp này làm bò ngựa là vì nguyên nhân gì? Kiếp trước mắc nợ người chưa trả.
Kiếp này làm chó lợn là vì nguyên nhân gì? Kiếp trước đều lừa gạt hại người.
Và:
Kiếp này đoản mệnh là vì nguyên nhân gì? Kiếp trước giết hại thân chúng sinh.

Tôi đã đọc được ý nghĩa sâu xa ấy, khi thần hành đi qua lò mổ, tôi nhìn thấy một bầy bò ngựa dê đang phải chịu số phận bị giết mổ, oán khí cao ngút trời, xém chút nữa tôi rơi xuống, tôi vội vàng niệm Phật trì chú vãng sinh.
Tôi nhìn thấy đồ tể cầm dao, động tác nhanh gọn dứt khoát, tôi thật sự thấy xót xa cho đồ tể và bầy bò ngựa dê, cứ giết qua giết lại như vậy, cái ác tuần hoàn, khi nào mới có thể thoát li biển khổ sinh tử đây?
Người biết niệm Phật là có phúc rồi. Vùng đất hoa sen Tây phương sao không đi?
Thật đó. Mọi người phải tới Tây phương mới tốt!


### 67. Điều tiếc nuối của Phật tâm thiên tử


Trong lúc thần hành.
Tại một cảnh giới thần bí, tôi nhìn thấy một vị Phật tâm thiên tử mà tôi ngưỡng mộ đã lâu là Lương Vũ Đế. Các chùa chiền ngày nay có người thêm Di Lặc Bồ Tát và Lương Vũ Đế vào cùng với 16 vị La Hán vốn có ban đầu, trở thành 18 vị La Hán. Trong số 18 vị La Hán, có một vị thiên tử đội mũ Thông Thiên, đó chính là Lương Vũ Đế.
Lương Vũ Đế và tôi gặp nhau thì rất vui mừng.

Tôi nói:
"Ngài đã trở thành một trong 18 vị La Hán rồi."
Lương Vũ Đế không nói gì, chỉ thở dài:
"Năm xưa sơ suất, bỏ mất dịp may, đó là chuyện Tổ sư Đạt Ma!"
Tôi nói:
"Ngài vẫn còn có thiền sư Chí Công thì có gì mà tiếc?"
"Nói thế cũng phải."
Tôi nói:
"Làm hoàng đế, hẳn là rất mãn nguyện rồi!"
Lương Vũ Đế nói:
"Có một điều tiếc nuối lớn, một quyết định sai lầm mà hại chết bách tính!"
"Chuyện gì?"
Lương Vũ Đế đáp:
"Tôi tin nhầm đại thần Vương Túc, sửa đất đắp đê để chặn nước sông Hoài, tưới cho khu vực Thọ Dương nơi có hai mươi vạn cư dân lao động, bởi vì mùa hè nóng, dịch bệnh lưu hành khiến vô số người chết."
"Đó cũng là số trời."
"Không phải, nước sông Hoài đến mùa thu đột ngột dâng lên, phá hủy đất đê, làng mạc thành phố của dân cư bên bờ sông Hoài có mười mấy vạn người đều chết sạch."
Tôi á khẩu không nói.
Lương Vũ Đế nói:
"Tôi làm hoàng đế, chết đói trong thành, cũng là có lí do của nó cả."
Tôi nghe mà sợ hãi.

Lương Vũ Đế tín Phật, học Phật, khởi xướng Lương Hoàng Bảo Sám, kính Phật xây chùa, ngay chính bản thân cũng muốn xuất gia, vậy mà vẫn có điều tiếc nuối lớn, có sai lầm lớn, sao không khiến người ta cảm thán!
Tại đây, tôi vẫn muốn khuyên nhủ những người cầm quyền, hành sự quan trọng vẫn phải cẩn thận, một công trình lớn phải suy nghĩ cho lâu dài, một quyết sách phải nghĩ đến đời con cháu của muôn dân, tránh mắc phải sai lầm nghiêm trọng, hối hận thì đã muộn rồi!


### 68. 12 cái hại của họa dâm


Trong lúc thần hành.
Tôi phát hiện ra người được thăng thiên ít một cách đáng thương. Trái lại, người phải xuống tam đồ địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh thì vẫn còn xếp hàng dài, nam nữ, già trẻ đều đọa xuống địa ngục hết.
Trong sách cổ có một câu:
Thiên đường có lối mà không đi.
Địa ngục không cửa cứ đâm vào.

Tôi càng phát hiện thấy những nam nữ già trẻ này đều phạm vào cái tâm tà dâm. Tham dục là chủng tử, tà dâm dễ phạm, cho nên ai nấy đều đi xuống địa ngục.
Tà dâm có mười hai cái hại, tôi đã viết đi viết lại, xin hãy đọc cuốn "Sống từng phút giây trong sáng", "Sống từng phút giây rực rỡ", "Tâm sự của cụ già ấy". Mười hai cái hại này kể ra như sau:

1. Hại thiên luân -- con người đánh mất tình cảm cha con anh em, làn trái tình nghĩa, chính là loài cầm thú.

1. Hại nhân tiết -- nam nữ thất tiết, như ngói vỡ không thể lành.

1. Hại thanh danh -- lưu truyền tiếng ác, mặt không có ánh sáng.

1. Hại gia phong -- gia đình phải chịu nhục nhã.

1. Hại tính mạng -- uất quá mà chết, xấu hổ quá mà chết, vợ chồng giết lẫn nhau, chồng giết tình địch, tình địch giết chồng.

1. Hại phong tục -- phong tục thiện lương suy đồi, kéo bè kéo cánh làm việc xấu, lại không cho đó là điều hổ thẹn.

1. Hại âm đức -- làm điều tàn nhẫn không có tính người, đánh mất thiện quả.

1. Hại danh lợi -- phú quý vốn có cũng sẽ bị mất.

1. Hại thọ mệnh -- tinh tủy khô kiệt, thọ mệnh càng ngắn.

1. Hại tổ đức -- đức hạnh của tổ tiên bị liên lụy, là bất hiếu, tổ tiên sẽ phải làm ma đói.

1. Hại tâm thuật -- dâm niệm khởi lên thì miễn tu hành, tâm tính đều đi đời cả.

1. Hại đời sau -- dâm loạn vợ con người ta, quả báo phải tự chịu, người ta sẽ dâm loạn vợ con mình.

12 cái hại này vẫn còn chưa đủ hay sao?

Đặc biệt, dâm niệm hại ý nghiệp là nặng nhất, tự thanh tịnh ý mình mới là hành giả, nếu không thể tự thanh tịnh ý mình thì không phải là Phật giáo.
Tâm huyễn vọng.
Tâm tham luyến.
Tâm tính toán.
Tâm đố kị.
Tâm ham muốn.
Họa dâm này không chỉ có 12 cái hại đâu! Nói thẳng ra là khoái lạc nhất thời, vĩnh viễn bi ai, nam nữ trong thiên hạ nên cùng cẩn thận, cảnh giác.


### 69. Làm sao phòng tránh họa dâm?


Tôi viết 12 cái hại của họa dâm, tự cảm thấy việc phòng tránh càng quan trọng hơn. Tại đây, tôi đưa ra mười cách tránh xa họa dâm:

1. Thanh tịnh tâm địa.

1. Giữ phép tắc.

1. Tôn kính trời, thần.

1. Nuôi dưỡng tinh thần.

1. Mắt không nhìn cái xấu.

1. Bỏ thói nói điều bẩn thỉu.

1. Đốt sách tà dâm.

1. Giảm bớt chuyện phòng the.

1. Không đi ra ngoài ban đêm.

1. Khuyên nhau cùng cảnh giác.

Phật Đà dạy "bất tịnh quán", "bạch cốt quán". Ngoài ra, kinh Bốn mươi hai chương nêu ra: "Xem người già như mẹ, xem người lớn hơn như chị, xem người nhỏ hơn như em, xem trẻ nhỏ như con gái."
Nếu có phụ nữ dụ dỗ, luôn phải hết sức từ chối, cánh cửa này phải kiên nhẫn, hơn nữa phải không dao động, phải cương quyết kiên nhẫn.

Tôi lại nhắc nhở:
"Khi một người mắc bệnh thì suy nghĩ tham dâm của người đó tự nhiên tan biến. Và khi nhìn những bệnh nhân trong bệnh viện lớn, khi mất đi sức khỏe, ngọn lửa dâm sẽ tự tắt. Vì thế, thường xuyên nghĩ, dâm dục nhiều thì tinh khí khô kiệt, bệnh tật tự đến, nghĩ về bệnh tật cũng là một trong những bí quyết."

Và:
"Một người khi chết, đương nhiên tham dâm cũng sẽ không còn. Người tu hành, mỗi ngày đều xem như đó là ngày chết, quán tưởng việc chết. Khi đến ngày chết, làm gì còn lửa dâm, đây cũng là một bí quyết. Nhưng phải càng tinh tấn hướng về Phật hơn, một lòng hướng Phật."
Có câu nói:
Sớm tối một nén hương.
Ngồi im ngẫm dâm họa.
Hàng tâm vượn ý mã.
Định huệ tự thành Phật.

Tôi quan sát cái hại của dâm họa lớn hơn tất cả mọi thứ, tính dục là chủng tử của luân hồi, là bản năng nguyên thủy của động vật, bản năng và lí trí thường xung đột với nhau, không dễ phòng tránh. Đầu tiên là không nhìn những điều sai, nhãn dâm dẫn đến tâm dâm, một khi tà duyên đến thì sẽ trở thành tà dâm. Cho nên Thánh hiền nói: "Phi lễ vật thị", nghĩa là không nhìn điều sai.
Thấy cũng như không thấy, là công phu thật sự! Bước ngoặt là người hay thú đều bắt đầu tại đây.


### 70. Thơ thần hành (1)


Thời gian không gian giữa bàn tay với ngón tay
Thập phương pháp giới
Chẳng biết là tỉnh táo hay mơ hồ
Đến được cảnh giới này
Hơi thở sẽ tựa như sương tựa như nước
Bán tử tam muội

Mạch đập vẫn nhảy lên từng nhịp
Cơ bắp toàn thân mềm mại nhẹ nhàng
Cái cảm giác buông bỏ thật thoải mái
Với nhục thân phiền phức nằm ở đây
Rõ ràng nhận thấy

Thần hành - bí mật
Trong một sát-na
Nhẹ nhàng lướt đi
Suốt năm tháng bế quan ẩn cư
Vậy cũng đủ rồi
Như chính giờ phút giây này

Bất kể thiên thượng nhân gian
Hay là Phật là Tiên trời ở đó
Ngay cả dù đang là âm phủ
Xin chớ quên chú ngữ của tôi
(Đó tuyệt đối chẳng phải vì địa vị)

Thần hành kia đủ bao loại biến hóa
Hóa thân hiện hữu chẳng nghỉ giây phút nào
Mọi người đang được tôi dẫn dắt
Đến thế giới chân thực hơn mộng tưởng
Vùng đất ấy
Ánh sáng tụ hội.


### 71. Thơ thần hành (2)


Vấn đề tự bản thân mình, xin được hỏi chúng sinh
Thế nào là bệnh
Thế nào là già
Thế nào là tạ thế
Tôi không phải tăng nhân lười biếng

Mặc dù là thần hành bán tử tam muội
Nhưng vẫn có thể viết sách rõ ràng
Vô hình cũng có thể nhìn thấy
Trí huệ gia tăng bội phần

Vùng đất hi vọng một ý niệm là đến
Mỗi một cảnh giới đều có tiếng vọng lại
Tôi hi vọng đến được nơi thần diệu nhất
Không một chút biếng lười
Niệm Phật niệm kinh

Đời người còn có gì đáng tưởng nhớ
Vẫn còn những cái tham muộn màng chăng
Vẫn còn lưu luyến với quyến thuộc
Vẫn còn muốn dạy dỗ thánh đệ tử
Tất nhiên cuối cùng hai chân vẫn duỗi thẳng thôi

Tôi sẽ nói lời cáo biệt sau cùng
Đời người chính là như thế
Những gì tuyệt vời nhất đã diễn xong cả rồi
Những điều cần khuyên răn cũng đã nói xong rồi
Cái gì nên vứt bỏ thì cần vứt bỏ
Một mình đến
Một mình đi
Mời mọi người
Đọc một chút sách thơ tôi.


### 72. Thơ thần hành (3)


Tôi từng được coi là một thanh niên tuấn tú
Đã từng một thời khôi ngô
Đã từng cường tráng
Phi thường và dũng mãnh bước lên những bậc thang
Dẫn đến Kim Đao Tì Lô Cung ở Shikoku Nhật Bản
Không hề dừng bước

Những ngày xưa ấy
Vĩnh biệt rồi
Không thể nói là bây giờ thì vĩnh biệt
Nhưng càng ngày càng khẳng định chắc nịch
Tôi đã không thể leo lên con dốc hảo hán của Vạn Lí Trường Thành

Giờ đây thần hành tôi thấy trước quá nhiều
Hàm nghĩa của nó đều nằm ở nhân quả
Những gì tôi ghi được càng ngày càng bí mật
Rất gần kề
Nhưng chẳng thể ghi ra toàn bộ những gì tôi đã biết

Nhân quả nghiệp báo vượt rất xa mọi suy nghĩ của con người
Bề ngoài thì cũng chẳng có gì
Nhưng ở tầng bên trong thì thế nhân chẳng thể nghĩ thông
Tôi phải khẩn trương nói ra
Đưa ra lời nhắc nhở thế nhân cõi Ta Bà
Nhất thiết đừng tạo nghiệp chướng

Thần hành nhậm vận chẳng hề ngơi nghỉ
Tôi liên tục tiến tới
Truyền đi những đạo lí kì lạ mà tôi thấy
Để hạt giống của Phật được gieo trên ruộng tâm
Chúng ta hãy chờ
Nhiệm vụ của "thần hành kí"
Tiếp diễn đến trăm nghìn năm sau.


### 73. Thơ thần hành (4)


Tôi phát hiện ra Thánh nhân đến Ta Bà độ chúng sinh chưa từng ngơi nghỉ
Cũng tức là người trở về tịnh thổ quật khởi tại nhân gian
Con người quá bận bịu
Chỉ có thể để lại cho họ con đường dễ hành trì
Để con người có thể dựa vào mà tu trì xuất li

Tôi thẳng thắn nói lên chân lí
Thế giới nhân gian này cũng chẳng phải là thế giới nhân gian
Chỉ có vấn đề hoàn trả nghiệp vốn có
Người xưa
Người nay
Đến đến đi đi
Là không
Ngay cả vô thường cũng là hợp lí

Tôi toàn tâm mong chúng ta quang minh chẳng phân ly
Tôi muốn mọi người
Càng đi càng trang nghiêm, càng đi càng tươi sáng
Thiện duyên
Không thể phân li
Những việc thế gian khác
Tài sắc danh thực thụy
Và những cái khác nữa
Đều thờ ơ chẳng hiếu kì

Sinh cùng một nơi nhé
Chết cùng một mộ nhé
Trải rộng thật xa
Đó là tâm ý tình cảm của tôi
Để mỗi ngày ẩn cư tôi thần hành
Tôi không còn phải không ngừng ra ra vào vào
Tìm kiếm.


### 74. Thơ thần hành (5)


Đời người có bắt đầu thì sẽ có kết thúc
Đâu cần dự báo tương lai sẽ xảy ra chuyện gì
Có lão hòa thượng từng nói
Không đến
Không đi
Chẳng hề gì

Còn nhớ tôi từng kể việc đời bản thân
Học pháp
Tu pháp
Hoằng pháp
Lui về
Đó là thực tiễn của khát vọng nhất quán

Bước đi tại thế gian Ta Bà vì hoài bão
Con đường đúng đắn tràn đầy tín tâm hân hoan kiên cường
Thần hành là biểu tượng của tôi
Là sự bất tử càng thêm hoàn mĩ

Có một ngày
Hát lên khúc nhạc buồn của đời người
Khúc nhạc buồn thật sự không cần hát
Niệm Phật
Tiễn tôi
Lại trở về nhân gian để cứu độ

Tôi dùng sự bền bỉ để biểu đạt tấm chân tình đối với con người
Thần hành chính là một kiểu chỉ dẫn
Để con người có thể hiểu được
Một hành trình trải nghiệm
Một điểm kết thúc
Là bắt đầu - là kết thúc - một đời lại một đời.


### 75. Thơ thần hành (6)


Khóc
Tôi vĩnh viễn không còn trốn tránh nữa
Tôi chẳng thể báo đáp tiếng gọi yêu thương của mẹ cha
Tôi cũng không phải là đứa con ngoan ngoãn
Chỉ có tiếng cảm ơn đáp lại ở trong lòng

Khóc
Tôi vĩnh viễn không còn trốn tránh nữa
Các thầy, Liên Hương, Phật Thanh, Phật Kì
Nhìn biển trời nối liền dưới ánh hoàng hôn
Nỗi đau ngọt ngào trong tim bị đánh thức

Khóc
Tôi vĩnh viễn không còn trốn tránh nữa
Tôi có rất nhiều rất nhiều thánh đệ tử
Tôi cảm ơn sự tiếp nối truyền thừa
Tôi hân hoan mối nhân duyên gặp gỡ
Đó thật là điều may mắn

Vì đã có được nhiều như vậy
Nên cảm ơn chẳng bao giờ là đủ
Tôi cầu nguyện cho mọi người nhiều hơn vậy
Sự chần chừ thời gian hi vọng có thể nắm chắc

Khóc
Tôi vĩnh viễn không còn trốn tránh nữa
Tôi sẽ truyền lại một chút gì đó cho mọi người
Đừng trì hoãn niệm Phật
Đừng trì hoãn trì chú
Đừng trì hoãn tu trì
Tôi thần hành thầm thì với mọi người
Thời gian vội vã chẳng thể gọi trở về.


### 76. Thơ thần hành (7)


Biết rằng tâm linh bị giam cầm đã hoàn toàn được giải phóng
Giống như khói lửa của buổi lễ chúc mừng
Bắn tung vào hư không
Như Lai tạng thức
Mở rộng ra

Có con mắt kì dị
Có cánh tay thần diệu
Nghìn mắt nghìn tay chóng khuếch tán khắp nơi
Thần túc
Lang thang khắp thập phương thế giới

Có tứ Thánh lục đạo tự hát lên những khúc ca đồng diễn
Có âm thấp trầm
Có âm dữ dội
Có âm cao vang
Thốt ra những dòng âm thanh tuyệt diệu

Vốn chỉ muốn làm một thi nhân
Thì bất ngờ phát hiện nơi ẩn giữ Phật tính
Bí mật trong bí mật
Hai thực thể cùng đồng hành
Sự thức tỉnh của bất sinh bất diệt
Tiếng vọng vĩnh hằng

Trong chớp mắt tôi hiểu vì sao mình sinh ra
Tích tắc thức tỉnh
Vang dội tôi truyền dạy Mật pháp
Dù có cô độc
Nhưng đối diện với chúng sinh thế giới
Tôi vẫn sẽ không ngừng làm thơ
Hát lên với người.


### 77. Thơ thần hành (8)


Có người đi ngắm mặt trời mọc
Hoàng hôn luôn khiến người ta mê đắm
Mặt trời đỏ rực tựa như rơi xuống biển
Để rồi sau đó lại là tuyệt vọng
Một màn đêm đen rộng lớn

Kể từ khi đi đôi giày thần hành
Sắc thân của tôi đã mất đi sức khỏe
Tôi nửa nằm nửa ngồi trôi qua ngày tháng
Dựa vào sự thần thành của tâm linh
Mang theo chút hi vọng trầm lặng và dịu êm

Nghe thấy tiếng đáp lại từ Ma Ha Song Liên Trì
Nơi tôi muốn trở về
Niềm vui tịch diệt và vĩnh hằng nơi ấy
Cố hương của rất nhiều bạn đạo và thánh đệ tử
Họ cũng muốn
Tôi trở về bên cạnh họ

Hãy đến đây đi
Buổi tà dương ánh mặt trời chói lọi
Những gì cống hiến được thì đã hiến dâng rồi
Đã gieo rắc bao tia sáng của chủng tử
Sắc thân nên bỏ đi thì vứt bỏ
Chẳng cần phải vội vội vàng vàng nữa

Không muốn bị dẫn nhầm đến nơi chốn khác
Tứ Thánh giới đã vang tiếng gọi
Tiếng của Phật
Giúp chẳng đọa vào hắc ám bóng đêm
Trách nhiệm tôi mang là độ chúng sinh
Không muốn để tôi phải đau khổ và bi thương.


### 78. Thơ thần hành (9)


Âm phủ u tối
Hư vô tối tăm khiến người ta run sợ
Chỉ vì theo đuổi thỏa mãn dục vọng
Mà ngăn trở con đường thiêng liêng đến Cực Lạc thế giới

Người hỡi người
Vì sao không thể tự chủ
Chỉ cần bạn thật sự sẵn lòng
Tin rằng có Ma Ha Song Liên Trì
Tôi sẽ là vị Guru dẫn dắt

Vượt qua những ham muốn cá nhân
Tham sân si
Hi vọng tâm mỗi người sẽ nâng cao nữa
Để lĩnh ngộ
Khổ - Không - Vô thường
Nương dựa ở nghĩa đế chân thực của Như Lai

Khổ tập diệt đạo là Không
Sắc thanh hương vị xúc pháp là Không
Nhãn nhĩ tị thiệt thân ý là Không
Xuyên thấu những điều trên
Là thần túc

Tôi mong ngóng thấy bạn
Ở đâu đó nơi thế giới Ta Bà cô quạnh
Tôi ở một góc xa hẻo lánh
Chờ đợi nhân duyên chín muồi

Khi ngày ấy đến
Cất cao bài hát ca ngợi của Không Hành
Ma Ha Song Liên Trì, tất cả cùng đoàn tụ tới.


### 79. Thơ thần hành (10)


Cuối cùng đã hiểu chân lí của vũ trụ
Sáng nghe đạo, chiều chết không hối tiếc
Những Thánh giả khác có thể không hiểu
Từ đầu chí cuối tôi luôn cất giữ mỗi một đoạn tình

Không chỉ hết lần này lại đến lần khác
Tôi lặng lẽ né tránh những đám đông người tụ tập
Tôi thổ lộ nguyên nhân thật sự
Chỉ vì lẩn trốn những nỗi nhớ trong tim của chính mình
Bóng dáng
Hình ảnh
Bóng lưng
Tiếng nói
Không biết mệt mỏi cứ mãi hiện lên trong tâm hồn
Kiếp trước là tôi đã nợ bạn
Hoặc là bạn đã nợ tôi
Vì thế mà không ngừng đi theo bước chân của tôi

Trong những cuộc thần hành của tôi
An ủi vỗ về tâm hồn tôi
Xin thứ lỗi vì tôi không gọi điện cũng chẳng thư từ
Tuyệt đối đừng cho rằng tôi đã vứt bỏ mọi người
Tôi chỉ dựa vào điều này
Thong dong mà đi

Trên lưng tôi cõng theo gánh nặng ấy
Gánh nặng ấy là đời đời kiếp kiếp
Phiêu bạt đến thế giới vượt ra ngoài nghìn dặm vạn dặm
Ai có thể giải thích vị Bồ Tát ngu ngốc này
Trong ba lô chỉ có hai chữ
Hữu tình.


### 80. Thơ thần hành (11)


Đối với việc cứu độ chúng sinh
Xưa nay tôi luôn không oán trách cũng không hối hận
Chỉ có hết sức mình cứu độ và soi sáng
Cho đến khi đến lượt tôi ngã quỵ
Ngọn đèn dầu khô đã tắt rồi

Chẳng nghĩ gì đến việc tương lai
Chỉ dốc toàn lực ban trải tình yêu thương ấm áp
Bất kể lòng người lạnh hay không lạnh
Tôi chưa từng bận lòng những cơn gió tái tê

Mặc dù tôi cũng biết
Sự biến mất luôn luôn đến bất ngờ
Có lẽ đúng vào ngày này hoặc ngày đó
Bạn đạo đều không hiểu rõ tình hình
Đâu có điềm báo trước sự trở về
Hay vĩnh viễn chẳng còn xuất hiện nữa
Giống như Lão Tử cưỡi trâu xanh rời khỏi Hàm Cốc Quan
Từ đó chẳng còn gặp lại

Xuân hạ thu đông những năm sau
Có thể tôi sẽ ở trong tiếng sóng gào
Sẽ ở dưới ánh trăng tròn
Sẽ ở trên đỉnh núi
Ngẫu nhiên
Linh quang sẽ hiện ra

Khi bầu trời đầy sao lấp lánh
Trên đường đời dài đằng đẵng mênh mông
Tôi vẫn luôn chờ đợi
Mặc dù tôi cô độc, kì diệu, thần hành
Thậm chí thỉnh thoảng rơi lệ
Tôi vẫn mong chờ bạn đạo trở về bên tôi.


### 81. Thơ thần hành (12)


Trong những ngày tháng đóng cửa ẩn cư
Dưới chiếc đồng hồ không bao giờ dừng lại
Viết sách
Làm thơ và thần hành

Chủ nhân của trái tim này vẫn mãi quan tâm lo lắng
Đến chốn âm phủ tối tăm
Đến chốn ma quỷ hoang vu cằn cỗi
Cảnh địa Thiên Chúa hay Phật Quốc tịnh thổ xa xăm

Giống như một đứa trẻ trượt xuống khỏi chiếc giường
Bàn chân đỏ hỏn tự một mình dạo chơi
Chỉ nhờ vào ánh sáng của một ngọn nến
Cứ trượt đi rồi biến mất luôn

Tôi thấy nhân gian thật sự đầy rẫy bụi gai
Vướng víu lẫn nhau
Rồi lại có những đau buồn yêu ghét xen lẫn
Nhìn thấy những thánh đệ tử đẫm nước mắt
Sao có thể yên lòng

Tôi muốn con người đẩy lùi màn sương mờ che mắt
Tôi dặn dò rồi lại nhắc nhở
Rời xa những sự vụ tạo nên ác nghiệp
Thổ lộ hết nghìn lời vạn ngữ
Vứt bỏ những cạm bẫy dục vọng của tục thế
Mới có thể vĩnh viễn sống cùng tôi nơi đất thánh này

Tôi giải thích làm sao với chúng sinh thiên hạ
Thế giới này vốn là thực tướng
Tôi bảo vệ bạn suốt hành trình
Chỉ cần có thể tập trung tinh thần bất loạn nhất tâm.


### 82. Thơ thần hành (13)


Xin đừng trách tôi nói lời ngay thẳng
Nói đi nói lại càm ràm những điều cũ rích
Nhưng bạn không cảm thấy sao
Thế gian Ta Bà này tất cả đều tạm thời
Chẳng có gì vĩnh hằng
Dù tôi có nói gì đi nữa cũng không bao giờ là quá muộn

Trên thực tế thời gian như mũi tên chẳng thể quản thúc
Bạn có thể hiểu thời gian chẳng buông tha bất kì ai
Một ngày một tháng một năm qua đi nhìn thấy hết mọi sinh lão bệnh tử
Sắc thân không thể lơ là cũng không thể hồ đồ
Cho dù đứng trên nóc nhà của thế giới
Cũng phải cảm thán vô thường đến quá nhanh

Tôi đã vì đệ tử của mình mà chần chừ lưu luyến
Thần hành như chiếc đèn cù
Để lại những hình bóng chân thực
Rồi thời khắc của tôi sẽ đến
Chẳng ai có thể ở đây mãi mãi

Khi sắc thân giống như không khí
Các bạn tìm kiếm tôi
Tôi tìm kiếm sư phụ của mình
Ngôi sao băng xé toạc bầu trời
Chỉ diễn ra trong một chớp mắt

Nếu các bạn nhất thời không thấy tôi nữa
Xin mọi người hãy giữ vững lòng tin
Một lòng hướng thiện
Một lòng tu pháp
Một lòng học Phật
Nhất định các bạn sẽ gặp tôi đang ở nơi đó.


### 83. Thơ thần hành (14)


Cuộc đời này tôi đã vượt qua cửa ải gian nan đáng sợ
Cuộc đời này tôi đã truyền dạy bí mật pháp
Cuộc đời này tôi đã sắp kết thúc ẩn cư
Cuộc đời này tôi không mong cầu chút gì giải thưởng

Có bậc Thánh triết nói với tôi
Sống một ngày
Cảm ơn một ngày
Sống một ngày
Vui vẻ một ngày
Bởi vì chỉ có con người như vậy mới là dũng cảm nhất

Ai cũng biết
Từ bờ bên này đến bờ bên kia
Ai cũng biết
Khúc nhạc buồn sẽ vang lên
Chỉ duy có tâm niệm của bản thân kiên định
Lá cờ đầu của Cực Lạc thế giới vẫn tung bay vẫy gọi

Người thần hành
Tôi chính là thuyền trưởng của con thuyền pháp
Từ lâu đã dẫn dắt hướng đi của mọi người
Từ lâu đã kêu gọi các bạn
Hãy vui vẻ phấn khởi ra khơi

Phải thấy rõ thế gian chỉ là giấc mơ huyễn mộng
Điều tôi dạy là đôi cánh của tâm linh
Nhất định sẽ trưởng thành
Tức thân hiểu rõ mình là ai
Ma Ha Song Liên Trì
Lập tức cập bờ
Sẽ không còn phải lang thang thất tha thất thểu.


### 84. Thơ thần hành (15)


Có lẽ có người hỏi tôi
Đã ẩn cư sao vẫn còn thần hành thập phương
Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người
Chỉ vì nỗi nhớ
Cho nên thường xuyên phiêu bạt ở nhân gian

Muốn liên tục cho đến khi huyễn tượng đều biến mất
Tất cả kí ức cũng đều phai nhạt
Tôi nắm chặt tay mọi người
Sức mạnh tương ứng vĩnh viễn chẳng ngừng

Trên đời này không có nỗi buồn ai oán
Chỉ còn lại niềm vui và hân hoan
Người người đều trân trọng tu tập Chân Phật Mật Pháp
Bao phủ khắp toàn cầu

Nguyện lực bao la như hư không của tôi
Cũng đã đầy ắp
Vào thời khắc ấy
Hoa sen sẽ đều nở rộ
Ở tại một thế giới Cực Lạc khác
Mọi người cùng đùa vui

Tôi một lòng muốn cứu những người sa đọa
Cho nên cuộc thần hành đầy ắp những đau thương
Xin hãy nhớ nơi sâu thẳm trái tim tôi
Thật sự tràn đầy từ bi và thương mến
Bất luận bạn đang ở phương nào
Hàng năm tôi sẽ trở về ở cùng bên bạn
Chỉ vì nguyện lực và cái duyên ở đó
Chẳng cần phải tính toán liệu có khổ hay không
Ta hãy cùng quan tâm chăm sóc.


### 85. Thần Nguyền Rủa


Trong lúc thần hành.
Tôi đã gặp Thần Nguyền Rủa. Vị Thần Nguyền Rủa này mặt mũi hung tợn, rất là tức giận, ngài ấy bay trên không rất thần tốc. Thần hành như điện.
Tôi thấy Thần Nguyền Rủa tức giận như vậy thì rất tò mò hỏi:
"Chuyện gì mà tức giận đầy mình như vậy?"
Thần Nguyền Rủa đáp:
"Sao mà lại có loại người ấy, ngày ngày chửi rủa sư phụ của mình mau chết đi!"
"Vì sao mà oán giận?"
Thần Nguyền Rủa đáp:
"Đó là một người xuất gia, bản thân tài năng học thức kém, nhưng lại rất muốn làm trụ trì của chùa, muốn nắm quyền hành, thế nhưng sư phụ thì từ lâu đã nhắm một người tài học và phẩm đức song toàn để làm trụ trì, thế là người này phẫn nộ bất bình, ngày ngày nguyền rủa sư phụ của mình mau chết đi!"
"Ngày ngày nguyền rủa sư phụ của mình chết sớm, sư phụ sẽ chết sao?"
Thần Nguyền Rủa đáp:
"Không chết. Ngược lại người nguyền rủa sẽ chết!"
Tôi kinh ngạc:
"Tội nặng như vậy ư?"
"Nguyền rủa sư phụ của mình chết đi là không hợp với lẽ trời, tội đương nhiên nặng. Nhưng người xuất gia này cũng phạm vào tám tội xấu!"
"Tám tội xấu gì?"
"Mua đất đai làm nhà riêng, làm kinh doanh buôn bán, mua bán động vật, tích trữ của riêng, gom góp cất giấu đồ cổ, sát sinh ăn uống bồi bổ, thu gom đồ chơi quý giá, không tu không chứng. Người xuất gia này tư lợi nặng như vậy, chùa chiền giao cho ông ta trụ trì thì hỏng hết, ông ta sẽ biến Phật pháp thành hàng hóa, vì thế, trời rồng phẫn nộ, tôi (Thần Nguyền Rủa) phải trừng trị ông ta."

Tôi nghe xong rất cảm thán, đừng cho rằng sớm tối thắp hương, cúng tế vật phẩm quý giá cho Thần Nguyền Rủa, nguyền rủa người khác mau chết, thì Thần Nguyền Rủa sẽ nghe lời bạn đâu.
Đốt hương.
Cúng đồ ăn quý.
Đều không bằng tâm địa tốt.
Điều tôi muốn nói với mọi người là, tu hành chính là tu tâm địa, người có tâm địa tốt thì không thể có oán hận. Người tu hành chúng ta vì chúng sinh, vì Phật pháp, toàn tâm toàn ý cống hiến phụng sự, đây mới là cái gốc của thiện đó!


### 86. Hồn ma không đầy đủ thể tướng quy y


Trong lúc thần hành.
Có một hồn ma quỳ ngang trước mặt tôi, tôi chú ý đến hắn, trong lòng cảm thấy rất kinh sợ.
Bởi vì hồn ma này tướng mạo vô cùng xấu xí, mắt lồi răng rụng, mũi quặp và không có tai, thậm chí cả hai bàn tay đều không có, lồi ra bộ xương khô rướm máu, tanh hôi dị thường.

Tôi không dám cười hắn, hỏi:
"Có chuyện gì?"
Hắn đáp:
"Tôi muốn quy y, cầu quán đảnh, tu Chân Phật Mật Pháp."
Trong lòng tôi nghĩ thầm, Mật giáo cần quán tưởng, trì chú, thủ ấn. Con ma này thể tướng không đầy đủ, não bộ thì nhỏ, không có tay để kết thủ ấn, có cho quy y được không? Các vị tổ sư trong lịch sử có nói, người tàn tật, sứt môi, thiếu tay là do trời phạt, nghiệp chướng nặng nề, không học Mật giáo được.
Tôi có thể ban quán đảnh quy y không? Tôi đang do dự.

Hắn nói:
"Mặc dù tôi thể tướng không đầy đủ, cũng không có tay để kết thủ ấn, não lại nhỏ, nhưng Liên Sinh Hoạt Phật từng nói không bỏ rơi một chúng sinh nào, tất cả thủ ấn, thân ấn dùng quán tưởng cũng được, sao có thể vì tôi tướng mạo không toàn vẹn mà không thu nhận tôi chứ?"
Tôi nghĩ, con ma này nói cũng đúng, không thể vì nghiệp chướng sâu nặng mà không thương hại để mà cứu độ, phải có tâm bình đẳng mới phải.

Tôi nhớ Thánh nhân Teresa nói:
"Tôi xem mỗi con người như Thượng đế. Dùng cái tâm ấy để phục vụ mỗi con người."
Thế là tôi quán đảnh quy y cho hồn ma xấu xí kia.
Hồn ma nhận quán đảnh quy y xong, hóa thân thành Thiên Chúa, đội mũ vàng trang nghiêm, thiên y tỏa hương thơm kì diệu, mây cát tường lấp lánh chúc mừng, thì ra là do Thiên Thần biến hóa mà ra. Ngài nói:
Chưa gặp Liên Sinh ai chịu tin.
Chúng sinh bình đẳng chưa từng gặp.
Giờ đây mới biết tâm rộng lớn.
Trang nghiêm xấu xí đều bao dung.
Nhờ sức mạnh ấy mong học tập.
Nhún mình bay tới vùng trời cao.
Mấy ai có được cùng kiến thức.
Thấy tôi chứng nhập Tử Hà cung.
Tôi nghe xong, cảm thấy mình được khen ngợi như vậy, có phần cảm thấy hổ thẹn!


### 87. Ân hận vì không làm từ sớm


Trong lúc thần hành.
Tôi tiếp dẫn một lão pháp sư vãng sinh Ma Ha Song Liên Trì, pháp sư vừa thấy là Sư Tôn tiếp dẫn thì đương nhiên rất vui mừng, trong lúc niệm Phật trì chú có thể vãng sinh Phật quốc thanh tịnh, đúng là tự chủ sinh tử là một chuyện cảm thấy hài lòng nhất. Pháp sư ngồi trên hoa sen, từ từ bay lên, còn hoa sen thì do tôi cho ông ấy.

Ngoài cảm thấy hoan hỉ ra, vẻ mặt pháp sư hơi thoáng chút lo âu. Tôi hỏi:
"Lo buồn chuyện gì vậy?"
Pháp sư đáp:
"Quả nhiên Chân Phật Mật Pháp là cưỡi hoa sen vãng sinh, là điều đáng mừng nhất. Tôi xuất gia chưa được nhiều năm mà đã có thể vãng sinh, cũng là thực tu thực chứng. Chỉ là tôi lo lắng rằng chùa đường chúng tôi vẫn chưa có linh cốt tháp, khi tôi lâm chung vãng sinh, chùa đường liền thông báo cho con cháu của tôi đến lo liệu hậu sự, thi hài đã được di chuyển đến chỗ của người khác, chỗ của người ta thì xương cốt để rất lộn xộn, các linh hồn khác bay lung tung, quỷ thần cũng sống ở đó, Chân Phật Tông chúng ta vì sao vẫn chưa có nơi bố trí linh cốt nhỉ?"

Tôi nghe xong hơi ngượng ngùng nói:
"Đang tiến hành làm!" (Mỗi nước đều nên tiến hành làm.)
Khi tôi còn thanh niên sung sức, căn bản là không nghĩ đến chữ "già".
Khi tôi hoằng pháp cần mẫn, căn bản là không nghĩ đến chữ "chết".
Ngay cả chữ "bệnh" tôi cũng ít khi nghĩ đến.

Khi những lão cư sĩ, lão pháp sư đi theo tôi đột ngột tạ thế mới khiến tôi bất chợt nhận ra, chúng tôi chưa làm những viện dưỡng lão, chưa làm những trung tâm chăm sóc lúc lâm chung, nghĩa trang Chân Phật (linh cốt tháp) cũng chưa làm.
Các cư sĩ của chúng tôi được gửi nhờ ở nơi của người ta.
Pháp sư của chúng tôi do người nhà đưa về, rồi gửi đến chỗ của người ta.
Đây là lỗi của tôi, tôi chưa sớm làm những việc này.
Trước kia tôi làm việc thiện, thích tặng quan tài, tôi nghĩ rằng thứ mà chôn xuống chỉ nằm trong thi hài, để tránh cho linh hồn người ta trôi giạt không nơi nương tựa.
Bây giờ các cư sĩ hay pháp sư Chân Phật Tông sau khi chết không có phần mộ của mình, quả nhiên là một nỗi đau buồn âm thầm, tôi hối hận vì đã chưa làm sớm.

Nhất là việc chăm sóc lúc lâm chung, bây giờ mới đang bắt đầu.
Tôi chỉ mong các Thánh đệ tử ai nấy vì điều này mà:
Sống cùng tu một nơi.
Chết cùng một khu mộ.
Ban ơn cho chúng sinh thập phương.


### 88. Sai khiến trăm quỷ


Trong lúc thần hành.
Tôi đã gặp một nữ quỷ đang hút tinh khí của con người, người này buổi sáng tỉnh dậy sẽ mệt mỏi kinh khủng, thế là, tôi phóng ra một vệt sáng để xua đuổi nữ quỷ này.
Nữ quỷ quay đầu lại, vừa thấy đó là tôi thì cũng không đi, ngược lại còn chắp tay và quỳ xuống nói:
"Mong chân nhân cứu vớt! Mong chân nhân cứu vớt!"

Tôi rất kinh ngạc, rõ ràng là nữ quỷ hại người, ngoảnh đầu lại thì lại cầu xin tôi cứu, chẳng phải là rất kì lạ hay sao?
Sau đó, tôi hỏi rõ nguyên do, thì ra là một vị đạo sĩ dùng tà thuật thu thập trăm quỷ để ông ấy sử dụng, đạo sĩ này tâm thuật bất chính, đầu tiên là thả quỷ đi hại người, người ta đến cầu cứu ông ấy, ông ấy mới cứu người rồi thu phí.
"Cô có thể chạy mà!" - Tôi nói.

Nữ quỷ nói: "Chạy không được, chú ngữ của đạo sĩ lợi hại lắm, nếu chạy thì ông ấy sẽ dùng chú để lôi về, dùng kim châm lên người, dùng kiếm chém thành nhiều đoạn, rồi lại ra lệnh khôi phục như ban đầu, đau đớn không thể chịu nổi, trăm quỷ chúng tôi chỉ có y theo lệnh mà hành sự thôi."
"Tôi cứu mấy người thế nào đây?" - Tôi nói.

Nữ quỷ nói:
"Tôi thấy chân nhân thần quang mãnh liệt, siêu hơn đạo sĩ, ánh sáng thuần hậu đoan chính, giống như mặt trời vậy, chỉ cần chân nhân lấy được cờ đen của đạo sĩ, dùng ánh sáng để bảo vệ, chúng tôi sẽ được giải thoát."
Sau đó, theo điều tra của tôi, những gì nữ quỷ nói đều là sự thật.

Tôi thật sự đem cờ đen trở về nơi ẩn cư của mình ở hồ Diệp Tử.
Trăm quỷ này đều quy y tôi, tôi truyền thụ pháp "Liên Hoa Đồng Tử vãng sinh nhanh nhất" cho họ, họ đều tín thọ phụng hành.
Tôi tự dưng có thêm được hơn trăm đệ tử.
Còn đạo sĩ kia mất đi cờ đen, pháp thuật cũng không còn linh nữa, dùng thần chú bắt trói, tìm bắt cả nửa ngày cũng không tóm được một bóng quỷ nào, đạo sĩ cũng không hiểu ra làm sao.

Kì thực nói ra thì:
Pháp thuật là như nhau.
Dùng vào việc chính thiện thì là chính pháp.
Dùng vào việc tà ác thì là tà pháp.
Thiện ác hoàn toàn nằm ở giữa một ý niệm mà thôi!
Nay tôi có lời khuyên con người, các thượng thiện nhân tụ họp một chỗ, Tây phương Cực Lạc thế giới không thể thiếu thiện căn.


### 89. Trong miệng tuôn ra hoa sen


Trong lúc thần hành.
Tôi đã tiếp dẫn rất nhiều đệ tử vãng sinh đến tây phương Cực Lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì, không ngờ tôi đã trở thành "Tiếp Dẫn Như Lai".
Có người niệm: "Nam mô A Di Đà Phật!"
Tôi tiếp dẫn.
Có người niệm: "Om amitewa seh."
Tôi tiếp dẫn.
Có người niệm: "Om guru liansheng siddhi hum."
Tôi tiếp dẫn.

Hoặc có người hỏi, làm sao mà tiếp dẫn nhiều như vậy?
Tôi đáp:
"Đây đều là xưng tâm hoặc danh hiệu của Như Lai, ánh sáng của Như Lai là ánh sáng bát nhã, ánh sáng này chiếu đến thập phương thế giới, căn bản là không có chướng ngại, có thể loại bỏ bóng đen vô minh của chúng sinh thập phương, chỉ cần thực tu tương ứng thì sẽ mãn nguyện chúng sinh."
Việc tiếp dẫn này cũng là tùy tâm mà thành, trong khoảng một giờ mỗi ngày, căn bản là bất khả tư nghì. Hoàn toàn là tùy tâm biến hóa tiếp dẫn.

Khi thần hành, tôi gặp một đệ tử, tôi nói:
"Tôi đến tiếp dẫn anh."
Đệ tử đáp:
"Không dám làm phiền đến Sư Tôn!"
Tôi nói:
"Chỉ là tùy tâm thôi, không hề phiền hà gì."
Đệ tử khẽ cười, đột nhiên miệng niệm chữ "om", trong miệng tuôn ra một đóa hoa sen đỏ, sáng chói lóa mắt, đóa hoa sen này theo gió mà lớn lên, cứ thế phóng to lên đến khi to như cái bánh xe, đệ tử ngồi lên hoa sen, từ từ bay lên, đệ tử hướng về Sư Tôn chắp tay lại:
"Tức thân thành Phật rồi đây!"

"Làm sao như vậy được?" - Tôi hỏi.
Đệ tử đáp:
"Sư Tôn đã dạy, tức tâm thành Phật, tâm hóa hoa sen, trong miệng tuôn ra hoa sen."
Đệ tử này quả nhiên là bất khả tư nghì, nếu tâm muốn cung điện lầu gác thì tùy tâm tắc thành. Nếu tâm muốn hoa sen thì cũng tùy tâm tắc thành. Thành tựu hoa sen tịnh quang chính là đạt được tướng trang nghiêm, bình đẳng diệu tuyệt, ngọn lửa cháy rực không nhiễm bẩn.
Đây là chuyện của "tâm hành".
Đâu thể nào hiểu được.


### 90. Nhớ mưa bụi ở Tây Thành


Sau khi hoàn thành xong cuốn văn tập số 169, tôi muốn viết cuốn "Nhớ mưa bụi ở Tây Thành", đó sẽ là cuốn văn tập số 170 của tôi.
Ngày 16 tháng 6 năm 1982 tôi di cư đến nước Mĩ, cùng đi với tôi là Thượng sư Liên Hương, Phật Thanh, Phật  Kì. Bốn người, mỗi người xách một chiếc túi xách tay nhỏ, cứ thế mà đi, thế mà đã hơn 20 năm rồi. Giờ đây hồi tưởng lại, tất cả tựa như một giấc mộng lớn. Đến bây giờ…

Tôi ẩn cư tại hồ Diệp Tử.
Thượng sư Liên Hương chắc chắn là càng vất vả bôn ba.
Phật Thanh đã lấy được bằng tiến sĩ Luật học, trở thành luật sư.
Phật Kì đã tốt nghiệp đại học Seattle, làm việc trong giới ngân hàng.
Tôi thử nhớ lại hơn 20 năm ngắn ngủi này, không ngờ mọi thứ đã thay đổi nhiều đến vậy. Trong hơn 20 năm qua, từ lúc tôi 38 tuổi đến khi 60 tuổi, đây đúng là quãng thời gian tinh hoa nhất trong cuộc đời tôi, sao không khỏi khiến tôi có muôn vàn cảm hoài cơ chứ.

Ở Seattle nước Mĩ, tôi sáng lập Chân Phật Tông, hoằng dương Chân Phật Mật Pháp trên toàn thế giới, chùa chiền đồ đệ tăng chúng đông lên, thượng sư nhân tài lớp lớp xuất hiện, tôi từng hăng hái hăm hở không ai bì nổi, tập trung nghiên cứu kĩ càng Mật giáo, không quên tịnh thổ, tự mình đắc được những lợi ích chân thực vô cùng.
Hơn 20 năm nay, sống tại Seattle nước Mĩ, đối với cảnh vật, con người và văn hóa nơi đây, tôi có rất nhiều rất nhiều cảm xúc, rất nhiều rất nhiều kỉ niệm, hãy để tôi viết một chút nỗi cảm hoài trong lòng mình vậy!

Ở Tây Thành (Seattle), tôi chuyển nhà bốn lần:

1. Quận Ballard ở Seattle.

1. Chân Phật Mật Uyển ở Redmond.

1. Hồ U Linh.

1. Nam Sơn Nhã Xá.

Sau đó, tôi đột nhiên nghĩ đến thời kì bế quan ẩn cư đã đến (tôi đã bế quan được hơn ba năm), việc hoằng pháp đột ngột dừng lại, tĩnh lặng như nước đứng yên, mát lành và vui tươi mà không biết tại sao mà con người dường như đã đánh mất vị trí của mình.
Trải qua cuộc hành trình cuộc đời từ lúc 38 tuổi đến 60 tuổi, đã nếm thử một chút mùi vị của cuộc đời, cảm nhận sâu sắc thế nhân hỗn lọan rối bời, những cái này, tôi đều không muốn viết nữa, nước cuốn chúng trôi đi.

Điều tôi muốn cảm hoài là:
Đời người như sương sớm.
Thọ mạng vô thường rất nhanh.
Vất vả cực nhọc cả một đời để có được cái gì.
Có được một cái không. Một thân một mình.
Tôi muốn dùng ngòi bút để nhắc nhở mọi người: "Chăm chỉ tu pháp cho tốt, hạnh phúc tương lai là vô cùng! Đời đời kiếp kiếp!"


### 91. Thơ "Nhớ mưa bụi ở Tây Thành”


Mọi thứ về Seattle
Đã nhẹ bẫng và lâng lâng như trong giấc mơ
Thì ra đối với chúng
Sự lạ lẫm ban đầu nay đã trở thành quen thuộc

Thế đó
Tôi còn nhớ cái gì nữa nhỉ
Cái hồ ấy
Cái cây ấy
Bầu không khí mát lành ấy
Mảnh đất rộng lớn ấy
Còn cả mưa bụi mỗi thu đông

Mộng vẫn nhiều vô kể
Người đi hồ Diệp Tử
Lòng vẫn ở Tây Thành [Seattle]
Những thứ mà tôi quen thuộc ở nơi nao

Nếu như để tôi bắt đầu lại
Để tôi lại nỗ lực một lần nữa
Điều tôi không thể nói rõ
Tôi sẽ vô cùng vô cùng trân quý
Trân quý
Từng con người ở Seattle
Mỗi mẩu chuyện ở Tây Thành

Mưa bụi Seattle còn ở đó
Nhưng chính tôi đã dần dần già nua
Suốt hai mươi năm nơi ấy
Nơi phương xa có ngôi nhà cư ngụ
Hỏi tôi sao không thương nhớ
Chỉ biết hạ bút miêu tả thật kĩ càng**.**

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/172-di-theo-buoc-chan-cua-gio.md
# Title: 172. Đi theo bước chân của gió
---

## Đi theo bước chân của gió


🪷 Nhớ về tiếng cười xa xưa

Văn tập: 172
Xuất bản: 06/2004
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


Có người đã hỏi tôi: 
"Liên Sinh Hoạt Phật, tương lai của ngài sẽ như thế nào?"
Tôi đáp: 
"Đi theo bước chân của gió."
Người đó sững lại, suy nghĩ một lúc, rồi hỏi tiếp: 
"Đi theo bước chân của gió là gì?"
Tôi đáp: 
"Một người tu hành, biết rằng tâm chính là kho báu, đầy đủ tất cả, tự do sử dụng, khi dùng thì dùng, khi nghỉ thì nghỉ, dùng đến chỗ cùng tột, trong chốc lát buông bỏ, cũng coi là an vui. Đi theo bước chân của gió của tôi là biết rằng không một pháp nào có thể lấy, không một pháp nào có thể bỏ, không thấy tướng sinh diệt của bất kì pháp nào, không thấy tướng đến đi của bất kì pháp nào."
"Nói sâu quá!" - Anh ta nói.
Tôi nói:
"Cứ coi đó là hai chữ "tự nhiên" đi!"

Tôi viết một bài thơ:

*Thân xác tôi như ngọn nến đang cháy
Tỏa ánh sáng rực rỡ
Tôi không hề trốn chạy
Vẫn bình thản như thường*

*Đôi khi vẫn rơi lệ
Đó là nỗi buồn cho khổ đau trần thế
Bạn nên biết gánh nặng của tôi lớn đến nhường nào
Nên tôi mơ tưởng mình là gió*

*Cứ như thế, như thế
Xin đừng bỏ lỡ sách của tôi
Đừng bỏ lỡ sự cứu độ của tôi
Xin đừng lắc đầu
Xin đừng rơi vào ba đường ác
Tôi sẽ miệt mài ngòi bút
Dạy người biết chính pháp
Không còn lầm đường lạc lối.*

Thông tin liên lạc của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn:

**Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U. S. A.


### 01. Hồi ức tựa như mơ lại chẳng phải mơ


Chúng ta là người tu hành, cuộc sống hàng ngày cũng giống như người thường, đi, đứng, ngồi, nằm, ăn cơm, ngủ nghỉ, làm việc, viết lách, v.v......

Người tu hành tu cái gì? Tu để loại bỏ vọng niệm, tu để đạt được nhất tâm bất loạn. "Kinh Duy Ma Cật" nói: Muốn có cõi tịnh độ, phải thanh tịnh tâm mình. Nghĩa là tâm sinh thì muôn pháp sinh, tâm diệt thì muôn pháp diệt, bậc thánh nhân dạy: "Nên biết thiện ác tất cả đều do từ tâm mình."

Cuộc sống hàng ngày của người tu hành và người thường thực ra là giống nhau, chỉ là người tu hành chỉ tu cái "tâm" mà thôi! Muốn khai ngộ, phải "minh tâm", nếu không hiểu đạo lý này, thì chẳng khác gì người thường.

Mọi người hãy hồi tưởng lại xem:
Thời gian cứ trôi qua! Một ngày lại một ngày.
Môi trường luôn biến đổi! Biển xanh hóa ruộng dâu.
Hình dáng bên ngoài của mỗi người, từ thiếu niên, thanh niên, trung niên, đến lão niên, luôn biến ảo! Không đành lòng nhìn lại.
Có người nói: "Cuộc đời tựa như mơ lại chẳng phải mơ."
Tôi nói: "Đúng vậy."

Viết một bài thơ vậy!

*Vốn dĩ xa lạ với thế giới này
Hồi ức tựa như mơ lại chẳng phải mơ
Nếu tìm kiếm những tháng năm đã qua
Làm sao còn dấu vết*

*Khi chưa sinh ra
Bạn là ai
Tôi lại là ai
Cha mẹ lại là ai
Chúng ta vốn không quen biết*

*Nhưng trong giấc mơ lại thân thiết như người thân
Hồi ức là khổ
Hồi ức là vui
Càng hồi ức càng bối rối
Hóa ra là như vậy
Khi bạn thật sự hiểu rõ
Chỉ còn lại sự im lặng.*


### 02. Tất cả những gì ta thấy đều chỉ là khách qua đường


Nhìn thấy gió thổi vi vu, tôi biết gió chỉ là khách qua đường, nhìn thấy dòng suối chảy róc rách, tôi biết dòng nước cũng chỉ là khách qua đường.

Thời gian thật vĩ đại, một giây, một phút, một giờ, một ngày, một tháng, một năm, ngày và đêm, sự biến hóa kỳ diệu như thế, dài lâu vô tận như thế, tôi biết thời gian cũng chỉ là khách qua đường.

Tôi chỉ là khách qua đường ở Cao Hùng.
Khách qua đường ở Đài Trung.
Khách qua đường ở Seattle.
Thậm chí là khách qua đường ở hồ Diệp Tử.

Tôi là khách qua đường của thành phố, khách qua đường du lịch thế giới, tôi từng tự hỏi mình, rốt cuộc nhà thực sự của mình ở đâu?

Tâm con người là ý niệm đang suy nghĩ, tâm đang chuyển động, luôn tìm kiếm bên ngoài một ngôi nhà để mình có thể sống mãi mãi. Thực ra, không có cái gọi là nhà thật sự của tôi.

Nhưng, tìm mãi không thấy, vì tìm cầu từ bên ngoài, chỉ là "khách qua đường".
Phải hướng vào bên trong.
Vọng niệm không sinh là "thiền".
Hiểu rõ bản tính là "định".

Đây chính là tam muội, vô tâm trước tất cả cảnh giới, người tu hành "trụ nơi không trụ tức là trụ", đã đến được bờ bên kia.

Tôi viết một bài thơ:

*Một cuộc chơi một trò không
Bày tới bày lui không đầu không cuối
Như sương mù buổi sáng
Mơ hồ không bóng ảnh không dấu vết*

*Tất cả những gì tôi thấy đều như cơn gió
Thoáng thổi về Tây
Thoáng thổi về Đông
Từng người nối tiếp nhau xếp hàng
Đi về phía vách đá
Chỉ vì một chút vinh hạnh
Còn tôi chỉ có thể truyền tam muội
Ma Ha Song Liên Trì khác với mọi người.*


### 03. Phát tâm bồ đề thật ngu muội


Tôi từng nói:
"Phải quảng độ chúng sinh, không bỏ sót một chúng sinh nào!"
Giờ nghĩ lại, không khỏi bật cười, thật là một ước nguyện lớn lao, một tâm bồ đề vĩ đại, đúng là phát tâm Bồ Tát, còn muốn đời đời kiếp kiếp, còn muốn tan xương nát thịt. Còn muốn.........

Đó có phải là sự ngu muội không?
Không, đó là sự thuần khiết. Tôi cười chính mình quá không biết lượng sức, quá không thực tế.

Minh tâm kiến tính rồi, sau khi đã giác ngộ, càng không còn ngôn từ.
Không xanh không vàng, không đỏ không trắng, không dài không ngắn, không đến không đi, không bẩn không sạch, không sinh không diệt, không phải Phật tức là Phật.

"Kinh Pháp Cú" nói: "Trong cái Không rốt ráo mà hừng hực thiết lập."
Ha ha!

Trái đất và các hành tinh khác, tất cả đều hừng hực thiết lập trong cái Không rốt ráo. Con người trên trái đất cũng hừng hực thiết lập trong cái Không rốt ráo.

Tôi thấy người ta xây biệt thự, lái xe sang, cất giữ châu báu, tranh giành tiền của, tất cả đều hừng hực thiết lập trong cái Không rốt ráo. Ngay cả tâm bồ đề mà tôi phát, cũng hừng hực thiết lập trong cái Không rốt ráo.

Viết một bài thơ:

*Nhiều người không nhìn thấy mình đang làm gì
Tranh giành qua lại
Chỉ là hét vào cái bóng của mình
Tranh đến cuối cùng chẳng còn gì*

*Tôi thấy mình cũng ngu muội như vậy
Cũng xây biệt thự Cầu Vồng
Sở hữu xe sang
Sưu tầm đồ cổ
Niềm vui ấy chỉ còn lại trong tâm*

*Thực ra cuối cùng chẳng còn gì
Cuối cùng tôi đã nhìn thấy bóng mình
Tôi ngu muội biết bao
Chúng ta phải giác ngộ siêu việt
Phải thấu rõ tất cả.*


### 04. Đương nhiên là một hạt giống


Khi còn nhỏ, tôi là giáo viên trường Chủ nhật, giáo viên lớp nghiên cứu Kinh Thánh, trong Kinh Thánh có câu: "Một hạt giống (lúa mì) chết đi, sẽ mọc lên nhiều hạt giống khác."
Tôi rất đồng ý với câu nói này.

Sự tồn tại đáng để kinh ngạc, và việc một hạt giống sinh ra nhiều hạt giống lại càng đáng kinh ngạc hơn, đó chẳng phải là cuộc đời sao?

Trong quá trình trưởng thành, tôi thừa nhận mình luôn thay đổi, từ Cơ Đốc giáo, Đạo giáo, Hiển giáo đến Mật giáo, sự thay đổi này chính là sức mạnh của sự trưởng thành.
Như một con sâu bướm.
Như một cái kén.
Như một con bướm.
Đó chính là sức mạnh của sự trưởng thành.

Trong quá trình trưởng thành, tôi luôn tìm kiếm "tự tại", hóa ra "tự tại" là không chấp trước vào "không", cũng không chấp trước vào "có". "Sắc tức là không, không tức là sắc", ngay lúc này, không có đến đi, nhưng cũng không rời xa dòng đời.

Kinh nói: "Không thấy có không, tức là giải thoát thật sự."
Tôi nói: "Không chấp trước, tức là giải thoát thật sự."

Tôi đương nhiên là một hạt giống, tôi truyền bá tư tưởng của mình.

Viết một bài thơ:

*Bạn hỏi tôi "Rốt cục thầy là ai?"
Tôi chỉ là một hạt giống
Sẽ nảy mầm, mọc rễ, mọc thân, mọc lá
Lớn lên thành Liên Hoa Đồng Tử*

*Tôi sẽ biến thành hoa sen
Mỗi hoa sen lại có một đồng tử
Sẽ sum suê vô tận vô số
Đáp ứng những phong ba của nhân gian*

*Tôi lao động trong quá trình trưởng thành
Từ từ học hỏi bát nhã
Đừng nghĩ rằng tôi quá trầm mặc
Bởi vì tôi cũng cần nghỉ ngơi
Bạn phải xem sự giải thoát của tôi là sự nghỉ ngơi.*


### 05. Nỗi buồn của chuỗi thức ăn


Tôi thường nói, cá lớn ăn cá bé, cá bé ăn tôm tép, tôm tép ăn bùn đất, đây là chuỗi thức ăn dưới đáy biển, còn những loài bay trên không, bò trên đất, không loài nào ngoại lệ.

Khi còn nhỏ, tôi đọc được:
Bọ ngựa rình bắt ve sầu, chim sẻ vàng đứng phía sau, vật này khắc chế vật kia.
Bây giờ tôi đã biết, đó chính là chuỗi thức ăn.

Tôi xem phim "Kỳ quan đáy biển", xem phim "Kỳ quan sa mạc", xem phim "Khám phá mới", thấy những cảnh "săn giết sinh động", tất cả đều là "chuỗi thức ăn".
Cá voi một miệng nuốt hàng triệu con cá.
Sư tử, hổ, báo, sói, xé xác những động vật yếu ớt khác.
Đại bàng săn giết những loài chim khác.
Quốc gia lớn thôn tính quốc gia nhỏ.

Cuối cùng tôi đã hiểu chuỗi thức ăn, mạnh được yếu thua, chọn lọc tự nhiên, bản năng ăn uống và sinh dục, đây chính là nỗi buồn của toàn bộ trái đất, toàn bộ thế giới.

Từ chuỗi thức ăn, tôi nhận ra thực dục, sắc dục. Nếu muốn giải thoát thế giới giết chóc, chỉ có diệt tham, sân, si, chỉ có tu giới, định, huệ. Việc tôi ẩn cư nhập thất là do thấu suốt hai thứ ham muốn là ăn uống và sắc tình, tôi hiện nay là:
Vô niệm là chính giác Phật bảo.
Thân, khẩu, ý thanh tịnh là Pháp bảo.
Thượng sư trí huệ bát nhã là Tăng bảo.
Cũng chính là lấy trí làm dụng. Tôi chính là người giải thoát khỏi chuỗi thức ăn, dùng chính niệm để độ chúng sinh.

Viết một bài thơ ngắn:

*Ánh nắng không khí nước
Thiên nhiên tràn đầy vẻ đẹp kỳ diệu
Trong đó cũng chứa đựng trí tuệ của con người
Đừng rơi vào sự nịnh hót của đất*

*Chuỗi thức ăn khơi dậy suy tư trong tâm tôi
Không chỉ là chim muông thú vật
Mà cả con người cũng vậy
Trong đó có nhiều sự giả dối và lừa lọc
Từ đó tôi nhận ra mình thực sự là ai.*


### 06. Hướng về mặt trăng đảnh lễ


Trong thời gian ẩn cư nhập thất tại hồ Diệp Tử, mỗi khi đêm xuống, tôi thường ngắm nhìn vầng trăng trên bầu trời, tôi rất biết ơn mặt trăng, bởi vì mặt trăng đã đồng hành cùng tôi, trải qua nhiều mùa xuân thu, tôi đảnh lễ mặt trăng.

Ở núi niệm Phật thật sâu lắng
Trăng chiếu mặt hồ cá đùa vui
Cảnh giới thanh tịnh đầy chân thật
Hạnh phúc tự nhiên ngập thân tâm.

Dưới ánh trăng tôi hồi tưởng, dưới ánh trăng tôi hoài niệm, tu quán nguyệt luân dưới ánh trăng, trong thế giới này, vầng trăng tròn đã trở nên không thể thay thế.
Nhìn vào mặt trăng, cái gì là chính niệm, cái gì là tà niệm? Mặt trăng chính là mặt trăng, làm gì có thiện ác niệm, chính tà niệm!
Ánh sáng mặt trăng chiếu khắp đại địa, cũng không có giữ bỏ, oán thân, yêu ghét, khổ vui.
Tôi đảnh lễ mặt trăng, chính là đảnh lễ điều này.

Tôi tu quán nguyệt luân, tu đến khi hợp nhất với vầng trăng tròn, không hai không khác, chỉ biết rằng mọi nơi đều vô tâm, vô tâm tức là vô niệm, tự nhiên giải thoát.

Tôi viết một bài thơ, đảnh lễ mặt trăng:

*Tự nhiên quả thật kỳ diệu
Một vầng sáng tròn lơ lửng treo 
Thiền sư dùng tay vẽ một vòng
Mật giáo dùng đây làm quán tưởng
Ngộ nhập cảnh giới đặc biệt kỳ diệu*

*Trăng đến bên cửa sổ của tôi
Rải đầy mặt đất ánh bạc lung linh
Những người tôi khao khát được gặp
Có thể lần lượt hiện ra trong đó*

*Cảm tạ mặt trăng
Nếu trăng mất đi
Trái đất và địa ngục tối tăm có gì khác biệt
Đối với tôi
Chắp tay kính cẩn dâng lên trăng một lễ cao quý
Mặt trăng đồng hành cùng tôi qua những tháng năm cô tịch nhất.*


### 07. Lão Tử rời Hàm Cốc Quan


Tôi đã từng đọc một câu "đố vui xoắn não":
Hỏi: "Tại sao Lão Tử rời khỏi Hàm Cốc Quan?"
Mọi người đều ngỡ ngàng, không trả lời được, nhìn nhau lúng túng.
Câu trả lời thật bất ngờ:
"Vì Lão Tử thích."
Ha ha!

Đừng xem thường câu đố vui này, hãy suy ngẫm, suy ngẫm, trong đó ẩn chứa ý nghĩa sâu sắc. "Ngũ Bồ Tát Phẩm" có nói: "Tất cả thánh nhân không làm theo cách của chúng sinh, chúng sinh không thể làm theo cách của bậc thánh." Ý nghĩa thực sự của việc Lão Tử rời Hàm Cốc Quan là:
"Không vướng mắc."
"Không khởi tâm yêu ghét."
"Làm tất cả mà không vì điều gì."

Lão Tử rời Hàm Cốc Quan, mọi việc đã kết thúc. Khổng Tử hỏi đạo Lão Tử, Lão Tử dạy Khổng Tử, nhưng Khổng Tử vẫn có quan điểm trị thế, còn Lão Tử là xuất thế vô sở kiến. Quan điểm của Khổng Tử và Lão Tử khác nhau. Một người nhập thế, một người xuất thế.

Tại sao Lão Tử rời khỏi Hàm Cốc Quan? Tôi đáp: "Đi theo bước chân của gió!" Đi theo bước chân của gió chính là vui thích.

Tôi viết một bài thơ:

*Khi tìm được tự tại
Mới biết Phật là gì
Đạt được rồi cũng như không đạt được gì
Đi theo bước chân của gió*

*Vui thích trở thành một đám mây trắng
Nhảy múa
Vui thích trở thành một dòng chảy
Hát ca
Tâm chính là Phật*

*Đông Tây Nam Bắc đều có thể đi
Tương lai ra sao chẳng bận tâm
Tôi đã không còn nhớ mình còn có nhu cầu gì.*


### 08. Câu chuyện của cây


Nơi tôi đang sống, xung quanh toàn cây cối, điều này khiến tôi nhớ đến câu chuyện về cây:
Ngày xưa, có người hỏi tôi: "Trong núi có một người tiều phu, đốn một cây lớn, cắt làm hai đoạn, đoạn trên điêu khắc thành một tượng Phật Như Lai, đưa vào chùa, để người ta lễ lạy dâng hương kính bái; còn đoạn dưới lại làm thành nắp bồn cầu, cho người ta ngồi đi vệ sinh."
Người đó hỏi tôi:
"Nếu Lư Sư Tôn biết việc này, sẽ xử lý thế nào?"
Tôi đáp:
"Cái đáng lễ bái thì lễ bái, cái đáng ngồi thì ngồi."
"Nghĩa là sao?"
"Lấy trí làm dụng, tùy thuận chúng sinh, bạn không thể lễ bái nắp bồn cầu, không thể ngồi lên đầu Phật để đi vệ sinh." - Tôi đáp.
Mọi người nghe xong, cười!

Tuy nhiên, tôi nói với mọi người: "Trong đó hàm chứa hai chữ 'thể dụng', chúng ta phải biết rằng về thể thì là một, nhưng về dụng thì là hai, chúng sinh và Phật, về thể là một. Nhưng về dụng thì có sự khác biệt, nếu chúng sinh thấy tất cả sắc, khởi tất cả yêu ghét, đó chính là mắt chúng sinh."

Tôi viết một bài thơ:

*Bạn chính là Phật
Không cần nghi ngờ
Lập tức nhận định
Không tịnh không uế*

*Bạn chỉ cần tiến thẳng
Đi vào từ cửa giới
Đi vào từ cửa định
Đi vào từ cửa huệ
Nhất định sẽ đến đích*

*Tất cả phiền não nghiệp chướng đều là nhân quả
Hóa thành không tịch mộng huyễn
Bạn cứ để tâm tự tại
Mắt nhìn đâu cũng là diệu dụng
Hạnh phúc vô ưu không cần cầu.*


### 09. Vô tri là vui nhất


Khi ở Mỹ, tôi biết người Mỹ kiểm tra sức khỏe mỗi nửa năm một lần, đặc biệt là người càng lớn tuổi càng thường xuyên kiểm tra sức khỏe, phòng bệnh hơn chữa bệnh.

Tuy nhiên, tôi biết có một người khi còn trẻ làm quân nhân, anh ta kiểm tra sức khỏe một lần, từ đó về sau không bao giờ kiểm tra sức khỏe nữa, lý thuyết của anh ta là:
"Kiểm tra là tự dọa mình!"
"Vô tri là vui nhất!"

Theo tôi biết, Lão Tử dường như cũng có quan điểm về vấn đề này, nếu trên đời không có những người cực kỳ thông minh, mọi người đều bình đẳng trong sự vô tri, không biết gì, mặt trời mọc thì làm việc, mặt trời lặn thì nghỉ ngơi, thiên hạ sẽ thái bình.

Khi xưa tôi đắc thiên nhãn, biết được nhân quả ba đời, trở thành người tiên tri, vậy làm tiên tri có tốt không? Bây giờ tôi không trả lời được nữa, dường như là:
Biết trước, khổ trước.
Biết sau, khổ sau.
Không biết, không khổ.

Tôi ẩn cư nhập thất, được gọi là "vạn duyên đều dứt", đạt đến trạng thái tất cả pháp tính không, mọi nơi đều vô tâm, không một vật có thể nắm bắt. Mọi người hãy suy ngẫm: "Kinh Kim Cang" nói: "Lìa tất cả các tướng, ấy gọi là chư Phật."

Nhập thất có sáu lợi ích: 1. Buông bỏ tất cả. 2. Tất cả không khởi. 3. Không nghĩ đến tất cả. 4. Tất cả vô tướng. 5. Tất cả không trụ. 6. Tất cả không hý luận.
Còn một điểm nữa: "Vô tri là vui nhất!"

Viết một bài thơ:

*Bạn hỏi tôi biết gì
Tôi chỉ mỉm cười
Không cần nói một lời
Vì vô tri là vui nhất*

*Những âm thanh ồn ào đã không còn nữa
Tâm tự nhiên thường tịch
Chỉ còn niềm vui nhiệm màu của hư không*

*Biết quá nhiều sẽ có quá nhiều do dự
Biết trước sẽ ưu sầu
Nỗi buồn của người tiên tri thì dài lâu
Thà là vô tri, thanh tịnh vô nhiễm.*


### 10. Nhìn thấy đom đóm


Tại hồ Diệp Tử, bất ngờ thay, tôi đã nhìn thấy đom đóm bay lượn trên bãi cỏ, tôi gọi chúng là những ngôi sao nhảy múa trên mặt đất.

Theo như tôi biết, đom đóm chỉ có tuổi thọ bảy ngày. Tại sao đom đóm lại phát sáng? Tôi không biết. Tại sao chúng chỉ sống được bảy ngày? Tôi cũng không biết.

Cũng giống như chó mèo vậy, tuổi thọ của chúng chỉ có hơn mười năm, hơn mười năm là đã rất già rồi, tại sao lại như vậy?
Tôi chưa từng nghiên cứu.

Và như con người, tuổi thọ của con người có hạn, qua độ tuổi già nua, bước chân của cái chết càng ngày càng đến gần, tôi cũng không biết tại sao lại như vậy.

Tần Thủy Hoàng tìm kiếm thuốc trường sinh, thật là chuyện cười.
Hán Vũ Đế cầu trường thọ, thật là trò hề.
Đom đóm chỉ sống bảy ngày, tất cả đều như nhau, đó là số trời.

Tôi vui mừng vì mình đã sống được 60 năm và viết được cuốn sách thứ 172, không sống uổng phí, tôi chỉ là một trong vô số chúng sinh bị cuốn theo bánh xe thời gian khổng lồ.

Tôi càng vui mừng hơn vì mình biết được Tam học là Giới, Định, Huệ:
Thanh tịnh không nhiễm là Giới.
Đối diện cảnh mà tâm không động là Định.
Có thể phân biệt thiện ác, được tự tại, là Huệ.

Tôi vui mừng khi nhập thất có thể nhìn thấy đom đóm, chúng có thể phát sáng trong bảy ngày, thế là tốt rồi. Điều tốt đẹp hơn là, tôi đã thấy được chính mình, thấy rõ bản tâm, thấy rõ tự tính, khám phá ra chính mình, thế là không sống uổng phí. (Tuổi thọ không nằm ở độ dài ngắn, mà nằm ở ý nghĩa của nó.)

Viết một bài thơ:

*Nhận ra bản thân mình vốn không thể nói
Nhưng vì việc viết văn
Đành phải nói ra
Đây chỉ là một cách thích ứng*

*Nhân duyên đại sự của cuộc đời
Có gì để "đắc", có gì để "chứng"
Hóa ra là học một cách vi diệu
Giác ngộ một cách vi diệu
Bí mật lớn trong các bí mật
Vô thượng chính đẳng chính giác.*


### 11. Câu hỏi vô vị


Khi còn nhỏ, thầy giáo chia chúng tôi thành hai nhóm để tranh luận, đề tài dành cho học sinh là: "Gà có trước hay trứng có trước?" Một câu hỏi thật vô vị.

Học sinh tranh luận qua lại, khó có kết luận, gà đẻ trứng, trứng lại nở ra gà, cái nào trước cái nào sau?

Sau này, tôi đã hiểu ra:
Câu trả lời là: "Trứng có trước."

Lý do là, thuyết hạt nhân nguyên tử, thuyết vi sinh vật, thuyết phôi thai, thuyết hỗn độn vũ trụ, thuyết em bé trong ống nghiệm, v.v…
Vũ trụ khi mới hình thành, giống như một "quả trứng". Trứng có trước. Ha ha!

Sau khi học Phật, có người hỏi một câu hỏi vô vị: "Phật có trước hay pháp có trước?"
Nếu pháp có trước, vậy pháp do vị Phật nào thuyết?
Nếu Phật có trước, dựa vào pháp nào để thành Phật?
Câu hỏi này giống như gà đẻ trứng hay trứng nở ra gà, cái nào trước cái nào sau vậy.

Sau này, tôi xác định:
"Pháp có trước!"
Bởi vì, "tất cả chư Phật, đều nhờ pháp tịch diệt mà được thành Phật."
"Pháp vốn không có khởi đầu, không có kết thúc, cho dù không có Phật, pháp vẫn tồn tại."
Kinh nói: "Thầy của chư Phật chính là pháp, được thành đạo rồi mới quảng thuyết các kinh."

Thôi được, tôi thấy cuộc đời cũng là một câu hỏi vô vị: Sinh từ đâu đến? Chết đi về đâu? Và có ý nghĩa gì? Phật nói: "Trả nghiệp!" Tôi thấy nghiệp thật là vô vị!

Viết một bài thơ!

*Cả vũ trụ thật vô vị
Vài hành tinh lăn qua lăn lại trong hư không thật vô vị
Con người còn vô vị hơn
Tan vỡ trong cát bụi*

*Lịch sử cổ đại hiện đại rồi có ý nghĩa gì
Xây dựng cũng là phá hủy
Phá hủy lại cũng là xây dựng
Con người đang làm gì với những nhân duyên tụ rồi tán
Diễn trò gì với sinh lão bệnh tử
Vô vị vô vị lại vô vị
Nhìn đi nhìn lại chỉ có người thấu hiểu mới biết.*


### 12. Cái đuôi dài của chim công


Khi còn trẻ, tôi giúp người khác thần toán, từng gặp một doanh nhân giàu có, sự nghiệp của ông ấy đang phát triển rực rỡ, ai cũng biết đến, là một đại gia nổi tiếng khắp nơi.

Ông ấy tìm tôi để xem cho kế hoạch kinh doanh tương lai: ông dự định xây nhà máy ở Đông Nam Á, Đông Bắc Á, châu Âu, Trung và Nam Mỹ, Mỹ, Canada, châu Úc, thậm chí cả châu Phi, Trung Đông, Ấn Độ. Đế chế kinh doanh của ông mang tầm cỡ toàn cầu.

Doanh nghiệp của ông bao gồm đủ mọi ngành, hóa chất, điện tử, công nghệ, tài chính, xây dựng, bách hóa, thực phẩm, dệt may, dược phẩm... và nhiều ngành khác.

Ông hỏi tôi: "Được không?"
Tôi đáp: "Được."
"Suôn sẻ không?"
"Có cái suôn sẻ, có cái không." - Tôi trả lời thành thật.

Tôi giúp ông ấy đánh dấu những việc có thể làm, loại bỏ những việc không thể làm. Ông rất tin tưởng vào khả năng thần toán của tôi vì tôi đã giúp ông vài lần và đều cực kỳ chuẩn.

Lúc ông chuẩn bị rời đi, tôi hỏi: "Ông có tu hành không?"
Ông cười và trả lời: "Không có thời gian, không có thời gian."
"Rồi ông sẽ nghỉ hưu thôi! Lúc đó hãy niệm Phật nhé!"
Ông đáp: "Không thể nghỉ được, hàng vạn người dựa vào tôi để sống, nếu tôi nghỉ, họ sẽ làm sao?"
"Tìm người thay ông."
"Khó lắm!" - Ông ấy đi rồi.

Tôi nghĩ trong lòng, ông ấy giống như con công lớn, kéo theo cái đuôi dài nặng nề, còn tôi thì sao? Là một con chim sẻ nhỏ, với cái đuôi nhỏ xíu, bay lượn tự do tự tại. Tôi không rõ làm con công lớn kéo theo cái đuôi dài nặng nề tốt hơn hay làm con chim sẻ nhỏ tốt hơn?

Viết một bài thơ:

*Có một ngày mặt trời sẽ tắt
Dù cho con tàu có lớn đến đâu
Cũng sẽ bị kéo đến xưởng bỏ hoang*

*Bạn sẽ phải trả giá bằng sinh mạng
Đánh giá và cân nhắc
Cú bứt phá lớn đến mấy cũng chỉ là khoảnh khắc
Tôi thương hại và cảm thông cho bạn
Với cái đuôi nặng nề như thế làm sao bay.*


### 13. Nhân duyên tụ tán


Tôi nhớ hồi mình còn rất rất nhỏ, không nhớ là bao nhiêu tuổi, gia đình chúng tôi sống ở Đại Cảng Phố, Cao Hùng, Đài Loan, vừa hay lúc đó là ngày đầu tiên Công viên Thọ Sơn mở cửa.

Bố, mẹ, tôi, bốn em gái, một em trai, tất cả tám người! Tám người ngồi trên một chiếc xe xích lô, loại xe xích lô đạp bằng chân, hai người lớn, sáu đứa trẻ, chen chúc trên một chiếc xe xích lô, cứ thế cả nhà đến công viên Thọ Sơn để leo núi, chen lấn trong đám đông.

Mẹ nói: "Xe xích lô không lớn, chen được tám người, người đạp xe rất tốt bụng, lại hẹn giờ quay lại đưa chúng ta về nhà."
Mẹ lại nói: "Hiếm khi cả nhà chen chúc trong một không gian nhỏ, thật là kỳ diệu!"

Tôi nhớ rất sâu sắc, lần leo núi Thọ Sơn đó rất vui, nhìn muôn vàn ánh đèn thật đẹp, ký ức này vẫn còn rất rõ ràng trong tâm trí.

Thời gian trôi, mọi thứ đổi thay.
Ngôi nhà ở Cao Hùng không còn nữa, bị san bằng.
Chiếc xe xích lô biến mất.
Mẹ và em trai (xá lợi) ở Cầu Vồng Sơn Trang tại Seattle, Mỹ. 
Bốn em gái đều đã lấy chồng.
Bố đã 80 tuổi.
Còn tôi lại ở tại hồ Diệp Tử.

Tôi tự hỏi, đây là gì? Đây chính là nhân duyên tụ tán, viết một bài kệ: "Trước lúc sáu mươi tuổi, biết bao nhiêu hồi ức, một đời nhiều tụ tán, nhân duyên bao giờ hết. Hôm nay biết niệm Phật, niệm Phật phải sớm lo, khi sống còn hồi tưởng, lìa thân càng mờ mịt."

Viết một bài thơ "Nhân duyên tụ tán" vậy!

*Không biết ai đã nói
Vì để gặp lại nhau nên mới xa nhau
Vì vậy không cần phải chần chừ*

*Hồi ức dường như có chút ngọt ngào
Chia xa không phải là tổn thương
Cũng không nên là hình phạt
Điều tốt nhất là gặp lại nhau*

*Tụ không phải là hoàn hảo
Tán cũng không phải là khiếm khuyết
Nên tôi nói với bạn cuộc đời như vở kịch.*


### 14. Bệnh mất ngủ của con người hiện đại


Tôi nhớ có một đệ tử đã gặp nữ văn sĩ Tam Mao (lúc đó Tam Mao chưa tự tử) tại một bệnh viện lớn. Người đệ tử biết Tam Mao thường đi khắp nơi diễn thuyết về các vấn đề cuộc sống.

Người đệ tử hỏi Tam Mao: "Chị có thể giúp tôi giải quyết một vấn đề không?"
Tam Mao hỏi: "Vấn đề gì vậy?"
Người đệ tử trả lời: "Tôi bị mất ngủ đã lâu!"
Tam Mao thở dài và nói: "Đó cũng chính là vấn đề của tôi!"
Người đệ tử sững sờ, Tam Mao cũng im lặng. 

Theo những gì tôi biết, một vài người bạn bác sĩ đã cho tôi biết thuốc ngủ là một trong những loại thuốc có doanh số bán ra lớn nhất trên thế giới.

Thành thật mà nói, tôi đã đọc cuốn sách "Tạm biệt mất ngủ", nhưng phương pháp cuối cùng vẫn là: thuốc ngủ.

Một câu nói:
"Mất ngủ, vấn đề của bạn nhiều người bỏ qua, nhưng trong thế giới mất ngủ, bạn sở hữu ba phần mười của trái đất."

Tôi biết đó là vấn đề của thức, gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, mạt-na, a-lại-da. Hợp lại là một thức, tách ra là tám thức.

Người học Phật, nếu có thể đạt trạng thái tĩnh lặng sâu thẳm, viên minh bất động, không khởi tình yêu ghét đối với sắc, có thể phân biệt thiện ác, không khởi vọng tưởng mà được tự tại, tùy theo các căn mà ứng dụng tự nhiên, thì có thể nhập tam muội và đắc định, vấn đề mất ngủ sẽ được giải quyết.

Nếu không thể, hoặc cảnh giới chưa đạt, thì vẫn còn vọng tưởng. Cũng có thể sẽ có vấn đề mất ngủ, mất ngủ cũng là vấn đề của "thức". Tự tính chưa giải thoát! Chưa đạt đến cái không tột cùng!

Tôi viết thơ:

*Quan sát vi diệu vấn đề mất ngủ
Nếu tâm chưa yên, rối loạn tơi bời
Không thể viên mãn ắt có khuyết điểm
Giữa được và mất tự chuốc lấy khổ*

*Muốn học Phật pháp phải vô tướng
Bản chất chân không không hề hư hoại
Nếu thật sự không còn cả không trụ
Đây mới chính là chân thân của Phật*

*Bạn hãy đi theo bước chân của gió
Sáng thì thức dậy
Tối thì đi ngủ.*


### 15. Chốn cô tịch trong tâm


Khi tâm tôi thật sự cô tịch, có thể nói tâm như tấm gương phẳng lặng, tâm không sinh diệt, không vật, không tướng, không tạo tác.

Kinh dạy: "Trong mọi thời, rốt ráo không tịch, chính là không rời Phật."

Tôi từng tự hỏi, pháp vô vi là gì?
"Tự nhiên mà làm, không tạo tác, đó là pháp vô vi."
Tôi từng tự hỏi, pháp vô tướng là gì?
Kinh dạy: "Nếu lấy pháp tướng, tức chấp vào ngã tướng, nhân tướng. Nếu lấy phi pháp tướng, cũng chấp vào ngã tướng, nhân tướng. Vì vậy, không nên lấy pháp, không nên lấy phi pháp, đó chính là nắm được chân pháp, nếu hiểu rõ đạo lý này, chính là chân giải thoát."
"Vì vậy pháp vô tướng là không lấy không bỏ, tự đến tự pháp."
Ha ha!
Đã hiểu rồi, vô vi mà vi, vô tướng mà tướng, vô vật mà vật, là tâm không sinh diệt, tất cả vô tâm vô niệm mà làm, đó là pháp môn bất nhị. Xin hãy suy ngẫm kĩ điều này.

Tôi viết một bài thơ:

*Không đắc không chứng cũng chính là có đắc có chứng
Có đắc có chứng cũng chính là không đắc không chứng
Sắc tức là không
Không tức là sắc
Lật qua lật lại
Chính cái này là thù thắng nhất*

*Tôi rất vui được cống hiến tất cả những gì tôi có
Niềm vui bất tận
Hoàn toàn không giữ lại
Hoàn toàn tương ứng*

*Tìm kiếm trong chốn cô tịch của tâm
Bên trong có một Chân Phật
Bạn tu bạn đắc
Người tu người đắc
Dù ở đây tôi chỉ có một giọt nước
Cũng có thể giúp mọi người giải khát.*


### 16. Duyên ít cũng phải độ


Nhớ lại mưa bụi ở Tây Thành, cách đây 20 năm khi tôi thuyết pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự Mỹ, có một người da trắng đến nghe pháp, học pháp. Ông ấy đến một cách lặng lẽ và cũng ra đi lặng lẽ, học Chân Phật Mật Pháp rất cẩn thận, chú ngữ, thủ ấn, quán tưởng, nhập tam muội đều rất tỉ mỉ.
Khi ông ấy sắp rời đi, đã nói với tôi:
"Thân, khẩu, ý thanh tịnh, con đã hiểu rồi."
Tôi nói:
"Rất tốt, rất tốt, hãy tu tập thật tốt, hãy lĩnh ngộ thật tốt."

Sau một thời gian, ông ấy gửi đến một lá thư, cho chúng tôi biết ông là sĩ quan trên tàu sân bay USS Constellation của Mỹ, ông đã thiết lập đàn thành tu pháp trên tàu Constellation, ông cũng độ không ít người tu tập Chân Phật Mật Pháp, mỗi tuần đều cùng tu tập trên tàu sân bay, việc nhập tam muội của ông có nhiều tiến bộ, nhiều quân nhân Mỹ đã theo ông học thiền định.

Tôi rất ngạc nhiên khi đọc thư, hóa ra trên tàu sân bay cũng có đàn thành Chân Phật, cũng có người tu Chân Phật Mật Pháp! Mọi người không ngờ đúng không! Ngay cả tôi cũng không nghĩ tới.

Tôi nói, tu pháp trên tàu sân bay, đây là sự hiển hóa của Phật pháp, như thân Phật sắc vàng ba mươi hai tướng, phóng ánh sáng lớn, chiếu bốn biển, chiếu năm châu lớn, thật là công đức không thể nghĩ bàn.

Tôi nói, duyên nhỏ, pháp lớn, tự nhiên sẽ thâm nhập tri kiến của chư Phật, bất kì một duyên nhỏ nào, cũng đừng bỏ lỡ.

Tôi viết một bài thơ:

*Làm tốt từng việc nhỏ chính là làm việc lớn
Chuyện tương lai không cần nghĩ đến
Hiện tại phải giữ gìn cẩn thận*

*Cuộc đời vốn dĩ như sương khói
Biến đổi không ngừng
Có thể mang đến những điều kỳ diệu*

*Đừng bỏ lỡ những nhân duyên nhỏ
Trong thế giới này
Cũng đừng mơ hồ lẫn lộn*

*Bạn thấy đó, gió tu hành đã thổi trên biển
Hãy tính xem tàu sân bay nặng bao nhiêu tấn.*


### 17. Bạn sống cuộc đời gì


Tôi đã đọc rất nhiều "Ghi chép lời thiền sư", những vị thiền sư này rất thích hỏi mọi người một câu, câu đó là: "Bạn sống cuộc đời gì?"
(Ý hỏi dường như là bạn sống như thế nào? Bạn làm gì trong cuộc sống? Bạn làm nghề gì?)

Khi mới nghe câu hỏi này, dường như rất dễ trả lời, nhưng thực tế nếu bạn suy nghĩ kĩ:
Mọi thứ trên thế gian tụ lại.
Bạn làm gì sinh sống?

Chúng ta từ lúc chào đời, sống đến hiện tại, bạn đã học được điều gì, bạn sống như thế nào, trải qua những ngày dưới ánh mặt trời, bạn tự cảm thấy sống có ý nghĩa, tự thấy không sống uổng phí, hay là sống một cách mơ hồ?
Bạn đã tỉnh thức chưa?
Bạn đã giác ngộ chưa?
Một đời hư danh vui vẻ, một đời phiền não đau khổ, một đời chua ngọt đắng cay, một đời gian khổ trải nghiệm, một đời mơ mơ hồ hồ, một đời sinh lão bệnh tử...

Kinh dạy: "Hiểu một thì nghìn việc thuận theo, mê một thì vạn điều mê hoặc. Nếu người giữ được một, vạn sự hoàn tất, đó là điều kỳ diệu của sự giác ngộ."
Kinh dạy: "Tất cả vạn tượng, đều do một pháp ấn chứng."
Xin hỏi bạn một lần nữa: "Bạn sống cuộc đời gì?"

Viết một bài thơ:

*Tôi hân hoan chúc mừng sự ra đời của bạn
Tiết lộ rằng từ đây cuộc sống bắt đầu
Tìm một chỗ đứng trong đám đông nhộn nhịp này
Bạn sống cuộc đời gì*

*Ăn uống sinh hoạt
Đi đứng nằm ngồi
Đi con đường của riêng mình
Cái gì là giảm cái gì là tăng*

*Xin bạn nghĩ kĩ rồi hãy trả lời
Đây là Chân Phật đang hỏi bạn
Đây là vị thiền sư tìm kiếm chân như đang hỏi bạn
Bạn sống cuộc đời gì?*


### 18. Người muốn lui về


Nhớ lại khi đi tìm nơi ẩn cư, tôi từng muốn sống ở Hawaii, nơi có nhiều người về hưu, sống trên đảo Oahu.

Tôi đã chọn một ngôi nhà nhỏ gần trung tâm mua sắm lớn nhất Hawaii Ala Moana (tên của người bản địa), đang định ký hợp đồng thì bất ngờ xuất hiện một đệ tử, anh ta cũng về hưu và muốn đến sống ở đó. Vừa thấy đệ tử, tôi giật mình kinh hãi, giấc mơ ẩn cư ở Hawaii đã tan thành mây khói.

Ở đảo Samoa thuộc Nam Thái Bình Dương của Mỹ, có một đệ tử biết tôi sắp ẩn cư, đã gửi một tấm séc trắng, nhất định mời tôi đến đảo Samoa xem xét. Anh ta nói, nếu tôi đến đảo Samoa ẩn cư, chắc chắn sẽ được tiếp đón nồng hậu.
Nhưng, tôi chính là sợ được tiếp đón nồng hậu! Vì vậy, tôi đã trả lại tấm séc trắng cho anh ta.

Ở Melbourne, Úc, có một đệ tử rất hộ trì, biết tôi sẽ đến Tahiti nuôi lợn, anh ta nói: "Sư Tôn! Đừng đến Tahiti nuôi lợn, lợn quá bẩn. Con có vườn trái cây, Sư Tôn đến vườn của con ẩn cư còn tốt hơn!"

Tôi cảm ơn họ, biết ơn họ, nhưng nơi tôi ẩn cư phải là nơi không có đệ tử! Đó mới thực sự là ẩn cư, xin lỗi các bạn.

Tôi ẩn cư là để cầu:
Vạn sự vô sự, vạn tâm vô tâm, tĩnh lặng như hư không, rốt ráo thanh tịnh, tự nhiên giải thoát, tự độ tất cả, không nương tựa vào đâu.
Mọi hư danh lợi lộc đời này đều buông bỏ hết!

Tôi viết một bài thơ:

*Dù cuộc đời từng có những đóa hoa xuân tươi đẹp nhất
Nhưng ẩn cư giống như chiếc lá mùa thu tàn úa
Không còn ngọn lửa tuổi xuân
Không muốn lưu luyến thêm nữa*

*Người muốn lui về
Đã bừng lên những tia sáng cuối cùng
Rồi sẽ biến mất
Để mọi người không bao giờ nhìn thấy*

*Tôi sẽ mang theo nỗi nhớ vĩnh hằng
Hợp nhất cùng đệ tử
Xuất hiện trong một thế giới khác.*


### 19. Biển của đảo Guam


Tôi từng nhớ về biển của đảo Guam. Sau khi đi vòng qua một tảng đá lớn, tôi đã nhìn thấy biển với những đợt sóng trắng xóa, cảm giác chấn động trong lòng tôi không thể diễn tả được, sóng trải rộng khắp nơi, liên tục dâng trào, âm thanh thực sự như sóng dữ cuồn cuộn, tình trạng này có lẽ chỉ những người đánh cá mới có thể mô tả được.

Âm thanh như sấm sét rung chuyển màng nhĩ, gió gào thét, vô số đợt sóng bạc đầu như nghìn vạn đoàn quân đang phi nước đại, dường như muốn nuốt chửng cả thế giới này. Trước mắt tôi, đại dương mênh mông, thế giới trở nên nhỏ bé, con người càng nhỏ bé hơn, tiếng ầm ầm không ngừng vang dội.

Tôi nhớ thiền sư Ngưỡng Sơn hỏi thầy:
"Trăm nghìn vạn cảnh cùng lúc hiện ra, phải làm sao?"
Thầy đáp:
"Xanh không phải vàng, dài không phải ngắn, các pháp đều trụ vào vị trí của mình, không liên quan đến ta."
Ngưỡng Sơn nghe xong, liền vái chào rồi lui.

Lời vấn đáp ngắn ngủi này, đối với tôi, thật sự là trí tuệ như biển. Ban đầu khi tôi thấy biển ở đảo Guam hung dữ đến thế, tôi đã hoảng sợ. Nhưng khi hiểu được cuộc đối thoại giữa thiền sư Ngưỡng Sơn và thầy, tâm tôi đã bình lặng trở lại.
Xin hãy lĩnh hội ba câu sau đây:
"Chỉ hòa với ánh sáng của nó."
"Không cùng với nghiệp của nó."
"Cùng nơi nhưng không cùng trú."

Hãy làm thơ!

*Thiên nhiên cũng có vẻ hung dữ
Hổ sói sư tử khiến người ta sợ hãi
Còn có phụ nữ và người lạ, hoặc bạn bè, hoặc...
Cũng có thể nuốt chửng con người*

*Biển của đảo Guam
Tôi là tôi
Bạn là bạn
Không liên quan đến tôi*

*Tôi là đứa trẻ nhỏ trên đóa sen
Dù nghìn lớp sóng bạc hiện ra trong tâm tôi
Cùng nơi nhưng không cùng trú.*


### 20. Trước sau như một


Trong những năm ẩn cư và nhập thất này, có hai điều luôn như một:
1. Tu pháp.
2. Viết văn.
Thực ra đây không phải là điều chỉ như một trong những năm gần đây, mà từ khi học Phật hàng chục năm qua, tôi vẫn luôn làm như vậy. Bản thân tôi có vẻ ngờ nghệch, nhưng đối với nhân duyên đại sự, với việc giải thoát, làm sao có thể buông tay được.

Sau khi nhập thất, tôi lại tự suy ngẫm:
Đừng xem nhẹ ơn của chúng sinh, đừng luôn nói mình có tu có chứng, đừng vội vàng mong cầu thành tựu, cứ tiến bộ từ từ là tốt rồi, đừng quan tâm người tu hành khác như thế nào, đó là việc của họ, không phải việc của ta, ta hãy lo quản tốt tâm mình trước, người khác muốn nói gì về ta, cứ để họ nói! Tất cả đều không trở ngại, ta cứ sống tự nhiên, vui vẻ là được.
"Đi theo bước chân của gió, vô vi mà làm."

"Kinh Kim Cang" nói: "Người thông đạt pháp vô ngã, Như Lai nói đó chính là Bồ Tát chân thật. Không lấy cũng không bỏ, vĩnh viễn đoạn trừ sinh tử, ở mọi nơi đều vô tâm, đó gọi là Phật tử chân chính."

Đối với chúng sinh, không oán hận cũng không hối tiếc, tâm cam tình nguyện cống hiến bản thân, chỉ cần làm là được, kết quả ra sao, thay đổi tốt xấu không quan tâm, trước sau như một.

Viết một bài thơ:

*Tu tập thiền định tam muội nhất tâm bất loạn
Một lòng vãng sinh tịnh thổ
Chỉ có một hương vị này
Đó là ngọn lửa cả đời tôi*

*Tất nhiên tôi cần chúng sinh giúp đỡ
Giúp tôi niệm Phật
Để kẻ u mê như tôi luôn giữ một lòng
Đến được chốn an trú nơi cõi tịnh thổ kia*

*Tôi cũng muốn giúp mọi người
Không phân biệt ta người hay kẻ khác
Tôi cũng là một trong chúng sinh
Chúng sinh và tôi hợp nhất thành một
Một chính là một không có hai ba
Đời đời kiếp kiếp chỉ một niệm một nguyện như cát sông Hằng.*


### 21. Thì thầm vườn mộng dưới khung cửa sổ tâm hồn


Nhớ về những năm tháng viết "Dưới khung cửa sổ tâm hồn", viết "Thì thầm vườn mộng", đó là thời kỳ tuổi trẻ chưa biết mùi vị của sầu đau, tràn đầy mộng tưởng về tương lai, ngọt ngào của tình yêu, ngày đêm suy nghĩ, hôm nay nghĩ lại không biết nên cười hay nên khóc, thật đúng là "nụ cười có nước mắt".

Tôi từng nói với cô ấy:
"Em là của anh."
Cô ấy nói với tôi:
"Em là của anh."

Đây là khát khao của người trẻ dành cho người trẻ, bản thân tình yêu chỉ là một đám sương mù, khiến người ta mơ màng, bối rối, lúc thì vui vẻ, lúc thì đau khổ, che lấp mọi lý trí, mù quáng ôi mù quáng! Chính sự mù quáng đó mới khiến người ta mơ hồ, mới khiến người ta day dứt.

Yêu cũng đã từng yêu.
Vui cũng đã từng vui.
Khổ cũng đã từng khổ.
Khóc cũng đã từng khóc.

Giờ đây, biết rằng tất cả đều rất ngắn ngủi, chẳng có cái gọi là mãi mãi, tình yêu là một nhân duyên, đã hiểu rồi. 
Đã tỉnh chưa? Ai thuộc về ai? Ai nợ ai? Ai nhớ ai?

Hãy làm một bài thơ!

*Tình yêu là con chim di trú
Líu lo bay đến bên cửa sổ của tôi
Hót lên khúc ca tuyệt vời
Làm rung động cõi lòng tôi
Rồi chỉ còn lại một tiếng thở dài
Dường như vô duyên, từ đó không thấy bay về nữa*

*Tình yêu là cơn gió phiêu bạt
Tình cờ vuốt ve sự nhỏ bé của tôi - một nhà thơ
Tôi muốn ôm chặt lấy nó
Nó bay qua đây bay qua đó
Khiến tôi mãi mãi không thể đuổi theo
Không biết là đúng là sai
Trách nhiệm trong tim thật trĩu nặng
Chỉ còn vương vấn những giấc mơ khuya.*


### 22. Phiền não đã hết


Tôi đọc sách.
Một ngày nọ, thiền sư Tông Trí đội nón lá ra ngoài, thiền sư Vân Nham chỉ vào chiếc nón lá và hỏi: "Dùng cái này để làm gì?" Thiền sư Tông Trí đáp: "Có công dụng."
Vân Nham lại hỏi: "Khi gặp gió lớn mưa to thì sao?"
Tông Trí đáp: "Dùng để che chắn."
Vân Nham lại hỏi: "Nó còn chịu che chắn sao?"
Tông Trí đáp: "Tuy là như vậy, nhưng không hề có chỗ thấm dột."
(Cuộc đối đáp chỉ đến đây là hết.)

Tôi đọc cuộc đối đáp giữa hai vị thiền sư thấy rất thú vị. Câu hỏi đầu tiên, nón lá dùng để làm gì, trả lời là để che gió chắn mưa.

Câu hỏi thứ hai mới thú vị, "nó" có thể chỉ chiếc nón lá, cũng có thể chỉ "chân như", vậy có còn chịu sự che đậy không? Thiền sư Tông Trí đáp rất hay, tuy là như vậy, nhưng không hề có chỗ thấm dột, tôi cho rằng không thấm dột, tức là phiền não đã dứt sạch vậy.
Chúng sinh đều có phiền não.

Chúng ta là người tu hành, chính là để minh tâm kiến tính, làm chủ sinh tử, đoạn trừ hết phiền não tập khí, đạt đến chân như. Điều này hoàn toàn khác biệt so với người thường chỉ biết che gió che mưa.
Nón lá là để che gió che mưa.
Nếu nón lá ám chỉ chân như thì đó chính là vĩnh viễn đoạn trừ sinh tử phiền não, ở mọi nơi đều vô tâm, đó là Phật tử chân chính.

Nói thẳng thắn:
Tôi tu Mật giáo đã đạt được thân vô lậu, muốn đạt tâm vô lậu, tôi nói thẳng: "Trước tiên cần phải loại bỏ chấp trước, vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả, mọi việc đến không chịu ảnh hưởng, đó chính là đạt được vô tâm, như vậy phiền não sinh tử đều dứt sạch."

Viết thơ:

*Đời đời kiếp kiếp chúng sinh
Trôi nổi trong biển khổ sinh tử
Đọc qua cuộc đối thoại của hai thiền sư
Liệu nón lá còn che phủ được không*

*Phiền não trần gian, ai ai cũng vướng mắc
Mấy ai hiểu được cách đi theo bước chân của gió
Mấy ai theo được bước chân của tôi
Mấy ai không mang theo phiền não.*


### 23. Triết học lồng chim


Tôi thấy một người đang cầm một chiếc lồng chim trên tay, bên trong lồng nhốt một con chim, chim đang vừa kêu vừa nhảy, vừa ăn thức ăn, không thể nhận ra nó vui hay buồn.

Bất chợt tôi có một nhận thức mới mẻ:
Mỗi chúng ta đều là những con chim, đều sống trong lồng, nghĩ mà xem, người giàu có lồng lớn hơn, người nghèo có lồng nhỏ hơn.
Nhiều người sống trong lồng nhà và lồng văn phòng cả đời cho đến khi về hưu.

Tiếp viên hàng không sống trong lồng máy bay.
Tài xế sống trong lồng xe hơi.
Nhà sư sống trong lồng chùa viện.
Nghệ sĩ sống trong lồng trường quay.
Nhiều doanh nhân lớn bay đi bay lại, lúc thì trong lồng máy bay, lúc thì trong lồng xe hơi, lúc thì trong lồng văn phòng, họ chỉ đổi qua đổi lại, tất cả đều là lồng.
Tù nhân nói với người thăm qua song sắt: "Tôi bị nhốt trong lồng bên trong, còn anh bị nhốt trong lồng bên ngoài."
Bản thân trái đất, chính là một chiếc lồng hình bầu dục.......

Nghĩ sâu thêm một tầng nữa, Ma Ha Song Liên Trì chẳng phải là một chiếc lồng sao? Tây phương Cực Lạc thế giới với bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, tất cả đều được bao quanh bởi bốn báu vật, chẳng phải là một chiếc lồng lớn xinh đẹp sao?

Lại nữa, chúng sinh ở cõi đó thường vào mỗi sáng sớm, mỗi người đều dùng áo đựng đầy các loại hoa tuyệt diệu, cúng dường mười nghìn tỷ vị Phật ở phương khác, rồi đến giờ ăn lại trở về nước mình (chiếc lồng) để ăn uống kinh hành.

Tất cả đều là lồng, làm sao đây? Tôi nói không sao cả.

Từ "triết học về chiếc lồng" này khiến tôi nghĩ đến, điều duy nhất không bị lồng ràng buộc, chính là nhìn thấu lồng, Lão Tử nói: "Cái lo lắng lớn của ta chính là thân ta vậy!" (Thân chính là chiếc lồng.)
Lão Tử là vị tổ đời thứ nhất của "triết học lồng chim".

Thơ:

*Thấu rõ thân này
Thấu rõ lồng này
Dù bị giam bên trong, hay bị giam bên ngoài
Không sao cả
Tâm tịnh thì tất cả đều tịnh
Nhà thơ nói
Trên suốt con đường, hoa sẽ vì bạn mà tự nở rộ.*


### 24. Gió thổi về đâu


Khi sống ở Seattle, từng có cơn bão lớn thổi đổ cây cối, khiến mọi nhà đều mất điện. Gió ở Seattle không đáng sợ lắm, điều đáng sợ nhất là ở các bang miền Trung nước Mỹ có một loại lốc xoáy, gió lốc này dữ dội, nhổ bật cây, đổ sập nhà, xe cộ, trâu bò, mọi vật đều bị cuốn lên không trung, nơi nó đi qua không thứ gì có thể sống sót, lốc xoáy này mới thực sự đáng sợ.

Nhớ lại hồi nhỏ sống ở Đài Loan, mỗi năm vào tháng bảy tháng tám là mùa bão, chỉ cần bão đến, thiệt hại sẽ rất nặng nề. Dù Đài Loan được gọi là hòn đảo ngọc, nhưng mùa bão cũng là một mối đe dọa lớn của hòn đảo ngọc này, không thể không đề phòng.

Trước đây từng có đệ tử hỏi:
"Gió từ đâu đến? Gió sẽ đi về đâu?"
Có đệ tử khác học theo cổ nhân trả lời:
"Gió từ nơi đến mà đến, gió từ nơi đi mà đi."
Tôi đáp:
"Nhân duyên!"

Nhân và duyên hòa hợp mà thành, tất cả vạn vật giữa trời đất đều do tự nhân (nhân chính) và duyên (trợ duyên) hòa hợp mà thành.
Vì vậy, tất cả đều tùy duyên mà sinh, tất cả đều tùy duyên mà diệt. Kinh nói: "Đất nương vào nước, nước nương vào gió, gió nương vào không, khi đại phong nổi lên, nước động đất chuyển."

Nếu có người hỏi tôi: 
"Thầy có quay lại Seattle nữa không?"
Tôi đáp:
"Tùy theo gió, đi theo bước chân của gió!"

Thực ra tôi cũng không nhất thiết phải quay lại Seattle nữa, vì ở hồ Diệp Tử, tôi cũng đã hoàn toàn quen thuộc. Thực ra con đường cuối cùng của đời người, chỉ có hai chữ: "Quy không."

Tôi viết một bài kệ, xin hãy lắng nghe kĩ:

*Hồ Diệp Tử phong cảnh cũng tốt
Sống tự tại phiền não chẳng còn
Cấm khẩu cho nên chẳng thị phi
Tam muội "nửa chết" sống qua ngày
Thấu đạt tam giới và tứ thánh
Rõ biết sinh tử vốn chung đường
Không có vọng tưởng và phân biệt
Đến lúc tự có người hiểu rõ
Đôi lời nhắn gửi thánh đệ tử
Nhân gian khắp chốn cùng tiêu dao.*


### 25. Vinh hoa phú quý đều là hư ảo


Ngày xưa, tôi nói tôi muốn ẩn cư, nhập thất tu tập, đó là thực sự muốn rời xa đám đông ồn ào.
Nhiều người không tin, không tin thì tất nhiên có lý do không tin:
Thứ nhất, Lư Sư Tôn được vạn người ngưỡng mộ, sống trong tiếng vỗ tay. Nổi tiếng lừng lẫy, là "cao tăng" mà! (tự cao)
Thứ hai, Lư Sư Tôn sẽ từ bỏ dinh thự. Do đệ tử cúng dường.
Thứ ba, Lư Sư Tôn có xe sang. Do đệ tử cúng dường.
Thứ tư, Lư Sư Tôn có năm triệu đệ tử, pháp duyên thù thắng, chỉ cần một lời nói, vinh hoa phú quý có thể dễ dàng có được. Giống như muốn gì được nấy vậy!
..................

Nhưng, sau nhiều năm độc cư bế quan, tôi viết một bài kệ gửi đến thánh đệ tử:

*Tôi nay tự tại thật kỳ diệu
Hoàn toàn không xin cầu chúng sinh
Vinh hoa phú quý đều nhìn thấu
Áo cũ cơm thừa vẫn đủ no
Vốn dĩ sinh tử đều là một
Thân tâm thanh tịnh không nhiễm bẩn
Người khác cười tôi quá ngu đần
Nhưng trong tâm tôi là lưu ly
Cô đơn buồn tẻ cũng không tệ
Ai biết ánh sáng chiếu vô cùng.*

Pháp bí mật của tôi đã được truyền rồi, việc bạn "ngộ" hay "không ngộ" là chuyện của bạn. Những ngày đã qua, tôi sẽ nhớ trong lòng, nhưng, tất cả đều đã qua rồi. Giống như một cái cây già phủ đầy rêu phong, ha ha! Vinh hoa phú quý chẳng phải cũng vậy sao?

Thực ra trong cõi người này, vinh hoa phú quý chỉ là hiện tượng nhất thời, ngay cả vua chúa cũng vậy, huống chi bản thân là một vị mật hành tôn giả. Mật hành của mật hành tôn giả là điều ngoài sức tưởng tượng, thành tựu của người ấy cũng ngoài sức tưởng tượng. Tôi đã là người may mắn, tôi đã được ân sủng, quá hạnh phúc rồi. (Đại Phúc Kim Cang)

Các bạn có biết không? Tôi đã đạt tam muội, tôi đã hoàn toàn thanh tịnh, đây là điều không thể nói ra, không thể nói mà nói, gọi là "vô đắc vô chứng vô sự vô tâm vô trụ vô niệm". Tam muội của tôi là vô định vô vô định. Tịnh độ của tôi là vô tịnh vô vô tịnh, tên giả là "vô thượng chính đẳng chính giác".

Không trói buộc!
Vinh hoa phú quý quá hư ảo phải không! Quá kịch tính! Biến đổi quá lớn.


### 26. Không có con người hoàn mỹ


Suy nghĩ thật kỹ, cái "vỏ người" này của tôi không hoàn hảo, đặc biệt là những năm gần đây cảm nhận càng sâu sắc, nên tôi có ý định đổi một "vỏ người" khác, ý nghĩ này không phải là một lỗi lầm lớn phải không! Nên đổi "vỏ người" thì cứ đổi "vỏ người".

Phân tích bản thân mình những năm gần đây:
Thị lực của cả hai mắt dần dần mờ đi, đặc biệt là mắt trái, võng mạc đã đen một vùng lớn, có lẽ là kết quả của việc viết lách trong ánh sáng không đủ!

Vết thương cũ ở chân trái đã từng tái phát một lần, đôi khi âm ỉ đau, chỉ là không để ý đến nó mà thôi. Để ý đến nó cũng chẳng thể để ý được, để ý thế nào đây?

Da tôi luôn nhạy cảm, lúc thì ngứa, lúc thì nứt nẻ, khô ngứa khô nứt, cũng không biết chăm sóc thế nào, hễ có vết thương, sau khi lành liền để lại sẹo, trông như toàn thân đều là vết sẹo giới, ha ha ha!

Tôi nhận ra, móng chân cứng lên, móng tay cũng cứng, tóc đã bạc, râu đã trắng, giữa đầu hói nghiêm trọng, không mọc tóc nữa, lại còn có những đốm đen xuất hiện từng mảng!

Tai trái bị nghẹt khá nặng, e rằng ảnh hưởng đến thính lực.

Trí nhớ trở nên kém đi nhiều, nhiều người dù gặp mặt, e rằng có một ngày, ngay cả tên cũng không gọi ra được nữa. Không gọi được, xin lỗi.

Quên đã tắt bếp hay chưa, quên đã khóa cửa hay chưa, quên định mua món gì, rất dễ quên hết mọi thứ, điều đáng sợ nhất là một ngày nào đó ra ngoài đi dạo, không tìm được đường về nhà, ngay cả nhà ở đâu cũng quên sạch. Nam mô Ngớ Ngẩn Phật, ha!

Còn về lục phủ ngũ tạng, thôi không nói nữa! Toàn là bệnh. ......

Viết một bài thơ:

*Tứ đại phân tán
Não chia tám mảnh
Sức khỏe bản thân đã đổi thay*

*Thị lực không còn sáng
Nước hồ Diệp Tử đã trở lạnh
Động tác chậm chạp*

*Sau khi đã cạn kiệt ngọn đèn dầu của mình
Sẽ vứt bỏ cái vỏ người không hoàn hảo đó
Khi cần thay thì phải thay.*


### 27. Hóa Phật đến hỏi


Trong thiền thất tại hồ Diệp Tử, khi đang nhập định tam muội, tôi thấy một vị Hóa Phật hiện đến, ánh sáng lưu ly như nước tỏa ra khắp bốn phương tám hướng.

Hóa Phật hỏi tôi: "Thế nào là Phật?"
Tôi đáp: "Đất gỗ."
Lại hỏi: "Thế nào là pháp?"
Tôi đáp: "Một xấp giấy."
Lại hỏi: "Thế nào là tăng?"
Tôi đáp: "Ăn cơm ngủ nghỉ."
Hóa Phật cuối cùng hỏi:
"Tương lai ông sẽ đi như thế nào?"
Tôi cười đáp: "Theo gió mà đi!"
Hóa Phật tan biến và nói: "Quả nhiên là một bậc tông sư của thời đại."

Tôi chắp tay, dĩ nhiên tôi biết Phật là bậc giác ngộ, pháp là chính pháp do Phật truyền lại, tăng là những bậc thánh hiền truyền thừa chính pháp. Nhưng, sau khi trải qua tu tập bốn pháp lớn Chuyên nhất, Ly hý, Nhất vị, Vô tu, câu trả lời của tôi đã quay về điểm ban đầu. Thấy núi là núi, thấy nước là nước, đó là đại viên kính trí.

Đi theo bước chân của gió, không trả lời mà cũng là trả lời.

Viết một bài kệ thơ bảy chữ:

*Tâm cảnh bình an cũng rộng lớn
Có đáp không đáp đều tâm an
Thong dong bước qua đường giải thoát
Đi Tây đi Đông khó gì đâu
Suốt ngày ăn cơm cùng ngủ nghỉ
Từng niệm chẳng vướng bận sự đời
Tự nhiên thấy được chân thực tướng
Chẳng còn xôn xao với người đời.*

Hiện tại hành giả tôi đây là chiếc lá khô rơi rụng, cũng là đám mây trắng trên bầu trời, là bông hoa vàng của ngày mai, là sương tuyết đã tan.

Hôm nay, tôi kinh hành dưới ánh nắng mặt trời trên mặt đất, có thêm ngôn từ nào đâu, không khoe khoang bản thân, không có mũ miện Ngũ Phật, không có pháp tòa cao, không có danh hiệu đặc biệt: Rinpoche, Hoạt Phật, Đồng Tử, những thứ này...
Mỉm cười bỏ qua.


### 28. Cuộc sống với bốn thứ không giống


Cuộc sống ẩn cư và nhập thất tại hồ Diệp Tử, nếu muốn tìm một từ tương tự để mô tả, tôi cảm thấy cũng khá khó khăn.

Nói tôi giống một "con người", khi gặp người cũng chẳng nói năng gì. Một mình kinh hành, trông giống như ma quỷ u hồn, nằm xuống là ngủ, đói thì tìm cái gì đó ăn, cũng giống như người vô gia cư, lông bông, vô công rồi nghề.

Nói tôi giống "Phật" (hành giả tu hành), đã không còn dáng vẻ của Phật, tiều tụy như một ông lão tàn tạ, không mũ miện Phật, không pháp y, không ghế ngồi danh dự, không người thuyết pháp, không người nghe pháp. Cặp môi cũng ít động đậy, lười không muốn động, không có đối tượng để động.

Nói tôi giống "thần", tôi thực sự cũng không giống, cuộc sống cũng ít có biến hóa qua lại, quy củ đều đặn, thần là hay biến hóa, tôi thì không biến hóa, ngay cả "thần" cũng không giống.

Nói tôi giống "cỏ", càng không phải, cỏ đâu biết đi lại kinh hành! Điểm duy nhất giống cỏ là chẳng có ai để ý đến tôi cả, đang sống trên mặt đất này, trong thế giới vĩ đại này, có tôi hay không có tôi đều như nhau.

Tôi chẳng giống cái gì cả.

Chỉ trong trạng thái tam muội, đi thần hành, đi theo bước chân của gió,  quên sạch hết phàm tình thần thánh, tam muội cũng không giống tam muội.

Viết lách lải nhải không ngừng, cũng chẳng biết viết gì, có ích hay vô ích, viết để làm gì? Có mấy người hiểu được? Như đang mơ.

Viết một bài thơ!

*Ngày đêm xoay vòng luân chuyển
Tôi lại bớt đi một ngày để sống
Những ngày tĩnh lặng như thế này
Thật chẳng giống cái gì cả*

*Không giống Phật thiêng liêng
Cuộc sống hoàn toàn khác với người khác thì cứ khác
Không có biến hóa nên không phải thần quỷ
Một ngọn đèn viết lách cũng chẳng sáng là bao*

*Nhưng tôi cảm thấy không hổ thẹn với cuộc đời
Tôi nhỏ bé này
Yêu thích vầng trăng xinh đẹp kia.*


### 29. Ai là người thân thích đích thực


Khi đang nhập thất tại hồ Diệp Tử, tôi nhập tam muội và lại thấy Hóa Phật đến. Lần này dường như ngài đến để thử thách khả năng nhận biết con người của tôi. Liệu tôi còn nhận biết được người không? Không bỏ sót một chúng sinh nào.
Hóa Phật hỏi: "Ai là người thân thích đích thực của Phật?"
Tôi đáp: "Người A."
Hóa Phật nói: "Sai rồi, ông ta đang tập trung xây chùa lớn. Đã sớm quên ngươi rồi."
Tôi nói: "Người B."
Hóa Phật nói: "Sai rồi, ông ta đang nỗ lực nhận phong bì. Vẫn chưa đủ nhiều, chưa đủ dùng!"
Tôi nói: "Người C."
Hóa Phật nói: "Ngươi nhận sai rồi, ông ta sẽ quy y với người khác, rồi quay lại đánh ngươi, đánh đến nửa sống nửa chết."
Tôi nói: "Người D."
Hóa Phật nói: "Lại sai nữa, ông ta đang chờ đợi mũ miện Ngũ Phật của ngươi."
Tôi hỏi: "Vậy là ai?"
Hóa Phật đáp: "Ngươi đạt được, người đó cũng đạt được. Đây mới là người thân thích đích thực của Phật, những người khác đều không phải."
Tôi đại ngộ, tôi nói: "Vô niệm đạt được, vô vi đạt được."
Hóa Phật cười ha hả rồi biến mất.

Viết một bài thơ ghi lại:

*Khi tôi đến cõi tịnh thổ Ma Ha Song Liên Trì
Ngoái nhìn lại
Tôi biết mình sẽ mang theo sự mơ hồ của nhiều hành giả
Ai mới thực sự là người thân*

*Khi tôi thực sự đến được bờ bên kia
Cảm nhận được sự tự tại
Nỗi buồn sâu sắc nhất của tôi
Là không thể nhìn thấy những người thân yêu mà tôi thương nhớ*

*Chim bay trên trời
Cá bơi trong nước
Chỉ mong mỗi người đều tỉnh táo sáng suốt
Tôi mong được thấy người thân thực sự của Chân Phật
Cầu nguyện Phật Bồ Tát nhân từ.*


### 30. Đồ chơi


Nhớ khi tôi còn nhỏ, có thể tính là tuổi thơ của tôi, đồ chơi chỉ có ba loại:
1. Bi ve.
2. Dây chun.
3. Tú lơ khơ.

Đồ chơi thời thơ ấu không có gì đáng kể, bi ve, dây chun, tú lơ khơ, có nhiều cách chơi, lúc đó tôi rất giỏi chơi, giờ nghĩ lại, thật buồn cười. Nói buồn cười thì cũng không hẳn là buồn cười, nhưng ba món đồ chơi này đã đồng hành với tôi suốt cả thời thơ ấu.

Tôi viết về đồ chơi thời thơ ấu, mọi người nghĩ là ấu trĩ, nhưng hãy thử nghĩ xem, khi lớn lên, đồ chơi của mọi người đã thay đổi.
1. Chức vị.
2. Tiền bạc.
3. Nam nữ.
Ba thứ này là đồ chơi của người lớn.

Tôi cảm thấy đồ chơi thời thơ ấu rất tuyệt vời, đồ chơi người lớn cũng rất tuyệt vời, người lớn cũng chơi say sưa, không ai nghĩ rằng điều đó buồn cười hay ấu trĩ, hoặc ý nghĩa và giá trị của nó là gì? Mọi người có hiểu không? Trong một tầng lớp nào đó, con người không hề nghĩ rằng còn có một tầng lớp (cảnh giới) vĩ đại hơn.

Khi đã chơi xong đồ chơi của người lớn, cuộc đời cũng gần kết thúc rồi, haha!

Viết một bài thơ vậy!

*Người đời đa phần đều chơi như thế
Mỗi giai đoạn chơi một trò chơi
Thời gian vui chơi dần tan biến
Cuối cùng đành ra đi*

*Ong chỉ biết hút mật hoa
Bướm cũng chỉ bay lượn chơi đùa giữa những cánh hoa
Đây là những hiện tượng tự nhiên
Xuân đến thu đi*

*Ai hiểu được ý nghĩa của cuộc đời
Sao không tìm kiếm bậc thiện tri thức
Để tiến lên tầm cao hơn mà tìm cầu.*


### 31. Ở trong tam muội độ người


Trong lúc đóng cửa ẩn tu tại hồ Diệp Tử, tuy không hay biết việc đời, nhưng khi nhập tam muội, bước vào con đường giải thoát, tôi tuy nhập vào cảnh giới không tột cùng, nhưng chưa đến "chân không". Trạng thái này thực khó giải thích, giống như người tu định không biết mình đang trong định, người đang trong tam muội không biết mình đang trong tam muội.

Tôi không bị trói buộc. Rõ ràng tự biết đạt được tự tại.
Âm thanh, sắc tướng không thể trói buộc tôi.
Vọng niệm cũng không sinh khởi.

Trong một khoảnh khắc, tôi thấy các đệ tử đến.
Đệ tử họ Trịnh dẫn theo một số người tôi không thật quen biết, đệ tử họ Trịnh nói với tôi một tiếng "cảm ơn", rồi tự khắc biến đi.
Đệ tử họ Lại đi xe ngang qua chỗ tôi, dừng lại và quỳ xuống trước mặt tôi, chắp tay lại, rồi tự khắc biến đi.
Đệ tử họ Lâm, trong lúc tôi nhập tam muội, hiện ra thân trung ấm, mặt đầy vẻ ưu sầu.
Tôi nói: "Mau đi! Mau đi!"
Ông ta hỏi: "Tôi đi như thế nào!"
"Ông từ đâu đến thì về đó, buông bỏ tâm oán hận là đi được!"
Ông ta đại ngộ, liền biến mất.

Còn rất nhiều đệ tử khác, không kể hết được. Tôi chủ yếu  muốn nói với họ rằng: "Rời bỏ mọi thứ, trú nơi không tâm, sẽ đạt được bồ đề, giải thoát, niết bàn, tịch diệt, thiền định."

Tôi viết bài thơ:

*Nhiều đệ tử thiện thệ đến gặp tôi
Tôi như trong cảnh mộng khai thị cho từng người
Người phạm lỗi bị khóa ở bên ngoài
Tôi liền trao cho một đóa sen
Để các bạn bay vào hư không an trú*

*Buông bỏ yêu ghét
Lòng oán hận hại mình lại hại người
Hãy nhớ kỹ nhớ kỹ
Đừng khởi vọng niệm điên đảo
Hãy tương ứng hòa nhập với ánh sáng
Tất cả sẽ càng thêm hoàn mỹ
Đời này hoàn toàn không phụ lòng.*


### 32. Ngôi nhà hoa lệ trên trời


Trong lúc ẩn cư tại hồ Diệp Tử, nhập tam muội, tôi đến một cảnh giới.
Nơi đây ánh sáng lành khắp nơi, thực sự là muôn điềm lành, hư không thanh tịnh không chướng ngại, gió thơm nhè nhẹ thổi đầy tay áo, nhìn lại mình, thiên y trong suốt, ánh vàng lấp lánh, trong tầm mắt toàn là:
Cây ni-câu-luật kết trái vàng.
Phong cảnh vô tận hoa không tàn.
Những đóa sen thơm điểm phòng ngọc.
Mã não san hô thiên thượng gia.

Mặt đất toàn là đất vàng, từ thiên giới vọng lại âm nhạc vi diệu, tôi nhìn thấy một tòa lâu đài tráng lệ, vô thức bước vào, quả thực đó là lầu phượng gác rồng, bên trong lâu đài rộng rãi sạch sẽ, vật quý báu được cất giữ, sữa đặc tự rót vào bát lưu ly, cam lộ đọng mãi trên đĩa ngọc bích.

Tôi bước vào đại sảnh, có một bảo tòa sen vàng, nhìn qua dường như quen thuộc nhưng lại không quen, tôi đưa tay chạm vào bảo tòa, trong lòng dâng lên một cảm xúc mãnh liệt.

Trong lòng có tiếng:
"Đừng trách về trễ, đừng trách về muộn."

Tôi kinh ngạc, đây chính là ngôi nhà đẹp trên cõi trời của tôi, tôi đã từng ở đây, bảo tòa sen vàng này là của tôi. (Sơn trang Cầu Vồng không thể sánh được.)
Tôi hỏi: "Những người hầu ở đây đâu?"
Họ lần lượt xuất hiện, có đến hàng trăm nghìn, từng thân thể vi diệu sáng ngời dần dần hiện ra.
Tôi hỏi: "Tôi đã đi bao lâu rồi?"
"Nghìn năm."
Tôi kinh ngạc đến không thốt nên lời.

Viết một bài kệ:
*Một gian nhà đẹp trên cõi trời
Nghìn năm xa cách bụi chẳng vương
Đi về chớp mắt thật nhanh chóng
Yêu ghét cõi trần nào có đâu.*

*Sớm nghĩ trở về chuyển tới đây
Nhưng gặp chướng ngại khó buông bỏ
Vì độ chúng sinh mới hạ phàm
Tâm niệm đền đáp duyên trần thế.*

*Nay ngộ duyên xưa không có gì
Sinh tử đâu còn chuyện diệt tan.*


### 33. Tranh đấu tranh giành


Trong thế giới Ta Bà của con người, tôi thấy đồ chơi của người lớn là danh vọng, tiền tài, tình ái, không thoát khỏi tranh đấu tranh giành. Và xuyên suốt lịch sử, khắp nơi trên thế giới, sóng gió không bao giờ ngừng nghỉ. Tôi nghĩ đến giới tôn giáo, thực tế cũng theo những trào lưu thế tục, tranh đấu tranh giành.

Khi tôi ẩn cư tại hồ Diệp Tử, trong lòng tôi cầu nguyện, để cho chính pháp bám rễ sâu, để cho hành giả kết trái sum suê, để cho thánh đệ tử tâm thêm rộng mở mà không cầu bất kỳ sự đáp trả nào. Đáp trả gì chứ? Đáp trả rốt cuộc cũng là không.

Thế gian vì kết quả của sự tranh đấu, đã có rất nhiều bão tố, rất nhiều bất bình đẳng, rất nhiều khủng hoảng, rất nhiều hãm hại, rất nhiều nghiệp báo, đó là nỗi đau và vết thương từ việc tranh đấu tranh giành mà có.

Khi tôi trở về cõi trời (trong tam muội), tôi cười thấy người đời quá thích thể hiện, như một lũ trẻ không hiểu chuyện, gây tổn thương và cãi vã.

Nhìn thấy sự thanh tịnh, vẻ đẹp, nhạc trời, hương thơm vi diệu, không ô nhiễm, quang minh của cõi trời, tôi cảm thấy thế gian quả thật đã sa đọa suy đồi.

Tranh tranh tranh.
Không không không.
Tranh cái gì? Rốt cuộc là không.
Vẫn chưa tỉnh ngộ sao?

Tôi viết: "Ẩn cư mới biết thế gian loạn, người đời tranh đấu đều là ngông, người mặc áo pháp cũng như vậy, chẳng bằng đạo đức một người phàm. Nhiều năm tu tập dần thanh tịnh, tránh né thế gian sống ẩn cư, ngày nào độ được người tu thật, không ngại trước tiên học bao dung. Bề ngoài tuy khác Phật vẫn đây, bế quan vốn cầu không mê muội, nhìn thấu người đời tranh tranh tranh, không tranh mới được hưởng ân Phật."

Thơ:
*Anh nói lỗi của tôi
Tôi nói lỗi của anh
Thị phi mãi như sóng triều
Không thể giải thoát mới là tai họa lớn của luân hồi.*

*Tôi tu vô tranh tam muội
Không người không ta không chúng sinh không thọ giả
Tự nhiên hạnh phúc
Mọi nơi đều không tranh
Tự xét về hành vi sẽ không đọa lạc.*


### 34. Đồ chơi chơi hay không chơi


Khi tôi ở hồ Diệp Tử, tôi nhận ra rằng đồ chơi thời thơ ấu là bi ve, dây thun, tú lơ khơ. Còn đồ chơi của người lớn là địa vị, tiền bạc, tình ái. Khi những món đồ chơi này đã chơi xong, cuộc đời cũng gần như kết thúc.
(Đi đời nhà ma rồi.)

Vấn đề tiếp theo là: "Chơi hay không chơi?"
Tôi đáp: 
"Chơi."
Rồi tôi nói:
"Chơi thì chơi, nhưng, chơi phải có quy tắc của nó, đó chính là "vô vi nhi vi" [làm không vì gì cả] của Lão Tử."

"Kinh Duy Ma Cật" nói: "Bản chất của các hành, tất thảy đều vô thường."
"Kinh Niết Bàn" nói: "Phật bảo Ca Diếp, các hành là thường, không có lẽ đó. Ông chỉ cần vô tâm trong tất cả mọi nơi, tức không có các hành, cũng không có vô hành, đó gọi là thọ ký."

Tôi nói:
"Chơi thì chơi, nhưng không nắm giữ không buông bỏ, có được địa vị cũng được, không có cũng được, có được tiền tài cũng được, không có cũng được, có được tình yêu nam nữ cũng được, không có cũng được, mọi thứ khác cũng như vậy."
Hỏi: 
"Tại sao lại như thế?"
Tôi đáp: 
"Rốt cục là không." 
Tôi lại nói: 
"Một ngày kia khi mọi duyên đều dứt, chẳng phải rốt cục là không sao, được mà cũng chưa từng được, hahaha!"

Tôi nói với mọi người, phải hiểu rõ bản thân, nếu hiểu rõ bản thân, tự nhiên sẽ giải thoát. Nếu không hiểu rõ bản thân, ngày ngày mải mê với đồ chơi, càng ngày càng xa rời đạo, làm sao có thể hợp nhất với đạo? Đừng để cuộc đời trôi qua vô ích, đến như thế nào, đi như thế nào, các bạn đã hiểu chưa?

Thơ:
*Danh vị là do biến hóa mà có
Tiền tài là do biến hóa mà có
Nam nữ là do biến hóa mà có*

*Được được được
Cũng mất mất mất
Điều đáng sợ nhất trong đời người là
Chơi đến quá mê muội*

*Tôi đã khám phá ra thực tại
Cũng khám phá ra thứ hoàn toàn không thực tại
Đi khắp thiên hạ mới ngộ ra sự tự nhiên tự tại.*


### 35. Phúc phần lớn nhất


Nghĩ lại việc bản thân ẩn cư bế quan tại hồ Diệp Tử, quả thực là một phúc phần lớn lao. Đặc biệt là khi biết được nhân duyên lớn của mình, biết được chính pháp của Như Lai, nhìn thấy kho báu của mình ở cõi trời, kho báu trong ngôi nhà hoa lệ trên trời của tôi, đầy đủ tất cả, không thiếu thứ gì, tự do sử dụng.

Sau khi đại ngộ, tôi lại xem tạp chí Forbes đăng tin về tỷ phú giàu nhất thế giới Bill Gates, rồi nhìn bảng xếp hạng những người siêu giàu trên thế giới, một trăm người giàu nhất thế giới, mười đại gia ở quê hương tôi, ví dụ như họ Thái, họ Vương, họ Trương, họ Cố, họ Lâm, v.v…

Ha ha ha, tôi cười vang một hồi, tôi không muốn nói gì cả.
Bởi vì cho dù là tài sản của Bill Gates thì cũng không sánh bằng một cái cây, một hạt quả, một bông hoa, hay một cọng cỏ nhỏ ở cõi trời.
Thế gian chỉ là cám bã. (nam nữ)
Thế gian chỉ là rác rưởi. (địa vị)
Thế gian chỉ là bụi bặm. (tiền bạc)

Phúc phần lớn nhất của tôi không phải là thứ có trong thế gian, không phải do tìm cầu từ bên ngoài, mà là do nhận ra "bản tâm tam muội" của chính mình, không do tri giác, tôi hân hoan vui sướng. Ngôi nhà hoa lệ trên trời làm sao thế gian có được? Trong ngôi nhà không ngăn ngại đó, toàn là thất trân bát bảo, không bụi không nhơ, đầy ắp ánh sáng chiếu rọi, hương thơm vi diệu lan tỏa, có hàng nghìn vạn thị giả, tôi chính là Đại Phúc Kim Cang!

Nếu bạn muốn tìm kiếm phúc phần lớn nhất.
Chỉ cần theo tôi tu hành mà thôi.

Thơ:

*Thực sự không thể diễn tả
Dù bạn có sở hữu cả trái đất
Hoặc là đấng cứu thế
Phúc phần lớn nhất
Hóa ra không cần tìm kiếm từ bên ngoài*

*Bạn vốn đã tự có
Chỉ cần dùng bàn tay mảnh mai chạm vào
Tất cả sẽ biến thành như cây đũa thần
Đá biến thành quả cầu vàng*

*Muốn gì có nấy
Điều không ngờ là
Ngay cả thời gian cũng có thể trôi ngược.*


### 36. Tam muội chẳng phải tam muội


Thu hoạch lớn nhất của việc bế quan có thể nói là "tam muội", nhưng, tam muội cũng chẳng phải tam muội, bạn hỏi tôi tam muội từ đâu mà có, tôi cũng không nói được, tam muội sẽ đi về đâu, tôi cũng mờ mịt khờ khạo, trong tam muội có chuyện gì, chẳng có chuyện gì cả, có tất cả, cũng chẳng có gì cả, cầu gì, lễ bái gì, tôi không biết ai là Lư Thắng Ngạn, Lư Thắng Ngạn lại là ai?

Trong tam muội, tôi trở nên ngây ngô hơn.
Trong tam muội, tôi trở nên vô dụng.
Trong tam muội, tôi trở nên không thể viết ra chữ nghĩa nữa.
Viết gì?
Viết như thế nào?
Không, không, không, mơ hồ, mơ hồ, mơ hồ.
Hỏi: "Thế nào là Phật?"
Đáp: "Nếu không phải Phật thì là ai?"

Cả đời này tôi học Đạo, Hiển giáo, Mật giáo. Học biết bao nhiêu pháp "cao như núi sâu như biển", đến khi đạt "tam muội" lại chẳng còn một pháp nào để độ người, việc độ chúng sinh hoàn toàn như thế, quả nhiên không có pháp nào để nói.

Phật nói: "Nói Như Lai có thuyết pháp, tức là phỉ báng Phật, người đó không hiểu nghĩa ta nói."
Phó Đại Sĩ thuyết pháp, lên pháp tọa, gõ một tiếng, đi xuống, nói xong rồi.
Ha ha ha!

Tôi nói: 
"Tôi học pháp nhiều vô số, học quá nhiều rồi, đến giờ, lại quên sạch tất cả, tam muội chẳng phải tam muội, pháp chẳng phải pháp."

Thơ:

*Chỉ là một ngọn nến
Nhớ về khoảnh khắc thắp lên ánh sáng nhỏ
Cháy hết rồi
Chỉ còn lại linh hồn của tro tàn*

*Tôi viết chữ
Chữ cũng sẽ qua đi
Cuối cùng biến thành cát bụi trần gian
Tôi ở trong tam muội
Cũng ở trong chẳng phải tam muội
Đón chào bình minh của mỗi ngày.*


### 37. Sống tạm qua ngày


Trong lúc ẩn cư tại hồ Diệp Tử, tôi nhập tam muội, rồi có một vị Hóa Phật đến hỏi:
"Liên Sinh Lư Thắng Ngạn, sao không nhập Niết Bàn? Sao không buông bỏ cái vỏ thân người này?"
Tôi đáp:
"Đợi."
"Đợi gì?"
"Đi một cách tự nhiên!" - Tôi thích sự tự nhiên hơn.
"Sao không tự làm chủ sinh tử, đi sớm để được nghỉ ngơi sớm?" - Hóa Phật hỏi.
Tôi đáp:
"Ăn của người một hạt gạo, vẫn còn chưa trả xong, không thể nói đi là đi được. Còn biết bao người đang nhớ tưởng đến tôi, tình nghĩa vẫn còn đó, nỗi nhớ thương vẫn còn sâu đậm."
"Trong thời gian này ngài sống kiểu gì?"
"Để lại một chút giáo pháp như thật nghĩa, báo đáp bốn ơn sâu."
Hóa Phật hỏi: 
"Thế nào là giáo pháp như thật nghĩa?"
Tôi đáp:
"Không tạo nghiệp sinh tử, cứ thẳng đường mà đi."
Hóa Phật nói:
"Ngài chỉ là sống tạm bợ!"
Tôi đáp: 
"Vốn không sinh, sao gọi là sống tạm bợ?"
Hóa Phật mỉm cười, rồi biến mất.

Tôi viết một bài thơ hiện đại:

*Những vần thơ viết nên là ánh sáng lấp lánh của tri giác
Tỏa sáng theo tình cảm của chúng sinh
Vẫn còn nguyện ước
Nguyện để lại một đời giáo pháp*

*Tôi biết sự thối nát của nhân gian
Tôi cũng biết tai ương chồng chất
Nhưng mong rằng giữa người với người không còn sự đè nén
Bạn có thể tìm thấy trong thân tâm mình*

*Con đường giải thoát mà tôi để lại
Hòa làm một với Đạo thì không còn chao đảo
Tôi vì các bạn mà tạm sống qua ngày
Giấc mộng tình nghĩa rất dài này
Khi bạn tỉnh giấc sẽ đạt được.*


### 38. Tam muội kỳ diệu


Tôi nói rằng tam muội thực sự quá kỳ diệu, nhất tâm bất loạn, thiền định, quá thần kỳ, cảm nhận của tôi thật khó diễn tả bằng lời, gần như trở thành điều không thể nói. Nếu bảo có bí quyết thì cũng có, nếu bảo thực sự có bí quyết thì cũng không, hãy nghe tôi nói: 

Giống như người mất ngủ cố gắng đi vào giấc ngủ, hầy, càng muốn ngủ, đầu óc càng mông lung suy nghĩ, càng không ngủ được, cố gắng bắt đầu óc đừng suy nghĩ nó lại càng suy nghĩ, kết quả là không ngủ được vẫn cứ là không ngủ được, vội cũng không vội được, càng vội càng không được.

Tam muội cũng như vậy, thực sự muốn nhất tâm bất loạn thì vọng niệm lại càng nhiều; muốn nó dừng niệm, vô niệm, nó hoàn toàn không nghe theo; không để ý thì còn đỡ, càng để ý càng rối loạn; vừa mới rời khỏi lông mày, lại xuất hiện trong tâm, niệm niệm niệm, vọng niệm cứ tuôn chảy không ngừng.
Như thác nước.
Như dòng suối.
Như sóng hồ.

Dừng dòng vọng niệm này, ai cũng hiểu, nhưng chẳng thể nào dừng được. Muốn không vướng bận điều gì, muốn không không không, hầy, không thể nào không được. Giáo pháp kinh luật luận có quá nhiều, Mật giáo dùng niệm để dừng niệm, tất cả chỉ là trên giấy mực văn tự, thiết lập những danh ngôn lời vàng, cái gọi là tam muội không gì khác ngoài không, trời ơi, chỉ là vướng mắc không dứt, không thể nào không. Hoàn toàn rơi vào không cũng không phải, rơi vào có cũng không phải, cần phải dùng trí tuệ, cần chú tâm vào ngay lúc này, điều ấy ai cũng nói được.

Tôi thẳng thắn nói, nếu bảo tôi dạy bạn nhập tam muội, tôi cũng không chắc bạn sẽ biết ngay sau khi tôi dạy. Tôi có thể nhập tam muội thực sự là do ba nguyên nhân:
1. Thân thể đã nửa chết. (vô dục)
2. Tâm đã thành tro. (vô tâm)
3. Ý đã hoàn toàn lạnh. (vô sự)

Tôi biết phương pháp của mình có thể có sai sót, nhưng dù sai vẫn có cái đúng của nó, cuối cùng đã nhập được vào tam muội kỳ diệu. Tất cả nghĩa đã thành, tất cả đã được viên mãn.

Thơ:

*Hái từng cánh hoa
Mỗi cánh hoa là một niệm tưởng
Dù có thực sự im lặng không nói
Tâm vẫn xao động*

*Nếu không sợ hãi và không quan tâm
Càng tự nhiên càng cảm nhận được.*


### 39. Đều vì tam muội này


Tam muội còn được gọi là tam ma đề, tam ma địa, tam muội địa, với ý nghĩa chân thật là "chính định". Đó chính là đưa tất cả vọng niệm về một mối, không tán loạn, rồi chuyển nhất niệm thành vô niệm. Theo tôi biết, khi nhập vào tam muội này có những ý nghĩa sau:
1. Thành tựu mọi việc làm.
2. Bình đẳng tính.
3. Diệu quan sát.
4. Đại viên kính.
5. Pháp giới thể tính.

Tôi cho rằng, tam vô lậu học: Giới, Định, Huệ - Giữ giới là để làm gì? Giữ giới chính là để định tâm. Trí huệ là để làm gì? Cũng vẫn là để định tâm, Giới và Huệ về căn bản đều là vì tam muội này (chính định).

Trong quá trình ẩn cư bế quan, sau khi nhập vào tam muội, tôi cảm nhận được:
1. Giải thoát - sinh tử cùng một đường, chỉ là thay một cái vỏ mà thôi.
2. Ly thế - nhập thế và xuất thế là như nhau, tất cả cảnh giới đều do một tâm tạo ra.
3. Diệt tướng - ngay cả tướng vô sinh tử cũng không có, chẳng phải có chẳng phải không.

Tôi nhận ra sau khi nhập vào tam muội, nói có biến đổi thì cũng có biến đổi, nói không biến đổi thì cũng không biến đổi. Tóm lại, thực sự không thể đo lường, không thể nghĩ bàn. Ví dụ, tôi vì đoạn trừ phiền não mà tu hành nhập tam muội, nhưng vì cứu độ chúng sinh nên không đoạn phiền não, đây chính là sự cứu độ bình đẳng của "đại bi xiển đề" [chỉ bậc Bồ Tát với lòng từ bi vô tận]. Không thể giải thích rõ ràng được, đây là vì cái gì? Là để dạy mọi người đi con đường này.

Viết một bài thơ:

*Tất cả đều vì tam muội này
Tôi tinh tấn nếm trải quả của trí huệ
Quả này vô thượng không gì sánh bằng
Cao nhất của ý phong phú vô tận.*

*Chưa từng nghĩ đến hội Linh Sơn
Diệu pháp của Như Lai
Trong tam muội
Sẽ quay về bên cạnh bạn*

*Ba thời như một
Hóa ra là trí huệ lớn lao được thẳng thắn bày tỏ không giấu giếm.*


### 40. Khí mạch minh điểm


Các tông phái Hiển giáo thông thường, vì hiểu biết mơ hồ về khí, mạch, minh điểm của Mật giáo, cho nên phát sinh nhiều lời chỉ trích khắp nơi. Có người nói đó là pháp tu ngoại đạo, có người nói đó là đạo thần tiên, có người nói giống như đạo trường sinh, thậm chí còn nói thẳng là tà pháp. (tà giáo)

Trước đây có người hỏi tôi:
"Khí, mạch, minh điểm có phải là Phật không?"
"Khí là khí, mạch là mạch, minh điểm là minh điểm, Phật là Phật." - Tôi đáp.
"Nếu vậy thì có hai, có ba, có bốn."
"Nhưng, hợp lại thì là một." - Tôi đáp.
"Khí, mạch, minh điểm, nhiều người nói đó là tà!" - Người đó nói.
Tôi trả lời:
"Anh nghe cho rõ đây, tâm nếu chạy theo vật là tà, vật nếu thuận theo tâm là chính."

Tôi thực sự thẳng thắn nói với anh ấy:
"Khi ăn cơm, nếu bạn dùng cúng dường, dùng siêu độ, dùng dưỡng thân, đó tức là chính. Khi ngủ, nếu bạn dùng quang minh, dùng giải thoát, dùng thanh tịnh, đó tức là chính. Chính và tà là như vậy đó, vậy thì khí mạch minh điểm có phải là tà không?"
Đối phương đã hiểu ra.

Những người chỉ trích khí, mạch, minh điểm là tà chính là không hiểu được "dụng ý" của khí, mạch, minh điểm, nếu xuất phát từ tâm, thì chính là Phật.

Tôi viết một bài thơ:

*Đèn đương nhiên không phải là ánh sáng
Nhưng khi điện được kết nối
Nó sẽ rực rỡ huy hoàng*

*Khí mạch minh điểm không phải là Phật
Nhưng khi đã chuyên cần
Sẽ trở thành ánh hào quang của cõi Phật thanh tịnh*

*Chúng ta không phải nhìn đàn ngỗng bay qua bầu trời
Mà là lắng nghe đôi cánh của tư tưởng
Lư Thắng Ngạn chỉ là một con sâu nhỏ
Đúng thực là như vậy
Nhưng sẽ hóa thành bướm lượn bay.*


### 41. Thoát khổ được vui


Tất cả pháp môn lấy tam muội làm trọng, tất cả hành môn lấy thanh tịnh làm trọng, sự nương tựa cuối cùng lấy tịnh thổ làm trọng. Đây là ba điều trọng yếu mà tôi đã thể hội được, quan trọng lắm, quan trọng lắm.

Vì vậy, niệm Phật đạt đến tịnh tâm, minh tâm; tu pháp đạt đến tam muội, hiện tại và tương lai nhất định sẽ thấy Phật; thân khẩu ý thanh tịnh, đó chính là tam mật của Mật giáo. Thân khẩu ý thanh tịnh tức là tương ứng với tất cả Như Lai, nhận được sự gia trì thần biến của Như Lai.
Pháp lực.
Thần thông.
Biến hóa.
Hoàn toàn hợp nhất với Như Lai.

Cá nhân tôi cảm thấy, thể xác máu thịt trong cuộc đời này dần bị đánh bại bởi tuổi già, bị bức bách bởi nóng lạnh, tứ đại khó điều hòa, sinh nhiều bệnh tật, đây là điều tôi sợ nhất, tôi thực sự sợ nhất là nỗi khổ vì bệnh.

Đặc biệt từ xưa đến nay, người sống đến bảy mươi tuổi đã là hiếm, cho dù sống thọ thì cũng già đi, vô thường nhanh chóng, tuổi thọ không kéo dài, đây là nỗi khổ của cái chết. Con người nhất định sẽ chết, có sinh tất có tử.

Hơn nữa, trong cuộc sống có đến tám chín phần không như ý, tình thân yêu thương, hễ có yêu thương ắt phải chia ly, nỗi khổ vì xa cách cũng là điều sầu muộn. Lại còn kẻ thù, mối hận, hễ có oán thù ắt sẽ gặp nhau, gây tổn hại lẫn nhau, đó càng là nỗi khổ lớn thay!

Tôi khuyên mọi người hãy học Phật đi! Đến được thế giới Cực Lạc sẽ là phúc lớn:
Hóa sinh từ hoa sen, không có khổ vì sinh.
Thân thể trong sạch thơm tho, không có khổ vì già và bệnh.
Cực lạc không thối chuyển, không có khổ vì chết.
Thánh hiền là bạn thân, không có khổ vì gặp gỡ kẻ oán ghét.
Đất bằng vàng ròng, cây báu cao vút, lâu đài làm bằng bảy báu, hoa nở bảy sắc, vẻ đẹp của cõi Cực Lạc không thể nào kể xiết...

Tôi nguyện chúng sinh thoát khổ được vui. Viết một bài thơ ngắn:

*Hóa sinh từ hoa sen là niềm hạnh phúc lớn nhất
Liệu trên đời có điều gì kỳ diệu hơn thế không
Tương ứng với Như Lai
Gắn bó không rời, đừng nghi ngờ*

*Cái vỏ con người rốt cuộc là gì
Hãy thử buông bỏ nó đi
Chỉ cần học được tam muội địa
Đó chính là ý nghĩa đích thực của linh hồn.*


### 42. Ai không phải là lữ khách tha hương


Ở Tahiti, tôi là một người ngoại quốc chính hiệu, người bản địa chính là thổ dân, thật ra họ cũng thuộc nhiều bộ tộc khác nhau. Có một chuyện kỳ lạ, đến nay vẫn khiến tôi rất bối rối.

Tôi ở New Zealand, hỏi người Maori: 
"Các bạn đến từ đâu?"
Người Maori đáp: 
"Tahiti."
Tôi ở Tahiti hỏi thổ dân: 
"Các bạn có phải là người Maori không?"
Họ đáp: 
"Không phải."
Tôi hoang mang.

Tahiti là thuộc địa của Pháp, có người Pháp, họa sĩ Gauguin là người Pháp. Còn có khoảng một phần mười là người Hoa từ vùng duyên hải Trung Quốc đại lục đến Tahiti để đốn mía đường, rồi trở thành những người nhập cư định cư tại đây, tôi nhìn thấy có hiệu thuốc Đông y, quả thực bốn biển đều là anh em.

Tôi hỏi thổ dân Tahiti: 
"Các bạn đến từ đâu?"
"Trời là cha, đất là mẹ, khi trời nhớ đất thì mưa sẽ rơi xuống."
(Người thổ dân tự cho rằng họ do trời đất tạo ra.)

Tahiti có một hiện tượng kỳ lạ, phía Đông núi mưa thì phía Tây núi nắng, chỉ cần mây tụ lại, mưa liền trút xuống, ra khỏi nhà mang theo đồ che mưa là điều cần thiết.

Người Pháp, người Hoa, thổ dân, ai không phải là lữ khách tha hương?

Tổ sư Mã Minh nói: 
"Cái gọi là người, chính là tâm của chúng sinh, nên tất cả con người đều sinh ra. Nếu tâm không sinh thì người không từ đâu sinh ra, cũng không có tên gọi, người mê không biết Pháp thân."
Tôi nói: 
"Pháp thân không có hình tướng, tùy vật mà hiện hình, ai không phải là người lữ khách tha hương?"
Họa sĩ Gauguin hỏi:
"Sinh từ đâu đến? Chết về nơi nào? Tôi cuối cùng là ai?"

Tôi viết một bài thơ:

*Trong khoảnh khắc tĩnh lặng nhất của tam muội
Tôi, người hành giả này
Đang tìm hiểu cuối cùng là gì*

*Chúng ta đến đây làm gì
Những lữ khách tha hương này
Ăn uống ngủ nghỉ
Làm việc
Rồi cứ thế già đi
Mọi người gặp nhau chỉ có một câu: "Xin chào".*


### 43. Sự quan trọng của cân bằng


Đối với những đạo lý lớn trong cuộc sống, sau nhiều năm tu tập, tôi cảm thấy sự cân bằng quả thật rất quan trọng. Người học Phật quá chấp vào việc tinh tấn thì không đúng, nhưng buông thả, lười biếng cũng không đúng. Làm sao để cân bằng? Đây là một môn học lớn, cần tự mình nắm bắt.

Tôi nói, khi Đức Phật vừa đắc đạo, thiên ma liền khuyên Ngài nhập Niết Bàn. Nếu Phật Đà không truyền pháp mà lập tức nhập Niết Bàn, chẳng phải mọi trí huệ, Phật huệ đều không còn nữa sao? Thật quá hư ảo!

Đối với bản thân tôi, đời này tôi quá nặng tình cảm, và tình cảm cũng kéo lùi tôi cả đời này. Không nỡ buông bỏ một chúng sinh nào, chân tình chân nghĩa, như vậy không khỏi đắm chìm trong đó, không phân biệt thiện ác, rất dễ bị người ta lừa, cũng rất dễ bị người ta sỉ nhục. Vậy bạn còn có tình với chúng sinh không?

Người nặng về dục vọng thì căn cơ nông cạn.
Người hoàn toàn không có dục vọng thì chẳng muốn độ chúng sinh.
Người tranh giành qua lại thì quá thế tục đáng ghét.
Người có trí tuệ cao, phúc phần dày thì quá kiêu ngạo tự mãn.
Người chấp vào không thì quá hư ảo.
Người chấp vào có thì quá chìm đắm.
Khổ hạnh cũng là quá chấp.
Người lìa tâm mà cầu pháp là chấp pháp quá mức.

Tình cảm và giới pháp thường đối chọi lẫn nhau, xung khắc lẫn nhau. Quá nặng tình cảm thì tổn hại giới pháp, giữ giới pháp thì lại tổn hại tình cảm. Sự lựa chọn cuối cùng của tôi, chỉ có cống hiến, chỉ có hy sinh, chỉ có trách nhiệm, chỉ có cho đi, điều này thật sự làm khổ tôi! Tình cảm không thể ngăn cản!

Tôi viết một bài thơ:

*Nên lải nhải không ngừng hay giữ im lặng
Nên lạc quan hay đau buồn
Nên phiêu bạt rồi ra đi
Hay nên hoằng pháp mở rộng tông phái*

*Nên đứng ở tuyến đầu
Hay nên ẩn mình sau hậu trường
Tôi nên coi trọng tình cảm
Hay tôi nên coi trọng giới luật
Làm sao đây làm sao đây
Để tôi được an lòng
Giới luật của chúng ta phải chăng quá lỏng lẻo.*


### 44. Tâm cũng đang phiêu bạt


Tôi biết, thân thể con người phiêu bạt, mà tâm cũng đang phiêu bạt. Ví dụ tôi nói: "Thân tôi ở hồ Diệp Tử, nhưng tâm tôi ở Seattle, đó chẳng phải là sự phiêu bạt của tâm hay sao?"

Tôi có rất nhiều hoài niệm và ký ức, những cuộc hội ngộ rồi chia ly, thậm chí không bao giờ có thể gặp lại, chẳng phải tâm cũng đang phiêu bạt sao?

Sự phiêu bạt của thân xác còn có thể chịu đựng được, nhưng sự phiêu bạt của tâm giống như đang chịu tang cha mẹ vậy, thực sự muốn hướng lên trời, nhìn xuống đất, và khóc thật to một trận ...

Từng có đệ tử hỏi tôi: 
"Đệ tử mỗi khi ngồi thiền, tâm ý xao động, không thể nhập tam muội, không biết phải làm sao?"
Tôi đáp: 
"Đây cũng là bệnh của tôi, tâm cứ phiêu bạt không ngừng. Cuối cùng tôi không sợ hãi, không quan tâm, cứ để nó đi!" (Làm một người vô sự.)

Ngoài ra, tôi đọc kinh sách, thấy Thượng tọa Tĩnh của chùa Quốc Thanh núi Thiên Thai nói: "Nếu khi tĩnh tọa, tâm niệm rối loạn, hãy truy tìm tận gốc rễ của tâm rối loạn đó, truy tìm đến tận cùng không còn chỗ nào thì những tư tưởng rối loạn tự nhiên sẽ không còn tồn tại. Tâm truy cứu có thể tìm ra tâm ở đâu? Trí tuệ chiếu soi vốn không, cảnh theo duyên cũng vắng lặng, vắng lặng mà không phải vắng lặng, vì không có người làm vắng lặng, chiếu soi mà không phải chiếu soi, vì không có cảnh được chiếu soi, cảnh và trí đều vắng lặng, tâm tự nhiên an ổn."

Bài kệ của Thượng tọa Tiểu Tĩnh:

*Người huyễn sinh huyễn, huyễn bủa vây.
Nghiệp huyễn chiêu cảm, huyễn trị liệu.
Không hiểu huyễn sinh, bao huyễn khổ.
Tỉnh biết như huyễn, huyễn vô vi.*

Tôi viết một bài thơ:

*Nếu cứ mãi để tâm ở Seattle
Thân thể tôi sẽ trống rỗng
Còn quan tâm gì đến khổ hay không khổ*

*Có lúc tâm ở phương Đông
Có lúc tâm ở phương Tây
Có lúc tâm ở cõi Ta Bà
Có lúc tâm ở nơi Phật Tổ*

*Tôi trong cảnh giới tam muội
Để lại những điều vĩ đại cho các bạn
Để các bạn tự mình làm chủ. *


### 45. Nhớ về bước chân của cái chết


Trong hồi ức, có nhiều lần cái chết đã tiến đến gần. Kỷ niệm sâu đậm nhất chính là khi tôi còn trẻ, cùng với Thượng sư Liên Hỏa, Thượng sư Liên Đài, Lâm Bính Lân và những người khác đi du lịch ở Khẩn Đinh.

Tôi từng ở trên pháp tọa kể rằng: "Tôi xuống biển bơi, bơi hơi xa một chút, không ngờ có dòng chảy ngầm, không thể bơi vào bờ được, thủy triều ra sức kéo tôi ra biển. Lúc đó, tôi hoang mang rối loạn, tay chân đã dùng hết sức lực, bước chân của cái chết thực sự đã đến gần. Bất ngờ tôi chộp được một sợi dây thừng dưới đáy biển, đó là dây buộc thuyền, nhờ sợi dây đó mà tôi mới có thể từng bước kéo mình vào bờ."

Mỗi lần thủy triều kéo tôi.
Tôi nắm chặt dây thừng không buông.
Khi thủy triều rút.
Tôi vội vã tiến dần vào bờ.
Cuối cùng tôi đã được cứu, kiệt sức nằm trên bãi cát.

Nếu lần đó tôi chết, đã không còn Lư Thắng Ngạn này, cũng không có Chân Phật Tông, tất cả đều không còn, giữa sự sống và cái chết chỉ cách nhau một bước chân.

Đôi khi tôi nhớ lại những lần cái chết đến gần, nếu thật sự chết, tôi sẽ mang gông vào ngục, đến thành phố của những người chết oan, từ đó nghỉ ngơi một thời gian, không còn liên quan gì đến Chân Phật Tông, cũng không phải lên pháp tọa thuyết pháp, ngày đêm vội vã đi khắp thế giới, cũng không phải ẩn tu ở hồ Diệp Tử lúc tuổi già. Khổ sở nhập tam muội, khổ sở độ đệ tử.

Trời ơi! Đúng là vận, đúng là mệnh!
Nếu năm đó tôi chết đi, có thể nói là trống rỗng hoàn toàn, cũng coi như thảnh thơi nhỉ! Tất cả pháp đều không sinh.
Cho đến nay vẫn chưa chết, nhưng lại gánh vác huệ mạng của năm triệu đệ tử, nghĩ kỹ lại, cái gì gọi là dài, cái gì gọi là ngắn?

Viết một bài thơ:

*Cái chết giống như một cánh cửa
Sự bao la bên ngoài thật khó tưởng tượng
Sống mà chẳng có chút đầy đủ
Lại tự giam mình thật chặt*

*Quá bận rộn với việc truyền pháp giảng đạo
Quá nhiệt huyết sôi sục vượt qua từng khó khăn
Lại quên mất nỗi sợ hãi trong lòng người
Lòng người tàn nhẫn như thủy triều kéo bạn
Chi bằng sớm nghỉ ngơi một thời
Tất cả lại bắt đầu lại từ đầu.*


### 46. Hoa nở trong khoảnh khắc


Một sáng sớm, mở cửa sổ, tôi thấy một bông hoa nở rất rực rỡ, lòng vô cùng thích thú.

Đến chiều tối, khi đóng cửa sổ, tôi lại nhìn bông hoa đó, thấy sắc màu đã phai, không như buổi sáng, và có dấu hiệu của sự tàn úa, héo tàn thật nhanh!

Tại sao lại như vậy, chỉ trong một ngày mà đã có sự khác biệt? 
Tôi chợt tỉnh ngộ: "Hoa nở trong khoảnh khắc!". 
Tôi lẩm bẩm, hoa nở trong khoảnh khắc, chỉ trong khoảnh khắc mà thôi.

Tôi viết bài thơ "Hoa nở trong khoảnh khắc":

*Họ đã từng thù hận và giết hại lẫn nhau
Họ cũng đã từng quý trọng, yêu thương, ôm ấp, quan tâm và chăm sóc nhau
Chỉ trong một khoảnh khắc
Giống như giọt sương buổi sáng đã tan biến*

*Trong ký ức có quá nhiều chuyện tương tự như vậy
Những người bạn, người thân rất tốt rất thân thiết
Chỉ trong một khoảnh khắc
Đã từ bỏ và sỉ nhục lẫn nhau*

*Ngày và đêm chỉ trong một khoảnh khắc đã lướt qua
Bóng tối và ánh sáng cũng như vậy
Thiên đường và địa ngục cũng y như thế
Sự sống và cái chết rất nhanh chóng
Mê và ngộ
Nghĩ lại, con người thật sự quá mù quáng*

*Danh vọng, tiền tài, sắc dục nam nữ
Hoa nở trong khoảnh khắc
Tham sân si trong thân khẩu ý
Thanh tịnh và bất tịnh
Làm sao không tỉnh ngộ*

*Lòng tôi
Rất bình yên mở cửa sổ đóng cửa sổ
Tự biết mình nên đi con đường nào.*


### 47. Núi lớn trong tâm


Tôi nhập tam muội thiền định ở hồ Diệp Tử. Lần tam muội này, sau khi tôi tắm vào buổi tối, khoác một chiếc áo choàng rộng rãi, đối diện với một ngọn núi lớn bên ngoài cửa sổ, ngồi kiết già và nhập định một cách rất tự nhiên.

Trong cảnh giới thiền định, Hóa Phật hiện ra và hỏi:
"Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức, có đúng vậy không?"
Tôi đáp:
"Đúng vậy."
Hóa Phật chỉ vào ngọn núi lớn bên ngoài cửa sổ và hỏi tôi: 
"Ngọn núi lớn này cũng nằm trong tâm ngài sao?"
Tôi đáp:
"Đúng vậy."
Hóa Phật cười: 
"Hành giả phiêu bạt, lại đặt ngọn núi lớn trong tâm mình, điều này là do đâu vậy?"

Tôi biết mình đã bị Hóa Phật bắt bẻ, Ngài đang chế giễu tôi, đường đường là một bậc đại tu hành, vậy mà còn vướng mắc tình cảm luyến ái, để ngọn núi đè nặng tâm mình, nhất là một hành giả già như tôi, đã vượt qua được cảnh giới này từ lâu, chẳng phải là khiến chư Phật Bồ Tát cười đến rụng răng sao!
Tôi nói: 
"Tôi thua rồi!"

Hóa Phật dạy: 
"Nếu bàn về Phật pháp, tất cả đều hiện thành, không lấy không bỏ chính là đạo. Đừng để âm thanh, hương thơm làm động tâm."
Tôi thở dài: 
"Quả thật chỉ sai một li!"
Hóa Phật biến mất.

Sau khi ra khỏi tam muội, tôi viết một bài thơ nhỏ:

*Ngột ngạt không thở nổi là chính mình
Tự do tự tại cũng là chính mình
Nhưng bạn có biết không
Tôi cũng mong nhận được chút tin tức từ phương xa*

*Tôi hiểu ý nghĩa lời khai thị của Hóa Phật
Thế nhưng tiếng cười hạnh phúc của cuộc đời trong quá khứ
Cũng như tảng đá vững chắc
Đã trở thành ký ức vĩnh cửu không thể quên*

*Dù là quá khứ rất nhỏ nhoi
Nhưng lại hóa thành một ngọn núi cao vút
Cất giấu trong thẳm sâu của tâm hồn
Khiến cho tôi, người coi trọng tình cảm hơn tất cả, mãi mãi đời đời kiếp kiếp
Không thể dời đi.*


### 48. Hiện tượng của giới tự nhiên


Trong tam muội.
Lại có Hóa Phật đến thử thách tôi: 
"Có một vị thầy đã chiếm hết tất cả tài sản của đạo tràng, rồi phá bỏ luôn đạo tràng, khiến đệ tử trôi dạt khắp nơi, ngài sẽ làm gì?"
Tôi đáp:
"Tài sản đạo tràng cuối cùng cũng không có gì, đạo tràng không có tướng sinh diệt, đệ tử nên tự quan sát tâm mình, Tam Bảo là một thể, thường hiện trước mặt, không có gì phải lo lắng."
Hóa Phật lại nói: 
"Lại có một vị thầy đã lấy hết tiền xây chùa, rồi cũng không làm thầy nữa, đệ tử mất cả tiền lẫn nơi nương tựa, ngài sẽ làm gì?"
Tôi đáp:
"Đây không phải vấn đề, chùa có thể ở trong tâm mình, tất cả pháp không sinh, tất cả pháp không diệt, mất tiền mất chỗ, không chạy theo hình tướng thì sẽ hiểu ra, không được cũng không mất."
Hóa Phật lại nói: 
"Lại có một vị thầy đã lừa đảo nhiều tài sản của đệ tử Chân Phật, rồi trốn biệt, không thấy người, không thấy tiền, không thấy gì cả, ngài sẽ làm gì?"
Tôi đáp:
"Không có vấn đề gì!"
Hóa Phật nói:
"Ngài nói tất cả không có vấn đề, nhưng các đệ tử đang rối loạn, làm sao có thể không có vấn đề được?"
Tôi đáp:
"Đây là hiện tượng của giới tự nhiên, trên thế gian này, những vị thầy có thân khẩu ý không thanh tịnh vẫn còn nhiều, chuyện trộm cắp, lừa đảo, cướp đoạt vẫn thường xảy ra, giới tôn giáo cũng vậy. Là rồng hay là rắn đều có vảy của nó, chỉ có nhất tâm, khi những việc này xảy ra, đó là tự nhiên, nhưng các đệ tử vẫn phải giữ đạo tâm kiên cố, hướng về Phật đạo, không thay đổi chí nguyện mới đúng."
Hóa Phật hỏi:
"Khi xảy ra chuyện trộm cắp, lừa đảo, cướp đoạt, ngài có phiền não không?"
Tôi đáp:
"Chân không không ngăn ngại, mọi sự sinh diệt trong thế gian, không có nghĩa gì là được, không có nghĩa gì là mất, thầy vô tri, nên vẫn không có vấn đề gì!"

Tôi viết một bài thơ:

*Thế giới này như cơn bão dữ dội
Nhờ cơn bão này mà biết được sự kiên cố của tâm
Trong tâm vẫn còn Phật pháp tăng
Đệ tử như vậy mới có thể gọi là thánh*

*Thánh đệ tử ơi, thánh đệ tử
Nhìn thấu cảnh mộng của cuộc đời
Sinh tử đều như nhau
Được mất đều như nhau
Như Lai có đầy đủ tất cả trí huệ.*


### 49. Đừng lãng phí thời gian


Một ngày của mỗi chúng ta đều khá giống nhau: thức dậy vào buổi sáng, đánh răng rửa mặt, ăn sáng, đi làm, ăn trưa, làm việc, tan làm về nhà ăn tối, thư giãn xem tivi hoặc làm việc khác, tắm rửa, đi ngủ. Thực ra, mỗi người có thể có cuộc sống khác nhau, nhưng nhìn chung đều tương tự.

Cuộc sống của người bình thường là như vậy. Nếu là cư sĩ học Phật tại gia thì có thêm tụng kinh, niệm chú, tu tập, một ngày sẽ trôi qua rất nhanh. Cũng có nhiều người rất bận rộn, bận đến nỗi không thể sắp xếp thời gian để tu tập.

Doanh nhân và người đi làm có lối sống khác nhau, tuy nhiên doanh nhân cũng không được rảnh, có người bận quản lý cửa hàng, có người bận đàm phán kinh doanh, có người bận với dây chuyền sản xuất, có người là "người bay" thường xuyên di chuyển khắp thế giới, cũng bận đến choáng váng.

Sĩ, nông, công, thương,... mỗi người đều bận việc riêng, có được một khoảng thời gian ngắn để nghỉ ngơi, thư giãn hoặc đi du lịch đã là quý giá và hiếm có.

Mọi người nghĩ rằng các tu sĩ trong chùa là nhàn nhất, nhưng thực ra không phải vậy, công phu sáng, công phu tối, cúng Ngọ, Phật sự, tạp vụ, công việc cũng rất nhiều, có nhiều việc để bận rộn lắm! Thời gian trôi nhanh, một ngày lại qua đi, bốn mùa trong năm, thời gian một khi đã trôi qua, chú tiểu cũng trở thành vị hòa thượng già.
Tôi thường khuyên người khác: "Đừng lãng phí thời gian!"
Thế nào là "đừng lãng phí thời gian"? 
Tôi hỏi.

Có lẽ nhiều người không trả lời được. Ngày nào cũng trôi qua giống nhau, mặc quần áo, ăn uống, đi, đứng, ngồi, nằm, thế nào là "đừng lãng phí thời gian"?

Tôi nói, hãy làm mỗi việc một cách vừa đủ, tức là làm tốt từng việc nhỏ, đó chính là không lãng phí thời gian.
Giữ thời gian, giữ bổn phận, giữ tiết độ, đó là không lãng phí thời gian.
Lệch giờ, mất bổn phận, mất tiết độ, đó là lãng phí thời gian.

Tôi viết một bài thơ nhỏ:

*Không cần than khóc
Ai ai cũng sống ngày tháng như nhau
Không được không mất không dài không ngắn
Không ai có thể thực sự giữ thời gian lại
Chỉ nằm ở chỗ tâm có giải thoát hay không
Chỉ nằm ở chỗ có đi đúng trên đạo bồ đề hay không
Đó chính là không lãng phí thời gian.*


### 50. Một hạt cát nhỏ bé


Phi hành gia đi tàu vũ trụ lên không gian, cảm nhận vũ trụ bao la vô tận, vô cùng tĩnh lặng. Nhìn lại Trái Đất, thật sự rất đẹp, như một quả cầu lơ lửng trong không gian. Phi hành gia gửi hình ảnh về Trái Đất, giúp chúng ta thấy được bộ mặt thật của địa cầu này.

Tôi từng nghĩ như thế này: nếu tàu vũ trụ bay xa hơn một chút và nhìn lại Trái Đất, hành tinh của chúng ta sẽ chỉ còn như một ngôi sao, giống như cách chúng ta nhìn Sao Hỏa. Khi Sao Hỏa ở gần Trái Đất nhất, nó chỉ là một ngôi sao. Ngược lại, nếu nhìn từ Sao Hỏa, Trái Đất cũng chỉ là một ngôi sao mà thôi.

Tôi lại nghĩ tiếp, nếu tàu vũ trụ bay xa hơn cả Sao Hỏa và nhìn lại Trái Đất, có lẽ hành tinh của chúng ta sẽ chỉ còn nhỏ như một hạt cát. Nghĩ đến đây, tôi cảm thấy vô cùng mơ hồ.

Giáo chủ Phật giáo Thích Ca Mâu Ni Phật đã dạy từ 2600 năm trước rằng, vũ trụ lớn đến vô biên, vũ trụ nhỏ đến mức mắt không thể thấy được, trong một cốc nước có tám vạn bốn nghìn vi sinh vật (vi khuẩn).

Đức Phật dạy: "Trong cõi Phật mười phương, chỉ có một cỗ xe duy nhất là pháp của Phật [Nhất Phật Thừa], không hai cũng không ba [không có Thanh Văn thừa, Duyên Giác thừa, Bồ Tát thừa] ngoài giáo pháp phương tiện Phật nói thì chỉ là dùng danh từ giả để dẫn dắt chúng sinh." [Lời Phật dạy trong Kinh Pháp Hoa]

Trong tam muội, tôi biết rằng Trái Đất chỉ là một hạt cát bé nhỏ, tôi còn có chỗ nào để cắm dùi, độ chúng sinh ở đâu; nếu Trái Đất chỉ là một hạt cát bé nhỏ, tôi ở nơi nào?

Tôi lại nhớ đến bài thơ về giấc mộng của Vương An Thạch:

*Biết đời như mộng vô sở cầu,
Vô sở cầu lòng tĩnh lặng không
Vẫn tựa trong mộng theo mộng cảnh
Thành tựu công đức tựa hà sa.*

Tôi viết thơ:

*Hạt cát nhỏ bé cần chi ồn ào
Hạt cát này chỉ đang bay lượn trong vô hạn
Mà con người là gì?
Một tâm hồn mơ hồ*

*Trong tam muội, cảm nhận cuộc đời ngắn ngủi
Trong tam muội, cảm ứng trời đất dài lâu
Còn giấc mộng là gì?
Chỉ là sự bận rộn ngây ngô vô ích
Nên tôi dạy người tu tập tam muội
Để tương ứng với ánh sáng vô hạn kia.*


### 51. Khi không có việc gì để làm


Tôi ẩn cư bế quan ở hồ Diệp Tử, có lẽ nhiều người nghĩ rằng tôi rất thong dong tự tại, nhưng nếu nghĩ như vậy thì sai rồi!

Tôi vẫn sống một cuộc sống có quy củ.
Tóc thì mỗi tuần tự cắt một lần, cứ mỗi tuần cắt một lần, nó đã dài như rơm rạ, nếu không cắt thì chẳng khác gì người vô gia cư (người lang thang) trên đường phố. Đặc biệt là râu, nhất định phải cạo.
Móng tay cũng vậy, mỗi tuần cắt móng tay một lần.
Sàn nhà vì gió cát lớn, chỉ hai ba ngày không lau là đã bám bụi. Tấm bảng tôi viết phải lau mỗi ngày. Không lau thì đen kịt!
Quần áo tự giặt, áo quần bên ngoài một tuần giặt một lần, đồ lót thay hàng ngày, chất đống lên, đã thành một núi nhỏ.

Đun nước, ăn, mặc, ở, đi lại, tất cả đều tự làm. Điều đáng sợ nhất khi ẩn cư bế quan là bị bệnh, căn bệnh thật phiền toái, toàn thân khó chịu, chỉ cần lười biếng một chút là bản thân như biến thành người vô gia cư. Khi bệnh, tôi đành nhập định (tam muội nửa chết), thần hồn bay đi. Cơ thể tôi khi còn trẻ rất mạnh mẽ, những năm gần đây, có phần suy yếu, một ông lão 60, đúng thật vậy!

Nghe nói:
Tổ sư Tsongkhapa thường hay bệnh, hơn 50 tuổi đã ra đi.
Đại sư Không Hải, 62 tuổi đã ra đi.
Pháp sư Từ Hàng, 60 tuổi đã ra đi.
Còn bản thân tôi? Haha! Khi không còn việc gì để làm, đó là lúc nên ra đi. Mỗi ngày tu pháp, mỗi ngày kinh hành, mỗi ngày viết lách.
Có một ngày, không viết lách, không tu pháp, không kinh hành, thì tôi cũng sẽ ra đi! Giải thoát rồi!

Viết một bài thơ vậy!

*Khi không có việc gì để làm
Hãy nằm trong khoảng không
Trong tịch diệt vĩnh viễn không bị quấy rầy
Bước chân đi theo gió*

*Không cần lời ca tụng ngợi khen
Mọi người hãy niệm Phật một chút
Mọi thứ càng giản dị càng tốt
Vì trên đời không vật gì có thể hữu dụng
Khi không có việc gì để làm
Chỉ còn lại lời chào trân trọng trân trọng.*


### 52. Hương vị của bệnh khổ


Nghe nói, có một hộ lý trưởng ở bệnh viện lớn, anh ta đã quen với việc nghe bệnh nhân than khổ triền miên, kêu cha gọi mẹ đến nỗi chai lì, quen với cảnh bệnh nhân được đẩy vào đẩy ra, đã trở nên vô cảm với sự sống chết, hộ lý trưởng chỉ làm công việc chăm sóc hàng ngày, chỉ đi làm rồi về nhà.

Một ngày nọ, hộ lý trưởng bất ngờ phát hiện mình mắc bệnh, là ung thư, và đã ở giai đoạn cuối, chính anh ta trải qua quá trình hóa trị.
Bạn của hộ lý trưởng hỏi anh: 
"Tình trạng bệnh thế nào?"
Anh trả lời bằng tám chữ:
"Ngày dài cả năm, sống không bằng chết."

Thử nghĩ xem hương vị của bệnh khổ là gì? Tám chữ đó đã làm người ta rùng mình. Bản thân tôi đã từng trải qua "chứng nứt não", não chia thành tám mảnh, sau khi tứ đại phân ly, tôi cuối cùng đã hiểu tám chữ này, bệnh khổ không chỉ làm người ta rùng mình mà thực sự là sống không bằng chết!

Nghĩ xem, Trương Phi dũng mãnh đến thế, chỉ nghe đến chữ "bệnh", đã từ trên lưng ngựa ngã xuống!
Nghĩ xem, Đức Phật nhìn thấy sinh, lão, bệnh, tử, lòng tràn đầy ưu tư, đã xuất gia tìm kiếm chân lý, vượt thoát sinh tử niết bàn.

Thành thật mà nói, nếu Đức Phật còn e ngại sinh, lão, bệnh, tử thì làm sao tôi không sợ được? Tôi tu tập hàng ngày chính là để giải thoát khỏi sinh, lão, bệnh, tử!

Cuộc sống có những niềm vui dịu dàng, nhưng cũng có những nỗi đau khủng khiếp. Tôi đã trải qua ít niềm vui, nhưng lại kinh qua chuỗi dài những đau khổ. Tôi muốn giống như Đức Phật, giác ngộ chân lý, giải thoát bồ đề, về cõi Cực Lạc. Đây chính là bước ngoặt trong cuộc đời, đây chính là ý nghĩa của nhân sinh!

Tôi viết thơ:

*Hoàng hôn thật đẹp
Chỉ là bước chân của chiều tà đã gần
Tiếng quạ kêu
Quạ quạ quạ*

*Con người chỉ là một cái túi
Túi cần vứt bỏ thì vứt bỏ
Túi đã thủng
Thẻ không còn dùng được nữa*

*Phật muốn chúng ta tu tập pháp hỷ tam muội
Không sinh không tử.*


### 53. Người xuất gia chân chính


Ẩn cư bế quan ở hồ Diệp Tử nhiều năm, tôi thực sự giống như một người xuất gia rồi. Tôi đã xuất gia nhiều năm nhưng không cảm thấy mình xuất gia, những năm gần đây, tôi lại "xuất gia thật.

Hoàn toàn chán ngán những ứng đối thế tục, cũng không còn những hoạt động hoằng pháp quá mệt nhọc, một lòng chỉ cầu giải thoát sinh tử, tâm ý như gỗ mục tro tàn, mọi nhân duyên đều đã cắt đứt, tất cả thanh sắc đều gạt bỏ, không còn một người bạn nào, không giao thiệp với ai.

Nhìn thấy người đời vẫn còn bon chen theo danh lợi, tôi mỉm cười thản nhiên. Danh là gì? Lợi là gì? Chỉ là những hạt bụi trong mắt tôi mà thôi.

Khi nhìn thấy người ta mua bán cổ phiếu, bất động sản, nhà đất, vàng, kim cương, tôi thản nhiên.
Khi thấy người ta tranh giành làm tổng thống, thủ tướng, tổng giám đốc, chủ tịch hội đồng quản trị..., tôi bật cười.

Từ xưa đến nay, trong lịch sử đã không biết bao nhiêu vạn người tranh giành quyền lực, có ai thực sự đạt được đâu, cần gì phải khổ sở tham luyến không ngừng. Từ quốc gia lớn đến người dân thường, đến nay vẫn chưa thấy dừng lại, nghiệp tham của lòng người thật nặng nề quá.

Nếu hôm nay tôi không tu hành thì đợi đến khi nào?
Nếu hiện giờ tôi không về cõi tịnh thổ thì đợi đến khi nào?
Tôi còn có tâm gì nữa?
Tôi còn việc gì nữa?
Tất cả mọi việc trên thế gian này đã xa rời tôi rất xa, một cách tự nhiên đã nhạt nhòa, tôi đã tương ứng với cõi Phật tịnh thổ, nếu tôi không về cõi Phật tịnh thổ, e rằng sau này sẽ càng tốn công tốn sức, chịu đủ gian truân, chịu đủ sỉ nhục, vậy mà vẫn chưa chịu buông ư?

Tôi viết thơ:

*Tại sao vẫn còn ưu tư
Chỉ vì người đời vẫn tranh giành từng chút một
Tôi ghi nhớ tình nghĩa duyên trần
Cho nên khiêm nhường mà cống hiến*

*Các bạn cúng dường tôi quà tặng
Tôi không thể ra đi một cách ích kỷ
Vẫn luôn nhớ đến tên của các bạn
Mong sớm nghĩ đến việc xuất ly
Đến được bờ bên kia của cõi tịnh thổ
Trong làn gió thư thái của tiếng nhạc trời vi diệu
Tôi mới có thể ngưng dòng nước mắt của mình.*


### 54. Vạn sự tùy duyên là pháp an vui


Tôi ở trong tam muội.
Thấy chúng sinh đau khổ vô tận, lòng muốn cứu độ, nhưng lại cảm thấy bất lực, không biết phải làm sao, buồn rơi nước mắt, nỗi khổ này cũng khó có thể diễn tả được.

Đi một chuyến đến bệnh viện, thấy bệnh nhân kêu gào thảm thiết, tám vạn bốn nghìn loại bệnh, người nào cũng yếu ớt kiệt sức, chóng mặt hoa mắt, ăn không biết mùi vị, đi lại khó khăn, trằn trọc khó ngủ, trong phòng mổ máu me bắn tung tóe, thật sự là cảnh tượng không nỡ nhìn.

Thấy rất nhiều người già cao tuổi bước đi khó khăn, thậm chí có người ngồi xe lăn, người ở bên bờ cái chết thoi thóp thở, mọi cử động đều phải nhờ người phục vụ, thậm chí tắm rửa, đi vệ sinh đều phải có người nâng đỡ, gương mặt đầy vẻ bất lực. Tôi thấy vậy, vô cùng đau lòng.

Lại thấy nhiều người khuyết tật, người tứ chi không lành lặn, người mù, người điếc, người câm, người hen suyễn, người không nuốt được thức ăn, người nóng lạnh thất thường, người yếu ớt không chịu nổi gió, người nghèo khổ lầm than, người không có chỗ ăn ở. Tôi thấy vậy, đau buồn tột cùng.

Thảm hơn nữa là những người chết trận, chết do bị ném bom, chết do động đất, chết đuối, chết cháy, chết trong giá rét, chết vì nóng, chết vì lạnh, chết vì bị sát hại, chết vì súng đạn, chết vì dao chém, chết vì thuốc độc, chết vì tai nạn xe cộ, chết vì tự sát, chết vì bị cắn, chết vì dịch bệnh, đủ loại cái chết khác nhau, xác chất thành núi, máu chảy thành sông, thật là thảm khốc vô cùng!

Tôi còn thấy người đời trộm cắp, bắt cóc, cướp giật, lừa gạt, gây thương tích, phỉ báng, giết chóc, dâm loạn, nói dối, tranh giành. Lòng tôi như bị kim châm, nhưng tôi cũng bất lực.

Tôi không thể cứu được.
Tôi khuyên cũng không được.
Tay tôi đã mềm nhũn.
Tôi hỏi Hóa Phật: 
"Cõi Ta Bà này, ai ai cũng khổ, phải làm sao đây?"
Hóa Phật đáp: 
"Vạn sự tùy duyên là pháp an vui!"

Thơ:

*Hãy để tôi hóa thành thuốc vạn linh
Tùy bệnh cho thuốc
Dâng hiến cho người
Mang lại niềm vui cho tất cả mọi người*

*Hóa Phật nói vạn sự tùy duyên là pháp an vui
Thế giới kham nhẫn cần phải kham nhẫn
Đây là tâm yếu của Phật pháp.*

[kham nhẫn: khả năng chịu đựng và nhẫn nại trước mọi nghịch cảnh với tâm thái bình thản]


### 55. Minh cái tâm gì


Có người hỏi: "Chân Phật Tông dạy người minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử, không biết Sư Tôn giảng minh tâm là minh cái tâm gì?"

Thành thật mà nói, "minh tâm kiến tính" này, rất nhiều Tổ sư đều không nói rõ, nói ra thì trở thành "tăng thượng mạn nhân" [người có tâm kiêu mạn, tự cho mình đã đạt đến cảnh giới tu hành cao siêu dù thực tế chưa đạt được]. Lại nói ra rồi cũng chưa chắc người đời hiểu được, phải trải qua một phen rèn luyện mới có thể hiểu được.

Vì thế:
Thiền sư Ẩn Sơn đến chết cũng không chịu gặp người.
Hòa thượng Triệu Châu Hòa đến chết không thể nói với người.
Thiền sư Đại Mai lấy lá sen làm áo.
Thạch Sương đặt gỗ khô ngồi nằm cùng người.
Thiền sư Đầu Tử thổi cơm cùng ăn với người.

Minh cái tâm gì? Kiến cái tính gì? Tôi xin bí mật dùng ẩn dụ mà nói với bạn: "Miệng có thể cảm giác vị, mắt có thể thấy sắc, tai nghe được âm thanh, mũi ngửi được hương thơm hay mùi hôi, tứ chi an nhàn hay không an nhàn, tất cả đều là tính. Muốn kiến tính, hãy bắt đầu từ đây."

Tôi lại nói: "Muốn minh tâm, cần biết rằng thân tâm hợp nhất, như cá với nước, căn bản chưa từng một chốc lát nào rời xa nhau, rời khỏi tâm mà đuổi theo vật chính là mê. Không mê vật mà có thể tự chủ tâm thì có thể minh tâm."
Tôi chỉ có thể nói đến đây thôi. Không thể nói tiếp nữa!

Có một bài kệ: 
"Đêm đêm ôm Phật ngủ, sớm sớm cùng thức dậy, đứng ngồi luôn cùng đi, cùng nói cùng yên lặng, muốn biết Phật ở đâu, chính âm thanh này đây."

Bạn hỏi tôi: "Minh cái tâm gì?"
Tôi đáp: "Ba tâm quá khứ, hiện tại, vị lai đều không thể đắc."

Viết một bài thơ:

*Cuộc đời trở nên phong phú hơn nhờ những trang viết của tôi
Vì mỗi bậc thánh đều có một tấm lòng vĩ đại
Dòng nước của tâm mãi mãi chảy róc rách
Đây chính là duyên và nhân*

*Hiểu là cái tâm gì
Người sở hữu tất cả nhưng không có tâm
Lại thích chế giễu
Người chẳng có gì
Chính người chẳng có gì này mới hiểu được tâm của mình.*


### 56. Cái đinh nhô ra


Trong thời gian tôi ở Trung Quốc Đại Lục, tôi thường nghe người ta nói không nên lọt vào bảng xếp hạng người giàu có. Nghe lời này lúc đầu khiến người ta ngạc nhiên, có nhiều tiền chẳng phải là tốt sao? Sau này suy nghĩ kỹ lại, quả nhiên có rất nhiều người giàu gặp phải rắc rối lớn. Những người bị xử tử, bị tống giam không phải là số ít.

Trong thời gian tôi ở Cầu Vồng Sơn Trang, có một đại gia giàu có hàng đầu Trung Quốc Đại Lục đến quy y với tôi, cầu xin tôi ban cho ông ta lời khuyên quý giá để thoát khỏi nghịch cảnh. Những phiền não của các đại gia Trung Quốc Đại Lục, hay thậm chí của các đại gia trên toàn thế giới đều gần như giống nhau.
1. Bị xử tử. (hoặc bị tống giam)
2. Vấn đề về thuế. (chủ nợ thuế hoặc trốn thuế lớn)
3. Vấn đề về hoa hồng. (mua bán tiền hối lộ)
4. Vấn đề về tiền biếu tặng. (móc nối lợi ích chính trị và thương nghiệp bị bại lộ)
5. Vấn đề về đầu tư. (chi tiêu không hợp pháp hoặc rút ruột)
6. Kiện tụng đặc biệt nhiều.
Và những vấn đề khác.

Lấy Bill Gates làm ví dụ, ông ta có vô số vụ kiện tụng đếm không xuể. Cả đời bị vướng vào kiện tụng, người giàu nhất thế giới cũng là người có nhiều vụ kiện nhất thế giới. Vì vậy người nghèo có nhiều phiền não, người giàu cũng có nhiều phiền não.

Đức Phật nói: "Tài vật là rắn độc."
Tôi nói: "Mặc áo ăn cơm, đi đứng ngồi nằm, đủ là tốt rồi. Ăn vào bụng, dùng được, mới thật sự là của mình."
Tôi nói: "Phần thừa ra chỉ để cho bạn ngắm nhìn, trò chơi tiền bạc biết đâu lại gây họa vào thân!"

Sau khi tôi bế quan ẩn cư, biết rằng không có một vật gì có thể đạt được, hôm nay có, ngày mai không, hoặc là chảy vào tay người khác. Trong thể tính bát nhã không tịch của Phật pháp, tất cả đều là vật huyễn hóa, người chết rồi rốt cuộc là không. Người đời sau lại đến tranh giành tài sản, có tranh giành cả nửa ngày thì cũng rốt cuộc là không.

Thơ:

*Người vinh hoa phú quý
Kiếp trước tích nhân lành
Nhân tốt quả ắt vinh
Nay thành phúc đức lớn
Nhưng cần quay đầu nghĩ
Trong quả phải gieo nhân
Như thêu hoa trên gấm
Lớp lớp đẹp vô cùng
Tu phúc cũng tu tuệ
Mới đắc chân thanh tịnh.*


### 57. Tầm thường và tự nhiên


Tôi đọc sách, rất thích thiền sư Chân Tịnh Vân Am Bảo Phong Khắc Văn ở Long Hưng Phủ.
Thiền sư hỏi tăng: "Hiểu chưa?"
Tăng đáp: "Chưa hiểu."
Thiền sư hỏi: "Ngươi ăn cháo chưa?"
Tăng đáp: "Rồi."
Thiền sư hỏi tăng: "Ngoài cửa là tiếng gì?"
Tăng đáp: "Tiếng mưa." (thanh)
Sư nói: "Vẫn chưa hiểu sao?" - Lại hỏi: "Trước mặt là gì?"
Tăng đáp: "Bình phong." (sắc)
Thiền sư nói: "Vẫn là chưa hiểu sao?" - Lại hỏi: "Có biết không?"
Tăng đáp: "Không hiểu."

Thiền sư liền dạy tăng một bài kệ:

Tùy duyên sự sự liễu.
Nhật dụng hà khiếm thiểu.
Nhất thiết đãn tầm thường.
Tự nhiên bất điên đảo.

[Tùy duyên hiểu mọi sự
Cuộc sống đã đủ đầy
Tất cả đều bình thường
Tự nhiên chẳng mê lầm.]

Tôi viết thơ:

*Mặt trời mọc phương Đông là bình thường
Mặt trời lặn núi Tây là tự nhiên
Ngày qua ngày trôi qua
Nào từng có việc đời vướng víu bận lòng*

*Bước chân hành đạo chỉ là tung bụi trần
Trước nay kinh hành chưa từng vội vã
Chỉ biết độ chúng sinh cũng như thế như thế
Mặt đất ngày ngày cỏ tự mọc*

*Tiếng gió tiếng mưa tự rõ ràng
Việc gì chưa từng hiểu
Bình thường tự nhiên chẳng điên đảo
Không để lại chút dấu vết
Chỉ cần tương ứng thì sẽ chẳng bao giờ thiếu thốn.*


### 58. Sự khai sáng về hàng phục độc long


Trong quá khứ, có năm trăm đại A La Hán vận dụng sáu đại thần thông lực đi hàng phục một con độc long lớn, không ngờ con độc long này thần thông quảng đại, nuốt mây phun sương, biến hóa muôn nghìn, không sợ bất cứ điều gì, sức mạnh thần thông của năm trăm đại A La Hán cũng bất lực trước độc long.

Đúng lúc này, ở Tây Thiên có một vị tiểu La Hán đến, pháp lực thần thông bình thường, chỉ một cái búng tay, con độc long lớn này liền ngoan ngoãn cúi đầu, hóa thành một con tiểu long, cho tiểu La Hán cưỡi, chỉ trong chớp mắt thăng thiên mà đi.

Năm trăm đại A La Hán vô cùng kinh ngạc. Đại La Hán với đại thần thông không hàng phục được, một tiểu La Hán chỉ một cái búng tay liền thu phục được, tại sao vậy? Trăm nghĩ nghìn suy vẫn không hiểu nổi?

Năm trăm đại A La Hán cùng nhau đến hỏi Phật: "Tại sao vậy?"
Phật đáp: "Duyên."

Phật nói, tiểu La Hán này với con độc long lớn có duyên phận sâu sắc, từ nhỏ đã chơi cùng nhau, độc long nghe lời người, người nghe lời độc long, hai bên không phân biệt, chỉ như vậy thôi!

Từ câu chuyện hàng phục độc long, tôi lĩnh ngộ được vấn đề về duyên. Làm cha mẹ, tại sao lại yêu thương con cái của mình, tại sao lại yêu quý cháu của mình? Thích hay không thích, vui hay không vui, giận hay không giận, yêu hay không yêu......
"Tất cả đều là một chữ duyên mà thôi!"

Hôm nay, tôi ẩn cư bế quan tại hồ Diệp Tử, hóa tình yêu nhỏ thành tình yêu lớn, vì độ chúng sinh mà chịu cực khổ lớn. Gánh vác duyên của năm triệu đệ tử, đây cũng chính là duyên, ngày ngày tâm tư lo cho sự an nguy của đệ tử, được độ hay không được độ? Cũng chính là duyên.

Viết một bài thơ:

*Muốn gắn đôi cánh lên thân mọi người
Để mọi người cùng tôi bay cao
Tu chân Phật tam muội
Vĩnh viễn chứng đắc thanh lương của tịnh thổ*

*Hoa sen không phân biệt màu sắc
Pháp lực thần thông biến hóa của tôi đều không mạnh hơn các bạn
Chỉ vì một chữ duyên
Bạn, tôi, họ đều như nhau*

*Tôi không có tên gọi khác
Thậm chí không phải tên gọi nào cả
Hoa sen nở tỏa hương thơm giống nhau.*


### 59. Mỗi ngày đều là sự tái sinh


Ẩn cư bế quan tại hồ Diệp Tử, mặc dù ngày ngày đều trôi qua bình thường, đặc biệt là cuộc sống đều đặn theo quy luật, lại càng không có cảm giác gì mới mẻ.

Nhưng, đó là một vấn đề về cảm nhận của "tâm", nếu coi mỗi sáng khi thức dậy, vừa mở mắt, như là một ngày mới được sinh ra, lần đầu gặp gỡ, thì cảm nhận đó sẽ khác. Ta phải nắm bắt tốt ngày hôm nay, phải trân trọng từng giây phút, phải sống thật sung mãn, ngày này chính là ngày tái sinh, ngày này chính là ngày tốt lành, chính là ngày hạnh phúc.

Người học Phật, ngày nào cũng là ngày tốt, ngày nào cũng tươi mới, ngày nào cũng là công đức, ngày nào cũng phải làm điều thiện, ngày nào cũng phải tu hành, ngày nào cũng phải linh nghiệm, ngày nào cũng phải tam muội, ngày nào cũng phải tương ứng, ngày nào cũng phải thanh tịnh, ngày nào cũng phải viết, ngày nào cũng phải kinh hành.

Sống một ngày, vui vẻ một ngày.
Sống một ngày, biết ơn một ngày.
Sống một ngày, viết một ngày.
Sống một ngày, tu hành một ngày.
(Đây là lời răn mình của cuộc sống ẩn cư bế quan của tôi.)

Có người nói, đọc "Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh" là linh nghiệm nhất, tôi cười, kinh chỉ là văn tự sách vở, đọc nó phải dùng tâm, nếu không dùng tâm thì "Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh" cũng không có cảm ứng.

Tôi đọc "Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh" đã thành thói quen, tâm tôi ở trên tâm của chư Phật Bồ Tát, tâm liền tâm, tự có thần thông cảm ứng. Các kinh cũng như vậy, các kinh không phải để cúng dường, mà là để dùng tâm thể ngộ.

Tôi viết một bài thơ:

*Cơm là để ăn
Cơm không phải để nhìn
Nhìn thì không bao giờ no
Ta cần ăn cơm*

*Phật pháp không phải để cúng dường
Phật pháp không phải để lễ bái
Phật pháp không phải là một hình thức
Mà là dùng tâm để tiếp xúc và thể ngộ
Dung hợp và tiêu hóa
Vào lúc phát huy tác dụng lớn
Chính là thù thắng và hòa hợp và cứu độ.*


### 60. Thần tự thông


Tại hồ Diệp Tử, tôi đã nhiều năm ít nói, trong lúc kinh hành nếu nhìn thấy người thì chỉ giơ tay lên, hoặc là gật đầu một cái mà thôi. Nếu người ta muốn hỏi chuyện tôi thì cũng không biết bắt đầu như thế nào, còn nếu tôi muốn nói chuyện với người ta thì cũng chẳng biết nói gì nữa.

Nhưng mà cứ như vậy, tôi sợ mình bị chứng tự kỷ, ẩn cư bế quan đã giống như tự kỷ rồi, lại còn không nói một lời nào, há chẳng phải là cô độc thành tật, Tự kỷ Như Lai, Cô độc Như Lai, cộng thêm Ngớ Ngẩn Như Lai, ha ha!

Rất may, khi tôi thiền định nhập tam muội, thần tính linh thông hoạt bát dị thường, mười phương pháp giới đều ở trong một tâm, thần tự thông này có thể xuyên qua sơn hà đại địa, một ngọn núi có thể xuyên vào xuyên ra, một dòng sông có thể nhập thủy xuất thủy, đến Chân Phật Mật Uyển, Cầu Vồng Sơn Trang v.v…, đi lại không trở ngại, trong sát-na, đến đi trong Phật quốc ba cõi chẳng để lại dấu tích.

Thần tự thông này đều là tác dụng lớn của tâm, túc mệnh, tha tâm, thiên nhãn, thiên nhĩ, thần túc, lậu tận đều có thể đắc được trong tam muội.

Kinh nói: "Phàm phu chấp tướng, không biết thần thông, cho nên tùy nghi mà nói. Tâm không có hình tướng, tức là sắc thân vi diệu, vô tướng tức là thực tướng, thực tướng thể không, đây chính là thân hư không vô biên, vạn hành trang nghiêm, cho nên gọi là công đức Pháp thân, chính Pháp thân này là cội nguồn của vạn hành, tùy theo tác dụng mà đặt tên, nói cho thật thì chỉ là Pháp thân thanh tịnh."

Tôi sẽ dùng thần tự thông này để tiêu diêu!
Tôi sẽ dùng thần tự thông này để độ chúng sinh!
Tôi sẽ dùng thần tự thông này để thuyết pháp ngữ!

Viết một bài thơ:

*Tâm thanh tịnh người đời khó mà hiểu được
Lại bàn về thần thông
Càng bị người đời ồn ào lăng nhục
Vì tôi vẫn còn trú trên một hạt cát*

*Pháp ngữ đã nói quá nhiều và mật độ dày đặc
Trước đây tôi như một con dế kêu không ngừng
Nay đã bước đến hoàng hôn cô độc
Chỉ là tự kỷ ngớ ngẩn mà thôi
Có gì hay để mà nói
Thế gian còn có gì thú vị
Tôi lại có việc gì để mà nói, việc gì có thể trói buộc mình.*


### 61. Tiêu một phần nghiệp chướng


Có người nói: "Tăng một phần trí tuệ, tiêu một phần nghiệp chướng."
Lại có người nói: "Mang nghiệp vãng sinh hay tiêu nghiệp vãng sinh."
Còn có người nói: "Một khi thấy Phật tính, nghiệp chướng tiêu tan hết."
Đức Phật nói: "Cuộc đời con người chính là để trả nghiệp."

Nghiệp là gì? Chính là tất cả mọi tư tưởng hành vi thiện ác của chúng ta, do nghiệp sinh ra quả thiện và quả ác, phàm phu có nghiệp nên trí biến thành thức, thánh nhân không có nghiệp nên thức chuyển thành trí. Tất cả những chướng ngại mà chúng ta phải chịu trong đời này đều là nghiệp chướng, cho nên tu hành chính là tiêu nghiệp chướng.

Đại sĩ Duy Ma nói:
Thân này như bóng ảnh.
Do nghiệp duyên mà sinh.

Có người từng hỏi tôi: "Có phải tăng một phần trí tuệ thì tiêu một phần nghiệp chướng không? Hay là một khi thấy Phật tính thì nghiệp chướng hoàn toàn tiêu tan?"
Tôi cho rằng như vầy: "Cả hai đều đúng".

Một, nghiệp chướng có thể tiêu dần, ví dụ như ngộ nhỏ thì tiêu nhỏ, ngộ lớn thì tiêu lớn, trí tuệ dần tăng, nghiệp chướng dần tiêu.
(Tiêu dần tập khí nhiều đời.)

Hai, nghiệp chướng tiêu tan hoàn toàn trong chốc lát, ví dụ như nghiệp nhiều đời, giống như cỏ dại mọc um tùm trên núi, nhưng khi gặp lửa trí tuệ, liền bị thiêu rụi hết trong chốc lát, giống như đốn ngộ vậy.

Lại như thấy chân như, tối tăm hóa quang minh, y áo nhơ bẩn trăm năm, sáng nay được thanh tịnh. Người đốn ngộ biết rằng, vô minh chính là bồ đề.

Làm sao biết nghiệp chướng đã tiêu diệt hoàn toàn? 
Tôi đáp: "Thân khẩu ý thanh tịnh, tam tế nhất như, hoành biến thập phương, liễu vô chướng ngại, là thế đó."

Thơ:

*Tại sao sinh ra trong cõi Ta Bà này
Chỉ vì đây là dòng sông nghiệp chướng rộng lớn
Bỗng nhiên nổi lên
Bỗng nhiên chìm xuống
Đây chính là nhân duyên của lục đạo luân hồi*

*Một lòng tu đạo muốn quay đầu
Thì phải trả nghiệp
Như Phật đã dạy tiêu nghiệp chướng
Tập khí nếu tiêu tan chân như sẽ hiện ra.*


### 62. Cái gì là Phật pháp


Nhớ lại khi tôi còn trẻ, khoảng hai mươi tuổi, tôi đến nhà cư sĩ Lý Bỉnh Nam (Tuyết Lư), hỏi ngài về Phật pháp. Lúc đó tôi đang cầm trên tay mấy quyển kinh, trong đó có một quyển chính là cuốn "Cái gì là Phật pháp" do tiến sĩ Trương Trừng Cơ viết.
(Tiến sĩ Trương Trừng Cơ là người dịch "Truyện Milarepa", lúc đó ông ở bang Pennsylvania, Mỹ.)

Lão cư sĩ Lý nhìn quyển sách của tiến sĩ Trương trên tay tôi, hỏi lại tôi: "Tôi muốn hỏi tiến sĩ Trương Trừng Cơ, Phật pháp là gì?"

Vào thời điểm đó, tôi không hiểu ý của lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam, ngây người đứng đó, không biết phải làm sao. Có thể nói là không hiểu, bối rối.

Bây giờ tôi nói cho mọi người biết, "Phật pháp là gì?" Tôi cho mọi người câu trả lời: "Cái gì là Phật pháp, tất cả mọi thứ đều là Phật pháp!"

Bây giờ tôi biết rằng Thiền, Tịnh, Mật, Luật [bốn dòng phái Phật giáo] đều là Phật pháp, không cần nghi ngờ, cái gì là chính, cái gì là tà, cái gì có thể tu, cái gì không thể tu.

Kinh nói: "Tâm, Phật, chúng sinh, ba cái này không có sự khác biệt."

Bất kỳ pháp môn nào đều không nằm ngoài nguồn tâm này, tâm này tuy không có hình tướng, nhưng ứng vật hiện hình, đại nghĩa của Phật pháp đều là như vậy......

Có người phê bình Mật giáo là tà, hoặc phê bình Thiền tông, hoặc phê bình Tịnh độ, hoặc phê bình Luật tông, đều là họ không hiểu "cái gì không phải là Phật pháp".

Câu "cái gì không phải là Phật pháp" chính là trí tuệ "nhất thiết trí". Bây giờ, bảo tôi nói thế nào?......

Tôi viết thơ vậy!

*Không cần tán dương hay ca tụng
Với bất kỳ ai bất kỳ việc gì đều im lặng
Bản thân tôi vốn dĩ đã thanh tịnh
Cuối cùng tôi đã biết
Căn bản không có đúng, cũng căn bản không có sai*

*Sự khác biệt giữa người và động vật
Toàn bộ nằm ở sự tạo tác của tâm
Nếu hoàn toàn không có tạo tác
Đó chính là giải thoát
Có lẽ bạn vẫn chưa hiểu những gì tôi nói
Nhưng mong rằng có một ngày lĩnh ngộ như vậy
Cuối cùng xuất hiện một khoảnh khắc ngọt ngào tương ứng.*


### 63. Bất động địa


Có một lần, trong khi nhập tam muội, tất cả đều không có kiến văn giác tri [tổng hợp cái thấy, cái nghe, cái cảm nhận và cái biết của sáu giác quan mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý tạo nên], không có ý niệm phân biệt, rời khỏi tất cả cảnh tướng, rời khỏi tất cả vọng niệm, rời khỏi tất cả chấp trước, lúc này vô lượng, vô tế, vô biên, tất cả Thanh Văn, Bích Chi Phật đều không thể đạt tới, rời khỏi tất cả ồn ào tranh chấp, tướng tịch diệt hiện tiền.

Điều này giống như lục thông đã đầy đủ, tâm tự tại như như, tu tam muội nhập diệt tận định, trong tam muội này, tâm cũng không, ký ức cũng không, suy tưởng cũng không, phân biệt cũng không, hoàn toàn là trạng thái dừng thở.

Đây chính là bất động địa.

Bất động địa là xả bỏ tất cả công dụng, nhưng làm tất cả "vô công dụng pháp", điều này nói thế nào nhỉ? Cũng tức là thân khẩu ý nghiệp niệm hoàn toàn dừng lại, nhưng, chỉ trụ ở "vô vi nhi vi" [làm mà không vì gì cả].

Ví dụ như thế này:
Trong giấc mơ, thấy đệ tử Chân Phật gặp tai nạn xe hơi, bạn kịp thời chìa tay ra, hóa giải tai nạn.
Trong giấc mơ, thấy đệ tử Chân Phật rơi xuống nước, bạn chìa tay cứu họ, hóa giải chết đuối.
Trong giấc mơ, thấy đệ tử Chân Phật đọa vào tam đồ, bạn kịp thời ngăn chặn, hóa giải sự sa đọa.
Trong giấc mơ, thấy đệ tử Chân Phật có tai ương đao thương, bạn kịp thời cứu họ, hóa giải nạn chết.

Trong tam muội, có đại dũng mãnh, có đại phương tiện, có đại từ bi, ra khỏi tam muội, bạn vẫn là bạn, tất cả mọi việc làm đều dừng, mọi công dụng như có như không, nói là có thì lại giống như không, nói là không thì lại giống như có.
Đây chính là bất động địa.

Viết một bài thơ:

*Dù vô biên vô tận như hư không
Tâm cũng tịch diệt như chẳng có
Lúc này bất động cũng không mong cầu
Nhưng vẫn còn một ngọn đèn
Toả dòng chảy ánh sáng*

*Bất động địa tuy bất động
Ý nghĩa thực sự chẳng phải sự im lặng như tờ
Mà là như có như không
Không nhất định phải có vận hành
Vô vi nhi vi chân đế ở trong đó
Ánh mặt trời chiếu khắp bốn phương
Nước tự nhiên uống
Không khí cũng không ngừng du hành.*


### 64. Cảnh giác với ma sắc


Trong một lần thần hành.
Tôi đến một ngôi chùa, tất cả các tăng sĩ trong ngôi chùa này đều bị một yêu nữ mỹ miều quyến rũ, đã phạm giới tà dâm, một ngôi chùa thanh tịnh đã trở nên ô trược tối tăm, hầu như tất cả các tăng sĩ đều sa vào cái bẫy sắc dục của nàng.

Nhớ lại hồi nhỏ tôi đã xem bộ phim "Hỏa thiêu Hồng Liên Tự", cũng không khác gì tình cảnh của ngôi chùa này. Khi gặp yêu nữ, tôi dùng pháp lực, biến người phụ nữ kiều diễm thành một vũng máu, tôi ra sức niệm chú Chuẩn Đề, rồi tung ấn Chuẩn Đề ra, tiếp theo niệm lục tự đại minh chân ngôn, biến vũng máu tanh hôi thành nước trong, khi nước đã trong thì ngôi chùa thanh tịnh trở lại, các tăng sĩ thanh tịnh trở lại.

Trong lúc thần hành thấy việc này, trong lòng tôi vô cùng cảnh giác. Sau đó, tôi lại gặp một vị thiên nữ, tôi kể việc này cho vị thiên nữ đó nghe.

Điều không ngờ tới đã xảy ra, vị thiên nữ này đột nhiên mặc trang phục trong suốt, thân thể mịn màng, mặt trắng như hoa sen, hương thơm thoang thoảng, đôi mắt quyến rũ như tơ áp sát vào người tôi. Tôi vừa thấy liền vô cùng kinh hãi, lập tức tỉnh giác và xuất định.

Sau khi xuất định, tôi suy nghĩ kỹ:
"Chỉ cần không làm ô nhiễm tự tính, tức là tu hành, đừng tự lừa dối, tức là tu hành, đại dụng hiện tiền, tức là pháp vô đẳng đẳng."
"Khi cảnh giới như vậy hiện tiền, chỉ cần khởi cái tâm là sẽ điên đảo lớn. Cần phải vô tâm, vô tâm thì không phạm giới."

Viết một bài thơ:

*Như cánh buồm giữa biển khơi
Nhờ gió nhờ nước mà đi tới
Trong nhịp điệu cân bằng
Gió và nước đều là ân huệ của chiếc thuyền nhỏ*

*Nhưng nếu mất đi sức mạnh cân bằng
Thế giới nhỏ bé này biến hóa
Tâm vừa động
Thì đáng sợ biết bao
Một niệm sai lệch là khác biệt*

*Cùng một gió cùng một nước
Sắc không, không sắc đều như nhau
Chỉ xem cách bạn vận hành trong đó.*


### 65. Sư tỉ Chân Ngộ và pháp sư Liên Liên


Trong cuốn sách "Nhớ mưa bụi ở Tây Thành", tôi nhớ lại hai vị anh hùng vô danh, những người làm việc thầm lặng và ít nói, hai vị này là sư tỉ Chân Ngộ và pháp sư Liên Liên.

Sư tỉ Chân Ngộ là người phụ trách trường học tiếng Trung tại Seattle Lôi Tạng Tự. Khi tôi thuyết pháp, phần lớn thời gian cô ấy không có mặt. Vì cô ấy phải chăm sóc tất cả những đứa trẻ của người nghe pháp, dạy chúng tiếng Trung, hướng dẫn và giáo dục chúng, ngay cả trong đại pháp hội cũng không có ngoại lệ. Một đệ tử rất nghiêm túc, hy sinh bản thân mình.

Tôi đã quên mất tên thật của cô ấy, tại sao lại gọi là Chân Ngộ?

Nhưng "chân ngộ" này, là không làm ô nhiễm tự tính, lại không cần xả bỏ tâm chúng sinh, chính là người "chân ngộ".

Ngoài ra, tại Chân Phật Mật Uyển có một vị pháp sư Liên Liên, cô ấy chưa bao giờ thể hiện bản thân, chịu đựng rất nhiều uất ức, nhưng chưa bao giờ than vãn. Ít nói. Bạn sẽ không cảm nhận được sự hiện diện của cô ấy, nhưng, cô ấy thực sự đang làm việc, một vị pháp sư như vậy không có tạo tác gì để sinh ra, cũng không có gì là đúng [nghĩa là không còn vướng mắc vào sự sinh diệt (nhân quả), cũng không còn phân biệt đúng sai (phải trái)]** **đây cũng là một loại công phu trong tu hành, giữ vững bổn phận, chịu đựng áp bức và lăng nhục.

Đây là hai vị không thể hiện bản thân. (Tại Seattle Lôi Tạng Tự, những đệ tử như vậy cũng không ít, ví dụ như Khiết Linh cũng thế.)

Hãy nghĩ về ba câu tôi viết, cùng nhau phấn đấu:
Không có người làm.
Không có người chịu.
Trong nhân gian, chẳng qua là nơi chúng sinh vất vả rèn luyện.

Viết một bài thơ:

*Cỏ bên đường chưa bao giờ thể hiện mình
Nhưng nó luôn là một phần của thế giới xanh tươi
Không có tiếng hát của sóng gợn nhẹ nhàng
Giữ vững chừng mực*

*Chưa từng có ồn ào hay bất bình
Dù bị xéo đạp vẫn cương nghị vươn thẳng
Không thấy nó lớn lên
Nhưng có sức sống kiên cường*

*Tôi sẽ gia trì
Tự nhiên mà tương ứng
Như mưa ân huệ từ trên trời rơi xuống.*


### 66. Đi sâu vào "tự tịnh ý mình"


Tại hồ Diệp Tử hơn ba năm, trong tam muội, khi bản thân biết ý niệm như hư không, lúc đó không có cái gọi là vọng niệm cũng như mọi sự chấp giữ và xả bỏ, lúc này dường như đều không còn chướng ngại, mười phương cũng không trở ngại, cảnh giới này như tịch diệt.

Cảnh giới tịch diệt căn bản không phải là có hay không có tướng, căn bản không có trong ngoài, cũng căn bản không có chính tà, không có gì trang nghiêm hay không trang nghiêm, cũng không có gì xấu xí hay không xấu xí, cái gì là vô thủy vô minh cũng không còn nữa.

Có thể nói là xa rời tất cả những gì có hình tướng và có sự mong cầu, tất cả những phiền não không thực tế cũng như hư không, không có dụng công, cũng không có tu pháp, không có vận dụng tâm lực, chỉ là tự nhiên như vậy mà không có chướng ngại gì.

Nếu nói trạng thái này giống như đất gỗ đá, hoàn toàn vô tri vô giác, thì cũng có vẻ như thế, nhưng không hoàn toàn là thế, vì vẫn sẽ tiếp xúc với cảnh giới, cũng sẽ gặp duyên đến thì sẽ khác với đất gỗ đá, chỉ là khi tiếp xúc với cảnh và gặp duyên thì biết như mơ như huyễn, tâm có thể tự chủ mà bất động, không trụ vào các chấp trước, như thể tất cả sạch trơn, vô chướng vô ngại, không có cái gọi là ô nhiễm hay không ô nhiễm.

Đoạn văn trên đây, bản thân tôi nhận định đây chính là "tự tịnh ý mình".

Nhưng, người ngoài có lẽ sẽ cho rằng Lư Thắng Ngạn tôi chẳng qua chỉ là "mặc chiếu tà thiền" [phê phán một số người tu thiền mặc chiếu theo cách hiểu sai lầm, chỉ thụ động ngồi yên mà không phát khởi trí tuệ bát nhã để kiến tính, giác ngộ triệt để] hoặc "nhập ngoan không" [cố chấp vào không] mà thôi, chẳng có cái quái gì!

Không có cái quái gì thì không có gì, tôi cũng không bận tâm nữa!

Viết một bài thơ:

Hoa nở hoa tàn chẳng cần bận tâm
*Sinh sinh tử tử tử tử sinh sinh
Không giảm không tăng
Đây chính là ngọn đèn tâm tam muội*

*Thế giới này là đèn neon
Tôi đã từng ca hát
Tôi đã từng khiêu vũ
Cũng đã đi qua bùn lầy của bão tố
Không quan tâm yêu hay ghét
Không quan tâm tình hay thù
Chỉ là đi theo bước chân của gió
Biết ơn ân huệ của mười phương ba đời.*


### 67. Đi sâu vào "mọi ác không làm"


Tại hồ Diệp Tử ẩn cư hơn ba năm, vô ngữ (khẩu thanh tịnh), vô nhân (thân thanh tịnh), vô ngã (ý thanh tịnh), nhập trong tam muội (tự tịnh ý mình).

Đọc kinh thư, đọc đến chương "Chăn trâu".
Ngày xưa, thiền sư Vy Sơn hỏi Lãn An: 
"Ngươi trong mười hai thời, nên làm việc gì?"
Lãn An đáp: 
"Chăn trâu."
Thiền sư Vy Sơn hỏi: 
"Ngươi chăn trâu như thế nào?"
Lãn An đáp: 
"Hễ trâu đi vào cỏ, liền dắt mũi kéo về."
Thiền sư Vy Sơn khen ngợi: 
"Ngươi quả thật là người chăn trâu!"
Chương "Chăn trâu" này đến đây là hết.

Chỉ là mấy câu hỏi đáp đơn giản, nhưng đã gợi ý cho người học Phật về đạo lý "mọi ác không làm", nếu là điều thiện, có thể để con trâu đi theo, nếu là điều ác, liền nắm lấy mũi trâu kéo lại, không để con trâu tùy tiện, kéo con trâu trở về. Nếu cứ để con trâu tự do đi, ác niệm liên tục không dứt, chướng ngại sẽ càng ngày càng lớn.

Thứ gọi là ác niệm cũng đến theo nhân duyên, lung tung đảo lộn, hỗn loạn, hoặc khởi tâm tham, hoặc khởi sân giận, hoặc ngu si vô minh, hoặc vui theo các hành vi ác. Khi cảnh duyên này xuất hiện cần phải cảnh giác nhất. Có thể phân biệt phải trái, hiểu thiện ác, biết dừng lại, giống như chăn trâu vậy, kéo lại, đó chính là "mọi ác không làm".

Chăn trâu tuy đơn giản, nhưng cũng phải lâu dài mới thuần thục! Đây chính là tư lương để thành Phật ngộ đạo.

Nói với mọi người:
Tiền của người khác đừng cướp.
Vợ của người khác đừng động đến.
Địa vị của người khác đừng tranh giành.
..................

Viết một bài thơ ngắn:

*Thiện và ác đều thuộc về một niệm
Chân giơ lên và chân hạ xuống
Bạn cần phải thấu hiểu kỹ càng
Điều khiển một cách thuần thục*

*Hãy diệu quán chiếu thật tốt
Không cần quá nhiều lời khuyên can ngăn
Kịp thời biết dừng và đi trong cuộc sống.*


### 68. Đi sâu vào "làm mọi điều thiện"


Tôi thấu hiểu rằng "mọi ác không làm, làm mọi điều thiện, tự tịnh ý mình, là lời Phật dạy" là một chứ không phải ba, gộp lại là một, miễn cưỡng phân chia thì mới thành ba.

Giống như nhập thế và xuất thế vậy, thuận cảnh nghịch cảnh cũng vậy, không khởi cũng không diệt cũng vậy, là một, cũng không phải là hai, chỉ là miễn cưỡng phân chia mà thôi.

Như thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh trong Mật giáo cũng vậy, gộp lại là một, chi tiết hóa mới thành ba. Tâm, Phật, chúng sinh là một; Phật, pháp, tăng cũng là một; giới, định, huệ cũng là một; sinh, tử là một; khổ, vui là một; yên tĩnh, huyên náo là một; phiền não, bồ đề là một.

Nói như vậy, "làm mọi điều thiện" tức là hành giả trong bốn oai nghi, không có tính thời gian, trong dòng chảy xiết của nhân sinh, trong như mơ như huyễn, trong sự không buông lung, trong bụi bặm trần lao thế gian, không được quên mà phụng hành.

Ngày thường tôi đặt tâm mình vào chỗ tịch diệt, nếu gặp "duyên khởi cảnh hiện", thì tại chỗ tịch diệt làm công phu "làm mọi điều thiện", tôi làm công phu trong tĩnh, trong huyên náo cũng làm công phu, tất cả đều là "mọi ác không làm, làm mọi điều thiện, tự tịnh ý mình".

Tuy như vậy, ghi nhớ:
Theo dòng nhận biết Phật tính.
Không vui cũng không lo.
Tùy duyên ứng cảm không chỗ nào không chu đáo.
Mà thường ở nơi tòa bồ đề này.

Làm tất cả điều thiện, cũng không tự cho là đang làm tất cả điều thiện. Không có người cho, không có người nhận, không có vật bố thí. Tôi làm mọi điều thiện này chỉ là Phật tính chân như, tùy duyên tùy hỷ, thành tựu tất cả sự pháp, như mộng như huyễn, trống rỗng bao la.

"Mọi ác không làm, làm mọi điều thiện, tự tịnh ý mình, là lời Phật dạy" mới biết tam giới vạn pháp tất cả vốn không, thật là an lạc vui sướng. Không bỏ Phật pháp, tùy thuận thế gian.

Thơ:

*Yên nghỉ trong tam muội
Không có tụ họp cũng không có chia ly
Ở trong nhà mà cũng ở ngoài nhà
Tưởng niệm thuần tịnh không gì sánh.*

*Yên nghỉ trong tam muội
Phụng hành mọi điều thiện
Đây là lời thì thầm của tôi với nhân gian.*


### 69. Mong đợi có giấc mơ đẹp


Nhớ hồi nhỏ, khi sắp ngủ, mẹ thường nói:
"Hãy có một giấc mơ đẹp nhé!"
Lớn lên, khi chúc bạn thân ngủ ngon, cũng thêm một câu:
"Chúc bạn có một giấc mơ đẹp!"
Sau khi tu hành, tôi nói với các thánh đệ tử:
"Đêm đêm trong mơ bình an cát tường!"

Ban đêm là mơ, người thấu triệt điều này, ban ngày há chẳng phải cũng là mơ sao? Mơ vốn không có tướng nhất định, tâm chính là đại huyễn sư, thân thể chính là đại huyễn thành, trong mơ, thế giới hằng hà sa biến đổi mãi, nhân vật hoán đổi mãi, ví như Trang 

Bậc thầy nói:
Thanh Văn La Hán sợ nghiệp mộng huyễn, căn bản "nhập tịch" cho xong.
Bồ Tát nhận biết pháp huyễn, biết thể huyễn, trong mộng huyễn thành tựu công đức "mộng huyễn", độ một số chúng sinh trong mộng huyễn, thoát khỏi ngục huyễn.

Phật là bậc đại sư mộng huyễn, chuyển đại pháp luân huyễn hóa, thành tựu Niết Bàn đại huyễn mộng, bất sinh bất diệt, thành tựu tịnh thổ thanh tịnh.

Tôi mong mỏi mọi người đến Ma Ha Song Liên Trì, nơi đây ngày đêm đều là mộng đẹp, thật là tịnh thổ thanh tịnh an lạc. Tại tịnh thổ, không có ác mộng, ngày cát tường, đêm cát tường, thời thời cát tường.

Viết một bài thơ:

*Ban ngày tôi tu hành và viết lách
Ban đêm tôi ẩn mình trong mộng huyễn
Mong đợi những giấc mơ ngọt ngào
Dù khi thức giấc cũng chẳng còn gì nữa.*

*Dù giấc mơ huyễn là không
Nhưng chúng ta vẫn có hy vọng mong đợi trong đó
Sống trong thế giới Ta Bà này
Tôi từng yêu thương mọi người
Mới coi như có ý nghĩa trong đó*

*Tôi cầu nguyện mọi người đều có một giấc mơ đẹp
Để nhân gian mãi mãi không còn đau thương.*


### 70. Tụng kinh và không tụng kinh


Ban đầu học Phật, tôi cũng học tụng kinh sám hối, những người đầu tiên dạy tụng kinh là pháp sư Thiện Tứ ở chùa Từ Âm và pháp sư Thượng Lâm ở chùa Từ Minh.

Tại Seattle Lôi Tạng Tự ở Hoa Kỳ, người truyền dạy khóa tụng kinh sám là Thượng sư Thường Nhân, rất nhiều phương pháp tụng kinh sám đều do Thượng sư Thường Nhân dạy.

Cá nhân tôi đã học qua kinh sám, thời kỳ đầu cũng giúp người ta tụng kinh lễ sám, tế lễ trời, siêu độ cầu phúc, bản thân tôi không phản đối pháp tụng kinh lễ sám, trong nghi quỹ pháp hội cũng có tụng kinh tụng chú, lập bàn vãng sinh, lập bàn trường sinh, đèn quang minh, lập bàn Thái Tuế với đủ các loại pháp sám hối.

Từng có người nói rằng người học Phật cầm kinh Phật trước tượng Phật mà tụng giống như con vẹt chỉ học lời người nói, không hiểu ý người ta. Kinh Phật truyền tải ý Phật, nếu chỉ tụng mà không hiểu được ý Phật, thì cũng chỉ là học lời người nói mà thôi, cho nên tụng kinh không có ích gì.

Người nói những lời này thực ra cũng có lý, không phải hoàn toàn vô lý, nhưng chúng ta nghe xong rồi liền không tụng kinh nữa, cũng không lễ sám nữa sao?

Bây giờ tôi nói rõ ràng cho mọi người biết, khi tụng kinh phải thâm nhập vào nghĩa lý kinh điển, khi lễ sám phải hiểu rõ nghĩa của sám. Từ nghĩa lý của kinh sám, dùng tâm để thấu hiểu Phật lý, kết quả cuối cùng của tụng kinh lễ sám là:

Siêu việt văn tự.
Siêu việt ngôn ngữ.
Ngộ lý liễu nghĩa. (chí lý vong ngôn)
Khởi phát bồ đề.

[Con đường dẫn đến sự giác ngộ tối thượng không nằm ở việc phân tích chữ nghĩa hay lời nói suông, mà nằm ở sự chứng nghiệm của tâm thức.]

Tôi viết thơ:

*Tụng kinh không phải là tụng bằng miệng
Tụng miệng chỉ là trẻ con đọc thuộc sách
Tụng kinh là thâm nhập kinh tạng
Trong bình minh thấy được viên ngọc phương Đông*

*Học tập có phương tiện
Ngôn ngữ văn tự đương nhiên không phải chân như
Người ngộ sẽ quên luôn lời nói
Tự bản thân ta phải đánh giá thật tốt*

*Nhưng nếu không có kinh sách
Làm sao hiểu được các bậc đại sư qua các đời.*


### 71. Nhất vị du già chính là tịnh thổ


Mật giáo Đại Thủ Ấn có bốn cấp bậc:
1. Chuyên nhất du già.
2. Ly hý du già.
3. Nhất vị du già.
4. Vô tu du già.

Tôi đã từng nói, đến cảnh giới Nhất vị du già, nhìn thấy chỗ ở cũng như cõi Phật thanh tịnh, nhìn thấy mọi người đều là quyến thuộc thánh hiền, nghe thấy âm thanh đều là chú âm, lời nói đàm thoại toàn là niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng.

Đến Nhất vị du già, thức ăn tự nhiên sinh ra pháp vị, mũi ngửi toàn là diệu hương, thân cảm nhận vô cùng dễ chịu, y phục như thiên nhân. Nói sâu thêm một bước nữa, trăm vị ẩm thực đều là thiền định, tất cả hành chỉ đều ở trong tam muội, như cõi Phật Cực Lạc vậy.

Đạt được Nhất vị du già thì ăn, mặc, ở, đi, ngồi, nằm liên tục an lạc, rốt ráo không gián đoạn.

Tất cả phiền não về thân: đói, khát, lạnh, nóng, bị thương, bị giết hại.
Tất cả phiền não về tâm: thị phi, được mất, tham, sân, si.
Trong Nhất vị du già, tất cả đều biến mất không còn.

Kinh điển ấn chứng như sau: "Muốn đắc tịnh thổ, hãy thanh tịnh tâm mình, tùy theo tâm thanh tịnh thì cõi Phật thanh tịnh, nếu tâm thanh tịnh, nơi nào ở cũng đều là tịnh thổ."
Lại nói: "Tịnh và uế ở trong tâm, không ở nơi quốc thổ."

Tôi viết một bài thơ:

*Chỉ cần thắp lên một ngọn đèn
Tất cả bóng tối tự nhiên tan biến
Tương ứng với Nhất vị
Không Hành Mẫu liền xướng tụng danh hiệu ta*

*Chỗ ở là do chính ta lựa chọn
Y phục là do chính ta lựa chọn
Thức ăn là do chính ta lựa chọn
Hành chỉ là do chính ta lựa chọn*

*Hỷ lạc vi diệu đầy ắp
Biến hóa tự tại đầy ắp
Nhất vị thần thánh trong tam muội.*


### 72. Một lời im lặng một tiếng sấm


Ngày xưa.
Phật Thích Ca Mâu Ni ở nước Ma Kiệt Đề, trong hai mươi mốt ngày đóng cửa thất, không nói một lời.
Tại thành Tỳ Da Ly có ba mươi hai vị Bồ Tát, mỗi vị đều nói về pháp môn Bất nhị. Chỉ riêng Đại sĩ Duy Ma Cật không nói một lời, Bồ Tát Văn Thù rất tán thán việc Đại sĩ Duy Ma Cật không nói một lời.
Tôn giả Tu Bồ Đề ngồi thiền một mình trong hang đá, cũng không lời không tiếng, không nói một lời.
(Thích Đề Hoàn Nhân thấy Tôn giả Tu Bồ Đề trong hang động không nói một lời, liền rải hoa trời cúng dường Tu Bồ Đề, chỉ rải hoa trời như mưa, cũng không nói một lời.)
Tổ sư Đạt Ma ở chùa Thiếu Lâm quay mặt vào tường chín năm, cũng không nói một lời.
Qua các đời có rất nhiều vị Tổ sư, người không nói lời rất nhiều.

Từng có người hỏi tôi: 
"Tại sao người không nói lời lại nhiều?"
Tôi đáp: 
"Người hữu duyên ít, người vô duyên nhiều, cho nên lời không nhiều."
Tôi lại nói: 
"Lời không chạm đến nghĩa lý, cho nên không nói một lời."

Thánh nhân Khổng Tử vốn cũng không muốn nói nhiều, cho nên cuối cùng chỉ nói "Trung Thứ mà thôi"!
[Triết lý sống cao nhất và trọn vẹn nhất của Khổng Tử, sau tất cả những lời dạy dỗ và kinh điển đồ sộ, có thể được gói gọn trong hai nguyên tắc cốt lõi: Trung (hết lòng với chính mình) và Thứ (lòng vị tha).]

Thánh nhân Lão Tử vốn cũng không muốn nói nhiều, cho nên cuối cùng chỉ nói "vô vi"!
[Vô vi là trạng thái hành động tinh tế nhất, nơi mà con người hòa hợp hoàn toàn với Đạo. Đó là sự khiêm tốn, tĩnh lặng, và thuận theo dòng chảy của vũ trụ.]

Thánh nhân Trang Tử không muốn nói nhiều lời, chỉ tám chữ "phi ngôn phi mặc, nghĩa hữu sở cực"!
[Đạo nằm ngoài sự tranh biện của lời nói và cũng không thể đạt được chỉ bằng sự im lặng thụ động. Chân lý tối hậu là cái mà tâm hồn phải trực tiếp cảm nhận và đạt đến sự viên mãn tuyệt đối, không thể diễn tả bằng phương tiện phàm tục.]

Tôi bế quan ở hồ Diệp Tử, không có gì để nói, chỉ có viết lách, mục đích chính của tôi chỉ là dạy bạn:
"Người trước khi sinh ở đâu?"
"Người sau khi chết đi về đâu?"
(Đây chính là sinh tử đại sự, chỉ nói với người hữu duyên.)

Thơ:

*Tắt ngọn đèn đi
Bạn sẽ hiểu bóng tối của chính mình
Người không nói một lời
Có lẽ là người thấu hiểu rõ ràng nhất*

*Thời gian ngay trước mắt
Im lặng đối diện
Chỉ cần quá khứ thông suốt với tương lai
Là rõ ràng rồi
Bài thơ ngắn này nếu bạn hiểu rồi
Tịnh thổ Phật quốc chẳng xa xôi.*


### 73. Mấy lần đến Vô tưởng thiên


Tại hồ Diệp Tử tham thiền tĩnh tọa, từ Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, mấy lần tôi đã lên đến Vô tưởng thiên, tầng trời này đã gần Ngũ bất hoàn thiên (Tịnh cư thiên), sau đó lại từ Vô tưởng thiên thoái lui về Sơ thiền, rồi ra khỏi định cảnh.

Thực ra khi tôi đến Vô tưởng thiên thì đã rất hoan hỷ rồi. Ở Vô tưởng thiên, dường như tất cả vô minh phiền não hôn trầm tán loạn đều biến mất, trong chốc lát hoàn toàn trống rỗng, mặt đất chìm xuống bằng phẳng, ngay cả hư không cũng không còn nữa, cảnh giới ấy không phải hiện tượng nào có thể so sánh được.

Trong "Kinh Lăng Nghiêm" có nói: Bất tri sắc thân thế giới. Không hề nghĩ đến bất kỳ sắc thân nào, ngay cả thế giới Ta Bà bên ngoài và tất cả vạn vật đều không tưởng, dường như ngay cả diệu minh chân tâm cũng gần như không còn, bồ đề hay phiền não đều không có, cảnh giới này tuy hoan hỷ, rất tốt, nhưng dường như không mấy đúng, yên tĩnh, trần trùi trụi, tất cả động tướng không sinh.

Tôi nghĩ đến một bài kệ:

*Đại Thông Trí Thắng Phật.
Mười kiếp ngồi đạo tràng.
Phật pháp không hiện tiền.
Không thể thành Phật đạo.*

Tôi học Mật giáo, Đạo pháp, Thiền tông, đều có thể đến Vô tưởng thiên, nhưng đến cảnh giới này, rất có thể sẽ cho là Niết Bàn rồi. Không mộng, không tưởng, không nghe, không thấy, vì vậy, tôi lại từ Vô tưởng thiên thoái lui ra.

Tôi tự biết "tam muội" tuyệt không phải tĩnh vô nhất vật, cũng tuyệt không phải động mà tán loạn, động tĩnh đều là "tam muội", tôi không nghi sinh, cũng không nghi tử, sinh tử đều "tam muội", trăm nghìn pháp môn, vô lượng diệu nghĩa, chính là phải nhận thức được căn nguyên nguồn gốc, nhận thức được căn nguyên nguồn gốc mới có thể lật trời lật đất.

Viết một bài thơ:

*Vô tưởng thiên tựa như không có vật gì
Vô tưởng thiên rất giống với sự trống rỗng tột cùng
Nhưng tôi đã thoái lui ra
Vì ở đó không thể đối phó với cơn bão nội tâm của mình*

*Vô tưởng thiên chẳng có gì cả
Hoan hỷ thì hoan hỷ
Tuy không ai đến gây chướng ngại
Nhưng cũng không thể ứng dụng vô cùng
Viết văn cũng không thể có nguồn cảm hứng tuôn trào.*


### 74. Cảm ơn Thượng sư Liên Hương


Nhìn lại một cuộc đời không có những mối lo toan, tôi phải cảm ơn một người, đó chính là bạn đạo của tôi - Lư Lệ Hương (Thượng sư Liên Hương).

Tôi kết hôn năm 30 tuổi, khi đó tôi là kỹ sư đo đạc (quân nhân), cuộc sống không dư dả, nhưng cô ấy rất giản dị, không cần đám cưới linh đình, vì muốn tiết kiệm nên không tổ chức tiệc mời khách, nhưng cô ấy rất bình thản, cũng chẳng than phiền gì.

Một năm sau khi kết hôn, Phật Thanh ra đời, hơn ba năm sau, Phật Kỳ chào đời, hai đứa trẻ này hoàn toàn do mẹ chúng nuôi dưỡng, cô ấy có vẻ đẹp của người mẹ. Trong khi tôi bận rộn với việc hỏi việc, xem phong thủy, viết lách và học Phật, cô ấy chăm sóc con cái và lo liệu mọi sinh hoạt đời sống của chúng tôi.

Cuộc đời tôi thường xuyên phải chuyển nhà, Thượng sư Liên Hương xử lý mọi việc lớn nhỏ một cách tận tụy và khéo léo. Tôi chuyên tâm vào Phật sự, còn cô ấy thì lo toàn diện mọi việc. Nghĩ lại, nỗi vất vả của cô ấy như một ngọn núi lớn, còn tôi chỉ là một ngọn núi nhỏ.

Năm 38 tuổi, tôi sang Mỹ sáng lập Chân Phật Tông. Tôi nói, nếu không có Thượng sư Liên Hương thì làm gì có Chân Phật Tông. Tôi có khổ, cô ấy cùng tôi chịu đựng. Phật Thanh, Phật Kỳ đều do cô ấy dạy dỗ, việc nhà ngăn nắp có thứ tự. Chính cô ấy đã dẫn dắt Phật Thanh đến với học vị tiến sĩ, đưa Phật Kỳ đến tốt nghiệp đại học. Khi tôi phải chịu đựng tủi nhục, cô ấy chính là người duy nhất tôi có thể tâm sự.

Tôi nói, tôi không hiểu về nhân sự, tài chính, hành chính, chỉ biết tu hành. Toàn bộ hoạt động của Chân Phật Tông thực ra đều do Thượng sư Liên Hương gánh vác, do Thượng sư Liên Hương điều hành, tôi chỉ hướng dẫn sơ qua mà thôi. Thực tế, cô ấy cũng đã nhìn thấu danh lợi.
Cái khổ của tôi tính ra nhỏ.
Cái khổ của cô ấy tính ra lớn.

Sức chống đỡ của Thượng sư Liên Hương thật lớn lao. Tôi nói, cô ấy có vẻ đẹp của người mẹ, vẻ đẹp của sự kiên nhẫn, vẻ đẹp của cách ứng xử. Tôi giao hết mọi việc vụn vặt cho cô ấy làm, cô ấy cũng không than vãn. Tôi không phải lo nghĩ về hậu phương là nhờ vào Thượng sư Liên Hương. Tôi có thể ẩn cư, nhập thất một cách an tâm cũng chính là nhờ Thượng sư Liên Hương giữ vững đại cục.

Viết một bài thơ cảm ơn:

*Có thể toàn tâm dấn thân tu trì
Tất cả nhờ vào sự hỗ trợ của Thượng sư Liên Hương
Sở dĩ có thể chuyên tâm
Là nhờ sự trợ giúp to lớn của Thượng sư Liên Hương
Khi các bạn nhìn tôi
Hãy nhìn cả phía sau tôi
Xem ai là người đã tận tâm cống hiến.*


### 75. Thơ về chim hồng bay giẫm bùn tuyết


[Hình ảnh chim hồng bay giẫm bùn tuyết iên quan đến bài thơ "Ở Miễn Trì nhớ Tử Do" của Tô Đông Pha.]

*Ngày trước tôi tưởng cuộc đời sẽ rất dài rất dài
Chẳng bao giờ nghi ngờ xuân hạ thu đông có dừng lại hay không
Cứ thế yêu thương chúng sinh vô hạn
Phát một lời nguyện đời đời kiếp kiếp chỉ vì lý do như thế*

*Tôi tưởng cuộc đời sẽ là đóa hoa nở mãi
Sau này cuối cùng mới hiểu ngày tháng rất hữu hạn
Khi hoa hồng nở rực rỡ nhất
Chính là lúc tàn úa đã đến*

*Tôi hôn lên mảnh đất này
Với bước chân đầy buồn thương lưu luyến không muốn rời xa
Bây giờ đã biết rồi
Lữ khách không muốn đi cũng phải đi*

*Nhân gian chỉ là quán trọ ngắn ngủi
Dấu chân cũng sẽ hoang vu mà không thấy
Tôi chỉ là một chú hồng nhạn
Chỉ còn lại những nghĩ suy*

*Im lặng khiến tư tưởng người ta trưởng thành hơn
Hóa ra chỉ là hồng nhạn giẫm bùn tuyết
Duyên phận như mơ cũng như huyễn
Vô thường khiến tôi hoảng hốt bất an*

*Ngày tháng trôi qua như phễu cát
Xuyên qua bùn tuyết hay sa mạc
Thanh xuân cứ thế ra đi không trở lại
Duyên phận ngắn ngủi trong chốc lát ấy cứ thế bay đi.*

Xin dành bài thơ này để tưởng niệm 20 năm thời gian của "Nhớ mưa bụi ở Tây Thành". Người, thời gian, việc, địa điểm, sự vật, đều khiến tôi xúc cảm không thể tự kìm nén, chúc phúc mọi người đạt đến thành tựu.


### 76. Chúng sinh đều có Phật tính


Người tu học Phật thường nói: "Chúng sinh đều có Phật tính."
Chúng ta cũng thường nghe người ta nói: "Giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời."
Lại có người tranh luận: "Con chó có Phật tính hay không?"
Lúc thì nói: "Có."
Lúc thì nói: "Không."

Trước đây, khi tôi hoằng pháp ở Mỹ, đã có người hỏi tôi: "Xin Lư Sư Tôn nói về Phật tính?"
Tôi nói: "Phật là nghĩa giác ngộ, tính là nghĩa không đổi, tất cả chúng sinh đều có tính giác ngộ bất di bất dịch, đó chính là Phật tính. "Kinh Niết Bàn" lại nói: Tất cả chúng sinh đều có Phật tính, Như Lai thường trụ không có biến dịch."

Có người nói: "Có người thích cờ bạc, tính cờ bạc có phải là Phật tính không?"
Có người nói: "Có người ham sắc dục, tính dâm có phải là Phật tính không?"
Có người nói: "Có người thích lừa đảo, tính lừa đảo có phải là Phật tính không?"
Có người nói: "Có người thích ăn trộm, tính trộm cắp có phải là Phật tính không?"
Có người nói: "Có người thích rượu, tính nghiện rượu có phải là Phật tính không?"

Tôi đáp: 
"Những điều vừa nói chính là sở thích cá nhân, gọi là chúng sinh tính. Tuy nhiên, chỉ cần một khi chúng sinh tính mất đi, Phật tính tự hiển lộ, thành Phật chính là Phật tính."
"Như vậy Phật tính có biến đổi rồi sao?"
Tôi đáp: 
"Phật tính không có biến đổi, Phật tính không có hình tướng, tùy dùng mà gọi tên. Kinh Phật nói: Tất cả thánh hiền đều do vô vi pháp mà có sai biệt."
Tôi lại đáp: 
"Thánh hiền nói, mặt trời luôn ở đó, chỉ là mây che. Chỉ cần một khi mây rời đi, mặt trời tự hiển."
Tôi nói: Cái gọi là tu hành, chính là sửa đổi hành vi, đem tất cả tập khí không tốt qua nhiều đời kiếp tu sửa hết.

Tôi viết một bài thơ:

*Mặt trời ở trên mây đen
Mây đen chính là vô minh
Chỉ cần quét sạch từng lớp mây đen
Tất cả sẽ quang đãng*

*Nước vẫn là nước như vậy
Nước biển, nước hồ, nước sông, nước suối, nước giếng
Chỉ cần trong lành
Tất cả sẽ bình yên.*


### 77. Tôi chính là tôi


Ngày xưa, có người hỏi tôi: 
"Thầy viết nhiều sách như vậy, tại sao? Các pháp sư khác cũng không viết nhiều sách như vậy?"
Tôi đáp: 
"Tôi chính là tôi, người khác chính là người khác."
Lại hỏi: 
"Các pháp sư khác xây dựng chùa liền làm trụ trì. Chỉ có mỗi thầy không làm trụ trì chùa nào hết, lại vì sao?"
Tôi cũng đáp: 
"Tôi chính là tôi, người khác chính là người khác."
Lại hỏi: "Các pháp sư khác khi làm pháp sự đều quy định giá cả, duy chỉ có thầy Lư Thắng Ngạn là mọi thứ đều tùy ý tùy hỷ, tại sao?"
Tôi cũng đáp: 
"Tôi chính là tôi, người khác chính là người khác."
Lại hỏi: 
"Một số Thượng sư của Chân Phật Tông cũng quy định giá cả, tại sao Căn bản Thượng sư không quy định giá cả?"
Tôi vẫn trả lời: 
"Tôi chính là tôi, người khác chính là người khác."

Tôi thật lòng nói với mọi người, phong cách hành xử của mỗi người đều không nhất định giống nhau, cảnh giới giác ngộ quả thực cũng có sự khác biệt. Tôi tu tôi đắc, người khác tu người khác đắc, ông tu ông đắc, bà tu bà đắc, không tu không đắc, tháng năm trôi qua uổng phí, thật là điều đáng tiếc nhất.

Tôi viết sách là để hiển thị pháp nghĩa của Phật, do pháp nghĩa vô tận nên sách viết nhiều, viết nhiều cũng chỉ là "một hạt bụi", chẳng đáng là gì.
Tôi nói: 
"Thân tôi chính là chùa, tôi làm trụ trì của chính thân tôi."
Tôi nói: 
"Tôi coi trọng tâm tức là Phật, Phật tức là tâm, ngoài điều này ra thực không có giá cả gì có thể nói, nên không định giá cả cho pháp sự."

Giải thích xong rồi, viết một bài thơ:

*Nhân gian vốn có nhiều rối loạn
Thánh hiền cũng không hoàn toàn giống nhau
Tôi chính là tôi
Người khác làm thế nào tôi chẳng quản được*

*Viết sách vì tôi thích
Có vài pháp sư không dùng tay chỉ dùng miệng
Họ thành tựu thế giới của họ
Tôi chính là tôi
Quan trọng nhất là hiểu rõ kiếp này làm gì
Thời gian đừng hoang phí uổng công.*


### 78. Người nhàn nhã số một


Ngày xưa, có người hỏi tôi:
"Ngài có phải là hiền nhân không?"
Tôi cười ha ha: 
"Tôi là hạng người nhàn nhã số một."
"Ngài có phải là thánh nhân không?"
"Tôi là hạng người thừa số một."

Đặc biệt là tôi đã đóng cửa ẩn cư tại hồ Diệp Tử gần bốn năm rồi, nghĩ lại, từ tổng thống quan to cho đến người buôn bán dạo, sĩ nông công thương, ai chẳng phải vì sinh kế mà bận rộn từ sáng đến tối, có người thậm chí ngay cả thời gian ngủ cũng còn bận rộn! Người như tôi há chẳng phải là hạng "người nhàn nhã" số một, hạng "người thừa" số một sao?

Hạng người nhàn nhã số một mọi suy nghĩ đều hướng về chúng sinh, thân thể nhàn rỗi nhưng tâm không nhàn rỗi, tâm tức là Phật, Phật tức là tâm. Phải học cắt đứt phiền não, chấm dứt sinh tử, độ chúng sinh, phải học đại trí tuệ giải thoát thân tâm. Phải biết rằng kiếp này rất quan trọng, nếu thực sự trôi qua hoang phí, khi nào mới có thể giải thoát thân tâm? Dụng công tu hành rất quan trọng!

Tôi hiểu rõ:
Vô minh sẽ đi theo noãn sinh.
Phiền não vướng víu sẽ đi theo thai sinh.
Ái thủy thấm nhuần sẽ đi theo thấp sinh.
Niệm phiền não thoáng khởi sẽ đi theo hóa sinh.

Tôi - thân không, tâm không, pháp không, tính không. Một khi bỏ lại thân tâm là nhập "tam muội", liền đến tịnh thổ Ma Ha Song Liên Trì.

Tôi - hạng người nhàn nhã số một này, chỉ với mọi suy nghĩ hướng về vì chúng sinh, vì chúng sinh hữu duyên mà bận rộn.

Viết một bài thơ:

*Tôi là một ngôi sao nhỏ trên trời cao
Tỏa ánh sáng nơi tịnh thổ Cực Lạc
Là thừa thãi
Cũng là nhàn nhã*

*Tôi chỉ gặp gỡ chúng sinh hữu duyên
Nói nói viết viết
Ngôn ngữ chân lý
Trong nhân gian Ta Bà đang sôi sục
Nỗ lực tiếp dẫn các người.*


### 79. Liên quan đến Định và Huệ


Ngày xưa, có người hỏi tôi: 
"Liên Hoa Sinh Đại Sĩ từng nói, Định và Huệ như đôi cánh của chim, thiếu một cái thì không thể bay được, ngài nghĩ sao?"
Tôi nói: 
"Đúng vậy."

Tôi đóng cửa ẩn cư tại hồ Diệp Tử, học tập Định tam muội, học tập Trí huệ, tôi hiểu rằng Định và Huệ là không thể tách rời, tuy rằng tôi trong đi, đứng, ngồi, nằm, trong động, trong tĩnh, tôi đều đang học tập Định, cũng chính là động tĩnh đều ở trong Định.
Định là gì? Định là thể!
Huệ là gì? Huệ là dụng!

Định có thể sinh ra Huệ, Huệ có thể sinh ra Định, hai điều này thực ra không thể tách rời, như nước và sóng nước, như bóng đèn và ánh sáng, như chuông và tiếng chuông......

Vậy Giới là gì? Giới là tiền đề của Định và Huệ, người học Phật khởi hành từ Giới, đến khi có Định và Huệ chính là có đôi cánh.

Chúng ta là người tu hành, bất kể học pháp môn nào, như Mật giáo có "nhập, trụ, dung", thực ra cũng là Định tam muội.
Nhập định.
Trụ định.
Dung hòa hợp nhất mà không phân biệt. (tương ứng)

Người tu hành, tuyệt đối không thể bị tám ngọn gió của ngoại cảnh (được, mất, vinh, nhục, khen, chê, khổ, vui) khuấy động.
Tất cả thường tự trong vắt, tự nhiên thường trụ trong Định, tuôn chảy ra trí tuệ của Như Lai.

Tôi viết thơ:

*Khó tránh được một số người đánh mất đạo tâm
Bởi vì họ không thể định
Từ pháp môn này tìm kiếm pháp môn khác
Tâm vẫn không thể tĩnh*

*Tương lai mọi người sẽ hiểu
Thế nào là thân khẩu ý thanh tịnh
Thế nào là Pháp thân là chân lý
Khi tôi điều chỉnh dây đàn trong sinh mệnh mình đạt đến tự tại
Nhập trụ vào định
Đây chính là tương ứng của Mật giáo.*


### 80. Tiếp dẫn một người nửa người


Một hôm, Hóa Phật hiện thân tại hồ Diệp Tử nơi tôi ẩn cư.
Tôi hỏi một câu hỏi: 
"Tổng cộng tôi phải tiếp dẫn bao nhiêu chúng sinh?"
Hóa Phật đáp: 
"Một người nửa người."
Tôi kinh hãi hỏi: 
"Ngày xưa tôi thuyết pháp, vạn người nghe pháp, vạn người quy y, vạn người quán đảnh, hôm nay lại nói một người nửa người."
Hóa Phật hỏi: 
"Năm xưa Hòa thượng Liễu Minh độ ngài, là mấy người?"
"Một người."
Hóa Phật đáp: 
"Ngài có thể thành tựu, không cần nhiều, một người nửa người là đủ rồi!"

Hóa Phật bảo tôi, không cần quá thân cận với tổng thống quan chức, tránh sinh tâm danh lợi, ở trong núi cao thung sâu, tránh tạp nhiễm rối loạn, rơi vào thế tục, thực sự có thể độ người, một người nửa người là đủ rồi.
Hóa Phật nói: 
"Năm xưa hòa thượng Liễu Minh độ ngài, một người là đủ rồi, ha ha!"

Tôi suy ngẫm sâu xa về lý này.
"Một tức là tất cả, tất cả là một."
"Chúng sinh nếu không hiểu rõ ràng nghĩa thâm sâu của Phật, chỉ là quy y quán đảnh bề ngoài, chỉ là kết một duyên, học hỏi bề ngoài mà thôi."

"Kinh Bát Nhã" nói: "Độ chín loại chúng sinh đều vào Vô Dư Niết Bàn."
Lại nói: "Thật không có chúng sinh nào được diệt độ."

Bây giờ tôi hiểu rõ, Bồ Tát niệm niệm vì chúng sinh, khi chúng sinh hiểu rõ ràng tâm mình, thể hội Không tính, thật không có chúng sinh nào được diệt độ.

Viết một bài thơ:

*Lịch sử của chúng sinh chỉ là văn tự
Còn chúng sinh thì sao
Cái gọi là chúng sinh tức chẳng phải chúng sinh thì là chúng sinh
Không giảm không tăng*

*Giây phút này
Tôi chỉ nhìn chăm chú vào tâm mình
Như bình minh tĩnh lặng
Như hoàng hôn xế chiều
Chờ đợi một người được độ đến
Rơi lệ cảm kích ơn chư Phật cứu độ.*


### 81.  Tâm yếu Mật giáo của sự song song hòa nhập


Đại thành tựu cao nhất của Mật giáo là hóa thân cầu vồng. Bình thường tôi thường nói tịnh quang của bản thân hòa nhập vào tịnh quang của Bổn tôn, hoặc tịnh quang của bản thân hòa nhập vào biển lớn ánh sáng Tỳ Lô Giá Na. Hành giả Mật giáo thường nói Tử quang hòa nhập vào Mẫu quang.

Về kiến giải, ý nghĩa quan trọng của sự hòa nhập song song là một chứ không phải hai. Có người phê phán Mật giáo là phân biệt hai, thực ra bậc trí giả chân chính hiểu rõ thân-tâm bất nhị, tâm-khí bất nhị, thế gian-Pháp thân bất nhị, song song hòa nhập đương nhiên là một chứ không phải hai.

Trong thế gian này, điều chúng ta thấy được là hai, ví dụ như âm dương, nam nữ, thiện ác, tịnh uế, trời đất, nước lửa, khôn dại, lớn nhỏ, nhiều ít, sáng tối, v.v… Nhưng đối với người tu Mật, tu đến cùng tột thì là song song hòa nhập, ví dụ như sống chết, sướng khổ là một chứ không phải hai.

Hành giả Mật giáo, về phương diện không-có, cũng đồng dạng là song song hòa nhập, sắc-không căn bản không hai, tư duy này đem đi thực tế tu hành mới có thể chuyển hóa tham, sân, si thành thanh tịnh, nếu không đạt được song song hòa nhập thì giải thoát rất khó khăn.

Tôi nói:
"Nhân duyên thấy là hai, thực chất là một, tất cả chúng sinh cũng chính là Pháp thân minh tịnh, song song hòa nhập cũng chỉ là danh từ, tự tính Di Đà, tự tính tịnh thổ, Tử Mẫu quang gặp nhau, thực ra là đại Pháp thân, pháp giới thể tính trí."

Trong quyển sách "Độ qua biển sinh tử", tôi đã chỉ ra sự hòa nhập vào ánh sáng, chính xác là nói về:
Tự thân tịnh. (nhất tâm bất loạn)
Ánh sáng tịnh thổ tự hiển lộ.
Trí huệ Bổn tôn tự hiện tiền.
Song song hòa nhập tức là tương ứng thành tựu, là một chứ không phải hai.

Viết một bài thơ:

*Nếu bạn leo lên đến đỉnh cao nhất
Sẽ phát hiện hư không bao la tự nhiên hòa quyện
Ở nơi tuyệt đỉnh
Núi sông mặt đất đều như nhau*

*Pháp thân trang nghiêm tự nhiên hiển lộ
Thành quả của hành giả
Hòa nhập vào biển ánh sáng
Là một chứ không phải hai
Thế giới Cực Lạc chẳng chia Đông Tây.*


### 82. Học tập cuộc sống tự tại


Cuộc đời này của tôi, ma kiếp trùng trùng, nhưng tôi kiên nghị khắc khổ hành trì, đang học tập điều chỉnh cuộc sống tự tại, nếu không như vậy, cuộc đời như thế này là một sự đau khổ hành hạ. Cuộc đời này của tôi như uống nước đắng vậy, như thân tâm bị xé nát vậy.

Khi tôi học Phật, thấy thầy quy y, thầy quán đảnh của mình có đủ các kiểu sai sót, tôi thấy như không thấy, tịnh tín Phật pháp mà thầy truyền xuống, học điểm mạnh của thầy, của Thượng sư, như vậy mới có thể tự tại, nếu không thì không học nổi nữa. Ai mà không có lỗi lầm?

Khi tôi thấy chúng sinh đê tiện vô sỉ, đấu tranh hãm hại, lòng đau khổ tột cùng, nhưng tôi nghĩ, là bởi vì chúng sinh mới như vậy, tôi càng phải học khiêm nhường hòa hợp, như vậy mới có thể tự tại, nếu không thì làm sao tiếp tục trụ nổi ngũ trược ác thế. 

Trong tất cả mọi lúc mọi nơi, tôi đều học tập cân bằng tâm thái của mình, không tư lợi, phải suy nghĩ cho người khác, phải thực tế tu hành, đừng tự lừa dối mình lừa dối người, có thể đến tịnh thổ, đừng đọa đường ác, tiếp tục sống một cách cân bằng như vậy mới có thể tự tại.

Khi ngủ cũng học tự tại, khi thức cũng học tự tại, khi già học tự tại, khi bệnh học tự tại, thậm chí chết càng phải học tự tại.
Sướng khổ như nhau là tự tại.
Sống chết như nhau là tự tại.
Sạch bẩn như nhau là tự tại.

Tôi từ từ học tập từng bước một, làm sao tự mình luôn giữ được trạng thái tốt nhất, thâm nhập vào Phật pháp liễu nghĩa, làm sao không-có như nhau, làm sao phiền não-bồ đề như nhau, làm sao ngay cả tự tại cũng quên mất, sống trong tự tại mà quên mất tự tại.

Viết một bài thơ:

*Khổ khổ khổ
Chán chán chán
Mọi lúc mọi nơi đều như vậy
Phải xem những điều này như huyễn*

*Cuộc đời con người rất mơ hồ
Vô thường đến rất nhanh
Sống trong thế giới ô uế như vậy
Lăn lộn như sóng
Chính như vậy mới có thể học được tự tại
Tâm được giải thoát.*


### 83. Đọc bài ca của Milarepa


Tình cờ đọc được bốn lời ca của Milarepa khiến lòng tôi bùi ngùi, bốn lời ca ấy như sau:

*Khi tôi quan sát thân này, thấy nó vô thường như sương mai, chẳng bao lâu sẽ già yếu và chết đi.
Khi tôi quan sát bạn bè thân quyến, ngộ ra họ giống như những thương nhân, chẳng bao lâu sẽ rời xa khó có thể thường xuyên sum họp.
Khi tôi quan sát tiền bạc của cải, giống hệt như ong mật siêng năng tích lũy, bận rộn cho người khác cuối cùng thành không.
Khi tôi quan sát sự nghiệp và gia đình, ngộ ra thực chất như nhà tù lớn, là vực thẳm của ác nghiệp tội lỗi.*

Khi đọc bốn lời ca này, mồ hôi tôi chảy ròng.

Nhìn những hành giả thế gian, Milarepa đã nói như vầy:

*Tham dục sâu vào tâm, lo sợ được mất, bị văn tự trói buộc, tâm không có kiến giải quyết định, chuyện nhỏ cũng phải tính toán, để nuôi dưỡng người con gái đam mê dục vọng, tán loạn và phóng dật, sai khiến thân tâm như nô lệ, thân mang xiềng xích lười biếng, buộc vào neo khổng lồ luân hồi, miệng nói nương theo Phật pháp, thực tế làm những tội ác, giả dối làm theo thế tình, mũi mình bị người khác dắt, người học Phật như vậy, lúc nào cũng ở trong khổ não.*

Cảnh giác thay! Cảnh giác!
Đọc "Bài ca của Milarepa", in sâu vào lòng tôi, tôi cũng thường quan sát như vậy, nhất là bài ca thứ hai, tôi thấu hiểu thật sâu sắc.

Khi tôi nương tựa vào núi rừng, tôi quan sát người thân, biết rằng khó có thể thường xuyên sum họp, lại có rất nhiều rất nhiều bạn bè thân hữu khó có thể thường xuyên sum họp, lại có rất nhiều rất nhiều Thánh đệ tử khó có thể thường xuyên sum họp. Chút tình cảm ấy của tôi, quy về nơi đâu?

Bài ca thứ nhất càng không cần phải nói, một hơi thở không đến nữa, chính là một nắm đất vàng.

Cảm thán viết một bài thơ:

*Làm sao dám nói không đủ
May mắn mình còn biết dừng bước
Chỉ còn chút tình ấy
Không cho tôi chết*

*Nhìn thấu nhà tù lớn
Khi nhìn thấu
Mới có thể chứng ngộ chân như
Khi sống sẽ không mãi mê muội*

*Biết ơn sự chỉ dẫn của bậc thánh
Ban cho ánh sáng và không khí
Người nhẫn nhục cuối cùng đến được tịnh thổ.*


### 84. Người thấp kém nhất trên thế giới


Ngồi một mình trước cửa sổ, nhìn bãi cỏ xanh mượt bên ngoài, gió nhẹ nhàng thổi, lá cây rung rinh nhè nhẹ, thỉnh thoảng có tiếng chim hót, kêu một lúc rồi thoăn thoắt bay đi. Cảnh tượng này hầu như mỗi ngày đều như nhau, không có hát, không có múa, không có vui đùa, không có trang điểm cầu kỳ, tôi mặc quần áo rất giản dị, lặng lẽ nhìn ra ngoài cửa sổ.

Ở hồ Diệp Tử, không ai biết tôi là ai, tôi cũng không muốn cho người khác biết. Trong khoảng thời gian này, người ta chỉ biết có một lão già rất khiêm nhường sống ở đây, không biết từ đâu đến, không biết sẽ đi đâu.

Mỗi ngày, tôi chỉ đi bộ, vừa kinh hành, vừa có thể mua sắm thực phẩm, ba bữa cơm đều phải ăn, đến tối phải ngủ, lại phải để lại dấu vết của mình trên giấy, lại phải tu thiền định tam muội, tôi tu những pháp tinh yếu, có thời gian thì đọc kinh sách.

Tôi đã buông bỏ pháp vụ mênh mông, pháp luân đã chuyển, giao cho các thánh đệ tử, giờ đây tôi đã trở nên rất nhỏ bé, tôi biết rằng thế giới này không có gì vĩnh hằng, thế giới này không có gì mãi mãi, tất cả đều là tạm thời, chúng ta nhỏ bé như một hạt cát, thậm chí còn không bằng cát.

Tôi nói: Tôi đã từng tỏa sáng rồi, tôi cũng đã rực rỡ rồi, cuộc đời cũng đã cháy hết rồi, tôi còn lưu luyến gì nữa, còn chần chừ gì nữa? Những gì cần giao phó đều đã giao phó rồi, nên mỉm cười đi theo bước chân của gió.

Ngồi một mình trước cửa sổ…
Kiếp này tôi có lỗi lầm không? Tôi sám hối!
Kiếp này tôi có lười biếng không? Tôi sám hối!
Kiếp này tôi có tình cảm thừa thãi không? Tôi sám hối!
Điều duy nhất tôi không thể bỏ lỡ chính là bay đến tịnh thổ bất sinh bất diệt!

Viết một bài thơ:

*Ai cũng sẽ có lỗi lầm nhiều hoặc ít
Vì không ai sinh ra đã là thánh hiền
Tôi cũng là một phàm phu
Người tầm thường nhất trên thế giới*

*Khí khái anh hùng đâu có mãi mãi
Nước nhảy múa hóa thành băng
Một lòng chỉ quán thế giới tịnh thổ
Đại từ đại bi luôn bao quanh
Gió và bụi phủ đầy mặt.*


### 85. Cuộc sống thần tiên cũng chỉ là một giấc mơ


Khi tôi sống ở Seattle Hoa Kỳ, do tu chuyết hỏa, sinh ra sức nóng hừng hực lan khắp toàn thân, cảm giác được an lạc như thần tiên vậy.

Khi khí vào trung mạch sản sinh sự thông suốt của trung mạch, cảm giác ấy phiêu diêu như ở trong mây, pháp vị khinh an vui sướng, cũng như thần tiên vậy.

Hơn nữa, bạch bồ đề ở mi tâm giáng xuống, đắc được "tứ hỷ". Bạch bồ đề lại nâng lên, lại đắc được "tứ hỷ", sự an lạc của "tứ hỷ" này, chỉ có là hành giả Mật giáo tự cảm thụ được "tứ hỷ" mới có thể nhận biết, đại lạc ấy không phải thứ mà người thường có thể thể hội, cũng không thể hình dung, cho nên giống như thần tiên vậy.

Khi bạch bồ đề và hồng bồ đề giao hòa với nhau, niềm vui sinh khởi từ tác dụng "đốt nóng chảy" là điều mà người thế tục không thể hiểu được, cảm giác tê tê ấy, như say như mê, thần tiên cũng chỉ như vậy thôi, như uống cam lộ tiên tương, không thể diễn tả được.

Tôi tu chứng thân vô lậu, cũng chính là bạch bồ đề (minh điểm) sẽ không mất đi, lúc ấy quả thật như cuộc sống thần tiên vậy.

Tôi nói: "Thân vô lậu thường tự vui sướng." Lại nói: "Do tu chuyết hỏa đại lạc sinh ra tịnh quang, từ Dục giới thiên thăng lên Sắc giới thiên, đại lạc quang minh đầy ắp."
Tôi lên tòa thuyết pháp: "Bản thân như thần tiên vậy!"

Nhưng, tôi do đó tiến vào Vô sắc giới, nhận thức Pháp thân tính Không, tự biết cuộc sống thần tiên cũng là mộng, thân này tất hoại, không có gì thường hằng. Cảnh giới đại lạc quang minh [trạng thái an lạc và trí tuệ rực rỡ] cũng chỉ là giáo pháp quyền nghi, là phương tiện để tu hành. Ngay cả cái thân vô lậu [thân đã đạt được qua tu tập, không còn phiền não] này cũng sẽ phải buông bỏ, chỉ còn lại bản tính câu sinh diệu trí (trí huệ căn bản, chân thật) mà thôi.

Viết một bài thơ:

*Cảm giác đại lạc ở trong mơ
Khi tỉnh giấc mộng đều trống rỗng
Cuộc sống thần tiên là như thế
Khoái lạc chỉ như gió thoảng qua*

*Tham đạo cuối cùng về thanh tịnh
Thân này là khách chẳng lâu bền
Dù cho khí mạch mãi lưu thông
Ở trong tam giới tùy đi lại
Nhưng thân xác sẽ có lúc hoại
Đạt đến tịnh thổ mới tự tại.*


### 86. Ma oán hóa thành tăng thượng duyên


Tôi đọc được trong kinh:
"Ma tức là Hộ pháp."
"Oán tức là tăng thượng duyên."

Khi đọc xong, tôi hết sức kinh ngạc. Làm sao ma lại là Hộ pháp được? Ma chẳng phải là kẻ làm suy thoái đạo tâm, hại huệ mệnh của người ta sao? Chướng ngại oán ghét, chướng ngại tổn thương, chướng ngại phỉ báng, làm sao lại có thể là tăng thượng duyên? Điều này làm sao có thể? Tôi không dám tin.

Ở hồ Diệp Tử bế quan nhiều năm, cuộc sống của tôi càng ngày càng đơn giản, gần như là một sự tinh giản chuyên nhất đều đặn, ngoài ba bữa ăn và giấc ngủ, tôi đều ở trong tam muội, ngoại duyên gần như hoàn toàn không còn, chỉ có quan sát nội tâm. Ngay cả ba bữa ăn và giấc ngủ cũng là tu pháp.

Tôi nghe thấy tiếng nói nội tâm của mình, tâm tôi có thể thể hội "ma tức là Hộ pháp, giúp ta thành đạo", "oán tức là tăng thượng duyên, giúp ta tinh tấn", nội tâm thì thầm lẩm bẩm: "Vô sinh pháp nhẫn, vô sinh pháp nhẫn, vô sinh pháp nhẫn, vô sinh pháp nhẫn, vô sinh pháp nhẫn." [Vô sinh pháp nhẫn là sự thể nhập, nhận thức, và an trụ vững chắc (nhẫn) trong chân lý tuyệt đối (pháp) rằng tất cả vạn vật vốn không sinh, không diệt (vô sinh).]

Tạo hóa thật sự quá kỳ diệu! Trong tham, sân, si, trong dâm, nộ, si, trong nghiệp tội tăm tối sâu thẳm, đều ẩn chứa Phật pháp vĩ đại, chỉ cần bạn có thể nghĩ thông suốt, không chướng không ngại, tất cả mê hoặc sẽ tiêu tan, như sương mù buổi sớm biến mất vậy.

Được ẩn cư bế quan tại hồ Diệp Tử, biết ơn!
Bị bệnh ma quấy nhiễu, biết ơn!
Được nhập tam muội, biết ơn!
Được chấm dứt sinh tử, biết ơn!

Tôi viết một bài thơ:

*Có lẽ ma chính là quyến thuộc
Có lẽ oán hận chính là đạo bạn
Tất cả đều đến để giúp đỡ bạn*

*Bạn hãy suy nghĩ kỹ sẽ thấy rõ hơn
Đức Phật dưới cội bồ đề
Đấng Thích Ca Mâu Ni ngồi dưới cội bồ đề ấy
Có thể ngộ được đại đạo muôn đời
Hóa ra lại chính là phước lành của ma*

*Không còn tất cả mọi thứ
Chính là tự tự như như.*


### 87. Sự trống rỗng trong tam muội


Khi đang tọa thiền, đôi khi cũng có những suy nghĩ lặt vặt, nhưng dần dần chúng biến thành tiếng gió giữa lá cây hay âm thanh của dòng nước chảy, những lời thì thầm vui sướng, sau đó thì trống rỗng không còn gì, không biết thân tâm đang ở đâu nữa, chỉ còn lại một khoảng trống lớn, bầu trời trong xanh không mây.

Đôi khi, thực sự không biết mình đang ở đâu. Không nhìn thấy xung quanh, không nhìn thấy chính mình, ngay cả bóng dáng của mình cũng không thấy.
Thực sự là:
Trống trơn hết, chẳng có một vật.
Cũng không người, cũng không Phật.
Đại thiên thế giới như bọt nước giữa biển.
Tất cả thánh hiền như tia chớp lướt qua.

Hễ nhập tam muội, thời gian trôi qua thật nhanh, chỉ trong chốc lát, mấy giờ đồng hồ đã trôi qua, tôi chẳng thấy gì, chẳng nghe gì, thấy nghe cảm biết đều không biết, một khoảng trống trơn, không có kêu gọi, không khổ không vui, không trí tuệ không ngu si, cũng chẳng thiện, cũng chẳng ác, thực sự là khoảng trống lớn. Cái gì là lớn lao? Ai là ta?

Lại có một bài kệ:

*Không thấy một pháp tức Như Lai.
Mới được gọi là Quán Tự Tại.
Hiểu rõ thì nghiệp chướng vốn không.
Chưa hiểu thì phải trả nợ cũ.*

Trong khoảng trống của tam muội này, ai là Lư Thắng Ngạn? Ai là Liên Sinh Hoạt Phật? Ai là Liên Hoa Đồng Tử? Ai là Hoa Quang Tự Tại Phật? Ai sáng lập Chân Phật Tông? Ai thuyết pháp độ chúng? Chân Phật Mật Pháp là gì? Tất cả chỉ là danh tướng mà thôi!

Viết một bài thơ:

*Tồn tại cũng chưa chắc đã tồn tại
Đó mới là đại tự tại của đời người
Những xôn xao náo động của chúng ta
Thật sự bi ai*

*Trẻ sơ sinh đáng yêu nhất
Vì chúng cũng giống nhau một khoảng trống
Không biết mình là ai
Chỉ uống sữa của chúng
Không biết ai đang trả nợ ai.*


### 88. Toàn bộ quy về tịnh thổ


Ẩn cư bế quan tại hồ Diệp Tử, từ lâu tôi đã quyết tâm tất cả mọi thứ toàn bộ quy về tịnh thổ Tây phương Cực Lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì.

Tôi, Thượng sư Liên Hương, Phật Thanh, Phật Kỳ và tất cả quyến thuộc, giúp họ hồi hướng về tịnh thổ. Bà con thân hữu, thánh đệ tử và con cháu đệ tử của tôi, giúp họ hồi hướng về tịnh thổ. Đời này những thí chủ giúp tôi tu hành, toàn bộ hồi hướng về tịnh thổ.

Tất cả những ai có tình có duyên với tôi đến tụ họp, rồi chia ly, hoặc gặp hoặc xa, không chọn lựa gì cả, toàn bộ hồi hướng về tịnh thổ.

Tôi sẽ sám hối hết thảy những gì đã làm trong cuộc đời này, những tập khí xấu xa, sám hối cho đến cùng. Sẽ hồi hướng tất cả thiện nghiệp về tịnh thổ. Tất cả hồi ức cũng hồi hướng về tịnh thổ.

Đối với vị Căn bản Thượng sư tôi mang ơn, các vị pháp sư đã truyền dạy cho tôi, các vị sư phụ quy y tôi đã kết duyên, các vị sư phụ của Đạo, Hiển, Mật, toàn bộ hồi hướng về tịnh thổ.

Trong tam muội.
Nhẫn nhục tinh tấn tôi nương theo. Tư lương đạo tịch tĩnh tôi nương theo. Đại lạc vô niệm tôi nương theo. Nhậm vận tự nhiên tôi nương theo. Vô tham vô sân tôi nương theo.

Tâm phải không loạn không chướng ngại, có thể thông hành khắp mười phương thế giới, đất nước lửa gió đều không cản trở, một thân biến hóa thành nhiều thân, nhiều thân lại biến trở về một thân, sơn hà đại địa đều xuyên thấu, hư không có thể đi đứng ngồi nằm, tâm phàm chuyển hóa thành tâm thanh tịnh, thân thể phàm chuyển hóa thành thân ánh sáng cầu vồng, khắp nơi cứu người và độ thế, toàn bộ hồi hướng về tịnh thổ.

Viết một bài thơ về sự hồi quy về tịnh thổ:

*Tôi đã là đứa trẻ phát sáng
Chỉ muốn vui chơi trong thế giới tịnh thổ
Nhân duyên ở thế gian dần dần tiêu tan
Mọi người không cần phân tán khắp chân trời*

*Toàn bộ hãy trở về tịnh thổ
Không cần chờ đợi bận rộn nữa
Giá trị mà con người cần
Tuyệt đối không phải là vợ con tài lộc thế gian*

*Điều tìm kiếm hóa ra chính là tịnh thổ
Bất kể quá khứ hiện tại tương lai
Đây mới là pháp tài chân thật.*


### 89. Tôi sẽ viết "Một giấc mộng Một thế giới"


Sau khi viết xong tập thứ 172 "Đi theo bước chân của gió", tôi sẽ viết tập thứ 173, đặt tên là "Một giấc mộng một thế giới".

Tên sách này không phải là điều lạ, bởi vì tôi đã từng nói rằng mỗi đêm chúng ta đi ngủ, có thể có mơ, trong giấc mơ nhiều người không biết là mơ, đợi đến khi thức dậy mới biết vừa rồi là mơ, tôi nói mơ cũng là một pháp giới, phải không? Vì vậy, "Một giấc mộng một thế giới".

Thực ra, chúng ta cũng biết rất rõ:
Người đời dùng hết tâm lực để theo đuổi học vấn, nghề nghiệp, gia đình, danh vọng, tài sản, nam nữ, biệt thự, xe sang, đồ cổ, đồ trang sức, món ngon ......
Dùng tuổi thanh xuân đổi lấy một số thành tựu hiện thực.
Kết cục cuối cùng là hai chữ: già chết.
Vì vậy, cuộc đời cũng là một giấc mơ, hư ảo lắm, tất cả vinh hoa phú quý, tỉnh giấc mơ mơ chẳng có, trôi qua như khói mây.

Thơ của cư sĩ Tô Đông Pha:

*Như con phù du giữa trời đất.
Mờ mịt như hạt kê giữa biển cả.
Thương cuộc đời thoáng chốc.
Ngưỡng mộ dòng Trường Giang vô tận.*

Đây chính là cuộc đời như giấc mơ hư ảo mà thôi!

Tôi ẩn cư bế quan tại hồ Diệp Tử đã thấy rõ tất cả những thứ này. Ngày ngày nhìn mặt trời vượt qua biển Tây, ngày ngày nhìn sinh lão bệnh tử của con người, ngày ngày nhìn lịch sử xưa nay của nhân loại, ngày ngày thấy kẻ mê thì mê, người ngộ thì ngộ.

Trong tam muội, tôi nhìn khắp thế giới mười phương, không cần phải nhón gót chân để nhìn thiên đường địa ngục, tất cả đều rõ ràng minh bạch, vẫn là tịnh thổ Ma Ha Song Liên Trì ở Tây phương Cực Lạc thế giới là nơi có thể đến an trú.

Tôi viết "Một giấc mộng một thế giới", là viết về những gì tôi thấy được trong tam muội, có sự yên tĩnh, có sự ồn ào, có sự ca hát, có sự vui vẻ, có sự buồn bã......

Người đọc sách của tôi, xin hãy thể hội kỹ càng.

Mong mọi người biết rằng, cuộc đời chẳng qua cũng chỉ là một giấc mơ dài hơn mà thôi, mang tấm mạng che mặt, nhưng vẫn là vô thường rất nhanh, bước chân tuổi trẻ thật nhanh, chúng ta cần phải có nhận thức, phải có giá trị quan, phải biết theo đuổi ánh sáng.

Tôi may mắn là người hiểu được giá trị quan cuộc đời, không phải là một trong vô số chúng sinh bị năm tháng cán qua, bạn hãy đọc quyển sách này sẽ biết được sự kỳ diệu của nó, "Một giấc mộng một thế giới" thực sự có ý nghĩa của nó!

**(Hết.)**

---

---
# File: sach-tam-linh/173-mot-giac-mong-mot-the-gioi.md
# Title: 173. Một giấc mộng một thế giới
---

![image](/img/img_c86950779efc92ee25b53452a526e569.jpg)



## Một giấc mộng một thế giới


🪷 Chứng nghiệm thần hành

Văn tập: 173
Xuất bản: 07/2004
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu


Trong cuốn sách "Seattle - Nhìn lại những mùa mưa" [ ND: văn tập số 170 của Sư Tôn ] là cuốn bút kí kể chi tiết tường tận về cuộc di cư của tôi từ Đài Loan đến Seattle nước Mỹ. Tôi di cư đến Seattle đã được 20 năm, từ năm tôi 37 tuổi đến 57 tuổi. Trong cuốn sách này, tôi đã hồi tưởng lại tất cả những nhân duyên buồn vui khi thành lập Chân Phật Tông, chớp mắt một cái đã 20 năm qua rồi, thật giống như một giấc mộng.

Không chỉ như vậy, bạn thử nghĩ mà xem:
Thời học tiểu học cũng giống như một giấc mộng.
Thời học cấp hai giống như một giấc mộng.
Thời học trung học giống như một giấc mộng.
Thời đại học giống như một giấc mộng.
Sau khi tốt nghiệp, sự nghiệp làm một kĩ sư trắc lượng cũng giống như một giấc mộng.
Sự nghiệp hôn nhân cũng giống như một giấc mộng.
Nuôi dạy con trai Phật Kì, con gái Phật Thanh giống như một giấc mộng.
Thấy Phật Thanh đạt được học vị Tiến sĩ cũng giống như một giấc mộng.
Thấy Phật Kì được vào học trường Đại học Seattle cũng giống như một giấc mộng.

Tại Ngọc Hoàng Cung, tôi đã được Diêu Trì Kim Mẫu mở thiên nhãn, rồi tôi đã chu du khắp huyễn cảnh hư không, chẳng phải là một giấc mộng huyễn hay sao?

Từ đó, tôi học Đạo, học Hiển giáo, học Mật giáo, đều là một giấc mộng huyễn. Tôi đưa ra một lời thề nguyện vĩ đại: "Đời đời kiếp kiếp độ chúng sinh, phân thân xả cốt độ chúng sinh, không từ bỏ một chúng sinh nào." Đây cũng là một giấc mộng.

Cuộc đời này, tôi đã kinh qua thời kì học pháp, thời kì hoằng pháp, thời kì chu du khắp nơi, thời kì ẩn cư.
Hôm nay, vừa hay tôi đã 60 tuổi. Quay đầu nhìn lại thời học pháp, hoằng pháp, chu du, ẩn cư, đều là những giấc mộng lớn.

Có bài thơ như sau:
Đâu có pháp nào trong ngôi nhà giấc mộng
Trong Vô pháp kia khác biệt lại bạt ngàn
Quán ngộ tính Không ta rời xa phân biệt
Từng niệm từng niệm hé nở bạch liên hoa

Bây giờ tôi đang ẩn cư ở hồ Diệp Tử, sống một ngày, cảm ơn một ngày, sống một ngày, vui vẻ một ngày, sống một ngày, tu hành một ngày.
Hỏi tôi tu hành cái gì ư?
Tôi trả lời: "Tam muội." [ ND: Samadhi ]

Ở trong tam muội, tôi cứu độ chúng sinh đang ngày ngày chìm trong hoạn nạn. Ở trong tam muội, tôi cũng tu trì tịnh niệm tương tục [ ND: niệm Phật thanh tịnh không gián đoạn ], xuất ly khỏi ngũ trược ác thế này, tiến đến Liên Trì Hải Hội, vĩnh viễn rời xa mọi đau khổ để nhận lấy mọi niềm vui.

Cuốn sách "Một giấc mộng một thế giới" này cũng tương đương với một "tam muội", một "thế giới", sự tương ứng thần kì của nó là vô cùng thù thắng.
Mong rằng bạn có duyên đọc được cuốn sách này.

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Bà lão rửa ruột


Thời gian ẩn cư ở hồ Diệp Tử, hễ có thời gian rảnh là tôi thiền định nhập tam ma địa.

Có một lần, tôi tự cảm thấy mình đi vào trong một ngọn núi lớn, ngọn núi này không phải là núi bình thường, bởi vì chỗ nào có gió thổi là có hương thơm, có gỗ đàn hương. Ngọn núi này có những đốm ánh sáng kì lạ, có đốm thì to như bánh xe, có đốm thì to như bông hoa sen, cũng có đốm thì nhỏ như hạt đậu, những đốm ánh sáng trong núi cứ bay tới bay lui. Trong khi tôi thần hành, hòa nhập vào trong sự trang nghiêm rộng lớn, thân tâm thư thái, sảng khoái không gì sánh bằng.

Ở chân núi, tôi nhìn thấy có một dòng nước sạch uốn quanh ngọn núi. Nước này cũng không phải nước bình thường, mà là "thiên nhất thần thủy", chảy vòng quanh ngọn núi lớn này.

Bỗng nhiên tôi nhìn thấy một bà lão cầm cái bàn giặt đem đi giặt quần áo. Trong lòng tôi rất hiếu kì, địa giới này là Thiên tiên cảnh giới, thiên nhân mặc thiên y, không nhiễm bụi trần, sao lại phải giặt quần áo?

Tôi vội vã tiến đến xem bà lão làm cái gì. Vừa nhìn thì tôi giật thót mình, thứ bà lão đang rửa không ngờ lại là ruột người. Ruột rất nhiều, kết lại thành những đống bẩn thỉu, mùi hôi tanh hoàn toàn khác xa mùi thơm của gỗ đàn hương. Tôi ngửi thấy mà muốn nôn ọe.

Bà lão quay đầu lại nhìn tôi, cũng chẳng lấy gì làm ngạc nhiên, đếm những thứ đã cạo rửa, nói:
"Cái đống này là ngã mạn."
"Cái đống này là đố kị."
"Cái đống này là phỉ báng."
"Cái đống này là…"

Tôi bịt mũi lại, hỏi:
"Bà ơi, ruột mà bà rửa là của ai đấy?"
Bà lão trừng mắt với tôi một cái, cũng chẳng trả lời tôi, bà lão chỉ chỉ sang bên cạnh tôi. Tôi quay sang bên cạnh mình nhìn thì mồm miệng há hốc, không ngờ một đệ tử mà tôi khá quen biết đã hiện thân, đã bị mở ngực phanh bụng, ruột tuôn ra ngoài. Ruột mà bà lão này đang cạo rửa chính là ruột của đệ tử của tôi.
Xém chút nữa là tôi ngất xỉu.

Bà lão nói:
"Muốn tức thân thành Phật thì những nghiệp tội đã tạo trong quá khứ cần phải được tẩy rửa sạch sẽ, bằng không, tập tính vẫn chưa được trừ hết, vẫn có ô uế, từ đầu tới chân bốc mùi hôi thối thì thành Phật cái gì? Phật Xú Uế sao? Ngài hãy cảnh tỉnh chính mình và cảnh cáo các đệ tử đi."
"Bà lão là ai vậy?" - Tôi hỏi.
Bà lão biến hóa thân đi về hướng hư không, đầu đội mũ phượng hoàng, thân khoác áo đỏ, tay trái cầm quả đào tiên, tay phải cầm phất trần của Tiên, chính là Diêu Trì Kim Mẫu (Tiên Vương) một trăm phần trăm.

Tôi đảnh lễ Kim Mẫu, nước mắt chảy như mưa.
Kim Mẫu nói:
"Sạch sẽ là được rồi, khóc cái gì mà khóc!"

Tôi giật mình, từ trong tam muội mà xuất định.
Trong mắt tôi vẫn còn những giọt nước mắt cảm kích. Từ đó, tôi đã biết tôi là kẻ thấp hèn nhất.


### 02. Dẫm phải bãi phân chó


Ngày hôm đó, tôi rời khỏi nhà tôi ở hồ Diệp Tử để đi bộ trong rừng trên núi, niệm Phật trì chú. Chẳng ngờ, bản thân tôi không cẩn thận đã dẫm phải một bãi phân chó. Trong lòng tôi nghĩ, hôm nay thật là xui xẻo, người khi gặp vận xui như phân chó, kiểu gì thì cũng sẽ dẫm phải phân chó.

Trở về căn nhà, tôi cởi dép, đầu tiên tôi rửa sạch phân chó, cái mùi thối khủng khiếp. Tôi dùng đũa để cạy, dùng vải để lau, dùng nước để rửa, chẳng gì thì cũng vui làm sao!

Hôm đó, tôi nhập tam muội.
Tôi hiển hiện hình tướng Đại Hoạt Phật, ngồi trên pháp tọa cao nhất, hướng xuống chúng sinh thuyết pháp. Tôi giảng:
"Oan thân trái chủ là người bạn hỗ trợ cho chúng ta tu hành, hành giả chúng ta cần từ bi với oan thân trái chủ. Ngược lại, họ sẽ gia trì cho chúng ta đắc bồ đề, gia trì cho chúng ta thành đạo quả, ân này rất lớn, nên cảm ơn họ, đồng thời, mong ước cho họ được độ hóa, từ trong đau khổ đạt được giải thoát."

Tôi thuyết pháp xong, chúng sinh xếp hàng cầu xin tôi gia trì, tôi sờ đầu cho từng người một, từng người một đều được sờ đầu.
Nhưng tôi nghe thấy có mấy người nói thì thầm:
"Tôi chẳng tin vị Hoạt Phật này, oan thân trái chủ mà còn cần phải cảm ơn sao?"
"Ăn miếng trả miếng, hiện thực là thế."
"Hoạt Phật mà nói nhảm."
"Chúng ta đừng đi cho ông ta sờ đầu. Chúng ta lên kế hoạch hại ông ta, hại cho cái ông Hoạt Phật này chết đi sống lại, ha ha!"

Tôi nghe mấy lời này, trong lòng buồn muốn chết, cảm thấy chúng sinh khó độ, chi bằng tự mình sống đến già, nhập niết bàn là xong, tâm đã thành tro, ý cũng nguội lạnh, còn phát bồ đề tâm cái gì, không từ bỏ một chúng sinh nào cái gì chứ.

Đúng vào lúc này, Quan thế Âm Bồ Tát ở trong tam muội của tôi đã hiện thân, nói với tôi rằng:
"Liên Sinh, ngài lại dẫm phải một bãi phân chó rồi, nhân gian đâu đâu cũng có phân chó, ngài cần nhẫn nhục đi! Cần tinh tấn hơn nữa!"
Bồ Tát lại nói:
"Cho dù là Phật Đà cũng gặp phải Đề Bà Đạt Đa, gặp những người không muốn được độ hóa."
Tôi thở phào, chắp tay kính lễ Bồ Tát.

Trong tam muội, tôi xem xét đôi dép của mình.
Ha! Quả nhiên lại dẫm phải phân chó rồi, lại phải đi rửa rồi.

Thế là, tôi không khi nào lười biếng, không phân biệt ngày đêm chân thành chăm chỉ nhập vào tam muội để cứu độ chúng sinh và thuyết pháp. Phải thừa nhận rằng chúng sinh càng ngày càng nhiều lên, những người được cứu cũng rất nhiều, nhưng cũng có những người không muốn được độ hóa.
Nhưng, tôi chẳng quan tâm!


### 03. Ghẻ lở trên mặt


Tôi ở hồ Diệp Tử thiền định tam muội, khi nhập vào tam muội, tôi thấy mình đến một nơi, nơi này là nhân gian của thế giới Ta Bà, chẳng có gì lạ cả.

Tôi bước vào một ngôi nhà, hóa ra trong nhà này có một đàn thành, là nhà của một hành giả Mật giáo. Tôi lại quan sát thêm, thấy một đệ tử Chân Phật Tông mặt mày nhăn nhó khổ sở đang tận lực niệm:
"Om guru liansheng siddhi hum. Om guru liansheng siddhi hum. Om guru liansheng siddhi hum. Om…"

Tôi nhìn người đệ tử ngày thì giật thót mình. Thì ra, trên mặt anh ta mọc đầy ghẻ lở, giống như bị nhiễm bệnh phấn trắng vậy, nhưng lem nhem hơn, bên này bị một đám, bên kia bị một đám, giống như tấm bản đồ vậy, ngay cả trên mũi cũng có, trên trán lại càng nhiều. Tôi thấy thế thì rất sợ, tôi tin rằng bản thân anh ta cũng không dám đi ra ngoài, người ngoài trông thấy sẽ đều chết khiếp. Bệnh ghẻ lở này khả năng có tính truyền nhiễm, ai ai cũng sợ hãi mà tránh xa.

Tôi chỉ nghe thấy đệ tử này nói:
"Kể từ khi quy y Liên Sinh Hoạt Phật thì ghẻ lở mới xuất hiện. Lúc trước chẳng quy y chẳng tu pháp thì chẳng bị ghẻ lở."
Tôi nghe xong, xém chút nữa thì tức hộc ra máu. Con người thông thường hễ mắc bệnh thì luôn trách đủ thứ, nghiệp chướng của bản thân đến rồi nhưng họ đều không thừa nhận. Bây giờ lại đổ thừa lên đầu tôi. Anh quy y tôi thì mắc bệnh ghẻ lở, vậy lẽ nào tôi là Đại Vương Ghẻ Lở sao, tôi đâu có bị ghẻ lở.

Thật tức ghê, nhưng, đệ tử này đã trì tụng được cả vạn vạn biến Căn bản Thượng sư tâm chú rồi, không cứu anh ta thì cũng rõ ràng là tôi chẳng có năng lực gì, không có pháp lực.

Chờ đến buổi đêm, tôi nhập vào trong giấc mơ của anh ta. Tôi dùng tay của tôi để bắt những con sâu màu trắng trên mặt anh ta, những con sâu nhỏ màu trắng trên mặt anh ta quả thực đã quá nhiều, bắt mãi không hết. Rồi tôi dùng cái cạo, từng đám sâu nhỏ đều bị cạo rơi xuống đất.

Trong giấc mơ, tôi nói với đệ tử:
"Ghẻ lở đã khỏi rồi, hãy độ nhiều người hơn đến quy y, quy y ta thì sẽ không mắc bệnh ghẻ lở nữa, ta sẽ không để người ta bị ghẻ lở đâu. Hễ có bệnh thì đều là nghiệp chướng, cần phải biết là như vậy. Có bệnh thì khám bác sĩ để chữa, cũng cần có tín tâm niệm Phật trì chú, chính vì anh niệm Căn bản Thượng sư tâm chú đã đủ nên ta mới đến đây."

Tôi nói xong thì thần hành đi mất.
Theo như tôi biết:
Chỉ nhờ công phu của một đêm mà ghẻ lở trên mặt anh ta đã khỏi rồi! Anh ta vừa mừng vừa tủi!
Anh mơ thấy Lư Sư Tôn giúp anh bắt bao nhiêu là sâu trắng trên mặt anh, anh đã khởi lên lòng tin lớn lao, đã giới thiệu rất nhiều người đến quy y Chân Phật Tông.

Giấc mơ của anh lan truyền khắp xa gần.
Kể từ đó, anh càng tinh tấn, chăm chỉ trì chú không mệt mỏi, trì chú đến khi một bông hoa sen ở Ma Ha Song Liên Trì cũng bung nở luôn rồi.


### 04. Bị câm bẩm sinh


Trong lúc thần hành trong tam muội, tôi trông thấy một cặp vợ chồng rất thành khẩn cầu xin Phật Bồ Tát ban cho họ một đứa con trai. Họ đã cầu xin nhiều năm, rốt cục cũng có cảm ứng, hạ sinh được một đứa con trai. Đứa bé lớn lên nhưng lại có một khiếm khuyết, đó là bị câm bẩm sinh. Họ nghe người ta nói thờ cúng tượng sứ của Thượng sư thì sẽ có được nhiều cảm ứng, thế là họ liền thờ cúng một bức tượng sứ Liên Hoa Đồng Tử. Chính bởi vì nhân duyên đó mà trong lúc tôi thần hành trong tam muội đã thấy được đôi vợ chồng rất thành tâm tín Phật này. Tôi cũng trông thấy đứa con bị câm bẩm sinh của họ.

Họ hướng về tượng sứ Liên Hoa Đồng Tử cầu nguyện, đau đớn rơi nước mắt, tôi trông thấy cũng không cầm lòng được.

Tôi kiểm tra lưỡi đứa bé, không có vấn đề.
Tôi kiểm tra thanh đới của đứa bé, không có vấn đề.
Tôi kiểm tra họng của đứa bé, không có vấn đề.

Tôi vẽ một tấm phù "Mở miệng phát âm", rồi đi vào trong giấc mơ của cậu bé, cho cậu uống phù, chẳng ngờ không có hiệu lực. Tôi không hiểu tại sao, nghĩ suốt cả nửa ngày, rồi bèn đi tìm thần chim Ca Lăng Tần Già, là thần chim phát ra âm thanh tuyệt mĩ nhất. Các thần chim rất thương xót nhưng cũng không có cách nào giúp.

Tôi đã muốn từ bỏ, nhưng sau đó, tôi nghĩ có thể là vấn đề nhân quả. Nhân quả thực sự phức tạp, phải kiểm tra rất lâu, thế rồi tôi thấy được kiếp trước đứa bé khi là pháp sư, đã phạm phải ba lỗi nghiêm trọng:

1. Đánh mất lòng tôn kính với sư phụ của mình.

1. Đánh mất bồ đề tâm.

1. Đánh mất giới luật.

Còn kiếp trước của cặp vợ chồng này, không ngờ họ cũng là cha mẹ thân sinh kiếp trước của pháp sư. (Nhân quả nhiều kiếp ràng buộc với nhau.) Tôi nhìn thấy nhân quả như thế cũng thấy thật đáng sợ.

Đến đây tôi muốn bỏ cuộc nhưng rồi lại không đành lòng. Tôi đi vào trong giấc mơ của cặp vợ chồng, khuyên họ niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh đủ 1000 biến. Quả nhiên cặp vợ chồng đó phát nguyện sẽ trì Cao Vương Kinh cả đời, sám hối tất cả, hồi hướng cho đứa con trai, không chỉ là 1000 biến mà họ đọc cả vạn biến, vạn vạn biến. (Đọc tụng tròn nghìn biến, trọng tội đều tiêu diệt.)

Theo như tôi biết, đứa con trai đã có cảm ứng. Một ngày nọ, cậu bé trượt chân ngã xuống nước, được người ta cứu lên, cậu bé nôn ra rất nhiều nước. Điều khiến người ta kinh ngạc tán thán là cậu bé bỗng nhiên mở miệng phát ra âm thanh. Sau khi bị rơi xuống nước thì bệnh câm bẩm sinh không ngờ biến mất, cậu mở miệng nói được rồi.

Cặp vợ chồng cảm kích không ngừng.
Đây chính là cảm ứng rất lớn của Cao Vương Kinh!


### 05. Ẩn cư phi ẩn cư là ẩn cư


Tôi đã đóng cửa ẩn cư ở hồ Diệp Tử nhiều năm, đã lâu không biết đến chuyện thế sự rồi! Tôi đã rời xa mọi việc của thế gian. Có thể nói rằng tôi chẳng muốn nghe, chẳng muốn hỏi, chẳng muốn tìm hiểu.

Nhưng mỗi lần tôi thiền định tam muội thần hành đều xuất hiện nhiều cảnh giới, khiến tôi trong lúc thần hành lại cũng vẫn đi độ chúng sinh. Nói là lui về ở ẩn nhưng kì thực cũng chẳng giống như ở ẩn, nói là không phải lui về ở ẩn thì rõ ràng là tôi đã lui về sống ẩn dật rồi mà, thật sự là ở ẩn rồi. Điều này thật khó nói.

Xem ra tôi đã quá yêu chúng sinh rồi. Chúng sinh không bỏ tôi, tôi không bỏ chúng sinh. Sắc thân của tôi thì thật sự là ẩn rồi. Nhưng cái tâm thường hằng của tôi thì vẫn nhớ đến tình nghĩa của các thánh đệ tử, những tình nghĩa này làm sao quên?

Chúng sinh rất đáng kính, họ đã đồng hành cùng tôi những lúc vui vẻ nhất. Bản thân tôi quá thấp hèn, tôi có thể thành tựu tất cả đều là nhờ vào chúng sinh. Chúng sinh có phiền não, còn bản thân tôi lại thanh tịnh tự tại, đương nhiên tôi cần tiêu trừ phiền não của họ, có thể nào phớt lờ không quan tâm được sao?

Đương nhiên tôi biết, trong số các đệ tử cũng có những người xấu, không biết phân biệt đúng sai, đã đánh mất cái tâm ban đầu, nhưng họ cũng phải chịu tội, phải chịu đau khổ dày vò, tôi lại càng cần phải quan tâm đến họ. Càng là người căm hận tôi, người nhục mạ phỉ báng tôi một cách phi lý, người tìm cách hãm hại tôi, tôi càng không thể quên lời thề của mình, càng cần đi độ hóa cho họ.

Ngày xưa, tôi từng kì vọng ra mặt để độ chúng sinh, trong thâm tâm tôi cứ luôn mong ngóng như vậy. Chẳng ngờ, ngược lại tôi còn bị người ta bày kế hãm hại. Nhưng đây là sự gia trì ngược, khiến tôi càng thành tựu với vai trò là một đại thiện tri thức, tôi càng phải cảm kích họ, cảm ơn họ.

Tóm lại, bất kể là thuận cảnh hay nghịch cảnh thì đều giúp tôi tinh tấn thành đạo. Tôi nguyện cống hiến sinh mạng của mình, chúng sinh chịu bao nhiêu gian khổ như vậy, tôi không cứu không được.

Trong thiền định, tôi có tình.
Trong tam muội, tôi có nghĩa.
Trong thần hành, tôi có pháp.

Tôi xem tất cả chúng sinh hữu tình giống như người thân cha mẹ anh chị em của tôi, xem họ như những viên "ngọc như ý", nguyện cho họ được ngày cát tường, đêm cát tường, từng giờ từng phút đều cát tường. Nhưng cũng mong trong khi tôi thần hành, tôi có thể giúp thành tựu lợi lạc cuối cùng cho họ.

Tôi đã ẩn cư rồi.
Nhưng tâm thì vẫn không ẩn cư.
Do thế, ẩn cư phi ẩn cư ấy là ẩn cư.

Mọi người hãy theo tôi tu tam muội, để nhận thức được thế gian như mộng huyễn, đừng bám chấp mà cần xả bỏ, giải thoát thành tựu để đến được cõi Tịnh độ.


### 06. Giúp đỡ một thí sinh


Có một học sinh rất ưu tú, thuộc tốp học sinh đứng đầu. Sự nghiệp học hành của cậu luôn đứng thứ nhất thứ hai, có chí hướng và tham vọng lớn.

Vào năm nọ, cậu tham dự một kì thi quan trọng nhất trong cuộc đời. Đề thi toán đưa ra, có thể nói là cậu đều hiểu hết, chắc chắn có thể được điểm tuyệt đối. Cậu hoàn toàn tin chắc như vậy.

Cậu tính toán và lần lượt hoàn thành các câu hỏi, rất dễ dàng.
Trong số đó có một câu hỏi, hoàn toàn không phải là khó, cũng là vấn đề cậu đã từng làm qua, theo lý mà nói thì có thể giải được. Nhưng kì lạ thay, đột nhiên có chướng ngại, cậu chẳng ngờ không nghĩ ra được mối liên kết nằm ở đâu. Mồ hôi cậu túa ra. Nếu không trả lời được câu này thì sẽ bị mất 10 điểm.

Đầu óc thoải mái và tỉnh táo lúc ban đầu bỗng nhiên như bị bóp chặt lại.
Tình huống này cũng giống như khi tôi viết sách vậy, gặp một chữ bình thường, bình thường vẫn biết viết chữ này, cũng đã từng viết rồi, nhưng nhất thời lại không nhớ ra được, thử viết trên giấy nháp nhưng nhìn trái cũng không giống, nhìn phải cũng không giống. Cuối cùng phải đi tra từ điển, mới "ồ" lên một tiếng, thế là viết được!

Hôm nay, cậu học sinh đó cũng chính là bị như vậy, bình thường những bài toán đã từng làm qua rồi nên cảm thấy không có vấn đề gì cả. Bây giờ thì đột nhiên lại không tính ra.
Loay hoay ngẫm nghĩ, vẫn không nghĩ ra là không nghĩ ra.
Càng vội càng hoảng, càng bấn loạn.
Cậu lo đến muốn khóc.

Đột nhiên, cậu nhớ ra có đeo trên người một tấm phù hộ thân của Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật. Cậu đưa tay xoa xoa lên tấm phù hộ thân, niệm một câu:
"Om guru liansheng siddhi hum."
Trong chốc lát, điểm mấu chốt của câu hỏi toán học kia đột nhiên như được mở ra. Trong lòng cậu nghĩ đã có cảm ứng rồi, lập tức nhớ lại những gì đã học, nhanh chóng tính ra kết quả, hóa ra lại đơn giản dễ dàng như vậy. Cậu biết cậu đã được điểm tuyệt đối rồi.

Trong lòng cậu thí sinh này mãi mãi có Sư Tôn.
Không Hành Mẫu vừa nghe tiếng kêu cứu đã liền cứu cậu rồi.
Tôi cảm thấy một người chỉ cần thành tâm thành ý, nhất tâm bất loạn, hoặc khẩn thiết cầu nguyện, thì đều là những yếu tố vô cùng quan trọng. Đặc biệt là một hành giả, sự phát tâm ban đầu và tâm lâu dài vĩnh cửu là vô cùng quan trọng.
Tu hành là khổ, nhưng không cũng là một huyễn mộng. (Coi như mơ một giấc mơ.)
Ngẫm xem, ngẫm xem.
Hãy hiểu, hãy hiểu.


### 07. Viên thuốc năng lượng


Ngày xưa có một người chơi đàn (làm nghề hát dạo) đi khắp nơi để hát, anh là đệ tử của tôi. Lưng anh hơi gù, không đứng thẳng được, cột sống cong cong.

Mỗi lần gặp Sư Tôn, anh đều gọi:
"Sư Tôn, xin giúp con vỗ vào cái lưng một chút."
Tôi liền vận khởi tâm lực, đồng thời niệm chú "Hum hum hum", dùng sức mạnh để vỗ vào lưng của anh chơi đàn. Nói ra kể cũng kì lạ, vỗ một hồi thì cái cột sống của anh chơi đàn đã thẳng lại, lưng cũng không gù nữa, anh hét lớn:
"Kì tích! Kì tích!"

Về sau, bất kể là tôi đến nơi nào hoằng pháp, chỉ cần anh chơi đàn có mặt ở đó là anh nhất định sẽ gọi tôi: "Sư Tôn! Xin lại giúp con đánh vào lưng một lát."
(Tôi đã thành sư phụ chỉnh xương sống rồi.)
Tôi cười:
"Chẳng phải là đã thẳng rồi sao?"
Anh chơi đàn nói:
"Phòng bệnh hơn chữa bệnh."

Lần này tôi ẩn cư ở hồ Diệp Tử, chính tôi cũng bị mắc bệnh nặng "não phân tám mảnh, tứ đại phân tán", nhưng tôi cố gắng chịu đựng nỗi đau khổ này! Nhẫn nại!

Thật may, trong tam muội, tôi vẫn có thể thần hành đi lại, thoát khỏi cái khổ của sắc thân. Khi thần hành thì tôi tự do mạnh mẽ giống như rồng như hổ, bình thường thì sắc thân này giống như một gánh nặng.

Trong khi thần hành, tôi lại gặp anh chơi đàn, thật là có duyên. Anh ta cũng tràn đầy hứng thú, gặp ai là liền kể về kì tích Sư Tôn vỗ vào lưng anh, khiến cho cái lưng gù của anh có thể thẳng lại. Tôi thấy anh có đạo tâm kiên cố, trong lúc thần hành, tôi cũng vỗ vào lưng anh. Anh có biết hay không, tôi cũng không bận tâm, tôi cứ biết tôi làm là được.

Có một lần, anh chơi đàn bận đến mệt nhoài, ngủ say đến mức trời sập không biết. Cũng vì lo toan cuộc sống mà!

Tôi nhập vào giấc mộng của anh.
Trên tay tôi cầm một chiếc đĩa, trên chiếc đĩa có mấy viên thuốc, tôi toan đưa mấy viên thuốc cho anh chơi đàn uống.
"Là thuốc gì?" - Anh hỏi.
"Thuốc năng lượng." - Tôi đáp.
Tôi nói:
"Anh cũng già rồi, cuộc sống khó khăn, cái này để tăng cho anh một ít năng lượng!"
"Sư Tôn từ đâu đến đây?"
"Hồ Diệp Tử."
"Sư Tôn vất vả quá rồi."
"Chúng sinh đều khổ, ta có thể không khổ sao?"

Anh chơi đàn uống thuốc năng lượng xong, cái lưng dưới cong cong liền thẳng lại, thể lực mạnh mẽ tráng kiện, da thịt sáng ra và dẻo dai, tiếng nói cũng vang to hơn. Anh đi hát dạo đến nơi nào thì đều tuyên truyền về thần lực của tôi, ha ha!


### 08. Chuyển nghề khỏi ung nhọt


Tôi ẩn cư ở hồ Diệp Tử, biết đến trong Mật giáo có ba sự chuyển đổi lớn:

1. Chuyển nghiệp khí (khí hậu thiên) thành khí tiên thiên.

1. Chuyển khí thành quang, tịnh quang xuất hiện.

1. Chuyển tịnh quang thành tính Không.

Trong tính Không thì không có sự nắm lấy hay buông bỏ, không chấp tướng, không chấp Không, như vậy tức là tam muội. Việc tu trì Mật giáo chính là dựa vào ba sự chuyển đổi này.

Tôi có một đệ tử, vì gặp thời cơ không may nên đã chuyển sang làm kinh doanh vườn câu tôm. Anh sử dụng một cái ao lớn, thả tôm xuống nuôi rồi cho người ta đến câu tôm, tôm tươi câu lên thì nướng ăn ngay tại chỗ. Việc kinh doanh vườn câu tôm cũng không tệ, anh còn tuyển mấy cô gái trẻ xinh đẹp để tiếp khách, kinh doanh rất tốt.

Vườn câu tôm của anh cũng mời người đến xem phong thủy, cúng Thổ Địa Công, rồi lại vì anh là đệ tử của tôi nên ở sau lưng Thổ Địa Công, anh cũng đặt bức tượng thờ Liên Hoa Đồng Tử.

Vấn đề là công việc kinh doanh thì tốt, nhưng bản thân đệ tử thì từ khi kinh doanh vườn câu tôm, trên da xuất hiện nhiều ung nhọt, đầu ngón tay, đầu ngón chân, bụng, lưng, cổ, chỗ nào cũng có, đi khám da liễu thì chẳng thấy có hiệu quả gì. Khi bệnh của đệ tử đã nặng, ngay cả ở lông mày cũng ngứa, gót chân đều nổi hạch, anh không ngừng than trời trách đất.

Anh cầm hương lạy Thổ Địa Công và Liên Hoa Đồng Tử, niệm An Thổ Địa chân ngôn: "Namo samanto motonam, om duru duru devi soha", niệm "Om guru liansheng siddhi hum".

Tôi nhập mộng nói với anh:
"Anh phải hồi tâm chuyển ý, câu tôm là nghề sát sinh, hành giả không được làm. Đưa gái trẻ đẹp về, mặc váy ngắn, là nghề sắc tình, hành giả cũng không được làm. Anh nên đổi nghề đi! Làm công việc đàng hoàng mới tốt, nếu như đổi nghề, những ung nhọt trên da anh tự nhiên sẽ khỏi thôi."
"Vậy thì đệ tử làm kinh doanh pachinko được không?" [ Pachinko là kinh doanh trò chơi điện tử. ]
"Đó là trò cờ bạc, không phải là chính nghiệp."
"Vậy đệ tử mở nhà hàng chay."
"Tốt!" - Tôi nói.

Người đệ tử này nghe theo lời khuyên trong mơ của tôi, quả nhiên nhanh chóng chuyển nghề, một lòng một ý trì tụng kinh Quan Thế Âm. Kể từ đó, da anh từ từ hồi phục, cuối cùng đã khỏi bệnh hẳn, việc kinh doanh nhà hàng của anh cũng rất tốt.

Tôi nhập vào trong mộng của anh.
Là do anh niệm Liên Hoa Đồng Tử tâm chú cũng đã có cảm ứng rồi.


### 09. Ba người luyện công phu


Ở hồ Diệp Tử, tôi rất nhớ các đệ tử trước đây. Thời kì đầu, tôi có ba đệ tử cũ luyện công phu quyền thuật.

Một người là Hứa Thủy Vượng, người cao to tráng kiện, luyện công phu "kim chung tráo", mười người đẩy anh ta cũng không dịch chuyển, công phu này chính là "lạc địa sinh căn". Để cho người ta đấm đá lên thân thể anh, anh ta cũng vẫn bất động, không một tiếng kêu, người đầy bản lĩnh.

Còn nhớ lần đầu tiên tôi trở về Đài Loan, Hứa Thủy Vượng đột nhiên mắc bệnh, không ngờ anh chỉ gặp tôi một lần cuối rồi qua đời, tuổi cũng còn khá trẻ.
Trong lòng tôi rất thương tiếc!

Đệ tử thứ hai chính là Trương Hoàng Minh. Anh theo tôi đã lâu, để râu dài, râu vừa đen vừa dài bay bay, dáng người cao lớn, cũng là một người đầy bản lĩnh, từ nhỏ đã luyện công phu. Trương Hoàng Minh tâm địa thiện lành, đôi mắt sáng. Thế nhưng anh cũng đã mất rồi, tuổi cũng còn trẻ. Mọi người đều biết Trương Hoàng Minh là ai, tôi nhớ anh, trong lòng cũng buồn thương đến chảy nước mắt.

Đệ tử thứ ba chính là Trịnh Dụ Tín. Dáng người anh thô ráp, cũng là một người đầy bản lĩnh, đã từng lên võ đài, công phu đẳng cấp ichiban [ ND: tiếng Nhật, nghĩa là số một ], lư hỏa thuần thanh "bát quái du thân chưởng". Lúc 50, 60 tuổi thì vẫn khỏe như ngựa, thân thể dẻo dai mềm mại ai nấy kinh thán.

Trịnh Dụ Tín biểu diễn công phu ở biệt thự nhà anh, anh ta có "thiết sa chưởng", bản lĩnh phi phàm. Điều không ngờ là anh cũng đã qua đời rồi. Khi anh mất, tôi ở hồ Diệp Tử, nhìn thấy thân trung ấm của anh đến, phía sau anh có không ít người đi theo.

Tôi tiễn anh một đoạn, trong lòng không chịu nổi nỗi đau buồn thương tiếc!

Tôi viết về ba đệ tử luyện công phu này là muốn mọi người hiểu rõ về "mộng huyễn bào ảnh", nhớ rằng: "Thế gian vô thường, quốc đại nguy thúy, tứ đại khổ không, ngũ uẩn vô ngã, sinh diệt biến dị, thành trụ hoại không."
Có mạnh thì có suy.
Có sinh thì có tử.
Có gặp thì có tan.

Vô thường cấp tốc, quả nhiên vô thường rất nhanh. Tôi là một hành giả giàu tình cảm, sao tôi có thể không nhớ tiếc ba đệ tử luyện công phu này. Đời người như một giấc mộng, sự gặp gỡ cũng ngắn ngủi tạm thời. Một giấc mộng một thế giới.

Tôi tu quang minh, cúng thập phương Phật, ánh sáng nhập vào Phật tâm, trở về nhập vào tự tâm, rồi lại phóng quang đến khắp thập phương lục đạo hữu tình, quảng độ chúng sinh đều được xuất ly khỏi biển khổ, trực tiếp đến Tây phương cực lạc tịnh thổ, đến được tịnh thổ là quan trọng nhất.

Tôi nói, cho dù luyện thân thể cường tráng thế nào thì cũng suy bại thôi, thời gian chẳng tha người nào hết!


### 10. Xin đừng buồn phiền quá mức


Nghe nói rằng vào những năm cuối đời, Phật Thích Ca Mâu Ni đã xuất hiện những triệu chứng tuổi già, vô cùng tiều tụy. Phật Đà cũng mắc bệnh như thường, sắc thân suy yếu, hoạt động khó khăn.

Trong nhân duyên của Phật Đà, mặc dù đã đại giác ngộ, nhưng Phật cũng phải chịu bệnh:
Đau nửa đầu.
Đau lưng nhức mỏi.

Phật Đà nhập niết bàn là vì nhận cúng dường của người thợ rèn, ăn phải thực phẩm không sạch, bệnh viêm dạ dày phát tác, thế rồi Ngài cũng nhập niết bàn tại gốc cây sala.

Ngày trước, tôi đến Thiên Trúc, Ấn Độ, đã đi qua 8 đại thánh địa, đến nơi Phật niết bàn, trông thấy rất nhiều đệ tử nhiễu vòng quanh, nét mặt họ đều đầy vẻ ưu phiền.

Thượng sư của tôi, Đại Bảo Pháp Vương thứ 16 Kamarpa mắc bệnh ung thư dạ dày, sống đến ngoài 50 tuổi thì thầy cũng nhập niết bàn tại Chicago, Mỹ. Đạo An pháp sư, vị thầy quy y của tôi, chỉ vì trượt chân trong nhà tắm mà cũng đã nhập niết bàn khi hơn 50 tuổi.

Từng có đệ tử hỏi tôi:
"Sư Tôn! Thầy có mong trường thọ không?"
Tôi đáp:
"Tôi chẳng mong trường thọ."
"Vì sao vậy?"
"Tục ngữ có câu, sống chết có số, phú quý nhờ trời. Sống chết là việc của tự nhiên, như lúc mơ lúc tỉnh, sống chết như nhau, xin đừng buồn phiền quá mức."

Tôi từng có một đệ tử già là bà Lâm Ngọc Liễu, tôi quen bà tại Ngọc Hoàng Cung ở Đài Trung. Khi tôi đi Mỹ, chúng tôi cũng từng thư từ qua lại. Em gái của bà chính là Lâm Ngọc Tần, người đã cúng dường tấm phướn hình Phật cho Seattle Lôi Tạng Tự. Họ đều là những đệ tử già quy y tôi từ hồi đầu.

Tôi sống ẩn tại hồ Diệp Tử, biết Lâm Ngọc Liễu sắp viên tịch. Trong lòng tôi không nỡ. Bà ấy cùng thế hệ với mẹ tôi.
Tôi đã đặc biệt biến hóa ra "nước trường sinh" gửi cho bà ấy uống.
Bà ấy không uống, ngược lại còn tức giận. [ ND: Vì bà không thấy cần phải sống lâu làm gì ]

Bà nói:
"Nếu có vô lượng trăm nghìn vạn tỉ chúng sinh phải chịu mọi khổ não, biết đến Quan Thế Âm Bồ Tát, một lòng xưng danh hiệu ngài,  Quan Thế Âm Bồ Tát lập tức sẽ nghe thấy âm thanh này mà những chúng sinh đó đều được giải thoát."

Lâm Ngọc Liễu nói:
"Chỉ cần nhất tâm xưng danh nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát thôi!"
Đàn thành có Thánh Hiền.
Bảo vật đều thanh tịnh.
Hoa quả chứng vô sinh.
Hết thảy đều viên mãn.
Lâm Ngọc Liễu nói:
"Tôi ở lại trên thế gian có lợi ích gì chứ?"

Cuối cùng, tôi chỉ gửi tặng bà một đóa hoa sen.


### 11. Trăm quỷ đến cướp khí


Ở hồ Diệp Tử, tôi làm thí thực:
Đại bàng Kim Sí Điểu.
Hoang dã quỷ thần chúng.
La sát quỷ tử mẫu.
Cam lộ đều tràn đầy.
Om mutili soha. Om mutili soha. Om mutili soha.

Đúng lúc này, những lá cây ở khu rừng sam đều hóa thành ác quỷ. Cam lộ của tôi vẫn còn chưa vẩy ra thì chân khí của toàn thân tôi đã bị chúng hút hết sạch.

Trong một chốc, tôi giống như quả bóng bị xẹp hết khí, tinh thần cực kì suy sụp, cả người uể oải mệt mỏi, dường như đến cả việc đi dạo bộ cũng khó khăn, mỗi bước đi đều cảm thấy kiệt sức.

Tôi toi rồi, tôi tự thấy trăm nghìn vạn quỷ lợi dụng lúc tôi chưa chuẩn bị xong đã lao đến cướp khí của tôi, thật quá đáng. Tuy nhiên, tôi là một hành giả, vốn dĩ chính là cần cống hiến thân thể và sinh mạng của mình cho chúng sinh, chân khí tản mát của tôi nếu như có ích cho trăm nghìn vạn quỷ thì tôi cũng mãn nguyện.

Tôi cực kì đau đớn.
Ăn không ngon miệng.
Quần áo rách nát.
Nằm co quắp một chỗ.
Kiệt sức toàn thân.

Tôi liên tục mất ngủ, tóc chẳng chải, râu chẳng cạo. Tóc bạc trắng, râu bạc trắng, khi tôi soi gương thì giật nảy mình. Tôi chính là một kẻ lang thang một trăm phần trăm, khí lực cạn kiệt, nhìn như chết hơn là sống, sự hùng dũng, khí thế của quá khứ chẳng biết đã biến đi đâu mất, thật đáng thương làm sao! Tôi cũng chẳng khác gì kéo lê một xác chết.

Thôi kệ đi! Chỉ cần đám quỷ có được lợi ích thì cho dù tôi chết cũng được, thân thể xương thịt này của tôi không cần cũng được, tất cả đều cống hiến hết.

Có một hôm, Thiện Quang Phật thị hiện pháp thân, nói:
"Ta dạy ngài một câu chú! Nếu không ngài sẽ chết mất!"
Chú rằng:
“Bồ đề phát ư tâm. Ư tâm vô sở tầm. Thành tựu ư nhất thiết. Vô cổ diệc vô kim” [ ND: Có thể đọc câu chú như sau: Bồ đề phát tại tâm. Tại tâm chẳng cần tìm. Thành tựu được hết thảy. Chẳng xưa cũng chẳng nay. ]

Tôi có được câu chú này thì cứ thế tụng niệm. Tôi niệm hàng ngày, niệm đến trăm, nghìn, vạn quỷ không ngờ đều có được cảm ứng. Những lá cây trong khu rừng sam vốn dĩ là ma quỷ, không ngờ đã biến hóa thành Phật. Lũ ma quỷ đều nhờ bài kệ này mà khai ngộ.

Ha ha! Hóa ra là Phật đến để khảo nghiệm tôi à!
Thể lực của tôi đã phục hồi rồi! Khí đã từ từ khôi phục.


### 12. Niệm chú Phát bồ đề tâm


Có một người không phải là đệ tử của tôi.
Tuy nhiên, tại một quầy hàng nhỏ tại chợ đêm, người này trông thấy một bức tượng Bồ Tát, anh ta cho rằng đó là Địa Tạng Vương Bồ Tát, tướng mạo cũng khá đẹp, bèn thỉnh về nhà để thờ cúng.

Khi trở về nhìn kĩ lại thì Bồ Tát này không phải là Địa Tạng Vương Bồ Tát, bởi vì hai tay ngài không cầm bảo ngọc, cũng không cầm cây trượng, nên không phải là Địa Tạng Bồ Tát.

Anh mời chuyên gia đến xem, chuyên gia nói, đội mũ Ngũ Phật, tay phải cầm chày kim cang, tay trái cầm chuông kim cang, rõ ràng là Kim Cang Tát Đỏa Bồ Tát, nhưng cách cầm thì lại không giống, là bị ngược, vậy thì lại không giống Kim Cang Tát Đỏa. Chuyên gia lắc đầu chịu thua.

Lúc này không còn cách nào khác. Anh này mỗi ngày đều thắp hương, cúng trà quả, luôn miệng gọi: "Bồ Tát. Bồ Tát. Vô danh Bồ Tát."
Cứ thế nhiều năm trôi qua.

Có một năm nọ, anh bị mắc bệnh mắt, mắt bị viêm đỏ, chảy máu, đi khám không có hiệu quả, mắt vừa đau vừa mờ, anh không ngừng rên rỉ, khổ không lời nào kể xiết.

Tôi nhập vào giấc mơ của anh. Anh hỏi:
"Ngài là ai?"
"Tôi và anh có duyên, tôi đã ở trong nhà anh lâu rồi! Tôi chính là Bồ Tát, nếu tôi không đến đây thì anh sẽ bị mù đó. Tôi dạy anh một câu chú, anh nhớ kĩ, khi trì chú hãy tưởng tượng mặt trăng tròn phóng quang chiếu đến anh, chú rằng: "Om bodichita benza samaya ah hum."

Anh tỉnh dậy, quên luôn câu chú này.
Tôi lại nhập mộng một lần nữa:
"Om bodichita benza samaya ah hum."
Lần này thì anh đã nhớ được rồi.

Câu chú này mang sức mạnh đại uy đức, có thể khiến người trì chú thân tâm thanh tịnh, trì lâu thì tâm sẽ không thoái chuyển. Tất cả Bồ Tát trong quá khứ, hiện tại, vị lai khi mới phát bồ đề tâm đều trì câu chú này, sẽ nhập vào bất thoái địa tốc viên chứng giác.
Câu chú này đến từ "Đại Thừa bản sinh tâm địa quán kinh".

Trong giấc mơ, anh kia có được câu chú này, lại là hai giấc mơ liên tiếp, nên đã tin tưởng, cũng tưởng tượng ánh sáng trăng tròn chiếu lên mắt, rồi cật lực mỗi sáng sớm đều trì câu chú này. Mới được một tuần, mắt anh đã không còn đau nữa, máu tụ đã tan, đôi mắt quả nhiên sáng lấp lánh như hồi đầu.

Anh kể với người nhà, người nhà không tin lắm.
Anh lại mời chuyên gia, mời thợ tạc tượng giỏi đến để xem là Bồ Tát nơi nào. Mọi người đều chẳng nhận ra.
Ha ha! Là Liên Hoa Đồng Tử, Liên Hoa Đồng Tử đó mà.


### 13. Ngày xưa và ngày nay


Nhớ thời đại học, tôi học khoa đo đạc địa chất, sống tại ký túc xá, bị mắc bệnh mắt, là bệnh đau mắt đỏ, trong người luôn mang theo lọ nước nhỏ mắt. Khi mắt tôi khô rát và khó chịu thì mọi lúc mọi nơi sẽ đều có thể nhỏ nước nhỏ mắt.

Sau này, tôi mơ thấy một bà lão lấy ra một gói thuốc bột đắp lên hai mắt của tôi. Trong giấc mơ, tôi cảm thấy mát lạnh rất dễ chịu, cực kì sảng khoái. Kỳ lạ là, từ sau giấc mơ đó, bệnh mắt của tôi đã khỏi. Bà lão chính là hóa thân của Quan Thế Âm Bồ Tát.
(Câu chuyện này đã từng được đăng trong sách thời kỳ đầu.)

Ngày nay, tôi đắc tam muội, trong tam muội tôi đã đi thăm tiên sơn của Quan Thế Âm Bồ Tát, tự mình cảm tạ ơn chữa lành bệnh mắt của Quan Thế Âm Bồ Tát năm xưa.
Trước tiên tôi đến động Thiện Tài.
Thiện Tài Đồng Tử bảo tôi:
"Bồ Tát đang ở động Triều Âm."

Tôi vội vã đến động Triều Âm, thấy Quan Âm Đại Sĩ hiện toàn thân, mặc thiên y bằng tơ trắng và thắt lưng màu xanh nhạt, đeo trang sức trang nghiêm.
Tôi cảm tạ Đại Sĩ ngày xưa đã chữa bệnh mắt cho tôi.

Quan Âm Đại Sĩ nói với tôi:
"Ngày xưa ta chữa bệnh mắt cho ngài, ngày nay ngài đi chữa bệnh mắt cho người, đây cũng đều là nhân duyên. Tôi có một cách chữa bệnh mắt truyền đến thế gian, rất có hiệu nghiệm, ngài có thể ghi vào trong sách để truyền cho người đời sau, có tác dụng cứu thế."

Mỗi ngày vào buổi sáng, lấy một cốc nước sạch, thắp hương niệm bài kệ này bảy lần:
*“Quan Thế Âm cứu khổ.
Ban cho đại an lạc.
Cho tôi phương tiện lớn.
Diệt mờ mịt ngu si.
Các chướng ngại hiền kiếp.
Các tội ác vô minh.
Ra khỏi tôi - phòng tối.
Cho tôi thấy quang minh.
Nay tôi nói cách rửa.
Sám hối tội của mắt.
Tỏa khắp ánh sáng tịnh.
Mong thấy vi diệu tướng.”*

Tôi hỏi Quan Thế Âm Bồ Tát:
"Vì sao người đời mắc bệnh mắt lại nhiều như vậy?"
Bồ Tát đáp:
"Vì có mắt như mù, không mắt cũng như mù, trên đời ai có được con mắt thanh tịnh?"
Tôi nghe xong thì kinh hãi.

Nghĩ xem, đúng thật, cuộc đời con người từ nhỏ đến lớn, mấy người có thể không có phiền não? Có mấy người không vội vàng tất bật? Có mấy người có thể gặp được đại thiện tri thức để dạy chính pháp cho họ? Có mắt cũng như mù, không mắt cũng như mù, con người đúng là quá mù quáng.


### 14. Linh rắn ám thân


Một đệ tử nọ trồng nho ở trên núi, có một con trăn lớn trốn trong vườn nho nhưng đã bị đệ tử đó phát hiện ra và anh ta đã dùng rìu chém nó.

Đệ tử đó nằm mơ, mơ thấy con trăn bò vào trong bụng anh. Kể từ hôm đó anh sinh bệnh, sắc mặt xanh xám, khi không nói gì cũng thường xuyên thè thụt lưỡi. Bệnh càng ngày càng nặng, anh ta vừa khóc vừa la, thích nằm bò uốn éo trên mặt đất, hễ đói bụng thì đi kiếm đồ ăn, ăn một miếng to bằng cả cái nồi.

Cuối cùng, người nhà không còn cách nào, đành phải đưa đệ tử này vào bệnh viện tâm thần.

Trước đàn thành, người nhà phát nguyện:
"Niệm Chân Phật Kinh 1000 biến, niệm Cao Vương Kinh 1000 biến."

Thế là, trong tam muội, tôi thần thành đến gặp đệ tử ở trong bệnh viện tâm thần. Vừa trông thấy anh, tôi đã biết anh đã bị linh rắn ám thân. Con trăn này rất thích ăn chuột đất. Thế là, tôi dùng một cái lồng to, trong lồng chứa rất nhiều chuột, đi đến trước mặt đệ tử.

Đệ tử bị linh rắn ám vừa nhìn thấy cả một đám chuột đất thì thích lắm, liền từ trong miệng của đệ tử này trườn ra ngoài để săn chuột.
Cái lồng đó của tôi có hai cánh cửa.
Một cửa vào.
Một cửa ra.

Linh rắn từ cửa trước đi vào, chuột từ cửa sau chạy ra, chúng chạy tán loạn khắp mọi hướng. Tôi rất lanh lẹ đóng cửa sau lại, chuột chạy hết sạch. Tôi lại nhanh chóng đóng cửa trước lại, thế là trong lồng chỉ còn lại linh rắn. Tôi xách cái lồng lên, trở về hồ Diệp Tử. Tôi theo gió mà bay mất hút về nơi xa xăm.

Tôi ra khỏi thiền định tam muội, cũng giống như vừa có một giấc mơ.
Lồng sắt nào, căn bản chẳng có.
Linh rắn nào, căn bản chẳng có.
Chuột đất nào, căn bản chẳng có.

Tuy nhiên, theo tôi được biết, đệ tử ở bệnh viện tâm thần không ngờ đột nhiên tinh thần tốt lên, cuộc sống mỗi ngày một bình thường, nhãn thần cũng bình thường, các biểu hiện cũng bình thường. Anh không cần uống thuốc, cũng không nằm bò ra đất uốn éo, cũng không thò thụt lưỡi ra ngoài nữa. Ăn uống lại như người bình thường. Không lâu sau thì anh ta được xuất viện.

Người nhà cảm thấy Chân Phật Kinh, Cao Vương Kinh có linh có nghiệm, niệm hết 1000 biến thì tội chướng đều tiêu diệt, tiêu trừ mọi độc hại, có thể diệt được khổ sinh tử.
Lành thay! Lành thay!


### 15. Cua lông


Có một người rất thích ăn cua lông. Hễ đến mùa thu, khi những con cua lông ở hồ Hồng Trạch [ ND: thuộc tỉnh Giang Tô, ,Trung Quốc ] sinh trưởng đông đúc, anh ta bữa nào cũng ăn cua, gạch cua đo đỏ, lớp cao vàng vàng, thưởng thức vị ngon của nó thật sự khiến anh ta nghĩ đến đã thèm. Những con cua lông này là món anh thích nhất.

Một đêm nọ, khi vừa ngủ anh đã nằm mơ (thực tế là anh bị lên cơn đau tim đột ngột, suýt mất mạng), thấy người bay bay đi ra khỏi nhà, đến một vùng trời đất trong suốt. Anh men theo con đường mà đi tiếp thì nhìn thấy bên cạnh một bờ sông có một đám người cả nam cả nữ đang khênh một chiếc kiệu. Đám người điên cuồng múa bụng, chiếc kiệu xoay bên này xoay bên kia, lên lên xuống xuống, cứ xoay không ngừng, cảnh tượng như đang nghênh tiếp anh ta vậy.

Cửa chiếc kiệu bất ngờ mở ra, đám người muốn anh đi vào. Lúc này, anh bỗng nhớ đến cuốn sách "Vượt qua biển sinh tử" của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. [ ND: Văn tập số 163 của Sư Tôn ]
Chiếc kiệu - là con cua lông.
Nam nam nữ nữ - là cá tôm.
Trời đất trong suốt - là sông hồ.
Anh giật thót mình! Hét lên một tiếng lớn: "A Di Đà Phật!"

Chiếc kiệu biến mất, nam nam nữ nữ biến mất, trời đất trong suốt cũng biến mất.
Có một Bồ Tát nói với anh:
"Anh vốn là người có thiện căn, bình thường cũng đọc kinh lạy Phật, nhưng anh nghiện ăn cua lông quá, hiện nay anh đang bị đau tim, ta đặc biệt đến đây cứu anh, anh từ bỏ ăn cua lông đi, đây là từ bỏ việc sát sinh, có được không?"
Đương nhiên là anh ta gật đầu.

Bồ Tát cũng không nói gì, rồi giống như dùng cây kim nóng cắm vào trong ống tim của anh cho thông. Anh hét lên một tiếng rồi bừng tỉnh dậy, một nửa thân người anh cứng đờ, phải từ từ anh mới có thể cử động, toàn thân vã mồ hôi như tắm. Anh tự cảm thấy hơi thở dần dần bình thường trở lại.

Anh tự biết bản thân đã chết qua một lần rồi, hoảng hốt khi mơ hồ cảm thấy chỗ đau ở tim do bị kim nóng châm vào. Kể từ sau khi có giấc mơ bị chết một lần này, anh liền quy y Chân Phật Tông, thọ Bồ Tát giới.
Không sát sinh, không ăn cua lông.
Vĩnh viễn ăn chay.

Những người bạn trước đây biết anh nghiện cua lông thì cố ý mua những con cua lông đem tặng anh, anh đều đem phóng sinh hết, niệm chú Vãng Sinh.
Anh nói với bạn bè, bây giờ tôi ăn nó, sau này nó ăn tôi, tôi sẽ đầu thai thành cua lông, đáng sợ lắm!


### 16. Người bán hàng trên vỉa hè


Có một đệ tử làm nghề bán những đồ lặt vặt trên vỉa hè, nhưng không gặp vận may, công việc buôn bán rất kém, tiền kiếm được không đủ để nuôi miệng ăn của gia đình, cơm không đủ bữa.

Có một lần đến một cửa hàng đồ ăn tự phục vụ, người nhà chỉ có thể được mỗi người một bát cơm trắng.
(Canh của cửa hàng đồ ăn tự phục vụ được nấu trong nồi lớn, khách có thể tự lấy để ăn, không phải trả thêm tiền.)
Thế là, cả nhà anh ta ra sức uống nước canh cùng với cơm trắng.

Chủ cửa hàng để ý thấy.
Những người khách khác cũng lấy làm ngạc nhiên.
Đệ tử và người nhà ăn đến mức nước mắt chảy ròng ròng, cũng vô cùng xấu hổ, nhưng chẳng còn lựa chọn nào khác, không có tiền, khổ lắm! Anh gọi to Sư Tôn cứu mạng!

Tôi ở trong tam muội biết được chuyện này, trong lòng rất buồn, bèn nhập vào trong mơ của đệ tử, dạy cho anh một pháp niệm tụng đơn giản, bởi vì pháp sâu hơn một chút thì anh không hiểu. Anh không đi học, không biết chữ.

Pháp niệm tụng này như sau: "Kinh ra ngoài buôn bán"
“Nhất mại tựu ngộ đáo quan thế âm.
Đông dã nhất quần phật.
Tây dã nhất quần phật.
Nam dã nhất quần phật.
Bắc dã nhất quần phật.
Phật. Phật. Phật. Nhất thiết cát tường.
Hoá phẩm toàn mại thanh”

Đệ tử này mặc dù đã quy y nhưng kinh nào cũng không biết, pháp nào cũng không tu, chú nào cũng không biết trì. Nhưng gia cảnh thực tế đã sắp không thể trụ được nữa, trong nhà chẳng còn nổi một hạt gạo, đã ở vào tình cảnh ngày không đủ ba bữa ăn rồi.
Tôi nhập mộng, dạy cho anh bài kinh buôn bán thuận lợi.

Đệ tử bán hàng trên vỉa hè tỉnh dậy, vẫn nhớ được pháp niệm tụng này, thắp một nén hương, trước khi ra khỏi nhà buôn bán đã niệm bảy biến.

Ha ha! Từng đám người đi qua sạp hàng của anh đều dừng chân, không nỡ rời đi, tiện tay mua một, hai món đồ.

Việc buôn bán quả nhiên đã thay đổi, tốt hơn trước đây vài lần. Anh càng chăm niệm thì việc buôn bán càng tốt. "Kinh ra ngoài buôn bán" đơn giản này rất dễ nhớ, dễ đọc, anh rất thích, Bồ Tát và Phật chính là tiện lợi như vậy.
Là tùy duyên cứu chúng sinh đó!


### 17. Chế độ xuất gia Chân Phật Tông


Trong tam muội, tôi có được những khai sáng về việc cạo đầu xuất gia. Trong tương lai, nhằm để sự truyền thừa của chế độ xuất gia của Chân Phật Tông không bị gián đoạn, tôi ghi lại những khai sáng này như sau:
Sau khi tôi rời khỏi thế gian này:

1. Thượng sư nam đều có thể cạo đầu cho nam nữ xuất gia.

1. Thượng sư nữ chỉ có thể cạo đầu cho người nữ xuất gia.

1. Pháp sư nam sau khi xuất gia 10 năm có thể cạo đầu cho nam nữ xuất gia.

1. Pháp sư nữ sau khi xuất gia 10 năm có thể cạo đầu cho người nữ xuất gia.
(Hiện tại chỉ có Thượng sư Liên Hàn và Thượng sư Liên Ninh cạo đầu cho nam nữ xuất gia, những năm sau này sẽ thay đổi, sẽ theo như bốn điều trên mà thực hiện.)

Còn đối với việc trong tương lai, làm sao để công nhận một Thượng sư:

1. Do Tông ủy hội công nhận.

1. Do Thượng sư thật sự chứng đắc công nhận.
(Thượng sư thật sự chứng đắc là người đã minh tâm kiến tính, đã tự chủ sinh tử, thân khẩu ý thanh tịnh.)

Vì sao cần có những chế độ này?
Trả lời: "Không có, tất sẽ loạn!"
Kì thực, hành giả thật sự chứng đắc giống như trăng sáng ngày đẹp, vạn hồ soi bóng, không chỉ là hồ nước mà mọi vũng nước nhỏ đều có thể soi rõ bóng trăng.

Hành giả thật sự chứng đắc là cũng Thượng sư chân chính, có tâm tính chỉ dạy chúng sinh như nước trong, như nước bất động, nhất tâm chuyên chú trong tam muội tịnh thổ, có thể khiến âm dương đều đạt được lợi ích.

Thượng sư chỉ là một danh từ.
Pháp sư cũng chỉ là một danh từ.
Nếu như tâm của chính mình không chí thành, chính mình không thể chuyên nhất, không thể nhập vào tam muội, cũng không có cách nào đến được bỉ ngạn tịnh thổ, thì Thượng sư hay pháp sư cũng đều là giả danh mà thôi.

Tôi từng nói:
Tu khí đắc tịnh quang.
Tu tịnh quang đắc Không tính.
Chứng Không tính biết tính Không.
Xa rời cái huyễn tức là giác ngộ.

Tôi hy vọng, các Thượng sư tương lai của Chân Phật Tông ai nấy đều là Thượng sư thật sự. Pháp sư của Chân Phật Tông ai nấy đều là pháp sư thật sự.

Lấy lục độ vạn hành của Bồ Tát để tùy theo căn tính của tất cả chúng sinh khắp mọi nơi mà đưa họ trở về Ma Ha Song Liên Trì tịnh thổ. Tương lai không chỉ Thượng sư pháp sư có được chứng ngộ "diệu giác" mà chỉ cần là hành giả Chân Phật thì đều chứng ngộ được "diệu giác".
Đây cũng vẫn là không từ bỏ một chúng sinh nào!


### 18. Nguy cơ


Trong tam muội:
Tôi phát hiện thấy mình đã đến vùng biển nước sâu, mặc dù ở nơi biển sâu nhưng việc hít thở cũng chẳng có vấn đề gì, giống như đi trên mặt đất vậy. Hóa ra cảnh giới được nói đến trong kinh điển là chỉ cảnh giới trong tam muội.
Lửa không thể đốt cháy.
Nước không thể nhấn chìm.
Dao không thể chém thương.
Đất không thể vùi lấp.

10 câu trong "Quan Âm cứu sinh kinh" là:
"Quan Thế Âm, nam mô Phật, có duyên cùng Phật, có duyên cùng Phật,  duyên Phật pháp tăng, thường lạc ngã tịnh, sớm niệm Quan Thế Âm, tối niệm Quan Thế Âm, suy nghĩ từ tâm khởi, suy nghĩ không rời tâm."
Suy nghĩ không rời tâm ở đây chính là "nhất tâm", chính là "tam muội"!

Tôi ở trong biển sâu gặp một cảnh tượng rất kinh khủng. Vốn là có một chiếc máy bay chở khách không biết vì nguyên nhân gì mà rơi xuống biển, nhân viên trên máy bay đều chết hết, đây là một thảm kịch lớn của con người. Nguy cơ đến tính mạng ở khắp nơi, con người như ngọn nến trong gió. Con người ở vào hoàn cảnh nào mới được coi là an toàn đây?

Tôi tìm gặp thần Biển, nói thần Biển hãy thu nhận các cô hồn.
Tôi chắp tay với thần Biển.
Thần Biển nói:
"Có một cô hồn chúng tôi không thể tiếp nhận, do vậy ngài đã đến đây rồi thì xin ngài hãy tiếp nhận cô hồn này đi!"
"Vì sao lại là tôi tiếp nhận?" - Tôi rất kinh ngạc.
"Là đệ tử mà ngài quán đảnh từ xa."
"Đệ tử quán đảnh từ xa ở trên máy bay vì sao không nhận được sự bảo vệ của Phật Bồ Tát?" - Trong lòng tôi đau đớn.
Thần Biển đáp:
"Cộng nghiệp."

Tôi vô cùng đau lòng, dẫn theo đệ tử này rời khỏi biển, trở về Ma Ha Song Liên Trì, tạm thời để ở trong nụ hoa sen. Vì sao lại là ở trong nụ hoa, bởi vì đệ tử này mặc dù đã nhận quán đảnh từ xa, nhưng vẫn chưa chính thức tu pháp, nghiệp chướng rất nặng, vẫn chưa thể "hoa khai kiến Phật".

Tôi dạy anh ở trong nụ hoa sen thì hãy niệm "Quan Âm cứu sinh kinh", những thứ khác không cần tu nhiều, cần đợi đến khi mọi suy nghĩ của anh không rời tâm, tự nhập vào tam muội rồi thì có thể "hoa khai kiến Phật" được.

Sau khi tôi xuất khỏi thiền định, nhớ đến một trong Tứ niệm xứ - "Quán thọ là khổ", đúng vậy, đời người quả nhiên là khổ, vui vẻ thì rất ngắn ngủi tạm thời, đau khổ thì nhiều hơn, cuộc đời này đầy buồn đau. Tôi thật sự đã thấy quá nhiều rồi.


### 19. Thoát khỏi tai nạn xe


Còn nhớ lúc trước khi ở Seattle nước Mỹ, buổi sáng sớm tôi thường xem tin tức về tình hình giao thông trên ti vi, gần như luôn thấy trên ti vi có sự việc kiểu như hai chiếc xe ô tô, một xe màu xanh lam, một xe màu đỏ, hai xe đâm vào nhau khiến đường xá tắc nghẽn.

Tôi thì luôn thở dài một hơi:
"Lại tai nạn xe, lại là tai nạn xe, chà! Sao ngày nào cũng có tai nạn xe?"

Kì thực, khi còn sống tại Seattle, nước Mỹ đã được xem như là một quốc gia tuân thủ luật giao thông, đặc biệt là trên đường không có xe máy, không có xe đạp, nhưng xe buýt và ô tô vẫn khá nhiều, giờ đi làm và tan làm giao thông thường tắc nghẽn, ngay cả đường cao tốc cũng trở thành bãi đậu xe lớn.

Những vụ va chạm giữa xe ô tô ngày nào cũng có, chà! Thật quá bất cẩn! Lái xe quá nhanh mà. Mỗi lần trông thấy tai nạn xe cộ, tôi đều định tâm và chắp tay lại, niệm một câu: "Nam mô A Di Đà Phật!"
Tai nạn nhỏ thì cũng không có vấn đề gì.
Tai nạn lớn, người bị thương, người chết, sao có thể không đau lòng. Người chết rồi thì thôi, nhưng người sống thì sao có thể chịu đựng nổi nỗi đau!

Tôi ở hồ Diệp Tử ẩn cư, khi nhập tam muội, tôi bất ngờ nhìn thấy một cảnh tượng hãi hùng. Có ba tăng nhân (người xuất gia) lái xe đến một ngôi chùa nọ để thuyết pháp. Phía bắc của chùa có một con sông lớn, phía nam là núi cao vực sâu, trên đường có nhiều vòng xoay cong phức tạp, đường lại hẹp.
Vì lái xe quá nhanh.
Phía trước bất ngờ có xe chạy đến.
Xe của tăng nhân vì tránh chiếc xe chạy từ phía trước đến nên lao ra khỏi đường chính, rơi xuống con sông dưới vách núi, xe lộn hai vòng ở trên không.

Ở trong tam muội, tôi hét lên một tiếng lớn đầy kinh hãi: "Nam mô A Di Đà Phật!"

Đột nhiên, tôi nhìn thấy trong hư không xuất hiện đôi bàn tay to lớn tóm chặt lấy chiếc xe, nhẹ nhàng đặt nó ngay ngắn trên bãi cát bên bờ sông lớn. Thế rồi, đôi bàn tay to lớn lại rút vào trong hư không.

Ba tăng nhân này chẳng ngờ chỉ bị thương nhẹ, vết thương ngoài da. Chiếc xe của tăng nhân lẽ ra đã rơi xuống dòng sông mà chết chìm, nhưng lại không hề. Lẽ ra họ đã bị chết vì cú va đập, nhưng kết quả là bình an vô sự. Ba vị tăng nhân đều mang tâm lý sợ hãi trước sự nguy hiểm lần này, chắp tay cảm tạ Bồ Tát đã cứu mạng.

Tôi trông thấy cảnh này cảm thấy rất kì lạ.
Ba tăng nhân này tôi chẳng quen biết ai, nhưng vì sao họ lại xuất hiện trong tam muội của tôi?
Việc này là nhân duyên gì đây?
Hồi sau, trong tam muội, tôi nhìn thấy ở ghế sau xe của họ có để một vài tờ báo, không ngờ lại là Tạp chí Nhiên Đăng của Chân Phật Tông. Ra là ba tăng nhân này đã đọc Tạp chí Nhiên Đăng!


### 20. Nỗi đau vĩnh hằng


Một cặp vợ chồng quy y tôi có một đứa con trai tướng mạo thanh tịnh ưu tú, khiến ai gặp cũng đều yêu quý. Tuy nhiên, đứa bé trai này lại mắc một căn bệnh nặng, khi mọi thuốc thang và chữa trị y học đều vô hiệu thì cậu bé đã qua đời rồi!

Cặp vợ chồng đứng trước đàn thành, ngửa mặt lên trời than khóc:
"Con trai đi rồi, hai người chúng tôi cũng không muốn sống nữa, trời ơi…"
Người vợ khóc tới mức ngất xỉu ngã ra đất, phải đưa đi bệnh viện cấp cứu, phải truyền tĩnh mạch!
Người chồng cũng đau đớn tột cùng, đột ngột cảm thấy cuộc đời mất hoàn toàn ý nghĩa.

Họ vốn có một cuộc sống đầy màu sắc, bây giờ tất cả đã trở thành toàn màu đen trắng, thậm chí là màu xám xịt, toàn thân kiệt sức. Hai người chỉ có nhìn nhau, nước mắt đầm đìa.

Cảm giác sinh ly tử biệt này, tôi có thể đồng cảm sâu sắc. Khi mẹ tôi rời khỏi chốn nhân gian, cảnh tượng lúc bà lâm chung còn sống động trong tâm trí tôi. Tôi biết không thể khóc, trong thâm tâm tôi cật lực niệm Quan Thế Âm Bồ Tát, nhưng thật sự không thể nén nhịn được, bèn chạy ra bên ngoài, ngửa mặt lên trời mà khóc một hồi, ôi!
Bảo tôi không khóc, thật khó! Cái chết của mẹ tôi là nỗi đau vĩnh hằng trong lòng tôi.

Cặp vợ chồng này đã mất đi người con trai họ thương yêu nhất, tôi có thể hiểu rõ điều này. Tuy nhiên, trong sự quá đau lòng, hai vợ chồng đã xé chứng thư quy y, dẹp bỏ đàn thành, không tham gia đồng tu, không tu pháp, không niệm Phật nữa. Họ tự mình đóng cửa chính mình, không gặp đồng môn.

Tôi nhập mộng, nói:
"Người đó không phải là con trai của hai người!"
Họ đều mơ thấy Sư Tôn nói cùng một câu nói.
Tuy mơ thấy Sư Tôn nhưng họ lại chẳng vui. Họ lạnh nhạt hỏi nhau:
"Không phải con trai của chúng ta, thế là con trai của ai? Sư Tôn đâu có bảo vệ chúng ta."

Tôi ở hồ Diệp Tử biết được sự việc này, trong lòng buồn vô cùng. Nhưng tôi cũng bất lực. Tôi bất lực trước cái chết của mẹ tôi. Tôi bất lực trước cái chết của con trai đệ tử của tôi. Biết rõ là vô thường, nhưng tôi là Sư Tôn làm cái gì chứ, chi bằng bỏ đi cho xong! Thân thể của chính tôi cũng bất lực rồi.

Về sau, tôi lại đến trong giấc mơ của họ.
"Ta tặng một đứa con trai cho hai người, không kém gì đứa con trai trước! Đứa bé này mới là con của hai người."
Hai vợ chồng này đã xấp xỉ 40 tuổi rồi, thế nhưng bất ngờ vẫn mang thai được. Là một bé trai cực kì xinh đẹp.

Hai vợ chồng như rừng hạn lâu ngày gặp nước, như người đã chịu cay đắng quá lâu bất ngờ ăn được mật ngọt, cuối cùng họ đã như sống lại.
Họ bắt đầu tu pháp trở lại, niệm "Om guru liansheng siddhi hum."
Họ xin quy y lại từ đầu.
Họ sắp đặt lại đàn thành, mọi thứ mới hoàn toàn.


### 21. Người muốn chết mà không thể chết


Có một đệ tử sùng tín Tam Bảo, quy y Chân Phật Tông, mắc một căn bệnh không thể chữa được, đã đến giai đoạn cuối. Ngực anh luôn bị đau như dao cắt, đã trải qua vài lần hóa liệu, nên từ lâu anh nhìn đã không còn ra hình người, bệnh trạng vô cùng nghiêm trọng, không còn cách nào cứu chữa được. Ngay cả bụng anh cũng trương phồng lên.

Anh than khóc liên miên, khóc rồi lại dừng, dừng rồi lại khóc. Anh muốn chết, không muốn tiếp tục sống nữa. Cuộc chiến với cơn đau này khổ không lời nào kể xiết.

Y tá bảo anh:
"Đau nhẹ thì ấn vào nút số 1. Đau bình thường thì ấn nút số 2. Đau nhiều thì ấn nút số 3."
Hễ ấn nút thì thuốc giảm đau sẽ được đưa tới. Cơn đau sẽ đỡ đi một chút.

Giường bệnh của anh ở cách cửa sổ không xa. Anh muốn lại gần cửa sổ, sau đó sẽ nhảy xuống, thế là tất cả mọi việc sẽ được giải quyết xong. Bởi vì cơn đau bệnh dường như vĩnh viễn sẽ không có hồi kết, đau càng ngày càng nặng, anh chỉ muốn chết, đây là con đường duy nhất. Rất nhiều người tự sát đã nghĩ đến lối thoát duy nhất này.

Thế là tôi nhập vào trong giấc mơ của anh:
"Không được tự sát." - Tôi nói.
"Sống chẳng bằng chết, muốn sống chẳng được, muốn chết chẳng xong." - Anh nói.
Tôi nói:
"Tôi đưa anh đi xem nghiệp chướng mà anh đã tạo ra."
Tôi đưa anh ta đi xem một vài nghiệp chướng do anh tạo, anh xem xong thì lo lắng và sợ hãi, nghiệp chướng quả nhiên quá nặng.
Tôi nói:
"Nếu anh tự sát thì nghiệp càng nặng thêm, đừng hy vọng có ngày thoát!"
Anh nói:
"Đúng vậy, đúng vậy."
Tôi nói:
"Đợi đến lúc mạng số anh hết, tôi sẽ đến đưa anh đi."

Tôi lại đưa anh đi xem Ma Ha Song Liên Trì, nơi tương lai anh cần chuyển thế đến đó.
Thân ta trong một đóa hoa sen
Hào quang chiếu rọi ánh mặt trời
Trời xanh Thánh chúng thỏa thuê ngắm
Diệu pháp thì thầm từ lũ chim
Kinh văn tỏa sáng muôn ngàn nghĩa
Đạo là cao xa, ai nói đây?
Khởi được lòng tin, tâm sẽ hiểu
Tâm chú của ta lớn nhường nào.

Đệ tử kia, người muốn chết mà không thể chết, mơ thấy hai cảnh tượng này bèn kiền thành tụng tâm chú, chịu đựng đau khổ thêm ba tháng, đến khi thuốc thang cũng không còn tác dụng nữa thì anh cũng tự đi. Tôi ở trong tam muội đã đưa thân trung ấm của anh bay thẳng đến Ma Ha Song Liên Trì.


### 22. Tàu du lịch bị chìm


Ở trong tam muội, tôi trông thấy một chiếc tàu du lịch không quá lớn cũng không quá nhỏ, đang chở khách tham quan tại một hồ nước lớn. Chiếc tàu chở khoảng 100 khách du lịch.

Cái hồ đó là một di tích danh lam thắng cảnh. Âm nhạc trên tàu rất to, chiếc tàu cưỡi gió đạp sóng lao đi băng băng. Hướng dẫn viên giới thiệu cảnh sắc hai bên bờ hồ, quả nhiên cảnh đẹp say đắm lòng người. Phong cảnh hai bên hồ rất quyến rũ, núi cao vực sâu tạo nên cảnh quan đặc thù của giới tự nhiên.

Người hướng dẫn du lịch bất ngờ hỏi:
"Núi đá khổng lồ ở bờ bên trái kia nhìn giống cái gì?"
Khách tham quan đều dồn sang mạn thuyền bên trái để nhìn núi đá khổng lồ kia, dòng người đổ xô về phía cửa sổ bên trái, phía bên ngoài cửa sổ vốn cũng đã có đầy người đứng ở đó rồi.
Có người nói:
"Giống con rùa!"
Có người nói:
"Giống khủng long!"
Có người nói:
"Giống bàn tay!"
Những tiếng nói còn chưa dứt thì chiếc tàu du lịch đã lật nhào về bên trái, một âm thanh lớn vang dội, thân tàu bất ngờ gãy vỡ. Tàu không những bị lật nhào mà còn vỡ thành nhiều mảnh. Toàn bộ người trên tàu đều rơi xuống nước. Người biết bơi thì lập tức bơi về bờ, người không biết bơi thì đành chịu chết.

Ở trong tam muội, tôi trông thấy cảnh này thì cực kì hoảng hốt, một vụ tai nạn tàu thủy, thật thảm thương! Thảm quá! Tôi cật lực giúp họ niệm:
"Nam mô đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát, nam mô đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát, nam mô đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát,…….."

Tôi phẩy tay một cái, trên mặt hồ xuất hiện những miếng gỗ nổi, rất nhiều người đã bám chặt vào những miếng gỗ nổi này. Bỗng nhiên có một chiếc tàu du lịch lớn phát hiện ra tình huống lật tàu này, đã lập tức nhanh chóng lao đến cứu trợ, cứu những người bám vào những miếng gỗ nổi, những người biết bơi cũng được kéo cả lên tàu. Trong chốc lát nhiều người đã được cứu.

Cứu người xong.
Người trên chiếc tàu du lịch cảm thấy rất kì lạ.
Những mảnh gỗ nổi đều biến mất, chỉ có thể giải thích chắc là đã trôi đi theo sóng rồi. Càng kì lạ hơn là chiếc tàu tham quan lớn kia vốn không đi qua đường này, đó là do người lái tàu đã lái nhầm đường nên không ngờ đã đi vào đường này. Thật sự là chẳng hiểu vì sao đã cứu được nhiều người như vậy.

Nhắc lại sự việc này, ai ai cũng tặc lưỡi kêu lạ! Những người trên thuyền đều nói là cảm ứng thần kì. Đặc biệt là người lái chiếc tàu du lịch lớn kia, trong giang hồ ông ta đã lái tàu hơn 10 năm rồi, chưa từng lần nào lái nhầm đường cả.

Còn một việc nữa, khách tham quan trên tàu có hai người là đệ tử Chân Phật Tông.


### 23. Hóa hiện ánh sáng đỏ


Có một đệ tử tham gia hoạt động leo núi, là đi thẳng, dọc theo sườn núi lớn mà đi, trên đường đi mọi người vừa nói vừa cười. Khi chập choạng tối, họ bèn tìm một chỗ rộng rãi để cắm trại, nghỉ ngơi một đêm rồi hôm sau lại đi tiếp.

Đêm đó, đệ tử này cảm thấy ánh trăng rất đẹp, thơ tình họa ý, bèn một mình đi vào trong rừng sâu. Anh cũng chẳng để ý đã đi được bao lâu thì mất cảm giác về phương hướng, không biết chỗ cắm trại rốt cục ở hướng nào. Ở trong rừng sâu núi lớn, ban ngày cũng dễ lạc đường, huống hồ ban đêm.

Lúc này, mặt trăng đã ẩn sau những đám mây. Sắc trời u tối. Gió cũng thổi mạnh hơn. Đệ tử này không biết mình đã đi đến nơi nào, nên khó tránh khỏi cảm thấy lo lắng. Anh rất sợ, bán mạng hét gọi, nhưng bốn xung quanh đen như quạ, không hề có âm thanh hồi đáp. Anh biết mình đã hoàn toàn mất phương hướng rồi, cầu cứu chắc cũng sẽ chẳng có ai biết được. Nói không chừng mọi người đều ngủ cả rồi, đêm càng ngày càng khuya, chẳng có ai phát hiện ra là anh đã mất tích rồi.

Anh muốn khóc, nhưng cũng chẳng ích gì.
Gọi, chẳng ai nghe thấy.
Anh thực sự đã tâm hoảng ý loạn, không biết phải làm sao, hối hận vì đã một thân một mình đi theo ánh trăng vào sâu trong rừng, cho rằng việc này là lãng mạn lắm. Anh ổn định tâm lại, rồi lại hướng về phía trước mà đi, càng đi càng phát hiện ra đỉnh núi càng không phải, căn bản không phải là con đường lúc trước. Rồi đi mãi mà lại trở về chỗ ban đầu.

Cuối cùng, anh nghĩ đến Sư Tôn, niệm:
"Om guru liansheng siddhi hum." (7 biến)
Bảy câu tâm chú này quả nhiên là những lời niệm tụng khẩn thiết nhất.
Bất ngờ, anh nhìn thấy một tia sáng đỏ lóe lên ở phía phải, giống như có người đang cầm một ngọn lửa vậy, cứ lấp loáng ở phía bên phải khu rừng. Thế là anh bèn đi theo ánh sáng đỏ, cứ theo ánh sáng đỏ mà đi. Ánh sáng đỏ lóe lên ở đâu thì anh liền đi về hướng đó. Ánh sáng đỏ lóe trái lóe phải thì anh cũng đi qua trái qua phải. Cứ như thế anh đi bộ khoảng một canh giờ thì không ngờ đã ra khỏi rừng, an nhiên nhìn thấy nơi cắm trại. Anh thấy nơi cắm trại, mọi người đã ngủ say từ lâu, một đốm lửa cũng không có. Anh nhìn xung quanh khu cắm trại, làm gì có chỗ nào có ánh sáng đỏ?

Sáng sớm hôm sau.
Anh hỏi nhóm người xem tối hôm qua, trong trại có ai nhóm lửa không?
Mọi người rất ngạc nhiên nói:
"Tối qua mọi người đều mệt nên đi ngủ sớm hết, chẳng có ai nhóm lửa cả."

Anh không hỏi nữa, biết rằng sức mạnh của câu thần chú đã âm thầm bảo vệ anh. Anh là một người thật thà cẩn thận, biết được sức mạnh trong tam muội của Sư Tôn. Nếu không phải là sức mạnh của tam muội thì trong rừng sâu sao có thể có ánh sáng đỏ.
Ánh sáng đỏ này đã dẫn anh thoát khỏi lạc đường!


### 24. Khi mạng sống như chỉ mành treo chuông


Tôi ở hồ Diệp Tử đóng cửa ẩn cư, gặp phải một trận ốm nặng, não phân tám mảnh, tứ đại phân tán, mạng sống như đi trên sợi tơ vậy.

Người trước khi chết thì trên đỉnh đầu giống như bị núi đè.
Hơi thở gấp gáp, giống như bị nước lấp đầy trong mũi.
Toàn thân như bị lửa đốt, bị dày vò không ngừng.
Mọi bộ phận đều cảm thấy đau đớn, giống như bị gió lạnh buốt thổi run cầm cập không ngừng.

Cảm giác đau trước khi chết, nếu như không có định lực lớn thì rất khó giữ ổn định được, muốn nhất tâm bất loạn niệm Phật cũng chẳng phải việc dễ dàng. Việc này cần phải dựa vào sức mạnh của tam muội lúc bình thường mới có thể định tâm lại được, để mà thoát ra khỏi cái vỏ cơ thể này.

Trong lúc đau đớn cùng cực, khi mạng sống của tôi chỉ còn như chỉ mành treo chuông, tôi gấp gáp niệm A Di Đà Phật, tự cảm thấy mình sắp chết rồi, thì lập tức thấy trước mắt có ánh sáng lạ. Tôi chăm chú nhìn vào đó thì thấy trong ánh sáng có A Di Đà Phật đang ngồi, phóng ba lần ánh sáng khiến tôi dễ chịu được một chút.

Tuy nhiên, dễ chịu không được lâu thì cái đau của đất nước lửa gió lại ào đến. Cái đau này thật sự khiến tôi kêu cha kêu mẹ. Cái đau này thật sự người thường không thể chịu đựng nổi. Tôi thật lòng thật sự nói cho mọi người biết, cái đau trước khi chết này thật sự không phải là thứ con người có thể chịu đựng được, chẳng trách mà Phật cũng nói về "chết khổ"!

Chính vào lúc mạng sống của tôi như đi trên sợi tơ này, tôi đã nhập vào tam muội, xuất ra khỏi thân trung ấm, để rồi viết ra cuốn sách "Vượt qua biển sinh tử".

Tôi nhập vào tam muội, xuất ra thân trung ấm, gặp được tám vị đại Bồ Tát: Quan Thế Âm Bồ Tát, Văn Thù Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Kim Cang Thủ Bồ Tát, Trừ Cái Chướng Bồ Tát.

Bát đại Bồ Tát cùng đến để giúp đỡ tôi hoàn thành được nhiệm vụ của mình.
Kể từ sau khi tôi trải qua kiếp nạn ốm nặng này, sắc thân của tôi đã yếu đi một chút, nhưng, tuy sắc thân yếu đi nhưng sức mạnh tam muội lại tăng trưởng. Tôi phát hiện ra lớp vỏ cơ thể người này giống như một chướng ngại, nếu như không có lớp vỏ cơ thể người này thì càng tự do tự tại hơn, thập phương tam thế đều có thể đi tới được, càng tự chủ, càng tự ý thức được, càng hiểu rõ hơn, càng có thể độ hóa chúng sinh.
Đây cũng chính là nguyên nhân tôi muốn vứt bỏ cái vỏ cơ thể người này.

Có giữ vỏ cơ thể người hay không?
Không giữ vỏ cơ thể người hay giữ?
Tôi suy nghĩ rất nghiêm túc.
Đương nhiên tôi biết các đệ tử đều hy vọng tôi thường trụ thế gian (thỉnh Phật trụ thế). Nhưng tôi lưu lại thế gian để làm cái gì?


### 25. Cây dâu lớn


Trong tam muội, tôi thần hành đến Địa Cư Thiên.
Tôi trông thấy một động phủ thần tiên, trước động phủ có những hoa cỏ rất lạ, hương thơm nồng đượm miên man, từng đợt từng đợt mùi thơm đưa đến khiến người ta ngây ngất sảng khoái.

Một tiên ông đi ra, ngẩng đầu nhìn tôi, biểu hiện có thiện cảm với tôi. Tiên ông gọi tôi:
"Liên Sinh, ngài đến rồi, cây dâu của tôi được cứu rồi!"
Tiên ông đưa tôi đến sân sau xem một cây dâu lớn, tiên ông nói:
"Cây dâu này có rất nhiều sâu, sâu ăn lá dâu, lá dâu đã ăn hết sạch, bây giờ chúng ăn đến gốc dâu, khi gốc dâu bị ăn thì cây sẽ chết, cái cây dâu đáng thương này."

Trong lòng tôi rất ngạc nhiên hỏi:
"Tiên ông có pháp, sao không đuổi sâu?"
Tiên ông nói:
"Việc này có nhân duyên, nhân duyên chính là ở trên người ngài."
Tôi hỏi:
"Nhân duyên gì?"
Tiên ông nói:
"Cây dâu này có linh tính, nó đã xuống thế giới Ta Bà, bây giờ nó đang tu trì Chân Phật Mật Pháp, chẳng phải là nhân duyên của ngài hay sao. Ngày xưa, thầy ngài Liễu Minh Hòa Thượng có truyền cho ngài phù đuổi sâu, dán lên cây thì sâu sẽ bỏ đi, chẳng phải là nhân duyên sao."

Tôi nghe xong, không nói nhiều, lập tức vẽ phù đuổi sâu, dán lên cây dâu. Lá phù vừa dán lên cây một cái thì tất cả sâu trắng đều từ trên lá cây, cành cây, gốc cây rơi hết xuống đất, vừa rơi xuống đất thì cũng biến mất, con này đến con khác lần lượt biến mất tăm.
Tiên ông cười nói:
"Thế đấy, bảy năm ngứa ngáy, giờ thì tốt rồi."

Rất nhanh chóng cây dâu lại ra cành lá xum xuê, xanh mướt mắt, có thêm Phật lực nên nó càng hân hoan sinh trưởng.

Theo như tôi biết, tôi có một đệ tử ở Trung Quốc Đại Lục, họ Tang. [ ND: Tang tiếng Hán Việt nghĩa là cây dâu, cây dâu trong tiếng Hán Việt là tang thụ. ] Người mang họ Tang rất hiếm. Đệ tử họ Tang người cũng giống như cái cây vậy, rất cao. Anh được cơ trưởng của một hãng hàng không giới thiệu đến quy y và tu Chân Phật Mật Pháp.

Bảy năm trước, anh mắc bệnh dị ứng da, da nổi từng đám từng đám đo đỏ, từ chân tóc đến gót chân, bệnh lạ khó chữa. Anh một lòng hướng về Quan Thế Âm, xem Quan Thế Âm là Bổn tôn, niệm lục tự đại minh chân ngôn 8 triệu biến, thỉnh cầu chữa khỏi bệnh ngoài da.

Bỗng nhiên có một ngày, anh mơ thấy Sư Tôn cho anh một lá phù để đốt uống. Đệ tử họ Tang trong mơ giống như được uống cam lộ. Sau đó, những chỗ ngứa, sưng đỏ, lở loét trên da tự nhiên khỏi hẳn. Đệ tử họ Tang mắc bệnh này vừa đúng bảy năm.


### 26. Lý Bạch trong mơ


Tam muội là gì? Là định. Định là gì? Định cũng chính là không nghĩ lung tung, không tán loạn, là cân bằng ở giữa trạng thái hôn trầm và tán loạn.

Tam muội có phải là mơ không? Không phải, đương nhiên không phải là mơ, nếu là mơ thì ai ai cũng có thể tam muội hết. Tam muội chỉ là giống như mơ, đây là trạng thái "ly huyễn tức giác", nếu dùng ngôn ngữ văn tự để giải thích về tam muội thì giải thích thế nào cũng đều rất khó.

Tôi gặp Lý Bạch trong tam muội.
Tôi hỏi:
"Bỏ rượu rồi?"
Lý Bạch đáp:
"Uống rượu mà mất hết nhân cách thì tức là có tội. Năm giới của Phật giáo, giết người, cướp của, dâm dục, vọng ngữ đều là những tội nặng, duy chỉ có uống rượu là giới khinh, nấu ăn hoặc uống thuốc mà thêm rượu, không uống rượu say thì thực tế trong ẩm thực đều không phải là mắc tội."

Tôi nghe xong, cười lớn ha ha. Tôi nói:
"Ông lắm chuyện quá đấy!"
Lý Bạch đáp:
"Trò chơi thôi mà!"
Tôi hỏi Lý Bạch:
"Ông uống rượu, câu trăng trên sông, là thật chứ?"
Lý Bạch đáp:
"Pháp trốn."
"Pháp trốn cái gì chứ?"
"Nhảy xuống lòng sông, trốn vào trong nước!"
"Ông trốn đến chỗ nào?"
"Sao trên trời hiển thị dấu vết linh giới tại thế gian, trốn đi thì cũng là trở về trời, trên trời mới là quê hương cũ." (Thiên thượng giới hoặc Tứ Thánh giới.)

Tôi hỏi Lý Bạch:
"Thế còn tôi?"
Lý Bạch đáp:
"Ông tự mình nghĩ cách mà trở về, hoặc A Di Đà Phật dẫn ông đi, đều chẳng phải là được hay sao?"
"Tôi cũng có thể câu trăng trên sông đó!"
"Ông đâu có biết say rượu." - Lý Bạch cười lớn ha ha.

Lý Bạch nói thêm:
"Ông có thể vĩnh viễn ẩn cư ở hồ Diệp Tử, thời gian cứ thế trôi, ông cũng dần dần già đi! Thậm chí, ông cũng chẳng cần phải chờ đến già, cứ đi bộ đi, kinh hành thẳng phía trước mà đi, thì sẽ trở về trời đấy."
"Thế chẳng phải là Lão Tử sao?" - Tôi hỏi.
"Tôi cũng giống như Lão Tử rời khỏi Hàm Cốc quan, chính là như thế, cứ thế đi thôi."
"Tôi phải làm sao?"
Lý Bạch nói:
"Cứ thế đi thôi."


### 27. Ma chết thảm khóc lóc


Có một hôm.
Vừa mới nhập vào tam muội, tôi nhìn thấy một cái bóng đang quỳ khóc lóc, khóc hu hu hu rất thê thảm. Tôi giật nảy mình, sao lại có một con ma chết thảm đến đây.
Tôi hỏi:
"Có chuyện gì?"
"Oan ức quá!"
"Có gì oan ức? Rồi sao lại tìm đến tôi?"

Con ma chết thảm giải thích:
"Bình thường tôi thờ cúng Thổ Địa Công. Tôi đơn thân ly hôn, đem theo hai đứa con, kiếm cơm nuôi cả nhà rất khổ sở. Buổi sáng hôm đó, vừa ra ngoài đi làm, lúc đi bộ qua đường thì gặp một chiếc xe buýt vượt đèn đỏ đâm trúng. Tôi bị chết ngay tại chỗ. Chiếc xe buýt nhỏ vừa thấy người bị đâm chết thì cũng không dừng lại, lại mau tháo chạy. Linh hồn tôi không có chỗ nương tựa, chỉ còn cách tạm ở nhờ miếu Thổ Địa Công, rồi theo lời của Thổ Địa Công bảo mà đến đây tìm ông."
Tôi ngây ngô:
"Cần tôi giúp gì?"
"Tôi muốn bắt tên hung thủ lái xe buýt đó."
"Việc này…" - Tôi nói: "Thật sự tôi không làm được."

Con ma chết thảm nói:
"Tôi biết ông không làm được, nhưng con đường đó có camera ghi hình, có ghi lại được chiếc xe nhỏ màu trắng đâm chết tôi, hơn nữa biển số xe trong băng ghi hình khá mờ, do đó cảnh sát không có cách nào tìm ra."
"Cảnh sát không có cách thì tôi có cách gì?" - Tôi hỏi.
"Tôi bị chết thảm, tôi biết biển số xe, là XX-XXX, tôi đến tìm ông là hy vọng ông ở trong tam muội, cầm bút tô lại cho rõ một chút biển số xe trong băng ghi hình là XX-XXX, để cho cảnh sát xem băng ghi hình thì có thể tìm được hung thủ."
"Ra thế, để tôi thử xem."
Không chần chừ, tôi cầm bút, tô lại biển số xe thật rõ ràng.

Cảnh sát xem lại băng ghi hình, lần đầu, biển số xe bị mờ, lần hai, biển số xe lại rõ ràng. Chà! Cả đôi bên đều cảm thán là quái dị, đúng là chuyện linh dị, rõ ràng là biển số bị mờ, nhưng một lát sau thì lại hiện lên rõ ràng!

Nhân đây, tôi khuyên thế nhân, 10 vụ tại nạn xe thì đến 9 vụ là do chạy nhanh, người người cần phải tuân thủ quy tắc giao thông. Tôi khá lo lắng về tai nạn giao thông, nếu người người đều không tuân thủ quy tắc giao thông, xe vượt đèn đỏ thì người dân trong thành phố bất kể là lái xe hay đi bộ thì đều lo lắng kinh sợ.

Thành phố chứa người chết do tai nạn giao thông sắp chật rồi.


### 28. Gia đình tan vỡ thì không gượng dậy được


Tôi đóng cửa ẩn cư tại hồ Diệp Tử, nhưng trong tam muội, tôi vẫn du hành khắp thập phương tam thế đến tất cả mọi pháp giới. Tôi vận dụng:
Nhất thiết trí -- tam minh lục thông, chứng vô sinh nhẫn, xuất thế gian làm A La Hán.
Đạo chủng trí -- đoạn tam giới ngoại biến dị sinh tử, thành tựu vô sinh pháp nhẫn, thị hiện vô lượng ý sinh thân, cứu độ chúng sinh.
Nhất thiết chủng trí -- thành tựu tam thân tứ thân, tu hoàn toàn dứt bỏ tập tính vô minh cơ bản vi tế nhất, chứng diệu giác, vô thượng chính đẳng chính giác.

Tam muội của tôi xuất hiện trong mọi lúc, mọi thế giới, mọi sự việc, mọi chủng loại, tôi biết hết tận cùng, trong tất cả mọi pháp đều tự nhiên không gặp chướng ngại, bao gồm tất cả pháp hữu vi và pháp vô vi, mọi việc đều vô ngại.

Mặc dù tôi hiểu đạo lý "sinh, trụ, dị, diệt", nhưng đối với tương lai của Chân Phật Tông, tôi cũng khá quan tâm lo lắng.
Truyền pháp độ chúng, cố nhiên là pháp hữu vi, nhưng trong pháp hữu vi không đánh mất bồ đề tâm, làm tất cả pháp thiện mà không chấp vào tâm, tức là bồ đề.

Tôi đi ẩn cư.
Biết rằng có một số pháp sư muốn tự mình đứng ra hoằng pháp độ chúng, tự tách riêng ra, đạo lý này tôi có thể hiểu được.

Khi Phật Đà nhập niết bàn.
Có tỳ kheo hô lớn:
"Phật Đà đi rồi, chúng ta tự do rồi."
Tình huống này cũng giống như thế.

Tuy nhiên, tôi nói cho mọi người biết, Tông Ủy Hội của chúng ta vẫn còn, Tông Ủy Hội duy trì mạch sống của tông phái, có đoàn kết hợp tác, tinh tấn tu pháp, nghiêm giữ giới luật, có đầy đủ chức năng độ hóa chúng sinh. Tôi nghĩ, tôi ẩn đi hoặc nhập diệt, Chân Phật Tông cần tiếp tục bay, tiếp tục huệ mệnh của Phật, cứu độ chúng sinh, như vậy thì nguyện lực không từ bỏ một chúng sinh nào mới có ngày đạt được.

Khi tự tách ra thì cành cành lá lá đều nhỏ bé. Sự phát triển sẽ rất hạn chế.
Đương nhiên, trong suy nghĩ của tôi đối với sự phát triển phái Chân Phật Tông, phồn vinh cũng tốt, khô héo cũng tốt, phồn vinh hay khô héo đều là hiện tượng tự nhiên, hợp và tan cũng là hiện tượng tự nhiên, không vấn đề gì cả.

Nhưng tôi sẽ nhập mộng, nói:
"Gia đình tan vỡ thì không gượng dậy được đâu."


### 29. Công đức sửa tượng Phật


Một hôm, tôi nhập vào tam muội.
Trông thấy Quan Thế Âm Bồ Tát hiển hiện, Bồ Tát đưa ẩn ý rằng muốn đưa tôi đi thật xa. Tôi không biết chuyện gì, cứ chỉ đi theo Bồ Tát.
Bồ Tát bay đi rất nhanh, chẳng nói một lời.
Bồ Tát bay qua núi sông đại địa, nhanh như sao băng.
Tôi bay qua núi sông đại địa, nhanh như sao băng.

Đến một nông trại, tôi và Bồ Tát đều xuyên qua cổng mà vào. Vừa vào trong nhà, hóa ra trong nhà có một đôi vợ chồng lão nông dân đang quỳ trước một tượng thần, cầu nguyện cho bệnh của đứa con trai.

Còn trên giường bệnh, cậu con trai của đôi vợ chồng lão nông dân đang nằm, lúc này xem ra cậu con trai đang hấp hối rồi. Bác sĩ vừa đi khỏi, cậu con trai bị bệnh đau tim phát tác. Có bốn con quỷ, hai con kéo tay, hai con kéo chân muốn kéo thần thức của cậu đi. Cậu con trai của vợ chồng lão nông dân, thượng khí không kết nối được với hạ khí, mắt sắp không nhìn thấy gì rồi. Quan Âm ra ý, muốn tôi mau cứu con trai của vợ chồng người nông dân.

Tôi nhìn vợ chồng người nông dân, họ chỉ là cặp vợ chồng bình thường không phải đệ tử của tôi. Còn người con trai trên mặt lộ ra đầy khí đen, không nghề nghiệp, nghiện rượu, vô công rồi nghề. Vì sao đi một quãng đường xa như vậy để cứu loại người này? Tôi có hơi nghi hoặc.

Nhưng Bồ Tát ra hiệu cho tôi cứu, tôi chỉ có thể cứu. Tôi sử dụng "Tiên thiên vô cực chính pháp", phóng ra lưới ánh sáng, lưới ánh sáng rất rộng, trước hết là bao trùm lấy người con trai của vợ chồng nông dân. Bốn con quỷ kia vừa nhìn thấy lưới ánh sáng, biết sự lợi hại của nó, không dám chạm vào, bèn tháo chạy mất.

Còn lưới ánh sáng vừa che phủ thì cơn đau tim cũng hết. Đúng là tôi cấp cấp như luật lệnh mà cứu người con trai của vợ chồng lão nông dân.

Tôi hỏi Quan Thế Âm Bồ Tát:
"Vì sao là tôi phải cứu cậu ta? Vì sao Bồ Tát không cứu cậu ấy?"
Bồ Tát đáp:
"Họ đã cứu ngài, đương nhiên ngài cần cứu cậu ta rồi!"

Tôi không hiểu, bọn họ đã cứu tôi thế nào? Về sau tôi mới biết, có một bức tượng thần Liên Hoa Đồng Tử (đẽo bằng gỗ) bị ném trôi trên dòng suối, lúc nổi lúc chìm, đã được vợ chồng lão nông dân vớt lên. Bức tượng thần đã bị hỏng nhiều, mũ Ngũ Phật cũng bị hỏng, nhưng vợ chồng lão nông dân đã sửa lại, con trai của họ sơn lại bức tượng thành màu vàng, họ để ở nhà thờ cúng lại từ đầu. Mặc dù họ chỉ đơn thuần ngô nghê nhưng đúng là đã cứu bức tượng thần Liên Hoa Đồng Tử một mạng.

Còn nay, họ cầu nguyện tượng thần:
"Tôi từng cứu ngài, sao ngài không cứu con trai tôi!"
Tôi nhìn bức tượng trên bàn thờ của họ.
Quả nhiên là một vị Liên Hoa Đồng Tử 100%. Ha! Hóa ra là như vậy.


### 30. Tài Bảo Thiên Vương quốc


Trong kinh điển Phật có ghi chép lại:
Phật từng gặp một hòm châu báu vàng bạc, liền gọi đó là: "Rắn độc."
Sau đó, có người đã lấy đi.
Người này về sau đã bị bắt vì tội ăn trộm, kết cục rất thê lương.

Trong tam muội, tôi từng thần hành đến Tài Bảo Thiên Vương quốc, ở đó toàn là vàng bạc, lưu ly, san hô, hổ phách, xa cừ, mã não, hồng ngọc, v.v… có thể nói khắp nơi đều là ngọc ngà châu báu, đều là những bảo vật quý giá nhất trong thiên hạ. Nhìn cũng hoa hết cả mắt!

Tôi nói:
"Trên trời, giàu có nhất là Tứ Đại Thiên Vương. Dưới đất, giàu có nhất là Sơn Thần. Dưới biển, giàu có nhất là Long Vương."
Còn tôi ở Tài Bảo Thiên Vương quốc giàu có nhất, hỏi Thiên Vương:
"Nơi này có trộm cắp không?"
Đáp:
"Chẳng cần trộm cắp."
"Vì sao?"
"Nhặt đâu cũng có. Ha ha!"
"Thế những vàng bạc châu báu này còn có công dụng gì?"
Thiên Vương nói:
"Phật bảo chúng là rắn độc, tôi bảo chúng là rác rưởi."

Tôi đột nhiên nhớ đến, ở nhân gian Ta Bà, người người bán mạng để kiếm những thứ này, kiếm vàng bạc châu báu về, rồi chôn giấu tại đông phương quốc, tây phương quốc, nam phương quốc, bắc phương quốc, ở mọi nước trên thế giới, rồi còn muốn bòn rút, muốn ủy thác, muốn né thuế.

Tôi ở Tài Bảo Thiên Vương quốc, bỗng chốc ngộ ra:
"Người ta đang bận rộn vô ích! Rất nhiều người đang bận rộn vô ích!"

Tôi chẳng ngưỡng mộ những người giàu có nhất thế giới nữa, chẳng ngưỡng mộ những doanh nhân lớn trên toàn thế giới nữa, chẳng ngưỡng mộ những đại gia giàu xếp hạng bậc nhất trên thế giới nữa, hoàn toàn không còn ngưỡng mộ những danh lợi nữa. Thật sự, nếu bạn đã đến Tài Bảo Thiên Vương quốc rồi, những gì bạn ngưỡng mộ đều chỉ là một loại gánh nặng. Cuộc sống về cơ bản đã đủ rồi thì nên hài lòng. Cười những kẻ đáng cười trong thiên hạ. Cười những việc đáng cười trong thiên hạ.

Phật nói, tài sản chân chính là:
"Tín tài, giới tài, văn tài, tàm tài, quý tài, xả tài, tuệ tài, định tài, nhẫn tài." (Những điều này chỉ lấy chữ đầu tiên.) [ ND: tài sản chân chính được nói đến ở đây gồm: lòng tin, giới luật, hiểu biết, xấu hổ, hổ thẹn, xả bỏ, trí huệ, thiền định, nhẫn nhịn. ]

Tôi thần hành đến Tài Bảo Thiên Vương quốc, bỗng dưng cảm thấy tất cả đều thừa thãi, nhiều quá cũng không tốt, ít quá cũng không tốt, quá nhiều quá ít đều không tốt, có vừa đủ dùng là tốt nhất.
Hóa ra Tài Bảo Thiên Vương quốc muốn để cho tôi:
"Khám phá tài bảo."


### 31. Gặp bạn cũ ở âm phủ


Ở chốn âm phủ, khi tôi đang đi bộ một mình, thẳng trước mặt tôi có một bà lão đi đến. Bà lão này chống gậy, khuôn mặt nhăn nheo, mũi vẹo mắt hếch, cái miệng vừa bẹt vừa khô, đến cả lưng cũng bị gù nặng. Vì đường hẹp nên tôi nhường đường, để cho bà lão đi qua trước.

Thế nhưng bà lão lại dừng lại, nhìn tôi chăm chú một lúc rồi bất ngờ kêu lên:
"Chẳng phải ngài là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn sao? Tôi từng thấy ngài trên ti vi rồi, tôi là Tú Tú."
"Tú Tú nào nhỉ?" - Tôi thực sự quên rồi.
"Tú Tú hồi tiểu học, Tú Tú ngồi cùng bàn với ngài đấy."
"Hồi lớp một, nam nữ ngồi chung bàn, bà chính là Tú Tú sao?" - Tôi hơi có chút ấn tượng.

Thời đó bạn bè ngây thơ ngồi chung bàn chung ghế, tôi còn nhớ, Tú Tú người cũng như tên, là một bạn học nữ có nước da trắng trẻo, mái tóc dài mượt như sợi mì, đôi mắt bồ câu đen láy, ngũ quan thanh tú đáng yêu, tôi cũng có chút ngưỡng mộ.

Ấn tượng sâu sắc nhất là mỗi khi tan học, bố của bạn học này đều chở bạn về nhà bằng xe đạp. Bạn ngồi trên thanh dọc ở trước xe, bộ dạng như chú chim nhỏ ngồi vắt vẻo, vẫy vẫy bàn tay nhỏ.
"Tú Tú, đúng bà là Tú Tú rồi! - Tôi kinh ngạc.
Bà nói:
"Năm tháng chẳng tha ai, cuộc đời tôi bấp bênh, rồi lại mắc bệnh nặng, đã chết rồi, trở thành bộ dạng như thế này, chẳng trách ngài không nhận ra tôi."
"Tôi…." - Tôi chẳng biết nói gì cho hay. Tôi thật sự sững sờ.
Bà nói:
"Khi còn sống, tôi vẫn xem chương trình ti vi của ngài, do vậy tôi mới nhận ra ngài, ngài cũng đã thay đổi nhiều rồi!"
Cả hai chúng tôi đều thở dài.

Tôi muốn truyền Phật pháp cho bà, nhưng từ nhỏ bà đã là tín đồ theo tôn giáo khác, nên tôi không biết phải nói từ đâu. Cuối cùng, tôi thấy người bạn học cùng chung bàn chung ghế thời tiểu học Tú Tú đã dần đi xa rồi.

Tôi nhớ đến một bài thơ:
Lúc chết chớ để mình kinh hoảng,
Bám níu nghĩ suy về chốn nao.
Máu mủ đã chảy vào trong túi,
Mùi tanh đã bám lên áo quần.
Càng sinh phiền não càng đau khổ,
Cầu tới Dược vương, câu Di Đà
Biển khổ rộng sâu, mong siêu thoát.
Thuyền Từ Bi kia, Phật chẳng quên.

Trong lòng tôi cảm thương cho Tú Tú đã trở thành bộ dạng như vậy. Bản thân tôi cũng cảm thương cho chính mình đã trở nên ốm yếu lắm bệnh.
Đúng là năm tháng chẳng tha một ai!
“Hãy nghiền ngẫm nghiền ngẫm về sự vô thường của sắc tướng đi thôi”


### 32. Cuộc bạo động lớn


Trong tam muội, tôi đã biết trước được ở một nơi nọ sẽ có cuộc bạo động lớn. Bởi vì mọi ác quỷ tử thần đều chờ cơ hội này mà hành động.

Ác quỷ xông ra, chẳng phải là số ít, mà là cả một bầy đông như quạ đen không đếm xuể.
Thần chết xông ra, chẳng phải là số ít, mà cũng là cả một bầy đông như quạ đen không đếm xuể.

Tôi kinh hãi.
Bởi vì tôi biết, trong cõi vô hình đã có định số, có rất nhiều người dân khi tìm cách tháo chạy khỏi tai họa của bạo động thì sẽ bị hy sinh, sẽ bị đánh chết, bị dẫm chết, bị chèn ép chết, bị ngạt thở mà chết. Trong cơn bạo động thì người người đều không biết ý thức là cái gì nữa.

Kì thực, bạo động là một trong những "ý thức quần chúng". Lúc này, quần chúng đầu óc trống rỗng, đã đánh mấy lý trí vốn có, giống như cả một tập thể bị thôi miên vậy, nghe mệnh lệnh từ một âm thanh đặc thù, màu sắc đặc thù rồi nhập vào một trạng thái điên cuồng.

Lúc này, ác quỷ sẽ thừa cơ để tóm gọn con người.
Thần chết, thừa cơ để tóm gọn con người.
Khi những cuộc vận động quần chúng đã mất đi lý trí, ác quỷ và thần chết lợi dụng sự mất kiểm soát này mà tiến vào, các sự kiện đổ máu sẽ xảy ra. Đó là khủng bố, bất lực, tàn nhẫn, không kiểm soát được. Cho dù là phần tử tri thức thì cũng bị nhấn chìm trong đó, không phát huy được tác dụng gì.

Tôi nghe tử thần ác quỷ nói:
"Lần này là thiên hạ của chúng ta rồi."
"Tao sẽ tóm rất nhiều người."
"Tao sẽ uống rất nhiều máu."
"Tao muốn người nào người nấy mất sạch lí trí."
…

Tôi vì người trong thiên hạ mà thương, vì người trong thiên hạ mà khóc, vì người trong thiên hạ mà đau lòng. Tuy nhiên, đúng vào lúc đám đông tụ tập, trong hư không có ngũ sắc rực rỡ, xuất hiện một vị đại từ đại bi Quan Thế Âm Bồ Tát, cưỡi rồng thần, ánh sáng tỏa ra vạn trượng. Quan Thế Âm vẩy cam lộ lên khắp đầu quần chúng. Giống như quán đảnh vậy!

"Định, định, định", tâm trí con người ổn định xuống.
Ác quỷ thấy Quan Âm đến, bèn tháo chạy.
Tử thần thấy Quan Âm đến, bèn tháo chạy.
Cuộc bạo động lớn đã không xảy ra.

Về sau, tôi biết có người vì đám quần chúng này mà cung kính niệm 1000 biến Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, hồi hướng cho tất cả mọi người được bình an.


### 33. Phượng hoàng hồi sinh từ trong lửa


Có hai bài thơ:
Câu Di Đà quý như hoa sen trong lửa.
Ngũ tông tứ phái không thể nào khen hết.
Thanh âm liên tục ngăn chướng ma tiếp cận.
Niệm chẳng sờn lòng, đức Phật sẽ hiện lên.

Còn nữa:
Từ khi nửa đêm lòng an định,
Đã chẳng còn tâm khởi nghi ngờ
Mắt sáng lướt qua trời đất rộng,
Thái bình vô tướng tận đến giờ.

[ ND: Bài thơ thứ hai này vốn được ST trích dẫn từ bài tụng Không tán loạn hôn trầm của Diệu Y đời Minh, trích trong Tịnh thổ thập yếu, chia sẻ về việc nhất tâm niệm Phật. Ý rằng kể từ sau khi có được tâm an lúc nửa đêm (do niệm Phật bất loạn mà giác ngộ), từ đó lại càng không nghi ngờ nữa. Đôi mắt sáng nhìn khắp trời đất rộng lớn. Bên ngoài không có biểu hiện gì (vô tướng), nhưng bên trong đã bình an vô cùng (thái bình) rồi. ]

Hai bài thơ này đều nói đến một việc.
Có một nữ hành giả Chân Phật Tông, đêm nào trước khi đi ngủ cũng đều niệm một biến Chân Phật Kinh, mười năm như một ngày. Cô không có một chút suy nghĩ nghi hoặc nào.

Nửa đêm, cô mơ thấy Sư Tôn nhập mộng, bảo cô thu dọn quần áo đồ đạc tiền bạc quý giá, bởi vì khu đó sắp có Hỏa Thần viếng thăm. (Khoảng 3 ngày sau.)

Cô tin tưởng không chút nghi ngờ, bèn làm theo, rồi bảo tất cả người nhà trong vòng ba ngày, tạm thời chuyển đến nhà bạn thân ở.
Người nhà chửi cô:
"Tâm thần!" (Thần kinh bất thường.)
Cô có lòng tốt nói với hàng xóm, hàng xóm lại chửi cô:
"Đồ mê tín!"

Nhưng mặc dù chửi cô, người nhà cũng làm theo lời cô, dù sao cũng chỉ có ba ngày, không có việc gì xảy ra thì lại quay về là được rồi. Chính xác ba ngày sau, khu vực đó quả nhiên đã bị cháy, cả một dãy nhà cửa liên tiếp bị lửa thiêu hủy.

Người nhà không còn chửi cô là "tâm thần" nữa.
Hàng xóm cũng không nói cô là mê tín nữa.
Họ chỉ thấy là Chân Phật Kinh quả nhiên có linh có nghiệm.

Sau đó, cũng lại có một lần, Sư Tôn nhập mộng bảo cô:
"Cô vẫn còn một kiếp nạn với lửa nữa, nhưng không cần chuyển đi, đám cháy lần này chỉ đốt đến nhà hàng xóm của cô thôi."
Cô nói với hàng xóm:
"Sẽ có cháy, cần sớm lo chuẩn bị."
Hàng xóm lần này đã tin lời cô.

Quả nhiên lại có đám cháy. Đường dây điện bắt lửa, đốt cháy mấy căn nhà, nhưng cháy đến nhà hàng xóm của cô thì bị dập tắt. Nhà cô không hề bị tổn thất. Hàng xóm nhờ tin vào năng lực của cô lần này mà đã có sự chuẩn bị từ sớm, do vậy tổn thất không lớn lắm.
Thay vào đó, mọi người cũng học theo cô tụng Chân Phật Kinh. Số người nhờ cô chỉ dẫn mà quy y Chân Phật Tông không ít. Cô nói với người ta rằng:
"Tôi chẳng hề có năng lực dự đoán gì hết, chỉ là mỗi đêm niệm một biến Chân Phật Kinh, liền được Sư Tôn nhập mộng bảo vệ. Nếu không có Sư Tôn nhập mộng chỉ thị cho biết thì cũng sẽ khó tránh khỏi tai nạn."
Cô còn được mọi người gọi bằng biệt hiệu là "Phượng hoàng lửa".


### 34. Không muốn làm danh nhân


Trong thập pháp giới, ở chốn khổ sở nhất là địa ngục, tôi đã gặp một nhân vật nổi tiếng bậc nhất thế giới. Mặc dù đã sớm qua đời tại thế giới Ta Bà, nhưng người này vẫn được người đời nhớ đến. Trong số những bức tượng sáp danh nhân, người này cũng là tiêu điểm được mọi người luôn chú ý.

Vị danh nhân siêu đẳng cấp thế giới này không ngờ lại ở trong địa ngục chịu khổ vô tận, chẳng biết ngày nào thoát ra được. Tôi không muốn viết ra đại danh của ông, bởi vì ai ai cũng biết ông cả. Hơn nữa, tôi cũng từng tham gia bảo tàng tượng sáp tại nước Anh, bên trong khắp nơi là những người nổi tiếng, khiến ai nấy tán thán, nhưng điều khiến tôi kinh ngạc là:
"Trong địa ngục cũng đầy danh nhân!"

Vì sao như vậy:
Bởi danh nhân đều là những người đại phú đại quý, quyền lực rất cao, làm nhiều người vô tội bị chết oan uổng, rồi phạm tội sát sinh, phạm tội tà dâm, phạm tội tranh đấu trộm cướp, lừa đời để có được tên tuổi.
Còn có những người phạm vào tội làm liều, phạm vào tham sân si, v.v…
Do vậy, trong địa ngục có nhiều danh nhân!
Tôi đều không nỡ thấy họ.

Nghĩ mà xem.
Tu hành vẫn là tốt, ví dụ, tôi ẩn cư ở hồ Diệp Tử, tu tam muội, bản tướng của tam muội vốn có ba đặc tính lớn:

1. Lạc -- tự tại.

1. Minh -- thanh tịnh.

1. Không -- vô niệm.

Dù cho thân thể của tôi có già, bệnh, chết, nhưng tam muội có thể đến được tịnh thổ, không giống như những đại tổng thống, thủ thướng, hoàng đế, thiên tử đẳng cấp thế giới kia.

Những tỉ phú, đại gia, địa chủ, tài phiệt đẳng cấp thế giới, những nhà văn lớn, nhà tôn giáo lớn, nhà phát minh lớn, nhà triết học lớn, nghệ sĩ lớn đẳng cấp thế lớn,… có một số đại danh nhân đều rơi xuống địa ngục, chịu khổ vô tận, không có ngày thoát ra. Bọn họ sẽ đột nhiên gặp lửa thiêu mà co rút lại, đột nhiên gặp lạnh mà đóng băng lại, đột nhiên rơi vào rừng gươm đao, đột nhiên rơi vào giữa đám thú dữ, bị ăn thịt sạch sẽ….

Thấy danh nhân chịu khổ hình, tôi thấy cũng tương đối sốc và ghê sợ. Tôi nghĩ, vẫn là tu hành tốt, vẫn là sống thanh đạm tốt, vẫn là sống an tịnh tốt, vẫn là tự nhiên tốt, vẫn là khoan dung tốt, vẫn là chân thành hồn hậu tốt.

Tôi hét to:
"Đừng làm danh nhân!"


### 35. Ngọn cờ của lòng tin


Còn nhớ có một hôm, ở trong tam muội, tôi đi qua một nơi, đó là khu chăn nuôi, xung quanh của khu chăn nuôi này cắm đầy cờ, trên mỗi lá cờ đều thêu dòng chữ "Om guru liansheng siddhi hum". Tôi rất lấy làm ngạc nhiên. Sao lại lấy tâm chú của tôi để thêu lên cờ, xong rồi còn cắm bốn lá cờ xung quanh khu chăn nuôi nữa chứ. Sau đó tôi xem xét thêm một chút thì hóa ra sự tình là thế này.

Gần đây xảy ra dịch cúm gà, các nước trên thế giới đều bị nhiễm, dịch cúm gà nghiêm trọng, mỗi lần giết chết tới hàng vạn hàng nghìn con gà.

Có đệ tử của tôi nghĩ ra một cách thông minh, đó là dùng tâm chú Liên Hoa Đồng Tử để làm thành cờ rồi cắm bốn phía xung quanh khu chăn nuôi. Đệ tử này có niềm tin rằng những trại gà khác bị nhiễm bệnh, nhưng gà của mình chắc chắn sẽ không sao. Anh đủng đỉnh không lo lắng gì.

Thực tế là trại gà ở đối diện đã bị nhiễm bệnh rồi, tổn thất nghiêm trọng, lũ gà đều chết sạch. Trại gà ở phía sau cũng đã mắc bệnh rồi, nhân viên kiểm dịch đến vừa đào hố chôn vừa khử độc, cũng giết hết lũ gà bệnh rồi. Rồi quan sát xung quanh tất cả mọi trại gà, mười trại thì đến chín trại đều bị trúng bệnh, những người nuôi gà kêu than: "Khổ quá! Khổ quá"!

Chỉ có trại gà của đệ tử này, những con gà đều vô sự, sống rất khỏe. Không phải là đàn gà này sẽ chẳng bị sao, mà là vì tôi đã ở đó!
Quỷ bệnh hét lên với tôi:
"Trại gà nhà này cũng có tên trong danh sách."
"Ông không có cách nào ngăn chặn được đâu."
"Cho dù là đệ tử của ông, khắp nơi cắm tâm chú của ông, lũ gà cũng không thoát khỏi kiếp nạn."

Cả một bầy quỷ bệnh muốn xông vào trong trại gà. Tôi trông thấy thì cuống quýt, vội vội vàng vàng niệm "Tiên Thiên Vô Cực Chính Pháp chú".

Diêu Trì Kim Mẫu đội mũ phượng hoàng, tay phải cầm phất trần của Thần Tiên, tay trái cầm quả đào tiên, ngồi trên cỗ xe chín con rồng, ở trong hư không phóng quang. Tất cả những lá cờ đều phóng quang, quỷ bệnh  con nào con nấy lảo đảo loạng choạng, bỏ chạy không để lại vết tích. Ánh sáng quá mạnh mà!

Vốn dĩ lũ quỷ bệnh la hét rất ghê gớm, nhưng vừa gặp Diêu Trì Kim Mẫu thì đều hết cách, bởi vì rốt cục thì nguồn gốc trước đây của Diêu Trì Kim Mẫu chính là lão tổ tông của thần dịch bệnh, quỷ bệnh chỉ còn đường tháo chạy thôi.
Đệ tử có lòng tin.
Tự sẽ được bảo vệ.
Khi dịch bệnh lớn xảy đến, trừ khoa học công nghệ và y học ra thì điều quan trọng nhất là bạn cần dựng lên ngọn cờ của lòng tin.


### 36. Đồng tình với tội phạm tử hình


Một đệ tử là tội phạm tử hình, bị giam ở một đất nước xa xôi. Người nhà anh này rất nghèo, chẳng có cách nào bay qua nghìn vạn dặm đến thăm anh. Ngày hành hình của anh đã đến gần.

Tôi nghĩ đến một bài thơ:
Gặp nhau đã khó, xa càng khó.
Gió đông bất lực trăm hoa tàn.
Tằm chết hết tơ vẫn cố nhả
Nến cháy thành tro lệ cũng tan

Người tội phạm tử hình ở trong ngục quy y, nhận quán đảnh từ xa. Anh chỉ có một tấm ảnh pháp tướng của Sư Tôn và tâm chú. Vì nhớ người nhà, anh liền dán ảnh của Sư Tôn lên tường của nhà tù, quỳ xuống trước Sư Tôn, khóc lóc sám hối cả cuộc đời mình.
Sau đó, anh niệm Thượng sư tâm chú ba ngày ba đêm:
"Om guru liansheng siddhi hum."
Tội phạm tử hình chỉ cầu xin một chuyện, đó là trước khi bị xử tử thì có thể gặp mặt người thân mà mình muốn gặp một lần, thế là thỏa ước nguyện rồi!

Sau khi niệm xong tâm chú ba ngày ba đêm, trong giấc ngủ, anh thấy những song sắt rơi xuống, cửa nhà tù mở ra, anh ta theo ánh sáng mà bay đi.
Chỉ một lát sau, anh đã trở về ngôi nhà của mình, nhìn thấy cha, mẹ, vợ, con trai, con gái. Tội phạm tử hình lần lượt ôm hôn họ. Anh trông thấy những lá thư do chính mình viết gửi về nhà đã được gom lại và cất đi, anh cầm chúng lên, đặt lên bàn ăn, đây là vật kỉ niệm cuối cùng mà cũng là mãi mãi của anh với gia đình.

Sau đó, tội phạm tử hình tỉnh lại, thấy chấn song sắt nhà tù vẫn khóa chặt. Cửa nhà tù vẫn đóng chặt. Cảnh vừa gặp chỉ là một giấc mơ.

Tội phạm tử hình sau đó đã bị hỏa thiêu, sau khi thiêu xong tạo thành rất nhiều hạt xá lợi, hoa xá lợi. Người nhà của tội phạm tử hình vĩnh viễn không hiểu vì sao trong cùng một đêm, mọi người trong nhà đều mơ thấy anh trở về nhà. Giấc mơ của mọi người đều giống nhau, thấy anh hôn từng người một chút, khẽ cười và nói:
"Sắp đi đến một nơi tốt đẹp hơn rồi."

Người nhà của tội phạm tử hình cũng vĩnh viễn không biết được, vì sao thư anh gửi về nhà, vốn đã được cất cẩn thận rồi, nay lại xuất hiện trên bàn ăn, bày ra đầy cả một bàn.

Họ, hoặc những con người thế gian khác, vĩnh viễn cũng không hiểu được rằng, cuộc đời ngày hôm nay có thể kéo dài tiếp đến kiếp sau. Tâm là bất sinh bất diệt, mặc dù cơ thể xương thịt đã chết, nhưng tâm vẫn còn tồn tại. Chỉ cần tâm có nơi để quay về thì có thể đến được thế giới tốt đẹp hơn.
Tội phạm tử hình lại có được hạt xá lợi, chuyện này Chân Phật Tông có nhiều lắm.


### 37. Bài thơ: Cuộc đời như kịch


Những người đứng bên kia bờ vẫy tay gọi
Gọi tôi, người lái con thuyền pháp độ
Để họ lên thuyền chẳng phân biệt tốt xấu
Tôi cứ chở họ đi về chốn Tây Phương.

Chẳng đâu ngờ trong số đó có con sâu
Tâm xấu muốn cướp lấy chiếc thuyền pháp độ
Đoạt lấy nghề độ chúng - tôi đang làm đó
Đạp thẳng tôi xuống nước lạnh bao nhẫn tâm.

Thật may mắn thay tôi vẫn còn bơi được
Ví như người khác ư, đã chết lâu rồi
Tới lúc cuối cùng tôi vẫn còn thở được
Trôi dạt đến đảo nhỏ tựa Robinson xưa.

Cuộc sống của tôi chợt mất đi ý nghĩa
Chỉ còn lục kí ức mà tìm kiếm bản thân
Hóa ra cuộc đời chẳng đẹp như tôi tưởng
Ai là người quản sự sống chết đời tôi.

Đồng thể đại bi vô duyên đại từ có được nữa chăng
Phát bồ đề tâm quảng độ chúng sinh có được nữa chăng
Rơi nước mắt ngước lên nhìn trời cao xanh.
Giờ tôi chỉ hy vọng ông trời đến độ mình.

Tôi muốn cứu người,
Nhưng lại bị đạp xuống biển toàn thân ướt sũng
Ngay cả thuyền pháp kia cũng mất
Ôm nỗi hổ thẹn sống qua cuộc đời.
Những cảnh tượng,
Cũng đã sắp hạ màn.
Hại con tim này đau buồn thay, đau buồn thay.


### 38. Ung thư thực sự biến mất


Chuyện xảy ra ở khoa Ung Thư tại một bệnh viện lớn.
Có hai bệnh nhân mắc ung thư, sau khi làm hóa trị xong cùng nói chuyện với nhau:
"Anh và tôi hôm nay sinh mệnh chỉ còn tính bằng giờ khắc, có cách nào có thể cứu được ta không nhỉ?"
Người kia cười khổ:
"Phép thần."
Người hỏi thản nhiên nói:
"Trên thế gian này làm gì có phép thần."
Người cười khổ nói:
"Có người chuyên tâm niệm A Di Đà Phật, cũng có người chuyên tâm niệm Quan Thế Âm Bồ Tát, cũng có người chuyên tâm đọc kinh, đều là hy vọng vào phép thần. Phật pháp hiển hóa, thiên chủ cứu độ."
"Được sao?"
"Có người được có người không."
"Vì sao thế?"
"Tất cả đều là duyên phận."

Người cười khổ nói:
"Có người mắc bệnh ung thư, sau khi làm hóa trị thì khỏi bệnh. Nhưng cũng có người chữa mà không khỏi, chẳng phải là duyên phận sao?"
"Nói cũng phải."
Người cười khổ nói:
"Có người tặng tôi một cuốn kinh, là Chân Phật Kinh, tôi muốn tùy duyên tặng cho anh. Anh niệm đi! Nói không chừng anh lại có duyên. Cần có tín tâm, tín tâm rất quan trọng đó."

Người hỏi cầm lấy cuốn Chân Phật Kinh, niệm một biến, trì tâm chú. Trong giấc mơ anh lập tức nhìn thấy một người vươn tay vào trong phổi anh, lấy ra một thứ bẩn ở trong phổi, anh cảm giác như được giải thoát, tất cả đau đớn của bệnh đột nhiên nhẹ nhõm hẳn, thậm chí chẳng còn thấy gì nữa.
Người trong mơ nói với anh:
"Anh có duyên, bệnh của anh sẽ khỏi, sống đến 99 tuổi."

Sáng hôm sau tỉnh lại, kể cũng kì lạ, bệnh nhân mắc ung thư này kiểm tra toàn thân thì không thấy các tế bào ung thư đâu nữa, thực sự bệnh đã hoàn toàn biến mất. Nhưng người cười khổ, người tặng cho anh cuốn Chân Phật Kinh thì đã chết rồi, cũng đã được giải thoát khỏi bệnh khổ rồi.

Bệnh nhân mắc ung thư này cầm cuốn Chân Phật Kinh đi đến vài ngôi chùa hỏi những người xuất gia và cư sĩ tại gia, tất cả đều nói "không biết kinh này". Anh tìm kiếm rất lâu, sau đó mới biết kinh điển này là do Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn tuôn chảy ra từ tâm mình. Anh muốn tìm tôi để cảm ơn, nhưng cũng không gặp được, bởi vì tôi đã bế quan, không gặp người ngoài nữa. Anh đến Lôi Tạng tự xin quy y và quán đảnh. Anh nói:
"Trong giấc mơ anh nhìn thấy một người vươn tay lấy ra thứ gì đó bẩn từ trong phổi anh, người này thực sự là Lư Thắng Ngạn Sư Tôn."


### 39. Uống nước ép dưa hấu sống qua ngày


Ngày xưa.
Tôi từng tổ chức một pháp hội Hộ Ma (hỏa cúng) trị bệnh cực kì hoành tráng tại sân vận động Đại Túc ở Hongkong, từng mời cao tăng của cả bốn phái Tạng Mật là Hồng giáo, Hoàng giáo, Bạch giáo, Hoa giáo tham dự.

Lần pháp hội đó.
Không hiểu vì sao tôi lại bị ốm ba ngày ba đêm, cứ ngủ li bì suốt. Trong lúc ngủ, tôi bị xe đâm gãy xương, bị trói tay trói chân, bị lửa đốt, bị đóng băng, bị dao cắt vào da thịt, miệng không nói được, mắt cũng không nhìn thấy, lục phủ ngũ tạng toàn thân đều đau ghê gớm, giống như tôi đã rơi vào 18 đại địa ngục vậy, chịu khổ chịu nạn. Sự đau đớn này người ngoài không thể hiểu được, đau vô cùng, đau cực kì.

Tôi biết đây là sự chịu thay cho bệnh khổ của chúng sinh, nhưng tôi cũng không ăn nổi ba bữa cơm, chỉ có uống nước ép dưa hấu cho qua ngày.
Đồng môn mời cơm.
Tôi như ở trong mộng.
Chỉ có thể uống nước ép dưa hấu. Nước ép dưa hấu là thực phẩm duy nhất. Những đồ ăn khác dù một miếng tôi cũng không ăn nổi.

Tôi thật sự không chịu nổi sự khổ sở của ba ngày ba đêm này, rất muốn không làm pháp hội nữa. Thế thân chịu thay kiểu này làm sao chịu nổi, ngay cả việc đi lại, tôi gần như cũng không nhấc nổi bước chân, ngay cả đi vào hội trường cũng ngã lăn trên bậc thang, toàn thân suy sụp như cái vỏ rỗng.

Thật may, có một vị Phật hiện thân, viết lên đỉnh đầu tôi bốn chữ:
"Quang minh an hành."
Tôi mới kiên trì tiếp tục.
Tôi cứ liên tục kiên trì cho đến khi pháp hội kết thúc. Kết quả là có người bệnh ngồi xe lăn tự nhiên đứng dậy được, có người câm lại nói được, có người mù lại nhìn thấy được, có người vẹo xương đột nhiên lại thẳng lại, có người bị bệnh lâu ngày đã khỏi. Rất nhiều người đã khỏi bệnh, thực sự không thể đếm xuể…

Trong hư không bay đến ba vầng cầu vồng.
Sân vận động Đại Túc lấp lánh những vòng tròn ánh sáng bát nhã.
Rất nhiều những tấm ảnh phóng quang thần kì đã được chụp.
Sau khi tôi làm pháp hội trị bệnh xong (hỏa cúng), tôi yếu ớt đi xuống khỏi pháp tọa, các đệ tử đón tôi đi ăn mì.

Điều kì lạ là, tôi như người tỉnh khỏi giấc mộng. Những đau đớn toàn thân đều đã hết, giống như sợi xích sắt tự động đứt ra thành từng đoạn. Tôi biết, thời gian thế thân chịu thay đã qua rồi. Toàn thân tôi thoải mái, tất cả mọi bệnh đều khỏi rồi.
Tôi vui mừng ăn hết bát mì hôm đó.
Tôi trước và sau pháp hội hoàn toàn như hai người khác nhau. Đúng là kì quái thật!


### 40. Cứu khổ trong địa ngục


Trong tam muội, tôi đã đến địa ngục.
Ở địa ngục, tôi đã nhìn thấy đủ loại khổ ách, kể cũng chẳng hết. Kì thực, những bệnh khổ ở nhân gian đã là cực khổ rồi, nhưng ở trong đạo địa ngục thì còn khổ hơn thế không biết bao nhiêu lần.

Tôi thấy có hai ngọn núi lớn, giống như một mảng trời, ở giữa có một khe nứt. Có một phạm nhân ở giữa khe nứt đó. Hai ngọn núi di chuyển, ép nạn nhân ở giữa. Một tiếng thét khô khốc thê lương, phạm nhân đã bị ép chết thành thịt xay, thảm không chịu nổi.

Không lâu sau, hai ngọn núi lại tách ra. Nạn nhân lại sống lại. Hai ngọn núi lại lặp lại cuộc hành hình như vậy. Cứ thế sống rồi lại chết, chết rồi lại sống, sống rồi lại chết, không biết lặp lại bao nhiêu lần.

Những tiếng kêu thảm thiết không ngừng vang bên tai. Trong lòng tôi rơi lệ, thực sự không muốn nghe thấy nữa. Đúng lúc tôi che mặt định rời đi thì phạm nhân kia đột nhiên nhận ra tôi:
"Sư Tôn! Cứu tôi."
Tôi trả lời:
"Tôi chẳng có cách nào cứu được anh. Khi còn sống anh làm nghề gì mà nay phải chịu quả báo là bị hai ngọn núi ép chết?"
Phạm nhân đáp:
"Tôi là bác sĩ phụ khoa, đã thực hiện rất nhiều cuộc nạo phá thai, chỉ vì tiền mà tôi đã cướp đi mạng sống của quá nhiều hài nhi."
Tôi nói:
"Anh hãy phát lời thề nguyện lớn trước hư không, nguyện niệm chú vãng sinh trăm nghìn vạn biến để hồi hướng cho các hài nhi, nguyện khi được chuyển thế làm người thì sẽ in sách thiện, luôn khuyên thế nhân đừng sát sinh hại mệnh. Anh niệm cả tâm chú Liên Hoa Đồng Tử, có lẽ có thể tránh được tội."

Phạm nhân vội vàng chắp tay lại, hướng về hư không, thế rồi cật lực trì tụng "Om guru liansheng siddhi hum" và chú vãng sinh. Hai ngọn núi bất ngờ dừng lại, không ép vào nữa! Những xiềng xích sắt trên người phạm nhân tự nhiên rơi xuống.

Tôi nói:
"Nhanh nhanh! Anh có thể thoát ra được rồi. Cửa ngục ở nơi này cũng tự động mở ra, trên đường anh cứ trì chú mà tự đi đi!"

Tôi nhìn theo anh ta đi lảo đảo loạng choạng trên đường, sợ hãi đến mức hồn bay phách lạc. Anh đi một mạch đến cõi ma, thấy một hang núi, anh bèn trốn vào trong đó. Tôi biết anh ta sắp chuyển thế rồi, tôi chắp tay cầu nguyện giúp anh được chuyển thế đến một gia đình tốt! Mong anh hãy nhớ lời nguyện in ấn sách thiện!

Tôi xuất định khỏi tam muội.
Hai tay tôi vẫn chắp lại.
Tôi nghĩ:
"Bác sĩ kiếm nhiều tiền như vậy, đã đánh mất cả lương tri, hà tất phải thế sao!"


### 41. Thế giới nội tâm của hồ Diệp Tử


Tôi bỗng nhiên muốn viết một bài thơ:

Thế giới nội tâm tôi vô cùng khác lạ
Tuy thực sự từ bên ngoài quan sát
Thì thấy tôi cũng tự nhiên bình phàm thôi
Ăn uống ngủ nghỉ
Ngồi thiền tu pháp
Kinh hành tùy ý khắp mọi nơi
Nào ai hiểu được nội tâm thật sự của tôi.

Tôi cứ âm thầm mà sống
Âm thầm viết văn làm thơ
Xưa nay tôi chẳng thích giao thiệp với người lạ
Trốn khỏi những ánh nhìn kì dị của thế nhân.
Tôi ăn uống cũng chẳng câu nệ,
Chỉ ngủ khi đã buồn ngủ lắm rồi.
Nhưng phần lớn là tôi nhắm mắt dưỡng thần nhập tam muội
Tôi nghiêm túc độ chúng sinh
Và trò chuyện với người cõi trời.

Ai hiểu được rằng thế giới nội tâm giữa người với người đều rất khó
Lòng người luôn phức tạp
Thời gian lại trôi nhanh vội vàng gấp gáp
Tôi còn biết nói thế nào đây.
Chí ít thì cũng rõ ràng là
Khi đến tôi là một con người
Khi đi tôi cũng là một con người
Trong thế giới nội tâm của tôi cũng là một con người
Thật sự mỗi ngày tôi đều ngắm sao và trăng
Nào ai biết được nỗi cô đơn trong tôi.


### 42. Thử nghiệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh


Có một đệ tử nọ thích niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, đặc biệt là thích một câu Sư Tôn giảng: "Kinh này thịnh hành từ triều đại nhà Đường cho đến nay, có linh nghiệm rất lớn, năng diệt sinh tử khổ, tiêu trừ chư độc hại, niệm mãn nhất thiên biến, trọng tội giai tiêu diệt."

Rất nhiều năm trước, ở Ngọc Hoàng Cung tại Đài Trung, Đài Loan, tôi đã có được một cuốn kinh này, tôi không chỉ tự mình đọc mà còn khuyên người khác đọc, hơn nữa còn khuyên người ta giúp đỡ in ấn. Cho đến nay tôi vẫn còn tụng không ngừng. Chính tôi cũng nhìn thấy kim thân của Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát thực sự trang nghiêm tuyệt diệu, tán thán không ngớt lời!

Nói thật lòng, tôi nay đã 60 tuổi rồi mà vẫn còn đọc tụng không ngừng đó!

Đệ tử kia của tôi có một vài nghiệp chướng, vẫn là bệnh nghiệp thôi. Anh bị mắc bệnh sỏi thận, đã đi khám bác sĩ thì thực sự là căn bệnh này. Các bác sĩ thông thường có kiến nghị là mổ để lấy sỏi ra, không phải là việc khó. Người mổ để gắp sỏi thận rất nhiều, nhưng anh ta sợ mổ, chỗ đau ẩn bên trong khiến anh rất sợ.

Anh mơ thấy Sư Tôn (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) đến trong giấc mơ nói với anh rằng: "Con là hành giả Mật giáo, hiểu về pháp quán tưởng, tại sao không tụng một biến Cao Vương Kinh, kèm theo quán tưởng ở chỗ có sỏi thận bay ra một viên sỏi đen. Quán tưởng như vậy có thể sẽ không cần phải mổ nữa."

Anh mơ thấy Sư Tôn nên đương nhiên rất vui mừng. Nhưng nói về pháp "sỏi bay" này, cũng có nhiều người bán tín bán nghi. Sỏi thận đâu dễ bị bài tiết ra ngoài, chỉ có mổ mà gắp ra thôi, chưa nghe thấy phương pháp nào khác. Đệ tử cũng không dám tin, nhưng anh lại sợ mổ, nên cũng chỉ còn cách duy nhất là phải thử xem. Anh niệm một biến Cao Vương Kinh, quán tưởng một viên sỏi đen từ chỗ bị sỏi thận bay ra. Đệ tử tụng Cao Vương Kinh một biến rồi quán tưởng một lần.

Đã xảy ra chuyện kì lạ rồi. Một ngày kia, tự anh cảm thấy cái chỗ đau ẩn bên trong không thấy đâu nữa, anh không cảm thấy đau chút nào. Chính anh cũng cảm thấy chỗ đau đã hoàn toàn biến mất rồi.

Anh đến bệnh viện lớn làm xét nghiệm, báo cáo đưa ra, trong thận hoàn toàn không còn sỏi nữa, khác hẳn so với lần kiểm tra trước đây. Lúc trước rõ ràng có sỏi kết lại, bây giờ một viên sỏi cũng không có, thật kì diệu làm sao!
Vốn dĩ anh cần mổ, bây giờ thì không cần nữa rồi.

Đệ tử này hàng ngày đều tụng Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh không ngừng, có được sự cứu giúp của Quan Tâm Bồ Tát, có tôi báo mộng kịp thời dạy anh "phi thạch pháp" (pháp sỏi bay). Đây cũng là phúc phận của chính đệ tử này, chẳng phải là sức mạnh của tôi!


### 43. Minh Tín tìm cha mẹ


Có một đệ tử tên là Minh Tín, phụng sự Chân Phật, thường tụng kinh tu pháp. Anh tự nguyện tụng kinh rất nhiều năm, hồi hướng cho cha mẹ ở âm gian.
Cha anh là Kim.
Mẹ anh là Diệp.
Đệ tử Minh Tín còn báo danh ở các pháp hội siêu độ của các chùa. Cúng Phật, cúng pháp, cúng tăng, với mong muốn cha mẹ của mình được vãng sinh đến thế giới cực lạc. Đệ tử Minh Tín thực hành mọi pháp thiện, với mong muốn cha mẹ được vãng sinh Phật quốc tịnh thổ.

Đệ tử này còn đích thân vào bếp, nấu những món ăn thanh tịnh ngon nhất để cúng dường Liên Hoa Đồng Tử. Cứ thế kéo dài suốt ba năm.
Có một hôm. Anh hỏi:
"Liên Hoa Đồng Tử, cha mẹ đã vãng sinh đến nơi nào?"
Đêm đó, Sư Tôn nhập mộng, nói rằng:
"Anh cúng dường ta như vậy, đều là để hồi hướng cho cha mẹ anh được vãng sinh đến Tây phương cực lạc thế giới. Cha mẹ anh nhờ công đức của anh nên sớm đã được chư Phật phổ độ vãng sinh rồi! Nếu không tiếp dẫn cho cha anh mẹ anh thì về lý là càng có sai sót. Tôi nhận cúng dường của anh đã ba năm, tâm cũng bất an. Việc tu hành của anh đã hợp với hiếu tâm hiếu hạnh, tự anh đã cảm thông đến chư Phật, viên thành Phật đạo, anh cứ yên tâm!"

Sư Tôn còn đưa linh hồn của Minh Tín bay đến ao Thất Bảo, nơi có nước tám loại công đức ở Tây phương cực lạc thế giới tịnh thổ, dưới đáy ao toàn là cát bằng vàng, các bậc thang bốn xung quanh ao được lát bằng vàng bạc lưu ly, có lầu các được trạm trổ bằng bảy loại ngọc ngà châu báu.
Cha anh là Kim, mẹ anh là Diệp, đều sống trong những lầu các thất bảo này, họ đã được vãng sinh đến thế giới thanh sạch thơm ngát vi diệu.

Minh Tín hỏi Liên Hoa Đồng Tử:
"Cha mẹ xưa kia chỉ là những người nông dân làm ruộng thô kệch, sao có thể vãng sinh?"
Sư Tôn đáp:
"Việc này đều là bởi công đức đại nguyện đại hạnh của A Di Đà Phật, do vậy mới có thể thu xếp được với bốn cõi tịnh thổ và các phàm thánh của thập phương tam thế để cho cha mẹ anh được vãng sinh. Vì anh đã thay cha mẹ trồng nên những nhân duyên thiện căn, nhờ đại hành làm phúc đức, tự mình thành tựu, nên cha mẹ cũng thành tựu, trời đổ cơn mưa hoa mandala, cũng không từ bỏ người nào cả."
Minh Tín nghe xong, tự nhiên tín phục.

Tôi viết một bài kệ:
Tiếng Di Đà duy nhất
Niệm mãi chẳng sờn lòng
Cha mẹ đều giải thoát
Chư Phật cũng hài lòng.


### 44. Xích sắt đứt từng đoạn


Khi nhập vào tam muội, tôi đến một bệnh viện lớn, trông thấy một minh sứ ở âm phủ đem theo xích chân xích tay tới để trói người. Đương nhiên tôi biết nhất định có người bệnh sắp chết nên minh sứ tới để đưa người đi.

Quả nhiên chẳng sai, có người ở trong phòng mổ, chỉ là mổ dây thần kinh bên hông, nhưng tim đã ngừng đập, thần thức vừa xuất hiện một cái là minh sứ tiến lên trước, trói lại và đem đi.

Tuy nhiên đã xảy ra một sự việc kì lạ. Sợi xích trói tay chân đứt ra từng đoạn, thần thức muốn bỏ chạy. Minh sứ liền lấy ra một sợi xích khác để trói thần thức của người bệnh lại, bảo nó đừng có chạy nữa, nhưng càng kì lạ hơn là sợi xích lại đứt ra từng đoạn. Mình sứ rất kinh ngạc.

Đúng vào lúc cả hai bên đều chẳng rõ chuyện gì xảy ra, Quan Thế Âm Bồ Tát xuất hiện nói với minh sứ: "Ông không thể đưa người này đi được đâu."
Minh sứ đáp:
"Ông ta có tên trong sổ, đã phạm tội, vì sao xích sắt lại đứt ra từng đoạn vậy?"
Bồ Tát nói:
"Ông ta niệm Cao Vương Kinh một nghìn biến, trọng tội đều tiêu diệt, tự nhiên sẽ không phải vào địa ngục nữa."
Minh sứ hỏi Bồ Tát:
"Sao có thể như thế? Tội này linh hồn sẽ đi về đâu?"
Quan Thế Âm Bồ Tát nói:
"Ở đây cũng có nhân duyên cả, người này niệm Cao Vương Kinh, chính là đã đọc bản kinh mà Liên Sinh Hoạt Phật khuyên đọc, ông ấy tin theo và làm đúng như vậy nên mới đọc kinh này, hơn nữa người in kinh này để tặng cho ông ấy cũng ở đây, linh hồn của người phạm tội hãy để Lư Thắng Ngạn đưa đi vậy!"

Minh sứ quay đầu lại, vừa nhìn thấy tôi liền cười lớn ha ha. Tôi chắp tay đảnh lễ Quan Thế Âm Bồ Tát, chắp tay chào minh sứ, rồi tôi đưa linh hồn phạm tội đi, đưa trở về hồ Diệp Tử. Linh hồn này theo tôi học Phật, sau này chắc chắn sẽ tới được Tây phương cực lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì hóa thân ở đó.

Tôi xuất ra khỏi tam muội. Vậy là lại thêm một người âm nữa theo tôi học Phật pháp. Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh khiến xích sắt đứt ra từng đoạn, vậy là lại thêm một ví dụ nữa.

Tôi viết một bài kệ:
Niệm hết Chân Kinh nghìn biến trọn
Địa ngục khổ hình cũng thoát ngay
Xích sắt đứt rời, chân thật có
Hóa sinh Tịnh độ tất có ngày.


### 45. Sự mê muội của kẻ trộm


Có hai tên trộm, ban ngày quan sát địa hình địa vật, mục tiêu của chúng chính là ăn trộm cửa hàng của một đệ tử của tôi. Hơn nữa, chúng còn đánh kí hiệu lên cửa hàng, chuẩn bị đến nửa đêm thì hành động.

Hai tên trộm cũng biết rằng, chủ nhân của cửa hàng này, cả nhà đã đi du lịch ba ngày, trong vòng ba ngày sẽ không có ai ở nhà. Tin tức này là chuẩn xác, không còn nghi ngờ gì nữa.

Đàn thành của đệ tử này thờ cúng Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát. Anh thích niệm kinh Ma Lợi Chi Thiên, kinh văn này ngắn, cũng đã niệm được trăm nghìn biến rồi.
Anh thích:
Người chẳng thể lấy trộm của tôi.
Người chẳng thể lừa lọc tôi.
Người chẳng thế làm hại tôi.
Vì Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát sẽ luôn bảo vệ.

Ở hồ Diệp Tử, khi tôi nhập tam muội thì Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát đã đến. Bồ Tát đưa tôi đến nhà đệ tử, đến cửa hàng của anh ta, tôi đã bí mật xóa kí hiệu của mấy tên trộm đi.
Hai tên trộm hí hửng lái xe đến, chạy mấy vòng xung quanh khu vực này nhưng không tìm được cửa hàng mà chúng muốn lấy trộm.
Vẻ ngoài của các cửa hàng đều tương đối giống nhau.
Tôi dùng tay che mắt của hai tên trộm lại.
Một tên nói:
"Đường này cũng không đúng."
Tên kia nói:
"Cả cửa hàng cũng không thấy đâu."
Còn bảo:
"Đêm nay chúng ta gặp ma rồi."
Lại nói:
"Lái vòng vèo đường nào cũng đều thấy không đúng."
Hai tên trộm đi vòng vèo trong khu vực này cả đêm, trời cũng đã sáng mà vẫn không tìm được cửa hàng mà chúng muốn lấy trộm, chúng la lớn: "Mất công chết toi rồi!"

Hai tên trộm nói:
"Người nhà này chắc chắn có Thần Phật bảo vệ, thôi bỏ đi!"
Chúng nói câu này thì lại đúng rồi. Chính là Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát đã bảo vệ. Ngài luôn đi trước mặt trời, ban ngày cũng bảo vệ, ban đêm cũng bảo vệ, từng giờ từng phút đều bảo vệ. Muốn trộm nhà của Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát à, không dễ đâu.

Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát thiên biến vạn hóa, có rất nhiều thuộc hạ, là chư thiên quỷ thần chúng, Đạo gia tôn sùng xưng ngài là Đẩu Mẫu Tinh quân, là người đứng đầu các Tinh Quân.

Trong tam muội, tôi trở về hồ Diệp Tử.
Cười vang ha ha. Thật là một buổi tối vui vẻ.


### 46. Dây trói tự động lỏng ra


Những kẻ côn đồ trên thế giới này thực sự là yểu mạng. Đặc biệt là những kẻ bắt cóc con nhà người ta để tống tiền. Những vụ án kiểu này dường như vĩnh viễn không chấm dứt.

Nghĩ mà xem.
Những đứa trẻ bình thường được cha mẹ thương yêu nhất, được chăm sóc kĩ lưỡng bị bọn côn đồ bắt cóc đi, làm sao không khiến các cha mẹ kêu trời than đất, chẳng thiết ăn ngủ mong ngóng con cái mình trở về nhà. Những kẻ côn đồ lợi dụng tình cảm này mà tống tiền, với ý đồ ác độc, thực sự là tạo nghiệp lớn!

Tôi tịnh tọa ở hồ Diệp Tử, ngửi thấy hai mùi hương. (Que hương cháy hai đầu, biểu thị có việc gấp.)
Tôi ra khỏi tam muội, hóa ra là con trai của một hành giả Chân Phật đã bị người ta bắt cóc. Cha mẹ cậu bé đang ở trước đàn thành khóc lóc thảm thiết rằng ai mà không có con cái, ai mà không thương yêu con cái, cái việc này mà cũng làm được, thật là không còn lương tâm. Sự an toàn của xã hội, sự yên ổn của xã hội thật là quan trọng.
Kẻ côn đồ đòi tiền chuộc cao.
Hành giả không có đủ tiền.
Kẻ côn đồ đưa ra thời hạn và mức tiền chuộc, nếu không sẽ "xử đẹp", thật tàn nhẫn quá.

Ở trong tam muội, tôi đi gặp con trai của hành giả Chân Phật. Trên người đứa trẻ này vẫn còn đeo bùa hộ thân của tôi. Tay chân cậu bé đã bị trói chặt, bị nhốt trong buồng vệ sinh. Buồng vệ sinh chỉ có một cửa sổ nhỏ. Bên ngoài có một tên côn đồ canh gác.
Đứa trẻ mới chỉ là học sinh lớp hai tiểu học.

Nói thẳng ra là, cảnh sát muốn tìm được căn nhà nhỏ ở ngoại ô vùng núi này thì cũng chẳng dễ. Thế là, tôi bèn tháo lỏng sợi dây trói trên người đứa trẻ. Đứa trẻ rất nhanh trí, nhẹ nhàng gỡ bỏ dây trói, tự mình trèo qua cửa sổ rồi thục mạng bỏ chạy.

Tôi còn làm cho tên côn đồ đang canh giữ cảm thấy buồn ngủ, không còn nhận biết được gì nữa. Cuối cùng, con trai của hành giả Chân Phật đã tự chạy thoát được, nhờ người đi đường giúp đỡ mà trở về được nhà của mình.
Người nhà thở phào, cả nhà đều vui mừng.

Cảnh sát cũng lần theo manh mối mà tóm được lũ côn đồ bắt cóc, tổng cộng có ba tên, trong đó có một tên là nhân viên cũ đã nghỉ việc của hành giả Chân Phật kia.

Cha mẹ hỏi cậu con trai:
"Làm sao thoát được?"
Cậu bé đáp:
"Kì lạ lắm! Dây trói tự động lỏng ra, chân tay có thể cử động được!"
Cha mẹ của hành giả Chân Phật cũng cảm thấy nghi hoặc không hiểu.

Lần nhập tam muội đó, mặc dù cũng khá ghê, nhưng cũng không nguy hiểm gì, rất nhẹ nhàng thoải mái.


### 47. Hết cảm giác đau


Các vị A La Hán, sở dĩ thành tựu đạo A La Hán là nhờ:
Tứ niệm xứ:
Quán thọ là khổ.
Quán thân bất tịnh.
Quán tâm vô thường.
Quán pháp vô ngã.
Tứ Thánh đế: Khổ - Tập - Diệt - Đạo
Tứ Không: Thân không - Tâm không - Pháp không - Tính không.

Tôi bế quan ở hồ Diệp Tử, suy tư nghiền ngẫm về đạo lý Thánh đế này, thấy được hết tất cả mọi thứ về thế gian này. Tôi cảm nhận sâu sắc những gì Phật Đà đã nói.

Trong tam muội, tôi thường đến những bệnh viện lớn, hoặc đến âm gian địa ngục, đạo súc sinh, đạo ngạ quỷ, đây đều là những thế giới cực kì đau khổ.

Theo tôi thấy, chẳng cần phải đọa vào tam ác đạo, mới thấy nhân gian đầy bệnh khổ tôi đã thấy sợ lắm rồi. Nhưng lo buồn, sợ hãi, bất an cũng chẳng giúp ích được gì. Sự đau đớn trước khi chết chỉ có nhờ vào y học và nhất tâm bất loạn niệm Phật mới có thể giải quyết được.

Trong tam muội, tôi quan sát cơn đau bệnh của một đệ tử. Anh ta mắc bệnh ung thư phổi, chịu những cơn đau cùng cực, đã không còn niềm tin gì nữa, chỉ còn nhờ vào morphine để giảm đau. Anh vật vã với những đau đớn khổ sở sống qua ngày, đầu óc nặng trĩu, thân hư hoại trống rỗng, chân yếu ớt, toàn thân đau nhức, đến cả xương cũng đau. Phổi chảy nước, việc hít thở phải nhờ vào bình oxy.

Anh đưa ánh mắt vô hồn nhìn lên bầu trời bên ngoài cửa sổ, hướng đến tôi cầu nguyện "Om guru liansheng siddhi hum. Con chỉ mong hết cơn đau để có thể nhất tâm niệm Phật và bình an ra đi. Con xin sám hối mọi nghiệp chướng, chỉ mong được hết đau!"

Tôi không cầm lòng được, rớt nước mắt. Nước mắt hóa thành Quan Thế Âm Bồ Tát đến vẩy cam lộ lên người đệ tử không còn chịu đựng nổi sự đau đớn vì bệnh ung thư phổi này.

Tất cả mọi cảm giác đau đớn của đệ tử đã tiêu tan. Nét mặt anh bộc lộ một nét tươi cười, thế rồi anh ra sức niệm Phật. Vì không còn thấy đau nên anh niệm Phật đầy vui vẻ, niệm đến mức trên mặt hiện ánh sáng đỏ, rồi cứ thế niệm đến lúc qua đời.

Ở trong tam muội, tôi không ngừng tán thán anh.
Tôi nhận thấy, nếu như không lấy đi cảm giác đau đớn, chỉ biết kêu cha kêu mẹ, hoặc tẩy chay niệm Phật, muốn nhất tâm bất loạn thì cũng gặp rất nhiều khó khăn.

Khi đã hết cảm giác đau đớn rồi, một lòng nhớ đến Phật, niệm Phật rồi cứ thế mà rời khỏi cõi đời thì cũng xem như là rất thù thắng rồi.


### 48. Làm người đừng quá tàn nhẫn


Ngày xưa.
Tôi nhờ vào khả năng thần toán mà thanh danh vang dội, khiến nhiều người đỏ con mắt. Rồi lại vì tống tiền tôi bất thành, nên có người đã nhờ lưu manh hãm hại tôi. Đây cũng chính là cái họa "cây lớn phải chịu gió to".

Một ngày trước khi thực hiện kế hoạch mai phục ám hại tôi, tên lưu manh nọ tự lái xe máy đã gặp tai nạn. Đúng là Diêu Trì Kim Mẫu đã thương tôi, xót tôi mà cứu tôi một mạng.
(Sự việc này tôi đã từng viết trong những cuốn sách thời kì đầu.)

Ngày nay.
Tôi bế quan ở hồ Diệp Tử. Khi tu tam muội, tôi biết được một việc.
Có một đệ tử, bản thân vốn không mắc nợ nần gì, chỉ vì thay anh trai ghi tên vào mặt sau tờ hối phiếu mà bản thân lại trở thành người mắc nợ. Anh trai thì bỏ trốn, còn mình thì gánh tai họa.

Bình thường anh niệm Phật rất chăm chỉ, rất kiền thành, đồng thời không ngừng niệm kinh A Di Đà. Anh bị bọn xã hội đen bắt đi. Lũ xã hội đen chính là bọn đòi nợ. Bọn xã hội đen cực kì hung hãn, chúng cật lực đánh đập hành hạ anh. Điều lạ là ở chỗ, rõ ràng anh bị đánh rất nặng, nhưng lại chẳng có chỗ nào bị đau, trên người chỉ có vài vết bầm tím, dường như có thần nhân chịu đòn thay anh. Chính anh cũng cảm thấy kì lạ.

Ba kẻ đánh đập anh, ngày hôm sau đều ốm liệt giường không dậy nổi, đồng thời, cả ba cùng có một giấc mơ, trong mơ có người đến nói với họ rằng:
"Người này là đệ tử Phật, không đánh được đâu, có phúc thần bảo vệ anh ta. Còn đánh đập anh ta thì các người sẽ ốm liệt giường không dậy được đâu."
Ba kẻ này bất lực nhìn nhau, chỉ còn cách thả anh kia ra.

Về sau, đệ tử này của tôi thực hiện một vụ làm ăn, thuận lợi kiếm được nhiều tiền, liền giúp anh trai giải quyết món nợ nần, thế là xong hết.

Tôi viết một bài kệ:
Côn đồ sống bằng súng với dao
Bất phân phải trái loạn cào cào
Dễ dàng gây nghiệp rồi gặp họa
Nhân quả báo ứng đời lao đao.
Vì kế sinh nhai mà điên đảo
Tâm trí hỗn loạn chẳng thể yên
Khuyên người đừng làm điều tàn nhẫn
Chính đạo cần biết sớm quay về.


### 49. Gặp Kawabata Yasunari


Kawabata Yasunari là một nhà văn người Nhật Bản mà tôi ngưỡng mộ. Ông đã đạt giải thưởng Nobel Văn học, trong giới văn học Nhật Bản, không ai là không biết đến ông, không ai là không hiểu tầm cỡ địa vị của ông.
Việc ông tự sát đã làm chấn động cả thế giới. Giới truyền thông khi đó đã chỉ ra:

1. Kawabata Yasunari gặp chướng ngại về mặt tinh thần.

1. Kawabata Yasunari theo đuổi bạn gái thất bại.

Lý do tự sát của Kawabata Yasunari và một nhân vật đạt giải Nobel Văn học khác là Ernest Hemingway đều là chuyện bí ẩn với thế gian.

Tôi bế quan tại hồ Diệp Tử, vì trong lòng ngưỡng mộ Kawabata Yasunari, nên trong tam muội, tôi đã đi gặp Kawabata Yasunari. Vì trong lòng tưởng nhớ nên không thể không gặp.
Tôi hỏi:
"Là chướng ngại về tinh thần sao?"
Yasunari đáp:
"Không."
Hỏi:
"Theo đuổi bạn gái sao?"
Đáp:
"Không."
Hỏi:
"Nguyên nhân thật sự là gì?"
Đáp:
"Cuộc đời đã đạt đến đỉnh cao rồi."
"Đỉnh cao nhất là cái gì?"
"Sự trống rỗng."
"Là sự trống rỗng khiến ông tự sát?"
"Đúng."
"Sao ông không tìm kiếm một mục tiêu khác?"
"Không có một mục tiêu nào là ta thật sự có được. Đời người chẳng có một chút giá trị nào, Kuriyagawa Hakuson cũng nói văn học là thứ sản phẩm trống rỗng nhợt nhạt." (Kuriyagawa Hakuson cũng là một nhà văn nổi tiếng người Nhật.)

Tôi hỏi:
"Sao ông không giải thoát khỏi cảnh giới hiện tại?"
Yasunari trả lời tôi:
"Tôi tự sát, rất khó được giải thoát. Có một vị Bồ Tát cực lực khuyên tôi xả thân làm nô lệ cho thế nhân, cúng dường chúng sinh, phát nguyện xây tháp Phật năm tầng, thì có thể giải thoát khỏi cảnh giới hiện tại. Tôi đang nghĩ việc làm nô lệ cho thế nhân sẽ rất khổ sở, nên vẫn còn suy nghĩ."
Tôi khuyên ông:
"Hãy làm theo ý của Bồ Tát đi! Tất cả Bồ Tát chẳng phải là vì chúng sinh, nỗ lực tinh tấn độ chúng sinh sao?"
Yasunari vẫn còn cân nhắc.
Tôi thì rời khỏi tam muội rồi.


### 50. Gấu và hổ


Người học Phật thường hay nhắc đến câu chuyện "Ngay lúc này".
Có người gặp gấu, gấu muốn ăn thịt anh ta.
Anh bỏ chạy, gấu đuổi theo, gặp một vách núi, anh bị rơi xuống, thật may lại rơi trúng một cái cây, cây đã đỡ toàn thân anh nên anh không bị thương gì. Nhưng điều không may là bên dưới cái cây lại có một con hổ lớn. Con hổ nhìn chằm chằm vào anh.
Trên có gấu, dưới có hổ, thật khiến người ta run sợ!

Lúc này, anh ta nhìn thấy bên vách núi có mọc một cây dâu tây rất ngon. Anh hái dâu ăn, ngon ngọt không gì sánh bằng. Anh quên luôn việc trên đầu có gấu, dưới chân có hổ.
(Đây chính là câu chuyện "Ngay lúc này". Cần nhớ bám lấy ngay lúc này, những thứ khác không cần quan tâm.)

Tôi ở trong tam muội tại hồ Diệp Tử.
Tôi nghe thấy có tiếng gọi thất thanh:
"Sư Tôn cứu mạng! Sư Tôn cứu mạng! Om mani padme hum. Om mani padme hum."
Tôi nhìn xem chuyện gì thì hóa ra là có một kẻ cướp giật đang cướp cái túi xách của một đệ tử nữ của tôi. Đệ tử nữ không chịu, hai bên tranh giành nhau cái túi xách. Tên cướp còn móc dao ra. Tôi kinh hãi, đẩy tên cướp một cái, dao liền đâm chệch đi, đâm vào không khí. Nhưng tên cướp vẫn có sức khỏe hơn, đã cướp được túi xách của đệ tử nữ. Hắn nhảy lên xe máy rồi mau lẹ phóng vụt đi.

Tuy anh ta nhanh, nhưng tôi còn nhanh hơn, tôi lại đẩy thêm một cái về hướng chiếc xe máy. Chiếc xe liền đổ nhào ra đất, tên cướp đã bị thương, không leo lên xe được. Đệ tử nữ từ phía sau chạy đến, chiếc túi xách trở về với chủ nhân, không hề bị tổn thất gì.
Cuối cùng, tên cướp đã bị cảnh sát tóm gọn.

Vì sao dao lại đâm chệch đi, vì sao xe máy đột nhiên lại đổ nhào ra đất, tên cướp này đúng là gặp vận xui tám đời rồi, bởi vì anh ta đã cướp giật trúng một đệ tử Chân Phật Tông, đệ tử Chân Phật này còn hét gọi Sư Tôn cứu mạng nữa chứ! Rồi cô còn niệm tâm chú của Bổn tôn Quan Âm. Việc khi gặp nguy hiểm thì hét lên câu tâm chú là thành tâm nhất và linh ứng nhất.

Phật nói:
"Như cứu lửa cháy đầu!" (Tóc bắt lửa cháy.)
Tôi thường có cảm giác như vậy. Khi tôi đi bộ ở trong núi, niệm Phật trì chú, có khi tôi vọng tưởng rất nhiều, đôi khi cũng có thể nhất tâm nhất ý, những cảm nhận khi hoàn toàn tập trung tâm ý thì tràn đầy pháp hỷ. Pháp hỷ tràn đầy thì tâm chính là Phật, Phật và tôi hợp nhất, tôi chính là Phật, không hai không khác, tự tính Di Đà liền tự nhiên hiển hiển.


### 51. Địa ngục hàn băng mà tôi thấy


Trong tam muội.
Tôi bất ngờ đến địa ngục hàn băng. Tôi cho rằng địa ngục lửa thiêu mới là đau khổ, hoặc địa ngục bánh xe lăn là khổ nhất, không ngờ địa ngục hàn băng cũng cực khổ.

Tôi trông thấy một người khỏa thân lõa thể ngồi trên một tảng băng. Cái lạnh của anh ta không chỉ là run lên mà thôi, mà là toàn thân run bần bật, thân thể trở nên cứng ngắc, máu xương đều đông cứng đến mức vỡ ra, chất thành một đống cứng đặc, thế rồi chết.
Chết xong lại sống, là bò lên từ sông băng.
Thấy phía đông có một ngọn núi ấm áp hơn một chút, liền bò về hướng đông, nhưng khi đến nơi thì núi lại biến thành núi băng.
Thấy phía nam có một ngọn núi ấm áp hơn một chút, liền bò về hướng nam, nhưng khi đến nơi thì núi lại biến thành núi băng.
Thấy phía tây có một ngọn núi ấm áp hơn một chút, liền bò về hướng tây, nhưng khi đến nơi thì núi lại biến thành núi băng.
Thấy phía bắc có một ngọn núi ấm áp hơn một chút, liền bò về hướng bắc, nhưng khi đến nơi thì núi lại biến thành núi băng.
Tuyết từ trên rơi xuống.
Tuyết từ dưới đùn lên.
Cả sáu hướng đều chẳng có nơi nào trốn, thế rồi chết vì mệt, chết vì đông cứng, chết vì đau đớn.

Tôi kinh hãi.
Rồi tôi lại thấy những quản ngục ném quần áo cho những người trong địa ngục. Những người trong ngục sung sướng lắm, bán mạng mặc quần áo vào, một cái, hai cái, ba cái, bốn, năm, sáu, thậm chí là 20, 30, 50 cái, nhưng ngay cả mặc quần áo rồi cũng vẫn lạnh, lạnh đến mức quần áo cũng đóng băng luôn, thế là chết.
Tôi thật sự không thể nhìn nổi.

Quản ngục bảo tôi:
"Thánh giả Liên Sinh, tấm lòng ngài không đành, nhưng những người này đều là những kẻ côn đồ cường bạo giết người trong nháy mắt. Hễ ai lọt vào mắt chúng là chúng sẽ cướp quần áo tài sản. Không chỉ như vậy, mỗi ngày chúng đều giết người để ăn, uống máu họ, nhai xương họ, ăn toàn bộ sạch sẽ. Vì lý do này mà âm hồn họ trần truồng lõa thể rơi vào địa ngục hàn băng, chết bao nhiêu lần đều có định số, dù một khắc cũng không được thư giãn, giống như những con người có tâm lạnh như băng vậy."

Nghe xong những điều này tôi càng thấy sợ hãi. Trong lòng tôi nghĩ, nếu con người không tu hành, chỉ tạo nghiệp, rồi còn tạo nghiệp nặng là giết người, thì tương lai nghiệp nặng khó thoát.

Tôi viết bài kệ:
Âm gian ngục hàn băng
Mặc áo quần vô ích
Tôi khuyên người nhẫn nhục
Chớ phẫn nộ giết người
Đừng mang tâm máu lạnh
Hãy giữ lòng từ bi.


### 52. Hồ Tâm Quốc


Khi ở trong tam muội, có một lần tôi xuất hiện dưới một hồ nước (ở trong hồ nước), trong hồ nước này có một thành phố rộng lớn. Tôi hỏi người ta thì mới biết nơi đây là Hồ Tâm Quốc.

Thập phương thế giới tôi đều đã đi du lịch hết rồi, nhưng vẫn không biết ở dưới hồ nước lại có một đất nước, nên tôi cảm thấy rất hiếu kì, bèn tự do đi dạo loanh quanh.

Dưới lòng Hồ Tâm Quốc, là nơi sâu nhất của hồ, là một đất nước yên bình, thành phố cũng đẹp, nhưng bên ngoài thành thì sóng gió khiến người ta phải sợ hãi, sóng to gió lớn.
Tôi hỏi nguồn gốc:
"Vì sao có đất nước này?"
Có người trả lời tôi:
"Đây đều là do những người chết vì lật thuyền đã lập ra đất nước này. Những người này bình sinh cũng không phải là người xấu xa, sau khi rơi xuống nước, linh hồn không có nơi nương dựa, hồ này vốn cũng không có vị thần nào cư ngụ. Sau đó Quan Thế Âm Bồ Tát thấy hồ này không có thần, mới hóa thành một thành phố làm nơi ở cho chúng tôi."
"Có Quốc vương không vậy?"
"Có."
"Là ai?"
"Có một đệ tử Chân Phật, có Bổn tôn là Quan Âm Bồ Tát, niệm Cao Vương Kinh đã có được cảm ứng, người này sau khi chết thì hết sức đau đớn. Quan Âm Bồ Tát thấy duyên với thế gian của anh ta còn chưa hết, bèn đưa anh ta đến đất nước này, quản lý nhân dân của đất nước này."
"Là đệ tử Chân Phật nào?" - Tôi nghe mà rất kinh ngạc.
"Họ Ngụy."

Ở Hồ Tâm Quốc, tôi đã gặp đệ tử họ Ngụy. Hóa ra là một đệ tử cũ đã nhiều năm không gặp, giờ đây anh nồng nhiệt chào đón tôi đến, cùng nhau ôn lại những chuyện ngày xưa, chẳng nén được những tiếng thở dài. Quốc vương họ Ngụy tu hành có thành tựu, có thể biến to thu nhỏ, ví dụ như hóa thành to ra thì khi đứng thẳng dậy, hồ nước chỉ ngập đến bụng anh. Anh ở hồ này cũng đã độ cho rất nhiều người.

Tôi nói:
"Thế gian tai họa không ít."
Anh nói:
"Đúng vậy. Người rơi xuống hồ nước này cũng nhiều lắm rồi! Họ đều được tôi giáo hóa. Thế nhân ngày nay không hiểu sự quý giá của tính mạng, tâm linh yếu đuối, hễ gặp khó khăn là liền nghĩ đến sự giải thoát, nhưng phương pháp giải thoát thì lại sai lầm. Tôi cật lực cứu người thì cũng mới cứu được chừng đó thôi."
Tôi nói:
"Cũng chỉ mong tận tâm tận lực mà thôi!"

Trong tam muội, tôi thần hành đến Hồ Tâm Quốc, vốn cũng là có nhân duyên. Nhân duyên chính là Quốc vương của nơi này là đệ tử của tôi, hơn nữa, tôi còn ở đất nước này thuyết pháp ba ngày. Đất nước này hòa bình, là điều hy hữu, hiếm thấy, hiếm thấy.


### 53. Tuần hành Bạch Mã Quốc


Có rất nhiều việc, tôi thật sự không muốn nói nhiều, nhưng cũng không thể không nói ra, nguyên nhân là vì những người phạm vào điều này rốt cục đã không còn là số ít nữa. Việc này hoàn toàn không phải chỉ Chân Phật Tông mới có, mà tất cả các tông phái tôn giáo trên toàn thế giới đều có căn bệnh chung dễ nhiễm này, là một căn bệnh phổ biến.

Tôi đã đến một đất nước, đương nhiên là tôi đến trong tam muội, nói cách khác là tôi thần hành, lợi dụng trạng thái "tam muội nửa sống nửa chết" mà đi du lịch.
Con người ở đất nước này có một đặc trưng là:
Thân người.
Đầu ngựa trắng.
Trên đỉnh đầu ngựa có đội một bức tượng Căn bản Thượng sư rất nặng màu vàng kim, nặng đến nỗi đầu ngựa không ngóc lên được. Đầu bị đè nặng xuống không có cách nào nhìn thấy người, chỉ biết lắc đầu chán ngán.
(Ngoài việc này ra thì cũng chưa có những chướng ngại lớn nào khác.)
Tôi thấy hoàn cảnh của đất nước này vô cùng kì quái.

Trông thấy những người đầu ngựa thân người, trên đầu còn đội Căn bản Thượng sư, tôi bèn đi theo họ để hỏi. Những người này thấy tôi đến bèn tản đi trốn biệt, nhưng cũng chỉ là cắm đầu chạy về phía trước mà chẳng có cách nào ngẩng đầu lên nhìn được. Bọn họ huýt sáo với nhau ra hiệu để tản đi, nhưng tôi thần hành vẫn nhanh hơn nên đã chặn một người lại, hỏi anh ta:
"Vì sao lại đội tượng Căn bản Thượng sư bằng vàng nặng như vậy?"
"Vì chịu ơn sâu đức dày."
"Vì sao ngoài nỗi khổ này ra thì không còn cái khổ nào khác?"
"Vì tu pháp."
"Cho dù là chịu ơn sâu đức dày, nhưng vì sao lại là cái đầu chịu khổ?" - Tôi không hiểu.
"Vì đã rời bỏ."

Lúc này, tôi mới chợt nhận ra, hóa ra là những người ở Bạch Mã Quốc này vốn đều là đệ tử Chân Phật Tông, nhưng về sau đã rời bỏ Căn bản Thượng sư, tuy vậy vẫn chưa từ bỏ tu hành pháp Hiển - Mật, họ vẫn tu theo chính pháp, chỉ là họ đã phỉ báng ơn sâu đức dày của Căn bản Thượng sư, do vậy mới hóa sinh ở Bạch Mã Quốc.
Do đó, đời đời kiếp kiếp trên đầu họ sẽ phải đội bức tượng Căn bản Thượng sư bằng vàng rất nặng.
"Vì sao lại rời bỏ?"
"Cũng vì vấn đề duyên phận, chúng tôi đã đi theo những người đã rời bỏ."
Tôi nói:
"Làm người cần ăn quả nhớ người trồng cây, uống nước nhớ nguồn. Tóm lại, không được quên ân phụ nghĩa, sư phụ có sai thế nào thì chí ít cũng đã dạy ta một chữ một lời. Còn phỉ báng thì không tốt đâu!"
"Biết sai rồi!" - Người của Bạch Mã Quốc nghiêm túc sám hối.


### 54. Thế giới của những kẻ vô lại hoành hành


Trong tam muội, tôi giống như nửa tỉnh nửa mơ trở về Nam Sơn Nhã Xá. Khoảng bốn năm nay, tôi đã hoàn toàn quên nơi mà tôi đã từng sống.

Điều khiến tôi ngạc nhiên là, Nam Sơn Nhã Xá lâu nay không có người ở, từ lâu đã trở thành ổ chuột. Lũ chuột tụ tập trong Nam Sơn Nhã Xá, không cần đến nửa đêm mới chui ra, mà ngay cả ban ngày cũng to gan nghênh ngang ra mặt. Chúng đào lỗ ở trong nhà, đào lỗ ở trên cây, không bị điều gì cấm cản chúng cả, sẽ chẳng có người đến đuổi chúng. Lũ chuột cũng chẳng cần chạy, cũng chẳng bị giam cầm, chẳng có ai đặt bẫy chuột. Nam Sơn Nhã Xá đã trở thành thiên đường của những kẻ vô lại này.

Vì tôi rời khỏi nơi ẩn cư của mình ở hồ Diệp Tử, thần hành đến Nam Sơn Nhã Xá, tôi đã sốc trước phát hiện này.
Ổ chuột - không biết là bao nhiêu, có lẽ phải đến hơn trăm ổ!
Ghế sofa - những chiếc nệm ngồi đã bị cắn nát, lũ chuột rúc trong đệm rất ấm áp.
Đồ ăn trong kho - tất cả đồ ăn đã bị ăn sạch.
Bếp nấu - vốn là nơi để nấu ăn, nay đã thành ổ chuột.
Tầng hầm - thành câu lạc bộ chuột.
Những túi gạo - đã bị cắn thủng, gạo vương vãi trên đất.
Tất cả mọi nơi - đều có phân chuột, nước tiểu chuột.
Đàn thành - đã bị chuột đục như mạng nhện.
…

Vì tôi đóng cửa ẩn cư tại hồ Diệp Tử, bốn năm nay Nam Sơn Nhã Xá không có ai ở, nơi đây đã trở thành thế giới cho những kẻ vô lại hoành hành, chẳng khác gì nơi bỏ hoang, thật khiến người ta thở dài cảm thán!

Tôi hỏi Bồ Tát:
"Vì sao lại như vậy?"
Bồ Tát đáp:
"Tự nhiên thôi."
"Vì sao lũ chuột lại sinh sôi nhiều như vậy?"
"Thế nhân trộm cướp nhiều, kẻ vô lại càng nhiều."
"Quần áo của tôi đều trở thành giẻ rách rồi, trong tủ quần áo cũng đầy phân chuột, đã chẳng còn thứ gì nguyên vẹn nữa rồi!"
"Những vật hữu hình ở thế gian đều sẽ bị hư hoại!"

Tôi đột ngột hiểu thông, mọi vật hữu hình trên thế gian này đều sẽ hư hoại, ngay cả hành giả tu hành là tôi đây cũng sẽ có ngày sắc thân hư hoại. Phật đã nói thân thể người này khi chết cũng chỉ là ổ dòi bọ, điều quan trọng là thân trung ấm sau đó không được đọa vào tam ác đạo, đặc biệt là không được có tâm trộm cướp, nếu không sẽ đọa vào làm chuột là xong đời.

Nam Sơn Nhã xá từ lâu đã trở thành thiên đường cho lũ vô lại hoành hành rồi!


### 55. Long trời lở đất


Khi tôi còn ở Seattle Lôi Tạng Tự, xem ti vi thấy Đài Loan có trận động đất 921, nhìn mà chấn động. [ ND: trận động đất được nhắc đến ở đây là trận động đất lớn xảy ra vào ngày 21/9/1999 tại Đài Loan, khiến 2415 người chết, 11305 người bị thương. ] Tôi chỉ biết ủng hộ khoản tiết kiệm nhỏ của cá nhân, cùng với hội công đức Hoa Quang Chân Phật Tông, cật lực trợ giúp. Chúng tôi góp tiền góp sức, cũng xây dựng nhà ở tạm thời để giúp người dân có chỗ ở.

Ẩn cư ở hồ Diệp Tử, một lần trong tam muội, tôi đã dự đoán được đất nước kia cũng sẽ xảy ra động đất lớn, sức mạnh của cơn động đất này cũng không thua kém gì trận động đất xảy ra tại Đài Loan, số người chết và bị thương cũng lên đến nghìn, vạn người. Tôi sinh ra tại Đài Loan, thấy Đài Loan bị động đất, người chết và bị thương thiệt hại nặng nề mà không cầm được nước mắt. Chẳng phải là nhớ quê hương, mà là đau đớn vì quê hương.

Nay thấy đất nước kia sẽ gặp họa như vậy, trong lòng tôi cũng đau buồn như thế. Người học Phật vô duyên đại từ, đồng thể đại bi, tôi tự mình thần hành đi cứu.
Tôi đến một ngôi chùa, cũng không phải là chùa Phật, mà là chùa của tôn giáo khác. Có tới trăm, nghìn tín đồ đang lễ bái thần.
Tôi thấy ngôi chùa này sắp sập, sẽ đè chết hơn trăm, hơn nghìn người, hơn nữa những người này, mức độ kiền thành sùng tín thần chẳng thua kém gì những tín đồ của các tôn giáo khác.
Họ quỳ gối đảnh lễ không ngừng.
Âm thanh niệm lầm rầm không ngớt.
Tiếng vọng hát tán tụng xôn xao.

Lúc này, trong lòng tôi sốt sắng, rõ ràng là khi ngôi chùa này sập xuống thì toàn bộ những tín đồ này sẽ chết hoặc bị thương. Tôi muốn vận dụng thần thông để cứu người:

1. Làm cho chiếc chuông lớn ở bên ngoài, không có ai gõ mà tự kêu, khiến mọi người chạy ra khỏi chùa để xem.

1. Làm hiện lên một vị thần khổng lồ, đứng ở bên ngoài chùa, khiến mọi người chạy ra xem.

1. Làm cho trong chùa tối mờ, bên ngoài sáng rực, khiến mọi người chạy ra ngoài xem.

1. Làm cho bên ngoài chùa phát ra âm thanh lớn, khiến mọi người nhanh chóng rời khỏi chùa.
Tôi cũng chẳng nghĩ thêm được cách gì nữa.

Đúng vào lúc này, một Thiên sứ hiện thân, nói với tôi:
"Đừng vận thần thông!"
"Không cứu những tín đồ này sao?" - Tôi ngạc nhiên.
Thiên sứ đáp:
"Không thoát khỏi kiếp nạn!"
"Lẽ nào những người này đều tạo ác nghiệp?"
Thiên sứ đáp:
"Có một số người đã tạo ác nghiệp, có một số người dù chưa gây ác nghiệp, nhưng suy nghĩ cũng đã không còn đúng đắn nữa, chắc chắn không tránh được, chẳng có sức mạnh của trời nào có thể cứu vãn được."
"Những người chưa tạo nghiệp, chẳng phải là họ rất sùng bái mộ đạo sao?"
Thiên sứ đáp:
"Phương hướng sùng bái mộ đạo của họ sai rồi."

Trận động đất lớn lần đó, tôi đành bất lực quay về, buồn thay!


### 56. Cứu mạng chính mình


Trong suốt quá trình hoằng pháp đời này của tôi, tôi thực sự đã gặp không ít những hoàn cảnh khó khăn nguy hiểm, vừa vướng vào "bạch đạo", vừa vướng vào "hắc đạo", lại vướng vào truyền thông, vướng vào giới văn hóa, vướng vào giới xã hội. Cũng dính vào những sự hiểu lầm mà bản thân cũng chẳng biết, thậm chí vướng vào giới tôn giáo.

Nay tôi có thể ẩn cư tại hồ Diệp Tử là may mắn lắm rồi. Có thể nói rằng, vẫn có thể sống được là nhờ sự bảo hộ của Thiên Long Hộ Pháp.

Tôi nhớ ngày xưa có một lần, tôi nhận lời mời đi hoằng pháp. Trước khi đi, tôi có một giấc mơ, mơ thấy hai ngọn đèn xanh và một ngọn đèn vàng.
Thượng sư Liên Hương khuyên tôi:
"Thôi đừng đi!"
Tôi trả lời:
"Nếu như là đèn đỏ thì sẽ không đi nữa. Đèn vàng thì xong việc mau đi về cho nhanh, hơn nữa đã nhận lời mời rồi nên cứ đi thôi!"

Sau đó, quả nhiên, đối phương không thật sự có thiện ý, sắp xếp mọi thứ một cách ào ào. Tôi tự biết là khó nói lý lẽ được, chỉ kiền thành tụng niệm Cao Vương Kinh cứu khổ cứu nạn. Khi đó tôi biết mình đã rơi vào miệng hổ rồi.
Mấy pháp hội sau đó, tất cả đồ cúng dường đều bị đối phương gom lại. Kì thực, đối phương đã lợi dụng sự hưng thịnh của Phật giáo để câu tiền từ những pháp hội. Nếu không làm theo đối phương, nghe nói sẽ bị bắt giữ, hoặc bị trói lại, hoặc bị nhục mạ, hoặc bị gây thương tích, hoặc thế nào thế nào đó tôi cũng không rõ lắm.

Trước mấy buổi pháp hội thì cũng chưa có chuyện gì. Pháp hội vừa kết thúc thì phiền phức đã tới. Người phụ trách nói với tôi:
"Thiếu tiền rồi, các người phải đền bù."
"Bao nhiêu?" - Tôi hỏi.
"XXXXX!" - Hắn đưa ra mức tiền trên trời.

Tôi biết gặp phiền phức rồi, kí hiệu đèn vàng đã ứng nghiệm. Chúng tôi chẳng có cách nào để đền bù. Chạy lên núi cao, đối phương truy đuổi lên núi cao. Chạy tới vùng hẻo lánh, đối phương lại truy đuổi tới vùng hẻo lánh. Đối phương dùng toàn bộ nhân sự tận lực để truy đuổi, tôi cũng không có cách nào giải quyết.

Cuối cùng chẳng còn cách nào khác, tôi kinh hãi chạy vội đến sân bay, lập tức đổi vé, bỏ luôn vé máy bay vốn có, liều mình tháo chạy. Thế là tôi an toàn vượt qua được tình cảnh nguy hiểm, lên máy bay rồi mới xem như là đã thoát khỏi nguy hiểm.

Nghe nói, đối phương "quăng lưới" là để kiếm tiền mở nhà hàng.
Chúng tôi hóa trang, vội vàng bỏ chạy.
Đèn vàng, ứng nghiệm rồi. Mọi người đều tin rằng lần này tránh được nạn là nhờ thần lực của Cao Vương Kinh.


### 57. Nhất tâm là quan trọng nhất


Hồi tưởng lại cuộc đời này của tôi, những kiếp nạn tai ương chẳng hề nhẹ. Việc tôi có thể vượt qua từng kiếp nạn một có liên quan đến việc tôi nhất tâm tôn sùng Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh.

Tôi có được kinh này, niệm kinh, khuyên người ta niệm, tự mình niệm, khuyên người ta in ấn, tự mình in ấn, tặng rộng rãi Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, chính mình gặp được Quan Âm, thực sự có rất nhiều nhân duyên.

Trong Chân Phật Mật Pháp, có một phần chính là niệm Cao Vương Kinh. Bản thân tôi cảm thấy sự nhất tâm rất quan trọng. Khi tôi còn trẻ, tôi đã có được bản kinh này, tôi niệm cho tới khi 60 tuổi, tôi chỉ nghĩ đến:
Năng diệt sinh tử khổ
Tiêu trừ chư độc hại.
Hóa thân của Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát thực sự vô cùng trang nghiêm, trên đầu đội mũ miện, mặt như trăng tròn, tướng mạo như Phật, mũ miện rủ xuống hai bên, thân mặc thiên y váy xếp, đeo vòng ngọc, khuyên tai, vòng tay, lắc chân, đứng trên hoa sen cầu vồng, sau lưng có chữ Phạn tỏa ánh sáng vàng kim, toàn thân tỏa sáng, chiếu khắp thập phương tam thế.

Những kiếp nạn tai ương trong đời này của tôi quả thực không thể đếm hết.
Bị lưu manh mai phục muốn giết chết. (Nhưng lưu manh đã bị tai nạn xe chết trước đó.)
Bị lưu manh đuổi theo dồn vào chỗ chết. (Sau đó tôi tự mình thoát được nạn này.)
Tai nạn xe. (Người văng xuống đất, không bị thương.)
Bị máy móc đâm trúng. (Thoát chết trong gang tấc.)
Bị truyền thông bao vây. (Chút xíu nữa là tôi không nghĩ thông suốt được.)
Bị tôn giáo bao vây. (Hết phái này tới phái khác vây hãm nhưng tôi không chết.)
Bị cạm bẫy bao vây. (Lần lượt tôi đều tự mình giải thoát.)
Bị chính trị phá hoại. (Có quý nhân xuất hiện.)
Bị gài bẫy ở đầm lầy. (Tôi rơi xuống rồi tự mình trèo lên được.)
Bị đầu gấu gài bẫy. (Tôi đã tránh được nạn này.)
Bệnh tuổi già đến thân. (Tự mình chữa khỏi.)
Và còn nhiều nữa……….

Mỗi tai nạn này đều chẳng phải là những sự việc nhỏ, mỗi việc đều khiến tôi sống không được chết không xong. Thậm chí, đệ tử quy y tôi cũng muốn chôn sống sư phụ của mình cho chết, những nỗi khổ này tôi đều đã trải qua. Tôi ban ngày niệm Cao Vương Kinh, ban đêm niệm Cao Vương Kinh, tôi có thể sống được 60 năm qua, ẩn cư ở hồ Diệp Tử viết sách và sống sót thực sự chẳng phải là đơn giản.

Từ đầu chí cuối tôi đều cảm thấy sự nhất tâm là cực kì quan trọng. Phật cũng dạy chúng ta cần nhất tâm, chỉ cần nhất tâm thì tất cả đều có thể làm được. Kì thực, người sáng lập Chân Phật Tông chẳng biết điều gì. Thứ mà ông ấy biết chỉ là nhất tâm bất loạn thành Phật mà thôi.


### 58. Cuộc viễn dương đẫm máu


Có một chiếc tàu cá viễn dương, đi đến Thái Bình Dương, khoảng gần vùng biển Hawaii thì trên tàu phát sinh ra tai họa. Tai họa chỉ sắp xảy ra, còn thực tế vẫn chưa xảy ra.

Có bốn người chơi đánh bạc, nảy sinh tranh chấp, hai người trong số đó cực kì tức giận, đã bí mật lên kế hoạch đến giữa vùng biển thì sẽ giết chết hai người kia, đoạt lại số tiền đã mất (mọi tài sản bị mất do đánh bạc).

Nhưng một người thắng được tiền là đệ tử của tôi. Anh ta họ Vương, từ nhỏ đã quy y. Khi ra biển, cha mẹ anh đã đưa cho anh đeo tấm phù bảo hộ. Còn anh thì không ngừng niệm một câu: "Om guru liansheng siddhi hum." Anh cũng đã làm việc trên tàu cá viễn dương nhiều năm rồi.

Đêm đó, tôi nhập mộng:
"Không cần thắng của người ta quá nhiều tiền! Trả lại cho người ta đi."
Đệ tử đáp:
"Con không thua bạc, mà là thắng."
Tôi nói:
"Lần này có đại họa."
Tôi hóa hiện ra một cảnh tượng cho anh xem, thấy hai người thua bạc kia giả vờ mời hai người thắng bạc uống rượu, nhưng trong rượu đã bỏ thuốc mê, hai người uống rượu xong thì trở nên mê man mơ hồ.
Tiếp đó, hai người thua bạc đem hai người thắng bạc ném xuống biển, rồi đoạt lại số tài sản đã thua mất, nói dối rằng hai người nọ đã rơi xuống biển mất tích. Đệ tử sợ đến mức toàn thân vã mồ hôi.
"Sao có thể như vậy?"
"Con người ta vì tiền mà chết, chim vì thức ăn mà chết, côn đồ hành hung chẳng phân biệt nhân quả."
"Con phải làm sao?"
Tôi đáp:
"Bọn họ đã khởi ác niệm, duy chỉ có cách đánh bạc lại một lần nữa, để số tiền thắng được trả lại cho hai người họ, thì mới có thể tránh được họa."
"Bọn họ đã không còn tiền nữa."
"Cứ cho họ mượn tiền trước."
Tôi nói xong thì biến mất, trở về hồ Diệp Tử.

Sau đó, đệ tử này nghe lời của tôi, cho hai người kia mượn tiền, bốn người họ lại đánh bạc một lần, lần này đã hòa, hai người thua tiền đã thắng lại được số tiền họ thua lần trước, dự định hành hung của họ vì thế cũng tan biến. Họ lại sống an nhiên vô sự cùng nhau.
Hai người kia mời uống rượu. Đệ tử Vương nghe trong không trung có người nói:
"Có thể uống, không có thuốc mê đâu."

Mười ngày sau, đệ tử Vương về đến cảng, bình an trở về nhà kể với người nhà. Người nhà đều cho rằng Sư Tôn đã âm thầm bảo vệ, đặc biệt là câu nói "Có thể uống, không có thuốc mê đâu" rất rõ ràng.
Về sau, đệ tử Vương cũng đã đổi nghề.


### 59. Rốt cục cần cứu ai


Khi ẩn cư ở hồ Diệp Tử, nhập tam muội, bỗng nhiên tôi đến một đất nước nọ. Ở đất nước này tôi đã gặp những kẻ xâm lăng và những người chống xâm lăng. Những kẻ xâm lăng dùng cách đánh bom, tàn sát tùy tiện, thành thị, nông thôn và các thành phố lớn lần lượt đều biến thành những đống đổ nát.

Nhưng người dân của đất nước này chẳng có nơi nào để chạy trốn. Người già yếu, trẻ em, phụ nữ, người thì chết, người thì bị thương, máu chảy thấm đẫm nửa đất nước, những tiếng khóc than làm chấn động cả đại địa thiên giới.
Thanh niên thì chia nhỏ lẻ, trốn trong núi sâu, thỉnh thoảng tấn công lại những kẻ xâm lăng đang ở đó, trở thành cuộc chiến tranh du kích của những người kháng chiến, khiến cho những kẻ xâm lăng không thể làm gì được. Bọn họ cực kì nỗ lực kháng cự, hai bên đều có thương vong.
Kẻ xâm lăng thì cho rằng họ nỗ lực để giữ cho sự ổn định của thế giới.
Người chống xâm lăng thì cho rằng họ nỗ lực để bảo vệ lý tưởng của đất nước.

Bây giờ thì vấn đề đã đến rồi.
Ai đúng ai sai?
Ai có lý? Ai vô lý?
Ai thiện ai ác?
Những kẻ xâm lăng từ lâu đã chiếm lĩnh đất nước này, nhưng chiến tranh du kích vẫn không dừng, những trận đánh, bạo động, tàn sát, ném bom, tấn công lẻ tẻ vĩnh viễn không có một ngày nào yên. Những người dân vô tội ở đất nước đó khi nào mới có thể hưởng thụ những ngày tháng bình yên đây?

Khi tôi thần hành đến đất nước nọ, tôi rất do dự, rốt cục là tôi cần cứu ai? Ai là đối tượng mà tôi cần cứu? Kẻ xâm lăng, hay những người chống xâm lăng, hay những người dân vô tội? Cho dù là muốn cứu thì cũng có cứu hết được không? Nếu không phải là những vụ nổ thì là những trận đấu súng, lửa cháy khắp nơi.
(Đây chính là kiếp nạn binh đao.)

Tôi đột nhiên ngửi thấy trong hư không có một mùi hương lạ, ngẩng đầu nhìn thì thấy rất nhiều băng rôn cờ hiệu và những chiếc ô ủng hộ các Thần Trời đang tuần hành, có vô số tùy tùng đi theo.
Tôi hỏi:
"Sao không cứu dân thường?"
Thần Trời đáp:
"Không thể cứu được."
"Vì sao?"
"Trên đầu họ toàn khí đen, khí nghiệp, họ không phải là những người tốt."
"Bọn họ chẳng phải là có theo tín ngưỡng sao?"
"Kẻ xâm lăng có tín ngưỡng, kể chống xâm lăng có tín ngưỡng, người dân có tín ngưỡng, nhưng họ đều có ma oán hận."


### 60. Cảnh hóa thực thọ cúng ngoạn mục


Mặc dù tôi đóng cửa ẩn cư tại hồ Diệp Tử, ngày ngày viết văn, tu pháp, kinh hành, nhưng ở trong tam muội thì tôi diễn hóa khắp nơi. Việc cúng dường đồ ăn thức uống, hóa thực cúng dường cho quỷ thần chúng vẫn là một trong số các mục tu pháp hàng ngày của tôi.

Hồ Diệp Tử là địa danh mà tôi tự đặt tên. Những năm gần đây, tôi không ở hẳn một chỗ, thậm chí cũng đã chuyển chỗ ở đến ba lần, ví dụ: đảo Đông Tinh, đảo Thiên Hỉ, đảo Âm Duyệt… Tôi là một hành giả lang thang, nơi nào cũng là nhà.

Tuy nhiên, bất kể là chuyển nhà đến chỗ nào, việc hóa thực của tôi cũng không thể gián đoạn. Khi chuyển đến một chỗ mới thì tôi cũng lại bắt đầu hóa thực.

Cúng dường quỷ thần chúng có rất nhiều cảm ứng.

1. Quỷ thần hiện thân.

1. Quỷ thần không hiện thân.

1. Quỷ thần đầy hư không.

1. Quỷ thần từng nhóm hai, nhóm ba kéo đến.

1. Quỷ thần không hiện thân, cũng vô tri vô giác.

Có giai đoạn, một khoảng thời gian tương đối dài, tự bản thân tôi cũng không nhìn thấy gì, không nghe thấy gì, căn bản là trạng thái vô tri vô giác. Lâu dần, chính tôi băn khoăn không biết rốt cục quỷ thần có đến để nhận cúng dường hay không? Có phải là bản thân tôi đã già yếu mắt mờ rồi không? Hoặc là tinh thần không còn tốt nữa? Quỷ thần thấy bản thân tôi cũng chẳng có gì hay nữa rồi, nên không đến nhận cúng dường nữa?

Tôi cứ nghĩ ngợi thế.
Rồi đến một lúc làm cúng dường quỷ thần chúng, tôi niệm tên quỷ thần, niệm chú, niệm cam lộ tràn đầy. Lúc này xuất hiện một bầy chim, xem ra cũng phải đến hơn trăm con, đều bay ào đến kêu ầm ĩ ở nơi tôi cúng dường hóa thực. Bọn chúng không lui lại, cũng không sợ việc hóa thực của tôi.
Đầu tiên chúng biểu diễn bay lượn trong không trung.
Rồi chúng biểu diễn bay tách ra xếp thành hình chữ "Vạn".
Tiếp theo chúng biểu diễn nghi thức tiếp nhận cúng dường của tôi.

Chính tôi cũng nhìn đến sững người ra, thán thán sự tiên tri tiên giác của quỷ thần chúng. Tôi cho rằng bản thân có tuổi rồi, việc cúng dường không đủ lực, quỷ thần cúng không đến nữa. Tôi vừa có suy nghĩ như thế thì bọn họ đã biết được, do vậy liền nhập vào bầy chim đến để biểu thị rằng họ vẫn tiếp nhận sự cúng dường nhỏ bé của tôi.
Việc hóa thực nhỏ bé của tôi.
Việc cúng dường nhỏ bé của tôi.
Vẫn là nhất tâm.


### 61. Cứu em bé ngã cầu thang


Trong tam muội.
Tôi bỗng xuất hiện ở một nơi tôi không biết, đột ngột xuất hiện ở trong một ngôi nhà. Đồ đạc trong nhà chẳng theo kiểu Trung cũng chẳng theo kiểu Tây, tôi không thể nhận ra được là nhà của ai.

Ngôi nhà này có hai tầng, tầng hai có một phòng là phòng trẻ em (phòng dành cho trẻ sơ sinh dưới một tuổi). Ngủ được một lúc thì em bé tỉnh dậy.

Em bé khóc gọi người lớn!
Ở tầng dưới có bà ngoại của bé, còn cha mẹ của bé đã đi ra ngoài có việc, có lẽ cũng sắp về đến nhà. Người bà chạy lên tầng, ôm lấy em bé. Người bà ôm lấy cháu, quay bước định đi xuống nhà dưới thì bất ngờ bị trượt chân. (Chân khuỵu xuống.)

Từ tầng hai đến tầng một tổng cộng có 14 bậc cầu thang, cầu thang thẳng và khá dài. Lúc này, bà cháu một già một trẻ lăn xuống cầu thang. Với cú ngã lộn vòng này, người già sẽ bị gãy xương, không chết thì cũng bị thương nặng.
Việc ôm em bé ngã lăn xuống nhiều vòng:
Nếu bà ngoại ôm chặt lấy bé thì em bé sẽ có nguy cơ bị đè chết.
Nếu bà ngoại buông tay ra, thì em bé lại sẽ có nguy cơ bị chấn thương não.

Thế nên tôi vội vội vàng vàng đưa tay chỉ một cái, liền xuất hiện một tấm địa võng, là thiên la địa võng không thể lọt ra ngoài được, để đỡ trọn lấy người bà và em bé.

Lúc người bà bị trượt chân, đầu tiên bà va vào thanh vịn cầu thang nên hai chân bà bị thương nhẹ, còn em bé thì rơi vào trong võng. Tay, chân, đầu em bé không bị thương chút nào. Hai bà cháu đã từ trên đầu cầu thang ngã xuống dưới chân cầu thang một cách nhẹ nhàng, nên chẳng có gì đáng ngại.

Tới lúc cha mẹ em bé trở về nhà, liền giúp bà ngoại kiểm tra vết thương, định đưa tới bệnh viện để kiểm tra xem có gì nguy hiểm không. Nhưng em bé không bị thương một chút nào, ngay cả va đập cũng không có, vẫn cười hi hi. Kiểm tra ngoài da thì tất cả đều ổn, tay chân đầu mặt tất cả đều bình thường.

Lạ thay! Lạ thay! Sao có thể như vậy?
Hóa ra em bé này vốn có lai lịch phi phàm, là một đại hòa thượng ở nơi Phật Tổ đến chuyển thế, nay có nguy nan, tôi không cứu bé thì ai cứu?
Đứa bé này là ai?
Mọi người đoán thử xem!


### 62. Con hổ


Trong lúc thần hành, tôi gặp một con hổ đang cực kì đói. Con hổ thấy tôi, liền ăn thịt, nhưng nhai tới nhai lui mà vẫn không nhai được, bởi vì tôi chỉ là nguyên thân vô hình, hoàn toàn không có thực thể vật chất, nhai rất lâu nhưng cũng chỉ là huyễn ảnh.

Con hổ thật sự đã rất đói. Nó lại chạy đến một vùng lau sậy ở sâu trong núi, bên trong có một người tu hành già sống ở đó. Người tu hành già này xem ra không gặp may rồi. Tôi tình cờ có suy nghĩ muốn cứu người tu hành già đó, bèn tạo nên sương mù.

Một đám sương mù lớn xuất hiện, ôm trọn phủ kín ngôi nhà. Con hổ tiến vào trong màn sương chẳng tìm thấy được ngôi nhà, cũng không tìm thấy  lão hành giả.
Tới lúc này, có một vị Bồ Tát hiện thân thuyết pháp cho con hổ nghe:
Hãy xem, mình mang thân hổ, không tự làm mình bị thương thì làm người khác bị thương, đừng mãi không biết suy nghĩ như vậy. Hành giả xưa nay sống đều chẳng đề phòng, ngươi đừng làm cho ông ấy hoảng sợ. Sao không theo ta đi chuyển thế, qua được kiếp này rồi lại tu hành để trở thành bậc thiên hạ vô song.

Con hổ nghe xong liền cúi đầu hàng phục, theo vị Bồ Tát đó đi đầu thai chuyển kiếp.
Tôi chắp tay hướng về vị Bồ Tát đang định rời đi, hỏi:
"Con hổ chuyển kiếp đến nơi nào?"
Bồ Tát đáp:
"Nó đã ăn thịt không ít người rồi, do vậy chuyển kiếp thì vẫn là hổ, sau này tôi mới lại đến để độ cho nó."
Tôi lại hỏi:
"Lão hành giả này tu gì mà cũng làm cho Bồ Tát phải nhọc công?"
Đáp:
"Niệm Chân Phật Kinh."

Tôi "a" lên một tiếng, chắp tay lạy tạ. Tôi đã hiểu rồi, nhưng vẫn có một sự nghi ngờ, nếu chuyển kiếp lại làm hổ thì cũng vẫn lại ăn thịt người làm hại người khác, đến khi nào mới có thể được độ hóa chứ, tuy thế tôi cũng không hỏi nữa.

Sau đó không lâu, nghe nói vườn thú ở khu vực gần đây có một con hổ nhỏ mới sinh, những vằn vện trên người con hổ này rất tinh tế. Cho nó ăn thịt, chẳng ngờ nó lại không chịu ăn, chỉ chịu uống sữa và ăn rau.
Tôi nghe xong, cười ha ha.


### 63. Tỳ Sa Môn Thiên Vương


Trong thiền định, tôi đã gặp Tỳ Sa Môn Thiên Vương, Tỳ Sa Môn Thiên Vương chính là Đa Văn Thiên, ngài ấy gặp tôi cũng vô cùng hoan hỉ.

Ngài nói:
"Nhờ thịnh tình của Hoạt Phật mà tôi được xếp vào một trong Bát Đại Bổn Tôn, tụng chú Bát Đại Bổn Tôn, tức là cũng có tâm chú của Tỳ Sa Môn Thiên Vương." (Chính là Zambala.)
Tôi nói:
"Đó cũng là nhân duyên thôi!"

Tỳ Sa Môn Thiên kể:
"Tôi thi hành giáo hóa ở phía bắc núi Tu Di, ở đây phân ra làm Thiên đạo và Quỷ đạo. Thiên đạo có thể hưởng thụ bất tận những niềm vui cõi trời. Còn một khi đã rơi vào Quỷ đạo thì đau khổ dị thường, nhưng thế nhân đều đi về hướng Quỷ đạo mà không muốn đến Thiên đạo."
"Vì sao lại như vậy?" - Tôi rất kinh ngạc.
"Thiên đạo chỉ là một đường ánh sáng thanh tịnh, còn Quỷ đạo thì lại tỏa ra áng sáng hồng ngũ sắc đầy mê hoặc, hơn nữa lại có những thiếu nữ duyên dáng phục vụ, lại có rượu, lại có cả thứ âm nhạc quyến rũ mời gọi, có hát có múa, ít ai ngờ rằng thiếu nữ đều là ác quỷ hóa hiện ra. Rượu, nhạc, múa rất quyến rũ người ta như thế nên Thiên đạo chẳng có người nào đi, họ lại cứ chen nhau đi vào Quỷ đạo, sao lại trở thành như vậy chứ?"
Tôi cười:
"Ngài hỏi tôi, tôi hỏi ai?"

Tỳ Sa Môn Thiên Vương kể:
"Mấy hôm trước, có một hành giả Chân Phật, miệng tụng chú Bát Đại Bổn Tôn, đi đến vùng đất này, đưa mắt nhìn Thiên đạo một cái, rồi lại nhìn Quỷ đạo, thấy có đồ ăn đồ uống, thế là cũng chẳng niệm chú nữa, liền đi vào Quỷ đạo một trăm bước, càng đi càng sâu. Tôi trông thấy bèn đi vào kéo tay áo hành giả, lôi anh ta ra khỏi Quỷ đạo. Anh ta lại đi vào, đầu cũng sắp bị ác quỷ chặt rồi, những cô gái kia đều là ác quỷ biến hiện thành đó."
"Cảm tạ ơn cứu mạng của Tỳ Sa Môn Thiên!"
"Có phải tôi cứu ngài đâu!" - Tỳ Sa Môn Thiên nói.
"Cứu đệ tử của tôi thì cũng giống như cứu tôi thôi." - Tôi nói.
"Hoạt Phật tấm lòng lương thiện như Bồ Tát, thân đã bế quan nhưng tâm vẫn chẳng đóng cửa, vẫn đi khắp nơi cứu đệ tử. Những kẻ như tôi đây giúp đỡ cũng là điều nên làm."
"Tôi vẫn cứ cảm ơn một câu!"

Tôi nói, chú Bát Đại Bổn Tôn, câu chú nào cũng đều có sức mạnh, tụng niệm thần chú thì sẽ có thần hiển linh bảo vệ. Lời này của tôi chẳng sai đâu.


### 64. Chết đi sống lại


Tại một bệnh viện lớn, có một bà lão đã được tuyên bố là tử vong, là chính bác sĩ tuyên bố, hơn nữa, người nhà cũng đã sớm chuẩn bị xong mọi việc hậu sự rồi.

Một người cháu của bà lão là đệ tử Chân Phật Tông, anh ra sức niệm "Om guru liansheng siddhi hum." Niệm trăm lần, nghìn lần.
Bởi vậy, khi thần thức của bà lão vừa thoát ra khỏi lỗ trên thân, bà trông thấy bên ngoài có một vòng ánh sáng tinh khiết, có một Đồng Tử cầm hoa sen màu xanh đang đứng ở giữa không trung chuẩn bị đón bà đi.

Liên Hoa Đồng Tử tung ra bông hoa sen, hoa sen gặp gió phóng to ra, tỏa sáng rực rỡ khác thường. Bà lão ngồi trên hoa sen, chuẩn bị đi tái sinh về Tây phương Tịnh độ.
Nhưng bà lão đột ngột nói:
"Chờ chút! Chờ chút!"
Liên Hoa Đồng Tử hỏi:
"Vẫn còn chuyện gì sao?"
Bà lão nói với Liên Hoa Đồng Tử, tuổi bà đã cao, trí nhớ không tốt, bây giờ mới nhớ ra muốn nói với người nhà hai việc, không biết có thể được không?
Liên Hoa Đồng Tử hỏi:
"Là hai chuyện gì?"

Bà lão kể:
"Một là chuyện thế tục, tôi vẫn còn một khoản tiền tiết kiệm giấu ở một nơi, không nói ra thì người nhà sẽ không tìm thấy. Hai là chuyện tâm linh, tôi cưỡi trên hoa sen màu xanh đi vãng sinh ở cực lạc thế giới, chuyện này không nói ra không được."
Liên Hoa Đồng Tử nói:
"Thì ra là vậy, cho bà thêm thời gian tám tiếng đồng hồ nữa, khi thời gian hết thì tôi lại đến đưa bà đi."

Bà lão đã chết rồi, nhưng lại sống lại. Bác sĩ và gia quyến sửng sốt kinh ngạc. Bà lão tinh thần rất tỉnh táo nói với mọi người rằng chỉ có thể sống thêm tám giờ đồng hồ nữa. Bà đặc biệt trở lại để bàn giao hai việc, một là nơi giấu tiền bí mật, hai là bà đã gặp Liên Hoa Đồng Tử đến tiếp dẫn, bà sẽ tái sinh về Tây phương, không có một chút sai sót nào.
Mọi người vừa kinh ngạc vừa vui mừng.
Cả nhà cùng tập hợp nhau lại niệm "Om guru liansheng siddhi hum".

Bà lão đã trải qua tám tiếng hồi sinh, hai mắt nhắm lại, lần này, bà đi thật, người nhà lại chuẩn bị hậu sự.
Người cháu của bà lão bình thường cũng không tu pháp, chỉ là khi đến hội đồng tu thì có trì niệm Căn bản Thượng sư tâm chú, mỗi ngày trì 108 biến mà thôi. Bà nội anh lâm chung, anh đã rắc cát vàng lên người bà, cho bà ngậm viên cam lộ.

Kì lạ thay! Chết rồi lại sống lại!


### 65. Đặt móng xây đại điện


Có một ngôi chùa Phật cổ ở trên núi cần dỡ bỏ hết để xây dựng đại điện, đã mời một thầy địa lý đến xem phong thủy. Nhân Nguyên (Phổ), tọa Mậu Dần đối Giáp Thân, đây là phương vị do thầy địa lý bày ra. Tôi thấy phương vị đặt nơi xây chùa như vậy thì kinh hãi.

Theo thế núi này là rồng đến, đại điện nên trực nhận được long khí, hướng đặt đúng nên là Thiên Nguyên (Tham Lang), đặt ở hướng Giáp Thân hướng về Canh Thân mới đúng.
Nếu là Nhân Nguyên (Phổ), chỉ cần đặt móng cho đại điện thì về mặt địa lý sẽ gặp sự khô kiệt.

Trên trời chẳng có chim bay.
Dưới đất chẳng còn thú chạy.
Trong chùa vắng bóng tăng nhân.
Không hoa không cỏ không nước.

Phật Thích Ca Mâu Ni, A Nan tôn giả, Đại Ca Diếp tôn giả, chư Thiên Hộ pháp, Kim Cang thần của đại điện sẽ lần lượt bỏ đi. Khí địa linh sẽ mất hết, ngược lại sẽ chỉ có nhiều ác quỷ hung thần và các loại yêu tinh kì quái kéo đến cư trú.

Già Lan Thần của ngôi chùa nọ đến gặp tôi, nói với tôi:
"Liên Sinh ngài có giúp được không?"
"Giúp chuyện gì chứ?" - Tôi hỏi mặc dù đã biết câu trả lời.
Già Lan Thần đáp:
"Ngài độ chúng sinh, nền móng xây đại điện này nếu như làm sai thì không cây không cỏ, tăng nhân sống ở đây ngay đến mắt cũng bị mù, việc này ngài cũng biết rồi. Thầy địa lý bịp bợm, ngoài ngài ra, ai có thể cứu giúp đây?"
"Cần dùng Thiên Nguyên Tham Lang Tinh đúng không?
"Đúng rồi, đúng rồi."

Tôi nói:
"Thế này đi! Tôi làm một nửa, ngài làm một nửa, như vậy thì công đức của chúng ta chia đều."
"Làm thế nào?"
"Già Lan Thần, ngài dùng một chút thần lực tạo nên động đất nhẹ, tôi sẽ dịch chuyển viên gạch đặt phương vị của nền móng đi, như vậy chắc là được." - Tôi nói.
Thế là, mặt đất rung chuyển một chút. Tôi di chuyển viên gạch định phương hướng.

Yêu ma quỷ quái vừa thấy đại điện đã quay về hướng trực nhận rồng đến, đặt giữa quý nhân, liền lũ lượt tản đi. Ngôi chùa này tương lai chắc chắn sẽ xuất hiện nhiều cao tăng đại đức, quảng độ trời người. Mọi người đến tham quan chùa này cũng sẽ có được sự nghỉ ngơi thư thái.
Tiếng tăm của chùa ngày sẽ vang dội, thân tâm ai tu ở đây cũng sẽ đạt được giải thoát.
Đây cũng là mục đích độ chúng sinh của tôi.


### 66. Ôn Thần từ trên trời bay xuống


Có vài lần trong lúc thiền định ở hồ Diệp Tử, tôi đã thấy rất nhiều Ôn Thần từ hư không trung bay xuống, hình dạng của bọn chúng không giống nhau.

Có Ôn Thần thì giống như những con quỷ khổng lồ, cao tới mấy trượng, đầu và chân chẳng phân rõ, miệng cực to, có thể nuốt một lần nhiều con bò. (Bệnh bò điên)

Có Ôn Thần thì phát ra những âm thanh rất lớn, từ đầu đến chân đều tỏa ra ánh sáng kì dị, trong ánh sáng đều có những con trùng nhỏ, con người chỉ cần bị mấy con sâu này rơi trúng, hoặc hít phải lũ sâu này, thì phổi sẽ bị chúng ăn sạch, khi trong phổi đầy sâu rồi thì sẽ chết. (Bệnh SARS)

Có Ôn Thần thì hình dạng như con rắn, đầu to thân mảnh, đầu to như cái thúng, thân thì nhỏ như que tăm, miệng thở ra khí, chỉ một hơi cũng làm chết rất nhiều chim, gà, vịt, các loại gia cầm đều chết sạch sẽ. Loại Ôn Thần này chỉ cần đến vài lần thì cả thế giới đều gặp tai ương. (Bệnh cúm gà)

Có Ôn Thần thì thật sự trông rất hung ác, hai con mắt to như cái ly rượu, tướng mạo thì gian ác trông rất đáng sợ, lợn, cừu đều thất kinh. Ôn Thần này hôi thối dị thường, lớp da lở loét, chẳng giống thần cũng chẳng giống quỷ, giống như người bị mặc bệnh hủi. (Bệnh tay chân miệng)

Có Ôn Thần thì giống như lính quỷ, rất đông đúc, trong số đó cũng có quỷ tướng mặc áo giáp, lưng đeo gươm, hễ gặp ai là chém tan xương nát thịt, làm chết và bị thương không biết bao nhiêu người. Đám lính quỷ này không hẳn là cao lớn, chỉ như những cái bóng nhỏ, từng tốp từng tốp, phần lớn đều mặc đồ màu đen, trên áo giáp và mũ có đốm trắng. (Bệnh sốt xuất huyết Đăng-ngơ)

Vẫn còn rất nhiều Ôn Thần tôi không biết tên……

Những gì tôi thấy không chỉ có như vậy. Có một số Ôn Thần quỷ quái thì là nghe theo Thiên mệnh mà xuống, có một số thì từ lâu đã trốn trong tâm con người, loại Ôn Thần này một khi đã đến thì những tai ương kiếp nạn lớn của con người sẽ đến, thiên tai nhân họa.

Đã là phúc thì chẳng phải là họa, còn đã là họa thì trốn chẳng được.

Tôi nhập vào giấc mơ của các đệ tử dặn:
"Khẩn trương niệm Kim Mẫu tâm chú! Om jinmu siddhi hum. Nam mô Vô Cực Đại Thánh Kim Mẫu Đại Thiên Tôn."

Theo như tôi biết, Diêu Trì Kim Mẫu điều khiển các Ôn Thần, Ôn Thần đều sợ Người. Muốn nhân gian thái bình, cuộc sống thường ngày bình an, sinh hoạt an vui thì người người niệm Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn, Ôn Thần sẽ không dám đến càn quấy nữa.
Nếu không thì…
Thời đại Ôn Thần đã đến rồi, bệnh dịch hoành hành. Nhân gian gặp tai ương. Khi mà Ôn Thần đông như bụi trần thì nhân loại chẳng còn không gian mà tồn tại nữa.

Do vậy, tôi rất khẩn trương nhập vào trong mơ của rất nhiều đệ tử.


### 67. Con ma bóng đè


Có đệ tử nọ thường xuyên mắc chứng bệnh đi ngủ bị bóng đè, có những lúc không dám nhắm mắt, vì hễ nhắm mắt một cái là liền nhìn thấy một bóng đen từ từ leo lên giường, đè lên trên người anh. Anh không thể mở miệng ra nói, cố gắng hết sức để ngồi dậy nhưng không thể ngồi dậy được, mắt cũng không thể mở ra được, toàn thân cứng đờ nặng trịch như khúc gỗ.

Cứ như vậy một lúc, bóng đen kia tự động rời đi, chỉ khi bóng đen bỏ đi rồi thì anh mới có thể ngủ được. Thế nhưng, tình trạng của mắt anh thì ngày càng tồi tệ, buổi sáng tỉnh dậy mệt mỏi tới mức không thể chịu đựng được, toàn thân đau nhức không còn chút sức lực nào, tình trạng càng khốn quẫn hơn.

Anh đã đi gặp nhiều bác sĩ, bác sĩ cho thuốc uống, nhưng từ đầu tới cuối đều chẳng có hiệu quả gì. Anh cũng tìm gặp pháp sư để xin bùa niệm chú, cửa sổ cửa ra vào đều dán bùa cả, nhưng chỉ được vài hôm, mọi thứ lại đâu vào đó, khiến anh chẳng còn biết làm cách gì nữa. Đây thực sự đúng như Phật Đà nói: "Quán thọ thị khổ." [ ND: cần quán chiếu thấy rằng đã có nhận lấy bất kì cái gì là có khổ. ]

Sau khi đệ tử này quy y, chăm chỉ trì tụng Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, cũng đã trì tụng được một khoảng thời gian khá dài rồi. Nhưng bóng đen ma quái này vẫn bám riết không buông tha anh, nó vẫn cứ đến. Cứ thế cho đến một hôm, anh cảm thấy Cao Vương Kinh chẳng có hiệu quả gì, muốn từ bỏ. Rồi anh mơ thấy Sư Tôn đến nói với anh:
"Đừng từ bỏ, hãy trì tụng tiếp 21 ngày nữa."
Kể từ hôm đó, anh liền đánh dấu lại, lại tiếp tục trì tụng thêm 21 ngày. Nói ra cũng kì lạ, cái bóng đen ma quái đó lại đến.

Lần này, đầu giường xuất hiện một đường ánh sáng màu trắng, trong ánh sáng trắng có một người phụ nữ nhìn rất giống Quan Âm Bồ Tát hét lên một câu: "To gan, nghiệt súc, dám ở đây hại người!"
Bóng đen kia vừa nhìn tháy ánh sáng trắng liền tháo chạy.
"Chạy đi đâu!"
Người phụ nữ trong quầng ánh sáng trắng cầm bình cam lộ thổi hút vào bóng đen vào trong, thế rồi ánh sáng trắng cũng từ từ biến mất. Đêm đó, đệ tử này ngủ một giấc ngủ ngon chưa từng có. Ngày hôm sau, tinh thần sảng khoái, bách bệnh tiêu trừ, trở thành người chẳng còn bệnh tật gì.

Sau đêm hôm đó, hiện tượng bị bóng đè tự nhiên biến mất, chứng bệnh kinh niên này đã hoàn toàn khỏi rồi. Đệ tử này trong lúc hoảng hốt bỗng chốc như hai con người hoàn toàn khác, con người trước đây thì yếu ớt mệt mỏi, còn con người sau này thì thần quang rực rỡ.


### 68. Một bộ Chân Phật Kinh


Tại một vùng núi nọ có bảy trại nuôi gà. Người làm nghề nuôi gà phần lớn đều tụ tập tại vùng núi này.

Năm đó, dịch gà hoành hành, chính là bệnh cúm gà. Bảy trại nuôi gà thì đã có sáu trại có gà bị mắc bệnh, những người nuôi gà không ngớt kêu than.

Gà chết chất thành đống cao như núi. Những người làm công tác phòng dịch thì đầu đội mũ bảo hộ, đeo khẩu trang, mặc quần áo phòng hộ, bận rộn đi tới đi lui.
Tiêm thuốc.
Chôn gà.
Khử độc.
Tiêu hủy.

Họ bận rộn ngày đêm, chỉ cần phát hiện trong đàn gà có một trường hợp nhiễm virus ác tính là lập tức nghe theo mệnh lệnh của cấp trên, đều bắt và giết sạch sẽ không chừa lại con nào. Mỗi lần giết là mấy vạn con. Mấy vạn con gà hồn quy về Ly Hận Thiên.

Tôi có đôi lời cảm thán:
Sơn viên nước chảy thanh nhã quanh mấy hộ nuôi gà. Giờ tràn đầy khí hận vì hồn gà tập trung đông đúc, biết làm sao đây khi gà chết hàng loạt. Mây mù bao phủ khắp chẳng phân biệt nhà nào, hồn gà lũ lượt dắt tay nhau mà đi. Giờ thì chẳng nhà nào vui vẻ nữa, những bộ mặt buồn bã nhìn nhau chẳng biết nói gì. Mặt đất đầy lông, lông bay đầy trời. Sau hàng rào trống vắng chẳng còn thấy cảnh ngày xưa.

Bảy trại nuôi gà này, độc nhất có một trại là không bị mắc bệnh, việc này khiến người ta thấy kì quái. Hộ nuôi gà này cũng chẳng phải là đệ tử Chân Phật Tông, cũng không dán phù niệm chú, ban đầu họ cũng chẳng phòng ngừa dịch bệnh gì cả.

Chỉ là một người con gái của chủ hộ có lần cầm về một cuốn Chân Phật Kinh ở một ngôi chùa nọ, liền đặt lên bàn thờ hương hỏa ở nhà. Con gái của chủ hộ chẳng biết vì sao mà lại cũng đọc một biến Chân Phật Kinh, cảm thấy kinh này cũng hay, bèn đem về thờ cúng.
Cô cũng niệm ba biến: "Om guru liansheng siddhi hum."
Kết quả là, các trại nuôi gà của hàng xóm đều bị nhiễm bệnh, duy chỉ có nhà này là gà sống khỏe mạnh, mọi người cũng không hiểu là có chuyện gì đây?

Ôn Thần hạ giáng.
Thấy độc mỗi trại gà này là có ánh sáng trắng tỏa ra.
Các nhà khác đều trúng dịch cúm.
Chỉ có nhà này là không.
Đương nhiên, chỉ có mỗi mình tôi biết nguyên nhân nằm ở đâu!


### 69. Nước tự nhiên tuôn trào


Còn nhớ khi xưa, tôi vẫn còn ở Seattle, mỗi ngày đều thuyết pháp khai thị. Có lần, Đài Loan Lôi Tạng Tự gửi người đến, mang theo bản đồ địa hình sang Mỹ tìm tôi, hy vọng tôi giúp chỉ ra những dòng suối ngầm ở địa điểm đó. Bởi vì những kĩ sư đào giếng đã tiến hành đào giếng nhiều lần, mỗi lần đào đều đã đào sâu tới mấy trượng [ ND: 1 trượng là khoảng 3,3m ] mà vẫn cạn khô không có nước.

Sau đó, tôi dựa vào "tiên thiên nhất chỉ" khai thị, lập tức chấm một điểm trên tấm bản đồ địa hình. Đài Loan Lôi Tạng Tự đào mạch nước ngầm, lần này vừa mới đào thì nước đã dâng lên ào ạt.

Còn giờ đây, tôi ẩn cư ở hồ Diệp Tử, căn bản là chẳng ai biết hồ Diệp Tử là ở chỗ nào. Nhiều năm nay tôi cũng chẳng gặp người ngoài, chẳng có ai tìm được tôi cả.

Có đệ tử nhà có ruộng vườn, cũng đã mời chuyên gia đào giếng về để tìm nơi đào giếng làm thủy lợi cho ruộng vườn. Đã đào rất nhiều lần nhưng từ đầu chí cuối vẫn chưa đào thấy mạch nước ngầm.

Đệ tử này rất kiền thành. Ở trước đàn thành, anh tĩnh lặng niệm Căn bản Thượng sư, cầu nguyện Căn bản Thượng sư chỉ thị. Anh trai giới ba ngày, tịnh thân súc miệng, thành tâm tụng Bổn tôn Quan Thế Âm Bồ Tát, rồi lại niệm Cao Vương Kinh bảy bảy bốn mươi chín ngày.
Trước đàn thành, anh bày bản đồ địa hình ra.
Có một đêm, Sư Tôn nhập mộng, bảo anh:
"Sáng mai ngủ dậy, hãy kiểm tra bản đồ địa hình, trên tấm bản đồ có một chấm đen, chính là chỗ đó."

Ngày hôm sau tỉnh dậy, anh đi xem tấm bản đồ, tìm đông tìm tây trên tấm bản đồ, nhưng thật sự là chẳng có điểm đen nào. Anh có hơi thất vọng, cho rằng mơ thì chỉ là mơ thôi, cũng chẳng đáng tin. Đúng lúc anh định bỏ cuộc thì thấy một đốm đen dịch chuyển về gần bản đồ, đó là một con kiến đen. Con kiến đen bò đến một địa điểm khá xa, rồi dừng lại bất động một lúc.

Đệ tử đột nhiên tỉnh ngộ, có lẽ nào đây chính là địa điểm đó.
Anh lại gọi chuyên gia đào giếng đến đào. Chuyên gia đào giếng cười:
"Nơi này làm sao có thể có nguồn nước được chứ?" - Chuyên gia dựa vào kiến thức và kinh nghiệm mà phán vậy.
Đệ tử không quan tâm, nói chuyên gia cứ đào đi.

Kết quả là mới đào chưa được bao lâu thì nước tuôn trào ra, hơn nữa nước này lại rất ngọt. Phàm là người ốm bệnh xa gần, uống nước giếng này vào thì đều được chữa lành.
Cao Vương Kinh linh nghiệm.
Quan Thế Âm Bồ Tát linh nghiệm.
Căn bản Thượng sư nhập mộng linh nghiệm.
Đệ tử thành tâm làm chư vị cảm động, đã có cảm ứng rồi.


### 70. Chuỗi tràng hạt


Ngày xưa, Liễu Minh Hòa Thượng có truyền lại một pháp.
Nếu có người cầu tự, hãy lấy một hạt trong chuỗi hạt niệm Phật của một vị Bồ Tát lâu năm đã niệm trăm vạn, nghìn vạn, vạn vạn lần.
Sau đó đem hạt này chôn trong lư hương lớn nhất ở miếu Thành Hoàng.
Rồi cầu nguyện.
Tất sẽ có cảm ứng.
(Sư Phụ còn căn dặn rằng, muốn xin hạt từ chuỗi hạt của vị Bồ Tát đã niệm Phật lâu năm thì cần phải đổi lại bằng chuỗi hạt làm bằng hạt bồ đề quý giá, bởi vì chuỗi hạt niệm Phật lâu năm rất quý giá.)

Pháp này tôi đã truyền lại cho những đệ tử cũ, rất nhiều người cầu tự đã có cảm ứng, đây là pháp cầu trai được trai, cầu gái được gái.

Tôi ở trong tam muội ở hồ Diệp Tử biết đến một cặp vợ chồng kiền thành tu pháp, tuổi đã xấp xỉ bốn mươi rồi, bên ngoài thì cặp vợ chồng này tỏ ra không vội vã, nhưng trong lòng thì sốt ruột lắm lắm rồi, họ hy vọng có một đứa con.
Tôi bèn nhập mộng.
Bảo họ: "Phương pháp chính là như thế này này."
"Là như thế nào?"
"Lấy hạt của chuỗi hạt niệm Phật chôn ở lư hương, một hạt thì sẽ có một đứa."

Kì lạ là, cặp vợ chồng này đều có cùng một giấc mơ. Họ rất tò mò, lấy ra hai hạt từ chuỗi hạt, chôn vào đáy lư hương của mình (Thai Tạng Giới). Không lâu sau, người vợ có thai.
Là song thai.
Không sinh thì thôi, đã sinh thì sinh hẳn hai đứa.
Những đứa bé có được từ cách này được gọi là "niệm châu tử".

Tôi thấy những vợ chồng hiện đại đã khác những vợ chồng ngày xưa, người xưa muốn trăm con nghìn cháu, ngày nay thì hai đứa là đủ rồi, những người có một đứa con cũng không ít, mà nếu không có con thì cũng chẳng vấn đề gì cả. Có hay không có hậu thế, họ cũng chẳng quá bám chấp nữa rồi. Ấy nhưng, có một hoặc hai đứa con thì vẫn tốt hơn là hoàn toàn không có đứa nào!

Chuỗi hạt niệm Phật lâu ngày cũng sẽ có linh khí, có rất nhiều cảm ứng. Chuỗi hạt của vị Bồ Tát niệm lâu năm thì mọi tà ác đều tránh, trăm quỷ chẳng dám đến gần, có linh có nghiệm. Điều này vô cùng chân thực, bất khả tư nghì.

Nhưng chớ tham lam. Đặt ba hạt thì sinh ba đứa. Còn đặt nhiều hạt thì sẽ gay to đấy, sẽ sinh đẻ không ngừng.


### 71. Khi do dự chưa quyết


Có một thánh đệ tử, sự nghiệp thất bại, công ty vốn có nay lụi bại, vợ thì bỏ đi, con cái thì cũng đi tứ tán, những người trước đây làm việc cho anh ta người nào người nấy tìm lối đi cho riêng mình. Cuộc sống vốn dĩ là như vậy. Khi có tiền thì hô một cái là có cả đống người bu đến, khi không tiền, vận rủi khó khăn kéo đến thì chẳng có ai ở cạnh để nhờ cậy.

Thật may, anh có nghị lực hơn người, mặc dù sự nghiệp thất bại, nhưng anh không dám quên việc tu pháp. Anh cũng có ý nghĩ xuất gia, nên vẫn tinh tấn trì chú niệm Phật, mỗi ngày tu một pháp. Anh lại thêm gắng sức, nỗ lực tiến lên. Vì cuộc sống, anh đã đi làm công việc lao công dọn dẹp, làm ba năm, tiết kiệm được một khoản tiền nhỏ.

Anh nhắm được một địa điểm, muốn bán cà phê, nhưng còn do dự chưa quyết. Nếu như buôn bán thành công thì anh không cần phải đi làm lao công nữa, còn nếu buôn bán bất thành thì làm việc quét dọn ba năm coi như lãng phí. Không chỉ như vậy, cuộc đời này cũng coi như xẹp lép, không những mất việc lao công mà còn nợ nần. Xuất gia khi mang nợ nần thì chẳng chùa nào muốn nhận anh.

Thấy anh còn do dự chưa quyết, tôi bèn đến trong giấc mơ của anh, nói:
"Anh có tâm xuất gia, nhưng trần duyên còn chưa hết, cũng không miễn cưỡng được, tại gia tu pháp cũng được, một ngày thanh tịnh thì sẽ có ngày xuất gia. Anh vốn đã xuất gia ba năm rồi, ba năm nay làm lao công dọn dẹp cũng đã quét sạch tâm địa suốt ba năm rồi. Anh muốn kinh doanh quán cà phê, tôi sẽ giúp anh, khách hàng sẽ tụ đến đông như mây. Các quán khác làm ăn không được, nhưng quán của anh thì vẫn phát đạt. Anh sẽ có năm quán cà phê, tương lai anh sẽ có tiền. Không chỉ như vậy, phúc lộc của anh sẽ rất dài, con cháu cũng đề huề. Chỉ cần mười năm thôi, tiền đồ sẽ xán lạn."

Tôi nói:
"Khi anh xây chùa, anh cũng sẽ tự bỏ tiền bỏ sức, về già sẽ xuất gia."

Sau khi tỉnh dậy, anh cảm thấy kì lạ, rồi anh cũng bỏ tiền ra đầu tư quán cà phê thật. Công việc kinh doanh tốt khiến người ta ghen tị. Rồi cũng đúng là anh đã mở được năm quán cà phê, chẳng có đối thủ, khách khứa nườm nượp như chuyện đương nhiên, tiền tài đổ về như nước chảy.

Anh xây dựng một ngôi chùa. Bản thân anh quả nhiên về già cũng xuất gia.

Tôi viết một bài tán thán:
Đường đời qua đỉnh vinh quang
Chốn xưa nơi mới son vàng giấc mơ
Thế nhân một lũ ngu ngơ
Hồng trần xa lánh giờ ta tu hành
Tiền tài được mất kệ anh
Chùa ta quay lại, cứ dành tu thôi.


### 72. Lãnh thổ quốc gia


Tôi từng sống ở nước ngoài, quan sát thiên tượng, thấy sao liên tục đổi, [ ND: điềm báo đổi chủ nhân, người lãnh đạo hoặc có các biến cố rất lớn trong một quốc gia, không có sự ổn định ] trong lòng dâng lên nhiều nỗi buồn.

Có lẽ có người hỏi, tôi buồn cái gì vậy?
Tôi nói thẳng là:
Tôi buồn cho quê hương mình.
Tôi buồn cho đất nước mà tôi từng sống.
Tôi buồn cho những đất nước mà đời này tôi vẫn chưa đến.
Tôi buồn cho những cuộc chiến tranh giữa hai nước, con người chịu cảnh lầm than.

Có lẽ có người nói, buồn gì mà buồn, việc thế gian này, đánh tới đánh lui, chiến tới chiến lui, đạn bắn đạn bay, tranh đất tranh quyền, từ xưa đến nay đã bao giờ dừng dứt. Việc này người phàm tự lo, thuận theo tự nhiên đi, đừng bận tâm đạo lý làm gì.
Đạo lý thì tôi hiểu.
Nhưng tôi vẫn sợ hãi trước sự tàn khốc, bạo lực, hung tàn, trong lòng bất an.

Ở hồ Diệp Tử, tôi thần hành trong tam muội.
Tôi đã đến một cõi trời ở rất cao, gặp những Thiên nhân mặc áo tím, có hơn trăm người đang mở hội, họ cầm bút đỏ vẽ tới vẽ lui trên tấm bản đồ của cõi người, vẽ những đường vạch ranh giới.
Có một Thiên nhân quay đầu lại nói với tôi:
"Quê hương của ngài sẽ được yên bình xx năm."
Trong lòng tôi có chút an tâm.
"Đất nước mà ngài sống, một khoảng thời gian sẽ làm bá chủ thiên hạ."
Tôi rất kinh ngạc.
"Ngoài ra, những đất nước sau đều sẽ xảy ra chiến tranh làm chết tương đối nhiều người."
Tôi chắp tay niệm:
"A Di Đà Phật!" - Trong lòng không nỡ.

Thiên nhân này nói:
"Ngài thương nước thương dân, đó là tấm lòng từ bi của ngài. Không quản cá nhân ngài được hay mất, tấm lòng ngài luôn rộng mở, mặc dù ngài có thần thông, nhưng cũng chẳng có cách nào bảo vệ được những sinh linh nhân loại trên toàn thế giới. Không cần phải quá buồn đau, hãy cứ sống cuộc sống của ngài thôi."

Tôi nói:
"Sao trên trời biến hóa nhanh quá!"
"Lịch sử vốn dĩ vẫn là lịch sử." - Thiên nhân nói: "Thế nhân học Phật, nương dựa vào A Di Đà Như Lai, ngài viết sách độ chúng sinh, đừng để uổng công ngài đời này đã hạ sinh ở nhân gian, hãy mau mau nhất tâm quay về đi!"
Đúng vậy, tôi sẽ như vậy.
Tôi sẽ đem hết toàn bộ năng lực của tôi để đắc giải thoát, đắc bồ đề, rồi sẽ giáo hóa thế nhân!


### 73. Tương ứng của việc in ấn Chân Phật Kinh


Khi tôi tuần hành đến âm phủ, tôi gặp một minh sứ đang đưa một người già muốn lên thiên giới thanh tịnh. Người già này vốn ở địa ngục chịu khổ, bây giờ chẳng ngờ lại được lên thiên giới, tôi lấy làm kì lạ.
Hỏi: Cụ họ gì?
Đáp: Ông.
Hỏi: Vì sao lại được thiên giới?
Đáp: Nhờ con cháu đời sau in ba nghìn cuốn Chân Phật Kinh hồi hướng công đức cho tôi.
Hỏi: Làm sao biết mà in Chân Phật Kinh?
Đáp: Con cháu của ông cụ có được một bộ Chân Phật Kinh trong một ngôi chùa, anh ta chú ý tới những bản văn trong cuốn kinh đó có dạy về thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh, ngoài ra còn dạy người ta lấy vô niệm làm chính giác, do vậy đây cũng là chính pháp để đạt minh tâm kiến tính. Thế là anh ta tin tưởng trì niệm.

Cụ già họ Ông kể, sau khi con cháu cụ trì niệm Chân Phật Kinh thì cảm ứng thấy một giấc mơ, trong mơ họ thấy tổ tiên đang ở trong âm phủ chịu khổ cực. Rồi người con cháu đó gặp một vị tỏa ra ánh sáng vàng kim rực rỡ chói lọi nói với anh rằng, in tặng Chân Phật Kinh thì tổ tiên sẽ thoát khổ. Sau khi tỉnh dậy, anh cũng chẳng mảy may để ý vì anh cho rằng ban ngày nghĩ sao thì ban đêm mơ vậy. Thế rồi đêm thứ hai, đêm thứ ba anh lại có giấc mơ tương tự, thế rồi anh mới tin.

Anh bèn đem tiền tiết kiệm bấy lâu gửi cho pháp sư của Lôi Tạng Tự, rồi cùng với quỹ quyên góp của chùa mà in kinh sách. Chính vì như vậy mà tổ tiên lập tức được thoát khỏi khổ địa ngục, thăng lên thiên giới.

Về sau tôi biết được chuyện này liền chú ý đến đệ tử họ Ông. Phúc báo mà ông in Chân Phật Kinh không chỉ có như sau:

1. Tổ tiên thăng thiên.

1. Trúng xổ số, mua liền được ba căn nhà sang trọng.

1. Ba đứa con trai gái đều thi đỗ vào trường đại học lý tưởng nhất.

1. Bản thân ông cũng được thăng quan tiến chức.

Cá nhân tôi cho rằng việc in tặng sách thiện có công đức rất lớn, đương nhiên không chỉ mỗi in Chân Phật Kinh, mà in Cao Vương Quan Thế Âm chân kinh, Liễu Phàm Tứ Huấn, Bạch Y Đại Sĩ thần chú, Ngọc Lịch Bảo Sao, Thái Thượng Cảm Ứng thiên, Văn Xương Đế Quân âm chất văn, Phổ môn phẩm, sách Phật kinh điển, các sách thiện, đều có công đức rất lớn.

Kinh Hoa Nghiêm, quyển 68 có ghi chép:
Núi non trên biển bao Thánh hiền
Thành tựu thanh tịnh bao điều quý
Rừng cây hoa trái khắp nơi nơi
Suối sông hồ nước luôn tràn đầy.
Trượng phu dũng mãnh Quán Tự Tại
Cư ngụ núi này vì chúng sinh
Nếu con hỏi cách tạo công đức
Ngài sẽ dạy con phương tiện này.


### 74. Một điều hiểu, vạn sự thông


Còn nhớ lúc nhỏ, mẹ tôi hay nói với người ta:
"Tạp Tử (tên gọi lúc nhỏ của tôi) này nó rất ngu ngốc, chẳng biết cái gì cả, dù một thứ cũng không hiểu."
Mẹ đưa tôi đi xem bói. Mẹ rất lo lắng vì việc tôi rất ngốc.
Thầy bói nói với mẹ tôi:
"Đứa bé này đến giờ vẫn chưa khai mở các khiếu, nhưng chỉ cần “khai khiếu” rồi thì một điều hiểu, vạn sự thông." [ ND: Khiếu: Tim mắt, tâm nhãn, trí tuệ ]

Về sau, những năm học cấp hai, tôi bị lưu ban hai lần, vì không thể để lưu ban lần nữa nên tôi chuyển trường đến trường Cao Thị Tam Trung.

Nhưng thời gian tôi học cấp ba ở trường Trung Học Cao Hùng thì tôi đã "nứt sọ". Lúc học cấp ba, mỗi học kì tôi đều xếp thứ nhất, dành được học bổng của công ty xi-măng Gia Tân, hơn nữa học phí và các khoản tiền khác đều được miễn phí.

Sau này học Phật, tôi đọc kinh Phật, một câu kinh văn tôi cũng không hiểu, đặc biệt là Kinh Kim Cang. Sau khi tôi được khai sáng, thì một điều hiểu, vạn sự thông.

Tôi viết điều này là muốn nói mọi người khi đọc không hiểu cái gì thì không cần phải lo sợ. Không hiểu chút gì cũng không cần lo không cần sợ, cho dù là ngu si cũng không cần lo lắng. Chỉ cần một câu chú của Bổn tôn trì tụng đến cùng.

Rồi sẽ có một ngày, ô la la, trí tuệ sẽ như nước ào ạt tuôn trào, cái gì cũng đều là bát nhã, vốn dĩ là như thế, khi đó thì tất cả đều thông hiểu, hiểu một rồi thì sẽ hiểu tất cả.

Tôi ở hồ Diệp Tử thiền định trong tam muội.
Tôi thấy một thánh đệ tử đọc kinh nhưng thật sự không hiểu gì. Anh nghĩ tới nghĩ lui, không hiểu vẫn hoàn không hiểu, những nút thắt, những mâu thuẫn, bị nghẽn lại, không hiểu, không nhìn ra… Nhưng, anh ta ngày tu một pháp, trì chú Bổn tôn.
Tôi nhập mộng.
Tôi cũng không nói gì nhiều, chỉ xoa xoa đầu anh, dùng nước quán đảnh bình rắc lên đầu anh, rửa sạch những bụi bẩn trong não anh cho thật sạch sẽ. Lần gột rửa này đã gột sạch sẽ những bụi bẩn, bụi bẩn trôi sạch sẽ.

Sau khi thánh đệ tử tỉnh dậy, anh cảm thấy đầu óc bừng sáng rộng mở, dường như không có gì là không hiểu. Những lời nói ra, câu nào cũng là bát nhã. Mở kinh sách ra, đọc đến đâu hiểu đến đó, rồi cả những ý nghĩa về tính Không thâm sâu ảo diệu, những công án sâu sắc, anh đều hiểu ý nghĩa của chúng rồi.

Một sự thông, tất cả đều thông.
Thật cũng đúng là thần thông!


### 75. Cảnh giới hòa lẫn bất phân


Có một lần, ở trong tam muội, tôi cảm ứng thấy hàng trăm, hàng nghìn bông hoa sen bay ào đến, xanh đỏ tím vàng sặc sỡ. Trong số đó có một bông hoa sen nghìn cánh, hình dạng đẹp xuất sắc không gì sánh bằng, bay vòng quanh tôi từ phải sang trái.

Tôi ngồi lên bông hoa sen nghìn cánh, cảm thấy khá thoái mái và vững chắc, toàn thân mát mẻ từ đầu tới chân từ trong ra ngoài, không có một chút mỏi mệt nào. Vốn dĩ sắc thân của tôi tương đối tiều tụy, nhưng trong lúc này, căn bản là sắc thân không tồn tại.
Tất cả đều không còn điên đảo, vọng tưởng, sợ hãi.
Hợp với những điều viết trong Tâm Kinh:
Sắc bất dị không.
Không bất dị sắc.
Vô nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân, ý.
Vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.

Ngồi trên hoa sen, hoa sen xoay tròn rất nhanh, nhưng tôi lại không hề cảm thấy chóng mặt hoặc ngã nhào. Tôi chắp tay lại niệm A Di Đà Phật, cũng đưa các thánh đệ tử của mình đều hồi hướng về Di Đà tịnh thổ. Chỉ một sát-na, họ cũng đã đến được Ma Ha Song Liên Trì.

Có khu vườn thất bảo riêng biệt, với bát công đức thủy, rất nhiều cây cối, có pháp tọa trang hoàng dải lụa và châu ngọc trang nghiêm.

Bất ngờ tôi trông thấy một vị A Di Đà Như Lai rất to lớn, phóng tỏa hào quang, bước xuống từ pháp tọa, đi đến chào đón tôi. Tôi nhìn cảnh ấy thì rớt nước mắt.

A Di Đà Như Lai vỗ nhẹ vào lưng tôi, tôi và Ngài ôm lấy nhau, chỉ trong chốc lát, tôi tự cảm thấy thân mình và thân của Như Lai đã hòa làm một không tách biệt. Ai là Lư Thắng Ngạn? Ai là A Di Đà Như Lai? Từ lâu đã chẳng phải là hai, chẳng khác biệt.
Tôi không muốn quay lại thế giới Ta Bà.

"Vì sao?"
"Khổ quá." - Tôi đáp.
"Vô lão tử, diệc vô lão tử tận, vô khổ tập diệt đạo, vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố, bồ đề tát đỏa." [ ND: một đoạn trong Bát Nhã Tâm Kinh. ]
"Vì sao con vẫn phải trở về cõi Ta Bà?" - Tôi hỏi.
"Để thị hiện sự chuyên tâm nhất trí, cứu sinh Tịnh độ, thực hành tam muội, hiểu thấu chân thực hư huyễn." - Đây là câu trả lời của A Di Đà Phật.
"Con cũng đang bị khổ vì bệnh đây!"
"Đó chỉ là thị hiện, tất cả thực sự đều là Không!"


### 76. Chứng loạn nhịp tim


Có một thánh đệ tử thọ Bồ Tát giới, am hiểu kinh điển, trí nhớ cũng vô cùng tốt, cũng đã học rất nhiều Mật pháp, pháp nào cũng đều có hiện tượng tương ứng.

Bản thân thánh đệ tử này cũng học y thuật, đông y tây y đều am hiểu. Khi khám cho các bệnh nhân ngoại trú, có rất nhiều người đến khám bệnh, anh đã chữa trị cho không ít người khỏi bệnh, danh tiếng cũng vang dội, rất nhiều bệnh nhân tin tưởng anh, do vậy lúc nào cũng có nườm nượp người đến thăm khám.

Mặc dù anh rất bận, nhưng hiểu rằng vô thường đến rất nhanh, do vậy mỗi ngày hễ rảnh là anh liền tu pháp, hoặc làm pháp Homa của Mật giáo. Nếu như thật sự quá bận thì anh tụng niệm danh hiệu đại bi Quan Thế Âm, ngay cả lúc khám bệnh, anh cũng niệm Quan Thế Âm Bồ Tát.

Anh niệm chú Bổn tôn và danh hiệu Quan Thế Âm Bồ Tát, không đếm số lượng, khi tỉnh cũng niệm, khi ngủ cũng niệm, khi khám bệnh cũng niệm, không biết đã tụng niệm bao nhiêu, ngay cả bản thân anh cũng không thể đếm được.

Thánh đệ tử biết Sư Tôn Lư Thắng Ngạn ẩn cư tại hồ Diệp Tử. Nhưng không biết hồ Diệp Tử ở nơi nào. Thánh đệ tử nếu có nghe phong thanh Sư Tôn đi đến nơi nào, anh liền đi đến nơi đó. Biển người mênh mông, nơi chân trời góc biển, ở những khu phố đông đúc, anh nhìn trái nhìn phải, hy vọng nhìn một hồi xem Sư Tôn có đột ngột hiện thân không.

Anh là bác sĩ, nhưng vẫn có bệnh kinh niên bẩm sinh, đó là chứng bệnh loạn nhịp tim. Có một đêm, Sư Tôn nhập mộng, hỏi:
"Anh tìm tôi phải không?"
"Dạ vâng." - Thánh đệ tử khóc vì vui mừng.
"Không cần tìm tôi, tôi ở ngay cạnh anh thôi. Tôi cũng biết anh có bệnh!"
"Sư Tôn biết sao?"
"Đúng vậy." - Sư Tôn trong mộng nói: "Tôi giúp anh điều chỉnh một chút, cuộn lò xo ở tim anh bị lỏng rồi, tôi giúp anh chỉnh lại cho chặt một chút."

Sư Tôn ở trong mơ lấy tim của anh ra đặt trên tay, dùng tay vuốt vuốt mấy cái, rồi lại đặt trở về chỗ cũ.
Sư Tôn cười cười nói:
"Tốt rồi, tất cả đã bình thường rồi! Sau này chúng ta sẽ gặp, anh niệm danh hiệu Bồ Tát vô số lần, trên trời dưới đất chư Phật đều ca ngợi anh đó!"

Thánh đệ tử bừng tỉnh dậy. Lời của Sư Tôn trong giấc mơ từng câu rõ ràng, từng lời rành rọt, anh vô cùng cảm động. Việc kì lạ nhất là, kể từ đó, chứng bệnh loạn nhịp tim kinh niên của thánh đệ tử cũng khỏi luôn. Căn bệnh kinh niên đã được tiêu trừ vĩnh viễn.

Thánh đệ tử này mặc dù đã đi tìm Sư Tôn nhiều năm, nhưng đã gặp được trong mộng, gặp trong tam muội, bệnh cũng đã khỏi, anh càng chuyên tâm trì tụng tâm chú và thánh hiệu của Bổn tôn.


### 77. Đoán trước ngày vãng sinh


Có một thánh đệ tử già tấm lòng rất lương thiện, chỉ tu một pháp, chính là pháp vãng sinh nhanh nhất. Hai tay ông kết thủ ấn Liên Hoa Đồng Tử, đặt ở trước ngực, thủ hộ thủ ấn này rất bí mật và cẩn trọng, rồi ông quán tưởng một tòa hoa sen trong vòng tròn….
Nhưng có một vài phiền toái.
Tòa hoa sen biến thành ghế ngồi hoa hồng, hơn nữa còn có gai.
Tòa hoa sen biến thành một đống phân.
Tòa hoa sen không giống tòa hoa sen, mà lại trở thành một xác chết.
Tòa hoa sen biến thành một con chim đen lớn, bay đi mất.
…
Lão đệ tử rất buồn nản, cho rằng ngay cả quán tưởng một pháp cũng không làm nổi thì làm sao vãng sinh được, như vậy vãng sinh với mình chẳng phải là điều ảo tưởng sao. Suốt ngày ông thở ngắn than dài. Ông cho rằng mình và Sư Tôn không có duyên, không có duyên với việc vãng sinh, ôi thảm quá!

Tôi nhập vào giấc mơ của lão đệ tử.
"Ông hãy mau đẽo một tòa hoa sen bằng gỗ đi."
"Được."
"Vào ngày xx tháng 11 giờ Ngọ ông sẽ vãng sinh."
"Vâng."
"Đến lúc đó, ông hãy ngồi trên tòa hoa sen. Tôi sẽ đến tiếp dẫn ông."
"Vâng."

Lúc đó, chỉ còn 20 ngày nữa là đến ngày xx tháng 11. Lão đệ tử vội vã yêu cầu thợ điêu khắc làm một tòa hoa sen bằng gỗ. Nhưng thợ điêu khắc nói chỉ có 20 ngày để làm thì không kịp, bởi vì khối lượng công việc của ông rất nhiều, lão thánh đệ tử trả gấp đôi số tiền thì người thợ điêu khắc mới miễn cưỡng đồng ý, nhưng vẫn cứ trì hoãn. Tòa hoa sen còn cần dát vàng nữa.

Ngày xx tháng 11 đã đến rất gần rồi.
Lão thánh đệ tử ngày đêm thúc giục thợ điêu khắc làm gấp, hơn nữa cũng nói với thợ điêu khắc là ông cần ngồi trên tòa hoa sen để vãng sinh, thời gian là giờ Ngọ ngày xx tháng 11.

Thợ điêu khắc cũng chẳng hề tin, ở đâu ra cái chuyện như vậy chứ? Không những thế còn cười chê lão đệ tử là ngu muội, chỉ một giấc mơ thông báo ngày tháng mà sao có thể cho là điều nghiêm túc.

Đến buổi sáng ngày xx tháng 11, thợ điêu khắc miễn cưỡng làm xong chiếc ghế hoa sen, giao đến nhà của thánh đệ tử già. Lão đệ tử vừa trông thấy thì hết sức vui mừng, tắm rửa trai giới, lập tức ngồi lên, hai tay kết ấn, niệm tâm chú Liên Hoa Đồng Tử, thế rồi đúng thật là đã thị tịch rồi.

Sự việc này lan truyền trong giới điêu khắc như là một chuyện bất khả tư nghì!


### 78. Nước vong tình


Có một Bồ Tát già quy y Chân Phật Tông đã nhiều năm, học hiểu Chân Phật Mật Pháp, cũng ngày tu một pháp, Bổn tôn là Quan Thế Âm Bồ Tát. Ban ngày bà trì tụng tâm chú nghìn vạn biến, cầu gì được nấy, phúc lộc, thọ, người làm đề huề, con cháu đều rất hiếu thuận.

Lúc lâm chung, vốn dĩ nên vãng sinh thì người chồng đã qua đời hiện thân, đưa cho bà uống một chén nước vong tình. Bà không nghi ngờ về tác dụng khác của nó, bèn uống nước này, thế là quên hết tất cả Mật pháp, quên luôn Bổn tôn, quên luôn tâm chú, cũng quên sạch cả việc đã quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng.

Bà chỉ nhớ về mỗi người chồng đã mất.
Nhân gian là khổ nhất.
Khổ nhất là chia ly.
Người yêu ta.
Ta thương người.
Cỏ xanh xanh, cô độc mình ta đứng đó.

Lão Bồ Tát đã quên mất công lực tu hành, chỉ nhớ đến việc tìm gặp lại người chồng trước.
Lão Bồ Tát đi về phía địa ngục, tôi đứng chặn ở cửa địa ngục.
Lão Bồ Tát đi về phía ngạ quỷ, tôi đứng chặn ở cửa ngạ quỷ.
Lão Bồ Tát đi về phía súc sinh, tôi đứng chặn ở cửa súc sinh.
Lão Bồ Tát đi về phía nhân gian đạo A tu la, tôi cũng đã chặn lại.
Tôi hỏi lão Bồ Tát:
"Bà không nhận ra tôi sao?"
"Không biết."
"Tôi là Căn bản Thượng sư đây!"
"Cái gì gọi là Căn bản Thượng sư chứ?"

Tôi biết thế là xong rồi. Lão Bồ Tát này đã quy y nhiều năm, học pháp nhiều năm, niệm Phật trì chú nhiều năm, gặp oan gia của người chồng trước, uống một chén nước vong tình, thế là công lực mất sạch, chỉ còn biết mỗi việc đi khắp nơi tìm kiếm người chồng trước, không biết đường trở về.

Tôi cũng đã cố gắng đến kiệt sức để chặn các đường đi của bà rồi. Đúng vào lúc này, Bổn tôn của lão Bồ Tát đã đến, là Quan Thế Âm Bồ Tát, trên người đeo vòng ngọc, tay cầm bình dương liễu, chỉ cần vẩy nước sạch từ bình dương liễu lên người của lão Bồ Tát là lão Bồ Tát đột ngột tỉnh ngộ, vượt qua biển sinh tử, niệm chú Bổn tôn "Om mani padme hum".
Thế rồi đã đi đến Nam Hải Tử Trúc Lâm rồi.

Lúc này tôi mới yên tâm, cảm tạ Quan Thế Âm Bồ Tát đã đến đưa bà đi.


### 79. Bé gái biến thành bé trai


Có một đệ tử họ Đường, lấy vợ tổng cộng sinh được bảy nàng tiên. Những bậc trưởng bối của đệ tử họ Đường đã sốt ruột muốn chết, do vậy từ rất lâu trước đây anh đã từng hỏi tôi:
"Có số sinh được con trai không?"
Tôi đáp:
"Có một đứa."
"Là khi nào?"
"Là đứa tiếp theo."
Tôi nói chắc như đinh đóng cột.

Sau đó, tôi đóng cửa đi ẩn cư. Theo tôi được biết, sự tình về sau thế này.
Vợ chồng đệ tử họ Đường đã lại có thai. Kết quả khám thai là bé gái, vợ chồng họ Đường vừa nghe là con gái thì xém chút nữa đã ngất xỉu. Trưởng bối nhà họ Đường tức giận đến nỗi chửi Sư Tôn là đồ lừa đảo, lừa người ta xong thì trốn mất, bỏ xừ người ta rồi.

Cả gia tộc họp mặt, nói:
"Bỏ đi!"
"Sư Tôn nói không thể phá thai được, đó là nghiệp sát sinh."
"Sư Tôn nói sẽ là con trai, thế sao lần này lại là con gái?" - Mọi người đều hỏi khó.
Đệ tử họ Đường á khẩu.
Cuối cùng họ quyết định phá thai!

Đêm đó, Sư Tôn nhập mộng, nói với đệ tử họ Đường rằng:
"Anh đã in nhiều loại sách thiện, rồi đi khắp nơi sám hối, đứa bé này là Bồ Tát ban cho, là con trai chứ không phải là con gái, hãy đợi qua một tháng nữa đi kiểm tra lại sẽ thấy chính là con trai!"

Sau khi tỉnh dậy, đệ tử đem kể chuyện này với vợ và trưởng bối, bọn họ đều không thật sự tin lắm, mơ chỉ là mơ, làm sao là thật được?

Đệ tử yêu cầu chờ một tháng nữa kiểm tra lại, nếu là con gái thì vẫn sẽ bỏ thai cũng chưa muộn. Do vậy, họ miễn cưỡng đợi thêm một tháng, đi kiểm tra lại thì kì tích xuất hiện. Quả nhiên là con trai, điều này thật không thể tưởng tượng được, ngay cả bác sĩ cũng cảm thấy không thể tưởng tượng được.

Sau đó, Sư Tôn lại ban mộng thị:
"Đứa bé này là Phật Sơn trưởng lão thác tú đến đầu thai, không phải là một đứa bé bình thường, nên nuôi dưỡng cẩn thận, là một đứa bé rất có trí huệ."

Ngày sinh đứa bé này, ánh sáng cát tường chiếu sáng bừng cả căn phòng, một mùi thơm lạ đưa đến.
Nếu tôi không nhập mộng thì rõ ràng là đứa bé trai đã bị bỏ rồi.
Sao có thể hy sinh một vị Phật Sơn trưởng lão được, sẽ đáng tiếc lắm!


### 80. Con tàu chìm cũng đã đi nghìn chuyến


Vào khoảng năm 57 tuổi thì tôi mắc bệnh. Khi đó tôi nghĩ, chi bằng vứt bỏ luôn cái vỏ thân xác này, đổi lấy một cái vỏ thân xác khác, hoặc trở về Ma Ha Song Liên Trì cho xong.

Nhưng rồi ngoảnh đầu nhìn lại, 57 tuổi vẫn còn chưa đủ một hoa giáp 60 năm. Tôi cho rằng 60 tuổi mới được xem là thượng thọ, 60 tuổi thì cũng được, do vậy tôi miễn cưỡng sống thêm ba năm nữa. Bây giờ thì tôi đã 60 tuổi rồi, cái thân này vẫn xem như có thể cầm cự được.

Tôi từng nói:
"Tôi chẳng cầu sống lâu!"
Nhưng các đệ tử thì cứ muốn tôi:
"Bất nhập niết bàn, trường trụ thế gian!"
Hai điều này mâu thuẫn với nhau.

Tôi thật lòng thật sự nói cho mọi người biết, có một bài thơ rất gần với điều này:
"Con tàu chìm cũng đã có hàng nghìn chuyến đi.
Cái cây chết cũng đã đi qua vạn mùa xuân."

Nói cách khác là, cho dù tôi có bị bệnh, hoặc tôi nhập niết bàn rồi, thì tôi hy vọng các đệ tử Chân Phật Tông vẫn tiếp tục bay, truyền thừa Chân Phật Tông không đứt mạch, dòng chảy pháp không cạn kiệt.

Mọi người có thể thử nghĩ mà xem!
Chúa Jesus từ lâu đã không trụ thế nữa rồi!
Phật Thích Ca Mâu Ni từ lâu đã nhập niết bàn rồi!
Thánh Muhammad từ lâu đã không còn sống nữa!
Khổng Tử, Lão Tử, Trang Tử… Đều đã qua đời rồi!

Gần như các vị đại Bồ Tát, đại thiền sư, đại tu hành giả từ lâu đã không còn trụ ở nhân thế nữa rồi, nhưng tinh thần tâm linh của họ thì vạn năm vẫn còn xanh mãi. Nói không chừng, ứng hóa thân của họ vẫn đời đời kiếp kiếp ở tại nhân gian để độ chúng sinh chứ chẳng hề rời xa chúng sinh mà một đi không trở lại. Có nhiều vị thì âm thầm độ chúng sinh mà vô hình vô tướng, lại có nhiều vị khác thì đã giác ngộ rồi nhưng vẫn quay thuyền lại độ chúng sinh [ ND: các vị đại Bồ tát đã giác ngộ nhưng rồi quay con thuyền của họ lại sau khi đã vượt qua bể luân hồi và tới được bờ bên kia ].

Mọi người có thể nghĩ xem, tôi ẩn cư bế quan gần bốn năm rồi, không ngừng viết sách, không ngừng thần hành trong tam muội, không gặp người ngoài, nhưng chẳng phải là vẫn cứu độ chúng sinh sao? "Một giấc mộng một thế giới" chính là ví dụ về cứu độ, ví dụ quá nhiều rồi, có kể cũng không hết. Cho dù tôi có nhập niết bàn thì cũng vẫn cứu độ chúng sinh thôi!

Quan Thế Âm Bồ Tát cứu chúng sinh từ thiên cổ đến nay vẫn chưa từng dừng lại, nghìn nơi cầu cứu nghìn nơi có mặt, biển pháp làm nên những con thuyền chở chúng sinh.
Liên Hoa Đồng Tử cũng vậy, tất cả đều thuận theo tự nhiên, nói như vậy thì mọi người cũng hiểu được rồi.


### 81. Con gái chẳng thua kém con trai


Còn nhớ những năm xưa, vì muốn khống chế số nhân khẩu không bị quá thừa, có người đã đề xuất khẩu hiệu:
"Hai con tính là vừa vặn đủ, một con cũng chẳng cho là ít"

Một số quốc gia sinh đẻ quá độ, chỉ phê chuẩn cho sinh một đứa con, sinh đứa con thứ hai sẽ bị phạt. Còn người dân thì cũng có quan điểm lỗi thời là cần có con trai nối dõi, do vậy họ đi khắp nơi để cầu thần hỏi quẻ, chỉ hy vọng sinh được một đứa con trai.

Còn nếu như sinh con gái thì cho dù không phá thai từ đầu thì cũng là sau khi sinh xong lại nghĩ cách cho đứa bé chết chìm, hoặc làm những cách khác….

Ôi trời ơi!
Đó là cốt nhục do chính mình sinh ra, là con gái của bản thân, làm cha mẹ mà không ngờ lại độc ác nhẫn tâm, gạt bỏ lương tâm đi làm cái việc không đúng với lương tâm trời đất như vậy. Đây là một việc đáng sợ biết bao. Vào những ngày tháng đáng sợ đó, trong trời đất đầy những thủy tử linh, hơn nữa những linh hồn bé gái chiếm đa số.

Tôi thương xót những thủy tử linh (bé gái) nên hỏi Phật:
"Con gái không bằng con trai sao?"
"Không phải! Long Nữ đã thành Phật."
"Con gái không đủ năng lực bằng con trai sao?"
"Không phải! Tương lai những vị trí lãnh đạo là nam nữ bình đẳng."
"Con gái học thức thua kém con trai sao?"
"Không phải! Phụ nữ có lòng tin vững chắc hơn cả đàn ông."
"Còn vấn đề nối dõi?"
Phật đáp:
"Tất cả đều là không, lấy đâu ra nối dõi chứ?"
"Tôi thương xót tất cả linh hồn hài nhi ở trong trời đất!"
Phật đáp:
"Lập Thủy Tử Linh sơn trang."

Nay tôi ở trong tam muội, mong có thể khuyên chúng sinh đừng phá thai sát hại linh hồn hài nhi, khuyên chúng sinh đừng dìm chết những bé gái sơ sinh. Mặc dù tôi chẳng có khả năng đi cứu độ hết những linh hồn hài nhi trong trời đất, nhưng tôi vẫn cứ tận lực mà làm. Thời đại ngày nay, có rất nhiều phụ nữ năng lực cao siêu, làm những vị trí lãnh đạo đứng đầu rất nhiều.
Không thể coi thường giới nữ được.
Đặc biệt là tín đồ Phật, rất nhiều người chồng đều là nhờ có vợ độ hóa mà học Phật, công lao của người vợ vì vậy mà rất lớn lao.

Xin hỏi một câu:
"Đứa bé trai chẳng phải cũng là do người phụ nữ mang thai hay sao?"


### 82. Đại hạn hán gặp mưa


Còn nhớ ngày xưa, có một năm Indonesia gặp cảnh hạn hán lớn, suốt 6 tháng liền không có mưa, người dân nơi đó kêu khổ liên miên.

Đúng thời gian này tôi đang ở Indonesia thuyết pháp, ở đại hội đường Senayan làm pháp hội.

Trong pháp hội, tôi nói:
"Cho cả đất nước Indonesia đổ mưa lớn đi!"
Long Vương tiếp chỉ.
Sau khi pháp hội kết thúc, khoảng hơn 10 phút sau, toàn bộ đất nước Indonesia nổi gió, mây biến sắc, trong chốc lát mưa trút xuống như thác, dân chúng khi đó không ai là không vui mừng cảm ơn, họ cho rằng chưa từng có kì tích nào như vậy.

Có người nhìn lên trời.
Thấy Bạch Y Đại Sĩ, Duy Ma Đại Sĩ, chư Đại Bồ Tát, Long Vương… xếp thành hàng trải rộng đầy khắp hư không, sự việc này gây chấn động toàn thế giới. (Tạp chí Đông Hiệp cũng có bài đưa tin.)

Ngoài ra cũng còn một chuyện khác, sự việc này thì ít người biết đến.
Ở một đất nước, từ tháng Giêng đến tháng Năm đều không có mưa. Rất thảm! Các hồ chứa nước đều đã cạn trơ đáy, thậm chí đất trong các hồ chứa nước còn nứt nẻ ra, những con thuyền trên hồ trước đây đều nằm xếp hàng trên bờ.
Các nhà máy cung cấp nước sạch đã hạn chế nước.
Ruộng vườn đã ngừng cày cấy.
Các bể bơi, trạm rửa xe, công viên nước đều ngừng hoạt động.
Giới công nghiệp kêu than vì hạn hán, nhưng trời chẳng đáp đất chẳng thưa. Giới quan chức chính phủ thì vì nhân dân mà lập lễ cầu nguyện ở khắp các miếu thần.

Có một thánh đệ tử với tấm lòng chân thành đã đến Lôi Tạng Tự của Chân Phật Tông để cầu nguyện, thắp hương trước tượng thánh của Liên Hoa Đồng Tử. Anh cầu nguyện rằng:
"Hy vọng có thể giống như Indonesia, vừa cầu nguyện là mưa to trút xuống."
Đêm đó, tôi lập tức nhập mộng nói:
"Tháng sau sẽ có mưa, tháng này thì vẫn chưa được."
"Vì sao lâu như vậy?"
"Là vì có kiếp nạn này, nhưng sẽ được giải trừ, tháng sau nhất định có mưa." - Trong mơ tôi nói như vậy.

Thánh đệ tử sau khi tỉnh dậy thì kể với người khác:
"Tháng sau nhất định có mưa."
Quả nhiên, đến đầu tháng Sáu thì mưa rào trút xuống, nước tràn trề khắp nơi, tất cả mọi sự khô cạn đều đã được giải trừ rồi.

Có vị thần công đại sư nọ nói: "Là do tôi cầu mà có."
Có vị đại sư môn phái nọ nói: "Là do tôi cầu mà có."
Thật sự thì mọi người đều cầu nguyện, chỉ là có linh ứng hay không mà thôi!
Tôi cười lớn ha ha, niệm một câu A Di Đà Phật!


### 83. Phù hộ thân hồi sinh


Có một đệ tử mang trên người tấm phù hộ thân của tôi, ngồi trên xe ô tô của người bạn đi du lịch. Xe đang chạy, trên xe tổng cộng có năm người, mọi người trò chuyện, rồi bất ngờ một tiếng "rầm" rất to, chiếc xe đâm vào một chiếc xe tải lớn.

Trong thoáng chốc, đệ tử cảm thấy hoàn toàn mất ý thức.
Đệ tử này chỉ thấy nhiều người mặc đồ đen cầm theo cuốn sổ đoạt mệnh đến để điểm tên và bắt đi. Cả năm người bọn họ đều bị bắt đi, đột ngột đến âm phủ. Bên trong âm phủ đã có hơn trăm người, lần lượt xếp hàng để thông quan.

Minh sứ đối với hơn trăm người này đều tỏ ra rất hung dữ.
"Anh này phạm giới dâm, đưa đi làm súc sinh."
"Anh này tội trộm cắp, đưa đi địa ngục."
"Anh này phạm tội tham lam hối lộ, đưa đi làm quỷ đói."
"Anh này phạm tội vọng ngữ, đưa đi địa ngục lưỡi cày."
...

Một nửa trong số hơn trăm người này đã bị đưa đi, còn những người khác thì ai nấy đều sợ hãi tột độ, nhưng có sợ đến đâu cũng đều khó thoát khỏi ách vận giáng đầu, sống chẳng bằng chết, chết rồi vẫn còn phải chịu tội, thật sự đúng như Phật Đà đã nói:
"Chẳng gì mang theo được, chỉ có nghiệp theo thân!"

Đệ tử thấy hoàn cảnh như vậy, trong lòng buồn rầu, nhưng chẳng thể làm theo ý mình, ai bảo bản thân không làm việc thiện và tu pháp, hối hận thì đã muộn rồi.

Minh sứ gọi tên đệ tử. Đệ tử đáp lời. Minh sứ hỏi:
"Anh có nghiệp tốt gì?"

Đệ tử nghĩ ngợi rất kĩ mà không nghĩ ra mình đã tạo nghiệp tốt gì, chỉ đưa ra tấm phù hộ thân mang theo bên mình. Tấm phù phóng ra một vệt ánh sáng xanh, minh sứ chạy ra hành lang bên ngoài phòng lớn run rẩy không ngừng.
Minh sứ nói:
"Không cần phải giơ tấm phù ra, vì anh là hành giả đã thọ quán đảnh nên ta thả cho anh trở về là được rồi chứ gì? Trở về hãy tu hành cho tốt để bù đắp."
"Vâng." - Đệ tử nói.

Minh sứ đưa đệ tử đi về phía trước, vô tình rơi vào một hố đen. Đệ tử lập tức tỉnh lại, thấy đang nằm trong một bệnh viện lớn, trong số năm người chỉ có một mình anh còn sống, bốn người khác đều đã chết vì vụ tai nạn xe rồi.
Đệ tử này thật sự đã từng nhận quy y quán đảnh, được tặng một tấm phù hộ thân, chỉ có điều vẫn chưa tu pháp.


### 84. Trải nghiệm trong mơ


Có một hành giả, trong khi tu hành luôn nghiêm chỉnh tuân thủ mỗi ngày đều tu, cũng không ngớt trì chú niệm Phật, đặc biệt là Cao Vương Kinh, Bạch Y Thần Chú, Chân Phật Kinh,… Mặc dù không phải là niệm hàng ngày, nhưng cũng là nếu có thời gian thì sẽ trì tụng.

Hành giả làm rất nhiều việc thiện, ví dụ như in kinh, in sách thiện, xây chùa, xây đạo tràng, sửa cầu, làm đường, giúp người nghèo, giúp đỡ người khó khăn, chỉ cần biết có việc cần thì nhất định sẽ bỏ tiền bỏ công sức ra tùy hỉ. Đối với những việc xấu thì luôn giữ giới, không dám phạm phải.

Nhưng trong giấc mơ, anh cũng có ba lần mê muội.

1. Trong mơ, anh tình cờ đến một nơi, thấy rất nhiều tiền vàng và tiền đô, những thứ này đều không phải là của anh, nhưng thấy xung quanh không có người, anh bèn lấy cho vào túi da, rồi lần lượt cho vào các hòm, đem về nhà mình giấu đi, mang nặng đến mức thở hổn hển. Sau đó thì tỉnh mộng. (Tỉnh giấc mơ, anh liên tục sám hối.)

1. Trong mơ, anh gặp lại người yêu cũ, người yêu cũ rất xinh đẹp, diện mạo hơn người, đi vào phòng anh, cởi bỏ quần áo, buông lời ngọt ngào nũng nịu để quyến rũ anh. Anh căn bản đã không tự chủ được nữa, nhanh chóng phát cuồng, hai người mây mưa với nhau. Đúng vào lúc sắp sửa sướng muốn chết thì anh mới tỉnh dậy. (Tỉnh giấc mơ, anh không ngừng sám hối.)

1. Trong mơ, anh là người tài hoa giỏi giang, đứng ra tranh cử được bầu làm ủy viên, sau đó được vào nội các, làm bộ trưởng, viện trưởng, thậm chí anh còn muốn được chọn làm thủ trưởng tối cao. Mặc dù tóc mai đã bạc trắng vẫn không ngừng đắm đuối vào địa vị cao. Có người hối lộ, anh ta cũng tham lam vô độ. Tiếng tăm địa vị đã có rồi, tiền tài lợi lộc cứ thế mà theo về. Trong mơ, khi anh đang theo đuổi vị trí thủ trưởng tối cao thì anh tỉnh dậy. (Anh không ngừng hối hận.)

Hành giả này thường xuyên mơ ba giấc mơ này, mỗi lần tỉnh giấc mơ thì anh mới biết là mơ, tỉnh giấc mơ rồi mới hối hận. Nhưng trong giấc mơ thì anh không có cách nào cự tuyệt được!
Tôi nhập mộng, bảo anh:
Biết đời như mộng vô sở cầu.
Vô sở cầu lòng tĩnh lặng không.

Cũng ở trong giấc mộng, tôi bảo với anh rằng, trong mộng cũng có thể niệm Phật trì chú được là tốt nhất, dù gặp mộng cảnh nào cũng dùng việc niệm Phật trì chú để đối trị lại. Anh tu hành cần để danh hiệu Phật và chú âm vào sâu trong tâm. Trong Mật tông, Trung mật, Tạng mật đều cần tu mộng quán mới có thể phá bỏ được sự mê muội. Trong mơ mà tu thì mới là hành giả chân chính. Hãy ngẫm nghĩ, ngẫm nghĩ đi!.


### 85. Địa ngục chim mổ mắt


Khi còn trẻ, tôi từng xem một bộ phim kinh dị của đạo diễn Alfred Hitchcock. Tên phim là "Chim".
Nội dung chính của phim là một đàn chim hung dữ không biết vì sao mà xâm nhập vào thế giới con người. Mỏ chim rất sắc nhọn, chúng mổ phá những ngôi nhà gỗ, mổ tan nát ngũ quan và da thịt toàn thân con người, rồi chúng ăn thịt người.

Khi đàn chim hung dữ kéo đến thì giống như mây đen phủ kín, chẳng có cách nào tránh được. Điều khiếp sợ nhất là, cảnh tượng thê thảm của con người khi bị chim rỉa làm thức ăn, những tiếng kêu than đau đớn thê lương lần lượt hiện lên trước mắt.

Phật Thanh con gái tôi kể từ sau khi xem xong bộ phim này đã có một ấn tượng u ám đối với loài chim. Kể từ đó Phật Thanh cũng không thích chim.
Còn nhớ khi tôi ở Seattle nước Mỹ, Chân Phật Mật Uyển cũng có chim bay đến mổ nhà, khiến căn nhà bị thủng lỗ chỗ. Cuối cùng, chúng tôi phải gọi thợ đến bịt lỗ. Người thợ nói:
"Có thể bên trong những tấm gỗ có sâu, chim đến mổ sâu."
Còn bảo:
"Mỏ của lũ chim gõ kiến rất lợi hại, rất nhiều cây to ở Mỹ đã bị chết, đều là do bị chim gõ kiến mổ."
Tôi nghe mà mắt mở to miệng há hốc vì kinh ngạc.

Thế nhưng trong tam muội, không ngờ tôi thật sự đã thấy địa ngục chim mổ mắt, giống như trong Địa Tạng Kinh nói: rắn sắt nuốt chửng người, chó sắt đuổi theo người, chim sắt mổ mắt người.
Tôi hỏi minh sứ:
"Vì sao mà chim sắt mổ mắt người, máu tươi phun ra, khiến người ta kinh sợ?"
Minh sứ đáp:
"Nhân duyên quả báo mà! Những người này ở thế gian có sự sùng bái mù quáng, cũng như người mù, nên nhận được quả báo này. Người mù nghe theo những lời buôn chuyện phiếm, có mắt không tròng, cũng sẽ có quả báo này. Theo đuổi danh lợi không biết dừng lại, bỏ lỡ đại thiện tri thức, không biết tu hành, cũng nhận được quả báo này."
Minh sứ còn nói:
"Khi sống làm nghề săn bắt, giết chim chóc, nghiệp sát rất nặng, cũng gánh quả báo này."
Tôi nghe xong, thật sự kinh sợ!

Viết một bài kệ:
Có mắt không tròng bao người phạm.
Nói dài nói ngắn cứ thói quen.
Săn bắt giết chim gây nghiệp sát.
Muốn dứt nghiệp chướng hãy tu hành.


### 86. Kiệu bay ở thiên giới


Trong một tam muội gần đây.
Tôi nghe thấy thiên nhạc nổi lên rung động cả bầu không khí, hoa sen rơi xuống như mưa, trong hư không bay đến một chiếc kiệu thần rất lớn, được trang hoàng cực kì lộng lẫy trang nghiêm, cờ phướn dựng lên hết cột này đến cột khác. Từ thiên thượng đến nhân gian, từng nhóm tiên đồng thiên nữ xếp hàng thành từng cặp cầm trượng, phướn đứng nghênh đón từ xa.

Tôi cảm thấy vô cùng kì lạ, dường như là họ đến để đón tiếp tôi vậy. Chiếc kiệu thần đó còn tỏa ra ánh sáng vàng kim! Một chiếc lọng và băng rôn hạ xuống.
"Mọi người đến đón tôi sao?"
"Đúng vậy."
"Đây là thiên giới nào?"
"Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ."

Tôi nghe xong thì trầm ngâm không nói gì. Ban đầu, tôi hạ sinh ở nhân gian là xuất phát từ Ma Ha Song Liên Trì, xuống đến Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ, sau đó mới là từ Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ hạ sinh ở nhân gian. Lần này là tôi về Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ trước rồi.

Tôi nghĩ, 60 tuổi, đúng là chết thật rồi (viên tịch). Con người tôi vốn không có ý nghĩ muốn sống lâu, thế nào cũng được. Tùy theo gió mà bước đi thôi!

Nhưng ngoảnh đầu nhìn lại, các thánh đệ tử ở nhân gian, các chùa, đường, hội, đều vì tôi mà thỉnh cầu "trường trụ thế gian, bất nhập niết bàn". Các thánh đệ tử khẩn thiết cầu nguyện, khiến nội tâm tôi lại mâu thuẫn. Sống thêm vài năm nữa cũng được, thế nào tôi cũng hài lòng.

Vài năm gần đây, tôi ăn uống đạm bạc, thanh sắc danh lợi không chỉ mờ nhạt đi mà gần như cũng chẳng có gì. Tiền, sắc, danh, ăn, ngủ, năm thứ ham muốn đều chẳng còn, duy chỉ có tu pháp, viết văn, ngày ngày niệm Phật cầu phúc siêu độ cho các đệ tử. Hoàn toàn chẳng còn các việc khác, không mong cầu một điều gì, con trai, con gái, cháu chắt cũng chẳng còn mong nhớ nghĩ ngợi gì nữa.
Tôi chỉ còn nhớ các thánh đệ tử!
Tôi có nên trở về Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ?
Hay ở lại nhân gian, sống tạm tiếp vài năm?
Ha ha ha.

Trong lúc còn suy nghĩ, tôi chỉ niệm A Di Đà Phật, niệm Cao Vương Quan Thế Âm chân kinh. Chiếc kiệu thần kia mặc dù đã đến gần, nhưng tôi vẫn ngồi yên bất động, tôi tạm thời chưa muốn đi, ở lại viết thêm vài cuốn sách nữa vậy! Bây giờ mà trở về có phải là hơi nhanh chăng?

Lúc này, kiệu thần từ từ mờ nhạt dần đi, từng tốp tiên đồng thiên nữ cũng tan dần đi như khói sương, thiên nhạc cũng tắt.
Tôi lại khỏe rồi!


### 87. Tôi muốn vãng sinh thẳng tới Tịnh thổ


Đời này tôi tu hành tập trung vào tam muội, điểm đến cuối cùng là trực tiếp vãng sinh Tịnh thổ, làm được như vậy là rất có giá trị rồi. Giá trị lớn nhất của đời người!

Kì thực, trọng tâm của việc tu hành đích thực là tam muội, mọi người có thể ngẫm nghĩ mà xem:
Thiền --- tư duy dịnh.
Mật --- samadhi.
Luật --- giữ giới đắc định.
Bất kì các môn phái nào, thậm chí tứ thiền bát định, thậm chí là tu hành ngoại đạo, thì trọng tâm đều là tam muội.

Tôi từng nói, phần chính hành của Mật giáo kì thực chính là samadhi, nhập tam ma địa. Khi tôi còn trẻ, tôi đọc "Long thư tịnh thổ văn" và "Tịnh thổ thánh hiền lục", từ lâu tôi đã nhất tâm muốn vãng sinh Tây phương Tịnh thổ rồi.

Mặc dù tu Mật pháp, nhưng tôi vẫn ngày ngày niệm Phật không ngừng. Tôi là hành giả kiêm tu Mật giáo và tịnh độ. Nếu như mọi người có thời gian, khi đến Đài Loan có thể đến thăm đại điện của Đài Loan Lôi Tạng Tự. Ở đây thờ phụng chính là A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, chính là Tây phương tam Thánh trang nghiêm diễm lệ, đứng cao lớn sừng sững.

Vì sao tôi vừa niệm Phật vừa tu Mật pháp, là bởi vì tôi có nhân duyên tu Mật giáo, Mật pháp rất trực tiếp và nhanh chóng có thể thành Phật. Còn niệm Phật thì cũng rất trực tiếp, pháp môn Tịnh độ dễ thực hành và dễ phổ cập, không thể bỏ đi được, lại càng độ được chúng sinh rộng rãi hơn. Do vậy, ai có nhân duyên với Mật giáo thì tu Mật giáo, không có nhân duyên với Mật giáo thì tu Tịnh độ, như vậy càng dễ quảng độ quần sinh.

Bổn tôn của tôi, bất kể là Hiển - Mật, đều là A Di Đà Phật, tôi cũng đều nhất tâm quy mệnh về Tịnh thổ. Chúng ta hãy nỗ lực tinh tấn đi!
Bất kể là tu cái gì thì cũng đều là tam muội, bất kể là làm cái gì cũng đều là để đến được Tịnh thổ, như vậy thì đời người sẽ có giá trị.

Bài kệ của Ngạn Thiền Sư thời nhà Đường:
Quan Âm giúp từ xa
Thế Chí cũng chờ đón
Hiện bảo bình mũ miện
Hóa Phật đỉnh quang minh
Đi khắp cõi thập phương
Cầm hoa chờ tái sinh
Nguyện giữ ấn từ bi
Tây phương cùng đi về.


### 88. Thánh đệ tử thấy hiện tượng cát tường


Có một thánh đệ tử mắc bệnh ung thư vú. Cô ở trong phòng phẫu thuật để mổ. Sau khi thuốc gây mê hết tác dụng, cô tỉnh dậy thì nhìn thấy chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, chư Thiên, tất cả Thánh hiền đều ở trong ánh sáng trắng trên không trung đang bảo vệ cho cô.

Thánh đệ tử này tu dưỡng rất tốt, mỗi ngày đều đọc sách của Sư Tôn, rồi viết lại những điều mình tâm đắc, ngày ngày tu hành, phụng trì giới luật.

Khi tôi còn chưa ẩn cư, tôi thường nói với mọi người, thánh đệ tử này chắc chắn sẽ đạt được hạng thượng phẩm ở Ma Ha Song Liên Trì.
(Thánh đệ tử này sống tại Mỹ.)

Ngoài ra, còn có một thánh đệ tử bất ngờ bị đứt mạch máu não, máu chảy ra, bị đột quỵ, tình trạng vô cùng nghiêm trọng, nhanh chóng được đưa vào bệnh viện, rồi lập tức phẫu thuật não. Nếu ca mổ không tốt, thì không chết cũng thành người thực vật.

Nhưng bác sĩ nói, thật sự là kì diệu, sau khi khối máu tụ được lấy ra, huyết quản tự nhiên ngưng đặc lại, tất cả đều không còn vấn đề gì, như người bình thường.

Trong quá trình phẫu thuật, thánh đệ tử trông thấy một vệt ánh sáng trắng rất mạnh, Sư Tôn hiện thân trong ánh sáng gia trì cho anh, Sư Tôn trong ánh sáng hết sức bảo hộ cho anh.
Thánh đệ tử bị đột quỵ mà như chư từng bị đột quỵ, mọi thứ đều hoàn hảo.
(Thánh đệ tử này ở Indonesia.)

Lại có một thánh đệ tử khác mỗi ngày đều tụng Cao Vương Quan Thế Âm chân kinh không ngừng, niệm Phật trì chú không ngừng.
Sau đó có một ngày, thánh đệ tử căn bản là không bị bệnh, tự mình đi tắm rửa sạch sẽ, mặc quần áo sạch, rồi ngồi hướng mặt về phía tây.
Thánh đệ tử hỏi các con:
"Các con có nhìn thấy Sư Tôn không, Sư Tôn cầm hoa sen trắng đến đón cha rồi, cả A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, các thánh hiền ở Tây phương đều đến rồi. Ngày của cha đã đến rồi, nói lời tạm biệt với mọi người thôi!"
Thánh đệ tử cứ ngồi như vậy mà vãng sinh.
(Thánh đệ tử này ở Malaysia.)

Đây chỉ là ba ví dụ nhỏ, có rất nhiều các đệ tử khác thấy được hiện tượng cát tường. Bồ Tát hiện trong không trung, cho biết thời gian vãng sinh, đài hoa sen đến tiếp dẫn, thiên nhạc nổi lên trong không trung, mùi thơm của đàn hương, cả căn phòng bừng sáng, trong không trung đầy ắp chư Phật.
Chân Phật Tông thật sự là thù thắng!


### 89. Tôi sẽ viết về "Một dải cầu vồng"


Đời người ra sao?
Như mộng huyễn bào ảnh, như sương cũng như điện, như điện quang lửa đá gửi vào cuộc đời này. Thật sự đời người là hư huyễn! Như một dải cầu vồng.

Cầu vồng xuất hiện, cầu vồng biến mất, đều chỉ trong một sát-na, đều là việc tự nhiên, cũng là việc chẳng thể khác được.
Chúng sinh bất khả tư nghì.
Tôi bất khả tư nghì.

Cuộc đời này của tôi mặc dù như mộng như huyễn, nhưng tôi nắm bắt lấy cái hiện tại, tu hành chuyên cần. Tôi không dám nói là mình tinh tấn phi phàm, nhưng cũng xem như là rất chuyên nhất.

Bắt đầu từ năm 26 tuổi, đến nay là 60 tuổi, tôi vẫn kiên trì với tín niệm của mình từ đầu tới cuối, vẫn đặt toàn bộ thân tâm của mình vào sự nghiệp tu hành và viết văn, luôn kiên trì với tâm nguyện của mình. Tôi tự cảm thấy điều này cũng không phải là dễ dàng.

Tất cả những trải nghiệm đều được tôi lần lượt kể lại trong sách. Cuộc đời của tôi không có cái gì là đại bí mật. Tôi có đại lạc, trong sách có nói. Tôi có cực khổ, trong sách cũng có nói. Tôi chẳng khổ chẳng vui, trong sách lại càng có nói đến.

Tôi nghĩ, con người như tôi đây thực sự đã kinh qua một cuộc đời tu hành như pháp, nhất định sẽ đạt được thành tựu viên mãn, khi thành tựu thì tự nhiên sẽ thành tựu đạo giải thoát, tự nhiên thành tựu đạo bồ đề, đây là việc đại sự quan trọng nhất trong đời người.

Cái gọi là:
Đại thần chú.
Đại minh chú.
Vô thượng chú.
Vô đẳng đẳng chú.
(Ý nói đến đều là diệu giác thành Phật.)

Cuộc đời này của tôi đã không còn lợi hại được mất, đã không còn vướng bận với việc chọn lựa hay từ bỏ. Không có được điều gì, cũng không chứng được điều gì, không công danh, cũng không phú quý, cũng giống như một dải cầu vồng, tất cả đều như khói mây bay qua trước mắt, tất cả chướng ngại cũng như không có chướng ngại nào, ngay lúc này đã giải thoát rồi!

Trong cuốn sách số 174, tôi muốn viết rất nhiều thơ, những câu từ bình thường thôi, nhưng hàm chứa những chân lý về một dải cầu vồng của đời người.
Xin hãy thưởng thức kĩ càng.
Cuộc đời chốn nhân gian
Hết chuyến đi này lại đến chuyến đi khác
Ai là người đồng hành thật sự của ta.

Chỉ còn lại một chút trải nghiệm vui vẻ
Những hồi ức lộn xộn
Như những hạt mưa nhỏ bay bay
Một dải cầu vồng hiện lên
Đến lúc trở về
Cũng chẳng còn tin tức gì về cầu vồng nữa.

Địa chỉ liên lạc của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu
17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/181-chi-dan-mot-con-duong-sang.md
# Title: 181. Chỉ dẫn một con đường sáng
---

## Chỉ dẫn một con đường sáng


🪷 Cứu độ bất khả tư nghì

Văn tập: 181
Xuất bản: 08/2005
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


Mỗi buổi sáng sớm, khi ánh dương tỏa chiếu rạng ngời, rải vàng xuống ngọn cây khắp đất trời, dường như báo hiệu một ngày mới bắt đầu, và tôi lại cắm đầu vào công việc viết sách.

Đây là quyển sách thứ 181 của tôi, có tựa đề là "Chỉ dẫn một con đường sáng", với phụ đề "Cứu độ bất khả tư nghì". Nội dung của quyển sách này sẽ cho độc giả đọc về những kỳ tích.

Kỳ tích chính là những điều không thể nghĩ bàn, khiến người ta không thể hiểu thấu, cũng không thể đoán được, là những việc cực kỳ không thể xảy ra trong thế giới thực tại, thế nhưng lại hiện diện một cách chân thực trước mắt độc giả.

Trên thế giới này, tôi nói là thế giới hiện tại này, rất khó tìm được một nhân vật cùng đẳng cấp, cùng loại như tôi. Bởi vì bản thân tôi chính là một kho tàng thần thoại, một kho tàng kỳ tích, điều này tuyệt đối không phải tôi "bốc phét" (nói dối), mà là những trải nghiệm huyền bí mà tôi đích thân trải qua, tôi luôn công khai viết ra không hề giấu giếm.

Trước đây, đệ tử của tôi là Trương Hoàng Minh, mỗi khi thấy những điều không thể xảy ra đã xảy ra, đều sẽ kêu lớn:
"Kỳ tích, kỳ tích!"
Trịnh Dụ Tín thì nói:
"Không thể nghĩ bàn, không thể hiểu nổi!"
Trương Văn Thụy thì nói:
"Sao có thể như vậy được!"

Tuy nhiên, trên thực tế, những ai được tôi "chỉ dẫn một con đường sáng" đều sẽ nhận được sự cứu độ kỳ diệu một cách "không thể nghĩ bàn", những sự cứu độ này đều có bằng chứng rõ ràng.

Tôi nói: "Tôi có thể nhìn thấy quỷ thần."
Tôi nói: "Tôi có thể nhìn thấy chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, chư Thiên."
Tôi nói: "Tôi có thể đến các cõi Phật tịnh thổ, có thể đến tam giới thiên, có thể đến thế giới u minh, đến mười tám tầng địa ngục."
Tôi nói: "Tôi hiểu rõ kiếp trước đời này, tôi thấy được nhân quả ba đời của mình, thấy được thế giới tịnh thổ Ma Ha Song Liên Trì do mình kiến lập, tôi là Liên Hoa Đồng Tử."
Tôi nói: "Tôi nắm giữ ba đại luật lệnh, thứ nhất là luật lệnh của Phật Tổ, thứ hai là luật lệnh của Diêu Trì Kim Mẫu, thứ ba là luật lệnh của Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh."

Lòng bàn tay của tôi phát ra "tịnh quang", nhiều bệnh nhân chỉ cần được tay tôi chạm vào hay vỗ nhẹ, bệnh liền khỏi hẳn.

Em gái của thị giả Thượng sư Liên Hương của tôi là Lư Huy, mỗi khi gặp phải những chứng bệnh nan y, liền đến cầu xin tôi vẽ ba lá phù, chỉ cần ba lá phù vừa xong, Lư Huy liền nói: "Khỏi rồi!"

Trên đỉnh đầu tôi có ba luồng hào quang:
Phật quang.
Linh quang.
Bạch quang.

Nếu là độc giả lâu năm của tôi, phần lớn đều có một sự hiểu biết cơ bản nào đó về tôi, đặc biệt là rất quen thuộc với việc cứu người độ thế.

Nhiều độc giả cũng biết rõ, tôi đã trải qua việc được Diêu Trì Kim Mẫu khai thiên nhãn, thông hiểu Phật pháp uyên bác, và cũng chỉ dẫn con đường tu hành cho chúng sinh.

Tôi nói:
Cả đời ngắm trăng sáng
Tây Bắc có lầu cao
Giờ đây nơi đất khách
Thường than tiếc thu sầu.

Nhưng tôi nhớ rằng: "Nhớ lại con đường đã qua, toàn là những kỷ niệm xưa!"

Tôi có thể cứu người độ thế, cũng có thể chỉ dẫn cho bạn một con đường sáng, bạn nên nhớ, đời người ngắn ngủi, thời gian không còn nhiều, nhân gian đầy buồn khổ, nơi đâu trên trời dưới đất có thể giải sầu?

Chi bằng tìm đến "tôi", sách của tôi.
Để được chỉ dẫn một con đường sáng.

Địa chỉ liên lạc của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn

**Sheng-yen Lu
**17102 NE 40th Ct.,
Redmond, WA 98052
U. S. A.


### 01. Gia Long vãng sinh Phật quốc tịnh thổ


Gia Long là đệ tử của tôi.
Một ngày nọ, anh ấy qua đời. Linh hồn thoát ra khỏi thể xác, nhẹ nhàng bay đến Ngã Tư U Minh.
Anh ấy đứng ở ngã tư đường, hoang mang bối rối, không biết nên đi đường nào. Khi con người đến được nơi này, đều vô cùng hoang mang.

Trong lòng anh ấy có Sư Tôn, anh ấy nhớ đến Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, lúc này, tại Ngã Tư U Minh, bên cạnh có một khu rừng nhỏ, từ khu rừng nhỏ ấy tỏa ra một chút ánh sáng.

Anh ấy bước vào rừng, thấy một căn lều tranh nhỏ, một ngọn đèn dầu xanh, ánh sáng chính là từ ngọn đèn dầu xanh ấy hắt ra ngoài cửa sổ.
Gia Long gõ cửa.
Cửa mở ra.
Bên trong chính là Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, anh ấy nhìn thấy Sư Tôn, vô cùng ngạc nhiên:
"Sư Tôn! Sao thầy lại ở đây?" - Gia Long hỏi.
"Đặc biệt đến đây đợi anh đấy, tôi đã đợi anh rất lâu rồi, đợi hơn nửa năm rồi."

Tôi đóng cửa lại. Tôi nói với Gia Long, anh ở đây vài ngày, đến lúc đó, tôi sẽ đưa anh đến cõi Phật tịnh thổ Ma Ha Song Liên Trì.

Chẳng bao lâu sau, nghe thấy bên ngoài cửa có tiếng ồn ào:
"Gia Long đâu? Chúng ta đến đón hắn, hắn phải theo chúng ta đến âm phủ, vậy mà giờ không thấy người đâu." - Mấy viên âm ty hung hăng, nhưng chỉ đi đi lại lại bên ngoài cửa.
Các viên âm ty hét lớn, đi tới đi lui trên bốn con đường Ngã Tư U Minh, nhưng cuối cùng vẫn không gõ cửa căn lều tranh nhỏ.

Tôi nói với Gia Long: "Đừng sợ, anh đã giúp Sư Tôn nhiều năm, giờ tôi cũng sẽ giúp anh, những viên âm ty kia không thể nhìn thấy căn lều tranh này đâu."
Tôi bày các món ngon ra, mời Gia Long dùng cơm.
Có gà Kung Pao.
Có cá sốt chua ngọt.
Có tam tươi xào.
Có cơm nấu đậu nành.
Có canh rau cải đậu phụ.

Gia Long hỏi: "Sư Tôn, sao thầy lại biết nấu những món này?"
Tôi nói: "Gia Long, anh còn nhớ không? Ngày xưa, anh thường hay đi chợ phiên thứ Bảy, mua về một ít hoa và những gói đậu khô để cúng dường Sư Tôn và Sư Mẫu, những cúng phẩm ấy giờ đã chín muồi, nên anh mới có những món ăn này. Tuy không phải là vi cá, bào ngư, tay gấu, nhưng cũng thơm phức."
Tôi bày hai bộ bát đũa, nói: "Hai thầy trò mình cùng ăn!"
Ăn xong, Gia Long về phòng mình đi ngủ, còn tôi thì về phòng ngồi thiền.

Ba ngày trôi qua như thế, dù các viên âm ty do âm phủ phái đến có tìm thế nào cũng không thấy được linh hồn của Gia Long, đành phải thất thểu quay về âm phủ phục mệnh.
Tôi nói: "Anh có thể đến cõi Ma Ha Song Liên Trì rồi."
"Đi đường nào?"
"Bốn con đường này đều không thể đi, một đường là noãn sinh, một đường là thai sinh, một đường là thấp sinh, một đường là hóa sinh."
"Vậy đường đi ở đâu?"
"Ở trong tâm anh!" - Tôi nói.

Lúc này, trong tâm Gia Long tỏa ra ánh sáng, niệm câu: "Om guru liansheng siddhi hum."
Ánh sáng từ tâm hóa thành một con đường quang minh thanh tịnh.
Tôi nói: "Cứ đi thẳng là được rồi. Hẹn gặp lại!"

Gia Long từ từ bay lên con đường quang minh thanh tịnh.
Sau khi bay lên, anh quay đầu nhìn lại, khu rừng nhỏ đã biến mất, căn lều tranh nhỏ cũng không còn, Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn cũng không thấy đâu, chỉ còn lại Ngã Tư U Minh tỏa ra thứ ánh sáng kỳ dị.

Nghe nói, khi Gia Long rời khỏi cõi trần, anh đã viết một bài thơ "Tôi sẽ ra đi", những vần thơ vô cùng xúc động. Đồng thời sau khi hỏa táng Gia Long, có rất nhiều xá lợi tử, xá lợi hoa, có màu trắng, có màu xen lẫn, và những viên xá lợi trắng tròn trịa.
Thật đáng ngưỡng mộ thay!


### 02. Cằm rơi ra rồi


Tối hôm đó, bụng đột nhiên thấy đói cồn cào, tôi bèn đi đến một quán mì ở đầu con hẻm nhỏ. Quán mì nhỏ có ba cái bàn, vài cái ghế sắt bày không ngăn nắp, trong ba bàn có một bàn ngồi kín người, họ vừa ăn mì vừa gọi thêm đồ nhắm, vừa uống rượu.

Tôi đi về phía bàn nhỏ bên phải, kéo đại một cái ghế, gọi một tô mì trứng rồi ngồi xuống. Đang đói bụng nên thấy tô mì thơm phức, ngon tuyệt.
Bốn vị khách bàn bên cạnh, có lẽ đã uống rượu, nói chuyện giọng đặc biệt to, nhưng tôi không để ý, cứ cúi đầu tự lo ăn mì của mình, chẳng quan tâm họ đang nói gì.

Bất thình lình, một người trong số họ đập mạnh xuống bàn, hét lên:
"Hừ! Tên Lư Thắng Ngạn này!"
Ba chữ Lư Thắng Ngạn lọt vào tai như một cú đập búa tạ, khiến tôi tỉnh táo hẳn ra, thì ra họ đang nhắc đến tôi, tôi đành phải lắng tai nghe xem họ nói những gì.

Người đang nói về Lư Thắng Ngạn là một người trung niên, khuôn mặt hơi lệch, vuông vức, hai bên má đã đỏ bừng. Ông ta cắn môi, ưỡn ngực lên, rồi nói tiếp: "Lư Thắng Ngạn và tôi, cùng bái một vị Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh làm thầy, tôi quá rõ về hắn, hắn là sư đệ của tôi, nhưng, tôi không thừa nhận hắn là sư đệ của tôi!"

Nghe câu nói đó, tôi đặc biệt nhìn kĩ người trung niên một cái, người này rất xa lạ, hoàn toàn không quen biết, vậy mà lại tự xưng là sư huynh của tôi!

Người tự xưng là sư huynh này nói:
"Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh đã dạy tôi nhãn thuật âm dương, có thể xem tướng nam nữ, nhìn thấy thần quỷ, đặc biệt là thiên văn địa lý, khí mạch núi sông, các môn như núi, y, mệnh, bói, tướng, phù lục, không gì là không thông. Tam Sơn Cửu Hầu Tiên sinh chưa từng dạy Lư Thắng Ngạn, hắn chỉ là ăn cắp của tôi mà thôi."
Nghe xong, tôi thầm bật cười. Nhưng không dám lên tiếng.

Vị sư huynh đó đảo mắt nhìn tôi - người sư đệ này một cái, vậy mà không nhận ra tôi chính là Lư Thắng Ngạn đích thực, vẫn tiếp tục khoác lác.
Ông ta nói:
"Lư Thắng Ngạn ngày nào cũng quỳ lạy tôi, xin tôi dạy cho chút phù lục, tôi chỉ dạy hắn phù chữ Thượng, phù chữ Quỷ, vài lá phù không đáng một xu."
Một người trong số họ phản bác: "Nhưng giờ Lư Thắng Ngạn nổi tiếng lắm, còn ông thì sao?"
Người trung niên đó bị chọc tức, máu dồn lên mặt, mắt như phun lửa, ông ta đột ngột bẻ gãy đôi đũa, như thể đang bẻ gãy Lư Thắng Ngạn thành hai khúc.
Ông ta hét lớn: "Lư Thắng Ngạn, thằng nhóc đó, đã ăn cắp thiên thư mà sư phụ truyền cho tôi, hắn là kẻ trộm, là kẻ lừa đảo lớn, hắn lập ra Chân Phật Tông, thực ra đó là của tôi."
"Ông nghĩ Lư Thắng Ngạn là người thế nào?"
"Đồ khốn kiếp, đồ súc sinh, Phật sống giả mạo, tay bịp bợm!" - Người trung niên vừa nói vừa phun nước miếng tung tóe, mặt đầy phẫn nộ. Chỉ thấy khuôn mặt vuông vức của vị sư huynh này lúc phồng lên như quả bóng, lúc run rẩy loạn xạ, nghiến răng ken két, toàn thân run lên, lại hét:
"Nếu để tôi gặp được Lư Thắng Ngạn, tôi sẽ đánh cho hắn bò lê bò càng, bắt hắn quỳ xuống van xin, gọi tôi mấy tiếng ông nội, mới hả được cơn giận trong lòng, lúc đó tôi mới tha thứ cho hắn."

Tô mì của tôi sắp ăn xong, trong lòng hoàn toàn bình thản. Vị sư huynh này tự dưng xuất hiện, tôi không biết ông ta, ông ta cũng không biết tôi, vậy mà lại có những lời như thế. Trong lòng tôi nghĩ: "Tiếng khen đến đâu, tiếng chê theo đó, quả là câu nói muôn đời."

Đúng lúc tôi định rời đi, bỗng thấy phía sau lưng mình có một bóng đen lăn tới, giật cái cằm của vị sư huynh giả mạo kia.
Người trung niên đó ho một tiếng lớn, cằm bỗng nhiên rơi xuống, ba người kia đều giật mình kinh hãi.
"Cằm rơi ra rồi, mau đi tìm bác sĩ!"
Người trung niên đó mắt thẫn thờ vô hồn, trán toát mồ hôi lạnh, như người bị ma ám, bốn người chen chúc nhau chạy đi tìm bác sĩ!

Tôi gọi vị Hộ Pháp Thần phía sau lưng mình đến, trách mắng ngài một trận: "Sau này đừng gây chuyện nữa!"
Hộ Pháp Thần nói: "Rõ ràng toàn là nói bậy!"
Tôi đáp:
"Thiên hạ ai mà chẳng nói bậy, lẽ nào ai nói bậy cũng phải rơi cằm sao?"


### 03. Chép tay Kinh Kim Cang


Có một đệ tử tên Liên Hoa Vĩnh Tán, phát tâm chép tay Kinh Kim Cang bằng bút lông chữ nhỏ. Mỗi khi chép xong bốn mươi chín quyển (bảy lần bảy), ông đều đốt Kinh Kim Cang thành tro.
Một phần rải xuống biển, để lợi ích cho thủy tộc.
Một phần rải xuống đất, để lợi ích cho quỷ thần.
Một phần rải lên không trung, để lợi ích cho không hành.

Liên Hoa Vĩnh Tán đã chép tay Kinh Kim Cang được ba năm, ông cảm thấy nhờ việc chép tay mà rất dễ thuộc lòng Kinh Kim Cang, tuy đã thuộc lòng nhưng vẫn chưa hiểu được "mật ý" của Kinh Kim Cang nằm ở đâu.

Ví dụ:
Như Lai dạy rằng, các tâm đều là chẳng phải tâm, thì gọi là tâm. Vì sao vậy? Này Tu Bồ Đề, tâm quá khứ không thể nắm bắt, tâm hiện tại không thể nắm bắt, tâm vị lai không thể nắm bắt.

Liên Hoa Vĩnh Tán biết rằng Phật dạy ba tâm đều không thể nắm bắt, nhưng vậy chúng ta tu tâm nào? Tu tâm gì?
Sư Tôn cũng từng dạy: "Nên không trụ vào đâu mà sinh tâm."
Ông không hiểu, vậy đó lại là tâm gì?

Lại nữa, phần "Tịnh tâm hành thiện" thứ hai mươi ba:
Này Tu Bồ Đề, pháp này bình đẳng, không có cao thấp, đó gọi là Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác. Do không có ngã, không có nhân, không có chúng sinh, không có thọ giả mà tu tất cả thiện pháp, liền được Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác. Này Tu Bồ Đề, nói là thiện pháp đó, Như Lai dạy chính là không phải thiện pháp, nên gọi là thiện pháp.

Ông ấy vẫn mãi không hiểu được.
Ông ấy nghĩ đi nghĩ lại, suy đi tính lại, thật sự không hiểu "mật ý" của Như Lai nằm ở đâu.

Một đêm nọ, ông mơ thấy Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật nhập mộng, chỉ dạy cho ông "mật ý".
Một, ba tâm không thể nắm bắt, chính là ba tâm không thể nắm bắt. Đừng suy nghĩ quá nhiều, ba tâm không thể nắm bắt, hiểu được điều này, tức là minh tâm. Bởi vì không thể nắm bắt, nên mới gọi là minh tâm.
Hai, nên không trụ vào đâu mà sinh tâm, tâm này chính là vô tâm, cũng chính là "tâm không thể nắm bắt".
Ba, phần "Tịnh tâm hành thiện" thứ hai mươi ba trong Kinh Kim Cang có hai ý nghĩa:
Thứ nhất:
Pháp này bình đẳng, không có cao thấp, chính là Phật tính.
Thứ hai:
Nói là thiện pháp đó, Như Lai dạy chính là không phải thiện pháp, nên gọi là thiện pháp, đây chính là mật ý của "tịnh tâm hành thiện". Chú ý hai chữ "tịnh tâm".
Lấy "tâm vô sở đắc" mà làm tất cả thiện pháp, đó gọi là thiện pháp.
"Phi thiện pháp" chính là "tâm vô thiện pháp".

Trong mộng, tôi đã chỉ dạy từng điều rõ ràng minh bạch. Tuy nhiên, vẫn còn ẩn giấu đôi phần.
Đệ tử nói: "Bể trần mênh mông, quay đầu là bờ, quán chiếu tất cả là không, có phải đã khế hợp cơ duyên?"
Tôi đáp: "Phật giáo là tịnh tâm hành thiện, chứng ngộ Phật tính."
Đệ tử hỏi:
"Tâm có thể nắm bắt được chăng?"
Đáp: "Không thể nắm bắt, đó chính là minh tâm."

Đệ tử hỏi:
"Làm sao để tu?"
Tôi đáp: "Tất cả tu nghiệp, hãy lấy Phật tính soi chiếu."
Vị đệ tử Liên Hoa Vĩnh Tán này bỗng nhiên đại ngộ. Chỉ vì những lời tôi nói trong mộng mà ông ấy đã lĩnh ngộ được lời dạy "tìm tâm không thể được" của Nhị Tổ Huệ Khả thiền sư.
Bởi vì "tìm tâm không thể được" nên "an tâm đã xong".

Liên Hoa Vĩnh Tán nhờ tôi nói với ông ấy trong mộng rằng, pháp này bình đẳng không có cao thấp, tức là Phật tính, mà ông đã chứng ngộ được Phật tính. Ông hiểu được Phật tính nên hoàn toàn thấu hiểu "mật ý của Kinh Kim Cang.
Trong mộng, tôi nói với Liên Hoa Vĩnh Tán:
"Ông chính là thánh đệ tử vậy!"

Thành thật mà nói, muốn hiểu được "mật ý" thâm sâu của Đức Phật, chỉ có thể theo tôi - Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn mà thôi. Nếu không, những kẻ tà sư ngoại đạo hoàn toàn không hiểu được Phật Đà đang nói gì. Tôi, Lư Thắng Ngạn, không có gì đặc biệt, không có tài năng gì, cũng thật sự chẳng đáng giá một xu, nhưng tôi đích thực là hành giả đã minh tâm kiến tính.


### 04. Người mù hai mắt lại sáng


Có một người mù lòa được người thân đưa đến trước mặt tôi, người này đã bị mù sáu năm rồi.

Họ kể với tôi là đã đi gặp các danh y khắp nơi đều không thể chữa khỏi, một số là người thông linh và phương thuật Đông y, các loại phương pháp bí mật đều đã tìm đến, giờ đây chỉ còn cách đưa đến chỗ tôi.
Họ nói: 
"Nghe người ta nói Liên Sinh Hoạt Phật từng chữa khỏi không ít người mù, khiến cho những người mù này đã lại được nhìn thấy trời trăng sao, mong Lư Sư Tôn rộng lòng giúp đỡ."
Tôi nói: 
"Tôi không phải Chúa Jesus." (Jesus từng làm cho người mù sáng mắt.)
"Tuy không phải là Chúa Jesus nhưng cũng gần như thế.”

Tôi nói:
"Tôi có một lá phù là phù khai quang, vốn dĩ là dùng để khai quang tượng Phật, kết quả, dùng cho mục đích khác, cho người mù uống phù khai quang, có mấy người mù thật sự đã được khai quang, không ngờ mắt đã khỏi, đúng là lạ quá! Lạ quá!"
"Chúng tôi cũng thỉnh phù khai quang!"
Tôi vẽ mấy lá phù khai quang cho người mù mang về uống, một tuần lễ sau, họ lại đến. Họ nói: 
"Vô hiệu!"
"Đã vô hiệu thì vì sao quay lại tìm tôi?"
Họ nói: 
"Chúng tôi thật sự đã gặp người được ngài chữa khỏi, họ nói phải đi cầu Sư Tôn tiếp, Lư Thắng Ngạn có vạn pháp, không thể chỉ thử có một lần, còn có những cách khác nữa."

Tôi nói:
"Mấy người có lòng tin vào tôi không?"
"Đương nhiên."
"Vậy thì quy y Chân Phật Tông đi!"
Cả nhà họ bèn quỳ xuống xin quy y. Quy y Kim cương Thượng sư, quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng.
Thế là, tôi chỉ thị một pháp:
Sau khi trở về, quán tưởng mắt trái là mặt trời, mắt phải là mặt trăng, mặt trời phóng quang, mặt trăng phóng quang.

Dạy người mù niệm "Phật Thuyết Nhãn Minh Kinh":
"Lưỡng nhãn tự kim đăng. Xá lợi kim sơn tháp. Liên hoa mãn tọa hương. Thiên Thủ Thiên Nhãn Đồng Tử Vương. Lưỡng nhãn tự cựu diễm diễm quang. Văn Thù Bồ Tát kỵ sư tử. Phổ Hiền Bồ Tát kỵ tượng vương. Hộ La Na. Nhãn La Na. Nhãn trung ác huyết tận tiêu ma. Hữu nhân tụng đắc nhãn minh kinh. Sinh sinh thế thế nhãn quang minh. Mỗi nhật thanh thần tụng thất biến. Thắng qua vạn quyển kinh. Chư tôn Bồ Tát Ma Ha Tát. Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa. Ôm ha-ta-li-yê sô-ha."

Người mù đó nói: 
"Không đọc thuộc được, quá dài."
Tôi nói với người mù và người nhà:
"Phật Thuyết Nhãn Minh Kinh này đã là rất ngắn rồi, tốt nhất là người nhà đọc từng câu từng câu cho anh nghe, anh lại lặp lại từng câu một, chẳng bao lâu sẽ có thể thuộc được, vừa quán tưởng vừa tụng kinh vừa trì chú, chính là Mật pháp."
"Bao lâu mới sáng mắt lại?"
"Tín tâm kiên định, xem như tu pháp hàng ngày, tự sẽ có ngày lại nhìn thấy ánh sáng."
Họ tin tưởng và làm theo. 
Có người khác cười họ:
"Mắt đã mù không thể cứu chữa, niệm kinh trì chú có tác dụng sao?"
"Đừng mắc bẫy của Lư Thắng Ngạn."
"Chấp nhận số phận đi."

Đệ tử mù mắt đó không bị người khác ảnh hưởng, ngày ngày quán tưởng ánh sáng mặt trời, ánh sáng mặt trăng, niệm "Phật Thuyết Nhãn Minh Kinh" đã trở thành thói quen thường ngày.
Niệm được khoảng một năm rưỡi, đột nhiên có một ngày buổi sáng khi bước xuống giường thì nhìn thấy đôi giày ở dưới giường mình, ngay cả dây giày cũng nhìn rõ mồn một. Sau đó đưa tay ra nhìn mười ngón tay của mình, nhìn rõ từng ngón một. Đệ tử mù lòa kêu lên:
"Nhìn được rồi! Nhìn được rồi!"
Cả nhà vui sướng như điên, hàng xóm láng giếng ai cũng bảo rằng kỳ lạ, cảm nhận Phật pháp đúng là bất khả tư nghì.

Theo tôi được biết, ngoài phù khai quang, ngoài "Phật Thuyết Nhãn Minh Kinh" ra, cũng có người chỉ niệm bài kệ "vô cấu thanh tịnh quang, huệ nhật phá chư ám, năng phục tai phong hỏa, phổ minh chiếu thế gian". Bài kệ này đăng trong phẩm Phổ Môn của Kinh Pháp Hoa.

Người mù sáng mắt, quá kỳ diệu!


### 05. Mau đi tìm Lư Thắng Ngạn để quy y


Có một lần, khi tôi đang làm lễ quy y cho một nhóm người, có một cô gái trẻ bỗng nhiên khóc òa lên, khóc một hồi rồi lại cười, khiến mọi người đều ngơ ngác không hiểu.

Đến lượt cô ấy nhận quán đảnh, cô ấy đột nhiên hỏi:
"Thầy thật sự là Lư Thắng Ngạn phải không?"
"Đương nhiên rồi, đi đứng không đổi tên, ngồi nằm không đổi họ." - Tôi đáp.
"Vậy thì cuối cùng con đã quy y đúng người rồi!" - Cô ấy vui mừng nói.

Cô gái này kể cho chúng tôi nghe trải nghiệm của mình:
Từ nhỏ, cô đã mắc phải chứng đau đầu kỳ lạ, cơn đau này khiến cô vô cùng khổ sở, khi lên cơn đau dữ dội, mồ hôi lạnh toát ra, toàn thân run rẩy, thậm chí gần như ngất đi.
Gia đình đã đưa cô đi khám bác sĩ, uống thuốc, tiêm thuốc, nhưng vẫn không thể dứt được cơn đau.
Cô cũng đã đến bệnh viện lớn nhất để kiểm tra não, kết quả kiểm tra cho thấy mọi thứ đều bình thường, không có gì bất thường.
Cô thực sự không chịu nổi nữa. Cô cảm thấy cuộc sống quá đỗi khổ sở, có cảm giác đau đến mức không muốn sống nữa, thậm chí cô còn nghĩ đến việc tự kết liễu đời mình.

Đến năm 16 tuổi, cô mơ thấy một vị thần, vén tóc của cô ra và từ những lỗ nhỏ trên đầu, bắt ra từng con sâu đen nhỏ. Lúc đó, cô cảm thấy đầu mình giống như quả dứa, có những vòng tròn lồi lõm, lại còn có những lỗ đen nhỏ, và vị thần đã từ những lỗ đen đó bắt ra từng con sâu đen nhỏ.
Vị thần nói:
"Đêm nay chưa bắt hết, ngày mai ta sẽ trở lại!"

Quả nhiên đêm sau vị thần lại đến giúp cô bắt những con sâu đen nhỏ, cứ thế liên tục trong ba đêm.
Vị thần nói: "Đã bắt hết tất cả rồi, chứng đau đầu của con cũng đã khỏi hoàn toàn."

Trong mơ cô hỏi: "Con phải báo đáp ngài thế nào?"
Vị thần đáp: "Ta là Kim Sắc Khổng Tước Vương, một trong 28 bộ chúng của Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát. Hôm nay thấy con bị ác trùng quấy nhiễu nên đặc biệt đến cứu con. Con không cần phải báo đáp ta, chỉ cần đi quy y một vị sư phụ thù thắng nhất và theo người học Phật là được."
"Vị ấy tên gì?"
Kim Sắc Khổng Tước Vương đáp:
"Lư Thắng Ngạn. Mau đi tìm Lư Thắng Ngạn để quy y!"

Được chỉ dẫn trong mơ như vậy, quả nhiên chứng đau đầu của cô khỏi mà không cần thuốc men, thật là kỳ diệu. Đồng thời, cô làm theo chỉ dẫn, gặp ai cũng hỏi có biết vị sư phụ nào tên là Lư Thắng Ngạn không.

Cô chạy đến một ngôi chùa gần đó để hỏi.
Pháp sư nói: "Lư Thắng Ngạn gì chứ, quy y với tôi cũng như nhau thôi."
Cô không chịu.
Cô chạy đi hỏi một vị đại hòa thượng nổi tiếng nhất.
Đại hòa thượng nói:
"Đừng đi quy y với Lư Thắng Ngạn, ông ta là ngoại đạo mượn danh Phật giáo."
Cô hỏi đại hòa thượng: "Lư Thắng Ngạn ở đâu?"
"Không biết." - Đại hòa thượng đáp.
Một số tín đồ bên cạnh đại hòa thượng đều cười khẩy, có người còn nói: "Thầy chân chính không chịu quy y, lại cứ đòi theo người tà."

Nhưng cô không quan tâm người khác nói gì, bởi vì thần Kim Sắc Khổng Tước Vương đã cứu cô, và sư phụ của Kim Sắc Khổng Tước Vương chính là Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát, lẽ nào Kim Sắc Khổng Tước Vương không có mắt, Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát không có mắt.

Cô gái trẻ này, tình cờ đến hiệu sách, nhìn thấy những cuốn sách xuất bản từ thời kỳ đầu của tôi, đã tìm được nhà xuất bản phát hành sách của tôi. Thông qua sự sắp xếp của nhà xuất bản, cô đã tìm được tôi và chính thức quy y Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.

Cô ấy chính là Liên Hoa Nhất Cẩm.
Tôi nói với Liên Hoa Nhất Cẩm: "Những người được Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, Chư Thiên giới thiệu đến quy y thì ở đâu cũng có, nhưng được Kim Sắc Khổng Tước Vương giới thiệu thì con là người đầu tiên."

Tôi truyền thụ pháp niệm tụng Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm cho Liên Hoa Nhất Cẩm.


### 06. Người nghe thấy thiên nhạc


Khi tôi sống ở Cầu Vồng Sơn Trang, mỗi sáng thức dậy, trước tiên tôi đến Điện Kim Cang Minh Vương, tay phải cầm trống da người, tay trái cầm chuông kim cang, tụng chú kim cang, cúng dường Kim Cang Minh Vương.

Sau đó, tôi đến Đại Hùng Bảo Điện, đánh trống chuông vải, tụng niệm Tam Bảo chư tôn và tụng Chân Phật Kinh, Cao Vương Kinh.
Khi tôi đánh trống chuông vải, nhiều lần nghe thấy thiên nhạc từ xa đến gần, từ gần ra xa.
Tôi xin thành thật nói với mọi người:
Tôi nghe thấy Tứ Đại Thiên Vương đánh trống trời.
Có tiếng nhạc trời của kèn tù và từ trên không trung vọng xuống.
Tôi miêu tả thiên nhạc là một sức mạnh vô cùng vô cùng êm dịu, vô cùng vô cùng huyền diệu, thiên nhạc khiến tâm tôi dừng lại ở một, rồi lại hóa thành không, nhập vào cảnh giới định Tam ma địa.

Thiên nhạc ở Tây phương Cực Lạc thế giới có thể khiến người ta sinh khởi tâm niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng, có thể khiến người nghe được cực lạc.
Thiên nhạc mà tôi nghe thấy, bên trong chứa đầy pháp lực:
Lực cúng dường.
Lực tán thán.
Lực cầu nguyện.
Lực trì chú.
Lực Phật tính.
Khi tôi nghe thiên nhạc, không chỉ qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, mạt-na, mà còn thâm nhập vào a-lại-da. Không chỉ tác động đến tâm ý thức, mà còn khai mở cả thức thứ tám Như Lai tạng, bên trong chứa vô lượng vô biên, không thể diễn tả bằng hình tướng.

Khi tôi nghe thiên nhạc, liền khai mở Như Lai tạng (Như Lai thai), thấy được ba đời quá khứ, ba đời hiện tại, ba đời vị lai, những luật lệnh nhân duyên quả báo, tương tức tương nhập, tự tại vận hành.

Khi tôi nghe thiên nhạc, liền thấy được Phật tính, đó là bản giác, cũng là vô thượng biến giác viên mãn nhất, vô thủy vô chung, rạng ngời trong suốt, thường trụ vĩnh hằng, không hề biến đổi.

Tôi chỉ có thể dùng một bài Xoáy Sóng Tụng để miêu tả:

*Nếu người muốn biết lý chân không.
Chân như trong thân còn tỏa ngoài.
Hữu tình vô tình cùng một thể.
Nơi nơi đều là cảnh chân như.
Chỉ dùng một niệm quán pháp giới.
Tất cả các cảnh cùng hội về.
Trong một cảnh chứa mọi trí tuệ.
Trong trí tuệ chứa các pháp giới.
Một niệm chiếu khắp vô số kiếp.
Mỗi niệm mỗi kiếp thu tất cả.
Thời gian không gian lưới trùng trùng.
Trí tuệ thông suốt không ngăn ngại.*

Khi tôi nghe được thiên nhạc, liền chứng ngộ thức thứ tám Như Lai tạng. Xin đừng hiểu chữ "một" trong bài "Xoáy Sóng Tụng" như con số "một" thông thường, "một" ở đây là vô biên vô tận.
Xin đừng hiểu chữ "niệm" trong văn bản như ý thức suy nghĩ "niệm" của người thường.
Mà đó chính là cảnh giới "vô niệm" Tam ma địa.

Tại Tây phương Cực Lạc thế giới, tôi đã chứng ngộ Ma Ha Song Liên Trì. Tịnh thổ của tôi là thực tướng, còn Tây phương Cực Lạc thế giới là hóa hiện, sự huyền diệu trong đó, làm sao người đời hiểu được.

Tôi có thể chỉ dẫn một con đường sáng, giúp người đời vãng sinh Tây phương Cực Lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì, chín phẩm hoa sen sinh thượng phẩm, ngày hoa nở ra thấy Phật thân.

Có người hỏi tôi: "Có thật không?"
"Chân Phật."
Lại hỏi: "Ai bảo đảm?"
"Tôi" - Tôi đáp.
"Tôi là ai?"
"Phật tính không hai, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn."
Như tôi, người nghe được thiên nhạc và có thể phân tích các năng lực bên trong thiên nhạc, trên thế gian này không còn mấy người nữa. Nếu người đời không quy y với tôi, thử hỏi, tìm ai để quy y đây?


### 07. Trời long đất lở lúc nửa đêm


Có một đệ tử pháp hiệu Liên Hoa Khải Đạt, sống trong một biệt thự sang trọng ở lưng chừng núi. Ông là một doanh nhân, giám đốc điều hành một công ty, gia cảnh giàu có. Trong biệt thự có hồ bơi, rạp chiếu phim mini, phòng trưng bày, nội thất theo phong cách Châu Âu cao cấp, toàn bộ đồ đạc đều là hàng hiệu Versace.

Điều đáng quý là trong nhà ông có riêng một phòng thờ đàn thành, và bản thân ông hàng ngày đều dành thời gian tu tập pháp môn, hầu như không bao giờ gián đoạn.

Liên Hoa Khải Đạt có một gia đình hạnh phúc, một công ty ngày càng phát triển. Bản thân ông vừa tin Phật, vừa tu pháp, đối với công ích từ thiện, ông luôn đi đầu, không thua kém ai, cũng có danh tiếng là một nhà từ thiện.

Liên Hoa Khải Đạt thực hành:
*Trong tất cả các cõi hiện hữu
Phúc trí tu tập luôn vô lượng
Định huệ phương tiện và giải thoát
Đạt được kho công đức vô tận.*

Ông ấy cũng đã làm được:
*Với những tràng hoa thù thắng nhất
Âm nhạc hương thơm và lọng báu
Những vật trang nghiêm tối thượng ấy
Con dùng cúng dường các Như Lai.*

Tuy nhiên, Liên Hoa Khải Đạt cũng hiểu rằng, dù ông có đầy đủ mọi thứ, nhưng trong cuộc đời này, cũng khó tránh khỏi những tai họa và phúc lành bất ngờ. Vì vậy, ông thường đọc bài sám hối: "Con xưa đã tạo bao nghiệp ác, đều do vô thủy tham sân si, đều sinh ra từ thân khẩu ý, tất cả con nay xin sám hối."

Một đêm nọ, trong giấc mơ, ông thấy Sư Tôn Lư Thắng Ngạn đến báo: "Đêm mai sẽ có đại nạn xảy ra tại nhà ông, ông phải mau chóng lánh đi mới tránh được tai họa."

Trong mơ, Sư Tôn bỗng thay đổi nét mặt vui đùa thường ngày, rất nghiêm túc và trịnh trọng nói với Liên Hoa Khải Đạt.
Sau khi tỉnh dậy, ông rất băn khoăn, rõ ràng là Sư Tôn đã nhập mộng, giọng nói cũng là của Sư Tôn, không thể không suy nghĩ thận trọng.
Là động đất ư? Không thể nào, động đất sẽ ảnh hưởng toàn diện.
Là lũ lụt chăng? Không thể nào, nhà ở trên cao.
Là hỏa hoạn? Có thể lắm, nhưng chỉ cần cẩn thận với lửa nến là được.
Là bão tố? Không thể nào, chẳng có một chút gió nào.
Hay là tai nạn khác...?

Liên Hoa Khải Đạt trăm phương nghìn kế vẫn không hiểu được, đây là một sự báo mộng, rõ ràng chân thực, nhưng cũng không giống như một giấc mơ hỗn loạn. Đang lúc do dự không quyết.
Phu nhân của ông đến báo:
"Đêm qua em mơ thấy Sư phụ đến báo, nhà ta sẽ có một tai họa lớn, nên tránh đi mới thoát được nạn."

Liên Hoa Khải Đạt nghe xong giật mình kinh hãi, vợ chồng cùng mơ thấy một giấc mơ, không thể không tin. Thế là, cả nhà lớn bé thu dọn những vật dụng nhẹ nhàng, mang theo tất cả đồ quý giá, những thứ nặng nề không mang theo, lái xe rời khỏi nhà, đến ở tại một khách sạn lớn trong thành phố. Chỉ qua một đêm, nếu không có chuyện gì thì sẽ về nhà. Thà tin là có còn hơn tin là không, cứ yên lặng chờ xem thế sự.

Đêm hôm đó, thành phố vốn khô hạn đã lâu không mưa bỗng nhiên có mưa trút xuống như thác đổ, kèm theo sấm sét chớp giật. Cơn mưa kéo dài hơn bốn tiếng đồng hồ, không phải mưa phùn nhẹ hạt mà là mưa xối xả dữ dội, khiến nhiều nơi bị ngập úng.

Khu biệt thự sang trọng ở lưng chừng núi nơi Liên Hoa Khải Đạt sinh sống bị mưa lớn tấn công. Phía sau núi bỗng vang lên tiếng nứt vỡ kinh hoàng, đất đá sụt lở, tạo thành dòng lũ bùn đất khổng lồ, vùi lấp hoàn toàn sáu bảy căn biệt thự trong khu vực.

Ngày hôm sau.
Tin tức truyền hình đưa tin khu vực này bị lũ bùn nghiêm trọng, các biệt thự đều bị vùi lấp, số người thiệt mạng là 36 người, cảnh sát đã phong tỏa hiện trường, lực lượng cứu hộ đang tích cực giải cứu.
Tin tức truyền hình cho biết, có một gia đình rất may mắn thoát nạn vì cả nhà đi du lịch.
Liên Hoa Khải Đạt vô cùng biết ơn Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, lời cảnh báo trong mơ đã cứu sống cả gia đình họ.
Tuy nhiên, ông cảm thấy rất tiếc và day dứt về việc những người hàng xóm gặp nạn.
Liên Hoa Khải Đạt càng thêm kiên định niềm tin vào Sư Tôn, người có thể diệt trừ nỗi khổ sinh tử, tiêu trừ mọi độc hại, đây là một minh chứng rõ ràng nữa.


### 08. Thấy thần thấy quỷ thật rồi


Một hôm, có một người đàn ông trung niên đến gặp tôi.
Tôi hỏi: "Có việc gì không?"
Ông ta đáp: "Tôi không có việc gì, chỉ muốn gặp ngài, hy vọng sẽ được tâm phục khẩu phục mà thôi!"
Tôi không hỏi thêm nữa.
Ông ta trợn tròn mắt nhìn tôi chằm chằm, đưa mắt dò xét từ trên xuống dưới.

Tôi cầm bút, viết cho ông ta một bài kệ:
*Đường gặp miếu nhỏ vào lễ bái
Tiểu quỷ theo sau rón rén vào
Hôm nay thần cửa ngăn bên ngoài
Ý nghĩa rõ ràng ông hiểu chăng?*

Ông ta đọc xong, nói: "Tôi phục rồi, Lư Sư Tôn quả thật có thể thấy thần thấy quỷ, tôi xin quy y học Phật."
Người đàn ông trung niên này, thay đổi hẳn vẻ mặt bối rối, tâm phục khẩu phục, nhất định muốn bái tôi làm thầy, chỉ với một bài kệ đã khiến ông ta tâm phục khẩu phục.

Sự việc vốn là như thế này:
Người đàn ông trung niên là một bác sĩ nổi tiếng kiêm giáo sư đại học, ông ta hoàn toàn không tin vào thần quỷ, tự cho mình là một trí thức cao cấp, ông ta cho rằng "thấy thần thấy quỷ" có ba trường hợp:
Một, bị hysteria (tinh thần hoảng loạn).
Hai, tự thôi miên (tự kỷ ám thị).
Ba, ảo giác ảo thị (phản xạ thần kinh thị giác lên não bộ gây nhầm lẫn).

Vị giáo sư bác sĩ nghe người ta nói rằng tôi có thể thấy Phật Bồ Tát, thấy thần thấy quỷ, chữa bệnh bằng tâm linh, cứu người độ thế, liền khẳng định: "Yêu ngôn hoặc chúng!"

Bỗng nhiên ông nảy ra ý định muốn tìm hiểu cho ra lẽ. Trên đường đi, thấy một miếu nhỏ liền bước vào, đó là một ngôi miếu thờ thần dân gian bình thường. Ông ta mua hương đèn vàng mã rồi cầu khấn:
"Nếu quả thật có thần quỷ, hôm nay tôi đi gặp một người có khả năng thông linh tên Lư Thắng Ngạn, xin các vị thần quỷ hãy đi theo tôi. Nếu ông ta nhìn ra được, thì đúng là có thần quỷ thật. Còn nếu ông ta không nhìn ra được, thì chứng tỏ tất cả đều là giả dối, chỉ là lừa đời mà thôi, tôi nhất định sẽ vạch trần trò lừa bịp của ông ta."

Một vị giáo sư bác sĩ nổi tiếng không tin vào thần quỷ, vậy mà lại đến trước miếu thờ thần dân gian cầu khấn và xin xăm.
Kết quả xin xăm được ba quẻ linh, biểu thị đồng ý đi theo đến chỗ của Lư Thắng Ngạn.
Thế là vị giáo sư bác sĩ thật sự đến nhà tôi, tôi viết cho ông ta bài kệ trên, khiến ông ta há hốc mồm kinh ngạc.
Rồi xin được quy y.

Tôi nói với vị giáo sư bác sĩ:
Người bị rối loạn tinh thần (hysteria), do tinh thần không ổn định, suy nghĩ hỗn loạn, dưới tình trạng tinh thần cực độ suy nhược, không phân biệt được thực hư, quả thật sẽ rối loạn không rõ.
Còn về trạng thái tự kỷ ám thị hay tự thôi miên, dễ đánh mất ý thức bản thân, trong ý thức biến thành một người khác hoặc một vị thần khác, đây là hiện tượng "đồng cốt".
Ngoài ra những người bị bệnh tâm thần, tâm thần phân liệt, thường do ảo giác phản xạ từ não bộ, có ảo thị, ảo thanh, nhìn thấy ma quỷ thần thánh, nghi ngờ đủ điều, những trường hợp này đều có.

Tôi nói với vị giáo sư bác sĩ rằng, quy y Phật không phải để thấy thần thấy quỷ, mà là tu hành thanh tịnh, giữ gìn ý niệm thanh tịnh và hành vi thanh tịnh trong từng chi tiết cuộc sống thường ngày, học hỏi trí tuệ và tâm từ bi.

Quan trọng hơn nữa, chúng ta tu tập tam muội "chính định", trong định hợp nhất với tâm bồ đề, trong tam muội hiểu rõ tâm hành của mình, trong tam muội chứng ngộ Phật tính.

Tất cả những điều này, chúng ta không dối tâm, làm một bậc thánh hiền tăng, đạt được giác ngộ, đạt được sự giải thoát chân chính trong cuộc đời, đó mới chính là mục đích thực sự của việc học Phật.

"Vậy còn chuyện thấy thần thấy quỷ, chữa bệnh cứu đời?"
"Đó là phương tiện độ người." - Tôi nói: "Hôm nay, tôi dùng việc thấy thần thấy quỷ để độ ông vào cửa Phật, nếu không dùng cách này thì việc độ ông sẽ rất khó khăn, ông nói có đúng không?"
"Đúng vậy. Đúng vậy."

Tôi đặt pháp danh cho ông là Liên Hoa Tư Miên, ông vốn là một trí thức cao cấp kiên trì theo thuyết vô thần.


### 09. Chủ thần đến thông báo


Một lần nọ, tôi đến một ngôi miếu lớn, vị chủ thần của miếu này là Tổ sư Lữ Thuần Dương danh tiếng lừng lẫy, một trong Bát Tiên, thời trẻ tên là Lữ Thiệu Tiên.

Tôi biết lai lịch của Lữ Tổ: Lữ Thuần Dương vốn là Thánh Hoàng Đàm Thị giáng trần, làm vua cai trị thiên hạ trong 250 năm.
Sau khi thoái vị, ngài vào núi Thái Bạch, tu dưỡng chân tính đắc đạo.
Lữ Tổ chứng quả Thiên Quân, hầu cận Nguyên Thủy Thiên Tôn, cùng với Thập Cực Chân Nhân diễn thuyết bí quyết linh đan.

Lữ Tổ vâng lệnh, giáng sinh vào nhà họ Lữ ở Hà Nam vào ngày 14 tháng 4 năm Trinh Nguyên thứ 14 đời Đường Đức Tông. Sau đó gặp được Chung Ly Tổ sư - vị đứng đầu Bát Tiên, rồi phát dương rộng rãi huyền phong. [Huyền phong là một trường phái tư tưởng, chủ yếu bàn về mối quan hệ giữa tự nhiên và giáo lý chính thống.]

Tôi vừa bước vào miếu.
Chuông trống vang lên rộn rã, vị chủ sự là một vị trưởng lão cùng nhiều người ra đón tiếp.
Tôi nghĩ rằng có lẽ vị chủ sự đã biết mình, nên cũng tự nhiên để họ đưa vào phòng khách quý.
Lại được dâng trà thơm.
Lại được dâng hoa quả.
Lại được trao khăn sạch.

Vị trưởng lão chủ sự hỏi tôi:
"Xin hỏi tiên sinh họ gì?"
"Lư. Lư Thắng Ngạn." - Lúc này tôi mới biết vị trưởng lão chủ sự không hề biết tôi.
"Lư Thắng Ngạn? Có phải là Lư Thắng Ngạn viết sách không?"
"Vâng, đúng vậy."

Lúc này, tôi hơi ngượng ngùng hỏi:
"Trưởng lão không biết tôi, vậy mà lại đón tiếp trọng thể như vậy, có phải đã nhầm người không?"
Vị trưởng lão chủ sự nói:
"Tôi quả thật không biết ngài, nhưng cũng đã đọc sách của ngài, coi như là độc giả vậy!"
"Thế thì tại sao lại tiếp đãi long trọng như vậy?" - Tôi hơi không hiểu.
Trưởng lão nói: "Điều đó phải hỏi Tổ sư Lữ Đồng Tân thôi."

Vị trưởng lão kể chi tiết nguyên do:
Chủ thần của miếu Lữ Tổ đương nhiên là Tổ sư Lữ Đồng Tân, những điềm báo trong mộng của Lữ Tổ luôn linh nghiệm và chính xác.

Tối hôm qua, trưởng lão mộng thấy Lữ Tổ đến báo mộng, chỉ dạy rằng trưa mai cần phải "chuông trống vang lừng" để đón tiếp một vị khách quý. Lữ Tổ còn nói, vị khách này không phải là quan chức chính trị thông thường, cũng không phải là thương nhân giàu có, mà là một bậc chân nhân thượng phẩm, như Đại La Kim Tiên, các ông không được thất lễ. Người này, uyên thâm vạn pháp, không phải ta và ông có thể đo lường được.

Trưởng lão trong mộng nghe rất kĩ, liền hỏi:
"Vị này họ gì?"
"Lư." - Lữ Tổ đáp.
"Tại sao phải đón tiếp trọng thể như vậy?"
"Ta, Lữ Tổ, cần phải đền trả một đoạn nhân duyên với người này, các ông không cần biết."
(Trên đây là những gì Lữ Tổ thông báo trong giấc mộng của trưởng lão.)

Còn tôi, đúng vào giờ Ngọ, không sớm không muộn, vừa bước chân vào cổng miếu, liền được đưa vào phòng khách quý, thật là mù tịt không hiểu gì.
Đối phương chẳng hiểu mô tê gì. (Nghĩa là mơ hồ không rõ.)
Tôi cũng chẳng hiểu mô tê gì.

Trưởng lão nói:
"Lữ Tổ báo mộng nói rằng, ngài là bậc chân nhân thượng phẩm, Đại La Kim Tiên, thật là phi thường!"
"Xin đừng nói vậy, tôi chỉ là phàm phu." - Tôi đáp.
"Lữ Tổ nói ngài uyên thâm vạn pháp, kỳ diệu khó lường!"
"Tôi đâu có." - Tôi đáp.
"Tôi rất lấy làm lạ, ngài đã là bậc cao nhân hiếm có, sao lại có nhiều người phỉ báng ngài?" - Trưởng lão cũng biết tôi bị người đời vu khống.
Tôi đáp: "Tôi cũng không biết."

Trưởng lão lại hỏi: "Lữ Tổ nói rằng, ngài cần đền trả một đoạn nhân duyên với ngài, không biết có thể nói cho chúng tôi biết không, chúng tôi rất tò mò."
Tôi đáp: "Tôi thực sự không nhớ ra."

Tôi ở miếu Lữ Tổ, lễ bái một hồi, rồi được đãi một bữa tiệc thịnh soạn, sau đó đi dạo quanh khu vực phong cảnh gần đó, đến khoảng 4 giờ chiều mới rời đi.

Về việc Lữ Tổ muốn đền trả một đoạn nhân duyên với tôi, dặn dò trưởng lão chủ sự tiếp đãi tôi chu đáo, tôi suy nghĩ đi suy nghĩ lại không biết đó là nhân duyên gì, kiếp trước kiếp này. Về sau, cuối cùng tôi cũng nhớ ra, quả thật có đoạn nhân duyên này. Ha ha!
Kỳ diệu thay! Kỳ diệu thay!


### 10. Làm gì có sinh? Làm gì có tử?


Có một đệ tử họ Hà sinh được một bé trai, diện mạo rất đáng yêu, bế đến nhờ tôi đặt tên, anh ấy muốn tôi đặt một cái tên có ý nghĩa.

Tôi lấy bát tự của đứa bé, nhìn tướng mạo của nó, bấm đốt ngón tay tính toán, im lặng một lúc, rồi xem xét nhân quả của đứa bé, rõ ràng từng điều.
Tôi hỏi người đệ tử:
"Tôi đặt một cái tên, đệ tử đừng trách Sư Tôn nhé."
"Sư Tôn đặt tên, đương nhiên là con không trách rồi."
"Tốt, vậy thì gọi là Hà Hữu." [Hà Hữu nghĩa là làm gì có.]
"Hà Hữu, tên hay quá, tên hay quá."-  Người đệ tử rất vui mừng.

Đứa bé rất thông minh lanh lợi, hơn một tuổi đã biết gọi "ba ba ma ma", lại còn biết nói chuyện, hiểu ý người, mọi người đều rất thích Hà Hữu, ai cũng gọi Hữu.
Đứa bé cũng đáp lại: "Hữu" bằng giọng trong trẻo.
Người lớn trẻ con đều vui không tả xiết.
Đến khi bé được hai tuổi, bỗng nhiên bị cảm, biến chứng thành viêm phổi, cứu chữa không kịp, đã qua đời.

Vợ chồng họ đến tìm tôi:
"Sao Sư Tôn không nói sớm?"
Tôi im lặng không đáp.
"Sư Tôn là bậc thần toán số một, nói sớm thì chúng con đã có thể phòng ngừa!"
Hai vợ chồng khóc lóc thảm thiết trước mặt tôi, đau đớn tột cùng.
Tôi cũng buồn rầu, không biết nói gì.
"Có người trách Sư Tôn đặt tên không hay, cái gì mà Hà Hữu, Hà Hữu, Hà Hữu. Hà Hữu chẳng phải là không tồn tại được sao?"

Tôi viết tám chữ lên tờ giấy trắng:
"Làm gì có sinh? Làm gì có tử?"
"Nghĩa là sao?"
Tôi đáp: "Rồi sẽ biết!"

Khoảng hơn một năm sau, vợ chồng người đệ tử lại sinh được một bé trai, quả thật kỳ lạ.
Đứa bé này có khuôn mặt giống hệt với Hà Hữu, không khác một chút nào, rất khó phân biệt.
Điều kỳ lạ nhất là, Hà Hữu đã mất và đứa bé trai thứ hai này đều có vết chàm ở mông, lại còn ở cùng một vị trí, cùng một kích thước, khiến vợ chồng họ vơi bớt nỗi buồn, tin rằng Hà Hữu có thể đã đầu thai trở lại làm con của mình.

Họ nhớ lại tám chữ Sư Tôn đã viết:
"Làm gì có sinh? Làm gì có tử?" (Không có sinh, cũng không có tử.)
Càng thấy ý nghĩa phi thường.
Rồi bế đứa bé đến nhờ tôi đặt tên.
Tôi hỏi: "Các con có trách Sư Tôn không?"
"Không trách, không trách, Sư Tôn đã biết trước tất cả, nên mới đặt tên là Hà Hữu. Lại còn viết 'Làm gì có sinh? Làm gì có tử?' Quả thật là bậc thần toán số một, là bậc tiên tri."
Tôi mỉm cười:
"Lần này tôi đặt tên là Hà Hựu Sinh, được không?"
"Cái này..."
"Yên tâm, lần này là Hựu Sinh, sẽ không chết yểu đâu, Hà Hựu Sinh, Hà Hựu Sinh, nghĩ xem, sắp diệt thì lại sinh."
Vợ chồng họ bế đứa con trai thứ hai, vui mừng ra về.
Còn tôi, vẫn viết lên tờ giấy trắng tám chữ:
"Làm gì có sinh? Làm gì có tử?"

Một người như tôi, sinh tử đã sớm "như một", có thể nói đã thấu triệt sinh tử. Sinh cũng đáng mừng, tử cũng đáng mừng, từ lâu không còn yêu ghét, cũng không còn giữ bỏ, không nghĩ đến được mất, không nghĩ đến thành bại. Người như tôi, an nhàn tĩnh tại, hòa hợp thanh thoát, đạm bạc.
Đã đạt đến cảnh giới "Làm gì có sinh? Làm gì có tử?"
Thấy người sinh con, tôi nói: "Làm gì có sinh?"
Thấy người qua đời, tôi nói: "Làm gì có tử?"

Đây là tôi:
*Ba gian lều tranh từ xưa ở,
Một đạo thần quang vạn cảnh yên,
Chớ đem thị phi phân biệt tôi,
Chuyện đời dò xét chẳng liên quan.*

Khổng Phu Tử nói: "Không biết sống, làm sao biết chết."
Tôi nói: "Làm gì có sinh? Làm gì có tử?"


### 11. Xin sóng gió tránh xa


Tôi nhớ hồi còn nhỏ, đi tàu từ Cao Hùng đến Bành Hồ, nơi có họ hàng của tôi. Dì tôi lúc đó ở Bành Hồ, còn có cả họ hàng làm hãng buôn Trung Quốc, theo như tôi biết, ở Bành Hồ tôi có không ít người thân!

Trong ký ức tuổi thơ, có ba chiếc tàu khách chạy giữa Cao Hùng và Bành Hồ, đó là tàu Công Thịnh, tàu Công Ích và tàu Hằng Xuân, ba chiếc tàu này, lúc đó vẫn chưa có tàu Bành Hồ.
Người Bành Hồ có giọng nói riêng của người Bành Hồ:
"Mã Công" được gọi là "Mã Canh".
"Ngư" được gọi là "Hồ".
v.v...

Tại sao tôi có nhân duyên với Bành Hồ? Bởi vì ông nội tôi Lư Xương vốn là người làng Tiểu Kỳ Giác ở đảo Tây Bành Hồ, sau này mới chuyển đến Gia Nghĩa.

Ngoài ra, mẹ tôi Lư Ngọc Nữ cũng là người làng Tiểu Kỳ Giác ở Tây Tự, cậu tôi Hoàng Bính Sinh ở Cao Hùng cũng cưới vợ là người làng Tiểu Kỳ Giác ở Tây Tự, đó chính là duyên phận.
Hồi nhỏ, tôi từng ra bờ biển làng Tiểu Kỳ Giác ở Tây Tự bắt cá bằng lưới đấy!

Tôi đi tàu Công Thịnh đến Bành Hồ.
Hôm đó sóng gió rất lớn, con tàu lênh đênh giữa biển khơi, lắc lư dữ dội hơn cả nôi em bé.
Khoang tàu gỗ kêu cót két, ngay cả cột buồm cũng như sắp gãy.
Tất cả mọi người trong khoang tàu đều nôn ói.
Tôi nghe người ta nói:
"Sóng gió quá lớn thật!"
"Tàu nguy hiểm quá!"
"Có phải đã đi vào vùng kênh Bành Hồ không?"
(Kênh Bành Hồ, người dân địa phương đều biết, là nơi nguy hiểm nhất trên biển, một vực biển bí hiểm khó lường, nước chảy xiết nguy hiểm, đã có nhiều tàu bị chìm ở kênh Bành Hồ.)
Tôi nói với mọi người, tàu Công Thịnh, tàu Công Ích, tàu Hằng Xuân, cả ba chiếc tàu này, cuối cùng đều bị chìm ở kênh Bành Hồ, nơi đó thật đáng sợ.

Trong lúc mọi người trên tàu Công Thịnh đang hoảng sợ run rẩy, con tàu chao đảo dập dềnh lên xuống.
Tôi dù còn nhỏ tuổi, bỗng hét lớn:
"Xin sóng gió tránh xa!"
"Xin sóng gió tránh xa!"
"Xin sóng gió tránh xa!"
(Ba lần)

Sau khi tôi hét lên ba lần như vậy, sóng gió bỗng nhiên nhỏ dần, rồi dừng hẳn, tàu cũng trở nên êm ả.
Lúc này có tiếng nói vọng lại:
"Kỳ diệu quá! Kỳ diệu!"
"Kỳ diệu gì vậy?"
"Từ nhỏ đến giờ đi biển, chưa từng thấy chuyện này, quanh thân tàu một trượng, mặt biển hoàn toàn phẳng lặng, không sóng không gió, mà ngoài một trượng, sóng biển vẫn cuộn trào dữ dội không ngừng."
"Mọi người mau nhìn kìa!"
Rất nhiều người chạy ra ngoài khoang tàu để xem điều kỳ diệu.
Trong phạm vi một trượng, sóng yên gió lặng.
Ngoài một trượng, sóng dâng cao ngất.
"Chuyện gì đã xảy ra vậy?" - Tất cả mọi người đều ngơ ngác không hiểu.

Có người nói: "Con tàu này có thần linh phù hộ."
Có người nói: "Chính là Ma Tổ đến cứu con tàu này, chúng ta phải tạ ơn Ma Tổ."
Có người nói: "Chẳng lẽ tàu này chở người quý nhân, chư thiên đang bảo hộ quý nhân, nên tàu không thể chìm được."
Mọi người bàn tán xôn xao, không có kết luận.

Tôi không dám nói rằng tàu Công Thịnh hôm đó không bị chìm là nhờ công tôi hô ba tiếng, nhưng quả thật có thần linh phù hộ nên mới xuất hiện phép màu như vậy. Về sau khi tôi trưởng thành mới biết, ngay từ khi mới sinh ra, tôi đã được Phật Tổ ban cho luật lệnh.


### 12. Tìm kiếm Thượng Thực Long


Có một người họ Phương tên Tuấn, lúc còn trẻ bị tai nạn xe cộ, xương chân bị thương, tuy xương chân đã lành nhưng khớp xương vẫn luôn đau đớn, chữa thế nào cũng không khỏi, đau đến mức kêu trời.

Sau đó Phương Tuấn quy y cửa Phật, trong nhà thờ Bạch Y Quan Âm và thường xuyên trì tụng thần chú Bạch Y Đại Sĩ: 
"Nam mô đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn quảng đại linh cảm Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần)
Nam mô Phật.
Nam mô pháp.
Nam mô tăng.
Nam mô Cứu khổ cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát.
Tan-chi-tô, ôm, ka-la-fat-tô, ka-la-fat-tô, ka-hua-fat-tô, la-ka-fat-tô, la-ka-fa-tô, sô-ha.
Thiên La Thần. Địa La Thần. Nhân ly nạn. Nạn ly thân. Nhất thiết tai ương hóa vi trần.
Nam mô Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật."

Có một lần, khớp xương đau như muốn nứt ra, không thể đi lại, ngồi cũng đau, nằm cũng đau, chỉ có thể uống thuốc giảm đau mạnh, cơn đau mới giảm được đôi chút.

Phương Tuấn trì tụng thần chú Bạch Y, vào một buổi chiều mơ màng thiếp đi, trong mộng thấy một phụ nữ mặc áo trắng, giống hệt như Bạch Y Đại Sĩ, bảo với Phương Tuấn:
"Hãy tìm Thượng Thực Long mà ăn, khớp xương sẽ hết đau!" - Nói xong liền biến mất. 
Ông nghĩ trong lòng, đây chính là sự hiển linh từ bi của Bạch Y Đại Sĩ, bảo ông đi tìm Thượng Thực Long.

Trước đây vì bị đau khớp, ông đã từng đi khám Đông y, đã uống xuyên thất, tây hồng hoa, uy linh tiên, tử tô căn. Đã uống đương quy, thục địa, quế chi, ngưu thất. Đã uống hoàng kỳ, nhân sâm, phụ tử, khương hoạt, bạch thược, chế bán hạ, dâm dương hoắc, tỷ giải, đương quy, táo nhân, bạch truật, phục linh, chích thảo, nhục quế, phòng phong, tế tân, độc hoạt, xuyên khung.

Ông tìm đến tiệm thuốc Bắc hỏi:
"Tôi muốn mua Thượng Thực Long."
Tiệm thuốc Bắc trả lời:
"Không có Thượng Thực Long!"
"Vậy có loại Long nào?"
"Có Long Thổ Thảo." - Rồi nói: "Long Tu Thảo."
Lại nói: "Long Nhãn." Lại nói: "Long Cốt." Lại nói: "Thổ Long Phấn."
Ông biết rằng, những loại "Long" này đều không phải là Thượng Thực Long.

Ông đến Bảo tàng Khoa học tham quan triển lãm Khủng long, nhìn thấy những con khủng long nguyên thủy:
Thằn lằn bay.
Khủng long ăn thịt.
Khủng long cổ dài.
v.v... Nhưng không có Thượng Thực Long.

Ông tìm kiếm Thượng Thực Long trong nửa năm trời, hỏi khắp các thầy thuốc Đông y mà vẫn không tìm được, ông cảm thấy rất thất vọng, nghĩ rằng Bạch Y Đại Sĩ đã ra một đề khó, bảo ông đi tìm Thượng Thực Long, có lẽ đồng nghĩa với việc ông không còn hy vọng chữa khỏi bệnh nữa.
Tình cờ, ông đi ngang qua một tiệm bán thuốc nam, tiện miệng hỏi: "Có Thượng Thực Long không?"
Người bán thuốc nam trả lời: "Chưa từng nghe đến Thượng Thực Long!"
Khi ông định bỏ đi.
Người bán thuốc nam gọi ông lại: "Này ông, tôi biết có một người am hiểu về phù chú chữ Thượng, ông ấy tên là Lư Thắng Ngạn, ông ấy sử dụng phù chú chữ Thượng, còn trong đó có phù Thượng Thực Long hay không thì tôi không rõ."
Nghe xong, ông vô cùng ngạc nhiên, thì ra Thượng Thực Long là một loại phù chú.

Cuối cùng Phương Tuấn đã tìm được tôi.
Tôi nói:
"Có phù Thượng Thực Long, phù này linh nghiệm như thần, nhiều người đã thử nghiệm, chuyên trị đau xương, đau khớp."
Tôi vẽ cho ông ấy ba lá phù Thượng Thực Long, Phương Tuấn rất vui mừng, bởi vì phù này chính là sự kết hợp của ba chữ "Thượng Thực Long":


![image](/img/img_cf45472648c593e1f9d3d506698bb372.png)


"Thượng Thực Long"

Phương Tuấn đem ba lá phù về nhà, đốt ra tro, hòa với nước rồi uống vào.
Cơn đau khớp đã hành hạ ông nhiều năm bỗng tiêu tan hoàn toàn, thật không ngờ đã khỏi hẳn.
Phương Tuấn đến cảm ơn tôi. 
Tôi nói: "Hãy cảm ơn Bạch Y Đại Sĩ!"


### 13. Lòng từ bi của Diêu Trì Kim Mẫu 


Trong một lần nhập tam muội, tôi gặp Diêu Trì Kim Mẫu.
Diêu Trì Kim Mẫu nói:
"Liên Sinh, ngày mai sẽ có một thiện tín đến, con hãy tận tâm chữa bệnh cho người ấy."
"Bệnh gì ạ?"
"U."
"Vì sao thiện tín này lại bị u ạ?"
Kim Mẫu đáp: 
"Đời người khó tránh khỏi một niệm sai lầm."
"Vì sao Kim Mẫu lại quan tâm đến người này?"
"Người ấy mỗi ngày đều thành kính tụng 'Diêu Trì Kim Mẫu Dưỡng Chính Chân Kinh'."
"Con phải cứu người ấy bằng cách nào?"
"Phép ở trong tâm con."
Nói xong, Diêu Trì Kim Mẫu biến mất.

Ngày hôm sau. Quả nhiên có một quý bà bị u phổi đến, tôi hỏi bà:
"Có phải hàng ngày bà đều tụng Dưỡng Chính Chân Kinh phải không?"
Bà ấy giật mình:
"Lư Sư Tôn đúng là thần, thế mà biết được tôi hàng ngày tụng Dưỡng Chính Chân Kinh."
Tôi cũng không nói rõ. Tôi hỏi: "Bà làm nghề gì?"
"Mở điện Từ Huệ, điện thờ Diêu Trì Kim Mẫu."
"Trong đời bà có một lỗi lầm lớn, đó là lỗi gì?" - Tôi hỏi.
"Lư Sư Tôn đã hỏi, con cũng không giấu giếm. Con là mẹ kế, lòng dạ hẹp hòi, đã ép hai đứa con của vợ trước của chồng phải chết, khiến chúng nhảy lầu tự tử. Giờ đây con vô cùng hối hận. Nhờ ơn cứu độ của Diêu Trì Kim Mẫu, đọc Dưỡng Chính Chân Kinh, nay con đã nhận ra lỗi lầm, nên một lòng tu đạo, mong được sám hối tội lỗi."
Tôi nói:
"Đã biết sám hối, tôi sẽ hết sức cứu bà. Tôi vẽ cho bà ba lá phù hóa giải u bướu, về nhà hãy đốt rồi uống."

Tôi lại nói:
"Diêu Trì Kim Mẫu truyền cho tôi một phép, tôi đặc biệt dạy cho bà. Mỗi sáng sớm, lấy một bát nước trong, miệng đối với nước, hà hơi vào, niệm Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn ba lần. Quán tưởng u bướu ở phổi tan vào trong bát nước, sau đó đem đổ xuống dòng nước chảy ở con sông gần đó."
Tôi nói tiếp:
"Bắt đầu từ ngày Trừ đến ngày Thành. Sau đó bà hãy đi bệnh viện kiểm tra xem u ở phổi đã tiêu mất chưa. Phép này là phép cực kỳ bí mật, khi bệnh đã khỏi, hãy tự lo tu tỉnh."
Quý bà ấy vui vẻ ra về.

Khoảng hai tháng sau. Bà ấy đến chỗ tôi, chuẩn bị rất nhiều quà tặng và muốn bái tôi làm thầy.
Bà ấy nói: 
"Sau khi làm đúng theo pháp, hơn một tháng sau đi kiểm tra, không ngờ u đã biến mất. Gương mặt bệnh tật của con giờ đã đầy đặn trở lại, thần sắc như xưa, bây giờ mọi thứ đã bình thường rồi, vô cùng cảm ơn thầy."
Tôi nói:
"Không phải công của tôi, mà là của Diêu Trì Kim Mẫu."
"Tuy là nhờ Diêu Trì Kim Mẫu, nhưng cũng phải thông qua tay thầy! Con nhất định phải bái thầy làm sư phụ."

Thấy bà ấy kiên quyết muốn bái sư, tôi đã thuận theo nguyện vọng của bà, làm lễ quán đảnh quy y, dạy bà pháp gia hành và pháp Bổn tôn.

U phổi của vị nữ sĩ này vốn đã ở giai đoạn cuối, có thể nói cả bác sĩ lẫn thần tiên đều khó cứu được, đây cũng là do oán khí của hai người con của vợ trước kết tụ thành. May mắn là vị nữ sĩ tin tưởng Diêu Trì Kim Mẫu, miệng tụng Dưỡng Chính Chân Kinh không ngừng nghỉ ngày đêm, sám hối lỗi lầm, chân thành bước vào con đường tu đạo, nhờ vậy mới khiến Diêu Trì Kim Mẫu động lòng từ bi, dùng pháp đặc biệt bí mật để cứu vị nữ sĩ này.

Tôi cảm thấy, chuyện nhân quả rõ ràng không sai, người tu hành phải thận trọng. Tôi thấy có người miệng nói tu hành, nhưng mục đích chỉ là "hút vàng", thật là sai lầm lớn. Sau này gánh nghiệp quả, không thể trách Phật Bồ Tát không từ bi. Đệ tử Phật, hãy cẩn thận! Hãy cẩn thận!

Pháp danh của vị nữ sĩ này là Liên Hoa Huệ Phương.


### 14. Bí mật của những chấm tròn


Thông thường chúng ta thấy trên tay các đệ tử học Mật tông có một máy đếm, khi họ thực hành gia hành, họ dùng nó để đếm số lần trì chú. Bởi vì Mật tông có thành tựu trì minh.
Tâm chú của Thượng sư, một triệu lần, hoặc nhiều hơn.
Chú của Bổn tôn, một triệu lần, hoặc nhiều hơn.
Chú của Hộ pháp, một triệu lần, hoặc nhiều hơn.
Ngoài tam căn bản ra, rất nhiều chú ngữ của chư tôn có duyên đều phải tụng trên một triệu lần.
Máy đếm chính là dùng để đếm số lần trì chú.

Ngoài ra, chúng ta cũng thường thấy ở nơi phát hành kinh sách, những cuốn phổ biến như Bạch Y Thần Chú, Cao Vương Kinh, Quan Âm Kinh, Vãng Sinh Thần Chú, Tôn Thắng Chú, Lăng Nghiêm Chú và nhiều kinh chú khác, ở trang cuối có một tờ giấy trắng in nhiều vòng tròn nhỏ. Đây cũng là những vòng tròn dùng để đếm số.
Thông thường khi tụng chú, tụng kinh, mỗi khi đủ một số lần định trước, người ta sẽ dùng bút đỏ đánh dấu một chấm vào trong vòng tròn.

Khi tất cả các vòng tròn đã được đánh dấu đầy đủ, có thể:
Gửi cho sư phụ của mình để báo cáo đã hoàn thành công khóa.
Đốt trong không trung, hồi hướng vãng sinh tịnh thổ.
Rải tro xuống dòng nước chảy, hồi hướng độ hóa các loài thủy tộc.
Đốt trước đàn thành, cầu nguyện ước nguyện thành tựu.
v.v...

Tôi có một đệ tử tên là Liên Hoa Khiết Như, anh ấy vốn bị khổ sở vì ác mộng, theo thuật ngữ y học hiện đại thì đó là chất lượng giấc ngủ không tốt. Không chỉ vậy, anh ấy thường xuyên bị ác mộng làm tỉnh giấc giữa đêm, toát mồ hôi đầm đìa, la hét đau đớn, và thường xuyên mất ngủ vì ác mộng.
Bị rắn cắn.
Bị ác quỷ đuổi theo.
Bị giết chết.
Bị chặt tay chân.
Giấc mơ của Liên Hoa Khiết Như toàn là ác mộng, mộng dữ, mộng tà, nhiều không kể xiết.

Vì vậy, anh ấy đã tụng Cao Vương Quan Thế Âm Kinh một nghìn biến, cứ tụng xong mười biến lại dùng bút đỏ đánh một chấm vào vòng tròn, tổng cộng đánh dấu một trăm vòng tròn, tức là một nghìn biến.
Anh ấy tin vào lời trong Cao Vương Kinh:
*Diệt được khổ sinh tử.
Tiêu trừ mọi độc hại.
Tụng tròn một nghìn biến, tội nặng đều tiêu diệt.*

Liên Hoa Khiết Như đã tụng đủ một nghìn biến, một trăm vòng tròn đã được đánh dấu bằng chấm đỏ, nhưng anh ấy không biết phải xử lý trang giấy có những vòng tròn và chấm đỏ này như thế nào, cũng không biết phải hồi hướng ra sao.

Đúng lúc đang phân vân, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn xuất hiện trong mộng.
Sư Tôn hỏi: 
"Con có điều gì thắc mắc?"
"Con đã tụng Cao Vương Kinh một nghìn biến, nhưng không biết xử lý tờ giấy đánh dấu này như thế nào?"
"Con cầu nguyện điều gì?"
"Con muốn thoát khỏi ác mộng, ngủ được ngon giấc."

Trong mộng, tôi chỉ dẫn cho Liên Hoa Khiết Như:
"Hãy gấp tờ giấy đánh dấu thành hình bát quái, để trống ở giữa, gấp các cạnh từng lớp một. Nếu không biết gấp, thì gấp vuông vắn cũng được, rồi đặt vào trong gối của mình."
"Gối đã bẩn."
"Mua gối mới cũng được, hoặc giặt sạch cũng được."

Thế là Liên Hoa Khiết Như làm theo chỉ dẫn của tôi, mua gối mới và đặt tờ giấy đánh dấu vào trong gối mới. Từ đó về sau, ác mộng không còn xuất hiện nữa, giấc ngủ ngon lành, chất lượng giấc ngủ được cải thiện, và cũng không còn mất ngủ.

Nếu có mơ thì mơ thấy Quan Âm, mơ thấy tịnh thổ, mơ thấy mình trang nghiêm cao quý, mơ thấy mình cưỡi mây bay lượn, mơ thấy mình ở trong cung điện vàng bạc, mơ thấy mình niệm Phật trì chú.
Trước đây hễ ngủ là rất sợ hãi, bây giờ rất hạnh phúc.
Tụng Cao Vương Kinh một nghìn biến, hiệu quả rất lớn.


### 15. Tượng người gỗ nhỏ


Ngày xưa, có một thương gia trung niên, mặc bộ vest chỉnh tề đến thăm tôi.
"Nghe nói, thầy đã từng khiến một người ngồi xe lăn đứng dậy, và người đó đã đứng lên được, từ đó người bị liệt này đã có thể đi lại bình thường."
"Đúng vậy." - Tôi nói.
"Rốt cuộc chuyện này là thế nào?"
Tôi nói:
"Đó là trong pháp hội Hộ Ma chữa bệnh của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ tại sân vận động lớn ở Hồng Kông, trong buổi lễ tôi rảy nước tịnh quán đảnh, khi nước tịnh rảy lên người đứa trẻ ngồi xe lăn đó, em bé liền đứng dậy và đi lại bình thường. Mọi người xung quanh đều hô to kỳ tích, kỳ tích, bởi vì hàng xóm của em bé đều biết em đã phải ngồi xe lăn nhiều năm rồi, cả xóm đều kinh ngạc."

"Đây có phải là thần thông không?"
Tôi nói: "Trên thế gian này, quả thật có những năng lực không thể đo lường và không chướng ngại. Đây là điều bất khả tư nghì, trong Phật giáo có phân biệt ngũ thông, lục thông, thập thông, và sức mạnh có phân biệt lớn, nhỏ, vô ngại."
Vị thương gia giàu có cầu xin tôi:
"Vợ tôi bị liệt đã nhiều năm, xin thầy có thể cứu giúp được không?"
"Việc này..." - Tôi không dám nhận lời ngay.

Vị thương gia nói:
"Tôi phát tâm chí thành, nguyện cả nhà quy y Phật môn, tận lực cứu giúp người nghèo khó, tôi nguyện in kinh sách thiện, phổ biến cho đại chúng, tôi phát tâm tu hành, thành kính tha thiết, không sát sinh, còn phát tâm phóng sinh, tôi cũng phát nguyện thực tu Mật pháp.

Tôi xem xét một chút, biết người này phát tâm chí thành, lại thỉnh ý Diêu Trì Kim Mẫu, Diêu Trì Kim Mẫu đã gật đầu. Tôi lấy một tượng gỗ nhỏ, viết tên và bát tự của người bị liệt lên đó, tôi tụng chú Đại Bi, trì chú 21 biến, dùng ngón tay kim cang bên phải, viết chữ Hum lên tượng gỗ nhỏ."

Pháp này chữa được tám vạn bốn nghìn chứng bệnh trong thế gian, Quan Thế Âm sắc lệnh tất cả thiện thần, Kim Cang Mật Tích, thường xuyên hộ vệ.
Đến ngày thứ 21. Có một luồng khí đen từ tượng gỗ nhỏ thoát ra, tôi nói, có hiệu quả rồi, có hiệu quả rồi!

Nhưng sau khi luồng khí đen thoát ra, nó lại quay trở lại muốn chui vào tượng gỗ nhỏ, tôi nhìn thấy vậy rất kinh hãi.
Vội vàng làm kết giới trên tượng gỗ nhỏ.
Lại dùng pháp, trói luồng khí đen vào một cái cây.

Kết quả xảy ra hai việc:
Thứ nhất, vợ của vị thương gia dần dần cảm thấy chân có lực, ăn uống tốt hơn, chứng liệt cũng dần dần khỏi, có thể đứng dậy khỏi xe lăn, và sau khi phục hồi chức năng, đã hồi phục hoàn toàn.
Thứ hai, luồng khí đen bị dây pháp trói vào một cái cây, cây đó lá héo, cành rụng, rễ tàn, chẳng bao lâu sau, cây đó chết hẳn, một cây to đã bị hủy hoại.

Tôi dùng pháp này hoàn toàn dựa vào pháp thế thân.
1. Dùng tượng gỗ nhỏ thay thế cho vợ thương gia.
2. Dùng sức mạnh chú Đại Bi để xua đuổi nghiệp chướng của vợ thương gia.
3. Trói nghiệp chướng vào cây to.
4. Cây to chết thay cho vợ thương gia.
Pháp này đã thành công.

Vị thương gia giữ đúng lời thề, cả nhà quy y Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, nghiêm túc tu tập Chân Phật Mật Pháp, đồng thời ấn tống kinh sách, làm việc cứu giúp người nghèo khó, xây dựng chùa chiền, điêu khắc tượng Phật, đều bỏ tiền bỏ công sức.
Vị thương gia còn đi khắp nơi truyền bá sức mạnh thần thông của tôi.

Ông giới thiệu rất nhiều bệnh nhân bị liệt đến tìm tôi, tuy nhiên tôi biết rằng, nghiệp của bệnh nhân bị liệt thuộc về một trong những nghiệp chướng sâu nặng. Việc cứu chữa họ tốn rất nhiều thời gian và tinh thần, không phải sức lực của một mình tôi có thể gánh vác nổi.
Vì thế, tôi đã chuyển nhà khắp nơi.

Tôi cảm thán:
*Nhân gian ganh ghét nhiều lắm thay
Chi bằng phiêu diêu lánh trần thế
Phiền não thị phi tránh gặp phải
Khói nhạt mưa bay chẳng thấy lạnh.*


### 16. Ghi chép trải nghiệm hấp hối


Liên Hoa Hoài Tiên là một nhân vật trong giới quan trường, trong một pháp hội lớn được mời tham dự, cũng đã thọ nhận quy y quán đảnh, được xem là một đệ tử ghi danh. Đệ tử ghi danh nghĩa là chỉ ghi danh mà thôi chứ không thật sự tu tập theo pháp.

Liên Hoa Hoài Tiên trong một lần dịch bệnh bùng phát, bị lây nhiễm, đột nhiên ngất đi.
Sau đây là trải nghiệm của ông:
Ông lặng lẽ bước đi một mình trên con đường tăm tối, trong cơn mê man bỗng đến trước một tòa thành lớn.
Ông được dẫn đến trước mặt một vị giống như đế vương, vị vua này rất uy nghiêm, giống như người đời thường gọi là Diêm La Vương.

Vị vua hỏi: "Ngươi có tín ngưỡng gì không?"
"Không."
"Ngươi có làm điều thiện gì không?"
"Không."
"Tâm địa ngươi thế nào?"
"Bình thường."

Vị vua xem xét nghiệp báo của ông ta, quả nhiên thấy thành tích công việc bình thường, Liên Hoa Hoài Tiên tuân theo ba nguyên tắc:
Không làm -- Không làm thì không sai. Làm nhiều sai nhiều, làm ít sai ít, không làm không sai.
Không nói -- Không nói nhiều thì không nói sai.
Không nghe -- Không nghe ý kiến người khác, chỉ làm theo công văn, sẽ không bao giờ sai.
(Nên thành tích công việc bình thường.)

Nhưng là người trong quan trường, việc nịnh bợ cấp trên vẫn thường có, nên bản thân ông ta tuy không có thiện hạnh nhưng lại có nghiệp chướng, đặc biệt là rất mê cờ bạc.
Vị vua phán: "Hạng người này vô dụng, hãy để hắn xuống địa ngục tiêu nghiệp đi!" 
Quỷ sứ liền lôi ông ta, định đẩy vào địa ngục.
Ông ta kêu lớn: "Sư phụ cứu mạng! Sư phụ cứu mạng!"

Ngay lúc đó, trong cơn mê man bỗng thấy Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn hiện ra trước mắt.
Sư phụ hỏi: "Ông có tụng tâm chú Thượng sư không?"
"Không biết."
Sư phụ hỏi: "Ông có tụng Cao Vương Kinh không?"
"Chưa từng."
Sư phụ hỏi: "Ông đã tu một đàn pháp nào chưa?"
"Không có."
Sư phụ hỏi: "Ông đã từng cúng dường sư phụ chưa?"
"Cũng chưa."
Sư phụ hỏi: "Ông đã từng lễ bái Tam Bảo chưa?"
"Chưa cúng dường."
Sư phụ hỏi: "Ông đã từng tụng chú Tứ quy y chưa?"
"Không."
Sư phụ hỏi: "Ông có phát tâm làm việc thiện không?"
Ông ta ấp úng nói: "Thực ra tôi chưa làm. Nhưng có nghĩ đến việc bỏ chút tiền ra in ấn kinh sách thiện."
Sư phụ hỏi: "Ông biết những kinh sách thiện nào?"
Ông ta đáp:
"Tôi biết có 'Cảm Ứng Thiên', 'Âm Chất Văn', 'Cao Vương Kinh', 'Đại Bi Chú' v.v..."

Vừa nói xong thì từ thân thể Liên Hoa Hoài Tiên liền tỏa ra chút ánh sáng.
Sư phụ nói với vị vua:
"Đệ tử ghi danh này đã từng phát tâm in kinh sách thiện, cứ dựa vào việc y đã phát tâm, hãy cho y được hoàn dương, in kinh sách thiện để bù đắp lỗi lầm."
Vị vua nói: "May mà có sư phụ đến, nếu không thì đã vào địa ngục rồi! Cho y hoàn dương in kinh sách thiện là việc rất tốt."

Liên Hoa Hoài Tiên hấp hối hai ngày rồi tỉnh lại, bệnh đã khỏi, người cũng khỏe mạnh. Nhưng ông nhớ rất rõ từng trải nghiệm lúc hấp hối.
Sau khi tỉnh lại, ông hoàn toàn hối cải:
Tận tâm tận lực với công việc, chỉ cần có lợi cho dân thì ông đều làm.
In ấn kinh sách thiện phổ biến khắp nơi.
Lập đàn thành, lễ bái, cúng dường, tu pháp.
Cứu giúp người nghèo khó.
Giữ năm giới mười thiện.
Có người hỏi ông vì sao làm như vậy? Vì sao thay đổi?
Ông đáp: "Để tránh được ba đường ác!" (địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh)


### 17. Nhìn thấy dưới chân có hoa sen


Liên Hoa Học Quân là đệ tử quy y tôi. Kể từ sau khi quy y, ông ấy đã thích đọc tụng Chân Phật Kinh (Chân Thực Phật Pháp Tiêu Tai Ban Phúc Kinh). Ông ấy cho rằng hạnh phúc của đời người chính là không có tai nạn, bình an yên ổn chính là hạnh phúc lớn nhất, vì thế, ông ấy đặc biệt thích Chân Phật Kinh.

Mỗi ngày ông ấy đều đọc, buổi sáng một biến, buổi trưa một biến, buổi tối một biến, không giới hạn vào ngày 18 âm lịch hàng tháng, có nghĩa là mỗi ngày ông đọc 3 lần, một tháng đọc 90 lần, một năm sẽ đọc được trên 1000 lần. 

Sau khi ông ấy đọc đủ 3 năm, có một hôm, không ngờ lúc mở cuốn Chân Phật Kinh ra, ông ấy mơ hồ nhìn thấy trong kinh văn xuất hiện hoa sen, xuất hiện khoảng 3 giây, sau đó thì biến mất.

Kể từ khi ông ấy nhìn thấy trong kinh văn có hoa sen xuất hiện, ban đầu ông cho rằng mình bị hoa mắt nên không lưu tâm, nhưng về sau, số lần nhìn thấy hoa sen càng ngày càng nhiều, mỗi lần xuất hiện 3 giây, sau 3 giây thì hai mắt lại trở lại như ban đầu, kinh văn là kinh văn, không có hoa sen. Mới đầu ông cho rằng mình niệm kinh có vấn đề, bị tẩu hỏa nhập ma rồi, cảm thấy rất sợ, nhưng ngoài việc nhìn thấy hoa sen trong 3 giây ra, tất cả những việc sinh hoạt thường ngày đều bình thường, lâu dần ông ấy không sợ nữa.

Có một lần.
Ông ấy tham gia tang lễ của một vị bề trên, không ngờ nhìn thấy dưới chân của vị bề trên đó có một đóa hoa sen, có nghĩa là vị bề trên này vãng sinh đến Tây phương Cực Lạc thế giới. Sau đó ông ấy hỏi thăm thì biết vị bề trên này rất kiền thành tin Phật, niệm Phật không ngừng nghỉ, thận trọng lời nói hành động, tinh tấn bố thí, từ bi hỷ xả.
(Sau khi hỏa táng có được vô số xá lợi.)

Lại có một lần.
Một vị bề trên khác qua đời, ông ấy đi tham gia tang lễ, nhưng không nhìn thấy dưới chân có hoa sen. Thì ra vị bề trên này mê rượu háo sắc, không hề có tín ngưỡng, nghề nghiệp cũng bất chính, là hành nghề kinh doanh sắc tình, từng vì nợ nần mà đánh người ta bị thương, là đại ca xã hội đen ở địa phương. 
(Sau khi hỏa táng xong chẳng có được gì.)

Sau đó, ông ấy không chỉ mỗi nhìn thấy người đã chết có hay không có hoa sen dưới chân, mà nhìn người sống cũng thấy dưới chân họ có hay không có hoa sen. Ông ấy thọ trì Chân Phật Kinh không ngờ có thể nhìn thấy được dưới chân người ta có hay không có hoa sen.

Liên Hoa Học Quân tụng Chân Phật Kinh có được sự việc kỳ dị như vậy, nhưng không dám nói với người khác, ông ấy biết chỉ cần nói với người khác thì người khác sẽ cho rằng việc ông ấy nhìn thấy là:
1. Bị hoa mắt.
2. Tẩu hỏa nhập ma.
3. Bị điên.
4. Lừa đảo.

Nhưng mà ông ấy thật sự nhìn thấy. Ông ấy đi đến phân đường đồng tu, nhìn thấy dưới chân đồng môn, có người có hoa sen rất rõ ràng, có người có hoa sen mờ mờ, có người có hoa sen nhiều biến hóa, màu sắc không giống nhau, có người căn bản là không có hoa sen.

Ông ấy cũng nhìn thấy các Thượng sư hoằng pháp cũng có các tình huống tương tự, có người có hoa sen, có người căn bản không có. Tuy nhiên, ông ấy luôn nhớ lời giáo huấn của Sư Tôn, "tức phàm tức thánh" là rất khó ước đoán, nên ông ấy cũng không dám coi thường Thượng sư không có hoa sen.

Cuối cùng, Liên Hoa Học Quân đã đến gặp Sư Tôn, nói với tôi, ông ấy đọc Chân Phật Kinh không ngờ lại nhìn thấy dưới chân mỗi người có hay không có hoa sen. 
Tôi nói: "Ông nhìn dưới chân Sư Tôn xem."
Ông ấy nhìn thì kinh hãi:
"Dưới chân Sư Tôn không có ư?"
Tôi nói:
"Ông nhìn lại xem."
Ông ấy lại nhìn, nói:
"A! Có rồi, có rồi. Là hoa sen trắng to như bánh xe, hơn nữa không chỉ một bông, xung quanh hoa sen trắng còn có vô số các hoa sen nhỏ nhiều màu sắc nữa. Đúng là đẹp lộng lẫy dị thường."
Ông ấy hỏi tôi: "Hoa sen nhỏ có tác dụng gì?"
Tôi nói: "Dùng để chở khách."
Ông ấy lại hỏi tôi: "Vì sao Sư Tôn có thể thoắt ẩn thoắt hiện?"
Tôi đáp: "Vừa phàm vừa thánh."
Tôi nói với Liên Hoa Học Quân: "Thập phương vô lượng bất khả tư nghì các thế giới, đều là duy tâm duy thức hóa hiện ra. Chân Phật Mật Pháp cao như núi, sâu như biển, là Phật tính bất khả tư nghì."


### 18. Tóc có thể mọc dài ra


Tôi cùng Hứa X đến một tiệm làm tóc. Tôi cạo đầu trọc, còn Hứa X cắt đầu vuông.
Đầu trọc thì dễ cắt, chỉ cần cạo sạch là xong. Đầu vuông thì cần kỹ thuật hơn, để lại một ít tóc, phẳng như đường băng sân bay, cắt cho thật gọn gàng ngay ngắn, phải nhờ vào công phu kéo.
Đang cắt tóc, tôi hỏi cô thợ: 
"Tóc có thể mọc dài ra không?"
"Dĩ nhiên là được."
"À, tôi nói sai rồi. Ý tôi là tóc đã cắt xuống, có thể mọc dài ra nữa không?"
Cô thợ lắng nghe kĩ mới hiểu tôi đang hỏi là tóc đã cắt xuống, đã cắt rời ra có thể mọc dài ra nữa không?
Cô ấy đáp: 
"Dĩ nhiên là không."
Bà chủ tiệm làm tóc nói: "Tôi mở tiệm làm tóc từ khi còn trẻ đến giờ, mỗi ngày quét tóc rụng, chưa từng nghe nói tóc đã cắt xuống có thể mọc dài ra được."

Tôi và Hứa X nhìn nhau mỉm cười.
Cô thợ làm tóc nói: "Nếu tóc đã cắt xuống mà có thể mọc dài ra thì đúng là chuyện ma quái rồi."
"Tóc mà mọc dài ra kiểu đó thì ghê rợn lắm!" - Một cô gái nói.
"Chắc xem phim nhiều quá!"
Chúng tôi không nói gì thêm.

Theo như tôi biết, xá lợi tử của Đức Phật quả thật là một điều kỳ lạ, có thể xuất hiện và biến mất một cách tự nhiên; có thể từ xá lợi nhỏ biến thành xá lợi lớn, và từ xá lợi lớn lại sinh ra vô số xá lợi nhỏ. Nhiều người cúng dường xá lợi Phật, ban đầu chỉ có vài viên, sau đó sinh sôi đầy nhà đầy phòng, tặng người khác mãi không hết.
Sinh rồi lại sinh.
Tăng rồi lại tăng.
(Người có tâm thành, Phật có cảm ứng.)

Nói thêm, tóc của tôi cũng vậy, có người lấy tóc đã cắt của tôi, chỉ là vài sợi ngắn ngủn, gần như không thể nhìn thấy.
Họ mang về làm kỷ niệm, cúng dường, như một vật tượng trưng tâm linh, rồi tu theo pháp kim cang mọc tóc của Căn bản Thượng sư.
Một thời gian sau, bất ngờ thấy tóc trong tháp xá lợi đã chật kín, thậm chí còn tràn ra ngoài tháp.
Vài sợi biến thành một búi lớn.
Vừa dài vừa nhiều vừa đen, dày đặc ken dày.
(Tóc đã cắt có thể mọc dài ra.)

Tôi tận mắt chứng kiến, Thượng sư Liên Doanh của Diệu Hành Đường đã lấy cho tôi xem những sợi tóc đã mọc dài ra.
Ngay cả bản thân tôi cũng giật mình kinh ngạc, không hiểu sao lại có thể sinh ra nhiều đến thế.
Liên Hoa Mỹ Điêu của Liên Nghiêm Đường ở Mỹ, cô ấy cúng dường xá lợi tóc, cũng mọc ra rất nhiều, không những đủ để tự mình cúng dường mà còn có thể đem những xá lợi tóc dư ra tặng cho người khác cúng dường.
Xá lợi tóc của tôi sau khi cắt xuống đã có ở nhiều nơi, cứ tăng lên, cứ mọc dài ra, một thời gian đã gây xôn xao dữ dội.

Thông thường mà nói, tóc một khi đã cắt xuống, không còn được cung cấp chất dinh dưỡng, chắc chắn phải ngừng phát triển.
Vậy mà vẫn tăng lên, vẫn mọc dài ra, thật là không thể nghĩ bàn.

Tôi có một đệ tử tên Liên Hoa Hạnh Linh, anh ấy mắc chứng rụng tóc, trán hoàn toàn bị hói. Trên đỉnh đầu hai bên, chỉ còn sót lại vài sợi tóc lơ thơ, người ta gọi là ba sợi tóc, có lúc thì nhiều hơn một chút gọi là nhiều tóc, rồi lại rụng bớt rất nhiều.
Anh ấy đã cất giữ tóc của Lư Sư Tôn trong một hộp trang sức nhỏ, đeo trước ngực.
Thật kỳ lạ thay.
Chứng rụng tóc của anh ấy đã ngừng lại. Vùng trán vốn bị hói nay đã mọc tóc trở lại, tóc mọc dài và dày, anh ấy lại trở thành một chàng trai tuấn tú phong nhã.

Viết một bài kệ:
*Tóc mọc dài thêm cũng lạ kỳ
Xem ra thứ này chẳng bay đi
Giờ đây bóng người đều tan biến
Riêng mái tóc xanh vẫn nhớ về.*


### 19. Mười ngón tay lở loét


Có một phụ nữ tên là Hòa Mỹ, mắc phải chứng bệnh thường gọi là "tay phú quý", mười đầu ngón tay bị lở loét, da tróc chảy máu, khiến người nhìn thấy phải kinh sợ.

Cô ấy đã tìm khắp các danh y để chữa trị, uống thuốc, tiêm thuốc, bôi thuốc. Mấy ngày đầu có hiệu quả, nhưng sau đó lại vô hiệu.
Bác sĩ chuyên khoa chỉ định:
1. Đeo găng tay.
2. Không chạm vào bột giặt, nước rửa chén và các chất hóa học khác.
3. Tay không được chạm nước, ngay cả khi tắm rửa cũng phải đeo găng tay nhựa.
Tuy nhiên sau khi đỡ được một thời gian, do ít tiếp xúc với không khí, vẫn bị nổi bọng nước màu trắng, vẫn bị lở loét như cũ. Hình dạng vết lở loét giống như mang cá, từng vệt một, lại thêm từng vệt đỏ tươi, máu mủ chảy tràn lan.

Một bác sĩ chuyên khoa khác nói rằng, đây là do cơ địa gây ra, và nếu là do cơ địa thì rất khó chữa. Vị bác sĩ này là chuyên gia về mụn cóc phẳng, nghiên cứu về việc ngón tay bị thủng, nhiễm khuẩn, nổi mẩn đỏ nhỏ, và sử dụng phương pháp đông lạnh để điều trị. Vị bác sĩ này yêu cầu cô ấy thay đổi thể chất, chuyển từ thể chất acid sang thể chất kiềm.

Vấn đề là, sau mười năm bị lở loét ở ngón tay, Hòa Mỹ đã hoàn toàn mất niềm tin vào việc điều trị.
Cô ấy uống nước kiềm, ăn thức ăn kiềm tính, nhưng cũng không cải thiện được bao nhiêu, trong lòng vô cùng lo lắng.
Cô ấy đã tin Phật, quy y dưới tòa của pháp sư Liên Sám, cúng dường Quan Thế Âm Bồ Tát, và tụng chú Đại Bi.

Pháp sư Liên Sám nói với cô ấy rằng, đời người như sương mai, phú quý tựa mây trôi, một hơi thở không còn, vạn sự đều thành không, vì vậy trong đời người, tu hành giải thoát là phương cách tốt nhất. Pháp danh của cô ấy là Phổ Mỹ.

Phổ Mỹ tin Phật đã năm năm, mười ngón tay vẫn lở loét, vẫn chưa khỏi.
Một đêm nọ, cô mộng thấy Quan Âm Bồ Tát nói với mình:
"Hãy tìm Lư Thắng Ngạn!"
Phổ Mỹ biết có người tên Lư Thắng Ngạn, vì sư phụ và bạn đạo đều đã nhắc đến người này, họ phần lớn cho rằng Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn là tà giáo, là ngoại đạo.
Nhưng, Quan Thế Âm Bồ Tát lại nói:
"Hãy tìm Lư Thắng Ngạn!"
Nếu nghe theo sư phụ và bạn đạo, cô ấy không nên tìm Lư Thắng Ngạn.
Nhưng, nếu theo lời chỉ dẫn của Quan Thế Âm Bồ Tát trong mộng, thì cô ấy nên đi tìm Lư Thắng Ngạn.

Cuối cùng Phổ Mỹ vẫn đến tìm tôi.
Cô ấy nói:
"Nếu thầy chữa lành tay tôi, tôi sẽ quy y thầy và quảng bá cho thầy."
Tôi nói:
"Không cần quy y tôi, cũng không cần truyền bá cho tôi, Lư Thắng Ngạn tôi chẳng sợ gì cả, chỉ sợ người thôi."
"Tại sao lại sợ người?"
"Giang hồ hiểm ác, lòng người khó lường, ha ha!"
Cô ấy nói: 
"Quan Thế Âm Bồ Tát chỉ dẫn tôi đến đây, mọi người đều nói thầy là tà giáo, là ngoại đạo, nhưng tôi vẫn đến."
Tôi nói: 
"Đến là tốt, cô về nhà mua năm nghìn đồng cá sống, đem thả ở hồ. Rồi uống bùa chú tôi vẽ cho, như vậy là sẽ khỏi."
"Đơn giản vậy sao?"
"Đúng vậy."

Cô ấy về nhà làm theo lời tôi dặn, thật kỳ lạ thay, cô cảm nhận được cành dương liễu của Quan Thế Âm Bồ Tát phất nhẹ trên các ngón tay. Từ ngày đó, các vết lở loét trên tay dần dần thuyên giảm, sau một tháng, cả mười ngón tay đều lành hẳn, đây là hiện tượng chưa từng có trong suốt hơn mười năm qua, thật là không thể nghĩ bàn.

Cô ấy hỏi tôi: "Đây là nhân quả gì vậy?"
Tôi hỏi lại: "Hồi còn trẻ, cô thích ăn cằm cá sống, phải không?"
Cô ấy chợt hiểu ra: "Đúng vậy, có một thời gian tôi chuyên ăn cằm cá."
Cô ấy hỏi: "Nhưng người thích ăn cằm cá sống đâu có ít, sao chỉ mình tôi bị lở loét mười ngón tay?"
Tôi đáp:
"Có người dễ bị tà khí xâm nhập, có người không dễ bị. Có người mau chóng thành Phật, có người tu lâu vẫn chưa thành, chỉ đơn giản vậy thôi."


### 20. Ba dải cầu vồng lớn


Một lần nọ, tôi làm đại pháp hội Hộ Ma (Hỏa cúng) vào ban đêm, hôm đó có khoảng một vạn tín chúng tham dự.
Thời tiết hôm đó âm u, mây dày đặc nơi chân trời, cả bầu trời đen kịt một màu.
Hôm đó, trời vừa âm u mưa phùn vừa lạnh giá, nghe nói là ngày lạnh nhất trong vòng 20 năm qua của vùng đó.

Hôm đó, tôi đã không ăn ba ngày, cảm thấy "thân không", "tâm không", chợt nhớ đến một bài thơ:
*Cuối trời tưởng không đường,
Sóng dậy muốn cưỡi gió.
Chợt thấy thân này trong bầu ngọc.
Say ngã chẳng hay,
Nam Bắc với Đông Tây.*

Lúc này, trong lòng tôi chẳng nghĩ gì cả, bên ngoài thì âm u, lạnh lẽo và ẩm ướt, vài giọt mưa rơi xuống, pháp y của tôi rất mỏng manh, mang một cảm giác đặc biệt thê lương.

Tôi lại nhớ đến một bài thơ:
*Tâm không đạo cũng không,
Gió nổi thân vẫn tĩnh,
Cuốn hết mây trôi trăng tự sáng,
Trong có bóng sơn hà.*

*Cúng dường và tu hành,
Chuyện cũ thành tỉnh ngộ,
Khi đậu nở sen trong lửa cháy,
Đau đớn vạch tro tàn.*

Tôi vốn luôn ở trong hoàn cảnh tồi tệ nhất sẽ sinh ra nghị lực mạnh mẽ hơn, vượt qua được ranh giới sinh tử. Tôi cũng thường trong thời tiết lạnh giá nhất lại phát ra ngọn lửa nội lực mãnh liệt nhất.

Đỉnh khiếu của tôi mở ra, phóng ra ba luồng ánh sáng:
Phật quang.
Bạch quang.
Linh quang.

Lúc này, trên bầu trời đen kịt bỗng xuất hiện ba dải cầu vồng lớn, tỏa sáng rực rỡ, chiếu rọi khắp trời mây. Một dải chiếu xa đến sơn hà đại địa, một dải chiếu lên tam giới thiên, dải cuối cùng chiếu thẳng đến Đại Lôi Âm Tự ở Tây Thiên.
Một vạn tín chúng, trong giây phút ấy, tất cả đều nhìn thấy ba dải cầu vồng lớn này.
Trong phút chốc, mọi người đều kính ngưỡng, tiếng vỗ tay vang dội, khắp trời đất đều được ánh sáng hào quang chiếu rọi.

Pháp tọa tôi ngồi, trước sau trái phải, toàn bộ tỏa ánh kim quang, ai nhìn thấy cũng phải kinh ngạc.
Có người thấy Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn như một bậc Như Lai, ngay cả lỗ chân lông cũng tỏa ra ánh sáng vàng rực.
Có người thấy Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn hóa thành nhiều thân, trên dưới trái phải giữa, tám phương đều là Sư Tôn.
Có người thấy toàn bộ pháp hội xuất hiện ánh sáng bát nhã, vòng này nối tiếp vòng kia, như những vầng hào quang tỏa khắp đạo tràng, và trong vầng hào quang ấy là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn ngồi tĩnh tọa.
Hiện tượng hào quang kỳ diệu này, người tham dự pháp hội đều tận mắt chứng kiến, tán thán là công đức hiếm có.
Đặc biệt là ba dải cầu vồng lớn trên trời, mọi người đều ngước nhìn, ai nấy đều kiên định niềm tin, tán thán không ngớt.

Ngày hôm sau, báo đăng tin, phóng viên viết như sau:
"Đêm qua trời lạnh giá, vậy mà có đến một vạn người tập trung tại một nơi để tổ chức đại pháp hội.
Đại pháp hội do Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì, trong pháp hội, trên không trung bỗng xuất hiện ba dải cầu vồng lớn, ánh sáng chiếu rọi, khiến những người tham dự không hiểu chuyện gì xảy ra, vô cùng kinh ngạc, không biết ba dải cầu vồng lớn này có phải là hiện tượng linh dị hay không.
Theo phóng viên phỏng vấn một chuyên gia khí tượng, chuyên gia cho biết, ngoài cảng có một ngọn hải đăng, ngọn hải đăng phát ra ánh sáng xoay tròn, chiếu xuống mặt biển trước, rồi từ mặt biển phản chiếu lên tầng mây, do đó mới có hiện tượng ba dải cầu vồng.
Điều này giống như ảo ảnh, thực ra không có gì đặc biệt."

Phải chăng!
Không phải chăng!
Người tin thì tin, người không tin thì không tin.
Tin hay không tùy bạn.


### 21. Tòa nhà cũ đổ sập


Đây là một chuyện rất kỳ lạ và trùng hợp, đúng như câu tục ngữ: "Không có trùng hợp thì không thành chuyện".

Chuyện xảy ra ở một quốc gia hải đảo, có một gia đình sống trong khu phố cũ, phía trước có một con mương lớn, phía sau cũng có một con mương lớn. Trong khu phố cũ này, phần lớn là nhà gỗ một tầng rưỡi, nơi đây có tên cũ là "Nhị Câu Câu" [Hai Con Mương].

Những ngôi nhà gỗ ở Nhị Câu Câu đều đã vài chục năm tuổi, có thể nói là cũ kĩ, và gia đình đó là đệ tử Chân Phật Tông, vợ chồng Liên Hoa Nhất Khoan và Liên Hoa Nhân Âm.

Hôm đó, đúng vào ngày Chủ nhật, không phải đi làm, con cái của họ đi cắm trại với trường, không có ở nhà, chỉ còn hai vợ chồng ở nhà, khoảng 11 giờ sáng, vợ chồng nghe thấy một giọng nói: "Sư Tôn đã đến, mau ra ngoài đón!"

Họ cảm thấy kỳ lạ, nguyên nhân kỳ lạ là:
Một, Sư Tôn đang nhập thất.
Hai, Sư Tôn có lẽ không ở đảo quốc.
Ba, Sư Tôn chưa từng đến nhà họ.

Họ cảm thấy rất khó hiểu.
Nhưng rồi vợ chồng lại nghe thấy:
"Sư Tôn đã đến, mau ra ngoài đón!"
Lần này nghe rất rõ ràng, hai người vội vã chạy xuống lầu, ra ngoài đường nhìn ngó.
Ngoài cửa tuy có người qua lại, nhưng không một ai là Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn cả.
Điều kỳ lạ hơn nữa là, ngay cả người hô to "Sư Tôn đã đến, mau ra ngoài đón" cũng hoàn toàn không thấy đâu.
Họ nghĩ, có lẽ nào là đệ tử Chân Phật Tông nào đó đùa với vợ chồng họ, hô lên rồi trốn mất.
Vợ chồng họ nhìn quanh bốn phía.

Ngay lúc đó, trời đang quang đãng bỗng vang lên một tiếng sét, tòa nhà gỗ cũ kĩ bất ngờ sụp đổ.
Đổ sập cả một dãy năm căn nhà liền kề nhau. Trong tích tắc, bụi bay mù mịt, tiếng người ồn ào náo loạn.
Có người hét lớn: "Có người bị đè, mau cứu người!"
Có người la lên: "Cháy rồi, gọi cứu hỏa!"
"Gọi cảnh sát nhanh lên!"
"Gọi xe cấp cứu gấp!"

Hai vợ chồng đứng sững tại chỗ, tay chân luống cuống, không biết phải làm sao. Căn nhà của họ là một trong số những căn nhà đó, giờ đây cũng đã trở thành đống gạch vụn.

Khi hoàn hồn, họ cũng tham gia vào đội cứu hộ. Những người hàng xóm được cứu ra, có người chết, có người bị thương. Trong phút chốc, tiếng khóc than, tiếng kêu gào, tiếng gọi cha mẹ, tiếng xe cứu hỏa, tiếng xe cảnh sát... tất cả hòa vào nhau thành một mảng âm thanh hỗn độn.

Gia đình Liên Hoa Nhất Khoan tuy mất nhà, nhưng may mắn nhất vẫn là cả nhà họ. Cả nhà không ai ở trong nhà nên thoát được một tai họa. Tất cả mọi người đều bình an vô sự.
Tòa nhà có bảo hiểm, công ty bảo hiểm sẽ phải bồi thường.
Sau đó, những đồ vật quý giá trong nhà cũng được tìm thấy hết, không mất mát gì.
Liên Hoa Nhất Khoan có một căn nhà mới mua, chưa kịp dọn vào ở, lần này buộc phải chuyển nhà rồi.
Năm căn nhà cũ sập đổ, sau này có thể xây thành chung cư cao tầng, và họ sẽ được phân phối một căn hộ.

Điều quan trọng nhất là chỉ có gia đình Liên Hoa Nhất Khoan không có ai ở trong nhà, còn những gia đình khác thì không may mắn như vậy.
Rốt cuộc ai đã hô lên:
"Sư Tôn đã đến, mau ra ngoài đón!"
Là ai đã hô vậy?
Cho đến nay vẫn còn là điều bí ẩn. 

Liên Hoa Nhất Khoan đã ngộ ra:
*Gấp gáp tu hành về Tây phương
Sinh tử vô thường chẳng thể lường
Ánh nắng ngoài song được mấy chốc
Kiếp người được mấy tháng năm đâu.*


### 22. Đất nước lửa gió không


Một lần nọ, tôi đang tĩnh tọa bên hồ Diệp Tử, nhập vào cảnh giới tam muội sâu thẳm. Có hai vị thiên nhân từ cõi trời, một vị cầm gậy kim cang, một vị cầm gương vuông, xung quanh phủ đầy mây ngũ sắc, bỗng nhiên đến xem tôi tĩnh tọa.

Tôi hóa thành một ngọn núi lớn trước, ngọn núi cao vút, hùng vĩ tráng lệ, trên chạm trời, dưới chấm đất. Quả thật là một ngọn núi tuyệt đẹp. 
Một vị thiên nhân nói: "Vĩ đại thay! Liên Sinh."
Vị thiên nhân kia lại nói: "Có gì đâu! Chỉ là biến hóa của đất mà thôi."

Tôi lại hóa thành biển cả mênh mông, sóng vỗ bốn bề, mặt trời lặn nơi đây, mặt trăng mọc chốn này, tam thiên đại thiên thế giới, tất cả đều là nước lớn.
Một vị thiên nhân nói: "Vĩ đại thay! Liên Sinh."
Vị thiên nhân kia lại nói: "Có gì đâu! Chỉ là biến hóa của nước trong thân mà thôi."

Tôi lại hóa thành lửa tam muội, thứ lửa này không phải lửa thường, mà chính là chân hỏa vậy, ngọn lửa bốc thẳng, thiêu đốt lên tận thiên cung, cho đến Phạm cung, hiện ra cảnh giới của lửa, lửa đốt lửa.
Một vị thiên nhân nói: "Vĩ đại thay! Liên Sinh."
Vị thiên nhân kia lại nói: "Có gì đâu! Chỉ là biến hóa của nội hỏa mà thôi."

Tôi lại hóa thành cuồng phong, tiếng gió vang đến nghìn dặm, trong khoảnh khắc bay tới tận hư không. Cơn gió này cuốn lên, như nghìn vạn binh khí, tràn ngập khắp trời đất, trời đất xoay vần, ngay cả thần tiên cũng khó đứng vững.
Một vị thiên nhân nói: "Vĩ đại thay! Liên Sinh."
Vị thiên nhân kia lại nói: "Có gì đâu! Chỉ là biến hóa của khí mà thôi. Tất cả những điều trên, chẳng qua chỉ là sự chuyển hóa của tứ đại, đất nước lửa gió mà thôi, tu khí, tu đất, tu nước, tu lửa, đều có thể đạt được."

Tôi mở lỗ đỉnh đầu, từ đỉnh đầu tỏa ra một đạo tịnh quang, trong ánh sáng có một đồng tử, toàn thân tỏa sáng, vị đồng tử này trong suốt như pha lê, tỏa hương thơm ngát.
Một vị thiên nhân nói: "Vĩ đại thay! Liên Sinh."
Vị thiên nhân kia lại nói: "Có gì đâu! Đây chỉ là phép tu luyện nguyên thần của các đạo sĩ thông thường, hiện ra chân thân nguyên thần mà thôi."

Lúc này, tôi đi vào trạng thái:
Bất sinh.
Bất diệt.
Bất đoạn.
Bất thường.
Bất nhất.
Bất dị.
Bất lai.
Bất khứ.
Tám không này chính là thân không, tâm không, pháp không, tính không. Đây cũng là như mộng, như huyễn, như ảnh, như sương.
Đây là cảnh giới tu hành vô thượng mà hành giả thiên hạ đạt được, bao hàm "tất cả không" và "tất cả pháp tính".

Một vị thiên nhân nói: "Vĩ đại thay! Liên Sinh."
Vị thiên nhân kia lại nói: "Có gì đâu! Đây là pháp không của hạt cải chứa núi Tu Di, núi Tu Di chứa hạt cải."
Thiên nhân nói:
"Chỉ chứng minh tính Không mà thôi!"

Cuối cùng, trong cảnh giới tam muội sâu thẳm, tôi xả bỏ thiền định tam muội, xả bỏ ngũ trí của tính Không, xả bỏ bốn luân đất nước lửa gió, hiển lộ thắng nghĩa bồ đề tâm, thắng nghĩa bồ đề tâm này chính là tâm vô sở đắc.

Chứng được bản thể của tính Không, cũng chính là Phật tính Như Lai tạng, pháp thân tự tính thanh tịnh vô cấu này tồn tại vĩnh hằng, đạt được vô thượng chính đẳng chính giác, đây chính là sự giác ngộ cụ thể.
Hằng trụ.
Thanh tịnh.
Như như.
Trong phương diện này, tôi hiển lộ chính tinh tấn, hiển lộ bản sơ giác, liễu ngộ chính pháp Phật tính, trí huệ bát nhã xuất thế nhập thế đều rõ ràng minh bạch, rực rỡ sáng ngời, viên mãn tròn đầy.
Một vị thiên nhân nói: "Vĩ đại thay! Liên Sinh."
Vị thiên nhân kia cũng nói: "Vĩ đại thay! Liên Sinh."

Sự chứng đắc của tôi không chỉ là Ứng thân Phật hay Báo thân Phật, mà còn là Pháp thân Phật. Tôi thấy vô lượng chư Phật, thấy vô lượng chư Bồ Tát, thấy vô lượng cõi tịnh thổ.

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn rốt cuộc là nhân vật như thế nào?


### 23. Vẽ một bức chân dung Sư Tôn


Có một họa sĩ nổi tiếng cấp quốc bảo của Trung Quốc Đại Lục là Liên Hoa Lương Mạt, trong lòng ông có một ước nguyện lớn, ông phát nguyện vẽ một bức chân dung của Sư Tôn, một bức họa bất hủ với thời gian.

Giống như thời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế, đại đệ tử Phú Lâu Na đã vẽ một bức họa của Đức Phật, chỉ duy nhất một bức đó, và hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Anh Quốc.

Vị họa sĩ tâm niệm rằng, vẽ chân dung Sư Tôn không chỉ là vẽ hình dáng bên ngoài, mà còn phải thể hiện được thần thái, đây quả là việc không dễ dàng, bởi vì hình dáng bên ngoài chỉ cần chụp ảnh là được, nhưng để vẽ được thần khí bên trong, đó thực sự là một việc vô cùng khó khăn.

Họa sĩ tài danh biết rằng:
Đã có những danh gia điêu khắc pháp tướng của Sư Tôn.
Đã có những danh gia làm tượng gốm pháp tướng của Sư Tôn.
Đã có những danh gia đúc tượng pháp tướng của Sư Tôn.
Đã có những danh gia thêu pháp tướng của Sư Tôn.
Đã có những danh gia vẽ pháp tướng của Sư Tôn.

Nhưng vị họa sĩ tài danh cho rằng, bức họa của ông vẽ ra nhất định sẽ khác với những tác phẩm của các danh gia khác, ông muốn thể hiện được cả sự giác ngộ thành Phật của Sư Tôn trong bức họa.

Thế là họa sĩ tìm đến gặp tôi.
Tôi cười nói:
"Không dễ đâu!"
Họa sĩ hỏi:
"Tại sao không dễ?"
Tôi đáp:
"Trên thế gian này, vốn chẳng có thứ gì trường tồn bất hủ. Muốn vẽ hình dáng của tôi, nhưng hình dáng năm năm đổi khác, tháng tháng đổi khác, ngày ngày đổi khác, giờ giờ đổi khác, từ thơ ấu, thiếu niên, thanh niên, trung niên đến lão niên, dung mạo hoàn toàn khác biệt, xin hỏi làm sao vẽ?"
Tôi lại nói: "Muốn vẽ thần thái bên trong, nhưng tâm quá khứ không thể nắm bắt, tâm hiện tại không thể nắm bắt, tâm tương lai không thể nắm bắt, thần thái bên trong, sự biến chuyển của tâm không thể nắm bắt, xin hỏi, tâm không thể nắm bắt, làm sao vẽ?"
Họa sĩ im lặng.

Họa sĩ nói:
"Bắt lấy một khoảnh khắc thôi cũng được mà!"
Tôi nói:
"Tôi sẽ cho ông thấy khoảnh khắc của ta!"

Vị danh họa trở về khách sạn nơi mình đang ở, đêm đó liền mơ thấy Sư Tôn đến.
Sư Tôn mỉm cười rạng rỡ, dùng tay nhẹ nhàng lột lớp da mặt xuống. Khuôn mặt vốn chỉ có một, lại biến thành đầu trên đầu, rồi lại đầu trên đầu, rồi lại đầu trên đầu, đầu đầu đầu, mặt mặt mặt, mỗi cái một khác, vô số kể.

Có diện mạo Phật, có diện mạo Bích Chi Phật, có diện mạo Thanh Văn, có diện mạo Phạm Vương, có diện mạo Đế Thích, có diện mạo Tự Tại Thiên, có diện mạo Đại Tự Tại Thiên, có diện mạo Thiên Đại Tướng Quân, có diện mạo Thiên Vương, có diện mạo Đại Vương, có diện mạo Tiểu Vương, có diện mạo trưởng giả, có diện mạo cư sĩ, có diện mạo quan trưởng, có diện mạo Bà La Môn, có diện mạo tỳ kheo, có diện mạo tỳ kheo ni, có diện mạo ưu bà tắc, có diện mạo ưu bà di, có diện mạo phụ nữ, có diện mạo đồng tử, có diện mạo thiên long, có diện mạo dạ-xoa, có diện mạo càn-thát-bà, có diện mạo a-tu-la, có diện mạo ca-lâu-la, có diện mạo khẩn-na-la, có diện mạo ma-hầu-la-già, có diện mạo nhân phi nhân, có diện mạo kim cang thần...

Chỉ riêng diện mạo Bồ Tát hiển lộ đã có Quan Thế Âm Bồ Tát, Văn Thù Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Kim Cang Thủ Bồ Tát, Trừ Cái Chướng Bồ Tát và các vị trong Bát Đại Bồ Tát.
Lại còn có vô số diện mạo Kim Cang Minh Vương.

Vị danh họa, một đêm xem không hết, trời đã sáng rõ.
Danh họa vội vàng mang theo giấy vẽ, đến nơi tôi ở, trình lên bức họa chân dung Sư Tôn.
Tôi vừa mở ra.
Chỉ là một tờ giấy trắng.
Tôi nói: 
"Ông không vẽ sao?"
Danh họa đáp: 
"Không thể vẽ được."
"Tại sao không thể vẽ?" - Tôi hỏi lại ông ta.
Danh họa đáp: 
"Không ai có thể vẽ được điều không thể nghĩ, không thể bàn."


### 24. Kim thân Liên Hoa Đồng Tử hiện ba lần


Sau khi gia đình Liên Hoa Đại Châu quy y Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn liền thiết lập đàn thành tại nhà. Cả gia đình già trẻ lớn nhỏ thường tụng tâm chú Liên Hoa Đồng Tử, chú dài chú ngắn đều niệm thuộc lòng.

Lúc đầu họ muốn thờ phụng Liên Hoa Đồng Tử, định thỉnh tượng sứ, nhưng gia đình họ ở Trung Mỹ, tượng sứ từ châu Á đến Trung Mỹ hành trình xa xôi, lại lo sợ bị vỡ giữa đường.

Nghe nói có người đúc tượng đồng, nhưng không biết phải đến đâu để thỉnh mua. Lại nghe nói tượng Liên Hoa Đồng Tử bằng sứ, có vẻ như ngay cả chùa Lôi Tạng Tự mới xây dựng tại Seattle cũng chưa chắc mua được.
Cũng nghe nói có người đến Nepal chế tác tranh rhangka Liên Hoa Đồng Tử, họ cho rằng thờ phụng rhangka là tốt nhất. Nhưng tranh rhangka Liên Hoa Đồng Tử số lượng chắc chắn có hạn.
Tượng sứ có thể đã hết hàng, thời kỳ đầu hẳn là tượng sứ.
Tượng gỗ điêu khắc cần thợ khắc đồ Phật, ở Đài Loan có, nhưng Trung Mỹ thì không có.
Tượng đồng đúc, nghe nói có, nhưng không biết nơi nào có thể mua được.
Các loại đúc tượng khác đều có nghe người ta nhắc đến, dường như nơi nào cũng có, mà lại nơi nào cũng không có.

Họ thiết lập đàn thành, tượng Phật dễ thỉnh, tượng Phật Thích Ca Mâu Ni có loại sản xuất từ Ấn Độ, Thái Lan, Tây Tạng, Nhật Bản, Đài Loan. Tượng A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát, Quan Thánh Đế Quân đều rất dễ dàng thỉnh được, các cửa hàng nghệ thuật đều có bán. Đặc biệt là tượng Tây phương Tam Thánh rất dễ thỉnh mua, ngay ở cửa hàng nghệ thuật cũng có.

Họ đến cửa hàng nghệ thuật tìm tượng Liên Hoa Đồng Tử.
Ông chủ nói: 
"Chưa từng nghe nói đến."
Ông chủ hỏi: 
"Liên Hoa Đồng Tử có đặc điểm gì?"
Họ cũng không nói được đặc điểm.
Ông chủ cười: 
"Ngay cả các vị cũng không nói được đặc điểm, làm sao ở đây tôi lại có chứ!"

Ông chủ cửa hàng nghệ thuật này, mỗi năm khoảng bốn, năm lần chạy sang Trung Quốc Đại Lục để thu mua ngọc, điêu khắc đá, đúc đồng, bình hút thuốc cổ, bình hoa, tượng Phật, tượng thần, đồ nội thất, đồ trang sức, v.v... Rồi bán ra với giá gấp ba lần.

Một số người phương Tây hoặc người phương Đông di cư đến đây khá thích các đồ cổ phương Đông. Người phương Tây thậm chí còn đem:
Các tượng sư tử lớn nhỏ trước mộ cổ Trung Quốc đặt trong nhà hoặc trước cửa nhà mình.
Các bài vị thần chủ của Trung Quốc cũng trở thành đồ trang trí.
Tủ thuốc từng ngăn một của tiệm thuốc Đông y cổ đại Trung Quốc trở thành đồ nội thất.
Bình phong, ghế thái sư, giường cổ, hũ tiểu đêm của Trung Quốc, đủ thứ đều có.
Lại còn có những người thích tượng đồ cổ, cả phòng khách, bếp, phòng ngủ đều toàn là tượng Phật.
Phật, Bồ Tát, Kim Cang Thần, Tứ Thiên Vương đều trở thành đồ trang trí.

Sau một thời gian, người con trai nhỏ của Liên Hoa Đại Châu đi ngang qua cửa hàng nghệ thuật, nhìn thấy ánh sáng vàng kim lóe lên, trong bóng ánh sáng có Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, cậu về nhà nói với bố mẹ, bố mẹ không tin. Lại một lần nữa, cậu con trai nhỏ đi ngang qua cửa hàng nghệ thuật, lại là ánh sáng vàng kim lóe lên, trong bóng ánh sáng lại là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, bố mẹ vẫn không tin. Lần thứ ba, bóng ánh sáng lóe lên, lại là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.

Thế là cả gia đình già trẻ lớn nhỏ lại đến cửa hàng nghệ thuật, nói với ông chủ cửa hàng nghệ thuật là muốn mua tượng Liên Hoa Đồng Tử.
Ông chủ nói: 
"Không có."
"Con trai tôi có nhìn thấy."
"Nhìn thấy thì tự tìm đi."

Không ngờ, ngay bên cạnh máy tính tiền của ông chủ đặt ngay ngắn ba tôn pháp tượng bằng đồng cao năm tấc, đầu đội mũ Ngũ Phật, tướng mạo trang nghiêm, ngồi trên hoa sen, tay phải cầm chày kim cang, tay trái cầm chuông kim cang, tư thế nắm tay là ấn móc ngược. Ấn móc ngược chính là Liên Hoa Đồng Tử.
Cả nhà Liên Hoa Đại Châu kêu la ầm ĩ: 
"Tìm thấy rồi! Tìm thấy rồi! Tìm thấy rồi!"
Ông chủ nói: 
"Tôi cũng không rõ đây là Liên Hoa Đồng Tử, cứ tưởng là Địa Tạng Vương Bồ Tát nên mới thỉnh về."
Đàn thành của Liên Hoa Đại Châu cuối cùng đã viên mãn tất cả.


### 25. Trâu đỏ ăn hoa sen giấy


Cả gia đình Liên Hoa Hoa Dương đều là đệ tử Chân Phật Tông. Có một đêm, Liên Hoa Hoa Dương có một giấc mơ kỳ lạ: "Trong mơ xuất hiện một con trâu màu đỏ cực kỳ to lớn, con trâu này bụng dường như rất đói, liên tục ăn những bông hoa sen giấy xung quanh. Trong mơ, hoa sen giấy không phải được gấp bằng giấy thông thường, mà là được gấp bằng tiền giấy."

Giấc mơ kỳ lạ này có ba điều lạ:
Thứ nhất, con trâu màu đỏ, trâu thông thường có trâu nước (trâu đen), có trâu vàng, có trâu yak. Trâu màu đỏ rất hiếm.
Thứ hai, trâu đỏ không ăn cỏ. Trâu là loài ăn cỏ, mà nó lại ăn hoa sen, đó cũng là điều lạ.
Thứ ba, hoa sen lại được gấp bằng tiền giấy.

Liên Hoa Hoa Dương được giấc mơ này thì vô cùng kinh ngạc. Đêm thứ hai, lại là cùng một giấc mơ. Trong lòng ông thầm nghi hoặc, giấc mơ này chẳng lẽ là một điềm báo lớn, liền đến thỉnh thị Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.
Tôi giải mộng:
"Gần đây nếu có người đến vay tiền, đừng cho vay, đặc biệt là người họ Hồng hoặc họ Ngưu."

Từ đó Liên Hoa Hoa Dương đặc biệt thận trọng. Một ngày nọ, một người bạn họ Hồng đến thăm, người này họ Hồng tên Đặc. Sau này tra chữ "Đặc" này, hóa ra trong văn cổ, chữ "Đặc" có nghĩa là trâu đực, ngựa đực. "Tần Văn Công chặt cây thị, cây biến thành trâu, chìm trong nước lớn, Tần liền dựng miếu Nộ Đặc". Lại có "Liệt Dị Kinh": "Đặc, nghĩa là trâu đực."

Người bạn họ Hồng này bày tỏ là đến vay tiền. Liên Hoa Hoa Dương nhớ lại lời Sư Tôn, liền rất lịch sự nói rằng phải bàn với vợ đã.

Tuy nhiên, vợ ông lại nói:
"Hồng Đặc là bạn thân nhiều năm, kinh doanh bên ngoài thành công, có nhiều nhà máy, có vô số bất động sản, lái xe sang, ở biệt thự, cổ phiếu đã niêm yết. Ông ấy muốn xây dựng siêu thị lớn nhất, đương nhiên cần hỗ trợ tài chính. Lãi suất của ông ấy rất cao, chúng ta cho ông ấy vay tiền, chắc chắn an toàn tuyệt đối."
Liên Hoa Hoa Dương nghe xong cũng cảm thấy động lòng. Chỉ cho vay nửa năm, số tiền gốc đã tăng gấp đôi, một năm thì tăng gấp mấy lần.

Vợ chồng họ chuẩn bị cho Hồng Đặc vay toàn bộ số tiền. Tối hôm đó lại được Sư Tôn báo mộng:
"Người họ Hồng, người họ Ngưu, đừng cho vay."
Liên Hoa Hoa Dương hỏi vợ:
"Làm sao đây?"
Vợ đáp:
"Mộng là huyễn, đừng tin là thật."

Vì vậy, vợ chồng Liên Hoa Hoa Dương đã đem toàn bộ số tiền tiết kiệm nhiều năm cho Hồng Đặc vay để xây dựng siêu thị đặc biệt lớn. Chẳng bao lâu sau, Liên Hoa Hoa Dương đến nhà của Hồng Đặc, cửa nhà khóa chặt. Đến nhà máy, nhà máy không có người; đến địa điểm dự kiến xây siêu thị, địa điểm dự kiến chưa khởi công, một chiếc máy xúc lớn đổ nghiêng sang một bên.

Báo chí đưa tin:
"Hồng Đặc âm mưu phá sản, đã bỏ trốn từ lâu, nhà máy và mọi thứ của ông ta đều vay mượn từ ngân hàng và cá nhân. Cổ phiếu trở thành cổ phiếu rác, xuống sàn, chỉ còn dùng làm giấy dán tường."
Các chủ nợ bị vay tiền, chỉ còn cách ném trứng vào nhà ông ta để giải hận.

Vợ chồng Liên Hoa Hoa Dương đau khổ tột cùng, nhưng hối hận thì đã muộn. Trải qua một lần bài học lớn như vậy, Liên Hoa Hoa Dương rất cẩn thận trong việc sử dụng tiền bạc, ông cũng tin vào sự chỉ dẫn trong mộng, tin vào lời dạy của Sư Tôn.

Trong chuyện nhập thế, lòng người khó lường, biết mặt không biết lòng, kết bạn đừng kết bạn xấu, hãy kết bạn tốt.

Trong chuyện xuất thế, cuộc đời ngắn ngủi, phú quý như mây trôi, thời gian chỉ thoáng qua, tinh tấn học Phật pháp, ngày lâu công sâu, chấm dứt sinh tử, đoạn trừ phiền não, ắt được đại thành tựu.

Tôi chỉ dẫn Liên Hoa Hoa Dương đi vào pháp tu trì tâm trong tâm, sau đó quả nhiên được đại thành tựu, ông đã chứng được tam quả A Na Hàm, thêm thời gian nữa ắt được tứ quả A La Hán. Được tứ quả A La Hán là vô giá, mất tiền bạc có nghĩa lý gì!


### 26. Bay vượt thượng hạ cổ kim


Tôi đã từng gặp Phật Đà tại một quán cà phê, kể chuyện ngày xưa. Phật cầm một cây bút viết trên giấy trắng: "Đại Quang Tự Tại Phật".
Tôi lắc đầu nói:
"Chữ Đại quá lớn."
Phật đổi chữ "Đại" thành "Hoa", liền thành:
"Hoa Quang Tự Tại Phật."

Sau đó, có một vị Đại Hoạt Phật biết chuyện này, mỉa mai nói:
"Phật Đà đã qua đời 2600 năm rồi!"
Lại nói:
"Lư Thắng Ngạn là kẻ điên."
Vị Đại Hoạt Phật này hoàn toàn không hiểu, nhân vật nhỏ bé là tôi đây đâu chỉ có thể bay vượt 2600 năm, tôi đã bay vượt muôn năm, bay vượt triệu năm, bay vượt triệu triệu năm.……
Tôi có hai chữ tặng cho vị Đại Hoạt Phật phê phán tôi này, hai chữ đó là "hằng tại".

Tôi lại từng nói:
Các bạn đến Tây phương Cực Lạc thế giới, hoa nở thấy Phật, sẽ giật mình một phen, hóa ra A Di Đà Phật chính là Sư Tôn Lư Thắng Ngạn, điều này không ai có thể nghĩ tới.
Các bạn nếu đến địa ngục, thấy Diêm La Vương, hãy chú ý khuôn mặt của Diêm La Vương, người đó không phải ai khác, chính là Sư Tôn Lư Thắng Ngạn, là cùng một khuôn mặt.
Các bạn nếu đến Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ, thấy Thiên Chủ của thiên giới, vị Thiên Chủ này không phải ai khác, cũng chính là Sư Tôn Lư Thắng Ngạn.

Sao lại có tận ba thân?
Không thể nghĩ thấu?
Tôi thật lòng thật sự nói với các bạn: "Phật có trăm nghìn triệu hóa thân."

Tôi đã nói đủ rõ ràng rồi, tôi "hằng tại", tôi "trăm nghìn triệu hóa thân", tôi có thể bệnh tật, sắp chết mà không chết, nhưng trong khoảnh khắc lại sống lại, cười nói như thường.

Trong cuộc đời này, tôi du hý nhân gian:
Cách không quán đảnh.
Cách không trị bệnh.
Cách không báo mộng.
Cách không hiện thân.

Có rất nhiều đệ tử viết thư đến Chân Phật Mật Uyển, kinh nghiệm chung của họ là: thư gửi đi hôm nay, đêm đó liền mơ thấy Sư Tôn Lư Thắng Ngạn hồi âm. Đợi đến khi thực sự nhận được thư trả lời, nội dung thư trả lời giống hệt với điềm mộng đêm hôm đó. Đây là hỏi đáp cách không. Hồi thư cách không.
Làm sao có thể như vậy?
Tôi trả lời:
Hai chữ: "tâm thông".

Có các phương tiện truyền thông chế giễu "cách không..." của Lư Thắng Ngạn v.v... Họ còn chưa biết rằng tôi có thể cách không tiếp dẫn vong hồn, vượt qua biển lớn sinh tử này! Họ càng không biết rằng, toàn bộ tình hình thế giới biến đổi, đều nằm trong "bấm ngón tay thần toán " của tôi, chẳng sai lệch dù chỉ một tí một mảy, chỉ là tôi, chỗ này biến mất chỗ kia hiện ra, chỗ kia biến mất chỗ này hiện ra, lúc ở phương Đông, lúc ở phương Tây, muốn gặp tôi cũng chẳng dễ dàng gì nữa.

Tôi không muốn ở trần gian này mưu cầu điều gì nữa. Cái gì cũng không cần, vì thế tôi ẩn cư. Tôi ở tất cả mọi nơi đều không trụ vào tướng, đối với tất cả mọi người không sinh ghét yêu, đối với pháp giới cũng không có giữ bỏ, không nghĩ đến lợi ích, cũng không có ý nghĩ thành bại, hoàn toàn an nhàn tĩnh lặng, hòa vào hư không, không màng danh lợi.
Gặp Phật Đà, chỉ trong một niệm!
Hóa thân mười pháp giới, chỉ trong một niệm!
Cách không làm tất cả, chỉ trong một niệm!

Người học Phật, đối với những điều này, có gì phải nghi hoặc. Há chẳng biết rằng, một niệm đi khắp ba nghìn, thượng hạ cổ kim đều ở trong một niệm này tùy duyên vận hành, các tính vốn là như vậy, chẳng phải do tạo tác mà thành.


### 27. Kỳ tích của sông ngòi


Có cụ già họ Tào yêu thích đá lạ, sưu tầm vô số đá lớn nhỏ, đặt cho một cái tên là "Thạch Trân Viên".

Đá vốn là khối vật chất rắn chắc ở bề mặt hoặc bên trong vỏ trái đất, nhưng có những viên đá trải qua phong hóa [sự biến đổi theo thời gian bởi gió], hỏa thành [sự nung đốt bớt lửa], thủy tích [sự tích tụ bởi nước], mà biến thành hình dạng kỳ lạ nào đó, tự nhiên hình thành, thì trở thành đá lạ.

Những viên đá mà cụ già họ Tào sưu tầm có đủ loại kỳ lạ, những viên đá mà ông sở hữu không có thợ thủ công điêu khắc, hoàn toàn tự nhiên, bao gồm:
Đá khánh - giống như hình cái bát của chùa, đập vào có tiếng.
Đá rìu - viên đá giống như cái rìu.
Đá đạn - viên đá tròn trịa như viên bi thủy tinh.
Đá nhạc - đá mà khi đập vào sẽ phát ra âm nhạc.
Đá linh chi - viên đá giống như linh chi, và màu sắc cũng tương tự.

Về mặt nguyên tố, ông sưu tầm thạch anh, thủy tinh, ngọc tủy, đá lửa, đá opal, mã não, thạch nhũ.

Về mặt hình dáng, có đá hình người, đá hình cối giã, đá hình Phật, đá hình cầu, đá hình khám thờ, đá hình kim, đá hình dao, đá hình bình, đá hình núi, đá hình cây, đá hình động vật, đá hình nghiên mực, đá hình bia, đá hình vỏ sò, đá hình cối xay, đá hình đĩa, đá hình đá kê, đá hình bàn đá, đá hình trứng, đá hình ốc.……

Bộ sưu tập của cụ già, đếm không xuể.

Người nhà cụ già đều tin Chân Phật Tông, tu Mật pháp. Riêng cụ già thì không tin. Hỏi cụ già tin vào cái gì? Cụ già trả lời, chỉ tin "đá".
Hỏi: "Cụ già sao không tin Phật, sao không quy y Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn?"
Trả lời: "Đá có kỳ tích, có kỳ tích cho tôi thấy thì tôi mới tin."
Người nhà bất lực.
Cụ già họ Tào tính tình cứng như đá vậy.

Một ngày nọ, cụ già đến sông ngòi nhặt đá, bỗng nhiên thấy ở chỗ dòng nước nhỏ có ánh sáng tỏa ra, tiến lại gần xem, có một viên đá lạ, giống như quả mướp, trên viên đá có một vết nứt. Cụ già đem về nhà, dùng dao cắm vào vết nứt, nhưng bổ mãi mà không bổ được. Nhẹ nhàng gõ một tiếng, viên đá mướp tách làm hai nửa.

Cụ già phát hiện bên trong có những đường vân ngay ngắn chỉnh tề, có hình tướng, nhìn kỹ hơn nữa. Không ngờ những đường vân vẽ nên:
Đầu đội mũ Ngũ Phật.
Ngũ quan viên mãn.
Ngồi tòa sen.
Tay phải cầm chày kim cương, tay trái cầm chuông kim cang.
Chính là một tôn tượng Liên Hoa Đồng Tử không chút sai khác.

Cụ già bước vào đàn thành do con dâu bày trí, quan sát kỹ tượng Liên Hoa Đồng Tử, rồi so sánh với vân nét trên viên đá nhặt được, xác thực quả thật là tướng Liên Hoa Đồng Tử, hoàn toàn giống hệt, y như nhau. Cụ già kinh hãi vô cùng: "Tại sao trong viên đá sông ngòi tự nhiên lại có tướng Liên Hoa Đồng Tử, đây chẳng phải chính là kỳ tích sao?"

Cụ già họ Tào mời tôi đến Thạch Trân Viên của ông tham quan. Rất bí mật đưa tôi đi xem đường vân trên viên đá mướp, tôi nhìn cũng vô cùng kinh ngạc, đường vân tự nhiên đó, rõ ràng chính là một vị Liên Hoa Đồng Tử.
Cụ già hỏi: 
"Tại sao lại như vậy?"
Tôi đáp: 
"Ứng với người nhờ đá mà được độ, nên hiện trong viên đá mà vì họ thuyết pháp."
Cụ già nói: 
"Chỉ là hình tượng, chưa thuyết pháp!"
Tôi nói: 
"Cụ có tin đây là Liên Hoa Đồng Tử không?"
"Tin."
Tôi nói: 
"Vậy là đã thuyết pháp rồi."

Cụ già họ Tào dưới sự hộ tống của con trai và con dâu đã đích thân đến chỗ ở của tôi, yêu cầu được quy y và quán đảnh. Thế là cả gia đình họ Tào đều quy y Chân Phật Tông.

Đây là kỳ tích của sông ngòi, một dòng sông dài, đá ở khắp nơi, dưới làn nước nông có viên đá hình quả mướp, mở ra không ngờ bên trong có hình tướng Liên Hoa Đồng Tử tự nhiên.
Hỏi cụ già, ai độ cụ?
Cụ già đáp: "Viên đá."


### 28. Ni cô Thụy Dung


Ni cô Thụy Dung sau khi xuất gia, đã thọ giới cụ túc, một lòng một dạ muốn kín đáo tu Phật pháp.

Tuy nhiên các tông phái Phật giáo nhiều như vậy, Thích Ca Mâu Ni Phật xuất thế, đã thuyết các giáo pháp Đại, Tiểu, Bán, Mãn, nhiếp hóa tất cả cơ duyên. Sau khi Phật Đà diệt độ, các đại đệ tử và các thánh hiền đều tùy theo giáo pháp mà phân tông phái để hóa độ người hữu duyên, nay có tám vạn bốn nghìn pháp môn, khiến người ta không biết làm thế nào để nhập môn.
Tiểu thừa có hai mươi bộ. 
Còn Đại thừa:
Trung quán là Tam luận tông. (Long Thụ)
Du già là Pháp tướng tông. (Di Lặc)

Tông phái của Trung Quốc có tới mười ba tông. Một là Tỳ Đàm Tông, hai là Thành Thật Tông, ba là Luật Tông, bốn là Tam Luận Tông, năm là Niết Bàn Tông, sáu là Địa Luận Tông, bảy là Tịnh Độ Tông, tám là Thiền Tông, chín là Nhiếp Luận Tông, mười là Thiên Thai Tông, mười một là Hoa Nghiêm Tông, mười hai là Pháp Tướng Tông, mười ba là Chân Ngôn Tông.

Tông phái của Nhật Bản chia làm tám tông, một là Tam Luận Tông, hai là Pháp Tướng Tông, ba là Hoa Nghiêm Tông, bốn là Câu Xá Tông, năm là Thành Thật Tông, sáu là Luật Tông, bảy là Thiên Thai Tông, tám là Chân Ngôn Tông. Về sau có chín tông là thêm Thiền Tông, còn mười tông lại thêm Tịnh Độ Tông, còn mười hai tông là thêm Tịnh Độ Chân Tông và Nhật Liên Tông.

Ni cô Thụy Dung nghiên cứu ý chỉ chính yếu mà các kinh đã nói, làm thế nào "dựng pháp tràng", làm thế nào "lập tông chỉ". Về tông yếu, ni cô chú ý đến "như cầm cương dây, không mắt lưới nào mà không động; kéo một góc áo, không sợi nào mà không đi theo". [Câu này nghĩa là chỉ cần nắm được đại cương, tổng yếu thì toàn bộ hệ thống giáo pháp, chi tiết đều thông suốt; hiểu đúng chỗ gốc thì các phần còn lại sẽ tự nhiên sáng tỏ.]

Về "tông thuyết câu thông", lại như trong "Chứng Đạo Ca" có nói: "Tông cũng thông, thuyết cũng thông, định huệ viên minh chẳng trệ không." Ni cô tìm hiểu tông học, lý luận và phương pháp tu học của các "Phật gia", đều dày đặc mịt mù, ai cũng cho mình là đúng.

Sư phụ của ni cô Thụy Dung vốn tu Thiền tông, ngài biết tuy lấy tư duy tĩnh lự, mà thực chất là Niết-bàn diệu tâm. Ngài nghiên cứu thế gian thiền, căn bản tịnh thiền, xuất thế gian thượng thượng thiền. Rồi còn Tổ sư thiền. Rồi lại Như Lai thiền. Về sau, sau nhiều năm mày mò, ngài cảm thấy Phật pháp vẫn còn trong hư vô phiêu diêu, nửa có nửa không.
Đây là:
*Khi xưa thoáng gặp lòng thương nhớ,
Nỗi buồn gửi vào những câu kinh,
Thiền viện vườn sâu bao lớp cửa,
Hoa bay lả tả tựa mưa phùn.*

Ni cô Thụy Dung sâu sắc hiểu rằng đến bước này, các tông sư đều nói khác nhau, lúc ngộ lúc không, vừa là "chính ngộ", vừa là "tà ngộ", tâm cô ấy biến hóa không thể dừng.

Nghĩ lại thời gian không còn nhiều, vô thường thật mau, tu học nhiều năm lúc tiến lúc dừng, lúc ngộ lúc mê, lúc nắng lúc mưa, các thầy đều nói khác nhau, cô càng hoang mang.

Cuối cùng, cô nước mắt tuôn rơi như mưa, đảnh lễ quỳ lạy Quan Thế Âm Bồ Tát, ngày đêm không nghỉ, và chí thành trì tụng "Kinh Cao Vương Quan Thế Âm", hy vọng Bồ Tát ban cho một sự khai thị. Cứ thế trải qua bảy ngày sau, trong lúc lễ bái thấy Quan Thế Âm Bồ Tát nói với cô: "Ngươi hãy đi quy y Lư Thắng Ngạn, chỉ cần siêng năng, chớ buồn rầu trong lòng."
Lời này từng câu từng câu đi vào tai.

Ni cô Thụy Dung muốn tìm đến quy y tôi, nhưng lại bị thầy bạn ngăn cản. Thầy bạn la lớn:
"Lư Thắng Ngạn là ma."
"Lư Thắng Ngạn là ngoại đạo."
"Lư Thắng Ngạn là lời lẽ yêu ma mê hoặc chúng sinh."

Tuy nhiên, Quan Thế Âm Bồ Tát rõ ràng đã chỉ điểm ni cô đi quy y Lư Thắng Ngạn, ni cô không nghe nhầm, cũng không có lo âu, đã quyết tâm đến quy y và nhận quán đảnh. Ni cô bất chấp mọi ý kiến phản đối, một mình đến.

Ni cô Thụy Dung chỉ tu một đàn Quan Thế Âm Bồ Tát Bổn tôn niệm tụng pháp, liền cảm ứng thấy thân mình hóa thành một đóa hoa sen bảo tính, cành lá tươi sáng, ánh sáng rực rỡ, một luồng quang diệm xông thẳng lên hư không, thấy mình đội mũ miện lộng lẫy. Ni cô đột nhiên hiểu được tự tính của mình.

Ni cô Thụy Dung cảm ứng liên tiếp, cảm thán rằng chưa từng có, lại tiếp dẫn nhiều người đến quy y Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.


### 29. Lôi Tạng Tự trong gương


Có một nước nọ muốn xây dựng Lôi Tạng Tự, các đệ tử muốn mời một nhà tư bản giàu có ở địa phương đó đến tài trợ cho việc xây chùa, nếu có nhà tư bản đó ủng hộ hết mình thì kinh phí xây dựng Lôi Tạng Tự sẽ có chỗ dựa.

Họ thỉnh tôi thần toán xem có nên đi mời nhà tư bản đó ra mặt hay không?
Tôi bấm ngón tay thần toán, phê một chữ "Được". Vậy là các đệ tử hăng hái vội vã đi mời nhà tư bản ra mặt.

Không ngờ nhà tư bản tạt một gáo nước lạnh thẳng vào mặt, nhà tư bản nói: "Tôi là một tín đồ ngoại giáo, không phải đệ tử Chân Phật Tông, tôi cũng không tin Phật, vì lẽ gì mà tôi lại đi xây dựng Lôi Tạng Tự?"
Các đệ tử thấy khó nên lui bước.

Họ lại một lần nữa thỉnh tôi thần toán. Tôi lại phê một chữ: "Được". Họ lại đi tìm nhà tư bản, lần này là mời bạn thân của nhà tư bản cùng đi thuyết phục.

Nhà tư bản nói: 
"Nghe nói Lư Thắng Ngạn bấm ngón tay thần toán rất linh nghiệm, mà lại có rất nhiều kỳ tích, muốn mời tôi ra mặt xây chùa cũng không phải là không được, vậy hãy để tôi xem kỳ tích của Lư Thắng Ngạn đi! Nếu thật sự có kỳ tích, tôi sẽ tài trợ."
Các đệ tử trả lời tôi là nhà tư bản muốn xem kỳ tích. Có thì tài trợ. Không thì miễn bàn.

Vì việc này, tôi chọn một ngày trực Thành, vào buổi chiều, tu pháp gương soi, tôi ở trước gương gõ răng sáu mươi lần, nuốt nước bọt sáu mươi lần.
Tôi khấn nguyện: "Hữu phi tả linh, bát cảnh hoa thanh, thượng thực lâm phòng, hạ tú đan quỳnh, hợp độ bát kỷ, nhiếp ngự vạn linh, thần thông tích cảm, lục khí thành hình, cấp cấp như Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh luật lệnh nhiếp."
Tôi tu pháp như vậy tổng cộng bảy ngày. Quán Lôi Tạng Tự vào trong gương.

Một ngày nọ vào buổi sáng sớm, khi nhà tư bản thức dậy, đang rửa mặt soi gương, vừa nhìn vào gương, không thấy khuôn mặt của mình trong gương mà lại thấy một ngọn núi. Nhà tư bản hoảng hốt, tưởng mình hoa mắt.

Nhìn kỹ hơn, ngọn núi này cao vút hiểm trở, cây cối xanh tươi rậm rạp, hoa đẹp, suối trong chảy róc rách qua thung lũng, như một bức tranh sơn thủy tuyệt đẹp. Dưới chân núi, chính giữa có một ngôi chùa, kiến trúc vô cùng tinh xảo, trang nghiêm lại hùng vĩ, danh sơn cổ tự, uy thần nghiêm trang.

Nhà tư bản lại nhìn, ở trước chùa phía trên có một tấm biển, ngay ngắn viết ba chữ lớn "Lôi Tạng Tự". Ông lại thấy một vị Phật tay trái cầm hoa sen, tay phải kết ấn.

Nhà tư bản mắt chăm chú nhìn khoảng ba phút, ba phút này như trong giấc mơ.
Nhìn lại gương. Thấy khuôn mặt của mình treo trước mặt.
Nhà tư bản kiểm tra gương, trước sau chẳng có gì bất thường, rồi tự nghĩ, vừa rồi nhìn thấy là vì sao?

Nhà tư bản đi mời bạn bè và đệ tử Chân Phật Tông đến, nói: "Tôi nguyện giúp xây chùa." Các đệ tử nghe vậy, vui mừng lắm.Họ cùng nhau đi xem nơi xây chùa, quả nhiên như chỗ hiện ra trong gương, giống hệt nhau.

Nhà tư bản hỏi:
"Vị Phật tay trái cầm hoa sen, tay phải kết ấn là ai?"
Đệ tử đáp:
"Là Liên Hoa Đồng Tử Sư Tôn." Lại nói: "Tay phải kết ấn là ấn thuyết pháp, tay trái cầm hoa sen là ấn cầm sen."
Nhà tư bản hỏi:
"Vị này chính là Lư Thắng Ngạn phải không?"
"Đúng vậy."
Nhà tư bản hỏi: 
"Tại sao núi lớn, Lôi Tạng Tự, Liên Hoa Đồng Tử đều hiện ra trên gương nhà tôi?"
Đệ tử cũng lặng người không biết nói gì.

Tôi viết một bài kệ:

*Con nay đảnh lễ Hoa Quang Phật. 
Nơi Linh Tiên Các thành Chính Giác.
Hoặc khởi biến hiện hoặc tĩnh tịch. 
Hoặc đi cảm hóa đại phú thương.
Hoặc chuyển pháp luân khắp mười phương. 
Hoặc hiện gương soi biến minh quang.
Tất cả chướng ngại đều trừ hết. 
Khiến khắp chúng sinh được bình an.*


### 30. Cõi u minh mơ màng


Có một bộ phận người tin rằng có thế giới u minh, trong khi một bộ phận khác lại cho rằng điều này hoàn toàn không đáng tin. Đây thực sự là người tin thì tự khắc tin, người không tin thì sẽ không tin, chẳng có cách nào ép buộc được.

Tại đây tôi thuật lại một chuyện về "cõi u minh mơ màng", mọi người có thể xem qua, để tham khảo.

Liên Hoa Kiến Chính là đệ tử của tôi, còn vợ của ông ấy thì chưa quy y, bà ấy thuộc tuýp "ương ngạnh cứng đầu", không dễ tin này tin nọ. Vợ của ông ấy họ Vương, tên là Hoa, là giáo viên trường học.

Vương Hoa tham gia đoàn du lịch, đi xe buýt, không ngờ chiếc xe buýt này lại là "xe buýt tử thần". Trên con đường núi quanh co, do xe chạy quá nhanh nên lao xuống vực núi, lật mấy vòng, gây ra thảm kịch bảy người chết, ba mươi người bị thương nặng nhẹ, Vương Hoa là một trong những người bị thương nặng hôn mê.

Liên Hoa Kiến Chính biết tin, lập tức gửi fax đến Chân Phật Mật Uyển ở Mỹ cầu xin Sư Tôn gia trì. Rồi lại ở đàn thành cầu xin Sư Tôn gia trì, rồi lại gửi thư fax đến Chân Phật Mật Uyển.

Liên Hoa Kiến Chính vội vã đến bệnh viện thăm vợ mình là Vương Hoa, trong lúc Vương Hoa hôn mê, ông niệm tâm chú Thượng sư: "Om guru liansheng siddhi hum."

Vương Hoa trong lúc hôn mê, tự cảm thấy mình cùng nhiều người đi theo đến một thành phố, thành phố này so với dương gian không có gì khác biệt lắm. Họ bị đưa vào một sảnh đường, những người này hoàn toàn bị mấy "người áo xanh" trông coi. "Người áo xanh" cầm danh sách, hô tên, ai bị gọi tên liền bị đưa đi. Những người bị đưa đi đều phát ra tiếng kêu than đau khổ.

Vương Hoa nhìn thấy đồng nghiệp của mình là Thí Thanh cũng bị đưa đi. Vương Hoa nhìn thấy rõ mồn một ánh mắt oán hận của Thí Thanh, khiến lòng người run sợ không nguôi. Không lâu sau vang ra tiếng thét thảm thiết của Thí Thanh.

Điểm danh đến Vương Hoa, Vương Hoa hốt hoảng, "người áo xanh" đến bắt bà. Lúc này bỗng có một vị quan cao cấp đến, nói với "người áo xanh": 
"Đừng bắt Vương Hoa, Vương Hoa có người bảo lãnh cho bà về." 
Người áo xanh nói: 
"Vô ích thôi, não của bà ấy đã vỡ rồi, không thể về được."
Vị quan cao cấp nói:
"Người bảo lãnh cho bà ấy đang đợi bên ngoài, sẽ chữa não cho bà ấy."
"Vậy còn danh sách thì sao?"
"Hãy xóa tên Vương Hoa đi!"

Tên Vương Hoa vừa bị xóa khỏi danh sách, bà liền được đưa ra ngoài sảnh đường, trong hư không có một người ngồi trên hoa sen, tay cầm bình cam lộ, vẩy nước trong bình xuống.

Vương Hoa chỉ cảm thấy đầu óc một cơn mát lạnh. Vương Hoa nhìn người đó trong hư không, chính xác không sai chút nào là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Bà không phải là đệ tử, nhưng chồng bà thì có, trong đàn thành có pháp tướng Sư Tôn.

Bà bị "người áo xanh" xô một cái, vừa ngã xuống đất liền tỉnh lại. Khi tỉnh dậy thì thấy đang nằm trên giường bệnh viện, bà đã hôn mê tổng cộng hai ngày hai đêm.

"Xe buýt tử thần" lần này tổng cộng có bảy người chết ngay tại chỗ, tiếp theo người bị thương nặng cũng có bốn người không qua khỏi, tổng cộng chết mười một người, những người khác ai nấy đều điều trị thương tích. Vương Hoa hôn mê hai ngày, cuối cùng được cứu sống, cũng tính là một kỳ tích, bởi vì bác sĩ chẩn đoán cơ hội sống của bà không lớn, cho dù sống cũng là người thực vật.

Trong danh sách mười một người chết có đồng nghiệp của bà là Thí Thanh, bà cảm thấy vô cùng thương cảm.
Sau khi tỉnh lại, Vương Hoa không dám kể cho nhân viên y tế nghe những gì bà nhìn thấy và nghe được trong lúc hôn mê, bởi vì bà cho rằng nhân viên y tế có thể sẽ cười nhạo bà chỉ là mơ hồ mộng ảo mà thôi.

Vương Hoa chỉ kể cho Liên Hoa Kiến Chính nghe, Liên Hoa Kiến Chính biết được sự thật, liền thuật lại cho tôi.

Liên Hoa Kiến Chính hỏi Vương Hoa: 
"Có quy y không?"
"Quy y!" - Vương Hoa nói: "Không chỉ bản thân mình quy y, mà còn giúp Thí Thanh thọ quy y u minh và thọ giới, giúp Thí Thanh siêu độ, để đồng nghiệp bạn bè của mình cũng có thể lìa khổ được vui."


### 31. Gậy đánh golf


Theo như báo chí đưa tin, có một người vào buổi chiều mưa phùn, trên sân golf xanh mướt trải dài, trên đồi nhỏ giữa cánh đồng trống, người này vung gậy đánh quả bóng trắng nhỏ vào lỗ, đang rất tập trung. Khi anh ta giơ gậy golf lên hướng về bầu trời, chưa kịp vung xuống, đang chuẩn bị xoay người thì một tiếng sét nổ, điện quang lóe sáng, tiếng sấm vang dội.

Người ở sân golf giữa cánh đồng trống này, gậy đánh golf giơ lên trời, bị sét đánh trúng, cứ giữ nguyên tư thế đó, toàn thân đen sạm như bị thiêu cháy, chết ngay tại chỗ. Người này tên là XXX.

Tôi đọc đoạn tin tức này, lại nhìn thấy tên của anh ta, lòng tôi bỗng có một cơn chấn động mạnh mẽ. Người này, tôi biết. Người này đã từng đến chỗ tôi, tìm tôi, ấn tượng đặc biệt sâu sắc. Anh ta hỏi: 
"Ông Lư, hôm nay tôi đến thực sự không có việc gì khác, chỉ muốn cầu chứng một chuyện."
"Chuyện gì?"
"Trong sách của ông có viết, phó liên trưởng của ông là Ngụy Thanh Bình nắm một nắm đồng xu, hỏi ông có mấy đồng, mà ông tính ra có mười bốn đồng, vì thế phó liên trưởng liền quy y ông."
"Đúng vậy." - Tôi nói.
"Hôm nay tôi đến tìm ông, hy vọng ông là bậc cao nhân tiên tri này, xin ông hãy tính xem trong túi áo trên của tôi tổng cộng có mấy tờ tiền? Tính chuẩn, tôi cũng quy y ông; tính không chuẩn, xin ông từ nay về sau đừng có nói bậy, giả thần giả quỷ nữa."
Tôi nghe xong im lặng không nói gì.

Anh ta hăm dọa: 
"Sao vậy, ông dám không? Hôm nay tôi đến đây chính là để phơi bày sự thật về ông, tôi là người cả đời không tin quỷ thần, ghét nhất là hạng người như ông."
Tôi nói: 
"Vị tiên sinh này, năm xưa tính cho phó liên trưởng Ngụy là việc bất đắc dĩ, bởi vì ông ấy là cấp trên của tôi. Nhờ có sự chứng minh của phó liên trưởng, tôi ở trong quân đội tiện lợi hơn, đồng thời cũng có thể nhân đó độ nhiều người quy y Phật của tôi, điều này thực sự là vạn bất đắc dĩ."
"Hôm nay ông tính số tiền trong túi áo trên của tôi, nếu chuẩn, tôi nhất định quy y, tương tự, tôi cũng sẽ giới thiệu nhiều người đến quy y, tuyệt đối không thất hứa, thế nào?"
Tôi cười khổ. Tôi nói: 
"Chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, Chư Thiên đã từng bảo tôi rằng, từ nay về sau nếu còn có hạng người như vậy đến, hỏi trên người có bao nhiêu tiền, chỉ cần từ chối là được, bởi vì ngày ngày đi tính cho người ta trên người có bao nhiêu tiền thực sự là việc vô nghĩa, hãy làm những việc có ý nghĩa, đừng làm những việc vô nghĩa nữa."
"Vậy ông cho rằng tôi là kẻ vô nghĩa sao?"
"Không dám!"
"Vậy ông tính hay không tính?"
"Không tính!"
Anh ta nói: 
"Hôm nay ông không tính tức là xem thường tôi, tôi cũng được xem là người có tên tuổi trong xã hội, tầm ảnh hưởng của tôi cũng không nhỏ, tôi sẽ tìm truyền thông tiêu diệt kẻ hại người như ông."
Anh ta tức giận vì xấu hổ.

Tôi nói: 
"Thế này nhé! Tôi chỉ dẫn cho anh một con đường sáng, anh có nghiệp báo, chỉ có không đánh golf nữa mới có thể tránh khỏi kiếp nạn này, đây là lời khuyên chân thành của tôi dành cho anh."
"Tôi không chơi golf, vậy chơi môn thể thao nào?"
Tôi nói: 
"Bơi lội, quần vợt, bóng rổ, bóng chuyền, bóng đá, chạy bộ..., những môn này đều được, chỉ là không được đánh golf."
"Thật nực cười!"
"Tôi chỉ nói đến đây thôi, tin hay không là tùy anh!"

Anh ta nói: 
"Người đời đều nói, ông tính toán thần kỳ số một, tôi là người đầu tiên không tin, ông không thể khiến tôi tâm phục khẩu phục, trái lại còn khuyên tôi đừng chơi golf, thật là trò cười."
Tôi lắc đầu thở dài.

Anh ta bỏ đi một cách kiêu ngạo. Mãi đến hai năm sau, tôi nhìn thấy đoạn tin tức này, là tin tức khiến tôi kinh hãi.


### 32. Cảnh báo trong mơ


Liên Hoa Thanh Thành là đệ tử đầy lòng sùng kính, lấy Đại Uy Đức Kim Cang Minh Vương làm Hộ pháp. Tu pháp trì chú nhiều năm, Hộ pháp thường nhập mộng, những điều báo mộng của ngài rất linh nghiệm, gia quyến cùng bạn bè thân hữu đều kinh ngạc trước khả năng tiên tri của ông.

Một đêm nọ, Đại Uy Đức Kim Cang nhập mộng, báo cho biết: "Kiếp trước ông từng dùng lửa thiêu đốt rừng cây, nhiều sâu bọ kiến vì thế mà mất mạng, mà nghiệp báo đã đến, nhà ông tất sẽ bị hỏa hoạn, sau mười lăm ngày, tất nhiên là như vậy."

Liên Hoa Thanh Thành tỉnh dậy, rất sợ hãi, lại một lần nữa khẩn thiết cầu nguyện Hộ pháp, hy vọng được hộ trì bình an vô sự. Đêm hôm đó, Đại Uy Đức Kim Cang lại báo cho biết:
"Hãy mau cầu Liên Hoa Đồng Tử."

Liên Hoa Thanh Thành tỉnh dậy, liền gửi fax đến Chân Phật Mật Uyển. Đồng thời chuẩn bị hương, hoa, đèn, trà, trái cây, hướng về Liên Hoa Đồng Tử cầu nguyện gia hộ, một lòng một dạ niệm tâm chú Liên Hoa Đồng Tử: "Om guru liansheng siddhi hum."

Bởi vậy, Liên Hoa Đồng Tử hiện thân trong mơ:
"Hai ngày sau là ngày trực Trừ, cần vào buổi chiều, chuẩn bị một chiếc thuyền pháp bằng giấy dùng để siêu độ sâu bọ kiến, trong thuyền chứa đầy tiền vãng sinh. Lại chuẩn bị một ngôi nhà hoa lệ bằng giấy, ở sân sau nhà mình, đốt lên giữa không trung, khi đốt thì trì tụng tâm chú Liên Hoa Đồng Tử. Như vậy thì có thể hóa việc lớn thành việc nhỏ, hóa việc nhỏ thành không có, cẩn thận ghi nhớ, cẩn thận ghi nhớ."

Liên Hoa Thanh Thành nhận được điềm báo trong mơ như vậy liền vội vàng chuẩn bị một chiếc thuyền pháp, một ngôi nhà hoa lệ, toàn bộ đều bằng giấy. Rồi đúng vào buổi chiều ngày Trừ, ông đốt chúng giữa không trung ở sân sau nhà mình. Ông không chỉ làm như vậy mà còn ngày ngày tu pháp niệm tụng Liên Hoa Đồng Tử.

Đến ngày thứ mười lăm sau đó, quả nhiên chẳng có chuyện gì xảy ra, mọi thứ vẫn như thường, yên bình tĩnh lặng, cả nhà vui mừng khôn xiết. Tuy nhiên, sự yên bình bất thường này cũng khiến người ta sinh nghi, phải chăng điềm báo trong mơ không chuẩn? Vốn dĩ chuyện hỏa hoạn đâu có xảy ra, chỉ là một trận hoảng sợ vô nghĩa mà thôi, thật là người phàm tự quấy rầy mình, lo lắng uổng phí cả mười lăm ngày.

Liên Hoa Thanh Thành cảm thấy lời cảnh báo của Đại Uy Đức Kim Cang chắc chắn sẽ không có sai sót. Chắc chắn là pháp thay thế mà Liên Hoa Đồng Tử truyền dạy đã phát huy tác dụng, hơn nữa đã độ hóa hết sâu bọ kiến, nên mới hóa việc lớn thành việc nhỏ, hóa việc nhỏ thành không có.

Liên Hoa Thanh Thành và mọi người trong gia đình cùng nhau kiểm tra từng phần của ngôi nhà: gác xép nhỏ, tầng hầm, không bỏ sót chỗ nào.

Kết quả họ phát hiện ra hiện tượng chập điện ở phòng kho, nơi chất đống đồ linh tinh, đã làm cháy đen một mảng tường nhỏ, chỉ là không cháy thành hỏa hoạn lớn. Liên Hoa Thanh Thành lập tức mời thợ điện đến, sửa chữa toàn bộ đường dây điện, dọn dẹp phòng kho, sơn lại mảng tường nhỏ.

Lúc này cả nhà mới biết rằng hỏa hoạn cháy nhà là có thật, nhưng chỉ là chỉ cháy một mảng tường nhỏ, lửa liền tắt. Đây chính là: "Hóa việc lớn thành việc nhỏ, hóa việc nhỏ thành không có."

Nhờ đó, Liên Hoa Thanh Thành hiểu được ba ý nghĩa:

Thứ nhất, việc đời dù lớn hay nhỏ, đều là nhân duyên quả báo, cũng đều là kiếp quá khứ, kiếp hiện tại, kiếp vị lai, một mạch nhân quả dính với nhau. Như vậy, bất kể chuyện gì xảy ra, không nên oán trời trách người, bởi vì toàn là tự mình làm tự mình chịu, như thế mới có thể yên tâm thoải mái.

Thứ hai, một người tu hành, nếu hiểu rõ nhân quả, chỉ cần nghiệp quá khứ chín muồi, nhân duyên đã định, thật sự là rất khó trốn thoát. Hầu như tất cả mọi sự việc diễn biến, toàn là túc mệnh, trong mệnh đã có định sẵn.

Thứ ba, ngày nay, chỉ có đại Bồ Tát từ bi mới có thể thay đổi; chỉ có người tu hành, mới có thể thay đổi. Mật giáo có pháp tiêu tai, có pháp tăng ích, có pháp kính ái, có pháp hàng phục, cũng chỉ có như thế mới có thể thay đổi vận mệnh, đây chính là môn học lập mệnh.

Chân Phật Tông có tám pháp tiêu tai.
1. Đọc tụng "Kinh Cao Vương" 1000 biến. 
2. Trì tụng tâm chú Căn bản Thượng sư 1 triệu biến. 
3. Tu pháp sám hối 200 đàn. 
4. Lễ bái cúng dường xây chùa, tháp, tạc tượng Phật.
5. Niệm danh hiệu chư Phật Bồ Tát cho đến tương ứng. 
6. Thiền định đắc giới định huệ lực. 
7. Căn bản Thượng sư tu pháp gia trì thay thế chuyển dịch. 
8. Chân không hóa vô.


### 33. Bệnh phì đại nang trứng


Một ngày nọ, có một chàng trai trẻ đến tìm tôi, hóa ra chàng trai trẻ này mắc chứng tinh hoàn sưng phù, bệnh này còn gọi là sa nang, theo cách nói dân gian là "sa ruột", tức là ruột sa xuống, khiến tinh hoàn sưng phù, to như một quả bóng nhỏ.

Anh ta đã từng dùng bài thuốc của thầy thuốc Đông y: Sâm Cao Ly hai tiền, bạch truật một tiền, bạch phục linh tám phân, cố chỉ tám phân, tân lang tám phân, tiểu hồi hương tám phân, sa nhân tám phân, hương phụ tám phân, ô dược canh tám phân, hoàng bá hai phân, trạch tả hai phân, lệ chi hạch một tiền, nguyên hồ năm phân, mộc hương năm phân, thăng ma ba phân, cam thảo hai phân. Hai bát nước sắc còn tám phần, uống lúc bụng đói.

Bài thuốc này đã chữa khỏi bệnh nhân có tinh hoàn to như cái bát đã mắc bệnh nhiều năm.

Anh ta lại dùng: bột đỗ trọng, mỗi lần năm phân, hai quả trứng gà trộn đều, dùng lửa nhỏ rán, không cho muối và mì chính, rán chín rồi dùng, sáng tối mỗi lần một lượt. Bài thuốc này chữa bệnh thoát vị (sa ruột), vài ngày là khỏi.

Anh ta còn đi khám Tây y. Tây y muốn mổ. Anh ta rất sợ.

Do Đông y điều trị đã lâu mà không khỏi. Tây y thì muốn mổ, anh ta lại sợ, cuối cùng chỉ còn cách tìm đến tôi. Tôi dùng phù chữ "Thượng", chuyên trị sưng tấy, ba lá phù đưa cho anh ta uống, nhưng lại không có hiệu quả.

Sau đó anh ta lại đến tìm tôi. Tôi hỏi: 
"Có khá hơn không?"
"Không có hiệu quả!"
Tôi rất kinh ngạc: 
"Phù chữ Thượng này là phương thuốc thần kỳ, ai dùng đều công hiệu, đối với anh không hiệu quả, tất có nguyên nhân khác."

Tôi nhắm mắt lại. Nhìn thấy mây ngũ sắc bay phấp phới, trong mây xuất hiện khuôn mặt của chư thần, đều là tướng phẫn nộ. Vẻ rất tức giận.
Tôi nói: 
"Anh đã xúc phạm các thần!"
Anh ta đáp: 
"Không có."
"Anh hãy nghĩ kỹ xem anh đã xúc phạm chư thần như thế nào? Bởi vì tôi thật sự đã nhìn thấy sự phẫn nộ của chư thần."

Chàng trai trẻ này khi ấy mới nói với tôi rằng nhà anh ta mở cửa hàng bán đồ thờ cúng Phật, cha anh là chuyên gia điêu khắc tượng Phật, tượng thần, hồi nhỏ anh lớn lên giữa những tượng Phật bằng gỗ, tượng thần bằng gỗ.
Tượng Phật chia ra:
Phôi thô. (hình dạng thô sơ)
Phôi trung bình. (hình dạng hoàn thành)
Phôi tinh xảo. (tô điểm công phu tinh tế)

Cha anh điêu khắc tượng thần Phật, còn con trai thì nhìn nhiều quá nên không để tâm, coi tượng thần Phật như trò nhảy nhót. Tức là khi vào phòng điêu khắc, hoàn toàn không kiêng kỵ, giữa các tượng thần Phật bằng gỗ, nhảy nhót lung tung. Cố tình bước qua phía trên tượng thần Phật, không chỉ thế, chàng trai trẻ không biết trời cao đất dày này còn nói đùa một cách sỉ nhục: "Cho ông cắn của quý của tôi!" [Câu nói gốc là một câu chửi thề ở mức độ rất thô tục trong tiếng Đài Loan.]

Bước qua trên tượng thần tượng Phật thì chưa là gì, còn nói: "Cho ông cắn của quý của tôi!" Mỗi lần làm chuyện này, anh ta lại đặc biệt vui vẻ.

Sau đó, khi anh ta lớn lên, đột nhiên cảm thấy bìu (tinh hoàn) sưng đau, đi lại khó khăn, điều trị nhiều năm nhưng vẫn không khỏi.

Nghe chuyện vô tri của chàng trai trẻ, tôi bật cười ha ha. Tôi nói: 
"Điêu khắc tượng Phật từ xưa phải chọn ngày tốt giờ lành, nghiêm ngặt hơn nữa là phải trai giới tắm gội, rửa tay sạch sẽ rồi mới điêu khắc. Điêu khắc thánh tướng phải đốt hương trì chú, trong đó thủ tục rất nhiều, đều là vì sự cung kính. Còn anh không có gì kiêng kỵ, xúc phạm thánh tướng, tự nhiên có tội, anh phải sám hối mới có thể khỏi."

Chàng trai trẻ này sau khi được tôi chỉ dẫn, về nhà mỗi ngày hướng về những pho tượng gỗ đã được điêu khắc lạy ba trăm lạy, ngày ngày thực hiện, không dám lơ là. Kết quả, lạy liên tục 49 ngày, không cần uống thuốc, cũng không cần uống phù, bìu tự nhiên co lại trở về bình thường.

Cửa hàng đồ thờ cúng Phật này tôi rất quen, bố anh ấy là bạn tốt của tôi, tay nghề của bố anh ấy rất giỏi, rất nhiều tượng thần Phật ở các chùa đều xuất phát từ tay của bố anh ấy.


### 34. Thuốc viên thần hành


Liên Hoa Phượng Tiên là một cô gái trẻ đẹp, cô nói với bố mẹ: 
"Sư Tôn có thể tam muội thần hành, xuyên suốt tam giới, con cũng có thể làm được!"
Bố mẹ cô cười: 
"Sư Tôn là Sư Tôn, con là con, Sư Tôn là Phật, còn mình là ai? Con là ai chứ!"
Liên Hoa Phượng Tiên nói:
"Liên Sinh là ai, Liên Hoa Phượng Tiên là ai, người có chí thì cũng như nhau."

Bố mẹ cô cho rằng cô con gái nhỏ cũng muốn tam muội thần hành, thật là không biết tự lượng sức mình, nên cũng không quan tâm đến cô.

Không ngờ rằng, ngoài việc đi học và làm bài tập, cô gạt bỏ những mơ ước mà các thiếu nữ theo đuổi, lễ Phật tụng kinh vô cùng tinh tấn cần cù, tu pháp nghiêm túc không chút lười nhác.

Liên Hoa Phượng Tiên đã dốc hết tâm trí vốn dành cho việc đi chơi vào học Phật làm công khóa, và khẩn thiết trì niệm tâm chú Thượng sư đến 8 triệu biến, một lòng cầu nguyện tam muội thần hành.

Một đêm nọ, cô trì tụng tâm chú Thượng sư, bất ngờ đạt đến nhất niệm, bốn bức tường đều phát ra âm thanh tâm chú Thượng sư, bản thân cô dường như cũng hóa thành chú âm. 

Đang lúc mơ hồ hoang mang, cô thấy Liên Hoa Đồng Tử Sư Tôn đứng trước mặt. Sư Tôn mở bàn tay ra, trong lòng bàn tay có một viên thuốc đỏ tươi như chu sa, Sư Tôn nói: "Đây là thuốc viên thần hành, con có thể uống vào."

Cô uống "thuốc viên thần hành", bất tri bất giác cô bất ngờ nhập vào tam muội. Trong khoảnh khắc, Sư Tôn đưa Liên Hoa Phượng Tiên đến Ma Ha Song Liên Trì.

Đây chính là:
*Mây khói nghìn trùng, ánh ngọc châu.
Lầu hồng ngói biếc, báu nhiệm màu. 
Cát vàng, hoa lạ, nước công đức. 
Tam Thánh, chim thần vẫn bên nhau.
Sen nở ngát hương, lá xanh rờn
Cực Lạc nhạc thiêng, khúc ca ngân.
Ung dung nhẹ bước lòng thanh thản,
Đến trước đài sen, kiến Thánh Tôn.*

Và nữa:
*Đời nay có người đã giác ngộ
Tiêu dao xuất trần là Phượng Tiên
Thần hành trời cao nơi xanh biếc
Dạo chơi tam giới chào Thích Ca. *

Bố mẹ của Liên Hoa Phượng Tiên bước vào Phật đường, thấy con gái mình nhắm mắt tĩnh tọa, dường như đã mất tri giác, không dám làm kinh động cô, bèn nhẹ nhàng gõ ba tiếng khánh.
Lúc này cô mới tỉnh lại. Cô nói: "Lư Sư Tôn đã đến, đưa cho con một viên thuốc thần hành."
Lại nói: "Đã du ngoạn Ma Ha Song Liên Trì."
Lại nói: "Xuyên suốt tam giới."

Bố mẹ cô không dám tin, sờ vào đầu cô, không hề sốt, lời nói hành động đều bình thường, thế nên mới yên tâm. Bố mẹ viết một lá thư, gửi đến Chân Phật Mật Uyển ở Mỹ, thỉnh cầu ấn chứng xem Liên Hoa Phượng Tiên có thật sự được Sư Tôn dẫn dắt đi một chuyến đến Ma Ha Song Liên Trì hay không?

Tôi trả lời bằng một bài thơ:
*Phượng Tiên nuốt thuốc cưỡi trên gió, 
Thuyền mây tựa nước ngủ hư không. 
Ngự đến Song Liên chầu bậc Thánh, 
Thoáng chốc vụt qua tựa cánh hồng. 
Tam giới định sâu đâu cũng tại, 
Đời này pháp vị hưởng vô cùng.*

Bố mẹ của Liên Hoa Phượng Tiên đọc bức thư trả lời của tôi, vô cùng kinh ngạc, đồng thời tôi cũng viết ở cuối thư rằng:
"Thuấn là người thế nào, ta là người thế nào, người có chí khí, cũng đều như vậy."

Liên Hoa Phượng Tiên từ đó thông hiểu nhân quả ba đời, thấy điều người khác chưa từng thấy, nghe điều người khác chưa từng nghe, biết tất cả kiếp quá khứ, biết kiếp này như búng ngón tay mà thôi, thế rồi xuất gia tu hành.
Đây chính là:
"Mộng huyễn nhân gian này, thấu hiểu mưa rả rích."

 


### 35. Thần toán ngày vãng sinh


Có một vị Liên Hoa Quân Phiên gửi thư đến:
*"Nghe nói, khi mẫu thân Sư Tôn ở Seattle vãng sinh về cõi Phật, tại Bệnh viện Overlake, bác sĩ cho biết, mẫu thân Sư Tôn phải sau một tuần nữa mới có thể vãng sinh. Nhưng Sư Tôn thần toán, lại báo trước rằng ngày mai lúc 10 giờ sẽ là lúc Phật đến đón, là thời điểm vãng sinh. Các đệ tử có mặt nghe bác sĩ nói một tuần, còn Sư Tôn nói ngày mai (một ngày), đều không biết ai sẽ nói đúng.*

*Kết quả mọi người theo lời Sư Tôn, canh giữ bên giường bệnh, không ngừng niệm Phật, đến ngày thứ hai lúc 10 giờ, mẫu thân Sư Tôn đúng giờ vào thời khắc đó đã vãng sinh. Các đệ tử đều cho rằng thần toán của Sư Tôn thật ra còn chuẩn hơn cả bác sĩ, thật sự không thể nghĩ bàn.*

*Lão già Liên Hoa Quân Phiên tôi tuổi tác đã cao, thân thể yếu đuối, tự biết thời gian trụ thế không còn nhiều, mỗi ngày chỉ tu pháp vãng sinh và niệm Phật không ngừng nghỉ, dám hỏi Sư Tôn Hoạt Phật ngày vãng sinh của lão sẽ vào lúc nào để có sự chuẩn bị, không biết Sư Tôn Hoạt Phật có thể chỉ dạy hay không?"*

Tôi nhận được bức thư này, rất khó xử:
1. Tôi vốn không thần toán ngày vãng sinh của đệ tử.
2. Liên Hoa Quân Phiên đối với sự vãng sinh của mình, mang tâm lý vô tư thoải mái, nhưng gia đình của ông có thể không có vấn đề gì không?
3. Thời kỳ đầu, tôi từng thần toán ngày vãng sinh của một bà lão, lại bị con cái của bà ấy đến tận nhà quở trách, mắng chửi te tua.
4. Vãng sinh, có người không sao, có người có sao, thì tốt hơn hết vẫn là không thần toán.
5. Biết trước ngày vãng sinh, cũng có rất nhiều trường hợp Phật Bồ Tát lại tiếp tục ban thêm thọ mạng, không nhất định chính xác đâu.

Dựa trên những lý do nêu trên, thư trả lời của tôi rất ngắn gọn, chỉ viết vài chữ: "Ban gia trì, tự mình sẽ biết!"

Liên Hoa Quân Phiên vào đêm trước khi nhận được thư trả lời của tôi, lại nằm mơ thấy Sư Tôn Lư Thắng Ngạn hiện thân, Sư Tôn sống động như thật, tay cầm một chuỗi tràng hạt. Sư Tôn đếm chuỗi tràng hạt cho Liên Hoa Quân Phiên xem, tổng cộng 108 hạt. Rồi hỏi Liên Hoa Quân Phiên có hiểu không?

Liên Hoa Quân Phiên thức dậy, đối với chuỗi tràng hạt 108 hạt, không hiểu ý nghĩa của nó là gì? 108 hạt, có phải là sống 108 tuổi? Không thể nào, thế thì quá thọ rồi. Chuỗi tràng hạt vốn dĩ đã có 108 hạt, có phải là muốn Liên Hoa Quân Phiên niệm Phật không ngừng, thuận theo tự nhiên? Tóm lại, Liên Hoa Quân Phiên không hiểu rõ lắm.

Vào đúng ngày 8 tháng 1 năm sau, Liên Hoa Quân Phiên bị ngã, ông chợt nhớ ra con số 108, chẳng phải chính là ngày 8 tháng 1 sao? Liền triệu tập mọi người lớn nhỏ, giao phó hậu sự cho từng người một.

Và trong tiếng niệm Phật, vào chiều ngày 8 tháng 1, đúng giờ tốt lành, ông đã vãng sinh. Sau khi Liên Hoa Quân Phiên hỏa táng thu được: 37 viên xá lợi màu trắng tinh khiết, 37 viên xá lợi nhiều màu, 37 xá lợi hoa nhiều màu sắc. Nhưng khi thu thập xong, về đến nhà đếm lại một lần nữa thì thấy thiếu mất ba viên xá lợi nhiều màu, tìm kiếm mãi cũng không thấy, thế là lại thành 108 viên. Mọi người đều không hiểu chuyện gì xảy ra?

Thật là kỳ diệu thay!

Tôi viết một bài thơ:
*Vãng sinh hoàn toàn dựa bản tâm
Tâm sáng hạo khí tự nhiên mở
Tự thấy thần quang hư không chiếu
Thần toán đoán ra ngày vãng sinh
Chỉ là thuật số chẳng phải đạo
Cái chết dù đến như sấm nổ
Người hiểu diệu đạo đều an nhiên.
*


### 36. Nước chú Diêu Trì Kim Mẫu


Chúng ta biết rằng nước chú Đại Bi trong Phật pháp uống vào thì công đức rất lớn, có thể chữa tám vạn bốn nghìn loại bệnh. Quan Thế Âm sắc lệnh tất cả thiện thần, kim cang mật tích thường theo bảo vệ, lúc lâm chung tùy ý sinh về bất kì cõi Phật nào. 

Phàm là đệ tử của Tam Bảo, tịnh khẩu cung kính tu đều có thể niệm nước chú Đại Bi, có thể tự dùng cho mình, có thể bố thí kết duyên.

Trình tự thông thường như sau:
Cúng một lượng nước. Châm hương đảnh lễ Quan Thế Âm Bồ Tát.
1. Hương tán. Tịnh nghiệp chân ngôn.
2. Phụng thỉnh đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn quảng đại linh cảm Quan Thế Âm Bồ Tát.
3. Chú Đại Bi 49 biến.
4. Chân ngôn bổ khuyết.
5. Dùng tay phải kết kim cương chỉ, ở trên mặt nước viết chữ Hum (tiếng Phạn/Tạng). 
Làm như vậy tức là đã thành nước chú Đại Bi.

Công đức của nước chú Đại Bi, linh cảm rộng lớn của nước này, trong giới Phật giáo người người đều biết. Còn ở chỗ của tôi đây không chỉ có nước chú Đại Bi mà cũng có nước chú Diêu Trì Kim Mẫu. Nước chú Diêu Trì Kim Mẫu này của tôi chỉ một mình tôi có, bởi vì tôi có duyên với luật lệnh Diêu Trì Kim Mẫu.

Tôi thỉnh cầu nước chú Diêu Trì Kim Mẫu, trình tự như sau:
1. Nước âm dương. Nước nóng một nửa, nước lạnh một nửa, hòa lẫn với nhau.
2. Châm hương đảnh lễ. Tịnh nghiệp chân ngôn.
3. Phụng thỉnh Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn. 
(Quán tưởng Kim Mẫu đội mũ phượng, tay trái cầm đào tiên (hoặc gậy như ý), tay phải cầm phất trần của tiên.)
4. Niệm chú Kim Mẫu 108 biến.
5. Dùng tay phải kim cương chỉ ở trên mặt nước viết chữ Hum (tiếng Phạn/Tạng). 
Làm như vậy tức là đã thành nước chú Diêu Trì Kim Mẫu. 

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người, tôi có thể nhìn thấy Diêu Trì Kim Mẫu đến, luôn luôn nhìn thấy Diêu Trì Kim Mẫu phóng quang gia trì nước chú. Hoặc Diêu Trì Kim Mẫu thu nhỏ lại, đi vào trong nước chú, ở trong nước chú, từ toàn thân phóng ra tịnh quang, khiến nước chú tỏa ánh hào quang vạn trượng. 
1. Phóng quang gia trì.
2. Ánh hào quang của nước chú tỏa xa nghìn trượng. (Kim Mẫu nhập thủy)
Nước chú này tất nhiên là có hiệu quả lớn.

Có một người bị câm bẩm sinh, trong làng của người đó, ai ai cũng biết người đó bị câm. Uống nước chú Diêu Trì Kim Mẫu của tôi, không ngờ người đó lại mở miệng tập nói o a, đã có thể nói chuyện rồi. Người trong làng thấy chuyện thần kỳ như vậy, già trẻ cả làng đều quy y tôi.

Có một người mù, trăm bác sĩ chữa không khỏi, uống nước chú Diêu Trì Kim Mẫu, buổi sáng tỉnh dậy, không ngờ nhìn thấy rèm cửa sổ, thế là kêu la ầm ĩ, cả nhà cảm động muôn phần, liền quy y.

Có một người thực vật, nằm liệt trên giường bệnh đã 5 năm. Người nhà đều chấp nhận là đã hết hy vọng rồi. Uống nước chú Diêu Trì Kim Mẫu xong, người thực vật này không ngờ đã tỉnh lại, có thể xuống giường đi bộ. Ngay cả bác sĩ, y tá thấy việc bất khả tư nghì này cũng đều quy y tôi.

Người ngồi xe lăn, từng cầu Lâm X truyền khí, sau khi truyền nhiều lần, suýt chút nữa là không còn khí nữa. Lâm X cũng bó tay. Kết quả là xin nước chú Diêu Trì Kim Mẫu, cuối cùng đã đứng khỏi xe lăn. Thử hỏi, có thần kỳ không?

Có người bị bệnh ngoài da, da dẻ toàn thân lở loét, hôi không ngửi nổi, chỉ uống một cốc nước chú Diêu Trì Kim Mẫu, da dẻ liền khô, đóng vảy, đến khi vảy bong ra thì có làn da mới trắng bóc. Không chỉ như vậy, toàn thân có mùi thơm, giống như một người mới.

Có người mắc ung thư dạ dày, bác sĩ nói, mạng sống chỉ còn ba tháng. Uống nước chú Diêu Trì Kim Mẫu, ung thư dạ dày biến mất, người đó sống tiếp tới nay đã 6 năm, sống rất khỏe. 

Có người sắp chết, các quỷ hiện thân, người sắp chết kêu la ầm ĩ, nói là quỷ đến cả rồi. Tôi đưa nước chú Diêu Trì Kim Mẫu cho người đó uống, các quỷ đều lui đi, đổi thành Bồ Tát đến, người đó đi theo Bồ Tát vãng sinh.

Chuyển lời đến các thánh đệ tử:
Sao không tu pháp nước chú Đại Bi?
Sao không tu pháp nước chú Diêu Trì Kim Mẫu?
Độ mình độ người, cứu người cứu đời.
Có thể lợi ích rộng khắp trời người. Kỳ lạ! Bất khả tư nghì!


### 37. Lão Bồ Tát vãng sinh


Tôi đang ở trong tam muội.
Vừa mới xuất thần liền thấy một đội cờ phướn ô lọng do các Không hành Hộ pháp chống đỡ, và Quan Âm Đại Sĩ ở phía sau, hào quang chiếu sáng.
Có thiên nhạc.
Có hương thơm kỳ lạ.
Có tịnh quang.

Có hai đoạn thơ mô tả:
*"Thiên y phấp phới đượm dáng mây, 
Tịnh quang ngời sáng, tuyết sương vây. 
Việc đời từ nay đều dứt sạch, 
Khi về đến, một đóa sen thiêng diệu lạ thay."*

*"Thân khoác tịnh y, ánh sáng ngời
Thấy luồng quang lạ, hiểu ý trời. 
Bồ Tát hiện thân về tiếp dẫn, 
Chớ ngại ngần, Tây phương Cực Lạc đã đến nơi."*

Tôi đang trong tam muội, chắp tay đảnh lễ Quan Âm Đại Sĩ.
Tôi hỏi:
"Ngài đón ai?"
Đại Sĩ đáp:
"Đón lão Bồ Tát họ Khâu."
Tôi vô cùng kinh ngạc: 
"Lão Bồ Tát họ Khâu là người hàng xóm của tôi, bà tuy già nhưng tinh thần minh mẫn, sống lâu và khỏe mạnh, chưa từng nghe có vấn đề gì về sức khỏe, làm sao lại ra đi đến Tây phương như vậy?"
Đại Sĩ đáp: 
"Tuổi già ở nhân gian không còn nơi nào để đi, trần thế hồng trần không bằng xứ thanh tịnh, sao không theo ta bước trên mây hương, hoa sen khắp nơi bay trong khói sương."
Tôi hỏi:
"Lão Bồ Tát khi nào ra đi?"
"Bảy giờ tối."
Tôi lại hỏi:
"Lão Bồ Tát ra đi như thế nào? Không bệnh mà tự nhiên mất?"
"Ăn một viên bánh trôi, rồi ra đi."
"Có thể để bà ấy ở lại chút nữa không?" - Tôi thường gặp lão Bồ Tát chắp tay niệm Phật, thật lòng không nỡ chia ly như vậy.
Đại Sĩ nói:
"Liên Sinh, hoa tàn xuân đã qua, ngài há chẳng hiểu sao?"
"Hiểu rồi, hiểu rồi, tôi hiểu."
Đại Sĩ nói:
"Hãy nghĩ về chính ngài, nhân gian khổ nhất, đi khắp chân trời, độ tri kỷ, tìm tin tức, ai bầu bạn ngài, uổng công dạy người, ai thương xót ngài?"
"Bản thân tôi khi nào ra đi?" - Tôi hỏi.
Đại Sĩ đáp: 
"Ngày trở về vẫn chưa định?"
"Đại Sĩ cũng đến đón tôi à?"
"Tự mình đi." - Đại Sĩ nói.
Tôi ra khỏi tam muội.

Ngày hôm sau, tôi nghe được một tin, lão Bồ Tát họ Khâu ở nhà bên cạnh vào lúc 7 giờ tối, đang ăn cơm ở nhà, mọi thứ đều bình thường, nhưng đã ăn một viên bánh trôi (bánh tròn), bị nghẹn ở cổ họng, không thở được, và cứ thế mà ra đi. Khi ra đi, sắc mặt vẫn như bình thường, miệng lúc nào cũng mỉm cười, những người xung quanh đều ngửi thấy hương thơm kỳ lạ thoang thoảng.

Nghĩ lại, cách viên tịch như vậy cũng được coi là cái chết hạng nhất rồi, chỉ vài giây vài phút, so với lúc già mắc bệnh, quằn quại trên giường bệnh thì tốt hơn nhiều.

Tôi từng nghĩ như thế này: Tôi phải cứu lão Bồ Tát họ Khâu. Bảo bà bữa tối đừng ăn bánh trôi (bánh tròn).

Nhưng, tôi lại nghĩ: Lão Bồ Tát họ Khâu tuổi tác thực sự cũng đã rất cao rồi, một người sống đến tám mươi tám tuổi, gần chín mươi tuổi rồi. Những người bạn cùng trang lứa đều đã qua đời hết, hôm nay không phải người này chết thì là người kia chết, gần như chỉ còn lại một mình bà thôi, nhân gian trở nên vô cùng buồn chán. Lão Bồ Tát họ Khâu ngoài niệm Phật ra, những sở thích khác đều không còn nữa, thà rằng an nhiên mà đi còn hơn.

Tôi nghĩ lại cuộc đời mình, ha ha ha, đơn giản chỉ là một vở kịch, lại cũng là một giấc mơ, như huyễn, như ảo, vinh nhục đều quên hết, tất cả sẽ theo gió mà tan biến.
Chẳng còn việc gì? Ta còn việc gì nữa đây?
Nước thu trong vắt,
Núi xanh mờ ảo.


### 38. Đi! Đi! Đi!


Thời kỳ đầu, tôi ở Đài Loan giúp người xem phong thủy, từng giúp cho một đại gia xem phong thủy chọn đất để chôn cất ông nội của họ, đại gia này ở Đài Loan cũng được coi là nhân vật có tiếng tăm lẫy lừng.

Đại gia mời trăm vị tăng nhân tụng kinh, buổi truy điệu này có lẽ là một trong những cảnh tượng lớn bậc nhất nhì, lúc đó quan khách kéo đến như mây, từ tổng thống ở trên cho đến các bậc đứng đầu địa phương ở dưới, ai nấy đều đến dâng hương.

Tôi chỉ là một thầy phong thủy, nhưng họ cũng mời tôi đến. Lúc đó tôi chưa xuất gia, tuy nhiên đã từng học tập khóa nghi thức, vì vậy, biết các tăng nhân xướng tụng những gì.

Tăng nhân tụng "Kinh Kim Cang".
Xướng:
*Nam Kha, kê vàng, một giấc mộng
Ngẫm kiếp người được mất mấy hồi. 
Có sinh có tử đều do mệnh
Giàu sang nghèo khó cũng vô thường.
Hồn bay phách lạc về đâu đây
Tính sáng tâm không ngóng quê cũ
Đối trước hư không lòng triệu thỉnh
Nhờ thấm kinh chú hướng Tây phương.*

Lại niệm: "Văn phát nguyện Tây phương".
Lại niệm: "Kệ sám hối vong linh".

Trong lúc chư tăng xướng tụng, từ quan to đến quan nhỏ lần lượt tiến lên dâng hương cúi chào, còn con cháu hiếu thảo thì lần lượt khấu đầu tạ ơn. Lúc đó tôi chỉ là một kẻ nghèo hèn bé nhỏ, đương nhiên phải đứng sau mọi người, tôi là người dâng hương cuối cùng. Ban đầu tôi định không tiến lên phía trước, vì cảnh tượng hoành tráng như thế này khiến tôi rất sợ hãi, nên tôi co ro rúm ró. Nhưng chủ nhà nhìn thấy tôi, ra dấu cho tôi dâng hương. Tôi là người cuối cùng bước lên phía trước, không dám nhìn đám đông người hai bên, tôi dâng hương vào lư, trong miệng lại nói: "Đi! Đi! Đi!"

Tôi nói chữ "Đi" này vốn là để tự khích lệ bản thân mình, bước lên phía trước đi dâng hương, đừng sợ sệt e dè, những nhân vật lớn hai bên cũng là người thôi, có gì đáng sợ đâu, tôi là thầy phong thủy xem phong thủy cho gia chủ, chẳng liên quan gì đến những nhân vật lớn này cả.

Chư tăng tụng "Kinh Kim Cang" bảy ngày, khi lễ sám viên mãn, ban đêm chủ nhà mơ thấy ông nội đến nói với ông ta rằng: "Ông nội vì ở dương gian tạo nghiệp, vô tình phạm vào nghiệp sát sinh, lại còn có nhiều nghiệp chướng khác, vì thế, hồn phách bị oan gia trái chủ bức bách, không thể chịu đựng nổi sự khổ đau ấy. May mắn thay con đã mời được một vị quý nhân đến dâng hương, vị quý nhân này đứng ở vị trí cuối cùng, khi người ấy dâng hương, miệng niệm: Đi! Đi! Đi! Chỉ vừa niệm như vậy, chúng oan gia trái chủ kinh hoàng, bỏ chạy tán loạn, giờ đây ông mới có thể thăng lên thiên giới, các con hãy thay ông cảm tạ vị quý nhân này."

Chủ nhà đại gia này mơ thấy ông nội dặn dò, không dám coi thường, liền muốn tìm ra người đứng ở vị trí cuối cùng dâng hương, đồng thời người này nói: "Đi! Đi! Đi!"

Họ tra sổ dâng hương: Người cuối cùng là thầy phong thủy Lư Thắng Ngạn.

Họ không tin Lư Thắng Ngạn là quý nhân, ông chẳng qua chỉ là một người bình thường mới bắt đầu sự nghiệp. (Chỉ là có chút danh tiếng.) Tuy nhiên, khi tra xem sau Lư Thắng Ngạn có ai khác đến dâng hương không, câu trả lời là "Không có".

Chủ nhà tìm cơ hội hỏi tôi:
"Khi anh dâng hương, có nói gì không?"
Tôi trả lời: 
"Tôi không nói gì cả."
"Thật sao?"
Tôi không dám che giấu, chỉ có thể nói thật:
"Trong đầu tôi chỉ nghĩ đến việc tiến lên dâng hương, khích lệ bản thân: Đi! Đi! Đi!"
Chủ nhà nói:
"Thế thì đúng rồi, ông nội tôi nói phải cảm tạ anh."
"Cảm tạ cái gì?"
"Cảm tạ anh đã siêu độ ông nội tôi, thăng lên thiên giới."
"Anh đừng nói bậy. Đi! Đi! Đi! Đâu phải là siêu độ? Anh phải cảm tạ tất cả chư tăng."
Cuối cùng chủ nhà mới kể lại nguyên do, chính tôi nghe xong cũng khá ngạc nhiên.

Cho đến nay nghĩ lại, có lẽ lúc tôi niệm trong miệng: Đi! Đi! Đi! vô tình trên đỉnh đầu hiện ra tam quang, "luật lệnh của Phật Tổ" phát ra, khiến các quỷ vật kinh hoảng bỏ chạy!


### 39. Một kinh nhiều kinh


Có một vị xuất gia tên là Thích Huệ Hoằng đến Seattle Lôi Tạng Tự ở Hoa Kỳ để tìm tôi, lúc đó tôi vẫn còn ở Chân Phật Mật Uyển chưa đến Tahiti ẩn cư. Vị pháp sư Huệ Hoằng này chuyên nghiên cứu kinh tạng, rất thông thạo về biện kinh luận, khá tự mãn.

Huệ Hoằng hỏi tôi: 
"Ngài Lư Thắng Ngạn đã đọc bao nhiêu kinh, kinh Tiểu thừa, kinh Đại thừa, biết bao nhiêu?"
Tôi không đáp.

Huệ Hoằng lại hỏi: 
"Tiểu thừa A Hàm bộ, Tiểu thừa bộ, Đại thừa Hoa Nghiêm bộ, Phương Đẳng bộ, Bát Nhã bộ, Pháp Hoa bộ, Niết Bàn bộ, Bí Mật bộ, ngài đã đọc hết tất cả chưa?"
Tôi không nói gì.

Huệ Hoằng hỏi: 
"Thế nào gọi là kinh?"
Tôi đáp: 
"Cái này tôi biết. Kinh trong tiếng Phạn là sutra, là giáo pháp mà Phật đã thuyết giảng, từ "Tôi nghe như vầy" cho đến "tín thọ phụng hành", đó chính là kinh."
Huệ Hoằng hỏi: 
"Ngài khế hợp với kinh bộ nào?"
Tôi đáp: 
"Tôi tu Mật giáo, khế hợp với Kinh Đại Nhật, Kinh Kim Cang Đỉnh v.v..."
Huệ Hoằng hỏi: 
"Ngài có thể tụng thuộc lòng không?"
Tôi đáp: 
"Không thể."
"Có thể quán thông nghĩa lý của nó không?"
"Đại khái thôi." - Tôi đáp.
"Kinh điển nào mà ngài có thể tụng thuộc lòng? Người thường có thể tụng thuộc Kinh Tâm, Kinh Kim Cang, Kinh A Di Đà, Phổ Môn Phẩm, Kinh Bát Đại Nhân Giác Ngộ, Kinh Khổng Tước Minh Vương, v.v..."
Tôi nói: 
"Tôi có thể tụng thuộc Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh."
Huệ Hoằng cười lớn, nói: 
"Bộ kinh này không phải do Phật thuyết, chỉ là kinh truyền qua giấc mộng, thuộc loại khuyết kinh, ngụy kinh, nghi kinh, ngài tụng thuộc kinh này có vấn đề gì không?"

Tôi nghiêm giọng nói:
Một là, Kinh Cao Vương này là bộ kinh tôi gặp thủa ban đầu, có duyên phận sâu sắc.
Hai là, Kinh Cao Vương này có ý nghĩa lịch sử, thịnh hành vào thời nhà Đường.
Ba là, Kinh Cao Vương này toàn là danh hiệu Phật Bồ Tát, không có gì nghi ngờ.
Bốn là, Kinh Cao Vương này chư Phật Bồ Tát viên mãn tất cả, thuần chân không giả.
Năm là, Kinh Cao Vương này có thể nhiếp phục tâm tôi, đó là đại nghĩa.
Sáu là, Kinh Cao Vương này văn ngắn dễ hiểu, rất dễ tụng thuộc.
Bảy là, Kinh Cao Vương này có thể diệt khổ sinh tử, tiêu trừ các độc hại, người đời rất ưa thích.

Huệ Hoằng nghe tôi nói như vậy, chỉ nói:
"Tại sao không tụng thuộc kinh do Phật thuyết, mà lại tụng thuộc một bộ kinh truyền qua giấc mộng?"
Tôi đáp:
"Đó là nhân duyên, trong đó có hồng danh Đức Phật Thích Ca. Còn có chân ngôn Thất Phật diệt tội."
Huệ Hoằng nói:
"Số kinh tôi có thể tụng thuộc lòng nhiều hơn ngài rất nhiều, tôi có thể tụng Kinh Pháp Hoa, tụng Kinh Kim Quang Minh, tụng Kinh Tâm Địa Quán, tụng Kinh Niết Bàn, tụng Kinh Bảo Tích..."
Tôi nghe xong, cũng hết sức kinh ngạc.

Vị pháp sư Thích Huệ Hoằng này ngày hôm đó về đã có một giấc mơ. Mơ thấy tịnh thổ Tây phương Cực Lạc thế giới, pháp sư cũng đến Phật quốc tịnh thổ, Phật A Di Đà cho Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn ngồi trên tòa sen vàng, còn cho pháp sư Thích Huệ Hoằng một tòa sen bạc, vị trí kém hơn một chút.

Pháp sư Thích Huệ Hoằng trong lòng bất bình, hỏi Phật A Di Đà: "Lư Thắng Ngạn này chỉ tụng thuộc Kinh Cao Vương, còn tôi tụng thuộc vô số kinh điển, vì sao địa vị lại thua ông ta?"
Phật đáp: "Liên Sinh chỉ một kinh, nhưng niệm kinh nhập diệu, có thể phát ra hương khí, có thể phát ra thiên nhạc, có thể phát ra tịnh quang, có thể rải hoa mưa, có thể độ bỉ ngạn, có thể đạt thập phương tam thế. Còn ông tuy có thể tụng thuộc nhiều kinh, dù hiểu nghĩa lý nhưng vẫn chưa thể nhập diệu, nên kém hơn một chút rồi."
Thích Huệ Hoằng không còn gì để nói.

Sau đó, ông gửi đến một bức thư, trong thư có ý sám hối, hiện tại ông chỉ tụng Phẩm Phổ Môn Bồ Tát Quan Thế Âm, cũng mong có thể tụng kinh nhập diệu.

Tôi tụng thuộc Kinh Cao Vương, hàng chục năm như một ngày, không dám có một lần quên lãng, cũng không dám lơ là, đi tàu đi xe đều tụng, miệng tụng, tai nghe, in vào tâm, ngày ngày đều như vậy, cũng không biết đã tụng bao nhiêu lần, đến nay cũng đã có đại chứng nghiệm.


### 40. Từ chối sắc dục cũng là một việc thiện


Khi Liên Hoa Thanh Sơn qua đời, Không hành mẫu đã đưa hồn phách của ông bay đến nơi tôi bế quan ẩn cư.

Tôi chiêm bói một phen, hết sức kinh hãi. Tôi nói:
"Thanh Sơn, dù ông là đệ tử của tôi, nhưng chẳng tu một pháp nào, chẳng niệm một chú nào, chẳng giữ năm giới, chẳng làm một việc thiện nào. Suốt đời chỉ lo bon chen, lăn lộn trong đống tiền, giờ tôi phải đưa ông đi đâu mới được đây?"
Liên Hoa Thanh Sơn cúi đầu không nói gì.

Lúc này, bên ngoài chỗ ở của tôi có nhiều lính quỷ đến, cầm lệnh bắt và xiềng sắt, muốn đến bắt trói, chỉ là họ ở bên ngoài chỗ ở của tôi la hét inh ỏi nhưng lại không thể vào được trong nhà.

Liên Hoa Thanh Sơn thấy tình hình cấp bách, trong lòng hoảng sợ, liền kêu: "Sư Tôn! Nhất định phải cứu tôi! Sư Tôn! Nhất định phải cứu tôi!"

Tôi nghĩ thầm:
Đưa Thanh Sơn đến Ma Ha Song Liên Trì, đó là việc không thể, bởi vì "Kinh A Di Đà" nói: "Xá Lợi Phất, không thể dựa vào nhân duyên ít căn lành phúc đức mà được sinh về cõi ấy."
Nếu Thanh Sơn bị lính quỷ bắt đi, dùng xiềng sắt xiềng lại, bị bắt đến địa ngục, lòng tôi cũng không nỡ.
Tôi rơi vào thế lưỡng nan.

Sau đó, tôi nói với Liên Hoa Thanh Sơn: "Ông hãy ghi nhớ một câu chú: "Ôm a-mi-tê-wa sê". Rồi hãy ghi nhớ kỹ lời tôi, nếu thấy một quán rượu, nhớ kỹ, đừng uống rượu; nếu thấy gái rượu dụ dỗ ông, phải nghiêm khắc từ chối, như vậy tôi mới có thể cứu được ông.
Liên Hoa Thanh Sơn gật đầu xưng vâng.

Thế rồi tôi mở cửa, để cho lính quỷ bắt ông đi, quỷ tốt xích ông lại rồi đi. Đến nửa đường quả nhiên có một quán rượu, quỷ tốt vào nghỉ ngơi, Liên Hoa Thanh Sơn thấy gái rượu xinh đẹp, cầm rượu đưa cho ông uống.
Ông nhớ lời tôi.
"Đừng uống."
Gái rượu xinh đẹp lại tranh nhau chen chúc đến dụ dỗ ông.
Ông nhớ lời tôi.
"Đừng động miệng, đừng động tay, đừng động tâm."
Ông như như bất động.
Kết quả, "rầm" một tiếng. Quán rượu đột nhiên biến mất, cả lính quỷ cũng biến mất, xiềng xích trên người cũng đều biến mất.

Liên Hoa Thanh Sơn thân ở trong hoang dã tối tăm, một mình lẻ loi bước đi, đến được âm phủ.
Quan âm phủ tra xét nhân quả của ông.
Đầu tiên là lắc đầu.
Sau đó lại gật đầu.
Quan âm phủ nói: "Người này vốn chẳng có một việc thiện nào, nhưng sau đó, ông không uống rượu là một việc thiện, nghiêm khắc từ chối sắc dục lại là một việc thiện."

Quan âm phủ hỏi:
"Ngươi quy y Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, có biết niệm chú không?"
Ông nhớ lại câu chú tôi dạy ông:
"Ôm. A-mi-tê-wa. Sê."
Liên Hoa Thanh Sơn niệm mãi không ngừng.

Đột nhiên trước mắt ông hiện ra bảy ngọn núi, bảy ngọn núi này đều là những núi lớn, trong đó sáu ngọn núi đều có sơn thần, riêng có một ngọn núi trống không, không có sơn thần.
Quan âm phủ nói:
"Đi đi! Ngọn núi đó là của ngươi."

Vậy là Liên Hoa Thanh Sơn đã trở thành sơn thần của ngọn núi đó.

Tại sao Liên Hoa Thanh Sơn lại trở thành sơn thần? Nguyên nhân tất nhiên là do việc thiện không uống rượu, việc thiện từ chối sắc dục, cộng thêm ông niệm tâm chú Di Đà, nên được vãng sinh về nơi ở của sơn thần.

Còn tại sao ông không thể thăng lên Ma Ha Song Liên Trì? Câu trả lời rất đơn giản, là vì trong tâm ông không có Phật quốc tịnh thổ, do đó, ông hoàn toàn không thể vãng sinh về Phật quốc tịnh thổ. Việc quy y và quán đảnh của ông, chỉ là đi theo người ta đến, đi theo người ta đi, thực ra không có tâm. (Không có tâm này là không có tâm tu hành.)

Lại nữa, pháp hiệu của ông là Liên Hoa Thanh Sơn. Có duyên ở "Thanh Sơn" (núi xanh) làm thần núi. Ha ha!


### 41. Lư Thắng Ngạn đã giác ngộ chưa?


Có người chỉ trích Lư Thắng Ngạn: "Chưa ngộ mà nói đã ngộ, chưa chứng mà nói đã chứng."
Có người chỉ trích Lư Thắng Ngạn: "Ngộ sai."
Có người chỉ trích Lư Thắng Ngạn: "Căn bản không hề khai ngộ."
Có người chỉ trích Lư Thắng Ngạn: "Căn bản không hiểu khai ngộ là gì?"
v.v…

Khai ngộ rốt cuộc là chuyện như thế nào?
Cái gọi là khai ngộ, theo nghĩa văn tự, là khai "trí" ngộ "lý", cái được gọi là "chiếu sáng Phật pháp".
Cái gọi là "tất cả chúng sinh u tối, đèn tâm sáng ngời".

"Phó Pháp Tạng Truyện" viết:
"Lúc bấy giờ Mã Minh mặc y phục trắng, vào trong đám nghệ sĩ, tự tay đánh chuông trống, lời hòa cùng đàn cầm đàn sắt, âm điệu bi thương thanh nhã, giai điệu thành tựu, diễn tuyên các pháp, khổ không vô ngã. Lúc ấy trong thành này năm trăm vương tử đồng thời khai ngộ, nhàm chán ngũ dục, xuất gia làm đạo."

Khai ngộ cũng là "khai thị ngộ nhập", là "khai" tri kiến của Phật, "thị" tri kiến của Phật, "ngộ" tri kiến của Phật, "nhập" tri kiến của Phật.

Còn Lư Thắng Ngạn đã khai ngộ chưa?

Ngày xưa, có một vị đại hòa thượng Hiển giáo đến gặp tôi, hỏi:
"Lư Thắng Ngạn, ông khai ngộ cái gì?"
Tôi đáp: 
"Lôi Tạng Tự."
Lại hỏi:
"Ngoài Lôi Tạng Tự ra, còn có gì nữa?"
Tôi vẫn đáp:
"Lôi Tạng Tự."

Vị đại hòa thượng Hiển giáo nghe tôi mở miệng là "Lôi Tạng Tự", ngậm miệng cũng là "Lôi Tạng Tự", chẳng hiểu đầu cua tai nheo ra làm sao, thấy tôi mơ hồ khó hiểu, liền rảo bước bỏ đi. Còn tôi thì cười lớn ha ha.

Đại hòa thượng không biết rằng hai chữ "Lôi Tạng" có ý nghĩa phi phàm, cái gọi là "tiếng sét chấn động mười pháp giới, tàng chứa Như Lai hiển chân như", hai chữ "Lôi Tạng" này chính là ngôn ngữ khai ngộ.

Âm thanh lớn nhất trên thế giới này là tiếng sét.
Đánh trống đại pháp, thổi loa đại pháp, lấy sét làm đệ nhất thắng nghĩa, Phật Thích Ca Mâu Ni trụ trì Đại Lôi Âm Tự chính là vậy.

Kinh Pháp Hoa, phẩm Phương Tiện: "Xá Lợi Phất, vì sao gọi là chư Phật Thế Tôn, chỉ vì một đại sự nhân duyên nên xuất hiện ở thế gian. Chư Phật Thế Tôn muốn cho chúng sinh mở tri kiến Phật, khiến được thanh tịnh nên xuất hiện ở thế gian. Vì muốn chỉ dạy tri kiến Phật nên xuất hiện ở thế gian. Vì muốn cho chúng sinh ngộ tri kiến Phật nên xuất hiện ở thế gian. Vì muốn cho chúng sinh nhập vào đạo tri kiến Phật nên xuất hiện ở thế gian."

Chữ "Lôi" của tôi, chính là "khai", mở mười pháp giới.
Chữ "Tạng" của tôi, chính là "ngộ", hiện báu vật trong kho tàng.

Lôi phá vô minh, mở Như Lai tạng, thấy lý thực tướng, chướng hoặc đã trừ, tri kiến toàn hiển, thể đầy đủ vạn đức, hiển thị phân minh, chướng trừ thể hiển, pháp giới hạnh minh, sự lý dung thông, không còn hai thú, sự lý đã dung, tự tại vô ngại, nhậm vận lưu chú, nhập biển Tát Bà.

Xin hỏi:
"Lư Thắng Ngạn tôi đã khai ngộ chưa?" (Cái tôi này là Phật tính.)
Về phương diện minh tâm: Tâm quá khứ bất khả đắc, tâm hiện tại bất khả đắc, tâm vị lai bất khả đắc, ba tâm bất khả đắc.
Còn tôi hiểu rằng: "Vô sở đắc tâm, Như Lai tâm."
Tôi khai ngộ, vì thế an tâm cảnh.

Về phương diện kiến tính: Cái tạng ngã Như Lai này, duy ngã độc tôn, ngã tức Phật tính, tôi thân chứng Như Lai tạng thức, ánh sáng rực rỡ, tròn đầy, thanh tịnh đệ nhất, vô cấu vô nhiễm, bất tăng bất giảm, bất nhất bất dị, hằng trụ quang minh.
Chân như là tôi.
Tôi là chân như.
Tôi thân chứng đệ nhất thực tướng chân ngã Phật tính.
Tôi khai ngộ, vì thế tôi kiến Phật tính.

Bây giờ tôi đã là một người minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử, có thể coi là người duy ngã (Phật tính) độc tôn, người phàm thánh hợp nhất, người bất nhất bất dị, vì một nhân duyên đại sự mà xuất hiện ở thế gian, là người đệ nhất có bảo tạng trong thân.
Người hỏi: "Lư Thắng Ngạn đã khai ngộ chưa?"
Tôi đáp: "Lôi Tạng Tự."


### 42. Sấm sét giữa trời quang


20 năm trước.
Chùa tổ của Chân Phật Tông - Hoa Kỳ Seattle Lôi Tạng Tự, vào ngày hoàn thành việc treo biển hiệu. Tấm biển vừa được treo lên, trên bầu trời quang đãng không một gợn mây, bỗng nhiên một tiếng sét dữ dội vang lên.
Sấm nổ vang rồi!
Mọi người đều kinh ngạc. Dưới mặt trời chói chang lại có sấm sét, đây chẳng phải là "sấm sét giữa trời quang" hay sao?

Bao nhiêu năm qua, các Lôi Tạng Tự ở các quốc gia, các thành phố trên thế giới lần lượt dựng lên pháp tràng vĩ đại.
Lôi Tạng Tự khánh thành cũng lần lượt có tiếng sấm vang dội.
Lôi Tạng Tự vừa được xây dựng xong, tất có tiếng sấm chấn động lớn. Xin hỏi, đây là nhân duyên gì?
Đây là đại nhân duyên bất khả tư nghì!

Ngày xưa, khi tôi còn trẻ, tại cung Trấn Lan ở Đại Giáp, Đài Loan, thấy ở sân giữa đặt một vại nước lớn, phía trên treo một con quạ bằng giấy (quạ lửa đen).
Hóa ra là đạo sĩ cầu mưa.
Đài Loan hạn hán nặng nề. Các đạo sĩ cầu mưa đã rời đi.

Tôi tiến lên phía trước, chắp tay hướng về trời, tôi nói: "Mưa hãy đến đi!" Đêm hôm đó, quả nhiên mưa như trút nước, liên tục ba ngày ba đêm, hạn hán hoàn toàn được giải trừ.
(Có người nói mưa là do các đạo sĩ cầu được. Tôi không dám tranh công, các đạo sĩ cầu được thì là các đạo sĩ cầu được.)

Ngày xưa.
Indonesia hạn hán nặng nề. Tôi đến Senayan ở Jakarta làm pháp hội, pháp hội vừa kết thúc, chỉ mười phút sau, toàn bộ Indonesia đổ mưa to. Indonesia là quốc gia nghìn đảo, mà toàn bộ quốc gia nghìn đảo này tất cả đều mưa lớn, hạn hán hoàn toàn được giải trừ.

Tôi nói trong pháp hội: "Phải khiến toàn bộ Indonesia, đều mưa to." Kết quả, mười phút sau, trời đổ mưa kinh khủng. (Có người nói, đó là các trưởng lão Hồi giáo cầu mưa được, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chỉ là trùng hợp ngẫu nhiên mà thôi. Tôi không dám tranh công, nếu là các trưởng lão Hồi giáo cầu được, thì chính là các trưởng lão Hồi giáo cầu được.)

Gần đây, nơi tôi ẩn cư bị hạn hán nặng nề. Theo phong tục địa phương, người ta khiêng tượng thần ra ngoài, phơi dưới nắng gắt chói chang, ý nghĩa là để tượng thần cũng được phơi nắng gắt, biết sự khốc liệt của hạn hán.

Nước hồ cạn khô, lộ đáy, đáy hồ nứt nẻ. Nước hồ chứa cạn khô. Cây trồng không có nước tưới, cây trồng héo chết, nông dân than trời kêu đất. Bể bơi ngừng cấp nước, không được rửa xe, không được tưới cỏ, v.v…

Tôi ăn chay trai giới. Vẽ ba lá Long phù. Rải lên hư không, hư không nổi lên cơn gió lớn, ba con rồng bay vút lên trời, chỉ một lúc sau, vừa có sấm, vừa có mưa, vừa có gió, mưa ào ào, liên tục mưa cả tuần.
(Lần này, không ai biết tôi đã làm pháp, nên không ai nói gì về tôi. Chỉ nói rằng, thần minh linh ứng mà thôi.)

Tôi nói:
Cầu sấm được sấm.
Cầu mưa được mưa.
Cầu gió được gió.
Tôi không phải là Khổng Minh (Gia Cát Lượng), ông ta cầu mượn gió đông, đốt cháy chiến thuyền liên hoàn, phải dựng đàn Thất Tinh. Xõa tóc, cầm gươm, lên xuống pháp đài ba lần, dùng Đạo pháp của thiên thư Kỳ Môn Độn Giáp.
Khổng Minh mượn gió đông, nghi quỹ chu toàn, trịnh trọng lên đàn làm pháp. Còn tôi, tôi chỉ chắp tay mà thôi.


### 43. Liên Hoa Y Cẩm được con


Ở một thị trấn, gia đình Liên Hoa Y Cẩm là dòng họ danh giá nơi đây, vừa giàu có vừa quyền quý. Chồng của Y Cẩm làm quan đến chức huyện trưởng và bộ trưởng, gia đình vô cùng viên mãn hạnh phúc.

Dòng họ này đời đời tu tích hậu đức, thường ngày sùng kính tin tưởng Phật giáo, hơn nữa còn có chùa gia đình riêng. Rất ít người nghe nói đến chùa gia đình này, đó chính là ngôi chùa do họ tự mình xây dựng, thờ phụng Quan Thế Âm Bồ Tát làm chủ tôn.

Chùa gia đình này khá có quy mô, có đại điện, sảnh phòng trái phải, có vườn hoa, hồ phóng sinh, lầu hóng mát. Chủ yếu là bà mẹ chồng của Y Cẩm thích lễ Phật niệm kinh, bà mẹ chồng thành tâm tin tưởng Quan Thế Âm Bồ Tát nên mới xây dựng.

Vợ chồng Liên Hoa Y Cẩm không thiếu thứ gì, khuyết điểm duy nhất là không có con cái. Họ đi khám sức khỏe, đều bình thường. Nhưng nhiều năm vẫn không có thai. Họ làm theo lời khuyên của thầy thuốc Đông y, uống thuốc cũng không có kết quả.

Liên Hoa Y Cẩm tại chùa gia đình của mình cầu xin Quan Thế Âm Bồ Tát, xin được một quẻ xăm, trong quẻ xăm chỉ thị: "Hãy tìm người đầu hổ."

Cô không hiểu "người đầu hổ" nghĩa là gì, hỏi một vị học giả cao tuổi, học giả cao tuổi nói với cô, đó là ý nói trong họ có "đầu hổ", chính là họ "Lư". Chữ "Lư" phía trên có bộ Hổ.
Họ "Lư" ư? Biển người mênh mông, người họ Lư nhiều biết bao nhiêu, lại làm sao tìm?

Sau đó có một cơ duyên, cô mua được một cuốn "Linh Tiên Phi Hồng Pháp", hoá ra là chân tích phù lục bí truyền, tác giả chính là Lư Thắng Ngạn.
Cô tra cứu phù lục, tìm thấy: phù sinh con trai, phù an thai, nhưng không tìm thấy phù có thai. Cô thất vọng.

Sau đó, cô không còn do dự gì nữa, cô trực tiếp viết một lá thư, dựa theo địa chỉ trong sách gửi đi, hỏi xem có "phù có thai" hay không?
Thư vừa gửi đi, đêm hôm đó cô nằm mơ. Mơ thấy một người đàn ông, tự xưng là Lư Thắng Ngạn, một tay bồng một bé trai, một tay bồng một bé gái, hỏi cô: "Muốn con trai hay con gái?" Cô đáp: "Cả hai đều muốn." "Sẽ như ý cô, hãy quy y với ta." "Vâng."

Sau khi tỉnh giấc, cô tự cho là vì ban ngày nghĩ nhiều nên ban đêm mới mơ thấy, nên không để tâm đến. Khoảng ba tuần sau, cô nhận được thư hồi âm từ Seattle, Hoa Kỳ, bên trong lại có một lá phù Trời sinh có thai, là loại phù không có trong sách. Cô vô cùng vui mừng, hóa đốt, pha nước rồi uống.

Sau đó, cô thật sự có thai, vợ chồng họ đều rất vui mừng, đi siêu âm, không ngờ là sinh đôi, hơn nữa còn là một trai một gái. Liên Hoa Y Cẩm nhớ lại giấc mơ, kết quả mọi thứ đều ứng nghiệm, liền muốn quy y Lư Thắng Ngạn.

Nhưng sư phụ của mẹ chồng cô là một vị tỳ kheo ni lớn tuổi, vị tỳ kheo ni này không đồng ý quy y với Lư Thắng Ngạn. Vị tỳ kheo ni lớn tuổi nghe người ta nói "Lư Thắng Ngạn là ngoại đạo".

Mẹ chồng kiên quyết phản đối. Liên Hoa Y Cẩm rất hiếu thảo, không dám trái ý bà mẹ chồng, việc này chỉ có thể tạm gác lại. Đến một ngày kia, bà mẹ chồng bỗng chủ động yêu cầu Liên Hoa Y Cẩm mau chóng đi quy y với Lư Thắng Ngạn.

Nguyên nhân gì đây? Hóa ra mẹ chồng trong mơ thấy Quan Thế Âm Bồ Tát, Bồ Tát nói: "Y Cẩm cần quy y với Lư Thắng Ngạn, không được ngăn cản. Lư Thắng Ngạn như biển cả, sâu thẳm không thể lường, nên nương tựa ngài."


### 44. Sự thay đổi đối lập


Cuộc đời tôi kể cũng kỳ lạ, toàn ở trong sự thay đổi đối lập, mà tuyệt đối không phải là đơn nhất. Ví dụ:
Thành tích tiểu học của tôi không tốt, đếm ngược thuộc vào mấy người cuối cùng, trung học cơ sở ở lại lớp hai lần, ai cũng biết, tôi là một đứa dốt ngu xuẩn cực độ, thành tích là thường xuyên ôm trứng vịt. Nhưng thời trung học phổ thông, tôi lại luôn đứng nhất lớp. Chuyện này là sao?
(Bây giờ tôi sở hữu trí huệ Bát Nhã của Phật Đà.)

Khi còn nhỏ, tôi là tín đồ Cơ đốc giáo (đã được rửa tội), coi việc thờ tượng là ma quỷ, Phật giáo là tà giáo. Tuy nhiên, cuối cùng tôi lại trở thành tín đồ của Phật giáo, thành Kim cương Thượng sư, Hoạt Phật (Rinpoche), mỗi ngày quỳ lạy trước tượng trăm lần. Lại là sự thay đổi đối lập.

Cả đời này, tôi chịu nhiều sự chỉ trích từ bên ngoài, bị phê phán đến mức thương tích đầy mình, không có nơi nào để sống, trở thành một kẻ xấu xa tội lỗi không thể tha thứ. Tuy nhiên, những người tin tưởng tôi lại cúng dường tôi như Phật, coi tôi như thánh hiền, như thần thánh, được tôn sùng là Phật gia, được đảnh lễ.

Bản thân tôi cũng biết, nội tâm của tôi cực kỳ thiện lương.
Bên ngoài!
Nội tại!
Hai cực đối lập.

Thân thể của tôi, trong một khoảng thời gian trước khi ẩn cư, não bộ như chia làm tám phần, tứ đại phân tán, nói đơn giản là tôi cận kề bờ vực cái chết, cũng gần như đèn cạn dầu. Tuy nhiên, sau đó tôi lại dần dần khỏe lại, khỏe mạnh một cách không thể tin được, khám sức khỏe mọi thứ đều bình thường, đây là hiện tượng rất kỳ lạ, sáu mươi mấy tuổi lại như hai mươi tuổi. Quả thật là hai cực đối lập.

Nhìn tôi có vẻ như là người thích náo nhiệt, thuyết pháp khai thị nói nói cười cười, làm việc rất tích cực, giữ thái độ lạc quan với cuộc đời, cười ha hả. Nhưng, tôi thường rơi lệ, tôi có thể một lần bế quan liền ba năm, cũng có thể một lần ẩn cư nhiều năm, vừa hiu quạnh, vừa cô tịch, tôi thậm chí có thể ẩn cư cho đến khi già chết.

Các đệ tử cúng dường cho tôi những thứ cực kỳ quý giá, những gì tôi sở hữu cũng được coi là đại phúc rồi. Tuy nhiên, rất ít người biết rằng cuộc sống cá nhân của tôi rất tiết kiệm, rất giản dị, không hoang phí, thậm chí cuộc sống của tôi căn bản giống như một người ăn xin. Quả thật là bất khả tư nghì!

Nhìn bề ngoài, tôi chỉ là một người bình thường, mọi thứ bên ngoài đều không khác gì người khác, đi giữa đám đông cũng chẳng nổi bật chút nào, nói là rõ ràng thì cũng chẳng rõ ràng. Tuy nhiên, Phật pháp của tôi khiến người ta khó lòng thấu hiểu, mọi diễn biến thường ngoài dự liệu của người khác. Tôi có thể thần hành đến mười phương pháp giới, có thể yết kiến Thích Ca Mâu Ni Phật, sự chứng ngộ của tôi chỉ có Phật với Phật mới biết.
Minh tâm.
Kiến tính.
Hoàn toàn triệt để đại ngộ.

Tôi hiểu rằng trong thế gian này, thực sự không có người vĩnh hằng, cũng không có việc vĩnh hằng, chúng ta chỉ là khách tạm trú.

Tôi cũng hiểu rằng, điều thực sự vĩnh hằng là Phật tính, bởi vì tôi đã kiến chứng Phật tính, tôi chính là Phật, Phật chính là tôi. Chỉ có tôi mới là vĩnh hằng.

Bây giờ, có rất nhiều người nói tôi rất nổi tiếng, nhiều người đều biết đến tôi. Nhưng tôi ẩn cư, ẩn họ giấu tên, tự coi mình là "vô danh".

Quyển sách "Trang Tử", mục đích chính là hai chữ "tự do".
Con người Lư Thắng Ngạn chỉ có một chữ, là chữ "Phật".

Tôi nói: "Thông thường một con người chỉ có một dạng tính cách, không phải thiện thì là ác; không phải đúng thì là sai; không phải là người thượng đẳng thì là kẻ hạ tiện; không phải là tài tử thì là người ngu muội."
Nhưng tôi, tôi gồm tất cả.
Ngay cả bản thân tôi cũng không hiểu nổi chính mình! Ha!


### 45. Thế giới của sâu bọ


Tôi rất trân trọng một câu nói của Phật Đà.
Có người hỏi Phật: "Con người là gì?"
Phật đáp: "Ổ sâu bọ!"
(Sâu bọ ở đây ý chỉ vi khuẩn.)

Tôi rất ngạc nhiên khi 2600 năm trước, khoa học y học đều chưa phát triển, nhưng Phật Thích Ca Mâu Ni đã sớm thấu triệt, toàn bộ thế giới này hoàn toàn là thế giới của những sâu bọ nhỏ.

Con người ơi con người! Căn bản chính là tinh trùng của cha, noãn trùng của mẹ kết hợp với nhau mà hình thành.

Năm ấy, có một đàn sâu bọ nhỏ vô số kể gây rối loạn đã đến cõi Ta Bà này, gây nên sự chấn động vô cùng lớn cho loài người, loài sâu bọ này được đặt tên là SARS.  Cái tên này đặt thật hay: "Chết vì xung sát!"

Tổ chức Y tế thế giới, đối với bệnh lở mồm long móng, cúm gia cầm, sốt xuất huyết, bệnh bò điên, bại liệt ở trẻ em..., đã phải ứng phó đến mức mệt mỏi kiệt sức, còn đang bất lực trước AIDS thì lại đến loài sâu bọ nhỏ Sars này, khiến thế nhân nghe đến Sars là mặt biến sắc.
Đã chết không biết bao nhiêu người?
Ngay cả các bác sĩ trẻ khỏe mạnh cũng đã chết!

Hễ bệnh viện nào bị nhiễm Sars đều phải phong tỏa hoàn toàn. Loại sâu bọ nhỏ này, thậm chí còn chưa có vắc-xin, xuất hiện đột ngột, các chuyên gia khắp thế giới hoàn toàn bó tay. Chỉ có thể dùng biện pháp phòng ngừa và phong tỏa.

Các sân bay trên toàn thế giới đều phải đề phòng nghiêm ngặt, những người mang mầm bệnh của loại sâu bọ nhỏ này đã trở thành "phần tử khủng bố". Ở những quốc gia được tuyên bố là vùng dịch, người người đều sợ hãi, rất nhiều chuyên gia y học, ban đầu đều ôm hy vọng có thuốc chữa trị, nhưng cuối cùng kết quả lại chỉ là một câu trả lời duy nhất: "Thất vọng!"

Loài sâu bọ nhỏ gây rối loạn này khiến loài người vốn tự cho mình là văn minh khoa học, y học tiến bộ, trở thành con "rùa" rụt đầu vào mai, ngay cả các bác sĩ chuyên chữa bệnh cũng bỏ chạy tán loạn.
Hoặc bị giam giữ.
Hoặc bỏ trốn.
Hoặc chết.

Chính lúc thế nhân ai nấy đều hoang mang bất an suốt ngày, tôi thương xót thế nhân, khuyên các đệ tử của tôi, người người đều trì tụng chú Kim Mẫu: "Om jinmu siddhi hum."

Tôi đắm mình sâu trong tam muội, tam muội này vốn chỉ có Đại Giác Kim Tiên mới đạt được, cũng là diệu pháp trong Phật pháp, là nguồn cội bất sinh bất diệt, cũng là tiền tam tam, cũng là hậu tam tam.

Trong không tịch tùy tôi biến hóa, Phật tính như như tùy ý tôi đi, thể trang nghiêm cực kỳ thanh tịnh, tôi đã đến Diêu Trì tiên cảnh.
Cảnh tiên u tịch, 
Ánh lành tỏa ra. 
Chi lan thơm ngát, 
Lấp lánh sương hoa.

Diêu Trì Kim Mẫu đã sớm biết ý định của tôi, đặc biệt sai tiên cô Đổng Song Thành trao cho tôi một chiếc túi vải nhỏ màu trắng. Chiếc túi vải nhỏ này rất nhỏ, chỉ có thể chứa vừa một đồng xu.
Kim Mẫu nói: 
"Đi đi! Đi bắt những con sâu bọ nhỏ!"
"Nhỏ thế sao?"
"Gặp gió thì lớn, có thể chứa núi Tu Di, núi Côn Lôn."
Thế là, tôi mang theo chiếc túi nhỏ màu trắng rời khỏi tiên cảnh Diêu Trì.

Kể từ ngày hôm đó, những con sâu bọ nhỏ Sars đột nhiên biến mất hoàn toàn, ngay cả bản thân tôi cũng không hiểu tại sao? Chưa bao giờ có ai biết những con sâu bọ nhỏ này đến từ đâu. Cũng chưa bao giờ có ai biết những con sâu bọ nhỏ này tan biến như thế nào. Tóm lại, đột nhiên xuất hiện, đột nhiên biến mất, thế giới này dường như không ai biết tại sao những con sâu bọ nhỏ này lại đột nhiên biến mất.
Sars sẽ quay trở lại chứ?
Sars đã biến mất như thế nào?
Bạn hỏi tôi.
Tôi hỏi ai?


### 46. Cứu người bị sát hại


Ở trong tam muội, tôi từng đến một nơi, thấy hai nước đang chinh phạt nhau, linh hồn của những người đã chết lang thang khắp nơi. Tôi rất muốn cứu những người bị sát hại. Nhưng đột nhiên có một vấn đề: "Phải cứu người của nước nào mới đúng?"

Tôi nhớ lại lời của Lý Thái Phát:

Hơi hướm chiến tranh tối tăm khắp đất Ngô Sở, sông Giang, sông Hán lạnh lẽo, hoang tàn từ lâu. Những bậc anh hùng hào kiệt năm xưa giờ nơi đâu. Rót chén rượu tưới xuống đất để tế Nghiêm Quang [Nghiêm Tử Lăng - một cao sĩ thời Hán từ chối làm quan, chọn ở ẩn câu cá.] Nhìn về phương Nam thấy lũ sài lang đang cắn nuốt, hãm hại dân lành. Trông về phương Bắc thì thấy vùng Trung Nguyên đang nghiêng ngả, rối ren. Ngẩng đầu hỏi trời xanh. Thôi thì quay về, từ chối gặp gỡ khách khứa bạn bè, con đường làm khách đã nếm đủ mùi gió sương khổ ải rồi.

Đóng cửa sống ẩn dật, trong nhà đọc sách soi rọi nghìn năm lịch sử, nghiên cứu thời Tam Hoàng thượng cổ. Nơi ở đẹp như thắng cảnh Lan Đình xưa kia, vẫn như xưa có dòng nước chảy quanh những khóm trúc cao. Bên cạnh có ánh hồ rộng mênh mông, thỉnh thoảng thả một chiếc thuyền con như chiếc lá, hát nghêu ngao, sống kiêu hãnh giữa vùng sông nước mây trời. Nhắn gửi lời đến người khách cưỡi cá kình [chỉ Lý Bạch hoặc các bậc tiên nhân đã thoát tục], cớ sao lại muốn quay trở về vùng đất phương Nam hoang vu này làm chi?

Gần đây đọc "Tam Quốc Chí": Tào Tháo, Tôn Quyền, Lưu Bị, bạn ủng hộ vị nào?
Còn có: Iraq, Mỹ, bạn ủng hộ nước nào? Hàn Quốc, Triều Tiên, bạn nghiêng về phía nào?

Tôi chỉ là một hành giả tu hành, ẩn cư tại hồ Diệp Tử, thậm chí nhà cũng sắp không còn nữa chứ đừng nói đến nước.

Đây chính là "tóc sương trắng ngại xuân soi xét, nấn ná hoài lại hết một năm, hoa xưa cài lại âm thầm, thân này giang hải, mộng đầm đìa trôi. Biết đâu là chốn nhà tôi?"

Tôi, người hành giả này, có quá nhiều điều không hiểu. Chỉ biết rằng chiến tranh giữa nước này với nước kia quá tàn nhẫn, quá khủng khiếp, quá đáng sợ, đối với toàn bộ lịch sử nhân loại, đối với sự tàn sát giữa người với người, cảm thấy vô cùng vô vị và khinh thường, tôi căn bản không hề đánh giá cao bộ mặt của một số chính trị gia!

Trong lịch sử, đã có bao nhiêu quốc gia, bao nhiêu cuộc chiến tranh, bao nhiêu thường dân đã chết trong kiếp binh đao. Thật đáng thương những cảnh gia đình tan nát, thân tàn ma dại.

Con người tôi không hiểu những đại sự quốc gia, tôi cũng không muốn tìm hiểu rõ ai đúng ai sai, ai công ai tư, ai chính ai giả, ai lớn ai nhỏ, ai lại vì cái gì, ai lại vì ai, ai là người lương, ai là giặc cướp.

Tôi chỉ là:
Chân cảnh chín phẩm Tây phương, 
Hồ sen Cực Lạc quê hương đi về.
Cù Đàm, Lão, Trang đề huề
Kinh thư ẩn giấu bồ đề diệu sâu. 
Tôi là Chân Nhân xuất thế, 
Giáng trần cứu độ thế nhân muôn loài. 
Chẳng phân ai đúng ai sai
Xót thương con dại lạc loài trần gian. 

Trước kia, tôi còn phân biệt ai nên độ, ai không nên độ.

Bây giờ, chỉ cần "hữu duyên" thì tôi độ. Như đại dịch bệnh trên toàn thế giới, còn phân biệt quốc gia nào nữa sao? Tôi thương xót tai kiếp của địa cầu, dặn dò các đệ tử trì tụng tâm chú Diêu Trì Kim Mẫu, đại dịch tự nhiên được giải trừ.

Như những trận sóng thần lớn, động đất lớn trên toàn thế giới, còn phân biệt quốc gia nào nữa sao? Tôi thương xót tai kiếp của địa cầu, dặn dò các đệ tử trì tụng chú cứu nạn của Đại Tự Tại Như Lai, khiến cho đại kiếp nạn tự nhiên được giải trừ.

Tôi không quan tâm là nước nào, chỉ cần có tai kiếp nạn thì đều phải cứu, bất kể là người của nước nào đều là chúng sinh!
Phật và chúng sinh, ai nặng ai nhẹ? Chúng sinh nặng, Phật nhẹ.
Phật và chúng sinh, ai đứng thứ nhất? Chúng sinh đứng thứ nhất.

Nếu không có chúng sinh thì Phật sẽ mất đi ý nghĩa, chính vì có chúng sinh mới có Phật.

Tại hồ Diệp Tử của tôi, tôi bắt đầu thu nhận những linh hồn bị sát hại, tôi giảng dạy Phật pháp cho những linh hồn này, khiến cho tất cả chúng sinh nhiều như bụi trần, ai nấy đều thăng lên thiên đường.


### 47. Vài mẩu chuyện ma


Khi tôi sống tại Nam Sơn Nhã Xá ở tiểu bang Washington, Hoa Kỳ, nhà hàng xóm có nuôi một con chó tên là Thông Linh. Con chó Thông Linh này rất có linh tính, thấy người lạ thì sủa, người quen thì không sủa, bảo nó ngồi thì nó ngồi, bảo nó đứng thì nó đứng, bảo nó cắn vật gì thì nó cắn, nó hiểu cả tiếng Anh lẫn tiếng Quốc ngữ!

Điều kỳ lạ là:
Khi Thượng Sư Liên Hương đi qua, nó không sủa, nó biết đó là hàng xóm.
Khi tôi đi qua, nó nhất định sủa, thậm chí đôi mắt lóe ánh sáng xanh, sủa điên cuồng vào sau lưng tôi.
Chủ nhân con chó đã nhiều lần bảo chó Thông Linh đừng sủa tôi, và giới thiệu tôi cũng là hàng xóm. Nhưng con chó không nghe, vẫn cứ sủa không thôi.
Chủ nhân con chó tức giận, đành phải nhốt chó vào trong nhà.

Con chó Thông Linh này chỉ sủa tôi mà không sủa người khác, chủ nhân con chó cũng cảm thấy thật là lạ lùng, không biết làm thế nào!

Tuy nhiên, tôi biết rõ. Phía sau tôi, có một bầy ma theo tôi học Phật pháp, con chó Thông Linh thấy ma thì hoảng sợ, làm sao có thể không sủa điên cuồng.
Đây chính là: Nó vì tôi mà phát cuồng.

Thêm nữa, tôi đi du lịch xa, đêm ngủ tại khách sạn, khách sạn này vốn là nơi ở của một đội lính ma. Nghe nói có lúc sẽ náo động khách sạn, có người nghe thấy giữa đêm khuya tiếng lính ma thao luyện: "Nghiêm!" "Nghỉ!" "Hướng phải quay!" "Hướng trái quay!" "Chém chặt! Giết! Giết! Giết!"

Khách du lịch nhìn ra ngoài cửa sổ, trong sương mù mịt mờ ở sân giữa, có một đội lính ma đang thao luyện, người nào thấy đều vô cùng kinh hãi, không dám ở lại nữa, ngày hôm sau liền dọn đi, khách sạn này nổi tiếng với "ma thao luyện binh" tại địa phương.

Đêm tôi ở lại, nghe thấy một tướng ma nói với lính ma: 
"Hôm nay mọi người nghỉ một ngày, không thao luyện nữa."
"Tại sao?"
"Đêm nay trong khách sạn, có các anh hùng hảo hán từ khắp nơi đến, số lượng nhiều hơn chúng ta, chúng ta ít không địch nổi nhiều, nên mọi người nghỉ ngơi thôi."
"Họ có chiếm địa bàn của chúng ta không?"
"Không, họ do một vị Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn dẫn đầu, chỉ ở một đêm, ngày mai sẽ đi, chúng ta hãy yên tâm chờ đợi, đối với Hoạt Phật, chúng ta phải kính trọng."

Đêm đó rất yên tĩnh. Tôi ngủ rất yên ổn, nhưng nếu tôi rời đi, tôi không biết lính ma có còn náo động nữa hay không?

Lại có một lần nữa, tôi đến một nhà hàng, hai đứa con của chủ nhà hàng đều là bệnh nhân tâm thần, chủ nhân cầu xin tôi chữa trị cho hai đứa con này. Ngay khi tôi vừa đến, bệnh tâm thần của hai đứa con đó liền khỏi hẳn, không còn cười điên cuồng hay la hét nữa, trở nên ngoan ngoãn như người bình thường.

Tôi làm kết giới trên người chúng, ý nghĩa của kết giới là không cho ma quỷ có thể nhập vào thân nữa. Chủ nhân vô cùng vui mừng, mời tôi dự tiệc thịnh soạn.
Hỏi tôi: 
"Sư Tôn vừa đến, bệnh liền khỏi hẳn, không thấy vẽ phù làm phép, đó là phép thần diệu gì vậy?"
Tôi đáp: 
"Đó là ma đánh ma."
"Ý gì vậy?"
"Ma tôi mang đến lớn hơn ma nhỏ nhập vào thân chúng, vì vậy, tôi không cần động tay, bệnh tâm thần liền khỏi."
Chủ nhân sững sờ.
Tôi cười lớn ha ha, tôi nói: "Ma là bạn tốt của tôi đấy."


### 48. Liên Hoa Đồng Tử ở nhà bạn


Tôi ẩn cư tại hồ Diệp Tử đã gần 5 năm, 5 năm qua cuộc sống đơn giản và đều đặn, tôi đã hoàn toàn thích nghi với cuộc sống độc cư và nghỉ ngơi cả bảy ngày trong tuần, danh lợi phú quý của thế tục hoàn toàn không liên quan gì đến tôi.

Còn về sự phỉ báng hay ca tụng trên đời, những gì đã thấy thực sự đủ nhạt rồi. Tôi cười lớn ha ha, tự nhiên như gió thổi cỏ động.

Tuy vậy, tam muội của tôi vẫn tinh tấn không ngừng, một mình độc cư tại hồ Diệp Tử, nhưng phân thân khắp mười pháp giới.

Xin nêu một ví dụ:
Có một đệ tử tên là Liên Hoa Sĩ Kỳ từng nghe người ta nói rằng dùng gỗ bị sét đánh để chạm khắc pháp ấn hoặc tượng Phật là linh nghiệm nhất. Gỗ bị sét đánh là những cây cổ thụ trong rừng, khi gặp sấm chớp đánh, cây bị gãy làm đôi, phần gỗ hơi cháy đen này,khi dùng để chạm khắc pháp ấn hoặc tượng Phật sẽ có linh khí.

Liên Hoa Sĩ Kỳ đã mua được một khúc gỗ bị sét đánh lớn. Ông ta nghĩ thầm: "Hãy chạm khắc một bức Liên Hoa Đồng Tử!" Tuy nhiên, công việc kinh doanh của ông bận rộn, thường xuyên phải bay qua lại giữa các quốc gia trên thế giới, luôn không có thời gian rảnh để chạm khắc tượng Liên Hoa Đồng Tử từ khúc gỗ bị sét đánh, cứ như vậy trì hoãn đã hơn một năm.

Một ngày nọ, ông đi xuống cầu thang, tưởng rằng đã đến mặt đất, thực ra còn một bậc nữa, nên bước hụt, ngay lập tức bị bong gân, toàn bộ bàn chân phải lập tức sưng to như bánh bao hấp. Chân ông bị thương mất một trăm ngày. Ông trở thành "người què", đau đến mức la hét váng lên.

Liên Hoa Sĩ Kỳ đến bệnh viện, bác sĩ chụp X-quang, phát hiện có hiện tượng nứt xương, bảo ông nhập viện nghỉ ngơi.

Đêm đó, ông mơ thấy Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đến, Sư Tôn nói với ông:
"Tôi sẽ bôi thuốc cho ông, thuốc này chỉ cần bôi lên, lập tức mát lạnh, và sẽ không còn đau nữa, chân cũng sẽ mau chóng khỏi!"
"Cảm ơn Sư Tôn." - Ông cảm tạ trong mơ.
Ông hỏi: 
"Sư Tôn thường ở đâu vậy?"
Tôi đáp: 
"Tôi đang ở nhà ông, Pháp thân Liên Hoa Đồng Tử của tôi chính ở trên khúc gỗ bị sét đánh trong nhà ông."
"Hả!" - Ông há miệng không nói được lời nào.

Sau khi tỉnh giấc, chân của Liên Hoa Sĩ Kỳ quả nhiên không hề đau nữa, không chỉ hết đau, mà còn có thể xuống giường đi lại, tất cả chỗ sưng phồng hoàn toàn biến mất, trở lại bình thường như người thường. Bác sĩ cũng vô cùng ngạc nhiên, chỉ qua một đêm đã hoàn toàn khỏi hẳn, nhanh chóng làm thủ tục xuất viện.

Liên Hoa Sĩ Kỳ đại ngộ, Lư Sư Tôn tuy ẩn cư 5 năm, nhưng luôn luôn quan tâm đến cuộc sống và công phu tu hành của đệ tử, Sư Tôn thực ra đang ở trong nhà bạn và luôn luôn ở bên cạnh đệ tử.

Ông lấy ra khúc gỗ bị sét đánh, giao cho cửa hàng Phật cụ chạm khắc một bức Liên Hoa Đồng Tử.
Cúng dường như pháp.
Cả đời đảnh lễ tu pháp.

Đây chính là:
Liên Hoa Đồng Tử sáng vô lường, 
Lưới quang trang nghiêm, đẹp phi thường. 
Pháp thân rộng lớn độ nhân thế, 
Cầu đâu ứng đó, rạng nghìn phương.

Tôi ẩn cư 5 năm, nhưng trong tam muội cũng khắp nơi cứu độ chúng sinh "hữu duyên", ngay cả chúng sinh "vô duyên", chỉ cần trì niệm Nam Mô Liên Hoa Đồng Tử hoặc niệm "Om guru liansheng siddhi hum" đều được cảm ứng vô thượng.

Tôi nghĩ rằng, dù cho tôi viên tịch, nhập Niết-bàn, cảm ứng cũng vẫn như vậy.


### 49. Cứu độ trong hỏa hoạn


Tôi ẩn cư 5 năm tại hồ Diệp Tử, trong 5 năm này, mỗi ngày tu pháp không hề gián đoạn, ngày ngày tụng kinh, trì chú, niệm Phật, thiền định, mỗi ngày viết một bài văn, cũng chưa từng gián đoạn.

Một ngày nọ, tại đàn thành, bỗng nghe có tiếng người: "Sư Tôn cứu hỏa! Sư Tôn cứu hỏa! Sư Tôn cứu hỏa!"

Tôi nhìn xung quanh mình. Không có ai. Âm thanh từ hư không xa xăm truyền đến, lại có thể truyền vào tai tôi.

Tôi không suy nghĩ gì, lập tức kết ấn tường kim cang, đánh thẳng ra hư không. Tường kim cang này vuông vức bốn phía, phía trên lại che bằng lưới kim cang, phía dưới lại dựng nền móng kim cang, vừa vặn bao trùm toàn bộ một ngôi nhà, hoàn toàn kết giới lại. Tuy thân tôi ở cách xa nghìn dặm vạn dặm, nhưng trong hỏa hoạn, tôi đã thay đệ tử ở xa nghìn dặm vạn dặm làm kết giới cho nhà.

Việc này tôi làm xong rồi cũng quên luôn.

Sau đó, tôi mới biết rằng, có một cửa hàng trong trung tâm thương mại bị hỏa hoạn, trong đó có một cửa hàng là của đệ tử Chân Phật Tông. Trong nhà của đệ tử, lửa bùng lên từ bên phải cháy sang bên trái, chắc chắn sẽ cháy đến cửa hàng của đệ tử. Lúc bấy giờ, lửa dữ dội, lại thêm gió lớn, không thể ngăn chặn được.

Đệ tử Liên Hoa Thiếu Văn thấy sáu cửa hàng bên phải chỉ trong chốc lát đã biến thành đất cháy, trong lòng cực kỳ lo lắng, liền la lên: "Sư Tôn cứu hỏa!! Sư Tôn cứu hỏa! Sư Tôn mau cứu hỏa!"

Không ngờ rằng, âm thanh này, tôi đã nghe thấy.

Ngọn lửa này đã tiến đến gần cửa hàng của đệ tử, ánh sáng của ngọn lửa lại xông thẳng vào nhà của đệ tử. Trông thấy cửa ra vào và cửa sổ đều bị lửa nung nóng rực, xong rồi, xong rồi, không còn cách nào, không còn cách nào.

Liên Hoa Thiếu Văn gần như ngất xỉu. Không một chủ cửa hàng nào ở gần đó mà không hồn bay phách lạc. Trong khoảnh khắc ấy, như thể ngọn lửa dữ dội bay bổng nhảy vọt, bay qua cửa hàng của Liên Hoa Thiếu Văn, lao thẳng sang các cửa hàng bên trái, những cửa hàng láng giềng bên trái lại cháy dần từng nhà một.

Hiện tượng kỳ lạ này là: nhà của Liên Hoa Thiếu Văn như thể được che chắn bảo vệ, lửa cháy đến nhưng lại nhảy qua, duy nhất ngôi nhà này không bị cháy, lưỡi lửa như thể có chân, đã nhảy qua mất rồi. Cho dù ngọn lửa lớn cháy đến mái nhà của Liên Hoa Thiếu Văn, lửa cũng không bén lên được, lửa tự nhiên tắt ngấm, thật là kỳ lạ!

Lúc này, xe cứu hỏa, đội cứu hỏa đều đã đến. Dập tắt ngọn lửa bên nhà bên phải. Cũng dập tắt lưỡi lửa bên nhà bên trái.
Tính toán lại:
Bên phải cháy mất sáu nhà.
Bên trái cháy mất ba nhà.

Còn nhà của Liên Hoa Thiếu Văn, một cọng cỏ một cây cối đều không bị cháy, ngay cả một mảnh ngói cũng không mất, toàn bộ ngôi nhà nền móng vững chắc. Hàng xóm láng giềng đều ngạc nhiên, ngay cả nhân viên cứu hỏa cũng khen ngợi không ngớt.

Liên Hoa Thiếu Văn gửi thư về Chân Phật Mật Uyển cảm tạ.

Tôi viết một bài thơ:

*Nhà cháy bùng lên, người kinh hãi, 
Cứu hỏa muộn màng, dân khổ ải. 
Tiên ông thượng giới mấy ai hay? 
Bắt ấn che ngăn phép lạ thay. 
Thần Lửa giáng lâm thiêu vạn vật, 
Chừa lại một nhà, nguyên vẹn ngay. 
Phật ở nơi nao? ... Mây chiều đọng.*

**(Hết.)**

---

---
# File: sach-tam-linh/183-roi-xa-chon-hong-tran.md
# Title: 183. Rời xa chốn hồng trần
---

![image](/img/img_cffaf1c2a04a106756c5a6868931192a.jpg)



## Rời xa chốn hồng trần


🪷 Tôi không còn thuộc về hồng trần

Văn tập: 183
Xuất bản: 20/10/2006
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu


Tôi đi vào một siêu thị. Qua cái nhìn của người bảo vệ đứng ở cửa chính, tôi biết là người bảo vệ này đã nhận ra người quen. Anh ta hướng về tôi gật đầu một cái, ngoài ra không có thêm biểu hiện gì khác.

Tôi thường hay chạm mặt những người bảo vệ kiểu như vậy. Cả hai cùng gật đầu chào nhau một cái rồi tôi nhanh chóng đi vào bên trong trung tâm thương mại (đại siêu thị). Sau đó, theo chiều kim đồng hồ, tôi đi hết các lối đi bên trong siêu thị, hai tay đung đưa, túc tắc rảo bước đi, rồi cũng đi hết cả trung tâm thương mại. Từ lúc tôi đi vào đến lúc đi ra khỏi trung tâm thương mại mất khoảng ba mươi phút. 
 
Tôi đến siêu thị để làm gì?
Đáp án chuẩn nhất chính là: "Mạn bộ kinh hành" (*). 

Đi chậm rãi từng bước chẳng phải là việc nên làm ở trên núi hay sao? Trên núi có thông, có bách, có rừng cây bụi, có chim đỗ quyên (*), có hoa cúc dại, có những con chim hoang dã không rõ tên gọi là gì, thậm chí có cả tiếng côn trùng kêu. 

Nhưng mùa hè, vào những ngày nóng nực bởi ánh nắng mặt trời, tôi thích đến trung tâm thương mại để kinh hành, ở đó có điều hòa nhiệt độ miễn phí, cũng chẳng có nắng mặt trời chiếu tới. 

[ND: Mạn bộ kinh hành: đi từng bước chậm rãi. Chim đỗ quyên: còn gọi là chim tu hú, chim cu cu]

Trong số những gì tôi thấy, tôi đã đi qua: 
Thế giới âm thanh, thế giới thời trang, thế giới sách báo, thế giới trang sức, thế giới ti vi, thế giới dụng cụ, thế giới nhà bếp, thế giới đồ chơi, thế giới xây dựng, thế giới phòng ngủ, thế giới giường tủ, thế giới mành rèm. (Đây là khu vực tầng trên.)
 
Ngoài ra, khu vực ở tầng dưới thì có: 
Thế giới ẩm thực, thế giới hoa quả, thế giới rau củ, thế giới bơ sữa, thế giới đồ uống, thế giới rượu, thế giới nội thất, thế giới kẹo ngọt, thế giới bánh quy, thế giới mỹ phẩm, thế giới bột giặt, thế giới tủ lạnh, máy giặt, điện gia dụng, thế giới vật phẩm hàng ngày, thế giới dụng cụ vận động thể thao. (Đây là khu vực tầng dưới.)
V.v.
 
Tôi tự ngẫm thấy mỗi một con người đều đi vào nhiều thế giới, rồi lại đi ra khỏi nhiều thế giới như vậy. Tôi dùng mắt để chiêm ngưỡng những thế giới xinh đẹp này, sau đó đi ra với tâm trạng vui vẻ, hai tay chẳng có gì, thực sự tôi chẳng cần tiêu tiền mà đã cảm thấy rất sung sướng rồi, rất hạnh phúc rồi. 
 
Nếu bạn có nhiều thời gian rảnh rỗi thì hãy đi vào siêu thị, chậm rãi thưởng thức từng món từng món đồ một. Giữa mình ta và những món đồ có lẽ sẽ tìm thấy cái hợp với mình, chính từ lúc này bạn có thể thử thưởng thức quà tặng của cuộc sống. 
 
Còn tôi:
Chỉ là đến để mà kinh hành.
Đi qua phù du của thế gian.
Như mơ, như huyễn, như bọt, như ảnh.
Như điện, như quang, như gió, như lửa.
Như sương, như mây, như khói, như mưa.
Có quá nhiều "như" rồi đó. 
 
Cuộc đời này của tôi cũng giống như đi vào siêu thị với hai bàn tay trắng, đi ra khỏi siêu thị cũng với hai bàn tay trắng. Mặc dù từ đầu đến cuối đều chẳng có gì, nhưng thực ra là có một cảm giác rất đẹp đẽ, có một tâm trạng rất đẹp đẽ, một cuộc sống vượt ra khỏi hồng trần, một tư tưởng thuần khiết nhất. 
 
Tôi hát một lời ca: 
Hùng tâm vạn trượng nhất trùng trùng,
Phòng trạch thổ địa chuyển nhất thông,
Nhất tâm chỉ quy tại Di Đà,
Thị nhân hi hí lục hải không.
Tinh chuyển đẩu,
Tuế nguyệt thông,
Nhi kim quang đầu dã tấn bạch,
Tiếu kiến song thủ phiến thu phong.
 
Dịch thơ:
Tham vọng trong tâm cao vạn trượng.
Nhà cửa ruộng đất cũng gạt qua.
Một lòng quay về với Di Đà.
Làm người vui giữa biển trời không.
Sao chuyển ngôi.
Tuổi lướt vội.
Đầu hói tóc mai cũng bạc rồi.
Cười nhìn hai tay quạt gió thu.

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Ông lão ở công viên


Tôi ngồi trên ghế băng trong một công viên nhỏ không rõ tên là gì. Tôi rất muốn đưa hai chân lên để xếp thành thế ngồi hoa sen, thế ngồi có hình dáng giống tòa sen, và hai tay cũng thu lại xếp đặt lên hai chân, hai mắt nhắm lại, phong thái nhìn giống như một vị tăng già nhập định.
 	
Tuy nhiên tôi không làm thế. Tôi nghĩ tới nghĩ lui, làm rồi lại thôi. Ở trong công viên nhỏ không một bóng người, giả dụ tôi ngồi với tư thế này ở đây, nếu như có người trông thấy thì nhất định sẽ nói: "Lùi lại!" (ý rằng hãy cẩn thận, coi chừng, đừng tiến đến gần)
 
Tôi nhìn khắp xung quanh. Không khí của buổi sáng sớm rất trong lành, mây cao trời trong veo, gió vi vu thổi nhẹ. Cả công viên nhỏ chỉ có một ông già là tôi, bên trong lối đi nhỏ bằng xi-măng bao quanh công viên chẳng có bóng dáng ai khác.

Trong sắc xanh của cỏ có một vài khóm hoa đang trổ ra mấy bông hoa mới nở he hé, là hoa hồng nhung, hoa nhài ngũ sắc, hoa quế… Đây là điểm nhấn xinh đẹp duy nhất của công viên này. 
 
Có lẽ có người sẽ hỏi: "Ông lão này ngồi trên ghế băng trong công viên làm gì?"
Tôi sẽ đáp rằng: "Chỉ ngồi thế thôi."
"Ngồi thế thôi?"
"Đúng vậy, chỉ ngồi thôi, không làm gì hết."
Tôi cố cười hai tiếng "hây, hây".
 
Như tôi gần đây, đột nhiên lại đọc sách về lịch sử. Đọc Chiến Quốc Sách, Sử Kí, Hán sử, Hậu Hán sử, Tam Quốc Chí, Đông Chu Liệt Quốc chí… Cái lão già này đọc những thứ lịch sử vừa cổ vừa cũ vừa lỗi thời để làm gì?
Chẳng để làm gì cả!
Chỉ là đọc thôi. Cũng giống như "chẳng làm gì cả"!

Rất lâu trước đây, cha tôi đã từng kể với tôi về một nhân vật là cán bộ tiền bối của ông, vốn là người cực kì có quyền thế. Tuy nhiên vào những năm cuối cuộc đời, chỉ còn mình ông ta dắt theo một con chó mỗi ngày.
Ở Toronto, Canada. 
Bên trong một công viên nhỏ, ông ta ngồi trên chiếc ghế băng, dắt theo một con chó già. 
Cha tôi nói: "Đây chính là những năm tháng cuối đời của vị cán bộ tiền bối già đó."
 
Năm đó nghe cha tôi nhắc đến những năm cuối đời của vị cán bộ tiền bối già, tôi cũng không mấy để tâm. Nhưng bây giờ tự nhiên nghĩ lại, thấy bản thân mình ngay đến một con chó già cũng chẳng có. 

Nói thực lòng, cá nhân tôi cũng không thích chó, chó có cái mùi chó không hợp với tâm của tôi. Ấy nhưng tâm trạng của tôi lúc này cũng thực sự đồng cảm với tâm tình của vị cán bộ tiền bối già đó.
 
Đối với cuộc đời này của mình, tôi thực sự không có chút gì oán hận cả, bởi vì tôi biết:
Phần lớn mọi chuyện là không như ý con người. Tất cả mọi việc không thể nào tuyệt đối đúng với kì vọng của con người. Tất thảy đều có số mệnh rồi.
Nhưng,
Mưu sự tại nhân. Thành sự tại thiên.
Tôi đã có một chút hiểu rồi.

Gia Cát Lượng (Khổng Minh) lúc dâng tấu chương nước mắt đầy mặt, bất tri sở vân - không biết phải nói làm sao để vua hiểu! (*) 
Hai người thiếp của Bạch Cư Dị (*), một người là Tiểu Man, từ sớm đã rời xa Bạch Cư Dị, người kia là Phàn Tố cũng rời xa Bạch Cư Dị. Bạch Cư Dị chính bởi điều này trở thành một kẻ hoàn toàn trắng tay, đau đớn đến mức không muốn sống nữa. 
 
"Gián nghênh Phật cốt" của Hàn Dũ đã khiến ông phải vào nhà lao ở Lĩnh Nam. (*)
Cải tổ luật pháp của Vương An Thạch cũng đều thất bại rồi. (*)
"Triều Vân mộ chí minh" của Tô Đông Pha với bốn câu thiền kệ: (*)
Phù đồ thị chiêm,
Già lam thị y.
Như nhữ túc tâm,
Duy Phật thị quy.

Dịch ý kệ:
Lẽ thường người ta bái tháp Phật,
Chọn nơi cửa Phật để trú thân.
Với nàng chỉ cần thanh tâm ấy,
Đã đủ quay về cõi Phật thiêng. 
 
Vẫn còn Đào Uyên Minh ẩn cư nữa.
 
Nhưng tất cả đều là:
"Ô hô ai tai, chết sạch cả rồi!"

Tôi cảm thấy như tôi mới là tốt đó. Tuy bớt đi một chút hăng hái, kì vọng, niềm vui (ở ngoài kia), nhưng tôi lại có thể một mình ngồi ở công viên và còn có:

Đôi mắt đầy hân thưởng,
Tâm tình tràn mỹ lệ.

----------------------------
Bất tri sở vân: trích từ Xuất sư biểu của Khổng Minh. Sau khi củng cố nguyên khí quốc gia và quân đội, Khổng Minh quyết định dẫn quân Bắc phạt đánh Ngụy. Bị triều thần can ngăn (vì hầu hết đại tướng đã già hoặc chết), nhưng ông đã thể hiện quyết tâm khi dâng tấu (Xuất sư biểu) với vua Lưu Biểu: "đối diện với bản tấu này, thần nước mắt đầy mặt, không biết phải nói gì", để vua hiểu tâm nguyện và mong muốn Bắc phạt của ông. Cuối cùng, sáu lần Bắc phạt của Khổng Minh, sau đó học trò Khương Duy cũng tiếp bước chín lần đem quân phạt Ngụy đều thất bại nặng nề. Nhà Thục diệt vong vì hao tổn nguyên khí. Ý của Tôn Sư là hùng tâm tráng trí một thời của Khổng Minh lớn tới như thế, rồi cũng đi vào dĩ vãng mà thôi.

Bạch Cư Dị (772 - 846): nhà thơ nổi tiếng nhà Đường, Trung Quốc, cũng là một trong những nhà thơ hàng đầu trong lịch sử thi ca. 
Hàn Dũ và "Gián nghênh Phật cốt": Hàn Dũ (768 - 824) là nhà thơ, một vị quan đời Đường. Vua Ðường Hiến Tông vào những năm cuối đời rất sùng đạo Phật, nghe nói trong Pháp Môn Tự có thờ một đốt ngón tay của Đức Phật, cứ 30 năm mới mở cửa cho mọi người vào chiêm bái. Hiến Tông lập tức cho rước đốt xương đó vào cung thờ cúng, sau lại rước ra chùa cho mọi người xem. Những cuộc đưa rước, chiêm bái của vua hết sức linh đình, xa xỉ. Vua tin thì quan viên cũng hùa theo, một phong trào sùng bái xương Phật lan tràn khắp nơi, người giàu thì đua nhau quyên tiền hương hỏa, người nghèo thì chầu chực xin những nén hương trong chùa rồi tự đốt đến bỏng thân thể để chứng tỏ lòng thành kính. Hàn Dũ phóng bút viết bài "Gián nghênh Phật cốt" (còn gọi là Luận Phật cốt biểu) dâng lên can gián Hiến Tông, lời lẽ rất đanh thép, cứng rắn, có đoạn khuyên vua nên ném xương Phật vào nước lửa, Phật có giáng tội ông xin chịu hết. Vì việc này mà ông đã bị tống vào ngục. 
Vương An Thạch (1021 - 1086): là nhà cải cách lớn nhất thời Bắc Tống ở Trung Quốc, ông chủ trương cải cách pháp chế để cứu nước cứu dân nhưng đã bị giai cấp thống trị chống đối nên đã thất bại, tuy vậy những việc làm của ông khiến cho nhân dân rất yêu mến. 
Tô Đông Pha (1037 - 1101): tên thật là Tô Thức, là nhà thơ nhà văn nổi tiếng thời Tống, Trung Quốc. Ông có ba người vợ, hai người vợ đầu đều qua đời khi tuổi còn trẻ, Vương Triều Vân là người vợ thứ ba, cũng là người mà Tô Đông Pha xem là giai nhân tri kỉ nhất của mình. Khi Triều Vân chết, để tưởng nhớ và ca ngợi phẩm hạnh của nàng, Tô Đông Pha đã làm bốn câu thiền kệ khắc trên bia mộ nàng.


### 02. Kẻ lang thang trong công viên


Tôi nhìn thấy một kẻ lang thang nằm ngủ trên một phiến đá bằng phẳng trong công viên. 

Kẻ lang thang này dùng một cái túi ngủ trùm kín toàn thân, đến cả đầu cũng rúc vào bên trong, ngủ say như chết, nhìn từ xa trông giống như một cái xác ướp. Vào ngày không mưa, phiến đá bằng phẳng đó chính là giường của hắn. Ngày có mưa, hắn sẽ trốn trong một cái chòi gần đó. 

Kẻ lang thang này ngủ trong cái túi ngủ, đến trở mình một cái cũng không. Tôi chú ý đến hắn rất lâu, một chút động đậy cũng không có, hắn thực sự ngủ như chết rồi, ngủ đến mức "chín nẫu" cả ra rồi. 
 
Tôi nghĩ đến một số người giàu có ngủ trên những chiếc giường rộng rãi xa xỉ mà còn lăn qua lộn lại vì khó ngủ. Ví dụ như Quốc Vương của nước Pháp, vua Louis thứ 14, ông ta có 413 chiếc giường ngủ rộng rãi và lộng lẫy, nhưng ông ta chỉ có một nguyện vọng: "Hy vọng rằng trong số hơn 400 chiếc giường ngủ đó có thể tìm thấy một cái giường có thể khiến ông  ngủ được!"
Haha! Thật nực cười!
 
Tôi nghĩ giấc ngủ là một môn học rất quan trọng, con người ngày nay đã bắt đầu nghiên cứu "môn học giấc ngủ" rồi. Giới y khoa đối với việc này cũng đã thành lập "khoa ngủ". Tôi nghe nói, trên thế giới này trong tổng số các loại thuốc được dùng thì nhiều nhất chính là "thuốc ngủ ngon". Rõ ràng vấn đề giấc ngủ là vấn đề phiền phức đang rất phổ biến ở con người thời đại ngày nay. 
 
Có một bác sĩ khoa tâm thần học nói với tôi: 
"Hãy xem! Những người đang đi trên đường phố kia, trong số mười người thì có ba người là mắc các chứng khó ngủ."
Tôi nghe xong, sốc!

Tôi cảm thấy, có lẽ mọi người tham ái quá nhiều, dục vọng quá nhiều, đòi hỏi quá nhiều, tình cảm quá nhiều, tư lợi quá nhiều, xúc cảm quá nhiều, máu nóng cũng quá nhiều. 
 
Con người hiện đại thích làm cho cuộc sống tràn đầy màu sắc đẹp đẽ, một khi cuộc sống mất đi màu sắc, dù thắng, dù thua, dù được, dù mất, họ đều chẳng ngủ được. 
Cứ có chuyện - là không ngủ được. 
Có phiền não - là không ngủ được.
Không có chuyện - thì ngủ được.
Không phiền não - thì ngủ được. 
 
Làm sao để đạt được đến cảnh giới này:
"Ít ham muốn - biết đủ, vô lo vô nghĩ, bất tri bất giác thì sẽ ngủ được thôi!"

Con người tôi bây giờ chẳng có cái gì là thích và không thích, chẳng có gì khiến tôi "sôi máu" được cả, cảm xúc thô bạo cơ bản là không có. Tôi không hát những giai điệu thanh cao nhưng con người tôi cũng không trở thành dung tục. 
 
Có người nói:
"Công danh giống như xác chết thối rữa!"
"Tiền bạc giống như phân thối!"

Tôi chẳng có ý kiến gì. Chỉ là trước nay tôi cũng chẳng nghĩ đến hai chữ "công danh", hai chữ "tiền bạc" cũng thế. Hữu duyên vô duyên, hoàn toàn mặc kệ, tôi đã ném chúng đi xa rồi. Cái gì là tôn trọng, trân quý, yêu ghét, tình nghĩa, pháp lý, công bằng…, tất cả đều mặc kệ, tất cả đều tùy duyên đi.
 
Cái gì là tâm lượng quảng đại?
Cái gì là ích kỉ hẹp hòi?
Tôi cũng chẳng bận tâm. 

Cuộc đời này của tôi thú thực đã gặp nhiều hoạn nạn. Tôi rất nhiều lần phải chịu đựng nỗi đau bị người ta làm hại, rất nhiều phen bị người ta phỉ báng bôi nhọ thanh danh, lẽ ra tôi nên có nhiều oán hận, có nhiều tức tối bất bình. Tôi đã phải chịu nhận rất nhiều sự dày vò khi băng qua những góc đen tối của thế gian…
 
Nhưng, tôi đều đá chúng qua một bên. Cơ bản là tôi chẳng nghĩ gì về chúng. 
Tôi chỉ cười thật to, ha ha ha!
Bất tri bất giác là có thể ngủ được thôi! Ngủ như chết chính là sung sướng nhất!


### 03. Mơ về núi Tiên Đô


Tôi có một giấc mơ rất kì lạ.
Trong đời này tôi mới chỉ đi Trung Quốc đại lục một lần, lần đó chủ yếu là đi Ngũ Đài Sơn để lễ Văn Thù Bồ Tát, thuận đường thì đi qua Bắc Kinh, Thái Nguyên, Tây An, Quế Lâm, Thượng Hải.
 
Còn trong giấc mơ thì tôi lại đi đến Tam Hiệp. Trên thực tế, tôi chưa từng đi đến Tam Hiệp nhưng có nghe nói đến. Dòng sông Tam Hiệp đã chỉ còn là âm hưởng của quá khứ, nay nó đã trở thành một con đập khổng lồ, nước lũ đã nhấn chìm biết bao nhiêu di tích cổ xưa.

Ấy nhưng trong mơ tôi thực sự đã nhìn thấy Tam Hiệp. Tôi đến tỉnh Phong Đô ở Tam Hiệp, đến núi Tiên Đô, trông thấy trên núi có một đài quan sát. Tôi đi vào trong đài quan sát thấy có hai pho thượng của hai vị thần tiên, một vị là Âm Trường Sinh, vị kia là Vương Phương Bình. 
Tôi đi vào trong đài quan sát Tiên Đô, đi thẳng một mạch đến phía tượng của Âm Trường Sinh trước. Tôi cũng không biết đã làm cách nào mà đi vào bên trong pho tượng Âm Trường Sinh. 
Mơ đến đây thì tỉnh dậy. 
 
Tôi không biết Âm Trường Sinh và tôi có mối liên hệ gì. Tôi lại càng không biết tôi và đài quan sát trên núi Tiên Đô có mối liên hệ gì. Trên thực tế, hiện tại cái gì tôi cũng chẳng muốn biết, đây chẳng qua chỉ là một giấc mơ, một giấc mơ kì lạ mà thôi.

Âm Trường Sinh và Vương Phương Bình nghe nói đều ở đài quan sát Tiên Đô mà tu luyện rồi thăng thiên. 
 
Tôi mơ về núi Tiên Đô, chỉ cảm thấy là:
Trưởng tùng thiên thụ phong tiêu sắt
Tiên cung khứ nhân vô chỉ xích.

Dịch thơ:
Nghìn ngọn tùng xanh gió rì rào
Tiên cung vẫn đó người đã xa.
 
Tôi có ý nghĩ muốn làm thần tiên không? Câu trả lời là khẳng định: đương nhiên có. 

Vì sao lại có ý nghĩ làm thần tiên? Bởi vì mọi người không cảm thấy sao? Trái đất bao la, biển xanh biến thành ruộng dâu, còn con người sống giữa trời đất thì cũng giống như con kiến, sớm sinh tối chết, đời người thật ngắn, chỉ là tạm thời thôi.
Khi bé mơ hồ.
Tuổi trẻ sục sôi.
Trung niên tạm nghỉ.
Chớp mắt đã già. 
Xin hỏi đời người này có cái gì?
Tôi ở Tam Hiệp nhìn nước sông cuồn cuộn chảy qua, ngắm nhìn bạt ngàn tùng bách trên núi Tiên Đô và cả những người du ngoạn thắng cảnh sông nước. Nhưng đời người ngắn ngủi, thử nghĩ xem, làm sao không khiến người ta nghĩ đến thần tiên. 
 
Tôi làm một bài thơ:
Tiên Đô sơn thượng xứ xứ u.
Tam Hiệp như nhiễm bích như lưu.
Thùy tướng thiên hà thắng cảnh xứ.
Tán lạc đại địa thủy hương đầu.
Thụ uất uất.
Tư du du. 
Nhất mộng thậm kỳ tiên đô du. 
Kim triêu tỉnh lai nghi thị túy
Phủ mô bạch phát thán nhất hưu.

Dịch thơ:
Đỉnh núi Tiên Đô ở xa xăm.
Nhuộm dòng Tam Hiệp màu xanh thẳm.
Ai khiến thiên hà thành cảnh sắc.
Đầu nguồn phân nhánh khắp quê hương.
Cây trùng trùng.
Ý liên miên.
Đưa đến Tiên Đô mộng thần tiên.
Tỉnh dậy vẫn ngỡ còn say mộng.
Xoa mái đầu bạc thở dài than.
 
Lão già tôi đây sau khi đóng cửa ẩn cư thì phạm vi cuộc sống đã thu hẹp lại, chỉ còn thập phương pháp giới. Tôi ngao du sông núi đất trời bao la chỉ có ở trong "tam muội" và trong giấc mơ mà thôi. 

Đối với quá khứ, tôi cũng không còn cảm xúc vui vẻ. Tôi thực sự cảm thấy tất cả đều kết thúc rồi. Vạn sự cũng đều đã yên nghỉ rồi. Sức sống thời thiếu niên, thanh niên, tráng niên đã biến thành ánh hoàng hôn chiều tà. 
 
Ý tôi không phải nói rằng tôi nay đã hoàn toàn dừng lại hết mọi thứ, không còn sức mạnh ý chí, không còn tinh tấn nỗ lực, không còn cảm tình, không còn sức sống, không còn học tập…
Tôi muốn nói chỉ là:
"Tôi đã vượt khỏi hồng trần!"
"Tôi không còn thuộc về chốn nhân gian nữa!"

Tôi hoàn toàn không nghĩ được ở tại nhân gian này tôi còn có điều gì mong muốn nữa, hay là còn điều tâm nguyện gì chưa hoàn thành, còn tham vọng gì chưa làm nữa. Tôi chẳng còn sở cầu gì nữa. 

Tôi không phải là "bắt đầu".
Mà là đã kết thúc viên mãn như ý. Tôi cảm thấy kết thúc cũng thật là tốt.


### 04. Lư Thắng Ngạn không phải là người


Nếu như nói Lư Thắng Ngạn là con người thì ông ấy là người. 
Nếu như nói Lư Thắng Ngạn là không phải là người thì ông ấy cũng không phải là người. Con người thì cần hợp tình hợp lý. Nhưng Lư Thắng Ngạn có những lúc chẳng hợp tình hợp lý chút nào!

Năm đó, ông ta đóng cửa ẩn cư. 
Con trai duy nhất của ông ta - Lư Phật Kỳ và cô Sunny đã kết hôn tại Seattle nước Mỹ. Ở Mỹ và Đài Loan đều tổ chức đám cưới. Đây là việc đại sự của đời người, đêm động phòng hoa chúc, cả đời chỉ có một việc đại sự thôi. Với vai trò là người cha, theo tình theo lý mà nói, nhất định phải tham dự. 

Nhưng. 
"Ông ấy không đến."
Ông ấy đóng cửa ẩn cư, thực sự không đến tham dự là không đến. (Lư Thắng Ngạn cơ bản không phải là con người.)
Rồi lại có một năm, con gái duy nhất của ông ta, Lư Phật Thanh và anh Andy đã kết hôn tại Seattle nước Mỹ. Ở Mỹ và Đài Loan đều tổ chức đám cưới. 

Đây đương nhiên là việc đại sự của đời người. Đặc biệt là nghi lễ ở nước Mỹ thì người cha cần phải cầm tay con gái dắt đi ra lễ đường, đặt tay con gái vào tay con rể, như thế mới hoàn thành việc đại sự là gả con gái. Là một người cha, theo tình theo lý mà nói, nhất định phải là chủ hôn lễ. 

Nhưng.
"Ông ấy không đến."
Ông ấy đóng cửa ẩn cư, thực sự không đến tham dự là không đến. (Lư Thắng Ngạn cơ bản không phải là con người.)
 
Có thể có người phỏng đoán rằng Lư Thắng Ngạn chắc không thích con trai và con gái. Nghĩ như vậy thì cực kì sai lầm rồi. 

Lư Thắng Ngạn yêu thương nhất chính là Lư Phật Kỳ và Lư Phật Thanh, thậm chí yêu thương hết mực. Ông ấy là người bảo hộ cho con trai và con gái, không thể nào chịu để các con phải cực khổ. 
 
Có thể có người phỏng đoán Lư Thắng Ngạn có lẽ không thích hai nhà thông gia, do vậy không tham dự hôn lễ. Nghĩ như vậy thì cũng sai lầm cực kì rồi. 

Ông ấy rất thích Sunny, ông ấy cũng rất thích Andy, người con dâu này ông ấy thích, anh con rể này ông ấy cũng thích. Ông ấy đồng ý để các con kết hôn. 

Thế nhưng, trong ngày đại hỷ của đời người, ông ấy với vai trò là một người cha, bởi vì đóng cửa ẩn cư nên hoàn toàn không đến tham dự. Thật là khổ cho người làm mẹ là Sư Mẫu Liên Hương Thượng Sư Lư Lệ Hương. 

(Lư Thắng Ngạn vì lý do là đóng cửa ẩn cư nên không thể tham gia làm chủ hôn sự của con trai và con gái mà ông thương yêu nhất, việc này trên tình lý mà nói thì không thể bào chữa được. Do vậy ông ta cơ bản không phải là con người. Xin hỏi, kết hôn là việc đại hỷ của đời người, cha không có mặt, con cái sao có thể chịu đựng được điều này?)
 
Thế nhưng:
Con người thế gian làm sao biết?
"Tâm" của Lư Thắng Ngạn đã đến tham dự rồi. Thân người không ở Seattle, nhưng "tâm" thì đã lưu lại ở Seattle rồi. Ông ấy dùng "tâm" để yêu thương Phật Kỳ và Sunny, dùng "tâm" để yêu thương Phật Thanh và Andy. Ông ấy tin rằng cách làm này cũng vô cùng thiết thực.

Ông ấy dùng "tâm" để ôm lấy con trai con gái mình, dùng "tâm" chân thành chúc phúc hai người con dâu rể mới. 

Lư Thắng Ngạn từ đầu đến cuối không đến tham dự hôn lễ của con trai và con gái yêu. Chẳng thể nào tưởng tượng được!
Ông ấy kể từ sau khi đóng cửa ẩn cư thì những chuyện trọng đại trong thiên hạ đều biến thành hoàn toàn "vô sự". Ông ấy đối với bất kì việc đại sự nào cũng đều không tham dự. Ông ấy đã buông bỏ hết mọi chuyện trong thiên hạ rồi.
 
Có hối hận gì không? Không có.
Xem như viên mãn không? Không có. 
Đời này hoàn mỹ không? Không có. 
 
Tôi thực lòng nói cho mọi người biết, Lư Thắng Ngạn cơ bản không phải là con người, ông ấy là "người mà không phải người".


### 05. Danh dự bằng cái “thằng nhỏ”


Ở chốn nhân gian hồng trần cuồn cuộn này có rất nhiều người xem trọng danh dự, thậm chí yêu say đắm danh dự mà cao giọng:

"Danh dự là sinh mệnh thứ hai!"
"Để bảo vệ danh dự, không ngại liều mạng đến cùng!"
"Vì danh dự, hãy trả lại công bằng cho tôi!"
"Vì danh dự, không ngại đối đầu ở tòa án!"
"Vì danh dự, tất cả đừng ngần ngại gì cả!"
"Vì danh dự, "xử" nó đi!"
 
Sau khi tôi đóng cửa ẩn cư thì từ đó cũng giấu hết tung tích. Ngoài việc viết văn ra, Lư Thắng Ngạn sớm đã trở thành một người biệt lập rồi, đến chính bản thân tôi cũng không nhận ra tôi nữa. 
 
Hàng xóm của tôi có một hôm nói với tôi:
"Ông rất giống một người!"
"Ai?"
"Lư Thắng Ngạn." - Hàng xóm nói. 
Tôi đáp: "Thằng cha Lư Thắng Ngạn chính là một tên côn đồ!"
"Vì sao mà ông lại chửi Lư Thắng Ngạn?" - Hàng xóm hỏi. 
"Thì cưỡng hiếp con X đó, cái con rùa Lư Thắng Ngạn này, chính là vì ông ta giống tôi quá, khiến danh dự của tôi cũng bị liên lụy!"

Tôi ở trước mặt hàng xóm chửi lớn Lư Thắng Ngạn một chặp: "Thằng khốn", "Đồ Bát Giới dê già", "Đồ ăn cứt", "Ti tiện vô sỉ", "Thiên hạ đệ nhất mặt dày", "Đồ thần kinh", "Tôi X nó"…

Hàng xóm sau đó đành chịu thua tôi, nói với tôi:
"Ông tuyệt đối không phải là Lư Thắng Ngạn."
Tôi nói: "Nói vậy mới đúng."

Tôi nói tiếp: "Tôi muốn viết một cuốn sách chửi Lư Thắng Ngạn đến chết đi sống lại, hắn ta là kẻ vô lại tội ác không thể tha."

Sau đó hàng xóm cũng không dám nhắc lại là tôi rất giống Lư Thắng Ngạn nữa. Chính tôi cũng cảm thấy muốn đấm cho cái thằng Lư Thắng Ngạn một phát chết luôn. Đơn giản là vì làm thế thật là sảng khoái, thật là thoải mái, ha ha!
 
Nói thật lòng, giống như con người tôi bây giờ, tôi còn có gì gọi là danh dự để mà nói. Tôi từ lâu đã giết chết danh dự của mình rồi. 
Tôi chưa bao giờ nghĩ nhiều về danh dự hay là không danh dự. Các đệ tử muốn đồ lót của tôi, họ nói muốn làm "viên cam lộ", tôi đã đưa cho họ từ lâu rồi. 

Các đệ từ từ lâu đã lột trần tôi ra. Các đệ tử muốn lông tóc và móng tay của tôi, họ nói muốn làm thành "xá lợi" để thờ cúng, tôi cho họ hết sạch tóc của tôi. Bởi vì tóc ngắn lại còn ít, đến cả lông trên người tôi cũng cạo sạch sẽ, tất cả đem cho người ta hết. 

Này này! Tôi chính là cái loại: "Lõa thể!" Toàn thân của lão phu trên trên dưới dưới đều cho đệ tử lấy đi hết sạch sẽ, con người này của tôi còn cái gì gọi là danh dự để mà nói. 

Nghe nói DNA là bí mật cá nhân. Điều tồi tệ là, DNA của tôi ai ai cũng biết. Phải làm sao?
 
Này! Này! Con người không cần danh dự là tôi đây lại vẫn còn sợ danh dự của chính mình bị tổn hại sao? Con người thối tha mãn danh thiên hạ (*) còn muốn hai chữ "danh dự" để làm cái gì? 

Lão phu từ lâu đã chẳng phải là con người, lão là thần tiên, vô ưu vô lậu (*). Mẹ cha cái sinh mệnh của anh, mẹ cha cái danh dự của anh. Với lão đây mọi thứ đều chẳng là cái thá gì cả. Lão đây chẳng còn ở trong ngũ hành, lão đã nhảy ra ngoài tam giới rồi. 

Lão phu nghe âm thanh của trời, mặc quần áo của trời, ăn "tiên tương ngọc dịch" (*), sống tại hư không, bay đến bay đi ung dung tự tại. Lão rải hoa trời, lão rải hương thơm. 

Rất hài lòng rồi!
Tất cả đều thành rồi!
Rất nhanh sẽ kết thúc thôi!

Danh dự của chốn nhân gian Ta Bà này, người khác xem trọng, lão đây cóc xem trọng, nếu anh không thích thì mặc mẹ cha anh!

----------------------------
Mãn danh thiên hạ: khắp thế giới đều biết
Vô ưu vô lậu: không lo lắng không phiền não

Tiên tương ngọc dịch: đồ ăn đồ uống của thần tiên


### 06. Vượt lên thế giới dục vọng


Tôi từng đi qua một con đường nhỏ tối tăm, đó là vì tôi muốn đi đường tắt. Con đường nhỏ tối tăm đó có ánh đèn neon sặc sỡ, đó là một quán cà phê âm nhạc. Tôi nhớ lại lúc còn là thanh niên, tôi:Âm nhạc không có.
Cà phê không có.

Trong quán kia chỉ có một vài cô gái trẻ trang điểm lòe loẹt, ăn mặc quần áo khiêu gợi. Quán cà phê âm nhạc rất rất tối, bên trong cực kì tối. Nó không giống quán trà, không giống quán rượu, cũng chẳng giống quán bar, nhưng tôi cũng chẳng thể nói rõ nó là cái gì. 

Ở cửa quán có một gã trai đứng vẫy khách, nghĩa là gã trai đứng lôi kéo khách vào. 

Ngày xửa, ngày xưa, xưa lắm, rất xưa, tôi từ xa đi ngang qua. Gã trai sẽ gọi: "Anh bạn trẻ, đến đây ngồi!"
Tôi xấu hổ hấp tấp đi qua, không dám nhìn lấy một cái. 
 
Bây giờ tôi nhiều tuổi rồi, bước đi lảo đảo, ăn mặc như một kẻ lang thang, một lão già lôi thôi rác rưởi. Tôi quan sát bên trong. Những cô gái ăn mặc hở hang vẫn ở đó, hở cổ hở lưng hở rốn, váy ngắn cũn cỡn, thân thể gầy như cây dương cành liễu.
Một gã trai chạy vội đến quát: "Lão già, nhìn cái gì mà nhìn! Muốn sướng mắt à?"
Gã lại kêu lên: "Đi, đi, đi."
Tôi cúi đầu rồi đi ra xa. 
 
Trong lòng tôi cười hi hi ha ha ngân nga một bài thơ Đường "Kim Lũ Y" của Đỗ Thu Nương (*):
Khuyến quân mạc tích kim lũ y.
Khuyến quân tích thủ thiếu niên thì.
Hữu hoa kham chiết trực tu chiết.
Mạc đãi vô hoa không chiết chi..

Dịch thơ: 
Khuyên anh đừng tiếc áo kim vàng.
Khuyên anh hãy tiếc thời niên thiếu.
Hoa kia nở rồi thì cứ bẻ.
Đừng chờ hoa rụng bẻ cành trơ.

Nói thẳng ra, dục vọng tuổi trẻ của tôi bây giờ cũng chẳng còn nữa. Mà dục vọng của tuổi trẻ cũng không nên trút hết ra ở những chốn "khiêu dâm". 

Trái lại tôi bây giờ thích "Nam ca tử" của Tần Quán:
Ải ải mê xuân thái, dung dung mị hiểu quang. 
Bất ưng dung dị hạ Vu dương.
Chỉ khủng Hàn Lâm tiền thế, thị Tương Vương.
 
Tạm vy thanh ca trú, hoàn nhân xuân vũ mang
Miết nhiên quy khứ đoạn nhân trường
Không sử Lan Đài công tử, phú Cao Đường.

Dịch thơ:
Mịt mờ trong sương khói, đẹp mê hoặc tựa xuân. (*)
Thiếp vội vàng hạ xuống núi Vu dương.
Ngỡ Tương Vương là Hàn Lâm kiếp trước.
 
Chút khoảnh khắc múa ca, vì bận làm mưa tối.
Chia xa về mà đau lòng đứt ruột.
Khiến Lan Đài công tử (*) ngâm Cao Đường

Thứ chúng ta tìm kiếm chỉ là chút tình ý với nhau, chỉ là liếc nhìn nhau một cái, chỉ là tâm ý ghi nhớ lẫn nhau. Hoặc là, tiến xa hơn một bước là cầm tay, tương tư, nhìn nhau, nói cười. 
 
Khi tôi còn trẻ thì chỉ là ngây ngô, bối rối, rụt rè, nâng niu, trong sáng. 
Có mà như không. 
Không mà như có.
 
Thế còn tôi bây giờ? Dù một chút xíu tình cảm như vậy tôi cũng chẳng có nữa. Từ lâu tôi đã vượt lên khỏi thế giới dục vọng này rồi. Tôi hiểu thế nào gọi là cô đơn, cũng hiểu thế nào gọi là cô độc, hiểu thế nào gọi là đơn độc, hiểu thế nào gọi là hư vô.
 
Việc tôi rời khỏi hồng trần, chính là kết thúc. Dục vọng nhân gian là chẳng thể có được. Dục vọng nhân gian chỉ là hư huyễn, chốn hồng trần cơ bản chẳng có nơi nào thực sự để ở lại. 

"Chỉ tiện uyên ương bất tiện tiên" - Chỉ muốn làm uyên ương, chẳng muốn làm thần tiên, càng chỉ là giây phút ngắn ngủi, tạm thời. (*)

Tham nhiều biến thành không tham. Tôi muốn nói cho mọi người: 
Tham nhiều tự đau mình. 
Không tham dưỡng trưởng thân.

------------------------
Kim lũ y: áo kim tuyến.
Đỗ Thu Nương: bà sống vào khoảng thế kỉ thứ 8-9, làm ca kĩ trong cung đình vua Đường Hiến Tông. Nhờ có nhiều tài hoa (ca múa giỏi, làm thơ hay) nên bà được nhà vua sủng ái, cải danh là Thu Phi, được các đại thần kính nể. Kim lũ y là bài thơ nổi tiếng nhất của bà.
(*) Tần Quán chơi chữ kết hợp cùng điển tích cổ, ngụ ý viết về mối tình Tô Đông Pha và Triều Vân. Truyện rằng, Sở Tương Vương tới chơi Lan Đài quán ở núi Vu, thấy mịt mờ sương khói nên hỏi, được Tống Ngọc trả lời đó là Triều Vân (nghĩa là mây buổi sớm). Vốn có tích khác rằng, từng có một vị tiên nữ hiện ra trong sương sáng sớm, nói là thần nữ núi Vu. Kết hợp lại thành ý "Triệu Vân vốn là nữ thần núi Vu, chỉ xuống nhân gian trong khoảnh khắc vì ngỡ Tương Vương chính là Hàn Lâm (chỉ Tô Đông Pha) kiếp trước. Nàng chỉ là Triều Vân một lát (khi còn là mây sáng) kịp múa ca một lát, rồi còn phải về vì bận tối làm mưa (ko còn là Triều Vân - mây sớm nữa). 
Lan Đài công tử: còn tên là Tống Ngọc, là một trong tứ đại mỹ nam tài năng trác tuyệt của Trung Hoa cổ đại.
(*) Đây là một câu rất nổi tiếng trong bài hát Thập lý Bình Hồ (phim Thiện nữ u hồn - 1987). "Thập lý Bình Hồ sương mãn thiên. Thốn thốn thanh ti sầu hoa niên. Đối nguyệt hình đan vọng tương hỗ. Chỉ tiện uyên ương bất tiện tiên." 
Dịch nghĩa "Sương rơi cả trời Bình Hồ khắp mười dặm. Từng tấc sầu của tuổi hoa niên giăng mắc. Người cô đơn cùng bóng trăng lẻ loi nhìn nhau. Chỉ muốn làm uyên ương chứ chẳng muốn làm thần tiên".


### 07. Cổ nhân mà tôi ngưỡng mộ


Gần đây tôi đọc nhiều sách cổ. Mặc dù đối với tôi việc đọc sách cổ là vô dụng, chẳng được ích lợi gì cả, nhưng tôi cũng ngưỡng mộ một vài cổ nhân, coi như tự giết thì giờ một chút. 
Trang Tử (*) nói: 
"Người có đạo đơn giản là toàn lực tu chân dưỡng tính, nếu như có dư nhiều sinh lực thì mới đi trị quốc bình thiên hạ. Đối với việc cai trị quốc gia thì chỉ cần dùng các thể loại rác rưởi, chẳng hạn như những bao đựng cứt sắt đi giải quyết là được."

Tôi thích Lão Tử và Trang Tử, đặc biệt là câu nói này của Trang Tử, đọc đến thật khiến cho người ta hết sức hả hê. 
Tôi nói:
"Trị quốc thì dùng chân ghẻ nấm đi cai trị là được rồi!" (cười khùng khục)

Lại nói:
"Bình thiên hạ, dùng phân thối nước tiểu đi bình là được rồi!"
Ha ha ha! Sảng khoái! Sảng khoái!
 
Trang Tử xem việc trị quốc bình thiên hạ là việc thấp cấp nhất, đây thực sự là điều khiến tôi hả hê nhất. 
 
Tôi thích tư tưởng tự do của Lão Tử Trang Tử với lối tu chân dưỡng tính này, đúng thực là:
Tâm nhàn phản tự chiếu,
Hiệu hiệu như phù cừ.

Đại ý:
Tâm nhàn tự tỏa sáng,
Sáng trong như hoa sen.
 
Người tôi ngưỡng mộ số một là Lý Bạch. Lý Bạch nói:
Thân quản yến chi đàm.
Mưu đế vương chi thuật.
Phấn kỳ trí năng,
Nguyện vy phụ bật.

Đại ý:
Bàn bạc muộn xá gì,
Tính kế giúp đế vương.
Dùng trí tuệ năng lực,
Nguyện làm chân tể tướng.

Lý Bạch là kẻ điên khùng, nhưng cũng chỉ là phò trợ hoàng đế, hoàn toàn không rút khỏi vị trí này để thay thế ai vào được. 
Ví dụ: Khổng Minh cũng thế, Trương Lương cũng thế, Yến Anh cũng thế, Quản Trọng cũng thế, v.v.

Những người họ đều là có trình độ văn hóa cả, đều có tư tưởng khoáng đạt đầu óc cởi mở, tự nhiên họ sẽ có biểu hiện "khác người". 

Còn đối với các nhân vật rác rưởi, tôi cho rằng giống như Trần Thắng, Ngô Quảng, Lưu Bang, Chu Nguyên Chương, Hồng Tú Toàn mà nói, bọn họ đi đấu tranh vì đế nghiệp, biểu hiện dã tâm tham vọng đến cả khi không còn thân xác nữa. 
 
Tôi chỉ trông thấy:
"Lòng lang dạ sói!"
"Mật báo!"
Cơ bản chính là bản tính quái thú.
 
Tôi ngưỡng mộ Trương Lương: 
Dùng quy tắc để làm thầy đế vương,
Không dùng quy tắc để làm lão già lẩn trốn.

Kết cục của Trương Lương chẳng biết thế nào, nhưng ông ta cũng rút đi ở ẩn rồi!
 
Hàn Tín, Tiêu Hà về cơ bản là lòng ruột óc gan của súc vật. (*)
Tư Mã Quang cũng không tệ, ông ta phản đối những cải cách của Vương An Thạch, cho rằng: "Với sĩ phu thì phải tha thiết, với dân thường thì phải nhiễu động". 

Kết cục của ông ta là bị phế quan, phải lui về Lạc Dương. Ông  ta đóng cửa viết "Tư trị thông giám" (*). 

Tôi thích Khổng Dung, Cấp Ảm (*).
Tôi không thích Tào Tháo, Trương Thang (*). 

Tôi luôn nghĩ rằng sự hưng thịnh và suy vong của lịch sử chính là tại "nhân tâm". Như cây nhờ gốc, như đèn nhờ dầu, như cá nhờ nước, như chim nhờ cánh, đây là sự thật tất yếu. Cây không nhờ rễ thì chết, đèn không nhờ dầu thì tắt, cá không nhờ nước thì chẳng sống nổi, chim không nhờ cánh thì chẳng thể nào bay. Thế nên dẫn đến:
Chủ mất lòng người thì sẽ chết.
Chủ được lòng người thì sẽ hưng. 
(Ở thời hiện đại mà nói thì đây chính là sức mạnh quần chúng.)
 
Khi tôi đóng cửa ẩn cư, tôi đã tìm mua rất nhiều sách cổ, rồi chính từ trong sách cổ cùng trò chuyện với cổ nhân. Tôi ngưỡng mộ cũng khá nhiều vị, nhưng kết quả cuối cùng là tôi vẫn ngưỡng mộ chính mình. 
 
Tôi có được niềm vui của ẩn cư. Năm năm rồi, mức độ hạnh phúc của tôi là cao nhất mà con người không thể nào tận hưởng được, người có nhiều tiền nhất cũng không thể tận hưởng được. 
 
Tôi là Lão Tử!
Đi khỏi Hàm Cốc Quan rồi!
--------------------------
Trang Tử: (365 - 290 trước Công Nguyên) là nhà triết học độc đáo nhất trong bách gia thời Chiến quốc, cũng được xem là "ông tổ ngông". Trang Tử ngông với lý tưởng “thích chí”, độc lập nhân cách, tự do ngao du trong cõi đạo. Ngông của Trang Tử gắn với ý thức khẳng định con người tự tại, tự do cho nên đã gây ảnh hưởng sâu rộng trong văn học. Cho nên cái ngông của Trang Tử là cái ngông của tinh thần triết học, ngông của trí tuệ, cao siêu, khác hẳn cái ngông của kẻ ngu dốt liều lĩnh. 
Lòng ruột óc gan của súc vật: ý cũng là đồ bỏ đi mà thôi. 
Tư trị thông giám: là bộ sách sử của Tư Mã Quang, có ảnh hưởng sâu rộng đến lịch sử sử học Trung Quốc. 
Khổng Dung (153 - 208): làm quan nhà Đông Hán, là nhà quân phiệt đầu thời Tam Quốc. Ông là cháu 20 đời của Khổng Tử, nổi tiếng học giỏi. 
Cấp Ảm: xuất thân là quý tộc nước Vệ đời Chu, nổi tiếng làm quan có tính khí uy nghiêm, ngay thẳng, nên không được hoàng đế ưa chuộng. 
Tào Tháo (155 - 220): là nhà chính trị, quân sự kiệt xuất cuối đời Đông Hán, nhưng hình ảnh của ông thường được mang ra làm biểu tượng cho sự dối trá, vô liêm sỉ do ảnh hưởng của bộ Tam Quốc Diễn Nghĩa. Ông đi theo con đường bá đạo, trọng lợi hơn trọng đức, dùng người cốt hiệu quả không tính đến phẩm chất. Từ thế kỉ 20, các học giả có nhìn nhận khách quan hơn về Tào Tháo, có nhà văn nhà thơ còn đánh giá ông là anh hùng. 
Trương Thang: một vị quan cùng thời với Cấp Ảm, thường tranh luận với Cấp Ảm.


### 08. Chán sống rồi


Theo số liệu tuổi thọ quốc gia của Nhật Bản, tuổi thọ của người dân Nhật Bản trong vòng 20 năm qua xếp thứ nhất trong số các quốc gia trên thế giới.Tuổi thọ trung bình của nữ giới là 85 tuổi.
Tuổi thọ trung bình của nam giới là 78 tuổi.
Ấy nhưng, người Nhật Bản cũng chẳng lấy làm vinh dự. Trái lại họ hy vọng không sống quá lâu, ai ai cũng mong chết sớm hơn một chút.
Trước đây, Nhật Bản có hai bà lão có tuổi thọ cao nhất, một người được trao danh hiệu là "bà lão Vàng", người kia là "bà lão Bạc", hai người là chị em gái, họ từng du lịch thế giới. Quả là một cảnh tượng hiếm thấy.

Tuy nhiên, Trung Quốc có một câu tục ngữ: Lão Thọ Tinh ăn thạch tín - nghĩa là chán sống rồi. Thạch tín là một hợp chất hóa học có độc tính vô cùng mạnh, ăn vào sẽ khiến người ta mất mạng.
Có người mong muốn sống lâu một chút.
Có người không mong muốn sống lâu.

Rốt cuộc sống bao lâu thì được xem là tốt, việc này vẫn còn mỗi người một ý.
 
Cá nhân tôi cho rằng:
"Đã tỏa sáng rồi, có thể chết!"
"Đã tuyệt vời rồi, có thể chết!"
"Đã có ý nghĩa rồi, có thể chết!"
"Đã chứng ngộ rồi, có thể chết!"
"Đã đi đến tận cùng rồi, có thể chết!"
(Tuổi thọ dài hay ngắn, không quan tâm!)
 
Các đệ tử của tôi ở khắp nơi trên thế giới hàng năm đều chúc thọ lão già đã chín nẫu là tôi đây, họ luôn luôn hô to khẩu hiệu: "Thường trụ thế gian, không nhập Niết Bàn."
Khẩu hiệu này như sấm nổ bên tai, âm thanh rầm rầm không bao giờ dứt. Tôi ẩn cư ở chân trời góc bể, trong lòng cảm thấy buồn rầu làm sao!
 
Kì thực con người này của tôi rất bình thản, chẳng có một chút nào bận tâm. Tôi lúc nào cũng chuẩn bị sẵn sàng để rời đi. "Thường trụ thế gian, không nhập Niết Bàn" ư? Ha ha! Điều này là lý tưởng, không thực tế. 

Tôi ngưỡng mộ Lưu Linh, một trong số Trúc Lâm Thất Hiền (*) thời nhà Tấn. Ông ấy rất vui tính, mỗi lần đi xa khỏi nhà sẽ gọi người hầu đem theo một cái xẻng. Ông ấy nói: "Nếu như tôi chết ở đâu thì làm ơn chôn tôi ngay tại chỗ đó."
Lưu Linh cho thấy rằng ông ấy đã chuẩn bị cho cái chết có thể đến bất kì lúc nào.

Tôi càng ngưỡng mộ Trang Tử, ông ấy càng tiêu dao hơn nữa. Trang Tử lúc sắp chết, đệ tử của ông muốn chôn sâu vì đệ tử sợ rằng hài cốt của Trang Tử sẽ bị lũ chim quạ đến rỉa. Trang Tử nói:
"Chôn nông thì làm thức ăn cho chim quạ, chôn sâu thì làm thức ăn cho chuột kiến, không cho loài này thì cho loài kia, sao phải thiên vị!"
Ý của Trang Tử là chết thì đã chết rồi, cứ kệ nó đi!
 
Người mà tôi không đánh giá cao nhất chính là người sống lâu nhất Trung Quốc - Bành Tổ (*). Bành Tổ là con cháu của vua Chuyên Húc, là con trai thứ ba của Lục Chung - tên là Tiên Khanh, vốn là chư hầu của vua Nghiêu, lấy tên của thái ấp (Bành Thành) do vua phong cho làm họ, nên thành ra gọi là Bành Tổ. Bành Tổ sống đến cuối đời nhà Thương, khi đó đã sống 760 tuổi rồi. Người ta đồn rằng ông sống lâu là do dùng bột vân mẫu (*) lấy từ trên núi Vân Mẫu nên giữ được trẻ mãi. 

Bành Tổ lấy nhiều vợ, sinh nhiều con cái, có nhiều cháu chắt. Cuối cùng vợ con đều chết hết, cháu chắt cũng chết hết, con cái của cháu chắt cũng chết hết, hết con cháu này đến con cháu khác đều chết hết, chết sạch sẽ không còn một ai, chết nhiều đến mức không thể đếm được, thế mà Bành Tổ vẫn còn sống!

Tôi cảm thấy Bành Tổ có một khả năng đặc biệt, tôi tặng ông ta mấy chữ: "Ông già tiễn cái chết!"
Có đệ tử lòng dạ bất lương hỏi: "Sư Tôn, vì sao ngài không chết luôn đi?"
Tôi chết rồi thì anh ta có thể làm chủ tông phái. Tôi ngoan cố không chết, tôi sẽ tiếp tục viết văn. Cứ từ từ mà đợi đi nhé!
 
Vào lúc các đệ tử không chú ý. 
Thì tôi sẽ chết!

Đây gọi là: "Lợi dụng sơ hở, trốn mau!"

-------------------------------
Trúc Lâm Thất Hiền: là tên dân gian gọi nhóm bảy học giả, nhà văn và nhạc sĩ theo trường phái Đạo giáo, sống trong rừng trúc đời nhà Tấn khoảng thời gian thế kỉ thứ 3-4.
Bành Tổ: là một nhân vật trong truyền thuyết Trung Hoa được cho là sống lâu tới 800 tuổi, từ đó dân gian có câu "sống lâu như ông Bành Tổ".
Bột vân mẫu: làm từ đá vân mẫu, đây là một loại muối khoáng, là một trong những vị thuốc thượng phẩm, rất quý.


### 09. Ông lão 80 tuổi


Trên cõi nhân gian này, để tính đếm tuổi thực tế có ba cách:Một là cách đếm của người bình thường, tính từ năm sinh ra cho đến năm qua đời thì dừng lại. Đây gần như là cách mà hầu hết mọi người đều tính theo. 
Ví dụ:
Có một người sinh vào năm 1000 sau Công Nguyên, sống đến năm 1100 thì chết, thì là 100 tuổi. 
Người phương Đông tính thêm tuổi mụ.
Người phương Tây tính tuổi tròn.

Bất kể là phương Đông, phương Tây thì sự sai khác chỉ có một tuổi, không cần phải quá bận tâm. 
 
Hai là, tính tuổi tinh túy. Có một bài thơ viết như sau: 
Bách niên tam vạn nhật.
Lão bệnh thường cư bán.
Kỳ gian hỗ ưu lạc.
Ca tiếu tạp bi thán.
Điên đảo bất tự tri.
Trực vy thần sở ngoạn.
Tu tẩu tự kham tiếu.
Vạn sự phong vũ tán.
Tự thung thức thử lý.
Cửu tạ thiếu niên bạn.

Dịch thơ:
Trăm năm ba vạn ngày,
Bệnh già chiếm hết nửa,
Còn lại lẫn buồn vui
Hết cười rồi lại khóc,
Điên đảo chẳng biết chi.
Tinh thần rong chơi khắp.
Già nên tự vui cười,
Mưa gió vạn sự tan,
Biết lý này hiểu rõ,
Sớm trọng bạn tuổi xanh. 
 
Đây là phương pháp tính tuổi tinh túy một cách "lý trí". Ví dụ:
Có người sống 100 tuổi. 
Trừ đi số ngày bị bệnh thì chỉ còn 50 tuổi. (bao gồm cả ngủ)
Lại trừ đi những lúc lo lắng u sầu điên đảo mà không tự biết, thì chỉ còn 25 tuổi. 
Người sống 100 tuổi, nhưng tính cho đúng ra thì chỉ sống 25 tuổi. Những ngày tháng khác đều là sống vô ích.
 
Trên thế giới này có bao nhiêu người là thực sự đang sống. Mọi người nghĩ mà xem, có lẽ đa số chỉ là những xác chết biết đi, ăn không ngồi rồi, kéo lê bộ xương khô, qua một ngày lại đếm một ngày. Những ngày tháng chẳng có chút ý nghĩa nào chẳng phải là sống vô ích thì là cái gì?
 
Đây gọi là đổ xúc xắc giết thời gian.
Đây gọi là lãng phí thức ăn thức uống.
Đây gọi là những cái xác đang sống.
Đây gọi là cuộc sống chán chường. 
 
Tôi nhìn những con người này, nói sống 100 tuổi nghe thì thật là thọ đó mà! Thực sự trong con mắt của tôi họ chỉ có 25 tuổi thôi. 

Người sống càng về già thì càng bảo thủ, càng già càng hồ đồ, càng già càng điên dở, càng là những kẻ thông thái rởm, càng lãng phí lương thực, càng già nghiệp chướng càng nặng.

Thực chất là "yểu thọ" mà! Cho nên chỉ sống được 25 tuổi thôi. 
(Tính toán tỉ mỉ ra thì 25 tuổi còn là quá "hời" cho họ rồi đó.)
 
Ba là phương pháp tính kéo dài năm tuổi, cách này thuộc về phương diện tâm linh, trên phương diện hình tướng. 
Có người tu hành nói:
"Ông ta mỗi ngày đều sống an tịnh, sống với tâm thanh thản, vô lo vô nghĩ, người khác sống một ngày tương đương ông ta sống hai ngày."
Ý ở đây muốn nói là người khác sống gấp gáp vội vã. Còn ông ta thực sự biết cách nắm lấy từng ngày một, tận dụng hết từng phút từng giây, sống vô cùng nghiêm túc. 

Người khác sống được một ngày. 
Ông ta coi mình sống được hai ngày. 

Nếu người khác sống 100 tuổi, ông ta xem như sống 200 tuổi. 
Tôi dùng cách này để tính tuổi của mình.
Tôi tính tuổi trung bình là 61 tuổi. Tôi sinh năm 1945, năm nay là 2005. 
Vào khoảng thời gian từ 38 đến 40 tuổi thì tôi đắc đạo. 20 năm sau đó tôi độ hóa chúng sinh không bỏ lỡ một giây phút nào, độ 500 vạn chúng sinh, 30 tòa Lôi Tạng Tự, hơn 300 đường hội.
Tôi kể cả khi ngủ đều đi vào tam muội để đi độ hóa chúng sinh không ngừng nghỉ. Vừa tu pháp, vừa thiền định, vừa viết văn, mỗi ngày trôi qua vô cùng có ý nghĩa, một ngày bằng như hai ngày. 
Nếu như 40 tuổi tính theo cách tính tuổi thông thường thì là 40 tuổi. 20 năm sau đó tính theo phương pháp kéo dài số năm tuổi, thì cũng là 40 tuổi. 40 tuổi thêm 40 tuổi nữa là 80 tuổi, lão già này đã 80 tuổi rồi. 
Ha ha! Tôi sắp biến thành lão yêu quái già rồi!


### 10. Chưa từng đóng vai nam chính


Trong suốt cuộc đời này tôi rất thích xem kịch.Khi tôi còn nhỏ có nhà hát Tân Hưng ở Cao Hùng là gần nhà tôi nhất. Tôi là khán giả thường xuyên của nhà hát Tân Hưng. (Nhà hát Tân Hưng nay đã không còn tồn tại nữa.) 

Lúc nhỏ tôi không có tiền, mà không có tiền thì làm sao xem kịch chứ!
Mánh khóe láu cá nhất của tôi là: quan sát những người lớn mua vé, đúng lúc họ muốn vào bên trong nhà hát, tôi sẽ làm bộ đáng thương nói với ông (bà) đó: 
"Bác ơi, bác đưa cháu vào cùng có được không?"
Hoặc là:
"Dì ơi, dì cho cháu vào cùng có được không?"

Những người lớn đó sẽ tiện tay túm lấy quả bí lùn là tôi đây dắt vào bên trong. Trò bịp này ít khi nào thất bại. Ha ha!
Tôi thích xem kịch đến mức mê muội. Ngoài mánh khóe này ra tôi còn nhiều trò khác, ví dụ:
1. Trèo tường.
2. Khi nhà hát chưa diễn, tôi sớm đã trốn trong nhà vệ sinh.
3. Buổi diễn trước kết thúc, người ta đi ra, tôi đi vào, dáng người tôi nhỏ thó.
4. Nhặt vé đã bị xé, đem dán lại.
v.v...

Có một buổi tối chỗ ngồi trong rạp hát chỉ có một mình tôi ngồi xem phim, bởi vì tối hôm đó có mưa bão, gió mưa vần vũ. Kết quả là ông chủ nhà hát tìm tôi thương lượng, tình nguyện trả lại tiền cho tôi, còn đền bù cho tôi hai buổi xem phim miễn phí để đổi lại cho việc tối hôm đó họ sẽ không biểu diễn.
Oa! Vạn tuế! Vạn tuế!
 
Mọi người xem, có phải là tôi mê kịch đến phát cuồng không?
Trong cuộc đời tôi, tôi thừa nhận tôi là người rất thích xem kịch. Tôi với thân phận người xem kịch đã đi hết cả cuộc đời này. Tôi từ đầu đến cuối đều là ngồi bên dưới sân khấu để xem kịch. 

Có lẽ mọi người sẽ cảm thấy vô cùng hoài nghi, Lư Sư Tôn chẳng phải là người thành lập Chân Phật Tông sao? Lẽ ra phải là lãnh đạo chứ!
 
Tôi thật lòng nói cho mọi người biết: "Người sáng lập" chỉ là trên danh nghĩa. Tôi sáng lập cũng tương đối rồi mau chóng tẩu thoát rồi! Người sáng lập chỉ là cái biển tên treo lên mà thôi, thực sự là "mạo danh". 

Tôi không phải là tổng hội trưởng của hội công đức Hoa Quang.
Tôi không phải là chủ tịch Chân Phật báo.
Tôi không phải là chủ tịch tạp chí Nhiên Đăng.
Tôi không phải là trụ trì của Lôi Tạng Tự trên toàn thế giới.

Trụ trì Đài Loan Lôi Tạng Tự với tôi chỉ là cái bảng tên treo, tôi cũng chưa từng một ngày làm trụ trì. Tôi thực sự chưa từng làm nhiệm vụ của một trụ trì. Xin lỗi! Cái đó cũng là "mạo danh" đấy.
Ủy ban tổng hội Mật giáo trên thế giới, tôi cũng chưa từng nhận vai trò làm tổng giám đốc. Tôi cũng chưa từng làm chủ tịch của nhà xuất bản Văn Hóa Đại Đăng. Tôi càng không phải là ủy viên trưởng của Tông ủy hội.
 
Xin mời các đệ tử Chân Phật Tông nghĩ thử xem, tôi Lư Thắng Ngạn, liệu có thể đã từng nhận các chức vụ hội trưởng, chủ tịch, trụ trì, tổng giám đốc, tổng sự trưởng, ủy viên trưởng,… không?
Có hay không?
Đáp án là: "Không có."

Viện trưởng viện Phật học?
"Đương nhiên càng không phải là tôi." Tôi đã đi ẩn cư từ lâu rồi! Chỉ một thân một mình tôi với thế giới.
 
Tôi muốn giải thích cho mọi người, tôi chỉ là khéo léo mạo danh làm người thành lập Chân Phật Tông, thực sự một chút tước hiệu tôi cũng chẳng muốn. Tôi hết lòng cảm ơn và chúc phúc đến tất cả những người phụ trách, cầu chúc các việc pháp vụ sẽ thịnh vượng, thiên thu vạn tải (*).

Tôi có một câu này không biết nên nói hay không nên nói. Đó là nếu như ai có hứng thú đối với danh hiệu "người sáng lập", tôi sẵn lòng trao danh hiệu "người sáng lập" cho người đó. Không biết có ai muốn không?
 
Bởi vì tôi chỉ là xem kịch thôi. Thích xem bộ: Chân Phật Tông đại kịch.
Trước nay tôi đều chưa từng đóng vai nam chính. Với lối sống cô tịch này, tôi từ đầu đến cuối chỉ là một "người xem kịch" mà thôi.
--------------------------
Thiên thu vạn tải: đầy đủ là "thiên thu vạn tải, nhất thống giang hồ", là một câu nói trong tác phẩm Tiếu ngạo giang hồ, ý nói trong thời gian dài nghìn năm vạn năm.


### 11. Đời người giống như đèn kéo quân


Thánh Khổng Tử nói:Tứ thập nhi bất hoặc.
Ngũ thập nhi tri thiên mệnh.
Lục thập nhi nhĩ thuận. (*)

Hãy lấy vận mệnh của chính tôi để bàn luận. Khoảng 25 tuổi tôi đã vang danh sáng chói, tiếng tăm khắp Đài Loan: Diêu Trì Kim Mẫu mở thiên nhãn, thần toán đệ nhất, tiếng tăm chấn động cả một hòn đảo Đài Loan xinh đẹp.
 
Thế nhưng ngược lại, trong giới tôn giáo, trong giới chính trị, trong giới văn hóa, trong giới truyền thông thì người ta thấy tôi chẳng thể nào chấp nhận được. Tôi cũng chẳng có cách nào trụ lại ở Đài Loan, đây cũng là một thực tế. Do vậy vào năm 38 tuổi, tôi đến nước Mỹ, ở Mỹ đóng cửa tu luyện.
 
Khổng Tử nói, bốn mươi tuổi không còn mê hoặc, ứng nghiệm trên chính tôi. Tôi bốn mươi tuổi thì ngộ đạo, chính là không còn mê hoặc.
Tôi sang Mỹ, sau bảy năm thì quay về Đài Loan, cũng lại gây ra chuyện náo động. Đài Bắc, Đài Trung, Cao Hùng, ba đại pháp hội của tôi ở Bắc Trung Nam làm khuấy động cả Đài Loan. Tuy nhiên cái xã hội cuồng điên lúc đó vẫn gieo rắc rất nhiều nhân tố bất ổn. 
 
Tôi:
Ở Đài Loan gặp "Thời báo chu san" (*). 
Ở Hồng Kông gặp "Nhất chu san".
Ở Malaysia gặp "Tiên sinh chu san".

Bởi vì tôi không hiểu cách thức hoạt động của truyền thông, cũng không biết là cần phải có quan hệ công chúng, do vậy vận mệnh của tôi khá hiển nhiên (là sẽ gặp vấn đề). 
Trở về Mỹ, tôi cũng lại vừa đụng chạm đến quyền lực của Tuyên Hóa thượng nhân, lại vừa đụng chạm đến quyền lực của Tinh Vân đại sư nữa. 
Kết quả là gần như ở Đài Loan tôi không có chỗ đứng, ở Mỹ cũng không có chỗ đứng. Tôi chỉ có thể ở những chỗ hẹp còn lại mà tìm cách tồn tại.
 
Tôi cười xòa.
Hóa ra xã hội có hắc đạo.
Giới tôn giáo cũng có hắc đạo.
Giới chính trị cũng có hắc đạo.
Giới văn hóa càng có hắc đạo.
 
Cuộc đời này của tôi cũng giống như một con quay hồi chuyển, bị cuốn vào những vòng xoáy đen, bị người ta lôi lôi kéo kéo.
Có một năm tôi cao hứng về Đài Loan làm đại pháp hội, lại bị cuốn vào vòng xoáy đen. Tôi lại không thể nào trụ lại Đài Loan, thế là tôi đi hoằng pháp ở các nước trên thế giới.
Lúc tôi 50 tuổi, tôi đã hiểu cuộc đời đầy rẫy khó khăn của tôi. Thực tế là số mệnh đã định, số phận, chính là số phận!

Khổng Tử nói, 50 tuổi biết rõ sứ mệnh. Trước 50 tuổi, tôi thực sự hỗn loạn bất an. Tôi dựa vào tính cách thẳng thắn, lòng tin kiên định là mình không thể bị lôi kéo, giống như chiếc đèn kéo quân, nên tôi đã đưa Mật giáo ra công chúng, giành được sự tôn trọng của 500 vạn đệ tử. Nhưng tiếng tăm ngoại giới của tôi cũng bùng lên, tôi nhanh chóng bị hiểu lầm, sự thật càng bị bóp méo xuyên tạc.
Khổng Tử nói chẳng sai: 50 tuổi biết rõ sứ mệnh. 
 
Tôi có một cuộc đời phân làm hai cực. Một mặt tôi chống lại trào lưu, dũng cảm tiến lên phía trước, hoằng pháp không chút sợ hãi hay lo lắng. Một mặt trên thực tế, tôi chỉ luôn chịu những giày vò đau đớn, tai họa liên miên, có lẽ đây chính là thiên mệnh của tôi. 
Trời biết. Đất biết. Tôi biết. Anh biết.

Bây giờ tôi đã 60 tuổi, tôi đã ẩn cư rồi. Tôi đã đi qua một đời người chẳng giống ai. Tôi bây giờ đã là một ẩn sĩ, khu rừng ẩn cư của tôi thanh tịnh vô vi, nơi mà những người ẩn cư bình thường muốn cũng chẳng có được.
 
Có người nói:
"Lư Thắng Ngạn không màng danh lợi, không đơn giản!"
Có người nói:
"Lư Thắng Ngạn dũng cảm lui về, không đơn giản!"
Tôi cười hi hi:
"60 tuổi thuận theo thiên mệnh, đây là điều chẳng thể nào tránh được!"

--------------------------
(*) Ý theo Nho đạo - Khổng Tử: 
40 tuổi thì không ngờ vực: đã trở nên hiểu biết đầy đủ chín chắn về thiên nhiên và nhân sinh, nên không còn ngờ vực điều gì nữa. 
50 tuổi thì biết mệnh trời: biết được sứ mệnh của bản thân trên thế giới này là gì.
60 tuổi thì biết nghe theo (thuận theo thiên mệnh): không còn cưỡng lại thiên mệnh như hồi còn trẻ nữa, chấp nhận nghe theo "thiên mệnh" và những gì xảy tới cho mình, hoặc mình có thể làm được. 
Chu san: báo hoặc tạp chí phát hành mỗi tuần một số.


### 12. Thế giới mạng nhện


Nơi tôi đóng cửa ẩn cư, phía sau là rừng núi xanh thẳm, trốn trong rừng có rất nhiều nhện. Mỗi lần tôi đi kinh hành, trên đầu, trên cổ, trên mặt tôi đều bị mạng nhện dính đầy. Vì thế tôi vừa đi, vừa phải dùng tay gạt trái gạt phải để giữ cho tơ nhện không dính vào người.
 
Nhện không chỉ có ở sau núi, bọn chúng cũng "di cư", di cư đến sống dưới mái nhà của tôi, giăng mạng nhện lên cửa sổ kính của nhà tôi, trên cửa đi cũng giăng mạng nhện. Cuối cùng bọn chúng di cư hẳn vào trong phòng. Không ngờ đến trong tủ quần áo cũng có nhện, góc nhà có nhện, nhà bếp có nhện, phòng ngủ có nhện, đến cả vòi nước cũng bò ra mấy con nhện.
 
Tôi đi lại phải rất cẩn thận, nếu mà bất cẩn sẽ giẫm chết lũ nhện.
Nhện và tôi cùng ẩn cư.
Nhện và tôi cùng chung sống.
Một trong năm giới của Phật giáo, giới đầu tiên chính là: không sát sinh.

Trên nguyên tắc, giới sát mà như giết người thì nặng, còn giết các loài khác thì nhẹ. Về vấn đề này, tôi không đồng tình một cách mù quáng, bởi vì từ đầu tôi đã nói, côn trùng - con người, - Phật cả ba đều không khác biệt.
Con người là sự kết hợp của tinh trùng và trứng mà sinh ra.
Con người và các giống loài khác chẳng có phân biệt nặng nhẹ gì hết.

Hơn nữa:
Giết một con côn trùng, cũng là tội.
Thế nên mới nói: "Sơ quả canh địa, trùng ly tứ thốn." (*)

Bây giờ có vấn đề là:
Thứ nhất, cửa sổ kính bên ngoài phòng của tôi đầy mạng nhện, đến mức độ trông rất kinh dị rồi, vô cùng bẩn thỉu.

Thứ hai, mạng nhện bên trong phòng có cần phải quét sạch không? Chúng có làm tổn hại đến sức khỏe con người không? Vẫn còn may là loài nhện này không phải là nhện độc rừng châu Phi.

Thứ ba, tôi giữ giới không sát sinh, nhưng bởi vì tôi không sát sinh, cũng lại để cho nhện làm mạng nhện, khiến chúng lại giết càng nhiều kiến và côn trùng hơn, ăn càng nhiều kiến và côn trùng. Tôi bảo vệ chúng sinh, nhưng cũng giúp giết rất nhiều chúng sinh.

Thứ tư, nếu tôi quét mạng nhện mà không giết nhện, lũ nhện có chết đói không? Gián tiếp sát sinh?

Thứ năm, nếu tôi không giết nhện, nhện bố và nhện mẹ kết hợp lại sẽ sinh ra vô số nhện con, chẳng mấy chốc mà tôi biến thành "người nhện". Đến cốc trà của tôi cũng có nhện và tơ nhện.

Thứ sáu, lũ nhện này ở khắp mọi nơi, tôi có thể vô tình nằm lên, dẫm lên, ngồi lên, có tính là phạm tội không?
 
Những vấn đề này của tôi có cách giải quyết hay không thể giải quyết?
Sau đó tôi đọc đến "Thập tụng luật" quyển số 11, Phật Đà đích thân giúp tăng chúng loại trừ bọ trên giường đệm. "Thập tụng luật" quyển số 37, phòng tắm ẩm ướt sinh ra côn trùng, Phật Đà nói phải cọ rửa cho sạch sẽ.
 
Tôi đột nhiên "sáng đèn" (*).
"Giữ giới hay phạm giới, hoàn toàn ở tại tâm!"
"Niệm vãng sinh chú, 108 biến!"
Tôi thực hiện:
"Có trùng thì quán là không có trùng."
"Không có trùng cũng quán là không có trùng." (*)

Tôi cầm một cây chổi lớn từ trong phòng quét ra ngoài phòng, tôi dùng "bàn tay Như Lai", "giáng cho lũ nhện thập bát chưởng", tôi khinh khỉnh, một mạch tống khứ chúng đi hết. Chỉ trong chốc lát, "kiếm chỉ nam sơn", "hoành tảo thiên quân", "hắc hổ hồi tâm", "bạch xà thổ tín"...  (*)

Trong phòng sạch sẽ rồi.
Ngoài phòng sạch sẽ rồi.
 
Không có trùng cũng quán thành không có trùng! Ha! Ha! Tất cả đều không phạm.
Tôi không có tâm tức giận, chỉ có tâm từ bi. Mọi người xem xem, tôi vì lũ nhện mà nghĩ nhiều như vậy, lại còn niệm nhiều chú vãng sinh như vậy, nước cờ này đủ đẹp rồi.

-----------------------
Sơ quả canh địa, trùng ly tứ thốn: hành giả chỉ cần vừa đạt tới quả vị Sơ địa đã tự nhiên sẽ phải luôn tìm cách xa các loại côn trùng 1,32m (tứ thốn) để tránh gây tội sát sinh. (Do họ đã hiểu thấu sức mạnh của giới luật và tự muốn gìn giữ giới luật.)
Sáng đèn: Sư Tôn dùng từ có tính chất hài hước ở đây, lấy biểu tượng bóng đèn sáng để biểu thị việc nảy ra sáng kiến.
Quán tưởng trùng: dù có côn trùng hay không có côn trùng thì đều quán tưởng là không trùng cả. Tất cả vốn đều là Không.
Kiếm chỉ nam sơn, hoành tảo thiên quân, hắc hổ hồi tâm, bạch xà thổ tín: tên các chiêu thức võ học nổi tiếng trong các võ phái như Thiếu lâm... Tôn Sư đùa, múa may chổi với các chiêu thức võ học để quét nhện.


### 13. Rốt cuộc tôi ở đâu?


Rất nhiều đệ tử muốn biết: "Sư Tôn rốt cuộc là ở đâu?"Ở Tahiti? Ở Hawaii? Ở Đài Loan? Ở Mỹ? Ở …?

Có nhiều đệ tử đi khắp nơi, có người nói đã trông thấy Sư Tôn rồi, có người nói nhìn thấy xe của tôi. Có người nói rất giống, rất giống. Có người nói hình như khắp thế giới đều có dấu vết của Lư Sư Tôn.

Trông thấy rồi.
Lại biến mất nữa rồi.
Kì thực tôi chẳng cố định ở chỗ nào cả. Nghĩ mà xem, thế giới hiện đại ngày nay giao thông thuận lợi như vậy, chỉ cần lên máy bay, con người chẳng cần động, máy bay di động. Lấy từ Đài Bắc để nói, ba giờ bay là đến Nhật Bản, Hàn Quốc, tám giờ bay là đến Hawaii, 12 giờ bay là đến Tahiti, 12 giờ bay là đến Seattle, 16 giờ bay là đến New York.

Đất nước nào dù có ở nơi xa xôi trên thế giới thì trong vòng 24 giờ đều gần như có thể đến được. Châu Á, châu Âu, châu Phi, châu Mỹ, châu Úc, Nam Bắc cực… Lư Sư Tôn, rốt cục là ẩn cư ở đâu? Tôi có thể đổi tới đổi lui, (tiện đâu ở đó), hôm nay ở chỗ này, ngày mai ở chỗ kia.  
 
Bạn nói: "Tôi chắc chắn Lư Sư Tôn ở…"
Tôi cười: "Đến chính tôi cũng không thể chắc chắn, bạn chắc chắn được à?"
Bởi vì chỉ cần bị một người trông thấy thôi là buổi tối tôi sẽ bay vào trong hư không, thả mình cứ thế trôi đi.

Tôi thực lòng nói cho mọi người biết, tôi là một ẩn sĩ chân chính. Rốt cuộc tôi ở đâu, ngay cả chính tôi cũng không biết. Nhưng tôi có thể cho bạn một đáp án, tôi ở trên trái đất. (Ấy nhưng cũng không chắc chắn đâu.)
 
Xin mọi người đọc đoạn này của Lão Tử: Thiên hạ - Chương thứ 30. "Lão Tử nói, con người dù ở trong thiên hạ, nhưng ý lại chẳng ở trong thiên hạ; con người dù ở trong đất nước, nhưng ý lại chẳng ở trong đất nước; con người dù ở quê hương, nhưng ý lại chẳng ở quê hương; con người dù ở nhà, nhưng ý lại chẳng ở nhà; linh hồn dù ở trong thân, nhưng linh hồn lại chẳng ở trong thân, đó là đạo nhân."
 
Bạn hỏi tôi rốt cuộc ở đâu? Tôi đáp: "Hư không."
Thậm chí cho dù tôi ở trong một căn phòng, nhưng tôi ngồi bất động, nhập vào tam muội, linh hồn không ở trong người tôi. 
Nói không chừng tôi đã đi tìm đệ tử để buôn chuyện rồi!
Nói không chừng tôi đã đến Tây Phương cực lạc thế giới Maha Song Liên Trì!
Nói không chừng tôi đã ở Đông Phương Lưu Ly thế giới!
Nói không chừng tôi đã ở cõi trời Đâu Suất (*)
Nói không chừng tôi đã đi thắng cảnh dải ngân hà!
 
Vậy thì bạn đã hiểu "Thiên hạ chương" của Lão Tử chưa? Người ở đây, ý không chắc đã ở đây, thế nên tôi thường nói:
Người nơi lá trên hồ,
Tâm nơi Tây Nhã Đồ. (*)

Tôi cảm thấy như thế này rất vui, khi mọi người đều đoán xem tôi đang ở chỗ nào. Tôi ở nơi mà "như đến như đi", "đến rồi lại đi", "không đến không đi", thực sự thấy đầu mà chẳng thấy đuôi, thấy đuôi mà chẳng thấy đầu. Ẩn cư năm năm rồi.

"Nếu con người ta thực sự có chốn để quay về, thì đó sẽ là tan vào hư không, tự mình trực tiếp tiếp nhận mọi trải nghiệm."
"Chỉ khi đó mới biết đại giang đông khứ, (*) vốn chưa từng chảy."
"Chỉ khi đó mới biết sơn hà đại địa, (*) chỉ ở trong tâm."
 
Có người nói: "Ẩn cư năm năm rồi, mau ra ngoài thôi! Đã lâu quá rồi."
A! Năm năm rồi, tôi cũng chẳng biết. 
Tôi vẫn nghĩ chỉ mới có một ngày thôi!

------------------------
Cõi trời Đâu Suất: cõi tịnh độ của Bồ Tát Di Lặc.
Tây Nhã Đồ: Seattle, thành phố ở bang Washington, Mỹ.
Sơn hà đại địa: tất cả đất trời sông núi, nước non.
Đại giang đông khứ: trích trong câu "sông lớn chảy về phía đông, sóng cuốn hết thiên cổ phong lưu nhân vật" (Niệm nô kiều - Xích Bích hoài cổ của Tô Thức). "Đại giang đông khứ" mượn hoài niệm về trận đánh Xích Bích - thời Tam Quốc, với hình ảnh Chu Du, nàng Tiểu Kiều, thường tượng trưng cho sự hào hùng, bi tráng, với anh hùng hào kiệt khắp nơi và tình yêu lãng mạn.


### 14. Trước cửa nhà tôi có con suối nhỏ


Gần đây tôi đọc "Tiểu sử Tô Đông Pha", đọc đến đoạn Tô Thức không ngờ có hai lần tự vẫn, không chùn chân trước nỗi sợ hãi mà liều mình nhảy xuống sông!
Tô Thức là một đại thi nhân trong số tám tác gia vĩ đại đời Đường, Tống. Ông là một tài năng tuyệt vời, một học giả uyên bác, lại là một đại học sĩ trong cung Thụy Minh của triều Tống, đại học sĩ viện Hàn Lâm, là thị đậu (thầy giáo) của hoàng đế, có thể nói là quyền cao chức trọng. Ông có hai danh hiệu học sĩ, đây là việc hiếm thấy trong lịch sử. Nhưng vì sao ông ấy lại tự vẫn?
 
Hóa ra là vào năm Tống Nguyên Phong thứ hai, Tô Thức 44 tuổi nhậm chức Thái Thú tại Thái Hồ huyện Hồ Châu. Trong triều đình, Thừa Lý lập mưu hại Tô Thức, khiến Ngự Sử Thư Đản dẫn theo một đội quân người ngựa dùng gông cùm trói Thái Thú Hồ Châu Tô Thức. Tô Thức bị cùm đi, theo đường sông Thái Hồ đi theo dòng sông Dương Tử (Trường Giang) tiến về kinh thành. Ở trên sông Dương Tử, lần thứ nhất Tô Thức nhằm lúc người ta chưa kịp chuẩn bị đã bắt chước Khuất Nguyên (*) nhảy xuống sông tự vẫn. (Kết quả bị người ta phát hiện ra và cứu sống.)
Thế là lần tự sát thứ nhất không thành.
 
Lần thứ hai Tô Thức tự sát là khi ở trong ngục Ngự Sử Đài, ông ta ở trong ngục càng nghĩ ngợi càng kinh hãi. Hoàng đế Tống Thần Tông ngu độn, xung quanh ông ta toàn là gian thần tiểu nhân, Tô Thức tự thấy khó sống sót nổi. Thế là Tô Thức tuyệt thực tự sát, để rồi từ từ mà chết. Đây là lần tự sát thứ hai.

(Kết quả là Tống Thần Tông tỉnh ngộ, nhận thấy Tô Thức là tài tử đệ nhất thiên hạ, do vậy miễn cho ông ta tội chết, hạ chiếu thả Tô Thức trở về Hoàng Châu.) 

Tôi biết chuyện Tô Thức hai lần tự sát. Sốc!
Việc ông ta tự sát và bị tống vào ngục đều là do cái họa phạm húy khi làm hai câu thơ: 
Căn đáo cửu tuyền vô khúc xứ,
Thế gian duy hữu chập long tri. (*2)

Dịch thơ:
Rễ đến suối vàng không uốn khúc,
Thế gian rồng nấp tự biết thôi. 
Người ta cho rằng ông mượn thơ để chửi hoàng đế, hoàng đế là thiên long mà lại ví là rồng nấp. Còn nữa: 
Khởi thị văn thiều giải vong vị,
Nhĩ lai tam nguyệt thực vô diêm.

Dịch thơ:
Hương vị tuyệt vời quên đâu dễ,
Ba tháng nay rồi muối không ăn.

Ông bị cho là công kích luật độc quyền cung cấp muối của triều đình. Ngoài ra, ông còn bị cho là phản đối luật lệ mới, pháp thanh miêu (*), pháp thủy lợi, v.v… Tất cả đều là do phạm húy trong thơ mà thành đại họa. Tô Thức hai lần tự sát, có hai bài thơ tuyệt bút do chính ông viết gửi cho em trai Tô Triệt.

Bài số 1: (Ngục trung ký Tử Do nhị thủ kì 1)
Thánh chủ như thiên vạn vật xuân,
Tiểu thần ngu ám tự vong thân.
Bách niên vị mãn tiên thường trái,
Thập khẩu vô quy canh lũy nhân.
Thị xứ thanh sơn khả mai cốt,
Tha thì dạ vũ độc thương thần.
Dữ quân kim thế vy huynh đệ,
Hựu kết lai sinh vị liễu nhân.

Dịch thơ:
Thánh chúa như trời vạn vật xuân,
Tiểu thần ngu muội tự diệt thân.
Trăm năm chưa trả xong nợ cũ,
Mười miệng không chăm càng mệt thân.
Nơi đây núi biếc chôn xương được,
Lúc khác mưa đêm tự đau lòng.
Với em kiếp này là huynh đệ,
Lại hẹn kiếp sau kết nhân duyên.
(Tô Thức giao cả gia đình mười người nhờ Tô Triệt chăm sóc.)
 
Bài số 2: (Ngục trung ký Tử Do nhị thủ kì 2)
Bách đài sương khí dạ thê thê,
Phong động lang đang nguyệt hướng đê.
Mộng nhiễu vân san tâm tự lộc,
Hồn kinh thang hỏa mệnh như kê.
Nhãn trung tê giác chân ngô tử,
Thân hậu ngưu y quý lão thê.
Bách tuế thần du hà xứ định,
Đồng Hương tri tráng Chiết Giang tê.

Dịch thơ:
Bách Đài sương khói đêm lạnh lẽo,
Gió thổi chuông reo ánh trăng tà.
Mơ về mây núi lòng thấp thỏm,
Sợ giống gà kia thành canh ngon.
Con thơ trong mắt tuổi bẻ sừng,
Vợ già thẹn trong áo da trâu.
Trăm tuổi hồn phiêu ở nơi nào,
Mồ ta nơi đó Chiết Giang Tây.

Hai bài thơ này là tổng hợp của sự cô độc, vô vọng, phẫn nộ, oan ức và thống khổ. Thử nghĩ mà xem, tài hoa của Tô Đông Pha, trí huệ của Tô Đông Pha, sự cần cù chính trực yêu dân của Tô Đông Pha, tấm lòng vì nước vì dân của Tô Đông Pha, cũng đều dẫn đến một kết cục là hai lần tự sát. Thậm chí sau đó ông bị giáng xuống Hoàng Châu, bị giáng xuống Huệ Châu (Lĩnh Nam), bị đày đi đảo Hải Nam. Thực ra quãng thời gian tỏa sáng của Tô Thức rất ngắn ngủi, cả cuộc đời phần lớn là bị đày đi nay đây mai đó.
 
Tiếc thay! Tiếc thay!  
Thiên hạ đệ nhất tài tử cũng chỉ như thế này thôi.
Đọc sách xong, tôi gập sách lại mà không ngớt thở dài. Đến cả lão già đóng cửa ẩn cư là tôi đây cũng chẳng tránh được sự buồn phiền. Cũng còn may tôi hiểu được "nhẫn nhục ba la mật". 

Nếu có người hỏi: "Lư Thắng Ngạn, liệu ông có tự sát không?"
Tôi sẽ nói: "Trước cửa nhà tôi có một con suối nhỏ, tôi sẽ nhảy xuống suối."
"Nhảy xuống suối làm cái gì?"
"Bơi!"

---------------------------
Khuất Nguyên: nổi tiếng với câu "Cả thiên hạ say, một mình ta tỉnh", rồi nhảy xuống sông tự vẫn.
(*2) Chính vì hai câu này, trong bài thơ Vịnh hai cây thông ở nhà tú tài Vương Phục - kì 1 viết ra mà Tô Thức suýt bay đầu vì "chập long" nghĩa là rồng nấp. Rồng tượng trưng cho vua thì phải ở trên trời, sao lại là nấp dưới đất, ông bị cho là có ý phản loạn. 
Pháp thanh miêu: pháp cải cách của Vương An Thạch, pháp này là khi lúa còn xanh thì nhà nước cho dân vay tiền, đến khi lúa chín thì dân phải trả lại tiền cộng thêm tiền lãi theo lệ nhà nước định ra.


### 15. Tôi là kẻ nhu nhược


Từ việc Tô Đông Pha hai lần tự sát, đối với người đóng cửa ẩn cư là tôi đây, dường như có nhiều tác dụng khai sáng.

Tô Thức là một con người có tài học, nhân phẩm, đạo đức cao đẹp. Nhưng ông lên voi rồi lại xuống chó trong phút chốc. Cả đất nước trên dưới đều biết ông là đại thi nhân, đại học vấn gia, nhưng cũng vì vậy mà ông phải nhận lấy bao nhiêu lời vu cáo khiến hai lần tự vẫn.

Bây giờ tôi muốn hỏi mọi người:
"Trên thế giới này, có ai không từng bị vu oan và phỉ báng?"
"Thử hỏi trong lịch sử, có thể tìm ra một người chưa từng phải chịu bị vu oan và phỉ báng không?"
"Có ai không? Có ai không? Có ai không?"
"Hoàng đế ư?"
"Quốc vương ư?"
"Tổng thống ư?"
 
Thậm chí đến Tần Thủy Hoàng thống nhất thiên hạ cũng vẫn bị sỉ nhục, còn chưa nói đến việc làm Thủy Hoàng Đế chẳng được mấy năm, công lao coi như bị hủy hoại hết cả.
 
Hán Vũ Đế Lưu Triệt bị sỉ nhục càng nhiều hơn. Vương hầu tạo phản!
Lãnh địa của Thành Cát Tư Hãn to nhất, thế mà ông vẫn bị sỉ nhục nhiều đến mức chẳng thể đếm hết. Các bộ lạc tạo phản!
Chu Du thông minh nhất, văn võ song toàn, cũng bị Gia Cát Lượng (Khổng Minh) ba lần chọc tức, cuối cùng tức khí mà chết.

Nghĩ mà xem, thế giới ngày nay có ai mà không bị chèn ép, không bị sỉ nhục.
Nước lớn chèn ép nước nhỏ.
Thủ trưởng bắt nạt cấp dưới.
Thằng to con ăn hiếp thằng nhỏ con.
Người sỉ nhục người.

Phật Thích Ca Mâu Ni không bị sỉ nhục sao? Chúa Jesus không bị sỉ nhục sao? Mohammed không bị sỉ nhục sao?
Đến Thượng Đế cũng bị sỉ nhục, Thượng Đế khiến người ta tức giận vì không làm được theo ý người ta, không ngoan!
Nghĩ đến đây, tôi có thể cảm thấy nhẹ nhõm rồi, bởi vì người bị sỉ nhục trong thiên hạ không phải chỉ có mình tôi. Trái lại người trong thiên hạ chẳng có ai là không bị sỉ nhục cả.
Người trong thiên hạ đều bị dồn nén mà tức, đều bị sỉ nhục mà tức, đều bị coi thường mà tức…
Tôi đã từng nói, nếu như tôi muốn tự sát thì 100 lần cũng chẳng đủ, cũng may là tôi đã hiểu được đạo lý. 
 
Người trong thiên hạ chẳng có ai là không bị ngược đãi.
Thánh nhân Khổng Tử cũng bị ngược đãi.
Thánh nhân Socrates cũng bị ngược đãi.
Lão Tử cũng bị ngược đãi.
Trang Tử cũng bị ngược đãi.
Thế nên Lão Tử mới viết "Nhu nhược chương".

"Lão Tử nói, vạn vật trong trời đất, không gì nhu nhược mềm yếu hơn khí. Khí không thể nhu nhược được bằng Đạo. Đạo chính là nhờ vào sự nhu nhược đó mà bao khỏa cả trời đất, quán xuyên được vạn vật. Nhờ có nhu (mềm) mà sinh ra cương (cứng rắn), nhờ có nhược (yếu) mà sinh ra cường (mạnh), nhưng thiên hạ chẳng nhận biết được điều này để mà làm theo. Vì thế mới nói, Hữu lấy Vô làm gốc, mà Vô lấy Hư làm gốc, Hư lại lấy Đạo làm gốc. Tự nhiên, cũng là căn bản của Đạo vậy."

Chúng ta thường nói:
Cá to ăn cá bé.
Cá bé ăn tôm con.
Tôm con ăn đất bùn.
Đây là một hiện tượng tự nhiên của việc thiên hạ giao tranh. 
 
Thế nên cho phép tôi khuyên mọi người, nếu bạn bị vợ làm cho tức giận, hoặc bị chồng làm cho tức giận, hoặc không phải hai điều này, mà là bị người lạ làm cho tức giận, tôi khuyên bạn:
"Mềm mỏng!"
"Nhún nhường!"
"Tự nhiên!"

Đây là người ta sỉ nhục bạn, tôi đâu biết. Người ta đánh bạn, tôi đâu biết. Người ta phỉ báng bạn, tôi đâu biết. Người ta làm hại bạn, tôi đâu biết. Người ta gài bẫy bạn đến chết, tôi đâu biết.
Bởi vì tôi đóng cửa ở ẩn rồi. Mọi việc ở thế giới bên ngoài, tôi đâu biết. Cứ cho là biết, thì cũng là chuyện tự nhiên thôi.


### 16. Lấy "pháp hỷ" làm vợ


Trong năm năm đóng cửa ẩn cư, lúc đầu tôi thấy ít vui, bởi vì trong khoảng thời gian ẩn cư này tôi bị mất đi khá nhiều niềm vui như:
Những bài ca ở Biệt thự cầu vồng.
Những điệu múa ở Biệt thự cầu vồng.
Những trò đùa nghịch ở Biệt thự cầu vồng.
Những bông hoa tuyệt đẹp ở Biệt thự cầu vồng.
 
Ban đầu tôi cũng chưa quen lắm với những ngày không có đệ tử đồng tu. Về sau tôi thấy cứ như thế này thì không được, tôi cần phải từ thế giới bên ngoài hướng vào thế giới nội tại. Cần ở bên trong nội tâm của chính mình tìm thấy niềm vui của bản thân, bằng không thì sẽ âu sầu mà chết mất! Trước đây, trong khi thiền định tôi đã có được pháp hỷ, (*) tuy nhiên, trong lúc đóng cửa ẩn cư tôi mới càng thấm thía sâu sắc những điều trên. Vì thế tôi đã đưa ra đáp án: "Lấy pháp hỷ làm vợ!"

Những gì tôi nhìn thấy, tôi nghe thấy đều đã không phải ở thế giới bên ngoài, mà đều tập trung ở trong tâm của tôi. Tim của tôi đã biến thành một đóa hoa sen, trên đóa hoa sen không ngờ đã có những bài ca, những điệu múa, những trò đùa nghịch, những bông hoa. Niềm vui từ bốn thứ này không phải là niềm vui của phàm phu tục tử mà là mà đã thăng hoa thành một loại pháp hỷ vĩnh hằng chưa từng có. 
 
Nhờ có loại pháp hỷ này, tôi đã vượt qua những ngày tháng đóng cửa ẩn cư suốt năm năm, có được thứ kinh nghiệm vô cùng khó đạt được. Đây chính là diện mạo của một người ẩn cư đích thực.
 
Tôi nói:
"Tất cả sự vật đều là vô thường."
"Tất cả niềm vui cũng không phải là mãi mãi."
"Tất cả vạn sự vạn vật đều sẽ qua đi."
"Tất cả của tất cả đều sẽ tĩnh lặng."
 
Tuy nhiên, tới giai đoạn "lấy pháp hỷ làm vợ" thì tôi mới thực sự hiểu được rằng pháp hỷ này chính là một người vợ đích thực. 
Giải pháp này thật là quá tốt, ta tìm kiếm ở bên trong, không tìm kiếm ở bên ngoài. Người vợ đích thực không ở bên ngoài mà ở bên trong.

Thế giới bên ngoài là: Thô bạo. Tàn nhẫn. Cay độc.
Thế giới bên trong là: Hỷ lạc. Thanh tịnh. Vô cầu.
 
Tôi nhận ra niềm vui bên ngoài đều không phải là mãi mãi, chỉ có niềm vui bên trong mới là vĩnh hằng. Cái gì mới là vĩnh hằng đây, hóa ra pháp hỷ mới là vĩnh hằng.
Tôi không nén được cười khi thấy con người trên thế gian này thực sự là ngốc. Bọn họ đều theo đuổi những thứ sẽ tan biến, theo đuổi một loại hư không, theo đuổi một loại hư vô, theo đuổi tạm thời, theo đuổi nhất thời, mù quáng như những con thiêu thân, hoặc như con muỗi, hoặc như con kiến. Tôi nhận thấy con người thế gian đều mê lầm.
 
Loại niềm vui đó cũng chính là: mộng huyễn, ảo ảnh, sương sớm, điện quang.
Tôi nhận ra có một vài thứ vô cùng tàn nhẫn. Tôi nói cho mọi người biết, xin mọi người đừng có giật mình phát hoảng.
Tiền
Quyền lực và địa vị
Đàn bà
Nhà cửa
Xe cộ

Những thứ này sẽ làm mục rữa tự tính của hành giả, sẽ hại hành giả đi đến chỗ chiếm hữu, bám chấp, thành bại, cô đơn, khoái lạc.
Tôi đóng cửa ẩn cư, nhờ đi vào tam muội chân chính tôi mới biết pháp hỷ mới là thứ niềm vui vĩnh hằng, pháp hỷ mới là người vợ đích thực.
 
Thượng Sư, pháp sư, đồng môn…
Các người đã hiểu chưa? Pháp hỷ mới là "chí lạc" (*) đó!

--------------------------
Pháp hỷ: niềm vui có được khi tu hành theo Phật pháp.


### 17. Tâm ngao du tới trời


Trang Tử - Ngoại vật (*) nói rằng:
"Bào hữu trùng lãng, tâm hữu thiên du. Thất vô không hư, phụ cô bột hoát. Tâm vô thiên du, tắc lục tạc tương nhương. Đại lâm khâu sơn chi thiện ư nhân dã, diệc thần giả bất thắng."
 
Mấy câu nói này của Trang Tử có vẻ như không dễ mà hiểu được, thế nên tôi cố gắng giải thích thêm như sau:
Bào hữu trùng lãng: mỗi một tế bào có một vị trí và không gian nhất định. 
Tâm hữu thiên du: tâm linh của con người có thể thần du vào hư không rộng lớn.
Thất vô không hư: nơi ta ở hoàn toàn thiếu không gian.
Phụ cô bột hoát: mẹ chồng và con dâu sẽ dễ bất đồng tranh cãi.
Tâm vô thiên du: tấm lòng hẹp hòi, bám chấp, không tự do rộng mở.
Lục tạc tương nhương: tâm sẽ bị lục phủ ngũ tạng quấy nhiễu không yên.
Đại lâm khâu sơn chi thiện ư nhân dã, diệc thần giả bất thắng: con người ở trong thiên nhiên rộng lớn, tâm hồn thư thái là bởi vì núi non rừng cây phù hợp với không gian sống của con người.
 
Tôi cho rằng mấy câu nói này của Trang Tử có hai ý nghĩa chính:
1. Con người cần ngao du trong tự nhiên.
2. Con người cần thần du trong chư thiên.
Hai ý nghĩa chính này đều nhấn mạnh: tự do tự tại.
 
Tôi cảm thấy trong năm năm đóng cửa ẩn cư này, tôi đã trải nghiệm và thấu hiểu được cái "ngao du" và "thần du" của Trang Tử. Năm năm này, ngoài khoảng thời gian ban đầu chưa thích ứng được thì khoảng thời gian sau đó tôi đã hoàn toàn tự do tự tại rồi.

Đối với số mệnh bấp bênh, đối với nhẫn nhục trước phỉ báng, đối với lối sống đạm bạc không màng danh lợi, đối với hào quang chói lọi, đối với mọi điều sỉ nhục, tôi phản ứng bằng thái độ "chẳng là gì cả".

Tai họa khó khăn chẳng là gì cả, phỉ báng chẳng là gì cả, danh lợi chẳng là gì cả, hào quang chẳng là gì cả, sỉ nhục chẳng là gì cả. "Chẳng là gì cả" chính là cái gì cũng chẳng có!
Có không?
Cơ bản là chính là chẳng có mà!
 
Trước đây, đối với cửa âm phủ, cửa sinh tử của người tu hành thì tôi rất kinh hãi. Các vị tu hành sống ở trong hang động trên vách núi đã dùng tảng đá to chặn chết lại lối cửa ra, chỉ chừa một cái lỗ nhỏ vừa đủ để đưa thực phẩm vào duy trì sự sống. Các vị tu hành sống ở trong các hang động trên vách núi để tu tam muội, mãi mãi không rời khỏi hang cho đến tận lúc chết.
 
Khi đó tôi cảm thấy người tu hành sống trong hang núi giống như chui trong nhà ốc sên, sống cuộc sống chỉ toàn bóng tối. Đêm tối liên miên không dứt, ngày qua ngày, tháng qua tháng, năm qua năm, những ngày tháng thế này làm sao sống nổi? Tôi mới nghĩ thế thôi mà tự nhiên đã toát hết cả mồ hôi. 
 
Bây giờ cuộc sống đóng cửa ẩn cư của tôi đã trải qua được năm năm rồi, trong năm năm này: 
Kinh hành trong thiên nhiên rộng lớn.
Tâm ngao du tới trời. 

Tôi đã học được hai điều trên, cùng với đạo của Trang Tử không tìm mà hợp. Thậm chí tôi ở trong phòng, tôi có hai thứ ánh sáng. Một là ánh sáng của thân, tự mình nhìn thấy thân thể mình có ánh sáng. Hai là ánh sáng của tâm, là ánh sáng trong tâm hồn của chính mình, có thể du hành khắp thập phương pháp giới.
 
Tâm với trời có thể cùng tôi du ngoạn, tôi có thể đến mặt trời, tôi có thể đến mặt trăng, tôi đương nhiên có thể ở khắp sơn hà đại địa. 
Tôi gặp thần tạo hóa - Đại Phạm Thiên. (Brahma)
Tôi gặp thần hủy diệt - Đại Tự Tại thiên.
Tôi gặp thần bảo hộ - Biến Tịnh Thiên. (Vishnu)

Cõi trời dục giới, cõi trời sắc giới, cõi trời vô sắc giới, tôi cứ thế đi lại như con thoi. Tôi đã chứng minh cho "tự do tự tại" rồi đấy.
Hôm nay nếu như có đệ tử hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn, ngài có thể mãi mãi đóng cửa ẩn cư không?"
Tôi đáp: "Có thể."

Còn đối với việc đóng cửa sinh tử, tôi đáp: "Có gì khó đâu!"

----------------------
Chí lạc: niềm vui lớn nhất.
Ngoại vật: chương thứ 26 trong Nam Hoa Kinh của Trang Tử.


### 18. Thư pháp lộn xộn


Tôi nhớ thời tiểu học, thày giáo dạy chúng tôi thư pháp. Mỗi người phải lấy ra một quyển vở viết thư pháp. Trước tiên mỗi học sinh phải học từ trong cuốn sách thư pháp của Liễu Công Quyền. Có một số học sinh rất nghiêm túc "sao chép". Tôi thì làm qua loa đại khái.

Khi nộp vở thư pháp, bài tốt thì được điểm A hoặc A+, A+ là tốt nhất. Viết trung bình thì được điểm B. Viết kém nhất thì được điểm C. Vở của tôi sau khi nộp xong, thật kinh ngạc là được: C-
Thầy giáo viết mấy chữ rất to ở phía sau quyển vở của tôi: "Thư pháp lộn xộn".
 
Sau này, tôi thực sự không có hứng thú với thư pháp, đối với thư pháp tôi hoàn toàn là làm cho xong chuyện, là đối phó mà thôi. Cuối cùng thầy giáo phê bình cho bốn chữ: "Hết thuốc chữa rồi!" 

Rốt cục, thư pháp của tôi, ôi chao ơi! Một dấu chấm hết.
 
Thư pháp của tôi thực sự chẳng đáng khích lệ cho lắm. Nhưng tôi biết các phong cách thư pháp, chúng được gọi là: thảo thư, hành thư, giai thư. Lại có sáu thể: cổ văn, kì tự, triện thư, lệ thư, mậu triện, điểu trùng thư.
Ở cạnh trung tâm văn hóa Đài Trung có một bản khắc tên các nhà thư pháp đương đại. Có Vu Hữu Nhiệm, có Lữ Phật Đình…
A ha! Tôi biết Lữ Phật Đình. Thư pháp của ông ấy quả nhiên là đỉnh cao. Viết rất đúng, viết rất đẹp, viết rất tuyệt vời.

Không ngờ là sau này, tôi chẳng rõ vì nguyên do gì mà lại trở thành người sáng lập Chân Phật Tông, lúc đó các đệ tử muốn có được "bảo mực" của tôi.(*)  
Trời ạ! Tôi làm gì có "bảo mực". 
Đệ tử nói: "Sư Tôn viết thôi cũng được."

Người thầy dạy vẽ tranh của tôi là Chu Mộc Lan nói: "Sư Tôn chỉ cần viết, viết ra là được rồi." 
Thế là tôi viết. Tôi tự thấy là xấu cực kì, thật là xấu hổ. Thế nhưng các đệ tử thì nâng niu yêu thích như có được gia tài.
 
Có một lần. Tôi viết được vài chữ tặng cho một đệ tử biết về thư pháp. Người đệ tử đó không nói chữ của Sư Tôn kém quá. Anh ta chỉ mua cho Sư Tôn bút, giấy, mực nước, ngoài ra còn có thêm giấy viết nước. Giấy viết nước là dùng để luyện tập viết chữ, chấm bút vào nước sạch để viết là trên giấy sẽ hiện ra nét vẽ, sau khi khô thì chữ cũng biến mất, giấy này dùng để dạy cách viết thư pháp.  

Người đệ tử đó không nói gì, chỉ nói: "Bút của Sư Tôn hỏng rồi!"
Tôi nghe vậy cảm thấy rất buồn cười, lão phu 60 tuổi rồi lại còn đi học thư pháp, như vậy có khác gì cương thi sống lại, cơ bản là không thể được.
Tôi làm sao có thể học để trở thành giống như Vương Hy Chi, Đường Dần. Hay như bốn đại tác gia của Bắc Tống: Mễ Nam Cung, Tô Thức, Hoàng Đình Kiên, Thái Tương v.v…
Tôi xem những bút tích chân thực quý giá của Tô Đông Pha quả nhiên có khí chất của Lăng Vân, có văn của tác giả rời xa thế tục Thanh Hùng, có chữ của Siêu Diệu nhập thần, đây mới là những đại tác gia thư pháp đích thực.
 
Có một lần, tôi viết mấy chữ thế này: "Dĩ vô niệm vi chính giác Phật bảo…", viết xong càng nhìn càng thấy xấu, cuối cùng trông chúng hoàn toàn như thư pháp khùng điên, hum hum hum hum hum. Tôi bực đến mức muốn xé chữ đi. Thực sự là càng nhìn càng bực, quá là tệ. Nhưng tôi không xé.

Rốt cuộc, không ngờ cái bức "lộn xà lộn xộn", "nhìn đã muốn nôn", "như đống phân chó ", "như hoa khô vương vãi", "côn trùng xác xơ"… này đem bán gây quỹ từ thiện đã trở thành bức có giá cao nhất. 
Tôi thực sự nói cho mọi người biết, thư pháp của Lư Thắng Ngạn, bảo mực của Lư Thắng Ngạn, kì diệu có kì diệu, chỉ có một địa chỉ duy nhất, không có chi nhánh khác.

-----------------------
Bảo mực: bút tích quý giá.


### 19. Mây trôi, mây trôi lại mây trôi


Lúc còn trẻ tôi thích thơ Đỗ Phủ và Lý Bạch. Thơ của Lý Bạch đến trẻ con cũng đều có thể đọc thuộc lòng: Sàng tiền minh nguyệt quang
Nghi thị địa thượng sương
Cử đầu vọng minh nguyệt
Đê đầu tư cố hương. (*)

Dịch thơ:
Đầu giường ánh trăng rọi
Ngỡ mặt đất phủ sương
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng
Cúi đầu nhớ cố hương.

Bài thơ này mọi người đều thích, ai ai cũng thuộc.

Tôi thì thích bài "Nghĩa Đông Sơn" của Lý Bạch:
Bất hướng Đông Sơn cửu
Tường vi kỷ độ hoa?
Bạch vân hoàn tự tán
Minh nguyệt lạc thùy gia?

Dịch thơ:
Lâu chưa về Đông Sơn
Tường vi nở mấy lần?
Mây trắng tự tan mất
Trăng sáng rọi nhà ai?
 
Bài thơ này Lý Bạch làm khi bị người ta làm hại và phỉ báng, nhớ lại những năm tháng xa xưa sống ẩn cư ở Đông Sơn. 

Núi Đông Sơn ở phía tây nam huyện Thượng Ngu tỉnh Chiết Giang, cũng là nơi ẩn cư của Tạ An thời Đông Tấn. Bài thơ này đọc lên có một cảm xúc mong muốn quay trở về nơi xưa để lại được sống cuộc đời ẩn cư. 
 
Còn đối với thơ của Đỗ Phủ, ông có một bài thơ "Bất kiến" (Lâu không gặp) nhớ về Lý Bạch khiến người ta xúc động đến tận tâm can.
Bất kiến Lý sinh cửu,
Dương cuồng chân khả ai.
Thế nhân giai giục sát,
Ngô ý độc lân tài.
Mẫn tiệp thi thiên thủ,
Phiêu linh tửu nhất bôi.
Khuông sơn độc thu xứ,
Đầu bạch hảo quy lai.

Dịch thơ: 
Lâu không gặp chàng Lý
Giả điên thật xót xa!
Người đời đều muốn giết
Riêng ta vẫn tiếc tài.
Linh lợi thơ nghìn khúc.
Nổi trôi rượu một ly.
Núi Khuông nơi đọc sách,
Đầu bạc về nhà thôi!
 
Lý Bạch và Đỗ Phủ, một người là tiên thơ, một người là thánh thơ, có thể nói rằng tiếng tăm của những văn học gia này sẽ còn vang mãi. 
Hàn Dũ nói: "Lý Đỗ văn chương tại, quang diễm vạn trượng trường." (Còn mãi văn Lý Đỗ, sáng chói vạn trượng dài.)
Nguyên Chẩn nói: "Thi nhân dĩ lai, vị hữu như tử mĩ giả." (Thi nhân đã đến nhưng lại không có người có tâm hồn đủ đẹp để thưởng thức.)
 
Đỗ Phủ có bài thơ "Đăng cao":
Phong cấp, thiên cao, viên khiếu ai,
Chử thanh, sa bạch, điểu phi hồi.
Vô biên lạc mộc tiêu tiêu há,
Bất tận trường giang cổn cổn lai.
Vạn lý bi thu thường tác khách,
Bách niên đa bệnh độc đăng đài.
Gian nan khổ hận phồn sương mấn,
Lao đảo tân đình trọc tửu bôi.

Dịch thơ:
Gió lộng trời cao vượn ỷ ôi,
Bờ trong cát trắng chim quy hồi.
Lá trút cành rơi sầu vô tận,
Cuồn cuộn sông dài trôi liên miên.
Muôn dặm thu buồn lòng viễn khách,
Thân già nhiều bệnh tự lên đài.
Gian nan khổ hận sương nhuộm tóc,
Thất vọng lìa xa chén rượu đời.
 
Bài thơ "Đăng cao" này của Đỗ Phủ được gọi là thể thơ thất ngôn luật thi kiểu thứ nhất (*). Tôi muốn hỏi bạn đọc xong rồi có cảm nghĩ thế nào?

Mọi người đều biết: 
Lý Bạch bị tống giam, bị trục xuất đến Trường An!
Đỗ Phủ những năm cuối đời lưu lạc giang hồ, chỉ còn để lại những cảm xúc hoài niệm về mong muốn được làm quan giúp nước giúp đời.
Lý Bạch và Đỗ Phủ, hai con người này: khó khăn, li tán, tai nạn, gian khổ, tiều tụy, nổi trôi. Đỗ Phủ sau cuộc biến loạn An Sử đã rơi vào cảnh lang thang không nhà. Hai đại thi nhân này rốt cuộc cũng chỉ là một chữ: "Thảm!"

Bạn có biết bài thơ sớm nhất của Đỗ Phủ đã thể hiện chí lớn như thế nào không? Hãy đọc bài thơ "Vọng nhạc" (Trông núi).
Đại Tông phù như hà?
Tề Lỗ thanh vị liễu.
Tạo hoá chung thần tú,
Âm dương cát hôn hiểu.
Ðãng hung sinh tằng vân,
Quyết tý nhập quy điểu.
Hội đương lăng tuyệt đỉnh,
Nhất lãm chúng sơn tiểu.

Dịch thơ:
Núi Đại Tông thế nào?
Tề Lỗ xanh thăm thẳm,
Tạo hóa ban thần khí.
Âm dương chia sớm chiều,
Bồi hồi nhìn mây trôi.
Đắm đuối trông chim về,
Có dịp lên đỉnh núi.
Ngắm toàn cảnh núi xanh.
 
(Đại Tông còn có tên là Thái Sơn một trong năm núi linh thiêng. Tề Lỗ là hai nước thời nhà Chu, nước Tề được ban cho vùng đất phía bắc Thái Sơn, nước Lỗ được ban cho vùng đất phía nam Thái Sơn.)
 
Nhưng nhớ về chí lớn năm đó, loạn An Sử đã xảy ra thì còn biết làm sao? (*)

Cá nhân tôi khi viết cuốn sách văn tập số 178 "Lên núi ngắm mây bay" đã được nhìn thấy rất nhiều nhân vật lịch sử, ví dụ: Hàn Dũ, Bạch Cư Dị, Nguyên Chẩn, Lý Thương Ẩn, Vương An Thạch, Lục Du, Văn Thiên Tường, Lưu Cơ, Hoàng Đình Kiên, Trần Sư Đạo, Hoàng Sơn Cốc…

Xin hỏi: Họ có phải là từng cụm từng cụm mây trắng lơ lửng, lơ lửng, mãi lơ lửng trôi hay không?
Xin hỏi: Trong số họ có ai là không lang thang không nhà?

Nếu như có người hỏi tôi: "Lư Sư Tôn, vì sao quay lại nơi ẩn cư?"
Tôi sẽ nói: "Mây trôi mây trôi lại mây trôi."

-----------------------
(*) Bài thơ Tĩnh Dạ Tứ (Cảm nghĩ trong đêm thanh tịnh) rất nổi tiếng của Lý Bạch.
Thất ngôn luật thi: thể thơ trong đó một bài thơ gồm tám câu, mỗi câu có bảy tiếng.
Loạn An Sử: cuộc biến loạn xảy ra giữa thời nhà Đường vào thời Đường Huyền Tông, kéo dài từ năm 755 đến 763, do An Lộc Sơn và Sử Tư Minh cầm đầu.


### 20. Không thể đoán được chúng sinh


Ngày trước tôi tốt nghiệp Học Viện Quân Đội, nên nghề nghiệp của tôi là một quân nhân. Tôi phục vụ trong quân đội Trung Cộng hơn 14 năm.
Tôi học khoa trắc lượng địa chất, đã học những kiến thức như trắc lượng, vẽ bản đồ, cuối cùng làm đến chức thiếu tá kĩ sư trắc lượng. Tôi là thiếu tá thoái ngũ.

Là quân nhân thì phải lấy việc "bảo vệ gia đình đất nước" làm thiên chức. Mặc dù tôi thuộc về liên cần tổng bộ quản, nhưng lực lượng bộ đội hậu cần vẫn là sự hỗ trợ số một của quân đội. Về sau này tôi học Phật tu đạo, đi "đoán" tâm chúng sinh, thì khi ấy mắt thấy mà đau lòng, tâm thấy mà phát hoảng.
 
Tôi nhận thấy tâm chúng sinh rất khó đoán biết, lòng người khó đo lường.
Quốc gia này khó đoán quốc gia kia bởi vì: khủng bố, ngược đãi, hiểm độc.
Chiến tranh bản chất là giết người tập thể, người giết lẫn nhau, là dùng mọi loại vũ khí tối tân để tiêu diệt đối phương.
Vũ khí ngày nay không còn là gươm đao cung tên như thời xưa nữa, mà là: đạn đạo, vũ khí hóa học, vũ khí hạt nhân.
 
Trên thế giới này (trái đất), sau chiến tranh thế giới thứ hai vẫn có vô số mâu thuẫn, những cuộc chiến tranh này có cái là vì tranh giành đất đai lãnh thổ, có cái là vì tranh giành quyền lực vị thế, có cái là vì danh lợi, có cái là vì độc lập tự chủ, có cái là vì tự do dân tộc.
 
Tuy nhiên nhân loại bị áp chế, tử vong và tàn tật là vô số kể. Ngọn lửa chiến tranh vô tình, bất kể là kẻ thắng trận hay bại trận thì cũng có biết bao nhiêu người chết, bao nhiêu gia đình tan cửa nát nhà, biết bao nhiêu người lang thang cơ cực. 
 
Tôi thường cố gắng thử đoán những kẻ cầm quyền đó xem bọn họ có dã tâm gì mà lại điên điên rồ rồ có thể không mảy may quan tâm đến sinh mệnh mỗi một con người. Lần lượt từng sinh mệnh từ em bé cho đến thiếu niên, thanh niên đang lớn bị chúng đem ra làm mục tiêu tàn sát hàng loạt. 
 
Rốt cuộc tôi luôn cảm thấy mình có tâm mà bất lực, tôi thực sự thất bại rồi, bởi vì tôi hoàn toàn không có cách nào ngăn chặn được chiến tranh. (Muốn ngăn chặn cần có vũ trang.)
 
Hãy truy xét lại nguồn gốc của chiến tranh. 
Tự cổ chí kim, chiến tranh chưa bao giờ ngừng dứt, trong lịch sử có vô số các cuộc chiến tranh, thế giới này sẽ mãi mãi không có được thời đại hòa bình, đôi khi có hòa bình thì cũng chỉ là tạm thời và ngắn ngủi.
 
Đế quốc đại Mông Cổ của anh hùng cao ngạo Thành Cát Tư Hãn vì sao mà có được?
Lãnh thổ của vị hoàng đế có khí độ xung thiên Napoleon vì sao mà có được?
Đại đế quốc của anh hùng cái thế Alexandre vì sao mà có được?
Đại đế quốc của Caesar uy phong lừng lẫy châu Âu vì sao mà có được?
Hai vị đại tướng của Hán Vũ Đế Lưu Triệt là Vệ Thanh và Hoắc Khứ Bệnh, công danh xuất chúng là vì sao mà có được?
 
Những nhân vật vĩ đại trên thế giới hoặc những nhân vật vĩ đại trong lịch sử Trung Quốc này, bọn họ chính là nhờ vào việc tàn sát hàng loạt sinh mệnh của người khác, dẫm chân lên xương cốt khô rục của vạn người mới trở nên khét tiếng lẫy lừng như vậy.
 
Tôi chẳng hiểu quy tắc đo lường "vĩ nhân", "vĩ nhân" lẽ nào chính là giết người, giết người và giết người…
Cho đến nay vẫn còn có người sùng bái Adolf Hitler.
Cho đến nay vẫn còn có người sùng bái Benito Mussolini.
Cho đến nay vẫn còn có người sùng bái điện thờ Yasukuni.
 
Khi tôi chứng kiến chiến tranh giữa nước này và nước kia, khi tôi chứng kiến các cuộc liên minh luyện tập quân sự giữa nước này với nước nọ, khi tôi chứng kiến những cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân, khi tôi chứng kiến sự phát triển của vũ khí thế giới, khi tôi chứng kiến sức mạnh quân đội lớn đến mức chấn động của một nước, khi tôi chứng kiến quốc phòng của các nước gia tăng các vũ khí chiến lược mới, tôi chẳng thể vỗ tay hoan hô vạn tuế! 

Mà là, than ôi thật bi ai!
Con người không nên phát triển vũ khí để đi giết người, đi giết người dân của nước khác. Người dân của các quốc gia khác chẳng phải cũng là con người hay sao?
Con người hãy nên ngây thơ, thuần khiết, hòa bình và tự nhiên đi thôi!


### 21. Đạo là (thuận theo) tự nhiên


"Tấn Thư (*) - Phương kĩ truyền" đã ghi chép lại:
Có một người tên là Hạnh Linh. Lúc còn nhỏ, cha mẹ kêu cậu ta trông nom ruộng lúa. Hạnh Linh vừa chăn trâu vừa trông ruộng lúa. Trâu đi ăn lúa, Hạnh Linh nhìn thấy nhưng không đi bắt trâu lại. Đợi trâu ăn no xong tự bỏ đi, Hạnh Linh mới đi dọn dẹp sạch sẽ đám ruộng lúa, dựng lại đám lúa mà trâu dẫm lên, dựng lại đám lúa mà trâu ăn còn thừa cho thẳng lại, dọn dẹp gọn gàng. 
 
Cha ông bắt gặp sự việc thì vô cùng tức giận, mắng cậu ta đầy giận dữ. 
Hạnh Linh nói:
"Trâu đói bụng tự khắc sẽ đi ăn lúa, vì sao phải ngăn nó lại mà  không cho nó ăn?"
Cha cậu càng tức, liền hỏi:
"Đã như vậy rồi, sao mày còn đi xuống ruộng dựng thẳng lại đám lúa này, từng cây một trả lại nguyên như cũ?"
Hạnh Linh nói:
"Trâu ăn lúa vì muốn sống. Chỗ lúa trâu ăn không hết, con đi dựng thẳng lại cũng vì muốn cho lúa được sống."
 
Tôi đọc được đoạn ghi chép này thì nhận thấy Hạnh Linh là một người rất thông thái. Cậu ta vừa vì muốn trâu được sống, cũng vừa muốn lúa được sống, đây mới là: "Sống, sống, sống, sự sống không ngừng nghỉ."

Sau này Hạnh Linh học đạo pháp, trở hành một học sĩ rất uyên bác.
 
Trong ghi chép cũng ghi lại:
Có một người là Lữ Y, mẹ của anh tên là Hoàng Thị mắc bệnh liệt hơn 10 năm, đã mời Hạnh Linh đến thăm bệnh. Hạnh Linh ngồi trước mặt Hoàng Thị, cách vài bước chân. Ngồi yên. Hai mắt nhắm. Hoàn toàn yên lặng không một tiếng động.

Hạnh Linh chỉ dùng cách tu hành của bản thân, một cách vô hình, phủ lên toàn thân Hoàng Thị.

Thế rồi, Hạnh Linh nói:
"Giúp Hoàng Thị phu nhân đứng dậy đi thử xem!"
Lữ Y không tin, những người khác cũng không tin. Họ nói: 
"Người già mắc bệnh đã hơn 10 năm rồi, làm sao có thể nói đứng dậy là đứng dậy, nói đi là đi được? Chúng tôi không tin."
Hạnh Linh nói:
"Trên người bà ấy đã có đạo của tôi, đi được!"

Thế là Lữ Y lập tức giúp lão phu nhân trước tiên là đứng lên, rồi thử cố gắng đi vài bước chân. Kết quả là Hoàng Thị thực sự có thể đi được rồi, thật sự khỏe rồi, mọi người vui muốn chết luôn.

Hạnh Linh nói:
"Không có gì khác, Đạo chính là tự nhiên mà vận hành."
 
Trong cuộc đời này tôi cũng đã từng giúp người ta từ ngồi trên xe lăn có thể đứng dậy, sau đó còn đi được, còn nhảy được. Có người từng hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn, ngài là người học đạo, cứu được nhiều người như vậy, vì sao lại còn đi ẩn cư?"
Tôi đáp:
"Cái xã hội này biến đổi rồi!"
"Biến đổi thế nào?"
"Tôi giúp người ta không cần báo đáp, nhưng người ta vẫn ăn cháo đá bát. Tôi cứu người càng nhiều thì bị phỉ báng càng nhiều, những nghi ngờ không tin càng nhiều. Xã hội này đổi trắng thay đen quá nhiều, con người càng hiểm độc hơn, lòng tham lam ngày càng tăng. Tôi cũng chỉ vì muốn được sống nên mới phải đi ẩn cư."
 
Tôi nói: "Tôi vì cuộc sống nên mới đi ẩn cư."
Tôi nói: "Tôi đi ẩn cư càng là vì cuộc sống của chúng sinh."

Tôi làm người nổi tiếng đã gây chấn động mọi tầng lớp trên dưới trong xã hội rồi, tính nguy hiểm của việc này ngày càng tăng. Người học đạo đương nhiên biết khi nào thì nên ẩn đi, khi nào thì nên xuất hiện.

------------------
Tấn thư: là một sách trong 24 sách lịch sử Trung Quốc được biên soạn vào năm 648, đời Đường Thái Tông.


### 22. Lòng từ bi đích thực


Có người hỏi tôi: "Lư Sư Tôn, ngài đóng cửa ẩn cư có phải là quá đột ngột không, không độ chúng sinh nữa sao?"Tôi đáp: "Sai rồi."
"Sai chỗ nào, ngài hoàn toàn không gặp đệ tử, không gặp chúng sinh, rõ ràng là ngài đã từ bỏ chúng sinh rồi."
Tôi nói: "Thế anh có nhớ khi đại dịch SARS xảy ra, tôi gọi tất cả đệ tử đến niệm tâm chú Diêu Trì Kim Mẫu không? Chính việc đọc chú này đã tiêu trừ dịch SARS. Dịch SARS đến một cách không thể hiểu được, dịch SARS cũng hết một cách không thể hiểu được. Tôi như vậy là từ bỏ chúng sinh sao?"
Người đó chẳng còn gì để nói.
 
Tôi nói: "Thế anh có nhớ khi cơn đại hồng thủy ập đến, tôi đã gọi tất cả đệ tử đến niệm chú đại cứu nạn không? Việc niệm chú đại cứu nạn này đã siêu độ cho những người chết, giúp những người sống có thể tiếp tục sống an bình hạnh phúc, tôi như vậy là từ bỏ chúng sinh sao?"
Người đó càng á khẩu.
 
Tôi nói: "Lão Tử nói, đạo trị bản thân, đầu tiên phải ẩn mình trong trời đất, bắt đầu cuộc sống thanh tịnh giữa vạn vật, thánh nhân cần thông hiểu cái gốc sâu xa, nghĩ hiểu được về sự hỗn tạp mà giữ thân mình. Đây chính là đạo lý của ẩn cư."

Tôi lại nói: "Mặc dù tôi ẩn cư nhưng ánh sáng của Đạo vẫn tự hiển hiện. Cái gọi là "ngũ hành bất tương khắc, vạn vật tất khả toàn" (ngũ hành không xung khắc thì mọi vật đều có thể hoàn thiện), vạn vật là vô thường, thành rồi chẳng mấy mà kết thúc, tam quang (ba thứ ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, vì sao) không chiếu sáng được âm gian, trời đất thường tự phản chiếu. Vì thế mà tôi phóng đại quang minh chiếu khắp thế giới, lục đạo tứ sinh (*) được tránh xa khỏi nguy hiểm.
Đây mới là lòng từ bi đích thực. 
 
Tôi ở trong nhà nhỏ.
Ngồi xếp chân.
Xỉa răng.
Nắm chặt tay.
Thở thai tức (*)
Quan sát chúng sinh khắp thiên hạ.
Thế là quang minh chiếu rọi khắp nơi.
Tôi thiền định trong tam muội mà phát sinh lòng từ bi chân chính. Chính tôi đây bình đẳng thương xót mọi chúng sinh, bất kể là người quen biết hay không quen biết, tôi đều hồi hướng bình đẳng cứu độ. 

Người tàn bạo tôi cũng cứu.
Người tàn nhẫn tôi cũng cứu.
Người tâm địa đen tối tôi cũng cứu.
Người có tâm dối trá tôi cũng cứu.
Người thô lỗ bám chấp tôi cũng cứu.
Người độc tài tôi cũng cứu.
Noãn sinh, thai sinh, thấp sinh, hóa sinh, tôi đều cứu.
 
Sau khi tôi tu pháp phóng quang đều hồi hướng như thế này:
"Nguyện cho mọi sở cầu của chúng sinh đều được viên mãn."
"Nguyện ánh sáng quang minh sẽ tiếp dẫn chúng sinh đến tịnh thổ Phật quốc."
Tôi mỗi ngày đều hồi hướng như vậy.
Đây chính là lòng từ bi đích thực!
 
Người ta có thể cho rằng tôi thiếu tấm lòng đồng cảm, không thể nhập thế để hy sinh bản thân mình vì người khác, không thể thâm nhập vào đám đông và chúng sinh để cảm nhận đồng nhất, tự mình đi ẩn cư, không có tư duy, không có cảm xúc, không có tình nghĩa, chỉ là làm lợi cho chính bản thân mà thôi.
 
Nhưng mọi người làm sao biết việc cứu độ của tôi không phải là biểu hiện bề mặt, không phải là những cái thô nông, không phải hẹp hòi, càng không phải là ở mức độ bề nổi.
Bề nổi là: 
Vô tri vô cảm. (không biết, không cảm động)
Vô giác vô thụ. (không thấy, không nhận)
 
Mà chính là ở nội tại:
Tôi xuống với thiên hạ, mà người thiên hạ chẳng biết.
Tôi ban cho thiên hạ, mà người thiên hạ chẳng biết.
Tôi tốt với thiên hạ, mà người thiên hạ chẳng biết.
Tôi dạy pháp cho thiên hạ, mà người thiên hạ chẳng biết.
Tôi cứu giúp thiên hạ, mà người thiên hạ chẳng biết.
 
Tôi đã vượt khỏi hồng trần, không muốn chìm đắm bơi trong sóng biển nhơ bẩn nữa. Nhưng nội tâm của tôi cứu độ chúng sinh đến mức tôi thực sự đã khô kiệt nước mắt, tấm lòng từ bi vô tận không bao giờ ngừng dứt!

Nhưng, tôi đâu nhất định cần người ta phải biết cho!

----------------------
Lục đạo tứ sinh: chúng sinh trong sáu đường luân hồi tái sinh theo bốn cách: noãn sinh (từ trong trứng nở ra), thấp sinh (từ nơi ướt át mà sinh trưởng), thai sinh (từ trong thai mẹ sinh ra), hóa sinh (sinh ra bằng biến hóa tự nhiên).
Thở thai tức: cách thở trong Đạo giáo, thở như một đứa bé trong bào thai.


### 23. Tu pháp không có cảm ứng


Ngày xưa.Từng có một đệ tử đi theo bên cạnh tôi, đã học được không ít các pháp quý của Mật tông Tây Tạng, các pháp này đều vô cùng trân quý. Anh ta thực hành rất nghiêm túc tinh tấn.
Tôi cũng dùng một vài khẩu quyết bí mật truyền cho anh ta.

Sau khi anh ta trải qua một thời gian tu luyện thì đã rất quen thuộc với các nghi quỹ mật pháp, nghi quỹ cũng rất đầy đủ chu toàn. Sự mật, hành mật của anh đều không có chút lơ là.

Anh ta tu các pháp tức tai, tăng ích, kính ái, hàng phục, tất các các khẩu quyết bí mật đều kết hợp lại. 
Hỏa cúng 100 đàn.
Thủy cúng 100 đàn.
Đại cúng dường 100 đàn.
Cúng quỷ thần 100 đàn.
Cúng hộ pháp 100 đàn.
Cúng Thượng sư 100 đàn.
Cúng Bổn Tôn 100 đàn.
Cúng chư thiên 100 đàn.
v.v…
 
Có một hôm anh ta đến tìm tôi, nói với tôi đầy chán nản:
"Hoàn toàn không có chút tương ứng nào."
"Anh cầu thỉnh chư tôn đi!" Tôi nói.
"Đã thỉnh cầu từng vị một rồi."
"Anh niệm Cao Vương Kinh 1000 biến đi!"
"Đã niệm xong rồi."
"Niệm Thượng Sư tâm chú 1 triệu biến đi!"
"Đã niệm xong rồi."
"Anh niệm kinh Kim Quang Minh bảy bảy bốn mươi chín biến đi!"
"Đã niệm xong rồi."
"Anh lạy tất cả mọi pháp sám hối chưa?"
"Đã sám rồi."

Tất tần tật đều đã xong y như vậy. Anh ta gần như là đã tập hết tất cả mọi pháp. Anh ta tận dụng hết tất cả các pháp, thực sự hoàn toàn không có cảm ứng, giống như trâu đất đi vào biển, mất sạch dấu vết, một đi không trở lại. 
 
Anh ta hỏi: "Lư Sư Tôn, có cách nào không?"
Tôi đáp: "Tất tần tật mọi pháp đều làm hết cả rồi, tôi làm gì còn gì để nói!"
"Chẳng phải nói là sẽ tương ứng sao? Đặc biệt là pháp tâm trong tâm?"
"Đúng vậy." - Tôi nói.
"Vì sao không tương ứng?"
"Tôi thực sự không biết." - Tôi rất bối rối.
 
Tôi ở trong tam muội, hư vô mờ ảo, chính xác là "tôi sinh tại hư không, tôi ở tại hư không, sinh ra là bổn tôn, chết đi cũng bởi tâm". Lúc này tôi xuất hiện ở cõi Bảo Thắng Phật, tôi hỏi Đức Phật Bảo Thắng:
"Vì sao hết lòng hết sức tu tất cả mọi pháp mà không biết vì lý do gì vẫn không có một chút tương ứng nào?"
Bảo Thắng Phật đáp:
"Kinh sách trân quý mà tâm trống rỗng thì cũng vô ích. Không có tâm thì lời nói cũng bằng không. Có tâm thì dù không nói cũng tự có."
 
Tôi nói: "Xin mời giải thích rõ!"
Bảo Thắng Phật đáp:
"Có ba loại người tu pháp chắc chắn không tương ứng, ba loại người này hãy nghe cho rõ:
Loại người thứ nhất: người có tâm phẫn nộ và không kiên định.
Loại người thứ hai: người có tâm độc ác và phản trắc.
Loại người thứ ba: người có tâm tham dục không biết dừng lại."
Tôi nghe xong, im lặng.

Bảo Thắng Phật nói:
"Phật tâm và thiên tâm tương ứng, thiên tâm và nhân tâm tương ứng, nhân tâm mà nhốn nháo, phản trắc, tham dục thì dù có tu mọi pháp cũng tự nhiên sẽ không thể tương ứng được."
 
Do vậy tôi thực sự nói cho mọi người biết:
"Một câu nói cũ rích, tu pháp không bằng tu tâm! Tâm địa của bạn đã tốt hay chưa?"


### 24. Viết ra bài kệ cảm thán


Vào lúc tinh thần thảnh thơi tiêu dao, tôi đã viết một bài kệ cảm thán nói về năm năm đóng cửa ẩn tu của tôi như sau:
 
Mỗi ngày tôi sáng tác, một chương lại một chương.
Mỗi ngày tôi tĩnh lặng, một ngày lại một ngày.
Chỉ một mình tôi đây, cái gì cũng chẳng có,
Đại La Kim Tiên này ẩn mình chốn nhân gian.
Trước tôi đã là ai, sau tôi sẽ là ai.
Người minh tâm kiến tính chư Phật đều hiển lộ.
Mười vạn không hành hộ pháp cầm gươm mặc giáp.
Mật hành tôn giả đã thấu nhân duyên hồng trần.
Đừng cười tôi né tránh né mãi vào trong núi.
Đừng cười tôi thoát chạy đến tận thung lũng sâu.
Thử hỏi cõi Ta Bà có gì mà lưu luyến.
Tôi ở tại hư không sớm tối ngủ vậy thôi. 
 
Có một buổi tối tôi mơ một giấc mơ, mơ thấy mình đi vào bên trong một ngọn núi lớn, bên trong núi có một cái hang rồng, trong hang rồng đã đào sẵn một cái hố. Bên trong hố đã để một cái quan tài, quan tài đang mở, bên trong hoàn toàn trống rỗng. Tôi liền lập tức nằm vào trong, sau đó tôi ngủ thiếp đi. Đây thật là giấc ngủ ngon nhất trong cuộc đời!
Lúc này tôi lại mơ trong giấc mơ. Tôi gặp Trang Tử. Trang Tử hỏi tôi:
"Có cái gì là có?"
Tôi đáp:
"Không có gì là có."
Trang Tử hỏi tôi:
"Ngài tự do hay chưa?"
Tôi đáp:
"Đang tự do nhất đây."
Trang Tử gật gật đầu rồi biến mất. 

Thế là tôi bay lên, bay trong hư không rõ rệt.
Vẫn còn muốn xác nhận điều gì chăng? Ở thế giới nhân gian cõi Ta Bà này, vẫn còn cái gì có thể xác nhận?

Biệt thự Cầu Vồng vì sao được đặt tên là biệt thự Cầu Vồng? Bởi vì Cầu Vồng thoắt ẩn thoắt hiện, chỉ hiện trong chớp mắt, cơ bản chính là huyễn hóa. Cầu vồng biến mất rồi.
 
Trước đây, những sáng tác của tôi đã giành được giải vàng Văn học và Nghệ thuật quân đội Quốc gia, và giành được giải thưởng lạc đà vàng, lạc đà bạc, lạc đà đồng… cho sự siêng năng sáng tác. Những giải thưởng này nhiều như mưa hoa từ trên trời rơi xuống vậy.

Rơi xuống rồi không thấy nữa.
Thế còn Chân Phật Tông?
Thế còn Lôi Tạng Tự?
Thế còn các Thượng Sư?
Thế còn các đệ tử?

Vì sao mà lần lượt từng người từng người một đều không thấy nữa? Từng người từng người một đi vào ba đại chí nguyện của tôi: viện dưỡng lão, trung tâm chăm sóc, nghĩa trang Chân Phật. Xin hỏi, ba đại chí nguyện này cho thấy điều gì?

Bạn vẫn còn có thể ăn bào ngư được không?
Bạn vẫn còn có thể ăn vi cá được không?
Bạn vẫn còn có thể ăn rau cải được không?
Bạn vẫn còn có thể ăn đậu phụ được không?
Thực sự cái gì cũng chẳng thể ăn nổi nữa rồi.
Cha, mẹ, anh em, chị em, con cháu, vợ, sư trưởng, đệ tử…
Tất cả đều chẳng còn nữa. 
 
Bây giờ tôi đã nằm xuống, một khi đã nằm xuống thì tất cả đều chẳng còn nữa, kịch không còn diễn nữa, hạ màn rồi! Hạ màn rồi! Ngay cả đến các thế hệ sau này cũng không còn thấy nữa. Đến cả kịch tôi cũng không xem được nữa rồi!

Tôi đi vào cõi mơ hồ giữa sống và chết.
Tôi đi vào nơi mọi thứ khép lại.
Tôi đi vào Maha Song Liên Trì.
Anh bạn già, anh vẫn còn đi xây Lôi Tạng Tự à? Anh hãy đi xây mộ của anh đi!


### 25. Trăm suy nghĩ không ngừng dứt


Trang Tử trong "Thiên Vận Thiên" (*) đã nói:"Thiên kì vận hồ? Địa kì xứ hồ? Nhật nguyệt kì tranh ư sở hồ? Thục chủ trương thị? Thục duy cương thị? Thục cư vô sự thôi nhi hành thị? Ý giả kì hữu cơ giam nhi bất đắc dĩ gia? Ý giả kì vận chuyển nhi bất năng tự chỉ gia?"

Đại ý của nó là như thế này:
"Trời rộng bao la có vận chuyển không? Đất rộng mênh mông có đứng yên tại một chỗ không? Mặt trời mặt trăng có thay nhau luân phiên chiếu sáng không? Ai là người thống trị? Ai là người trì giữ trật tự này? Là ai nhàn hạ rảnh rỗi đi làm việc này? Là ai buộc phải khởi động bộ máy hoạt động như vậy? Là ai đã khởi động rồi nhưng không có cách nào dừng lại được?"
 
Tôi đã đọc "Thiên Vận" của Trang Tử bèn có suy nghĩ thế này:
1, Trái đất treo lơ lửng trong hư không như thế nào?
2, Trái đất tự quay và quay theo quỹ đạo như thế nào?
3, Mặt trời là vĩnh hằng, nhưng ngọn lửa mà nó đốt cháy, vì sao cháy mãi không hết?
4, Mặt trăng nhờ mượn ánh sáng mặt trời mà sáng, vì sao cũng tự quay và quay theo quỹ đạo?
5, Ai sắp đặt chín đại hành tinh của hệ mặt trời?
6, Ai đẩy chín đại hành tinh khiến chúng quay nhanh như vậy?
7, Vũ trụ rốt cuộc rộng lớn như thế nào?
8, Từ tính hấp dẫn lẫn nhau từ đâu mà có? Từ tính sinh ra thế nào?
9, Ai cai quản cả vũ trụ này?
 
Trước đây tôi học khoa trắc lượng nên đã biết và cũng từng dùng các nghi cụ quan sát trăng sao của đài quan sát. Chín vấn đề tôi nêu lên ở trên, có cái thì có đáp án, có cái thì không có đáp án, nhưng có lẽ những vấn đề này chỉ như giọt nước đổ vào biển. Vũ trụ rộng lớn cỡ nào, ai mà biết chứ?
 
Trang Tử hỏi trời.
Tôi cũng hỏi trời.
Điều tôi muốn nói với mọi người là cơ thể con người, cơ thể vật lý của chúng ta, bản thân nó cũng là một điều bí ẩn.
 
Các câu hỏi của tôi như sau:
1, Hít khí vào, thở khí ra, là ai dạy mà biết?
2, Tim vì sao lại đặt ở ngực bên trái?
3, Tim đập là do ai điều khiển?
4, Máu chảy tuần hoàn rồi lại trở về như lúc đầu, chảy một vòng rồi lại như ban đầu, ai quy định quỹ đạo của nó?
5, Não con người là do ai tạo ra?
6, Ý nghĩ là cái thứ gì?
7, Ý nghĩ vì sao không có cách nào giữ dừng lại một chỗ?
8, Nhiệt độ cơ thể người vì sao mà có?
9, Nước trong cơ thể người, ai điều khiển sự luân chuyển của nó?
10, Cấu trúc cơ thể người, ai là kiến trúc sư?
 
Một vài câu hỏi nhỏ này của tôi cũng chỉ là một phần thắc mắc nhỏ về cơ thể người, những vấn đề khác mà bạn chẳng bao giờ nghĩ đến cũng rất nhiều, ví dụ: trong nước bọt vì sao có nhiều vi khuẩn như vậy? Yêu cầu bạn giải thích có lẽ bạn cũng chẳng hiểu rõ. Các đường chỉ tay của con người vì sao chẳng ai giống ai? Ai có thể biết cho đủ? Những gì bạn chẳng bao giờ nghĩ đến có rất rất nhiều.
 
Những câu hỏi này, có người không cần suy nghĩ mà nói ngay, để cho "thượng đế" trả lời. Có người sẽ đẩy sang cho các vị ở trên trời, cho thần tiên. Có người sẽ đẩy sang học thuyết của Darwin. Có người sẽ đẩy sang học thuyết kiến tạo. Lão Tử và Trang Tử thì sẽ đẩy sang học thuyết tự nhiên.
 
Trong lúc suy nghĩ, tôi cứ nghĩ mãi một điều, điều tôi nghĩ là một câu nói của Lục Tổ Thiền Tông:
"Trăm suy nghĩ không dứt, bồ đề dài bao nhiêu!"

Ý nghĩ của con người vì sao không có cách nào chặn lại được? Vì sao muốn không nghĩ mà vẫn cứ là nghĩ?
Có ai có thể chặn lại được suy nghĩ của chính mình không?
Mật giáo dùng quán tưởng. Do đó chính niệm đến để thay cho mọi ý nghĩ hỗn tạp khác. Lại dùng thiền chỉ (dừng), lại dùng thiền quán (quan sát).
 
Các bạn có biết vì sao tôi đóng cửa ẩn cư không? Vì tôi muốn biến trăm ý nghĩ thành trăm chính niệm, trăm chính niệm biến thành trăm nhất niệm, trăm nhất niệm biến thành tam muội niệm, cứ như vậy, cứ như vậy, bồ đề dài như thế.
 
Trăm suy nghĩ không dứt, nhưng đều đi trên quỹ đạo rồi!

-------------------
Thiên Vận Thiên: chương 14 trong Nam Hoa Kinh của Trang Tử.


### 26. Không có gì để nói


Tôi đọc "Tấn Thư", chương tiểu sử Tôn Đăng, đọc về con người Tôn Đăng. Tôn Đăng thích đọc Kinh Dịch. 
Theo tôi được biết, Kinh Dịch còn được gọi là Chu Dịch, từ xưa cùng với Liên Sơn, Quy Tạng được gọi chung là Tam Dịch. Sau này hai pho kinh sách Liên Sơn và Quy Tạng đã thất truyền, chỉ còn lại một pho Kinh Dịch.
Kinh Dịch, Kinh Thơ, Kinh Thư, Lễ Kí, Xuân Thu, năm cuốn kinh sách này cũng được gọi chung là Ngũ Kinh.
Kinh Dịch là những lý luận đúng đắn về sự phát triển và suy thoái của âm dương trời đất, tôi nghĩ rằng chữ "dịch" là trong chữ "biến dịch" (dễ thay đổi).

Cũng có người cho rằng:
Dịch là thay cho nguyên tắc thay đổi.
Dịch là nguyên tắc tự nhiên, bình thường.
Dịch bao hàm: an (yên tĩnh, an toàn), ninh (bình yên), khang (khỏe mạnh, đủ đầy), thái (an toàn, hòa bình), tuy (bình định, an ổn).
Dịch cũng được chuyển thành sách bốc quẻ xem bói. 
 
Nói tóm lại, Tôn Đăng thích đọc Kinh Dịch, cuối cùng đã trở thành một ẩn sĩ có tiếng tăm. Ông thích gẩy đàn, đã đi vào núi Nghi Dương ẩn cư không xuất hiện nữa. Văn Đế biết được con người này bèn mời một trong bảy Trúc Lâm Thất Hiền là Nguyễn Tịch đến thăm ông ta. 

Nguyễn Tịch hỏi Tôn Đăng:
"Có cầu xin điều gì không?"
Tôn Đăng không nói gì, cũng không trả lời. Nguyễn Tịch đành phải rút về. Văn Đế  lại mời một trong bảy hiền sĩ trúc lâm là Kê Khang đến thăm viếng, đi theo Tôn Đăng tận ba năm.

Kê Khang hỏi Tôn Đăng: "Ngài theo đuổi cái gì?"
Tôn Đăng cũng vẫn không trả lời. Vị ẩn sĩ Tôn Đăng này, qua bao nhiêu năm từ đầu đến cuối vẫn không nói một lời nào.
 
Cả đời của Tôn Đăng chỉ làm ba việc:
1, Đọc Kinh Dịch.
2, Gảy đàn.
3, Huýt sáo.

Tôi đọc tiểu sử Tôn Đăng, trong lòng cảm thấy thương xót, đúng là như vậy. Trong cõi Ta Bà này, thực sự là không có gì để nói.

Trước 50 tuổi, tôi có thể xem như là một người nói không ngơi nghỉ, lại còn viết văn nữa, lại còn ngồi pháp tọa giảng pháp nữa, ngày nào cũng là "Phật, Phật, Phật, pháp, pháp, pháp." Nói dọc, nói ngang, nói xiên, nói lộn, nói suốt không ngừng, nói mãi không thôi! 

Mỏ con vịt - quạc quạc không ngớt.
Mỏ con chim - óa óa không ngớt.
Miệng con ếch - ộp ộp không ngớt.
Tôi có thể xem như là lắm lời.

Chẳng trách mà rất nhiều người nhìn thấy ánh sáng hào quang cao vạn trượng của tôi liền sinh lòng bất mãn, tôi liền bị bôi thành một cục đen sì. 
Còn như bây giờ:
Tôi đóng cửa ẩn cư đã năm năm rồi, con trai Phật Kỳ kết hôn, tôi không có mặt; con gái Phật Thanh lấy chồng, tôi không có mặt; lão sư phụ viên tịch, tôi không có mặt; sư cô Lâm Thiên Đại tiên thệ, tôi không có mặt; trong lòng tôi rất mong mỏi, nhưng:  
"Không có gì để nói."


Năm năm qua, nhờ có văn chương mà tôi viết nên đã chứng minh tôi vẫn còn chưa chết. Nhưng lời đã rất ít rồi, rất ít rồi. Tôi không còn liên lạc gì với con người thế tục nữa, cũng không liên lạc với đệ tử nữa.

Tôi tình cờ gặp người quen thì chỉ có chạy, chạy, chạy. Vì sao tôi lại như vậy, câu trả lời là:
"Không có gì để nói."
 
Làm người, khi đã đạt đến cấp độ cảnh giới cao nhất rồi thường sẽ không thể nói được, bởi vì có nói cũng chưa chắc đã có người hiểu được. Nếu mà nói cũng không hiểu được thì thà không nói còn hơn.
Tôn Đăng không nói, chỉ gảy đàn, huýt sáo, đọc Kinh Dịch. Tôi cũng chẳng muốn nói gì chỉ vì cảm thấy mệt, cảm thấy lười.  Ha, ha, ha! Cố cười ba tiếng. Cười còn khó nghe hơn khóc!


### 27. Một kẻ điên


Trong thời đại Xuân Thu chiến quốc, có một người tên là Canh Tang Sở, Canh Tang là họ, Sở là tên. Ông ta tu luyện đắc được Đạo.
Có một người khác, họ là Nam Vinh, tên là Trù, gọi là Nam Vinh Trù, biết Canh Tang Sở đã đắc Đạo bèn vì ngưỡng mộ mà tìm đến, hy vọng được Canh Tang Sở truyền thụ Đạo, bái Canh Tang Sở làm thầy.
 
Nhưng sư phụ vừa nhìn thấy đệ tử này đã từ chối luôn, bởi vì đệ tử này trên mặt có tướng phản cốt (*). Canh Tang Sở nói với Nam Vinh Trù:
"Ong đất không thể dạy để biến thành sâu bướm được, bao nhiêu gà cũng không thể ấp được trứng thiên nga. Nhưng có một loại gà ngu ngốc vẫn có thể dạy để trở thành trứng thiên nga."

Lại nói tiếp:
"Trong họ chim gà, tuy về mặt hình dạng thì chúng có vẻ tương đối giống nhau, nhưng cũng có khác nhau về kích thước lớn nhỏ. Tôi ít tài năng, không có tư cách dạy Đạo cho anh, xin anh đi tìm thầy khác xứng đáng hơn!"

Nam Vinh Trù nghe Canh Tang Sở nói không dám dạy anh ta, anh ta cũng biết là khó rồi, vì thế mà thoái lui.
Câu chuyện xưa này khiến tôi nghĩ đến việc giữa gà với gà cũng có phân biệt:
Gà siêu trứng - chuyên đẻ trứng.
Gà thả vườn - thịt thơm ngon.
Gà ác - bổ dưỡng nhất.
Gà đồi - ngon tự nhiên.
Gà sao - đẹp nhất.
Gà tây - kêu gu gu gu gu.
Chim công - hoàng hậu xinh đẹp nhất.
 
Canh Tang Sở lấy chuyện gà với gà để so sánh, năng lực của ông ta kém, không có cách nào dạy được "trứng phản cốt" của Nam Vinh Trù. Ha ha! Thật là vui.
 
Thế còn Liên Sinh tôi cũng thực sự là một kẻ điên. Vì sao nói tôi là một kẻ điên?
Tôi nhận đệ tử bất kể đó là loại người gì, bởi vì tôi không nỡ bỏ qua bất kì một chúng sinh nào, nên tất cả đều nhận làm đệ tử.
Tôi đối với mọi người bình đẳng, bất kể xuất thân thế nào đều dạy hết. Trên thực tế, trong đám đệ tử có rất nhiều người là mặt mang tướng phản cốt. Tôi chỉ cần nhìn là biết được. Tuy vậy, tôi là kẻ điên mà, bất kể người đó là chính cốt, phản cốt, tà cốt, đảo cốt, quái cốt, phàm cốt, yêu cốt, tiện cốt, dâm cốt,… tôi đều nhận làm đệ tử hết.

Kết quả là, đệ tử của tôi nhiều nhưng cũng cực kì tạp nham. 
Vì sao tôi không sợ kẻ phản cốt sẽ giết sư phụ?
Chỉ một câu thôi:
"Cao nhân "trình cao" mà!"
 
Tôi đứng ở cảnh giới cao nhất nhìn lên trên, phía trên đã chẳng có người nào khác cả. Lại nhìn trái nhìn phải, những người cùng cảnh giới với tôi chỉ đếm được trên đầu ngón tay, chẳng có được bao người, chỉ hai, ba người thôi. Tôi là kẻ điên khùng, chỉ có mình tôi độc tôn thôi.

Rất nhiều người tự gọi mình là đại sư, thượng nhân, Phật sống, tông sư, đại cư sĩ. Trong con mắt tôi, tất cả bọn họ đều chỉ mới leo được nửa ngọn núi, bọn họ giỏi lắm là kêu được gu gu gu gu như con gà tây. Vẫn còn có những con chim cu cu chưa tốt nghiệp lớp mẫu giáo bé trường mầm non Phật giáo cũng tự gọi mình là Bồ Tát. Thật là khiến tôi cười phá lên!
 
Tôi nghĩ, Canh Tang Sở không nhận Nam Vinh Trù làm đệ tử, còn tôi lại dám nhận. Đó là vì nếu tôi không nhận những kẻ phản cốt này thì bọn họ sẽ đi bái người khác làm sư phụ, nhiều nhất cũng tu được thành mấy con gà tây quay là cùng. Kẻ điên khùng như tôi đây đồng cảm với những con người này, những con người mà đến "năm Con lừa" (*) mới có thể đắc đạo được, thực sự là còn xa lắm lắm lắm.

Thế còn kẻ phản cốt cắn ngược lại tôi thì làm thế nào? Cắn trộm một phát có thể phần nào ngập vào xương, nhưng tôi đắc đạo là đắc đạo, bị cắn cũng vẫn là đắc đạo, sợ cái gì mà sợ? 
Kẻ điên đắc đạo, cắn là cắn, chẳng đau chẳng nhột, đây mới gọi là "bất chấp hết"!

--------------------
Năm Con lừa: trong 12 năm tính theo con giáp thì không có con giáp nào là con lừa, nói "năm Con lừa" có nghĩa rằng chẳng bao giờ xảy ra.


### 28. Làm "người" thì dễ lạc lối


Từng có người hỏi tôi:"Mấy năm nay ngài dẫn dắt phong trào Phật giáo nhân gian, cũng có thể gọi là giúp nhân gian thành tịnh thổ, muốn làm cho nhân gian (thế giới con người) thành cõi tịnh thổ. Do vậy vào lúc lâm chung, từng người phát nguyện sẽ lại đến nhân gian, không biết đúng hay không?"
 
Tôi lẩm bẩm một lúc lâu, không vội đưa ra lời bình phẩm.
Tôi lấy hai ví dụ:
Thời Đông Hán có hai người tu hành, một người là Mã Minh Sinh, người kia là Âm Trường Sinh, cũng chính là đệ tử của Mã Minh Sinh. Hai người họ đều tu hành "Thái Thanh thần đan kinh".

Người ta nói rằng tu hành thành công thì có thể thành tiên trên trời. Thế nhưng mới tu thành Thiên tiên thì vẫn phải phục vụ Đại thiên tiên ở trên trời. Do vậy Mã Minh Sinh và Âm Trường Sinh đều không muốn thành Thiên tiên. Sau khi luyện đan thành công, họ chỉ uống nửa viên, uống nửa viên thì chỉ thành Địa tiên (tiên ở dưới mặt đất) mà không thành Thiên tiên (tiên ở trên trời). Địa tiên thì tự do hơn, không phải chết, nhưng có thể du hành khắp thiên hạ, chẳng khác gì thần tiên.
 
Mã Minh Sinh và Âm Trường Sinh này không muốn chết đi để làm Thiên tiên, chỉ muốn làm Địa tiên để chu du thiên hạ. Việc này trong "Thần tiên truyện" của Cát Hồng rất nổi tiếng.
 
Cá nhân tôi cho rằng:
Không muốn thăng thiên (chết đi).
Yên ở thiên hạ.
Đây cũng là một trường hợp đặc biệt của thần tiên.
Thế nhưng xin hãy lưu ý, Mã Minh Sinh và Âm Trường Sinh đều đã trải qua tu luyện, trở thành Địa tiên có định lực và huệ lực (*).

Lại nói tiếp:
Tôi đã từng được nghe một nghệ sĩ xướng lên bài thơ "Thủy điệu ca đầu" (*) của Tô Thức, nghe toàn bộ sự duyên dáng ngầm ẩn trong âm điệu lời ca, đưa ta quay trở về nhiễu quanh mái nhà xưa. Thực sự bài này là nổi tiếng nhất:
Minh nguyệt kỷ thời hữu?
Bả tửu vấn thanh thiên.
Bất tri thiên thượng cung khuyết,
Kim tịch thị hà niên.
Ngã dục thừa phong quy khứ,
Hựu khủng quỳnh lâu ngọc vũ,
Cao xứ bất thắng hàn.
Khởi vũ lộng thanh ảnh,
Hà tự tại nhân gian.

Chuyển chu các,
Đê ỷ hộ,
Chiếu vô miên.
Bất ưng hữu hận,
Hà sự trường hướng biệt thời viên.
Nhân hữu bi, hoan, ly, hợp,
Nguyệt hữu âm, tình, viên, khuyết,
Thử sự cổ nan toàn.
Đãn nguyện nhân trường cửu,
Thiên lý cộng thiền quyên.
 
Dịch thơ:
Trăng sáng tự bao giờ,
Nâng chén hỏi trời xanh,
Cung điện trên thiên giới,
Ðêm nay thuộc năm nao?
Ta muốn cưỡi gió đi,
Lại sợ lầu quỳnh điện ngọc,
Nơi cao đó, lạnh cô đơn.
Bước chân múa cùng bóng trăng,
Gì vui bằng lưu lại chốn nhân gian.
 
Soi gác tía,
Chiếu qua rèm,
Rọi cả người còn thức,
Có điều chi oán giận.
Mà sao trăng cứ tròn mỗi lúc biệt ly.
Người có vui buồn hợp tan.
Trăng có khi tròn khi khuyết.
Vẫn thế xưa nay chẳng toàn.
Giá như người còn mãi,
Nghìn dặm cùng thiền quyên. (*)

Áng thơ nổi tiếng này của Tô Thức mọi người đều đã biết. Trong lời thơ có nói:
Trên cao cô đơn lạnh
Gì vui bằng lưu lại chốn nhân gian.

Tôi lấy hai ví dụ cụ thể ở trên với mong muốn giải thích rõ: đến Tây phương cực lạc thế giới có tốt không? Hay là đầu thai làm người tốt hơn?
 
Ví dụ đầu: 
Mã Minh Sinh và Âm Trường Sinh đều là người tu hành, đã có sức mạnh giới, định, huệ, cơ bản là đã có thể thành Thiên tiên, nhưng không thích làm Thiên tiên, mà lại thích nhân gian. Ở chốn nhân gian cũng có thể làm Địa tiên, không hề mất đi sức mạnh định huệ.

Tôi cho rằng Mã Minh Sinh và Âm Trường Sinh sẽ đời đời kiếp kiếp ở lại nhân gian.
Ví dụ sau:
Tôi kể chuyện Tô Đông Pha, theo tôi được biết, ông ta hiển nhiên là một đại thi nhân có tài năng, cũng chính là người đọc thơ phục vụ hoàng đế, cùng lúc vừa làm quan cao vừa làm đại học sĩ.

Cả cuộc đời ông học đạo cũng là học Phật, nhưng kết quả là đều nửa đường bỏ dở. Mặc dù ông có nền tảng không phải loại tầm thường, nhưng kết quả thực tế chứng minh cũng giống như ông ta tự viết ra, chi bằng lưu lại nhân gian vẫn là tốt hơn.

Cả đời Tô Đông Pha nay đây mai đó, 66 tuổi thì chết. Tôi thấy ông ta Tiên cũng chưa thành, Phật cũng chưa thành, nếu như lại đầu thai làm người cũng mất hết sức mạnh định huệ, chỉ luân hồi mãi ở nhân gian mà thôi.
 
Tôi muốn nói rằng mặc dù Tô Đông Pha làm quan cao đại tài, nhưng rốt cục vẫn là phàm phu, thực sự không hợp chuyển thế làm người.

Trong kinh Phật có nói:
"Bồ Tát cũng từng có một đời lầm lạc!"
Nhân gian này có quá nhiều tham, ái, vô minh, ý đồ bất chính, muốn đời đời làm người, nhất định cần có sức mạnh định huệ thì mới được, nếu không có sức mạnh định huệ thì vãng sinh Tây phương cực lạc thế giới mới là tốt!

----------------------
Định lực: khả năng, trạng thái tập trung tối đa, 
Huệ lực: có lực của trí huệ.
Thủy điệu ca đầu: bài thơ nổi tiếng của Tô Đông Pha (Tô Thức) viết vào dịp tết Trung Thu năm Bính Thìn 1076, ông uống rượu vui đến sáng mà nhớ đến em trai Tô Triệt. Bài thơ đã được phổ nhạc thành bài hát.
Thiền quyên: người phụ nữ đẹp.


### 29. Giữ ý tập trung ở chỗ nào?


Tôi đọc sách, thấy Triệu Thứ Công đời nhà Tống và Tra Thận Hành đời nhà Thanh dạy người ta cách giữ ý nghĩ tập trung ở tại miệng và mũi.
Khẩu quyết là:
"Mũi là cửa trời, miệng là cửa đất, mũi nên hít vào, miệng nên thở ra, đây cũng chính là cách thở."

Cách hít thở thì có rất nhiều.
Phật Đà dạy cách đếm hơi thở, đương nhiên tâm ý giữ lại tại mũi. Thở ra hít vào dài bằng nhau, nhẹ nhàng, từ từ, lấy hơi dài, có thể khiến cho các nhân tố ý nghĩ hợp lại thành một.

Thời kì đầu tôi đọc Hoàng Đình Kinh (*), bao gồm Hoàng Đình nội cảnh kinh, Hoàng Đình ngoại cảnh kinh, Hoàng Đình duyên thân kinh, v.v.
Pháp tu này nói sơ sơ thì là:
Giữ tâm trí.
Thủ nhất.
Thanh tịnh.
Vô vi.
Trên phương diện giữ ý, vị trí của Hoàng Đình là ở giữa tì vị (lá lách và dạ dày), cân bằng được thì sẽ là Hoàng Đình chân nhân. Đạo gia khi giữ ý nghĩ để tu, có Thượng đan điền ở vị trí giữa hai lông mày, trung Đan điền ở giữa ngực, Hạ đan điền ở vị trí dưới rốn khoảng ba đốt ngón tay. Do vậy nơi tập trung ý nghĩ có ba vị trí trên, giữa và dưới. 
 
Tôi phát hiện ra vị trí tập trung ý của Đạo gia không phải chỉ có một chỗ, mà có nhiều chỗ, nhưng mỗi người nói lại một khác.

Nội công tâm pháp nói: ngồi thẳng, điều hòa hơi thở, hai hàm răng gõ vào nhau 36 lần, mắt nhìn vào mũi, mũi hướng xuống tim. Đây cũng là pháp tập trung giữ ý.
 
Trong Mật tông Tây Tạng, khi tu pháp chuyết hỏa, pháp minh điểm, pháp vô lậu, vị trí tập trung của các pháp này nằm ở vị trí dưới rốn bốn đốt ngón tay. Hãy xem "Kim Cương Hợi Mẫu chuyết hỏa định", ở phương diện tu tập so với Hạ đan điền của Đạo gia, hoàn toàn không ngờ lại tương hợp, giữ ý tập trung cùng tại một chỗ giống nhau.

Ý quán - hình.
Chú tự, ở - trong.
Thở ra chú tự.
Nâng chuyết hỏa. (tác dụng nhỏ giọt)
Từ chuyết hỏa, mở ra tam mạch bảy luân xa. Luân xa đỉnh đầu, luân xa thiên nhãn, luân xa họng, luân xa tim, luân xa trên rốn, luân xa dưới rốn, luân xa gốc (vị trí xương cụt). 
 
Trong Đạo gia thì là:
Kênh Tam tiêu và kênh Tam đan điền, Tam quan cửu khiếu, mười hai tầng khí công, Đại - Tiểu chu thiên. (*)

Cái gọi là:
"Kim đan đâu dễ có, người thiện tu hành, đi đứng ngồi nằm, tập trung không tán loạn, tập trung ý bám chắc Đan điền, im lặng tập trung. Khí đi vào Tam quan, tự nhiên sẽ sinh tinh sinh khí, sắc hình có thể mạnh lên, nếu người già có thể nhẫn nại tu tập được vậy thì sẽ trường sinh!"

Trong Phật pháp mà nói thì thiền định đến nhất niệm vô niệm, nhập vào tam muội, tứ thiền bát định, thì cũng từ đó mà giữ ý bắt đầu.
Ở phương diện này:
Quán tưởng.
Dừng tưởng.
Giữ ý.
Thủ nhất.
(Cũng giống như vậy.)
 
Từng có đệ tử hỏi tôi: "Chúng ta nên quán tưởng ở chỗ nào?" (giữ ý tập trung ở chỗ nào?)
Vì vậy tôi nhận thấy: mới học đếm hơi thở thì chính xác nhất là ở mũi, nếu học chuyết hỏa thì ở Hạ đan điền. 
"Thai tức kinh" có nói: dưới rốn ba đốt ngón tay là Khí hải. (*) 
Lão Tử nói: "Cốc thần không chết là vì Huyền tẫn." (*)
 
Tôi thực lòng nói cho mọi người biết, Phật Đà nói: "Kiểm soát tâm ở một chỗ, không có việc gì là không làm được." là hoàn toàn chính xác.
Cá nhân tôi ở trong tam muội, sớm đã trải nghiệm và hiểu thấu được pháp vị khi thiền định "Hành thâm ba la mật đa" (*). Cốc thần của tôi không chết, tôi không chỉ thủ nhất mà còn chuyển hóa thập phương.
 
Cái tôi đắc được là đạo lý vĩ đại về hư vô, điềm đạm, thanh tịnh, tịch mịch, vô vi. Chỗ giữ ý của tôi là ở "thập phương"! Thập phương là ở đâu? Mọi người đoán thử xem nào!

-------------------
Hoàng Đình Kinh: là bộ kinh nổi tiếng trong Đạo gia, gồm nhiều bộ Hoàng Đình, được phổ biến vào khoảng năm 364, những người theo Đạo lão trì tụng kinh này có niềm tin sắt đá rằng mình sẽ trở thành thần tiên.
Kênh Tam tiêu: khu vực gồm trên dạ dày (thượng tiêu), giữa dạ dày (trung tiêu), trên bàng quang (hạ tiêu).
Tam quan: ba cửa.
Cửu khiếu: 9 lỗ, gồm 7 lỗ trên mặt (hai mắt, hai tai, hai lỗ mũi, miệng) và thêm lỗ sinh thực khí và hậu môn.
Đại - Tiểu chu thiên: vòng tiểu chu thiên và vòng đại chu thiên, một tư thức luyện khí công.
Thai tức kinh: môn khí công cao cấp trong Đạo giáo, thai tức hiểu nôm na là thở ở trạng thái bào thai, được xem như là một loại pháp thuật tu tiên.
Khí hải: Huyệt Khí hải - biển khí, bể giữ khí.
Cốc thần: thần hang, cũng là cái u minh của hang hốc, có thể chứa đựng cả vũ trụ. Theo Đạo giáo, đắc được Cốc thần thì cũng có thể thành tựu rất cao.
Huyền tẫn: huyền là dương, tẫn là âm, huyền tẫn là thái cực, tức là nơi âm dương hợp nhất.
Hành thâm ba la mật đa: cũng gọi là thậm thâm bát nhã, thực tướng bát nhã, ý nói đến chân lý sâu xa màu nhiệm của Phật pháp, là vi diệu tối tôn.


### 30. Nhất niệm thuộc về đâu?


Trước đây khi các thiền sư bắt đầu dạy Đạo cho đời sau thường hỏi như thế này: 
"Vạn ý niệm quy về làm một, thế là quy về chỗ nào?"
Tôi dạy đệ tử:
"Vạn niệm quy về nhất niệm, nhất niệm quy về vô niệm."
Nhưng mà: 
"Sau vô niệm, lại quy về đâu?"

Tôi lấy một ví dụ, tôi bây giờ đóng cửa ẩn cư đã được năm năm rồi, có muốn đóng cửa hẳn luôn không? Hay là... hay là... có một ngày, đột nhiên lại ra ngoài?
Tôi bây giờ bằng con số không.
Vẫn có thể quy về làm một không?
Chúng ta đừng nên xem thường chữ "một" này, để có được "một" cũng đã rất không đơn giản rồi.

"Luận ngữ" (*) - thiên Vi Chính nói: "Ba trăm bài thơ, chỉ tóm lại bằng một chữ, rằng không có tà ý." 

Khi thánh nhân Khổng Tử giảng rằng "không có tà ý", là có ý nói rằng con người thông thường thì "có suy nghĩ" đều là tà cả. Tuy nhiên, "không có suy nghĩ" thì cũng chẳng khác gì cả. Ai có thể làm được cái việc là "có suy nghĩ" mà lại không tà đây? Trong "không nghĩ" cũng không thể làm được, phải "có nghĩ" trong "không nghĩ" thì mới có thể được.

"Nghĩ không tà" mà Khổng Tử nói đến chính là tư tưởng hoàn toàn thuần chính.
 
Trong Mật giáo, tôi dạy mọi người:
Quán chữ, nghĩ đến hình ảnh chủng tự Ah.
Quán nguyệt, nghĩ đến hình ảnh mặt trăng.
Quán Phật, nghĩ đến sự trang nghiêm của Phật.
Quán hoa sen, nghĩ đến sự thanh tịnh của hoa sen.
…
Phật Thích Ca Mâu Ni từng hướng dẫn đệ tử:
Quán bạch cốt, nghĩ đến xương biến thành tro.
Quán bất tịnh, nghĩ đến xác chết biến thành tro.
Quán hơi thở, nghĩ đến hơi thở thành một.
Quán Phật quốc, nghĩ đến 16 Phật quốc quán thành một. 
 
Trong Tịnh thổ tông, lấy vạn niệm kết lại thành nhất niệm, nhất niệm này chỉ còn là bốn chữ, chính là "A Di Đà Phật". A Di Đà Phật chính là một vị Phật, chỉ một không hai. Một, một, một, quan trọng thế nào.

Đây chính là: nghĩ không tà.
 
Bạch Cư Dị (tên chữ là Lạc Thiên) có một bài thơ viết rằng:
Tôi học Hư không, không học tiên.
Lời này là thật chẳng nói xiên.
Núi cao biển rộng không muốn ở.
Nơi phải quay về: Đâu Suất Thiên.(*)

(Bài thơ này chứng minh Bạch Cư Dị không phải học tiên đạo, mà là một đại học giả học Phật. Bạch Cư Dị ở đây là tưởng nhớ đến Bồ Tát Di Lặc, vào những năm cuối đời, ông ấy cũng được xem như là "nghĩ không tà".)
 
Muốn dạy một kẻ phàm phu "nghĩ không tà" thực sự không dễ, bởi vì con người ta có thất tình lục dục, v.v. Tham lam, nham hiểm, hỏa dục, gian tà, khoái lạc, bi ai, ghen hận, v.v. 

Do vậy Phật pháp chẳng nhầm chút nào, dạy chúng sinh quán tưởng chính là để đạt đến được nhất niệm, để "nghĩ không tà."
Sau khi thành được nhất niệm thì quy về đâu?
Đáp rằng: "Vô niệm."
"Vô niệm" là thế nào? Cũng chính là Phật quốc tịnh thổ, nhờ tịch diệt mà con người có được "lạc". Vậy thì vô niệm quy về đâu?
Tôi đáp:
"Lại quy về một!"

Một về là một, một lại về không, không lại là một, một lại là không. Việc này là thế nào đây?
Tôi đáp: "Tự do đi về."

Đây chính là Như Lai, người đã đến như thế, cũng chẳng từ đâu đến, cũng chẳng từ đâu đi. Đây cũng là "tự do đi tới, tự do quay về".

Cảnh giới của tôi bây giờ chính là như vậy. Tự do đi tới, tự do quay về, tất cả đều tùy vào lão già này cao hứng mà làm thôi.

-------------------
Luận ngữ: do Khổng Tử và các đệ tử biên soạn, là một trong Tứ Thư, gồm 20 thiên và không có liên hệ với nhau. Vi Chính là thiên thứ hai trong Luận ngữ.
Đâu Suất Thiên: cõi trời Đâu Suất, là cõi tịnh độ của Đức Phật tương lai - Phật Di Lặc.


### 31. Lông rùa và sừng thỏ


Trong "Hán Thư" có ghi chép lại "Truyện Dực Phụng", đại ý như sau:
Dực Phụng là một vị trẻ tuổi, người vùng Hạ Bi huyện Đông Hải. Con người này đọc thuộc kinh thuật, thích thuật chiêm bốc luật lịch âm dương, có tài năng trời phú về việc bói toán. 

Nguyên Đế vừa lên ngôi không lâu, các học giả lớn trong triều đình bèn tiến cử với hoàng đế ban cho Dực Phụng chức quan tùy thị.
 
Nói ra cũng kì lạ, Nguyên Đế có băn khoăn gì cũng chỉ hỏi Dực Phụng. Dực Phụng lần nào xem bói cũng đều chuẩn, do vậy Nguyên Đế lại càng vô cùng kính trọng ông. Khi đó, có một vị  tên Bình Xương Hầu là người thân bên ngoại của vua, cũng là một người phục vụ trong triều đình, rất ngưỡng mộ tài xem bói của Dực Phụng, liền nhờ vua hạ chiếu yêu cầu Dực Phụng dạy ông ta thuật xem bói.
 
Nhưng Dực Phụng cứ tránh mãi, không muốn dạy. Cuối cùng Dực Phụng nói với vua:
"Nguyên tắc cai trị đất nước là cần biết chính xác các quan đại thần là trung thần hay gian thần. Biết người thiện mà giao trách nhiệm, cai trị thiên hạ cũng như vậy. Truyền dạy thuật bói toán lại càng phải như vậy, người chỉ cần chân thành, tâm thuật chính trực thì dù ngu dốt cũng có thể dùng được. Nếu như không chân thành, hoặc tâm thuật bất chính, mà lại còn thông minh trời phú thì sẽ làm hại người ta càng nhiều."

Hoàng đế nhận thấy Dực Phụng nói rất chí lý nên không ép Dực Phụng phải truyền dạy thuật bói toán cho Bình Xương Hầu nữa. Sau này thì thấy rõ Bình Xương Hầu có tâm thuật bất chính.
 
Tôi đọc xong truyện Dực Phụng cảm thấy thiên hạ xưa nay đều như vậy.
Tôi cũng có thuật thần toán, trung tâm của nó bao gồm vạn pháp, thậm chí có thể chỉ dẫn người ta vãng sinh Phật quốc tịnh thổ. Minh tâm kiến tính.
Thậm chí tôi có thể gặp thần gặp quỷ, uống cả mật hoa rượu tiên trên trời, những thuật này trên trần thế ít người biết được.

Đương nhiên 500 vạn đệ tử của tôi rất nhiều người đến cầu xin tôi truyền dạy thuật thần toán. Kim cương Thượng Sư, pháp sư, hành giả, người xin thuật thần toán rất nhiều, giống như Bình Xương Hầu thời nhà Hán vậy, bọn họ đều vô cùng ngưỡng mộ thuật thần toán.
 
Mỗi người đến cầu xin, tôi đều nghe "nhĩ báo" của bổn tôn. "Nhĩ báo" chính là thông báo ở bên tai mà thần minh truyền đến. Sau đó tôi sẽ làm một việc là phân biệt chính, tà, trung, gian, giao cho thần minh đi làm. Bản thân tôi không có ý kiến gì.

Tôi thường hỏi người cầu xin pháp.
"Anh có chân thành không?"
"Chân thành."
"Là chân thành nhất thời à? Hay là chân thành vĩnh viễn?"
"Chân thành vĩnh viễn."
"Thật không?"
"Đương nhiên là thật rồi."
 
Trên thực tế thông qua kinh nghiệm truyền pháp hơn 30 năm của tôi, tôi không dám nói rằng người chân thành dù một người cũng không có. Thực sự là có đệ tử chân thành khiến người ta cảm phục. Có điều trong số đó thì người vừa tà vừa âm, vừa tham vừa gian, vừa hám tài vừa hám sắc lại càng nhiều hơn! Bọn họ lúc mới đến thì chân thành! Nhưng lâu lâu sau thì đều trở thành không chân thành nữa!

Về việc tìm kiếm một người chân thành, tôi cảm thán:
"Giống như tìm lông trên đám rùa, giống như tìm sừng trong bầy thỏ. Rùa sao có thể có lông? Thỏ sao có thể có sừng? 

Trong thiên hạ tìm được một đệ tử chân thành, khó sao! Khó sao! Có lẽ chỉ là đầu voi đuôi chuột mà thôi!"
Có một sự việc tôi cảm thấy rất buồn cười.
Con người ngày nay khi muốn tặng người khác bút tích rất thích viết hai chữ thư pháp "Chân thành". Trong nhà mỗi người thường treo hai chữ "Chân thành". Nhưng, người tặng không mấy chân thành, người nhận cũng chẳng mấy chân thành.

Đây là chuyện đáng cười nhất thời nay. Ha ha ha, cười ha ha thật to.


### 32. Một người hoàn toàn tuyệt vọng


Liệu có phải tôi là một người hoàn toàn tuyệt vọng không?Câu trả lời của tôi là:
"Có vẻ như rất gần như thế, sự khác biệt tương đối nhỏ, chỉ còn cách vài bước nữa thôi!"
Vì sao lại như vậy?
 
Tôi nghĩ đó là lúc tôi khoảng 57 tuổi, tôi ở trong tam muội, Quan Thế Âm Bồ Tát đưa cho tôi đi chiếc "giày của thần linh".
Tôi mắc một ác bệnh.
Não phân tám phần.
Tứ đại phân tán. (*)

Tôi viết một chương ghi lại căn bệnh này, đặt tên là "Lá rơi nước hồ trở lạnh rồi". Tôi là người thích bơi lội, không ngờ bây giờ lại sợ nước. Căn bệnh này kéo dài khoảng hơn hai năm, tôi sợ đến hồn bay phách lạc, dù tức giận một chút xíu tôi cũng không dám. Nói thật lòng, thậm chí leo mười bậc cầu thang tôi cũng không leo được, tình hình rất nghiêm trọng.
Ăn không ngon miệng.
Áo quần xộc xệch.
Tiện đâu nằm đó.
Lết đi không nổi.

Những ngày tháng đó của tôi tình hình rất bi thảm, muốn viết văn nhưng tâm đã nguội lạnh, ý đã thành tro, cuộc sống toàn một màu xám, chẳng khác gì sống mà như chết.
 
Trong chuỗi ngày tháng đó, tôi viết một cuốn sách tên là "Đi qua biển sinh tử". Trên thực tế: tôi đang ở bên rìa sống chết, ở giữa cái sống và cái chết, sống không bằng chết, đau đớn vô cùng, cuộc sống hoàn toàn vô vị.

Tôi miễn cưỡng mà sống chính là nhờ vào nhất tâm niệm Phật để được vãng sinh Tây phương Phật quốc tịnh thổ, chẳng có suy nghĩ nào khác.
Tôi đưa ra khẩu hiệu:
Sống một ngày, cảm ơn một ngày.
Sống một ngày, vui vẻ một ngày.
Sống một ngày, tu hành một ngày.

Đây thực sự là tự động viên bản thân, bởi vì tôi nhận thấy mỗi một ngày dường như đều là ngày cuối cùng. Thời gian đó tôi một lòng chỉ muốn chết đi cho xong, bằng mọi giá niệm Phật chỉ cầu để vãng sinh mà thôi.
 
Tôi muốn hỏi: tôi như vậy thi có phải là một người hoàn toàn tuyệt vọng không?

Tôi nhớ trong các thần y ngày xưa, có thần y Hoa Đà, có thần y Tôn Tư Mạc, có thần y Diệp Thiên Sĩ… Trong đó thần y Tôn Tư Mạc nổi tiếng có phương thuốc nghìn vàng. Tôn Tư Mạc cũng lại nổi tiếng là Tôn chân nhân bởi vì ông ta vốn dĩ chính là một đạo sĩ tu đạo. Ông được biết đến với cuốn sách "Đại phong ác tật luận", trong lý luận của mình ông ta nêu ra một quan điểm: Trong truyện thần tiên có khoảng mười vị thành tựu giả, đều là vì thân mắc phải ác bệnh mới đắc tiên đạo.
 
Vì sao thân mắc ác bệnh mới đắc tiên đạo? Chẳng phải chỉ có mình ai, bởi vì mắc ác bệnh rồi mới tự biết là sinh mệnh chỉ nằm trong một cái nháy mắt, một khi hơi thở không còn thì cũng đi luôn.
 
Lúc này, buông hết vạn niệm, từ bỏ hết mọi tình cảm, từ bỏ hết mọi ham muốn, một hạt cát cũng không có, một lòng một dạ tu hành, không có suy nghĩ gì khác. Do vậy thành công cực kì nhanh, mới thành tựu được tiên đạo. Đây là vì gặp họa ác bệnh mới có được may mắn lớn nhất.
 
Lúc đó tôi nhớ đến cuốn "Đại phong ác tật luận", thế là tự mình hiểu ra, tâm đã lạnh, ý đã tàn, chỉ có nỗ lực hết sức tu hành, không có suy nghĩ gì khác. Về sau, căn bệnh đại ác não phân tám phần, tứ đại phân tán tự nhiên biến mất.
 
Tôi lại sống rồi. (Lại còn sống khỏe hơn.)
Nhưng, đối với những cảm xúc chốn hồng trần, tôi cũng trở nên nhạt nhẽo rồi. Đối với những dục vọng thế gian tôi đều không có nữa. Tôi biết thân thể này giống như kí gửi 60 năm, cuộc sống thực sự ngắn ngủi và tạm thời, buông bỏ là cực kì chính xác.

Ngoài việc tu pháp, tôi vẫn không có ý nghĩ thứ hai nào khác.
-------------------
Tứ đại: bốn yếu tố đất, nước, lửa, gió.


### 33. Viên ngọc của con rồng khờ


Một cuốn sách tên "U minh truyền thuyết" đã ghi chép lại:Dưới lòng đất thuộc tỉnh La Dương có một cái hang động lớn, độ sâu của nó không thể đo được. Có một người trượt chân rơi xuống hang động này, thật may là không bị thương. Sau khi tỉnh lại người này đi vào một thành phố lớn với những tường thành cao và nhiều đài các. Tất cả đều được xây bằng vàng khối, mọi thứ đều được trang hoàng vô cùng lộng lẫy, con người sống ở đây ai nấy đều cao ba trượng (*).

Người bị rơi xuống nói với những con người cao này rằng: "Tôi đói bụng quá!"

Một người cao lêu nghêu chỉ tới cái sân bên dưới một cây bách có buộc hai con dê, bảo người này đi đến đó quỳ xuống vuốt ve bộ râu của hai con dê.
Lần đầu làm được một viên ngọc, người cao lấy mất.
Lần thứ hai được một viên ngọc, người cao lại lấy mất.
Lần thứ ba được một viên ngọc, người cao bèn bảo con người kia nuốt vào bụng.
Thế là người bị rơi xuống kia bụng không còn thấy đói nữa.
 
Tôi đọc xong truyền thuyết này thì cảm thấy nó vô cùng mới mẻ thú vị, có một chút cảm nghĩ:
Tôi và rồng có mối nhân duyên rất sâu sắc. Tôi từng ở đảo Khắc Mĩ Đắc làm lễ quy y cho một bầy rồng sống ở đáy biển.
Tôi dạy đệ tử cúng pháp Long Vương bảo bình. Tôi ở trên thiên giới nhìn thấy những con rồng và ao rồng thật, những con rồng này và rồng mà dưới nhân gian vẽ thì không giống nhau.
Tôi nhận Ma Tọa Long Vương làm đệ tử. Mỗi khi tôi gặp địa phương nào hạn hán, lâu không có mưa, tôi có thể dùng sắc lệnh hợp pháp cầu rồng phun mưa, thường xuyên cầu để thử nghiệm.
Tôi có thể cưỡi rồng lên trời xuống biển. Nhưng giả sử Long Vương tặng cho tôi ba viên ngọc rồng, tôi nhất định sẽ không nhận.
 
Một, viên ngọc rồng thứ nhất là sống thọ cùng trời đất, tôi nghĩ cả nửa ngày xem sống thọ cùng trời đất thì có gì hay. Tôi thực sự không muốn xuất hiện nữa, trời đất đã quá vô vị rồi, càng sống lâu thì lại càng chán ngắt, con người này trở thành "thép không rỉ", thực sự chẳng có chút ý nghĩa nào. (Tôi bị trời đất giới hạn tuổi thọ.)
 
Hai, viên ngọc rồng thứ hai có thể kéo dài tuổi thọ. Hành giả chúng ta cũng không muốn kéo dài cuộc sống. Tôi thấy con người trần gian mỗi khi mẹ cha bị bệnh đều muốn kéo dài cuộc sống cho cha mẹ, cầu xin cho sống thêm vài năm nữa, hoặc là sáu năm, hoặc là mười hai năm, nhưng chẳng bao giờ nói rõ  muốn sống thêm vài năm để làm gì.

Một số người con hy vọng cha mẹ sống thêm vài năm để con cái có thể hiếu thuận thêm với cha mẹ, việc này còn có ý nghĩa. Nhưng cha mẹ sống thêm vài năm, muốn cha mẹ làm cái gì, ngoài việc ăn uống nói chuyện và "xả" ra thì còn làm được gì nữa?
 
Ba, viên ngọc rồng thứ ba có thể giúp vĩnh viễn không bao giờ bị đói. Với một người đang sống thì vĩnh viễn không bao giờ đói bụng thực sự cũng không có ý nghĩa lớn lắm. Cần biết rằng một người vĩnh viễn không bị đói nũa, thì cũng vĩnh viễn mất đi cảm giác về đồ ăn ngon, vĩnh viễn không biết khẩu vị thế nào. Thế thì sống để làm gì?
 
Khi cha tôi về già từng nói:
Ham tiền, không.
Ham sắc, không.
Ham danh, không.
Ham ngủ, không.

Chỉ mỗi ham ăn là vẫn "có", do vậy việc kéo dài thêm đời người này mới đáng để mà sống tiếp. Nếu ngay cả không còn ham ăn thì có gì đáng sống?
 
Cá nhân tôi chẳng có hứng thú gì đối với việc sống thọ cùng trời đất, chẳng có hứng thú gì với việc kéo dài tuổi thọ, đối với cái bụng không bao giờ đói cũng chẳng có hứng thú y như vậy. Vì thế ngọc rồng đối với tôi chẳng có ích lợi gì cả.

Con người tôi thích tự do. Thích tự do. Thích vô câu vô thúc (*).
Nhân gian cõi Ta Bà ràng buộc quá nhiều, quy tắc quá nhiều, tôi không thích!

---------------------
Trượng: đơn vị đo lượng của Trung Quốc, một trượng bằng 3.3m.
Vô câu vô thúc: tự do không ràng buộc, không lo lắng bận tâm.


### 34. Vẫn là tranh giành, tranh giành, tranh giành


Trong Hán Thư, có một bài dân ca thời Hán Triều:
Nhất xích bố,
Thượng khả phùng.
Nhất đẩu túc,
Thượng khả thung.
Huynh đệ nhị nhân bất tương dung.

Dịch nghĩa:
Vải một thước,
Chẳng đủ may.
Một thố thóc,
Chẳng đủ giã.
Anh em hai người chẳng chịu nhau.
 
Đại ý của bài dân ca này là: vào thời Hán, cho dù là anh em thì cũng tranh giành với nhau. Kì thực chẳng phải riêng gì thời Hán, trên thực tế triều đại nào mà chẳng giống như vậy? Tranh giành, tranh giành, tranh giành…
 
Lư Thắng Ngạn tôi sớm đã nhìn rõ rồi, hết màn diễn này đến màn diễn khác trên đời, các màn diễn không ngừng dứt.

Tôi lấy ví dụ cuộc tranh giành của các đại gia thời đại ngày nay: Trần gia, Hầu gia, Thái gia, Ngô gia, Hồng gia, Cô gia, v.v. Tôi không biết phải viết ra bao nhiêu cái "vân vân" nữa. Giống như đại thiện nhân nổi tiếng của Hồng Kông Tân Mã Sư Tăng (*), hậu trường của ông loạn cào cào giống như vậy. Ngay cả họa sĩ vĩ đại của phái Lĩnh Nam (*) là Dương đại sư của Lữ gia, hậu trường của ông cũng loạn như vậy.

Tôi còn gì để nói đây?
Tôi còn gì để nói đây hả?

Anh em hòa hợp không phải là không có, nhưng bất hòa vì tranh giành tài sản với nhau thì nhiều không thể kể hết. Vì sao vậy?

Vì một chữ tiền -  mà mọi người đều xông vào đánh nhau giành  giật. 

Cá nhân tôi một đời biết rõ chữ "tiền" thì hay ho ghê lắm, nhưng có một thứ còn hay ho hơn cả chữ "tiền", thứ này chính là "tu hành".
Tôi không có chùa của riêng mình, không có Lôi Tạng Tự của riêng mình.
Cúng dường tùy ý.
Cả đời tôi không can dự vào sự nghiệp.
Cả đời tôi không ra vào ngân hàng, đến cả việc gửi tiền rút tiền đều không biết.
Tôi chưa bao giờ dùng thẻ tín dụng.
Tôi không biết mua cổ phiếu.
Tôi chưa từng vay tiền của ai.
Tôi cho người ta vay tiền, không trả lại cũng được. Trên thực tế rất nhiều người đã mượn tiền tôi, rồi cũng từ đó mà tạm biệt luôn!
Mẹ tôi qua đời, tôi không cần tài sản thừa kế, đều chia hết cho bốn em gái.
Tôi thực sự không muốn tranh giành, tranh giành, tranh giành.
 
Tôi nghe nói trong năm năm tôi ẩn cư, có người mượn danh của tôi thừa cơ thay mặt tôi nhận tiền cúng dường, có người mượn danh của tôi thừa cơ đi lừa tiền của người ta.
…
Tôi ngửa mặt lên trời cười lớn, ha ha ha!
 
Trong sách Sử Kí có ghi lại sự việc vua Vũ Vương tiêu diệt Thương Triều lập ra nhà Chu, anh em Bá Di và Thúc Tề xấu hổ cùng thề không ăn thóc nhà Chu, nhịn đói mà chết ở trên núi Thú Dương. Cái chết của kiểu người này là chết hợp đạo lý, chính đáng.

Ngoài ra, đạo chích là những tên trộm khét tiếng, chuyên môn ăn trộm bảo vật trong các lăng mộ, chúng đương nhiên là chết vì tiền trong lăng mộ.
Còn nữa: Phàn Sùng thủ lĩnh nhóm khởi nghĩa Xích Mi (*) khi rút khỏi thành Trường An đã đốt thành, tiêu hủy cung điện nhà cửa, chùa miếu lăng tẩm đều bị đào bới (để lấy châu báu).
Ý của tôi muốn nói rằng, các hoàng đế nối tiếp của Trung Quốc đem theo cả châu báu vào trong quan tài, rốt cục cũng có chung một kết cục là để cho mọi người cùng đào bới!

Tôi không biết các hoàng đế nối tiếp thì tài bảo để ở đâu?
Cung A Phòng, vườn Viên Minh nay ở đâu? (*)
Phú hào ngày xưa tiền tài ở đâu?
Thật chẳng bằng Bá Di, Thúc Tề chết một cách chân chính.

Tôi thấy ngày nay các thế hệ con cháu nối tiếp tranh giành tài sản để lại của các thế hệ trước mà trong lòng không tránh khỏi cảm thấy buồn, nhưng cũng hiểu được họ. Rốt cục là con người, bọn họ không tranh giành tài sản thì còn biết tranh giành cái gì?
 
Dưới trời đất này làm gì có kiểu người nào giống như tôi, gom lại cũng tốt, chia ra cũng tốt, tất cả đều giao cho dòng nước. 
Tôi chỉ có một điều phiền não, giày của tôi thật là nhanh bị hỏng thôi!

-------------------
Tân Mã Sư Tăng (Sun Ma Sze Tsang) 1916 - 1997: là nghệ danh trên sân khấu của Đặng Vĩnh Tường, một nghệ sĩ kinh kịch nổi tiếng người Hồng Kông.
Phái Lĩnh Nam: Lĩnh Nam họa phái, một trường phái nổi tiếng với dòng tranh thủy mặc.
Xích Mi: tên gọi nhóm khởi nghĩa thời nhà Tân, vì muốn phân biệt với quân triều đình nên vẽ lông mày đỏ (xích là đỏ, mi là lông mày).
Cung A Phòng: Tương truyền là cung điện do Tần Thủy Hoàng xây làm nơi nghỉ mát mùa hè, thuộc Tây An Trung Quốc, nơi đây được ghi nhận là nơi cất giữ vàng bạc châu báu mà quân Tần cướp được. Sau này khi nhà Tần bị đánh bài, cung A Phòng được cho là bị đốt cháy không còn dấu vết.
Vườn Viên Minh: di tích lịch sử nổi tiếng ở Bắc Kinh, xây dựng vào thời Khang Hy nhà Thanh, được mệnh danh là "vườn của muôn vườn" với nhiều công trình quý giá. Vào năm 1860 nơi đây đã bị liên minh Anh Pháp đốt cháy tiêu hủy.


### 35. Kê Khang của Trúc Lâm Thất Hiền


Trong "Tấn Thư" có tiểu sử Kê Khang đã ghi chép lại cuộc đời của ông. Tôi đọc thấy Kê Khang vào lúc 40 tuổi bị chém đầu mà không khỏi kinh hãi.
Kê Khang, tên chữ là Thúc Dạ, là con rể trong tông thất nhà Ngụy, bái thầy là Trung Tán đại phu, có một cuốn sách là "Kê Trung Tán tập" được truyền qua nhiều đời.
 
Kê Khang có một phẩm chất tự nhiên là thích tu tâm dưỡng tính nên ông ta tin vào đạo của thần tiên cũng là một điều rất tự nhiên, dù không được học mà vẫn thành tựu. Kê Khang thích đạo dưỡng sinh, tin rằng Bành Tổ và An Kỳ tuổi thọ cao là việc có thể làm được, do vậy mà có "Dưỡng sinh luận". Kê Khang sẵn lòng sống những ngày ẩn cư để tập dưỡng sinh, là một trong bảy Trúc Lâm Thất Hiền.
 
Tuy nhiên, Kê Khang đắc tội với Chung Hội - vị tướng tâm phúc của Tư Mã Chiêu nên đã bị Chung Hội vu khống là lập mưu tạo phản. Khi mới ở tù, Kê Khang ở trong ngục viết bài thơ "U phẫn thi" (Bài thơ phẫn uất với cảnh ngồi tù).

Sau đó vào năm Kê Khang 40 tuổi, Tấn Văn Đế Tư Mã Chiêu đã ra lệnh thực thi chém đầu ông tại thành phía Đông. Có ba nghìn đại học sinh đã thỉnh cầu miễn cho Kê Khang khỏi bị chém đầu, nhưng rốt cuộc không thành, cuối cùng ông vẫn bị chém đầu. Sau khi Kê Khang bị chém đầu, những kẻ sĩ có tri thức và kinh nghiệm ở khắp vùng không ai là không đau đớn.
 
Tôi đọc xong truyện kí về Kê Khang, trong lòng rất cảm động. Chúng ta đều biết Kê Khang bị vu khống, phải chịu oan uổng, nhưng có tác dụng gì, chém là chém thôi. Trong lịch sử, người bị chết oan uổng có bao nhiêu người? Nổi tiếng nhất là: Nhạc Phi, Văn Thiên Tường. Vẫn còn có rất rất nhiều người, đếm không thể hết được.
 
Tôi nhớ khi tôi mới học Phật pháp đã bị dán cho cái mác "tà giáo", một khi đã bị dán mác thì cả đời này đi đến đâu hai chữ "tà giáo" mãi mãi không thể gỡ xuống được.
Tôi bị vu khống là kẻ:
"Yêu ngôn hoặc chúng". (dùng lời lẽ giả dối để lừa công chúng)
"Yêu ma quỷ quái".
"Có mưu đồ".
"Có ý mưu phản".
Có vị cao tăng còn nói: "Bắt hắn lại!"
 
Khi đó tôi có vẻ như giống như Trương Giác của Ngũ Đấu Mễ Giáo (*) vào cuối đời Đông Hán tin tưởng học đạo của Thái Thượng Lão Quân. 

Lại cũng giống như Phó Đại Sĩ (*)  vào thời đại Nam Bắc Triều của Lương Vũ Đế tin tưởng Di Lặc giáo của Bồ Tát Di Lặc.
Lại cũng giống như La Tổ (La Nhân) của La Giáo, vào thời đại cuối đời Minh đã tin tưởng "Vô sinh lão mẫu, chân không gia hương" (*).

Tôi bị gộp lẫn vào với Bạch Liên Giáo (*) (do cao tăng Huệ Viễn sáng lập), lại giống như Nghĩa Hòa Đoàn, (*) Hoàng Cân Tặc (*) và Thái Bình Thiên Quốc. (Hồng Tú Toàn) (*)
Thực sự thì tôi là cái gì?
Tôi chỉ là một con thỏ con, con thỏ con trốn thoát khỏi cái chuồng của chốn nhân gian. Con thỏ con tháo chạy khỏi cái chuồng trốn nhân gian thì vội vàng chạy vào núi rừng, làm sao dám quay trở về cái chuồng nhốt nữa?

Con người tôi trước nay chẳng có tham vọng gì, chỉ muốn ẩn cư sống qua những ngày yên ổn. Tôi cũng chẳng có hoài bão to lớn như là lãnh đạo tông phái thành tông phái số một thế giới.

Bạn có duyên tu pháp thì tu pháp.
Bạn không có duyên tu pháp thì bỏ đi.
Không bao giờ có chuyện miễn cưỡng.
 
Năm nay tôi đã 61 tuổi rồi, là một thảo dân, là một lão ngốc, ngoài Phật pháp ra, cái gì tôi cũng chẳng biết. Ngoài Phật pháp ra, tôi chẳng có bất cứ tâm nào khác. Tôi đóng cửa ẩn cư năm năm rồi, tốt nhất là mọi người quên tôi luôn đi!
 
Mọi người buông tha cho tôi đi! 
Cầu xin đấy! Cầu xin đấy!
Tôi ẩn cư trong núi rừng rồi, đừng có quấy rầy tôi nữa!

---------------------
Ngũ Đấu Mễ Giáo: hay Ngũ Đấu Mễ Đạo, giáo phái đầu tiên của Đạo giáo, cuối đời Đông Hán. Thái Thượng Lão Quân được cho là đã truyền đạo cho Trương Giác (còn gọi là Trương Lăng, Trương Đạo Lăng).
Phó Đại Sĩ (497 - 569): là Phó Hấp hay Đại Sĩ Thiện Huệ, tu hành theo đạo Phật, giảng Phật pháp, giúp giải quyết những khó khăn thực tế trong đời sống của nhân dân, quên mình vì người. 
Vô sinh lão mẫu, chân không gia hương: tám chữ bí truyền lưu hành trong tông giáo giữa đời Minh, do La giáo đặt ra. Chân không gia hương nghĩa là quê nhà là chân không, tức cung trời, nơi con người từ đó sinh ra rồi lại về đó an nghỉ. Vô sinh lão mẫu là mẹ già vô sinh, là mẹ của người đời.
Bạch liên giáo: giáo phái thờ bông sen trắng, chịu ảnh hưởng của Phật giáo phát triển mạnh đến thời nhà Minh, Thanh. Đây là tôn giáo thần bí với nhiều nghi thức tế lễ phức tạp, đến khi Trung Quốc học hỏi văn minh của phương Tây thì Bạch liên giáo bị cho là tuyên truyền mê tín, tà giáo. Họ cũng tin vào 8 chữ "Vô sinh lão mẫu, chân không gia hương".
Nghĩa Hòa Đoàn: tổ chức tôn giáo thần bí, đồng thời hoạt động chính trị, lãnh đạo phong trào Nghĩa Hòa Đoàn, có nghi ngờ liên quan Bạch liên giáo. 
Hoàng Cân tặc: còn gọi là khởi nghĩa Khăn Vàng (hoàng cân), cuộc khởi nghĩa do Trương Giác khởi sự chống lại nhà Hán vào năm 184.
Hồng Tú Toàn (1814 - 1864): là lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa nông dân Thái Bình Thiên Quốc chống lại triều đình Mãn Thanh.


### 36. Tử Hư Ô Hữu tiên sinh


Đọc sách đọc đến tác phẩm "Tử Hư phú" do Tư Mã Tương Như (*) viết, tôi cảm thấy cực kì thú vị. 
Trong "Tử Hư phú" có hai đại nhân vật, chính là hai nhân vật chính do Tư Mã Tương Như hư cấu nên.
Một người là Tử Hư tiên sinh.
Một người là Ô Hữu tiên sinh.

Tử Hư tiên sinh biện bạch với vua, nói rằng đất đai nước Sở vô cùng phì nhiêu (trên thực tế là rất nghèo nàn đáng thương).
Ô Hữu tiên sinh thì khoa trương nói lãnh thổ nước Tề vô cùng mênh mông rộng lớn (trên thực tế nước Tề chỉ bé tí như hạt đậu).

Tác phẩm "Tử hư phú" này mặc dù chỉ là hư cấu nhưng Tư Mã Tương Như viết vừa độc đáo vừa hài hước duyên dáng. Ý chính của nó là châm biếm những kẻ nói lời đao to búa lớn, khoác lác, những kẻ làm chính trị miệng lưỡi khéo léo đẹp đẽ như hoa sen. Nói theo ngôn ngữ hiện đại thì là:
"Dọa cho sợ đến chết thì thôi!"
"Chém gió một tấc đến giời!"
"Lừa người ta đến chết mà vẫn tỉnh như không!"
 
Tôi nghĩ đến:
Ngày xưa thông tin chưa phát triển, Tử Hư Ô Hữu tiên sinh đi khắp nơi để phá hoại. Lấy chuyện Tăng Sâm (*) giết người ra làm ví dụ:
Có người đến nói với mẹ Tăng Sâm: "Tăng Sâm giết người!"
Mẹ ông tin vào con mình, không nói gì.
Lại có một người khác đến nói với mẹ Tăng Sâm: "Tăng Sâm giết người!"
Mẹ ông vẫn không tin.
Lại có một người thứ ba đến nói với mẹ Tăng Sâm: "Tăng Sâm giết người!"
Mẹ ông bấy giờ mới tin, vô cùng sợ hãi.
Kết quả là, Tăng Sâm vốn không giết người, là lỗi của Tử Hư Ô Hữu tiên sinh.

Thời hiện đại, thông tin phát triển, vì thế lại càng loạn. Tử Hư Ô Hữu tiên sinh mà sống trong thời đại truyền thông thì chuyện hay của Tử Hư Ô Hữu đã được đưa tin ngay rồi.

Khi tôi mới ra mặt hoằng pháp, có một bên truyền thông nói: "Lư Thắng Ngạn là tà giáo!"
Bà bác của tôi không tin, bác ấy tin tôi.
Bên truyền thông thứ hai nói: "Lư Thắng Ngạn là tà giáo!"
Bà bác của tôi vẫn không tin.
Đến khi bên truyền thông thứ ba nói: "Lư Thắng Ngạn là tà giáo!", thì bà bác của tôi nói với tôi: "Mọi người đều nói như vậy, bác chẳng thể nào không tin!"
 
Tôi thấy truyền thông ngày nay đăng các tin tức ngồi lê đôi mách rất nhiều, có một số tạp chí thường xuyên bị kiện là buộc tội vô căn cứ, là loại Tử Hư Ô Hữu.

Nhưng nói đi thì phải nói lại, mục đích chủ yếu của truyền thông là chiều theo quần chúng. Chuyện càng Tử Hư Ô Hữu thì càng có nhiều người xem, càng nhiều người tin, chuyện đã sai lại càng sai, mọi người cũng đều tin hết.

Đối với những chuyện này, về cơ bản tôi chẳng muốn trả lời. Tôi chỉ tu pháp của tôi, hiểu tâm của tôi, kiến tính của tôi, lấy bốn câu đối sau:
Tôi vốn chán đời,
Vứt bỏ thế gian,
Giữ trọn duy nhất,
Cuộc sống thần tiên.
Tôi cười mà nói: "Tôi là người trên trời, tôi chẳng muốn hiểu chuyện lặt vặt chốn nhân gian."

Truyền thông từ đây bắt đầu Tử Hư Ô Hữu. Tôi vốn chẳng thích giải thích, bởi vì một sinh ra hai, hai sinh ra ba, ba sinh ra đủ thứ. Càng là chuyện Tử Hư Ô Hữu thì càng gây kinh động. Còn ngày nay, tôi đọc những bài viết về tôi trên truyền thông cũng giống như đọc tiểu thuyết, thực sự toàn là chuyện hư cấu mà ra.

Tôi đọc đến mờ cả mắt.
Đọc đến u u mê mê.
Thực sự chẳng còn biết Lư Thắng Ngạn là ai nữa?
 
Con người này của tôi chẳng quan trọng chuyện danh dự, cũng hoàn toàn chẳng muốn để ý tới, chỉ là cảm thấy cực kì thú vị. Các vị Tử Hư Ô Hữu tiên sinh, hoan nghênh các người tiếp tục loạn bút, bởi vì người ta thích đọc mà. 
-----------------
Tư Mã Tương Như (179 - 117 TCN): là một thi nhân văn sĩ đa tài, văn hay, đàn giỏi thời Tây Hán. "Tử Hư phú" là một tác phẩm nổi tiếng của ông, người đời sau gọi ông là Phú Thánh, là đại diện tiêu biểu của đại thi gia về phú.
Tăng Sâm (505 - 435 TCN): người nước Lỗ, ông là học trò xuất sắc của Khổng Tử, rất chí hiếu với cha mẹ, người đời liệt ông vào một trong 24 tấm gương hiếu thảo.


### 37. Không còn, không còn, không còn


Tôi phát hiện ra trong thế giới Ta Bà, có hai chữ khi dùng vào bất kì việc gì cũng đều vô cùng phù hợp.
Hai chữ này là: "Không còn… không còn… không còn…"
 
Nói về thời gian:
Năm trước không còn nữa, tháng trước không còn nữa, ngày trước không còn nữa, thậm chí một giờ trước, một phút trước, một giây trước, đều không còn nữa.
 
Nói về không gian:
Mẹ tôi từng cảm thán: "Con người giống như chim." Một chốc bay Đông. Một chốc bay Tây. Lúc gặp nhau cũng chính là bắt đầu chia ly, vui buồn ly hợp, mỗi lần gặp nhau là mỗi lần chia ly, tất cả cái này rồi lại tất cả cái kia, thậm chí không gian cũng vậy, thời gian cũng không còn. (Vẫn là không còn!)
 
Nói về bạn bè:
Bạn tiểu học không còn nữa, bạn cấp hai không còn nữa, bạn trung học không còn nữa, bạn đại học không còn nữa. Cho dù có hội bạn học cũ thì khi gặp mặt cũng chỉ là thở dài: "Không còn, không còn, không còn."
 
Đệ tử của tôi là vua dân ca vùng Tân Cương - Vương La Tân, nhiều năm trước đã viết bài "Thanh xuân vũ khúc":
Mặt trời xuống núi, Minh Triều vẫn tiến lên.
Hoa nay tàn rồi năm sau vẫn lại nở.
Con chim nhỏ xinh một đi không dấu vết
Tuổi trẻ của tôi cũng giống chim kia chẳng thể quay lại.
Tuổi trẻ của tôi cũng giống chim kia chẳng thể quay lại.
Đi rồi a ý a, đi rồi a ý a.
Tuổi trẻ của tôi cũng giống chim kia chẳng thể quay lại.
(Tam Mao đi rồi!)
(Vương La Tân đi rồi!)

Tuổi trẻ không những không còn, đến cả tâm cũng không còn như xưa nữa, cái gì cũng không còn nữa rồi!
 
Tôi di cư qua Mỹ, các bài thuyết pháp khai thị ở Lôi Tạng Tự, trung tâm thông tin thư tín của Chân Phật Mật Uyển, những pháp hội Hộ Ma ở biệt thự Cầu Vồng, sau khi tôi ẩn cư thì tất cả đều: "Không còn, không còn, không còn."

Bài thơ của Lưu Vũ Dương:
Sân kia trăm mẫu rêu một nửa
Hoa đào rụng hết cải nở hoa
Đạo sĩ trồng đào ở đâu đó?
Lưu Lang ngày trước lại về đây.
 
Bài thơ này là Lưu Vũ Dương làm khi đi chơi ở Huyền Đô quán, thâm ý của bài thơ chính là "không còn". Bài thơ này khiến tôi nhớ đến vị Lưu Lang cũng đi vào trong núi tiên gặp nàng tiên nữ xinh đẹp Lưu Thần. Bài ca tình yêu giữa tiên nữ trên trời và người tình chốn nhân gian còn lưu truyền đến tận ngày nay.
 
Còn nữa:
Ngạc Lục Hoa là một thiên nữ xinh đẹp ở trên trời, thiên nữ xuống hạ giới đã theo đuổi Dương Quyền của chốn nhân gian. Buổi đêm hạ giáng xuống nhà của Dương Quyền tặng cho vật đính ước, trao cho nhau những lời yêu thương.
Câu hỏi của tôi là, nếu như:
Lưu Lang là ông già Lưu
Dương Quyền là ông già Dương
Xin hỏi: tiên nữ có còn đến yêu thương nữa không?
 
Rồi còn Vương Duy lúc trẻ, thơ văn duyên dáng, giỏi ca hát, cũng lại biết chơi đàn tì bà, Vương Duy vì công chúa An Lạc mà viết nên bài ca "Ức Luân Bào". An Lạc công chúa ngưỡng mộ Vương Duy, Vương Duy vì thế mà được thăng cấp.
Nếu Vương Duy là ông già Vương thì còn được thăng cấp không?
 
Tôi ẩn cư mới có năm năm thôi mà đã có nhiều đệ tử sinh ly tử biệt rồi, ngãng xa ra, xa cách đi, tôi cũng là ông già Lư rồi.
Cuộc đời thật là "không còn, không còn, không còn."


### 38. Thân có thế nào?


Trang Tử trong "Trí bắc du" đã viết:Vua Thuấn hỏi Thừa sư phụ:
"Đạo có thể đắc được, nhưng có không?"
Thừa sư phụ đáp: "Thân này không phải là của anh có, anh làm sao đắc được Đạo?"
Vua Thuấn lại hỏi Thừa sư phụ:
"Thân tôi không phải là của tôi có, vậy thì nó là của ai?"
Thừa sư phụ đáp:
"Là hình ảnh tùy thuận của thiên địa mà ra."

Thừa sư phụ của Đại Thuấn cho rằng: thân thể của mỗi người đều không thực sự là thứ người đó có, đây chỉ là hình thể bên ngoài mà trời đất trao cho con người sử dụng. Hình thể hữu hình có thể đắc được đạo gì?
(Đây là quan điểm của Thừa sư phụ của Đại Thuấn.)

Trên phương diện này, Lão Tử càng nói rõ ràng hơn như sau:
"Thần có thể bay, cũng có thể chuyển núi. Hữu hình đều trở thành tro đất, làm sao biết nó ở đâu."
 
Lão Tử lại nói:
"Tai nghe âm thanh, mắt thấy sắc đẹp, bởi vì thế mà gây nên lầm lỗi. Mũi miệng thấy thích thú là bởi vì hương vị. Thân là cái gốc của phiền não, thân cũng là nơi sinh đau ốm bệnh tật. Ý bởi do hình ảnh mà nghĩ ra, từ đó mà lo lắng buồn phiền. Ta bị giới hạn bởi thân giống như mắc đại họa. Xem xưa xem nay, có ai có thể được toàn hảo?"

Lão Tử ý nói rằng: "Thân thể con người là tro đất."
Lão Tử ý nói rằng: "Mắt tai mũi lưỡi thân đều là cái gốc của phiền não, ý niệm lại càng là nguồn gốc của lo lắng âu sầu."
Lão Tử ý nói rằng: "Thân thể mới chính là đại họa."
 
Điển tích trong Phật giáo càng tiến bộ trước một bước. Kinh Kim Cương nói:
"Trí tuệ vô ngã có hai loại, ngã không và pháp không."

Đại Thừa Nghĩa Chương nói:
"Pháp không có thực tính, bởi vậy mà vô ngã."

Câu Xá Quang Kí nói:
"Bởi vì phi tự tại, bởi vậy mà phi ngã."

Nguyên Nhân Luận nói:
"Sắc của hình hài, tâm của suy nghĩ, từ vô thủy đến nay bởi vì nghiệp lực nhân duyên nên liên miên sinh diệt, tiếp diễn vô cùng, như nước nhỏ giọt, như đèn le lói. Thân tâm giả hợp xưa nay vẫn vậy. Kẻ phàm ngu không biết, chấp vào cái ngã (tôi). Chính vì bởi cái ngã mà sinh ra ba thứ độc tham sân si, ba thứ độc buộc chặt vào ý, đánh thức thân và khẩu, tạo ra toàn bộ nghiệp."
 
Chúng ta từ tư tưởng của Trang Tử, Lão Tử đến Phật gia đều nhận thấy: "Thân có thì có ở chỗ nào?"
Trên phương diện ý niệm thì cũng là:
"Tâm có ở chỗ nào?"
Vì vậy xin hỏi:
"Đạo có ở chỗ nào?"
"Phật có ở chỗ nào?"

Mọi người từ đây mà đi nghiên cứu Phật tính, Phật tâm gần như đã hiển hiện rồi.
Cần đi thẳng vào, sẽ minh tâm.
Cần đi thẳng vào, sẽ kiến tính.
 
Tôi cảm thấy người tu đạo trên thế gian hoặc là hành giả học Phật, phần lớn đều xem đạo xem Phật là cao thâm huyền bí, hơn nữa càng học càng phức tạp, chẳng dễ nắm bắt thấu hiểu.

Thử nghĩ, ngã vô, tâm vô, rốt cuộc là không có gì có thể đắc được! Thử nghĩ, kiến tướng phi tướng, rốt cuộc là chư Phật hiện toàn thân!
Cái này vẫn không hiểu sao?

Tôi cảm thấy người học Phật, nếu như luyện tập cái mà họ được dạy về "kiến đạo", thì đó là thực tu, rất dễ đạt đến nơi tận cùng của vấn đề, đắc đạo thành Phật không khó.
Khó là ở chỗ không phá bỏ được cái thân "ngã" này!


### 39. Ẩn cư tốt hơn là xuống núi


Ngày xưa chúng ta học lịch sử, biết con người Tạ An (*), ông ta là một tể tướng nổi danh thời Đông Tấn."Tấn Thư - chương Tiểu sử Tạ An" viết:
Tạ An vốn là một cao sĩ ẩn cư, sống ẩn mình ở núi Đông Sơn, người bạn tốt nhất của ông là Vương Hy Chi, Hứa Huân và cao tăng chi đạo Lâm Đẳng.

Tạ An ẩn cư:
Ở trong nhà đọc sách viết văn.
Đi ra ngoài thì ngao du sơn thủy.

Tạ An khi đó không có ý nguyện lập sự nghiệp lớn ở nhân gian. Ông ta ở trong núi Đông Sơn, huyện Lâm An, sống trong hang đá, lấy vừa đủ gạo, ông từng ung dung nói: "Cuộc sống sinh nhai của tôi như vầy không có gì khác biệt với những người dân thường." Đây chính là cuộc sống an tịnh của Tạ An.

Có một lần, Tạ An cùng Tôn Xước và mọi người du ngoạn trên biển, gặp sóng to gió lớn, tất cả mọi người đều rất sợ hãi. Duy có Tạ An vẫn bình thản ngâm thơ, biểu hiện rất bình tĩnh, sự an tịnh trong lòng ông hoàn toàn ung dung giữa tự nhiên.
(Quãng thời gian này là những ngày vui vẻ nhất trong cuộc đời của Tạ An.)
 
Đến năm 40 tuổi thì Tạ An rời núi về làm quan (xuất sĩ). Làm quan rồi, ông nói với Vương Hy Chi:
"Đến tuổi trung niên lại đau đớn vì những khúc nhạc tang thương khi phải tiễn biệt người thân bạn bè, bắt đầu đếm những ngày sợ hãi."
Vương Hy Chi đáp:
"Tuổi như cây dâu tằm (*), xưa nay tự nhiên mà đến, hãy nhờ vào sáo trúc mà viết lời ca, nếu thường xuyên sợ hãi thì cũng mất luôn cả niềm vui thú này."

Ý của Vương Hy Chi là muốn nói rằng con người đến tuổi trung niên, chỉ có nhờ vào âm nhạc và nghệ thuật để xoa dịu đi mọi nỗi bi thương của chốn nhân gian.

Kì thực trong "Tiểu sử Tạ An", tôi hiểu được từ những chuyện ghi lại: "Tạ An mặc dù chấp nhận phục vụ triều đình, nhưng từ đầu đến cuối cái chí ẩn cư núi Đông Sơn không thay đổi, luôn thể hiện rõ nơi lời nói sắc mặt. Cho đến khi trấn được thành mới, ông tận lực vì triều đình mà thi hành, chế tạo sửa chữa đê chống ngập lụt, lòng muốn cai trị ổn định lại những thứ thô lậu, từ Trường Giang quay trở lại phía Đông. Cuối cùng chí lớn không thành, ông cũng gặp phải bệnh tật mà chết."
(Kì thực Tạ An chưa khi nào quên được cuộc sống ẩn cư, luôn luôn muốn thành sự nghiệp rồi thì xin lui về, mau chóng được ẩn cư sống qua ngày.)
 
Sau này Tạ An mắc bệnh, đến khi bệnh nặng đã lên kiệu vào kinh thành Tây Châu, tự biết mình sẽ sớm lìa nhân gian nên đã cảm thán nói rằng:
Nửa đời trước an lạc.
Nửa đời sau gian nan.
Chẳng thể bằng một đời ẩn cư!
 
Không lâu sau Tạ An qua đời, hưởng thọ 66 tuổi. Tạ An vốn muốn rút lui về ở ẩn, nhưng ông đã làm đến chức quan cao, không thể tự do tùy ý, mong ước nho nhã chẳng thành, đành rút về chữa bệnh ở Tây Châu.
 
Nhân đọc "Tiểu sử Tạ An" tôi càng thấy rõ ẩn cư tốt hơn là xuống núi. Nghĩ mà xem, niềm vui của cuộc sống là hoàn toàn tự do tự tại, còn xuất sĩ làm quan to như Tạ An đã mất đi tự chủ tự do, bị kiểm soát mọi nơi, không còn là người tự do nữa, khổ sở quá nhiều. Trong hai điều này, chọn cái nào?

Tôi cảm thấy tôi một đời gian nan, một mình ẩn cư suốt năm năm qua được an vui vô cùng. Tóm lại là tôi thích làm một ẩn sĩ thôi!
 
Tào Tháo, người tự nhận là anh hùng thiên hạ, vào lúc nấu rượu mơ xanh bàn luận chuyện anh hùng, Tào Tháo cho rằng anh hùng thiên hạ chỉ có:
Tào Tháo.
Lưu Bị. (Huyền Đức)

Thế nhưng "Đoản ca hành" của Tào Tháo cũng có lúc chẳng còn nhuệ khí anh hùng.
Đối tửu đương ca, nhân sinh kỉ hà,
Thí như triêu lộ, khứ nhật khổ đa.
Khái đương dĩ khảng, ưu tư nan vong.
Hà dĩ giải ưu, duy hữu Đỗ Khang.

Dịch thơ:
Trước rượu ca hát, đời người bao nhiêu,
Khác chi sương sớm, khổ nhiều ngày qua.
Khẳng khái phấn chấn, khó quên ưu sầu.
Giải được sầu này, chỉ Đỗ Khang thôi.
(Đỗ Khang - người phát minh ra rượu, ở đây ý nói giải được sầu chỉ có rượu thôi.)
 
Tào Tháo là một nhân vật có ảnh hưởng lớn trong thời đại Tam Quốc, oai phong một thời, nhưng cũng phải cảm thán:
Đời người bao nhiêu?
Những ngày đã qua khổ nhiều rồi.
 
Tôi cảm nhận sâu sắc trong cuộc đời ngắn ngủi này nếu có thể tự do tự tại mà sống, thì việc tu thân dưỡng tính có giá trị quan trọng hơn bất kì danh lợi phú quý nào. 

-------------------
Tạ An (320 - 385): tên chữ là An Thạch, là nhà chính trị, quân sự lớn, là đại thần dưới thời Đông Tấn. Khi trưởng thành, ông từ chối chức quan nhỏ để về ẩn cư ở Đông Sơn, mãi đến khi gần 40 tuổi ông mới tái xuất trở lại triều đình làm quan.
Tuổi như cây dâu tằm: ở đây nhắc đến điển tích "bể dâu", "bãi bể nương dâu" để nói đến sự thay đổi lớn của trời đất, của cuộc đời khiến người ta nuối tiếc, ngậm ngùi. Ý câu này muốn nói đến tuổi đời, đến năm tháng sẽ trôi qua cùng với rất nhiều sự thay đổi, đó là điều tất yếu khó tránh.


### 40. Vô cùng kì lạ


Trong "Thế thuyết tân ngữ (*) - chương "Truất miễn" viết:
"Ân Trung Quân (Hạo) bị phế quan. Ở Tín An, cả ngày ông chỉ có viết chữ vào hư không. Một vị quan nhỏ ở thành Dương Châu muốn tìm hiểu xem ra sao đã bí mật qua sát, chỉ thấy ông viết bốn chữ: Vô cùng kì lạ."

Đoạn văn tự này là:
Có kẻ bị phế quan. 
Anh ta cả ngày dùng tay viết chữ vào hư không.
Quan lại dân ở Dương Châu xem trộm xem anh ta viết cái gì.
Hóa ra là bốn chữ "Vô cùng kì lạ".

Tôi đọc đoạn văn tự này cũng không tránh khỏi việc thử học Ân Trung Quân viết chữ vào hư không, cũng viết bốn chữ "Vô cùng kì lạ".
Viết xong thì tè lên mặt đất một bãi, sau đó cười lớn ba tiếng ha ha ha, thật là sảng khoái! Sảng khoái!

Thời xưa: chuyện "vô cùng kì lạ" rất nhiều.
Thời nay: chuyện "vô cùng kì lạ" càng nhiều.
 
Tôi lấy một ví dụ nhỏ:
Luật pháp của Hán Cao Tổ hoàng đế, kẻ giết người phải chết. Đến thời Hán Vũ Đế Lưu Triệt, vẫn là luật kẻ giết người phải chết. Quân đội của Hán Vũ Đế ngoài việc bảo vệ biên cương ra còn rốt ráo tìm kiếm các nước ở Tây Vực để mở rộng lãnh thổ chiếm thêm đất đai, tấn công đất nước của kẻ thù, giết người không bỏ sót, phụ nữ trẻ em người già yếu đều không tha.

Kẻ giết một người thì chết. Còn quân đội giết hàng nghìn nghìn vạn vạn người thì không phải chết. Việc này chẳng phải là "vô cùng kì lạ" sao!
 
Từ xưa đến nay:
Luật pháp của mỗi quốc gia ngày nay vẫn là kẻ giết người thì phải chết. Nhưng quân đội ngày nay ra trận, dùng tên lửa, đạn đạo, xe tăng, pháo cối để giết quân đội đối phương, ngoài ra cũng giết luôn cả những người dân vô tội, sinh mệnh tài sản, người chết và bị thương nhiều không thể kể hết.

Kẻ giết một người thì chết. Còn quân đội giết hàng nghìn nghìn vạn vạn người thì không phải chết.
Xưa nay chẳng khác gì.
Việc tàn sát tập thể là ngoại lệ. Thật là "vô cùng kì lạ".
 
Ngày nay cái được gọi là "nước lớn" là chỉ những quốc gia quyền lực, trang bị vũ khí chiến tranh siêu việt, bom nguyên tử, tên lửa, đạn đạo, tên lửa trên không, tên lửa mặt đất, tên lửa không địa, trang bị vũ khí chiến tranh càng nghiên cứu càng siêu hạng. Nói đơn giản là: một động tác là có thể quét sạch người một nước. (Đây là chạy đua vũ trang.)
Lúc đó, bảo những nước khác không chạy đua vũ trang, không chạy đua vũ khí, thì chẳng lẽ lại không phải là chuyện "vô cùng kì lạ" trong nhân gian sao?
 
Con người thế gian ngày nay, đối với: bệnh SARS, bệnh bò điên, cúm gia cầm, tay chân miệng, sốt xuất huyết, nhiễm virus… thì khoanh tay đứng nhìn.
Đối với động đất, lốc xoáy, tsunami (đại hồng thủy), hỏa hoạn lớn… thì không thèm nghĩ chuyện phòng bị trước.

Ấy nhưng ngược lại, đối với các kế hoạch chạy đua vũ trang và chinh phục không gian thì lại tiêu tốn bao nhiêu tiền của, tài lực, nhân lực, đúng không?
Thật là "vô cùng kì lạ".
 
Còn nữa:
Tôi nghe nói có một nhà y học đã nghiên cứu phát minh ra một loại thuốc có thể chữa trị được các bệnh nan y, uống vào là khỏi. Nhưng chi phí nghiên cứu cần khoảng vài trăm triệu tệ. Vì vài trăm triệu tệ này, người ta không dám đưa thuốc tốt ra sản xuất, chỉ làm ra thuốc kém hơn, chỉ trị triệu chứng chứ không trị tận gốc. Bởi vì đưa ra thuốc trị bệnh tận gốc, uống vào là khỏi, chẳng phải là thiệt hại mất hàng tỉ tỉ đồng tiền chi phí thuốc thang chữa bệnh sao.

Do nguyên nhân này mà mọi người cứ từ từ uống thuốc thôi! Để cho ngành thuốc kiếm được mối hời lớn rồi thì hãy nói. 

Ông trời ơi!
Đây chẳng phải là "vô cùng kì lạ" sao?

------------------
Thế thuyết tân ngữ: bộ tiểu thuyết ghi lại các chuyện kì lạ của hơn 1500 văn nhân sĩ đại phu trong khoảng thời gian cuối đời Hán đến cuối Đông Tấn, hầu hết đều là các nhân vật lịch sử có thật. Tác giả là Lưu Nghĩa Khánh (403- 444). Bộ sách có ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu sắc đến văn hóa và văn học Trung Quốc, Nhật Bản.


### 41. Thương Sơn Tứ Hạo và Phạm Lãi


Tôi đọc sách mà biết được: núi Thương có bốn vị ẩn cư, bởi vì tóc trên đầu họ trắng xóa giống như tuyết nên mới được gọi là Thương Sơn Tứ Hạo (*). (hạo là trắng tinh)

Thương Sơn Tứ Hạo từng phụ giúp thái tử của Hán Cao Tổ hoàng đế, công danh đã toại nên rút về, sống ẩn mình trong núi sâu, không xuất thế nữa.

Trong sách của Ngưu Tăng Nhụ đời Đường có nói: 
Một người không rõ tên họ trồng quýt ở trong vườn. Có lần sau một trận tuyết lớn bất ngờ xuất hiện hai quả quýt to bằng ba cái đấu, đây là những quả quýt cỡ to đại bự. Chủ nhân đem hai quả quýt khổng lồ này bổ ra, kinh ngạc phát hiện bên trong một quả quýt có hai ông già, hai quả thì có bốn ông già. Bốn ông già chia làm hai cặp đang chơi cờ, cười nói như không hề có chuyện gì xảy ra.
Một ông già nói:
"Ở trong quả quýt vui chẳng kém gì ở Thương Sơn."
Một ông khác nói:
"Thật là đáng tiếc khi bị mấy kẻ ngu đần hái xuống đây."

Bốn ông già này chính là Thương Sơn Tứ Hạo trốn trong quả quýt chơi cờ. Sau khi quả quýt bị bổ ra, bốn người phi thân bay vút lên, bay thẳng vào không trung, từ đó không thấy đâu nữa.
Tôi đối với Thương Sơn Tứ Hạo, cảm thấy lòng cũng mong mỏi  mình được như họ.
 
Tôi lại kể chuyện Phạm Lãi (*).
Lúc còn nhỏ, tôi đọc sách mà biết đến đại danh của Đào Chu Công, một vị phú thương làm ăn thu được rất nhiều lời lãi. Đào Chu Công chính là Phạm Lãi. Vào thời đại Ngô Vương và Việt Vương giao tranh, Ngô Vương Phù Sai (*) giành chiến thắng trước. Sau đó Việt Vương Câu Tiễn (*) đã dùng mỹ nhân kế của Phạm Lãi mà dâng tặng mỹ nhân Tây Thi (*) cho Ngô Vương Phù Sai. 

Việt Vương Câu Tiễn đã nổi tiếng với chiêu "nếm mật nằm gai" suốt mười năm, cũng chính là mười năm ông tập hợp lực lượng, mười năm giáo huấn quân đội. Cuối cùng Việt Vương Câu Tiễn tấn công nước Ngô, giết chết Ngô Vương Phù Sai.

Lúc này Phạm Lãi đã hoàn thành xong nhiệm vụ nên xin rút về ở ẩn, bí mật đem theo Tây Thi, đi vào Thái Hồ rồi biến mất. 

Khi Phạm Lãi trở thành lái buôn, mỗi vụ giao thương chắc chắn luôn được lời lớn. Có được nhiều tiền rồi thì sẽ đem giấu, nên người ta gọi là Đào Chu Công. Còn sự thực của việc Phạm Lãi và Tây Thi cũng là một bí mật, bí mật từ lúc đi vào trong làn sóng nước nhấp nhô phủ đầy sương mù ở Thái Hồ.
 
Tôi đối với Thương Sơn Tứ Hạo, trong lòng mong được như họ. Tôi đối với Phạm Lãi, trong lòng cũng mong được như thế.
 
Tôi viết một áng nhạc thơ:
Tôi tuổi sáu mươi mốt, ẩn cư qua xuân thu.
Thái không tiên cảnh như nước, trăng thanh kin kín lẩn đi.
Soi Lư Thắng Ngạn tôi nhỏ bé, chẳng có ai cùng nắm tay, chẳng có ai cùng du ngoạn.
Cùng nương dựa vào trời, không tha thiết lầu ngọc.
Già theo cùng ngày tháng, một mình một đường, chẳng quay đầu.
Tôi bay qua biển lớn.
Tôi lượn khắp năm châu.
Tiến thẳng Maha Song Liên Trì.
Đã không còn mong muốn gì cả.
Cùng xem nhân gian Ta Bà bao chuyện hài
Đã rũ bỏ mọi ưu phiền trong tâm.
 
Đối với Thương Sơn Tứ Hạo, bốn lão già họ đã dừng mọi việc thế sự rồi, thế gian còn lại những việc gì nữa đây? Mà có việc gì thì cũng chẳng phí thời gian (để thực hiện nó), đương nhiên chỉ có: 
Ở ẩn.
Hư không.
Vô hữu. (không sở hữu gì cả)
 
Lại nói Phạm Lãi, ông ta cả đời giúp Việt Vương Câu Tiễn, đợi đến khi Việt Vương Câu Tiễn đánh bại Ngô Vương Phù Sai, giết được Ngô Vương Phù Sai, đương nhiên phận sự cũng xong rồi, vẫn còn muốn công danh phú quý gì nữa?
Công danh nhất thời.
Phú quý nhất thời.
Tốt nhất là nhân cơ hội này đem Tây Thi đi mất, giữa trời đất còn gì để mà lưu luyến nữa chứ.

Xin hỏi: "Thế gian này còn cái gì để có thể lưu luyến nữa đây?"

------------------
Thương Sơn Tứ Hạo: Thương Sơn là dãy núi ở tỉnh Thiểm Tây, nơi ở ẩn của bốn ông già đời Hán gồm Đông Viên Công, Giác Lý tiên sinh, Ỷ Lý tiên sinh, Hạ Hoàng Công.
Phạm Lãi: danh sĩ nước Việt thời Xuân Thu Chiến Quốc, nổi tiếng tài giỏi, văn học và kinh tế chính trị đều hơn người. Ông đóng vai trò quan trọng trong việc giúp Việt Vương Câu Tiễn tiêu diệt nước Ngô.
Ngô Vương Phù Sai (495 - 473 TCN): vị vua thứ 25 nước Ngô hùng mạnh thời Đông Chu, tiêu diệu nước Việt của Câu Tiễn, sau này vì mê đắm với nàng Tây Thi nên lơ là việc nước, cuối cùng mất nước vào tay Câu Tiễn.
Việt Vương Câu Tiễn (496 - 465 TCN): vua nước Việt (ngày nay là Thượng Hải, bắc Chiết Giang và nam Giang Tô) cuối thời kì Xuân Thu. Ông đã luôn tự nhắc nhở bản thân, kiên trì theo đuổi mục tiêu phục thù, chịu khó khăn gian khổ bằng cách ngủ gối gỗ, nằm dây gai, nếm túi mật động vật (rất đắng), từ đó có thành ngữ "nếm mật nằm gai".
Tây Thi: đại mỹ nhân nổi danh thời Xuân Thu, theo kế của Phạm Lãi sang nước Ngô để mê hoặc Ngô Phù Sai, giúp Câu Tiễn phục quốc, khiến nước Ngô hùng mạnh bị diệt vong sau đó.


### 42. Uống "nước vong tình”


"Đoản ca hành" của Tào Tháo viết:Hà dĩ giải ưu, duy hữu Đỗ Khang.
(Muốn giải sầu này, chỉ có rượu thôi.)

Trúc Lâm Thất Hiền của thời đại Ngụy Tấn, Kê Khang, Nguyễn Tịch đều là những cao sĩ rất giỏi uống rượu.

Đỗ Phủ viết bài thơ "Ẩm trung bát tiên ca" để nói về tám vị danh sĩ giỏi uống rượu thời nhà Đường, gồm có: Lý Bạch, Hạ Tri Chương, Lý Liễn, Lý Thích Chi, Thôi Tông Chi, Tô Tấn, Trương Húc, Tiêu Toại.

Khổng Dung nói:
"Muốn khách quý hài lòng, chén rượu không thể vơi, ta cũng chẳng có gì phải lo nghĩ!"

Khổng Dung lại nói:
Trên trời có sao Tửu Kỳ,
Dưới đất có quận Tửu Tuyền.
Người có đức của rượu ngon,
Không rượu sao có thể sáng suốt.

Tôi nghe nói thánh nhân Khổng Tử cũng rất thích rượu.

Cổ Đức lại nói:
Người uống rượu thuần khiết, là thánh nhân.
Người uống rượu thô chưa lọc, vẫn là hiền nhân.

Còn Từ Mạc thời Tam Quốc được tôn xưng là "Trung thánh". (*)
Lưu Linh (*)  của Trúc Lâm Thất Hiền có một câu nói nổi tiếng:
"Lưu Linh thiên bẩm nhờ rượu mà thành danh, đã uống là phải cả thùng, năm đấu vẫn chưa say. Lời khuyên của phu nhân, tốt nhất không nên nghe."
 
Đào Uyên Minh (*) và khách ghé chơi cùng uống rượu, đến khi say rồi bèn nói: "Ta say rồi, muốn ngủ, khanh có thể đi!"
(Thơ. Tiểu Nhã. Tiểu Uyển):
"Người muốn được bằng thánh, uống rượu phải không nóng mặt."
 
Nhớ một bài thơ của Lý Bạch:
Trước rượu chợt nhắm mắt,
Hoa rơi đầy áo ta.
Suối trăng ta say bước,
Chim về, người vắng xa.

Ý nghĩa nghệ thuật của bài thơ này càng thâm sâu. Cá nhân tôi đối với rượu chẳng có ý kiến gì. Khi tôi còn trẻ cũng có thích rượu, khi học đạo Phật thì ít uống, cả đời từng say ba lần, bây giờ thì hoàn toàn không chạm đến dù chỉ một giọt.

Rượu rốt cục có thể giải sầu hay không? 
Rượu rốt cục có nên uống hay không?

Tôi cho rằng việc uống rượu không thể bàn luận một cách vơ đũa cả nắm được. Việc này cần phải xem thể chất của mỗi một người, bởi vì mỗi người có tửu tính, tửu lượng khác nhau.

Giới thứ năm trong Phật giáo là: "Giới không uống rượu!" Giới này ngăn cấm mọi người học Phật uống rượu, bởi vì rượu rất có thể trở thành sự mở đầu cho tất cả hành vi phạm tội. Do vậy, cấm tuyệt đối.
 
Trên thực tế, với người nghiện rượu, nếu một ngày không có rượu thì lại càng sinh bệnh, nếu một ngày bỏ rượu thì bệnh nghiện rượu lại càng dễ tái phát. Đến giai đoạn này thì không phải là người uống rượu, mà là rượu uống người, có thể chết trong rượu.

Con người ngày nay uống rượu vô độ.
Gan xơ cứng.
Bệnh mỡ máu ngày càng tăng.
Thủng dạ dày.
Não tê liệt, trúng độc rượu.
(Toàn là những bệnh nặng do uống rượu vô độ gây ra.)
 
Người có lý trí, uống một lượng vừa đủ, hơi ngà ngà say, tôi không phản đối. Nhưng uống vượt quá giới hạn chính là tự chôn sống mình!

Có người nói, uống rượu vào, cơ thể sụt cân, trí thông minh suy giảm, thân thể tiều tụy, mất đi cảm xúc trí tuệ, giống như xóa sạch mọi thứ, cũng xem như quên hết. Cả người và vật đều quên sạch, phiền não đều không có. 

Lời này nghe qua thì có lý, nhưng kì thực chỉ là nhất thời, còn chẳng bằng một giấc chợp mắt.
 
Cổ Đức nói rượu có cái hay, chính là nói cái lúc ngà ngà say giống như thông đến cảnh giới "Thiện Chân". Thánh nhân có thể nói như vậy. Nhưng con người thế tục sau khi say rượu rồi thì xấu xa không thể nào ngửi nổi!
---------------------
Trung thánh: khi Tào Tháo ra lệnh cấm rượu, Từ Mạc đang giữ chức Thượng thư lang (tương đương Bộ trưởng) mà vẫn uống rượu say bí tỉ nên bị giáng cấp. Ông ta thốt lên: "Trung thánh". "Trung" nghĩa là "ở trong". Ý rằng ta đang "ở trong việc uống rượu thuần khiết, là thánh nhân đó". Kể từ đó hậu nhân (gồm cả các thi sĩ lớn) hay dùng  hình tượng và từ "Trung thánh" để chỉ việc uống rượu say.
Lưu Linh: một trong bảy nhân tài lớn thời Ngụy (210-270), có thể bỏ tất cả nhưng không thể bỏ rượu, vợ ngăn không được. Ông nổi tiếng về tài thơ ca, đệ nhất tửu lượng, nên được xưng là "thần tửu". Chán xã hội vua quan thối nát nên các vị tri thức thời đó vùi thân vào văn chương và rượu. Cũng vì thế chúng ta mới hay nói người nghiện rượu là đệ tử Lưu Linh. 
Đào Uyên Minh: một trong những nhà thơ lớn thời nhà Tấn và Lưu Tống, dù nghèo đói cũng không thích làm quan, không chịu cúi mình.


### 43. Chỉ bởi vì là một cây đại thụ


Tôi ẩn cư năm năm, có một lần thiền định nhìn thấy Phật Kim Cương Tạng. Vị Phật này có trăm nghìn tỷ hóa thân, là các dị thể cùng tên. Vị mà tôi nhìn thấy chỉ là một trong các vị đó, họ Hồ, tên Hy.
Vị Phật Kim Cương Tạng sống ở vùng thung lũng sâu Thái Cổ, Thái Sơ, Thái Hư, là một vị Phật chưa từng xuất thế.
Tôi thỉnh giáo ngài:
"Đời này của tôi chỉ thành lập Chân Phật Tông, một đời hướng dẫn đạo pháp, không dám miễn cưỡng ép buộc người ta, hà cớ gì lại gặp phải nhiều tai họa khôn lường như vậy?"
Phật Kim Cương Tạng đáp:
"Chỉ bởi vì ngài là một cây đại thụ."
 
Tôi lại thỉnh giáo ngài:
"Đời này của tôi nghiêm khắc giữ "ba không", không vào đồn cảnh sát, không vào tòa án, không vào tù ngục, có thể nói là đứng ngoài những vấn nạn xã hội, hà cớ gì mà bị người ta công kích nhiều như vậy?"
Phật Kim Cương Tạng đáp:
"Chỉ bởi vì ngài là một cây đại thụ."
 
Tôi thỉnh giáo ngài lần thứ ba:
"Đời này của tôi, được sư phụ cho lời bình luận là "phẩm học kiêm ưu" (giỏi cả kiến thức và phẩm chất), hà cớ gì mà bị nói bóng nói gió, phỉ báng nhiều như vậy?"
Phật Kim Cương Tạng đáp:
"Chỉ bởi vì ngài là một cây đại thụ. Đại thụ gặp sét đánh trúng chỉ bởi vì đại thụ cao quá. Đại thụ gặp gió quất, chỉ vì đại thụ cành lá quá xum xuê. Đại thụ mà gặp tiều phu chặt đẽo, chỉ vì chất gỗ tốt quá, có giá trị cao, do vậy mới bị chặt."
 
Tôi nghe xong, im lặng không nói. Tự mình nghĩ thử, hóa ra cây quá cao, cành lá quá xum xuê, chất liệu gỗ quá tốt, tất cả đều là "họa sát thân" sao!

Tôi nhớ đến Hứa Do (*) trong "Cao sĩ truyền":
"Vua Nghiêu muốn trao cả thiên hạ cho Hứa Do, nhưng Hứa Do không muốn nhận nên đã bỏ đi đến phía nam sông Toánh ở núi Trung Nhạc, làm ruộng ở dưới chân núi Ki, cả đời không ra khỏi núi nữa. Vua Nghiêu lại triệu thỉnh Hứu Do phong cho làm Cửu Châu Trưởng, Hứa Do không muốn nghe bèn đi rửa tai ở bên bờ sông Toánh. Rốt cuộc cả một đời Hứa Do đã không rời núi."

Tôi nhớ đến Trương Lương (*) (Trương Tử Phòng):
"Trương Lương, Tiêu Hà, Hàn Tín, ba người này có thể nói là công thần lập quốc, trong ba người chỉ có Trương Lương là lánh được khỏi thế gian, Tiêu Hà, Hàn Tín thì không có được may mắn như vậy."

Đúng như thành ngữ nói: (*)
Phi điểu tận,
Lương cung tàng.
Giảo thố tử,
Tẩu cầu phanh.
(Dịch nghĩa: Khi đã bắn hết chim, cất cung tốt. Khi thỏ khôn đã chết, nấu chó săn.)

Câu này ý nói là: con người một khi đã có công lao, có danh vọng, nhưng vẫn không hiểu được đạo ẩn thân, loại người đã thành công rồi nhưng vẫn không biết lui thân thì sẽ mười phần nguy hiểm. 

Giống như con em nhà giàu nhà quan ngày xưa, tổ chức xã hội như hình cái chuông. Người làm quan cao chính là ở dưới một người, ở trên vạn người. Có rất nhiều trường hợp máu nhuộm đỏ dao, khả năng bị tiêu diệt chu di cửu tộc là cực kì lớn.

Tả Từ trong "Thần Tiên truyền" ở dưới Tào Tháo, nếu như Tả Từ không trốn đi thì cũng bị Tào Tháo giết đầu lìa khỏi thân thôi.

Thần y Hoa Đà vì viết nên cuốn sách y học "Thanh Nang Kinh", không ngờ đệ tử của ông vì cuốn sách này mà đã hại chết Hoa Đà.

Đời này của tôi đi được đến đây thực là càng nghĩ càng kinh hãi. Rất nhiều nam nữ đệ tử cố ý mượn cơ hội đến làm thân.
Có người cầu danh. (một số ít người)
Có người cầu lợi. (một số ít người)
Nếu như cầu không được liệu có làm hại Sư Tôn không? Nghĩ đến đây làm sao mà không thấy trong lòng kinh hãi.
 
Vào thời cận đại, có một vị đại hòa thượng nổi tiếng, dưới môn phái của ông có hai nhóm người tranh nhau tài sản của chùa. Ngày trước, lúc đại hòa thượng còn chưa viên tịch, người ta đã bất ngờ lái xe đưa hòa thượng đi khỏi rồi tự mình quản chùa, khiến đại hòa thượng lưu lạc không nơi trú ngụ, bị bệnh cũng không cho thuốc chữa. Đại hòa thượng trở thành kẻ lang thang.
 
Điều tệ hại là:
Tôi ẩn cư năm năm, vẫn cứ là một cây đại thụ.
Xin hỏi mọi người, tôi có cách nào ẩn đi đây?
--------------------
Hứa Do: vị ẩn sĩ danh tiếng thời Đường Nghiêu, tài đức vẹn toàn, trên thông thiên văn dưới tường địa lý, rất am hiểu nhân tình thế thái, không hám danh lợi nên không làm quan hoặc tham gia các hoạt động xã hội, chỉ ẩn cư du ngoạn sơn thủy.
Trương Lương: là danh thần khai quốc nổi tiếng thời nhà Hán, cùng với Hàn Tín, Tiêu Hà được người đời xưng tụng là Hán sơ tam kiệt.
Phi điểu tận - Lương cung tàng - Giảo thố tử - Tẩu cầu phanh: đây là những lời trong thư Phạm Lãi gửi cho Văn Chủng, sau này được dùng như thành ngữ để ám chỉ thói đời đen bạc, lấy oán trả ân, giúp hết việc khó cho người khác xong thì bị trừ bỏ.


### 44. Tôi kể chuyện Mạnh Hạo Nhiên


"Tân Đường Thư - Mạnh Hạo Nhiên (*) truyền kì" đã viết về Mạnh Hạo Nhiên như thế này:Mạnh Hạo Nhiên ẩn cư ở núi Lộc Sơn. Đến năm 40 tuổi lên kinh đô, Mạnh Hạo Nhiên ở nhà Thái học (*) viết văn làm thơ, ai nấy không khỏi thán phục, chẳng có ai có thể cưỡng lại được sự yêu thích. Tài học của Mạnh Hạo Nhiên vô cùng xuất chúng, ông giống như con thiên nga giữa đàn gà vậy. 

Sau này Đường Huyền Tông hoàng đế nghe được đại danh của Mạnh Hạo Nhiên, lại đọc thấy trong những câu thơ của ông có câu "Bất tài minh chủ khí" (vì bất tài nên vua bỏ quên).
Đường Huyền Tông nói:
"Mạnh Hạo Nhiên không cầu quan chức, nhưng trẫm cũng chưa từng vứt bỏ Mạnh Hạo Nhiên, vì sao nói trẫm vứt bỏ ông ta?"

Mạnh Hạo Nhiên vẫn ẩn cư ở núi Lộc Sơn. Đường Huyền Tông sau này phái một vị sứ giả đi dò hỏi Mạnh Hạo Nhiên. Vị sứ giả này chính là Hàn Triều Tông, muốn mời Mạnh Hạo Nhiên đến kinh đô cống hiến cho triều đình.

Vừa hay lúc Mạnh Hạo Nhiên đang chiêu đãi bạn bè, Mạnh Hạo Nhiên và các bạn hữu đều vui vẻ uống rượu.
Bạn hữu nói:
"Ông và Hán Triều Tông có lời hẹn, vậy thì xuống núi đi."
Mạnh Hạo Nhiên nói:
"Chúng ta vui vẻ như thế này, không cần nhắc đến chuyện của Hán Triều Tông."

Mạnh Hạo Nhiên không giữ lời hẹn, cũng không đi đến kinh đô. Hán Triều Tông tức giận, đến nói lời từ biệt. Đối với việc vào kinh đô, rời khỏi núi để đi làm quan, Mạnh Hạo Nhiên từ đầu đến cuối đều không có chút hối tiếc.
(Đây là truyện được ghi chép lại trong "Mạnh Hạo Nhiên truyền kì")
 
Điều tôi ngưỡng mộ ở Mạnh Hạo Nhiên chính là:
Địa vị quan cao, Mạnh Hạo Nhiên không động lòng.
Vinh hoa phú quý, Mạnh Hạo Nhiên không màng đến.
Tài học cao siêu, Mạnh Hạo Nhiên vui giảng dạy.

Lão Tử nói:
"Đạo của tôi là sự đơn sơ cô tịch, để mọi ý muốn chết đi, giảm thiểu cái sinh ra mà hồi lại mệnh sống. Cái ý muốn khi sinh ra sinh mãi sẽ tích lại và thấm đẫm, đến lúc ướt sũng sẽ bắt đầu ứ đọng. Lúc đó những sự đen tối, giả tạo hư ngụy sẽ thấm vào và bao lấy nguyên khí của con người, lại càng ngày bám rễ càng sâu. Vì thế cho nên xung quanh rắn đặc, nhưng ở giữa rỗng không thì mới khiến cho vạn vật tinh hoa, mọi vật từ vô cực, theo tự nhiên mà hội tụ quy về, nhờ cái hư không, vô dục của nó mà làm nên."
Mọi người hãy suy nghĩ ba lần.
 
Thơ của Mạnh Hạo Nhiên siêu nhiên vi diệu, ý tứ cao xa, hàm chứa cái chí của trời đất.

Bài thơ "Vọng Lư Sơn" của Mạnh Hạo Nhiên (*):
Quải tịch kỷ thiên lý,
Danh sơn đô vị phùng.
Bạc châu Tầm Dương quách,
Thuỷ kiến hương lô phong.
Thường độc Viễn công truyện,
Vĩnh hoài trần ngoại tung.
Đông Lâm tinh xá cận,
Nhật mộ đãn văn chung.

Dịch thơ:
Giương buồm mấy vạn dặm,
Vẫn chưa gặp núi thiêng.
Bến Tầm Dương tạm ghé,
Chợt thấy đỉnh Hương Lư.
Truyện Viễn Công thường đọc,
Cảnh thoát tục hoài mong.
Chùa Đông Lâm chắc gần,
Hoàng hôn vẳng hồi chuông.
Bài thơ "Xuân hiểu" của Mạnh Hạo Nhiên:
Xuân miên bất giác hiểu,
Xứ xứ văn đề điểu.
Dạ lai phong vũ thanh,
Hoa lạc tri đa thiểu?

Dịch thơ:
Say giấc xuân quên sáng,
Chốn chốn rộn tiếng chim.
Đêm qua mưa gió lộng,
Hoa rụng biết bao nhiêu.
(Bài thơ này mọi người đều biết.)
 
Còn nữa:
San đầu thiền thất quải tăng y,
Song ngoại vô nhân thủy điểu phi.
Hoàng hôn bán tại hạ san lộ,
Khước thính tuyền thanh luyến thúy vi.

Dịch thơ:
Thiền thất trên núi treo tăng áo
Ngoài cửa không người chim nước bay.
Hoàng hôn đã xuống lưng chừng núi
Vẫn nghe tiếng suối rất nhỏ thay.
 
Nhớ khi tôi chưa ẩn cư, có người tìm đến chỗ tôi ở.
"Lư Thắng Ngạn theo tôi đi lập nghiệp đi."
"Tôi không hiểu."
"Gửi đi mấy cuốn sách, ngài sẽ hiểu."
"Tôi chỉ hiểu Phật pháp."
"Thế ngài không lập sự nghiệp à?" Người đó dò hỏi.
"Tôi là người ngoài cuộc, thực sự chẳng hiểu việc lập cơ đồ." Tôi đáp.
"Thế tương lai ngài sẽ làm gì?"
"Ẩn cư."

Cái người tìm đến đó nghĩ con người hiện đại chẳng phải là tranh đua để làm quan sao, chính là tranh đấu trong thương trường để buôn bán kiếm bộn tiền, đến cả giới tôn giáo cũng tranh đấu để chiếm vị trí đứng đầu, đứng trên phái khác, chẳng có ngoại lệ.

Chỉ có độc một mình Lư Thắng Ngạn điên khùng đi ẩn cư, thật là chẳng thể tưởng tượng nổi!
------------------
Mạnh Hạo Nhiên (689 hoặc 691 - 740): nhà thơ Trung Quốc thời Đường, thuộc thế hệ đàn anh của Lý Bạch. Ông sinh ra tại Tương Dương, Hồ Bắc và cả đời gắn bó với quê hương, sống tao nhã và làm văn thơ.
Nhà thái học: nơi học và dạy học.
Vọng Lư Sơn: bài thơ này tên đầy đủ là "Vãn bạc Tầm Dương vọng Lư sơn".


### 45. "Tể tướng ở trong núi" cũng là người kì lạ


Vào thời đại Lương Vũ Đế có một vị tên là Đào Hoằng Cảnh, tên chữ là Thông Minh, tự hiệu là Hoa Dương - người ở ẩn, ông ta là người chăn ngựa trên núi Đơn Dương.
Đào Hoằng Cảnh từng làm quan, làm đến chức quan Tả Vệ Điện Trung Tướng Quân, sau này từ quan về ẩn cư tại núi Mao ở Cú Dong. Đào Hoằng Cảnh "học phú ngũ xa" (*), gần như không có gì là không biết. Sở thích của ông rất nhiều, ví dụ: đạo thuật, sơn thủy, cầm kì, thư pháp, lịch toán, địa lý, y dược, toàn bộ đều thông hiểu, hơn nữa còn nghiên cứu rất sâu.

Sách Đào Hoằng Cảnh viết gồm có: 
"Chân cáo." (Những lời dạy chân thực)
"Dưỡng tính diên mệnh lục." (Tu tâm dưỡng tính kéo dài sinh mệnh)
"Bổn thảo kinh tập chú." (Sách tuyển tập ghi chú về thảo dược)
v.v.

Lương Vũ Đế biết ông là một nhân tài nên đặc biệt mời ông xuống núi, nhưng Đào Hoằng Cảnh chỉ muốn ẩn cư. Vì vậy mỗi khi triều đình có việc lớn, Lương Vũ Đế liền phái chuyên sử đi thỉnh giáo tư vấn của Đào Hoằng Cảnh tiên sinh, do đó mà ông được gọi là "tể tướng ở trong núi".
 
Tôi cảm thấy Đào Hoằng Cảnh rất thú vị, tôi cũng đã đọc qua cuốn "Chân cáo" của ông. Cuốn "Dưỡng tính diên mệnh lục" tôi cũng đọc rồi. Đào Hoằng Cảnh xem trọng giá trị của quế và gừng. Ông sử dụng tam quế, nước ép hành lá, bột vân mẫu (*), ba thứ trộn với nhau làm thành phương thuốc trường sinh.

Tôi đã luyện tập qua phương thuốc trường sinh "Thái Thanh bát quỳnh" như sau: đan sa, hùng hoàng, không thanh, lưu hoàng, vân mẫu, nhung diêm, tiêu thạch, thư hoàng. 
Uống thuốc trường sinh và đọc:
Nhật xuất đông phương, hách hách đường đường.
Phục tiên phương nhập, hoán vị đãng tràng.
Bách bệnh trừ dũ, cốt cơ khang cường.
Thiên quỷ vạn tà, vô hữu cảm đương.
Tri tiên tri thần, tri đạo vi chân.
Phục thử đan phương, thọ dữ thiên trường.

Dịch nghĩa:
Bình minh phương đông, chiếu soi rạng rỡ.
Uống thuốc trường sinh, thay lòng rửa ruột.
Trăm bệnh tiêu trừ, xương cơ khỏe mạnh.
Nghìn quỷ vạn tà, chẳng dám hại thân.
Biết tiên biết thần, biết chân thực đạo.
Uống thuốc tiên đây, thọ sánh ngang trời.
 
Tôi cũng tu "chân khí pháp" mỗi ngày hai lần, dùng "huyền tục hình vô ảnh" của Đào Hoằng Cảnh. Tôi cảm thấy Đào Hoằng Cảnh làm "tể tướng ở trong núi" cũng là việc kì lạ, đúng như Lão Tử nói: "Tâm thánh nhân vi diệu, mang sự chất phác mộc  mạc mà không thể hiện ra ngoài, nhưng nếu phải cùng thiên hạ giao tranh thì cho dù là thú dữ cũng không thể vồ, cho dù có ong bọ sâu rắn cũng không thể cắn, cho dù có vũ khí cũng không thể làm hại."
 
Nhớ trước khi tôi ẩn cư, người đến hỏi chuyện rất nhiều, đáng tiếc là:
Việc thông thường thì nhiều.
Việc cao sâu vi diệu thì ít.

Đương nhiên cũng có người đến hỏi việc đại sự lợi ích quốc gia, nhưng sau rốt vẫn là rất ít. Tôi nhận thấy mình tự chuốc lấy sự rối rắm, chi bằng vô sự đi ẩn cư cho xong.

Tôi không phải là "tể tướng ở trong núi", tôi chỉ là "viết sách tự mua vui", có một chút nhàn nhã, đem những gì có trong tim mình viết ra thành sách. Có lẽ chỉ là như vậy, kể chuyện đời kì lạ, thế thôi!
 
Tôi viết một bài kệ:
Đi vào núi rồi, vạn sự đều ngơi nghỉ
Không còn chi những chuyện đời rối rắm.
Chẳng muốn làm trưởng phái,
Chỉ thấy tâm này nhẹ nhõm như hư không.

Người ta khi về già,
Chuyện quá khứ dường như mang theo chút hổ thẹn.
Đời như dòng nước đã trôi qua.
Một thân một mình nơi lầu nhỏ

Nhìn mây bay
Bất giác buồn
Chẳng phải tể tướng ở trong núi
Chẳng qua là bỏ đi những vướng mắc nhân gian.
-------------------
Học phú ngũ xa: học rộng biết nhiều, tri thức phong phú, học nhiều tới mức sách tới năm xe mới chở hết.
Vân mẫu: là một loại đá tên gọi là vân mẫu, đây là một vị thuốc rất có giá trị.


### 46. Sự buông bỏ cuối cùng


Bạch Cư Dị  (772 - 846), tên chữ là Lạc Thiên, hiệu là Hương Sơn cư sĩ, lại có hiệu là Túy Ngâm tiên sinh. Ông sinh ra vốn là người Thái Nguyên, sau này chuyển đến sống tại Hà Nam phía đông ngoại thành Tân Trịnh. Bạch Cư Dị làm quan đến chức Hàn Lâm học sĩ, Tả Thập Di, Tả Tán Thiện đại phu. Ngoài ra ông còn nhậm chức Hàng Châu Lạt Sử, Tô Châu Lạt Sử, Đồng Châu Lạt Sử…

Bạch Cư Dị là một đại thi nhân thời nhà Đường, thơ của ông mộc mạc chân thành dễ hiểu, đến cả bà lão cũng có thể hiểu được và được lan truyền rộng rãi.
 
Ông chủ trương: "Văn chương phải gắn với thực tại để mà viết, thơ ca phải gắn với sự vụ thời thế để mà làm." Ông đã viết "Bạch thị trường khánh tập" với 71 quyển.

Tình bạn của Bạch Cư Dị và Nguyên Chẩn rất sâu đậm, thơ cũng đều nổi tiếng, thế gian gọi là cặp Nguyên Bạch. 
Bạch Cư Dị cũng cùng với Lưu Vũ Tích cùng hợp xướng rất nhiều, thế gian gọi là cặp Lưu Bạch.

Bạch Cư Dị làm người rất ngay thẳng. Tôi rất ngưỡng mộ bài thơ "Hải mạn mạn" (Biển mênh mông) của ông.
      Hải mạn mạn,
Trực há vô để bàng vô biên.
Vân đào yên lãng tối thâm xứ,
Nhân truyền trung hữu tam thần sơn.
Sơn thượng đa sinh bất tử dược,
Phục chi vũ hoá vi thiên tiên.
Tần hoàng, Hán Vũ tín thử ngữ,
Phương sĩ niên niên thái dược khứ.
Bồng Lai kim cổ đãn văn danh,
Yên thuỷ mang mang vô mịch xứ.
Hải mạn mạn, phong hạo hạo,
Nhãn xuyên bất kiến Bồng Lai đảo.
Bất kiến Bồng Lai bất cảm quy,
Đồng nam thiều nữ chu trung lão.
Từ Phúc, Văn Thành đa cuống đản,
Thượng Nguyên, Thái Nhất hư kỳ đảo.
Quân khán Ly Sơn đỉnh thượng Mậu Lăng đầu,
Tất cánh bi phong xuy mạn thảo.
Hà huống Huyền nguyên Thánh Tổ ngũ thiên ngôn,
Bất ngôn dược, bất ngôn tiên,
Bất ngôn bạch nhật thăng thanh thiên.

Dịch thơ: 
Biển mênh mông,
Hút mắt chẳng thấy đáy thấy bờ.
Khói mây cuộn sóng nơi sâu thẳm.
Tương truyền biển có ba thần tiên.
Trên núi cơ man thuốc bất tử,
Uống vào nhẹ bỗng hóa thiên tiên.
Tần Hoàng Hán Vũ tin lời ấy,
Hàng năm phương sĩ gắng đi tìm.
Bồng Lai xưa nay còn vang tiếng,
Sóng nước mênh mang nơi nao tìm.
Biển cả mênh mông, gió lồng lộng,
Mắt trông chẳng thấy đảo Bồng Lai.
Chưa thấy Bồng Lai chẳng dám về.
Trên thuyền nam nữ đã già nua,
Từ Phúc, Văn Thành lắm dối lừa.
Thượng Nguyên, Thái Nhất cầu vô ích,
Mậu Lăng núi Ly đã thấy chưa?
Chỉ có gió buồn thương cỏ nhỏ,
Nghìn lời Thánh Tổ có gì hơn.
Chẳng nói thuốc, chẳng nói thần tiên,
Chẳng nói ngày nào mới thăng thiên.
 
Bài thơ "Hải mạn mạn" này kể chuyện Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế phái người đi biển tìm thuốc tiên. Nói trắng ra, nói thẳng thắn, đây chính là tính cách của Bạch Cư Dị.
 
Bài thơ "Trường hận ca" của Bạch Cư Dị là một kiệt tác nghìn năm. Bài thơ "Hoa phi hoa" của Bạch Cư Dị cũng là một xướng ca nghìn năm.
Hoa phi hoa,
Vụ phi vụ.
Dạ bán lai,
Thiên minh khứ.
Lai như xuân mộng kỷ đa thời,
Khứ tự triêu vân vô mịch xứ!

Dịch thơ:
Có phải hoa?
Có phải sương?
Nửa đêm đến,
Sáng đã rời.
Đến như giấc mộng xuân thoáng chốc,
Đi như mây sớm phương nào trôi?
 
Mọi người có biết bài thơ "Hoa phi hoa" của Bạch Cư dị là ám chỉ cái gì không? Ý chính của bài thơ mà tôi muốn nói cho mọi người biết là, vào những năm cuối đời của Bạch Cư Dị, ông đã có sự buông bỏ cuối cùng. 

Hai vị ái thiếp của ông:
Một là, Phàn Tố.
Hai là, Tiểu Man.
Phàn Tố hát hay, Tiểu Man múa đẹp. 
 
Bạch Cư Dị buông bỏ Phàn Tố và Tiểu Man, có viết bài thơ:
Liễu lão xuân thâm nhật hựu tà, 
Nhậm tha phi hướng biệt nhân gia.
Thùy năng canh học hài đồng hí,
Tầm trục xuân phong tróc liễu hoa.

Dịch thơ:
Xuân qua lão liễu tuổi đã xế.
Nay buông gia quyến tìm tự do.
Ai người học được thuật trẻ mãi.
Theo gió xuân tìm gặp liễu hoa.
 
Bạch Cư Dị cũng buông bỏ hết tài sản của gia đình, có viết bài thơ:
Ngũ niên hoa hạ túy kị hành,
Lâm mại hồi đầu tê nhất thanh.
Hạng tịch nguyện chuy do giải thán,
Lạc Thiên biệt lạc khởi vô tình.

Dịch thơ:
Năm mùa hoa rụng cùng rong ruổi,
Nay ngựa bán rồi nhớ tiếng xưa.
Mong ngựa rời nhà đừng than trách,
Lạc Thiên bỏ ngựa quá vô tình.
 
Khi Bạch Cư Dị mắc bệnh vào những năm cuối đời đã rời xa người thiếp của mình, cũng bán hết ngựa. Bạch Cư Dị làm như vậy là sao? Kì thực đây là những buông bỏ cuối cùng. 

Bạch Cư Dị có khúc ngâm tình không thể quên. Điều ông tiếc thương nhất là giọng ca của Phàn Tố, điệu múa của Tiểu Man, nhưng đến cuối cùng cũng chẳng còn lựa chọn nào khác là đành buông bỏ. Đến cuối cùng thì Bạch Cư Dị đã "đi học Phật"!
 
Cá nhân tôi cảm thấy, sống đến cuối cuộc đời rồi thì nên giải tán, buông bỏ tất cả, đến cả cái thân này của chính mình cũng buông bỏ. Bạch Cư Dị làm được như vậy, chúng ta không làm được như vậy sao?
 
Tôi làm một bài thơ:
Phóng khí y hy tự Lạc Thiên
Cảm tương ẩn cư bỉ tiền hiền.
Tiện nhập sơn lâm nham đỗng khứ
Bất tri nhàn cư hữu ki niên?

Dịch thơ:
Thả tay buông bỏ giống Lạc Thiên
Dám rút ẩn cư tựa thánh hiền
Đi vào rừng núi hang động đá
Chẳng biết nhàn cư bao kỉ niên?


### 47. Nửa tỉnh nửa mê


Liễu Tông Nguyên (*) viết bài thơ "Long Thành Lục", ghi chép lại một câu chuyện hư huyễn như mộng.

Vào triều đại nhà Tùy, Triệu Sư Hùng chuyển đến La Phù (núi La Phù là một ngọn núi tiên trong Đạo gia). Một hôm ông đang nghỉ ngơi ở trong rừng thông thì trông thấy một cô gái trang điểm phớt nhẹ ra chào đón, vì thế mà hai người cùng nâng rượu trước cửa nhà. Cả hai cùng uống rượu, chẳng mấy chốc Sư Hùng đã say. Đến khi trời hửng sáng ở phương Đông, Sư Hùng mới tỉnh dậy, thấy mình ở dưới cây mận, trên cây có con chim bồng chanh (*) kêu chiu chiu.
Sư Hùng nghĩ đến việc này cảm thấy vô cùng ngu ngốc. Trời đã sáng rõ mà ông lại chỉ cảm thấy u ám âu sầu.

Đây là một đoạn ghi chép trong truyện "Triệu Sư Hùng dưới gốc thông gặp tiên nữ"  trong "Long Thành Lục". Tôi nghĩ người bình thường đọc có lẽ sẽ coi đây là một chuyện tầm phào, giở qua trang là quên, chẳng suy ngẫm gì thêm.

Nhưng tôi thì không như vậy. Tôi thuộc về kiểu "nửa người nửa Phật", hoặc là "nửa người nửa tiên", hoặc là "nửa thần nửa người", hoặc coi như là người thông linh đi cũng được.
Với Phật, với Tiên, với thần…
Xem như là một đi.
Tất cả đều vào lúc nửa tỉnh nửa mê.
 
Giai đoạn ẩn cư, tôi đã ghi lại một việc mới đây nhất cho mọi người đọc thử:
Một đêm, trong lúc tôi nửa tỉnh nửa mê, có một thiên nữ toàn thân mặc áo lụa trắng tỏa sáng lấp lánh. Thân mình trắng trong như ngọc không tì vết, trắng nuột nà như băng tuyết, vô cùng trẻ trung xinh đẹp.

Thiên nữ gọi tôi:
"Liên Sinh Hoạt Phật, ngài nhận ra tôi không?"
Tôi vừa nhìn thiên nữ lập tức biết nàng là ai, vị thiên nữ này là một nữ đệ tử vừa mới qua đời không lâu. (Tuổi lúc chết thì cũng không còn trẻ nhưng sau khi qua đời thì sẽ biến thành trẻ lại.)
Thiên nữ rất vội vã:
"Hoạt Phật Sư Tôn, mau cứu lấy chồng tôi, bệnh của ông ấy ở trong dạ dày… dạ dày… dạ dày…"
Tôi nói: "Tôi đang buồn ngủ lắm!"

Thiên nữ càng sốt ruột. Thiên nữ khi còn sống là một người rất hăng hái, lập tức dùng miệng cắn vào đầu ngón tay tôi một phát, đau đến mức tôi phải kêu la oai oái. 

Tôi nói: "Được được được, tôi lập tức dậy vẽ phù!"
Lúc này thiên nữ mới hé miệng, cười mỉm mà bỏ đi!
 
Ngày hôm sau, tôi không dám sao lãng, lập tức vẽ phù, phụng thỉnh linh quang của Diêu Trì Kim Mẫu gia trì vào phù lục. Trong ngày hôm đó tôi lập tức gửi chuyển phát nhanh. Về sau, theo tôi được biết, khi thư vẫn còn chưa đến nơi, chồng của thiên nữ về cơ bản là dạ dày hoàn toàn không có vấn đề gì. Chỉ là tối hôm đó anh ta ăn phải đồ ăn không tốt, bị đau bụng đến mức phát sốt, người nhà vội vàng đưa đến bệnh viện cấp cứu. 
Chứ chẳng phải là do bùa của tôi đến!
Sau ba ngày bệnh khỏi, đã xuất viện.
(Sự việc này là một việc hoàn toàn chân thực, tôi trong lúc nửa tỉnh nửa mê đã nhìn thấy rõ ràng, khi tỉnh lại thì đầu ngón tay vẫn còn đau ê ẩm!)
 
Lại có một lần khác có một thiên nữ đến. Tôi vừa nhìn đã biết thiên nữa là một "thanh ý" vừa mới qua đời không lâu. Thiên nữ nói:
"Lúc còn sống, tôi đã phỉ báng ngài, hôm nay phụng pháp chỉ của Diêu Trì Kim Mẫu đến đây giúp chữa chứng đau xương cổ tay cho ngài, xem như tôi lấy công chuộc tội."
Tôi gật gật gù gù. Thiên nữ nói: "Không lâu đâu, khỏi lập tức." Tôi cảm ơn cô ta.
(Việc này, tôi viết trong một cuốn sách đã xuất bản. Thực sự là tôi tuyệt đối không dám nói sai.)

Vì sao mà tôi lại có những chuyện kì lạ này thì có ba lý do:
Thường hư không.
Thường vô vi.
Thường điềm tĩnh.

-------------------
Liễu Tông Nguyên (773 - 819): tên chữ là Tử Hậu, người Hà Đông tỉnh Sơn Tây (TQ), là nhà văn, nhà thơ nổi tiếng thời trung Đường, Trung Quốc, làm quan đến chức Giám sát ngự sử. Thơ ông siêu việt, trần tục, thanh dật, nhàn đạm.
Chim bồng chanh: còn gọi là chim bói cá sông, đuôi ngắn, đầu to, lưng màu xanh, bụng màu cam, mỏ dài, chủ yếu săn bắt cá bằng cách bổ nhào và lặn dưới nước.


### 48. Lão Tử rời nhà


Gần đây tôi đọc "Đạo đức kinh", "Thập giới kinh", "Tây thăng kinh" của Lão Tử. Mặc dù tôi đã đọc qua chúng từ rất sớm, nhưng trong lúc ẩn cư năm năm tôi đọc lại thì có những dư vị đặc biệt ở trong tâm.

Truyền thuyết về Lão Tử thật là nhiều. Trong Đạo gia, Lão Tử là một nhân vật hóa thân qua nhiều kiếp. Thuở sơ khai có ba khí khởi đầu của thái cực là huyền, nguyên, thủy. Trong đó thủy khí biến đổi sinh ra Tiên Thiên Lão Quân. Tiên Thiên Lão Quân dựa vào huyền khí liên tục biến hóa mà sinh ra.

Thời Tam Đế - Vạn hóa Thiên Sư.
Trung Tam Đế - Bàn Thạch tiên sinh.
Hậu Tam Đế - Úc Hoa Tử
Thần Nông - Đại thành Tử
Hiên Viên - Quảng Thành Tử
Thiếu Cao - Tùy Ứng Tử
Chuyên Đế - Xích Tinh Tử
Đế Khốc - Lục Thành Tử
Đế Nghiêu - Vụ Thành Tử
Đế Thuấn - Duẫn Trù Tử
Đế Vũ - Chân Hành Tử
Thương Thang - Dương Tắc Tử
 
Vào thời Thương Vương Thái Giả, Lão Tử phân thân hóa khí ở Bạc Châu Phủ của nước Sở, huyện Khổ, tại ngôi làng Lại xa xôi, phố Lý, vườn Lưu Tinh, gửi hồn vào bào thai trong người một ngọc nữ xinh đẹp khác thường và ở đó 81 năm. Đến thời Vũ Đinh, vào năm thứ 17 trong chu kì 60 năm, tháng hai, ngày mười lăm, giờ Mão (5-7 giờ sáng), người mẹ trong khi leo lên một cây lý (mận), từ bên sườn trái đã sinh ra một đứa trẻ với tóc râu bạc trắng, mặt thì lại là mặt của một em bé, do vậy lấy họ là Lý, tên húy là Nhĩ, tên chữ là Bá Dương, hiệu là Đam, lại lấy thêm hiệu là Lão Tử (Lão Tử nghĩa là người thầy già cả, hoặc là đứa trẻ già).

Thời Chu Văn Vương - Tiếp Ấp Tử.
Thời Chu Vũ Vương - Dục Thành Tử.
Thời Khang Vương - Quách Thúc Tử.
 
Lão Tử làm chức Thủ Tàng Sử, có người cho rằng ông làm hơn 80 năm, trong Sử Ký thì nói ông làm hơn 200 năm, có thể thấy là Lão Tử sống rất lâu.
Khổng Tử (Trọng Ni) đến thành Chu gặp Lão Tử, cùng Lão Tử đàm đạo thì biết được rằng đây là Thánh nhân, do vậy đã bái Lão Tử làm thầy.
Sau khi Chu Đức suy vong, Lão Tử chỉ cưỡi trâu bỏ đi, đi vào Tây Sơn Hàm Cốc Quan ở nước Đại Tần đã thấy Quan Lệnh Duẫn Hỷ chờ để nghênh đón vì biết ông là chân nhân. Chính ở đây Lão Tử đã để lại "Đạo Đức Kinh" gồm năm nghìn từ, sau đó lại rời Hàm Cốc Quan mà đi.
 
Tôi đọc trong "Luận Ngữ" thấy: "Đạo bất hành, thừa phù phù ư hải." (Đạo không thi hành được thì đành cưỡi bè lênh đênh trên biển.)

Tôi đọc "Lão Tử truyền kí" thấy: 
"Sau khi Chu Đức suy vong, liền cưỡi trâu đi khỏi Hàm Cốc Quan."
Xin mọi người chú ý:
"Đạo bất hành."
"Chu Đức suy."
(Sáu chữ này.)

Nói cách khác, khi "chân đạo" không thể thực hiện được ở thế gian, chi bằng cưỡi bè lênh đênh trên biển. Còn khi "đạo đức" không thể thịnh hành trên thế gian, Lão Tử cưỡi trâu bỏ đi, không muốn nhìn thế giới Ta Bà này nữa.
 
Tôi xem xét phẩm hạnh của con người trên thế giới ngày nay:
Chính trị toàn là anh dối tôi trá, toàn là lừa bịp giả mạo.
Văn hóa toàn là thay đen đổi trắng, đổi trắng thay đen.
Xã hội thì sôi sục, giết người, dâm dục, trộm cắp, lừa đảo.
Đất nước này và đất nước kia không ngừng công kích nhau.
Người với người không chân thành, không tin tưởng.
Tôn giáo chỉ có biểu hiện bên ngoài, bề nổi mà không thật.
Truyền thông thì đưa tin tầm phào.
Chủ nghĩa khủng bố quỷ quyệt thì thịnh hành.
Cái gọi là "cái đẹp" chỉ là nói đến cái lớp vỏ bên ngoài.

Cái thế giới này đã biến thành vô cùng kì quái rồi. Những người tốt chân chính thì bị cho là kẻ vô lại, ngược lại, kẻ xấu xa thực sự thì được ca tụng. 
Đúng sai đảo lộn hết cả, đen trắng đảo lộn hết cả, thiện ác đảo lộn hết cả, đạo đức hoàn toàn biến mất không còn tăm tích trên trái đất.
Con người chỉ điên đảo vì tiền. (kiếm tiền)
Tranh giành danh lợi.
Nếu như tôi ra mặt thì sẽ chỉ nhận được: bêu riếu, phỉ báng, giễu cợt, mỉa mai, châm biếm, chê trách. Nếu tôi không ra mặt, xem xem người ta đợi đến khi nào?


### 49. Đột nhiên xuất hiện


"Hậu Hán Thư - Tỉnh Đan truyền kì" đã ghi chép lại:Tỉnh Đan từ lúc nhỏ đã học ở nhà Thái Học, tinh thông Ngũ Kinh, giỏi biện luận, trở thành một học giả có tiếng ở kinh thành. Nhưng vì ông là người thanh cao nên không thèm tiếp cận tầng lớp quý nhân quý tộc.

Vào những năm cuối thời Kiến Vũ, Phái Vương Lưu Phụ cùng với năm vị vua khác sống ở cung điện phía bắc tới làm khách, muốn mời Tỉnh Đan đến nhưng Tỉnh Đan không chịu.
 
Âm Tựu Tướng Quân ở thành Tín Dương là em trai của hoàng hậu Quang Liệt, dựa vào quyền lực bên ngoại, trước mặt Ngũ Vương đã khoa môi múa mép rằng có nghìn vạn kim tiền thì sẽ mời được Tỉnh Đan đến.

Tuy nhiên khi đem nghìn vạn quan tiền đi mời, Tỉnh Đan vẫn không đến. Rốt cuộc Âm Tựu Tướng Quân phải dùng đến vũ lực đi cưỡng ép Tỉnh Đan. Tỉnh Đan lúc này không còn lựa chọn nào khác đành phải chịu. (Tỉnh Đan chính là bởi vì bị cưỡng ép bằng vũ lực nên không còn lựa chọn nào khác là phải đến cuộc gặp.)
 
Tôi đọc đến đoạn ghi chép này thì có một vài suy nghĩ:
Chính tôi thực sự cũng từng trải qua một chuyện tương tự. Trước khi tôi ẩn cư, có một vị làm quan chức cao cũng muốn mời tôi đến gặp mặt. Vị quan chức này muốn kí với tôi một dạng hợp đồng "cố vấn" gì đó, muốn loan báo rộng ra trước công chúng, việc cố vấn này ở mức độ rất cao. Nhưng tôi không chịu.
 
Sau khi tôi ẩn cư, có một đệ tử giúp tôi nhận cúng dường, anh ta nhận đến cả vạn đồng, rất là nhiều. Anh ta muốn Sư Tôn phải ra mặt thì mới đưa tiền cúng dường, nếu Sư Tôn không ra mặt thì sẽ không đưa. Có người muốn anh ta giao lại cho Chân Phật Mật Uyển. Anh ta không đồng ý. Nhưng từ đầu tới cuối tôi vẫn không xuất hiện. Cho đến bây giờ, tiền cúng dường ở đâu tôi cũng chẳng biết. 
 
Còn một chuyện nữa. Sau khi Sư Tôn ẩn cư, có một phân đường ở nơi xa đã tạo lập một tài khoản ngân hàng nhận tiền cúng dường Sư Tôn để cho các đệ tử tùy ý gửi tiền cúng dường Sư Tôn, giúp Sư Tôn yên tâm ẩn cư. Tài khoản này cũng thu được không ít tiền.

Thế rồi người chủ của tài khoản này qua đời. Tài khoản này cũng chẳng tồn tại nữa, tiền cũng chẳng biết đi đâu mất, nói tóm lại là chẳng còn cái gì cả.
Còn tôi cũng chẳng thèm để  ý.
 
Lại nói một sự việc khác. Có một nhóm người muốn tôi ra mặt để hoằng dương Phật pháp, bọn họ sẽ ở phía sau ra sức hỗ trợ tất cả mọi thứ, nhưng với một điều kiện: những khoản kiếm được từ việc tôi ra mặt hoằng dương Phật pháp, bọn họ sẽ lấy một ít (giống như là khoản tiền "hoa hồng".)

Bọn họ nói: hợp tác đôi bên cùng có lợi, phân ra thì đôi bên đều thiệt. Tôi chỉ cười. Nhóm người này dùng khả năng ép buộc, làm rắn muốn khiến cho tôi phải nhượng bộ. Tôi bèn trốn vào trong núi sâu, một đi không trở lại.

Tôi nói, tôi không phải là Tỉnh Đan.
 
Tôi là một người ẩn cư chân chính, cho tôi "vạn tiền" tôi cũng không ra, dùng biện pháp cưỡng ép tôi càng không ra. Lúc thì tôi ở chân trời góc bể, lúc thì ở hải đảo xa xôi, lúc thì ở trong núi sâu, lúc thì lênh đênh trên biển, lúc thì ở trong hang đá, v.v.
 
Tôi liệu có xuất hiện lại nữa không?
Tôi nói cho mọi người biết, khi các đệ tử chuẩn bị xong, tôi sẽ thình lình xuất hiện trước mặt mọi người. Nhưng mà tôi sẽ không ra mặt mãi mãi, sẽ không giống như lúc trước, ngày ngày giảng pháp, ngày ngày lên pháp tọa. Mà là xuất hiện một lúc rồi sẽ lại đi ẩn cư, vừa nhìn thấy tôi đây, lại không thấy đâu nữa rồi, thấy đầu mà không thấy đuôi, thấy đuôi mà không thấy đầu.
 
Cứ thế đến cứ thế đi, không đến cũng không đi.
Chính là "Như Lai".


### Phụ lục 1. Làm sao tiêu trừ bệnh nghiệp


Bản văn này được trích từ khai thị của chính Lư Thắng Ngạn "Bài ca của Hoạt Phật (kì 3)". 
Chúng ta có bệnh, trước tiên nên đi khám bác sĩ. Thực sự khi bác sĩ khám mà không có cách nào chữa được thì sẽ dùng đến sức mạnh tâm linh, dùng sự gia trì của Phật Bồ Tát, dùng lực gia trì của chư Tôn để nghĩ cách, để hóa giải bệnh nghiệp.
 
Buổi chiều hôm nay chúng ta nghe pháp sư Liên Cần kể chuyện sự thật về cái tai của ông ấy, từ lúc không nghe thấy gì cho tới sau vài tuần lễ liền nghe thấy được. 

Lần đầu tiên nghe ông ấy nói có một bên tai hoàn toàn không nghe thấy gì, tôi đã bảo ông ấy đi khám bác sĩ. Không hề có lời nào khác, thực sự là tôi bảo ông đi gặp bác sĩ. Bất kì ai có bệnh, tôi đều nói như vậy, đi tìm bác sĩ đi. Bản thân tôi có bệnh, tôi cũng sẽ đi tìm bác sĩ giống như vậy. Ý của tôi là muốn nói như thế. 

Tôi nói: "Nếu ông thực sự tìm bác sĩ nhưng tìm không được, lúc đó hẵng tìm đến Sư Tôn gia trì." Tôi nhớ cũng đã giúp ông ta gia trì, hình như là lấy tay ấn vào tai của ông ta để gia trì. Tôi cũng vẽ một bức phù, chính là phù khiến cho tai nghe thông rõ. Tôi thực sự đã làm như vậy.
 
Ví dụ như hôm qua có một đứa trẻ chống nạng đến đây từ thành phố Los Angeles bang California. Cậu bé cũng gặp hoàn cảnh giống vậy. Tất cả mọi bác sĩ đều đã tìm gặp rồi, nhưng cứ ngủ dậy thì hai chân của cậu bé không có lực gì nữa, không thể đứng dậy được, lại còn bị đau, chỉ cần chạm vào chân là đau. Tôi đã giúp cậu ấy chữa khỏi một lần, lần này tái phát là lần thứ hai, cậu lại đến lần thứ hai. Chính là hôm qua tôi làm pháp Hộ Ma giúp cậu bé ấy, chính là tại Hộ Ma bảo điện tôi đã giúp cậu bé gia trì. Cậu bé không phải là chưa tìm bác sĩ, cậu đã tìm đến tất cả các bác sĩ, tất cả bác sĩ đều đã khám. Lần này đến tôi cũng hỏi cậu, bác sĩ bảo bị bệnh gì? Cậu nói: "Bác sĩ cũng không nói được, cứ thức dậy thì không có cách nào đi học được, chân không có lực mà vẫn đau."
 
Tuy nhiên con người tôi là như vậy, bất kể là bệnh gì, đầu tiên là bạn nhất định phải đi khám bác sĩ. Tôi không thể nói là: "Tốt! Các bạn hoàn toàn không cần đi khám bác sĩ, tất cả cứ đến tìm tôi gia trì là được rồi." Lời nói này không thể nói ra được, nếu như mà nói ra lời này thì nhất định sẽ bị người ta chửi cho chết, không thể nói. Nhất định trước tiên là đi khám bác sĩ. Bác sĩ thực sự không chữa được, chúng ta mới đến để xin gia trì, đến để nghĩ cách.
 
Như tôi đã nói lần trước, chính tôi trên người cũng từng "mọc ra" một cái thứ gì đó. Tôi sợ nhất là đi khám bác sĩ. Tôi kêu người ta đi khám bác sĩ nhưng bản thân lại sợ nhất là đi gặp bác sĩ. Tôi biết "cái thứ mọc ra" đó đương nhiên không phải là cái gì tốt lành, không là u thì là ung thư, nó rất cứng, đến cuối cùng thì nó to như quả bóng bàn. Cái tai của pháp sư Liên cần chỉ cần vài tuần là khỏi, còn cái quả bóng bàn này của tôi không phải là vài tuần đâu, cái quả bóng bàn này của tôi sẽ phải mất một năm là nhanh. Từ lúc tôi phát hiện có nó, sau đó nó càng ngày càng lớn, càng lớn càng to, giống như quả bóng bàn rồi, phải làm sao?
 
Tôi là Sư Tôn, lại không thể nói với mọi người là tôi bị "mọc" một quả bóng bàn, phải đi khám bác sĩ (Sư Tôn cười). Lúc đó Sư Mẫu nói: "Mổ đi! Ngài đi khám bác sĩ, sau đó cắt bỏ một phát là xong, nếu là u, cắt đi là khỏi." Trong lòng tôi cũng thấy dao động, nhưng tôi nghĩ: "Lẽ nào Phật pháp không đủ để chữa được nó hay sao? Tôi nhất định chữa cho nó khỏi."

Tôi không uống thuốc, thuốc gì cũng không uống, cũng không đi khám bác sĩ. Mỗi ngày tôi quán tưởng ba bổn tôn - Diêu Trì Kim Mẫu, A Di Đà Phật, Địa Tạng Vương Bồ Tát cùng Hộ pháp Đại Uy Đức Kim Cương Minh Vương, vừa nghĩ tay vừa sờ vào nó, sờ vào cái quả bóng bàn yêu cầu nó biến mất đi, sờ nó, sau đó quán tưởng ba bổn tôn cùng hộ pháp phóng quang vào nó. Tôi tự mình ở trong phòng lắc chuông, lắc trống, rồi liên tục niệm, niệm chú hộ pháp phát quang gia trì, cứ làm như vậy khoảng nửa năm, nó vẫn chưa biến mất. Tôi mất nửa năm sáu tháng mà nó vẫn không biến mất, nhưng bản thân cũng không  thất vọng, cũng không hề nản lòng. Tôi lại tiếp tục làm, tiếp tục niệm, tiếp tục làm.
 
Thế rồi gần một năm, tôi phát hiện ra nó từ từ trở nên mềm ra, từ từ biến thành nhỏ dần, càng ngày càng nhỏ, cứ như vậy từ từ nhỏ lại, đến cuối cùng thì biến mất luôn. Cái quả bóng bàn đó đã không còn nữa rồi. Đợi đến khi nó không còn nữa, tôi mới cho Sư Mẫu xem, tôi nói: "Bà xem này, cái quả bóng bàn đó không còn nữa rồi." Bà ấy xem, rồi sờ, "A, thực sự là không có, thật là kì lạ!" Phật pháp chính là như vậy đó, thực sự là nó không còn nữa rồi.
 
Nhưng bác sĩ Tiêu và bác sĩ Tôn sau khi nghe xong việc này, họ nói chuyện với Sư Mẫu, họ nói có cái u sẽ biến mất, có cái sẽ không biến mất. Cái u của Sư Tôn rốt cuộc là phát triển ở chỗ nào khác chăng? Bởi vì bọn họ không nhìn thấy do vậy không biết, không dám khẳng định.
 
Cá nhân tôi nhận thấy thế này. Chúng ta có bệnh thì vẫn nên đi khám bác sĩ, thực sự bác sĩ khám bệnh rồi mà không có cách nào thì mới dùng đến lực lượng tâm linh của chúng ta, dùng sự gia trì của Phật Bồ Tát, dùng lực gia trì của chư Tôn để nghĩ cách, để hóa giải bệnh của chúng ta. Bản thân tôi cũng đã làm như vậy. 

Giống như lần ở Malaysia tay của tôi bị thương, mọi người đều nói: "Đây là vết thương nhỏ thôi! Chỉ là bị thương da thịt, chỉ một tuần hoặc hai tuần là khỏi." Ớ? Nó không khỏi, cái vết cắt ở Malaysia đó, từ ngày 15 tháng 8 đến bây giờ là bao lâu rồi? Nó vẫn không khỏi, tôi cũng cảm thấy thật kì lạ. Sau đó tôi cũng lắc chuông, lắc trống như vậy, cũng cầu thỉnh như vậy, cầu hộ pháp gia trì cái vết thương này mau lành. Tôi cho bác sĩ Tôn xem, bác sĩ Tôn nhìn một cái thì bảo: "Cái vết thương này cần một năm."
 
Cái gì mà cần tới một năm! Mọi người xem ở trên phim người ta diễn đó, mấy người đó giết tới giết lui, chặt tay, chỉ vài ngày sau lại thấy xuất hiện đánh nhau tiếp rồi (Sư Tôn cười, mọi người cười), làm gì mà cần đến một năm? 

Bác sĩ Tôn nói với tôi: "Đó chỉ là trên phim thôi." (Sư Tôn cười, mọi người cười) Thực tế ngài cắt mà xem, cái tay này bị dao cắt bị thương, vết thương do dao cắt vào, chỉ cần vết cắt sâu đều cần một năm trở lên mới khỏi được.
 
Bác sĩ Tôn nói dựa trên kinh nghiệm của ông ấy. Ông ấy nói với tôi: "Vết thương của ngài do bị cắt quá sâu, cần hơn một năm." Ông ấy nói: "Ngài mà bị cắt vào đến dây thần kinh là thảm rồi đó!" Ông ấy nói có một sợi dây thần kinh chạy qua như thế này, nếu cắt đến dây thần kinh thì nhất định phải làm phẫu thuật khâu lại, cái tay này mới có thể gập lại được, nếu không thì ngài chỉ có ba ngón này mới có thể gập lại, cái ngón này không thể gập lại. Ông ấy nói với tôi như vậy, hơn nữa còn nói vết cắt sâu như vậy nhất định phải một năm. Tôi nghe xong, oa! Tiêu rồi, làm sao mà lại mất tới một năm thế này? Tôi nói chúng ta bình thường bị cắt vào tay thì một tuần là khỏi rồi, ông lại nói lâu như vậy, một tháng vẫn chưa khỏi.
 
Bác sĩ Tôn có kiến thức chung về y học. Tuy rằng ông ấy là bác sĩ ngoại khoa, nhưng có kiến thức chung về y học thì vừa nhìn là thấy vết cắt sâu thế nào và cần bao lâu mới khỏi được, ông ấy hiểu, do vậy ông ấy nói thì tôi tin. Cái vết thương này có cần bôi thuốc không? Ông ấy nói không cần, tự nó từ từ sẽ hết, chỉ cần giữ cho nó ẩm một chút là được rồi. 

Tôi cũng cầu nguyện Hộ pháp Đại Uy Đức Kim Cang lập tức gia trì cho nó khỏi, nếu không mỗi lần tôi kết thủ ấn thì cũng không thể kết thủ ấn được nữa (Sư Tôn cười), bởi vì rất khó khăn. Tôi cảm thấy tay của tôi cũng khỏi rất nhanh, ngày 15 tháng 8 đến giữa tháng 10, gần hai tháng nó đã khỏi rồi.
 
Cái gọi là Phật Bồ Tát gia trì là như vậy, giống như đánh bóng chày vậy, quả bóng này bay tới, người này vung gậy. Đánh "póc" một cái đi, quả bóng bay đi, một cơn gió thổi đến, thổi quả bóng này đến một điểm xa hơn, cơn gió này chính là sự gia trì. Còn người đánh bóng là ai? Là chính ta. Chẳng phải là tôi nói cầu Phật Bồ Tát gia trì hay sao, một khi đã cầu rồi thì nhất định sẽ khỏi, không phải à? Chính bạn cũng cần phải trì chú mà! Chúng ta cũng phải đọc Cao Vương Kinh, Cao Vương Kinh rất có hiệu quả. Bất kì câu chú nào cũng đều rất có hiệu quả. 

Giống như chú vãng sinh mà vừa nãy pháp sư Liên Cần nói, rất có hiệu nghiệm. Chú âm đó là khi tôi xuất gia, bác gái của tôi đã dạy tôi. Tôi đọc rồi, mọi người cũng đọc theo đi, đọc câu chú này đi, nó rất có lực, chú vãng sinh rất có sức mạnh. 

Ngay cả đến chú an thổ địa cũng rất có sức mạnh, rất nhiều câu chú có sức mạnh, chỉ cần bạn chuyên tâm trì tụng thì đều có sức mạnh. 

Cao Vương Kinh cũng rất có sức mạnh, vào mỗi lần tu đàn pháp, bạn sẽ cảm thấy được lực này vô cùng nhiều. 
Giống như tôi tu Hộ Ma, mỗi một đàn Hộ Ma làm xong, tôi đều cảm nhận thấy Phật quang liên tục chiếu phủ xuống tôi, toàn thân đều có ánh sáng, Phật và tôi hợp lại làm một. Lúc đó bạn sẽ cảm thấy mọi bệnh tật đều sẽ tiêu trừ, vì sao như vậy? Vì Phật và Hộ pháp đều giáng xuống và ở trên người tôi, những bệnh tật đó, mặc dù có tồn tại, (đương nhiên bệnh nghiệp này rồi từ từ cũng sẽ hết), nhưng sẽ khỏi nhanh hơn bình thường. Vì sao vậy? Bởi vì ánh sáng của Phật Bồ Tát chiếu vào bạn, gia trì cho bạn nên sẽ nhanh khỏi thôi.
 
Quả bóng này đánh đi cần dựa vào chính mình để đánh, khi bóng đã bay đi rồi, một cơn gió thổi đến, thổi nó đi càng xa, thì cơn gió đó chính là sự gia trì. Giống như hôm qua tôi giúp đỡ một cô bé cũng đã quán tưởng chính mình biến thành bổn tôn, sau đó dùng chữ Hum, quán tưởng chữ Hum phát quang đi vào trong cơ thể cô bé, nhưng tôi cũng dạy cô bé: "Sau khi về nhà con cần niệm Cao Vương Kinh, sau khi về nhà phải đọc Cao Vương Kinh cho tốt, thỉnh cầu Phật Bồ Tát quang minh chiếu sáng lên con."
 
Nếu bạn cũng muốn chính mình có được sức mạnh này thì đi làm những việc tiêu trừ bệnh nghiệp đi, để gia tăng thêm sự gia trì của Phật Bồ Tát, gia trì của Căn Bản Thượng Sư, đủ mọi sức mạnh. 

Bản thân tôi cũng như vậy chứ tôi hoàn toàn không phải là ngoại lệ, chính tôi cũng làm như vậy, hy vọng mọi người có thể thể hội được bệnh nghiệp này và cách thức làm sao để tiêu trừ bệnh nghiệp. Chúng ta phải rất chuyên tâm trì chú, tụng kinh, làm Hộ Ma. Tôi tin rằng Phật Bồ Tát và Hộ pháp đều luôn luôn bảo vệ chúng ta. Ánh sáng của các ngài chiếu đến chúng ta, có tai nạn gì lớn đến đều được giảm nhẹ, tai nạn nhỏ đến thì sẽ biến thành không có gì.
 
Om Mani Padme Hum.


### Phụ lục 2. Nhân bài "Mộng thơ" nói bốn việc của pháp


Bản văn này được trích từ khai thị của chính Lư Thắng Ngạn "Bài ca của Hoạt Phật (kì 4)". 
Bài "Mộng thơ" này rất hay, tôi rất thích bài thơ này. Nó khiến cho tất cả những cái "nóng" bên trong tâm tôi biến thành nước mát, có thể thực sự ngộ ra cái bên trong của tính Không, mặc dù là mơ nhưng cũng phát quang.
 
Buổi tối hôm nay Thượng Sư Liên Diệu nói chuyện "Mộng thơ", pháp sư Liên Trạm nói chuyện "Con người là tác phẩm nghệ thuật và xem xét cùng với phê phán". 
Bài "Mộng thơ" này như sau: 
Biết đời như mộng vô sở cầu,
Vô sở cầu lòng tĩnh lặng không.
Vẫn tưởng trong mơ tùy mộng cảnh,
Thành tựu công đức tựa hà sa (cát sông).
 
Trước đây tôi nghĩ đây là bài thơ của Vương Dương Minh, kì thực không phải, mà là thơ của Vương An Thạch. Thượng Sư Liên Diệu nhắc đến "tứ hành" của Đạt Ma Sư tổ.
Vô sở cầu hành (làm mà không mong cầu)
Tùy duyên hành (tùy duyên mà làm, không gượng ép)
Báo oan hành (làm mà không dối lừa, gây thù hận)
Tịnh pháp hành (làm các pháp thanh tịnh tốt lành)
 
Bốn cái "hành" này vô cùng nổi tiếng trong Thiền tông. Tôi cũng tương đối tán đồng với bài thơ, nó có cách nghĩ rất hay. Có thể từ trong nội dung bài thơ thấy được sự tương ứng với bốn việc làm của Đạt Ma Sư tổ, vì vậy cái nhìn của nó rất sâu sắc.
 
Thượng sư Liên Diệu lại nói chuyện tranh vẽ và chữ của mình.Tôi đã xem nhiều chữ (thư pháp) và tranh vẽ của bà ấy rồi, cũng không biết là bà ấy học ra sao. Có vẻ như vốn dĩ đã có một chút nền tảng rồi đi học thêm về viết chữ nên bà ấy viết rất đẹp, cũng thường xuyên đưa cho chúng tôi xem. Lần nào mọi người cũng đều ngưỡng mộ chữ viết rất đẹp của bà ấy, bởi không thể nói là "viết không đẹp" mà (mọi người cười). 

Nhưng thực sự là rất đẹp đó! Rất hiếm khi có khuyết điểm. Đối với chữ thì tôi không hiểu lắm, chỉ có thể nói là đẹp.
 
Nói thật lòng, tranh của bà ấy cũng không tồi. Mỗi lần bà ấy đem tranh đến Mật Uyển cho tôi xem, bà cũng đem cả văn chương cho tôi đọc. Xem một, xem hai, xem ba, lại xem nữa, nói tóm lại, có cái gì hay là bà ấy sẽ đem đến hết. Hơn nữa tôi chỉ có thể nói là "rất tốt", nếu như nói "không tốt", sắc mặt bà ấy liền không được ổn lắm (mọi người cười). Trên thực tế, cần học một cách "tùy duyên", đừng để ý tốt hay xấu.

Nói "thơ hay", tâm không nên vui thích, nó cũng như một giấc mộng mà thôi. Nói "thơ dở" thì đó cũng chỉ là một giấc mộng thôi, hỏng rồi thì chúng ta lại cố gắng hơn, lại xem xét lại, lại sửa, sẽ càng hay hơn.

Tôi không dám nói về chữ của tôi, chữ của tôi thực sự rất xấu, nhưng tôi rất thích chữ của mình (mọi người cười). Dù có xấu thì cũng là chữ của mình. Bất kể người ta nói gì về chữ của tôi, chữ của tôi chỉ có mình tôi có thể viết được, người khác cũng chẳng viết được như thế, chỉ riêng điểm này tôi cũng rất mãn nguyện rồi.
 
Tôi thường hay kể, lúc còn nhỏ thầy giáo xem chữ thư pháp của tôi chắc chắn sẽ ngã lăn từ trên bàn xuống đất. Thầy hầu như luôn gõ vào đầu tôi, lần nào cũng cho tôi điểm C-, là điểm C- trong thang điểm ABC, đã C rồi lại còn "trừ" nữa! (mọi người cười). Chữ của tôi tệ như vậy đó.

Gần đây tôi rất thích thú với chữ của tôi bởi vì chúng vẫn có thể bán lấy tiền. (Đùa). Chữ bị điểm C- mà mọi người đều muốn có, còn chữ được A+ mọi người chưa chắc đã muốn có.
Do vậy mọi thứ đều có nhân duyên, vậy nên cứ tùy duyên đi. Tôi thừa nhận là tranh của Thượng sư Liên Diệu vẽ rất đẹp, hoa sen, lá sen, cá, chuồn chuồn, ếch, vẽ rất sống động. Bà ấy chỉ học vẽ một thời gian rất ngắn, có lẽ là bà ấy có tài năng trời phú. Nhưng tranh vẽ đẹp quá, được ca ngợi nhiều quá, ngược lại lại không tốt cho bà ấy, bởi vì có thể bà đã thỏa mãn rồi, mọi người đều khen là đẹp rồi mà! Thực sự đôi khi cần phải tìm ra chỗ để cải thiện! Đối với bà ấy như vậy là giúp đỡ đó. Chữ của bà ấy, tranh của bà ấy, thực sự có tài năng thiên bẩm. Tương lai biết đâu chừng bà ấy sẽ trở thành nhà thư pháp, họa sĩ lớn.
 
Vừa nãy cũng có ai đó nhắc đến Tokugawa Ieyasu (Đức Xuyên Gia Khang). Đây là một người rất lợi hại, vào thời đại Mạc Phủ ở Nhật Bản là một vị tướng quân xuất chúng. Tôi ở Thiên Thú Các ở Nhật Bản đã đọc được những lời trích dẫn từ sách của ông viết, ấn tượng vô cùng sâu đậm, trong đó có một câu nói như thế này: "Đừng nghe lời phụ nữ". Nhưng nghe lời nữ sinh nói thì được nhé. (Đùa) 

Tokugawa Ieyasu là một tướng quân tài ba. Mặc dù cuộc đời là một giấc mộng, nhưng tôi vẫn cảm thấy rằng con người ta cần tự chủ độc lập, làm chủ chính mình. Một điểm rất quan trọng là, có đôi khi cần có cả sự tự tin và tự chủ, không thể hoàn toàn nghe theo người khác được. Đây cũng là câu nói nổi tiếng của Tokugawa Ieyasu, ông là một người tự chủ. Sự tự tin thể hiện rõ trong cách nói của ông ta, vì vậy mà ông trở thành nhất đại danh tướng.
 
Bốn câu chữ của Đạt Ma Sư tổ, "vô sở cầu hành", đã được nói ra trong câu đầu tiên của bài "Mộng thơ" làm tôi ấn tượng rất sâu sắc. Sau khi mẹ qua đời tôi cũng cảm nhận thấy như thế. Vô sở cầu (không mong cầu gì cả). 

Sư Tôn rất thích cuộc sống lui về ẩn cư, không mong cầu chức danh ghi trên tấm danh thiếp. Lúc trước tôi in danh thiếp chỉ có mỗi ba chữ, chính là Lư Thắng Ngạn, ngay cả địa chỉ, điện thoại cũng không có. chỉ có ba chữ này thôi, cũng chỉ là một mã hiệu. Tôi không cần gì, thậm chí chức danh người sáng lập Chân Phật Tông cũng không cần. Danh à, không cần! Không muốn đi tranh giành chút tài lộc nào.
 
Tôi thường nghĩ như thế. 
Vậy thì cuộc đời có gì đáng để phàn nàn đây? Oán trách cũng đã qua rồi, hiện tại cũng sẽ qua đi, tương lai thì chưa biết ra sao? Con người là thù hay là bạn vẫn còn rất khó nói. 
Lúc này anh ta như là người bạn tốt nhất, tốt vô cùng, thân thiết biết rõ lòng nhau, nhưng tương lai còn chưa biết ra sao cơ mà? 
Còn giả sử bây giờ nếu bạn thấy anh ta là kẻ thù, thì sau này cũng có thể sẽ thay đổi, tương lai còn chưa biết ra sao. Mọi việc trong thiên hạ thật sự là mộng huyễn.
 
Bởi vì là không mong cầu, vì sao lại vẫn còn oán trách? Lý do rất đơn giản, chỉ cần đạt đến được trạng thái tâm vô sở cầu thì sẽ không còn oán trách nữa. Oán trách bắt nguồn từ việc được hay mất mà có. Nếu bạn "không được, không mất" thì sẽ không thể nào có oán trách. Do vậy, đây gọi là "báo oan hành". Vô sở cầu, tùy duyên, báo oan chính là thanh tịnh, cần thành tựu, mấy câu nói của Đạt Ma Sư tổ thật là có sức mạnh.

Trong Mật giáo nói, tu thân chính là tu tâm. Tu đến khi thân tâm hợp nhất, thanh tịnh quang minh, người khác đối với ta tốt hay không tốt, oán hay hận, thì tất cả cứ để cho chúng tự tan đi. 
Có kẻ nói, phải nghĩ cách gì khiến cho Lư Sư Tôn danh dự cạp đất. Tôi ngẫm nghĩ, mặc kệ nó đi, chẳng có gì, chẳng có quan hệ gì cả, rồi sẽ qua hết thôi. Con người sẽ già, sẽ chết, tất cả sẽ biến thành hư vô, danh cũng chẳng quan trọng nữa, kệ nó đi.
 
Bài "Mộng thơ" rất hay. Tôi rất thích bài thơ này. Nó khiến cho mọi cái "nóng" bên trong lòng tôi đều biến thành nước mát, có thể thực sự ngộ ra cái bên trong của tính Không. Mặc dù đời chỉ là mộng, nhưng cũng cần tỏa sáng, cần có một thái độ chân chính, cần cư xử có đạo đức. Không cần quan tâm vì sao, hãy cứ cư xử có đạo đức. Chỉ có như vậy mới có thể sinh ra ánh sáng quang minh thanh tịnh, không phải như cây khô tro tàn, có thế cuộc sống này mới có giá trị. Mặc dù đây chỉ là giấc mộng thì cũng có giá trị của giấc mộng. 

Pháp sư Liên Trạm nói "tu sửa" chính là tu hành, trên thực tế, tôi thường tu sửa chính mình, tu sửa đến khi không còn nữa thì chính là tu hành chân chính. Còn có một điểm nữa, đó là phải cần có người khác phê phán. Bởi vì những lời phê phán chính là một kiểu "thầy giáo" có thể dạy dỗ bạn. Như các vị tiền bối, người đi trước, cổ nhân, những lời mà họ nói, chúng ta đọc được và từ đó lĩnh ngộ, như vậy chính là đang tu sửa chính mình.
 
Người giỏi hơn bạn chính là sư phụ của bạn. Người đó nói bạn, đó chính là đang dạy bạn, hướng dẫn bạn. Chúng ta cần phải làm tới khi lời nói hành động là một, lời nói và hành vi cần thống nhất, phải làm được như vậy. Đó chính là lý thuyết và thực tu phải tương hợp với nhau, "Lý - Sự viên dung". Sau khi đã hiểu được đạo lý này thì phải thực hành. Cũng như sau khi Ngũ Tổ truyền pháp cho Lục Tổ Huệ Năng vậy. Ngũ Tổ nói: "Con đã hiểu rõ đạo lý rồi, con cần phải thực hành, hãy đi thực hành đi."
 
Bốn cái hành của Đạt Ma Sư tổ, đạo lý này mọi người đều đã hiểu, nhưng cần phải đi thực hiện chúng thì lúc này mới là "Lý  - Sự viên dung". 
Pháp sư Liên Trạm nói, bản thân ta là một tác phẩm nghệ thuật, cho dù có thô xấu thì vẫn là một tác phẩm nghệ thuật, cho dù có đơn điệu thì vẫn là một tác phẩm nghệ thuật, cho dù vụng về thì vẫn là một tác phẩm nghệ thuật. Nhưng nó có thể tu sửa, cũng như tiếp nhận sự phê phán của người khác, từ đó mà có thể tỏa ra ánh sáng của chính bản thân mình.
 
Do vậy, tôi cho rằng tác phẩm nghệ thuật cũng cần có sự tự tin, tự chủ. Có thể tự chủ, tự tin thì mới có thể tỏa ra ánh sáng của bản thân, tỏa ra hào quang, cũng giống như thành tựu giấc mộng công đức nhiều như cát trên sông. 

Bài thơ này mọi người có thể hiểu rõ được rồi. 
Biết đời như mộng vô sở cầu,
Vô sở cầu lòng tĩnh lặng không.
Vẫn tưởng trong mơ tùy mộng cảnh,
Thành tựu công đức tựa hà sa.

 Om Mani Padme Hum!
**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/187-dia-nguc-bien-hien-ky.md
# Title: 187. Địa ngục biến hiện ký
---

![image](/img/img_0b2e9b9a49afae7574c8a4f6695db81f.jpg)



## Địa ngục biến hiện ký


🪷 Câu chuyện về âm gian

Văn tập số: 187
Xuất bản năm: 01/07/2006
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


Từ rất nhiều năm trước, tôi đã đi đi về về trong pháp giới. Đương nhiên, ở đây bao gồm âm gian, tôi đã tự mình nhìn thấy địa ngục biến hiện. Nội dung của cuốn sách này chính là ghi chép về sự biến hiện của địa ngục, cũng tức là những câu chuyện ở cõi âm. 

Có lẽ có người sẽ nói:
”Lư Thắng Ngạn, ông nhìn thấy địa ngục biến hiện, nhưng chúng tôi vì sao không nhìn thấy?”

Tôi trả lời như sau:
”Muốn nhìn thấy địa ngục biến hiện thật ra không khó. Nếu một người nghiệp lực nặng, vào lúc lâm chung, chắc chắn sẽ nhìn thấy địa ngục biến hiện ra. Còn nếu một người tinh tấn tu hành Phật đạo, có đầy đủ định lực, huệ lực, công đức lực, ba lực này kết hợp lại, nếu muốn nhìn thấy địa ngục biến hiện thì cũng có thể nhìn thấy địa ngục biến hiện.”

Nhân gian ngày nay chính là thời mạt pháp, người có thể hiểu rõ chính pháp rất ít, người tự nhiên muốn tu được định lực, huệ lực, công đức lực cũng không thấy nhiều, vì thế, người nhìn thấy địa ngục biến hiện thật sự không nhiều. Tôi vì hoằng pháp lợi chúng sinh, vì cứu khổ cứu nạn, vì loại trừ bệnh tật kéo dài tuổi thọ, vì ngăn ác khuyến thiện, vì chuyển nguy thành an, vì chuyển họa thành phúc, cho nên trong cuốn văn tập số 187 này, tôi đã viết “Địa ngục biến hiện ký”, mục đích chủ yếu không gì khác ngoài ba chữ “cứu nhân tâm”.

Trong cuốn sách này toàn là những sự tích linh cảm. Tôi dùng hình thái kể chuyện để viết ra, tuy nhiên, vì việc riêng tư cá nhân, nên tuy là thời gian, địa điểm, con người, sự việc là chân thực, nhưng không thể không ẩn đi, hoặc dùng tên giả, dùng địa điểm giả. Vì thế tại đây tôi tuyên bố, nếu có sự giống nhau thì đó chỉ đơn giản là sự trùng hợp. 

Tôi chỉ mong:
Người đọc sách này đi vào chính tín.
Người đọc sách này đi vào chính tu.
Người đọc sách này thăng lên thiên giới.
Người đọc sách này kiến tính thành Phật.

(Tháng 7 năm 2006)

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**
17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Người bùn


Trong một lần thiền định, tôi rơi vào âm gian, đến một vùng đất hoang vu, cỏ cây đều không có, cảm giác tiêu điều hoang vắng rất đáng sợ. 

Mặc dù tôi đã rơi vào cõi âm, nhưng tâm vẫn an tịnh như thường, đó là nhờ vào định lực của chính mình.

Tâm tôi phóng quang, chiếu rọi khắp trời đất. Đột nhiên, tôi nhìn thấy một đám người bùn lảo đảo loạng choạng đi tới. Tôi nói là người bùn thực ra là bùn nhão bám đầy khắp người họ, ngay cả mắt, tai, mũi, miệng đều bị bùn phủ kín. 

Tôi rất kinh ngạc. Trong lòng nghĩ: “Sao lại có nhiều người như vậy bị bùn bọc lấy toàn thân?” Tôi thật sự không hiểu sao lại có những người bùn này. 

Bỗng tôi nghe thấy có một người bùn tụng trong miệng: “Om guru liansheng siddhi hum.”

Tôi đi nhanh về phía trước, hỏi:
”Là ai đang niệm “Om guru liansheng siddhi hum” đấy?”
”Là tôi.” - Một người trong số đó trả lời.
”Anh là người quy y Lư Sư Tôn à?”
”Vâng.”
”Có mấy người?”
”Cả nhà chúng tôi, tổng cộng sáu người.”

🌟

Sau khi xuất định, tôi bấm ngón tay thần toán thì trong lòng tôi lại càng sáng tỏ.

Tôi bình thản gấp thuyền giấy, đó là nghệ thuật gấp giấy mà thầy giáo đã dạy chúng tôi thời tiểu học. Tổng cộng tôi gấp sáu chiếc thuyền. Trên sáu chiếc thuyền giấy này, tôi hà vào sáu hơi chân khí, tay trái kết Đẩu ấn, tay phải kết Kiếm chỉ, kiếm chỉ của tôi phóng quang, và sáu chiếc thuyền giấy nhỏ này cũng tỏa sáng.

Có người nhìn thấy mấy chiếc thuyền giấy của tôi, hỏi:
”Tâm trạng Sư Tôn vui nên gấp thuyền giấy chơi à?”
Tôi quay đầu lại nói:
”Thuyền có thể chở người.”
”Giấy nhẹ như vậy, làm sao mà chở người?”
”Vì nhẹ nên mới có thể nổi được.”
Tôi không nói gì nhiều, chỉ đem sáu chiếc thuyền giấy ra sân sau đốt hóa chúng.

🌟

Thế rồi đã xảy ra một sự việc:
Ở địa phương nọ, mưa dầm dề nhiều ngày không dứt, trời liên tục mưa suốt 18 ngày, bên rìa núi đó là một xã giàu có. 

Một đêm nọ, bức tường chắn đất sụp xuống, đất đá đều chảy ào xuống, đất bùn giống như sóng lớn cuồn cuồn đổ xuống, cuộn trào mãnh liệt như trời long đất lở, một tiếng gầm khủng khiếp, một tai họa tày trời đã xảy ra. Bùn đất che lấp tất cả, chôn vùi nhà cửa và con người, con người đều trở thành người bùn, nhà cửa của toàn xã đều nằm dưới bùn lầy. 

Điều kỳ lạ nhất là, chỉ có một gia đình sáu người tránh được nạn lở đất kinh khủng khiếp này. Họ kể:
Đêm đó khi đất bùn sụp xuống, tự biết rằng mình đã đặt chân vào cửa tử rồi, liền niệm một câu “Om guru liansheng siddhi hum”. 

Không ngờ, cả nhà sáu người dường như là nhẹ nhàng bay lên, đất lở chảy ở phía dưới, còn người thì ở trên, nổi lên trên đám đất lở, giống như con thuyền đi trong nước lũ vậy, sáu người đều được đẩy đi đến một bãi cỏ ở bên ngoài xa mười mấy dặm. Vì thế mà đã may mắn thoát khỏi cái chết.

Người trong cả xã đều chết.
Chỉ có người nhà này là không chết.
Được cứu sống một cách đầy kỳ tích.

🌟

Bây giờ tôi có một vấn đề, hỏi mọi người:
”Tại âm gian, tôi nhìn thấy một đám người bùn, bao gồm cả nhà sáu đệ tử. Trong sự biến hiện ở địa ngục, sáu đệ tử này hiển nhiên sinh mạng đã khó bảo toàn rồi. Tuy nhiên, sau khi tôi làm sáu chiếc thuyền, sáu đệ tử này đều được cứu sống. Thử hỏi, đã là người bùn, cái chết đã định, về mặt thời gian có mâu thuẫn, điều này giải thích thế nào đây? Bây giờ tôi không trả lời, tôi đợi mọi người trả lời.”

Câu hỏi này, thánh đệ tử nhất định có thể trả lời tôi, cái bí ẩn trong đó chính là nằm ở trong điều không nói.


### 02. Sự biến hiện của con rắn vàng


Có một lần, tại điện Minh Vương ở âm gian, tôi đã thấy một tiền lệ:
Một người đàn ông đang quỳ, còn quan âm phủ lấy ra một sợi vàng dài, mảnh vàng hiện lên những miếng vảy, tỏa ánh sáng lấp lánh cả một vùng. Quan âm phủ khoác mảnh vàng lên người đàn ông, người đàn ông hét lên một tiếng thảm thiết, da thịt và những vảy vàng dính lại với nhau.

Lúc này, thân thể người đàn ông dần dần thu nhỏ lại, thế rồi biến thành một sợi dài, cuối cùng người đàn ông biến mất, trên mặt đất xuất hiện một con rắn màu vàng kim.

Quan âm phủ hét lớn:
”Chuyển thế đi!”
Con rắn vàng kia uốn éo, cuối cùng biến mất. Minh Vương ngoảnh đầu lại, trông thấy tôi, nói:
”Viết ra đi!”
Tôi đáp:
”Viết thế nào?”
Minh Vương nói:
”Tự biết.”

🌟

Tôi đang kinh hành trên con đường nhỏ giữa núi, niệm Phật trì chú, niệm Nam Mô A Di Đà Phật, trì “Om amidewa seh.”

Đi qua một bụi cỏ, không ngờ bên trong bụi cỏ phát ra tiếng sột soạt, một con rắn dài bò ra. Tôi nhảy dựng lên, lập tức dừng lại không tiến lên phía trước nữa. Mọi người đều biết, tôi rất sợ những thứ uốn éo ngọ nguậy, đặc biệt là rắn.

Tôi nhìn chăm chú vào nó, nó nhìn chăm chú vào tôi. 
Con rắn này không giống với những con rắn khác, tôi đã từng nhìn thấy rất nhiều rắn:
Khưu xác hoa.
Bách bộ xà.
Thanh trúc ty.
Đại mãng xà.
Lại thêm ở trong rạp xiếc, tôi đã từng nhìn thấy con đại bạch xà toàn thân trắng như tuyết, đại hồng xà toàn thân đỏ như máu.

Nhưng con rắn này thì khác, nó chính là con rắn vàng, ánh vàng kim tỏa sáng lấp lánh, nhìn từ xa giống như sợi thừng cỏ màu vàng kim nằm vắt ngang giữa đường núi.
Nó, con rắn thè ra cái lưỡi đỏ.
Tôi chắp tay lại niệm:
*Sắc đẹp hoàng kim
Không nên tham chấp
Thoát xác vàng này
Mau niệm Di Đà.*
Con rắn vàng nghe bài kệ của tôi, dường như cũng hiểu, nhúc nhích vảy vàng rồi uốn éo bò đi.

🌟

Có một lần tĩnh tọa.
Tôi nhìn thấy một đứa bé trai làm thuê cho một cửa hàng vàng bạc, nó lén la lén lút, thậm thà thậm thụt ăn trộm bột vàng, chính là bột vàng dùng để chế tác trang sức bằng vàng. Mỗi lần nó ăn trộm một ít, trộm được một gói nhỏ, giấu ở trong khe tường. 

Đứa bé trai này mỗi lần ăn trộm một ít nên không bị chủ cửa hàng vàng bạc phát hiện. Sau khi nó ăn trộm nhiều năm, không ngờ thu được cả một vali to. 

Sau này, đứa bé trai lớn lên, nó cũng mở một cửa hàng vàng bạc. Đối với những người khách đặt trước hàng trang sức, trên phân lượng nó ăn trộm không nhiều, cũng chỉ một chút chút.
Cứ như thế một chút chút, một chút chút, một chút chút…
Thế là: “Việc này đã trở thành nhân quả của sự biến hiện thành con rắn vàng!”

Bây giờ, tôi có một câu hỏi hỏi mọi người:
”Tôi có một đệ tử tuyên bố với người ta rằng, Lư Sư Tôn yêu cầu cái này, Lư Sư Tôn yêu cầu cái kia, bèn thay tôi thu tiền, nhưng tiền thì lại nạp hết vào túi riêng của mình. Trên thực tế, cả đời tôi chưa bao giờ đòi hỏi người ta cái này cái kia.”
Thử hỏi:
”Đệ tử này tương lai sẽ biến hiện cái gì? Xin mời trả lời.”


### 03. Người âm tố cáo chuyện âm


Tôi nhìn thấy có ba, bốn con quỷ ở âm gian tóc tai bù xù, mặc quần áo mục nát hôi hám, toàn thân tanh tưởi, tướng mạo thì mắt lồi răng sứt, đang nói liến thoắng với Minh Vương để tố cáo.

Minh Vương nói:
”Có việc này thật không?”
Đám quỷ nhao nhao gật đầu.
Minh Vương ra lệnh cho quan âm phủ mở băng thu hình. 

Băng thu hình là danh từ ở dương gian, âm gian thì đã có từ lâu rồi, âm gian gọi là “gương soi tội lỗi”.

Bây giờ thì tốt rồi, chiếc gương được đem ra thì không cần bàn cãi, cũng không cần đối chất, tất cả sẽ đều lần lượt hiện lên như bóng theo hình.

Minh Vương xem xong thì phẫn nộ, ngài hét lên:
”Hãy đem tên thầy địa lý vô học dốt nát này ra, lấy phân bôi lên mắt hắn!”

Tôi vừa nghe xong thì đầy kinh hãi! Bởi vì tôi cũng biết ông thầy địa lý phong thủy này, ông ấy là Chung XX. 

🌟

Sự tình là như thế này:
Ông thầy địa lý họ Chung đó đối với kiến thức phong thủy thì hiểu biết nửa vời, thế mà đã ra ngoài xem phong thủy cho người ta.

Ông thầy địa lý Chung khéo tuyên truyền, cho nên đã trở thành một danh sư (không phải là minh sư). Ông ta đi khắp nơi xem dương trạch, âm trạch, kiếm được rất nhiều tiền, thế nhưng số tiền này toàn là tiền nghiệp chướng.

Tôi nói, thầy địa lý kiểu này xem dương trạch, “chém gió” một chút thì cũng còn được. Nhưng xem âm trạch thì một chút xíu cũng không được qua loa đại khái, bởi vì chôn cất không tốt thì người âm không vui, họ sẽ kiện cáo.

Thầy địa lý Chung chọn chỗ chôn người chết ở:
Đất tan hoang.
Đất ẩm thấp.
Đất tàn khí.

Những người âm được chôn xuống đất này đương nhiên là không thoải mái, nhất định sẽ tìm đến thầy địa lý để gây phiền phức, nhất định sẽ tố cáo thầy địa lý này, khiến thầy địa lý ăn không hết còn phải gói đem về nữa, phiền toái to rồi.

Tôi từng nói, địa lý phong thủy có năm nhân tố lớn:
Long — địa khí.
Huyệt — nơi địa khí tụ tán.
Cát — hoàn cảnh xung quanh.
Thủy — lưu động cát hung.
Hướng — hướng hút sinh mệnh.

Thầy địa lý kiểu này, đối với địa khí hữu hình và vô hình còn chưa hiểu, thế mà lại to gan coi trời bằng vung giúp người ta chôn âm trạch, chôn ở nơi không có địa khí, chôn ở nơi cao và dốc, chôn ở nơi hố nứt, chôn ở nơi ẩm ướt nước đọng, chôn ở nơi có phù sa, chôn ở nơi hang hốc… Vì thế người âm gào thét, Minh Vương phẫn nộ.

🌟

Sau tiếng ra lệnh của Minh Vương, kể từ đó thầy địa lý Chung này đã bị mù mắt, bị bôi phân lên mắt, trở thành một ông thầy địa lý mù. 

Thầy địa lý mù vẫn còn sống, nhưng sự biến hiện ở âm gian địa ngục đã khiến ông trở thành người mù chính cống. Thầy địa lý đi khám nhưng không tìm ra nguyên nhân. Thầy địa lý đi kiểm tra ở chuyên khoa mắt, nhưng vẫn không tìm ra nguyên nhân.

Tuy vậy, từ đầu tới cuối, ông ta vẫn không biết mình bị mù thật ra chính là kết quả của việc mù quáng chôn âm trạch cho người ta.

Tôi biết chuyện này, muốn cứu ông ấy, nên tìm đến Minh Vương để nói lý. Minh Vương đáp:
”Lư Thắng Ngạn, ông cứu thầy địa lý Chung thì cũng được thôi, nhưng ai cứu những người âm đã bị ông ta hại đây?”
Tôi á khẩu.

Bây giờ tại đây, tôi chính thức khuyên những người mới chỉ đọc dăm ba cuốn sách phong thủy, chưa phải là người được minh sư chân chính chỉ điểm thì xin đừng xem phong thủy địa lý bừa, bằng không e rằng sẽ bị tai vạ. 

Tôi có một vấn đề hỏi mọi người, nếu dương trạch, âm trạch của nhà bạn đều không tốt, lại sợ mời phải thầy mù đến thay đổi phong thủy, bạn là người học Phật, làm thế nào tự mình thay đổi phong thủy? Vấn đề này xin mời trả lời.


### 04. Gà chạy bộ


Tôi biết một văn nhân “vô phẩm” [không có phẩm vị, phẩm đức], anh ta chính là Khiếu Địa tiên sinh.
Còn nhớ có một năm, tôi đến một quốc gia nọ đi hoằng pháp, vừa mới xuống máy bay, một gã đàn ông đi nhanh về phía tôi, trên tay ôm một đống giấy viết bản thảo. Tôi không nhận ra hắn, thế nên tôi hỏi:
”Anh đang làm gì đấy?”
Hắn đáp:
”Tôi viết tiểu thuyết, tôi tên là Khiếu Địa.”

Hắn đặt một đống bản thảo vào tay tôi, nói:
”Xin ông xem thử, tiểu thuyết này đáng giá bao nhiêu tiền?”
Trong lúc vội vàng, tôi đọc tiêu đề và một ít nội dung của trang đầu. Tôi giật thót mình. Thì ra nội dung bên trong là viết về tôi, những gì được viết ra thật sự là đọc không nổi, khiến mặt tôi cứ thế đỏ lên.

Hắn nói:
”Nếu ông không mua, tôi sẽ công bố.” - Vẻ mặt hắn ta rất đắc ý, lại còn nói thêm: “Có đại sư kia cũng mua tiểu thuyết của tôi, ha ha!”

Lúc này tôi mới cảnh giác rằng cái người xưng là Khiếu Địa tiên sinh này thì ra chính là một văn nhân vô phẩm, cũng tức là một tên lưu manh văn hóa. 
Đây chính là:
”Đe dọa đòi tiền.”

Tôi bình tĩnh suy nghĩ một chút, rồi tôi trả lại bản thảo cho hắn ta, nói với hắn rằng:
”Anh cứ công bố đi!”
Tôi còn nói:
”Tôi sẽ chẳng đưa cho anh một xu nào đâu!”

🌟

Cái gã Khiếu Địa tiên sinh này thường nhắm đến những danh nhân và đại sư, dùng thủ đoạn tương tự, để dọa dẫm tống tiền.

Dù sao thì nguồn tư liệu cũng không thiếu, danh nhân và đại sư đều sẽ có những bài báo tiêu cực, rồi thêm vào sự thổi phồng trắng trợn thì sẽ trở thành một tác phẩm tiểu thuyết sinh động dưới ngòi bút của hắn. 

Những gì hắn viết về tôi thật sự là đọc không nổi, thật sự là sỉ nhục người khác đến cực điểm. Nếu tôi là một người yêu thích danh dự, tôi nhất định sẽ mua bản thảo của hắn. Nhưng, tôi kiên quyết không!

Khiếu Địa tiên sinh nói:
”Tôi sẽ vĩnh viễn không ngừng quấy rầy ông!”
Còn nói:
”Tôi sẽ bổ sung tư liệu, ông hãy chờ mà xem!”
Tôi không thèm để ý.
Bởi vì hắn vĩnh viễn không biết rằng, Lư Thắng Ngạn từ lâu đã “vô ngã” rồi, vì đã “vô ngã” nên có gì mà phải để ý đến danh dự!

Tôi là Chân Phật chân chính.

🌟

Ở âm gian, tôi đã nhìn thấy Khiếu Địa tiên sinh. Tóc hắn bị nhuộm thành màu đỏ. Cái miệng thì nhọn nhọn vì mổ người ta quá nhiều. 
Toàn thân đầy lông, hại người quá nhiều, nên lông có rất nhiều màu sắc.
Hai chân đã biến thành móng vuốt, đang bới phân.
Khiếu Địa tiên sinh chết đi sẽ chuyển thế thành một con “gà chạy bộ”, cuối cùng sẽ trở thành món ngon trên bàn ăn.

Minh Vương nói:
”Tên Khiếu Địa này thích gáy, thế thì để cho hắn tiếp tục gáy đi!”
Còn nói:
”Chuyên mổ người, vậy thì để cho hắn tiếp tục mổ sâu đi!”
Còn nói:
”Hắn đã mổ bao nhiêu người thì để cho người ta ăn hắn bấy nhiêu lần!”
(Địa ngục biến hiện của Khiếu Địa tiên sinh chính là luân hồi chuyển thế thành “gà chạy bộ”, cứ liên tục chuyển thế như vậy.)

Tại đây tôi xin có lời khuyên thế nhân:
*Bài ác khuyến thiện
Đừng soi khiếm khuyết 
Học thầy sở trường
Tâm giữ thiện lương.*

Ở đây, tôi lại có một câu hỏi hỏi mọi người, nếu bạn là một vị Minh Vương ở âm gian, bạn dùng tâm công chính liêm minh để phán quyết Khiếu Địa tiên sinh, ngoài xử phạt hắn làm “gà chạy bộ” ra, bạn tự mình nghĩ xem, bạn sẽ xử hắn biến hiện cái gì? Tôi tin rằng mọi người có thể sẽ có cách nghĩ hay hơn, mọi người phải thông minh hơn Minh Vương mới phải. 


### 05. Trùng trùng trùng trùng trùng


Từng có một người đột ngột nảy sinh ý tưởng kỳ lạ, đó là với thức ăn thừa mà người ta đã ăn, tức là đồ ôi thiu thừa lại, chúng sẽ được đổ vào trong “thùng nước gạo”, thế là anh ta liền thu thập dầu nổi lên trên mặt của những thùng nước gạo ấy. 

Những dầu ôi trong thùng nước gạo của các nhà sau khi được chưng lên và lọc, anh ta lại xử lý mùi hôi của dầu ôi. Thế rồi anh ta bán với giá rẻ cho các nhà buôn dùng để chiên, rán, xào, nấu.

Rất nhiều người sau khi ăn phải dầu ôi ở trên mặt của những thùng nước gạo thì mắt bị mù, da dẻ lở loét, lục phủ ngũ tạng gặp vấn đề, thân thể đang khỏe mạnh thì gặp phải vấn đề lớn, truy tìm nguồn gốc thì mới biết đó là cái họa do dầu ôi gây ra. 

Cái người này đương nhiên là một kẻ ác tâm!

Chúng ta biết loại người ác tâm này rất nhiều:
Ác tâm làm dầu ăn.
Ác tâm làm chăn bông.
Ác tâm làm truyền hình.
Ác tâm làm vây cá.
Ác tâm làm nước mắm.
Ác tâm làm thuốc.
v.v…

Theo những gì tôi thấy, loại người này khi ở trong địa ngục biến hiện thì đều phải vào địa ngục moi tim, cũng tức là địa ngục mổ tim. Cái thảm trong địa ngục này là thê thảm không thể nhìn nổi, kêu cha gọi mẹ, mổ tim không có thuốc mê, khiến người ta nhìn thấy mà sởn tóc gáy.

🌟

Trong địa ngục mổ tim, tôi gặp một người, anh ta bị quan cai ngục mổ ngực, nguyên quả tim bị moi ra. Anh ta hét lớn một tiếng rồi chết. 

Sau khi chết, lại rất nhanh chóng sống lại, rồi lại bị mổ tim một lần nữa, tại dương gian, anh ta đã “xử” bao nhiêu người thì sẽ bị mổ tim bấy nhiêu lần.

Anh ta nhìn thấy tôi liền kêu lên:
”Sư Tôn cứu mạng!”
Tôi nghe thấy anh ta gọi tôi thì giật mình, không ngờ có đệ tử Chân Phật Tông lại đọa vào địa ngục mổ tim.

Tôi hỏi:
”Phạm tội gì?”
Ban đầu anh ta kiên quyết không nói sự thật. Cuối cùng tôi mới biết, anh ta chuyên bán đá Dzi Tây Tạng giả, chuỗi hạt thủy tinh giả, gỗ đàn hương giả,… 
Tôi muốn cứu anh ta. Bỗng nhiên anh ta bị quan cai ngục đẩy một cái, thân thể từ từ thu nhỏ, không ngờ co rút lại thành một con sâu đầy lông lá. 

Tôi phát hiện ra người phải vào địa ngục mổ tim, cuối cùng chuyển thế, đại bộ phận đều trở thành trùng, trùng, trùng, trùng, trùng. 
Sâu cải.
Sâu gạo.
Sâu quả.
Sâu rệp.
Dòi trong phân.

🌟

Tôi phát hiện ra, sau khi tôi tu tứ thiền bát định, đạt được tứ quả huệ nhãn thanh tịnh, thấy được địa ngục biến hiện mà không có trở ngại gì, thấy địa ngục chỉ nhỏ trong lòng bàn tay mình. Lúc này tôi mới hiểu, Bồ Tát có thể nhìn thấy trăm nghìn thế giới, Thập phương Như Lai, lại có thể nhìn thấy vô tận vi trần tất cả Phật thổ thanh tịnh, không có gì là không thấy được. 

Cho nên, tôi biết những gì mà chúng sinh nhìn thấy chẳng quá một tấc vuông mà thôi. Chính vì con mắt của chúng sinh chỉ nhìn thấy tiền, hoặc danh, hoặc lợi, hoặc sắc, cho nên mới bất chấp tất cả mà phạm vào ác nghiệp.

Tôi có một câu hỏi hỏi mọi người:
”Tôi muốn cứu đệ tử đó, xin hỏi thánh đệ tử, tôi làm thế nào mới cứu được đệ tử đó ra khỏi thế giới địa ngục? Làm thế nào để cứu đệ tử đó ra khỏi thế giới sâu bọ?”
”Đây là một vấn đề lớn, xin mọi người cùng tham gia thảo luận.”
Có lẽ vấn đề này mờ mịt quá không có đầu mối nào, các thánh đệ tử rất khó trả lời, tôi đặc biệt nói với mọi người:
”Vỗ một bàn tay thì sao?” [công án thiền “nghe tiếng vỗ của một bàn tay”]


### 06. Lại là một con cáo hoang


Có một người giàu đi du lịch Tây Tạng, du ngoạn núi non sông nước, đi tham bái một ngôi chùa Lama.

Anh ta thấy ngôi chùa Lama rất tồi tàn, nhất thời phát tâm, bỏ ra một khoản tiền lớn để xây dựng lại ngôi chùa Lama. Lama Rinpoche (Hoạt Phật) trụ trì ngôi chùa Lama đó hết sức phấn khởi và cảm kích, liền nhận định rằng người giàu có này là một vị Hoạt Phật đích thực chuyển thế lại đến. 
Anh ta nói với trụ trì:
”Tôi không phải là Hoạt Phật.”
Lama nói:
”Tôi nhận định anh chính là Hoạt Phật.”
”Căn bản tôi không hiểu gì về Phật pháp.”
Lama nói:
”Không hiểu cũng có thể làm Hoạt Phật.”

Kết quả là, cái người làm ăn buôn bán này ấy thế mà từ một người phổ thông bình thường trở thành Rinpoche (Hoạt Phật). Bản thân anh ta cũng không giữ được chủ ý, bị mê hoặc vào hư danh.

🌟

Sau khi anh ta trở về đất nước mình, anh ta được giới truyền thông quảng bá rầm rộ, anh ta đã trở thành một vị Hoạt Phật không phải người Tây Tạng. Anh ta là người đầu tiên ở đất nước của anh.
Anh ta đội mũ Phật.
Ngồi trên pháp tọa cao nhất.
Mặc trang phục Lama, rất nhiều Lama người Tạng cũng đến hộ trì, đại hòa thượng, đại Lama của Hiển giáo Mật giáo cũng đến ủng hộ, thoáng chốc, anh ta nghiễm nhiên trở thành một vị Rinpoche (Hoạt Phật) rồi.

Anh sờ đầu cho người ta.
Anh gia trì cho người ta.
Anh quán đảnh cho người ta.
Anh chỉ cần niệm mỗi một câu “Om ah hum” thì đám người ngồi ở dưới, các thiện tín liền vỗ tay vang như sấm.

Anh ta cũng học một vài nghi thức, học Phật pháp đơn giản, rồi tự mình cũng xây một tòa đại điện, cũng mô phỏng bắt chước, thế là trở thành một vị Rinpoche chuyển thế. Đây chính là một sự chuyển biến cuộc đời mà anh ta căn bản chưa bao giờ nghĩ đến.

Anh ta không làm kinh doanh nữa, kể từ đó anh làm đại Hoạt Phật, đại Hoạt Phật thì lợi ích rất nhiều. 

Chúng sinh không nghi ngờ gì về việc anh ta được nhận định là Hoạt Phật đích xác chuyển thế lại đến, đồng ý với sự quảng bá của truyền thông.

🌟

Tại âm gian, tôi trông thấy vị Rinpoche (Hoạt Phật) này. 
Minh Vương hỏi hắn:
”Ngươi có ngộ nhận không?”
Hắn đáp:
”Không biết.”
Minh Vương hỏi hắn:
”Trình độ Phật pháp ra sao?”
Hắn không thể trả lời.
Minh Vương nói:
”Ngươi không biết là ngộ nhận, cũng không có trình độ, làm một Hoạt Phật Rinpoche chỉ là bắt chước người ta mà làm, như thế là làm hại muôn dân thiên hạ, thật đáng giận. Nay phạt ngươi chuyển thế làm một con cáo chuyên giả vờ giả vịt!”
Hắn kêu lên:
”Không phải lỗi của tôi!”
”Lỗi của ai?” - Minh Vương hỏi.
”Của Pháp Vương xác nhận tôi.”
Minh Vương cười lớn:
”Pháp Vương này cũng là người không có mắt, sau này cũng trở thành một con cáo mù lòa.”
”Thế còn truyền thông?”
Minh Vương nói:
”Làm bậy làm bạ!”

🌟

Tôi nhìn thấy địa ngục biến hiện như vậy cảm thấy rất đáng sợ, một người vô học dốt nát mà được bưng lên ngồi bảo tọa thì đó chẳng phải là sướng, mà là khổ.

Bây giờ tôi có một câu hỏi hỏi mọi người:
”Bạn có ngộ nhận không? Kiến địa về Phật pháp của bạn ra sao?” Câu hỏi này xem ra đơn giản, nhưng cũng không dễ trả lời, người tu hành học Phật nên thành thực tu hành, tu được kiến địa, nếu không như vậy mà chỉ bắt chước mô phỏng thì coi chừng tương lai biến thành một con cáo đó.


### 07. Buôn bán Như Lai là đáng sợ nhất


Ở trong địa ngục, tôi đã gặp một cảnh tượng rất đáng sợ:
Một phạm nhân bị quan cai ngục áp giải, bị bắt ép ăn một viên sắt được nung nóng đỏ, viên sắt lửa này mà ăn vào thì lập tức sẽ phát ra tiếng “xèo xèo”. Viên sắt lửa này đi thẳng xuống từ miệng, thực quản, dạ dày, ruột, những chỗ bị đốt bỏng sẽ cháy đen, thành một đám thối rữa.

Phạm nhân hét lên một tiếng rồi chết!

Lại có một phạm nhân khác bị quan cai ngục áp giải, bị bắt ép uống nước sắt đỏ lửa, nước sắt lửa này đi thẳng xuống từ miệng, thực quản, dạ dày, ruột, những chỗ mà nó đi qua thì da thịt xương đều trở thành đất cháy, toàn thân hóa thành tro.

Phạm nhân thậm chí còn chẳng thể kêu lên được, thế là chết.

Tôi nhìn thấy vậy thì kinh hoàng. Tôi hỏi Minh Vương:
”Vì sao bị như vậy?”
Diêm La Minh Vương đáp:
”Ăn sạch chùa chiền, ăn sạch Phật đường, ăn sạch tượng Phật, ăn sạch tiền cúng Phật thì sẽ bị báo ứng như vậy.”
”Tội này gọi là gì?”
”Buôn bán Như Lai.”

🌟

Theo như tôi biết:
Có đệ tử Phật dùng thủ đoạn phi pháp để chiếm đoạt chùa làm của riêng, vốn dĩ chùa là của công, nay chiếm làm của riêng, đó là buôn bán Như Lai. 
Có đệ tử Phật dùng thủ đoạn phi pháp bí mật chuyển Phật đường đứng tên tư nhân, chiếm làm tài sản riêng, đó là buôn bán Như Lai.
Có đệ tử Phật mượn cớ đúc tượng Phật để quyên góp tiền từ nhiều nguồn, một vị Phật bán được bao nhiêu tiền thì đều nạp vào túi riêng, đó là buôn bán Như Lai.
Có đệ tử Phật đem tiền của chùa hoặc quán đường không dùng vào việc hoằng pháp, mà ôm tiền bỏ chạy, bặt vô âm tín, đó là buôn bán Như Lai.
Có đệ tử Phật mượn danh nghĩa Phật để quyên góp tiền từ người ta, nạp vào tài khoản dưới tên mình, ních đầy túi riêng, mượn Phật lừa tiền, đó là buôn bán Như Lai.
Có đệ tử Phật lấy cớ làm từ thiện để quyên góp tiền từ người ta, nạp vào tài khoản dưới tên mình, lợi dụng lòng hảo tâm của người khác để kiếm lời cá nhân, đó là buôn bán Như Lai.
Có đệ tử Phật lấy cớ là cúng dường Sư Tôn để lấy tiền của người ta, thế rồi ôm tiền chạy mất, tất cả đều chiếm làm của riêng, đó là buôn bán Như Lai.
v.v…

🌟

Ở đây tôi gọi họ là những đệ tử Phật, như vậy là đề cao họ rồi, thật ra họ chẳng phải là đệ tử Phật, mà là lừa bịp Phật, đây hoàn toàn là buôn bán Như Lai một trăm phần trăm. Hạng người “dòi sư tử ăn thịt sư tử” này nhiều lắm, từ lâu đã chẳng còn là chuyện lạ nữa. 

Họ mượn danh nghĩa Như Lai để trộm, cướp, lừa lọc và cuỗm tiền. 
Thật sự thảm thương, thảm thương, thảm thương.
Thật đáng tiếc, đáng tiếc, đáng tiếc.

Tôi nhìn thấy có một đệ tử quen đọa vào trong địa ngục này, phải nuốt viên sắt, uống nước sắt. (Đệ tử này là người chuyên ăn chặn cúng dường của pháp hội.)

Trái tim tôi thắt lại. Tôi hỏi Minh Vương:
”Có thể cứu đệ tử này không?”
Minh Vương đáp:
”Với hình hài này của hắn, ngài không cần cứu hắn, hắn ăn viên sắt, uống nước sắt, chính là cứu hắn, như bóng tối có được đèn sáng.”

Tôi hiểu ra. 
”Hắn sẽ chuyển sinh về đâu?” - Tôi hỏi.
”Khoác lông đội sừng trả.”
Mồ hôi tôi túa ra đầm đìa.

🌟

Tôi hỏi mọi người:
”Uống nước sắt, ăn viên sắt, vì sao lại là như bóng tối có được đèn sáng?”
Lại hỏi:
”Khoác lông đội sừng trả là chuyển sinh thành cái gì?”

Hai câu hỏi này của tôi không khó, tôi nghĩ mọi người đều có thể hiểu được, đều có thể trả lời được. Tuy nhiên tôi hỏi mọi người, vì sao đệ tử Phật vẫn có người sau theo chân người trước phải ăn viên sắt, uống nước sắt?


### 08. Con quạ ở âm gian


Ở âm gian, tôi nhìn thấy con quạ thì hoảng sợ hết hồn.

Chúng ta đều biết rằng, kinh Phật Thuyết A Di Đà có ghi chép, Tây phương Cực Lạc thế giới có chim khổng tước, anh vũ, ca lăng tần già, cộng mạng, đều có âm thanh hòa nhã, niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng. Những loài chim này không phải loài súc sinh, bởi vì Tây phương Cực Lạc thế giới không ở trong lục đạo luân hồi, những con chim này đều là A Di Đà Phật biến hiện mà có.

Giờ đây, ở tại âm gian, tôi nhìn thấy con quạ, là biến hiện gì? Tôi rất kinh ngạc.

Minh Vương nói:
”Ngài xem, con quạ không có chân!”
Tôi nhìn kĩ hơn, quả nhiên không có chân.
”Ngài nghe xem, con quạ không kêu!”
Đúng rồi! Căn bản là tôi không nghe tiếng quạ kêu “ca, ca, ca”!
Duy nhất có một điều giống là: “Quạ trong thiên hạ đều có màu đen.”

Tôi hỏi:
”Vì sao mà quạ ở âm gian lại không có chân?”
Minh Vương đáp:
”Phỉ báng vô căn cứ.”
”Vì sao mà không kêu?”
Minh Vương đáp:
”Kêu đủ rồi, giờ không kêu nữa!”
Tôi hỏi:
”Vì sao quạ trong thiên hạ đều màu đen?”
Minh Vương đáp:
”Vì là loài thích bôi nhọ!”
Minh Vương nói:
”Ngài có biết vì sao ở âm gian ngài nhìn thấy quạ không?”
”Không biết.”

Minh Vương thẳng thắn nói cho tôi biết, sự biến hiện của những con quạ này đều là vì tôi mà biến hiện ra. Khi chúng ở nhân gian đã phỉ báng Lư Thắng Ngạn, bôi nhọ Lư Thắng Ngạn, nghe sai đồn bậy, phỉ báng vô căn cứ, nên giờ đây biến hiện làm quạ ở âm gian.

Chúng không có lưỡi nên không kêu, lưỡi đã bị địa ngục rút lưỡi rút mất rồi. Chúng chuyên môn bôi nhọ người ta nên toàn thân mới đen sì. Không có chân là bởi vì phỉ báng không có căn do.

Minh Vương chỉ vào một con quạ trong số đó:
”Đây là Ngô…”
Tôi kinh hãi.
”Đây là Khuất…”
Tôi kinh hãi.
”Đây là Hoàng…”
Tôi kinh hãi.
”Đây là… Đây là… Đây là…”

Tôi hỏi:
”Sao mà nhiều như vậy?”
Minh Vương đáp:
”Chín mông mười miệng, ai nấy đều hôi!”

Những con người chuyên phỉ báng như họ đến âm gian rồi thì đều biến hiện thành quạ không lưỡi và quạ không chân. 
Tôi lại hỏi:
”Vậy còn những con quạ ở thế gian?”
Minh Vương đáp:
”Những người phạm tội vọng ngữ nặng thì biến hiện làm quạ ở âm gian. Người phạm tội vọng ngữ nhẹ thì biến hiện làm quạ ở dương gian.”

Tại đây, tôi có lời khuyên chung cho thế nhân, cái gọi là khẩu nghiệp rất dễ phạm, nói chuyện phiếm đừng bình luận cái sai của người, miệng con người rất dễ tạo khẩu nghiệp, biết thì bảo là biết, không biết thì bảo là không biết, đó mới thật là biết.
Người tu hành nên cấm khẩu.
Nói bớt đi một câu, niệm Phật thêm một câu.
Miệng nói ra lời thiện, miệng nói ra lời mềm mỏng, miệng nói ra lời đúng đắn, miệng nói ra lời Phật. Đừng nói khoác, đừng hai lưỡi, đừng ác mồm ác miệng, đừng nói lời lả lơi.
Nhớ kĩ! Nhớ kĩ!

🌟

Bây giờ tôi có một vấn đề hỏi mọi người, đầu đề là:
”Khi nào thì quạ trong thiên hạ đều biến thành màu trắng?”
Xin mời trả lời.

Có lẽ mọi người sẽ trả lời tôi là: “Vĩnh viễn không có lúc đó!” Từ xưa tới nay, chưa từng thấy có quạ màu trắng.
Thế nhưng thánh đệ tử thông minh xin hãy trả lời tôi, trả lời đúng có thưởng, có đáp án đó.


### 09. Hồ phân lớn vô tận


Tôi thần hành trong giới địa ngục, bỗng nhìn thấy một cái hồ, nhìn không thấy điểm tận cùng. Thần hành về phía đông, phía đông không có nơi tận cùng; thần hành về phía tây, phía tây không có nơi tận cùng; thần hành về phía nam, phía nam không có nơi tận cùng; thần hành về phía bắc, phía bắc không có nơi tận cùng. 

Cái hồ này rộng lớn vô tận.

Khi tôi thần hành thì có nhiều mùi tanh hôi bay tới, trúng phải người thì buồn nôn. Tôi nhìn kĩ hơn nữa, thì ra là một cái hồ phân to. Mùi bay ra đều là từ phân và nước tiểu nhão nhoét, rất kinh tởm!
Nước hồ là nước tiểu.
Trên mặt hồ và trong hồ đều là phân.

Tôi lại nhìn thấy trong hồ phân rộng lớn này, con người lúc nổi lúc chìm, có một số người thì đỉnh đầu toàn phân, có một số người thì mắt, tai, mũi, mồm toàn là phân, có một số người thì toàn thân là phân, như gà nhúng nước, như người phân.

Tôi nhìn thấy từ không trung có một người bị ném vào trong hồ phân. 
Hắn cũng nhìn thấy tôi. Hắn gọi tôi:
”Sư Tôn! Xin cứu mạng!”
Tôi nhìn kĩ hắn, giật nảy mình. Thì ra là: “Lâm Chân.”

🌟

Tôi niệm một câu: 
”Nam mô A Di Đà Phật! Đáng thương thay! Đáng thương thay!”
Lâm Chân là người như thế này:
Sau khi hắn quy y tôi, hắn lấy một chuỗi hạt nói với người ta rằng:
”Chuỗi hạt này để cúng dường Sư Tôn, anh bỏ tiền, công đức thuộc về anh.”
Người đó liền xuất tiền.
Hắn lại nói với một người khác:
”Chuỗi hạt này để cúng dường Sư Tôn, cô bỏ tiền, công đức thuộc về cô.”
Lại nói với người thứ ba:
”Chuỗi hạt này để cúng dường Sư Tôn, ông bỏ tiền, công đức thuộc về ông.”
Cứ như thế, tổng cộng anh ta truyền qua tay hơn mười người và thu tiền.

Lâm Chân đến gặp tôi, lấy chuỗi hạt ra cúng dường tôi, nói:
”Chuỗi hạt này cúng dường Sư Tôn.”
Tôi nói:
”Chuỗi hạt này công đức quá nặng.”
Lâm Chân nói:
”Chính vì quá trân quý nên mới hợp để Sư Tôn đeo.”
Tôi nói:
”Tôi không dám đeo, anh tự mình đeo đi! Tôi tặng lại cho anh chuỗi hạt này, được chứ?”

Lâm Chân cảm ơn, rồi tự mình đeo, đi nói với người ta:
”Tôi dâng tặng Sư Tôn rồi, Sư Tôn lại tặng tôi.”

Lâm Chân cúng dường Sư Tôn rất nhiều đồ, món đồ nào cũng như vậy, hết món này đến món khác tôi đều không nhận.
Về sau, hắn bị mắc bệnh tim rồi chết.

🌟

Tôi nói với Minh Vương:
”Tôi làm sao để cứu Lâm Chân?”
Minh Vương đáp:
”Lâm Chân công đức quá nặng, chìm vào trong hồ phân, vĩnh viễn ăn phân.”
”Vì sao lại ăn phân?”
”Ăn phân chính là ăn công đức.”
”Vì sao hồ phân này rộng vô biên vô hạn?”
”Thế gian này, người ăn công đức quá nhiều, nếu không có hồ phân này thì làm sao chứa nổi công đức như vậy?”
Minh Vương cười lớn:
”Phân chính là công đức, công đức tức là phân, ha ha!”

Tôi cứu Lâm Chân. Chỉ một cái búng tay đã cứu được Lâm Chân rồi. 
Cổ tôi đeo chuỗi hạt của Lâm Chân, đầu tôi đội mũ mà Lâm Chân tặng, tay tôi đeo nhẫn kim cương mà Lâm Chân tặng, v.v…. 
Tôi nói:
”Tất cả công đức tôi nhận.”

🌟

Tôi hỏi:
”Công đức tôi nhận thì được, vì sao Lâm Chân nhận không được?”
Thánh đệ tử mau mau trả lời.


### 10. Sự bối rối ở núi đao rừng kiếm


Trong cảnh giới địa ngục, tôi nhìn thấy rất nhiều nhân vật lớn như các bậc đế, vương, tướng, những người được gọi là một đời đế vương, một đời anh hùng, một đời hào kiệt, những nhân vật lớn làm rung chuyển trời đất trong lịch sử, không ngờ đều ở trong địa ngục, thật là khiến tôi không ngớt bối rối.

Tôi hỏi Minh Vương:
”Vì sao đại đế ở thế gian lại lưu chuyển trong địa ngục?”
Minh Vương đáp:
”Pháp thân lưu chuyển lục đạo, gọi là chúng sinh. Vua của chúng sinh thì cũng là vua tạo nghiệp, vua tạo nghiệp thì địa ngục hiện tiền, luân hồi chẳng hết.”
Tôi nghe xong lại không ngớt thở dài. 

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người:
Tôi nhìn thấy một nhân vật, là đại đế từng chiếm lĩnh Âu, Á, Trung, Nga, nhân vật này tiếng tămg lừng lẫy, có thể xem là số một trong lịch sử.
Thế nhưng, ông ta ở trong địa ngục chịu khổ vô tận, từ xưa tới nay, ông ta vẫn đang ở trong địa ngục.
Tôi nhìn thấy ông ấy vĩnh viễn ở trong núi đao rừng kiếm. 

Những thanh kiếm ấy có thể di động, ông ta sống trong cảnh tàn sát khốc liệt.
Bị đao chém chết.
Bị kiếm đâm chết. 

Ông ta kêu gào liên miên, chết đi sống lại, sống rồi lại chết, cứ như thế trải qua mấy nghìn năm, vẫn đang ở trong địa ngục núi đao rừng kiếm.

Những đại đế, đại vương, đại tướng, thủ tướng này, không ngờ lại có kết cục như vậy, sao không khiến người ta xót xa bội phần.

Tôi hỏi Minh Vương:
”Khi nào thoát khỏi địa ngục?”
Minh Vương đáp:
”Chẳng có ngày thoát.”
”Vì sao?”
Minh Vương đáp:
”Vì giết người vô số, vì người chết vô số, người chịu đau khổ vô số. Xác chết chất cao như núi, máu chảy thành biển, chẳng thấy nơi giới hạn, cho nên, làm sao thoát ra khỏi địa ngục được!”
Tôi hỏi:
”Tôi có cứu được ông ta không?”
”Đại đế, đại vương, đại tướng, thủ tướng không phải là người học Phật, không có duyên được cứu.”

Trong lòng tôi hét lên một tiếng: “Thảm!”

Tại đây, tôi đặc biệt kêu gọi:
”Bất kì vị nào đang nắm quyền, đang phát động chiến tranh, phải nghĩ kĩ ba lần, chiến tranh là vì cái gì? Chiến tranh có thật sự cứu người không? Chiến tranh lợi ích con người không? Chiến tranh có thể lợi ích nhân sinh không? Nghĩ đi, nghĩ đi, nghiêm trọng! Nghiêm trọng!
Bằng không, địa ngục núi đao, địa ngục rừng kiếm, chắc chắn hiện tiền.

🌟

Có một người học Phật muốn biết:
Chúng sinh từ đâu đến?
Chết rồi đi về đâu?
Người sống chết là ai? Người đắc tự do sinh tử là ai? Người đến đi là ai? Người đắc tự do đến đi là ai?

Phải hiểu thiện ác đều là tự tâm khởi, thiên đường địa ngục đều là tự tâm khởi, cái gì gọi là tự tâm, tự tâm tức là từ nơi nào khởi lên?

Nếu biết tự tâm, nghiệp chướng vô biên tự có thể thanh tịnh, như vậy mới có thể thoát khỏi địa ngục.
Nhưng đại đế, đại vương, đại tướng, thủ tướng, có hiểu được không?
Thật đáng thương hại! Bọn họ đều mưu cầu, bọn họ đều ảo tưởng, từ xưa đến nay, lãnh thổ lớn ở đâu? Đại đế quốc ở đâu? Uy danh hiển hách ở đâu? Công lao sự nghiệp to lớn ở đâu?

Có một bài kệ:

*Thập phương cùng tụ hội
Người người học vô vi
Mới là chọn nơi Phật
Tâm không và hồi quy.*

Bây giờ tôi có hai câu hỏi, hỏi thánh đệ tử:
”Chương sách này, bạn giác ngộ được cái gì?”
Câu hỏi nữa là: “Người học Phật cần biết, sống là hư huyễn, chết cũng hư huyễn, địa ngục hư huyễn, bạn làm thế nào để giải thoát hư huyễn?”


### 11. Con tắc kè hoa to nhất


Khi đang đi ở núi Đại Âm, tôi bỗng nhìn thấy một con tắc kè hoa to nhất, kích thước của nó như một ngọn núi nhỏ, nó bất ngờ thè cái lưỡi dài mỏng màu đỏ ra, ánh đỏ lóe lên một cái, nó đã cuốn lấy và nuốt trọn một con hươu núi. Tôi trông thấy cảnh ấy thì giật nảy người.

Con tắc kè hoa đó có cái đuôi kéo lê rất dài, giống như một dòng sông dài, bốn chân của nó giống như nhánh núi, thân nó thì vô cùng to lớn, hai con mắt của nó sáng như mặt trăng, mí mắt thì như cái mui xe lớn.

Nó chú ý đến tôi, trừng mắt nhìn tôi. 
Tôi đứng im không động đậy, tôi cũng nhìn nó, tôi sợ nó bất ngờ thè cái lưỡi ra, cuộn một cái thì nuốt gọn tôi mất. 

Chúng tôi nhìn chằm chằm vào nhau, lúc này, không khí dường như đông cứng lại.
Con tắc kè hoa khổng lồ này chẳng hề ăn thịt tôi, không ngờ từ hai con mắt nó lại rơi lệ. 
Nước mắt nó giống như thác nước nhỏ, đổ xuống ầm ầm.
Rồi đột nhiên, miệng nó nói tiếng người:
”Sư Tôn, là tôi.”

Tôi dùng thiên nhãn nhìn nó, tôi nhìn ra con tắc kè hoa khổng lồ này không ngờ lại là đệ tử của tôi: Lăng Ký.

Tôi sửng sốt hỏi:
”Ngươi là Lăng Ký?”
Nó gật gật đầu. Tôi hỏi:
”Sao người lại đọa vào núi Đại Âm, trở thành tắc kè hoa?”
Nó không trả lời. Lại càng khóc bù lu bù loa.

🌟

Lăng Ký đã trở thành tắc kè hoa, thì ra là như thế này:
Lăng Ký là một đệ tử có căn khí lớn, cũng là một nhân tài hoằng pháp, tôi rất coi trọng Lăng Ký.
Sau khi quy y tôi, anh ta đã học rất nhiều Chân Phật Mật Pháp.
Thế nhưng thật tồi tệ, con người Lăng Ký tâm tính bất định, không bao lâu, anh ta chạy đi quy y một đại hòa thượng Hiển giáo. 
Rồi cũng không được lâu, anh ta lại chạy theo một thầy khí công ở Đại Lục.
Rồi cũng không được lâu, Lăng Ký lại đi nương dựa vào một Hoạt Phật Tây Tạng. 
Rồi cũng không được lâu, Lăng Ký lại chạy theo một cư sĩ học Phật tại gia.
Rồi cũng không được lâu, Lăng Ký đi học Đạo.
……

🌟

Thật ra, Lăng Ký quy y tới quy y lui như vậy thì cũng không có gì là đáng trách, đệ tử như nước chảy, vốn dĩ sẽ chảy tới chảy lui, không hề gì!
Chỉ là Lăng Ký không nên nghe theo những lời nói nhảm, đi theo sư phụ khác lại phỉ báng sư phụ mà mình đã từng quy y trước đó. 

Lăng Ký không biết:
Dạy một pháp, cũng là thầy.
Nhận một bài kệ, cũng là thầy.
Truyền một câu chú, cũng là thầy.

Anh ta đi theo vị thầy mới thì lại chửi vị thầy cũ, như thế là phẩm hạnh đức hạnh quá sai rồi.
Sao anh ta không học tập Lư Sư Tôn, mỗi vị thầy đều cung kính như nhau!

🌟

Minh Vương nói:
”Đầu tiên là anh quy dựa Lư Sư Tôn, là một vị đại thiện tri thức trong nghìn vị Thánh, vị này mới là sư phụ vô thượng. Sau đó anh lại đi quy y thầy nhỏ, mặc dù có pháp khí thì cũng không có pháp nhãn, trái lại còn vô căn cứ phỉ báng đại sư có ơn với mình, sao mà lại có hành động ngu dốt đến thế. Giờ đây, Lăng Ký lật mặt quá nhiều, nên chuyển thế thành con tắc kè hoa vậy!”

Lăng Ký bị Minh Vương phán tội thì ân hận việc mình đã làm trước kia. Kì thực, anh ta đi theo Lư Sư Tôn mới là chính tín, còn những người khác đều là tà ma ngoại đạo. Vì Lăng Ký lật mặt quá nhiều nên trong địa ngục Đại Âm Sơn đã biến hiện thành một con tắc kè hoa to nhất. 

Các thánh đệ tử, hãy nhớ lấy điều này để dạy mình cảnh giác!

Tại đây, tôi có một câu hỏi hỏi mọi người: “Lư Thắng Ngạn dựa vào bản lĩnh gì mà được xem là vị sư phụ vô thượng? Có bản lĩnh gì mà được xem là một trong nghìn Thánh? Có bản lĩnh gì mà được xem là đại thiện tri thức? Xin trả lời ngắn gọn.”


### 12. Cá voi sát thủ dũng mãnh


Ở âm gian, tôi và Minh Vương quen biết nhau rất thân, chúng tôi nói đến nhân duyên quả báo, thật sự khiến người ta không ngớt thở dài!

Tôi rất tò mò về sự chuyển thế của các quan cao, đại gia, người nổi tiếng. Tôi hỏi Minh Vương:
”Loại người này thì sao?”
Minh Vương đáp:
”Loại người này có quả báo rất uy thế! Quả báo uy thế này có ba hạng thượng, trung, hạ khác nhau.”
”Ba hạng khác nhau như thế nào?”
Minh Vương đáp:
”Phần lớn người có thế lực lớn thì tạo nghiệp lực càng lớn. Người tạo nghiệp thiện thì ít, trái lại, người tạo ác nghiệp lại nhiều. Có ba hạng khác nhau, hạng thượng tạo nghiệp thì chuyển thế thành Atula đại dũng mãnh (vua đấu tranh), hạng trung tạo nghiệp thì chuyển thế thành cá voi sát thủ dũng mãnh, hạng hạ tạo nghiệp thì chuyển thế ở trong núi đao rừng kiếm ở đạo địa ngục, chịu vô hạn tử khổ.”

Tôi có hứng thú với cá voi sát thủ. Tôi hỏi:
”Cá voi sát thủ là thế nào?”
Minh Vương đáp:
”Nếu là tổng thống, phát động chiến tranh, nhập vào giới súc sinh, là cá voi sát thủ; nếu là đầu đảng xã hội đen, giết người không chớp mắt, giết người như cỏ, nhập vào giới súc sinh, là cá voi sát thủ; nếu là đại gia giàu có, có thế lực mạnh, giết cướp dâm vọng, không có gì là không làm, nhập giới súc sinh, là cá voi sát thủ.”

Tôi nói:
”Ở âm phủ, tôi nhìn thấy một tên đồ tể giết người như cỏ rác trong cuộc đại chiến thế giới lần thứ hai, cũng nhìn thấy một tên đồ tể giết người như cỏ rác trong cuộc đại chiến thế giới lần thứ nhất, họ chuyển thế thì thế nào?”
Minh Vương nói:
”Sau cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, những tên đại đồ tể đã ít đi rồi, mọi người biết chiến tranh đáng sợ, cho nên chuyển thế thành cá voi càng ngày càng ít, như bây giờ, chỉ có mấy tên đang làm đồ tể thủ lĩnh là có tư cách chuyển thế thành cá voi sát thủ thôi.”

Tôi hỏi:
”Tên thủ lĩnh đã chết của đất nước kia thì sao?”
”Là cá voi sát thủ!”
”Thủ lĩnh hiện có ở phương tây thì sao?”
”Là cá voi sát thủ!”
”Những tù trưởng ở châu Phi?”
”Là cá voi sát thủ nhỏ!”
”Những tên thủ lĩnh đồ tể?”
”Là cá voi sát thủ!”
”Nếu là thủ lĩnh lưu manh hoặc du côn nhỏ thì sao?”
Minh Vương đáp:
”Thủ lĩnh lưu manh là sư tử, du côn nhỏ là sói, chúng chưa có tư cách chuyển thế thành cá voi sát thủ.”
”Những nhóm cho vay nặng lãi tư nhân hoạt động ngầm lừa gạt tiền tài thì sao?”
Minh Vương đáp:
”Chỉ là những cái ô nhỏ, là loài rắn.”

🌟

Minh Vương nói bài kệ:

*Tất cả chúng sinh
Đều gắn với nghiệp
Dựa theo nghiệp ấy
Chuyển thế theo nghiệp.*

Tôi nói:
”Tôi dạy con người tu Mật giáo, chuyển tam nghiệp thành tam mật, chính là thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh, đây cũng là bí mật của tự tính thanh tịnh của Như Lai. Dựa vào Phật tính thanh tịnh của pháp nhĩ bản nhiên thì sẽ không bị nghiệp lực trói buộc nữa!”
Minh Vương nói:
”Đúng vậy, đúng vậy.”

🌟

Tôi có một câu hỏi muốn hỏi mọi người, nếu bạn là Minh Vương, nhìn thấy một người thiếu trí tuệ, mà lại làm một đại hòa thượng kinh doanh thành công, đại hòa thượng là người có tiền, nhưng thiếu trí, làm hại bao nhiêu người học Phật. Bạn là Minh Vương, nên phán người này tương lai chuyển thế thành loài nào? Xin mời thử trả lời.


### 13. Cụ già không tin Thần Phật


Tại âm gian, tôi trông thấy một cụ già, cụ già này lúc còn sống tôi cũng có quen biết, ông ấy chính là bố của một đệ tử của tôi. 

Đệ tử của tôi bày đàn thành thờ cúng trong nhà, bố anh ta phá bỏ đàn thành.
Đệ tử của tôi tu pháp, bố anh ta nhổ bỏ hương, dùng nước té vào đệ tử.
Đệ tử của tôi đọc kinh, bố anh ta vứt kinh điển vào lửa đốt.
Đệ tử của tôi hướng lên bầu trời đảnh lễ, bố anh ta chỉ lên trời chửi ầm lên.
Đệ tử của tôi thỉnh về nhà một vị Liên Hoa Đồng Tử nhỏ, bố anh ta quăng tượng Liên Hoa Đồng Tử vào hố xí.

Cụ già này cho rằng con người chết rồi thì tất cả đều chẳng còn gì, không có Thần, không có Phật, cụ già giữ vững “đoạn kiến”, không có thiên đường, không có địa ngục, không có luân hồi, không có nhân quả, người chết rồi thì cái gì cũng chẳng còn.

Cụ già gặp chùa chiền là chửi ba chữ “tam tự kinh” ĐMM. 
Cụ già gặp hòa thượng là chửi đồ sâu gạo.
Cụ già gặp người tu hành là chửi đồ giặc cướp.
Cụ già nói:
”Phật Thích Ca Mâu Ni là đồ bịp bợm, Lư Thắng Ngạn căn bản là đồ bịp bợm, tất cả tôn giáo đều là lừa người ta.”

🌟

Sau khi cụ già chết thì đến âm gian. Minh Vương nhìn thấy tên bảo thủ đã đến rồi, chẳng muốn nói gì với tên bảo thủ này, chỉ nói với cụ già:
”Kẻ ngu si thì chuyển thế thành kẻ ngu si đi!”
Minh Vương khoác lên cụ già một tấm áo da lợn. Cụ già chuyển thế thành con lợn, con lợn con được chăm sóc từ nhỏ, tham ăn và lười nhác, càng lớn càng to béo.
Con lợn “cụ già” không cần phải suy nghĩ gì cả, cứ thế béo ục ịch. 
Người nuôi lợn chăm sóc nó rất tốt, mùa hè thì bật quạt điện, mùa đông thì sưởi ấm cho nó. Lại còn bật cả nhạc cho con lợn cụ già nghe nữa. Còn cho con lợn ăn Aurafac nữa [thức ăn tăng trọng], mát-xa cho lợn. Con lợn cụ già đã chật ních cả cái rọ rồi.

🌟

Vào ngày hội đón Thần có cuộc thi lợn to. Con lợn cụ già được khênh đi tế Thần, đồ tể chọc tiết cạo lông, cụ già kêu lên một tiếng thảm thiết rồi chết.
Phần thân dưới cụ già to như tảng băng lớn.
Trong miệng cụ già thì ngậm quả quýt. 
Trong cuộc thi lợn to, con lợn cụ già đã giành giải nhất, linh hồn cụ già lại xuống địa ngục. 
Minh Vương nói:
”Lại cho mặc áo da lợn!”
”Tôi không muốn làm lợn nữa.” - Cụ già kháng cáo.
Minh Vương nói:
”Ông nhục mạ Thần Phật bao nhiêu lần thì phải làm lợn bấy nhiêu lần, một câu chửi là một lần quả báo đem đi tế Thần!”

Cụ già ngất xỉu tại chỗ. Sau khi tỉnh dậy lại là con lợn, cụ già biết mình ngu si, nhưng đã quá muộn rồi.
Thảm quá! Thảm quá!

🌟

Đương nhiên, cuộc thi lợn to tế Thần dường như là một trong những trò mê tín. Tôi không hề tán đồng tập tục dân gian này.

Nhưng luân hồi quả báo hết sức chân thực, cụ già “đoạn kiến” ngoan cố này có mối căm thù đến tận xương tủy với tu hành như vậy, cũng có thể coi là người đại ngu trong số những người ngu. 

Còn như, có một số người tu hành cũng bám chấp vào tiền, chỉ nhìn vào tiền, thử hỏi có phải là còn ngu hơn cụ già không?

Nay tôi thử hỏi một câu:
”Người tu hành có được tiền bạc, không hoằng pháp lợi chúng sinh, chỉ vì ham muốn cá nhân của mình, ở trước mặt Minh Vương sẽ biến hiện cái gì?”
Xin mời tham gia ý kiến.


### 14. Cảnh giới của vương quốc kiến


Ở âm gian, tôi trông thấy một thiếu niên đang khóc thút thít. Cậu thiếu niên này ngẩng đầu lên, tôi nhìn cậu thì không kìm nổi cơn sửng sốt, tôi gọi cậu: “U, U, là cháu à?”
Cậu ta nhìn thấy tôi, nói:
”Cháu bị chuyển kiếp đến vương quốc kiến.”
Tôi hỏi:
”Vì sao mà bị chuyển kiếp đến vương quốc kiến?”
Cậu ta đáp:
”Vì tội nghiện ngập.”

🌟

Ở âm gian, tôi phát hiện ra một vấn đề lớn, người đời nay bị chuyển luân đến vương quốc kiến rất nhiều.
Người da trắng chuyển kiếp thành kiến trắng.
Người da đỏ chuyển kiếp thành kiến đỏ.
Người da vàng chuyển kiếp thành kiến vàng.
Người da đen chuyển kiếp thành kiến đen.

Vì chuyện này mà tôi đặc biệt tìm đến Minh Vương để dò hỏi. Minh Vương nói:
”Người đời nay, rất nhiều thiếu niên nghiện đến cafe Internet, rất nhiều thiếu niên nghiện trò chơi điện tử, một khi đã nghiện rồi thì không biết đường quay trở lại, trở thành một kẻ vô dụng ở nhân gian, tự khép mình trong thế giới ảo, chẳng thể có ngày thoát ra. Bởi vì lớp người trẻ tuổi này rất đông, nên giờ đây vô kế khả thi, toàn chuyển luân đến cảnh giới của loài kiến.”
Minh Vương lại nói:
”Còn có một số thanh niên khác thì nghiện ngập ma túy, tuổi nhỏ không lo học cho tốt mà lại lao vào chất kích thích, rơi vào sự mê hoặc của ma túy, chẳng mong có ngày thoát ra, nếu không phạm tội nặng như trộm cướp thì đều chuyển luân đến cảnh giới của loài kiến.”
Minh Vương lại nói:
”Còn có một số người nghiện chơi xổ số, đây cũng là đánh bạc, đánh bạc trên mạng, hễ rơi vào đó thì mê hoặc mà không biết quay đầu, chẳng mong có ngày thoát ra, nếu không trộm cắp cướp bóc thì cũng đều chuyển luân đến cảnh giới của loài kiến.”

Tôi nghe xong lời của Minh Vương thì vô cùng bùi ngùi.
”Nghiện ngập cũng xem là tội sao?” - Tôi hỏi.
Minh Vương đáp:
”Uổng kiếp làm người!”
”Vì sao lại chuyển kiếp đến vương quốc kiến?”
Minh Vương đáp:
”Để chúng chăm chỉ một chút!”

🌟

Tôi hỏi Minh Vương:
”Ngày xưa, có đại A La Hán thiền định, có linh hồn của kiến quần tụ lại thành hình người, hỏi đại A La Hán là làm sao để kiến chuyển kiếp thành người? Đại A La Hán trả lời, khó lắm, khó lắm, e rằng có trải qua vô lượng kiếp cũng không có cách nào chuyển hồi làm thân người được! Như vậy, chuyển luân đến vương quốc kiến thì dễ, từ vương quốc kiến chuyển lại làm thân người thì khó, là vì sao?”

Minh Vương nói:
”Con người biết có thế giới loài kiến, loài kiến không biết có thế giới loài người, cho nên kiến chuyển trở lại thành người khó lắm!”
”Tội nghiện ngập nặng như vậy sao?”
Minh Vương đáp:
”Mặc dù nghiện ngập không phải là tội nặng, nhưng tự trói buộc thân tâm, trở thành người vô dụng, uổng phí thân người, cho nên không có được thân người. Chuyển luân đến vương quốc kiến chính là trừng phạt họ phải chăm chỉ cải tạo!”

Tôi than thở:
”Có được thân người khó lắm thay! Không ngờ một sự nghiện ngập nhỏ bé mà lại đánh mất thân người, muốn trở lại làm thân người cũng khó thay!”
”Cậu thiếu niên U U mê trò chơi điện tử, không có cách nào tự mình thoát ra, uổng quá!”

Trò chơi điện tử.
Ma túy.
Cờ bạc.
Hãy thận trọng! Thận trọng!

Tôi có một câu hỏi hỏi mọi người: 
”Đất nước loài người và đất nước loài kiến có gì khác có gì giống? Đây là một vấn đề thú vị, mọi người sao không nghĩ thử xem rồi thảo luận chi tiết!”


### 15. Lệ quỷ đến từ đâu? (1)


Ở âm gian, đập vào mắt tôi toàn là quỷ quái. 
Còn tại dương gian, ngoài những vật hữu hình ra thì cũng có quỷ quái vô hình, những quỷ quái này nhờ vào tinh phách mà tồn tại. Có thể nói thế này, tinh linh, quỷ linh, hồn phách đều là các dạng tồn tại.

Chuyện cô hồn dã quỷ lưu truyền đã lâu, nhưng có người tin, có người không tin. Chỉ vì không phải ai ai cũng có thể nhìn thấy chúng. 

Vì sao âm gian có lệ quỷ? [Lệ quỷ là loài quỷ chuyên gieo rắc dịch bệnh, thường hiện tướng hung ác.] Chỉ vì chúng đã phải chịu oan khuất cực lớn nên chúng được tạo thành từ một khối oán khí. 

Lệ quỷ mà tôi nhìn thấy như sau:
Có một người nữ và một người nam phải lòng nhau, hai người thương yêu lẫn nhau. Người nữ vì tiền đồ của người nam mà động viên người nam đi học, học trường Y để làm bác sĩ. Đi du học nước ngoài, học tiến sĩ.
Người nữ đi làm, tiền kiếm được đều dành cho người nam đi học. 

Về sau, quả nhiên người nam đã học thành tài. Đây lẽ ra là một kết cục vô cùng hoàn mỹ.

🌟

Tuy vậy, nếu mà cứ như thế thì lấy đâu ra oan khuất?
Khi người nam đi học đã được một thiên kim tiểu thư con nhà giàu để mắt tới, hai người nảy sinh tình cảm, người nam thích thú với vẻ xinh đẹp của tiểu thư giàu có, hơn nữa nếu lấy tiểu thư nhà giàu thì gia tài là bạc triệu.
Người nam đã động tâm.

Anh ta trở về quê hương, nhìn thấy người bạn gái cũ vẫn giản dị làm công việc chân tay, thế là không sao cảm thấy yêu thích được nữa. 
Người nữ vui mừng vì bạn trai đã học thành tài, toàn tâm toàn ý chuẩn bị kết hôn với anh ta. Nhưng người nam đã trở nên vô tâm. Ở quê, hai người đi chèo thuyền. Thuyền lật. Người nam tự mình bơi vào bờ, còn người bạn gái cũ thì chết đuối ở suối. Thời điểm này đã phát sinh chuyện gì, không ai biết.

Hồn phách của người bạn gái cũ đến âm gian. Minh Vương cảm thông với người nữ, ban cho “lệnh Minh Vương”, hóa thành lệ quỷ, đến dương gian để đòi mạng.

🌟

Ngày người bạn trai cũ và tiểu thư nhà giàu kết hôn, quan khách tụ tập, một người là tiến sĩ bác sĩ, một người là con gái của đại gia, đãi tiệc mấy trăm bàn, đúng là duyên trời tác hợp. 

Đêm tân hôn. 
Người nam nửa đêm tỉnh dậy, phát hiện người nằm bên cạnh mình không ngờ lại là người bạn gái cũ bảy lỗ trên người đều chảy máu. Giờ đây nhìn thấy ma, anh ta sợ đến mức hồn bay phách lạc.

Người nam nhìn cô vợ mới cưới thường xuyên đột ngột biến thành người bạn gái cũ, kết quả cuối cùng là anh ta tinh thần thất thường, nói năng lộn xộn, chữa thế nào cũng vô hiệu, sau cùng người nam đã nhảy lầu tự tử.

🌟

Có người nói, người nam này bị di truyền chứng bệnh tâm thần từ cha ông.
Có người nói, ngày kết hôn xung khắc với đằng trai.
Có người nói, tiểu thư nhà giàu ngược đãi nhà trai nghèo.
Có người nói, phong thủy của ngôi nhà mới không tốt.
……

Chỉ có tôi biết, người bạn gái cũ của anh ta đã có được “lệnh Minh Vương” đến đòi mạng, đây chẳng phải là trò đùa. Lệ quỷ có được lệnh Minh Vương, cho dù là tôi trong bụng có cả vạn pháp cũng không cứu được những kẻ vô tình, thừa cơ giết người.

🌟

Tôi có một câu hỏi hỏi mọi người, câu hỏi của tôi rất đơn giản:
1. Nếu bạn là người nam, giữa hai người phụ nữ bạn sẽ chọn ai?
2. Thế nào là kết cục hoàn mỹ nhất?
3. Tình cảm có thể công bằng không?

Thử trả lời xem!


### 16. Lệ quỷ đến từ đâu? (2)


Tôi hiểu những chuyện ở âm gian, từ lâu mọi người đều biết điều này.
Tại đây, tôi lại thảo luận phần hai về “Lệ quỷ đến từ đâu?”. Tôi biết, có một câu chuyện như sau:
Có một đôi vợ chồng đốt than tự sát, cả hai cùng chết. Bởi vì thọ mạng chưa hết cho nên họ bị đọa xuống thành cô hồn dã quỷ, tại nhân gian, họ khổ sở vì không có chỗ nương thân, chỉ có thể trốn trong nhà của chính mình rên rỉ thở than. 

Tư Mệnh Thần quản lý gia trạch thấy tội nghiệp, bèn tạm thời thu nhận hồn phách của vợ chồng này ở bên cạnh mình. 

Vì sao đôi vợ chồng này lại cùng chết? Nguyên nhân là bạn thân của họ kinh doanh làm ăn lớn, gần đây phát đạt dị thường, người người đều biết hắn là một đại gia.
Có một hôm, người bạn thân đến chơi nhà. Đôi vợ chồng hết lòng chiêu đãi. Bạn thân nói:
”Cân nhắc tình bạn nhiều năm của chúng ta, bây giờ tôi mở rộng phạm vi kinh doanh, đa dạng hóa kinh doanh, tôi hy vọng các bạn cũng đầu tư vào doanh nghiệp của tôi, chắc chắn kiếm lời không lỗ.”
Vợ chồng hỏi:
”Cần bao nhiêu?”
Bạn tốt nói:
”Càng nhiều càng tốt.”

Đôi vợ chồng thật thà này đem toàn bộ số tiền tích cóp nhiều năm của mình, cộng thêm cả tiền của bạn bè thân thích, đem đi đầu tư hết.
Đôi vợ chồng đích thân giao tiền vào tay người bạn thân.

🌟

Khoảng một tuần sau.
Báo chí công bố, sự nghiệp kinh doanh của người bạn tốt kia là bất thiện, bòn rút hết quỹ và thâm hiểm tuyên bố phá sản.
Bạn tốt đã cao chạy xa bay từ lâu, nghe nói cuỗm theo khoản tiền lên tới mấy trăm triệu, chủ nợ rất nhiều.

Đôi vợ chồng thật thà kia đã bị lừa, nhưng tất cả đã muộn rồi. Giờ đây, hai vợ chồng thật thà trốn trong nhà lo lắng. Bạn bè thân thích đến nhà đòi nợ. Hai người không có cách nào đối diện, tự cảm thấy hổ thẹn, bèn đốt than tự sát.

🌟

Tên bạn thân trốn nợ kia đã sớm ung dung ở một đất nước khác. 
Có một buổi tối, hắn đang ngủ mơ, đột nhiên tỉnh dậy, nhìn thấy đầu giường có hai người đứng, chính là đôi vợ chồng thật thà kia.
……

Buổi sáng ngày hôm sau, người nhà hắn phát hiện hắn đã chết bất đắc kì tử trên giường, hai mắt mở to trừng trừng.
Bác sĩ khai trên giấy khai tử là:
”Cơ tim tắc nghẽn.”

🌟

Điều tôi muốn giải thích là:

Cặp vợ chồng này do oan khuất mà chết, Tư Mệnh Thần bảo vệ hồn phách của hai vợ chồng để tránh cho hồn phách bị Nhật Du Thần, Dạ Du Thần đưa vào âm gian. 
Bởi vì oán khí cao ngút trời, Tư Mệnh Thần thỉnh tôi giúp đỡ. Muốn tôi bỏ hồn phách của hai vợ chồng đó vào trong túi áo tôi, khi nào tôi tiện bay qua đất nước kia thì chấm dứt oan nghiệt này.

Với tôi việc này dễ như trở bàn tay, không cần phải phiền hà nhiều, khi đến đất nước kia chỉ cần thả hồn phách của hai vợ chồng đó ra là được.

Còn có một điểm nữa quan trọng hơn, đó là tôi phải vẽ hai lá phù ẩn thân, lệnh cho tất cả quỷ thần không nhìn thấy được, để thuận lợi cho hai vợ chồng họ đi lại ở đất nước kia.

🌟

Sự tình chính là như vậy, cho nên tôi nắm rất rõ sự việc này. 

Ban đầu tôi muốn khuyên hai vợ chồng đừng sinh lòng ghen ghét, đừng khởi tâm giết người, tu hành chính pháp để thoát khỏi đạo quỷ. Nhưng tiếc là vợ chồng kia oán khí khó tan. Người bạn thân trước kia chạy trốn, lại không hề có ý hối hận, vẫn tiếp tục thân gây ác nghiệp nặng, khẩu gây ác nghiệp nặng, ý gây ác nghiệp nặng, vẫn tiếp tục lừa đảo.

Tại đây, tôi có một câu hỏi cho mọi người:
Bạn nợ người ta bao nhiêu thì phải trả người ta bấy nhiêu.
Người khác nợ bạn bao nhiêu thì phải trả bạn bấy nhiêu.
Hai người đều không nợ.
Là cái gì?


### 17. Gà mổ mắt đồ tể


Ở âm gian, tôi nhìn thấy Minh Vương đang xét xử một tên đồ tể. Minh Vương nói:
”Ở dương gian tổng cộng ngươi đã giết bao nhiêu con gà?”
Đồ tể đáp:
”Không đếm xuể.”
Minh Vương nói:
”Nghiệp sát sinh quá nặng, thế nên để cho lũ gà mà ngươi đã giết đến mổ vào mắt ngươi được chứ?”
Đồ tể nói:
”Mổ mắt thì đau lắm!”
Minh Vương nói:
”Ngươi giết gà, gà không đau sao?”
Đồ tể á khẩu.

Thế là những con gà lần lượt tiến lên trước, mổ vào mắt của tên đồ tể, hai con gà mổ vào hai mắt của tên đồ tể, máu chảy đầy mặt đất, tên đồ tể thét lên:
”Đau chết tôi rồi.”

Thế rồi, hai con mắt của tên đồ tể nhanh chóng mọc ra nhãn cầu, lại có hai con gà khác tiến lên, mổ vào hai con mắt của tên đồ tể. Hắn lại kêu lên thảm thiết, cứ thế…
Máu đổ lênh láng.
Hai mắt lại nhanh chóng sinh ra.
Gà lại lũ lượt đến mổ, liên tiếp lặp đi lặp lại.
Máu mắt chảy đẫm mặt đất.
Đây đúng là một cảnh tượng thảm thương không thể nhìn nổi!

🌟

Kinh điển nói: [Kinh Nghiệp Báo Sai Biệt]
Phật bảo Thủ Già: “Có mười loại nghiệp có thể khiến chúng sinh gặp quả báo đoản mệnh: một, tự làm việc giết hại; hai, khuyên người ta giết hại; ba, ca tụng việc giết hại; bốn, thích thú trước cảnh giết hại; năm, đối với thứ mình ghét thì mong cho bị tiêu diệt; sáu, thấy thứ mình ghét bị tiêu diệt rồi thì sinh tâm vui mừng; bảy, phá hoại bào thai; tám, dạy người tự hủy hoại; chín, cúng tế quỷ thần, giết hại chúng sinh; mười, tự làm vũ khí chiến tranh và dạy người tàn sát lẫn nhau. Mười nghiệp trên sẽ bị quả báo đoản mệnh.”

Theo như tôi thấy, không chỉ gặp quả báo đoản mệnh mà còn phải trả hết nghiệp giết đến từng sợi lông kia!
Tên đồ tể kia chính là như thế.
Tôi nhìn thấy gà mổ mắt đồ tể thì cảm thấy hết sức không đành lòng, tôi nói với Minh Vương:
”Tôi muốn cứu hắn!”
Minh Vương nói:
”Ngài không nhẫn tâm thì ngài cứu đi! Tùy ngài cứu đó.”

Tôi gọi tên đồ tể qua một bên, dạy hắn niệm: “Om guru liansheng siddhi hum.”
Tên đồ tể nhanh chóng biết niệm. Tôi nói:
”Hễ có một con gà tiến lên phía trước thì anh niệm một câu, hai con gà tiến lên thì anh niệm hai câu, trăm triệu con gà thì anh niệm trăm triệu biến.”
Đồ tể lắc đầu:
”Trăm triệu biến, thế thì khó lắm!”
Tôi nói:
”Thế anh muốn để gà mổ mắt trăm triệu lần à? Hay là niệm chú trăm triệu lần?”
Đồ tể nói:
”Niệm chú vẫn tốt hơn!”

🌟

Nói ra thì cũng kỳ lạ, tên đồ tể niệm một biến “Om guru liansheng siddhi hum” thì gà liền biến mất một con, niệm hai biến thì gà biến mất hai con. Tên đồ tể bán mạng niệm, lũ gà lần lượt từng con biến mất.

Niệm đến trăm vạn biến thì bỗng “đùng” một tiếng, toàn bộ lũ gà đều biến mất, lại tiếp tục niệm thì dưới chân tên đồ tể đã sinh ra hoa sen trắng. 
Đây chính là:
”Hiểu được mọi duyên đều là huyễn, thế gian chỉ có bạch liên hoa.”
Minh Vương ở bên cạnh nhìn cũng không ngớt ca ngợi!

Còn những con gà bị giết kia thì cũng đều được siêu độ hết. 
Lạ thay!
Lạ thay!
Bạch Liên Hoa chú!

Bây giờ tôi hỏi thánh đệ tử: “Khi các bạn niệm “Om guru liansheng siddhi hum”, đương nhiên là hiểu ý nghĩa của câu chú, bởi vì tôi đã giải thích rất nhiều lần rồi. Thế nhưng, trong câu chú này, bạn có thể biết chữ nào là Phật tính không? Chữ nào là tâm?”
Xin mời giải thích rõ. 


### 18. Xách đầu người đi dạo


Tại một địa ngục ở âm gian, tôi nhìn thấy rất nhiều ma đang đi dạo, họ đều là người không đầu, thế còn đầu ở đâu? Tất cả đều được xách trên tay. Nhìn thấy cảnh tượng ấy, tôi sợ giật thót mình!

Tôi nhận ra một người trong số đó là bạn học ngày xưa của tôi, tên cô ấy là Trịnh Phi Mỹ, không sai, đó là Trịnh Phi Mỹ.
Tôi gọi cô ấy:
”Phi Mỹ! Phi Mỹ! Tôi là Lư Thắng Ngạn đây!”
Cô ấy dừng bước, nhấc đầu lên, nhìn lom lom vào mặt tôi:
”Ôi! Quả nhiên là Lư Thắng Ngạn.”
Tôi nhìn cái đầu kia thì kinh hoàng! 
Tóc nhuộm năm màu.
Lông mày cạo nhẵn.
Mũi bạnh ra.
Đến hai con mắt cũng biến thành màu xanh lam.
Quái nhất là hàm răng, thì ra toàn là “răng trồng”, răng cũng không phải là răng, mà là đá quý bảy màu, có nghĩa là khi há miệng ra thì toàn là đá quý nhiều màu cứng chắc.
“Phi Mỹ, răng của cô…?”
”Đây là mốt mới của thế kỷ này, trồng răng đá quý.”
Tôi hoang mang.

🌟

Tôi nhớ lúc còn nhỏ, Trịnh Phi Mỹ cao nhất trong lớp, da trắng như tuyết. Mặc áo trắng, váy đen, là một cô gái xinh đẹp một trăm phần trăm, cô ấy ngồi hàng ghế cuối cùng, tôi ngồi ở hàng ghế đầu tiên.
Sau khi tốt nghiệp, cô ấy đi lấy chồng sớm nhất. 
Người cưới cô ấy là một nghị sĩ. 
Khi họp lớp, tôi đã gặp cô ấy một lần, cô ấy càng xinh đẹp hơn, trên tay ôm em bé, mặc dù đã sinh con nhưng thân thể vẫn thon thả, có một vẻ đẹp của thiếu phụ khiến cô ấy trông càng mặn mà. 
Cô ấy gọi tôi:
”Lư Thắng Ngạn, cậu vẫn lùn thế à?”
”Tôi… “ - Tôi đỏ mặt.

Về sau:
Nghe nói cô ấy đã ly hôn.
Nghe nói cô ấy mở một quán rượu, tự mình làm bà chủ và nữ hầu rượu. 
Nghe nói cô ấy đi sửa sắc đẹp.
Nghe nói cô ấy đi bơm ngực gì đó.
Nghe nói cô ấy bị ung thư buồng trứng mà chết rồi.

🌟

Ở âm gian, tôi lại gặp Trịnh Phi Mỹ, chỉ là không ngờ cô ấy xách cái đầu người đi dạo trên phố.
Tôi hỏi:
”Phi Mỹ, ma ở đây sao toàn xách đầu vậy?”
”Cậu không biết à? Vì thích chưng diện. Người ở đây đều đang phô ra cái đẹp của mình đó.”
”Đẹp có tội sao?” - Tôi hỏi.
”Đẹp thì có tội gì? Chỉ vì cả đời chỉ thích chưng diện, thích cái hào nhoáng đến quá cả đầu, dành cả đời vào việc làm đẹp thẩm mỹ, vì thế đọa vào âm gian thì đến nơi này.”
”Đây là nơi nào?”
”Thôn chưng diện.”

Tôi ngây người ra, âm gian mà cũng có thôn chưng diện. Tôi hỏi Trịnh Phi Mỹ:
”Cậu có biết Lư Thắng Ngạn tôi ở dương gian làm cái gì không?”
Phi Mỹ đáp:
”Ai mà không biết đại danh lẫy lừng của cậu, tu hành thành tựu, sáng tác cũng thành tựu không kém, thông thiên triệt địa, ngay cả âm gian cũng nổi danh, không ngờ cậu thấp bé mà lại có thành tựu lớn.”
Tôi ấp úng nói:
”Sao cậu không theo tôi đi tu hành đi!”
Phi Mỹ đáp:
”Tôi chỉ thích chưng diện thôi!”

🌟

Tôi có một câu hỏi hỏi mọi người:
”Chưng diện có bị xem là tội không? Có phải là nghiệp không? Nếu là nghiệp thì thế nào mới hình thành nghiệp?”


### 19. Vào địa ngục hư cấu


Ở âm gian địa phủ, tôi nhìn thấy một cảnh tượng kỳ lạ đặc biệt.

Có một người nam bê một cái cây khô, hôn mạnh vào đầu của cái cây khô đó. Rồi lại cởi hết quần áo của mình ra, bất thình lình ôm chặt lấy cái cây khô, vừa quấn chặt lấy cái cây, vừa ra sức làm các tư thế nam nữ giao hợp, rồi bất thình lình kêu lớn một tiếng “ra rồi, ra rồi”, bộ dạng sướng như tiên, sướng muốn chết.

Tôi lại nhìn thấy một người nữ nhảy điệu múa khêu gợi trước một tảng đá, lúc thì đi ngược chiều kim đồng hồ, lúc thì đi thuận chiều kim đồng hồ, cuối cùng cũng cởi hết quần áo của mình ra, ôm chặt lấy tảng đá, làm những tư thế rất xấu xí khó coi, rồi lại ngồi trên đầu của tảng đá nhún lên nhún xuống.

Tôi lại đưa mắt nhìn tiếp. Thì ra không chỉ có một nam một nữ như vậy, ở đây có vô số nam thanh nữ tú, mỗi người đều ôm cây khô, hoặc tảng đá, làm những động tác tương tự.

Hây! Chuyện gì thế này?
Tôi hỏi Minh Vương:
”Đây là cảnh giới gì?”
Đáp:
”Địa ngục hư cấu!”
Hỏi:
”Sao lại ôm cây khô đá tảng bùn nhầy như vậy?”
Đáp:
”Cây khô đá tảng bùn nhầy đều huyễn hóa thành người yêu của mình.”
Hỏi:
”Thế rồi sao?”
Đáp:
”Sung sướng đến hư thoát mà chết!”

Cuối cùng tôi đã hiểu rồi, người dương gian phát minh ra máy vi tính, lợi dụng máy vi tính để tạo nên thế giới hư cấu, con người thường xuyên nhập vào thế giới hư cấu này mà không tự biết. Giờ đây, âm gian cũng có địa ngục hư cấu, con người vào trong đó, không biết cây khô, đá tảng, bùn nhầy, cho rằng đó là người yêu của mình, nên cứ ôm ấp lấy, cho đến chết không thôi.

🌟

Tôi nhìn thấy một đệ tử trẻ tuổi của mình tên là Nhã Hoa, tuổi còn trẻ đã chết rồi. 
Minh Vương xét xử hắn vào địa ngục hư cấu.
Hắn vừa vào đó thì nhìn thấy một cái nồi lẩu nóng đang sôi ùng ục, hắn thích nhất là ăn lẩu. 
Hắn uống canh. Nhưng thứ hắn uống là máu tươi.
Hắn ăn thịt. Nhưng thứ mà hắn nhai là xương khô.
Hắn ăn rau. Nhưng thứ mà hắn ăn là rơm rạ.
Cuối cùng hắn no kềnh mà chết.

🌟

Có một người nam vào địa ngục hư cấu, trèo đèo lội suối, tìm được kho báu của Alibaba, bên trong đó toàn là dây chuyền, vàng bạc châu báu, hai tay bưng châu báu, đeo dây chuyền lên người. 

Còn tôi nhìn thấy những vàng bạc, châu báu, dây chuyền kia toàn là rắn, rắn to, rắn nhỏ, rắn độc.
Cái cổ của người nam đeo đầy rắn, trên tay cũng có rắn quấn, hai tay bưng rắn, hắn hôn mạnh vào rắn và rắn độc cũng hôn hắn. 
Toàn thân người nam bị rắn cắn mà chết!

Địa ngục hư cấu mà tôi nhìn thấy toàn là:
Chết vì sắc!
Chết vì ăn no căng!
Chết vì bị cắn!

🌟

Tôi xin hỏi thánh đệ tử:
”Trong địa ngục có địa ngục hư cấu, ở nhân gian có thế giới hư cấu, hễ đi vào trong đó, không tự biết, không tự ý thức. Tôi xin hỏi mọi người, thế giới hiện tại chúng ta đang sống là thật hay là hư cấu? Mọi người có nhìn thấu được không? Bây giờ tôi lại hỏi mọi người, cái gì mới là thật?”


### 20. Kỳ thi của âm gian


Minh Vương đưa tôi đi du lịch đến một nơi, chỉ thấy rất nhiều ma quỷ âm gian tụ tập trong một phòng lớn, mỗi người được phát cho một tờ giấy trắng, ma quỷ ai nấy tập trung tinh thần, cầm bút viết sột soạt trên giấy.

Tôi hỏi:
”Làm gì vậy?”
Minh Vương đáp:
”Thi!”
Tôi rất ngạc nhiên:
”Âm gian cũng có thi cử ư?”
Minh Vương đáp:
”Đương nhiên cũng có, thi làm quan âm phủ, thi làm thần Thổ Địa, thi làm thần Núi, thi làm Thành Hoàng… đều từ thi cử mà có.”
Tôi hỏi:
”Có công bằng không?”
Minh Vương đáp:
”Công bằng.”
”Công bằng thế nào?”
Minh Vương đáp:
”Giám sát tâm cảnh, không trật một li.”
”Tâm cảnh là cái gì?”
Minh Vương đáp:
”Trong lòng nghĩ gì phải lần lượt bày tỏ ra hết.”

🌟

Thì ra thi cử ở âm gian là có thực, người đến âm gian không nhất định là luân hồi trong tam ác đạo (địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh). Người có tình tiết nhẹ, nghiệp chướng không quá nặng thì sinh sống tại âm gian, cuộc sống ở âm gian không khác với dương thế là mấy.

Nhân gian có thi cử, âm gian cũng có thi cử, sinh ra quan âm phủ là để quản lý ma quỷ ở âm gian, cũng có người được phái đi địa ngục, ngạ quỷ. Người được phái đến đạo súc sinh thì sẽ thành vua Nai, vua Voi, vua Khỉ, Phật Thích Ca Mâu Ni cũng từng làm vua của ba loài này.

Thi chức thổ địa thần, thi đậu thì được phái đến nhân gian bảo vệ đất đai, kiêm đánh giá nghiệp báo của người trong làng.
Thi chức thần núi, thi đậu thì được phái đến nhân gian bảo vệ núi lớn nhỏ, kiêm cai quản thần cây, thần sông, thần mầm mạ, thần mùa màng, thần giếng, thần suối, thần đá, v.v…
Thi chức thành hoàng, thi đậu thì được phái đến nhân gian Ta Bà, làm Trấn Thành Hoàng, Huyện Thành Hoàng, Phủ Thành Hoàng, Đô Thành Hoàng, Thiên Hạ Thành Hoàng, uy linh hiển hách, quản cả âm dương.

🌟

Tôi hỏi Minh Vương:
”Dương gian thi cử có tình trạng quay cóp gian lận, ở âm gian có không?”
Minh Vương đáp:
”Không có.”
Minh Vương giải thích:
”Tôi đã nói là rất công bằng, bởi vì âm gian tất cả đều do nghiệp báo khác biệt mà biến hiện, vốn dĩ chính là cẩn thận kĩ lưỡng, dương gian có thể có trò gian lận, ở âm gian thì đều vô hiệu. Ở đây cũng không có cái gọi là tình nghĩa và nói hộ, đều là làm đúng hưởng đúng.”
Tôi hỏi:
”Có ma quỷ ở âm gian đã đạt được tư cách thần, nhưng không muốn nhận tư cách làm thần, chỉ muốn sống yên ở âm gian không?”
Minh Vương đáp:
”Ở đây có quyết định báo và bất định báo. Người quyết định báo là, nếu ma quỷ đã đạt tư cách thần, lại có thêm tâm bố thí, nhờ thiện nghiệp này, phát nguyện hồi hướng, thì sẽ được xưng thần, thì gọi là quyết định báo.”
”Còn bất định báo là ma quỷ đã có tư cách thần, nhưng tâm chưa phát nguyện, lại không muốn xưng thần, lại không muốn hồi hướng được thụ sinh, gọi là bất định báo nghiệp, tự do tự tại sống ở âm gian.”

Tôi hỏi:
”Loại ma quỷ nào thì không thể thi cử?”
Minh Vương đáp:
”Vẫn là người có nghiệp sát nặng, nghiệp trộm cắp nặng, nghiệp tà dâm nặng, nghiệp khoác lác làm bậy nặng, người nghiện thuốc nghiện rượu khiến bản thân lạc đường, người có năm loại nghiệp nặng này không thể thi.”

🌟

Tôi có một đệ tử vốn có năng lực về pháp, nhưng lại đánh mất bản tính, đọa lạc ở âm gian, ngay cả tư cách thi cử cũng không có.
Tôi xin hỏi mọi người, mọi người thử chạm vào lương tâm của mình xem đó là ai? Có phải là bạn không? Có phải là người kia không?
Vẫn là chính mình.


### 21. Bệnh ngoài da chữa không khỏi


Từng có một tì kheo chuyên môn bận rộn những pháp sự tụng kinh sám hối đến tìm tôi, ông ấy lật ống quần lên cho tôi xem. 

Tôi vừa nhìn thì giật mình thảng thốt, hai chân ông ấy đầy chi chít những nốt đỏ, nhiều nốt đỏ thành một mảng, có chỗ thì mưng mủ, có chỗ thì nứt lõm, có chỗ thì chảy dịch.

Ông ta nói:
”Ngứa kinh khủng khiếp.”
Tôi nói với ông ta:
”Đi khám chuyên khoa da liễu đi!”
Ông ta nói:
”Đều khám hết rồi, chính vì các chuyên gia đều chữa không khỏi, bây giờ chỉ có tìm đến Lư Sư Tôn thôi!”

Tôi thử vẽ ba lá phù đưa cho ông ấy, nhưng vẫn vô hiệu. Tôi không biết làm thế nào mới được.

🌟

Một buổi tối, tôi đến âm gian thì nhìn thấy tì kheo “bận rộn sám hối” này đang bị mấy trăm mấy nghìn ma quỷ vây quanh. Tì kheo này ôm lấy đầu, bỏ chạy một cách hết sức thảm hại. 

Thế nhưng lũ ma quỷ tới tấp biến thành những con ong mật đuổi theo chân của tì kheo này, ra sức đốt chích. 
Tì kheo kêu lên thảm thiết. Bầy ong thì cứ kêu vù vù không ngừng.

Tôi hỏi Minh Vương:
”Chuyện này là sao?”
Minh Vương đáp:
”Tì kheo này làm nghề lo liệu pháp sự tụng kinh bái sám, chỉ thuận miệng đọc kinh siêu độ, căn bản không dùng tâm, cũng có nghĩa là không tận tâm, hoàn toàn chỉ là làm cho xong việc, vì thế, bầy ma quỷ tụ tập lại tìm tì kheo này gây phiền phức, hóa thành ong đốt ông ta.”
”Nhưng tì kheo vẫn đang ở dương thế mà!”
Minh Vương đáp:
”Mặc dù tì kheo đang ở dương thế, nhưng biến hiện ở địa ngục này là bầy ong chích vào chân cũng đủ để ông ta phải chịu bệnh rồi, mấy năm nay, hai chân của ông ta bị ngứa một cách kỳ dị, chữa thế nào cũng không khỏi, ban đêm khó ngủ, khổ sở vô cùng.”
Tôi hỏi Minh Vương:
”Làm sao để cứu tì kheo này?”
”Chẳng gì khác ngoài việc hằng đêm phải tận tâm niệm 21 biến chân ngôn bổ khuyết thì may ra mới có thể khỏi bệnh. Phải ghi nhớ, phàm là siêu độ quỷ thần, quỷ thần không dễ lừa gạt, phải tận tâm, nếu tận tâm thì sẽ không gây nên phiền phức này.”
Tôi đã hiểu ý của Minh Vương.

🌟

Sau đó, tôi nói với tì kheo này, chân ngôn bổ khuyết có ý nghĩa lớn, ông ta tụng kinh lễ sám e rằng có chỗ chưa để tâm, có chỗ sai sót, trong siêu độ có chỗ qua loa thiếu chu đáo. Cho nên khi kết thúc phải tụng chân ngôn bổ khuyết để bổ cứu cho những sơ suất nói đến ở trên. 

Tì kheo nói:
”Tôi có niệm chân ngôn bổ khuyết mà!”
Tôi đáp:
”Khi niệm cũng không để tâm.”
”Đúng vậy, đúng vậy. Ngay cả niệm chân ngôn bổ khuyết cũng chưa để tâm.” - Tì kheo hết sức lo sợ.

Bởi vì đó là chân ngôn nên tôi đã quán đảnh hai chân ngôn này cho tì kheo:

1. Chân ngôn bổ khuyết:

Na-mô hưa-lua-ta-na, tua-lua yê-na, chuy-lua chuy-lua, chuy-chu chuy-chu, ma-lua ma-lua, hu-lua, hum, khưa-khưa, su-ta-na, pua-ma-na, sô-ha.

1. Chân ngôn bổ khuyết viên mãn:

Ôm hu-lu hu-lu, shưa-yê mu-chi, sô-ha.

Bởi tì kheo này tin nghe lời tôi, từ đó về sau, đêm tụng hai chân ngôn, hết lòng hết sức. Nói kể cũng kỳ lạ, chứng bệnh ngoài da chữa lâu ngày không khỏi không ngờ không thuốc mà khỏi rồi.

🌟

Tại đây, tôi đặc biệt nói với các đệ tử, làm bất kì việc gì đều phải tận tâm tận lực, đừng qua loa coi thường.
”Quỷ thần không thể lừa, nếu bạn lừa quỷ thần, tự cho rằng mình đã được, chắc chắn sẽ có một ngày quỷ thần không tha cho bạn đâu.”

Thử hỏi một câu:
”Lừa người còn không được! Huống hồ quỷ thần!”


### 22. Ma xinh kén chồng


Tại âm gian, tôi nhìn thấy một cảnh tượng kỳ lạ. 
Một đám nha đầu đang nâng một cô gái xinh đẹp đi ra. Cô gái có làn da trắng nõn nà, mềm và trơn mướt, dáng yểu điệu khiến người ta có cảm giác dịu dàng, lông mày lá liễu, đôi mắt phượng hoàng, cái miệng anh đào, cử chỉ duyên dáng, vô cùng diễm lệ cuốn hút.

Minh Vương giúp cô gái này cử hành một đại lễ kén chồng. Điều này thật là mới mẻ. Minh Vương nói:
”Này! Phượng Ngọc đây quả thực vô cùng xinh đẹp, không chỉ có dung mạo xuất chúng, mà nói năng cử chỉ còn có khí phách của tiểu thư khuê các, người ta không thể tìm ra một chút khuyết điểm nào, bây giờ cô ấy kén chồng, âm gian có phúc rồi.”

Minh Vương lại nói:
”Chỉ có một điều kiện thôi, chỉ cần là con người là được!”
Thế là bầy ma ở dưới nghe được câu nói này: ”Chỉ cần là con người là được!”
Bầy ma im lặng không hé răng. Từ từ tản đi. 
Cuối cùng chẳng còn lại một ai cả. 
Minh Vương thấy kén chồng bất thành thì cũng bỏ đi.

🌟

Tôi hỏi Minh Vương:
”Ở âm gian nam nữ có kết hôn không?”
Minh Vương đáp:
”Có chứ! Quỷ tử mẫu, chẳng phải là có ma mẹ, ma con sao? Nếu mà không có ma bố thì lấy đâu ra ma con?”
Tôi nói:
”Phải rồi.”
Minh Vương nói:
”Chỉ là cô Phượng Ngọc đây ra điều kiện quá ngặt nghèo!”
Tôi hỏi:
”Đâu có ngặt nghèo? Chỉ cần là con người là được, điều kiện quá đơn giản đi!”
Minh Vương cười vang ha ha:
”Người đọa vào âm gian đại bộ phận đã mất thân người rồi. Đạo địa ngục, đạo ngạ quỷ, đạo súc sinh thì không tính, những chỗ mà cô hồn dã quỷ tụ tập cũng đều là những người có oan nghiệp, hơn nữa thành quách ở âm gian cũng giống như dương thế, cũng có những nghề bất tịnh, làm sao tìm được một con người chân chính, một con người chân chính là cực kì cực kì khó tìm.”
Tôi nói:
”Dương gian dễ tìm, dương gian đều là con người.”
Minh Vương cười:
”Lư Sư Tôn, ngài sai rồi, trong con mắt của ngài, dương gian đều là con người, trong con mắt của Minh Vương, dương gian ma quỷ nhiều hơn người.”
”Sao lại nói vậy?”
Minh Vương đáp:
”Người dương gian đội lốt con người, nhưng kì thực đều không phải là người, mà là những loài lòng lang dạ sói. Có người là rắn rết, có người là lợn, gà, bò, nhiều hơn nữa là sói cọp hùm beo rắn voi, đều là những kẻ ăn thịt người, dương gian là thế giới người ăn thịt người, chẳng có mấy ai là con người chân chính.”
Tôi nói:
”Người tu hành rất nhiều mà!”
Minh Vương nói:
”Hừ! Treo đầu dê bán thịt chó.”
”Tu thân thanh tịnh, tu khẩu thanh tịnh, tu ý thanh tịnh.”
Minh Vương nói:
”Có quỷ mới tin.”
Minh Vương nói tiếp:
”Thiên đường có lối anh không đi, địa ngục không cửa mà cứ đâm vào, người tu hành cũng thế thôi, tu Phật không thành, toàn tu thành ma! Trong địa ngục của tôi, kẻ theo tăng đạo là nhiều nhất, lẽ ra phải độ người thì cuối cùng toàn được người độ. Những người này căn bản không phải là người, giả thần giả quỷ, lừa thần lừa quỷ, ngay cả làm ma cũng không thành!”
Tôi nói:
”Ngài nói đúng.” - Tôi không thể không gật đầu.

Minh Vương lấy ra một cuốn sổ ghi chép, nói, ngài xem xem, những người này đều là Hoạt Phật, đại sư, thượng nhân, thượng sư, đại thiện tri thức,… những người tu hành này đều phải đến chỗ của tôi đây.
Tôi xem danh sách thì nghẹn lời nhìn trân trối, không còn điều gì để nói. Thật xấu hổ! Xấu hổ!

🌟

Bây giờ, ở đây tôi thử hỏi các đệ tử:

1. Bạn có phải là con người không?
2. Bạn phải giữ năm giới, bạn có giữ được không?
3. Xin hãy chạm vào trái tim mình, hỏi thử mình có phải là người không?


### 23. Ngạ quỷ cổ dài


Ở âm gian tôi gặp một người thân bị chuyển kiếp đến đạo ngạ quỷ. Tôi không tiện nói tên của người thân này ra, tóm lại, đó là một người thân rất thân.

Khi tôi nhìn thấy người này, tự nhiên tôi cũng giật mình, nhưng khi nghĩ lại chuyện xưa thì thấy người này chuyển kiếp đến đạo ngạ quỷ cũng là điều tất nhiên thôi.

Hắn nhìn thấy tôi thì rất sợ hãi, nhưng cũng rất hổ thẹn.
Hắn lúc này, cái miệng đặc biệt to, mắt, tai, mũi đều nhỏ, đầu như cái thúng, một cái cổ vừa gầy vừa dài, thế còn thân người thì, thân trên giống như xương sườn, thân dưới bụng như quả bóng hơi, hai chân vừa gầy vừa dài, đúng là một con quỷ đói quái vật.

Miệng to — tham.
Mắt, tai, mũi nhỏ — tầm nhìn bé như hạt đậu.
Đầu to — tham.
Cổ, thực quản dài và gầy — tham mà không được.
Thân trên như xương sườn — gầy (tham mà không được).
Bụng như bóng hơi — tham.
Hai chân gầy tong teo — tham mà không được.
Cộng những đặc trưng này vào thì chính là một chữ: Tham.

🌟

Người thân này khi còn tại thế là loại người “duy ngã độc tôn”. “Duy ngã độc tôn” này không phải là “thiên thượng địa hạ, duy ngã độc tôn” của Phật Đà, mà là “duy ngã độc tôn” kiểu độc tài. 
Duy có mình là to, mọi người đều là nhỏ.
Thích gì làm nấy, tự cao tự ngạo.
Mọi người đều phải sống dưới sự lạm dụng uy quyền của hắn. 
Điều mà hắn nói tức là đúng. 
Điều người khác nói đều là sai.
Hắn hoàn toàn là một kẻ ích kỷ một trăm phần trăm, không tin lời của người khác.

🌟

Hắn tham ăn. 
Khi còn tại thế, hắn tin theo tà, thường xuyên sỉ nhục Tam Bảo, không tin chính kiến, không tin nhân quả. Chỉ ham ăn cá và ba ba, cá và ba ba mà hắn thích ăn đa phần là con con, hoặc rán hoặc luộc hoặc rang, ăn uống thả cửa, nếu mà tính ra số mạng thì là cả nghìn vạn tỉ con, không thể đếm hết.
(Giống như ghi chép trong kinh Địa Tạng.)

Hắn ăn hết muôn dân thiên hạ. 
Xem trọng đồ ăn ngon.
Không tin lời Phật nói.

🌟

Hắn tham lợi. Tất cả tiền tài đều quy về là sở hữu riêng, tích lũy tài sản. 
Chơi cổ phiếu.
Chơi hối đoái.
Theo đuổi tiền bạc. Vơ vét tất cả tiền tài.
Nguyên tắc của hắn là:
1. Quyết không bố thí.
2. Quyết không làm việc thiện.
3. Ngay cả một hạt gạo một hạt cơm cũng không thể bố thí.

Sự hám tiền của hắn đến khi hắn ngã bệnh cũng không quên, hắn không quên một xu một hào nào.
Hắn muốn người trong thiên hạ đều phải “xả” vì hắn, còn bản thân thì vĩnh viễn không “xả”, như vậy không phải là tự tư tự lợi sao?

🌟

Phật nói: “Lễ chùa tháp Phật, có được công đức đẹp đẽ kỳ diệu; dâng cúng lọng quý, có được công đức đẹp đẽ kỳ diệu; dâng cúng cờ thêu, có được công đức đẹp đẽ kỳ diệu; dâng cúng chuông, có được công đức đẹp đẽ kỳ diệu; dâng cúng y phục, có được công đức đẹp đẽ kỳ diệu; dâng cúng đồ đựng dụng cụ, có được công đức đẹp đẽ kỳ diệu; dâng cúng thức ăn, có được công đức đẹp đẽ kỳ diệu; dâng cúng giày ủng, có được công đức đẹp đẽ kỳ diệu; dâng cúng hoa thơm, có được công đức đẹp đẽ kỳ diệu; dâng cúng đèn, có được công đức đẹp đẽ kỳ diệu; cung kính chắp tay, có được công đức đẹp đẽ kỳ diệu.”

Nhưng, hắn không bố thí một thứ gì.
Không chỉ không bố thí, thậm chí còn tráo trở mỉa mai.

🌟

Bây giờ tôi có một câu hỏi hỏi mọi người:
Một kẻ giống như vậy, làm sao bạn khéo khuyên hắn quy y tin theo Tam Bảo, khéo khuyên hắn biết bố thí làm thiện, bạn có diệu kế gì không? Xin mời thảo luận.


### 24. Địa ngục rốt cục ở nơi nào?


Thế nhân thường hỏi tôi: “Địa ngục rốt cục ở nơi nào?”

Trước tiên chúng ta hãy đọc kinh Bản Nguyện Địa Tạng Bồ Tát đi!

Nữ Bà La Môn hỏi Quỷ Vương rằng: “Đây là nơi nào?”
Vô Độc đáp rằng: “Đây là tầng biển thứ nhất ở phía tây núi Đại Thiết Vy.”
Thánh nữ hỏi rằng: “Tôi nghe nói trong núi Thiết Vy có địa ngục, có phải là thật không?”
Vô Độc đáp rằng: “Thực có địa ngục.”
Thánh nữ hỏi rằng: “Nay tôi làm sao để được đến chốn địa ngục đó?”
Vô Độc đáp rằng: “Nếu không phải sức oai thần, cần phải do nghiệp lực. Ngoài hai điều này ra thì không bao giờ có thể đến đó được.”
Thánh Nữ lại hỏi: “Duyên cớ vì sao mà nước trong biển này sôi sùng sục như thế, và có nhiều tội nhân và ác thú?”
Vô Độc đáp rằng: “… Cứ theo nghiệp ác của họ đã tạo mà chiêu cảm khổ báo ở địa ngục, tự nhiên họ phải lội qua biển này. Về phía đông của biển này lại có một cái biển khác còn khổ hơn bội phần. Nhân ác của ba nghiệp chiêu cảm mà thành, cùng tạo nên biển nghiệp, chính là nơi này.”
Thánh Nữ lại hỏi Quỷ Vương Vô Độc rằng: “Địa ngục ở đâu?”
Vô Độc đáp rằng: “Trong ba cái biển đó là đại địa ngục, nhiều đến vài trăm nghìn, mỗi ngục đều khác nhau. Về địa ngục lớn thì có 18 ngục. Tiếp theo là có 500 ngục, khổ sở vô cùng tận. Tiếp theo nữa có đến nghìn trăm ngục, cũng khổ vô cùng.”

🌟

Chúng ta lại đọc Luận Câu Xá. Địa ngục có ba loại:
1. Địa ngục căn bản. (18 địa ngục và địa ngục bát hàn.)
2. Địa ngục cận biên. (16 địa ngục du tăng.)
3. Địa ngục cô độc. (Ở trong không khí, dưới cây, nơi hoang dã, giữa núi.)

Ba loại địa ngục này có tên gọi khác nhau, thật sự là quá nhiều, hơn nữa nếu đặt tên theo cái khổ phải chịu ở trong đó thì ở đây không thể nào kể hết từng địa ngục được. 

Nhưng tôi muốn nhắc nhở mọi người:
Địa ngục cô độc vì là ở giữa núi, nơi hoang dã, dưới cây, trong không khí, vậy thì tôi muốn hỏi: “Có nơi nào không có địa ngục?”

Tôi thường xuyên nói thế này: 
”Nhân gian chính là địa ngục đó!”
Tôi còn nói:
”Bệnh viện chính là địa ngục đó! Trong bệnh viện, thật sự có mọi khổ, phanh ngực, cắt lưỡi, moi mắt, nhổ răng, cắt họng, mổ tim, thay thận, cắt gan, cắt mật, cắt đại tràng tiểu tràng, cắt tứ chi,… đến mức người thì kêu to, người thì kêu nhỏ, người thì phát sốt, người thì lạnh run, đau tới nỗi chết đi sống lại, đủ mọi thứ.”
Thử hỏi: “Đây không phải là địa ngục thì là cái gì?”
Vì thế tôi nói:
”Nhân gian chính là địa ngục!”

Còn có:
Ngày cực nóng.
Ngày cực lạnh.
Động đất.
Sóng thần.
Núi lửa.
Bão.
Dịch bệnh.
Muốn tìm một cõi yên vui ở nhân gian, muốn tìm được niềm vui vĩnh hằng, thật sự cũng không dễ dàng gì!

🌟

Địa ngục rốt cục ở đâu?
Trong kinh Bản Nguyện Địa Tạng Bồ Tát, Quỷ Vương Vô Độc nói rất đúng, địa ngục chính là biển nghiệp. 

Nhân loại chúng ta liên tiếp tạo nghiệp, biển nghiệp dậy sóng tất cả mọi lúc, đông nam tây bắc ở giữa, khắp mọi lúc, khắp mọi nơi, đều đang dậy sóng.

Có một câu nói: ”Địa ngục ở trong tâm!”
Có người hỏi tôi:
”Địa ngục rốt cục ở đâu?”
Tôi dọa anh ta: 
”Địa ngục ở trong người anh đó! Chính là ở trong tâm anh!”

🌟

Tại đây, tôi có một câu hỏi hỏi thánh đệ tử: “Khổ báo địa ngục vô tận, hành giả chúng ta không muốn bị cưa chặt, chúng ta không muốn gào thét, chúng ta không muốn khổ liên miên. Muốn tránh được khổ địa ngục, chỉ có một cách, là cách gì mới có thể tránh được khổ địa ngục?”


### 25. Những con trùng trắng


Ở âm gian, tôi nhìn thấy một đại hòa thượng lủi thủi đi một mình, đi tới một thành phố rộng rãi, trong thành phố này, ai nấy đóng chặt cửa, đường phố rất hẹp nhưng nhà cửa rất nhiều, đường hầm cũng rất nhiều. Đại hòa thượng đi đến nơi này, trong lòng băn khoăn không biết nơi này là đâu. 

Đại hòa thượng vừa đi vào thành phố này thì phát hiện ra trên các đường phố và ngõ hẻm cũng có không ít người giống như ông, cũng đi lang thang hết ngõ phố này đến ngõ phố khác. 

Ông không nhịn được nên hỏi một người:
”Mọi người đi qua đi lại làm cái gì vậy?”
Người kia đáp:
”Tìm thú vui! Ông nghe xem, cái âm thanh đó!”
Đại hòa thượng nghe kĩ, thì ra mỗi căn nhà đều đang phát ra những âm thanh tiếng nói dâm đãng:
”Sướng chết mất!”
”Ha ha… hơ…!”
”Toàn thân đê mê hết cả rồi!”
”Sướng quá trời ơi!”
……

Bất kì ai đi vào trong thành này không một ai là chân không mềm nhũn, không bước chân ra khỏi đây. Đại hòa thượng nghe một hồi cũng không thể kiềm chế được nữa, gõ cửa một ngôi nhà trong số đó, cửa mở ra, bên trong có hai phụ nữ xinh đẹp. 

Một người thốt lên tiếng lả lơi:
”Chao, cuối cùng người cũng đến rồi!”
Một người thì để lộ ra cặp đùi ngọc ngà trắng nõn, cười đầy mời gọi. Đại hòa thượng muốn đi vào. Tôi nhìn thấy thì thất kinh, tôi hét lớn: 
”Không được vào đó!”
Nhưng, đại hòa thượng đã mê mẩn vào cảnh tượng này rồi, không dứt ra được nữa, vừa đi vào thì cửa đã đóng lại.

🌟

Trong con mắt tôi, thành phố này là thành phố đĩ điếm. Mọi người âm một khi vào thành phố này thì mới biết tất cả những ngôi nhà trong toàn thành phố đều là các động gái điếm, đàn ông mà đi vào thì không có ai đi ra được nữa.

Nhưng, một khi đã vào thành phố này rồi, thành phố này vốn là thế giới của những “nhục trùng”, có nghĩa là nhục trùng và nhục trùng không ngừng quấn lấy nhau, mỗi con quấn lấy một con, nhục trùng đuổi theo nhau, triền miên không dứt, cho đến chết mới thôi.

Âm gian có thành phố đĩ điếm.
Còn trong con mắt tôi, toàn là huyễn hóa, vốn dĩ đều là những con trùng trắng, bán mạng làm cái chuyện quằn quại. (Thành phố đĩ điếm nằm ở bên dưới rễ của một cái cây to.)

🌟

Tôi nói:
”Con người do hai dâm căn giao hợp mà sinh ra.” 
Con người khi sinh ra tất nhiên mang theo tập tính dâm, nam nữ đều như vậy.
Người có thể thoát khỏi tính dâm, hiếm lắm!
Con người vốn chính là hai loại dâm trùng là tinh trùng và trứng kết hợp lại mà sinh ra. 

Tôi lại nói:
”Người và chúng sinh đều từ Phật tính sinh ra, chúng sinh hữu tình đều có Phật tính.”
Phật tính.
Dâm tính.
Cùng chứa trong thân người.

Cái gọi là tu hành là biết lấy Phật tính vốn thanh tịnh để mà kéo dài liên tục chân như.
Cái gọi là “tùy ý trôi” là thân người trải qua cuộc sống của những con trùng trắng, tự thân là trùng mà không tự biết. 

Con người hỏi Phật:
”Người là cái gì?”
Phật đáp:
”Ổ trùng.”
Câu trả lời đủ làm người ta khiếp sợ.

Trên thực tế, điều này cũng là thật, con người vốn từ trùng biến ra, toàn thân là những tổ hợp của trùng, nếu không tu hành, con người và trùng có khác gì nhau?

Tu hành chính là hóa mọi tập tính tích lũy nhiều kiếp thành cỏ thơm, cho đến khi đẳng giác, diệu giác.

🌟

Tôi nói:
”Nhân gian và trùng như nhau, nhân gian chính là địa ngục. Con người là huyễn, trùng là huyễn, nhân gian là huyễn, địa ngục là huyễn, nam là huyễn, nữ là huyễn, tất cả đều là trò chơi hư huyễn.”
”Muốn ra khỏi cái huyễn này phải tìm ai? Muốn ra khỏi nhân gian phải tìm ai? Mau nói! Mau nói!”


### 26. Cuộc đại chiến với những bộ xương người


Trong những bộ phim điện ảnh thời kì đầu, tôi từng xem thấy một cảnh đại chiến giữa con người và bộ xương người. Những bộ xương người này chỉ còn lại đầu lâu và khung xương, một tay cầm đao, tay kia thì cầm cái lá chắn, dùng cả tay cả chân, động tác linh hoạt, mỗi khi nhảy lên thì cũng rất nhịp nhàng, đánh nhau rất kinh khủng khiếp.

Nếu bộ xương người đánh thua thì vỏ sọ bay lả tả, tay bị chặt đứt, chân bị chặt đứt, bộ khung xương toàn thân rơi ào ào xuống đất, trở thành một đống xương vụn.

Tôi ở âm gian, không ngờ cũng nhìn thấy cảnh tượng như vậy. Trước kia là xem phim, cảm thấy chẳng qua chỉ là cảnh diễn thôi, bây giờ ở âm gian, những gì tôi nhìn thấy khiến tôi không khỏi kinh hãi.

Nhân vật chính là Vương Tương.
Những người khác đều là bộ xương người.
Tôi nhìn thấy:
Vương Tương tay cầm đao, bộ xương người cũng cầm đao trên tay, đôi bên đứng song song, anh tiến thì tôi lui, anh lui thì tôi tiến, chém hết nhát này tới nhát khác, Vương Tương phòng thủ nghiêm ngặt, cuối cùng sau một hồi đã chém bay đầu đối phương như những quả dưa hấu lăn trên mặt đất.

Giết xong một tên, Vương Tương vốn muốn thở một hơi, nhưng không ngờ lại xuất hiện hai bộ xương người, một trái một phải áp sát. Đao pháp của Vương Tương không kém, tiêu diệt hoàn toàn một tên, ép hai bộ xương người phải thối lui, rồi lại tung một chiêu “tả hữu khai cung” chém bay một tên nữa. Rồi lại một chiêu “dưới cây trộm đào”, lại chém bay chân của đối phương, thế là, hai bộ xương người này trở thành hai đống xương vụn.

Bản thân Vương Tương cũng đã liên tục thở dốc, đang muốn nghỉ thì lại xuất hiện ba bộ xương người nữa đứng ở ba góc, vây lấy Vương Tương ở giữa. Vương Tương một mình quay như gió xoáy, đao đi một vòng tròn, ba bộ xương người nhảy ra xa, sau đó lại nhanh chóng áp sát, từng con nhắm tới ngực, sau lưng, dưới chân Vương Tương để lao vào. 

Tục ngữ nói, hai tay khó địch nổi bốn tay, hảo hán không ngại cái mất trước mắt, Vương Tương thu mình lại, lăn qua một bên, định dợm bước bỏ chạy thì lần này lập tức xuất hiện hai bộ xương người khác, có nghĩa là tổng cộng có chín bộ xương người, cầm tổng cộng chín cây đao, cũng đứng thành hình tam giác, nhốt Vương Tương ở giữa. Vương Tương đổ mồ hôi ròng ròng, tay chân người ngợm mệt mỏi, tự biết khó tránh khỏi số phận bị giết. Lúc này, ngay cả cơ hội để quyết chiến một trận cũng không có. 

Chín bộ xương người hét lớn một tiếng, chín cây đao cùng bay lên, Vương Tương nhanh chóng trở thành một đống thịt vụn.
Máu thịt bay tứ tung.
Thế nhưng, một cơn gió thổi qua, Vương Tương lại sống lại, và bộ xương người lại đến, một cuộc đại chiến với bộ xương người lại bắt đầu.
Cứ thế, việc này lặp đi lặp lại. 

🌟

Vương Tương khi tại thế là đàn anh của tôi. 
Cá tính của ông ta thích tranh đấu. Từ sân hận mà khởi lên mọi ác nghiệp. Đầu tiên ông ta lật đổ người ngang vai ngang vế, tiếp theo là lật đổ trưởng phòng, tiếp theo lại lật đổ tổ trưởng, rồi lại lật đổ trưởng khoa, tiếp theo lại lật đổ giám đốc, rồi lật đổ tổng giám đốc,…

Ngày nào ông ta cũng tính kế với người khác. Nghĩ mọi cách để soi người khác. Tìm khuyết điểm của người ta để báo cáo. Ông ta thường nói, cái này không đúng, cái kia không đúng, anh không đúng, họ không đúng, người duy nhất đúng chỉ có bản thân ông ta.

Ông ta luôn có cách để lật đổ đối thủ, khiến cho người ta người thì chết, người thì bị thương. Ông ta tranh đấu cả đời, tranh đấu không biết chán không biết mệt, cũng tức là loại người thích hãm hại người khác.

🌟

Tôi không ngờ, sau khi Vương Tương qua đời, địa ngục biến hiện của ông ấy lại là đánh nhau với những bộ xương người không ngơi nghỉ. 

Một đấu một, một đấu hai, đấu ba, một đấu với chín, cho đến khi chính mình chết rồi mới thôi, nhưng mà muốn thôi cũng không được, tất cả lại lặp lại từ đầu, địa ngục biến hiện này đến khi nào mới xem là kết thúc đây?

Tại đây, tôi khuyên con người, đừng hại người, đừng giữ tâm hại người, hại người sẽ có báo ứng đó.

Tôi có một câu hỏi, xin hỏi đệ tử của tôi: 
”Bạn hoằng pháp là vì độ hóa chúng sinh, hay là vì mở rộng địa bàn? Các huynh đệ kim cương ganh ghét nhau là đúng hay sai? Hùng tâm và dã tâm có gì khác nhau?”


### 27. Hai chân bị trói bằng dây thừng đen


Có một quan chức ngồi xe lăn đến gặp tôi. Ông ấy nói:
”Không hiểu làm sao mà hai chân tôi đột nhiên không còn cảm giác nữa, mất hẳn sức chống đỡ cơ thể?”
Tôi hỏi:
”Đã đi bệnh viện kiểm tra chưa?”
Ông ấy nói:
”Kiểm tra toàn thân rồi, không tìm ra nguyên nhân bệnh.”

Tôi mới nhắm mắt lại, rất cẩn thận quan sát toàn thân ông ấy. (Xin chú ý, là nhắm hai mắt lại để nhìn.) Tôi nhìn thấy lúc ẩn lúc hiện hai chân của ông ấy bị một sợi dây thừng đen trói từ trên xuống dưới. 

Tôi nói:
”Hai chân của ông bị dây thừng đen trói rồi!”
Quan chức nói:
”Sao tôi không nhìn thấy?”
Tôi cười đáp:
”Nếu ông nhìn thấy thì còn đến tìm tôi làm cái gì?”
Ông ấy nói:
”Vậy thỉnh Lư Sư Tôn mau mau cởi trói giúp tôi đi!”
Tôi nói:
”Khoan đã, sợi dây thừng đen kia là đồ của địa ngục, ngày mai ông lại đến đây, tôi sẽ trả lời ông.”

🌟

Đêm đó, tôi đã đến địa ngục dây thừng đen, hỏi Minh Vương kiểm tra thử chuyện của quan chức bị dây thừng đen trói kia. Minh Vương nói:
”Ông ta đã phán tội sai một người.”
”Là án oan!”
”Đúng vậy.”
”Làm sao hóa giải?”
”Người bị xử oan đã lấy cái chết để chứng minh lòng trong sạch, đã thắt cổ tự tử từ lâu rồi. Một cái là mạng, một cái là vận, làm thế nào mà hóa giải?”
Tôi nói với Minh Vương:
”Thắt cổ tự tử, mạng đã không còn rồi. Nhưng dây thừng đen trói chân, hẳn là có cách giải thoát chứ!”
Minh Vương nói:
”Vốn không có cách tháo gỡ. Nhưng vì ngài đã hỏi, vậy nhờ vào sức mạnh uy thần của ngài mà siêu độ cho người đã chết đi luân hồi, nỗi oan khuất của họ sẽ tự giải. Còn về vị quan chức kia, ngài phải yêu cầu ông ta in 5.000 cuốn Ngọc Lịch Bảo Sao, đích thân tụng kinh Bản Nguyện Địa Tạng Bồ Tát 49 biến, không cần dùng tay, sợi dây thừng đen kia tự sẽ đến lúc cởi ra.”

🌟

Ngày hôm sau.
Quan chức kia lại đến chỗ tôi. Tôi nói với ông ta về chuyện người bị tình nghi đã tự tử rồi. Quan chức kia giật thót mình, quả nhiên đúng là có chuyện đó. Nhưng báo cáo chỉ nói là “tự sát để tránh tội”. 

Quan chức bày tỏ sự hối hận. Tôi nói với vị quan chức, tôi phải siêu độ cho người này, khiến cho oán khí của họ tan đi. Còn vị quan chức phải in sách thiện 5.000 cuốn, niệm kinh Địa Tạng 49 biến. Vị quan chức hết sức lo sợ, tự nguyện in 20.000 cuốn sách thiện, niệm kinh Địa Tạng 108 biến. 

Tôi nói: “Càng nhiều càng tốt.”

🌟

Kể ra thì cũng kỳ lạ, đúng vào ngày mà quan chức này in xong toàn bộ số sách thiện, nhà in thông báo cho ông ấy rằng đã in xong rồi, toàn bộ sách cũng đã đóng quyển xong rồi, thì vị quan chức này đã xuống khỏi xe lăn, bước đi bước đầu tiên, sau đó dần dần luyện tập, chân của vị quan chức này đã hoàn toàn hồi phục như bình thường rồi.

Địa ngục dây thừng đen là địa ngục xếp thứ hai trong số tám đại địa ngục, thứ tự của nó là: 1. Địa ngục đẳng hoạt; 2. Địa ngục dây thừng đen; 3. Địa ngục kết hợp; 4. Địa ngục gào thét; 5. Địa ngục đại gào thét; 6. Địa ngục nóng nực; 7. Địa ngục cực nóng; 8. Địa ngục vô gián.

Trong đó địa ngục vô gián là khổ nhất, cũng có người nói, địa ngục vô gián chính là địa ngục Đại A Tì.

🌟

Tôi cảm thấy:
Người chịu oan uổng trên thế gian này nhiều như cát bụi. Người học Phật chúng ta chịu oan uổng thật không nên tức giận, hãy coi như bình thường, như vậy mới có thể tâm bình khí hòa đi trên con đường tu hành, đây cũng xem là nhẫn nhục đó!

Tôi có một câu hỏi, hỏi thánh đệ tử:
”Thế nhân có người nào không chịu oan ức? Xin lấy một người làm ví dụ xem nào?”


### 28. Sợi dây mong manh giữa khỏe và bệnh


Vì có một khoảng thời gian tôi thường xuyên đi đến các bệnh viện lớn, tôi đã nhìn thấy vô số vô số những người ốm bệnh đến mức kêu cha gọi mẹ, có người gọi cả Thượng đế, có người thì gọi Ma Tổ, có người thì gọi Quan Âm,… Thấy cảnh ấy không ai không thấy cảm khái!

Bệnh viện là địa ngục, điều này đã được chứng minh tại đây rồi. 
Tôi thường nghĩ:
Thế nào là khỏe?
Thế nào là bệnh?
Giới tuyến giữa khỏe và bệnh phân định thế nào?

Mọi người nhất định sẽ cười tôi, khỏe mạnh thì tức là khỏe, bệnh thì tức là bị ốm, lấy đâu ra cái gọi là giới tuyến?
Nhưng điều mà tôi nghĩ và điều mọi người nghĩ có thể không thật sự giống nhau đâu!

Tôi nhìn thấy một người có thể trạng khỏe mạnh, tôi có thể nói anh ta đang bệnh.
Tôi nhìn thấy một người già yếu ớt, tôi có thể nói là ông ta đang khỏe mạnh cực kì. 
Bởi vì:
Người có thể trạng khỏe mạnh kia có nghiệp nặng.
Người già yếu ớt kia có nghiệp nhẹ.

🌟

Tôi lại nói:
Giữa khỏe và bệnh, chỉ là một sợi dây. 
Trong “Thai Tức Bí Yếu” có một bài vè: [Thai tức: thở kiểu thai nhi, không dùng mũi miệng để thở mà thở bằng rốn, hô hấp ở đan điền.]
*”Bỗng dưng thân nhiễm bệnh, tổn thương đầy phi lý, trói buộc trong căn phòng, nằm trên giường vô dụng, nằm ngửa ngủ cứng đơ, ngậm miệng và đốt hương, ba sáu lần nuốt xuống, khí đan điền sẽ ổn, theo tim mà dẫn xuống, chỗ bệnh sẽ khỏe lên, độc thoát là được cứu, pháp này lợi nhiều bề.”*

Đoạn văn này người học thai tức tất sẽ hiểu được. 
Tôi chủ yếu là muốn chứng minh hai chữ “bỗng dưng” trong câu “bỗng dưng thân nhiễm bệnh”. Bệnh là bỗng dưng mà đến sao?

Tôi nhìn thấy một người hoàn toàn khỏe mạnh, bỗng dưng chết rồi!
Mấy ngày trước vẫn còn chơi đánh bóng rổ, bỗng dưng đã chết rồi!
Mới lúc trước còn nói nói cười cười, bỗng dưng đã chết rồi!
Hôm qua còn ở trên tivi, hôm nay bỗng dưng đã chết rồi!
Đang tắm mà chết!
Đang ngủ mà chết!
Trượt chân ngã mà chết!
Đang “sung sướng” mà chết! (thượng mã phong)
Bị nghẹn mà chết!
Cười mà chết!
……

Xin hỏi, thế nào là khỏe mạnh? Thế nào là bệnh?
Khỏe và bệnh có phải là chỉ cách nhau một sợi dây không?

Tôi đã đến âm gian hỏi Minh Vương:
”Thế nào là khỏe mạnh?”
”Nghiệp chướng nhẹ.”
”Thế nào là bệnh?”
Minh Vương đáp:
”Nghiệp chướng nặng.”
Tôi hỏi:
”Khỏe và bệnh sao lại có ranh giới mong manh như vậy?”

🌟

Minh Vương đáp:
”Thiện ác chỉ cách nhau một ý nghĩ.”
Tôi hiểu ý của Minh Vương, khỏe và bệnh đều nằm ở nhân quả, về mặt y học thì vẫn là nhân quả, về mặt nghiệp chướng thiện ác cũng là nhân quả. Minh Vương hạ xuống một ý chỉ, một người vốn đang khỏe mạnh sẽ ngã bệnh, giống như núi lở đất nứt vậy. Một người bệnh nặng, Minh Vương hạ chỉ, bệnh cũng đột nhiên khỏi, người đang nằm thẳng đơ, tưởng chết biến thành sống, lại còn sống thêm rất nhiều năm nữa.

Cho nên, tôi nói:
”Khỏe và bệnh chỉ cách nhau một sợi dây.”
Trong sát-na, não tôi tách làm tám mảnh, tứ đại phân tán.
Trong sát-na, tôi lại khỏe mạnh như thường, hoàn toàn vô sự.
Đúng là khỏe và bệnh chỉ cách nhau một ranh giới rất mong manh.

🌟

Tôi hỏi mọi người:
”Thế gian này, ai vĩnh viễn không bị bệnh? Người không bệnh là ai?” - Hãy thử trả lời câu này.


### 29. Sự ra đời của địa phược linh


Tôi từng ở trong một khách sạn, đó là khách sạn năm sao. 
Nửa đêm tỉnh dậy, thấy có một bầy ma đen thù lù đang vây xung quanh giường của tôi, hại tôi giật mình nhảy dựng lên. 

Tôi trấn tĩnh lại tâm thần một lúc rồi hỏi họ:
”Làm cái gì vậy?”
Một kẻ đứng đầu trong số đó trên đầu có “tinh quang”, xem ra là thần địa chủ, nói với tôi: 
”Nghe nói có người có đạo là Lư Sư Tôn quá bộ đến đây, nên chúng tôi đặc biệt đến tham kiến.”
Tôi nghe xong, trong lòng mặc dù thấy thích thú, nhưng tôi nghĩ chẳng hề là sự tham kiến đơn thuần mà thôi. 
”Đến thăm rồi sao nữa?” - Tôi hỏi.
Thần địa chủ nói:
”Có một việc thỉnh cầu.”
”Nói đi!”
”Bầy địa phược linh [những linh bị ràng buộc vào những thứ trên mặt đất] này đều sống ở trong khách sạn này, âm dương tách biệt, sống với nhau hòa thuận. Họ đều không gây ồn ào, chỉ là đặc biệt thích ăn ở tại khách sạn này nên mới tụ tập ở đây.”
Thần địa chủ lại nói:
”Không ngờ Minh Vương biết được chuyện này, cho rằng khách sạn tụ tập nhiều địa phược linh như vậy là không ổn, muốn đuổi hết chúng tôi đi, đuổi đến âm gian sống, đợi đến lúc luân hồi, thế nhưng chúng tôi đều không muốn đi. Biết ngài quen biết Minh Vương, muốn nhờ Lư Sư Tôn thương tình giúp chúng tôi.”
”Nói hộ ư!”
Tôi nói với bọn họ:
”Minh Vương có lệnh thì không ai có thể làm trái, ngay cả tôi cũng phải tuân theo, làm gì có cái lý là nói hộ chứ?”
Thần địa chủ nói:
”Chúng tôi một nhóm các anh em tốt đây không nỡ phân ly, cũng không muốn bị đuổi đến âm gian, mọi người ly tán, xin Lư Sư Tôn làm chủ! Xin Lư Sư Tôn giúp cho!”

Lần này tôi ở thế lưỡng nan rồi, tôi vẫn luôn sợ người ta cầu xin tôi thương tình.
Muốn Minh Vương hạ lệnh một tiếng thì đám địa phược linh này sẽ tản mát hết.
Muốn bảo vệ đám địa phược linh thì phải làm trái luật lệnh của Minh Vương, sẽ đắc tội với Minh Vương, thế thì cũng không khôn khéo.

Tôi cứ nghĩ mãi, để vẹn toàn cả đôi bên, tôi sẽ làm thế này:
1. Các người đều quy y tôi, niệm Phật trì chú tu hành.
2. Tổ chức một hội đồng tu khách sạn XX của địa phược linh.
3. Tôi sẽ giúp hội đồng tu kết giới, hễ ai ở trong hội đồng tu thì sẽ không bị đuổi đến âm gian.
Thế là bầy ma đều hoan hô!

🌟

Khi Minh Vương phái quan âm phủ đến khách sạn đó, thấy bầy ma đang ở trong kết giới niệm Phật trì chú. Có kết giới thì quan âm phủ không vào được, lại thấy ánh sáng cát tường tỏa ra vạn tia, các thần Hộ pháp đang bảo vệ cho bầy linh. Bầy linh cũng giữ trật tự. Lại thấy bầy linh là đệ tử quy y Lư Sư Tôn, còn niệm cả chú âm “Om guru liansheng siddhi hum” vang tận mây xanh nữa. Quan âm phủ về báo cáo tình hình thực tế.

Tôi và Minh Vương gặp mặt nhau. Minh Vương nói:
”Địa phược linh có thể tu hành, đây là một việc rất tốt. Thật là chỉ có ngài, xin chúc mừng ngài, nhân gian lại có một hội đồng tu mới.”
”Minh Vương, đã đắc tội rồi!” - Tôi nói.
Minh Vương nói:
”Ngài có thể khiến địa phược linh tu hành, đương nhiên là thắng một bậc so với luật âm phủ rồi! Tôi không lấy làm lạ!”

🌟

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người, địa phược linh là những linh chấp vào sự sinh ra, ví dụ: “Thủ thi quỷ, là chấp vào thi thể; thủ phần quỷ, là chấp vào mồ mả; thủ gia quỷ, là chấp vào nhà cửa; thủ địa quỷ, là chấp vào đất đai; thủ tài quỷ, là chấp vào tiền bạc; thủ tử tôn quỷ, là chấp vào con cháu; thủ thê quỷ, là chấp vào vợ; thủ phu quỷ, là chấp vào chồng. Cứ thế, vân vân và vân vân, gọi chung là địa phược linh.”

Tôi nói:
”Hành giả phải phá bỏ ngã chấp, pháp chấp.”
Tôi có một câu hỏi muốn hỏi mọi người:
”Trên thế giới này toàn là người bám chấp. Từng có một người hoàn toàn không bám chấp, người này là ai thế?”


### 30. Thành phố sòng bài ở âm gian


Chúng ta biết rằng ở nhân thế gian có sòng bài. Ví dụ, Las Vegas, Atlantic, Reno Nevada ở Mỹ, sòng bài ở Macau, và các sòng bài khác ở khắp nơi trên toàn thế giới. 

Có người hỏi tôi:
”Âm gian có thành phố sòng bài không?”
Tôi khẳng định nói:
”Có.”
Người thích đánh bài hễ nghe thấy âm gian có thành phố sòng bài thì vui lắm. Thế nhưng, tôi nói, khoan hãy vui mừng, nghe tôi nói đã.

🌟

Theo như tôi biết:
Âm gian có một thành phố mạt chược, hễ đi vào thành phố mạt chược này thì sẽ nghe thấy tiếng mạt chược lạch tạch lộp độp không bao giờ dừng lại. 

Bên trong đó có rất nhiều con ma cờ bạc, chúng liên tục kéo đến, người trước hy sinh người sau tiếp bước, thành phố mạt chược nổi tiếng thiên hạ.

Trên cổng thành có câu đối:
*Giàu sang quyền thế chết tại đây.
Chỉ thua không thắng chớ tiến vào.*

Mặc dù trên cổng thành đã có tấm biển cảnh báo như vậy, nhưng những con ma bài bạc căn bản đều ngoảnh mặt làm ngơ, vẫn cứ đi vào. 

Quan âm phủ ở trong thành phố mạt chược này đều là những cao thủ mạt chược trong thiên hạ, phàm phu bình thường cho dù có trình độ cao đến thế nào cũng không thắng được họ. 
Thắng thua ở đây không phải là tiền bạc. 
Mà là đọa vào địa ngục.
Kẻ thua sẽ đọa vào địa ngục khoét mắt, địa ngục cắt tai, địa ngục lưỡi cày, địa ngục cắt mũi, địa ngục chặt tay, địa ngục chặt chân, địa ngục moi tim, địa ngục cực lạnh, địa ngục cực nóng, địa ngục chém đầu, địa ngục cắt họng.

Vì thế, tiền cược ở thành phố mạt chược này không gì khác chính là các bộ phận và tứ chi của thân thể.

Vì thế:
Chỗ thì kêu thảm thiết.
Chỗ thì máu thịt bay tứ tung.
Chỗ thì tiếng khóc than đau đớn.
Chỗ thì một đống mảnh thân thể lộn xộn.

🌟

Những con ma bài bạc đi vào thành phố mạt chược chỉ có đi không về, có thua không thắng, hễ vào thành phố này là “đoạn đoạn đứt lìa”. 

Dụng ý của âm gian hết sức rõ ràng:
”Để cảnh giác thế nhân, đừng mê đắm vào trò cờ bạc vô nghĩa nữa!”

🌟

Tôi hỏi Minh Vương:
”Đánh bạc có tội sao?”
Minh Vương đáp:
”Đánh bạc cũng giống như giới nghiện rượu trong năm giới. Khi đã mê đánh bạc rồi thì mọi tội lỗi đều từ đó phát sinh.”
Minh Vương nói:
Vì bạc mà giết.
Vì bạc mà trộm.
Vì bạc mà cướp.
Vì bạc mà lừa.
Vì bạc mà vô liêm sỉ.
Vì bạc mà bán vợ con.
……

Minh Vương nói:
”Đâu đâu cũng là nghiệp, đâu đâu cũng là tội!”
Minh Vương nói:
”Phàm là những con ma cờ bạc đã mê đánh bạc rồi thì tương lai chuyển thế, đại bộ phận đều vào vương quốc kiến bọ sâu trùng.”
”Vì sao?”
Minh Vương nói:
”Từ lớn đến nhỏ!”
Câu nói “từ lớn đến nhỏ” này đúng là “bom tấn”!
Tôi hỏi:
”Vì sao âm gian có thành phố sòng bài?”
”Địa ngục biến hiện!”

🌟

Bây giờ tôi có một câu hỏi hỏi mọi người:
”Cái sướng ở nhân gian, đến âm gian sẽ chuyển thành cái khổ, giữa sướng và khổ, căn bản chỉ là hai mặt của một vật, sướng khổ chẳng phải hai nhà. Phật pháp dạy người ta thoát khổ được vui, thử hỏi, thế nào mới là thoát khổ được vui?” (Không còn phải chịu sướng khổ.)


### 31. Một đời làm quan chín đời làm trâu


Tại âm gian, tôi nhìn thấy rất nhiều bậc đế vương quan tướng, mỗi một vị đế vương quan tướng đều là những nhân vật lớn công danh hiển hách tại nhân thế gian, và cũng là những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử. 
Đây là điều mà người ta gọi là:
”Vào trong địa ngục đế vương nhiều!”

Tôi quen biết một quan văn có tiếng, làm chức vụ rất lớn, quyền lực khuynh đảo một thời, nhưng ở trước Minh Vương thì trở thành một con rùa rụt cổ, nơm nớp lo sợ, toàn thân run rẩy, hối hận biết vậy ban đầu chẳng làm.

Ông ta hét lớn:
”Kiếp sau thề không làm quan! Kiếp sau thề không làm quan! Hãy lấy tôi đây để mà chừa, kiếp sau thề không làm quan!”
Tiếng kêu của ông ta rất thê lương, khiến lòng người chấn động.
Minh Vương ra lệnh cho quan âm phủ:
”Lại cho mặc da trâu, rồi chuyển thế đi, chuyển thế trăm kiếp làm trâu!”

🌟

Tôi hỏi Minh Vương:
”Trăm kiếp làm trâu, thế là không đúng! Một đời làm quan chín đời làm trâu, đó là câu tục ngữ của nhân gian, sao lại là một đời làm quan trăm đời làm trâu?”
Minh Vương đáp:
”Lư Thắng Ngạn, có điều ông không biết, cái chữ “cửu” (chín) ở đây cũng là “vĩnh cửu” đó. Dựa theo nghiệp báo của ông ta, làm trâu trả nợ, nợ nặng thì lâu đời, mà nợ nhẹ thì chín đời. Thế mới nói là làm quan mà không biết tu thiện nghiệp thì báo ứng đến nhanh lắm.”
”Ông ta phạm nghiệp gì?”
Minh Vương liệt kê ra một vài ví dụ:
1. Vơ vét của dân. (quy hoạch đất đai)
2. Nhận hối lộ. (từ việc mua sắm vật tư)
3. Lừa nhân dân. (phá dỡ nhà)
4. Bớt xén nguyên vật liệu. (bỏ thầu công trình cho gian thương)
5. Câu kết với thương nghiệp quốc doanh.
6. Nhận thết đãi. (chơi gái, cờ bạc)
7. Tác oai tác phúc. (thanh toán phe đối lập)

Từ những tư liệu của Minh Vương, tôi thấy ông ta bề ngoài thì thanh danh rất tốt, nhưng sự tham lam mà ông ta đã phạm phải quả nhiên là nhiều như rừng rộng như biển, có xem cũng không xem hết, thật sự khiến người ta choáng váng.

🌟

Tôi hỏi Minh Vương: 
”Quan trường năm mươi năm, sao không làm việc thiện chứ?”
Minh Vương đáp:
”Trên đầu đội mũ hoa.”
”Thế nào là trên đầu đội mũ hoa?”
”Ham quyền lợi, ham tài lợi.”
”Là vì dục vọng mà tạo nghiệp sao?”
Minh Vương đáp:
”Làm quan nguy hiểm lắm!”
Tôi hỏi:
”Trăm đời làm trâu tính như thế nào?”
Minh Vương đáp:
”Trong ngôi nhà vàng của ông ta có bao nhiêu sách cổ thì tính theo như thế!”

🌟

Ở nhân thế gian, tôi nhìn thấy trâu cày ruộng, nhìn thấy bò bị vắt sữa, nhìn thấy người ta đi giày da bò, nhìn thấy người ta ăn thịt bò, nhìn thấy trâu bò kéo xe, nhìn thấy bò bị đưa vào lò mổ, trâu bị đánh đập, bò bị cắt xẻ…

Tôi hỏi:
”Trâu có biết mình là đại quan không?”
”Biết.”
”Trâu có biết mình đã tạo nghiệp không?”
”Biết.”
Cho nên tôi biết, khi tôi nhìn thấy trâu, nhìn thấy bò đang chảy nước mắt, tôi thương xót chúng, chúng biết bản thân kiếp trước làm quan to, không những thế còn là quan rất to.

🌟

Tôi hỏi Minh Vương, người làm quan tương lai làm sao để không phải làm trâu? 

Minh Vương trả lời tôi, kẻ làm quan làm được bao nhiêu việc thì lại lấy bấy nhiêu tiền, cho nên Minh Vương nói:
”Chỉ có ba chữ: giữ bổn phận.”
Tôi hỏi:
”Giữ bổn phận, ai mà làm được chứ?”
Câu trả lời của Minh Vương là:
”Nghìn người, vạn người gọi cũng không quay đầu.” 

Thử hỏi, đệ tử trả lời thế nào?


### 32. Cái đinh đau vô hình


Từng có một đệ tử mắc bệnh đau nửa đầu đã mấy chục năm, đã đi khám danh y trong ngoài nước ở khắp nơi, nhưng từ đầu tới cuối đều không có cách nào hết bệnh, có thể nói là tất cả bác sĩ đều bó tay chịu thua.

Bà ấy đến quy y tôi. Bà ấy trì Thượng sư tâm chú được một triệu biến rồi vẫn tiếp tục trì tụng. Có một lần, bà ấy nói với tôi:
”Sư Tôn, xin lỗi thầy, tôi thật sự có điều mong cầu nên mới đến quy y thầy, hy vọng thầy không để bụng.”
”Tôi không để bụng, rất nhiều người đến quy y tôi đều như thế mà.” - Tôi hỏi: “Bà cầu xin cái gì?”

Lúc này bà ấy mới nói ra đầu đuôi là muốn Sư Tôn chữa bệnh đau nửa đầu của bà ấy. Lúc đầu, tôi dùng lực để gia trì, dùng lực của phù chú để giúp bà ấy, nhưng trước sau vẫn không đạt được mục đích. Cuối cùng, tôi dùng thiên nhãn để quan sát, lúc này mới giật mình phát hiện thấy trên đầu của bà ấy có cắm một cái đinh đau vô hình.
Màu tím.
Dài năm tấc. [gần 13cm]
Nó chạm vào dây thần kinh đau buốt.
Tôi bỗng cảnh giác. Tôi biết đinh đau vô hình là do âm phủ gửi đi, thế là tôi phải thỉnh giáo Minh Vương.

🌟

Tôi hỏi Minh Vương về việc có liên quan đến cái đinh đau vô hình trên đầu đệ tử. Minh Vương nói:
”Đệ tử này của ngài lúc còn trẻ thích nhất là ăn ếch, những con ếch bà ấy ăn đều dùng dầu để xào rán, nhiều không thể đếm xuể, đã vượt quá phúc báo của bản thân, cho nên âm phủ mới ban ra cái đinh đau để mà trừng phạt.”
”Thì ra là như vậy, bây giờ làm sao giải quyết?”
Minh Vương nói:
”Duy có phóng sinh và trì chú vãng sinh.”
Tôi nói:
”Tôi sẵn sàng khuyên bà ấy phóng sinh và trì chú vãng sinh. Hiện tại bà ấy đã trì được một triệu biến Thượng sư tâm chú rồi.”
Minh Vương nói:
”Cái đinh đau vô hình tự nhiên sẽ được rút ra!”

🌟

Nói ra kể cũng lạ, kể từ khi tôi xuống âm phủ một chuyến, gặp được Minh Vương, người đệ tử bị bệnh đau nửa đầu này tự nhiên bệnh đau nửa đầu không cánh mà bay, tỉnh dậy sau một giấc ngủ đã hoàn toàn không đau đớn gì nữa, giống như là rút được cơn đau nhức ra vậy, từ đầu tới cuối cứ như một người khác hẳn, cơn đau nhức đã hoàn toàn được giải trừ.

Tôi lại dùng thiên nhãn để nhìn. Trên thực tế đã không còn cái đinh đau vô hình nữa rồi.
Tôi hỏi:
”Bà thích ăn ếch à?”
Bà ấy đáp:
”Sư Tôn đều biết hết rồi.”
”Bao nhiêu?”
”Tôi đi chợ mua về nấu ăn, không đếm xuể.”
”Bây giờ không những không được ăn, mà nếu trông thấy thì phải mua về để phóng sinh, hơn nữa phải niệm nhiều chú vãng sinh, như vậy bệnh đau nửa đầu sẽ không tái phát nữa.”
”Xin nghe lời Sư Tôn.”

Đệ tử nữ này kể từ đó không ăn thịt ếch nữa mà chuyên môn phóng sinh ếch, niệm chú vãng sinh được mấy triệu biến. Bà ấy còn đem chuyện cảm ứng của bản thân kể cho nhiều người khác nghe, độ hóa rất nhiều chúng sinh đến quy y tôi.

🌟

Theo như tôi biết, có rất nhiều người bị cắm đinh đau vô hình, đó là những cái đinh do âm phủ phát ra, có tác dụng phạt cảnh cáo. Có người thì bị đau vai, có người bị đau lưng, có người bị đau đầu, có người bị đau khớp, có người bị đau răng, có người bị đau chân, có người bị đau ngón tay, v.v… 

Nói không chừng cái đau đó là do cái đinh đau vô hình của âm phủ gây ra, mong là mọi người phóng sinh nhiều hơn, và thường xuyên niệm chú vãng sinh.
Tiêu bớt nghiệp chướng đi!

🌟

Tôi thật lòng thật sự nói với các đệ tử, phúc đừng hưởng hết, hưởng hết sẽ gặp tai ương. 
Người học Phật chúng ta phải biết tiếc phúc, tạo phúc mới là đúng. 
Phật từng muốn chúng ta buông bỏ, thử hỏi buông bỏ này là buông bỏ cái gì? Xin mời thử trả lời.


### 33. Phỉ báng hóa đá bay


Chúng ta thường nói:
”Nếu có người phỉ báng mà đối phương không tiếp nhận, người phỉ báng này giống như nhổ nước bọt lên trời, và khi nước bọt rơi xuống thì người nhổ tự nhận lấy nước bọt của mình.”
Đây cũng có ý nghĩa là tự làm tự chịu.

Ở âm gian, tôi cũng nhìn thấy địa ngục biến hiện như vậy.
Tại âm gian địa ngục, tôi thật sự nhìn thấy có một đệ tử quy y tôi từ hồi rất sớm, đã học rất nhiều pháp.
Sau đó, hắn nảy sinh một vài tranh chấp với đồng môn, những tranh chấp này cơ bản là chẳng có liên quan gì đến tôi. Nhưng hắn lại giận cá chém thớt rằng Sư Tôn không giúp đỡ hắn. Thế là những lời phỉ báng đều xuất phát từ miệng hắn mà ra, rất nhiều lời phỉ báng chẳng hiểu ra làm sao cả, căn bản là Tử Hư Ô Hữu [giả dối khoác lác], hắn có thể thêu dệt được thì kể cũng thật là kỳ quái!

Đối với kiểu phỉ báng này tôi có hai nguyên tắc:
1. Phớt lờ.
2. Không hề gì.

🌟

Kể từ đó hắn rời bỏ Chân Phật Tông, rời bỏ tôi. Rồi lại quy y một lão sư phụ khác. Tự mình cũng sáng lập ra một tông phái mới, có điều rất đáng tiếc, tông phái mới này không phát triển lớn được. 
Nghe nói, hắn rời khỏi Chân Phật Tông thì càng chửi Sư Tôn ghê gớm hung hăng hơn.
Về sau, hắn lại rời bỏ lão sư phụ kia, cũng lại phỉ báng lão sư phụ. Tự mình lập tông phái, từ đầu tới cuối đều không ai biết đến, thật chẳng ra làm sao cả!
Cuối cùng, hắn đột tử!

🌟

Tôi nhìn thấy hắn ở trong địa ngục đá bay. Địa ngục này là đá bay nhiều giống như là sao băng vậy, giống như cơn mưa sao băng dày đặc chi chít, hắn ta đứng giữa vùng đá bay, từng viên từng viên đá bay tới vừa nhanh vừa chuẩn trúng vào người hắn, phát ra những tiếng “bốp bốp”. 
Vỡ đầu chảy máu.
Toàn thân da nứt thịt nát.
Đá bay róc hết cả da.
Đá bay róc hết cả thịt.
Đá bay đánh trúng thì đau không thể chịu nổi.
Đá bay đánh trúng thì xương khớp đứt từng khúc.
Cuối cùng, hắn bị đá bay đánh chết. Nhưng cái chết này chưa phải là kết thúc, một cơn gió thổi qua, hắn lại sống lại. Thế rồi đá bay lại bay, đầu tiên là róc da, rồi róc thịt, cuối cùng là đánh vào lục phủ ngũ tạng, xương đứt lìa từng đoạn, toàn thân nát nhừ mà chết. 
Chết rồi lại sống.
Sống rồi lại chịu nghiệp bị đá bay đánh chết. Cứ quay vòng lặp lại như thế.
Tôi nhìn thấy cảnh tượng ấy, trong lòng kinh hãi!

🌟

Tôi hỏi Minh Vương:
”Vì sao có địa ngục đá bay?”
Minh Vương đáp:
”Người tạo ra những lời phỉ báng vô căn cứ sẽ vào địa ngục đá bay này. Người phỉ báng Thánh hiền sẽ vào địa ngục đá bay, người phỉ báng Phật Bồ Tát sẽ vào địa ngục đá bay.”
Tôi hỏi:
”Đá bay từ đâu mà sinh ra?”
Minh Vương đáp:
”Đá bay từ miệng sinh ra, phỉ báng một lần thì sẽ là một viên đá bay, hai lần thì là hai viên đá bay, phỉ báng vô số thì là vô số đá bay, đây chính là tự làm tự chịu.”
”Nghiệp báo hết rồi sẽ thế nào?”
”Chuyển sinh thành động vật thấp hèn, chịu đủ ức hiếp!”
Tôi nghe xong thấy thương cảm vô cùng.

🌟

Có một bài kệ rất hay: 
*“Huynh đệ kim cương ở cùng nhau, 
Chớ nghĩ hơn người mà ngạo mạn, 
Đấu tranh oán ghét hỏng giới mật, 
Khiêm nhường hòa nhã đắc thành tựu.”*
Tôi hỏi mọi người:
”Người thật sự thành tựu có khiêm nhường không? Hay là ngạo mạn? Hay là cả khiêm nhường cả ngạo mạn đều có?”


### 34. Sự lợi hại của cái đinh đau


Sau khi viết xong chương “Cái đinh đau vô hình”, bản thân tôi cảm thấy không viết tiếp về cái đinh đau thì không được, bởi vì con người ta rất sợ đau.

Ví dụ: đau vai, tay không thể giơ lên được; đau khớp chân, ngay cả đi bộ cũng khó khăn; đau lưng, khi phải cúi người xuống rất khổ sở; đau thần kinh, toàn thân khó chịu. Còn có bệnh gout, viêm khớp, giời leo, đều khiến người ta đau không muốn sống nữa.

Ở các quốc gia phương tây, cách duy nhất là bôi thuốc ngoài da, uống thuốc giảm đau. 
Ở các quốc gia phương đông, châm cứu, xoa bóp, bôi thuốc, giác hơi, uống thuốc, v.v… 

Chúng ta biết rằng nguyên nhân gây đau đớn không gì ngoài tắc mạch máu, ứ đọng, chất độc ngưng tụ, căng cơ, xương bị tổn thương, dây thần kinh.
Ngoài ra là do ngã, va đập, lắc mạnh, bị chèn ép. Còn có bị trúng gió, bị nhiễm lạnh, bị đờm, bị nhiễm ẩm.

Phương pháp trị liệu đương nhiên là tán nghẽn, tiêu viêm, giảm đau, tiêu sưng, giãn cơ, lưu thông máu, loại bỏ chất độc. 
(Trên đây là những bệnh đau buốt hữu hình.)

Còn đối với cái đinh đau vô hình thì càng lợi hại hơn, đó là do nghiệp lực nhân quả tạo nên, trúng phải đinh đau rồi thì biểu hiện bên ngoài tương tự như các bệnh đau hữu hình, nhưng lại không có thuốc chữa, chỉ có tiêu trừ nghiệp lực nhân quả thì mới được.

🌟

Tôi từng đến nhà một người họ La. Mọi người trong nhà này nếu không phải đau ở đây thì đau ở kia, đau tới mức ngay cả ban đêm cũng không ngủ ngon, cả nhà họ phải bôi thuốc mỡ, mọi thuốc mỡ đều đã bôi thử rồi, uống thuốc giảm đau đã là chuyện thường ngày. Họ đã khám bác sĩ Đông y hơn mười năm, những cơn đau nhức vẫn không khỏi, thật sự là khổ không còn lời nào mà nói.

Tôi đi thăm họ thì giật mình sửng sốt. Thì ra cả nhà họ đều bị cắm kim đau của âm phủ, rõ mồn một, màu tím, dài khoảng năm tấc, tỏa sáng lấp lánh.
Tôi nói bị đinh đau rồi. Họ không hiểu gì cả. Tôi giải thích rõ ràng tỉ mỉ thì họ mới hiểu.

🌟

Tôi đến âm gian để tìm hiểu chuyện này.
”Sao mà cả nhà họ La đều bị trúng đinh đau vậy?”
Minh Vương đáp:
”Tổ tiên của nhà họ là thợ săn, cả đời giết động vật vô số, giết hại là nghiệp chướng nặng nhất. Tổ tiên khi hấp hối cũng đau đớn rên la rồi mới chết, sau khi chết lại chuyển kiếp thành con cháu đời sau.”
”Con con cháu cháu phải chịu nhân duyên quả báo của cái đau đớn vì bị giết này, nên ai cũng bị cắm đinh đau, cả đời chịu đau, không một ai tránh khỏi.”
”Phải làm sao mới khỏi?”
”Khi đau phải sám hối, phóng sinh chuộc tội, niệm chú vãng sinh siêu độ, in ấn những sách thiện nói về từ bỏ sát sinh và bảo vệ sinh mạng thì sẽ có thể rút được đinh đau ra.”
Tôi cảm tạ lời chỉ giáo của Minh Vương.

🌟

Sau khi tôi xuất định. 
Hỏi: “Tổ tiên có phải là thợ săn không?”
Đáp: “Có hai bề trên đều là thợ săn.”
Tôi nói:
”Vậy thì đúng rồi, thợ săn săn động vật, dùng đao tên, kẻ nào cũng khiến cho động vật da thịt “nở hoa”, đau đớn rên rỉ, bị trúng tên thì cái đau ấy còn đi vào tim. Thậm chí còn có người đặt bẫy, dùng sắt để kẹp chặt, khiến hàng loạt sinh linh khiếp sợ mà chết, sự đau khổ ấy gấp nhiều lần so với bị giết mổ.”

Cả nhà họ La nghe tôi nói xong thì đều quỳ xuống đất sám hối, sau đó thề nguyện sẽ làm theo ý chỉ của Minh Vương.
1. Phóng sinh.
2. Trì chú vãng sinh.
3. In sách thiện bảo vệ sinh mạng.

Về sau, quả nhiên mọi sự đau đớn đều khỏi. Vì vậy, Phật giáo lấy “không sát sinh” làm giới luật đầu tiên, nhân ái hiền hậu rất quan trọng.

Tôi có một vấn đề hỏi mọi người: “Ngoài phóng sinh, ngoài niệm chú vãng sinh, ngoài in sách thiện khuyên bảo vệ sinh mạng ra, bạn có cách nào hay hơn để nhổ đinh đau không, xin mời thảo luận.”


### 35. Cả nhà đều chết sạch


Tại âm gian, tôi nhìn thấy một thành phố lớn, người sống bên trong đó đều là từng nhà lại từng nhà. Tôi cũng tự cảm thấy câu nói này của tôi nghe rất buồn cười, lẽ nào không phải là từng nhà lại từng nhà sao?

Tôi giải thích như sau:
Phần lớn những người chết trong hoàn cảnh thông thường thì là tổ tiên chết trước, tiếp theo là đời cha, tiếp theo là đời con, tiếp theo nữa mới là đời cháu,… Có nghĩa ông chết, bố chết, con chết, cháu chết.

Cho nên ở âm gian không phải là cả nhà lớn bé đều ở đó, mà là có người thì đang sống ở dương thế, có người thì đã chết ở âm gian, đây gọi là “không chết hết”.

Thế nhưng, ở thành phố kia, tôi lại phát hiện ra hiện tượng có từng nhà từng nhà, lớn nhỏ già trẻ đều ở đó. 
Đây chính là: “Cả nhà đều chết hết!”

Tôi tiếp tục truy tìm nguyên nhân chết, họ ở dương gian vì sao mà chết? Tôi phát hiện ra:
1. Cả nhà phóng hỏa tự sát.
2. Cả nhà uống thuốc độc tự sát.
3. Cả nhà bị đất núi lở chôn sống.
4. Cả nhà bị động đất đè chết.
5. Cả nhà gặp hỏa hoạn thiêu chết.
6. Cả nhà bị sóng thần dìm chết.
7. Cả nhà bị tai nạn tàu, xe, máy bay chết.
8. Cả nhà trúng dịch bệnh chết.
Vân vân và vân vân.

🌟

Tôi thật sự không có cách nào hiểu nổi nhân quả khiến cả nhà chết sạch này, lẽ nào nhân duyên quả báo của người trong nhà họ đều giống nhau sao? Người già và trẻ sơ sinh sao lại đều chết cả đám như vậy?

Tôi hỏi Minh Vương:
”Nhân duyên khiến cả nhà chết sạch là gì?”
Minh Vương đáp:
”Già trẻ cùng đi trên một con đường.”
Tôi hỏi:
”Nghiệp chướng giống nhau à?”
”Giống như trời thôi, hôm nay nhiệt độ như nhau.”
”Vì sao không có chết sớm chết muộn?”
”Cùng chết thì giảm bớt được một vài thủ tục.” - Minh Vương ung dung trả lời.
”Nhân quả gì?”
”Ngưu tầm ngưu mã tầm mã.”

Cuộc hỏi đáp giữa tôi và Minh Vương, xin mọi người ngẫm nghĩ cho kĩ, mọi người sẽ phát hiện ra thì ra người trong một nhà đều có nhân quả phụ thuộc lẫn nhau, cả nhà sẽ chết sạch cùng một lúc cùng một nơi, vốn dĩ đều có nhân quả rất nhỏ ở trong đó.

🌟

Tôi từng hỏi Minh Vương:
”Vì sao có nhà họ Tống kia cả nhà đều chết sạch?”
Minh Vương đáp:
”Chủ nhà đó có một kẻ “thề ngoài miệng”, mỗi khi phát lời thề độc thì luôn nói nếu có chuyện này thì cả nhà tôi sẽ chết hết.”
Minh Vương nói tiếp:
”Lời thề độc này do chủ nhà đó nói bừa, kết quả là bị Thần Thề Thốt ghi lại. Đến khi nhân quả báo ứng thì đại khái là người trong nhà đều bị quả báo giống nhau, khiến cho cả nhà chết sạch.”
“Thề độc cũng không thể nói bừa sao?”
”Đúng vậy.”
”Thề thốt bừa bãi cũng sẽ có báo ứng sao?”
”Đương nhiên, là khẩu nghiệp đó.”
”Nhân quả của cả nhà sao lại tụ tập cùng một chỗ?”
Minh Vương đáp:
”Giống như máy dệt vải, một cuộn vải, một bộ quần áo, sống thì cùng sống, bỏ thì cùng bỏ.”
”Có ngoại lệ không?”
Minh Vương nói:
”Nhân quả bất khả tư nghì!”

🌟

Tại đây hôm nay, tôi hỏi mọi người: “Người học Phật chúng ta đương nhiên không thể thề thốt bừa, sức mạnh của lời thề thốt rất quan trọng, tôi xin hỏi mọi người, bạn nên phát lời thề gì mới là người học Phật chân chính?”


### 36. Trộm gà cắp chó


Tại nhân thế gian, có rất nhiều người vì các loại lợi ích mà không từ thủ đoạn, kẻ thì trộm, kẻ thì cuỗm, kẻ thì cướp, kẻ thì lừa, kẻ thì dọa dẫm, kẻ thì vơ vét tài sản, kẻ thì bắt cóc…

Nhìn ra thế giới này, an ninh trật tự ở Nhật Bản tương đối tốt, an ninh trật tự ở Singapore tương đối tốt, còn các quốc gia khác thì vô cùng thê thảm, an ninh xã hội bại hoại, liên tiếp các vụ án kiện, khiến người ta cảm thán:
”Nhân thế gian có chuyện gì thế này?”

🌟

Ở âm gian, tôi nhìn thấy một đệ tử của tôi bị phán chuyển kiếp vào đạo súc sinh, ánh mắt anh ta nhìn tôi ai oán. 
Tôi hỏi:
”Anh đã làm gì vậy?”
”Lừa tiền của đồng môn.”
”Chuyển kiếp làm loài nào?”
”Loài gà chó.”
”Vì sao là gà?”
”Để trả nợ cho đồng môn.”
”Vì sao là chó?”
”Để bảo vệ đồng môn.”
”Anh là đệ tử của tôi, người làm sư phụ lẽ ra nên cứu anh khỏi đạo súc sinh, nên cứu thế nào đây?”
Đệ tử đáp:
”Trả nợ đền nghiệp, nên phải như vậy, không thể được cứu. Chỉ mong Sư Tôn giúp cho linh hồn con tâm không mờ mịt, tương lai có duyên lại trở về thân người, làm đệ tử của Sư Tôn!”

Đệ tử này nói rất tội nghiệp, tôi nói với anh ta:
”Chúng sinh đều có Phật tính, mặc dù là gà chó nhưng Phật tính vẫn còn. Chỉ cần anh trả nợ xong, vẫn có thể hồi phục thân người, đến khi ấy lại đến làm đệ tử của tôi vậy!”

Vào kiếp tương lai, anh ta chỉ có thể:
Kêu ò ó o.
Kêu gâu gâu.
Đáng thương lắm thay!

🌟

Tôi hỏi Minh Vương:
”Trộm, cuỗm, cướp, lừa, vì sao lại làm loài gà chó?”
Minh Vương đáp:
”Trộm gà cắp chó.”
”Không phải là những kẻ háo dâm dục mới chuyển kiếp thành gà sao?”
Minh Vương nói:
”Phàm là động vật đều từ dâm dục sinh ra, gần như tất cả động vật đều háo dâm dục, không chỉ là gà, cho dù là người thì cũng không phải ngoại lệ, chỉ là con người có luật pháp để khắc chế. Và người tu hành phải bỏ tà dâm, người công chính liêm minh là hành giả chân chính.”

Tôi nói:
”Trộm, cuỗm, cướp, lừa phải làm loài gà chó là vì sao?”
Minh Vương đáp:
”Gà trả nợ người, để cho con người nấu ăn cũng là trả nợ. Nó phải trả hết nợ nần với con người thì mới có thể chuyển kiếp tiếp.”
Tôi nghe mà xót xa!

Minh Vương lại nói:
”Chó trả nợ người là bảo vệ chủ nhân, để chủ nhân không bị thương, không bị trộm, cũng chính là trả nợ.”
Tôi nghe mà xót xa!

“Làm gà nghiệp nặng hay làm chó nghiệp nặng?”
Minh Vương đáp:
”Làm gà nghiệp nặng, phải làm thức ăn cho con người, bản thân nó thì lại mê muội không biết. Làm chó nghiệp nhẹ, vẫn có người thương, cũng có hiểu thô về nhân tính, cũng có năng lực khứu giác, và đa số loài chó có ký ức về kiếp trước.”
Tôi nói:
”Không thể làm những việc trộm cắp.”

🌟

Bây giờ tôi có một vấn đề hỏi mọi người, mọi người biết rằng “chúng tội như sương lộ, huệ nhật năng tiêu trừ” [tội ác nhiều như sương, mặt trời trí huệ có thể xua tan]. “Huệ nhật” ở đây là chỉ cái gì?
Xin dựa vào đệ nhất nghĩa đế để trả lời.


### 37. Cắt chim


Khi thần hành ở âm gian, tôi phát hiện thấy có một địa ngục tên là Địa ngục cắt chim. Tôi thấy vậy thì hết sức tò mò. 

Trong lúc đang thần hành, có một người nam gọi tôi:
”Sư Tôn! Cứu con với, con sắp bị cắt chim rồi!”
Tôi chỉ thấy hai vị quan địa ngục, một người trói người nam này lại, người kia thì cầm dao định cắt bỏ chim của anh ta, giống như làm phẫu thuật vậy.

Chỉ cần một nhát cắt là anh ta chính thức trở thành vô tính, thành bị thiến, thành thái giám thời xưa, thành Công Công trong nội viện hoàng cung. 

Tôi trông thấy tình huống ấy thì vội vàng hét lên một tiếng:
”Tạm dừng! Tạm dừng!”
Quan âm phủ nhìn thấy tôi, nhận ra tôi nên cũng tạm thời dừng lại. Tôi nhìn người nam bị trói kia, thì ra là Hoàng, là đệ tử của tôi không sai.
Tôi nói:
”Hoàng, anh còn chưa chết cơ mà? Sao lại ở trong địa ngục?”
Hoàng đáp:
”Sư Tôn! Con chưa chết, nhưng trong mơ lại bị xuống địa ngục, quan âm phủ muốn cắt chim con.”
Tôi hỏi:
”Anh phạm nghiệp gì?”
Hoàng cúi đầu không nói.

Tôi nói:
”Cho dù anh không nói thì tôi cũng biết, anh đã phạm nghiệp tà dâm, dạy anh ngũ giới thì anh không giữ. Bây giờ phạm giới rồi, trong mơ bị cắt chim, còn gì để nói đây?”
Hoàng rất hổ thẹn nói:
”Bây giờ con biết luật lệnh Minh Vương là có thật, con cần phải sám hối, kể từ nay về sau thề không tái phạm, con cần phải giữ nghiêm ngũ giới.”

Hoàng nói đầy lo sợ, xuất phát từ chân tâm, vì thế mà từ trong tâm phát ra một đường ánh sáng trắng, dây trói ở chân tự động cởi ra. 

Hoàng lại quỳ trước mặt tôi nói:
”Chắc chắn con sẽ khắc ghi luật lệnh Minh Vương để nói cho mọi người biết, đây không chỉ là luật lệnh, đồng thời cũng là để dạy bảo chúng sinh, tà dâm đích xác là hại trăm đường mà không có bất kì một điều lợi nào cả.”
Tôi nói:
”Thiện tai! Thiện tai! A Di Đà Phật!”

Hoàng tự bỏ đi. Hoàng tỉnh khỏi giấc mơ, cảnh trong mơ hết sức rõ ràng.

🌟

Sự việc này, Hoàng chủ động kể với tôi những gì nhìn thấy trong mơ, điều may mắn nhất là anh ta vốn dĩ sắp bị cắt chim rồi, kết quả là vì thành thật sám hối, Sư Tôn lại đến đúng lúc, nên anh ta đã được cứu.

Hoàng hỏi tôi:
”Nếu trong mơ mà bị cắt chim thì sẽ thế nào?”
Tôi đáp:
”Bị bất lực, không cương cứng được, có cứng thì cũng không được lâu.”
Hoàng nói:
”Giống như đồ bỏ đi.”
”Đúng vậy.”

Hoàng nói:
”Ngày nay, nhân thế gian có rất nhiều đàn ông, bề ngoài thì rất to khỏe, nhưng trên thực tế lại bị xuất tinh sớm, liệt dương, mềm oặt, không cương, không cứng, không lâu, đây có phải là đều bị quan âm phủ cắt mất chim rồi không?”
Tôi đáp:
”Liệu có phải là họ đều đã đến địa ngục cắt chim chịu trừng phạt hay không thì tôi không biết, nhưng trong mơ anh đã đến địa ngục cắt chim thì là sự thật. Bất kể đã từng đến địa ngục cắt chim hay chưa, nhưng xuất tinh sớm, liệt dương, mềm oặt, không cương, không cứng, không lâu cũng là sự thật.”

Hoàng nói:
”Thật ra đây cũng là nhân quả, buông thả dục vọng quá độ, không có hạn chế, chắc chắn tự động sẽ bị cắt chim.”
Tôi nói:
”Thật ra quan âm phủ không chỉ cai quản âm gian, người phạm nghiệp ở nhân thế gian, rất nhiều người lúc còn sống đã phải chịu báo ứng rồi.”

🌟

Tôi hỏi mọi người:
”Sắc thân mà chúng ta tu hành vốn là thứ có sinh diệt, bạn làm thế nào từ trong pháp sinh diệt mà tu được pháp không sinh không diệt, lý do nằm ở đâu? Xin mời thảo luận.”


### 38. Núi hàn băng


Từng có người hỏi tôi: “Địa ngục hàn băng là như thế nào?”
Tôi trả lời như thế này:
”Trong địa ngục có địa ngục hàn băng, được cấu thành bởi những núi băng. Người nghiệp nặng sẽ bị tống vào địa ngục hàn băng, rồi tự cảm thấy toàn thân trần truồng, bị ném lên đỉnh núi băng, cái lạnh ở đây rất ghê gớm, toàn thân run lẩy bẩy. Bỗng dưng nhìn sang ngọn núi khác, thấy ngọn núi khác có cỏ xanh biếc, cảnh sắc rất hấp dẫn, bèn vừa run rẩy vừa trèo lên ngọn núi đó.”
Tôi nói tiếp:
”Khi người nghiệp nặng đang vùng vẫy để trèo lên ngọn núi kia, tự cảm thấy sức cùng lực kiệt, đến được đỉnh núi kia rồi nhưng núi này trong tích tắc cỏ xanh đã biến mất, cảnh sắc hấp dẫn không thấy đâu, chẳng ngờ cũng là một ngọn núi băng tuyết lạnh hơn nữa.”
Tôi lại nói:
”Người nghiệp nặng này kiệt sức, rùng mình ớn lạnh, lại nhìn sang ngọn núi khác, ngọn núi khác kia có chim hót hoa thơm, gió thổi hiu hiu. Thế là lại trèo xuống ngọn núi này, rồi lại lao tới ngọn núi kia, không ngờ là khi trèo lên đến đỉnh, ngọn núi này té ra lại là núi băng lạnh.”
Tôi lại nói:
”Người tội nặng, từ núi này nhìn sang núi kia, thấy núi kia đẹp tuyệt vời, nhưng hễ trèo qua đó thì lại vẫn là băng lạnh. Cuối cùng thì tinh cùng lực tận mà chết, vì lạnh mà bị chết cóng, muốn tìm chỗ ấm áp chung quy chẳng thể tìm được.”
Tôi lại nói:
”Người tội nặng, trần truồng leo núi băng, cái khổ ấy rất rõ ràng, muốn tìm chỗ ấm áp, leo lên leo xuống, nhưng cuối cùng lại phát hiện ra mỗi ngọn núi nhìn lúc đầu đều tốt, nhưng leo lên rồi mới biết là không tốt, cái khổ hao tổn sức lực ấy khổ vô cùng khổ.”
Tôi lại nói:
”Người tội nặng, không phải bị lạnh cóng mà chết thì cũng kiệt sức mà chết, sau khi chết lại sống lại, lại bắt đầu leo núi băng, cứ lặp lại quay vòng như thế, đó là địa ngục hàn băng.”

🌟

Tôi hỏi Minh Vương:
”Vì sao từ núi này nhìn sang núi kia, núi kia rõ ràng là núi băng, nhưng người tội nặng lại nhìn thành núi ấm áp?”
Minh Vương đáp:
”Đó là nhận thức sai của con mắt phàm phu!”
Tôi hỏi:
”Con mắt thế tục vì sao lại nhận thức sai?”
Minh Vương đáp:
”Vì sự bám chấp!” - Minh Vương nói tiếp: “Người thế tục không giữ bổn phận, lòng tham không biết đủ, có tiền rồi lại muốn có nhiều tiền hơn, có địa vị rồi lại muốn có địa vị cao hơn, có vợ rồi lại muốn có nhiều vợ, có danh tiếng rồi lại muốn danh tiếng lớn hơn nữa, cứ mưu cầu mãi không dừng, dùng mọi thủ đoạn để hại người lợi ta, cứ thế không biết mệt không biết chán. Loại người có lòng tham không biết đủ như vậy sau khi chết sẽ rơi vào địa ngục hàn băng, leo hết núi này tới núi khác, liên miên không nghỉ.”

Tôi hỏi:
”Có phải là có đại hòa thượng sẽ rơi vào địa ngục này không?”
Minh Vương đáp:
”Đúng vậy.”
Minh Vương nói:
”Đại hòa thượng cần tìm tâm, tìm tâm thanh tịnh của bản giác, hợp với đạo mới là vĩ đại. Nhưng sau khi sáng lập ra một tông phái độc chiếm một vùng, lại sáng lập ra một ngọn núi khác, rồi lại lập ra một ngọn núi lớn khác nữa… đều là công phu kinh doanh kiếm lợi nhuận, chưa minh tâm kiến tính lại muốn thành tựu đại danh thế tục, đại hòa thượng này chỉ là có nhiều chùa, danh vọng lớn, tiền tài quyền thế lớn, lập tức rơi vào địa ngục hàn băng.”

Minh Vương nói:
”Con người thế tục đứng núi này lại thấy núi kia cao, người người tranh tên tuổi, tranh địa bàn, tranh tiền, tranh địa vị, cứ tranh tới tranh lui như vậy sẽ tương ứng với địa ngục hàn băng, đương nhiên là đọa vào địa ngục hàn băng.”
Tôi hỏi:
”Xây chùa thì sao?”
Minh Vương đáp:
”Lợi ích chúng sinh tu hành thì xây.”
”Lợi ích danh lợi cho chính mình thì không nên xây.”

🌟

Bây giờ tôi có một câu hỏi hỏi mọi người:
”Con mắt của người thế tục thường xuyên hoa mắt mà nhìn lầm, cái mà họ nhìn thấy luôn luôn là ảo giác. Có tên tuổi, có quyền thế, có địa vị, có tiền bạc, luôn luôn không phải là hành giả chân chính, vậy thế nào mới là hành giả chân chính đây? Thử trả lời bằng một từ xem! Như thế nào?”


### 39. Đại hàn và đại nhiệt


Trong kinh Phật có địa ngục căn bản, địa ngục căn bản ấy chính là Bát hàn và Bát nhiệt, Bát hàn và Bát nhiệt này cực khổ vô cùng. 

Tôi từng nhận lời mời đi thăm một bệnh nhân tâm thần, tất cả các bác sĩ của khoa thần kinh đều cảm thấy bệnh nhân tâm thần này rất đặc biệt. 

Khi người này phát bệnh thì cảm thấy toàn thân phát nhiệt, nóng đến mức cởi sạch quần áo, dường như cởi hết quần áo vẫn chưa đủ mà còn muốn cào rách cả da nữa. Muốn nhảy vào trong nước lạnh, vẫn không được, lại nhảy vào trong nước đá, hoặc nhảy vào bể đá mới cảm thấy dễ chịu một chút. 
Sau khi người này ngâm mình trong bể đá một lúc thì lại cảm thấy rét run, lạnh đến mức toàn thân run rẩy, răng đập vào nhau, thế rồi lại mặc quần áo, mặc áo trong áo ngoài, áo khoác áo gió, ngay cả chăn cũng quấn lên người mà vẫn cảm thấy lạnh. 
Đến khi cơn lạnh qua đi thì lại thấy nóng, lại cởi quần áo.
Đến khi cơn nóng qua đi thì lại thấy lạnh, lại mặc quần áo.

Trong một ngày, người này chỉ ở đó biểu diễn mặc quần áo rồi lại cởi quần áo, cởi quần áo rồi lại mặc quần áo. Các bác sĩ khoa thần kinh bó tay không biết làm sao.

Tôi nhìn thấy vậy thì trực giác biết rằng bệnh nhân tâm thần này đang chịu sự hành hạ của địa ngục đại hàn và đại nhiệt.

🌟

Tôi xuống âm gian hỏi Minh Vương xem người này bị làm sao. Minh Vương đáp:
”Chúng tôi đã trói chặt một hồn một phách của hắn ở trong âm gian địa ngục, lúc thì ở địa ngục đại hàn, lúc thì ở địa ngục đại nhiệt, cho nên người này mới có hiện tượng lúc nóng lúc lạnh.”
”Người này đã phạm nghiệp gì?”
Minh Vương đáp:
”Người này buôn bán người, đẩy những người phụ nữ vào chỗ nước sôi lửa bỏng, nên nhận quả báo ở địa ngục đại nhiệt, rồi lại biến phụ nữ thành nô lệ kẻ hầu, hoặc ép họ làm ăn mày, nên nhận quả báo của địa ngục đại hàn. Loại người như vậy, ngài còn cứu hắn không?”
Tôi nghe xong thì đầy kinh sợ.

Sau đó, tôi dò la về nghề nghiệp của người này, thì ra bề ngoài là làm nghề giới thiệu việc làm, nhưng bên trong thực chất là buôn bán người, ép phụ nữ làm gái điếm, ép người tàn tật làm ăn mày.
Cũng có người không chịu nổi sự hành hạ đã tự sát mà chết! Bởi vì có người không chịu nổi sự đày đọa mà chết nên người chủ này mới bị mắc bệnh tâm thần như vậy, lúc nóng lúc lạnh.

Tại âm gian được Minh Vương nói cho biết.
Tại dương gian, tôi cũng tìm hiểu được mà biết. 
Mặc dù tôi có đại pháp, nhưng cũng không dám và cũng không thể cứu loại người này.

🌟

Tôi hỏi Minh Vương:
”Đại hàn như thế nào?”
Minh Vương đáp:
”Giống như leo núi băng.”
”Đại nhiệt như thế nào?”
”Giống như con kiến trong chảo nóng.”

Tôi hỏi Minh Vương:
”Loại người nào thì vào địa ngục Bát hàn Bát nhiệt?”
Minh Vương đáp:
”Người tàn bạo, người vô nhân tính, người vô nhân nghĩa thì vào Bát hàn và Bát nhiệt, ở đây những tên bạo chúa là đông nhất. Cũng có kẻ làm người keo kiệt bủn xỉn, người không khoan dung với người khác, người có tính ức hiếp bắt nạt, người chửi rủa đánh đập người khác.”
”Vì sao các bậc quân vương lại vào địa ngục Bát hàn Bát nhiệt?”
”Tranh đất cướp thành, làm chết dân chúng vô tội.”
”Nếu là để bảo vệ quốc gia thì sao?”
”Đó là một câu chuyện khác. Nhưng những người vô tội mà chết cũng sẽ có báo ứng lên người của quân vương.”
Tôi thở hắt ra một hơi, hỏi:
”Như thế thì ai muốn làm quân vương nữa?”
Minh Vương đáp:
”Có ai không muốn làm quân vương chứ?”

🌟

Tôi có một câu hỏi hỏi mọi người:
”Bạn có muốn làm quân vương không? Hay là làm Pháp Vương?” 

Làm Pháp Vương phải truyền bá phát dương đại giáo, phải là từng việc đều xuất phát từ tấm lòng Phật tính của mình, bảo vệ trời đất mới là điều mà đại trượng phu nên làm.

Thử hỏi, quân vương lớn hay là Pháp Vương lớn? Đây vẫn là một câu hỏi muôn thủa.


### 40. Người trong chảo dầu sôi


Có một câu chuyện cười như thế này:
Ban đầu khi Thượng đế tạo ra con người là dùng bột mì để nặn ra hình người, sau đó bỏ vào rán trong chảo dầu nóng. 
Lần đầu tiên rán quá lửa nên trở thành một đám đen sì sì, thế rồi thả ở châu Phi, trở thành người da đen.
Lần thứ hai, Thượng đế rất cẩn thận, sợ quá lửa nên đã lấy ra sớm, rán còn chưa chín, thế rồi thả ở châu Âu, trở thành người da trắng.
Lần thứ ba, Thượng đế đã có kinh nghiệm, rán lâu quá thì thành người đen, rán chưa tới thì thành người trắng, thế nên rán vừa đủ, không đen không trắng, thì trở thành chủng người da vàng, thả ở châu Á.
Đây là câu chuyện cười về Thượng đế tạo ra con người.

🌟

Ở âm gian địa ngục, tôi thật sự nhìn thấy người trong chảo dầu, đó là một chảo dầu to cực kì to. 
Có mấy người ở trong đó. Quan âm phủ chuẩn bị châm lửa. Người bên trong chảo dầu hét to:
”Đừng châm lửa, đừng châm lửa, tuyệt đối không được châm lửa, chúng tôi sẽ bị rán mà chết mất!”
Quan âm phủ cười:
”Là các người tự châm lửa, không phải ta châm lửa.”
Người trong chảo dầu im lặng không nói gì.
Lửa đã châm lên, người trong chảo dầu bị rán kêu xèo xèo rồi chết.

🌟

Tôi hỏi Minh Vương:
”Vì sao quan âm phủ nói là các người tự châm lửa, không phải quan âm phủ châm lửa?”
Minh Vương đáp:
”Người trong chảo dầu đều là những kẻ phóng hỏa ở dương gian, vì thế, chính họ là người châm lửa.”

Theo như tôi biết, những người phóng hỏa này nghiệp tội rất nặng, không thể không biết: một que diêm, một thùng xăng, nghiệp ấy là không thể đếm được.
1. Nghiệp giết người — thiêu cháy người.
2. Nghiệp cướp bóc — thiêu cháy tài sản của người.
3. Nghiệp sân hận — vô cớ phóng hỏa, muốn tiêu diệt người ta.
4. Nghiệp phẫn nộ — trút giận vào người khác.
5. Nghiệp đố kỵ — ghen ghét người khác.
6. Nghiệp ghen tuông — ghen tuông với người khác.
Vân vân và vân vân.

Loại người phóng hỏa này, bất kể là bạn phóng hỏa trong rừng sâu, phóng hỏa ở công xưởng, phóng hỏa ở nhà dân, phóng hỏa trên các phương tiện vận chuyển (tàu, xe, máy bay), đều là nghiệp chướng rất nặng, cũng chính là dẫn lửa tự thiêu, nghiệp tội thật sự không thể tha, chỉ một vài đốm lửa cũng có thể cháy cả một cánh rừng, sảy chân một cái là thành mối hận thiên cổ. Cho nên, tự kiềm chế là vô cùng quan trọng, tuyệt đối không được đùa với lửa.

🌟

Tôi thấy người có chuyện tình cảm không thuận, trong lòng tức giận, liền phóng hỏa để trút giận, kết quả là thiêu chết người vô tội. 
Thử nghĩ xem, cái hóa đơn này phải tính sổ thế nào đây?

Tại âm gian địa phủ, người phải vào chảo dầu, người phải xuống núi đao, đều là loại người này. Cũng có người chưa hề thật sự châm lửa, mà là ở bên cạnh quạt lửa, loại người này dù chưa tự mình châm lửa cũng xem là người châm lửa.

Cơn giận bốc lên vì hồng nhan. Có đáng không?

Hành giả chúng ta phải hóa đau thương thành sức mạnh, càng tu hành tinh tấn hơn, tuyệt đối không được tạo nghiệp, không được hại người.
Đại sư Vĩnh Gia nói:
”Tổn pháp tài, diệt công đức, tạo sát nghiệp, ai ai cũng là vì cái tâm thức này.”

🌟

Có câu nói:
”Khi thân này hư hoại giống như nhà bị cháy, chủ nhà ra đi, nhà là vô thường, còn chủ nhà là thường tại!”
Hỏi tôi:
”Có phải là Phật pháp không?”
Tôi nói:
”Đây là cách nói phương tiện, chính hay tà còn chưa phân rõ, không có đúng sai. Chủ nhà cũng chưa chắc là thường tại đâu! Thử hỏi một câu, tâm có thường không? Hay là vô thường? Xin mọi người suy nghĩ kĩ càng!” [Chủ nhà là để chỉ về tâm, là một cách nói pháp trong Thiền tông.]


### 41. Hỏi đáp cùng Minh Vương


Minh Vương hỏi tôi:
”Ngài, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, thần hành bốn Thánh giới, thần hành tới hai mươi tám cõi trời, thần hành ở nhân gian, thần hành ở ba ác đạo tại âm gian, vậy tôi hỏi ngài, bốn Thánh, hai mươi tám thiên, ba ác đạo, nhân gian, âm gian, là giống hay khác?”
Tôi đáp:
”Giống.”
Minh Vương lại hỏi:
”Đã là giống thì còn thần hành làm cái gì?”
Tôi đáp:
”Đó là chuyện của cái chân, chẳng có liên quan gì đến tôi!”
Minh Vương trách tôi:
”Ngài đúng là nói lảng!”

🌟

Minh Vương hỏi tôi:
”Sơn hà đại địa và bản thân ngài là giống hay là khác?”
Tôi đáp:
”Giống.”
Minh Vương lại hỏi:
”Chim bay, cá bơi, động vật trên mặt đất ở trong sơn hà đại địa với ngài là giống hay khác?”
Tôi đáp:
”Giống.”
Minh Vương lại hỏi:
”Đã là giống thì vì sao còn đối đầu đánh nhau?”
Tôi đáp:
”Tôi cùng chúng dung hợp làm một.”
Minh Vương cười tôi:
”Nhảm nhí!”

🌟

Minh Vương hỏi tôi:
”Ngài nói ngài độ chúng sinh, chúng sinh mà ngài độ ở đâu?”
Tôi đáp:
”Ở ngay trước mặt ngài đó.”
Minh Vương cười vang:
”Chỉ có mỗi mình ngài thôi mà?”
Tôi đáp:
”Một tức là tất cả đó.”
Minh Vương nói:
”Đúng là dẻo miệng khéo nói!”

🌟

Minh Vương hỏi:
”Nếu nói dương gian là trắng, nếu nói âm gian là đen, thì khi chưa phân rõ trắng đen sẽ là cảnh giới nào?”
Tôi đáp:
”Nếu nói trời nắng là trắng, nếu nói trời râm là đen, cũng không phải trời nắng, cũng không phải trời râm, vậy thì là trời thế nào?”
Minh Vương hỏi:
”Sao lại hỏi ngược lại tôi?”
Tôi đáp:
”Vốn dĩ đang chẳng có chuyện gì, vì ngài hỏi, lại thành lắm chuyện rồi!”

🌟

Minh Vương hỏi:
”Tương lai lúc ngài hấp hối, ngài sẽ để lại bài kệ gì cho chúng sinh?” - Minh Vương nói tiếp: “Ví dụ lão hòa thượng Quảng Khâm nói “Không đến, không đi, không hề gì”; còn ngài Thubten Dhargye nói hai chữ “thanh tịnh”, còn ngài nói gì cho hay đây?”
Tôi nói:
”Vốn dĩ không vướng bận, ở tại bất kì đâu!”
Minh Vương nói:
”Câu này không tệ, nhưng quá câu nệ vào văn tự.”
Tôi hỏi ngược lại:
”Nói thế nào mới phải?”
Minh Vương đáp:
”Đó là việc của ngài, sao lại hỏi tôi?”
Tôi đáp:
”Tôi đi nói chuyện với Minh Vương đây!”
Minh Vương:
”Ơ… nói thế này thì không hay lắm!”

Tại đây, xin hỏi thánh đệ tử, lúc tôi lâm chung, nói câu gì mới là thích hợp nhất đây?


### 42. Cõng bao tải leo núi


Ở âm gian, tôi nhìn thấy một đệ tử cõng một bao tải to lảo đảo đi về phía tôi. Đệ tử này nhìn khoảng trên dưới năm mươi tuổi, hai con mắt ti hí, nhìn thoáng qua thì hơi giống con kiến đang cõng cái vỏ nhãn.

Đệ tử này thở hổn hển, hai tay túm chặt lấy cái bao tải, mồ hôi nhễ nhại, nhìn thấy là tôi thì muốn vẫy tay chào tôi, nhưng cái bao tải thật sự quá nặng, hai chân đã cong khuỵu cả xuống rồi, miệng há ra nhưng chỉ là hơi thở hổn hển. 

Tôi nói:
”Sao không đặt cái bao xuống?”
Ông ta nói:
”Không được, tôi không thể bỏ xuống!”
Tôi nói:
”Người thì đã chết rồi, sao không bỏ cái bao xuống?”
Ông ta đáp:
”Tôi đâu có, ngay cả chết tôi cũng không cam tâm!”
”Cõng cái bao tải đi đâu vậy?”
Ông ta đáp:
”Minh Vương muốn những người cõng bao tải chúng tôi tụ tập ở trước núi Đại Âm để leo núi, nếu leo không được thì sẽ thu hồi cái bao tải này.”
Tôi đưa mắt nhìn ra xa.

Quả nhiên ở phía trước núi Đại Âm đã có hàng nghìn hàng vạn người đang cõng bao tải, cả hội đang leo núi, giống như một đàn kiến tiến đến núi Đại Âm, mỗi người đều thở hổn hà hổn hển. Rất hiển nhiên, đệ tử này cõng bao tải cũng đang chuẩn bị đến để leo ngọn núi kia. 

Đây là một việc vô tích sự rất khổ sở, núi Đại Âm rộng lớn vô biên, núi cao ngút tận mây, núi cao không nhìn thấy đỉnh, những người này muốn leo lên đỉnh núi là điều không thể nào.

Theo như tôi biết, chưa từng có người nào có thể đến được đỉnh núi Đại Âm, chưa từng có người nào trèo lên được đỉnh núi, phần lớn chỉ leo lên được lưng chừng núi là đều rơi xuống mà chết, khi chết vẫn còn túm chặt lấy cái bao tải không buông ra!

Tôi hỏi đệ tử:
”Cái bao tải của anh đựng gì vậy?”
Đệ tử khom chân, ngồi xuống thở dốc, nói: 
”Nhà cửa, xe cộ, vàng bạc châu báu, vợ con,…”
”Còn gì nữa?”
”Còn cả danh lợi địa vị, tôi đều không buông bỏ được!”
Tôi nói:
”Buông bỏ đi!”
Đệ tử trả lời tôi:
”Đây là những thứ duy nhất mà tôi có thể có, nếu tôi buông bỏ thì cái gì mới là của tôi chứ?”
Tôi nói:
”Tất cả mọi thứ có được rốt cục đều là không, mười tám cõi giới đều là không, anh nói là có thì vẫn là không, tất cả vì duyên mà có, tất cả cũng vì duyên mà không, đừng có bám chấp, như thế mới an nhàn!”
Đệ tử nói:
”Tôi không hiểu lời thầy nói, tôi cảm thấy là phải có gì đó thì mới là cảm giác chân thực.”

Đệ tử này vẫn giống như mọi người, cùng đi leo núi Đại Âm, cõng trên lưng cái bao tải nặng trĩu. Số phận của mọi người đều như nhau, chỉ leo được một nửa là chết hết, hoặc còn chưa leo được một nửa đã chết rồi. Những người cõng bao tải leo núi Đại Âm này người trước hy sinh người sau tiếp bước, chưa bao giờ dừng lại, họ cứ leo và leo, chết đi sống lại, sống rồi lại chết, không bao giờ vứt bỏ cái bao tải.

Đây cũng là một cảnh tượng của địa ngục biến hiện.
Tôi nói, những người này thật đáng thương!
Họ nói, tôi mới đáng thương!
Bởi vì tôi chẳng có gì, chẳng đạt được cái gì.

🌟

Tại đây tôi hỏi thánh đệ tử một câu:
”Ở tại nhân gian, rốt cục bạn có được cái gì? Xin hãy nói cho tôi biết, rốt cục bạn có được cái gì?”
Tôi lại hỏi:
”Người cõng bao tải, rốt cục là thông minh hay là ngu ngốc, vì sao có nhiều người thông minh như vậy cõng theo bao tải, đi leo núi Đại Âm, cho đến chết vẫn không biết mệt chứ?”


### 43. Đừng hại bào thai


Cá nhân tôi chủ trương: “Xin đừng phá thai!”
Bởi vì mạng sống của con người không dễ mà có được, hơn nữa con người không có quyền giết hại bào thai.
Người mang thai không có quyền phá thai.
Bác sĩ cũng không có quyền phá thai.
Cho dù có một số chính phủ đã hợp pháp hóa vấn đề phá thai, nhưng đứng trên lập trường tôn giáo, chúng ta tuyệt đối không tán đồng phá thai.

Tôi nhận thấy:
Một người mang thai, cho dù dưới hoàn cảnh tồi tệ nhất, cũng không thể nào giết một sinh mạng vô tội. 

Cũng có bác sĩ cho rằng, có một số thai nhi bẩm sinh bị dị dạng, hoặc có bệnh hiểm nghèo, hoặc có bệnh nan y, hoặc những biến dị di truyền bẩm sinh, nếu sinh ra thì e rằng sẽ lãng phí tài nguyên xã hội.
”Như vậy phải làm sao? Phá hay không phá thai?”

Câu trả lời của tôi vẫn dứt khoát là: “Không!”

🌟

Bởi vì ở âm gian, tôi đã nhìn thấy rất nhiều linh thai, tục gọi là thủy tử linh, tụ tập và than khóc trước mặt Minh Vương.
Thủy tử linh gào khóc.
Minh Vương nói:
”Người đời vô tri, tùy ý phá thai, không coi trọng mạng sống của thai nhi. Dựa vào sở thích cá nhân hoặc mượn cớ để không gánh vác trách nhiệm sinh con. Nay ta ra sắc lệnh, các ngươi bám trên người cha mẹ mình, chờ cơ hội để đoạt lấy mạng sống của họ.”

Tôi nghe Minh Vương phán xử như vậy thì không nén nổi sự đau đớn sâu sắc và nỗi lo canh cánh trong lòng. 

Theo như tôi biết:
Có một cô gái phá thai hai lần. Hai sinh mạng này bám trên người cô, trở thành hai khối u trong buồng trứng. Cô gái này đến tìm tôi. Tôi biết đây chính là nhân quả quả báo. Tôi đặc biệt khuyên giải cô ấy lập bài vị thủy tử linh ở Biệt thự Cầu Vồng, hơn nữa còn truyền dạy cho cô ấy chân ngôn Thất Phật Diệt Tội, khuyên cô chăm chỉ trì tụng mỗi ngày. 

Sau đó theo dõi hai khối u ung thư kia thì thấy chúng dần dần thu nhỏ lại, cho đến khi tiêu biến không còn vết tích nào nữa!
Sự việc kiểu như thế này nhiều vô kể!

Tôi phát hiện thấy, trên thân thể người vô duyên vô cớ mọc ra khối u, hoặc lành tính, hoặc ác tính, có mối quan hệ lớn đến thủy tử linh. 

Từng có người hỏi tôi:
”Những đứa con tội lỗi thì phải làm sao?” 
Tôi đáp:
”Những đứa con tội lỗi cũng là con người.”
Rất nhiều người không biết tầm quan trọng của thai nhi, cho rằng chưa sinh ra thì chưa có sinh mạng, liền tùy tiện phá bỏ thai nhi, gây ra thảm họa cho cốt nhục chưa ra đời, thật sự tội ác ấy rất nặng đó!

🌟

Tôi tận mắt nhìn thấy thủy tử linh ở âm gian, tiếng khóc vang đến tận cõi trời, chúng tụ tập lại giống như dòng thác lũ cuồn cuộn, chúng kêu gào đòi trả mạng, tiếng gào thét dồn dập, thật khiến người ta sợ hãi muôn phần.

Còn người ở dương gian thì lại không biết mạng sống của chính mình đang ở bên rìa nguy hiểm nghìn cân treo sợi tóc, rất nhiều người bị mắc ung thư, cảm thấy kinh hoàng lúng túng, không biết vì nguyên nhân gì? Nhưng tôi biết, đây chính là sự cắn trả của thủy tử linh. 

Đương nhiên:
Mọc khối u không hoàn toàn đều là do thủy tử linh. Nhưng những người mọc khối u vì thủy tử linh là rất nhiều!

Tôi đã biến Biệt thự Cầu Vồng thành Biệt thự Thủy Tử Linh, chủ yếu là để xoa dịu nỗi oán hận của thủy tử linh trôi dạt khắp nơi. 

Có người nói tôi mê tín, tôi nghe xong thì cười vang ha ha. Thế gian thật sự có rất nhiều vấn đề khó hiểu, bạn tin cũng được, không tin cũng được, đợi đến khi mọc khối u rồi thì bạn sẽ càng mê muội thôi.

🌟

Tôi có một câu xin hỏi mọi người, đời người tai họa nhiều, nghịch cảnh nhiều, phiền não nhiều, khổ nạn nhiều,… vì sao mà nhiều? Mấy người có thể trả lời được câu hỏi của tôi, vì sao lại nhiều?


### 44. Địa giới ngũ độc


Minh Vương đưa tôi thần hành, đi xem một địa ngục, đến điểm đầu của địa ngục ấy thấy phía trên có viết bốn chữ to: “Địa giới ngũ độc”. 

Nơi đây mây mù bao phủ, những đợt gió đưa mùi tanh hôi, những luồng khí độc xộc đến trúng người khiến buồn nôn. Thật may là chúng tôi đi bằng “tịnh quang”, bằng không, trúng phải gió hôi khí độc thì khả năng sẽ từ trong không trung rơi xuống mất. 

Nhờ tịnh quang chiếu rọi, tôi nhìn thấy có thứ gì đó đang lắc lư, nhìn kĩ hơn thì tôi không thể nén nổi thở ra một hơi khí lạnh, khiến tôi rùng mình, toàn thân nổi da gà. 

Tôi nhìn thấy:
1. Rắn độc kín trời đầy đất.
2. Từng đám từng đám nhện độc.
3. Vô số vô số rết khổng lồ.
4. Từng bầy từng bầy ếch nhái.
5. Bò cạp độc đầy rẫy núi đồi.

Tôi trông thấy một người phụ nữ quen đang ở trần, toàn thân bị rắn độc, rết, ếch nhái, bò cạp, nhện bò kín người. Người phụ nữ này nước mắt lã chã, gào thét, khuôn mặt kinh hoàng từ lâu đã bị biến dạng méo mó. Lũ độc vật từng li từng phân, từng chút từng chút từ từ gặm nhấm người phụ nữ này. Đầu tiên chúng ăn da, sau đó là ăn thịt, cuối cùng mới rỉa xương. Tôi nhìn thấy cái răng nanh của rắn độc đã cắn sâu vào trong thịt.

Người phụ nữ đó vì nhiễm chất độc nên thân thể từ trắng chuyển thành đen, tôi nhìn thấy những con dòi của ngũ độc chui ra chui vào trên thân thể người này. 
Cuối cùng:
Bảy lỗ chảy máu đen.
Những con vật độc chui ra chui vào từ bảy lỗ. 
Toàn thân trở thành một đống nhơ nhớp.

Tôi thấy vậy thì không thể nào nhìn tiếp. Địa giới ngũ độc này không chỉ có một người phụ nữ, mà nam nữ đều có, mỗi người ở trong địa giới ngũ độc không ai là không kinh hoàng dị thường. Cuối cùng, tất cả đều bị ngũ độc cắn mà chết. Những cơn gió tanh hôi, những luồng khí độc đều là từ những xác chết nhão nhoét và độc vật sinh ra.

🌟

Tôi lại nhìn thấy quan âm phủ đang áp giải một người đàn ông đến, từ trong không trung ném vào trong địa giới ngũ độc giống như ném rác vậy. Người đàn ông kia kêu thét lên một tiếng. Trong sát-na, những con rắn độc dài và mảnh đã bò đầy khắp người đàn ông, rồi bò cạp độc dùng đuôi chọc vào ông ta, lũ ếch nhái thì nhổ khí vào trong mũi mồm ông ta, những con rết thì dùng miệng hút mắt của ông ta, những con nhện độc thì cắn tới tấp lên da của ông ta.

Một kết cục rõ ràng mà ai cũng biết, không bao lâu sau, người đàn ông này đã trở thành cái xác chết nhão nhoét. 

🌟

Tôi nói với Minh Vương:
”Thật tàn nhẫn!”
Minh Vương nói:
”Những chúng sinh mang tội này đến địa giới ngũ độc, đúng là gieo gió gặt bão mà thôi.” 
”Vì sao vậy?”
Minh Vương đáp:
”Người phụ nữ kia, ngài có quen biết, sự nham hiểm của người phụ nữ đó so với rắn độc, bò cạp độc, rết độc, nhện độc, ếch nhái độc thì thế nào đây?”

Tôi nhớ đến người phụ nữ kia khi còn sống, cái tâm hại người của bà ấy, cái lòng dạ nham hiểm của bà ấy, những trù tính thâm độc của bà ấy, miệng lưỡi xảo quyệt của bà ấy, những mưu mô quỷ kế của bà ấy, thật sự giống như độc vật ở địa giới ngũ độc. Thật ra người phụ nữ này căn bản chính là độc vật, người đến gần bà ta sẽ bị hạ độc. 

Minh Vương nói:
”Độc vật ở trong địa giới ngũ độc là do những người có lòng dạ nham hiểm biến hiện mà ra!”

🌟

Tôi hỏi các đệ tử, mọi người hãy chạm vào trái tim mình, tự hỏi chính mình, trái tim của bạn có ác độc không? Bạn có giở trò mưu mô không? Bạn có làm hại người lợi mình không? Bạn có giở thủ đoạn không?

Tôi hỏi: “Bạn có phải là hành giả thật không?”


### 45. Làm sao cày trên lưỡi?


Tôi từng có một thắc mắc: “Làm sao cày trên lưỡi?”
Lưỡi của con người, ở trong miệng, có vị giác, lưỡi rất nhỏ. Còn trâu trên thế gian, cao to như con ngựa, vừa khỏe vừa mạnh, trâu làm sao có thể cày lưỡi của con người được?

Tôi không dám tin vào địa ngục cày lưỡi. Minh Vương nói với tôi:
”Tương lai ngài sẽ có một đệ tử phải xuống địa ngục này!”
Tôi nghe xong thì hết sức đau buồn. Minh Vương nói:
”Đệ tử này của ngài lừa Phật lừa Bồ Tát, dối trời gạt đất, lừa thần lừa quỷ, vì vậy mà phải vào địa ngục cày lưỡi.”
Tôi hỏi:
”Như thế nào là lừa?”

Minh Vương phân tích:

1. Lừa Phật lừa Bồ Tát — hắn lấy danh nghĩa là tin Phật tin Bồ Tát để lừa tài sản của người ta, và lừa sắc của phụ nữ, đây chính là lừa Phật lừa Bồ Tát, không chỉ như vậy, hắn còn lừa cả Hoạt Phật ngài nữa.

2. Dối trời gạt đất — hắn không hiểu thiên văn, cũng không hiểu địa lý, chỉ dựa vào cái lưỡi dài ba tấc mà xem thiên văn, xem địa lý, đây chính là dối trời gạt đất.

3. Lừa thần lừa quỷ — hắn dám lừa Phật, lại dám lừa trời, thì đương nhiên cũng dám lừa quỷ thần, động một tí là hắn lấy thần lấy quỷ ra để lừa gạt biết bao chúng sinh bình thường, tự mình giả thần giả quỷ để đùa bỡn người khác, lại tự cho rằng mình thông thần thông quỷ, giở trò đến mức người ta vây xung quanh, lại còn dám thề thốt trước mặt quỷ thần, chỉ ra ở đâu có thần, ở đâu có quỷ, từ đó kiếm lời.

Loại người này, khi chết đi, đều sẽ vào địa ngục cày lưỡi.

🌟

Minh Vương đưa tôi đi xem địa ngục cày lưỡi. Kẻ đọa vào địa ngục cày lưỡi này thì ra ba loại sau là nhiều nhất:
1. Tăng nhân nhiều.
2. Đạo sĩ nhiều.
3. Thuật sĩ nhiều.

Bởi vì bọn họ đều lợi dụng lưỡi dài ba tấc miệng cười hoa sen để giở thủ đoạn lừa gạt. 

Người đọa vào địa ngục cày lưỡi này lần lượt xếp hàng, lưỡi thè ra, tôi sợ đến mức nhảy dựng lên.
Thì ra cái miệng rất nhỏ, nhưng cái lưỡi thè ra thì dài như ngọn gió, cái lưỡi biến thành vừa dài vừa rộng. 

Không ngờ lưỡi dài ba tấc bây giờ đã trở thành to như những cánh đồng một mẫu, hai mẫu, ba mẫu, mười mẫu. 
Lưỡi trở thành mặt đất. 
Thế còn trâu thì sao? Đó là mười con, trăm con, nghìn con trâu sắt, kéo theo cái cày sắt, trên cái cày có con dao sáng loáng. Lưỡi cày kéo xuống một nhát thì máu sẽ tóe ra xung quanh. Con dao sẽ cày trên lưỡi, máu chảy thành sông. Sự đau đớn đi vào tim gan, tiếng gào thét liên miên.

Những loại người như tăng nhân, đạo sĩ, thuật sĩ này chưa bao giờ ngờ rằng sau khi chết sẽ gặp phải báo ứng như vậy. Địa ngục cày lưỡi đã trở thành ruộng máu mênh mông. 

Tăng nhân, đạo sĩ, thuật sĩ đau tới mức chết đi sống lại, sống rồi lại chết. Tôi hỏi Minh Vương:
”Đệ tử kia của tôi làm sao có thể tránh khỏi địa ngục này?”
Minh Vương đáp:
”Sám hối!”
Tôi nói:
”Hắn thường giúp người ta làm sám hối!”
Minh Vương nói:
”Có miệng mà không có tâm, sám hối cũng là lừa tiền của người ta, phúc báo hưởng hết thì cái gì đến sẽ đến!”
Tôi nói:
”Hắn xuất gia ở chỗ tôi đó!”
Minh Vương nói:
”Hắn còn tục hơn cả người thế tục.”
Tôi ủ rũ.

🌟

Bây giờ tôi hỏi các đệ tử xuất gia, đã là như vậy thì hà tất phải xuất gia? Người xuất gia không lừa Phật, không lừa Bồ Tát, không lừa trời, không lừa đất, không lừa quỷ, không lừa thần, bất kì ai cũng không thể lừa.

Tôi hỏi:
”Bạn lừa tới lừa lui, kẻ bị lừa là ai?” (Thử trả lời bằng hai từ.) [câu hỏi Thiền tông]


### 46. Bánh xe dao bay


Khi tôi thần hành ở một địa ngục tại âm gian, bỗng nhiên nghe thấy âm thanh “vù vù, vù vù”, ngẩng đầu nhìn lên, trên không trung có một vòng ánh sáng trắng đang bay rất nhanh về phía tôi. Tôi nhìn kĩ hơn thì nhìn ra đó là con dao bay đang xoay vòng, dao bay xoay tròn như chữ “vạn”, là dao bay bốn đuôi xoay tròn. 

Nhanh như chớp mắt, bánh xe dao bay suýt nữa chém trúng cổ tôi, tôi vừa cúi đầu thì dao bay bổ nhào vào khoảng không bay vụt qua. Tôi vừa mới vui mừng thì không ngờ dao bay lại lượn vòng lại, quay đầu rồi phóng trở lại, lần này nó chém trúng cánh tay tôi. Tôi nhảy dựng lên. 

Tay trái tôi kết Tam sơn ấn, tay phải kết Kiếm ấn, trỏ vào bánh xe dao bay, niệm: “Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, cấp cấp như luật lệnh, lạc!”

Dao bay chữ “vạn” kia lập tức rơi xuống đất, phát ra tiếng “keng keng”!

Bánh xe dao bay này được đúc bằng gang, lúc quay tròn trong không trung, giống như cưỡi gió mà bay, giống như mọc ra con mắt chuyên chém vào những chỗ hiểm của con người. 

Trong lúc tôi đang nghĩ thì không trung lại hiện ra bánh xe dao bay, có ba chiếc kêu “vù vù, vù vù” bay tới, kiếm ấn của tôi liên tiếp chỉ vào ba lần. Ba chiếc bánh xe dao bay rơi xuống kêu “keng, keng, keng”. Rồi không trung lại hiện ra sáu chiếc, mười hai chiếc, hai mươi bốn chiếc bánh xe dao bay, như ong mật, lần lượt bay tới. 

Tôi nghĩ đến ninja Nhật Bản, họ rất giỏi dùng phi tiêu chữ thập, chỉ lật người một cái là phi tiêu chữ thập đã từ trong tay bay ra, “chiu, chiu, chiu”, phi tiêu chữ thập bay thẳng đến chỗ hiểm của kẻ địch.

Tôi thấy những bánh xe dao này chơi không vui, nên niệm chú ẩn thân, thân tôi đã ẩn đi. Nhiều bánh xe dao bay như vậy đã mất đi mục tiêu nên cứ chao đảo chém bừa trong không trung.

🌟

Thì ra tôi đã đến địa ngục bánh xe bay, địa ngục này có các loại bánh xe bay, bánh xe dao bay chỉ là một trong số đó. Lại còn có cả những bánh xe khổng lồ hình dạng như đĩa bay xoay tròn trên đầu nạn nhân, mài cho đầu nạn nhân từng phân từng phân trở thành bột, bánh xe khổng lồ ở trên đỉnh đầu thì tội nhân làm sao chạy thoát được, bánh xe khổng lồ từ đầu tới cuối đều truy đuổi, từ từ mài. Đây cũng không phải là thủ thuật mổ não ở nhân gian, mà là mài hộp sọ, cái khổ ấy không cách nào mô tả được.

Còn như bánh xe dao bay mà tôi đã trải nghiệm thì chúng lao thẳng đến chỗ hiểm của tội nhân, chém cổ, chém tay, chém chân, chém đầu, chém lưng. Tội nhân gào thét chạy trốn, bánh xe dao bay càng hóa thành nhiều hơn, chém cho từng người xương cốt rụng rời thành nhiều đoạn, còn da thịt toàn thân thì trở thành đống thịt băm. 

Đây chính là: 

*Dao bay ở trên trời.
Sống chết trong luân hồi.
Muốn trốn không đường trốn.
Bánh xe tựa sấm xuân.*

🌟

Minh Vương nói với tôi:
”Tương lai, ngài sẽ có một người bạn đến địa ngục này!”
Tôi nghe xong thì rất thương cảm. Tôi hỏi:
”Bạn tôi có tội gì?”
Minh Vương nói:
”Người bạn này hễ mở miệng ra là kêu người ta đừng tranh giành, tranh giành cái gì chứ? Nhưng trên thực tế hắn lại là người tranh giành ghê gớm nhất, bề ngoài thì biểu hiện là chính nhân quân tử, nhưng kì thực là một kẻ ngụy quân tử.”
Minh Vương nói:
”Đầu óc hắn đã dùng hết mọi cơ mưu, tự mình trở thành người giật dây, chính mình là bàn tay tội ác đằng sau hậu trường.”
Minh Vương nói:
”Loại người này bề ngoài thì tốt, nhưng tâm tư không tốt. Chính xác cần có bánh xe khổng lồ đến mài cái vỏ sọ của hắn, mài vỏ sọ hắn thành bột để làm phân bón, để hắn nếm hết cái khổ bị bánh xe khổng lồ mài đầu.”

Tôi hỏi:
”Không cứu được sao?” (Tôi một lòng muốn cứu hắn.)
Minh Vương đáp:
”Bẩm sinh đã tranh giành, cứu thế nào đây? Hắn mài mòn người ta, địa ngục sẽ mài hắn, bánh xe khổng lồ đang chờ hầu hạ hắn đó!”

🌟

Tôi thật lòng thật sự nói để mọi người biết, giàu có hay nghèo hèn đều là ý trời, dù có mưu hay thì cũng trắng tay. 

Thánh đệ tử thân yêu ơi, tôi hỏi bạn: “Cho bạn cả thế giới, nhưng bạn mất đi tính mạng, bạn có được cái gì?”


### 47. Sau khi viết địa ngục biến hiện


Trong cuốn sách “Địa ngục biến hiện ký” này, khi sắp hoàn thành, tôi nhìn vào bản thảo của cuốn sách, đột nhiên cảm thấy hoa mắt, không ngờ cuốn sách này lại biến thành một đóa hoa sen. 

Tôi chậc lưỡi kinh ngạc: “Sách viết về địa ngục, sao lại biến thành hoa sen chứ?” Thật sự là xúc động bùi ngùi.

Sau đó tôi đã nghĩ ra: “Thì ra mặt ngược lại của địa ngục chính là tịnh thổ. Chỉ cần bạn không có duyên phận của địa ngục, tự nhiên bạn sẽ vào tịnh thổ Phật quốc, hóa thành hoa sen trắng thanh tịnh.”

Tôi là một người hiểu rõ tâm mình, hơn nữa tôi còn là người tự chứng Phật tính, tôi đã tiến nhập vào trong diệu đế, trong thiền định, trong tam muội bất khả tư nghì, có thể gọi là:
Người hóa thành Kim Tiên.
Người hóa thành Bồ Tát.
Người hóa thành Như Lai.
Tôi đã không còn là chính mình nữa rồi.

🌟

Từng câu từng chữ trong cuốn sách này cố nhiên là tôi viết về những cuộc đối thoại giữa tôi và Minh Vương, thật ra là sự hòa trộn lẫn nhau. Tất cả địa ngục biến hiện trong sách thật ra không có cách nào mô tả hết thực tướng của địa ngục, không tới được một phần nghìn, không tới được một phần vạn, không tới được một phần triệu. Điều này là bởi vì địa ngục là bất khả tư nghì, cho nên những gì mà tôi không có cách nào kể lại được vẫn còn nhiều lắm!

Nói một cách nghiêm túc, lòng người bất khả tư nghì, cho nên địa ngục là bất khả tư nghì. Lòng người và địa ngục không thể phân tách, đừng cho rằng lòng người và địa ngục là không có liên quan đến nhau, kì thực:
Biến hiện của tâm chính là biến hiện của địa ngục.
Biến hiện của địa ngục chính là biến hiện của tâm.
Căn bản chính là cùng là nhân, cùng là quả, cùng là duyên, cùng là báo lẫn nhau.

🌟

Ban đầu tôi viết cuốn sách này vốn định viết một cách to tát hơn, hoặc viết một cách tinh xảo (kỳ diệu) hơn, nhưng khi viết ra thì lại chẳng có cách nào viết được như vậy, trái lại tôi đã viết một cách rất giản dị.

Vì sao như vậy? Bởi vì tôi đã cân nhắc đến đám đông những con người phổ thông liệu có thể hiểu được mục đích của tôi không, điều này cứ vương vấn trong lòng tôi. Điều tác động đến tâm tôi là những thứ viết ra phải khiến cho mọi người hiểu được.

Bởi thế tôi mạnh mẽ dứt khoát rằng trong những ngày này:
Đi cũng địa ngục.
Ngồi cũng địa ngục.
Nói cũng địa ngục.
Nghĩ cũng địa ngục.
Mơ cũng địa ngục.
Những gì tôi nghĩ tôi lo đều là địa ngục. Tôi biết, tất cả những điều này đều hết sức chân thực, hy vọng người đọc sách này đừng xem thường, hoặc nói rằng “không phải sự thật”, hoặc “cười giễu cợt”. 

🌟

Khi viết cuốn sách này, do ngày ngày vào địa ngục, tôi lập tức phát hiện ra tôi đã đặt mình ở giữa hiện thực và huyễn giác. Trong địa ngục, có những nhân vật vĩ đại ngày xưa, rất nhiều những bậc quân vương một thời làm rung chuyển trời đất. Tôi không giờ nào khắc nào là không cảm nhận mạnh mẽ thấy những ảnh hưởng của đời quá khứ, thời gian đã quay ngược lại. 

Đồng thời, ở trong địa ngục, tôi cũng kinh ngạc tương tự. Những nhân vật xung quanh trong đời sống hiện thực cũng cùng lúc xuất hiện trong địa ngục, đó là sự biến hiện của đời tương lai, rõ là người còn đang sống nhưng lại ở trong địa ngục, đây là hiện tượng “tam tế nhất như”. 
Thông suốt:
Quá khứ.
Hiện tại.
Vị lai.

Cuối cùng tôi đã hiểu, mỗi con người chúng ta, mỗi con người của thế giới hiện thực, có khả năng sống trong quá khứ, cũng có khả năng sống trong tương lai, và đừng cho rằng chỉ có hiện tại mới là đang sống!

Lý luận này của tôi có lẽ mọi người nghĩ không thông, tuy nhiên, tôi cảm nhận rất mạnh mẽ thấy, tôi Lư Thắng Ngạn, không chỉ sống tại quá khứ, mà cũng sống tại tương lai, chỉ là sự tồn tại ngay lúc này, nói theo cách thời thượng thì là, sống rõ nét hơn một chút.

🌟

Chắc chắn sẽ có một ngày, đó là một ngày hiu hiu khói tỏa, đó là ngày mưa chiều hắt hiu, hoặc là ngày mặt trời mọc rồi lặn. 

Ngày mà tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) đi hết cuộc đời này, rất nhiều rất nhiều đệ tử, đệ tử con đệ tử cháu sẽ mở to mắt ra nhìn tôi nằm đó. Hoặc là một hàng dài người thương tiếc đứng trong mưa phùn thê lương, lầm rầm thấp giọng niệm Phật hiệu, chậm rãi đi vào. 
Lư Thắng Ngạn chết rồi!
Lư Thắng Ngạn viên tịch rồi!
Lư Thắng Ngạn biến mất rồi!

Cảnh tượng này trong cuộc đời, mọi người đều có ấn tượng, con người sẽ chợt phát hiện ra, cảnh tượng này dường như mỗi người đều đã từng nhìn thấy. 
Tôi cũng thế!
Bạn cũng thế!
Người khác cũng thế!

Điều tôi muốn chứng minh là, bạn, tôi, hay người ta ở tại thế gian này có được cái gì? Tài, sắc, danh, ăn, ngủ, địa vị, quyền lợi, nhà lầu, xe xịn, gái đẹp, danh dự,… rốt cục có được cái gì?

Dường như đồng thời, trong ánh mắt mọi người lặng lẽ nhìn nhau, có thể nhìn thấy sự hoang mang ở trong đó.

🌟

Trong sự biến hiện của địa ngục, tôi nghiêm túc nói với mọi người rằng:
Bạn có hiểu tâm bạn không?
Bạn có hiểu Phật tính của bạn không?
Bạn có thể vãng sinh Phật quốc tịnh thổ không?
Mà sao bạn vẫn rơi vào trong địa ngục biến hiện, cứ liên tục luân hồi, liên tục luân hồi, không ngừng… không ngừng… không ngừng…

Hãy đi theo bước chân của tôi đi! Tôi là một người giác ngộ chân chính đã minh tâm kiến tính.

Bạn hoài nghi cũng được, bạn không tin cũng được, căn bản là bạn không tin tí gì cũng được. Nhưng bạn không thể bỏ qua cuốn sách này, chí ít, cuốn sách “Địa ngục biến hiện ký” này sẽ khiến bạn ghi nhớ một chút chút. 


### 48. Từ biệt sư phụ - Thượng sư Thubten Dhargye


Tôi đóng cửa ẩn cư hơn năm năm, mỗi khi đến Tết, tôi luôn gửi một phong thư đến vị sư phụ Mật giáo của mình là thầy Thubten Dhargye để hỏi thăm tình hình thầy, cầu chúc cho sư phụ của mình khỏe mạnh sống lâu để biểu đạt lòng biết ơn. 

Trong giai đoạn ẩn cư này, tôi cũng được sư phụ của mình nhiều lần gia trì một cách vô hình, tôi sâu sắc cảm nhận sự thù thắng của Mật pháp, sự thù thắng của thầy.

Mùa xuân năm 2006, tôi có nhân duyên đến Hồng Kông. Ngày 1/3, tôi đã được bái kiến vị Thượng sư mình mong ngóng bấy lâu. Được sư phụ gia trì.

Đêm đó, tôi trở về khách sạn, sư phụ Thubten Dhargye Thượng sư xuất ra tịnh quang bay đến nói chuyện cùng với tôi về nhân duyên thù thắng giữa hai chúng tôi suốt cả đêm, cho đến tận lúc bình minh. Không ngờ tôi và Thượng sư lại có mối nhân duyên sâu đậm bí mật đến như vậy.

Ngày 4/3, tôi rời khỏi Hồng Kông, đến từ biệt sư phụ lại được thầy gia trì, khi ấy tôi lập tức biết rằng Thubten Dhargye Thượng sư sắp viên tịch rồi.

Trong lòng tôi nặng trĩu. Tôi nói với đệ tử cùng đi:
”Sư phụ của tôi sắp viên tịch rồi, tôi phải trở lại Hồng Kông!”

🌟

Tôi bay trở về nơi ẩn cư. Không ngờ, lời nói đã thành sự thật. Ngày 4/3 tôi chào từ biệt Thubten Dhargye Thượng sư thì chẳng ngờ đến ngày 7/3 sư phụ đã viên tịch nhập diệt.
Chỉ sau có ba ngày. 
Thượng sư Liên Hương nói:
”Sư phụ đợi gặp mặt ông lần cuối rồi mới yên tâm ra đi.”
Tôi nghe xong, trong lòng rơi lệ. Tôi nói:
”Sư phụ nhân gian mà tôi quy y đều đi cả rồi. Tại nhân thế gian này, tôi đã chẳng còn sư phụ nữa.”
Lời nói của tôi vô cùng thổn thức.

🌟

Ngày 30/3 là ngày “thủ linh” [trông chừng bên cạnh quan tài] của Thượng sư Thubten Dhargye. Quả nhiên trong vòng một tháng tôi đã bay tới Hồng Kông hai lần. 
Thủ linh hơn ba tiếng đồng hồ, Thubten Dhargye Thượng sư bay ra thân ánh sáng, nói chuyện với tôi nửa tiếng. Tôi hỏi:
”Sư phụ đi về đâu?”
Thầy đáp:
”Tịnh thổ Áo Minh.”
Tôi hỏi:
”Khi nào thì sư phụ lại tới nhân gian?”
Thầy đáp:
”Con đến thì ta đến.”
”Khi nào?”
”Vài trăm năm một lần.”
”Con có thể làm gì cho sư phụ?”
Thầy đáp:
”Con thông minh thế rồi còn hỏi nữa!”
Tôi hỏi:
”Sư phụ còn có gì chê trách không?”
Thầy đáp:
”Mấy trăm năm chỉ có Lư Thắng Ngạn một người này thôi!”

Tôi không nói.
Thầy không nói.
Đúng là cuộc gặp gỡ thần kỳ.

🌟

Đương nhiên tôi biết, Thubten Dhargye Thượng sư đã tức thân thành Phật rồi, trực tiếp đi thẳng tới tịnh thổ Áo Minh. 
Sư phụ sẽ lại đến, căn bản là không đi. (Tôi khẽ cười.)
Pháp thân sư phụ tự tại, căn bản cũng không đến. 
Cầu mong Thubten Dhargye Thượng sư quang minh biến chiếu như đại nhật, độ hết chúng sinh khỏi khốn đốn. 

Tôi viết một bài thơ ca ngợi thầy:

*Tâm pháp chí cao vô thượng, các vị tổ truyền xuống khẩu quyết
Thích Ca độ chúng sinh không phân biệt
Ôi một vị Phật Tổ bất động
Giáo hóa vô cùng lớn lao
Vô lượng vô lượng pháp môn
Chúng con tinh tấn học tập.*


### 49. Thơ địa ngục biến hiện


Trên trời dưới đất chẳng hề có chuyện gì mới lạ
Địa ngục biến hiện đều từ nhân quả mà ra
Một cây kim một sợi chỉ đều có chỗ ra
Chẳng có gì bỗng dưng mà có.

Tôi Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn viết về địa ngục biến hiện
Chỉ bởi vì tôi đã thấy rồi
Chúng sinh hữu tình thật sự nên tỉnh ngộ
Thử tìm hiểu xem
Tâm ở nơi nào?

Minh Vương và tôi trò chuyện rất thú vị
Một hỏi một đáp
Chẳng phải là phong hoa tuyết nguyệt
Cũng chẳng phải là thơ từ ca phú
Chẳng qua thật lòng thảo luận rất nghiêm minh.

Địa ngục biến hiện này chỉ là một chút miêu tả của phần nhiều
Nhưng từ một phải biết suy ra mười
Nếu có điều không biết
Phải thỉnh giáo đại thiện tri thức.

Minh Vương không tàn bạo
Tôi không tàn bạo
Địa ngục cũng không tàn bạo
Chỉ từ tâm mà hiện
Đó là con đường con người tự đi ra.

Thử nhìn xem địa ngục liên miên
Thử nhìn xem lòng người đáng sợ
Thật ra chẳng cần hỏi tôi địa ngục có không
Đáp án trên mặt người đã đều lộ rõ.

🌟

Nhân thế gian này đích thực hư huyễn
Mặc dù chuyện cũ vô cùng khó quên
Nhưng mỗi một việc đều liên tục biến mất trong sự biến hóa
Khổ sinh lão bệnh tử
Còn cả hy vọng của mỗi người.

Trong vòng luân chuyển của thời gian qua đi rất nhanh
Phật chỉ dạy chúng ta ngay tức thì
Nhận lấy Phật tính thanh tịnh mà bản thân vốn có
Đi nhanh về phía quang minh
Có như thế mới không trống rỗng.

Đừng quá bám chấp vào cuộc đời hiện thực
Mơ trong khi ngủ cũng không cần hiểu rõ thế nào
Chúng ta chỉ là đang sống
Trong dòng lũ lịch sử cuồn cuộn mênh mông.

Địa ngục biến hiện chỉ là một móc nối nhỏ trong đó
Mặc dù khiến người ta kinh ngạc
Thế nhưng đừng vì thế mà buồn rầu ủ rũ
Chỉ cần chúng ta kiên trì tu hành Chân Phật
Chẳng sợ bóng đen ở nơi nào.

Rất nhiều rất nhiều câu chuyện ở âm gian
Thực chẳng khác gì nhân gian cũng thế
Lòng bàn tay
Mu bàn tay
Chỉ là một cái trở bàn tay
Trong cuốn sách này thể hiện một chút
Phật và chúng sinh chẳng hề có chỗ nào khác biệt
Chỉ xem chúng ta có biết chuyển đổi hay không.


### 50. Phụ lục: Nói chuyện quản lý quyền sở hữu trí tuệ


Tiếp sau cuốn văn tập số 167 “Tập thơ Lất phất mưa bay”, sau khi cố gắng đề xướng cơ chế quản lý quyền tài sản trí tuệ, vào lúc 8 giờ tối ngày 10/4/2004, khi quá bộ đến Từ Tôn Đường ở Đài Trung, tác giả Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đã nói chuyện với các độc giả về vấn đề quản lý quyền tài sản trí tuệ và đưa ra ví dụ thực tế cụ thể, giải thích rõ với mọi người về quyết định cơ chế trao quyền văn tập, hy vọng thông qua sự thiết lập khái niệm này, văn tập Lư Thắng Ngạn có thể hoạt động dưới cơ chế kiện toàn và hợp pháp, tiến một bước nâng cao chất lượng tổng thể, tạo phúc cho càng nhiều người hữu duyên hơn. 

Lấy bài hát “Tô Vũ chăn cừu” làm ví dụ để giải thích về khái niệm mới này. 

🌟

Hỏi:

Ở đây có một bài hát ca ngợi Liên Sinh Hoạt Phật từ hơn mười năm trước, đồng môn hình như đều chưa từng nghe qua, không biết có thể cho chúng tôi một chút thời gian không, có lẽ Liên Sinh Hoạt Phật có thể nhớ lại một chút, khi xưa sư tỉ nào đã hát ca khúc ngợi ca Liên Sinh Hoạt Phật, chỉ mấy phút thôi có được không? Mọi người có ý kiến gì không? Tôi cảm thấy đây là một cơ hội rất khó gặp, đây là bài hát ca ngợi Liên Sinh Hoạt Phật.

Đáp: (Tác giả cuốn sách này trả lời)

Ý của cô muốn nói là, mọi người nghe thử một chút đúng không? (Đúng! Bởi vì bài hát này từ hơn chục năm trước rồi, là bài hát ca ngợi Liên Sinh Hoạt Phật.)

(Đồng môn bắt đầu phát ca khúc ca ngợi Liên Sinh Hoạt Phật sáng tác từ hơn chục năm trước.)

Hỏi:

Ở đây chính là dùng ca khúc “Tô Vũ chăn cừu”, sau đó thay lời là ca ngợi Liên Sinh Hoạt Phật, cũng có cả ca ngợi Sư Mẫu nữa, còn dùng cả Bách tự minh chú để hát nữa. Vốn dĩ tôi muốn tài trợ cho bài hát này để lan truyền nó rộng rãi hơn, nhưng khi tôi cầm nó ra khỏi Lôi Tạng Tự thì người ta nói không được. Bây giờ việc này đã không thể tùy tiện làm bừa được. Nhưng mà tôi cảm thấy đây là phương thức biểu đạt ca ngợi Liên Sinh Hoạt Phật hay nhất, còn có cả khen ngợi Sư Mẫu nữa, vốn dĩ sắp đến sinh nhật Sư Mẫu rồi, tôi muốn tặng cho Sư Mẫu. Thượng sư Thích Liên Cực nói: “Bài hát này rất hay, nhưng vấn đề là đây là bài “Tô Vũ chăn cừu”, bài hát này có thể có bản quyền. Nếu có bản quyền thì không thể tự ý soạn ca từ mới để dùng được, cái này là do bản quyền, chứ không phải nói cái này không tốt.”

Đáp:

Hay lắm, hay lắm, tôi đi đến hồ Diệp Tử chăn cừu (mọi người cười, vỗ tay). Rất hay, rất hay, bài hát này rất hay!

Bây giờ người ta đều nói về quyền sở hữu trí tuệ, đều nói về quyền tài sản trí tuệ. Ban đầu tôi là như thế này. Lúc đầu, khi luật sư về quyền sở hữu trí tuệ đến tìm tôi, tôi cứ nghĩ mãi, tôi nói các thứ của tôi đều luôn truyền bá rộng rãi, đến khắp các nước trên thế giới. Khi xưa, tông phái chúng ta có thể hoằng dương ở khắp thế giới, là vì ở Hồng Kông có một nhà xuất bản, họ in trộm sách của tôi, tôi vừa xuất bản sách ở Đài Loan thì họ lập tức in trộm sách ở Hồng Kông, sau đó họ phát hành đến các quốc gia khác trên thế giới, có người đã vừa nói tên rồi đó. Tôi không tiện nói tên của nhà xuất bản đó ra, nhưng tại đây đã vừa có người nói ra rồi, đó là Mã Kiện Ký. 

Giờ thì trong các nhà in sách tiếng Hoa trên toàn thế giới đều có sách của tôi, chính là vì như thế, cho nên tông phái của chúng ta mới phổ biến đến toàn thế giới, giai đoạn đầu là xếp thứ nhất, đứng số một trên toàn thế giới, đệ tử đông nhất, bởi vì họ đều đọc sách của tôi, sau đó họ thành lập các phân đường ở các nơi trên thế giới, thế rồi cứ liên tiếp thành lập ra, đến bây giờ thì xây dựng các Lôi Tạng Tự ở các nơi trên thế giới, chỉ cần nơi nào có người Hoa thì nhà in sách tiếng Hoa sẽ có sách của tôi. Vì thế, khi tôi đi Hồng Kông, đi gặp Mã Kiện Ký kia, cái ông chủ nhà in đó, ông chủ đó sợ muốn chết, rất sợ, tôi nói không có gì đâu. Chúng tôi ăn với nhau bữa cơm, ngược lại tôi khen ngợi ông ấy, tôi vốn còn muốn tặng ông ấy một bức hoành nữa cơ (mọi người cười), là “Quảng truyền Phật pháp” (mọi người cười). Tặng ông ấy bức hoành này. Lúc trước cái này là hoằng dương Phật pháp.

**Chất lượng tốt đòi hỏi quản lý.**

Tôi đang nghĩ, chỉ cần ra sách, các nơi trên thế giới đều in, liên tục truyền bá rộng rãi nó, vậy thì tốt quá, đúng thế không? Nhưng bây giờ thì không như thế nữa, bây giờ là vì sao? Bởi vì những gì mà luật sư về quyền sở hữu trí tuệ nói cũng có lý, ông ấy nói, bây giờ là chú trọng vào sự tinh xảo của chất lượng sản phẩm và trình độ của nó, trình độ in ấn. Ví dụ nói về sách của tôi thì là thế này, sách mà nơi khác in rất rẻ nhưng rất thô nhám cẩu thả, thế còn sách mà chỗ chúng tôi in thì rất đẹp rất tốt, nhưng lại đắt hơn, nhưng mà cái gì rẻ thì người ta mua. Nói thế có nghĩa là, sách in ra không đẹp, in rất thô, giá tiền rất rẻ thì lại rất phổ biến, thế còn sách mà in ra rất tinh xảo rất đẹp thì bán không được, vì thế sẽ phá vỡ thị trường. Cho nên bây giờ, ý nghĩa của quyền sở hữu trí tuệ là nói rằng, những thứ của Sư Tôn không phải là không thể in, mà là phải xin phép và thông qua quản lý, và phải thông qua sự đảm bảo chất lượng. Ví dụ bạn phải xin quyền với bức tranh kia, ví dụ nói là, bản quyền của bức tranh kia, bây giờ có cái gọi là bản quyền của bức chân dung kia, trước kia mọi người đều in thoải mái, đúng thế không? (mọi người cười) Tranh bạn in rất tinh xảo, hợp với chuẩn mực, Sư Tôn thì chẳng có vấn đề gì cả, sao cũng được, nhưng muốn quản lý chất lượng, bạn in để làm gì, bạn in bao nhiêu tờ, hình như đều phải có quản lý. 

Thương mại ngày nay chính là như vậy, thời đại thay đổi rồi, cho nên bất kể là bạn làm cái gì cũng đòi hỏi phải có một tiêu chuẩn, người ta chủ yếu là quản lý cái tiêu chuẩn đó, sau đó là quản lý giá cả, mọi người thống nhất đưa ra một giá cả, như thế sẽ không đánh lẫn nhau. Có người bán rất rẻ bởi vì anh in rất thô xấu, cho nên anh bán được giá rẻ, thế còn người ta làm thì, ví dụ nói là, cuốn sách này đã thông qua hai mươi người hiệu đính, biên tập, chế bản, làm ra một bản sách, một chiếc CD, kết quả là anh *copy* của người ta, của người ta phải dùng đến rất nhiều nhân lực để làm, đương nhiên là giá bán ra phải đắt hơn rồi. Thế nhưng anh *copy* thì bán ra chỉ có năm đồng thôi, đúng thế không? Bán giá đó thì tiền trả công cho những công nhân in còn chưa đủ, tiền công để in ra cũng không đủ. 

Vì thế phải có một hệ thống quản lý, luật sư nói cũng có lý. Bởi vì bây giờ đã biến thành thời đại của quyền sở hữu trí tuệ rồi, bất kì thứ gì cũng đều là như vậy, có một cơ chế quản lý. Cho nên, luật sư kia của tôi sau khi giải thích cho tôi nghe, tôi cũng đã hiểu rõ, bởi vì điều này có tính thế giới, chứ không phải là bảo rằng chỉ tông phái chúng ta mới có. Thật ra mỗi tông phái đều như vậy, tức là sợ *copy *đó! Ví dụ như nói là bạn *copy* đĩa CD “Chăm sóc lúc lâm chung”, dùng rất nhiều những nỗ lực của các Thượng sư, pháp sư mới tạo ra được đĩa CD đó, ví dụ họ bán một chiếc là 10 đồng, kết quả là bạn *copy*, rồi bán 1 đồng là được rồi (Sư Tôn cười), thế là hại những chiếc đĩa được làm ra từ gốc không thể bán được. Vấn đề chính là nằm ở đây. Ngược lại, ví dụ nói là người *copy* kia được hưởng lợi dễ dàng, vậy thì người sản xuất ra sẽ cảm thấy cái tôi làm ra đều bị người ta *copy* hết, vậy thì tôi còn sản xuất ra làm cái gì nữa. Đây chính là quyền sở hữu trí tuệ đúng không? Đây chính là quản lý quyền sở hữu trí tuệ, mọi người nếu đã hiểu được điểm này thì sẽ biết, bài hát “Tô Vũ chăn cừu” khi nãy, giả sử nếu bạn chưa mua bản quyền sở hữu trí tuệ, thì người ta có thể bắt bạn đó.

**Làm sao để thúc đẩy việc đọc văn tập Sư Tôn?**

Hỏi:

Bây giờ khi chúng ta đồng tu, đều sẽ đọc giới luật của Chân Phật Tông, đầu tiên là đọc một nửa trong cuốn “Ngũ thập tụng…”, thỉnh thoảng thì đọc 40 giới điều cơ bản, sau đó đồng tu xong, sẽ tìm sách của Liên Sinh Hoạt Phật, chọn ra khoảng hai chương trong đó, sau đó đường chủ đọc lên để chia sẻ với mọi người. Theo cách nghĩ của Sư Tôn, chúng ta nên làm thế nào để mọi người hiểu được những tác phẩm của Sư Tôn, làm sao để thúc đẩy việc đọc văn tập của Sư Tôn?

Đáp:

Việc này, trợ giảng có thể chọn trước một số bài tương đối thích hợp, ví dụ như là trình độ giữa các đồng môn xấp xỉ ở mức như thế nào đó, trợ giảng có lẽ sẽ hiểu hơn. Sau đó trợ giảng lựa chọn chương sách nào đó trong sách, trọng điểm của chương đó ở đâu, sau đó nêu trọng điểm của chương đó ra, có thể thảo luận cùng mọi người, hoặc cùng nhau chia sẻ những tâm đắc khi đọc sách, hoặc là viết ra những tâm đắc khi đọc sách, sau đó phát biểu. Cũng có thể nói là nếu có chương sách nào hay, có thể gửi đến Chân Phật Báo để phát biểu ý kiến, hoặc là tạp chí Nhiên Đăng.

Bởi vì sách thì có rất nhiều sách, nếu bạn nói là cuốn sách nào thì tôi cũng không biết (Liên Sinh Hoạt Phật cười). (Đồng môn nói: Bây giờ chúng ta đều tìm những cuốn mới.) Ví dụ như cuốn “Thắp sáng ngọn đèn tâm”, trong cuốn đó thì những thứ thuộc về Thiền tông tương đối nhiều một chút, những thứ để làm chủ đề tham luận tương đối nhiều, cuốn sách đó rất sâu. Có một số cuốn thì đơn giản hơn, có một số cuốn thì sâu hơn, cái đó phải xem trình độ của mọi người. Rất nhiều người không có cách nào để nói một lúc mà tiếp thu được những thứ của Thiền tông, có người đọc không hiểu, nếu đọc không hiểu thì phải có người hiểu đến giải thích cho mọi người nghe, phải vậy không?

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/191-nac-thang-cua-chu-thien.md
# Title: 191. Nấc thang của chư thiên
---

![image](/img/img_75cfc785b1b3d9bb80c69f5d8718a0f4.jpg)



## Nấc thang của chư thiên


🪷 Sự biến hiện của thiên thượng giới

Văn tập số: 191
Xuất bản: 31/01/2007
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


Đàn thành trong nhà, ngoài Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn ra, tôi còn thờ phụng Kim Cang thần, Hộ Pháp thần, Không Hành, chư Thiên.

Có một hôm, tôi đang cúng một ngọn đèn dầu trước chư Thiên, hướng về chư Thiên nhất tâm cầu nguyện. Không ngờ, đêm đó hoàn toàn không mảy may có một chút cảm giác gì. Tôi cho rằng chí ít cũng sẽ phải có một chút gợi ý chứ, tôi thấy rất kì lạ. 

Ngày hôm sau tỉnh dậy xem, thì ra bấc đèn đổ vào trong dầu nên ánh sáng đã bị tắt từ lâu rồi. 
Vì thế mà, chẳng thấy cái gì cả.

🌟

Vì sao tôi lại thắp một ngọn đèn dầu trước chư Thiên, chủ yếu là muốn mượn ngọn đèn dầu này để chiếu sáng chư Thiên. Tôi muốn đi đi lại lại đến các cõi Trời.

Tôi muốn viết về “Sự biến hiện của thiên thượng giới”. 

Kể từ sau khi viết cuốn văn tập số 187 “Địa ngục biến hiện ký”, rất nhiều độc giả hết sức tán thưởng, các đệ tử cũng cho rằng cuốn sách này giúp ích rất nhiều đối với nhân tâm thế đạo ngày nay. 

Vì thế, có đệ tử đề nghị tôi:
”Sư Tôn, thầy đã viết địa ngục biến hiện ký rồi, sao không viết về sự biến hiện của thiên thượng giới?”
”Đã viết về địa ngục thì cũng nên viết về thiên đường.”
”Không thể chỉ viết về cái ác, cũng nên viết một chút về dạy thiện, chứng nghiệm các cõi trời mới phải.”

Thế là ở trước chư Thiên, tôi đã thắp lên một ngọn đèn dầu. Ý tôi muốn nói rằng: “Mượn ánh sáng của ngọn đèn dầu để tôi thần hành, lên được nấc thang đến chư Thiên!”

Nhưng, không ngờ rằng — đèn dầu đã tắt rồi.

Tôi bí mật thần hành đến chư Thiên. 
Hoàn toàn chẳng thấy gì cả.

Tôi rất buồn rầu, vốn dĩ trong pháp giới, tôi có thể đi đi lại lại, tôi có thể tận mắt nhìn thấy Minh Vương [Diêm Vương], và tự nhiên cũng có thể đích thân gặp được Thiên chủ của các cõi trời. Cho nên, vì cung kính, tôi mới thắp lên ngọn đèn dầu. 

Lẽ nào nhân duyên viết sách của tôi chưa đủ sao?

🌟

Sau đó, trong một lần thiền định — Một vị Huệ Quang Đồng Tử xuất hiện, nói với tôi:
”Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, ngài muốn viết về nấc thang của chư Thiên đúng không?”
Tôi đáp:
”Đúng.”
Huệ Quang Đồng Tử nói:
”Tôi đến giúp ngài.”
”Giúp thế nào? Nhân duyên của tôi không đủ, ánh đèn chiếu hiện chư Thiên đã tắt rồi!”
Huệ Quang Đồng Tử cười:
”Bản thân ngài đã có đủ vô lượng ánh sáng rồi, thiện quang, minh quang, diễm thắng quang, thắng tâm quang, hiện tiền quang, bất tư nghì quang, đại huệ quang, vô tận quang, Phật quang. Mười loại ánh sáng này còn phải lo gì không thể chiếu hiện được chư Thiên, ngọn đèn dầu của thế tục kia làm sao sánh bằng chứ?”

Tôi hỏi:
”Huệ Quang Đồng Tử từ nơi nào đến?”
Huệ Quang Đồng Tử đột ngột nhảy bật lên, nhảy vào trong người tôi, hét lớn:
”Tôi chính là ngài, ngài chính là tôi.”

Thế là, tôi liền nhờ vô lượng quang, thiện quang, minh quang, diễm thắng quang, thắng tâm quang, hiện tiền quang, bất tư nghì quang, đại huệ quang, vô tận quang, Phật quang.
Để viết ra cuốn:
”Nấc thang của chư Thiên.”

Mong người đọc cuốn sách này rời xa mọi ác đạo, bước lên thiên thượng giới, tứ Thánh giới, vĩnh viễn cực lạc.

Chú ý: Những nhân vật được nhắc đến trong cuốn sách này đều đã được giấu tên.

(Mùa đông năm 2006, Chân Phật Mật Uyển, bang Washington Hoa Kỳ.)

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**
17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Sứ giả cầm đèn


Ông nội Lư Xương của tôi nguyên quán ở tỉnh Phúc Kiến, đầu tiên ông chuyển đến sống ở một con ngõ nhỏ ở Tây Tự huyện Bành Hồ, sau này thì chuyển đến Gia Nghĩa, Đài Loan. 

Ở Gia Nghĩa, ông nội Lư Xương kinh doanh mặt hàng gạo (xưởng xát gạo) và mặt hàng dầu (dầu ăn), nhờ kinh doanh đúng hướng mà trở thành một hộ giàu có.

Nghe nói năm xưa, gia sản của ông nội tới bạc triệu, có nhà trên cả một con phố, và rất nhiều đất đai. Ông nội tôi chính thức cưới ba người vợ, còn những người khác thì tôi không biết. 

Ông nội học thức uyên bác và thích đọc sách, vì thế con cái của ông đều được đi du học ở các quốc gia khác. 

Bố tôi Lư Nhĩ Thuận là do bà vợ ba sinh ra, ra đời lúc ông nội đã 60 tuổi, vì thế được đặt tên là Nhĩ Thuận. 
Khổng Phu Tử nói: “Lục thập nhi nhĩ thuận.” [60 tuổi là khi người ta đạt đến mức độ hoàn hảo về tri hành, kiến văn và kinh nghiệm về cuộc sống.]

🌟

Tôi không được nghe nhiều về những thành tích làm việc của ông nội tôi, các bề trên cũng ít nhắc đến. Duy nhất có một việc để lại ấn tượng sâu sắc trong đầu tôi, đó là hàng năm, vào ngày cuối cùng trong năm, ông nội sẽ đem tất cả giấy ghi nợ của năm đó ra, tập trung lại hết thành một đống cao như ngọn núi nhỏ ở giữa trời, và đốt chúng thành tro. 

Những giấy thiếu nợ này từ đâu ra? Bởi vì trong năm có rất rất nhiều những hộ gia đình nghèo, những người không có cơm ăn. 
Ông nội tôi buôn bán gạo, buôn bán dầu, lại có đất đai.
Người đến mua gạo, mua dầu thì không có tiền, có thể ghi nợ, mua chịu trước, có tiền thì trả.
Nhưng có rất nhiều người thật sự không có tiền trả, ông nội cũng không kêu người đi đòi. Không có chuyện đòi nợ. 
Chỉ có vào cuối năm, ông sẽ đem đống giấy ghi nợ đó ra ngoài trời và đốt hết. 
Là như thế.
Nghe nói, ông nội chưa bao giờ từ chối những gia đình nghèo đến mua gạo, mua dầu, ông nội tôi cứu giúp người nghèo nhiều không kể hết.

🌟

Khi tôi 26 tuổi, được Diêu Trì Kim Mẫu mở thiên nhãn, tôi rất muốn biết ông nội Lư Xương đã chuyển sinh đến thế giới nào? Có gì hay không?

Bỗng một ngày: 
Thấy một cụ già đến.
Trên tay cầm cây đèn.
Tôi nói:
”Là sứ giả cầm đèn.”
Cụ già và tôi chào hỏi nhau, tôi nhận ra ông cụ chính là ông nội Lư Xương của tôi. Ông nội là sứ giả cầm đèn ở Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ trên thiên thượng giới.

🌟

Về sau, tôi có thể nhớ lại nhân quả của mình, hiểu rõ đủ thứ của tứ Thánh lục phàm thập pháp giới. 
Tôi sinh ra trong nhà họ Lư.
Chính là ông nội - sứ giả cầm đèn đã giúp tôi hạ sinh ở nhân gian. 
Việc này đã chứng minh mấy chữ:
Tổ tiên có đức, con cháu hưởng phúc.
Tổ tiên không đức, họa đày cháu con. 

Thánh cáo của ông nội tôi là:
”Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ Tử Hà Cung Đăng Chỉ Điện Chưởng Đăng Sứ Giả.” [Sứ giả cầm đèn ở điện Đăng Chỉ, cung Tử Hà, nơi Thiên Hà Thắng Cảnh.]

Tôi viết bài kệ ca ngợi ông nội:

*Thiên cung giăng đèn
Đỏ vàng thắp sáng điện vàng
Lư hương thắp lên
Chư tôn hiện toàn thân*

*Cửu Thiên Triều Dương cung
Vui vẻ cùng mở tiệc
Thiên y và váy xếp
Hiện lên dưới ánh đèn.*


### 02. Thiên chủ Long Phi


Có một hôm thiền định. 
Trước mắt tôi xuất hiện một kiệu thần, có một viên quan cầm thiệp mời, trên thiệp viết rằng: “Cung thỉnh Lư Sư Tôn ân công.”
Tôi hỏi: 
“Chủ nhân của ông là ai?”
Quan đáp: 
”Thiên Chủ Long Phi.”

Trong đầu tôi nghĩ nhanh, nhưng không nghĩ ra là người nào, tôi hỏi:
”Thiên chủ Long Phi, tôi không quen, vì sao mời tôi?”
Viên quan không đáp, chỉ mời tôi lên kiệu thần. 

Tôi vừa lên kiệu thì kiệu đã khẩn trương bay đi, giống như thần hành vậy, gió thổi vù vù, sau đó đi vào trong biển sâu, nơi này vô cùng yên tĩnh, có cung điện lớn cực kì trang nghiêm tráng lệ.

Tôi vừa xuống kiệu thì đã sửng sốt. Bởi vì cảnh mà tôi nhìn thấy giống như sự phô trương của thời đại hoàng đế, văn võ đứng hai bên, ngồi ở giữa là Thiên Chủ Long Phi. Người nào người nấy tướng mạo cực xấu, nhưng to như lực sĩ, không hề biết sợ hãi. 

Thiên Chủ Long Phi nhìn thấy tôi đến, vội vã bước xuống, hai tay đưa lên, nồng nhiệt chào hỏi:
”Lư Sư Tôn ân công đã đến, vô cùng hoan nghênh.”
”Ngài là…?” - Tôi không nhận ra ông ấy là ai.
”Tôi là…” (Ông ấy là một nhân vật xã hội đen trứ danh.)
”A! Tôi biết rồi.” - Tôi rất ngạc nhiên, tôi nói: “Ngài mới là ân công của tôi, làm sao mà ngài lại gọi tôi là ân công chứ.”

🌟

Không lâu sau, tôi đi vào một căn phòng lộng lẫy, bày vô số những chiếc đôn nhỏ, hàng ghế trên đầu trống không. 
Thiên Chủ Long Phi mời tôi ngồi, tôi khước từ, khước từ không được đành ngồi xuống. Thiên Chủ Long Phi ngồi sát nhau vai kề vai. Hơn mười vị quan bên dưới tôi đều không quen. Trên bàn không có một thứ gì. Một việc không ngờ đã xảy ra, chỉ trong sát-na, trên bàn xuất hiện hàng trăm món ăn ngon, cao lương mỹ vị phong phú, như món ăn của trời. 

Thiên Chủ Long Phi nói:
”Tùy ý sinh ra.” (Có nghĩa là muốn ăn cái gì thì sẽ xuất hiện cái đó.)
Tôi lại hỏi:
”Vì sao ngài gọi tôi là ân công? Ngài mới là ân công của tôi mà! Nhớ năm xưa, chúng ta vừa gặp mặt, ngài đã quyết định không giết tôi, tôi cảm kích ngài còn không kịp.”
Thiên Chủ Long Phi đáp:
”Ân công, ngài nhầm rồi. Năm xưa tôi không giết ngài chính là vì chưa giết ngài thôi. Sau khi tôi qua đời, gặp mặt Minh Vương, Minh Vương thấy tôi giết người vô số, nghiệp tội chồng chất, đáng vào tam ác đạo. Điều duy nhất là chưa giết ân công, thả cho ân công một con đường sống, tương đương với đã cứu ân công. Vì nhân duyên này mà lấy một đền trăm, Minh Vương phán tôi vào Atula Thiên. Do vậy, tôi mới trở thành Thiên Chủ Long Phi. Không giết ngài, ngược lại còn cứu ngài, nên tôi mới không phải vào tam ác đạo, ngài không phải là ân công của tôi sao?”

Tôi nghe xong thì vô cùng kinh ngạc. Mạng và mạng có khác nhau sao?
Ông ta không giết tôi, là ân công của tôi.
Vì không giết tôi mà được vào Atula Thiên, làm Thiên Chủ Long Phi. Tôi lại biến thành ân công của ông ta. 
Tôi lú mất rồi! Đều là ân công.

“Atula Thiên có gì khác với các cõi trời khác không?” - Tôi hỏi.
Thiên Chủ Long Phi đáp:
”Giống nhau.”
Thiên Chủ Long Phi nói:
”Chúng tôi được Lư Sư Tôn dạy bảo, không nịnh bợ lừa gạt, không oán hận, không tranh giành, không sân hận, không ngạo mạn, không nghi hoặc, tất cả mọi biến hóa không khác gì Chư Thiên.” 
Thiên Chủ Long Phi nói:
”Atula Thiên chúng tôi đặc biệt mời Lư Sư Tôn ân công vì chúng tôi mà thuyết pháp.”
Thế là, tôi ở Atula Thiên giảng kinh Nghiệp Báo Sai Biệt. Họ vui sướng vô hạn. 

Tại đây, xin hỏi các thánh đệ tử, một cái mạng nhỏ của Lư Thắng Ngạn nhỏ bé là tôi đây, làm sao có thể đền bù cho cả trăm sinh mạng được, ở đây là nguyên nhân gì đây?
Người ta nói, một mạng đền một mạng, vì sao tôi có thể đền trăm mạng?


### 03. Chủ thành Phiên Kỳ


Vào ngày Tứ Thiên Vương tuần hành thiên hạ, tôi ở trong hư không, nhìn thấy có một hàng người ngựa từ xa tiến lại gần. Cờ quạt tung hô, thị vệ uy nghiêm, phía trước đội quân có một vị chủ tướng, cưỡi con ngựa trắng to lớn, tướng mạo trang nghiêm.

Trên đầu đội mũ vàng Cửu Vân, mặc áo lụa đỏ thẫm, bên ngoài khoác áo giáp, chân bước trên mây, uy vũ dị thường.

Vị chủ tướng này nhìn thấy tôi liền quay mình xuống ngựa, hai tay chắp lại, nói với tôi: 
”Lư Sư Tôn, từ lúc chúng ta chia tay hi vọng thầy vẫn khỏe!”
Tôi nhìn chăm chú vào ông ta, thấy tướng mạo vừa quen lại vừa không quen, hình như cũng đã từng quen biết. Ông ta nói:
”Tôi là Đào…”
Tôi “a” lên một tiếng, đã nhớ ra rồi. Tôi hỏi:
”Vì sao ông lại ở Tứ Thiên Vương Thiên?”
Ông ấy đáp:
”Bây giờ tôi là chủ thành Phiên Kỳ, chính là Tứ Thiên Vương Thiên, thuộc Bắc Bì Sa Môn.”
”Ông nên đến Ma Ha Song Liên Trì tịnh thổ chứ, sao lại ở Tứ Thiên Vương Thiên?”
Ông ấy thẹn đỏ mặt nói:
”Chỉ vì quá yêu thê thiếp, vẫn chưa thể bỏ thê thiếp.”
Tôi chú ý đến phía sau của chủ thành Phiên Kỳ, có chiếc xe kéo, tấm màn lụa mở ra, bên trong có một giai nhân mười sáu tuổi, dung nhan tuyệt mỹ, mặc trang sức màu đỏ rất diễm lệ.

🌟

Vị chủ thành Phiên Kỳ này họ Đào. Lúc ở nhân gian ông ấy là đệ tử của tôi, là một nhà buôn lớn. 
Cưới người vợ thứ nhất. Vợ chết. 
Lại cưới người vợ thứ hai. Ly dị. 
Cưới tiếp người vợ thứ ba. Vợ chồng ân ái.
Đệ tử Đào thích tu hành, mỗi ngày một tu, bản tính trong sáng, có rất nhiều chứng nghiệm tương ứng. Mỗi khi gặp Sư Tôn đều cung kính dâng tặng lễ phẩm, suốt bao nhiêu năm vẫn không hề gián đoạn. Tấm lòng của đệ tử họ Đào sáng như mặt trời mặt trăng, ông ấy cũng đã tương ứng với Bổn tôn rồi. 

Sau này, ông ấy cưới người vợ thứ ba. Ông ấy yêu say đắm người vợ này, gắn bó như keo sơn, không rời xa một giây. Nhưng cô vợ lại tín ngưỡng tôn giáo khác, đệ tử Đào không nỡ làm phật ý vợ, đã cùng với vợ theo tôn giáo kia, đây cũng là thói thường tình của con người.
Vợ nói:
”Không được đi gặp Lư Sư Tôn, không được đi chùa Phật, không được tu pháp của Lư Sư Tôn nữa.”
Đệ tử Đào răm rắp nghe theo. Từ lâu đã dẹp bỏ đàn thành. Sau này, đệ tử Đào bí mật lúc rảnh rỗi, thỉnh thoảng mới gặp Sư Tôn một lần. Đệ tử Đào không còn tu pháp nữa, cho dù thấy mặt nhau ở nơi khác, nhưng có vợ bên cạnh, ông ta cũng không dám tiến đến để gặp mặt. Mặc dù đệ tử Đào tin theo tôn giáo khác, yêu vợ say đắm, nhưng tâm không chạy lung tung, ông ta hiểu rõ đạo lý này. 

🌟 

Sau khi đệ tử Đào qua đời, con cái của ông ấy bí mật chạy tới báo với tôi: 
”Thật ra bố chúng tôi vẫn tin Lư Sư Tôn.”
Tôi âm thầm niệm Phật vì ông ấy. 
Đệ tử Đào đã nhờ nghi lễ của tôn giáo khác để làm nghi thức tang lễ cho bản thân mình. 

Mặc dù đệ tử Đào không tu pháp một cách nhất quán từ đầu đến cuối, cũng không quy y Sư Tôn một cách nhất quán, thậm chí còn trở thành tín đồ của tôn giáo khác, nhưng ông ấy không nhục mạ Chân Phật Tông. 

Và đệ tử Đào có nhân duyên tu tập Bổn tôn tương ứng, nhân duyên cúng dường Sư Tôn nhiều năm. 
*“Vui tu mười nhân thiện,
Với ông chẳng hại gì
Chư Thiên cũng hộ trì,
Sinh về Tứ Vương Thiên.”*

Sau khi đệ tử Đào vãng sinh thì trở thành chủ thành Phiên Kỳ. 

Tôi có một câu hỏi, hỏi các thánh đệ tử: 
”Phật pháp và thê thiếp, bạn có cách gì có thể đẹp cả đôi đường không?”


### 04. Tâm tính dịu dàng


Ai ai cũng biết, khi Phật Thích Ca Mâu Ni đản sinh, sau bảy ngày thì mẹ của ngài tạ thế, phu nhân Maya lập tức vãng sinh đến Đao Lợi Thiên. 

Chúng ta còn thấy:
Phật Đà đã chọn sinh ra tại nước Sakya, Quốc vương là vua Tịnh Phạn là một vị vua nhân từ, cũng là một vị minh quân. Vợ của ngài thông minh trí tuệ với trái tim dịu dàng. 

Phu nhân Maya hạ sinh Đức Phật, sau bảy ngày thì vãng sinh tới Đao Lợi Thiên, thì ra là vì trái tim dịu dàng của bà. 


Có một bài kệ rằng: 
”*Kính mẹ cha Tam Bảo
Tùy khả năng bố thí
Đủ nhẫn nhục dịu dàng
Sinh về Đao Lợi Thiên.”*

Ở Đao Lợi Thiên, tôi đã gặp một nhân vật ai ai cũng biết, bà ấy chính là nữ tu người Ấn Độ - Thánh Teresa. 

Thánh Teresa vãng sinh, lập tức sinh về Đao Lợi Thiên, việc vãng sinh của bà có hai nguyên nhân:
1. Sống thanh tịnh.
2. Tâm dịu dàng.

Bản thân tôi vô cùng tôn kính Thánh Teresa. Bà ấy nói:
”Tôi coi tất cả chúng sinh trong thiên hạ, mỗi một con người, bất kể giàu có nghèo hèn, bất kể hôi thối nhơ bẩn, đều là Thượng đế để tôi hầu hạ.”
Với trái tim dịu dàng, Thánh Teresa đã xem mỗi sinh mệnh đều là Thượng đế. 
Điều này khiến tôi cảm động quá. 
Vì thế, bà đã vãng sinh về Đao Lợi Thiên. 

Chúng ta biết rằng, trung tâm của Đao Lợi Thiên là Đế Thích Thiên, bốn phương mỗi phương có tám Thiên, hợp lại thành 33 Thiên. 

🌟

Tôi nhớ Chúa Jesus bị người đời chửi rủa, nhưng công phu nhẫn nhục của Chúa Jesus cực kỳ tuyệt vời, ngài đã không nói một lời biện hộ nào. 

Khi Chúa Jesus bị đóng đinh trên giá chữ thập đã nói: “Xin Thượng đế khoan dung tất cả con người, bởi vì họ không hề biết về những điều họ đã làm.”
Chúa Jesus có đầy đủ:
1. Nhẫn nhục.
2. Tâm dịu dàng.

Xin hỏi, Chúa Jesus thăng thiên, là thăng lên cõi trời nào?

🌟

Tôi có một đệ tử họ Lâm, tên là Hoành Hoằng. Tính cách cực hung bạo. Từng giao du côn đồ, làm kẻ lưu manh. 
Hắn xung đột mạnh mẽ với cha mẹ, ăn nói lỗ mãng, thậm chí còn đánh cha mẹ. Sau khi quy y tôi, tôi chỉ dạy hắn: “Tâm dịu dàng.”

Sau khi hắn quy y thì mơ thấy sứ giả Kim Giáp, mặt đen như sơn, áp giải hắn đi tham quan địa ngục. Hắn trông thấy đó là địa ngục moi tim, chúng sinh trong địa ngục này đều bị moi tim ra, máu chảy đầm đìa, khiến hắn sợ hãi tột cùng, mặt xám ngoét như tro tàn.
Hắn hỏi:
”Vì sao moi tim?”
Sứ giả Kim Giáp đáp:
”Người tâm không dịu dàng, cãi vã cha mẹ, tâm cực hung tàn, đều ở trong địa ngục này. Sau này anh chắc chắn sẽ vào địa ngục này.”
Lâm Hoành Hoằng vừa nghe thấy vậy thì toàn thân run rẩy. 

Kể từ đó về sau, Lâm Hoành Hoằng thay đổi cuộc đời của hắn, cực kỳ hiếu thuận với cha mẹ, trong nhà phân chia tài sản, hắn tự mình nhận phần nhỏ. Đối với người ngoài, hắn vui vẻ hòa nhã, phát huy tận lực tâm dịu dàng. Khi hắn bị ốm cũng hết lòng chăm sóc những bệnh nhân khác. 
Hắn cũng dạy người ta: “Tâm dịu dàng.”
Sau khi qua đời, tôi đã thấy hắn ở Đao Lợi Thiên.

🌟

Bây giờ tôi xin hỏi các thánh đệ tử, bản thân Sư Tôn chịu rất nhiều phỉ báng sỉ nhục, ngôn ngữ của đối phương chát chúa chua ngoa, hoặc vận dụng hết sở trường lăng nhục. Tôi nên lấy bạo trị bạo, lấy mắt trả mắt, lấy răng trả răng, hay là không nói một lời, dùng tâm dịu dàng vì họ mà tu pháp giải oan đây?
Mọi người hãy nghĩ xem!


### 05. Không Cư Đệ Nhất Thiên


Chúng ta biết rằng, trong các cõi trời, Atula Thiên sống nhiều nhất ở đáy biển, Tứ Thiên Vương Thiên thì sống ở sườn núi Tu Di, Đao Lợi Thiên sống tại đỉnh núi Tu Di, phân bố ra tổng cộng có 33 cõi trời, những cõi trời này đều là Địa Cư Thiên. 

Đi lên các cõi trời ở phía trên nữa, từ Diễm Ma Thiên đến Sắc Cứu Cánh Thiên, thì đều lấy “bầu trời” làm cung điện cư trú, gọi là Không cư thiên. Cõi trời đầu tiên trong số các Không cư thiên chính là Diễm Ma Thiên. Cá nhân tôi cảm thấy, Diễm Ma Thiên này lặng lẽ tồn tại, không có tiếng tăm gì, cũng ít người biết đến, không có ai nghiên cứu, cũng ít người biết, cho dù có biết thì cũng xem nhẹ bỏ qua. 

Sau này, tôi phát hiện thấy, Diễm Ma Thiên này mới là cực kì không đơn giản, Diễm Ma Thiên này có bí mật lớn.

1. Cõi trời này là Âm Nhạc Thiên, thiên nhạc bất tận.
2. Cõi trời này là Khoái Lạc Thiên, sung sướng bất tận.
3. Cõi trời này là Tri Túc Thiên, hạnh phúc bất tận. 

🌟

Tại cõi trời này, tôi gặp một đứa bé, trên người đứa bé có kim quang, đứa bé gọi tôi: “Lư Sư Tôn!”
Tôi hỏi:
”Sao con biết ta?”
Nó đáp:
”Con đến từ Biệt thự Cầu Vồng, ngài là Sư Tôn của con mà!”
Tôi xoa xoa đầu, không hiểu gì cả. Nó cười, nói:
”Con vốn là anh linh (thủy tử linh) ở Biệt thự Cầu Vồng, là một thai linh còn chưa sinh ra đã bị cha mẹ bỏ rơi, sống tại Biệt thự Cầu Vồng, sau này, toàn thể anh linh đều quy y Lư Sư Tôn.”
Tôi hỏi:
”Sao con lại đến đây?”
Nó đáp:
”Có một lần, tình cờ nghe Sư Tôn thuyết pháp có nhắc đến “vô tranh”, cái tâm bực bội oán trách của con liền dịu xuống. Lại nghe Lư Sư Tôn thuyết pháp, nhắc đến “tri túc” [biết đủ], con liền lui về sống trong hang động ở khu Biệt thự.” 
”Con ở trong hang động làm gì?”
”Thì suy ngẫm về bốn chữ “vô tranh” và “tri túc”. Lúc này, thời gian yên lặng suy nghĩ của con nhiều hơn, thời gian tụ tập ồn ào với các anh linh khác ít đi, con an trú trong hang động, khuyên nhủ những anh linh khác đừng có oán thù, đừng làm hại người khác. Bởi vì biết đủ nên con hạnh phúc vui vẻ vô hạn. Con không nghĩ đến quá khứ, cũng không nghĩ đến tương lai.”
”Sau đó thì sao?”
”Sau đó con phát hiện ra mình đã bỏ lại thân tâm, chỉ còn một chút linh quang, con có thể an trú sáng ngời an nhiên trong hư không, thế là không ngờ lại xuất sinh trong Diễm Ma Thiên.”

Tôi hỏi:
”Cõi trời này thế nào?”
”Vui vẻ hát ca!”
”Vui vẻ như thế nào?”
”Như trái tim của một đứa trẻ!” - Cậu bé nói với tôi: “Cõi trời Không cư đầu tiên - Diễm Ma Thiên này giống như thế giới Cực Lạc vậy!”

Tôi nghe thấy vậy thì kinh ngạc vô cùng, không ngờ Diễm Ma Thiên lại giống hệt như thế giới Cực Lạc. Đây là điều tôi chưa từng nghĩ đến, điều nói ra từ miệng của một đứa trẻ không thể không tin.

Có hai bài kệ rằng:
*”Ta không còn bực bội, 
Khuyên người hãy hiền hòa
Vì thuần thiện tu tịnh
Sinh về Diễm Ma Thiên.”*

*“Vui vẻ không tranh đấu
Hiền từ bỏ ghét yêu
Thuần thiện giữ giới luật
Được sinh Diễm Ma giới.”*

Không ngờ tôi nói đến “vô tranh” và “tri túc” lại khiến một anh linh nhỏ bé nghe pháp mà khai ngộ, được sinh về thiên cung ở Diễm Ma Thiên. 

Còn những người ở tại nhân thế gian kia, những đại sư, thượng nhân, Hoạt Phật, thượng sư, đại thiện tri thức, hành giả ồn ào tranh cãi, nếu như vẫn còn đang tranh tới tranh lui, cãi tới cãi lui, om sòm ỏm tỏi, sao không thấy hổ thẹn mà thấy mình không còn chỗ dung thân chứ? 

Nói thẳng ra, tôi thích Diễm Ma Thiên.
Tôi biết đủ.
Tôi không tranh đấu.
Tôi còn thích nhất là ngày ngày vui vẻ.
Tôi rất ca ngợi Diễm Ma Thiên. 


### 06. Đại tri túc thiên


Tôi từng nói:
Cái gọi là con người không bao giờ biết thỏa mãn, tức là bất kì ai cũng đều không biết đủ, bởi vì không biết đủ cho nên nhân gian mới có đấu tranh. 
Đấu tranh lớn là giữa quốc gia với quốc gia.
Đấu tranh vừa là giữa gia đình với gia đình. (đoàn thể với đoàn thể)
Đấu tranh nhỏ là giữa người với người. 
Chính trị, xã hội, kinh tế, tôn giáo. 
Học hành, tình cảm, sự nghiệp, cá nhân.
Không có cái gì là biết đủ. (Người thế tục tranh tài sản, tăng nhân tranh tài sản của chùa.)

Song, khi tôi đến Đâu Suất Thiên thì mới biết nơi đây là đại tri túc thiên, thiên nhân ở đây đều biết đủ. 
Tiền - biết đủ
Sắc - biết đủ.
Danh - biết đủ.
Ăn - biết đủ.
Ngủ - biết đủ.

Thiên nhân ở Đâu Suất Thiên đều rất hài lòng rất thỏa mãn.

🌟

Cây ở cõi trời này tự động sinh ra thức ăn cao lương mỹ vị, khiến thiên nhân ai nấy đều thỏa mãn.
Cây ở cõi trời này tự động sinh ra thiên y, khiến thiên nhân ai nấy đều hài lòng về quần áo mặc.
Cõi trời này tự động hóa ra những ngôi nhà bằng châu báu, khiến thiên nhân ai nấy sống rất hài lòng.
Thiên nhân ở cõi trời này hễ khởi lên suy nghĩ gì, muốn đến nơi nào thì sẽ đến nơi đó, nên rất hài lòng về chuyện đi lại.

Vì thế, nơi đây là: đại tri túc thiên.

Chúng ta đều biết, con người thế gian không hài lòng, mong cầu tiền, sắc, danh, ăn, ngủ. Tất nhiên họ có được nhất thời, nhưng vẫn không thỏa mãn, vẫn muốn to hơn, nhiều hơn, đẹp hơn.

Người tu hành biết rằng ngũ dục này không phải là vĩnh hằng, người mê đắm vào ngũ dục chính là những người mê muội không giác ngộ. 

Chân lý đích thực là: “Vô sở đắc”. Vô sở đắc này chính là trí huệ giải thoát chân chính.
Hành giả chuyên tu trí huệ giải thoát có thể sinh về Đâu Suất Thiên.

🌟

Tôi gặp một người ở nơi vi diệu nhất của Đâu Suất Thiên mà tín đồ Phật giáo gọi là Đâu Suất Nội Viện. Điều khiến tôi kinh ngạc là, đó là Bích, người bạn cũ của tôi. 

Tôi hỏi:
”Sao bà lại ở Đâu Suất Nội Viện?”
Bà ấy đáp:
”Vì cái nắm tay!”
”Cái nắm tay nào?”
”Năm xưa ông từng nắm tay tôi, Phật lực của ông liền đi vào trong người tôi, tôi có được nhân duyên giải thoát, tất cả đều biết đủ, sau khi vãng sinh liền đến Đâu Suất Nội Viện, nơi ở của Di Lặc Bồ Tát.”
”Ha!”
Tôi lúng túng không biết nói sao.

Tôi nhớ ra rồi, tương lai khi Di Lặc Bồ Tát hạ sinh ở nhân gian, có cái gọi là “Long Hoa Tam Hội”, người được độ hóa là hàng trăm triệu người, pháp được dùng chính là “duy thức đại thần biến”. 
Di Lặc Bồ Tát chỉ thở ra “thức”, chúng sinh chỉ cần hít “thức” vào, thì tất cả đều sẽ vãng sinh đến tịnh thổ Di Lặc. 
Hoặc là, Di Lặc Bồ Tát cho Phật quang phóng ra, đi vào trong thân thể của chúng sinh, khiến người người có đầy đủ Phật thức (vô cấu thức, thanh tịnh thức). 
Hoặc là, Di Lặc Bồ Tát cho chúng sinh tay cầm tay, người người cầm tay nhau, còn Di Lặc Bồ Tát lại cầm tay một người, thế là Phật lực sẽ truyền qua thân thể mỗi người, người người được độ.

Tại đây, tôi xin hỏi các thánh đệ tử, tương lai Di Lặc độ chúng sinh:
1. Dùng “thức” để độ?
2. Dùng “quang” để độ?
3. Dùng “cầm tay” để độ?


Thử trả lời xem.


### 07. Sự biến hóa vui vẻ


Tôi có một đệ tử pháp danh là Liên Liên, sau khi qua đời, ông ấy đã đến Hóa Lạc Thiên. Tôi hỏi ông ấy:
”Vì sao ông lại đến Hóa Lạc Thiên?”
Liên Liên trả lời tôi:
”Nhờ lực gia trì của Sư Tôn mà con vãng sinh đến Hóa Lạc. Vì tâm con thích vui chơi!”

Ở Hóa Lạc Thiên, Liên Liên mời tôi bữa tiệc tiên. Đương nhiên ông ấy mời những món ăn ngon của cõi trời, ở chốn phàm trần không có.
Liên Liên nói:
”Thắp đèn lên!”
Thế là trong hư không hiện ra những vòng tròn ánh sáng, giống như bong bóng, bay vòng quanh trên dưới trái phải, biến hóa nhiều màu sắc, vô cùng tráng lệ. 

Liên Liên nói:
”Sư Tôn thích nhạc gì?”
Tôi nhất thời không trả lời được. 
”Sư Tôn từng ở ẩn ở Tahiti, vậy thì cho âm nhạc Tahiti!”
Thế là tiếng đàn guitar vang lên tiếng “tính tịch tình tang”, đó là bài hát “Khúc ca của Nam Hải”. 
*Nước biển gột sạch mặt đất, khắp nơi đầy hoa tươi,
Cầu vồng trang điểm cho bầu trời,
Mưa chải chuốt cho mặt đất,
Kết thành biết bao những trái dưa ngon ngọt
Tôi kính dâng lên tất cả
Ánh sáng và hoa tươi
Để tất cả chúng sinh
Vui vẻ hạnh phúc vĩnh viễn vô hạn.*

Liên Liên nói:
”Có hát mà không có múa cũng không được, chúng ta mời Hằng Nga đến múa đi!”
Trong chốc lát, một mỹ nhân nhẹ nhàng bay đến, eo thon uyển chuyển, múa điệu nghê thường trong tiếng nhạc của bài hát “Khúc ca của Nam Hải”, lượn vòng với tốc độ rất nhanh, phối hợp với âm nhạc Tahiti.
Tôi hỏi:
”Có đúng là Hằng Nga không?”
Hằng Nga đáp:
”Tôi từ cung Quảng Hàn đến đây.”
Giọng nói nàng thánh thót như chuông bạc, vô cùng vui tai!

Liên Liên nói:
”Chúng ta mở tiệc ở Hóa Lạc Thiên thì bình thường quá, chi bằng đến biển mây A Lý Sơn ở Đài Loan đi!”
Chỉ một cái ngoảnh đầu, bàn tiệc tiên đã ở trên biển mây A Lý Sơn rồi. 

Chúng tôi bước đi trên mây như ở trên mặt đất, chỉ khác là bốn xung quanh như khói như sương, biến hóa rất phong phú, thật đúng là cảnh đẹp của tự nhiên. 
Chúng tôi còn thấy nhiều thiên nữ xinh đẹp phi thường, thân thể lướt đi như mây, miệng anh đào chúm chím, ánh mắt đung đưa như dòng nước, đúng là xinh đẹp tuyệt vời. Nếu là người bình thường thì từ lâu đã hồn bay phách lạc, sững sờ không còn nghĩ gì được nữa. 

Tiệc tiên vừa kết thúc, chúng tôi lại trở về Hóa Lạc Thiên. Khúc ca của Nam Hải cũng không còn nữa. Hằng Nga đã đi rồi. Thiên nữ cũng không thấy đâu nữa. Trong Hóa Lạc Thiên, chỉ còn lại mỗi Liên Liên và tôi ngồi đó. 

Tôi hỏi:
”Vì sao lại như thế này?”
Liên Liên đáp:
”Tính con thích thú vui biến hóa.”
”Vì sao mà đến thiên cung này?”
”Chúng ta đối với ngũ dục không tham chấp, vẫn giữ giới luật, chỉ là không thân không sơ, xem như một trò chơi thôi. Nếu là một người xuất gia, giữ nghiêm giới luật, nhưng không sống trên núi, mà sống ở nơi thành thị ồn ào, sắc, thanh, hương, vị, xúc chỉ như hoa qua mắt, không ở lại trong tâm, thì sẽ sinh về Hóa Lạc Thiên!”
”Thế còn những ngọn đèn trời?”
”Sự biến hóa của lửa.”
”Còn những bài ca?”
”Sự biến hóa của gió.”
”Còn mỹ nữ Hằng Nga?”
”Sự biến hóa của nước.”
”Thế còn sự dịch chuyển tiệc tiên?”
”Sự biến hóa của đất.”

Tại đây, tôi xin hỏi thánh đệ tử:
”Bạn có sự biến hóa tuyệt vời hơn sự biến hóa trong Hóa Lạc Thiên không?” (Mua vui cho Sư Tôn một chút xem nào!)


### 08. Vì sao biến hiện thành Ma Vương


Theo lý mà nói, cõi trời cao nhất ở Dục giới là cõi trời thứ sáu Tha Hóa Tự Tại Thiên. 
Phật Đà từng nói:
”Vua trong các vị vua là vua của cõi trời thứ sáu, Thánh trong các vị Thánh là Phật Đà đại giác.”
Thiên vương của cõi trời thứ sáu khiến tôi ngưỡng mộ. 

Có bài kệ rằng:
*”Những chúng sinh hữu tình,
Có phạm hạnh sa môn, 
Tăng trưởng nhân giải thoát,
Sinh về Tha Hóa Thiên.”*

*”Hữu tình hạng thượng căn,
Trì giới cũng tối thượng,
Công đức càng siêu việt,
Sinh Tha Hóa Tự Tại.”*

Cõi trời thứ sáu của Dục giới, tôn quý và tự hào làm sao.
Cõi trời thứ sáu của Dục giới, vô thượng làm sao.

Theo tôi được biết, tôi có một đệ tử pháp danh là Liên Vĩnh, ông ta sẽ vãng sinh đến Tha Hóa Tự Tại Thiên. 
Vì sao ông ta lại vãng sinh tới đó?
1. Giữ giới chặt chẽ.
2. Công đức siêu việt.
3. Muốn vượt qua thế gian.


Liên Vĩnh có đầy đủ ba điều trên, cho nên không còn gì nghi ngờ, ông ấy sẽ tiến về Tha Hóa Tự Tại Thiên. 

Mặc dù giữ giới, công đức, và siêu thế gian đã đầy đủ rồi, nhưng vì sao Tha Hóa Tự Tại Thiên lại trở thành Ma Cung?
Thiên nhân thăng lên Tha Hóa Tự Tại Thiên trở thành ma con ma cháu, đây thật ra là điều khó hiểu lớn nhất xưa nay. 

🌟

Chúng ta còn thấy:
”Tha Hóa Tự Tại Thiên Tử Ma, tức Tự Tại Thiên Ma, Ma vương của cõi trời thứ sáu của Dục giới, có thể làm hại những việc tốt của con người.”
”Hạng Thiên Ma này có đại thần lực, có thể tạo ra ma nạn cho những người tu pháp xuất thế, gây ra đủ loại chướng ngại để hại người tu đạo.”
”Ma vương tên là Ba Tuần.”
”Dưới Ma vương còn có ma con, ma nữ, ma dân.”

Tuy nhiên, căn cứ theo kinh Duy Ma, phẩm “Bất tư nghì”, lại có một đoạn nói rằng: 
”Duy Ma Cật nói với Đại Ca Diếp: Nhân giả, trong vô lượng vô số thế giới mười phương, những người làm Ma vương, đa số là những Bồ Tát trụ ở phép giải thoát không thể nghĩ bàn. Vì dùng sức phương tiện để giáo hóa chúng sinh, nên các ngài hiện làm Ma vương.”
”Từ Đại thừa mà nói, Ma vương là do Bồ Tát ở địa sáu biến hiện mà ra, dùng sức đại phương tiện mà giáo hóa chúng sinh.”
”Không có ma, không thể thành Phật.”

🌟

Được rồi! Bây giờ chúng ta bàn về Liên Vĩnh. 
Ông ấy nói:
”Tôi giữ giới là số một, không ai bì nổi!”
Ông ấy nói:
”Công đức bố thí của tôi là số một, công đức của ai lớn hơn tôi chứ!”
Ông ấy nói:
”Tôi siêu xuất thế gian, tu hành là số một, thế nhân đều nhỏ bé, một mình tôi to lớn!”
Chính vì như vậy, ông ấy đã mắc ba đại họa:
1. Tự đại.
2. Kiêu ngạo.
3. Cố chấp.

Mặc dù ông ấy vãng sinh về Tha Hóa Tự Tại Thiên, tức là thành Ma vương kiêu ngạo số một. Mọi người có thể nghĩ xem, năm xưa Phật Đà thành đạo, Ma Cung chấn động, Ma vương lập tức khuyên Phật Đà mau mau niết bàn, nguyên nhân chủ yếu là vì Ma vương không muốn có người nào siêu việt hơn hắn. 

Kiểu Ma vương này đều nói là bản thân mình đã đắc đạo vô thượng, tự xưng là số một, không ai bì kịp. Nếu có người thành đạo, hắn liền tạo chướng ngại. 

Ma vương ở cõi trời thứ sáu Tha Hóa Tự Tại Thiên đứng trên đỉnh của Dục giới, không muốn có người nào thắng được hắn.
Tự đại thành ma.
Kiêu ngạo thành ma.
Cố chấp thành ma.
(Đây chính là những nhân để thành ma.)

Bây giờ tôi thử hỏi thánh đệ tử, mọi người nhìn xem thế gian này, người tu hành hiện nay, còn có bao người tự cho rằng mình tu hành Thánh đế số một, tự cho rằng chỉ có bản thân mình đã chứng ngộ mà thôi, tự cho rằng mình công đức số một, thử nêu họ tên của họ làm ví dụ, bí mật nói cho tôi biết xem.


### 09. Dùng “dâm” để phân biệt sáu cõi trời Dục giới


Người học tập Phật pháp đều biết:
Giữ 5 giới - sinh tại nhân gian.
Làm 10 điều thiện - sinh về Thiên giới.

Rất nhiều người học Phật cũng biết sáu cõi trời Dục giới, vì sao gọi là Dục giới? Bởi vì cõi trời này còn có hứng thú với những thứ hữu tình, còn có ham muốn sắc dục, cho nên mới gọi là Dục giới thiên.

Trong sáu cõi trời Dục giới:
1. Có tiếp xúc.
2. Có ý niệm.
3. Có ăn uống.

Dục giới thiên có món ăn ngon, có tiệc tiên, có rượu ngon, có ngọc dịch, có cam lộ, có tiên vị. 
Dục giới thiên có ý niệm, nhiều niềm vui thiên thú, rất hiếm u buồn đau khổ, hầu như không có. 
Dục giới thiên có cảm xúc.

Người học Phật dùng dâm dục để phân biệt những nấc thang cao thấp của sáu cõi trời Dục giới. Có một số học giả cho rằng lấy dâm dục để phân biệt sáu cõi trời Dục giới là rất chí lý. Dâm dục ở Tứ Thiên Vương Thiên và Đao Lợi Thiên giống với nhân gian. Nam và nữ với hai dâm căn giao hợp với nhau, giao hợp có được sự khoái lạc do tiếp xúc, đây cũng là một trong những thiên thú, là có tình dục.

Lên đến Diễm Ma Thiên, sự giao hợp giữa hai giới tính nam nữ của thiên nhân không còn nữa, nhưng hai người ôm nhau thì sẽ sinh ra sự khoái lạc do tiếp xúc, vì ôm ấp mà sản sinh ra cái thiên thú của sự sung sướng khi tiếp xúc. 

Lên đến Đâu Suất Thiên, nam nữ chỉ cần nắm tay nhau thì từ tay sản sinh ra sự sung sướng do tiếp xúc, như thế là đã xong dâm dục. 

Lên đến Hóa Lạc Thiên, thiên nhân nam nữ chỉ cần cười với nhau là đã sinh ra sự hài lòng thỏa mãn về dục vọng rồi.

Lên đến Tha Hóa Tự Tại Thiên, thiên nhân nam nữ chỉ cần nhìn nhau một cái là đã sản sinh ra sự sung sướng của dâm dục thông qua cái nhìn lẫn nhau rồi, đã thỏa mãn dục vọng rồi, đây là cõi trời cao nhất của Dục giới.

Có người hỏi tôi:
”Dục giới thiên có ẩm thực tiên, có đại tiểu tiện không?”
Tôi đáp:
”Ăn tiệc tiên, món ăn tiên lập tức tiêu hóa ở các chi, không có đại tiểu tiện ra ngoài.” 

Có người hỏi tôi:
”Dục giới thiên có ý niệm về hỷ lạc, lẽ nào không có ý niệm về buồn khổ sao?”
Tôi đáp:
”Những gì họ thấy nghe đều là niềm vui, trên trời không có buồn khổ, cho nên không có ý niệm về buồn khổ.” (Trừ phi hưởng hết phúc trời rồi.)

Có người hỏi tôi:
”Tha Hóa Tự Tại Thiên chỉ cần nhìn nhau, Hóa Lạc Thiên chỉ cần cười với nhau, Đâu Suất Thiên chỉ cần nắm tay nhau, Diễm Ma Thiên chỉ cần ôm ấp, đương nhiên sẽ không sinh đẻ. Nhưng còn Đao Lợi Thiên và Tứ Thiên Vương Thiên thì hai dâm căn giao hợp với nhau, họ có sinh ra con cái không?”
Tôi đáp:
”Trong sáu cõi trời Dục giới đều vẫn có tình dục, có nghĩa là vẫn có tồn tại dâm niệm. Nhưng hai dâm căn giao hợp chỉ xuất khí, không xuất tinh và trứng, cho nên không có thai tạng mà sinh ra con cái.”
Tôi bổ sung thêm: 
”Thế nhưng thiên nhân muốn có con cái thì con trai sẽ hóa sinh ra từ dưới đầu gối của thiên nam, con gái sẽ hóa sinh ra từ trong đùi của thiên nữ.” 

Có người hỏi tôi:
”Na Tra Tam Thái Tử là thần tiên, ngài ấy xẻ thịt trả cho mẹ, xẻ xương trả cho cha, chỉ còn lại tinh linh. Cha mẹ của ngài ngắt lá hoa sen làm thịt, bẻ thân hoa sen làm xương, thế là tinh linh gắn với hoa sen mà sinh ra, là liên hoa hóa sinh, xin hỏi Lư Sư Tôn, vì sao có thể như vậy?”
Tôi đáp:
”Đây gọi là ngẫu hứng hóa sinh.”

🌟

Bây giờ tôi có một vấn đề hỏi thánh đệ tử:
Tôi Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, lúc mở thiên nhãn, nhìn thấy thiên giới có một vị Liên Hoa Đồng Tử tỏa ánh sáng trắng. 
Liên Hoa Đồng Tử chính là Lư Thắng Ngạn.
Lư Thắng Ngạn chính là Liên Hoa Đồng Tử.
Thử hỏi:
”Hai vị đó, vị nào mới là tôi?” (Xin hãy giải thích cụ thể.)


### 10. Dục giới thiên tức là đại lạc thiên


Tôi thường nói:
”Sáu cõi trời Dục giới, có thể nói là đại lạc thiên cung.”
Thiên đường vốn dĩ chính là cảnh giới cực lạc. 
Tôi thường lấy Kỳ Bà làm ví dụ:
Lúc Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế, thành Vương Xá có một danh y tên là Kỳ Bà, danh y này có thể cứu sống người, cứu người vô số.

Sách của danh y này có:
”Kỳ Bà mạch kinh.”
”Kỳ Bà 64 câu hỏi.”
”Kỳ Bà ngũ tạng luận.”

Vị danh y của thành Vương Xá này có thuật chữa bệnh kỳ diệu đặc biệt, thật sự ông ấy đã cứu sống được rất nhiều người.
Thậm chí Kỳ Bà có thể nghe âm thanh mà biết ngay người này sẽ chuyển sinh đến cảnh giới nào. Trong truyền thuyết, ông ấy gõ vào năm cái đầu lâu là biết người này vãng sinh đến địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh hay thiên nhân. Trong số đó có một cái đầu lâu mà ông ấy không biết sinh về nơi nào, thì ra cái người mà nghe không ra đó chuyển sinh thành A La Hán. 

Lúc Kỳ Bà còn ở tại nhân gian, ông ấy là đệ tử của Mục Kiền Liên. Sau khi chết, Kỳ Bà vãng sinh đến Đao Lợi Thiên của Dục giới, trở thành một trong mười đại thiên tử của Đế Thích Thiên. Mười đại thiên tử này, người thứ nhất là Nhân Đà La, người thứ hai là Cù Di, người thứ ba là Bì Lâu, người thứ tư là Bì Lâu Bà Đề, người thứ năm là Đà La, người thứ sáu là Bà La, người thứ bảy là Kỳ Bà, người thứ tám là Linh Ê Ngôi, người thứ chín là Vật La, người thứ mười là Nan Đầu. 

Có một lần, tôn giả Mục Kiền Liên gặp khó khăn lớn về y thuật. Mục Kiền Liên bèn thăng lên Đao Lợi Thiên để tìm Kỳ Bà. 
Mục Kiền Liên là sư phụ.
Kỳ Bà là đệ tử.
Nhưng khi Mục Kiền Liên nhìn thấy Kỳ Bà, Kỳ Bà đang cưỡi xe mây bay vụt qua, đang vội vàng đi tham gia buổi nhạc hội vui vẻ ở trong khu rừng. Kỳ Bà nhìn thấy sư phụ Mục Kiền Liên tôn giả đến nhưng cũng chẳng buồn dừng xe, đi tìm thú vui quan trọng hơn. Ông chỉ gật đầu một cái rồi lao đi vùn vụt. 
Mục Kiền Liên tôn giả lắc đầu, không ngớt thở dài!
Điều này đã chứng minh:
”Dục giới thiên là đại lạc thiên.”

🌟

Dục giới thiên là cảnh giới nhận được những quả báo kỳ diệu thù thắng từ nhân gian trở lên. Là nơi cao nhất, kỳ diệu nhất, tốt lành nhất, vui vẻ nhất, thù thắng nhất.
Vui vẻ nhất là thế nào?
Phụ nữ ở sáu cõi trời Dục giới là thiên nữ, thế gian không thể so bì. Họ đẹp nhất, xinh nhất, thơm tho nhất, mềm mại nhất, dịu dàng nhất.
Cầu vồng cõi trời xinh đẹp nhất.
Thiên cung là bảy loại châu báu.
Thiên y thơm tho sạch sẽ nhất.
Ẩm thực cõi trời ngon nhất.
Mũ miện cõi trời đặc biệt nhất.
Hoa trời đẹp đẽ nhất. 
Âm nhạc cõi trời hay nhất.
Tranh vẽ cõi trời không gì sánh bằng. 
Tuổi thọ cõi trời là vô cùng kiếp.
Phẩm hạnh cõi trời đều như ý.
Thiên cơ tự nhiên phát sinh.
…

Nếu yêu cầu tôi viết ra sự sung sướng ở sáu cõi trời Dục giới thì khả năng ngòi bút của tôi cũng không thể kể hết, mọi người có thể nghĩ mà xem, những điều vui vẻ nhất ở nhân gian thì thiên cung của sáu cõi trời Dục giới đều có, hơn nữa những điều vui vẻ ấy lại còn lâu dài hơn, đẹp đẽ hơn, nhiều hương vị hơn, không gì sánh bằng, quang minh thù thắng hơn rất nhiều.

Có một lần khi ngồi trên pháp tọa thuyết pháp, tôi từng nói:
”Tôi giống như thần tiên!”
Điều này tức là sự chứng nghiệm đại lạc! Một hành giả tu hành của thế gian muốn chứng minh bản thân đã đạt đến cảnh giới đại lạc thì phải chứng minh như thế nào? Như thế nào mới là đại lạc?
Người tu hành chúng ta không thể đến đại lạc thiên là dừng lại ở đó, phải vượt qua đại lạc, tu tứ thiền bát định, phát tứ vô lượng tâm, chứng sáu thần thông, ngộ các loại trí huệ Đại thừa, siêu xuất khỏi tam giới thiên.


### 11. Không thể ở lâu trong thiên cung của sáu cõi trời Dục giới


Người học Phật chúng ta đều biết, lục dục thiên cung không thể ở lâu, thậm chí là đi qua nhưng không vào, thậm chí là ngay cả nhắc đến cũng không nhắc, người tương đối kịch liệt thì đối với sáu cõi trời Dục giới chỉ khịt mũi khinh thường.

Thế còn, ý kiến của cá nhân tôi vẫn là, lục dục thiên cũng không thể ở lâu, nhưng cũng không cần tới mức ngay cả nhắc đến cũng không nhắc, cũng không nên hừ mũi coi thường lục dục thiên. 

Vì sao không thể ở lâu?
Cần biết rằng phúc báo ở lục dục thiên khiến con người hễ vào đó là như say như mê, sướng như tiên, sướng “muốn chết”…

Sự hưởng lạc của phúc trời là đại lạc, hễ vào lục dục thiên cung thì muốn hưởng cho hết lạc thú cũng khó, gọi là:
Lạc vô thời. (Từng phút từng giây đều vui vẻ.)
Lạc vô gián. (Đại lạc liên tục không gián đoạn.)
Lạc vô địa. (Ở bất kì địa điểm nào cũng vui vẻ.)
Lạc vô không. (Ở bất kì không gian nào cũng đại lạc.)

Người bình thường hành thập thiện, nhập vào lục dục thiên cung, vì hết sức tận hưởng lạc thú mà hoàn toàn quên mất tu hành.
Vì thế, không thể vào, không thể ở lâu trong lục dục thiên cung!

🌟

Đại lạc của lục dục thiên cung này có thời gian dài hơn rất nhiều so với ở nhân gian, nhưng cũng vẫn là thời gian có hạn.
Tứ Thiên Vương Thiên - thiên thọ 500 tuổi.
Đao Lợi Thiên - thiên thọ 1000 tuổi.
Diễm Ma Thiên - thiên thọ 2000 tuổi.
Đâu Suất Thiên - thiên thọ 4000 tuổi.
Hóa Lạc Thiên - thiên thọ 8000 tuổi.
Tha Hóa Tự Tại Thiên - thiên thọ 16000 tuổi.
Thiên thọ ở đây không phải là chỉ tuổi giống ở nhân gian, thiên thọ dài hơn rất nhiều rất nhiều so với tuổi ở nhân gian. 
Nhưng một khi hưởng hết phúc báo thì cũng lại đọa lạc ở nhân gian hoặc tam ác đạo. 

Cho nên mới có năm hiện tượng suy đồi của thiên nhân:
Một là, thiên y cáu bẩn.
Hai là, hoa trên đầu héo tàn.
Ba là, thân thể bẩn thỉu hôi thối.
Bốn là, nách đổ mồ hôi.
Năm là, không còn vui khi sống ở nơi đây. 
(Ngoài ra còn có: trên người mất đi uy quang, bản tính bám chấp vào cảnh thù thắng không từ bỏ, mắt vốn có thể để yên không chớp, nay chớp mắt nhiều lần.)

Đây đều là những dấu hiệu cho thấy thiên nhân sắp chết.

Người học Phật chúng ta biết rằng thiên phúc có hạn, dù rằng thời gian có dài thì cũng là nhất thời. Cho nên, nghĩa đế đầu tiên của học Phật là vô sinh vô diệt, bất sinh bất diệt, niết bàn đại đạo. Đương nhiên, lục dục thiên cung không phải là mục tiêu. Vì vậy, không thể sống ở đó lâu.

🌟

Cá nhân tôi trong quá trình tu hành từng vào lục dục thiên cung, vừa nhập vào đại lạc thiên cung này thì đã bị mê hoặc rồi.
Si - theo đuổi đại lạc.
Mê - hưởng thụ đại lạc.
”Sướng như tiên” - mùi vị của đại lạc.
”Sướng muốn chết” - đại lạc lên đến cực điểm. 

Ở đây có hiện tượng sung sướng của sự tiếp xúc, của ý nghĩ, của ăn uống, của những thứ hóa hiện ra, người bình thường khó có thể thoát khỏi được, hễ nhập vào trong đại lạc thì liền quăng luôn “tu hành thành chính giác” ra ngoài chín tầng mây rồi. 

Thật may, tôi gìn giữ được Phật tính, có thể đi thẳng lên tứ thiền bát định, tiến nhập vào Sắc giới thiên và Vô sắc giới thiên. Đây cũng là công phu tu hành của tôi!

Cá nhân tôi biết rằng, lục dục thiên cung không thể ở lâu, nhưng tôi cũng không bài trừ lục dục thiên cung, không những không thể bài trừ mà cũng cần phải cung kính. Bởi vì thiên nhân hộ trì Phật pháp.

Chúng ta có 50 thiên cúng hoặc 72 thiên cúng:
Các pháp cúng dường như Bất Động Tôn, Tứ Đại Minh Vương, Thập Nhị Thiên, Thái Sơn Phủ Quân, Ngũ Đạo Đại Thần, Cát Tường Thiên, Bắc Đẩu Thất Tinh, Thập Nhị Cung Thần, Ngũ Tinh, Nhị Thập Bát Tú, v.v…


### 12. Hãy hiểu rõ “nhất thời”


Sau khi tôi khai ngộ, bỗng hiểu ra hai chữ “nhất thời”, đối mặt với hư không, tôi lầm rầm lẩm bẩm:
”Nhất thời ơi! Nhất thời à! Tất cả đều là nhất thời!”
Tôi hy vọng các thánh đệ tử, mọi người hãy suy ngẫm về “nhất thời”.

Kiếp nhân gian, từ trẻ đến già, từ sống đến chết, là nhất thời.
Kiếp nhân gian, của cải cao như núi, là nhất thời.
Kiếp nhân gian, cao quý như Tần Thủy Hoàng, là nhất thời.
Kiếp nhân gian, nghèo như Nhan Hồi, là nhất thời.
Kiếp nhân gian, hèn như Ngụy Trung Hiền, là nhất thời.
Và những cái khác nữa…

Tôi cũng biết, lục dục thiên đương nhiên đều là nhất thời. Cái gọi là nhất thời nghĩa là chớp mắt một cái đã qua rồi!
Huyễn, huyễn, huyễn, huyễn, huyễn, đều là huyễn.
Mộng, mộng, mộng, mộng, mộng, đều là mộng.
Thánh đệ tử phải nhớ kĩ.
Cái gì là nhất thời?
Cái gì mới không phải là nhất thời?
Thì ra chỉ có Phật tính, Chân Như, vô thủy vô chung, vô sinh vô diệt, niết bàn.
Mới là:
”Phi thời.”

🌟

Lục dục thiên là nhất thời, có một điển cố rất nổi tiếng, đáng để mọi người cảnh giác, coi chừng:
Phật Thích Ca Mâu Ni vì để độ hóa Nan Đà, đã đến nhà Nan Đà ăn cơm, Nan Đà làm lễ, lấy bát đựng cơm cúng dường Phật Đà.
Phật không ăn, muốn Nan Đà theo ngài trở về tinh xá, lúc này, Phật Thích Ca Mâu Ni muốn Nan Đà cạo đầu xuất gia. Nan Đà rất khó xử, bởi vì ông ấy mê đắm gia đình, người vợ trong nhà ông vô cùng xinh đẹp. 
Nan Đà đợi khi Phật Đà không chú ý, liền chuồn về nhà, ông đi được nửa đường thì Phật đã ở giữa đường đợi ông. Nan Đà nhìn thấy Phật, liền nhẹ nhàng trốn sau một cái cây to, cho rằng Phật sẽ không nhìn thấy mình. 
Phật vận thần thông, cái cây to bay lên không. Nan Đà chỉ còn cách cùng Phật trở về tinh xá. Phật lại vận thần thông để hút Nan Đà vào trong Đao Lợi thiên cung, để cho Nan Đà nhìn thấy thắng cảnh ở thiên cung.
Nan Đà trông thấy một tòa thiên cung có rất nhiều thiên nữ tuyệt sắc, xinh đẹp hơn ở nhân gian gấp trăm vạn lần, ông ấy ngưỡng mộ vô cùng. Thiên cung này không có thiên tử, Nan Đà hỏi: “Vì sao duy nhất cung này không có thiên tử?” Thiên nữ đáp: “Sau khi Nan Đà xuất gia, mệnh chung thì sẽ sinh về thiên cung này.”
Nan Đà nghe xong liền muốn ở lại. Thiên nữ nói: “Chúng tôi là trời, ông là người, khi nào ông bỏ thọ mạng cõi người rồi thì mới có thể sinh về không gian này.”

🌟


Tiếp theo, Phật lại hút Nan Đà đến địa ngục, ông nhìn thấy địa ngục nấu người trong dầu sôi. Rất nhiều vạc dầu sôi đang nấu người, người giống như những chiếc quẩy, kêu mẹ kêu cha, vô cùng thê thảm. Trong đó có một cái vạc dầu trống không. 
Nan Đà hỏi: “Vạc dầu này vì sao không có người?”
Coi ngục đáp: “Nan Đà vì công đức xuất gia nên được thăng thiên hưởng phúc, phúc hưởng hết rồi, lúc mệnh chung sẽ đọa vào địa ngục dầu sôi, cho nên chúng tôi đang đợi ông ấy đây!”
Nan Đà sợ mất vía. Nan Đà nói với Phật:
”Con nguyện trở về nhân gian, nguyện cạo đầu xuất gia, nguyện cầu đạo vô thượng.”
Phật nói:
”Ông thực hành trì giới tu thiện thăng thiên được hưởng phúc.”
Nan Đà nói:
”Cũng không cần thăng thiên, cũng không muốn đọa địa ngục.”
Thế là, Phật Đà thuyết pháp. Nan Đà tu thành tựu A La Hán.

Từ câu chuyện này có thể thấy, lục dục thiên cung cũng là “nhất thời” thôi, các thánh đệ tử xin ngẫm nghĩ: “Cái gì không phải là nhất thời?”


### 13. Đích thân gặp Kim Cang Hợi Mẫu


Tại đây, trước hết tôi muốn lễ kính Kim Cang Hợi Mẫu, bởi vì Kim Cang Hợi Mẫu đã giúp tôi chứng nhập Sắc giới thiên.

Năm đó, trong lúc tôi đang thành kính cầu nguyện, đích thân tôi đã gặp Kim Cang Hợi Mẫu. Ngài đi vào trong luân xa rốn của tôi, đứng trong lưới lửa hình tam giác. 
Tôi hỏi:
”Hư không là không hay có?”
Kim Cang Hợi Mẫu không đáp. Ngài dùng con mắt thứ ba của mình phóng ra một đường ánh sáng vàng kim chiếu vào trong hư không, đường ánh sáng vàng kim này chiếu rõ Phạm Chúng Thiên. 

Kim Cang Hợi Mẫu nói: 
”Nhìn xem! Đó là Phạm chúng.”
Có rất đông Phạm chúng, họ ngồi xếp bằng trong hư không, có người thì dùng tòa hoa sen, có người thì ngồi tự do, có người thì đứng, có người thì nằm, không ai giống ai.
Kim Cang Hợi Mẫu nói:
”Hư không có chăng? Hư không không có chăng?”
Tôi hỏi:
”Làm sao để vào Phạm Chúng Thiên?”
Kim Cang Hợi Mẫu đáp:
”Tu Kim Cang Hợi Mẫu chuyết hỏa định, đến khi trở nên trong suốt tức là nhập vào Phạm Chúng Thiên.”

Tôi hiểu rằng:
Nhân gian Ta Bà, một số người tu hành đối với ngũ dục của thế gian đã hoàn toàn cắt đứt, hành giả đã loại bỏ hoàn toàn dâm dục, trong khi thiền định, ngay cả nghĩ đến dâm dục cũng không có, không muốn ở lại thế gian, trong người sẽ hiện lên một chút ánh sáng. Hành giả suy nghĩ rằng mình là Phạm thiên nhân ở thiên thượng giới thì sẽ đến được Phạm Chúng Thiên.

Người tu thiền tự biết rằng cõi trời thứ nhất của Sơ thiền là Phạm Chúng Thiên, ở đây chỉ có sự hoạt động của nhãn thức, nhĩ thức, thân thức, đã không còn tác dụng của hai thức mũi và lưỡi. Thiên nhân tiến nhập vào Phạm chúng thì đều đã rời xa ngũ dục rồi!

🌟

Tôi có một đệ tử tên là Liên Hoa Nhất Tín. 
Anh giữ năm giới.
Anh làm mười thiện nghiệp.
Anh chán ghét tất cả mọi thứ thế tục, một thân một mình đi vào hang động trong núi sâu, sống một mình và thiền định. 
Cứ như thế qua nhiều năm.
Có một hôm, anh tự mình cảm thấy luân xa rốn trong suốt, tất cả các lỗ chân lông trên người đều có ánh sáng. Trong ánh sáng liên tục xuất hiện các thiên nữ, tụ tập rất đông, còn chính anh cũng biến thân ở trong Phạm chúng thiên nhân. Lúc này, anh đã viên tịch. Anh đã tiến nhập vào Phạm Chúng Thiên rồi. 

Tôi hỏi Liên Hoa Nhất Tín:
”Anh không ăn đúng không?”
”Không có mũi, lưỡi, vì thế không ăn.”
”Cảm giác thế nào?”
”Không, minh, định, trí, thiện, nhu, hỷ, lạc.”
”Nhập Phạm Chúng Thiên phải làm sao?”
”Đoạn ngũ dục, trong suốt.”
Tôi hỏi:
”Kinh nghiệm ra sao?”
Nhất Tín đáp:
”Trải qua thô trụ, tế trụ, chính trụ.”

🌟

Tôi viết một bài kệ cho Phạm chúng thiên nhân:

*Chuyết hỏa đi lên liền giao quang
Các lỗ chân lông cùng hưởng ứng
Thế giới phồn hoa đại mộng huyễn
Cho dù vạn năm cũng vậy thôi*

*Điệu hát đã dừng
Rượu tuôn như sóng
Phạm lữ hiện thân cùng thưởng thức
Hỷ lạc công đức nhiều
Đều ở trên mây cao.*


### 14. Trịnh Nồng Ni ở Phạm Phụ Thiên


Ở Phạm Phụ Thiên, tôi trông thấy một đệ tử cũ là Trịnh Nồng Ni, tôi thật sự không ngờ bà ấy lại ở Phạm Phụ Thiên.
Tôi hỏi:
”Sao bà lại ở Phạm Phụ Thiên?”
Bà ấy đáp:
”Sư Tôn thầy quên rồi à, khi xưa lúc thầy vừa xuất đạo, không có tiền để điêu khắc một vị Diêu Trì Kim Mẫu, thế là tôi đã bỏ tiền ra điêu khắc một vị Diêu Trì Kim Mẫu tặng thầy. Đây là công đức mà tôi giúp đỡ thầy.”
Bà ấy lại nói:
”Tôi hỏi về tu pháp, Sư Tôn nói với tôi, dồn suy nghĩ về nhật nguyệt quang ở hạ đan điền, chỉ một câu nói đó thôi. Mỗi khi ngồi thiền, tôi liền nghĩ đan điền có nhật quang, nguyệt quang, giữ suy nghĩ đó rất lâu, thế là có thể ngưng niệm, đạo hạnh trong sạch, đến khi tôi 80 tuổi thì chỉ có làm theo cách dồn suy nghĩ như vậy thôi.”
Bà ấy nói:
”Đến khi tôi thọ chung, có một chút ánh sáng, dần dần tôi hồi phục, nhìn thấy đại điện có rất nhiều thiên nữ mặc trang phục lộng lẫy màu hồng, trắng, xanh lục, tôi hỏi thiên nữ nơi này là đâu. Thiên nữ đáp, đây là Phạm Phụ Thiên.”
Bà ấy nói:
”Phạm Phụ Thiên là cõi trời Sắc giới thứ hai, đã không còn tướng nam nữ, vì sao tôi lại mang tướng nữ? Thiên nữ đáp, vốn không có tướng nữ, chỉ vì trong cung Đại Phạm Thiên Vương, bên ngoài có thị vệ đại thần phò trợ Phạm Vương, bên trong thì có thiên nữ hầu hạ Phạm Vương, thiên nữ thật ra là tướng bên ngoài, thực tế cũng không phải thiên nữ.”
Bà ấy nói:
”Vì tôi cúng dường một bức kim thân Diêu Trì Kim Mẫu, và dồn suy nghĩ về nhật nguyệt quang mà được sinh về Phạm Phụ Thiên.”
”Ha! Thì ra là như vậy.” - Tôi nói.

🌟

Thấy Trịnh Nồng Ni ở Phạm Phụ Thiên, tôi hết sức vui mừng. Bà ấy nói với tôi, sơ thiền có ba thiên:
1. Phạm Chúng Thiên - thứ dân.
2. Phạm Phụ Thiên - thị thần.
3. Đại Phạm Thiên - thiên tử.
Cái gọi là Phạm Phụ Thiên có ý nghĩa là thị thần phò trợ Đại Phạm Thiên Vương. 

Tôi hỏi Trịnh Nồng Ni:
”Sơ thiền có công lực thiền định không?”
Trịnh Nồng Ni đáp:
”Chút chút.”
Trịnh Nồng Ni nói:
”Chỉ là thanh tịnh tâm, có giới đức mà thôi, vẫn chưa thật sự nhập tam ma địa, chỉ là bất động thôi.”
Tôi hỏi Trịnh Nồng Ni:
”Nay bà sống tại Phạm Phụ Thiên, chỉ là nhờ vào ba độ đầu tiên trong số lục độ, không hề dựa vào thiền định tính Không, tính ra chỉ là đến cảnh giới luân hồi tương đối cao mà thôi, bà còn muốn tiến nhập cảnh giới cao sâu hơn không?”
Trịnh Nồng Ni đáp:
”Thiên thọ của Phạm Chúng Thiên là nửa trung kiếp, thiên thọ của Phạm Phụ Thiên là một trung kiếp thì đương nhiên vẫn là hữu hạn, xin hỏi Sư Tôn thế nào mới là vô hạn?”
Tôi đáp:
”Bà phải dựa vào ba độ sau của lục độ, thì tự sẽ có sự thăng tiến cảnh giới.”

Cá nhân tôi phát hiện ra:
1. Bố thí.
2. Giữ giới.
3. Nhẫn nhục.
(Phúc báo thăng thiên nhiều.)
4. Tinh tấn.
5. Thiền định.
6. Trí huệ.
(Huệ báo siêu thượng nhiều.)

Tôi viết một bài kệ tặng cho Trịnh Nồng Ni:

*Phò trợ Đại Phạm nhiều niềm vui
Cõi này thị chúng trái tim hồng
Đại kiếp thời gian cũng vội vã
Cõi này đâu đã là ung dung
Mau học lục độ ba độ cuối
Bồ Tát ko học sao giác đây?*


### 15. Phật Bốn Mặt chính là Đại Phạm Thiên Vương


Tôi đã đến Đại Phạm Thiên Cung, Đại Phạm Thiên Vương bước xuống bậc đón tôi. Đại Phạm Thiên Vương nói:
”Liên Sinh Thánh Tôn, lâu ngày không gặp, đa tạ ngài đã cúng hoa cho tôi!”
Trong lòng tôi bối rối, tôi cúng dường hoa tươi cho Đại Phạm Thiên Vương** **lúc nào chứ? Đại Phạm Thiên Vương biết tôi ngờ vực, Đại Phạm nói:
”Từ lâu rồi, lúc ngài mới xuất đạo, dẫn theo đệ tử đi Thái Lan, nhìn thấy vị Phật Bốn Mặt ở chợ, mọi người dâng hoa, ngài cũng dâng hoa, không phải sao?”
A! Tôi nhớ ra rồi.

Tôi từng đưa các đệ tử thời kì đầu đi du lịch Thái Lan, nhìn thấy Phật Bốn Mặt ở phía trước, có những cô gái Thái múa những tư thế uyển chuyển để cúng dường, tôi và mọi người cũng tung hoa tươi cúng dường Phật Bốn Mặt. Lúc này, Đại Phạm Thiên Vương hiện ra tướng bốn mặt, bốn cánh tay, một tay cầm hoa sen, một tay cầm chuỗi niệm hạt, một tay cầm tịnh bình, một tay làm ấn chữ Om. Tôi nhìn thì đúng là Phật Bốn Mặt. 

Tôi hỏi:
”Vì sao làm Đại Phạm?”
”Uy đức tối thắng tức là đại, quảng thiện sở sinh tức là Phạm.”
Tôi hỏi:
”Vì sao tôn xưng là Phật Bốn Mặt?”
Đại Phạm Thiên Vương nói:
”Ngày xưa, Phật Đà thành đạo, Phật Đà nói, đã chứng đắc pháp niết bàn tịch tĩnh, nếu diễn thuyết cho con người thì họ đều không thể lĩnh ngộ được, ta nên im lặng không nói.”
Đại Phạm Thiên Vương nói:
”Là tôi đã dẫn theo 68 câu chi Phạm chúng trình bày với Phật Đà, Như Lai vì các chúng sinh mà cầu vô thượng giác, nay đã thành Phật, chỉ mong Phật Đà mau chuyển pháp luân.”
Đại Phạm Thiên Vương hết lời khuyên giải. Phật Đà cảm động, cuối cùng mới nói:
”Nay Như Lai nhận lời khuyên thỉnh của Phạm Vương nên mới chuyển pháp luân.”
Bởi vậy, công đức của Đại Phạm Thiên Vương đối với các chúng sinh là rất lớn, ngài tôn kính Phật pháp, cho nên không có gì hổ thẹn khi nhận là Phật.

Tôi hỏi:
”Đại Phạm Thiên Vương có sáng tạo ra chúng sinh trong trời đất không?”
Đại Phạm Thiên Vương đáp:
”Có hai truyền thuyết. Trí Độ Luận nói rằng trong tim của Đại Phạm Thiên Vương hóa sinh ra bát tự, bát tự sinh ra nhân dân trong trời đất. Một truyền thuyết khác là Niết Bàn Luận, nói rằng Đại Phạm Thiên Vương sáng tạo ra hữu mệnh và vô mệnh, từ trong miệng của Đại Phạm Thiên Vương sinh ra Bà-la-môn, từ trong hai tay sinh ra Sát-đế-lợi, từ trong hai đùi sinh ra Bì-xá, từ hai chân sinh ra Thủ-đà-la. Sinh ra tất cả đại địa để làm đạo tràng tu phúc đức.”

Tôi cảm thấy Đại Phạm Thiên Vương rất vĩ đại. Giống như Câu Xá Luận viết:
”Sống ở Phạm Phụ Thiên có cung điện lầu gác cao lớn, Đại Phạm Thiên sống trong những cung đó, không có sự phân biệt địa vị như Thế Tôn ngồi, còn tứ chúng thì vây xung quanh.”
Vãng Sinh Yếu Tập viết:
”Đao Lợi Thiên trở lên thì hưởng đại lạc triệu triệu tuổi, cung của Đại Phạm Vương là thâm thiền định lạc.”
Ở Đại Phạm Thiên đã có cảnh giới định rồi. 
Đại Phạm Thiên Vương nói:
”Trong tương lai, trong các đệ tử của ngài, có nhiều người sẽ được thăng lên làm Đại Phạm Thiên chúng.”
Tôi hỏi:
”Vì sao?”
Đại Phạm Thiên Vương đáp:
”Vì họ khuyên thỉnh ngài trụ thế, khuyên thỉnh ngài thuyết pháp, họ nhờ có nhân duyên này, lại đắc Sơ thiền, nên sinh làm Đại Phạm.”

Tại đây, tôi nói với mọi người, trong Ấn Độ giáo có:
1. Đại Phạm Thiên - Thần Sáng Tạo.
2. Đại Tự Tại Thiên - Thần Hủy Diệt.
3. Biến Tịnh Thiên - Thần Bảo Hộ.
Từ ba vị đại thần này mà Ấn Độ giáo diễn hóa ra những lý luận và triết học của Ấn Độ giáo. Tôi cảm thấy chúng cũng phù hợp với Phật lý về sinh, trụ, dị, diệt.
Các thánh đệ tử nghĩ thế nào?


### 16. Thầy Thành Quang ở Thiếu Quang Thiên


Ngày xưa, có thầy Thành Quang vừa là thầy vừa là bạn tôi, từ trong ý, tôi biết được ông ấy đã vãng sinh đến Thiếu Quang Thiên.

Thầy Thành Quang từng là sư trụ trì của một ngôi chùa Phật, lúc còn tại thế, ông ấy và tôi có mối giao hảo rất tốt.
Ông ấy nói với tôi:
”Cuộc đời này của tôi, mặc dù từng đọc Tạng, trọn bộ Đại Tạng Kinh tôi đều đọc hết rồi, nhưng không phải là đọc đến đâu nhớ đến đó, chỉ có một chút xíu tâm đắc thôi.”
Tôi hỏi:
”Tâm đắc gì?”
Ông ấy nói:
”Lúc nhớ lúc quên.”
Hai chúng tôi cười vang. Ha ha ha!

Ông ấy nói:
”Tôi chỉ biết dùng phương pháp ngu si nhất là dùng tay chép kinh điển, được hơn trăm bộ rồi.”
Ông ấy nói:
”Dùng tay chép kinh điển, từng nhập tam muội, cứ viết là viết, chẳng hay biết gì khác, bỏ cả ăn ngủ, không phân biệt ngày đêm, tinh thần thống nhất, chỉ có tay hoạt động, còn mọi thứ đều im ắng.”
Lại nói:
”Bất thình lình tôi nhìn thấy một vòng tròn ánh sáng, kích cỡ như quả bóng chày đi vào từ miệng, khi đi vào miệng thì nó thu nhỏ lại, đi thẳng xuống vùng rốn, tinh thần đột ngột sảng khoái. Tôi thấy vùng rốn của mình có ánh sáng chầm chậm quay tròn.”
Thầy Thành Quang nói:
”Liên Sinh Sư Tôn, xin hãy gia trì cho tôi!”
”Gia trì cái gì?”
”Tịch trầm sinh quang, trừng tâm bất động.”
Thế là, tôi gia trì cho thầy Thành Quang.

🌟

Sau khi thầy Thành Quang viên tịch, tôi biết ông ấy đã không còn mối bận tâm nào cả, không có phiền não gì có thể dồn ép ông ấy, tất cả thô lậu đã loại bỏ hết, trên thực tế, thầy Thành Quang đã tiến nhập vào Thiếu Quang Thiên của Nhị thiền.

Tôi gặp mặt thầy Thành Quang ở Thiếu Quang Thiên. (Lần gặp mặt này chỉ là giữa ý và ý.) Tôi hỏi:
”Thích không?”
Đáp:
”Thích!”
”Thích cái gì?”
”Bồng bềnh bước trên không.”
”Có khổ không?”
Đáp:
”Không có ba thức mắt, tai, thân, không có thân thì có gì mà khổ? Vốn dĩ mọi khổ đều vì có thân nên mới khổ, không có thân tức là không có khổ.”
Tôi hỏi thầy Thành Quang:
”Ông có ấn tượng thế nào về nhân gian?”
Thầy Thành Quang đáp:
”Con người thế gian khiến tôi kinh ngạc, rõ ràng tất cả đều không, thế mà ai ai cũng bám chấp không buông bỏ, ví dụ người thế tục tranh giành di sản, tăng nhân tranh giành tài sản của chùa, nhưng mà không có thứ gì thật sự có được.”
Lại nói:
”Con người thế gian khiến tôi kinh ngạc, rõ ràng tất cả danh vị đều không phải là vĩnh hằng, thế mà ai ai cũng bám chấp không buông bỏ, khi lên ngôi vị cao rồi thì làm rung chuyển trời đất, tự cho mình là đại thắng cả nhân gian. Thật sự không bằng bước lên mặt trăng mát rượi, sáng bóng đáng yêu, tôi cảm thấy thế nhân thật nực cười.”
”Ông vẫn có chí tiến thủ chứ?”
Thầy Thành Quang đáp:
”Thế hệ chúng ta cũng là hành giả.”

Tôi viết một bài kệ ca ngợi thầy Thành Quang:

*Ý như ngọn gió tây
Bất ngờ nổi lên như rồng cuốn trên bầu trời
Non xanh nước biếc xưa nay vẫn thế
Mặt trăng ít ánh sáng
Niềm vui vô hạn
Chiếu mãi khắp sông hồ.*


### 17. Bí mật của Vô Lượng Quang Thiên


Chúng ta biết rằng, Nội Viện của Đâu Suất Thiên trong sáu cõi trời Dục giới, có cõi tịnh thổ của Di Lặc Bồ Tát. Trong tịnh thổ của Di Lặc Bồ Tát có vô số vô số Bồ Tát, điều này chứng minh rằng trong sáu cõi trời Dục giới có tồn tại tịnh thổ, có đại Bồ Tát sống ở đó, có tồn tại Phật quốc tịnh thổ.

Khi tôi từ Thiếu Quang Thiên tiến nhập vào Vô Lượng Quang Thiên, tôi bất ngờ sửng sốt, thì ra Vô Lượng Quang Thiên mặc dù là cõi trời thứ hai của Nhị thiền, nhưng ở đây rõ ràng là một tịnh thổ cực kỳ lung linh.

Tịnh thổ này toàn là ánh sáng, ánh sáng và ánh sáng chiếu lẫn nhau, chuyển thành vô lượng quang, dường như thập phương giới đều là ánh sáng vô tận.

Tôi nói với mọi người, Vô Lượng Quang Thiên có một bí mật lớn, bí mật này là: 
Áo Minh tịnh thổ.
Ô Kim tịnh thổ.
Trì Minh tịnh thổ.
Đều nằm ở trong đó!
Đây là một phát hiện lớn mở ra một thời đại mới, thì ra ba đại tịnh thổ của Mật giáo vốn đều nằm trong Vô Lượng Quang Thiên. 

Đại bí mật mà thế nhân chưa bao giờ biết đến, thì ra Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chính là ở trong tịnh thổ này. Tôi đích thân gặp Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Tôi hỏi Liên Sư:
”Liên Sư ở tịnh thổ Ô Kim, vì sao lại ở Vô Lượng Quang Thiên?”
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đáp:
”Trước kia thánh địa mà ta tu hành ở Samye núi Thanh Phổ, động Nhã Phong Pha Lê, động Hiệp Ngõa Đạt Ngõa, đều có thể nhìn thấy ta. Tịnh thổ Ô Kim, tịnh thổ Trì Minh, tịnh thổ Áo Minh, cũng có thể nhìn thấy ta, Vô Lượng Quang Thiên tự nhiên có thể nhìn thấy ta.”

Tôi rất ngạc nhiên. Liên Sư nói:
”Đâu đâu cũng có.”
Tôi kính lễ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, hát rằng:

*Tây phương an lạc trong sát thổ.
Vô Lượng Quang Phật thương gia trì.
Gia trì hóa thân Liên Hoa Sinh.
Lợi ích chúng sinh Chiêm Bộ Châu.
Cụ túc tương tục đại bi hành.
Ô Kim Liên Sư xin kính cẩn.*

Tôi hỏi Liên Hoa Sinh Đại Sĩ:
”Vì sao con nhiều lần bị phỉ báng?”
Liên Sư đáp:
”Nguyên nhân con bị phỉ báng là vì, một, nói với đệ tử chưa có mật ý về pháp bí mật mà tự thân mình đã tu luyện; hai, tiết lộ đại bí mật về sự thanh tịnh của thân, ngữ, ý; ba, không được bàn luận về đại lạc hành; bốn, không được bàn luận về mật hành của mình.”
Tôi nói:
”Con đã hiểu rồi.”
Tôi lại hỏi:
”Làm sao đến được tịnh thổ Vô Lượng Quang Thiên?”
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đáp:
”Tổng trì đà-la-ni chính là trì minh, trì minh chính là trì quang, trì quang nhập tam muội thì sẽ đến được Vô Lượng Quang Thiên.”
Tôi hỏi:
”Làm sao để lần lượt thăng cấp trong 28 thiên?”
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đáp:
”Chỉ có cách lần lượt nâng cao bồ đề minh điểm.”
Chỉ một sát-na, trong sát-na, tôi đã hoàn toàn hiểu rõ.

Tôi ở trong Vô Lượng Quang Thiên của Nhị thiền, đích thân chứng minh Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói, ngài phải đi giúp 21 đệ tử của tôi, tiếp dẫn họ đến Vô Lượng Quang Thiên. 

Tôi viết bài kệ ca ngợi Liên Hoa Sinh Đại Sĩ:

*Tất cả chư Phật hóa hiện Liên Hoa Sinh.
Đầy đủ tướng tốt viên mãn trước chúng sinh. 
Diệu pháp siêu thắng thế gian không thể sánh.
Mật pháp thù thắng như biển rộng vô biên.
Nay con nhất tâm kính lễ đại Bồ Tát.
Vì lợi chúng sinh tuyên dương hai mươi tám thiên.*

Tại Vô Lượng Quang Thiên, không ngờ tôi lại gặp được Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, đây thật sự là quá kỳ diệu, quá bất khả tư nghì. Ôi! Vạn tuế, vạn tuế, tôi thật quá vui mừng.


### 18. Bà Câm ở Quang Âm Thiên


Ngày xưa, tôi có một đệ tử mà chúng tôi gọi là Bà Câm, bởi vì bà ấy bị câm bẩm sinh, bà ấy bán bánh mưu sinh.

Mặc dù Bà Câm bị câm, nhưng tâm không câm, hiểu lễ Phật, cúng dường Phật, quy y tôi, sám hối nghiệp chướng của bản thân. 
Bà Câm không thể phát ra âm thanh trì chú, nhưng có thể niệm trong đầu, bà ấy trì chú niệm Phật liên tục không nghỉ. Bà Câm vì bị câm nên không có nhiều mối quan hệ xã hội, ngược lại chính điều này thúc đẩy bà ấy hễ rảnh rỗi là lại “ngồi câm”. 

Thấy người gặp khó khăn, bà không nói gì nhiều, lấy tiền tiết kiệm riêng của mình để cho người ta. Bà Câm viên tịch, hỏa thiêu ra xá lợi hạt, xá lợi hoa, sặc sỡ sáng chói. 

Còn tôi, ở Quang Âm Thiên, tôi đã gặp được Bà Câm. 
Thế nào là Quang Âm Thiên?
Quang Âm Thiên là cõi trời cao nhất của Nhị thiền, còn gọi là Cực Quang Tịnh Thiên, cõi trời này hoàn toàn không có âm thanh. Muốn biểu thị điều gì, từ trong miệng sẽ xuất ra ánh sáng, nhờ ánh sáng đại diện cho ngôn ngữ, cho nên mới gọi là Quang Âm Thiên.

Điều mà họ gọi là:
”Ngôn ngữ khẩu xuất, tịnh quang vô biên.”
”Quang Âm Thiên không có giác quan ngôn ngữ, khi muốn nói thì miệng xuất tịnh quang.”
Quang Âm thiên nhân có truyền thuyết hạ sinh ở nhân gian:
”Trời đất lúc mới khởi đầu, tất cả đều trống trơn, không có một thứ gì, cũng không có mặt trời mặt trăng, mặt đất tuôn ra suối ngọt, mùi vị như mật. Lúc ấy Quang Âm thiên nhân, hoặc có phúc đến kiếp sau, hoặc là người vui thích với vùng đất mới, tính đa phần là hơi nóng nảy, dùng ngón tay nếm thử, cứ như thế nhiều lần, thay đổi vị của nó, ăn mãi không ngừng, dần dần sinh ra bắp thịt, vì thế đánh mất màu sắc kỳ diệu của cõi trời và ánh sáng thần túc.”

🌟

Đến Quang Âm Thiên, không phải tất cả đều câm. Bà Câm là ngoại lệ. Tôi thấy Bà Câm vô cùng sung sướng. 
Tôi hỏi:
”Quang Âm Thiên có gì hay?”
Đáp:
”Cực tịnh.”
”Cực tịnh thế nào?”
”Vô phiền vô ưu.”
”Có niềm vui không?”
”Niềm vui vô lượng.”
”Không tranh giành?”
”Tự nhiên.”

Cuộc đối thoại giữa tôi và Bà Câm không phải là nói ra ngôn ngữ âm thanh, mà là trong miệng xuất ra tịnh quang. 
Ví dụ:
Cực tịnh - ánh sáng trắng tinh.
Vô phiền vô ưu - ánh sáng rộng lớn vô biên.
Niềm vui vô lượng - ánh sáng đỏ.
Tự nhiên - đỏ, trắng, vàng, kim, lục, v.v… nhiều màu sắc.
(Đây là những quang âm cơ bản nhất.)

Tôi phát hiện ra Quang Âm thiên nhân căn bản chính là những vòng tròn ánh sáng, giống như con người chúng ta thổi bong bóng vậy, bong bóng bay đầy trời, càng đẹp hơn nữa là những vòng ánh sáng muốn biểu thị lời nói thì ánh sáng sẽ biến ra rất nhiều màu sắc.
Rất thanh cao.
Rất đẹp đẽ.
Rất tráng lệ.

Rất nhiều người muốn biết làm sao tôi nhận ra Bà Câm trong số các vòng tròn ánh sáng đó. Chỉ bởi vì Bà Câm tạo ra vòng tròn ánh sáng đỏ, nhấp nha nhấp nháy, càng ngày càng nhanh, tôi liền biết rằng đó là người quen. Thế còn làm sao mà biết đó là Bà Câm, đó là nhờ vào tâm thức. Có thể dùng tâm thức tức là thần thông.

Tôi cảm thấy càng là thiên thượng giới càng cao thì âm thanh càng ít, càng là cõi trời dưới thấp thì càng ồn ào. 
Nhân gian thì ồn ào như cái chợ.
Tôi hỏi các thánh đệ tử, “thiền thất” của Phật giáo [thiền thất: dùng phương pháp tham thiền của Thiền tông để tọa thiền trong bảy ngày], vì sao phải cấm khẩu? Thử giải thích chi tiết xem, mọi người có thể viết luận văn đó. 


### 19. Thích Đại Hùng ở Thiếu Tịnh Thiên


Đệ tử của tôi Thích Đại Hùng sau khi viên tịch, quả tim của ông ấy không thiêu được, toàn thân thì hóa thành tro, nhưng còn quả tim thì không hóa được, điều này khiến giới tôn giáo kinh ngạc!

Có người nói: “Tâm nguyện của ông ấy chưa xong!”
Có người nói: “Nỗi lòng của ông ấy chưa được mở ra!”
Có người nói: “Đó là xá lợi tim.”
Tôi nói: “Đó là tâm vui.”

Thích Đại Hùng là một tăng nhân tu học pháp thiền, sau đó ông đến Seattle quy y tôi. Sau khi quy y tôi, mọi hành vi cử chỉ của ông sau đó tất nhiên là ông đều báo cáo hết với tôi, tôi rất ít gặp tăng nhân nào như vậy. Nói cách khác là, sau khi ông ấy nương dựa vào tôi làm sư phụ, một ngày là thầy, cả đời là cha, mọi hành vi của kẻ làm con đều lần lượt trình bày hết với sư phụ, không ngờ ông ấy nghiêm cẩn đến mức như vậy.

Pháp sư Đại Hùng là một tăng nhân giữ nghiêm giới luật, ông ấy từng nói thế này:
”Tăng nhân xuất gia tức là chịu quy định của giới luật, giới là quy định và sự hạn chế của hành vi mà tăng nhân trong cuộc sống thường ngày và trong pháp vụ tôn giáo nên tuân thủ.”
”Phật Đà chế định ra giới luật, tăng nhân tuyệt đối phải tôn trọng và tuân thủ, đó là việc đại sự số một của sa môn, xuất gia rồi, cả đời tuân thủ giới luật, giữ được giới luật thì mới có thể học kinh, học thiền, nắm bắt được nguyên lý của Phật giáo.”

Pháp sư Đại Hùng nói:
”Từ giới sinh định, từ định sinh huệ, đó là điều chí lý. Không có giới mà tu thiền định thì tất sẽ loạn!”
Pháp sư Đại Hùng còn nói:
”Không giữ giới luật mà tự nói là thiền định thì cũng là nói bậy!”
Pháp sư Thích Đại Hùng và lão hòa thượng Hư Vân là đồng hương, ông ấy cũng từng theo lão hòa thượng Hư Vân tham học.
Pháp sư Đại Hùng từng viết một bài “Thiền học tối thượng” mà tôi đã đăng trong cuốn sách “Đại chấn động của thiền”. 

🌟

Khi tôi tiến nhập vào Thiếu Tịnh Thiên của Tam thiền, vị đầu tiên đón tôi không ngờ lại là pháp sư Thích Đại Hùng. 
Thích Đại Hùng toàn thân tỏa ánh sáng, thiền ngữ bộc lộ kỳ diệu y như xưa, tinh tấn về giới hạnh, dẫn thẳng đến tịch diệt lạc, gọi là lạc cụ thiền.
Tôi hỏi:
”Ông ở Thiếu Tịnh Thiên ư?”
Pháp sư Đại Hùng đáp:
”Vâng.”
”Nhờ nhân duyên gì?”
Đáp:
”Nhờ giới luật, nhờ thiền định.”
”Có cảm nhận gì?”
Đáp:
”Tâm vui.”

Pháp sư Đại Hùng trả lời là “tâm vui”, không ngờ tình cờ trùng hợp với “tâm vui” mà tôi đã đoán. Tôi hỏi:
”Ở Tam thiền Thiếu Tịnh Thiên này đông loại người nào?”
Đáp:
”Đông tăng nhân nghiêm thủ giới luật, chỉ vì giữ giới nhập thiền, có được tâm lạc, vì thế sinh tại Thiếu Tịnh Thiên.”
”Có gì khác với đại lạc ở sáu cõi trời Dục giới?”
Pháp sư Đại Hùng đáp:
”Đại lạc ở Dục giới là cái lạc của thân, là cái lạc của cảm giác tiếp xúc. Còn cái lạc của Sắc giới Tam thiền là tâm lạc, là cái lạc thanh tịnh, hai cái lạc này khác nhau rất xa.”

Vì thế, tôi viết ra:
Dục thiên đại lạc - thân lạc - xúc lạc.
Sắc thiên Tam thiền - tâm lạc - tịnh lạc.
(Quả nhiên là khác nhau.)

Tịnh lạc của Sắc giới thiên là cái lạc thanh tịnh, vì thanh tịnh mà sinh ra ánh sáng, nhờ ánh sáng mà thanh tịnh, Thiếu Tịnh Thiên có ý nghĩa là đạt được một chút thiền định thanh tịnh.

Tại đây, tôi thử hỏi các thánh đệ tử, tôi Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn từ Nhị thiền thiên tiến nhập Tam thiền thiên, là nâng bồ đề minh điểm đến luân xa nào?
Luân xa này phát ra ánh sáng gì? 
Tôi lại có một câu hỏi, vì sao không giữ giới luật thì không thể nào dẫn tới thiền định? Thử thảo luận xem.


### 20. “Tâm lạc” không có cách nào nhận biết


Tôi đã đến Vô Lượng Tịnh Thiên, đây là cõi trời thứ hai của Tam thiền, lại gặp pháp sư Thích Đại Hùng ở đây, tôi cảm thấy hết sức kinh ngạc.

Tôi hỏi:
“Tôi ở Thiếu Tịnh Thiên gặp ông, sao ông cũng lại xuất hiện ở Vô Lượng Tịnh Thiên rồi, chuyện này là thế nào đây?”
Pháp sư Đại Hùng không nói gì, ra hiệu tôi hãy nhìn sau lưng ông ấy. Tôi vừa nhìn thì thất kinh.
Phía sau ông ấy có vô số, không thể suy đoán, không thể đo lường pháp sư Thích Đại Hùng. Con số ấy là trăm, nghìn, triệu,…
Tôi hỏi:
”Chuyện này là sao?”
Pháp sư Đại Hùng đáp:
”Nhất vị.”
Pháp sư Đại Hùng nói:
”Cái gọi là Vô Lượng Tịnh Thiên là chỉ cần tâm lạc tăng lên thì tịnh quang sẽ tăng lên, tâm và tâm tương thông, chuyển đến khi vô lượng không thể đoán biết, thì đó chính là Vô Lượng Tịnh Thiên.” 

Tôi nói:
”Khi tôi thiền định, đạt đến tọa vong, tự biết hư không vô lượng, vô biên vô bờ, cái gọi là tối tăm, hỗn độn, xa xăm. Khi tâm cực lạc thì cái lạc ấy cũng không có cách nào đo lường được, tất cả đều tịnh, tất cả đều lạc, kéo dài đến vô tận.”
Pháp sư Đại Hùng nói:
”Đó là Vô Lượng Tịnh Thiên!” - Lại nói thêm: “Tâm không thể đo lường, lạc cũng không thể đo lường, thế nhân không biết.”

🌟

Theo như tôi biết, đã đến Vô Lượng Tịnh Thiên rồi thì tự có thể chứng minh “nhất vị”. “Nhất vị” rất quan trọng.
Tôi quan sát ngược lại chính mình, tôi cũng là pháp sư Thích Đại Hùng. Điều này khiến tôi khá ngạc nhiên.
Tôi, bạn, người khác giống nhau.
Học, nghe, được, mất, chính, tà, sinh, hóa, sáng, tối, tinh, tế, huyền, ảo, xa xăm, u tối…
Giống nhau.
Tôi đã không thể đoán biết được tâm.
Tôi đã không thể đoán biết được lạc.

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người, cũng như nhân loại chúng ta, không có cách nào đoán biết vũ trụ lớn tới mức nào.
Không có cách nào đoán biết sinh từ đâu, chết đi về đâu.
Không có cách nào đoán biết chuyện của thiên thượng giới.
Không có cách nào đoán biết chuyện của tam ác đạo.
Không có cách nào đoán biết chuyện của tứ Thánh giới.
Không có cách nào đoán biết tâm của Thánh nhân.
Không có cách nào đoán biết lạc của Thánh nhân.

Vì thế, Thánh nhân Lão Tử nói:
”Đạo khả đạo, phi thường đạo, danh khả danh, phi thường danh, vô danh thiên địa chi thủy, hữu danh vạn vật chi mẫu, cố thường vô dục dĩ quan kỳ diệu, thường hữu dục dĩ quan kỳ kiếu. Thử lưỡng giả đồng xuất nhi dị danh, đồng vị chi huyền, huyền chi hựu huyền. Chúng diệu chi môn.” [Tạm dịch nghĩa: đạo mà có thể gọi được không phải là đạo hằng cửu, tên mà có thể gọi được không phải là tên hằng cửu. Không tên là gốc của trời đất, có tên là mẹ của muôn vật. Vì thế, thường cần không có dục để quan sát cái vi diệu ấy. Thường cần có dục để quan sát cái trong sáng rõ ràng. Hai cái này cùng một xuất xứ nhưng tên khác nhau, đều gọi là huyền diệu. Cái huyền bí của cái huyền diệu ấy chính là cửa của mọi điều huyền diệu.]

Con người thiên hạ đều biết tâm. 
Nhưng lại không biết tướng hình dài ngắn ra sao.
Con người thiên hạ đều biết lạc.
Nhưng lại không biết tướng hình dài ngắn ra sao.

Tôi đã đến Vô Lượng Tịnh Thiên, cuối cùng tôi đã hiểu bốn chữ mà năm xưa Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói: “Tịch diệt là vui.”

Tôi nói:
Thân không - quan kiến vạn vật.
Tâm không - cực lạc liên miên.

Chương sách này của tôi có lẽ có rất nhiều người không hiểu lắm, thật ra điều này cũng khó trách, bởi vì nấc thang của chư Thiên càng là tầng trên cao thì càng khó mà hiểu được, càng đi lên cao thì càng cách xa nhân gian, con ong cái kiến không biết chuyện nhân gian, nhân gian không biết chuyện trên trời, vốn dĩ là như vậy.

Ở đây tôi có hai câu hỏi:
Tâm là gì?
Lạc là gì?


### 21. Sự biến hóa của Biến Tịnh Thiên


Biến Tịnh Thiên là cõi trời cao nhất của Tam thiền, Thiên Chủ của Biến Tịnh Thiên tên gọi là Tịnh Trí, có bốn tay, cầm vỏ sò (ốc như ý), cầm pháp luân, cưỡi Kim Sí Điểu.

Trong Ấn Độ giáo, cõi trời này có tiếng tăm vang lừng, chính là thần Bảo Hộ. Thiên Chủ của cõi trời này hóa thân nhiều nhất, biến hóa đa dạng, quốc vương của nhân gian cũng có hóa thân của cõi trời này.

Theo như tôi biết:
Ấn Độ giáo cho rằng, Đại Phạm Thiên là thần Sáng Tạo, Đại Tự Tại Thiên là thần Hủy Diệt, còn Biến Tịnh Thiên là thần Bảo Hộ. Vì bảo hộ thiên hạ, trong hóa thân của họ, ngay cả Phật Đà Thích Ca Mâu Ni cũng trở thành một trong những hóa thân của Biến Tịnh Thiên.

Trong số nhiều hóa thân của Biến Tịnh Thiên, nổi tiếng có hơn mười vị, còn những truyền thuyết khác thì không thể đếm hết. 
Vì sao gọi là Biến Tịnh Thiên?
Tịnh lạc khắp nơi, quang minh vô tận, nên gọi là Biến Tịnh. 
Và thành tựu tịnh đức, hướng về tịch diệt làm niềm vui, nên gọi là Biến Tịnh. 

🌟

Tại Biến Tịnh Thiên, tôi gặp một đệ tử là Liên Hoa Vân Kỳ. Ở nhân gian anh ta mắc bệnh hiểm nghèo. Anh ta hỏi tôi:
”Sư Tôn từ đâu đến đây?”
Tôi đáp:
”Từ thiền định mà đến.”
Tôi hỏi ngược lại anh ta:
”Vì sao anh lại ở Biến Tịnh Thiên?”
Anh ta đáp:
”Từ sau khi quy y Sư Tôn, con sống trong một ngôi chùa nhỏ, ngôi chùa rất nho nhã thanh khiết, mỗi ngày con tu Chân Phật Mật Pháp chưa từng gián đoạn. Trong chùa có một tượng Phật nhỏ, cưỡi Kim Sí Điểu, con không biết tên của vị Phật đó.”
”Con đem tượng Phật nhỏ đó hỏi trụ trì, trụ trì cũng không biết tên ngài, cho phép con đem về để trong tịnh thất của mình, trong lòng con thích thú nên hay ngắm nhìn. Ở trước tượng Phật này, con tu Chân Phật Mật Pháp lâu ngày.”
”Bỗng dưng có một hôm, khi con đang tu pháp thì trông thấy tượng Phật nhỏ phóng quang, không lâu sau, cả tịnh thất đều là ánh sáng, con hơi hoảng hốt, không biết là có chuyện gì xảy ra.”
”Tiếp đó, con nghe thấy trụ trì gọi, trụ trì ở bên ngoài tịnh quang, âm thanh như tiếng muỗi kêu, tiếp theo là bố mẹ gọi, âm thanh như tiếng muỗi, anh chị em gọi, âm thanh như tiếng muỗi, con không đáp lại được.”
”Không lâu sau, Kim Sí Điểu phóng quang bay tới, con cưỡi lên lưng Kim Sí Điểu, thế là đã đến Biến Tịnh Thiên.”
”Sau đó, con mới biết mình đã thiền định tọa hóa, là Biến Tịnh Thiên Chủ đưa con đến Biến Tịnh Thiên. Đây là nơi chí lạc, cũng là sự cực lạc của tâm!”

Tôi hỏi:
”Anh có hối hận gì không?”
Anh ta đáp:
”Không, con thấy bố mẹ mình không tin Phật, sau này phải vào địa ngục (Na Lạc Già), anh cả trong nhà là Vân Ký, vì lừa đảo mà phải ngồi tù, anh chị em ở nhân gian rất đau khổ và âu sầu.”
Liên Hoa Vân Kỳ nói:
”Hy vọng Sư Tôn trở về nhân gian độ cho bố mẹ con thoát khỏi địa ngục, cứu anh trai Vân Ký của con được ra tù.”
Tôi gật đầu đồng ý.

Sau đó tôi xuất định.
Tôi thật sự đã thay bố mẹ của Vân Kỳ làm ba đàn Du già diễm khẩu, dạy họ cảnh giác với cõi u minh. 
Vân Ký sau khi ra tù cũng đến tìm tôi. Tôi hỏi:
”Anh là anh trai của Vân Kỳ?”
”Đúng vậy.”
Vân Ký nói:
”Tôi ở trong tù được em trai báo mộng rằng khi nào ra tù nhất thiết phải tìm Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn để quy y mới có hy vọng thăng thiên, vì thế tôi đặc biệt đến đây quy y tu pháp.”

Tôi cũng chỉ cho anh ta cách tu pháp ra sao, đồng thời ban quán đảnh quy y. 
Vân Ký tìm kiếm bức tượng Phật nhỏ cưỡi Kim Sí Điểu ở trong tịnh thất của Vân Kỳ, không ngờ cuối cùng đã tìm được. 

Bây giờ tôi có một câu hỏi xin hỏi thánh đệ tử, tu Chân Phật Mật Pháp có thể đến Biến Tịnh Thiên. Tôi hỏi, đến cõi trời đó là tốt nhất chăng?


### 22. Trong cõi Tứ thiền có nhiều đường rẽ


Căn cứ theo tôi tu tứ thiền bát định và trải nghiệm của tôi mà phân tích thì là như thế này:
1. Lục dục thiên - thân lạc (dục lạc).
2. Sơ thiền thiên - quảng thiện lạc.
3. Nhị thiền thiên - tịnh quang hỷ.
4. Tam thiền thiên - tâm lạc.
5. Tứ thiền thiên - xả.
6. Vô sắc giới thiên - không.

Từ Sơ thiền đến Tứ thiền, tôi thật sự đã rời bỏ dục lạc của sáu cõi trời Dục giới, cũng tức là đã rời bỏ ba thứ dục vọng lớn, đó là cái ham muốn nam nữ, ham muốn ăn, ham muốn ngủ. 
Sơ thiền đến Tứ thiền chỉ còn lại cái vui sướng (lạc) của thiền mà thôi.

Khi ở Sơ thiền, vì đã rời bỏ tất cả ái nhiễm, nên sẽ có được cái vui sướng (lạc) rộng lớn, tốt lành và uy đức. 
Khi ở Nhị thiền, tịnh quang xuất hiện, có sự vui sướng của tịnh quang.
Khi ở Tam thiền, vì tâm an ổn, công lực thiền định sâu, nên xuất hiện cái lạc của đại tâm. 
Khi ở Tứ thiền, thiền định càng sâu hơn, không còn hỷ lạc, chỉ còn mỗi xả. 

Nếu phân tích ngắn gọn:
1. 6 cõi Dục giới - đại lạc.
2. 18 cõi Sắc giới - tịnh quang.
3. 4 cõi Vô sắc giới - không.
(Tổng cộng là 28 cõi trời.)

🌟

Tôi phát hiện thấy cảnh giới càng cao thì nguy hiểm càng sâu. Tại cảnh giới xả của Tứ thiền thiên có những cạm bẫy, tôi cảm thấy chẳng có cái “hỷ” nào mà dựa vào, chẳng có cái “lạc” nào mà dựa vào, rất dễ cuồng loạn, đặc biệt là khi không mừng không vui, khi xả bỏ hỷ lạc, khiến người ta điên đảo.

Có một câu chuyện mọi người phải cảnh giác:
Vào thời Phật Đà, có một đệ tử tu tứ thiền định, vị tì kheo này tu đến Tứ thiền thì sản sinh ra tâm kiêu ngạo, tâm ngạo mạn tự đại, cho rằng mình đã lên tới đỉnh rồi. 
Vị tì kheo này ngộ nhận rằng:
Sơ thiền là quả Tu Đà Hoàn.
Nhị thiền là quả Tư Đà Hàm.
Tam thiền là quả A Na Hàm.
Tứ thiền là quả A La Hán.

Đến được Tứ thiền rồi, ông ấy cho rằng đã là cảnh giới cao nhất, nên không tinh tấn nữa. 
Khi “tì kheo Tứ thiền” này sắp chết, nhìn thấy Tứ thiền trung ấm đến, liền sinh ra tà kiến (dị sinh), tự nhận là căn bản không có niết bàn, là Phật Đà lừa gạt mọi người.
”Tì kheo Tứ thiền” phỉ báng Phật Đà, cho nên đánh mất Tứ thiền trung ấm, liền rơi vào địa ngục A Tì, lúc chết sinh vào địa ngục A Tì. 

Các đệ tử của Phật Đà hỏi Phật:
”Tì kheo Tứ thiền có công lực thiền định sâu, sinh về nơi nào?”
Phật đáp:
”Sinh vào địa ngục A Tì rồi.”
Các đệ tử tì kheo sửng sốt:
”Tì kheo Tứ thiền giữ giới rất nghiêm, công lực thiền định sâu, vì sao lại ở trong địa ngục A Tì?”
Phật Đà đáp:
”Tì kheo Tứ thiền này khi đắc Tứ thiền liền cho rằng đã đắc được bốn đạo bốn quả, đồng thời sự ngạo mạn nổi lên, sinh khởi tà kiến, bắt đầu nhục mạ Phật Đà là lừa người, căn bản không hề có niết bàn, ta đã đắc A La Hán, Phật Đà là kẻ lừa bịp vô căn cứ, do nhân quả này mà xuất sinh trong địa ngục A Tì.”

🌟

Từ câu chuyện này, chúng ta cần nhớ kĩ:
1. Không được ngạo mạn.
2. Không được tự nhận đã đắc Tứ thiền thì đã là A La Hán.
3. Không được khởi tà kiến.
4. Không được phỉ báng Thánh hiền tăng.

Tôi phát hiện ra, cho dù đã tu đến Tứ không định, tu đến đỉnh của 28 cõi trời là cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thì cũng không xem là đã đến đỉnh, những đường rẽ ở trong đó rất nhiều, cẩn thận là quan trọng.

Tại đây, tôi khuyên mọi người: “Chớ kiêu ngạo, ngộ nhỏ thì quả nhỏ, không được phỉ báng thầy!”


### 23. Tứ thiền bát định là pháp tu chung


Mặc dù tứ thiền bát định có đường rẽ, có cạm bẫy, có nguy hiểm, nhưng vẫn có lợi ích của nó.

Bất kể là nội hay ngoại đạo, chỉ cần là hành giả, thì tứ thiền bát định là một trong những phương pháp tu hành chung. Lấy Mật pháp để nói, cái gọi là thành tựu tam ma địa buộc phải là sau khi tu tứ thiền bát định mới có thể chứng minh được, đây cũng là sự thật không phải tranh cãi. 

Tu đắc và chứng minh được tứ thiền bát định có hai lợi ích lớn:
1. Vạn duyên đều dứt.
2. Định tính hiện tiền.
Theo kinh nghiệm của cá nhân tôi, tôi cho rằng tu thiền định, những lợi ích mà nó mang lại rõ ràng thật sự là nhiều vô số kể:

Đầy đủ tướng uy nghi nhất - tư thái của thiền định là hai chân ngồi thế hoa sen, hai tay kết ấn thiền định, người vươn thẳng, hai mắt nhìn mũi, mũi nhìn tim, từ sự nhất tâm đạt đến tọa vong. Kiểu ngồi này, sự uy nghi này là đầy đủ nhất.

Thuận theo đầy từ bi - người tu thiền định, ngoài có được tướng uy nghiêm ra, thì nội tâm cũng từ bi nhất, lấy hạnh từ bi làm điểm xuất phát, từ ngoài vào trong, nhất định phải chứng minh được tâm mềm mại nhất, vì tâm đã mềm mại nhất cho nên sẽ từ bi, sẽ thực hành từ bi.

Tiêu trừ phiền não của bản thân - người có phiền não thì thiền định không được. Tu tứ thiền bát định đòi hỏi dừng dứt mọi căn, điều kiện hàng đầu là mọi phiền não không sinh ra, từ trong sự vắng lặng hành giả mới có thể thiền định, ví dụ như tham, sân, si, v.v… chính là chướng ngại của tu thiền định, vì thế nhất định phải tiêu trừ phiền não của bản thân.

Là một cách bảo vệ - người tập Tứ thiền bát định, đối với sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý (còn gọi là lục tặc - sáu giặc), nhất định phải tự xem xét bản thân mà bảo vệ, cái đó gọi là giết lục tặc, đóng lại sáu cửa. Đây chính là bảo vệ sáu căn, khiến chúng không phóng túng buông thả.

Thiền duyệt [niềm vui của thiền định] thắng tất cả - tu tứ thiền bát định sẽ sản sinh hỷ, sản sinh lạc, chúng ta gọi là pháp hỷ, hoặc gọi là pháp lạc. Pháp hỷ, pháp lạc này vượt qua cái vui sướng của sắc, của ăn ngủ, v.v… của nhân gian thế tục. Do thiền duyệt của tứ thiền bát định nên nó vượt qua nhân gian, vượt qua cái lạc của sáu cõi Dục giới. 

Thiền duyệt thắng dục vọng - những ham muốn lớn của con người chẳng qua chỉ là ham mê tiền bạc, sắc đẹp, địa vị, ăn ngon, ngủ ngon. Có năm dục vọng lớn này thì không thể nhập thiền định được, chúng là chướng ngại lớn của thiền định. Để không làm cho tâm tán loạn, nhất định phải diệt trừ năm dục vọng lớn này. Và sức mạnh của thiền duyệt có thể khiến ngũ dục tự nhiên tiêu biến vô hình. Vì thế pháp thiền định chính là pháp rời xa mọi dục, rời xa ô nhiễm.

Thiền định đạt đến bất không - rất nhiều người cho rằng Tứ thiền bát định là “làm trống rỗng tất cả”, “không không không không không”. Tuy nhiên, trên thực tế, vẫn là “bất không”. Cá nhân tôi đã chứng minh lý thuyết bồ đề tâm và nhậm vận, vì thế tôi vẫn là bất không, cái logic này rất rõ ràng. Tu tứ thiền bát định không phải là đoạn diệt tướng.

Tu tứ thiền bát định có thể phá ma - ma chướng thông thường vốn rất lợi hại, những người tu hành đại bộ phận không thoát khỏi lòng bàn tay của Ma Vương. Và duy có người tu tứ thiền bát định, nhờ vào định tính này, mới có thể thành tựu A nậu đa la tam miểu tam bồ đề.

Thiền định an trụ trong Như Lai - có thể từ thiền định sản sinh ra trí huệ của Như Lai, vì có được trí huệ rồi mới có thể an trụ trong Như Lai, Phật huệ của Như Lai này chính là bát nhã, có được bát nhã rồi thì sẽ đắc đẳng giác, diệu giác.

Thiền định có thể đạt đạo giải thoát, đạo bồ đề - hôm nay tôi có thể xuất thế tại nhân gian, cắt đứt hết mọi chủng tử của tập khí, có thể tự chủ sinh tử, minh tâm kiến tính, tôi đã thành tựu niết bàn, đã viên minh Phật huệ. Pháp thân của tôi phổ chiếu mười phương, báo thân ở tại Sắc cứu cánh thiên, lợi lạc tất cả chúng sinh hữu tình, tôi phát nguyện không từ bỏ một chúng sinh nào, tôi đã thành tựu Phật đạo. Đây tức là tứ thiền bát định có thể đạt giải thoát, có thể chứng nghiệm Phật bồ đề.

Viết một bài kệ:

*Dục vọng của tôi, sợi sợi đã đoạn lìa
Mắt tai mũi lưỡi thân ý từng rời rạc chẳng thành chuỗi
Nay kết tinh thành những hạt ngọc trí huệ
Tự tay tôi xâu thành chuỗi*

*Những nấc thang tứ thiền bát định tôi bước lên từng bước
Đi từ bến bờ giác ngộ này đến bến bờ giác ngộ khác
Làm tan biến mọi cõi giới vào tâm
Tôi tiến nhập Tính Không cảnh giới
Từ đó bồ đề tâm trở nên vô tận, chẳng bao giờ dừng dứt.*


### 24. Cung Đại Phúc Kim Cang


Khi tôi tiến nhập vào cõi trời thứ nhất của Tứ thiền là Phúc Sinh Thiên, tôi bất ngờ phát hiện ra một bí mật lớn, bí mật lớn này khiến tôi kinh ngạc dị thường. 

Thì ra, Phúc Sinh Thiên và Đâu Suất Thiên có rất nhiều điểm tương đồng. 
Phúc Sinh Thiên ngoại viện - là nơi thiên nhân sống, thiên đại phúc báo vô lượng, nhưng cũng có thời hạn, khi đến lúc thì cũng đến đi trong lục đạo.
Phúc Sinh Thiên nội viện - là thiên đại phúc báo bất động địa, đại phúc vĩnh cửu, nội viện có cung Đại Phúc Kim Cang.

Ý tôi muốn nói rằng, Phúc Sinh Thiên có Phúc Sinh Thiên bình thường, và cũng có Phúc Sinh Thiên huyền bí vi diệu.
Phúc Sinh Thiên bình thường là cảnh giới của thiên nhân đại phúc.
Phúc Sinh Thiên huyền bí vi diệu là cảnh giới của Bồ Tát đại phúc. 

Tại cung Đại Phúc Kim Cang, tôi đã gặp vị Bí Mật Chủ là Kim Cang Tát Đỏa, điều này càng khiến tôi há hốc mồm vì kinh ngạc. 
Tôi hỏi:
”Kim Cang Tát Đỏa (Bồ Tát), vì sao ngài lại ở Phúc Sinh Thiên?”
Bồ Tát đáp:
”Vì xả!”
Tôi hỏi:
”Vì sao Phúc Sinh Thiên có cung Đại Phúc Kim Cang hào hoa tráng lệ như thế này?”
Bồ Tát đáp:
”Vì xả mà sinh phúc!”
Tôi không hiểu lắm nên hỏi:
”Tại cõi trời đầu tiên của Tứ thiền này, vì sao có Đại Bồ Tát cư ngụ, có thể vĩnh hằng không đọa?”
Bồ Tát đáp:
”Trong lục đạo, Địa Tạng Bồ Tát ở địa ngục có tịnh thổ Thúy Vi, Di Lặc Bồ Tát ở Đâu Suất Thiên có tịnh thổ Di Lặc, Bạch Mi La Hán ở nhân gian có tịnh thổ Thâm Mật, v.v… Thử hỏi, ở đâu không có tịnh thổ chứ?”
”Sao người đời không biết?”
Bồ Tát đáp:
”Vì là con mắt thô.”

Kim Cang Tát Đỏa (Bồ Tát) dẫn tôi vào trong cung Đại Phúc Kim Cang. Tôi vừa vào thì sửng sốt. 
Cung Đại Phúc Kim Cang đúng là sự huyền bí của trời đất biến hóa vô tận, không có cách nào dùng bút mực để miêu tả được.
Khí điều chuyển hàng nghìn hàng vạn.
Cao rộng dị thường.
Lộng lẫy hoa lệ, quang minh chính đại.
Siêu đẳng chưa từng có.

Tôi vừa bước vào chỉ biết rằng nơi đây chính là thần của tạo hóa, chính là tiên cảnh mộng huyễn, chính là ráng mây biến hóa kỳ ảo, chính là hoành tráng không gì bì kịp, chính là xuất sắc vô cùng, chính là tuyệt vời vô biên, thật sự khiến tôi không ngớt phấn khích!

Tôi hỏi Bồ Tát:
”Chủ nhân của cung Đại Phúc Kim Cang là ai?”
Bồ Tát đáp:
”Kim Cang Xả Bồ Tát!”
”Chưa từng nghe đến?”
”Ngài có thể xả không?” - Bồ Tát hỏi.
”Tôi có thể xả.”
”Ngài có thể thiền định không?” - Bồ Tát hỏi.
”Tôi có thể thiền định.”
”Ngài có thể kiên cố như kim cương không?” - Bồ Tát hỏi.
”Có thể.”
”Ngài chính là chủ nhân, Bí Mật Chủ của cung Đại Phúc Kim Cang.” - Bồ Tát nói.
Tôi hỏi:
”Chủ nhân của cung Đại Phúc Kim Cang chẳng phải là Kim Cang Tát Đỏa, Kim Cang Thủ, Kim Cang Tâm sao?”
”Ngài là Bí Mật Chủ, ta cũng là Bí Mật Chủ.” - Bồ Tát nói.
Tôi đại ngộ.

Ở Phúc Sinh Thiên, tôi đã phát hiện ra rất nhiều bí mật, những bí mật này tuyệt đối không phải là những gì mà người tu hành bình thường có thể biết được. Tôi thấy, chỉ có hành giả tu tứ thiền bát định, đến được Phúc Sinh Thiên rồi thì mới có thể biết được, còn không thì có lẽ cũng không chắc đã hiểu được.

Tại đây, tôi xin hỏi thánh đệ tử, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn tại Phúc Sinh Thiên phát hiện ra bí mật, xin hỏi bí mật lớn nhất rốt cuộc là bí mật gì?


### 25. Tìm hiểu về thiên nhân ở Phúc Ái Thiên


Cõi trời thứ hai của Tứ thiền gọi là Phúc Ái Thiên. Thiên nhân ở cõi trời này có thể xả, biết thanh tịnh, vì thế có được đại phúc vô thượng, đại phúc của họ cũng rất dài lâu.

Cái gọi là xả ở đây là khổ lạc đều có thể xả, đã đạt đến cảnh giới không khổ không vui. Cái gọi là thanh tịnh ở đây là ngay cả đến niệm thanh tịnh cũng xả bỏ, có thể nói là vô tịnh vô cấu.

Tôi đã đến cõi trời thứ hai của Tứ thiền - Phúc Ái Thiên, gặp một vị là Liên Hoa Trọng Quân. Ông ấy vốn là Đạo gia, sau đó quy y tôi, học cách quán chữ “Ah”, nhưng chưa xả bỏ công pháp Đạo gia, tu thiền nhập định. Sau khi Liên Hoa Trọng Quân viên tịch đã đến cõi trời thứ hai của Tứ thiền.

Ông ấy nói với tôi Đạo gia tu pháp Nguyên Quân:
”Nhất thân chi chủ tâm nguyên quân của toàn thân, tả hữu Thanh Long Can Nguyên Quân, hữu hữu Bạch Hổ Phế Nguyên Quân, tiền hữu Chu Tước Thận Nguyên Quân, hậu hữu Huyền Vũ Khổng Nguyên Quân, Hảo Dật Hảo Lạc Tì Nguyên Quân, Hảo Du Hảo Đãng Hồn Nguyên Quân, Hảo Động Hảo Tĩnh Phách Nguyên Quân, minh chi vu Mục Nhãn Nguyên Quân, thính chi vu Thanh Nhĩ Nguyên Quân, văn chi vu Vị Tì Nguyên Quân. Hiếu Thị Hiếu Phi Khẩu Nguyên Quân, Hiếu Thiện Hiếu Ác Thiệt Nguyên Quân, tam thập lục bộ Xỉ Nguyên Quân, Sơn Lâm Thụ Mộc Phát Nguyên Quân, Cửu Giang Bát Hà Tràng Nguyên Quân, Ngũ Hồ Tứ Hải Can Nguyên Quân, Tào Khê Lộ Thượng Quan Nguyên Quân, Ngũ Tạng Cung Trung Đảm Nguyên Quân, Năng Phù Năng Thanh Thủ Nguyên Quân, Năng Trầm Năng Trọc Túc Nguyên Quân, Hảo Hòa Hảo Hợp Ý Nguyên Quân, Thái Cực Vị Phán Hỗn Nguyên Quân, Phụ Mẫu Vị Sinh Khí Nguyên Quân, Bát Vạn Tứ Thiên Mao Nguyên Quân, Nguyên Tinh Nguyên Khí Nguyên Thần Quân. Ngô thân sở thuộc tận quy chân, luyện khí vi thần bạt đoạn nghiệp căn, siêu xuất thiên ngoại tràng nhập hư không, hữu nạn tức hộ, hữu sự lai trình, như ý biến hóa, ứng hậu lai lâm. Ngô phụng Thái Cực Thượng Đế luật lệnh.”

🌟

Ông ấy nói:
”Tu pháp Nguyên Quân cũng tương đương với pháp thanh tịnh.”
Tôi nghĩ một lúc rồi nói:
”Pháp này tương đương với nội thời luân của pháp Thời luân trong Mật giáo, cũng tương đương với mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của Phật gia. Đóng lục tặc lại thì cũng tương đương với thanh tịnh rồi.”
Tôi hỏi ông ấy:
”Có thể xả không?”
Ông ấy đáp:
”Đóng lại tức là xả!”
”Khổ lạc thì sao?”
”Không khổ không vui.”
Tôi hỏi Liên Hoa Trọng Quân:
”Thiên nhân đến cõi trời thứ hai của Tứ thiền đều là tu pháp Nguyên Quân sao?”
Ông ấy đáp:
”Không phải, Đạo gia có rất nhiều phương pháp tu tinh, khí, thần. Tôi tu pháp Nguyên Quân, cộng thêm tu quán chữ Ah, thế là đến được cõi trời thứ hai của Tứ thiền. Tôi cho rằng Phúc Ái Thiên này đã là đỉnh cao nhất rồi, lên cao nữa thì không còn nữa.”
Tôi nói:
”Thiên kiến. Cảnh giới của Phật, Bồ Tát, A La Hán vẫn còn chưa đến cơ mà!”
Liên Hoa Trọng Quân nói:
”Thiên nhân ở Phúc Ái Thiên cho rằng cõi trời này đã đến đỉnh rồi, cho dù có đi lên nữa thì chỉ có Quảng Quả Thiên và Vô Tưởng Thiên, Quảng Quả Thiên cũng là quả mà Phúc Ái thiên nhân đắc thắng được. Vô Tưởng Thiên toàn là Phúc Ái thiên nhân đang ngủ ở đó, hễ ngủ thì là nửa kiếp, hễ tỉnh thì cũng là nửa kiếp, ngủ hay tỉnh thì đều vô tưởng, cho nên tôi không muốn lên cao tiếp nữa. Phúc Ái Thiên này đã là cảnh giới cao nhất rồi.”
Tôi hỏi:
”Quảng Quả Thiên có ai ở đó?”
”Hòa thượng Quảng Hóa.”
Tôi hỏi:
”Vô Tưởng Thiên có ai ở đó?”
”Chân nhân Trần Hy Di.”
Tôi hỏi:
”Họ ở đó làm cái gì?”
Liên Hoa Trọng Quân đáp:
”Ăn không ngồi rồi.”

Tôi nói ra đại ngộ của mình, thì ra nhập vào cõi trời thứ hai của Tứ thiền có hiện tượng “ngoan không” [cố chấp vào cái Không] xuất hiện. Nhập vào cảnh giới này chính xác là đường rẽ, trụ mãi trong cõi trời này dù sống cũng như chết, dù có phúc lớn nhất cũng không thể lợi người lợi trời, thiên nhân kiểu này chẳng phải là rác rưởi sao?


### 26. Quảng Quả Thiên khiến người ta kinh ngạc


Tôi đã đến Quảng Quả Thiên - cõi trời thứ ba của Tứ thiền. Tôi giật nảy mình, thì ra nơi đây giống như chợ bán thức ăn. Ý tôi nói chợ bán thức ăn là vì con người nơi đây thật sự rất đông, thì ra tiên nhân đều ở cõi trời này. 

Tôi nhìn thấy những tiên nhân trong khu rừng khổ hạnh thời đại Phật Đà - tiên nhân Bạt Già ở Quảng Quả Thiên. 
Tôi cũng nhìn thấy tiên nhân A La La Già ở thời đại Phật Đà cũng đang ở Quảng Quả Thiên.
Tôi lại nhìn thấy tiên nhân Già Lan ở thời đại Phật Đà ở Quảng Quả Thiên. 

Ở Quảng Quả Thiên còn có:
1. Phú Lan Na Già Diệp.
2. Mạt Già Lê Câu Xa Xa Lê.
3. San Xà Dạ Bì La Tri.
4. A Kì Đa Sí Xả Khâm Bà La.
5. Già La Cưu Đà Ca Chiên Diên. 
6. Ni Lô Đà Nhã Đề Tử.
Vân vân.

Hầu hết những tiên nhân tu khổ hạnh thời đại Phật Đà đều đến Quảng Quả Thiên. Nhà cửa ở Quảng Quả Thiên là cung điện, thất bảo trang nghiêm. 

Những tiên nhân này khi còn ở nhân gian, họ bỏ ăn, bỏ mặc cho chết, bỏ thân, bỏ y áo, bỏ miệng, bỏ người, tức là tự bỏ đói, quăng mình xuống vách núi, đi vào lửa, lõa thể, không nói, học làm trâu chó… Những tiên nhân này ở nhân gian tu khổ hạnh, đắc được quả thù thắng, kết quả là họ đều sống tại Quảng Quả Thiên. 

Tôi đi qua mấy tòa cung điện lớn, phát hiện ra không có tiên nhân nào cư trú. Tôi hỏi thăm hòa thượng Quảng Hóa:
”Những cung điện này là…?”
Hòa thượng Quảng Hóa đáp:
”Những cung điện trống này là đợi một số người tự xưng là tu hành giả đến để an cư.”
”Ai cơ?”
Hòa thượng Quảng Hóa nói:
”Gian này là Hình đại sư sẽ đến ở, gian kia là Vi đại sư sắp đến ở. Gian tiếp nữa là Chân đại sư sắp đến ở, còn gian kia nữa đang chờ Thắng đại sư sắp đến ở.”

Miệng tôi há hốc. Hòa thượng Quảng Hóa nói:
”Họ đều sống tại Quảng Quả Thiên.”
Tôi hỏi:
”Còn những người khác?”
Hòa thượng Quảng Hóa nói:
”Còn có ba đệ tử nhà tục nữa, đều xưng là số một. Một người chính là cư sĩ Thỉ, một người là cư sĩ Chí. Còn một người là nữ cư sĩ Khinh, họ đều sống tại Quảng Quả Thiên. 
Tôi nghe xong thì suýt ngất xỉu. 
”Vì sao lại như vậy?”
Hòa thượng Quảng Quả nói:
”Những người xuất gia hoặc cư sĩ tại gia này đều có phúc đức, cũng có xả niệm, đáng tiếc là họ đều chấp vào nhất đế trong đó, không thể chứng nhập cái huyền bí vi diệu của Phật, vì tu chứng nhưng trụ lại, nên đều đến Quảng Quả Thiên.”
”Ông đã hiểu được đạo lý này, vì sao ông cũng lên ở Quảng Quả Thiên này?”
”Vì nói xấu ngài!”
”Tôi?”
”Vì tôi phỉ báng ngài, cho nên tôi cũng lưu lại Quảng Quả Thiên.”
Tôi hỏi hòa thượng Quảng Hóa:
”Gần đây tôi có một đệ tử cũng phỉ báng tôi, không biết tương lai người này sẽ thăng về cõi trời nào?”
Hòa thượng Quảng Hóa cười:
”Người đó à! Người đó thì chẳng có cõi trời nào cả, căn bản đó là một người thế tục, phạm nghiệp chướng rất sâu, có mà đi ăn đồng ăn sắt. Địa ngục có phần, thiên đường vô danh.”
”Quảng Quả Thiên cũng không phải dễ mà lên được như vậy, tiên nhân ở nơi này toàn là các hành giả chân tu, thiền định lại có thể xả, chỉ là lúc sinh thời, họ bám chấp vào dị đế, tự cho rằng đó là đệ nhất nghĩa đế, cho nên mới sinh tại Quảng Quả Thiên tối thắng quả này.”

Tôi hỏi mọi người, các thánh đệ tử, mọi người đoán thử, người được ẩn danh trong bài viết này là ai?


### 27. Vô Tưởng Thiên khiến người ta hoang mang


Tôi đã đến Vô Tưởng Thiên - cõi trời thứ tư của Tứ thiền. Lúc này, tôi hoang mang rồi, tôi mê muội rồi.

Tôi đã gặp được chân nhân Trần Hy Di, chân nhân Tôn Tư Mạc, chân nhân Uyên Tĩnh, v.v… 
Chân nhân (thiên nhân) ở Vô Tưởng Thiên, tôi cho rằng họ ở trạng thái “bán niết bàn”, bởi vì họ cho rằng mình đã đạt đến đỉnh rồi, cho rằng đó thật sự là niết bàn rồi, cho rằng đó là tịnh thổ Thường Tịch Quang rồi.

Thiên nhân ở nơi đây đều cho rằng Vô Tưởng Thiên là đỉnh trời cao nhất vô thượng, lên cao hơn không còn gì nữa. 
Họ giống như chết!
Họ ngủ rất sâu, một khi đã ngủ là nghìn nghìn vạn vạn năm, hễ ngủ là hết năm trăm đại kiếp. 
Họ giống như cây khô!
Họ giống như tro nguội!
Tâm của họ đều tắt rồi!
Họ - tất cả đều không có!
Họ - tất cả đều trống rỗng!
Khi ngủ thì như chết, khi tỉnh thì như cái xác không hồn. 

Trong kinh điển Phật có ghi chép:
Tại nhân gian kiếp này tu Vô tưởng định, sau khi chết sẽ thăng lên Vô Tưởng Thiên, vô tưởng định là nhân, Vô Tưởng Thiên là quả. 
Thiên nhân của Vô Tưởng Thiên chán ghét khổ chán ghét lạc, chuyên tu pháp Xả tâm, cho đến khi đạt đến thân tâm đều diệt, chứ không phải là không sinh không diệt. Hiện tượng này sẽ là nửa chết nửa sống, chết 500 kiếp, sống 500 kiếp, chết giống như ngủ mà sống thì như chẳng có gì.
Họ chán ghét mọi thứ có.
Họ yêu say đắm vô tưởng, nên sinh tại Vô Tưởng Thiên. 

🌟

Cá nhân tôi cho rằng, cái gọi là cảnh giới “ngoan không” cũng chính là hiện tượng này.

Tôi đã gặp Trần Hy Di (tiên nhân Trần Bác), ông ấy đang ngủ một giấc dài 3000 năm. Người ngủ ngắn là 500 năm. Tôi thu thập được một bức tranh Hoa Sơn khi Trần Hy Di đang ngủ say. Trên đó đề:
”Để chữa bệnh hư hao tinh lực, đầu gối lên tay phải, tay trái nắm lại để ở bụng, đưa lên đưa xuống ma sát với chân phải. Tại ống quyển nhỏ bên dưới, chân trái đè lên chân phải, dồn tư tưởng xuống dưới, điều chuyển hơi thở để tập ngủ, thu vào 32 hơi khí. Ở bụng cũng như vậy, vận khí 12 hơi, làm như vậy lâu ngày thì bệnh tự khỏi.”

Tôi lại thu thập được bức tranh tổng hợp bí quyết Hoa Sơn 12 thụy công:
”Hàng long phục hổ, phụ trợ luyện hồn phách, điều hòa chân khí, biến hóa âm dương, âm dương gặp nhau lặp đi lặp lại, tĩnh dưỡng hỏa hầu, cố thủ lò đỉnh, luyện thành linh bảo, nhốt trói lại vượn mã [kiểm soát suy nghĩ tán loạn]...

Tôi cảm thấy thụy công pháp Hoa Sơn của tiên nhân Trần Hy Di chẳng hề quá đáng, nhưng vì sao lại đến Vô Tưởng Thiên?
Tôi hỏi:
”Trần tiên nhân, vì sao dừng lại ở Vô Tưởng Thiên?”
Trần đáp:
”Tất cả mộng huyễn, tu mọi không, không còn mọi tưởng, nên đến Vô Tưởng Thiên.”
”Thế còn Hoa Sơn thụy công?”
”Từ có đến không.”
”Sao không tiến tiếp?”
Trần đáp:
”Ngay cả tiến tiếp cũng không nghĩ đến!”
”Vô Tưởng Thiên thế nào?”
”Cũng chẳng thế nào cả!”
”Ngủ dài 3000 năm thế nào?”
”Cũng chẳng thế nào cả!”

Tôi muốn hỏi tiếp, nhưng Trần Hy Di đã nằm xuống, nhập vào trong vô tưởng mộng, khi tỉnh dậy, không biết nhân gian đã là triều đại nào rồi.

Tôi hết sức hoang mang:
Tu hành tu đến khi tất cả đều trống rỗng, tất cả đều không, tất cả đều là mộng, tất cả đều là huyễn, tất cả vô vi, tất cả ngủ sâu, rốt cục có lợi ích gì? Có lợi ích gì chứ?

Tại đây, thử hỏi thánh đệ tử, đến Vô Tưởng Thiên, bạn có thể nghĩ cái gì?


### 28. Có phiền não tức là vô phiền não


Diêu Trì Kim Mẫu nói với tôi:
”Trên đời này, phàm phu thế tục bình thường, đối với tất cả tai nạn trên đời, đủ loại khổ nạn mà mình phải chịu, đều hết sức lo sợ, cho rằng không có tai họa mới là hạnh phúc.”

Diêu Trì Kim Mẫu nói:
”Liên Sinh Thánh Tôn, kể từ khi ngài học Phật đến nay, chẳng phải là ngày nào cũng hô lên “đẩy lùi tất cả tai nạn” sao? Và tất cả tai nạn có thể đã từng được đẩy lùi, nhưng tai nạn của ngài, cơn sóng này chưa qua, cơn sóng khác đã ập tới, có khi ba, bốn cơn sóng cùng ập đến, khiến ngài đau khổ không thể chịu nổi!”
Tôi nói:
”Đúng vậy!”

Diêu Trì Kim Mẫu nói:
”Trong pháp nhãn của Bồ Tát Đại thừa, biết rằng, trí huệ không phân biệt hiểu rằng mọi pháp đều không. Thế nào là mọi pháp đều không? Cũng tức là tất cả tai nạn cũng không phải là tất cả tai nạn, tất cả khó khăn cũng không phải là tất cả khó khăn, tất cả chướng ngại cũng không phải là tất cả chướng ngại, tất cả phiền não cũng không phải là tất cả phiền não.”

Diêu Trì Kim Mẫu nói:
”Hành giả nhị thừa sợ tai nạn phiền não giống như sợ rắn độc thú dữ vậy, chỉ muốn pháp thanh tịnh, tu đến cuối cùng, trở thành thiên lệch về không, khô, tịch. Còn Bồ Tát Đại thừa hợp ánh sáng lẫn với bụi trần, tương đồng với phiền não của phàm phu, nhưng hiểu rõ trí huệ Không, phiền não tức phi phiền não, phiền não và bồ đề không phải là hai tính!”

Tôi nói:
”Bát nạn là vô nạn!”
”Khổ tức phi khổ!”
”Phiền não tức phi phiền não!”

Diêu Trì Kim Mẫu nói:
”Phật pháp vốn không chấp hai, như vậy, mọi pháp của mười pháp giới, tri kiến tất cả tự mình giải thoát, trong giải thoát cũng là không giải thoát, không phải thật, cũng không phải là giả.”

Tôi nghe xong thì đại ngộ. Thế là, tôi tiến nhập Vô Phiền Thiên của Ngũ Bất Hoàn Thiên, đây là cõi trời thứ năm của Tứ thiền, cõi trời này, bốn cõi trời trước của Tứ thiền, đều không nhìn thấy. Bên dưới Ngũ Bất Hoàn Thiên này, bốn cõi trời Tứ thiền là không nhìn thấy được, đó là cửu phẩm tập khí toàn bộ diệt tận, khổ lạc cùng quên, trụ trong tâm xả, an lập chỗ ở.

Ngũ Bất Hoàn Thiên đều là nơi ở của Thánh nhân.
Dưới Ngũ Bất Hoàn Thiên, có phàm phu tu định, có Thánh nhân tu định, dù cùng là xả cụ thiền, nhưng Thánh hiền biệt tu tịnh lự, cho nên mới vào Ngũ Bất Hoàn Thiên. 

Tôi thấy Vô Phiền Thiên - cõi thứ nhất trong Ngũ Bất Hoàn Thiên là như thế này:
*Vô thượng Thánh giả thiền định địa
Diệu cảnh nơi ấy ít người hay.*
Khắp nơi đều là khói ráng, khắp nơi đều là mây lành, khắp nơi đều là ánh sáng cát tường, khắp nơi đều là ánh sáng thanh tịnh, khắp nơi đều thơm tho, khắp nơi đều dễ chịu. 
Toàn là đạo đức, toàn là kim đơn, toàn là quang hoa, toàn là Thánh quả, toàn là Thánh nhân, toàn là hiền nhân. (Ở đây chỉ cảnh giới thiền định.)

Vô Phiền Thiên này có ý nghĩa là ý vui, không có mọi phiền não, không có mọi phiền não này là nói đến quán phá vỡ tất cả phiền não, hóa tất cả phiền não thành không phiền não.

Tôi gặp một thiên nhân ở Vô Phiền Thiên. Tôi hỏi:
”Tôn tính đại danh là gì?”
Thiên nhân đáp:
”Tôi là Liên Bình đệ tử của Liên Sinh Thánh Tôn!”
”A! Sao anh lại ở đây?”
”Tôi hiểu thấu phiền não tức là ý nghĩa của bồ đề! Vì thế mà sống ở Vô Phiền Thiên. Tôi vốn bị bệnh tật giày vò rất lâu, bởi thế mà thấu hiểu.”
”Sau khi thấu hiểu phiền não thì thế nào?”
Đáp:
”Bất động vô vi.”

Tại đây, tôi muốn hỏi thánh đệ tử, cái gọi là “bất động vô vi” chẳng lẽ không phải là không cố gắng làm một việc gì sao? Nếu không phải là không cố gắng làm một việc gì, vậy thì là làm cái gì? Thử trả lời bằng hai chữ xem sao.


### 29. Tự biết chúng sinh đều là chữ “Hum”


Phật Thích Ca Mâu Ni ngộ đạo dưới gốc cây bồ đề. Lập tức ngài muốn nhập niết bàn. Vì sao?
Phật nói:
”Ta đã chứng pháp thậm thâm vi diệu, tối cực tịnh tĩnh, khó thấy khó ngộ, không phải là điều mà tư duy phân biệt có thể hiểu được, duy có Chư Phật mới có thể biết, vì vậy ta im lặng.”
Đại Phạm Thiên Vương khuyên thỉnh Phật Đà thuyết pháp:
”Quán chúng sinh trên đời, phần nhiều là hạng ngoại đạo, sống khắp nơi trong đất nước lửa gió không khí, nhìn thấy tà kiến lại cho là chính đạo. Nhưng những chúng sinh ấy, dù tu tà đạo, có người nên độ thì nay cần độ. Chỉ mong Thế Tôn vì những chúng sinh này mà chuyển pháp luân.”
Sau đó, nhờ Đại Phạm Thiên Vương khuyên thỉnh mà Phật Thích Ca Mâu Ni mới thuyết pháp chuyển pháp luân.

Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp 49 năm. Cuối cùng ngài nói:
”Tu Bồ Đề, ông chớ bảo rằng Như Lai có làm, ta xem mọi thuyết pháp của mình như chưa từng thuyết pháp, là vì sao? Nếu có người nói Như Lai có thuyết pháp tức là phỉ báng Phật.”
”Người thuyết pháp, không pháp nào có thể nói, thì gọi là thuyết pháp.”
Tôi hỏi mọi người:
”Vì sao không pháp nào có thể nói?”

🌟

Khi tôi đến Vô Nhiệt Thiên - cõi trời thứ năm của Tứ thiền. tôi đã hoàn toàn hiểu thấu hai vấn đề này.
Sư phụ của tôi Thubten Dhargye viết cho tôi một bài kệ, trong đó có một câu là: “Tự biết chúng sinh đều là chữ Hum.” 
Tôi hỏi:
”Nghĩa là gì?”
Sư phụ đáp:
”Tự mình tìm hiểu đi!”

Sau này, tôi ngộ ra, ý nghĩa của pháp sinh, tất cả đều là do Phật hóa sinh, không có quan hệ gì đến những thứ bẩn thỉu ở thế gian, hoàn toàn tự pháp sinh ra, hiểu được điều này thì sẽ đến được Vô Nhiệt Thiên.

Tôi ở trong Vô Nhiệt Thiên của Ngũ Bất Hoàn Thiên gặp một đệ tử, pháp danh của người này là Liên Hoa Thiết Vận. Tôi nói:
”Anh ở đây à?”
Anh ấy đáp:
”Rời xa nóng giận, chỉ có một mình!”
Tôi hỏi:
”Vì sao rời xa nóng giận?”
Thiết Vận đáp:
”Tự biết chúng sinh đều là chữ Hum.”
Ha! Ha! Ha!
Hiểu rồi.
Vì sao Phật không thuyết pháp?
Vì sao Phật nói ngài không hề thuyết pháp?
Đáp án chính là: “Tự biết chúng sinh đều là chữ Hum.”

🌟

Liên Hoa Thiết Vận là một đệ tử Chân Phật Tông kiền thành, tu pháp không gián đoạn, sau khi viên tịch, anh ta tự biết sẽ được A La Hán tiếp dẫn, dạy anh:
”Vô sinh.”
”Ứng cúng.”
”Sát tặc.”
”Cắt đứt 81 loại suy nghĩ nghi hoặc của tam giới.”
Vì ngộ ra “tự biết chúng sinh đều là chữ Hum” nên anh đến Vô Nhiệt Thiên.

Giờ đây:
Liên Hoa Thiết Vận ở tại Ngũ Bất Hoàn Thiên, dần dần đoạn tuyệt với 72 loại tư tưởng nghi hoặc của tám địa Sắc giới và Vô sắc giới, sau này chắc chắn sẽ tu thành chính quả A La Hán.

Tại Vô Nhiệt Thiên, tôi đã ngộ ra, chúng sinh đều có thể thành Phật, cho nên, tôi từng nói thế này, đừng sợ, chúng sinh đều có thể thành Phật, bởi vì chúng sinh đều do Phật hóa ra. 
Bạn đã hiểu chưa?


### 30. Hằng kiến Phật tính đến Thiện Kiến Thiên


Thiện Kiến Thiên là gì?
Đáp:
”Thập phương thế giới
Diệu kiến viên trừng
Hằng kiến Phật tính
Chương hiển quả vị.” 

Ở đây, tôi nói một công án trước:
Đời Tần, thiền sư Bạt Đà hỏi thầy Sinh Pháp:
”Ông giảng kinh luận gì?”
Thầy Sinh Pháp đáp:
”Kinh Đại Bát Nhã.”
Thiền sư hỏi:
”Yếu nghĩa của Sắc Không là gì?”
Thầy Sinh Pháp đáp:
”Những thứ nhỏ bé tụ lại gọi là Sắc, những thứ nhỏ bé không có tự tính gọi là Không.”
Thiền sư hỏi:
”Những thứ nhỏ bé không tụ lại, thì được gọi là gì?”
Thầy Sinh Pháp ngẩn ra không trả lời được. 

Bây giờ tôi hỏi thánh đệ tử:
”Những thứ nhỏ bé không tụ lại, thì được gọi là gì?”
Mọi người có biết không?

🌟

Lúc này, thiền sư Bạt Đà cầm gậy như ý lên, hỏi:
”Còn nhìn thấy không?”
Thầy Sinh Pháp đáp:
”Thấy.”
Thiền sư lại hỏi:
”Thấy cái gì?”
Thầy Sinh Pháp đáp:
”Thấy gậy như ý trong tay thiền sư.”
Thiền sư quăng gậy như ý xuống đất hỏi:
”Thấy không?”
Thầy Sinh Pháp đáp:
”Thấy.”
Thiền sư hỏi:
”Thấy cái gì?”
Thầy Sinh Pháp đáp:
”Thấy gậy như ý trong tay thiền sư rơi xuống đất.”
Thiền sư quở trách thầy Sinh Pháp:
”Ta thấy kiến giải của ông chưa vượt qua hạng người bình thường, làm sao lại lấy cái tên vang động vũ trụ, hưởng đại danh này chứ.”
Thiền sư phủi áo bỏ đi.

🌟

Phần thứ hai hỏi đáp về gậy như ý này, câu trả lời của thầy Sinh Pháp theo hạng người bình thường. 
Thế nào mới là theo hạng Thánh nhân?
Tại đây, tôi xin mời Thánh tử trả lời. 

Gợi ý quan trọng: 
Xin hãy nghĩ về chữ “nhân”.
Đừng nghĩ về chữ “quả”. 

Như vậy, cái kiến của bạn, là hằng kiến, nếu như ngộ được điều này, chắc chắn nhập vào Thiện Kiến Thiên của Ngũ Bất Hoàn Thiên. 

🌟

Tôi ở trong Thiện Kiến Thiên của Ngũ Bất Hoàn Thiên, gặp một đệ tử Chân Phật Tông là Liên Hoa Truyền Chính. Tôi hỏi:
”Sao anh lại ở đây?”
Đáp:
”Hằng kiến.”
Hỏi:
”Hằng kiến cái gì?”
Đáp:
”Bản lai diện mục.”
”Hiểu rõ không?”
”Hiểu rõ.”
”Thế nào là hiểu rõ thật?”
Đáp:
”Tùy hữu.”

Liên Hoa Truyền Chính tu Tứ thiền bát định, đã đắc vô lậu trí, có được chính thụ lực, đã kiến chứng Phật tính, cho nên sống tại Thiện Kiến Thiên của Ngũ Tịnh Cư Thiên. 

Bây giờ tôi hỏi thánh đệ tử, bạn có thể hằng kiến không? Hằng kiến cái gì?


### 31. Tôi đã đến Thiện Hiện Thiên


Tu hành Mật giáo, chúng ta bắt đầu từ thấy ánh sáng minh điểm, cho đến khi ánh sáng minh điểm trở thành một chuỗi kim cương, tiếp theo là nhiều chuỗi kim cương biến thành một tấm màn kim cương.

Hành giả Mật giáo từ trong tấm màn kim cương nhìn thấy Phật quốc tịnh thổ hiện lên.
Hành giả Mật giáo từ trong tấm màn kim cương nhìn thấy Phật hiện lên.
Hành giả Mật giáo cho rằng: đây là thiện hiện. [hiện lên điều tốt lành]

Vào lúc 25, 26 tuổi, tại Ngọc Hoàng Cung, tôi đã được Diêu Trì Kim Mẫu mở thiên nhãn. Sau đó tôi:
Nhìn thấy tiền kiếp. (Liên Hoa Đồng Tử)
Nhìn thấy tịnh thổ.
Nhìn thấy Phật.
Đó cũng là thiện hiện.

Một người tu hành, trong Tứ thiền bát định, tất cả chướng ngại trừ bỏ hết, tiến vào cảnh giới cực vi diệu, hiển hiện Phật quốc tịnh thổ trong suốt không gì sánh bằng, hiển hiện tinh kiến [thấy được những thứ tinh hoa], hiển hiện Phật không gặp trở ngại nào, đây chính là thiện hiện. 

Cá nhân tôi càng nghĩ rằng, Thiện Hiện Thiên có ý nghĩa của việc “vì chúng sinh thuyết pháp”, đến được Thiện Hiện Thiên thì đã nhìn thấy cái cực vi diệu của Phật lý, nên phát bồ đề tâm, thuyết pháp vì chúng sinh.

🌟

Tôi đã đến Thiện Hiện Thiên, gặp được thiền sư Bảo Chí thời đại Lương Vũ Đế, khiến tôi nghĩ đến một công án.
Thiền sư Bảo Chí hỏi một Phạm tăng:
”Vì nghe tôn giả gọi ta là đồ nhi, từng thấy ta sát sinh sao?” [đồ nhi: người giết mổ]
Phạm tăng đáp:
”Thấy.”
Thiền sư trả lời:
”Có thấy cái thấy, không thấy cái thấy, không có không không thấy. Nếu có thấy cái thấy là phàm phu thấy, không thấy cái thấy là Thanh Văn thấy, không có không không thấy là ngoại đạo thấy, không biết tôn giả là cái thấy nào?”
Phạm tăng hỏi ngược lại:
”Ông có cái thấy kiểu này không?”
Thiền sư Bảo Chí buông lời nói:
”Cả ngày thắp hương nhóm lửa, không biết thân là đạo tràng.”
Lại nói:
”Đại đạo chỉ nằm trước mắt, người đời trước mắt khó thấy, muốn biết bản thể thật của đại đạo, không tách rời thanh sắc ngôn ngữ.”

🌟

Tôi viết ra công án này, mục đích chính là nói rằng thiền sư Bảo Chí đã phát bồ đề tâm, đang vì chúng sinh thuyết pháp. 
”Thân là đạo tràng.”
”Thanh sắc ngôn ngữ là đạo tràng.”
Ở đây đã thể hiện rõ: “Phật tính.”
Có thấy cái thấy - phàm phu thấy.
Không thấy cái thấy - Thanh Văn thấy.
Không có không không không thấy - ngoại đạo thấy. 

Thiền sư Bảo Chí đúng là đã phát khởi bồ đề tâm quảng đại, có thể nói là “trực chỉ” rồi.
Bây giờ tôi hỏi ngược lại thánh đệ tử, cái mà Phạm tăng này nhìn thấy là cái thấy gì?”

🌟

Tôi Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đã đến Thiện Hiện Thiên, đây là cõi trời thứ tư của Ngũ Bất Hoàn Thiên của Tứ thiền, tất cả mọi thứ thanh khiết đều hiển hiện, không có cái không thấy.

Tôi hỏi:
Cái hiển này là hiển thế nào?
Cái thấy này là thấy thế nào?

Tại Thiện Hiện Thiên, tôi đã gặp Liễu Minh Hòa Thượng, trong lòng tôi hết sức vui mừng, Liễu Minh Hòa Thượng nói với tôi:
”Sau khi con nhìn thấy 28 cõi trời của tam giới, nên mau chóng độ hóa chúng sinh, lần lượt viết ra về 28 cõi trời, có thể lợi ích trời người, đây cũng là công đức.”


### 32. Chùa Đại Lôi Âm


Từng có đệ tử hỏi tôi:
”Ứng hóa tại Ta Bà của Phật Đà, sau khi Phật niết bàn, thân của Phật ở đâu?”
Câu hỏi này là câu hỏi chung của rất nhiều Phật tử, Phật tử cho rằng sau khi Phật niết bàn, nhất định là ngài đã đến tịnh thổ của Phật rồi.
Thế nên có người cho rằng:
1. Phật ở tại Vô dư niết bàn.
2. Phật ở tại Hữu dư niết bàn.
3. Phật ở bên ngoài pháp thân Phật.
4. Phật không tự mình ngưng lại ở một chỗ.
5. Phật chuyển thế đầu thai.
6. Phật ở tại Phật cảnh nơi bất động.
v.v… 

Có đại sư trả lời:
”Phật Đà ở chỗ nào? Chỉ có giữa Phật với Phật mới biết, người bình thường chỉ nghĩ đoán, ai có thể thật sự biết được chứ!”
Có đại sư trả lời:
”Phật Đà ở chỗ nào? Bì Lư Hoa Tạng, có thể dạo chơi khắp nơi, người thế tục làm sao biết được.”
Có đại sư trả lời:
”Phật Đà ở chỗ nào? Phật Đà - người đã ngộ ra ngã pháp đều không thì không có nơi nào để trụ lại, lấy đâu ra chỗ?”
Có đại sư trả lời:
”Phật Đà ở chỗ nào? Ý ở chỗ nào thì ở chỗ đó, tức là ở chỗ của ngươi đó.”
Có đại sư trả lời:
”Phật Đà ở chỗ nào? Đáp án là ở ngoài tịch diệt, nhưng cũng khởi lên hàng vạn sự hóa hiện.”
Có đại sư trả lời:
”Các kinh nói rằng Phật thường trụ, hoặc nói rằng sau khi Phật diệt, thường tức là không diệt, diệt tức là không thường. Rời xa mọi tướng, nên gọi Phật Đà, làm gì có xuất thế nhập diệt thật, thấy được rằng không có cái gì ở tại nhân duyên, vì thế Phật Đà ở ngoài nhân duyên, như nước sạch vô tâm, không hiện tượng nào là không hiện lên.”

Có đại sư trả lời:
”Sinh diệt thì diệt dừng, tịch diệt là thật. Là đệ nhất nghĩa đế.”
Có đại sư trả lời:
”Nhật nguyệt trên bầu trời, vũ trụ được chiếu sáng, người mù không thấy, chỉ là một đống người đang nói lung tung.”
Có đại sư trả lời:
”Pháp thân Phật Đà vốn từ vô sinh, làm gì có nơi nương tựa? Linh minh bất muội, liễu liễu thường tri [linh minh không mê muội, rõ ràng thường biết], không đến từ nơi nào, cũng không đi về nơi nào.”
Có đại sư trả lời:
”Phật Đà niết bàn, tự do không ràng buộc, hướng về nhậm vận, thiên thượng nhân gian tùy ý có thể hóa hiện.”
……

Tôi trả lời:
”Muốn biết Phật Đà ở đâu, đòi hỏi vô lậu trí huệ, tất cả diệu dụng, vạn hành vạn đức, thần thông quang minh, vô cấu thanh tịnh, tự nhiên sẽ biết thôi! Phật Đà viên giác đại trí, tồn tại đơn độc sáng ngời, tùy cơ mà hiện nghìn trăm triệu hóa thân.”

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người:
Tôi đã đến cõi trời cao nhất của Sắc giới, đó là Sắc Cứu Cánh Thiên của Ngũ Bất Hoàn Thiên. Tại Sắc Cứu Cánh Thiên, tôi đã nhìn thấy chùa Đại Lôi Âm bất khả tư nghì, trang nghiêm không gì sánh bằng. Phật Đà hiển hóa báo thân Phật, đang ở ngay chùa Đại Lôi Âm thuyết pháp. Phía dưới ghế ngài ngồi toàn là các đại Bồ Tát, đại A La Hán. 

Tại Sắc Cứu Cánh Thiên, tôi đã nhìn thấy vô số vô số Thánh giả đều đang nghe pháp ở chùa Đại Lôi Âm. Lư Thắng Ngạn nhỏ bé tôi đây không ngờ lại đến chùa Đại Lôi Âm, không ngờ lại đích thân nghe được Phật Đà thuyết pháp! 
Phật Đà tặng cho tôi phần thưởng là một hòn đá, cũng là ở chùa Đại Lôi Âm. Chùa Đại Lôi Âm ở Sắc Cứu Cánh Thiên. 

Bây giờ tôi có mấy câu hỏi muốn hỏi các thánh đệ tử:
1. Vì sao Lư Thắng Ngạn có thể gặp mặt Phật Đà?
2. Lư Thắng Ngạn dựa vào cái gì mà đến được chùa Đại Lôi Âm?
3. Lư Thắng Ngạn là ai?


### 33. Đại Tự Tại Thiên ở cung Pháp Giới Tối Thắng


Tôi từng nói Đại Nhật Như Lai (Tỳ Lô Giá Na Phật), ở tại Đại Tự Tại Thiên, cung Kim Cương Pháp Giới Tối Thắng thuyết pháp.”
Có người đọc kinh điển, cho rằng:
Đại Tự Tại Thiên là ngoại đạo.
Cung Đại Tự Tại Thiên tức là cung Ma Ê Thủ La.
Đại Tự Tại Thiên, Ma Ê Thủ La và Tha Hóa Tự Tại Thiên đều là cõi trời thứ sáu tại Dục giới. 
Đối với những cách nói này, tôi không dám thừa nhận. 

Cũng có cách nói khác là:
Cung Đại Tự Tại Thiên, tức là cung Ma Ê Thủ La Thiên, là đỉnh trời của Sắc Giới Thiên. 
Còn Đại Tự Tại Thiên là cõi trời mà ngoại đạo cúng tế. 
Đại Tự Tại Thiên thì phải vượt qua Sắc Cứu Cánh Thiên và Hòa Âm Thiên mới có thể đến được Đại Tự Tại Thiên.

Cái gọi là Ngũ Bất Hoàn Thiên là Thất Bất Hoàn Thiên, bởi vì cộng thêm Hòa Âm Thiên và Đại Tự Tại Thiên. 
Bức mandala Gohonzon của Nhật Liên Tông Nhật Bản thờ phụng tên húy của Đại Tự Tại Thiên Thiên Ma. Đối với điều này, tôi cũng không dám gật bừa.

🌟

Đại bộ phận tu hành giả có nhiều cách nói khác nhau về Đại Tự Tại Thiên, không thể có một kết luận chính xác. Còn tôi đã trải nghiệm về thể của Đại Tự Tại Thiên, cũng đã tiến vào cung Pháp Giới Tối Thắng, gặp mặt Đại Nhật Như Lai.

Cách nói của tôi là:
Đại Nhật Như Lai (Tỳ Lô Giá Na Phật), đích thực ở tại Đại Tự Tại Thiên thuyết pháp. 
Đại Tự Tại Thiên không phải là cõi trời thứ sáu của Dục giới. Mà là đỉnh của Sắc Giới Thất Bất Hoàn Thiên.
Đại Tự Tại Thiên này không phải là cõi trời của Thiên Ma mà con người bình thường tưởng tượng, mà là cõi tịnh thổ mà Đại Nhật Như Lai biến hiện ra, cung Kim Cương Pháp Giới Tối Thắng chính là ở tại tịnh thổ Đại Tự Tại Thiên này. 
Bên trong tịnh thổ này đều là Bồ Tát địa thứ mười, cũng tức là những Bồ Tát chuẩn bị thành Phật. 
Thập địa Bồ Tát ở tại cung Kim Cương Pháp Giới Tối Thắng nghe Đại Nhật Như Lai thuyết pháp. 

Trên kinh điển nói rằng:
”Phàm phu cầu Phật quả, sau khi cố định tại Sắc Giới, dẫn đến sinh ra vô lậu, sau này chắc chắn sẽ sinh ở Tịnh Cư Thiên Thượng, cung Đại Tự Tại mà đắc tự tại.”
Lại nói:
”Người ở cung Đại Tự Tại, Hữu Thực tịnh thổ của Tịnh Cư Thiên Thượng,… là cung điện lớn của Bồ Tát địa thứ mười.”
Lại nói:
”Đại Tự Tại Thiên, vượt qua Tịnh Cư Thiên, là chỗ của thập địa Bồ Tát, vượt qua đỉnh của Sắc Giới, vì thế gọi là Đại Tự Tại, Đại Thiên Giới Chủ.”

Đại Nhật Như Lai (Tỳ Lô Giá Na Phật) có ba thân:
1. Pháp thân — đầy khắp pháp giới.
2. Báo thân — tại Đại Tự Tại Thiên, tịnh thổ cung Kim Cương Pháp Giới Tối Thắng. 
3. Ứng thân — biến hóa đa dạng tùy hình theo lục đạo.

🌟

Có một số người quở trách:
Đại Tự Tại Thiên là ngoại đạo.
Đại Tự Tại Thiên là Thiên Ma.
Đại Tự Tại Thiên là hung bạo ác độc.
Đại Tự Tại Thiên là quỷ thần.

Tôi cho rằng đó là những cách nói thiếu trách nhiệm. Thử nghĩ mà xem, đây là tịnh thổ mà Đại Nhật Như Lai (Tỳ Lô Giá Na Phật) biến hóa ra, là nơi ở của thập địa Bồ Tát, tại cảnh giới Thất Bất Hoàn Thiên. Tôi ở cõi trời này gặp được Sakya Chứng Không Thượng sư, Sakya Chứng Không Thượng sư là thập địa Bồ Tát.

Thế giới này là nơi có rất nhiều ý kiến, bởi vì đó là thế giới tự do ngôn luận, chẳng ngờ lại biến Đại Nhật Như Lai (Tỳ Lô Giá Na Phật) thành người đứng đầu của Thiên Ma.
Tôi cảm thấy thật không thể tưởng tượng nổi.


### 34. Tôi tiến nhập Tứ Không Thiên như thế nào?


Tôi đã du hành qua Lục dục thiên, Sắc giới thiên, tiếp theo là tiến vào Vô sắc giới thiên (Tứ Không Thiên). 

Phương pháp mà tôi vận dụng đương nhiên là tứ thiền bát định. 
Đặc tính của Lục dục thiên là đại lạc.
Đặc tính của Sắc giới thiên là hỷ quang minh.
Đặc tính của Ngũ Bất Hoàn Thiên trong Sắc giới thiên là xả.
Đặc tính của Vô sắc giới thiên là không.

Tôi vận dụng:
Thân không.
Tâm không.
Pháp không.
Tính không.
Muốn dùng tứ không để tiến nhập Tứ Không Thiên. 

Cái gọi là Tứ Không Thiên chính là: Không Vô Biên Xứ Thiên, Thức Vô Biên Xứ Thiên, Vô Sở Hữu Xứ Thiên, Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên.

Cái gọi là Không Vô Biên Xứ Thiên có đặc tính là “không vô tận”.
Cái gọi là Thức Vô Biên Xứ Thiên có đặc tính là “thức vô tận”. 
Cái gọi là Vô Sở Hữu Xứ Thiên có đặc tính là “vô vô tận”.
Cái gọi là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên có đặc tính là “vi tưởng vô tận”. 

Tôi giải thích như vậy, bản thân tôi hiểu, nhưng người khác có thể không chắc đã hiểu.

Thật ra đến Tứ Không Thiên, văn tự ngôn ngữ cũng không có cách nào để miêu tả được, muốn dùng văn tự, ngôn ngữ để giải thích thì sẽ gặp khó khăn, nói không chừng càng giải thích càng khó hiểu.

(1) Người tu hành chán ghét sự giam cầm của sắc, muốn xuất ly, xả bỏ sắc tưởng mà có duyên với cái không vô biên, sẽ tương ứng thành “không vô biên định”. 

(2) Người tu hành chán ghét nội ngoại không, xả không, trở thành thức, sẽ tương ứng thành “thức vô biên định”. 

(3) Người tu hành chán ghét thức, xả tâm thức, nhận định rằng không có tâm thức, cho nên tương ứng thành “vô sở hữu định”. 

(4) Người tu hành chán ghét cái hữu tưởng của thức, cũng chán ghét cái vô tưởng của vô hữu, nên tương ứng thành “phi tưởng phi phi tưởng định”. 

🌟

Khi tôi đã đến được đỉnh của Sắc giới thiên, muốn tiến vào Vô sắc giới thiên, nhìn lên trên, chỉ thấy xa xăm mờ mịt, hư hư huyễn huyễn, không có vật gì có thể bám víu.

Dục giới thiên, có cảm giác vui sướng có thể bám vào.
Sắc giới thiên, có thiền hỷ có thể bám vào.
Ngũ Bất Hoàn Thiên, có cảm giác xả có thể bám vào.
Còn đối với Tứ Không Thiên: “Không có thứ nào để mà bám.”

Vì tôi học tập Mật giáo, tôi cầu nguyện Thượng sư hằng gia trì, Bổn tôn hằng thu nhận, Hộ pháp hằng bảo vệ. 
Khi niệm Cao Vương Kinh, tôi ở trong thiền định, trong hư không xuất hiện Chư Phật Bồ Tát trong Cao Vương Kinh, vô số vô tận. 
Vô lượng Chư Phật.
Thiên ngũ bách Phật.
Vạn ngũ thiên Phật.
Ngũ bách Hoa Thắng Phật.
Bách ức Kim Cương Tạng Phật.
…

Chư Phật Bồ Tát thành một chuỗi hạt ngọc, lần lượt tiến vào trong thân tôi, trong tâm, trong pháp, trong tính.
Tôi biến thành to lớn. 
”Uỳnh” một tiếng!
Thân, tâm, pháp, tính của tôi theo âm thanh vỡ tung ra. Trong ngoài vỡ vụn. Thân tâm không tồn tại.
Tôi chỉ có thể dùng văn tự để miêu tả như vậy, những văn tự này có lẽ miêu tả chưa thỏa đáng lắm. Mặc dù chưa thỏa đáng, nhưng cũng chỉ có thể miêu tả như vậy mà thôi. Tôi vì muốn tiến vào Tứ Không Thiên nên mới dùng văn tự như vậy để miêu tả.
Khi tôi phân thân xả cốt toàn bộ rồi.
Uỳnh! 
Tôi đã tiến vào Tứ Không Thiên.
Tại đây, xin hỏi thánh đệ tử, bạn có cách nào tinh xảo hơn để miêu tả việc tiến vào Tứ Không Thiên không?


### 35. Trạng thái bất động của Không Vô Biên


Sau khi thân tâm tôi hoàn toàn vỡ vụn, tôi nghĩ kĩ xem Không Vô Biên đáng sợ như thế nào:
Giống như khói phất phơ hóa vào vũ trụ.
Ngạt thở.
Bất động.
Biến mất.
Thật ra không hẳn hoàn toàn dừng lại, vẫn là đang tiến lên, chỉ là cảnh vật vô biên hoàn toàn trống không. Sự tiến lên này, cho dù là vận tốc siêu nhanh tới một nghìn ki-lô-mét trong một giây thì cũng chẳng có mục tiêu nào, không có điểm đích hay bờ bên kia. 

Giống như chúng ta ngồi trên tàu lượn siêu tốc, tốc độ cực nhanh, trên đường có muôn vàn nguy hiểm, nhưng, nếu như chúng ta thử nghĩ, nếu chiếc tàu lượn siêu tốc này vĩnh viễn không dừng lại, khi mà không dừng lại như thế thì bạn có sợ hãi không?
Chỉ độc một con người.
Ở trong hư không vô biên.
Ngay đến bản thân mình cũng là không.
Không có mục đích gì.
Tiến lên phía trước cũng chẳng khác gì đứng yên.
Có thể nói là động.
Mà cũng có thể nói là đã chết.

Tôi đã hiểu được rằng, đây là cái xứ “chết vô biên” đích thực. Giống như một vật chất rơi vào trong hố đen của vũ trụ vậy, cái hố đen này từ xưa tới nay không có người nào biết độ sâu của nó, độ rộng của nó, hễ rơi vào hố đen thì sẽ là một sự tối tăm vô biên không giới hạn, không có đáy, không có rìa.

Thời gian và ban ngày chưa bao giờ dừng lại, nhưng ở tại Không Vô Biên Xứ Thiên, thời gian và ban ngày cũng là không, chẳng khác gì không có thời gian và ban ngày, bởi vì thời gian và ban ngày ở trong cảnh giới này không tạo ra được tác dụng gì cả. 

Kinh Phật nói:
Thời gian hai vạn đại kiếp. 
Tôi nói:
Hai vạn đại kiếp cũng là vô biên đó!
Nói ra thì hết sức buồn cười, cảnh giới này căn bản là không có phương hướng của tương lai. 
Nói ra thì hết sức đáng buồn, lãng phí mọi công lực tu hành mà lại bất động tại đây sao?
Đây chính là cái “vô vi” mà đạo nhân nói đến sao? Cái “hữu vi” ở đây cũng tương đương với “vô vi”. 

Tôi cảm thấy đây đúng là điều bất hạnh, tu hành đến được Không Vô Biên Xứ chẳng khác gì tự mình chôn sống mình. 
Tồn tại chẳng khác gì không tồn tại.
Hữu vi chẳng khác gì vô vi.
Ngộ đạo chẳng khác gì chưa ngộ đạo.
Cảnh giới kiểu này thật sự rất khó dùng ngôn ngữ, văn tự, tư tưởng của nhân thế gian để mà hình dung và giải thích được.
Không có lạc.
Không có hỷ.
Không có quang.
Chỉ có không, không, không, không, không, như thế này cũng xem là một cảnh giới sao? Đây coi là “bản nhĩ” sao? [bản nhĩ: cái gốc, nguồn cội của ta] Chỉ có người đã từng trải qua mới có thể biết được. (Ta không nhìn thấy người khác, người khác cũng không nhìn thấy ta.)

Tôi có một giải thích như sau:
Một cây tích trượng bằng thép không gỉ, trải qua nghìn trăm vạn triệu năm, vẫn là một cây tích trượng bằng thép không gỉ.
Đây có xem là chứng quả không?
Tôi nói:
Đây là điểm 0. 
Không có đất, không có nước, không có lửa, không có gió, ở đây tất cả đều không tồn tại.
Có người nói, đây chính là hợp nhất với tính Không. Tôi cho rằng đáng thảo luận! 
Có người nói, đây mới là chân ngộ. Tôi cho rằng đáng thảo luận!

Tôi vội vội vàng vàng nhờ cậy vào lực gia trì của Chư Phật Bồ Tát, vội vàng đi lên Thức Vô Biên Xứ Thiên, nói thẳng ra là tôi chán ghét nội không, ngoại không, biệt không, tất cả không. 
Không, không, không, không, không, chẳng có cái vị gì cả!


### 36. Thế giới của A-lại-da thức


Tôi tiến vào Thức Vô Biên Xứ Thiên, thế giới này là thế giới của duy thức, không có chút chướng ngại, cũng không hề có cảm giác diệt vong. 

Thật ra cái “tôi” mà tôi nói cũng không tồn tại. 
Tôi là cái gì?
Tôi ở đâu?
Tôi là ai?
Những cái này đều tồn tại ở trong thức, chứ không phải là tôi.

Tương tự, Thức Vô Biên Xứ Thiên này không phải dễ mà hình dung được, ở đây chỉ tồn tại “dòng chảy” và Phật tính. 
Dòng chảy là thức. 
Phật tính cũng là thức.
Giống như sự suy nghĩ, phân tích, phán đoán, nhận thức, thấy nghe, nhận biết… của tự mình. 
Những cái này đều là vi tế, vi tế hơn, vi tế hơn nữa. Tôi hết sức ngờ vực, thế giới của A-lại-da thức này có phải là nơi tồn tại niết bàn mà Phật Đà nói đến không?

Tôi phải dùng dấu hỏi chấm bởi vì tôi không cho rằng như vậy.
Thức không phải là gió.
Thức không phải là lửa.
Thức không phải là nước.
Thức không phải là đất.
Thức không phải là không.

Bởi vì nó không phải là tốc độ, không phải là nhiệt độ, không phải là sạch bẩn, không phải là tịnh quang, không phải là vật chất, không phải là “không không”. 
”Nó” chỉ có một sự nhận biết vi tế ở tại bên ngoài “kiến văn giác tri” mới có thể hiện thân. 
Xuất hiện từ trong sự “bất tri bất giác”. 
Ha ha ha! Tôi dùng một tính từ rất đặc biệt để mô tả “nó”: “hữu” tồn “bất” tại. [có tồn nhưng không tại]

Trong sự nhận biết vi tế, tôi nhận định cái A-lại-da thức này là cái “thức” ở đỉnh cao nhất. 
Đó là “vô sinh vật cao cấp”, ở đây, có rất nhiều sinh, rất nhiều sự sinh ra, ý tôi muốn nói rằng, rất nhiều đời quá khứ, tất cả đều ở trong “nhất thời”. 

Tôi ở trong cái “thức” này, giống như tiến vào trạng thái ngủ sâu, trong cơn ngủ sâu, rất nhiều đời đều là nhất thời mà thôi!

🌟

Tôi nhận biết được hai vị đại sư:
Một vị là Cùng tiên sinh. [cùng: nghèo, bần cùng]
Một vị là Tử tiên sinh. [tử: chết]
Hai vị này đều đang nghiên cứu về duy thức, nghiên cứu sâu về A-lại-da thức, nói ra hay im lặng đều chỉ có A-lại-da thức. 

Hai người họ cho rằng A-lại-da thức chính là Phật tính, A-lại-da thức chính là niết bàn.
Vì thế, hai vị đại sư liền sống trong bốn vạn đại kiếp ở Thức Vô Biên Xứ Thiên. Hai người họ say mê “thức”. Cho rằng “thức” đã đạt đến đỉnh rồi, tự nhận mình đã kiến chứng rồi, khai ngộ rồi, thành tựu rồi, thành Phật rồi. 
A-lại-da thức vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế!
A-lại-da thức đệ nhất nghĩa đế!
Người rời bỏ A-lại-da thức, toàn bộ đều phải xuống địa ngục, xuống địa ngục Vô Gián. 
Tôi nghe xong, tức cười quá!
Bởi vì hai người họ bám chấp vào A-lại-da thức, đã quên mất “căn bản cứu cánh trí huệ” rồi!
Hai vị đại sư này phủ định tất cả đại thiện tri thức các thời đại, phủ định đại thiện tri thức đương đại, chỉ chịu mỗi A-lại-da thức. 

Cuối cùng tôi phát hiện ra, cái gọi là “duy thức” cũng là bám chấp. Cái giếng khổng lồ vô biên này khó mà chứa được hai con ếch.

Tôi cho rằng ở trên cao hơn A-lại-da thức vẫn còn có thế giới khác, lên cao nữa vẫn còn có thế giới vi tế hơn. 
Xin lỗi! Tôi vô ý phê phán Cùng tiên sinh, Tử tiên sinh, hai người hãy cứ ở lại thế giới A-lại-da đi!


### 37. Quê hương không có gì


Tôi tiến nhập vào Vô Sở Hữu Xứ Thiên của Tứ Không Thiên. Tại cõi trời này, người đầu tiên mà tôi gặp chính là Trang Tử. 

Dưới đây là cuộc trò chuyện giữa tôi và Trang Tử:
Tôi hỏi:
”Vì sao cụ lại ở đây?”
Trang Tử đáp:
”Vô duyên.” [không có nhân duyên]
”Vô duyên là sao?”
Trang Tử đáp:
”Vô vô minh, vô hành, vô thức, vô danh sắc, vô lục nhập, vô xúc, vô thụ, vô ái, vô thủ, vô hữu, vô sinh, vô lão tử.” 
Tôi ngạc nhiên:
”Đây là không có 12 nhân duyên.”
Trang Tử đáp:
”Đó là pháp vô vi tồn tại tự nhiên.”
Tôi nói:
”Đây là bất sinh bất diệt phải không?”
”Đó là bất sinh bất diệt ngay lúc này.”
Tôi hỏi:
”Trên kinh điển nói, tu đến khi tâm thức đều không còn sở hữu thì sẽ sinh về Vô Sở Hữu Xứ Thiên. Không có thụ tưởng hành thức, không có sắc thân, lại còn không có cung điện, đất nước, tất cả đều không có, vậy đến đây có lợi ích gì?”
Trang Tử đáp:
”Không có gì của không có gì là tồn tại tự nhiên, là một dạng tồn tại trên hình thức. Vô sinh vô diệt thì sẽ không có mọi khổ của chúng sinh, không có hiện tượng gì sinh ra, tức không che mờ nhân quả.”
”Vẫn có nhân quả sao?”
”Không che mờ nhân quả.”
”Có được mấy người đến được cảnh giới này?”
”Chẳng có quê hương, chỉ là sự tồn tại về hình thức, không thể xem là người, chẳng dễ mà đắc được “vô”.”
”Đã cắt đứt luân hồi chưa?”
Trang Tử đáp:
”Cõi trời này không có sắc thân nào để mà đắc, vì vậy không có thân thể, không có tâm thức nào để mà đắc, vì vậy không có chuyện thụ sinh.”
Tôi hỏi:
”Thiên thọ ở cõi này là sáu vạn đại kiếp, chẳng phải là vẫn có luân hồi sao?”
Trang Tử đáp:
”Thiên thọ sáu vạn đại kiếp cũng tương đương là vô lượng rồi, không thể đo lường. Cho dù là tịnh thổ cũng có lúc sinh, lúc diệt. Ở đây, luân hồi cũng như không.”
Tôi hỏi:
”Có ai biết Trang Tử ở tại quê hương không có gì không? Vô Sở Hữu Xứ Thiên?”
Trang Tử đáp:
”Tại thế giới bản nhiên. Chỉ có “cái có” mới có thể quán chiếu sự tồn tại của nó, nếu đạt đến không có gì, không ai có thể quán chiếu sự tồn tại bản nhiên của “cái không”.”
”Ngài với Lão Tử ở cõi trời nào?”
Trang Tử đáp:
”Không biết.”
”Ngài biết Khổng Tử ở cõi trời nào không?”
”Biết.”
”Ở cõi trời nào?”
”Khổng Tử ở tại cõi trời nhân quả luân hồi.” - Trang Tử đáp.
”Vô có phải là không không?”
Trang Tử đáp:
”Vô không phải là không, không là cái rỗng không của vật chất. Còn vô là sự tồn tại trên hình thức, chỉ là bản nhiên.”

Bản thân tôi đối với đoạn hỏi đáp cùng Trang Tử có một vài chỗ tôi thật sự không hiểu ý nghĩa, cảm thấy những gì tôi viết ra có nhiều khả năng từ không diễn đạt được ý, ví như cảnh giới cao như vậy mà muốn viết thấu triệt về nó thì cũng đã là vô cùng không thể nào rồi. 

Thánh đệ tử nếu có nghi hoặc thì có thể đến hỏi tôi. Bởi vì trong thiên hạ cũng chẳng có mấy người có thể trả lời được cho bạn đâu!


### 38. Ngẫm kĩ về tồn bất tồn và tận phi tận


Nơi đây là cõi trời cao nhất của Chư Thiên, cũng chính là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên.
Thiên thọ là tám vạn đại kiếp.
Xả bỏ hết mọi “hữu tưởng” trước đó, nên gọi là phi tưởng.
Xả bỏ hết mọi vô tưởng trước đó, nên gọi là phi phi tưởng.
Còn nữa:
Vô trần tưởng, nên gọi là phi tưởng.
Phi vô tế tưởng, nên gọi là phi phi tưởng.
Phi tưởng phi phi tưởng định là:
”Như say như mê như ngủ như mờ mịt, không có cái gì để yêu thích, tiêu biến và tịch tuyệt, thanh tịnh vô vi.”

Chỉ dựa vào mấy câu nói này, mọi người có thể nghĩ được một cách đại khái rồi. 

Khi ta đến Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên, bạn sẽ có thể nhận thức được về vấn đề của “tồn tại”:
”Có tồn tại không?”
Câu trả lời rất kì lạ, tồn tại tự nhiên, tồn tại nguyên bản, không có vấn đề tồn tại hay không tồn tại, tồn tại cũng như không tồn tại, không tồn tại cũng như tồn tại, cho nên là “tồn bất tồn”. 
Câu trả lời này mọi người nghĩ thế nào?
Không có “cho rằng”. 
Sự hưởng thụ lớn nhất là “tịch tuyệt”. 
Không có bạn, tôi, người khác.
Không có ai.
Không có thay đổi.
Nếu như Lão Tử ở tại Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên, Lão Tử chính là ta. 
”Tồn bất tồn” chính là đại tự tại.
Tùy ý phi thường phi phi thường chính là đại tự tại.

Tôi lại hỏi, một vấn đề khác, chính là:
”Có lậu tận không?”
Câu trả lời rất kì lạ, không có một hạt vi tế nào, không có sự kiến tạo nào, ngay cả cái trí tuệ cũng không có. Cái trí cũng không có rồi thì chính là một dạng siêu việt cực đại, hỏi tôi có lậu tận không? Câu trả lời xác thực là căn bản không có câu trả lời, bởi vì tận phi tận thì cũng xem là tận, nhưng chỉ còn có những tư tưởng rất mảnh mịn. 

Tại cõi trời này: 
Không có không, gọi là bất không.
Không có thức, gọi là bất thức.
Không có vô, gọi là bất vô.

Nhưng có tư tưởng rất rất rất rất rất mảnh mịn vi tế lắm lắm, cho nên mới là “bất”. 

🌟

Không có chiếm hữu.
Không có Hoạt Phật thật giả.
Không có ai đến để cho phép ai, bởi vì cái chữ ai này, căn bản là không tồn tại. Chẳng lẽ tự mình là Phật? Thật ra cũng không nghĩ đến chữ Phật này.
Không có tìm kiếm.
Không có cái chưa tới.
Không có cái không biết.
Không có cái gì cao hơn.
Tại Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên, căn bản là không có máu, thịt, da, không có xương, tủy, tinh, không có khí, mạch, minh điểm, không có năng lượng gì cả, ở nơi này năng lượng cũng không dùng được.

Có ý niệm không?
Đáp án là siêu việt hơn A-lại-da thức, gần như sắp không có thức rồi. Cái này tôi không thể nói là có ý niệm, ngay cả vũ trụ cũng không có thì còn có thể có thức gì nói gì tới những danh từ như A-lại-da thức. 

Có gần tới thành Phật không?
Đáp án là, căn bản không có ý niệm về Phật, cũng tức là Phật hay không Phật thì cũng chẳng hề có một chút tác dụng nào.

Tôi đã đến cõi trời này.
Cảm thấy nơi đây dễ chịu nhất, cái sự dễ chịu này không phải là lạc, không phải là hỷ, không phải là ánh sáng, không phải là huyễn thân, không phải là xả, không phải là tồn, không phải là tận. 
Nhưng mà lại dễ chịu nhất!


### 39. Cảm ơn trải nghiệm 28 cõi trời


Sau khi tôi đã trải qua tất cả thế gian của Dục giới thiên, Sắc giới thiên, Vô sắc giới thiên, một công lực siêu thắng không gì sánh bằng hiển hiện trong thân tâm tôi. Về bản chất, tôi chính là chỗ dựa của bậc chính biến tri tại nhân gian. 
Tôi phải cảm ơn:
1. Liễu Minh Hòa Thượng.
2. Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16.
3. Sakya Chứng Không Thượng sư.
4. Thubten Dhargye Thượng sư.
Tổ sư Chân Phật Tông trong lịch sử.

Nhờ có sự dạy bảo nhân từ của các vị thầy đầy đủ phẩm đức mà tôi có thể có được tất cả quán đảnh và sự chỉ dạy hoàn chỉnh về Mật pháp. Khiến tôi từ trong tứ thiền bát định được Thượng sư gia trì, Bổn tôn thu nhận, Hộ pháp bảo vệ. 

Tuân theo Thứ tự sinh khởi cho đến Thứ tự viên mãn, tôi đã hiểu tất cả khẩu quyết tâm yếu và những kho tàng quý báu rộng lớn. 
Tôi tôn kính truyền thừa.
Tôi tôn kính giới luật.
Tôi tôn kính sư phụ.
Tôi tôn kính Mật pháp.
Tôi tôn kính thực tu.

Tại Dục giới thiên, tôi đã đắc lạc và lạc thụ vĩnh viễn.
Tại Sắc giới thiên, tôi đã đắc hỷ và hỷ thụ vĩnh viễn.
Tại Vô sắc giới thiên, tôi đã đắc xả thụ và không, thức, vô, phi phi tưởng. 
Đó là một trải nghiệm phong phú bất khả tư nghì, tôi tin tưởng chỉ có người đã từng đi qua mới có thể hiểu rõ những gian nan trong đó, và tất cả những khó khăn ở mức độ sâu. 

Tại đây, tôi kính dâng lên Chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, Chư Thiên tấm lòng tôn kính chí cao tối thượng của tôi, bởi vì tất cả những mộng tưởng này không ngờ đã thành sự thật. Tôi nguyện đem những công đức thực tế của trải nghiệm 28 cõi trời này hồi hướng lợi ích cho các chúng sinh. 

Những trải nghiệm này không hẳn là một hơi một mạch mà thành trong một khoảng thời gian ngắn, mà là trong từng quãng thời gian, từng quãng thời gian, tiến lên từng bậc mà thành. 

Cuối cùng tôi đã hiểu thông thấu triệt để:
Dục giới định.
Tứ thiền định.
Tứ không định.
Diệt tận định.
Từ đại lạc biến hóa thành quang minh, từ thân tâm biến hóa thành huyễn thân, từ hữu thụ biến hóa thành vô thụ. [Hữu thụ: còn cảm giác, cảm nhận. Vô thụ: không còn cảm giác, cảm nhận.]
Vô sở xứ, vô sở vị, vô sở đắc, vô sở trụ, vô sở chứng, vô sở tu. 
Tôi đã hiểu: tham, ái, vô minh, bất chính kiến của thế nhân.
Tôi đã phát: xuất ly tâm, bồ đề tâm, chính kiến.

Bây giờ tôi rất dễ dàng nhập vào trong định, thậm chí trong pháp Miên quang, tôi cũng ở trong Tứ thiền, trong Tứ không, Nhất vị và Vô tu đều đã có thể đạt đến.

Tôi hoàn toàn biết rằng tịnh thổ thì ra là sự từ bi của Pháp thân Phật, tịnh thổ của Báo thân Phật là sự hóa hiện của bồ đề tâm, không chỉ là ở tại 28 cõi trời, thậm chí thấp xuống đến địa ngục Vô Gián, cao lên đến Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên đều có.

Không chỉ như vậy, cá nhân tôi cũng biết, tại nhân gian, núi cao, vùng hoang vu, rừng sâu, miền biển, chùa chiền… cũng có rất nhiều A La Hán đang trụ trì.
Cái gọi là:
Xứ này gần ngay xứ khác.
Nghìn trăm triệu hóa thân.
Tịnh thổ này thông với tịnh thổ khác, Phật quốc này thông với Phật quốc khác.
Tôi chỉ có thể tán thán.
Thập địa Bồ Tát, từ Cực Hỷ địa đến Viễn Hành địa, bảy địa này từng bước hoàn thành.

Hôm nay tôi chỉ có thể cảm ơn, cảm ơn và cảm ơn, tôi không có lời gì có thể nói, nên chỉ nói hai chữ đơn giản:
”Cảm ơn!”


### 40. Tôi chủ trì quán đảnh Thời Luân Kim Cang


Tính đến tháng 10 năm 2006, tổng cộng tôi đã chủ trì bốn đàn đại quán đảnh Thời Luân Kim Cang.
Lần đầu tiên tại Hồng Kông.
Lần thứ hai tại Houston, Mỹ.
Lần thứ ba tại New York, Mỹ.
Lần thứ tư tại Seattle, Mỹ.

Tôi muốn nói một chút về các thứ ở chùa Seattle Lôi Tạng Tự ở Mỹ. 
Trước pháp hội, ngày ngày tôi đảnh lễ Thời Luân Kim Cang.
Trước pháp hội, ngày ngày tôi trì tụng chân ngôn Thời Luân Kim Cang. 
Trước pháp hội, tự thân tôi biến hóa thành Thời Luân Kim Cang, thân màu xanh lam, hai cánh tay, một tay cầm chuông kim cang, một tay cầm chày kim cang.
Phật Mẫu, một tay cầm dao cong, một tay cầm đầu lâu.
(Đây là biến hóa đơn giản nhất vĩ đại nhất của Thời Luân Kim Cang.)

Tôi có được cảm ứng như sau:
Sẽ có đệ tử Chân Phật Tông trúng giải lớn xổ số lotto, tiền thưởng là 5,5 triệu đô la Mỹ.
Sẽ có đệ tử Chân Phật Tông bị thọt chân, có thể đi lại được.
Sẽ có đệ tử Chân Phật Tông bị ung thư, khối u tự động tiêu biến.
Sẽ có đệ tử Chân Phật Tông không thể nói, nay có thể mở miệng nói chuyện.
Sẽ có đệ tử Chân Phật Tông bị mất ngủ, nay có thể ngủ ngon.
Sẽ có đệ tử Chân Phật Tông bị kiện tụng, tự động được giải trừ.
Sẽ có đệ tử Chân Phật Tông không có con, nay sẽ có con.
Sẽ có đệ tử Chân Phật Tông người đau nhức, nay không còn đau nữa.
Sẽ có đệ tử Chân Phật Tông gia đình không hòa hợp, nay sẽ hòa hợp.
Người được tăng trưởng trí tuệ.
Người được tăng thêm may mắn.
Người được tiêu trừ nghiệp chướng.
Người đẩy lùi được kẻ thù.

Kết quả là: 
”Sau khi tôi chủ trì đại quán đảnh Thời Luân Kim Cang, không ngờ tất cả đều ứng nghiệm rồi.”
Tôi cảm thán:
Đại uy thần lực của Thời Luân Kim Cang. 
Thời Luân Kim Cang thật quá vĩ đại.

Tại đây, tôi giới thiệu ngắn gọn về bảy loại quán đảnh của Thời Luân Kim Cang, xin các đồng môn chú ý:

1. Quán đảnh nước - thanh tịnh. (Ngũ đại chuyển hóa thành Ngũ Phật Mẫu.)
2. Quán đảnh mũ - xuất sinh đỉnh kế. (Ngũ uẩn chuyển hóa thành Ngũ Phật.)
3. Quán đảnh dải băng - trang sức của Ngũ Phương Như Lai. (Tịnh hóa khí của hành giả.)
4. Quán đảnh chuông chày - Phật tâm, Phật ngữ. (Tịnh hóa song mạch.)
5. Quán đảnh hành vi - giữ truyền thừa, giữ giới. (Không phá samaya.)
6. Quán đảnh tên - ban cho Phật hiệu. (Tên của Kim Cang Minh Vương.)
7. Quán đảnh cho phép - có thể tu Mật pháp Thời Luân Kim Cang. (Sinh khởi tất cả.)

(Bảy quán đảnh này, tôi Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn cho rằng là những quán đảnh cơ bản nhất.)

Những quán đảnh khác:
Quán đảnh bí mật.
Quán đảnh mật mật mật mật tối cao.
Không nằm trong số bảy quán đảnh.

Trên nguyên tắc mà nói, người đã nhận bảy quán đảnh Thời Luân Kim Cang, chỉ cần giữ lời thề với truyền thừa, giữ giới luật, thì có lý thuyết là bảy kiếp lập tức có thể thành Phật, có lý thuyết là mười sáu kiếp lập tức có thể thành Phật.

Còn tôi cho rằng, chỉ cần thực tu pháp Thời Luân Kim Cang, đời này lập tức có thể thành Phật.
Vì sao?
Thời Luân Kim Cang tức là hóa thân của Phật Thích Ca Mâu Ni, không hai không khác.
Hành giả chỉ cần tương ứng với Thời Luân Kim Cang thì đời này sẽ có thể thành Phật.
Không cần bảy đời.
Không cần mười sáu đời.

Tôi sâu sắc cảm thấy Thời Luân Kim Cang vĩ đại bất khả tư nghì, tôi chủ trì đại quán đảnh Thời Luân Kim Cang thật sự đã hiển hiện quá nhiều kỳ tích. 
Các thánh đệ tử!
Pháp lớn như vậy, xin đừng bỏ lỡ.


### 41. Thiền sư Khuê Phong Tông Mật


Năm đời tính từ Lục Tổ trở xuống có một vị kế thừa pháp là thiền sư Viên, tức là thiền sư Khuê Phong Tông Mật. Tôi sâu sắc cảm thấy thiền sư Tông Mật là một thiền sư vĩ đại, nhưng dù vĩ đại thì cũng có chỗ sai sót. Tác phẩm của ông ấy có một trăm quyển “Các giải thích về nguồn gốc của thiền”, lấy Bồi Hưu để viết lời mở đầu. [Bồi Hưu: một danh tướng, một nhà thư pháp giữa và cuối đời Đường.]
Ngoài ra còn có:
”Viên giác đại tiểu nhị sớ sao.”
”Pháp giới quán môn.”
”Nguyên nhân luận.”

Thiền sư Tông Mật có trả lời mười câu hỏi của Sử Sơn Nhân, kể ra như sau:

Hỏi: “Thế nào là đạo? Dựa vào cái gì mà tu? Nhờ điều gì mà tu được thành, nhờ điều gì mà có được công dụng chân thực, không giả?”

Đáp: “Vô ngại là đạo, giác ngộ vọng là tu, đạo tuy vốn không, nhưng vọng niệm khởi lên sẽ tích lũy. Vọng niệm đều tận hết, tức là tu thành.”
(Tôi cho rằng câu trả lời này của thiền sư Tông Mật, để trả lời Sử Sơn Nhân thì cũng được, nhưng trả lời người chân ngộ thì vẫn còn kém một chút.)

Hỏi: “Đạo nếu vì tu mà thành, tức là tạo tác, thế thì giống pháp thế gian, chỉ là giả dối không thật. Thành rồi cũng lại hoại, thế nào mới gọi là xuất thế?”
Đáp: “Tạo tác là tạo nghiệp, gọi là thế gian giả tạo. Vô tác là tu hành, tức là xuất thế chân thực.”
(Tôi cho rằng đáp án này khế hợp với tâm tôi.) 

Mười câu hỏi này, xưa nay rất nhiều học sinh thiền môn đều hỏi rất nhiều, tôi chỉ lấy ra hai câu hỏi, những câu còn lại bạn hãy tự mình tham khảo thêm. 

Vô ngại có phải là đạo không?
Câu này khiến người ta sinh nghi, tôi cho rằng vô ngại không phải là đạo, các đệ tử có điều gì để nói không?

🌟

Thiền sư Tông Mật có tám câu kệ như sau:
”*Làm việc có nghĩa, là tâm tỉnh ngộ.
Làm việc vô nghĩa, là tâm cuồng loạn.
Cuồng loạn theo tình cảm, lâm chung bị nghiệp dắt.
Tỉnh ngộ không vì tình, lâm chung chuyển nghiệp được.”*

Lời kệ này nếu như là để cảnh giác thế nhân thì tôi cho rằng như vậy cũng là đẹp rồi. Nhưng nếu nói về đạo thì tôi cảm thấy bình thường quá. Mọi người nghĩ thế nào?

Thiền sư Tông Mật lúc lâm chung bảo đệ tử rằng:
”Toàn bộ xác này đem bố thí cho chim thú, dùng lửa thiêu rồi rải tro đi, đừng than khóc.”
”Các đệ tử phải trụ trì lễ nghi, phải giữ gìn giới luật, nếu vi phạm thì không phải là đệ tử của ta.”
Lời thứ nhất là sự bố thí cuối cùng.
Lời thứ hai là giữ gìn giới luật. 
(Hai lời này đều là Phật nói.)

Sau khi thiền sư Tông Mật viên tịch, thiêu ra được xá lợi, vừa trắng vừa tròn vừa bóng vừa to.

Cá nhân tôi cười:
”Nếu đã muốn xác đem bố thí hết thì còn dùng lửa để thiêu, thiêu ra được một vài hạt đậu xanh hoặc quả để làm gì?”
”Hạt xá lợi vừa trắng vừa tròn vừa bóng vừa to, chim thú làm sao mà ăn được?”
(Thiền sư Tông Mật lúc lâm chung đã vọng ngữ, thật không đáng.)

Điều tôi thích ở thiền sư Tông Mật là:
Biết tứ đại là hoại huyễn.
Hiểu lục trần như không hoa.
Ngộ tâm mình là tâm Phật.
Thấy bản tính là pháp tính.
Biết tâm vô trụ, tức là tu hành.
Vô trụ mà biết, tức là pháp vị.

🌟

Nếu dựa theo sự giác ngộ của thiền sư Tông Mật: “Không tức vô sinh, làm gì có ý nghĩa của sinh. Sinh diệt thì diệt dừng, tịch diệt là chân. Nhẫn với pháp vô sinh, gọi là vô sinh pháp nhẫn.”

Các thánh đệ tử, tại đây tôi hỏi mọi người, mọi người có ý kiến gì về “vô sinh pháp nhẫn” của thiền sư Tông Mật?
Tôi có ý kiến, còn bạn?


### 42. Thiện Huệ Đại Sĩ là Di Lặc Bồ Tát


Thiện Huệ Đại Sĩ, sinh ra trong nhà họ Phó tại vùng quê Song Lâm vào ngày 8 tháng 5 năm Đinh Sửu, năm thứ tư đời vua Tề Kiến Vũ, tên thật là Phó Hấp, người đời sau gọi là Phó Đại Sĩ. 

Có một nhà sư theo hạnh đầu đà ở Thiên Trúc nói:
”Tôi và ngài - Vipassi [Phật Tỳ Bà Thi] đã có lời thề nguyện, nay ở thiên cung Đâu Suất đều đã có y bát, khi nào thì mới trở về thế?”
Thiện Huệ đi nhìn bóng mình trong nước, thấy mình đã tỏa ra viên quang [vầng hào quang vòng tròn trên đầu], phía trên có cờ lọng quý báu. (Điều này chứng tỏ rằng Phó Hấp là Bồ Tát đến từ Đâu Suất Thiên.)

Thiện Huệ tu hành ở núi Tùng, nhìn thấy Thích Ca Như Lai, Kim Túc Như Lai (Duy Ma Cật), Định Quang Như Lai phóng quang gia trì cho Thiện Huệ.
Thiện Huệ Đại Sĩ nói:
”Khi đắc Thủ Lăng Nghiêm định, cảm ứng thấy bảy vị Phật đi cùng nhau, Thích Ca Như Lai ở phía trước, tôi ở giữa, Duy Ma Cật ở phía sau. Thích Ca Như Lai nói với Thiện Huệ, ông là Bổ Xứ Như Lai.”
(Điều này đã chứng minh rằng Phó Đại Sĩ là Di Lặc Bồ Tát.)

Lương Vũ Đế mời Phó Đại Sĩ thuyết pháp. 
Phó Đại Sĩ lên ghế. Dùng thước đập xuống. Thế rồi xuống khỏi ghế. Lương Vũ Đế kinh ngạc.

Phó Đại Sĩ hỏi: “Bệ hạ có hiểu không?”
Lương Vũ Đế đáp: “Không hiểu.”
Phó Đại Sĩ nói: “Tôi đã thuyết pháp xong rồi.”
(Điều mà Phó Đại Sĩ nói tức là đệ nhất nghĩa đế.)

Danh tác của Phó Đại Sĩ là: “Tâm Vương Minh.” 
Bài kệ nổi tiếng của Phó Đại Sĩ là:

*Đêm đêm ôm Phật ngủ
Sớm sớm cùng thức dậy
Đứng ngồi đều bên nhau
Nói hay im cũng thế
Chẳng xa rời một ly
Giống như hình với bóng
Muốn biết Phật đi đâu
Chỉ lời này là đúng.*

(Bài kệ này đã nói rõ Phật tính.)

Bài kệ nổi tiếng thứ hai:

*Tay không cầm cái cuốc
Đi bộ cưỡi lưng trâu
Người bước đi qua cầu
Cầu trôi nước không trôi.*

(Bài kệ này đã nói rõ Nhất vị.)

Bài kệ nổi tiếng thứ ba:

*Có thứ trước trời đất
Vốn vô hình tịch liêu
Là chủ của vạn vật
Chẳng chạy theo bốn mùa.*

(Bài kệ này đã nói rõ Pháp thân.)

🌟

Trước tiên chúng ta hãy thử xem bài kệ thứ nhất mà Phó Đại Sĩ viết: đêm đêm cùng Phật ngủ, ngày ngày cùng Phật dậy. Đứng ngồi, mọi hành động cử chỉ, nói hay im lặng, chưa bao giờ tách rời. 
Cách nói như vậy đã rất rõ ràng rồi, tôi thật sự không thể thêm vào một câu nào nữa. 
Phật tính này là cái gì?
Thế nào là kiến tính?
Vẫn còn chưa hiểu sao? Chưa rõ sao? Lẽ nào các thánh đệ tử muốn tôi chắp tay lại, thật sự “kim kê độc lập” thì mới hiểu sao. 

Tôi không có ý kiến gì về Thiện Huệ Đại Sĩ. Mọi người đều nói Thiện Huệ Đại Sĩ là Di Lặc Bồ Tát tái xuất thế gian. 
Tôi cũng bày tỏ sự tán đồng.

Nghĩ mà xem, Phật Thích Ca Mâu Ni đi trước, Thiện Huệ Đại Sĩ đi giữa, Kim Túc Như Lai đi sau. Nếu như không phải là Di Lặc Bồ Tát thì ai có thể đi giữa đây?


### 43. Lời kệ của thiền sư Huệ Tư


Thiền sư Huệ Tư ở Nam Nhạc là Vũ Tân Lý Thị Tử. 

Thiền sư Chí Công muốn ông ấy xuống núi độ chúng sinh, nói:
”Sao không xuống núi giáo hóa chúng sinh? Ngày ngày ở trên núi nhìn mây nhìn trời làm cái gì?”
Huệ Tư đáp:
”Chư Phật ba đời đã bị tôi một miếng nuốt trôi hết rồi, chỗ nào còn có chúng sinh để mà độ hóa chứ?”

Tôi cảm thấy câu nói này của thiền sư Huệ Tư rất thú vị. 
Trong Mật giáo, trong pháp Thời Luân Kim Cang có nói:
Miệng của Thời Luân Kim Cang há ra một cái thì chúng sinh trong thiên hạ đều bị nuốt hết vào. 
Và Thời Luân Kim Cang đã sinh hạ nghìn nghìn vạn vạn triệu triệu Phật tử. 
Không ai không phải là Phật. 

Câu nói này của Huệ Tư không phải là phóng đại, mọi người hãy suy nghĩ kĩ!

🌟

Một lời kệ của thiền sư Huệ Tư:

“*Đốn ngộ cội tâm mở kho báu
Ẩn hiển linh thông hiện chân tướng
Độc hành độc tọa thường uy nghi
Trăm triệu hóa thân vô số lượng
Dẫu rằng của cải chật hư không
Nhìn ra chẳng thấy tướng vi trần
Ôi tình cảnh nực cười hết sức
Miệng nhả ra ngọc sáng chói ngời
Chuyện ấy bình thường chẳng có gì
Vài lời danh ngôn nói ra đây.”*

Bài kệ này cho thấy rõ cảnh giới tu thiền của thiền sư Huệ Tư, cũng cho thấy thiền sư Huệ Tư đã xả ly hoàn toàn ham muốn vật chất rồi. Tôi cảm thấy những người giàu có nên treo bài kệ này ở trong nhà để làm lời răn mình.

🌟

Lại có một bài nữa:

*“Trời chẳng thể che đất chẳng chở
Không đi không đến không chướng ngại
Không dài không ngắn không vàng vọt
Không nằm ở giữa hay trong ngoài
Thái hư huyền bí siêu xuất chúng
Chỉ vật truyền tâm người chẳng hay.”*

Bài kệ này đương nhiên là chỉ ra Phật tính, có thể xem là bài thơ kiến đạo của thiền sư Huệ Tư. 

Nhưng:
Chỉ mới nói ở xung quanh.
Đi lòng vòng ở bên ngoài.
Chưa phải là chỉ thẳng.
Bởi vì cái lý do là “chỉ vật truyền tâm người chẳng hay”. 
Năm xưa Thích Ca Mâu Ni cầm hoa, là “chỉ vật”. Còn “truyền tâm” thì chỉ có Đại Ca Diếp tôn giả hiểu được, những người khác không hay biết!

🌟

Tôi nhớ đến câu trả lời của Tăng Già Đại Thánh ở Tứ Châu là thú vị nhất:

Người hỏi: “Thầy họ gì?”
Thầy đáp: “Họ Gì.”
Người hỏi: “Người nước gì?”
Thầy đáp: “Người nước Gì.”

Các thánh đệ tử xem xem vị Tăng Già Đại Thánh này, câu trả lời của ông ấy khiến tôi chấn động!

“Gì” này là cái gì? Cái gì cũng đều là nó, và cái gì cũng không phải là nó. Một chữ “gì” này xuất sắc, chữ “gì” này nếu như đổi thành chữ Phật thì liệu có càng chuẩn xác hơn không, nhưng đổi thành chữ Phật thì sẽ mất đi rất nhiều vị đạo rồi, bạn nói xem có phải không?


### 44. Thiền sư Phong Can và Hàn Sơn, Thập Đắc


Núi Thiên Thai có thiền sư Phong Can. Hàn Sơn hỏi ông ấy:
”Nếu là gương cũ chưa lau chùi, làm sao chiếu hiện ánh nến?”
Phong Can đáp:
”Chậu nước đá chẳng có hình ảnh gì, mà khỉ vượn vẫn tìm trăng trong nước.”
(Câu trả lời này, tôi nghĩ rằng hơi lạc đề.)
Hàn Sơn lại hỏi:
”Ở đây là không chiếu hiện lên ánh nến, xin nói thử xem?”
Phong Can lại trả lời:
”Vạn đức không có tương lai, dạy tôi đạo gì chứ?”
(Tôi cho rằng câu trả lời này rất hay, gương cũ chưa từng được lau chùi, đương nhiên không chiếu hiện được ánh nến, bảo tôi phải nói thế nào đây.)
Hàn Sơn Thập Đắc nghe xong, cúi chào rồi lui đi.

Ở đây tôi xin hỏi thánh đệ tử, bạn có câu trả lời hay hơn, cao minh hơn không?

🌟

Thiền sư Phong Can muốn đi du lịch Ngũ Đài Sơn. Hỏi Hàn Sơn, Thập Đắc:
”Nếu cùng tôi đi du lịch Ngũ Đài thì là người cùng hạng. Nếu không cùng tôi đi du lịch Ngũ Đài thì không phải người cùng hạng với tôi.”
Hàn Sơn hỏi:
”Ông đi du lịch Ngũ Đài Sơn để làm gì?”
Phong Can đáp:
”Lễ bái Văn Thù Sư Lợi.”
Hàn Sơn nói:
”Ông không phải hạng người giống tôi.”

Thiền sư Phong Can một mình đi Ngũ Đài Sơn, gặp một cụ già, Phong Can liền hỏi:
”Là Văn Thù Bồ Tát phải không?”
Cụ già trả lời:
”Lấy đâu ra hai Văn Thù Bồ Tát!”
Phong Can mới cúi chào thì cụ già đã đột ngột biến mất.

Theo như tôi biết, cảnh giới của thiền sư Phong Can và hai người Hàn Sơn, Thập Đắc có sự khác nhau rất xa. 
”Không cùng hạng.”
”Cùng hạng.”
Hàn Sơn rõ ràng đã chỉ ra:
”Ông không cùng hạng với tôi.”
Thiền sư Phong Can một mình đi Ngũ Đài Sơn, gặp một người già hỏi đáp, càng thú vị hơn.
”Cụ có phải là Văn Thù không?”
Cụ già trả lời:
”Làm gì có hai Văn Thù!”
Thật ra, cụ già này đã rất từ bi, từ đầu đã nói rất rõ ràng với thiền sư Phong Can, chỉ thẳng vào Phật Tính, thiền sư Phong Can nếu chưa thể ngay lập tức đại ngộ thì đúng là lỡ mất cơ hội.

Lại nói Hàn Sơn, Thập Đắc hai vị đại Bồ Tát này, họ là đại thiện tri thức đã minh tâm kiến tính.
Thiền sư Phong Can không biết, đương nhiên không phải cùng hạng người rồi. 
(Người đời sau nói, Hàn Sơn, Thập Đắc, một người là hóa thân của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, một người là hóa thân của Phổ Hiền Bồ Tát, hai vị đại Bồ Tát hóa thân, thiền sư Phong Can đều không nhận ra. Thiền sư Phong Can vẫn còn đi Ngũ Đài Sơn để lễ Văn Thù Bồ Tát, bảo sao không khiến cụ già kia cười rơi cả hàm chứ. Cụ già nói lấy đâu ra hai Văn Thù, như thế đã là rõ ràng rồi. Lại còn nói rõ ràng cái ý Phật tính nội tại làm gì có hai vị chứ!)

🌟

Tại đây tôi hỏi thánh đệ tử:
”Nay bạn bái Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn làm thầy, đến khi Lư Thắng Ngạn chết, bạn bái người nào làm thầy?”
Câu hỏi thứ hai:
”Bây giờ bạn đang tu pháp Liên Hoa Đồng Tử, nếu Liên Hoa Đồng Tử bị hủy, bạn tu Liên Hoa Đồng Tử nào?”
Mau trả lời! Mau trả lời!


### 45. Hàn Sơn Tử ở núi Thiên Thai


Trước kia từ rất sớm, trong sách mà tôi viết đã nhắc đến thơ của Hàn Sơn Tử, cảm thấy đối với Hàn Sơn Tử tôi có cảm giác thân thiết.

Hàn Sơn là kỳ nhân dị sĩ, chí ít thì những phần tử trí thức tại Trung Thổ đều cho rằng như vậy. Nhưng tôi lại cho rằng không chỉ như vậy. 

Hãy xem thử:
Trên núi Thiên Thai, các tăng nhân nướng quả cà, xiên những quả cà lại thành chuỗi, Hàn Sơn lấy một xiên quả cà đánh vào lưng một tăng nhân. Tăng nhân quay đầu lại. Hàn Sơn giơ xiên cà lên cười hi hi, nói:
”Là cái gì?”
Tăng nhân trợn mắt:
”Đúng là cái đồ điên!”
Hàn Sơn quay sang tăng nhân bên cạnh nói:
”Cái đồ tăng nhân chửi ta này, thật là lãng phí bao nhiêu muối dấm của ta!”

🌟

Mẩu chuyện viết ra ở trên, trong con mắt người khác, có lẽ không là gì. Một trò chơi bình thường thôi. Một cuộc nói chuyện bình thường, không đầu không đuôi. 

Trên thực tế, trong con mắt của người giác ngộ thì đó là một việc trọng đại rất ghê gớm. 
Hàn Sơn giơ xiên cà.
Chính là Thế Tôn cầm hoa.
Hàn Sơn hỏi:
”Là cái gì?”
Nếu tăng nhân hiểu ra thì cũng thành tựu rồi, tiếc là tăng nhân căn bản không hiểu được. Hàn Sơn Tử ca thán:
”Lãng phí bao nhiêu muối dấm của ta! Lãng phí bao nhiêu thời gian của ta! Lãng phí bao nhiêu công phu của ta!”

Rốt cục, tục tăng thì nhiều, thánh tăng thì ít.
Bây giờ, tôi hỏi thánh đệ tử:
”Điều sẽ đắc được là cái gì?”

🌟

Còn nữa:
Hòa thượng Triệu Châu đi chơi ở núi Thiên Thai, nửa đường thì gặp Hàn Sơn Tử. Hàn Sơn nhìn thấy đàn trâu, bèn hỏi hòa thượng Triệu Châu:
”Thượng tọa có biết trâu không?”
Triệu Châu đáp:
”Không biết.”
Hàn Sơn chỉ đàn trâu nói:
”Đây là năm trăm La Hán đang chơi trên núi đó!”
Triệu Châu nói:
”Nếu đã là năm trăm La Hán thì vì sao lại làm trâu?”
Hàn Sơn nói:
”Ông Trời, ông Trời!”
Hòa thượng Triệu Châu cười lớn ha ha. Hàn Sơn hỏi:
”Cười cái gì?”
Hòa thượng Triệu Châu đáp:
”Ông Trời, ông Trời!”
Hàn Sơn nói:
”Cái đứa con nít này cứ như là làm người lớn!”

🌟

Cuộc đối thoại giữa hai người này không phải là trò chuyện bình thường. Hàn Sơn là bậc cao sĩ ngầm, hòa thượng Triệu Châu là hòa thượng “kiến tính”, hai người có thể xem là ngang sức ngang tài. 

Hàn Sơn nói:
”Ông Trời, ông Trời!”
Hòa thượng Triệu Châu cũng nói:
”Ông Trời, ông Trời!”

Ở đây tôi thử hỏi một câu: 
”Ông Trời là cái gì?”


### 46. Thập Đắc ở núi Thiên Thai


Đã viết về Hàn Sơn Tử ở núi Thiên Thai, đương nhiên phải viết về Thập Đắc Tử, hai vị này là cao nhân ẩn sĩ được công nhận.

Trong truyền thuyết tôn giáo của Trung Quốc, Hàn Sơn Thập Đắc không tách rời, trong tiên chúng, họ cũng được phân loại là “hòa hợp nhị tiên”. 

Có một hôm, Thập Đắc quét dọn. Chủ chùa Quốc Thanh hỏi:
”Ông tên Thập Đắc là bởi vì thiền sư Phong Can thu nhận ông về chùa, vậy rốt cục ông mang họ gì?” 
Thập Đắc bỏ cây chổi xuống, đứng khoanh hai tay lại. Chủ chùa lại hỏi:
”Rốt cục ông họ gì?”
Thập Đắc nhặt chổi lên tiếp tục quét sân. Từ đầu tới cuối, Thập Đắc đều không trả lời.

🌟

Thật ra, Thập Đắc không đáp mới là đúng, nếu trả lời tên tục thì sẽ cho thấy ông chưa có lời nói sắc bén.
Nếu trả lời Phật tính chân thực thì rốt cục chủ chùa cũng chưa chắc đã hiểu, đứng khoanh tay, như thế là được rồi.

Trước kia tôi nói:
”Nếu có người hỏi tôi khai ngộ cái gì? Tôi sẽ chắp hai tay lại, đứng trên một chân, giống như thế “kim kê độc lập” vậy, tôi đã khai ngộ cái này đây, có biết cái này không?”
Xin hỏi thánh đệ tử!

🌟

Có một hôm, Hàn Sơn đấm vào ngực rồi hét lớn:
”Ông Trời, ông Trời!”
Thập Đắc hỏi:
”Làm gì đấy?”
Hàn Sơn đáp:
”Ông chưa thấy người nhà bên Đông chết mà người nhà bên Tây lại khóc thương giúp à?”
Hai người cùng nhảy múa. Vừa khóc vừa cười rời khỏi chùa Quốc Thanh.

🌟

Trong mẩu chuyện trên, mọi người có nhìn ra manh mối không? 
Phương Đông phương Tây là phương nào?
Sống là cái gì?
Chết là cái gì?
Được là cái gì?
Mất là cái gì?
Chẳng phải là diễn trò vừa khóc vừa cười sao.
Đúng là:
”Ông Trời, ông Trời!”

🌟

Tôi Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đời này quy y:
Hồng giáo Liễu Minh Hòa Thượng.
Bạch giáo Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16.
Hoa giáo Sakya Chứng Không Thượng sư.
Hoàng giáo Thubten Dhargye Thượng sư.
Xin hỏi thánh đệ tử:
”Tôi là giáo phái nào?”
Đúng là:
”Ông Trời, ông Trời ơi!”

Có đệ tử lại muốn từ chỗ tôi mà phân tách ra, tôi chỉ có thể vừa khóc vừa cười hét lớn:
”Ông Trời, ông Trời ơi!”

🌟

Trong nửa tháng, tăng nhân ở chùa Quốc Thanh “niệm giới chúng tập”, có nghĩa là tập trung lại để tụng giới. 
Thập Đắc vỗ tay, nói:
”Tụ tập lại làm việc ấy để làm gì chứ?”
Duy Na quở mắng. (Thầy Duy Na trách móc.)
Thập Đắc nói:
”Đại đức có thể sống, không sân chính là giới, tâm tịnh tức xuất gia. Tính tôi hợp với anh, mọi pháp đều không khác.”

Bài kệ mà Thập Đắc nói ra đúng là không đơn giản!
Nhất là mấy chữ “tính tôi hợp với anh”, cũng hợp với đệ nhất nghĩa đế. 

Thập Đắc đúng là “ông Trời, ông Trời”!


### 47. Hòa thượng Bố Đại và Di Lặc Bồ Tát


Nhân sĩ Trung Thổ chúng ta điêu khắc tượng Phật (Bồ Tát) Di Lặc, phần lớn đều là mặt tròn, tai to, bụng to. 

Nguyên nhân chủ yếu là căn cứ theo hình dáng của hòa thượng Minh Châu Bố Đại để mà điêu khắc tạo hình. Bởi vì hòa thượng Bố Đại này vào tháng 3 năm 3 đời Lương Trinh Minh, khi ông sắp thị diệt, tại hành lang phía đông của chùa Nhạc Lâm, ông đã ngồi ngay ngắn rồi tọa hóa. 

Ông để lại một bài kệ:

*Di Lặc chính Di Lặc
Phân thân nghìn trăm triệu
Luôn chỉ cho thế nhân
Tự thế nhân chẳng biết.*

Chính vì bài kệ này mà mọi người mới biết hòa thượng Bố Đại là hóa thân của Di Lặc Bồ Tát.
Có người nói sau khi hòa thượng Bố Đại nhập diệt, ngài lại xuất hiện ở địa phương khác, và cũng khoác theo một túi vải to. Mọi người tới tấp vẽ hình ngài để lưu giữ.

Nói như vậy thì hóa thân của Di Lặc, trừ Phó Đại Sĩ ra, còn có hòa thượng Bố Đại nữa!

🌟

Hành tung hoạt động của hòa thượng Bố Đại rất nhiều, kể ra một, hai ví dụ sau:

Hòa thượng Bảo Phúc hỏi:
”Đại ý của Phật pháp là gì?”
Hòa thượng Bố Đại bỏ túi vải xuống, khoanh tay trước ngực.
Hòa thượng Bảo Phúc lại hỏi:
”Chỉ có thế thôi à? Còn có gì khác không?”
Hòa thượng Bố Đại xách túi lên rồi bỏ đi. 

Người đời sau bình luận đoạn này nói rằng: 
Bỏ túi vải xuống là buông bỏ chúng sinh, buông bỏ bám chấp, buông bỏ thân tâm, buông bỏ…
Xách túi vải lên là nâng đỡ chúng sinh, xốc lên sự tinh tấn, đề xướng Phật pháp, đề cao… 

Tại đây, tôi hỏi thánh đệ tử:
”Còn có gì khác không?”

🌟

Hòa thượng Bố Đại đang đứng trên phố. Có tăng nhân hỏi:
”Hòa thượng ở đây làm gì?”
Hòa thượng Bố Đại đáp:
”Đợi một người!”
Rồi nói tiếp:
”Đến rồi! Đến rồi!”

Tăng nhân nhìn mãi mà chẳng thấy có ai đến, nên nghi ngờ hòa thượng Bố Đại. Hòa thượng Bố Đại nói:
”Anh không phải là người đó.”
Tăng hỏi:
”Người này thế nào?”
Hòa thượng Bố Đại đáp:
”Xin hãy đưa cho tôi ít tiền.”
(Ngày xưa, có người bình luận đoạn này, cái gọi là đến rồi, đến rồi, là chỉ trở về.) 

Tôi thì cho rằng, hòa thượng Bố Đại đợi một người, người này không đến cũng không đi. Tức là “chính mình” đứng ở trên phố. 

Không biết mọi người có ý kiến thế nào? Có thể tự nói ra ý kiến của mình, đừng ngại!

🌟

Tôi thích bài kệ của hòa thượng Bố Đại:

*”Thị phi yêu ghét đời nhiều lắm,
Cẩn thận suy xét mình sao đây
Tấm lòng bao la phải nhẫn nhục
Mở ra tâm địa chịu theo người
Nếu gặp tri kỷ phải y phận
Dẫu gặp oan gia cũng hiền hòa.”*

Và:

“*Ta có một túi vải
Trống rỗng chẳng vấn vương
Mở ra khắp thập phương
Đóng vào quán tự tại.”*

Lời kệ của hòa thượng Bố Đại rất nhiều, cũng nhiều lời tao nhã đẹp đẽ, rất nhiều lời cảnh giác thế nhân.

Tôi rất thích những hành vi của hòa thượng Bố Đại.


### 48. Nói về Chí Ngôn Đại Sĩ


Chí Ngôn Đại Sĩ là con trai của Hứa Thị ở Thọ Xuân. Có một hôm đọc “Vân Môn Lục” thì đột ngột khai ngộ, đắc túc mệnh thông!

Lã Hứa Công hỏi:
”Đại ý Phật pháp là gì?”
Chí Ngôn đáp:
”Bản lai vô nhất vật, nhất vị tức thành chân.”
(Tôi cho rằng nói là bản lai vô nhất vật là được rồi. Nhất vị tức thành chân thì đã thành vẽ rắn thêm chân.)

Tập Thiên Vương chất vấn:
”Cái ý tổ sư đến từ phương tây là gì?”
Chí Ngôn đáp:
”Trong bóng núi non tỏa màu xanh, bảo tháp cao ngân vang gió sớm.”
Lại hỏi:
”Mời thắp hương.”
Đáp:
”Chưa từng tìm trai giới, không hướng Phật cạnh cầu.”
(Chí Ngôn Đại Sĩ trả lời rằng ”Trong bóng núi non tỏa màu xanh, bảo tháp cao ngân vang gió sớm”, ý chỉ Phật tính như núi non, bảo tháp, vốn dĩ đã đầy đủ trọn vẹn, tổ sư từ phương tây đến giống như một đám mây ở tại núi non, như một cơn gió cuốn quanh bảo tháp.)

(Mời thắp hương, Chí Ngôn Đại Sĩ có ý rằng, Phật tính không phải đến từ việc trai giới chay tịnh, cũng không phải cầu Phật mà có được.)

🌟

Từ Nhạc hỏi:
”Ý của tổ sư từ phương tây đến là gì?”
Chí Ngôn đáp:
”Phía đông đường phố.”
Từ Nhạc nói:
”Tôi không hiểu!”
Chí Ngôn đáp:
”Người hạng ba không hiểu được.”

(Câu nói “phía đông đường phố” của Chí Ngôn Đại Sĩ chắc là một lời không có liên quan, trên thực tế cũng là chẳng hề liên quan, không biết mọi người có hiểu được không?)

🌟

Có tăng nhân hỏi:
”Trên đời có Phật không?”
Chí Ngôn Đại Sĩ đáp:
”Văn Thù Bồ Tát ở trong chùa.”
(Tăng nhân hỏi trên đời có Phật không, Chí Ngôn Đại Sĩ lại trả lời là trong chùa có Văn Thù Bồ Tát, tôi xin hỏi thánh đệ tử, Chí Ngôn Đại Sĩ vì sao không trả lời là có, hoặc không trả lời là không, ở đây có lý do gì? Cái này có thể viết thành một bài luận văn đó.)

Nếu tôi là Chí Ngôn Đại Sĩ, tôi sẽ hỏi ngược lại tăng nhân này là:
”Ai là Phật?”
”Anh biết Phật là cái gì không?”

🌟

Có người hỏi Chí Ngôn Đại Sĩ:
”Ông là người phàm hay là thánh nhân?”
Chí Ngôn Đại Sĩ trả lời:
”Tôi chẳng sống ở đây.”
(Ý của Chí Ngôn Đại Sĩ là, không phải phàm nhân, cũng không phải thánh nhân, lời của Đại Sĩ cũng tức là vô sở trụ, chỉ là ứng hóa mà thôi, tùy ý đến đến đi đi.)

Chí Ngôn Đại Sĩ vào ngày 23 tháng 11 năm Mậu Tý Khánh Lịch [niên hiệu của vua Tống Nhân Tông], lúc sắp viên tịch nói:
”Ta từ vô lượng kiếp đến nay đã thành tựu qua nhiều quốc thổ, phân thân biến hóa, nay trở về nam!”
Đương nhiên:
Qua nhiều quốc thổ cũng là tịnh thổ.
Chí Ngôn Đại Sĩ trở về tịnh thổ của mình, còn phân thân biến hóa của ngài đích thực là bất khả tư nghì. 

(Cá nhân tôi sau khi đắc túc mệnh thông, Ma Ha Song Liên Trì cũng là tịnh thổ của tôi, Liên Hoa Đồng Tử cũng là Báo thân của tôi. Tôi đến thế gian này cũng là phân thân biến hóa, người biết tôi là người có duyên, người không biết tôi là vô duyên thôi! Tất cả tự nhiên.)


### 49. Tôi sẽ viết “Thiên hạ đệ nhất xuất sắc” 


Sau khi viết xong cuốn văn tập số 191 “Nấc thang của Chư Thiên”, tôi cứ nghĩ mãi, cuốn sách tiếp theo phải viết cái gì đây? Cuốn văn tập số 192 nên viết cái gì? Tâm tư cứ nhấp nhổm không yên. 

Kể từ khi tôi viết cuốn:
”Thắp sáng ngọn đèn tâm.”
”Tặng bạn một ngọn đèn sáng.”
Sau đó đã tạo ra một sự hưởng ứng rất lớn, trong tông ngoài tông đều thảo luận những nghĩa đế trong sách của tôi.

Độc giả có phản ứng thì tác giả sẽ có động lực để tiếp tục viết tiếp. Tôi nghĩ, tôi sẽ tiếp tục viết “Đọc lại Ngũ Đăng Hội Nguyên - Phần 3” vậy! Ngũ đăng này vẫn là những ngọn đèn nối tiếp nhau: truyền đăng, quảng đăng, liên đăng, tục đăng, phổ đăng.

Một buổi sáng nọ, Liên Hoa Đồng Tử nói với tôi rằng, có thể lấy tên sách là:
”Tìm ngọn đèn sáng bên trong.”
(Có ý nghĩa là tự mình bật đèn sáng.)

Và:
Quan Thế Âm Bồ Tát nói với tôi, tên sách cũng có thể là:
”Quán đăng.”
(Truyền đăng, quảng đăng, liên đăng, tục đăng, phổ đăng, cộng thêm quán đăng nữa, thật là có ý nghĩa.)

Và:
Diêu Trì Kim Mẫu nói với tôi, tên sách cũng có thể là:
”Ngọn đèn tỏa ánh vàng rực rỡ.”
(Đề xuất của Diêu Trì Kim Mẫu rất trực tiếp.)

Và:
Thời Luân Kim Cang nói với tôi, tên sách cũng có thể là:
”Đèn sáng vĩnh hằng.”
(Bánh xe thời gian trên phương diện vĩnh hằng thì đúng là có ý nghĩa.)

Và:
A Di Đà Phật nói với tôi, tên sách cũng có thể là:
”Đèn sáng thanh tịnh.”
(Phật quốc thanh tịnh, thanh tịnh là số một.)

Và:
Đại Cát Tường Thiên Mẫu nói với tôi, tên sách cũng có thể là:
”Ngọn đèn xuất sắc số một.”
(Ngọn đèn này đương nhiên là số một, ngọn đèn này tuyệt đối là xuất sắc.)

Và:
Kim Cang Tát Đỏa Bồ Tát nói với tôi, tên sách cũng có thể là:
”Hồng đăng hằng tại.”
(Ánh sáng cầu vồng vốn là huyễn, tồn tại vĩnh hằng là chân lý.)

🌟

Thông qua các ý kiến của Chư Phật, Bồ Tát, Hộ Pháp, Không Hành, Chư Thiên, các vị ấy có thể gọi là: “Thiên hạ.”
Tự mình thắp đèn sáng ở đây đương nhiên là: “Đệ nhất.”
Phật tính chân như này tự nhiên là: “Xuất sắc.”

Thế là, tổng hợp lại các ý kiến của chư vị, bên trong tôi bừng sáng lên, bèn lấy tên sách là: “Thiên hạ đệ nhất xuất sắc.” Tiêu đề phụ vẫn là: “Đọc lại Ngũ Đăng Hội Nguyên - Phần 3.” 

“Thiên hạ đệ nhất xuất sắc” này đương nhiên là ngọn đèn xuất sắc số một trong thiên hạ, là sự tổng hợp toàn bộ những ý kiến của chư vị.

Tôi cầu nguyện:
Người đọc sách này, đại triệt đại ngộ, tâm khai ý giải, soi sáng chân như, chứng đắc quả vị.

Tương lai tươi sáng rồi!

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/197-dai-cong-khai-thien-co.md
# Title: 197. Đại công khai thiên cơ
---

![image](/img/img_65bf895fc93cdaa2cc3451789c13b7a0.jpg)



## Đại công khai thiên cơ


🪷 Thần thông đại biến hóa

Văn tập số: 197
Xuất bản: 11/2007
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu


Thế giới ngày nay có rất nhiều người học Phật đều muốn học được thần thông. Bởi vì có thần thông thì nhất định sẽ nổi danh, hơn nữa lợi ích sẽ cuồn cuộn đổ về. Sẽ có rất nhiều đệ tử ái mộ tên tuổi kéo đến, quỳ xuống trước mặt mình, có rất nhiều người thỉnh cầu ùn ùn kéo đến.
Tôi nói với mọi người:
Phật pháp đích thực có thần thông, tôi lấy một ví dụ nhỏ:
Trong “Tạp Bảo Tạng Kinh” nói:
Phật Đà ở trong thành Vương Xá, Đề Bà Đạt Đa trong lòng rất căm ghét Phật Đà, luôn muốn hại Phật Đà. 
Đề Bà Đạt Đa đã thuê rất nhiều xạ thủ cầm cung tên, nấp mình trong rừng đợi đến khi Phật Đà đi qua thì sẽ dùng cung tên bắn chết Phật Thích Ca Mâu Ni.
Phật Đà muốn trở về nơi ở của mình, những xạ thủ này lần lượt giơ cung tên lên bắn, ngay tức khắc tên bắn ra như mưa. 
Phật Đà hô lên một tiếng: “Biến!”
Tên mà những xạ thủ này bắn ra đều biến thành bốn loại hoa, đó là hoa kumuda [một loại hoa súng], hoa pundarika [hoa sen trắng], hoa padma [hoa sen], hoa utpala [một loại hoa giống hoa sen]. Một biển hoa bao vây lấy xung quanh Phật Đà.
Tên biến thành hoa.
Bao nhiêu xạ thủ nhìn thấy đại thần thông của Phật Thích Ca Mâu Ni đều quỳ xuống sám hối, thỉnh Phật vì họ mà thuyết pháp, hơn nữa họ còn theo Phật Đà xuất gia trở thành tì kheo. 
(Đây là những ghi chép trong “Tạp Bảo Tạng Kinh”.)

Tôi nói, khi Phật Đà tại thế, Phật Đà và đệ tử của ngài thật sự từng hiển hiện rất nhiều thần thông đại biến hóa. 
Chủ yếu là:
Để hàng phục ngoại đạo hoặc hàng phục tà ma.
Độ người quy y.
Khiến con người sinh ra lòng tin vào chính pháp.
Ngoài những mục đích này ra, Phật Đà cấm chỉ sử dụng thần thông. Nguyên nhân chủ yếu nhất là nếu người người đều cầu thần thông thì sẽ lơ là chính pháp, không học chính pháp, chỉ cầu thần thông, lẫn lộn đầu đuôi, chủ và khách đổi vị trí cho nhau [ý nói việc quan trọng và việc thứ yếu lẫn lộn vị trí với nhau], như thế sẽ làm hỏng Phật pháp.

🌟

Cá nhân tôi viết cuốn sách này với mục đích không phải là hướng dẫn con người học thần thông, mà là mượn đại biến hóa của thần thông để chỉ dẫn con người quy y Phật giáo “chính tín”. 
Tôi thường nói, chỉ cần bạn tu học chính pháp thì tự nhiên sẽ sản sinh ra sức mạnh tương ứng. 
Thần thông nhỏ của cõi Dục giới chẳng xem là cái gì cả.
Thần thông của cõi trời Tứ thiền mới xem là đại thần thông.
Còn có thần thông bên ngoài tam giới là vô hạn, không thể nói, không thể đo lường, không thể kể hết.
Tôi chỉ là muốn mượn kinh nghiệm thần thông của mình để dẫn dắt người đời quy y Phật giáo “chính tín”. 
Chỉ có tu trì chính pháp mới có thể cắt đứt phiền não, chấm dứt sinh tử. Có rất nhiều sức mạnh thần thông lớn nhưng rốt cục vẫn không sao chạy thoát khỏi quy luật vô thường.

Tôi nói với mọi người một thiên cơ lớn nhất, thiên cơ này là:
”Vô ngã tướng.”
”Vô nhân tướng.”
”Vô chúng sinh tướng.”
”Vô thọ giả tướng.”
Đây là sức mạnh thần thông chí đại chí cao vô hạn. Kính mời mọi người suy nghĩ kĩ. Tỉ mỉ mà ngẫm nghĩ một chút xem!

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Thần thông phù hợp với thiên cơ


Khi Phật Đà đang ứng hóa ở thế gian vẫn thường hiển hóa thần thông. Ở đây tôi lại lấy một ví dụ.
Kinh Hiền Ngu nói:
Có một vị là vua Bình Sa là người tín ngưỡng Phật Đà. 
Còn em trai của Quốc vương Bình Sa lại tín ngưỡng sáu thầy ngoại đạo. 
Khi ấy, tín đồ của sáu thầy ngoại đạo đã đầy khắp cả đất nước ấy, họ nói những tà kiến tương phản, lừa gạt mê hoặc vạn dân, các tín đồ mê muội tín phục tà pháp, cho rằng đây mới là chính đạo.

Khi ấy, vua Bình Sa khuyên em trai tín ngưỡng Phật pháp, nhưng em trai vua chấp vào tà giáo, không tin. 
Em trai vua nói:
”Em có sáu thầy, không cần Phật pháp.”
Sáu thầy cũng nói:
”Thần thông của ta không thua kém Phật.”

Thế là vua Bình Sa tổ chức cuộc thi đấu thần thông giữa Phật Đà và sáu thầy ngoại đạo. Phật Đà và sáu thầy ngoại đạo đều ngồi trên những pháp tọa cao lớn. 
Sáu thầy ngoại đạo diễn hóa một vài pháp thuật biến hóa (pháp thuật thô). 
Vạn người vỗ tay.
Còn Phật Thích Ca Mâu Ni rất thong dong điềm tĩnh, bên trái có Đế Thích Thiên, bên phải có Đại Phạm Thiên, Phật Đà chỉ đưa cánh tay ra, dùng tay ấn vào pháp tọa. 
Lập tức xuất hiện năm Đại Thần Vương, lần lượt lật đổ pháp tọa của sáu thầy ngoại đạo, sáu thầy ngoại đạo từ trên pháp tọa người nào người nấy ngã nhào. 
Lại xuất hiện Mật Tích Kim Cang [Guhyapada, còn gọi là Kim Cang Lực Sĩ, hóa thân của Kim Cang Thủ Bồ Tát], giơ chày kim cang, đầu chày phun lửa, đánh vào đầu của sáu thầy ngoại đạo, sáu thầy ngoại đạo kinh hoàng bỏ chạy, rối rít thỉnh cầu thương xót và sám hối.
Cuối cùng:
Sáu thầy ngoại đạo đã quy y Phật.
Vạn chúng quy y Phật.

🌟

Phật Thích Ca Mâu Ni diễn hóa thần thông quả nhiên là lợi hại, ngài chỉ mỗi đưa tay ra, ấn vào pháp tọa (tương tự như ấn Chạm đất), sáu thầy ngoại đạo lập tức đi đời rồi. 
Cho nên tôi cho rằng thần thông của Phật Đà là tự nhiên phát lộ, chỉ là một thủ ấn, một pháp chỉ, một luật lệnh, thế là tất cả tự nhiên mà thành.
Không cần phải:
”Thiên linh linh.”
”Địa linh linh.”

Cá nhân tôi cho rằng, Phật Thích Ca Mâu Ni diễn hóa thần thông có ba điều:
1. Nói thiện ác báo ứng, mục đích chính là ngăn chặn chúng sinh tạo nghiệp, ngăn chặn chúng sinh đọa vào ba ác đạo.
2. Nói về đạo luân hồi, nói về khổ của luân hồi, mục đích chính là bảo người ta cần thoát khỏi luân hồi, hướng dẫn người ta xuất thế tu hành.
3. Nói về đại trí, đại bi, phương tiện, trí huệ, chỉ dẫn chúng sinh đắc pháp cứu cánh, phát tâm bồ đề.

Thần thông của Phật Thích Ca Mâu Ni chính là việc thuyết pháp của Phật Thích Ca Mâu Ni. (Điểm này mọi người cần phải thấy rõ, tuyệt đối không phải là khoe khoang thần thông.)

Tôi diễn hóa thần thông là:
1. Ngăn cái ác, biểu dương cái thiện.
2. Thuận tiện cứu người.
3. Chỉ dẫn chúng sinh chính tín.
4. Tiếp dẫn chúng sinh vãng sinh Phật quốc thanh tịnh.

Ở đây, tôi cần nhắc lại một lần nữa, thần thông là tự nhiên bộc lộ mà ra, không phải là cố ý làm phô trương để cho mọi người xem. Cái mà chúng ta theo đuổi là Chân như, không phải là thần thông. 
Mọi người cần nhớ kĩ: “Tất cả pháp hữu vi, như mộng huyễn bào ảnh, như sương cũng như điện, nên quán thấy như vậy.”


### 02. “Không không” là đại thần thông


Trong cuộc đời này tôi tu hành, có một khoảng thời gian tôi lâm vào một cuộc thử thách lớn nhất, khiến tôi vô cùng nản chí ngã lòng.
Những ngày tháng đó:
Có một làn sóng vu khống phỉ báng khủng khiếp.
Thân thể bị bệnh tật tấn công.
Thể chất và tinh thần đều kiệt quệ.

Tôi gần như không còn muốn sống trên nhân thế gian này nữa. Tôi muốn dùng pháp Li xá để xuất nguyên thần. Nhưng Phật Thích Ca Mâu Ni đã xuất hiện đúng lúc nói với tôi rằng:
Tất cả đều sẽ qua đi.
Tất cả đều không tồn tại.
Tất cả đều là không không.

Bỗng nhiên tôi nghĩ, đó là ba pháp ấn của Phật Đà:
Chư hành vô thường. (sẽ thay đổi sẽ trôi qua)
Chư pháp vô ngã. (không tồn tại cái tôi)
Niết bàn tịch tĩnh. (không không không không)
Thế là, tôi sống dậy từ cõi chết, sự tinh tấn của tôi càng dũng mãnh hơn trước đây. 
Hơn nữa, tôi không còn rơi vào cơn thoái trào của tu hành nữa. 
(Khi tôi ở trong cơn thoái trào, tôi vẫn một lòng một ý niệm Phật trì chú, cầu nguyện vãng sinh Phật quốc.)
Ở trong cơn thoái trào, tôi vẫn sống một ngày cảm ơn một ngày, sống một ngày vui vẻ một ngày, sống một ngày tu hành một ngày.

🌟

Tôi phát hiện ra thần thông lớn nhất là:
”Không không.”
”Không không” này có thể độ người ta thành “không không” của Phật.
Đây gọi là:
Danh lợi không không.
Phiền não không không.
Tức giận không không.
Dục vọng không không.
Sinh tử không không.

Một người chỉ cần tu đến cảnh giới “không không”, chẳng ngờ lại có thần thông có thể xuyên tường.
Bức tường là không.
Có thể đi vào nước.
Nước là không.
Có thể đi vào lửa.
Lửa là không.
Bởi vì thần thông lớn nhất là “không không”, người và pháp đều không, cho nên đây chính là đại thần thông.

“Tạp Bảo Tạng Kinh” nói:
Có rất nhiều người theo đạo Ni Kiền Tử [Nigrantha, một tên gọi khác của đạo Jain, là một phái tu hành khổ hạnh cực đoan vào cùng thời kì với đạo Phật.] muốn tự sát, Ni Kiền Tử là những hành giả tu hành ngoại đạo. Ni Kiền Tử đốt lên một đống lửa lớn, muốn lao đầu vào lửa tự sát.

Phật Đà thấy vậy muốn cứu họ. Ngài nhập vào hỏa quang tam muội, Phật ngồi trong lửa, những Ni Kiền Tử kia nhìn thấy, ai nấy đều lao đầu vào trong lửa. Kết quả là những người quăng mình vào trong lửa đều không chết, ngược lại thân tâm họ trở nên cực mát mẻ, có được sự sung sướng cực độ. 
Họ hỏi Phật Đà:
”Vì sao lao vào lửa mà không chết?”
Phật Đà đáp:
”Thân mình là không, lửa cũng là không.”

🌟

Tại đây, tôi nói với mọi người:
Tất cả Phật pháp đều từ “không không” sinh ra, bản chất của thế giới vốn là “không không”, “không huệ” [trí huệ tính Không] là bát nhã. Lư Thắng Ngạn tôi hôm nay vì đã đắc “không huệ”, cho nên có thể diễn hóa thần thông, “không không” là đại thiên cơ.


### 03. Bác sĩ Phùng Cẩm Lương


Bác sĩ Phùng là bác sĩ chủ trị khoa Phụ sản Bệnh viện Hòa Bình ở Đài Bắc Đài Loan. Trong đợt tấn công của dịch bệnh SARS, ông ấy là một trong những bác sĩ bị giữ lại lâu nhất tại bệnh viện Hòa Bình. 
Lúc còn chưa nhận thức được về căn bệnh SARS, bác sĩ Phùng đã khám bệnh cho một phụ nữ bị nhiễm SARS. Bác sĩ Phùng là bác sĩ tiếp xúc gần nhất với SARS. 
Người phụ nữ bị mắc SARS đó đã chết rồi!
Người y tá bên cạnh bác sĩ Phùng cũng đã chết rồi!
Chỉ có một người vẫn chưa chết, chính là: bác sĩ Phùng Cẩm Lương.
Chuyện này là sao? Một người tiếp xúc gần nhất với SARS mà lại không chết, người chết lại là y tá ở bên cạnh ông ấy.

🌟

Bác sĩ Phùng nói:
”Tôi đã nhận đại quán đảnh pháp Thời Luân Kim Cang của Lư Sư Tôn!”
Bác sĩ Phùng nói:
”Tôi ngày ngày tu Hộ Ma hỏa cúng, có Đại Hộ Pháp Thần ở bên!”
Bác sĩ Phùng nói:
”Khi tôi bị giữ lại trong bệnh viện Hòa Bình chờ chết, những người bị giữ lại trong lòng đều hoang mang, chỉ sợ rằng sắp đến lượt mình chết, nhưng tôi không hoảng cũng không sốt ruột, vừa hay tôi có thể bế quan tu hành, ngày ngày ngồi yên tu pháp, thân tâm thư thái, toàn thân mát mẻ.”
Bác sĩ Phùng nói:
”Bác sĩ cũng đã đi mất mấy người, y tá cũng đã đi mất mấy người. Tôi lần lượt tu pháp siêu độ cho họ.”
Bác sĩ Phùng nói:
”Tôi biết mình sẽ không chết, bởi vì tôi đã có được đại quán đảnh Thời Luân Kim Cang của Lư Sư Tôn.”

🌟

Pháp Thời Luân Kim Cang có tác dụng đặc biệt:
1. Phàm người nào đã nhận quán đảnh, hơn nữa còn kiên định tín ngưỡng, dù không tu cũng có thể trong bảy đời chắc chắn thành Phật.
2. Phàm người nào nghe được pháp này mà sinh tín ngưỡng, người nhận được quán đảnh và trì chú, đều tránh được các kiểu tai họa trên thế giới, ví dụ: 
Gió bão.
Lũ lụt.
Hỏa hoạn.
Động đất.
Chiến tranh.
Bệnh truyền nhiễm. (ví dụ SARS)
Bệnh hiểm nghèo.
Bệnh nan y khó chữa.
(Tự nhiên có thể vượt qua được sự xâm hại của những tai họa rủi ro này.)
3. Phàm người nào nghe được pháp này, đã nhận quán đảnh, nếu không phạm trọng tội, nhất định có thể vào đời tương lai có được thân người, hoặc sinh ra ở tịnh thổ Shambhala và các tịnh thổ khác. Tuyệt đối sẽ không đọa lạc vào trong tam ác đạo. Người phạm trọng tội có thể giảm nhẹ, tội nhẹ thì có thể được miễn trừ. Hễ là động vật hay côn trùng nghe được chú ngữ của Thời Luân Kim Cang thì đều có thể giải thoát.

🌟

Sở dĩ tôi có được truyền thừa của pháp Thời Luân Kim Cang cũng là có lí do của nó:
Panchen Lama thứ 9 — Sakya Chứng Không Thượng sư — Liên Sinh Hoạt Phật.
Cam Châu Hoạt Phật — Thubten Dhargye Thượng sư — Liên Sinh Hoạt Phật.
Khi dịch SARS tấn công, bác sĩ Phùng Cẩm Lương đã trực tiếp tiếp xúc với bệnh nhân bị SARS mà không chết, ngược lại, y tá ở bên cạnh thì lại chết. 
Bởi vì có được quán đảnh của tôi, xung quanh ông ấy có rất nhiều Thần Tướng.
Tôi không hề dùng thần thông đặc biệt gì để bảo vệ cho bác sĩ Phùng Cẩm Lương. 
Nhưng thần thông tự hiển hiện. Thần thông xuất hiện một cách đầy tự nhiên.
Bác sĩ Phùng Cẩm Lương tương lai nhất định đắc đại thành tựu.


### 04. Mẹ của bác sĩ Phùng Cẩm Lương


Bác sĩ Phùng có thể ở trung tâm thành phố Đài Bắc để làm Hộ Ma hỏa cúng của Mật giáo là nhờ gia tộc của ông ấy có một “gia miếu”. 

Cái gọi là “gia miếu” này chính là khi nhà họ Phùng chuyển đến Đài Loan, tổ tiên của họ đã xây dựng lên ngôi miếu này để thờ cúng những thần linh từ quê hương của họ đã bảo vệ cho họ (đến được Đài Loan).
Ví dụ:
Bảo Sinh Đại Đế.
Khai Chương Thánh Vương.
Ngũ Phủ Thiên Tuế.
Pháp Chủ Công.
v.v…

Chủ thần được thờ phụng trong gia miếu không giống nhau, đó là vị thần bảo vệ cho gia tộc đó. Bởi vì bác sĩ Phùng có gia miếu cho nên ở trung tâm Đài Bắc mà ông ấy vẫn có thể làm Hộ Ma hỏa cúng rất dễ dàng. Bác sĩ Phùng làm Hộ Ma hỏa cúng, người mẹ già của ông ấy đứng bên cạnh xem. Mẹ của bác sĩ Phùng có thể nhìn thấy Phật Bồ Tát đến, nhìn thấy thần Hộ pháp đến. 
Mẹ Phùng nói:
”Quan Thế Âm Bồ Tát đến rồi, chân ngài dẫm lên tòa hoa sen, ngài nhẹ nhàng bay đến!”
Mẹ Phùng nói:
”Phật Tổ cũng đến rồi, bên cạnh có hai thị giả, một người cầm tích trượng, một người cầm bình bát.”
Mẹ Phùng nói:
”Liên Hoa Đồng Tử đến rồi! Lư Sư Tôn từ cửa sổ bay vào! Con xem! Con xem!”

Bác sĩ Phùng rất hiếu kì hỏi:
”Mẹ thật sự nhìn thấy sao?”
Mẹ Phùng nói:
”Cái gì mẹ cũng nhìn thấy hết, con không nhìn thấy mới là lạ đó!”

Phùng Cẩm Lương thấy mẹ mình cái gì cũng nhìn thấy, còn mình thì cái gì cũng không nhìn thấy, cho nên cực kì nghi hoặc. 
Bác sĩ Phùng nói:
”Tôi tu hành nhiều năm, đã làm không biết bao nhiêu lần Hộ Ma hỏa cúng rồi, ngồi yên thiền định cũng lâu như vậy rồi mà chẳng nhìn thấy cái gì cả. Thế mà mẹ tôi, bà ấy là một người phụ nữ gia đình bình thường lại cứ luôn miệng nói là nhìn thấy. Mẹ tôi cũng chẳng phải vì danh, cũng chẳng phải vì lợi, bà ấy cũng già rồi, sẽ chẳng nói dối con trai con gái bà đâu, nhưng làm sao mà bà ấy lại nhìn thấy?”
Bác sĩ Phùng hỏi tôi:
”Có phải là mẹ tôi có bát tự thấp, cho nên mới nhìn thấy không? Hay là do nhân tố nào khác?”
Tôi đáp:
”Bát tự thấp, bát tự nhẹ, người thế tục đều nói như vậy. Nhưng tôi cho rằng mẹ của anh có thể nhìn thấy Phật Bồ Tát là vô tâm mà nhìn thấy thì mới nhìn thấy được.”
Bác sĩ Phùng hỏi:
”Vô tâm là thế nào?”

Tôi đáp:
”Một người, nếu tâm phẳng lặng như gương, tự nhiên vạn vật sẽ hiện lên trong đó. Một người, tâm rối như hẹ, như sóng dập dềnh thì tất cả sẽ không hiện lên được. Một người vô tâm nhìn Phật thì tự nhìn thấy Phật Bồ Tát. Một người có tâm nhìn Phật thì trái lại, không nhìn thấy gì cả.”
Bác sĩ Phùng im lặng gật đầu:
”Mẹ tôi đúng là vô niệm rồi!”

Tại đây, tôi chỉ muốn nói với mọi người, hành giả chúng ta phải tu “chế tâm một chỗ”, phải tu “vô tâm”, bởi vì chỉ có “chế tâm một chỗ”, “vô tâm” mới có thể nhập thiền định. 
Phật nói:
”Chế tâm một chỗ, không việc gì không làm được!”
Ở đây có đại thiên cơ, đại thiên cơ của thần thông này chính là: “Vô tâm.”


### 05. Cái lưng của Lư Côn Tuấn


Lư Côn Tuấn chính là em trai lớn của Thượng sư Liên Hương (Lư Lệ Hương), từ lúc trẻ đã kinh doanh cửa hàng hoa, rất thành công.
Lư Côn Tuấn hiện tại đang xây dựng nhà trẻ. Có lẽ vì quá mệt nhọc cho nên lưng của cậu ta bị xơ cứng, lưng chỉ có thể cúi xuống một chút xíu, nếu cúi nhiều quá là sẽ đau.

Cậu ta tìm bác sĩ chữa bệnh đã nhiều năm, nhưng từ đầu tới cuối đều không có cải thiện gì, tình hình cứ như thế đã kéo dài nhiều năm rồi, cũng phải tới mười năm.

Mùa xuân năm 2007. Tại Đài Loan Lôi Tạng Tự, tôi cử hành Hộ Ma hỏa cúng Đại Uy Đức Kim Cang. Sau khi hỏa cúng kết thúc, lúc thuyết pháp, tôi nói:
Thỉnh cầu chủ tôn Hộ Ma - Đại Uy Đức Kim Cang Minh Vương gia trì cho những người đã báo danh tiêu trừ tất cả tai nạn. 
Thỉnh cầu chủ tôn Hộ Ma - Đại Uy Đức Kim Cang Minh Vương gia trì cho những người đã báo danh gia tăng lợi ích, gia tăng trí huệ. 

Thỉnh cầu chủ tôn Hộ Ma - Đại Uy Đức Kim Cang Minh Vương gia trì cho những người đã báo danh tất cả kính ái viên mãn.
Thỉnh cầu chủ tôn Hộ Ma - Đại Uy Đức Kim Cang Minh Vương gia trì cho những người đã báo danh hàng phục tất cả kẻ thù, hóa thành cát tường.
Sau cùng tôi nói:
Thỉnh cầu chủ tôn Hộ Ma - Đại Uy Đức Kim Cang Minh Vương gia trì cho những người đã báo danh tất cả bệnh tật đều được loại trừ.

Tôi hét lớn:
”Loại trừ tất cả bệnh tật!”
Lư Côn Tuấn ở bên dưới vừa nghe thấy thì cả người mềm nhũn, ngồi bịch xuống đất, cảm giác chỗ đan điền nổi lên một ngọn lửa liên tục cháy bên trong thân mình. Ngọn lửa này cháy đến phần lưng, theo xương sống lưng đi lên, cháy khắp nơi. Đây là cảm giác của bản thân Lư Côn Tuấn.

🌟

Pháp hội kết thúc, cậu ta trở về nhà mình, tình cờ cúi cong lưng thì thấy cái lưng bị xơ cứng không còn đau nữa. 
Cái lưng bị xơ cứng không bị cứng nữa, có thể cúi xuống hai tay chạm đất, cái lưng đau suốt mười năm đã khỏi rồi. 
Kể từ đó đã hoàn toàn khỏi hẳn!
Lư Côn Tuấn hét lớn:
”Kì tích! Kì tích!”
Còn nói:
”Thì ra tham gia pháp hội của Lư Sư Tôn lại có nhiều lợi ích đến như vậy.”

Em gái của Thượng sư Liên Hương là Lư Huy Phượng từ lâu đã cảm ứng thấy pháp lực của Phật pháp. Chồng của Lư Huy Phượng là Trần Gia Bình từ lâu cũng đã cảm ứng được pháp lực của Phật pháp.
Giờ đây, em trai Lư Côn Tuấn của Thượng sư Liên Hương cũng cảm ứng thấy đại pháp lực của Phật pháp rồi.
…..

🌟

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người, Mật giáo có rất nhiều pháp phương tiện, tám vạn bốn nghìn loại pháp để trị tám vạn bốn nghìn loại bệnh, đối với các pháp thế gian, Mật giáo đã phát huy công năng lớn nhất.

Tôi còn nói:
”Đối với các pháp xuất thế gian, Mật giáo có thể khiến con người hoàn toàn tịnh hóa, trở thành thể ánh sáng thanh tịnh, có được trí huệ Như Lai vô thượng và viên mãn, có thể tức thân thành Phật.”
Trong khi tôi làm pháp tại những buổi Hộ Ma hỏa cúng, thiên cơ lớn nhất là: “Sự tập trung tinh thần cao độ.”


### 06. Tứ thiền bát định đốn phát thần thông


Từng có người hỏi tôi:
”Làm sao ngài có thể nhìn thấy chư Phật Bồ Tát?”
Tôi đáp:
”Định.”
Lại hỏi:
”Làm sao ngài có thể nhìn thấy mười phương tịnh thổ?”
Tôi đáp:
”Định.”
Lại hỏi:
”Làm sao ngài có thể kiến chứng Phật tính chân như?”
Tôi đáp:
”Định.”
Lại hỏi:
”Làm sao ngài có thể thần hành trong mười pháp giới?”
Tôi đáp:
”Định.”
Tại đây tôi nói với mọi người, nếu không có công phu của Tứ thiền bát định mà tự nói rằng bản thân có sức mạnh đại thần thông thì đó chắc chắn là nói khoác. Không có công phu của Tứ thiền bát định thì có thần thông cũng chỉ là loại pháp thuật bình thường, hoặc là:
Mộng thị.
Quỷ thông.
Tiểu thần thông.
Tiểu quỷ thông.
Muốn thật sự đạt đến “ngũ nhãn lục thông” của Phật pháp, không có Tứ thiền bát định thì không thể đắc được.

🌟

Phật Thích Ca Mâu Ni ở dưới cây bồ đề đã thành tựu Đẳng chính giác, đã thị hiện Tứ thiền bát định, đó là để chỉ dẫn thế nhân con đường tu hành nhất định phải đi như vậy. 
Sơ thiền — ý niệm thanh tịnh.
Nhị thiền — thanh tịnh thủ nhất, hoàn toàn bất di bất dịch.
Tam thiền — do thanh tịnh mà thấy được chân tướng.
Tứ thiền — vô thiện, vô ác, vô khổ, vô lạc, tịch tĩnh, vô biến.
Như thế:
Mới là “thành tựu tất cả”, “trí huệ đã tỏ”, “vô vi độ thế”, một sự giác ngộ bao la tự nhiên!
Tứ thiền bát định là đại thiên cơ!

🌟

Nếu chúng ta thành tựu Tứ thiền bát định rồi, chắc chắn tất cả chư Thiên sẽ ca ngợi chúc mừng.
Tất cả chư Thiên sẽ đến giúp bạn tu hành.
(Đây là điều được ghi chép trong kinh Phổ Diệu.)
Nếu chúng ta thành tựu Tứ thiền bát định rồi thì có thể nhìn thấy 41 vị Pháp thân Đại Sĩ.
Tất cả diệu pháp của 41 vị Pháp thân Đại sĩ, chúng ta đều có thể biết được toàn bộ. Tự do ra vào thế giới Hoa Tạng. 
(Đây là điều được ghi chép trong kinh Hoa Nghiêm.)
Nếu chúng ta thành tựu Tứ thiền bát định rồi, lập tức có thể hiểu rõ thế nào là giới. 
Giới là ngăn cấm.
Giới cũng là định.
(Đây là điều được ghi chép trong kinh Phạm Võng.)

Dưới cây bồ đề, Phật Thích Ca Mâu Ni đắc đại định, thành tựu Đẳng chính giác, đoạn trừ sinh tử, tức thân thành Phật, đó là thần thông lớn nhất. Thiền định của Như Lai còn gọi là “hỉ duyệt tam muội”, “hỉ duyệt tam muội” này chính là thiền định. 

Tôi nói với mọi người:
Tứ thiền bát định là đại thần thông vô thượng.


### 07. Liên Hoa Thoa Mạch trúng xổ số


Có một đôi vợ chồng trẻ rất thành kính đến Seattle Lôi Tạng Tự ở Mĩ để xin quán đảnh quy y và tu Mật pháp. 
Khi ấy, tôi truyền thụ cho họ pháp Quán nguyệt luân và pháp Lập tức có tiền.
Đôi vợ chồng này nhận quán đảnh, có được pháp.
Đôi vợ chồng này gia cảnh thanh bần.
Đôi vợ chồng này lương thiện và thật thà, họ cung kính Sư Tôn, cung kính pháp sư, cung kính các đồng môn, không có thị phi, từ đầu tới cuối họ đều rất có phép tắc và lễ độ.

Vì thế, Diêu Trì Kim Mẫu đã “để mắt” đến họ.
Họ là vợ chồng Liên Hoa Thoa Mạch. 
Sau khi tôi truyền Mật pháp, tôi nói với mọi người:
”Tôi muốn để cho họ trúng giải nhất xổ số.”
Tôi nói:
”Các bạn hãy chứng minh cho Sư Tôn thấy.”
Tôi nói:
”Trúng xổ số rồi phải đứng ra để chứng minh.”
Tôi nói:
”Các bạn có tin không?”

🌟

Hai vợ chồng Liên Hoa Thoa Mạch rất cung kính bốc quẻ trước Diêu Trì Kim Mẫu. Có được chỉ thị rằng:
”Phải niệm 8 triệu biến Thượng sư tâm chú!”
Bình thường, hai vợ chồng họ tu pháp, có thời gian thì niệm Thượng sư tâm chú. 

Vốn dĩ họ có thói quen mỗi tuần đều mua xổ số lotto, mỗi lần mua 5 đô-la Mĩ, nhưng chưa bao giờ trúng. (Trúng giải xổ số lotto không dễ, khó hơn rất nhiều so với bị Thiên Lôi đánh trúng.)
Thế nhưng, khi họ niệm đủ 8 triệu biến Thượng sư tâm chú, rồi còn ngày ngày tu pháp, Diêu Trì Kim Mẫu đã xuất hiện, phóng ra trăm loại ánh sáng quý chiếu đến họ.
Tám đại Bổn tôn xuất hiện, phóng ánh sáng đến họ.
Tín tâm của họ đã tăng trưởng.
Sư Tôn nói với họ:
”Các bạn sẽ trúng xổ số!”

🌟

Vợ chồng Liên Hoa Thoa Mạch đã tiêu 5 đô-la Mĩ để mua một tấm vé xổ số tại siêu thị ở gần nhà. 
Buổi tối hôm đó quay thưởng. 
Vợ Liên Hoa Thoa Mạch nói:
”Chúng ta so xổ số đi!”
Liên Hoa Thoa Mạch nói:
”Anh mệt rồi, em so đi! Anh đi ngủ trước.”
Người vợ vừa so xong thì ngây người ra, nói với Liên Hoa Thoa Mạch: 
”Trúng giải rồi!”
Đêm ấy suốt đêm họ không ngủ, căn bản là không thể nào ngủ được.
…….

Họ trúng được giải thưởng tổng cộng là 55 triệu đô-la Mĩ, tương đương với 1,9 tỉ Đài tệ. Rất nhiều rất nhiều người cả đời cũng không kiếm được số tiền nhiều như vậy. 
Pháp Lập tức có tiền đã tương ứng rồi.
Quả nhiên trúng giải lớn!

🌟

Để cho các đệ tử Chân Phật Tông biết Liên Hoa Thoa Mạch trúng xổ số lotto, đây là thần thông gì?
Tôi nói với mọi người:
”Chính là thần thông chư Thiên ca ngợi chúc mừng!”
Có một câu nói là:
”Người có lòng thành, Phật có cảm ứng!”


### 08. Bà thím ở California


Bà thím ở California nước Mĩ có tiếng tăm không hề nhỏ, rất nhiều đồng môn Chân Phật Tông đều biết. 
Bà thím từng rất hùng hồn nói rằng:
”Anh đến sân bay California, vừa xuống máy bay hỏi thăm bà thím là ai, không ai là không biết.”
Thật ra, bà thím đã quy y tôi từ rất sớm. Năm đó, Lư Thắng Ngạn tôi đang ở Đài Trung Đài Loan (biệt thự Tinh Võ) để hỏi việc. 
Bà thím sống tại thành phố Saint Louis ở nước Mĩ, hễ có việc là bà ấy lại từ Mĩ bay về Đài Loan để hỏi tôi. Tính ra, nhân duyên giữa tôi và bà thím đã kéo dài 30 năm rồi. 
Bà thím nói:
”Năm xưa có thể nói là tôi rất ấu trĩ. Phong thái còn rất tung tẩy nữa.”
Bà thím nói:
”Bây giờ tôi đúng là đã già rồi!”

🌟

Tôi ẩn cư 6 năm. 
Khẩu khí của bà thím vẫn rất lớn, có lẽ vì khẩu khí lớn cộng với tính nóng nảy “có chuyện là phải nói” của bà ấy đã khiến bà ấy đắc tội với cao nhân nào đó ở đâu đó.
Bà ấy đã mắc chứng mất ngủ. 
Ăn cũng không ăn được. 
Ngủ cũng không ngủ được. 
Toàn thân cảm thấy rất khó chịu.
Bà thím đã tìm đến các bác sĩ Đông y nổi tiếng ở khắp nơi để khám bệnh, kết quả là tình trạng vẫn thế, chẳng hề cải thiện.
Bà ấy thật sự đã chịu đựng suốt mấy năm rồi.

Bà thím vốn có một thân hình mập mạp, thế nhưng qua thời gian cân nặng đã liên tục giảm sút, không còn giống bà thím nữa, trở thành “bà thím còi” gầy nhẳng gầy nheo. 
Bà thím còi chỉ còn biết im lặng chịu đựng, có nỗi khổ mà không thể nói ra.

🌟

Sau khi tôi ẩn cư 6 năm thì mới ra ngoài gặp đệ tử. Bà thím không thể đợi hơn được nữa, vội vàng từ California nước Mĩ bay đến Đài Loan Lôi Tạng Tự để đợi tôi xuất hiện. 
Các đồng môn Chân Phật Tông đều không nhận ra bà ấy. 
Bà thím to béo phốp pháp ngày xưa bây giờ đã gầy tong gầy teo. 
Chỉ còn lại bộ mặt khô héo.
Diêu Trì Kim Mẫu nói với bà:
”Có thể đến nhà xuất bản Văn Hóa Đại Đăng trên phố Khả Hân, tầng trên của Quảng Hỉ Đường để đợi Lư Sư Tôn, Lư Sư Tôn chắc chắn sẽ xuất hiện.”
Kết quả là, tôi thật sự xuất hiện.
Tôi dùng bàn tay vỗ vào lưng bà thím. 
”Bộp” một tiếng. 
Một con quái vật nhỏ màu xanh lá cây, vẻ mặt dữ tợn, lông lá xù xì từ trong miệng bà thím nôn ra. 
Tôi nhìn thấy rõ mồn một.
Tôi hét lên một tiếng: “Cút!”
Con tiểu quỷ kinh hãi bỏ chạy mất dạng.
Kể từ ngày hôm đó, chứng bệnh mất ngủ của bà thím đã hoàn toàn khỏi hẳn, bà ấy ăn được, ngủ được. Thân thể cũng không cảm thấy khó chịu nữa, tất cả đã bình thường trở lại. Giọng nói của bà ấy lại càng to hơn.

🌟

Đây là thần thông gì?
Tôi nói với mọi người, đây là “Đại Lực Kim Cang chưởng”. Là lực của Kim Cang Thủ Bồ Tát, là lực của hành giả Mật giáo chúng ta, đến từ Kim Cang Thủ Bồ Tát. Kim Cang Thủ Bồ Tát tượng trưng cho lực.
Tôi dùng “chính lực” để đánh đuổi “tà lực”. 
Đây chính là thần thông lực!


### 09. Thần thông của Mật giáo


Theo như tôi biết, thần thông lực trong Mật pháp của Mật giáo đích thực là vô biên vô cùng, hơn nữa còn vô hạn vô tận. Cái sự khó tưởng tượng một cách không thể tưởng tượng này rất khó giải thích, cũng có nghĩa là rất khó nói rõ ràng với người bình thường, chúng ta chỉ có thể nói:
”Mật pháp rất thù thắng!”
Nói tóm lại là:
Có thần thông thế gian:
Tiêu tai — diệt trừ tai nạn và chữa bệnh.
Tăng ích — gia tăng tài phúc, gia tăng trí huệ, gia tăng thọ mệnh.
Kính ái — khiến người ta yêu kính bạn, gia đình viên mãn.
Hàng phục — khiến kẻ thù và tiểu nhân rời xa.

Có tám tiểu thần thông:
Thiên nhãn — nhìn thấu, nhìn xa, nhìn thấy điều mà con người không thể nhìn thấy.
Thần hành — chạy nhanh, đi nhanh, dùng thần lực để đi.
Ẩn thân — thân thể biến mất, con người không thể nhìn thấy.
Không hành — bay trong hư không.
Trường thọ — thuật hồi xuân.
Biến huyễn — dịch chuyển đồ đạc.
Nhiếp vật — nghĩ muốn thứ gì, thứ đó tự nhiên đến.
Quỷ thông — mọi quỷ thần đều nghe luật lệnh của ta, cũng tức là có thể sai khiến quỷ thần làm việc.

Có tám đại thần thông:
Thần biến — biến nam biến nữ, biến già biến trẻ, biến thần, biến ma, biến nhiều biến ít, biến cao biến thấp, biến dài biến ngắn.
Phân thân — hóa thân bên ngoài thân. Một người có thể biến thành mười người, trăm người, nghìn người, trong cùng một thời gian để con người nhìn thấy.
Biến vật — biến ra xe, nhà, làng mạc, núi, sông, ruộng đồng, hồ, biển.
Đại thần hành — các cõi trời, các cõi tịnh thổ, chùa Đại Lôi Âm, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, atula đều có thể đến.
Biến hóa như ý — nghĩ cái gì là biến hóa ra cái đó, muốn dùng cái gì là cái đó liền xuất hiện.
Sinh sát như ý — muốn người nào sinh con trai thì người đó sinh con trai, muốn người nào sinh con gái thì người đó sinh con gái, muốn người nào chết thì người đó chết, muốn người nào sống thì người đó có thể sống, đây là quyền sinh sát tùy ý.
Chúa tể trời đất — muốn mưa là mưa, muốn gió là gió, muốn dừng mưa là dừng mưa, muốn dừng gió là dừng gió. Muốn động đất dừng là dừng. Muốn hỏa hoạn dừng là dừng. Muốn khí hậu thay đổi là thay đổi.
(Trên đây là những thần thông thế gian, tám tiểu thần thông, tám đại thần thông, tuy nhiên những thần thông này vẫn chỉ là thành tựu của thế gian mà thôi, không phải là thành tựu tột cùng.)

🌟

Tôi cho rằng thần thông lớn nhất của Mật giáo là:
”Tức thân thành Phật.”
Do khí nhập trung mạch mà thông trung mạch, tâm quang minh hiển hiện, năm luân xa mở ra, thành tựu pháp của Ngũ Đại Kim Cang, thành tựu Ngũ phương Ngũ Như Lai.
”Giải thoát phiền não.”
”Chấm dứt sinh tử.”
”Kiến chứng chân như.”
”Không sinh không diệt.”
Trong kinh Hiền Kiếp nói:
”Tại hiền kiếp này có một nghìn vị Phật xuất hiện.”
Trong kinh tục của Mật giáo nói, trong một nghìn vị Phật, chỉ có bốn vị Phật là truyền Mật pháp, bốn vị Phật này là vị Phật thứ tư, thứ năm, thứ mười một và vị Phật cuối cùng thứ một nghìn.
Vì thế, Mật giáo vô cùng trân quý.


### 10. Thượng sư Cao Trình Tổ


Thượng sư Cao Trình Tổ là tổng chủ tịch của tổng hội Mật giáo Chân Phật Tông Malaysia.
Ông ấy vốn là một giáo viên. Sau đó ông sáng lập công ty CNI, có một vị trí ngách trong giới khởi nghiệp, có một vùng trời riêng của mình.
Thượng sư Cao Trình Tổ là một “datuk” ở Malaysia, ý nghĩa của datuk chính là một nhân sĩ kiệt xuất trong xã hội, cũng là người có cống hiến cho xã hội và quốc gia, nhiệt tình làm từ thiện công ích.
Bản thân tôi nghĩ:
”Datuk ở Malaysia khả năng chính là “thái bình thân sĩ” ở Hồng Kông.” [Thái bình thân sĩ - tiếng Anh gọi là justice of peace (JP), có thể hiểu một cách đơn giản là cá nhân nhiệt tình làm các công việc tình nguyện giúp đỡ cộng đồng.]
Thượng sư Cao từ nhỏ, cũng không biết là khi nào, từ rất sớm rất sớm, trên đầu có một cái bướu, tức là có một khối u thịt, một khối u lớn lồi ra.

🌟

Có một hôm.
Tôi truyền thụ bảy đại pháp Diêu Trì Kim Mẫu. Trong số đó có một pháp là pháp Tiêu trừ khối u.
Pháp Tiêu trừ khối u như sau:
Đầu tiên quán tưởng Bổn tôn xuất hiện trong hư không.
Đầu đội mũ phượng.
Tay phải cầm quả đào tiên.
Tay trái cầm cây phất trần.
Phóng đại quang minh, nét mặt hiền từ trang nghiêm.
Hành giả dùng tay ấn vào chỗ có khối u của mình, xưng Thánh hiệu của Bổn tôn ba lần. Thỉnh Bổn tôn phóng quang gia trì cho khối u.
Như thế khối u sẽ từ từ biến thành giống như tổ ong. Rất nhiều rất nhiều ong mật lần lượt bay ra khỏi lỗ của tổ ong. Rồi tổ ong thu nhỏ lại, tiêu biến.
(Những điều trên đều là quán tưởng.)
Sau đó niệm:
”Hùm hùm hùm. U bướu tiêu tan.”
Mỗi ngày một lần, hành giả làm quán tưởng như vậy và trì chú.

🌟

Sau khi Thượng sư Cao Trình Tổ nhận được quán đảnh của tôi, bởi vì trên đầu mình có một cái bướu thịt lồi ra, cho nên ông ấy cũng làm theo phương pháp của tôi, mỗi ngày một lần quán tu như vậy.
Vào một buổi sáng, ông ấy lại ấn vào cái bướu, nhưng cái ấn lần này khiến ông giật mình sửng sốt, bởi vì ông đang ấn vào “không khí”. 
Cái bướu đã biến mất rồi!
Cái bướu đã tiêu tan rồi!
Cái bướu đã không cánh mà bay rồi!
Chính miệng Thượng sư Cao Trình Tổ thuật lại đầu đuôi sự việc này cho tôi, thì ra pháp tu quán của Mật giáo đúng là có kì tích, đúng là có kì tích.
”Kì tích!”
”Kì tích!”
”Thần thông!”
”Thần thông!”

🌟

Chuyện này là thế nào?
Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người, tôi Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn cũng không phải là tự tâng bốc mình, tôi là vị Đại Trì minh Kim Cương Thượng sư Mật giáo có truyền thừa chân chính. Chỉ cần nhận được quán đảnh của tôi, chăm chỉ mỗi ngày một tu, có sự tu trì bền bỉ, sẽ có một ngày bạn sẽ kêu lên: 
”Kì tích! Kì tích! Thần thông! Thần thông!”
U bướu thật sự tiêu biến rồi!


### 11. Cư sĩ Vương Tư Chủ


Cư sĩ Vương Tư Chủ là con trai duy nhất của bà Vương Hoàng, quản lý trưởng của Seattle Lôi Tạng Tự trước kia. Ngôi nhà ở Mĩ của họ nằm ngay đối diện với Chân Phật  Mật Uyển.
Sau khi Vương Tư Chủ tốt nghiệp đại học ở Mĩ đã tham gia vào sự nghiệp của gia tộc, hơn nữa còn phát triển sự nghiệp đa dạng hơn, về mặt sự nghiệp khá có thành tựu.
Anh ấy kiền tín Chân Phật Mật Pháp. 
Mặc dù là một doanh nhân khởi nghiệp, nhưng ngày ngày anh đều tu Hộ Ma (hỏa cúng) không hề gián đoạn. 

Nhớ năm xưa.
Tôi nhìn thấy anh tốt nghiệp trung học.
Tôi nhìn thấy anh tốt nghiệp đại học.
Bây giờ, tôi lại nhìn thấy anh trở thành doanh nhân khởi nghiệp.
Trong con mắt tôi, anh rất thật thà, làm việc đến nơi đến chốn, kiền thành tu Chân Phật Mật Pháp. 
Tướng mạo anh đường đường, là một thanh niên rất hiếm có. Điều đặc biệt hiếm có là, anh hết lòng phụng dưỡng bề trên, đối với mẹ rất có đạo hiếu.
Vương Tư Chủ và bố tôi Lư Nhĩ Thuận rất có duyên phận, anh ấy rất quan tâm đến sức khỏe của bố tôi, thường xuyên chủ động giúp đỡ.
Tôi rất cảm kích anh ấy.

🌟

Cư sĩ Vương Tư Chủ có một việc đáng tiếc, đó là rất nhiều bác sĩ đã chẩn đoán anh và vợ anh đều không có khả năng sinh con.
”Không tinh.”
”Không trứng.”
Vương Tư Chủ và vợ rất nỗ lực. Nhưng, công cốc. Bác sĩ chẩn đoán đều nói như vậy.
Về sau, anh thỉnh cầu tôi vẽ cho anh một lá phù Có thai.
Không ngờ: “Có một đứa con trai.”
Khuôn mặt của đứa bé trai này giống hệt cư sĩ Vương Tư Chủ, cũng có tướng của một ông chủ lớn. 
Vương gia cuối cùng cũng có hậu, cả nhà hết sức vui mừng.

🌟

Có được đứa bé trai này là một bí mật.
Tôi vì việc cư sĩ Vương Tư Chủ cầu con mà đích thân đến miếu Thành Hoàng để cầu kiến Thành Hoàng Bồ Tát.
Thành Hoàng Bồ Tát thấy tôi đến liền giáng cầu thang xuống đón tôi. 
Tôi nói ngay vào vấn đề:
”Tôi vì việc Vương Tư Chủ cầu con mà đến đây!”
Thành Hoàng đáp:
”Không có.”
”Vì sao không có?”
”Số mệnh.”
”Cư sĩ Vương Tư Chủ và tôi có ơn, không có một đứa con không được, hơn nữa nhất định phải là một đứa bé đại thiện.”
Thành Hoàng đáp:
”Trừ phi Diêu Trì Kim Mẫu ra luật lệnh!”
Tôi nói:
”Tôi có luật lệnh của Diêu Trì Kim Mẫu đây.” - Tôi lấy ra luật lệnh của Diêu Trì Kim Mẫu. Luật lệnh phóng tỏa ánh sáng đỏ, chiếu khắp trời đất.
Thế rồi Thành Hoàng Bồ Tát lễ bái luật lệnh.
Thành Hoàng Bồ Tát nói:
”Vậy y theo luật lệnh, tặng cho cư sĩ Vương Tư Chủ một đứa con đại thiện.”

🌟

Cư sĩ Vương Tư Chủ vốn không có con.
Nay đã có một đứa con đại thiện.
Vì sao?
Đây chính là từ không có biến thành có, từ không biến thành một, từ một biến thành nhiều. Hành giả chúng ta nếu có đủ công lực, có thể “ra luật lệnh” sai khiến quỷ thần làm việc.


### 12. Trò diễn kịch của Lư Hoằng


Lư Hoằng - cháu trai tôi, khi nó chưa sinh ra đời, ở trong thiền định, tôi đã gặp nó hai lần.
Vì thế tôi biết, Lư Hoằng là trưởng lão Phật Sơn chuyển thế.
Nó có một thói quen.
Đặt một bát mì thịt xay ở trước mặt nó.
Nó gắp bỏ thịt ra.
Chỉ ăn mì.
Nó không ăn thịt.

🌟

Lên bốn tuổi, nó nói tiếng Anh rất lưu loát. Hơn nữa còn rất có văn phạm. Chúng tôi nói chuyện với nhau bằng tiếng Anh.
Có một hôm, nó nói với tôi:
”Ông nội, đi gặp Phật đi!”
Tôi đi cùng nó. 
Lư Hoằng đi đến ghế sofa trong phòng khách nhà mình, trèo lên ghế sofa ngồi ngay ngắn yên lặng, hai chân ngồi xếp bằng, hai tay chắp lại, hai mắt nhắm chặt.
Giống như lão tăng nhập định vậy.
Tôi rất ngạc nhiên nhìn động tác của nó, nó nói “đi gặp Phật đi”, lẽ nào nó là Phật sao?”
Tôi hỏi:
”Cháu có phải là Phật không?”
Nó đáp:
”Không phải.”
Tôi hỏi:
”Cháu là Bồ Tát sao?”
Nó đáp:
”Không phải.”
Nó xoay người tụt xuống ghế sofa, rồi quay sang nói với tôi:
”Gặp Phật xong rồi.”
Sau đó nó đi chơi xe ô tô đồ chơi của nó!

Chỉ còn lại một mình tôi ngẩn người ra nhìn, đứng ngây tại chỗ. Màn diễn kịch của Lư Hoằng có pháp vị ở trong đó, đáng để mọi người tham khảo.
”Đi gặp Phật đi!” - Bạn có thể tham khảo thử xem gặp được vị Phật nào?
Đúng là thần thông.

🌟

Tôi nhớ núi Thiên Khoảnh ở Hàng Châu có thiền sư Sở Nam, trước tiên ông ấy đi gặp thiền sư Phù Dung. 
Thiền sư Phù Dung nói với ông ấy:
”Ta không phải là thầy anh, thầy anh là Hoàng Bách ở bên kia sông.”
Thiền sư Sở Nam đi tham kiến thiền sư Hoàng Bách Hi Vận. Thiền sư Hoàng Bách hỏi:
”Khi anh chưa hiện cảnh tượng tam giới thì thế nào?”
Thiền sư Sở Nam đáp:
”Thì nay làm gì có?”
Thiền sư Hoàng Bách hỏi:
”Không bàn đến có không thì nay thế nào?”
Thiền sư Sở Nam đáp:
”Không xưa không nay.”
Thiền sư Hoàng Bách nói:
”Pháp nhãn của ta đã ở trên người anh rồi!”
…….

(Tôi cảm thấy câu nói “Đi gặp Phật đi” của Lư Hoằng và câu “Thì nay làm gì có” của thiền sư Sở Nam tuy là hai câu nói khác nhau nhưng lại có hiệu quả hay như nhau. Tôi Lư Thắng Ngạn và cháu tôi Lư Hoằng, hai chúng tôi có thể xem là “không xưa không nay” rồi.)
Ha ha ha!
Trò diễn kịch của Lư Hoằng.
Mọi người xem, chẳng phải là đại thần thông sao?


### 13. Sự ra đời của Lư Quân


Trước khi cháu gái tôi Lư Quân ra đời, ở trong thiền định tôi cũng từng gặp đứa cháu gái này.
Vì thế, tôi biết nó là Bồ Tát thất địa chuyển thế.
Địa thứ bảy của Bồ Tát chính là Viễn hành địa, bởi vì nó tu hành đã nhập vào quán Vô tướng rất sâu rồi. 
Cho nên, không có bồ đề có thể cầu, không có chúng sinh có thể độ, hoàn toàn chìm vào trong vô tướng không tịch, không tiến cũng không lùi. 
Cũng chính vì như vậy, nó mới đến chuyển thế, cố ý dùng cái thân hữu tình để lại khởi tâm bồ đề, nhập vào địa thứ tám là Bất động địa, như thế thì mới có thể chứng cứu cánh.

Khi Lư Quân sắp ra đời, con trai tôi Lư Phật Kì và con dâu tôi Lư Sunny thỉnh tôi đoán định ngày ra đời của nó. (Chúng muốn sinh mổ.)
Tôi bấm ngón tay thần toán:
”Ngày 11 tháng 9.” (911)
Tôi nói với con trai con dâu tôi là 911, hai đứa đều rất sửng sốt.

Thứ nhất, 911 là ngày mà tòa tháp đôi Lầu Năm Góc của Trung tâm Thương mại Thế giới bị phần tử khủng bố dùng máy bay đâm vào, là một ngày đại hủy diệt. Cái ngày 911 này quá đáng sợ.
Thứ hai, 911 là số điện thoại cấp cứu của Mĩ, có tình huống gì khẩn cấp thì đều gọi 911. (Đài Loan là 119)
Vì thế, con trai tôi Lư Phật Kì và con dâu tôi Lư Sunny đều cho rằng ngày 911 này là ngày không phù hợp. Chúng xin tôi chọn ngày khác.
Chúng nhất quyết không chịu ngày 911.
Tôi chẳng biết phải nghĩ thế nào, lại bấm ngón tay thần toán một lần nữa, nhưng kết quả vẫn là 911. 
Chúng nói với tôi là có thể trễ một tuần, bởi vì vẫn còn chưa đến ngày dự sinh. Thế là chúng tự quyết định sẽ chọn ngày 16 tháng 9 để sinh mổ.

🌟

Đúng vào ngày 11 tháng 9, Lư Sunny bị đau bụng, thật sự không thể nào chịu nổi. Buổi sáng, chúng vội vàng vào viện cấp cứu. Bác sĩ nói cháu bé sắp sinh rồi. Thế là sinh ra luôn.
Ngày hôm đó đúng là buổi sáng ngày 11 tháng 9. Sinh nhật của Lư Quân là dễ nhớ nhất.
Bởi vì chính là 911. 

🌟

Vấn đề nằm ở đây, bởi vì Phật Bồ Tát nói 911 thì sẽ là 911.
Tôi có được đáp án là 911 thì sẽ là 911, không sai một ngày nào.
Việc bấm ngón tay thần toán của tôi chuẩn là chuẩn, không có chuyện không chuẩn. Tôi bấm ngón tay thần toán có thể biết được việc trong thiên hạ, việc trong thiên hạ đều nằm trong bàn tay tôi, nói một thì sẽ là một.
Vì sao tôi có thể biết việc trong thiên hạ? Bởi vì tôi có đại thần thông biết trời, biết đất, biết người.
Có người hỏi tôi:
”Vậy sao ngài không dự đoán hết mọi việc?”
Tôi đáp:
”Vô ích.”
(Thử nghĩ mà xem, dự đoán sớm có ích gì chứ!)

Trong “Bảo Tính Luận”, Di Lặc Bồ Tát nói:
”Vì hi hữu, vì vô cấu, vì thù thắng, vì vô thượng, vì tối cao, vì nhất nhất, cho nên gọi là báu vật hiếm có.”
”Tôi” là báu vật hiếm có đó!


### 14. Cư sĩ Trang Thanh Huy


Lương Khải Siêu nói: [Lương Khải Siêu là nhà báo, nhà lãnh đạo trong cuộc cải cách thất bại năm 1898.]
”Phật giáo là tôn giáo khoa học.”
Tôn Trung Sơn nói: [Tôn Trung Sơn là Tổng thống đầu tiên của Quốc Dân Đảng.]
”Phật giáo là mẹ của triết học, nó có thể bổ sung cho sự thiếu hụt của các khoa học khác.”
Hai nhân vật vĩ đại này lấy lý tính làm xuất pháp điểm, đã đưa ra một kết luật lớn về Phật giáo.
Tuy nhiên, tôi cảm thấy Phật pháp rộng khắp, bao gồm ba nghìn đại thiên thế giới, cũng bao gồm sự bất khả tư nghì của tính năng vật chất, sự bất khả tư nghì này hàm chứa:
”Nghiệp lực bất khả tư nghì!”
”Định lực bất khả tư nghì!”
Cho đến nay, những chuyện mà khoa học hoặc y học vẫn không có cách nào chứng minh được vẫn tương đối nhiều.
Phật pháp có pháp thế gian, cũng có pháp siêu thế gian, pháp siêu thế gian là thứ mà con mắt không nhìn thấy, tai không nghe thấy, pháp lực thần thông cũng không thể vì không hợp với khoa học mà tăng thêm phủ định.

🌟

Tôi lấy một ví dụ:
Tôi có một đệ tử là cư sĩ Trang Thanh Huy, anh ấy bị gù lưng, nghề nghiệp của anh là hát dạo kiếm sống.
Ngày xưa, anh đẩy thùng đồ nghề hát rong đến các khu vui chơi, dùng hình thức hát rong để mua vui cho chúng sinh.
Gánh hát rong của anh khá nổi tiếng ở miền Bắc Đài Loan.
Ngoại hình gù lưng của anh là một “thương hiệu được đăng kí”.

Khi quy y tôi, anh ấy nói:
”Sư Tôn, xin đánh vào cái lưng của con!”
Tôi giơ tay lên, đánh “bốp bốp” vào cái lưng gù của anh.
”Sư Tôn, xin dùng lực mạnh vào!”
Tôi càng đánh anh ấy mạnh hơn.
Lực đánh rất mạnh, đánh tới mức mà “một Phật xuất thế, hai Phật thăng thiên”. [Câu thành ngữ này có nghĩa là chết đi sống lại.]

Tôi làm pháp hội, Trang Thanh Huy nhất định sẽ đến. Và mỗi lần quán đảnh, tất nhiên anh ấy lại kêu lên:
”Sư Tôn hãy đánh vào cái lưng gù của con!”
Kể ra cũng lạ, cái lưng gù của cư sĩ Trang Thanh Huy sau khi bị tôi đánh liên tiếp mấy lần thì đã xuất hiện kì tích rồi. 
Lưng của anh ấy thẳng lại.
Không thấy lưng gù nữa.
Thẳng ngay ngắn.
Rất nhiều người hỏi cư sĩ Trang Thanh Huy:
”Cái lưng gù của anh đâu?”
Cư sĩ Trang đáp:
”Bị Lư Sư Tôn đánh cho thẳng rồi!”

🌟

Tôi có thể đánh cho cái lưng gù của cư sĩ Trang Thanh Huy đến mức lưng gù đã biến mất, đánh đến mức thân thể hoàn toàn thẳng lại, điều này về mặt khoa học và y học đều không thể nào giải thích được, nói cách khác là không có cách nào dùng khoa học để đánh giá, không có cách nào dùng y học để nhận định.

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người, tôi không phải là người mê tín, tôi không giả thần giả quỷ, tôi không “chém gió”, tôi không hiểu những trò tà thuật lừa đảo. Về bản chất là tôi hoàn toàn khác những kẻ lừa bịp.
Tôi niệm Phật.
Tôi trì chú.
Tôi tu pháp.
Tôi thiền định.
Tôi biết hết tất cả Phật pháp.
Thần thông của tôi đến từ “bản thân” và “hư không” hợp nhất. Đây chính là đại thiên cơ.


### 15. Cư sĩ Lưu Chính Dung


Có một lần, tôi đến một phân đường ở nước ngoài hoằng pháp. Đúng lúc tôi đang đi lên ghế để thuyết pháp, có một chiếc xe cứu thương kêu “i… ò… i… ò”, rồi phanh “kít” lại một tiếng, dừng trước cửa phân đường.
Tôi hỏi:
”Ai gọi xe cứu thương vậy?”
Một đệ tử bước ra nói:
”Sư Tôn, là con gọi.”
Tôi hỏi:
”Ai phát bệnh?”
Đệ tử nói:
”Bố con là Lưu Chính Dung vì bị trúng phong nên bị bại liệt đã bốn năm nay, ông ấy là đệ tử lâu năm của Sư Tôn, biết Sư Tôn đến đây hoằng pháp, cơ hội khó gặp, chúng con đặc biệt nhờ bệnh viện đưa bố đến đây, thỉnh Lư Sư Tôn sờ đầu cho bố con, hi vọng bố con sẽ xuất hiện kì tích!”
Tôi nói:
”Sờ đầu thì được, nhưng có khỏe lại hay không thì phải xem vận may của ông ấy!”

Tôi đi xuống pháp tọa, quán tưởng Bổn tôn và tôi hợp nhất, đi đến xe cứu thương, tôi đưa tay ra sờ đầu cư sĩ Lưu Chính Dung.

Cư sĩ Lưu nằm đó, chẳng hề động đậy, hai mắt vô thần, tôi sờ đầu xong thì niệm chú. Xe cứu thương lại kêu “i… ò… i… ò” rồi chạy về bệnh viện.

🌟

Tôi sờ đầu cư sĩ Lưu Chính Dung, chính tôi cảm nhận thấy có một khối khí từ cánh tay tôi chảy vào đầu của Lưu Chính Dung.
Tôi im lặng không nói gì.
Trở về pháp tọa, tôi tiếp tục thuyết pháp.
Khoảng một tuần sau, không có tin tức gì của cư sĩ Lưu Chính Dung, tôi nghĩ chắc là ông ấy rất khó khỏi bệnh.
Một tuần trôi qua.
Bản thân Lưu Chính Dung tự kể rằng:
”Có một buổi sáng, Sư Tôn đột nhiên hiện thân trước giường bệnh, dùng tay nắm chặt hai chân tôi, kéo thẳng hai chân tôi ra, đồng thời bảo tôi ngồi dậy.” 
”Ở trong mơ, tôi nói với Sư Tôn, tôi bị trúng phong bại liệt bốn năm rồi, không thể tự mình cử động được. Sư Tôn lại bảo tôi rằng nhất định có thể, nhất định có thể.”

Lưu Chính Dung từ trong mơ tỉnh lại, phát hiện ra hai chân dường như đã có cảm giác rồi, cũng có một chút lực, khác rất nhiều lúc bị liệt. Ông ấy cố gắng cử động, quả nhiên có phản ứng.
Cũng vào ngày hôm đó, ông ấy có thể xuống giường đứng được.
Rồi mấy hôm sau, ông ấy có thể đi lại bình thường.
Cư sĩ Lưu Chính Dung từ một bệnh nhân bị trúng phong bại liệt đã đứng dậy được rồi.
”Kì tích xuất hiện!”
”Kì tích xuất hiện!”

🌟

Từng có một lần, tại sân vận động Đại Túc ở Hồng Kông, tôi vừa quán đảnh xong thì có một cháu bé ngồi xe lăn đã ba năm lập tức đứng dậy khỏi xe lăn và đi lại được.
Lưu Chính Dung bị bại liệt bốn năm, sờ đầu xong, không ngờ có thể đi lại, chuyện này là thế nào?
Tôi không đáp.
”Là thần thông sao?”
Tôi không đáp.
Tôi chỉ nói rằng, khi ấy tôi quán tưởng Bổn tôn và tôi hợp nhất, trong miệng tôi tụng chú ngữ, tôi đưa tay ra sờ đầu chính là thủ ấn. Tôi làm Mật pháp tam mật hợp nhất. 
Thiên cơ này là:
”Tam mật hợp nhất!”


### 16. Thượng sư Thích Liên Ninh


Thành phố Seattle bang Washington nước Mĩ vào mùa hè có khoảng hai đến bốn tuần là trời nắng nóng. 
Nói chung, vào những ngày hè, trời không có mưa, mặt trời như thiêu đốt từ trên cao chiếu xuống, trời xanh không mây. Nhiệt độ không khí có mấy ngày lên đến gần 32 độ C đến 38 độ C. 
Nhất là khi trái đất đang nóng lên, mấy năm gần đây, mùa hè đến thì ngay cả người ở thành phố Seattle cũng phải kêu lên là trời nóng khủng khiếp, không thể chịu nổi, huống hồ là các thành phố khác ở Mĩ.
Theo dự báo thời tiết:
Từ ngày 6/7 đến 20/7, trong hai tuần này:
Không gió.
Không mưa.
Không sấm.
Không chớp.
Oi bức dị thường, mặt trời xinh đẹp treo cao.
Đài khí tượng nói như vậy, truyền hình đưa tin như vậy, trên mạng nói như vậy, người nào cũng nói như vậy.

🌟

Vào ngày 12/7, đó là ngày nóng nhất. Cô “Bé Hạt Mít” ở Seattle suýt chút nữa là bị cảm nắng. Cả ngày cô ấy dùng khăn mặt gói đá viên đặt trên đỉnh đầu.
Thượng sư Liên Ninh nói:
”Mai là thứ sáu ngày 13, chắc là sẽ mưa đấy!”
Tôi hỏi:
”Đài khí tượng nói sẽ mưa à?”
Thượng sư Liên Ninh đáp:
”Không có.”
Tôi hỏi:
”Không nói vậy thì sao anh lại bảo trời mưa?”
Thượng sư Liên Ninh cười cười:
”Khà khà!”
Liên Ninh đứng dậy, không trả lời, rồi bỏ đi gắp ít thức ăn.

🌟

Buổi tối ngày 12, tôi đột ngột lóe lên một suy nghĩ kì lạ, sao tôi không cho Thượng sư Liên Ninh có một tương ứng nhỉ.
Buổi tối hôm đó, tôi ở trước đàn thành sắp xếp một đàn thành cầu mưa.
Tôi niệm chú Câu triệu: “Ôm ah hùm sô-ha.”
Dùng ấn chỉ thị: chỉ thị gió đến, mưa đến, chớp đến, sấm đến.
Tôi niệm chú cầu mưa: “Xi-li xi-li ka.”
Hoặc: “Xi-xi ni-ni ka.”
Tôi nghiêm nghị niệm chú, thân tôi xoay vòng vòng, ấn chỉ thị chỉ vào trong bầu trời đêm.
(Tung vải đen về phía bầu trời.)

🌟

Buổi sáng ngày 13, mây đen giăng kín bầu trời, sấm sét ầm ì, cuồng phong gào thét, một trận mưa lớn trút xuống.
Mây đen không biết từ đâu kéo đến?
Sấm chớp không biết vì sao mà lại ghê gớm như vậy?
Gió lớn thổi qua.
Mưa lớn rơi vào cửa sổ kêu lên những tiếng “lạch tạch lộp độp”. 
Phóng viên thời tiết của đài truyền hình nói:
”Thời tiết thất thường! Trời có gió mây khó đoán!”
Thượng sư Liên Ninh nói: “Đúng là mưa rồi!”
Thượng sư Liên Khiết nói: “Còn có cả sấm chớp cuồng phong nữa!”
Thiên cơ gọi gió hô mưa này nằm ở pháp lực của Mật giáo, nghi quỹ chu toàn chính là đại thiên cơ.


### 17. Cư sĩ Bành Nghi Thuận


7 giờ chiều ngày 7 tháng 7 năm 2007, Thượng sư Triệu Thiếu Đông đến Seattle Lôi Tạng Tự để gặp tôi.
Thượng sư Triệu cầm một tấm ảnh của một người trên tay, thỉnh cầu tôi đại lực gia trì.
Tôi hỏi:
”Là ai?”
”Bành Nghi Thuận.” - Thượng sư Triệu Thiếu Đông nói.
”Người ở đâu?”
”Ở Malaysia.”
”Có việc gì mà cầu gia trì?”
Thượng sư Triệu Thiếu Đông đáp:
”Cái cổ của Bành Nghi Thuận bị cứng, rất nhiều bác sĩ chữa không khỏi, vì thế mới cầu Sư Tôn gia trì!”

Tôi cầm tấm ảnh lên. Đầu tiên, tôi quán tưởng Bổn tôn và tôi hợp nhất. 
Tôi chạm tấm ảnh vào trán mình. Tôi nói:
”Được rồi đó!”

🌟

Thượng sư Triệu Thiếu Đông vốn là người Vancouver Canada. Khi anh ấy trở về Vancouver đã lập tức nhận được điện thoại của cư sĩ Bành Nghi Thuận, cư sĩ Bành Nghi Thuận nói trong điện thoại:
”Thượng sư Triệu, có phải là thầy đã thỉnh Lư Sư Tôn gia trì cho tôi không?”
”Đúng vậy.” - Thượng sư Triệu đáp.
Cư sĩ Bành Nghi Thuận nói:
”Đúng là kì tích, cái cổ của tôi đã mềm dẻo rồi, không còn bị cứng nữa!”
Thượng sư Triệu và cư sĩ Bành cùng tính toán thời gian, thời gian mà cái cổ của Bành Nghi Thuận mềm ra chính là lúc tôi chạm tấm ảnh lên trán mình.
Là trùng hợp?
Là kì tích?
Là thần thông?

🌟

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người:
Trong Mật pháp mà nói, không gian thật sự không phải là vấn đề, không chỉ từ nước Mĩ đến Malaysia không thành vấn đề, mà từ nước Mĩ đến khắp các nước trên thế giới đều không thành vấn đề.
Mật pháp gia trì có thể đến Nam Cực Bắc Cực.
Mật pháp gia trì có thể đến châu Phi lạc hậu.
Mật pháp gia trì có thể đến Phật quốc tịnh thổ.
Mật pháp gia trì có thể đến ba nghìn đại thiên thế giới.
Mật pháp gia trì có thể đến mười pháp giới.
v.v…

Tôi nói:
”Đây chính là một khoảnh khắc ý nghĩ, thời gian của một ý nghĩ này đã chuyển động vòng quanh tam thiên đại thiên thế giới. Lí do mà tôi có thể quán đảnh cách không cũng chính là đạo lí này. Suy nghĩ của tôi trong một sát-na có thể bay đến chỗ ông ấy.
Tôi còn nói:
”Trong thời gian một sát-na, búng tay một cái là có thể hút đối phương đến trước mặt hành giả, bay đi và hút về đều là một niệm và một búng tay mà thôi.

🌟

Cư sĩ Bành Nghi Thuận ở tại Malaysia, rất nhiều bác sĩ không chữa khỏi bệnh cứng cổ của ông ấy.
Trán tôi vừa chạm vào tấm ảnh của ông ấy một cái, cái cổ ông ấy đã mềm ra rồi, đây là bởi vì tôi vừa chạm vào tấm ảnh của ông ấy là có một dòng điện truyền đi.
Dòng điện này là đại thiên cơ!


### 18. Luật sư La Nhật Lương


Luật sư La Nhật Lương và luật sư Hoàng Nguyệt Cầm là cố vấn pháp luật cho tổng hội Mật giáo Malaysia. 
Bởi vì hai vị đại luật sư này là vợ chồng, một người có “nhật”, một người có “nguyệt”, vì thế bị gọi đùa là “nhật nguyệt thần giáo”. 
Luật sư Hoàng Nguyệt Cầm là luật sư kiêm nhà văn lớn, văn phong lưu loát và tinh tế, có rất nhiều bút danh, có đến hơn mười bút danh khác nhau, ví dụ:
Tuyết Đầu Mùa.
Nguyệt Đồng.
Băng Quả.
v.v…
Trong Tạp chí Nhiên Đăng và Chân Phật Báo hay các báo và tạp chí khác đều có thể nhìn thấy văn chương của cô ấy. Tôi đã đọc những tác phẩm của cô ấy, trình độ rất cao, có tính trí tuệ và tính giáo dục.

🌟

Trong chuyến du lịch ngắm hoa anh đào ở Nhật Bản, hai vợ chồng luật sư này cũng tham gia vào đoàn du lịch, vì thế khoảng cách giữa chúng tôi đã được kéo gần lại.
Chúng tôi cùng tham quan bức tượng Phật lớn ở tỉnh Nara.
Bên ngoài chùa, có một vị La Hán ngồi trên pháp tọa, ở trên đó viết ba chữ lớn là Tân Đầu Lư.
Tôi nói:
La Hán Tân Đầu Lư là vị La Hán trụ thế. Bởi vì khi Phật ở tại thế gian, có cư sĩ muốn thử thần thông của La Hán liền dùng vải gói một món đồ rồi treo lên một cây cao. Cư sĩ nói, ai có đại thần thông thì hãy lấy cái gói xuống.
Lúc này, Tân Đầu Lư bước ra, nhẹ nhàng bay lên ngọn cây, lấy cái gói vải xuống, rồi lại nhẹ nhàng bay xuống.
Mọi người vỗ tay.
Nhưng, việc tùy tiện phô bày thần thông này đã khiến Phật Đà không hài lòng, liền khiển trách Tân Đầu Lư.
Vì thế, Tân Đầu Lư đã trở thành La Hán trụ thế.

🌟

Theo tập tục của Nhật Bản về La Hán Tân Đầu Lư, ai có bệnh mà sờ vào ngài Tân Đầu Lư thì sẽ khỏi.
Đau đầu thì sờ đầu.
Đau chân thì sờ chân.
Luật sư La Nhật Lương ngày xưa mắc bệnh nặng, vì thế dạ dày đã bị tổn thương, mắc bệnh dạ dày nghiêm trọng, thân thể rất gầy, ăn uống phải tiết chế.
Luật sư La hỏi tôi: “Sờ vào dạ dày được không?”
Tôi nói: “Sờ chứ!”
”Cao quá, sờ không tới.”
Tôi nói:
”Trèo lên mà sờ!”
Luật sư La nghe tôi nói vậy thì thật sự đã trèo lên, sờ vào bụng của La Hán Tân Đầu Lư.
Tôi nhìn thấy hai mắt của La Hán Tân Đầu Lư ánh lên lấp lánh. 
Tôi nói:
”Sờ hay lắm!”

🌟


Điều không ngờ là luật sư La Nhật Lương mới sờ xong liền nói: 
”Tôi đói bụng rồi!”
Vốn dĩ luật sư La đã mắc bệnh đau dạ dày mười mấy năm rồi, bụng chưa từng cảm thấy đói, thế mà hôm đó thấy đói bụng thì đúng là kì tích rồi.
Vì sao lại có thể như vậy?
Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người, khi Tân Đầu Lư trụ thế, tôi cũng trụ thế. Tôi và Tân Đầu Lư là người quen cũ.
Tân Đầu Lư trụ thế là có luật lệnh của Phật.
Lư Sư Tôn tôi trụ thế là có luật lệnh của Phật.
Cộng hai luật lệnh này với nhau, thế là dạ dày của La Nhật Lương sẽ “đói bụng”. 


### 19. Cư sĩ Lỗ Sâm


Cư sĩ Lỗ Sâm là đệ tử quy y ở Trung Quốc Đại Lục, thích du ngoạn núi sông. Có một hôm, cư sĩ Lỗ Sâm và bạn đi leo núi, vì đường núi gập ghềnh, đường đá trơn, Lỗ Sâm nhất thời không cẩn thận, thế là từ trên đường núi rơi xuống dòng sông bên đường. 
Không ngờ dòng sông rất sâu, hơn nữa lại chảy xiết, trong chớp mắt đã cuốn Lỗ Sâm vào vòng xoáy nước.
Sự việc xảy ra trong tích tắc, người bạn đồng hành về cơ bản là muốn cứu cũng không kịp.

Do Lỗ Sâm sảy chân rơi xuống nước, mọi phản ứng đều không kịp, chỉ vội vàng niệm một câu: “Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm” [Om guru liansheng siddhi hum]
Ở trong nước sâu, không ngờ anh ấy nhìn thấy hình tượng khuôn mặt Lư Sư Tôn, Lư Sư Tôn nói với anh:
”Tôi đến cứu anh!”
Lỗ Sâm chỉ cảm thấy hai chân của mình có người nâng lên, đẩy anh trồi lên mặt nước. Rồi lại cảm giác thấy có người đẩy sau lưng mình, đẩy anh đến chỗ cạn.
Toàn thân và quần áo của Lỗ Sâm đều ướt hết.
Giày của Lỗ Sâm thì đầy bùn.
Anh đứng nguyên tại chỗ, sợ đến mức cứ liên tục niệm:
“Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm! Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm! Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm” [Om guru liansheng siddhi hum]

🌟

Bạn đồng hành của anh vội vàng chạy lại. Anh nói với người bạn:
”Sư Tôn của tôi ở trong nước sâu!”
Người bạn đáp:
”Anh bị chóng mặt rồi.”
Anh nói với bạn:
”Sư Tôn của tôi dùng hai tay nhấc chân tôi, tôi giống như bay lao thẳng đến chỗ nông!”
Bạn nói:
”Nói vớ vẩn!”
Nhưng người bạn đồng hành cũng không thể hiểu, con người Lỗ Sâm vốn không biết bơi, làm sao anh ấy nổi trên mặt nước được?
Người bạn cũng không thể hiểu nổi từ chỗ nước sâu mà Lỗ Sâm rơi xuống đến chỗ nước nông, khoảng cách tới năm, sáu mét, thế mà anh ấy chẳng bị uống một ngụm nước nào, làm sao mà anh ấy làm được việc đó?

🌟

Trong kinh Pháp Cú, tôi đọc thấy:
Phật Đà vì độ hóa người đánh cá, từng ra lệnh cho một người đi trên mặt sông lớn mà chỉ chạm mỗi mắt cá chân vào nước mà thôi! Từ phía nam của dòng sông đến phía bắc của dòng sông chỉ có đi trên mặt nước, lễ Phật Đà, thỉnh Phật Đà thuyết pháp. (thần thông)
Người đánh cá rất kinh ngạc:
”Sông này nước rất sâu đó!”
Người đó nói:
”Chỉ chạm mắt cá chân!”
Phật Đà nói:
”Thiện tai! Thiện tai! Anh giữ niềm tin kiền thành thì có thể vượt qua được chỗ sâu của sinh tử, sông dài mấy dặm cũng có gì là lạ đâu.”

🌟

Trong bài viết này, tôi muốn nói với mọi người, một người có tín tâm sẽ sản sinh ra sức mạnh của niềm tin. 
Cư sĩ Lỗ Sâm có tín tâm với Lư Sư Tôn, khi rơi xuống sông niệm tâm chú Sư Tôn, sản sinh ra sức mạnh niềm tin, chính sức mạnh niềm tin này đã cứu mạng cư sĩ Lỗ Sâm.


### 20. Cậu bé Chu Chương Hào


Ở Seattle nước Mĩ có một hộ gia đình sinh được một đứa con trai, đứa bé trai này đã 5 tuổi rồi, mặt mũi chân tay đầy đủ cả, chỉ có một điều đáng tiếc duy nhất là cậu bé không nói.

Dường như cậu bé này cái gì cũng biết, muốn cái gì đều dùng tay biểu đạt, tức là không mở miệng nói ra âm thanh.
Bố mẹ cậu bé rất sốt ruột, đưa cậu bé 5 tuổi này đi khắp nơi khám bác sĩ, kết quả kiểm tra là mọi thứ đều bình thường, có nghĩa là miệng lưỡi cậu bé đều bình thường.

Có một đêm, bố cậu bé mơ thấy một vị thần nhân đến nói:
”Đi tìm Lư Thắng Ngạn!”
Thế là bố mẹ cậu bé liền đưa cậu đến Seattle Lôi Tạng Tự xin gặp tôi. Tôi hỏi:
”Tên gì?”
Đáp:
”Chu Chương Hào.” - Bố mẹ nói.
Tôi nói:
”Cái tên Chương Hào này không hay, đã chặn mất tiếng kêu gào, tức là gây trở ngại cho miệng, nên không thể phát ra tiếng.”
Bố mẹ hỏi:
”Đổi tên gì mới được?”
Tôi đáp:
”Chu Nhất Hành được không?”
Bố mẹ nói:
”Rất hay rất hay, vậy gọi là Nhất Hành.”
Tôi gia trì một cốc nước chú Đại bi rồi đưa cho cậu bé 5 tuổi uống, tôi dùng ấn Chỉ thị viết lên trên nước chú Đại bi hai chữ “xuất thanh”. (Đây chính là luật lệnh.)
Tôi yêu cầu bố mẹ cậu bé sau khi về nhà niệm 1000 biến kinh Cao Vương Quan Thế Âm. Bố mẹ cậu bé nói được, sẽ niệm Cao Vương Kinh.

🌟

Sau đó, bố mẹ Chu Nhất Hành nói với tôi:
Chỉ sau một tuần lễ, cậu bé đã phát ra những âm thanh đơn giản. Sau khi niệm xong 1000 biến Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, cậu bé đã nói được câu hoàn chỉnh.
Tất cả đều bình thường rồi!
Người câm đã nói được rồi!
Bố mẹ cậu bé hết sức vui mừng, tất cả những bạn bè thân thích của họ đều biết chuyện này.

Có người hỏi tôi:
”Đứa bé này không nói là nhân quả gì?”
Tôi nói:
”Kiếp trước Chu Nhất Hành là một hòa thượng, là một vị sư phụ quản gia, nhưng đã đổ oan cho một tì kheo ni là trộm đồ đạc, tì kheo ni xuất gia kia không chịu được nỗi xấu hổ và giận dữ nên đã treo cổ tự vẫn.”
Tôi nói:
”Sư phụ quản gia kia vọng ngữ trách mắng đã khiến ông ấy đời này không mở được miệng.”
”Vì sao Sư Tôn gia trì nước chú đại bi cho cậu bé uống thì lại khỏi?”
Tôi đáp:
”Uống nước có niệm chú Đại bi có cảm ứng rất lớn, có thể chữa được tám vạn bốn nghìn loại bệnh của thế gian, Quan Thế Âm Bồ Tát sắc lệnh tất cả thiện thần, Kim Cang Mật Tích thường đi theo bảo vệ. Cao Vương Kinh có nói, niệm đủ 1000 biến thì trọng tội đều tiêu diệt.”
Người đó hỏi tôi:
”Vì sao lại đổi tên cậu bé thành Chu Nhất Hành?”
Tôi đáp:
”Vì tôi muốn để cho cậu bé có thể nhớ được kiếp trước, sớm nhớ về tu hành mà thôi!”
Một chén nước nhỏ, gia trì chân ngôn lập tức trở thành nước thần thông, lành thay, lành thay!


### 21. Pháp sư Thích Liên Thể


Tôi đến làm khách tại nhà của dược sĩ Hứa Hồng Xuân ở Đài Trung Đài Loan. Có một đôi vợ chồng đỡ một cô gái trẻ dáng dấp thon thả xinh đẹp đến gặp tôi. Cô gái trẻ xinh đẹp này tự kể:
Mắc chứng rối loạn tâm thần, đồng tử giãn to, không đi lại được, không tự kiểm soát được tiếng nói to nhỏ, đau đầu dữ dội, không thể ăn uống. Tự so sánh mình với bệnh tình của nhân vật nữ chính trong bộ phim Nhật Bản “Một lít nước mắt”, thậm chí còn tồi tệ hơn.
Thậm chí nhịp tim càng ngày càng chậm, chậm đến mức gần như sắp dừng lại rồi, và hô hấp cũng gần như sắp dừng lại rồi. 
Các bác sĩ đều bó tay. Không tìm ra nguyên nhân bệnh.
Chỉ có chờ chết. Giống như bị bệnh hiểm nghèo.
Mẹ của cô gái nói:
”Nếu Sư Tôn có thể cứu được nó thì sẽ để cho nó xuất gia.”

🌟


Tôi dùng thiên nhãn quan sát. 
Trong hư không hiển hiện một vị Phật, vị Phật này giáng xuống, hóa thành ánh sáng bé như hạt đậu xanh. Ánh sáng bé bằng hạt đậu xanh này rơi vào trong cốc nước trước mặt tôi. Cả chén nước đều tỏa sáng.
Tôi cầm cốc nước này lên đưa cho cô gái uống, cô gái này miễn cưỡng uống cốc nước. 
Tôi nhờ sức mạnh thiền quán mà biết được:
”Vị Phật này đã đến cứu cô ấy.”

🌟

Cô gái trở về bệnh viện, qua một đêm. 
Buổi sáng hôm sau đã tiến hành xuất viện. Nhập viện lâu như vậy rồi mà sao qua một đêm đã xuất viện rồi?
Nguyên nhân không gì khác, chính là vì bệnh trạng đã hoàn toàn biến mất, đã khỏi rồi!
Khỏi rồi thì đương nhiên sẽ xuất viện. 

Cô gái trẻ xinh đẹp này có ba giấc mơ kì lạ:
Thứ nhất, cô ấy vốn là một nhân viên vẽ kĩ thuật vi tính, nên mơ thấy mình làm việc ở Đài Loan Lôi Tạng Tự. 
Thứ hai, cô mơ thấy mình mặc trang phục Lama, cạo sạch mái tóc đẹp, đứng trên đỉnh núi, nhìn xuống phong cảnh thành phố rộng mênh mông.
Thứ ba, cô mơ thấy Lư Sư Tôn ở tại một khu nghĩa địa rộng lớn, ngồi trên pháp tọa trên cao, tay lắc trống lục lạc.
(Hai giấc mơ trước đều tỏ ý rằng cô ấy phải xuất gia. Giấc mơ sau tỏ ý rằng Lư Sư Tôn độ hóa chúng sinh âm dương.)
Cuối cùng:
Cô gái trẻ xinh đẹp này đã xuất gia rồi.
Cô ấy chính là:
Pháp sư Thích Liên Thể.

🌟

Trong bài viết ngắn này, tôi muốn giải thích hai chữ “thiền quán”, hai chữ này có hàm nghĩa rất rộng, có thể nói là “thiền định quán chiếu”, có thể nói là “huệ quán”, có thể nói là “trực quán”, thiền quán này vô cùng bất khả tư nghì.
Cá nhân tôi cho rằng:
Nhục nhãn, thiên nhãn, pháp nhãn, huệ nhãn, Phật nhãn đều là từ thiền quán mà đắc được.
Minh tâm từ thiền quán mà đắc.
Kiến tính từ thiền quán mà đắc.
Muốn có được trí tuệ của nhân gian và có được Phật huệ của siêu thế gian thì cũng từ thiền quán mà đắc được.
Chúng ta biết “chính giác” chính là giác ngộ thiền quán, bất kể là thần thông hay trí huệ đều không tách rời thiền quán.
Thiền quán là đại thiên cơ!
Thật sự quá ư vi diệu! Quá ư bất khả tư nghì!


### 22. Thượng sư Thubten Dhargye


Thượng sư Thubten Dhargye là một trong số các sư phụ Tạng mật mà tôi quy y, là một vị thầy rất quan trọng trong cuộc đời này của tôi.
Truyền thừa đó là:
Cam Châu Hoạt Phật — Thubten Lama — Thubten Dali — Thubten Dhargye — Thubten Qimo (Lư Thắng Ngạn).

Thượng sư Thubten Dhargye từng nói với người ta rằng:
Trong một lần thiền định. 
Độ Mẫu xuất hiện, Độ Mẫu muốn Thubten Dhargye mau chóng đi Đài Loan tìm một người họ La.
Người họ La này là trân bảo.
Độ Mẫu nói với Thượng sư Thubten Dhargye rằng người họ La này có sáu đặc trưng:
Thứ nhất, là người cực kì hiếm có, bởi vì người này không thường xuất hiện ở thế gian, rất khó gặp, vì thế là trân bảo.
Thứ hai, là người không ô nhiễm, người này không tham không chấp, không tham chấp danh lợi thế tục. 
Thứ ba, có đầy đủ thần thông thù thắng, người này có năng lực, năng lực này bao gồm lực trí huệ và lực thần thông.
Thứ tư, người này đã minh tâm kiến tính, hiểu rõ tâm quang minh, kiến chứng chân Phật tính.
Thứ năm, là người vô thượng, chứng đắc bình đẳng không phân biệt, vô ngã vô tư, vô đẳng đẳng.
Thứ sáu, là người trước sau như một, đạo tâm của người này trước sau như một, vĩnh hằng bất biến, không bao giờ biến chất.
Độ Mẫu nói:
”Mau mau đi Đài Loan tìm ra người họ La!”

🌟

Thế là Thượng sư Thubten Dhargye mấy lần đến Đài Loan để đi tìm người họ La đó. 
Ngài khéo thăm dò.
Ngài cũng nhân tiện hoằng pháp.
Ngài đã thu nhận một số đệ tử.
Nhưng từ đầu tới cuối ngài vẫn không tìm được người giống như Độ Mẫu đã nói - một người họ La.
Ngài ấy nghĩ, biển người mênh mông, nhân vật họ La là bảo vật hiếm có trên đời, rốt cục trốn ở phương nào?
Họ La?
Trân bảo hiếm có?

🌟

Nhân một cơ duyên trùng hợp, tôi đi quy y Thượng sư Thubten Dhargye, nhận quán đảnh của ngài ấy.
Thượng sư Thubten Dhargye đã giáo huấn tôi rất nhiều, những thuyết pháp của ngài tôi đều có thể lĩnh ngộ.
Thượng sư Thubten Dhargye đối với tôi cũng khá nghiêm khắc, tôi thường bị ngài trách mắng.
(Bị mắng nhiếc rất nặng.)
Có một hôm.
Độ Mẫu lại xuất hiện, nói với thầy Thubten Dhargye rằng:
”Ngài đã tìm thấy người họ La rồi đó!”
”Đâu có.” - Thầy Thubten Dhargye nói.
”Có.” - Độ Mẫu nói.
”Ở chỗ tôi không có đệ tử họ La xuất chúng nào cả!”
Độ Mẫu trả lời:
”Họ La theo tiếng Đài Loan chính là Lư.”
(Họ Lư, chữ Lư này phát âm theo tiếng Đài Loan là La.)

Thượng sư Thubten Dhargye bỗng nhiên tỉnh ngộ. Thì ra đi tìm lâu như vậy rồi, tìm tới tìm lui, không ngờ lại chính là Lư Thắng Ngạn. Thế rồi Thượng sư Thubten Dhargye mới truyền thụ cho tôi những tâm pháp bí mật quan trọng nhất.


### 23. Người bạn nhỏ Lí Triệu Quốc


Có một người bạn nhỏ học cấp hai tên là Lí Triệu Quốc, lúc còn nhỏ đã được bố mẹ đưa đến chỗ tôi nhận quy y và quán đảnh của Mật giáo.
Đương nhiên, người bạn nhỏ Lí Triệu Quốc nhận quy y và quán đảnh nhưng chẳng thể nào thật sự nắm bắt được ý nghĩa của Phật pháp, cũng chưa từng có trí tuệ sâu rộng tinh vi nhanh nhạy. 

Nhưng tôi cho rằng để cho các bạn nhỏ quy y nhận quán đảnh cũng có ba ý nghĩa lớn:
1. Kết Phật duyên trước, sau đó cứ tiến hành tuần tự.
2. Bắt đầu học từ lí luận cơ sở.
3. Sau khi lớn lên, học và thực hành song song, thật sự hiểu thông Phật pháp, kết hợp với hành vi và tư tưởng của bản thân.

Lí Triệu Quốc biết niệm Thượng sư tâm chú: “Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm” [Om guru liansheng siddhi hum]
Biết niệm Cao Vương Kinh. 
Tuổi còn nhỏ nhưng cũng đã tham gia đồng tu, cũng biết lạy Phật.

🌟

Năm 2006, tôi xuất hiện tại Đài Loan Lôi Tạng Tự, người bạn nhỏ Lí Triệu Quốc cũng đến nghe tôi khai thị.
Tôi sờ đầu gia trì cho mọi người. Đến lượt Lí Triệu Quốc, cậu bé ngẩng đầu lên nói với tôi:
”Ngày mai con có bài kiểm tra số học quan trọng.”
Tôi nói:
”Được!”
Chỉ một lời “Được!” rồi sờ đầu gia trì xong là cậu bé đi qua, bởi vì phía sau còn có rất nhiều rất nhiều người đang chờ đến lượt sờ đầu gia trì.
Chúng tôi không thể nào nói quá nhiều.

🌟

Nghe nói thành tích môn số học của Lí Triệu Quốc trung bình, kì thi của ngày hôm sau cậu bé chẳng chuẩn bị gì. Cậu bé lại đến tham gia buổi khai thị và sờ đầu của tôi, nên lại càng không kịp chuẩn bị, vì thế khi sờ đầu cậu mới nói với tôi:
”Ngày mai con có bài kiểm tra số học quan trọng.”
Buổi tối hôm đó.
Lí Triệu Quốc nằm mơ, mơ thấy Lư Sư Tôn lấy ra một quyển bài kiểm tra đưa cho Lí Triệu Quốc làm bài. Lí Triệu Quốc ở trong mơ đã làm bài kiểm tra số học. 
Không biết làm. Lư Sư Tôn ở trong mơ đã dạy số học cho cậu bé, dạy hết câu này đến câu khác, dạy đến khi người bạn nhỏ Lí Triệu Quốc hiểu hết mới thôi.

Buổi sáng ngày hôm sau. Ở trường kiểm tra số học, quyển bài kiểm tra vừa được phát cho Lí Triệu Quốc không ngờ lại giống hệt với bài kiểm tra mà Lư Sư Tôn đưa cho cậu bé làm trong giấc mơ đêm qua. 
Lí Triệu Quốc đương nhiên có thể làm hết.
Lí Triệu Quốc dựa vào phương pháp số học mà Lư Sư Tôn đã dạy đã lần lượt làm xong toàn bộ bài kiểm tra.
Kết quả:
”Điểm cao nhất.”

🌟

Chuyện này là thế nào?
Tôi đáp:
”Sức mạnh thần thông bất khả tư nghì!”
Có người hỏi tôi:
”Lư Sư Tôn, ngài biết đề thi ở trường học sao?”
Tôi cười cười không đáp.
”Lư Sư Tôn, ngài có thể dạy số học sao?”
Tôi cười cười không đáp.
Tôi chỉ có thể nói với mọi người, thiên cơ ở đây là “Mật giáo thành tựu”, một người tu hành đạt đến “Mật giáo thành tựu” thì có thể “làm gì tùy ý”. 


### 24. Đại đức Tất Thư


Hành giả học Phật chúng ta có ba nghề nghiệp không được làm:
1. Nghề sát sinh.
2. Nghề mại dâm.
3. Nghề đánh bạc.
Bởi vì ba nghề nghiệp này rốt cục sẽ tạo nghiệp, sẽ khiến con người nhiễm những thói quen không tốt.
Nghiêm túc mà nói, cái gọi là tu hành chính là loại bỏ chủng tử tập tính của nhiều kiếp. 
Tập tính rất khó thay đổi, nhưng nhất định phải thay đổi, đây chính là tinh thần tinh tấn của Phật giáo.

Mật giáo tu pháp sám hối là một trong các pháp Gia hành, thế nhưng pháp sám hối không phải là pháp nhỏ, mà là Mật pháp rất lớn, có thể thật sự sám hối sửa sai thì nhất định sẽ có được thành tựu lớn.
Thanh tịnh tức là Phật.
Ô nhiễm tức là chúng sinh.
Giác ngộ tức là Phật.
Vô tri tức là chúng sinh.

🌟

Có một đệ tử tên là Tất Thư, cái tên Tất Thư là tên giả do tôi đặt cho anh ta, cũng có ý nghĩa là “ắt thua”. [từ đồng âm khác nghĩa]
Anh ta mê đánh bài đã thành thói. 
Sau khi tôi kết thúc ẩn cư bế quan, tôi xuất hiện tại Đài Loan Lôi Tạng Tự. 
Đại đức Tất Thư theo các đồng môn xếp hàng cho tôi gia trì, vừa nhìn thấy anh ta, tôi lập tức biết rằng anh ta là dân cờ bạc, trên mặt anh ta có viết một chữ “cờ bạc” rất to.
Tôi gọi anh ta:
”Là anh à?”
Anh ta cúi đầu, không dám nhìn tôi. Vội vàng đi qua.

🌟

Buổi tối hôm ấy, anh ta mơ thấy Sư Tôn. Sư Tôn hỏi:
”Anh vẫn đánh bạc à?”
”Vâng.”
Sư Tôn hỏi:
”Đánh bạc hại thân hại mệnh, anh không biết sao?”
”Biết.”
Sư Tôn hỏi:
”Anh đã biết mà sao vẫn còn đánh bạc?”
”Thói quen khó sửa.”
Thế rồi Sư Tôn chỉ cho anh ta thấy một người, người này đánh bạc đến mức nợ nần chồng chất, bán nhà cửa, bán xe cộ, bán đồ trang sức, tán gia bại sản, không còn một thứ gì.”
Vợ rời bỏ!
Con cái rời bỏ!
Vì cờ bạc mà kết cục của người này rất bi thảm, chủ nợ cho xã hội đen đến đòi nợ. Cuối cùng, anh ta đã nhảy lầu tự vẫn.
Tôi hỏi:
”Anh có muốn như vậy không?”
Tất Thư đáp:
”Không dám!”
Tôi nói:
”Cai! Cai! Cai!”

🌟

Đại đức Tất Thư và tôi thật sự không thân quen. Nhưng kinh Bất Khả Tư Nghì viết:
”Trí huệ của Như Lai ở tất cả mọi nơi, biết hết tất cả mọi việc.”
Vì sao tôi lại nhập vào trong mơ của đại đức Tất Thư?
Bởi vì Phật trí bất khả tư nghì.


### 25. Cư sĩ Trần Đông Huy


Ở thành phố Malang Indonesia có cư sĩ Trần Đông Huy, ông ấy là thầy giáo đã nghỉ hưu, cả nhà ông đều là đệ tử Chân Phật Tông, vợ ông cũng là giáo viên đã nghỉ hưu.
Có một người con trai sống tại Vancouver.
Có một người con gái sống tại Seattle.
Đồng môn ở Seattle Lôi Tạng Tự ai cũng biết con gái của cư sĩ Trần Đông Huy, cô ấy chính là sư tỉ Trần Hiểu Phong.
Nền tảng Anh văn của sư tỉ Trần Hiểu Phong rất tốt, Trung văn cũng không tệ, cho nên cô ấy đã đảm nhiệm công việc phiên dịch của Lôi Tạng Tự. Khi tôi thuyết pháp, cô ấy cũng phiên dịch song song. Buổi thuyết pháp thứ bảy hàng tuần tại Seattle Lôi Tạng Tự là song ngữ tiếng Anh và tiếng Trung.
Người nào nghe tiếng Anh sẽ có tai nghe.

🌟

Vì cư sĩ Trần Đông Huy tuổi tác đã cao, thân thể vốn dĩ rất cường tráng của ông đã bị bệnh. Có một lần đi kiểm tra sức khỏe, tim ông có bệnh, bác sĩ quyết định phẫu thuật tim. Nếu không phẫu thuật sẽ nguy hiểm đến tính mạng.
Ba ngày trước khi mổ, Trần Hiểu Phong nói với người nhà thỉnh cầu Sư Tôn gia trì và hãy niệm tâm chú Liên Hoa Đồng Tử. 
Thế là, “Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm” [Om guru liansheng siddhi hum], chú âm này liên tục niệm trong ba ngày.
Niệm đến ngày thứ ba, cư sĩ Trần Đông Huy nằm trên giường bệnh, trong lúc mông lung đã nhìn thấy rất chân thực:
Lư Sư Tôn mặc đồng phục màu trắng của bác sĩ đi đến gần giường bệnh, nói với cư sĩ Trần Đông Huy:
”Tôi sẽ mổ cho ông!” - Đồng thời nói: “Đừng sợ, không đau một chút nào đâu!”

Lư Sư Tôn hóa thân thành bác sĩ phẫu thuật, đã phẫu thuật cho Trần Đông Huy. Quả nhiên, không đau một chút nào. Chẳng hề có cảm giác gì.
Phẫu thuật kết thúc, Lư Sư Tôn bay đi mất!

Cư sĩ Trần Đông Huy tỉnh dậy nói với người nhà và Trần Hiểu Phong:
”Lư Sư Tôn vừa mới đến làm phẫu thuật, tất cả việc phẫu thuật đã hoàn thành rồi.”
Người nhà đều thừa nhận là bất khả tư nghì.

🌟

Trước khi bệnh viện làm phẫu thuật, họ lại chụp chiếu một lần nữa, không ngờ phát hiện ra là bệnh tim vốn có lúc trước của Trần Đông Huy đã không cánh mà bay rồi, căn bản là không cần phải phẫu thuật nữa.
Bác sĩ kêu lên:
”Không thể nào!”
Bác sĩ lấy hai tấm phim ra để so sánh, kêu lên:
”Không thể nào!”
Mặc dù bác sĩ nói là “không thể nào”, nhưng sự thật là như vậy, sự thật chính là sự thật.
Vì sao niệm “Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm” [Om guru liansheng siddhi hum] ba ngày thì bệnh tim lại có thể tiêu biến?
Đáp án là:
”Thần thông!”
Đây cũng xem như là lời thề nguyện sâu rộng, lòng từ bi quảng đại, phân thân nơi cõi trần, nghe tiếng mà cứu khổ. 
Chuyện này là như thế nào?
Tôi đáp:
”Niệm chú đến cực điểm, niệm đến mức thành tâm thành ý, đó là đại thiên cơ!”


### 26. Liên Hoa Thục Phương


Vào thời Tống, có một bậc trí giác là thiền sư Vĩnh Minh đã từng theo giáo pháp của Thiên Thai Thiều Quốc Sư. 
Thiền sư Vĩnh Minh có một truyền kì. 
Ông ấy tu Pháp Hoa sám đến ngày thứ 21, trong lúc mơ màng đã nhìn thấy Quan Thế Âm Bồ Tát tay cầm cam lộ bước đến trước, rót nước cam lộ vào trong miệng ông. 
Lúc này, thiền sư Vĩnh Minh đã đắc biện tài vô ngại.
Thiền sư Vĩnh Minh có các trước tác nổi tiếng là:
Tông Cảnh Lục - 100 quyển.
Vạn Thiện Đồng Quy - 3 quyển.
Ông ấy hoàn toàn lĩnh hội được ý chỉ của “không hữu tính tướng”, đưa ra pháp tu hành Chân Phật. Thiền sư Vĩnh Minh là thiền tịnh song tu, mỗi ngày niệm Phật 100.000 biến. Về sau ông dự đoán được thời điểm của mình đã đến, thế rồi ông đã tọa hóa.

Cá nhân tôi cho rằng, thiền sư Vĩnh Minh nhìn thấy Quan Âm rót cam lộ vào trong miệng ông, đây là hai chữ “lòng thành” đã cảm hóa.
”Lòng thành” vô cùng quan trọng.

🌟

Chân Phật Tông chúng ta có một người là Liên Hoa Thục Phương, vốn dĩ cô ấy không biết may vá. Trong pháp hội Thời Luân Kim Cang tại Đài Loan Lôi Tạng Tự, Liên Hoa Thu Nguyệt biểu diễn điệu múa Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu, đã làm rung động tất cả đồng môn.
Váy múa của Lam Phật Mẫu.
Quần vải của Kim Cang Hộ Pháp.
Không ngờ lại do người không biết may vá là Liên Hoa Thục Phương làm ra.
Cô ấy không biết may vá, nhưng Tài Nghệ Thiên Nữ đã nhập vào trong giấc mơ của chồng Liên Hoa Thục Phương là Liên Hoa Anh Châu. Tài Nghệ Thiên Nữ nói:
”Hãy nói lại với Liên Hoa Thục Phương là đừng lo lắng, ta sẽ dạy cho cô ấy may y phục múa.”
Thế là:
Nhờ có một câu nói này của Tài Nghệ Thiên Nữ mà Liên Hoa Thục Phương đã làm được tất cả. 
Tôi cho rằng:
”Đây đều là do lòng thành chiêu cảm!”
Văn chương của Liên Hoa Thục Phương rất tốt, cô ấy viết văn lưu loát, có cảm giác gần gũi ấm áp, bút danh của cô ấy là:
Mai Hàm.
Tĩnh Văn.

🌟

Tôi cho rằng lòng thành là đại thiên cơ!
Ví dụ pháp sư Cầu Na Bạt Đà La (Guabhadra - Công Đức Hiền) là người nước Kế Tân, ông đến Trung Quốc vào khoảng năm Nguyên Gia thời Nam Triều Lưu Tống. Ông ấy không hiểu tiếng Hoa, muốn thuyết pháp độ chúng sinh căn bản là không thể.
Nhưng ông ấy kiền thành thỉnh cầu Quan Thế Âm Bồ Tát. Không ngờ nhìn thấy một vị Thần Tướng đến, một tay cầm bảo kiếm, một tay cầm đầu người, thoắt một cái đã đổi bộ não của ông ấy. Hoán đổi bộ não cho nhau. Kể từ khi đổi bộ não, ông ấy hoàn toàn thông hiểu tiếng Hoa, không ngờ đã có thể thuyết kinh Hoa Nghiêm.

Tôi học Phật từ năm 26 tuổi đến năm 63 tuổi, không biết đã có bao nhiêu lần “lòng thành chiêu cảm”, có đếm cũng không đếm hết, những sự tích cảm ứng thật sự là quá nhiều.
Cổ nhân nói:
”Có tâm chí thành, vàng đá cũng mở ra.”
Lời này không phải là giả!


### 27. Pháp sư Thích Liên Nghi


Từng có một người có chồng qua đời do chạy xe máy đâm vào cột điện mà chết. Cô ấy không thể kìm nén được mà khóc lóc thảm thiết, không sao chịu đựng được nỗi đau khổ vì mất đi một nửa của mình. Cô ấy bắt đầu suy nghĩ về cảnh giới sau khi chết, có thật là có linh hồn không? Chồng cô sẽ đi về đâu?

Thế rồi cô ấy bắt đầu tìm kiếm phương pháp có thể gặp mặt chồng mình, cô đã mua rất nhiều sách liên quan đến tôn giáo, linh hồn, bắt đầu nghiên cứu đến mức quên ăn quên ngủ.
Cô đã dùng thử mọi phương pháp. Kết quả là:
”Không nhìn thấy!”
Thậm chí cô ấy nghe người ta nói:
”Có một số người sau khi bị va đụng nặng thì bất ngờ có thể nhìn thấy được thế giới khác.”
Thế là cô ấy ra sức lao mình vào tường, tự đâm mình đến mức chảy máu bầm dập, nhưng không nhìn thấy là không nhìn thấy.

Có một hôm, cô tìm được một cuốn sách của Lư Thắng Ngạn là “Mật tông Yết Ma pháp”, trong đó có một chương:
”Phương pháp Dược Xoa Đại Tướng mở thiên nhãn.”
Cô ấy liền thờ cúng một vị Thần Tướng cầm giáo mác, đặt ở bốn góc bàn thờ. Cúng bốn lọ mật ong cùng với phấn thơm, bột hương, hương vòng, v.v… 
Trước đàn thành có đặt lò Hộ Ma, ccô dùng đủ loại hương để đốt, cũng dùng cả hạt cải. Tay phải kết thủ ấn Dược Xoa Thần Tướng, quán tưởng giáo mác của Thần Tướng phóng ánh sáng trắng chiếu vào thiên tâm của mình 12 lần.
Niệm chú ngữ của Dược Xoa Thần Tướng.
Niệm một biến thì đốt một hạt cải.
Tổng cộng niệm 108 biến thì đốt 108 hạt cải.
(Thủ ấn và chú ngữ đều được ghi ra rất rõ ràng trong cuốn sách “Mật tông Yết Ma pháp.)
Sự việc không ngờ tới đã xảy ra rồi.
Không ngờ cô ấy đã nhìn thấy linh giới, nhìn thấy những gì mà người bình thường không nhìn thấy, những gì mà cô ấy tìm hiểu về vô hình thì bây giờ tất cả linh hồn thật sự đã hiện lên trước mắt, cô ấy đã nhìn thấy vô số vô số linh hồn.
Cô ấy muốn giúp đỡ chồng, giúp đỡ người thân, giúp đỡ các linh hồn khác thì phải làm sao?
Cô ấy nghĩ tác của cuốn sách “Mật tông Yết Ma pháp” là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn nhất định là một đại minh sư.
Thế là cô ấy nghiên cứu tỉ mỉ tất cả các cuốn sách của Lư Sư Tôn, cuối cùng đã nhận quán đảnh quy y.
Cô ấy chính là: 
Pháp sư Thích Liên Nghi.

🌟

Tôi thường nói:
”Tôi từng đến Tây phương Cực Lạc thế giới, đến Ma Ha Song Liên Trì, từng thấy Liên Hoa Đồng Tử - kiếp trước của tôi.”
Người không tin thì giễu cợt.
Nhưng tôi chỉ mỉm cười mà thôi.
Tôi thật sự đã biết, còn người khác không biết.
Biết làm sao đây!
Giờ đây, một người là pháp sư Thích Liên Nghi đã y theo phương pháp của tôi mà tu, cô ấy nhìn thấy vô hình, nhìn thấy rất nhiều linh hồn. Bây giờ đã đến quy y và nhận quán đảnh.
Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người, Chân Phật Mật Pháp rất chân thực, người tu pháp của tôi có được đại thành tựu đâu đâu cũng có.
Tôi không chỉ dạy bạn mỗi thần thông, tôi còn dạy bạn minh tâm kiến tính, cắt đứt phiền não, cắt đứt tất cả nghi hoặc, chứng đắc Phật quả tột cùng chân thực (giác ngộ vô thượng).


### 28. Nhà báo Hồ Học


Nhà báo Hồ Học (bí danh) là phóng viên của một tờ báo lớn, cũng là nhà báo viết bài cho một tờ tuần san. 

Có một lần tôi hoằng pháp gây xôn xao địa phương đó. 

Đội ngũ Chân Phật Tông của chúng ta luôn rất yếu về mặt quan hệ công chúng, ít tiếp xúc với truyền thông, trên phương diện tuyên truyền thì tương đương với 0 điểm.
Cũng có thể nói thế này, chúng ta hoàn toàn dựa vào thực lực, hoàn toàn không hiểu tuyên truyền và tạo hình ảnh.
Không hề có quan hệ ngoại giao.
Cá nhân tôi chỉ biết thực tu Phật pháp, thuyết pháp, viết sách, vẽ tranh.
Những việc khác, tôi thật sự không thông thạo.
Cho nên, trên phương diện truyền thông, từ xưa đến nay đều chẳng có bình luận tốt đẹp nào.
Hi hi!
Tôi là như vậy đó.
Việc tôi tôi làm.

🌟

Hoằng pháp gây nên sự chấn động.
Về nội dung hoằng pháp, phóng viên viết bài “không sót một chữ nào”, nhưng đầy rẫy những thứ bới lông tìm vết, mang nặng tính công kích cá nhân, viết với ý đồ rất đen tối.
Phỉ báng.
Sỉ nhục.
Tiêu khiển.
Châm biếm.
v.v…
Trong đó, nhà báo Hồ Học viết một bài báo cáo rất dài gây chấn động nhất. Nói thẳng ra là giả dối đúng kiểu Tử Hư Ô Hữu, đương nhiên bài báo này cũng lòe bịp thiên hạ nhất.
Còn tôi, tôi vẫn chẳng thèm để ý.
Chẳng sao cả.

🌟

Sau sự việc này, có một tin tức:
Nhà báo Hồ Học cầm gậy ba-toong đi bộ trên đường.
Nhà báo Hồ Học tự nói với người ta rằng:
Có một hôm ông ấy đi phỏng vấn tin tức ở tại một khách sạn lớn ở quận Hồ Tân, viết bản thảo đến nửa đêm mới ngủ, nhìn thấy một vị Thần Tướng đem theo nghìn binh nghìn tướng bao vây ông ấy.
Vị Thần Tướng kia trên người mặc áo giáp, hùng tráng uy  nghi, giọng đanh thép nói với ông ấy rằng:
”Vì sao ông viết bài sỉ nhục Thánh giả minh tâm kiến tính?”
”Tôi đâu có!” - Hồ Học cãi.
”Vị Thánh giả này chính là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.”
Nhà báo Hồ Học á khẩu không nói.
Vị Thần Tướng kia không nói nhiều lời, lập tức rút đao ra chém vào chân của nhà báo Hồ Học một nhát. Nhà báo Hồ Học kêu lên một tiếng thảm thiết, chân đã đứt lìa.
Ông ấy đau quá mà tỉnh dậy.
Điều không ngờ là, kể từ đó ông ấy phải chống gậy đi bộ, cà thọt cà thọt.

🌟

Về việc này, tôi nghe chính miệng đồng nghiệp của ông kể cho tôi, bản thân Hồ Học cũng ăn năn, ông ấy nói, đây là hậu quả của việc thích phỉ báng người khác. Bản thân nhà báo Hồ Học chưa từng tin tôn giáo, nhưng bây giờ đã bắt đầu niệm Phật rồi. 
Sự việc này tôi không dám tùy tiện đưa ra lời bình, chỉ hi vọng cơ chân của ông ấy nhanh chóng khỏe lên một chút.
Phàm chuyện gì, hãy nghĩ một chút về nhân quả mới là tốt!


### 29. Lão cư sĩ Trần Quốc Di


Trong những trước tác của mình, lão cư sĩ Trần Quốc Di từng đề cập đến ba đại cao tăng “Mĩ tiến”, ý ông ấy là chỉ:
1. Lão hòa thượng Tuyên Hóa.
2. Đại sư Tinh Vân.
3. Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.
Lão cư sĩ Trần Quốc Di và tôi thường xuyên thư từ qua lại, hầu hết sách mà ông ấy viết, tôi cũng tài trợ cho ông ấy xuất bản.
Đối với Phật học, ông ấy có kinh nghiệm “thiền quán trực giác”. 
Ông ấy nói:
”Muốn thành Phật, có hai chướng ngại lớn, chướng ngại lớn thứ nhất là phiền não chướng, chướng ngại lớn thứ hai là sở tri chướng (chướng ngại vì những điều đã biết).”
”Sở tri chướng là khó loại bỏ nhất.”
”Một khi cắt đứt được phiền não chướng thì đắc giải thoát, một khi cắt đứt được sở tri chướng thì đắc vô thượng bồ đề.”

🌟

Tôi nói với lão cư sĩ Trần Quốc Di, sở tri chướng chủ yếu có bốn thứ:
1. Đời quá khứ không biết, đời tương lai không biết, đó là bất tri, chướng ngại bất tri.
2. Dục giới không biết Sắc giới, Sắc giới không biết Vô sắc giới, Vô sắc giới không biết tứ Thánh giới, đó là bất tri, chướng ngại bất tri.
3. Cảnh giới ở tầng thấp không biết cảnh giới ở tầng cao, cảnh giới nhiều lắm thay, không thể biết được hết, đó là chướng ngại.
4. Vi tế không thể biết, tính năng và sự khác biệt vi tế nhất không cách nào thâm nhập, không thể biết.
Chúng sinh hão huyền chấp vào những điều đã biết thì sẽ trở thành chướng ngại.

🌟

Lão cư sĩ Trần Quốc Di lúc chưa biết tôi có một việc kì lạ. Ông ấy tự tu thiền định. 
Trong đầu nghĩ, thiên hạ này rộng lớn như vậy, người học Phật tu hành nhiều như vậy, đại hòa thượng, lão pháp sư, thượng nhân, Hoạt Phật, thượng sư, Lama, cư sĩ... Rốt cục ai là cao tăng đắc đạo? Ai là người minh tâm kiến tính? Ai là người giải thoát? Ai là người chứng vô thượng bồ đề?
Cư sĩ Trần nghĩ đến việc quy y một vị Thánh giả chí cao vô thượng. Ở trong thiền quán trực giác của mình, ông ấy nhìn thấy một vị Thánh giả tay phải kết ấn thuyết pháp, tay trái kết ấn cầm hoa sen, thủ ấn cực kì rõ ràng.
Người này diệu tướng trang nghiêm.
Người này uy quang hiển hách.
Từ trong thiền quán của ông bước ra.
Lão cư sĩ Trần Quốc Di đã sớm ở trong thiền quán nhìn thấy tôi nhiều năm rồi. Sau này nhân duyên hội tụ, tôi gửi tạp chí cho ông ấy, trong tạp chí đó có bức ảnh của tôi.
Cư sĩ Trần Quốc Di mới tỉnh ngộ:
”Thì ra là Lư Sư Tôn.”

🌟

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người, rất nhiều đệ tử Chân Phật Tông đến quy y tôi. 
Có người trong mơ đã nhìn thấy tôi trước.
Có người thì cảm giác rõ ràng đã quen biết từ trước.
Có người nghe được tôi thuyết pháp thì mừng tủi rơi nước mắt, đến khi gặp được người thật thì nước mắt ròng ròng.
Có người thì được thần nhân chỉ thị. Thần nhân ở trong mơ chỉ thị rằng phải quy y tôi.
Lão cư sĩ Trần Quốc Di là đặc biệt nhất, ông ấy ở trong thiền quán trực giác đã gặp mặt tôi từ lâu.
Tôi cảm thấy việc quy y sư phụ, trong cõi vô hình tự có định số, tất cả điều này vốn là nhân duyên thôi. 
Nhân duyên là đại thiên cơ!


### 30. Cư sĩ Hoàng Hiện Long


Cư sĩ Hoàng Hiện Long là tổng giám đốc công ty kinh doanh ngư nghiệp, sự nghiệp cực kì thành công.
Nhưng không ngờ lại mắc bệnh ung thư.
Khối u mọc ở họng.
Khi cư sĩ Hoàng Hiện Long nhập viện, bác sĩ quyết định phẫu thuật cắt bỏ. 
Lúc phẫu thuật, Hoàng Hiện Long trong cơn hôn mê đã xuất hiện hiện tượng thần thức và nhục thể phân li, cũng tức là hiện tượng chết, tinh thần và thể xác tách nhau ra.
Ông ấy nhìn thấy hai người mặc áo trắng (quan âm phủ), một trái một phải giữ chặt lấy bả vai của ông, túm chặt lấy hai tay rồi đè xuống, lôi thẳng vào trong địa ngục tối tăm.

Trong ý thức của cư sĩ Hoàng Hiện Long, ông ấy biết là mình đang bị quan âm phủ lôi xuống tam ác đạo. 
Đạo địa ngục.
Đạo ngạ quỷ.
Đạo súc sinh.
Đúng vào thời khắc nguy hiểm, Lư Thắng Ngạn Sư Tôn toàn thân sáng chói lọi xuất hiện.
Lư Sư Tôn hét hai quan âm phủ lui ra rồi đưa thần thức của cư sĩ Hoàng Hiện Long trở vào trong thể xác.

🌟

Cư sĩ Hoàng Hiện Long phẫu thuật xong tỉnh lại, bởi vì cổ họng bị làm phẫu thuật lớn nên đã không thể nào nói được. Nhưng ông ấy yêu cầu giấy và bút để viết ra hiện tượng chết của chính mình, ông ấy nói:
”Lư Sư Tôn đã hiện thân cứu tôi.”
Việc này có:
Vợ chồng Trần Hán Đào biết.
Người thân của cư sĩ Hoàng Hiện Long đều biết.
Tôi nói với cư sĩ Hoàng Hiện Long:
”Hoàng Hiện Long và tôi quen biết nhau, ông ấy là đệ tử của tôi, tôi từng vì cuộc phẫu thuật của ông ấy mà tu một Mật pháp gia trì!”
Tôi nói:
”Tôi không chắc có thể cứu được mạng của cư sĩ Hoàng Hiện Long, bởi vì các tế bào ung thư của ông ấy đã lan ra các bộ phận khắp toàn thân. Nhưng ông ấy là đệ tử của tôi, tôi có thể bảo đảm ông ấy tuyệt đối sẽ không vào tam ác đạo.”
Tôi nói:
”Ông ấy có thể thăng lên thiên thượng giới!”

🌟

Có người hỏi tôi:
”Sự việc này là thế nào? Sao Lư Sư Tôn có thể hiện thân ở cõi âm để cứu độ chúng sinh?”
Tôi nói:
”Bất kì cõi nào cũng đều có tôi. Tôi ở tại hư không, tại Phật quốc tịnh thổ, tại Vô sắc giới, tại Sắc giới, tại Dục giới, tại Atula giới, tại tam ác đạo.”
”Sao có thể như vậy?”
Trong kinh Bất Khả Tư Nghì có nói:
”Nơi mà trí huệ của Phật đến được sẽ có hóa thân của Phật, sẽ có ánh sáng của Phật. Nơi mà ánh sáng của Phật chiếu tới sẽ có âm thanh của Phật, âm thanh của Phật có ở khắp nơi, giống như lòng từ bi của Phật không nơi nào là không tồn tại.”
Kinh Bất Khả Tư Nghì nói:
”Trong một sát-na, trí huệ ở khắp tất cả. Ai nhớ đến Phật, Phật sẽ ở bên cạnh.”
Hoàng Hiện Long vừa nghĩ đến tôi, tôi lập tức hiện thân!
”Một niệm” là thiên cơ!


### 31. Cậu bé Giang Lạc Thiện


Cậu bé Giang Lạc Thiện khoảng 5 tuổi rưỡi, lúc nào cũng hoạt bát đáng yêu, sống tại căn nhà trọ trên tầng năm của một tòa cao ốc. Bởi vì trẻ con hiếu kì, đồng thời cũng không biết nguy hiểm, cậu bé đang chơi ở ban công của tầng năm thì bất ngờ trèo lên trên giàn trồng hoa của ban công. 
Trong một phút sơ xuất khi phụ huynh không chú ý, cậu bé bất ngờ từ ban công tầng năm rơi xuống. 
Một tiếng kêu thất kinh!
Nhân viên quản lí của tòa nhà vội chạy tới.
Bố mẹ kinh hoàng vội vàng lao xuống tầng!
Hàng xóm đã ngay lập tức gọi điện thoại cấp cứu.
Điều không ngờ là, cậu bé Giang Lạc Thiện quay người bò dậy, phủi phủi bụi đất trên người mình.
Bố mẹ, hàng xóm, nhân viên quản lí đứng vây xung quanh nhìn, cậu bé Giang Lạc Thiện không ngờ chẳng bị làm sao cả, hoàn toàn không bị thương.
Ông Trời ơi! Từ ban công tầng năm rơi xuống, người bình thường đã trở thành đống thịt nát bấy từ lâu rồi, máu thịt bay tứ tung rồi, hiếm có ai không chết.
Nhưng Giang Lạc Thiện lại vô sự.
Không bị làm sao là không bị làm sao.
Mọi người chỉ biết thốt lên một câu kinh ngạc:
”Mạng lớn!”

🌟

Thật không ngờ là, bố mẹ cậu bé hỏi nguyên do, Giang Lạc Thiện nói cậu bé nhìn thấy sư phụ mà bố mẹ đã đưa cậu bé đi để nhận “sờ đầu” từ không trung ôm lấy cậu bé, sau đó nhẹ nhàng đặt cậu trên mặt đất, rồi vị sư phụ đó bay lên không trung bay đi mất.
”Sư phụ nào?” - Bố mẹ vội hỏi.
”Sư phụ mặc áo đỏ.”
Bố mẹ lấy ra một cuốn tạp chí, Giang Lạc Thiện vừa nhìn đã nói:
”Chính là ông ấy.”
Bố mẹ sửng sốt:
”Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn! Là Lư Sư Tôn.”
Bố mẹ của Giang Lạc Thiện vốn là đệ tử của Sư Tôn, họ ngày ngày tu Chân Phật Mật Pháp, thích niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh và Chân Phật Kinh, thường xuyên tham gia pháp hội của Lư Sư Tôn.
Vì thế, họ đã hiểu ra:
”Là Lư Sư Tôn cứu hộ!”

🌟

Bố mẹ của Giang Lạc Thiện, người bố tên là Giang Khánh Sinh, khi hai vợ chồng quy y, nhận quán đảnh cũng có hiện tượng kì lạ.
Vào bảy giờ sáng ngày mồng một, họ quay mặt về hướng đông. Niệm chú Tứ quy y:
”Nam mô gu-ru bêi. Nam mô bút-đa yê. Nam mô đa-ma yê. Nam mô sang-ga yê” [Namo guru beh. Namo buddha ye. Namo dharma ye. Namo sangha ye.]
”Liên Sinh Hoạt Phật chỉ dẫn. Quy y Chân Phật.” 
(Nói ba lần lạy ba lần.)
Sau khi nói ba lần và lạy ba lần xong, trong không trung bay đến một con chim lạ có bảy màu, họ chưa từng nhìn thấy, con chim ở trước mặt vợ chồng họ hót lên tiếng “ri ri chi chi”. Theo như họ nói thì: 
”Chính là Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm” [Om guru liansheng siddhi hum]
Con chim niệm một hồi rồi mới bay đi. 
Vợ chồng Giang Khánh Sinh ngây người ra nhìn, trong cả cuộc đời họ chỉ nhìn thấy con chim bảy màu đó đúng một lần.

Còn bây giờ, Giang Lạc Thiện rơi từ trên tầng xuống được cứu, khiến ai nấy đều chặc lưỡi xuýt xoa kinh ngạc.

Bảo Tính Luận viết: “Phật ôm lòng đại từ bi, lợi ích chúng sinh vĩnh viễn không dừng. Y theo ý niệm của chúng sinh mà mãn nguyện chúng sinh, mọi lúc mọi nơi ứng hóa vô cùng.”


### 32. Sư huynh thủy tinh cầu


7 giờ tối ngày 29 tháng 7 năm 2007, tôi ở tại nhà hàng ăn ở Vancouver Canada.
Bồ Đề Lôi Tạng Tự, Hoa Quang Lôi Tạng Tự, Phổ Đà Đường, Nội Minh… ở Vancouver Canada cùng đãi tiệc mời Sư Tôn.

Họ mời đến một người nước ngoài để biểu diễn tiết mục, màn biểu diễn của người nước ngoài này rất đặc biệt.
Hai tay của người nước ngoài điều khiển một viên thủy tinh rất lớn, từ một viên đến tám viên, hai tay của người nước ngoài có thể làm cho các quả cầu thủy tinh chồng lên nhau, đồng thời tự động xoay tròn. Quả cầu thủy tinh có thể chạy dọc theo cánh tay đến bả vai rồi đi sang tay kia. Tám quả cầu thủy tinh bất kì lúc nào cũng có thể biến hóa thành hình hoa, liên tục chuyển động nhảy múa sắp xếp thành những tổ hợp.

Những quả cầu thủy tinh ở trên bàn tay, trên cánh tay, trên cổ, trên thân của người nước ngoài lăn qua lăn lại.
Màn biểu diễn quả cầu thủy tinh của người nước ngoài đã có lịch sử 18 năm, cực kì gây chấn động, cực kì xuất sắc. Nghe nói cuộc đời biểu diễn 18 năm của ông ấy chưa xảy ra lỗi lần nào. (Có nghĩa là quả cầu thủy tinh chưa bao giờ rơi xuống.)
Thế nhưng, lần biểu diễn này của người nước ngoài, quả cầu thủy tinh liên tiếp rơi xuống ba lần.
”Cạch” một tiếng, rơi xuống một lần.
”Cạch” một tiếng, lại rơi xuống.
”Cạch” một tiếng, lại rơi xuống lần nữa.
Người nước ngoài vã mồ hôi, sắc mặt trắng bệch, bởi vì ông ấy biểu diễn thất thường nên rất buồn.

🌟

Ông ấy nói với Thượng sư Triệu Thiếu Đông:
”Tôi nhìn thấy Sư Tôn của các anh toàn thân tỏa sáng rực rỡ, năng lượng rất lớn tỏa ra, tôi lơ đễnh một cái là quả cầu liền rơi xuống. Trong cả cuộc đời tôi chưa từng có lần nào sai sót, lần này gặp được cao nhân chân chính, vì thế, tôi đã mắc lỗi rồi!”
Người nước ngoài nói:
”Tôi sẵn lòng quỳ xuống trước Sư Tôn của các anh, thỉnh cầu Sư Tôn sờ đầu gia trì!”
Thế rồi người nước ngoài đi tới, quỳ xuống trước mặt tôi, hai tay chắp lại. Tôi đưa tay ra sờ lên đầu của sư huynh thủy tinh cầu.
Những người có mặt tại đó gồm Thượng sư Liên Từ, Thượng sư Lệ Huệ, Thượng sư Thiếu Đông, Thượng sư Liên Văn, Thượng sư  Liên Cao, Thượng sư Tam Nguyên, Thượng sư Liên Ninh, Thượng sư Liên Khiết.
Ngoài ra còn có rất nhiều đệ tử.

🌟

Có người hỏi:
”Sư Tôn xem người nước ngoài biểu diễn quả cầu thủy tinh, vì sao lại sản sinh ra năng lượng cực lớn khiến người nước ngoài liên tục mắc lỗi?”
”Trên người của Sư Tôn sao lại sáng rực rỡ?”
Tôi đáp:
”Là tự nhiên phát lộ thôi!”
Tôi nói:
Sắc thân Phật như bản thể của mặt trời, thân tự tính giống như nguồn năng lượng của Phật, pháp thân trí huệ như ánh mặt trời.
Tôi ngồi ở đó như như bất động, nhưng nguồn năng lượng cứ liên tục không dừng, ánh hào quang tự nhiên phát sáng.
Pháp thân và tính Không là vĩnh hằng bất biến.
Ánh hào quang có đặc tính vận động biến hóa.
Đương nhiên tôi biết trò thủy tinh cầu cực kì xuất sắc, nhưng ở trước siêu đại năng lượng thì nó cũng sẽ mắc lỗi thôi!


### 33. Tiến sĩ Mạch Diệc Viên


Tiến sĩ Mạch Diệc Viên là một tiến sĩ ngành hóa sinh, làm việc tại một nhà máy dược rất lớn, chức vị tương đối cao, ông ấy là một tín đồ đạo Cơ Đốc rất ngoan đạo.
Tiến sĩ Mạch từng tổ chức một đội hợp xướng Thánh ca trong giáo hội, đi khắp nơi trên thế giới để tuyên giáo, nhận được không ít lời khen ngợi. Tiến sĩ Mạch Diệc Viên có tâm địa lương thiện, thích làm việc từ thiện.

Điều muộn phiền duy nhất của tiến sĩ Mạch là con trai và con dâu đã quy y Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.
Sau đó con trai và con dâu lại đưa cả bà Mạch đến nhận quán đảnh quy y. 
Tiến sĩ Mạch không kìm được cơn tức giận đã đến nhà của con trai và con dâu quăng hết đàn thành Mật giáo xuống đất. Hét lớn:
”Tượng thần! Ma quỷ!”
Tiến sĩ Mạch tức giận đến nỗi toàn thân run rẩy:
”Để cho Lư Thắng Ngạn phá hủy hết cả cái gia đình này!”
Con trai nói:
”Bản thân Lư Thắng Ngạn từng là tín đồ Cơ Đốc, bây giờ ngài ấy vẫn tin Jesus, chính ngài ấy cũng thờ tượng Jesus.”
Con dâu nói:
”Không hề xung đột, Lư Sư Tôn nói Cơ Đốc là Thiên Quốc thừa.”
Tiến sĩ Mạch lắc đầu, chỉ nói:
”Làm gì có chuyện đó! Làm gì có cái lí ấy! Làm gì có chuyện đó!”

🌟

Sau đó, mắt của tiến sĩ Mạch bị mắc bệnh tăng nhãn áp và đục thủy tinh thể, thị lực trở nên rất mờ, nhất là bệnh tăng nhãn áp rất nặng, khiến cho tiến sĩ Mạch hoàn toàn không nhìn thấy gì, đã bị mù rồi.
Tiến sĩ Mạch tìm đến khắp các danh y. Mục sư của giáo hội cũng cầu nguyện cho ông ấy.
Tiến sĩ Mạch đã dùng hết mọi phương pháp “Yêu mắt”, “Yêu mắt” là tên của một cuốn sách. Tiến sĩ Mạch từng đi châu Âu tìm cầu các bác sĩ nổi tiếng nhất để chẩn trị. Nhưng trước sau vẫn không có chuyển biến tốt.

🌟

Có một hôm. 
Con trai con dâu đem về ba lá phù Nhãn khoa của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, mời tiến sĩ Mạch uống.
Tiến sĩ Mạch cũng thờ ơ uống ba lá phù.
Đêm đó.
Tiến sĩ Mạch có được một giấc mơ. Trong mơ, tiến sĩ Mạch nhìn thấy Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đi đến. Trên tay Lư Thắng Ngạn cầm một cái hộp, mở ra nhìn, bên trong không ngờ là hai con mắt. 

Lư Thắng Ngạn đưa hai con mắt lệnh cho tiến sĩ Mạch nuốt vào. Đồng thời lại dùng nước cam lộ để rửa mắt. Rửa mắt xong thì ông ấy tỉnh dậy.
Việc kì lạ nhất đã xảy ra đó là đôi mắt của tiến sĩ Mạch tự nhiên khỏi rồi, hai mắt đã sáng trơ lại, nhìn rất rõ ràng sống động, bệnh tăng nhãn áp và đục thủy tinh thể đã biến mất rồi. Con trai, con dâu và vợ ông đều hết sức vui mừng, đi khắp nơi tuyên truyền câu chuyện Mạch Diệc Viên bị mù rồi lại sáng mắt. 

Tiến sĩ Mạch không còn phản đối con trai và con dâu thờ cúng đàn thành tu Mật pháp tại nhà nữa. Tiến sĩ Mạch cũng đã nhận quán đảnh của tôi rồi.
Nhưng tiến sĩ Mạch nói: “Tôi có thói quen tin Cơ Đốc rồi, vẫn cứ để cho tôi ở trong giáo hội đi!”
Tôi nói: “Được!” 

Khi Phật tại thế, có câu chuyện về em bé mù thấy Phật, được ghi chép trong kinh Việt Nan. [là Việt Nan, không phải Việt Nam]


### 34. Họa sĩ Xa Diệu Chi


Họa sĩ Xa Diệu Chi chính là tác giả Giảo Giảo của mỹ thuật hiện đại Trung Quốc, là bậc thầy về thể hiện mỹ thuật đa nguyên. 
Theo trực giác của tôi, tinh thần mà họa sĩ Xa đặt vào trong những bức họa có một sức căng và sức mạnh lớn. 

Lần đầu tiên tôi gặp họa sĩ Xa Diệu Chi, tôi cảm thấy cô ấy rất trẻ trung lãng mạn, dạt dào nhiệt huyết.
Cô ấy bày ra tranh của mình:
Người và tranh hợp nhất.
Nắm bắt được những rung động mới lạ.
Nét bút trôi chảy.
Không ứ đọng, không thất thoát.

Lần thứ hai tôi gặp họa sĩ Xa Diệu Chi là ở trong ngôi nhà bằng kính của cô ấy. Cô ấy yêu cầu tôi:
”Thỉnh Lư Sư Tôn quán đảnh cho con con mắt thứ ba, để con có được diệu quan sát trí, có thể vẽ được những bức họa cực phẩm.”
Thế là, tôi dùng “kim cang chỉ”, vận khí ở phía trên mi tâm của cô ấy rồi ấn một cái. Cô ấy nói:
”Một dòng ánh sáng nóng đi thẳng vào mi tâm, toàn thân tan ra, thân tâm bay lên, nhìn thấu thế giới này.”
Nhờ có quán đảnh của tôi, tranh của cô ấy càng thần kì.
Cô ấy nói:
”Quán đảnh của Lư Sư Tôn là chân thực, là thuần khiết, là tuyệt đối, là trí huệ giác ngộ.”
Xa Diệu Chi nhận chức vụ giảng dạy tại Đại học British Columbia.
Tranh của Xa Diệu Chi nổi tiếng khắp thế giới, cô ấy trở thành nhân vật có tầm cỡ thế giới. 
Người và tranh của Xa Diệu Chi đã khuấy động toàn thế giới.

🌟

Tôi được mời đến ngôi biệt thự mới của Xa Diệu Chi, đó là ngôi nhà hoành tráng nhất khu vực đó. Cô ấy đã thành công rồi, là một giáo sư lớn, có rất nhiều học sinh theo cô ấy học vẽ, dưới tầng hầm của ngôi biệt thự là nơi cô ấy dạy học, cô ấy dạy học sinh bắt đầu từ phác họa, hợp nhất phong cách Trung Quốc và phương Tây.
Cô ấy quỳ xuống, muốn tôi sờ đầu gia trì cho cô ấy.
Khi tôi sờ đầu, tôi phát hiện ra sau lưng của cô ấy có một bóng đen to cao, đó là oan nghiệt của kiếp trước. Tôi nói với cô ấy:
”Xa Diệu Chi, sau này nếu cô gặp phải chuyện khó khăn không thể giải quyết được, nhất định phải liên lạc với tôi, biết chưa?”
Cô ấy đáp:
”Vâng ạ, con biết rồi.”

🌟

Vận hạn cuối cùng đã đến rồi.
Họa sĩ Xa Diệu Chi bị mắc bệnh ung thư giai đoạn cuối. Khi cô ấy nằm trên giường bệnh, vào lúc hấp hối, cô ấy nhớ đến lời của tôi nên đã nhờ bạn mình là Diêu Di Kì thông báo với tôi. 
Tôi dùng thiền định kim cang để xuất nguyên thần.
Nguyên thần của tôi dẫn nguyên thần của Xa Diệu Chi, đưa thần thức của Xa Diệu Chi đến chỗ của Diêu Trì Kim Mẫu.
Xa Diệu Chi vốn là thiên nữ ở Diêu Trì Tiên Cảnh nơi thiên thượng giới, tôi đưa cô ấy trở về chốn cũ. 
Thiên nữ hạ phàm rồi!
Thiên nữ trở về cung rồi!
Họa sĩ Xa Diệu Chi đã vẽ một nét vẽ đầy phóng khoáng tiêu dao tại nhân gian.

🌟

Bài viết ngắn này, mục đích chủ yếu của tôi là nói với thế nhân rằng, tôi biết hết mọi thứ, nhưng không thể nói ra quá rõ ràng. Tôi chỉ có một điều tiếc nuối đó là tôi đã không dạy cô ấy Phật pháp giải thoát oan nghiệt, bởi vì khi ấy cô ấy đã quá chuyên chú vào thành tựu về danh lợi của mình rồi!


### 35. Cư sĩ Nghê Hiểu Phương


Tôi nói, giữa Phật và Phật với nhau có ba điều hoàn toàn bình đẳng, đó chính là:
1. Mọi vị Phật, điều kiện thành Phật là hoàn toàn bình đẳng. Bao gồm: thiền định, trí huệ, phúc đức…
2. Mọi vị Phật, cảnh giới giác ngộ là hoàn toàn bình đẳng. Cũng tức là trí huệ không phân biệt cao thấp.
3. Mọi vị Phật, sự nghiệp thần thông là hoàn toàn bình đẳng. Cũng tức là tâm đại từ bi cứu độ chúng sinh không có phân biệt lớn nhỏ.
(Đây chính là ba bình đẳng của Phật.)

🌟

Cư sĩ Nghê Hiểu Phương lần đầu đến Đài Loan Lôi Tạng Tự làm tình nguyện, trên trán và trên má của cô ấy đều là những chấm đen. 
Đến trung tâm chăm sóc da làm xét nghiệm, vô hiệu!
Dùng xơ mướp để xoa lên mặt, xoa đến xước cả da thì vẫn là những đốm hoa mặt đen sì sì.
Cô ấy khóc.
Có một hôm, cô ấy nhìn thấy Sư Tôn ngồi trên đóa hoa sen trắng lớn bay vào trong tim mình. 
Cô ấy có phần hiểu ra.
Cô ấy cọ phân chim ở đại điện của Đài Loan Lôi Tạng Tự, xem chúng như những chấm đen trên mặt mình, ra sức nỗ lực lau chùi.
Chùi đến khi sáng bóng.
Chính vì cô ấy đã chùi sàn của đại điện đến mức vừa sáng vừa bóng, chấm đen trên mặt cô không ngờ đã biến mất rồi.
Kể từ đó, da dẻ của cư sĩ Nghê Hiểu Phương đã hồng hào, toàn bộ thân tâm cũng đã trở nên thoải mái.

🌟

Chuyện độc nhất vô nhị là, trong kinh Bách Duyên có ghi chép:
Mạt Lợi phu nhân của vua Ba Tư Nặc sinh ra một đứa con gái, diện mạo trông như hề, cực kì xấu xí. Cô gái cưới một người đàn ông nghèo. 
Vua vì không muốn người khác nhìn thấy con gái nên đã xây một ngôi nhà, trong ngoài có bảy lớp cửa đóng chặt. Chỉ có chồng của con gái có chìa khóa.
Vua Ba Tư Nặc vì con gái xấu xí mà không ngờ đã nhốt con mình trong ngôi nhà bảy lớp cửa, tối tăm chẳng nhìn thấy ban ngày.
Về sau, cô gái ấy sám hối, lễ Phật Đà từ xa, quy y Phật Đà, hy vọng Phật Đà thương xót. Phật Đà biết được bèn thuyết pháp cho cô gái, Phật Đà đã sử dụng sức mạnh thần thông hét lên một tiếng: “Biến!”
Khuôn mặt của cô gái xấu xí liền trở nên đoan chính, xinh đẹp tuyệt vời, thân thể thon thả, đẹp như tiên nữ.
Vua Ba Tư Nặc cảm thấy hết sức kinh ngạc. Ngay cả đến chồng cô cũng suýt không nhận ra cô. 
Thần thông của Phật Thích Ca Mâu Ni thật sự quá lợi hại, trong chốc lát Phật Đà đã biến đổi dung nhan của cô gái xấu xí.

🌟

Nghê Hiểu Phương có rất nhiều câu chuyện cảm ứng, ngoài việc những nốt đen trên mặt đã biến mất ra, cô ấy còn nhìn thấy Sư Tôn chữa ho cho cô, Sư Tôn ở trong mơ dạy cô chạy xe. Ngày hôm sau cô lập tức biết chạy xe. 
………

Tôi nói nhỏ với mọi người:
Nếu có người nào hy vọng trở nên đẹp trai tuấn tú, hoặc hy vọng mình giống như thiên tiên mỹ nữ, các bạn hãy đến Đài Loan Lôi Tạng Tự làm việc tình nguyện.
Lau chùi Đài Loan Lôi Tạng Tự cho sáng bóng là sẽ được thôi!


### 36. Cư sĩ Peter Ho


Cư sĩ Peter Ho thích niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, anh niệm kinh này có được rất nhiều cảm ứng.
Anh ấy sống tại bang Maryland, mỗi lần có pháp hội của Chân Phật Tông, anh ấy đều làm hai, ba trăm hộp cơm để kết duyên cúng trai, kết thiện duyên rộng rãi, cúng Phật trai tăng, gắng sức bố thí. 
Bởi vì anh ấy kinh doanh quán ăn, Peter Ho bận rộn làm việc từ sáng sớm đến tối khuya, mỗi ngày làm việc liên tục mười ba tiếng, khi trở về nhà thì đã hơn 11 giờ rồi. 
Anh ấy rất khó và cũng rất mệt, rất muốn tu một đàn pháp, nhưng tinh thần thật sự bất lực. Thế rồi, anh dùng cách trì chú “Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm” [Om guru liansheng siddhi hum]. 
Anh ấy nói:
”Sư Tôn nói, chỉ cần trì Căn bản Thượng sư tâm chú đạt đến 8 triệu biến, đây là pháp môn tiện lợi, Lư Sư Tôn sẽ thu nhận đệ tử vãng sinh đến Ma Ha Song Liên Trì.”
Một người tu tập 6 năm như anh chỉ hy vọng có thể được Sư Tôn tiếp dẫn vãng sinh, như vậy là đủ.

🌟

Có một hôm, Peter Ho bỗng nhiên tim đập rất nhanh, mồ hôi trên mặt cứ túa ra, anh đưa tay ôm lấy tim. 
Đầu tiên anh ấy nằm trên ghế sofa, thu hết sự tập trung khẩn thiết trì niệm Thượng sư tâm chú: “Ôm gu-ru lián-shâng sit-đi hùm”. 
Từng câu từng câu.
Niệm rất tập trung.
Peter Ho cảm ứng thấy Lư Sư Tôn đột nhiên xuất hiện bên cạnh mình, hỏi anh ấy:
”Anh sao rồi?”
Anh ấy đáp:
”Con sắp chết rồi!”
Sư Tôn nói:
”Không đâu! Không đâu!”
Sư Tôn dùng tay xoa từ đầu đến chân của Peter Ho, sau đó thì biến mất.
Ngay lập tức:
Tim đập như bình thường.
Toàn thân mát mẻ. 
Thân tâm hoàn toàn bình thường.
Peter Ho từ đó biết rằng, niệm Cao Vương Kinh có cảm ứng nhiều, niệm Căn bản Thượng sư tâm chú cảm ứng cũng rất phi phàm.

🌟

Có người hỏi tôi:
”Lư Sư Tôn, ngài sống ở bang Washington, sao lại có thể trong sát-na đã đến bang Maryland được? Rồi vì sao có người niệm Căn bản Thượng sư tâm chú thì ngài biết ngay?”
Tôi đáp:
”Đây chính là thần túc thông, thần túc thông không chỉ có thể từ Washington đến Maryland mà các nơi trên thế giới đều có thể đến. Càng không chỉ như vậy, trên đến hai mươi tám cõi trời, dưới đến ba ác đạo cũng đều có thể đến.”
Tôi đáp:
”Tất cả chư Phật đều phát nguyện, nguyện tôi sau này, khi tự chứng pháp tính, tự do trong pháp, đắc làm Pháp Vương, dùng thần thông tinh tấn đi cứu giúp chúng sinh bị phiền não trói buộc trong tam giới. Căn bản Thượng sư tâm chú chính là tâm của Căn bản Thượng sư, hễ động tâm là biết ngay.”
Tôi nói:
Căn bản Thượng sư tâm chú chính là đại minh chú, đại thần chú, vô thượng chú, vô đẳng đẳng chú.
Tâm chú này có thể giúp trừ bỏ mọi đau khổ, là chân thực không phải giả!
Thiên cơ này chính là sức mạnh của chú!


### 37. Cư sĩ Thái Thừa Tĩnh


Có một người là cư sĩ Thái Thừa Tĩnh từ một địa phương rất xa bay đến Seattle nước Mỹ, mục đích anh ấy đến Seattle chỉ có một thôi, đó là đến quy y và nhận quán đảnh.
Thái Thừa Tĩnh kể, anh ấy vốn là một viên chức nhà nước thật thà, là nhân viên văn phòng, không có sở thích xấu nào, buổi sáng 9 giờ đi làm, buổi chiều 5 giờ tan làm, thích đọc sách, nhưng chỉ đọc những sách về phương diện triết học.
Anh ấy không có tín ngưỡng tôn giáo.
Có một lần, anh ấy mắc bệnh nặng, hôn mê bất tỉnh. Trong lúc hôn mê bất tỉnh, có tám người mặc áo đen bắt giữ Thái Thừa Tĩnh rồi đeo xích tay xích chân, lôi anh ấy vào trong  một tòa đại điện, trong đại điện có một Quỷ Vương mặt mày  hung tợn, hai bên có rất nhiều tiểu quỷ, mỗi con đều cầm dụng cụ tra tấn.

Quỷ Vương nói:
”Thái Thừa Tĩnh, ngày chết của anh đã đến, nghiệp chướng rất nặng!”
Thái Thừa Tĩnh đáp:
”Tôi không làm việc gì hổ thẹn với lương tâm, tôi là người tốt.”
Quỷ Vương thét lên ra lệnh cho quỷ xung quanh:
”Điều tra!”
Quỷ xung quanh điều tra một lúc rồi trả lời rằng:
”Thái Thừa Tĩnh trong kiếp này không thiện không ác. Nhưng một kiếp trước có ác nghiệp tương đối nhiều.”
Quỷ Vương nghĩ một lúc rồi nói:
”Nghĩ đến anh đời này không thiện không ác, thả cho anh về, nhưng kiếp trước của anh đã làm nhiều điều ác, để hóa giải ác nghiệp trong đời trước của anh, sau khi anh trở về phải mau đi quy y minh sư, cầu quán đảnh, tu học Phật pháp thì mới có thể diệt trừ được ác nghiệp.”
”Tìm minh sư nào?”
Quỷ Vương đáp:
”Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.”

🌟

Thái Thừa Tĩnh vì bệnh nặng mà nằm viện tới nửa năm, hôn mê khoảng bảy ngày, sau khi bình phục thì xuất viện, nhưng sự việc gặp Quỷ Vương trong hôn mê luôn hiện lên rất rõ ràng trong đầu, cực kì sống động. Căn bản là ông ấy không biết ai là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Hỏi bạn bè thân quen cũng không ai biết.

Bởi vì là Phật pháp nên anh ấy đi hỏi một người học Phật:
”Anh biết có một vị là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn không?”
Người học Phật đáp:
”Biết, ông ấy là ngoại đạo, là Hoạt Phật giả. Ông ấy có viết một ít sách.”
Thái Thừa Tĩnh nghĩ:
”Ngoại đạo, Hoạt Phật giả, nhưng Quỷ Vương rõ ràng nói rằng ông ấy là một minh sư, quái lạ, quái lạ!”

Thái Thừa Tĩnh đến hiệu sách tìm sách của tôi, mua hết toàn bộ, cũng đọc hết toàn bộ, ông ấy cảm thấy rất xuất sắc. Thái Thừa Tĩnh là người thích triết học, anh ấy cho rằng sách mà Lư Sư Tôn viết hợp logic, hợp với biện luận. 
Thế là cuối cùng, anh ấy đã bay đến Seattle để trực tiếp quy y nhận quán đảnh.

🌟

Trên đây chính là câu chuyện của Thái Thừa Tĩnh. 
Tôi nghe xong thì cười vang ha ha.
Không ngờ cái người ngoại đạo, Hoạt Phật giả là tôi đây mà Quỷ Vương ở cõi âm đều biết tôi. Quỷ Vương còn nói muốn hóa giải ác nghiệp thì cần phải quy y Lư Thắng Ngạn, nhận quán đảnh của Lư Thắng Ngạn, học Phật pháp của Lư Thắng Ngạn nữa chứ!
Theo như tôi biết, đã có không ít người được Quỷ Vương ở âm gian giới thiệu đến quy y tôi rồi. 
Xin mọi người nghĩ thử xem, tôi là thần thánh phương nào?


### 38. Cư sĩ Dư Dũng


Cư sĩ Dư Dũng là một doanh nhân, ông ấy từng đầu tư vào xí nghiệp kim khí của một người họ Hoàng. 
Dư Dũng chiếm phần lớn cổ phiếu, đó là một con số lớn rất khả quan. Trên thực tế, họ Hoàng kia là người thực sự làm kinh doanh, ngoài khoảng đầu tư của Dư Dũng ra thì còn có một số nhà đầu tư nhỏ lẻ, nhưng con số không nhiều.

Những năm ấy, xí nghiệp kim khí phát triển thịnh vượng, đơn đặt hàng không ngớt đổ về, kinh doanh hết sức nhộn nhịp. Mỗi năm doanh nghiệp đều kiếm được số lượng tiền rất lớn.
Mấy năm nay, doanh nhân họ Hoàng quần áo bảnh bao, đã trở thành một đại gia. Kinh doanh càng ngày càng lớn, nhà xưởng liên tục được mở rộng, gần như đã trở thành một thương nghiệp có vốn lớn nhất trong cả nước.

Nhưng đối với đối tác đầu tư, doanh nhân họ Hoàng lại không hề đả động gì đến việc đã góp vốn như thế nào.
Họ Hoàng nói:
”Toàn bộ đã bỏ vào đầu tư hết rồi.”
Họ Hoàng nói:
”Vẫn chưa thu hồi các khoản nợ.”
Họ Hoàng nói:
”Còn phải xây nhà xưởng nữa.”
Họ Hoàng nói:
”Tôi không có tiền, tiền được tiêu vào việc mở rộng kinh doanh hết rồi.”
Dư Dũng yêu cầu xem sổ sách. Họ Hoàng liền chơi xấu.

🌟

Cư sĩ Dư Dũng đến tìm tôi. Tôi nói:
”Anh trở về niệm 1000 biến Cao Vương Kinh rồi tôi lại giúp anh tu một đàn pháp vậy!”
Cư sĩ Dư Dũng vì muốn lấy lại khoản tiền đầu tư lớn nên đã niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, nhưng niệm rất tha thiết, một ngày niệm mấy chục biến, ngày ngày như vậy.
Còn tôi cũng thật sự tu một đàn pháp Đại Uy Đức Kim Cang để hồi hướng cho việc doanh nhân họ Hoàng trả lại tiền.

🌟

Bỗng dưng có một hôm, doanh nhân họ Hoàng chủ động đem khoản tiền đầu tư cùng với lợi nhuận thu được mấy năm nay trả lại cho cư sĩ Dư Dũng. 
Dư Dũng không hiểu gì cả. 
Bởi vì doanh nhân họ Hoàng vẫn luôn mặt dày mày dạn một mực chối biến, vẫn luôn là kiểu “không trả”. 
Sau này Dư Dũng mới từ một người khác mà biết được, họ Hoàng kia ở trong mơ trông thấy Lư Sư Tôn, Lư Sư Tôn biến hóa thành Đại Uy Đức Kim Cang. 
Đốt tiền đồng cháy đỏ rực.
Đổ tiền đồng cháy đỏ vào trong miệng họ Hoàng.
Miệng của họ Hoàng bị bỏng nát bét, dạ dày và ruột như bị thiêu đốt, đau tới mức tỉnh lại.
Cứ thế giấc mơ dày vò anh ta hằng đêm.
Lư Sư Tôn nói:
”Trả lại tiền cho Dư Dũng!”
Họ Hoàng không thể chịu được nỗi đau khổ mỗi đêm nữa, liền chủ động đem tiền trả cho cư sĩ Dư Dũng.

🌟

Mục đích tôi viết câu chuyện này ra là:
1. Cao Vương Kinh có đại uy lực.
2. Pháp Đại Uy Đức Kim Cang có đại uy lực.
3. Oan có đầu, nợ có chủ, tất cả điều này đều nằm trong quy luật nhân quả, đừng lợi dụng người khác, đời này lợi dụng người khác một phần thì ngày sau sẽ phải trả người ta mười phần, nhân quả rất đáng sợ.


### 39. Phu nhân của Ngô Mậu Lâm


Ngô Mậu Lâm là một trong những vị đầu tiên mở núi để xây dựng Đài Loan Lôi Tạng Tự, năm xưa khi tôi xem phong thủy trên núi Hổ ở Thảo Đồn, Ngô Mậu Lâm đã theo tôi lên núi. Ngô Mậu Lâm chính là người bị rắn tằm tre cắn.
Ông ấy bị rắn cắn trúng, tôi liền nói:
”Lôi Tạng Tự sẽ xây dựng ở chỗ bị rắn cắn này!”
(Rắn tằm tre chính là hóa thân của Hộ pháp.)
Địa lý của Đài Loan Lôi Tạng Tự chính là nơi “lai long chính huyệt” đích thực trên núi Hổ, là nơi độc nhất vô nhị.
Sau lưng cho chỗ dựa.
Trước mặt có hồ nước.
Hai bên ôm vào.
Trong hồ có bong bóng.

🌟

Ngô Mậu Lâm mặc dù chưa xuất gia nhưng trông ông ấy giống như người xuất gia, bởi vì Ngô Mậu Lâm đã quy y tôi từ rất sớm, niềm tin kiên định, giữ nghiêm năm giới, giới hạnh thuần chân. 
Vợ chồng Ngô Mậu Lâm thích làm việc thiện, kiên trì tu tam vô lậu học giới-định-huệ.
Điều quan trọng nhất là họ không tham lam, không thô tục, có thể hiểu đạo đức, xa rời những trở ngại. Vì thế, Ngô Mậu Lâm giống như tăng nhân vậy!
Phu nhân của Ngô Mậu Lâm thường xuyên đến điện Kim Mẫu ở phía sau Đài Loan Lôi Tạng Tự để trồng hoa, làm cỏ, sửa sang xung quanh…
Đầu gối của sư tỉ Ngô không phải là rất khỏe mạnh, thường xuyên bị đau nhức, đó là căn bệnh nhiều năm rồi. Những người từng đến điện Kim Mẫu đều biết đường lên điện Kim Mẫu rất dốc, uốn éo quanh co, độ dốc rất lớn.

Có một lần, sư tỉ Ngô làm việc ở điện Kim Mẫu, lúc xuống núi thì bị trượt chân ngã nhào. Vì bị trượt và lăn liên tiếp cho nên cú ngã ngày rất nghiêm trọng. 
Đầu gối vốn dĩ đã không khỏe, lại bị ngã một cú mạnh, chân có khả năng bị gãy, cả đời này sẽ phải ngồi xe lăn. 
Không ngờ đã có một kì tích xảy ra:
Sư tỉ Ngô từ từ đứng dậy.
Dịch chuyển chân bước.
Không đau một chút nào.
Càng lạ hơn là:
Cái đầu gối vốn đau nhức của phu nhân Ngô Mậu Lâm kể từ sau cú ngã đó đã không còn đau nhức nữa.
Đầu gối đã hoàn toàn khỏi rồi!
Sư tỉ Ngô gặp ai cũng nói: “Kim Mẫu ở Đài Loan Lôi Tạng Tự thần thông quảng đại, thần kì lắm!”

🌟

Theo thiên nhãn của tôi quan sát.
Ngô Mậu Lâm (kế toán viên) không khác gì tăng nhân.
Ngô phu nhân tâm địa lương thiện.
Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn đã lợi dụng cơ hội Ngô sư tỉ bị trượt ngã mà vừa kéo vừa nối, đã “nối” lại đầu gối của Ngô sư tỉ. 
Diêu Trì Kim Mẫu còn thổi một hơi khí vào đầu gối, nên cái đầu gối này không bị sưng tấy. Thế là, việc lớn đã thành!
Lư Sư Tôn tôi dùng thiên nhãn quan sát, thực tế diễn ra chính là như vậy.
Thiên nhãn của tôi có thể phá phiền não chưỡng, có thể phá sở tri chướng, đây cũng là thần thông của thiên nhãn.
”Như pháp” cũng chính là đại thiên cơ của sự cảm ứng!


### 40. Đại đức Lâm Anh Nghiêu


Đại đức Lâm Anh Nghiêu sinh ngày 13 tháng Giêng năm 1954, vợ là bà La Á Đễ, sinh được ba người con trai, đặt tên là Trí Tường, Trí Uy, Trí Kiên. 

Đại đức Lâm Anh Nghiêu vào tháng 6 năm 2002 đột ngột mắc ung thư ruột, chỉ trong mấy tháng ngắn ngủi trông ông ấy đã không còn ra hình người nữa. 
Khi bệnh nặng, ông ấy nhìn thấy Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn xuất hiện, hơn nữa còn giúp ông ấy rửa sạch các tế bào ung thư trong ruột rất tỉ mỉ cẩn thận, lại còn rửa sạch những chỗ bẩn trên toàn thân nữa. 
Lư Sư Tôn nói với Lâm Anh Nghiêu:
”Đã rửa sạch nghiệp chướng của anh rồi, để có thể đưa anh vãng sinh Phật quốc tịnh thổ.”
Đại đức Lâm Anh Nghiêu kể chuyện này cho vợ là bà La Á Đễ nghe. Trước đó, cả nhà Lâm Anh Nghiêu đều không phải là đệ tử của tôi, bởi vì nhân duyên này mà cả nhà họ mới quy y. 

Ngày 7 tháng 1 năm 2003, Lâm Anh Nghiêu đã nhập diệt. (bị bệnh mà ra đi)
Ba tháng sau khi chồng vãng sinh, bà La Á Đễ đã gặp đại đức Lâm Anh Nghiêu trong mơ, ông ấy nói với bà rằng:
”Tôi đã ở Phật quốc tịnh thổ rồi, nhất định phải tin tưởng Lư Sư Tôn một trăm phần trăm.”
(Đại đức Lâm Anh Nghiêu sau khi hỏa táng có được vô số hạt xá lợi, hoa xá lợi.)

Cả nhà Lâm Anh Nghiêu là người Kuala Lumpur ở Malaysia. Bà La Á Đễ gửi thư cho tôi nói rằng:
”Đệ tử vô cùng nhớ tiếc người chồng đã quá cố của mình, biết rằng chồng mình đã vãng sinh Phật quốc tịnh thổ, thỉnh cầu Lư Sư Tôn gia trì cho chồng đệ tử là Lâm Anh Nghiêu tu trì tinh tấn hơn nữa, công đức đủ đầy để vĩnh viễn đoạn tuyệt luân hồi. Tại đây, đệ tử muôn phần cảm tạ, cũng vĩnh viễn không quên tất cả ân tình này! Chúc Phật thể an khang, vui vẻ an tường!”

🌟

Điểm chính của bài viết ngắn này là:
1. Rửa sạch toàn thân của Lâm Anh Nghiêu.
2. Có được hạt xá lợi, hoa xá lợi.
3. Vãng sinh Phật quốc tịnh thổ (Ma Ha Song Liên Trì).
4. Nói với vợ đã vãng sinh tịnh thổ, nhất thiết phải tin tưởng Lư Sư Tôn một trăm phần trăm.

🌟

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người:
”Đại đức Lâm Anh Nghiêu trước khi mắc bệnh ung thư ruột, cả nhà đều không phải đệ tử của tôi.”
Tôi viết ra câu chuyện có thật này là muốn nói để mọi người biết, hành giả thiền định có đủ đầy trí huệ và thần thông phải có đủ bốn điều kiện lớn mới có đủ tư cách của một bậc minh sư.
Thứ nhất, có đủ đại lực. Có thể tiêu trừ được nghiệp chướng của đệ tử, có thể tiếp dẫn đệ tử vãng sinh Phật quốc tịnh thổ thanh tịnh. Nếu không có đủ sức mạnh lớn như vậy thì những thần thông thế gian khác còn chưa thể tự cứu mình, huống chi là cứu độ chúng sinh thoát luân hồi?
Thứ hai, có đủ phương tiện. Độ chúng sinh phải có rất nhiều pháp môn tiện lợi, những pháp môn tiện lợi này đều từ trí huệ sinh ra, độ chúng sinh phải tùy cơ ứng biến, cũng tức là có nhiều môn phương tiện, bằng không độ chúng sinh sẽ rất có hạn.
Thứ ba, có đủ tâm đại bi. Lâm Anh Nghiêu không phải đệ tử của tôi, nhưng tôi cũng hiển hiện để độ hóa. Đây là vô duyên đại từ, đồng thể đại bi, là đệ tử của tôi hay không phải là đệ tử của tôi, tôi đều bình đẳng độ hóa. Coi người giàu, người nghèo, người mạnh, người yếu, người sang, người hèn, nhất loạt bình đẳng, đây mới là tâm đại từ bi chân chính.
Thứ tư, có đủ tâm vô ngã. Tôi hiển hiện độ hóa chúng sinh không hề vì tiền, cũng không vì danh, càng không phải vì địa vị, không hề vì phô trương chính mình. Mà tôi hoàn toàn vô điều kiện, hoàn toàn không có lòng tư lợi và vì cá nhân. Phải là tâm vô ngã thì mới thật sự bình đẳng độ hóa, mới là Chân Phật chân chính. 

Ai là minh sư? Minh sư là ai? Bạn có biết không?


### 41. Cư sĩ Khâu Susen


Chúng ta đều biết rằng khi quả thận mất chức năng thì phải chạy thận, chạy thận đúng là rất đau khổ.
Hai ngày một lần.
Mỗi lần bốn tiếng.
Đây mới chỉ là kéo dài mạng sống cho những khuôn mặt trắng bệch, thân thể yếu ớt mong manh, cực kì gầy gò ấy. Họ còn mắc rất nhiều căn bệnh biến chứng, đau khổ thật sự không có cách nào muốn làm người nữa.

Cư sĩ Khâu Susen đã chạy thận ba năm rồi, bà ấy đã đăng kí xin thay thận, nhưng muốn thay thận phải tìm được quả thận thích hợp, cực kì không dễ dàng, nhất là ở nước Mĩ.

Ông Khâu và bà Khâu được Thượng sư Liên Viện chỉ dẫn quy y Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. 
Thượng sư Liên Viện rất từ bi hướng dẫn họ tu pháp và trì Thượng sư tâm chú, tu pháp gia hành và pháp Thượng sư tương ứng. Nhưng cư sĩ Khâu Susen không thể ngồi lâu.
Thượng sư Liên Viện nói:
”Vậy bà hãy chuyên tâm trì tụng Căn bản Thượng sư tâm chú, cầu nguyện lực gia trì của truyền thừa, cầu nguyện Sư Tôn cho việc thay thận thành công đi!”
Thế là cư sĩ Khâu Susen sớm tối chăm chỉ trì chú: “Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.” [Om guru liansheng siddhi hum.]
Để giải thoát bản thân khỏi đau khổ vì chạy thận, bà ấy đã phát tâm trì chú cực kì chuyên cần, tín tâm kiên định. Cứ như vậy, bà ấy trì chú đã hơn nửa năm. 

Một buổi sáng, sư tỉ Khâu Susen vừa chạy thận trở về nhà, ông Khâu đã mệt nên nằm trên ghế sofa để nghỉ tạm, trong lúc mông lung, ông Khâu đã nhìn thấy Lư Sư Tôn đứng ở trước mặt, khiến ông Khâu kinh động nhỏm dậy.
Lư Sư Tôn nói:
”Ông ngủ đi! Khi tỉnh dậy, thứ mà ông bà cần sẽ đến!”
Nói xong lời ấy thì Sư Tôn cũng biến mất.
Ông Khâu vừa mới tỉnh dậy thì điện thoại đổ chuông dồn dập. Bệnh viện thông báo với họ:
”Đến mau! Đến mau! Đã tìm được quả thận thích hợp cho bà Khâu Susen rồi.”
Vợ chồng ông vội vàng đến bệnh viện để làm các thủ tục kiểm tra và chuẩn bị làm phẫu thuật, sau đó tiến hành thay thận.
Ca thay thận thành công một trăm phần trăm, hơn nữa còn không có một chút tác dụng phụ nào, tất cả đều cát tường!

Kể từ đó, đạo tâm của vợ chồng họ càng vững chắc.

🌟

Trong bài viết ngắn này, tôi giải thích rõ:
Quy y cũng có mục tiêu quy y, chủ yếu là những người quy y mắc bệnh, muốn cầu nhanh chóng khỏi bệnh, họ có mục tiêu để nỗ lực, vốn dĩ phải tu pháp, nhưng vì đau bệnh mà không thể tu pháp, đổi thành niệm Căn bản Thượng sư tâm chú, nhờ nỗ lực trì chú mà thân thể gắng sức thực hành không gián đoạn, không qua loa, tranh thủ thực hiện tâm nguyện.
Bản thân chú lực của Mật giáo là bất khả tư nghì, đặc biệt là Căn bản Thượng sư tâm chú có mang sức mạnh gia trì của truyền thừa, hai lực phối hợp với nhau càng có thể khiến cho mục tiêu thành hiện thực. 

Sức mạnh của chú là đại thiên cơ!
Sức mạnh của truyền thừa là đại thiên cơ!
Trong đó bao gồm tính bất khả tư nghì, ví dụ trong bài viết này, sự hiển hiện của Lư Sư Tôn ở khắp mọi nơi, nếu có người có niềm tin vững chắc vào Lư Sư Tôn, trì tâm chú của Lư Sư Tôn, thì câu trả lời là:
”Không đâu là không hiện thân!”
Ví dụ kiểu này có rất nhiều, cực nhiều, nhặt đâu cũng có. Nếu tín tâm không thay đổi, hành thiện tu huệ, bền bỉ trì chú không ngừng, nỗ lực không lười biếng, không đạt mục đích thì không buông xuôi, mãi mãi nương dựa vào Lư Sư Tôn, cho dù chỉ trì một câu tâm chú, tôi cũng nhất định có thể thu nạp bạn, sau này nhất định có thành tựu lớn.


### 42. Lão Bồ Tát Nhiêu Dục Nghệ 


Lão Bồ Tát Nhiêu Dục Nghệ từ đầu đã tin tưởng và thờ phụng Phật giáo, công khóa sớm tối là niệm chân ngôn Lục tự đại minh, chú Đại bi, kinh Tâm, trì danh hiệu Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát.
Lão Bồ Tát hiền hậu, ngay thẳng, sáng suốt, lạc quan, hiếu thiện, ai ai cũng nghĩ đó là một vị trưởng bối hiền hậu hòa nhã.
Hơn 80 tuổi mới quy y Liên Sinh Hoạt Phật, sau đó thì niệm thêm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, Bách tự minh chú, chú Vãng sinh. Bà ấy là lão Bồ Tát chủ yếu trì chú.
Pháp hội của Lư Sư Tôn, lão Bồ Tát cũng đến tham gia. 
Pháp hội ở bang New Jersey.
Pháp hội ở New York.
Pháp hội ở Los Angeles. 
Pháp hội ở Seattle.
Bà ấy đối với Sư Tôn cực kì cung kính, vô cùng hiếm thấy.

Có một hôm. 
Bà ấy đọc Chân Phật Báo thấy Lư Sư Tôn nói:
”Chỉ cần trì An thổ địa chân ngôn, trì tụng đủ 100.000 biến thì sẽ tương ứng với thần linh Thổ Địa, Thổ Địa Công sẽ luôn luôn ở bên cạnh bảo vệ cho bạn, cảm ứng của chú này là thần tốc!”
”Chúng ta tu bất kì pháp gì, thậm chí niệm kinh, đều phải niệm An thổ địa chân ngôn.”
(Nam mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wây sô-ha.) [Namo samanta buddha nam om duru duru devi soha.]

Lão Bồ Tát vừa đọc xong thì trong lòng lay động, lại niệm thêm An thổ địa chân ngôn, niệm đến mức thuộc làu làu như cháo chảy, càng chuyên cần hơn.

🌟

Con trai con dâu của lão Bồ Tát đi sớm về khuya, bận rộn mưu sinh, họ cũng là đệ tử của Chân Phật Tông. Mỗi tuần họ chỉ có thể đi đến nhà của lão Bồ Tát để vấn an và chăm sóc một lần.
Có một hôm.
Lão Bồ Tát gọi điện cho con dâu, con dâu kinh ngạc hỏi:
”Xảy ra chuyện gì sao?”
Lão Bồ Tát đáp:
”Ôi chao! Các con suýt chút nữa là không còn thấy mẹ nữa rồi!”
Sự tình là như thế này. Lão Bồ Tát một mình ở trong nhà, đột nhiên bị tăng huyết áp, một cơn chóng mặt ập đến, “phịch” một cái thế là ngã ra đất. 
Lúc này, trong tâm vẫn còn tỉnh táo, lập tức niệm thầm: “Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru đề-vi sô-ha.”
Một tiếng “đoàng”!
Thổ Địa Công (Thần) hiện thân.
Thổ Địa Công sờ đầu lão Bồ Tát một lúc, lão Bồ Tát lập tức hết chóng mặt, huyết áp cũng bình thường trở lại, người cũng tỉnh táo rồi, đứng dậy được, không gặp chút vấn đề nào cả.
Đây là sự thật về trải nghiệm của chính bản thân lão Bồ Tát Nhiêu Dục Nghệ.

🌟

Có người từng hỏi tôi:
”Chú nào là tốt nhất? Chú nào lực mạnh nhất?”
”Bất kì chú nào cũng tốt. Chú mà mình tương ứng được có lực mạnh nhất.” - Tôi trả lời.
Tôi nói thế này:
”Chú là bất khả tư nghì, hành giả trì chú, đừng phân biệt chú nào tốt nhất, chú nào lực mạnh nhất. Chuyên tâm một câu chú hay trì nhiều chú, tôi cho rằng chuyên tâm là tốt nhất, nhưng tôi cũng không phản đối trì nhiều chú.
Về thế tục đế:
Các vị màu trắng (tiêu tai) tốt nhất.
Các vị màu đỏ (kính ái) tốt nhất.
Các vị màu vàng (tăng tích) tốt nhất.
Các vị màu lam (hàng phục) tốt nhất.
Đây là sự phân biệt về mặt tác dụng. Kì thực tại cảnh giới cao nhất, thật sự không phân biệt!


### 43. Cư sĩ Ngô Chương Trinh


Có một người là cư sĩ Ngô Chương Trinh, với nhân quả tình cờ mà có được một cuốn “Pháp niệm tụng pháp Chuẩn Đề”, nhưng ở bên trên lại in tám chữ “chưa nhận quán đảnh, xin đừng giở đọc”. 
Bản thân cư sĩ Ngô vốn không muốn giở đọc, nhưng vì tò mò mà anh ấy không kìm được nên đã đọc nó. 
Bên trong ghi chép:
Thủ ấn căn bản của Chuẩn Đề Phật Mẫu.
Phương pháp quán tưởng Chuẩn Đề Phật Mẫu.
Chú Chuẩn Đề Phật Mẫu:
”Nam-mô sa-tua-nam san-meo-san-pú-thúa chuy-chư-nam ta-ni-yê-tha. Ôm chưa-li chu-li chuân-thế sô-ha.”
Nghi quỹ niệm tụng Chuẩn Đề Phật Mẫu.

Cư sĩ Ngô Chương Trinh thấy vậy thì hết sức hoan hỉ, cũng bắt đầu trì chú ngữ của Chuẩn Đề Phật Mẫu trước.
Có được nhân duyên này, anh ấy đến cửa hàng đồ Phật giáo, trông thấy một bức pháp tướng Chuẩn Đề Phật Mẫu làm bằng sứ vô cùng trang nghiêm, anh chẳng đắn đo đã thỉnh về.

Cư sĩ Ngô Chương Trinh mỗi ngày đều ở trước Chuẩn Đề Phật Mẫu niệm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu.
Cứ như vậy trì tụng hơn một năm.
Có một buổi tối, anh ấy mơ thấy Chuẩn Đề Phật Mẫu hiện thân nói với Ngô Chương Trinh rằng: “Anh nên mau mau đi xin quán đảnh.”
”Xin quán đảnh từ ai?”
”Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.”
”Là ông ấy ư?” - Ngô Chương Trinh từ lâu đã nghe nói đến tên tôi, nhưng lại toàn là những tin tức tiêu cực. 
Chuẩn Đề Phật Mẫu không nói gì, dường như hiểu được tâm ý của cư sĩ Ngô, Chuẩn Đề Phật Mẫu lập tức hiện tướng Đại Chuẩn Đề, quanh thân phóng tỏa hào quang màu trắng, trên tay Chuẩn Đề Phật Mẫu cầm một thứ tròn như mặt trăng, ánh sáng tỏa chiếu khắp nơi thanh tịnh không gì sánh bằng.
Chuẩn Đề Phật Mẫu tỏ ý. Cuối cùng, Chuẩn Đề Phật Mẫu nói:
”Đừng nghi ngờ! Đừng nghi ngờ!”
Trước khi tiêu biến ảnh tướng, Chuẩn Đề Phật Mẫu còn đặc biệt bổ sung một câu: “Hai ngày nữa, anh có thể gặp được ngài ấy.”

🌟

Cư sĩ Ngô Chương Trinh phục vụ ở quầy lễ tân của một khách sạn lớn, điều kì diệu là, đúng hai hôm sau, tôi đi đến khách sạn lớn đó để ở trọ, chính cư sĩ Ngô Chương Trinh đã đăng kí họ tên tôi.
Cư sĩ Ngô kể với tôi sự việc này, hơn nữa còn thỉnh cầu tôi ban quán đảnh pháp Chuẩn Đề Phật Mẫu cho anh ấy. 
Tôi đồng ý.
Cư sĩ Ngô hỏi tôi:
”Cái thứ sáng thanh tịnh như trăng tròn là cái gì?”
Tôi trả lời bằng bài kệ nói rằng:
*Thiên hạ vốn vô sự.
Đàm tiếu loạn tai người.
Nếu lòng mình không lỗi.
Trong tâm sẽ trong veo.*

Cư sĩ Ngô Chương Trinh ngay tại chỗ quy y nhận quán đảnh, hơn nữa cả nhà đều đến quy y nhận quán đảnh.
Anh ấy nói với tôi:
”Một lòng không hai.”

🌟

Chuẩn Đề Phật Mẫu đã chỉ dẫn cư sĩ Ngô Chương Trinh đến quy y nhận quán đảnh, sự việc này quả nhiên hiếm có kì lạ, suy cho cùng, Đại Chuẩn Đề Phật Mẫu biết Chân Phật là ai, ai là Chân Phật. “Nếu không phải là sự chỉ dẫn của Đại Chuẩn Đề Phật Mẫu, chẳng ai phân biệt được rõ ai là Chân Phật.”
Trong Hỷ Kim Cang Tục nói:
”Đời sau ta sẽ hóa làm thầy, vì lợi ích chúng sinh mà hiện thân phàm.”


### 44. Cư sĩ Thẩm Sơn


Cư sĩ Thẩm Sơn là người An Huy, là một giáo viên, dạy học rất nghiêm túc, là một giáo viên giỏi.
Cư sĩ Thẩm có một cơn ác mộng đã quấy nhiễu anh rất nhiều năm, rất nhiều năm. Anh thường xuyên mơ thấy những tăng nhân không hiểu vì sao cứ đòi mạng anh.
Anh chạy về đông, tăng nhân ở phía đông. 
Anh chạy về tây, tăng nhân ở phía tây. 
Anh chạy về nam, tăng nhân ở phía nam. 
Anh chạy về bắc, tăng nhân ở phía bắc. 
Cuối cùng luôn là bị tăng nhân bắt được và tăng nhân ném cư sĩ Thẩm Sơn vào trong ngọn lửa lớn.
Anh kêu lên thảm thiết một tiếng rồi tỉnh dậy, sợ đến mức toàn thân đầm đìa mồ hôi.

Giấc mơ này cứ sau một khoảng thời gian lại lặp lại, từ nhỏ đến lớn chưa từng dừng lại.
Cư sĩ Thẩm Sơn cầu thần bái Phật, cũng đi khắp nơi sám hối, nhưng cơn ác mộng này từ đầu tới cuối vẫn không rời bỏ anh, liên tục quấy nhiễu, cư sĩ Thẩm Sơn vô cùng lo lắng.
Cư sĩ Thẩm Sơn nghe nói thờ phụng Quan Thế Âm Bồ Tát, trì tụng Cao Vương Kinh có linh có nghiệm. Anh ấy cũng thờ phụng một vị Quan Thế Âm Bồ Tát, ngày ngày tụng Cao Vương Kinh. 

Nửa năm sau, có một đêm anh mơ thấy Bồ Tát nói với anh:
”Oan nghiệt kiếp trước của anh là đốt cháy một ngôi chùa, chỉ vì vợ anh muốn xuất gia, anh vì căm hận mà trút giận lên ngôi chùa đó, phóng hỏa đốt chùa, vì thế có quả báo này!”
”Làm sao hóa giải?”
Bồ Tát nói:
”Tìm người đầu hổ! Người này là đương kim Thánh tăng.”
Cư sĩ Thẩm Sơn không biết người đầu hổ là ai, sau này có người nói với anh, người đầu hổ chính là người họ Lư.
Cuối cùng, cư sĩ Thẩm Sơn đã tìm đến tôi. 

Tôi vừa nghe thấy là chuyện đốt chùa giết tăng, là năm nghịch tội như vậy thì làm sao tôi hóa giải đây? Chính tôi cũng bối rối, tội lỗi này quá sâu nặng, nhưng Bồ Tát lại giới thiệu “người đầu hổ”, tôi không cứu anh ấy thì ai cứu anh?

Sau đó:
Tôi yêu cầu cư sĩ Thẩm thờ phụng pháp vị “tăng nhân vô danh”, ở trong chùa, buổi đêm tôi vào tu pháp.
Đầu phóng tam quang - Phật quang, bạch quang, linh quang, để đưa tăng nhân vô danh đến Tây phương tịnh thổ. Pháp siêu độ vô thượng.

Tôi yêu cầu cư sĩ Thẩm Sơn phát nguyện, hễ nghe thấy có xây chùa xây tháp làm tượng cúng tăng thì đều phải tùy hỷ làm công đức.
Cư sĩ Thẩm bằng lòng.
Cư sĩ Thẩm quy y tôi, nhận quán đảnh.
Nói ra cũng lạ, kể từ đó về sau, cư sĩ Thẩm không còn xuất hiện sự việc các tăng đòi mạng nữa.

🌟

Tôi yêu cầu cư sĩ Thẩm tu pháp tích đức tiêu nghiệp:
1. Kính lễ.
2. Cúng dường.
3. Sám hối.
4. Tùy hỷ.
5. Thỉnh chuyển pháp luân.
6. Thỉnh Phật trụ thế.
7. Hồi hướng.
Cư sĩ Thẩm Sơn nhất nhất làm theo, về sau cảm ứng thấy Quan Thế Âm Bồ Tát thường xuyên hiện thân chỉ điểm cho anh ấy việc tu hành. Giờ đây không những không có ác mộng mà thiện mộng lần lượt xuất hiện, mọi việc may mắn, đại cát đại lợi. 
Cư sĩ Thẩm Sơn cũng có suy nghĩ xuất gia.


### 45. Lão Bồ Tát Triệu Lỗ


Triệu Lỗ là một cựu chiến binh già đã quy y tôi rất lâu rồi.
Triệu Lỗ ở trên vỉa hè bán mì kiếm sống.
Có một lần tôi đi ăn mì, ông ấy nhận ra tôi, ông ấy nói:
”Sư Tôn, tôi là đệ tử của ngài, Triệu Lỗ.”
Tôi nhớ ra ông ấy, ông ấy vốn là một sĩ quan già trong quân đội, lúc ở trong quân ngũ đã quy y học Phật, sau khi nghỉ hưu thì bán mì.
Ông ấy nói:
”Sư Tôn ăn mì, miễn phí.”
Tôi nói:
”Ông vất vả rồi, không thể miễn phí được.”
Ông ấy nói:
”Sư Tôn đã từng cứu tôi, bát mì này có là gì đâu, cho dù Sư Tôn ngày ngày đến ăn mì cũng không cần tiền, đây là điều nên làm mà.”
”Tôi từng cứu ông bao giờ?” - Tôi hỏi.
Thế rồi Triệu Lỗ kể cho tôi nghe một sự việc rất kì lạ đặc biệt.

🌟

Nơi Triệu Lỗ sống là trong một con ngõ chật hẹp, những ngôi nhà mái bằng xây liền thành một hàng. Nhà xây bằng gỗ và đất đá, rất thô sơ.
Có nghĩa là các ngôi nhà đều có chung tường, không gian rất nhỏ, nhà ngăn thành hai phòng ngủ một phòng khách, tuy chỉ có vậy nhưng đó cũng là tích cóp cả đời của Triệu Lỗ.
Những người sống ở dãy nhà đó gần như đều là cựu binh đã về hưu. 

Có một hôm, nhà hàng xóm phía tây bị cháy. Sức lửa khá mãnh liệt. Lúc lửa sắp cháy đến nhà Triệu Lỗ, Triệu Lỗ kinh hoảng thất sắc, mắt nhìn căn nhà cả đời ki cóp của mình sắp thành mồi cho lửa, toàn bộ sẽ tiêu tan thành khói. 
Ông ấy buột miệng nói một câu:
”Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử, Sư Tôn cứu tôi!”

Mặt đất bỗng nhiên nổi lên một trận gió lạ. Trận gió này quả thực rất kì quái, đột nhiên cuộn xoáy khiến đất đá bay mù trời, ngay cả người cũng không đứng vững được. Gió thổi hướng về ngọn lửa, chặn ngọn lửa lại, rồi lại thổi tắt cả ngọn lửa hừng hực. Quái lạ! Gió thổi về phía lửa, chặn lửa tiến lên rồi mãnh liệt thổi mạnh khiến lửa bị dập tắt. 
Lửa tắt rồi thì gió cũng tan biến luôn.

Triệu Lỗ nói:
”Đây chẳng phải là Lư Sư Tôn đã cứu tôi sao!”
Tôi hỏi:
”Bình thường ông tu pháp gì?”
Triệu Lỗ đáp:
”Sau khi tôi quy y thì chỉ trì Cao Vương Kinh, niệm tâm chú Sư Tôn, bình thường thời gian ít, thỉnh thoảng niệm Phật để cầu sinh về tịnh thổ. Nhưng mà tôi niệm Phật trì chú tụng kinh có thể nói là rất chuyên tâm.”
Tôi nói:
”Đúng rồi! Ông có thể chuyên tâm thì tất có cảm ứng.”
Triệu Lỗ nói:
”Cảm tạ Sư Tôn!”
Tôi đáp:
”Không cần cảm ơn tôi, cảm ơn A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát đi!”

🌟

Quan Thế Âm Bồ Tát có một bài kệ:
*Vô cấu thanh tịnh quang
Năng phục tai phong hỏa
Huệ nhật phá u ám
Phổ minh chiếu thế gian.*

Tôi nói:
Trong Mật pháp của tôi có tâm yêu thương, có tâm đồng cảm, có tâm nhân từ, có tâm thiện lành, có tâm đại bi. Có thể cứu mọi đau khổ, bạn nên tin, hiểu và làm theo!


### 46. Lão Bồ Tát Ngụy Thiết Vận


Cả nhà lão Bồ Tát Ngụy Thiết Vận ở California nước Mỹ đã quy y Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn từ rất sớm.
Phu nhân của ông ấy đã xuất gia trong Chân Phật Tông.
Con gái của ông ấy là Ngụy Tư Nhan chính là một trong bốn bác gái ở California của Chân Phật Tông mà ai ai cũng biết. 
Bốn bác gái chính là:
Tôn Ái Trân.
Trần Truyền Phương.
Tưởng Quan Dung.
Ngụy Tư Nhan.

Lão Bồ Tát Ngụy Thiết Vận phụng trì Phật pháp rất tinh nghiêm, làm công khóa không gián đoạn, lấy sự công chính ngay thẳng cương liệt là cách sống của mình.
Lão Bồ Tát Ngụy có thiên tính từ bi, thích làm việc thiện, có phong thái uy nghi, xứng đáng làm tấm gương cho mọi người.
Nếu miễn cưỡng tìm ra khuyết điểm của ông ấy thì khuyết điểm duy nhất là: quá cương liệt!

Quá cương liệt cũng có nghĩa là “tin cái gì là tốt thì rất cố chấp”, đối với những kẻ xấu, kẻ tiểu nhân dối trên gạt dưới thì ông ấy tức giận lao bổ vào đánh.
Lão Bồ Tát Ngụy Thiết Vận vào lúc tuổi già gặp bệnh hiểm nghèo, theo lý mà nói, người bình thường mắc bệnh này thì sớm đã ôi thôi về chầu ông bà rồi, nhưng ông ấy vẫn vô sự như thường, sống thêm mười mấy năm nữa. 
Ông ấy từng cảm ứng thấy Hộ pháp bảo vệ cho mình. 
Khi Ngụy Thiết Vận ngoài 90 tuổi, lúc sắp hấp hối, cả nhà người lớn trẻ nhỏ, bốn bác gái vây xung quanh ông, niệm Phật không ngừng nghỉ.
Ngụy Tư Nhan hỏi:
”Lư Sư Tôn đồng ý đến tiếp dẫn rồi, bố có nhìn thấy không?”
Lão Bồ Tát đáp:
”Vẫn chưa!”
Đến lúc sắp chết. Ngụy Tư Nhan hỏi:
”Bố đã nhìn thấy Sư Tôn chưa?”
Lão Bồ Tát đáp:
”Nhìn thấy rồi, Lư Sư Tôn đến tiếp dẫn, bố đi đây!”

Thế là ông cáo biệt mọi người và ra đi.
Đắc quả A Na Hàm.
A Na Hàm cũng chính là “bất hoàn”, ý nghĩa của bất hoàn có thể nói là bậc Thánh giả đã cắt đứt hết phiền não Dục giới. Thông thường A Na Hàm tương lai sẽ sinh về Sắc giới và Vô sắc giới, không sinh vào Dục giới nữa.
Bởi vì lão Bồ Tát Ngụy Thiết Vận nghiệp chướng đã hết, có được đại gia trì lực của tôi, ban đầu đắc quả A Na Hàm, không lâu sau sẽ chứng đắc quả A La Hán. 
Quả A La Hán tức là:
Không phiền não.
Ứng cúng.
Không sinh. (không còn sinh ra nữa)

🌟

Tôi cảm thấy lão Bồ Tát Ngụy Thiết Vận cả nhà tin tưởng sâu sắc vào Phật pháp, nghiêm túc tu trì, có thể đạt được tám lợi ích:
1. Thu được đại phúc báo.
2. Niềm vui vô tận.
3. Đạt được thiền tư thanh tịnh.
4. Có đại trí huệ.
5. Được Tam Bảo hộ trì.
6. Tránh xa tà ác, tiêu trừ tội chướng.
7. Thiện đức tăng lên và tiến nhập địa vị Hiền Thánh.
8. Chư Thiên hoan hỷ.
Ở đây là, có nhân ắt có quả.
Thật ra khi lão Bồ Tát Ngụy Thiết Vận còn sống, mỗi lần tôi gặp ông ấy tôi đều phải chặc lưỡi kinh ngạc, bởi vì tướng mạo của ông ấy từ lâu đã hiện lên đại tịnh quang rồi.


### 47. Cư sĩ Quan Viên Sanh


Cư sĩ Quan Viên Sanh thường xuyên tu pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự nước Mỹ, ông ấy đồng tu tại Lôi Tạng Tự đã hơn 10 năm rồi. 
Khi tôi ẩn cư bế quan, cư sĩ Quan đột nhiên phát hiện ra trên người có cục cứng, không thoải mái, rất đau.
Ông ấy tự biết tình hình không hay!

Đầu tiên ông ấy đến bệnh viện của Đại học Washington (BIOPSY) để chụp cắt lớp kiểm tra. Bác sĩ nói:
”Khẳng định là u ác tính, nhất định phải mổ để lấy ra!”
Cư sĩ Quan nghe xong thì hoang mang lo sợ, Lư Sư Tôn lại đi ẩn cư rồi, ông ấy chỉ còn biết thỉnh cầu từ Chân Phật Mật Uyển một lá phù, uống vào, đêm đó có được một giấc mơ:
”Mơ thấy mình từ trong nhà xách hai túi đựng những thứ bẩn thỉu rác rưởi đem ra ngoài vứt đi.”
(Hàm ý của giấc mơ này là những thứ bẩn trên người mình đã được thanh trừ một chút rồi.)
Ông ấy rất căng thẳng, lại đi chụp cắt lớp.

Bác sĩ nói:
”Khối u đã nhỏ đi một chút rồi, nhưng cái cục cứng không tốt vẫn còn ở đó, vẫn phải lấy ra mới được.”
Bác sĩ nói có hai cách để lấy khối u ra:
1. Dùng cây kim thô một chút, dùng cách rút để rút sạch cục cứng ra.
2. Dùng cách khoét một lỗ, cái lỗ giống như đầu bút bi, sau đó lấy ra.

Vào ngày làm phẫu thuật, cư sĩ Quan Viên Sanh vừa căng thẳng vừa đau lòng đến rơi nước mắt. 
Bác sĩ quyết định dùng kim để lấy ra, tiêm thuốc tê ở xung quanh cục cứng.
Cư sĩ Quan đột nhiên nhớ đến Sư Tôn, thế là hai tay kết thủ ấn Liên Hoa Đồng Tử, trong miệng ra sức trì chú “Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm…..”
Bác sĩ đột nhiên mở to mắt, bác sĩ nhìn sang người phụ tá của mình, lại nhìn sang màn hình máy vi tính. Bác sĩ nói với người phụ tá:
”Cục cứng biến mất rồi, không nhìn thấy gì cả, không thấy cái gì hết!”

Bác sĩ quay đầu lại nói với cư sĩ Quan Viên Sanh:
”Anh… anh… anh vừa mới niệm chú gì trong miệng đấy, bất kể là anh đã niệm cái gì, cục cứng của anh đã đột ngột không thấy đâu nữa rồi, thật sự không thấy nữa, tiêu mất rồi, bay mất rồi!”
Bác sĩ quay người bỏ đi.
Người phụ tá đứng ngây ra tại chỗ.
Lát sau, một y tá vội vàng chạy vào phòng phẫu thuật, cô ấy cứ nhìn cư sĩ Quan Viên Sanh. Y tá nói:
”Tôi muốn nhìn xem anh là người gì, sao mà trong miệng niệm niệm mấy từ thế là cái thứ đó liền biến mất, trên đời sao lại có chuyện may mắn thế này!”
Bác sĩ và y tá của cả bệnh viện đều xôn xao về việc này.
Cư sĩ Quan Viên Sanh nói với tôi:
”Cảm tạ Sư Tôn!”
Tôi đáp:
”Đâu có! Cảm ơn lòng thành của chính mình đi!”

🌟

Tôi nói với mọi người, trì tâm chú Liên Hoa Đồng Tử này sẽ có được phúc báo thế gian, không chỉ như vậy, bạn còn có thể có được trí huệ xuất thế gian, mong rằng đồng môn cung kính kiền thành trì tụng.
Cảm ứng của câu chú này thật sự quá nhiều, viết mấy cuốn sách cũng không ghi hết được đâu!


### 48. Cư sĩ Tôn Ái Trân


Cư sĩ Tôn Ái Trân sống tại California nước Mỹ, một lòng tu Phật, thờ phụng một vị Quan Thế Âm Bồ Tát, điều trùng hợp là khuôn mặt của cư sĩ Tôn Ái Trân giống hệt với mặt của Quan Thế Âm Bồ Tát. 

Tôn Ái Trân nghiêm cẩn tu Chân Phật Mật Pháp, mỗi ngày đều thực hành công khóa, trong sáu thời đều vô cùng tinh tấn.
Cư sĩ Tôn tâm địa lương thiện, tính trầm ít nói, là người rất cẩn thận tỉ mỉ, cúng dường pháp cực kì tích cực và nhiệt tình, nhưng phong cách của bà ấy luôn luôn là không ra mặt, chỉ âm thầm làm. 
Theo như tôi biết, cư sĩ Tôn trong khi tu pháp có Bồ Tát hiển hiện, đeo chuỗi ngọc, tỏa ra ánh hào quang hiếm có, đi vào trong người Tôn Ái Trân.
Từ đó, Tôn Ái Trân đã đắc tương ứng với Quan Thế Âm Bồ Tát.

Cư sĩ Tôn Ái Trân có thể nhìn thấy:
Ánh sáng minh điểm.
Chuỗi kim cương.
Chư tôn.
Phật quốc tịnh thổ.
Nhưng bà ấy giữ cho riêng mình không nói ra.

Bà ấy chỉ cần chắp tay lại, ngón tay tự động kết thành thủ ấn mỹ miều, đủ loại thủ ấn không tên lần lượt hóa hiện, hoàn toàn không cần người hướng dẫn.
Bà ấy chỉ cần hễ niệm Phật, hễ trì chú, hễ niệm kinh, trong miệng tự có ánh sáng xuất hiện, rất lâu rất lâu mới tiêu tan.
Bản thân bà ấy có thể phóng quang, đàn thành có thể phóng quang, nhà ở cũng phóng quang, tất cả trở thành “thế giới ngập tràn ánh sáng”. 

Hai tay của cư sĩ Tôn Ái Trân có thể chữa bệnh, đầu tiên bà ấy bắt đầu từ những người trong nhà, người bệnh ở trước mặt bà ấy, bà ấy tự động kết thủ ấn, chạm vào thân thể bị bệnh của đối phương, bệnh liền tự nhiên được giải trừ, có rất nhiều sự tích cảm ứng.

Cư sĩ Tôn Ái Trân tương ứng với Quan Thế Âm Bồ Tát, không phải bỗng dưng mà có được, bà ấy chuyên tâm lâu ngày, một lòng thực tu Chân Phật Mật Pháp, đắc được cảm nhận hỷ lạc. Bồ Tát tỏa hào quang rực rỡ.

Cư sĩ Tôn Ái Trân tỏa hào quang rực rỡ, năng lực thần thông của bà ấy từ lâu đã vượt qua một số pháp sư, Thượng sư.
Chỉ là:
Bà ấy không muốn ra mặt.
Chỉ là âm thầm tinh tấn tu trì.
Tôi ấn chứng:
Cư sĩ Tôn có thể trực tiếp đến Phật quốc tịnh thổ.
Tôi nói:
”Bà và Quan Thế Âm Bồ Tát vốn có nhân duyên lớn, có thể hiển hiện Bồ Tát ở trong thân bà, nói ngắn gọn từ đầu đến cuối có thể viết thành một cuốn sách lưu truyền cho hậu thế, khiến cho người thờ phụng và trì niệm có được phúc phần và trí huệ.”

Cư sĩ Tôn Ái Trân có pháp hiệu là Liên Vy, bà ấy chính là người biên soạn cuốn “Thanh phong minh nguyệt”. 
Thời kì đầu, tạp chí sáng tác của Đài Loan liên tiếp đăng tiểu thuyết của bà ấy, từng xuất bản một tập tiểu thuyết.

🌟

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người:
Bà ấy là mật hành tôn giả.
Bà ấy đã tương ứng.
Bà ấy có thần thông.
Trên người bà ấy có hạt xá lợi.
Bà ấy quyết định vãng sinh Phật quốc tịnh thổ Ma Ha Song Liên Trì.
Trong số các hành giả tu trì Chân Phật Mật Pháp, người có được tương ứng đâu đâu cũng có, nhưng cư sĩ Tôn Ái Trân từ trước đến giờ đều đứng sau hậu trường.


### 49. Viết lời cuối sách


Tên cuốn sách này là “Đại công khai thiên cơ”, tiêu đề phụ là “Thần thông đại biến hóa”, rất nhiều người đọc tên sách và tiêu đề phụ có lẽ sẽ cảm thấy ngạc nhiên và thích thú. 

Mọi người có thể nghĩ rằng cuốn sách này nhất định là rất náo nhiệt, có thể sẽ “lên trời xuống đất”, sẽ “phóng quang động địa”, sẽ “biến tới biến lui”, sẽ “cách không lấy vật”… 
Trên thực tế, sự quan tâm của tôi không đặt vào những điều này, tôi chỉ mượn cảm ứng của người thật việc thật, hoàn toàn bày ra trước mắt độc giả, và người thật việc thật này chỉ là một phần trăm, một phần nghìn, một phần vạn…

Những mô tả trong sách đọc lên thì thấy rất phổ thông, không hề có hư cấu khoa trương hay những lời vô căn cứ. Các tiêu đề cho chương sách của tôi hoàn toàn lấy “con người” làm gốc, dùng bút pháp tả thực để mô tả, cuốn sách này dành cho chính nhân quân tử đọc, câu chuyện cảm ứng và thần thông của tu hành Mật giáo chính là phát sinh từ trên người chúng sinh. 

Đặc điểm của cuốn sách này là:
Lấy “con người” làm gốc.
Lấy “sự việc” làm các ý chính.
Lấy “thành kính” làm chủ.
Để giải thích rõ một người tu pháp làm thế nào để dung nhập toàn bộ tính mệnh và tinh thần của mình vào trong cảnh giới của Phật pháp Mật giáo. Để xem liệu có thể mượn trí huệ và phương tiện để độ hóa được càng nhiều chúng sinh đến quy y Chân Phật không. 

Cuốn sách này không phải là viết về pháp lực của tôi, không phải viết về thần thông của tôi, hoàn toàn là tự thuật của người khác, từ ngòi bút của người khác mà biên tập lại thành sách. Ở đây phải cảm tạ pháp sư Liên Dục và pháp sư Liên Quân đã cung cấp đề tài, còn có rất nhiều người nữa mà tôi cũng chưa lần lượt nêu ra ở đây.

🌟

Tôi cảm thấy cảm ứng thần thông vốn dĩ rất bình thường, mặc dù Phật pháp không nói thần thông, nhưng các việc cảm ứng thì đều có thể nói. Mục đích không gì khác, chỉ là độ người quy y Chân Phật mà thôi, sự thật chính là sự thật.

Chúng ta không phải cố ý đi tu thần thông.
Chúng ta không theo đuổi thần thông.
Chúng ta không tuyên dương thần thông.
Chúng ta chỉ là tự nhiên.
Điều này về cơ bản là không đi ngược với Phật giáo không theo đuổi thần thông.
Trong Phật giáo vốn dĩ có đại thần thông tự tại của thế gian và xuất thế gian, điểm này không ai có thể phủ nhận, chỉ là đừng chỉ dẫn chúng sinh mê muội mà thôi.

🌟

Đại thiên cơ của cuốn sách này đều ẩn giấu trong sách, người nào có thể thấy thì đã nhìn thấy từ lâu rồi, tôi cũng đã biểu lộ ra rồi, hơn nữa còn cực kì rõ ràng nữa. 
Không.
Vô tâm.
Vô sự.
Thành tâm.
Chính lực.
Nghi quỹ chu toàn.
Luật lệnh.
Hợp nhất.
Pháp lực.
Tín lực.
….

Chân Phật Mật Pháp của Lư Thắng Ngạn tôi là thế gian và siêu thế gian, ai không tin, xin hãy đọc cuốn sách này!

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/202-nhin-xa-nghin-dam.md
# Title: 202. Nhìn xa nghìn dặm
---

![image](/img/img_e135aa9aeec18392a82a0fe7647a73ce.jpg)



## Nhìn xa nghìn dặm


🪷 Huệ nhãn và thiên nhãn

Văn tập: 202
Xuất bản: 07/2008
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


**Ghi chép chuyện Đậu Đậu vãng sinh tịnh thổ**

Cô Lý Tổ Gia ở Đài Loan có một con chó nhỏ lông xoăn màu trắng, đặt tên là Đậu Đậu.
Cô Lý Tổ Gia và Đậu Đậu đã làm bạn với nhau hơn 10 năm, mối duyên phận tình cảm của hai người giống như mẹ con. Trên thực tế, cô Lý Tổ Gia xem Đậu Đậu như do chính mình sinh ra, thật sự coi Đậu Đậu như đứa con trai.

Thứ tình cảm yêu thương và che chở lẫn nhau bằng mọi giá ấy, trên cõi đời nhân tình bạc bẽo này, thật sự là rất hiếm có. 

Sư tỉ Lý Tổ Gia là đệ tử của tôi. Chú chó nhỏ Đậu Đậu cũng là đệ tử của tôi.
Cùng quán đảnh.
Cùng nhận gia trì.
Mỗi lần sư tỉ Lý Tổ Gia tu Bổn tôn niệm tụng, chú chó nhỏ Đậu Đậu ngồi im ở bên cạnh, dựa vào người sư tỉ Lý, dường như Đậu Đậu cũng đang tu pháp. Nếu có Thượng sư ở Đài Bắc hoằng pháp, sư tỉ Lý Tổ Gia và Đậu Đậu cùng có mặt, Đậu Đậu rất ngoan, không kêu, cả hai cùng nhận quán đảnh, cả hai cùng nhận gia trì. 

Có một lần, Lý Tổ Gia mời chúng tôi đến nhà hàng Thanh Diệp ăn bữa khuya, Đậu Đậu cũng đi theo, người của nhà hàng nói: “Thưa cô, xin lỗi, chó không thể vào nhà hàng.” Sư tỉ Lý nói: “Nó không phải là chó, nó là con trai tôi, nó rất sạch sẽ, rất ngoan, không kêu, cho nó một chỗ ngồi đi.”
Nhà hàng cũng đặc biệt châm chước, Đậu Đậu ngồi tại ghế riêng của mình, hiên ngang như con người.

🌟

Cuối cùng Đậu Đậu cũng già, bị bệnh, nó mắc rất nhiều bệnh, bác sĩ thú y nói: “Thọ mạng của nó đã kết thúc rồi!”

Sư tỉ Lý tự mình đưa Đậu Đậu nam tiến xuống Đài Trung, đúng lúc tôi đang ở Đài Trung. Sư tỉ Lý thỉnh cầu tôi tiếp dẫn Đậu Đậu vãng sinh tịnh thổ. Tôi sờ đầu cho Đậu Đậu và đồng ý đích thân tiếp dẫn. Sau đó, tôi trở về Nam Sơn Nhã Xá ở Seattle nước Mỹ.

Không lâu sau, tôi nghe tin Đậu Đậu đã qua đời. 
Tôi ở tại Nam Sơn Nhã Xá lập đàn tu pháp siêu độ, thần thức của Đậu Đậu bay vào trong tay tôi. 

Ở xa nghìn dặm, tôi nhìn thấy Đậu Đậu ở bên kia Thái Bình Dương từ trong miệng nôn ra một vũng nước màu đen, tượng trưng rằng toàn bộ nghiệp chướng nhiều kiếp đã được nhả ra hết, toàn thân Đậu Đậu thanh tịnh rồi. 

Tôi bế thần thức của Đậu Đậu đưa cho A Di Đà Phật, A Di Đà Phật tự tay tiếp dẫn Đậu Đậu đến Phật quốc tịnh thổ ở Tây phương Cực Lạc thế giới.

🌟

Sự việc sau đó đã chứng minh:

Vào lúc Đậu Đậu sắp chết, trong vòng 8 giờ, sư tỉ Lý không động tới nó, sau 8 giờ mới phát hiện ra bên dưới cái gối của Đậu Đậu có một vũng nước đen, là nước chảy ra từ miệng của Đậu Đậu. (Tương ứng rồi!)

Sau khi hỏa thiêu Đậu Đậu có được 25 hạt xá lợi tròn xoe bảy màu sáng chói. Còn có được một bát to hoa xá lợi nhiều màu sắc, cực kì đẹp đẽ. (Tương ứng rồi!)

Con trai của sư tỉ Lý Tổ Gia, chó nhỏ Đậu Đậu, đích thực đã vãng sinh Tây phương Cực Lạc Phật quốc. 
Tôi nói:
”Đây là minh chứng của việc nhìn thấy từ xa nghìn dặm!”

Địa chỉ liên lạc của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn

**Sheng-yen Lu**
17102 NE 40th Ct.,
Redmond, WA 98052
USA.


### 01. Ngôi nhà này không phải của anh


Một nhóm người chúng tôi, bao gồm chính tôi và đệ tử của tôi, trong các đệ tử có Thượng sư, pháp sư và hành giả, cùng đi xem ngôi nhà mới xây của Thượng sư Liên Đặng và Thượng sư Liên Diệu.

Ngôi nhà của họ xây trên sườn núi phía đông của hồ Sammamish, toàn bộ ngôi nhà tọa đông quay mặt về tây, từ bên trong nhìn ra ngoài là thấy mặt hồ sáng lấp lánh ánh bạc, hết sức đẹp đẽ, đặc biệt là khi mặt trời xuống núi, nước hồ phản chiếu ánh tà dương, đẹp không sao tả xiết. Tôi đã xem phong thủy cho ngôi nhà mới của họ.

Tôi chú ý đến mấy căn nhà ở lân cận đều là những ngôi nhà mới xây chưa lâu, trong đó có một ngôi nhà có bể bơi, cửa chính có hình dạng như mũ quan, tôi dùng huệ nhãn để nhìn.
Kì lạ là, tôi nhìn thấy:
Thượng sư Liên Diệu từ trong ngôi nhà đó đi ra.
Thượng sư Liên Diệu đang bơi ở trong hồ bơi đó.
Tôi giật thót mình, bởi vì ngôi biệt thự xa hoa đó là của người khác, không phải là nhà do Liên Đặng, Liên Diệu xây.

Nhóm người chúng tôi làm khách ở ngôi nhà mới của họ. Chủ nhân hết sức vui mừng. Bởi vì họ tự xây nhà mới, muốn giới thiệu tất cả mọi thứ đẹp đẽ của ngôi nhà mới. Vào lúc dùng bữa cơm, tôi khẽ nói một câu:
”Ngôi nhà này không phải của anh.”
Mọi người ngẩn ra.
Chủ nhân cũng không hiểu gì cả.
(Chủ nhân mới xây một ngôi biệt thự, vừa mới xây xong, mời tôi xem phong thủy, lại mời các đồng môn ăn cơm. Không ngờ tôi nói ngôi nhà này không phải của anh.)
Những người nghe thấy đều im lặng không nói. 
Người không nghe thấy đương nhiên lại càng không biết, có lẽ họ nghe thấy cũng giả vờ là không nghe thấy.

🌟

Khi chúng tôi rời khỏi ngôi nhà mới xây của hai vị Thượng sư Liên Đặng và Liên Diệu, chúng tôi lên xe, tôi chỉ vào ngôi biệt thự ở sườn núi trên cao hơn và nói:
”Thượng sư Liên Diệu, ngôi nhà kia mới là nhà của hai người, nếu hai người muốn thì nó chính là của hai người.”
(Có cổng hình mũ quan, có hồ bơi.)
Tôi nói:
”Thế hệ sau sẽ làm quan to.”
Thượng sư Liên Diệu lúc đó, tôi không biết có nghe và lưu ý đến câu nói này hay không.

🌟

Trải qua nhiều năm sau, tôi lại ẩn cư bế quan sáu năm, sau khi xuất quan, tôi mới biết Liên Đặng và Liên Diệu đã bán đứt ngôi nhà mới xây và đã mua ngôi biệt thự ở sườn núi cao hơn, chính là ngôi biệt thự xa hoa có cổng mũ quan và hồ bơi. (Tương ứng rồi!)

Tôi đã chứng tỏ huệ nhãn của mình là chính xác, tôi nhìn thấy tương lai của mấy năm sau.
Ngôi nhà mới xây của các bạn, tôi nói không phải là nhà của các bạn.
Ngôi nhà mới xây của người khác, tôi nói đó mới là nhà của các bạn.
Bạn tin hay không?
Một khi huệ nhãn của tôi đã nhìn ra thì chính là định số.
Bạn bảo kì lạ, tôi nói không kì. Bạn bảo không kì lạ, tôi nói kì. Tất cả những việc này đều là định số.
Huệ nhãn của tôi đã nhìn thấy rồi, lần này tôi không nói nhiều, đợi đến hồi sau sẽ rõ! Đây là điều tôi nhìn thấy về ngôi biệt thự.

Cuộc đời hư huyễn, thế sự vô thường mà!


### 02. Quan Thế Âm Bồ Tát nói như vậy


Có một người tên là Fujita Hideyoshi đến từ Nhật Bản đặc biệt đến Seattle Lôi Tạng Tự gặp tôi.
Tôi hỏi: “Từ đâu đến?”
Đáp: “Nhật Bản.”
”Là Bồ Tát bảo anh đến nhỉ!”
”A! Làm sao Lư Sư Tôn biết được?” - Fujita Hideyoshi giật thót mình, vô cùng kinh ngạc.
Anh ấy kể:
Anh ấy mắc một căn bệnh lạ, cơ bắp toàn thân bị thoái hóa, càng ngày càng gầy gò, đã gặp danh y khắp nơi nhưng đều không tìm ra nguyên nhân bệnh, đồng thời các bệnh viện lớn cũng không chữa khỏi. Anh ấy bất đắc dĩ đã tìm đến một ngôi chùa, trong chùa có một cô gái trẻ người Nhật đang hỏi chuyện.

Quan Thế Âm Bồ Tát giáng lâm, nhập lên người cô gái trẻ người Nhật này và nói với anh: Đi Mỹ, đi tìm một ngôi chùa, mặt sau có núi, mặt trước có hồ, có một vị sư phụ, ông ấy có năm triệu đệ tử…

Thế là anh ấy rất thành tâm thành ý nghe lời Quan Thế Âm Bồ Tát, thật sự đã đến Mỹ, thế rồi tìm đến Seattle Lôi Tạng Tự, mặt sau có núi, mặt trước có hồ Sammamish, và tôi thật sự có năm triệu đệ tử.
Tôi nói với Fujita Hideyoshi:
”Việc của anh tôi đã biết rõ cả rồi, Quan Thế Âm Bồ Tát chỉ điểm việc của anh, tôi cũng sẽ tuyệt đối xử lý, hơn nữa sẽ xử lý hoàn toàn triệt để nữa, anh yên tâm đi!”
Nét mặt Fujita Hideyoshi lộ vẻ mừng rỡ. 
Anh ấy đã hiểu dụng ý của tôi, tôi cũng sẽ tuân theo ý chỉ của Bồ Tát để hoàn thành tâm nguyện của anh ấy.
Tâm nguyện của Fujita Hideyoshi. 
Tâm nguyện của Quan Thế Âm Bồ Tát.
Tâm nguyện của tôi.
Ba tâm nguyện này đều tương thông.

🌟

Nhân tiện tại đây tôi nói với mọi người, Fujita Hideyoshi không chỉ vì bệnh của bản thân mà đến gặp tôi. 
Anh ấy có một kế hoạch rất lớn nên mới đến gặp tôi, kế hoạch lớn của anh ấy là đại thiên cơ, là sự nghiệp đại thiện, là tâm nguyện cả cuộc đời của anh ấy.
Kế hoạch rất lớn này, trên thế giới này, cũng chỉ có người “đại năng” là tôi mới có thể hoàn thành được. Tôi cho rằng, cũng chỉ có người “vô tận” như tôi đây mới có thể hoàn thành nhiệm vụ.

Quan Thế Âm Bồ Tát nhập lên người của cô gái trẻ ngây thơ trong sáng kia, cũng giống như người chỉ dẫn hoàn thành kế hoạch lớn như trời này. Nước Mỹ, ngôi chùa tựa lưng vào núi quay mặt ra hồ, người có năm triệu đệ tử, có thể hoàn thành được kế hoạch lớn này.
Kế hoạch lớn này là gì?
Không thể nói!
Không thể nói!
Không thể nói!
Fujita Hideyoshi biết, Quan Thế Âm Bồ Tát biết, tôi biết. Trong thiên hạ này, chỉ có ba người biết mà thôi, xin lỗi, tôi tạm thời không thể nói với mọi người, bởi vì đây thật sự là một thiên cơ vĩ đại, bất kì người nào cũng không đoán ra được đại thiên cơ này đâu.

Quan Thế Âm Bồ Tát muốn Fujita Hideyoshi đến tìm tôi.
Tôi đương nhiên biết.
Bởi vì chỉ có tôi mới có thể hoàn thành đại tâm nguyện từ bi của Bồ Tát, tôi cũng hiểu sâu sắc tâm của Quan Thế Âm Bồ Tát.
Ngoài đảm đương truyền pháp cứu đời ra, thì đây là nhiệm vụ khó khăn nhất rồi, là nhiệm vụ lớn nhất của Phật giáo Đại thừa. 
Mọi người đoán thử xem là gì?


### 03. Không cứu được, không cứu được rồi


Khi tôi ở Malaysia truyền quán đảnh pháp Thời Luân Kim Cang, Thượng sư Liên Hinh ở Hồng Kông đem ảnh và tư liệu của một người đưa cho tôi xem.
Tôi hỏi: ”Người ở đâu đây?”
Đáp: “Trung Quốc.”
Tôi hỏi: “Họ gì?”
”Hồng Vẫn Ý.” (bí danh)
Thượng sư Liên Hinh thì thầm hỏi tôi: “Có cứu được không?”
”Không cứu, không cứu được rồi!”
(Từ trên tấm ảnh đó, tôi nhìn thấy một bộ xương nằm trong quan tài.)
Thượng sư Liên Hinh nói:
”Sư Tôn, người này, bất luận thế nào, nhất định phải cứu, nhất định phải cứu!”
Tôi chỉ gật đầu, nói: “Để thử xem!”

Sau đó, tôi trở về Seattle nước Mỹ. Thượng sư Liên Hinh từ Hồng Kông bay qua Mỹ, đặc biệt cầm theo tấm ảnh rồi lại đến gặp tôi.
Hỏi: “Cứu được không?”
Tôi nhìn thì thấy trên tấm ảnh hiển thị một người vẫn nằm trong một cỗ quan tài.

Tôi lại lắc đầu: ”Không cứu được, không cứu được rồi!”
Thượng sư Liên Hinh nói: “Người này, bất luận thế nào Sư Tôn cũng phải cứu, Sư Tôn có năng lực to lớn Phật pháp siêu nhiên, bất luận thế nào nhất định phải cứu anh ta, cầu xin thầy đó!”
Tôi nói: “Để thử xem, để tôi cúng Hộ Ma vậy!”

Tôi vì Hồng Vẫn Ý này mà đốt ba lần Hộ Ma hỏa cúng, nhưng rồi tôi vẫn lắc đầu, bởi vì ở trong lửa Hộ Ma, tôi vẫn nhìn thấy một cỗ quan tài giống như vậy.
Tôi lại thở dài một hơi: 
“Là định nghiệp rồi, không cứu được, không cứu được rồi!”

Thượng sư Liên Ninh, Thượng sư Liên Khiết ở Seattle Lôi Tạng Tự nhìn tôi lắc đầu, họ cũng đã biết từ đầu là Hồng Vẫn Ý e rằng thật sự không thể cứu được.
Ở trong lửa Hộ Ma của tôi, cảm ứng duy nhất của Hồng Vẫn Ý là không ngờ hai tay có thể kết thủ ấn.
Tôi nói:
”Tôi không có cách nào phá được định nghiệp, Như Lai cũng không thể nào phá được định nghiệp, tôi chỉ có thể tiếp dẫn anh ta vãng sinh Phật quốc tịnh thổ thôi.”
Thượng sư Liên Hinh không mấy hy vọng, lại thỉnh các tăng nhân của Seattle Lôi Tạng Tự, chỉ vì Hồng Vẫn Ý mà:
Bái sám.
Tụng kinh.
Tiêu tai.
Thắp đèn.
Thượng sư Liên HInh vì cứu Hồng Vẫn Ý mà có thể nói là đã dùng hết khả năng của mình, tất cả năng lực hữu hình, vô hình đều đã sử dụng hết sạch rồi.
Thế nhưng, thứ tôi nhìn thấy vẫn là một chiếc quan tài.
Tôi nói:
”Số kiếp đã định rồi!”

Tin tức sau đó truyền tới, Hồng Vẫn Ý đã qua đời trong phòng chăm sóc đặc biệt của bệnh viện.
Tôi nói:
”Tôi không có cách nào cứu mạng anh ta, bởi vì thân thể anh ta đã hỏng rồi. Nhưng trung ấm (linh hồn) của anh ta không hỏng, tôi sẽ đưa trung ấm của anh ta tiếp dẫn đến Phật quốc tịnh thổ thanh tịnh.”
Thiên nhãn của tôi đã nhìn thấy anh ta tiến vào Phật quốc.


### 04. Ma treo cổ


Có một buổi sáng, tôi ở trong thiền định thì nhìn thấy một cảnh tượng:
Bầu trời u tối, có sương dày mờ mịt, trong sương có một bóng đen thình lình bổ nhào vào tôi.
Phản ứng tự nhiên của tôi là dùng ấn Tứ tung Ngũ hoành, tay trái là Ngũ hoành, tay phải là Tứ tung, đẩy về phía trước.

Bóng đen đó bị tôi đẩy ra thì ngã lăn ra. Thủ ấn của tôi phát ra lưới ánh sáng rất dày chụp lấy cái bóng đen đó. 
Bóng đen kêu lên: “Đừng bắt tôi, đừng đuổi tôi đi, tôi không muốn đi.”
Đó là tiếng của cô gái trẻ. 
Tôi thu thủ ấn về, nhìn kĩ càng, cô gái trẻ này trông xinh đẹp, tóc dài, đáng tiếc là hai con mắt lồi ra, lưỡi thè ra ngoài, là bộ dạng của một con ma treo cổ. 
Con ma treo cổ đó nhìn thấy tôi thu thủ ấn lại thì nhỏm dậy bỏ chạy. 

Sau khi tôi xuất định, tôi cũng không giữ lại chuyện này ở trong đầu. 

🌟

Vào lúc chập tối ngày hôm đó, có ba người đến Seattle Lôi Tạng Tự, là người đến từ bang California nước Mỹ. Một nữ sinh trẻ tuổi tên là Ngải Lâm Đạt đi cùng mẹ và dì của cô ấy. Ngải Lâm Đạt có khuôn mặt thanh tú, thân hình đẹp đẽ, đáng tiếc là đôi mắt cứ trơ trơ, khuôn mặt không biểu lộ tình cảm gì cả. 

Mẹ cô gái nói với tôi: “Phía trường học thông báo tâm thần của Ngải Lâm Đạt có điều bất thường, không nói chuyện, chỉ khóc, cử chỉ quái dị, yêu cầu phụ huynh đưa đi khám bệnh. Bác sĩ nói là chứng bệnh trầm cảm, mất ngủ, cho thuốc ngủ và thuốc an thần.”

Tôi dùng thiên nhãn, vừa nhìn thì thấy có một bóng đen ở tim của cô gái, tôi nhớ đến con ma treo cổ. 
Ha, thì ra là vậy!
Dì của cô gái nói: 
”Bác sĩ đã chữa một năm mà không khỏi, trái lại còn tệ hơn, ngày nào cũng khóc, đau tim, ngoài khóc ra thì cứ như người gỗ, không có một chút biểu cảm gì cả, ngày nào cũng muốn tự sát, chúng tôi có cần đưa nó đến bệnh viện tâm thần không?”
Tôi nói:
”Cô ấy bị nhập! Bị ma ám!”
Lúc này mẹ cô gái nói:
”Kí túc xá học sinh mà nó ở, cùng căn phòng đó có một học sinh đã treo cổ tự sát mà chết.”
Tôi gật gật đầu.
Cuối cùng tôi đã hiểu những gì nhìn thấy trong thiền định vào buổi sáng nay.

🌟

Tôi đưa Ngải Lâm Đạt đến Đại Hùng Bảo Điện của Seattle Lôi Tạng Tự, đứng trước Phật. Các pháp sư vây xung quanh nhìn.
Hai tay tôi dồn dập đập vào lưng của Ngải Lâm Đạt, hét lớn: “Hum! Hum! Hum!”
Tôi nhìn thấy bóng đen ngã ra thì mới dừng. 
Bóng đen đó chính là con ma treo cổ. Nó ngã ra xong thì lại bổ nhào về phía tôi, tôi kết ấn Giếng kim cang, thu con ma treo cổ vào trong giếng. 
Con ma treo cổ hét lớn:
”Tôi muốn tự do, ông không được trói tôi.”
Tôi phớt lờ, thu con ma treo cổ vào trong tay áo tôi.
Tôi cho Ngải Lâm Đạt uống ba lá phù chữ “thượng”. 

🌟

Ngải Lâm Đạt cùng mẹ và dì trở về California. 
Tin tức truyền đến: Ngải Lâm Đạt đã trở lại trường học và lên lớp, không mất ngủ, không đau, không khóc…
Tất cả đã bình thường.
Chứng bệnh trầm cảm đã khỏi hoàn toàn rồi!


### 05. Một đám mây đen rất lớn


Có đệ tử hỏi tôi:
”Melbourne nước Úc có một người là Lâm Quế Sâm, Lư Sư Tôn có biết không?”
Tôi đáp:
”Biết.”
Tôi nói:
”Lâm Quế Sâm đã quy y tôi từ rất lâu rồi, tôi đặt tên cho Phật đường của ông ấy là Như Ý Đường, ông ấy tinh tấn học Phật, có hội in kinh, đã in rất nhiều kinh điển, công đức cực lớn. Đặc biệt là kinh Bản Nguyện Địa Tạng Bồ Tát, tôi từng tặng bài kệ cho ông ấy, bài kệ là:

*Địa ngục hiển quang sáng long lanh
Ẩn Đại Như Lai độ bỉ ngạn
Rộng lớn vô biên bồ đề tâm
Bồ Tát chuyển hồi sông ngân hà.*

Ông ấy đưa trưởng lão Ngộ Minh đến chỗ tôi, để tôi và trưởng lão Ngộ Minh kết thiện duyên. 
Ông ấy đưa đấng tôn quý Jigdal Dadchen Sakya Rinpoche (Sakya Đạt Thanh giáo chủ) đến chỗ tôi, để tôi và giáo chủ Sakya kết thiện duyên. 
Còn có…”

Đệ tử nói:
”Lâm Quế Sâm có công đức lớn như vậy, ông ấy xây dựng một đạo tràng lớn ở Melbourne, xây dựng hai điện thờ Phật, sau khi xuất gia thì ông ấy giảng kinh thuyết pháp, khai quang đại điện, mũ mão chỉnh tề, trước cửa có con sư tử đực to lớn cực kì, khách hành hương đến đi nườm nượp. Ông ấy đúng là một cao tăng có đại năng lực, triển vọng tương lai rộng thênh thang…”
Đệ tử lại hỏi:
”Nhưng vì sao lại chết đúng vào lúc huy hoàng nhất như vậy?”
Lòng tôi buồn bã:
”Chỉ vì ông ấy đã phá giới samaya!”
Giới samaya là giới không thể vi phạm, trong tu hành Mật giáo, không ai dám vi phạm giới này, nếu phá giới samaya tức là phá sợi dây liên hệ giữa Thượng sư, Bổn tôn và hành giả. Nếu phạm phải, không những không thành tựu các pháp đã tu, thần quản lời thề samaya sẽ cho đọa vào tam ác đạo, chẳng có ngày thoát ra, vì thế, hành giả Mật giáo không ai dám vi phạm.

Tôi từng vì Lâm Quế Sâm mà thiền định quan sát, nhìn thấy một đám mây đen rất lớn che kín trời đất, tầng tầng lớp lớp quấn chặt lấy ông ấy. Đám mây đen rất lớn này đã che kín ánh hào quang công đức lấp lánh như sao tỏa ra trên người ông ấy.
Đám mây đen này quấn chặt lấy ông ấy, bay đến vùng “biển độc”, cuối cùng ném ông ấy vào biển độc.

Ở trong thiền định, tôi nhìn thấy cảnh tượng ở xa nghìn dặm, cảm thấy trong lòng buồn bã và tiếc nuối. Về cơ bản ông ấy đã quên mất lời dạy của Thượng sư, vứt bỏ lời thề. Vị Thượng sư Liên Huỳnh (Lâm Quế Sâm) này đã vứt bỏ:
Lời thề quy y.
Lời thề truyền pháp.
Lời thề độ chúng.
Lời thề hộ trì.
Lời thề giữ giới.
Nếu không giữ những lời thề này thì mọi việc hành pháp không thể thành tựu, cho dù có công đức thì cũng là công toi.

Tôi thật sự nhìn thấy một đám mây đen rất lớn quấn chặt lấy ông ấy.
Nếu ông ấy còn nhớ được tên húy của tôi, hoặc trì tâm chú của tôi, thì có lẽ còn có thể cứu.
Nếu ông ấy sám hối kịp thời, có lẽ còn có thể cứu.
Thật ra vào lúc ông ấy bị mây đen quấn chặt, chỉ cần gọi một cú điện thoại cho tôi, tôi chắc chắn sẽ vì ông ấy mà tu bánh xe bảo vệ, đó là sự từ bi của tôi.
Sao tôi có thể nhẫn tâm thấy chết mà không cứu chứ?


### 06. Thần Bàn


Sau khi tôi kết thúc kì ẩn cư, trở về Seattle Lôi Tạng Tự nước Mỹ, có một nữ đệ tử trẻ tuổi tên là Tập Mộng dâng tặng một chiếc hộp nhạc, khi chiếc hộp nhạc chuyển động sẽ phát ra âm thanh “tinh tinh tang tang” đẹp đẽ. Trên chiếc hộp nhạc đó, cô ấy viết: “Thầy là đại đạo sư số một!” (Viết bằng tiếng Anh.)

Nữ đệ tử Tập Mộng từ Thụy Điển đến Mỹ để đi học nghề y tá. Diện mạo cô ấy trong sáng, cao và gầy, có dáng người mẫu bẩm sinh. Cô ấy nói:
”Cả đời này đệ tử muốn ở lại Seattle, không muốn rời khỏi Seattle.”
Tôi nghe xong thì cười vang ha ha.
Cô ấy nói:
”Cả đời này đệ tử muốn theo Sư Tôn học pháp cho đến tận lúc già.”
Tôi nghe xong thì cười vang ha ha.

Khi Tập Mộng đến mới đến Mỹ thì gầy gò nhỏ bé, sau mấy năm đã cao lớn và trưởng thành. Cô gái trẻ đã khác hẳn cô thiếu nữ ngày xưa, cô gái nhỏ ngày trước đã lớn lên thành phượng hoàng rồi. 

Tôi dùng thiên nhãn quan sát, biết là cô ấy sẽ lưu lạc đến nơi rất xa rất xa! Cô ấy sẽ không sống mãi ở Seattle. Mỗi khi cô ấy nói cô ấy muốn sống hẳn ở Seattle, tôi lại nói: “Tất cả để xem nhân duyên đi!”

🌟

Có một hôm, tôi chợt có linh cảm, tôi dùng lửa để thanh tịnh chiếc bàn ăn mà chúng tôi ăn cơm. 
Trên bàn ăn có vẽ một mũi tên. Tôi niệm chú: “Thiên linh linh, địa linh linh, Thần Trác vấn sự linh linh linh, thiên binh thiên tướng, như luật lệnh.”
Tay tôi vuốt nhẹ lên mặt bàn.
Điều kì lạ là, chiếc đĩa xoay ở trên mặt bàn tự động quay, càng quay càng nhanh. 
Tôi nói:
”Trong lòng mọi người có bất kì việc khó khăn gì, đều có thể hỏi.”
”Phải” thì là quay theo chiều kim đồng hồ.
”Không phải” thì là quay ngược chiều kim đồng hồ.
Tập Mộng tiến lên hỏi:
”Con sẽ có ở lại Seattle mãi mãi không?”
Thần Bàn đáp:
”Không phải.”
Tập Mộng hỏi:
”Nếu đã không ở lại Seattle thì khi nào sẽ rời đi?”
Thần Bàn đáp:
”Tốc.” (Rất nhanh thôi.)
Tập Mộng im lặng không nói, cảm thấy không thể nào, sao có thể như vậy chứ? Trong lòng cô ấy cứ nghi hoặc mãi.

🌟

Bang Philadelphia nước Mỹ có một người là sư tỉ Trang, cô ấy đưa một người nhà đến Seattle hành hương, cô ấy có một người con trai chưa kết hôn, kết quả là đã để mắt đến Tập Mộng. 
Hai người hẹn hò nhau.
Rất nhanh chóng đã đính hôn.
Cũng rất nhanh chóng đã kết hôn.
Càng nhanh hơn nữa là cô ấy đã có thai.
Thế là Tập Mộng đã chuyển tới Philadelphia. Thời gian chỉ có ba tháng sau khi hỏi Thần Bàn. 
Thần Bàn có chuẩn không? Cực kì chuẩn!
Thiên nhãn của Liên Sinh Hoạt Phật có chuẩn không? Cực kì chuẩn!
Tôi luôn cảm thấy, đời người thời vận đến đi, từng miếng ăn miếng uống đều có định số cả!


### 07. Cơn bão tuyết


Tôi nghe nói, vì vấn đề toàn cầu ấm lên mà đại biểu của hơn trăm quốc gia trên toàn thế giới đã họp mặt tại đảo Bali Indonesia, tổ chức hội nghị thế giới về cứu vãn trái đất ấm lên. 
Đây đúng là một hội nghị lớn tưng bừng đẳng cấp thế giới. 
Hội nghị kéo dài nhiều ngày.
Cuộc họp đã khai mạc rồi!
Nhóm thảo luận cũng đã thảo luận rồi!

Đảo Bali là một thắng cảnh nghỉ dưỡng, các đại biểu đương nhiên là ăn rất ngon, ngủ rất tốt, chơi rất vui. 
Nhưng mà, hội nghị kết thúc là:
”Không đạt được nhận thức chung.”
Có thể nói là vui mừng phấn khởi kéo đến, nhưng lại hoàn toàn nộp giấy trắng, thất vọng trở về.
Vấn đề thế giới trái đất ấm lên vẫn không có cách giải quyết.

🌟

Vào tháng 10 năm 2007, tại Kuala Lumpur Malaysia, cung thể thao Thái Tử tổ chức đại pháp hội Thời Luân Kim Cang.
Tôi ngồi trên pháp tọa, đột nhiên nghĩ đến vấn đề trái đất ấm lên, tôi giơ kim cang quyết trong tay mình lên, nói vào hư không:
”Ma ha bát nhã ba la mật đa. Ôm. Ma-ni-pây-ta-mi. Hùm. Tô-ly. Cấp cấp như luật lệnh.”
Tôi lại niệm:
”Ôm. Ha. Ka-ma-la. Wa-la-ya. Sô-ha. Lệnh cho mặt trời cách xa trái đất. Xa hơn một chút đi!”

Cá nhân tôi nghĩ rất ngây thơ, chỉ cần mặt trời cách xa trái đất một chút xíu thì trái đất sẽ không ấm lên nữa. 
Tôi còn nghĩ:
Thời Luân Kim Cang Minh Vương của Mật giáo thống trị:
Hư không giới vô tận, điều khiển mặt trăng mặt trời trái đất.
Thời quang giới vô tận, không có khởi đầu cũng không có kết thúc. 
Thời Luân Kim Cang là vị Minh Vương “đại năng”. Lời thỉnh cầu của tôi chắc chắn sẽ có được cảm ứng.
Tôi dùng thiên nhãn để nhìn:
”Chà, mưa tuyết lớn rồi! Chà, đóng băng rồi! Chà, băng tuyết khắp đất trời rồi.”
Tôi nghĩ:
Như thế này thì rất tốt.
Để các núi băng ở Bắc Cực không đạt tới điểm tan chảy thành nước, mực nước sẽ không dâng cao, sẽ không nhấn chìm mặt đất.
Để thời tiết mát mẻ một chút, mùa hè sẽ không nóng nực, điều chỉnh lại một chút vấn đề trái đất ấm lên. 

🌟

Sự việc không ngờ tới đã xảy ra rồi!
Trung Quốc, Nhật Bản, Bắc Mỹ, châu Âu, mùa đông năm 2007 đến 2008. 
Đều có bão tuyết. Thậm chí bão tuyết thổi tới cả Trung Đông.
Đặc biệt là Trung Quốc đã gặp một trận bão tuyết lớn chỉ thấy trong 50 năm qua, khiến cho toàn bộ đất nước đều lạnh giá. 
Từng trận từng trận bão tuyết.
Cả nước đóng băng.
Băng tuyết khắp đất trời.
Hoàn toàn giống hệt với mưa tuyết lớn, đóng băng, khắp đất trời phủ băng tuyết mà tôi đã nhìn thấy.

Tôi sững người!
Tôi cảm thấy đây khả năng chỉ là một sự trùng hợp, căn bản không phải là kết quả của việc làm pháp của tôi.
Đây là khí hậu bất thường, căn bản không phải là pháp lực của tôi. Tôi kêu lên một tiếng “trời đất đóng băng” thì thật sự là trời đất đóng băng sao?
Không phải tôi, không phải tôi, không phải tôi.
Tôi chỉ nói:
”Để mặt trời cách xa trái đất, xa ra một chút xíu!”


### 08. Bảy con bướm


Có một năm, tôi trở về Đài Loan, ở trước đàn thành tu pháp Bổn tôn xong, tôi liền tùy ý tọa thiền, tọa thiền này cũng không phải là thật sự nhập vào Tam ma địa, chỉ là nghỉ ngơi và suy nghĩ mông lung.

Tôi nghĩ đến bản thân đã tự chứng được sức mạnh siêu tự nhiên, nghĩ đến tự thân đã trải qua đủ mọi chuyện bất khả tư nghì. 
Thấy tịnh thổ.
Thấy tự tính Liên Hoa Đồng Tử.
Thấy chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, v.v… 
Giờ đây, mấy mươi năm tu pháp không ngừng nghỉ, tôi tinh tấn như vậy, cố nhiên đã độ được năm triệu đệ tử.
Nhưng vẫn khiến cho một bộ phận nhân sĩ hoài nghi, thậm chí có một số trưởng lão của các phái cảnh cáo tôi không được nói nhiều về những chuyện thần kỳ, cảnh cáo tôi tất cả thần thông đều là ngoại đạo, cảnh cáo tôi những chuyện thần kỳ đều là vọng tướng.

Tôi cũng biết:
*Tất cả pháp hữu vi
Như mộng huyễn bào ảnh
Như sương cũng như điện
Nên quán thấy như vậy.*

Nhưng, tôi nghĩ, là mơ, là không, là vô, là vọng, đương nhiên đúng thế rồi. 
Nhưng, không chẳng phải là không tuyệt đối, vô cũng chẳng phải là vô tuyệt đối, bằng không, hà tất phải thuyết pháp?

🌟

Nghĩ đến bản thân ngày ngày làm thí thực cúng dường, niệm “Om Ah Hum”, đây là tu pháp đơn giản nhất rồi.
Nhưng tôi cảm ứng thấy vô hình có tồn tại.
Thiên long bát bộ chúng.
La sát quỷ tử mẫu.
Các sơn thần hải thần.
Các quỷ linh hoang dã.
Từng thứ như huyễn lại tựa như thật, thật sự cảm ứng được, những vô hình này, tôi thật sự có thể cảm thấy được sự tồn tại của chúng. Nhưng, vì sao khi tôi thí thực, chúng lại không chân thực hóa hiện chân hình (chỉ cái thân vật chất), để tôi càng thêm thù thắng chứ?
Tôi cứ nghĩ mãi, nghĩ mãi.

Đêm đó tôi nằm mơ:
”Mơ thấy bảy vị Không Hành Mẫu từ trên không giáng xuống, bảy vị Không Hành Mẫu này phóng ánh sáng bảy sắc, bảy vị Không Hành Mẫu đều có vẻ đẹp tuyệt sắc không gì sánh bằng, mặc thiên y.” 
”Bảy vị Không Hành Mẫu nói với tôi, tất cả đều là song vận, giống như phương tiện và trí huệ, giống như thần thông và Phật học, giống như sinh khởi và viên mãn, giống như phụ tục và mẫu tục, giống như hữu tướng và vô tướng, giống như luân hồi và niết bàn…”
”Bảy vị Không Hành Mẫu còn nói, chúng tôi thấy ngài là một vị yogi đại thành tựu có một không hai, vì thế ca ngợi ngài, vì thế hiển hóa thù thắng để cho ngài nhìn thấy.”
Nói xong, tôi tỉnh khỏi giấc mơ. 

Tỉnh dậy rồi, tôi vô cùng vui mừng, tôi cảm thấy bảy vị Không Hành Mẫu nhất định là do Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp của tôi phái đến, nhất định là họ đến để động viên tôi.
Tôi cầu nguyện Thượng sư gia trì!
Bổn tôn thu nhận.
Hộ pháp ủng hộ.

🌟

Sáng sớm, tôi làm thí thực cúng dường.
Mở cửa sổ, tôi vẩy cam lộ ra ngoài. 
Không ngờ tôi nhìn thấy bảy con bướm bảy sắc dập dờn bay qua, ở chỗ tôi vẩy nước cam lộ ra, chúng lượn lên lượn xuống bay múa. 
Cảnh tượng ấy khiến người ta ngạc nhiên thích thú!
Cảm ứng rồi!
”Bảy con bướm đã tiếp nhận cúng dường của tôi.”


### 09. Ong mật bay đi mất một cách bí ẩn


Vào năm 2007, tôi truyền thụ bảy đại pháp của Diêu Trì Kim Mẫu, duy có pháp Diêu Trì Kim Mẫu cam lộ thần thủy là chưa truyền, cam lộ thần thủy này chỉ truyền cho người có duyên.

Trong bảy đại pháp, có một pháp là để đối trị u bướu, pháp đó như sau:
Trước tiên quán tưởng:
Diêu Trì Kim Mẫu hiện thân ở trên cao trước mặt hành giả.
Đội mũ phượng.
Tay trái cầm đào tiên hoặc gậy như ý.
Tay phải cầm cây phất trần của tiên.
Tướng mạo trang nghiêm xinh đẹp, xung quanh thân tỏa ánh sáng.
Quán tưởng Diêu Trì Kim Mẫu vung cây phất trần lên, phóng ra một đường ánh sáng trắng, chiếu thẳng đến chỗ có khối u của hành giả.
Quán tưởng khối u như tổ ong, hình thành từng lỗ từng lỗ.
Sau đó quán tưởng bên trong tổ ong, bầy ong từ trong các lỗ đó bay ra ngoài, bay lên hư không.
Lại quán tưởng tổ ong thu nhỏ lại, rồi tổ ong biến mất.
Trì chú: “Hùm hùm hùm.” (3 biến)
Diêu Trì Kim Mẫu biến mất.
Khối u (tổ ong) biến mất.

Pháp này mỗi ngày phải tu một lần, ngày ngày tu, khối u sẽ càng ngày càng nhỏ lại, cuối cùng là biến mất.
Trọng điểm của pháp này là:
”Bầy ong từ trong lỗ tổ ong lần lượt bay ra, lần lượt tiêu biến trong hư không.”

Khi tôi truyền thụ pháp này, không ngờ thật sự nhìn thấy rất nhiều ong mật bay ra. 
Những con ong mật này ở trong hư không bay tới bay lui, tạo thành từng chấm từng chấm, cuối cùng toàn bộ đều biến mất hoàn toàn, không còn bay trở về tổ ong nữa.

🌟

Từ năm 2007 đến 2008, các nông trường nuôi ong mật ở Mỹ xảy ra một sự việc kỳ lạ. 
Tin tức báo cáo:
Ong mật trong vườn nuôi ong, bình thường chúng bay đi tìm mật rồi lại bay trở về tổ. 
Người nuôi ong mật từ mật ong thu được đã tạo ra rất nhiều loại thực phẩm để cung cấp cho con người.
Nhưng trong thời gian từ năm 2007 đến 2008, hàng loạt ong mật bay đi nhưng lại mất tích một cách đầy lạ lùng, cũng không biết là chúng đã bay đi đâu mất. 
Sự kiện hàng loạt ong mật, một số lượng rất lớn, vô duyên vô cớ mất tích, khiến ngành nuôi ong nghĩ mãi vẫn không hiểu được.
Đây không phải là chỉ một nông trường mà thôi.
Mà là các nông trường trên toàn nước Mỹ lần lượt đều như vậy, khiến cho thực phẩm mật ong của toàn nước Mỹ đã không có đủ nguyên liệu.

Chuyên gia toàn quốc nghiên cứu:
Có người nói là do ảnh hưởng của khí hậu.
Có người nói là do ảnh hưởng của bức xạ.
Có người nói là do ảnh hưởng của sóng âm.
……………..

Cho đến bây giờ, các chuyên gia nghiên cứu vẫn không có một kết luận chung. Tuy nhiên, bầy ong mật bay đi và biến mất một cách bí ẩn, khiến ong mật càng ngày càng ít.

Sự việc khác thường này và việc tôi truyền thụ pháp Diêu Trì Kim Mẫu u bướu biến mất thật sự không hề có liên quan gì đến nhau.
Chỉ là:
Khi tôi truyền pháp, nhìn thấy ong mật ở trong hư không lần lượt biến mất. Lẽ nào toàn bộ ong mật của ngành nuôi ong nước Mỹ, ong mật biến mất một cách bí ẩn là điều tôi thấy trước sao?


### 10. Nhẫn nhục và vô ngã


Thượng sư Liên Bảo là một vị thượng sư thường xuyên ở tại Indonesia hoằng pháp. Có một lần, ông ấy có được mộng thị của tôi.
Mộng thị của tôi là:
Yêu là nhẫn nhục.
Yêu là vô.. [để trống]

Thượng sư Liên Bảo cảm thấy cái ô trống này rất kỳ lạ, giống như là điền vào chỗ trống vậy, thế là trong ô trống đó, ông ấy liền điền vào một chữ “ngã”. 

Trong giáo hóa của Phật Đà, nhẫn nhục và vô ngã là điều rất tôn quý, giống như trân bảo, là giáo hóa vô thượng.
Đừng nói đến tình yêu nhỏ của nhân gian, thậm chí tình yêu lớn độ hóa chúng sinh cũng đều phải:
Yêu là nhẫn nhục.
Yêu là vô ngã.

Tôi giải thích như sau:
Nhẫn nhục — là một trong sáu độ của Bồ Tát, hành giả phải chịu nhịn rất nhiều sự sỉ nhục và hãm hại mà không được có một chút oán hận nào.
Phật Đà có rất nhiều đời là Tiên nhân nhẫn nhục.
Chịu nhịn sân hận, chửi mắng, đánh đập, chém giết.
Chịu lạnh, nóng, gió, mưa, đói, khát, già, bệnh.

Chúng ta hiểu rằng, một hành giả tu hành trước nay chưa từng có một người nào là không bị sỉ nhục, cho nên công phu nhẫn nhục là cánh cửa đầu tiên của hành giả.
Chúng ta nhờ nhẫn nhục mà tu hành:
”Như huyễn tam muội.”

Vô ngã — vô ngã chính là phi ngã. Bám chấp vào cái tôi của thân người này chính là nhân ngã. Bám chấp vào pháp chính là pháp ngã.
Nhưng người học Phật hiểu rằng, thân người là sự hòa hợp giả của đất, nước, lửa, gió, không.
Là vì duyên mà sinh ra, vì duyên mà diệt, là vô thường.
Vì thế, vô nhân ngã, vô pháp ngã, vô tự ngã, vô tha ngã.
Đây chính là chân lý.
Đây chính là “người thông đạt pháp vô ngã, Như Lai gọi là Bồ Tát chân chính” của Kinh Kim Cang. 

Hành giả chúng ta phải tu:
Vô ngã ấn.
Vô ngã tưởng.
Vô ngã quán.
Nếu có thể thông đạt sự chí lý như vậy mà đi thực tiễn chân lý này, đó đúng là:
Đại thánh tăng minh tâm kiến tính rồi!
Từ đây chứng đắc đại A La Hán.

🌟

Tôi tu Mật giáo, từ Hỷ Kim Cang chứng đắc thành tựu huyễn thân, cái gọi là huyễn thân chính là tâm khí, tâm khí chính là cái gốc tu hành của tôi.
Tôi dùng huyễn thân để xuất nhập thập pháp giới, huyễn thân không đâu là không đến được, có thể du hành nghìn dặm vạn dặm, có thể đi vào trong mơ của các đệ tử, cho nên, Thượng sư Liên Bảo ở trong mơ có thể có được giáo huấn chân thực, không hề hư giả một chút nào.
Huyễn thân nhìn thấy tịnh thổ.
Huyễn thân nhìn thấy Phật Đà.
Huyễn thân nhìn thấy hai mươi tám cõi trời.
Huyễn thân nhìn thấy các thánh đệ tử.
Nếu có thánh đệ tử có thể hiểu lý lẽ của huyễn thân thì sẽ có thể hiểu được Sư Tôn không đâu là không tồn tại.

Vì sao mà “cách Phật quá xa”? Đó là vì trong lòng bạn không có Phật, nếu trong lòng có Phật thì bạn và Phật vĩnh viễn ở cùng nhau.
Trong tu hành của cá nhân tôi, tôi thường được Thượng sư của tôi ở trong hư không giáo huấn pháp nghĩa rất sâu, kiểu giáo huấn pháp nghĩa này là hư không truyền thụ, hoàn toàn tuyệt đối là chân thực không giả.


### 11. Bạo động lớn


Con gái tôi Lư Phật Thanh cưới một người bạn học là Lư Andy. Sau khi tốt nghiệp đại học, Andy từng được chính phủ Mỹ cử đi làm việc ở Kenya châu Phi ba năm. 

Andy ở tại Kenya từng gặp sự kiện đại sứ quán Mỹ bị đánh bom nổ tung, nhưng thật may là vô sự.

Andy trở về nước Mỹ, từng kể việc ở Kenya ăn thịt ngựa vằn, nói cả đất nước chỉ có một bưu điện, gọi điện thoại về Mỹ thì phải xếp hàng. Còn nữa, người bị mắc bệnh AIDS rất nhiều.

Andy trở về nước Mỹ.
Tôi vừa bắt tay anh ta, đột nhiên cảm ứng thấy Kenya có lộn xộn lớn, sẽ có bạo động lớn, sẽ chết rất nhiều người, bởi vì không ngờ tôi lại “mục kích” thấy cảnh tượng rất nhiều người chết.
Tôi hỏi:
”Tình hình chính trị ở Kenya có tốt không?”
Andy đáp:
”Cũng không tệ.”
Tôi hỏi:
”Có phải rất nhiều người chết không?”
Andy trả lời:
”Tất cả vẫn tốt.”

Thế là tôi giấu kín sự việc mà tôi nhìn thấy bên ngoài nghìn dặm xa ở trong não tôi. Rõ ràng tôi nhìn thấy Kenya có bạo động lớn, trong cuộc bạo động lớn đó rất nhiều người sẽ chết.

Năm 2008, Lư Andy công tác tại Liên Hợp Quốc ở Geneva Thụy Sĩ. Chính vào đầu năm 2008, Kenya thật sự đã phát sinh bạo động lớn, là sự tranh giành chính đảng, người dân đổ ra đường phố, đôi bên tấn công lẫn nhau, đã chết rất nhiều rất nhiều người.

Cuộc bạo động ở Kenya đã làm kinh hoàng xã hội quốc tế, trở thành tin tức tiêu điểm của thế giới. Động loạn chính trị ở Kenya đã nằm ngoài tầm kiểm soát, giờ đây chỉ có dựa vào Liên Hợp Quốc và các quốc gia mạnh khác can thiệp điều đình, bằng không sẽ không có ngày được an ninh.

Lúc này, tôi đã tin chắc điều tôi nhìn thấy ở xa vạn dặm là chính xác, hơn nữa còn chuẩn xác một trăm phần trăm.

Có một lần.
Andy trở về Seattle nước Mỹ. 
Tôi nói:
”Kenya bạo động lớn rồi.”
Andy đáp:
”Đúng vậy.”
Tôi nói:
”Đã chết rất nhiều rất nhiều người rồi!”
Andy trả lời:
”Đúng vậy.”

🌟

Trên thực tế, trên thế giới này, có rất nhiều rất nhiều quốc gia hỗn loạn không yên. Kenya cũng chẳng qua chỉ là một quốc gia ở Phi Châu, một đất nước lạc hậu, không phải là một nước có ảnh hưởng lớn.
Nhưng con rể Lư Andy của tôi từng ở đó làm việc ba năm, chính vì nhân duyên này mà tôi đã sắp đặt một đàn thành siêu độ.
Dùng hết sức mạnh của mình, tôi niệm chân ngôn siêu độ của tôi.
Tôi nhìn thấy trên bầu trời ở Kenya rơi xuống nghìn nghìn vạn vạn đóa hoa sen trắng chở những trung ấm của người chết đi. 
Một yogi Mật giáo là tôi đây chỉ có thể dựa vào nhân duyên nhìn thấy từ nghìn dặm, với toàn bộ năng lực của mình, cố gắng hết sức, để từ bi chúng sinh hữu duyên thôi!


### 12. Trung ấm bay lượn


Trong danh từ Phật giáo, trung ấm và trung hữu là để chỉ linh hồn theo cách gọi của người thế tục. 
Có thể nói thế này, thân xác của con người đã chết rồi, linh hồn xuất hiện rồi, trong khoảng thời gian linh hồn chưa chuyển thế đầu thai, hoặc vãng sinh tịnh thổ thì đều gọi là thời kỳ trung ấm.

Có một lần tôi thiền định. 
Tôi nhìn thấy Nam bộ Đài Loan ở bên ngoài xa nghìn dặm có một đệ tử Chân Phật, vì thất bại mà sinh ra tâm chán đời. 
Anh ta uống một hơi tám viên thuốc ngủ. 
Anh được đưa đến bệnh viện đầu tiên, bệnh viện cho rằng đã chết rồi nên từ chối nhận. 
Lại đưa đến bệnh viện thứ hai.
Bác sĩ nói:
”Cho dù cứu sống anh ta thì gan, thận đã mất công năng rồi, cứu có ích gì không?”

🌟

Người tự sát này là Trịnh Quân (tên giả), lúc này đã xuất thân trung ấm, hiểu rằng mình đã chết rồi. 
Thân trung ấm bay lượn, rơi thẳng xuống địa ngục.
Khi trung ấm sắp rơi vào trong địa ngục thì cảm thấy có người vỗ vào vai mình. 
Anh ta quay đầu lại nhìn, không ngờ là Lư Sư Tôn:
”Lư Sư Tôn, sao thầy lại ở đây?”
Tôi nói:
”Trở về đi!”
Anh ta đáp:
”Con ghét thế gian, quyết định không trở về nữa.”
”Trước mặt là địa ngục đó.”
”Cho dù là địa ngục cũng muốn rơi vào địa ngục!”
”Anh trở về đi, anh muốn gì tôi sẽ cho anh cái đó, muốn địa vị cho địa vị, muốn hôn nhân tốt cho hôn nhân, muốn tiền bạc cho tiền bạc, tóm lại là anh quay về đi!”
”Không!”

Tôi nói Phật pháp với Trịnh Quân (tên giả). 
Trịnh Quân bịt tai không nghe.
Tôi tức giận, nói:
”Anh đúng là lôi thôi!”
Tôi túm lấy tai anh ta kéo đi, ném anh ta trở về dương gian.

🌟

Người tự sát này cuối cùng đã sống lại rồi.
Bác sĩ còn chưa rửa ruột, cho rằng chỉ là “hồi quang phản chiếu” mà thôi, không nghĩ là anh ta có thể sống được.
Nhưng thử máu và xét nghiệm báo cáo rằng tất cả bình thường.
Gan bình thường.
Thận bình thường.
Anh ta nói:
”Còn khỏe hơn cả trước khi tự sát!”
Bác sĩ cho rằng đúng là chuyện khó tưởng tượng không thể tưởng tượng nổi. 

Trịnh Quân này là một tiến sĩ.
Anh ta vốn là giáo sư Đại học. Là một phần tử trí thức cao cấp. Tôi từ xa nghìn dặm đã cứu mạng anh ta, đây là một việc có ý nghĩa lớn.

1. Chứng minh trung ấm (linh hồn) có tồn tại.

1. Chứng minh Lư Sư Tôn tôi không đâu là không có mặt.

1. Sau này anh ta sẽ là một đại sư xuất gia.

1. Anh ta là một đại tướng hoằng pháp, sau này anh ta sẽ gánh vác đại nghiệp của Như Lai.

Lành thay! Lành thay!


### 13. Ba cây thần


Có một lần tôi thiền định, từ xa nhìn thấy:
Trên một bãi đất rộng bằng phẳng chỉ mọc lên ba cái cây, lá của ba cái cây đó sum sê ken dày, khi gió thổi qua thì lá giống như cờ bay vậy.

Lúc này, ba cái cây dường như có linh tính, khi lá cây bay theo gió giống như chìa tay ra đón chào tôi. 

Tôi nhìn chăm chú vào ba cái cây, ba cái cây đó đều phóng ra linh quang vô hình, những vòng tròn ánh sáng đó lượn vòng với tốc độ rất nhanh. 

Lúc này ba cây thần nói:
”Đến chỗ tôi đây!”
Tôi hỏi:
”Mi ở chỗ nào?”
Cây thần nói:
”Thi đà lâm.” (nghĩa địa)
Tôi hỏi:
”Đi tới đó làm gì?”
Cây thần đáp:
”Có trân bảo cho ngài.”
Tôi đang định hỏi thêm thì bỗng nhiên im bặt không dấu vết, tôi cũng đã xuất định rồi.

🌟

Trong khoảng thời gian đó, tôi đang truyền pháp Thời Luân Kim Cang chân thực kim cang quyết. Đàn thành kim cang quyết [cọc kim cang] này, khi bố đàn phải lấy năm linh vật lớn, năm linh vật lớn này đều ở trong thi đà lâm. 
Màu trắng — tro xương người.
Màu đỏ — gạch ở nghĩa địa.
Màu lục — lá cây ở nghĩa địa.
Màu vàng — nhựa cây ở nghĩa địa.
Màu đen — than củi ở nghĩa địa.
(Những thứ này dùng để chế tạo đàn thành.)

Năm xưa khi Liên Hoa Sinh Đại Sĩ tu hành, ngài sống ở trong thi đà lâm, dùng thi thể làm pháp tọa, mặc áo của thi thể (vải quấn xác) làm quần áo, ăn thức ăn cúng cho người chết, trên mặt bôi đầy tro của xác chết, dùng xương sườn của người chết xuyên qua ba cái đầu lâu để làm gậy chống đi lại. 
Đây là phương pháp tu hành của người Ấn Độ cổ đại.

🌟

Tôi nói với Trần Hiểu Phong:
”Đi đến thi đà lâm (nghĩa địa), tìm những thứ này về.”
Trần Hiểu Phong đi rồi.
Anh ấy tìm đến một khu mộ lớn, đất của khu mộ cực kì bằng phẳng.
Toàn bộ khu mộ lớn chỉ có ba cái cây, Trần Hiểu Phong cho rằng tôi muốn anh ấy lấy nhựa cây hoặc lá cây. 
Anh ấy nhặt lá cây.
Lá cây rơi xuống đất.
Anh ấy cúi người xuống, vừa nhìn thì mắt sáng lên, hóa ra trên mặt đất có một đống hạt xá lợi.
Hạt xá lợi tròn xoe, không lớn không nhỏ, có tới mấy trăm hạt.
Anh ấy nhặt hết số hạt đó đem về cho tôi.
Tôi hỏi:
”Khu mộ có mấy cái cây?”
Đáp:
”Ba cây.”
Tôi hỏi:
”Làm sao mà có được những hạt xá lợi này?”
Đáp:
”Nhặt ở dưới cây.”

Đây quả thực là, nói thẳng ra là, thật là hy hữu kỳ lạ. Lại tương ứng rồi!


### 14. Gặp đạo sư và thượng sư


Trong thời gian tôi bế quan ẩn cư, Ấn Thuận đạo sư một trăm tuổi thì viên tịch, tôi cũng được thông báo.
Tôi nhanh chóng thông báo với Thượng sư Liên Triết - quyền trụ trì Đài Loan Lôi Tạng Tự, dẫn mọi người đi tham gia lễ tưởng niệm. 
Chân thành cảm tạ pháp sư Minh Thánh đã thu xếp để những đệ tử ngoài môn phái như chúng tôi cũng có thể biểu đạt đôi chút tâm ý. 

Sau khi tôi hết kỳ bế quan ẩn cư, tôi đi gặp sư phụ Mật giáo của tôi là Thubten Dhargye Thượng sư. Không ngờ là Thubten Dhargye Thượng sư đã bị bệnh nặng, nhờ Thubten Qigong thu xếp, tôi đã nhận được sự gia trì cuối cùng của Thượng sư. 

Ba ngày sau khi Thubten Dhargye Thượng sư gia trì cho tôi thì ngài đã nhập diệt viên tịch, hưởng thọ 75 tuổi. 

Bản thân tôi đích thân tham gia túc trực bên linh cữu trong lễ tưởng niệm thầy, tôi ngồi ở vị trí thủ tọa ở bên trái.

🌟

Có người hỏi tôi:
”Lư Sư Tôn, sau khi Ấn Thuận đạo sư viên tịch, ngài có huệ nhãn và thiên nhãn, ngài có từng gặp lại Ấn Thuận đạo sư không?”
Tôi đáp:
”Có.”
Hỏi:
”Đạo sư có quở trách ngài giống như khi còn sống không?”
Tôi thật lòng thật sự trả lời:
”Đạo sư Ấn Thuận lúc còn sống có tính cách nói sao làm vậy, nhưng lúc gặp tôi thì lại hòa nhã dễ gần.”
”Đã nói những gì?”
Tôi đáp:
”Không nói gì thì tốt hơn.”
”Vì sao không nói gì là tốt?”
Tôi đáp:
”Chỉ vì nói rồi lại dẫn đến sự hiểu lầm của nhiều đệ tử của đạo sư Ấn Thuận, cho nên không nói.”

Tôi đã gặp được đạo sư Ấn Thuận rồi.
Tôi nói: “…………………….”
Đạo sư nói: “………………………”
Tôi nhìn thấy đạo sư Ấn Thuận, đây là sự thị hiện thuận tiện của đạo sư, bởi vì “cái có tướng đều hư vọng”. 

🌟

Ngoài ra, khoảng một năm sau khi Thubten Dhargye Thượng sư viên tịch thì tôi mới gặp lại Thubten Dhargye Thượng sư. 
Tôi hỏi:
”Sư phụ làm sự nghiệp gì?”
Thượng sư đáp:
”Sự nghiệp đại thụ.”
”Thế nào là sự nghiệp đại thụ?”
Thubten Dhargye Thượng sư đáp:
”Bồ Tát của tôn giáo khác là đại thụ, Bồ Tát trên mặt đất là đại thụ, Bồ Tát trên bát địa là đại thụ, cho nên ta là Bồ Tát đại thụ.”
Tôi hỏi:
”Bồ Tát có được tự tại không?”
Thubten Dhargye Thượng sư đáp:
”Ta đắc bảo trụ tam muội, thân có tám mươi loại bảo vật, tại thế và xuất thế đều được tự tại.”
”Sư phụ có gì dạy bảo con không?”
Thubten Dhargye Thượng sư trả lời:
”Con hãy cố gắng hết sức để chúng sinh núi sông đại địa đều vì con mà cùng múa.”


### 15. Sỏi thận


Thận là một trong những cơ quan quan trọng của cơ thể người, người thường hay nói: “Tim, gan, tỳ, phổi, thận là ngũ tạng.”

Người Đài Loan gọi quả thận là “quả eo”, bởi vì vị trí của nó ở phần eo, hai bên mỗi bên một quả, màu sắc là màu đỏ nâu, hình dạng giống như hạt đậu tằm, bên ngoài lồi ra bên trong lõm vào. 
Tác dụng của quả thận là để lọc bỏ phế vật ở trong máu, khiến chúng trở thành nước tiểu để bài tiết ra ngoài. 

Rồi phía trên quả thận còn có tuyến thượng thận hình tam giác tròn hoặc hình bán nguyệt, màu vàng nâu, đều có liên hệ lớn đến sự ngon miệng, cơ bắp, nhiệt độ cơ thể và hô hấp. 

Tôi có hiểu biết nhiều về thận là vì:

1. Bố tôi năm xưa bị sỏi thận.

1. Bố tôi cuối đời phải chạy thận.

Còn nữa:
Có rất nhiều người tử vong đều do nguyên nhân là suy thận. Một trong bốn ngọn núi lớn của Phật giáo ở Đài Loan, căn bệnh mà pháp sư Thánh Nghiêm của Pháp Cổ Sơn đã mắc phải cũng chính là bệnh suy giảm chức năng thận. 
Pháp sư Thánh Nghiêm tự nói:
”Thận tôi có bệnh, mất một quả, chỉ còn lại một quả, hơn nữa chức năng cũng suy yếu, hai ngày phải chạy thận một lần.”
Pháp sư Thánh Nghiêm còn nói:
”Thận tôi có bệnh, nhưng tâm không bệnh.”
Lời nói này! Mạnh mẽ!

🌟

Tôi có một đệ tử là pháp sư Minh Nhất. 
Anh ấy ở Malaysia bị mắc sỏi thận, sau khi bệnh viện chụp X-quang, không ngờ sỏi thận đã to như quả trứng gà. 

Anh ấy hướng về hư không cầu nguyện. 
Còn tôi thì ở Seattle nước Mỹ, trong khi thiền định vào một đêm nọ, tôi tự cảm thấy tay mình đột nhiên dài ra. 
Không ngờ cánh tay kéo dài đến cả nghìn dặm, vạn dặm, vượt qua Thái Bình Dương, cánh tay này không phải là cánh tay thật, mà là cánh tay huyễn, đi vào trong quả thận của pháp sư Minh Nhất, rồi cứ thế moi, moi ra viên sỏi to bằng quả trứng gà.
Rồi cánh tay huyễn đó lại chảy ra cam lộ, trút vào trong thận, khiến pháp sư Minh Nhất thân tâm mát mẻ.

Sau đó:
Pháp sư Minh Nhất lại đến bệnh viện chụp X-quang, sỏi thận to bằng quả trứng gà không ngờ đã biến mất.
Bác sĩ không tin.
Nhưng hai bức ảnh chụp X-quang trước và sau có thể làm chứng.
Pháp sư Minh Nhất và bác sĩ đều thốt lên rằng bất khả tư nghì!

🌟

Tôi còn có một đệ tử họ Đường sống tại Australia, đệ tử này mắc bệnh thủng tim và thường xuyên bị đau tim.
Trăm thuốc không khỏi.
Bác sĩ đề nghị phẫu thuật.
Anh ta rất sợ hãi.
Thế là anh nỗ lực mỗi ngày tụng Chân Phật Kinh, Cao Vương Kinh và cực lực hướng về Lư Sư Tôn cầu cứu.

Một hôm anh mơ thấy Lư Sư Tôn đến, cầm một quả tim mới, đổi lấy quả tim cũ của anh. Trước khi đi, Sư Tôn còn dùng tay xoa mấy cái rồi mới đi. 
Sau khi đệ tử Đường tỉnh dậy thì cảm thấy ngực mình rất mát mẻ, không còn đau đớn nữa, tự biết là kỳ tích đã xuất hiện rồi.
Anh cũng đi chụp X-quang. 
Lỗ thủng ở tim đã biến mất.
Bệnh viện và bác sĩ đều không dám tin.
(Thật ra, bố tôi cũng có kỳ tích giống như vậy, ông ấy vốn phải ngồi xe lăn rất lâu, nhưng bỗng dưng lại có thể đứng dậy đi lại được, 84 tuổi mà lại có thể bước đi nhanh như bay.)


### 16. Ngôi sao lớn đã rụng


Có một hôm, tôi bỗng nhìn thấy một vị là ngôi sao lớn của giới tôn giáo đi về phía tôi. 
Ông ấy mang bộ mặt tươi cười, đưa ra bàn tay rất to nắm chặt lấy bàn tay nhỏ của tôi. Sau đó chúng tôi giống như là bạn cũ rất lâu không gặp, ôm chầm lấy nhau.

Vị ngôi sao lớn của giới tôn giáo này nói với tôi:
”Tôi phải đi rồi!”
Tôi lẩm bẩm:
”Ồ!” - Nói không ra lời.
Ông ấy nói:
”Tôi thật sự phải đi rồi!”
Trên khuôn mặt tôi không có sự đau buồn, cũng không có sự khuây khỏa, thậm chí tôi không rõ vì sao mặt tôi ngây ra, dường như chẳng có một chút tình cảm nào. 

Ngôi sao lớn của giới tôn giáo vẫy vẫy tay với tôi, khua khua tay, từ từ đi xa dần và biến mất không thấy nữa.
Trên thực tế, trong cuộc sống hiện thực.
Ông ấy là người lãnh đạo dòng chính của tôn giáo truyền thống.
Còn tôi thì bị liệt vào là tôn giáo phi truyền thống, tức là người hoa tiêu của tôn giáo mới trỗi dậy. 
Trên thực tế là cách nhau, là rất xa nhau, là đối lập. 
Mâu thuẫn, xung đột, đấu đá.
Là phân hóa và tổ hợp.
Nhưng khi ông ấy sắp đi, ấy thế mà lại xuất hiện trước mặt tôi, vẫy tay, ôm ấp thân mật như vậy!

🌟

Buổi tối hôm ấy, tôi nhìn hiện tượng trên bầu trời.
Nhìn thấy một ngôi sao băng cực lớn, là sao băng lớn cấp độ một, quét qua bầu trời đêm. Tôi cảm thán: “Ngôi sao lớn của giới tôn giáo đã rụng rồi! Ngôi sao lớn của giới tôn giáo đã rụng rồi! Ngôi sao lớn của giới tôn giáo cuối cùng đã rụng rồi!”
Ông ấy đã diễn xong cuộc đời này.
Cuối cùng là tan biến.
Đương nhiên tôi biết, ngôi sao lớn của giới tôn giáo sớm muộn đều phải rụng, những ngôi sao lớn của giới tôn giáo khác cũng sẽ theo bước chân ông ấy như thế, và chính tôi cũng như vậy chứ không khác gì. Mỗi người đóng một vai diễn, tuy rằng đều khác nhau, nhưng kết cục như nhau.
Vì thế, ngôi sao lớn rụng xuống.
Tôi không đau buồn, cũng không khuây khỏa. 
Không có cảm giác.
Dường như trên thế giới này, căn bản là chưa từng xảy ra chuyện như vậy. 

Thiền sư Tăng Mật và thiền sư Động Sơn cùng đi qua suối. 
Thiền sư Động Sơn nói:
”Đi cẩn thận, đừng bước nhầm chân!”
Thiền sư Tăng Mật nói:
”Nếu bước nhầm chân thì không qua được suối.”
Thiền sư Động Sơn hỏi:
”Nếu đi đúng thì sẽ thế nào?”
Thiền sư Tăng Mật đáp:
”Cùng trưởng lão bước qua nước.”
Công án Thiền tông này rất tự nhiên, tự nhiên đến mức một chút thiền vị cũng không có. Chẳng bằng tôi viết bài thơ “Ngôi sao lớn đã rụng”. 

Mọi người đoán thử xem, ngôi sao lớn này là ai? Ngôi sao lớn có dấu vết gì? 
Rồi xem, 50 năm sau, sẽ như thế nào?


### 17. Hoạt Phật thật và Hoạt Phật giả


Vào buổi tối ngày đầu tiên khi tôi có được thiên nhãn, tôi đã thật sự nhìn thấy Liên Hoa Đồng Tử của Tây phương tịnh thổ. 
”Anh chính là Liên Hoa Đồng Tử!”
Từ đó, Liên Hoa Đồng Tử này chính là niềm tin vĩnh viễn trong cuộc đời này của tôi, tôi đích thực đích xác là Liên Hoa Đồng Tử.
Có người phê bình:
”Nằm mơ!”
Tôi đáp:
”Nhìn thấy thật!”
Có người phê bình:
”Bệnh thần kinh!”
Tôi đáp:
”Tất cả đều cực kì bình thường.”
Có người phê bình:
”Nói khoác!”
Tôi đáp:
”Tôi thật sự không hề nói khoác.”

🌟

Đồng thời, trong sự tu hành của tôi, tôi đã có được huệ nhãn, đã quan sát nhân quả ba đời của mình, túc mệnh của mình, tôi thật sự đã hiểu rõ sự chuyển thế qua các đời của chính mình:
Đại Nhật Như Lai.
Phật Nhãn Phật Mẫu.
A Di Đà Phật.
Liên Hoa Đồng Tử.
Tôn giả Xá Lợi Phất, đại sư Không Hải, tôn giả Sư Tử Phấn Tấn, v.v…
Tôi từng có một đời chuyển thế ở Tây Tạng, là một vị tổ sư của Mật giáo Tây Tạng: Tổ sư Tsongkhapa.

Trong Phật giáo Tây Tạng, nhân vật đại diện cho Tsongkhapa đời thứ 100 là Ganden Tripa, đã đích thân đến Seattle nước Mỹ cùng cử hành pháp hội với tôi, lại còn tặng tôi áo bào Pháp Vương. 
Thế là đã có vấn đề.
Có đại Hoạt Phật nói:
”Không công nhận.”
Có đại Hoạt Phật nói:
”Không thừa nhận.”
Nguyên nhân ở đây rất đơn giản, nếu tôi là Tsongkhapa chuyển thế thì Hoạt Phật lớn nhỏ ở Tây Tạng đều trở thành đệ tử con cháu chắt của tôi, hết cháu này lại đến cháu khác…
Những Hoạt Phật kia chẳng phải là đều dẫm lên chân nhau sao!
Vì thế:
Hoạt Phật bọn họ đương nhiên không dám gật bừa, thật ra thử ngẫm nghĩ thì tôi thật sự cũng không hy vọng họ sẽ công nhận, họ mà công nhận thì mới là kì quái đó!
Nhưng cũng có nhiều vị Hoạt Phật đến quy y dưới môn của tôi, đây cũng là sự thật.

🌟

Ở trên thị trường có một cuốn sách tên là “Hoạt Phật thật giả”, đương nhiên là phê phán tôi là Hoạt Phật giả. 
Tôi tha thứ cho tác giả của cuốn sách này, bởi vì anh ta căn bản là một tiểu tử không biết mà tỏ ra là biết. 
Vô tri.
Nói bậy.
Ngu dốt.
Đáng thương.

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người, Liễu Minh Hòa Thượng, Đại Bảo Pháp Vương thứ 16, Sakya Chứng Không Thượng Sư, Thubten Dhargye Thượng Sư, v.v… họ là sư phụ nhân gian của tôi, họ đều từng ấn chứng cho tôi:
”Lai lịch của Lư Sư Tôn quá bất phàm! Đã chẳng người nào có thể ấn chứng được.”

🌟

Ngày 25 tháng 2 năm 2008, đệ tử của tôi là sư tỉ Tạ Minh Phương mang thư của Sư Công Thubten Dhargye Thượng Sư đến cho tôi. 
Bức thư này viết vào ngày 13 tháng 1 năm 1999. 
Đại ý trong thư là:
”Không người nào có thể ấn chứng Lư Sư Tôn.
Chỉ có chính tôi có chứng cứ có thể ấn chứng Lư Sư Tôn là người chuyển thế lại đến.”
Tôi là Hoạt Phật thật sao?
Tôi là Hoạt Phật giả sao?
Bạn nói xem?
(Đính kèm bức thư gốc.)


![image](/img/img_bb55a6ab01162673cca4a0b9301344ad.png)



### 18. Linh thần to lớn


Trên một ngọn núi cao ở ngoài xa nghìn dặm có một vị linh thần khổng lồ, ngôi miếu mà ông ấy sống là Miếu Linh Quan. 

Ngôi miếu này hương hỏa hưng thịnh, tín chúng rất đông, tương truyền là cực kì linh cảm, pháp lực hiển hách.
Cũng không biết chuyện gì, nhưng vị linh thần to lớn này bỗng nhiên nghe đồn thấy tiếng tăm của Lư Sư Tôn đã độ chúng sinh đến năm triệu người, thần nhân đều quy y. 
Trong lòng ông ta không phục.
Linh thần to lớn này tự cho rằng mình pháp lực cao cường, độ chúng sinh vô số. Sao có thể thua một Lư Thắng Ngạn được.
Thế là linh thần to lớn bèn dẫm lên gió thần, một luồng gió thổi thẳng đến Seattle nước Mỹ. 

Linh thần to lớn nhìn trộm cuộc sống của tôi:
Tôi ăn cơm ở chùa.
Mặc trang phục Lama.
Sống ở Nam Sơn Nhã Xá.
Hàng ngày lái xe từ Nam Sơn Nhã Xá đến Lôi Tạng Tự. 
Linh thần to lớn quan sát cuộc sống của tôi trong một tuần, chẳng thấy có thay đổi gì lớn, thấy tôi ngày ngày viết sách, ngày ngày tu pháp, việc này cũng chẳng có gì.
Linh thần to lớn thấy tôi:
Vóc dáng thấp lùn.
Tướng mạo cũng chẳng ra làm sao. Trông ngờ nghệch ngốc nghếch.
Có đôi chút già nua.
Thế là khịt mũi coi thường.
Linh thần to lớn đã dùng một chút thần thông nhỏ để di chuyển chìa khóa xe ô tô của tôi đến chỗ mà tôi không tìm thấy được. 
Tôi lục tung mọi thứ, tìm đông tìm tây, túi quần túi áo, tìm cả trong thùng rác. Cuối cùng lại nhìn thấy chìa khóa ở trên nóc xe ô tô. 
Tôi chưa bao giờ có cái kiểu để chìa khóa trên nóc xe ô tô. 
Linh thần to lớn thấy tôi cuống cả lên thì cười vang ha ha.

Còn nữa:
Linh thần to lớn lại làm pháp nhỏ khiến tôi bị tiêu chảy, nhìn tôi cứ một tiếng đồng hồ lại phải đi ngồi toilet một lần. 
Linh thần to lớn này vui mừng khôn xiết.
Linh thần to lớn này cho rằng tôi cũng chỉ thường thôi, chẳng qua người ta nói quá lên, chẳng có cái gì cả, nên muốn rời đi.
Linh thần to lớn lại dẫm lên gió thần, định bay về Miếu Linh Quan ở ngoài xa nghìn dặm. 


Chuyện lạ đã xảy ra rồi!
Gió thần này bay được nghìn dặm, trở về Miếu Linh Quan thì thấy bên ngoài miếu có sợi thừng kim cang quấn thành vòng tròn ánh sáng, không thể đi vào được, là thần của nhà mình mà lại không vào được miếu nhà mình. 
Linh thần to lớn làm pháp không linh. Có cởi thế nào cũng không thể cởi được thừng kim cang. Ông ta nổi cơn tam bành.

Lúc này cửa miếu mở ra thì nhìn thấy Lư Thắng Ngạn Sư Tôn ngồi ngay ngắn chỉnh tề trên bàn thờ. 
Đỉnh đầu phóng tam quang: Phật quang, linh quang, bạch quang.
Tôi nói:
”Ông đã đến nhà tôi, thế thì tôi cũng đến nhà ông.”
Linh thần to lớn hỏi:
”Thế ông ở trong nhà của ông thì sao?” - Linh thần to lớn nghi ngờ.
Tôi đáp:
”Xác phàm.”
Linh thần to lớn hỏi:
”Thế còn ông bây giờ?”
Tôi đáp:
”Huyễn thân.”

Linh thần to lớn nhìn thấy tôi hóa thành “kim thân trượng sáu”, “ba mươi hai tướng”, “báo thân trang nghiêm” thì sợ đến mức quỳ xuống đảnh lễ quy y.
Linh thần to lớn sống ở núi Hoa Đào, huyện Phù Lương, tỉnh Giang Tây. Đây là một sự việc có thật!


### 19. Tám triệu biến Thượng sư tâm chú


Đài Loan có một đệ tử là Trần Nhân Hòa từng nghe Sư Tôn nói chỉ cần niệm Căn bản Thượng sư tâm chú đạt tám triệu biến thì có thể vãng sinh Tây phương Cực Lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì, tuyệt đối không nói dối.
Trần Nhân Hòa tin tưởng sâu sắc không nghi ngờ.
Trần Nhân Hòa vốn là một người thật thà, ngày ngày suốt ngày đêm không có lúc nào không thành tâm niệm một câu: 
”Om guru liansheng siddhi hum.”

Trần Nhân Hòa không giống như một số tín chúng hôm nay tu vị này, ngày mai tu vị kia, ngày mốt lại tu một vị khác. 
Phật pháp tám vạn bốn nghìn môn, ngày ngày đổi tới đổi lui.
Trần Nhân Hòa chỉ biết một câu: 
”Om guru liansheng siddhi hum.”

Từng có người hỏi tôi:
”Tu nhiều vị thì tốt hay là tu một vị thì tốt?”
Tôi đáp:
”Đều tốt.”
”Vì sao?”
Tôi đáp:
”Tu nhiều vị thì kết duyên nhiều, tu một vị thì dễ chuyên nhất. Tôi hy vọng đệ tử Chân Phật chí ít là một Thượng sư, một Bổn tôn, một Hộ pháp, tu trì như vậy thì càng viên mãn.”

🌟

Khi Trần Nhân Hòa niệm đủ tám triệu biến Thượng sư tâm chú, quả nhiên xảy ra kỳ tích:
1. Anh ấy tự nhìn thấy mình đến Tây phương Cực Lạc thế giới, ở trong Ma Ha Song Liên Trì, tắm trong nước tám loại công đức, tất cả nghiệp chướng đều được thanh trừ sạch sẽ.
2. Anh ấy nhìn thấy hoa sen lớn, trên hoa sen có Liên Hoa Đồng Tử các màu sắc đứng ở trên, trang nghiêm thù thắng, quang huy xán lạn. Anh ấy nhìn thấy tiểu Liên Hoa Đồng Tử mỗi vị đều phóng quang, số lượng vô tận, không thể đếm, không thể nói.

Trần Nhân Hòa cuối cùng đã tự mình chứng tịnh thổ Liên  Hoa Đồng Tử là sự thật đích thực, thật sự không giả.
Trần Nhân Hòa còn ở trong mơ nhìn thấy Lư Sư Tôn nhập mộng, dạy anh về “một hợp tướng”. 
Thế nào là “một hợp tướng”?
”Thế giới là do tất cả vi trần tập hợp lại, và thế giới là một hợp tướng. Một hợp tướng là do các duyên hòa hợp lại, gom các thứ vi tế lại mà thành sắc, hợp ngũ uẩn mà thành con người, là một hợp tướng.”
Tôi nói:
”Tất cả pháp tức là tất cả trí.”
”Tất cả pháp tức là một trí.”
”Hiểu mọi tướng, vì thế gọi là tất cả các loại trí.”
”Người có đủ tất cả trí, là Phật.”

Tôi nói:
”Tất cả chúng sinh đều có Phật tính, hạng người nhất-xiển-đề tuy phỉ báng kinh Phương Đẳng, gây năm nghịch tội, phạm bốn trọng cấm. Nhưng sau cùng chắc chắn sẽ thành đạo bồ đề. Hạng người Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán, Bích Chi Phật, Bồ Tát, chắc chắn sẽ thành tựu A nậu đa la tam miểu tam bồ đề.”
Tôi nói:
Ngũ dục và Ngũ Phật là một hợp tướng.
Tham sân si và giới định huệ là một hợp tướng.
Không và lạc và một hợp tướng.
Tâm và khí là một hợp tướng.
Luân hồi và niết bàn là một hợp tướng.
Sinh khởi và viên mãn là một hợp tướng.
Vân vân và vân vân.
Nếu có thể hiểu được “một hợp tướng” cũng tức là khai ngộ. Trần Nhân Hòa, khai ngộ rồi!


### 20. Bỗng dưng muốn nhìn xem


Lúc tuổi trẻ lông bông, tôi có mấy người bạn gái, nhưng có người thật sự là khắc cốt ghi tâm, có người thì chỉ lướt qua nhạt nhẽo như nước, nhưng tóm lại, tất cả đều đã qua rồi.
Có một ngày chẳng hiểu ra làm sao, tôi bỗng dưng nghĩ đến bây giờ không biết họ như thế nào rồi. 
Ví dụ:
Thuần Thuần.
Tân Tân.
Tú Tú.
Vân Vân.
……

Tôi nghĩ, sao không nhờ sức mạnh thần thông của việc tu hành của mình mà đi xem Thuần Thuần bây giờ thế nào. 
*Còn nhớ năm xưa tuổi còn nhỏ
Tôi thích tán gẫu em thích cười
Chơi trò nhảy dây cười ầm ĩ
Trong tim cảm thấy thật diệu kỳ.*


Thuần Thuần mặt tròn như quả táo, da trắng ửng hồng, mái tóc dài suôn mượt, áo trắng váy đen, khí chất thanh lịch, đôi mắt to tròn, tôi không thể hiểu được vì sao tôi lại thích cô ấy. 
Tôi nhớ là cô ấy nhỏ hơn tôi hai tuổi.
Năm nay tôi 64 tuổi.
Cô ấy chắc cũng 62 tuổi rồi!

🌟

Tôi nhập thiền định.
Đầu tiên, người mà tôi nhìn thấy không ngờ không phải Thuần Thuần, mà là chồng của bà ấy. Chồng của bà ấy để râu cá trê, khuôn mặt rất quen thuộc, là khuôn mặt thường xuất hiện trên tivi. 
Thì ra bà ấy đã lấy một nghị viên nổi tiếng.
Ông nghị viên này cũng xem như là một người nổi tiếng, thế thì Thuần Thuần đã là nghị viên phu nhân rồi.

Sau đó, tôi lại nhìn thấy Thuần Thuần, tôi thật sự không nhận ra bà ấy nữa. Thuần Thuần của tuổi 60, mặt tròn đẫy đà, không chỉ tròn mà còn béo nữa, hơi giống thị trưởng Cao Hùng Trần Cúc, tóc cũng giống, vóc dáng cũng giống. 
Nhưng so với Trần Cúc thì Thuần Thuần đẹp hơn một chút, bởi vì Thuần Thuần có ngũ quan cân đối, không giống như Trần Cúc lông mày thưa, mắt không đẹp. 

Tôi lại nhìn thấy Thuần Thuần bán một mảnh đất, kiếm được 8 tỷ Đài tệ. Tôi nhảy dựng lên, thì ra Thuần Thuần giàu có như vậy.
Bà ấy lấy một nghị viên nổi tiếng.
Giá trị con người cả tỷ đồng.
Có tiền có tên tuổi.
Tôi mừng cho bà ấy!

🌟

Tôi muốn nhìn thử cảnh giới tu hành tâm linh của Thuần Thuần. 
Nhưng, hoàn toàn không có.
Tôi đã thất vọng.
Bởi vì bà ấy hầu như chỉ giao thiệp trong những vòng tròn cuộc sống của quý phu nhân, ngoài điều này ra, về phương diện tâm linh thì chỉ là con số 0. 
Tôi chỉ có thể ở trong thiền định hét lên với bà ấy:
”Thuần Thuần! Nhớ phải tu hành! Nếu còn không tu thì sắp không kịp nữa rồi!”
Tôi không biết bà ấy có thức tỉnh không, hy vọng bà ấy mau thức tỉnh. 
Danh tiếng là mộng huyễn, tiền bạc là mộng huyễn, tất cả đều là “vô sở đắc”, 60 tuổi rồi, khi nào tỉnh mộng đây?
”Thuần Thuần! Phải tu hành thôi!”


### 21. Bạch Không Hành Mẫu hạ giáng


Buổi tối ngày 1 tháng 3 năm 2008, tôi cầu nguyện Hộ pháp  Kim cang của tôi là Đại Uy Đức Vô Úy Kim Cang.
Tôi niệm tâm chú căn bản:
”Ôm ya-ma-ta-ka hùm pây.” 
Sau cùng tôi niệm Đại Uy Đức Kim Cang sự nghiệp chú:
”Ôm xiu-ni ta.”
Cuối cùng tôi đi ngủ.

Ở trong mộng huyễn, tôi nhìn thấy Bạch Không Hành Mẫu dần dần từ trong hư không giáng xuống. 
Bạch Không Hành Mẫu quả nhiên là trắng ngần.
Là thiếu nữ khoảng 16 tuổi.
Ngũ quan xinh đẹp tuyệt thế.
Tay phải kết ấn thí nguyện, tay trái kết ấn cầm hoa, cầm bông hoa upala, lòng bàn tay và lòng bàn chân đều có một con mắt.
Tóc buộc sau lưng, hai bên buông xuống một lọn tóc, thần thái phấn chấn.
Trang điểm bằng các loại chuỗi ngọc, thân mặc thiên y váy lụa.
Bạch Không Hành Mẫu giáng xuống chỉ trong sát-na đã lập tức đi vào trong tim tôi, hoàn toàn hợp nhất với tôi.
Khí thông với khí.
Mạch nối với mạch.
Điểm hợp với điểm.
Trong tim tôi tự sinh ra chú âm:
”Ôm gu-ru-ya sô-ha.”

🌟


Ở trong mộng huyễn, tôi hợp nhất với Bạch Không Hành Mẫu, đó đúng là một đàn tràng đại lạc như ý. Bạch Không Hành Mẫu từ tâm phóng ra ánh sáng ngũ sắc trắng vàng đỏ lam lục, lớp lớp buông xuống, tạo thành tấm màn kim cang. Bên ngoài tấm màn kim cang được phủ đầy hoa upala, ngoại ma không thể nhìn thấy. Tôi đắc được sự hợp nhất giữa đại lạc kiên cố và tính Không, có được thân kim cang, đắc bất sinh bất diệt.
Toàn thân tôi là cam lộ.
Quanh thân tôi là ánh sáng.
Tôi nhậm vận tự tại.
Tôi chắp tay kính lễ Bạch Độ Mẫu:
”Luân chuyển trong lục thú, cứu độ bát nạn chúng, phiền não đều giải thoát, Độ Mẫu xin kính lễ.”
Bạch Độ Mẫu nói với tôi:
”Nếu đệ tử Chân Phật muốn sinh về tịnh thổ thì dùng chữ “Tang” [Tam] màu trắng để triệu thỉnh ta.”


![image](/img/img_831e68fec6c9cc6fdaf54a6894821553.png)


“Ta ngồi trên đầu đệ tử Chân Phật, mạch nối liền mạch, đệ tử Chân Phật đóng lại tám lỗ, chỉ để lại thiên khiếu, dùng chữ Tang của tự tâm từ đỉnh đầu đi vào mạch của ta.”
”Bạch Độ Mẫu ta phi hành đến tịnh thổ của A Di Đà Phật, đệ tử này tự nhiên sẽ sinh ra ở tịnh thổ đó.”

Tôi nghe xong thì vui mừng, ca ngợi rằng:
*Phổ nguyện hữu tình
Thoát ly biển khổ
Mãi lìa cái chết
Đều chứng Phật địa
Chỉ mong từ bi
Thánh giả Độ Mẫu
Tâm như ý luân
Diệu quán giác chiếu
Bình đẳng che chở
Thành tựu chu toàn.*

🌟

Cuối cùng Lư Sư Tôn tôi đã hợp nhất với Bạch Độ Mẫu rồi, đó đúng là hợp thể là một. Trải nghiệm này khiến tôi thành tựu kiên cố, thành tựu bất hoại, thành tựu đại lực, đúng là đại thù thắng trong thù thắng. 
Tôi cúng dường Bạch Không Hành Mẫu “ba trắng”, “ba ngọt”. 
Khiến Bạch Không Hành Mẫu hết sức vui mừng.
(Tại Chân Phật Mật Uyển, chỗ ngồi của tôi, ngay bên phải, có một bức họa tướng Bạch Không Hành Mẫu.


### 22. Nghi vấn của Liên Hoa Nhất Bình


Ở Trung Quốc Đại Lục có một đệ tử Chân Phật là Liên Hoa Nhất Bình, hoằng dương Chân Phật Mật Pháp, độ người vô số.

Có một hôm. 
Liên Hoa Nhất Bình gặp một người bạn, Nhất Bình muốn độ anh ta quy y Chân Phật, người bạn của Nhất Bình hỏi ngược lại:
”Vì sao Lư Sư Tôn của các anh phải tự xưng là Phật Đà? Tự xưng là A Di Đà Phật? Tự xưng là Hoa Quang Tự Tại Phật? Tự xưng là Liên Hoa Đồng Tử? Tự xưng là Hỷ Kim Cang?” 
Liên Hoa Nhất Bình nhất thời không trả lời được.
Vì thế, Liên Hoa Nhất Bình viết một bức thư, thư bay qua nghìn dặm, để hỏi về vấn đề này. 
Còn hỏi:
”Trong nghìn vị Phật ở Hiền kiếp có tên húy Lư Thắng Ngạn Phật không?”

🌟

Tôi dùng văn viết hiện đại trả lời ngắn gọn như sau:
Phật Đà — không phải chỉ một người, mà là phiếm chỉ người thành tựu giác ngộ tột cùng thì đều xưng là Phật Đà. Như Thích Ca Mâu Ni Phật Đà, Ca Diếp Phật Đà, Nhiên Đăng Phật Đà, chính là những bậc thành tựu.
A Di Đà Phật — không phải chỉ một người, mà là tất cả ba mươi sáu vạn tỉ, mười một vạn chín nghìn năm trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. Thành tựu quả vị A Di Đà Phật đều xưng là A Di Đà Phật.
Hoa Quang Tự Tại Phật — là Phật hiệu thành Phật của Xá Lợi Phất - đại đệ tử của Thích Ca Phật Đà, tôi là Xá Lợi Phất chuyển thế, cho nên có thể tự xưng là Hoa Quang Tự Tại Phật Đà.
(Xá Lợi Phất và A Di Đà Phật có nhân duyên rất sâu, có thể tìm được manh mối trong kinh A Di Đà.)
Liên Hoa Đồng Tử — bản địa của Liên Hoa Đồng Tử cũng chính là A Di Đà Phật.
Hỷ Kim Cang — tôi đã viết cuốn sách “Giảng nghĩa Hỷ Kim Cang”, tôi thành tựu Hỷ Kim Cang, vì thế tự xưng là Hỷ Kim Cang.

Thế còn câu hỏi thứ hai:
”Trong nghìn vị Phật ở Hiền kiếp có tên húy Lư Thắng Ngạn Phật không?”
Tôi dùng văn viết hiện đại trả lời ngắn gọn như sau:
Cái này là chỉ kinh Nghìn Phật Danh, vốn có quá khứ Trang nghiêm kiếp thiên Phật, hiện tại Hiền kiếp thiên Phật, vị lai Tinh tú kiếp thiên Phật.
Ba chữ Lư Thắng Ngạn là tục danh mà cha mẹ đặt cho, tên tục thì đương nhiên không phải là tên Phật.

Tôi quy y sư phụ, sư phụ cũng đặt pháp hiệu cho tôi, ví dụ: Huệ Ngạn, Đạo Ngạn, Viên Trì, Liên Sinh, Thubten Qimo, Sakya Gongma, Karma Trekcho, Pháp Cự…
Những tên này cũng đương nhiên không phải là tên Phật.
Nhưng Thích Ca Mâu Ni Phật thọ ký cho tôi hai tên Phật:
1. Đại Quang Tự Tại Phật.
2. Hoa Quang Tự Tại Phật.
Tôi bỏ tên trước, lấy tên sau, đây chính là tên Phật.
(Hoa Quang Tự Tại Phật có thể có hay không?)

🌟

Bây giờ tôi dùng phương pháp “thiền học”, chỉ dẫn cho Liên Hoa Nhất Bình làm sao trả lời câu hỏi của người bạn.
Anh đưa bạn mình đi vào trong rừng trúc. 
Anh hỏi bạn anh:
”Vì sao cây trúc này mọc cao? Vì sao cây trúc này mọc thấp?”
Rồi lại hỏi bạn anh:
”Cây trúc mọc cao gọi là gì? Cây trúc mọc thấp gọi là gì?”
Quả nhiên người bạn của anh vẫn hỏi:
”Trong Hiền kiếp thiên Phật, có tên húy Lư Thắng Ngạn không? Hay là Phật gì? Phật gì? Kim Cang gì? Đồng Tử gì?”
Liên Hoa Nhất Bình, anh có thể giơ bàn tay ra, tát cho anh ta một cái ra trò, hỏi anh ta đã tỉnh hay chưa?


### 23. Hội thi lớn


Tôi thần hành đến một cõi trời.
Cõi trời này chính là Di Lặc Nội Viện ở Đâu Suất Thiên, tức là tịnh thổ của Di Lặc Bồ Tát - vị “Đại Quyền Phật” vị lai. Di  Lặc Bồ Tát hiển hiện với quang sắc chói lòa, đội mũ miện, toàn thân đeo chuỗi ngọc, thiên y váy xếp, ống tay áo bay bay, ngồi đó bốn bề yên tĩnh.
Diện mạo của Di Lặc Bồ Tát rất đặc trưng, da nhẵn mắt nhỏ, mũi thẳng miệng vuông, tai rủ xuống, cân đối đoan trang.
Không giống như Phật Di Lặc của Trung Quốc mặt to bụng to.
Mà giống Phật Di Lặc của Tạng mật.
Di Lặc thấy tôi đến thì đón tôi ngồi bên cạnh ngài.

Ở trước mặt Di Lặc có nghìn nghìn vạn vạn Thanh Văn, Duyên Giác, Bổ Vị Bồ Tát. 
Đang có hội thi lớn.
Tôi hỏi:
”Thi cái gì?”
Di Lặc Bồ Tát đáp:
”Chân như.”
”Thi chân như, cái này thật mới mẻ, không biết các Phật tử làm sao trả lời được?”
Chỉ thấy nghìn nghìn vạn vạn Thanh Văn, Duyên Giác, Bổ Vị Bồ Tát, ai nấy cúi đầu viết lách, những tiếng sột soạt, không lâu sau có người nộp lên bài thi. 
Lại không lâu sau, bài thi đều được nộp lên hết.

🌟

Di Lặc Bồ Tát và tôi cùng chấm bài thi.
Chấm bài thi đều dùng huệ nhãn, đáp án có:
”Tiền tam tam, hậu tam tam.”
”Đốt lửa song chẳng dùng.”
”Vừa điếc vừa câm.”
”Một địa không thấy hai địa.”
”Chân như không một pháp, không Phật có thể thành, không Phật có thể đắc, không Phật có thể giữ, không Phật có thể bỏ.”
”Không giả cũng không thật.”
”Hư không treo cây kim.”
”Bắn hết chín con quạ.”
”Trên đá không mọc cây.”
”Một già một không già.”
”Chưa bao giờ quen biết.”
”Diễn xuất đại tạng giáo.”
”Hư không chưa từng hư hoại.”
”Khắp trời khắp đất.”
”Không ra vẻ, chẳng nhân ngã.”

Tôi đọc xong, hết sức kinh ngạc, thì ra những Phật tử này mỗi người đều là hành giả hạng nhất, kiến giải của họ đều có chỗ độc đáo riêng, mỗi người đều là thầy của trời người.
Chỉ thấy Di Lặc Bồ Tát ung dung điềm tĩnh, thế rồi rút ra một bài thi, bài thi này là một tờ giấy trắng, bên trong không có một chữ nào, không có một chấm mực.
Di Lặc nói:
”Đây là người đứng đầu.”
”Không nói một chữ nào mà là người đứng đầu?” - Tôi hỏi.
Di Lặc nói:
”Người này là hành giả Như Nột, anh ấy đã viết đầy toàn bộ rồi, vì thế không một chữ, là người đứng đầu.”
”Hành giả Như Nột viết cái gì?”
Di Lặc nói:
”Tam Tạng Thập Nhị Bộ đều ở trong bài thi, mà Tam Tạng Thập Nhị Bộ tức là không một chữ, vì thế là người đứng đầu.” (Tam Tạng bao gồm Tiểu thừa Tam Tạng, Đại thừa Tam Tạng, Mật giáo Tam Tạng.)


### 24. Nhìn thấy hai vị ôn thần


Có một hôm, tôi dùng thiên nhãn để quan sát thiên tượng.
Tôi nhìn thấy hai sát tinh xoay tròn rơi xuống, hai sát tinh này trong thiên nhãn của tôi đã trở thành hai vị ôn thần. Hai vị này đều có ba mắt, một vị mặt xanh sẫm, một vị mặt màu đỏ thẫm, đều có tóc đỏ và răng nanh, vô cùng hung ác, hơn nữa hai vị ôn thần đều ba đầu sáu tay.

Tôi nhận ra tên húy của hai vị:
Thấu Tâm Hàn. 
Giải Cốt Tô.
Hai vị ôn thần này rất lợi hại, chỉ cần người hay súc vật gặp phải, người thì trầm cảm, người thì loãng xương, hơn nữa một truyền mười, mười truyền trăm, trăm truyền nghìn nghìn vạn vạn. 
Còn lợi hại hơn cả SARS.
Còn hung hãn hơn cả AIDS.

Tôi nghĩ, SARS đã bị tôi thu về, giao cho Diêu Trì Kim Mẫu rồi. Duy có AIDS vẫn còn ở nhân gian, chỉ vì AIDS là do tàn tích của nhân loại hóa ra, là nghiệp chướng của nhân loại, trong sát-na không dễ trừ bỏ tận gốc.
Cúm gia cầm.
Tay chân miệng.
Bệnh bò điên.
Bệnh thương hàn.
Bệnh dịch tả.
Bệnh sốt rét.
v.v… 
Đều nằm trong sự kiểm soát.

Nhưng hai vị ôn thần này lại không phải hạng xoàng, xem ra tai họa của nhân gian sẽ không thể tránh khỏi. Khi đến lúc, điều không thể tránh khỏi sẽ lại là một đại họa ập xuống, kêu cha kêu mẹ.
Tôi nhớ đến một bài thơ:
Ma quỷ dịch bệnh là ác tà
Diệt hết nhân gian chẳng buông tha
Hắc tinh ác sát không dễ phá
Ai gặp ớn lạnh xương rã tan
Phút chốc nhà nhà đều xóa sổ
Thoáng chốc người người đều đi xa
Giờ đây chỉ có Liên Sinh cứu
Lại lên Diêu Trì thỉnh Tiên trừ.

🌟

Tôi dùng thiên nhãn nhìn thấy hai vị ôn thần giáng xuống nhân gian, tôi không biết liệu những người có thiên nhãn cũng có nhìn thấy kiểu trời giáng dị tượng này không. Nhưng tôi đã nhìn thấy thì tôi phải đi cứu rồi, đây là việc đáng làm thì phải làm thôi.
Muốn cứu dịch bệnh.
Chỉ có Tiên Vương Diêu Trì Kim Mẫu mà thôi.
Bởi vì Diêu Trì Kim Mẫu vốn chính là lão tổ tông của Ngũ Lộ Ôn Thần, nếu tôi đi cầu Kim Mẫu, sẽ chẳng có cái lý là Kim Mẫu không cho phép, đến lúc đó ngài đều sẽ gặp tôi.
Đáng tiếc là:
Người thế tục không có thiên nhãn.
Người thế tục không cách nào nhìn được thiên tượng.
Người thế tục không chỉ như vậy, còn cho rằng tôi nói chuyện hoang đường đó! Càng nực cười hơn là, Diêu Trì Kim Mẫu thu bệnh SARS về, người thế tục cũng không biết.
Đã coi một vị Tiên Vương Diêu Trì Kim Mẫu thành tà ma ngoại đạo để mà “ném đá”. 
Nhân gian, người thật sự hiểu rõ thì ít.
Nhân gian, người chướng khí mù mịt quá nhiều, vì thế dịch bệnh mới thịnh hành.

Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử là tôi đây chỉ có thể ở nhân gian này làm trụ cột vững chắc.

Viết một bài thơ:

*Sen trắng trong tim là chính kiến.
Cần biết Cực Lạc ở Tây phương.
Tu Mật pháp tôi sinh may mắn.
Thành tựu Phật quả mở rộng đường.*


### 25. Biện Tài Thiên Nữ


Có một người phụ nữ sống tại Narita Nhật Bản tên là Chika Kuta, cô ấy từ Nhật Bản bay đến Lôi Tạng Tự ở Seattle nước Mỹ tham gia pháp hội một năm hai lần do tôi chủ trì. 

Cô ấy xếp hàng trong đám tín chúng, quỳ xuống nhận sờ đầu gia trì mà tôi dành cho tín chúng. 
Chika Kuta không nói nhiều lời, giữ sự kín đáo, không nhiều người quen biết cô ấy. 
Chika Kuta là chị gái của Shu Anna. 
Khi tôi lần lượt sờ đầu, đột nhiên phát hiện ra đỉnh đầu của Chika Kuta có ánh sáng. 
Tịnh quang này có ẩn chứa năng lực biện luận.
Tịnh quang ẩn chứa tài văn chương.
Tôi cảm thấy Chika Kuta là người có lai lịch, nhưng lần đầu tiên tôi không nói thẳng ra.

🌟

Lại có một năm, Chika Kuta lại đến tham gia pháp hội của tôi, cô ấy quỳ ở bên cạnh cửa chùa, đầu cúi thấp, tôi đặc biệt sờ đầu cho cô ấy hai lần, tôi lại nhìn thấy ánh sáng trên đầu cô ấy. 

Tôi nói với Shu Anna: 
”Tìm chị của cô tới đây, tôi truyền cho cô ấy một câu chú.”
Shu Anna hỏi:
”Vì sao lại đặc biệt tìm chị ấy?”
Tôi nói:
”Cô ấy không tầm thường, pháp duyên sâu dày. Là một người có thể nhanh chóng tương ứng, cô ấy có nguồn gốc.”
Thế là Chika Kuta đã đến đàn thành hỏi việc của tôi.
Tôi nói:
”Trên đầu cô có ánh sáng.”
Chika Kuta nói:
”Chỉ là tín ngưỡng kiền thành.”
Tôi nói:
”Bản địa của cô là Biện Tài Thiên Nữ.”
Chika Kuta nói:
”Tôi không hiểu lắm.”
Tôi nói với cô ấy:
”Trở về trì chú của Biện Tài Thiên Nữ, trì chú Quan Âm, trì chú Kim Mẫu, trì chú Thượng sư. Bốn câu chú này có thể bền lòng trì tụng thì chắc chắn có tương ứng.”
Chika Kuta rất cảm tạ, cô ấy nói sau khi trở về Nhật Bản nhất định sẽ ngày ngày trì tụng bốn câu chú này.

🌟

Không lâu, khoảng hơn nửa năm.
Chika Kuta nói cho chúng tôi biết:
Không phải ngủ, chỉ là vừa nhắm mắt lại thì ánh sáng xán lạn cả một vùng, xuất hiện Quan Thế Âm Bồ Tát, Diêu Trì Kim Mẫu, Biện Tài Thiên Nữ, Lư Thắng Ngạn Sư Tôn.
Bốn vị đều vô cùng to lớn.
Diêu Trì Kim Mẫu dùng tay đỡ Chika Kuta, Chika Kuta dùng tay sờ vào mặt Kim Mẫu. 
Quan Âm Bồ Tát đỡ Chika Kuta, Chika Kuta dùng tay sờ vào tai Quan Âm. 
Bốn vị đều nói với cô.
Rồi Quan Âm Bồ Tát, Diêu Trì Kim Mẫu, Biện Tài Thiên Nữ, Lư Sư Tôn đều dùng ấn, ấn vào họng của cô ấy.
Chika Kuta hỏi: 
”Vì sao như vậy?”
Tôi đáp:
”Ấn chứng Biện Tài Thiên Nữ đó!”
(Biện Tài Thiên Nữ nói ra diệu âm, có bốn tài biện luận vô ngại, vì thế khi ấn chứng là ấn vào họng.)
Tôi nói:
”Chika Kuta đã đại tương ứng rồi!”


### 26. Truyền thụ pháp Cúng khói


Vào ngày 16 tháng 2 năm 2008 tại Seattle nước Mỹ, tôi chính thức truyền dạy pháp Cúng khói của Mật giáo. 

Bởi vì pháp Hộ Ma Hỏa cúng của Mật giáo hành giả thông thường có một mình thì không dễ làm, có đủ mọi nhân tố khách quan, sống nơi đô thị sẽ dẫn tới những phiền toái không cần thiết.
Vì thế, tôi truyền dạy pháp Cúng khói. 
Công cụ làm cúng khói gồm có:
Lư cúng khói.
Lư hương nằm.
Lư đàn hương. 
Sắt.
Vật liệu cúng khói:
Đồ ăn — bột mì, bột yến mạch, bột ngũ cốc, sữa bò, bơ, đường trắng đường đỏ.
Quần áo — vải vụn năm màu.
Nhà ở — nhà nhỏ gập bằng giấy. (hoặc hình vẽ)
Phương tiện — xe nhỏ gập bằng giấy. (hoặc hình vẽ)
Hương — bột đàn hương.
(Những thứ này trộn lại thành từng cục bột rồi đốt bằng mồi lửa hoặc que hương, có thể cháy thành khói mới đúng cách.)

Thời gian tu pháp:
Cúng Phật Bồ Tát vào buổi sáng từ 5 giờ đến 9 giờ.
Cúng oan thân trái chủ vào buổi chiều tối từ 5 giờ đến 9 giờ. 
Địa điểm tu pháp:
Cúng Phật Bồ Tát tại đàn thành. Chú ý không khí cần lưu thông.
Cúng oan thân trái chủ tại sân thượng, nếu không có sân thượng thì cũng có thể cúng trên bệ cửa sổ, nơi không khí lưu thông.

Mục đích chính của pháp Cúng khói là loại bỏ tất cả chướng ngại, khiến hành giả thân thể khỏe mạnh, sự nghiệp thuận lợi, mọi việc cát tường, vận rủi chuyển thành vận may, không còn tai nạn, tu pháp thành tựu.

Nghi quỹ pháp Cúng khói như sau:

Tông Ủy Hội ban bố nghi quỹ pháp Cúng khói.

Thỉnh cầu Căn bản Truyền thừa gia trì: Đầu tiên quán Không, sau đó quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật trụ ở đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì tâm chú Liên Hoa Đồng Tử 7 biến, cầu nguyện tu pháp viên mãn.

Tiếp theo, làm quán tưởng tứ vô lượng tâm. Làm thủ ấn đánh thức (vỗ tay hai lần, bắt chéo hay tai, búng ngón tay). 

1. Chú thanh tịnh.

2. Chú triệu thỉnh.

3. Đại lễ bái.

4. Đại cúng dường.

5. Tứ quy y.

6. Mặc bia giáp hộ thân.

7. Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (1 biến)

8. Chú Vãng sinh. (7 biến)

9. Niệm kệ Tứ vô lượng tâm.

Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.

10. Kết ấn và quán tưởng:


![image](/img/img_269bd49c60b65fb53c65306c9c6377b2.png)


Kết ấn: ấn chắp tay hoa sen. Đầu tiên hai tay chắp lại, sau đó mở ra như hoa sen nở, chỉ có hai ngón cái, hai ngón út chạm vào nhau. Giữ thủ ấn trước ngực. (Ấn này là ấn chung của tất cả Bồ Tát.)

Quán tưởng: Đầu tiên quán Không, niệm chú quán Không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn, trời trong vạn dặm không mây, nguyệt luân từ mặt biển nhô lên không trung, trong nguyệt luân có chủng tử chữ Seh màu trắng, chữ Seh phóng ánh sáng trắng.
(2) Chữ Seh trong nguyệt luân xoay tròn, hóa thành Quan Âm Tứ Thủ.
(3) Lại quán tưởng trong tim bạn phóng ra một chữ Hum màu lam, biến thành một cái móc, móc Quan Âm Tứ Thủ đến đỉnh đầu bạn, sau đó tiến vào hoa sen trong tim bạn, trong nháy mắt, chính bạn biến thành Quan Âm Tứ Thủ.

11. Trì tâm chú Bổn tôn Quan Thế Âm Bồ Tát. 
Làm quán tưởng chuỗi hạt: (Hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón tay cái để lần hạt.) Quán tưởng tay trái thành chuông kim cang, quán tưởng tay phải thành chày kim cang, quán tưởng hạt Phật đầu thành Đa Bảo Phật tháp, quán tưởng bốn hạt lớn hơn ở giữa thành Tứ Đại Thiên Vương, quán tưởng sợi tua rua thành liên hoa thủ (Phật thủ - bàn tay Phật), quán tưởng sợi dây xuyên chuỗi hạt thành vòng ánh trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa. Khi trì chú, mỗi khi lần một hạt thì đều quán tưởng thành một vị Quan Thế Âm Bồ Tát đến trước mặt mình.
Chú ngữ: Ôm ma-ni pat-mi hum. (108 biến)

12. Làm cúng khói và quán tưởng.
Trì chú: Ôm. Ah. Hùm. (21 biến)
Rang. Yang. Kang. (21 biến)
(Chữ Om chính là biến đàn cúng này thành to lớn như vũ trụ, chữ Ah là thanh tịnh mọi cúng phẩm, chữ Hum là gia tăng pháp vị, gia tăng diệu vị. Chữ Rang là lửa, lửa bốc lên. Chữ Yang là gió, lửa đốt lên thành khói, gặp gió thổi khói đi. Chữ Kang chính là đầy ắp cả hư không.)

Kết ấn: thủ ấn đại bàng Kim Sí Điểu, bay lên trên. (Biểu thị khói này bay đến mọi nơi trong vũ trụ, làm biến hóa.)


![image](/img/img_38c4e80dfb8e4db277b02e049c580a73.png)


Quán tưởng: khói tỏa ra từ các đồ vật đầy ắp hư không. Sau đó quán tưởng tất cả khói tỏa ra đều biến thành năm đồ cúng tuyệt diệu, biến thành y phục rất vi diệu, mọi đồ ăn uống, y phục, đồ dùng, tất cả nhà cửa, xe cộ, tủ lạnh, đồ điện, thất trân bát bảo đầy ắp cả hư không, tất cả đồ dùng trong quán tưởng của bạn đều xuất hiện. Đem khói sinh ra cúng dường cho tất cả quỷ thần chúng và oan thân trái chủ gây chướng ngại cho bạn, sau khi họ có được cúng dường này thì sẽ rời khỏi bạn.

Trì chú: “Ôm a-bu-la-ti pra-ya sô-ha.” Niệm 1 biến thì búng ngón tay 1 lần. (7 biến)

13. Nhập Tam ma địa. (tùy ý mỗi người)

(Xin đọc kĩ Cửu tiết Phật phong, quán Nhập ngã - Ngã nhập, quán đếm hơi thở trong Liên Hoa Đồng Tử tương ứng pháp.)

14. Trì thêm những tâm chú khác. 

15. Niệm Phật. (3 biến)

16. Hồi hướng.

Nếu cúng Phật Bồ Tát thì niệm: Năm món vi diệu mong cúng khói. Cúng chư Phật Bồ Tát Kim cang Hộ pháp Không hành chư thiên.

Nếu cúng oan thân trái chủ thì niệm: Cúng Thực Hương Thiên Vương Bất Đỗ Cát, Khẩn Na La Vương và quyến thuộc, Ngũ Kế Thực Hương Vương và quyến thuộc, Long Vương Long Nữ và quyến thuộc. Sơn Thần Thủy Thần thần sông biển. Hết thảy tất cả thân trung ấm. Cùng tất cả chúng sinh khổ não. 
Mong những điều họ mong muốn được viên mãn. Mong tất cả thân trung ấm vì sợ hãi đau khổ được giải thoát.
Mong Phật Đà viên mãn báo dụng thân. Mong mau hiện chứng chính giác vị. Dù chưa có lực cũng làm theo. Cũng bỏ hết mà sinh về cõi thiện. Nguyện hành trì vô thượng chính pháp. 
Mong đem sức mạnh công đức này tiêu trừ tất cả chướng ngại. Bốn đại khổ nạn như sóng lớn, mong cứu tất cả chúng sinh cõi Ta Bà. 
Nguyện người cùng niệm Phật, cùng sinh cõi Cực Lạc, trên báo bốn ơn sâu, dưới cứu ba đường khổ, thấy Phật thoát sinh tử, như Phật độ tất cả. Đệ tử ABC hôm nay theo đây làm hồi hướng, mong đem công đức tu pháp hồi hướng cho Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi chuyển pháp luân, Phật thể an khang. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Nguyện tất cả nguyện vọng mong cầu đều được viên mãn. Nguyện tất cả tai nạn đẩy lùi. Uân!

17. Niệm Bách tự minh chú. (3 biến)

18. Đại lễ bái.

19. Chú viên mãn.

Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pat-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.

Thời gian tu pháp: 
Cúng Phật Bồ Tát là vào buổi sáng 5 giờ đến 9 giờ, cúng oan thân trái chủ là vào chiều tối 5 giờ đến 9 giờ.


**Bột cúng khói phải có các nguyên liệu sau:**
1. Bột đàn hương.
2. Bột mì, đã rang chín, nhưng không bỏ dầu. Có thể cho thêm một chút sữa bột, bột gạo lứt, bột đậu phộng, bột đậu… tức là bột ngũ cốc.
3. Cúng phẩm đơn giản nhất là bột mì, bột yến mạch, bột gạo lứt, bơ, sữa tươi. Sữa và bơ đều bỏ một chút xíu là được, trộn chung với nhau, làm xong thì có thể đốt.
4. Trộn đường trắng và đường đỏ vào hỗn hợp.
5. Một miếng vải màu đỏ, một miếng vải màu trắng, một miếng vải màu lam, một miếng vải màu lục, một miếng vải màu vàng, cắt thành miếng hình vuông nhỏ. 
Chú ý: 
1. Dùng mồi lửa hoặc que hương để châm lửa.
2. Lư cúng khói có thể dùng bột cúng khói dạng bánh hình tròn, lư hương nằm có thể dùng bột cúng khói dạng que dài.

🌟

Cá nhân tôi cảm thấy pháp Cúng khói có lợi ích lớn. 
Thứ nhất, có thể tích tập công đức, cúng lửa công đức lớn, cúng khói công đức cũng không nhỏ.
Mật giáo coi trọng pháp cúng dường, ví dụ:
Hỏa cúng, hội cúng, thủy cúng, khói cúng, gạo cúng,…
Ngoại cúng, nội cúng, mật cúng, mật mật cúng.
Đây đều là pháp cúng dường.
Có thể tích tập đại công đức.
Thứ hai, tu pháp Cúng khói dùng Quan Âm Tứ Thủ làm chủ tôn, cũng giống như đang tu Quan Âm Tứ Thủ tương ứng pháp, chỉ cần tương ứng với Quan Âm Tứ Thủ rồi thì hà tất phải lo Phật Bồ Tát chư tôn không tương ứng, chỉ cần tương ứng với Quan Âm Tứ Thủ thì chắc chắn vãng sinh tịnh thổ.

🌟

Tôi có một đệ tử tên là Hàn Nhữ Oa, sau khi anh ta được quán đảnh pháp Cúng khói, trở về nhà tu một đàn pháp. 
Tu pháp này một cái liền nhìn thấy vô số nam nam nữ nữ mặc quần áo và trang sức lộng lẫy, lái xe sang tụ tập trong một tòa cung điện lớn. 
Trong cung điện có vô số món ăn ngon, những món ăn ngon và quý không ngừng được đưa ra, như tiên tương ngọc lộ.
Những vị khách quý này ai nấy đều vui mừng tận hưởng, biểu lộ vẻ mặt vô cùng hoan hỷ.
Nam nam nữ nữ giống như đang tham gia một bữa tiệc lớn của ngày hội, bữa tiệc này cực kì thành công.

Tôi viết một bài kệ:
*Cúng khói là pháp tiên
Năm món cúng diệu thiện
Mọi chướng ngại quỷ thần
Cháy lên hóa kỳ công.*


### 27. Trên đầu mọc khối u to


Có một người phụ nữ bế một đứa bé đến gặp tôi, đứa bé này khoảng ba tuổi, trên đầu có mọc một khối u to, khối u này to như quả trứng gà, tóc đứa bé đen sì nhưng khối u thì nhẵn bóng, không có lấy một sợi lông, nhô hẳn ra.
Người phụ nữ nói:
”Lư Sư Tôn, tôi đọc sách của Thầy, Thầy từng dùng tay sờ lên khối u của một đứa trẻ, rồi khối u của đứa trẻ đó chẳng bao lâu đã biến mất, đúng không?”
Tôi nói:
”Đúng vậy.”
Người phụ nữ rất vui mừng:
”Hôm nay tôi bế đứa bé này không quản đường xa đến đây gặp Thầy, xin Thầy cũng dùng tay sờ một chút để cho khối u to của đứa bé này cũng biến mất đi!”
Tôi nói:
”Điều này là không thể.”
Người phụ nữ hỏi:
”Trong sách của ngài đã viết, hơn nữa còn có ảnh làm chứng. Hôm nay vì sao lại không thể chứ?”
Tôi nói:
”Hai đứa trẻ khác nhau, hai khối u khác nhau, nhân quả của hai đứa khác nhau, vì thế không thể.”
Người phụ nữ hỏi:
”Đứa bé này có nhân quả gì?”
Tôi nói:
”Tôi nhìn thấy đời quá khứ của đứa bé này có một kiếp làm đầu sỏ lưu manh, hắn ức hiếp người lương thiện, phàm là người hắn nhìn không vừa mắt là đốt nóng đỏ một thanh sắt, sau đó liền in vào đầu của người ta, người bị in vào đầu kêu lên một tiếng thảm thiết rồi chết ngất, vĩnh viễn để lại sẹo trên đầu. Vì thế, đời này trên đầu đứa bé có mọc một khối u to, vĩnh viễn ở trên đầu, ngay cả tôi cũng không có cách nào khiến nó tiêu biến được.”

Người phụ nữ cũng tin nhân quả, người phụ nữ nói:
”Đã là bệnh nhân quả thì thật sự đây cũng là làm khó, nhưng tôi nghe người ta nói, Phật pháp vô biên, Phật giáo cũng từ bi, có thể có cách tiêu trừ oan nghiệt kiếp trước đúng không?”
Tôi nói:
”Tôi tôn sùng kinh Cao Vương Quan Thế Âm, cô hãy ấn tống kinh này tặng người ta, rồi niệm tụng kinh này 1000 biến, hồi hướng cho đứa bé. Kinh ngày có nói, tụng đủ 1000 biến, trọng tội đều tiêu diệt. Đợi đến khi cô ấn tống kinh này, sau đó niệm tụng 1000 biến, tôi sẽ sờ đầu cho đứa bé!”

🌟

Sau khi người phụ nữ trở về, y theo lời dặn dò của tôi, đã in mấy nghìn cuốn kinh Cao Vương Quan Thế Âm để phát tặng. 
Rồi người phụ nữ này lại một lòng một ý niệm tụng kinh Cao Vương Quan Thế Âm đủ 1000 biến. 
Đúng lúc đọc đủ 1000 biến, trong mơ thật sự đã nhìn thấy Lư Sư Tôn đến, Lư Sư Tôn dùng tay sờ vào khối tu to trên đầu của đứa bé. 
Trong mơ còn nghe Lư Sư Tôn nói:
Đã biết nhân quả hãy dừng lại.
Nỗi đau thể xác thì sao đây.
Giải oan giải oan giải oan kết.
Ái hận cổ kim tự ôn hòa.

Kể từ khi Lư Sư Tôn sờ đầu đứa bé, khối u to đó mỗi ngày lại thu nhỏ lại, mỗi ngày một nhỏ lại, người phụ nữ càng chịu khó niệm kinh hơn, khối u to đó biến thành nhỏ, khối u  nhỏ biến thành không có, hiện tại đầu của đứa bé đã như người bình thường rồi.

Người phụ nữ gửi thư đến để bày tỏ lòng biết ơn.
Tôi nói:
”Tội phúc nhất như, huyễn khởi huyễn diệt!”


### 28. Nhập địa nhãn


Ngày xưa, tôi có một việc khiến người ta bàn luận sôi nổi. 
Khi tôi vừa chân ướt chân ráo đến Seattle nước Mỹ, tôi cùng một nhóm đệ tử đi qua một mảnh đất um tùm rậm rạp.
Tôi nói:
”Khu rừng rậm rạp này là một mảnh đất bảo bối, ai có thể mua được nó thì sẽ là số một thế giới.”
Về sau đã chứng minh:
Mảnh đất rậm rạp này đã được khai phá, chính là đại bản doanh của công ty Microsoft. 
Mảnh đất rậm rạp này đã cho ra đời người giàu số một thế giới Bill Gates.
Đây chính là nhập địa nhãn của Lư Sư Tôn tôi.
Bên dưới sườn dốc của khu rừng rậm rạp, chúng tôi xây dựng chùa tổ của Chân Phật Tông - Seattle Lôi Tạng Tự. 
Quay lưng vào Microsoft.
Mặt hướng ra hồ Sammamish.
Đệ tử Chân Phật từ năm đại châu trên toàn thế giới đang phát triển mạnh mẽ, thu hút sự chú ý của cả thế giới.
Mật pháp từ đây truyền đi khắp trời khắp đất, thanh danh vang dội.

🌟

Lại có một việc khác.
Tôi đi qua một nơi là Bellevue, Bellevue khi ấy là một vùng hoang dã. Phóng hết tầm mắt là một vùng đất mênh mông trống trải, cỏ dại mọc đầy đến tận chân trời, là một nơi đất đai cằn cỗi không hề có dân cư.
Tôi nhìn thấy ở phía xa có một ngọn núi, long khí của ngọn núi đó ẩn vào trong đất, tôi liền đi đến Bellevue.
Tôi nói:
”Nơi đây là một thành phố, trong thành phố này sẽ xây dựng nên sự cọ sát lớn nhất.”
(Cọ sát tức là thương trường lớn nhất.)
Người môi giới đất đai đưa chúng tôi đi xem đất là một người phụ nữ tên là Margie. 
Margie nói:
”Sao có thể như vậy chứ?”
Tôi nói:
”Tôi nhìn thấy một thành phố lớn được xây dựng lên, thị trường lớn nhất của cả bang chính là ở nơi đây! Bởi vì long mạch chạy đến đây.”

Về sau đã chứng minh:
Một thành phố được xây dựng.
Một thị trường lớn siêu cấp đã được xây dựng.

🌟


Có tăng nhân hỏi tôi:
”Lư Sư Tôn có nhập địa nhãn, còn có con mắt gì nữa?”
Tôi đáp:
”Thiên nhãn và huệ nhãn.”
Tăng nhân hỏi:
”Có những con mắt này, không biết có tác dụng gì?”
Tôi đáp:
”Khi ăn cơm, có cơm cho anh ăn, khi đi ngủ có giường cho anh ngủ.” (lời nói sắc bén)
”Cái này thì tôi cũng biết.”
Tôi nói:
”Anh vẫn không biết đâu, tôi là một lão tăng để mặc theo sự co dãn linh hoạt.”
(Tại đây tôi hỏi mọi người, từ trong đoạn đối thoại này có một huyền cơ, mọi người sao không thử ngẫm nghĩ xem huyền cơ này rốt cục nằm ở chỗ nào?)


### 29. Tiến sĩ Gordon Melton


Ở nước Mỹ, tại Đại học Santa Barbara California có một vị tiến sĩ tôn giáo tên là Gordon Melton.

Mấy năm gần đây, ông ấy liên tục tìm hiểu về Chân Phật Tông, hơn nữa còn chuẩn bị một đống tư liệu về Chân Phật Tông để phát biểu trong buổi hội thảo học thuật về tôn giáo thế giới, địa điểm là ở London nước Anh.

Ông ấy hỏi tôi hai vấn đề:
1. Lư Sư Tôn gặp Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16 vào năm nào, ở đâu?
2. Lư Sư Tôn gặp Cam Châu Hoạt Phật vào năm nào, ở đâu?

Hai câu hỏi của tiến sĩ Gordon Melton thật ra rất đơn giản là có thể trả lời được rồi, nhưng, tôi cố ý không trả lời.
Vì sao?
Tôi nói:
Cảnh giới của tôi là, tùy lúc tùy nơi tôi đều có thể ở tại không gian tầng cao mà gặp bất kì một vị tổ sư nào.
Chỉ cần tôi thiền định.
Triệu gọi.
Phật Đà.
Xá Lợi Phất.
Tsongkhapa.
Không Hải Đại Sư.
…..

Tôi đều có thể gặp được. Muốn gặp Đại Bảo Pháp Vương thứ 16, Cam Châu Hoạt Phật thì lại càng chẳng có gì khó!
(Thật ra trong những cuốn sách của tôi từ sớm đã chỉ rõ tôi đã gặp Đại Bảo Pháp Vương thứ 16 và Cam Châu Hoạt Phật như thế nào.)
Đại Bảo Pháp Vương — năm 1980 tại New York. (tư liệu của Trần Huệ Kiếm)
Cam Châu Hoạt Phật — năm 1970 tại Đài Bắc. (tư liệu của Trần Huệ Kiếm)
Tư liệu của Trần Huệ Kiếm từ lâu đã đưa tôi vào trong báo cáo nghiên cứu cùng với Thanh Hải Vô Thượng Sư, trong một buổi hội thảo tại Hồng Kông cũng đã phát biểu. Đối với báo cáo nghiên cứu của Trần Huệ Kiếm (Sát Phật Lâm) có tính chính xác hay không, tôi căn bản từ chối bình luận. 

🌟

Sự việc này khiến tôi nghĩ đến cuộc đối thoại giữa thiền sư Mậu Nguyên và thiền sư Bình Điền.
Thiền sư Bình Điền đến thăm thiền sư Mậu Nguyên, Mậu Nguyên muốn bỏ đi, Bình Điền giữ lại.
Bình Điền nói:
”Nói ra thì lạc, im lặng thì mất. Bỏ hai cái này, xin thầy mau mau nói.”
Mậu Nguyên lấy tay bịt hai tai.
Thiền sư Bình Điền đợi thiền sư Mậu Nguyên buông tay xuống lại hỏi:
”Một bước dễ, hai bước khó, xin thầy mau nói.”
Thiền sư Mậu Nguyên đáp:
”Vội cái gì?”
Thiền sư Bình Điền hỏi:
”Nếu không vì cái này, thiền sư Mậu Nguyên phải kiểm điểm lại nhiều mặt rồi.”
Thiền sư Mậu Nguyên căn bản không trả lời.

Tại đây tôi hỏi mọi người, vì sao thiền sư Mậu Nguyên không trả lời? Rồi vì sao thiền sư Mậu Nguyên cần trả lời? Cần trả lời thì phải đáp thế nào mới đúng?
Mọi người có biết không?

🌟

Tôi hỏi bạn một câu đơn giản, vào ngày 1 tháng 1 năm 1980, bạn đã đi tiểu mấy lần? Địa điểm là ở đâu?
Nếu tôi mời bạn trả lời.
Bạn trả lời thế nào?
Bạn có thể nói thế này: “Thật sự tè một cái, nhưng, những cái khác quan trọng sao?”


### 30. Xác chết màu đen


Đêm khuya ngày 7 tháng 3 năm 2008, tôi đang ngủ say, ấy vậy mà lại cảm ứng thấy một cảnh tượng kỳ lạ:
Ở chân trời rất xa, ban đầu là một khối đen sì, đột nhiên xuất hiện mặt trời đỏ.
Tôi cho rằng mặt trời đang mọc, có những tia nắng ban mai sáng rực, nhưng khi nhìn thì không phải là ánh mặt trời, mà là ánh lửa, là ngọn lửa hừng hực cứ thế cháy dồn đến. Tôi niệm chú về phía ngọn lửa, thế lửa chuyển sang hướng Bắc, thế nhưng sức gió tác động lại khiến lửa cháy về hướng Nam, thế lửa hung bạo không thể ngăn chặn.

Tôi lại niệm chú văn, không ngờ Hỏa Thiên Thần hóa thành một người mặt áo trắng đứng trên ngọn lửa, nói với tôi:
”Lư Sư Tôn, đừng niệm, đừng niệm.”
Tôi vừa mới dừng lại, trong sát-na, mọi thứ trở thành một vùng đất khô cằn, tiếng người xôn xao, không ai là không hồn bay phách tán, mọi người đến để cứu lửa.

Có một cái xà lớn của mái hiên kêu “roạt” một tiếng rồi đổ xuống, đè trúng rất nhiều người, họ đều bị ngọn lửa thiêu cháy.

Đúng vào lúc này, một xác chết đen bay lên, hét lớn với tôi:
”Lư Sư Tôn cứu tôi! Cứu tôi!”
”Cô là đệ tử?” - Tôi hỏi.
”Đúng vậy, nhưng tôi nhiều lần phạm giới, nhưng xin Sư Tôn cứu tôi vãng sinh tịnh thổ.”
”Cô là…?”
”Lưu….”

🌟

Ngày hôm sau, tôi từ Nam Sơn Nhã Xá lái xe đến Chân Phật Mật Uyển. 
Thượng sư Liên Ninh cầm một tờ fax đưa cho tôi, được gửi đến từ Viên Âm Đường ở Brunei ở xa nghìn dặm, là fax của Jalaa Tengah Kuala Belait Barussalam. 
Nói rõ:
3h50 phút sáng ngày 7 tháng 3 năm 2008, nhà bị cháy, có rất nhiều người bị lửa thiêu chết, trong đó có một người là đệ tử Chân Phật Tông, họ Lưu.
Tôi vừa thấy là họ Lưu thì thầm kinh hãi. Thì ra đêm qua, nhìn thấy đám cháy ở xa nghìn dặm là một hiện trạng hoàn toàn có thật, hơn nữa họ tên hoàn toàn phù hợp. 
Tôi niệm ba tiếng:
”Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật!”
Xác chết màu đen này từng hiển hóa cho tôi nhìn thấy bộ dạng lúc còn sống của cô ấy.
Lúc còn sống cũng khá xinh đẹp.
Nhưng sau khi chết rồi trở thành cháy đen rất đáng sợ.
Đúng là vô thường! Vô thường!

🌟

Tôi biết cô Lưu bị cháy đen, hơn nữa còn nhiều lần phạm giới, sẽ bị đưa đến nơi kia.
Nhưng, vào lúc lâm chung, cô Lưu đã không quên Sư Tôn của cô ấy, còn gọi tôi phải cứu cô ấy vãng sinh tịnh thổ.
Chỉ dựa vào một câu nói này.
Ở tại đàn thành của Nam Sơn Nhã Xá, tôi đã bày đàn thành siêu độ, đặc biệt nhiếp triệu Bổn tôn A Di Đà Phật của tôi đến, sau đó giao phó trung ấm của cô Lưu cho A Di Đà Phật, cô Lưu chắc chắn có thể vẵng sinh tịnh thổ Ma Ha Song Liên Trì.
Tôi niệm:
”Đại Nguyện Vương Di Đà Phật, từ bi hỷ xả khó lường, giữa trán thường phóng bạch hào quang, độ chúng sinh đến miền Cực Lạc.”


### 31. Khẩu quyết thậm thâm của pháp Đoạt xá


(Pháp Đoạt xá này là bài dạy đặc biệt vô thượng của Mật giáo, vị yogi có thể làm pháp này công lực chắc chắn là thâm hậu. Người chưa đạt đến cảnh giới này có thể xem đây là một kiến thức. Còn nữa, người có ý muốn tu tập pháp Đoạt xá phải được Kim cương Thượng sư chân chính truyền miệng và quán đảnh.)

**Thứ nhất: Pháp tức thân thành Phật**

Ngồi thế kiết già hoặc ngồi thẳng. Dùng chữ “Hum” để che chắn tất cả ngoại môn.
(Ngoại môn tức là bảy lỗ: mắt, tai, mũi, miệng, rốn, lỗ bí mật, hậu môn, chỉ chừa lại thiên khiếu trên đỉnh đầu.)
Tâm khí mà hành giả tu lâu ngày, dùng ý để vận hành trong trung mạch. 
Giữa chữ 


![image](/img/img_39765e191ff177f29bc9e9db5ee67b70.png)


và chữ 


![image](/img/img_f3ecd3f027133c42d6be8626f1c13b10.png)


Triệu thỉnh Bổn tôn Phật đến an trụ tại đỉnh đầu.
Trung mạch của Bổn tôn Phật nối với trung mạch của hành giả.
Hành giả yogi đưa hết bình khí vào trung mạch, đẩy tâm khí tiến vào trong trung mạch của Bổn tôn Phật.
Nhờ hòa nhập vào đạo tối thắng mà chứng đắc tức thân thành Phật.

Tôi cho rằng:
Pháp này quan trọng nhất là:
Tu được tâm khí.
Tu được bình khí.
Triệu thỉnh được Bổn tôn Phật đến lỗ đỉnh đầu.
Tâm khí của chính hành giả hoàn toàn dung nhập vào Bổn tôn Phật, thế là thành tựu tức thân thành Phật rồi!

**Thứ hai: Pháp vãng sinh tịnh thổ (hóa sinh) và pháp đoạt thai xuất sinh (thai sinh)**
Tương tự, dùng chú tự để che chắn tất cả cửa ra vào [7 lỗ], chỉ để lại Phạn huyệt là không che.
Tập trung vào chữ Hum màu xanh lam của nguyệt luân ở trong tim. Đây chính là tâm khí. 
Niệm thầm 20 tiếng “xi”. Dẫn đến họng.
Tiếng “xi” thứ 21 thì bắn vọt ra từ cửa Phạn huyệt.
Bắn vọt ra đến nhụy hoa của hoa sen được móc đến.
(Đây chính là vãng sinh Phật quốc tịnh thổ.)

Nếu hành giả yogi không muốn vãng sinh tịnh thổ, mà muốn ở nhân gian luân hồi làm “người lại đến”. 
1. Chọn nhà vua chúa.
2. Chọn nhà tu hành.
3. Chọn nhà phú quý.
Câu triệu thai của phụ nữ hậu phi “bạch quang rực cháy” hoặc “hồng quang rực cháy” rồi bắn thẳng vào đó. 
(Đây chính là người lại đến thông qua thai sinh.)
Pháp tâm khí bắn thẳng này giống như kéo căng dây cung và bắn ra, nhất định thành công.
Sau cùng phải hô một tiếng “xi”, đây là điều quan trọng nhất. 
Nhận rõ tử cung của phụ nữ mình muốn đầu thai là bạch quang hay hồng quang cũng rất quan trọng, rất quan trọng.
Pháp này phải nhận rõ đó có phải là gia đình tích thiện công đức hay không, rất quan trọng, rất quan trọng.
(Đây chính là pháp đoạt thai.)

**Thứ ba: Pháp đoạt xá (pháp mượn xác hoàn hồn)**

Pháp này về mặt pháp luật và luân lý thì đều không được làm, cho nên chỉ để cho mọi người tham khảo thôi. 
Lựa chọn trẻ sơ sinh hoặc trẻ em vừa qua đời. Trẻ sơ sinh hoặc trẻ em này phải không bệnh không khuyết tật, chỉ là bị ngạt thở mà chết.
(Không lở loét, không thối rữa.)
Tắm rửa sạch sẽ cho di hài, dùng an tức hương để xông.
Tu pháp Bổn tôn, bảo vệ Đỉnh luân, Hầu luân, Tâm luân. 


![image](/img/img_39f9ea6fba6ef8e4e70766218c6b3665.png)


Tu bánh xe bảo hộ để bảo vệ di hài của trẻ sơ sinh hoặc trẻ em này, tránh quỷ thần quấy nhiễu.
Dâng cúng dường cho Không Hành có lời thề và Không Hành ăn thịt để họ hoan hỷ.
Yogi và di hài không xa không gần.
Yogi che chắn tất cả ngoại môn (bảy lỗ), chỉ để lại lỗ mũi không che. 
Bảo bình khí đi vào trung mạch. 
Tâm khí chữ Hum từ lỗ mũi phải của hành giả đi ra, đi vào lỗ mũi trái của di hài, rồi đi thẳng đến tim. (Rồi đi ngược lại.)
Cho đến khi tim của trẻ sơ sinh hoặc trẻ em có hơi ấm, hoặc thậm chí toàn thân có hơi ấm, mắt đã có thể hé mở và trong miệng bắt đầu có tiếng ú ớ, v.v… 
Lúc này, yogi có thể ra sức niệm 20 tiếng “xi”, tiếng “xi” sau cùng từ lỗ mũi phải đi ra, bắn vào lỗ mũi trái của trẻ sơ sinh hoặc trẻ em rồi đi vào tim. 
Yogi sẽ chết ngay. Còn trẻ sơ sinh hoặc trẻ em sẽ sống lại.
(Đây chính là cách làm pháp đoạt xá vô thượng thượng của Mật giáo, có thể nói là pháp mượn xác hoàn hồn.)

Cá nhân tôi cho rằng:
Những cách làm pháp này có khẩu quyết quan trọng.
1. Bình khí phải đủ.
2. Bình khí có thể đi vào trung mạch.
3. Tâm khí từ lâu đã thành tựu huyễn thân.
4. Tâm khí tự do ra vào.
5. Chữ “xi” chính là chữ: 


![image](/img/img_3eaa72be48d644e1161c992277ed4618.png)


6. Làm pháp rõ ràng.
7. Lựa chọn nhà lành phải biết rất rõ, không thể có sai lầm.
8. Yogi tự nhận mình đã già yếu, đã không còn lợi ích gì cho chúng sinh thì mới làm ba pháp này.
9. Người làm pháp phải phát nguyện lợi ích tất cả chúng sinh  hữu tình.
10. Nếu có chỗ nào chưa hiểu thì không được làm bừa, phải thỉnh giáo Kim cương Thượng sư chân chính.


### 32. Đau họng khản tiếng


Ngày 12 tháng 3 năm 2008, tôi đột nhiên cảm thấy đau họng khản tiếng, ngạt mũi, nhiệt độ cơ thể hơi cao, tôi cảnh giác rằng mình đã mắc bệnh cảm cúm mùa.

Bệnh cảm cúm mùa lần này rất lợi hại, ở Seattle Lôi Tạng Tự, bất kể là pháp sư hay cư sĩ tại gia đã không ít người bị đánh gục. Cho dù là người có thân thể rất cường tráng cũng lần lượt bị ốm. Hầu hết đều bị ốm mất một tuần.
Một sư tỉ từng làm y tá nói:
”Siêu vi trùng và virus có tính sàng lọc lần này rất mạnh, người nhiễm bệnh sẽ sốt cao, đầu đau như muốn vỡ ra, ho dữ dội, chóng mặt, hầu hết sẽ nằm bẹp và run rẩy.”

Trong lúc tôi tự mình nghĩ rằng mọi người đều đã ngã quỵ rồi còn mình vẫn vô sự thì đúng vào lúc tôi vui mừng, ngày 12 tháng 3, mũi tôi bị chảy nước mũi. 
Đau họng khản tiếng.
Nhiệt độ cơ thể tăng cao.
Người hơi sợ lạnh.
Tôi nghĩ: “Tôi cũng bị rồi!”

🌟

Buổi tối hôm đó, tôi đã cảm thấy hoàn toàn không thoải mái, toàn thân nóng rực, đau đầu chóng mặt, lên xuống cầu thang đã cảm thấy mệt rã rời, tôi cảm thấy kinh sợ nếu bệnh tình trở nặng. 
Thứ bảy, tôi không thể nào chủ trì đồng tu thuyết pháp.
Chủ nhật, tôi không thể nào chủ trì Hộ Ma hỏa cúng.
Tôi thường xuyên là người lãnh đạo của Chân Phật Tông - Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Ấy vậy mà không chống lại được virus của bệnh cúm mùa.
Virus lợi hại như vậy.
Ngay cả tôi cũng chạy trời không khỏi nắng, hic hic!
Mặc dù toàn thân tôi cảm giác không còn sức lực, nhưng, tôi vẫn xốc mình lên tu một đàn pháp.
Tôi nói:
”Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp, virus lợi hại, bây giờ chỉ có ngửa mặt khẩn cầu Bồ Tát từ bi cứu giúp thôi. Nếu con cũng lăn ra, tất cả pháp vụ đều dừng lại hết.”

🌟

Đêm đó tôi lên giường.
Sợ lạnh đến mức răng đập vào nhau. Thật ra là người tôi đang sốt cao, tôi nghĩ, tôi xong rồi!
Sau khi ngủ thiếp đi, tôi nhìn thấy Bạch Không Hành Mẫu bay đến.
Bạch Không Hành Mẫu mang theo một cái chổi.
Bạch Không Hành Mẫu nói:
”Tôi sẽ quét sạch những thứ dơ bẩn trên người ngài nhé!”
Cây chổi đó quét trên người tôi. 
Bạch Không Hành Mẫu nói:
”Vốn dĩ ngài phải nằm bẹp bốn ngày, bốn ngày này là kiếp bệnh của ngài, sau bốn ngày, ngài cũng phải từ từ điều dưỡng thân thể suy nhược, như thế mới có thể trở lại bình thường.”
Bạch Không Hành Mẫu nói:
”Nhưng, ngài cầu nguyện tôi, tôi đến rồi, quét sạch bốn ngày này đi! Đến sáng ngày mai, ngài sẽ khỏi thôi!”
Tôi nghe xong, hết sức vui mừng.

Ngày 13 tháng 3, sáng sớm tỉnh dậy, cơn sốt cao đã hết, họng cũng không khản, mũi cũng khỏi rồi.
Đã hoàn toàn khỏe rồi.
Tôi nói để mọi người biết, tôi không uống thuốc, tôi chỉ uống nhiều nước hơn, chỉ ngủ một giấc, thật sự đã khỏi hẳn rồi!
Tôi nương dựa vào Bồ Tát của tôi, một lòng một ý hướng về Bồ Tát cầu nguyện, quả nhiên có kỳ tích.


### 33. Quy y lúc lâm chung 


Ở miền Nam Đài Loan có một người tên là Thanh Quân (biệt danh), bị mắc bệnh nặng, tính mạng đã thập tử nhất sinh. Người này vì mắc bệnh đã lâu, trước sau đều chữa không khỏi, cho nên hoàn toàn không có suy nghĩ có thể khỏi bệnh.

Những người đang giằng co bên bờ vực cái chết thực chất là đang chờ đợi cái chết, chờ đợi thời điểm chết.
Vừa hay có một đệ tử Chân Phật Tông ở bên cạnh nói với anh ta:
”Mạng sống của anh sắp hết rồi, chi bằng hãy quy y Thượng sư Lư Sư Tôn của chúng tôi, thầy ấy là hóa thân của A Di Đà Phật, sự linh nghiệm của thầy không gì có thể sánh bằng, thầy sẽ đến cứu độ anh!”
Thanh Quân gật đầu.
Đệ tử Chân Phật Tông ngay lập tức tiến hành quy y, đệ tử dạy anh ta trì niệm: 
“Om guru liansheng siddhi hum.”
Rồi dạy anh ta niệm:
”Nam Mô A Di Đà Phật, Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát, Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát.”

Sau khi Thanh Quân tự quy y, mỗi ngày niệm không ngừng, hễ tỉnh dậy là niệm, và người ở bên cạnh cũng giúp anh ta trợ niệm.
Đến ngày hấp hối.
Thanh Quân đột nhiên nhìn thấy Lư Sư Tôn đến, và phía sau chính là Tây phương Tam Thánh: A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát. 
Lư Sư Tôn và Tam Thánh hiện ra kim thân, hào quang rực rỡ, dài khoảng năm thước, ngồi trên tòa hoa sen ở trên cao, hoa sen tự nhiên bay đến. 
Rồi nhìn thấy trong tay áo Lư Sư Tôn bay ra một vật, gặp gió mở ra, chính là một đài hoa sen vàng. 
Lư Sư Tôn nói: “Mau lên hoa sen.”
Thanh Quân lên hoa sen.
Thanh Quân nói với người xung quanh:
”Lư Sư Tôn và Tam Thánh đến đón tôi rồi, tôi cáo biệt mọi người!”
Nói xong thì gục đầu ra đi.
Người bên cạnh nghe vậy đều rất cảm động.

🌟

Còn nhớ khi tôi ẩn cư ở hồ Diệp Tử, bỗng nhìn thấy Liễu Minh Hòa Thượng đến. Liễu Minh Hòa Thượng nói với tôi:
”Con nên hoằng dương tam thừa, Hiển giáo Mật giáo đều có thể song hành, thậm chí pháp bảy ngày thành Phật càng có thể quảng độ chúng sinh, con phải làm như vậy mới có thể báo đáp ơn Phật.”
Liễu Minh Hòa Thượng nói:
”Ta thấy thế nhân ngày nay vốn có nhân duyên với A Di Đà Phật, pháp môn Tịnh Độ là con đường dễ đi, nếu phối hợp với Mật chú và quán tưởng thì người trì niệm chỉ cần nhất tâm là có thể hóa sinh tịnh thổ rồi.”
Tôi chắp tay cảm tạ lời dạy của Liễu Minh Hòa Thượng.

Trong “Phật Thuyết A Di Đà Kinh” có nói:
”Nghe nói A Di Đà Phật, chấp trì danh hiệu, nếu một ngày, nếu hai ngày, nếu ba ngày, nếu bốn ngày, nếu năm ngày, nếu sáu ngày, nếu bảy ngày, nhất tâm bất loạn, thì người này lúc lâm chung, A Di Đà Phật và các Thánh chúng hiện lên trước mắt người ấy, người này lúc sắp chết, tâm không đảo điên, sẽ được vãng sinh Cực Lạc quốc thổ của A Di Đà Phật.”
Vị Thanh Quân tiên sinh này quy y Chân Phật, chỉ niệm: 
“Om guru liansheng siddhi hum.” 
Niệm:
”Phật hiệu.”
Lúc lâm chung, nhìn thấy Lư Sư Tôn và Tây phương Tam Thánh đến tiếp dẫn vãng sinh tịnh thổ.
Đây chính là:
”Lâm chung quy y, một ý cầu sinh, Chân Phật phổ hiện, Tây hóa hiện thân.”


### 34. Tương ứng của pháp cúng khói


Đầu năm 2008 tôi mới truyền thụ pháp cúng khói, không ngờ pháp cúng khói này mới truyền xong thì đã có rất nhiều người tương ứng, tín chúng ở các nơi trên thế giới sôi nổi truyền đến tin tức tương ứng. 

Dược sĩ Hứa Hồng Xuân có một hiệu thuốc ở Đài Loan. Ông ấy cùng vợ và con trai nhỏ đến Seattle nhận quán đảnh trực tiếp pháp cúng khói, sau khi trở về đã lập tức tu cúng khói.

Ngày hôm đó tu thì việc kinh doanh của hiệu thuốc tăng gấp ba lần so với bình thường, chứ không phải tăng một phần ba.
Dược sĩ Hứa rất ngạc nhiên.
Lấy ví dụ, nếu thu nhập mỗi ngày là 10.000 đồng thì bây giờ sẽ là 30.000 đồng; thu nhập mỗi ngày là 20.000 đồng thì bây giờ thành 60.000 đồng. 
Dược sĩ Hứa cố ý không tu cúng khói, kết quả là kinh doanh lại trở về như ban đầu. Thế là dược sĩ Hứa lại tu cúng khói, kinh doanh của ngày hôm ấy lại tăng gấp ba lần. 
Mỗi lần thử thì mỗi lần đều ứng nghiệm.
Đúng là quái lạ!

🌟

Lại có một người là Liên Hoa Văn Thao, là đệ tử ở Trung Quốc Đại Lục, trước kia anh ấy làm kinh doanh pháo, tức là buôn bán pháo hoa, xuất khẩu đi Mỹ.
Còn kinh doanh pháo nổ pháo hoa ở Trung Quốc Đại Lục là vào ngày Quốc khánh hoặc ngày Tết sẽ có đốt pháo hoa.
Trước kia việc kinh doanh của Liên Hoa Văn Thao rất khởi sắc, giống như pháo hoa bắn trên bầu trời vậy, hào quang vạn trượng. 
Nhưng, điều tốt đẹp không tồn tại mãi.
Một số bang ở nước Mỹ cấm pháo.
Lại cộng thêm buôn bán cạnh tranh.
Liên Hoa Văn Thao đổi sang kinh doanh thiệp. Thiệp tức là các loại thiệp chúc mừng năm mới, thiệp sinh nhật, thiệp mừng. 
Anh ấy đích thân đến Seattle để nhận quán đảnh trực tiếp pháp cúng khói. Trở về lập tức tu.
Chính anh ấy nhìn thấy một vị oan thân trái chủ hiện thân, nhanh chóng xuất hiện, nhanh chóng nhận cúng dường rồi rời đi.
Liên Hoa Văn Thao lại nhìn thấy rất nhiều nhện từ trên đầu lần lượt bò ra. Có một vài thứ không sạch sẽ từ các lỗ trên người chạy ra bên ngoài. 
Liên Hoa Văn Thao nói:
”Pháp cúng khói rất linh nghiệm, bản thân cảm thấy rất sảng khoái thoải mái, thân thể khỏe mạnh, tinh thần sôi nổi, kinh doanh chắc chắn có thể thuận lợi hơn trước!”

🌟

Lại có một người là Liên Hoa Đông Sơ ở đảo quốc Nam Thái Bình Dương, anh ấy là người di dân, chuyển đến đảo Nam Thái Bình Dương làm kinh doanh. 
Vì hợp đồng kinh doanh mà sản sinh tranh chấp với tập đoàn tài chính lớn, bị kiện cáo, kiện tụng liên miên, còn cả bị đi tù.
Cơn sóng này chưa yên, cơn sóng khác đã tới. 
Việc kinh doanh cũng sụp đổ.
Họa đi tù sắp đến rồi.
Anh ấy đến Seattle nhận quán đảnh trực tiếp pháp cúng khói, vừa trở về lập tức tu cúng khói.
Chuyện lạ xuất hiện. 
Tập đoàn tài chính vô duyên vô cớ hủy đơn tố cáo.
Cổ đông cũ chủ động tìm anh ấy mời làm tổng giám đốc, anh ấy đã trở lại như ngày xưa. Kinh doanh không ngờ lại một bước lên mây rồi!


### 35. Quan sát Phật giáo ngày nay


Vào ngày 15 tháng 3 năm 2008, trong buổi đồng tu cuối tuần ở Seattle Lôi Tạng Tự, cá nhân tôi đưa ra những quan sát của mình về Phật giáo đương đại, nêu ra ý kiến quan sát. Tôi nói:
Do những thay đổi trong cơ cấu xã hội, các giáo phái Phật giáo ngày nay đã dần dần chuyển hướng thế tục hóa (nhập thế hóa). 
Ví dụ:
Sự xuất hiện của các ngôi chùa du lịch.
Sự xuất hiện của các đoàn thể từ thiện.
Sự xuất hiện của các bệnh viện Phật giáo.
Sự xuất hiện của các trường Đại học Phật giáo.
Sự xuất hiện của các đài truyền hình Phật giáo.
……………………..

Các đoàn thể Phật giáo đương đại đã dần dần chuyển đổi, trở thành xí nghiệp hóa, kinh doanh hóa, quản lý hóa, truyền thông hóa, tuyên truyền hóa, giáo dục hóa, y tế hóa, từ thiện hóa, du lịch hóa, tiền bạc hóa, tập đoàn tài chính hóa,…
Tuy nhiên, vì sự ra đời của thế hệ E, Phật giáo phải theo kịp thời đại. Giáo phái Phật giáo muốn phát triển chính mình thì phải có được sự công nhận của quần chúng.

Phải đi vào xã hội, đi vào nhập thế, hòa chung với nhân gian, khẩu hiệu Phật giáo đưa ra chính là “Phật giáo nhân gian”, và cho rằng đây là bước ngoặt chuyển tiếp.

Kết quả của thế tục hóa như vậy, tôi nghĩ rằng giáo phái Phật giáo sẽ lớn mạnh. Giáo phái Phật giáo thúc đẩy toàn bộ xã hội và ảnh hưởng của nó ngày càng tăng lên. Nó có tác động rất lớn đến chính trị, xã hội, kinh tế và nhân văn.
Cá nhân tôi cho rằng, Phật giáo nhập thế thế tục hóa là trào lưu của xã hội, không thể chỉ trích nặng nề.
Bởi vì thế tục hóa mới có thể quảng độ chúng sinh.

🌟

Chúng ta nhìn lại thời đại Phật giáo nguyên thủy của Phật Thích Ca Mâu Ni. Phật Đà cố nhiên là có tổ chức tăng đoàn. Nhưng, 
Phật Đà coi trọng thuyết pháp.
Coi trọng tu thiền trong hang của cá nhân.
Coi trọng minh tâm kiến tính của cá nhân.
Coi trọng khai ngộ của cá nhân.
Kết hạ an cư.
Ví nhân gian như nhà cháy, kêu gọi tất cả hành giả cần có tâm xuất ly. Bản thân không những cần có tâm xuất ly, cũng phải độ chúng sinh thoát khỏi nhân gian nhà cháy. (Đây chính là bồ đề tâm cứu chúng sinh.)
Phật Đà coi trọng trung quán chính kiến, cũng tức là “tất cả pháp hữu vi, như mộng huyễn bào ảnh, như sương cũng như điện, nên quán thấy như vậy”. (Đây là trung quán chính kiến của Phật Đà.)
Cá nhân tôi cho rằng giáo hóa năm xưa của Phật Đà là xuất thế, bất kể là xuất ly tâm, bồ đề tâm, trung quán, đều là xuất thế.
Trí huệ (Phật huệ) của Phật Đà là chính kiến bát nhã, là sự song vận của phương tiện (từ bi) và bát nhã (trí huệ), không chỉ coi trọng Hữu mà cũng coi trọng Không.
Bởi vì xuất thế hóa mới có thể chứng đắc đạo quả!

🌟

Ý kiến của cá nhân tôi là Chân Phật Tông phải coi trọng nhập thế và xuất thế như nhau. Hai hợp làm một, mới là đúng lẽ!


### 36. Nhìn thấy trước


Có một hôm, tôi ở trong thiền định, nhìn thấy người mẹ đã viên tịch nhiều năm của tôi. Mẹ tôi lúc còn sống chăm tu pháp Quan Âm, hơn nữa tự biết mình là hóa thân của chim Thái Bình trong ở trong rừng trúc tía của Quan Thế Âm Bồ Tát. 

Mẹ tôi Lư Ngọc Nữ trước khi viên tịch, mỗi ngày cũng kính cẩn tụng Quan Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm.
Hình ảnh ngồi tụng kinh của bà để lại ấn tượng rất sâu sắc.
Mẹ tôi bị xuất huyết não.
Đột ngột lìa khỏi nhân gian.
Tôi còn nhìn thấy mẹ được “Tiếp Dẫn Phật” tiếp dẫn, vãng sinh đến tịnh thổ ở Tây phương Cực Lạc thế giới. 
Tôi từng nhiều lần nhìn thấy mẹ.

Nhưng, có một khoảng thời gian, bà tương đối ít hiện thân. 
Lần này, mẹ đã hóa sinh thành hình tượng Quan Âm Đại Sĩ, thật may tôi vẫn nhận ra bà.
Mẹ nói: “Mẹ đến rồi!”
Bà từ cửa sổ phía Tây bay vào, thân tỏa ánh sáng đỏ rực rỡ chói lóa, cờ phướn ô lọng, toàn thân mặc váy xếp, trang sức bằng thất bảo, chân dẫm lên hoa sen.
Tôi hỏi:
”Có việc gì mà mẹ vội vàng thế này?”
Mẹ đáp rằng:
”Đầu tháng 2 sẽ đi Quảng Châu, Trung Quốc, đi đón tiếp một đệ tử của con là Mã Huệ Nồng.”
Tôi hỏi:
”Sao mẹ biết người đó?”
Mẹ đáp:
”Họ hàng của họ đã cầu Quan Âm Đại Sĩ.”
Tôi cười đáp:
”Thế là bây giờ mẹ đã biến thành Tiếp Dẫn Quan Âm rồi, cũng tiếp dẫn người ta vãng sinh Tây phương.”

🌟

Ngày 16 tháng 3 năm 2008, tôi ở bảo điện Hộ Ma ở Biệt thự Cầu Vồng cử hành Hộ Ma Liên Hoa Đồng Tử, trước khi đốt Hộ Ma, Thượng sư Liên Ấn lấy ra một tập danh sách người chủ cầu, tôi lần lượt gia trì, bỏ vào trong lò Hộ Ma, bỗng nhiên nhìn thấy một tờ đơn.
”Mã Huệ Nồng, Quảng Châu, Trung Quốc.”
”Là cầu siêu độ.”
”Thời gian tạ thế là tháng 2.”
Tôi nhìn thấy tờ đơn thì hết sức kinh ngạc, thì ra người mà mẹ tôi tiếp dẫn, bây giờ quả nhiên đã được người nhà đến thỉnh cầu Hộ Ma của tôi siêu độ.
Tương ứng rồi!
Tương ứng rồi!
Lại tương ứng rồi!
Tôi càng tin tưởng vong linh của Mã Huệ Nồng đã sớm được Quan Âm Đại Sĩ tiếp dẫn đến Phật quốc tịnh thổ rồi.

🌟

Kiểu nhìn thấy trước giống như thế này, nói ra thì như hư như huyễn. Ví dụ như trong thiền định, nhìn thấy mẹ tôi, đó căn bản chính là tướng hư huyễn.
Có một chút giống như nằm mơ.
Đối thoại cũng giống như nằm mơ.
Nhưng mà tôi nhớ rất rõ mẹ tôi đã đi đến đâu, làm việc gì, tiếp dẫn người nào, cái này lại chân thực đến vậy.
Cuối cùng đích thực đã ấn chứng ở Quảng Đông Trung Quốc, vào đầu tháng 2, Mã Huệ Nồng đã qua đời. Đây không phải là ấn chứng thực sự sao?


### 37. Món ngon ở trên trời


Có người hỏi tôi:
”Lư Sư Tôn, ngài viết cuốn “Nấc Thang Của Chư Thiên”, ngài nhìn thấy thiên nhân ăn cái gì?”
Tôi đáp:
”Vô sắc giới, Sắc giới, Dục giới, ẩm thực của thiên nhân ở ba cõi này có sự khác nhau, ví dụ Vô sắc giới, vì đã là vô sắc cho nên đã không có ăn uống. Sắc giới thì cực tịnh, lấy sự cực tịnh làm thức ăn. Chỉ có thiên nhân ở Dục giới mới có ăn uống để mà nói.”
Hỏi:
”Thiên nhân ở Dục giới ăn cái gì?”
Tôi đáp:
”Trước tiên tôi nói về một đoạn ghi chép trong kinh văn, trong Kinh Khởi Thế nói: Các thiên chúng từ Tứ Thiên Vương Thiên trở lên đều dùng vị của Tu Đà ở cõi trời đó. Đầu tiên là lấy ra dụng cụ bằng trân bảo, tự nhiên sẽ đầy. Có các loại thức ăn trời tuyệt diệu, không đếm xuể.”
”Thiên nhân cõi Dục giới cao cấp thì vị Tu Đà của họ là trắng ngần. Thiên nhân Dục giới trung cấp thì vị Tu Đà của họ là ánh sáng đỏ. Thiên nhân Dục giới cấp thấp thì vị Tu Đà của họ có màu tương đối xám.”
Hỏi:
”Những thực phẩm này giống cái gì?”
Đáp:
”Bơ.”
Tôi nói:
”Thiên nhân của Dục giới, ẩm thực của họ cũng dựa vào công đức của họ mà có sự khác biệt.”

🌟

Tôi lấy nhân gian làm ví dụ:
Món ngon của người Trung Quốc là bào ngư, vi cá.
Người phương Tây thì không đồng tình. Người phương Tây, có rất nhiều người cả đời chưa từng ăn bào ngư và vi cá. Mà người phương Tây tự cho rằng món ngon là trứng cá, gan ngỗng.
Người phương Đông không hoàn toàn đồng tình.
Người Nhật Bản cho rằng “đậu thối” [natto] sền sệt dinh dính, là món ngon nhất, tôi thì không dám nhận.
…………………
Tôi nói:
”Thiên nhân ở Dục giới thiên cũng như thế, lấy đồ trân bảo ra, thế là mỗi người ăn món ngon của riêng mình.”

🌟

Tôi nhìn thấy:
Thần Núi của núi Phú Sĩ thích nhất là:
Sashimi từ cá thu.
Thần Sông của sông Nile thích nhất là:
Mắt cừu.
Thần Núi của núi A Lý thích nhất là: 
Bánh tiết gạo [một loại bánh truyền thống được làm từ gạo nếp và tiết động vật].
Thần Núi của núi Đường Cổ La thích nhất là:
Hạt thông.
………………

Tôi dùng thiên nhãn để nhìn xa đến tận thiên nhân của Dục giới thiên, món ngon của các thiên nhân cũng rất phong phú, đều dựa vào phúc phần và công đức của mỗi thiên nhân mà có sự khác biệt.
Thiên nhân ở Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ ăn uống đều là cam lộ, mà mùi vị của cam lộ cũng biến hóa nghìn vạn, khiến thiên nhân thỏa mãn.


### 38. Phóng quang ba lần


Có một đệ tử pháp hiệu là Liên Hoa Vĩnh Khang, tuổi còn trẻ, khá thích thiền học và Mật tông.
Liên Hoa Vĩnh Khang thường nghĩ:
Tận cùng của pháp thiền — không được cũng không mất, luôn tồn tại mà không cần kiểm tra. Vậy thì Lư Sư Tôn sau cùng sẽ đi đến nơi nào?
Tận cùng của Mật giáo — tức thân thành Phật, tịnh thổ Ma Ha Song Liên Trì, tịnh thổ cực quang minh.
Lư Sư Tôn sau cùng sẽ đi đến nơi nào?
Đệ tử Vĩnh Khang cứ nghĩ: tận cùng, tận cùng, tận cùng…

🌟

Liên Hoa Vĩnh Khang đọc sách. 
Tăng hỏi thiền sư:
”Không ngồi tòa Như Lai, không ngồi tòa Bồ Tát, thiền sư đi nơi nào?”
Thiền sư đáp:
”Trời quang không ánh chớp.” (câu này bất phàm)
Thiền sư hỏi ngược lại tăng nhân:
”Đến từ nơi nào?”
Tăng đáp:
”Đến từ Giang Bắc.”
Thiền sư hỏi:
”Đến bằng thuyền hay đi trên đất liền?”
Tăng đáp:
”Đến bằng thuyền.”
Thiền sư hỏi:
”Có thấy cá không?”
Tăng đáp:
”Thường xuyên nhìn thấy.”
Thiền sư hỏi:
”Lúc nhìn thấy thì thế nào?”
Tăng đáp:
”Rụt đầu đi.”
Thiền sư cười lớn.
(Liên Hoa Vĩnh Khang đọc được đoạn ghi chép này thì dường như cũng hiểu được Lư Sư Tôn tận cùng sẽ đi về đâu, nhưng vẫn thỉnh cầu tôi cho chỉ thị trong mơ.)

🌟

Quả nhiên trong giấc mơ, Liên Hoa Vĩnh Khang nhìn thấy Lư Sư Tôn hiện thân, hơn nữa còn phóng quang ba lần, chiếu rọi trời cao.
Đường ánh sáng thứ nhất chiếu xa đến Tây phương, hướng đến Ma Ha Song Liên Trì.
Đường ánh sáng thứ hai ở trong hư không hóa hiện A Di Đà Phật, Diêu Trì Kim Mẫu, Địa Tạng Vương Bồ Tát, tức là ba Thánh tướng của ba vị Phật Vương, Tiên Vương, Địa Vương. 
Đường ánh sáng thứ ba chiếu thẳng đến Đài Loan Lôi Tạng Tự hiện nay, khiến cho cả tòa Đài Loan Lôi Tạng Tự tỏa vạn ánh hào quang.
Ba đường ánh sáng này đều có sự ám thị.
Liên Hoa Vĩnh Khang cho rằng:
Đường ánh sáng thứ nhất — Lư Sư Tôn trở về bản địa, Liên Hoa Đồng Tử.
Đường ánh sáng thứ hai — Lư Sư Tôn thành tựu ba Bổn tôn.
Đường ánh sáng thứ ba — Lư Sư Tôn vẫn trở về nhân gian, cũng có nghĩa là tiếp tục trở về Lôi Tạng Tự độ chúng sinh.
Dường như Liên Hoa Vĩnh Khang có thể hiểu mộng thị của Lư Sư Tôn, nhưng anh ấy vẫn gửi đi một lá thư xin tôi trả lời, rốt cục tận cùng Sư Tôn sẽ ở đâu. 
Trong bản văn này, tôi tạm thời chưa trả lời.
Tôi muốn kiểm tra mọi người, Chân Phật Tông có rất nhiều đại thiện tri thức, có tôn giả tương ứng, có người minh tâm kiến tính, mọi người nếu không ngại thì thử cho ý kiến xem sao, Lư Sư Tôn tôi rốt cục đi về đâu?


### 39. Gặp lại Phật Đà (1)


Ngày 20 tháng 3 năm 2008.
Phật Thích Ca Mâu Ni đến trong thiền định của Lư Sư Tôn.
Phật Đà đi phía trước, tôi theo phía sau, Phật Đà giơ tay ra hiệu muốn tôi đi ở bên phải Phật Đà, tôi nhanh chân bước tới, thế là sánh vai với Phật Đà cùng đi.
Phật Đà nói:
”Mẹ ngài tạ thế đã nhiều năm, cha ngài bệnh nặng đeo bám, sao chẳng thấy ngài tỏ vẻ thê thảm nhỉ?”
Tôi đáp:
”Mẹ đã thành tựu Quan Âm, cha cũng biết niệm Phật.”
Phật Đà nói:
”Ngài biểu thị đối với cha mẹ thế nào?”
Tôi cười lớn ha ha.
Phật Đà hỏi:
”Ngài không khóc tang à?”
Tôi đáp:
”Trời ơi! Trời ơi!”

Phật Đà không nói gì, tôi cũng không nói gì, hai người im lặng đi một hồi. 
Phật Đà và tôi đi đến một ngôi chùa lớn, nhìn thấy một vị hòa thượng già đang cử hành pháp hội. 
Rất nhiều người quy y lão hòa thượng này. Tiếng tụng kinh của các nhóm đệ tử Phật vang lên không ngớt.
Nghi thức nghiêm túc và trang trọng.
Phật Đà hỏi:
”Ở đây còn có đạo lý Phật pháp không?”
Tôi đáp:
”Tựa như có tựa như không.”
Tôi đáp:
”Không phải là điều mà tai mắt có thể nhận biết được.”
Phật Đà nói:
”Đúng vậy! Đúng vậy!”
Phật Đà nói một bài kệ:
*Cảnh tượng ở chùa lớn
Đại hòa thượng quy y
Người đời mơ hồ đi
Thời cơ chẳng ai biết
Chỉ có Liên Sinh hiểu
Chẳng hề nhắc có-không.*

🌟

Phật Đà nói:
”Ta buông câu cả ba kiếp mới câu được một con cá vảy vàng.”
Tôi đáp:
”Tôi không biết Phật pháp.”
Phật Đà nói:
”Không biết Phật pháp tức là biết Phật pháp, cho nên ngài vẫn là phụ Phật pháp ngoại đạo.”
Phật Đà và tôi cười lớn ha ha.
Phật Đà nói:
”Giờ đây ngài đã có được Phật chỉ, bất kể là nơi thành thị đông người, hay là nơi tận cùng núi sâu, hãy giúp ta tìm một hoặc một nửa người tiếp tục hương hỏa của ngài, đừng để pháp mạch của ta đoạn tuyệt mới là tốt!”
Tôi hỏi ngược lại:
”Có còn việc gì khác dặn dò không?”
Phật Đà nói:
”Hết rồi!”
Tôi đáp: 
”Tôi sẽ không phụ lòng.”


### 40. Gặp lại Phật Đà (2)


Phật Thích Ca Mâu Ni và tôi bước đi không mục đích, lúc thì đi tới đỉnh núi cao, lúc thì đi tới biển lớn, lúc thì đi tới thành phố làng mạc, lúc thì ở chốn đồng vắng hoang vu. 
Phật Đà hỏi:
”Sau này ngài muốn thế nào?”
Tôi đáp:
”Có một người không tiến bộ nhất, người này chính là tôi.”
Phật Đà hỏi:
”Dựa vào gì mà nói không tiến bộ?”
Tôi đáp:
”Dựa vào cái này.”
Phật Đà hỏi:
”Cái này là cái gì?”
Tôi đáp:
”Không được không mất.”
Phật Đà hỏi:
”Ngoài không được không mất ra, ngài còn có gì khác không?”
Tôi đáp:
”Ngoài không được không mất, làm gì còn có cái khác. Thậm chí ngay cả không được không mất tôi cũng không nói.”

🌟

Phật Đà hỏi:
”Thế tín đồ Phật giáo hiện đại đang làm cái gì?”
Tôi đáp:
”Công danh lợi lộc.”
”Công danh lợi lộc ư?”
”Tổ chức Phật giáo đang mở rộng địa bàn.” - Tôi đáp.
”Vì sao ngài không mở rộng địa bàn?”
Tôi đáp:
”Tôi căn bản chẳng nhìn thấy địa bàn gì!”
Phật Đà nói:
”Là thế! Là thế!”

🌟

Phật Đà hỏi tôi:
”Ngài là tông chủ của Chân Phật Tông phải không?”
Tôi đáp:
”Không phải.”
Phật Đà hỏi:
”Ngài không phải là tông chủ của Chân Phật Tông, vậy thì sáng lập Chân Phật Tông để làm gì?”
Tôi đáp:
”Nhất đại thời giáo mà thôi.” [Nhất đại thời giáo còn gọi là nhất đại giáo, nhất đại chư giáo, nhất đại giáo môn, tức là giáo pháp do Phật Thích Ca Mâu Ni nói ra trong một đời từ khi thành đạo đến khi nhập diệt.]
Phật Đà hỏi:
”Nhất đại thời giáo là ý gì?”
Tôi đáp:
”Mới biết không phải là tông chủ.”
Phật Đà nói:
”Chỉ dựa vào một câu nói này của ngài, ngài mới giống một vị tổ sư. Vì sao ngài không học tôi cầm hoa?”
Tôi đáp:
”Phật Đà đã từng cầm rồi!”
Phật Đà hỏi:
”Vì sao ngài dùng kim kê độc lập?”
”Phật Đà dùng tay, tôi dùng thân.”
Phật Đà hỏi:
”Ngài vẫn tiếp tục thuyết pháp chứ?”
Tôi đáp:
”Phải.”
Phật Đà hỏi:
”Vì sao tiếp tục thuyết pháp? Không mệt sao?”
Tôi đáp:
”Nói không rõ, nói không hết.”


### 41. Gặp lại Phật Đà (3)


Phật Thích Ca Mâu Ni hiện toàn thân để gặp gỡ Lư Thắng Ngạn tôi. Tôi lại có một vấn đề hỏi Phật Đà.
Tôi hỏi:
”Như bây giờ, ai là số một?”
Phật Đà nói:
”Người hợp nhất với đạo là số một.”
Tôi hỏi:
”Vấn đề là, hiện nay, ai hợp với đạo?”
Phật Đà trả lời ẩn ý: 
”Người hoàn toàn nghỉ ngơi, người dừng hẳn mọi sự tiến lên, người tâm như tro nguội, người tâm như cây khô, người vắng lặng im ắng.”
Tôi hỏi: 
”Có người, có lãnh thổ lớn nhất, có phải là số một không?”
Phật Đà đáp:
”Là số một!” 
Tôi hỏi: 
”Có người, chữa bệnh nhiều nhất, từ thiện lớn nhất, có phải là số một không?” 
Phật Đà đáp: 
”Là số một!” 
Tôi hỏi: 
”Có người, xây chùa lớn, lập tháp Phật, có phải là số một không?” 
Phật Đà đáp: 
”Là số một!” 
Tôi hỏi: 
”Có người, xây đại học, hưng giáo dục, có phải là số một không?” 
Phật Đà đáp: 
”Là số một!” 
Tôi hỏi: 
”Có người, xướng niệm Phật, hưng tịnh thổ, có phải là số một không?” 
Phật Đà đáp: 
”Là số một!” 
Tôi hỏi: 
”Có người, hưng Mật pháp, chứng tương ứng, có phải là số một không?” 
Phật Đà đáp: 
”Là số một!” 
Tôi hỏi: 
”Vậy ai là số hai?” 
Phật Đà đáp: 
”Không có số hai.” 

🌟

Phật Thích Ca Mâu Ni nói căn bản đều là số một không có số hai, khiến tôi vô cùng hiếu kỳ. 
Tôi hỏi: 
”Vì sao toàn là số một?” 
Phật Đà đáp: 
”Không có lãnh thổ, không có chữa bệnh, không có từ thiện, không có chùa, không có tháp, không có học, không có giáo dục, không có niệm Phật, không có tịnh thổ, không có Mật pháp, không có tương ứng. Bởi vì tất cả đều không có, cho nên gọi là số một.” 
Phật Đà hỏi ngược lại tôi: 
”Ngài có hiểu ý tôi không?” 
Tôi đáp: 
”Hiểu.” 
Phật Đà nói: 
”Ngài chính là số một!” 
(Tại đây tôi hỏi các thánh đệ tử, vì sao tất cả những hành vi, tất cả những việc làm của tất cả các đoàn thể Phật giáo ngày nay đều bị Phật Đà xem là không có gì, dụng ý sâu xa của Phật là gì? Mọi người có thể đưa ra ý kiến không? Rồi vì sao toàn là số một? Lại xin mọi người thử cho ý kiến vì sao Lư Sư Tôn tôi dám tự xưng là người hiểu biết nhất?)


### 42. Gặp lại Phật Đà (4)


Phật Thích Ca Mâu Ni là giáo chủ của thế giới Ta Bà ngày nay, là vị Phật đắc chứng ngộ ở thế giới Ta Bà (nhân gian), cũng là sự thị hiện của Đại Quyền Thần Vương, thuyết pháp 49 năm, cho đến khi không có pháp nào có thể nói. Phật Đà hiện thân trong thiền định của tôi, sao tôi có thể dễ dàng không thỉnh thị ngài chứ?
Tôi hỏi: 
”Phật Đà thuyết pháp 49 năm, vì sao lại chưa thuyết một pháp nào?” 
Phật Đà đáp: 
”Không có vật và người.” 
(Hôm nay tôi nói với mọi người, câu nói “không có vật và người” này chính là một câu nói kinh thiên động địa, nếu các thánh đệ tử hiểu câu nói này thì cũng chính là tổ sư.)
Tôi hỏi: 
”Đã không có vật và người thì hà tất phải thuyết pháp?” 
Phật Đà đáp: 
”Căn bản tôi không có thuyết pháp.” 
Phật Đà nói với tôi: 
”Hôm nay, Lư Sư Tôn ngài tự cho rằng mình ngày ngày thuyết pháp độ chúng sinh, thật ra cũng không hề thuyết pháp.” 
Thế là…
Tôi vì thế mà đại ngộ. (thấu hiểu triệt để)

🌟

Cá nhân tôi đối với Phật giáo nhân gian vốn có hơi bối rối, đồng thời cũng không hiểu rõ về giá trị cuộc sống đang được thảo luận, tôi đều đưa ra để hỏi Phật Đà.
Tôi hỏi: 
”Thế nào là Phật giáo nhân gian?” 
Phật Đà đáp:
”Trên núi Tu Di lại đặt thêm một ngọn núi Tu Di khác.”
Tôi nghe xong.
Hoàn toàn hiểu rõ!
Không biết thánh đệ tử có hiểu không?
Tôi hỏi: 
”Vì sao người thời nay đều đang đề xướng Phật giáo nhân gian?” 
Phật Đà đáp: 
”Bởi vì họ đang ở nơi khác, thậm chí tất cả các nơi đều tìm không được!” 
Tôi hỏi: 
”Nhân gian có thể tìm được ư?” 
Phật Đà đáp: 
”Tìm không được!” 
Tôi hỏi: 
”Đã tìm không được thì còn xướng ngôn Phật giáo nhân gian cái gì chứ?” 
Phật Đà đáp: 
”Chính vì ở nhân gian cũng không tìm được, cho nên mới có thánh hiền xuất hiện nhiều gấp bội.” 
(Lời Phật Đà trả lời tôi, trong đó có chân như rất sâu, cái này căn bản là dựa theo cái thật lập ra cái ngông, từ cái ngông lộ ra đạo lý thật.)

Tôi hỏi: 
”Giá trị nhân gian thì thế nào?” 
”Từ cái ngông lộ ra cái thật.” 
”Thế nào là ngông?” 
”Dựa thế leo lên.” 
”Thế nào là thật?” 
”Không nhiễm.” 
Tôi hỏi: 
”Phật Đà ơi, trong cuộc đời này của tôi, giá trị của tôi là cái gì vậy?” 
Các bạn đoán thử xem Phật Đà nói thế nào? Câu trả lời của Phật Đà đúng là rất “đỉnh”!
Phật Đà đáp: 
”Ngài trộm tiền của tôi đi mua hương hoa của tôi.”




### 43. Gặp lại Phật Đà (5)


Đối với việc Chân Phật Tông ở trong giới tôn giáo truyền thống ngày nay luôn luôn bị bài trừ và kiềm tỏa, tôi cảm thấy buồn trong lòng. Vì việc này, tôi liền hỏi Phật Thích Ca Mâu Ni.
Tôi hỏi: 
”Vì sao lại bị đối đãi như vậy?” 
Phật Đà đáp: 
”Chỉ vì thấy Phật thấy Bồ Tát thấy chân như Phật tính.”
Tôi hỏi: 
”Tôi nhìn thấy thật, đương nhiên phải nói, phải nói thật. Vì sao không thể nói?” 
Phật Đà đáp: 
”Thấy tức không thấy, không thể nói.”
Tôi hỏi: 
”Vì sao không thể nói?” 
Phật Đà đáp: 
”Bản thể không rời.” 
(Câu nói “bản thể không rời” này có thể xem là cái chuông lớn của vũ trụ, một khi đánh lên thì đánh thức toàn bộ con người trong mộng, chính câu nói “bản thể không rời” này chính là ý thậm thâm của thiền, thấy và không thấy cũng đều nằm trong đó, nhớ kĩ “bản thể không rời” chính là khẩu quyết thậm thâm của Như Lai.)
Tôi hỏi: 
”Thế nhân làm sao hiểu được Lư Sư Tôn?” 
Phật Đà ban đầu không trả lời câu này của tôi, trầm ngâm một lúc thì cuối cùng ngài nói: 
”Khi thân không còn thì mới nhận ra.” 

🌟

Theo như tôi biết, tôi bị giới tôn giáo truyền thống bài trừ và kiềm tỏa chính xác là vì “cái thấy” mà tôi nói đến. 
Còn giới tôn giáo truyền thống là: 
”Chưa thấy.” 
Tôi đã nói quá rõ “cái thấy” của chính tôi, tự nhiên sẽ bị bài trừ và kiềm tỏa, đây đúng là sự vô tri của chính mình. Phật Đà là người rời xa lưỡng biên, rời xa “thấy” và “không thấy”, cho nên nói ra chân lý: 
”Bản thể không rời.” 
Ngoài ra: 
Tôi hoàn toàn dung hợp tín ngưỡng dân gian và Phật giáo vào với nhau, đây cũng là một nhân tố quan trọng khiến tôi bị bài trừ và kiềm tỏa.
Thế nhưng, đây không phải là vấn đề lớn, mà là nút thắt về mặt thời gian, Phật giáo vốn dĩ đều đang thay đổi. 
Phật Đà kết hợp Ấn Độ giáo (Bà La Môn) với Phật pháp, hình thành nên Phật giáo. 
Phật giáo kết hợp với tín ngưỡng dân gian Tây Tạng trở thành Phật giáo Tạng truyền. 
Phật giáo kết hợp với tín ngưỡng dân gian Trung Quốc trở thành Phật giáo Trung Quốc.
Phật giáo kết hợp với tín ngưỡng dân gian Nhật Bản trở thành Phật giáo Nhật Bản.
v.v…

🌟

Tôi hỏi Phật Đà: 
”Tôi nên mặc loại áo cà sa nào mới xem là chính thức?” 
Phật Đà hỏi ngược lại:  
”Áo cà sa ngày nay, loại nào mới là cà sa của Như Lai?” 
Tôi nghĩ một lúc rồi trả lời: 
”Đều không phải!” 
Phật Đà nói:  
”Chính vậy! Chính vậy! Nếu là thánh, không mặc cũng là thánh; nếu là tục, mặc cũng vẫn là tục.” 
Tôi hiểu, bản thể là không thay đổi, cái thay đổi chỉ là hình thức bên ngoài.


### 44. Gặp lại Phật Đà (6)


Phật Thích Ca Mâu Ni hiện toàn thân trong thiền định của tôi, đàm luận về đạo sâu xa, lần lượt tháo gỡ những điều khó hiểu của việc đời. Cố nhiên tôi là một thánh hiền tăng, nhưng, những giải thích rất hay này có lợi ích đối với đại chúng, vì thế cần viết chúng ra để lợi lạc chúng sinh hữu tình.
Phật Đà hỏi tôi: 
”Truyền thông xã hội ngày nay đã sỉ nhục ngài, xúc phạm ngài, ngài thấy sao?”
Tôi đáp: 
”Đó là kiến giải của người bên đó.” 
Phật Đà hỏi: 
”Thế bên này thì có cái gì?” 
Tôi đáp: 
”Bên này không có truyền thông xã hội, không có sỉ nhục, không có xúc phạm.” 
Phật Đà hỏi: 
”Vì sao?” 
Tôi đáp: 
”Tôi không phải con nhà họ Lư, ai có thể làm gì tôi?” 
Phật Đà nghe xong, rất tán tưởng, vỗ vào vai tôi nói: 
”Đây mới là Phật tử thật!” 
Tôi nói: 
”Tôi cũng không có thân cao trượng sáu!” 

🌟

Phật Đà hỏi: 
”Ngày xưa khi ngài mở thiên nhãn, truyền xuống nhất tâm học Phật, nhất tâm học pháp, nhất tâm hướng thiện, giờ đây, ngài chắc đã biết thế nào là Phật, thế nào là pháp, thế nào là thiện?” 
Tôi đáp: 
”Phật là người trong mộng, pháp là mộng, thiện là việc trong mộng.”
Phật Đà nói: 
”Không ai biết được sao lại như thế.” 
Nghe lời nói này, tôi đại ngộ.
Phật Đà hỏi: 
”Thế nào là pháp còn nên bỏ?” 
Tôi đáp: 
”Thật không có pháp, làm sao bỏ? Làm sao nên bỏ?” 
Phật Đà hỏi: 
”Chư Phật xuất thế, rốt cục là vì cái gì?” 
Tôi đáp: 
”Vì con lừa.” 
Phật Đà cười, rất vui vẻ, tôi cũng cười, càng vui vẻ hơn, ha ha ha ha.

🌟

Phật Đà hỏi: 
”Khi Phật Thích Ca Mâu Ni tôi chưa xuất thế thì thế nào?”
Tôi đáp: 
”Vô sự.”
Phật Đà lại hỏi: 
”Tôi xuất thế rồi thì sao?” 
Tôi đáp: 
”Vô sự.” 
Phật Đà hỏi: 
”Chưa xuất thế vô sự, xuất thế cũng vô sự, thế thì vì sao phải xuất thế?” 
Tôi đáp: 
”Chính là vì cầm hoa trên tay!” 
Phật Đà hỏi: 
”Ngài xuất thế là vì sao?” 
Tôi đáp: 
”Chính là vì kim kê độc lập!”
Tôi và Phật Đà cùng vỗ tay cười vang!


### 45. Gặp lại Phật Đà (7)


Theo tôi được biết, Long Thụ Bồ Tát và Giác Âm Tam Tạng của Nam truyền đều chỉ ra thuyết pháp của Phật Đà có tứ tất đàn [siddhanta, tức là bốn phương pháp giúp cho việc thuyết pháp của Phật thành tựu].
1. Thế gian tất đàn.
2. Vị nhân tất đàn.
3. Đối trị tất đàn. 
4. Đệ nhất nghĩa tất đàn. 
Đối với bốn loại phương pháp này, về mặt giá trị, chỉ có đệ nhất nghĩa tất đàn mới là thành tựu rốt ráo, còn ba loại phương pháp trước chỉ là phương tiện, không phải là thành quả tột cùng.
Thế là, khi Phật Thích Ca Mâu Ni hiện toàn thân, tôi liền hỏi một câu.
Tôi hỏi: 
”Mấy khi Phật Đà hiện toàn thân, hãy cho Lư Sư Tôn tôi hỏi một chút về bốn tất đàn đi!”
Phật Đà đáp: 
”Ngài là người hiểu biết, hỏi điều này có thể khiến ngài tủi thân!” 
Tôi nói: 
”Tôi hỏi vì chúng sinh, không hỏi vì chính mình.” 
Phật Đà nói: 
”Vậy ngài hỏi đi!”
Tôi hỏi: 
”Thế nào là thế gian tất đàn?” 
Phật Đà đáp: 
”Không thị phi.” 
Tôi hỏi: 
”Thế nào là vị nhân tất đàn?” 
”Không thiện ác.” 
Tôi hỏi: 
”Thế nào là đối trị tất đàn?” 
”Không đúng sai.” 

Tôi vừa nghe xong liền biết đây chính là đệ nhất nghĩa tất đàn, thì ra ba loại tất đàn trước đều vì đệ nhất nghĩa tất đàn mà có, vậy thì giữa tất đàn này và tất đàn kia không có cái gọi là khác và cái gọi là giống.
Tôi cũng cảm thấy giới Phật giáo ngày nay đều ở mức độ của thế gian tất đàn, vị nhân tất đàn, đối trị tất đàn, đã quên mất đệ nhất nghĩa tất đàn rồi, Phật giáo đã mất đi giá trị.
Giá trị của bản thân Phật giáo quan trọng nhất nằm ở thành tựu rốt ráo của đệ nhất nghĩa.
Cái này không thay đổi.
Cho nên thế gian, vị nhân, đối trị chỉ là dạy chúng sinh phương pháp và công cụ mà thôi, là phương pháp để tập hợp chúng sinh, ví dụ từ thiện, cứu đời, chữa bệnh, giáo dục, nhân văn, xã hội, đều là phương pháp độ chúng sinh. 
Trong ba loại tất đàn này, nếu cộng thêm đệ nhất nghĩa tất đàn, cá nhân tôi cho rằng đây mới sinh ra giá trị của Phật giáo, bằng không sẽ đánh mất ý nghĩa.

Nếu chỉ có thế gian, vị nhân, đối trị mà không có đệ nhất nghĩa tột cùng thì Khổng Tử chính là Phật Đà rồi! 
Điều tôi lo lắng là, nếu như Phật giáo chỉ có khả năng từ thiện, cứu đời, chữa bệnh, giáo dục, nhân văn, xã hội thì tức là hoàn toàn nhập thế rồi, thế thì có khác gì với Cơ Đốc giáo, Thiên Chúa giáo?
Giáo pháp của Phật Đà:
”Lấy đệ nhất nghĩa tất đàn làm thành quả cuối cùng!” 
Đây mới là giá trị của Phật giáo.
Tôi hỏi: 
”Thế gian, vị nhân, đối trị và đệ nhất nghĩa phân biệt thế nào?” 
Phật Đà đáp: 
”Ba cái trước là phương tiện nhất thời, cái sau cùng là vạn cổ thiên thu.”


### 46. Gặp lại Phật Đà (8)


Phật Thích Ca Mâu Ni hiện toàn thân trong thiền định của tôi đã nói ra vô số ý bí mật. 
Nhân duyên thù thắng này cho đến ngày hôm nay đời này thật sự là vô cùng hiếm có, vì thế, tôi đặc biệt lần lượt viết ra những mẩu đối thoại trong thiền định. 
Hy vọng trăng sáng trên trời chiếu hiện ý chỉ của Phật Thích Ca Mâu Ni. 
Phật Đà hỏi tôi: 
”Hôm nay xuất định xong thì ngài muốn làm cái gì?” 
Tôi đáp: 
”Thầy Tỳ Lô.” 
Phật Đà cười: 
”Quả nhiên không siêu việt.” 
Phật Đà hỏi: 
”Thế vừa rồi chúng ta nói những gì?” 
Tôi đáp: 
”Pháp pháp không khác.” 
Phật Đà nói: 
”Chẳng qua là thêm một chút sương trên tuyết mà thôi!”
Tôi hỏi: 
”Thỉnh Phật Đà nói thêm vài câu!”

Phật Thích Ca Mâu Ni chỉ đưa lưỡi ra, lưỡi biến thành vừa dài vừa to vừa rộng, che phủ hết ba nghìn đại thiên thế giới. 
Giống như trong kinh A Di Đà đã ghi chép: 
”Thế là chư Phật nhiều như cát sông Hằng, mỗi vị đều ở trong quốc thổ của mình mà lộ ra tướng lưỡi dài rộng, che phủ khắp ba nghìn đại thiên thế giới để nói lời thành thật, chúng sinh các người nên tin vào kinh mà tất cả chư Phật hộ niệm và xưng tán công đức bất khả tư nghì này.”
Phật Đà thè lưỡi dài rộng có ba ý: 
1. Thành thật.
2. Công đức.
3. Thủ hộ.
Phật Đà hỏi tôi: 
”Khi tôi xuất thế, đầu tiên độ năm tì kheo. Khi ngài xuất thế, nên độ ai trước?”
Tôi đáp: 
”Vẫn chưa độ người!”
Phật Đà hỏi: 
”Vì sao vẫn chưa độ?” 
Tôi đáp: 
”Tôi không tìm thấy năm tì kheo.” 

🌟

Phật Đà hỏi tôi: 
”Tương lai thân này của ngài diệt thì ngài đi về đâu?” 
Tôi đáp: 
”Trả nguyện.”
Phật Đà hỏi: 
”Trả nguyện gì?” 
Tôi đáp: 
”Diêu Trì tiên cảnh không ở lâu, trong rừng đao kiếm thường qua lại.”
Phật Đà nói: 
”Là thế, là thế.” 
Phật Đà nói:  
”Lần này chúng ta gặp mặt, đã nói nhiều như vậy, hơn nữa còn có hỏi có đáp, ngài nói xem người ngoài sẽ phê bình là gì?”
Tôi đáp: 
”Phụ Phật ngoại đạo.” 
Phật Đà nói: 
”Lại hỏi ngài một câu nữa, thế nào là phụ Phật ngoại đạo?” 
Tôi đáp: 
”Như trăng trong nước.”
Tôi và Phật Đà cười lớn ha ha ha ha ha!


### 47. Nghi quỹ pháp lá chắn Thời Luân Kim Cang


Trong năm 2008, tôi sẽ truyền thụ pháp lá chắn Thời Luân Kim Cang, vì thế đặc biệt viết ra nghi quỹ như sau: 

1. Vào đàn thành Thời Luân, niệm chú thanh tịnh.

2. Niệm chú triệu thỉnh, triệu thỉnh truyền thừa Thượng sư, Thời Luân Kim Cang và các vị.

3. Pháp đại lễ bái.

4. Pháp đại cúng dường.

5. Pháp tứ quy y.

6. Pháp mặc giáp hộ thân.

7. Trì Liên Hoa Đồng Tử tâm chú 7 biến, 21 biến. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. 

8. Phát bồ đề tâm: “Xin thỉnh cầu Thời Luân Kim Cang hiếm có, nhờ điệu múa đại lạc và tính Không của mười phương ba đời, thị hiện sự nghiệp từ bi hỷ xả, thu nạp chúng sinh, tiến vào Phật quốc tịnh thổ Shambhala.”

9. Kết ấn Thời Luân Kim Cang.

10. Đầu tiên quán Không:
Niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)
Quán tưởng trong hư không có chủng tử tự “Hum”, trên bánh xe thời gian hóa hiện đất, nước, lửa, gió, không, ở giữa là núi Tu Di, 28 thiên đỉnh, trên mỗi đỉnh có một đóa hoa sen lớn màu xanh lam, ở giữa hoa sen có nhật nguyệt luân, chữ “Hum” ở trung tâm xuất hiện Thời Luân Kim Cang.
Quán tưởng hình tượng Thời Luân: đứng thẳng, bốn mặt, hai mươi tư tay, hai chân. Trên búi tóc có trang sức là chày kim cang, bên dưới quấn váy da hổ, đeo vòng ngọc chuỗi hạt, hai chân dẫm lên Đại Tự Tại Thiên và Thiên Hậu. Con mắt phẫn nộ trang nghiêm. (Quán tưởng dựa theo tranh vẽ thangka.)
Sau đó quán tưởng: Mi tâm của Thời Luân Kim Cang có chữ Om phóng đến thiên tâm của hành giả, chữ Ah ở họng phóng đến họng của hành giả, chữ Hum ở tim phóng đến tim của hành giả.
Trong một tích tắc, tự thân hành giả biến hóa thành Thời Luân Kim Cang.
Hành giả kết ấn Thời Luân Kim cang, buông thủ ấn, trì niệm Thời Luân chú: “Ôm ha ka-ma-la wa-la-ya sô-ha.” (108 biến)
(Làm kiên cố Thời Luân Kim Cang.)

11. Quán tưởng Thời Luân Kim Cang tay trái cầm lá chắn giơ lên đỉnh đầu và xoay tròn trong hư không. (Tay trái hành giả cầm lá chắn kim cang.)
Lá chắn kim cang hóa thành tấm màn kim cang phóng ra trăm ánh sáng quý, chiếu vào hành giả (Thời Luân Kim Cang) và hai mươi tám thiên, đất nước lửa gió, núi Tu Di, v.v… 
Màn kim cang che lấy một mình hành giả. (bảo vệ người)
Màn kim cang che lấy nhà của hành giả. (bảo vệ nhà)
Màn kim cang che lấy đất nước của hành giả. (bảo vệ đất nước)
Màn kim cang che lấy vũ trụ. (bảo vệ đời)

12. Trì chú phản hồi của Thời Luân Kim Cang: 
”Ha-sô ya-la-wa la-ma-ka ha ôm.” (108 biến) 
(Chú phản hồi tức là niệm ngược lại.)
Rất lợi hại: 
Phản lại ác pháp của đối phương, đối phương tự nhận lấy ác pháp của mình.
Che chắn ác pháp của đối phương, lá chắn kim cang chặn lại, màn kim cang chặn lại.

13. Thiền định nhập ngã - ngã nhập, định vào trong Tam ma địa của Thời Luân Kim Cang. 
(Đưa giác tri vào tính Không, cả hai hòa vào nhau, Thời Luân Kim Cang nhất vị.)

14. Xuất định, tụng tán:
Pháp lá chắn Thời Luân.
Ánh sáng quý bảo hộ.
Kẻ ác và pháp ác.
Họ làm, ta chẳng sao.

15. Hồi hướng: 

Nguyện ngày cát tường đêm cát tường. Ngày đêm sáu thời mãi cát tường. Tất cả mọi lúc đều cát tường. Nguyện các Thượng sư thường gia trì. Nguyện các Tam Bảo thường thu nhận. Nguyện các Hộ pháp thường ủng hộ. Tam Bảo tất cả đều cát tường.

16. Đại lễ bái. 
Rời khỏi đàn thành. Cát tường viên mãn.

🌟

Bộ phận làm pháp: 
Đầu tiên chuẩn bị một người giấy, trên đó viết họ tên, địa chỉ, giờ ngày tháng năm sinh của kẻ ác làm bùa ngải. Nếu không biết thì chỉ cần nghĩ đến hình ảnh của kẻ ác đó và đưa vào trong người giấy là được. 
Hành giả dùng chân trái dẫm lên người giấy.
Khi tu pháp đủ 11 lần, hành giả làm ba quán tưởng: 
1. Kẻ ác đầu bù tóc rối, cúi mặt xuống.
2. Kẻ ác toàn thân run rẩy.
3. Kẻ ác miệng hộc máu tươi.
Tiếp theo trì chú kim cang phản hồi: 
”Ha-sô ya-la-wa la-ma-ka ha ôm.” (108 biến) 
Đến khi tu pháp xong thì đem người giấy cùng tiền giấy Chân Phật Tông cùng đốt ở cửa sau. Kẻ ác sẽ vãng sinh tịnh thổ Shambhala.
(Chú ý: Pháp này vô cùng lợi hại, chỉ để mọi người biết mà thôi. Lư Sư Tôn không hy vọng mọi người làm pháp này, bởi vì một khi đã làm pháp này thì kẻ ác chắc chắn sẽ chết, sợ rằng liên lụy tới vợ con họ, đây là tội ác tày trời, đừng có làm. Tôi viết ra pháp này chỉ để cho mọi người tham khảo mà thôi!)


### 48. Phụ lục: Tôi chính là vũ trụ. Tôi chính là đạo


Ngày 3 tháng 5 năm 2008, tại cung thể thao Lâm Khẩu ở Đào Viên, Đài Loan, tổ chức đại pháp hội Hộ Ma Thời Luân Kim Cang hộ quốc.
Bản văn này được chọn tử Chân Phật Báo kỳ 690 bản 2. 
Khai thị của Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật.

Đầu tiên, chúng ta hãy yên lặng, nhất tâm kính lễ Liễu Minh Hòa Thượng, Sakya Chứng Không Thượng sư, Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16, Thubten Dhargye Thượng sư. Nhất tâm kính lễ đàn thành Tam Bảo, nhất tâm kính lễ Thời Luân Kim Cang Đại Minh Vương.

Các vị Thượng sư, giáo thọ sư, pháp sư, giảng sư, trợ giảng, các bạn đồng môn, và tất cả các vị khách quý tôn kính, người cha tôn kính của tôi, gia quyến tôn kính của Sư Tôn Sư Mẫu, xin chào mọi người! 

Hôm nay chúng ta ở đây là muốn giảng về pháp lá chắn Thời Luân Kim Cang. Khi chúng ta mới làm Hộ Ma Thời Luân Kim Cang, trước khi làm Hộ Ma, Thời Luân Kim Cang đã giáng xuống rồi. Trong lúc làm Hộ Ma, Thời Luân Kim Cang đều không hề rời đi, tôi tin rằng với pháp lực gia trì của bánh xe thời gian lớn nhất của ngài, tất cả mọi người ngồi đây ai nấy đều có thể muốn gì được nấy. Vì thế, chỉ cần bạn nhận được quán đảnh Thời Luân Kim Cang, chỉ cần bạn nhận được sự gia trì của Thời Luân Kim Cang, pháp lực gia trì rất lớn của ngài sẽ có thể phát huy trên người mỗi một cá nhân tham gia pháp hội này. 

Trong năm pháp kim cang lớn thì pháp xuất hiện sớm nhất là Hỷ Kim Cang, và xuất hiện sau cùng là một vị Kim Cang Minh Vương gọi là Thời Luân Kim Cang. Tất cả các pháp của Kim Cang Minh Vương, bạn chỉ cần tu một vị tương ứng, sau đó bạn tu năm đại Kim Cang Minh Vương khác, mười đại Kim Cang Minh Vương khác, tám đại Kim Cang Minh Vương khác, bạn đều có thể tương ứng. 

Trước tiên tại đây tôi giải thích với mọi người một chút để tránh cho các nhà báo Đài Loan hiểu lầm. Đúng rồi! Còn phải gửi lời chào đến các nhà báo nữa. Trên đầu tôi đội mũ miện này là tượng trưng cho Ngũ Phật và tất cả Thượng sư của tôi. Tai tôi đeo khuyên tai, không phải là tôi luyện “quỳ hoa bảo điển” đâu, mà là tượng trưng cho Thứ tự sinh khởi và Thứ tự viên mãn của Mật giáo, cả hai thứ tự này đều vô cùng viên mãn. Và bản thân khuyên tai cũng tượng trưng cho tất cả phỉ báng và lời ác đều có thể không cần nghe; cũng tượng trưng cho miệng nói ra lời thiện. Trên tay tôi còn đeo một chiếc vòng tay tượng trưng cho thân thể thanh tịnh. Tôi đeo ngọc bội tượng trưng cho ý niệm thanh tịnh, cũng chính là thân, khẩu, ý thanh tịnh. 

Mười ngón tay trên tay tôi đeo mười cái nhẫn, chính là thập tự chú của Thời Luân Kim Cang đều ở trên người Sư Tôn. Vì thế, đừng nói sao tôi lại đeo vàng đeo ngọc, đây là làm pháp hội nên mới như vậy, nếu không phải là pháp hội thì tôi sẽ không đeo những thứ này.

Tôi cảm thấy, cuộc đời của con người chúng ta cực kì ngắn ngủi. Đài Loan là nơi tôi sinh ra, tôi vô cùng thương nhớ mảnh đất Đài Loan này. Tôi đã từng nói, sẽ có một ngày, tôi sẽ lá rụng về cội, ngôi nhà vĩnh viễn của tôi chính là Linh Cốt Tháp ở Đài Loan Lôi Tạng Tự. Hoan nghênh mọi người cùng đến chung sống, nếu chúng ta cùng sống trong Linh Cốt Tháp ở Đài Loan Lôi Tạng Tự, tôi có thể ngày ngày diễn giảng pháp cho mọi người nghe.

Cuộc đời của con người từ khi sinh ra cho đến khi chết, thời gian là vô cùng ngắn ngủi. Kể chuyện cười mà bà Trần Truyền Phương gửi cho, bà ấy nói với tôi, cuộc đời là cái gì nhỉ? Khi 1 tuổi thì rạng rỡ ra đời. Khi 10 tuổi thì học hành tấn tới. Khi 20 tuổi thì yêu đương phơi phới. Khi 30 tuổi thì sự nghiệp long đong. Khi 40 tuổi thì bắt đầu phát tướng. Khi 50 tuổi thì gừng càng già càng cay. Khi 60 tuổi thì gia tăng huyết áp. Khi 70 tuổi thì đãng trí chuyện thường. Khi 80 tuổi thì hễ đi lại là lắc lư lảo đảo. Khi 90 tuổi thì già khô như cóc, cho nên mất hết phương hướng. Khi 100 tuổi thì đã ảnh treo trên tường rồi.

Mọi người nghe đến đây sẽ cảm thấy đời người cũng chẳng qua chỉ thế này thôi, rất nhanh chóng giấc mộng trăm năm sẽ trôi qua. Thế nhưng, cũng xin mọi người đừng vì những lời này của tôi mà cảm thấy sầu muộn. Bây giờ rất nhiều người có bệnh rối loạn cảm xúc, có bệnh trầm cảm. Bà Trần Truyền Phương còn nói, thân thể khỏe mạnh thì không cần sầu muộn. Thân thể rất khỏe mạnh thì bạn còn buồn rầu cái gì? Thân thể có bệnh, bệnh sẽ khỏi, bạn cũng không cần phải sầu muộn. Nếu bệnh không khỏi, các vị đang ngồi đây đều sẽ vãng sinh đến Phật quốc tịnh thổ, cũng không cần phải u buồn. Sau cùng bà ấy nói, cho dù xuống địa ngục, bởi vì có rất nhiều bạn bè thân thích ở đó, tám chuyện còn chẳng hết chứ còn buồn rầu cái gì. 

Tương ứng với Thời Luân Kim Cang có thể hô mưa gọi gió

Bây giờ trở lại vấn đề chính, Thời Luân Kim Cang có thể đoạn trừ phiền não, chính là pháp cọc kim cang mà trước đây chúng ta đã giảng. “Ôm ha ka-ma-la wa-la-ya sô-ha.” Khi bạn thành tựu giống như Thời Luân Kim Cang, có pháp lực lớn, khi bạn niệm Thời Luân Kim Cang thập tự chú, bạn giơ ngón tay pháp Thời Luân Kim Cang của bạn lên, chỉ vào hư không, bạn muốn mưa có mưa, muốn gió có gió.

Trong số các đồng môn chúng ta đã có người tu trì pháp cọc Thời Luân Kim Cang đến tương ứng rồi, họ nhìn thấy Thời Luân Kim Cang, Thời Luân Kim Cang đưa họ đi đến bờ biển, họ giơ chày (cọc) kim cang lên, sóng liền dâng lên, chày (cọc) kim cang hạ xuống thì sóng liền rút xuống. Tôi đang nghĩ, sóng vốn dĩ có cao có thấp, khi sóng dâng lên thì họ liền giơ cái chày (cọc) kim cang lên, sóng rút xuống thì họ buông xuống, đây cũng là tương ứng. Thời Luân Kim Cang nói với họ: “Anh lập lời thề với tôi, tôi sẽ dạy anh sinh ra chuyết hỏa.” Hơn nữa bạn còn có thể gọi gió hô mưa, có thể kiểm soát toàn bộ thế giới trong tay bạn. Người học Mật giáo có thành tựu sẽ có sức mạnh này. Tôi nói với bạn một việc, trong pháp hội Thời Luân Kim Cang ở cung thể thao Thái Tử vào năm ngoái  ở Kuala Lumpur, tôi giơ chày (cọc) kim cang lên, nghĩ rằng vì trái đất đang dần dần ấm lên, chúng ta hãy xin mặt trời cách xa trái đất một chút. Tôi vô tình nói câu này, không ngờ rằng một pháp chỉ này mà mùa đông năm nay, toàn cầu khắp nơi đều có tuyết lớn.

Khi tôi lại giơ chày (cọc) kim cang lên, dùng bảy đại pháp của Diêu Trì Kim Mẫu, “Ôm ha ka-ma-la wa-la-ya sô-ha”, sắc lệnh cho ung thư trên người bạn hóa thành tổ ong, tất cả ong mật đều từ trong tổ ong bay ra, ung thư trên người bạn sẽ dần dần tiêu biến. Không ngờ khi vừa truyền pháp này, ong mật trên khắp thế giới đều biến mất, rất kỳ lạ, đặc biệt là ong mật ở Mỹ, tôi không biết ong mật ở các nước trên thế giới thì thế nào, tóm lại, chính vì tôi niệm “Ôm ha ka-ma-la wa-la-ya sô-ha” để cho ung thư hóa thành ong mật bay vào trong hư không mà ong mật đều biến mất.

Ong mật trên toàn thế giới đều biến mất, vấn đề này rất nghiêm trọng. Nhà của Thượng sư Liên Đặng ở Seattle có một cây táo. Những năm trước, khi bắt đầu mùa xuân, rất nhiều ong mật kéo đến, cho nên cây táo sẽ ra rất nhiều táo. Kết quả là năm nay hoa nở hết rồi nhưng lại không có ong mật đến. Vì thế chúng ta dùng cách làm bằng tay, dùng tay để chạm vào từng bông hoa, hy vọng phấn hoa có thể lan truyền đi. Tôi nghĩ, ong mật vốn có chức năng thụ phấn, nhưng tôi không thể để cho ung thư hóa thành ong mật bay đi rồi lại bay về được. Vậy phải làm sao đây? “Ôm ha ka-ma-la wa-la-ya sô-ha. Ong mật đừng có bay trở lại thân người, hãy bay đến những vườn nuôi ong ban đầu. Sô-ha”. Bây giờ tôi niệm một câu: “Ôm ha ka-ma-la wa-la-ya sô-ha.” Thỉnh cầu Thời Luân Kim Cang để cho tất cả ong mật bay về vườn nuôi ong. Om mani padme hum. 

“Ôm ha ka-ma-la wa-la-ya sô-ha.” Thỉnh cầu Thời Luân Kim Cang giữ khoảng cách giữa mặt trời và trái đất không cần quá xa, cũng đừng quá gần, để những núi băng trên trái đất chúng ta đừng tan chảy, để trái đất chúng ta đừng nóng như vậy, để khi chúng ta làm hỏa cúng cũng mát mẻ một chút, A Di Đà Phật. 

Chỉ cần bạn tu pháp cọc kim cang chân thực của Thời Luân Kim Cang, bạn tương ứng rồi thì bạn sẽ có pháp lực kiểu này, bản thân bạn và tất cả mọi người đều phải dựa vào pháp chỉ của Thời Luân Kim Cang là bạn có thể sắc lệnh cho một người nào đó vãng sinh đến Phật quốc thanh tịnh, một người nào đó tức thân thành Phật, sắc lệnh một người nào đó có thể đạt được đại thành tựu.

Pháp lá chắn của Thời Luân Kim Cang che chắn và phản hồi có sức mạnh lớn để bảo hộ

Dù sao, mỗi một đệ tử sau khi tu thành tựu pháp cọc kim cang thì đều có thể làm pháp, sẽ sinh ra một vấn đề. Nếu các bạn làm pháp với Sư Tôn, “Ôm ha ka-ma-la wa-la-ya sô-ha” sắc lệnh Thời Luân Kim Cang lập tức khiến Lư Sư Tôn từ Seattle Lôi Tạng Tự nước Mỹ bay đến phân đường nào đó của tôi để thuyết pháp. Thế thì mấy ngày đó tôi sẽ không ăn được cơm, đi qua bên này, đi qua bên kia, va bên này đụng bên kia, ngồi thiền thì trong lòng không yên. Phải làm sao? 

Sư Tôn còn có pháp lá chắn kim cang. Giơ khiên Thời Luân Kim Cang lên, quán tưởng khiên kim cang bay vào hư không, biến thành một cái ô cực lớn, che lấy cả người Lư Sư Tôn, đây chính là để bảo vệ Lư Sư Tôn. Pháp lá chắn này có thập tự chú. Sắc lệnh cọc kim cang của bạn bay đến trước mặt lá chắn sẽ bị lá chắn chặn lại. Vì thế, tôi rất yên ổn ngồi ở đây thuyết pháp, không chạy loạng choạng khắp nơi, sẽ không va đụng lung tung.

Pháp lá chắn này có thể bảo vệ cá nhân hành giả. Khi bạn ở trong nhà, khi giơ cái khiên lên, chỉ vào hư không, nó sẽ biến thành một cái ô hình tròn che kín lấy bạn, che kín lấy nhà bạn, tức là bảo vệ gia đình bạn, không có tà ma quỷ quái có thể đi vào trong nhà bạn. Khi khiên này giơ lên sẽ biến thành cái ô, che hết cả Đài Loan, thế thì nhân dân sống trên cả đất nước Đài Loan có thể an cư lạc nghiệp. Đây là hộ quốc, tức là cái khiên của Thời Luân Kim Cang sẽ bảo vệ Đài Loan.

Nhưng mà chú ngữ có cách niệm khác, tức là chúng ta phải niệm chú phản hồi. Chú phản hồi của Thời Luân Kim Cang vừa hay là chú đảo ngược: “Ha-sô ya-la-wa la-ma-ka ha ôm.” Mười chữ này rất lợi hại.

Khi bạn niệm “Ôm ha ka-ma-la wa-la-ya sô-ha”, bạn niệm ngược trở lại tức là bạn đang che chắn cho mình. Cái khiên này giơ lên, quán tưởng nó ở trong hư không biến thành tấm màn kim cang ánh sáng bách bảo, bạn quán tưởng nó giống như cái màn chống muỗi, phóng ra ánh sáng vô thượng vây quanh bạn, tấm màn này bao bọc lấy bạn, bạn ở bên trong tấm màn, niệm 108 biến chú phản hồi, bất kì người làm ác pháp nào, người làm bùa ngải nào đều không có cách nào làm hại hành giả. Hơn nữa, họ làm pháp lớn thế nào thì phản hồi lại lớn như thế. Che tức là che chắn, hồi tức là trở về, họ làm pháp gì với bạn thì họ sẽ nhận lại pháp đó. Pháp lá chắn này có thần Bát Quái của thống soái Thời Luân Kim Cang, có hai mươi tám tinh tú, có lục giáp lục đinh, có vô cực đại tướng quân. 

Khi bạn tương ứng với Thời Luân Kim Cang, bạn quán tưởng cái khiên Thời Luân Kim Cang che lấy chính bạn, tức là bảo vệ hành giả, che lấy ngôi nhà bạn tức là bảo vệ nhà bạn, che lấy cả đất nước tức là bảo vệ cả đất nước, che cả trái đất tức là bảo vệ cả trái đất. Vì thế, nếu bạn là người đã học pháp lá chắn kim cang chân thực của Thời Luân Kim Cang thì nên có cái khiên của Thời Luân Kim Cang đặt trên bốn góc của đàn thành pháp cọc Thời Luân Kim Cang. Pháp lá chắn Thời Luân Kim Cang tốt nhất là bạn làm nửa tháng một lần, bởi vì nó sẽ cố định trong hư không để bảo vệ bạn, thời gian là có thể bảo vệ bạn nửa tháng, người nhà bạn, cả đất nước, cả trái đất, những điều này đều vô cùng chân thực.

Tôi từng nói, chúng ta là Thượng sư hạng nhất, đệ tử hạng nhất. Có một chuyện cười, tài xế xe taxi ở Đài Bắc chạy xe rất nhanh, rất nhiều người nước ngoài sau khi trở về nước thì sợ đến mức nhắm chặt mắt lại không dám nhìn. Khách hỏi tài xế sao lại chạy nhanh như vậy. “Chúng tôi đều là tài xế hạng nhất, chạy xe hạng nhất.” Khách lại hỏi tài xế: “Thế còn hạng hai thì sao?” “Hạng hai đều chết cả rồi.” Không có hạng hai. Vì thế, Sư Tôn là hạng nhất. Thượng sư của chúng ta là hạng nhất, đệ tử Chân Phật Tông chúng ta đều là hạng nhất, chúng ta không có hạng hai, hạng hai đều không biết là đã đi đâu rồi.

Nghi quỹ pháp lá chắn Thời Luân Kim Cang được viết trong văn tập số 202 của Sư Tôn

Nói đến nghi quỹ tu pháp lá chắn Thời Luân Kim Cang, thật ra, nó cũng tương tự như pháp cọc kim cang chân thực của Thời Luân Kim Cang. Chúng ta cũng phải vào đàn thành Thời Luân Kim Cang, niệm chú thanh tịnh, niệm chú triệu thỉnh, triệu thỉnh truyền thừa Thượng sư, triệu thỉnh Thời Luân Kim Cang và các vị, phải làm đại lễ bái, đại cúng dường, tứ quy y, mặc giáp hộ thân, trì tâm chú Liên Hoa Đồng Tử, phát bồ đề tâm. Tôi cầu thỉnh: “Xin thỉnh cầu Thời Luân Kim Cang hiếm có, nhờ điệu múa đại lạc và tính Không của mười phương ba đời, thị hiện sự nghiệp từ bi hỷ xả, thu nạp chúng sinh, tiến vào Phật quốc tịnh thổ Shambhala.” Sau đó kết ấn Thời Luân Kim Cang. Phải quán Không, chú quán Không là: “Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng.” quán tưởng trong hư không có chủng tử tự “Hum”, trên bánh xe thời gian hóa hiện ra đất, nước, lửa gió, không, ở giữa là núi Tu Di, hai mươi tám thiên đỉnh, trên mỗi đỉnh có một đóa hoa sen lớn màu xanh lam, ở giữa hoa sen có nhật nguyệt luân, chữ “Hum” ở trung tâm xuất hiện Thời Luân Kim Cang. Quán tưởng hình tượng Thời Luân: đứng thẳng, bốn mặt, hai mươi tư tay, hai chân. Trên búi tóc có trang sức là chày kim cang, bên dưới quấn váy da hổ, đeo vòng ngọc chuỗi hạt, hai chân dẫm lên Đại Tự Tại Thiên và Thiên Hậu. Con mắt phẫn nộ trang nghiêm. 

Khi bạn quán tưởng, có thể xem thangka và hình tượng Thời Luân Kim Cang trước. Sau đó quán tưởng chữ “Om” ở Mi tâm của Thời Luân Kim Cang phóng đến Mi tâm của hành giả, chữ “Ah” ở họng phóng đến họng của hành giả, chữ “Hum” ở tim phóng đến tim của hành giả, trong nháy mắt, tự thân hành giả hóa thành Thời Luân Kim Cang, hành giả kết ấn Thời Luân Kim Cang. Lúc này, hai tay cầm chuỗi hạt, niệm chú Thời Luân Kim Cang: “Ôm ha ka-ma-la wa-la-ya sô-ha” 108 biến, đây là để làm kiên cố Thời Luân Kim Cang. Tiếp theo là như tôi vừa giảng, quán tưởng Thời Luân Kim Cang trên tay trái có cái khiên, giơ lên đỉnh đầu, xoay tròn trong hư không, tay trái hành giả cầm khiên kim cang, khiên kim cang hóa thành tấm màn kim cang phóng ra ánh sáng bách bảo. Bạn quán tưởng khiên kim cang bay vào trong hư không, biến thành tấm màn kim cang giống như màn chống muỗi, ở xung quanh bạn phát ra ánh sáng bách bảo. Lúc này bạn đã được chuông che và áo sắt, bất kì ai làm pháp, dùng bùa ngải, dùng ma quỷ muốn xung phạm bạn, họ đều không có cách nào tiến vào. 

Khi tấm màn kim cang che kín hành giả thì là bảo vệ con người, bảo vệ hành giả này; khi che cả nhà của hành giả thì là bảo vệ ngôi nhà; che đất nước của hành giả thì là bảo vệ đất nước, bảo vệ quốc gia; màn kim cang che cả vũ trụ thì là bảo vệ thế giới, bảo vệ con người thế gian. Lúc này, phải trì chú phản hồi của Thời Luân Kim Cang: “Ha-sô ya-la-wa la-ma-ka ha ôm” 108 biến, dùng khiên kim cang và màn kim cang để che chắn ác pháp, đẩy ngược lại, ác pháp của đối phương sẽ tự họ chịu. Lúc này phải tiến vào thiền định nhập ngã - ngã nhập, định vào trong Tam ma địa của Thời Luân Kim Cang, đưa giác tri vào tính Không, cả hai hòa vào nhau, Thời Luân Kim Cang nhất vị, cũng chính là hành giả và Thời Luân Kim Cang là một thể.

Trong tu hành Mật giáo của chúng ta, cái gọi là yoga là du già, thật ra chính là nhất vị, chính là nhất thể. Trong tu hành của Bạch giáo có cái gọi là Chuyên nhất du già, Ly hý du già, Nhất vị du già, sau cùng là Vô tu du già. Nhất vị du già chính là bạn và Thời Luân Kim Cang tương ứng, bạn sẽ đạt đến nhất vị.

Khi xuất định thì tụng tán: “Pháp lá chắn Thời Luân. Ánh sáng quý bảo hộ. Kẻ ác và pháp ác. Họ làm, ta chẳng sao.” Khi hồi hướng có thể hồi hướng như sau: “Nguyện ngày cát tường đêm cát tường. Ngày đêm sáu thời mãi cát tường. Tất cả mọi lúc đều cát tường. Nguyện các Thượng sư thường gia trì. Nguyện các Tam Bảo thường thu nhận. Nguyện các Hộ pháp thường ủng hộ. Tam Bảo tất cả đều cát tường.” Sau đó là đại lễ bái, xuất đàn, cát tường viên mãn. Nghi quỹ pháp lá chắn Thời Luân Kim Cang tôi viết trong cuốn sách số 202. Nếu các bạn mua cuốn sách số 202 thì có thể đọc thấy nghi quỹ này.

Sư Tôn mãi mãi là tất cả tùy ý, sẽ không yêu cầu đệ tử cúng dường

Người Tây Tạng khi vẽ thangka Thời Luân Kim Cang, ngài không hướng khiên ra ngoài mà ngược lại hướng khiên vào trong, hướng xuống thấp nhất, để ở rốn. Có một Thượng sư nói: “Nên để cho cái khiên kim cang hướng ra ngoài mới đúng, vì sao các họa sĩ đều vẽ cái khiên hướng vào trong chứ?” Thật ra, hướng vào trong hay ngoài cũng là có pháp vị của nó. Hướng ra ngoài là để che chắn, phòng hộ, hướng vào trong là để chặn lại tham sân si của chính mình, che chắn tham sân si của chính mình.

Vì sao có nhiều chúng sinh như vậy? Vì sao chúng ta phải luân hồi? Chính là vì tham sân si cho nên mới có luân hồi. Phật pháp Đại thừa nói về vô ngã, Phật pháp Tiểu thừa cũng nói về vô ngã, thậm chí Nhị thừa cũng nói về vô ngã. Tu hành giả Nhị thừa có trí huệ rất cao, nhìn được nhân duyên, họ có thể nghĩ được thành tựu tột cùng là thế nào, họ dùng trí huệ của mình để giải thoát thì gọi là Duyên Giác. Tiểu thừa chủ yếu là giải thoát chính mình, nhưng cũng nói đến vô ngã. Tinh thần của Đại thừa vẫn là vô ngã, vô ngã tức là không có tham, hữu ngã thì sẽ sinh ra tham, hữu ngã sẽ sinh ra nóng giận, hữu ngã sinh ra ngu si, ngu muội. 

Tôi kể hai câu chuyện cho mọi người nghe. Có một thương nhân Đài Loan, ông ấy rất muốn bao thầu một công trình. Singapore thì tương đối không tham, chủ yếu là quản rất nghiêm, Hồng Kông cũng tốt, họ có Công Sở Liêm Chính, còn Đài Loan thì xếp hạng ở giữa. Trong các quốc gia tham ô, năm nay số một là Thái Lan, thứ hai là Indonesia.

Vị thương nhân này muốn bao thầu công trình, muốn hối lộ, ông ấy mua một tòa biệt thự muốn tặng cho vị quan chức kia. Ông ấy nói với quan chức kia: “Tôi mua một tòa biệt thự muốn tặng cho ông, xin ông hãy để công trình này cho tôi làm.” Quan chức nói với ông ta: “Tôi rất thanh liêm, một chút tôi cũng không tham, tôi hoàn toàn trong sạch thanh bạch.” Thương nhân nói: “Tôi biết ông rất thanh liêm, tôi cũng biết ông trong sạch thanh bạch, cẩn thận tỉ mỉ, thế này thì tốt rồi, tôi sẽ bán cho ông ngôi biệt thự này, một vạn đồng là được rồi.” Một vạn đồng Đài tệ cũng không đủ để mua được ba mét vuông. Quan chức này nghĩ một lúc rồi nói: “Vì anh đã bán và tôi mua, vậy tôi mua hai ngôi nhà luôn.” Đây chính là tham. Cái gọi là thanh bạch trong sạch là để hù người ta.

Nói ra thì cũng hơi ngại. Thật ra, lại nói đến Thượng sư của Chân Phật Tông chúng ta thì cực kì liêm khiết trong sạch, vô cùng thanh bạch. Rất nhiều Thượng sư đi ra ngoài hoằng dương Phật pháp, đệ tử cúng dường, họ cũng sẽ cúng dường Sư Tôn một chút. 

Có ba Thượng sư bàn luận về việc cúng dường Sư Tôn, một Thượng sư nói: “Tôi vẽ ra một vòng tròn rồi ném tiền ra, tiền rơi vào trong vòng tròn biểu thị đó là tiền của tôi, còn tiền ở bên ngoài vòng tròn thì cúng dường Sư Tôn.” Thượng sư thứ hai nói: “Tôi khác anh, tôi học vô ngã, tôi vẽ một vòng tròn, tiền ném mạnh một chút, tiền ném ra ngoài vòng tròn là của tôi. Bên trong vòng tròn vẽ rất nhỏ thì là của Sư Tôn.” Thượng sư còn lại nói hay nhất: “Chẳng phải đâu đâu cũng có Pháp thân của Sư Tôn sao? Trong hư không đều là Sư Tôn, căn bản là tôi không cần vẽ vòng tròn, chỉ cần đem tiền của người ta cúng dường tung vào không trung, tiền ở trong không trung thì Sư Tôn đã nhận rồi.” Vì thế, tiền rơi trên mặt đất toàn bộ đều là Thượng sư này nhặt đi.

Có một Thượng sư thì như thế này. Người ta nói hồng bao này nhờ Thượng sư cầm đi Seattle, nhờ Thượng sư chuyển cúng dường này đến Sư Tôn của chúng ta. Thượng sư kia nói: “Được! Cúng dường Sư Tôn, Sư Tôn trong hư không đã nhận rồi.” Sau đó ném lên trên. “Sư Tôn từ bi, ngài đều chẳng lấy.” “Lần nào tôi tung lên ngài cũng đều không lấy.” “Vậy tôi làm cách nào đây? Hay là tôi lấy vậy!” 

Lư Sư Tôn tôi ở đây nói chuyện, các bạn không cần phải cho tôi một phần ba, đừng dán nhãn hiệu cho tôi, nói Sư Tôn lấy một phần ba. Một phần cho phân đường, một phần cho chính mình, một phần cho Sư Tôn, đừng có nói như vậy, Sư Tôn luôn luôn đều là tùy ý, tôi chưa bao giờ mở miệng yêu cầu người ta tiền.

Tôi và Tăng Diệu Quyền ở Indonesia rất tốt, nhưng Tăng Diệu Quyền chưa bao giờ đòi tôi tiền, bản thân anh ấy đều cúng dường Sư Tôn. Sư Tôn là tùy ý, nói cách khác là tuyệt đối sẽ không mở miệng ra đòi tiền bạn, tôi cũng chưa bao giờ dán nhãn hiệu nói rằng thứ này bao nhiêu tiền, chưa bao giờ có, tất cả tùy ý chính là tôn chỉ của cá nhân tôi. Cho nên, các Thượng sư, các giáo thọ sư, các pháp sư, các phân đường, các bạn chỉ cần tùy ý cúng dường Sư Tôn là được, thậm chí không cúng dường cũng không cần căng thẳng, tất cả đều không vấn đề gì cả.

Sư Tôn biết tiền bạc thì ai ai cũng thích, mỗi người đều thích. Bởi vì có bạn, bởi vì có tôi, bởi vì có người khác cho nên mới sinh ra tham niệm. Thánh hiền chân chính sẽ lấy tiền trên người mình ra để bố thí cho tất cả chúng sinh. Sư Tôn tương lai có Quỹ Từ Thiện Lư Thắng Ngạn, tháng 7 năm nay tôi sẽ đến Thụy Sĩ, bởi vì con gái tôi ở Thụy Sĩ, chủ tịch công ty Chanel. Tôi gọi nó về để làm chủ tịch của quỹ từ thiện này. Nó là tiến sĩ pháp luật. Tôi hoan nghênh nó trở về để chủ trì Quỹ Từ Thiện Lư Thắng Ngạn, tôi sẽ đem tiền cúng dường dư thừa của mình để trả lại hết cho chúng sinh.

Năm đặc tính của con người là: đoạn diệt tính, thường tính, Thanh Văn tính, Duyên Giác, Phật tính

Thật ra, tất cả chúng sinh đều có đặc tính của bản thân họ, đều có thể nhìn ra. Đặc tính của con người nên phân làm năm loại, loại thứ nhất thuộc về đoạn diệt, cho rằng thế gian này căn bản không có nhân quả luân hồi, con người chết đi rồi thì giống như đèn tắt, trở thành đoạn diệt, chết rồi thì cái gì cũng không còn, không có nhân quả, không có luân hồi. Đây là một đặc tính của con người. Người có đặc tính này đều tương đối khó độ hóa, bạn nói với họ cái gì cũng đều vô dụng, họ cho rằng tôi chết rồi thì chẳng còn gì nữa, bạn nói với tôi cái gì tôi cũng chẳng tin. Cái này thuộc về đặc tính đoạn diệt.

Đặc tính thứ hai thuộc về thường tính. Nhà của tôi là của tôi, vợ của tôi là của tôi, con cái của tôi là của tôi, cháu chắt của tôi là của tôi, tiền tôi kiếm là của tôi, tất cả những thứ hữu hình tôi đều tin, tất cả những thứ vô hình, sờ không thấy thì tôi đều không tin. Họ tin vào cái có, đây chính là thường tính. 

Loại thứ ba là Thanh Văn tính, thế nào là đặc tính của Thanh Văn? Bản thân tôi biết Phật pháp, nhưng rồi sao? Tôi tự mình giấu đi, tôi tự mình tu tự mình đắc, tự mình đạt đến cái lạc của niết bàn, không muốn đem cái lạc của niết bàn cho chúng sinh, đây là đặc tính của Thanh Văn.

Loại thứ tư là đặc tính của Duyên Giác, đặc tính của Duyên Giác là trí huệ rất cao, họ nhìn thấy một cái đầu lâu, họ sẽ nghĩ vì sao có cái đầu lâu này? Bởi vì con người có sinh, lão, bệnh, tử, cho nên khi chết mới có cái đầu lâu này. Thế còn, làm sao để đạt đến giải thoát, làm sao có thể chứng nghiệm Phật bồ đề? Họ sẽ nghĩ đến vấn đề này. Phiền não làm sao để giải thoát? Họ sẽ từ phương pháp nhân duyên và lần lượt đi tiếp đi tiếp, sau cùng họ biết được phương pháp giải thoát là gì, phương pháp chứng nghiệm bồ đề là gì, đây chính là Duyên Giác. Nhưng đặc tính của Duyên Giác tương đối kiêu ngạo. 

Sau cùng chính là Đại thừa chúng ta, có Phật tính, chúng sinh đều có Phật tính. Chúng ta có Phật tính, mỗi người đều có Phật tính, phải đi khai mở Phật tính của chính bạn, sau đó, giống như Sư Tôn có thể “khai ngộ từng lớp lớp”.

Tôi từng kể chuyện cười này, có một người đi ăn mì bò, ông ấy gắp mãi thì phát hiện ra chỉ có mì, không có thịt bò. Ông ta hỏi ông chủ: “Ông chủ! Ông chủ! Trong mì thịt bò này vì sao không có thịt bò?” Ông chủ hùng dũng hiên ngang trả lời: “Ông ăn bánh mặt trời bên trong có mặt trời không? Còn nữa, ông ăn bánh mặt trăng bên trong có mặt trăng không?” Người kia đúng là không trả lời được. Tôi lấy ví dụ này, bên trong bánh mặt trời không có mặt trời, bên trong bánh mặt trăng không có mặt trăng, chính là muốn bản thân mọi người cần khai ngộ.

Bạn biết trái đất có cái gì không? Trên trái đất có người không? Có. Đang ngồi đây đều là người, đang ngồi đây cũng đều không phải là người. Thứ vĩnh viễn tồn tại trên trái đất chúng ta chính là đất, con người chẳng qua chỉ đến đi một chuyến. Nếu bạn có trí huệ rất cao, hãy theo lời tôi nói này mà suy ra, bạn sẽ rất dễ khai ngộ.

Thỉnh cầu Thời Luân Kim Cang gia trì cho tất cả chúng sinh mọi điều cát tường

Có đệ tử đến nói với tôi: “Người ta nói Chân Phật Tông chúng ta rất không tốt.” Tôi hỏi anh ấy Chân Phật Tông có gì không tốt. “Rất nhiều tông phái không thừa nhận.” Tôi hỏi anh ấy: “Vì sao cần họ thừa nhận? Anh không thể tự thừa nhận chính mình sao?” Thừa nhận thì có ích lợi gì? Không được thừa nhận thì có ích lợi gì? Rốt cục là bạn thừa nhận cái gì? Bạn học Phật chỉ cần bạn có thể thành Phật, tự mình thừa nhận chính mình, không có ai có thể thừa nhận bạn, cũng sẽ không có người không thừa nhận bạn, bởi vì tôi xem họ đều không tồn tại. Tôi là người nói lời thật, nói lời đúng, không nói khoác, căn bản là tôi chưa bao giờ làm pháp gì với người khác. Họ không thừa nhận tôi, họ không được làm bộ trưởng, không được bầu chọn chỉ là vì Hộ pháp Kim cang không thích mà thôi, đó không phải là lỗi của tôi, các bạn muốn tìm thì tìm Thời Luân Kim Cang, tìm Diêu Trì Kim Mẫu đi! Đừng tìm tôi. 

Tôi nghe nói, không biết là thật hay giả, dù sao những người đối với chúng ta chẳng ra sao đều chẳng trúng cử. Muốn trúng cử thì phải hộ trì Chân Phật Tông, ai không hộ trì thì đừng bầu cho họ. Tôi đã quen biết Khâu Thùy Trinh từ rất lâu rồi, tôi rất thích tiếng đàn guitar và giọng hát của Khâu Thùy Trinh, rất hay. Ông ấy đến hộ trì chúng ta, tôi không nói mọi người nhất định phải bầu cho ông ấy, nhưng tất cả Hộ pháp cũng sẽ đi giúp đỡ ông ấy. 

Hành giả chúng ta cần có trí huệ rất cao, đừng lúc nào cũng ngồi một chỗ than thân trách phận, ngày nào cũng sầu bi. Giống như Tổng hội Mật giáo Malaysia, ngày nào cũng ở đó mà sầu não “người ta không thừa nhận chúng tôi”. “Con đường tương lai của chúng tôi sẽ đi thế nào đây?” Anh lớn thế này rồi mà còn không biết đi đường sao? Cứ thẳng mà đi, đi về phía trước! Nhất định có thể thành Phật, sợ cái gì? Phật Thích Ca Mâu Ni đứng bên cạnh ta mà! 

Chúng ta phải có trí tuệ rất cao, không thể thua con vẹt được. Nghe nói con vẹt cũng có trí tuệ rất cao. Có một người nghe nói có một con vẹt rất thông minh liền đi tới và nói: “Nghe nói anh có con vẹt rất thông minh, tôi muốn kiểm tra nó.” “Anh kiểm tra đi!” Người kia liền nói với con vẹt: “Tôi biết nói chuyện.” Con vẹt nói với anh ta: “Tôi cũng biết nói chuyện.” Người kia lại nói với con vẹt: “Tôi biết hát.” Con vẹt trả lời anh ta: “Tôi cũng biết hát.” Người kia lại nói với con vẹt: “Tôi biết bay.” Con vẹt nói thế nào nhỉ? “Đùa à?” Cho nên đồng môn Chân Phật Tông chúng ta cũng cần có trí tuệ, bạn không cần học người ta, bạn chỉ cần học Phật là được. Bạn chỉ cần diệt tham, sân, si, vận dụng Phật tính của bạn trong cuộc sống thường ngày thì bạn chính là Phật rồi! Lẽ nào bạn muốn mỗi ngày đi xin người ta thừa nhận bạn? “Năn nỉ đó! Anh thừa nhận tôi có được không?” Chỉ cần bạn thừa nhận bản thân mình chính là Phật. Không có ai thừa nhận ai.

Hôm nay tôi ở đây một lòng thỉnh cầu Thời Luân Kim Cang Đại Minh Vương: thỉnh cầu Thời Luân Kim Cang Đại Minh Vương phóng ánh sáng hộ trì tu hành giả chân thực, hộ trì gia đình của hành giả, hộ trì Đài Loan, và cả những nơi ở đất nước có hành giả Chân Phật, hộ trì tất cả chúng sinh, ngày cát tường, đêm cát tường, một ngày sáu thời đều cát tường, trong mọi thời đều cát tường, tất cả Tam Bảo mãi cát tường. Để Phật, pháp, tăng Tam Bảo có thể hoằng dương đến toàn thế giới, để mỗi một người học Phật đều có thể ở trong an lành mà chăm chỉ tu hành, thành tựu được tốt, để mỗi hành giả thân thể khỏe mạnh, để mỗi hành giả đều cắt đứt phiền não, để mỗi hành giả không vào luân hồi, để mỗi hành giả độ hóa chúng sinh, để mỗi hành giả đều đạt được thành tựu của Thánh hiền, để mỗi hành giả đều hiểu rõ đệ nhất nghĩa đế, để mỗi hành giả đều có thể tức thân thành Phật.

Sư Tôn lại phát lời thề bồ đề phân thân xả cốt đời đời kiếp kiếp độ chúng sinh

Hôm nay tôi ở trước mặt mọi người cũng có lời thề như thế này, thề chính là phát lời thề, thề chính là ước muốn.
”Tôi sẵn lòng đời đời kiếp kiếp độ chúng sinh.”
”Tôi sẵn lòng đem kinh nghiệm minh tâm kiến tính của chính mình để cho tất cả chúng sinh đều có thể biết.” 
”Tôi sẵn sàng phân thân xả cốt độ chúng sinh.”
”Tôi vì không có cái tôi cho nên tôi cũng không có khổ.”
”Tôi vì không có cái tôi cho nên chúng sinh đều là tôi.”
”Tôi không có thù hận, bởi vì chúng sinh đều là tôi, cho nên tôi không có thù hận.”
”Tôi biết đời người giống như một giấc mơ, chúng ta ở trong giấc mơ này phải sống cho thật xuất sắc.”
”Chúng ta sống một ngày thì phải vui vẻ một ngày, sống một ngày thì phải tu hành một ngày, sống một ngày thì phải cảm ơn một ngày.”
”Tôi nhất định, nhất định thành tựu thành Phật.”
”Tinh thần của tôi giống như việc viết sách của tôi, nghị lực luôn đi về phía trước.”
”Tôi vĩnh viễn không chùn bước, tôi vĩnh viễn không thối lùi đạo tâm.”
”Tôi vĩnh viễn muốn giúp tất cả chúng sinh, không vì chính mình một chút nào.” 

Trong bánh mặt trời căn bản không có mặt trời, trong bánh mặt trăng căn bản không có mặt trăng. Trên trái đất này, Lư Thắng Ngạn trước khi sinh ra căn bản không có Lư Thắng Ngạn, sau khi Lư Thắng Ngạn chết đi về cơ bản cũng không có Lư Thắng Ngạn. Nếu tôi có lại đến thì cũng là biến huyễn, bởi vì thế giới này liên tục biến huyễn, liên tục ở trong sự biến hóa.

Tôi quan sát chính mình, tôi chính là vũ trụ, tôi và vũ trụ hợp nhất, vũ trụ và vô hình là một. Nhân thế gian chỉ là một giấc mộng huyễn mà thôi, cho nên Phật Thích Ca Mâu Ni nói ngài chưa từng thuyết pháp, chưa từng nói một chữ nào, không có ba lần chuyển pháp luân, không có, cái gì cũng không có. Sau khi Phật Đà ngộ đạo, Phật Đà nói: “Không có ba lần chuyển pháp luân.” “Chưa từng nói một chữ nào.” Bởi vì đạo chính là Phật, Phật chính là đạo, tôi cũng chính là đạo. Vì thế, duy ngã độc tôn.

Cảm ơn mọi người! Om mani padme hum.

(Hết)

---

---
# File: sach-tam-linh/208-ba-tieng-cuoi-vang.md
# Title: 208. Ba tiếng cười vang
---

![image](/img/img_b7d579cdecde06c82bc4834fab5daecc.jpg)



## Ba tiếng cười vang


Văn tập số: 208
Xuất bản năm: N/A
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu


Ngày mồng 2 tháng giêng năm 2009, vào lúc tám giờ sáng, tôi ngẫu nhiên mở ti vi thì thấy đoạn phim tưởng nhớ về ngôi sao ca nhạc Hồng Kông Mai Diễm Phương. Cô Mai trang điểm xinh đẹp hết sức rung động lòng người, giai điệu của bài hát "Nữ nhân hoa" cứ vang vọng trong tai tôi.
Tôi và Mai Diễm Phương chỉ có duyên một lần gặp mặt.
Đó là khi tôi mới chuyển đến sống tại Seattle nước Mĩ, Mai Diễm Phương đến Seattle để biểu diễn.
Cô Mai nói:
"Lư Sư Tôn cũng đến nghe tôi hát à?"
Tôi cười cười:
"Từ lâu đã ngưỡng mộ đại danh."
Thật ra là vì một người bạn thân của cô Mai gửi tặng vé, tấm thịnh tình ấy khó khước từ, nên tôi đã đi nghe cô ấy biểu diễn.

Tôi thích bài hát "Nữ nhân hoa" đó của cô.
Trải qua nhiều năm sau, Mai Diễm Phương mắc bệnh ung thư, tuổi tác chưa phải là cao lắm, thế mà đã ra đi rồi.
Có nhiều người nhớ tiếc cô ấy, bao gồm cả bảy người bạn trai của cô, còn có cả Lưu Đức Hoa tiếng tăm lừng lẫy Hồng Kông nữa.
Nữ nghệ sĩ Mai Diễm Phương đã ra đi vào đúng lúc sự nghiệp rực rỡ nhất, rất nhiều người không nén nổi thổn thức, tôi cũng thế. Tôi luôn cảm thấy cô ấy rất tốt, chỉ là ra đi quá đột ngột, khiến người ta thảng thốt!
Câu nói của cô ấy:
"Lư Sư Tôn cũng đến nghe tôi hát à?"
Vẫn còn vang lên bên tai tôi đây!
Hôm nay, tôi đã không còn thổn thức nữa, tôi, cười lớn ba tiếng, ha ha ha, nói:
"Ra đi là tốt! Ra đi là tốt!"

🌟

Còn nhớ quãng thời gian sáu năm Sư Tôn Lư Thắng Ngạn tôi ẩn cư không? Từ lúc 57 tuổi ẩn cư cho đến năm 62 tuổi, tôi ẩn cư tại hồ Diệp Tử.
Vào khoảng thời gian ấy.
Tôi có một chút buồn.
Rất cô độc, rất cô độc, rất cô độc...
Tôi chỉ còn lại hai việc là tu pháp và viết sách, trong văn chương đã lộ ra những nét buồn.
Thành thật mà nói, tôi đã từng muốn "quay trở lại"!

Một Lư Sư Tôn đã đắc chứng là tôi đây chỉ muốn tống nguyên thần ra ngoài, không trở lại cái vỏ thể xác này nữa. Rồi dùng pháp Đoạt xá, đem nguyên thần đi vào tử cung của phụ nữ, thế là tôi lại được sinh ra một lần nữa. Tôi có pháp lực này, có thể tự chủ sinh tử.
Tôi từng nghĩ, cũng từng muốn đi vào tử cung của phụ nữ để chuyển thế đầu thai. Diêu Trì Kim Mẫu xuất hiện nói:
"Chưa phải lúc."
Tôi hỏi:
"Vì sao chưa phải lúc?"
Diêu Trì Kim Mẫu nói:
"Con là một người tự nhiên, hà tất phải làm một chuyện không tự nhiên chứ!"
Tôi nghe xong, tỉnh ngộ!
Đúng vậy, đúng vậy, tự nhiên, tự nhiên, nhậm vận, nhậm vận.
Ha ha ha.
Cười lớn ba tiếng.

Tôi viết một bài kệ:
"Muốn đi cũng không được.
Không đi cũng không được.
Đến đi đều không được.
Xin hỏi cái gì được."
Xin mọi người hãy hiểu thấu đáo bài kệ nhỏ này!
Ha ha ha.

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Rốt cục tôi ở nhân gian để làm gì?


Có một lần, tôi hỏi sư phụ của tôi là Thượng sư Thubten Dorjie:
"Rốt cục con ở nhân gian để làm gì?"
Thượng sư Thubten Dorjie nói:
"Độ người."
Tôi lại hỏi:
"Độ người nào?"
Thượng sư Thubten Dorjie nói:
"Độ một mình anh là đủ rồi!" (Lời tương quan)

Sư phụ của tôi, Thượng sư Thubten Dorjie, lúc còn tại thế, nói với người ta rằng, thật ra chúng sinh mà thầy độ hóa không nhiều, chỉ có vài trăm người mà thôi, những người thầy chọn lựa rất cẩn thận mới trở thành đệ tử của thầy.

Bổn tôn của sư phụ là Phật Mẫu Kurukulle. Theo lí mà nói, Bổn tôn là Phật Mẫu Kurukulle - một vị đại kính ái, thì chúng sinh độ được phải là nghìn nghìn vạn vạn chứ không chỉ có vỏn vẹn vài trăm người.

Có người hỏi thầy:
"Một vị đại kính ái, đại nhiếp thọ, vì sao chỉ độ có vài trăm người?"
Thượng sư Thubten Dorjie đáp:
"Độ một mình Lư Thắng Ngạn là đủ rồi!"
"Vì sao vậy?"
"Bởi vì độ một mình anh ta thì cũng tương đương với độ năm triệu người."
Người đó chợt hiểu ra.
Ý của sư phụ tôi muốn nói rằng, thầy ấy độ hóa tôi, tôi lại đi độ hóa người khác, đây chính là việc mà chúng tôi làm tại nhân gian này.
Lại nói, độ một mình Lư Thắng Ngạn là đủ rồi, độ một người cũng tương đương với độ năm triệu người.
Độ, độ, độ, độ, độ,….
Ha, ha, ha.

🌟

Thẳng thắn mà nói, mặc dù tôi có năm triệu đệ tử, nhưng những đệ tử này đều là đệ tử thần thánh.
Một người tôi cũng không dám coi thường.
Tôi xúc động vì các đệ tử của tôi.
Ví dụ như Lương Dũng ở Brazil. Khi tôi ẩn cư, anh ấy đi tìm tôi khắp chân trời góc bể, trăm đắng nghìn cay, cái tinh thần lặn lội vạn dặm tìm thầy này, vượt qua vô số khó khăn, anh ấy không phải là người có nhiều tiền, trú tại những nhà trọ thấp cấp nhất, chịu mọi đả kích khốn khó, cái nghị lực ấy khiến tôi cảm động.
Tiến sĩ Lương Dũng.
Thánh đệ tử mà tôi kính trọng!

Còn có Liên Hoa Hạo Dân, túc căn thâm hậu, âm thầm tinh tấn tu trì, hiểu thấu thế gian.
Sự giác ngộ của anh vô cùng mạnh mẽ, là một thánh đệ tử có căn cơ sắc bén, tôi chỉ cần khẽ đẩy một chút là anh ấy đã minh tâm kiến tính rồi!
Liên Hoa Hạo Dân.
Thánh đệ tử mà tôi kính trọng!

Còn có Liên Hoa Kính Bác, là một vị tái sinh, thánh đệ tử có căn cơ sắc bén, âm thầm khổ tu đã lâu!
Anh ấy ngồi bên dưới nghe tôi thuyết pháp, từng cái đều có thể lĩnh ngộ, rất nhanh chóng tự mình ngộ đến cảnh giới minh tâm kiến tính.
Liên Hoa Kính Bác.
Thánh đệ tử mà tôi kính trọng!

Ở đây tôi chỉ kể ví dụ ba người, họ thật sự khiến tôi kính trọng. Có rất nhiều rất nhiều các thánh đệ tử khiến tôi cảm động, đếm cũng không đếm xuể.

Đúng vậy, Thượng sư Thubten Dorjie độ hóa tôi, tôi độ hóa chúng sinh, nhân gian này không có gì khác ngoài một chữ "độ".
Tôi đã thấy rất nhiều vị đại sư….
Độ "tiền".
Độ "danh".
Độ "chùa chiền lớn".
Độ "bè phái".
Độ "quyền lực địa vị".
Không hề dùng tư tưởng trung tâm (Phật huệ) của Như Lai mà độ hóa những chúng sinh đáng thương, không thể thành tựu Phật quả, bản thân cũng không phải là đại thiện tri thức, cũng không phải là người chứng ngộ, tôi thấy vậy, ha ha ha, cười lớn ba tiếng, thật sự rất tức cười.


### 02. Nếu tôi là A Biển


Theo như tôi biết, Trần Thủy Biển đã bị bắt giữ rồi. [ND: Trần Thủy Biển - Tổng thống thứ năm Trung Hoa Dân Quốc từ năm 2000 đến 2008, tên thân mật là A Biển.]
Đối với chính trị, tôi không có lập trường, tôi là một người tu hành, không muốn dính vào chính trị.
Đối với bản án hình sự của Trần Thủy Biển, tôi không biết nhiều lắm, tôi cũng không muốn bình luận vị tổng thống ngày trước thế nào ra sao.

Tôi bất chợt có suy nghĩ:
Nếu tôi là Trần Thủy Biển, tôi bị bắt giam, thậm chí chịu hình phạt mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm, thì tôi sẽ làm thế nào?
Ở trong nhà tù, tôi sống thế nào?
Tôi có rất vui vẻ không?
Tôi có rất đau buồn không?
Tôi có tuyệt thực không?
Tôi có trống rỗng không?
Tôi tự hỏi chính mình, tôi sẽ làm sao?
Cuộc sống trong nhà tù dài như vậy, tôi sẽ sống ra sao?

🌟

Tôi sẽ như thế này:
Mỗi ngày, tôi sẽ ăn thật no.
Mỗi ngày, tôi sẽ mặc thật ấm áp.
Mỗi ngày, tôi sẽ tập thể dục trong nhà, ví dụ như chống đẩy hai trăm cái, gập bụng hai trăm cái, đánh kim cang quyền không di động (hoặc bước ngắn), khiến thân thể tôi được khỏe mạnh, luyện tập trở thành "kim cương bất hoại".
Mỗi ngày, tôi sẽ quay mặt về hướng đông, nam, tây, bắc, và ở giữa để lễ lạy Ngũ Phương Ngũ Như Lai.
Mỗi ngày, tôi sẽ theo nghi quỹ mà tu bốn lần Bổn tôn niệm tụng pháp.
Mỗi ngày, tôi sẽ thiền định, sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền. Rồi lại tứ thiền, tam thiền, nhị thiền, sơ thiền.
Mỗi ngày, tôi sẽ gặp thập phương tam thế tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát.
Mỗi ngày, tôi nhập tam ma địa, thần hành độ hóa chúng sinh.
Mỗi ngày, tôi viết một chút những tâm đắc tu hành.
Mỗi ngày, tôi tu huyễn thân.
Mỗi ngày, tôi tu quang minh.
Mỗi ngày, tôi ở trong chính giác, tự hộ trì điều lành.
Mỗi ngày, tôi thành tựu cầu vồng.

Từ lâu tôi đã hiểu, cái tôi này như huyễn, cái nhà tù này như huyễn, nhân gian này như huyễn, vũ trụ này như huyễn, tất cả của tất cả đều là thế giới như huyễn, huyễn huyễn đan xen, huyễn huyễn nhân duyên.
Ngã vô ngã.
Pháp vô ngã.
Vô ngã kiến.
Vô ngã chấp.
Trong tù mặc dù "nhỏ", nhân gian vũ trụ này, đại thiên thế giới, tam thiên đại thiên thế giới đều ở trong cái "nhỏ" này.

Nếu như tôi ra tù:
Ha ha ha, cười lớn ba tiếng!
Nếu tôi phải ở tù chung thân:
Ha ha ha, cười lớn ba tiếng!
Khi tôi ra tù thì vạn tia sáng cát tường, nghìn tia khí tốt lành, trên trời dưới trời, lục đại chấn động. [ND: lục đại chấn động - sáu cơn chấn động của đại thiên.]
Tôi không ra tù thì thân hóa cầu vồng, nhậm vận đến đi trong thập phương pháp giới.
Bất luận thế nào, tôi là một đại Thánh Hiền chứng đắc quả vị.

🌟

Trần Thủy Biển là kẻ nghèo đến mức chỉ còn lại tiền.
Còn tôi thì: "Thụ cùng tam tế, hoành biến thập phương, tôi không có giới hạn tận cùng, tôi ngộ được cái vô sở đắc, vô sở đắc này mới là cái thực có được."
Thân không.
Tâm không.
Pháp không.
Tính không.
Thập bát giới không.
Nếu tôi là A Biển, tôi ở trong tù, sẽ không phải là đêm dài lê thê, mà là thời gian sẽ không đủ dùng, tôi muốn nhập định thần hành đi độ hóa chúng sinh, tôi sẽ rất bận rộn, bận tới mức sung sướng!
Tôi cười tới mức miệng không ngậm lại được!


### 03. Như huyễn như mộng như trò chơi


Vào khoảng gần đây.
Tôi thấy một nhà lãnh đạo có quyền lực và địa vị cao nhất, ông Trần Thủy Biển, đã sa sút trở thành tù nhân, từ địa vị cao nhất rơi xuống địa vị thấp nhất.
Tôi thấy ông thần kinh doanh - đại gia Vương Vĩnh Khánh, ông ấy đã qua đời rồi, sản nghiệp sau khi chết bị bốn người tranh giành, hỗn loạn và rối bời.
Tôi cười khanh khách.
Đột ngột cảm thấy đời người như huyễn như mộng như trò chơi.

🌟

Tôi học tập Phật pháp.
Phật Thích Ca Mâu Ni từng dạy như thế này, những người tu hành hãy lấy "pháp vô ngã làm đầu".
Tôi biết, thân thể này là thành, trụ, hoại, không, là sinh, diệt, tử, tuyệt, không thể tránh khỏi già chết.
Cho nên thân thể như huyễn.
Tôi biết, không thể tìm được tâm, tâm là vô hình vô tướng, vô vị vô thanh.
Cho nên tâm cũng như huyễn.
Thế giới tồn tại từ xưa đến nay vẫn luôn không ngừng biến đổi, vĩnh viễn biến huyễn không dừng lại. Tất cả thế giới đều ở trong sự biến hóa.
Cho nên thế giới cũng như huyễn.

Mật giáo có:
Quán mặt trời - ánh mặt trời như sóng nước.
Quán mộng - giấc mộng kê vàng.
Quán huyễn - tất cả thế giới như ảo.
Còn có quang ảnh, tiếng vọng trong hang, trăng trong nước, hoa trong gương, có tức là không, không tức là có.
Tôi từ "như huyễn tam muội" mà đạt được quán vô ngã, sau đó dẫn đến tam muội diệu trí vô lượng của Như Lai.
Tôi đã chứng minh:
Thân tâm là huyễn.
Thế giới như mộng.
Đời người như trò chơi.
Sau khi tôi khai ngộ, từ đó tôi đã hiểu chân lí mà Phật Thích Ca Mâu Ni đã chứng ngộ dưới gốc cây bồ đề.
Tôi thật sự đã hiểu rồi.

Bởi vì khai ngộ, tôi đạt được sự nắm giữ toàn bộ Phật pháp, viên mãn tất cả pháp môn, tôi đã chứng biết tất cả trí huệ, đắc:
Vô ngại.
Vô ngã.
Tự tại.
Nhậm vận.
Tôi có thể trong mọi lúc tuyên dương Phật pháp, đạt đến vô cùng vô tận, lợi ích chúng sinh vĩnh viễn không dừng dứt.

🌟

Có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn, vì sao đối với tất cả chúng sinh ngài đều có thể vô tư mà yêu thương, bao dung và cứu độ họ?"
Tôi đáp:
"Vô ngã pháp!"
Phàm phu tục tử trên thế gian này chỉ quan tâm đến bản thân, quan tâm đến con cái mình, quan tâm đến cháu chắt mình, quan tâm đến người thân của mình, quan tâm đến bạn bè của mình.
Điều này không có gì đáng trách.
Tuy nhiên, khi bạn hiểu ra, khi bạn có "như huyễn tam muội", hành giả sẽ hiểu tất cả con người vốn dĩ bình đẳng không hai không khác.
Bạn của lúc này sẽ không còn tình yêu ích kỉ nữa, mà là tình yêu rộng lớn, thấy tất cả chúng sinh đều như chính mình.
Chính mình là huyễn.
Chúng sinh là huyễn.
Hành vi cử chỉ của Bồ Tát cũng là huyễn. Ta đang ở trong mơ, làm tất cả những hạnh huyễn ảo của Bồ Tát thôi!
Bài viết nhỏ này là để dành cho những người tự tư tự lợi, cái công án nói đến ban đầu lẽ nào vẫn còn chưa đủ rõ ràng sao?
Ha ha ha!


### 04. Không có thuận cảnh và nghịch cảnh


Có một vị giáo chủ Thiên Chúa Giáo bị một nữ tín đồ tố cáo là quấy rối tình dục, sau đó đã được chứng minh đây là vu cáo hãm hại.
Khi vị giáo chủ này bị tố cáo, truyền thông đã thổi phồng lên rất gay gắt, như thể ông ấy là một tội nhân tội tác tày trời vậy.
Ông ấy nói, đúng là nghịch cảnh. (Những lời phỉ báng tới mức dời núi lấp biển.)
Đến khi mọi việc điều tra xong thì mới phát hiện ra nữ tín đồ kia bị mắc chứng bệnh hoang tưởng, tự thêu dệt nên tình tiết, khi chân tướng lộ rõ ra như ban ngày mới chứng minh vị giáo chủ kia trong sạch.
Giáo chủ nói, đây là thuận cảnh. (Sau cơn mưa trời lại sáng.)
Sau đó, vị giáo chủ này đã viết một cuốn sách, đặt tên là: "Thuận cảnh trong nghịch cảnh".
Điều rất đáng tiếc là, vị giáo chủ thiên chúa giáo khi viết xong cuốn sách này thì đã mắc phải căn bệnh ung thư, chẳng bao lâu đã qua đời.

🌟

Khi Phật Thích Ca Mâu Ni trụ thế cũng đã gặp phải tình huống tương tự, bị vu cáo là quấy rối tình dục.
Cô gái Tôn Đà Lợi đã tố cáo Phật Đà và năm trăm vị La Hán đều có quan hệ với cô ta, chuyện này ầm ĩ sôi sục.
Phật Đà im lặng không nói.
Về sau, cô gái Tôn Đà Lợi chết trong thùng rác ở gần tăng đoàn của Phật Đà. Kết quả là lại gây nên rất nhiều rối loạn.
Người thứ hai tố cáo Phật Đà quấy rối tình dục khiến cô ta có thai là một cô gái có tên Chiến Già, người đã phỉ báng Phật.
Cô gái trẻ Chiến Già trong lúc pháp hội đã đứng lên chỉ vào cái bụng của mình mà nói với Đức Phật rằng:
"Tôi đã mang thai đứa con của Thế Tôn đó!"
Tinh thần của quần chúng xáo động.
Phật Đà cũng vẫn im lặng không nói.
Sự việc thứ hai này, sau đó cũng được chứng minh rằng ngoại đạo đã lợi dụng một cô gái ngu dốt, mua chuộc cô gái vô tri này để cố ý hãm hại Phật Thích Ca Mâu Ni vĩ đại.
(Đối với hai lần bị tố cáo là xâm hại tình dục này, Phật Thích Ca Mâu Ni từ đầu tới cuối đều không nói lời nào. Ai có thể hiểu cách nghĩ trong lòng của Phật Đà như thế nào không? Tôi thật lòng thật sự nói để mọi người biết, Phật Thích Ca Mâu Ni căn bản là như như bất động, không hề có cái gọi là thuận nghịch, bởi vì Phật Đà là bậc Thánh nhân đại triệt đại ngộ.)

🌟

Có người nói:
Truyền thông có hứng thú nhất đối với Lư Sư Tôn.
Có người nói:
Những tin nhảm về Lư Sư Tôn có quá nhiều.
Tôi là như thế đó.
Ha ha ha, cười lớn ba tiếng!

Tôi cười, cười những người nực cười trong thiên hạ, cười những việc nực cười trong thiên hạ, thiên hạ này căn bản là chẳng có chuyện gì cả!
Một người minh tâm kiến tính, vốn dĩ biết rằng cuộc đời là trò chơi, chơi thì lúc nào cũng giống như đang diễn kịch vậy.
Sau khi thanh danh tôi nổi lên, đương nhiên sẽ trở thành tiêu điểm của truyền thông, nếu không có tiếng tăm gì thì truyền thông mới không tìm đến tôi.
Những tin nhảm về tôi đặc biệt nhiều, đây cũng là nhờ truyền thông giúp sức, truyền thông đi khắp nơi giúp tôi dựng chuyện.
Hùa theo số đông.
Tăng cường bóp méo sự thật.

Cá nhân tôi cũng vẫn như như bất động, tôi chưa bao giờ đi tố cáo người ta, đối với tôi mà nói thì:
Tôi đã tu chứng pháp vô ngã. (Vô sinh pháp nhẫn)
Tôi không có danh dự gì cả.
Không có cái gì là nghịch cảnh, thuận cảnh. Tôi dùng tâm bình thản, tự tại mà ở tại nhân gian độ chúng sinh.
Từ đầu đến cuối tôi giống như Phật Đà, im lặng không nói, một câu cũng không cần biện hộ, cứ mặc kệ nó đi! Không có danh dự, mặc kệ mọi người đi nói tôi thế nào, mặc kệ mọi người nghĩ thế nào thì tùy!
Ha ha ha, cười lớn ba tiếng!
Ông trời ơi! Ông trời ơi! Trời xanh ơi! Trời xanh ơi!


### 05. Duyên duyên duyên duyên duyên


Tôi đọc được một tin tức xã hội như sau:
Có một đôi trai gái quan hệ thân mật. Hai người vì chuyện nhỏ nhặt mà cô gái đòi chia tay, còn chàng trai thì không chịu. Chàng trai nhân lúc cô gái chạy xe máy trên đường, từ phía sau lái xe đâm vào xe máy của cô gái, sau đó cho xe chèn ngang qua ba lần, khiến cho cô gái thịt nát xương tan, máu me be bét.
Tôi đọc xong mẩu tin, thở dài một hơi:
"Duyên khởi duyên diệt."

Còn nữa:
Nam nữ chia tay.
Người con trai dùng dao bổ dưa hấu chặt cô gái thành tám phần rồi gói lại trong ba cái túi lớn, một túi ném xuống biển, một túi chôn dưới đất, một túi thì làm thịt xiên nướng.
Tôi đọc xong mẩu tin, thở dài một hơi:
"Duyên khởi duyên diệt."

Còn nữa:
Nam nữ chia tay.
Cô gái không chịu, đã mua một bình axit, nhân lúc đôi bên thương lượng bất thành, cô liền tạt axit vào mặt của bạn trai.
Chàng trai trở thành "thằng gù nhà thờ Đức Bà".
Tôi đọc xong mẩu tin, thở dài một hơi:
"Duyên khởi duyên diệt."

🌟

Một đệ tử nữ của tôi đưa cho tôi một phong bao cúng dường. Tôi mở ra xem thì giật mình đánh thót một cái.
Bên trong có một bức thư tình dạt dào tình ý.
Có cả số phòng khách sạn.
Có cả chìa khóa.
Tôi không biết phải làm sao mới phải?
Đệ tử nữ này lại còn viết khoảng 50 lá thư tình gửi đến cho tôi, đều  là những lời lẽ làm "kinh động hồn phách".
Tôi không bận tâm.
Sau đó, trên chính blog của cô ấy, đệ tử nữ này đã viết về tôi như một mớ rác rưởi, thê thảm đến mức không nỡ xem.
Tôi thở dài một hơi:
"Duyên khởi duyên diệt."

🌟

Tôi quan sát những chuyện tình ái như vậy, tôi phát hiện thấy tình ái là ngũ uẩn, sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Hành giả biết rằng:
Ngũ uẩn đều không.
Thập nhị xứ đều không.
Thập bát giới đều không.
Tình ái là vô minh, là tứ đại, là duyên khởi duyên diệt của nghiệp, đây chính là đặc tính thật sự của nó.
Đáng tiếc là nữ đệ tử kia không hiểu.
Tôi có nói với cô ấy cũng chẳng có tác dụng gì, bởi vì cô ấy mới học sơ sơ, lại còn ghen tuông, lại còn đố kị, rồi oán hận. Chẳng có cách nào để cô ấy hiểu được về đặc tính của ngũ uẩn đều không.
Tôi Lư Sư Tôn hiểu rõ nhất về duyên khởi duyên diệt, ngay cả đến 18 giới tôi đều diệt tận, Bồ Tát hành của tôi giống như trong một giấc mộng, tôi đã không còn tồn tại rồi, tôi không phải là đoạn diệt không, mà là chân như duy nhất, tôi nhậm vận tại thập pháp giới.

Thế giới quan về tình yêu của tôi là duyên khởi duyên diệt.
Duyên duyên duyên duyên duyên.
Căn bản là tôi không bám chấp vào tình ái.
Đệ tử nữ kia giết tôi tơi bời hoa lá trên blog, thật may tôi là người không để tâm, tôi chẳng câu nệ gì, tôi cũng chẳng có danh dự tồn tại, bởi vì Lư Thắng Ngạn này từ lâu đã biến mất rồi, không phải là tôi đã nhập niết bàn, tôi chỉ biết rằng mọi hiện tượng đều là ở trong mơ.
Tôi chỉ có thể:
Ha ha ha! Cười ruồi!


### 06. Không ai có thể làm tổn thương Lư Sư Tôn


Tôi từng nói với sư tỉ Từ Nhã Kì rằng:
"Không ai có thể làm tổn thương Lư Sư Tôn!"
Sư tỉ Từ hỏi:
"Vì sao vậy?"
Tôi đáp:
"Tôi tu pháp vô ngã, huyễn quán, mộng quán, hí quán. Hiểu rõ tâm chân thực, thấy rõ Phật tính chân thực, vì thế không ai có thể làm tổn thương Lư Sư Tôn."
"Xin Sư Tôn giải thích rõ hơn!"
Tôi nói rõ hơn như sau:
Ví dụ như chúng ta nằm mơ, trong mơ, có người cầm dao sắc làm tổn thương bạn, trong giấc mơ bạn đau đớn kêu oai oái.
Bạn tỉnh dậy, phát hiện ra chỉ là mơ.
Đúng là dở khóc dở cười.

Còn nữa:
Ví dụ chúng ta đi xem một bộ phim, bạn nhúng mình vào trong cảnh phim, hòa mình vào trong đó, không biết đó là phim, cảm thấy lo lắng sợ hãi cho nhân vật trong phim, đến khi bộ phim kết thúc.
Tự cười một mình.

Còn nữa:
Người học Phật, trong khi quán hành, biết thân là huyễn, chúng sinh là huyễn, thậm chí thế gian là huyễn, thế giới vật chất là huyễn, không một thứ gì là thật sự bất hoại, có được sự giác ngộ như vậy.
Tất cả tổn thương.
Tất cả phỉ báng.
Tất cả đả kích.
Cũng chẳng qua chỉ là lấy huyễn hại huyễn.
Vốn dĩ chẳng phải là chân thực.
Bởi đã là như vậy, căn bản là không có ai có thể làm tổn thương đến Lư Sư Tôn, bởi vì Lư Sư Tôn giống như trăng trong nước.
Vốn dĩ chính là hư huyễn không thực.
Đối với trăng trong nước mà năm lần bảy lượt đả kích, chẳng phải là một trò cười lớn sao?
Ha ha ha!
Cá nhân tôi thường nhắc đến bài "Mộng thơ" của Vương An Thạch:
"Biết đời như mộng vô sở cầu,
Vô sở cầu lòng tĩnh lặng không.
Vẫn tưởng trong mơ tùy mộng cảnh,
Thành tựu công đức tựa hà sa."

🌟

Tôi tu hạnh Bồ Tát, giống như ở trong mơ. Giống như tôi bây giờ, coi thân tâm như huyễn, coi nhân thế như huyễn, coi danh dự như huyễn, tôi đã không còn chấp vào danh dự nữa, dù có bao nhiêu tổn hại đến danh dự cũng tương đương như chẳng có.
Còn như thân tâm tôi cũng sẽ hư hoại, chẳng khác gì cái vỏ ảo, có làm tổn thương thế nào cũng vẫn là cái thân thể huyễn ảo. Ngoại trừ chân như bất hoại ra, tất cả mọi thứ đều sẽ hư hoại.

Tôi vẫn ở đây. (Chân Như)
Tôi không phán xét. (Chân Như)
Tôi là trăng trong nước đó!
Tôi là hoa trong gương đó!
Tôi là mây khói!
Tôi là người trong mơ!
Tôi là người huyễn làm việc huyễn!
Tôi là bong bóng! Là tiếng vang trong hang!
Ai có thể làm hại?

🌟

Các Thánh đệ tử thân mến, phàm phu thế tục cho rằng thế gian này là thật, con người là thật, tất cả mọi thứ là thật, sắc thanh hương vị xúc pháp đều là có thật.
Phàm phu thế tục cho rằng tiền sắc danh ăn ngủ là thật, lục trần, lục căn, lục thức đều là thật.
Cho nên mới sinh ra tham, sân, si.
Cho nên mới sinh ra dâm, nộ, vô minh.
Đối với sự công kích của phàm phu thế tục, sự phỉ báng của phàm phu thế tục, sự đả kích của phàm phu thế tục.
Ha ha ha! Tất cả đều chẳng có gì.


### 07. Tâm vĩnh viễn ở Đài Loan


Gần đây nổi lên cơn bão Lý Khánh An, một ủy viên lập pháp, một tài năng chính trị.
Bà ấy từ ủy viên hội đồng thành phố tiến lên chức ủy viên lập pháp (thành viên Quốc hội), tổng cộng hơn mười năm, hình tượng vô cùng tốt.
Bà ấy khá uyên bác, thảo luận về chính trị và chất vấn với lời lẽ sắc bén và có trọng điểm, bà ấy đã có nhiều đóng góp cho Đài Loan, có thể nói rằng bà ấy là một đại biểu Quốc hội xuất sắc, hiếm có!
Thế nhưng, bà ấy có hai quốc tịch?
(Công dân Mĩ và công dân Đài Loan.)
Theo luật và quy định của Đài Loan, nhân viên chính trị chỉ được phép có danh phận là công dân Đài Loan, và không được phép có danh phận quốc tịch khác.

Căn cứ vào điều khoản này, bà ấy bị nghi ngờ là "gian trá":

1. Che giấu thân phận.

1. Mọi chi phí cho việc thảo luận chính trị phải được hoàn trả.
Cơn bão Lý Khánh An đã làm dấy lên sự chú ý rộng rãi của xã hội, gây xôn xào ồn ào, thậm chí bà phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Với người bình thường thì trong chuyện này, tiêu điểm mà họ chú ý tới là:
Gian trá.
Che giấu thân phận.
Tiền lương.
Còn tôi, tôi lại chú ý đến việc bà ấy:
"Tâm có hướng về Đài Loan hay không."

🌟

Đánh giá từ lời nói và việc làm của bà ấy, từ luận bàn chính trị của bà ấy, từ sự tận tụy của bà ấy, và từ những câu hỏi chất vấn của bà ấy, chúng ta không nghi ngờ gì rằng trái tim bà ấy sẽ luôn hướng về Đài Loan.
Lý Khánh An đã cống hiến cả cuộc đời mình cho Đài Loan, bất kể là bà ấy mang thân phận gì.
Tâm của bà ấy:
"Vĩnh viễn ở tại Đài Loan!"
Con người như vậy, theo cá nhân tôi mà nói, thì còn có thể trách cứ điều gì nữa, thật sự là không nỡ để trách móc.

🌟

Tôi sinh ra tại huyện Hậu Hồ, tỉnh Gia Nghĩa, Đài Loan, bên bờ suối Ngưu Trù.
Tiểu học, sơ trung, cao trung, tôi đều sống ở Cao Hùng.
Đại học thì tôi ở Đài Trung.
Tôi sống ở Cao Hùng 19 năm, sống tại Đài Trung 19 năm, vào năm 38 tuổi (năm 1982), ngày 16 tháng 6, tôi di cư đến Seattle Mĩ.
Tại Mĩ, tôi thành lập trụ sở chính của Chân Phật Tông, mở ra các chùa, đường, hội Chân Phật Tông ở khắp nơi trên thế giới, khoảng hơn 300 nơi.
Ở Biệt thự Cầu Vồng, tôi dựng lên ba cột cờ, một cột treo quốc kì Mĩ, một cột treo cờ Quốc Dân Đảng, và một cột treo cờ Chân Phật Tông.

Có một lần, tôi đến một nhà hàng ăn cơm, ông chủ là người đến từ Đài Loan.
Ông ấy hỏi:
"Lư Sư Tôn, thầy có yêu Đài Loan không?"
Tôi đáp:
"Yêu."
Ông ấy hỏi:
"Thầy yêu Đài Loan, nhưng Đài Loan có yêu thầy không?"
Tôi đáp:
"Bất kể Đài Loan có yêu tôi hay không, thì tôi vẫn yêu Đài Loan!"
Tôi nói như thế này:
Tôi là người không quên gốc gác, cố hương của tôi là Đài Loan, tôi trưởng thành tại Đài Loan, học tập tại Đài Loan, cha mẹ người thân của tôi đều ở Đài Loan, mọi nguồn cội của tôi đều ở Đài Loan, cho nên tôi nói:
"Người ở hải ngoại, lòng ở Đài Loan."

Tình yêu của tôi đối với Đài Loan cứ âm thầm lặng lẽ, cũng không cần để người khác phải biết. Tôi là một người tu hành đã minh tâm kiến tính, tôi hi vọng những tâm đắc hoằng pháp của tôi có thể phổ cập đến Đài Loan.
Tôi có thể nói thế này: "Tâm tâm vĩnh viễn ở Đài Loan."
Con người tôi đây cả đời kính trọng sư phụ, chưa bao giờ làm trái lời sư phụ, đây là nguyên tắc làm người của tôi.
Người có ơn, tôi nhất định báo ơn.
Người có oán thù, tôi quên sạch luôn! Ha ha ha!


### 08. Sự thật về quán đảnh


Tôi đọc được một cuốn sách, là do một người học duy thức viết, trong sách người đó nói:
"Mấy thứ quán đảnh của Mật giáo đó chẳng có tác dụng gì cả, chỉ là rót nước cho vui, đều là tà tư vọng tưởng hết."
Tôi đọc xong thì vô cùng kinh ngạc.
Kinh ngạc khủng khiếp!
Tại đây, tôi phải thừa nhận một vài sự thật, trong Mật giáo, đích thực là tốt xấu lẫn lộn. Trong số các vị thầy Mật giáo, đâu đâu cũng có những vị thầy chẳng hề có được chút chứng lượng nào.
Đúng là có những đại Hoạt Phật, trung Hoạt Phật, tiểu Hoạt Phật đội trên đầu vòng hào quang Rinpoche. Các vị thầy Lama đội trên đầu cái vòng hào quang Thượng sư. Các tiến sĩ Geshe đội trên đầu vòng hào quang Geshe. Các Rinpoche đội trên đầu vòng hào quang là Chư Phật Bồ Tát Kim Cang chuyển thế.

Trên thực tế, họ chẳng hề có chứng lượng, không có là không có, những Hoạt Phật, Thượng sư, Geshe này đều là bịp bợm.
Quán đảnh của họ đúng là chỉ có hình thức, dội nước cho vui.
Người tu học Mật giáo chúng ta biết rằng:
Một vị Kim cương Thượng sư chân chính có dòng chảy pháp quán đảnh chân thực, những pháp lưu này đến từ Kim Cương Tổng Trì.
Kim Cương Tổng Trì - Ngũ Phật (Ngũ Kim Cương Trì) - Kim Cang Tát Đỏa (Kim Cương Trì thứ sáu) - Kim cương Thượng sư (đại diện của Kim Cương Trì).
Họ có thể dẫn dòng chảy pháp của Chư Phật Bồ Tát Kim Cang Hộ Pháp Không Hành Chư Thiên để quán đảnh cho chúng sinh.
Điều này là hết sức chân thực.
Người có sức mạnh có thể dẫn dòng chảy pháp dội lên các chúng sinh chính là một vị thầy quán đảnh chân thực.
Không phải là không có tác dụng gì.
Không phải là dội nước cho vui.
Không phải là tà tư vọng tưởng.
Còn như tác giả duy thức kia, với một cây sào mà lật cả chiếc thuyền chở nhiều người, thì tôi không thể đồng tình được.

🌟

Tôi và chư Tôn hợp thể, tôi có thể biến thân, tôi là một vị thầy quán đảnh chân chính!
Tôi đã tu chứng:
Như huyễn tam muội.
Huyễn thân biến hóa tự tại.
Ở trước cửa địa ngục, tôi đã cứu tiến sĩ Đặng Doanh Gia trở về, có tiến sĩ Đặng Doanh Gia có thể làm chứng.
Ở trong địa ngục, tôi đã cứu cô Trịnh Ngọc Hoa trở về, có cô Trịnh Ngọc Hoa có thể làm chứng.
...

Chỉ cần trong tâm tôi khởi lên ý niệm là có thể hóa hiện ở khắp mười phương pháp giới. Tôi có phương tiện thiện xảo ba la mật, nguyện ba la mật, lực ba la mật...
Trong quá trình tu chứng của tôi, tôi đã thấy bảo điện Liên Hoa Vương với lầu gác rộng lớn lộng lẫy.
Tôi đi vào trong đó, thật sự là trang nghiêm hoa lệ không gì sánh bằng. Bên trong có một bảo tọa, là tòa hoa sen lớn, tôi lên pháp tọa, tỏa sáng chiếu đến mười phương Phật quốc. Thập phương đại Như Lai đích thân dẫn theo vô số Bồ Tát đến bảo điện của tôi, thập phương Như Lai đều phóng quang quán đảnh cho tôi Lư Sư Tôn.

Vũ trụ vang lên:
Chú âm "ha ha ha ha ha ha ha ha".
Thập phương Như Lại để lộ ra tướng lưỡi rộng dài, nói lời chân thực:
"Lư Sư Tôn! Thành Phật rồi! Thuyết pháp như mây như mưa, vĩnh viễn vô biên!"
Đó là đại thành tựu khi tôi tu pháp vô ngã.

Kể từ khi ấy, trên đầu tôi có "hoa cái" [ND: lọng hoa], dưới chân tôi có "hoa sen", xung quanh tôi có hào quang "luân bảo" [ND: vòng bánh xe quý], thật sự là rực rỡ chói lòa.
Tôi là một vị Kim Cương Trì chân chính.
Quán đảnh của tôi vô cùng chân thực, tôi có thể tùy ý cứu độ chúng sinh vô biên vô hạn.
Trong thế giới u minh, tôi cử hành pháp hội siêu độ.
Học giả duy thức kính mến, xin hỏi với những tính chất như vậy, quán đảnh của tôi có thật hay không? Ha ha ha!


### 09. Xem phim "Đất mũi số 7"


Bộ phim điện ảnh "Đất mũi số 7" được truyền thông mạnh mẽ tuyên truyền nên rất nhiều người đều đi xem, bộ phim đã bán vé được hàng trăm triệu đô la, và nhiều khán giả nói rằng nó rất hay, thậm chí các cơ quan cấp cao của chính phủ đều giới thiệu nó.
Giải Kim Mã đã trao sáu giải thưởng.
Đạo diễn, vai nam nữ chính, vai phụ, quay phim, đều đạt được vinh dự rất cao, thậm chí bộ phim này đã trở thành "Quốc bảo".
Khi tôi trở về Đài Loan thì vô cùng tò mò, nên tôi đã đặc biệt đi thưởng thức một lần. Thượng sư Liên Hương cũng cùng đi với tôi.
Tôi xem hết từ đầu đến cuối.
Thượng sư Liên Hương xem được một nửa thì ngủ mất.
Sau khi xem xong phim "Đất mũi số 7", tôi cứ tìm hiểu mãi vì sao mọi người đều nói là phim hay. Vì sao lại được tới sáu giải thưởng? Tôi không tìm được lí do, chỉ còn biết cười lớn ba tiếng ha ha ha.

Những phần được khen (người đã từng xem kể với tôi):

1. Nồng đượm hương vị quê cha đất tổ (quê hương).

1. Trêu trọc cảnh sát. (rất khoái)

1. Tính cách trẻ con.

1. Miệng nhai cau.

1. Ngôn ngữ quê mùa.

Những phần chẳng thể hiểu được:

1. Nam nữ chính chẳng hiểu vì sao lại yêu nhau.

1. Nam nữ chính chẳng hiểu vì sao mà lại lên giường với nhau.

1. Bối cảnh và thời đại nối tiếp gượng ép một cách khó hiểu.

1. Bài hát trong phim cũng chẳng hề xúc động lòng người, không hiểu ra làm sao cả.

1. Nói tóm lại, tổng kết lại một câu, bộ phim này có quá nhiều cái chẳng hiểu ra làm sao, diễn viên cũng cường điệu hóa một cách chẳng ra làm sao cả.
Sáu giải thưởng?
Chẳng hiểu ra làm sao.
Chẳng có lí do gì cả.
Kĩ năng diễn xuất bình thường. Thậm chí còn lộn xộn, đối với tất cả khán giả mà nói thì bộ phim này giáo dục điều gì chứ?

Nếu tôi mà cho điểm thì chỉ được 50 điểm, và trao giải:
"Giải thưởng điện ảnh quốc gia bé cưng."
Ha ha ha!
Đắt khách, đáng xem, sáu giải thưởng lớn, rất nhiều người xem lại nhiều lần, điên khùng mua vé, truyền thông ngày ngày quảng cáo rùm beng.
Không có lí do một cách không hề có lí do, kì lạ một cách chẳng hiểu ra làm sao cả, vì sao lại như vậy, không ai biết sao?

🌟

Điều hôm nay tôi muốn nói là:
Một người có trí huệ sẽ không cá mè một lứa với những người bình thường, chúng ta cần phải có sự hoài nghi hợp lí.

Ví dụ:
Ngày xưa diễn viên Lăng Ba diễn Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài (thể loại ca kịch Hoàng Mai).
Mọi người đều điên cuồng.
Tôi không điên.

Ví dụ:
Bộ phim "Đất mũi số 7" ngày nay.
Mọi người đều điên cuồng.
Tôi không điên.

Trong giới tôn giáo, đối với bộ phim "Đất mũi số 7" này, mọi người điên, tôi không điên.
Tôi nghi ngờ một cách hợp lí liệu các Thượng sư, Thượng nhân, đã khai ngộ hay chưa?
Tôi tìm kiếm minh tâm kiến tính mấy chục năm, cuối cùng tôi biết làm sao để cắt đứt hết tham dục, cuối cùng tôi biết cắt đứt hết tâm tham, cuối cùng tôi biết cắt đứt hết ngu si. Tôi dùng sự khai ngộ của tôi để hiểu thấu đáo mọi công án Thiền tông, lần lượt phá giải không bỏ sót cái nào.
Phá tham, minh tâm, kiến tính, tu hành, chứng lượng. Sau đó quan sát ngược lại giới tôn giáo hiện nay.
Tứ đại sơn đầu. [ND: Tứ đại danh sơn, bốn ngọn núi nổi tiếng Trung Quốc gắn liền với bốn tổ chức Phật giáo lớn.]
Đất mũi số 7.
Ha ha ha! Cười rụng cả răng cửa!
Người có trí huệ, tương tự cũng có thể hoài nghi tôi, tuy nhiên, bạn có thể nhập môn tu luyện Chân Phật Mật Pháp thì bạn cũng sẽ có thể phá tham, minh tâm, kiến tính, tu hành, chứng lượng.
Lúc này, bạn có thể biết, Lư Sư Tôn tôi không phải là người giả dối!


### 10. Trịnh Ngọc Hoa ra mặt


Ngày 12 tháng Giêng năm 2009, 4 giờ chiều, tôi ở quận Thái Bình, Đài Trung, tại Linh Tiên Tinh Xá, tôi đã gặp cô Trịnh Ngọc Hoa.
Cô Trịnh Ngọc Hoa nói:
Cô đã tu pháp Hiển giáo nhiều năm.
Cũng tu Mật pháp Norlha tinh xá.
Cô ấy là một tín đồ Phật giáo song tu Hiển - Mật, 10 năm trước, cô đã gặp một vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng, nội tạng bị tổn thương, hôn mê sâu, được đưa vào bệnh viện Trường Canh để cấp cứu.

Trịnh Ngọc Hoa nói, trong khoảng thời gian hôn mê, cô ấy ý thức rất rõ ràng về một trải nghiệm như sau.
Thân trung ấm (linh hồn) của cô đến cõi âm phủ.
Cô bán mạng hét to tên húy của vị thầy quy y của mình, hi vọng thầy quy y sẽ đến cứu cô.
Cô cũng bán mạng thỉnh cầu Quan Thế Âm Bồ Tát và các vị Bồ Tát cứu cô, bởi vì cô vẫn còn con thơ, cô không thể đánh mất mạng sống này.
Nhưng vị thầy quy y của cô không xuất hiện.
Chư Bồ Tát không hiện thân.

Thế nhưng, điều rất ngạc nhiên là ở trong cõi u minh, cô nhìn thấy Lư Sư Tôn ngồi hàng đầu trong số các vị ở đó. Bên trái bên phải có mấy thị giả. Tỏa kim quang lấp lánh.
Ở phía trước pháp tọa của Lư Sư Tôn đều là các linh hồn tử vong do tai nạn giao thông, bị đứt chân đứt tay, máu thịt be bét, thân thể và tứ chi không toàn vẹn, khiến người ta khiếp sợ dị thường. Lư Sư Tôn đang làm pháp hội siêu độ.

Lư Sư Tôn chỉ thị cho Trịnh Ngọc Hoa rằng ngài muốn cứu Trịnh Ngọc Hoa hoàn dương. Ngài trỏ vào một cái hốc và nói:
"Cô hãy mau chui vào đó đi!"

Trịnh Ngọc Hoa nhìn thấy cái hốc đó rất nhỏ, nhưng vẫn chui vào. Sau khi chui ra, Lư Sư Tôn ra lệnh cho một vị Bồ Tát đưa cô ấy bay đi. Bồ Tát bay ở phía trên, Trịnh Ngọc Hoa bay ở phía dưới, bay đến phía trên bệnh viện Trường Canh.
Trịnh Ngọc Hoa liền rơi xuống, nhập vào trong thể xác của Trịnh Ngọc Hoa, rồi tỉnh lại, thấy mình đang ở trong phòng chăm sóc đặc biệt.
Trịnh Ngọc Hoa nói:
Cô và Lư Sư Tôn hoàn toàn là người lạ, chưa quy y, chưa tu Chân Phật Mật Pháp, không ngờ người cứu cô ấy lại là Lư Sư Tôn.

Trong cõi u minh, cô đã nhìn thấy:

1. Lư Sư Tôn ở trong cõi u minh, siêu độ cho những linh hồn gặp khổ nạn.

1. Lư Sư Tôn cứu cô ấy hoàn dương.

1. Lư Sư Tôn là một vị Đại Pháp Vương có chứng lượng thật sự.

Trong suốt 10 năm nay, hễ Trịnh Ngọc Hoa gặp ai phê bình Lư Thắng Ngạn, cô ấy liền nói với người đó:
"Chưa hiểu rõ chân tướng thì chớ phê bình. Lư Sư Tôn này thật sự là một vị có chứng lượng."
(Buổi gặp mặt này, sư tỉ Từ Nhã Kì đã ghi âm thu hình lại toàn bộ.)

🌟

Tôi trả lời cô Trịnh Ngọc Hoa:
"Sư phụ quy y của cô không hiện thân, chư Bồ Tát không hiện thân, không có liên quan gì đến vấn đề chứng lượng, mà là cô và Lư Sư Tôn có duyên, cần phải là tôi kiến chứng, cho nên tôi mới hiện thân cứu cô."

Tôi nói:
Tôi có khi là A Di Đà Phật.
Tôi có khi là Địa Tạng Bồ Tát.
Tôi có khi là Diêu Trì Kim Mẫu.

Chỉ cần trong một suy nghĩ, tôi đã có thể hóa thân thành trăm nghìn vạn tỉ thân, trong 28 cõi trời, Vô sắc giới, Sắc giới, Dục giới, tam ác đạo, có thể nói rằng không nơi nào là tôi không hiện thân.

Trong lúc trò chuyện, tôi cũng có thể cứu người đó!

Ngày 10 tháng Giêng năm 2009, Indonesia có một chiếc phà chở mấy trăm người đi đến Borneo.
Trên đường đi gặp sóng to gió lớn, phà lật, có hơn hai trăm người gặp nạn.
Dưới đáy biển, tôi lập đàn siêu độ cho các vong hồn, có ai biết được chuyện này?
Ha ha ha!


### 11. Ngoại đạo, ngoại đạo, ngoại đạoTừng có người phê phán tôi:


"Lư Sư Tôn là phụ Phật ngoại đạo!"
Tôi nghe mãi rồi, chỉ cười ha ha ha.
Bị phê bình là ngoại đạo, đương nhiên không chỉ có một mình tôi, tôi chỉ là là một "vua ngoại đạo" tương đối nổi danh mà thôi.
Những người bị phê bình là ngoại đạo còn có:
Ấn Thuận đạo sư - đoạn kiến ngoại đạo.
Dalai Lama - thường đoạn ngoại đạo.
Nguyệt Khê pháp sư - vọng kiến ngoại đạo.
Nghĩa Vân Cao đại sư - thần thông ngoại đạo.
Lí Thiện Đơn - tiểu ngoại đạo.
...

Cá nhân tôi không dám nói người khác là ngoại đạo, tôi chỉ nói rằng thuyết pháp của những người này chỉ là:
"Thuyết pháp phương tiện."

Tôi nghiên cứu sâu kinh điển Tam Tạng, phát hiện thấy Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp, có rất nhiều rất nhiều bài thuyết pháp phương tiện.
Những kinh điển thuyết pháp phương tiện này, chúng ta không thể gọi Phật Thích Ca Mâu Ni là pháp ngoại đạo được.
Không thể nói Phật Thích Ca Mâu Ni là đại ngoại đạo.
Nếu lấy kinh Liễu Nghĩa đệ nhất nghĩa đế là chính đạo, thế thì những kinh "bất liễu nghĩa" đều sẽ trở thành kinh điển ngoại đạo hết.
Điều này không được.
Chúng ta chỉ có thể nói, tất cả những kinh "bất liễu nghĩa" mà Phật thuyết là những thuyết pháp phương tiện của Phật Đà mà thôi.

Cùng lí do tương tự:
Lư Sư Tôn tôi khi mới xuất đạo, tôi nhờ thần toán, phong thủy mà thành danh, tinh thông phù pháp, Đạo pháp…
Những cái này đều là pháp phương tiện.
Thu kinh, chế sát, trị bệnh, giải ách, nhân quả, thần thông, pháp thuật…
Đều là phương tiện.
Về sau, tôi "thân tu thực chứng", thật sự đã minh tâm, thật sự đã kiến tính.
Tôi thấy được Phật tính, đó là một lần thấy là vĩnh viễn thấy, vĩnh viễn không mất đi. Đương nhiên tôi biết đây mới là đệ nhất nghĩa đế, đây mới là liễu nghĩa, đây mới là thứ mà tôi đích thân chứng được.

Bây giờ tôi biết:
Đại học Phật giáo - pháp phương tiện.
Tiến sĩ Phật giáo - pháp phương tiện.
Đài truyền hình Phật giáo - pháp phương tiện.
Nghiên cứu Phật giáo - pháp phương tiện.
Triết học Phật giáo - pháp phương tiện.
Văn vật Phật giáo - pháp phương tiện.
Giáo dục Phật giáo - pháp phương tiện.
v.v…

Cá nhân tôi nghĩ, những pháp phương tiện này có quan trọng không? Câu trả lời của tôi là, chúng là phương tiện để dẫn dắt chúng sinh đi vào cửa Phật. Và điều quan trọng hơn là, sau khi bạn có được những thứ này thì phải đi đích thân chứng minh Phật tính đệ nhất nghĩa đế, lợi dụng trí huệ phương tiện để đi chứng minh vô thượng chính đẳng chính giác.
Có người nói:
"Dùng thiền định!"
Tôi nói:
"Thiền định cũng là phương tiện!"

Đệ nhất nghĩa đế chân chính, liễu nghĩa chân chính, vô thượng chính đẳng chính giác chân chính không phải là dùng tu hành mà có được. Câu nói này rất quan trọng.

Tôi chỉ có thể nói:
Là phúc đức lực, huệ lực, định lực, tín lực.
Tự mình chứng từ đó chứng quả.
Tôi minh tâm, tôi kiến tính, tôi chứng quả, điều này là tuyệt đối, chỉ có Phật biết, tôi biết, người khác không biết.

Tôi từ một kẻ phụ Phật ngoại đạo bị người người phê phán, có được đại quán đảnh của thập phương tam thế chư Phật. Đây là do tự mình chứng mà có. Vì thế nói, thuyết pháp phương tiện không quan trọng, nhưng cũng quan trọng.


### 12. Nóng lên và đóng băng


Vấn đề trái đất nóng lên liên tục là tiêu điểm quan tâm của con người hiện đại, tính nghiêm trọng của vấn đề nóng lên này sẽ gây nên:
Các tầng băng ở Bắc Cực sẽ tan thành nước, lục địa sẽ bị thu hẹp.
Sinh vật ở Bắc Cực Nam Cực sẽ bị diệt chủng.
Thiên tai biến đổi nhanh.
Sinh thái tự nhiên bị phá hỏng.
Nếu hiện tượng nóng lên trở nên nghiêm trọng, hoàn cảnh sống của con người sẽ bị ô nhiễm, tạo nên rất nhiều tổn thất không thể ước đoán.
v.v…
Mối quan tâm của con người hiện đại đối với vấn đề bảo vệ môi trường và vấn đề ô nhiễm môi trường ngày càng được chú ý nhiều hơn. Chú ý bảo vệ môi trường.
Một trận hạn hán lớn xảy ra.
Bão, lốc xoáy, cuồng phong, động đất, bệnh dịch và cháy rừng dường như được đánh đồng với sự nóng lên toàn cầu.
Khi tôi ở Malaysia, tại cung thể thao Thái Tử, cử hành pháp hội Thời Luân Kim Cang.
Tôi nói:
"Mặt trời hãy cách xa trái đất ra một chút!"

Kết quả là:
Trung Quốc Đại Lục bị bão tuyết.
Miền trung và miền tây nước Mĩ bị băng tuyết diện rộng.
Châu Âu bị băng tuyết rộng khắp.
Rất nhiều khu vực có nhiệt độ âm 40 độ C. Ở những vùng cao nguyên.
Nhiệt độ ở miền bắc Thái Lan cũng hạ xuống.
Núi cao ở Đài Loan có tuyết rơi.
Nhiệt độ đã giảm mạnh trên khắp thế giới và những đợt rét đậm đang đến gần.
(Vào năm 2008 và đầu năm 2009.)

Hiện tượng này đã gây ra tranh cãi giữa hai trường phái khoa học, một bên cho rằng hiện tượng ấm lên toàn cầu sẽ tiếp tục trầm trọng hơn. Trong tương lai, trái đất sẽ gặp một đợt hạn hán lớn, các đảo quốc ở Nam Thái Bình Dương sẽ bị nhấn chìm, các tảng băng ở hai cực Bắc và Nam sẽ tan chảy, và thế giới sẽ khô cằn.

Một nhóm nhà khoa học khác lại có quan điểm khác và tin rằng trái đất sẽ bước vào "thời kỳ đóng băng" trong 20 năm tới. Giống như đợt lạnh giá gần đây trên khắp thế giới, nhiều khu vực có bão tuyết lớn, âm 40 độ, bão tuyết ở khắp mọi nơi và băng tuyết ở khắp mọi nơi.
Các nhà khoa học của một phái tin rằng sự nóng lên toàn cầu không phải là vấn đề, mà là trái đất sẽ bước vào thời kỳ đóng băng trong vòng 20 năm.
Các nhà khoa học của phái kia không thừa nhận rằng quá trình carbon hóa sẽ ảnh hưởng đến sự ấm lên của toàn bộ trái đất.
Hai nhóm "nhà khoa học" này có quan điểm khác nhau.
Tôi thấy vậy, cười lớn ba tiếng ha ha ha.

🌟

Nhân loại trước nay cũng chưa từng nghĩ đến, pháp Thời Luân Kim Cang của Mật giáo, trong đó Ngoại thời luân là chỉ hiện tượng thời gian và giới tự nhiên vũ trụ. Ngoại thời luân bao hàm rất rộng.
Nói một cách đơn giản về Thời Luân Kim Cang, hiện tượng của toàn bộ vũ trụ là do thời gian sáng tạo nên. Ngay cả sinh mệnh và vạn vật cũng như thế, thời gian sáng tạo nên tất cả, cũng đồng thời hủy diệt tất cả.

Chúng ta có thể nói thế này:
"Thời Luân Kim Cang điều khiển toàn bộ thế giới."
Nhật luân - đang bị kiểm soát.
Nguyệt luân - đang bị kiểm soát.
Tinh luân - đang bị kiểm soát.

Lư Sư Tôn dùng pháp lực của Thời Luân Kim Cang là có thể ra lệnh:
"Mặt trời hãy cách xa trái đất ra một chút!"
Địa cầu liền rơi vào thời kì đóng băng.

Nếu như tôi ra lệnh:
"Mặt trời đến gần trái đất hơn một chút!"
Địa cầu liền rơi vào thời kì nóng lên.

Tôi có thể ra lệnh:
"Mặt trời và trái đất cách nhau như bình thường!"
Địa cầu lại hoàn toàn như bình thường.
Tôi, cười lớn ha ha ha, thì ra hành giả vĩ đại, không ngờ thật sự có thể kiểm soát cả vũ trụ.


### 13. Đôi giày đẹp


Có một người là bác sĩ Lê, là bác sĩ trẻ tuổi, chưa kết hôn.
Anh ấy cầm một tấm ảnh có cô gái xinh đẹp đưa cho tôi xem, anh và cô gái ấy chụp chung, thỉnh tôi cố vấn về chuyện hôn nhân của anh.
Tôi nói:
"Đôi giày rất đẹp!"
Anh hỏi:
"Cái gì mà đôi giày đẹp?"
Tôi đáp:
"Nhìn bề ngoài thì rất đẹp, nhưng khi đi vào thì mới biết là rất đau."
Những cô gái mà bác sĩ Lê mỗi lần theo đuổi hơn phân nửa là những đôi giày đẹp, không phù hợp để anh ấy mang.
Nhưng mà, anh vẫn cứ nhiều lần theo đuổi những đôi giày đẹp.

Có một lần.
Tôi dùng huệ nhãn của mình giúp bác sĩ Lê tìm được một đôi giày thích hợp, là một người trung thực và đáng tin cậy, một hình mẫu về hiền thê lương mẫu chân chính, tướng mạo của hai người cũng rất phù hợp.
Nhưng anh ấy lại không có hứng thú.
Tôi biết, tôi rất khó có thể gánh vác vai trò cố vấn hôn nhân, chẳng qua nói ra thì dài dòng.
Một cặp vợ chồng, từ khi kết hôn đến lúc đầu bạc răng long, luôn luôn phù hợp và thuận hòa với nhau, thì trong vạn người cũng khó kiếm được một.

Sư tỉ Trần Truyền Phương kể một mẩu chuyện cười:
Một bà vợ nói với chồng:
"Chồng à! Chồng ơi! Nếu em rơi xuống biển, anh sẽ xả thân nhảy xuống biển cứu em lên chứ?"
Chồng nghĩ một lúc rồi đáp:
"Yên tâm, anh sẽ chẳng gặp được chuyện may mắn như vậy đâu."
Tôi nghe xong, cười lớn ha ha ha.

Lại có một câu chuyện cười khác:
Một nhân viên cứu hộ đã cứu được một cô gái xinh đẹp. Hai người bắt đầu yêu đương, cuối cùng đã kết hôn, cả quá trình thật sự là vô cùng lãng mạn.
Bạn bè hết sức ước ao được như vậy. Hỏi anh ta hôn nhân ra sao. Nhân viên cứu hộ này nói:
"Cô ấy nổi lên, được cứu rồi. Nhưng tôi thì lại chìm xuống, chết rồi!"
Tôi nghe xong, cười lớn ha ha ha.

🌟

Gần đây, có một nghệ sĩ danh tiếng là bà Trương Tiểu Yến có hai lần thất bại trong hôn nhân. Trương Tiểu Yến diễn từ lúc còn là ngôi sao nhí cho đến khi già.
Bà cũng có những nỗi niềm khó nói. (Hạnh phúc luôn rất ngắn ngủi.)
Bà ấy nói một câu:
"Đôi giày đẹp, bề ngoài rất tốt, đi vào thì rất đau!"
Tôi thật sự không biết câu nói này chỉ chính bà Trương Tiểu Yến, hay là chỉ hai người chồng của bà?

🌟

Cuộc đời này của tôi có hai lần vướng vào tai tiếng tình dục lớn.
Họ đều chẳng phải là những đôi giày đẹp. Mà là đôi giày cũ.
Tôi cũng chẳng đi chúng.
Tôi chạy để cho đôi giày đuổi theo.
Bởi vì đôi giày không đuổi kịp tôi, nên đã ném vào đầu tôi, khiến đầu tôi đầy những cục u.
Ha ha ha!
Đúng là một chuyện hài hước.
Đối với vấn đề tình ái, tôi là người hiểu thấu, tình yêu là vô cùng mù quáng.
Yêu nhiều thì hận nhiều.
Yêu ít thì hận ít.
Yêu hận hợp nhất.
Tương sinh tương khắc.

Yêu và hận này vốn là hai cực, nhưng cũng là thái cực, vừa tách rời vừa dung hợp, không chỉ là tình yêu, ngay cả cha mẹ con cái cũng không ai là không như vậy, thiên hạ này, người nào đáng tin? Người nào không đáng tin? Khiến người ta nghi hoặc?
Những tình nhân, hãy coi chừng!
Bị giết hại tới mức trên người đầy vết sẹo, không chết thì cũng gần như chẳng sống nổi!
Giấc mộng này, người phàm khó mà hiểu được!


### 14. Sự việc ở chùa Linh Cốc


Chùa Linh Cốc ở Nam Kinh, Trung Quốc nằm cách lăng Tôn Trung Sơn ở thành phố Nam Kinh khoảng 1,5km về phía đông. Ngôi chùa này được xây dựng vào năm Lương Thiên thứ mười ba của triều đại Nam triều, tức năm 514 sau Công nguyên, và có lịch sử hơn 1.400 năm.
Nó được xây dựng bởi Lương Vũ Đế để chôn cất nhà sư nổi tiếng là Bảo Phóng.
Minh Thái Tổ đã tự tay khắc tấm bảng cho chùa Linh Cốc là: "Thiên hạ đệ nhất thiền lâm". Ngôi chùa này có phong cảnh đẹp và là một ngôi chùa cổ nổi tiếng ở Nam Kinh.

Theo như báo chí viết thì:
Trụ trì của chùa Linh Cốc là phương trượng Tịnh Nhiên, giám viện là pháp sư Thuần Như đã dẫn theo năm pháp sư nổi tiếng đến thăm Đài Loan theo lời mời của tổ chức Huyền Trang. Họ trọ tại khách sạn ở Tân Trúc.

Vào ngày 14 tháng 1 năm 2009, trụ trì Tịnh Nhiên được phát hiện đã bị đánh đập dã man đến chết. Pháp sư Thuần Như đã nhảy lầu tự sát.

Theo báo cáo của cảnh sát:
Trụ trì Tịnh Nhiên và pháp sư Thuần Như vì đã tranh chấp với nhau một số việc vặt vãnh, pháp sư Thuần Như đã dùng chiếc đui đèn nặng 10kg đập vào đầu trụ trì, khiến đầu ông bị biến dạng và tử vong. Còn pháp sư Thuần Như vì sợ tội mà nhảy lầu tự sát.
Một mảnh giấy được tìm thấy trên người pháp sư Thuần Như, viết rằng: "Hãy báo cảnh sát đến bắt tôi…"

Sự việc này đã làm dấy lên sự chú ý của giới tôn giáo hai bên bờ biển Đài Loan, và những người trong giới Phật giáo hết sức ngạc nhiên và khó tin.
Các nhân sĩ trong xã hội thì không hiểu gì.
Bàn tán liên miên.

🌟

Tôi đọc những bài báo có liên quan, trong lòng không cảm thấy dậy sóng, không cảm thấy rất kinh ngạc, cũng không than thở.
Tôi cho rằng, đây là chuyện bình thường.
Đệ tử hỏi tôi:
"Chuyện này là sao chứ?"
Tôi đáp:
"Pháp sư cũng là con người."
Đệ tử hỏi:
"Nhưng là người tu hành cơ mà?"
Tôi đáp:
"Tu hành chưa đến minh tâm kiến tính, hẳn là sẽ như vậy, như vậy mà thôi!"
Tôi nói:
Năm xưa Lục Tổ Huệ Năng đại sư có được ấn khả và tổ y của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, sau khi Lục Tổ đi, các môn đồ của Ngũ Tổ chẳng phải là rất tức tối bất bình sao, họ đi khắp nơi tìm giết Lục Tổ, hại Lục Tổ phải trốn trong nhóm thợ săn hơn 10 năm.

Tôi nói:
Năm xưa khi tôi có được thiên nhãn, sau khi thanh danh vang dội, giới tôn giáo và truyền thông đã tìm mọi cách vây quét. Hại tôi phải nhanh chóng đi Seattle Mĩ, lúc ấy tôi mới bắt đầu định tâm lại được, yên ổn tự tu tự chứng.
Con người ơi con người!
Những động vật đáng thương vì phiền não sinh tử, luân hồi không dừng dứt.
Nhẫn nhục ba la mật đa, lấy đâu ra?
Minh tâm, lấy đâu ra?
Kiến tính, lấy đâu ra?
Vô sinh pháp nhẫn, lấy đâu ra?
Ngay cả giới luật cơ bản nhất là giết, cướp, dâm, vọng, rượu đều không giữ được, lấy đâu ra?
Giết thầy như giết Phật.
Tự sát như giết Phật.
Sao lại không biết chứ?

Khi tôi chứng đắc bình đẳng tính trí, tôi thấy bạn, tôi, người ta, đều như chính bản thân mình. Khiến người khác đau khổ cũng tương đương khiến bản thân mình đau khổ, tôi chỉ muốn làm người ta vui vẻ, sao có thể nhẫn tâm đi làm hại người khác chứ?

Ha ha ha! Cười người đáng cười trong thiên hạ, cười chuyện đáng cười trong thiên hạ.


### 15. Quên rồi quên rồi quên rồi


Có người hỏi tôi:
"Ngày 13 tháng 12 năm 2008, tại Singapore, ngài chủ trì đại pháp hội Thời Luân Kim Cang, có 60 nghìn người tham gia, ngài cảm thấy thế nào?"
"Rất tốt!" - Tôi đáp.
"Điểm nào tốt?"
Tôi đáp:
"Tôi quên rồi!"

Lại có người hỏi tôi:
"Ngày 21 tháng 12 năm 2008, tại Đài Loan, ngài chủ trì đại pháp hội Cát Tường Hỉ Kim Cang, có 30 nghìn người tham gia, ngài cảm giác ra sao?"
"Rất tốt!" - Tôi đáp.
"Tốt ở chỗ nào?"
Tôi đáp:
"Tôi quên rồi!"

Còn có người hỏi tôi:
"Thông qua những sáng tác của ngài, hồi kí của ngài, khởi đầu từ một cuộc đời bình phàm, biết rằng lúc còn nhỏ ngài đã bị ức hiếp, thường xuyên bị đánh, rất nhiều chuyện không thể chịu đựng nổi, bây giờ ngài cảm thấy thế nào?"
Tôi đáp:
"Tôi quên rồi!"
"Thật sự không nhớ sao?"
"Thật sự quên rồi!" - Tôi đáp.

Vào tháng Giêng năm 2009, tôi đến Cao Hùng, Đài Loan, đó là nơi tôi đã sống 19 năm. Cao Hùng đã thay đổi rất nhiều, tôi không còn nhận ra một tòa nhà nào nữa, tôi không nhận ra một con đường nào nữa, toàn bộ đều khác rồi, thời thơ ấu, thiếu niên, thanh niên của tôi…
Tôi há to miệng.
Đều quên sạch rồi.

Tôi cũng sống tại Đài Trung, Đài Loan 19 năm, phía trước ga tàu hỏa ở thành phố Đài Trung, tôi còn nhớ được mang máng, lờ mờ.
Những cái khác, đều thay đổi rồi.
Trường Trắc Lượng không còn nữa!
(Trở thành Học viện Khoa học Công nghệ Trung Chính, rồi lại thành Đại học Quốc Phòng.)
Liên đội trắc lượng số 5802 đã không còn nữa!
(Căn bản là tôi không biết có còn liên đội trắc lượng nữa không.)
Nhà máy sản xuất bản đồ vẫn còn.
(Nhưng con đường lớn phía trước nhà máy cũng đã hoàn toàn thay đổi rất khác lạ rồi.)
Đài Loan Đài Trung.
Tôi gần như quên hết sạch rồi.

Tôi trở về Đài Trung, thường xuyên hỏi người ta, đây là đường gì? Thế còn đây là đường gì?
Bởi vì tôi đều quên hết rồi!

🌟

Khi tôi trở về Seattle Mĩ, tôi luôn có một cảm giác như nằm mơ.
Sống tại Seattle cũng là mơ.
Trở về Đài Loan cũng là mơ.
Cả cuộc đời tôi đều là mơ.
Mơ xong rồi, cũng quên luôn rồi!

Phật pháp nói với chúng ta rằng, hành giả phải biến tâm mình giống như mặt hồ phẳng lặng.
Một con chim nhạn bay qua, trên mặt hồ hiện bóng của nó, khi nó bay qua rồi thì không còn cái bóng nào nữa.
Một bầy chim nhạn bay qua, trên mặt hồ có bóng của một bầy chim nhạn, khi chúng bay qua rồi, thì cũng không còn cái bóng nào nữa.
Tâm của tôi chẳng vương một sợi tơ.
Vô sự.
Vô tâm.
Lần này, tôi trở về Đài Loan, gặp vị cố vấn pháp luật đầu tiên của tôi trong cuộc đời này, luật sư Hoàng Thanh Hoa, ông ấy cũng là cố vấn pháp luật cho sách của tôi, tôi gặp ông ấy, ấy vậy mà cũng không nhận ra ông.
Chúng tôi cười lớn ha ha ha.
Gặp nhau cũng giống như trong mơ!


### 16. Phía dưới cây cầu lớn ở Bành Hồ


Lần này tôi trở về Đài Loan thì nghe được một tin tức.
Có một khởi nghiệp gia họ Bạch bị tuần san đưa tin, sau đó ông ta chọn một câu cầu lớn ở Bành Hồ mà mình thích nhất, thế rồi…
Nhảy "ùm" xuống một cái.
Đi rồi!
Tất nhiên, ít có điều hay trong các bài báo tuần san, và hầu hết chúng đều là những trò buôn dưa lê như tiết lộ đời tư của những người nổi tiếng.
Ông Bạch không chịu nổi.
Dùng cái chết để chứng minh sự thanh bạch của mình.

🌟

Khi tôi trở về Đài Loan.
Có một khởi nghiệp gia mà tôi quen sơ sơ, là hàng xóm trước kia của tôi, từ cửa sổ trên tầng cao ở nhà ông ta đã nhảy xuống.
"Bụp" một tiếng rất to.
Hồn đã bay đến Li Hận Thiên rồi!
Vị khởi nghiệp gia này mắc bệnh mất ngủ, bị trầm cảm, ngày nào cũng ra ngoài đi lang thang, cứ thế đi loanh quanh, mặt vô hồn.
Như người chết biết đi.
Hiếm khi tiếp xúc và nói chuyện với mọi người.
Trước đây, khi nhìn thấy tôi, ông ấy chỉ gật đầu một cái, thậm chí cúi đầu, im lặng bước đi.
Ông ấy đi rồi.
Từ nay ngay cả cái bóng cũng không còn nữa.

🌟

Hai sự việc trên đều xảy ra gần đây, và còn nhiều sự việc nữa, mỗi ngày giở báo ra xem đều có. Áp lực rất lớn, căng đến mức con người đều sắp phải "vào trại" rồi.
Con người hiện đại nóng nảy.
Con người hiện đại cáu kỉnh.
Con người hiện đại u sầu.
Con người hiện đại có khả năng chịu áp lực kém.
Có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn đối phó thế nào? Làm sao để hóa giải?"
Tôi trả lời:
"Phật Đà nói, lấy pháp Vô ngã làm đầu."

Tôi giải thích như sau:
Phật Thích Ca Mâu Ni cho rằng con người có hỉ nộ buồn vui, có thất tình lục dục, có ghen tuông đố kị, có giận dữ, có cáu kỉnh, có sầu muộn, có áp lực, đều là vì có "ngã" mà ra.
Chúng sinh chấp ngã rất nặng. Lấy tự ngã làm trung tâm.
Người thuận theo mình thì thích.
Người đối nghịch mình thì ghét.
Làm sao để đối trị và hóa giải, phải lấy "vô ngã" để đối trị và hóa giải.

Tôi nói:
Tôi không phải là Lư Thắng Ngạn, tôi không phải là Liên Sinh Hoạt Phật, tôi không phải là Hoa Quang Tự Tại Phật.
Tôi không hề đến, cũng không hề đi.
Tôi hiện đang tồn tại là cái huyễn nhất thời. Tất cả mọi sự hãm hại đều là cái huyễn nhất thời, đây là suy nghĩ "vô ngã".
Tôi sẽ không nóng nảy, chỉ cảm thấy thế nhân nực cười.
Tôi sẽ không cáu kỉnh, trong lòng tĩnh lặng như nước.
Tôi sẽ không u sầu, vui vẻ là một ngày, u sầu cũng là một ngày, tôi lựa chọn vui vẻ.
Tôi sẽ không có áp lực, bởi vì tôi vô ngã, mà vì không còn cái tôi nữa, thì lấy đâu ra áp lực?
Một người khai ngộ, biết chẳng thể có được cái gì, người ta tán dương mình, mình không vì thế mà hoan hỉ, người ta phỉ báng mình, mình cũng không vì thế mà đau buồn. Nói chung chính là như vậy.
"Ngã" là căn nguyên của phiền não!
"Ngã" là chủng tử của địa ngục!
"Ngã" là cái dẫn đến tất cả mọi thứ!

Bất luận tất cả đều là sóng lớn cuồn cuộn ngất trời, gió to sóng lớn, tôi đều có thể hạnh phúc. Vì sao vậy? Nghĩ vô ngã, pháp vô ngã, tính toán vô ngã… Vô ngã này của tôi không phải chỉ nói miệng khơi khơi mà thôi, mà tôi thật sự thực tiễn nó, tôi trở thành người luôn không sao cả, không căng thẳng, mặc kệ mọi thứ!
Hì!


### 17. Cộng nghiệp của lòng tham


Tháng 9 năm 2008, một cuộc đại khủng hoảng tài chính đã xảy ra tại Mĩ, ảnh hưởng đến hệ thống tài chính của toàn thế giới, kết quả là gây ra cuộc đại suy thoái kinh tế thế giới, đây là một hiệu ứng domino khủng khiếp.
Thị trường chứng khoán.
Thị trường tài chính.
Thị trường quỹ.
Con người đã thấy được sự mong manh, thật sự là mọi thứ có thể sụp đổ chỉ với một cái thổi nhẹ.
Bất động sản sụt giá.
Dây chuyền sản xuất ngừng hoạt động.
Nhà máy đóng cửa.
Ngành bán lẻ thì chao đảo.

Cá nhân tôi không phải là nhà kinh tế học, nên tôi không thể phân tích nguyên nhân và hậu quả của nó, nhưng trực giác tôi cảm thấy:
Phương trình kinh tế đã sai lầm.
Kinh tế không thiết thực.
Kinh tế gian lận.

Điều tra ngọn nguồn của nó, cái gọi là cơn bão tài chính đều là do lòng tham của con người gây nên, một chữ "tham". Hệ thống kinh tế bong bóng này là chính là cộng nghiệp của lòng tham của con người.
Thảm họa tài chính đã gây ra:
Làn sóng phá sản.
Làn sóng sa thải.
Làn sóng thất nghiệp.
Làn sóng mất mát.
Kinh tế đình trệ.
Tương lai sẽ ra sao? Thật sự khiến người ta không dám tưởng tượng.
Nhiều doanh nhân lớn nói một cách bi quan:
"Tôi không thể nhìn thấy khi nào nó sẽ phục hồi!"

🌟

Hành giả Phật giáo chúng ta bản thân phải bỏ lòng tham, bởi vì chúng sinh nhiều tham trọc, chúng sinh vì tham mà bị trói buộc, vì tham mà sinh ra phiền não, bởi vì tham tiền, tham sắc, khiến cho thân tâm hữu tình không có cách nào xuất li thế giới Ta Bà được.

Ví dụ như:
Tham nhiễm - bị ngũ dục làm ô nhiễm.
Tham dục - say đắm ham muốn tiền tài sắc đẹp thế gian. Vĩnh viễn không thỏa mãn.
Tham tập - ham thích thói quen tính toán, trở thành chủng tử của những tập khí xấu.
Tham chấp - tham chấp vào danh lợi, cầu danh lợi mãi không biết chán.
Tham ái - chúng sinh trường kì lưu chuyển trong lục đạo, phiền não không dứt, đều do tham ái.

Kinh Di Giáo của Phật nói: "Nếu có trí huệ, sẽ chẳng còn tham."
Hôm nay tôi dùng chữ tham này để đánh thức hành giả, đừng tham, thiết thực là được.
Nhưng, ai có thể nghe theo?
Cuộc khủng hoảng tài chính thế kỉ hôm nay bắt nguồn từ lòng tham, không thực tế.
Mua bán khống.
Công ty trên giấy.
Thành tích trên giấy.
Báo cáo tài chính giả mạo.
Tạo thành "bong bóng"!

🌟

Có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn có đại pháp lực, sao không cứu kinh tế? Cứu cơn bão tài chính này?"
Tôi đáp:
"Chẳng có cách nào. Ha ha ha."
(Ai có thể dùng tay đỡ ngôi nhà sập?)
"Vì sao lại không có cách nào?"
Tôi đáp:
"Cộng nghiệp của lòng tham nhân loại là một định nghiệp, đại Thánh hiền cũng không có sức mạnh nào có thể lật ngược tình thế."
"Cầu xin Lư Sư Tôn, xin hãy cứu những người dân thường trong thiên hạ đi!"
Tôi đáp:
"Khi mọi thứ đến điểm đáy, hãy bắt đầu lại từ đầu. Hãy chắc chắn rằng bạn phải thực tế và vững chắc xây dựng lại. Đừng làm giả, đừng lừa đảo, hãy ghi nhớ những giáo huấn và tích cực xây dựng một hệ thống kinh tế thực tế. Như vậy mới kiện toàn."


### 18. Chuyện cười về tổng thống Bush


Có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn, ngài có ấn tượng thế nào về Tổng thống Bush?"
Tôi khựng lại một lúc, không ngờ lại có người hỏi tôi một câu như vậy.
Tôi không nói gì chỉ cười:
"Ha ha ha!"

Vào ngày 20 tháng 1 năm 2009, Tổng thống thứ 44 của Mĩ - ông Obama, nhậm chức.
Còn "Bush Con" đã khởi hành bằng trực thăng từ đường băng của Nhà Trắng, kết thúc nhiệm kì tổng thống 8 năm của mình.

Theo một cuộc thăm dò của CNN:
60% công chúng tin rằng Tổng thống Bush "đã làm một công việc tồi tệ" trong 8 năm.
Chỉ có 32% công chúng công nhận ông ấy.

Tôi thấy:
Khắp thế giới có một chuỗi các bữa tiệc "mừng Tổng thống Bush từ chức", mọi người khắp nơi đều đang ăn mừng.

Tôi thấy:
Trên bãi cỏ của Washington DC, một bức chân dung của Bush được dựng lên, và người dân Mỹ đã ném giày vào đầu ông, hoặc ném vào "bộ hạ" của ông, và sau đó mọi người cười cợt và reo hò.

Tôi còn nhớ một chuyện cười mà Trần Truyền Phương kể.
Bush có lần ngồi trên chuyên cơ Không Vận số 1.
Bush nói: "Nếu tôi ném ra một trăm đô la, ném ra mười tờ, sẽ có mười người nhặt được, mười người này nhất định sẽ rất vui."
Người phụ tá nói: "Chi bằng Tổng thống ném ra một trăm đô la, ném ra một trăm tờ, sẽ có một trăm người vui mừng."
Sau đó, cơ trưởng quay đầu lại nói với Bush:
"Nếu ông ném mình xuống, người dân cả nước đều sẽ vui mừng!"
Tôi nghe xong: "Ha ha ha!" Cười vang không dừng được.

🌟

Tôi không hiểu chính trị.
Nhưng tôi có một thắc mắc để ở trong lòng, vẫn luôn muốn thỉnh giáo Tổng thống Bush:
"Vào thời Tổng thống Clinton, ông ấy đã làm cho nền kinh tế rất tốt, nước Mĩ không chỉ không có nợ mà còn có thặng dư. Tổng thống Bush tại vị được 8 năm, thặng dư đều tiêu hết, không những thế còn nợ nần chồng chất, thâm hụt tăng vọt, 580 tỷ nợ Trung Quốc, 500 tỷ nợ Nhật Bản, nợ…
Tôi muốn hỏi ông ấy:
"Tổng thống Bush đã tiêu như thế nào?"
"Tiêu tiền không tiếc tay, nhưng thâm hụt kinh tế, ông phải làm sao?"
Nạn thất nghiệp?
Sa thải?
Suy thoái?
Khủng hoảng tài chính?
Ông phải làm sao đây?

🌟

Cá nhân tôi ngưỡng mộ Tổng thống Bush.
Khi ông ấy lẩn trốn những phóng viên Iraq bất ngờ ném giày vào ông, thân thủ của ông ấy rất nhanh nhẹn, nhanh tay lẹ mắt, lẩn trốn rất giỏi, rất khéo.
Ngũ quan khuôn mặt của ông Bush rõ ràng, đôi mắt và cái mũi, hiển thị đầy đủ "tâm hồn" và "tài hoa" của ông, khiến người ta khâm phục.
Ông ấy nói chuyện rất quả quyết, tác phong rất có chí khí.
Chuyện cười và sự hài hước của ông ấy cho thấy ông ấy rất hồn nhiên.
Trước đại chúng, ông ấy cũng có thể xoay người nhảy múa theo tiết tấu của âm nhạc, rất chất phác.
Ông ấy có thể cười ngốc nghếch sau những vụ lùm xùm mà chẳng hề bận tâm.
Ông ấy có một khuôn mặt đáng tin cậy.
Bush Cha.
Bush Con.
Đều có một khuôn mặt đáng tin cậy.
Thế nhưng, dân chúng Mĩ dường như không biết tán thưởng những điều này, họ chỉ chú trọng đến kết quả sau khi nắm quyền.
Trong số các Tổng thống tiền nhiệm của Mĩ, ông đứng thứ hai từ cuối lên, đứng cuối cùng là Nixon.


### 19. Pháp hội cầu phúc có tác dụng không?


Có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn, pháp hội cầu phúc có tác dụng không?"
Tôi đáp:
"Có."
Lại có người khác hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn, pháp hội cầu phúc có tác dụng không?"
Tôi đáp:
"Không."
Người nghe vô cùng ngạc nhiên:
"Sao một người thì có, người kia thì không, chúng tôi không sao hiểu được?"
Tôi cười ha ha ha!
Tôi giải thích như sau:
Ngày xưa, có người hỏi thiền sư có địa ngục không? Thiền sư đáp có. Người khác hỏi thiền sư có địa ngục không? Thiền sư đáp không.

Còn nữa:
Thiền sư giải thích, người bình thường có vợ, nhưng hòa thượng thì không có vợ.
Có và không, thật ra là tùy theo mỗi người mà khác biệt!

🌟

Mọi người có còn nhớ cái lần tôi làm pháp hội cầu phúc để cầu mưa cho đợt hạn hán nghiêm trọng đó không?
Mưa, sau pháp hội mười phút thì trời đổ mưa.
Cả nước có mưa lớn.
Còn có một lần, tôi làm đại Hộ Ma Cát Tường Hỉ Kim Cang.
Tôi nói:
"Cầu phúc lần này vô dụng!"
Kết quả, chúng ta đã gặp phải cơn khủng hoảng tài chính toàn thế giới.
Đúng là vô dụng.
Pháp hội cầu phúc hữu dụng hay vô dụng thật sự là rất khó nói. Điều này có nhân quả, ví dụ, trên phương diện làm pháp của tôi, có người cứu được, có người không cứu được.
Đúng là vận mệnh, là nhân quả, là nghiệp chướng, là định nghiệp, là bất định nghiệp, đúng là khó nói.

Tôi, Lư Sư Tôn, dẫu rằng có đại pháp lực siêu cấp, thượng thiên nhập địa, nhưng cũng có những chuyện tôi đành bó tay.
Động đất.
Sóng thần.
Hạn hán.
Gió bão.
Bệnh dịch.
Bão tuyết.
Thiên tai địa biến nhân họa không ngừng gia tăng ở các nơi trên thế giới, pháp hội cầu phúc của chúng ta cũng nhiều lần được tiến hành. Không chỉ như vậy, hành động cứu nạn của chúng ta trên thực tế đã tham gia nhiều vào công việc cứu trợ thiên tai, hi vọng việc lớn hóa nhỏ, việc nhỏ hóa không có gì.
(Tai họa lớn biến thành tai họa nhỏ, tai họa nhỏ biến thành không còn tai họa.)

Trên phương diện tu trì Mật pháp:
Trong niệm tụng Mật giáo, nếu Thượng sư giáng xuống, Bổn tôn giáng xuống, Hộ pháp giáng xuống. Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp đều phóng đại quang minh cứu thế gian, như vậy thì pháp hội cầu phúc sẽ có tác dụng.

Nếu như trong niệm tụng Mật giáo, Thượng sư không giáng xuống, Bổn tôn không giáng xuống, Hộ pháp không giáng xuống.
Nhưng Bổn tôn nói với tôi:
"Lư Sư Tôn, đây là định nghiệp!"
Thì tôi sẽ biết, tất cả thế là hỏng rồi!

Phật Đà cũng có ba điều không thể, không thể độ người vô duyên, không thể chuyển định nghiệp, không thể độ hết chúng sinh. Tôi cũng có ba điều không thể như vậy. Ông trời ơi! Trời xanh ơi! Ô hô! Ô hô!
Mọi người nói xem, tôi có còn cách nào khác không? Đã dùng hết mọi cách rồi.


### 20. Hết hết hết hết hết


Có người hỏi:
"Lư Sư Tôn dùng sinh mạng để viết sách, chẳng khác gì viết ra sinh mạng. Cuộc đời sáng tác cô độc như vậy, vô cùng trân quý, vì sao ngài lại nói cuối cùng sẽ đốt hết sách đi?"
Tôi nói:
"Cuộc đời của tôi chỉ có một chữ, chữ này chính là "hết"!"
"Không hiểu?"
Tôi nói:
"Phật  nói, đời người là trả nghiệp, trả nghiệp thì không phải là hết sao?"

Các thánh đệ tử xin nghĩ cho kĩ:
Tôi không có sinh mạng!
Tôi không có viết sách!
Tôi không có tu pháp!
Tôi sẽ đốt hết sách của mình đi, đây chính là hết hết hết hết hết, chấm dứt hết rồi!

🌟

Phật Đà nói:
Ta không có ba lần chuyển pháp luân!
Ta không có thuyết pháp!
Ngay cả nói một chữ cũng không!
Nếu như nói Phật có thuyết pháp, thì tức là phỉ báng Phật.

Phật Đà nói:
Pháp còn nên bỏ, huống chi không phải là pháp.
Đây chính là đệ nhất nghĩa đế trong bát nhã của Phật Đà.
Rõ ràng tôi có sinh mạng, nhưng lại nói là không có sinh mạng.
Rõ ràng tôi có viết sách, nhưng lại nói là không có viết sách.
Rõ ràng tôi có tu pháp, nhưng lại nó là không có tu pháp.
Thậm chí, rõ ràng tôi lên pháp tọa ngồi thuyết pháp, nhưng rốt cuộc lại nói là không có thuyết pháp.
Vì sao?
Mời các thánh đệ tử trả lời. Trả lời xem sao!

🌟

Tôi từng nói:
"Sách hoàn thành rồi, cởi sạch quần áo, chạy ba vòng quanh Lôi Tạng Tự, làm một hiệp khách chạy rông! Sảng khoái! Sảng khoái!"
Tôi từng nói:
"Sách hoàn thành rồi, đem sách đốt hết. Sướng! Sướng!"
Ha ha ha!
Chả còn cái thá gì!

🌟

Có một vị là thiền sư Viện Phạm.
Tăng hỏi:
"Thế nào là việc đúng Phật pháp?"
Thiền sư Viện Phạm đáp:
"Hết!"
"Cái gì là đại ý của Phật pháp?"
"Hết!"
"Thế nào là tây lai ý?" [ND: công án thiền tông, chỉ mục đích của việc Tổ Sư Bồ Đề Đạt Ma từ Tây Thiên đến Trung Thổ.]
"Hết!"
Tăng nhân hỏi thiền sư Viện Phạm:
"Ngũ Tổ khi chưa gặp Tứ Tổ thì thế nào?"
Thiền sư Viện Phạm đáp:
"Tự do tự tại."
Tăng nhân lại hỏi Thiền sư Viện Phạm:
"Ngũ Tổ sau khi gặp Tứ Tổ thì thế nào?"
Thiền sư Viện Phạm đáp:
"Tự do tự tại."

🌟

Các thánh đệ tử, mọi người nên ngẫm nghĩ để lĩnh hội được chương sách này, chương sách này là đệ nhất nghĩa đế đó. Là Thánh đế, chứ không phải là tục đế; là Phật huệ, chứ không phải là phương tiện; là xuất thế, chứ không phải là nhập thế.
Mọi người nói tôi là kẻ điên, tôi chính là kẻ điên, mọi người nói tôi là Căn bản Thượng sư, tôi chính là Căn bản Thượng sư, tùy mọi người nói, tất cả đều là hết hết hết hết hết.


### 21. Nghe "dân ca vườn trường"


Từng có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn, thầy có thích nghe hát không? Tôi đưa thầy đi nghe hát."
Tôi ngẩn ra. Nói là thích thì cũng không phải, nói là không thích thì cũng không phải, nhất thời tôi không biết trả lời thế nào.

Lúc còn trẻ, giáo viên âm nhạc dạy chúng tôi hát bài "Ngẫu nhiên" của nhà thơ Từ Chí Ma, tôi đã trào lên một cơn xúc động.
"Tôi là một đám mây trên bầu trời…"
Sau này, tôi nghe bài "Ngẫu nhiên" và bài "Tạm biệt Cambridge" do Phạm Quảng Huệ hát, tôi yêu thích ngay hai bài hát này.
Tiếp đó, tôi nghe bài "Trời xanh mãi xanh" do Phan Việt Vân hát, trong lòng tôi đã trở nên "trời xanh mãi xanh" rồi!

Nói thẳng thắn:
Tôi thích hát những bài dân ca vườn trường [ND: một thể loại âm nhạc thịnh hành ở Đài Loan thập niên 70, đặt nền móng cho nền công nghiệp nhạc pop Đài Loan phát triển vào thập niên 80, 90] bởi vì chúng giản dị, chân thành, lại có tình cảm thanh xuân thuần khiết.
Trong những năm tháng của cuộc đời, dường như một lần nữa được trở về với những mơ mộng bay bổng.

Nghĩ mà xem:
"Ngẫu nhiên" - quá nhiều ngẫu nhiên.
"Tạm biệt Cambridge" - khổ sở vì li biệt.
"Trời xanh mãi xanh" - giờ đây, tu hành một ngày, vui vẻ một ngày, cảm ơn một ngày. Đúng là "trời xanh mãi xanh".
Tuổi tác lớn dần lên.

Tôi thích bài "Đình viện thâm thâm", "có bao chuyện đã qua, khó mà nhớ cho hết, bao nhiêu là ân oán, đã theo gió bay đi". Cuối cùng, chỉ còn lại "chi bằng quay trở về"!
Tôi thích bài "Vịnh Bành Hồ của bà ngoại", từng câu từng câu về vịnh Bành Hồ, ánh nắng ấy, bãi cát ấy, sóng biển ấy, cây xương rồng hình bàn tay ấy.
(Ông nội tôi vốn sống tại một góc phố nhỏ ở Tây Tự, Bành Hồ, khi còn nhỏ tôi cũng từng đến Tây Tự.)
Tôi thích bài "Ánh dương và mưa nhỏ", tôi có thể hát bài "Ánh dương và mưa nhỏ", chỉ vì trong lòng chúng ta cất giữ một phần tình yêu, đó chính là bồ đề tâm độ chúng sinh.
Tôi thích bài "Miền sông nước", chẳng vì lí do gì cả, chỉ vì người tôi thì ở Mĩ, nhưng tâm thì ở Đài Loan.

Điều tôi muốn là:
Một Đài Loan nơi miền sông nước.
Tôi thích bài hát "Nhà tôi ở nơi đó", ngôi nhà ở nơi miền sông nước, đó là ngôi nhà ấm áp của tôi, tôi sống ở nơi đó.

🌟

Mặc dù tôi đã xuất gia tu hành, tôi vẫn thích giai điệu của những bài dân ca vườn trường, chúng khiến tôi rất xúc động, khiến tôi rất cảm động.
Tôi không hẳn là rất thích những buổi diễn tấu giao hưởng hợp xướng, rốt cục trong cuộc đời của tôi, tôi có khoảng cách xa xa với nhạc giao hưởng.
Những ca khúc nghệ thuật thì tôi cũng rất thích.
Nhạc jazz, có thích một chút.
Nhạc rap, không cần thiết.
Nhạc pop, không cần thiết.
Nhạc cuồng điên của thanh niên, không cần thiết.
...

Trong lòng tôi, giai điệu giản dị ấy, cái hoài niệm không thể nào dứt bỏ ấy, cái tình nghĩa gợi lên bao hồi ức ấy, mộng tưởng ấy, những lời thổ lộ ấy.

Tôi thích: Dân ca vườn trường.
Đệ tử nói:
"Mời Lư Sư Tôn đi nghe nhạc."
"Nhạc gì?"
"Tình may áo, chiếc gối đôi…"
"Anh đang nói đùa đấy à!"
Tôi cười lớn ha ha ha.

Nói một cách nghiêm túc, khi tôi còn trẻ, các tiết học âm nhạc, tôi thật sự rất thích, tôi cũng từng là đội viên trong đoàn hát Thánh ca. Về sau tôi chỉ nghe nhạc thôi, thích nghe dân ca vườn trường.

Tôi hiểu:
"Bài hát hay nhất, là hoàn toàn không có âm thanh!"


### 22. Ba đạo lí lớn của kinh Viên Giác


Từ rất rất lâu rồi, tôi đã giảng kinh Viên Giác tại Chân Phật Mật Uyển.
Sau đó, Thượng sư Liên Duyệt ở Trung Quán Đường tại Đài Bắc đã cắt xén và chỉnh lí rồi phát trên truyền hình Đài Loan, giành được sự hưởng ứng rộng rãi.
(Phát sóng trên đài truyền hình Đài Loan còn có tiết mục "Thắp sáng ngọn đèn tâm" của chủ nhiệm Từ Nhã Kì, nhận được rất nhiều lời khen ngợi.)
Hai tiết mục này tôi đều rất thích.

Về kinh Viên Giác, tôi bổ sung thêm như sau:
Tên đầy đủ của kinh Viên Giác là "Đại phương quảng viên giác tu-đa-la liễu nghĩa kinh", đó là khi Phật Đà nhập vào tam muội của kho tàng thần thông đại quang minh, đã xuất hiện rất nhiều tịnh thổ, có mười hai vị đại Bồ Tát như Văn Thù Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, v.v… lần lượt thỉnh vấn về pháp môn tu chứng theo các địa, Phật Đà đều giải thích tỉ mỉ từng cái một.

Hàm nghĩa của hai chữ "viên giác" là, tất cả chúng sinh hữu tình, đều có giác tính bản sơ, tức là chân tâm, chân Phật, chân như. Từ vô thủy đến nay, thường sống thanh tịnh, sáng tỏ không mờ mịt, hiểu rõ và thường trí.
Tại thể là nhất tâm.
Tại nhân là Như Lai tạng.
Tại quả là viên giác.

Vì thế, kinh Viên Giác nói:
"Thiện nam tử, Pháp Vương vô thượng có đại đà-la-ni môn, tên gọi là Viên Giác, tuôn chảy tất cả thanh tịnh, chân như, bồ đề, niết bàn, ba la mật để truyền thụ cho Bồ Tát."

Pháp sư Khuê Phong ca ngợi rằng:
"Vạn pháp hư giả.
Duyên sẽ sinh ra.
Pháp sinh vốn không.
Tất cả duy thức.
Thức như mộng huyễn.
Chỉ có nhất tâm.
Tâm tĩnh sẽ hiểu.
Viên giác là gì."
(Bài kệ tán thán này nên hiểu tường tận.)

🌟

Tôi nói, ba đạo lí lớn của kinh Viên Giác vô cùng quan trọng, cá nhân tôi phân tích nó như sau:

1. Tam ma tha: cũng tức là "chỉ" pháp, dừng mọi niệm, đạt đến vô niệm, nhập vào con đường niết bàn.

1. Tam ma bát để: cũng tức là "quán" pháp, quán như mộng, quán như huyễn, chứng minh các tịnh hành cũng là huyễn hóa.

1. Thiền na: dựa vào pháp tư duy, không lựa chọn tướng tĩnh hay huyễn hóa, mà cần chứng đắc thực tướng trung đạo.

Nói bài kệ:
"Gọi là tam ma tha, tam ma bát để, thiền na.
Ba pháp tu đốn - tiệm
Có hai mươi lăm loại
Thập phương các Như Lai
Người tu hành ba đời
Ai cũng nhờ pháp này
Mà đắc được bồ đề."

🌟

Thánh đệ tử nên chú ý đến:
Chân Phật Tông lấy vô niệm làm chính giác Phật bảo, mục đích chính của nó là niết bàn, thế nào là vô niệm? Vô niệm là nhờ cái gì? Chính là mục đích sâu sắc của đệ nhất nghĩa đế.

Pháp thực tu của Chân Phật Tông trọng điểm nằm ở:
Tu mộng quán.
Tu huyễn quán.
Tu thành công mộng quán, huyễn quán cũng tức là thanh tịnh, chân như, cũng giống như đã hiểu được đệ nhất nghĩa đế.

Đạo trung quán của Chân Phật Tông chính là chỉ - quán song vận, cái gọi là xuất thế nhập thế, cái gọi là phiền não bồ đề, cái gọi là luân hồi niết bàn, cái gọi là bờ này bờ kia.
Từ đó chứng đắc thực tướng trung đạo.
Ba pháp tu này nói là một loại cũng được, hợp lại thành một, phân ra thì thành ba, chồng chéo lên nhau.

Tôi nói tôi đã khai ngộ, khai ngộ này tức là đã hiểu rõ đệ nhất nghĩa đế, đệ nhất nghĩa đế là trình độ cao nhất của ba loại tu hành  này.
Cá nhân tôi tôn sùng kinh Viên Giác, bởi vì nó là liễu nghĩa, bộ kinh điển này rất vĩ đại, từ lâu nó đã chỉ ra đệ nhất nghĩa đế, hành giả nên lĩnh hội được ý chủ yếu này.


### 23. Nói về pháp song thân của Tạng mật


Có người hỏi:
"Pháp song thân của Mật giáo, nghe nói rất nhiều sách tiếng Anh đều công khai thảo luận, trái lại, vì sao người phương Đông rất kị húy? Sự hiểu lầm của người bình thường nằm ở đâu? Cuốn "Mật giáo thâm sâu" hay cuốn "Tính không trong đại lạc" mà ngài viết có phải là đã giải thích hết toàn bộ không?"
Tôi đáp:
"Pháp song thân của Mật tông Tây Tạng có nguồn gốc từ Phật giáo Mật tông của Ấn Độ, sau này truyền đến phương Tây, vì thế, rất nhiều sách tiếng Anh đặc biệt có hứng thú đối với pháp song thân, sách xuất bản công khai về đề tài này phổ biến rộng khắp. Pháp song thân của Tạng mật này ở phương Tây đã không còn là bí mật gì nữa."

Tôi lại nói:
"Người phương Đông đối với pháp song thân tương đối khá bảo thủ, đây cũng là do tập tính của người phương Đông, người phương Đông vẫn luôn luôn tránh không nhắc đến "giới tính", giống như khi chúng ta còn đi học, học đến chương cuối cùng về "vệ sinh sinh lí", giáo viên sẽ không dạy nữa, bảo tự về nhà đọc, chỉ như vậy mà thôi."
Tôi nói tiếp:
"Sự hiểu lầm của người bình thường nằm ở việc con người từ đầu tới cuối vẫn luôn cấm kị về "tính dục", không chỉ như vậy, hễ nói đến là cho rằng là bẩn thỉu, là ô uế, là tà dâm, thậm chí coi là tội ác, thật tội nghiệp. Người bình thường đã hiểu sai như vậy, và người tu hành thì lại càng tránh như tránh rắn bọ cạp, cho rằng ngay cả nghĩ đến cũng là phạm vào trọng tội không thể nào tha thứ được. Giết, cướp, dâm, vọng, rượu, thì dâm là đứng đầu trong vạn tội ác, người bình thường sao có thể không hiểu sai chứ?"

Tôi nói:
"Tôi viết cuốn "Mật giáo thâm sâu" hay cuốn "Tính không trong đại lạc" là để giải thích rõ rằng pháp song thân không hề sai, nhưng, vẫn chỉ là nghiên cứu thảo luận trên lí thuyết, còn đối với bộ phận thực tu thì vẫn chưa được nêu ra đầy đủ. Về phần thực tu thì phải thỉnh giáo một vị kim cương thượng sư chân chính. Thật ra sách của tôi mới chỉ nói đến một phần chứ không phải là toàn bộ. Tôi vẫn nhấn mạnh, pháp song tu buộc phải tu luyện như pháp, phải có thứ tự, như vậy mới không có sai lầm. Còn như những phê bình đến từ ngoại giới thì cũng khó tránh, ngoại giới từ lâu đã có thành kiến với pháp song thân, từ xưa đến nay đều như vậy rồi. Không chỉ là người bình thường, ngay cả hành giả tu hành cũng đặc biệt có rất nhiều dị nghị. Muốn nhanh chóng thay đổi quan niệm của con người, căn bản là không thể nào."

Tôi nghiêm túc giải thích rõ:
Về Tạng mật, tôi chỉ viết sách, giải thích pháp song thân cũng chỉ là một phần nội dung.
Tôi không đồng ý người xuất gia đi tu pháp này.
Người tại gia, người có vợ có thể tu.
Người tại gia, chưa có vợ cũng không được tu bậy.
Cứ tùy tiện một nam một nữ tu với nhau thì căn bản là sẽ sai lầm.
(Tôi nói rõ, nhất định phải hợp với pháp thì mới có thể tu.)

Trên phương diện thứ tự của Mật pháp:
Nam hành giả đã tu chứng vô lậu, hơn nữa còn phải hiểu thấu tính Không, và nhận được quán đảnh Vô thượng mật từ kim cương thượng sư.
Nữ hành giả đã tu chứng bảo bình khí, hơn nữa còn phải hiểu thấu tính Không, và nhận được quán đảnh Không Hành Mẫu từ kim cương thượng sư.
Điều kiện của nam nữ hành giả phải tương đương nhau.
Có thể thấy điều kiện của hai đối tượng này đã rất hà khắc rồi, tôi có thể to gan nói rằng, trên đời này, nam nữ hành giả có thể phù hợp với điều kiện này đã chẳng có nhiều nữa.

Vì thế:
Pháp song thân rất khó.
(Điều kiện nam nữ không tương đương.)
Pháp song thân khó tu chứng.
Phần nghi quỹ thực tu ở đây cũng có kĩ thuật không hề dễ, rất dễ phạm sai lầm, hễ phạm sai lầm thì vạn kiếp cũng không hồi phục được.

🌟

Tôi thấy người ngoại giới phê phán pháp song thân, quả thật là vô tri đến cực điểm.
Tôi cười lớn ha ha ha.
Tôi thấy bộ phận người tu hành hiểu biết nửa vời nông cạn, mượn việc tu hành pháp song thân để mà "lừa sắc", trên thực tế đó căn bản là dâm loạn, cái sự loạn cào cào như vậy đã bôi nhọ cái danh của Mật giáo.
Tôi cười vang ha ha ha.


### 24. Cơ hội phụ họa thơ


Trên tạp chí Nhiên Đăng số 187, tôi đã viết bốn bài kệ, những bài kệ này có thiền cơ, lấy áo cà sa (nạp y) làm chân như. Tại đây, tôi đặc biệt ghi ra như sau:

Kệ viết rằng:
"Mặc áo cà sa trèo lên núi
Cao tựa tháp tầng xuyên qua mây
Vào nơi rừng rậm không người ở
Mới nhận ra mình là cô tăng."

Và:
"Mặc nạp y quản gì mưa nắng
Người đến đi đâu phải là tình
Vui buồn li hợp tùy ta nghĩ
Tăng nhân không khóc vững bước đi."

Và:
"Khoác áo cà sa cũng xuất du
Trung niên đến nay thêm tuổi tác
May mắn thấy được đại thiên giới
Cánh cửa chuyên nhất chẳng ưu sầu."

Và:
"Khoác áo cà sa chợt nhận ra
Xưa kia hóa ra là hiền đức
Nay người chê ta là ác ma
Nào biết tâm ta thật an nhàn."

Bốn bài kệ này sau khi được xuất bản, có Thượng sư Liên Hàn vào Tết xuân năm 2009 đã gửi đến ba bài kệ để phụ họa, bài kệ như sau:

"Nạp y vàng Thánh tôn độc giữ
Chẳng ai hay mình ta tự thưởng
Quán đảnh xong Phật pháp tối cao
Chợt nhận ra người người đều khoác."

Và:
"Người ta có áo chẳng tự biết
Vất vả tranh nhau chấp huyễn mê
Thánh hiền xưa nay đều cô độc
Lòng không rơi lệ chỉ vương sầu."

Và:
"Buồn vui đâu có sầu đâu có
Phàm Thánh cũng không áo cũng không
Hỏi ở nhân gian làm chuyện gì
Vô tác vô ngữ cũng vô vi."

🌟

Bài kệ phụ họa mà Thượng sư Liên Hàn viết, tôi giải thích như sau:
Bài thứ nhất: mỗi người đều có sẵn Phật tính chân như.
Bài thứ hai: đau buồn cho thế nhân không nhận thức được Phật tính chân như của mình.
Bài thứ ba: người khai ngộ thật sự đã trải nghiệm hiểu rõ minh tâm.

Bài kệ phụ họa mà Thượng sư Liên Hàn viết rất hay, khiến người ta tán thưởng, rất có tầm mắt, nếu thực tiễn được như bài kệ thứ ba thì có thể càng viên mãn hơn.
Tại nhân gian, không làm, không nói, vô vi. Chính là vô niệm, vô ngã, thanh tịnh.
Còn như tùy duyên, tùy hỉ, tùy phần, cũng xem như là một cách đối ứng, thật ra cũng là:
Vô tác. (thân thanh tịnh)
Vô ngữ. (khẩu thanh tịnh)
Vô vi. (ý thanh tịnh)

Nhân đây tôi lại viết bài kệ, mong các thánh đệ tử cùng phụ họa, mọi người thêm chút niềm vui, được chứ?

"Người mặc áo tăng như cửa một cánh
Dinh thự lều cỏ cũng chẳng khác nhau
Bên trong ao nhỏ cá lớn vẫn nhảy
Sao biết thập phương tùy ý bay đi."

Và:
"Người mặc áo tăng nghe nhạc vui
Chạy đông chạy tây đều nói tốt
Vạn sự phù du vốn vô sự
Mây trắng nước trôi cùng quyến luyến."


### 25. Được được được được được


Có người hỏi:
"Lư Sư Tôn đối với hành chính, tài chính, nhân sự của các chùa, đường, hội của Chân Phật Tông hoàn toàn không can dự, đúng vậy không?"
Tôi nói:
"Đúng vậy."
"Vì sao?"
Tôi đáp:
"Can dự hay không can dự cũng như nhau."
"Sao có thể như nhau chứ?"
Tôi cười lớn ba tiếng.

🌟

Có người đã cuỗm luôn một ngôi chùa Lôi Tạng Tự của Chân Phật Tông đi mất, một miệng ăn hết sạch sành sanh, không chừa lại dù một sợi lông.
Tôi nói: "Được!"

Có người đã cuỗm luôn Phật đường XX của Chân Phật Tông, toàn bộ quy về sở hữu tư nhân, toàn bộ đều thuộc tài sản dưới tên của người đó.
Tôi nói: "Được!"

Có người đã cuỗm luôn hội XX của Chân Phật Tông, kể từ đó không còn tham gia đồng tu nữa, hoàn toàn biệt tăm biệt tích, không biết đi đâu.
Tôi nói: "Được!"

Có người đã quản lí mọi khoản tiền cúng dường của Lư Sư Tôn, từ đó hoàn toàn biến thành tiền của chính mình.
Tôi nói: "Được!"

Có người đã điều khiển XX đường không tu Chân Phật Mật Pháp, đổi thành tu pháp của tông phái khác, rồi vênh váo tự đắc.
Tôi nói: "Được!"

Có người rút khỏi Chân Phật Tông.
Tôi nói: "Được!"

Có người không tu Chân Phật Mật Pháp.
Tôi nói: "Được!"

Có người không chỉ như vậy, còn phỉ báng Lư Sư Tôn, thậm chí phê phán Lư Sư Tôn. Mặt ngoài cung kính, sau lưng mưu đồ.
Tôi nói: "Được!"

Có người sau khi quy y Chân Phật Tông thì lại lập phái riêng, cắm lên ngọn cờ của riêng mình, đặt một cái tên khác.
Tôi nói: "Được!"

Có người lừa gạt tôi.
Tôi nói: "Được!"

Có người sỉ nhục tôi, chửi tôi, đánh tôi, tổn thương tôi, phụ tôi, ghét tôi, kiện tôi, tố cáo tôi, lừa tôi….
Tôi nói: "Được!"

Có người nói thẳng vào mặt tôi rằng, tôi không còn là đệ tử của ông nữa, thế rồi nhổ một bãi nước bọt, quay mình bỏ đi.
Tôi nói: "Được!"

Có người mượn tiền tôi, từ đó không biết đi đâu. Không chỉ như thế còn nói ngược lại là tôi mượn tiền người đó, dối trá liên miên.
Tôi nói: "Được!"
...

🌟

Người ta hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn, thầy làm sao vậy?"
Tôi đáp:
"Được được được được được."
"Sao thầy không kiện?"
"Cả đời tôi chưa bao giờ kiện ai." - Tôi đáp.
"Thầy có oán không?"
"Không oán không hận. Hoan hỉ bằng lòng."
"Lư Sư Tôn, sao thầy có thể cái gì cũng có thể nhịn được?"
"Minh tâm kiến tính." - Tôi đáp.
"Minh tâm kiến tính là thế nào?"
"Chẳng thể có được cái gì, cũng chẳng mất đi cái gì. Nhân gian này, không được không mất, tôi chưa thấy có người nào được, cũng chưa thấy có người nào mất."
Ha ha ha! Chỉ là có quá nhiều sản phẩm của thai lừa bụng ngựa.
Tôi chỉ còn biết cười lớn ba tiếng mà thôi!


### 26. Tôi không tán thành tội tử hình


Hiện nay, các nước trên thế giới, có nước thực thi án tử hình, có nước đã xóa bỏ án tử hình, tuy vẫn còn nhiều tranh cãi giữa hai hành động này.
Phía thực thi án tử hình cho rằng có một loại người tội ác tày trời, người phạm tội ác cùng cực nếu không tử hình thì không thể khiến lòng người phục.

Ví dụ ngũ nghịch tội:
Giết cha. (tội nặng hạng hai)
Giết mẹ. (tội nặng hạng hai)
Giết A La Hán. (tội nặng hạng hai)
Làm thân Phật chảy máu. (tội nặng hạng hai)
Phá hòa hợp tăng. (tội nặng hạng nhất)

Những tội này đều khiến người ta sục sôi phẫn nộ, không thể chấp nhận được. Theo Phật pháp mà nói, phá hòa hợp tăng là tội nặng nhất, bởi vì khiến người ta rời xa Tam Bảo, chỉ cần khiến người ta rời xa Tam Bảo thì vĩnh viễn nhập vào ác thú, không có ngày thoát ra.
Phá hòa hợp tăng nhìn bề ngoài thì nhẹ hơn nghiệp giết, nhưng theo Phật pháp mà nói thì tội này còn nặng hơn nghiệp giết. Là vì sao?

Đáp án là:
"Giết tâm linh của con người. Giết tính linh của con người. Giết Phật tính của con người."
Vì thế, kêu người ta vứt bỏ Chân Phật, tức là tương đương với giết Phật tính của con người, tội ấy không đội trời chung. Là ác nhất trong số các loại ác.

Lại lấy ví dụ:
Sát sinh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ, hai lưỡi, ác khẩu, ỷ ngữ, tham dục, sân hận, tà kiến.
Đây là mười điều ác.

Có người hiếp dâm sau đó giết người, nhiều lần phạm tội, thật sự khiến người ta căm phẫn, lại có người vừa cướp vừa giết vừa hiếp, khiến người ta phẫn nộ khinh bỉ, người phạm tội ác tày trời sao có thể không tử hình chứ?

Tuy vậy, theo tôi được biết, nếu bị phán tội tử hình, ví dụ bị xử bắn, bị treo cổ, bị ngồi trên ghế điện, v.v…
Thì người chết vào lúc sắp bị tử hình, trong lòng chất chứa oán hận.
Khi nhập vào thân trung ấm (linh hồn).

1. Ý có oán.

1. Duyên có oán.

1. Sinh có oán.

1. Uẩn có oán.

1. Chủng có oán.
(Oán này cũng tức là lòng sân hận.)
Tái chuyển thế thành người càng gia tăng tâm sân, trở thành người không biết hổ thẹn, tương lai càng làm những việc ác hơn.

Tôi cho rằng:
Chẳng thà phạt tù chung thân. Trong thời gian này giáo dục cảm hóa, gột rửa tâm hồn, đợi cái chết tự nhiên. Vì thế, việc hoằng pháp nơi nhà tù có tính cần thiết, không thể xem thường.

Tử hình cố nhiên có thể khiến người ta hả lòng hả dạ, thế nhân như loại bỏ được gánh nặng. Nhưng thân trung ấm mang oan khí nặng hơn, tương lai tái sinh thành người, sẽ vẫn là người gây tội đại ác, không thể không thận trọng!

Còn nữa:
Tôi cảm thấy lấy con người để phán xử tội chết của con người, có lẽ là không đúng lắm. Cá nhân tôi cho rằng, trong cõi hồng trần này, Thánh hiền chỉ có thiểu số, bình thường đều là phàm phu tục tử.

Phàm phu tục tử đi phán xử tử hình phàm phu tục tử, có kẻ đương nhiên là đáng chết, và chết thì cũng đáng lắm, xử họ tội chết thật ra cũng không phải là quá đáng. Nhưng vẫn có người bị oan uổng, tự nhiên bị mất đi mạng sống một cách vô ích, từ xưa đến nay, bao nhiêu án oan, hài cốt như núi, oan khí sao mà không cao ngút trời.

Giống như:
Văn Thiên Tường.
Nhạc Phi.
Viên Sùng Hoán.
Bao nhiêu oan hồn, hồn ma kêu ai oán.

Tôi cho rằng:
Người không thể phán xử tội chết cho người. Lấy nhân duyên quả báo của Phật pháp để nói thì tội phạm đã có chỗ ở nơi Diễm Ma Pháp Vương (Diêm Vương), tự tâm đã có tam ác đạo hiện tiền, phán quyết không phải nằm ở con người, mà là ở tự tâm mình.
Như vậy mới là đúng lẽ.


### 27. Tôi không tán thành phá thai


Tin tức ở New Zealand:
Có một người đàn ông lái xe đi qua một cây cầu treo lớn, đột ngột dừng lại, trên tay bế một em bé gái bốn tuổi, từ trên cầu cao ném em bé xuống, ném vào dòng nước sâu chảy ra biển.
Có nhiều người lái xe đã nhìn thấy sự việc này.
Nhân viên cứu hộ đã vội vàng chạy đến, cứu được bé gái lên, rồi đưa vào bệnh viện cấp cứu bằng trực thăng.
Thật đáng thương, em bé đã chết.
Theo báo cáo, người đàn ông này và người vợ đã li hôn tranh giành quyền nuôi con, khả năng là do nhất thời tức khí nên đã giết đứa con gái bốn tuổi.
Người đàn ông này bị buộc tội giết người.
Tôi đọc xong, niệm một tiếng Nam mô A Di Đà Phật!
Thở dài một tiếng!
Các vụ ngược đã trẻ em đâu đâu cũng có, lúc nào cũng có thể nghe được những chuyện giết hại trẻ nhỏ, đau xót thay!

🌟

Còn chuyện nạo phá thai lại càng phổ biến hơn, có pháp luật của một số địa phương tán thành nạo phá thai là hợp pháp. Luật pháp một số nơi khác thì cấm phá thai. Cả hai cũng gây ra rất nhiều tranh cãi.
Cá nhân tôi cho rằng, chỉ cần thân trung ấm (linh hồn) nhập thai thì đó đã là một sinh mạng, nếu phá thai thì tức là phạm tội giết người.
Cho nên, tôi phản đối phá thai.
Thậm chí, tôi phản đối sau khi bị xâm hại, phụ nữ có thai, rồi người phụ nữ bị xâm hại này đi phá thai.
Vì sao?
Bởi vì có thai rồi tức là đã mang trong mình một sinh mạng. Có sinh mạng tức là có Phật tính. Phá thai tương đương với giết Phật.

Rất nhiều người cho rằng bị xâm hại tức là ô uế, đáng hổ thẹn, vì bị xâm hại mà có thai cũng là một cảm giác tội lỗi. Nhưng thai nhi thì có tội gì? Cái sinh mạng này cũng có Phật tính, không thể giết được.
Phàm là chuyện phá thai thì tôi đều phản đối.
Còn nếu bác sĩ kiểm tra thấy:
Thai đã chết.
Là quái thai.
Là thai trứng.
Thai dị dạng.
Thì tôi không còn gì để nói.

🌟

Tôi nói:
Năm xưa, Phật Thích Ca Mâu Ni nhập vào cái thai trong bụng phu nhân Maya cũng hiện ra đủ loại giáo hóa ở trong thai.
Có kinh Bồ Tát Xứ Thai, một bộ kinh truyền đời. (Sao có thể phá thai.)

Còn nữa.
Rất nhiều Đại Bồ Tát nhập vào trong thai, cũng không nhất định là luôn luôn ở trong thai, có thể thường xuyên du hành đến Phật quốc tịnh diệu của chư Phật, nhận giáo hóa của Phật. (Sao có thể giết thai Bồ Tát.)

Còn nữa.
Một đời người có cái gọi là "thai nội ngũ vị" và "thai ngoại ngũ vị" thai nội ngũ vị cũng là hiện tượng của mạng sống. (Sao có thể phá thai.)
Thai ngoại ngũ vị tức là em bé, trẻ em, thiếu niên, trung niên, lão niên.

Còn nữa:
Thai có thai cung chi thuyết, thai cung chi trung, không thể nhìn thấy nhật nguyệt, nhưng tự hình thành cung điện thất bảo, cũng có niềm vui, như Đao Lợi Thiên. Bởi vì người nghi ngờ tha lực của Phật mà làm tự lực niệm Phật, sống ở trong thai, gọi là nghi thành thai cung. (Sao có thể phá thai.)

Còn nữa:
Trong kinh Bào Thai đã giải thích, nhân duyên nhập thai, và tướng mạo trưởng thành, mọi hiện tượng con người ở trong thai, đều là hiện tượng của sinh mạng.
Lúc ấu thơ tôi ở trong thai đã biết tương lai của mình, từ lâu đã cười lớn ba tiếng ha ha ha!


### 28. Trong lòng tôi có bạn


Có một lần, tôi được đài truyền hình phỏng vấn, hỏi: "Lư Sư Tôn, nghe nói ngài đối với đệ tử thường hay nói rằng trong lòng tôi có bạn, đúng không?"
Tôi nghe xong, hiểu rằng trong lời này còn có ám chỉ gián tiếp.
Tôi đáp:
"Đây là khi đệ tử hỏi tôi, tôi mới trả lời. Ví dụ đệ tử hỏi, trong lòng Sư Tôn có con không? Đương nhiên tôi trả lời là có, sao tôi có thể trả lời là không chứ. Nếu Sư Tôn trả lời là không thì há chẳng phải là sẽ làm tổn thương trái tim của đối phương sao."
Phóng viên hỏi:
"Bất luận là đệ tử, nam, nữ, ngài đều trả lời như vậy sao?"
Tôi đáp:
"Đúng vậy."

Phóng viên hỏi:
"Lư Sư Tôn, ngài trả lời như vậy thì sẽ bị các đệ tử nữ hiểu lầm đó, đệ tử nữ hễ nghe thấy ngài nói trong lòng ngài có họ thì chẳng phải sẽ dẫn đến suy nghĩ không đúng sao?"
Tôi đáp:
"Chắc là không đâu, tôi đã là ông già 60 tuổi rồi, lại còn có Sư Mẫu Liên Hương Thượng Sư nữa, về tình về lí đều không thể nào có suy nghĩ như vậy được, tôi nghĩ là như vậy."

Phóng viên hỏi:
"Con người hiện đại khác rồi, đối với sư phụ vì kính yêu trở thành ái mộ, điều này rất thường có, đệ tử của ngài liệu có vì thế mà hiểu lầm cái ý ban đầu của ngài không?"
Tôi nói:
"Trong lòng Lư Sư Tôn tôi đối với tất cả chúng sinh là bình đẳng, cho nên, trong lòng tôi có chúng sinh, đương nhiên, trong lòng tôi có mỗi một người đệ tử. Tôi không khinh thường chúng sinh, cũng không khinh thường mỗi người đệ tử, khi các đệ tử hỏi tôi, trong lòng tôi có họ hay không, tôi đều trả lời là có. Bởi vì trong lòng tôi thật sự là có các đệ tử."

Phóng viên hỏi:
"Nếu có đệ tử hiểu lầm thì phải làm sao?"
Tôi đáp:
"Thì đem chương sách này đưa cho họ đọc!"
Phóng viên và tôi cười lớn ha ha!

🌟

Đối thoại của tình nhân:
"Trong lòng anh có em
Trong lòng em có anh
Đem hai người phá bỏ
Rồi nặn lại từ đầu
Bên trong em có anh
Bên trong anh có em."
Ôi, đây là bài tình ca của những người trẻ tuổi.

Những điều này từ lâu đã là quá khứ rồi, Lư Sư Tôn giờ đây đã 60 tuổi, tục ngữ nói, tuổi này thì quan tài đã đẽo được hơn một nửa người rồi, từ lâu đã chẳng còn những tình cảm bay bổng như vậy.
Kể từ khi tôi xuất gia, do đại hòa thượng Quả Hiền chính thức cạo đầu, gia đình thế tục chỉ còn là trên danh nghĩa thôi, và lại càng vì minh tâm kiến tính nên từ lâu tôi đã coi chốn hồng trần như mộng như huyễn như trò chơi rồi.
Trong lòng có chúng sinh, đúng.
Trong lòng có đệ tử, đúng.
Trong lòng có bạn, đúng.
Bạn ở đây là bạn, tôi, họ, bình đẳng và bình đẳng, thật sự không có quan hệ tình cảm đặc biệt nào, mà là sự yêu thương phổ đồng tất cả, đó là đại bồ đề tâm, thấy chúng sinh như chính mình.
Tuyệt đối dứt khoát đừng hiểu lầm!

Tôi cảm thấy trong lòng tôi có bạn là đạo lí bình thường, tức là trong lòng tôi có chúng sinh. Tôi mong chúng sinh thường theo Phật học tập. Tôi là một đại thiện tri thức, thường dạy chúng sinh "thường lạc ngã tịnh". Tôi là người thường nhớ đến chúng sinh, trong những lúc đi đứng nằm ngồi, tôi không ngừng nhớ đến chúng sinh, thường nghĩ các cảnh giới nam nữ đều do nhân duyên sinh, quán tự tính là không, và từ đó diệt trừ dục tình.
Các đệ tử nên nghĩ giống như tôi, diệt hết dục tình, biết những thứ có thể yêu rốt cục cũng là vô tướng.
Đây cũng tức là chính niệm.


### 29. Sự thay đổi của Thôi Đài Tinh


Có một năm, tại lễ hội đèn lồng ở chùa Long Sơn tại Đài Bắc, trên đèn lồng có viết một câu "đố đèn".
Chủ đề là: "Cái mông của Thôi Đài Tinh."
(Câu đố này quả nhiên thu hút sự chú ý của người ta.)
Bánh oản tôm khô!
Đáp án của câu đố đèn là để nhắm vào tên của một nhà văn. Câu trả lời là:
"Quỳnh Dao."
Quỳnh Dao có ý nghĩa gì? Quỳnh Dao tức là "dao động cùng tận" [ND: chơi chữ từ đồng âm khác nghĩa], lắc liên tục không ngừng!
Ha ha ha!

Nhiều năm sau.
Truyền thông báo chí đăng một tấm ảnh mới nhất của Thôi Đài Tinh, là do thợ săn ảnh chụp lén.
Mặt cô tròn như cái bánh pizza.
Thân thể giống như quả bóng.
Cái mông thì khỏi phải nói, giống như quả bí ngô.
Choa! Sao lại có thể biến thành như vậy? Thật đáng sợ ! Thật đáng sợ!
(Nghe nói, bản thân Thôi Đài Tinh vì muốn giảm béo mà chăm chỉ luyện môn múa bụng, quả nhiên có gầy đi một chút, nhưng một thời gian sau lại béo trở lại, cô tự cười vào bản thân mình rằng mình là người "tốt bụng".)

Nói thẳng thắn, vào thập kỉ đó của chúng ta, tên tuổi Thôi Đài Tinh lẫy lừng.
Giọng hát khỏe khoắn, vũ điệu nóng bỏng, trang điểm lộng lẫy của Thôi Đài Tinh, vóc dáng và khuôn mặt xinh đẹp của cô thật sự khiến công chúng đảo điên.
Đó là một người đẹp.
Thế mà nay.
Biến thành như một "bà thím hàng xóm".
Ô hô thương thay! Đúng là hình tượng sụp đổ!

Từ Lôi Đài Tinh liên tưởng đến bản thân Lư Thắng Ngạn tôi.
Nhớ khi tôi còn thanh niên, tôi đi dạo trên phố ở Đài Trung, đi qua những câu lạc bộ đêm ăn chơi trác táng, những tên "cò vẫy khách" thường chặn đường và nói với tôi:
"Cậu thiếu niên! Vào đây ngồi!"
Tiếng gọi "cậu thiếu niên" ấy còn văng vẳng bên tai.
Rất quen thuộc, rất thân thiết.
Tương tự, cũng có người gọi tôi thế này:
"Cái tẩu nhỏ! Vào đây ngồi!"
(Cái tẩu là tiếng Đài, có nghĩa là đẹp trai và phong độ.)
Nghe thế, rất sướng!

Cũng nhiều năm qua đi, có một lần tôi trở về Đài Loan, tôi vào một cửa hàng mua quần áo, sau khi mua xong, nhân viên cửa hàng ân cần nói:
"Bác à! Lần sau dắt theo cháu bác đến đây mua nữa nhé!"
Tôi sững người ra.
"Ông bác, đem cháu đến."
Trước mắt tôi bỗng tối sầm, đầy u ám.
Lúc này, tôi mới hiểu bài hát mà đệ tử Vương Lạc Tân hát:
"Chú chim nhỏ tuổi thanh xuân của tôi, đi mất rồi chẳng quay về nữa!"
Thôi Đài Tinh khác rồi!
Lư Thắng Ngạn khác rồi!

🌟

Nói theo Phật pháp thì đây chính là vô thường, tất cả mọi thứ trên đời trôi theo sinh diệt, một sát-na cũng không dừng lại, đó chính là vô thường. Từng sát-na đều đang trong sự biến hóa.
Thân thể con người cũng vậy, là thân vô thường, suy nghĩ liên miên, giống như điện quang đá lửa vậy. Chưa từng có một thân người nào mà không bị vô thường nuốt gọn. Bất kì người nào cũng như vậy.
Trí Độ Luận viết: "Rõ là! Thế gian vô thường, như trăng trong nước như cỏ thơm, cho dù công đức đầy tam giới, ngọn gió vô thường cũng làm hỏng cả."
Tôi cảm thấy bản thân như gió.
Gió không biết đến đâu, gió không biết đi đâu, đến đi chẳng có chút dụng ý. Ha ha ha!


### 30. Dựa vào một kẻ điên


Từ lúc tôi còn trẻ bắt đầu học Phật cho đến ngày hôm nay, thật sự có không ít người nói tôi đã phát điên rồi, kẻ điên già mà mãi chưa chết là tôi đây không ngờ còn có năm triệu đệ tử đi theo tôi, tôi không biết liệu họ có phải là cũng bị điên rồi không?
Tôi thấy Thần thấy quỷ.
Người ta nói tôi bị điên.
Tôi nói có linh hồn (trung ấm).
Người ta nói tôi bị điên.
Tôi bái Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh làm thầy.
Người ta nói tôi bị điên.

Tôi nói tôi và Phật Thích Ca Mâu Ni uống cà phê với nhau.
Người ta nói tôi bị điên.
Tôi lên trời, tôi xuống địa ngục.
Người ta nói tôi bị điên.
Tôi viết sách, rồi muốn đốt sách đi.
Người ta nói tôi bị điên.

Tôi cởi sạch quần áo, chạy quanh Lôi Tạng Tự ba vòng.
Người ta nói tôi bị điên.
Tôi muốn lấy 108 cô gái làm vợ.
Người ta nói tôi bị điên.
Thượng sư Liên Hương bảo:
"Thôi! Ông đừng có lúc nào cũng nói những lời điên khùng nữa!"
Tôi cười vang ha ha ha!

🌟

Tôi thẳng thắn nói rằng, tôi đã minh tâm, tôi đã kiến tính. Tôi là Liên Hoa Đồng Tử, tôi là Liên Sinh Hoạt Phật, tôi là Hoa Quang Tự Tại Phật, tôi là vua của các vị Phật Vương.
Tôi có thể tiến vào kim cương tọa của Phật Thích Ca Mâu Ni, "tinh quang thân" [ND: thân ánh sao] của tôi có thể đi vào tử cung của phụ nữ.
Tôi bảo Mặt Trời, hãy dịch ra xa Trái Đất một chút, để trái đất không bị nóng lên.
Tôi bảo động đất dừng, nó liền dừng.
Tôi bảo lũ lụt rút đi, nó liền rút.
Tôi bảo hỏa hoạn dập tắt, nó liền tắt.
Tôi bảo cơn bão chuyển hướng, nó liền chuyển hướng.
Tôi thu về hung thần thần chết.
Tôi thu về ngũ lộ ôn thần.
Tôi ở âm phủ làm pháp hội siêu độ, ở âm gian cứu người cứu đời.
V.v…
Rất nhiều người nói:
"Lần này Lư Sư Tôn bị điên nặng hơn rồi. Đồ điên! Đồ điên! Đồ điên! Khùng! Khùng! Khùng!

🌟

Điều tôi muốn nói với mọi người là, năm xưa lão tổ sư của phái Bạch giáo Tạng mật là Đại Sư Tilopa khi đồng ý cho ngài Naropa quy y, Tilopa bị con người thời ấy gọi là kẻ điên. Gọi là "Tilo điên".
Nhưng Naropa có con mắt tinh đời, đã nhìn ra Tilopa là đại thiện tri thức có đầy đủ phẩm đức. Quy y nương dựa vào một vị thầy điên, cuối cùng cũng đạt được đại thành tựu.

Chính vì như vậy, tôi xin có lời khuyên những người muốn quy y nương dựa vào tôi, hãy tỉ mỉ quan sát Lư Sư Tôn, một năm cũng được, ba năm cũng được, năm năm cũng được, mười năm cũng được, mười hai năm cũng được. Phải nhìn cho thật rõ Lư Sư Tôn, xem xem tôi có tri thức gì? Tôi có công đức gì?

Đến một ngày nương dựa vào kẻ điên này, đã xác định Căn bản Thượng sư này là người có đầy đủ phẩm đức, thì hãy chăm chỉ học tập Phật pháp, đừng lãng phí thời gian cuộc đời quý báu.
Tuyệt đối đừng phỉ báng, để tránh phạm giới samaya!

Vị thầy điên là tôi đây, điên điên khùng khùng, làm đệ tử của tôi cũng không nên phỉ báng.
Năm xưa Liễu Minh Hòa Thượng nói: "Con chỉ có ba con đường có thể đi, một là lập tức niết bàn rời xa nhân gian, hai là kể từ bây giờ ẩn cư trong núi, không ra ngoài nữa. Con đường cuối cùng là làm kẻ điên."
Kết quả là, tôi đã lựa chọn làm một kẻ điên.
Ha ha ha!


### 31. Một gói trà


Có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn, ngài có quan điểm đặc biệt về tiền bạc không?"
Tôi đáp:
"Bắt đầu nói từ một gói trà vậy!"

Có một năm.
Quán đảnh Acharya của Chân Phật Tông, quán đảnh này tức là quán đảnh Kim cương Thượng sư, vô cùng tôn quý.
Năm xưa, khi tôi nhận quán đảnh Acharya, tôi đã đem toàn bộ tiền của mình cúng dường cho Thượng sư của tôi.
Nhưng đổi lại, khi tôi quán đảnh cho người ta, tôi chưa bao giờ mở miệng ra thương lượng giá cả với họ, có nghĩa là tôi để họ tùy duyên cúng dường.
Quán đảnh kết thúc.
Có một vị mới nhậm chức Kim cương Thượng sư dâng lên một cái túi màu đỏ, bên trong chỉ có một gói trà.
Ý của tôi khi viết "chỉ có một gói trà" nghĩa là muốn nói, không phải là một hộp có một tá mười hai gói, mà là chỉ có một gói trà túi lọc để pha một tách trà mà thôi, chính là như vậy.
Tôi vui vẻ tiếp nhận.
Đây chính là quan điểm về tiền của Lư Sư Tôn tôi.

🌟

Từng có một năm.
Tôi xem phong thủy hộ người ta, ngay cả việc xem phong thủy địa lí tôi cũng không thương lượng giá cả.
Sẽ không mở miệng đòi tiền người ta.
Đối phương cũng là một gia đình nghèo khó, tôi bắt đầu từ lúc tìm đất cho đến khi kết thúc "tiến kim" [ND: tiến kim là đặt tro cốt vào mộ và xây mộ].
Thời gian mà tôi tiêu tốn công phu và tinh thần thật sự không có cách nào dùng tiền để đo lường được. Cuối cùng, đối phương đưa cho tôi 50 Đài tệ, khoảng hơn một đô la Mĩ. Tôi vẫn vui vẻ tiếp nhận.

Vì sao tôi không tính toán, bởi vì Liễu Minh Hòa Thượng nhắc nhở tôi: "Không được mở miệng đòi tiền của người ta!"
Tôi tuân thủ giới luật này, không dám làm trái với lời giáo huấn lớn lao của sư phụ tôi.
Cuộc đời này của tôi trở thành Căn bản Thượng sư của Chân Phật Tông, một đời tuân thủ giáo huấn của sư phụ, không dám quên.
An Thái Tuế.
Đốt đèn quang minh.
Tụng kinh.
Lễ sám.
Hộ Ma (hỏa cúng).
Cầu phúc, siêu độ, thuyết pháp, quán đảnh, v.v…
Chưa bao giờ tôi quy định giá tiền, tất cả tùy ý, đây chính là sự thật hết sức chân thật về Lư Thắng Ngạn (Lư Sư Tôn).
Điều này tuyệt đối hoàn toàn khác các chùa miếu khác.
Người khác mở miệng ra là tiền, ngậm miệng lại cũng là tiền, chỉ có Lư Sư Tôn như như bất động.

🌟

Tôi ăn, có chùa cúng trai. Đệ tử cúng dường.
Tôi mặc, một bộ đồ Lama. Đệ tử cúng dường.
Tôi ở, tùy duyên thôi! Đệ tử cúng dường.
Tôi đi, tùy duyên thôi! Đệ tử cúng dường.

Việc bán hàng từ thiện của Chân Phật Tông liên tục cho đến năm nay tôi 65 tuổi, tôi chưa bao giờ bán hàng từ thiện vì bản thân mình.
Bán hàng từ thiện toàn bộ đều xung công, bán hàng từ thiện là để chi cho các chi phí cụ thể, ngay cả việc bán hàng từ thiện cũng không miễn cưỡng.
Tôi thấy rất nhiều doanh nhân lớn, nổi lên trong số những người giàu nhất thế giới. Họ giàu có và oai phong lẫy lừng.
Thế nhưng, tiền của họ là ở nhân gian, tiền của tôi là ở trên trời. Bản thân tôi cho rằng, trong thiên hạ này, người giàu có nhất là Lư Sư Tôn, bởi vì tôi minh tâm kiến tính, chẳng có ai giàu có hơn được con người này đâu.
Muốn so giá trị, "Ma ha bát nhã ba la mật đa" của tôi căn bản là vô giá, đệ nhất thiên hạ. Ha ha ha!


### 32. Hai bài thơ "vô sắc y" và những bài khác


Liên Hoa Kính An, bút danh là Cá Gỗ Nhỏ, gửi đến một lá thư cùng với hai bài kệ.
Trước tiên, tôi đăng nội dung như sau:
"Gửi Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật từ đài cao soi xét:
Đọc lại Ngũ Đăng Hội Nguyên mục thứ sáu "Đối thoại của cái bóng cô độc", càng nhận ra các thiền sư trong sách rất uyên thâm Phật lí. Cũng rất cảm kích Sư Phật đã theo sát bên cạnh phân tích tỉ mỉ tinh tế, hướng dẫn đệ tử ngộ ra được thiền lí, hơn nữa còn cổ vũ chúng con cùng tham khảo công án Thiền tông, tấm lòng của từ phụ hiển lộ hoàn toàn.
Vì thế, ngu đệ tử trình lên một vài tâm đắc sau khi đọc, cũng thử trả lời câu hỏi của Sư Phật, nếu ngôn từ chưa thể diễn đạt được ý, thỉnh cầu Sư Phật từ bi thông cảm và dạy dỗ, bao dung những lời nói mê của kẻ đang ngủ mơ này. Chỉ vì sau khi đệ tử quy y, vẫn luôn đi theo Sư Phật một lòng tu hành, đời này cũng như thế, kết mộng tại giường không!
Kính chúc Phật an!
Liên Hoa Kính An chắp tay trăm lạy.

Tái bút: trên tạp chí Nhiên Đăng kì 187, đọc được bốn bài kệ "nhiễm sắc y" của Sư Phật, đệ tử nhất thời phúc chí tâm linh [ND: phúc đến thì lòng cũng sáng ra], nên cũng viết hai bài kệ "vô sắc y" dâng cúng Phật, để Lư Sư Phật vui vẻ một chút, chúc mừng năm mới!

Bài thứ nhất:
Chẳng mặc nạp y tâm cũng nhàn
Vô ý trồng hoa hoa rực rỡ
Đến như vạn ngựa chạy đồng hoang
Đi tựa nước chảy vượt nghìn núi.

Bài thứ hai:
Thân không nhiễm sắc nhập thế tu
Người đến người đi như qua đò
Muôn kiểu biến hóa như sương sớm
Không bám chân trời được vô biên."

Sau đó, Liên Hoa Kính An lại gửi đến một bài thơ tên là "Duyên hòn đá", có ý nghĩa sâu sắc, xin đăng như sau:
"Đại thiên thế giới, hòn đá thê lương.
Ô trọc ngất trời, nước lũ cuồn cuồn.
Danh lợi cám dỗ, lục đạo nổi trôi.
Lừa gạt cưỡng đoạt, nghiệp theo chẳng rời.
Trải qua nghìn kiếp, bỗng nhiên quay đầu.
Được huyễn mất huyễn, được không cầu không.

Chân Phật Mật Pháp, độ con thuyền pháp.
Đạo Hiển Mật Thiền, viên dung cùng tu.
Hoa sen trong bùn, vô sự vô cầu.
Đốn xuất tam giới, chớ hỏi nguyên do.
Trở về chân thật, tự nhiên vô ưu.
Không chạm đôi bờ, đến được đầu nguồn.

Thầy độ lúc mê, ngộ rồi tự tu.
Chúng sinh cảnh giác, tĩnh quán bẩn nhơ.
Định kiến chấp tướng, kẹt trong khuôn mẫu.
Tĩnh lặng nghĩ suy, niệm niệm chẳng lưu.
Tâm vô quái ngại, ánh trăng nghìn sông.
Vui vẻ bằng lòng, hòn đá an trụ."

🌟

Đọc xong hai bài kệ và bài thơ "Duyên hòn đá", tôi cảm thấy kệ và thơ đều rất hay, đã thể hiện được dụng tâm của tác giả, đọc xong trong lòng thấy hoan hỉ, tôi cũng đặc biệt phụ họa bằng một bài thơ như sau:

"Nhìn hết dòng chảy thấy đầu nguồn.
Ngựa phi phải xem lúc nào ngưng.
Hoa dại ngắm xong cũng đành chịu.
Dù thấu không thấu chẳng ngừng tu.
Thân người chẳng quá mấy xuân thu.
Hạt rơi xuống đất ai đến nhặt.
Vì lời thề nguyện nhặt một vài.
Chỉ mong hồ sen mãi thắm xanh."


### 33. Bài kệ của pháp sư Thánh Nghiêm


Ngày mồng 1 tháng 2 năm 2009, người sáng lập Pháp Cổ Sơn - pháp sư Thánh Nghiêm, đã viên tịch rồi.
Thượng sư Liên Khiết đưa cho tôi bài kệ lâm chung của pháp sư Thánh Nghiêm:
"Vô sự bận tới già.
Trong không có khóc cười.
Vốn dĩ chẳng có ta.
Sinh tử đều bỏ được."
Tôi đọc xong, cười vang ha ha ha.
Bài kệ này, người học thiền chỉ liếc một cái là đủ nhìn thấu, chả có cái quái gì cả!

Tôi phân tích cho mọi người nghe:
Bài kệ này là một bài kệ mâu thuẫn toàn là mâu và thuẫn. Cũng tức là sao chép của người xưa.
Ví dụ:
"Dòng chảy dưới cầu không chảy." (bài kệ mâu thuẫn)
"Lùi bước tức tiến lên." (bài kệ mâu thuẫn)

"Vô sự" và "bận tới già" của Thánh Nghiêm là một câu mâu thuẫn.
"Trong không" và "khóc cười" là một câu mâu thuẫn.
"Vô ngã" (chẳng có ta) và "sinh tử" là một câu mâu thuẫn.
Bài kệ này, nói đơn giản là, cái trước nói về "không", cái sau nói về "có", bắt chước theo bài kệ của cổ nhân, vì thế tôi cười, lão thiền sư này trong bụng chẳng có cái gì để mà đưa ra.
Bài kệ này sau khi được đưa tin rộng rãi trên các phương tiện truyền thông thì được coi là rất "hot", hay quá! Tuyệt hay! Mọi người đều bảo hay, minh tâm kiến tính rồi, tuyệt đỉnh!
Còn người minh nhãn là tôi đọc xong thì:
"Bắt chước thôi!" (Phỏng theo ý thức của cổ nhân.)

🌟

Nghe nói, pháp sư Thánh Nghiêm trước khi viên tịch, thân mắc nhiều bệnh tật, phải nằm trong bệnh viện Bắc Đại cắm ống truyền.
Trước lúc lâm chung không thể nói chuyện hoặc nói thều thào, được vội vàng đưa về Pháp Cổ Sơn, nửa đường thì đã viên tịch.
Nếu là như vậy thì bài kệ này đã được chuẩn bị từ lâu rồi, không phải là bài kệ nói lúc lâm chung. Nó được viết vào năm 2004.
Bài kệ này từ sớm đã được viết vào lúc bình thường, sự đối câu vẫn cẩn thận, cũng có pháp vị, chỉ thiếu là chưa thoát ra khỏi cái kiểu cách cũ của cổ nhân mà thôi. Chưa đạt đến trình độ siêu phàm.
"Vô sự", "vô ngã", "không" là "không".
"Bận già", "khóc cười", "sinh tử" là "có".
Lấy "không-có" để biểu thị "thiền".

Giống như:
"Núi sâu vắng bóng người.
Chỉ nghe tiếng ai vang.
Nắng rọi vào rừng thẳm.
Chiếu sáng đám rêu xanh."
[ND: bài thơ Trại hươu của Vương Duy.]

Tôi vẫn luôn ngưỡng mộ một câu nói của lão hòa thượng Quảng Khâm: "Chẳng đến, chẳng đi, chẳng hề gì!"
Tôi ngưỡng mộ một câu nói của Thượng sư của tôi - Thượng sư Thubten Dorjie: "Thanh tịnh!"

Hai câu nói của hai vị tiền nhân này ý bao hàm quá rộng, nói tóm lại, nói tổng lại, là ý nghĩa vô cùng vô tận, đây đúng là:
"Đến đi buồn vui lòng muôn dặm.
Từ đoạn đường này lắm trầm luân.
Lời sao nói hết Không môn yếu
Thuấn ở Thương Ngô mãi đến nay."

[ND: Bài thơ của nhà thơ Lí Thiệp đời Đường.]

Tôi Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, tương lai sau khi chết đi, sau khi đi đời nhà ma, hai mắt nhắm lại, hai chân duỗi thẳng, tôi chẳng còn thời gian để mà học vẻ nho nhã của tiền nhân là để lại một bài thơ, để lại một bài kệ, để mà chỉ dạy cho các thánh đệ tử đời sau. Xem ra tôi chỉ có:
"Cười vang ba tiếng ha ha ha!"
Hoạc chỉ để lại một chữ:
"Sướng!"


### 34. Cái gương và hòn đá


Ngày 17 tháng 5 năm 2008, địa điểm là ở Hammerstein Ballroom, Manhattan Center, New York Mĩ.
Đại Bảo Pháp Vương thứ 17 Ogyan Chinla Dorje tại đây đã diễn giảng, chủ đề diễn giảng là: "Đánh thức tâm minh giác."
Đại Bảo Pháp Vương nói:
"Làm thế nào chúng ta có thể duy trì sự bình an và ổn định nội tại khi đối mặt với nhiều khó khăn và thử thách?"
Đại Bảo Pháp Vương so sánh:
"Điều này giống như đặt một vật nặng trước gương, và gương có thể phản chiếu rõ ràng hình ảnh của vật nặng này (hòn đá), nhưng gương sẽ không chịu sức nặng của vật nặng, và gương sẽ không bị nghiền nát."
Đại Bảo Pháp Vương nói:
"Trạng thái bên trong của chúng ta cũng nên giống như tấm gương trong phép ẩn dụ, có thể phản ánh rõ ràng mọi sự việc xảy ra, nhưng sẽ không bị chúng lấn át mà vẫn có thể duy trì được sự an bình và ổn định."

Từ so sánh của Đại Bảo Pháp Vương thứ 17, chúng ta có thể liên tưởng đến một so sánh khác: "Đầm xưa bóng nhạn."
Có con chim nhạn bay qua một cái đầm cũ, nước hồ phẳng lặng, phản chiếu dáng dấp của chim nhạn bay qua, đến khi chim nhạn bay qua rồi, nước hồ vẫn là nước hồ như ban đầu, căn bản không có một chút gì hình bóng chim nhạn bay qua.
Nước hồ là nước hồ.
Chim nhạn là chim nhạn.
Nước hồ vĩnh viễn như như bất động.
Đại Bảo Pháp Vương so sánh cái gương và hòn đá không có gì khác với đầm xưa chim nhạn.

Tuy nhiên, nếu tôi có được cơ duyên này, tôi sẽ đích thân hỏi Đại Bảo Pháp Vương thứ 17 Ogyan Chinla Dorje rằng:
"Nếu hòn đá bay đến, đâm trúng vào cái gương, mặt gương bị vỡ, hoặc bị nứt, hoặc cái gương sụp đổ luôn, thì phải làm sao?"
Có người hỏi tôi:
"Vì sao Lư Sư Tôn luôn luôn có thể khoan dung trước những xúc phạm của đệ tử? Hoặc những lừa gạt của đệ tử?"
Phương pháp mà Lư Sư Tôn tôi dùng không phải là: "Cái gương và hòn đá."
Cũng không phải là:
"Đầm xưa và chim nhạn."
Mà tôi dùng:
Huyễn hóa, huyễn hóa, huyễn hóa, huyễn hóa, huyễn hóa.
Chúng sinh là Phật, Phật là chúng sinh.
Vốn không có bạn và tôi, làm gì có xúc phạm?

Và:
Phật là huyễn hóa, chúng sinh huyễn hóa.
Huyễn hóa huyễn hóa, làm gì có lừa gạt?
Cũng có nghĩa là:
Cái gương cũng chẳng phải là gương, toàn là những vật huyễn hóa.
Hòn đá cũng chẳng phải là hòn đá, toàn là những vật huyễn hóa.
Dùng huyễn đánh huyễn.
Như như bất động thôi!

Tại đây, Lư Sư Tôn cũng làm một so sánh.
Ví dụ có một buổi tối, tôi nằm mơ, mơ thấy có một đệ tử cầm dao đâm mấy nhát lên người tôi, tôi đau tới mức kêu lên oai oái!
Lại mơ thấy có một đệ tử, lừa gạt tài sản của tôi, và mạo danh tôi đi khắp nơi lừa tài sản của người ta, lừa nhà cửa, lừa xe cộ, lừa nhân sâm nghìn năm, lừa tín chúng, tôi đau lòng tột bậc!
Thế nhưng, đó là tôi mơ thôi, khi tôi tỉnh lại thì tự cười một mình, thì ra đều là một giấc mơ.
Một giấc mơ lớn mà thôi!
Tôi thường nghĩ như vậy, do đó, tâm tôi vĩnh viễn như như bất động, vốn dĩ chính là mơ, làm gì có đệ tử xúc phạm, làm gì có đệ tử lừa gạt?


### 35. Vĩnh viễn không hiểu chân tướng


Sư tỉ Từ Nhã Kì nói với tôi:
"Từ trước đến giờ, thầy thường bị các đoàn thể Phật giáo bài trừ đả kích, thầy vẫn luôn như như bất động. Nhưng mà đệ tử đều khóc sướt mướt, chúng con phải làm sao để thế nhân hiểu rõ chân tướng đây?"
Tôi nói:
"Mãi mãi họ sẽ không hiểu được chân tướng đâu."
"Vì sao?"
Tôi nói:
"Thế nhân có hai đặc tính, một là mù quáng, hai là chóng quên. Cho nên thế nhân vĩnh viễn không hiểu được chân tướng."

Tôi nói tiếp:
"Trong giới Phật giáo, gần đây có hai đại hòa thượng đã viên tịch, một vị chính là lão hòa thượng Diệu Liên, vị kia là pháp sư Thánh Nghiêm. Trong huệ nhãn của tôi, quả vị chứng đắc của lão hòa thượng Diệu Liên cao hơn pháp sư Thánh Nghiêm nhiều lần. Đáng tiếc là thế nhân mù quáng, lão hòa thượng Diệu Liên viên tịch thì chẳng ai biết đến, thế còn pháp sư Thánh Nghiêm viên tịch thì náo động chính phủ và dân chúng." (Bỏ lỡ một vị đại Pháp Vương, tâng bốc một vị tiểu Pháp Vương.)
Tôi cười lớn ha ha ha.
"Đây chính là chân tướng ư?"

Tôi lại nói:
"Đời này tôi tu hành, tôi có thể nói không chút hổ thẹn rằng, tôi đã đắc vô thượng chính đẳng chính giác, đó là nội chứng của tôi. Nhưng trong con mắt thế nhân, tôi là đại Thiên Ma, phụ Phật ngoại đạo, tà giáo, tên lừa đảo, thậm chí là con quỷ hám sắc, tôi bằng lòng chấp nhận đắng cay. Vì sao? Bởi vì tôi biết thế nhân mù quáng, thế nhân chóng quên. Bậc trí giả hoặc đại thiện tri thức trên thế gian này là có, nhưng rốt cục cũng là thiểu số, đại bộ phận con người chỉ nhìn bề ngoài, không thấy biết chân tướng!"
"Ai có thể biết chân tướng?"
Tôi nói:
"Người có Phật nhãn, pháp nhãn, huệ nhãn, thiên nhãn."
"Thế nhân thì sao?"
"Chúng sinh chỉ có mắt thịt, cho nên vĩnh viễn không hiểu được chân tướng."

🌟

Chúng sinh thế nhân không hiểu Liên Hoa Đồng Tử tôi vốn là biến hóa thị hiện của A Di Đà Phật. Cho nên trong miệng thì họ niệm: "Nam mô A Di Đà Phật!".
Nhưng,
Lại phỉ báng A Di Đà Phật chân chính là tôi đây.
Nực cười ghê! Chúng sinh nhục nhãn phàm thai, thật đáng thương!
Tôi vốn là một người biến hóa, người biến hóa từ Phật, trong đời này chỉ có một mục đích, hóa tất cả chúng sinh đều đi vào Phật đạo. Người biến hóa là tôi đây biến hóa ra tịnh thổ và uế thổ, cái chúng ta gọi là Phật quốc tịnh thổ và Ta Bà uế thổ, chúng sinh dựa vào quả báo của chính mình mà hoặc sinh về tịnh thổ, hoặc sinh về uế thổ.
Vì thế trong cuộc đời này, chúng sinh mà tôi đã độ hóa mấy trăm vạn cũng chỉ tương đương với một hạt cát mà thôi, và chúng sinh có thể cứu độ là vô hạn, do đó, đại từ bi tâm của tôi vĩnh viễn bất tận, và thề nguyện lực hóa ích chúng sinh cũng trở nên vô cùng vô tận.

Mọi người cần hiểu:
Tôi hóa Phật.
Tôi hóa hiện.
Tôi hóa cảnh.
Tôi hóa giáo.

Tôi là tam luân hóa tôn:

1. Thần biến luân.

1. Kí tâm luân.

1. Giáo giới luân.

Thần biến là thân, kí tâm là ý, giáo giới là khẩu.
Tôi hóa duyên.

Vì tôi đã chứng đắc minh tâm kiến tính, chứng đắc vô thượng chính đẳng chính giác, ngũ nhãn lục thông cụ túc. Cho nên bài trừ cũng được, công kích cũng được, phỉ báng cũng được, người biết cũng được, người không biết cũng được, không ai biết đến cũng được, sôi nổi náo nhiệt cũng được, tỉnh cũng được, mơ cũng được, sống cũng được, chết cũng được, tôi đã đạt đến cảnh giới cái gì cũng đều được đều tốt cả.
Tôi hỏi mọi người, thế nào là bài trừ? Thế nào là công kích? Thế nào là phỉ báng? Thế nào là sinh? Thế nào là tử?
Tôi không biết, không biết, không biết, không biết, không biết.
Tôi vô giác, vô giác, vô giác, vô giác, vô giác, vô giác.
Tôi cười ngốc, cười ngốc, cười ngốc, cười ngốc, cười ngốc.
Tôi là Pháp Vương điên.


### 36. Đến âm gian lấy trứng


Một đệ tử của tôi có bố qua đời, bố của đệ tử này là một vị Trung tướng, một tướng quân cấp cao.
Vì đệ tử khẩn khoản van nài tôi cứu bố anh, tôi khởi tâm từ bi nên đã đồng ý.
Bố của đệ tử này cũng quy y tôi, cũng đã nhận đại quán đảnh Thời Luân Kim Cang, nhưng chẳng bao giờ tu pháp.
Tôi thần hành đến âm gian.
Phát hiện thấy linh hồn của Trung tướng này đã bị nhốt trong vỏ trứng, đã hình thành nên một quả trứng gà rồi. (Noãn sinh.)
Đồng thời tôi phát hiện, bên cạnh quả trứng gà "Trung tướng", trong mỗi một cái hộp đều để mười quả trứng gà. (Đều là noãn sinh.)
Trứng gà để trong từng hộp, tương tự như trong siêu thị bày từng hộp một tá trứng.
Thiên nhãn của tôi phát hiện thấy trứng gà của một hộp họ không ngờ đều là đệ tử của Chân Phật Tông.
Tôi không nén nổi nỗi kinh hãi!

Thế là, tôi bất chấp tất cả, hai tay tôi cầm hộp trứng này lên, bay lên trên, cứ thế bay, bay đến tây phương Cực Lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì, đặt mỗi quả trứng vào trong nhụy hoa của mỗi đóa hoa sen, chờ đến lúc hoa sen hóa sinh, hoa nở thấy Phật.
Đệ tử Chân Phật Tông chỉ cần là hoa sen hóa sinh là sẽ nhìn thấy ngay A Di Đà Phật Như Lai.
Tại tây phương Cực Lạc thế giới nhận giáo hóa, vĩnh viễn không thối chuyển!
Tại tây phương Cực Lạc thế giới niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, tinh tấn tu trì cho đến ngày thành Phật.
Tôi có pháp lực như vậy.
Tôi thật sự đã đến âm gian lấy trứng.

🌟

Khi tôi kể ra quá trình tôi vào âm gian lấy trứng này, có một người đồng môn họ Vương hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn, làm pháp như vậy có phải là phá hoại luật nhân quả không?"
Điều ngờ vực mà đồng môn Vương nêu ra, tôi giải thích như sau:
Có cái gọi là nhân có khả năng sinh ra thì quả sẽ sinh ra. Có nhân tất có quả, có quả tất có nhân.
Phật giáo nói đạo lí thiện ác báo ứng thông suốt ba đời, thậm chí nhiều đời.
Cái gọi là:
Chiêu quả vị nhân, khắc hoạch vị quả. Sự thật về nhân quả biểu hiện ra rõ ràng dễ hiểu.
Và:
Muốn biết nhân quá khứ, chính là quả hiện tại, muốn biết quả tương lai, nhìn vào nhân hiện tại.
Còn nữa:
Báo ứng thiện ác, như bóng theo hình, nhân quả ba đời, tuần hoàn không mất, đời này sống uổng, hối hận chẳng kịp.
Đạo lí nhân quả này rất rõ ràng.

Tuy nhiên:
Những đệ tử Chân Phật Tông này mặc dù quy y, nhưng chưa thực tu Chân Phật Mật Pháp, dựa theo nhân quả báo ứng, vì ngu si vô minh nên nhập vào noãn sinh của tứ sinh, sau đó sẽ đi vào đạo súc sinh. (Một trong tam ác đạo.)
Mặc dù là đệ tử Chân Phật, chưa bao giờ tu pháp, theo nhân quả nghiệp luật, vô minh chưa thoát, đương nhiên cái ngu si rất nặng. Chắc chắn sẽ vào đạo súc sinh.

Thế nhưng, họ đã có duyên quy y, đã nhận được quán đảnh quy y, trong tương lai cũng đã trồng xuống chủng tử thành Phật. Trung tướng kia đã nhận được đại quán đảnh Thời Luân Kim Cang, công đức của quán đảnh ấy có ba lợi ích lớn:
Thứ nhất, phàm là người nhận được quán đảnh pháp Thời Luân Kim Cang, và kiên định tín tâm, không tu pháp cũng có thể trong bảy kiếp thành Phật.
Thứ hai, phàm ai nghe được pháp Thời Luân Kim Cang, thường xuyên niệm chú của ngài, có thể tránh được đủ loại tai nạn, bao gồm hỏa hoạn, lũ lụt, gió bão, bệnh tật, chiến tranh, bệnh hiểm nghèo, bệnh truyền nhiễm, bệnh không chữa trị được.
Thứ ba, phàm ai nghe được pháp Thời Luân Kim Cang, đã nhận quán đảnh, nếu không phạm trọng tội, ngũ nghịch tội, đều có thể có được thân người và vãng sinh đến Phật quốc Shambhala, chỉ cần được quán đảnh thì sẽ không đọa lạc vào tam ác đạo.
Theo nhân duyên quy y quán đảnh này, tôi đã không che giấu nhân quả.


### 37. Phật Đà bị tạc hình tượng


Có phóng viên hỏi:
"Rất nhiều người không thể chấp nhận chuyện ngài và Phật Thích Ca Mâu Ni uống cà phê với nhau, vì sao vậy?"
Tôi hỏi ngược lại:
"Thế Phật Đà có miệng không?"
"Có."
"Phật Đà có ăn cơm không?"
"Có chứ!"
Tôi nói:
"Thế nên Phật Đà uống cà phê là chuyện bình thường thôi."

Tôi giải thích rằng:
"Thế nhân tạc hình tượng Phật Đà là một bức tượng điêu khắc thần thánh, ngồi dưới gốc cây bồ đề, hai chân cong xuống, ngồi tư thế kiết già, luôn trong trạng thái minh tưởng, vĩnh viễn không đứng dậy. Dần dà lâu ngày, thế nhân liền cho rằng Ngài không cần ăn cơm, không cần đi ngủ, không cần "P P" , không cần hoạt động đời sống thường ngày." [ND: PP ở đây nói theo ngôn ngữ tiếng Anh, tức là "pee pee" - đi vệ sinh.]
Tôi nói:
"Phật Đà bình thường vẫn phải rửa mặt, đánh răng, làm "việc số một", làm "việc số hai", mặc quần áo, cầm bình bát, ăn cơm, uống nước… Điều duy nhất Ngài khác với con người là Ngài đã chứng đắc vô thượng chính đẳng chính giác."
Phóng viên hỏi:
"Vấn đề là Phật Thích Ca Mâu Ni đã nhập niết bàn 2600 năm trước rồi, Phật Đà từ lâu đã thành cổ nhân, thành người thiên cổ rất lâu rồi. Còn Lư Sư Tôn là người thời nay sinh ra 2600 năm sau khi Phật Đà niết bàn. Một người là cổ nhân, một người là người đương đại, cách nhau 2600 năm, sao có thể cùng uống cà phê với nhau chứ?"

Tôi hỏi ngược lại:
"Phật giáo có câu nói rằng "thụ cùng tam tế, hoành biến thập phương" đúng không?"
"Đúng."
"Tam tế nhất như, đúng không?"
"Đúng."
Tôi nói:
"Rất tốt, tam tế chính là quá khứ, hiện tại, vị lai, ba cái này nào có thể nối liền với nhau. Sau khi Lư Sư Tôn tôi minh tâm kiến tính, cũng có thể tam tế nhất như, Phật Đà cũng tam tế nhất như, cho nên Phật Đà và Lư Sư Tôn có thể ở trong tam tế nhất như cùng nhau uống cà phê."
Phóng viên hỏi:
"Chẳng phải Phật Đà đã chết rồi sao?"
Tôi đáp:
"Tín đồ Phật giáo đều biết Phật Đà đang thuyết pháp ở cõi trời cao nhất là Sắc giới thiên. Tín đồ Phật giáo đều biết A Di Đà Phật ở tây phương Cực Lạc thế giới, đang ở tây phương Cực Lạc thế giới thuyết pháp, ai dám bảo những vị Cổ Phật này đều đã chết chứ?"
"Vấn đề là uống cà phê ấy?"
(Vẫn là vẫn đề cũ.)

Tôi đáp:
"Phật Thích Ca Mâu Ni dùng một trong trăm nghìn tỉ hóa thân của Ngài hạ giáng đến thế giới Ta Bà, còn tôi nhờ vào xuất nguyên thần mà gặp gỡ Phật Đà giáng xuống, chúng tôi cùng uống cà phê, chỉ như vậy mà thôi."
"Chuyện này…"
Tôi nói:
"Đây chính là tam muội."

Tôi giải thích như sau:
Có một lần, Phật Thích Ca Mâu Ni và các đệ tử đang đi bộ trên đường, Phật Đà chỉ vào một mảnh đất và nói, mảnh đất này rất tốt, nên xây chùa ở đây (chùa Phật). Lúc này, Đế Thích Thiên lấy một ngọn cỏ cắm lên mảnh đất này nói, chùa đã xây xong rồi đó.
Phật Thích Ca Mâu Ni gật đầu mỉm cười.
Tôi nói để mọi người biết:
Một ngọn cỏ và chùa Phật (tự viện) hoặc tượng vàng cao sáu trượng, là như một chứ không phải như hai.
Tôi nói với mọi người:
Một li cà phê và mưa pháp cam lộ, hoặc thiên hà thắng cảnh, là như một không phải như hai.
Lư Sư Tôn tôi là một người biết dùng pháp môn, đó là cánh cửa đi vào Phật địa, pháp vị này, pháp giới nhất vị này trên thế giới đã rất ít người có thể biết được.


### 38. Pháp yếu về Quan Âm Tứ Thủ


Ngày 14 tháng 2 năm 2009 (thứ bảy), Seattle Lôi Tạng Tự ở Mĩ cử hành pháp hội cầu phúc xuân mới. Chúng tôi tu Tứ Thủ Quan Âm niệm tụng pháp, vì thế trong chương sách ngắn này, tôi sẽ nói một chút về pháp yếu của Quan Âm Tứ Thủ.
Mỗi một pháp đều phải làm:
Đại lễ bái.
Đại cúng dường.
Tứ quy y.
Bia giáp hộ thân.
Phát tứ vô lượng tâm.
Phát bồ đề tâm.
Chữ


![image](/img/img_62d42b322db406b9cbd3ac1cdf1ffa26.jpg)



Trong không trung xuất hiện hoa sen. Trên hoa sen, chữ


![image](/img/img_a6b648f8a87b04bc527c940da1325735.jpg)



Biến thành nguyệt luân. Trên nguyệt luân chữ


![image](/img/img_daf47f2ff4cf87c95bec6413b8630123.jpg)



Xuất hiện một vị Tứ Thủ Quan Âm một đầu bốn cánh tay.

Quán tưởng Tứ Thủ Quan Âm - (Tay kết thủ ấn Quan Âm.)
Thân màu trắng.
Đầu đội bảo quán, thân khoác thiên y, bên dưới mặc váy lụa, ngồi tư thế kim cương kiết già trên tòa hoa sen, xung quanh tỏa vầng ánh sáng màu cầu vồng.
Hai cánh tay phía trước chắp lại, ở giữa có ngọc mani.
Hai cánh tay phía sau, tay phải cầm chuỗi hạt thủy tinh, tay trái cầm hoa sen trắng.
Tứ Thủ Quan Âm đầy đủ mọi trang sức trân quý.
Tiếp theo, quán tưởng chữ Om


![image](/img/img_b3ec32ded07fb0cca0fdf9409e42da33.jpg)



Tại đỉnh đầu. Chữ Ah


![image](/img/img_9132a09e2d8b6b28cbdaeee16617a362.jpg)



Tại họng. Chữ Hum


![image](/img/img_77e787b87a6afd552834c4938279c1ff.jpg)



Tại ngực phóng quang, chiếu đến hành giả, tự tâm hành giả thanh tịnh. Sau khi hành giả tụng "Tứ minh chú" (Cha - Hum - Ban - Ho) thì hợp thể với Tứ Thủ Quan Âm thành một. (Hành giả tức là Tứ Thủ Quan Âm.)
Hành giả từ chữ Hum ở tâm mình phóng quang, triệu thỉnh Ngũ Phương Phật, các vị Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, chư Thiên giáng lâm xung quanh mình. (Quán đảnh gia trì cho các thiện tín.)
Trì chú: Om mani padme hum. (108 biến hoặc 1080 biến)

Chú này phóng quang, có nhiều lợi ích:

1. Nhổ sạch mọi khổ ách của thiện tín.

1. Bao trùm lên thiện tín ánh sáng cát tường.

1. Gia tăng phúc phần. Gia tăng trí huệ.

1. Kiến văn giác tri, người người thành Phật.

Nhập tam muội địa. Nhập định.

Xuất định tụng tán:
"Kính lễ Tứ Thủ Quan Thế Âm.
Búi tóc trang nghiêm Di Đà Phật.
Thuần tịnh vô cấu đại tịnh quang.
Phổ chiếu hết thảy lợi quần sinh."
Tụng bách tự minh chú.
Hồi hướng.
Đại lễ bái.
Rời khỏi đàn thành.

🌟

Tứ Thủ Quan Âm và chú Tứ Thủ Quan Âm này ở vùng Tây Tạng không ai là không biết, không ai không hiểu.
Tứ Thủ Quan Âm Bồ Tát không khác gì Thần Bảo Hộ của Tây Tạng, thậm chí những Hoạt Phật tối cao đều là hóa thân của Tứ Thủ Quan Âm.
Những người dân Tây Tạng đều niệm "om mani padme hum", lục tự đại minh chân ngôn. Những tháp xếp bằng đá ở vùng Tây Tạng đều có chữ Tạng "om mani padme hum".
Phật giáo Hán truyền thì niệm Nam mô A Di Đà Phật.
Phật giáo Tạng truyền thì niệm Om mani padme hum.
Cả hai chiếu rọi rực rỡ lẫn nhau.
Cá nhân tôi cảm thấy, quán tưởng trong Mật giáo là quan trọng số một, vị nào có nhiều cánh tay và pháp khí thì cực kì phức tạp. Nhưng Tứ Thủ Quan Âm tương đối dễ quán tưởng.
Quán tưởng của chúng ta càng tinh vi, tinh thần càng có thể chuyên nhất, hễ chuyên nhất thì tự nhiên sẽ sản sinh ra pháp lực.
Nhập tam muội địa tức là nhập vào tam muội địa của Quan Âm Bồ Tát, vị Bồ Tát này tâm từ bi là vĩ đại số một.
Tu tập pháp này, lấy tâm từ bi tương ứng.


### 39. Biện luận về "Om mani padme hum"


Từng có một chuyên gia Phật học trình bày những kiến giải của mình về lục tự đại minh chân ngôn như sau:
Om - trạng thái bản sơ vô thượng.
Mani - tức mani bảo, mani bảo này chính là trân bảo như ý, tượng trưng cho bộ phận sinh dục của đàn ông, giống như gậy như ý của Trung Quốc, đều hàm ý ẩn dụ về nam tính.
Padme - tức là hoa sen, hoa sen này chính là tượng trưng cho bộ phận sinh dục của phụ nữ. Nụ hoa giống như tử cung, vừa hé nở thì giống như trinh nữ, hoa sen nở to thì chính là "padme".
Hum - chính là khi "mani" cắm vào phía trên của "padme", hai cái kết hợp với nhau, ở trong một trạng thái hoàn toàn sung sướng, từ đó sinh ra vạn dân thiên hạ, cũng vì thế mà sinh ra chủng tử của vạn Phật, thành tựu một dạng sức mạnh và cảnh giới đẹp đẽ.
Chuyên gia Phật học này trình bày xong như vậy đã làm giới Phật giáo xôn xao, họ khiêu chiến và tranh luận lẫn nhau.

Theo cách nói của phái tính lực Ấn Độ thì:
Vạn sự vạn vật thế gian đều là một âm một dương, chỉ có âm dương kết hợp mới có thể đạt đến sự hoàn mĩ.
Nhật nguyệt, thiên địa, phụ mẫu, sơn thủy, đều là như thế.
Lỗ khóa và chìa khóa.
Bát và đũa.
Ốc vít và cái mở vít.
Tóm lại, thiên hạ vạn vật đều được mô tả thành hai vật âm dương.

Chuyên gia Phật học thậm chí còn nói, một người thành đạo có thiên nhãn đều nhìn thấy trong hư không, vô số Không Hành Dũng Phụ ôm lấy Không Hành Mẫu, từng đôi từng cặp, đang làm cái "chuyện ấy", hơn nữa tư thế đều khác nhau, tại không trung vui vẻ giao hợp.

Chuyên gia Phật học nói:
Điện là âm dương.
Quang là âm dương.
Thời gian là âm dương.
Con người là âm dương.
Chuyên gia Phật học nói, chỉ khi âm và dương ở trạng thái hoàn hảo nhất mới là thành tựu.
"Om mani padme hum" chính là như vậy.

🌟

Ngoài ra còn có người của một phái khác chú thích "Om mani padme hum" tương đối có hình ảnh hơn.
Om - ý thức viên mãn chí thượng vô thượng.
Mani - là mani bảo, là món qua tràn đầy từ bi và thuận tiện cho nhân gian, có thể ban cho tài phúc và mọi việc cát tường, sức mạnh gia trì không gặp tai ách.
Padme - là hoa sen, nhưng tượng trưng cho trí huệ bát nhã cao nhất, duy có trí huệ mới có thể đạt đến bỉ ngạn, padme là đại trí huệ, là Phật huệ.
Hum - phương tiện và trí huệ kết hợp với nhau, từ bi và trí huệ kết hợp với nhau, mới có thể độ chúng sinh, hai cái không thể tách rời, đây chính là thành tựu siddhi của bi-trí song vận mà Phật giáo nói đến.

Nói rõ rằng:
Bản sơ của vũ trụ, viên mãn vô thượng, là vì sự gia trì từ bi phương tiện, khiến chúng sinh đạt được sức mạnh đại trí huệ, sự kết hợp từ bi và trí huệ này độ hóa chúng sinh đạt đến bỉ ngạn.
"Om mani padme hum" chính là như vậy.
Sự tranh luận lẫn nhau giữa đôi bên này đều là vì cái này, một bên giải thích là cảnh giới hoàn mĩ của tính giao, một bên giải thích là sự kết hợp lẫn nhau giữa từ bi và trí huệ, cảnh giới Bồ Tát không thể phân tách.
Tôi nói:
Người trước là "dụng".
Người sau là "thể".
Thánh đệ tử nghĩ thế nào?


### 40. Hoàng đế trong mơ


Có người hỏi:
"Lư Sư Tôn, nghe nói trong đời quá khứ, ngài từng làm một vị hoàng đế, phải không?"
Tôi cười rạng rỡ và nói:
"Thôi chuyện này không nói!"
Người đó nói:
"Lư Sư Tôn có chuyện gì không thể nói sao?"
Tôi đáp:
"Đời quá khứ của con người thì thiên kì bách quái, cho dù làm hoàng đế thì cũng là có khả năng thôi."
"Ngài khẳng định ngài đã từng làm hoàng đế?"
"Khẳng định." - Tôi đáp.
"Triều đại nào? Ở thành Lạc Dương sao? Hay thành Trường An? Hay thành Bắc Kinh?"
Tôi càng cười sảng khoái hơn. Tôi nói:
"Câu đố này tôi để cho các thánh đệ tử của tôi giải vậy! Bởi vì năm triệu đệ tử của tôi trong kiếp này rất nhiều người là con dân trong kiếp quá khứ của tôi đó!"
Người hỏi ngơ ngác.

🌟

Tôi có một đệ tử sống ở nước Anh là Liên Hoa Kính An, trong lúc ngơ ngẩn, anh có một đoạn kí ức như thế này, bây giờ xin công bố thư của anh gửi đến như sau để làm một ấn chứng.

"Sư Phật tôn quý từ trên cao soi xét:
Trong cuộc sống an bình tại nước Anh, bình thường khi con làm việc, thường thu thập đá làm thú vui.
Có một hôm thu thập được một hòn đá kì lạ hình bầu dục, hoa văn trên hòn đá rất đặc biệt, một mặt giống như bản đồ trái đất, mặt kia giống như các vì sao trong hệ mặt trời.

Đệ tử tay cầm viên đá, nhìn ngắm viên đá, bất chợt phảng phất giống như đang nâng cả vũ trụ trời đất, thân tâm đột ngột trút bỏ hết, tự cảm thấy không còn một vật nào cả, chỉ còn lại linh quang ở trong não bay nhảy, du hành xuyên qua đường hầm thời gian trong tích tắc.
Đệ tử thấy Sư Phật là hoàng đế của một triều đại, và đệ tử là thị vệ trong đội quân mà hoàng đế Sư Phật mang theo bên mình. (Sư Phật từng ở trong giấc mơ của đệ tử, gọi thẳng đệ tử là Phùng tham quân, mà đến nay đệ tử vẫn chưa biết ngày xưa tham quân là chức vụ gì.)
Điều buồn cười là khi ấy không phải là một kinh thành phồn hoa, mà là quân thần đang gặp nạn trốn trong một hang núi, tránh sự truy tích của phản quân.
Mặc dù như vậy, hoàng đế Sư Phật ở trong hang núi vẫn mặc long bào, khí phách phong độ vẫn hiên ngang, còn đệ tử thì ở trong hang, trung thành bảo vệ hoàng đế Sư Phật…

Thời gian trôi qua nhanh chóng, chớp mắt đã trăm kiếp trôi qua, lúc này Sư Phật tôn quý đã là một vị tôn sư đời thứ nhất, vân du thập phương, độ hóa chúng sinh, không màng danh lợi.
Đệ tử kiếp này dù chưa thể hầu hạ bên cạnh hoàng đế Sư Phật, nhưng trong mắt đệ tử, hoàng đế Sư Phật vẫn có phong thái y nguyên.
Đệ tử ở Chân Ngôn Lôi Tạng Tự yên tĩnh tu hành Mật pháp, hộ trì pháp vụ, lặng lẽ hộ trì hoằng dương Chân Phật Mật Pháp.
Khi hồi tưởng lại, có chút cảm thán, có chút giác ngộ, cựu thần quân vương ngày xưa tuy rằng thời gian không gian đổi dời, nhưng bình cũ rượu mới, thật sự là tam tế nhất như, chân như cũng như thế, huyễn cảnh cũng như thế, chẳng có sự phân biệt….
Đệ tử Liên Hoa Kính An vái trăm lạy.

🌟

Bây giờ tôi hỏi thánh đệ tử:
"Vị hoàng đế Sư Phật là tôi đây rốt cục là vua của triều đại nào, liệu có người nào có thể giải đáp?"
Tôi lại hỏi:
"Hoàng đế trong mơ, bây giờ ở đâu?"

Viết bài thơ:
"Hỏi tôi làm vua thời gian nào
Chỉ cười không đáp thật thảnh thơi
Năm tháng muôn đời khẽ khàng trôi
Nay Đại La Tiên tôi đã chứng."


### 41. Dâm trùng dâm trùng dâm trùng


Theo một mục tin tức từ Đài Loan, thời điểm là tháng 2 năm 2009, tại một căn phòng trong khu nhà nghỉ, thi thể một cô gái được tìm thấy dưới gầm giường, bị bỏ vào trong túi nhựa đựng xác chết.
Cảnh sát đã giải quyết vụ việc một cách nhanh chóng.
Cô gái là nữ sinh một trường kỹ thuật.
Nghi phạm là tài xế xe buýt chở học sinh.
Trước tiên chúng ta không nói đến vụ án này.

Căn cứ theo điều tra của cảnh sát, trước tiên họ điều tra những người khách đến nhà nghỉ này và thuê căn phòng đó trong vòng một tuần.
Sử dụng cùng một cái giường.
Tổng cộng có 13 đôi nam nữ.
Điều tra báo cáo, lần lượt so sánh đối chiếu.
Phát hiện ra 13 cặp nam nữ này không phải là vợ chồng, mà toàn là nam nữ ngoại tình. (Ăn vụng.)
Phóng viên đưa tin lúc phát bản tin còn mở to mắt biểu thị rằng: "Hết sức kinh ngạc!"
Phóng viên đưa tin nói:
"Nếu như công bố danh sách này thì trước tiên sẽ khiến cho 26 gia đình náo động cuộc cách mạng gia đình!"

🌟

Tôi xem xong tin tức, cười lớn ba tiếng ha ha ha.
Chúng ta đã thấy, trong một tuần lễ, một căn phòng, 13 cặp đôi. Cái nhà nghỉ này có 50 phòng, tổng cộng là 650 đôi, tổng cộng là 1300 con người.
Cả đất nước Đài Loan có bao nhiêu nhà nghỉ và nhà trọ kiểu này. Trời ơi! Sao có thể tính được?
Sao có thể như vậy?
Vớ vẩn! Tôi nói.

Ở đây có liên quan đến:
Sự tiếp diễn của nhân loại.
Sự phồn thịnh của nhân loại.
Lịch sử của nhân loại.
Nếu không như vậy, làm sao có thể có môn "nhân loại học"?
Giáo chủ Phật giáo Thích Ca Mâu Ni Phật từ lâu đã nhận ra điểm này, vì thế trong năm giới luật chính, một điều trong đó chính là: "Giới tà dâm".
Tính người vốn dâm.
Con người vốn dĩ được sinh ra từ dâm.
Con người vốn dĩ chính là dâm trùng.
Con người chính là từ trùng biến ra.
Nam là con trùng nhỏ dài dài. Tinh trùng.
Nữ là con trùng nhỏ tròn tròn. Noãn trùng.
Hai con trùng kết hợp với nhau, tinh và noãn hợp nhất, rồi sinh ra nhân loại. Điều này phải trải qua sự hợp thể của nam nữ.
Sự hợp thể của hai nhục trùng, sau đó là sự hợp thể của tinh và noãn trùng, biến hóa như vậy, hình thành nên nhân loại.

Vì thế, có người hỏi Phật:
"Con người là gì?"
Phật đáp:
"Ổ trùng."
(Câu nói "ổ trùng" này một câu nói kinh động lòng người.)
Có người nói, nhân tính vốn thiện, có người nói, nhân tính vốn ác, thiện ác này tôi không quan tâm. Nhân tính vốn dâm, điều này là tuyệt đối chính xác, nếu nhân tính không dâm thì làm sao có sự tiếp diễn của nhân loại?
Nam có bộ phận đó.
Nữ có bộ phận đó.
Cái này có gì đáng kị húy, giáo chủ Phật giáo cũng có vợ có con, cũng có không ít phi tần đó thôi!
Con người bình thường, bất kể là chính dâm hay bất chính dâm (tà dâm) thì cũng đều là dâm.
Pháp song thân của Mật giáo chỉ là biến cái "dâm" thành một phương pháp tu hành. Bởi vì mọi người đều đang "dâm" rồi, sao không đưa thủ ấn, trì chú, quán tưởng vào trong hành động "dâm" này, chuyển hóa thành thanh tịnh. Lấy tham dừng tham, lấy dâm dừng dâm.


### 42. Tâm yếu về Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát


Ngày 15 tháng 2 năm 2009, tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự ở Seattle Mĩ, tôi cử hành buổi hỏa cúng Hộ Ma Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát, đồng thời cử hành đại quán đảnh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát.
Dưới đây là tâm yếu về Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát.
Quan Âm Bồ Tát từ lâu đã phụng sự vô số vị Phật.
Quan Âm Bồ Tát độ chúng sinh rất nhiều, bất khả tư nghì.
Quan Âm Bồ Tát phát lời thề nguyện quảng đại.

Có một hôm.
Bồ Tát phát hiện, mặc dù Ngài đã độ vô tận chúng sinh, nhưng chúng sinh không thấy giảm bớt, căn bản là không tăng không giảm.
Một người cũng không tăng.
Một người cũng không giảm.
Bồ Tát tinh tấn nỗ lực như vậy mà chúng sinh không hết, Ngài nhụt chí, dần dần mất đi đạo tâm, rồi buông lơi, vì thế đã phá vỡ lời thề, thế là đầu bị tách ra làm mười mảnh, thân thể vỡ nát thành vô số mảnh vụn.
Căn bản Thượng sư của Bồ Tát là A Di Đà Phật mới vội vàng đến, dùng Phật lực để nhập vào tam muội địa của Bồ Tát.
Biến hóa ra Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát.
Đầu của A Di Đà Phật cộng thêm mười mảnh đầu của Bồ Tát trở thành 11 cái đầu. Tượng trưng cho đẳng giác 11 địa.
Đỉnh cao nhất là A Di Đà Phật.
Rồi những mảnh thân thể vỡ vụn lần lượt biến thành nghìn cánh tay, nghìn con mắt, hình thành nên nghìn tay nghìn mắt.

Chú ngữ nổi tiếng nhất của vị Bồ Tát này là: chú Đại Bi. (Ứng nghiệm vô cùng.)
Quán tưởng chủng tử chữ Seh.

Biến thành Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm.
Thủ ấn.
Chú: chú dài chính là chú Đại Bi.
Chú ngắn: "Namo sanmanto utonam wajila dama seh."
Tâm chú: "Om wajila dama seh."
Điểm ấn vào năm chỗ, tương đương chính là Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát.
Tu pháp này có rất nhiều ích lợi.

1. Quảng đại viên mãn.

1. Vô ngại đại bi.

1. Cứu khổ cứu nạn.

1. Kiện khang trường thọ.

1. Dừng diệt ác thú.

1. Kéo dài thọ mệnh.

1. Mãn nguyện chúng sinh.

1. Tùy tâm tự tại.

1. Phá trừ ác nghiệp.

1. Tốc siêu thượng địa.

🌟

Cá nhân tôi cho rằng Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm là hợp thể của A Di Đà Phật và Quan Thế Âm Bồ Tát.
Cũng giống như Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là:
Thân của Phật Thích Ca Mâu Ni.
Khẩu của A Di Đà Phật.
Ý của Quan Thế Âm Bồ Tát.
Tam Thánh hợp nhất thể.
Tôi Lư Thắng Ngạn Liên Hoa Đồng Tử là hợp thể của Đại Nhật Như Lai, Phật Nhãn Phật Mẫu, A Di Đà Phật.

Còn nữa:
Đại Uy Đức Kim Cang là hợp thể của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát và Diễm Ma Pháp Vương.
v.v…
Hợp thể và biến thân chính là yếu chỉ của Mật giáo.
Đệ tử Chân Phật Tông chúng ta tương ứng với Bổn tôn, chính là cùng Bổn tôn hợp thể.
Chỉ cần cùng Bổn tôn hợp thể thì lập tức nhập vào tam muội địa của Bổn tôn, sinh ra tại tịnh thổ của Bổn tôn.
"Tham chấp thế gian, một dao chặt đứt, minh tâm kiến tính, tức khắc khai ngộ, giải thoát tất cả, diệu dụng tự như."


### 43. Quỷ quỷ quỷ quỷ quỷ


Có người nói:
"Chuyện rất kì quái là, kể từ sau khi Lư Thắng Ngạn xuất đạo liền bị người ta bài trừ và đả kích, cho đến hôm nay sự công kích vẫn chưa từng gián đoạn, nhưng ông ấy vẫn luôn đứng sừng sững không đổ. Không chỉ như vậy, đệ tử của ông ấy càng ngày càng nhiều, càng ngày càng hưng vượng, thật là kì quặc quái gở, đây có phải là thật sự có quỷ không!"

Có người nói:
"Lư Thắng Ngạn có hai vụ tai tiếng tình dục lớn, một người tu hành có tai tiếng tình dục thì cũng giống như chiếc li rơi xuống đất vỡ vụn rồi. Thế mà không chỉ một lần tai tiếng mà còn có tới tận hai lần tai tiếng tình dục. Hai vụ tai tiếng tình dục này lẽ ra phải đẩy lùi tín tâm của các đệ tử rồi chứ, Lư Thắng Ngạn không chết thì cũng phải bị thương rất thê thảm, nhưng đệ tử của ông ấy không ngờ tín tâm không thối lùi, càng kì lạ hơn là đệ tử lại càng ngày càng nhiều, đệ tử nữ càng ngày càng đông, nghe nói, những đệ tử nữ hâm mộ ông ấy không chỉ nhiều mà còn nhiều khủng khiếp nữa!"

Lại có người nói:
"Lư Thắng Ngạn làm pháp hội tại Malaysia, có tới 70 nghìn người tham dự, làm pháp hội ở Đài Loan có 50 nghìn người tề tựu, làm pháp hội tại Singapore có 60 nghìn người tham gia, liệu có phải Lư Thắng Ngạn có quỷ không? Rốt cục ông ấy có sức hấp dẫn gì mà có thể thu hút nhiều người như vậy chủ động đến tham gia đại pháp hội của ông ấy chứ? Thật chẳng hiểu ra làm sao."

Lại có người nói:
"Có người công kích Lư Thắng Ngạn, chửi Lư Thắng Ngạn tơi tả, những lời lẽ bẩn thỉu nhất đều từ miệng phun ra, thậm chí đem cả bộ phận sinh dục ra để mà chửi. Càng ghê hơn nữa là ngay cả nhất cử nhất động cũng được mô tả sống động một cách hết sức tuyệt vời, khiến người ta chặc lưỡi kinh ngạc, giống như là phim 18+ vậy, phim khiêu gợi sống động. Lần này, Lư Thắng Ngạn chết chắc rồi, bởi vì kiểu phim 18+ này, phim khiêu gợi sống động này ai mà chẳng thích xem, nhất là Lư Thắng Ngạn lại tự nói là tu hành, con người thối nát như vậy thì ai còn có thể tin ông ta được chứ. Thế mà, đúng là có quỷ rồi! Rõ ràng là có càng nhiều phụ nữ ái mộ và tin ông ấy, Lư Thắng Ngạn ra khỏi cửa là tiền hô hậu ủng, càng nhiều đệ tử nữ, có quái lạ không cơ chứ?"

Cá nhân tôi nghe những lời này cũng chẳng nghĩ gì nhiều, chỉ cười vang ba tiếng ha ha ha.

🌟

Tôi lấy một ví dụ nhỏ vậy!
Có một vị đại sư tiếng tăm vang dội, tai tiếng tình dục của đại sư trong giới Phật giáo mà nói có thể xem là lớn số một, nhiều số một.
Tai tiếng của đại sư lớn lắm.
Tai tiếng của tôi nhỏ lắm.
Thế mà, đại sư này tai tiếng vừa lớn vừa nhiều, nhưng chẳng hề tổn hại đến uy danh của đại sư.
Nếu mọi người còn nhớ thì tạp chí Nam Bắc Cực ở Hongkong nói rằng ông ấy có hai trăm phụ nữ.
Bạn nói xem tai tiếng của ông ấy lớn hay không?
Thế mà, đại sư vẫn là đại sư, ngồi vững như núi, các đệ tử tốp tốp vây quanh, chẳng giảm bớt một ai.
Chuyện gì vậy chứ?
Đương nhiên là có quỷ rồi, ha ha ha!

🌟

Còn như tôi!
Tôi thừa nhận có hai phụ nữ công kích tôi, thậm chí làm dấy lên tai tiếng tình dục, vậy chân tướng của nó như thế nào? Tôi lười chẳng buồn tranh luận, bởi vì tôi biết tranh luận cũng vô dụng.
Thôi kệ!
Quên nó đi!
Chẳng sao cả!
(Bạn muốn tin thì tin, căn bản là tôi không quản.)
Thế nhưng bản thân tôi cũng cảm thấy kì quái, cái thứ bị người ta viết là "thối nát" giống như tôi đây, con người mà ngay cả tư cách làm người cũng không có, ấy thế mà đệ tử càng ngày càng đông!

Đệ tử nữ ngưỡng mộ càng nhiều hơn, không thể chịu đựng nổi nữa!
Năn nỉ đấy, xin mọi người đừng tin tôi nữa, để cho tôi được thanh thanh tịnh tịnh, được không? Bản thân tôi cũng mơ hồ rồi, đúng là có quỷ, ha ha ha!


### 44. Mức độ đáng tin của người thông linh


Cô Từ Nhã Kì hỏi:
"Một số dị nhân có thể thông linh, ít có ứng nghiệm, là vì sao? Người bình thường làm sao để phân biệt được?"
Tôi trả lời như sau:
Thế giới Ta Bà ngày nay dường như người thông linh càng ngày càng nhiều, ngay cả đến những sách xuất bản cũng có rất nhiều sách thông linh và những câu chuyện thông linh, những sách nghiên cứu linh học cũng vô cùng thời thượng.
Thông linh cũng có tiên thiên và hậu thiên, tiên thiên thì vừa sinh ra đã có khả năng, hậu thiên thì sau khi gặp được kì duyên mới biết. Cũng có một số người nghiên cứu linh học, tu luyện linh học, cũng sản sinh ra hiện tượng thông linh. Đại bộ phận là nằm trong ba loại này.

Theo như tôi biết, thông linh vô cùng phức tạp, bởi vì trên thực tế, có hai thứ:

1. Con người phức tạp.

1. Linh phức tạp.

Lấy linh để thảo luận, tôi sơ sơ phân thành: động vật linh, quỷ linh, tinh linh, yêu linh.
Các Thần linh địa phương, đại Thần linh, trung Thần linh, tiểu Thần linh. Bao gồm Thần Núi, Thần Nước, Thần Lửa, Thần Gió, Thần Trời, Thần Biển, Thần Sông, Thần Hồ, Thần Cây, Thần Đầm, Thần Mùa Vụ, Thần Ngày, Thần Đêm, Thần Không Khí, Thần Ẩm Thực, Thần Thảo Mộc.
Cao hơn nữa thì có Thiên Thần của ba cõi trời, Thần chúng của 28 cõi trời, Thiên Long Bát Bộ. Dưới thì có các đại Quỷ Vương.

Trên tam giới thì có: La Hán, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật.
Tôi phân tích một cách đơn giản như vậy, mọi người có thể hiểu được. Phân biệt theo thông lực của linh thì sẽ có sâu, rộng, lớn, nhỏ. Trước kia tôi từng nói, quỷ cũng có thông lực, thậm chí quỷ cũng có ngũ thông, chỉ là nông hay sâu mà thôi.
Có rất nhiều phương pháp thông linh, ở đây tôi không cần nói lại nữa. Một số người có thể cảm thông linh giới, tự nhiên sinh ra hiện tượng ứng nghiệm.

Tôi nói: người bình thường phân biệt như thế nào? Đây thật sự sẽ phát sinh những điều khiến người ta hoang mang bối rối. Tin hay không tin đều là sai. Mê tín và mù quáng, hoàn toàn không tin, cũng đều không đúng.
Tôi cho rằng:
Muốn phân biệt cảnh giới của người thông linh, phải dùng diệu quan sát trí, cũng tức là một trong năm trí huệ của Phật. Năm trí huệ của Phật là pháp giới thể tính trí, đại viên kính trí, bình đẳng tính trí, diệu quan sát trí, thành sở tác trí.
Diệu quan sát là vô cùng quan trọng.
Linh là vô hình.
Con người là hữu hình.
Người bình thường không có cách nào nhìn thấy linh, không có cách nào nghe thấy linh, cho nên, quan sát con người là trọng yếu, là phương pháp tối ưu.
Người này rất tham - linh quỷ địa ngục.
Người này rất sân - linh quỷ tu la.
Người này rất ngu si - linh quỷ động vật.
Người này rất háo sắc - linh dục giới.
Người này rất quang minh - linh sắc giới.
Người này không có dục vọng - linh vô sắc giới.
Người này từ bi - linh Bồ Tát.
Người này khai ngộ - linh Phật.

Đây chỉ là sự phân biệt vô cùng sơ lược của tôi mà thôi, nếu muốn phân biệt tỉ mỉ kĩ càng hơn, cuốn sách này cũng không thể nói hết. Từ việc quan sát một người thông linh, chúng ta có thể phân biệt được linh mà người đó thông là linh gì, đây là một môn học rất lớn.
Trong những người thông linh hiện nay cũng có cả những phần tử lừa đảo hỗn tạp. Họ giả trang là thông linh, thật ra là đang lừa tình gạt sắc, điều này hoàn toàn phải dựa vào diệu quan sát trí, không có diệu quan sát trí thì rất dễ bị lừa gạt.


### 45. Chúng sinh cõi u minh trong mắt tôi


Có người hỏi:
"Phàm là đưa tay về phía ngài cầu cứu thì ngài đều sẵn lòng đi cứu, liệu có phải là thế thân không? Ví dụ siêu độ trận động đất lớn ở Tứ Xuyên, con mắt của ngài đã đỏ suốt mấy ngày."
Tôi đáp:
Tôi thừa nhận là trái tim tôi rất yếu mềm.
Tôi là một Bồ Tát chân chính, Bồ Tát phải làm được điều là đem niềm vui đến cho con người, loại bỏ đau khổ của con người, hoan hỉ đi bố thí, cho dù là tính mạng bản thân mình cũng có thể xả bỏ.
Thật sự là hoan hỉ làm.
Thật sự là cam lòng chịu.

Có người hiểu lầm tôi, có người ghét tôi, có người đả kích tôi, có người công kích tôi, có người xúc phạm tôi, có người giết tôi, có người đánh tôi, có người phỉ báng tôi, có người sỉ nhục tôi, có người thưa kiện tôi…
Tôi hoan hỉ làm.
Tôi tình nguyện chịu.
Tôi nói rồi, tôi chưa bao giờ kiện người ta, trước nay chỉ có tôi bị người ta hãm hại. Vẫn cam tâm chấp nhận.

Ví dụ trận động đất lớn ở Tứ Xuyên, đó thật sự là một thiên tai thảm thương! Tôi là một Bồ Tát chân chính, người thương vong nhiều như vậy, sao tôi có thể không cứu chứ!
Về mặt hữu hình, sau khi ngày hôm sau trận động đất, hội công đức Hoa Quang của chúng tôi đã sớm có mặt ở hiện trường, bố thí thức ăn, quần áo, chỗ ở, phương tiện đi lại.
Về mặt vô hình, tôi dùng pháp "Vô già nhiếp triệu" để tập hợp toàn bộ vong linh lại, ban đầu định bố trí lập một linh vị tại Seatte Lôi Tạng Tự hoặc Cầu Vồng Lôi Tạng Tự.
Nhưng rồi tôi cũng có phần hơi khoa trương. Thế là tôi dùng đôi mắt mình làm thành nơi trú thân cho họ. Tất cả vong hồn chết do động đất, không sót một ai, đều đi vào trong mắt tôi. Thần thông này tôi cho rằng là:
Lấy dao mổ trâu giết gà.
Giấu hạt cải trong núi Tu Di.
Tôi đã dùng cách giấu vạn vạn chúng sinh cõi u minh trong đôi mắt mình, đúng là khiến người ta nghe mà sửng sốt, bất khả tư nghì!
Khi ấy đồng môn cho rằng tôi đã bị đau mắt đỏ, hai mắt đều đỏ lên, tôi nói, không phải, cũng không phải là thế thân, chỉ là tôi để cho trăm nghìn vạn chúng sinh cõi u mình vào ở tạm trong mắt tôi mà thôi.

Đến khi tôi làm xong "Vô già đại siêu độ", chỉ một lần làm pháp siêu độ lớn, dựa vào sức mạnh công đức Như Lai của tôi, một lần đã đưa họ đến Tây Thiên, làm siêu độ vào buổi sáng thì đến buổi chiều mắt tôi đã tự nhiên hết đỏ.
Tôi không đi khám bác sĩ mắt.
Tôi không nhỏ thuốc mắt.
Tôi không chữa trị.
Vừa siêu độ xong thì mắt hết đỏ, trả lại tôi đôi mắt thanh tịnh.
Đây là điều thật khó tưởng tượng không thể tưởng tượng nổi.

Đôi mắt của tôi có thể giấu được vạn vạn chúng sinh u minh, vào thời đại ngày nay, đây đúng là hiếm lạ, hiếm có!
Đây không phải là thế thân. Mà là tự tâm tôi cam lòng dung nạp họ, đôi mắt chỉ đỏ lên, không đau cũng không ngứa.
Siêu độ xong là mắt lập tức hết đỏ, không thể gọi là chịu thay.
Giống như lần đại siêu độ này, chỉ cần tôi biết thì không có cái đạo lí là tôi không cứu, huống hồ tôi là hóa thân của vị Phật tiếp dẫn, đây vốn dĩ chính là sự nghiệp của tôi.
Con người trên cõi đời này, rất nhiều người không hiểu tôi, đây cũng là điều khó tránh. Và có ai có thể hiểu được nội tâm của Lư Sư Tôn tôi, người khác hiểu lầm thì cứ hiểu lầm đi!
Họ hiểu lầm là việc của họ.
Tôi làm việc của tôi. Ha ha ha!


### 46. Thứ tự tu Mật giáo


Người hỏi: "Có đệ tử mới tu pháp Tứ gia hành, có thể cũng tu nội pháp được không?"
Câu trả lời của tôi như sau:
Tu hành Mật giáo có thứ tự, nói chung, tốt nhất là theo thứ tự mà tu, giống như xây nhà cao tầng vậy, phải xây từ móng, tầng một, tầng hai… Theo từng tầng mà xây lên, như thế mới xem là an toàn và vững chắc.
Cá nhân tôi tu Mật giáo theo thứ tự là:
Pháp Tứ gia hành, pháp Thượng sư tương ứng, pháp Bổn tôn, bảo bình khí, pháp vô lậu, pháp chuyết hỏa, pháp minh điểm, mở trung mạch, mở ngũ luân, pháp Kim cang, vô thượng mật, pháp Đại viên mãn.

Nếu phân một cách đơn giản thì là:
Pháp Tứ gia hành.
Pháp Thượng sư tương ứng
Pháp Bổn tôn.
Pháp Kim cang.
Vô thượng mật.

Bốn bộ liên tiếp của Mật giáo là:
Sự bộ.
Hành bộ.
Du già bộ.
Vô thượng bộ.

Pháp Đại thủ ấn của Bạch giáo phân thành bốn cấp:
Chuyên nhất du già.
Li hí du già.
Nhất vị du già.
Vô tu du già.

Trên thực tế, ở đây lại phân thành ngoại pháp, nội pháp, mật pháp, mật mật pháp. Những cái này đều theo thứ tự, tu Thứ tự sinh khởi trước rồi sau đó mới tu Thứ tự viên mãn. Như vậy mới ổn định vững chắc. Cá nhân tôi tu hành Mật pháp là tu theo thứ tự, không có nhảy cấp.
Cá nhân tôi cho rằng thế này, tu hành Mật giáo chỉ cần có một pháp tương ứng, thì Tứ gia hành, Thượng sư, Bổn tôn sẽ nối tiếp tương ứng, cũng có nghĩa là một pháp tương ứng thì các vị đều có thể lần lượt tương ứng.
(Trong tu hành Mật giáo, có người sẽ thối lùi đạo tâm, rất hiển nhiên thôi, ngay cả tương ứng một pháp cũng không có, ha ha ha!)
Bởi vì sau khi Bổn tôn và chư Tôn đều tương ứng thì tiến vào tu bảo bình khí, chuyết hỏa, minh điểm, vô lậu, thì tất cả đều có Thượng sư và Bổn tôn gia trì, tu càng dễ dàng hơn.
Không thể thiếu sự gia trì của Thượng sư.
Không thể thiếu sự thu nhận của Bổn tôn.
Không thể thiếu sự ủng hộ của Hộ pháp.
Những điều này, đối với người tu hành Thứ tự viên mãn có lợi ích vô cùng lớn, đối với nội pháp, mật pháp, mật mật pháp có sự trợ giúp vô cùng lớn, điểm này không thể không biết.

🌟

Người tu hành hiện đại do không phải tu chuyên nghiệp mà là tu nghiệp dư, về mặt thời gian hiển nhiên là không đủ.
Bởi vì nếu tu theo thứ tự thì thực tế thời gian là không đủ, cho nên có Thượng sư chủ trương:
Trong khi tu Tứ gia hành thì cũng có thể tu bảo bình khí, đợi đến khi pháp Tứ gia hành tương ứng rồi thì pháp bảo bình khí của nội pháp cũng có được nền móng rồi. Bảo bình khí của tôi đã tu nhiều năm, không có công phu nhiều năm thì chuyết hỏa không dễ mà có được.)
Vì thế có một số Thượng sư Mật giáo chủ trương hành giả có thể vừa tu tương ứng chư Tôn, vừa tu bảo bình khí của nội pháp. Bảo bình khí là nền tảng của tất cả nội pháp.
Đối với chủ trương của các Thượng sư Mật giáo này, tôi không khăng khăng phản đối, bởi vì con người hiện đại thời gian thật sự quá ít, vừa tu tương ứng, vừa tu bảo bình khí, tranh thủ thời gian, thật sự là không có gì chê trách, chỉ cần có thể chuyên tâm thì cũng sẽ có được thành tựu.

Cá nhân tôi có đôi chút cảm thán, con người sống tại thế gian, quá ít người có thể thật sự nhận ra giá trị của tu hành, đợi đến khi họ  nhận ra được thì thời gian tu hành lại ít như vậy, thọ mạng của con người lại ngắn như vậy, cho nên thành tựu giả chân chính tự nhiên đã ít lại càng ít!
Hơi ôi thương xót thay!


### 47. Tự tính hiện tiền


Liên Hoa Hoa Hùng hỏi:
"Thỉnh Lư Sư Tôn từ bi chỉ bảo đệ tử câu hỏi có liên quan đến Thời Luân Kim Cang, mong Sư Phật từ bi khai thị. Trong pháp "Tọa thiền tụng minh", Sư Tôn nói đến việc dùng tự tâm để hợp với thiên tâm mà thiền định, tập trung sức mạnh tinh thần tại vị trí thiên tâm, sẽ có một ngày, thiên tâm của bản thân có thể phóng quang, thiên tâm tự động, tự tính hiện tiền."
"Xin hỏi Sư Phật, so sánh với "9 thứ tự thiền định", trong 9 thứ tự đó thì khi nào, vào thứ tự nào mới có thể đạt thiên tâm tự động phát quang và tự tính hiện tiền?"
"Xin hỏi Sư Phật vì sao pháp Thời Luân Kim Cang không có phương tiện thành tựu trung ấm, cách nói ấy có gì sai không?"

Tôi trả lời như sau:
Pháp tọa thiền tụng minh là cách làm thời kì đầu của tôi, trọng điểm là sức mạnh tinh thần tập trung tại vị trí thiên tâm.
Vị trí thiên tâm là thượng đan điền, vị trí ở tim là trung đan điền, vị trí dưới rốn là hạ đan điền.
Sức mạnh tinh thần đặt tại thượng đan điền, tức là ở giữa hai chân mày, dịch lên phía trên một chút, cũng tức là vị trí của con mắt thứ ba.
Tôi nói:
Đây là ghế ngồi của Đế Vương ở giữa.
Văn võ bách quan xếp hàng hai bên.
Tất cả sức mạnh tinh thần ngưng tụ tại thiên tâm.
Lâu ngày, con mắt thứ ba xuất hiện, lập tức phóng quang, tự động, tự tính hiện tiền.

Tôi nói:
Trong 9 thứ tự thiền định, mức độ này thuộc về "tối tịch trụ", bởi vì năng lượng của thiên tâm càng ngày càng mạnh, mức độ ổn định của thiền định càng ngày càng cao, không có hôn trầm, không có phấn khích, tâm rất mảnh rất mịn, như sợi tơ như cây kim.
Vào lúc "tối tịch trụ", sức mạnh vận tâm tỏa hiện, thiên tâm tự động, thiên tâm phóng quang, tự tính hiện tiền, huyễn thân liền xuất hiện, lúc này cũng phóng quang chấn động mặt đất.
Cho nên:
Tự tính hiện tiền tức là huyễn tâm xuất hiện, cũng chính là "tối tịch trụ" ở thứ tự thứ bảy.
Trong tối tịch trụ:
Lên trời.
Xuống đất.
Đều có thể tự tại nhậm vận!

🌟

Tôi lại trả lời:
Thành tựu cao nhất của pháp Mật giáo Thời Luân Kim Cang chính là thân thô của con người chúng ta dần dần tiêu tan hết, cũng tức là hóa hết thân người này, thành tựu hồng quang đại thành tựu (pháp hóa cầu vồng).
Tức thân thành Phật rồi.
Phương pháp của nó là biến thân thô thành thân vi tế, biến thân vi tế thành thân mảnh mịn nhất, sau cùng ngay cả thân mảnh mịn này cũng hóa hết. Nhục thể hoàn toàn biến mất, hòa tan vào biển ánh sáng Tì Lô Giá Na.

Còn pháp Trung ấm thành Phật là pháp phương tiện của Mật giáo, có nghĩa là sau khi nhục thể của con người bình thường chết đi, trung ấm xuất hiện, lúc này, có đại thiện tri thức ở bên cạnh. Đại thiện tri thức sẽ hướng dẫn thân trung ấm (linh hồn) làm sao để hòa nhập vào Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp.
Hoặc phương pháp các vị tịch tĩnh, các vị phẫn nộ, dùng phương pháp trung ấm có thể nhận tiếp dẫn mà vãng sinh Phật quốc thanh tịnh, đây là một dạng phương tiện.
Pháp Thời Luân Kim Cang vốn dĩ chính là truyền dạy pháp kim cang hoàn chỉnh nhất, là đại pháp trực tiếp thành Phật.
Pháp Trung ấm thành tựu là tiện lợi cho thân trung ấm, là pháp phương tiện khiến trung ấm không đọa xuống tam ác đạo.
Hai pháp này không thể nào so sánh với nhau.
Tức là pháp Thời Luân là pháp Thời Luân.
Pháp Trung ấm là pháp Trung ấm.
Đó là một chút kiến giải của Lư Sư Tôn.


### 48. Con người ngu xuẩn này


Nghe nói trước khi pháp sư Thánh Nghiêm viên tịch, có đệ tử hỏi pháp sư Thánh Nghiêm:
"Sư phụ có trở lại không?"
Thánh Nghiêm đáp:
"Thừa nguyện lại đến!"
Đệ tử hỏi:
"Lại đến nơi nào?"
Thánh Nghiêm đáp:
"Pháp Cổ Sơn."
(Tiếp tục xây dựng tịnh thổ nhân gian.)
Lư Sư Tôn tôi nghe xong đoạn đối thoại này, cười vang ba tiếng ha ha ha, tôi nói:
"Đúng là một con người ngu xuẩn!"

Tôi nói:
"Thế đó không phải là Pháp Cổ Sơn sao?
"Thế đó không phải là pháp sư Thánh Nghiêm sao?"
"Thế Pháp Cổ Sơn đó ở chỗ nào?"
Tôi chỉ hỏi ba câu này, kính gửi đến vị pháp sư Thánh Nghiêm ở trên trời kia.
Có người hỏi tôi, vì sao Lư Sư Tôn lại quan tâm đến pháp sư Thánh  Nghiêm như vậy?
Tôi nói:
Tên họ nhà tục của tôi là Lư Thắng Ngạn, tên tiếng anh là LU SHENG YEN. Tên Thánh Nghiêm của pháp sư Thánh Nghiêm cũng gần giống với tên tiếng Trung của tôi, và tên tiếng anh của Thánh Nghiêm cũng chính là SHENG YEN. Tên giống nhau, nên tôi thật sự hi vọng ông ấy cũng khai ngộ, minh tâm kiến tính mà thành Phật.
Không ngờ ông ấy cả đời cống hiến cho Phật giáo mà vẫn là một người ngu xuẩn chính cống.
Thật là đáng thương!

🌟

Tôi lấy hòa thượng Vĩnh Thái ở Phúc Châu làm ví dụ.
Tăng hỏi:
"Nghe nói hòa thượng thấy hổ, đúng không?"
Hòa thượng Vĩnh Thái làm tiếng hổ.
Tăng nhân làm tư thế đánh hổ.
Hòa thượng Vĩnh Thái nói:
"Cái đồ ngu xuẩn này!"
Tăng nhân hỏi:
"Thế nào là Phật ngây thơ?"
Hòa thượng Vĩnh Thái vỗ tay nói:
"Không thể, không thể."
(Tại đây tôi hỏi Thánh Nghiêm đại pháp sư, trong mắt của ông chỉ có Pháp Cổ Sơn thôi sao?)

🌟

Tôi lại lấy thiền sư Viện Nhân Nam Đài làm ví dụ.
Tăng nhân hỏi:
"Thế nào là cảnh giới Nam Đài?"
Thiền sư Viện Nhân đáp:
"Không biết quý."
Tăng nhân hỏi tiếp:
"Rốt cục là sao?"
Thiền sư Viện Nhân đáp:
"Thế cao tăng bây giờ đang ở chỗ nào?"

Tại đây, tôi đặc biệt nhắc nhở thánh đệ tử, tôi lấy cuộc đối thoại của thiền sư Viện Nhân là để chỉ ra:

1. Cảnh giới của pháp sư Thánh Nghiêm Pháp Cổ Sơn ở chỗ nào?

1. Pháp sư Thánh Nghiêm hiện tại ở chỗ nào?

1. Pháp sư Thánh Nghiêm trở lại thì ở chỗ nào?

Tôi thật sự không biết những kẻ nhục nhãn phàm thai ai có thể trả lời được. Còn những hành giả tự xưng là Thiền tông, có ai có thể trả lời tôi, anh của ngày hôm nay đang ở chỗ nào?
Mau mau trả lời!


### 49. Lợi ích lớn của khai ngộ


Có đệ tử hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn, thầy thường xuyên cổ vũ hành giả chúng con rằng, người người cần khai ngộ, minh tâm kiến tính, thế nhưng, đối với hành giả chúng con thì khai ngộ rốt cục có lợi ích gì đây?"
Tôi đáp:
Khai ngộ không phải là một danh từ.
Khai ngộ không phải là một khẩu hiệu.
Khai ngộ không phải là một giấy khen.
Mà là khai ngộ rồi thì cần "tâm hành", tâm đã lĩnh ngộ rồi thì cần đi thực tiễn nó.
Cũng có nghĩa là thực tiễn sự khai ngộ của mình, phát bồ đề tâm rộng lớn hơn nữa, dùng đại trí huệ để đi cứu độ quần sinh.
Người khai ngộ hiểu được sự chí lí của vũ trụ, hiểu được sự chí lí của cuộc đời, hiểu được sự chí lí của Như Lai.

Thế rồi tự tại nhậm vận trong:
Cuộc sống thường ngày.
Diệu hành vô trụ.
Tướng và phi tướng.
Vô lượng phúc đức.
Hữu vi vô vi.
Trang nghiêm tịnh thổ.
Tịch diệt tối lạc.
Nhẫn nhục tinh tấn.
Bố thí trì giới.
Thiền định trí huệ.
Cứu cánh vô ngã.
Bình đẳng đồng quán.
Pháp giới thể tính.
Vô thụ vô tham.

Hôm nay tôi thật lòng thật sự nói với mọi người, người khai ngộ hoàn toàn hiểu được từng câu bốn chữ mà tôi đã viết ở trên, bởi vì hiểu được rồi thì sẽ lần lượt thực tiễn chúng, việc thực tiễn này chính là lợi ích lớn của khai ngộ.
Tôi nói:
Người khai ngộ chắc chắn biết rằng:

1. Vô tham - vì là vô sở đắc.

1. Vô sân - vì là vô sở vị.

1. Vô si - vì là vô sở trụ.

Tại đây tôi chỉ ra, người khai ngộ đã biết không thực có được cái gì, cho nên xả bỏ lòng tham; người khai ngộ đã biết không có gì đáng kể, cho nên xả bỏ hết giận dữ; người khai ngộ đã hiểu chẳng thể bám trụ vào bất kì điều gì, cho nên tất cả ngu si đều loại bỏ hết.
Không tham sẽ sinh vào dục giới.
Không sân sẽ sinh vào sắc giới.
Không si sẽ sinh vào vô sắc giới.
Đây chính là lợi ích lớn của khai ngộ.

🌟

Tôi lấy một công án, mời thánh đệ tử tham gia:
Thiền sư Lệnh Yểm ở Bạch Vân, Kiến Châu, lên lớp nói:
"Cứ đến cửa nhà thầy, ai nói với tang chủ. Trân trọng!"
Tăng nhân hỏi:
"Việc mình chưa tỏ, dựa vào cái gì mà kiểm nghiệm?"
Thiền sư Lệnh Yểm đáp:
"Gương gỗ soi mặt thuần." (Không thấy không thấy.)
"Kiểm nghiệm xong thì sao?"
Thiền sư Lệnh Yểm đáp:
"Chẳng tranh nhiều." (Không tăng không giảm.)

Hỏi: "Tam Đài có mời, tứ chúng đến tiệc. Đã sống phải hiền, thỉnh thầy lĩnh xướng."
Thiền sư Lệnh Yểm nói: "Muốn hát cũng không khó."
"Mời hát."
Thiền sư Lệnh Yểm hát:
"Đêm tĩnh nước lạnh cá không ăn, đầy thuyền trống trải trăng sáng về."
(Tôi cười vang ba tiếng ha ha ha.)

**(Hết)**

---

---

---
# File: sach-tam-linh/212-ho-so-co-mat-cua-lu-thang-ngan.md
# Title: 212. Hồ sơ cơ mật của Lư Thắng Ngạn
---

![image](/img/img_119e35f54ad24b92067ed757787d764c.jpg)



## Hồ sơ cơ mật của Lư Thắng Ngạn


Văn tập số: 212
Xuất bản năm: N/A
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


Hồ sơ ra đời
Có một mẩu truyện cười như sau:
Tiểu Minh nghe có người nói, người lớn thường có bí mật không thể nói cho người khác biết, thế là Tiểu Minh nảy ra một kế.
Tiểu Minh nói với mẹ rằng:
"Mẹ! Con biết bí mật của mẹ, con đã biết hết mọi chuyện rồi."
Mẹ rất lo lắng, bảo Tiểu Minh:
"Mẹ cho con 100 đồng, con tuyệt đối không được nói cho người nào biết chuyện này đấy nhé."
Thế là Tiểu Minh đã có một món hời.

Tiểu Minh đợi bố đi làm về, liền bảo với bố:
"Bố! Con biết bí mật của bố, con đã biết hết mọi chuyện rồi."
Bố cũng rất lo lắng, bảo Tiểu Minh:
"Bố cho con 200 đồng, con tuyệt đối không được đem bí mật này nói ra ngoài đấy!"
Tiểu Minh có được 300 đồng, cực kì sung sướng.

Lúc này, người đưa thư đến, Tiểu Minh nói với người đưa thư:
"Chú đưa thư ơi! Chú đưa thư ơi! Cháu biết bí mật của chú rồi, cháu đã biết hết mọi chuyện rồi."
Người đưa thư trong một thoáng vô cùng kích động, dang hai tay ra nói:
"A! Tiểu Minh, cuối cùng con đã biết rồi, mau lại đây, để bố ôm con một cái nào!"

🌟

Tôi sinh vào giờ Ngọ, ngày 27 tháng 6 năm 1945 (giờ Ngọ ngày 18 tháng 5 âm lịch).
Địa điểm là ở Hậu Hồ, huyện Gia Nghĩa, Đài Loan.
(Tại một trại nuôi gà bên bờ suối Ngưu Trù.)
Sự ra đời của tôi vốn dĩ giống như một câu đố.
Khi tôi ra đời, toàn thân tôi được bọc trong tơ trắng (như thiên y màu trắng). Người đỡ đẻ đã phải dùng dung môi ra sức chà, ra sức kì cọ, mới có thể rửa sạch hết lớp màng tơ trắng trên người tôi.
Khi tôi ra đời, trên người quấn thiên y bằng tơ trắng, những người có mặt ở đó đều không thể giải thích được.
Người đỡ đẻ nói:
"Trước nay chưa hề thấy có ai sinh ra mà toàn thân lại quấn đầy tơ trắng như vậy, đứa bé này đặc biệt phi phàm."

Nghe nói:
Từ xưa đến nay, khi các bậc đại thánh đại hiền xuất thế đều có những hiện tượng kì lạ đặc biệt, đều phi phàm đáng chú ý.
Có ánh sáng đỏ tỏa ra từ căn phòng.
Có mùi thơm lan tỏa khắp phòng.
Khi Phật Đà ra đời, phu nhân Maya mơ thấy voi trắng sáu ngà nhập vào bào thai.
Thánh nhân Lão Tử của Trung Quốc khi ra đời tóc đã bạc trắng, trông đã già lắm rồi, do vậy mới gọi là Lão Tử.
Có người mơ thấy rồng bay vào bụng, từ đó mà mang thai.
Có người mơ thấy Quan Âm ban tặng con, từ đó mà mang thai.

🌟

Khi tôi ra đời, toàn thân được quấn trong thiên y màu trắng, đây chính là một hồ sơ cơ mật vô cùng kì lạ đặc biệt.
Bố tôi Lư Nhĩ Thuận.
Mẹ tôi Lư Ngọc Nữ.
Còn có cả dì Hoàng Tuyết Hoa đã nuôi dưỡng tôi mấy năm.
Có người kể lại một cách sinh động như thật rằng:
"Sự ra đời của tôi là có điều cơ mật!"
Tôi tự cảm thấy sự ra đời của tôi rất kì lạ đặc biệt. Tôi là một đứa trẻ sinh non, những điều khác thì vẫn là một câu đố khó hiểu.
(Cuốn sách này hứa hẹn nhiều điều bất ngờ và tuyệt vời.)

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Hồ sơ "Tôi là ai"


Khi mới có được thiên nhãn, tôi đã xuất nguyên thần, du thiên du địa, những cảnh tượng mà tôi đã nhìn thấy giống như huyễn cảnh vũ trụ.
Điều tôi nhận thức được đầu tiên là: Liên Hoa Đồng Tử.
Có một thanh âm bảo với tôi rằng: "Ngài chính là Liên Hoa Đồng Tử!"
Sau đó, tôi đã xác nhận được rằng mình chính là Liên Hoa Đồng Tử không còn nghi ngờ gì.

Tôi đích thân gặp Liên Hoa Đồng Tử. (Tự mình nhìn thấy chính mình.)
Tôi đích thân nhìn thấy Liên Hoa Đồng Tử tịnh thổ (Ma Ha Song Liên Trì tịnh thổ).
Về điểm này, hoàn toàn không có nghi ngờ gì. Bởi vì chính bản thân tôi đã nhìn thấy.

Bởi vậy, nguồn gốc của tôi là:
Đại Nhật Như Lai --- Phật Nhãn Phật Mẫu --- A Di Đà Phật --- Liên Hoa Đồng Tử --- Lư Thắng Ngạn.
Tôi có phải là một vị thành tựu tái sinh không?
Đáp án là: đương nhiên rồi.

🌟

Sau khi Phật Đà nhập diệt, các vị tổ sư Mật giáo theo thứ tự là:
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. (Sinh ra sau khi Phật nhập diệt.)
Long Thọ Bồ Tát. (500 năm đầu tiên sau khi Phật nhập diệt.)
Virupa. (500 năm thứ hai sau khi Phật nhập diệt.)
Naropa. (500 năm thứ ba sau khi Phật nhập diệt.)
Tsongkhapa. (500 năm thứ tư sau khi Phật nhập diệt.)
Phật Đà nhập diệt cho đến nay tổng cộng đã hơn 2500 năm, 500 năm lần thứ năm này xuất hiện ai sinh ra?
Là ai? Là ai? Là ai? Là ai? Là ai?

Sau khi Tsongkhapa nhập diệt, giáo chủ của Hoàng giáo qua nhiều thế hệ với danh hiệu Ganden Tripa chính là tượng trưng cho sự tại thế của Tsongkhapa.
Đã truyền đến 100 thế hệ rồi.
Vị Ganden Tripa thứ 100 đích thân đến Seattle Lôi Tạng Tự ở Mỹ tặng tôi một tấm áo bào Pháp Vương.
Vào tháng 9 năm 1996, tôi và ngài Ganden Tripa đã cùng lên bục làm đại pháp hội, đây là một sự trùng hợp lớn.
Có người nói:
"Lư Thắng Ngạn chính là Tsongkhapa chuyển thế."
Tin đồn này gây xôn xao.

Lại có người nói:
"Lư Thắng Ngạn chính là Xá Lợi Phất chuyển thế, bởi vì trên người Lư Thắng Ngạn có chủng tự bát nhã của Xá Lợi Phất. Đương thời là một vị Phật mới giống Xá Lợi Phất nhất."
Chứng cứ:
Bổn tôn của Lư Thắng Ngạn là A Di Đà Phật. Phật Đà thuyết kinh A Di Đà là nói cho Xá Lợi Phất nghe.
Xá Lợi Phất được thọ kí thành Phật là Hoa Quang Phật.
Lư Thắng Ngạn được thọ kí thành Phật là Hoa Quang Tự Tại Phật.
Sự việc này, Thượng sư Thubten Dorjie của tôi từ đầu đã xác nhận cho tôi rồi.

Ngoài ra còn có những lời lan truyền như:
Lư Thắng Ngạn còn là vua của một triều đại nọ.
Lư Thắng Ngạn là Không Hải đại sư.
Lư Thắng Ngạn là Lục Tổ Huệ Năng.
Lư Thắng Ngạn là Sư Tử Phấn Tấn Như Lai.
...

Thường xuyên có những lời đồn kiểu này, thậm chí có người nói thẳng ra. Rinpoche Tây Tạng cũng nói Lư Thắng Ngạn là tái sinh của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Tóm lại, lời truyền gì cũng có cả.

Hồ sơ bí mật "Tôi là ai" tồn tại trong hư không vô thượng xứ. Nếu như đạt đến cảnh giới tu hành đủ thì chỉ cần mở ra là lập tức sẽ hiểu Lư Thắng Ngạn rốt cục là ai.


### 02. Hồ sơ Pháp thân Phật


Chúng ta biết rằng có mười địa Bồ Tát:

1. Hoan hỉ địa.

1. Ly cấu địa.

1. Phát quang địa.

1. Diễm huệ địa.

1. Cực nan thắng địa.

1. Hiện tiền địa.

1. Viễn hành địa.

1. Bất động địa.

1. Thiện huệ địa.

1. Pháp vân địa.
(Theo kinh Hoa Nghiêm.)

Đến được địa thứ 11 thì coi như là Phật rồi. Ví dụ như Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát có 11 khuôn mặt, tượng trưng cho 11 địa, tương đương với Phật.

Tôi nói:
A Súc Như Lai, A Di Đà Như Lai, Bảo Sinh Như Lai, Bất Không Thành Tựu Như Lai là các vị Phật ở địa thứ 12.
Tỳ Lô Giá Na Như Lai (Đại Nhật Như Lai) là vị Phật ở địa thứ 13.
Còn Phật ở địa thứ 14?
Còn Phật ở địa thứ 15?
Bản Sơ Phật (A Đạt Nhĩ Mã Phật) "Đa Kiệt Khương" là Phật ở địa thứ 16.
Cá nhân tôi biết vị Phật ở địa thứ 14, 15.

Nhân đây, tôi xin hỏi mọi người:
"Có ai biết tên húy của Phật ở địa thứ 14, 15 không, xin nói lên thử xem!"

🌟

Chúng ta biết rằng:
Thích Ca Mâu Ni Phật là Ứng thân Phật.
Lô Xá Na Phật là Báo thân Phật.
Tỳ Lô Giá Na Phật là Pháp thân Phật.
Ba thân này cũng là một thân, một thân cũng là ba thân. Ba là một, một là ba.

Chúng ta biết rằng:
Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn là Ứng thân Phật.
A Di Đà Phật Liên Hoa Đồng Tử là Báo thân Phật.
Đại Nhật Như Lai là Pháp thân Phật.
Thế nhưng mọi người có biết hồ sơ bí mật của Pháp thân Phật không? Pháp thân Phật có bí mật gì?

Đối với pháp thân cũng có rất nhiều lời chú thích:
Duy thức luận: Tự tính tức là pháp thân, dựa theo đại công đức pháp.
Phật địa luận: Dựa theo các loại công đức ví dụ như Lực vô úy cũng gọi là pháp thân.
Duy Ma kinh: Phật dựa vào tất cả các pháp công đức mà thành, do vậy gọi là pháp thân.
Khởi tín luận: Theo nguồn gốc từ trước tới nay, tự tính viên mãn đầy đủ hết thảy công đức tức là tự bản thể đó có đại trí huệ quang minh nghĩa. Thanh tịnh, thường lạc, tự tại, bất tư nghì, Như Lai tạng, gọi là pháp thân.
Pháp Hoa kinh: Lấy chính pháp làm thân, gọi là pháp thân.
Vãng sinh luận: Người thực tướng vô tướng, chân trí vô tri, vô vi pháp, tức là pháp thân.
...

Trên đây đều là những giải thích về Pháp thân Phật. Cảm giác của tôi là nói mà cũng như không nói.

🌟

Dưới gốc cây Bồ Đề, điều mà Phật Thích Ca Mâu Ni đã ngộ ra chính là điều này.
Lư Thắng Ngạn tôi minh tâm kiến tính, những gì tôi hiểu thấu cũng chính là điều này.
Pháp thân là một bí mật lớn.

Đối với Pháp thân Phật từ địa thứ 13 trở lên, nếu bạn có thể hiểu biết được thì cũng có nghĩa là đã tìm ra được đại bí mật rồi đó.

Phật Thích Ca Mâu Ni nhón cành hoa.
Tổ Sư Đạt Ma quay mặt vào tường.
Lư Thắng Ngạn kim kê độc lập.
Điều tôi muốn nói với mọi người là:
"Hồ sơ Pháp thân Phật quả thực khó hiểu một cách không thể tưởng tượng nổi. Bạn sẽ giật bắn mình khi biết rằng điều này chẳng có liên quan gì đến tu hành cả."


### 03. Hồ sơ Ma Ha Song Liên Trì tịnh thổ


Chúng ta biết rằng có vô số các Phật quốc tịnh thổ. Bình thường chúng ta gọi là thập phương tịnh thổ, có nghĩa là đông tây nam bắc, đông nam, tây nam, đông bắc, tây bắc, trên và dưới, tổng cộng là mười phương.

Ngoài ra còn có 13 đại tịnh thổ, đó là: Viễn Chiếu Phật Quốc, Bảo Tạng Phật Quốc, Vô Lượng Nhân Phật Quốc, Cam Lộ Vị Phật Quốc, Long Thắng Phật Quốc, Thắng Lực Phật Quốc, Sư Tử Phật Quốc, Ly Quang Cấu Phật Quốc, Đức Thủ Phật Quốc, Diệu Đức Tiên Phật Quốc, Nhân Vương Phật Quốc, Vô Thượng Hoa Phật Quốc, Vô Úy Phật Quốc. Cộng thêm Thích Ca Phật Quốc nữa thì sẽ có 14 đại tịnh thổ.

Chân Phật Kinh lưu xuất từ tâm tôi có Tối Thắng Tịnh Thổ, Diệu Bảo Tịnh Thổ, Viên Châu Tịnh Thổ, Vô Ưu Tịnh Thổ, Tịnh Trú Tịnh Thổ, Pháp Ý Tịnh Thổ, Mãn Nguyệt Tịnh Thổ, Diệu Hỉ Tịnh Thổ, Diệu Viên Tịnh Thổ, Hoa Tạng Tịnh Thổ, Chân Như Tịnh Thổ, Viên Thông Tịnh Thổ.
Tổng cộng là 12 đại tịnh thổ.
Thật sự là có quá nhiều Phật quốc tịnh thổ.

Trong "Phật thuyết A Di Đà kinh" có nói:
"Từ phương tây đi qua một nghìn tỉ Phật thổ thì có một cõi gọi là Cực Lạc." Cái gọi là một nghìn tỉ Phật thổ cũng có nghĩa là Phật quốc tịnh thổ là vô lượng vô biên.

🌟

Bởi vậy, tì kheo Hoa Tạng sau khi thành đạo, dùng pháp lực thần hành, chu du khắp thập phương Phật quốc tịnh thổ. Tì kheo Hoa Tạng đã tập hợp những ưu điểm của thập phương Phật quốc tịnh thổ để tạo nên một cõi tịnh thổ siêu việt thù thắng, có tiếng tăm lẫy lừng là: "Cực Lạc Thế Giới".
Cõi tịnh thổ này không ai là không từng nghe, không ai là không biết, là cõi tịnh thổ số một trong số các tịnh thổ.

Tuy nhiên, không ai biết rằng cõi tịnh thổ này là do linh cảm nào sáng tạo biến hóa ra.
Điều cơ mật này chỉ có tôi bổ sung một cách tóm lược như thế này:
Nói về tì kheo Hoa Tạng (tiền thân của A Di Đà Phật) đã gặp được Phật Nhãn Phật Mẫu. Phật Nhãn Phật Mẫu là đẳng lưu thân (minh phi) của Đại Nhật Như Lai, vẻ đẹp của Ngài là tuyệt sắc tuyệt đỉnh.

Và rồi:
Đôi mắt của Phật Nhãn Phật Mẫu --- hóa thành Ma Ha Song Liên Trì, bát công đức thủy.
Lông mày của Phật Nhãn Phật Mẫu --- hóa thành cây quý, lan can, lưới võng và bốn loại vật báu bao lấy bốn xung quanh.
Mũi của Phật Nhãn Phật Mẫu --- hóa thành lầu các với bảy loại trang sức châu báu trang nghiêm, là vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xà cừ, hồng ngọc, mã não.
Mặt của Phật Nhãn Phật Mẫu --- hóa thành hoa sen, hoa sen xanh tỏa ánh sáng xanh, hoa sen vàng tỏa ánh sáng vàng, hoa sen đỏ tỏa ánh sáng đỏ, hoa sen trắng tỏa ánh sáng trắng, hương thơm vi diệu.
Miệng của Phật Nhãn Phật Mẫu --- hóa thành các loại chim bạch hạc, khổng tước, anh vũ, xá lợi, ca lăng tần già, cộng mệnh, hát lên âm thanh hòa nhã.
Hơi thở của Phật Nhãn Phật Mẫu --- hóa thành khúc nhạc trời.
Tai của Phật Nhãn Phật Mẫu --- hóa thành gió mát lành. Trời trút xuống những cơn mưa hoa mandala.
Răng của Phật Nhãn Phật Mẫu --- hóa thành thất trân bát bảo, trang nghiêm tô điểm cho cõi tịnh thổ.

Tất cả là do tì kheo Hoa Tạng đã nhờ vào khuôn mặt của Phật Nhãn Phật Mẫu mà biến hóa ra Cực Lạc Phật quốc tịnh thổ.

Và thế là:
Hành giả Chân Phật khi vãng sinh đều đến Ma Ha Song Liên Trì. Tịnh thổ này chính là do đôi mắt của Phật Nhãn Phật Mẫu hóa hiện ra.
Hoa sen trong hồ là từ khuôn mặt của Phật Nhãn Phật Mẫu hóa hiện ra, những bông hoa lớn như bánh xe, tỏa ra hương thơm tinh khiết vi diệu.
Các vị Liên Hoa Đồng Tử đều cầm hoa sen, đứng trên những tòa hoa sen.

Liên Hoa Đồng Tử.
A Di Đà Phật. (Tì kheo Hoa Tạng)
Phật Nhãn Phật Mẫu.
Đại Nhật Như Lai.
Đó là vận mệnh không thể tách rời!


### 04. Hồ sơ Ấn Thuận đạo sư


Ấn Thuận đạo sư là vị sư phụ đầu tiên mà tôi quy y. Người giới thiệu tôi quy y là cư sĩ Lý Bỉnh Nam (lão Tuyết Lư).

Tôi và đạo sư chỉ sống cách nhau có một bức tường. (Tịnh xá Hoa Vũ)
Tuy vậy, tình cảm giữa tôi và đạo sư rất rắc rối phức tạp. Có thể nói là một lời khó nói hết!

Tôi biết rằng:
Tình cảm giữa Ấn Thuận đạo sư và sư công Thái Hư đại sư cũng rất loằng ngoằng rắc rối. Hai người họ thường bất đồng ý kiến.
Tình cảm giữa Ấn Thuận đạo sư và sư huynh Pháp Tôn cũng rất loằng ngoằng rắc rối. Họ càng ngày càng xa cách.
Tình cảm giữa Ấn Thuận đạo sư và pháp sư Từ Hàng của phái Viên Anh cũng rất loằng ngoằng rắc rối. Họ vu cáo lẫn nhau.
Tình cảm giữa Ấn Thuận đạo sư và cư sĩ Lý Bỉnh Nam cũng rất loằng ngoằng rắc rối. Mẫu thuẫn giữa Tam luận tông và Tịnh độ tông.
Ấn Thuận đạo sư và Hùng Thập Lực tranh biện về duy thức, tình cảm giữa hai người rất loằng ngoằng rắc rối.
...

Từ những điều này mà tôi rút ra được, yêu và hận đều xuất phát từ một thứ tình cảm giống nhau. (Tình cảm này không phải là chỉ tình yêu.)

🌟

Ban đầu, Ấn Thuận đạo sư đã nhận tôi là đệ tử của ông ấy. Đạo sư xem tôi như là đệ tử ruột. Nhưng sau này thì đã thay đổi.
Đạo sư phủ nhận tôi là đệ tử của ông ấy, cuối cùng đã viết một cuốn sách tiêu đề là: "Tôi và Lư Thắng Ngạn".
Nguyên nhân nằm ở đâu?
Thôi cũng chẳng nhắc đến nữa! Bởi vì nói ra thì dài dòng, một lời khó mà nói cho hết.

Tôi tin rằng khi Ấn Thuận đạo sư viết cuốn sách "Tôi và Lư Thắng Ngạn", trong lòng nhất định cũng tràn đầy tình cảm buồn thương. Biểu hiện ra là sự oán ghét, nhưng sâu trong lòng thì vẫn là sự từ bi và yêu thương. Những lời đã nói ra thì rất tuyệt tình, nhưng sâu trong ánh mắt ấy thì ai có thể biết được đây?

Trong cuốn sách "Tôi và Lư Thắng Ngạn", tôi có thể hiểu được sự oán giận biểu hiện ra bên ngoài. Nếu đạo sư không coi trọng tôi thì hà tất phải viết cuốn sách "Tôi và Lư Thắng Ngạn" làm gì. Có thể thấy là trong lòng của ông ấy vẫn có một Lư Thắng Ngạn. Giờ đây, tôi mới hiểu là thầy quan tâm đến tôi, không phải là không thèm chú ý đến tôi, mà thật sự đã coi trọng người đệ tử nhỏ bé này.

Giữa chúng tôi có nhiều điều giống nhau. Ánh mắt của Ấn Thuận đạo sư mang đầy sự chỉ trích sâu sắc và cũng tràn đầy bi thương. Trong lòng tôi cũng vậy, khi tôi quở trách đệ tử của mình, miệng thì nói lời tuyệt tình, nhưng trong lòng thì tràn đầy bi thương. Ánh mắt của hai người giống hệt như nhau.

Các cao tăng đại đức trong giới Phật giáo đã có rất nhiều sự khẳng định về địa vị học thuật của Ấn Thuận đạo sư.
Tuy nhiên ...
Tôi đã đi trên con đường của riêng mình. Hơn nữa càng đi càng xa. Ở nơi sâu thẳm trong nội tâm tôi, tôi vẫn tràn đầy tình yêu cung kính đối với Ấn Thuận đạo sư, người sư phụ đầu tiên mà tôi quy y.

Dù vậy, tôi thích cách của riêng mình!
Tôi cho rằng Ấn Thuận đạo sư rất tài ba!
Đồng thời tôi cũng cho rằng bản thân tôi cũng rất tài ba!

Tôi tin rằng, khi Ấn Thuận đạo sư hạ bút chỉ trích tôi, nội tâm của ông cũng đầy mâu thuẫn, rắc rối phức tạp, bi thương, trong một chốc một lát nhất thời không kịp thu hồi lại, chẳng vì lý do đặc biệt nào đã liền hạ bút rồi.
Tôi có thể hiểu và thông cảm.
Tôi vẫn cung kính Ấn Thuận đạo sư, hơn nữa tôi cũng khó mà quên được. Từ đầu tới cuối tôi vẫn tin rằng: yêu và ghét xuất phát từ tình cảm tương đồng ở sâu trong tâm hồn của chúng ta.


### 05. Hồ sơ Liễu Minh Hòa Thượng


Vị sư phụ Mật giáo đầu tiên mà tôi quy y là Liễu Minh hòa thượng. Tôi thích pháp hiệu của ông ấy vì nó có ý nghĩa là dứt bỏ hết tất cả.
Ông ấy là người Tứ Xuyên, họ Trương, theo quân đội mà đến Đài Loan, đổi tên thành Thanh Chân đạo trưởng, nhưng ông nguyên là Liễu Minh hòa thượng.
Vì sao lại vừa Đạo vừa Phật?
Câu trả lời là để che mắt người khác, vì trong cuộc khủng bố trắng năm đó, các hòa thượng theo quân đội đến Đài Loan đều bị điều tra.
Ông ấy ẩn cư tại núi Tập Tập.

Liễu Minh hòa thượng xuất thân từ núi Thanh Thành Tứ Xuyên, từng học Đạo pháp, về sau xuất gia, có nhân duyên lớn với Norlha Rinpoche, người đã vượt sông vào Trung Nguyên hoằng pháp.

Các pháp Mật giáo của Thượng sư Norlha đều lần lượt được truyền thừa cho Liễu Minh hòa thượng. Liễu Minh hòa thượng cũng dạy lại cho Thượng sư Norlha về phong thủy, phù lục, thần toán, v.v… Hai người vừa là thầy vừa là bạn bè.

Theo tôi được biết:
Vào những năm đầu Dân Quốc, sư phụ đã gây chấn động khắp Trung Quốc. Lê Nguyên Hồng, Viên Thế Khải đều phong ông làm quân sư.
Sư phụ bất hòa với với những người chức cao quyền quý, cuối cùng đã tự mình rút đi ở ẩn, bởi vì ông đã nhìn thấy tim hùng gan báo của bọn họ.

Liễu Minh hòa thượng có tiếng tăm lớn như vậy, nhưng vì sao lại không tìm được những tư liệu về ông ấy?
Liễu Minh hòa thượng nói:
Ở nhân gian này, có một cuốn sách từng ghi chép về ông, đó là cuốn "Kim lăng xuân mộng", do Đường Nhân trước tác, trong đó có đề cập đến tất cả về Liễu Minh hòa thượng.
(Mọi người có thể tìm đọc.)

🌟

Liễu Minh hòa thượng xem tôi là đệ tử tâm phúc duy nhất. Ông đã truyền dạy Đạo, Hiển, Mật cho tôi.
Thu hoạch lớn nhất của tôi là những lời ông nói:
"Sau này xuất đạo cứu người, không được mở miệng đòi tiền của người khác, hãy nhớ kĩ! Nhớ kĩ!"
"Không được lập mưu để đạt được mục đích, nhằm lừa tiền của người khác, phải nhớ kĩ! Nhớ kĩ!"
"Không được quy định số tiền, tất cả phải do người ta phát tâm, mọi người tự động tặng cho con thì con mới được nhận."
"Thờ ơ với danh lợi, đừng ham vinh hoa phú quý."
"Không được dựa thế ô dù."
(Những lời này tôi vĩnh viễn khắc ghi trong tâm, không dám quên, chúng đã trở thành những nguyên tắc làm người trong cuộc đời của tôi.)

Ngoài ra còn một câu nói đã đem lại cho tôi rất nhiều lợi ích và những sự chỉ bảo. Liễu Minh hòa thượng nói:
"Con đắc đạo, minh tâm kiến tính, tu chứng thành Phật, phải tránh tai mắt người ta, nếu không con sẽ không bảo toàn được tính mạng. Do vậy, cách thứ nhất là lập tức nhập niết bàn. Cách thứ hai là ẩn cư. Cách thứ ba là giả làm kẻ điên, để người khác không nhìn ra."
Liễu Minh hòa thượng nói:
"Con hãy cao chạy xa bay đi!"

🌟

Liễu Minh hòa thượng khiến tôi vô cùng tôn kính. Ông ấy là một vị cao tăng cô lập, kì lạ và huyền bí, tuy vậy ông đã luôn bảo trì sự thanh sạch, thấu triệt, tĩnh mịch tách xa khỏi thế sự. Tuy rằng với sự uyên bác và tài hoa hơn người của ông, bạn sẽ không bao giờ tưởng tượng được rằng ông lại sống ở trong một hang núi hoang vu, nghèo nàn và khô cằn.

Điều này mà so sánh với Phật điện tôn giáo của đương kim "Tứ đại sơn đầu" thì sẽ khiến người ta cười phá lên mất.

Trong giới Phật giáo, rất ít người biết đến Liễu Minh hòa thượng. Ông ấy là một nhân vật kì ảo, nhưng lại là một vị cao tăng đắc đạo.
Liễu Minh hòa thượng là một ẩn số, là một câu đố vĩnh viễn không thể giải được!


### 06. Hồ sơ Bạch Không Hành Mẫu


Tôi tu luyện pháp Vô lậu đạt được thành tựu lớn, ở đây là nói đến "bạch bồ đề" của nhục thân không rò rỉ, và đã lậu tận tất cả những phiền não vô hình.

Bạch bồ đề vô lậu, cũng giống như một cái hồ chứa nước ngăn đập được đóng chặt các cửa xả nước lại, một giọt nước cũng không thể lọt qua được. Những bạch bồ đề này chỉ được dùng vào việc tưới tắm cho ba mạch bảy luân xa của thân thể chính mình, khiến chúng thông suốt không còn trở ngại mà phóng tỏa đại quang minh.

Còn phiền não lậu tận là chỉ sự khai ngộ minh tâm kiến tính. Một khi đã khai ngộ thì:
Hiểu rõ phiền não.
Buông bỏ phiền não.
Phiền não là hư không.

🌟

Tôi tu luyện pháp Vô lậu, đương nhiên là dựa theo khẩu quyết vô lậu, tát già lục thế biến, giáng đề trì tán, kĩ xảo, kim cang quyền, nâng minh điểm bay đến núi Tu Di.
Trong việc này, tôi cần phải cảm tạ Bạch Không Hành Mẫu.

Tôi nằm trên giường, dùng một chữ Phạn "Hum" hóa thành hoa sen, ở chính giữa hoa sen là bánh xe nhật nguyệt, ở giữa bánh xe nhật nguyệt là một chữ "Seh", tôi kết ấn triệu thỉnh.

Kết quả là, không ngờ Bạch Không Hành Mẫu lại hạ giáng. Ngài ấy có tất cả mọi đặc điểm của Không Hành Mẫu, toàn thân màu trắng, trên mặt có ba con mắt, mỗi lòng bàn tay có một con mắt, mỗi lòng bàn chân có một con mắt, tổng cộng là có bảy con mắt, thân người mềm mại, duyên dáng uyển chuyển phi thường.

Sau khi từ không trung hạ giáng xuống, lưỡi của ngài ngậm một viên hồng đơn, tôi nuốt viên hồng đơn vào người thì chính tôi biến thành giống như kim cang. Lúc này, bông hoa sen nở từ từ khép cánh lại, trở thành một bông hoa sen chưa nở. Tất cả quỷ thần đều không hay biết.

Tôi niệm:
"Cúng dường tứ phương thủ hộ Không Hành Mẫu, cúng dường bát phương thủ hộ Không Hành Mẫu, cúng dường hai mươi Thiên Thiên Mẫu."
Và như vậy, tôi đã tu chứng được pháp Vô lậu.
Chứng đắc đại lạc.
Chứng đắc quang minh.
Dục vọng về đại lạc của nhục thân không còn nữa, ngược lại đó là sự tăng trưởng vô tận đại lạc của khí thông mạch, minh điểm thông mạch, hóa ra phong mạch quang minh vô tận.

Nhờ có pháp Vô lậu mà tôi tu chứng tiếp đến pháp minh điểm, trong sự "giáng đề trì tán" thì: Phóng quang vô tận.
Người đã giúp tôi đạt được thành tựu chính là: Bạch Không Hành Mẫu tôn quý.
Viên hồng đơn trên lưỡi của Ngài là báu vật trong thiên hạ. Sự song vận trong bông hoa sen khép cánh chưa nở là: Bí mật, bí mật, bí mật, bí mật.

Tôi có thể tu chứng pháp Vô lậu, pháp Chuyết hỏa, pháp Minh điểm, đều nhờ vào sự giúp đỡ của Bạch Không Hành Mẫu.
Đại ân không lời nào có thể cảm tạ cho hết.
Một câu "cảm ơn" xem như đủ vậy! (Lời cảm ơn hàm chứa vô tận ý nghĩa.)

Bạch Không Hành Mẫu là vị minh phi trí huệ trong hư không mà tôi tôn kính nhất.
Bạch Không Hành Mẫu là Phật Bồ Tát. Bốn phía xung quanh Ngài là ánh sáng và hương thơm trang nghiêm.
Khi đến - một làn hương.
Khi đi - một làn hương.
Sự sung sướng cực lạc vô thượng đó căn bản là không có cách nào hình dung được.
Tôi đã viết ra toàn bộ bí mật lớn của sự tu hành này, việc này là có một không hai, cảnh ngộ này chỉ có trong thần thoại, trong thế gian này là cực kì hiếm có đó!
Việc này quả thực là vô cùng ảo diệu!


### 07. Hồ sơ Bấm ngón tay thần toán


Tôi có thể bấm ngón tay thần toán. Rất nhiều người hỏi tôi việc bấm ngón tay thần toán này là như thế nào?
Câu trả lời của tôi là:
Ý thức cao nhất của vũ trụ thông qua đầu ngón tay của bạn khiến chúng tự động duỗi cong, chấm ra một dạng kí hiệu (mật mã), và do bạn hiểu được cách giải mã nên tất cả mọi việc trong thiên hạ bạn đều nắm trong lòng bàn tay.

Tu luyện cái này thế nào?
Tôi nói:
Điều kiện cần đầu tiên là bạn phải tương ứng được với Bổn tôn.

Pháp tương ứng của Mật giáo dạy chúng ta rằng:
Thân là thân của Bổn tôn.
Khẩu là khẩu của Bổn tôn.
Ý là ý của Bổn tôn.
Vẫn là thân kết thủ ấn, khẩu tụng chân ngôn, ý quán tưởng Bổn tôn.

Ăn --- ăn cúng phẩm của Bổn tôn.
Mặc --- mặc sắc y của Bổn tôn.
Ở --- quán đàn thành của Bổn tôn.
Làm --- hành giả tức là Bổn tôn.
Chúng ta biết rằng đây chính là pháp Hợp thể, tu đến khi tương ứng rồi thì Bổn tôn chính là bạn, bạn chính là Bổn tôn, là một không hai, hoàn toàn không còn phân biệt.

🌟

Lúc này, bản thân hành giả sẽ luôn luôn cảm ứng thấy Bổn tôn vĩnh viễn ở cùng với mình.
Cùng ăn.
Cùng ngủ.
Đêm đêm cùng ngủ, sáng sáng cùng dậy.
Cảm ứng này là vô cùng chân thực. Bổn tôn chỉ thị cho hành giả các loại kí hiệu (mật mã), hành giả sẽ cảm ứng được mật mã của Bổn tôn. Những mật mã này, hành giả sẽ ghi vào trong tâm, lâu dần sẽ càng sáng tỏ ý của Bổn tôn, lúc này tự nhiên có thể giải mã được tất cả mật mã.

Hành giả tu luyện đến trình độ này thì sẽ sản sinh ra năng lực thần thông, và việc bấm ngón tay thần toán chỉ là một trong số đó mà thôi.

🌟

Xòe rộng bàn tay ra.
Khi thông linh, đầu ngón tay sẽ tự động gập duỗi, dáng vẻ giống như kim đồng hồ bị giật trái phải trên dưới như khi có động đất. Hành giả hỏi chuyện gì thì ngón cái sẽ tự động chạm vào ngón trỏ, ngón giữa, ngón áp út, ngón út. (Đây chính là kí hiệu bí mật.)

Bí mật này biểu thị:
Thành - Bại - Tốt - Xấu - May - Rủi.
Mấy phần thành công, mấy phần thất bại, mấy phần tốt, mấy phần xấu, cái may đem đến cái rủi, cái rủi đem đến cái may, may trước rủi sau, rủi trước may sau…
(Mức độ linh nghiệm có cao có thấp. Nếu là linh cấp cao thì mọi việc trong thiên hạ không có gì là không biết. Nếu là linh cấp thấp thì cũng biết được sự việc trong đời sống thường ngày, cũng có thể đoán được về mưa gió sấm sét, cũng có một số việc linh nghiệm không thể hiểu được.)

Việc bấm ngón tay thần toán của tôi là số một trong thiên hạ.
Bởi vì Bổn tôn của tôi là Diêu Trì Kim Mẫu, A Di Đà Phật, Địa Tạng Bồ Tát, họ là Tiên Vương, Phật Vương, Địa Vương.
Tôi hiểu mật mã, không biết mọi người có hiểu được không?


### 08. Hồ sơ Tinh quang thân


Tôi đã từng chỉ trong một buổi tối mà nhập vào trong mơ của rất nhiều đệ tử. Các đệ tử đều vô cùng kinh ngạc, vị nào mới là Lư Sư Tôn?
Đệ tử hỏi:
"Thân ngoài hóa thân là như thế nào?"
Đệ tử hỏi:
"Làm sao có thể một người ở Ma Ha Song Liên Trì, một người ở địa ngục A Tì làm pháp hội, hơn nữa ở nhân gian lại còn có một Lư Sư Tôn, vậy đâu mới là thật?"
Đệ tử hỏi:
"Huyễn thân tu như thế nào? Chỉ có một huyễn thân phải không? Hay là có thể có rất nhiều huyễn thân?"

Tôi trả lời:
Tu pháp huyễn thân như sau:
Hành giả Mật giáo, khi tu pháp Minh điểm, bạch bồ đề đi xuống (chữ Hum), hồng bồ đề đi lên (chữ Ah), kết hợp lại ở tâm luân ở giữa trung mạch. Do tác dụng của việc đốt cháy các giọt minh điểm này mà khiến tâm luân mở ra, xuất hiện Phật tính màu xanh lam của chính mình. Phật tính kết hợp với minh điểm thì thành huyễn thân.
(Huyễn thân này có thể gọi là nguyên thần của bản thân.)

Huyễn thân này hình thành ở giữa tâm của trung mạch, rất rõ ràng rành rọt, là một Liên Hoa Đồng Tử trăm phần trăm.
Huyễn thân có thể thoát ra từ lỗ đỉnh đầu để thần hành, cao tới Tứ thánh giới, thấp tới Lục phàm giới, Thập pháp giới đều có thể đến.
Khi nhục thân của chúng ta chết đi, huyễn thân liền có thể thường trụ ở tịnh thổ, nhậm vận tự tại. Đây chính là thành tựu của huyễn thân.

🌟

Có thể có một huyễn thân, cũng có thể có rất nhiều huyễn thân. Bạn có thể tu xuất ra được một huyễn thân chủ, rồi lại tu xuất ra vô số huyễn thân phụ, những huyễn thân phụ này và sao trên trời kết hợp với nhau sẽ thành Tinh quang thân [ ND: thân ánh sao ]. Tinh quang thân có thể có rất rất nhiều.

Điều này cũng giống như Tôn Ngộ Không trong Tây Du Kí, dứt ra bao nhiêu cái lông, thổi một hơi khí thì sẽ biến thành bấy nhiêu Tôn Ngộ Không.
(Thân thật thì chỉ có một, các thân khác đều là thân thay thế.)
(Huyễn thân chủ là nguyên thần, huyễn thân phụ là tinh quang thân.)

Huyễn thân chủ --- Phật tính xanh lam và minh điểm hợp thể.
Huyễn thân phụ --- Tinh quang và minh điểm hợp thể.
Đây chính là hiện tượng thân ngoài hóa thân.

Hành giả chúng ta tu xuất được hết tinh quang thân này đến tinh quang thân khác, có thể đến được Thập pháp giới và toàn thế giới để đi cứu độ chúng sinh.
Kì lạ thay!
Một hóa mười, mười hóa trăm, trăm hóa nghìn, nghìn hóa vạn, bất khả tư nghì, rất khó tưởng tượng nổi.

🌟

Có một lần.
Tinh quang thân của tôi và đám Hắc thiên sứ đụng độ nhau, tạo nên một cuộc chiến tranh vô hình.
Tôi bị tổn thất mất 50 tinh quang thân mới tiêu diệt được hết Hắc thiên sứ.
Nguyên thần của tôi cũng bị tiêu hao lớn. Tôi phải tu lại để xuất thêm 50 tinh quang thân, những tinh quang thân này chính là thế thân Liên Hoa Đồng Tử do huyễn thân của tôi hóa ra.

Tôi vốn có:
Nhục thân Liên Hoa Đồng Tử Lư Thắng Ngạn.
Huyễn thân chủ Phật tính Liên Hoa Đồng Tử.
Huyễn thân phụ Tinh quang Liên Hoa Đồng Tử.
(Tinh quang thân là vô lượng vô biên.)

Tôi nói như vậy, người bình thường không có cách nào có thể tưởng tượng được. Nhưng trong kinh Phật có nói đến, một tức là nhiều, nhiều tức là một, chính là đạo lý này.
Mọi người có hiểu không?


### 09. Hồ sơ Khai ngộ


Khi còn nhỏ, tôi từng ngẫm nghĩ:
Tôi từ đâu đến?
Tôi sẽ đi về đâu?
Tôi sinh ra trên thế gian này để làm gì?

Sau khi học Phật, tôi từng suy nghĩ:
Phật Thích Ca Mâu Ni dưới gốc cây bồ đề đã khai ngộ thành Phật, rốt cục là Ngài ấy ngộ được cái gì? Mà mới có thể khai ngộ thành Phật?

Tôi đã đi Ấn Độ, hành hương lễ bái tám đại thánh địa của Phật Đà, đã nhìn thấy rất nhiều hành giả đang ngồi suy tưởng dưới gốc cây bồ đề. Họ đương nhiên cũng muốn khai ngộ thành Phật.
Đối với việc khai ngộ.
Tôi dùng ý thức mà mình tri giác được để làm sáng tỏ chân như không tri giác được, tôi cứ nghĩ mãi, cứ suy tưởng mãi.

Là cái này chăng, rồi lại phủ định.
Là cái kia chăng, rồi lại phủ định.
Là cái ấy chăng, rồi lại phủ định.
Là cái nọ chăng, rồi lại phủ định.
Là không, là vô, vì sao là không, vì sao là vô, rồi lại phủ định.
Thật? Giả? Không? Hữu? Vô? Trung? Tôi lại phủ định toàn bộ, toàn bộ đều không đúng.

Về sau:
Tôi đã khai ngộ rồi! Bởi vì chỉ có "cái Đó" mới có thể làm sáng tỏ chân lý của toàn vũ trụ.
Bởi vì chỉ có "cái Đó" mới có thể ấn chứng đệ nhất nghĩa, thì ra tất cả đều là phương tiện.
Còn "cái Đó" là đại bát nhã.
Là vô đẳng đẳng chú.
Là vô thượng chính đẳng chính giác.

Đắc được "cái Đó" có thể ấn chứng mọi Phật điển, tất cả đều rõ ràng rành mạch, hiểu thấu thông suốt.
Tôi đã khai ngộ rồi!
Tôi là Phật Đà!

Tôi dựa vào "cái Đó" để ấn chứng vô sở đắc, vô sở trụ, vô sở vị.
Tôi dựa vào "cái Đó" để ấn chứng Không.
Tôi dựa vào "cái Đó" để ấn chứng Hữu.
Tôi dựa vào "cái Đó" để ấn chứng hành giả đã khai ngộ hay chưa, rất rõ ràng rành rọt, vô cùng thấu triệt.
Cuộc đời này của tôi vậy là có giá trị rồi!

🌟

Tôi thích cuộc đối thoại giữa hòa thượng Kim Luân và tăng nhân:
Tăng nhân hỏi:
"Thế nào là đệ nhất câu?"
Hòa thượng Kim Luân đáp:
"Đốn!"
Tăng nhân hỏi:
"Thế nào là một mũi tên?"
Hòa thượng Kim Luân đáp:
"Quá!"
Tăng nhân hỏi:
"Một mũi tên bay đến, ai là người chặn nó?"
Hòa thượng Kim Luân đáp:
"Lộn nhào!"

Tôi nói:
Tôi là người khai ngộ, có thể lập tức hiểu được đệ nhất nghĩa trong lời của hòa thượng Kim Luân. Tuy nhiên, nếu như bạn vẫn chưa đạt đến khai ngộ thì bạn vẫn chỉ là "hòa thượng trượng hai chẳng chạm được tới não" thôi. [ ND: ở đây có nghĩa là, khi chưa khai ngộ thì nghe những lời nói trên sẽ chẳng thể hiểu được nghĩa là như thế nào. ]

Ba câu hỏi đáp này, ai có thể giải thích được? Xin thử trả lời xem, tôi sẽ ấn chứng cho.

@@c010	010 Hồ sơ Như Lai
Như Lai là một trong mười danh hiệu của Phật. Như là chân như, cũng có nghĩa là theo con đường chân như mà đến tam giới rủ lòng thương xót mà cảm hóa, đây chính là ý nghĩa gốc của Như Lai.

Trong kinh điển nói như sau:
"Trí độ luận" --- dường như thật sự có đến, vì thế gọi là Như Lai.
"Chuyển pháp luân luận" --- Niết bàn gọi là Như, biết cách để nhận biết gọi là Lai, vì thế gọi là Như Lai.
"Thắng man bảo quật" --- các vị Như Lai dường như có đến, cũng là chư Phật đến, vì thế gọi là Như Lai.

Trái ngược với Như Lai là Như Khứ. Như Khứ cũng là một biệt danh khác của Như Lai. Cũng có nghĩa là chư Phật của quá khứ dường như từ chỗ sinh tử mà đi đến niết bàn.
Như Khứ là từ địa vị phàm phu tu hành thành bậc Chính Giác.
Như Khứ là tính chất an lạc mãi cho đến lúc niết bàn.

Tôi giải thích hai chữ Như Lai có chút khác biệt:
Chữ "Như" cũng có nghĩa là giống.
Rất giống có đến, tức là Như Lai.
Rất giống có đi, tức là Như Khứ.
Như Lai Như Khứ - là giống như có đến, giống như có đi.

Do vậy:
Như Lai Như Khứ chính là "dường như có đến có đi", kì thực căn bản là không có đến đi, cũng có nghĩa là không đến không đi, chẳng đến chẳng đi.
(Đây chính là đệ nhất nghĩa.)
Tôi cho rằng:
"Chẳng đến chẳng đi" chính là đệ nhất nghĩa.
Vì sao chẳng đến chẳng đi? Xin mời các đệ tử đã hiểu thông suốt bắn thử một mũi tên xem sao!

🌟

Núi Đại Long ở Đỉnh Châu, có thiền sư Trí Hồng.
Tăng nhân hỏi thiền sư Trí Hồng:
"Thế nào là Phật?"
Thiền sư Trí Hồng đáp:
"Chính là anh đó."

Tăng nhân hỏi:
"Làm sao lĩnh hội được?"
Thiền sư Trí Hồng đáp:
"Cái bát không tay cầm!" (Như Lai)

Tăng nhân hỏi:
"Vi diệu như thế nào?"
Thiền sư Trí Hồng đáp:
"Gió thổi tiếng nước đến vỗ bờ, trăng đưa bóng núi in lên giường." (Như Khứ)

Tăng nhân hỏi:
"Thế nào là cực kì mẫu mực?"
Thiền sư Trí Hồng đáp:
"Xuân tháng ba trăng chán nản, chẳng sáng bằng thu tháng chín." (Như Lai Như Khứ)

Tăng nhân hỏi:
"Sắc thân hư hoại, làm sao để pháp thân được kiên cố?"
Thiền sư Trí Hồng đáp:
"Hoa núi nở như gấm, suối trong vắt bầu trời."
(Vô Lai Vô Khứ)

🌟

Tôi đã thêm vào nội dung "Như Lai", "Như Khứ", "Như Lai Như Khứ", "Vô Lai Vô Khứ" trong dấu ngoặc đơn dưới mỗi mẩu đối thoại giữa thiền sư Trí Hồng và tăng nhân để chú thích.
Mọi người tham khảo, tự có thể hiểu được rồi.
Nếu như không thêm vào các chú thích này, mọi người sẽ cho rằng thiền sư tiện mồm mà trả lời mà thôi.
Trong mười danh hiệu của Phật, tôi cho rằng "Như Lai" là hợp với "huyền chỉ" [ ND: ý chỉ sâu xa ] nhất. Quả thực là quá tuyệt vời!

Hết thảy chư Phật đắc được Tam Miểu Tam Bồ Đề (Chính Giác), Lư Sư Tôn tôi cũng đắc được Tam Miểu Tam Bồ Đề (Chính Giác).
Thật sự là thiện tai biết bao!

@@c011	011 Hồ sơ Di cư đến nước Mỹ
Ngày trước, tôi sống tại Đài Loan, 19 năm ở Cao Hùng, 19 năm ở Đài Trung. Sau đó, tôi di cư đến Seattle nước Mỹ.

Ngày 16 tháng 6 năm 1982 tôi đã đến nước Mỹ, năm đó tôi 38 tuổi.

Trước khi di cư sang Mỹ:

1. Tôi thanh danh lẫy lừng, nổi tiếng toàn thế giới là "đệ nhất thần toán".

1. Mỗi ngày tôi tiếp khoảng 300 vị khách đến từ khắp nơi trên thế giới.

1. Tất cả mọi khó khăn nghi vấn đều có thể được giải quyết.

1. Tôi gây chấn động khắp chính phủ và dân chúng.

1. Tôi được nhận định là người thông linh có năng lực siêu nhiên.

1. Tôi có thiên nhãn.

1. Tôi thần hành khắp mười pháp giới.

1. Vị cao linh sau lưng tôi là Diêu Trì Kim Mẫu.

1. Tôi tôn sùng Phật giáo Mật thừa.

1. Tất cả thành tựu của tôi là những bí mật của bí mật, thế nhân rất hiếm người có thể suy đoán được.

🌟

Tôi di cư đến Seattle nước Mỹ là đúng vào lúc tiếng tăm tôi lừng lẫy sáng chói như mặt trời ban trưa.
Vì sao vậy? Mọi người đều vô cùng hiếu kì.
Trên thực tế, việc di cư đến Seattle nước Mỹ có rất nhiều nhân tố phức tạp rắc rối. Muốn biết rõ nguyên nhân thì tôi phải liệt kê danh sách ra, có lẽ sẽ đưa ra được một số hình dung.

Cán bộ của Cục điều tra - Lâm Chấn Quang.
Đồn trưởng của trụ sở Thái Bình - Dư Thủ Tam.
Nhân viên bảo vệ - Khâu Thiệu Quần.
Hắc đạo - Thái Chính Vi.
Thế lực bắt chẹt - Hoa dại. Cỏ dại.
Tai tiếng tình dục - Lâm Di Quân.
Kinh tế - ???
Tôn giáo - Trần Huệ Kiếm.
Vân vân và vân vân.

Bởi vì có những nhân tố này, tôi quyết định di cư ra nước ngoài. Thật ra, di cư sang Mỹ cũng không phải là dễ, không phải là việc dễ dàng. Tất cả việc di cư sang Mỹ đều do hai đệ tử giúp đỡ.

1. Thượng sư Liên Hỏa - Trần Tước Viên.

1. Luật sư di trú Hanh Lợi. Chỉ riêng việc chuẩn bị cho di cư cũng đã tốn thời gian 3 năm.

🌟

Lư Sư Tôn, Liên Hương Thượng sư, Lư Phật Thanh, Lư Phật Kì, bốn người, mang theo bốn gói đồ, cứ vậy mà đến nước Mỹ. Cá nhân tôi thời gian qua chịu nhiều khổ nhọc, thế nhưng nghị lực tràn đầy, tinh tấn phi phàm.

Tôi ở Đài Loan. (bắt đầu từ tay trắng)
Tôi ở Mỹ. (bắt đầu từ tay trắng)

Ở Mỹ, lần đầu tiên tôi gửi bản thảo đến Tây Hoa Báo, lần đầu tiên kiếm được nhuận bút là bốn đô la Mỹ.

Đồ ăn của chúng tôi là những rau và hoa quả ở siêu thị đã quá hạn phải vứt bỏ. Đồ dùng đều là đồ second-hand [ ND: đồ cũ ]. Thật sự là gian khổ muôn phần.

🌟

Tôi tin lời Diêu Trì Kim Mẫu, Ngài nói một câu rằng: "Hãy đi Mỹ đi!"
Thế là tôi đi.
Diêu Trì Kim Mẫu chỉ thị cho tôi đi Mỹ, có thể gây dựng tông phái ở tầm thế giới, có thể độ hóa được vô số vô tận chúng sinh, có đệ tử ở khắp nơi trên toàn thế giới, còn sự tu hành của Lư Sư Tôn thì cũng sẽ đạt đến mức độ "vô thượng".

Giờ đây đã chứng minh: tôi đã minh tâm kiến tính, Vô Thượng Chính Giác, quảng lợi quần sinh.


### 12. Hồ sơ Sắc thái chính trị


Thời đại học, tôi đã học trường Trắc lượng, khoa Đo đạc mặt đất, tốt nghiệp khóa 32.
Trường Trắc lượng, Học viện Công binh, Học viện Kĩ thuật Công trình, về sau đã hợp lại thành Học viện Khoa học và Kĩ thuật Trung Chính, sau nữa lại đổi tên thành Đại học Quốc phòng.

Trường Trắc lượng là trường đầu tiên được Bộ giáo dục cho phép cấp văn bằng đại học, cũng là Học viện Quân sự.
Hiệu trưởng khi đó là Tưởng Giới Thạch.
Sau khi tôi tốt nghiệp trường Trắc lượng, tôi đảm nhiệm chức vụ nhân viên trắc lượng và nhân viên công trình tổng cộng 14 năm.
Khi rời quân đội thì tôi mang hàm Thiếu tá.

Sĩ quan khi đó đều là đảng viên của Quốc Dân Đảng, do vậy tôi cũng không phải là ngoại lệ. Ở trong tổ chức, tôi đã đảm nhiệm qua chức vụ trưởng ban, bí thư, ủy viên, cán bộ, lãnh đạo…
Sau khi đến Mỹ, tôi hoàn toàn rời bỏ chính trị, hoàn toàn không có sắc thái chính trị nào cả.
(Ở Mỹ khoảng 30 năm, tôi chưa từng tham gia vào bất kì hoạt động chính trị nào.)
Đảng phí cũng không nộp.
Tôi không phải là người theo Đảng Xanh [ ND: Đảng Dân Chủ], sự thật là như vậy.

🌟

Ở Seattle nước Mỹ, những người Đài Loan theo Đảng Dân Tiến màu xanh lục, vẫn được xem là hoạt động sôi nổi. Trong số những người tôi quen biết, từ chủ tịch Đảng Dân Tiến cho đến đảng viên Đảng Dân Tiến đều có. Tôi chưa từng tham dự bất kì hoạt động nào của Đảng Dân Tiến.
Bởi tôi không có hứng thú với chính trị.
Đối với tu hành, tôi có sức mạnh tinh tấn cực kì lớn. Chân Phật Tông của chúng tôi không tham dự vào chính trị, cũng là điều hơn hẳn các đảng phái khác.

Ở Mỹ, tôi không phải là người theo Đảng Dân Chủ, cũng không phải là người theo Đảng Cộng Hòa.
Ở Đài Loan, tôi cũng không phải là người theo Đảng Quốc Dân, cũng không phải là người theo Đảng Dân Tiến.
Đối với Đảng Cộng Sản, cả đời này tôi chưa từng tiếp xúc.
Do vậy, tôi chẳng phải là: Lam. Lục. Đỏ.
(Nếu như phải bầu chọn, tôi cho rằng cần chọn Đảng có đức có năng mới phải.)

🌟

Tuy nhiên, cá nhân tôi cho rằng:
Chủ nghĩa thế giới đại đồng của Quốc phụ Tôn Trung Sơn, Lễ vận đại đồng thiên của Khổng Phu Tử là chủ nghĩa lý tưởng.
Nhà nước Xã hội chủ nghĩa là tương đối ở giữa.
Chủ nghĩa dân tộc (chủng tộc) là tương đối thiên lệch.

Tôi lấy Trung Quốc làm ví dụ:
Nếu như chủ nghĩa chủng tộc lên ngôi, đề xướng chủ nghĩa chủng tộc thì sẽ có:
Tây Tạng độc lập. Tân Cương độc lập. Mông Cổ độc lập. Dân tộc Hồi, Miêu, Việt độc lập. Dân tộc Mân, Mãn, Đài độc lập.
Trung Quốc sẽ chỉ còn lại Bắc Kinh và khu vực trung nguyên.
(Đây không chỉ là nguồn gốc rối loạn Trung Quốc mà cũng chính là nguồn gốc gây rối loạn giữa các nước trên thế giới.)

Từ lâu tôi đã nhìn ra chủ nghĩa chủng tộc là nguồn gốc rối loạn của thế giới. Nếu như nhân loại không có tư tưởng đại đồng thì chí ít cũng cần phải có tư tưởng quốc gia. Nếu như bất kì tư tưởng chủ nghĩa chủng tộc nào lên ngôi thì quốc gia đó cũng sẽ bùng phát sự đại loạn.
Thế giới đại đồng --- những vòng tròn lớn.
Chủ nghĩa quốc gia --- những vòng tròn nhỡ.
Chủ nghĩa chủng tộc --- những vòng tròn nhỏ.

Tư tưởng triết học chính trị đang thử thách trí tuệ của mỗi một vị lãnh đạo quốc gia.
Tôi, một người tu hành.
Chưa bao giờ tham gia vào chính trị.
Tuy nhiên tôi có cách nhìn của cá nhân tôi. Mọi người nói xem, cách nhìn của tôi có đúng không?


### 13. Hồ sơ Bát đại tự tại


Năm 2009, Đài Loan có một vị tổng thống tên là Trần Thủy Biển.
Khi còn tại nhiệm thì là tổng thống Trần Thủy Biển.
Khi hạ nhiệm thì là phạm nhân.

Điều này đem đến cho người đời một sự cảnh giác. Quyền lực địa vị đã đến điểm cao nhất, thế rồi xìu! Xìu! Xìu! Khi trượt một cái thì cũng rơi đến điểm thấp nhất.
Khiến người ta thấy mà phát hoảng!
Thật đáng sợ!
Một người lãnh đạo như vậy để lại cho đời một trò hề, vừa đáng thương vừa đáng cười.

Cá nhân tôi cho rằng:
"Pháp nhĩ bản nhiên."
Hãy phơi bày toàn bộ nhân thế gian này ra mà xem, có thứ gì không phải là như vậy. Chẳng qua chỉ là vì ông ta là tổng thống nên mọi người mới chú ý mà thôi.
Bởi vậy mới nói tu hành vẫn là tốt.

🌟

Cuộc đời này, tôi đã trải qua thời gian tu luyện rất dài, đã chứng đắc được bát đại tự tại:

1. Một thân của tôi có thể biến hóa thành nhiều thân. Tinh quang thân có ở khắp nơi, đâu đâu cũng tự do tự tại cứu độ chúng sinh.

1. Các thân của tôi đầy khắp đại thiên thế giới. Tôi có Pháp thân ở vô thượng giới, có Báo thân ở tịnh thổ giới, có Ứng thân ở lục đạo giới, ngay cả địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh cũng đều có một thân của tôi.

1. Đại thân của tôi chỉ cần nhấc nhẹ một cái là đã đến được chốn rất xa xôi rồi. Sự thần hành của tôi chỉ trong một niệm là đã đến được chỗ của Phật Đà, một niệm là đến được Ma Ha Song Liên Trì tịnh thổ, một niệm là đến được Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ, một niệm là đến được nhân gian, một niệm là đến được địa ngục cứu người.

1. Pháp thân của tôi chính là Chân Như. Pháp nhĩ bản nhiên tồn tại trong "thường tịch lạc thổ". Tôi tự do biến hóa. Tôi đã từng là lão tổ sư của Mật giáo. Tôi từng là Hoàng đế Quốc vương. Tôi từng là một đại tu hành giả. Tôi từng là đạo sư của thế gian. Thân phận của tôi thay đổi nhiều vô số kể.

1. Tôi có thể sử dụng được hết mọi căn thức của mình. Có nghĩa là thiên nhãn, thiên nhĩ, túc mệnh, tha tâm, thần túc, lậu tận. Lục đại thần thông này tôi đều biết, nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân, ý, tự do tự tại biến hóa và sử dụng, không gì là không biết, không gì là không thể.

1. Tôi đã đắc được tất cả mọi pháp, dường như không thể tưởng tượng được. Trong tâm trí tôi có vạn loại Phật pháp, thế nhưng tôi đều có thể ứng dụng chúng thành thạo, tự do thoải mái phát huy, bởi vì mọi pháp đều tương thông với nhau, có tất cả mọi pháp cũng tương đương với chẳng có mọi pháp, chính là pháp nhĩ bản nhiên.

1. Thuyết một bài kệ trải qua vô lượng kiếp. Tôi có thể không cần thuyết pháp, nhưng đã có pháp rồi. Tôi có thể chỉ nói một chữ, chỉ nói một bài kệ, một khi đã nói ra thì đã trở thành những lời vàng của thế gian, trải qua vô lượng kiếp, và cũng rất vững vàng không thể bàn cãi, hoặc tôi chỉ nói hai chữ OO thì cũng là ý nghĩa đệ nhất vô thượng rồi.

1. Thân của tôi ở khắp mọi nơi, thế nhưng cũng giống như hư không. Nói là có cũng được, nói là không có cũng được, nói là không có và cũng không phải là không có cũng được, nói là Có và Không hòa trộn cũng được. Cảnh giới tự tại của pháp nhĩ bản nhiên này thật sự là bất khả tư nghì.

Không sinh không diệt.
Không đứt không thường.
Không giống không khác.
Không đến không đi.

🌟

Bởi vậy, tôi nói, tôi đã chứng đắc pháp nhĩ bản nhiên.
Làm tổng thống, tôi rất vui.
Làm tù nhân, tôi cũng vẫn rất vui.
Có Chân Phật Tông, tôi rất vui.
Không có Chân Phật Tông, tôi cũng vẫn rất vui.
Bởi vì tất cả mọi thứ trên đời này, bất kể là biến hóa ra sao, thì vẫn đều là pháp nhĩ bản nhiên.


### 14. Hồ sơ Nhân quả luân hồi


Có một hôm.
A Nan tôn giả nói với Phật Đà:
"Cuối cùng con đã hiểu nhân quả rồi!"
Phật Đà đưa mắt nhìn A Nan, nói:
"Ngài chưa hiểu đâu, ngài chẳng qua chỉ mới hiểu được biểu hiện bên ngoài mà thôi."
"Vì sao vậy?"
Phật Đà nói:
"Nhân quả là vô cùng bất khả tư nghì!"

Lại có một hôm.
A Nan tôn giả nói với Phật Đà:
"Cuối cùng con đã hiểu luân hồi rồi!"
Phật Đà không quay đầu lại, nói:
"Ngài chưa hiểu đâu, ngài chỉ biết về biểu hiện bên ngoài của luân hồi mà thôi."
"Vì sao vậy?"
Phật Đà nói:
"Luân hồi là vô cùng bất khả tư nghì!"

A Nan hỏi:
"Vậy ai có thể hiểu được nhân quả luân hồi đây?"
Phật Đà trả lời:
"Trừ Phật ra."

🌟

Phật Thích Ca Mâu Ni trong 500 kiếp đã từng vì nhân quả mà luân hồi làm:
Vua của loài hươu.
Vua của loài khỉ.
Vua của loài voi.
Vua của sư tử.
Vua của chim công.
...

Trong 500 kiếp, Phật Đà đã luân hồi trong lục đạo, cũng đã vào đạo súc sinh, đạo địa ngục, v.v…
Đối với nhân quả ba kiếp, lục đạo luân hồi, Phật Đà thật sự đã hiểu quá rõ ràng. Ngồi dưới gốc cây bồ đề suy tưởng và khai ngộ, Phật Đà đã hoàn toàn hiểu rõ chân đế của nhân quả luân hồi.
Do vậy, đối với A Nan tôn giả, Phật Đà cũng không cần phải khách khí mà thẳng thừng bác bỏ lại ngài ấy rằng ngài ấy không hiểu nhân quả, không hiểu luân hồi.

🌟

Những thầy bói gặp ở ngoài đường thường treo bảng hiệu "biết nhân quả luân hồi ba kiếp, luận vận mệnh lành dữ họa phúc."
Người nói về nhân quả ba kiếp, sao mà nhiều thế!
Trong lòng tôi thấy thật nực cười!
Nhân quả là bất khả tư nghì! Luân hồi là bất khả tư nghì, ngay cả đến những vị đại A La Hán cũng không hiểu. Nhân quả luân hồi sâu rộng không thể đo lường, trên đời này có mấy người biết được đây?

Muốn biết nhân hiện tại,
Hãy nhìn vào quá khứ.
Muốn biết quả tương lai,
Xem hiện tại làm gì.

(Nhưng đây cũng vẫn chỉ là biểu hiện bên ngoài.)

🌟

Có người nói: mở ra hồ sơ của nhiều kiếp thì sẽ hiểu hơn về nhân quả luân hồi của nhiều kiếp.
Có người nói: cái vỏ kí ức trong bộ não, ở nơi sâu nhất, chỗ sâu sâu nhất, có ghi lại về luân hồi quá khứ, chỉ cần tìm cách lấy ra được thì tất cả sẽ đều rõ ràng rành rọt.

Có người nói: biết năm trăm kiếp trước, biết năm trăm kiếp sau.
Có người nói: biết năm trăm năm trước, biết năm trăm năm sau.
Có người nói: biết được ba kiếp trước, biết được ba kiếp sau.

Kể từ khi tôi minh tâm kiến tính, tôi mới hiểu được rằng, đây chỉ là những biểu hiện bên ngoài. Bây giờ, tại đây, tôi hỏi các thánh đệ tử, rốt cục cái gì mới là chân tướng của nhân quả luân hồi?

@@c015	015 Hồ sơ Ấn chứng
Sau khi minh tâm kiến tính, mọi thứ được mở mang rộng rãi, tôi hoàn toàn hiểu rõ về vũ trụ, trời đất, con người, v.v…

Tu hành tức là dựa vào sự minh tâm kiến tính để tự quan sát thân khẩu ý của hành giả. Đến khi đạt đến tình trạng "vừa vừa đủ" nhất thì tất cả mọi thứ sẽ hợp với minh tâm kiến tính.

Kể từ sau khi minh tâm kiến tính, tôi lại quan sát những người tu hành khác, quan sát thân khẩu ý của người khác, tôi lập tức có thể ấn chứng được những người tu hành này đã khai ngộ hay chưa.

Muốn biết được người tu hành đã khai ngộ hay chưa?
Cần quan sát thân, khẩu, ý của hành giả. Thế là xong!
Tôi từng quan sát rất nhiều cao tăng, đại đức, cư sĩ, Hoạt Phật, thượng nhân, thượng sư ...
Kết quả là, ha ha ha, cười xòa cho qua.

🌟

Có một người tu hành thường xuyên nói đã khai ngộ rồi, đã hiểu thấu tất cả mọi thứ rồi.
Tôi hỏi:
"Anh đã khai ngộ rồi, thế sao anh vẫn làm cái việc như vậy?"
Anh ta đáp:
"Việc này không liên quan gì đến khai ngộ cả, Lư Sư Tôn, ngài có hiểu không?"
Tôi sững người ra.

Không ngờ anh ta lại chẳng biết rằng, trên đời này, bất kì người, vật, sự việc nào cũng đều có liên quan đến khai ngộ cả.
"Tài, sắc, danh, thực, thụy", "tham, sân, si, nghi, mạn", "ghen tuông, đố kị, đau buồn, nóng nảy" đều có liên quan đến khai ngộ đó!

Không ngờ anh ta lại chẳng biết. Có thể thấy, người này hoàn toàn không hề khai ngộ gì cả. Sau khi tôi khai ngộ, tự nhiên có thể ấn chứng được các đệ tử của tôi đã khai ngộ hay chưa. Các thánh đệ tử Chân Phật Tông ngày càng có nhiều người khai ngộ, đây cũng là việc đáng chúc mừng.

Pháp sư Thánh Nghiêm có khai ngộ hay chưa?
Dalai Lama có khai ngộ hay chưa?
Đại hòa thượng có khai ngộ hay chưa?
Đại thượng nhân có khai ngộ hay chưa?
Ha ha ha! Cười lớn ba tiếng vậy. Tôi biết, còn bạn có biết không?

🌟

Thiền sư Hoài Sở ở Trúc Can Viện, Bạch Triệu, An Châu.
Tăng nhân hỏi thiền sư Hoài Sở:
"Thế nào là từng câu đều phải đi theo huyền lộ?"
Thiền sư Hoài Sở đáp:
"Cứ đi thẳng là đến."
(Dùng sự khai ngộ để quan sát bản thân.)

Tăng nhân hỏi:
"Thế nào là hòa thượng đối nhân xử thế chỉ một câu nói?"
Thiền sư Hoài Sở đáp:
"Chẳng có oán thù gì với anh, một câu vốn vẫn ở đây thôi."
(Lời giác ngộ.)

Tăng nhân hỏi:
"Vẫn chưa rõ đúng ở chỗ nào?" (hỏi vặn)
Thiền sư Hoài Sở đáp:
"Cái đồ ngu!"

🌟

Tôi thấy rất nhiều hành giả đã dốc toàn lực để làm các việc liên quan đến "phương tiện", nhưng còn với đại trí huệ (bát nhã) thì vẫn chỉ ôm một quả trứng vịt về nhà. Không có bát nhã thì có gì khác với người thế tục đâu.
Đều là những kẻ ngu đần!


### 16. Hồ sơ Hoạt Phật chuyển thế


Chế độ Hoạt Phật chuyển thế ở Tây Tạng bắt nguồn sớm nhất là  từ vị Karma Pakshi của Bạch giáo, cũng chính là sự chuyển thế của một loạt các vị Đại Bảo Pháp Vương. Sau đó, các giáo phái khác cũng đua nhau bắt chước theo.

Vấn đề Hoạt Phật chuyển thế ở Tây Tạng có hai ý nghĩa lớn:

1. Duy trì được dòng truyền thừa của pháp.

1. Duy trì được quyền thừa kế tài sản đối với các chùa chiền mà đời trước để lại.

Tôi lấy Ngài Tsongkhapa làm ví dụ:
Đại đệ tử của Ngài Tsongkhapa là Khắc Chủ Kiệt, chuyển thế thành đại Hoạt Phật Panchen Lama của Hoàng giáo.
Tiểu đệ tử của Ngài Tsongkhapa là Căn Đốn Chủ, chuyển thế thành đại Hoạt Phật Dalai Lama của  Hoàng giáo.
Trung đệ tử của Ngài Tsongkhapa là Thích Ca Dã Thất, chuyển thế thành Hoạt Phật Jetsun Dampa của Hoàng giáo Mông Cổ.
(Jetsun Dampa sau này chính là Chương Gia Hoạt Phật, Cam Châu Hoạt Phật.)

Còn đối với cá nhân tôi, tôi có những kí hiệu của Hoạt Phật:

1. Đỉnh đầu của tôi đã mở ra thiên linh khiếu.

1. Tai có hai hạt ngọc.

1. Tôi có lông mày và đôi mắt của Phật.

1. Trước ngực có kí hiệu Phật.

1. Lòng bàn tay có xoắn ốc như ý.

1. Ngón cái tay phải có kí hiệu của Tiếu Diện Vương.

1. Chân có vết bớt da hổ.
(Đây đều là những kí hiệu của một vị Hoạt Phật.)

Căn bản thượng sư của tôi, thầy Thubten Dorjie Thượng sư, đã ấn chứng cho tôi về lai lịch của ba kiếp trước là:

1. Là đại đệ tử Xá Lợi Phất của Phật Thích Ca Mâu Ni chuyển thế.

1. Là Tsongkhapa chuyển thế.

1. Là A Di Đà Phật (Liên Hoa Đồng Tử) chuyển thế.

Ba sự chuyển thế tái sinh này đều có lai lịch vĩ đại tương đương, lớn đến mức giới Phật giáo đều chấn động. Tôi cảm thấy Lư Thắng Ngạn tốt nhất vẫn là Lư Thắng Ngạn, mang những danh hiệu lớn cũng không phải là hay.

🌟

Đứng từ góc nhìn của một người sáng suốt đã khai ngộ đánh giá chế độ Hoạt Phật chuyển thế, tôi cho rằng:
Hoạt Phật chuyển thế là phương tiện.
Khai ngộ là trí huệ.

Hoạt Phật chuyển thế là tục đế.
Khai ngộ là Thánh đế.

Hoạt Phật chuyển thế là từ bi.
Khai ngộ là bát nhã.

🌟

Thiền sư Chí Thao ở Tam Giác Sơn, Kỳ Châu.
Tăng nhân hỏi:
"Mặc dù giáo pháp của Phật giáo nhiều, nhưng chỉ có một tôn chỉ, vì sao lại có nhiều lý do như vậy?"
Thiền sư Chí Thao đáp:
"Vì chính anh nên mới nói ra nhiều lý do như vậy."

Tăng nhân hỏi:
"Xin hòa thượng giải thích lý do xưa và nay."
Thiền sư Chí Thao không nói gì, chỉ dùng tay gõ gõ lên giường.

Tôi đặc biệt có lời nhắc nhở như sau:
Chế độ Hoạt Phật chuyển thế là một chế độ do chúng sinh trong thiên hạ đặt ra, mục đích là thuận tiện cho việc độ chúng sinh, đây chính là một trong nhiều lý do.

Người khai ngộ là người có minh nhãn, đã biết tôn chỉ, bát nhã như biển, chuyển thế hay không chuyển thế thì tự tại nhậm vận là được rồi.
Ngày xưa hay bây giờ thì cũng vẫn là một.


### 17. Hồ sơ Thế tục đế


Có người hỏi tôi:
"Ngài kết hôn rồi sinh con, có con trai con gái, Phật Thanh, Phật Kỳ, ngài có phải là một ông bố tốt không?"
Tôi đáp:
"Tôi tuyệt đối không phải là một ông bố tốt, bởi vì tôi chú trọng Thánh đế tu hành, tôi để cho Phật Thanh, Phật Kì tự nhiên trưởng thành. Đương nhiên tôi có yêu chúng, nhưng hiển nhiên không phải là chăm sóc toàn phần. Hơn nữa, Phật Thanh, Phật Kỳ có một người mẹ tốt, như vậy là tôi an tâm rồi."

Có người hỏi tôi:
"Ngài là một người đàn ông tốt, thế sau khi kết hôn, ngài có phải là một người chồng tốt không?"
Tôi đáp:
"Con người tôi rất bảo thủ, đạo vợ chồng trước sau như một, tôi chưa từng bao giờ nghĩ đến hai chữ ly hôn. Thế nhưng tôi xuất gia, đi làm một hòa thượng, rất rõ ràng là tôi coi trọng việc hành trì, coi trọng chúng sinh. Gia đình dĩ nhiên là có coi trọng, nhưng không phải là chủ yếu, nếu nói là người chồng tốt thì đương nhiên tôi không xứng là một người chồng tốt."

Có người hỏi tôi:
"Bố của ngài là Lư Nhĩ Thuận, mẹ của ngài là Lư Ngọc Nữ, ngài có cho rằng ngài là một người con tốt không?"
Tôi đáp:
"Khi xuất gia, tôi đã không thưa bẩm với bố mẹ, tôi đi Mỹ cũng không thưa bẩm với bố mẹ, việc này đương nhiên không phải là một đứa con tốt. Nhưng tôi tôn trọng hành trì, lấy việc khai ngộ thành Phật để báo đáp ơn của bố mẹ. Về mặt đại tiền đề thì như vậy là được. Trên thế tục đế thì có phần hơi vượt quá. Đương nhiên, về sau này tôi có gây ảnh hưởng cho bố mẹ tu hành, cuối cùng đã thành chính quả. Tôi ảnh hưởng bố mẹ tu hành, thường niệm Quan Thế Âm Bồ Tát."
"Tôi nhờ người chăm sóc mẹ tôi, tôi nhờ người chăm sóc bố tôi, không thể xem là báo đáp ơn dưỡng dục, do vậy đương nhiên tôi cũng không phải là đứa con tốt."

Có người hỏi tôi:
"Trên phương diện thế tục đế, ngài đã làm điều gì tốt nhất?"
Tôi đáp:
"Chẳng có gì làm là tốt nhất. Tôi tự cảm thấy, tại thế gian này, tôi đều chẳng phải là nhân vật số một. Điều tôi làm tốt nhất chính là, sống một ngày tu hành một ngày, sống một ngày cảm ơn một ngày, sống một ngày vui vẻ một ngày. Điều này là tôi làm tốt nhất rồi!"

Tôi viết một bài kệ:
"Tôi nay sáu mươi lăm.
Nghĩ lại thật đáng buồn.
Tất cả chưa viên mãn.
Chẳng thành tựu điều gì.
Chỉ thấy trăng trong nước.
Thấy hoa mộng trong gương.
Tinh tấn đệ nhất nghĩa.
Học Hiển và tu Mật.
Dặn đệ tử mỗi ngày.
Tôn chỉ này chớ quên."

🌟

Có người hỏi tôi:
"Trên phương diện thế tục đế, ngài chưa thành tựu điều gì, thế còn thành tựu trên phương diện Thánh đế thì sao?"
Tôi đáp:
"Nhãn nhĩ tị thiệt thân ý."
Người hỏi:
"Nghĩa là thành tựu những cái này sao?"
Tôi đáp:
"Những cái này là cái gì?"
Người hỏi:
"Không phải thành tựu sao?"
Tôi đáp:
"Căn bản cũng chẳng phải là thành tựu!"


### 18. Hồ sơ Bế quan


Khi sống ở Linh Tiên Các, quận Ballard, thành phố Seattle nước Mỹ, tổng cộng tôi bế quan ba năm. Có thể nói, ba năm này là tôi tự động bế quan.
Vì sao gọi là tự động?
Câu trả lời rất đơn giản, vì không có gì để làm, do vậy tôi bế quan.

Khi mới đến Mỹ, tôi không có công việc, nhàn tênh "vô tích sự", tôi chỉ có viết văn, viết sách.
Cuộc sống, con người ở nơi mới cũng chưa quen, không có khách khứa, không có đệ tử, trước cửa nhà ngay cả một con mèo cũng không có, do vậy, chỉ còn mỗi việc bế quan.
Do vậy mới gọi là tự động bế quan.

Tôi kín đáo tu pháp của Liễu Minh Hòa Thượng.
Tôi kín đáo tu pháp của Sakya Chứng Không Thượng sư.
Tôi kín đáo tu pháp của Đại Bảo Pháp Vương.
Tôi kín đáo tu pháp của Thubten Dorjie Thượng sư.
...

Trong thời gian ba năm, tôi tinh tấn khác thường, có vô số tương ứng, thành quả vô cùng huy hoàng. Sự tinh tấn này có được từ:

1. Vô sự.

1. Vô tâm.

Hóa ra, vô sự, vô tâm cũng là một trong những khẩu quyết quan trọng nhất của việc bế quan.
Không có công việc.
Không có mơ ước tương lai.
Không có phiền não.

🌟

Sau khi hoằng pháp một thời gian ngắn, tôi lại bế quan ở hồ Diệp Tử, thời gian kéo dài tới sáu năm.
Lần bế quan này thì không có điềm báo trước.
Nguyên nhân là một bí mật chăng? Là một bí mật rất rất thần bí chăng? Đúng vào lúc đang huy hoàng thì đột ngột bế quan.

Địa điểm bế quan là:
Đảo Tahiti. (nửa năm)
Đài Loan. (ba năm rưỡi)
Nam Sơn Nhã Xá. (hai năm)

Vào thời gian này, tôi không tiếp khách, không gặp đệ tử, không có điện thoại, không có thư từ, không có tin tức.
Chỉ có ra ngoài ăn cơm. (Tôi không tự nấu ăn.)
Tôi thay tên đổi họ.
Có người quen gặp tôi, hỏi:
"Ngài có phải là Lư Thắng Ngạn không?"
Tôi đáp:
"Tôi họ Mã."

Hàng xóm gọi tôi là ông Mã.
Có người quen hơn gặp tôi, hỏi:
"Ông rõ ràng là Lư Thắng Ngạn mà?"
Tôi đáp:
"Tôi là em trai của Lư Thắng Ngạn!"

Trong thời gian sáu năm này, Lư Thắng Ngạn đã sớm bốc hơi khỏi nhân gian rồi. Tôi không thừa nhận bản thân là Lư Thắng Ngạn.

1. Vô sự.

1. Vô tâm.

1. Đối với tương lai, chẳng có khát khao gì.
(Đây cũng lại là ba điều kiện quan trọng để tu pháp tinh tấn.)

Người chăm sóc tôi lâu nhất trong thời gian tôi bế quan ở Đài Loan chính là: Kim Cương Thượng sư Liên Cực.
Tôi bí mật kín đáo tu rất nhiều Mật pháp, đều là các pháp đại bí mật, đã đạt được thành tựu tương ứng cực kì cao.

Chín năm bế quan này, tôi đạt thành tựu phi phàm. Tương lai, tôi vẫn còn muốn ẩn cư bế quan nữa. Còn lúc nào sẽ lại ẩn cư bế quan, thời gian và địa điểm thì tôi còn đang xem xét.

Thế nhân vĩnh viễn không thể ngờ tới, ở nhân gian này, sự bế quan vĩnh viễn, lần ẩn cư cuối cùng, chính là cảnh giới tối cao - niết bàn.


### 19. Hồ sơ Xuống địa ngục


Tôi xuống địa ngục, đó là một việc bình thường.
Trong Địa Tạng Kinh, Vô Độc Quỷ Vương nói:
"Một phải do nghiệp lực, hai phải do uy thần lực thì mới xuống được địa ngục!"
Và tôi đây thì chính là dựa vào uy thần lực đó!

Địa Tạng Vương Bồ Tát là Bổn tôn của tôi. Trong địa ngục cũng có tịnh thổ, gọi là "Tịnh thổ Thúy Vy."
Tôi cũng ở trong địa ngục cứu độ chúng sinh.

Tôi lấy ba ví dụ:
Một người là bác sĩ Vương Phúc Khoa, vì tai nạn giao thông mà bị thương nặng nên xuống địa ngục, xếp hàng trước mặt Minh Vương. Tôi vội vàng chạy đến, khoác cho Vương Phúc Khoa một chiếc pháp bào của tôi.
Đến khi điểm danh đến lượt triệu kiến, Minh Vương vừa nhìn thấy pháp bào thì kinh hãi. Người này có pháp bào tám vạn bốn nghìn công đức, pháp bào tỏa ra nghìn tia sáng cát tường và hào quang lấp lánh.
Minh Vương nói:
"Loại người này không thể phán xét được, lệnh cho hoàn dương!"
Bởi vậy, bác sĩ Vương Phúc Khoa nằm trong phòng cấp cứu đã sống trở lại. Ông đã thuật lại hết việc ông ấy ở trong địa ngục và tôi đã xuống địa ngục cứu ông ấy thế nào.

Thứ hai:
Tiến sĩ Đặng Doanh Gia vì tình mà tự sát.
Khi thần thức của anh ấy đi đến trước cửa địa ngục thì tôi đã ở sẵn cửa địa ngục chờ Đặng Doanh Gia tới.
Tôi khuyên anh ấy nên quay đầu.
Tiến sĩ Đặng không nghe, cứ khăng khăng muốn đi vào địa ngục. Tôi liền dùng tay túm lấy cổ áo anh ta, đưa Đặng Doanh Gia trở về dương gian.
Vì sao tôi lại cứu Đặng Doanh Gia, bởi vì anh ta là Lục Liên Hoa Đồng Tử, sau này cần làm Kim Cương Thượng Sư, hoằng dương Chân Phật Mật Pháp. Vì thế sao có thể chết được?
Chuyện này, tiến sĩ Đặng Doanh Gia đã viết một cuốn sách tự thuật, nói rằng tôi ở trước cửa địa ngục đã cứu anh hoàn dương.
Sự việc này, mọi người đều biết cả.

Thứ ba:
Cô Trịnh Ngọc Hoa là hành giả Mật giáo, đã gặp tai nạn giao thông, thần thức của cô đã xuống địa ngục.
Cô ấy hướng về Thượng sư quy y cầu nguyện, nhưng vị Thượng sư quy y của cô ấy vẫn không xuất hiện.
Cô Trịnh Ngọc Hoa lại trông thấy tôi ở trong địa ngục cử hành pháp hội siêu độ. Cô nhận ra Lư Sư Tôn có đại chứng lượng.
Trịnh Ngọc Hoa kể cho tôi nghe về hoàn cảnh khó khăn, cô ấy không thể chết được. Cô còn có con thơ vẫn phải nuôi dưỡng.
Tôi chỉ dẫn cho cô đến một cái lỗ hổng mà tôi hóa hiện ra trong Oan Tử Thành để thoát ra, đồng thời chỉ dẫn cho cô đến gặp một vị Liên Hoa Đồng Tử Bồ Tát đưa cô ra khỏi địa ngục.

Sau khi hoàn dương đến nay đã trải qua mười năm.
Cô ấy làm chứng cho tôi việc tôi đã cứu cô ở trong địa ngục. Cô nhìn thấy tôi ở địa ngục làm đại pháp hội.

🌟

Tôi chỉ lấy ba sự việc để làm ví dụ. Thật ra việc tôi xuống địa ngục cứu độ chúng sinh, có viết vài cuốn sách cũng chưa viết hết được. Có thể nói là vô tận ...
Có người hỏi tôi:
"Ở dương gian, ngài là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Ở âm gian, cũng có một vị Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Ngài làm được điều đó như thế nào? Rốt cục là người nào mới là Lư Thắng Ngạn thật?"
Tôi đáp:
"Đều là trăng trong nước, cũng là hoa trong gương."

Người hỏi:
"Sự thật là ở đâu?"
Tôi đáp:
"Pháp thân Phật thanh tịnh."
Cái gọi là Lư Thắng Ngạn cũng không phải Lư Thắng Ngạn, bởi vì không phải là Lư Thắng Ngạn nên cũng chính là Lư Thắng Ngạn.


### 20. Hồ sơ Người điên


Tôi từng gọi một vị pháp sư (sống ở ngoài bang), tôi nói:
"Anh đến Seattle đi, tôi có việc quan trọng cần nói với anh."
Pháp sư vội vội vàng vàng đến.
Tôi nói với pháp sư:
"Anh đến gặp tôi, có chuyện gì vậy?"
Pháp sư đáp:
"Chẳng phải thầy gọi tôi đến đây sao?"
Tôi nói:
"Chẳng có việc gì, anh đi về đi!"
(Hành vi của Lư Sư Tôn có rất nhiều khi là như vậy. Có người đồn rằng, Lư Sư Tôn giống như nguời điên. Nói là rất quan trọng, kết quả lại là chẳng có việc gì, có kì lạ không.)

Đáp án là:
Không kì lạ.
Cái này gọi là: "Đột nhiên ban luật lệnh, thì thấy đã xong rồi."
Nói thử xem!
Là cái gì?

🌟

Tôi từng nói:
"Tôi viết sách, khi hoàn thành xong hai trăm cuốn sách, tôi muốn toàn thân trần truồng chạy quanh Lôi Tạng Tự ba vòng."
Người hỏi:
"Vì sao vậy?"
Tôi nói:
"Tôi muốn làm hiệp sĩ khỏa thân, sướng quá! Sướng quá!"

Người hỏi:
"Đã hoàn thành xong hai trăm cuốn sách rồi, thế ông đã khỏa thân chưa?"
Tôi đáp:
"Hai trăm cuốn văn tập, lớp lớp khai ngộ (tên văn tập số 200), cũng chẳng khác gì tôi đã cởi sạch quần áo của chính mình, thấy rõ diện mạo vốn có của mình, cầm sách nhiễu quanh chùa Phật ba vòng cũng chẳng khác gì đã chạy rồi."
"Đồ lừa bịp!"
Tôi đáp:
"Tôi chẳng lừa anh, tôi đã nhìn thấy, còn anh thì chả nhìn thấy."
(Xin thánh đệ tử chú ý, hãy thử nghĩ xem, Lư Sư Tôn rốt cục có khỏa thân trần trụi chạy quanh Lôi Tạng Tự ba vòng hay chưa? Lại xin hỏi, trần truồng chạy quanh Lôi Tạng Tự ba vòng là có ý gì?)

🌟

Tôi ở California hoằng pháp. (Nhất Như Lôi Tạng Tự)
Có một cô gái xinh đẹp đột nhiên ôm chầm lấy Lư Sư Tôn, mặt kề mặt. Thượng sư Liên Ha ở bên cạnh vội kêu lên:
"Ấy không được!"
Tôi đáp:
"Có gì là không được, cô gái xinh đẹp này rất mãn nguyện, tôi cũng vừa lòng, đây là việc tốt, vì sao không được?"
Thượng sư Liên Ha nói:
"Ảnh hưởng tới hình tượng!"
Tôi đáp:
"Lư Sư Tôn còn có hình tượng sao?"
(Xin các thánh đệ tử trả lời xem, đây là việc tốt đẹp, hay là việc xấu xa! Nó rơi vào khoảng nào?)

🌟

Năm xưa, Liễu Minh Hòa Thượng nói:
"Sau khi trò Lư thành tựu, nên bế quan, hoặc nhập niết bàn, hoặc làm kẻ điên."
Tôi tự thấy, làm kẻ điên như tôi vẫn còn chưa đủ điên. Sẽ có một ngày, tôi sẽ trần truồng lên pháp tọa thuyết pháp. Lúc này, các đệ tử bên dưới nên ngồi lại hay là nên bỏ đi đây? Hay là đệ tử ở dưới, lão tăng nhập định?
Tôi đợi đến lúc diễn vở kịch này đó!


### 21. Hồ sơ Viết sách


Thời tiểu học, tôi viết những mẩu truyện ngắn, truyện cười gửi đến Nhật báo Quốc Ngữ và Tạp chí Bạn Học.
Thời trung học cơ sở, tôi viết "Cảnh tượng học đường", được đăng trên báo Tin tức Đài Loan.
Thời phổ thông trung học, tôi đảm nhiệm chức chủ biên của tờ Thanh Niên Hùng Công, và tờ Cao Thanh Văn Túy. (Thanh Niên Hùng Công là tập san của Thanh niên Trung học Công nghiệp Cao Hùng, và tờ Cao Thanh Văn Túy là Tinh hoa Văn học Thanh niên Cao Hùng, chuyên san đặc biệt của toàn đoàn thanh niên cứu quốc Cao Hùng.)

Ở Cao Hùng, tôi đã gửi bản thảo sáng tác đến các tạp chí và tờ báo lớn. Việc sáng tác đã trở thành một niềm hứng thú mạnh mẽ sâu sắc của tôi.
Khi tôi đến Báo Tin tức Đài Loan để lĩnh nhuận bút.
Chủ biên của phụ bản Vịnh Tây Tử - Lâm Hải Cầu.
Chủ biên của phụ bản Cục Điện Ảnh - Tiểu Ngư.
Gặp tôi, sửng sốt.
Lư Thắng Ngạn không ngờ chỉ là một học sinh trung học. Khi đó, tôi viết thơ, tản văn, tạp văn, tiểu thuyết. Khi học đại học, tôi là chủ biên của tờ Văn Nghệ Trắc Lượng.

Trong hai tờ báo lớn của miền Trung, tôi đã viết cho chuyên mục:
Tờ Nhật báo Tiếng Dân --- mục "Thư gửi cho Lệ". (Đã tập hợp thành sách.)
Tờ Nhật báo Đài Loan --- mục "Thế giới tâm hồn". (Đã tập hợp thành sách.)

Khi học đại học, phạm vi sáng tác của tôi rộng hơn, tôi cũng gửi bản thảo đi nhiều nơi hơn, nhận mức nhuận bút đáng kinh ngạc. Thời đại học, tôi đã xuất bản bốn tập sách là "Tuyển tập Khói mỏng", "Thì thầm trong vườn mộng", "Ước mơ xanh bay lên", "Lá bay trong gió".

Tôi đảm đương:
Phóng viên của tờ Chiến sĩ Thanh Niên.
Phóng viên của tờ Nhật báo Tiếng Dân.
Phóng viên của tờ Lạc Đà Bay.
Phóng viên của tờ Lá Chắn.
...

Tôi đã đạt được giải thưởng văn nghệ Kim Tượng và vô số bằng khen thưởng hạng vàng, bạc, đồng.

🌟

Tốt nghiệp Đại học, tôi phục vụ trong quân đội 10 năm, khi giải ngũ tôi mang hàm Thiếu tá, di cư sang Mỹ, việc sáng tác, viết sách chưa từng gián đoạn.
Tôi sáng lập:
Chân Phật Báo.
Hoa Vũ Báo.
Tạp chí Liên Bang.
Tạp chí Nhiên Đăng.
Tạp chí Chân Phật Thế Giới.
...

Cho đến nay, tôi đã viết và xuất bản trên 210 cuốn sách, và vẫn tiếp tục viết sách.

🌟

Cuộc đời của tôi có ba việc quan trọng: Viết sách. Tu pháp. Hoằng pháp.
(Kalu Rinpoche nói: tôi là thiên hạ đệ nhất trong số những người viết sách thuyết pháp bằng tiếng Hoa.)
Câu nói này cũng chẳng phải là nói khoa trương!

Có người hỏi tôi:
"Có người đạo văn của ngài, ngài sẽ làm sao?"
Tôi đáp:
"Tùy họ!"
Có người hỏi tôi:
"Có người in trộm sách của ngài, ngài sẽ làm sao?"
Tôi đáp:
"Tùy họ!"
Có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn, ngài muốn viết bao nhiêu cuốn sách?"
Tôi đáp:
"Tôi có viết sách sao?"
(Xin mọi người nghĩ xem: Lư Sư Tôn có viết sách không?)


### 22. Hồ sơ Chân Phật Tông


Lúc ban đầu, tên gọi của Chân Phật Tông là Linh Tiên Tông. Hai chữ Linh Tiên là do Diêu Trì Kim Mẫu ban cho.
Về sau có người đã đăng kí quyền sở hữu cho ba chữ Linh Tiên Tông trước, do vậy chúng tôi đã mất đi quyền sở hữu, chỉ còn cách đổi tên thành Linh Tiên Chân Phật Tông, đây cũng là việc không còn lựa chọn nào khác.

Bởi cái tên Linh Tiên Chân Phật Tông thì cũng hơi dài, thế là mọi người gọi tắt lại thành Chân Phật Tông.
Hai chữ Chân Phật chính là tôn xưng của Báo thân Phật và Pháp thân Phật, ý nói về Pháp thân vô tướng.
Kinh Vô Lượng Thọ viết: "Tướng hảo quang minh, đầy đủ của một vị Phật chân thực."
Lâm Tế Lục viết: "Chân Phật vô hình, chân pháp vô tướng."

Và còn:
Bồ Tát sơ địa, chứng được chân như về Ngã Không, Pháp Không, là Chân Phật sinh ra trong ngôi nhà Như Lai.
Duy Thức Thuật Kí viết:
"Những vị Phật nối tiếp, lệnh không đoạn tuyệt, thậm chí với trí huệ bát nhã chứng chân pháp giới, gọi là Trung Sinh, gọi là Chân Phật."
Nếu như để tôi giải thích về Chân Phật, thì tôi nói rằng:
Phật - bậc giác ngộ.
Chân - chân chính.
Có nghĩa rằng: Bậc giác ngộ chân chính.

Chân Phật Kinh tán thán rằng:
"Thánh tôn đại từ bi, vô thượng bí mật tôn.
Quá khứ sớm tu chứng, giới siêu phàm thoát tục.
Nay lập Chân Phật giới, xót thương chư chúng sinh.
Hóa thân làm giáo chủ, hạ sinh cõi Ta Bà.
Lành thay hiệu Liên Sinh, vì chúng sinh quảng thuyết.
Chúng con đều đã nghe, nguyện sẽ đại hộ trì."

🌟

Thiền sư Trí Ngung, ở phủ Hoàng Long, Ngạc Châu.
Tăng nhân hỏi:
"Nguồn gốc của Chân Phật là gì?"
Thiền sư Trí Ngung đáp:
"Thế câu hỏi này là có nguồn gốc gì?"

Tăng nhân hỏi:
"Như vậy thì người người đều biết Chân Phật chẳng có gì khác nhau sao?"
Thiền sư Trí Ngung đáp:
"Kiếm đã thành rồng bay đi, chỉ còn lại người đóng thuyền."

(Mẩu đối thoại này, tôi có lược bỏ đi, nhưng không làm mất đi ý nghĩa gốc, xin các thánh đệ tử, chú ý vào câu cuối cùng, kiếm đã thành rồng bay đi, chỉ còn lại người đóng thuyền. Câu này ẩn chứa nhiều huyền chỉ lớn đó! Người đã giác ngộ thì hiểu, người chưa ngộ thì sẽ không hiểu ra làm sao.)

🌟

Thiền sư Sơn Trừng, Huyền Đô, phủ Hưng Nguyên.
Tăng nhân hỏi:
"Thế nào là cứu tế?"
Thiền sư Sơn Trừng đáp:
"Con gà vàng trên lầu bỗng gõ trống."
Tăng nhân hỏi:
"Thế nào là sa môn hành?"
Thiền sư Sơn Trừng đáp:
"Tất cả đều không biết."
(Cá nhân tôi rất thích câu nói "tất cả đều không biết" của thiền sư Sơn Trừng. Cho dù tôi là người sáng lập Chân Phật Tông, nhưng tôi đều chẳng biết gì về Chân Phật Tông. Sự sáng lập Chân Phật Tông, sự phát triển của Chân Phật Tông, sự hưng thịnh của Chân Phật Tông, sự tàn lụi của Chân Phật Tông, tất cả tôi đều không quản lo, cũng chẳng biết tí gì. Thậm chí, tôi nói ra bên ngoài rằng: căn bản là tôi không có sáng lập Chân Phật Tông, điều này là thật. Thánh đệ tử! Thử cho ý kiến xem, Lư Sư Tôn sáng lập Chân Phật Tông, rồi lại nói là không sáng lập Chân Phật Tông, là vì sao?)


### 23. Hồ sơ Mật truyền


Bản thân Mật giáo vốn không có bí mật gì để nói. Tuy nhiên, vì con người có căn khí cao, căn khí trung, căn khí thấp, do vậy khi tùy theo người mà dạy thì mới có bộ phận "mật truyền".

Bộ phận giới luật Mật giáo, đối với vấn đề "truyền không đúng người", ngay cả đến Thượng sư Acharya (A xà lê) cũng đều có tội cả.
Mật giáo phân ra làm bốn bộ tục: Sự bộ, Hành bộ, Du già bộ, Vô thượng bộ.
Thứ tự của Mật giáo là: Ngoại pháp, Nội pháp, Mật pháp, Mật mật pháp.
Khi Thượng sư (Acharya) truyền thụ Mật pháp, cần phải theo thứ tự mà dạy. Hành giả Mật giáo phải theo thứ tự mà tu, một giai đoạn đã tu thành rồi thì mới tu lên đến giai đoạn tiếp theo. Không thể nhảy cấp được.

Chân Phật Mật Pháp dựa theo thứ tự là:
Gia hành pháp.
Thượng sư tương ứng pháp.
Bổn tôn pháp.
Khí pháp.
Mạch pháp.
Minh điểm pháp. (Vô lậu pháp, Chuyết hỏa pháp)
Khai trung mạch, khai ngũ luân.
Kiến Phật tính.
Kim Cang pháp.
Vô thượng Mật.
Hồng quang thành Phật pháp.

🌟

Ngoài giới, có một số người tung tin nhảm rằng Lư Sư Tôn đã đặc biệt mật truyền thủ ấn cho một vài người.
Mật truyền chân ngôn?
Mật truyền mật pháp (đại pháp)?
Mật truyền Vô thượng mật bộ?
Mật truyền mật mật mật mật (tứ mật)?
Những người này tuyên truyền ra bên ngoài là đã đặc biệt được truyền thụ, đặc biệt được mật truyền, đặt biệt có được tâm ấn khẩu quyết cao cấp, đặc biệt có được tâm bí mật trung tâm, ...

Tôi thừa nhận:
Thủ ấn là có tâm ấn trong tâm.
Chân ngôn là có chân ngôn thù thắng.
Quán tưởng là có bí mật quán tưởng.
Nội pháp là có tâm yếu.
Kĩ pháp là phải truyền thụ đặc biệt.
Vô thượng mật là mật mật mật mật.
...

Tất cả những thứ này đều phải lựa chọn người mà truyền, không thể công khai truyền thụ rộng rãi được, e rằng nếu truyền không đúng người thì sẽ phạm vào trọng giới.
Nếu tôi truyền thụ thì chắc chắn phải có "vẽ kí hiệu", cũng phải có chữ kí của tôi, tương đương rằng tôi đã chứng thực.

Nếu như người vì tự đề cao giá trị bản thân, không đưa ra được chữ kí và hình vẽ kí hiệu, chỉ là nói miệng với người ta rằng tôi đã truyền pháp bí mật cho anh ta, thì đây là tự đề cao giá trị bản thân, không đáng tin.

Có người nói:
"Từ lâu Lư Sư Tôn đã quán đảnh cho tôi làm Kim Cương Thượng Sư Acharya rồi, tôi là Thượng sư bí mật."
Tôi đáp:
"Không tin được."
Tôi quán đảnh Kim Cương Thượng Sư là minh bạch công khai, chứ không phải là có sự mờ ám, xin mọi người hãy chú ý.

Còn đối với bộ phận mật truyền thì phải có chứng nhận của tôi thì mới đúng. Nếu không có chứng nhận của tôi thì không thể tính.
Bản thân tôi rất coi trọng những bậc trí huệ thượng căn. Mật truyền là có, không khó để nhận ra. Hãy đến tìm tôi hỏi thì sẽ hiểu rõ tất cả!


### 24. Hồ sơ Ngoại đạo


Nói đến "ngoại đạo", nghĩa là nói đến những người đứng ngoài Phật giáo, đều gọi chung là ngoại đạo.
"Chỉ Quán" viết:
"Ngoại đạo phân làm ba loại. Một là ngoại đạo ở ngoài Phật pháp. Hai là ngoại đạo kèm Phật. Ba là học Phật pháp nhưng trở thành ngoại đạo."
"Thiên Thai Tịnh Danh Sớ" viết: "Tách rời ra ngoài pháp, gọi là ngoại đạo."
"Tam Luận Huyền Nghĩa" viết: “Mục đích tối cao của đạo chính là rời bỏ dục thế gian, thoái khỏi mọi khổ. Tâm còn xa rời khỏi mục đích này, thì chính là ngoại đạo”
"Viên Giác Kinh" viết: "Tâm và hành động nằm ngoài đạo lý, gọi là ngoại đạo."
"Phạm Võng Kinh" viết: "Thiên ma ngoại đạo, xem nhau như cha mẹ."

Trong Phật điển, ngoại đạo có "nhị thiên tam tiên" (Bách Luận), "tứ ngoại đạo" (Nhập Đại Thừa Luận), "sáu vị thầy ngoại đạo" (Kinh Niết Bàn), "mười ba ngoại đạo" (Duy Thức Luận), "mười sáu ngoại đạo luận sư" (Du Già Luận), "ba mươi ngoại đạo" (Đại Nhật Kinh), "chín mươi sáu ngoại đạo" (Hoa Nghiêm Kinh), vân vân và vân vân, có thể nói là đầy rẫy đủ loại.

🌟

Tôi, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, bị gọi là ngoại đạo kèm Phật, lại càng có nhiều luận ngữ hơn nữa:
Đại ngoại đạo kèm Phật.
Đại thiên ma.
Giả Hoạt Phật.
Kẻ lừa bịp siêu khoác lác.
Yêu ma quỷ quái.
...

Họ đem tôi ra viết thành hai luận văn lớn bàn về ngoại đạo kèm Phật, chính là do cư sĩ Trần Huệ Kiếm công bố trong diễn đàn Phật giáo thế giới.
Tôi là người thứ nhất.
Thanh Hải Vô Thượng Sư là người thứ hai.

Tôi nói:
"Tôi chính là Phật, không cần phải kèm."
Tôi chẳng "nội", tôi cũng chẳng "ngoại".
Tôi là cả nội cả ngoại, và cũng chẳng phải là cả nội cả ngoại.

Ba chữ Lư Thắng Ngạn này, những kẻ thiển cận nông cạn ít trí tuệ sao có thể suy đoán xằng bậy được.
Tôi thật lòng thật sự nói cho mọi người biết, giáo hóa cuối cùng của Phật Thích Ca Mâu Ni là:
Tự tu tự chứng.
Tự đăng minh.
Pháp đăng minh.

Trong kinh Phật, những điểm vừa thâm thúy vừa khó hiểu, vừa dễ gây nhầm lẫn nhiều vô số kể! Ví dụ:
Đại thừa không phải do Phật thuyết - vậy Tam tạng Đại thừa đều là sách giả?
Luận về có thần và vô thần?
Tiểu thừa là nhị thừa?
Mật thừa đều là ngoại đạo?
Xin hỏi các thánh hiền tăng, vậy thế nào là Phật giáo? Thế nào là Phật pháp?

Tôi kể với mọi người:
Khi Phật mới xuất gia đã đến thăm A La La, Uất Đà La tiên nhân. Phật và ngoại đạo có sự đan xen lẫn nhau.
Tương tự, Khổng Tử và Trang Tử, Hàn Phi Tử, cũng không hề đoạn tuyệt với nhau.
Kinh điển tam tạng đều do người đời sau kết tập, trăm nghìn năm sau, ai dám nói một trăm phần trăm là thật?
Luận Ngữ của Khổng Tử cũng là như thế chăng?

Tôi xin nói với các thánh đệ tử rằng:
Tôi đã viên dung lý thể, việc đó vốn chẳng thể dùng lời nói mà nói được.
Tôi đã chứng nhập và ở lại được chỗ cùng tận của chân như, việc đó cần gì mà phải dùng văn tự để mô tả.
Sự minh tâm kiến tính của tôi là vô thượng đó!


### 25. Hồ sơ Thông linh


Tôi từng là một người thông linh. Với người bình thường mà nói thì có lẽ họ cực kì tò mò với chuyện thông linh.
Thật ra, nguyên lý rất đơn giản: người và linh nối với nhau bằng một sợi dây. Chỉ cần tạo ra một sợi dây nối thì chính là thông linh, chỉ là như vậy mà thôi.
Do vậy tôi mới nói rằng, tôi muốn để cho mọi người biết, thông linh chẳng phải là gì ghê gớm cả.
Thông linh không phải là tu hành.
Một đứa trẻ con, một kẻ hạ tiện tầm thường, một phu nhân phì nộn, một ông già say xỉn, một người lao công... đều có thể là một người thông linh. Bởi vì chỉ cần tạo ra một sợi dây nối là thông linh rồi.

Trong con mắt của tôi:
Thế giới này là thế giới tinh linh, có vô số la sát, có vô số dạ xoa, có vô số quỷ thần.
Lực nhỏ thì là quỷ.
Lực lớn thì là thần.

Chỉ cần tạo ra một sợi dây nối với những thứ này thì bạn đã có năng lực thông linh rồi. Loại năng lực này cũng có thể dự đoán một số sự việc, nói được chút chút về nhân quả ba kiếp, lành dữ họa phúc.
La sát.
Dạ xoa.
Quỷ thần.
Khẳng định là có một vài năng lực thần thông, đôi khi cũng linh nghiệm dị thường, ngay cả đến quỷ cũng có năng lực thần thông. Đây là điều mà chúng ta không thể phủ nhận.

Điều mà tôi muốn tuyên bố rõ là:
Thông linh không đại diện cho việc có tu hành.
Thông linh không đại diện cho sự có giác ngộ.
Thông linh không đại diện cho sự có chứng ngộ.
Thông linh không đại diện cho sự có thành tựu.
Xin đừng lẫn lộn!

Tôi nói một cách đơn giản rằng:
"Thông linh và thiên nhãn, thiên nhĩ, tha tâm, túc mệnh, thần túc, lậu tận của Như Lai là khác xa nhau tít tắp, không được lẫn lộn!"
Thông linh - có sợi dây nối.
Thần thông - do tu hành mà có.

Xã hội ngày nay coi thông linh như là có thần thông, có thể thấy ở khắp mọi nơi, người thông linh ngồi tít trên cao, tự cho rằng bản thân rất ghê gớm, tự cho rằng mình đã chứng quả rồi, kì thực họ chỉ thông tin tức với la sát, dạ xoa, quỷ thần mà thôi! Những la sát, dạ xoa, quỷ thần này đều có tập khí, rất dễ nhận ra.

🌟

Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, chư Thiên so với la sát, dạ xoa, quỷ thần thì cao cấp hơn rất nhiều, tuy nhiên người từ tu hành mà đạt đến tương ứng thì chẳng có bao nhiêu. Hai điều này rất dễ lẫn lộn, cũng rất dễ mê hoặc người khác.

Người thông linh xưng "thầy" xưng "tổ", tự xưng là khai ngộ, tự xưng là Hoạt Phật, tự xưng là Đại Phật.
Nguy hiểm lắm thay!

Những Thánh - hiền- tăng tu hành chân chính như chúng ta biết rằng:
Minh tâm kiến tính và thần thông thông linh không có liên quan.
Minh tâm là hiểu rõ cảnh tượng của bản địa.
Kiến tính là đích thân chứng ngộ Phật tính.
Thần thông là phương tiện.
Thông linh là sự mê hoặc của quỷ thần.


### 26. Hồ sơ Kiếp trước đời này


Khi Phật Thích Ca Mâu Ni trụ thế, thường nhắc đến: "Kiếp trước anh là ai, kiếp trước ta là ai, do vậy trong kiếp này mới phát sinh ra sự việc này."
Đây chính là nhân quả của kiếp trước đời này.

Trong năm trăm kiếp, Phật Đà đã tu Bồ Tát hạnh, kết tập thành sách, chính là "Bản Sinh Kinh".

Tôi thích một câu chuyện về kiếp trước đời này của tổ sư Thiền tông, xin thuật lại như sau:
Ngũ tổ Hoằng Nhẫn kiếp trước là đạo nhân Tải Tùng, ngài ấy đi gặp Tứ tổ Đạo Tín.
Tứ tổ nói:
"Ông già quá rồi, tôi không thể truyền y bát cho ông được."

Đạo nhân Tải Tùng xuống núi, gặp một thiếu nữ trinh nguyên đang giặt quần áo bên bờ suối, đạo nhân nói với thiếu nữ:
"Cho tôi tá túc được không?"
Thiếu nữ đồng ý. Cô về nhà hỏi cha mẹ:
"Đạo nhân này muốn ở nhờ, được không?"

Cha mẹ cô đồng ý. Quay lại nhìn thì đạo nhân đã biến mất.
Không ngờ rằng, thiếu nữ bỗng mang thai. Cha và anh cô cho rằng cô có tư tình, liền đuổi cô ra khỏi nhà, cô lưu lạc trở thành kẻ ăn mày.
Thiếu nữ trinh nguyên sinh hạ một đứa bé, hai mẹ con làm kẻ ăn xin mà sống qua ngày.

Về sau:
Tứ tổ Đạo Tín gặp hai mẹ con ăn mày, biết nhân quả kiếp trước, cuối cùng đã truyền y bát cho đứa trẻ ăn mày, chính là đại sư Ngũ tổ Huệ Nhẫn tương lai.
Mẩu chuyện về kiếp trước đời này này thật là thần kì quá.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) có một đệ tử, sống tại Hà Lan, tên là Liên Hoa Đức Tường, đã khai ngộ.
Tôi nói với ông:
"Tôi muốn truyền áo cho ông, nhưng ông già mất rồi!"
Tôi nói:
"Kiếp sau, ông đến, chúng ta lại gặp, tôi lại truyền áo cho ông, được không?"
Liên Hoa Đức Tường đáp:
"Được."
Tôi biết, chúng tôi kiếp sau sẽ gặp lại, tôi sẽ truyền y bát cho ông ấy.

🌟

Kiếp trước, tôi từng là Quốc vương. Kiếp này, những con dân của tôi kiếp trước đều là đệ tử của tôi.
Kiếp trước, tôi có trì giới, giữ năm giới, làm mười điều thiện, tu bát nhã hành. Kiếp này, tôi là Tông trưởng, đại thiện tri thức, Chân Phật.
Những điều này đều có liên quan lẫn nhau.

Có một cuốn sách là "Tiền thế tam chuyển kinh" chính là nói về Phật kiếp trước ba lần đầu thai hành ba-la-mật sự.
Chúng ta không thể phủ nhận kiếp trước, đời này.
Ở đây là hành giả tu hành đã tiến nhập vào trong kí ức của kiếp trước, nhớ lại rất nhiều kiếp trước đây của mình.
Có rất nhiều bằng chứng chứng minh chúng sinh đều luân hồi nhiều kiếp, vẫn luôn ở trong nghiệp báo luân hồi, lặp đi lặp lại. Rất nhiều người cực kì tò mò về kiếp trước.

Một số thầy bói đã lợi dụng lòng hiếu kì về kiếp trước của con người nên cũng xem bói về nhân quả ba kiếp. Cũng có những thầy bói bất lương, dựa vào nhân quả ba kiếp để đe dọa tín chúng, nhằm lợi dụng tiền bạc, nữ sắc và đòi hỏi cúng phẩm.

Cá nhân tôi cho rằng:
Bất kể là nhân quả ba kiếp ra sao.
Bản thân cần vững chân đứng chắc, lấy việc tu hành làm chính yếu.
Muốn tìm hiểu về nhân quả ba kiếp, những điều nghe người khác nói, chưa chắc đã là chuẩn xác, e rằng chỉ là lừa bịp người ta. Chi bằng tự mình tu chứng. Nếu như tu chứng túc mệnh thông thì tự mình sẽ biết nhân quả ba kiếp của mình. Vì vậy, đừng tùy tiện nghe người khác hù họa nữa.


### 27. Hồ sơ Phân biệt


Tôi cảm thấy rằng bản văn này vô cùng quan trọng.
Tôi nói:
"Trong quá trình tu hành của tôi có những sự phân biệt. Tôi đã vận dụng tâm ý thức của tự ngã. Nhưng sau khi minh tâm kiến tính, tôi đã có tâm không phân biệt, vô trí cũng như vô đắc."

Phát Trí Luận nói: "Pháp quy phân biệt, Thánh quy niết bàn."
Thành Thực Luận nói: "Pháp quy phân biệt, Chân Nhân quy diệt."
Duy Thức Luận Thuật nói:
"Người còn phân biệt dựa trên lời nói, còn tâm pháp hữu lậu trong tam giới, chỉ là lấy tâm vọng mà phân biệt chân như vậy."

Tôi nói:
Phàm phu được xét trên mức độ hư vọng.
Phật là bậc trí giả vô phân biệt.
Những kinh điển có liên quan đến sự phân biệt là: Phân biệt kinh, Phân biệt công đức phẩm, Phân biệt công đức kinh luận, Phân biệt duyên sinh, Phân biệt bố thí kinh, Phân biệt thánh vị kinh, Phân biệt nghiệp báo kinh, Phân biệt thiện ác sở khởi kinh, Phân biệt thiện ác báo ứng kinh, Phân biệt duyên khởi sơ thắng pháp môn kinh.

Tôi nói:
Thiện ác, đẹp xấu, tốt xấu, đúng sai, trắng đen, sướng khổ, sống chết, chính tà, già trẻ, thơm thối, thô tinh, v.v… Đây là những sự phân biệt dựa trên hình tướng của sự vật.
Còn như Tâm kinh đã nói, Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm bát nhã ba la mật đa thời, quán chiếu thấy:
Ngũ uẩn không. Thọ tưởng hành thức không.
Nhãn nhĩ tị thiệt thân ý không.
Sắc thanh hương vị xúc pháp không.
Nhãn giới không. Ý thức không.
Vô minh không. Lão tử không.
Khổ tập diệt đạo không.
Trí không.
Đắc không.

Rồi sau đó:
Bất sinh bất diệt. Bất cấu bất tịnh. Bất tăng bất giảm.
Đây chính là thực trí của Phật.

🌟

Thiền sư Viện Đạt, ở Xương Phúc, Mi Châu.
Tăng nhân hỏi:
"Trò học đến hỏi thì thầy trả lời, khi không hỏi thì thầy nghĩ thế nào?"
Thiền sư Viện Đạt đáp:
"Cảm ơn đã chỉ giáo."
Tăng nhân hỏi:
"Vốn dĩ không có hỏi thì sao có việc như ngày hôm nay?"
Thiền sư Viện Đạt đáp:
"Câu hỏi này hỏi hay lắm!"
Tăng nhân hỏi:
"Khi trò học không hiểu thì làm sao?"
Thiền sư Viện Đạt đáp:
"Cũng biết được cái không hiểu."
(Hiểu cũng là có được, không hiểu cũng là có được.)

🌟

Đừng xem thường công án đối thoại này. Tăng nhân là người có tính toán với tâm phân biệt, thiền sư Viện Đạt có tâm không phân biệt.
Trên đời này, trong quá trình tu hành, có sự phân biệt tự tính, có sự phân biệt mức độ tính toán, có sự phân biệt tùy theo suy nghĩ. Sự tu hành của Lư Sư Tôn là dùng tâm ý thức để ấn chứng tâm vô ý thức.

Tôi nói như vậy, xin hỏi các Thánh đệ tử:
"Tôi đã khai ngộ được mấy phần?"


### 28. Hồ sơ Gặp hổ


Trong cuộc sống, đâu đâu cũng có cạm bẫy, đâu đâu cũng đầy nguy cơ, những điều then chốt của sinh tử tồn vong, bạn làm sao để ứng đối?
Rất nhiều người kinh hoảng vô vọng.
Rất nhiều người luôn chịu trận, không biết phải làm sao.
Có người giữ được sự bình tĩnh.
Có người dựa vào cái bất biến để ứng đối với vạn biến.
Có người thì ứng đối bằng sự trầm mặc.
Thế còn trí huệ tối cao là cái gì? Cái gì là trí huệ tối cao?

Tôi từng lấy một ví dụ:
Có một người tu hành gặp một con hổ đói ở núi hoang, không chạy lên trước được, sau lưng cũng không có đường thoát, phải làm sao?
Tôi đáp:
"Niệm Nam mô Phật, nam mô Pháp, nam mô Tăng."
Một là nương dựa vào Phật mà vãng sinh.
Hai là để cho hổ có được tam quy y.
Đôi bên đều có lợi.

🌟

Phật Đà bị người đàn bà Tôn Đà Lợi phỉ báng, bị cô gái Chiến Già giả có thai để phỉ báng Phật.
Phật Đà không nói một câu nào.
Tôi cũng bị hai người phụ nữ phỉ báng tôi, tôi cũng không nói một câu nào, không cần giải thích, tôi chỉ đáp lại bằng sự trầm mặc.
Tôi chỉ niệm Phật hồi hướng cho họ thôi.
Đôi bên cùng có lợi.
(Hành giả chúng ta coi phụ nữ như hổ, hổ thì luôn muốn ăn thịt đối phương mà.)

Tôi luôn cảm thấy:
Chuyện đời luôn giống như mộng huyễn mà thôi, không cần bám chấp, mộng huyễn là vô thường.
Mộng huyễn rồi sẽ qua đi.
Mộng huyễn căn bản chỉ là hư không chẳng có.

Khi tôi gặp hổ, tôi luôn giữ ba quan niệm, đây cũng là nguyên tắc xử thế của tôi:
Khi mê thì đâu đâu cũng có đại thiên.
Khi ngộ thì đại thiên đâu đâu cũng chẳng có.
Chỉ thế mà thôi.
Nằm mơ rồi tỉnh dậy, chẳng có được gì hết!

🌟

Tôi thích những câu trả lời của thiền sư Khiết Tùng ở Báo Ân, Xử Châu.
Tăng nhân hỏi:
"Khi sư tử chưa ra khỏi hang thì phải làm sao?"
Thiền sư Khiết Tùng đáp:
"Tài năng khó đánh."
Tăng nhân hỏi:
"Nó ra khỏi hang rồi thì làm sao?"
Thiền sư Khiết Tùng đáp:
"Không chỗ náu mình."
Tăng nhân hỏi:
"Khi muốn nó ra mà nó không ra thì làm sao?"
Thiền sư Khiết Tùng đáp:
"Mạng sống treo trên sợi tơ."
Tăng nhân hỏi:
"Việc tương lai ra sao?"
Thiền sư Khiết Tùng đáp:
"Bức bách!" (thúc ép) (sắp đến)
Những câu trả lời của thiền sư Khiết Tùng thật hay. Tôi ra khỏi hang, quả thật cũng là không chỗ náu mình. Thử hỏi các Thánh đệ tử, ở nhân gian này, có ai là không bị bức bách?)


### 29. Hồ sơ Xuất gia


Trong cuộc đời này, hơn 40 tuổi thì tôi xuất gia. Vị thầy cạo đầu cho tôi đi tu là Thượng Quả Hạ Hiền đại hòa thượng của chùa Huệ Tuyền ở Hồng Kông, thời gian tôi xuống tóc xuất gia là ngày 10 tháng 2.
Địa điểm là Chân Phật Mật Uyển.

Bên ngoài đồn rằng tôi tự mình cạo đầu xuất gia, căn bản đây chỉ là tin đồn nhảm thất thiệt. Đại hòa thượng Quả Hiền đã quy y tôi trước. Sau đó, ông ấy lại giúp tôi cạo đầu xuất gia.
(Giai thoại này giống như Lục tổ Huệ Năng của Thiền tông. Khi Lục tổ khai ngộ thì vẫn chưa xuất gia, mãi cho đến khi ngài ấy đến Lĩnh Nam thì cũng mới nhờ đệ tử của ngài ấy giúp cạo đầu xuất gia.)

🌟

Trước khi cạo đầu xuất gia, tôi có vợ có con, điểm này cũng không có gì kì lạ. Phật Thích Ca Mâu Ni sống trong hoàng cung cũng lấy vợ là Da Du Đà La, sinh con trai là La Hầu La. Phật Thích Ca Mâu Ni còn có rất nhiều phi tần. Phật Đà rời bỏ gia đình, tự mình cạo đầu xuất gia. Ngài tu khổ hạnh sáu năm ở Tuyết Sơn. Cuối cùng, Ngài ngộ đạo dưới gốc cây bồ đề.

Người ngoài đả kích rằng tôi có vợ con, thực tế là giáo chủ Phật giáo cũng có vợ con vậy.
Người ngoài đả kích việc tôi vẫn sống ở trong nhà, thực tế nhà tôi ở Mỹ cũng giống như ngôi chùa.

Tôi khai ngộ ở Linh Tiên Các.
Vợ tôi đã trở thành thị giả của tôi.
Con cái tôi từ lâu đã rời gia đình, thành gia lập nghiệp.
Chỉ thế mà thôi.
(Sinh hoạt vợ chồng từ lâu đã đoạn tuyệt rồi.)

🌟

Xuất gia tức là xuất ly khỏi cuộc sống của gia đình, tu theo con đường thanh tịnh của một sa môn.
Người xuất gia cần có bốn lời nguyện:

1. Nguyện giúp chúng sinh khốn khó.

1. Nguyện trừ bỏ nghiệp chướng mê hoặc của chúng sinh.

1. Nguyện cắt đứt tà kiến của chúng sinh.

1. Nguyện độ chúng sinh khỏi bánh xe khổ ải.
Người xuất gia cần giữ mười giới, cụ túc giới.

Tâm Địa Quán Kinh nói: "Phát bồ đề tâm, xả ly phụ mẫu, xuất gia nhập đạo."
Di Giáo Kinh nói: "Người xuất gia nhập đạo là vì sự giải thoát, tự giáng thân này xuống làm một kẻ hành khất."

Có hai cuốn kinh về xuất gia truyền đời là: Xuất gia nhân duyên kinh, Xuất gia công đức kinh.
Tôi khuyến khích các đệ tử xuất gia.
Tôi nói rằng:
"Chuyên trách tu hành, độ chúng. Gánh vác sự nghiệp vĩ đại của Như Lai!"

🌟

Thiền sư Kế Đạt ở phủ Hoàng Long, Mi Châu.
Tăng nhân hỏi:
"Thế nào là tăng?"
Thiền sư Kế Đạt đáp:
"Kim đã xuyên vào sợi chỉ không trở lại." (Xuất gia chính là như vậy.)
Tăng nhân hỏi:
"Thế nào là vải choàng vai?"
Thiền sư Kế Đạt đáp:
"Ngang trải bốn thế giới, dọc che một càn khôn." (độ chúng sinh)
Tăng nhân hỏi:
"Khi đến lúc đạo đã viên mãn, phải làm sao?"
Thiền sư Kế Đạt đáp:
"Muốn canh được canh, muốn cơm được cơm."

Tôi hỏi:
"Tự tại vô ngại, sao không xuất gia?"
Vẫn còn lo tới hoa hoa cỏ cỏ để làm cái gì?


### 30. Hồ sơ Độ linh nghiệm


Rất nhiều người đầy mê muội vào sự linh nghiệm của việc xem bói.
Tôi xin trả lời như thế này:
"Chư hành vô thường!"
Đương nhiên mức độ linh nghiệm thì có siêu chuẩn, có bình thường, cũng có chẳng linh nghiệm tí ti nào cả.
Sự phân chia của tôi như sau:
Những gì thiên nhãn thấy.
Những gì thiên nhĩ nghe.
Bấm ngón tay thần toán.
(Là siêu chuẩn.)

Bát tự, vải tầm ma, thần số, đẩu số, mô cốt, bát quái, trắc tự, tarot…
(Là bình thường.)
Bàn quay thần, thông linh, xem quẻ, ném li...
(Có lúc chuẩn có lúc không.)

Tôi nói:
Thần thông có cao có thấp.
Mức độ linh nghiệm tự nhiên cũng phân thành cao thấp, đây là hiện tượng tự nhiên, không có gì lạ.

🌟

Tôi có hai sự việc, thuật lại như sau:
Một người đàn ông không quen biết đến gặp tôi, khịt mũi khinh bỉ thần toán của tôi.
Tôi nói:
"Không cần phải như vậy. Đêm qua anh chạy xe máy, đâm trúng người ta, chân bị một vết trầy da đó."
Người này kéo ống quần lên, quả nhiên là có một vết thương.
Cú va chạm xe của người đàn ông lạ mặt là chuyện rất nhỏ, ông chưa từng nói với người nào. Thế nên lúc đó ông đã giật mình sửng sốt. Thế rồi tin luôn!

Còn nữa:
Một người phụ nữ đến chỗ tôi hỏi về sự nghiệp của con trai bà ấy. Đối với tôi, bà nửa tin nửa ngờ.
Tôi nói:
"Đừng nghi ngờ, đừng nghi ngờ, tối qua bà đánh mạt chược với người ta, thắng được 880 tệ đó."
Người phụ nữ thảng thốt!
Vô cùng thán phục.
Bởi vì ngay cả chính bà cũng không biết mình thắng được bao nhiêu tiền, cộng cộng trừ trừ, quả nhiên là 880 tệ.

🌟

Cá nhân tôi cho rằng:
Bất kì một dạng thông linh nào, chỉ cần có "linh đến" thì tự nhiên sẽ có linh nghiệm. "Linh đến" là quan trọng nhất.

Cho dù là một cái "ném li" thường thấy nhất, thì chỉ cần có "linh đến", tự nhiên sẽ linh. Nếu như bất kì thần toán nào căn bản là không có "linh đến" thì đó nhất định là bốc phét.
Tu pháp.
Vẽ phù.
Niệm chú.
Hỏi việc.
Xóc quẻ.
Đều cần dựa vào "linh đến".

Đại khái, linh cũng phân chia thành linh cấp cao, linh cấp trung, và linh cấp thấp. Những "linh đến" thông thường đều là linh có cấp độ tương đối thấp, bởi vì linh cấp thấp thì tương đối dễ gọi tới.
Linh cao cấp là khi người tu hành đạt đến cảnh giới rất cao thì mới có thể có hiện tượng hòa tan vào nhau.

Tôi nói để mọi người biết:
"Khai ngộ và thông linh không có liên quan với nhau, khai ngộ và thần thông cũng không có liên quan với nhau!"


### 31. Hồ sơ Cúng dường


Từ nhỏ, tôi đã là một kẻ nghèo mạt hạng.
Trước khi học Phật, tôi dựa vào "nhất nghệ tinh", sáng tác kiếm chút tiền nhuận bút để tiêu vặt. Sau khi học Phật, tôi đột phá trí huệ Phật.

Tôi đem trí huệ của Như Lai cúng dường chúng sinh.
Chúng sinh dùng tiền và vật chất để cúng dường tôi.
Tôi cúng dường cho chúng sinh pháp.
Chúng sinh cúng dường cho tôi tiền.

Những thứ tôi ăn, là chúng sinh cúng.
Những thứ tôi mặc, là chúng sinh cúng.
Nơi tôi ở, là chúng sinh cúng.
Xe tôi đi, là chúng sinh cúng.

Sau khi tôi hoằng pháp, có thể nói rằng tất tần tật mọi thứ đều là do chúng sinh cúng. Đó là nguồn gốc duy nhất, không có nguồn gốc nào khác.
Còn tôi thì ban cho chúng sinh:
"Phật pháp."
(Con người tôi rất dễ hài lòng, tôi thường nói tôi đã rất mãn nguyện rồi. Tôi từng viết một chương sách nói rằng có thể không cần cúng dường Lư Sư Tôn nữa.)

🌟

Tôi thành lập Tổ chức từ thiện Lư Thắng Ngạn, đem tiền của mình bỏ vào quỹ của tổ chức, do tiến sĩ Lư Phật Thanh làm chủ tịch.
Mục tiêu của tổ chức này là:

1. Chăm sóc sức khỏe.

1. Giáo dục văn hóa.

1. Cứu nạn cấp cứu.
...

Tôi nghĩ rằng, những gì chúng sinh cúng cho tôi, tôi lại trả về cho chúng sinh. Tất tần tật mọi thứ đều nghĩ vì chúng sinh. Tôi cùng hít thở một lỗ mũi với chúng sinh.

Nếu chỉ dựa vào độc số tiền nhỏ của tôi thì khó thành việc lớn. Do vậy, tôi kêu gọi mọi người cùng đóng góp vào Tổ chức từ thiện Lư Thắng Ngạn, như vậy chúng sinh sẽ càng có được lợi ích lớn hơn.
Rốt cục thì pháp quan trọng hơn?
Hay là tiền quan trọng hơn?
Phật Đà nói:
"Hết thảy cúng dường, pháp là số một."

Bởi vì:
"Dẫu có vạn vạn tỉ, cuối cùng cũng như không."

Có bài kệ:
"Người hiểu tin dùng cách cúng vật,
Thánh hiền truyền pháp chẳng lệch sai.
Thỉnh thầy giảng giải ý đồ này
Đến nay Thất Tổ chẳng có ai."

🌟

Có người hỏi tôi:
"Khi không có tiền thì làm thế nào?"
Tôi đáp:
"Một mình."

Có người lại hỏi:
"Khi có tiền thì sao?"
Tôi đáp:
"Một mình."

Người đó hỏi:
"Có tiền không tiền đều giống nhau, vậy thế nào mới không giống?"
Tôi đáp:
"Thứ không đáng thì sẽ mất."
"Tương lai sẽ ra sao?"
Tôi đáp:
"Tương lai là cái gì?"
(Xin hỏi các thánh đệ tử, có hiểu không?)


### 32. Hồ sơ Diêu Trì Kim Mẫu


Bất kì ai cũng biết, Lư Sư Tôn tôn kính nhất là Diêu Trì Kim Mẫu, gọi Diêu Trì Kim Mẫu là Tiên Vương. Diêu Trì Kim Mẫu cũng chính là Bổn tôn đầu tiên mà Lư Sư Tôn tu hành có được tương ứng.

Trong tín ngưỡng dân gian, Diêu Trì Kim Mẫu là Tây Vương Kim Mẫu Thiên Tôn tiếng tăm lừng lẫy. Tuy nhiên, Ngài không được xếp vào Phật giáo Hiển tông, cũng không được xếp vào Phật giáo Mật tông. Thế nhưng, chỉ có Lư Sư Tôn đưa Diêu Trì Kim Mẫu vào Phật giáo, khiến cho người trong giới Phật giáo vô cùng lườm nguýt.

Mặc kệ người ta. Chỉ bởi vì tôi có duyên tiếp xúc với Diêu Trì Kim Mẫu trước.

Diêu Trì Kim Mẫu mở thiên nhãn của tôi.
Diêu Trì Kim Mẫu đưa tôi thần du trên trời dưới đất.
Diêu Trì Kim Mẫu chỉ thị cho tôi biết kiếp trước của tôi là Liên Hoa Đồng Tử.
Diêu Trì Kim Mẫu dẫn dắt tôi tiến vào cánh cổng tu Đạo học Phật.
Do vậy, giữa tôi và Diêu Trì Kim Mẫu, giữa Diêu Trì Kim Mẫu và tôi, không hai không khác.

Theo "Diêu Trì Kim Mẫu định huệ giải thoát chân kinh", "Diêu Trì Kim Mẫu dưỡng chính chân kinh",... thì:
Huyền Huyền Thượng Nhân truyền pháp cho Mộc Công.
Mộc Công truyền pháp cho Diêu Trì Kim Mẫu.
Diêu Trì Kim Mẫu sống ở Diêu Trì Tiên Uyển trên đỉnh núi Côn Luân ở phương Tây.
Diêu Trì Kim Mẫu có "hội bàn đào". Chúng Tiên tụ tập.

Người bình thường chỉ có thể hiểu như thế này. Thế còn, chưa từng có người nào biết về diện mục đích thực của Diêu Trì Kim Mẫu.
Diêu Trì Kim Mẫu có lai lịch ra sao?
Thành tựu vô thượng của Diêu Trì Kim Mẫu là gì?
Diêu Trì Kim Mẫu có đại pháp lực bất khả tư bất khả nghì ra sao?
Nguồn gốc chí cao vô thượng vô sinh vô tử, vô thủy vô chung của Diêu Trì Kim Mẫu ra sao?

Trên đời này.
Tôi biết. Tôi thật sự biết, nhưng không thể nói cho bạn biết được.

🌟

Có người hỏi tôi:
"Diêu Trì Kim Mẫu và Phật giáo có liên quan gì?"
Tôi đáp:
"Không có tổ tiên thì chẳng có năng lực hiểu biết gì."
Có người hỏi tôi:
"Diêu Trì Kim Mẫu có xuất tam giới không?"
Tôi đáp:
"Cô tịch."

Có người hỏi tôi:
"Diêu Trì Kim Mẫu cũng có pháp lực vô biên sao?"
Tôi đáp:
"Chẳng có người nào hiểu rõ."
Có người hỏi tôi:
"Diêu Trì Kim Mẫu có thể so sánh cùng chư Phật sao?"
Tôi đáp:
"Chim đẹp cũng không nhận ra tung tích."

Có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn biết nguồn gốc của Diêu Trì Kim Mẫu, sao không tiết lộ một hai điều?"
Tôi đáp:
"Thế nhân ngày nay có ai hiểu Lư Sư Tôn? Thập phương thế giới rộng và sáng, đứng trên độc một đỉnh núi cao chiếu rọi xuống, mà còn không có ai thấu hiểu tôi, thì làm sao thấu hiểu được Diêu Trì Kim Mẫu?"
Xin mọi người, đừng đoán mò nữa.


### 33. Hồ sơ A Di Đà Phật


Khi tôi viết chương văn này, có người hỏi:
"Ai ai cũng niệm danh hiệu A Di Đà Phật, mọi người đều biết, còn có gì bí mật nữa sao?"
Tôi đáp:
"Có bí mật, thế nên hãy nghe tôi kể chi tiết!"

A Di Đà Phật có ba danh hiệu:
Hiển giáo gọi là: Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Quang Phật.
Mật giáo gọi là: Cam Lộ Vương Như Lai.

Ngoài ra, còn có 13 danh hiệu khác là:
Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Quang Phật, Vô Biên Quang Phật, Vô Ngại Quang Phật, Vô Đối Quang Phật, Diễm Vương Quang Phật, Thanh Tịnh Quang Phật, Hoan Hỉ Quang Phật, Trí Huệ Quang Phật, Bất Đoạn Quang Phật, Nan Tư Quang Phật, Vô Xưng Quang Phật, Siêu Nhật Nguyệt Quang Phật.

Nhân quả thành đạo của A Di Đà Phật, xin đọc:
"Pháp Hoa Kinh Hóa Thành Dụ Phẩm"
"Bi Hoa Kinh"
"Vô Lượng Thọ Kinh"
"Quán Phật Tam Muội Hải Kinh"

A Di Đà Phật còn có Chính pháp luân thân và Giáo lệnh luân thân. Chính pháp luân thân cũng chính là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Giáo lệnh luân thân là Đại Uy Đức Kim Cang.
A Di Đà Phật tam tôn chính là Quan Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát.

🌟

Bí mật mà tôi nói đến là:
"Đại A Di Đà Kinh" mà Đức Phật thuyết giảng có hai bản, một bản là do tiến sĩ Vương Nhật Hưu triều Tống đính chính. Một bản là "A Di Đà Tam Da Tam Phật Tát Lâu Phật Đàn Quá Độ Nhân Đạo Kinh". (Cũng gọi là A Di Đà Kinh)
Nội dung nói đến:
Phật nói về Hóa Thân Đồng Tử.
Mà Hóa Thân Đồng Tử này tức là Liên Hoa Đồng Tử.

Chúng ta thường niệm rằng:
"Nam mô ba mươi sáu vạn tỉ, mười một vạn, chín nghìn, năm trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật."
Cũng chính là Hóa Thân Đồng Tử, Liên Hoa Đồng Tử.
Do vậy, Liên Hoa Đồng Tử chính là A Di Đà Phật.
A Di Đà Phật dùng hoa sen làm kí hiệu.
Bản địa của Liên Hoa Đồng Tử chính là A Di Đà Phật.
Tôi lấy hiệu là Liên Sinh Hoạt Phật, cũng là có ý nghĩa hóa sinh từ hoa sen, chính là A Di Đà Phật.

🌟

Tăng nhân hỏi:
"Bản địa của Lư Sư Tôn là A Di Đà Phật, vì sao không trực tiếp xưng là A Di Đà Phật, hà tất phải xưng là Liên Sinh Hoạt Phật?"
Tôi đáp:
"Trúc sinh ra măng, măng do trúc sinh ra, nhưng măng cũng không thể gọi là trúc được."
Tăng nhân hỏi:
"Biết rõ đạo lý sinh là bất sinh, vì sao vẫn có măng, vẫn có trúc?"
Tôi đáp:
"Tre để cho gấu trúc ăn, măng để cho người ăn."
Tăng nhân hỏi:
"Chúng sinh mù quáng, giống như thầy bói xem voi, người thì mê tín dị đoan, làm sao mới có thể khiến họ minh nhãn?"
Tôi đáp:
"Hãy đi tìm hiểu đi!"
(Lư Sư Tôn tôi tương ứng với Diêu Trì Kim Mẫu trước, rồi tiếp đó tương ứng với A Di Đà Phật. Ở đây A Di Đà Phật đúng là có bí mật thật, nhưng có liên quan đến Liên Hoa Đồng Tử như thế nào, mọi người có thể đọc thêm "Đại A Di Đà Kinh".)


### 34. Hồ sơ Địa Tạng


Lư Sư Tôn tương ứng với Tiên Vương Diêu Trì Kim Mẫu trước, sau đó tương ứng với A Di Đà Phật, tiếp theo là tương ứng với Địa Tạng Bồ Tát. Trong việc này có liên quan gì không?

Tôi gọi:
Diêu Trì Kim Mẫu là Tiên Vương.
A Di Đà Phật là Phật Vương.
Địa Tạng Bồ Tát là Địa Vương.
(Đây là ba Bổn tôn của Lư Sư Tôn.)
Diêu Trì Kim Mẫu và A Di Đà Phật dường như không hề có một chút liên quan nào, nhưng bạn chẳng bao giờ có thể tưởng tượng được đâu.

"Diêu Trì Kim Mẫu định huệ giải thoát chân kinh" nói:
"Từ Âm Phật hạ giáng, mây ngũ sắc lúc ẩn lúc hiện ở ao Diêu Trì, theo nơi ở trên núi Côn Luân, đã tu luyện thành tựu chứng diệu quả, dưỡng thành xá lợi nói thiền thơ. Trên tòa hoa sen nghìn đóa hoa nở, một nhành liễu cắm trong bình cam lộ, Tự Tại Quan Âm quán tự tại."

Từ Âm Phật này là ai?
Đáp án chính là Quan Thế Âm Bồ Tát. Hai thị giả sát sườn của A Di Đà Phật chính là Quan Âm và Thế Chí.
A Di Đà Phật còn có tên gọi là Quán Tự Tại Vương Như Lai. Vị này có phải là Từ Âm Phật hay không, vẫn còn chờ nghiên cứu.
Rồi A Di Đà Phật nhập vào tam ma địa của Quan Thế Âm Bồ Tát, xuất sinh ra Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát."

Vì Diêu Trì Kim Mẫu và Quan Âm có mối liên hệ mật thiết như vậy, A Di Đà Phật và Diêu Trì Kim đương nhiên cũng có mối liên hệ mật thiết.

🌟

Lại nói, Địa Tạng Bồ Tát và A Di Đà Phật có mối liên hệ mật thiết không? Xem ra chẳng có quan hệ gì.
Thế nhưng, bạn chưa từng biết rằng, về mặt nhân địa, A Di Đà Phật được gọi là Pháp Tạng tì kheo, Pháp Tạng tì kheo và Địa Tạng tì kheo là cùng một thể.
Cũng chính là khi tu hành nhân địa, Địa Tạng và Pháp Tạng đồng thể, khi đạt quả vị cũng phân thành hai vị:

1. A Di Đà Phật.

1. Địa Tạng Bồ Tát.
Do vậy, A Di Đà Phật cũng không thể tách rời khỏi Địa Tạng Bồ Tát.

Rất nhiều người cho rằng Địa Tạng Bồ Tát là giáo chủ của âm gian, chuyên quản địa ngục.
Thật ra, Địa Tạng Bồ Tát có vô số phân thân: Đàn Đà Địa Tạng quản địa ngục, Bảo Châu Địa Tạng quản ngạ quỷ, Bảo Ấn Địa Tạng quản súc sinh, Trì Địa Địa Tạng quản tu la, Trừ Cái Chướng Địa Tạng quản nhân đạo, Nhật Quang Địa Tạng quản thiên đạo.
Địa Tạng còn có sáu thị giả, cũng phụ trách lục đạo.

Còn có:
Diên Mệnh Địa Tạng.
Thắng Quân Địa Tạng.
Tôi đã tương ứng với Diêu Trì Kim Mẫu, rồi tương ứng với A Di Đà Phật, thứ ba là tương ứng với Địa Tạng Bồ Tát, cũng là có nguyên nhân của nó!

🌟

Có người nói với tôi:
"Khả năng tôi không hợp với Lư Sư Tôn!"
Tôi nói:
"Vì sao vậy?"
Người đó nói:
"Nói chung là cảm thấy chướng ngại khắp nơi!"

Tôi hỏi:
"Thế anh có hợp với A Di Đà Phật không?"
Hình như anh ta có đôi chút hiểu ra.
(Các đệ tử hãy nghĩ xem, bạn có hợp với Diêu Trì Kim Mẫu không? Có hợp với A Di Đà Phật không? Có hợp với Địa Tạng Bồ Tát không? Thế thì, vẫn còn chưa ngộ ra à!)


### 35. Hồ sơ Đại Uy Đức Kim Cang


Tôi tu pháp Kim Cang Minh Vương, chủ yếu là tu Đại Uy Đức Kim Cang. Khi tôi và Đại Uy Đức Kim Cang tương ứng:
Lư Sư Tôn biến hiện Đại Uy Đức Kim Cang, nhập vào biển Tây phương Đại Hương Thủy, nhiều tay nhiều chân nhiều mặt.
Múa võ uy mãnh.
Đáy biển rung chuyển.
Nước biển cuồn cuộn, đến tận cõi Tam thiền thiên.
Ánh sáng chiếu tới ba nghìn đại thiên thế giới.

Bốn biển đều nổi sóng lớn.
Ngọn lửa kim cang đốt cháy đến cõi Tam thiền thiên.
Chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, chư Thiên hết sức sửng sốt kinh ngạc.

🌟

Thế nào là Uy? Đó là sức mạnh vĩ đại hàng phục cái ác.
Thế nào là Đức? Đó là công lao bảo vệ cái thiện.
Đại Uy Đức Kim Cang trong Tạng mật có nhân duyên với Diễm Ma Thiên, một vị đã làm náo động ghê gớm tới chúng sinh hữu tình.
Vì thế mà hài cốt của chúng sinh chất cao như núi.
Chính pháp luân Văn Thù Bồ Tát của A Di Đà Phật nhập vào tam ma địa của Diêm Ma Pháp Vương, biến hiện thành Đại Uy Đức Kim Cang Minh Vương, hàng phục Diễm Ma Thiên.

Đại Uy Đức Kim Cang là một trong Ngũ Đại Minh Vương. Bản địa là A Di Đà Phật hoặc Văn Thù Bồ Tát. Trong Đông mật, Đại Uy Đức Kim Cang có ba mặt sáu cánh tay, cưỡi trâu trắng khổng lồ. Ấn tướng giống với Văn Thù Bồ Tát. Tên tiếng Phạn là Yamantaka.

🌟

Do tôi tương ứng với Đại Uy Đức Kim Cang, lĩnh ngộ được đạo lý tối cao về "hợp thể" và "biến thân" của Mật giáo.
Tôi nói:
Thích Ca Mâu Ni Phật, A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát hợp thể biến thân thành Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.
A Di Đà Phật nhập vào tam ma địa của Quan Thế Âm Bồ Tát, hợp thể biến thân thành Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát.
Quan Thế Âm Bồ Tát nhập vào thân ngựa, hiện tướng Mã Đầu Minh Vương, trở thành Phẫn nộ tôn, cũng tức là Mã Đầu Quan Âm.
Văn Thù Bồ Tát nhập vào tam ma địa của Diêm Ma Pháp Vương, hợp thể biến thân thành Đại Uy Đức Minh Vương.
...

🌟

Tôi phát hiện ra:
Tương ứng --- hợp thể.
Chuyển thức --- biến thân.
(Đạo lý tối cao của Mật giáo đã xuất hiện rồi.)
Chúng ta tu hành Mật giáo, cùng Bổn tôn tương ứng hợp thể, do chuyển thức biến thân mà thành Phật.
Hợp thể và biến thân là điểm mấu chốt.

Điều này có thể ứng dụng vào khoa học:
Thực vật và thực vật ghép cành, tạo ra loại hoa quả mới.
Động vật và động vật hợp thể, tạo ra động vật mới.
Vi khuẩn và vi khuẩn hợp thể, tạo ra vi khuẩn biến chủng mới.
...

Lư Sư Tôn tôi và chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, chư Thiên, hợp thể.
Biến thân thành Liên Sinh Phật.
Điều này có nghĩa là Lư Sư Tôn tôi đã phát hiện ra đạo lý tối cao của Mật giáo rồi.
Lư Thắng Ngạn cũng chẳng phải Lư Thắng Ngạn, cũng tức là Lư Thắng Ngạn.
Đâu là nơi sinh ra của Liên Sinh Hoạt Phật?
Chẳng phải gì khác, là hợp thể và biến thân mà thôi!


### 36. Hồ sơ Vua Tây Hạ


Có người nói tôi từng là một trong những vị Quốc vương của nước Tây Hạ. Bởi vậy, tôi tiến nhập vào trong kí ức về kiếp trước của tôi.
Tôi bất ngờ phát hiện ra, trong sự thảng thốt ngơ ngẩn, quả thật có kí ức này, lần lượt từng hình ảnh hiện ra.
Tôi nhớ đến núi Hạ Lan.
Nhớ đến sa mạc lớn ở phương bắc.
Nhớ đến sông Hoàng Hà, Ngọc Môn, Tiêu Quan, Đại Mạc…..
Nhớ đến tộc người Đảng Hạng.
Nhớ đến Đại Tống, Liêu Quốc.
Nhớ đến người Mông Cổ.
Như vậy, khi xâu chuỗi lại với nhau, tôi mơ hồ nhớ ra nước Tây Hạ, Đại Tống, Liêu Quốc, thế chân vạc Tam Quốc.

Người Tây Hạ chính là tộc người Đảng Hạng, sống ở vùng núi Hạ Lan.
Những vùng đất khác mở rộng về phía đông tới sông Hoàng Hà, phía tây tới Ngọc Môn, phía nam tới Tiêu Quan, phía bắc tới Đại Mạc.

Người Tây Hạ tin Phật.
Lập quốc hơn một trăm năm, tôi từng là Quốc vương. Kinh đô là phủ thành Hưng Khánh.
Nhân dân sinh sống an vui.

🌟

Tôi từng sống trong hoàng cung. Có hoàng hậu, phi tần. Cuộc sống vô cùng vui vẻ. Có những thành viên thị tộc của chúng tôi.

Ở nước Tây Hạ, do Phật giáo hưng thịnh nên đã xuất hiện rất nhiều cao tăng. Đáng tiếc là, kiến quốc hơn trăm năm, đột nhiên bị đại quân của Thành Cát Tư Hãn người Mông Cổ đánh chiếm.
Vương triều Tây Hạ diệt vong.
Dân tộc Đảng Hạng đã biến mất.

Điều đáng vui mừng duy nhất là tộc người Tây Hạ vô cùng đoàn kết, đối kháng với đại quân Mông Cổ, chiến đấu hăng hái không ngừng.
Đại quân Mông Cổ tấn công thành mãi không xong.
Có vài lần đại chiến đánh Phủ Hưng Khánh nhỏ bé.
Đại quân Mông Cổ cuối cùng đã chiếm được phủ thành. Cuộc chiến diễn ra nửa năm, khiến Thành Cát Tư Hãn bách chiến bách thắng tức chết.

Trong kí ức của tôi có kí ức còn sót lại về việc bị giết, trước khi chết là một màn đen u ám. Tôi biết, đó chính là chết.

🌟

Người hỏi:
"Lư Sư Tôn từng là Quốc vương Tây Hạ phải không?"
Tôi đáp:
"Giống như mộng."

Người hỏi:
"Có phải là điều tốt không?"
Tôi đáp:
"Có tốt xấu sao?"

Người hỏi:
"Nhớ về Quốc vương Tây Hạ, ngài có cảm tưởng gì về xưa và nay?"
Tôi đáp:
"Hôm nay vẫn là tiếp tục của ngày xưa, vẫn là do ngày xưa để lại."

Người hỏi:
"Vì sao vậy?"
Tôi đáp:
"Những con dân ngày xưa, thì là đệ tử ngày nay!"
(Các thánh đệ tử có chú ý thấy không? Bất kì việc gì cũng tồn tại nhân duyên, đây chính là trong cõi vô hình đã có định số.)


### 37. Hồ sơ Xá Lợi Phất


Trong quá trình học Phật, tôi vô cùng kính ngưỡng Văn Thù Bồ Tát và Xá Lợi Phất tôn giả. Bởi vì:
Phật giáo Đại thừa nhận định Văn Thù Bồ Tát là bậc trí huệ đệ nhất.
Phật giáo Tiểu thừa nhận định Xá Lợi Phất tôn giả là bậc trí huệ đệ nhất.

Cá nhân tôi sinh ra đã ngu dốt, tự nhận mình không phải là có căn khí lớn, chỉ dựa vào nghị lực.
Tôi rất tinh tấn.
Tôi có sự nỗ lực bền bỉ. Mỗi ngày tôi viết văn, tu pháp, tụng kinh, chưa bao giờ gián đoạn.

Người đầu tiên nói tôi là Xá Lợi Phất chuyển thế là cư sĩ Phương Vĩnh Lai, ông đã công bố trong tác phẩm của ông. Nhưng tôi không dám tin, bởi vì tôi có căn cơ ngu dốt.

Sau này, Thượng sư Thubten Dorjie xác nhận tôi là Xá Lợi Phất tôn giả chuyển thế.
Cư sĩ Phương Vĩnh Lai cũng nói, mặc dù tôi là Xá Lợi Phất chuyển thế, nhưng bản thân tôi lại vẫn chưa phát huy trí huệ của Xá Lợi Phất, nói cách khác là trí huệ vẫn chưa khai phát.

Đây là việc rất kì lạ chăng?
Tôi là Xá Lợi Phất chuyển thế, nhưng lại không có đại trí huệ của Xá Lợi Phất.

🌟

Một ngày.
Tôi đã minh tâm kiến tính rồi.
Lư Sư Tôn lúc này, Phật trí đột ngột hiển hiện, trí huệ tuôn chảy nghìn lý vạn dặm, thao thao bất tuyệt, vĩnh viễn không dừng lại.

Tôi phát giác ra:
Trí huệ bát nhã đại viên mãn như thế đó.
Phật huệ như tấm gương tròn lớn.
Phật huệ là trí huệ đại thù thắng.
Phật huệ phổ chiếu thập phương thế giới.

Tôi đã có thể hợp nhất với Xá Lợi Phất tôn giả rồi.
Tôi tự nghĩ, tôi vốn là kẻ ngu dốt, chỉ vì nghị lực mà tôi đột phá thoát khỏi sự ngu dốt, thành người đầy triển vọng là như vậy.

Vì sao tôi có được nghị lực này?
Xin đọc "Trí Độ Luận" (Quyển 2).
Phật nói:
"Xá Lợi Phất, đời đời vững tâm, không được dao động!"
"Tăng Nhất A Hàm Kinh" viết:
"Trí huệ đệ nhất, vô cùng vô tận, không còn gì nghi ngờ, đó là tỳ kheo Xá Lợi Phất."
"Trí Độ Luận" nói:
"Tất cả trí huệ của chúng sinh, duy trừ Đức Phật Thế Tôn, muốn so sánh với Xá Lợi Phất về trí huệ và sự hiểu biết sâu rộng, thì trong mười sáu phần cũng vẫn chưa đạt được một phần."

Bản địa của Xá Lợi Phất:
"Thành Phật đã lâu, Phật hiệu là Kim Long Đà, Phật Thích Ca thọ kí là Hoa Quang Phật, là đệ tử trí huệ bên phải của Phật Thích Ca, Mục Kiền Liên là đệ tử bên trái."

🌟

Ngày xưa.
Thượng sư Thubten Dorjie nói:
"Lư Sư Tôn, con là Xá Lợi Phất đúng chứ?"
Tôi đáp:
"Xưa cũng thế, nay cũng thế."
Thượng sư Thubten Dorjie nói:
"Trí huệ của Xá Lợi Phất ra sao?"
Tôi đáp:
"Chẳng gì sánh bằng, không gì bì kịp."
Thượng sư Thubten Dorjie hỏi:
"Con là Xá Lợi Phất, ai minh chứng cho con?"
Tôi nói:
"Cảm tạ Thượng sư đã minh chứng."


### 38. Hồ sơ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ


Lúc tôi ở Nepal, tôi đã đến thăm nhà của Đại Bảo Pháp Vương, vị Rinpoche trụ trì vừa trông thấy tôi liền nói:
"Lư Sư Tôn là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chuyển thế."
(Xin tham khảo thêm bức thư của trụ trì gửi đến.)

Tổ Cổ Rinpoche nói:
"Lư Sư Tôn là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ giáng thế."
Thổ Đăng Ca Thố Rinpoche nói:
"Lư Sư Tôn là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ tái sinh."
...

Những lời tán dương này của các vị Rinpoche dành cho tôi có đáng tin không? Tạm thời chưa bàn vội, tôi cũng chưa nói đúng sai.

Căn cứ theo "Lịch sử tư tưởng Phật giáo Ấn Độ", thời kì Phật giáo Tiểu thừa, thời kì Phật giáo Đại thừa, ở vùng Uddiyana Ấn Độ từ lâu đã thịnh hạnh Phật giáo bí mật. Những người ẩn cư tu hành Mật giáo cực kì nhiều, thành tựu giả lúc ẩn lúc hiện, chỉ là vẫn chưa phổ biến rộng khắp. Còn Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là một thành tựu giả cực kì vĩ đại, trong lịch sử Mật giáo Ngài là vị đứng đầu.

"Thân của Thích Ca, ngữ của Di Đà, ý của Quan Âm", Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là ứng hóa thân kim cương của Tam Mật Tam Thánh hợp thành một thể.
Liên Sư hóa thân trong một bông hoa sen ngũ sắc trên biển Đạt Lạp Ca Tú.
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ thành tựu phi phàm, viên chứng hết thảy Phật pháp.
Ngài hoằng pháp tại Ấn Độ, Nepal, sau đó nhận lời mời của vua Tây Tạng là Trisong Detsen đến Tây Tạng hoằng pháp.
Liên Sư là người đầu tiên sáng lập Mật tông Tây Tạng.

Danh ngôn của Liên Sư:
"Ta chẳng đến chẳng đi, người nào tin vào ta, ta sẽ hiện thân trước mặt người đó."
Danh ngôn của Liên Sư:
"Cắt đứt mọi mong cầu tham vọng đối với thế gian. Giải thoát khỏi 88 kiến hoặc trong ba cõi. Với ngũ độc thế gian, khéo léo vận dụng tự nhiên... Người kính sư, trọng pháp, thực tu sẽ đắc!"

🌟

Khi tôi mới chứng thông lực, tôi lập tức gặp được Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Đại Sĩ đã đưa tôi vào trong ngôi mộ cổ trong hang động. Ngài ban cho tôi hai quán đảnh:

Thứ nhất:
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ thị hiện thân cầu vồng, toàn thân sáng chói như cầu vồng, ánh sáng bảy sắc chói lòa, khiến người ta khâm phục. Tất cả ánh sáng hóa thành điểm sáng, lần lượt đi vào bên trong từng lỗ chân lông của tôi. Tôi lúc này tự nhiên hóa thành người ánh sáng, nhục thân biến thành sáng trong suốt, toàn bộ là cầu vồng Liên Sư.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói với tôi:
"Đây là quán đảnh 108 pháp của Hồng giáo, tất cả mọi tinh yếu của các pháp trong Hồng giáo đã nằm trong người ngài rồi."

Thứ hai:
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ biến hiện thành Liên Sư tướng phẫn nộ, miệng há to, nuốt tôi vào trong bụng ngài. Nhục thân của tôi ở bên trong ngài, hóa thành một giọt minh điểm trắng tinh khiết, sáng chói thấu trời thấu đất, một hạt ngọc trắng lăn đều, đến cuối cùng phóng ra từ mật luân của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói với tôi:
"Ngài là người hóa ra từ minh điểm của ta. Lư Sư Tôn, tinh hoa truyền thừa của ta đều nằm trên người ngài rồi."

Tôi hỏi Liên Sư:
"Làm sao đắc giải thoát?"
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đáp:
"Có chỗ nào không phải là giải thoát?"
Tôi hỏi Liên Sư:
"Đây là quán đảnh gì?"
Liên Hoa Sinh đáp:
"Xuyên phá nhữ tâm."
(Thánh đệ tử, hãy nhớ rõ bốn chữ "xuyên phá nhữ tâm" này. Bốn chữ này có ý nghĩa gì?)


### 39. Hồ sơ Tsongkhapa


Thủy tổ sáng lập nên phái Mật giáo Hoàng giáo, Ngài Tsongkhapa sinh ra tại phủ Tây Ninh, tỉnh Cam Túc, vốn thông minh tinh nhanh. Năm 14, Ngài tu học tại miếu Thích Ca thuộc tự viện Tashi Lhunpo. Ngài tu trì thành tựu tại tu viện Ganden.

Tsongkhapa nhìn ra những hủ tục của Hồng giáo là chỉ chuyên tu thần thông, nuốt dao khạc lửa, không giữ giới luật, dâm dật hừng hực.

Tsongkhapa đã thực thi ba việc để cải tổ Hồng giáo:

1. Giữ giới luật, thay đổi quần áo, mũ thành màu vàng.

1. Thay đổi chú thuật.

1. Thiết lập chế độ Hoạt Phật chuyển thế.

Tsongkhapa có ba đại đệ tử giúp đỡ là:
Đại đệ tử Khắc Chủ Kiệt, chuyển thế thành Panchen Lama.
Trung đệ tử Thích Ca Dã Thất, chuyển thế thành Chương Gia Hoạt Phật.
Tiểu đệ tử Căn Đốn Chủ, chuyển thế thành Dalai Lama.

Tsongkhapa là đại thành tựu giả một mình tập hợp Tạng mật, những trước tác của Ngài rất nhiều, bao gồm:
Giới luật.
Học thuật.
Thực tu.
Ba thứ đều quan trọng. Đến khoảng giữa triều Minh, danh tiếng của phái Hoàng giáo đã nhanh chóng vượt trội so với các giáo phái khác.

🌟

Có nhiều vị Rinpoche công nhận tôi là Tsongkhapa tái sinh. Thượng sư Liên Thường cũng nói:
"Lư Sư Tôn căn bản chính là Tsongkhapa!"

Những điểm tương tự là:

1. Những người Tây Tạng đều nhận định Tsongkhapa là tái sinh của A Di Đà Phật, Văn Thù Bồ Tát. Lư Sư Tôn là Liên Hoa Đồng Tử, chính là hóa thân của A Di Đà Phật, là hóa thân của Chính Pháp Luân Văn Thù Bồ Tát.

1. Vị Ganden Tripa đời thứ 100 đại diện cho Tsongkhapa đã đích thân đến Seattle thăm Lư Sư Tôn, cùng lên pháp tọa và tặng cho tôi áo bào Pháp Vương.

1. Thành tựu của Lư Sư Tôn tập hợp hết thảy mọi pháp tu trì trên toàn bộ bản thân, về mặt học thuật là người gom góp tập hợp lại Mật pháp.

1. Nghị lực của Tsongkhapa và nghị lực của Lư Sư Tôn là nghị lực số một, ngang hàng nhau.

1. Sinh ra đã giống như Phật.

🌟

Khi tôi giảng giải "Mật tông đạo thứ tự quảng luận" của Tsongkhapa, Tsongkhapa đã đích thân hiện thân ở trong hư không, phóng tỏa hàng trăm tia sáng trân quý, ánh sáng mềm mại miên man dày đặc, những sợi ánh sáng như sợi tơ, xoay tròn uyển chuyển, thực sự là quá thù thắng.
(Tôi tuyệt đối không nói khoác.)

Tôi hòa tan vào trong thân Tsongkhapa.
Tsongkhapa đi vào trong thân tôi.
Suốt cho đến khi tôi giảng xong "Mật tông đạo thứ tự quảng luận".
Sự thân thiết giữa tôi và Tsongkhapa, tôi cũng không có lời nào có thể nói hết được.

Có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn có phải là Tổ sư Tsongkhapa tái thế không?"
Tôi đáp:
"Nhập môn gặp Di Đà, xuất môn gặp Quan Âm."
Người hỏi:
"Là ý gì?"
Tôi đáp:
"Nhập môn gặp ai? Xuất môn gặp ai? Ai là ai?"

Người ta lại hỏi:
"Tôi vẫn cứ hỏi lại ngài, ngài có phải là Tsongkhapa tái thế không?"
Tôi đáp:
Thích Ca chưa từng xuất thế.
Thuyết pháp bốn mươi chín năm.
Lư Sư chưa từng xuất thế.
Là ai có chi bận lòng.
(Bài kệ này xin mọi người ngẫm nghĩ.)


### 40. Hồ sơ Không Hải đại sư


Tôi có cảm tình đặc biệt đối với nước Nhật. Vào thời kì chiến tranh thế giới thứ hai, những hành động xâm lược của đất nước này thực sự khiến người ta khinh miệt. Tuy nhiên, đây không phải là lỗi của toàn bộ người dân nước Nhật, mà là lỗi của quân phiệt Nhật Bản đầy rẫy dã tâm (chủ nghĩa chiến quốc).

Tôi thích đến Nhật Bản du lịch, Kyushu, Honshu, Shikoku,  Hokkaido đều đã có dấu chân của tôi. Trong trí nhớ của tôi, tôi có một kiếp từng tái sinh tại Nhật Bản. Mỗi lần đến nước Nhật, cái sức mạnh cảm ứng đó càng ngày càng mạnh.
Oda Nobunaga?
Tokugawa Ieyasu?
Toyotomi Hideyoshi?
...?

Tôi cảm ứng thấy bản thân mình vô cùng có quyền thế, khí huyết tràn đầy tinh thần võ sĩ đạo. Ở Nhật, tôi phát hiện ra mình giống như đại anh hùng uy danh lừng lẫy.
Miyamoto Musashi?
Sasaki Kojirou?
Tướng quân Mạc phủ?

Đương nhiên những tên gọi này chỉ là huyễn tưởng, nghĩ sâu hơn một chút nữa, lẽ nào tôi là người sáng lập Đông mật Nhật Bản - Không Hải Đại Sư.

Trong đầu tôi xuất hiện hai người:
Một vị là Truyền Giáo Đại Sư học pháp từ núi Thiên Thai.
Một vị là Hoằng Pháp Đại Sư học pháp từ chùa Thanh Long.

Cuối cùng, Truyền Giáo Đại Sư biến mất, chỉ còn lại hình bóng của Hoằng Pháp Đại Sư. Hoằng Pháp Đại Sư (Không Hải) là khai tổ của Chân ngôn tông Nhật Bản. Ngài từng là học tăng Khán Đường, đã đến chùa Thanh Long ở Tây An bái Acharya Huệ Quả làm thầy, có được hết Mật pháp. Sau khi trở về nước, ngài đã học thông hiểu rộng Mật điển, sáng lập ra môn Đông mật.

Ở Nhật, tôi đã đi:
Trường Môn [ Nagato ] - bến đầu tiên mà Không Hải Đại Sư cập bờ sau khi trở về nước.
Tứ Quốc [ Shikoku ] - nơi có 88 đạo tràng tâm linh và 88 chùa của Không Hải Đại Sư.
Cao Dã Sơn [ Kouya ] - núi đại bản doanh của Chân ngôn tông của Không Hải Đại Sư.
Thanh Long Tự - tu viện ở Tây An nơi Không Hải Đại Sư đã đến cầu pháp, đã lên lầu Vọng Hải mà Acharya Huệ Quả đã xây dựng. (Sư phụ nhớ đệ tử.)
Tôi đã đến hang động nơi Không Hải Đại Sư bế quan tu luyện.
Ở Cao Dã Sơn, tôi đã tận mắt nhìn thấy Không Hải Đại Sư hiện thân, đeo cho tôi hai bộ ngọc ấn Kim Cang Giới và Thai Tạng Giới.
Không Hải Đại Sư nhập vào trong người tôi.
Tôi nhập vào trong người Không Hải Đại Sư.
Thế là, đã rõ rồi!

🌟

Ý nghĩa của hai chữ Không Hải:
"Thành tựu ở phẩm cấp đầy đủ phương tiện diệu dụng hấp thu hết thảy pháp của đấng Như Lai, giống như cái Không bao gồm cái Sắc, như biển tiếp nhận mọi dòng chảy đổ vào. Tập hợp bao gồm mọi dòng chảy của kinh luận, đều quy về Không Hải"

"Khi biết phẩm cấp ngày nay vẫn là phương tiện của Như Lai để hấp thu hết thảy mọi pháp, giống như cái Không bao gồm cái Sắc, như biển tiếp nhận mọi dòng chảy đổ vào."
"Tập hợp bao gồm mọi dòng chảy, đều quy về biển Không ngày nay."
Không Hải Đại Sư và tôi có điểm chung:
Không Hải Đại Sư độ cho mẫu thân quy y, đã phá lệ mà cạo tóc cho mẹ.
Tôi độ cho mẹ tôi quy y, tiếp dẫn mẹ tôi đến Tây phương Cực Lạc thế giới, đích thân dẫn dắt.
Các đệ tử Nhật Bản của tôi đều nói tôi là Không Hải Đại Sư chuyển thế.
Tôi cười lớn ha ha ha.

Người hỏi:
"Lư Sư Tôn có phải là Không Hải Đại Sư không?"
Tôi đáp:
"Anh đã thấy biển chưa?"
"Đã thấy!"
Tôi đáp:
"Biển chính là Không Hải, cũng chính là Lư Sư Tôn!"


### 41. Hồ sơ Lục Tổ


Y bát của Thiền tông được truyền đến vị tổ thứ sáu. Nghĩa là, Sơ Tổ Đạt Ma, Nhị Tổ Huệ Khả, Tam Tổ Tăng Xán, Tứ Tổ Đạo Tín, Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, Lục Tổ Huệ Năng. Đây là sáu vị tổ sư của Trung Thổ.

Lục Tổ Huệ Năng Đại Sư họ Lư, là người Tân Hưng, Quảng Đông. Ngài đã từ biệt mẹ để đến Hoàng Mai, Đông Sơn cầu pháp. Sau khi có được pháp, ngài đã trốn đội thợ săn nhiều năm, trở về chùa Nam Hải Pháp Tính, mở ra pháp môn Đông Sơn.
Giảng "Lục Tổ Đàn Kinh".
Sau khi tọa hóa, trở thành xá lợi nhục thân, được thờ tại chùa Nam Hoa ở Tào Khê. [ ND: tọa hóa là hòa thượng ngồi thiền rồi cứ như vậy viên tịch ]

Còn nữa:
Lục Tổ ba tuổi đã mồ côi cha, nhà nghèo, phải chặt củi nuôi mẹ, nghe người ta đọc Kinh Kim Cang mà thấy tỉnh ngộ.
Ngài đã lặn lội đến Hoàng Mai, Đông Sơn cầu pháp.
Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn Đại Sư hỏi:
"Anh từ đâu đến?"
Huệ Năng đáp:
"Lĩnh Nam."
Ngũ Tổ nói:
"Người Lĩnh Nam không có Phật tính."
Lục Tổ đáp:
"Con người có nam bắc, Phật tính không có nam bắc."
(Đây là "lợi căn" bình đẳng tính của Lục Tổ.)

Bài kệ của Lục Tổ:
"Bồ đề chẳng phải cây
Gương sáng cũng chẳng có
Vốn dĩ chẳng có gì
Lấy đâu mà bám bụi."
(Mặc dù không phải thơ khai ngộ, nhưng nói thẳng vào tính Không.)

Sau khi được Ngũ Tổ điểm hóa thì mới khai ngộ.
Được Trí Quang Luật Sư ban cho cụ túc giới.
Ngài sống thọ 76 tuổi rồi tọa hóa.

🌟

Khi mới học Phật, tôi sống tại một con ngõ phía trong đường Tinh Vũ, thành phố Đài Trung. Có một tăng nhân không biết tên đi qua, hét lớn:
"Hành giả Lư, xuất gia đi!"

Tôi bước ra ngoài cửa, cả con ngõ không một bóng người nào.
Lần đầu gặp pháp sư Huệ Long, pháp sư vừa thấy tôi đã kêu lên:
"Hành giả Lư, anh đã đến rồi à!"
Tôi và Lục Tổ cùng mang họ Lư.

Còn nữa:
Khi còn nhỏ, nhà tôi thanh bần.
Nhà của Lục Tổ cũng nghèo.

Còn nữa:
Vị thầy cạo tóc xuất gia cho Lục Tổ ban đầu quy y Lục Tổ trước, sau đó lại cạo đầu cho Lục Tổ.
Vị thầy cạo tóc xuất gia cho tôi cũng quy y tôi trước, sau đó lại cạo đầu cho tôi.

Còn nữa:
Khi bắt đầu học Phật, tôi đã đọc "Lục Tổ Đàn Kinh", trải qua nhiều năm nghiên cứu, cuối cùng tôi đã minh tâm kiến tính. Sau khi minh tâm kiến tính, tôi đột ngột khai mở Phật huệ, giảng "Lục Tổ Đàn Kinh", mọi thứ đều sáng tỏ.
Do rất nhiều nhân tố, có người nhận định tôi là Lục Tổ Lư hành giả, chuyển thế thành Lư hành giả ngày nay. Đúng? Sai? Bàn tán xôn xao.

🌟

Người hỏi:
"Ai ai cũng nói ngài là Lục Tổ Huệ Năng chuyển thế, ngài có cảm tưởng gì?"
Tôi đáp:
"Bây giờ tôi đang ở đâu?" (đáng suy ngẫm)
Người hỏi:
"Ngài rốt cục có phải là Lục Tổ Huệ Năng không?"
Tôi đáp:
"Chẳng dựa vào đâu cả, ai bảo tôi là Lư hành giả chứ. Là Lư hành giả thì sao? Không phải là Lư hành giả thì sao?"

Tôi viết một bài kệ:
"Mật Uyển tịnh tọa một lư hương.
Ngộ ra nghĩ suy đều trống rỗng.
Vọng tưởng vọng tưởng chẳng vọng tưởng.
Phải hay không phải bàn làm chi."

Thử hỏi các thánh đệ tử có hiểu bài kệ này không?


### 42. Hồ sơ Phiền não


Lư Sư Tôn từng nói:
"Tôi chẳng có phiền não!"
Thế nhưng, trên thực tế, những việc phiền não của tôi so với người bình thường nhiều không thể đếm nổi. Vì sao vậy?
Bởi vì với năm triệu đệ tử quy y tôi, công việc hoằng pháp vừa nhiều vừa nặng, phiền não của năm triệu đệ tử cũng chẳng khác gì phiền não của tôi. Bởi vậy, có thể nói là tôi không có phiền não sao?

Tôi biết, tất cả phiền não đều là vì cái "ngã" mà sinh ra. Tất cả phiền não đều vì "vô ngã" mà diệt vong. Bởi vậy tôi nói:
"Không có phiền não!"

"Trí Độ Luận" viết:
"Phiền não, nói gọn là tam độc, nói rộng là chín mươi tám kiến hoặc trong tam giới, gọi là phiền não."
"Kinh Duy Ma" viết:
"Thất sử cửu kết làm phiền muộn rối loạn chúng sinh, do vậy gọi là phiền não."

Chúng ta phân phiền não thành:
Cây phiền não --- sum suê um tùm.
Sông phiền não --- dòng sông phiền não, cuốn trôi hết sạch người trời.
Biển phiền não --- phiền não của chúng sinh sâu rộng như biển.
Bệnh phiền não --- phiền não sẽ sinh ra tâm cáu giận, giống như bệnh sinh ra từ tâm.
Thói quen phiền não --- thói quen dễ sinh phiền não.
Cơn phiền não --- cái khổ sinh ra ở khắp xung quanh.
Trở ngại phiền não --- ngăn trở Phật tính.
Kẻ trộm phiền não --- phiền não gây tổn thương đến huệ mệnh, do vậy chẳng khác gì kẻ trộm.
Lưới phiền não --- phiền não như chiếc lưới, chụp gọn chúng sinh.
Phiền não che chắn --- chướng ngại lớn.
Phiền não nhơ bẩn --- một trong ngũ trọc.
Phiền não dư thừa --- phiền não do vô minh.
Phiền não tâm, phiền não tạng, phiền não ma…

🌟

Chúng ta biết rằng, tham sinh phiền não, sân sinh phiền não, si sinh phiền não, ngã mạn sinh phiền não, hoài nghi sinh phiền não, ác kiến sinh phiền não. Thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, giới cấm kiến, đều sinh phiền não đó!

Trên thực tế mà nói:
Trong thân tâm của tôi, đích thực tồn tại vô số vô số việc phiền não, đây là điều mỗi người không thể tránh khỏi.
Tuy nhiên, người tu hành muốn có thể cắt đứt được phiền não cũng cần chỉ bảo chúng sinh cắt đứt hết tất cả mọi phiền não. Có như vậy mới có thể siêu phàm nhập thánh.

🌟

Có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn, ngài có phiền não không? Làm sao ngài có thể không có phiền não được chứ?"
Tôi đáp:
"Trong mười hai thời, tôi an thân lập mệnh tại thế gian này, sao có thể không có phiền não, chỗ nào cũng có đầy phiền não. Thế nhưng, tôi an thân lập mệnh cũng ở trên sự nghỉ ngơi, do vậy tự xưng là không có phiền não."
Người đó nói:
"Nghe không hiểu lắm, không thể nào, cái gì là sự nghỉ ngơi?"
Tôi đáp:
"Trước đây tôi niết bàn, bây giờ niết bàn, tương lai cũng niết bàn."
(Xin các thánh đệ tử ngẫm nghĩ, một người thường ở trong niết bàn thì phiền não ở đâu?)

Người đó hỏi:
"Lư Sư Tôn, ngài đã nhập niết bàn đâu?"
Tôi đáp:
"Thân chưa nhập niết bàn, nhưng đã chứng nhập vào niết bàn đạo rồi."
Người đó nói:
"Ngài đang có năm triệu đệ tử, ngài có Chân Phật Tông kia mà."
Tôi đáp:
"Tôi chẳng có năm triệu đệ tử, tôi cũng không có Chân Phật Tông, nếu nói là có, tức là phỉ báng tôi."
Người đó nói:
"Ngài rõ ràng là có!"
Tôi đáp:
"Cảm ơn đã chỉ giáo!"


### 43. Hồ sơ Như huyễn


Trong "Kinh Kim Cang" có viết:
"Tất cả pháp hữu vi
Như mộng huyễn bào ảnh
Như điện cũng như sương
Nên quán chiếu như thế."

Bốn câu này vĩnh viễn in sâu trong tâm tôi.

Bài Mộng thơ của Vương An Thạch:
"Biết đời như mộng vô sở cầu,
Vô sở cầu lòng tĩnh lặng không.
Vẫn tưởng trong mơ tùy mộng cảnh,
Thành tựu công đức tựa hà sa."

Bốn câu này vĩnh viễn in sâu trong tâm tôi.

Bởi thế, đối với vạn tượng trên đời này, tôi chỉ có cười lớn ba tiếng ha ha ha, hoặc thốt lên một chữ "sướng".

"Trí Độ Luận" viết:
"Tất cả mọi hành vi chỉ đều như huyễn hoặc lừa bịp trẻ con, thuộc về nhân duyên, không tự tại, không thường trụ, vì thế nói rằng chư Bồ Tát biết mọi pháp là như huyễn."

"Kinh Duy Ma" viết:
"Chư pháp như huyễn, vô tự tính, vô tha tính."

"Kinh Viên Giác" viết:
"Tu tập Bồ Tát như huyễn tam muội phương tiện, để dần dần khiến chúng sinh có thể rời xa được mọi cái huyễn."
[ ND: như huyễn tam muội là một trong 25 tam muội, nghĩa là tam muội thấu suốt lí tất cả các pháp như huyễn, cũng chỉ cho tam muội biến hóa ra các sự vật như huyễn. Bồ Tát ở trong tam muội này, tuy dùng năng lực biến hóa của tam muội như huyễn để hóa độ chúng sinh. ]

"Trí Độ Luận" viết:
"Người tu như huyễn tam muội, giống như người huyễn sống tại một chỗ, những việc huyễn đã được làm ra đầy khắp thế giới được gọi là bốn loại quân binh, cung điện, thành quách, ăn uống, ca múa, sống chết, buồn khổ, v.v... Bồ Tát cũng như thế, sống là sống trong tam muội, có thể biến hóa đầy ắp trong thập phương thế giới."

🌟

Trong sự tu tập Phật pháp của tôi, tôi đã minh chứng và nhận ra:
Tôi là người huyễn.
Tôi làm việc huyễn.
Tôi hoằng pháp huyễn.
Tôi lập tông phái huyễn.
Tôi độ mọi thứ.
Bởi vậy, tôi chưa bao giờ bám chấp vào mọi cái huyễn, do đó có thể tự do tự tại, đoạn trừ hết thảy phiền não và tà kiến.
(Tôi biết cái huyễn, tôi rời xa cái huyễn.)

Vì sao tôi không phiền não, bởi vì tôi biết cái huyễn. Vì sao tôi không có tà kiến, bởi vì tôi rời xa cái huyễn.
Tôi thấy người ta tạo dựng tông phái Phật giáo lớn, thấy người ta xây bệnh viện Phật giáo lớn, thấy người ta xây dựng đài truyền hình Phật giáo lớn, thấy người ta mở rộng địa bàn Phật giáo lớn, thấy người ta xây dựng đại học Phật giáo lớn...

Tôi nói:
"Tốt!"
Tôi lại nói:
"Hãy dạy chúng sinh biết về cái huyễn!"
Tôi còn nói:
"Hãy dạy chúng sinh rời xa cái huyễn!"

Tôi độ năm triệu chúng sinh cũng tương đương chẳng hề độ năm triệu chúng sinh, bởi vì không độ năm triệu chúng sinh mới gọi là độ năm triệu chúng sinh.
Tôi sáng lập Chân Phật Tông cũng tương đương chẳng hề sáng lập Chân Phật Tông, bởi vì không sáng lập Chân Phật Tông mới gọi là sáng lập Chân Phật Tông.

Có người đến hỏi việc về: "Sinh lão bệnh tử."
Tôi đáp:
"Vô sự!"
Người đó nói:
"Sao lại vô sự?"
Tôi đáp:
"Không có sinh lão bệnh tử!"
Người ta nói, Lư Sư Tôn phát điên rồi!
Tôi cười lớn ha ha ha. Đi uống hớp trà vậy!


### 44. Hồ sơ Ngụy kinh


Ngày xưa, có người tặng tôi một bộ "Địa Tạng Bồ Tát Hiệu Lượng Công Đức Kinh", nhân tiện đến thăm Ấn Thuận đạo sư, tôi đã dâng lên cho thầy xem.
Ấn Thuận đạo sư nói:
"Bộ kinh này vẫn còn khó phân rõ là kinh thật hay giả!"
Tôi nghe xong mà kinh hãi.
Bởi vì khi mới học Phật, tôi còn chưa biết thế nào là kinh thật? Thế nào là kinh giả? Thật sự là khó phân biệt thật giả.
Sau này, tôi mới biết, kinh thư đều có thật giả.
"Tử Hạ Dịch Truyện" --- người làm giả là Đường Trương Hồ.
"Quan Lãng Dịch Truyện" --- người làm giả là Tống Nguyễn Dật.
"Tử Cống Thi Truyện" --- người làm giả là Minh Phong Phường.
...

Cuối thời Nam Tề, nữ tiến sĩ thái học Giang Bí, năm 8, 9 tuổi, ngồi tĩnh tọa nhắm mắt, miệng tụng 21 bộ "Bảo Đỉnh Kinh", "Tịnh Thổ Kinh". (Tôi không dám nói là kinh thật.)
Bởi vì không phải từ kim khẩu của Phật Đà nói ra.
Tiêu Tử Lương sáng tác:
"Pháp Cú Thí Kinh".
"Đầu Đà Kinh".
Tổng cộng có tám bộ. Cũng không phải là kinh do kim khẩu của Phật nói.
……………
Ấn Thuận đạo sư nói:
"Kim khẩu của Phật tuyên thuyết còn có người làm giả, huống hồ là những kinh do người đời sau ngụy tạo nên."

Ngày xưa:
An pháp sư sáng tác ra 26 bộ kinh giả.
Lương Tăng Hựu sáng tác ra 60 bộ khác giả kinh Tam Tạng.
Triều Đường, Thích Pháp từng sáng tác ra 200 bộ kinh giả.
Triều Đường, Thích Tĩnh Thái sáng tác ra nhiều bộ khác.
Triều Đường, Võ Tắc Thiên cũng sáng tác ra 228 bộ kinh giả.

Ngoài ra, khi phi loan thịnh hành, một số kinh điển đương nhiên càng không phải là do kim khẩu của Phật nói ra. [ ND: phi loan là một tín ngưỡng dân gian có từ lâu đời ]

🌟

Lư Sư Tôn tôi tôn sùng:
"Cao Vương Quan Thế Âm Kinh".
"Chân Phật Kinh".
Tôi nhận định hai kinh này đương nhiên không phải do kim khẩu của Phật nói ra.

Vào thời Đông Ngụy, năm Thiên Bình, Cao Vương Kinh là kinh điển do một vị cao vương đương thời cảm ứng được.
Được liệt vào trong "Tục Cao Tăng Truyện".
Được liệt vào trong "Pháp Uyển Châu Lâm" và "Phật Tổ Thống Kí".
Sự linh nghiệm của việc đọc tụng kinh này vô cùng thần kì, trong bản kinh toàn là Thánh hiệu của Phật Bồ Tát, không có lời bàn luận nào khác.
Do vậy, tôi cho rằng có thể tụng được.

Còn nữa:
"Chân Phật Kinh" là kinh tuôn chảy từ tâm của tôi, không dám nói đó là do kim khẩu của Phật Tổ tuyên thuyết.
Trọng điểm của bản kinh này là:
"Lấy vô niệm làm chính giác Phật bảo."
"Thân khẩu ý tanh tịnh làm Pháp bảo."
"Chân Phật Thượng sư làm Tăng bảo."
"Vô niệm", "thân khẩu ý thanh tịnh", "Chân Phật Thượng sư tăng bảo" ở đây cũng không có gì đáng nghi ngờ.
Do vậy, tôi cho rằng có thể tụng được.

🌟

Người hỏi:
"Thế nào là vô niệm?"
Tôi đáp:
"Vô thượng chính đẳng chính giác tức là vô niệm, nói như vậy là thấu đáo triệt để tận cùng rồi!"
Người hỏi:
"Chưa rõ điểm sâu sắc nằm ở chỗ nào?"
Tôi đáp:
"Điện thờ cổ xưa không lư hương."
Các thánh đệ tử, xin ngẫm nghĩ thử. Điện thờ cổ xưa không lư hương, là cái gì?


### 45. Hồ sơ Minh Phi


Trong đại pháp hội Thời Luân Kim Cang tại Hồng Kông, tôi có nhắc tới các pháp tu Phật Mẫu, Minh Phi, quyến thuộc.
Có người họ Dương đang nghe pháp, vừa nghe đến câu Phật Mẫu, Minh Phi, quyến thuộc liền bỏ ra về.
Họ Dương nói:
"Phật làm gì có Phật Mẫu, Minh Phi, quyến thuộc? Tôi không tin."

Do vậy, ở đây, tôi phải giải thích rằng:
Hành giả học Phật đương nhiên biết rằng, Phật là do pháp sinh ra, do vậy pháp chính là Phật Mẫu.

"Phật Báo Ân Kinh" viết:
"Phật lấy pháp làm thầy, Phật từ pháp sinh ra, pháp là Phật Mẫu."
Do vậy, bát nhã ba la mật là mẹ sinh ra Phật.

"Trí Độ Luận" viết:
"Bát nhã ba la mật là mọi Phật Mẫu. Giữa cha mẹ thì công đức của người mẹ là sâu nặng nhất, do đó, Phật lấy Bát Nhã là mẹ, Bát Chu tam muội là cha."

Phu nhân Maya là Phật Mẫu.
Đại Ái Đạo cũng là Phật Mẫu.
Những người có công đức của người mẹ đều là Phật Mẫu. Phật Nhãn Phật Mẫu, Chuẩn Đề Phật Mẫu, Khổng Tước Phật Mẫu...
(Trong kinh điển thì có Phật Mẫu Kinh, Phật Mẫu Bát Nhã Kinh, Phật Mẫu Bát Nê Hoàn Kinh, Phật Mẫu Khổng Tước Minh Vương Kinh...)

🌟

Còn về bộ phận Minh Phi thì:
Minh --- là công đức có thể phá bỏ cánh cửa phiền não.
Phi --- là tăng trưởng tất cả công đức.
(Phi có ý nghĩa đặc biệt, như giới nữ trong thế gian, có thể sinh ra nam nữ, khiến nhân loại không bị diệt vong, cũng sinh ra tất cả công đức Như Lai, chính là Phi.)
"Diễn Mật Sao", "Đại Nhật Kinh Sớ" đều nói như vậy.

Trong Mật giáo, các bộ chủ đều có Minh Phi.
Phật bộ --- Vô Năng Thắng Minh Phi.
Liên Hoa bộ --- Đa La Bồ Tát Minh Phi.
Kim Cang bộ --- Kim Cang Tôn Na Lợi Bồ Tát Minh Phi.
...

Tôi truyền dạy Hỷ Kim Cang, lấy Vô Ngã Mẫu làm Minh Phi, xung quanh Ngài còn có tám đại Minh Phi. Minh Phi cũng có ý nghĩa là tăng trưởng tất cả công đức.

🌟

Quyến thuộc tức là những người phụ tá trợ giúp của chủ tôn.
Phật Thích Ca Mâu Ni khi chưa xuất gia thì có Xa Nặc là sứ giả, có Ưu Đà Da là người mua vui, có Da Du Đà La là vợ, có các phi tử là nội quyến thuộc.
Sau khi xuất gia, sau khi đắc đạo, Phật có năm thị giả, Di Hỉ La Đà, Tu Na Sát Đa La, A Nan, Mật Tích Lực Sĩ là quyến thuộc.
Tiếp đó, các đại đệ tử Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Đại Ca Diếp đều là quyến thuộc.

Quyến thuộc của Như Lai phân chia làm năm loại: quyến thuộc do lý tính sinh ra, quyến thuộc do nghiệp sinh ra, quyến thuộc do ý nguyện sinh ra, quyến thuộc thần thông, quyến thuộc do cảm ứng sinh ra.
Nghĩa là, các vị ở trong Mandala đều là quyến thuộc.

🌟

Tôi nói:
Phật Mẫu, Minh Phi, quyến thuộc trong các kinh tục đều lần lượt được nói rất rõ ràng.
Không thể nói:
"Phật không có Phật Mẫu, Minh Phi, quyến thuộc."
Tôi hỏi lại:
"Phật không do Phật Mẫu sinh ra, thì từ đâu sinh ra?"
"Mật giáo dùng phương tiện then chốt là Minh Phi, nếu không thì công đức tăng trưởng từ đâu ra?"
"Những vật dụng hàng ngày đều là quyến thuộc, nếu không thì bạn sinh sống thế nào?"

Tôi nói:
Tất cả chúng sinh đều dùng hàng ngày, nhưng lại không biết. Mẹ của bạn chính là Phật Mẫu, vợ của bạn chính là Minh Phi, những thứ xung quanh bạn chính là quyến thuộc.
Tu hành nhất vị này, bạn có hiểu được không?

@@c046	046 Hồ sơ Thiền môn
Người ta hỏi tôi:
"Cái gì là thiền?"
Tôi liếc nhìn người đó, rồi không nói câu gì.
Người đó hỏi:
"Ngài có biết thiền không?"
Tôi đáp:
"Không lời nào có thể nói, là thiền!"
Người đó ù ù cạc cạc.

🌟

Phật giáo giải thích về Thiền như sau:
"Trí Độ Luận": "Mọi định công đức đều là tu tư duy, thiền, nước Tần nói là tu tư duy."
"Thứ Tự Pháp Giới": "Thiền là âm thanh Tây Thổ, lật ngược và trừ bỏ mọi điều ác. Thiền có thể trừ bỏ hết thảy mọi điều ác như ngũ cái dục giới, do vậy gọi là trừ ác. Hoặc lật ngược rừng công đức, hoặc tu tư duy."

[ ND: ngũ cái những ý niệm không tốt che lấp tâm thức, khiến không thấy được sáng suốt, đó là tham dục (lòng ham muốn), sân nhuế (hờn giận), thụy miên (sự mờ tối của tâm), điệu hối (trạo cử và ăn năn), và nghi ngờ (gồm nghi mình, nghi thầy, nghi pháp). ]

"Đại Thừa Nghĩa Chương": "Thiền định có bảy tên gọi, một là thiền, hai là định, ba là tam muội, bốn là chính thọ, năm là tam ma đề, sáu là sa ma tha, bảy là giải thoát."

Thiền được phân thành:
Thiền thế gian. (Tứ thiền, tứ vô lượng, tứ không, sáu diệu môn, mười sáu thù thắng, thông minh.)
Thiền xuất thế gian. (Quán, luyện, huân, tu.)
Thượng thượng thiền xuất thế gian. (Tự tính thiền, nhất thiết thiền, nan thiền, nhất thiết môn thiền, thiện nhân thiền, nhất thiết hành thiền, trừ não thiền, đời đời lạc thiền, thanh tịnh tịnh thiền.)

Kinh điển có:
"Thiền hành pháp tưởng kinh".
"Thiền hành liễm ý kinh".
"Thiền hành 37 phẩm kinh".
...

Cho đến nay, Thiền tông phân ra làm năm bộ phận: Vy Ngưỡng, Tào Động, Lâm Tế, Vân Môn, Pháp Nhãn. (Tuy nhiên, Vy Ngưỡng, Vân Môn đã suy tàn, Lâm Tế là phát triển nhất.)

Tôi nói:
"Về biểu hiện bên ngoài thì thiền môn là tĩnh lặng suy ngẫm tư duy, biểu hiện bên trong là diệu tâm của niết bàn. Thiền không thể dùng văn tự, ngôn ngữ mà nói được."
Vị thầy cạo đầu xuất gia cho tôi là Đại hòa thượng Quả Hiền, là đệ tử của tôi, ông ấy là truyền nhân của Lâm Tế Tông.

Người ta hỏi tôi:
"Tu thiền thế nào?"
Tôi đáp:
"Anh hỏi tôi đáp."

Hỏi:
"Thế nào là thiền?"
Tôi đáp:
"Không khua nước, cá chẳng sợ."

Hỏi:
"Làm sao để từ thiền mà khai ngộ thành Phật?"
Tôi đáp:
"Là ai thế?"

Hỏi:
"Nếu thế thì vì sao có người mê có người ngộ?"
Tôi đáp:
"Tôi tiến lên, anh thụt lùi."

Hỏi:
"Thế nào là người trong thiền môn?"
Tôi đáp:
"Là người nào?"

Hỏi:
"Làm sao ngài ấn chứng được người khác đã khai ngộ hay chưa?"
Đáp:
"Minh minh mật mật."
(Thử nghĩ xem, minh minh mật mật là cái gì?)


### 47. Hồ sơ Pháp môn tịnh độ


Trong cuộc đời này của tôi, tôi có thể tiến vào cánh cửa tu hành, bắt đầu từ ngày Diêu Trì Kim Mẫu mở thiên nhãn, tôi tiến vào những cảnh giới huyễn ảo của hư không vũ trụ, tôi ngao du khắp các cõi trời và địa ngục. Và rồi, tôi đã biết lấy việc tu hành làm việc đại sự của cuộc đời. Trước tiên tôi nhập môn Đạo giáo, khi xong công đức, tôi đã có được "chứng thư đạo sĩ".

Tôi tốt nghiệp trường trắc lượng, có được bằng cử nhân kĩ sư, tôi được phân công làm việc tại liên đội trắc lượng số 5802 ở Nam Môn Kiều, Đài Trung, nơi đóng quân của liên đội cách nhà tưởng niệm Thái Hư đi bộ vài bước chân là đến.
Vì nhân duyên này, ở nhà tưởng niệm Thái Hư, tôi đã nghe cư sĩ Lý Bỉnh Nam giảng "Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông Chương". Cư sĩ Lý Bỉnh Nam chủ trương tu pháp môn Tịnh độ.

Từ đó, tôi quy y Phật môn:
Ấn Thuận đạo sư --- Lý Bỉnh Nam giới thiệu.
Lạc Quả pháp sư --- Triệu Cơ giới thiệu.
Đạo An pháp sư --- Vương Nhất Chi giới thiệu.
Đây là ba vị sư phụ Hiển giáo của tôi.

🌟

Do ảnh hưởng của cư sĩ Lý Bỉnh Nam, tôi đã học Tịnh độ tông trước.
"Nhiếp Luận" viết: "Cõi sinh sống đó, không có ngũ trọc, trong như ngọc thủy tinh, do vậy gọi là cõi tịnh độ."
"Đại Thừa Nghĩa Chương" viết: "Trong kinh có khi gọi là Phật địa, hoặc gọi là Phật quốc, Phật giới, Phật thổ. Hoặc còn gọi là Tịnh sát, Tịnh thủ, Tịnh quốc, Tịnh độ."

Tịnh độ tông coi Phổ Hiền là vị tổ đầu tiên, chủ trương niệm Phật vãng sinh. Pháp sư Tấn Huệ Viễn chủ yếu niệm Phật vãng sinh, khởi xướng pháp môn tịnh độ, sống tại Lư Sơn, tạo lập liên xã. Đàm Loan nhà Ngụy, Đạo Xước nhà Đường đều chuyên tu tịnh độ.

Pháp môn tịnh độ có bảy bộ kinh: "Vô lượng thanh tịnh bình đẳng giác kinh", "Đại A Di Đà kinh", "Vô lượng thọ kinh", "Quán vô lượng thọ kinh", "A Di Đà kinh", "Xưng tán tịnh độ Phật nhiếp thọ kinh", "Cổ âm thanh tam đà ra ni kinh".
Có một bộ luận là: "Tịnh độ vãng sinh luận."

Hình tướng bên ngoài của cõi tịnh độ là:
Trăm nghìn âm nhạc vi diệu.
Gió mát ngân nga ngũ âm.
Mặt đất làm bằng vàng bạc.
Thất bảo lộng lẫy thơm tho.
Nước thơm tám loại công đức.
Người sinh ra từ hoa sen.

Phương pháp tu trì có: trì danh niệm Phật, quán tướng niệm Phật, mười sáu quán, trì chú niệm Phật, tu Di Đà đại pháp, vô tướng niệm Phật, thân khẩu ý thanh tịnh niệm Phật...

Phật Đà nói:
"Trực tâm, thâm tâm, đại thừa tâm, bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ, vô lượng tâm, tứ nhiếp pháp, phương tiện, ba mươi bảy phẩm, hồi hướng tâm, trừ tám nạn, giữ giới hạnh, mười điều thiện."

Đó là mười bảy loại pháp môn của vãng sinh tịnh độ.
Nói là dễ thì cũng dễ.
Nói là khó thì cũng khó.

Tôi nói:
"Pháp môn tịnh độ tương đối trực tiếp, tương đối dễ thực hành, nếu có thể nhất tâm bất loạn, niệm Phật không ngừng, Di Đà hiện lên trước mặt, tiếp dẫn bạn vãng sinh."

Còn các môn giáo khác thì tôi nói rằng:
"Phật sơn quanh co nhiều cao thấp,
Đường rẽ lại thông với bùn nhơ,
Hành giả trên đường lâu như vậy,
Rõ ràng chẳng biết đã lạc đường."


### 48. Hồ sơ Mật giáo


Tôi từ Hiển giáo bước vào Mật giáo nhờ có Liễu Minh Hòa Thượng. Liễu Minh Hòa Thượng là người Tứ Xuyên, khi ở Tứ Xuyên đã có quen biết với Norlha Rinpoche, đã nỗ lực hết sức để học ngài. Tôi theo Liễu Minh Hòa Thượng, vì thế có được truyền thừa của Hồng giáo.

Tôi và Hoàng Triều Sơ đến New York, gặp Đại Bảo Pháp Vương thứ 16 Karmapa, nhận quán đảnh của Pháp Vương, do đó có được truyền thừa của Bạch giáo.

Tôi ở Seattle, tại Lục Hồ [ ND: Green Lake, hồ nước ngọt nằm về phía bắc của thành phố Seattle, bang Washington. ] đã gặp Sakya Chứng Không Thượng Sư, được ngài truyền thụ mọi pháp và Hỉ Kim Cang, hơn nữa còn nhận được quán đảnh Acharya, tổng cộng tôi học với ngài ba năm, có được truyền thừa Hoa giáo.

Tôi ở Hồng Kông, nương dựa vào Thubten Dorjie Thượng Sư để học tập, truyền thừa của ngài đến từ Cam Châu Hoạt Phật. Tôi đã nhận quán đảnh Vô thượng mật, quán đảnh Acharya, quán đảnh chư Tôn, quán đảnh Thời Luân Kim Cang.

Tôi ở chỗ của Thượng sư Phổ Phương là Tổng Trì Tự Phái, nhận quán đảnh Chuẩn Đề Phật Mẫu và chư Tôn.
Tôi đã nhận vô số quán đảnh...
Tôi học pháp tinh tấn khác thường.

Tôi tương ứng các pháp Gia hành, Thượng sư, Bổn Tôn, Kim Cang Minh Vương, Vô thượng mật, Đại viên mãn.
Tôi thành tựu vô lậu, thành tựu chuyết hỏa, thành tựu minh điểm, từ đó tiến thẳng đến thành tựu thân ánh sáng, thành tựu huyễn thân, thành tựu thân cầu vồng.

Tôi nói:
"Tinh thần học pháp cũng như tinh thần sáng tác của tôi tràn đầy nghị lực. Tôi đã viết hơn hai trăm cuốn sách, tôi cũng nhận quán đảnh hơn trăm pháp, tu hơn trăm pháp, lần lượt đều tương ứng."
Những Rinpoche (Hoạt Phật) quy y tôi nhiều vô kể.

🌟

Người hỏi:
"Thế nào là Mật giáo?"
Tôi đáp:
"Là cảnh giới nội chứng pháp thân Phật, thâm sâu bí mật ảo diệu, gọi là Mật giáo.
Người chưa nhận quán đảnh thì không được tu học, do vậy gọi là Mật giáo.
Phải được truyền qua miệng nói tai nghe, do vậy gọi là Mật giáo.
Những lợi ích tự tính, những pháp lạc nhận được không lời nào mô tả được hết ý nghĩa, gọi là Mật giáo.
Ý Phật thâm sâu bí mật, người bình thường chẳng thể biết, gọi là Mật giáo.
Vân vân và vân vân."

Người hỏi:
"Lư Sư Tôn chủ yếu tu Bổn tôn và Hộ pháp nào?"
Tôi đáp:
"Tôi chủ yếu tu ba Bổn tôn của tôi là Diêu Trì Kim Mẫu, A Di Đà Phật, Địa Tạng Bồ Tát, Hộ pháp là Đại Uy Đức Kim Cang. Các Bổn tôn khác là các chư Tôn kết duyên. Nhưng tôi có mang hai bộ đại ấn của Kim Cương Giới và Thai Tạng Giới, đã chứng Đại viên mãn, Đại uy đức, Đại thủ ấn, Đại viên thắng huệ."

Người hỏi:
"Cõi Ma Ha Song Liên Trì Tịnh thổ của Lư Sư Tôn là do tự ngài tạo ra sao?"
Tôi đáp:
"Tôi thật lòng thực sự nói cho mọi người biết, tịnh thổ Mật giáo là cõi tịnh thổ bí mật trang nghiêm. Hoa Tạng tịnh thổ được nói đến trong kinh Hoa Nghiêm, Cực Lạc tịnh thổ trong kinh A Di Đà, còn Ma Ha Song Liên Trì tịnh thổ được phân làm bốn, hợp lại thành một. Đây chính là bí mật của bí mật, người bình thường không ai có thể tưởng tượng được cái gì gọi là một tên gọi, cái gì gọi là tên gọi khác?"

🌟

Tôi cho rằng các vị Tổ sư của Mật giáo nên được sắp xếp như sau:
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ (xuất hiện sau khi Phật mới tịch diệt).
Long Thọ Bồ Tát (500 năm sau khi Phật tịch diệt).
Virupa (1000 năm sau khi Phật tịch diệt).
Naropa (1500 năm sau khi Phật tịch diệt).
Tsongkhapa (2000 năm sau khi Phật tịch diệt).
XXX (2500 năm sau khi Phật tịch diệt).
(Vị XXX này là ai?)

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ từng dự đoán rằng: "Tại một thế giới tương lai, trong hơn hai nghìn năm sau khi Phật Đà tịch diệt, trên thế giới sẽ xuất hiện một vị Bạch Liên Hoa Vương, ngài ấy đến để kiến thiết một thế kỉ mới của Mật giáo."


### 49. Hồ sơ Giới luật


Tôi trịnh trọng nói:
"Giới luật, giới luật, thật sự không có giới luật."
(Đây là Đệ nhất nghĩa.)

"Vì sao lại có giới luật?"
Tôi đáp:
"Phật Đà tại thế gian đã tổ chức tăng đoàn, tăng nhân có hành vi không thỏa đáng, do vậy Phật Đà mới đưa ra giới luật. Khi xuất hiện thêm điều không thỏa đáng khác thì lại đưa ra thêm một điều giới luật nữa, nhiều điều không thỏa đáng thì lại đưa ra thêm nhiều điều luật. Cuối cùng đã hình thành nên 250 điều giới luật dành cho tì kheo, 348 điều giới luật cho tì kheo ni. Cuối cùng đã trở thành giới luật học."

"Niết Bàn Kinh" viết: "Giới là những nấc thang của tất cả thiện pháp."

"Anh Lạc Bản Nghiệp Kinh" viết: "Hết thảy chúng sinh, khi mới đi vào biển Tam Bảo, lấy chữ "tín" làm gốc. Sống trong nhà Phật, lấy "giới" làm gốc."

"Đại Thừa Nghĩa Chương" viết: "Thanh mát gọi là giới, tam nghiệp nóng hừng hực thiêu đốt người tu hành, các sự vật sự việc như lửa thiêu, giới có thể giúp ngăn chặn, do vậy gọi giới là thanh mát, nhờ có thể chặn được cái ác nên gọi là giới."

Tôi nói: "Giới là công đức để phòng ngừa, ngăn chặn cái ác."

Kinh điển về giới luật có: "Giới nhân duyên kinh", "Giới đức hương kinh", "Giới hương kinh", "Giới tiêu tai kinh", "Phạm võng kinh", "Giới quả nhân duyên kinh", "Ưu bà tắc giới kinh"...
Gọi chung là "Giới luật tạng".

Giới có: năm giới, tám giới, mười giới, 250 giới, có phân chia thàn giới tại gia và giới xuất gia.

Lại có giới cấm thủ: là chỉ ngoại đạo Ấn Độ khi tu hành đã giữ chặt vào những giới dị hình biệt loại phi lý, Phật môn không chấp vào những giới này, gọi là giới cấm thủ.

Giới cũng có giới Tiểu thừa, giới Đại thừa, giới Mật giáo.
Tất cả giới luật đều xuất phát từ năm giới mà phân nhỏ ra, năm giới này là quan trọng số một:

1. Giới sát sinh.

1. Giới trộm cắp.

1. Giới tà dâm.

1. Giới vọng ngữ.

1. Giới uống rượu.

- 

Khi Phật nhập niết bàn, A Nan hỏi:
"Sau khi Phật niết bàn thì lấy ai làm thầy?"
Phật đáp:
"Lấy giới làm thầy!"
Có thể thấy tầm quan trọng của giới luật.
Có người hỏi tôi:
"Chân Phật Tông có giới luật không?"
Tôi đáp:
"Có! Phải giữ giới Đại, Tiểu thừa, giới Mật tông, giới Chân Phật Tông, giới luật còn nhiều hơn."
Có người hỏi:
"Vốn không có giới luật, vì sao lại đưa ra giới luật?"
Tôi đáp:
"Vì có chúng sinh!"

"Nếu không có chúng sinh thì sao?"
"Anh vừa hỏi cái gì đấy?" - Tôi hỏi ngược lại.
Người đó hỏi:
"Nếu không có chúng sinh thì sao?"
Tôi đáp:
"Nếu không có chúng sinh."
(Câu trả lời "Nếu không có chúng sinh" này của tôi hàm chứa đệ nhất nghĩa, không phải là người khai ngộ thì không thể hiểu được.)

Tôi viết bài kệ:
"Năm nay sáu mươi lăm
Tuổi thế gian đã dài.
Chẳng đến cũng chẳng đi.
Cái gì là giới luật."


### 50. Lời kết về các hồ sơ


Có tăng nhân thấy tôi viết về các hồ sơ, đã đưa ra mấy câu hỏi, ví dụ như:
Tăng nhân hỏi:
"Viết một cuốn sách về các hồ sơ, rốt cuộc Lư Sư Tôn muốn biểu đạt điều gì?"
Tôi đáp:
"Lẩm bẩm nói một mình."

Tăng nhân hỏi:
"Có phải muốn nói rằng, Lư Sư Tôn là Pháp Vương bậc nhất? Là Tông sư bậc nhất? Là đại thiện tri thức bậc nhất?"
Tôi đáp:
"Chớ phụ lòng mới phải."

Tăng nhân hỏi:
"Lư Sư Tôn nói bản thân chính là Phật và Tông sư chuyển thế phải không?"
Tôi đáp:
"Tôi nào dám lỗ mãng, tôi là Lư Sư Tôn thôi."

Tăng nhân hỏi:
"Vậy rốt cuộc là ai chuyển thế?"
Tôi đáp:
"Là tôi chuyển thế."

🌟

Tăng nhân hỏi:
"Đọc cuốn sách về các hồ sơ, người đọc có được lợi ích gì?"
Tôi đáp:
"Uổng phí con mắt."

Tăng nhân hỏi:
"Nếu không đọc cuốn sách này thì sao?"
Tôi đáp:
"Uổng phí đôi tai."

Tăng nhân hỏi:
"Rốt cuộc là đọc hay không đọc mới tốt?"
Tôi đáp:
"Người đọc sẽ đọc, người không đọc sẽ không đọc."

Tăng nhân hỏi:
"Ly tứ cú, tuyệt bách phi, có phải là sẽ không còn phiền não nữa không?"
Tôi đáp:
"Người thực vật có phiền não hay không?"

[ ND: ly tứ cú, tuyệt bách phi là rời xa bốn câu xác nhận và phủ nhận: 1. Có; 2. Không; 3. Cũng có cũng không; 4. Chẳng có chẳng không. Đây là một lời dạy trong Thiền tông. Nếu rời xa được bốn lối tư tưởng này thì sẽ đoạn tuyệt khỏi trăm thứ sai lầm. ]

Tăng nhân hỏi:
"Làm sao để không còn phiền não?"
Tôi đáp:
"Hoa đỏ hoa xanh loại nào cũng đẹp."

Tăng nhân hỏi:
"Cũng có thể nói như thế này, hãy xem tất cả phiền não cũng là điều tốt phải không?"
Tôi đáp:
"Một chữ "xong" là tuyệt vời rồi!"

Tăng nhân hỏi:
"Cuốn sách về hồ sơ, cũng là một chữ "xong" sao?"
Tôi đáp:
"Ông là thiện tri thức."

Tăng nhân hỏi:
"Thế nào là ý nghĩa của việc Bồ Đề Đạt Ma từ bên Ấn Ðộ sang?"
Tôi đáp:
"Hãy mua cuốn sách "Hồ sơ cơ mật của Lư Thắng Ngạn"."

Tăng nhân hỏi:
"Lư Sư Tôn tương lai sẽ chuyển thế đến nơi nào?"
Tôi đáp:
"Có nơi nào là không có tôi."
"Rốt cuộc là nơi nào?"
Tôi đáp:
"Khắp trong thiên hạ!"


### 51. Phụ lục: Truyền pháp khai thị "Đại Khổng Tước Minh Vương tương ứng pháp"


Kính lễ Liễu Minh Hòa Thượng, Sakya Chứng Không Thượng Sư, Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16, Thubten Dorjie Thượng Sư!
Kính lễ Tam Bảo trên đàn thành!
Kính lễ Phật Mẫu Đại Khổng Tước Minh Vương!

Sư Mẫu, các vị Thượng sư, thầy dạy học, pháp sư, giảng sư, trợ giảng, các vị khách quý, các đồng môn, và cả các đồng môn đang xem qua mạng, chúc mọi người cát tường!

Hôm nay tôi muốn giảng về Đại Khổng Tước Minh Vương tương ứng pháp. Vừa nãy, khi pháp hội của chúng ta mới bắt đầu, khi nhóm nghênh đón đón tiếp Thượng sư Liên Ninh và tôi làm chủ đàn, lúc còn chưa dâng hương, tôi đã nhìn thấy toàn bộ đàn thành phát quang rồi. (mọi người vỗ tay) Chủ tôn của pháp hội và Khổng Tước Minh Vương đã hạ giáng xuống và ngự trên đàn thành rồi.

Bây giờ đã sắp năm giờ rồi, nếu như theo những gì mà Thượng sư Liên Ninh nói thì vừa nãy ngài ấy cầu thỉnh Sư Tôn giảng những pháp gì gì ấy nhỉ, nếu thế thì khả năng mọi người sẽ phải ngồi từ bây giờ cho đến tận sáng mai. Thôi thì hôm nay tôi giảng cái gì thì mọi người nghe cái đó vậy, không thể thỏa mãn lời thỉnh cầu của Thượng sư Liên Ninh được, bởi vì ông ấy cầu xin nhiều quá, tôi không thể nào giảng hết được, do vậy tôi giảng được bao nhiêu thì mọi người nghe bấy nhiêu vậy.

Trước tiên, chúng ta cầu thỉnh Đại Khổng Tước Minh Vương gia trì cho chúng ta lúc truyền thụ pháp sẽ được cát tường viên mãn. Đồng thời cũng cầu thỉnh Thượng sư đã truyền pháp Đại Khổng Tước Minh Vương cho tôi là Liễu Minh Hòa Thượng và Phổ Phương Thượng Sư gia trì viên mãn. Thượng sư của Chân Phật Tông cầu thỉnh gia trì cho chúng ta truyền pháp được viên mãn.

Dựa theo trình tự của pháp tương ứng và pháp niệm tụng, chúng ta có cải biến, có đôi chút không giống lắm với nghi quỹ thông thường, dựa theo nghi quỹ của Chân Phật Tông chúng ta để thực hành. Đầu tiên cần làm đại lễ bái, cũng cần làm tứ quy y, tứ quy y chính là quy y Thượng sư, quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Bình thường, chúng ta niệm tứ quy y là "Nan mo guru bei, nan mo Buddha ye, nan mo dharma ye, nan mo sangha ye." Tuy nhiên, tứ quy y ở đây có khác so với tứ quy y trước đây, có điểm khác biệt. Quy y thứ nhất vẫn là "nam mo guru bei", là vị thầy truyền pháp. Quy y thứ hai chính là quy y Phật, bạn cần niệm "quy y Đại Khổng Tước Minh Vương Phật". Thứ ba, quy y pháp, là "quy y Đại Khổng Tước Minh Vương kinh". Thứ tư, quy y tăng, chính là "quy y quyến thuộc của Khổng Tước Minh Vương hải hội". Đây là điểm khác biệt. Một chính là tất cả, tất cả chính là một.

Vì sao Khổng Tước Minh Vương lại vĩ đại như vậy, có thể xoay chuyển định nghiệp? Vừa nãy, Liên Ninh nói là ông ấy đọc được trong kinh điển thấy rằng Khổng Tước Minh Vương cũng có thể tiêu trừ định nghiệp. Định nghiệp vốn dĩ là không thể tiêu trừ được, ngay cả Phật cũng không thể xoay chuyển định nghiệp. Vì sao Đại Khổng Tước Minh Vương lại có thể xoay chuyển định nghiệp? Hôm nay nếu như tôi không biết thì tôi đã bị Thượng sư Liên Ninh cho thi trượt rồi. Cũng may, tôi cũng có hiểu chút ít về căn nguyên của Khổng Tước Minh Vương.

Khổng Tước Minh Vương là đẳng lưu thân - một thân lưu xuất bình đẳng của Đại Nhật Như Lai, là biến hóa thân của A Di Đà Phật, là thụ dụng thân của Thích Ca Mâu Ni Phật, do vậy Khổng Tước Minh Vương có thể xoay chuyển định nghiệp.

Tôi nói cho mọi người hay, Đại Khổng Tước Minh Vương chính là Tỳ Lô Giá Na Phật, là đẳng lưu thân của Đại Nhật Như Lai. Thế nào là đẳng lưu thân? Là thân ngang đẳng cấp.

Ví dụ như bây giờ tôi là Lư Thắng Ngạn, tôi không có đẳng lưu thân. Cái gọi là đẳng lưu thân chính là có thêm một Lư Thắng Ngạn khác, là một Lư Thắng Ngạn khác có cùng power [ sức mạnh ]  với Lư Thắng Ngạn này, thì được gọi là đẳng lưu thân. Sức mạnh này rất lớn, Đại Nhật Như Lai Tỳ Lô Giá Na Phật có thể nói rằng bản thân Ngài ấy là Phật ở địa thứ 13, là vị Phật rất cao. Ở trung ương của Ngũ Phật là Đại Nhật Như Lai Tỳ Lô Giá Na Phật, chính là vị Phật cao nhất trong Ngũ Phật. Tương đương với Ngài là Khổng Tước Minh Vương, là đẳng lưu thân.

Ngoài ra, còn có thân biến hóa.
Tây phương cực lạc thế giới là do A Di Đà Phật biến hóa ra. Những loài chim anh vũ, khổng tước, cộng mệnh, ca lăng tần già, đều là do A Di Đà Phật biến hóa ra.

Đại Khổng Tước Minh Vương cũng tương đương với biến hóa thân của A Di Đà Phật, bởi vì Tây phương cực lạc thế giới có Khổng Tước Minh Vương đó thôi! Khổng tước là do A Di Đà Phật biến hóa ra. Do vậy, Đại Khổng Tước Minh Vương là biến hóa thân do A Di Đà Phật biến hóa ra, Ngài ấy có sức mạnh của A Di Đà Phật. Đối với bản thân A Di Đà Phật mà nói thì người có nghiệp chướng đều có thể vãng sinh đến Tây phương cực lạc thế giới, do vậy mà Khổng Tước Minh Vương có thể xoay chuyển định nghiệp.

Bạn đã có định nghiệp rồi, nhưng bạn nhất tâm quy mệnh vào Đại Khổng Tước Minh Vương thì cũng tương đương với việc bạn quy mệnh vào Tỳ Lô Giá Na Phật, A Di Đà Phật, bản thân người nhất tâm quy mệnh vào A Di Đà Phật có thể mang theo nghiệp vãng sinh. Bạn có thể mang theo nghiệp vãng sinh đến Tây phương cực lạc thế giới, như vậy chẳng phải là tương đương với xoay chuyển nghiệp sao? Đây chính là pháp lực của Khổng Tước Minh Vương.

Hơn nữa, Khổng Tước Minh Vương còn có một thân thụ dụng. Xưa kia, Thích Ca Mâu Ni Phật có một kiếp từng là Khổng Tước Vương, thân thụ dụng của bản thân Thích Ca Mâu Ni Phật chính là Khổng Tước Vương, Khổng Tước Vương chính là tương đương với thân của Thích Ca Mâu Ni Phật, là như nhau. Còn Thích Ca Mâu Ni Phật là vị giáo chủ Phật giáo của thế giới Ta Bà, ở tại cõi giới Ta Bà này mà thành Phật, pháp lực của ngài vô cùng to lớn. Có ba vị Phật này, tức là đẳng lưu thân của Đại Nhật Như Lai, biến hóa thân của A Di Đà Phật, thụ dụng thân của Thích Ca Mâu Ni Phật, chính là Đại Khổng Tước Minh Vương. Do vậy, hôm nay bạn tu được tương ứng Đại Khổng Tước Minh Vương rồi thì cũng tương đương với việc bạn đã tương ứng được hết với Tỳ Lô Giá Na Phật, A Di Đà Phật, Thích Ca Mâu Ni Phật. Có sức mạnh lớn như vậy, đương nhiên bạn có thể xoay chuyển định nghiệp. Phật không thể chuyển định nghiệp, một vị Phật không thể xoay chuyển định nghiệp, nhiều vị Phật thì có thể xoay chuyển định nghiệp. (mọi người vỗ tay)

Ví dụ như việc Mục Kiền Liên cứu mẹ. Mục Kiền Liên có sức mạnh thần thông riêng của ngài ấy, đã vào đạo ngạ quỷ để cứu mẹ của ngài, ngài biến hóa ra đồ ăn để cho mẹ ăn, đồ ăn đến miệng thì hóa thành lửa không thể ăn được. Ngài trở về cầu cứu Thích Ca Mâu Ni Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật nói có cách, đó chính là cách được nói đến trong kinh Vu Lan Bồn, cần phải triệu tập mọi Thánh chúng, mọi Thánh hiền tăng, cùng kết hợp pháp lực lại, thì Mục Kiền Liên có thể cứu được mẹ ra khỏi âm gian.

Giống như ngày nay, giống như là sức mạnh của một Thượng sư thì không đủ, thế nên hôm nay ở đây chúng ta có bảy mươi mấy vị Thượng sư, toàn bộ bảy mươi mấy Thượng sư đều niệm tụng kinh chú gia trì tạo nên một sức mạnh tổng hợp, thì rất nhanh chóng có thể siêu độ được cho người ta. Đây là sức mạnh của chúng Thánh hiền tăng. Hôm nay, Khổng Tước Minh Vương là tập hợp sức mạnh của các vị Phật, do vậy Ngài ấy có thể xoay chuyển định nghiệp. (mọi người vỗ tay)

Chúng ta niệm tứ quy y là quy y Căn bản Thượng sư đã truyền pháp, quy y Đại Khổng Tước Minh Vương, quy y "Khổng Tước Minh Vương kinh", quy y tất cả quyến thuộc của Khổng Tước Minh Vương hải hội. Ban nãy Thượng sư Liên Ninh có nói quyến thuộc của Khổng Tước Minh Vương rất đông, bạn muốn bày đàn thành thì cần bày cả bức tranh hải hội, phía trên là Thất Phật, từ Phật Ca Diếp cho đến Phật Thích Ca Mâu Ni, tổng cộng có bảy vị Phật. Ở phía trên bạn cần bày Thất Phật, ở giữa cần bày vị Phật tương lai Di Lặc Bồ Tát, tiếp đó là bày tất cả chúng Duyên Giác, tiếp theo bày Tứ đại Thanh Văn, bốn đại đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni. Tiếp đó bày tám vị Thiên Vương, rồi đến bày 28 Dạ Xoa, rồi bày tất cả tinh tú, cửu tinh. Tiếp đến bày 12 cung, ở chính giữa là Khổng Tước Minh Vương. Từ trên xuống dưới, bức thangka này chính là bức tranh hải hội của Khổng Tước Minh Vương.

Tuy nhiên, nếu như chúng ta bố trí đàn thành như vậy, đàn thành trong nhà bạn phải dỡ ra hết và làm lại từ đầu, toàn bộ đàn thành của bạn phải là hải hội của Khổng Tước Minh Vương. Chúng ta phải làm thế nào để bố trí đàn thành của Khổng Tước Minh Vương đây?

Bạn hãy dùng cách vẽ thangka đi. Thất Phật, Di Lặc, Duyên Giác, Thanh Văn, 8 Thiên Vương, 28 Dạ Xoa, 9 chòm sao chiếu sáng, 12 cung bao lấy xung quanh, Thất Phật ở trên, 12 cung ở dưới, hai bên, xung quanh đều bao vòng lấy, ở chính giữa là Khổng Tước Minh Vương. Hoặc là tượng Khổng Tước Minh Vương, hoặc là một chiếc lông vũ của Khổng Tước Minh Vương. Đây là cách đơn giản nhất. Bạn mua được lông chim công thì bạn đặt chiếc lông ở giữa, những thứ khác thì dùng giấy đỏ để viết lên, viết toàn bộ tên của Thất Phật, Di Lặc, Duyên Giác, Thanh Văn, 8 Thiên Vương, 28 Dạ Xoa, 9 chòm sao, 12 cung, đây chính là quyến thuộc của Khổng Tước Minh Vương, đã bao gồm quyến thuộc gia trì cho đẳng lưu thân, quyến thuộc của biến hóa thân và quyến thuộc của thụ dụng thân, đều ở đó hết. Đây chính là cách sắp đặt một đàn pháp. (mọi người vỗ tay)

Tiếp theo, bạn muốn tu pháp Khổng Tước Minh Vương nhất định cần phải phát bồ đề tâm, phát bồ đề tâm là việc cần làm khi tu bất kì pháp nào! Từ bi hỉ xả, làm cho người khác vui vẻ, trừ bỏ đau khổ của người khác, hoan hoan hỉ hỉ mà làm mọi việc đó, có thể xả bỏ tất cả, chính là phát bồ đề tâm từ bi hỉ xả.

Tiếp đó, bạn muốn cúng dường, thế thì cúng dường cái gì? Cái gọi là ngoại cúng rất đơn giản, là những thứ bình thường chúng ta vẫn đều cúng đó. Nội cúng thì thuộc về một số điều tương đối bí mật, lấy thân khẩu ý của chính bạn chính là nội cúng. Cái gì gọi là pháp cúng? Chính là cúng Phật tính. Cái gì gọi là cúng Phật tính? Đó là ta đem Phật tính của bản thân chuyển hóa thành Đại Khổng Tước Minh Vương, bạn tương ứng với Khổng Tước Minh Vương, có thân khẩu ý giống như của Khổng Tước Minh Vương, thì đây chính là cúng dường pháp, gọi là cúng Phật tính. Cúng dường này, cái gọi là cúng Phật tính, là rất lợi hại, không được phạm một chút sai lầm nào. Đó gọi là cúng Phật tính.

Tôi đã giảng thế nào là ngoại cúng, thế nào là nội cúng, thế nào là cúng Phật tính. Tiếp theo, ta có đại lễ bái, tứ quy y, phát bồ đề tâm, đại cúng dường. Trong nghi quỹ của Chân Phật Tông chúng ta thì tiếp sau là cần quán tưởng. Thượng sư Liên Ninh có hỏi cần phải kết thủ ấn gì. Đầu tiên là kết ấn nội phộc, sau đó đầu ngón tay út chạm vào nhau, ngón cái chạm vào nhau, thế là giống một con chim khổng tước. Ngón tay cái là đầu của khổng tước, ngón út là đuôi của khổng tước, ở giữa chính là thân của khổng tước, thủ ấn này chính là biểu trưng cho khổng tước.

Ngoài ra, còn có một thủ ấn khác gọi là ấn ngoại phộc, đó cũng là ấn Khổng Tước Minh Vương. Đầu khổng tước, đuôi khổng tước, còn lại là thân khổng tước. Ấn ngoại phộc này là dùng khi bay lượn, khi tu pháp "phi không", đây chính là đôi cánh của Ngài, đôi cánh chuyển động biểu thị Ngài đang bay. Đây chính là Khổng Tước phi hành ấn. Vậy nhé, có hai thủ ấn.

Bạn kết thủ ấn xong rồi thì bắt đầu quán tưởng hư không, một sự trống không. Chú quán không để quán tưởng hư không như thế này: "Om supawa suta sarwa tarma supawa suto hang." Bạn quán tưởng hư không, niệm chú quán không, thế là thành một vòng tròn, một chú quán không, một màn hư không, một vòng tròn. Từ trong hư không, trước tiên xuất hiện chữ "玉" [ chữ Ngọc, yu ], chữ 玉 này chính là chim công, đầu tiên xuất hiện chim công.

Bạn có thể quán tưởng cánh của chim công trước, sau đó sau đó trong đôi cánh của chim công có chữ 玉, chữ 玉 rất giống một con chim khổng tước, sau đó, chữ 玉 biến hóa thành một con chim khổng tước. Tiếp đó quán tưởng chữ 邦 [ chữ Bang ], chữ 邦 trông giống một con chim, một vòng tròn. Cánh chim công, ở giữa cánh chim công có một chữ 邦, chữ 邦 có màu trắng biến thành hoa sen. Sau đó có một chữ 摩 [ chữ Ma ], hơi giống cái miệng, nhưng mà nó viết kiểu móc lên trên như thế này, gọi là 摩. Chữ 摩 sẽ biến thành Khổng Tước Minh Vương. Chữ 玉 chính là chim công, chữ 邦 chính là hoa sen, chữ 摩 chính là Khổng Tước Minh Vương. Bông hoa sen này có màu trắng. Khổng Tước là màu vàng kim, Khổng Tước Minh Vương là kết hợp màu vàng kim và màu trắng, đầu Ngài đội mũ Ngũ Phật giống như Sư Tôn, lúc này Sư Tôn cũng đang đội mũ Ngũ Phật đây.

Chúng ta học là vị Khổng Tước Minh Vương bốn cánh tay. Cánh tay phải thứ nhất của Ngài cầm hoa sen, hoa sen có màu trắng. Cánh tay phải thứ hai cầm quả câu duyên, quả câu duyên có màu đỏ. Cánh tay trái thứ nhất cầm quả cát tường, quả cát tường có màu vàng. Cánh tay trái thứ hai cầm lông chim công, lông chim công có màu sẫm, là màu xanh lam sẫm, hơi xám đen, có một chút màu lam và có cả màu đen nữa. Cũng có rất nhiều màu sắc, lông đuôi chim công có tương đối nhiều màu sắc. Cánh tay phải thứ nhất là cầm hoa sen, cánh tay phải thứ hai cầm quả câu duyên, cánh tay trái thứ nhất cầm quả cát tường, cánh tay trái thứ hai cầm lông khổng tước, mỗi vật đều có màu sắc riêng. Đương nhiên, mỗi vật có tác dụng riêng của nó: hoa sen có tác dụng tiêu tai, quả câu duyên có tác dụng kính ái, quả cát tường có tác dụng tăng ích, lông chim công có tác dụng hàng phục, có bốn tác dụng như vậy.

Bạn quán tưởng ra Đại Khổng Tước Minh Vương, có chim công, có hoa sen, có Khổng Tước Minh Vương rồi, sau đó bạn sẽ làm ba ánh sáng bao trùm "Om ah hum" như chúng ta vẫn thường nói đến. Vì bản thân bạn đã có ba ánh sáng bao trùm rồi, Om ah hum, Khổng Tước Minh Vương sẽ ôm trọn lấy bạn, Khổng Tước Minh Vương nhập ngã - ngã nhập, đi vào trong thân thể bạn, bản thân bạn đã biến thành Khổng Tước Minh Vương. Đây gọi là hợp thể biến thân nhập ngã - ngã nhập.

Tuy nhiên, sau khi quán tưởng ba ánh sáng bao trùm, tốt nhất trước khi hợp thể hóa thân nhập ngã - ngã nhập, bạn cần trì một câu chú, là chú của Khổng Tước Minh Vương. Trước khi nhập vào tam ma địa nhập ngã - ngã nhập, bạn cần trì chú trước. Chúng ta trì câu chú này: "Om mayuli jilati soha." (7 biến) Đây chính là câu chú ngắn của Khổng Tước Minh Vương. Âm ma nghĩa là Khổng Tước Minh Vương, yuli nghĩa là chim công, jilati nghĩa là đại pháp lực, soha nghĩa là thành tựu. Đây là câu chú ngắn.

Cũng còn một câu chú nữa mà trong kinh điển không có, đó là "Om tikha lala soha". Tikha thì các đệ tử Ấn Độ là rõ nhất. "Satu tuwa tikha". Tikha nghĩa là thuận lợi. "Om tikha lala soha" cũng là một câu chú ngắn, cũng là câu chú Khổng Tước Minh Vương. Cái này rất kì lạ! Vì sao Khổng Tước Minh Vương lại biến thành "chân heo" (theo tiếng Đài) (Sư Tôn cười) Trước đây, khi tôi tập nhớ câu này thì tôi hay nói "Satu tuwa chân heo" (tiếng Đài), (Sư Tôn cười), là tikha, không phải là chân heo (tiếng Đài). "Om tikha lala soha" cũng là câu chú ngắn Khổng Tước Minh Vương. Hai câu chú này đều có thể dùng được. Quán tưởng trước, rồi đến trì chú, rồi tiếp đó là nhập tam ma địa.

Thế nào gọi là tam ma địa? Chính là hợp thể đó! Nhập ngã - ngã nhập chính là hợp thể. Khổng Tước Minh Vương đi vào thân ta, hợp nhất trên thân ta chính là hợp thể. Ta tiến nhập vào trong tâm của Khổng Tước Minh Vương chính là ngã nhập. Thế rồi, biến hóa, bản thân bạn biến hóa tiến vào tam ma địa của Khổng Tước Minh Vương.

Mật giáo gọi là gì? Là hợp thể và biến thân. Tôi từng nói, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát đi vào trong tâm của Diễm Ma Pháp Vương, rồi biến hóa thành Đại Uy Đức Kim Cang. A Di Đà Phật đi vào trong tâm, tam ma địa của Quan Thế Âm Bồ Tát, biến hóa thành Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát. Quan Thế Âm Bồ Tát đi vào thân ngựa, đạo súc sinh, biến hóa thành Mã Đầu Minh Vương. Đây là hợp thể và biến thân. Sức mạnh của hợp thể chính là nhập thành một, biến thân chính là tạo ra nhiều. Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát bản thân chỉ có hai thân, nhưng khi tiến nhập vào thân của Diễm Ma Pháp Vương thì biến hóa thành Đại Uy Đức Kim Cang, thì lại biến thành có rất nhiều cánh tay. Kết quả của việc biến thân này là pháp lực càng mạnh hơn, trở thành một thân Minh Vương.

Mật giáo có cái gọi là hợp thành một, chính là thành một vị Phật, một vị Bồ Tát. Cũng có thể biến thành nhiều. Nếu biến thành pháp lực nhiều hơn, biến thành hình tượng rất nhiều vị, thì đây gọi là biến thân. Nhập ngã - ngã nhập chính là hợp thể biến thân.

Mật giáo nói, tiến đến nghĩa là nhập, ở lại bên trong thân thể của ta gọi là trụ, hòa tan hai thân thể hợp thành một thân thể gọi là dung, chính là nhập - trụ - dung. Đạo lý này cần hiểu rõ, cái gọi là nhập tam ma địa, chính là bạn nhập vào tam ma địa của một vị Bồ Tát nào đó. Bây giờ là bạn nhập vào tam ma địa của Đại Khổng Tước Minh Vương, nhập ngã - ngã nhập, bản thân ta biến thành Khổng Tước Minh Vương.

Cho đến khi bạn xuất định thì cần ca ngợi Khổng Tước Minh Vương, đây gọi là tán thán Khổng Tước Minh Vương:
Thế Tôn đại từ bi,
Pháp thể tính tịch diệt,
Đại lực đại tác dụng,
Công đức đều cụ túc.
Đây chính là ca ngợi Khổng Tước Minh Vương.

Bởi Thích Ca Mâu Ni Phật có tâm đại từ bi, Thích Ca Mâu Ni Phật chuyển thế thành Khổng Tước Vương, do vậy mới nói là "Thế Tôn đại từ bi". "Pháp thể tính tịch diệt", vốn dĩ pháp thể chính là giống như tịch diệt, nhưng sản sinh ra sức mạnh rất lớn và tác dụng rất lớn, công đức toàn bộ đều có đủ và sung túc.

Sau khi tán dương Khổng Tước Minh Vương xong thì bạn có thể làm sám hối, sám hối những việc bạn đã làm trong quá khứ, có chỗ nào không đúng thì bạn cần sám hối đó! Vì sao cần phải sám hối nhỉ? Bởi vì không sám hối thì không thể tiêu trừ được nghiệp chướng của bản thân bạn. Chính bạn cần sám hối, hơn nữa không được tái phạm, chính là cần niệm Bách tự minh chú, sau đó sám hối. Đến phần hồi hướng, bạn cần niệm "gia đình bền vững, thân tâm an lạc, toàn Phật thế giới, Phật pháp vô tận." Đây chính là sự hồi hướng của chúng ta.

Bạn cần biết rằng, pháp Khổng Tước Minh Vương, sự vĩ đại của pháp này, vĩ đại tới mức độ, Nhật Bản dùng đàn thành của Đại Khổng Tước Minh Vương để cầu thỉnh quốc gia an bình. Còn nhỏ thì sao? Nhỏ tới mức độ nào? Nhỏ thì có thể dùng để chữa bệnh cúm, bệnh cúm mới. (mọi người vỗ tay) Một lát nữa tôi sẽ nói với mọi người, đây không phải do tôi phát minh ra, là trong kinh Khổng Tước Minh Vương có giảng, rằng Ngài có thể chữa mọi bệnh, rất nhiều bệnh đều có thể chữa được.

Hôm qua, thứ sáu, tôi giúp người ta hỏi chuyện, khoảng ba rưỡi cho đến tận sáu rưỡi, hỏi chuyện suốt ba tiếng đồng hồ. Trong số các đệ tử của chúng ta có rất nhiều người mắc bệnh, hôm nay đến đây rồi, rất tốt! Tương ứng được với Khổng Tước Minh Vương thì bệnh có thể tiêu trừ. Đợt một lát nữa tôi sẽ dạy mọi người cách trừ bệnh.

Sau khi hồi hướng xong thì làm đại lễ bái. Những gì tôi vừa mới giảng chính là nghi quỹ Khổng Tước Minh Vương. Tứ gia hành, đại lễ bái, tứ quy y, phát bồ đề tâm, đại cúng dường, quán tưởng Khổng Tước Minh Vương ôm trọn che chở, trì chú, nhập tam ma địa, xuất định, tán thán Khổng Tước Minh Vương, sám hối, niệm chú 100 âm, hồi hướng, sau đó đại lễ bái, rời khỏi đàn thành. Nghi quỹ chính là như vậy.

- Pháp trấn động đất

Tốt rồi! Trước tiên tôi giảng về pháp trấn động đất. Mọi người đều sợ động đất. Indonesia vừa trải qua một trận động đất. Mọi người khi trở về hãy chăm chỉ tu pháp này.

Khổng Tước Minh Vương có phương pháp trấn động đất. Bạn ở trước đàn thành, sắp xếp đàn thành Khổng Tước Minh Vương, sắp đặt trong hư không nơi đàn thành, cần lấy đất của bốn phương đông tây nam bắc, chính là đất của bốn phương. Ví dụ như chúng ta sống tại bang Washington, chúng ta nhìn ra bốn hướng đông tây nam bắc. Tây chính là rìa Thái Bình Dương, đi ra đó đào lấy một kí đất. Đất phía đông chính là ở Spokane, đi ra đó đào một kí đất. Đi về phía nam tức là cần đi đến Oakland, đến bên cạnh cây cầu lớn ở Oakland đào lấy một kí đất. Chúng ta bất chấp đó là Vancouver (mọi người cười), chúng ta đi đến vùng biên giới đào lấy một kí đất, như vậy là có đất của bốn phương rồi. Chúng ta đặt trước mặt Khổng Tước Minh Vương, cắm lông chim công lên, lấy bốn cọng lông chim công.

Nếu như bạn là một hành giả của Đại Khổng Tước Minh Vương, đã tương ứng với Khổng Tước Minh Vương rồi, bạn đã có cảm ứng với Khổng Tước Minh Vương rồi, thì bạn bắt đầu trì chú, trì 10.000 lần chú: "Om mayuli jilati soha". (10.000 biến) Niệm 10.000 biến chú Khổng Tước Minh Vương xong, đem đất của bốn phương này trả về chỗ ban đầu của chúng, chỗ ban đầu mà bạn đào đất, bạn cần làm dấu hiệu, đào đất cần cắm một que tre để làm kí hiệu, rồi đem đất trả về chỗ cũ, đất phương tây trả về phương tây, đất phương đông trả về Spokane, đất phương nam trả về cây cầu đó, đất phương bắc trả về nơi biên giới, trước đây chính là Canada đó, bạn trả đất về các địa phương đó, đặt vào chỗ đất ban đầu. Tôi nói cho bạn hay, bang Washington sẽ không có động đất nữa. (mọi người vỗ tay)

Hãy nhớ kĩ đây! Có một điểm rất quan trọng, nếu hôm nay bạn đem đất của phương đông trả về phương tây, đất của phương tây trả về phương đông, đất của phương nam trả về phương bắc, đất của phương bắc trả về phương nam, thì động đất sẽ xảy ra đó!

Còn có một điểm nữa cần nói. Bạn bảo cái đất này chỉ cần lấy một chút ít trả lại là được rồi, thế thì sẽ có động đất đó! Lấy một cân phải trả lại một cân, phải đủ mới được, lấy một cân phải trả lại đủ một cân, đó là pháp trấn động đất.

Bạn biết cơn bão Morakot ở Đài Loan gây ra lở đất. [ ND: cơn bão Morakot xảy ra vào tháng 8 năm 2009 tại Đài Loan, là cơn bão gây mưa lớn kỉ lục, khiến 18 người chết, 35 người bị thương, 131 người mất tích, gây ra thảm họa đất lở tại một ngôi làng vùng núi tại phía Nam Ðài Loan, phủ lấp trường học và nhà cửa cùng hàng trăm người dân dưới đống bùn lầy. ] Oa! Cả ngôi làng nhỏ đó đã bị vùi lấp. Đệ tử Chân Phật Tông của chúng ta có người sống ở đó, có đệ tử nhà ở đó, đất lở xảy ra, ùm, toàn bộ bị chôn vùi. Đệ tử của chúng ta đang ngủ, ngủ ngáy to tới mức mái nhà cũng rung lên. Cá nhân tôi khi đi ngủ, tôi cũng không biết tôi có ngáy không, nhưng Sư Mẫu ngáy thì tôi biết. Bà ấy cũng còn giữ ý, tiếng ngáy rất nhỏ.

Có lần tôi cùng Thượng sư Liên Hỏa đi Nhật Bản, nửa đêm tôi phải ôm chăn bông bỏ chạy. Tôi ngủ cùng phòng với Thượng sư Liên Hỏa, nửa đêm, tôi phải mặc đồ lót bỏ chạy (Sư Tôn cười, mọi người cười), ôm chăn bỏ chạy qua phòng khác ngủ. Thật đáng sợ! (Sư Tôn cười, mọi người cười)

Đất đá đổ xuống, cả nhà đệ tử của chúng ta đều đang ngủ. Sáng hôm sau tỉnh dậy, nhìn ra ngoài cửa sổ, thấy nhà hàng xóm hai bên đều biến mất. Chỉ còn lại mỗi nhà của anh là còn! Bởi vậy, quy y Sư Tôn là có cái lợi như thế đó. Khi đất đá từ trên ngọn núi phía sau đổ ào xuống, bởi vì sức mạnh rất lớn nên đã đẩy nhà của anh ta nổi lên trên, sau đó chảy ào qua, chôn vùi nhà hàng xóm, chỉ có mỗi nhà của anh là nổi lên trên. Nhà của anh có thể nổi lên trên thì tôi cũng cảm thấy rất kì lạ, sau đó anh vẫn còn ngủ và ngáy tiếp cơ mà! Buổi sáng tỉnh dậy dụi dụi mắt nhìn ra ngoài cửa sổ, ủa? Sao các nhà đều biến mất chỉ còn lại mỗi nhà của anh! Điều này chính là đệ tử Chân Phật Tông có Hộ Pháp bảo vệ!

Pháp trấn động đất tôi vừa mới giảng, mọi người nghe đã hiểu chưa? Cần phải hiểu rõ ràng đấy nhé. Trước đây tôi trở về Đài Loan, tôi đã ở đây ba năm rưỡi. Tôi là người Đài Loan, tôi còn nhớ rõ những tiếng hú của những cơn bão trong quá khứ, còn nhớ rõ lắm. Tôi sống ở Đài Loan ba năm rưỡi đó chỉ gặp bão có một lần, bởi vì Đài Loan một năm phải có tới mười mấy cơn bão, thậm chí lên tới hai chục cơn bão, có cơn bão đi qua Đài Loan, có cơn bão thì không. Thời gian ba năm rưỡi tôi ở Đài Loan, bão toàn đổ vào Mỹ! Tất cả cơn bão đều chuyển hướng. (mọi người vỗ tay)

Chúng tôi ở sân bay, tại khu vực xuất nhập cảnh, có một viên chức có thể đưa ra tư liệu về khoảng thời gian tôi ra vào Đài Loan, chứng minh trong khoảng thời gian này đều không có cơn bão nào. (mọi người vỗ tay) Vi sao các cơn bão lại chuyển hướng, bởi vì bạn chỉ cần nắm chắc ấn Khổng Tước Minh Vương, bạn đã tương ứng với Khổng Tước Minh Vương rồi, thì bạn dùng lông của chim công để đối lại với hướng đi đến của cơn bão, niệm chú 10.000 biến. Có thể bạn nghĩ, niệm 10.000 biến thì chẳng phải là bão đã đi qua mất rồi sao? (Sư Tôn cười) Không phải như vậy đâu! Bình thường bạn cần niệm chú 10.000 biến, đợi đến khi thật sự cần dùng đến, niệm "Om mayuli jilati soha" lệnh cho cơn bão chuyển hướng, dùng lông chim công đối trị lại cơn bão. Bạn chỉ cần tương ứng được với Khổng Tước Minh Vương thì pháp lực của Khổng Tước Minh Vương sẽ phát huy tác dụng, cơn bão sẽ đổi hướng, bão sẽ chuyển hướng tới Nhật Bản.

Chúng ta có hai Thượng sư ở Nhật. Thượng sư Liên Hoa Tịnh Hương, Thượng sư Liên Thường là Hoàng Liên Hoa Đồng Tử, nếu như họ niệm, nếu như họ cũng học pháp này thì họ lại chuyển hướng cơn bão đến Đài Loan! (Sư Tôn cười, mọi người cười) Như thế thì mọi người sẽ phải so pháp lực, có đúng không! Xem xem rốt cuộc cần phải chuyển cơn bão đến đâu, kêu nó chuyển hướng quay về đảo Guam, ở đảo Guam có sư huynh Hán Đào, ông ấy tu cũng đã có tương ứng rồi, ông ấy cũng kết ấn một cái, chuyển đến đảo Saipan! Thế là bão lại đến đảo Saipan. Cơn bão có thể chuyển hướng, nước cũng có thể rút. Nếu là hỏa hoạn, dùng phương pháp này, niệm chú Khổng Tước Minh Vương 10.000 biến, kết ấn Khổng Tước Minh Vương, hướng về nơi đang có cháy, "sắc lệnh hỏa tốc tốc tức diệt", trời sẽ đổ mưa, hoặc gió sẽ sẽ thổi cho lửa chuyển sang hướng khác, lửa sẽ không cháy nữa.

Hiện nay bang California vẫn còn cháy lớn, khi trở về mọi người chăm chỉ niệm 10.000 biến, có thể khi đó lửa cũng đã tắt rồi. (Sư Tôn cười, mọi người cười) Khi bình thường thì bạn cần niệm xong 10.000 biến, lúc cần chỉ cần kết ấn Khổng Tước Minh Vương là có thể làm pháp, bởi vì bạn dùng lông công của Khổng Tước Minh Vương chính là ấn hàng phục, có thể kêu nước rút, lửa tắt, gió đổi hướng, động đất ngừng. Có phương pháp như vậy, vì thế pháp niệm tụng tương ứng Đại Khổng Tước Minh Vương có thể ứng dụng làm như vậy.

- Pháp tăng ích

Đối với những cuộc khủng hoảng tài chính thì có biện pháp gì không? Mọi người đang nghĩ, tôi nợ tiền thì phải làm sao? Ví dụ như trong cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ, liền có người gọi điện thoại đến Đài Loan: "Bạn hiền ơi, bạn cho tôi mượn 500.000 đô la Mỹ, tôi vướng phải khủng hoảng tài chính, tiền của tôi đã bị hao hụt hết rồi." Người bạn bên kia nhấc điện thoại lên, vừa nghe thấy muốn mượn 500.000 đô, bèn nói: "Anh nói rõ rõ hơn một tí đi, tôi nghe không hiểu anh đang nói cái gì." "Tôi muốn mượn anh 500.000 đô đó! Khủng hoảng tài chính, bây giờ tài sản của tôi đều mất hết rồi, tôi muốn vay anh 500.000 đô để đầu tư lại từ đầu đó! Anh nghe rõ rồi chứ? 500.000, 500.000 đó." "Tôi vẫn chưa nghe rõ! Anh nói rõ hơn xem nào!" "500.000 đô đó." "Vẫn chưa nghe rõ!" Nhân viên điện thoại của Đài Loan nói: "Tôi thì nghe rất rõ đây!" Người bạn ở Đài Loan kia nói: "Cô nghe rõ rồi thì cô cho anh ta vay tiền đi!" (Sư Tôn cười) Từ đầu tới cuối anh ta đều bảo chẳng nghe được rõ. Việc này phải làm sao đây? Có cách rồi! Có pháp tăng ích.

Quả cát tường mà chúng ta nói đến chính là tăng ích. Chúng ta dùng quả quýt để tượng trưng cho quả cát tường. Quả quýt mà bạn dâng cúng lên Khổng Tước Minh Vương, bạn cũng cần phải trì chú. Pháp tăng ích này cần niệm chú 100.000 biến, so với pháp hàng phục thì cần phải niệm nhiều hơn 90.000 biến. Tài bảo thật khó kiếm đó mà! Cần phải niệm 100.000 biến! Mọi người làm pháp hàng phục thì chỉ cần niệm 10.000 biến, còn làm pháp tăng ích thì phải niệm thêm 90.000 biến nữa!

Tôi nói cho bạn nghe, bão đến thì chỉ vài ngày, ba, bốn ngày là đi qua rồi, ngập lụt thì cũng chừng một tuần lễ là rút, có đúng không? Hỏa hoạn thì cũng chỉ vài ngày mà thôi! Còn khủng hoảng tài chính thì có thể kéo dài đến mấy năm đó! Bạn niệm 100.000 biến chí ít cũng cần phải trên 10 lần.

Do vậy, bạn muốn gia tăng tài phúc của bạn, bạn cúng quýt, niệm 100.000 biến chú Khổng Tước Minh Vương. Sau khi niệm xong, bạn ăn hết ruột quýt bên trong, vỏ quýt thì giữ lấy, giữ vỏ quýt và quán tưởng chúng biến hóa thành nghìn nghìn vạn vạn đô la Mỹ, trở thành "Franklin" hết, tất cả đều thành "Franklin", đầy ắp! [ ND: Franklin ám chỉ đồng 100 đô Mỹ ] Chà! Đầy trời kín đất! Sau đó, bạn đem vỏ quýt để dưới giường của bạn, tài vận của bạn sẽ đến. Đây chính là pháp tăng ích. Nhưng cần niệm 100.000 biến đó, hãy nhớ kĩ.

- Pháp kính ái

Còn có pháp kính ái nữa. Một học sinh của một trường học nọ là Tiểu Minh, cậu ấy yêu một người bạn học khác cùng lớp, cậu viết một mảnh giấy đưa cho người bạn kia: "Nếu như bạn yêu tớ thì hãy chuyển lại mảnh giấy này cho tớ. Nếu như bạn không muốn làm bạn với tớ thì bạn hãy vứt mảnh giấy này ra ngoài cửa sổ." Người bạn nữ đọc xong, liền gập mảnh giấy lại, rồi cứ thế mảnh giấy được chuyển đi, cuối cùng đến tay Tiểu Minh. Tiểu Minh nghĩ, "Chà! Quá tuyệt vời! Bởi vì mình đã nói nếu chúng ta có thể làm bạn, có thể trở thành bạn của nhau, thì bạn ấy sẽ chuyển lại mảnh giấy cho mình." Cậu mở mảnh giấy ra, bên trong viết năm chữ: "Cửa sổ không mở được." (Sư Tôn cười) Là do không mở được cửa sổ đó!

Như thế này thì cần tu pháp kính ái, cũng cần niệm chú 100.000 biến! Ôi! Theo đuổi con gái thật sự là khó khăn quá. Thật không ngờ, đệ tử lâu năm của tôi ở Pháp là Liên Hoa Bá Xương, làm sao mà anh ấy có thể dễ dàng theo đuổi được cô gái xinh đẹp như vậy chứ? Bạn biết không? Bạn phải dựa vào sự phù hộ của Sư Tôn dành cho bạn đó! Sư Tôn gia trì cho bạn đó! Tôi đã gia trì cho Liên Hoa Bá Xương, tôi cũng chẳng gia trì được cho chính mình, lại đi gia trì cho Liên Hoa Bá Xương! Thế là anh ta cưới được cô gái trẻ rất xinh đẹp. A Di Đà Phật, Thích Ca Mâu Ni Phật, A Di Đà Phật không có ở đây thì Liên Hoa Đồng Tử cũng thở vắn than dài vậy. (Sư Tôn cười) Cần phải niệm 100.000 biến chú đó!

Thế nào là quả câu duyên? Chúng ta dùng quả lựu thay cho quả câu duyên, bởi vì bên trên quả lựu còn có một cái chóp này, là hai cái chóp. Hoa quả bình thường chỉ có một cái chóp ở phần đuôi, có thêm một cái chóp nữa ở phần cuống thì chỉ có quả lựu, ở quả lựu thì nó đột ngột nhô lên, quả lựu ở đây là quả lựu đỏ. Bạn có thể cúng quả lựu, bạn cần niệm chú 100.000 biến, sau đó ăn hết phần hạt lựu bên trong, lấy vỏ quả lựu cầm trong tay, quán tưởng thành đối tượng mà bạn yêu mến, sau đó đặt ở trước ngực, người ấy sẽ lao đến bên bạn.

Không phải đâu nhé! Vẫn là bạn phải bỏ vỏ quả lựu ở dưới giường, bạn không được ngày ngày mang theo vỏ quả lựu đâu nhé! Vỏ quả lựu đó cần để ở dưới giường ngủ của bạn, người ấy sẽ không mời mà đến. Bạn thử xem! Anh có thỉnh cầu không đấy? Liên Hoa Bá Xương? Anh có thỉnh cầu không? Sư Tôn gia trì rồi anh cũng có thỉnh cầu! Anh có tu pháp quả lựu không? (mọi người cười) Anh nhất định có niệm chú Kurukulle Phật Mẫu hoặc chú Ái Nhiễm Minh Vương rồi. Thì mới linh nghiệm như thế chứ. Bản thân Đại Khổng Tước Minh Vương cũng có sức mạnh như vậy. 100.000 biến, đàn ông thì hâm mộ phụ nữ, phụ nữ thì hâm mộ đàn ông, đều có thể niệm như vậy, mọi người cùng so pháp lực xem! Mọi người đều biết đấy, tôi cũng tụng 100.000 biến, anh cũng tụng 100.000 biến, tôi tụng 200.000 biến thế là tôi thắng anh rồi! Mọi người cùng so pháp lực đi.

- Pháp thanh tịnh thân tâm

Đôi khi chúng ta ở đây cũng có niệm kinh cho người ta giúp vãng sinh, vãng sinh cần làm công đức, phải niệm kinh. Còn nữa, khi mới rời khỏi nơi mà mình đến trợ niệm, trở về nhà liền cảm thấy thân thể lành lạnh, dường như có vong linh theo bạn về nhà, như vậy là bạn đã bị xung phạm rồi.

Bị xung phạm rồi thì trà cũng chẳng muốn uống, cơm chẳng buồn ăn, buổi tối cũng không ngủ được, trên mặt có khí đen, dần dần thân thể sẽ kiệt sức, gầy yếu không còn sức lực, chẳng muốn làm việc gì cả, tự mình cảm thấy chán nản, thế rồi mắc chứng bệnh ủ rũ!

Phải làm sao đây? Pháp tương ứng Khổng Tước Minh Vương  có pháp thanh tịnh thân tâm. Bạn chỉ cần viết ba chữ 摩 [ chữ Ma ], chữ 玉 [ chữ Ngọc ], chữ 邦 [ chữ Bang ], rồi đốt chúng thành tro, hòa vào nước, uống nước này, thân sẽ được thanh tịnh an định, không còn u sầu nữa. Depression is gone. [ ND: Sư Tôn nói tiếng Anh, câu này nghĩa là Sự chán nản đã ra đi rồi.] Gone, không còn nữa. Phương pháp thanh tịnh thân tâm rất hữu hiệu.

Sư Tôn nói về pháp này là pháp thật, không phải pháp giả đâu nhé! Bạn đã tương ứng được rồi, thì chỉ cần đúng theo như vậy mà niệm chú ngữ của Khổng Tước Minh Vương, làm pháp theo cách này thì đều sẽ có cảm ứng.

Không giống như người nào đó, anh ta lên mạng đọc về chó nghiệp vụ được huấn luyện đặc biệt, là chó do cảnh sát huấn luyện. Anh ta liền mua luôn một con chó nghiệp vụ, nhưng kết quả là con chó được gửi đến là chó bình thường, không phải chó nghiệp vụ, là dog bình thường. Anh ta liền viết thư, gọi điện thoại hỏi người bán: "Ông lừa tôi hả! Ông nói bán cho tôi chó nghiệp vụ, nhưng ông lại bán cho tôi con chó bình thường." Người kia nói: "Bên ngoài thì nó không phải là chó nghiệp vụ, nhưng nó là chó nghiệp vụ, bởi vì nó là chó nghiệp vụ chìm đó." (Sư Tôn cười)

Đây đương nhiên là lừa bịp người ta rồi! Chúng ta thấy đấy, các tập đoàn lừa đảo ở Đài Loan rất nhiều, bây giờ khắp thế giới đều có các tập đoàn lừa đảo, mọi người cần cẩn thận một chút. Trên thực tế, người kia bán là đồ giả. Đồ Sư Tôn bán đều là thật đó! Chó nghiệp vụ thì chính là chó nghiệp vụ, sẽ không có chuyện bán cho bạn chó nghiệp vụ chìm đâu.

- Pháp trừ quỷ quái

Ở đây cũng có một pháp, chính là pháp trừ quỷ quái. Trong nhà bạn có những quái vật nào, có ma quỷ yêu quái nào, cần dùng cái chày kim cang, nhưng không phải là chày ba chấu, mà là chày năm chấu. Mật tông Nhật Bản có chày ba chấu, Mật tông Nhật Bản đều dùng chày ba chấu, nhưng phần miệng lại mở ra chứ không chụm lại. Còn đây là chày kim cang năm chấu chụm lại ở đầu, cái Nhật Bản dùng là chày kim cang có ba chấu mở ra, chày của Tạng mật thì là chụm đầu lại, chày của Đông mật là đầu mở ra.

Nếu dùng chày kim cang ba chấu đầu mở ra, thì bạn lấy chày đó, đặt trước đàn thành Khổng Tước Minh Vương, ngồi đối diện với chày kim cang ba chấu niệm chú Khổng Tước Minh Vương vào chày đó: "Om mayuli jilati soha. Om mayuli jilati soha. Om mayuli jilati soha." Niệm như thế liên tục ba buổi tối. Chiếc chày kim cang ba chấu này, bạn cầm vào đặt trong phòng thì mọi yêu ma quỷ quái đều chạy biến.

Cần phải niệm ba đêm. Nghĩa là niệm từ giờ Tí [11 giờ tối] niệm cho đến khi mặt trời mọc, buổi đêm không ngủ đó! Ban ngày bạn đi ngủ, buổi đêm từ giờ Tí bắt đầu niệm cho đến khi ngày mới lên, tổng cộng cần niệm ba đêm. Chỉ cần ba đêm thôi, chày kim cang này sẽ có tác dụng, bạn đem nó đặt vào trong nhà của người nào thì yêu ma quỷ quái gì trong nhà cũng sẽ chạy bay biến hết. Đây chính là phương pháp trừ quỷ quái.

- Pháp trừ bệnh

Pháp trừ bệnh này, như tôi mới nói đây, tôi biết rất nhiều rất nhiều người có bệnh, những bệnh này thật là khổ! Người đến hỏi tôi, anh ta mắc bệnh ngoài da, tôi hỏi anh ta đã bao lâu rồi, anh nói đã 20 năm rồi! 20 năm bị mắc bệnh ngoài da, đã dùng đủ mọi loại thuốc rồi, đi khám rất nhiều bác sĩ rồi, hễ gặp bác sĩ da liễu thì đều đi khám cả rồi, nhưng chữa không khỏi. Anh hãy thử dùng phương pháp này xem. Phải niệm chú 600.000 biến đó! 600.000 biến là đủ nhiều rồi.

Dùng gỗ bạch đàn, gỗ đàn hương màu trắng nghiền thành bột, trộn với mật ong làm thành thuốc viên, từng viên từng viên thuốc, vo hỗn hợp đó lại thành thuốc viên. Sau đó bày chúng ra, bày ở trước đàn thành Đại Khổng Tước Minh Vương, ngồi đối diện với những viên thuốc này và niệm 600.000 biến chú Khổng Tước Minh Vương.

Sau khi niệm xong 600.000 biến rồi mà bệnh của người này vẫn không khỏi, đi khám bác sĩ và uống thuốc cũng không khỏi, bạn lấy một viên thuốc và ăn nó, tiếp tục uống thuốc, sẽ có hiệu quả. Theo như kinh Khổng Tước Minh Vương đã viết thì có thể chữa được trăm loại bệnh, trăm loại bệnh cũng có nghĩa là không chỉ có bệnh ngoài da, mà bất kì loại bệnh nào. Thế nhưng điều này mà nói ra thì sẽ trái với tư cách của bác sĩ. Nếu như bạn thu tiền của người ta, nói những viên thuốc này có thể chữa được bệnh gì gì đó, thế rồi bạn thu tiền của người ta, làm như vậy thì sẽ trái với sự mẫu mực của bác sĩ, cần chú ý đó!

Thuốc này của bạn làm từ gỗ đàn hương trắng và mật ong, nên có thể ăn được. Bản thân gỗ đàn hương cũng có tác dụng an thần, mật ong thì có thể ăn được, bạn làm nó thành thuốc viên, niệm chú xong thì có thể dùng cho chính mình hoặc tặng cho người khác, có thể tặng cho người khác được. Nhưng bạn không được lấy tiền của họ, lấy tiền thì sẽ trái với sự mẫu mực của bác sĩ. Cần chú ý cả vấn đề pháp luật nữa, bởi vì cái này thuộc về phương diện chữa bệnh. Giống như nói rằng thuốc này của tôi có thể an thần, là thứ có thể ăn được, thế nên tặng cho anh. Kì thực bạn niệm chú xong thì chỉ cần hai thứ nguyên liệu này. Ở Tây Tạng thì những viên thuốc này nào có biết được bỏ vào bao nhiêu loại thảo dược, có rất nhiều loại, rồi được niệm bao nhiêu biến chú, hơn nữa còn phải dùng rất nhiều nguyên liệu nữa, ví dụ như Milarepa, dùng bột gỉ sắt sinh ra từ cái cuốc của Milarepa, người ta lấy ra dùng, bột vàng bạc đồng chì cũng được lấy ra dùng, còn có cả dược thảo trộn lẫn vào tạo thành một dạng viên cam lộ, rồi còn niệm chú, có cao tăng niệm chú.

Tôi cũng có mấy loại, chúng đều là những do những Hoạt Phật Tây Tạng trước đây đến chỗ tôi tặng cho tôi hết hộp này tới hộp khác những loại thuốc như vậy, bên trong hộp có rất nhiều hạt, dùng vải đỏ gói lại, bên trên còn dùng chỉ ngũ sắc để buộc lại nữa, từng viên từng viên, từng hộp từng hộp, tôi đã để chúng ở đó không biết bao lâu nữa, tôi đều không dám ăn! (Sư Tôn cười) Bởi vì người ta đã làm chúng rất lâu rồi.

Nghe nói có cả gỉ sắt từ cái cuốc mà ngài Milarepa đã từng dùng cũng lấy ra để dùng, tôi cảm thấy liệu có thể có vấn đề do kim loại nặng không, ăn xong nhỡ mất đi trí nhớ thì coi như tôi đi đời rồi. Thứ chúng ta dùng là gỗ đàn hương trắng, gỗ đàn hương màu trắng và mật ong, gỗ đàn hương trắng nghiền thành bột có tác dụng an thần, cùng với mật ong, bản thân mật ong có thể ăn được, trộn chúng rồi nặn thành viên thuốc, niệm đủ 600.000 biến chú. Theo những gì viết trong kinh Đại Khổng Tước Minh Vương thì có thể chữa khỏi bệnh.

Đây chính là pháp chữa bệnh. Rất nhiều người mắc rất nhiều bệnh, ví dụ như chứng loãng xương! Còn có bệnh ung thư nữa, còn có căn bệnh đường trong máu rất khó chữa nữa, và rất nhiều bệnh mãn tính, đến này cũng chưa có thuốc nào chữa khỏi được, mọi người ngại gì mà không thử?

- Niệm đủ 600.000 biến chú Khổng Tước Minh Vương nhất định vãng sinh Ma Ha Song Liên Trì

Bạn niệm xong chú Đại Khổng Tước Minh Vương và đã tương ứng được với Khổng Tước Minh Vương rồi, niệm Đại Khổng Tước Minh Vương chú có thể khiến cho Phật tính của bạn được phát lộ ra. Kì thực, nói ra thì những lợi ích về nhục thân không phải là to lớn lắm, Phật tính vĩ đại nhất, chân chính nhất mới là quan trọng nhất, đó là khi đã tương ứng với Đại Khổng Tước Minh Vương rồi thì sẽ hiển lộ Phật tính của chính bạn. Niệm đủ 600.000 biến chú Đại Khổng Tước Minh Vương, nhất định sẽ vãng sinh Ma Ha Song Liên Trì. Đây là điều quan trọng nhất. Trong Đông mật mà nói thì bố trí đàn thành Đại Khổng Tước Minh Vương có thể bảo vệ quốc gia, khi làm pháp hội hộ quốc cũng chính là dùng đàn thành Đại Khổng Tước Minh Vương để làm, lớn như việc bảo vệ đất nước, nhỏ như việc chữa bệnh, thậm chí Phật tính của bạn cũng có thể được hiển lộ. Do vậy pháp này vô cùng quan trọng. Chúng ta ở đây cầu thỉnh những gì đều sẽ được viên mãn. Bạn chỉ cần y theo pháp mà làm, chỉ cần bạn tương ứng được rồi, thêm trì chú nữa thì đều sẽ được viên mãn.

Có một người leo núi, leo tới mức vô cùng mệt, lại còn rất đói nữa, thế rồi lại còn bị lạc đường trên núi không tìm được đường ra. Anh ta vừa đi đi đi đi, đá phải một cây đèn thần, thần đèn hiện ra, thần đèn nói: "Thời đại bây giờ bận lắm, ta cũng rất bận, anh cũng đừng có tranh cãi với ta, ta sẽ không cho anh ba điều ước đâu, chỉ một điều thôi là đủ rồi, thế bây giờ anh muốn cái gì?" Bụng anh ta rất đói! Lạc đường trên núi nên rất đói bụng rồi! Đói tới mức không còn sức lực đến mức sắp chết rồi, anh nói: "Tôi muốn vợ…" Thế rồi thần đèn nói: "Đói đến sắp chết rồi anh vẫn còn muốn vợ sao?" Thế rồi, thần đèn liền biến ra một cô gái đẹp cho anh ta, thế rồi thần đèn bỏ đi. Câu nói cuối cùng của anh ta vẫn còn chưa nói hết: "Tôi muốn bánh… bà vợ." Anh còn chưa nói xong từ "bánh" thì thần đèn đã bỏ đi rồi. [ ND: bánh bà vợ là tên một loại bánh phổ biến ở Đài Loan. ]

Thời đại đã khác rồi, bạn nói chuyện cũng cần nhanh một chút rằng "Tôi muốn bánh bà vợ". Đài Loan có bánh bà vợ, bánh bà vợ rất ngon! Ăn thì bạn mới no bụng được! Bạn mới có sức được! Bạn mới có thể đi ra khỏi núi. Không ngờ thần đèn nói: "Ta bận lắm, cho anh một bà vợ." Thế rồi thần bỏ đi luôn. Kết quả là mãi cuối cùng mới nói ra được chữ "bánh", thế rồi đã chết đói rồi!

Hôm nay Sư Tôn truyền cho bạn pháp tương ứng Đại Khổng Tước Minh Vương, là cho bạn bánh bà vợ thật sự đó. (mọi người vỗ tay) Ăn xong, đảm bảo bạn sẽ không bị đói đâu! Ăn xong đảm bảo bạn sẽ có cảm giác hài lòng, bạn chỉ cần tương ứng được với Đại Khổng Tước Minh Vương, bảo đảm bạn làm các pháp đều có thể thành công. Nghi quỹ các pháp của Sư Tôn không giống với các pháp của Tạng mật rất phiền phức, niệm một bộ kinh có khi bảy tiếng đồng hồ, thỉnh một vị đến cũng cần thỉnh bảy tiếng đồng hồ, lại còn cần thỉnh Thất Phật, Di Lặc, Thanh Văn, Duyên Giác, tám Thiên Vương, 28 Dạ Xoa, 9 chòm sao, 12 cung. Phải niệm xong toàn bộ kinh, thỉnh xong toàn bộ còn cần niệm kinh Đại Khổng Tước Minh Vương, sau đó bố trí đàn thành, bố trí đàn thành xong cần toàn bộ quyến thuộc của Ngài đều phải hạ giáng, lúc này mới làm quán đảnh. Đến được lúc đó thì mọi người đều đã "toi" rồi (tiếng Đài). Do vậy, pháp của Chân Phật Tông chúng ta, pháp tương ứng niệm tụng đặc biệt nhanh, rất hữu hiệu. (mọi người vỗ tay) Để cho mọi người ai cũng đều được ăn bánh bà vợ, no bụng rồi, mỗi người đều có khí lực, mỗi người đều có thể tu pháp, bệnh tật của mỗi người đều có thể tiêu trừ, tất cả mọi nguyện vọng đều có thể đạt được.

Mọi người xem, Sư Tôn ở Đài Loan ba năm rưỡi, tôi ẩn cư ở đó ba năm rưỡi, cơn bão nào cũng chuyển hướng hết. Nghĩa là sau khi tôi vào Đài Loan thì các cơn bão của Thần Voi liên tục suốt ba năm rưỡi đều không có cơn bão nào. Vì sao vậy? Tôi không muốn nói, nói ra thì lại thành to tát quá, ngộ nhỡ khi tôi trở về gặp bão thì tôi sẽ chết mất. (Sư Tôn cười) Mọi người sẽ thất vọng mất.

Thế thôi. Om mani padme hum. (mọi người vỗ tay)


### 52. Phụ lục: Phật Mẫu Đại Khổng Tước Minh Vương tương ứng pháp (nghi quỹ tu pháp)


Đầu tiên, cầu nguyện dòng Căn bản truyền thừa gia trì:
Trước tiên quán không, tiếp theo quán tưởng Căn bản truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì.
Trì Liên Hoa Đồng Tử tâm chú 7 lần, thỉnh cầu việc tu pháp được viên mãn.
Thực hiện Tứ vô lượng quán. Làm thủ ấn thức tỉnh (vỗ tay hai lần, sau đó bắt chéo tay và búng ngón tay.)

Niệm chú thanh tịnh.

Niệm chú triệu thỉnh "Om Ah Hum Soha" (3 biến)
Phụng thỉnh:
Nam mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật.
Nam mô Chân Phật lịch đại truyền thừa Tổ sư.
Nam mô Phật Mẫu Đại Khổng Tước Minh Vương.

(Các phân đường ở địa phương có thể y theo chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp được thờ phụng tại đàn thành của mình để phụng thỉnh.)
Thập phương tam thế nhất thiết chư Phật. Nhất thiết Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa.

Đại lễ bái.

Đại cúng dường.

Tứ quy y.
Nam mô Guru bei.
Nam mô Đại Khổng Tước Minh Vương Phật.
Nam mô Đại Khổng Tước Minh Vương kinh.
Nam mô Khổng Tước Minh Vương hải hội quyến thuộc. (3 biến)

Làm bia giáp hộ thân.

Niệm Cao Vương Quan Thế Âm chân kinh.

Niệm chú vãng sinh. (7 biến)

Niệm kệ tứ vô lượng tâm.

*Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỉ vô lượng.
Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.*

Niệm thêm Căn bản Truyền thừa Thượng sư tâm chú: Om Guru Liansheng Siddhi Hum. (108 biến)

Kết ấn và quán tưởng.
Kết ấn: Ấn Phật Mẫu Đại Khổng Tước Minh Vương (ấn nội phộc).
Đầu tiên, kết ấn nội phộc, sau đó hai ngón út đưa lên, hai ngón trỏ hợp lại, đặt thủ ấn trước ngực. (Ngón trỏ là đầu chim công, ngón út là đuôi chim công, ở giữa là mình chim công.)

Quán tưởng:

- Trước tiên quán không, niệm chú quán không.
Om. Su pa wa. Su ta. Sa er wa. Ta er ma. Su pa wa. Su to hang. (3 biến)

- Trên mặt biển lớn, vạn dặm trời trong không mây, đầu tiên xuất hiện đuôi chim công, sau đó ở giữa đuôi chim công có một chủng tử tự chữ yu

Sau đó, chữ này biến hóa thành chim công màu vàng kim.

- Tiếp theo, quán tưởng trên lưng của chim công có một chủng tử tự chữ bang màu trắng, biến thành bông hoa sen trắng. Trên bông hoa sen trắng hiển hiện một chủng tử tự chữ ma xoay tròn, biến hóa thành Khổng Tước Minh Vương bốn tay có màu vàng kim, hoặc màu trắng, hoặc hỗn hợp vàng kim và trắng, đầu đội mũ Ngũ Phật. Cánh tay phải thứ nhất cầm hoa sen trắng, cánh tay phải thứ hai cầm quả câu duyên màu đỏ, cánh tay trái thứ nhất cầm quả cát tường màu vàng, cánh tay trái thứ hai cầm đuôi chim công.

- Lại quán tưởng từ thiên tâm của Đại Khổng Tước Minh Vương phóng ra một tia ánh sáng trắng, chiếu thẳng đến thiên tâm của hành giả. Khổng Tước Minh Vương từ cổ họng phóng ra một tia ánh sáng đỏ, chiếu thẳng đến họng của hành giả. Từ tâm luân của Khổng Tước Minh Vương phóng ra một tia ánh sáng xanh lam, chiếu thẳng đến tâm luân của hành giả. Trắng, đỏ, lam, ba ánh sáng hòa tan vào trong thân tâm của hành giả.

Trì tâm chú Khổng Tước Minh Vương.
Quán tưởng chuỗi hạt: (hai tay cầm chuỗi hạt đặt trước ngực, khi niệm dùng ngón cái để lần hạt.)
Quán tưởng tay trái là chuông kim cang, tay phải quán tưởng thành chày kim cang, hạt Phật đầu quán tưởng thành nhiều bảo tháp Phật, bốn hạt nhỡ ở giữa quán tưởng thành tứ đại Thiên Vương, cái tua rua thì quán tưởng thành liên hoa thủ (Phật thủ). Sợi dây của chuỗi hạt quán tưởng thành vòng ánh sáng trắng của bản tính Kim Cang Tát Đỏa.

Khi trì chú, mỗi lần lần hạt đều quán tưởng thành một vị Khổng Tước Minh Vương hiện ra trước mặt hành giả.
Chú ngữ là: Om Mayuli Jilati Soha. (108 biến)

Nhập tam ma địa.
(Xin đọc kĩ phần Cửu tiết Phật phong trong nghi quỹ Liên Hoa Đồng Tử tương ứng pháp, quán tưởng nhập ngã - ngã nhập, quán tưởng đếm hơi thở.)

Xuất định, tụng kệ tán thán:
Thế Tôn đại từ bi,
Pháp thể tính tịch diệt,
Đại lực đại tác dụng,
Công đức đều cụ túc.

Gia trì thêm bằng các tâm chú khác.

Niệm Phật:
Nam mô 36 vạn tỷ, 110 vạn, 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)

Hồi hướng.
Gia đình bền vững, thân tâm an lạc, toàn Phật thế giới, Phật pháp vô tận.
Nguyện người cùng niệm Phật, cùng sinh cõi Cực Lạc, tren báo bốn ơn sâu, dưới cứu ba đường khổ, thấy Phật thoát sinh tử, như Phật độ tất cả.

Đệ tử XXX hôm nay xin được hồi hướng như trên. Nguyện đem công đức tu pháp hồi hướng đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cầu nguyện Thượng sư thường trụ thế gian, không nhập niết bàn, mãi truyền pháp luân, Phật thể an khang. Cung chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Nguyện tất cả mọi ước nguyện mong cầu đều được viên mãn. Nguyện tất cả tai nạn đều tiêu tan. Weng!

Niệm Bách tự minh chú. (3 biến)

Đại lễ bái.

Niệm chú viên mãn.
Om. Brum. (3 biến)
Om mani padme hum. (1 biến)
Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai cái, rồi đặt chéo hay tay và búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/216-duong-dai-phap-vuong-tra-loi-khach-hoi.md
# Title: 216. Đương Đại Pháp Vương trả lời khách hỏi
---

![image](/img/img_6c3385dd0b654712bf15160ee5710a83.jpg)



## Đương Đại Pháp Vương trả lời khách hỏi


Văn tập số: 216
Xuất bản năm: N/A
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu


Ngày 27 tháng 2 năm 2010 tại Đài Loan Lôi Tạng Tự (Thảo Đồn - Caotun), Lư Sư Tôn đã chủ trì buổi đại pháp hội Hộ Ma Khổng Tước Minh Vương (hỏa cúng). 

Thượng sư Liên Triết nói với tôi:
"Địa điểm tổ chức pháp hội là ngoài trời, do vậy tuyệt đối không được phép có mưa."
Lại nói:
"Cũng không được có nắng to, nếu không sẽ khiến tín chúng bị cháy da. Tốt nhất là trời nhiều mây, nhưng cũng không nên đổ mưa."
Tôi cười cười đáp:
"Tôi nên làm ông trời vậy!"
 
Đại pháp hội ngày hôm đó có 5 vạn tín chúng tham gia. Thời tiết ở huyện Vạn Lý (Wanli) sáng trong, không mưa, tuy nhiên nắng lại khá gay gắt. Tín chúng liên tục phe phẩy quạt, rất nhiều người mở ô lớn màu sắc sặc sỡ làm thành một trảng hoa ô. 
 
Pháp hội bắt đầu.
Tôi lên pháp tọa ở trên cao, trông thấy 5 vạn tín chúng đứng ngồi dưới nắng, thực sự không đành lòng.
Tay tôi kết "chỉ thị ấn". Niệm chú:
"Ma ha bát nhã ba la mật. Om mani beida mi hum. Tuoli. Cấp cấp như luật lệnh."
Tôi nguyện:
"Nhất tâm cầu thỉnh Phật Mẫu Khổng Tước Đại Minh Vương dang rộng đôi cánh khổng tước che nắng cho 5 vạn tín chúng!"

Tôi vừa nói như vậy xong, lạ thay, lạ thay! Từ phía Tây Nam một đám mây cát tường bay tới che kín cả Đài Loan Lôi Tạng Tự, ngay phía trên đầu 5 vạn tín chúng, không lệch một chút nào, chính là ở ngay phía trên đầu. Gió mát thổi nhẹ.
Có đệ tử đang lên núi trông thấy đã cảm thán vô cùng, rằng không thể tưởng tượng được. Bởi ngay phía trên Đài Loan Lôi Tạng Tự có một đám mây cát tường lớn, còn ở nơi khác thì bầu trời vẫn trong vắt không một gợn mây.
5 vạn tín chúng vỗ tay như sấm.
 
Tôi học Phật pháp đã được 40 năm rồi. Tôi thường nói, Phật pháp tại thế gian không tách rời ý thức thế gian. Mặc dù tôi đã thấu triệt đệ nhất nghĩa đế của Phật pháp, nhưng tôi cũng rõ rằng đệ nhất nghĩa đế không thể nói, Phật tính không thể nói, tính Không không thể nói, chỉ có thể đưa ra ẩn dụ thôi.
Ngoài ra, Mật giáo tới được Vô thượng mật du già (yoga) cũng không thể nói, chỉ có thể nói một cách ẩn dụ. Tôi vốn nghĩ rằng sẽ viết ra cuốn sách về Vô thượng mật du già cao cấp, dùng ngôn ngữ nói để nói thật chi tiết tỉ mỉ. 

Chính xác khi tôi viết xong được đúng năm chương, không ngờ rằng:
Sấm đánh.
Mưa đá trút xuống.
Gió lớn nổi lên.
Từ phía xa xa có thần Kim Cương Hộ Pháp hiện thân nói: "Không thể viết được."
Tôi hỏi: "Vì sao vậy?"
Thần Kim Cương Hộ Pháp trả lời: "Sẽ bị kẻ xấu lợi dụng!"
Thế là, viết rồi lại xé bỏ, viết rồi lại xé bỏ.	 
 
Khi tôi trở về Đài Loan, cô Từ Nhã Kỳ ở chương trình truyền hình Thắp sáng ngọn đèn tâm muốn phỏng vấn, liệt kê ra rất nhiều chủ đề, đặt tiêu đề là "Phỏng vấn Đương Đại Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật".
Bởi vì không thể viết ra Vô thượng mật du già, vậy chỉ có thể đổi thành viết về những câu hỏi của cô Từ Nhã Kỳ cùng với câu trả lời của tôi, lấy tên sách là Đương Đại Pháp Vương trả lời khách hỏi.
Cuốn sách này về hình thức bên ngoài là hỏi đáp, nhưng phạm vi được nói đến rất rộng, có lợi ích rất lớn đối với người học Phật.
Mong rằng độc giả có thể trân trọng!

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Sự thật về phân thân cứu độ


Có đệ tử họ Thẩm phạm vào một vụ án nên bị giam trong nhà lao. Càng thảm hơn nữa là đệ tử họ Thẩm này bị mắc bệnh viêm phổi, thường sốt cao, uống thuốc thì sẽ giảm sốt được một lúc, nhưng khi thuốc hết tác dụng thì cơn sốt cao lại đến.

Trong mơ đệ tử họ Thẩm nhìn thấy Lư Sư Tôn nhẹ nhàng từ trên không bay đến, mặc y áo màu trắng, toàn thân tỏa ánh sáng trắng.
Đệ tử họ Thẩm hỏi:
"Đây là nhà tù, Sư Tôn làm sao đi vào được?"
Tôi cười nói:
"Phân thân trải rộng khắp mười phương, bất kì nơi nào cũng đều có thể đến được!"
Đệ tử họ Thẩm nói:
"Trong tù mắc bệnh viêm phổi, thân tâm kiệt sức, thỉnh cầu Sư Tôn cứu độ."
Tôi nói:
"Chính vì vậy mà ta đã đến đây."

Tôi rút từ trong túi áo mình ra một gói thuốc đưa cho đệ tử họ Thẩm uống. Đệ tử họ Thẩm uống xong gói thuốc, ngày hôm sau tỉnh lại, cơn sốt cũng đã hết rồi. Sau đó bác sĩ của nhà tù kiểm tra, các triệu chứng viêm phổi hoàn toàn không còn, bệnh khỏi hẳn một cách bất ngờ.

Cơn bão Morakot. [ND: Bão Morakot: cơn bão kéo dài 9 ngày kể từ 2/8/2009, gây chết chóc nhất trong lịch sử Đài Loan, khiến cho 673 người chết và 26 người mất tích, thiệt hại 110 tỷ Đài tệ.]

Sư huynh Đinh Dĩ Minh, chủ đường của Chân Minh Đường ở huyện Tam Nghĩa, trông thấy Lư Sư Tôn an tọa, móc Thời Luân Kim Cương tại thôn Đồng Phú huyện Tín Nghĩa. 

Khi trận bão gây lũ lụt lở đất tấn công, cả làng Đồng Phú bị bao vây kín. Trong thôn có duy nhất sư huynh Trương Tấn Phúc, sư tỉ Lâm Gia Hân là đệ tử Chân Phật Tông may mắn thoát khỏi đại nạn.

Ngoài ra còn có  một người làng của thôn Phùng Tiên Tây An tên Trần Chính Long cũng là đệ tử Chân Phật Tông, mọi người khác đều gặp nạn, duy chỉ có anh là an toàn vô sự.
Khi cơn bão Morakot xảy ra, tôi đang ở Seattle nước Mỹ làm pháp hội Hộ Ma (hỏa cúng) tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự. Tôi đã hóa thành 50 vị để thay mình đi cứu độ đồng bào chết vì thiên tai. 
Kết quả là 50 vị phân thân trong khi cứu độ đã gặp phải nhóm lính quỷ ở âm phủ ngăn chặn. Để cứu độ đồng bào tử nạn, không ngờ 50 vị phân thân đã hy sinh, nhưng những đồng bào tử nạn thì đã được cứu đến Tây Phương tịnh độ.

Lần siêu độ này đã thành công rồi.
Chỉ là tôi cũng bị tổn thất nặng nề.
 
Người ta hỏi tôi:
"Vì sao cần phải cứu?"
Tôi đáp:
"Phật giáo nhấn mạnh đại từ đại bi, đây là tinh thần của Phật giáo đại thừa, người chìm ta chìm, người đói ta đói. Làm một Bồ Tát cần xem trọng người khác, xem nhẹ bản thân, biết chúng sinh gặp nạn có lý nào lại không đi cứu độ."
 
Người ta hỏi tôi:
"Vì siêu độ mà đã hy sinh 50 phân thân, có đáng không?"
Tôi đáp:
"Đây chính là tinh thần xả thân vì người khác, 50 phân thân này tu lại là có thể có được."
"Tu phân thân như thế nào?"
Tôi đáp:
"Cái gốc của phân thân là bổn tôn trong trung mạch của chính mình, từ khí và minh điểm kết hợp lại mà thành, cộng thêm Phật tính quang minh của bản thân, theo đường thẳng đi lên đỉnh đầu rồi xuất ra, trong hư không kết hợp với ánh sáng của các vì sao, thì sẽ tạo thành phân thân - tinh quang thân. Việc tu luyện này nghe thì có vẻ dễ, thực tế lại rất khó. Đây đều là tu luyện khí, mạch, minh điểm, một lời khó nói cho hết. Người có thể tu xuất ra được phân thân là tinh quang thân chắc chắn phải là một người tu hành cao cấp.
 
Người ta hỏi tôi:
"Đệ tử Chân Phật Tông rất dễ cảm ứng thấy Lư Sư Tôn ở trong mơ, hơn nữa trong một đêm mà Sư Tôn phân thân thành trăm nghìn vạn thân, ai ai cũng đều có được cảm ứng giao tiếp, việc này là thế nào?"
Tôi đáp:
"Đây đều là tác dụng của các tinh quang thân, cũng chính là tác dụng của phân thân, người tu hành cao cấp sẽ dùng phân thân để cứu độ chúng sinh, nếu chỉ có một người chủ tôn thì không đủ đi giúp đỡ đâu."


### 02. Nhân duyên Bạch Độ Mẫu và Lư Sư Tôn


Khoảng ba năm trước, Tông ủy hội chuyển từ Chân Phật Mật Uyển đến làm việc tài tòa nhà màu cam. 
Ở Tông ủy hội tôi có một bàn làm việc, ngoài ra còn có một phòng vẽ tranh, mỗi ngày tôi vẫn gia trì thư tín mới gửi đến và vẽ một bức tranh. Phía sau và bên phải bàn làm việc của tôi thường treo thangka, mandala chư Tôn được thêu chỉ màu kiểu Tây Tạng.
 
Có ngày nọ.
Một vị Pháp sư đem về một bức thangka tặng cho tôi treo. Pháp sư nói: "Là đệ tử Hứa Hồng Xuân tặng cho Sư Tôn đó, đây là bức họa tướng của Bạch Độ Mẫu."
Pháp sư chậm rãi mở bức thangka ra, mắt tôi sáng rực lên, rồi tôi giật mình vì "choáng".
 
Bạch Độ Mẫu, thân màu trắng, những đường cong sắc sảo, một đầu hai tay, tay phải giữ ấn nguyện đặt trên đùi phải, tay trái giữ ấn hoa cầm ba bông hoa upala, một bông còn đang nụ, một bông chớm nở, một bông nở bung. Ba bông hoa tượng trưng cho tam bảo, phấn hoa màu đỏ.

Bạch Độ Mẫu, lòng bàn tay và lòng bàn chân đều có một con mắt, cùng với ba con mắt trên mặt, tổng cộng là bảy con mắt. Bạch Độ Mẫu có dáng vẻ như thiếu nữ mười sáu tuổi, ngũ quan thanh tú diễm lệ, miệng hé như cười. Tóc tết, lọn tóc rủ xuống bên trái có chuỗi vòng các loại ngọc quý trang nghiêm, người mặc váy lụa, ngồi tư thế hoa sen kim cương, lưng dựa vào đĩa mặt trăng. 

Tấm thangka mà đệ tử Hứa Hồng Xuân tặng khiến tôi không ngớt lời cảm thán, liền đem treo ở phía bên phải chỗ ngồi của mình. Tôi nhìn ngắm chăm chú một lúc lâu.
Tôi biết Độ Mẫu có:
Lục Độ Mẫu.
Bạch Độ Mẫu.
Hồng Độ Mẫu.
Hoàng Độ Mẫu.
Ngoài ra vẫn có nhiều vị Độ Mẫu khác, có thể nói là vô tận. Nhưng Bạch Độ Mẫu treo ở bên phải gần chỗ ngồi của tôi, chỉ quay đầu sang là nhìn được, thì chính là khởi đầu của duyên phận.
Có nhân duyên nữa cũng rất thần kì.
Một buổi tối tôi đang ngủ mơ, bỗng nhiên xuất hiện một mùi thơm lan tỏa, giường ngủ của tôi biến thành một bông hoa sen trắng nở bung. Tôi nằm ngủ ở chính giữa hoa sen, ngay trên nhụy hoa.

Hư không lấp lánh nhuệ khí, ánh sáng trắng chói lọi, tôi nhìn thấy Bạch Độ Mẫu diễm lệ từ hư không giáng xuống, áo váy bay bay, dáng vẻ kiều diễm. Vẻ đẹp của Bạch Độ Mẫu so với trong bức thangka còn đẹp hơn gấp trăm nghìn vạn lần, không thể miêu tả xiết. 

Tôi nghĩ là người thật nên chạm nhẹ vào. Rồi tôi lại cho rằng không phải là người thật, nhưng vẫn có xúc cảm.
Giống như mơ mà không phải mơ.
Giống như huyễn mà cũng giống như thật.

Bạch Độ Mẫu hạ giáng xuống chính là ở giữa hai trạng thái này, nếu nói là mơ thì giấc mơ này cũng để lại rất nhiều dư vị. Trong miệng Bạch Độ Mẫu có ngậm một viên hồng đơn, đầu tiên, ngài chuyển viên hồng đơn sang miệng tôi, đi vào trong. Trong một sát-na, tôi đã trở thành "lực sĩ King Kong". 

Lúc này, bông hoa sen vốn dĩ nở bung bây giờ lại từ từ biến  ngược dần thành bông hoa sen chớm nở, rồi tiếp tục biến thành nụ hoa sen. 
Bạch Độ Mẫu nói:
"Quỷ thần không thấy!"
 
Bạch Độ Mẫu nói với tôi:
"Pháp song thân của Mật giáo vốn là sự kết hợp mạch với mạch, có thể thông ba mạch bảy luân xa. Khí và khí kết nối, dẫn khí phương tiện thành khí trí huệ. Điểm và điểm dung hòa, thành tựu pháp thân ánh sáng."

Bạch Độ Mẫu nói:
"Lư Sư Tôn sớm đã tu chứng vô lậu pháp, chuyết hỏa cũng đã cháy, có thể giữ minh điểm đi xuống. Hơn nữa ngài đã hiểu rõ đệ nhất nghĩa đế của Phật giáo. Do vậy tôi đặc biệt đến đây để diễn hóa pháp này, việc này giống như là nước chảy thành sông, thành công sẽ tự đến một cách tự nhiên, vậy thôi."

Tình tiết bên trong là:
Bí mật. Bí mật. Bí mật. Bí mật.
 
Tôi không thỉnh gọi Bạch Độ Mẫu đến, là Bạch Độ Mẫu không mời tự đến. Hoạt động thủ ấn trí huệ tính Không này vô cùng khó đạt được, hoàn toàn không vướng mắc, do vậy mà thành tựu phi phàm.


### 03. Vì sao Bạch Độ Mẫu bàn giới luật?


Cá nhân tôi cho rằng Chân Phật Mật Pháp là phải "sống", mỗi một người tu hành đi trên con đường tu hành đều đang sống, Phật pháp là sự vận dụng linh hoạt, cuộc sống mỗi ngày đều là sống với Phật pháp.

Do vậy tôi nói:
Ăn --- pháp Cúng dường.
Mặc --- pháp Kết giới.
Ở --- pháp Mandala.
Đi --- pháp Kinh hành.
Ngủ --- pháp Miên quang.
Quan hệ --- pháp Song thân.
Phẫn nộ --- pháp Hộ pháp.
Ngu si --- pháp Tài thần.
Thân thể --- pháp Thiền.
Hình tướng --- pháp Bổn tôn.
Ứng dụng --- pháp Thành tựu.
……
 
Tôi thích Phật pháp ứng dụng linh hoạt, không phải kiểu cứng nhắc nhàm chán. Tôi thực tu Phật pháp, chuyển tâm vận dụng, không câu nệ tiểu tiết, lấy Phật pháp dung nhập tự tâm, cũng như truyền bá Phật pháp khiến mọi người hoan hỷ. 
 
Tuy nhiên tôi tu hành như thế và hướng dẫn thánh đệ tử tu hành cũng có chút khiếm khuyết nhỏ. Vì thế Bạch Độ Mẫu cho rằng do tôi quá không câu nệ tiểu tiết nên đã làm cho hình ảnh Chân Phật Tông trở thành có khiếm khuyết. 
Ngoài ra, giới luật quá thoải mái dẫn đến nhân viên hoằng pháp quên mất vấn đề như pháp và bất như pháp, để rồi đi xuống tới mức đọa vào tam ác đạo.
 
Bạch Độ Mẫu nói như sau:
Rất nhiều nhân viên hoằng pháp bản thân không thực tu mà lại quán đảnh cho người ta, việc này là bất như pháp.
Rất nhiều nhân viên hoằng pháp bản thân vẫn chưa khai ngộ, nhưng lại giảng giải các kinh điển khai ngộ, việc này là bất như pháp.
Rất nhiều nhân viên hoằng pháp bản thân vẫn mang lòng ích kỉ tự tư tự lợi trong công việc, nhưng lại đi giảng dạy người khác phải diệt trừ tham sân si, việc này cũng là bất như pháp. 
Đây là mâu thuẫn, tự vả vào miệng mình.

Nhân viên hoằng pháp chỉ chăm chăm xây dựng giang sơn cho bản thân, cơ bản không có tinh thần tập thể Chân Phật. Chờ đến khi xây núi xong rồi, anh ta sẽ tự mình làm chủ ngọn núi, phớt lờ luôn căn bản Thượng sư, không màng đến sự quan trọng của truyền thừa nữa.

Nhân viên hoằng pháp đối với giới luật như pháp và bất như pháp đều không hiểu, làm sao dẫn dắt đồng môn Chân Phật trong quỹ đạo tu hành tinh tấn được.
 
Nhân viên hoằng pháp có rất nhiều bất như pháp, ví dụ:
Đe dọa lấy tiền. (Giả thần thông)
Đe dọa lừa sắc. (Giả thần thông)
Chưa đạt tới chân ngôn. (Lừa bịp chúng sinh)
Chưa hiểu được chân ngôn. (Lừa bịp chúng sinh)
Tranh giành tên tuổi. (Tham lam thế gian)
Tạo dựng phe phái riêng. (Tham lam thế gian)

Những việc này đều tràn ngập sự ngụy trang, ngụy tạo, trá hình, bịa đặt.

Nhân viên hoằng pháp ngay cả đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư cũng dám lừa, ngay cả những việc khiến phải đọa tam ác đạo cũng đã từng làm, những nhân viên hoằng pháp kiểu này còn có thể nói chuyện giới luật không?
 
Chính bởi vì như vậy:
Bạch Độ Mẫu muốn giảng về giới luật cho đồng môn Chân Phật, giảng cái gì là như pháp, cái gì là bất như pháp. Bạch Độ Mẫu nói giới luật này cần thường xuyên giảng, không giảng thì rất dễ bị quên mất. Nếu như không giảng giới luật, Chân Phật Tông sẽ là một tổ chức phân rã, cơ bản là không có tương lai.
 
Bạch Độ Mẫu nói:
Đừng tham nhiễm thế tục, cần có tâm coi trọng nội tại.
Cần tu hành tâm, khẩu, ý thanh tịnh.
Cần làm một Thượng sư có đức.
Cần kiên trì tự tu.
Cần chân thành với Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cần có lòng tin thanh tịnh.
Cần liên tục giữ giới samaya và thề nguyện, đừng vi phạm hay vượt quá, kể cả phương tiện thiện xảo cũng đừng nên lạm dụng.


### 04. Công nhận lai lịch kiếp trước


Tôi được Thượng sư của tôi công nhận là:
1.	Đệ tử Xá Lợi Phất của Phật Thích Ca Mâu Ni chuyển thế (tái sinh).
2.	Tổ sư Tsongkhapa của phái mũ vàng Mật giáo chuyển thế (tái sinh).
……….

Thầy của tôi từng viết thư cho bà Tạ Minh Phương, chứng nhận tất cả những điều này đều là sự thật. (Bản chụp của thư đó kèm trong cuốn sách này.)

Giáo chủ của phái mũ vàng Tây Tạng, Pháp Vương Ganden Tripa, vào tháng 6 năm 1996 đích thân tới Lôi Tạng Tự - Seattle nước Mỹ tặng tôi một bộ y bào của Pháp Vương, tôi được công nhận là Đại Pháp Vương.
 
Trên người Liên Sinh Pháp Vương được phát hiện thấy:
1.	Trên đỉnh đầu có lỗ.
2.	Hai tai có hạt châu. (hạt xá lợi)
3.	Mắt, mũi, miệng của Phật.
4.	Chính giữa ngực có chữ "Vạn".
5.	Lòng bàn tay giống như vỏ ốc.
6.	Phía sau ngón cái tay phải có ấn quỷ vương mặt cười. (hộ pháp)
7.	Trên chân có sọc da hổ. (kim cương)
 
Tôi được công nhận là một vị Phật tái sinh 100%. 
Vị Phật tái sinh người Tây Tạng Cống Đường Thương nói với tôi rằng ngài ấy đã từng nhìn thấy một người ở trung tâm mặt trời, ở chính giữa vầng mặt trời. Xem xét tỉ mỉ thì hóa ra ở giữa vầng mặt trời có một người đang ngồi chính là: "Liên Sinh Hoạt Phật Pháp Vương. Lư Thắng Ngạn Thánh Tôn."
 
Tiền kiếp của tôi đã được minh chứng một cách hùng hồn, lại có Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đến chứng nhận, lại có Hoằng Pháp Đại Sư đến chứng nhận, lại có Atisha Tôn giả đến chứng nhận, lại có…

Trong các pháp hội thời gian gần đây tôi cũng đã ban quán đảnh cho các Thượng sư Acarya (A-xà-lê) và chứng nhận:
Chứng nhận Liên Hoa Đồng Tử các màu sắc.
Chứng nhận phân linh của Diêu Trì Kim Mẫu.
Chứng nhận 20 Thiên Thiên nữ.
Chứng nhận Rinpoche Hoạt Phật.
……….
 
Hỏi:
"Chúng tôi vài lần đến pháp hội ở đây đều thấy, mỗi khi Lư Sư Tôn quán đảnh Thượng sư hoặc Pháp sư mới sẽ đều nói lai lịch tiền kiếp của vị đó, là vì sao vậy? Việc này đối với việc tu hành có lợi ích gì không?
 
Tôi trả lời:
"Mật giáo có vị trí như một giáo pháp Đại thừa, vốn có đặc điểm thần mật đặc biệt. Nhờ thân phận đặc thù của Pháp Vương, Hoạt Phật, Geshe, đại Lama nên dễ làm cho dân chúng phát khởi niềm tin tưởng kiền thành, từ đó khiến cho việc hoằng dương Phật giáo trở thành có ảnh hưởng rộng lớn. 

Công bố lai lịch tiền kiếp của Thượng sư, Pháp sư là truyền thống Mật giáo. Đó cũng là một dạng danh vị, nhờ đó sẽ càng dễ giáo hóa chúng sinh trong các lĩnh vực hơn."
 
Tôi lại nói: 
"Với pháp nhãn của mình, tôi đương nhiên biết rõ lai lịch của mỗi người. Có một số người lai lịch vốn rất tốt, đáng tiếc là chuyển thế tái sinh nhiều lần đã bị ô nhiễm nghiêm trọng, thân phận tôn quý của người đó từ từ bị tầm thường đi. 

Điều đáng tiếc là từ lâu họ đã trầm luân trong lục đạo luân hồi, không biết khi nào mới thoát ra. Do vậy tôi đặc biệt muốn đánh thức vị Thượng sư hay Pháp sư đó, khiến họ nhận ra diện mạo vốn có của mình, nhanh chóng tinh tấn chứng quả, việc chứng nhận này có giá trị đặc biệt riêng, không phải là không có ý nghĩa gì."
 
Phật giáo Ấn Độ bắt đầu từ Phật giáo nguyên thủy, đến bộ phái Tiểu thừa, tiếp đó đến giai đoạn hưng thịnh của Phật giáo Đại thừa. Đến thời kì Mật giáo, do điều kiện hoàn cảnh bị giới hạn  nên đã khiến cho Mật giáo đi xuống.
Phật giáo Trung Quốc bắt đầu từ đời Hán, hưng thịnh vào đời Tùy Đường, đến đời Tống thì suy yếu.

Phật giáo Tây Hạ vào thời kì suy thoái của Phật giáo Trung Nguyên vẫn nổi lên một cách bất ngờ. Thời kì cực thịnh của Phật giáo Tây Hạ đã xây dựng "Tăng chúng công đức ti", "Xuất gia công đức ti", "Hộ pháp công đức ti", lại còn phong chức vị Quốc sư, cũng có cả danh hiệu Đế sư.
 
Do vậy tôi nhận thấy:
Muốn làm cho Chân Phật Tông có sức sống, cần chứng nhận xuất hiện nhân tài có học vấn, có lý tưởng, có sự năng động, có tổ chức, có chế độ, mới khiến cho Chân Phật Tông giống như mặt trời vĩnh viễn ở trên cao. 

Việc này có ảnh hưởng trực tiếp (tới sự phát triển của Chân Phật Tông).

*Lá thư Thượng sư Thubten Dargye (Thubten Dorje) gửi cho bà Tạ Minh Phương*


![image](/img/img_df4ad7e8b191c9e1db2540114aae0e8d.png)



### 05. Một thế giới khác


Tại Seattle Lôi Tạng Tự, Lư Sư Tôn thuyết pháp nói rằng:
Ở một thế giới khác, tôi truyền thụ Mật pháp 20 năm cho Thượng sư Liên Điếm.

Tôi nói: 
"Thượng sư Liên Điếm cũng nhớ rõ là tôi ở một thế giới khác truyền pháp 20 năm. (Thượng sư Liên Điếm xác nhận việc này có thật.) Rất nhiều người đều cho rằng đây là một việc rất huyễn tưởng, Lư Sư Tôn rõ ràng vẫn đang sống tại nhân gian. Thượng sư Liên Điếm cũng rõ ràng đang sống tại nhân gian. Thế thì việc truyền pháp diễn ra ở thế giới nào? Vào thời gian nào?"
 
Tôi nói: 
Đối với một người tu hành cao cấp mà nói thì đây là một việc rất đơn giản và bình thường. Lúc Phật Thích Ca Mâu Ni dưới gốc cây bồ đề đạt chứng ngộ, ngài nhập sâu vào trong thiền định, ở một thế giới khác đã giảng kinh Hoa Nghiêm cho các chư Bồ Tát. (Việc này chứng minh Phật Đà có thể thuyết pháp ở một thế giới khác.)

Còn nữa:
Phật Thích Ca Mâu Ni thân ở tại Linh Sơn Hải Hội, một thân khác thì đã đến Shambhala tịnh độ trở thành Nguyệt Huyền Quốc Vương giảng Thời Luân Kim Cương Bản Tục, việc này cũng là giảng kinh ở tại một thế giới khác.
 

Hỏi:
"Một thế giới khác là thế giới nào?"
Tôi trả lời:
"Thế giới khác là thế giới vô tận. Ví dụ, vùng đất trong giấc mơ là một thế giới khác, tôi có thể dạy pháp ở trong mơ chứ! Ở nơi thắng cảnh thiên hà cũng là một thế giới khác, 28 cõi trời đều là thế giới khác. Địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, đều là thế giới khác."
 
Tôi nói sâu hơn một chút:
Một người bình thường đã rất quen thuộc với tầng lớp tương đối thô của tâm, đó là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, đây là lớp thô nhất của tâm. Ngoài ra tâm vi tế hơn một chút thì trong "Vô thượng du già mật tục" phân chia làm 80 loại.

Thông qua tu thiền, ý thức thô sẽ rút lại, tôi có thể nhìn thấy ảo ảnh, những khói sương của sóng, ánh sáng của đom đóm. Khi ý thức vi tế xuất hiện sẽ có những cảnh tướng màu trắng, màu đỏ, màu đen. Khi "Tịnh quang căn bản tâm" ở tầng sâu nhất xuất hiện thì nó là tâm vi tế nhất, ẩn sâu nhất, có năng lượng nhất, như bầu trời trong vắt, đây là tâm gốc của bản thể.
 
Ý của tôi muốn nói rằng:
"Tịnh quang căn bản tâm" là tâm có năng lượng nhất, không có nhị nguyên, là tuyệt đối.
Tôi có thể trông thấy.
Kiếp quá khứ.
Kiếp hiện tại.
Kiếp vị lai.
Trở thành hiện tượng tam giới nhất như. 

Tôi có thể ở khắp thập phương, ở một thế giới khác, ở thế giới hiện tại, thậm chí ở thế giới khác thuyết pháp.
Ma Ha Song Liên Trì có Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, thắng cảnh thiên hà có một Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, trong địa ngục có Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đang thuyết pháp, trong mơ cũng có, hành tinh Đạt Mỹ Khắc cũng có, dần dần sẽ thành ở nơi nào cũng có.
 
Tôi kể việc uống cà phê cùng Phật Thích Ca Mâu Ni, người khác sẽ cho rằng đúng là chuyện hài. Nhưng thực sự là tôi nói hết sức nghiêm túc.
Bởi vì đó là cảnh giới tịnh quang căn bản tâm của tôi, người thế gian hoặc người tu tập ở mức độ thứ nhất về cơ bản sẽ không thể hiểu được.
Với họ, việc tôi ở một thế giới khác dạy Mật pháp cho Thượng sư Liên Điếm 20 năm cũng xem như đủ thần kỳ lắm rồi.


### 06. Tu thiền là điều bắt buộc


Hỏi:"Chúng ta nhất định phải tu pháp mỗi ngày đúng không? Chúng ta nhất định cần làm công khóa mỗi ngày đúng không? Chúng ta nhất định cần tu Thiền mỗi ngày đúng không?"
 
Tôi trả lời:
"Nhất định."
Vì sao vậy?
Lý do rất đơn giản, chúng ta tin vào Phật pháp, dựa vào duy nhất Phật pháp, chúng ta thực tu Phật pháp, nương nhờ vào Phật pháp thì mới có thể được cứu độ.
 
Tôi nghĩ rằng: "Đây là điều quý giá nhất của đời người."
Con người hiện đại toàn theo đuổi những thứ bên ngoài: tài, sắc, danh.
Tôi nói:
"Của cải chỉ là những thứ mà con người thế gian có được tạm thời, sắc đẹp chỉ là thứ có được tạm thời lúc tuổi thanh xuân, danh vị cũng chỉ là tạm thời có được. Tôi nói thẳng ra là tôi rất coi thường tiền bạc, nhan sắc, danh vị."
 
Có người giàu có thì tự cho rằng mình xuất sắc!
Có người tuổi trẻ xinh đẹp, tự cho rằng mình xuất sắc!
Có người làm quan to, tự cho rằng mình xuất sắc!
Tôi cười lớn ha ha ha, không thèm!
 
Bởi vì giàu có rồi thì sao? Khi nhắm mắt xuôi tay rồi thì chẳng có gì cả. Thanh xuân xinh đẹp rồi thì sao, trong nháy mắt đã già yếu lụ khụ. Làm quan to rồi thì sao, sau vài năm thì cũng mặt mày bẩn thỉu. Những thứ đó chỉ là tạm thời.
Thứ có giá trị nhất thực sự là thoát khỏi sinh tử, tự chủ sinh tử, minh tâm kiến tính, tức thân thành Phật, không sinh không diệt, chứng ngộ được Phật tính của chính mình, Phật tính tồn tại vĩnh hằng.

Tôi kính phục những thành tựu giả tu hành.
Thế gian này chỉ có một thứ có giá trị nhất đó là: 
"Phật tính."
 
Các vị cổ đức nói:
"Phật tính không phải thực tu mà có được, nó vốn dĩ đã có sẵn."

Tôi nói:
"Nếu không trải qua tu Thiền thời gian dài, bạn sẽ không thể hiểu được rằng Phật tính không phải cứ tu hành mà có được."
Ở đây xem ra có vẻ mâu thuẫn.
Hơn nữa bạn cần phải để ý cẩn thận, hành giả thời cổ xưa, nếu như không đến được Tào Khê (*), làm sao biết là "vô sở đắc" đây?
Phật tính Không tu mà đắc. [ND: Tào Khê: thiền cảnh, địa danh nổi tiếng trong Phật giáo, có đạo tràng lớn của Lục Tổ Huệ Năng (638-713), lúc đầu chỉ là tên dòng suối chảy trước chùa Hoa Nam, núi Song Phong, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc.]
Nhưng, tu Thiền là điều bắt buộc.
 
Mật giáo tin rằng:
Tu Thiền ở tầng lớp vi tế của tâm thức, khi làm cho thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh được thì mới lĩnh ngộ được tính Không vốn có. Tính Không vốn có này có thể giải thoát khỏi sinh tử luân hồi và giải thoát phiền não bệnh khổ.

Trí huệ của khí.
Trí huệ của mạch.
Tịnh quang của minh điểm.

Những trải nghiệm tu hành này có thể nhìn xuyên thấu những bẩn thỉu của dục vọng thế tục, hiểu được cái chân thực của cuộc sống, thậm chí nhờ vào trí huệ tính Không mà phá bỏ được phiền não, dục vọng, vô minh.
 
Chúng ta nên:
Kính lễ Phật tính mà ta sinh ra đã vốn có. Phật tính là nghệ sĩ múa - không động không đổi. Còn quần áo hóa trang của thế tục đều sẽ bị cởi bỏ hoàn toàn. Quán sát để phá bỏ đi biển ảo giác. Chỉ có thánh giả tu Thiền mới có thể nhận thức được mình.
 
Tôi nói:
"Tu Thiền là điều bắt buộc, cũng giống như Phật pháp, đều chỉ là một loại công cụ. Tôi đã khám phá được Phật tính được 40 năm, trong mọi trường hợp vẫn luôn chứng kiến được sự quý giá hiếm có bậc nhất của Phật tính. Thừa nhận rằng tu Thiền và Phật pháp chỉ là công cụ, nhưng không có công cụ thì không thể thấy được Phật tính đâu!"


### 07. Làm sao hóa giải nỗi ám ảnh của đau khổ


Hỏi:"Trong cuốn Hồ sơ cơ mật của Lư Thắng Ngạn, Lư Sư Tôn nói rất nhiều bí mật chưa từng công khai, bao gồm cả chuyện lúc sơ sinh và lúc còn nhỏ thường bị đánh. Thực tế rất nhiều người cũng từng có những hồi ức tuổi thơ không vui vẻ, thậm chí trở thành nỗi ám ảnh, kiểu vấn đề tâm lý này Phật pháp có cách gì có thể hóa giải được không?"
 
Tôi trả lời:
"Chỉ cần có thể thâm nhập vào Phật pháp, minh tâm kiến tính, không chỉ mỗi nỗi ám ảnh đau thương hồi nhỏ, thậm chí những dày vò đau khổ cả đời này đều có thể hóa giải được."

Tôi nói:
Cuộc đời con người, khổ nhiều hơn vui.
Trong kinh Phật thường xuyên nói đến:
Sinh ra là khổ. Sơ sinh khổ vì bệnh.
Thanh niên và sau khi trưởng thành, nếu mất đi người bạn đời, của cải, hạnh phúc, sẽ đầy sự khổ đau.
Phiền não là khổ. Mắc bệnh lại khổ gấp đôi. Về già càng khổ vì bệnh.
Dù cho có của cải, khi mất đi lại càng khổ.
Dù cho có đại danh, nhưng người nổi tiếng cũng rất nhiều, cũng là khổ.
Dù có xinh đẹp, nhưng trẻ đẹp qua trong chớp mắt, cũng khổ.
Hơn nữa, tiền tài, danh vọng, sắc đẹp đều chỉ có tạm thời, khi mất đi thì càng đau khổ.
 
Cái gọi là tám thứ khổ chính là:
Sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, chết khổ, yêu nhưng phải ly biệt khổ, oán ghét khổ, cầu mà không được khổ, ngũ uẩn xung đột khổ.
Nếu như cầu mà được thì sao? Vậy thì không khổ nữa đúng không? Thực tế cũng không phải vậy, cầu được rồi nhưng lo sợ bị mất lại càng khổ.
 
Bài kệ nhắc nhở của Bồ Tát Phổ Hiền:
Một ngày qua đi.
Mệnh lại giảm bớt.
Giống con cá nhỏ.
Có niềm vui gì?
 
Nói nhiều cái khổ như vậy, vậy thì Phật pháp có thể hóa giải như thế nào?
Kinh Kim Cương có nói:
Nhất thiết hữu vi pháp.
Như mộng huyễn, bào, ảnh.
Như lộ diệc như điện.
Ưng tác như thị quán.
 
Dịch nghĩa:
Tất cả pháp hữu vi.
Như mộng huyễn bóng ảnh.
Như sương như chớp lóe.
Nên quán chiếu như vậy.
 
Ý ở đây muốn nói rằng hãy xem nỗi khổ như giấc mơ, như hư huyễn, như bong bóng, như ảo ảnh, không phải là thật. Hãy xem nỗi khổ như sương, như điện, như ánh sáng, như lửa đánh lên từ đá, rất nhanh chóng sẽ biến mất.
Cũng chính là:
Giống như một giấc mộng, rất nhanh chóng qua đi!

Vẫn còn cách thức hóa giải tốt hơn nữa.
Kinh Kim Cương viết: 
Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Điều này thuộc về "đệ nhất nghĩa không".

Tất cả đau khổ đều bởi vì có "ngã" mà sinh ra, nếu tu đến "vô ngã tướng" thì đau khổ sẽ hóa giải được.
Tất cả đau khổ đều bởi vì có "nhân ngã" mà sinh ra, nếu tu đến "vô nhân tướng" thì đau khổ sẽ hóa giải được.
"Vô chúng sinh tướng" (vô không gian).
"Vô thọ giả tướng" (vô thời gian).
 
Từ góc nhìn của một người tu hành cao cấp, khổ và vui là nhị nguyên, kỳ thực cũng là nhất nguyên. Chúng ta hiểu được đạo lý của "đệ nhất nghĩa không" rồi thì khổ và vui căn bản là không tồn tại, đau khổ không tồn tại, niềm vui cũng không tồn tại, căn bản là không có gì cả.

Tu hành đến được "không có gì" thì những ám ảnh về nỗi khổ sẽ nhanh chóng không còn nữa, trong tâm cũng không còn vướng mắc gì, làm gì còn ám ảnh?
Trong Phật pháp, nếu như có thể thực sự hiểu được Phật tính chí lí cao nhất (tính Không), đệ nhất nghĩa không, việc hóa giải ám ảnh của đau khổ trở thành quá dễ dàng.
Tôi hỏi ngược lại: "Có đau khổ không?"


### 08. Tôi từng có lúc không muốn sống nữa


Hỏi:
"Lư Sư Tôn từng nói trong sách rằng ngài đã từng nhiều lần có suy nghĩ muốn tự sát! Vì sao vậy?"
 
Tôi trả lời:
"Tôi thừa nhận bản thân mình đã từng có lúc suy nghĩ không muốn sống nữa, hơn nữa không chỉ là một lần. Khi hoàn cảnh khách quan quá tàn nhẫn, tôi cơ bản không có cách nào vượt qua được. Khi đó tôi không có cách nào tự lừa dối bản thân mình, không có đường tiến cũng chẳng có đường lui, tôi hoàn toàn rơi vào tuyệt vọng. Tôi vùi mình trong tâm trạng thấp tận đáy cùng, chỉ còn lại nỗi sợ hãi về cái chết, hoàn toàn suy sụp, giống như ngọn lửa sắp tàn vậy, rơi vào trạng thái chết."
 
Tôi nói:
"Tôi cảm thấy cực kì khủng hoảng đối với hoàn cảnh, kẻ thù xung quanh, sóng lớn bao vây bốn phương tám hướng dữ dội lao tới. Tôi có cảm giác bị nhấn chìm đến ngạt thở, hoàn toàn không còn một tia hy vọng sống nào nữa. Tôi ngước nhìn trời giống như một người bệnh mắc bệnh nan y giai đoạn cuối. Tôi nghĩ rằng sớm cũng chết, muộn cũng chết, chi bằng đi chết luôn!"
 
Tôi nói:
"Trong cuộc sống của mình ngày xưa, tôi đã từng thường thấy mình ở vào hoàn cảnh tàn nhẫn rất nhiều lần. Do vậy tôi suy nghĩ không muốn sống nữa, ý nghĩ này thường xuất hiện nổi lên trong đầu tôi."
 
Hãy suy nghĩ về cuộc sống xem!
Quá cay đắng, quá nhiều chuyện không như ý, quá vô thường, quá khiến người ta đau lòng, quá tàn khốc, quá tuyệt tình, quá khổ sở, cực kì không có cách nào thích ứng được, quá khổ không thể cố gắng thêm được, quá không còn đạo lý…

Chúng sinh thật tội nghiệp, còn tôi thì chẳng có cách nào xoay sở để lựa chọn, tôi chỉ có thể chọn không tồn tại nữa."
 
Dưới đây là tư liệu do Thượng sư Liên Hiểu thống kê:
Theo báo cáo của bộ Y tế, đất nước chúng ta (Trung Quốc) mỗi năm có 25 vạn người chết vì tự sát. Tự sát là nguyên nhân dẫn đến cái chết đứng thứ 5 ở nước ta, nhóm người từ 15 đến 35 tuổi đứng vị trí dẫn đầu trong tổng số các trường hợp tử vong. 

Liên Hợp Quốc ước tính số người tự sát nhưng không chết còn gấp 10 đến 20 lần số người tự sát mà chết. Nếu ước tính số người tự sát không chết gấp 8 lần số người tự sát mà chết, bộ Y tế thông báo, Trung Quốc mỗi năm có ít nhất 200 vạn người tự sát mà không chết. 

Tôi đã từng luôn nghĩ muốn tự sát, nhưng sau khi học Phật thì Phật pháp đã khai sáng tôi.
1.	Tự sát chính là "giết Phật".
2.	Tự sát có nhân quả báo ứng.
3.	Tự sát không phải là chết là xong.
4.	Tự sát có trung ấm, có luân hồi.
5.	Tự sát sẽ phải xuống địa ngục chết oan.
6.	Tự sát là một hành động bất lương.
7.	Tự sát không phải là chỉ chết một Lư Thắng Ngạn, mà là chết tấm lòng của 500 vạn đệ tử.
8.	Lư Sư Tôn tự sát là giết chết Chân Phật Tông.
...

Sau này, tôi tu hành đạt đến minh tâm kiến tính, sau khi hiểu rõ được đệ nhất nghĩa đế, tôi có được hai giác ngộ lớn:
 
Thứ nhất:
Tự sát trong đệ nhất nghĩa đế căn bản hoàn toàn chẳng có ý nghĩa gì. Người sống như sóng, người chết như nước. Căn bản không có sinh cũng không có tử.
Tự sát kỳ thực nghiệp chướng rất nặng, đó là sự bám chấp của tâm phàm phu, không biết gì về Phật tính, hiểu sai về sinh tử, nhận thức nông cạn về sinh mệnh.
 
Thứ hai:
Tự sát là trọng tội sát sinh, nỗi khổ chịu tội này gấp nhiều lần so với nhân gian. Sẽ bị đóng băng, bị lửa thiêu, bị chọc thủng tim, bị khoét mắt, bị nấu sôi, bị bánh xe cán, bị ăn phân, bị uống nước tiểu, bị lột da, bị đội sừng…
Tự sát nếu chuyển thế làm người cũng là người bị tàn tật, bạn tự sát hại mình ở chỗ nào thì chỗ đó sẽ bị tàn tật. 
Tự sát sẽ không thể thành Phật.
Tự sát không thể thành Thần.
Tự sát chỉ có thể thành Quỷ.


### 09. Khiển trách của sư phụ


Hỏi:
"Trong sách của chính Lư Sư Tôn, ngài có kể trong thời gian học Phật, bản thân đã nhận rất nhiều khiển trách của sư phụ, vì sao các sư phụ lại mắng ngài vậy?"
 
Tôi trả lời:
"Làm đệ tử khó tránh khỏi mắc lỗi. Tôi cũng không phải là một thánh hiền dạng trời sinh, làm sai việc thì đương nhiên nên bị mắng."
 
"Trong lòng ngài có oán hận không?"
Tôi trả lời:
"Học Phật pháp từ sư phụ thì đội đầu cảm ân, tôi luôn luôn ghi nhớ ân từ của sư phụ, làm sao dám oán hận."
 
Từng có một chuyện như thế này:
Mấy đệ tử của tôi thích đi gặp Sư công Thubten Dargye (Thubten Dorje) Thượng sư. 
Thubten Dargye Thượng sư kiểm tra họ. 
"Lư Sư Tôn cơ bản là đồ ngốc."
"Lư Sư Tôn không dạy được mấy người đâu."
"Lư Sư Tôn không đáng để quy y."
"Pháp của Lư Sư Tôn là tà pháp."
…

Sư công dọa đến mức khiến rất nhiều đệ tử sợ tè ra quần, sau khi họ rời khỏi chỗ Sư công liền thối lui đạo tâm, đem trả lại chứng nhận quy y về chỗ tôi.

Đợi đến khi tôi đi gặp Sư công, Thubten Dargye Thượng sư an ủi tôi:
"Lư Sư Tôn, các đệ tử có tín tâm bất định mà con dạy đó, thầy đã giúp con lọc từng người từng người một rồi, kiểm tra xem họ có thực là nhất quy y không. Những đệ tử rác như đồng thủng thép cong không vượt qua được bài kiểm tra này thì không cần phải bận tâm. Người có tín tâm chân chính mới là đệ tử chân chính đó!"
Tôi cảm kích Thubten Dargye Thượng sư.
Sư phụ của tôi quả thực đã bận tâm suy nghĩ nhiều.
 
Sư phụ nói:
"Mật giáo quy y là nhất quy y, là niềm tin thanh tịnh. Ta mới nói vài câu đã khiến bọn họ thối lui rồi, những đệ tử "táo ủng" đó thì còn cần họ làm gì đây? Bọn họ mới chính là những kẻ ngốc."

Do vậy, sư phụ trách mắng tôi cũng là có cái lý khác của nó. 

Tôi bị Liễu Minh Hòa Thượng khiển trách rất nhiều!
Tôi bị Thubten Dargye Thượng sư khiển trách mọi lúc mọi nơi.
Tôi bị Sakya Chứng Không Thượng sư mắng tương đối ít.
Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16 thì lại không trách mắng bao giờ.
Phổ Phương Thượng sư thì có khiển trách chút chút.

Trên phương diện Hiển giáo, sư phụ quy y đầu tiên của tôi là Ấn Thuận đạo sư, tông trưởng của Tam Luận Tông, ngài đã viết một cuốn sách có tên "Tôi và Lư Thắng Ngạn", toàn bộ cuốn sách là khiển trách tôi.
 
Phản ứng của tôi là:
Sư phụ có thể khiển trách đệ tử.
Đệ tử không thể khiển trách sư phụ.
Tôi có lỗi, tôi sửa sai.
Tôi không có lỗi, tôi nhẫn nhịn.
Tôi mãi mãi cung kính Ấn Thuận đạo sư.

Quan điểm của tôi là: sư phụ có lòng chỉ trích tôi, đó là phúc phận của tôi, thể hiện trong lòng sư phụ còn có người đệ tử không đáng tôn trọng là tôi đây, bản thân còn có giá trị thì mới có thể bị khiển trách.

Nếu như Thượng sư hoàn toàn lờ bạn đi, cũng chẳng khen ngợi, cũng chẳng trách mắng, mặc kệ bạn sống hay chết, việc này mới là nguy hiểm. Sư phụ mà trách mắng là thể hiện còn có quan tâm.
 
Thử nghĩ về tổ sư Milarepa xem! Ngài Milarepa bị ngài Marpa đại sư chửi mắng rất vô lý, đau khổ vạn lần. Nhưng Milarepa vì muốn cầu pháp nên nhẫn nhục tất cả, tất cả mọi chửi mắng đều dằn xuống, như vậy mới có thể thành người có năng lực. (Ngọc không mài giũa không thành đồ vật quý.)
 
Đáng cười nhất là nhóm thanh niên "thảo mai" hiện đại ngày nay hoàn toàn không có khả năng nhẫn nhịn. 
Mắng họ một câu.
Họ liền thối lui đạo tâm.
Quay lại chửi sư phụ mười câu, còn thù hận sư phụ nữa! 
Tội nghiệp xiết bao!


### 10. Ôn thần có còn không?


Hỏi:
"Cách đây không lâu, Lư Sư Tôn nhìn thấy từ trên trời hạ giáng xuống ba vị ôn thần, điềm báo nhân loại sẽ gặp phải tai họa bệnh dịch, quả nhiên dịch H1N1 bùng phát. Thế nhưng giống như nước chảy qua cầu, tình hình nay đã đổi khác, những ôn thần này có còn tồn tại không?" [ND: Ôn thần: vị thần gieo rắc dịch bệnh, kẻ hung ác gieo tai họa cho người khác.]
 
Tôi trả lời:
"Tôi nhìn thấy trên trời có chòm sao hạ xuống. Việc chòm sao trên trời giáng xuống này đều sẽ xảy ra hiện tượng tốt hoặc xấu. Dựa theo sự vận hành của các chòm sao mà quyết định vận mệnh của mỗi người, của gia tộc, của quốc gia, của nhân loại thế giới. 

Trong Đại Tạng Kinh có "Túc mệnh trí đà la ni kinh", "Túc mệnh đà la ni Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát và chư tiên sở thuyết cát hung thời nhật thiện ác túc diệu kinh", "Túc diệu nghi quỹ", "Thất diệu nhương tai pháp", "Thất tinh như ý luận bí yếu kinh", "Thất diệu tinh thần biệt hành pháp". 
 
Tôi nói:
"Theo sự tuần hoàn của chòm sao và sự hạ giáng của ôn thần, tôi gọi họ là Hắc thiên sứ. Hắc thiên sứ này mà hạ giáng thì nhân loại chắc chắn sẽ gặp kiếp nạn. Điều này khiến chúng sinh trong tam giới đều phải lo lắng, bệnh dịch chẳng qua chỉ là một trong số đó mà thôi. Hắc thiên sứ có thể nắm trong tay cả tam giới."

Ví dụ:
Núi lửa phun trào.
Động đất lớn.
Sóng thần.
Cuồng phong.
Bệnh dịch.
Ngập lụt, hạn hán, bão tuyết…
(Ôn thần này chẳng qua chỉ là một trong số đó mà thôi.)

Hắc thiên sứ này hạ giáng, trói buộc toàn bộ nhân loại, đặc biệt càng tới giai đoạn cuối thì Hắc thiên sứ càng hạ giáng thường xuyên hơn. Đây đã không còn là vấn đề có hay không có nữa mà là nhân loại chắc chắn luôn luôn bị ghìm giữ, sẽ khiến nhân gian khổ không lời nào kể xiết.
 
Tôi về Đài Loan tổ chức "Khổng Tước Minh Vương hộ quốc đại Hộ Ma hỏa cúng", mục đích chính là đánh bật Hắc thiên sứ, giúp Đài Loan gió thuận mưa hòa, quốc thái dân an.

Đáng tiếc là:
Tín căn không có.
Tâm không gắn với Phật pháp.
Lòng người khiếm khuyết.
Không tinh tấn tu hành.
Không có sự đồng thuận đồng lòng.
Con người quá ngạo mạn.

Bởi vì các yếu tố này khiến cho hành giả có tấm lòng bi mẫn chúng sinh là tôi đây không ngớt thở dài tiếc nuối. 
(Chỉ còn đành)
Nắm tay.
Lắc đầu.
 
Đài Loan là quê hương của tôi, tôi trở về Đài Loan để đánh đuổi Hắc thiên sứ. Tôi có tinh thần vì nghĩa nên không hối tiếc, chỉ có điều do các yếu tố trên khiến cho tôi đau xót đến rơi nước mắt. Tôi nhận thấy Hắc thiên sứ của Đài Loan không chỉ là ôn thần vô hình, Hắc thiên sứ hữu hình và ôn thần cũng rất nhiều.
 
Khi ở nước ngoài, có người hỏi:
"Lư Sư Tôn, ngài có yêu Đài Loan không?"
Tôi đáp:
"Yêu."
Người đó hỏi ngược lại:
"Đài Loan có yêu ngài không?"
Tôi đáp:
"Tôi không quan tâm Đài Loan yêu hay không yêu tôi, tôi vẫn yêu Đài Loan."
Người đó lắc đầu bỏ đi.
 
Bây giờ cuối cùng tôi đã hiểu, tôi yêu Đài Loan nhưng cũng nhận thấy sự lạnh lùng của Đài Loan. (Một bộ phận nhỏ con người có thái độ như vậy.)
Cho dù đúng là tôi đem cái mặt nóng dán lên cái mông lạnh của Đài Loan, nhưng yêu là yêu, ai bảo tôi sinh ra trên mảnh đất đó, lớn lên trên mảnh đất đó, vì nghĩa tôi sẽ không quay lưng lại.
 
Con người này của tôi:
"Tâm không phụ người, mặt không thẹn sắc!"
"Tôi không chỉ yêu Đài Loan, tam thiên đại thiên thế giới tôi đều yêu."
"Lòng tôi chỉ nhớ Đài Loan, suy nghĩ đều hướng về phương Đông."
Tôi có "đại cứu nạn chú", tương lai Đài Loan có bất kì tai ương gì tôi sẽ lấy "đại cứu nạn chú" để dùng.


### 11. Nhân quả bất khả tư nghì


Hỏi:
"Ở Chân Phật Tông có một sư huynh làm nghề y nhiều năm, để lại cho người khác ấn tượng đây là người thực tu, kính sư, trọng pháp. Thế nhưng gần đây anh ta lại đổ bệnh không thể gượng dậy được, một vài người không thể hiểu được điều này là vì sao?"
 
Tôi đáp:
"Nhân quả bất khả tư nghì!"
 
Tôi nói:
Bản thân tôi cũng vô cùng lo lắng đối với vị sư huynh làm bác sĩ này, nên đã vì anh ta mà làm tất cả các việc sau.
Tôi gửi một tấm long bào để gia trì cho anh ta.
Tôi thỉnh một vị là Thất Địa Bồ Tát và một vị là Phật Sơn Trưởng Lão, ba người cùng tu pháp rồi hồi hướng cho anh ta. Chúng tôi tu pháp không chỉ một lần, tổng cộng tu ba đàn pháp để cố gắng cứu anh ta. 
Bản thân tôi cũng đích thân đi cầu Diêu Trì Kim Mẫu. 
Bản thân tôi cũng đích thân vội vã đến thăm anh trên giường bệnh, đích thân gia trì nước chú rẩy tịnh. Rồi tôi lại niệm chú trị bệnh tối thắng, dùng công pháp của bản thân truyền sang người của anh bác sĩ này. 

Tôi đến thăm và gia trì tổng cộng hai lần.

Vị sư huynh bác sĩ này sau mỗi lần được tôi gia trì đều có dấu hiệu tốt lên, nhưng sau đó không lâu lại trở về tình trạng như ban đầu, tốt lên một chút, lại xấu đi một chút. 

Tôi nói thẳng: Việc của sư huynh bác sĩ này khiến tôi không ngớt buồn phiền!
Tôi nói:
"Nhân quả quả nhiên bất khả tư nghì!" 
	  
Nhân sinh ra thế nào thì quả sẽ sinh ra như thế, có nhân tất sẽ có quả, có quả chắc chắn có nhân, đây là đạo lý của nhân quả.
Phật giáo thường giảng nhân quả ba đời, trong đó có tồn tại chân lý của thiện ác báo ứng.

Quán vô lượng thọ kinh viết:
Tin tưởng sâu sắc nhân quả, không phỉ báng đại thừa.
Chỉ quán viết:
Quả đến bởi nhân, được mùa bởi quả.
Thập trụ tỳ bà sa luận viết:
Biết được nguyên nhân, đắc được thành tựu. Quả từ nhân mà có, việc thành gọi là quả.

Thực tế nhân quả cũng hiển hiện rất rõ ràng:
Chỉ quán:
Tồn chư giáo tắc nhân quả lịch nhiên - giữ mọi lời dạy thì nhân quả tự nhiên mà đến.
Tông kính lục: 
Tất cả là một, đều là vô tính, một là tất cả, nhân quả hiển nhiên.
Tế duyên kí:
Tốt đẹp mà không thể làm, thực tế vẫn là bởi nhân quả. 

Tôi biết nhân quả không thể bù trừ cho nhau được, bất kể là nhân trước quả sau hay là quả trước nhân sau.

Ví dụ:
Chúng ta đầu tiên làm một vài việc ác, sau đó lại tu hành, đầu tiên sẽ phải chịu nhận một ít ác báo, sau đó lại có được thiện quả của việc tu hành.

Chúng ta đầu tiên tu hành, sau đó lại làm việc ác, đầu tiên sẽ được hưởng một vài thiện quả của việc tu hành, sau đó lại gặp quả báo của việc ác.
Không có chuyện chịu thay.
Không có chuyện thay thế.
Không có chuyện bù đắp.
Việc này gọi là "nhân quả lịch nhiên".
 
Đặc biệt chuyện nhân quả thì sâu rộng không thể đo lường, có ba kiếp, trăm kiếp, nghìn kiếp, kiếp kiếp, muốn nhìn thấu việc nhân quả không phải là một việc dễ dàng. Thậm chí có tiên nhân biết túc mệnh thông cũng chỉ là quan sát được một chút chút chứ không hề hiểu được toàn bộ tận cốt lõi, từ đó có thể thấy rõ ràng rằng nhân quả bất khả tư nghì.

Bản thân Phật Đà cũng có nhân quả bị đau đầu, xương mọc lồi ra. Gia tộc Thích Ca cũng bị nhân quả tuyệt tộc.
Tôn giả Mục Kiền Liên cũng có nhân quả bị ngoại đạo đánh cho thịt nát xương tan.
…
Riêng việc nhân quả lịch nhiên này, kể cả Phật Đà đã thành Phật vẫn không trốn thoát khỏi nhân quả.


### 12. Vì sao các Thượng sư đều có thể mặc long bào?


Hỏi: 
"Vì sao Lư  Sư Tôn tuyên bố các Thượng sư đều có thể mặc long bào?"
Đáp: 
"Phật tính bình đẳng, người người bình đẳng."
 
Hỏi: 
"Long bào tượng trưng cho cái gì?"
Đáp: 
"Trời." (Thiên long)
 
Hỏi: 
"Trời có thể mặc trên người sao?"
Đáp: 
"Kim cương Thượng sư có thể. Bởi vì Kim cương Thượng sư là đại diện cho Kim Cương Tát Đỏa, trên đỉnh đầu Kim cương Thượng sư có Ngũ Phật, đội mũ Ngũ Phật. Tay trái là chuông kim cương, tay phải là chày kim cương. Đây chính là biểu trưng của Kim Cương Tát Đỏa, là vị thầy quán đảnh truyền pháp của kim cương thừa."
 
Tôi lại nói:
"Trên đỉnh đầu có Ngũ Phật, ở giữa là Tỳ Lô Giá Na Phật, đông phương A Sơ Phật, tây phương A Di Đà Phật, bắc phương Bất Không Thành Tựu Phật, nam phương Bảo Sinh Phật. Ảnh hưởng của Ngũ Phật so với Thiên long thì lớn hơn cao hơn vô số lần, do vậy không thể so sánh, có thể có Ngũ Phật tại đỉnh đầu thì mặc long bào có là gì đâu?"
 
Hỏi:
"Ngày xưa thiên tử mặc long bào, ngày nay Kim cương Thượng sư cũng mặc long bào, lẽ nào thiên tử và Kim cương Thượng sư là ngang hàng nhau?"
Đáp:
"Ngày xưa thiên tử đại diện cho trời, ngày nay Kim cương Thượng sư đại diện cho Ngũ Phật và Kim Cương Tát Đỏa. Chính là Nhân Vương và Pháp Vương, hai người đều là vua. Nhân Vương là vua nhập thế, Pháp Vương là vua xuất thế. 

Tôi cho rằng vị trí của Pháp Vương vượt xa Nhân Vương, Nhân Vương chỉ ở nhân gian, còn Pháp Vương thì đi khắp tam giới, Pháp Vương chân chính đứng cao hơn Nhân Vương vô số lần. Do vậy ngày xưa có quan điểm Pháp Vương không đảnh lễ Nhân Vương, tỳ kheo không đảnh lễ Quốc Vương."
 
Hỏi:
"Lư Sư Tôn là Pháp Vương chân chính, đương nhiên có thể mặc long bào, nhưng Kim cương Thượng sư bình thường sao có thể cũng mặc long bào được?"
Đáp:
"Đã là một Kim cương Thượng sư, việc mặc long bào tôi vẫn cho rằng có thể được. Nhưng nhất định phải tương hợp giữa danh và thực. Nếu như anh chỉ là một Kim cương Thượng sư với cái tên được đúc ra, công lực tu hành vẫn nông, không tương ứng, không có chứng nghiệm, không giác ngộ, không kiến tính, anh mặc long bào chẳng qua chỉ là một diễn viên trên sân khấu thôi."
 
Hỏi:
"Ngài nói xem Thượng sư nếu (kém) như vậy thì vẫn có thể mặc long bào không?"
Đáp:
"Danh và thực nếu không tương hợp, mặc long bào trên đầu có Ngũ Phật, đương nhiên không đúng. Nhưng Lư Sư Tôn từ bi với chúng sinh, luôn luôn hy vọng Kim cương Thượng sư có thể tinh tấn tu hành, tu được chứng nghiệm chân thực, rồi sẽ có một ngày có thể  làm cho danh và thực tương ứng phù hợp."
 
Hỏi:
"Nếu mặc long bào thế, đứng bên ngoài nhìn vào một nhóm cả Lư Sư Tôn và Thượng sư, làm sao phân biệt được ai?"
Tôi nói:
Tôi và nhóm Thượng sư không phân biệt.
Ngay cả pháp hiệu cũng không phân biệt.
Quần áo mặc không phân biệt.
Phật tính Không phân biệt.
Chứng ngộ đến tối thượng cũng không phân biệt.
Tôi chính là bạn, tôi chính là anh ta.
Ngay cả tự viện của chính mình tôi cũng không có, tôi căn bản là chẳng có cái gì cả, chính là bởi vì cái gì cũng đều không có mới có thể quảng đại vô biên!
 
Viết một bài thơ vậy!
Bao nhiêu tuổi đời vẫn là ít.
Thân thể khỏe mạnh rồi cũng qua.
Đến được hôm nay còn chi đáng bận lòng.
Pháp Vương họ Lư này.
Tương lai có thể đổi danh hiệu gì nữa đây.
Hư danh là hạt cát.
Để trời cao cười nhạo chơi.


### 13. Vì sao Thượng sư có thể nhận đệ tử?


Hỏi:
"Vì sao Lư Sư Tôn phải tuyên bố Thượng sư của Chân Phật Tông đều có thể thu nhận đệ tử? Lư Sư Tôn vẫn còn sống đây mà?"
 
Tôi trả lời:
"Năm đó lúc ở Đài Loan, tôi sống tại tòa nhà Lạc Quần, có một nhóm người theo sát bất ngờ mời tôi ngồi vào ghế danh dự, rồi họ lập tức hướng về tôi đảnh lễ tam quỳ cửu khấu. [ND: Tam quỳ cửu khấu: ba lần quỳ, chín lần đảnh lễ.]

Tôi không kịp phản ứng, họ nói: đây là làm nghi thức bái sư phụ. Trong phút chốc, tôi đã trở thành sư phụ của họ. Lúc đó tôi mới ngoài ba mươi tuổi, trong chốc lát đã trở thành sư phụ rồi!
 
Tôi nói:
"Nhóm đệ tử đầu tiên muốn quy y tôi, tôi hoàn toàn không biết gì. Họ lén in chứng thư quy y, lén tập trung bàn luận chọn lấy một ngày đẩy tôi vào ghế ngồi danh dự, thế là tôi trở thành sư phụ, đây là việc không lường trước được."
 
Tôi cảm thấy:
Lúc đó bản thân tôi vẫn còn có sư phụ, sư phụ Hiển giáo, sư phụ Mật giáo.

Sư phụ Hiển giáo tôi quy y là:
Ấn Thuận đạo sư.
Lạc Quả pháp sư.
Đạo An pháp sư.

Sư phụ Mật giáo tôi quy y là:
Liễu Minh Hòa Thượng.
Sakya Chứng Không Thượng sư.
Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16. 
Thubten Dargye Thượng sư.
Và một số vị thầy khác nữa.

Những sư phụ này lúc đó vẫn còn tại nhân gian, nhưng tôi đã có đệ tử rồi.
 
Cũng giống như vậy:
"Lúc Lư Sư Tôn vẫn còn sống, nhóm Thượng sư của Chân Phật Tông chúng ta đương nhiên có thể thu nhận đệ tử."

Tôi lại nghĩ đến năm đó ngoài 30 tuổi nhận đệ tử, năm nay tôi đã 66 tuổi, tuổi tác đã già không còn ít nữa, để tiếp nối truyền thừa của Chân Phật Tông thì để cho các Thượng sư thu nhận đệ tử, có gì mà không được? Cũng không nhất định cần đợi đến sau khi tôi tịch diệt.
 
Còn nữa:
Giữa sư phụ, đệ tử và nhân duyên tích lũy nhiều kiếp có sự liên quan rất lớn. Nhân duyên giữa người và người, nhân duyên giữa người và gia tộc, trong thế giới tâm linh vô hình đều có định số rồi. Do vậy, giữa sư phụ và đệ tử có nhân duyên không thể tách rời, có người chắc chắn cần quy y bạn, cảm thấy vị sư phụ này mới là hợp duyên, trong đó tự nhiên đã có nhân quả.
Vì thế tôi mới tuyên bố, nhóm Thượng sư của Chân Phật Tông đều có thể nhận đệ tử.
 
Tôi nói:
Tôn kính đại truyền thừa Chân Phật Tông, thần thông có thừa tràn đầy khắp vũ trụ.
Phóng quang chiếu rọi khắp tam giới, hiện chứng liên tục khắp muôn nơi.
Đây là pháp hiệu của truyền thừa sẽ còn tiếp diễn.
 
Ví dụ:
Thứ nhất, mang pháp hiệu chữ "Liên" cả đời.
Thứ hai, mang pháp hiệu chữ "Cung" cả đời.
Thứ ba, mang pháp hiệu chữ "Kính" cả đời.
Tương tự như vậy…
 
Tôi cho rằng:
Người học Phật chúng ta mang danh chủng tử Phật, cần không ngừng nhân rộng lên tại nhân gian, đem chủng tử Phật gieo tới khắp ruộng vườn chúng sinh, từ đó nảy lên những cây mầm chính giác. Những chủng tử Phật này cũng là từ duyên phận mà sinh ra, cho phép những chúng sinh cõi trần có cơ duyên có thể giải thoát khỏi khổ luân hồi, tương lai bất sinh bất diệt, hoằng dương Chân Phật rộng khắp.
 
Có thể có duyên quy y Chân Phật đều là người có duyên từ kiếp trước, vốn đã có công đức rất lớn, tương lai đều có thể chứng minh "vô sinh pháp nhẫn", cứ như vậy mà tiếp tục, cứ như vậy mà không gián đoạn.
Đây là biểu hiện của pháp giới đó!
 
Tôi nói:
Nghe đạo có trước sau, sự nghiệp có chuyên môn. Mỗi một vị Thượng sư Chân Phật cũng là như vậy. Cảnh giới của chư Phật là bất khả tư nghì, đệ tử chẳng phải đệ tử, chính gọi là đệ tử. Mọi người có thể hiểu được không?


### 14. Ngày tận thế của trái đất


Hỏi:
"Năm trước có bộ phim bom tấn "2012" mô tả ngày tận thế của trái đất. Mọi người tin theo những lời đồn đại khiến trong lòng rất lo lắng. Tai nạn kiểu này có khả năng xảy ra không?"
 
Tôi trả lời:
"Có thể!"
 
Hỏi:
"Lư Sư Tôn đang dọa à?"
Tôi trả lời:
"Tôi không dọa. Dựa theo những lời dạy trong Phật điển, trái đất nhân gian này vốn là thành, trụ, hoại, không. Đến lúc phải hoại thì trái đất sẽ hoại thôi, nhân loại đương nhiên cũng kết thúc. Tam pháp ấn của Phật Đà là: chư hành vô thường (mọi việc là vô thường), chư pháp vô ngã (mọi pháp không có thực tính), niết bàn tịch tĩnh (niết bàn hoàn toàn an tịnh). Chư hành vô thường ở đây không chỉ ám chỉ con người, mà cũng ám chỉ cả thế gian, cả thế gian cũng là chư hành vô thường. Bởi vì là trạng thái vô thường, làm sao có thể không hoại?"
 
Tôi nói:
Trong Phật điển nói rõ ràng, có ghi chép rằng tam tai có thể xảy ra bởi kiếp nạn là:

Tiểu tam tai:
1.	Nạn chiến tranh.
2.	Nạn bệnh dịch.
3.	Nạn đói kém.

Đại tam tai:
Thứ nhất - hỏa hoạn: Bảy mặt trời đồng thời xuất hiện thiêu cháy trái đất này, thấp nhất từ địa ngục vô gián đến cao nhất là cõi trời sơ thiền Sắc giới. 
Thứ hai - lũ lụt: Thấp nhất từ địa ngục vô gián đến cao nhất là cõi trời nhị thiền Sắc giới, tất cả đều bị nhấn chìm.
Thứ ba - cuồng phong: Thấp nhất từ địa ngục vô gián đến cao nhất là cõi trời tam thiền, tất cả vật chất đều bị gió cuốn bay.
 
Câu Xá Luận viết:
"Đầu tiên hỏa hoạn bùng lên, liên tục trong bảy ngày, tiếp theo là lũ lụt, mưa lớn liên miên, sau cùng là gió lốc sẽ quật đổ mọi thứ. Ba tai họa này xảy ra sẽ phá hủy thế gian, thậm chí cả cát bụi nhỏ nhất cũng không còn tồn tại."
 
Kinh Phật nói:
"Trong một đại kiếp có bốn kiếp thành, trụ, hoại, không, điểm kết của kiếp hoại thì có một đại họa xảy ra trong một khoảng thời gian."
 
Nói tóm lại, tập hợp mọi điều nói trên, trái đất nhân gian chắc chắn có một ngày sẽ bị hủy diệt trong kiếp hoại. Ngày tận thế là có thật.
(Sách Khải Huyền của Cơ Đốc giáo "Tân ước toàn thư" cũng ghi chép về ngọn lửa địa ngục trong ngày tận thế.)
 

Lư Sư Tôn nói như sau:
Người tu hành chúng ta hiểu rất rõ ràng đạo lý mọi thứ đều vô thường, đời người cũng trong trạng thái thực sự vô thường, cuộc sống mỗi ngày mỗi ngày lại tiến dần về phía cái chết, sống thêm một ngày cuộc đời lại bớt đi một ngày, con người sống cơ bản chính là "chờ chết". (Trên thế gian không có con người bất tử.)
 
Người tu hành chúng ta hiểu rất rõ ràng đạo lý thành trụ hoại không. Thế gian này cũng là trạng thái phi thường, thế gian cũng sẽ tiến vào kiếp hoại, ngay cả đến trái đất cũng sẽ không còn tồn tại.

Tiếp đó, không chỉ là trái đất không tồn tại, đến ngay cả "chư Thiên" cũng đều sẽ hoại, thậm chí cả hệ mặt trời. Hiểu được đạo lý này, trong lòng lo sợ thì có tác dụng gì? Chi bằng cứ dựa vào "tâm bình thản" mà sống qua ngày!
Việc gì đến sẽ đến.
Việc gì không đến sẽ không đến.
Sống cũng không mừng, chết cũng không lo.
Tóm lại, Lư Sư Tôn tôi thực hành tốt công khóa tu hành mỗi ngày là tuyệt rồi. Khi cuộc đời của tôi kết thúc, nguyên thần của tôi (Phật tính) sẽ bay tới cõi tịnh độ Ma Ha Song Liên Trì.

Những thứ có được trên mặt đất đều thua những thứ trên trời. 
Những thứ dưới đất không có được thì bay lên trời là có.
(Những gì nên làm tại nhân gian, hành giả chúng ta hãy lấy tinh thần vô vi mà làm.)
 
Tôi nói cho mọi người hay:
Sống một ngày, vui một ngày.
Sống một ngày, biết ơn một ngày.
Sống một ngày, tu hành một ngày.


### 15. Khi tai nạn xảy đến nên làm gì?


Hỏi:
"Khi tai nạn xảy đến nên làm gì?"
 
Tôi trả lời:
"Đời này tôi thường nghĩ đến hai chữ vô thường. Hai chữ này có hai hàm nghĩa. 

Một là, cơ thể con người mỗi ngày đều biến đổi, không chỉ biến đổi mỗi ngày mà từng giờ từng phút từng giây đều biến đổi. Đây là hàm nghĩa thứ nhất của vô thường. 

Thứ hai, con người chúng ta bất kể là ở trong nhà hay đi ra ngoài đều sẽ phát sinh những việc ngoài ý muốn, những việc xảy ra ngoài ý muốn kiểu này có tính chất bất ngờ, khiến người ta trở tay không kịp. Đây là hàm nghĩa thứ hai của vô thường." 
 
Tôi nói:
"Khi tai nạn xảy đến nên làm gì? Tôi là một người hay nghĩ về vô thường, do vậy bình thường tôi đã làm tốt công việc chuẩn bị rồi. Công việc chuẩn bị này chính là tu được pháp vãng sinh tịnh độ, đây chính là bài thực hành mỗi ngày của tôi. Ban ngày cũng tu, ban đêm lên giường ngủ cũng tu. Miên quang pháp của tôi chính là pháp quang minh vãng sinh tịnh độ."
 
Tôi nói:
"Ví dụ tôi đi máy bay, sau khi lên máy bay, ngồi vào chỗ xong xuôi, thắt dây an toàn, tôi lập tức quán tưởng bổn tôn trụ tại đỉnh đầu, hoặc đi vào trong tim tôi, lúc này tôi sớm đã làm xong công việc chuẩn bị cho vô thường rồi. 

Trong trường hợp máy bay xảy ra sự cố, tôi hô "siêu" một tiếng là lập tức vãng sinh Phật quốc tịnh độ. Tai nạn không xảy ra là tốt nhất, một khi xảy ra, tôi liền theo bổn tôn tiếp dẫn mà đi đến Phật quốc. Thế nên bản thân tôi đối với ai nạn không thấy lo sợ chút nào. Không xảy ra cũng được, xảy ra cũng được."
 
Tôi nói:
"Từ ví dụ ở trên có thể thấy bất kì lúc nào tôi cũng đều làm tốt việc chuẩn bị vãng sinh. Sống chết đối với tôi mà nói không phải là việc đáng sợ, sống chẳng vui, chết chẳng lo. Tôi là một người tu hành, mỗi ngày làm tốt việc tu hành vãng sinh tịnh độ quang minh thế giới, đâu cần phải sợ tai nạn. Đặc biệt khi tôi là một hành giả đã giác ngộ thì sống hay chết từ lâu đã không để trong lòng rồi, vô sinh vô tử mà!"
 

Tôi từng thuyết pháp với mọi người như sau:
"Tôi chẳng có chút cảm giác nào đối với thuyết ngày tận thế năm 2012." 

Ý tôi là muốn nói rằng:
Ngày tận thế không tới, tôi có thể hoằng pháp nhiều hơn vài năm, coi như là độ chúng sinh vậy!
Ngày tận thế mà tới, tôi cười lớn ba tiếng ha ha ha rồi đi vãng sinh ở Phật quốc thanh tịnh!
Nếu như tai nạn xảy ra, chúng sinh bị hủy diệt, lúc này thì bình đẳng không phân biệt!

Vợ con tiền tài lợi lộc, bình đẳng bình đẳng!
Vinh hoa phú quý, bình đẳng bình đẳng!
Béo tròn hay gầy nhẳng, bình đẳng bình đẳng!
Quan lớn hay tiểu tốt, bình đẳng bình đẳng!
Con con cháu cháu, bình đẳng bình đẳng!
Đại danh hay vô danh, bình đẳng bình đẳng!
Lúc này mới đích thực là thiên hạ thái bình!
 
Ở núi Ngưu Đầu phủ Hưng Nguyên có Tinh thiền sư. [Núi Ngưu Đầu: một địa danh ở Đài Đông, Đài Loan.]
Tăng nhân hỏi:
"Thế nào là cổ Phật tâm?"
Tinh thiền sư đáp:
"Bong bóng nổi trên biển Đông." (Biến mất rồi!)

Hỏi: "Thế nào là lĩnh hội?"
Đáp: "Búa cân rơi xuống giếng." (Biến mất rồi!)

Hỏi: "Không phải phàm phu không phải thánh nhân thì là người gì?"
Đáp: "Phó đại sĩ của Lương triều."
Hỏi: "Lý do là gì?"
Đáp: "Mạnh Thường Quân của nước Sở."
Tôi nói:
"Phó đại sĩ, Mạnh Thường Quân, đều biến mất rồi!"


### 16. "Vô sinh pháp nhẫn" là gì?


Hỏi:
"Vô sinh pháp nhẫn là gì?"
Tôi trả lời:
"Vô sinh pháp nhẫn còn được gọi tắt là vô sinh nhẫn. Người vô sinh pháp tách xa ra khỏi thân thể vật lý chân như thực tướng của sinh và diệt. Trí tuệ đích thực nằm tại nguyên lý này không suy chuyển. Đây chính là vô sinh pháp nhẫn."
"Tại Bồ Tát Sơ Địa, Thất Địa, Bát Địa, Cửu Địa, mọi cảnh giới giác ngộ có thể đạt được."
 
Kinh Bảo Tích viết: 
Người vô sinh pháp nhẫn, tất cả mọi pháp vô sinh vô diệt đều chịu đựng được.

Kinh Duy Ma viết: 
Pháp nhẫn còn gọi là huệ tính, kiến pháp vô sinh, tâm trí tịch diệt, chịu đựng không thoái lui. Như vậy gọi là vô sinh pháp nhẫn.

Trí Độ Luận viết: 
Người vô sinh nhẫn, thậm chí pháp nhỏ nhất cũng không hề đắc, nói gì đến pháp lớn, gọi là vô sinh. Đạt được vô sinh pháp này, không tạo không gây nên nghiệp hạnh, gọi là đắc vô sinh pháp nhẫn, đắc vô sinh pháp nhẫn Bồ Tát, gọi là A Bính Bạt Trí (Hậu Bổ Phật). 

Đại Thừa Nghĩa Chương viết:
Gốc chẳng hề khởi, chính là vô sinh. Thể ngộ lý này, chính vô sinh nhẫn.

Kinh Nhân Vương viết:
Người mà không còn cần dùng lời nói, đó chính là chân lý, trí huệ chứng được chân lý này gọi là vô sinh nhẫn.

Kinh Lăng Nghiêm viết:
Hiểu được vô sinh pháp, ghi nhớ khắc sâu quyết định này, gọi là vô sinh pháp nhẫn.

Kinh Vô Lượng Thọ viết:
Có ba kiểu "nhẫn":
1.	Âm hưởng nhẫn: người ngộ ra chân lý từ âm hưởng.
2.	Nhu thuận nhẫn: người có huệ tâm mềm mại, tùy thuận theo chân lý.
3.	Vô sinh pháp nhẫn: người chứng thực được thực tính của vô sinh mà rời xa mọi tướng, là cái nhẫn mức độ cao nhất của ngộ đạo.
 
Để giải thích về vô sinh pháp nhẫn, Lư Sư Tôn đã liệt kê ra lời giảng từ bảy bộ kinh điển, bảy bộ kinh điển này là: Kinh Bảo Tích, Kinh Duy Ma, Trí Độ Luận, Đại Thừa Nghĩa Chương, Kinh Nhân Vương, Kinh Lăng Nghiêm, Kinh Vô Lượng Thọ.

Tôi thường nói:
"Trên trái đất thực sự không có một ai có thể làm hại Lư Sư Tôn!"
Có người hỏi:
"Vì sao vậy?"
Tôi đáp:
"Vì tôi chứng được vô sinh pháp nhẫn đó mà."
 
Tôi dùng lời nói để giải thích như sau:
Kể từ khi tôi tu đạo đến nay, mọi sự hủy báng của chúng sinh mà Lư Sư Tôn đã gánh chịu đều đến từ những bài báo tiêu cực trên trang tin tức, hoặc từ những bài viết gây tranh cãi. Những thứ dối trời lừa đất kéo đến, những lời dời núi lật biển xảy ra, cơn sóng này chưa dừng, cơn sóng khác đã tới, tôi vốn không có một ngày bình yên.

Nhưng Lư Sư Tôn ngồi thẳng trên hoa sen, không thấy không nghe, như như bất động, vì sao vẫn có thể "tự tại"?
 
Tôi đáp:
"Tôi chứng vô sinh."
 
Trên thế giới này, trước khi tôi sinh ra, không có Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Sau khi tôi chết, cũng không có Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. 
Tôi đang sống ở hiện tại này là chẳng sinh ra mà lại có, cơ bản chính là huyễn sinh huyễn diệt, nhất thời mà thôi. Người thế tục bám vào con người này của tôi cho rằng là thật. Nhưng tôi nhận thấy Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn của hiện tại là:
Trăng dưới nước.
Hoa trong gương.
 
Người thế tục ra sức nhục mạ trăng dưới nước, hoa trong gương. Trăng dưới nước chẳng thể bị hại, hoa trong gương cũng cũng chẳng hề hấn gì.
Tôi là vô sinh.
Tôi là vô ngã.

Bởi vì là vô sinh vô ngã, chúng sinh làm hại cách nào?

Đó là còn chưa nói đến trong vô sinh pháp, không có người hủy báng, không có người bị hủy báng, không có lời nói hủy báng.
Đây chính là vô sinh pháp nhẫn.


### 17. Đoán mệnh có cơ sở không?


Hỏi:
"Tì Lưu Niên, Thiết Bản Thần Số, Thôi Bối Đồ, Thiêu Bính Ca… Những cuốn sách tiên tri này có cơ sở không?"
 
Tôi trả lời:
"Có cơ sở. Hai cuốn đầu là dựa vào ngày sinh bát tự, năm, tháng, ngày, giờ, Thiết Bản Thần Số còn tính đến cả phút. Hai cuốn sau là những dự đoán nhận định về thế cục của Quốc sư Lưu Bá Ôn. Theo tôi biết thì có cơ sở, không phải lời nói hồ đồ."
 
Tôi trả lời:
"Tôi lấy Thiết Bản Thần Số của Thiệu Khang Tiết để giải thích nhé! Thiệu Tử dịch số là dựa trên sự phân loại của năm, tháng, ngày, giờ, phút sinh của mỗi người, cộng thêm số liệu để viết thành cuốn sách bộ số, sắp xếp thành các điều văn. Sau khi tìm ra được bộ số của bạn thì tra tiếp trong sách, vận mệnh cả đời của bạn đều nằm trong điều văn, từng việc đều rất chuẩn."
 
"Ví dụ cha bạn họ gì, mẹ bạn họ gì, anh chị em trai gái tổng cộng bao nhiêu người, mấy người còn sống, mấy người đã chết. Năm nào sẽ xảy ra chuyện gì, hoặc vào một năm đó sẽ gặp một người bạn mang họ tên gì lừa mất bao nhiêu tiền, cũng có thể đoán ra được từng việc một."
 
"Lấy trường hợp của Lư Sư Tôn, Thiệu Khang Tiết đã cho tôi suy được văn tự trên "mã vạch" của tôi, viết rằng "Chân Phật giáng thế, vạn người quy y". Lại còn có một "mã vạch" viết rằng: "Chung tất chứng đạo, thành tựu Phật quả". Đây chẳng phải là đúng như thần một cách phi thường sao?"
 
"Cá nhân tôi rất khâm phục những con người như Thiệu Khang Tiết, Viên Thiên Cương, Lưu Bá Ôn. Các vị đại sư thần toán từ thời cổ xưa này, từ vũ trụ đến con người đều nhìn rõ một cách vô cùng thấu triệt. Họ cũng đều là những người tu hành, người tu hành và thế giới tâm linh có mối liên hệ với nhau, tự có thông lực, có được thông lực rồi thì có thể bói toán được."
 
Tôi nói:
Dựa theo Tam Đình Tướng Pháp đơn giản mà nói thì:
Thượng đình - từ trán đến lông mày cho thấy vận mệnh từ lúc sinh ra đến lúc thanh niên.
Trung đình - từ lông mày đến mũi, cho thấy vận mệnh từ lúc thanh niên đến tráng niên.
Hạ đình - từ mũi đến cằm, cho thấy vận mệnh từ lúc tráng niên đến lão niên.
 
Tôi từ tướng mặt mà biết được là:
Lông mày - cung huynh đệ.
Mắt - cung trí huệ.
Mũi - cung tài bảo.
Đuôi mắt - cung phu thê.
Tai - cung thọ mệnh.
Cằm - cung nô bộc.
….
 
Tóm lại tất cả những điều này cũng có chút cơ sở.
Như tôi biết, quỷ có ngũ thông, tinh linh cũng có thông lực, kẻ có thông lực lớn thì thành thần, thông lực nhỏ thì thành ma quỷ. Thông linh thần toán và quỷ thần cùng giao tiếp trao đổi thông tin với nhau cũng có thể dự đoán được vận mệnh và tương lai.
"Bói đĩa."
"Thần bàn."
"Chim loan."
"Bấm tay xem bói."
…. 
(Đều thuộc vào dạng này.)
 
Theo Phật học mà nói, Phật Thích Ca Mâu Ni bài trừ chiêm tinh, bốc quẻ, đoán mệnh. Vì sao vậy?
Bởi vì đó chỉ là các phương tiện nhập thế, không phải là cứu cánh giúp xuất thế. Vận mệnh dù có tốt thế nào nhưng không tu học Phật pháp thì có ích lợi gì?

Người tu hành mỗi ngày xem bói thì cũng giống như không tập trung vào chính nghiệp, đã chệch khỏi con đường rồi.
Cho dù là có:
Thiên nhãn thông.
Thiên nhĩ thông.
Túc mệnh thông.
Tha tâm thông.
Thần túc thông.
(Cũng sẽ vô ích thôi)

Phật Thích Ca Mâu Ni cũng cho rằng nếu không phải thực sự là cứu cánh thì đối với việc chứng đạo cũng vô ích. 
Tu học Phật pháp cần tu cắt đứt phiền não, tự chủ sinh tử, minh tâm kiến tính, chứng vô thượng chính đẳng chính pháp, thành tựu Phật quả.
Thần thông cũng xem như là cửa hông mà thôi!


### 18. Đại đào hoa


Hỏi:
"Năm ngoái ở Mỹ, cái chết của Michael Jackson tương đối gây chấn động. Lư Sư Tôn từng đề cập đến việc một người có thể nhận được tình yêu và tôn trọng của vạn người là có nhân quả của nó. Nhưng vì sao một số người có tên tuổi lớn đều bất ngờ lụi bại vậy?"
 
Tôi trả lời:
"Người có thể nhận được tình yêu và tôn trọng của vạn người thực sự là phải có nhân quả, chúng ta gọi là "đại đào hoa". Phải có số mệnh đại đào hoa thì mới có thể có được tình yêu và tôn trọng của vạn người, đây là điều tất nhiên."
 
Tôi nói tiếp:
"Ví dụ, Michael Jackson là đại đào hoa, Marilyn Monroe là đại đào hoa, Elvis Presley là đại đào hoa, Lý Tiểu Long là đại đào hoa, Đặng Lệ Quân là đại đào hoa, Mai Diễm Phương là đại đào hoa,v.v."
 
Tôi nói tiếp:
"Trong Mật giáo, kiếp trước nếu tu hành bổn tôn Ái Nhiễm Minh Vương hoặc Kurukulle Phật Mẫu thì kiếp tương lai của người này đều có số mệnh đại đào hoa, bởi vì hai vị bổn tôn này đều là bổn tôn đại kính ái. Giống như Ái Nhiễm Minh Vương và Kurukulle Phật Mẫu, trong tay của người này đều có cung tên và mũi tên hoa đào, giống như vị thần tình yêu Cupid trong truyền thuyết của phương Tây vậy, chỉ cần bị mũi tên bắn trúng thì đều yêu lập tức không sao giải thích được. Ái Nhiễm Minh Vương và Kurukulle Phật Mẫu có vạn mũi tên cùng bắn, nhất định sẽ trở thành người đại đào hoa."
 
Hỏi:
"Vì sao lại đột ngột lụi bại vậy?"
Tôi đáp:
"Phúc phần hưởng hết rồi thì sẽ tuột dốc thôi."
 
Tôi nói:
"Người đại đào hoa có phúc phận lớn, nhưng dù có được vạn người yêu kính thì phúc phận của người đó cũng rất dễ dàng  bị hưởng hết. Có người đại đào hoa lại tiếp tục tu trì, hoặc lấy phúc phận này để tạo phúc cho số đông thì số đại đào hoa này sẽ còn tiếp tục, phúc phận lớn được hưởng bất tận."

Theo tôi được biết:
Hoạt Phật Cống Đường Thương đến nước Mỹ tham dự lễ nhậm chức của tổng thống Bill Clinton. Sau đó Hoạt Phật Cống Đường Thương đã đặc biệt đổi chuyến bay đến tận Seattle gặp tôi. Ngài nói với tôi:
"Tổng thống Bill Clinton là Phật sống Tây Tạng chuyển thế." (Là một vị Tulku tái sinh.)
"Có chắc là vậy không?"
"Lúc tổng thống Clinton tập trung vào chúng tôi, tôi liền nhận ra ông ta là Phật sống Tây Tạng."

Cống Đường Thương Hoạt Phật nói:
"Tổng thống Clinton là đại đào hoa, có thể nhận được sự ủng hộ của người dân nước Mỹ, chắc chắn ông ta đã làm nhiều việc từ thiện, việc từ thiện đã làm dư thừa quá nhiều nên phúc phận mới không thể dùng hết."

Cống Đường Thương Hoạt Phật nói:
"Lư Sư Tôn cũng là đại đào hoa. Tôi thấy ngài ngồi trong trung tâm của mặt trời, phúc báo của ngài cũng rất lớn. Tuy nhiên, ngài cần tiếp tục tu pháp, có như vậy phúc phận mới dùng không hết được."
 
Tôi biết:
Rất nhiều người tu hành sau này chuyển thế đến nhân gian đều làm vua hoặc tổng thống. 
Pháp Vương chuyển thế thành Nhân Vương.
Nhân Vương chuyển thế thành Pháp Vương.

Ví dụ:
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.
Xích Tùng Đức Chân Vương.
Vĩnh Lạc Hoàng Đế.
Tây Hạ Quốc Vương.
v.v. 

Họ làm vua một thời gian, kiếp sau lại biến thành Pháp Vương, Nhân Vương và Pháp Vương hoán đổi. Phật Thích Ca Mâu Ni và tám vị đại Vương Tử xuất gia vốn đều là vua, sau này đều trở thành Pháp Vương.
 
Để có được tình yêu của vạn người nhất định cần tu bổn tôn kính ái, tự nhiên sẽ được đại đào hoa. Nhưng người có được đại đào hoa lại phải tiếp tục tu hành, hành thiện bố thí, có như vậy mới được hưởng phúc phận bất tận, bằng không thì cũng dễ dàng lụi bại thôi!


### 19. Chỉnh hình có giúp thay đổi vận mệnh không?


Hỏi:
"Chỉnh hình (phẫu thuật thẩm mỹ) liệu có góp phần giúp cải thiện vận số không? Ngũ quan có thực sự cho biết vận mệnh về vợ con tài lộc của một người không?"
 
Tôi trả lời:
"Lư Sư Tôn từng nói, mỗi một con người đều cần chịu trách nhiệm về tướng mạo của bản thân. Ý tôi muốn nói rằng, hình tướng từ tâm mà sinh ra, đến khi tuổi già, tướng mạo của bạn càng cho thấy rõ cuộc đời này của bạn."
 
Tôi trả lời:
"Người tu hành có tướng của người tu hành, người thế tục có tướng của người thế tục, người phú quý có tướng của người phú quý, kẻ phàm phu có tướng của kẻ phàm phu, đàn ông có tướng của đàn ông, phụ nữ có tướng của phụ nữ, người trung hậu có tướng trung hậu, người gian dối có tướng gian dối…"
 
Tôi trả lời:
"Suy nghĩ tư tưởng của con người chúng ta luôn luôn thể hiện ra ở tướng mạo bên ngoài, là học giả, là nông dân, là công nhân, là thương nhân, là quý nhân hay là người bần tiện, người xem tướng có thể nhìn ra được."
 
Tôi trả lời:
"Người cao siêu hơn có thể xem khí, chỉ cần nhìn lướt qua thấy khí lực đó liền biết người này là loại người gì. Lư Sư Tôn tôi giỏi xem khí sắc, từ tướng mạo bên ngoài là có thể nhìn ra tâm của con người này, khí trên người của người trung thực và khí trên người của kẻ đầu trộm đuôi cướp không giống nhau."
 
Tôi trả lời:
"Mặc dù có ngoại lệ nhưng việc xảy ra tất có nguyên nhân, vẫn có những dấu vết nhỏ để tìm ra nguyên nhân của sự ngoại lệ."
 
Có một câu chuyện cười như thế này:
Một con ếch đực và một con ếch cái kết hôn, kết quả là sinh ra một con cóc. Hai bên tranh cãi nhau. 
Cuối cùng con ếch cái bẽn lẽn nói:
"Trước khi kết hôn đã từng đi chỉnh hình."
Ha ha ha!
 
Tại đây tôi nói thẳng với mọi người rằng:
"Chỉnh hình có lợi đối với tướng mạo bên ngoài, nhưng đối với nội tâm thì ảnh hưởng rất hạn chế."
Tôi nói:
Chỉnh hình có thể khiến bản thân người ta tăng thêm tự tin. Chỉnh hình bản thân đến khi thấy hài lòng thì tự mình cũng sẽ vui vẻ hơn. Đương nhiên, nếu thực sự là như vậy thì vận số cũng có thể thay đổi được.
Cá nhân tôi không phản đối chỉnh hình.
(Nhưng phải chú ý đến những hệ lụy sau khi chỉnh hình và kể cả chỉnh hình thất bại, những trường hợp này tương đối nhiều.)
 
Tôi nói:
Chỉnh hình không như chỉnh tâm (tu tâm).
Tướng mạo từ tâm mà sinh ra.

Tâm là cực kì quan trọng, tu hành Mật giáo chủ yếu là tu tâm (ý niệm và quán tưởng). Chúng ta luôn luôn quán tưởng tướng trang nghiêm của bổn tôn, mỗi ngày một lâu hơn, sẽ tới llúc tướng trang nghiêm của bổn tôn sẽ xuất hiện trên khuôn mặt của bạn.
Như vậy, diện mạo bên ngoài và nội tâm mới có thể hợp nhất.
 
Tôi từng nói:
Lông mày - cung huynh đệ.
Tai - cung thọ mệnh.
Mắt - cung trí huệ.
Đuôi mắt - cung phu thê.
Dưới mắt - cung điền trạch.
Cằm - cung nô bộc.
Mũi - cung tiền tài.

Những bộ phận này chỉnh hình xong thực tế cũng có bổ trợ gia tăng phúc phận được phần nào.
 
Tôi có một đệ tử là bác sĩ Trịnh Sâm Long, ông là bác sĩ ngoại khoa chỉnh hình. Ông nói muốn giúp tôi chỉnh hình cho hai tai kéo dài xuống vai, mắt như biển xanh, mũi to trang nghiêm, cằm tròn đầy, mặt mày hiền hậu, cả khuôn mặt tỏa Phật quang chiếu soi con người, chỉnh hình thành Phật sống A Di Đà. 
Tôi nghe thấy rất vui. Nhưng tôi không làm chỉnh hình.
Bởi vì tôi cho rằng chỉnh hình không bằng chỉnh tâm, tâm như Di Đà thì tướng sẽ biến thành Di Đà.


### 20. Đệ tử đồng tính


Hỏi: 
"Trong lúc khai thị, Lư Sư Tôn từng nhắc đến người đồng tính rằng nếu như đó là đệ tử của ngài thì ngài cũng có cái nhìn bình đẳng, từ ái hoan nghênh, vì sao vậy?"
 
Tôi trả lời:
"Lư Sư Tôn là hành giả tu trì tâm bình đẳng, nhìn chúng sinh trong thiên hạ với tâm bình đẳng, sẽ không có khác biệt."
 
Tôi nói:
Thiên bình đẳng, xưa nay luôn vậy.
Địa bình đẳng, xưa nay vẫn thế.
Nhật nguyệt bình đẳng, xưa nay bốn mùa thường phân rõ.
Niết bàn bình đẳng, xưa nay thánh phàm chẳng tách đôi.
Nhân tâm bình đẳng, xưa nay cao thấp không bình phẩm.
Người bình đẳng, xưa nay độ hóa đều như nhau.
 
Chúng ta xem kinh Phật nói như thế này:
Kệ A Di Đà Phật:
Hư không chi thân vô cực thể, độ hóa chúng sinh bình đẳng lực. [ND: thân từ hư không hiện ra vô số, độ hóa chúng sinh bình đẳng như nhau.]
 
Bình Đẳng Tâm:
Chứng minh mọi pháp bình đẳng, từ tất cả chúng sinh bình đẳng không phân biệt, không khởi lên đánh giá dựa trên khác biệt thân sơ, ban trải tình thương bình đẳng.
 
Kinh Pháp Hoa:
Tự chứng vô thượng đạo, đại thừa bình đẳng pháp. [ND: tự chứng ngộ được đạo tối cao, đó là Đại thừa - pháp bình đẳng.]
 
Vãng Sinh Luận:
Bình đẳng là thể tướng của mọi pháp.
 
Kinh Nhân Vương:
Thực trí bình đẳng, mãi mãi cắt đứt những chướng ngại mê lầm.
 
Chỉ Quán:
Từ không nhập giả, gọi là bình đẳng quán.

Vãng Sinh Luận:
Bình đẳng pháp thân, từ Bát Địa trở lên, cũng chính là pháp tính pháp thân Bồ Tát. Hành giả tịch diệt bình đẳng, nhờ pháp thân Bồ Tát đó mà thực sự chứng được pháp bình đẳng tịch diệt. Nhờ chứng đắc được pháp tịch diệt bình đẳng này mà đắc được pháp thân bình đẳng.
 
Tâm Địa Quán Kinh:
Bình đẳng tính trí, chuyển đổi kiến thức có từ trước thành loại trí huệ này, là có thể chứng được ta và người bình đẳng. Do tính vô ngã nên được gọi là bình đẳng tính trí. 
 
Kinh Pháp Hoa:
Bình đẳng có hai ý, một là pháp bình đẳng, cũng là đạo lý trung tâm. Hai là chúng sinh bình đẳng, có nghĩa là tất cả chúng sinh đều có thể đạt được trí huệ Phật như nhau.
 
Tôi nói:
"Tất cả chúng sinh bình đẳng. Tôi đứng trên lập trường tất cả chúng sinh đều có Phật tính để giảng giải. Tôi thấy chúng sinh đều là Phật, tương lai tất cả đều thành Phật như nhau, không ai không thành Phật. Câu nói này bao gồm chúng sinh khắp thập phương pháp giới, bởi vậy trong tâm bình đẳng của tôi trước nay đều không phân biệt và tách biệt."
 
Lập trường như vậy nghĩa là:
Người đồng tính cũng là người, người dị tính cũng là người.  Trên quan điểm Phật giáo mà nói, người đồng tính cũng có thể thành Phật! Mọi pháp bình đẳng, người người bình đẳng, chỉ cần là người, là chúng sinh thì đều có thể học Phật.
 
Trong mắt tôi:
Người đồng tính, bình đẳng bình đẳng.
Gái điếm, bình đẳng bình đẳng.
Lưu manh, bình đẳng bình đẳng.
Tội phạm, bình đẳng bình đẳng.
Ăn mày, bình đẳng bình đẳng.
Người khuyết tật, bình đẳng bình đẳng.
Người bệnh, bình đẳng bình đẳng.
Người mắc bệnh AIDS, bình đẳng bình đẳng.
Tội phạm tử tù, bình đẳng bình đẳng.
Đệ tử phản bội, bình đẳng bình đẳng.
Nam nữ, bình đẳng bình đẳng.
 
Cách nhìn này của tôi, người thế tục chưa chắc có thể hiểu được, một số người hoàn toàn không có cách nào để hiểu được. Tôi là một người ôm cả bầu trời mà khóc, có người nào có thể hiểu được tấm lòng của Lư Sư Tôn?
 
Tôi đối với giới Phật và giới chúng sinh đều bình đẳng tất cả, việc này không thể nói hết. Hơn nữa, hành giả thanh tịnh và dâm nữ là bình đẳng tất cả, việc này cũng không thể nói hết. Nhưng, tôi hiểu rõ bình đẳng tất cả. Tôi là người giác ngộ, (nên) tôi biết.
Các thánh đệ tử, có biết hay không?


### 21. Yêu đương lăng nhăng phải làm sao?


Hỏi:
"Ngày nay quan niệm về tình yêu đã thoáng hơn khiến cho rất nhiều người dễ dàng thay đổi tình cảm. Việc này nên làm thế nào?" 
 
Tôi trả lời:
Có câu chuyện cười thế này:
"Sâu răng.
Củ cải thối rữa.
Có thai.
Ba việc này có liên hệ gì với nhau?"
Rất nhiều người nghĩ cả nửa ngày trời mà không nghĩ ra. Đáp án cuối cùng là, tất cả đều là do "trùng" tác quái.
 
Sự sinh sôi đông đúc của loài người là do ái dục mà ra. Hơn nữa, chủng tử của ái dục là "trùng". Cha là tinh tử, mẹ là noãn tử, hai con "trùng" này cùng nhau kết hợp lại mới có động vật và loài người. Không chỉ là động vật, đến cả thực vật cũng giống như vậy. 

Nam và nữ vì sao lại có ái dục? Nguyên nhân rất đơn giản, con người từ "trùng" mà sinh ra, đó là chủng tử của ái dục, con người có ái dục là việc vô cùng bình thường. Loại ái dục này là việc không thể ngăn được, là trời sinh ra tự nhiên như thế, là sinh ra đã có rồi, tôi gọi nó là "câu sinh dục".

Trong Kinh Thánh của đạo Cơ Đốc có một đoạn như sau:
Một đôi nam nữ đang "ân ái" thì bị bắt gặp. Họ bị buộc tội sẽ bị đám đông ném đá cho tới chết. 
Chúa Jesus xuất hiện và nói:
"Mời những ai tự nhận là mình chưa từng có tội lỗi nào, trong tâm cũng chưa từng có tội lỗi, thì hẵng lấy đá ném hai người họ."
Kết quả là đám đông từ từ tản ra.
Đôi nam nữ đó được Chúa Jesus cứu thoát!

Câu chuyện này nói lên điều gì? Nó nói lên rằng có rất nhiều  việc, mọi người đều lén lút thực hiện trong "bóng tối", chỉ có thể làm mà không thể nói.
Thế giới này, không chỉ thời bây giờ mà trên dưới xưa nay, việc quan hệ lăng nhăng đâu đâu cũng có, chỉ là ngày nay truyền thông phổ biến rộng khắp. Những người nổi tiếng thường bị tố ra công chúng, tạo thành hiện tượng quan hệ lăng nhăng bị công khai, giống như khắp nơi đều yêu đương lăng nhăng.

"Việc kiểu này phải làm sao?" - Tôi từng hỏi một vị trưởng lão, trưởng lão đáp:
"Khắc chế!"
 
Trong giới luật của Phật giáo có năm giới: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngữ, không uống rượu. Tà dâm được xếp ở vị trí thứ ba, là giới trọng.
(Tuy nhiên bên cạnh đó), cá nhân tôi cũng cảm thấy rất nhiều người lạm dụng thái quá, luôn đem bốn thứ luân lý, đạo đức, giới luật, pháp luật để chụp mũ áp đặt lên đầu nam nam nữ nữ. Có một số người sẽ tuân thủ, nhưng vẫn rất nhiều người nằm ngoài quỹ đạo này.
 
Phật giáo Mật tông có "Vô thượng mật du già tục" để hướng dẫn người tu hành cao cấp, là pháp tu song thân.
Có người tán đồng.
Có người phản đối.
 
Theo tôi được biết, trong "Vô thượng mật du già tục" là tu khí, thông mạch, minh điểm lên xuống, cuối cùng là tu hành đại lạc, quang minh, tính Không, đạt đến điểm cuối cùng là Phật tính.
Hiển giáo là pháp chặn lại. (tắc nghẽn)
Mật giáo là pháp dẫn đường. (mở đường)
Ái dục giống như dòng nước lũ tràn trề, bạn cần dùng pháp "tắc nghẽn" sao? Hay là dùng pháp "mở đường" đây?
 
Có người cho rằng "Vô thượng mật du già tục" là tiếp nối của "trường phái tính lực" của Ấn Độ, là tà pháp, là pháp dâm loạn, là tà giáo.
Nhưng:
Kinh Viên Giác viết: "Dâm, nộ, si, đều là Phật pháp!"
Kinh Duy Ma viết: "Dâm, nộ, si, đều là Phật pháp!"
Việc này phải nói thế nào?
 
Xã hội hiện đại khắp nơi đều có quan hệ lăng nhăng, giống như cát trôi trên sông, dựa vào nhân tính để khắc chế ái dục thì thực sự là rất khó!
Dùng pháp song thân của Mật giáo, pháp tu hành ở cấp độ cao thâm này cũng không hề dễ thực hiện, nếu không nói thậm chí còn khó hơn!
Thánh đệ tử, thử nói phải làm sao đây?

-----------------
Ghi chú: ý của Tôn Sư khi đối diện với việc hay thay đổi tình cảm của nhân gian: việc này là không tốt, nhưng xã hội và con người là vậy, rốt cuộc cũng không thể tránh khỏi, đừng kì vọng người khác luôn phải tốt 100% theo ý của riêng mình, đừng quá căng thẳng hay chấp nhặt chi cho mệt đầu.
Ngoài ra cũng đừng vội vàng đánh giá, chụp mũ người khác dựa trên sự chấp thủ về đạo đức thông thường hoặc những gì mình chưa biết. Hãy mở tâm của mình ra. Tất cả đều là huyễn, đều là Phật pháp.


### 22. Bệnh không tên của phụ nữ


Hỏi:
"Lư Sư Tôn từng nói đến việc một số phụ nữ có "bệnh không tên" là do họ từng phá thai, trường hợp này có phải là vì phụ nữ phải gánh chịu nhân quả của việc đó không?"
 
Tôi trả lời:
Con người hiện đại nói nam nữ bình đẳng hoặc nữ nam bình đẳng, trên thực tế, nam nữ có một chút khác biệt.

Số lẻ trong Kinh Dịch, một, ba, năm, bảy, chín thuộc về dương.
Số chẵn trong Kinh Dịch, hai, bốn, sáu, tám, mười thuộc về âm.
(Nam nữ có khác biệt.)
 
Trong Bát Quái:
Trong âm có dương.
Trong dương có âm.
Âm cực thịnh thì sinh ra dương.
Dương cực thịnh thì sinh ra âm.

Những hiện tượng này đều luân chuyển tương hỗ với nhau, cũng chính là cùng biến đổi, cũng giống như Khổng Tử nói về "biến động bất cư, chu lưu lục hư". [ND: Biến động bất cư, chu lưu lục hư: "đạo" biến hóa không ngừng, không ở cùng một chỗ mà chuyển dịch khắp sáu cõi, chan hòa khắp chốn, trên dưới vô thường, mọi vật theo biến hóa đó mà thay đổi.]
 
Ở đây nam nữ có khác biệt:
"Người nữ cứ 27 ngày kinh nguyệt lại đến, nữ đến 14 tuổi, mỗi tháng đều có kinh nguyệt.
Người nam 28 tuổi vẫn còn là thiếu niên, nam đến 16 tuổi là thời kì sinh lý."
(Nam nữ có khác biệt.)
 
Tôi viết những điều này chủ yếu để cho thấy rằng nam nữ có khác biệt, cơ thể có khác biệt, tướng mạo có khác biệt, đến cả phương diện chức năng cũng có khác biệt, phương diện thể lực cũng có khác biệt.
 
Tiếp đến là phương diện nhân quả cũng có một chút khác biệt. Đương nhiên cũng có ngoại lệ.

Trong âm có dương. Dương nhiều thì biến thành nam tính.
Trong dương có âm. Âm nhiều thì biến thành nữ tính.
Thậm chí người có cả âm dương, nửa nam nửa nữ.
Phụ nữ mang thai, đàn ông không mang thai, nhân quả khác biệt chính là ở điểm này. Ở phương diện này trách nhiệm của phụ nữ quả thực tương đối nặng, và nhân quả của việc phá thai phụ nữ phải chịu cũng nặng.
 
Tôi là một người tu hành, giữ giới không sát sinh. Khi tinh tử và noãn tử kết hợp, một phần nguyên khí từ đỉnh đầu đi vào bên trong bào thai, hoặc từ rốn đi xuống vào trong bào thai, hoặc từ miệng đi vào đến bên trong bào thai. Đây chính là khởi đầu của sinh mệnh.
Nếu như phụ nữ phá thai thì việc này chính là giết hại tinh tử, noãn tử, nguyên khí, cũng không khác gì giết một sinh mệnh, giết Phật tính. 
Cá nhân tôi cực lực phản đối phá thai. Bởi vì cái thai đó chính là một sinh mệnh.
 
Có người nói:
"Nếu như bị cưỡng bức mà có thai, hoặc trong lúc ngớ ngớ ngẩn ngẩn mà có thai, hoặc người đàn ông vô trách nhiệm mà khiến có thai, hoặc gặp phải "yêu râu xanh" khiến cho có thai, thai nhi này phải làm sao? Không thể phá thai sao?"
Tôi đáp:
"Có thể tha thứ được, nhưng vẫn là sát sinh."
 
Lại hỏi:
"Thai nhi có vấn đề, nếu sinh ra sẽ bị ngu đần, hoặc bị mắc bệnh Down, hoặc bị tàn tật, hoặc thiểu năng, hoặc mắc bệnh hiểm nghèo, hoặc mềm xương, lẽ nào cũng phải để cho chúng sinh ra?"
Tôi trả lời:
"Trong Bát Quái, (mệnh vận) chúng ta đều nằm trong quẻ sáu hào. Không có quẻ bảy hào, quẻ tám hào. Nhưng trong Kinh Dịch, quẻ bảy hào chính là quẻ du hồn, quẻ tám hào là quẻ quy quỷ. Trên nguyên tắc thì quẻ quy quỷ chính là quay trở về trạng thái ban đầu (hoàn nguyên), cũng chính là thai chết. Nếu như là thai chết thì có thể phá thai. Nếu không phải là thai chết mà là quẻ du hồn thì vẫn có sinh mệnh trong đó, cũng vẫn bị xem là sát sinh."
 
Tôi nói:
Đứa bé sinh ra không kiện toàn, đứa bé sẽ chịu khổ, người thân trong gia đình cũng chịu khổ, nhưng đây vẫn chính là nghiệp.
Phá thai cũng là nghiệp.
Vậy thì cần so sánh nghiệp lớn nghiệp nhỏ!
Thánh đệ tử, nghĩ thế nào?


### 23. Sau khi phá thai phải làm sao?


Hỏi:
"Rất nhiều cô gái có thai đã đi phá thai, bây giờ vô cùng hối hận, họ nên làm gì?"
 
Tôi trả lời:
Phá thai chính là sát sinh. Sát sinh là tội phạm giới nặng nhất, ví dụ như giết cha, giết mẹ, giết A La Hán, giết Thánh Hiền Tăng, giết Phật. Những việc này đều không có cách nào cứu thoát khỏi trọng tội. (Tội này đọa vào địa ngục vô gián.)
 
Bạn làm sao biết cái thai mà bạn cần sinh ra liệu tương lai là một vị Phật Như Lai, tương lai là một vị A La Hán, là Thánh Hiền Tăng? Bạn làm sao biết cái thai đến để được sinh ra là cha mẹ kiếp trước của bạn, hoặc có thể là kiếp này? Chính vì lẽ này mà việc phá thai là một trọng tội. 
Tôi chủ trương chỉ cần là sinh mệnh thì không được giết. Đây là bồ đề tâm đại từ bi của Phật.
Không chỉ không sát sinh.
Còn cần phải phóng sinh.
 
Trí Độ Luận: "Nếu đúng là chúng sinh, biết rõ là chúng sinh, phát tâm sát sinh đoạt mệnh, (tiếp đó) khởi thân đi thực hiện hành động sát sinh, (cuối cùng) giết mất chúng sinh đó, chính là tội sát sinh."

Tỳ kheo cụ túc giới:
Giết người được xem là đại sát sinh giới. (Bao gồm cả việc giết thai nhi.) Giết súc sinh được xem là tiểu sát sinh giới.
Việc trước là một trong bốn tội ba-la-di. [ND: Ba-la-di: tiếng Phạn là Pārājika, là phân loại tội ác nặng nhất.]
Việc sau là một trong chín mươi tội bị đọa địa ngục.
 
Còn nữa:
Người tự sát là tội cực kì nghiêm trọng. Người tự làm mình bị thương cũng là tội nhưng nhẹ hơn.
(Trong Phật giáo ngay cả tự sát cũng không thể được.)
 
Phụ nữ thời xưa hoặc thời hiện đại, lén ăn "trái cấm" mà có thai, vướng rất nhiều lý do nên không thể sinh con được, vì vậy đi phá thai. Họ liền phạm vào tội sát sinh. Lúc hối hận rồi, phải làm sao?

Tôi nói:
Cách duy nhất là siêu độ cho linh hồn của hài nhi đến Phật quốc tịnh độ. Nếu như linh hồn của hài nhi có thể đến được tịnh độ Phật quốc thì thiếu nữ này mới bắt đầu có thể hết nghiệp tội được.
 
Ai có thể siêu độ được thai nhi vãng sinh tịnh độ Phật quốc?
Cao tăng có thể làm được. Ngoài ra, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn cũng là một vị trong số đó.
 
Theo tôi biết:
Có một phụ nữ bị bệnh nặng. Buổi tối ngủ mơ liền trông thấy sáu, bảy hài đồng đi vòng xung quanh bên trái bên phải giường bệnh và hát.
Hát rằng: "Trả mạng cho con!"
Người phụ nữ bị bệnh nặng này đã phá thai sáu, bảy lần, biết là phạm nghiệp tội, cầu tôi lập đàn thành siêu độ. Sau khi siêu độ, hiện tượng này liền biến mất, hơn nữa bệnh cũng khỏi luôn.
(Đây là siêu độ thủy tử linh.)


Ở Cầu Vồng Lôi Tạng Tự tại Seattle nước Mỹ, tôi lập ra "Thủy tử linh sơn trang" làm nơi ở cho các linh hồn thai nhi bị chết do phá thai, cũng giống như cúng thai linh. Vào thời gian cố định sẽ tụng kinh, làm lễ sám hối, niệm Phật, siêu độ, cúng dường, hỏa cúng,… giúp cho thai linh cũng có thể có nơi an thân lập vị, cuối cùng sẽ là siêu độ thủy tử linh vãng sinh Phật quốc tịnh độ.
Người phá thai vì sao lại không thờ cúng?
Âm dương đều có lợi.
(Tùy ý cúng dường.)
 
Tôi viết bài thơ, ghi lại như sau:
Thái Hồng sơn trang thâm thâm viện. 
Thủy tử niệm Phật.
Nghiệp tựu thiển. 
Siêu độ hỏa cúng bất đẳng nhàn. 
Khinh lung thông lục. 
Oanh thanh điểu ngữ. 
Bồ Tát phóng quang từ bi mẫn. 
Bàng phất kiến. 
Đồng tử hợp chưởng thiên thượng hiển.
 
Dịch thơ:
Cầu Vồng sơn trang viện thâm nghiêm.
Thủy tử niệm Phật.
Nghiệp nhẹ tan.
Hỏa cúng siêu độ mấy khi nhàn.
Cỏ non xanh mướt.
Tiếng hót chim oanh.
Bồ Tát phóng quang lòng thương xót.
Dường như thấy.
Đồng tử chắp tay lạy thần tiên.


### 24. Liên quan đến thú cưng


Hỏi:
"Một người tu hành có thể nuôi thú cưng không? Làm sao để giúp chúng nó? Trong Bồ Tát Giới nói rằng không được nuôi thú cưng, nguyên nhân của việc này là gì?"
 
Tôi trả lời:
Lúc tôi khoảng ngoài hai mươi tuổi đã thọ Bồ Tát Giới tại chùa Bích Sơn Nham tại huyện Nam Đầu, lúc đó trụ trì của chùa Bích Sơn Nham là Như Phật Thiền Sư.
Ba vị sư phụ chủ trì thọ Bồ Tát Giới là: pháp sư Hiền Đốn, pháp sư Huệ Tam, pháp sư Giác Quang.
Khi Pháp sư giảng về giới nói với chúng tôi rằng không thể nuôi những con vật thuộc họ mèo, ấn tượng của tôi lúc đó có vẻ như chính là ta không thể nuôi thú thuộc họ mèo, còn vì sao lại như vậy? Tôi cũng không nhớ được vì sao.
Lư Sư Tôn cả đời này chưa từng nuôi vật nuôi trong nhà.

Thủa nhỏ nuôi lợn nuôi gà, việc này không tính, đó là vì giúp đỡ gia đình, cũng không thể coi là vật nuôi trong nhà.
Đối với việc con người hiện đại nuôi thú cưng tôi thấy hoàn toàn không có gì đáng phải lên án. Nuôi một con chó để trông nhà, nuôi một con mèo để bắt chuột, thực sự việc này có thể hiểu được. Tuy nhiên, bạn không cảm thấy sao? Nuôi chó nuôi mèo là cần tiêu tốn rất nhiều tinh thần vào đó. Đồ ăn, quần áo, chỗ ở, đi lại, tắm rửa, dọn phân, v.v… thời gian phải tiêu tốn thực sự khiến người ta kinh ngạc.
 
Con người hiện đại nuôi thú cưng, phạm vi của thú cưng cũng vô hạn, theo tôi được biết:
Cá.
Chim.
Rùa.
Rắn.
Cá sấu.
Vân vân và vân vân…
 
Có một nghệ nhân thích nuôi khỉ, lúc ông ta mua con khỉ thứ hai, không ngờ con khỉ thứ nhất cắn cho ông ta một phát vào mũi, đây là vì con khỉ thứ nhất cảm thấy ghen.

Còn nữa, cá voi ăn thịt người ở công viên hải dương Mỹ đã sống cùng với người nuôi dưỡng nó hơn mười năm. Hai bên tiếp xúc rất hòa hợp, thế nhưng con cá voi ăn thịt người bản tính hung dữ lúc phát cuồng lên đã giết chết người chăm nuôi nó.

Còn nữa, ở Las Vegas trước đây có những buổi trình diễn hổ trắng nổi tiếng thế giới. Hổ cùng với người biểu diễn vô số năm. Không ngờ hổ trắng đã bùng phát thú tính, cắn xé làm người cùng biểu diễn trên sân khấu chết đi sống lại. Những buổi diễn của hổ trắng cũng từ đó mà kết thúc.
 
Lúc tôi tu hành, ngay từ sớm đã nói với mọi người dưới đàn thành rằng Liễu Minh Hòa Thượng đã nói:
Đừng để người sắp sinh hoặc có tang đến gần (đàn thành). Phụ nữ muốn sinh con, người đang để tang không đến gần.
Không cho gà, chó đến gần.
Không để người tạp nham đến gần.
(Việc này là để giữ sự trang nghiêm thanh tịnh của đàn thành.)
 
Nếu trong nhà bạn có nuôi thú cưng, thì đàn thành của người tu hành vốn cần phải giữ gìn thanh tịnh, sẽ có khó khăn đó.
Động vật vẫn là động vật, mùi hôi tanh của động vật nặng hơn so với mùi của con người, thậm chí có thường xuyên tắm rửa và giữ cho sạch sẽ thì vẫn có mùi hôi tanh.
Cháu của tôi nuôi rắn làm vật nuôi trong nhà. Tôi đi vào nhà cậu ta, mùi tanh của rắn xộc thẳng lên mũi. Trong nhà nếu có sắp đặt đàn thành, Phật Bồ Tát liệu có giáng xuống không?

Tôi còn cảm thấy cuộc đời con người thời gian tu hành rất ngắn, cuộc sống của con người hiện đại bận rộn, lại thêm việc chăm sóc vật nuôi thì còn có thời gian tu pháp không?
Muốn giúp đỡ thú cưng, tôi cho rằng trả lại về nơi ở ban đầu của nó là tốt nhất. Tất cả động vật đều có gốc gác mà nó đến từ đó.
Tinh tinh trở về rừng.
Khỉ trở về rừng.
Trăn trở về rừng.
Rùa biển trở về biển.
Cá sấu trở về đầm lầy.
Chó nhà mèo nhà thì tặng cho người thế tục nuôi dưỡng, người tu hành vẫn nên không nuôi mới là tốt.
Mọi thứ, trả về tự nhiên.


### 25. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ khả năng có bao nhiêu vị Minh phi?


Hỏi:
"Liên Hoa Sinh Đại Sĩ khả năng có bao nhiêu vị Minh phi?
Minh phi cần có điều kiện gì?"

[ND: Minh phi: vị phối ngẫu nữ trong pháp tu song thân tối thượng và bí mật của Mật giáo, sẽ giúp cho hành giả tháo các nút thắt kinh mạch, biến thân thô lậu thành thân Phật quả ngay tại kiếp sống này. Pháp tu cực kì khó, chỉ cần 1 chút ô nhiễm - bất tịnh trong tâm khi thực hành là hành giả siêu cao cấp cũng xuống địa ngục ngay.]
 
Tôi trả lời:
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ có cực kì nhiều vị Minh phi, nhiều đến mức không sao đếm hết được. Ở trong các chùa thường thờ cúng hai vị được biết đến nhiều nhất là công chúa Mandarava và công chúa Yeshe Tsogyal, hai vị này thì mọi người đều biết.

Người tu Mật biết rằng Liên Sư có năm vị Minh phi đại thành tựu, họ là:
Yeshe Tsogyal.
Shakya Devi.
Mandarava.
Kala Siddhi.
Tashi.
Trong kinh điển còn liệt kê ra 15 vị Minh phi đại thành tựu giả, như vậy tăng thêm thành 20 vị Minh phi.

Còn đối với các Minh phi sống tại nhiều nơi khác nhau thì không thể đếm được, không thể tính được. Mỗi người họ đều có thế mạnh riêng, có chuyên môn riêng, đều có được cảnh giới chứng ngộ thâm hậu. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ và thành tựu của các vị Minh phi thực sự là không thể nghĩ bàn.
 
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ khả năng có bao nhiêu Minh phi?
Chúng ta đều biết rằng Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là người sáng lập Mật giáo, Liên Sư đã thành tựu Phật, là Phật Heruka, là vị hộ pháp tối thắng, là người chủ của đại lạc, của quang minh, của Phật tính, ngài thị hiện hóa thân cầu vồng, nhậm vận và tự tại.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ ở nhân gian thọ mệnh tự tại, sống hơn 800 tuổi, ngài là cầu vồng bất tử, sau khi thị hiện ở nhân gian lại đến nước La Sát độ hóa chúng sinh.
 
Do vậy Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói:
"Ta chưa bao giờ rời xa những người có tín tâm, chưa từng bao giờ rời xa đệ tử của ta, chỉ cần kính sư, trọng pháp, thực tu, ta chắc chắn hiện thân trước mặt người đó."
Đại thành tựu giả Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đương nhiên có thể có rất nhiều Minh phi.
Hơn nữa, ngoài việc Liên Hoa Sinh Đại Sĩ độ hóa các vị Minh phi ra, ngài cũng độ hóa 25 vị vương thần ở Tây Tạng, họ đều là những đệ tử thành tựu.
 
Kì thực nói về pháp tu hành pháp song thân, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ có thể nhờ vào pháp tu này làm cho thân thể xương thịt thô tục hóa thành cầu vồng thanh tịnh, chứng nghiệm Phật tính, tức thân thành Phật.
Pháp song thân chứng đắc:
Đại lạc.
Tịnh quang.
Tính Không.
Tức thân thành Phật.
 
Tiếp theo, điều kiện của Minh phi là gì?
Nói chung các vị Minh phi đều có lai lịch đặc biệt. Lấy công chúa Yeshe Tsogyal làm ví dụ:
Vào thời đại Phật Thích Ca Mâu Ni ngài là: Nữ thần sông Hằng.
Ở trên thiên giới ngài là: Diệu Âm Thiên Nữ.
Có một kiếp ngài là: Thường Đề Bồ Tát.
Ngài là Kim Cương Du Già Thánh Mẫu, là Tì Câu Trí Độ Mẫu.
Tóm lại, các vị Minh phi đều có lai lịch đặc biệt.
 
Minh phi có ít nhất ba điều kiện:
1.	Có lai lịch đặc biệt.
2.	Đã hiểu rõ những tinh túy của pháp song thân.
3.	Hiểu rõ tính Không.

Khi một vị Minh phi xuất hiện, trên người của ngài chắc chắn có dấu ấn, có chỉ thị của Kim Cương Hộ Pháp. Ngài đã tu luyện đến mức độ tương ứng được với bổn tôn, ngoài ra còn có chứng ngộ ngang bằng với phối ngẫu, cả hai đều hiểu rõ tính Không.
 
Ngoài tu hành pháp song thân ra:
Đến không mong cầu.
Đi không lưu luyến.
Trên thực tế, thế gian ngày nay rất ít người tu hành cao cấp có thể tu pháp song thân. Và Minh phi cũng hiếm giống như vậy.


### 26. Dâm nộ si đều là phạm hạnh?


Gần đây trong chương trình Viên giác kinh có đoạn nội dung như sau: "Mọi giới định huệ và dâm nộ si đều là phạm hạnh."
Có người hỏi:
"Trong lúc Lư Sư Tôn khai thị cũng nói đến dâm nộ si đều là phạm hạnh, điều này khiến người ta kinh ngạc, vì sao vậy?"
 
Tôi trả lời:
Ngày xưa đệ tử của tôi, tiến sĩ Trương Trừng Cơ, đã viết một cuốn sách tiêu đề "Cái gì là Phật pháp?"
Lý Bỉnh Nam (Tuyết Lư Lão Nhân) ở trước mặt tôi nghiêm khắc nói: "Tôi muốn hỏi ngược lại Trương Trừng Cơ, Phật pháp là cái gì?"
Lúc đó tôi cũng ngẩn người ra.
 
Tôi nghĩ:
"Việc này có gì sai? Đâu cần phải tức giận?"
Sau này tôi kiến được đạo, tu được đạo, chứng được đạo, kiến đạo rồi mới bắt đầu tu. Cuối cùng tôi đã hiểu ra:
"Cái gì cũng đều là Phật pháp!" Do vậy, dâm, nộ, si và giới, định, huệ đều là Phật pháp.
 
Tôi từng nói:
Dâm --- pháp Song thân.
Nộ --- pháp Kim cương. (hộ pháp)
Si --- pháp Tài thần.

Ba thứ này đều là phương tiện tu hành thiện xảo, vốn dĩ bất kì một pháp nào cũng đều là phương tiện thiện xảo, bao gồm ăn, mặc, sống, làm, dâm, nộ, si, v.v.
 
Tôi lấy việc "dâm" làm ví dụ, người thế gian chưa bao giờ nghĩ đến là ngay cả chuyện nam nữ giao hợp cũng là Phật pháp.
Người tu hành cao cấp, từ việc nam nữ giao hợp có thể tu chứng đắc được vô lậu pháp, chuyết hỏa pháp, minh điểm pháp,…
 
Tôi nói:
Vô lậu pháp --- giới. (đại lạc)
Chuyết hỏa pháp --- định. (quang minh)
Minh điểm pháp --- huệ. (Phật tính)
 
Lư Sư Tôn nói như vậy, hành giả ngộ tính cao lập tức có thể lĩnh hội được, nhưng hành giả ngộ tính thấp thì có nghĩ tới nghĩ lui cũng không nghĩ thông được, vì sao lại như vậy?
Cần biết rằng chuyện nam nữ giao hợp là việc bình thường của con người thế tục nói chung. Nhưng bạn thử nghĩ xem có đúng là có thể "tinh thần thống nhất" không? 

Có đúng là có thể giữ tinh dịch không cho xuất ra ngoài không? 
Có đúng là có thể tu luyện "khí công" không? 
Có đúng là có thể thông "trung mạch" không? 
Có đúng là có thể cả hai cùng đi vào "thiền định" không? 
Có đúng là có thể nâng "chuyết hỏa" lên không? 
Có đúng là có thể làm Phật tính hiển lộ ra không?
 
Tôi viết nhiều "có đúng là" như vậy, kì thực đáp án chính là "đúng vậy", chính là như vậy.
Tôi cũng tin rằng, ngay cả dù chỉ xét đến phạm vi thế tục "ẩm thực nam nữ", thì vào thời điểm giao hợp, hai người họ cũng sẽ thể hội được tầm quan trọng của "tinh thần thống nhất" (chuyên nhất). [ND: Ẩm thực nam nữ: trích dẫn câu nói của Khổng Tử: "ẩm thực nam nữ, nhân chi đại dục tồn yên", có nghĩa việc ăn, uống và tình cảm nam nữ là những ham muốn lớn để sinh tồn của loài người. ]
 
Chính bởi vì như vậy, do việc "tinh thần thống nhất" có thể giúp đi vào thiền định, hai bên nam nữ sẽ đều có thể nhờ thiền định dung hòa mà đạt đến cảnh giới "nhất" và "không".
"Mật giáo vô thượng du già mật tục", tu khí, tu mạch, tu minh điểm, không ngờ có thể khiến cho nhục thể vật chất chuyển hóa, biến thành Phật tính thanh tịnh, đây làm một việc khó tưởng tượng làm sao. Chứng đắc đại lạc, chứng đắc quang minh, chứng đắc tính Không, chứng đắc Phật tính đại viên mãn cũng không phải là chuyện không thể.
Do vậy "dâm" chính là Phật pháp.
 
Lúc đầu Lư Sư Tôn nghĩ sẽ viết một cuốn tư liệu đơn giản về "Mật giáo vô thượng du già mật tục", giúp cho toàn bộ con người trên thế giới hiểu thật rõ ràng. Sau này tôi viết rồi lại xé bỏ, xé rồi lại viết, lặp lại như vậy nhiều lần, cuối cùng quyết định không thể viết ra.
 
Hóa ra pháp du già (yoga) vô thượng này là bí mật, bí mật, bí mật, bí mật, bí mật. Chỉ có người tu hành cao cấp nhất mới có thể tu chứng, người bình thường mà tu theo thì sẽ xuống địa ngục ngay, không thể tu được! Sự khó khăn trong việc này có thể thấy rất rõ. Không thể nói cho rõ ràng, do vậy tốt hơn là không thể nói, không thể nói.
 
Hơn nữa, thế gian có một số người tham đắm dục lạc, nếu tìm đến phụ nữ mượn danh nghĩa là tu pháp song thân, cứ lạm dụng như vậy thì tội của tôi lại càng lớn rồi!


### 27. Cảm xúc gửi tình vào mưa


Hỏi:
"Cuốn sách Viết cho mưa đã cho thấy những tình cảm mà Sư Tôn gửi vào trong mưa khiến người ta thực sự bất ngờ. Dưới cái nhìn xuyên thấu biểu hiện bên ngoài của những thay đổi lớn trong ngài, không ngờ ngài có tình cảm nhiệt huyết tinh tế và tế nhị đến như vậy. Đây là sức mạnh gì?"
 
Tôi trả lời:
Đại sứ Trung Hoa Dân Quốc tại Seattle, ông Liệu Đông Châu, sau khi đọc xong cuốn sách Viết cho mưa đã có lời khen ngợi. 

Đại sứ Liệu nói:
"Không ngờ chỉ một chữ mưa lại có thể viết ra một cuốn sách chứa đầy triết học nhân sinh như vậy."
Đại sứ Liệu nói:
"Văn chương tràn đầy tình cảm lưu giữ tâm độc giả ở lại, tạo nên sự cộng hưởng khiến người ta không ngừng rung động."
Đại sứ Liệu nói:
"Cả cuốn sách dùng đối tượng là mưa để nói về tất cả mọi thứ, tuy vậy vẫn có thể khiến độc giả hiểu một cách sâu sắc về cuộc sống, cuốn sách này thực sự quá xuất sắc, khiến người ta kính phục."
(Trên đây là những suy nghĩ cảm xúc của đại sứ Liệu.)
 
Nói thật lòng Lư Sư Tôn tôi là con người ở giữa tính và tình. Tôi yêu chúng sinh, người thân, bạn học, bạn bè, đệ tử, các chúng sinh hữu tình, tôi yêu họ làm sao. Mặc dù tu hành khiến tôi nhìn thấu mọi sự thay đổi lớn, cũng tương đối hiểu được sự nóng lạnh của tình người, nhưng lão Bồ Tát tu hành là tôi đây từ đầu tới cuối, lòng nhiệt tình vẫn tràn đầy trong tim tôi.
 
Tôi có trái tim của một cậu bé.
Chỉ có thương.
Chỉ có yêu.
Chỉ có cho.
Chỉ có tặng.
(Từ bi hỷ xả thôi!)

Tấm lòng của tôi có ai có thể hiểu? Tôi có nhiều tình cảm như vậy, tuyệt đối không phải là kiểu người vô tình vô nghĩa, bất kì ai tôi cũng đều rất yêu thương!
Tôi nhớ lúc tôi còn trẻ đã viết rất nhiều văn chương lãng mạn. Ví dụ như: "Tuyển tập khói mỏng", "Thì thầm trong vườn mộng", "Lá bay trong gió",… Những lời văn đầy cảm xúc!
Như mộng như huyễn.
Như lời nói mê trong mơ.
Đó là nỗi đau của chàng Werther.

[ND: Nỗi đau của chàng Werther: tên tiểu thuyết lãng mạn nổi tiếng của văn hào Đức W.von Goethe, ra đời năm 1774. Trong đó có chàng Werther trẻ tuổi mang tình cảm sâu sắc thuần hậu với nàng Lohtéa, người phụ nữ đã có chồng. Chìm đắm trong sự tuyệt vọng vì không thể với tới nàng, chàng đã sớm tự kết thúc đời mình bằng cái chết bi thảm và tuyệt vọng.]
 
Bây giờ:
Tôi đã là một ông già hơn 60 tuổi rồi. Lúc viết cuốn sách Viết cho mưa, tôi đã biến mình trở lại thành bản thân lúc thanh niên, lấy mưa làm đối tượng để tôi tâm sự. Tôi đem mạng lưới tình cảm hóa thành hàng nghìn hàng vạn sợi dây phủ đầy khắp núi sông đại địa vậy thôi!

Tim tôi có tình cảm.
Tim tôi có tình yêu.
Cứ đan xen như vậy.
 
Mưa là âm thanh của trời, rơi vào nước, ở trong gió, vỗ trên lá cây, rơi xuống mặt đất, rơi trên núi, rơi xuống suối, và còn rơi trên tâm khảm của tôi. 
Mưa biến hóa trong mênh mông của hư không, bạn không cảm thấy là mưa khiến cho người ta phải thốt lên những lời cảm thán thướt tha sao?
Sự biến hóa lòng vòng của mưa, khúc ca quanh co của mưa, sự mơn man của mưa, sự vô hạn của mưa, sự hào phóng của mưa, sự thanh tịnh của mưa, sự vô vi của mưa…
Bạn nghĩ sao?
 
Viết một bài thơ về mưa vậy!
Mưa vẫn luôn nhíu mày.
Giọt giọt hóa thành yêu thương ở nhân gian.
Tiếng trời tự nhiên vô vi ấy.
Cứ vậy tùy duyên mà đến thôi.
 
Một giọt trong suốt.
Một giọt thanh tịnh.
Vạn đóa hoa tươi rơi cõi trần.


### 28. Phật pháp chuyển hóa sự si tình


Hỏi:
"Trong cuốn sách Tư tưởng triết học của Lư Thắng Ngạn có thể thấy được Sư Tôn đã từng yêu rất sâu sắc cuộc đời này. Tình yêu si tình này chắc chắn làm đau lòng người. Hoàn cảnh không có lối thoát như vậy, Phật pháp có thể chuyển hóa hoặc vượt lên được không?"
 
Tôi trả lời:
Bởi vì chúng ta đã đến với chốn nhân gian nên thật khó tránh khỏi quãng thời gian sóng gió của thanh xuân.
Trần Truyền Phương đã nói rất hay:
1 tuổi --- khởi đầu một chương.
10 tuổi --- học tập khẩn trương.
20 tuổi --- tuổi trẻ đau thương.
30 tuổi --- sự nghiệp tìm đường.
40 tuổi --- bắt đầu phát tướng.
50 tuổi --- tuy già vẫn gượng.
60 tuổi --- huyết áp bất thường.
70 tuổi --- trí nhớ ẩm ương.
80 tuổi --- run rẩy chuyện thường.
90 tuổi --- mất dần phương hướng.
100 tuổi --- ảnh treo trên tường.
 
Con người chúng ta vào khoảng năm 20 tuổi sẽ trở thành một thành viên của "hội yêu đương". Lư Sư Tôn tôi đương nhiên cũng trải qua những năm tháng yêu đương, thậm chí còn yêu sớm, thậm chí còn yêu lâu, thậm chí còn có tình yêu suốt bao nhiêu năm trời, quả thực đúng là: "Tình tự giá điều lộ". [ND: Tình tự giá điều lộ: Con đường của chữ tình - tên một bài hát được nhiều người biết ở Đài Loan.]
 
Tôi đã từng: mỉm cười, nhìn đắm đuối, nắm chặt tay, ôm, hôn…
Cái "dâm" của thiên nhân trong kinh Phật cũng đã viết rất rõ ràng rành mạch: thích vẻ ngoài cũng coi là dâm, thích nụ cười cũng coi là dâm, thích ôm ấp cũng coi là dâm, thích giao hợp cũng coi là dâm.
 
Lư Sư Tôn thực sự đã từng rất si tình.
Tôi đã từng viết những giai điệu lãng mạn chứa hàng vạn sợi tình thơ, tôi đắm mình trong cảm xúc duyên dáng đẹp đẽ lúc cùng khiêu vũ.
Yêu rồi mới biết tình thâm.
Say rồi mới biết rượu nồng.
Tình là thâm, ý là nồng, ly là khổ, tưởng là không.
 
Trong những năm tháng đã qua đó tôi đều có lúc chạy trốn khỏi si mê, có những tình huống si mê, có lời thì thầm si mê, có những lo lắng si mê, có những tư tưởng si mê…

Nam và nữ.
Bụi và đất.
Mây và trăng.
Đã để lại bao nhiêu hoài niệm, có nên ca ngợi không? Hay là nên để cho quên đi? Đến cả tôi cũng không biết.

Trong công án thiền có một chuyện như sau:
Sư phụ hỏi thiền sư Văn Ích:
"Thượng tọa bình thường nói "tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức", rồi chỉ vào hòn đá ở trong sân nói: Vậy thì đạo của hòn đá này, là ở bên trong tâm? Hay là ở ngoài tâm?"
Thiền sư Văn Ích nói:
"Ở trong tâm."
Sư phụ nói:
 "Tăng nhân đi bộ rốt cuộc là vì cái gì, đặt một hòn đá trong đầu sao?"
Thiền sư Văn Ích khi đó không hiểu, bối rối không biết nghĩ sao cho đúng.
 
Nhân đây tôi cũng hỏi:
Hai chữ "si tình" này.
Là ở trong tâm, hay là ở ngoài tâm?

Tôi tin rằng các thánh đệ tử của tôi bây giờ đều có thể trả lời được, nếu như trả lời được, lại có thể tu hành thì "si tình" rồi cũng sẽ được Phật pháp chuyển hóa.
Lại còn thấy được:
"Trời cũng Không, đất cũng Không, nhân sinh chỉ bé xiu xíu trong trời đất. Ngày cũng Không, tháng cũng Không, đông mọc tây lặn là "ai" làm? Vàng cũng Không, bạc cũng Không, con đường đến suối vàng cũng chẳng gặp!"
Hỏi "si tình" vì điều gì đây?


### 29. Nỗi đau khi người thân qua đời


Hỏi:
"Làm sao để vượt qua nỗi đau khi người thân qua đời?"
 
Tôi trả lời:
Ngày xưa lúc Phật Đà trụ thế, có một phụ nữ trong lòng rất đau khổ thương tâm, ôm trên tay đứa con đã chết tìm đến chỗ ngụ của Phật Đà. Bà khóc lóc thảm thương cầu xin Phật Thích Ca Mâu Ni dùng sức mạnh thần thông mạnh nhất làm cho đứa con đã chết của mình có thể sống lại.
 
Phật Đà nói với người phụ nữ rằng trước hết bà có thể đi đến từng gia đình, đi hỏi thử xem trong nhà họ có người thân đã chết hay không? Nếu có một gia đình chưa từng có người thân nào đã chết thì bà lại quay lại đây, ta sẽ dùng sức mạnh thần thông để cứu con bà sống lại.
 
Người phụ nữ nghe xong bèn đi đến từng hộ gia đình, hỏi xem họ có người thân qua đời hay không? 
Cuối cùng, người phụ nữ đã phải thất vọng. Bởi vì mỗi hộ gia đình đều có người thân đã qua đời.
(Câu chuyện nhỏ này cho chúng ta thấy gia đình nào cũng đều có người thân qua đời.)
 
Qua đời là chuyện bình thường.
Không có người qua đời mới là chuyện không bình thường.
Phật nói: "Có sinh tất có tử."
Tử là một trong bốn thứ:
Sinh hữu --- lúc vừa sinh ra gọi là sinh hữu.
Bản hữu --- cuộc sống giữa sống và chết là bản hữu.
Trung hữu --- tồn tại của linh hồn thân trung ấm là trung hữu.
Tử hữu --- lúc vừa chết, vẫn còn chưa tái sinh, là tử hữu.

Lúc mẹ của Lư Sư Tôn, bà Lư Ngọc Nữ qua đời, tôi đã nếm trải qua nỗi đau của việc người thân qua đời.
Tôi cũng từng khóc.

Điều tôi hối tiếc là:
Mẹ tôi chưa được thấy cháu trai Phật Kỳ lấy vợ, chưa được thấy cháu gái Phật Thanh xuất giá, chưa được thấy chắt Lư Hồng, Lư Quân ra đời.
Nhưng tôi đồng thời hiểu được: 
Việc này cũng là việc bình thường.
 
Con người là động vật có tình cảm, người thân qua đời sẽ thường đau khổ, việc này khó tránh khỏi. Nhưng thời gian từ từ rồi sẽ phai mờ đi.

Người học Phật so với người thế tục bình thường lại càng nên xem nhẹ chuyện sinh ly tử biệt, vì cái chết là không thể tránh khỏi!
Phật pháp có pháp siêu độ, siêu độ cho người vãng sinh.
Phật pháp có chú vãng sinh, đọc chú cho người vãng sinh.
 
Phật pháp có thể kiểm tra các hiện tượng sau:
1.	Người làm việc thiện thì lúc chết, đầu tiên là lạnh từ chân đến rốn, phía trên rốn vẫn ấm, sau đó khí hết, sinh trong cõi người.
2.	Người làm việc thiện, nếu đỉnh đầu vẫn ấm, đến khi khí cạn, sinh ở cõi thiên.
3.	Nếu lạnh từ đỉnh đầu đến rốn, chỉ còn dưới vùng eo vẫn ấm, sau khi khí cạn, thì sinh vào cõi ngạ quỷ.
4.	Nếu lạnh từ đỉnh đầu đến đầu gối, chỉ còn dưới đầu gối vẫn ấm, thì sinh vào cõi súc sinh.
5.	Nếu lạnh từ đỉnh đầu đến chân, chỉ còn bàn chân vẫn ấm, thì sinh vào cõi địa ngục.
6.	Nếu là thánh nhân La Hán muốn nhập niết bàn, hoặc tim hoặc đỉnh đầu vài ngày vẫn còn ấm.
 
Tôi cảm thấy để vượt qua được nỗi đau thương cần phải hiểu rõ chết là việc tự nhiên, không thể tránh khỏi. Còn nữa, cái chết của con người không phải là chết thật, sau khi chết lại sinh ra, sau khi sinh ra lại chết, cứ như vậy luân hồi không dừng dứt.
Người giác ngộ lại càng biết rằng: "Vô sinh vô tử!"
 
Tăng nhân hỏi thiền sư Phật Nham Huy:
"Có người năm đó có bệnh, lại trúng độc, mời thầy thuốc."
Thiền sư Phật Nham Huy đáp: "Hai thang một bát." (trả lời khéo)
Tăng hỏi: "Phật đi lên như thế nào?"
Thiền sư Phật Nham Huy đáp: "Như vỏ ốc xoắn."
Tăng hỏi: "Phật đi xuống như thế nào?"
Thiền sư Phật Nham Huy đáp: "Ngồi hoa sen."
Tôi nói: 
"Hiểu rõ sinh tử, tất cả vô sự!"


### 30. Nhân viên hoằng pháp phá giới


Hỏi:
"Pháp hội được chủ trì bởi một nhân viên hoằng pháp phá giới, người đến tham gia pháp hội đó nếu cầu xin liệu có được như ý nguyện không? Hay lại càng thảm hại hơn?"
 
Tôi trả lời:
Người tu hành chúng ta nhất định cần hết sức cẩn thận giữ gìn giới luật của Phật Đà. Giới là để đề phòng điều sai quấy, dừng chỉ mọi điều ác. Mỗi một hành giả có thể dừng ác làm thiện thì tất sẽ có lương tâm trong sáng, lòng không tức giận, có được thanh lương.

Giới luật sẽ sinh ra một dạng "sức mạnh". 
Giới luật trang nghiêm, lấy đức làm hương. Chư Phật, Bồ Tát, Kim Cương, Hộ Pháp, Chư Thiên, Không Hành, đều sẽ đến để hộ trì người tu hành. Ngược lại nếu không giữ giới luật sẽ không thể có sự hộ trì.
 
Người thế tục cần giữ năm giới, làm mười điều thiện.
Tỳ kheo cần giữ 250 giới.
Tỳ kheo ni cần giữ 348 giới.
Sa di cần giữ 10 giới.
Muốn làm Bồ Tát cần giữ Bồ Tát giới.
Mật giáo cần giữ Mật tông giới.
Giới Luật Tạng là giải thích kinh điển về giới luật, là một trong Tam Tạng, vô cùng quan trọng. Giữ giới luật là việc như pháp. Không giữ giới luật là việc bất như pháp.
"Kinh Phạm Võng" và "Kinh Ưu Bà Tắc" cũng là kinh điển giảng về giới luật.
 
Tôi nhận thấy như sau:
Người tu hành không giữ giới luật, phạm giới hoặc phá giới, phải nhanh chóng sám hối, sám hối trước Phật Bồ Tát, sám hối trước cao tăng, hoặc sám hối trước Căn Bản Thượng sư, hoặc sám hối trước trưởng lão, tu pháp sám hối, cho đến khi tướng sám hối xuất hiện.
 
Hành giả Mật giáo phạm giới phải xin quán đảnh lại từ đầu, tu sám hối hoàn tịnh. Nếu như nhân viên hoằng pháp vi phạm giới luật, bản thân không sám hối, cũng không hoàn tịnh, sẽ bị chư Thánh từ bỏ.
 
Nhân viên hoằng pháp phá giới, nếu như anh ta chủ trì pháp hội, chư Phật, Bồ Tát, Kim Cương, Hộ Pháp, Không Hành, Chư Thiên sẽ không hạ giáng hộ trì, sẽ không phóng quang gia trì, đối với người tham gia pháp hội đương nhiên không có ích lợi gì.
 
Nếu như người tham gia nhận quán đảnh của người hoằng pháp phá giới thì nước quán đảnh đó:
Không khác gì nước lã.
Không phải là nước pháp.
Không phải nước bổn tôn.
Không phải nước cam lộ.

Giống như bạn đi tham dự lễ hội té nước mà thôi, giống như bị nước hắt vào người, vô ích nhưng cũng vô hại. 
(Trừ phi người hoằng pháp phá giới dẫn dắt tà thần đến quán đảnh thì mới có chuyện càng quán đảnh càng thảm hại.)

Đi tham gia pháp hội của người hoằng pháp phá giới sẽ không có Phật quang chiếu tới, không có Bồ Tát giáng xuống, không có Bồ Tát gia trì cho đồng môn tham dự.

Như vậy thì cũng giống như đi xem một vở diễn kịch mà thôi, xem xong rồi thì vô ích và cũng vô hại.
(Trừ phi người hoằng pháp phá giới dẫn dắt tà thần đến phóng tà quang thì mới có chuyện tà quang chiếu tới, ai nấy biến thành tà.)
 
Chúng ta biết rằng:
Nhất giới, nhì định, tam huệ, tứ giải thoát, ngũ giải thoát tri kiến. 5 điều này tương xứng với 5 phần pháp thân.
Giới là để phòng thân tránh ác, định là để tâm không loạn, huệ là để loại bỏ ảo vọng chứng được chân lý, giải thoát là để cách ly khỏi những ràng buộc mà chứng niết bàn.
Lư Sư Tôn tôi chủ trì pháp hội.
1.	Phóng quang.
2.	Thanh tịnh.
3.	Như nguyện.
4.	Người bệnh bình phục.
5.	Thoát khỏi vô minh.
6.	Tăng trưởng phúc huệ.

Tất cả đều nhờ có Chư Phật, Bồ Tát, Kim Cương, Hộ Pháp, Không Hành, Chư Thiên phóng quang gia trì mà được!


### 31. Có cần bằng học vấn cao không?


Hỏi:
"Từ góc độ của Phật pháp, người đi học bình thường có cần thiết phải học lấy bằng thạc sĩ, tiến sĩ không?"
 
Tôi trả lời:
Nền tảng học vấn của Lư Sư Tôn xem ra cũng khá hoàn chỉnh:
Tiểu học - Trường tiểu học công lập Đại Đồng (Cao Hùng).
Sơ trung (cấp hai) - Trường trung học cơ sở Cao Thị loại hai.
Cao trung (trung học) - Trường công chức Cao Hùng.
Đại học - Trường trắc lượng khóa 33. (Học viện Khoa học kỹ thuật Trung Chính khóa 28)
 
Khi học sơ trung tôi từng lưu ban, từng phải chuyển xuống học trường Cao Thị loại ba. (Tiếp đó học) trường trắc lượng, học viện Kỹ thuật Hải quân, học viện Kỹ thuật Quân sự, sau đó sáp nhập vào học viện Công nghệ Trung Chính.

Tôi là kỹ sư.
Nền tảng học vấn của tôi không được xem là rất cao, chỉ là tốt nghiệp đại học mà thôi. Vì sao tôi lại học trường quân đội?

Đáp án là năm đó gia cảnh nhà rất nghèo, không có tiền cho tôi đi học trường đại học bình thường, do vậy tôi không tham dự kì thi vào đại học mà trực tiếp thi vào trường quân đội, trường quân đội được nhà nước chu cấp.
 
Sau khi tốt nghiệp, tôi phục vụ trong quân đội 10 năm.

Mọi người có thể để ý kĩ thấy rằng những người sáng lập của bốn ngôi chùa lớn nhất của Phật giáo Đài Loan: 
Phật Quang Sơn --- Tinh Vân đại sư.
Pháp Cổ Sơn --- Thánh Nghiêm pháp sư.
Trung Đài Sơn --- Duy Giác pháp sư.
Từ Tế --- Chứng Nghiêm thượng nhân.

Ba vị đầu tiên đã từng là quân nhân thời chiến tranh Quốc Cộng, nền tảng học vấn của họ đều là các lớp học bổ túc ở nơi đóng quân mà thôi. Vị cuối cùng nền tảng học vấn ra sao thì như mọi người đều biết.

Nhưng bất kể nền tảng học vấn của họ như thế nào thì thành tựu của họ trên phương diện Phật pháp rất rõ ràng.  
Ít nhất mỗi vị đại sư, thượng nhân đều tạo dựng nên một vùng trời, trong giới tôn giáo đều đóng vai trò hết sức quan trọng.
 

Lục Tổ Thiền Tông Lư hành giả từng phải chặt củi nuôi gia đình, năm đó không đi học, nhưng sau khi phát lộ "Phật huệ" thì trí huệ bát nhã của ngài thâm sâu không thể đo đếm, thực sự là bất khả tư nghì. [ND: Lư hành giả: Lục Tổ Thiền tông Huệ Năng mang họ Lư.]

Do vậy tôi nói:
Học đến thạc sĩ, hai bằng thạc sĩ, tiến sĩ, thực sự không có liên quan nhiều đến thành tựu Phật pháp.
 
Tôi cho rằng thế này:
Từ góc độ Phật pháp mà nói, muốn học thông được tam tạng kinh điển thì cần nghe hiểu được Thượng sư truyền pháp. Học thức cơ bản là cần thiết bởi thành tựu Phật pháp cần có công cụ, trong đó đọc sách và đi học cũng là một trong những công cụ đó. Nhưng cũng không cần phải học đến thạc sĩ, tiến sĩ, bởi rốt cục thì thạc sĩ hay tiến sĩ đều là học vấn nhập thế. 
 
Nhưng tôi cũng không phản đối việc học đến thạc sĩ, tiến sĩ. Cuộc đời này của Lư Sư Tôn chỉ học đến khi tốt nghiệp đại học của quân đội, nhưng lại rất thích đọc sách. Con người tôi chỉ cần là sách thì đều đọc, mỗi ngày đều cố định thời gian đọc sách, thích học không biết mệt mỏi, chưa từng có một ngày nào không đọc sách. Tôi vẫn luôn tin tưởng rằng chỉ cần mở sách là có lợi ích.
 
Thiền sư Văn Ích lúc 7 tuổi, tại Tân Định, viện Trí Thông, ở chỗ thiền sư Toàn Vĩ xuống tóc.
Thiền sư Văn Ích từng học tại chùa Khai Nguyên ở Việt Châu, định trở thành sư chủ quản về giới Luật.
Thiền sư Văn Ích cũng nghiên cứu Nho điển.
Thiền sư Văn Ích cũng học hỏi thiền sư Trường Khánh.
 
Sau này:
Sư phụ hỏi: "Hành này là gì?"
Thiền sư Văn Ích đáp: "Là đi bộ."
Sư phụ hỏi: "Cái gì là đi bộ?"
Thiền sư Văn Ích nói: "Không biết."
Sư phụ nói: "Không biết là gần đúng nhất."
 
Tôi nhận thấy thế này:
"Đi bộ chính là cầu học, học hỏi chính là đọc sách."


### 32. Nói chuyện về ảnh phóng quang


Hỏi:
"Ngài có thể nói một chút về những tấm ảnh phóng quang không?"
 
Tôi trả lời:
Trí Độ Luận nói: 
Như Lai vì sao thường có ánh sáng cao một trượng? Trả lời rằng chúng sinh ngày nay bạc phước độn căn (phước mỏng căn cơ kém), nên mắt không thấy ánh sáng, nếu phát quang nhiều thì sẽ mất đi nhãn căn. Với chúng sinh căn cơ tốt lại phước dày, Phật sẽ phóng vô lượng quang minh.
 
Còn nữa:
Bách Quang Biến Chiếu Vương tức Đại Nhật Như Lai.
Đoạn văn nói đến ở trên là nói về Như Lai thường xuyên phát quang, hơn nữa lại là vô lượng quang minh. Mắt của chúng sinh thế tục có thể không thấy được quang minh, nguyên nhân chính là vì chúng sinh phước mỏng căn cơ yếu. 
 
Tôi nói, không chỉ chư Phật phóng quang, Bồ Tát cũng phóng quang, Kim Cương cũng phóng quang, Hộ Pháp cũng phóng quang, Không Hành cũng phóng quang, Chư Thiên cũng phóng quang. Người cõi trời cũng đều phóng quang vậy. 
Tôi lại nói, không phải chỉ có như vậy, ngay cả tinh linh cũng có thể phóng quang, thậm chí động vật, thực vật ô trược cũng có thể phóng quang chút chút. 
Kỳ thực phóng quang là chuyện bình thường, không phải chuyện gì to tát đáng kể.
 
Tôi nói:
Theo một "tần số" nào đó, ở đây tôi chỉ có thể dùng chữ "tần số" để biểu thị, máy ảnh của chúng ta có thể chụp được những tấm ảnh phóng quang, ngoài ảnh bị phơi sáng ra (ảnh chụp bị lỗi), kỳ thực đều là ảnh phóng quang.

Tôi đã từng xuất bản vài cuốn sách giải thích về hiện tượng "phóng quang".
Còn nhớ có lần tôi đi gặp Thubten Dezhung Rinpoche (Dezhung Lungrik Tulku), thị giả của ngài là Thubten Qigong đã chụp hai tấm ảnh. 
Một tấm chụp ảnh ngay đúng lúc tôi đảnh lễ Thubten Dezhung Rinpoche, tay của thầy đặt trên đầu tôi, gia trì cho tôi!
Tấm thứ hai, Thubten Dezhung Rinpoche vẫn với tay ra, từ đầu đến chân tôi toàn thân không còn một dấu vết hình ảnh nào, biến mất?
 
Dezhung Rinpoche nói:
"Lư Sư Tôn biết pháp ẩn thân!"
Tôi trả lời: "Tôi niệm chú Ma Lợi Chi Thiên, ngài Ma Lợi Chi Thiên có pháp ẩn thân!"
 
Lại có một lần chúng tôi đi du lịch Italy. Lúc đến đại giáo đường São Paulo, Thượng sư Liên Ninh chụp cho tôi và Sư Mẫu một tấm ảnh, phía sau là nơi chôn cất thánh Paul. Phía sau lưng tôi không có ai khác. 

Trong lúc chụp, sau lưng của chúng tôi xuất hiện một vị "quang nhân" (người thân ánh sáng), nhìn kĩ "quang nhân" này thì giật mình hóa ra là: Thánh Paul. (Hễ nơi nào tôi đi đến, tất cả Thánh hiền mười phương sẽ đều hiện thân.)
Những tấm ảnh có quang ảnh của tôi cũng không ít (tự bản thân phát quang). Chúng đều là do đồng môn chụp.
 
Mọi người để ý thấy rằng cả đời này tôi chẳng hề có chiếc máy ảnh nào, tôi vốn là người không chơi máy ảnh. Bản thân không có máy ảnh, những tấm ảnh phát quang của tôi đều là đệ tử chụp tôi. 
Chỉ cần tôi tinh thần thống nhất.
Chỉ cần tôi làm pháp hội.
Chỉ cần tôi thiền định.
Chỉ cần tôi chiêu thỉnh Phật Bồ Tát.
Chỉ cần tôi thư thái ung dung.
Chỉ cần tôi vận khí.

Đồng môn hướng máy ảnh vào chụp ảnh tôi đều sẽ chụp được những bức ảnh phóng quang. (Các hình ảnh phóng quang ở hình thái nào cũng đều có.)
 
Thơ rằng:
Dấu chấm than!
Ngờ đâu lại là một mảnh ánh sáng.
Theo bảy sắc đến rồi đi.
Hoặc là một biểu tượng thù thắng.
Hoặc là bình thường.
Chỉ là từ chính ta mà ra.


### 33. "Quái vật" và "xúi quẩy”


Hỏi:
"Ngày 28 tháng 2, Đài Loan Lôi Tạng Tự tổ chức buổi họp mặt bạn học cũ thời đại học của ngài, nghe nói lúc còn đi học có một số người gọi ngài là "quái vật" hay đồ "xúi quẩy", vì sao vậy?"
 
Tôi trả lời:
Từ khi còn nhỏ, biểu hiện của tôi rất bình thường, chỉ duy nhất "khác lạ" ở chỗ tôi rất thích để tâm nghĩ đến chân tướng của con người.
Tôi từ đâu đến?
Tôi sẽ đi về đâu?
Tôi sống là vì sao?
Vì sao nhất định cần đi học?
Vì sao nhất định cần kiếm tiền?
Vì sao nhất định cần kết hôn?

Từ sáng đến tối tôi đều nghĩ những vấn đề này. Không chỉ như vậy, tôi luôn có suy nghĩ, thân thể chính là thân thể, tâm chính là tâm. Thiên đường là cái thứ gì? Địa ngục là cái thứ gì?
 
Tôi thích tìm hiểu về tôn giáo, Cơ Đốc giáo, Đạo giáo, Phật giáo Hiển Mật cùng những tôn giáo khác. Tôi có lẽ là một người tương đối tách biệt khỏi thế giới hiện thực, một lòng hướng về thiên đường, tịnh độ, Phật quốc.

Tôi sống ở thế giới hiện thực nhưng lại đầy ắp sự tò mò về thế giới mà tôi không biết đến. Bạn học của tôi cảm thấy tôi là "quái vật". Trong lớp tôi có hai biệt danh, một người là "Nam Sơn Nhất Quái", người kia là "Bắc Hải Nhất Yêu". Tôi chính là một trong hai kẻ đó.
 
Còn đối với "xúi quẩy":
Là một kẻ trái khoáy, trong lớp học tôi luôn luôn tự mình làm mình biết, thì bị coi là "quái vật" là đương nhiên, còn bị cho là "xúi quẩy" thì cũng chẳng có gì nghiêm trọng cả.

Mặc dù tôi là "quái vật", nhưng kỳ thực với các bạn học, tôi lại rất hòa hợp. Tôi từng làm trưởng khoa. Lúc còn làm trưởng khoa, những việc cần làm tôi không hề có chút lơ là. Tôi luôn thích các bạn cùng lớp, tôi đối xử với các bạn học rất tốt, không hề ích kỉ.
 
Ngoài tôi ra có một "quái nhân" khác thích biện luận, câu nói cửa miệng của anh này chính là "Không thể nào được!", bất kể là biện luận như thế nào.

Kết luận của anh ta luôn là: "Không thể nào được!"
Tôi là Lư Thắng Ngạn, anh ta là Tiêu Bá Thanh. Có vẻ như chúng tôi cũng để lại dấu ấn: 
"Nam Sơn Nhất Quái"
"Bắc Hải Nhất Yêu"
Ha ha ha!

Thiền sư Văn Ích hỏi thượng tọa Tử Phương :
"Cái gì là vạn tượng chi trung độc lộ thân?"
Thượng tọa Tử Phương lấy cây phất trần.
Thiền sư Văn Ích hỏi:
"Như vậy sẽ đắc được sao?"
Thượng tọa Tử Phương hỏi:
"Ý của hòa thượng là sao?"

Thiền sư Văn Ích hỏi:
"Hỏi cái gì là vạn tượng?" (hỏi khéo)
Thượng tọa Tử Phương đáp:
"Cổ nhân không chuyển vạn tượng."
Thiền sư Văn Ích đáp:
"Vạn tượng chi trung độc lộ thân, chuyển hay không chuyển cái gì?" 
(Lời nói này thức tỉnh thượng tọa Tử Phương, thượng tọa Tử Phương vì vậy mà đã giác ngộ.)
 
Nếu như có người hỏi: "Vạn tượng chi trung độc lộ thân?"
Tôi trả lời: "Quái vật!"
"Vạn tượng như thế nào?"
Tôi trả lời: "Toàn là quái vật."
(Họ xem tôi là quái, tôi xem họ là quái.)


### 34. Phân tích giấc mộng


Hỏi:
"Phân tích những sự khai sáng trong giấc mơ thế nào?"
 
Tôi trả lời:
Lư Sư Tôn từng nói rằng giấc mơ cũng là một cảnh giới. Nhân gian của chúng ta là một cảnh giới, còn mơ cũng là một cảnh giới giống như vậy. Ngoài ra, trung ấm giới sau khi chết cũng là một cảnh giới. 

Mọi người hãy suy ngẫm kĩ càng:
Nhân gian.
Giấc mơ.
Trung ấm. (linh hồn)
Liệu có chỗ nào nào giống nhau không?
 
Tôi lấy hình ảnh "trăng trong nước" để so sánh:
Mắt chúng ta có thể nhìn thấy được trăng trong nước, thực sự là có mặt trăng, nhưng dù rút cạn hết nước đi thì vĩnh viễn cũng không tìm thấy trăng được.

"Trăng trong nước" là có?
"Trăng trong nước" là không có?
"Trăng trong nước" cơ bản là một giấc mộng. 
Bạn không cảm thấy sao? Đời người là giấc mộng lớn trăm năm, giấc mộng là giấc mơ của một đêm, trung ấm là giấc mộng của bảy bảy bốn chín ngày, đều là mộng cả thôi!
 
Cơ thể xương thịt sắc thân này của chúng ta được tạo nên bởi ngũ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức mà nên, khi phân tán ra thì không còn nữa, như giấc mộng.

Các pháp là nhân duyên hòa hợp mà có, huyễn sinh huyễn diệt, mọi pháp là hư vọng và vô thực thể, như giấc mộng. Vì sao có tư tưởng "vô ngã"? Bởi vì ngũ uẩn giả hợp mà có cái "ngã", kẻ phàm phu thế tục tưởng rằng cái "ngã" này chính là cái "tôi" thật, chỉ có thánh giả ngộ đạo rồi mới có thể hiểu được thấu đáo, cái tôi này vẫn là cái "tôi" giả sinh ra bởi nhân duyên mà thôi! Vì thế mà cũng như giấc mộng.

Chúng ta tu hành cũng chính là để cho sắc, thọ, tưởng, hành không rơi vào tam ác đạo, đến được Phật tính, vĩnh viễn không còn chịu luân hồi.

Mật giáo chúng ta có tu mộng.
Ở trong mộng, chúng ta cần phải tu đến:
Tri mộng --- biết được đây là mộng.
Minh mộng --- giấc mơ cần rất rõ ràng.
Chủ mộng --- làm chủ được bản thân trong giấc mộng.
Tu mộng --- trong mộng cũng có thể tu hành.

Kỳ thực bốn điểm này đều vô cùng quan trọng, người tu hành bình thường ban ngày có thể tu hành, nhưng ban đêm thì lại lẫn lộn vọng tưởng, tu hành như vậy thực là một sự lãng phí lớn.
Tri mộng, minh mộng, chủ mộng, tu mộng này tu như thế nào?
 
Điểm quan trọng nằm ở chỗ:
Thỉnh cầu Thượng sư gia trì!
Thỉnh cầu bổn tôn gia trì!
Thỉnh cầu hộ pháp bảo hộ!

Buổi đêm tu "Miên quang pháp", đi vào mộng Tam Ma Địa, tịnh quang bảo hộ, là tự nhiên có thể tri mộng, minh mộng, chủ mộng, tu mộng rồi.
Không làm được như thế này thì cảnh giới giấc mộng của hành giả hầu hết chỉ là vọng tưởng lẫn lộn. Nếu như hành giả tu mộng thì rất dễ phân tích được những sự khai sáng trong giấc mộng, mơ rất rõ ràng, trong mộng gặp Thượng sư, trong mộng gặp bổn tôn, những gì được thông báo trong mộng đều chính xác là những khai sáng. 
(Thông thường giấc mộng vào khoảng 6 giờ sáng là những giấc mộng khai sáng.)

Trong mộng cũng cần phải phòng hộ. Lúc được khai sáng dạy bảo, nếu là thật, hành giả niệm Thượng sư tâm chú sẽ xuất hiện ánh sáng rực rỡ huy hoàng. Nếu là giả, hành giả niệm Thượng sư tâm chú thì mộng cảnh tự nhiên sẽ biến mất.
 
Tôi lấy ví dụ:
Lúc tôi còn ở trường trắc lượng, tôi mơ thấy tổng thống Tưởng Kinh Quốc mời đến gặp, cực kì rõ ràng, không dám không tin. 
Sau đó ngài Kinh Quốc đến trường tôi thanh tra. Hiệu trưởng  - thiếu tướng Doãn Chung Kỳ tặng ngài Kinh Quốc cuốn Tuyển tập khói mỏng mà tôi xuất bản. Ngài Kinh Quốc mời tôi đến gặp nói chuyện. Mộng cảnh đã ứng nghiệm rồi!
Ví dụ về giấc mơ báo trước này nhiều không kể hết, thật không thể tưởng tượng được!


### 35. Thể chất linh dị


Hỏi:
"Trẻ con có thể chất linh dị nên làm gì?"
 
Tôi trả lời:
Thể chất linh dị thực ra không phải đứa trẻ nào cũng có. Đứa trẻ có thể chất linh dị thì trạng trái linh dị cũng đặc biệt nhiều, hơn nữa mỗi kiểu lại không giống nhau, do vậy câu hỏi này phạm vi rất rộng.
 
Em gái tôi Lư Ngọc Ý lúc nhỏ chính là một người có thể chất linh dị. Có lần em ấy nhìn thấy ngồi bên dưới bàn thờ thần trong nhà có mấy người tí hon, em đã hô hoán cả nhà ra xem.
Lư Ngọc Ý chỉ vào đám người tí hon dưới gầm bàn nói rằng bọn họ làm thành một vòng tròn, đang mở cuộc họp, những người tí hon này ăn mặc không giống nhau.

Mẹ tôi hỏi:
"Bọn họ già trẻ lớn bé thế nào?"
Lư Ngọc Ý đáp:
"Họ khoảng trung niên và người già, cao ba thốn đinh." [ND: Ba thốn đinh: khoảng 23cm, ngày nay cụm từ "ba thốn đinh" dùng để chỉ những người nhỏ và lùn.]
"Con bị ảo giác à?"
"Không phải, nhất cử nhất động của bọn họ đều rất rõ ràng, họ còn chào chúng ta kìa."
Chúng tôi không nhìn thấy gì, nghe sởn cả gai ốc.
 
Ngày xưa Lư Ngọc Ý thường nhìn thấy còn chúng tôi thì không nhìn thấy gì. Xem biểu hiện của em tôi thì thực sự là em ấy nhìn thấy thật, bởi em ấy chẳng có lý do gì để lừa gạt chúng tôi cả.
Sau này lớn lên thì em ấy lại không nhìn thấy gì nữa!

Tôi từng gặp một vị trưởng gia đình đem theo một đứa nhỏ linh dị đến gặp tôi. Đứa trẻ này mắt nhìn thấy, tai cũng nghe thấy. Nó ngồi trước cửa nhà ai khóc thì nhà đó liền có người chết. 
Hỏi nó. 
Nó nói: "Lính quỷ ở âm phủ đi vào nhà bắt người."
Nó nói: "Hôm nay sẽ mưa to! Sẽ bị ngập lụt nặng."
Hỏi nó: "Ai bảo thế?"
Nó đáp: "Địa ngục công công nói."
Quả nhiên mưa như trút nước, ngập lụt nặng.

Bố cậu bé cầu tôi làm pháp khiến cho nó không nhìn thấy được, không nghe thấy được, bởi thầy cô giáo ở trường mẫu giáo nghĩ thần kinh nó có vấn đề.
Nó nói: "Xe nôi em bé sẽ đâm vào người ta!"
Quả nhiên xe nôi em bé đâm trúng người ta. Thầy cô giáo nói nó là "quỷ xui xẻo". 

Tôi làm pháp kết giới cho đứa bé trai này, niêm phong lại mặt và tai của cậu, từ đó cậu bé không nhìn thấy quỷ thần của linh giới nữa, cũng không nghe thấy lời nói của quỷ thần linh giới nữa.
Linh giới vô cùng phức tạp, mà nhân gian kỳ thực cũng rất phức tạp. Trẻ con có thể chất linh dị nếu biết cách bồi dưỡng tốt thì lớn lên sẽ thành một "người thông linh". Có điều việc bồi dưỡng thành "người thông linh" không phải là việc dễ dàng, cần phải có tài năng chuyên môn về phương diện này.
Thông thường nếu muốn dừng hiện tượng thể chất linh dị thì cần có người hiểu về pháp thuật, dùng pháp kết giới niêm phong lại chỗ có linh dị. Còn những người khác khi lớn lên,  đường thông linh của họ sẽ tự động đóng lại.
 
Ví dụ:
Khai thiên môn (niêm phong thiên môn lại).
Bế địa hộ.
Ngăn nhân đạo.
Giấu đường quỷ.
Chặn tất cả các đường kênh mà linh dị có thể xâm nhập, thiên khiếu (lỗ trên đỉnh đầu), mắt, tai, mũi, miệng, rốn, hậu môn, những chỗ bí mật, làm kết giới toàn thân.

Như vậy linh dị sẽ không phát sinh nữa, mọi thứ lại bình thường!
Trẻ con có thể chất linh dị nếu có thể đi theo hướng tu hành kỳ thực cũng rất tốt, tuy nhiên đó là một con đường rất dài, khó tránh khỏi nửa đường "biến chất". 
Tu hành và linh dị mặc dù có chút xíu liên quan, nhưng trên thực tế, nhìn chung mà nói thì là hai việc khác nhau. Tu hành và thần thông cũng là như vậy.


### 36. Làm quan to khó tu hành


Hỏi:
"Lư Sư Tôn từng nói, người làm quan to rất khó tu hành, xin hỏi, vì sao vậy? Chẳng phải có người nói cửa quan thích tu hành sao?"
 
Tôi trả lời:
Quan chức to thường tự cho bản thân mình cao quý hơn phàm phu bình thường, không dễ gì khom lưng đảnh lễ tới người tu hành. Muốn nói người làm quan to đi quy y một hành giả chân chính không hề dễ. Muốn bảo người làm chức lớn đi nhận quán đảnh Mật giáo, trên thực tế cũng chẳng phải là việc dễ dàng. Vì sao lại như vậy?

Bởi anh ta cho rằng địa vị của bản thân rất cao, nếu việc cúi đầu đảnh lễ người tu hành bị phát tán trên truyền thông thì chẳng khác nào trò cười lớn.
 
Ví dụ:
Trong những buổi chúng ta đồng tu, Thượng sư ngồi trên cao, toàn bộ mọi người đồng tu không phân biệt sang hèn đều ngồi trên sàn nhà cùng tu pháp. 
Quan to chức lớn mặc đồ Tây mà lại phải ngồi cùng những người thấp hèn tạp nham, họ có chịu được không? 
Mọi người nhìn xem, các quan chức to đến tham gia pháp hội của chúng ta cũng là rất miễn cưỡng. Mời họ ngồi ở hàng đầu, chưa nghe được mấy câu đã bỏ chỗ mà đi. 
Không hề nghe pháp.
Không nhận quán đảnh.
Không hề quy y.

Vội vã đến, lại vội vã đi, họ đến tham gia pháp hội cũng là xã giao, làm quan to thì phải xã giao nhiều, đều là "chấm nước tương" mà thôi. (*) Tuy nhiên, có thể đến để "chấm nước tương" một chút cũng đã là rất tốt rồi!
 
Với những tình huống như thế này, cho dù bạn viết hơn hai trăm cuốn sách, cho dù bạn viết hai nghìn cuốn sách, thì dù chỉ một cuốn họ cũng chẳng hề đọc qua. Bạn tặng họ sách thì cũng bị buộc lại thành đống để phủ bụi tít trên giá sách mà thôi.
 
Quan to dù đến "chấm nước tương", tìm thời gian rảnh đến tham gia pháp hội của bạn, pháp bạn giảng một câu cũng không nghe, họ cũng không hiểu "Chân Phật Mật Pháp" là cái thứ bánh nếp quái quỷ gì. Họ đương nhiên sẽ không đi pháp hội. [ND: Chấm nước tương: tiếng lóng của người Đài Loan, để chỉ làm việc gì đó một cách qua quýt cho xong, không đầu không đuôi.]
 
Từ việc:
Quy y đảnh lễ khó.
Quán đảnh khó.
Nghe pháp khó.
Tu pháp khó.
Đọc sách khó.
Trên thực tế
Khó khó khó.
 
Quan lớn sẽ lên các ngọn núi có tôn giáo để dâng hương, sẽ đến các chùa lớn dâng hương, nơi nào tín chúng của các tín ngưỡng dân gian càng nhiều thì họ cũng có mặt để dâng hương. Trong tâm có Phật không? Trong tâm có thần không? Kỳ thực trong tâm họ chỉ có "lá phiếu".

Chỉ cần lễ hội dân gian có nhiều tín chúng, các vị quan to sẽ ùn ùn kéo đến. Nhưng đâu vẫn vào đó, lên ống kính truyền thông xong rồi thì vội vã lủi đi, kính thần chỉ vì lá phiếu mà thôi.
Quan lớn có trì chú không?
Quan lớn có quán tưởng không?
Quan lớn có nhập Tam Ma Địa Không?
Quan lớn có tu đàn Mật pháp không?
Hiếm lắm!
 
Giữa quan lớn và các tổ chức tôn giáo có tồn tại một mối quan hệ "vi diệu", nhưng kiểu quan hệ này không phải là "minh tâm kiến tính", "tự chủ sinh tử", "giải thoát luân hồi", "chứng Phật bồ đề". Vì sao lại bảo "làm quan dễ tu hành" đây?

Bởi một mệnh lệnh của quan lớn khiến dân chúng có thể sống một ngày tốt đẹp, hay khiến dân chúng có thể sống một ngày tồi tệ, tất cả đều ở trong ý niệm của quan lớn. Quan lớn có thể nghĩ cho dân chúng đương nhiên là quan tốt, cũng chắc chắn là một việc công đức. 
 
Quan lớn ra lệnh một tiếng:
Có thể đại chiến! 
Có thể ngừng chiến!

Giảm bớt sát sinh cũng xem như là công đức, là đại thiện.
"Làm quan dễ tu hành" chính là như vậy. Thiện và ác, chỉ một ý niệm mà thôi. Sáng và tối, chỉ một ý niệm mà thôi.
Tôi nói có đúng không?


### 37. Một ngày sáu thời mãi cát tường


Hỏi:
"Trong bài tụng cát tường có một câu rằng, một ngày sáu thời mãi cát tường. Chúng ta biết rằng một ngày có 24 giờ, một ngày sáu thời có nghĩa là gì?"
 
Tôi trả lời:
Ban ngày ba thời, ban đêm ba thời, hợp thành sáu thời.
Ban ngày ba thời --- mặt trời mọc, nửa buổi, mặt trời lặn.
Ban đêm ba thời --- chập tối, giữa đêm, đêm muộn.
Kỳ thực một ngày sáu thời tương đương với 24 giờ của hiện tại.
 
Lư Sư Tôn tôi đã thành lập "Tổ chức từ thiện Lư Thắng Ngạn" có hai mục tiêu chính:
1.	Chăm sóc sức khỏe.
2.	Hỗ trợ giáo dục.
(Trợ giúp cứu nạn cũng có.)
"Tổ chức từ thiện Lư Thắng Ngạn" được thành lập cũng chính là vì sự cát tường của con người thế gian. Sức khỏe thực sự rất quan trọng, bởi vì không có một cơ thể khỏe mạnh, tất cả mọi việc đều không thể thành được.
 
Theo tôi được biết:
Có một doanh nhân sự nghiệp sáng rực rỡ như ban ngày, sự nghiệp vươn ra tận năm châu, là một đại gia giàu có và quyền lực. Đúng lúc anh ta nghĩ đến việc sáp nhập một công ty lớn, chỉ một ngày trước lúc kí hợp đồng thì cơ thể cảm thấy không khỏe, đi kiểm tra thì không ngờ bị mắc bệnh ung thư. 

Doanh nhân vốn nghĩ đến con đường lên vị trí người giàu có và quyền lực số một quốc gia. Và trên bảng xếp hạng người giàu có quyền lực trên thế giới, anh ta sẽ rất nổi trội, đứng trước các tên tuổi lớn.
 
Nhưng anh ta lập tức quyết định:
1.	Rút lại quyết định sáp nhập. 
2.	Rút về hậu trường.
3.	Nghỉ hưu.
4.	Ẩn cư.

Đại doanh nhân biết rằng dù có kiếm nhiều tiền cũng không  thể chữa khỏi bệnh nên lập tức từ bỏ mọi tham vọng. Giờ với anh ta, chăm sóc sức khỏe là quan trọng hơn, không có sức khỏe thì nói gì đến hai chữ "cát tường".
 
"Tổ chức từ thiện Lư Thắng Ngạn" chủ yếu tập trung vào việc hỗ trợ giáo dục để giúp cho các trẻ em nghèo khó có thể được đi học. Đối với một người sống trên thế giới này, đi học là việc khá quan trọng.
 
Lấy tôi làm ví dụ:
Lúc tôi học cao trung (cấp 3), thành tích đứng đầu lớp liên tiếp sáu học kì. Nhưng tôi không tham dự vào kì thi tuyển đại học. Tôi là "đứa trẻ từ chối thi đại học", thực tế không phải là tôi từ chối mà là kỳ thi tuyển đại học từ chối tôi. Bởi vì nhà tôi vốn nghèo, không có tiền cho tôi đi học đại học.
 
Về sau:
Tôi chỉ có thể được nhận vào trường quân đội, bởi vì trường quân đội được nhà nước chu cấp, lại còn được chu cấp thêm chút tiền tiêu vặt, ăn mặc ở đi lại đều có trợ cấp, không phải tốn tiền, chỉ cần sau khi tốt nghiệp phục vụ trong quân đội 10 năm.
(Thời điểm đó là phải phục vụ 10 năm.)

Một người không có tiền đi học là một việc rất đau khổ, cũng khó có thể nói gì đến chữ "cát tường". 
"Tổ chức từ thiện Lư Thắng Ngạn" quan trọng việc làm lợi ích cho người khác, chăm sóc sức khỏe và hỗ trợ giáo dục là hai việc ích lợi giúp cho chúng sinh, có thể tích tập công đức tư lương.
Ngoài ra, phương diện cứu trợ lúc cấp nạn cũng vô cùng quan trọng, đây đều là vì sự "cát tường".
 
Chúng ta biết có ba điều kiện để thành Phật:
1.	Cắt đứt chướng ngại phiền não.
2.	Cắt đứt mọi chướng ngại.
3.	Tích tập tư lương công đức.

Phát bồ đề tâm, tích tập công đức tư lương thực sự là cực kì quan trọng. Không có cơ thể khỏe mạnh thì không có tất cả mọi thứ. Không được học hành thì cũng không tạo dựng được phương tiện kiếm tiền. Có được hai thứ này thì không có gì khó khăn, tất cả đều bình an, chính là một ngày sáu thời mãi cát tường rồi.
 
Xin mời ủng hộ cho "Tổ chức từ thiện Lư Thắng Ngạn"!


### 38. Pháp nhĩ bản nhiên là gì?


Hỏi:
"Trong kinh điển Phật giáo và trong khai thị của Lư Sư Tôn thường bắt gặp bốn chữ "pháp nhĩ bản nhiên". Nhưng chúng con vẫn chưa hiểu "pháp nhĩ bản nhiên" là gì?"
 
Tôi trả lời:
Pháp nhĩ bản nhiên hay pháp nhĩ như thị là hai cách gọi giống nhau.
Nếu như các thánh đệ tử có thể hiểu rõ ràng về pháp nhĩ bản nhiên thì cũng xem như đã khai ngộ minh tâm.

Đây là nói về pháp tính chân như bản như như, pháp tính chân như bản như thị.
Bản nhiên.
Như thị.

Trong nó có hai ý nghĩa là bất biến và tùy duyên, bất biến cũng là tùy duyên, tùy duyên cũng là bất biến.
 
Vì sao lại là bản nhiên và như thị? Nguyên nhân chính là vô sinh pháp tính, vô sinh pháp tính ở đây chính là:
Tính Không.
Phật tính.
Sâu rộng không thể đo đếm.
Thường lạc ngã tịnh.
Niết bàn.
 
Tôi nói thế này:
Pháp tính bản nhiên là nói đến: không được tạo ra, không phải giả tạo, không phải pháp hữu vi, không phải là hữu vi, là niết bàn phi niết bàn, là luân hồi phi luân hồi, không sạch cũng không bẩn, không tăng cũng không giảm, không phải một cũng không phải khác, không đến cũng không đi, không sinh ra cũng không chết đi…
 
Quan trọng nhất là:
"Không phải tu hành mà có thể đắc được."

Pháp nhĩ bản nhiên, pháp nhĩ như thị từ vô thủy mà đến, chính là như vậy. Đây chính là thực tướng của pháp giới, thường trụ bất diệt, bản lai như thị "chính là", và cũng là điều tôi thường nói:
Hằng tại.
Không xét đoán.
 
Xứ Kim Lăng (tên trước thời Hán của Nam Kinh), viện Thanh Lương, thiền sư Văn Ích.
Thiền sư Văn Ích ngồi trên pháp tọa nói: 
"Chỉ như vậy thì giải tán đi, còn có cái chẳng có trong Phật pháp không, thử nói xem? Nếu không có trong đạo, mọi người đến trong ấy làm gì? Nếu có, thì trong chợ chỗ nhiều người tụ hội cũng có, cần gì phải đến trong ấy?

Chư vị! Mỗi người đã từng xem Hoàn Nguyên quán, Bách Môn nghĩa hải, Hoa Nghiêm luận, Niết-bàn kinh, các kinh sách rất nhiều, cái gì trong kinh có thời tiết ấy? Nếu có, thử nêu ra xem! Chẳng là trong kinh thế ấy, có những lời thế ấy, là thời tiết đó chăng? Có cái gì là giao thiệp. Thế mới nói, lời hay kẹt ở đầu tâm, thường làm môi trường cho duyên, thực tế ở ngay trước mắt, đổi làm cảnh danh tướng, lại làm sao được đổi? Nếu đã đổi rồi thì làm sao được chính? Còn hội ư? Nếu chỉ niệm kinh sách như thế, thì dùng vào chỗ nào chứ?"
 
(Bài nói này của thiền sư Văn Ích, bình thường xem ra không hiểu là nói về cái gì? Không rõ cũng chẳng tỏ, đọc cứ thấy mơ mơ hồ hồ. Kỳ thực thiền sư chỉ muốn nói về pháp nhĩ bản nhiên, pháp nhĩ như thị. Nói cả một đống thứ ngược lại khiến cho mọi người đọc không hiểu gì.)
 
Tăng nhân hỏi thiền sư Văn Ích:
"Thế nào là chỉ ra được tương ưng cùng với đạo?"
Thiền sư Văn Ích đáp:
"Khi nào ông chỉ ra tức chẳng tương ưng với đạo?" (trả lời khéo)
Tăng nhân hỏi:
"Khi sáu chỗ chẳng tri âm thì thế nào?"
Thiền sư Văn Ích đáp:
"Nhà ông quyến thuộc một đàn."
 
Thiền sư Văn Ích lại nói:
"Làm sao thể hội, nếu đạo có gì đến để hỏi, thì lại sẽ không đắc được. Sáu chỗ chẳng tri âm, chỗ tai chẳng tri âm, chỗ mắt chẳng tri âm. Nếu căn bản là có, tranh luận giải nghĩa chẳng lẽ  lại không được ư. Người xưa nói: "lìa thanh sắc - mắc thanh sắc, lìa danh tự - mắc danh tự". Do đó, cõi trời Vô tưởng tu được phải trải qua tám muôn đại kiếp, một ngày cũng phải thối đọa, các việc rõ ràng. Bởi vì chẳng biết căn bản sự thật."
 
"Căn bản sự thật" này là gì?
Tôi trả lời: "Pháp nhĩ bản nhiên đó!"


### 39. Tương ứng lại là gì đây?


Hỏi:
"Lư Sư Tôn thường nhắc đến tương ứng. Hai chữ tương ứng đối với Mật giáo vô cùng quan trọng. Rốt cục thì thế nào là tương ứng?"
 
Tôi trả lời:
Xứ Thăng Châu, chùa Phụng Tiên, có thiền sư Huệ Đồng. 

Tăng nhân hỏi thiền sư Huệ Đồng:
"Dạy Trung đạo, một thân chẳng tách lìa, thấy được tất cả trong cõi trần. Lại có đạo, thân Phật đầy khắp pháp giới, hiện khắp mọi nơi trước chúng sinh. Hai con đường này, thỉnh thầy nói."
 
Thiền sư Huệ Đồng đáp:
"Một thân chẳng tách lìa, thấy được tất cả trong cõi trần."
Tăng nhân hỏi:
"Cái gì là cổ Phật tâm?"
Thiền sư Huệ Đồng đáp:
"Cái nào không phải."
Tăng nhân hỏi:
"Cái gì là con người thường tại?"
Thiền sư Huệ Đồng đáp:
"Cần hỏi ai?"
 
Tại đây tôi nói cho mọi người hay, tương ứng chính là "một thân chẳng tách lìa". Bạn hỏi tôi: "Lư Sư Tôn, ngài là ai?"
Tôi đáp:
"Diêu Trì Kim Mẫu, A Di Đà Phật, Địa Tạng Bồ Tát…"
"Vì sao lại như vậy?"
Tôi đáp:
"Một vị tương ứng, tương ứng mọi vị."
"Thế tương ứng là gì?"
Tôi đáp:
"Là một."
 
Khi tôi ăn cơm, Phật ăn cơm. Khi tôi mặc quần áo, Phật mặc quần áo. Khi tôi ngủ, Phật cũng ngủ. Tôi ngủ dậy, Phật ngủ dậy. Khi tôi đi, Phật đi. Tôi và Phật, không hai không khác. Mắt tôi là mắt Phật, tai tôi là tai Phật, mũi tôi là mũi Phật, lưỡi tôi là lưỡi Phật, thân tôi là thân Phật, ý tôi là ý Phật, thậm chí bảy thức, tám thức, chín thức, mười thức, đều là Phật thức.
 
Trong con mắt của người đã giác ngộ:
"Có cái nào là không phải!"
Cái gì gọi là Mật giáo tương ứng?

Bổn tôn đi vào trong tâm của hành giả, hai người hợp nhất, hành giả đi vào trong tâm của bổn tôn, hai người hợp nhất. Người trước là nhập ngã, người sau là ngã nhập, sau khi hợp nhất thì là thân chẳng tách lìa.
Bổn tôn chính là bạn.
Bạn chính là bổn tôn.
 
Lúc này hành giả sẽ tri giác được rằng bổn tôn lúc nào cũng ở cùng bạn, thấy sản sinh ra:
Đàn tràng của bổn tôn.
Thân quyến của bổn tôn.
Thân, khẩu, ý của bổn tôn.
Độ hóa của bổn tôn.
Pháp lực của bổn tôn.
Thần thông của bổn tôn.
Trí huệ của bổn tôn.
 
Tôi thực lòng nói cho mọi người biết, tương ứng trong Mật giáo chính là như vậy, hành giả hiểu thông hiểu thấu, rõ ràng tường tận, bổn tôn hoàn toàn cùng bản thân hợp nhất, đây chính là "tương ứng". Nếu hành giả và bổn tôn không tương ứng, tự bản thân hành giả sẽ biết, không có chuyện không biết. Nếu như không biết thì đó không phải là tương ứng, việc này tự bản thân có thể phân biệt được.
 
Lư Sư Tôn tương ứng với Diêu Trì Kim Mẫu, tương ứng với Phật A Di Đà, tương ứng với Bồ Tát Địa Tạng, ai ai cũng biết, tương ứng một vị, mọi vị tương ứng.
Một chính là nhiều.
Nhiều chính là một.
Hành giả Mật giáo chăm chỉ tu pháp bổn tôn, có thể dựa vào căn bản Thượng sư, thế thì ai sẽ không tương ứng đây?


### 40. Tứ thiền là gì?


Hỏi:
"Người học Phật chúng ta thường nghe nói đến Tứ thiền Bát định, rốt cuộc thì Tứ Thiền Bát định là gì? Tứ thiền bát định có tác dụng gì? Vì sao tu Tứ thiền Bát định?"
 
Tôi trả lời:
Theo kinh điển:
Cõi Sắc giới chư thiên phân chia thành bốn tầng thiền, gọi là Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền.
Sơ thiền --- trong tâm thanh tịnh, các lậu (*) bất động.
Phạm Chúng Thiên, Phạm Phụ Thiên, Đại Phạm Thiên.
Nhị thiền --- trong tâm thanh tịnh, thô lậu được hàng phục.
Thiểu Quang Thiên, Vô Lượng Quang, Quang Âm Thiên.
Tam thiền --- tâm an ổn, hoàn toàn hoan hỷ.
Thiểu Tịnh Thiên, Vô Lượng Tịnh Thiên, Biến Tịnh Thiên.
Tứ thiền --- tiền ngũ thức hoàn toàn không còn, Hỷ không còn, chỉ duy nhất có Xả. [ND: Tiền ngũ thức: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, tương ứng với sự nhận thức của mắt, tai,mũi, lưỡi, thân.]
Vô Vân Thiên, Phúc Sinh Thiên, Quảng Quả Thiên, Vô Tưởng Thiên, Vô Phiền Thiên, Vô Nhiệt Thiên, Thiện Kiến Thiên, Thiện Hiện Thiên, Sắc Cứu Cánh Thiên.
 
Bát định là tứ thiền của cõi Sắc giới và tứ không định của cõi Vô sắc giới, hợp lại chính là Tứ thiền Bát định.
 
Tuy nhiên, kinh nghiệm của tôi là:
Sơ thiền --- Đại lạc xuất hiện.
Nhị thiền --- Quang minh xuất hiện.
Tam thiền --- Phật tính xuất hiện.
Tứ thiền --- Niết bàn xuất hiện.
Sơ thiền của tôi ở tại cõi trời Dục giới.
Nhị thiền của tôi ở tại cõi trời Sắc giới.
Tam thiền của tôi ở tại cõi trời Vô sắc giới.
Tứ thiền của tôi ở tại tứ thánh giới.
 
Vì vậy tứ thiền của tôi đã bao gồm Tứ thiền Bát định, từ Dục giới đến Tứ thánh giới, tuy nhiên đây là kinh nghiệm của cá nhân tôi thôi, tin hay không tùy bạn, tôi thực sự nghĩ như vậy.
 
Tứ thiền Bát định có tác dụng gì?
Tác dụng này ai ai cũng biết, đó là có thể thanh tịnh toàn bộ tất cả mọi chủng tử tập tính của chúng ta từ vô thủy đến nay, cũng giống như đi tắm vậy, tất cả mọi nhơ bẩn đều được tẩy rửa sạch sẽ.
 
Tôi lấy một ví dụ:
Chúng ta đào vàng là đào hỗn hợp cả vàng và các khoáng chất khác. Sau đó ta dùng phương pháp luyện kim để giữ lấy vàng nguyên chất, các khoáng chất khác sẽ được lọc bỏ đi. Đây chính là tác dụng của Tứ thiền Bát định. Tu Tứ thiền Bát định có thể giúp cho bản thân quay trở về diện mạo ban đầu vốn có, tự chứng được Phật tính của bản thân.
 
Có người cho rằng:
Tứ thiền bát định chỉ là phương pháp, không phải là cứu cánh.
Tuy nhiên, thời đại ngày nay, ngoài pháp thiền định Tứ thiền Bát định ra, không có phương pháp nào tốt hơn.
Phật pháp là Phật pháp.
Thành Phật là thành Phật.
Pháp vẫn nên bỏ, huống chi không có pháp.

Những điều này chỉ có người minh tâm kiến tính mới có thể hiểu được rõ ràng minh bạch.

Xứ Phúc Châu, Tiên Tông, thiền sư Động Minh.
Tăng nhân hỏi thiền sư Động Minh:
"Hiểu rằng mây không thể giả làm gió làm sấm chớp, sóng sâu làm cách nào thấu tận vào thân?"
Thiền sư Động Minh đáp:
"Hà tất phải vứt bỏ đi cái gốc chạy theo cái ngọn."
(Ý của thiền sư Động Minh là, nếu như đã minh tâm khai ngộ, hà tất phải dùng Phật pháp hoặc tứ thiền bát định để thanh tịnh bản thân làm gì?)

Phật chính là Phật.
Hằng tại.
Không xét đoán.

Hà tất phải vứt bỏ đi cái gốc là tu tứ thiền bát định đây?
Có thiền sư tu thiền định.
Có thiền sư mài gạch thành gương.

"Mài gạch làm sao có thể thành gương được? Thiền sư làm sao có thể thành Phật được?"
Các thánh đệ tử, tại đây tôi không tiện nói về những việc này, các vị có kiến giải nào tốt hơn về Tứ thiền Bát định và thành Phật thì nói tôi nghe xem sao.


### 41. Thứ tự tu hành Đại thừa bồ đề


Hỏi:
"Thứ tự tu hành Đại thừa bồ đề đạo, có người nói gồm 52 bước, có người nói là 42 bước. Còn nữa, vì sao cần phải thông qua ba đại vô lượng kiếp, nếu như dựa vào học thuyết về thời gian này thì chẳng phải là lâu vô thời hạn sao?" [ND: Vô lượng kiếp: tiếng Phạn là asāṃkhya, còn gọi là a tăng kì kiếp.]
 
Tôi trả lời:
Đại thừa còn được gọi là Mahayana, là pháp môn Bồ Tát cứu thế, tôn chỉ là cứu thế giúp ích cho người khác. Quả vị cao nhất của Đại thừa chính là thành Phật.
 
52 bước có thứ tự là:
Thập tín, thập trụ, thập hành, thập hồi hướng, thập địa, đẳng giác, diệu giác. Như vậy là thành 52 bước.   

42 bước có thứ tự là:
Thập trụ, thập hành, thập hồi hướng, thập địa, đẳng giác, diệu giác. Như vậy là thành 42 bước. 
(Kỳ thực là gộp thập tín vào trong thập trụ, do vậy 52 hay 42 bước là giống nhau.)
 
Những bậc đức hành thời xa xưa đem thứ tự 52 bước phân chia thành:
Thập trụ, thập hành, thập hồi hướng phân loại thành "tư lương đạo". Lại đem tứ tầm tư quán, tứ như thực trí phân loại thành "gia hành đạo".
Sơ địa phân loại thành "kiến đạo vị".
Từ sơ địa đến đẳng giác là "tu đạo vị".
Diệu giác là "cứu cánh vị".
 
Do vậy thứ tự tu hành chính là:
Tư lương đạo.
Gia hành đạo.
Kiến đạo.
Tu đạo.
Cứu cánh đạo.
 
Đối với: 
Ba đại vô lượng kiếp, thời gian thực sự dài vô cùng, có thể thấy rằng tu hành thực sự rất khó. Từ địa vị phàm phu tu đến thành tựu Phật quả chỉ có cách trải qua ba đại vô lượng kiếp. Thực tế này sớm đã dọa không biết bao nhiêu người tu hành tránh xa. Nếu như bạn hiểu rõ về kiếp, ba đại vô lượng kiếp về cơ bản là một đại lượng thiên văn học.
Cổ đức cũng có phân chia ba đại của ba đại vô lượng kiếp thành:
Tham --- một đại vô lượng kiếp.
Sân --- hai đại vô lượng kiếp.
Si --- ba đại vô lượng kiếp.
Nếu như dựa vào giới, định, huệ tu cho cạn kiệt hết tham sân si thì cần trải qua ba đại vô lượng kiếp, như vậy là đã dễ hơn nhiều rồi.
 
Còn nữa:
Cổ đức cũng sắp xếp Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới như sau:
Dục giới --- một đại vô lượng kiếp.
Sắc giới --- hai đại vô lượng kiếp.
Vô sắc giới --- ba đại vô lượng kiếp.
Nếu như tu hành vượt xuất khỏi ba kiếp (ba cõi giới), thì đến được quả vị đẳng giác, diệu giác rồi. Cách này cũng dễ hơn nhiều rồi.
 
Còn nữa:
Tu hành Mật giáo dựa vào thần biến gia trì của Đại Nhật Như Lai là tu từ "quả", tu hành Hiển giáo là tu từ "nhân". Theo gia trì của Đại Nhật Như Lai:
Đại lạc --- một đại vô lượng kiếp.
Quang minh --- hai đại vô lượng kiếp.
Tính Không --- ba đại vô lượng kiếp.
Chỉ cần trải qua ba tầng lớp này thì có thể thành Phật rồi, do vậy tu hành Mật giáo trong một kiếp có thể "tức thân thành Phật". 
Cá nhân tôi nghĩ rằng:
Tu hành nhanh hay chậm, thử xem xem bản thân ta là "lợi căn" hay "độn căn", bất kể là "lợi" hay "độn" đều có thể thành Phật như nhau. 

Với tôi mà nói:
Một năm con người, cũng chỉ là một sát-na.
Một đời con người, cũng chỉ là một sát-na.
Một đại vô lượng kiếp, cũng chỉ là một sát-na.
Ba đại vô lượng kiếp, cũng chỉ là một sát-na.
Tôi cho rằng thời gian tu hành không phải là vấn đề, chỉ cần minh tâm là đạt kiến đạo, chỉ cần kiến tính là đắc thánh quả.


### 42. Khí mạch minh điểm là ngoại đạo?


Hỏi:
"Lư Sư Tôn, theo như chúng tôi biết, hiện tại có không ít người học Phật công kích các pháp khí công, kinh mạch, minh điểm của Mật giáo, cho rằng đều là pháp ngoại đạo, ngài nghĩ thế nào? Ngoài ra, chúng tôi biết rằng mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, ý căn đều là tâm, nhưng tâm này là bởi vì Phật tính mới có thể có tác dụng, ngài nghĩ thế nào?"
 
Tôi trả lời:
Vốn dĩ Phật pháp có liễu nghĩa pháp và bất liễu nghĩa pháp. Liễu nghĩa pháp là pháp cứu cánh, bất liễu nghĩa pháp là pháp phương tiện. [ND: Liễu nghĩa pháp: pháp trọn vẹn, pháp tu đến tận cùng, rốt ráo, cách nói khác chính là pháp cứu cánh.
Bất liễu nghĩa pháp: pháp không trọn vẹn, đi được nửa chừng, chưa đến chỗ rốt ráo, cách nói khác chính là pháp phương tiện.]
 
Lục Tổ Đàn Kinh nói:
Xuất thế là liễu nghĩa pháp. Nhập thế là bất liễu nghĩa pháp.

Lục Tổ theo đó phân loại pháp xuất thế là Phật pháp, pháp nhập thế là ngoại đạo, pháp xuất thế là chính pháp, pháp nhập thế là tà pháp. 
 
Quan điểm của tôi là:
Liễu nghĩa pháp là Phật huệ, là trí huệ Như Lai.
Bất liễu nghĩa pháp vốn là phương tiện thiện xảo.
 
Đối với pháp "khí mạch minh điểm" của Mật giáo:
Khí là khí công.
Mạch là ba mạch bảy luân xa đều khắp toàn thân.
Minh điểm là bồ đề tâm nguyệt dịch.

Kết quả của tu luyện là khí thông mạch, bảy luân xa chuyển động, chuyết hỏa dâng lên, minh điểm hạ xuống nâng lên, minh điểm tràn đầy toàn thân kinh mạch. Từ đó sản sinh ra đại lạc, tịnh quang, tính Không.
 
Quan trọng nhất là:
Sắc thân vật chất từ từ chuyển hóa đến hết mức, thành tựu hóa thân cầu vồng.
 
Tôi nhận thấy:
Hóa thân cầu vồng là "thức".
Hóa thân cầu vồng là "trung quán".
Hóa thân cầu vồng là "Phật huệ".
Theo tu hành phương tiện thiện xảo, chứng minh được trí huệ Như Lai, đây là pháp môn có tính thực dụng. Nếu như dựa vào pháp môn phương tiện thiện xảo để ấn chứng "minh tâm kiến tính" thì đây có phải là pháp ngoại đạo không?
 
Mật giáo là pháp có rất nhiều phương tiện thiện xảo, theo phương tiện thiện xảo dẫn nhập, đầu tiên dựa vào sự ham muốn để hấp dẫn, rồi dẫn nhập vào trí huệ Phật. Chúng ta hiểu rằng khí công, chuyết hỏa, minh điểm, mạch luân (chakra - luân xa), trên thực tế là một trong những phương pháp tu hành thiền định nhập Tam Ma Địa (samadhi). Từ khí, mạch, minh điểm tu tam muội địa là pháp ngoại đạo đi vào phương tiện thiện xảo của chính pháp.
Bạn nghĩ sao?
 
Chúng ta lại thảo luận câu hỏi thứ hai. Phật cho rằng mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, ý căn đều là tâm. Nhưng những thức tâm này đều do Phật tính mới có thể sản sinh ra tác dụng. 

Phật tính được gọi là bát thức (thức thứ tám), a-lại-da thức, Như Lai tạng thức. Cái được gọi là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, ý căn đều do Như Lai tạng thức mà ra, nhờ duyên mà có tác dụng.
 
Vấn đề hiện nay chính là ở chỗ:
Một số hành giả chỉ nhận ra được đến ý thức tâm.
Một số hành giả xác nhận là có thức thứ tám là Như Lai tạng thức.
Hai bên không ngừng công kích nhau.
 
Người nói về ý thức tâm cho rằng ý thức tâm thanh tịnh chính là đã đến điểm cuối cùng thành Phật rồi! Còn bát thức Như Lai tạng thức chỉ là "hữu danh vô thực".
Còn một số hành giả tự nhận là đã chạm đến chứng được thức thứ tám A-lại-da Như Lai tạng thức, thì cho rằng Như Lai tạng thức sinh ra tất cả, tu hành cần tu từ Như Lai tạng thức mà tu lên.
 
Cá nhân tôi nghĩ như thế này:
Tôi là người minh tâm khai ngộ.
Tôi là người kiến tính thành Phật.

Từ nhãn thức thứ nhất đến tạng thức thứ tám, tất cả đều là danh tướng. Bạn cần đến được minh tâm, bạn cần đến được kiến tính, đây mới là cứu cánh - đích đến cuối cùng. Tranh cãi ồn ào có ích gì? Tự mình ấn chứng minh tâm kiến tính mới quan trọng, bạn nghĩ thế nào?


### 43. Vì sao cần thành Phật?


Hỏi:
"Chúng ta sinh ra làm con người, phải thừa nhận rằng khổ nhiều hơn vui, nhưng sinh ra làm con người cũng tốt mà! Rất nhiều người thích ứng với nhân gian này, cảm thấy hạnh phúc mỹ mãn. Rất nhiều người cùng có chung băn khoăn rằng vì sao chúng ta cần thành Phật? Học Phật vất vả như vậy sao cần phải học? Sao lại cần cứ mở miệng tu hành, ngậm miệng tu hành?"
 
Tôi trả lời:
Trước đây tôi có một đệ tử họ Phương, anh ta cũng đặt ra câu hỏi giống như vậy.
Anh ta nói:
Thành Phật chính là thánh hiền chí cao vô thượng, tôi không muốn làm thánh hiền, làm thánh hiền cô đơn lắm! Đến Tây Phương Cực Lạc Thế Giới có gì hay? Không có phụ nữ, không có dục, không có rượu, ai ai cũng là người tốt, không có ca múa, không có thú vui tiêu khiển, chỉ có mỗi việc niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng, có gì hay đâu?
Cứ cho là thọ mệnh vô hạn thì cũng có gì hay?
Thành Phật, buồn khổ!
Tây phương, buồn khổ!
 
Anh ta nói:
Chi bằng tôi ở tại nhân gian, có đắng cay chua ngọt, có sinh ly tử biệt, có vui có khổ, có khóc có cười, cứ như vậy mà chơi giữa nhân gian, chẳng phải là tuyệt vời hơn sao. Nhân gian còn có tình yêu nữa!

Còn nữa, còn nữa, tôi thà như con chó, tốt nhất là chó Mỹ, là chó cưng được chủ nhân sủng ái, làm chó như vậy chẳng phải rất hạnh phúc sao?
Tôi nghe xong cảm thấy rất buồn cười, thật vậy, suy nghĩ của mỗi người đều không giống nhau. Đệ tử này của tôi cảm thấy thành Phật rất buồn khổ, cô độc tuốt trên cao, thành Phật rồi, như như bất động, không có tình yêu, có thể nói là có gì mà vui?

Tây Phương Cực Lạc Thế Giới, niềm vui ở đâu ra? Chẳng có chẳng mất, vạn thứ như một, như vậy thì vui sao?
Thắc mắc của đệ tử họ Phương, tôi xin mời các thánh đệ tử trả lời. 

Các bạn trả lời thế nào, các bạn có như thế không?
Tôi trả lời:
Thành Phật rồi sẽ có 18 công đức:
• Thân vô thất --- thân không mất đi.
• Khẩu vô thất --- khẩu không mất đi.
• Niệm vô thất --- ý không mất đi.
• Vô dị tưởng --- không còn vọng tưởng điên đảo.
• Vô bất định tâm --- tâm định vĩnh viễn.
• Vô bất tri kỉ xả --- cứu vô hạn chúng sinh.
• Dục vô diệt --- sung sướng vô tận.
• Tinh tấn vô diệt --- không tu mà vẫn tu vô tận.
• Niệm vô diệt --- bồ đề tâm vô tận.
• Huệ vô diệt --- trí huệ vô tận.
• Giải thoát vô diệt --- bản thân luôn được giải thoát vô tận.
• Giải thoát tri kiến vô tận --- trí huệ giải thoát vô tận.
• Mọi thân nghiệp theo trí huệ mà đi --- thân trí huệ vô tận.
• Mọi khẩu nghiệp theo trí huệ mà đi --- khẩu trí huệ vô tận.
• Mọi ý nghiệp theo trí huệ mà đi --- ý trí huệ vô tận.
• Trí huệ biết được kiếp quá khứ vô ngại --- túc mệnh thông.
• Trí huệ biết được kiếp tương lai vô ngại --- túc mệnh thông.
• Trí huệ biết được kiếp hiện tại vô ngại --- túc mệnh thông.
 
Theo 18 công đức này mà nói:
Thành Phật không phải là chết, mà là sống, có niềm vui, có trí huệ, có thần thông, có cứu độ, có giải thoát, hơn nữa hoàn toàn không có lỗi lầm, đây chẳng phải là càng vui hơn sao? 

Thần thông rất vui, độ sinh rất vui, giải thoát rất vui, nhậm vận mà không lầm lỗi, không chịu mọi khổ đau, đây chẳng phải là càng vui hơn sao?
 
Ngoài ra, cực lạc của Cực Lạc Thế Giới không một con người thế tục nào có thể tưởng tượng được. Có thiên lạc làm bạn vui vẻ, có âm thanh hòa nhã làm bạn vui vẻ, có thú vui huyễn hóa làm bạn vui vẻ, có cảnh đẹp làm bạn vui vẻ, thức ăn, quần áo, nơi ở, đi lại, đều làm bạn vui vẻ, niềm vui trong đó vượt qua mọi sự tưởng tượng.
 
Nếu bạn sẵn sàng!
Thì theo tôi đến đó đi!


### 44. Phản đối Phật giáo nhân gian


Hỏi:
"Nghe nói Lư Sư Tôn đã từng viết bài báo phản đối Phật giáo nhân gian, phản đối nhân gian tịnh độ. Nhưng rất nhiều đại sư, thượng nhân hiện đại đều hô cao khẩu hiệu Phật giáo nhân gian, nhân gian tịnh độ, lan truyền đi rất nhanh, vì sao ngài lại phản đối?"
 
Tôi trả lời:
Đối với Phật giáo nhân gian và nhân gian tịnh độ, tôi không phản đối, nhưng cũng không tán đồng.
Phật giáo nhân gian đã biến đổi thành xây dựng đại học, xây dựng bệnh viện, xây dựng đài truyền hình, hoằng dương Phật pháp, tôi tùy hỷ.
Có hành giả đề xướng cần phải làm một vị Bồ Tát nhân gian, đời đời kiếp kiếp phát nguyện chuyển kiếp làm người, lại đến nhân gian xây dựng nhân gian tịnh độ, tinh thần Bồ Tát kểu này cũng xứng đáng được tán dương.
Các hoạt động từ thiện của Phật giáo được làm rất rộng khắp, có thể so sánh với các giáo phái khác, hoạt động từ thiện trên toàn thế giới, ai nấy tham dự, ai nấy đều là người tốt, thực sự vô cùng đáng mừng.
 
Phật giáo ở nhân gian:
Khắp nơi có chùa.
Khắp nơi niệm Phật.
Khắp nơi cùng tu.
Khắp nơi từ thiện.

Phật giáo dung nhập vào xã hội, ai nấy làm người tốt, ai nấy làm hành giả, việc này rất đáng chúc mừng.
(Lư Sư Tôn tôi đối với Phật giáo tác pháp kể trên đều là tùy hỷ, không hề phản đối, ngược lại tôi còn ủng hộ. Tôi tin tưởng tác pháp kiểu thế này sẽ độ được càng nhiều người sơ cơ.) 
 
Điều tôi tương đối không tán đồng là:
Tôi dựa theo ý chỉ của Phật Đà để giải thích việc đề xướng phát triển Phật giáo nhân gian liệu có gây chướng ngại đến ý định ban đầu của Phật Đà - là chính pháp cứu độ - hay không.
Phật pháp dạy chúng ta:
Đạo giải thoát.
Đạo bồ đề.
Ý chính là giải thoát khổ của lục đạo luân hồi, nhận ra chính pháp, chứng đắc A La Hán, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật.
 
Đức Phật cho rằng:
"Nhân gian là nhà cháy."
"Nhân gian là huyễn hóa."
"Nhân gian là vô thường."
"Nhân gian là hư vô."

Nhân loại chúng ta có khả năng vì Phật mà giáo hóa nhân gian đạt được thành nhân gian tịnh độ không?
 
Cái khổ của nhân gian mọi người đều nhìn thấy rất rõ ràng. Dịch bệnh lớn, động đất lớn, lũ lụt lớn, cháy lớn, cuồng phong, đủ loại thiên tai hiểm họa, không bao giờ dừng dứt, từ thiện cứu tế vĩnh viễn cứu không hết.
Liệu có thể có nhân gian tịnh độ không?
 
Vẫn còn tiểu tam tai, đại tam tai vẫn còn chưa đến.
Khi đại tam tai xảy đến, nhân gian địa cầu không thể bảo tồn, ngay cả cõi trời Dục giới, cỡi trời Sắc giới, cũng không thể bảo tồn.
Nhân gian tịnh độ không thể nào có được đâu!
 
Ba điểm chính yếu của Phật giáo là:
Xuất ly tâm.
Bồ đề tâm.
Trung quán chính kiến.

Trong đó xuất ly tâm chính là vượt qua khỏi lục đạo luân hồi, thoát khỏi phiền não, thoát khỏi nhân gian, tu thành chính quả.
Giáo hóa con người cần vãng sinh tịnh độ là vãng sinh đến Phật quốc tịnh độ, không phải là vãng sinh đến nhân gian. (Ngoài những người có lời nguyện lại đến nhân gian.)
Phật giáo dung nhập vào nhân gian là việc có thể được. Phật giáo nhân gian phát bồ đề tâm là việc có thể được. Có thể kiến lập nhân gian tịnh độ, đáng thảo luận không?
 
Phật nói:
Xuất thế là chính pháp.
Nhập thế là phương tiện.
Thiện tai! Thiện tai!


### 45. Niết bàn là trung quán


Hỏi:
"Tôi nghe người ta nói niết bàn chính là trung quán có đúng không? Có việc này tôi không hiểu lắm, Phật Đà ngồi dưới cây bồ đề sau khi đại giác đại ngộ lập tức muốn nhập niết bàn, may sao Đại Phạm Thiên và Đế Thích Thiên đã khuyên thỉnh ngài thuyết pháp chuyển pháp luân thì Phật Đà mới ở lại thuyết pháp 49 năm. Xin hỏi vì sao Phật Đà vừa đại giác đại ngộ là muốn nhập niết bàn ngay?"
 
Tôi trả lời:
Hôm nay tôi thực lòng cho cho mọi người biết, một người đại giác đại ngộ thì đều muốn nhập niết bàn, ngay cả chính tôi cũng muốn mau chóng nhập niết bàn đây!
Vì sao vậy?
 
Tôi cho rằng có hai đáp án:
Một là, đại giác đại ngộ không phải là phàm phu thế tục muốn là có thể đo lường được. Phàm phu thế tục rất khó hiểu, kể cả có nói ra thì người ta cũng không tin, do vậy Phật Đà cơ bản là không muốn thuyết pháp.

Hai là, đại giác đại ngộ rồi liền biết được thực tướng, pháp tính, pháp tính này là duy nhất và vô thượng, đây là liễu nghĩa chân thực, bởi vì biết được thứ là duy nhất và vô thượng rồi thì còn có gì để nói nữa.
 
(Điều thứ nhất và điều thứ hai mà Lư Sư Tôn viết ở trên chỉ có người khai ngộ mới nói ra được, cũng duy có người khai ngộ mới có thể hiểu được, Phật Đà không muốn thuyết pháp chính là vì hai điểm này, đặc biệt là điểm thứ hai, đã biết liễu nghĩa rồi thì pháp nào có thể nói đây.)
 
Hôm nay Lư Sư Tôn sau khi đã đại triệt đại ngộ cũng biết rằng thực sự không có cách nào có thể nói. Hôm nay thuyết pháp chẳng qua là tùy thuận, tùy hỷ, tùy duyên mà thôi.
Bởi vì còn đang sống.
Thì cứ vô vi dĩ vi đi!
 
Tôi nói:
Người không thuyết pháp.
Người không nghe pháp.
Vô pháp.

Tôi nói như vậy các thánh đệ tử có thể hiểu được không? Nếu như thực sự hiểu được thì mới gọi là khai ngộ minh tâm đó!
Còn vấn đề Đại Phạm Thiên và Đế Thích Thiên khuyên thỉnh Phật thuyết pháp, Đại Phạm Thiên ở đây là cõi trời sơ thiền Sắc giới, có ba cõi trời Phạm Chúng Thiên, Phạm Phụ Thiên, Đại Phạm Thiên. Thông thường Đại Phạm Thiên được nhắc đến ở đây là chỉ Đại Phạm Thiên Vương, danh hiệu là Thi Khí. 

Đại Phạm Thiên tin tưởng vững chắc vào Phật pháp, mỗi lần có Phật xuất thế chắc chắn sẽ đến để cầu thỉnh Phật truyền pháp luân.

Đối với Đế Thích Thiên, là Nhân Đà La hộ trì Phật giáo, Đế Thích Thiên đương nhiên cũng sẽ đến để cầu thỉnh Phật truyền pháp luân.
 
Còn nữa:
Niết bàn được gọi là trung quán?
Phật Đà cho rằng:
Sau khi nhập niết bàn không thể nói cái gì là "có" --- nguyên nhân là vì tất cả đều huyễn hóa.
Sau khi nhập niết bàn không thể nói cái gì là "không" --- nguyên nhân do Phật tính.
Bởi vậy sẽ trở thành không hẳn là không, cũng không hẳn là có, phi không phi hữu, tức không tức hữu, không rơi vào lưỡng biên, viên dung vô ngại, đây là trung quán.

Niết bàn có đặc tính như vậy nên cũng gọi là trung quán.
 
Pháp Tướng tông lấy duy thức làm trung quán. (*)
Tam Luận tông lấy bát bất làm trung quán. (*)
Thiên Thai tông lấy thực tướng làm trung quán. (*)
Hoa Nghiêm tông lấy pháp giới làm trung quán. (*)
Chân Phật tông lấy Phật tính làm trung quán.
Niết bàn đương nhiên là trung quán.
 	  
Núi Thiên Thai, đỉnh Vân Phong, chùa Quang Tự. Thiền sư Chí Đức.

Trên Phật đường nói:
"Mặc dù chúng sinh hàng ngày đều dùng mà vẫn không hay biết, giống như vũ trụ, nhật nguyệt tinh trần, Giang Hà Hoài Tể (*), tất cả đều có chứa "linh", từ lỗ chân lông này đi vào lỗ chân lông khác, lỗ chân lông không nhỏ, thế giới không lớn. Chúng sinh trong đó bất giác bất tri. Nếu muốn được dễ dàng, chỗ ngồi vinh dự hàng ngày cũng chẳng hay biết."
Lời khai thị này là:
Nhất hàm huyễn hóa.
Nhị hàm Phật tính.
 
Mọi người quán sát cẩn thận sẽ thấy trung quán cũng nằm trong đó, mọi người có thể thấy không?

--------------------
Pháp Tướng tông: ở Ấn độ, chủ trương mọi sự vật, hiện tượng đều là biểu hiện của thức mà có (vạn pháp duy thức), cho nên xét về bản chất là không có thực.
Tam Luận tông: ở Trung Quốc, tên gọi xuất phát từ ba bộ luận căn bản của tông này là Trung quán luận, Thập nhị môn luận, Bách luận.
Thiên Thai tông: ở Trung Quốc có giáo pháp dựa trên kinh Diệu Pháp Liên Hoa, nên còn gọi là Pháp Hoa tông. 3 quan điểm chính dựa trên giáo lý của Long Thọ nên coi ngài là sơ tổ. chủ trương mọi hiện tượng dựa lên nhau mà có và thực tính của chúng là tính Không, tất cả là biểu hiện của thể tuyệt đối là chân như (chân lý không, giả và trung).
Hoa Nghiêm tông: ở Trung Quốc, còn gọi là Hiền Thủ tông, chủ trương xem mọi vật đều bình đẳng, đều liên hệ lẫn nhau (lý này được gọi là "nhất thể" – vì Hoa Nghiêm cho tất cả đều từ Một mà ra, mọi hiện tượng đều là dạng xuất hiện của cái Một đó, chúng cùng xuất hiện đồng thời.)
Giang Hà Hoài Tể: tên 4 con sông ở Trung Quốc.


### 46. Bốn loại niết bàn


Hỏi:
"Có thuật ngữ Phật giáo là niết bàn thì ý nghĩa thực sự của niết bàn rốt cục là gì? Cho dù là người theo tôn giáo cũng không nói rõ được là niết bàn ở đâu, xin hỏi niết bàn rốt cuộc là ý nghĩa gì?"
 
Tôi trả lời:
Niết bàn còn được dịch ra là viên tịch, viên tịch ở đây không phải chỉ nói về cái chết, mà còn là viên mãn hết thảy trí đức, tịch là tịch diệt hết thảy nghiệp chướng mê lầm. 
Niết bàn cũng được dịch ra là diệt độ, diệt là diệt kiến tư, diệt trần sa (*), ba loại mê hoặc vô minh, độ là độ từng phân đoạn, biến hóa thay đổi hai hạt giống sinh tử. Ý nghĩa chính là bất sinh bất diệt.
 
Dựa vào hai ý nghĩa trên mà nói thì:
Niết bàn là thành tựu.
Niết bàn là chân như.
Khác biệt với "chết".

Niết bàn là "niết bàn tịch tịnh ấn" - một trong tam pháp ấn.
Tướng niết bàn là một trong tám tướng của hóa thân Phật, là tướng trạng nhập diệt của Phật Đà. 

Phật Đà trụ thế hơn 80 năm, trong đó hơn 40 năm thuyết pháp. Khắp nơi ngài tùy duyên thuyết pháp, giáo hóa chúng sinh, chuyển hóa nghiệp cho đến tận cùng. Những ngày cuối, ngài ở dưới hai tàng cây Sala bên bờ sông Bạt Đề tại thành phố Câu Thi Na (Kushinagara) miền Trung Ấn Độ thuyết Đại Bát Niết Bàn Kinh, đầu hướng về phương bắc mặt hướng về phương Tây, nằm nghiêng bên sườn phải, rồi ngài nhập diệt.
 
Niết Bàn Thành là thủ đô sinh sống của các thánh giả, cũng chính là thủ đô của mọi pháp thực tướng, có ba ý nghĩa:
Không.
Vô tướng.
Vô tác.

Niết bàn pháp vị là:
"Thường trụ, tịch diệt, bất lão, bất tử, thanh tịnh, hư không, bất động, khoái lạc."
Tôi viết ra những điều này, Lư Sư Tôn cho rằng niết bàn thực sự có hai nghĩa:
1.	Thành tựu thánh quả.
2.	Nhập diệt vào Niết Bàn Thành.

Pháp Tướng tông lập ra bốn loại niết bàn:
1.	Bản lai tự tính thanh tịnh niết bàn --- nghĩa là, mặc dù có đủ mọi loại phiền não, nhưng tự tính thanh tịnh của nó trong suốt như hư không, cách xa tất thảy tướng phân biệt, ngắt ra khỏi mọi ngôn ngữ, tâm đi về chốn tịch diệt, duy có thánh giả có thể tự mình chứng được, bản chất nguyên của nó là tịch tịnh.
2.	Hữu dư y niết bàn --- nghĩa là cái nhân sinh tử và nghiệp chướng mê lầm mặc dù đã diệt tận nhưng vẫn còn quả khổ của ngũ uẩn bám theo thân.
3.	Vô dư y niết bàn --- nghĩa là cái nhân sinh tử và nghiệp chướng mê lầm đã diệt tận, đồng thời cả những quả khổ của ngũ uẩn bám theo thân cũng diệt tận, không còn sinh ra nữa.
4.	Vô trụ xứ niết bàn --- cắt đứt mọi chướng ngại, hiển lộ mọi chân như, mọi chướng ngại ý thức được là chướng ngại trí huệ, các chướng ngại được biết đến của nhị thừa (Tiểu thừa và Đại thừa) nhân duyên, không hiểu rõ đạo lý về sinh tử niết bàn không khác biệt, do vậy cố chấp vào việc oán ghét sinh tử, vui thích niết bàn. Khi Đức Phật cắt đứt mọi chướng ngại và chứng đắc chân trí bồ đề, đối với sinh tử và niết bàn có tình cảm không ghét không thích, nhưng có đại trí huệ, vì thế trụ tại sinh tử với tấm lòng đại bi, và cũng không trụ tại sinh tử làm lợi lạc cho hữu tình của thế giới vị lai, vì vậy mà gọi là vô trụ tuế, tác dụng lợi lạc mặc dù thường khởi nhưng cũng thường tịch, vì vậy mà gọi là vô trụ xứ niết bàn.

Xứ Phúc Châu, Đông Thiền. Thiền sư Huyền Giác.
Tăng nhân hỏi:
"Bản chất không có mê lầm không có giác ngộ, vì sao vẫn có Phật có chúng sinh?"
Thiền sư Huyền Giác đáp:
"Lời rơi rụng."
(Tôi nói: tất cả đều là niết bàn tướng, vì vậy lời rơi rụng.)
 
Tăng nhân hỏi:
"Tổ tổ tương truyền, truyền pháp ấn, ngày nay các vị thầy kế tục là người nào?"
Thiền sư Huyền Giác đáp:
"Đặc biệt cảm tạ chứng minh."
(Tôi nói: niết bàn chứng minh.)
 
Tăng nhân hỏi:
"Cái gì khiến bách long khi đó thân thọ kí, ngày nay ứng thánh vượt khỏi mê lầm."
Thiền sư Huyền Giác đáp:
"Đừng nhận biết sai!"

(Tôi nói: thường khởi cũng thường diệt, đây là vô trụ xứ niết bàn. Ai thọ kí ai? Ai độ hóa ai? Không, vô tướng, vô tác. Đương nhiên là nhận biết sai.)

--------------
Kiến tư, trần sa: kiến hoặc - tư hoặc - trần sa hoặc, ba loại mê hoặc vốn đều là vô minh phiền não, khiến chúng sinh mãi trầm luân trong sinh tử.
Kiến hoặc: mê lầm thuộc về Lý, gồm có 5 thứ: thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ và giới cấm thủ.
Tư hoặc: mê lầm thuộc về Sự, gồm có 5 thứ: tham, sân, si, mạn, nghi.
Trần sa hoặc: chướng ngại của các vị A La Hán vì thấy phiền não của chúng sinh nhiều như là cát bụi (trần sa).


### 47. Cái nhìn mới về tình yêu


Hỏi:
"Từng nghe Lư Sư Tôn ngồi trên pháp tọa thuyết pháp, ngài nói rằng tình yêu không nên bám chấp, ích kỷ chiếm hữu, tình yêu nên rộng lớn và đại lượng. Chúng tôi nghĩ thử, nếu tình yêu không bám chấp, tình yêu không ích kỷ, tình yêu không chiếm hữu, như vậy còn có thể xem là tình yêu không?"

Lại hỏi:
"Lư Sư Tôn còn nói, có thể giao phó người mình yêu nhất cho người ngoài nếu như người ngoài này có thể đem lại hạnh phúc và mỹ mãn cho người mình yêu, như vậy cũng là tình yêu chân chính. Tuy nhiên, nếu như vậy thì còn có thể xem là tình yêu chân chính không?"
 
Tôi đáp:
Đối với con người thông thường mà nói thì yêu chính là:
Bám chấp. Ích kỷ. Chiếm hữu.

Trong con mắt của tình yêu thì không thể chấp nhận được dù chỉ một hạt cát xen vào, tình yêu khiến người ta "điên khùng". Tình yêu là thế giới của riêng hai người, dù cho biển cạn đá mềm cũng không thể rời xa.

Nếu như có người khác xen vào thì ghen tuông, đố kỵ. Lúc này sẽ thành vấn đề nghiêm trọng, cuộc tình tay ba, ân ái tình thù, hậu quả không thể lường trước được.
Tình yêu có thể khiến người ta ham sống ham chết, tình yêu cũng có thể tạo ra những bi kịch lớn, rất nhiều bi kịch đều vì tình yêu mà sinh ra.
Bởi vì Lư Sư Tôn sau khi minh tâm kiến tính, cách nhìn của tôi và con người bình thường không giống nhau nữa.
 
Tôi là:
Vô ngã quán. (Quan điểm không còn cái tôi)
Vô phân biệt quán. (Quan điểm không còn phân biệt)
Tha nhân vi trọng quán. (Quan điểm vì người khác)
 
Tôi nói:
Bởi vì sau khi tôi minh tâm kiến tính, thấy được "nhất thực tướng ấn", tất cả thực tướng sinh mệnh đều đã kiến chứng được. Do vậy mà ấn chứng được vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả của Kim Cương Kinh. 
Do vậy tôi có vô ngã quán.

Bởi vì từ vô ngã quán tiến thêm một bước là sản sinh ra vô phân biệt quán, trong vô phân biệt quán thì tất cả mọi người đều bình đẳng và bình đẳng, tôi hay bạn đều không phân biệt.
Sau khi có những điều này rồi, trong lòng tôi không còn thù hận nữa, Phật huệ của tôi phát triển mạnh mẽ to lớn, đối với tình yêu của chúng sinh không có sự phân biệt người này người khác, chỉ hy vọng mọi người đều hạnh phúc mỹ mãn. Thậm chí tôi có thể nghĩ vì người khác, không nghĩ cho bản thân, vì người khác làm trọng, vì bản thân làm khinh, trở nên có thể xả thân vì người. Người khác có thể hạnh phúc mỹ mãn là quan trọng nhất, bản thân bất luận thế nào cũng được, đây chính là tinh thần Bồ Tát phát bồ đề tâm.
 
Do vậy, tôi nói:
Yêu, chính là làm cho người kia hạnh phúc.
Ai có thể làm cho người kia hạnh phúc thì nên chúc phúc.
Không phải đuổi tới đuổi lui.
Không phải giết tới giết lui.
Không phải hận tới hận lui.
Tinh thần rộng rãi vô lượng này của tôi sẽ không làm hại người khác, sẽ không đố kị với người khác, cũng sẽ không ghen tuông, càng không hận thù, tôi coi chúng sinh bình đẳng như nhau.
 
Thơ:
Ân ái tình thù chốn nhân gian.
Vĩnh viễn cuộn sóng lớn.
Vĩnh viễn xô lăn tăn.
Rào.
Khi ngộ ra rồi.
Tìm thấy được tâm mình.
Biết tất cả đều chẳng có.


### 48. Ma Ha Song Liên Trì


Hỏi:
"Lư Sư Tôn nói, có một thế giới tên gọi Ma Ha Song Liên Trì, cõi tịnh độ này ở Tây Phương Cực Lạc tịnh độ, còn nói rằng cực lạc ở tịnh độ này giống như ở Tây phương cảnh độ. Nếu là như vậy thì hà tất lại phải phân chia tịnh độ, tịnh độ này sao không nói trực tiếp luôn là Tây Phương Cực Lạc Thế Giới tịnh độ?"

Hỏi:
"Bổn tôn của Lư Sư Tôn là Phật A Di Đà, nhưng ngài lại nói Liên Hoa Đồng Tử ngang hàng với Phật A Di Đà, lại nói Lư Sư Tôn chính là Phật A Di Đà, vậy thì sao ban đầu không trực tiếp nói là Lư Sư Tôn chính là Phật A Di Đà?"
 
Tôi nói:
Trước tiên tôi kể hai chuyện cười.
 
Chuyện thứ nhất:
Một người có cha qua đời, mời hòa thượng đến đọc kinh, hòa thượng này đọc kinh vãng sinh Đông Phương tịnh độ.
Con trai của người chết kinh ngạc:
"Vì sao không thỉnh vãng sinh Tây Phương tịnh độ?"
Hòa thượng đáp:
"Cúng 500 đồng thì chỉ vãng sinh đến Đông Phương thôi. Cúng 1000 đồng thì mới vãng sinh Tây Phương."
Con trai của người chết bèn cúng 1000 đồng.
Lúc này hòa thượng mới nở mày nở mặt hớn hở niệm: vãng sinh Tây Phương.
 
Chuyện thứ hai:
Có một người cha lúc còn sống luôn luôn cố chấp, người ta nói tây, ông nói đông, người ta nói đông, ông bèn nói tây. Tóm lại, ông luôn có ý kiến trái ngược.
Sau khi ông chết, con trai mời hòa thượng đến đọc kinh, yêu cầu đọc kinh vãng sinh Đông Phương.
Hòa thượng hỏi: "Vì sao vậy?"
Con trai đáp: "Cha tôi cố chấp, ngài chỉ cần đọc vãng sinh Đông Phương, ông ấy nhất định vãng sinh Tây Phương."
 
Hai chuyện cười này rất thú vị.
 
Tôi nói:
Con người thông thường rất khó có thể hiểu được rằng vốn dĩ mười phương đất Phật đều tương thông, bạn đến Tây Phương tịnh độ cũng có thể du lịch mười phương đất Phật. Trong kinh điển cũng đã viết rất rõ ràng!

Tôi nói:
Tịnh độ của Phật Thích Ca Như Lai hay Phật Tỳ Lô Giá Na được gọi là Hoa Tạng tịnh độ. Trong biển nước thơm ở trên phong luân có một đóa hoa sen lớn, trong đóa hoa sen lớn này có hàng nghìn thế giới nhỏ li ti như hạt bụi, tổng cộng có 21 tầng, chính là Liên Hoa Tạng thế giới.
 
Còn nữa:
Hoa Tạng Thế Giới được tạo thành bởi hoa sen trân quý, Phật Thích Ca đã nói về Hoa Tạng tịnh độ trong Kinh Hoa Nghiêm.
Cực Lạc Thế Giới của Phật A Di Đà trong Kinh Quán cũng được gọi là Hoa Tạng tịnh độ.
Mật Nghiêm Phật Quốc trong Kinh Đại Nhật cũng là Hoa Tạng tịnh độ.
...

Do vậy tịnh độ mà tôi tự chứng, Ma Ha Song Liên Trì, cũng nằm trong Hoa Tạng tịnh độ. Tất cả đều tương thông. Hoa Tạng tịnh độ tổng cộng có 21 tầng. Là tương đồng, nhưng tên gọi thì khác.
 
Tôi nói:
Hư không truyền thừa gốc của tôi là:
Đại Nhật Như Lai -- Phật Nhãn Phật Mẫu -- A Di Đà Phật -- Liên Hoa Đồng Tử -- Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.

Trong Phật điển, chuyện này rất nhiều. Ví dụ:
Bát Nhã Phật Mẫu, 
đến Kim Cương Huyễn Mẫu, tới Bạch Độ Mẫu. 
Kim Cương Tát Đỏa, 
đến Kim Cương Tâm, tới Kim Cương Thủ.
Văn Thù Bồ Tát, 
đến Diêm Ma Tôn Giả, tới Đại Uy Đức Kim Cương.
Mã Đầu Quan Âm, 
đến Chuẩn Đề Quan Âm, tới Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm.
...
 
Tôi nói:
Là một cũng là khác, là khác cũng là một, ngay cả pháp thân Phật, báo thân Phật, ứng thân Phật cũng như vậy.
Cây trúc sinh ra măng, chúng ta không thể gọi măng là trúc được. 
Sự biến hóa của nước cũng như vậy, mây trên trời, mưa rơi xuống, nước trên mặt đất, tạo thành băng. Cứ thế, cứ thế.


### 49. Đời người vì cái gì?


Hỏi:
"Lư Sư Tôn, cuộc đời này của ngài vì cái gì?"
Tôi đáp:
"Vì bạn!"
 
Hỏi:
"Sao lại có chuyện như vậy? Rốt cục nhân sinh vì cái gì?"
Tôi đáp:
"Nhân sinh."
 
Hỏi:
"Đương nhiên chúng ta biết là nhân sinh, có phải để thành Phật không? Có phải để cứu độ chúng sinh không?"
Tôi đáp:
"Gọi là Phật cũng chỉ là phương tiện, độ chúng sinh cũng chỉ là một phương tiện."
 
Hỏi:
"Được rồi, không hỏi đời người vì cái gì nữa, mà hỏi ý nghĩa căn bản của đời người là gì?"
Tôi đáp:
"Thánh hiền là từ bi hỷ xả. Người thế tục là thanh sắc khuyển mã." [ND: Thanh sắc khuyển mã: phiếm chỉ lối sống xa hoa, buông thả, thối nát.]
"Việc này…"
Tôi cười lớn ha ha ha.

Ngày xưa, Giang Nam Quốc Chủ vô cùng kính trọng thiền sư Tịnh Huệ của Thiền viện Báo Ân. Thiền sư Tịnh Huệ là đại sư của thiền môn.
Tăng hỏi:
"Cầu Phật tri kiến, đường nào nhanh nhất?"
Thiền sư Tịnh Huệ đáp:
"Không qua đây."
 
Tăng hỏi:
"Phòng tối trăm năm, một ngọn đèn có thể phá, vì sao là một ngọn đèn?"
Thiền sư Tịnh Huệ đáp:
"Cái gì là trăm năm?" (Lời này làm người ta kinh ngạc.)
 
Tăng hỏi:
"Cái gì là đạo chân chính?"
Thiền sư Tịnh Huệ đáp:
"Một nguyện cũng dạy ngươi đi, hai nguyện cũng dạy ngươi đi."
 
Tăng hỏi:
"Huyền chỉ của chư Phật là gì?"
Thiền sư Tịnh Huệ đáp:
"Ngươi cũng có."
 
Tăng hỏi:
"Làm sao tương ứng với đạo trong 12 thời?"
Thiền sư Tịnh Huệ đáp:
"Tâm chọn hay bỏ thành xảo ngụy." (Huyền chỉ nằm trong đó.)
 
Tăng hỏi:
"Không có một vật, nói thế nào?"
Thiền sư Tịnh Huệ đáp:
"Mỗi ngày ngươi sống thế nào?" 

Cuốn sách Đương Đại Pháp Vương trả lời khách hỏi của tôi đã viết đến chương cuối cùng rồi. Chương này lấy tiêu đề là "Đời người vì cái gì?" làm một câu tổng kết thực sự là vô cùng 
có ý nghĩa. Sao mọi người không thử nghĩ xem: "Đời người vì cái gì?"

Tôi hỏi:
"Bạn sống ở nhân gian rốt cục vì cái gì?"
Tôi hỏi:
"Cái gì là tướng chân thực của đời người?"
Tôi hỏi:
"Cuộc sống mỗi ngày của bạn có ý nghĩa gì?"
 
Lư Sư Tôn tôi đưa ra ba câu hỏi này, nếu bạn có thể trả lời chính xác thì cũng không uổng phí tôi viết cuốn sách này.
Những câu trả lời của tôi, bạn có đồng ý không?
Những câu trả lời của thiền sư Tịnh Huệ, bạn có đồng ý không?
Tôi hy vọng mọi người đều có thể trả lời, hơn nữa còn siêu việt hơn, như vậy lại càng có pháp vị.

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/220-duong-dai-phap-vuong-giai-dap-nghi-hoac.md
# Title: 220. Đương Đại Pháp Vương giải đáp nghi hoặc
---

![image](/img/img_a0d59beb401bec9c29f57571564efc6d.jpg)



## Đương Đại Pháp Vương giải đáp nghi hoặc


🪷 Đại huệ phổ chiếu

Văn tập số: 220
Xuất bản: 03/2011
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu


Văn tập Đương Đại Pháp Vương Trả Lời Khách Hỏi sau khi được xuất bản đã làm dấy lên một cuộc tranh luận rất lớn. 
Rất nhiều độc giả lần lượt gửi thư đến, hơn nữa còn nêu ra những nghi hoặc mới. Vì vậy tôi buộc phải sắp xếp phân loại các câu hỏi này, sau đó viết thêm một cuốn để giải thích.
Lý do xuất bản cuốn sách này chính là như thế. Tôi tin rằng cuốn sách sẽ giúp ích rất nhiều cho việc tu hành học Phật. Hy vọng rằng tất cả các tu hành giả sẽ trân trọng nó. 

Thế gian thời nay là thời kỳ mạt pháp, các đại thiện tri thức chân chính rất ít và cũng rất khó tìm khó gặp. Điều tồi tệ hơn là các chúng sinh bình thường không sở hữu pháp nhãn (*), nhận thức không rõ ràng nên đã bỏ lỡ mất sự hiện diện của Pháp Vương chân chính. Thay vào đó, họ lại đi chạy theo những sự việc như xây chùa lớn, tạo danh tiếng, mãi theo đuổi sự nghiệp thế tục. Đúng ra họ phải nên tìm một đại thiện tri thức, một vị tôn giả nhất thiết vô ngại, chứng ngộ thấu triệt, minh tâm kiến tính, dung hội quán thông Phật pháp. (*) 
 
Vị tôn giả này nhất định phải là người:
Vô ngã.
Vô vi.
Vô tâm.
Vô sinh.
Vô nhân.
 
Vị tôn giả này sau khi đã minh tâm, trải qua một quá trình tu hành, kiến chứng được Phật tính, hơn nữa lại phát đại Bồ đề tâm, mà trong ngũ trược ác thế, người đã phát nguyện đời đời kiếp kiếp quảng độ chúng sinh.
Vị Tôn giả này là ai?
Độc giả hãy lau sạch mắt mà nhìn cho kĩ.
 
Mặc dù cuốn sách này được đại chúng hóa (*), nhưng những người đặt câu hỏi đều có trình độ và tư cách "Thượng sư", là bác học có tiếng tăm, vì vậy câu hỏi của người hỏi thậm chí còn đào sâu và châm chọc chua cay hơn. Nếu không phải là một đại thiện tri thức chân chính thì không thể trả lời được.
 
Tôi dựa vào: 
Vô sân vô oán.
Bi tâm đại phát.
Phân tích chân lý.
Dẫn chứng kinh tạng.
Tự chứng tự tri.
để hồi đáp những chất vấn của chư vị thượng nhân. Tôi tin rằng trả lời những nghi hoặc một cách thỏa đáng rồi thì sẽ nhận được sự đồng thanh ủng hộ của mọi người.
 
Các vấn đề trong sách bao gồm:
Thế thân
Sát sinh
Mâu thuẫn trong sách của Lư Sư Tôn
Nghi vấn về tu pháp
Sự xung đột giữa quy tắc đạo Phật và thế giới hiện tại
V.v.
 
Những chủ đề này rất thú vị, tôi sẽ phản ứng lại những câu hỏi này như thế nào, đưa ra lời giải thích như thế nào đây? May thay Lư Sư Tôn là một vị minh tâm kiến tính, nếu không thì những câu hỏi này rất khó trả lời, độc giả hãy đọc kỹ từng chi tiết để xem Lư Sư Tôn tôi trả lời như thế nào nhé.
 
Xây chùa lớn đúng không?
Xây bệnh viện đúng không?
Chuyên làm từ thiện đúng không?
Hành giả nổi danh đúng không?
 
Tôi muốn phân tích chi tiết từng khoản từng mục nghĩa lý rõ ràng của nó, lần lượt phân minh hiểu rõ nguyên lý, rồi từ những bước tỉ mỉ này mà đưa ra trong sách nhiều lời khẳng định sâu sắc. Điều này sẽ đem đến lợi ích cho các vị Phật vị lai!     

Tôi hy vọng độc giả sẽ không ngần ngại đặt câu hỏi. Tôi sẽ hồi đáp tất cả với tâm vô thượng.

Hãy nghiền ngẫm đọc đi đọc lại cuốn sách này, sẽ được chứng ngộ.

------------------
Pháp nhãn: con mắt có năng lực của Pháp, sáng suốt và rõ ràng
Nhất thiết vô ngại: hoàn toàn không còn sự cản trở, chướng ngại nào.
Dung hội quán thông: tinh thông kiến thức và trải nghiệm thực tế.
Ngũ trược ác thế: ngũ trược là năm thứ dơ bẩn ở cõi Ta Bà, gồm kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sinh trược, mạng trược; chúng sinh ai cũng biết ngũ trược này là ác thế nhưng đều khó thoát ra.
Đại chúng hóa: viết cho số đông.

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Vì sao có sự thế thân?


Hỏi: "Vì sao có sự thế thân"?
 
Lư Sư Tôn trả lời:
Phật Thích Ca Mâu Ni trước khi thành Phật đã từng luân hồi trong lục đạo, có một kiếp thác sinh là một thương nhân. Một lần, ngài cùng 500 thương nhân vượt biển đi giao thương. Trên đường đi, có một tên trộm xưng là "đoản mâu hắc nhân" có ý đồ hiểm độc muốn giết hại 500 thương nhân để cướp hết tài sản của họ. [ND: Đoản mâu hắc nhân: kẻ xấu xa (hắc nhân) với cây giáo ngắn (đoản mâu).]
 
Phật Thích Ca Mâu Ni biết trước rằng 500 vị thương nhân trong kiếp này sẽ được thiện quả, sẽ đạt được quả vị Bát Địa Bồ Tát. Nếu như tên trộm "đoản mâu hắc nhân" này giết hại họ thì tên trộm này sẽ bị quả báo đọa địa ngục, hơn nữa còn vĩnh viễn không thể thoát ra, không được siêu sinh, thật là tội nghiệp.
Phật Đà nghĩ: "Nếu tôi giết tên trộm này thì hắn sẽ không vào địa ngục, ngược lại tôi sẽ thay hắn vào địa ngục." Vì vậy, Phật Thích Ca Mâu Ni đã giết chết tên trộm.
 
Quả báo là đại thiện nghiệp, Đức Phật đã vì sinh mạng của 500 thương nhân mà cứu họ. Thay vì phải vào địa ngục thì ngược lại, còn được viên mãn tư lương bảy vạn kiếp, giúp ngài tiến thêm một bước trên con đường thành Phật. [ND: Viên mãn tư lương: lương là lương thực, tư là tư trợ, là giúp đỡ. Hành giả cần có lương thực Pháp, lương thực thiện căn công đức để trợ giúp sự thành tựu.]

Riêng về phần giết chết tên trộm "đoản mâu hắc nhân", do ngài không có mục đích ích kỉ, chỉ muốn cứu 500 vị thương nhân, lại còn chịu thế thân cho tên trộm "đoản mâu hắc nhân" vào địa ngục, nên ngược lại đã biến thành một thiện nghiệp to lớn.
 
Tôi nói: 
Thế thân đã xuất hiện trong Kinh Bản Sinh của Phật Đà, khi Đức Phật thực hiện Bồ Tát hạnh, thường xuyên chịu khổ thay cho người khác. Như câu truyện kể ở trên, Đức Phật vốn chỉ nghĩ một cách đơn thuần rằng ngài không muốn để cho tên trộm "đoản mâu hắc nhân" phải đọa vào địa ngục vô gián, thà để mình tự giết tên trộm "đoản mâu hắc nhân" rồi mình xuống địa ngục.
 
Đây chính là thế thân.
Cá nhân tôi đã từng sử dụng pháp thế thân để siêu độ tiếp dẫn các linh hồn bị chết trong trận động đất lớn. Một nhóm các linh hồn trung ấm này được chiêu thỉnh đến vì họ tạm thời không có chỗ nào có thể trú thân.

Tôi tự nhiên có ý tưởng kỳ lạ:
"Hay là ở trong mắt của tôi đi!"
(Đôi mắt tôi đã biến thành hotel - khách sạn trú ẩn cho vong linh của trận động đất vừa qua.)

Lần lượt từng linh hồn trung ấm biến thành những chấm đen nhỏ nhỏ bay vào trong đôi mắt của tôi. 
 
Thế là:
Đôi mắt tôi vô duyên vô cớ đỏ như máu. Mắt cứ đỏ như vậy hơn cả tuần lễ.

Sau đó, trong lễ cúng Hộ Ma siêu độ tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, tôi đã sử dụng quang minh tiếp dẫn của Phật A Di Đà. Lần lượt từng linh hồn trung ấm bay ra khỏi mắt tôi, đi vào trong ánh sáng tiếp dẫn quang minh của Phật A Di Đà. Cứ vậy cho đến khi linh hồn cuối cùng bay ra khỏi mắt lên con thuyền pháp thì mới kết thúc. Lần này tôi hóa độ cho sáu nghìn linh hồn.
 
Nói ra cũng kỳ lạ, vừa kết thúc siêu độ, đôi mắt tôi từ màu đỏ đã trở lại trắng đen bình thường. Không cần nhỏ mắt, không cần đi khám bác sĩ. Riêng tôi thì hiểu rõ đó chính là: Thế thân.
 
Trong pháp thuật của Mật giáo cũng thường sử dụng pháp thế thân, hay hình nhân giấy thế mạng.

Ngoài ra còn có: 
Thế thân bằng lôi phách mộc (cây bị sét đánh trúng).
Thế thân bằng Kim thân Bồ Tát.
Thế thân bằng pháp Sinh Cơ. 
Thế thân bằng Thủy lưu thi.
Thế thân bằng pháp Hộ Ma.
 
Tôi nói: "Thế thân là có thật, Phật sống chuyển kiếp hoặc một cơ thể thay thế bằng một cơ thể khác, cũng là thế thân. (Đoạt xá pháp)."


### 02. Khắp nơi có quỷ thần


"Có người nói, giúp đỡ đồng môn mang theo phiếu đăng kí siêu độ, không ngờ có hiện tượng tạp âm, xin hỏi đây có phải là thế thân không?" [Tạp âm: hiện tượng gần giống như bị ma quỷ nhập, quấy nhiễu, hoặc thân vật lý bị chịu ảnh hưởng dễ dàng ngay từ các cõi giới khác.] 
Tôi trả lời:
Ngày xưa sống đối diện với nhà tôi có một người đàn ông tên là Hoàng Vạn Cát, chúng tôi gọi vợ của ông ta là chị dâu Vạn Cát. Chị dâu Vạn Cát là người theo đạo Phật, có chút năng lực thông linh, có thể hát Tứ Câu Liên, lúc có linh nghiệm thì cũng rất thú vị.

Một ngày nọ, chị dâu Vạn Cát tham dự pháp hội Thận trai đường tại Đài Trung, trong pháp hội chị ngắm nhìn kim thân trang nghiêm mỹ lệ của Quan Thế Âm Bồ Tát, váy áo bay bay vô cùng sống động. Chị dâu Vạn Cát không kiềm chế được bèn đưa tay sờ vào kim thân của Bồ Tát một chút.
Không ngờ chỉ trong tích tắc, bàn tay của chị liền sưng vù lên to như bánh bao mai rùa, đau đến mức kêu lên oai oái. 

Nhưng hồi đó tôi không tin đây là chuyện tà ma, cũng sờ thử lên tượng Quan Thế Âm Bồ Tát một chút. Tay của tôi không hề sưng vù lên như cái bánh bao mai rùa, cũng chẳng hề đau, tất cả đều bình thường như không có gì hết. Tôi chẳng gặp một chút vấn đề nào.

Tôi nói:
Người dễ bị tạp âm thì đâu đâu cũng bị tạp âm.
Người không bị tạp âm thì muốn anh ta bị tạp âm cũng khó.

Ý tôi muốn nói rằng khi bạn giúp đồng môn đem theo phiếu đăng kí siêu độ thì sẽ có một số quỷ thần theo phiếu đăng kí mà đến.

Người dễ bị tạp âm thì đâu đâu cũng bị tạp âm.
Người không bị tạp âm thì sẽ không bị tạp âm.
 
Mọi người cần biết rằng trong cõi giới vô hình, đâu đâu cũng có quỷ thần, không thể lừa gạt quỷ thần, không thể tranh chấp với quỷ thần, không thể đắc tội với quỷ thần, vì thậm chí một việc cực kì nhỏ cũng có thể khiến cho bị tạp âm.
Ví dụ:
Ăn cơm.
Đi ngủ.
Đại tiểu tiện.
Đều có thể bị tạp âm. 

Tôi nhận thấy: "Đây không phải là chịu thế thân, mà là bị xung phạm!"
Cho dù đâu đâu cũng có quỷ thần thì chỉ cần biết tu các pháp phòng hộ là sẽ không bị xung phạm bởi quỷ thần. Giúp đồng môn mang theo phiếu đăng kí mà lại bị tạp âm cho thấy người này năng lực phòng hộ không đủ mạnh.

Một lần nữa, có thể thấy vị đồng môn đó là mang thể trạng tạp âm. Có một số người vốn rất dễ bị tạp âm. 

Có một lần.
Tôi gia trì cho một người bị mất ngủ. Khi quang minh phổ chiếu lên toàn bộ thân tâm của người đó, một con quỷ từ bên trong người này liền vội vã tìm cách thoát ra nhanh tới mức nó bị ngã rất đau. Quỷ tru tréo gào thét, nghiến răng nghiến lợi. Còn người bị mất ngủ thì ngay đêm đó ngủ một mạch đến sáng. Anh ta nói: "Đó là một giấc ngủ ngon lành nhất trong đời." 
Việc không ngờ đến là con quỷ đó không chấp nhận việc gia trì của tôi nên đêm đó đã đến tìm tôi.

Tôi ngủ ở trên hoa sen, xung quanh bông hoa sen là nước. Con quỷ đó biến thành một con rắn nước bơi đến bên cạnh bông hoa sen. Một chân của tôi duỗi ra bên ngoài bông hoa sen bất ngờ bị con rắn nước cắn cho một phát vào ngón chân, tôi bị cắn nên tỉnh giấc. 

Vốn dĩ là người bị mất ngủ đó bị quấy nhiễu.
Bây giờ đã đổi thành tôi bị quấy nhiễu.
Đây chính là thế thân – chịu thay.

Rất may tôi dùng pháp Chày kim cang, niệm chú ba âm Lang - Yang - Kang [Ram Yam Kham]. Sau đó tôi liền hóa thành chày kim cang.
Con rắn nước đó cắn tôi không được nữa, đêm đó tôi vẫn ngủ ngon lành. Con quỷ đó rất tức giận phải bỏ đi.
 
Ý của tôi muốn nói rằng:
Nhân gian mặc dù là cõi giới của người, nhưng quỷ thần vô hình có thể "tác nghiệp" khắp nơi trong chốn nhân gian. Bất kể là chuyện nhỏ hay to đều có thể quấy nhiễu chúng sinh. Tuy nhiên chúng sinh cũng không phải sợ hãi, chỉ cần phẩm chất ngay thẳng, việc làm đúng đắn, thì "một chính" có thể đập tan "vạn tà", bất kể xung phạm gì cũng không sợ.

Hơn nữa hành giả Mật pháp lại càng có thể tu các pháp phòng hộ! Sợ cái gì chứ?


### 03. Trả về hư không vô tận


Hỏi:
"Có vài vị Thượng sư làm pháp Hộ Ma, lúc thì có hiện tượng thế thân, lúc khác lại không có, đây có phải do công lực của Thượng sư chưa thâm sâu không?"
 
Tôi trả lời:
Trước tiên tôi kể một câu chuyện cổ đã nhé! Sau đó sẽ giải thích việc này.

Trước đây có một lão phu nhân, con trai của bà thường đi Ấn Độ giao thương. Lão phu nhân nói với con trai: "Nghe nói đó là nơi có thánh nhân Phật Đà khi trụ thế, con đã đi Ấn Độ rồi thì hãy thỉnh về một vật được gia trì của Phật Đà để mẹ đảnh lễ, tụng chân ngôn."
 
Thế nhưng cậu con trai khi đi Ấn Độ giao thương do công việc quá bận nên quên sạch việc người mẹ gửi gắm. Việc này xảy ra vài lần. Cuối cùng, người con trai lại đi Ấn Độ giao thương, lão phu nhân nghìn lời căn dặn, vạn lời nhắc nhở rằng nhất định phải đem một món đồ được Phật Đà gia trì về. Người con trai đến Ấn Độ, lại do công việc kinh doanh quá bận rộn, mà hễ bận là quên luôn lời dặn của mẹ. Sau khi làm xong công chuyện, anh trở về đến cửa nhà mới nhớ ra lời dặn của mẹ.
 
Cậu con trai vô cùng lo lắng. Bỗng nhiên anh ta phát hiện ra bên cạnh nhà có một cái răng chó, thế là anh nhặt nó lên, rửa sạch, dùng vải lụa bọc lại trông rất đàng hoàng trang nghiêm.

Cậu con trai đưa chiếc răng chó cho mẹ, nói là răng của Phật Đà, là răng Phật. Người mẹ vô cùng thành kính đem răng chó thờ cúng như một vật thần thánh, mỗi ngày bái lạy ba lần, niệm chân ngôn, cúng dường lên tổ tiên. Cứ như vậy bà đảnh lễ, cúng dường, tụng chú, cuối cùng kì tích đã xuất hiện.
 
Trước tín tâm của lão phu nhân, không thể tưởng tượng được rằng răng chó đã sinh ra rất nhiều rất nhiều xá lợi, sáng lên lấp lánh. Bà đem xá lợi này tặng cho mọi người. Còn lão phu nhân sau khi qua đời cũng sinh ra rất nhiều xá lợi, có rất nhiều hào quang và hình dạng kì lạ.
 
Kì thực đây chính là lòng tin kiên định của lão phu nhân đã cảm động tới Phật Đà. Phật Đà gia trì cho cái răng chó, thế là răng chó và răng Phật trở nên như nhau không khác biệt, đều có cùng pháp lực.
 
Câu chuyện cổ kể trên với việc thế thân thì có liên quan gì không? Có liên quan đấy!

Một Thượng sư nếu có tín tâm vô cùng mãnh liệt, lại dựa vào vị Thầy, Bổn tôn, Hộ pháp của chính mình theo cách vô cùng kiên định, thì đáng lẽ họ phải chịu thế thân nhưng đã truyền sang cho Thầy, Bổn tôn, Hộ pháp của mình rồi.

Vị Thượng sư này biết rằng Thầy, Bổn tôn, Hộ pháp sẽ đem toàn bộ nghiệp chướng khí trả về với hư không vô tận. Do vậy, họ không phải chịu thế thân, vì hư không đã thế thay cho rồi.
 
Ngoài ra, nếu Thượng sư mà có tín tâm bất định, đối với căn bản Thượng sư của mình, Bổn tôn, Hộ pháp còn có sự nghi ngờ thì vị Thượng sư đó không thể nương dựa được hoàn toàn vào các chư vị cõi trên được. 

Thượng sư như vậy khó mà tránh khỏi có lúc sẽ phải thế thân. 

Nếu hiểu được đạo lý vô nhị vô biệt, không hai, không sai khác, tâm niệm vững chắc, thì tất cả nghiệp chướng khí sẽ được trả về với hư không vô tận, sẽ tránh được việc thế thân.

Có Thượng sư nói:
"Để tôi thế thân cho là được!"
Có Thượng sư nói:
"Giao phó cho Thầy, Bổn tôn, Hộ pháp đi thế thân, trả về với hư không!"

Do vậy, việc thế thân này không liên quan gì hay dính líu gì đến chuyện công lực cả.
 
Có một lần, sư tỷ Toản Tâm người Hồng Kông đến Đài Loan tham gia pháp hội, ở tại khách sạn lớn tên là XY ở Đài Bắc, đến buổi tối không ngờ lại gặp ma quỷ đến. Cô hết sức niệm Phật nhưng quỷ vẫn không đi, lại tiếp tục ra sức niệm Phật nhưng quỷ vẫn cứ không đi.

Sư tỷ Toản Tâm cuối cùng không chịu đựng được hét lên:
"Thượng sư Lư Sư Tôn của tôi đang ở tầng trên, ngươi đi tìm ngài ấy đi!"
Nghe vậy con quỷ này mới đi.

Tiếp đó, tôi dùng đại pháp lực đem con quỷ độ đến Tây Phương Cực Lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì.
Xin hỏi: Đây có phải là thế thân không?


### 04. Nấc cụt không ngừng


Hỏi: 
"Thượng sư của tông phái lúc làm pháp hội thỉnh cầu Lư Sư Tôn gia trì, vậy Sư Tôn có phải thế thân không?"
 
Trước tiên tôi kể một câu chuyện có thật.
Một ngày vào tháng 11 năm 2010, buổi sáng tôi ngủ dậy bỗng nhiên bắt đầu nấc cụt liên tục. Nấc cụt vốn là một chuyện nhỏ, lẽ ra sẽ tự hết, nhưng lúc này lại cứ nấc mãi không hết. Tôi cố gắng dùng mọi cách để khiến nó ngừng lại.
Tu bảo bình khí.
Nhún mạnh một cái.
Uống nước ấm.
Uống rượu mật wasami.
Nín thở lâu lâu rồi lại thở ra.
Vỗ lưng.
Ngồi im thiền định.
Tập trung tinh thần quán tưởng.
Uống nước nấu đinh hương với gừng.
…
Chẳng ngờ cơn nấc cụt này vẫn không chịu dừng lại. Tôi nấc từ buổi sáng đến buổi tối. Chỉ có một lúc nó dừng lại là lúc ăn cơm tối, ăn cơm xong lại bắt đầu nấc.
Tôi thực sự không chịu nổi sự phiền phức của nó nữa, thế là tôi bắt đầu trì chú. Tôi trì chú vãng sinh, niệm hết sức, cứ niệm rồi niệm, cơn nấc vẫn không ngừng. Tôi lại tiếp tục niệm, khi nấc thì dừng lại, nấc xong thì lại tiếp tục niệm. 

Bỗng nhiên, tôi nhìn thấy một quang khí từ trong miệng của tôi thoát ra, từ từ bay lên cao. (Khí này vừa thoát ra thì cơn nấc lập tức hết.) Trong quang khí có một vị pháp sư, là pháp sư Liên Mậu. Quang khí lúc này cùng với vị pháp sư đó bay đi đến cõi tịnh độ.

Ngày hôm sau có tin tức truyền đến. 
Pháp sư Liên Mậu đã qua đời rồi. Đã viên tịch rồi!

Hóa ra câu chuyện trên thực tế xảy ra như sau.
Lúc pháp sư Liên Mậu qua đời, mọi người giúp ông đọc kinh. Khi thân trung ấm của ông thoát ra, ông một lòng nghĩ đến căn bản Thượng sư Lư Sư Tôn sẽ cứu ông. Bình thường thì ông niệm Thượng sư tâm chú, lúc lâm chung thì cũng chỉ nghĩ đến việc đi tìm Lư Sư Tôn. Ông tin Sư Tôn nhất định sẽ có cách cứu ông, siêu độ cho ông đến Tây phương tịnh độ.

Vậy là ông ấy đến tìm tôi, khi thấy liền đi vào ngụ trong người tôi. Lúc ông trú ngụ vào thì tôi cũng bắt đầu bị nấc. Đây là hiện tượng quang khí của ông với quang khí của tôi không phù hợp. Vì thế cơn nấc không thể dừng được. 

Tôi đã dùng hết mọi cách để dừng cơn nấc, nhưng vẫn không thể khiến nó dừng lại. Cuối cùng từ trong tiềm thức tôi biết được chuyện này, bèn hết sức trì chú vãng sinh, đưa pháp sư Liên Mậu đến Ma Ha Song Liên Trì. Nhờ vậy cơn nấc của tôi mới hết!
 
Ý của tôi rằng: 
Thế thân là một pháp dựa trên nhân duyên. Phải có đủ nhân duyên thì mới thế thân được. Pháp sư Liên Mậu buộc chặt tâm mình với căn bản Thượng sư, có được cái tâm với tâm này, ông ta trú nhập vào người tôi, đương nhiên tôi sẽ thế thân.

Những Thượng sư khác làm pháp hội, cầu Lư Sư Tôn tôi gia trì, nếu gặp đúng người có duyên phận thì vẫn phải thế thân không dừng được. Các linh hồn của pháp hội sẽ tập trung trên người tôi. Còn tôi sẽ dùng công lực, vận dụng Phật pháp đưa họ vãng sinh đến chốn Phật quốc tịnh độ thanh tịnh.
 
Trên thực tế, tôi cũng không nhất thiết phải thế thân. Tôi có thể mời thỉnh Bổn tôn, Hộ pháp, … của tôi thay tôi làm những chuyện này. Những việc kiểu này tôi không cần thiết phải tự đi làm. 

Thân trung ấm của pháp sư Liên Mậu đến tìm tôi, đây là một trường hợp ngoại lệ, nhưng cũng là một thực tế. Người chứng kiến được chuyện có thật này là Thượng sư Liên Cực và một số người khác, ngoài ra còn có một vài đệ tử ở Cao Hùng.
 
Vậy thì, mọi người đã hiểu chưa?


### 05. Là ai nói "Không có chuyện thế thân?”


Hỏi: 
"Trong cuốn sách Đương Đại Pháp Vương Trả Lời Khách Hỏi, có nhắc đến việc Không có chuyện thế thân. Vì sao Lư Sư Tôn lại nói như vậy?"
 
Tôi trả lời:
Là chính tôi nói rằng Không có chuyện thế thân. Vì sao rõ ràng là có chuyện thế thân mà Lư Sư Tôn lại nói là không có?
Là tôi từ góc độ của Đệ nhất nghĩa đế mà nói. [ND: Đệ nhất nghĩa đế: cũng gọi là chân đế, thánh đế, chân lý tối cao. Còn chân lý ở thế gian gọi là Thế đế. Phật dùng phương tiện khéo léo để tuỳ thuận chúng sinh nên mới nói hai loại chân lý. Nếu nói chân lý vượt lên trên hoặc vượt ra khỏi chân lý thế gian thì gọi là Đệ nhất nghĩa đế.]

Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp 49 năm tại nhân gian, cuối cùng đã nói là không hề có thuyết pháp, dù chỉ một chữ cũng không hề nói. (Đệ nhất nghĩa đế)
Chuyện kể lại rằng Sơ tổ của Thiền tông - Bồ Đề Đạt Ma sáng lập Thiền tông Trung Quốc vào lúc đi về phía Tây. Ngài từng đi qua Tây Tạng, để lại đó pháp Cổ Lí Tát, và được dân chúng ở đây tôn làm lão sư tổ của phái Cổ Lí Tát. Trong truyền thuyết cũng kể Đạt Ma sư tổ từng gặp mặt Milarepa, người Tây Tạng gọi Đạt Ma sư tổ là Padampa Sangye.
 
Theo Thiền tông: "Bản lai vô nhất vật". (*)
Theo Kinh Kim Cương: "Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng".
(Đây đều là Đệ nhất nghĩa)

Khi Phật Thích Ca Mâu Ni nhập niết bàn, Văn Thù Bồ Tát xuất hiện, nói với Phật Đà rằng: "Thỉnh Phật tiếp tục chuyển pháp luân."
Phật đáp:
"Ta có ba lần chuyển pháp luân à?"
Văn Thù Bồ Tát lập tức hiểu ra bèn không nói gì nữa.
(Đây đều là Đệ nhất nghĩa đế)
 
Tôi (Lư Sư Tôn) trong lúc thuyết pháp thường hay nói rằng trên mặt trăng vốn không có người. Bởi vì không có người nên cái gì gọi là nghiệp chướng và tập khí? Bởi vì không có người nên có cần phải thế thân nọ thế thân kia không?

Trên mặt trăng không có thế thân. Nói như vậy cũng có nghĩa là chỉ có ở nhân gian mới có, hư không chẳng có một vật gì thì thế thân để làm gì?
 
Kì thực trong Mật giáo cũng có minh tâm kiến tính của pháp Đại Viên Mãn. Pháp Đại Viên Mãn cho rằng tâm tính của con người hiện nay chính là Phật tính, ở nhân gian chỉ có sự khác biệt giữa tỉnh và mê mà thôi.

Minh tâm là trí huệ bản giác.
Kiến tính là kiến chứng được bản giác thanh tịnh quang.
 
Chùa Tử Ninh Phổ Vấn ở Đài Châu có thiền sư Trí Cần.
Tăng nhân hỏi:
"Làm sao có thể tay không cầm cán mai?"
Thiền sư Trí Cần đáp:
"Chỉ có cách tin vào sự thật."
Tăng nhân hỏi:
"Thế nào là cưỡi trâu nước đi bộ?"
Thiền sư Trí Cần đáp:
"Anh từ đâu đến?"
 
Bài kệ của thiền sư Trí Cần:
Kim niên ngũ thập ngũ
Cước vị đạp thốn thổ
San hà thị nhãn tình
Đại hải thị ngã đỗ.
 
Dịch kệ:
Năm nay năm mươi lăm
Chân vẫn chưa chạm đất
Sông núi là con mắt
Biển lớn là bụng tôi.
 
(Đây đều là Đệ nhất nghĩa đế, hiểu được Đệ nhất nghĩa đế thì được gọi là hiểu rõ tự tâm, người hiểu rõ tự tâm đương nhiên biết rõ về cơ bản là chẳng có việc gọi là thế thân.)
 
Tôi là một người minh tâm kiến tính. Người minh tâm kiến tính tự nhiên sẽ hiểu được Đệ nhất nghĩa đế.
 
Hỏi:
"Ngài viết cuốn sách số 220 đúng không?"
Tôi đáp:
"Đâu có."
Hỏi:
"Ngài thuyết pháp 40 năm rồi đúng không?"
Tôi đáp:
"Đâu có."

Do vậy, căn bản là không có chuyện thế thân.


### 06. Sát sinh trong trò chơi điện tử


Hỏi: 
"Có một vị là pháp sư Tịnh Không, trong lúc trả lời tín chúng nói rằng sát sinh trong trò chơi điện tử cũng là tội phạm, do vậy cũng có nhân quả giống như giết người, nói như vậy có đúng không?"
Lại hỏi: 
"Chúng sinh trong trò chơi điện tử không bị đau, hoặc bị thương, vì sao lại là có tội?"
Lại hỏi: 
"Đời này giết người có thân nghiệp và ý nghiệp, giết người trong trò chơi điện tử có tồn tại thân nghiệp và ý nghiệp hay không?"
 
Tôi trả lời:
Ba câu hỏi này đều có liên quan đến trò chơi điện tử, do vậy tôi sẽ trả lời chung luôn ở đây. Chúng ta biết rằng pháp sư Tịnh Không vô cùng nỗ lực hoằng dương tịnh độ, pháp sư Tịnh Không cũng là một người rất chân thật, do vậy đương nhiên nói rằng sát sinh trong trò chơi điện tử cũng có tội báo, giống như nhân quả của việc giết người.
 
Tôi giải thích như sau:
Đây là vấn đề của tâm. 
Tôi giải thích một chút, tâm và ý là để chỉ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, gốc của ý, A-lại-da-thức. 

A-lại-da-thức gọi là "tâm vi tế nhất". 
Tên gọi của A-lại-da-thức có rất nhiều, có tên gọi là "Như Lai Tạng", cũng chính là "trong Như Lai Tạng có Như Lai", cũng chính là Phật tính.
 
Tu tập thiền tông đến cảnh giới cao nhất thì:
Thiền - không chịu tác động của ngoại cảnh xung quanh.
Định - tâm không động loạn.

Nếu như một hành giả có lực thiền định thâm sâu, anh ta khi chơi trò chơi điện tử sẽ không bị ảnh hưởng bởi trò chơi điện tử, tâm cũng không động loạn. Đây cũng là biểu hiện anh ta không bị ô nhiễm bởi sát sinh trong trò chơi điện tử. Hành giả như vậy, cá nhân tôi cho rằng sẽ: "Không phải chịu nhân quả sát sinh!"

Là bởi vì vô tâm. 
 
Nói cách khác là con người thông thường mê đắm vào trò chơi điện tử sát sinh mà tâm bị ảnh hưởng, thích giết tới giết lui, trong cuộc sống thực tế cũng bắt chước theo như vậy, chỉ cần in sâu vào trong tâm thì chắc chắn sẽ có tồn tại nhân quả báo ứng.
Nếu bị ảnh hưởng
Nếu tâm động loạn
Tất có nhân quả báo ứng!

Cá nhân tôi biểu thị sự tán đồng sâu sắc đối với lời nói của pháp sư Tịnh Không, bởi vì trên đời này rất ít người không bị ảnh hưởng bởi môi trường xung quanh, rất ít người tâm không động loạn.
 
Vấn đề thứ hai, nhân vật trong trò chơi điện tử đương nhiên là ảo, không phải là người thật, sẽ không bị đau, cũng không bị thương, vì sao lại có tội?

Nhân vật hư ảo, là người giả, đương nhiên là không có tội. Có tội chính là người chơi trò chơi giết người, bởi vì tai nghe mắt nhiễm, bởi vì đã gieo xuống hạt giống sát sinh, bởi vì tâm động, bởi vì học tập theo, mặc dù người giết đó là hư ảo, nhưng ý niệm một khi đã khởi lên thì cũng là tội!

Ví dụ:
Có người gặp một "hot girl" xinh đẹp, khởi lên tâm niệm, nhưng không có hành động thực tế. (Đây là đã khởi tâm động niệm, không lẽ gì không phải là tội.) [ND: hot girl là cô gái trẻ quyến rũ, nóng bỏng]
Trong Phật pháp mà nói, không nhất định cần phải hành động cũng đã bị xem là có tội rồi.
 
Vấn đề thứ ba, đời này giết người có thân nghiệp và ý nghiệp, giết người trong trò chơi điện tử có tồn tại thân nghiệp và ý nghiệp hay không?
Tôi cho rằng: có ý nghiệp.

Đối với thân nghiệp, dùng tay để chơi điện tử, cũng có thể xem như là thân nghiệp.
 
Đức Phật nói với Anan và các đại đệ tử rằng các người hãy lắng nghe cho rõ.
Thiện tai! Thiện tai!
Ta đang nói rõ những gì ta nói với các con rằng tất cả nam nữ trên thế gian, nghèo khổ hay giàu có, khổ đau vô cùng hay hưởng phúc bất tận, đều là quả báo của nhân quả kiếp trước. Vậy phải làm sao?

Phải kể đến:
Hiếu kính cha mẹ.
Kính tín tam bảo.
Giải sát phóng sinh.
Ăn chay bố thí.
Niệm Phật trì chú.


### 07. Thà làm một con sâu bị Thượng sư giết chết


Hỏi:
"Nghiệp chướng của động vật nặng hơn so với con người, vì sao niệm bảy biến "Văn Thù Bồ Tát vãng sinh chú" thì có thể vãng sinh được? Còn người chết làm ma chay phải cần 49 ngày, đọc kinh đọc chú rất nhiều thì mới có thể giúp cho người chết vãng sinh?"
 
Tôi trả lời:
Tôi lấy một ví dụ minh họa.
Có một vị Căn bản Thượng sư đã tu hành chứng đạo, minh tâm kiến tính, công lực rất cao, ngài có hai người thị giả.

Một hôm, Căn bản Thượng sư thiền định, từ sơ thiền đến nhị thiền, tam thiền, tứ thiền. Rồi lại từ tứ thiền, tam thiền, nhị thiền, sơ thiền xuất định. Ngài mở to hai mắt, bỗng nhiên nhìn thấy một con sâu đang bò lên vạt áo phía trước của mình.

Căn bản Thượng sư đưa tay ra, dùng hai đầu ngón tay bắt lấy con sâu đang sống rồi giết chết nó. Căn bản Thượng sư đọc hai chú tự:
"Pei! Pei!"
Sau đó căn bản Thượng sư kết "chỉ thị ấn". Cuối cùng, căn bản Thượng sư uống trà, xem như chưa hề có chuyện gì xảy ra.
 
Thị giả ở bên trái trông thấy, trong lòng khởi lên một suy nghĩ là căn bản Thượng sư không từ bi, không có bồ đề tâm, không thương yêu chúng sinh, chỉ một cái với tay đã bóp chết con sâu, phạm vào nghiệp chướng sát sinh.

Căn bản Thượng sư bình thường giảng dạy cho chúng ta về ngũ giới trong Phật giáo, không sát sinh là giới thứ nhất, chính là không thể nào sát sinh, thế mà bây giờ chính ngài lại dễ dàng sát sinh như vậy.

Một vị căn bản Thượng sư như vậy có thực sự là đã minh tâm kiến tính không? Có phải là đắc chứng không? Có phải là công lực cao thâm không?

Rồi nhanh chóng người thị giả bên trái này khởi lên suy nghĩ muốn rời bỏ sư phụ của mình để đi tìm một sư phụ khác.
 
Người thị giả bên phải trông thấy việc này, anh ta cũng khởi lên một suy nghĩ, anh ta cho rằng sư phụ thật là một người đại từ đại bi!

Căn bản Thượng sư sư phụ không ngờ đích thân dùng hai ngón tay của mình giết chết con sâu, con sâu này phúc phận thâm hậu, thật là có phúc lớn mới có thể được chết trong tay của căn bản Thượng sư. Đây là do duyên lành nhiều kiếp.
 
Căn bản Thượng sư niệm hai chữ "Pei! Pei!", câu trước là cắt đứt nghiệp chướng, câu sau là siêu độ đến Phật quốc.
Cuối cùng căn bản Thượng sư kết "chỉ thị ấn", tiếp dẫn linh hồn con sâu trong một sát-na (*) đã vãng sinh Phật quốc tịnh độ, việc này thực sự là rất vĩ đại.

Người thị giả bên phải nghĩ: "Một con sâu nhỏ có thể có được phúc báo như vậy thực tế là nhờ tích tập nhiều kiếp tu hành, mình thà như con sâu nhỏ kia được Thượng sư giết chết, đây mới là điều may mắn nhất trong trời đất."
 
Căn bản Thượng sư không nói lời nào, nhìn hai người thị giả cười lớn ha ha ha.
Rồi lại uống một ngụm trà.
 
Hôm nay tôi thực lòng nói cho mọi người hay:
Nghiệp chướng của động vật thực sự nặng hơn nghiệp chướng của con người, bởi vì động vật không thể tu hành. Còn động vật có thể được Thượng sư cao minh siêu độ, nói nghiêm túc thì cũng không có nhiều.
Động vật mà được Thượng sư cao minh siêu độ cho thấy duyên phận của nó rất thâm hậu, phúc báo cũng thực sự là rất lớn.
 
Tôi nói:
Rất nhiều hành vi của con người, nhìn một cách nghiêm túc, thực sự không bằng động vật, thậm chí tệ hơn cả động vật. Nghiệp chướng của con người cũng rất nặng. Kì thực con người cũng là một loại động vật. Tôi cho rằng một số người về cơ bản là chẳng bằng động vật.

Nói tóm lại, "Văn Thù vãng sinh chú" là đại bí mật chú ngữ, là chú ngữ của Văn Thù Bồ Tát vị thầy của Thất Phật, không thể xem thường. 
 
Động vật có duyên mới có thể được trì chú này, mới có thể vãng sinh.
Còn đối với con người phàm phu, người có nghiệp lực nặng thì về cơ bản là chẳng thể gặp được căn bản Thượng sư, chỉ có cách là đọc nhiều kinh chú để giúp đỡ người đó, tất cả điều này tùy vào công lực.

Cũng còn tùy vào duyên phận.
Cũng còn cần phúc báo lớn.

Tôi nhấn mạnh: Con người cũng là động vật, mỗi một hoàn cảnh đều không giống nhau.


### 08. Nhà ở không thanh tịnh


Hỏi:
"Lúc Lư Sư Tôn đóng cửa ẩn cư tại hồ Diệp Tử, Thất Phật xuất hiện. Lư Sư Tôn thỉnh Thất Phật hạ giáng, nhưng Thất Phật lại nói chỗ ở của Lư Sư Tôn không thanh tịnh,  Phật vẫn phân biệt thanh tịnh và ô nhiễm chăng?"
 
Tôi trả lời:
Trước tiên tôi lấy một ví dụ để giải thích điều này.
Có một đệ tử đồng môn đến thỉnh giáo tôi về vấn đề đặt đàn thành (Phật đường).
Tôi bảo anh ta:
"Đặt tại bên trái phòng khách đi!"
"Không được, phía trên bên trái là phòng vệ sinh của lầu trên, như vậy chẳng phải là  để phân trên đầu Phật hay sao?"
"Vậy để trong phòng đi!"
"Không được, ở bên dưới phòng đó chính là nhà vệ sinh của tầng dưới, như vậy chẳng phải là rơi xuống hố phân sao?"
"Thế để ở trong phòng ngủ của chủ nhà đi!"
"Không được, đó là phòng ngủ của tôi và vợ con, vợ chồng tôi ngủ mà quan hệ thì sẽ làm ô nhiễm mắt của Phật."
"Vậy đặt ở lối đi đi!"
"Không được, không hợp phong thủy."
"Đặt ở nhà bếp vậy!"
"Không được, không hợp phong thủy."
"Đặt ở nhà kho vậy!"
"Không được, xin lỗi Phật Tổ. Hơn nữa cũng không đủ rộng."
"Đặt tại…………."
"Không được………….."

Tôi cười: "Chỗ này cũng không được, chỗ kia cũng không được, vậy thì đàn thành phải đặt ở chỗ nào mới được?"
Anh ta đáp: "Bởi vì chỗ nào cũng không được nên mới đến thỉnh giáo Lư Sư Tôn đó."
 
Chuyện kể trên mặc dù có vẻ giống như chuyện đùa, nhưng đây cũng là một thực tế. Ở các căn hộ chung cư hiện nay, nếu phải cân nhắc tầng trên và tầng dưới, rồi lại cân nhắc sự thanh tịnh của phòng, thực sự là vô cùng khó!

Tôi nói cho mọi người hay:
Phật nói: Nhà của Lư Sư Tôn không thanh tịnh là ý nói tùy thuận chúng sinh, bởi vì trong mấy ngày đó, tôi đã tụ tập một bầy quỷ thần đến nơi tôi ẩn cư để thuyết pháp, tôi giảng pháp cho quỷ thần nghe.

Trong đám quỷ thần lẫn lộn người tốt kẻ xấu, có thần rắn, thần chó, thần trâu, yêu ma quỷ quái, v.v.

Còn có quỷ ăn phân, quỷ uống nước tiểu, quỷ ăn tinh trùng, quỷ ăn trứng, quỷ ăn máu, quỷ ăn đồ xú uế, quỷ nôn ói, quỷ ăn rác, quỷ khát nước, quỷ ăn nước mũi, quỷ ăn nước mắt, quỷ ăn da, quỷ ăn xương,… đủ mọi loại quỷ.

Còn có các tinh linh:
Thần cây.
Thần cỏ.
Thần cây mầm.
Thần ở rừng vứt xác.
Thần canh giữ xác chết.
Nếu như theo khí mà nói, lúc đó không thích hợp để thỉnh Thất Phật hạ giáng, đây chính là nói ý tùy thuận chúng sinh.
 
Nhưng nếu theo Đệ nhất nghĩa mà nói thì:
Không sạch không bẩn.
Không tăng không giảm.
Không nhất không dị.

Phật là vị giác ngộ, vô nhãn sắc trần, vô nhĩ thanh trần, vô tị hương trần, vô thiệt vị trần, vô thân xúc trần, vô ý pháp trần. Phật cũng không có ngã si, ngã kiến, ngã ái, ngã mạn. 
Thậm chí Phật vô năng tạng, vô sở tạng, vô chấp tạng. 
Phật là vô phục vô kí.
 
Do vậy nói:
"Phật không phân biệt thanh tịnh hay ô nhiễm. Nhưng dựa theo điều kiện khi đó của Lư Sư Tôn nên mới nói rằng không thanh tịnh. Rất rõ ràng như vậy, là tùy theo chúng sinh mà nói."
 
Tôi nói:
Nếu như dựa theo Đệ nhất nghĩa để viết sách thì tôi nói cho bạn biết, tôi không sách nào có thể viết, không lời nào có thể nói. Tam tạng thập nhị bộ, tất cả đều không tồn tại.


### 09. Địa ngục rốt cục ở đâu?


Hỏi:
"Trong lời mở đầu của cuốn "Sách Thông Thiên" có đề cập đến chuyện Lư Sư Tôn đã giải phóng Tôn Đà Lợi và Chiến Già. Ở trong sách, lúc Lư Sư Tôn phát hiện ra họ thì họ đang bị giam trong một nhà tù. Bởi vì khi còn tại thế họ đã phỉ báng Phật Đà, vì sao bọn họ không phải ở trong địa ngục chịu khổ mà lại bị giam trong tù?"
 
Tôi trả lời:
Trước tiên tôi lấy một ví dụ nhé! Chuyện này để nói về "tâm rốt cục ở đâu?"

Trong Kinh Lăng Nghiêm, có một đoạn đối thoại tuyệt vời liên quan đến "tâm nằm ở đâu" khi Phật Đà nói chuyện với Anan.

Phật Đà hỏi:
"Mắt và tâm rốt cuộc nằm ở đâu?"
Anan trả lời:
"Mắt ở trên mặt, tâm ở trên thân."
Phật Đà nói:
"Nếu như tâm ở trên thân, vậy thì trước tiên sẽ cảm thấy được hoạt động của lục phủ ngũ tạng rồi mới nhận biết được thế giới bên ngoài, thế nhưng thực tế lại không phải như vậy."
Anan đáp:
"Vậy thì tâm nằm ở ngoài thân."
Phật Đà nói:
"Nếu như tâm nằm ở ngoài thân, vậy thì thân và tâm không có liên quan đến nhau. Những gì tâm biết thì thân không thể cảm giác được, những gì thân chạm được thì tâm không thể biết được, thế nhưng thực tế lại không phải như vậy."
Anan lại nói:
"Tâm hẳn là ở trong mắt."
Phật Đà nói:
"Nếu như tâm ở trong mắt thì có thể nhìn thấy núi sông đại địa, nhưng vì sao không thể cùng lúc nhìn thấy mắt?"
Anan lại nói:
"Con mở to mắt thì nhìn thấy ánh sáng, nhắm mắt lại thì nhìn thấy bóng tối. Mở mắt nhìn ra ngoài, nhắm mắt nhìn vào trong."
Phật Đà nói:
"Nhắm mắt nhìn vào trong, bóng tối và mắt chẳng phải là đối diện sao? Nếu là đối diện, vậy thì bóng tối chính là ở phía trước của mắt, như vậy tại sao lại nói nhìn vào trong? Nhưng nếu như không đối diện, làm sao nhìn ra ngoài?"
Anan trả lời:
"Suy nghĩ của con với sự vật ngoại cảnh tương hợp, ở chỗ tương hợp đó chính là nơi tâm ở đó."
Phật Đà nói:
"Tâm không phải là một thực thể, do vậy mà vạn pháp từ tâm sinh ra. Cũng bởi vì không có thực thể nên không có trong, không có ngoài, cũng chẳng phải là ở giữa. Ví dụ thân thể bị bệnh thì là cảm giác bên ngoài, hay là cảm giác bên trong, hay là trong ngoài đều cảm giác thấy?"
Anan nói:
"Tâm không ở trong thân, không ở ngoài thân, vậy thì ở giữa mắt và sự vật."
Phật Đà nói:
"Tâm ở giữa mắt và vật, nếu như tâm bao gồm mắt và vật, mắt có tri giác, vật không có tri giác, vậy thì sao có thể một nửa có tri giác một nửa không có tri giác được? Nếu không bao gồm mắt và vật, vậy thì tâm làm sao nhận biết được vật thể?"
Anan nói:
"Tâm không ở bất kì chỗ nào, tất cả vô nhiễm vô trước, chính là tâm." [ND: Vô nhiễm vô trước: không bị ô nhiễm, dính mắc.]
Phật Đà nói:
"Tâm không ở nơi nào cả, vậy thì lông rùa sừng thỏ chỉ là một cách nói hữu danh vô thực, không có thực thì chính là không nhiễm mắc. Nếu như có một nơi khác mà tâm ở đó, vậy thì có tồn tại một nơi nào đó, việc này sao có thể có liên hệ với nhau?"
 
Rốt cục, đến cuối cùng thì A Nan cũng hiểu ra.
"Tự tâm vốn ở trong hư không." 
Tôi nói:
Đoạn đối thoại này vô cùng sâu sắc, phân tích vào nghĩa lý, nhưng hành giả đôi khi cũng bị làm cho cảm thấy mơ hồ.

Ý nghĩa quan trọng của nó là: "tâm vốn dĩ là không". 
Phật Đà và Anan luận biện "tâm ở nơi nào"?

Tôi và những người đặt câu hỏi luận biện "địa ngục ở nơi nào?"
Xin hỏi, địa ngục chẳng phải là do "tâm" sinh ra sao? Tâm nếu như không có địa ngục thì địa ngục không có. Tâm sinh ra thì địa ngục mới có sinh ra, tâm diệt thì địa ngục không có.

Địa ngục trong Kinh Địa Tạng là bát hàn bát nhiệt, ngoài ra còn có "tăng biên địa ngục" vô cùng vô tận.

Tôn Đà Lợi và Chiến Già bị giam trong lao tù chẳng phải là địa ngục đó sao? Bạn cho rằng như thế nào mới là địa ngục?
 
Địa ngục là:
Tâm vốn dĩ là không.
Do tự tâm sinh ra chư thiên lục đạo mà thôi!


### 10. "Nhổ đinh trời" cũng cần nhân duyên


"Trong chương "Thành Hoàng xử đêm" của cuốn sách "Sống từng phút giây trong sáng" (Văn tập 145), có kể chuyện Trịnh Khoa bị Ngọc Hoàng dùng đinh trời trừng phạt. Nhưng trong sách Lư Sư Tôn cũng nói đến "luật Phật ban ra, nhổ được đinh trời" vì Sư Tôn đã là Phật, thế nhưng Sư Tôn cũng không có cách nào nhổ đinh ra? Nếu như "luật Phật ban ra, nhổ được đinh trời" thì vì sao Sư Tôn còn phải đi tìm Phật Đà để hỏi ý?"
 
Tôi trả lời:
Trước tiên tôi kể một chuyện nhỏ.
Lúc trước tôi xem bói hỏi chuyện, có một người tên là Liệu Quân đến chỗ tôi. Người tên Liệu Quân này có cách đi bộ vô cùng kì lạ. Chân tạo thành hình chữ O, khi đi bộ bàn chân phải và bàn chân trái gần như là dính liền với nhau, buộc phải đi từng bước rời rạc, hễ mà đi thì hình dạng kì dị, lắc bên này lắc bên kia.

Tôi hỏi Liệu Quân vì sao lại bị như vậy. Liệu Quân đáp, chỉ ngủ có một giấc, khi tỉnh dậy đã biến thành bộ dạng như vậy rồi.
Tôi hỏi ông bao nhiêu tuổi? Liệu Quân đáp là 47 tuổi.
 
Thế là tôi đặc biệt quan sát nhân quả của ông ta. Tôi nhìn thấy một Liệu Quân khác trong địa ngục, Liệu Quân này chính là bị Ngọc Hoàng dùng đinh trời đóng vào hai chân của ông ta.

Tôi khám phá thấy nguyên nhân bị đóng đinh của Liệu Quân vốn là do ông ta không tin vào quỷ thần, trong lúc giận cá chém thớt, ông ta đã dùng dao phay liên tiếp chặt đứt nhiều tượng Phật của một ngôi chùa. Ông ta thích chặt chân của tượng Phật, ngoài tượng Phật ra ông ta cũng chặt chân của năm trăm La Hán.

Kết quả là ông ta bị Ngọc Hoàng ở trên trời dùng đinh trời đóng vào hai chân.
 
Tôi hỏi:
"Chuyện này có hay không?"
Ông đáp:
"Nhất thời tức giận nên đã làm vậy, bây giờ hối hận thì đã quá muộn rồi!"

Lúc đó, mặc dù tôi là Phật, "luật Phật ban ra, nhổ được đinh trời", nhưng tôi cũng không thể làm như vậy.

Liệu Quân đã qua đời rồi, ông ta từ lúc 47 tuổi đến ngày chết chân đã luôn bị đóng đinh trời.
Tôi nói: "Nhổ đinh trời cũng cần có nhân duyên."
 

Trong công án thiền tông có một quy tắc như thế này:
Có một thánh giả nhập định, sau khi nhập định, không hề thấy xuất định. Phật Thích Ca Mâu Ni yêu cầu mấy vị đại đệ tử (Thanh văn - La hán) đi gọi thánh giả xuất định. Nhưng thánh giả vẫn nhập định, gọi thế nào cũng vẫn bất động.

Cuối cùng, Phật Thích Ca Mâu Ni yêu cầu Bồ Tát Văn Thù gọi thánh giả xuất định. Chúng ta biết rằng Văn Thù Bồ Tát là thầy của Thất Phật, đã từng là sư phụ của Thất Phật, công lực của Văn Thù là không thể so sánh. Văn Thù Bồ Tát theo chỉ của Phật liền dùng âm thanh vi diệu rất nhỏ khuyên thánh giả xuất định. Nhưng thánh giả vẫn bất động như thường.

Đại pháp lực như Văn Thù Bồ Tát vẫn không lay động được thánh giả.
 
Sau đó: 
Một bà lão của nhà bếp đi tới nói với thánh giả một câu, thánh giả liền xuất định.

Phật Đà hỏi mọi người:
"Vì sao vậy?"
Công lực của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát vị thầy của Thất Phật lại thua cả một bà lão sao?

Không phải thế.
Mà là bà lão và thánh giả có nhân duyên của một bữa cơm mà thôi!
 
Phật cũng có ba điều không làm được:
Không thể độ người không có duyên với Phật pháp.
Không thể độ được hết thảy chúng sinh.
Không thể diệt trừ được hết thảy nghiệp chướng.

"Luật Phật ban ra, nhổ được đinh trời" là đại lực của Phật, nhưng cũng cần phải có tồn tại nhân duyên "nhổ đinh".

Phật Thích Ca Mâu Ni kể từ khi thành Phật về sau này đã phải chịu rất nhiều sự phỉ báng, đả kích và ngăn trở.

Phụ nữ nói những lời ô uế.
Đệ tử phản bội.
Ngoại đạo công kích.

Có những thứ có thể hóa giải, có những thứ không thể hóa giải, ví dụ gia tộc Thích Ca bị diệt tộc, ví dụ tôn giả Mục Kiền Liên bị giết chết một cách thảm thương, ví dụ như Đề Bà Đạt Đa phản bội,…


### 11. Phật Mẫu và Minh Phi


Hỏi:
"Lư Sư Tôn từng nói rằng Liễu Minh Hòa Thượng có năm vị Phật Mẫu, sau khi Liễu Minh Hòa Thượng nhập niết bàn, năm vị Phật Mẫu không xuất hiện hoằng pháp sao?"
 
Tôi trả lời:
Trước tiên tôi lấy một ví dụ để giải thích.
Ngày xưa, tôi ở chỗ Thượng sư Thubten Dargye hỏi về vấn đề Phật Mẫu và Minh Phi, thầy Thubten Dargye nói:
"Trong Mật giáo thì có thể có Phật Mẫu và Minh Phi. Tu hành Mật giáo và Hiển giáo khác nhau rất nhiều. Hiển giáo thì hoàn toàn không thể có chuyện chạm vào, Mật giáo thì có thể chạm vào. Cũng vì thế mà hành vi của Mật giáo bị cho là bẩn bệnh."
 
Nhưng hành giả Mật giáo thọ nhận quán đảnh Vô Thượng Mật với mục đích nội tu các pháp khí nhập trung mạch, vô lậu, chuyết hỏa, minh điểm. 
Sử dụng pháp Phật Mẫu và Minh Phi để đạt được:
Khí hợp với khí.
Lỗ thông với lỗ.
Điểm hòa với điểm.

Có thể rất nhanh chóng nhìn thấy "minh điểm quang", "kim cương luyện", thấy được "Phật tính", nhậm vận các Phật quốc tịnh độ khác. [ND: Nhậm vận: hoàn toàn tự tại, tùy tâm, tùy ý thoải mái hoạt động, tùy duyên hóa hiện, thị hiện khắp nơi.]

Mật pháp vô thượng này, ngày nay, có Sakya Chứng Không Thượng sư và Thubten Dargye Thượng sư truyền thừa cho Lư Sư Tôn. Nhưng để sử dụng được hoạt động pháp thủ ấn Phật Mẫu, Minh Phi thì điều kiện cũng không dễ dàng, có hai điều kiện lớn là:
Tu chứng vô lậu.
Tu chứng tính Không.

Tất cả mọi kĩ thuật Phật pháp khác cũng vô cùng quan trọng, chưa phải là Kim cương Thượng sư chân chính thì không thể nào biết được. Chưa thọ tam quán đảnh "vô thượng mật" mà tu bừa thì sẽ không thể tu pháp tốt được.
 
Do vậy có người nói:
"Vô thượng mật bộ từ lâu đã thất truyền, hiện nay chỉ có pháp tà dâm mà thôi!"
Nhưng Lư Sư Tôn tôi e rằng mình cũng chỉ là người gìn giữ truyền thừa này. Đây không phải là tà dâm, mà là tu hành. Bởi vì pháp này có thể đạt được tịnh quang thành Phật, kiến chứng Phật tính. Kì thay! Kì thay!
 	 
Liễu Minh Hòa Thượng có năm vị Phật Mẫu, năm vị này là: Hương Quang, Lương Hoa, Quỳnh Hoa, Linh Xảo, Tố Tâm.

Trong năm người, Lương Hoa độ người nhiều nhất, gần như làm chủ của một tông phái.  Bởi vì sau khi bà viên tịch đã không có người sau kế tiếp cho nên tông phái tan rã.

Tố Tâm phụng sự Liễu Minh Hòa Thượng vô cùng tỉ mỉ một bước không rời, hẹn ước sẽ cùng rời xa chốn nhân gian cùng ngày cùng giờ.

Hương Quang cũng có độ người nhưng lựa chọn đệ tử rất khắt khe, do vậy đệ tử không nhiều, chỉ có mười người. 

Quỳnh Hoa thì đi đi về về.

Linh Xảo chuyên tâm tu hành, đạt đến "trung ấm thành Phật", đối với Mật tông các pháp lớn nhỏ đều biết hết, hơn nữa lại rất thực tu, bà tu hành đến được cảnh giới rất cao, ngũ nhãn lục thông đều có thể chứng biết.

Ngoài Liễu Minh Hòa Thượng ra, tất cả các kiến thức Phật học của tôi đều nhờ Linh Xảo mà biết được.
Năm vị Phật Mẫu đều đạt thành tựu đặc thù, chỉ có Quỳnh Hoa thì tôi không biết nhiều lắm.

Nói đại khái là năm vị Phật Mẫu khi đã đến tuổi thì lần lượt viên tịch, lần lượt tiên du, rời khỏi trần thế, còn những việc khác thì tôi không rõ kết thúc thế nào.
  
Giáo sư Trương Trừng Cơ và Thượng sư Trần Kiện Dân đều là đệ tử của Hoạt Phật Gangkar (Gangkar Rinpoche). Như mọi người đã biết, Hoạt Phật Gangkar có Minh Phi. Trương Trừng Cơ có Minh Phi, mọi người cũng đã biết. Trần Kiện Dân Thượng sư có Minh Phi, việc này ai ai cũng đều biết.  

Giáo sư Trương Trừng Cơ là đệ tử của tôi, còn Thượng sư Trần Kiện Dân thì có duyên gặp một lần. Nhưng tôi biết, cuốn sách "Sự nghiệp thủ ấn giáo thụ quyết vi" đã thuật lại rất rõ ràng, chỉ là các kĩ thuật trong pháp không thể nào kể hết được mà thôi.
 
Tôi có được quán đảnh và khẩu quyết của Sakya Chứng Không Thượng sư và Thubten Dhargye Thượng sư, giúp tôi hoàn toàn hiểu rõ tầm quan trọng của Phật Mẫu và Minh Phi, khiến cho con đường tu hành đời này của tôi càng rõ ràng minh bạch, càng rộng lớn, càng siêu việt, đây là tài sản vô giá.


### 12. Phật tính không phải là vô hình vô tướng sao?


Hỏi:
"Ngày 26 tháng 2 năm 2008, tại Seattle Lôi Tạng Tự đồng tu hội ngày thứ bảy đã có một buổi khai thị cực kì quan trọng: Trong Mật giáo, cần phải thấy được Phật tính chân chính, phải khai mở luân xa tim của bạn. Cũng có nghĩa là sau khi thông trung mạch thì khai mở năm luân xa: luân xa thiên nhãn, luân xa họng, luân xa tim, luân xa rốn, luân xa bí mật. Sau khi mở luân xa tim, tim trở thành hoa sen tám cánh, chính giữa hoa sen có một chữ "Hum".
 
 
Từ chữ Hum sinh ra một cột ánh sáng màu xanh lam, giống như một cánh tay ánh sáng vươn dài. Lúc bạn nhìn thấy cột ánh sáng đó thì trong Mật giáo có nói rằng điều này gọi là "thân kiến Phật tính" - tự mình thấy Phật tính. Sau khi bạn nhìn thấy Phật tính rồi thì bạn sẽ vĩnh viễn nhìn thấy cột ánh sáng xanh lam này, việc này được gọi là "nhất kiến vĩnh kiến" - một lần nhìn thấy mãi mãi nhìn thấy. Sau khi nhìn thấy Phật tính thì vĩnh viễn nhìn thấy bản tính quang minh. 
 
Còn tu pháp theo Hiển giáo thì chắc chắn kiến chứng Phật tính trong thiền định. Tu pháp của Mật giáo thì nhất định phải thông trung mạch, mở ngũ luân, mở luân xa tim, nhật nguyệt luân ở trong hoa sen tám cánh. Cột ánh sáng xanh lam nói đến ở trên, đó chính là Phật tính."
 
Hỏi:
"Phật tính chẳng phải là vô hình vô tướng sao?  Vì sao Lư Sư Tôn vẫn nói là nhìn thấy ở trong luân xa tim?"
 
Tôi trả lời:
Phật có tam thân:
Pháp thân Phật - thân thắng nghĩa - vô hình vô tướng.
Báo thân Phật - thân trang nghiêm - hữu hình hữu tướng.
Ứng thân Phật - thân biến hóa - các hình các tướng.
 
Trong số các thân này thì pháp thân Phật thực sự vượt xa mọi hình tướng, là chân lý tuyệt đối, ánh sáng quang minh của tính không, từ đó sinh ra trí huệ, lấy nền tảng quang minh hiển hiện, vượt qua và cắt đứt khỏi thường hằng lưỡng biên.
Hãy chú ý câu "lấy nền tảng quang minh hiển hiện". (Câu nói này rất quan trọng.)
 
Do vậy tôi nói:
Bạn bảo rằng "vô hình vô tướng" là Phật tính, không sai.
Tôi nói "cột ánh sáng xanh lam" là Phật tính, cũng không sai.
Tu hành Mật giáo, kiến chứng Phật tính, sẽ xuất hiện tứ đạo quang mạch - bốn đường mạch ánh sáng.
Tứ đạo quang mạch này là:
Ca đề đại kim mạch.
Bạch ti nhung mạch.
Tế toàn mạch.
Tinh quản mạch.
 
Tinh quản mạch xuất phát từ tim đi qua lá phổi, đến tai và mắt, bản giác quang minh (ánh sáng vốn có của chúng sinh tự tính thanh tịnh, của chân tính, chính là pháp thân Như Lai) ẩn ở trong toàn cơ thịt của quả tim, chính là lúc khai mở được luân xa tim rồi thì thông qua tinh quản mạch mà nhất kiến vĩnh kiến.
 
Lời giải thích của tôi là:
Tu hành Mật giáo có thể nhìn thấy cột ánh sáng xanh lam của bản giác sau khi khai mở luân xa tim. Nó là cột ánh sáng màu xanh lam.

Bởi vì Phật tính vô hình vô tướng là nền tảng của hiển hiện quang minh.

Bởi vì Phật tính vô hình vô tướng, ngoài sự hiển hiện của báo thân Phật trang nghiêm ra, càng hiển hiện nhiều hơn ứng thân Phật các hình các tướng. 
 
Ở đây tôi lại cần nói với mọi người về minh tâm kiến tính.
Về khai ngộ minh tâm, trong mười cuốn sách "Thiền" tôi cũng đã nói rất rõ ràng thấu đáo, vô cùng chi tiết. Muốn "minh tâm" trước tiên phải tìm nguồn gốc của "tâm", sau khi đến được gốc rồi, cái tâm-tìm-không-thấy này mới là chân tâm.  
Đời người là giấc mộng trăm năm. 
Trong bánh mặt trời không có mặt trời. [ND: Bánh mặt trời: bánh thái dương, một loại bánh tròn nhỏ có vỏ giòn nhiều lớp, nhân bánh là đường mật, bánh có nguồn gốc từ Đài Trung, Đài Loan.]
Trăng trên mặt nước không có trăng.
Không sinh ra.
 
"Minh tâm" có thể có được từ trí huệ bát nhã, từ đó chứng minh cho sự "khai ngộ" của hành giả. Còn "kiến tính" thì cần phải thực sự đi tu hành.
Trong Mật giáo, Phật tính có phương diện của tính Không, còn có phương diện của tính Hữu. Phương diện của Không là "minh tâm", phương diện của Hữu là "kiến tính", đây gọi là "Không Minh song kiến".
 
Chúng ta không thể cả ngày từ sáng đến tối gào lên:
Không thể thấy được "vô hình vô tướng".
Hành giả không nhìn thấy.
Phàm phu cũng không nhìn thấy.

Lẽ nào tất cả những gì phàm phu không nhìn thấy cũng là kiến chứng Phật tính? Phật tính có "phần Không", cũng có "phần Minh", "Không Minh song kiến" mới là thực sự nhìn thấy.
 
Tôi nói:
"Kiến tính là có thể tự chứng."


### 13. Vấn đề "thấy" Phật tính trong thiền định


Hỏi:
"Nếu trong thiền định "thấy" Phật tính mới là Phật tính, vậy thì khi không thiền định thì sẽ không "thấy" Phật tính, Phật tính chẳng phải là bất sinh bất diệt sao?" [ND: Bất sinh bất diệt: không sinh ra, không mất đi.]
 
Tôi trả lời:
Vào lúc tôi cử hành đại pháp hội Thời Luân Kim Cương ở tại Singapore, có 6 vạn người tham gia, tôi đã giải thích pháp thiền định cửu thứ đệ. [ND: Pháp thiền định cửu thứ đệ: còn gọi là cửu thứ đệ định hay cửu vô gián thiền, là chín pháp thiền định liên tiếp nhau, là sơ thiền định, nhị thiền định, tam thiền định, tứ thiền định, không vô biên xứ định, thức vô biên xứ định, vô sở hữu xứ định, phi tưởng phi phi tưởng định, diệt tận định.]

Thiền định tiếng Phạn gọi là Dhyana, làm cho tâm định lại, làm cho tâm tập trung không phân tán. Chỉ khi tâm không tạp nhiễm thì người tu hành mới có thể tiến một bước vào trong tam muội thậm thâm, từ đó đạt được chứng ngộ.

Thiền định cửu thứ đệ chính là phương pháp tu hành mà tất cả Phật giáo Hiển Mật đều buộc phải có.
Cửu thứ đệ mà tôi nói chính là:
Sơ trụ, tục trụ, hồi trụ, cận trụ, phục trụ, tịch trục, tối tịch trụ, chuyên trụ, đẳng trụ.

Pháp cửu thứ đệ này, xin mời tham khảo lời giảng của tôi tại Singapore, yêu cầu phải có công lực thiền định sâu, phải loại bỏ sự lười nhác, phải tinh tấn hành trì, phải loại bỏ hôn trầm (lỏng quá), phải loại bỏ trạo cử (căng quá). 

Tóm lại, tu hành giả đi vào cảnh giới cao nhất thì thân tâm hợp nhất, mềm mại, thoải mái, thư thái. Công lực thiền định sâu đến cảnh giới cao nhất thì tất cả có thể thành Phật.
Trong thiền định, lúc trụ tại bản nguyên, tại bản nhiên, có thể kiến chứng Phật tính. Chỉ cần kiến chứng Phật tính, tất cả vọng niệm và phiền não tự nhiên đều có thể đoạn tuyệt.
 
 
 
Tại đây tôi thực lòng nói cho mọi người hay:
Trong thiền định có thể kiến chứng Phật tính. Khi công lực thiền định thâm sâu rồi thì thường xuyên thấy Phật tính. 
Thiền định lúc này là:
Thiền - không bị quấy nhiễu từ bên ngoài.
Định - tâm không tán loạn.
 
Ý của tôi muốn nói rằng sau khi thấy Phật tính rồi, bạn thiền định nhanh hơn, trong một sát-na từ sơ trụ đến đẳng trụ, thậm chí không thiền định cũng là thiền định, từ đây trở đi lúc nào cũng thấy Phật tính.

Sẽ không có chuyện: phải thiền định mới thấy - không thiền định  thì không thấy.
(Không có chuyện này.)

Hành giả công lực thiền định sâu, nhất kiến vĩnh kiến, họ sẽ vĩnh viễn không bị tác động bên ngoài, vĩnh viễn tâm không tán loạn, mọi thời khắc đều kiến Phật tính.
(Vì thế, bạn đã hiểu chưa?)
 
Phật tính đương nhiên là bất sinh bất diệt, vô thủy vô chung (*), thường hằng, không thể kiểm tra. Người tu hành Mật giáo có thể kiến chứng. Người tu hành các giáo phái khác cũng có thể kiến chứng.

Kiến chứng Phật tính, không phải nói khoác.
Kiến chứng Phật tính, không phải lừa bịp.
Kiến chứng Phật tính, không phải huyền bí.
Kiến chứng Phật tính, không phải khoe mẽ.
 
Bởi vì trong Mật giáo nhãn thức thông với luân xa tim, sẽ nhìn thấy cột sáng xanh lam, đây là chứng nghiệm rất hay.
Do vậy, có hành giả tưởng mình kiến chứng thức thứ tám, ngày nào cũng nói anh ta đã kiến Phật tính. Phật tính chính là Như Lai tạng thức thứ tám, mở miệng thế này, ngậm miệng thế kia, nhưng nói tới nói lui thì chỉ là anh ta tự mình nói mà thôi. Ngược lại là anh ta chẳng kiến chứng cái gì cả, lại chỉ đi khắp nơi phê bình hành giả xưa và nay.

Hành giả thế này thì gọi là: "Yểu thọ thôi!" 
Tôi nhập vào sâu trong thiền định, thiền định ở trong tay tôi giống như lấy quả quýt trên bàn, rất dễ dàng.
Tôi kiến chứng Phật tính mọi lúc mọi nơi, bởi vì mọi lúc mọi nơi tôi đều ở trong thiền định. Tu luyện đến bây giờ thì cũng không còn vấn đề thiền định hay không thiền định nữa. Bạn đã hiểu chưa?


### 14. Thiền tông không có pháp quán đảnh


Hỏi:
"Thiền tông không tu nhị quán, vậy thì Phật tính mà họ thực sự thấy là cái gì?"
 
Tôi trả lời:
Thiền tông không có pháp quán đảnh, pháp quán đảnh chỉ có Mật tông mới có, do vậy Thiền tông làm gì có nhị quán. Thiền tông không chỉ không có nhị quán, ngay cả sơ quán, tam quán, tứ quán đều không có.

Nhưng, tôi đã từng nói rồi, pháp Đại Viên Mãn của Thiền tông và Mật tông cực kì giống nhau, không chỉ giống nhau mà còn có thể nói là đồng đẳng.

Việc này có nguyên nhân như sau:
Năm đó, công chúa Văn Thành vào Tây Tạng, đồng thời đưa Phật giáo Thiền tông Trung Thổ vào Tây Tạng.
Đạt Ma Sư Tổ lúc đi về phương Tây, truyền thuyết nói rằng trên đường đi qua Tây Tạng, ngài đã truyền Cổ Lí Tát Pháp (Thiền tông), dùng khẩu truyền bí mật cũng như thực tu Bát nhã pháp môn, sáng lập Hy Giác phái, đệ tử thành tựu rất nhiều. Việc này tạo ra rất nhiều ảnh hưởng đến Mật tông Tây Tạng.
Một trong những Sư Tổ của pháp Đại Viên Mãn của dòng mũ đỏ Mật tông Tây Tạng, ngài Sri Sinha, là người nhà Đường. Thời kì nhà Đường là giai đoạn hưng thịnh nhất của Thiền tông, do vậy mà Thiền tông và pháp Đại Viên Mãn hòa nhập với nhau.
Vào thế kỉ thứ 8, đại thiền sư Mahayana của triều Đường và rất nhiều thiền sư đã đi Tây Tạng truyền pháp. Họ luận biện với Mật giáo Tây Tạng trong thời gian 3 năm, kết quả là Liên Hoa giới của Mật giáo đại thắng, Thiền tông mới rút khỏi Tây Tạng. Nhưng Thiền tông từ lâu đã xác lập gốc rễ rồi.
 
Thiền tông và pháp Đại Viên Mãn của Mật giáo Tây Tạng giống nhau như sau:
Thiền - bản lai vô nhất vật. 
Pháp Đại Viên Mãn - bản nhiên thanh tịnh.

Thiền - thực tiễn thực tu.
Pháp Đại Viên Mãn - thực tu nhất thiết gia hành.

Thiền - minh tâm kiến tính.
Pháp Đại Viên Mãn - minh tâm kiến tính.
(Cả hai đều tu Đốn ngộ.)
 
Cá nhân tôi nhận thấy thế này. Thiền tông mặc dù không phân rõ thứ tự pháp quán đảnh, cũng như không chỉ ra tu khí, tu mạch, tu minh điểm, và không nói gì đặc biệt đến quá trình tu hành nội pháp, nhưng muốn đạt đến được:
Thiền - không bị ngoại cảnh tác động.
Định - tâm không động loạn.
thì thực tế là Mật giáo nhập tam muội cũng chính là mục tiêu của Thiền tông, mục tiêu này là giống nhau.

Thiền tông cũng dựa vào các phương pháp khác nhau để đạt được nguyên tắc chính, đó là nhập vào tam muội (thiền định). Không có hành trì nhị quán khí, mạch, minh điểm.
Tuy nhiên, tôi xem Dịch Cân Kinh, Tẩy Tủy Kinh của Đạt Ma Sư Tổ thì phát hiện ra đây chẳng phải chính là "nội pháp" sao? Biểu hiện bên ngoài thì là dùng các chất liệu khác, nhưng trên thực tế thì có nhiều đặc tính liên quan đến khí, mạch, minh điểm.

Thiền tông khai ngộ minh tâm. 
Mật giáo Đại Viên Mãn thì cắt bỏ toàn bộ. 
Đều giống nhau cả.

Dịch Cân, Tẩy Tủy của Thiền tông.
Khí, mạch, minh điểm của Mật giáo.
Đều giống nhau cả.
(Tu pháp không nhất định là phải giống hệt nhau, nhưng kiến chứng Phật tính thì là giống nhau.)
 
Tôi thực lòng nói cho mọi người hay, minh tâm kiến tính của Mật tông Tây Tạng và minh tâm kiến tính của Thiền tông chính là một, không hề khác biệt. Phật tính căn bản là không hề có hai, chỉ có một Phật tính duy nhất.
 
Theo như tôi biết, có một bộ phận thiền sư sau khi khai ngộ minh tâm thì không tiếp tục thực tu kiến chứng phật tính nữa. Họ cho rằng minh tâm chính là kiến tính, kiến tính chính là minh tâm. Có nhiều người vẫn bám vào quan điểm này. Việc này rất đáng để thảo luận.
 
Cá nhân tôi cho rằng:
Minh tâm - là kiến đạo. (thấy được con đường)
Kiến tính - là cứu cánh. (đích đến cuối cùng)
Kiến tính này phải cần thực tu nhị quán, tam quán mới có thể đạt đến tứ quán Đại Viên Mãn. 
Cách giảng giải này của tôi rốt cục có đúng không? Xin kính hỏi các vị đại đạo sư Thiền tông ngày nay? 
Phương diện này hiện vẫn còn bị tranh cãi rất nhiều!


### 15. Sau niết bàn sẽ đi về đâu?


Hỏi:
"Thiền Tông không tu nhị quán, như vậy thì không có cách nào thành tựu huyễn thân. Vậy thì họ sau khi nhập niết bàn sẽ đi về đâu?"
 
Tôi trả lời:
Trước tiên chúng ta hãy nói một chút về huyễn thân nhé!

Mật giáo tu huyễn thân, có pháp Chú Kính (đúc gương). Hành giả ngồi yên, trên bức tường trước mặt có một tấm gương lớn. Phía trên tấm gương có hình bổn tôn của mình, kích thước gần tương tự như chính mình. 

Hành giả soi gương thấy chính mình ngồi trong gương, và thẳng trên đầu mình ở trong gương có bổn tôn của mình đang ngồi trên.

Kết quả là sẽ sinh ra:
Có một ta ở ngoài gương.
Có một ta ở trong gương.
 
Ta ở trong gương đội trên đầu bổn tôn của ta. Ở đây có một bí quyết thành công, đó là quần áo mặc trên người hành giả từ đầu đến chân đều rất giống bổn tôn. Như vậy sẽ quán chiếu lẫn nhau.

Mặt của ta trở thành mặt của bổn tôn.
Thân của ta trở thành thân của bổn tôn.
Tay chân của ta trở thành tay chân của bổn tôn.
Mũ của ta trở thành mũ của bổn tôn.
Pháp khí của ta trở thành pháp khí của bổn tôn.
Ta và bổn tôn dung hòa làm một với nhau, nhập bổn tôn tam muội.
 
Cứ thường xuyên tu luyện như vậy một thời gian dài, kết quả là hình tướng bổn tôn trên đỉnh đầu, hành giả ở trong gương, hành giả ở ngoài gương, ba người hòa nhập vào nhau, không còn phân biệt. Do đó từ trong thiền định xuất ra huyễn thân. Huyễn thân này là sự kết hợp của ba thân từ trong gương bay ra.

Huyễn thân cũng giống như bổn tôn, có thể du hành đến mười phương Phật quốc tịnh độ, nghe Như Lai giảng kinh thuyết pháp. Thành tựu được huyễn thân thì cũng có thể đến được tịnh độ, có được thần thông. Giống như hóa thân bên ngoài thân, huyễn thân không phải là thân thể vật chất, mà là thân do ý sinh ra, có thể tự do nhậm vận ý sinh ra thân.
 
Chúng ta lại nói về Thiền tông.
Thiền tông không có nghi thức nhị quán nhưng trong tu hành, trong nhập định, hành giả thiền định có công lực sâu vẫn có thể tự tâm đạt được huyễn thân. Tôi thực lòng nói cho mọi người biết, Thiền tông không có quán đảnh, nhưng cũng có nhập tam ma địa.

Thiền pháp minh tâm khai ngộ.
Nhập thiền định kiến chứng Phật tính.

Ở đây vẫn xuất hiện huyễn thân giống như nói ở trên, cho dù không có tu huyễn thân hoặc thiên sắc thân một cách tỉ mỉ nhưng ở đây sẽ tự nhiên tự hiện. Do vậy chúng ta không thể nói là: "Thiền tông không có huyễn thân!"
 
Trong Mật giáo, nếu bạn không tu pháp Chú Kính (đúc gương) nhưng giả sử hành giả tại tâm giới của trung mạch quán tưởng bổn tôn của chính mình ở tâm giới trung mạch một cách cực kì rõ ràng đến từng chi tiết. Trì chú, quán tưởng, kết ấn đều như vậy (nghĩa là cực kì rõ ràng chi tiết), tu luyện qua thời gian dài, thì bổn tôn ở trung mạch cũng sẽ tự trở thành huyễn thân, đây cũng là thân sinh ra từ ý.
 
Ý của tôi muốn nói rằng:
Thiền tông không có tứ quán đảnh, nhưng nhập tam ma địa là không khác biệt. Chỉ cần nhập tam ma địa thì cũng thành được huyễn thân giống như vậy.  Tam ma địa là thành tựu chung của mọi tông mọi phái trong Phật giáo.

Tôi có thể nói thế này, ai ai cũng có Phật tính, ai ai cũng có huyễn thân như nhau. Huyễn thân này là cái gì thì không lời nào có thể mô tả được.
 
Rốt cuộc câu hỏi:
"Sau niết bàn, đi về đâu?"

Tôi xem câu hỏi thì cười. Đây gọi là:
Hỏi ngớ ngẩn.
Hỏi ngu ngốc.
Hỏi dốt nát.

Xin mời người đặt câu hỏi này đi hỏi người đã khai ngộ minh tâm đi. Không cần phải đến hỏi tôi. Người khai ngộ minh tâm biết là không hề có sự đối lập - mâu thuẫn. 
Xin hỏi, đi về đâu?


### 16. Linh hồn và huyễn thân có giống nhau không?


Hỏi:
"Trung ấm, huyễn thân, linh thể, linh hồn có phải là giống nhau không?"
 
Tôi trả lời:
Nếu trung ấm, huyễn thân, linh thể, linh hồn là giống nhau, thế thì sao còn tu huyễn thân để làm gì?
Nếu linh hồn và Phật tính đều giống nhau, thế thì chúng ta còn kiến chứng Phật tính để làm gì?
 
Tôi khẳng định như sau:
Trung ấm, linh thể, linh hồn, là nhiều cách gọi để chỉ cùng một thứ giống nhau. Huyễn thân thì không giống.
 
Tôi lấy ví dụ để nói rõ như sau:
Phàm phu và thánh nhân có giống nhau không?
Phàm phu - là linh hồn.
Thánh nhân - là huyễn thân.

Bản thân phàm phu là thô tục, còn thánh nhân là hành giả đã giác ngộ có trí huệ. Đều là người, nhưng bởi vì một người chưa khai ngộ, một người đã khai ngộ, nên có sự khác biệt.
 
Do vậy tôi nói:
Linh hồn là thô.
Huyễn thân là vi tế.

Linh hồn là khí thô của ngũ uẩn gồm sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Huyễn thân là phải thông qua quá trình tu trì, khí thô chuyển thành khí vi tế. Khí vi tế này có thể phát ra quang minh, thậm chí hóa thành ánh sáng cầu vồng, ánh sáng của Phật tính.
 
Con người đều có Phật tính, nhưng Phật tính này ẩn giấu. Chỉ có thể thông qua nhậm vận tự tại, tu trì chính pháp Minh Không song vận, từ đó tất cả khí của ngũ uẩn sẽ hóa thành ánh sáng, ngay cả đến cơ thể vật chất cũng hóa thành ánh sáng, tu hành giả sẽ trở  thành hồng quang đại thành tựu (thành tựu ánh sáng cầu vồng, nghĩa là thành tựu Phật tính). (*)
 
Chúng ta cũng có thể nói như sau:
Linh hồn được tịnh hóa chính là huyễn thân.
Linh hồn là còn mang nghiệp chướng.

Huyễn thân là do khí thanh tịnh cộng thêm Phật tính mà thành. Theo cách nói của Mật giáo thì là: ở giữa trung mạch, huyễn thân xếp hàng lần lượt, rồi huyễn thân lần lượt từ lỗ hở trên đỉnh đầu thoát ra, thì chính là hóa thân ở ngoài thân. 
 
Trên phương diện này, các vị tu hành giả vĩ đại các đời trước cũng đã từng giải thích.
Ví dụ:
Vàng nguyên chất được luyện từ quặng vàng.
Quặng vàng là linh hồn.
Vàng nguyên chất là huyễn thân.

Lư Sư Tôn tôi vốn là kẻ mang thân phàm phu bình thường, nhưng nhờ có Diêu Trì Kim Mẫu mở thiên nhãn, có sư phụ hữu hình, có sư phụ "vô hình" dạy đạo, trải qua vô số lần mệt mỏi thất vọng vì bị phỉ báng, trải qua quá trình tu trì mỗi ngày không ngừng nghỉ, mới có thể khai ngộ minh tâm, kiến chứng được Phật tính.

Do vậy mà có được đại trí huệ phổ chiếu.
Tôi tu hành xuất ra được huyễn thân.
Tôi cân bằng thân vi tế nhất.
Huyễn thân này là tự do tự tại, có thần túc thông, có thể tự do du hành mười phương Phật quốc tịnh độ, có thể đến được Tứ Thánh giới. 

Có Tha tâm thông, có thể biết được suy nghĩ của đệ tử hoặc người khác.
Có Túc mệnh thông, phá bỏ được quá khứ, hiện tại, vị lai, ba thời như một.
Có Thiên nhĩ thông, có thể nghe Phật pháp của mười phương pháp giới.
Có Thiên nhãn thông, có thể nhìn thấy mười phương pháp giới.
Có Lậu tận thông, diệt hết phiền não, diệt hết nghiệp chướng, tất cả mọi trí huệ đại viên mãn. 
 
Pháp giới thể tính trí.
Đại viên kính trí.
Bình đẳng tính trí.
Diệu quán tra trí.
Thành sở tác trí.
 
Tôi viết cuốn sách "Đương Đại Pháp Vương Giải Đáp Nghi Hoặc" này là việc vô cùng cao thâm huyền diệu. Nếu không có một nền tảng hiểu biết nhất định thì đối với vấn đề huyễn thân và linh hồn sẽ rất khó mà hiểu được. Do vậy tôi đặt bút viết cũng phải cân nhắc suy nghĩ từng tầng lớp, phân tích từng tầng lớp, có như vậy mới có thể viết ra được những ý nghĩa tinh túy.
 
Linh hồn và huyễn thân là một.
Linh hồn và huyễn thân là hai.
Đây chẳng phải là mâu thuẫn sao?
Xin mời suy ngẫm thật kĩ!


### 17. Linh sống và khởi linh


Hỏi:
"Có phải nhất định cần làm sống dậy linh hồn, tu pháp mới được tính là tiến được một bước đầu tiên?"
Lại hỏi:
"Có hành giả nói, năng lượng của bổn tôn làm sao có thể đủ để dung hợp với cơ thể vật lý của chúng ta để trở thành nhất thể được? Do vậy tự bản thân mỗi người nhất định phải làm sống dậy linh hồn của mình, linh thể của bản thân và linh thể của bổn tôn mới có thể hợp nhất. Nói như vậy có đúng không?"
 
Tôi trả lời:
Hai câu hỏi này có thể cùng trả lời được.
Liên quan tới phần khởi linh, trong những cuốn sách thời kì ban đầu của tôi đều có thể tìm được câu trả lời, ví dụ như cuốn "Khởi linh học", là cuốn sách thời kì đầu tôi đã đề cập đến.

Lần đầu tiên tôi quỳ trước Diêu Trì Kim Mẫu, hai tay chắp lại, tay tự động chuyển động, trong lòng tôi vô cùng kinh ngạc. Tiếp đó cơ thể tôi trước sau đều rung lắc, toàn thân đều có thể chuyển động. Lúc đó tôi gọi hiện tượng này là "linh hồn sống dậy rồi". Linh sống dậy này chính là hiện tượng khởi linh. 
 
Khởi linh có thể giúp trở nên linh động và khỏe mạnh, có rất nhiều bệnh do nhờ khởi linh mà tốt lên rất nhiều.
Khởi linh có thể mượn việc linh thể hoạt động ở người lớn hoặc trẻ em, gật đầu, lắc đầu, chân tay,… để đoán được một số sự việc nào đó.
Khởi linh có thể biết được bổn tôn nào hạ giáng bởi vì mỗi vị có một tư thế riêng biệt của từng vị.

Sau khi khởi linh, một số người sẽ có hiện tượng "bị nhập", trở thành kê đồng, văn kê hoặc võ kê. Khởi linh cũng có thể khiến trở thành người thông linh.

(Cảnh cáo: khởi linh cũng có thể gặp rủi ro, hoặc do quá nhạy cảm, hoặc do thể chất, hoặc do nghiệp chướng. Nếu như bị linh hồn cõi thấp nhập vào, trêu chọc, gây chướng ngại, thì cũng có khả năng bị tẩu hỏa nhập ma, dẫn tới hiện tượng tinh thần phân liệt và thất thường.)
 
Tôi nhấn mạnh:
Cần phải tự chủ được.
Không được để bị linh hồn khống chế. 
 
Theo tôi được biết:
Ấn Thuận đạo sư cho rằng hiện tượng khởi linh là một trong mười kiểu hiện tượng của thiền định. Mười kiểu hiện tượng của thiền định, bao gồm cảm giác kiến bò, ngứa ngáy, mát mẻ, ấm áp… Linh hồn hoạt động là một trong mười kiểu hiện tượng thiền định đó, tinh thần thống nhất tập trung, một số người sẽ gặp hiện tượng như vậy.

Trung Quốc đại lục thì xem việc khởi linh là một kiểu pháp công, cũng chính là tự phát công. Người tu hành thông thường thì xem việc khởi linh giống như chuyển động khí ở con người, có nghĩa là khí đi đến đâu thì nơi đó sẽ động. Còn đối với việc: "Khởi linh là bước đầu tiên của tu pháp", thì tôi nhận thấy là: mỗi người một ý.

Tôi hỏi lại:
"Lẽ nào người không biết khởi linh thì vĩnh viễn không thể tu pháp? Không thể đi được bước đầu tiên? Bởi vì rất nhiều người không khởi linh được! Hơn nữa Phật Thích Ca Mâu Ni cũng không hề nhấn mạnh là buộc phải khởi linh."
 
Đối với câu hỏi thứ hai, tôi cũng nhận thấy: mỗi người một ý.
Trong Mật giáo mà nói chúng ta nhấn mạnh từ tam nghiệp chuyển thành tam mật thì có thể cùng với bổn tôn hợp nhất. Thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh, thì có thể cùng bổn tôn hợp nhất. (Đây là hợp nhất cùng với thần linh cõi trên.)
 
Còn như vị hành giả kia nói trước tiên phải làm cho linh hoạt động mới có thể hợp nhất cùng linh thể của bổn tôn, thì đây là hợp nhất cùng linh cõi thấp. Chúng ta nhấn mạnh thân, khẩu, ý thanh tịnh hợp nhất. Không phải hợp nhất với linh hồn sống.
Rất nhiều hành giả không nhất định phải biết khởi linh, làm sao  để họ để hợp nhất với linh sống? 

Nếu thân khẩu ý không thanh tịnh thì có thể hợp nhất với linh của cõi cao được không? Chỉ có thể hợp nhất với linh hồn của động vật mà thôi, sẽ chỉ gặp rắc rối chứ chẳng thể có lợi ích gì.

Các đệ tử, hãy cẩn thận! Cẩn thận!


### 18. Người khai ngộ không có tham sân si?


Hỏi:
"Sư Tôn (Lư Sư Tôn) từng khai thị có nói người khai ngộ thì không còn tham sân si, vì sao khi Lư Sư Tôn về Đài Loan lại nói Lư Sư Tôn có tập khí cần sửa đổi? Người đã khai ngộ chẳng phải là không còn tham sân si sao?"
 
Tôi trả lời:
Câu hỏi này tôi vừa đọc liền cười lớn ba tiếng: Ha! Ha! Ha! Thật là buồn cười đến chết mất! Người hỏi câu hỏi này quả thực quá ngu ngốc, thực sự quá "con lừa", thật là không hiểu gì lại tỏ vẻ hiểu biết!
 
Trước tiên tôi giải thích đơn giản là: 
Tu hành phân ra làm năm giai đoạn: tư lương đạo, gia hành đạo, kiến đạo, tu đạo, chứng đạo.

Kiến đạo ở đây chính là khai ngộ, sau khi khai ngộ thì "khai ngộ khởi tu" (hiểu rồi thì mới bắt đầu tu), cũng chính là sau khi khai ngộ thì mới có được tu đạo, chúng ta gọi là "bảo hộ khai ngộ vững chắc". Cũng có thể nói là "bảo hộ vững chắc cái ta đã đạt được".
 
Tôi nói:
Người khai ngộ không có tham sân si, câu nói này là nói thẳng thắn, nói sự thật, bởi vì một khi đã khai ngộ thì sẽ hiểu được:
Vô sở đắc - tham cái gì?
Vô sở vị - sân cái gì?
Vô sở trụ - si cái gì?
Bởi vì vô ngã thì sao còn có tham, sân, si?

Thế nhưng:
Tôi lại nói Lư Sư Tôn có tập khí (*) cần sửa đổi, việc này là đối với tất cả những người khai ngộ, chỉ ra rằng cần: "Bảo hộ khai ngộ vững chắc."

Tôi nói như vậy, bạn đã hiểu chưa? 
Tôi nói như vậy, bạn có thể hiểu được không? 
Tôi nói như vậy, rốt cục bạn hiểu hay không hiểu? 
Nếu như vẫn chưa hiểu, coi như đập đầu mà chết cho xong!
 
Mặc dù hành giả thu thập tư lương của cõi trên, đã trải qua rất nhiều công phu gia hành, được Căn bản Thượng sư chỉ dẫn và khai sáng các pháp, đến cuối cùng hành giả đã khai ngộ minh tâm, nhưng khai ngộ minh tâm chỉ là một sự việc trong nháy mắt. Những gì mà hành giả khai ngộ được vẫn chưa được tu luyện vững chắc, cũng có nghĩa là chưa đạt được điểm đến cuối cùng thực sự.
Mặc dù biết rõ rằng:
Vô sở đắc.
Vô sở trụ.
Vô sở vị.

Nhưng tập khí vẫn còn, lúc này phải bắt đầu tu đạo, đây chính là bảo hộ vững chắc sự khai ngộ của bản thân, thực sự đạt đến vô sở đắc, vô sở trụ, vô sở vị.

Củng cố tu trì sự khai ngộ của bản thân, không bị tập khí đánh bại. Cần biết rằng ở đây chúng ta có một phép ẩn dụ:
Tập khí - là con ngựa hung hăng.
Khai ngộ - là sợi dây thừng.
Hành giả - là kị sĩ.

Sư Tổ nói:
"Người khai ngộ giống như kị sĩ cưỡi trên lưng con ngựa hung hăng, nhờ sợi dây thừng mà khống chế ngựa dữ, điều phục ngựa để ngựa không đi phạm vào đồng ruộng."
 
Tôi nói:
"Hành giả khai ngộ cần phải giữ chắc được sự không tán loạn, lại cần phải giữ chắc nhậm vận, không tán loạn là điểm quan trọng, điều phục được rồi thì lại cần phải nhậm vận được."
Sư Tổ nói:
"Việc này giống như mục đồng chăn cừu, để cho cừu tùy ý đi ăn cỏ (nhậm vận), nhưng phải để ý được cừu, không thể để cừu bị lạc mất (tán loạn). Phải làm được cả hai việc này mới được."
 
Thực tế là sau khi khai ngộ mới bắt đầu tu hành. Người bình thường cần thời gian rất dài mới có thể đi đến tận cùng của vấn đề để chứng được đạo, chỉ có rất ít người có căn khí lớn, ngay khi khai ngộ thì đã bảo hộ được vững chắc kiên cố.

Trong giác ngộ không có tham sân si.
Người khai ngộ hiểu rõ.
Nhưng tập khí cần hoàn toàn dựa vào sự điều phục!


### 19. Phân nước tiểu đều không thể rò rỉ?


Hỏi:
"Lư Sư Tôn khai thị từng đề cập đến rằng trong cơ thể chúng ta tất cả các chất bài tiết ra, kể cả phân và nước tiểu, đều là minh điểm. Bởi vì là minh điểm, khi thành tựu pháp vô lậu, có phải là ngay cả đại tiện, tiểu tiện đều không thể bài tiết ra ngoài không?" [ND: Pháp vô lậu: pháp không rò rỉ ra ngoài.]
 
Tôi trả lời:
Trước tiên, chúng ta hãy hỏi người đặt câu hỏi trước, hãy thử trước xem là đại tiện, tiểu tiện mà không bài tiết ra ngoài. Xem thử xem:
Tiểu tiện mà vô lậu (không bài tiết ra ngoài), liệu có tức bụng đến chết không!
Đại tiện mà vô lậu (không bài tiết ra ngoài), liệu có trương bụng mà chết không!
Nếu như không chết, chúng ta lại nói chuyện tiếp. Phân và nước tiểu đều không bài tiết ra ngoài, thế rồi sao?
 
Trong pháp minh điểm của Mật giáo, các vị sư tổ nói, tất cả mọi thứ trong cơ thể người đều là minh điểm. Minh điểm có thể được phân chia như sau:
Địa đại minh điểm.
Thủy đại minh điểm.
Hỏa đại minh điểm.
Phong đại minh điểm.
Không đại minh điểm.
Bất hoại minh điểm.
(Lại phân chia thành: thanh tịnh minh điểm, bất hoại minh điểm, tâm minh điểm, trí huệ minh điểm, vật chất minh điểm.)
 
Tu hành pháp minh điểm như sau:
Đem tất cả những gì thuộc về vật chất minh điểm toàn bộ chuyển hóa hết, cho đến cuối cùng còn lại chính là chỉ có mỗi Phật tính bất hoại minh điểm (tâm minh điểm). (*)
Còn lại "minh quang".
Còn lại "trí huệ thanh tịnh".

Ý của tôi muốn nói rằng:
"Thành tựu cuối cùng của pháp minh điểm chính là ánh sáng của Phật tính, toàn bộ cơ thể vật chất xác thịt đều hóa thành ánh sáng, cũng chính là hóa thân cầu vồng. Thế nên, đại tiện, tiểu tiện, giữ lại để làm cái gì?"
Đại tiện, tiểu tiện đều không bài tiết ra ngoài, hoàn toàn là điều vô lý!

"Vô lậu" được nói đến ở đây là "tinh, huyết" vô lậu. (Tinh huyết là khí minh điểm.)

Do đó Mật giáo của chúng ta nói như sau:
Nam tinh cạn thì chết.
Nữ băng huyết thì chết.
Nam phải giữ được tinh dịch minh điểm.
Nữ phải giữ được huyết dịch minh điểm.
 
Vì sao phải giữ cho tinh dịch minh điểm vô lậu? Bởi vì khi nâng chuyết hỏa lên sẽ chuyển hóa hết tinh dịch minh điểm, từ đó thành tựu trí huệ khí (trí huệ minh điểm).

Đạo gia cũng nói:
Tinh hóa thành khí, khí hóa thành thần, tinh khí thần là tam bảo của đạo gia. Nếu như mất tinh, khí cũng không còn, khí không còn thì thần quang cũng không xuất hiện nữa.

Tam bảo của Mật giáo là khí, mạch, minh điểm.
Nguồn của khí cũng giống như tinh.

Do đó để cho khí, huyết vô lậu là điều kiện đầu tiên, sau đó mới lấy tinh hóa thành khí. Vận dụng khí và chuyết hỏa để thông trung mạch và bảy luân xa, giải phóng ra tâm minh điểm (bất hoại minh điểm).

Cuối cùng, ánh sáng Phật tính xuất hiện. (đạt cứu cánh giác)
 
Có ý kiến thế này:
Khi tinh dịch chuyển hóa thành khí, khí này thông tất cả mọi kinh mạch, sẽ gắn với xương sọ và toàn bộ xương cốt trên cơ thể trở thành một thể kết tinh không thể bị phá vỡ (bất hoại), tinh thể kết tinh này chính là hạt xá lợi.

Trên phương diện y học, tinh dịch của nam giới, kinh nguyệt của nữ giới đều là những chất bài tiết, khi đến kì thì nên xả ra, nếu cố ý không xả ra thì có thể bị bệnh.
 
Nhưng Mật giáo và đạo giáo thì nói:
Gốc vững chắc, là số một.
Trả về nguyên bản, là số một.

Trả về nguyên bản cũng là lấy tinh hóa thành khí. Cá nhân tôi cho rằng nếu vô lậu rồi thì cần tu pháp chuyết hỏa, dùng minh điểm không bị rò rỉ hóa thành khí, phân tán ra khắp thân, như vậy sẽ không có bệnh tật gì.
 
Phân và nước tiểu không rò rỉ ra ngoài sao?
Đi lo cho trứng của anh đi!


### 20. Tân Đầu Lư bị Phật Đà trách mắng


Hỏi:
"Trong kinh Phật thường nhắc đến các đệ tử của Phật Đà đều có thể diễn hóa thần thông lên các vật thể thực, ví dụ như phi thiên độn thổ. Vì sao Lư Sư Tôn không thể hiện thần thông bay lên trời khiến cho con người trần gian càng tin tưởng hơn, nghìn lời nói không bằng một hành động."
 
Tôi trả lời:
Tôi lấy một ví dụ như sau:
Có một lần, một đám người chạy đến chỗ Phật Thích Ca Mâu Ni, trong đám người có một vị mang theo một cái túi. Tại một cái cây to bên ngoài nơi ở của Phật Đà, ông ta cầm chắc cái túi và trèo lên cây. Ông ta đứng ở trên cành cao nhất của cái cây, treo cái túi lên đó, sau đó thận trọng từng chút một leo xuống.

Đám người này nói:
"Đệ tử của Phật Đà đều có thần thông, chúng tôi hôm nay đến để muốn xem thần thông, có vị tôn giả nào biểu diễn thần thông cho chúng tôi xem, xin mời vị tôn giả nào thử xem!"
Các đệ tử của Phật Đà vẫn ngồi im lặng.
 
Chỉ có tôn giả Tân Đầu Lư đứng dậy, đi đến bên dưới cây to, ngước đầu nhìn lên cái túi treo trên cành cây.
Mọi người hò hét:
"Bay lên lấy cái túi đi!"

Tôn giả Tân Đầu Lư không kìm nén nổi, nhẹ nhàng bay lên, càng bay càng cao, dùng động tác đẹp đẽ nhất với lấy cái túi, sau đó nhẹ nhàng bay xuống đứng trên mặt đất.

Đám người vỗ tay như sấm.
Tôn giả Tân Đầu Lư tự hào mãn nguyện quay trở về tịnh xá của mình. Đám người tản đi.
 
Phật Thích Ca Mâu Ni biết chuyện, gọi tôn giả Tân Đầu Lư đến mắng cho một trận.

Phật Đà nói:
"Thị phạm tồi tệ nhất."
"Bóp méo kết quả của việc tu hành."
"Thần thông không phải là cái đích cuối cùng."
"Tà ma ngoại đạo."
"Không phải trò trẻ con!"
"Không thể ứng dụng bừa bãi."

Cuối cùng, lời mắng nặng nề nhất là:
Tân Đầu Lư vĩnh viễn ở tại nhân gian, bị phạt tại nhân gian, không thể đến được tứ thánh giới, không thể đến thiên giới, vĩnh viễn bị phạt ở tại nhân gian.
Đây là sự trừng phạt rất nặng nề.

Cho đến ngày nay:
Mỗi khi có trai tăng đại hội, là lễ hội ăn chay cúng dường tăng nhân, thì vị trí đứng đầu nhất định phải có một chỗ trống. Bởi vì chỗ trống đó là vị trí của Tân Đầu Lư.
 
Còn nữa:
Trong số các đệ tử của Phật Đà, tôn giả Mục Kiền Liên thần thông là số một, nhưng rồi cũng thua nghiệp lực, bị ngoại đạo đánh cho tan xương nát thịt.

Trong số các đệ tử của Phật Đà, Đề Bà Đạt Đa tu thần thông, Đề Bà Đạt Đa có sức mạnh thần thông rất lớn. Phật có 32 tướng tốt, Đề Bà Đạt Đa có 30 tướng. Phật có 80 vẻ đẹp, Đề Bà Đạt Đa có 70 vẻ đẹp. 

Thần thông của Phật và của Đề Bà Đạt Đa có sự khác biệt rất nhỏ.
 
Rốt cục:
Tôn giả Đề Bà Đạt Đa vẫn phản bội Phật Thích Ca Mâu Ni, phá hoại Phật giáo tăng đoàn, khiến tăng đoàn phân rẽ, lấy đi rất nhiều rất nhiều đệ tử của Phật Đà.

Đề Bà Đạt Đa tu thần thông, vẫn phản bội Phật giáo, tham lam cúng dường, đương nhiên cuối cùng cũng đọa địa ngục.
 
Hôm nay tôi thực lòng nói cho mọi người hay:
Tà ma có đại thần thông.
Ngoại đạo có đại thần thông.
Thần minh có đại thần thông.
Quỷ vương có đại thần thông.
…
 
Xin hỏi "Nếu bạn biểu diễn thần thông giỏi, có thể khiến người khác khởi lòng tin, nhưng có thể chứng minh được điều gì?"

Do vậy, chúng ta chỉ có thể "mặc vận" thần thông, xin chú ý hai chữ "mặc vận". 
[ND: Mặc vận: im lặng mà dùng, dùng âm thầm không cần phải thể hiện ra ngoài.]


### 21. Hoa cỏ cũng thành Phật!


Hỏi:
"Phật Đà từng nói tất cả mọi chúng sinh hữu tình đều có thể thành Phật, vậy thì tất cả hoa cỏ chẳng phải là chúng sinh hữu tình sao? Nếu đúng thế thì hoa cỏ cũng có thể thành Phật. Nếu không phải thế, vì sao vẫn nói sông núi đại địa cỏ cây đều có Phật tính?"
 
Tôi trả lời:
Ngày nay, Phật điển nói "lục đạo chúng sinh" là nói đến:
Thiên đạo.
Nhân đạo.
A tu la đạo.
Địa ngục đạo.
Ngạ quỷ đạo.
Súc sinh đạo.

Tuy nhiên, các học giả Phật giáo ngày nay đề nghị cần đưa thêm hai đạo nữa là:
Thực vật đạo - hoa cỏ.
Khoáng vật đạo - sông núi đại địa.
 
Vì sao lại như vậy?
Bởi vì căn cứ vào các thí nghiệm của các nhà sinh vật học, họ đã gắn lên hoa cỏ một thiết bị đặc biệt. Khi bạn hái một bông hoa, hoặc chặt đứt một cành cây, hoặc hái xuống một cái lá, cây, hoa, cỏ… đều có phản ứng đau.

Ngoài ra, các nhà nghiên cứu khoáng vật cũng phát hiện, bất kì loại khoáng vật nào trên trái đất đều có tồn tại từ trường. Rất rõ ràng nó không chỉ là một loại vật chất tồn tại, mà nó còn sống.

Người xưa nói: Cỏ cây đá sỏi vô tình.
Người nay nói: Cỏ cây đá sỏi hữu tình.

Bởi vậy, "lục đạo chúng sinh" cần đổi tên thành "bát đạo chúng sinh" rồi!
 
Phật Thích Ca Mâu Ni nói:
Nhất khẩu thanh tịnh thủy
Bát vạn tứ thiên trùng
Như quả bất trì chú
Như đồng sát chúng sinh.
 

Dịch thơ:
Uống một ngụm nước sạch
Tám vạn bốn nghìn trùng (vi trùng, vi khuẩn)
Nếu như không trì chú
Khác nào giết chúng sinh.
 
Vậy thì rõ ràng là tất cả thực vật là chúng sinh hữu tình, tất cả khoáng vật cũng là chúng sinh hữu tình. Bởi vì như vậy nên đối với tất cả những người ăn chay mà nói thì bản thân việc ăn chay cũng mất đi ý nghĩa rồi.
 
Cá nhân tôi trên phương diện chay mặn giữ quan điểm là:
1.	Siêu độ.
2.	Cúng dường.
3.	Dưỡng sinh.
4.	Tu hành.

Quan trọng nhất là núi sông đại địa, cỏ cây hoa lá, chim muông cầm thú, tất cả đều trở thành việc thực hành tu tập của hành giả. Hành giả cần phát bồ đề tâm, siêu độ cho chúng, cũng dường Phật Bồ Tát của mười phương ba cõi.
 
Vậy thì hoa cỏ khoáng vật có thể thành Phật được không?
Tôi thực lòng nói cho mọi người biết, lúc tôi thấy Phật tính, tôi phát hiện thấy:

Tôi nhìn bức tường, tường không ngờ cũng có Phật tính.
Tôi nhìn hòn đá, hòn đá không ngờ cũng có Phật tính.
Tôi nhìn cây cỏ, cây cỏ không ngờ cũng có Phật tính.
Tôi nhìn hoa hồng, hoa hồng không ngờ cũng có Phật tính.
Tôi nhìn cỏ dại, cỏ dại không ngờ cũng có Phật tính.
Trời ạ! Núi sông đại địa, hoa cỏ cây cối, đều có Phật tính!

Bởi vậy tôi nói:
"Tất cả những gì tôi nhìn thấy đều có thể thành Phật!"
 
Tôi là một hành giả đã minh tâm kiến tính. Tôi tin rằng tất cả những hành giả đã minh tâm kiến tính đều hiểu được câu nói của tôi. Và sẽ không nói rằng Lư Sư Tôn đã bị thần kinh rồi, phải "vào trại" rồi!
 
Hoa cỏ sỏi đá đều là chúng sinh hữu tình.
Hoa cỏ sỏi đá đều có Phật tính.
Hoa cỏ sỏi đá đều có thể thành Phật.

Nam mô Hoa Vương Phật!
Nam mô Thạch Đầu Phật!
Nam mô Dã Thảo Phật!
Nam mô Sơn Vương Phật!
Nam mô Hà Thánh Phật!
Nam mô Đại Địa Phật!


### 22. Phúc phận và béo phì


Hỏi:
"Có phải là người tu hành có phúc phận (vận may) thông thường đều có chút mập mạp không? Vậy thì như Thượng sư Liên Minh khá mảnh mai, có phải là không có phúc phận nhiều như vậy không?"
 
Tôi trả lời:
Tôi lấy một ví dụ để giải thích.
Ngày xưa khi Phật Đà trụ thế, hai vị đại đệ tử của Phật, một người là tôn giả Đại Ca Diếp, người kia là tôn giả Anan, hai vị này là đại A La Hán. Trong Đại Hùng Bảo Điện của chùa miếu hai vị được sắp xếp đứng hai bên Phật Đà.
(Tương tự như vị trí thị giả của Phật.)

Tôn giả Đại Ca Diếp được gọi là Đầu Đà đệ nhất. [ND: Đầu Đà: hạnh đầu đà, còn gọi là khổ hạnh, Đại Ca Diếp là vị rất giỏi giữ giới theo con đường khổ hạnh.]
Tôn giả Anan được gọi là Đa Văn đệ nhất. [ND: Đa Văn: tôn giả Anan là người có trí nhớ siêu phàm, có thể nhớ được mọi lời giảng của Phật, được Đức Phật và thánh chúng suy tôn là vị Đa Văn đệ nhất.]

 
Tôn giả Đại Ca Diếp mỗi lần cầm bình bát đi ra ngoài khất thực thường tìm đến những nhà nghèo nhất. Mà đồ cúng dường của nhà nghèo thì ít, hơn nữa đồ ăn cũng chẳng ngon lành gì, chỉ là vài món ăn thô đơn giản.
Do vậy tôn giả Đại Ca Diếp rất gầy gò!

Còn tôn giả Anan mỗi lần cầm bình bát đi ra ngoài khất thực thường tìm đến những nhà giàu, cúng dường của nhà giàu thì nhiều, đồ ăn phong phú, hương vị hấp dẫn.
Do vậy tôn giả Anan rất béo khỏe!
 
Đại Ca Diếp thích khổ hạnh, ngài sống ở rừng vứt xác bên dưới một cây to, hang đá, sống khổ hạnh.

A Nan theo Phật Đà, nhận cúng dường, sống ở Trúc Lâm tịnh xá, có vườn riêng, là dinh thự lớn vào thời đó.

Đại Ca Diếp xin thức ăn của người nghèo, ngài nói rằng: người nghèo đã rất nghèo rồi, lại xin thức ăn của họ là để sau đó ban thêm phúc cho họ, để tăng thêm phúc phận của họ đó!

Còn Anan lại cho rằng xin thức ăn của người giàu, người giàu thì có rất nhiều đồ ăn ngon, sẽ không làm tăng thêm gánh nặng cho người giàu.

Cả hai vị đều có lý.
Nói như vậy thì xem ra tôn giả Anan tương đối có phúc phận, tôn giả Đại Ca Diếp có vẻ không có phúc phận.
 
Thực tế không phải như vậy.
Việc tu hành của Đại Ca Diếp thì ai ai cũng thấy rõ ràng, thành tựu của ngài là giỏi nhất, cao nhất. Ngài:
Minh tâm kiến tính đầu tiên.
Đạt thành tựu đầu tiên.
Chứng quả đầu tiên.

Còn người được hưởng phúc phận là tôn giả Anan thì sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni nhập niết bàn rồi mà ngài vẫn chưa minh tâm kiến tính.
 
Từ việc này chúng ta thấy rằng:
Phúc báo ở nhân gian có thể trở thành chướng ngại tu hành.

Xin hỏi:
Phúc đức của tôn giả Đại Ca Diếp lớn, hay là phúc đức của tôn giả Anan lớn?

Lục Tổ Huệ Năng đã phân biệt phúc và đức như sau:
Phúc - chẳng có gì cả!
Đức - tư lương trời cho!

Người tu hành như chúng ta ngày nay, cần coi trọng cả phúc và đức, nếu như không thể có được cả hai thì có lẽ đức quan trọng hơn. Phúc của nhân gian làm sao sánh bằng phúc của cõi trời ban cho?
 
Tôi nói:
Người hỏi câu này không hiểu vấn đề, gầy béo với phúc phận thì có liên quan gì?

Người hiện đại còn xem việc béo phì là việc cực xấu phải tránh.
Béo phì có ba dạng:
Bị phù.
Nhiễm độc.
Thể chất.
 
Béo phì tuyệt đối không thể hiện phúc phận. Hơn nữa gầy gò cũng cũng chẳng phải là không có phúc phận. Mọi người hãy nhìn ông Vương Vĩnh Khánh (*) mà xem, cả đời ông ta đều gầy gò, nhìn giống như con khỉ, nhưng phúc báo nhân gian của ông ta chẳng phải rất lớn sao.

Người gầy phúc báo lớn, có rất nhiều.
Lấy chuyện gầy béo cho rằng phúc phận lớn, phúc phận nhỏ, việc này chẳng hợp tình hợp lý chút nào. Lẽ nào những người phụ nữ có phúc phận lớn đều béo mầm hết hay sao?
[ND: Vương Vĩnh Khánh: chủ tịch tập đoàn nhựa Formosa, được mệnh danh là thần tài của Đài Loan, với tổng tài sản là 6.8 tỉ USD vào năm 2008, là người giàu nhất Đài Loan.]


### 23. Vấn đề kết hôn của người đồng tính


Hỏi:
"Nếu có người đồng tính tại pháp hội yêu cầu được ban phúc, Lư Sư Tôn có đồng ý không?"

Lại hỏi:
"Trong hệ thống Phật giáo, đồng tính được phân loại là phi khí tà dâm. Nhưng Phật pháp là bình đẳng, nếu họ sinh ra tự nhiên đã là người đồng tính rồi, họ có phạm vào giới phi khí tà dâm hay không?" [ND: Phi khí tà dâm: quan hệ tình dục không phải với phương tiện và cách thức tự nhiên và phù hợp như giữa nam và nữ thông thường.]

Còn nữa:
"Xin hỏi Lư Sư Tôn có phong cho người đồng tính làm Thượng sư không?"
 
Tôi trả lời:
Ngày xưa Phật Thích Ca Mâu Ni đã định ra "chính dâm" trong quy tắc Phật giáo rất nghiêm khắc. Hơn nữa "chính dâm" chỉ dành cho nam nữ cư sĩ tại gia, tỳ kheo và tỳ kheo ni xuất gia thì hoàn toàn nghiêm cấm chữ "dâm". 

Hệ thống quy tắc này là:
Không đúng người - vợ chồng mới được.
Không đúng lúc - buổi tối mới được.
Không đúng chỗ - trên giường mới được.
Không đúng dụng cụ - không thể dùng các dụng cụ dâm dục (các công cụ tăng thêm kích thích và sự vui thích).
 
Nói một cách chặt chẽ hơn nữa là:
Vào ngày Phật Bồ Tát thánh đản, ngày trai giới, gió to, mưa lớn, nhật thực, nguyệt thực… đều nằm trong những ngày bị cấm.

Ở trong núi, trong nước, dưới ánh mặt trời, dưới ánh trăng, dưới ánh sao, dưới cây, trong hang động, trên mặt đất, trên ghế, trên bàn… đều nằm trong giới cấm. Ngoài ra trước Phật, sau lưng Phật, trước thần, sau lưng thần, đều nằm trong điều cấm. Ngoài vợ chồng ra thì tất cả đều cấm, động vật cũng không được.

Không được dùng các công cụ giả, không được dùng miệng, không được dùng tay, tất cả các dụng cụ tình dục đều nghiêm cấm. (Thuốc cũng không được.)
Búp bê bơm hơi cũng không được.
 
Tóm lại, giới hạn của "chính dâm" đã nhiều như lông trâu, nói gì đến "tà dâm". Mọi điều đều tuyệt đối không thể.

Thậm chí bạn không làm gì, chỉ suy nghĩ thôi cũng nằm trong các điều cấm, có nghĩa là ý niệm phạm vào dâm giới.

Lại có người nói:
Ngoại trừ tư thế chính đơn thuần ra, những tư thế khác đều nằm trong giới cấm.
 
Tư thế chính ví dụ như "rồng lật". 
Ngoài ra còn có hổ bước, vượn leo, ngỗng bay, rùa ấp, cá uốn mình, thỏ gặm lông, thiên nga vòng cổ, lật trái phải.
(Ở trên là chín tư thế của các vị Minh Phi, từ chín tư thế này mà biến tấu thành 18 tư thế, 36 tư thế, 72 tư thế…)

Nhưng trong quy tắc Phật chỉ có thể dùng tư thế chính. Nếu như nghiêm khắc tuân thủ theo quy tắc Phật, có thể nói là chỉ một chút dục vọng cũng không được khởi lên. 

Ý của Phật Đà là:
"Nói thẳng và thật chi tiết mọi quy tắc ra, thì ngay cả làm bạn cũng sẽ không muốn làm. Vì thế các quy tắc thế này rất nhiều!

Thế nhưng thời đại đã khác rồi, dựa vào lý luận "Phật tính" cũng phải xem số đông chúng sinh. Chúng sinh thì muôn hình muôn vẻ. 

Người đồng tính là kết quả của thời đại này, đứng trên lập trường của Phật tính, tôi cho rằng:
Lư Sư Tôn sẽ ban phúc cho người đồng tính, chỉ cần có tình yêu thực sự, tất cả đều được. Người đồng tính chỉ có phi khí, cũng có nghĩa là đồng khí, tôi vẫn tán đồng, chỉ cần có tình yêu thực sự, tất cả đều được. [ND: Phi khí, đồng khí: người đồng tính thì không có sự khác biệt về cơ quan sinh dục, do đó họ không quan hệ tình dục theo cách tự nhiên thông thường, được phân loại là phạm giới tà dâm.]

Người đồng tính có thể xuất gia, bởi vì chúng sinh hữu tình đều có Phật tính, tôi có thể xuống tóc cho họ.

Người đồng tính mà đạo tâm vững chắc, vô cùng tinh tấn, nghi quỹ thuần thục, phát bồ đề tâm, xuất gia chứng quả, đương nhiên sẽ làm Kim cương A-xà-lê Thượng sư.
 
Tôi cho rằng:
Quy tắc Phật không nên bỏ, nhưng vào giai đoạn hoàn cảnh thời đại khác nhau thì có thể thay đổi được. Cái này gọi là "cùng giả biến, biến tắc thông". [ND: Cùng giả biến, biến tắc thông: Sự vật phát triển tới cực điểm, khi cùng tận, thì tất phải biến hóa, sau khi biến hóa liền thông đạt, nhờ thông đạt mà được dài lâu.]

Lập trường của tôi là đứng từ bản chất chúng sinh đều có Phật tính. Người đồng tính cũng có Phật tính.
Do vậy, khả thi!


### 24. Nói chuyện xuất gia hoàn tục (1)


Hỏi:
"Mật giáo có một học thuyết rằng: xuất gia rồi lại hoàn tục thì 16 kiếp không thể thành tựu. Xin hỏi Lư Sư Tôn đối với học thuyết này có cái nhìn như thế nào?"
 
Tôi trả lời:
Trước tiên tôi sẽ kể một chuyện hài nhé!
Có người hỏi Tinh Vân đại sư:
"Đối với người xuất gia hoàn tục, ông có suy nghĩ thế nào?"
Tinh Vân đại sư đáp:
"Cũng giống như dạy học rồi lại không dạy nữa thôi!"
Tôi nghe xong, cười lớn ha ha ha.
 
Vì sao tôi nói đây là chuyện hài, bởi vì chuyện xuất gia hoàn tục và dạy học rồi lại không dạy học nữa, trên nghĩa đế cơ bản, thì chẳng giống nhau chút nào.

Xuất gia - có lời thề nguyện trong đó.
Dạy học không dạy học - chẳng có lời thề nào.

Xuất gia có tam muội, có lời thề với Phật, so với chuyện dạy học rồi không dạy học nữa thì khác nhau xa cả mười vạn tám nghìn dặm.

Tinh Vân đại sư không ngờ lại không biết. Tôi nghĩ có lẽ Tinh Vân đại sư thích nói đùa, do vậy xem đây như chuyện cười nên không cần quá nghiêm túc.
 
Trong quy tắc Phật giáo:
Nam giới xuất gia, hoàn tục, lại xuất gia, lại hoàn tục, có thể lặp lại như vậy bảy lần.
Nữ giới xuất gia, hoàn tục thì chỉ được một lần, vĩnh viễn không được phép xuất gia nữa.

Nguyên nhân vì sao? Mọi người chắc chắn sẽ nói "trọng nam khinh nữ"! Nhưng đó là quy tắc nhà Phật, Phật Thích Ca Mâu Ni là một vị giác ngộ đại trí huệ, chắc chắn trong việc này phải có nguyên nhân. Tóm lại, tại Ấn Độ cổ đại (Thiên Trúc), nữ giới muốn thành Phật thì trước tiên phải chuyển thành thân nam.

Phật Đà ban đầu không muốn nữ giới xuất gia, nhưng bởi vì di mẫu của ngài hết sức yêu đạo và tôn giả Anan hết sức thỉnh cầu, Phật Đà mới động lòng nên đặc biệt thông qua quy tắc cho nữ giới xuất gia.

Phật Đà trọng nam khinh nữ. Nguyên nhân là gì?
Mọi người có thể tự nghiên cứu xem sao!
 
Mật giáo nói xuất gia hoàn tục thì 16 kiếp không thành tựu?
Theo quan sát của cá nhân tôi thì:
Phá giới samaya.
Phá thề nguyện.
Phá giới xuất gia.

Đây đều là những vấn đề nghiêm trọng, phát tâm xuất gia, nhưng sau đó giữ tâm không đủ lâu, lại muốn hoàn tục, không tiếp tục tu hành. Nếu như vĩnh viễn mê lầm trong đời sống thế tục, không chỉ 16 kiếp không thể thành tựu, cơ bản là ở trong lục đạo luân hồi, chuyển kiếp rồi lại chuyển kiếp, không thể giải thoát.
 
Nếu như vì lý do đặc biệt quan trọng nên phải hoàn tục thì còn có thể tha thứ được, nhưng chuyện trong thiên hạ liệu có thể quan trọng hơn việc xuất gia tu hành được chăng?

Ba việc quan trọng của Phật pháp:
Xuất ly tâm - thoát khỏi sinh tử và chứng niết bàn.
Bồ đề tâm - nguyện giúp chúng sinh lúc hoạn nạn, nguyện diệt trừ chúng sinh khỏi chướng ngại mê lầm, nguyện cắt đứt những tà kiến của chúng sinh, nguyện độ chúng sinh thoát khỏi vòng xoáy đau khổ.
Trung quán chính kiến - thoát khỏi trí huệ sinh tử.

Xuất gia là:  
"Thoát ly khỏi những phiền não của gia đình, cũng có nghĩa là thoát ly khỏi cuộc sống của gia đình, đi tu con đường thanh tịnh của thầy tu."
 
Xuất thế trong thiền.
"Tu quán bậc thứ ba, trước tiên từ Giả nhập Không, tiếp theo từ Không nhập Giả, sau đó thoát khỏi cả Không và Giả, nhập trung đạo nghĩa quán thứ nhất, đây gọi là xuất thế trong thiền."

16 kiếp không thành tựu bởi vì phá giới samaya, phá bỏ lời thề nguyện, phá giới, phải trải qua 16 kiếp chịu khổ: chịu khổ của búa rìu, khổ của lang sói, khổ của gươm đao, khổ của hàn băng, khổ của bùn đen, khổ của phân uế, khổ của đinh sắt, khổ của khát cháy, khổ của đói khát, khổ của chảo đồng, khổ bị đá nghiền, khổ của máu mủ, khổ của lửa thiêu, khổ của tro bụi, khổ của bi sắt. 

Sau khi trải qua 16 kiếp khổ này thì mới được chuyển kiếp làm người. Do vậy mới nói có cơ hội tu hành, lại xuất gia, tất cả đều phải trải qua nỗi đau khổ suốt 16 kiếp.


### 25. Nói chuyện xuất gia hoàn tục (2)


Kinh Tăng Nhất A Hàm quyển 27 có đoạn ghi chép:
"Lúc này Thế Tôn nói với chư tỳ kheo: Nói về dục bình đẳng trong các A La Hán, phải nói đến tỳ kheo Tăng Ca Ma. Người có thể hàng phục quyến thuộc ma, cũng là tỳ kheo Tăng Ca Ma. Lý do vì sao? Vì tỳ kheo Tăng Ca Ma đã bảy lần hàng phục ma, nay mới thành đạo. Từ nay về sau cho phép được ra vào đạo bảy lần, vượt quá hạn mức này thì xem như phi pháp." (Xem Đại Chính Tạng, trang 702, quyển Hạ.)
 
Hỏi:
"Tỳ kheo ni sau khi hoàn tục thì không thể lại xuất gia thọ giới. Tỳ kheo sau khi hoàn tục, vẫn có thể lại xuất gia thọ giới, nhưng giới hạn là bảy lần. Xin hỏi Lư Sư Tôn đối với quy tắc Phật giáo này có cái nhìn như thế nào?"
 
Hỏi:
"Nếu Phật pháp là bình đẳng, vì sao còn có Bát Kính Pháp? Đây chẳng phải là đối đãi không bình đẳng giữa tỳ kheo ni và tỳ kheo sao?" [Bát Kính Pháp: tám điều cần phải cung kính.]
 
Tôi trả lời:
Trước tiên chúng ta hãy bàn luận về Bát kính pháp.
Tỳ kheo ni 100 tuổi cũng phải quỳ dưới chân đảnh lễ tỳ kheo mới xuất gia.
Không được mắng nhiếc, phỉ báng tỳ kheo.
Tỳ kheo ni không được vượt lên trước tỳ kheo.
Tỳ kheo ni muốn thọ giới Cụ túc, phải thông qua hai bộ tăng. (Đầu tiên là các pháp gốc trong bộ tăng ni, tiếp theo là cầu thỉnh tỳ kheo tăng cho thọ giới.)
Tỳ kheo ni phạm tội tăng tàn (hủy hoại phá vỡ tăng đoàn), phải sám hối theo hai bộ tăng.
Cứ nửa tháng phải thỉnh cầu tỳ kheo dạy về giới.
Không được an cư kiết hạ cùng một nơi với tỳ kheo, cũng không được ở xa nơi an cư kiết hạ của tỳ kheo. (Bởi vì để tiện cho việc thỉnh cầu dạy giới.)
An cư viên mãn xong, tỳ kheo ni phải tới tỳ kheo để trình bày ba việc: thấy gì, nghe gì, nghi ngờ gì. (Tự do luận tội.)
 
(Trên đây là Bát kính pháp.)

Tôi nhớ có một chuyện như thế này.
Ngài Dalai Lama đến Đài Loan hoằng pháp, một vị tỳ kheo ni rất nổi tiếng tên là Thích Chiêu Huệ đã hỏi ngài Dalai Lama.
"Liệu ngài có dám trước mặt đại chúng phá bỏ hoàn toàn Bát kính pháp không?"
Dalai Lama nói:
"Phật Đà đã quy định, không dám phá bỏ."

Thích Chiêu Huệ đương nhiên cho rằng Bát kính pháp mà Phật Đà đặt ra không hợp với việc nam nữ bình đẳng trong thời hiện đại. Nam tôn nữ ti của thời đại cũ đến lúc nên khai trừ rồi! Tuy nhiên, là bởi Phật Thích Ca Mâu Ni định ra, nên không ai dám phá bỏ.
 
Tôi cho rằng:
Cũng giống như việc:
Tỳ kheo hoàn tục, có thể lại xuất gia, được như vậy bảy lần.
Tỳ kheo ni hoàn tục thì không được xuất gia nữa.
Lại còn có Bát kính pháp.

Vì sao Phật Thích Ca Mâu Ni lại cần phải đặt ra quy định như vậy? Phật Thích Ca Mâu Ni chắc chắn là có lý do của ngài.
Ở Ấn Độ (Thiên Trúc), vào thời Ấn Độ cổ đại, thực sự là nam tôn nữ ti. (Nguồn gốc là tập tục địa phương.)

Tôi kể một chuyện hài vậy!
Có một anh chàng bị bạn gái "đá".
Anh ta lớn tiếng chửi bới:
"Phụ nữ là đại họa."
"Lời của phụ nữ tuyệt đối không được nghe." (Gia huấn của Tokugawa Ieyasu: không nghe lời phụ nữ. Còn nữa: phụ nữ không được làm chính trị.) [ND: Tokugawa Ieyasu: Đức Xuyên Gia Khang, là một vị tướng quân nổi tiếng trong lịch sử Nhật Bản.]
"Phụ nữ là thuốc độc."
 
Không lâu sau, anh chàng này lại cặp kè với một cô bạn gái mới, vô cùng thân mật. Một người bạn hỏi anh ta:
"Chẳng phải anh nói phụ nữ là thuốc độc sao? Vì sao lại ở cùng với thuốc độc?"
Anh chàng đáp:
"Nghĩ đi nghĩ lại, chết bởi thuốc độc vẫn tốt hơn!"
 
Tôi viết câu chuyện cười này là có hàm ý. Bởi vì sức phá hoại của phụ nữ rất mạnh mẽ. 

Phụ nữ đương nhiên là có ưu điểm, điều này không thể phủ nhận. Nhưng tính chất phá hoại của phụ nữ vô cùng lớn. Trong đám hành giả mà có phụ nữ tham gia, hành giả nam thường không thể tu hành đạt thành tựu. Đây là việc khiến người ta lo ngại!


### 26. Truyền áo tổ cho Thượng sư Liên Ninh?


Hỏi:
"Ngày 6 tháng 9 năm 2009, sau pháp hội Hộ Ma Diêu Trì Kim Mẫu, Lư Sư Tôn đưa ra một khai thị quan trọng trong quy tắc Phật giáo có liên quan đến Chân Phật Tông. Lư Sư Tôn nói, áo tổ cần được ban cho người trẻ, khoảng 45 tuổi trở xuống. Vì sao Thượng sư Liên Ninh đã hơn 45 tuổi rồi mà Sư Tôn vẫn ban cho ngài ấy áo tổ?"
 
Tôi trả lời:
Trước tiên tôi kể một câu chuyện cười nhé! (*)
Đàn ông 20 tuổi là "Pentium". (Hừng hực) 
Đàn ông 30 tuổi là "Hitachi". (Đều đặn)
Đàn ông 40 tuổi là "Chính Đại". (Đỉnh cao)
Đàn ông 50 tuổi là "Microsoft". (Mềm yếu)
Đàn ông 60 tuổi là "Matsushita". (Buông lỏng)
Đàn ông 70 tuổi là "Lenovo". (Chỉ còn nghĩ được thôi)

[ND: Trong ngoặc kép là tên các công ty nổi tiếng toàn cầu bằng tiếng Anh, nhưng tên của họ khi chuyển thể sang tiếng Trung / Đài thì có ý nghĩa hài   hước như trong ngoặc đơn. Chuyện cười ám chỉ tới năng lực của cánh nam giới.. ]
Kì thực đây cũng không được coi là chuyện cười, nói chung thì cũng gần như vậy, trừ khi là người có tài năng trời phú hoặc rèn luyện kĩ năng thì là ngoại lệ.

Còn tôi, Lư Sư Tôn đương nhiên là một trong số những ngoại lệ. Trong sách có viết đàn ông 40 tuổi là Chính Đại, cũng còn có thể.
 
Tôi lại kể một câu chuyện của sư tổ Thiền tông.
Sư tổ Thiền tông, kiếp trước của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, vốn là một đạo nhân đang bước vào tuổi già có tên là Tài Tùng. Ông đi tìm Tứ Tổ Đạo Tín để cầu pháp. 

Tứ Tổ Đạo Tín nói:
"Ông đã đến tuổi già rồi! Truyền pháp cho ông, thời gian tại thế của ông không còn dài nữa, cũng không làm được gì. Chi bằng ông cứ chuyển thế đi, rồi lại đến cầu pháp, tôi sẽ truyền pháp cho ông nhé!"

Đạo nhân Tài Tùng đi đến bờ suối, nhìn thấy một cô gái đang giặt quần áo, thấy cô gái thanh tịnh bèn hỏi: "Có thể ở nhờ không?"
Cô gái đáp: "Có thể. Để về hỏi cha và anh trai."

Đạo nhân Tài Tùng đã đầu thai vào làm cái thai trong người cô gái. Sau đó cô gái có thai (chưa kết hôn), bị các bậc cha chú trong nhà đuổi ra khỏi cửa, trở thành kẻ ăn mày, rồi sinh ra Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, hai mẹ con đều là ăn mày.
Ngũ Tổ lúc 13 tuổi đã gặp lại Tứ Tổ Đạo Tín, đi theo ngài 30 năm, cuối cùng có được áo tổ, trở thành sư tổ của Thiền Tông.
Tính ra tuổi của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn lúc có được áo tổ thì chính là 43 tuổi.
 


Tôi thường nói dưới 45 tuổi là bởi vì tuổi còn trẻ, thời gian hoằng dương Phật pháp sẽ còn dài, nếu như truyền pháp cho người sắp về già, thời gian trụ thế không còn lâu nữa, thì cũng không thể làm được việc gì.

Giới Phật giáo thường lan truyền rằng:
Quy y sư phụ cần quy y người khoảng 50 tuổi. 
Người trẻ quá thì thành tựu Phật học chưa đủ chín muồi.
Người già quá thì thời gian có thể nương dựa vào sự trợ giúp của thầy không còn dài, cũng khó thành tựu.
(Đương nhiên cũng có trường hợp ngoại lệ.)
 
Vào thời điểm năm 2010, tôi hoằng pháp tại Đài Loan Lôi Tạng Tự, gặp Thượng sư Liên Ninh. Tôi hỏi:
"Lúc ta đồng ý trao cho con áo tổ và trao truyền khai ngộ khẩu quyết cho con, con bao nhiêu tuổi?"
Thượng sư Liên Ninh đáp:
"Theo dương lịch là 44 tuổi."
Tôi hỏi:
"Năm 2010, con bao nhiêu tuổi?"
Thượng sư Liên Ninh trả lời:
"45 tuổi."
Vậy là vừa đẹp rồi! Đâu đã vượt quá 45 tuổi?
 
Cá nhân tôi nhận thấy:
Thượng sư Liên Ninh theo bên cạnh Lư Sư Tôn lâu nhất, ngoài tính cách hơi vội vàng, thì các tập tính khác không có.
Không tham tiền.
Không tham sắc.
Không tham danh vị.

Con người này thành tựu Phật học đã đủ, đã đạt tới trên mức tam quán, khai ngộ minh tâm, kín đáo tu mật pháp nhiều năm, có được khẩu quyết của Lư Sư Tôn nhiều nhất. Tôi chỉ định ngài ấy là người kế nhiệm tông phái.


### 27. Đổi tên và đổi mệnh


Hỏi:
"Đổi tên có thể thay đổi vận mệnh không? Nghe nói còn có thể đổi cả tên của kiếp trước, thực tế là có thể làm như vậy không?"

Lại hỏi:
"Bạn bè đổi tên, sau khi vãng sinh, mong muốn giúp anh ta in kinh sách, nên dùng tên nào?"
 
Tôi trả lời:
Trước tiên tôi lấy một ví dụ để nói rõ:
Ngày trước ở Đài Loan, việc đặt tên thường dựa trên hoàn cảnh gia đình và những yêu cầu liên quan lẫn nhau. Một số tên gọi như:
Chiêu Đệ - trong nhà thường sinh con gái, lấy tên là Chiêu Đệ là để thu hút em trai đến, sinh được con trai.
Thiêm Đinh - cũng có ý nghĩa rằng muốn sinh thêm con trai, ví dụ, tên nghĩa tặc nổi tiếng mang tên Liệu Thiêm Đinh. [ND:Liệu Thiêm Đinh (1883 - 1909): là một tên trộm hành nghề trộm vì nghĩa, với tư tưởng kháng Nhật, cướp của người giàu chia cho người nghèo, sau này đã trở thành một nhân vật anh hùng dân gian thường được kể ở Đài Loan.]
Thiêm Tài - hy vọng có thêm phúc báo, thêm sản nghiệp lớn, chiêu tài tấn bảo.
Tấn Thiêm - tên này có ý nghĩa là tăng ích, ví dụ như tác giả Chung Tấn Thiêm.
Võng Thị - phát âm theo Đài ngữ cũng có nghĩa là "khó nuôi". Trước đây trẻ nhỏ thường hay chết yểu, nên cố tình lấy tên xấu là Võng Thị để có thêm may mắn, có thể nuôi đến lớn thành người.
Võng Yêu - có nghĩa giống như Võng Thị.
Kê Thỉ - tên này không đẹp, nhưng vì nó có ý nghĩa hạ tiện, vứt bỏ đi, thì kì vọng ngược lại sẽ được sống lâu trăm tuổi.
…
Những cái tên này mặc dù nghe có chút thô tục nhưng đã trở thành những cái tên "đổi mệnh", ngày trước người Đài Loan vẫn hay đặt, vẫn thường dùng.
 
Tôi cho rằng:
Danh tính học được dùng để đổi mệnh cũng có nguyên nhân của nó, nhưng tên họ ảnh hưởng đến vận mệnh chỉ chiếm một phần trong số đó thôi.
Bát tự ảnh hưởng vận mệnh.
Chòm sao ảnh hưởng vận mệnh.
Nơi sinh ảnh hưởng vận mệnh.
Tên họ ảnh hưởng vận mệnh.
Hoàn cảnh ảnh hưởng vận mệnh.
Phong thủy ảnh hưởng vận mệnh.
Con giáp ảnh hưởng vận mệnh.
Thiện ác ảnh hưởng vận mệnh.
 
Chúng ta biết rằng trọng tâm của danh tính học có ba điểm:
Tên chữ tính ra số tốt hay xấu.
Âm thanh của tên tốt hay xấu.
Ý nghĩa của tên tốt hay xấu.
 
Danh tính học thực sự có ảnh hưởng đến vận mệnh của con người, nhưng phạm vi của tầm ảnh hưởng không thực sự mang tính toàn diện, cũng không phải là 100%, chỉ là một chút ảnh hưởng mà thôi.
 
Tôi cho rằng, năm sinh, tháng sinh, ngày sinh, giờ phút sinh ra mới có ảnh hưởng lớn. Mục "Thiệu tử dịch số" trong cuốn sách "Thiết bản thần số" (*) của đại sư Thiệu Khang Tiết phân tích các mặt ảnh hưởng khác lớn hơn rất nhiều so với tên họ.
Ngoài ra nhân quả báo ứng của thiện ác quả báo là có sức mạnh lớn nhất. Học cách lập mệnh trong tác phẩm "Liễu Phàm Tứ Huấn" (*) chính xác là nói đến sức mạnh ảnh hưởng vận mệnh tốt xấu do làm việc thiện ác. 
 
Còn đổi tên của kiếp trước à? Đương nhiên đây là trò lừa bịp của mấy người thông linh. Tiền kiếp vô tận, lẽ nào cũng đi đổi vô số tên? Số mệnh kiếp trước đã định rồi, đổi tên tiền kiếp thì có tác dụng gì?

Đổi tên họ để in kinh sách, tôi cho rằng, cái tên nào dùng nhiều nhất lâu nhất thì dùng chính tên đó.
 
Phật Thích Ca Mâu Ni không biểu thị sự tán đồng đối với chiêm tinh nhân tướng để luận bàn về vận mệnh, bởi vì người tu hành bám chấp vào việc chiêm tính tướng số quyết định số mệnh thì không phải là tìm kiếm bên trong, mà là tìm kiếm bên ngoài, về bản chất là học thuyết ngoại đạo.
 
Phật Đà cho rằng:
Tu hành tự có thể đổi mệnh.
Tu hành và đạo kết hợp.
Sức mạnh tu hành lớn hơn hết thảy mọi lực khác.

Một hành giả Mật giáo tu luyện tiêu tai, tăng ích, hàng phục, kính ái, đây đều là những phương pháp nhập thế thay đổi vận mệnh, sức ảnh hưởng của chúng lớn hơn tất cả số mệnh.

Do vậy, Phật Đà chỉ trích học thuyết về vận mệnh. 
Một người học Phật không cần quá tin vào vận mệnh, chỉ dùng để tham khảo mà thôi!

-----------------
Thiết bản thần số: một loại thuật số của Trung Hoa, bắt nguồn tự sự nhận thức của cổ nhân đối với trời đất, nhân sinh và những thông tin liên quan đến sinh hoạt xã hội truyền thống.
Liễu Phàm Tứ Huấn: một tác phẩm được viết bởi Viên Liễu Phàm vào khoảng năm 1550, đời nhà Minh ở Trung Quốc. Nội dung chính của tác phẩm khẳng định con người chưa đạt đến mức vô niệm, bị âm dương khí số trói buộc, do đó phụ thuộc theo số mạng, nhưng số mạng đó hoàn toàn có thể thay đổi được dựa vào hành vi của con người.


### 28. Sách thiện sách thiện sách thiện


Hỏi:
"Loại sách thiện nào thì phù hợp với loại người vãng sinh nào?"

Lại hỏi:
"Nhiều người in sách thiện thì gửi đến các nhà chùa, nhưng trong chùa sách thiện chất đống ngày càng nhiều, hơn nữa cũng không có người cần đến, vậy phải làm sao? Có thể đốt để hủy không? Hay là nên làm như thế nào?"
 
Tôi trả lời:
Trước tiên tôi lấy một ví dụ.
Lúc tôi ở Seattle nước Mỹ, có một người anh trai của một đệ tử thất nghiệp, không có việc làm, không chăm lo cho gia đình, thường say xỉn, kết giao với bạn xấu đi đến khuya chưa về nhà, thậm chí không về nhà luôn.

Tôi dùng hết mọi pháp lực cũng không thể cứu vãn được cái tâm đã chìm đắm trong lối sống trụy lạc của anh trai anh ta, có thể nói là đã dùng hết tất cả mọi cách.

Đọc kinh. Trì chú. Hộ Ma. Tu pháp. Thế thân. Sám hối.
Cuối cùng chỉ còn cách in sách thiện, sách được in là "Ngọc lịch bảo sao", in sách thiện rồi hồi hướng cho anh trai của anh ta.

Điều kỳ diệu là, sách vừa mới được in xong, thì ngay ngày hôm đó anh trai của anh ta đã tìm được công việc, không say xỉn nữa, không về nhà khuya nữa, bạn xấu tự động rời bỏ, anh ta lại chăm lo cho gia đình.

"Ngọc lịch bảo sao" thần nghiệm dị thường!
 
Ở đây tôi nói rõ:
In kinh sách không chỉ để giúp cho người đã vãng sinh, trên thực tế, đối với tất cả chúng sinh hữu tình đều có lợi ích.

Sách thiện mà tôi thường đọc gồm có:
Ngọc Lịch Bảo Sao.
Văn Xương Đế Quân âm chất văn.
Khuyên thế văn.
Khuyên đừng sát sinh.
Kinh nhân quả ba kiếp.
v.v.
Ngoài ra cũng in một số kinh Phật như:
Kinh Cao Vương Quan Thế Âm.
Tâm Kinh.
Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyên.
Kinh A Di Đà.
Chân Phật Kinh.
v.v.
 
Cá nhân tôi cho rằng in ấn sách thiện là một việc âm dương đều có lợi, đều có lợi ích cả, không cần phân biệt là người vãng sinh như thế nào thì phải in ấn sách thiện nào. Chỉ cần là sách thiện thì đối với người chết hay người sống đều có lợi ích rất lớn.
 
Tôi thích khuyên người ta in: Ngọc lịch bảo sao, Cao Vương Kinh… Việc in sách thiện này cũng cần xem nhân duyên của mỗi người. 

 
Tôi ở chùa quan sát các phòng lớn cũng nhìn thấy rất nhiều sách thiện chất chồng cao như núi, do để tồn trữ quá lâu, bụi phủ ố bẩn, sách rách thiếu trang, không có ai chú ý, nhìn mà thở dài tiếc thay.
 
Tôi nghĩ:
Không thể đốt bỏ.
(Đó là những sách thiện dùng tiền để in ra, làm sao có thể tùy ý đem đốt bỏ là xong?)

Sách cần được giao cho người có đúng chuyên môn xử lý, sắp xếp và phân loại. Sắp xếp lên giá, phủi sạch bụi bẩn, sách rách thiếu trang thì cần bổ sung, chỉ cần có người đúng chuyên môn phụ trách thì sẽ không khó để làm được việc này. 
 
Thực tế khi quá nhiều sách thì phân chia bớt ra, mỗi miếu thổ địa công đều để sách ở đó, càng nhiều điểm để sách càng tốt, giống như cửa hàng tiện lợi vậy, đó sẽ là thức ăn cho tâm linh, có ích cho xã hội và chúng sinh. Hoặc có thể phát tặng sách dọc đường, có thể độ được cho người có duyên, độ được thêm một người là tốt thêm một người, người tặng sách cũng được xem như là làm việc thiện.

In sách thiện là một việc làm cực kì tốt lành, không thể coi thường, không thể xem nhẹ, đây là lời nói thật lòng của tôi.


### 29. Siêu độ của Phật pháp


Hỏi:
"Bạn bè thân hữu vãng sinh, nhìn từ góc độ của Phật pháp, gia đình nên làm gì để giúp đỡ họ?"

Lại hỏi:
"Siêu độ là gì? Có tác dụng gì?"
 
Tôi trả lời:
Ở đây trước tiên chúng ta cùng nói về sự vô thường của thọ mệnh. Sau đó nói tiếp về cái chết và siêu độ.

Tất cả sinh mệnh trên thế gian có sinh tất có tử, mà cái chết thì có thể xảy đến vào bất kì lúc nào, bất kì ở đâu. Chúng ta trải qua thời gian dài suy ngẫm sẽ thấy:

Trái đất nơi chúng sinh đang sinh tồn cuối cùng cũng sẽ có ngày tận thế (bởi các vận động tạo núi). 

Các thành tựu giả vĩ đại trong lịch sử có Liên Hoa Sinh đại sĩ của dòng mũ đỏ (Cổ mật - Nyingma), ngài Karmapa của dòng mũ trắng (Kagyu), ngài Tsongkhapa của dòng mũ vàng (Gelug), ngài Sakya Pandita của dòng hoa giáo (Sakya). Trong lịch sử cũng có các đại hành giả như: Long Thọ, Virupa, Naropa, Marpa.. Từ lâu thân xác thịt của họ đã không tồn tại, chỉ còn pháp thân là có ở khắp mọi nơi, cái còn lại là một vài tiểu sử được ghi chép lại.
 
Thế giới vật chất của thế gian cũng không phải là không biến đổi, biến hóa vô thường cũng chính là bản chất của nó.

Từ trời, người, a tu la, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh mà nói, đây đều là lục đạo luân hồi, luôn nằm trong sự biến hóa, hơn nữa có chết đi lại có sinh ra, lại chết đi, lại sinh ra.

Làm vua trên trái đất, cho dù lực lượng quyền lực lớn cũng khó thoát khỏi cái chết, các vị quân vương nối tiếp nhau đều chỉ còn lại trong những ghi chép mà thôi.
Cái chết này, chết, chết, chết, chết… 

Người đời không biết rằng:
Chết lúc nào? Không biết.
Chết nơi nào? Không biết.
Chết thế nào? Không biết.

Bất kì chúng sinh hữu tình nào trong số chúng ta đều đang đợi cái chết.
 
Tôi Lư Sư Tôn biết, nỗi sợ hãi khi phải đối mặt với cái chết sẽ biến thành động lực tu hành.
Thượng sĩ - lập tức thành Phật.
Trung sĩ - đến Phật quốc tịnh độ.
Hạ sĩ - đến được cảnh giới tốt đẹp hơn. 

Để đối phó với cái chết, Phật pháp chính là nơi nương dựa của những người tu hành chúng ta. Chúng ta cũng biết Phật pháp có thể cứu độ chúng sinh. Người có thượng căn thì trực tiếp thành Phật, người có trung căn thì đến được tịnh thổ, người có hạ căn thì sinh vào cảnh giới tốt.
 
Với thân hữu vãng sinh, người nhà có thể giúp họ như sau:
Bỏ sát sinh, hãy phóng sinh.
In sách thiện.
Hướng dẫn thân trung ấm được độ.
Mời Căn bản Thượng sư tiếp dẫn.
Niệm kinh trì chú.
Niệm Phật.
Mời vị thành tựu giả đến siêu độ.
 
Còn việc siêu độ có tác dụng gì?

Tôi lấy một ví dụ:
Tôn giả Mục Kiền Liên dựa vào năng lực thần thông mà đến được cõi ngạ quỷ, đi gặp được mẹ của ngài. Mẹ của ngài ở cõi ngạ quỷ bị đói khát vô cùng, Mục Kiền Liên đã lấy thức ăn ngon cúng dường cho mẹ, nhưng thức ăn vừa vào miệng thì hóa thành lửa thiêu đốt, đốt nóng tới mức phải khóc kêu lên thành tiếng. Tôn giả Mục Kiền Liên không thể nghĩ ra cách gì cứu mẹ đành quay trở về nhân gian, thỉnh Phật Đà chỉ cách cứu độ cho mẹ. Phật Đà nói, dựa vào sức mạnh công đức của các tăng nhân có thể siêu độ cho mẹ của ngài thoát khỏi đau khổ luân hồi.
 
Thế là liền có pháp hội siêu độ Vu Lan Bồn. Một mặt ban thức ăn cho chúng sinh của tam ác đạo, mặt khác nhờ phương thức tụng kinh trì chú, giúp người chết được quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng, khiến người chết hiểu được việc tu hành, đến được thế giới tốt đẹp hơn.

Đây chính là tác dụng của việc siêu độ.


### 30. Làm sao biết đã vãng sinh tịnh độ?


Hỏi: 
"Phiếu báo danh pháp hội siêu độ nên điền như thế nào? Báo danh quá nhiều lần liệu có bị làm sao không? Tối thiểu cần phải báo danh ai?"

Lại hỏi:
"Làm sao để biết được người chết hoặc thủy tử linh được báo danh siêu độ đã vãng sinh đến tịnh thổ rồi?" [ND: Thủy tử linh: thai nhi bị chết do sảy thai.]
 
Tôi trả lời:
Tôi lấy một ví dụ để nói cho rõ.
Vào tháng 10 năm 2009 Lư Sư Tôn đã từng dùng "trung ấm thiên thức pháp" để siêu độ một người chết. Đầu tiên tôi dùng kim hỏa để thanh tịnh thân vật lý đang nằm đó của người chết. [ND: Trung ấm thiên thức pháp: phép dịch chuyển thần thức thân trung ấm của người chết.]

Sau đó, tôi giơ thẳng ngón trỏ tay phải, tiếp dẫn trí huệ bổn tôn từ trong hư không hạ giáng xuống trên đầu ngón tay trỏ. Đầu ngón tay trỏ của tôi là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, sau đó vị Bồ Tát này hóa hiện thành hộ pháp của tôi là Đại Uy Đức Kim Cương.

Đại Uy Đức Kim Cương hóa xuất thành tia sáng chiếu đến mở thiên khiếu (*) của người chết và đóng các lỗ khác trên cơ thể. 

Việc này được gọi là:
Mở thiên môn - Phạn huyệt của bát chỉ trên đỉnh đầu.
Đóng địa hộ - hậu môn, lỗ tiểu tiện.
Bịt nhân đạo - lỗ rốn.
Chặn đường quỷ - miệng, hai lỗ mũi, hai mắt, hai tai.
(Thiên khiếu trên đỉnh đầu mở ra, còn lại bảy lỗ trên thân thể đều đóng lại.)

Thân trung ấm của người chết (linh hồn) chỉ có thể hướng về thiên khiếu mà thoát ra khỏi thân, bay lên thiên giới, tứ thánh giới hoặc tịnh độ.

Tôi trông thấy linh hồn người chết từ từ bay lên, theo ánh sáng tiếp dẫn của Đại Uy Đức Kim Cương. Vậy là đã vãng sinh rồi.
 
Tôi thực lòng nói cho mọi người biết, chỉ cần là Lư Sư Tôn tôi dùng "trung ấm thiên thức pháp" thì chắc chắn vãng sinh vào cõi trời, tịnh độ Phật quốc, hoặc đến tứ thánh giới. Hơn nữa, khi tôi mở thiên môn, đóng địa hộ, bịt nhân đạo, chặn đường quỷ, dựa theo độ mạnh yếu của ánh sáng là tôi lập tức biết ngay người chết này nghiệp chướng nhiều hay ít. Từ đó tôi có thể tịnh trừ nghiệp chướng thân, khẩu, ý của người chết.
 
Tôi rất có tự tin vào việc này.
Hễ người chết mà có thể được tôi dùng "trung ấm thiên thức pháp" thì quả báo thực sự là thù thắng không gì sánh bằng.

Nếu như người chết có thể vãng sinh tịnh độ thì phần lớn người thân đều có thể biết được người chết đã vãng sinh.
 
Liên tục có những hiện tượng cát tường như:
Người thân tận mắt nhìn thấy người chết đứng trên hoa sen, pháp tướng trang nghiêm như Phật.
Người thân tận mắt nhìn thấy người chết hóa thành trẻ lại, cưỡi ngựa trắng bay lên trời.
Người thân tận mắt nhìn thấy Thượng sư, bổn tôn, hộ pháp đến tiếp dẫn.
Người thân tận mắt nhìn thấy tịnh độ của người chết.

Thân thể người chết hỏa thiêu hóa thành xá lợi.
Xung quanh người chết có một mùi thơm lạ không phai tàn.
Trên mặt người chết hiện ánh sáng đỏ, thân thể mềm mại.
Trên thân thể người chết xuất hiện tịnh quang.

Người thân mơ thấy Phật thổ, bổn tôn, Phật Đà, đàn thành, ngũ trí quang. Những việc này đều là hiện tượng cát tường.
Người thân từ chỗ Căn bản Thượng sư được thông báo rằng người chết thực sự đã vãng sinh tịnh thổ rồi, hoặc người chết đích thân báo mộng.
 Và những chuyện khác nữa… 

 
Đối với việc báo danh siêu độ, chỉ cần có tên họ, tuổi, ngày tháng năm sinh, ngày mất, nơi ở khi còn sống, địa điểm sau khi chết. Như vậy là đầy đủ rồi, thực sự nếu có thiếu một, hai điều thì cũng không quan trọng lắm, mức độ nhạy cảm của thân trung ấm (linh hồn) thực sự vô cùng đáng ngạc nhiên.

Linh hồn trung ấm thì chỉ cần nghĩ đến là họ liền biết ngay, và họ có thể đến rất nhanh chóng.

Báo danh nhiều quá thì sẽ thế nào? Báo danh nhiều thì cần cúng dường nhiều, càng nhiều càng tốt cho linh hồn trung ấm. 
(Nếu như không phải trả một đồng nào thì người ta báo danh đến cả trăm người chết cũng được!) 
Cõi dương, cõi âm vốn chỉ là hai mặt của một vấn đề. Tôi cho rằng tu hành rất quan trọng. Hành giả có thể tu hành, minh tâm kiến tính, đã đạt đến cảnh giới giác ngộ thì không cần phải siêu độ, có thể tức thân thành Phật. 

Người cần được siêu độ thì ở mức dưới mà thôi!


### 31. Tục đế và Thánh đế


Hỏi:
"Có cần phải phân chia tổ tiên thành bên cha, bên mẹ không? Khi báo danh ở pháp hội hoặc an bài vị có cần phải tách riêng ra không?"

Lại hỏi:
"Công đức chủ báo danh pháp hội có ích lợi gì không?"
 
Tôi trả lời:
Trước tiên tôi lấy một ví dụ để nói rõ.
Có một lần, Phật Đà ở tại Jetavanavihara (Cô Độc Viên) nước Sravasti (Xá Vệ) cùng 2,500 vị tăng chúng xuất gia và ba vạn tám nghìn vị Bồ Tát chúng tu hành tại gia. Lúc đó, Phật Đà dẫn mọi người đi thẳng hướng phía Nam, bỗng nhiên Phật Đà nhìn thấy bên đường có một đống xương người đã khô. Lúc đó Phật Đà liền quỳ xuống, hướng về đống xương khô lạy ngũ thể đầu địa.
Các đệ tử cảm thấy vô cùng khó hiểu. [[ND: Lạy ngũ thể đầu địa: nằm hẳn trên mặt đất, đầu, tay chân đều chạm đất để đảnh lễ.]
 
Tôn giả Anan hỏi:
"Thánh Tôn! Ngài là đại đạo sư của tam giới, từ phụ của tứ sinh, ngài trân quý như vậy vì sao lại đảnh lễ đống xương khô này?"
Phật Đà đáp:
"Đống xương khô này có thể là tổ tiên kiếp trước của ta, bố mẹ các kiếp trước của ta, do vậy hôm nay ta mới hướng về họ mà đảnh lễ."

Phật Đà nói tiếp:
"Con hãy phân chia đống xương khô này thành hai đống, nếu là xương đàn ông thì tương đối trắng và nặng, nếu là xương phụ nữ thì màu sắc sẽ hơi đen và nhẹ."
Anan hỏi:
"Vì sao lại như vậy?"
Phật Đà đáp:
"Đàn ông lúc sống thường lo sự nghiệp. Phụ nữ lúc sống lo lắng phiền não vì con cái và việc nhà, nuôi dưỡng con cái bằng sữa mẹ, sữa chính là máu của phụ nữ. Do vậy xương đàn ông trắng mà nặng, còn xương phụ nữ đen mà nhẹ."
 
Ví dụ này là tôi lấy từ cuốn kinh "Công lao cha mẹ lớn lao khó báo đáp". Tôi muốn nói rằng:
Theo Thánh đế mà nói, chỉ cần là chúng sinh hữu tình thì về cơ bản không có sự phân biệt nào. Phật Đà đảnh lễ đống xương khô cũng chính là không có sự phân biệt, có thể cùng siêu độ.
 
Người Trung Quốc nói:
Trong bốn biển đều là anh em.
Năm trăm năm trước là người một nhà.
Đây đều là Thánh đế.

Lão ngô lão dĩ cập nhân chi lão. (ND: Tôn kính người già của mình như người già của người khác).
Ấu ngô ấu dĩ cập nhân chi ấu. (ND: Yêu thương con trẻ của minh như con trẻ của người khác, câu danh ngôn nổi tiếng của Mạnh Tử)
Đây cũng là Thánh đế.

(Theo Thánh đế mà nói, tất cả chúng sinh hữu tình đều không có sự phân biệt.)
 
Còn như theo Tục đế mà nói:
Xương đàn ông trắng và nặng, xương phụ nữ đen và nhẹ, như vậy là có sự phân biệt.

Tập tục phổ biến ở Trung Quốc là người thân bên cha thì lập một bài vị, người thân bên mẹ thì lập một bài vị khác.
Ngoài ra cũng có phân biệt phòng.
Việc có phân chia hay không phân chia khi báo danh siêu độ tại pháp hội hoàn toàn do mỗi đệ tử tự lựa chọn. 

Nếu dựa theo Tục đế thì phân chia.
Nếu dựa theo Thánh đế thì không phân chia.

Cá nhân tôi cho rằng hoàn toàn tùy theo nhận thức của các đệ tử mà quyết định, những việc này không có liên quan gì đến việc siêu độ.
 
Công đức chủ ở pháp hội có ích lợi gì không?
Đứng từ lập trường của Lư Sư Tôn, tại pháp hội siêu độ hoặc pháp hội thông thường của tôi, tôi sẽ dùng toàn lực để làm, tôi không phân biệt ai là công đức chủ, ai không phải là công đức chủ, tôi hoàn toàn đối xử bình đẳng.

Nhưng, đứng trên lập trường của công đức chủ thì:
Có tiền bỏ tiền, có công đức.
Không tiền bỏ công, có công đức.
 
Công đức chủ nên nghĩ như thế này:
Việc này là bố thí, tận lực giúp đỡ pháp hội được thành công viên mãn, khiến mọi người đều được lợi ích là điều quan trọng nhất. Còn công đức hay không công đức sẽ có trời biết. Toàn bộ công đức quy về chúng sinh mới chính là công đức thật sự!


### 32. Nghi hoặc về pháp hoàn tịnh


Hỏi:
"Pháp hoàn tịnh có phải là bắt buộc phải sám hối trước căn bản Thượng sư không? Nhưng cơ hội có thể gặp được Lư Sư Tôn rất hiếm, thậm chí không có cơ hội, vậy phải làm sao?"
 
Tôi trả lời:
Trước tiên tôi lấy một ví dụ để nói rõ:
Tôi có một đệ tử rất sùng đạo, có lần do vô tình mà phạm vào mười bốn tội cơ bản của Mật giáo. Trong lòng đệ tử này vô cùng lo lắng, chỉ nghĩ đến chuyện tự mình đến gặp Lư Sư Tôn để sám hối.

Khoảng cách từ đất nước anh sống đến đất nước Lư Sư Tôn sống rất xa. Đơn vị mà anh làm việc cũng rất khó để xin nghỉ phép. Các giấy tờ của anh từ đầu tới cuối đều không thể xin được Visa đi Mỹ. Còn nhiều vấn đề khó khăn nữa…
 
Sau đó, anh ở tại đàn thành nhỏ trong nhà mình dùng hết tất cả những gì có thể có để cúng dường. Cúng đèn, cúng hoa, cúng hương, cúng trà, cúng quả… 

Sau đó vô cùng cung kính đảnh lễ. 
Trì Tứ Quy Y chú 108 biến.

Hai tay anh chắp lại, quỳ xuống, miệng tự thuật lại việc đã phạm vào mười bốn đều cơ bản Mật giáo. Sau đó anh niệm bài kệ sám hối. Làm như vậy xong trong lòng anh mới thấy nhẹ nhõm được.
 
Đêm đó, trong giấc mơ, anh nhìn thấy Lư Sư Tôn xuất hiện với kim thân cao sáu trượng, trên đỉnh đầu tỏa sáng, giữa hai mày tỏa sáng, hai tai tỏa sáng, ở tim phát ra ba tia ánh sáng quang minh, hai tay tỏa sáng, hai chân tỏa sáng. Hai tay Lư Sư Tôn xoa lên đầu an ủi đệ tử. Đệ tử cảm thấy một cảm giác mát mẻ từ đỉnh đầu dội xuống, trong chốc lát đã mát lạnh toàn thân, toàn thân cảm thấy hoàn toàn tự do thoải mái. Trong một sát-na, đệ tử dường như cảm thấy tội chướng đều đã tiêu tan, toàn thân cũng nhẹ bỗng.

Trong mơ còn nhìn thấy cảnh tượng Lư Sư Tôn cưỡi thiên mã chở anh bay lên không trung.

Anh tỉnh lại, trong sâu thẳm tự mình hiểu rõ Lư Sư Tôn đã hoàn toàn biết được sự sám hối của anh, cũng đã quán đảnh cam lộ, hoàn tịnh lại cho chính anh.
Anh còn nghe thấy Lư Sư Tôn nói:
"Hoàn tịnh rồi! Hoàn tịnh rồi!"
 
Thông thường trong Mật giáo có "cảnh giới quy y" dùng để quán tưởng:
Tại hồ chứa bát công đức thủy có trồng một cây như ý. (*)
Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi trên những nhánh cây phía trước, và thập phương tam thế hiền kiếp thiên Phật ở xung quanh.
Căn bản Thượng sư Lư Sư Tôn ngồi ở trung tâm của cây như ý, ở trên là các tổ sư của dòng truyền thừa.
Phía trên cao nhất của các vị tổ sư truyền thừa là Đại Nhật Như Lai, Phật Nhãn Phật Mẫu, Phật A Di Đà, Liên Hoa Đồng Tử.
Trên nhánh cây phía bên phải căn bản Thượng sư là Tam Hộ Chủ gồm Văn Thù Bồ Tát, Kim Cương Thủ Bồ Tát, Quan Âm Bồ Tát. Và có tám vị đại Bồ Tát.
Trên nhánh cây phía bên trái căn bản Thượng sư là Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên đứng đầu các đại thanh văn.
Hai bên trái phải phía trên của căn bản Thượng sư là Diêu Trì Kim Mẫu, Phật A Di Đà, Địa Tạng Bồ Tát - là các vị bổn tôn.
Thẳng dưới căn bản Thượng sư là hộ pháp Đại Uy Đức Kim Cương đứng.
Xếp hàng ngang hai bên trái phải của Đại Uy Đức Kim Cương là Ngũ Đại Kim Cương, Bát Đại Minh Vương.
Ở mọi khoảng trống giữa cành lá đều có Không Hành Dũng Phụ và Không Hành Dũng Mẫu. Không Hành Dũng Mẫu là nữ thần bảo vệ bốn phương, nữ thần bảo vệ tám hướng, nữ thần bảo vệ hai mươi cõi trời.
Phía sau căn bản Thượng sư có thể sắp đặt tam tạng thập nhị bộ kinh tạng và các kinh sách Mật giáo.
…
 
Nếu đệ tử dựa vào những hình ảnh này để quán tưởng cảnh giới quy y, cúng dường cảnh giới quy y, đảnh lễ cảnh giới quy y, quy y cảnh giới quy y, thực hành pháp sám hối trước cảnh giới quy y cho đến khi tướng sám hối xuất hiện, đây cũng chính là pháp hoàn tịnh.

Tu pháp trong Mật giáo dựa chủ yếu vào quán tưởng, trì chú, nhập tam ma địa.
Quán tưởng vô cùng quan trọng. Khi không thể gặp được căn bản Thượng sư thì dựa vào quán tưởng mà tu pháp hoàn tịnh cũng có thể được.


### 33. Pháp hộ thân của Mật tông


Hỏi:
"Ngày nay tình hình an ninh công cộng rất tồi tệ, tin tức đưa tin đều là trộm cướp, bạo lực, các vụ án giết người, liệu có mật pháp nào có thể giúp tự bảo vệ được không?"
 
Tôi trả lời:
Trong những lần tôi xem bói hỏi chuyện, có một ví dụ vô cùng đặc sắc như thế này:

Có một người đàn ông đến hỏi chuyện, tôi vừa ấn linh quang thì liền biết ngay có chuyện gì sắp xảy ra. Toàn thân tôi bỗng lạnh toát.
Tôi nói:
"Có một chuyện cực xấu sắp sửa xảy ra."
Người đàn ông nói:
"Cả đời tôi thực hiện trách nhiệm công dân và tuân thủ luật pháp, không có thị phi, không kết thù oán với ai, những chốn thị phi cũng không tìm đến, tôi tin rằng chẳng thể có chuyện xấu gì mới đúng."
Tôi nói:
"Nhân gian thường có những chuyện ngoài ý muốn, con người muốn nghĩ cũng chẳng thể nghĩ được."
Người đàn ông đáp:
"Có phải Lư Sư Tôn đang đe dọa không, muốn kiếm được nhiều tiền hơn phải không?"
(Người đàn ông bộc lộ ánh mắt đầy nghi ngờ.)

Tôi cười lớn ha ha ha. Tôi nói:
"Tôi cho anh một tấm bài hộ thân bằng đồng, có thể tránh được họa, anh cần đeo trên người mới được!"
Người đàn ông hỏi:
"Bao nhiêu tiền?"
"Miễn phí!"
"Thật sự là miễn phí à?"
Tôi nói:
"Tấm bài hộ thân này hoàn toàn được làm ra để tặng, vốn là miễn phí mà."
Người đàn ông bán tín bán nghi rời đi.
 
Sau đó vài ngày.
Người đàn ông này đích thân đến cảm ơn, ông ta nói: "Thật là linh nghiệm, thật sự là có linh có nghiệm, quá chuẩn, quá chuẩn!"
 
Sự tình hóa ra là như thế này:
Người đàn ông đi siêu thị thì gặp ngay một người đang cướp siêu thị. Người của siêu thị đang giằng co với tên cướp, tên cướp bất ngờ rút ra một cây súng chĩa về phía người ta và nổ súng. Ngay lập tức có hai người trúng đạn, một người trong số đó chết thảm ngay tại chỗ, người còn lại thì chính là người đàn ông này. (Người bị chết thảm là cửa hàng trưởng.)
 
Người đàn ông vốn nghĩ rằng bị trúng đạn thì chắc chắn sẽ chết, nhưng phát hiện ra là mình vẫn còn không sao, sờ toàn thân đều không có chỗ nào chảy máu. Anh ta lại kiểm tra kĩ hơn, không ngờ là tấm thẻ đồng hộ thân bị thủng một lỗ, viên đạn đã bắn trúng vào tấm thẻ đồng mà bắn ra ngoài.

Ngay sau đó, tên cướp cũng bị bắt! Người đàn ông thì sợ toát cả mồ hôi. Anh ta nói:
"Tấm thẻ đồng này đã cứu mạng tôi rồi!"
(Ghi chú:  tấm thẻ đồng này có luật lệnh của Kim Mẫu, có Phật quang, có chữ Hum, linh nghiệm khác thường.)
 

Trên thực tế có rất nhiều pháp hộ thân trong Mật giáo.
Pháp mặc giáp hộ thân.
Pháp kết giới.
Pháp dây thừng kim cương.
Pháp tiêu tai.
Tu hộ pháp.
 
Có một cách tu pháp như sau:
Hành giả nhìn vào Thượng sư của mình, đứng thẳng, hóa thành chày kim cương ba đoạn. Bản thân hành giả chắp hai tay lại, đặt lên đỉnh đầu, hai chân cong lại, chụm hai gót chân sau lại.
(Toàn thân tướng của hành giả cũng giống như là chày kim cương ba đoạn.)

Hành giả quán tưởng chày kim cương của Thượng sư hóa thành một chữ Hum màu trắng đi vào trong tim của chính mình, và chính mình biến thành chày kim cương màu trắng như chữ Hum.

Tụng lục tự chân ngôn (om mani padme hum) 108 biến. 
Tụng xong giải thân ấn.

Tất cả ma địch không thể làm hại, tất cả oan địch đều phải rút lui, tất cả ma chướng được tiêu trừ. 
Đây chính là đại hộ thân pháp.


### 34. Việc tố cáo liệu có tạo duyên ác không?


Hỏi:
"Trên góc độ của Phật pháp, có thể tố cáo những vi phạm (giao thông, bảo vệ môi trường…) không? Làm như vậy có phải là tạo duyên ác với người bị tố cáo hay không?"
 
Tôi trả lời:
Tôi lấy ví dụ của chính mình để nói rõ:
Danh tiếng của Lư Sư Tôn cũng không phải là nhỏ, do vậy cũng thường gặp những chuyện tố cáo.

Người ta kể rằng có một người nộp đơn tìm việc làm nhưng không được chọn vào làm việc tại Lôi Tạng Tự, do vậy đã oán hận Lôi Tạng Tự.

Anh ta cho rằng Lôi Tạng Tự là của Lư Sư Tôn, do vậy lại càng oán hận Lư Sư Tôn.

Trên thực tế, đối với chuyện tuyển nhân viên làm việc tại Lôi Tạng Tự, tôi chẳng hề hay biết. Do vậy tôi gặp phải những chuyện bị tố cáo mà tôi cũng chẳng hiểu được, như là:
Tội đe dọa. (Lấy những hình phạt của địa ngục để đe dọa tín chúng đến nghe pháp.)
Tội lừa đảo. (Lấy những bệnh do ma quỷ vô hình không nhìn thấy tạo ra để lừa gạt những người bị bệnh, nói là bị xung phạm.)
Tội phá hoại. (Lấy pháp lực vô hình để phá hoại thiết bị âm thanh và xe máy của anh ta, anh ta cho là dùng pháp lực phá hoại.)
Tội hủy báng. (Anh ta cho rằng trong sách tôi viết "đi trại" đi bệnh viện tâm thần, ý là nói đến anh ta.)
…
Người tố cáo này quả thực tôi chẳng hề quen biết. Nhưng những tố cáo của anh ta liên tiếp nhắm vào tôi. Phải làm sao?
Chỉ có thể tùy người tùy việc mà xử thôi.

Thật may, kết quả của những việc tố cáo này đều là kết thúc vô sự, nhưng tôi cũng cần nói ở đây.
Hình phạt trong địa ngục - lấy từ kinh Địa Tạng.
Bệnh do quỷ thần - cũng chính là bệnh do nhân quả.
Pháp lực vô hình - tôi không hề ra tay.
Đi trại do tâm thần bệnh hoạn - là nói người khác.
 
Người tố cáo này và Lư Sư tôn liệu có tạo ác duyên không? Câu trả lời của tôi là "không". Bởi vì tôi không để tâm đến những chuyện này. Trong tâm tôi cơ bản là chẳng có cái người tố cáo này. Tôi cũng không biết anh ta, đồng thời tôi cũng không tạo ác duyên với người ta.

Ngược lại nếu như tôi phản lại anh ta rằng anh ta vu cáo, thì như vậy sẽ tạo duyên ác. Trái lại tôi cảm kích anh ta đã khiến tôi trong lúc giảng pháp, viết sách, trong hành vi, trong tu pháp, lại càng phải cẩn trọng hơn! 

Còn đối với việc tố cáo người khác với những vi phạm giao thông, phá hoại môi trường hoặc xây dựng trái phép,v.v. thì cần xem có đúng thực hay không. Tuyệt đối không được vu oan cho người tốt thì mới được.

Dựa trên ý tốt thì là thiện.
Dựa trên ý xấu thì là ác.
Thiện có thiện báo, là việc tốt.
Ác có ác báo, sẽ tạo ác duyên.

Nghĩ tất cả là thiện, thì sẽ thiện; nghĩ tất cả là ác, thì sẽ ác. Mọi thứ là như vậy mà thôi. Sự khác biệt ở đây chỉ là một đường kẻ thôi. Tôi lấy góc độ Phật pháp để đánh giá thì dựa trên thiện ý sẽ không tạo duyên xấu, dựa trên ác ý thì sẽ tạo ra duyên xấu.

Người học Phật cần phải:
Quan trọng việc có đầy đủ tín tâm.
Quan trọng việc biết hổ thẹn. 
Quan trọng việc sống theo luật pháp. 
Quan trọng việc sống với tâm từ bi. 
Quan trọng việc sống với tâm vui vẻ. 
Quan trọng việc sống với tâm xả ly. 
Có hoàn thiện tâm quy y ngay thẳng, có đầy đủ tinh tấn, có đầy đủ an tịch.
 
Nhiệt tình làm các việc công ích xã hội đương nhiên là tốt, nhưng cần phải có tâm thương xót để giữ được sự trung thực. 
Dùng tâm vô vi để cứu độ trí huệ chúng sinh để hiểu rõ có thể đi tố cáo hay không.


### 35. Tại sao cần quy y?


Hỏi:
"Vì sao nhất định phải quy y? Không quy y thì không thể tu pháp phải không?"
 
Tôi hỏi:
Câu hỏi này lẽ ra là đơn giản nhất, nhưng trên thực tế lại không đơn giản chút nào. Nếu như suy ngẫm kĩ, để có thể trả lời một cách viên mãn cũng không dễ.

Cha tôi là đệ tử quy y của tôi.
Mẹ tôi là đệ tử quy y của tôi.
Em gái tôi là đệ tử quy y của tôi.
Họ hàng tôi là đệ tử quy y của tôi.
v.v.
 
Nói chung, muốn độ hóa người thân quy y thì cũng không dễ dàng, vì sao vậy? Bởi vì sống cùng nhau, mỗi lời nói mỗi hành động của ta người thân đều nhìn thấy rõ ràng, các tập tính cũng đều thấy rõ hết. 

Người Đài Loan nói:
"Trên người, dưới mông bạn có bao nhiêu sợi lông, người thân đều biết. Người thân nhìn bạn, chẳng nhìn ra bạn là một người giác ngộ, là Bồ Tát, Thanh Văn gì hết… Người thân sẽ cảm thấy bạn cũng chỉ là một người bình thường như mọi người khác mà thôi, chẳng có gì là phi thường cả."
Do vậy, "khó độ người thân!".
 
Đặc biệt, bạn là người tu hành thì một sợi tơ sợi tóc cũng không được sai lầm, một khi có sai sót thì toàn bộ người thân cũng sẽ từ bỏ bạn.

Vốn dĩ người thân khó độ, khi một biểu hiện của bạn không thể làm cho người thân hài lòng, người thân sao có thể quy y bạn?
Do vậy, muốn người thân quy y buộc phải có điều gì khiến họ bị thuyết phục, phải có sức ảnh hưởng lớn.
 
Quy y là cần thiết, bởi vì mở cánh cửa vào chính pháp chính là việc quy y. Quy y là nền tảng của mọi con đường tâm linh linh thiêng. Không quy y thì sư phụ không thể truyền dạy chính pháp cho bạn được, và bạn sẽ tu luyện như mù, sẽ đi rất nhiều con đường sai lầm.

Điều này đặc biệt đúng trong Mật giáo. 

Mật giáo quan trọng khẩu truyền, khẩu quyết, phương pháp. Không quy y bạn sẽ không thể có được những điều trên, không thể tu. Do vậy nhất định phải quy y, không quy y không thể tu thành tựu. Ngoài ra, Mật giáo quan trọng truyền thừa, truyền thừa giống như hạt giống, không có hạt giống làm sao nảy mầm, mọc thành cây, ra hoa kết quả đây? Mật giáo tu Thượng sư tương ứng pháp, Thượng sư gia trì gốc rễ, không có dòng chảy pháp gia trì, hành giả không thể trưởng thành được.
 
Tôi nói:
Hành giả Mật giáo phải dựa vào chỉ một vị thầy (Thượng sư).
Có quán đảnh.
Có dòng chảy truyền thừa.
Có lực gia trì.
Có chính pháp.
Có khẩu quyết.

Như vậy mới có thể thành tựu. Nếu như không quy y một vị thầy thì tất cả những điều trên đều không có được, không thể thành tựu.
(Ở đây chính xác là đơn giản như vậy.)
 
Chúng ta biết rằng:
Quy y cần có tín tâm, gặp được một vị cao tăng đại đức với đức tướng trang nghiêm mà sinh ra tín tâm không gì sánh bằng thì được gọi là lòng tin thanh tịnh.

Đã nghe về sinh tử luân hồi, cũng như giải thoát khỏi khoái lạc, phát khởi tín tâm, thì được gọi là lòng tin dục lạc.

Biết rõ công đức của Tam bảo Phật, Pháp, Tăng và sau khi được gia trì, tin tưởng sâu sắc rằng Tam bảo có thể giúp bạn giải thoát, không có phương pháp nào khác, thì được gọi là lòng tin tín giải.
 
Để được giải thoát thành Phật, phổ độ chúng sinh, đó là quy y ở hạng thượng sĩ.
Để thoát khỏi luân hồi, đắc quả vị niết bàn, đó là quy y ở hạng trung sĩ.
Để không rơi vào ba đường ác, có được sự an lạc của thiên nhân, đó là quy y ở hạng hạ sĩ.

Quy y Phật, pháp, tăng.
Quy y Thân, Khẩu, Ý.
Quy y khí, mạch, minh điểm.
Quy y Phật tính, chính pháp, thanh tịnh.

Những việc này đều là quy y, và quy y chân chính là quy y bản tính thanh tịnh của pháp thân Phật, báo thân Phật viên mãn, trăm nghìn tỷ hóa thân Phật, là tự tính quy y Tam bảo.


### 36. Ma ma ma ma ma


Hỏi:
"Phim ma nào có vẻ giống thực tế nhất? Ở đâu có nhiều ma nhất?"
 
Tôi trả lời:
Trước tiên tôi lấy một ví dụ có thật.

Trong thời kì tôi xem bói hỏi chuyện, có một phụ nữ đến hỏi xem chồng của cô tình hình dạo này ra sao. Khi tôi ngẩng đầu lên lập tức nhìn thấy một màn khói, trong màn khói hiện lên một cảnh tượng thực tế.

Một vụ tai nạn xe do xe đâm vào hàng rào chắn bảo vệ ở trên đường, sau đó xe lăn mấy vòng rồi rơi xuống biển. Tôi nhìn thấy người trong xe bị tai nạn không thoát ra được, vùng vẫy hết sức, kết quả là chết đuối.
 
Điều khiến tôi kinh hãi là:
Bảy lỗ (hai mắt, hai tai, hai lỗ mũi, miệng) trên mặt của người đàn ông trong xe đều chảy máu, toàn thân ướt đẫm, sắc mặt xanh đen, tất cả xuất hiện trước mắt tôi.

Tôi trả lời: "Chồng của cô chết rồi!"
Cô hỏi: "Chết thế nào?"
Tôi đáp: "Người cùng xe rơi xuống biển chết."
Người phụ nữ kêu khóc thất thanh, hỏi: "Có thể tìm thấy người và xe không?"
Tôi đáp: "Biển rất sâu, e rằng không tìm thấy."
Người phụ nữ hỏi: "Linh hồn chồng tôi đi đâu rồi?"
Tôi đáp: "Đang ở ngay đây."
Người phụ nữ hỏi: "Có thể nhìn thấy không?"
Tôi đáp: "Nhìn xuống dưới tay áo tôi mà xem."

Người phụ nữ vừa nhìn thì vô cùng sợ hãi hét lên: "Ma, ma, ma, ma, ma……………." rồi chạy mất!

Điều tôi muốn nói là:
"Người chết thành ma, ở nơi nào cũng có ma cả!"
 
Bộ phim ma nào tương đối giống thực tế nhất?
Nói thật lòng thì cá nhân tôi bây giờ rất hiếm khi xem phim, lúc còn trẻ tôi xem cũng khá nhiều. Phim ma tôi đã từng xem thì không nhiều, ấn tượng sâu đậm nhất là:
Thiện nữ u hồn. (bản Trung Quốc)
Tứ cốc quái đàm. (bản Nhật)
Nhân bì. (phim ma Liêu Trai)

Ba phim này đều có ấn tượng mạnh, hơn nữa chúng cũng có nội dung sáng tạo và tính nghệ thuật, Thiện nữ u hồn rất thống thiết xót xa, Tứ cốc quái đàm rất rùng rợn, Nhân bì có tính giáo dục.

Nếu như xét trên tính hiện thực thì phim Nhật Tứ cốc quái đàm mặc dù thần kì nhưng vẫn có tính hiện thực, sâu sắc khắc ghi trong lòng tôi.
 
Nơi nào có nhiều ma quỷ nhất?
Theo như tôi biết thì là: nghĩa địa, rừng vứt xác, nhà xác, miếu thờ, nhà tang lễ, bệnh viện, nhà tù, nơi hành hình.
(Những nơi kể trên tôi phân loại là nhiều số một.)

Khách sạn lớn, rạp chiếu phim, sòng bạc, vũ trường, câu lạc bộ đêm, quán rượu, nhà trọ. 
(Những địa điểm trên tôi phân loại là nhiều thứ hai.)

Nhà hàng, bách hóa, đại siêu thị, nhà chung cư, công ty, nhà xưởng, nhà ở.
(Những địa điểm trên tôi phân loại là nhiều thứ ba.)
 
Tôi cho rằng ma là mặt trái của người sống. Người thì hữu hình, ma thì vô hình. Ma có ngũ thông, công lực lớn thì là thần, công lực nhỏ thì là quỷ, do vậy sự khác biệt giữa thần và quỷ không phải là lớn. 

Thế giới của ma và thế giới của người không khác biệt. Người có trăm hạng người, ma có trăm loại ma. Ma biết tu hành thì cũng có thể thành thần.


### 37. Tháng ma quỷ


Hỏi:
"Tháng ma quỷ có thật là có chuyện thế thân không? Tháng ma quỷ mở cửa âm phủ là chuyện thế nào? Cần phòng thân ra sao?"
 
Tôi trả lời:
Có một lần, tôi ở chỗ ngài Địa Tạng Bồ Tát chứng kiến một cuộc tổng động viên ở dưới âm phủ, ở trên cao nhất có mười vị đại Diêm Ma Tôn Vương, ở dưới thấp nhất là binh lính ma quỷ, toàn bộ tổng động viên.

Trong lòng tôi vô cùng kinh hãi, hỏi Địa Tạng Bồ Tát:
"Là nguyên nhân gì vậy?"
Địa Tạng Bồ Tát đáp:
"Ở nơi đó nước đó có một trận động đất lớn, số người chết lên tới cả vạn người, do vậy âm phủ rất bận rộn."

Tôi vô cùng thương xót hỏi:
"Có cách nào tránh được không?"
Địa Tạng Bồ Tát đáp:
"Cộng nghiệp khó tránh."
"Thành phố đó cũng là nơi Phật giáo thịnh hành, vì sao một nơi Phật pháp phổ biển như vậy không ngờ lại có tai họa lớn như thế?" - Tôi hỏi.
Địa Tạng Bồ Tát đáp:
"Bề ngoài Phật pháp phổ cập, người người tin Phật, nhưng người thực tu Phật pháp rất ít, người giữ giới luật rất hiếm, con người hiện đại quá lo lắng về danh lợi, cướp giết dâm vọng, cộng nghiệp nặng vô cùng!"

Tôi thở dài.
Sau đó, tôi đọc báo cáo tin tức, địa phương nói đến ở trên gặp động đất lớn, quả nhiên đã chôn sống cả vạn người.

Còn nữa. Lại có một lần, ở trong mơ tôi nghe thấy hai con ma nói chuyện với nhau.
Ma A nói:
"Tôi đang đợi ông X nhảy lầu đây!"
Ma B nói:
"Ông ta liệu có nhảy không?"
Ma A nói:
"Nhanh lên! Nhanh lên!"
Ma B nói:
"Chỉ cần ông ta nhảy là anh lập tức có thể đầu thai rồi, chỉ còn lại mỗi mình tôi, cô đơn làm sao."
Ma A nói:
"Anh có thể đợi thêm mà!"
"Đợi đến khi nào đây?"
Ma A nói:
"Cũng nhanh thôi, con trai nhà hàng xóm bên phải nhà ông X chạy xe máy, cũng sắp xảy ra chuyện rồi!"

Sau đó, ông X thực sự đã nhảy lầu tự tử. Con trai nhà hàng xóm bên phải nhà ông X chạy xe máy bất ngờ gặp tai nạn chết.
 
Tôi giải thích như sau:
Thế thân (giao thế) là việc có thật, nhưng không cứ là phải vào tháng ma quỷ. Vì sao lại có chuyện giao thế?

Tôi chỉ có thể giải thích thế này, cũng giống như những lính gác trong quân đội thay phiên nhau, nhóm mới đến thì nhóm cũ có thể đi. 

Thế thân (giao thế) thường xuyên xảy ra, nhưng trên thực tế bình thường cũng có, không nhất định phải vào tháng ma quỷ. Mọi người nói vào tháng ma quỷ mới có chỉ là bởi vì tháng ma quỷ đã có ấn tượng sâu sắc trong tâm trí mọi người mà thôi.
 
Còn nữa:
Tháng ma quỷ cửa ma mở ra là ý chỉ ma quỷ bị nhốt, vào tháng ma quỷ thì mới được thả ra, giống như tù nhân trong ngục được thả ra vậy. Cũng do vậy vào tháng ma quỷ đặc biệt có nhiều ma.

Mở cửa ma là do đạo sĩ làm pháp, đóng cửa ma cũng là do đạo sĩ làm pháp, đây là tập tục của dân gian. Không phải là cửa địa ngục rộng mở, mà là cửa ma quỷ trong các miếu thờ được mở ra. 

Việc mở cửa ma là có giới hạn, mười tám tầng địa ngục đích thực cơ bản là không mở.

Tháng ma quỷ cũng là một tập tục dân gian, còn hành giả Mật giáo tu pháp hộ thân hàng năm hàng tháng hàng ngày hàng giờ, không có gì phải sợ hãi cả. Nói thật thì ma quỷ cũng không có gì để mà phải sợ.


### 38. Tượng Phật nhất định phải khai quang?


Hỏi:
"Có phải tượng Phật nhất định cần khai quang mới có thể thờ cúng không?"
Tôi trả lời:
"Không cần thiết."

Tôi lấy hai ví dụ để nói rõ.
Ví dụ thứ nhất:
Lúc tôi mới tin Phật, ở hiệu sách Nghĩa Sĩ trong tòa nhà tổng hợp Đài Trung, tôi đã thỉnh về một bức tượng Quan Âm Bồ Tát.
(Tòa nhà tổng hợp đã đóng cửa, hiệu sách Nghĩa Sĩ từ lâu đã ngừng kinh doanh, không rõ rời đi đâu.)

Bức tượng vị Quan Âm đó tôi mua chỉ có 15 Đài tệ, sự việc này xảy ra vào 40 năm trước. 
Tôi trở về kí túc xá của đơn vị phục vụ (Liên đội trắc lượng Nam Môn Kiều), tiện thể đặt bức tượng này thờ cúng ngay trên bệ cửa sổ, lúc đó tôi còn chưa hiểu lễ nghĩa, thắp lên một nén hương.
Đêm đó, tôi nhìn thấy trên mặt biển, một bông hoa sen đang trôi, trên hoa sen là tượng Quan Âm mà tôi thỉnh về với hằng hà sa số hào quang.
(Đến tận bây giờ ấn tượng vẫn khắc sâu. Tôi vô cùng hoan hỷ.)
Bức tượng Quan Âm này, tôi hoàn toàn chưa khai quang, nhưng đã có cảm ứng thường xuyên rồi.
 
Ví dụ thứ hai:
Đệ tử của tôi đã tiêu rất nhiều tiền để xây đàn thành thờ cúng bổn tôn và hộ pháp trong nhà mình, sau đó mời tôi đến khai quang an tọa.

Tôi đến nơi, vừa nhìn thì thấy hóa ra bổn tôn và hộ pháp đã ngồi tọa trong đàn thành từ lúc nào rồi, không mời cũng đã tự đến. Tôi nói: 
"Không cần khai quang, các vị đã tự đến rồi."

Chủ nhân đàn thành nói với tôi:
"Sau khi tôi sắp đặt đàn thành, lập tức thắp một nén hương để cúng, đợi Lư Sư Tôn đến khai quang. Vào một đêm nằm mơ đã nhìn thấy bổn tôn và hộ pháp lần lượt hiện thân, nói với tôi là họ tự đến. Bây giờ Lư Sư Tôn cũng nói là các ngài tự đến, đây thực là cảm ứng lớn."
Việc các ngài đã tự đến này hoàn toàn không cần khai quang nữa.	 
 
Tuy nhiên, vì sao tượng Phật nếu được khai quang thì thờ cúng sẽ tốt hơn, việc này là có lý do gì đây?
Theo tôi được biết, có một số người bản thân nghiệp chướng sâu nặng, oan thân trái chủ (vô hình) luôn theo sát xung quanh họ. Những người này vô tình nghe hiểu Phật pháp, muốn thờ cúng tượng Phật, thế là thỉnh tượng Phật về nhà an vị. 

Nhưng nếu không mời người tu hành có công lực thâm sâu đến an tọa khai quang, người có nhiều oan thân trái chủ nghiệp chướng sâu nặng sẽ bị oan thân trái chủ lợi dụng tượng Phật chưa khai quang để chiếm lấy làm chỗ ở, chiếm được tượng Phật rồi sẽ hưởng thụ hương khói cúng dường của nhân gian.
(Đây là lý do đầu tiên.)
 
Ngoài ra, có một số loại tà thần tà ma trông thấy tượng Phật chưa khai quang cũng xâm nhập để chiếm chỗ. Vốn là tượng Phật nhưng lại bị tà thần tà ma xâm nhập chiếm lấy tượng Phật, chuyện này xảy ra thì sẽ có tà thần tà khí làm cho gia đình bất an, mọi việc đều không cát tường.
Vì vậy bắt buộc cần thỉnh người có đạo hành cao thâm đến khai quang, bởi vì khai quang đón Phật để mời Phật Bồ Tát đến mới là đúng, sẽ không đón ma tà đến.
(Đây là lý do thứ hai.)
 
Tôi nhấn mạnh bốn chữ "đồng thanh tương ứng".
Người tu hành có đạo hạnh cao thâm khai quang có thể chiêu gọi được đúng Phật và Bồ Tát đến. Do vậy việc mời cao tăng là cần thiết và quan trọng.
Nếu như không khai quang, nhưng bản thân hành giả tâm thanh tịnh, tự nhiên sẽ có Phật "thật" tự đến.
Nếu như hành giả không thanh tịnh, tượng Phật không khai quang, tự nhiên thần quỷ tà ma ngoại đạo sẽ đến trú ngụ.
Đây chính là đạo lý của "đồng thanh tương ứng".
 
Những ví dụ thế này rất nhiều, hoặc là thỉnh mời đại hành giả đã giải thoát, đại hành giả đã khai ngộ, đại hành giả thần thông lớn là Liên Sinh Thánh Tôn đến khai quang, như thế cũng sẽ được an toàn.


### 39. Giới cấm trong Phật học


Hỏi:
"Người học Phật có thể hút thuốc không? Có thể ăn trầu không?"

Lại hỏi:
"Vì lý do sau khi quy y phải giữ giới sắc, không thể xem phim khiêu dâm, nên một người bạn của tôi chưa muốn quy y, liệu có giải pháp gì cho người đó không?"
 
Tôi trả lời:
Chúng ta biết rằng "giới" chính là để phòng và chặn những suy nghĩ xấu, không chỉ là không được làm việc xấu mà thậm chí cả suy nghĩ xấu cũng không được có. 

Giới còn được gọi là thanh lương để giúp con người có thể dừng ác làm thiện, từ đó mà lương tâm trong sạch, trong lòng không có gì phải hổ thẹn, cũng từ đó mà tâm không nóng giận phiền não, có được sự trong sáng tươi mát.
 
Giới, định, huệ còn được gọi là Tam vô lậu học.
Giới là ngăn chặn, từ bỏ việc xấu.
Định là định tâm một chỗ.
Huệ là phá bỏ vọng tưởng chứng được chân lý.
Hành giả học Phật chúng ta biết rằng:
Nhất giới, nhì định, tam huệ, tứ giải thoát, ngũ giải thoát tri kiến. Năm điều trên được gọi là Ngũ phần pháp thân. [ND: Ngũ phần pháp thân: là 5 phần công đức của pháp lý, của Như Lai hợp lại thành pháp thân.]
 
Có rất nhiều các loại giới: ngũ giới, bát giới, thập giới, Bồ Tát giới, xuất gia giới, sa di giới. Các giới cho tỳ kheo là 250 giới, các giới cho tỳ kheo ni là 348 giới.
Theo quan sát của tôi, con người ngày nay bị "tâm sắc" phá hủy, hành vi biến thái loại nào cũng đều có. Ví dụ như xem phim khiêu dâm, chuyên lấy trộm quần áo lót của phụ nữ, lén nhìn trộm phụ nữ đi toilet, có hành vi khiếm nhã vỗ vào dưới váy phụ nữ, thò những bàn tay lang sói sờ ngực sờ mông phụ nữ. Thậm chí là bạo lực, cưỡng hiếp.

Ngay cả đến trẻ sơ sinh cũng không tha.
Ngay cả đến phụ nữ mang thai cũng không tha.
Ngay cả đến phụ nữ đang có kinh nguyệt cũng không tha.
Ngay cả người tàn tật câm điếc cũng không tha.
Ngay cả người tâm thần bệnh hoạn cũng không tha.

Càng khủng khiếp hơn là:
Ngay cả xác phụ nữ đông lạnh trong trong nhà xác cũng không tha.
Những hành vi biến thái này phần lớn trong số đó đều do ảnh hưởng từ phim ảnh có tính chất khiêu khích quá độ. Các phim khiêu dâm cũng ảnh hưởng không hề ít.
 
Tôi cho rằng:
Đương nhiên không thể xem phim khiêu dâm, người học Phật lại càng phải đoạn tuyệt với thói quen xem phim khiêu dâm. 

Muốn quy y chắc chắn phải đoạn tuyệt, không có giải pháp nào cả.
 
Ngoài ra, có thể hút thuốc không?
Tôi đã từng đi đến núi Koya ở Nhật Bản thấy các hòa thượng ở Nhật thực sự có hút thuốc. Theo người Nhật mà nói thì hút thuốc là thói quen phổ biến. Nhưng đứng từ lập trường tác hại của hút thuốc mà nói thì: hành giả nên bỏ thuốc lá.

Hành giả không nên tự hủy hoại sức khỏe của bản thân, cũng không nên hủy hoại sức khỏe của người xung quanh.
Ý thức được rằng hút thuốc chỉ có hại không có lợi, vậy vì sao cứ phải hút thuốc?
Đối với người tu hành mà nói thì sẽ đánh mất sự trang nghiêm.
Chúng ta cấm hút thuốc.
 
Còn nữa:
Nhai trầu có được không?
Tôi có rất nhiều đệ tử là người dân tộc, một trong những tập tục của họ là ăn trầu. Trong một nghi lễ của họ ở Đài Đông cũng có mời Lư Sư Tôn tôi thử ăn trầu một lần. Tôi nhai trầu cảm thấy rất vô vị. Do vậy tôi cũng không có thói quen nhai trầu, bởi vì không cảm thấy có gì hay cả.
Các báo cáo của y học cận đại cho thấy việc ăn trầu dường như có thể dẫn đến các bệnh tật trên cơ thể. Có chướng ngại đối với sức khỏe!
Tôi cho rằng: có thể cấm thì cấm!


### 40. Hình phạt ở địa ngục


Hỏi:
"Các mánh khóe tội phạm ngày nay mỗi ngày một tinh vi hơn, vậy thì các hình phạt ở địa ngục có phải là cũng thay đổi theo không?"
 
Tôi trả lời:
Có một câu chuyện cười như thế này:
Có một người xuống địa ngục, lính canh ngục đưa người này đi xem địa ngục, trước mặt anh ta hiện ra ba cánh cửa.

Cánh cửa thứ nhất mở ra, bên trong là địa ngục dầu sôi, ném người vào trong các chảo dầu, bên dưới lửa bốc lên, bên trong chảo dầu là dầu sôi, rất nhiều người sẽ giống như những chiếc quẩy được rán trong chảo vậy, la hét quằn quại, da thịt đều bị rán đến cháy đen thành một khối đen sì.
Người kia vừa trông thấy thì lắc lắc đầu, không dám đi vào.
 
Cánh cửa thứ hai mở ra, bên trong là địa ngục hàn băng, bão tuyết thổi rất mạnh, đánh vào người bị phạt vừa đói vừa lạnh, trong bão tuyết mờ mịt trước mắt không có thức ăn, không có quần áo ấm, không có nhà và lò sưởi để tránh rét. Con người trong địa ngục này cứ từ từ mà chết đói, hoặc không thì cũng bị cái lạnh của bão tuyết làm cho lạnh cóng mà chết, thành những tảng băng hình người.
Người kia vừa trông thấy thì lắc lắc đầu, không dám đi vào.
 
Cánh cửa thứ ba mở ra, bên trong là một câu lạc bộ ấm áp, những người chịu hình phạt thì đang uống cà phê thơm ngon, hơn nữa lại còn được ăn xúc xích, mọi người đều biểu lộ sự vui vẻ. 
Người kia vừa trông thấy, cho rằng có thể chấp nhận được, vậy là bèn đi vào.

Kết quả là:
Cà phê hóa ra là nước tiểu.
Xúc xích hóa ra là phân thối.
Tất cả đều hôi thối không gì so sánh bằng. Quản ngục bắt họ phải uống đến khi trương phềnh bụng, ăn đến no căng, đến khi không thể chịu nổi nữa thì ruột và bụng cũng vỡ, nước tiểu và phân trào ra mà chết.
 
Tôi nói:
Mặc dù đây là một câu chuyện cười, nhưng hình phạt của địa ngục rõ ràng là có thay đổi. 

Có một lần tôi xuất thần đi xuống địa ngục, nhìn thấy một loạt những tấm chảo sắt rất lớn, nhưng tấm chảo sắt này đã bị nung nóng đỏ. Rất nhiều người chịu hình phạt vừa rơi lên những tấm sắt nóng đỏ đó thì hai chân trần đều nhảy cật lực, nhảy tới khi kiệt sức thì nằm bẹp trên tấm chảo sắt đó, bị nướng không khác gì miếng thịt bò bít-tết bị nướng trên chảo teppanyaki. [ND: Teppanyaki: là một cách chế biến món ăn của Nhật trên một mặt phẳng kim loại lớn được làm nóng, món ăn sẽ được chiên, nướng, xào trên đó.]

Quản ngục nói với tôi đây là một địa ngục mới được tạo ra dành cho những người thích khiêu vũ.
"Khiêu vũ mà cũng có tội ư?"
Quản ngục đáp:
"Khiêu vũ không có tội, nhưng nhảy trên giường thì cũng trở thành có tội." [ND: Nhảy trên giường: ở đây ý nói về việc quan hệ tình dục bừa bãi.]
 
Lại có lần khác tôi ở trong địa ngục trông thấy một nhóm người chịu hình phạt đang xếp hàng, từng người từng người một thè lưỡi ra, lưỡi thè dài đến hết mức, sau đó lấy nước tương, hành, tỏi đặt lên lưỡi.
Quản ngục sẽ chặt đứt lưỡi. Người chịu hình phạt này đau đến mức chết đi sống lại, máu chảy thành dòng. Quản ngục sẽ đem lưỡi bỏ lên chảo sắt mà chiên, cuối cùng sẽ có được món "bánh lưỡi người".

Tôi hỏi:
"Đây là tội gì vậy?"
Quản ngục đáp:
"Đây là hình phạt mới dành cho những tập đoàn lừa đảo, trên trần gian chẳng phải có món bánh lưỡi bò đó sao? Vậy thì ở âm phủ chúng tôi cũng có món bánh lưỡi người. Hễ người nào lừa gạt vàng bạc châu báu tài sản của người khác, đến địa ngục âm phủ thì lưỡi đều bị cắt để làm món bánh lưỡi người."
 
Còn nữa:
Trên trần gian người nào làm kinh doanh khiêu dâm thì đến âm phủ đều bị trói đầu lâu xương cốt quanh người mà ngủ. Những đầu lâu xương cốt này ban đầu đều là những cô cái xinh đẹp, khi bị ôm vào thì sẽ cắn vào lưỡi, cắn vào các cơ quan sinh dục của người kia. 

Biến hóa một cái, cô gái lập tức trở thành một bộ đầu lâu xương sọ, khiến những người chịu hình phạt sợ thất kinh mà chết!


### 41. Vướng vào ái hận tình thù


Hỏi:
"Người mình yêu không thích mình thì phải làm sao? Hôn nhân có thực sự là số trời định sẵn không?"

Lại hỏi:
"Người mình không yêu thường xuyên bám theo làm phiền mình, hoặc người yêu không muốn chia tay, đối xử với nhau một cách bạo lực, phải làm sao?"
 
Tôi trả lời:
Xin nói đùa một câu.
Chưa cưới còn theo đuổi.
Cưới xong chỉ muốn đuổi.
Ly hôn thì đuổi giết.

Còn nữa:
Kết hôn là sai lầm.
Độc thân là giác ngộ.
Ly hôn là tỉnh ngộ.
Tái hôn là mê lầm khỏi nói.
Không có người yêu là vô dụng.	 
 
Tôi luôn cảm thấy thế gian này vô cùng vô cùng hư huyễn. Cực kì giống một trò chơi, cực kì giống một giấc mộng. Nói tóm lại là tất cả đều không phải là thật.

Duyên phận giữa người và người giống như mây luôn biến đổi.
Người hữu duyên trở thành vô duyên.
Người vô duyên trở thành hữu duyên.
Trước là thiện duyên, sau là ác duyên.
Trước là ác duyên, sau là thiện duyên.
Hữu duyên, vô duyện, thiện duyên, ác duyên…

Bây giờ hễ tôi nhắc đến hôn nhân là nỗi sợ hãi trong lòng khiến tôi sởn cả gai ốc.
 
Trong Phật điển có nhắc đến tám loại khổ:
Khổ do Sinh.
Khổ do Lão.
Khổ do Bệnh.
Khổ do Chết.
Khổ do Yêu mà phải xa cách.
Khổ vì Oán ghét mà phải gần.
Khổ vì Muốn mà không được.
Khổ vì Xác thân và Tâm trí.
 
"Người mình yêu không thích mình phải làm sao?" chính là muốn không được nên khổ.
"Người mình không thích cứ bám riết làm phiền mình." chính là khổ vì oán ghét.
"Người yêu không muốn chia tay, nhưng đối xử bạo lực." chính là ái hận tình thù.
Tất cả đều là: khổ, khổ, khổ, khổ, khổ.
 
Người ta hỏi: 
Phải làm sao? 
Phải làm sao? 
Phải làm sao? Phải làm sao?
Tôi trả lời:
"Chả làm sao cả!"

Chuyện tình cảm là chuyện khó nắm bắt nhất thế gian. Trong lòng yêu sâu sắc một người, nhưng thực tế họ xem mình là kẻ thù. Trong lòng rất căm ghét người này, nhưng sớm tối cứ phải chạm mặt. Tình cảm là thứ có thể thay đổi, khi nóng khi lạnh, khi có khi không. Hết yêu lại hận, hết hận lại yêu, tình đến tình đi, cũng chính là giết qua giết lại nhau.
  
Hôn nhân có phải là số trời định không?
Trả lời: "Đúng vậy."
Bởi vì trong chuyện hôn nhân có liên quan đến nhân duyên quả báo, là chuyện trả ơn, là chuyện báo oán, rồi lại xảy đến để tiếp tục báo ân báo oán. Sự phức tạp rối rắm của nó bạn hay tôi đều không thể tưởng tượng được.

Phật giáo giảng nhân duyên quả báo, hôn nhân một cách tự nhiên đã là một số trời đã định. 

Nếu không như vậy thì:
Tất cả số phận đều không chính xác.
 
"Người mình yêu không thích mình thì phải làm sao?"
Tôi trả lời:
Tu pháp Ái Nhiễm Minh Vương và pháp Phật Mẫu Kurukulle để cầu xin được gia trì thêm vậy!

"Người mình không thích cứ bám riết lấy mình thì phải làm sao?"
Tôi trả lời: 
Tu pháp Uế Tích Kim Cương hoặc pháp Bất Động Minh Vương, hồi hướng, nhanh chóng cắt đứt phiền nhiễu.

"Đối xử bạo lực?"
Tu pháp hộ thân.


### 42. Nhân duyên của thú cưng


Hỏi:
"Nghe nói thú cưng trong nhà phần lớn là người thân chuyển kiếp có đúng không?"
 
Tôi trả lời:
Tôi thấy là không chỉ con người mới có thú cưng, Phật Bồ Tát cũng đều có thú cưng cả, ví dụ:
Quan Âm cưỡi rồng - rồng là thú cưng.
Quan Âm cưỡi cá - cá là thú cưng.
Bồ Tát Văn Thù - sư tử là thú cưng.
Bồ Tát Phổ Hiền - voi là thú cưng.
Bồ Tát Địa Tạng - đế thính (ngựa một sừng) là thú cưng.
Diêu Trì Kim Mẫu - đà điểu là thú cưng.
Đại Uy Đức Kim Cương - trâu là thú cưng.
Khổng Tước Minh Vương - khổng tước là thú cưng.
Nhị Lang Thần - chó trời là thú cưng.
Mã Đầu Quan âm - ngựa là thú cưng.
Đại Cát Tường Thiên - ngựa là thú cưng.
Còn nữa…

Ngoài ra, còn có Bắc Cực Huyền Thiên Thượng Đế, rùa rắn đều là thú cưng. Đa Văn Thiên Vương (Hoàng Tài Thần) có chuột nhả tài bảo là thú cưng.
…

Phật Bồ Tát Kim Cương Hộ Pháp Không Hành Chư Thiên trên thực tế đều có nhiều thú cưng.

Nếu như nghiên cứu về thú cưng của Phật Bồ Tát thì cũng có thể viết được một bộ sách lớn. 

Nếu như độc giả đọc kĩ sẽ nhận thấy Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân các nhân vật chính trong đó đều là:
Đường Tam Tạng - người.
Sa Ngộ Tĩnh - quái vật của sông Lưu Sa.
Tôn Ngộ Không - khỉ.
Chư Bát Giới - lợn.
Ý Mã - ngựa.

Toàn bộ các nhân vật chính trong Tây Du Ký gần như đều là động vật. Hơn nữa, các yêu quái trong Tây Du Ký phần lớn cũng đều là động vật.
Ngưu Ma Vương - trâu.
Yêu tinh nhện - nhện.

Ngoài ra còn có nhiều vật nuôi mà Phật và Bồ Tát cưỡi trốn xuống hạ giới sống trong các hang núi và gây nên những rắc rối phiền nhiễu. Long Vương, yêu quái núi Hắc Phong, cá sấu, cá, trâu, sư tử, hà mã, thỏ ngọc…

Những yêu ma quỷ quái hạ giáng xuống trần gian để quấy nhiễu làm hại Đường Tam Tạng đó hầu hết tất cả hoặc đa số đều có nguồn gốc là thú cưng của Phật Bồ Tát.

Phật Bồ Tát.
Thú cưng.
Viết thành cuốn Tây Du Ký. 

Trong vấn đề nhân duyên quả báo, khi tôi xem bói hỏi chuyện, có một việc kì lạ thế này:
Một đệ tử đến hỏi, cô ấy nuôi một con chó, từ trong sâu thẳm cô cảm nhận rằng con chó này chính là người chồng quá cố của cô chuyển kiếp. 

Chồng cô thích ăn kem, con chó cũng đặc biệt thích ăn kem, thế làm hai người cùng ăn kem. 
Chồng cô thích cô mặc quần áo màu đen, con chó mỗi ngày đều ngậm quần áo màu đen đem ra cho cô mặc.
Chồng cô buổi sáng có thói quen mở cửa lấy báo, mỗi ngày sáng sớm con chó cũng mở cửa gặm tờ báo đem vào nhà.
Chồng cô ra khỏi nhà lái xe, trước tiên ngồi vào ghế lái, con chó cũng ngồi vào ghế lái trước như vậy, sau đó mới nhường ghế.
Chồng cô biết trong nhà tất cả đồ đạc để ở đâu, khi cô tìm đồ gì, chắc chắn con chó đã ở đó trước rồi.
Chồng cô và cô phân chia phòng ngủ, con chó cũng tự hiểu điều này, đi đến phòng mình mà ngủ.

Càng kì lạ hơn là tiếng sủa của con chó, cái âm thanh mà nó phát ra, nghe giống tiếng chồng cô khi còn sống gọi cô.

Tôi trả lời cô:
"Đúng là chồng cô đó."

Tôi nói:
Không sai! Vật nuôi trong nhà là người thân kiếp trước, đều là có duyên mà lại đến gặp lại.


### 43. Tội nặng hơn cả tội sát sinh


Hỏi:
"Ngoài tội sát sinh ra, phạm vào giới gì thì nghiệp chướng sẽ nặng?"
 
Tôi trả lời:
Tôi lấy một ví dụ để giải thích.
Tôi từng xuất thần đi đến địa ngục, gặp lúc Diêm Vương đang xử tội phạm. Diêm Vương phán kẻ phạm tội phải đọa vào địa ngục vô gián, địa ngục vô gián này là hình phạt không gián đoạn. (Tội nặng nhất.)

Tội phạm kháng nghị nói:
"Tôi chưa từng giết người sát sinh, vì sao bị phán tội nặng như vậy?"
Diêm Vương đáp:
"Giết một sinh mệnh con người chỉ là giết chết thân xác của họ, tội rõ ràng là nặng. Nhưng anh phỉ báng thánh tăng, khiến cho đệ tử của thánh tăng thối lui đạo tâm, kết quả là đánh mất đạo tâm của vô số người, cũng tương đương như giết huệ mệnh của con người. Tội giết huệ mệnh của con người so với tội giết thân xác của con người càng nặng hơn, do vậy phạt vào địa ngục vô gián."
 
Diêm Vương lại nói:
"Con người trần gian ngu muội không hiểu đạo, trên thực tế, tội phá vỡ sự hòa hợp tăng so với tội nặng như núi Tu Di còn nặng hơn. Bởi vì khiến cho người xuất gia thối lui và mất đi đạo tâm, tội này là nặng nhất. Ban đầu vốn là một tăng đoàn hòa hợp, anh ở trong kích động khiến tăng đoàn phân rẽ, cũng chính là giết huệ mệnh con người. Nghiệp tội này là vô thượng, không có nghiệp tội nào nặng hơn tội này."

Tôi nghe xong cảm cảm thấy kinh sợ!
 
Chúng ta hiểu rằng ngũ giới gồm có:
Không sát sinh.
Không trộm cắp.
Không tà dâm.
Không vọng ngữ.
Không uống rượu.

Trong năm giới này thì nặng nhất là giới sát sinh, nhẹ nhất là giới uống rượu.

Nặng hơn cả tội sát sinh chính là: 
Giết cha.
Giết mẹ.
Giết A La Hán. (Thánh Tăng)
Giết Phật chảy máu. (Giết người giác ngộ.)
Phá hòa hợp tăng.

Đây là "ngũ nghịch tội", phạm vào bất kì điều nào đều phải xuống địa ngục vô gián.

Phật Đà khi còn tại thế, vào những năm cuối đời, Điều Đạt Sư (Đề Bà Đạt Đa) muốn ép Phật Đà phải thoái vị. Thế là Đề Bà Đạt Đa tự mình lãnh đạo tăng đoàn, ông ta đưa ra tuyên ngôn ngũ pháp, chỉ ra sai lầm của Phật Đà:
Không nhận cúng dường.
Không ăn đồ ăn ngon.
Mặc quần áo may bằng vải thô. 
Sống ở giữa mồ mả, sống dưới cây lớn.
Không di chuyển bằng xe.

Do vậy đã chia rẽ tăng đoàn của Phật Đà, có 500 vị A La Hán (ý chỉ rất rất nhiều tăng nhân) đi theo Đề Bà Đạt Đa, bỏ Phật Đà mà đi, kể từ đó tăng đoàn tan rã.

Đề Bà Đạt Đa đã phạm vào tội phá vỡ sự hòa hợp tăng, rốt cuộc Đề Bà Đạt Đa đã phải xuống địa ngục vô gián.

Tôi cực kì thương tiếc thay khi con người ngày nay thể hiện sự nhạo báng đối với người xuất gia, đối với người xuất gia không đủ tôn trọng. Thậm chí coi người xuất gia như "sâu gạo", chỉ biết ăn không ngồi rồi. 

Phải thừa nhận rằng người xuất gia có người tốt kẻ xấu. Nhưng có thể khoác lên người áo phúc điền, đi trên con đường tu hành thì rốt cục cũng là người thuộc hàng số một! [ND: Áo phúc điền: tu sĩ xuất gia, sống cuộc sống tu hành trong sạch là ruộng phúc đối với dân chúng. Ai cung kính, tôn trọng, cúng dường họ thì sẽ được phúc lớn.]

Nhận định rằng:
Con người thế gian trong ái dục luôn đòi khỏi không giới hạn. Con người chỉ sinh một lần chết một lần, một lần đến một lần đi.

Đời người buồn vui giống như một giấc mộng huyễn, vốn không phải là một trạng thái thường hằng. Con người vì theo đuổi niềm vui thế tục, theo đuổi giấc mơ đẹp, liên tục ở trong sự biến hóa thiện ác, không có cách nào tự giải phóng bản thân.

Đi con đường thế gian, chỉ có luân hồi mà thôi!
Đi con đường xuất thế gian, cắt đứt phiền não, có được vãng sinh.

Vì sao chúng ta không lợi dụng cuộc đời ngắn ngủi này nỗ lực tu thiện, nỗ lực tu hành, nỗ lực thoát khỏi khổ luân. Nếu không làm bây giờ thì còn đợi đến khi nào?


### 44. Không uống thuốc mới có thể tiêu trừ nghiệp chướng


Hỏi:
"Có tông giáo chủ trương khi mắc bệnh không khám bác sĩ, không khám bệnh uống thuốc, phải chịu đựng bệnh khổ mới có thể tiêu trừ nghiệp chướng. Có chuyện như vậy không?"
 
Tôi trả lời:
Tôi lấy một ví dụ:
Có một phụ nữ họ Trương từ lúc trẻ đã một lòng tin Phật, cả đời ăn chay, mặc dù có kết hôn, sau khi sinh con trai con gái xong thì vợ chồng cũng ngủ riêng. 

Bà Trương cho rằng:
Không ở cùng phòng với chồng, từ bỏ dâm niệm, bởi vì tinh trùng là "mặn". Dù ăn mặn một miếng cũng không để bị nhiễm. 

Bà Trương cho rằng đây mới là phạm hạnh thanh tịnh. Bà tu tịnh độ, hàng ngày niệm "Phật thuyết đại thừa vô lượng thọ trang nghiêm thanh tịnh bình đẳng giác kinh".

Niệm Phật đủ năm thời: sáng sớm, mặt trời mọc, chính ngọ, chiều tà, trước khi ngủ.
 
Có một lần bà Trương nhập viện, các bác sĩ cần phẫu thuật truyền máu. Bà Trương cương quyết không thể truyền máu, bà cho rằng máu của người khác là "mặn". Nếu truyền máu thì sẽ là phá giới, cả đời ăn chay coi như uổng công. Bà Trương cùng với bác sĩ và người nhà vì chuyện này mà tranh luận không ngớt.
 
Cuối cùng người nhà đến xin ý kiến tôi. Tôi nói:
"Gây mê cho bà ấy rồi truyền máu. Đợi đến khi bà ấy tỉnh lại thì việc phẫu thuật cũng xong rồi."
Người nhà hỏi:
"Có cần phải nói là đã truyền máu không?"
Tôi trả lời:
"Nói là không truyền máu."
Người nhà hỏi:
"Đây chẳng phải là nói dối sao?"
Tôi đáp:
"Để cứu người thì nói dối không được xem là phạm giới!"
Mọi người có thể từ ví dụ này của tôi để thấy tôi là một người tùy thuận. 

Bà Trương khăng khăng nói tinh trùng là "mặn".
Bà Trương khăng khăng nói máu là "mặn".
Bà Trương khăng khăng nói thịt là "mặn".

Tại đây tôi xin hỏi:
"Trứng là "mặn" hay "chay"? Máu và thịt của người ăn chay thì là mặn hay chay? Hỡi ôi là ăn chay, khi nào thì bà mới biến thành chay vậy?"

Tôi cho rằng:
Tâm làm điều ngay thẳng, thì là chay.
Tâm làm điều tà ác, thì là mặn.

(Tôi chủ trương "tâm chay", còn đối với việc chay mặn biểu hiện ở bên ngoài, tôi không lấy làm quan trọng.)
 
Đối với việc không khám bác sĩ, không uống thuốc không chữa trị bệnh, bạn nghĩ làm như vậy thì bệnh nghiệp mới có thể tiêu trừ được ư?

Biểu hiện bề mặt dường như có vẻ đúng.
Thực tế thì không phải vậy.

Tinh thần tùy thuận của tôi là:
Khám bác sĩ cũng là tiêu trừ nghiệp chướng, uống thuốc cũng tiêu trừ bệnh nghiệp, chẩn trị lại càng tiêu trừ bệnh nghiệp. Khám bác sĩ phải tốn tiền, uống thuốc cũng là khổ, phải chịu chữa trị cũng là khổ, đều là tiêu trừ nghiệp chướng.

Khám bệnh có thể chữa khỏi là vận. (điều may)
Khám bệnh không thể chữa khỏi là mệnh. (số phận)

Đây là tùy thuận, cũng là tiêu trừ nghiệp chướng.
Chúng ta sống trong thế gian phải chịu đủ loại nỗi khổ, tôi cho rằng đi khám bác sĩ cũng là một việc rất đau đớn, không còn cách nào khác mới phải đi, việc này không phải khổ sao?

Khám bác sĩ, tiêm thuốc, uống thuốc, phẫu thuật chính là tiêu trừ nghiệp chướng!
Không khám bác sĩ, không uống thuốc, không tiêm thuốc, không phẫu thuật, hai cái khổ này cũng như nhau thôi.

Tôi cho rằng phải nằm trên giường bệnh trong bệnh viện là khổ nhất. Chính xác là tiêu nghiệp chướng!
Bạn thì nghĩ sao?


### 45. Tà tà tà tà tà


Hỏi:
"Làm sao phân biệt tà giáo? Người nhà tin vào tà giáo thì phải làm sao?"
 
Tôi trả lời:
Trước tiên tôi dựa theo Phật điển để nêu ra:
Tà ngoại - viết tắt của tà ma và ngoại đạo.
Tà dâm - chỉ các hành vi dâm dục ngoài vợ chồng.
Tà phiến - kích động người tin theo tà giáo.
Tà quán - có cái nhìn không công bằng về pháp.
Tà kiến - không hiểu rõ nhân quả, vi phạm tất cả các kiến giải lý luận đúng đắn.
Tà kiến võng - tà kiến nhiều như mắc võng, bị lưới võng giữ lại không dễ giải thoát được.
Tà mệnh - làm những công việc bất chính để kiếm sống.
Tà mệnh thuyết pháp - giảng Phật pháp để mưu sinh.
Tà tính định tụ - xác lập tính xấu, quyết định xấu, tập hợp các quyết định xấu, tụ tập nhóm xấu.
Tà ma ngoại đạo - Tà ám chỉ đạo không chính thống. Chính là người không hiểu rõ Phật pháp, ma ám chỉ ma đạo, người làm phương hại đến Phật pháp. Hễ là người không hiểu rõ Phật pháp, người làm tổn hại Phật pháp, cũng như người hướng tâm ra ngoài cầu pháp, đều được gọi là tà ma ngoại đạo.
 
Tôi lại lấy ví dụ trên thế giới:
Hãy xem Shoko Asahara người sáng lập giáo phái Chân Lý Nhật Bản. Những người sùng bái Chân Lý Giáo đã dùng khí gas độc hại để làm hại những người dân vô tội trên tàu điện ngầm.
Phản nhân tính.
Sát sinh.
Gây tổn hại.
Đây đều là những hành vi không đúng đắn, hễ là những hành vi không đúng thì chính là tà giáo.
 
Lại nói về Nhân Dân Hội Đường ở nước Mỹ. Bọn họ cho rằng tự sát tập thể có thể cùng lên thiên đường.
Tự sát là tự giết Phật tính.
Kích động.
Tư tưởng xấu.
Về cơ bản đây chính là những đặc điểm của tà giáo.
 
Những đặc điểm của tà giáo là:
Cho rằng mình là chính, người khác là tà, lại còn đi hãm hại người dân vô tội. Vi phạm vào ngũ giới của Phật giáo.
Các công việc bất chính là:
Sòng bạc.
Nhà chứa khiêu dâm.
Nghề giết mổ.
Buôn bán ma túy.
…
 
Các công việc kinh doanh bất chính này không nên làm, hành giả chân chính nên tránh xa. 

Tôi thực lòng nói cho mọi người biết, việc phân biệt ma giáo tà giáo là rất dễ.
Hoàn toàn nhập thế, là tà giáo.
Không phát bồ đề tâm, là tà giáo.
Sát sinh, là tà giáo.
Vi phạm các phong tục tốt lành, là tà giáo.
Vi phạm các phép tắc tự nhiên, là tà giáo.
Tâm cầu pháp bên ngoài, là tà giáo.
Nhấn mạnh tự sát là đến được thiên đường, là tà giáo.
Không hiểu rõ nhân quả, là tà giáo.
Phát động giết người, là tà giáo.
Làm pháp hại người, là tà giáo.
Hành vi chung chạ bừa bãi tập thể, là tà giáo.
Lừa đảo, là tà giáo.
Có tính cưỡng ép, là tà giáo.
Lừa tiền, là tà giáo.
 
Tôi nhớ Trung Quốc có một điển cố "Hà bá lấy vợ", nước sông dâng lên thành trận lụt, người dân cho rằng thần sông muốn lấy vợ, phải ném gái đẹp xuống nước sông để trừ tai họa, việc này là do những thầy đồng cốt nghĩ ra.

Người ngu muội tin theo cho rằng là thật, vậy là bèn ném người con gái đẹp xuống sông để ngăn chặn cơn tức giận của thần sông. Đây là việc không hiểu nhân quả. Đây là sát sinh. Đây là vi phạm phong tục tốt đẹp. Đương nhiên chính là tà giáo.
 
Người nhà tin theo tà giáo thì phải làm sao? 
Đưa cho họ đọc đoạn văn này của tôi.


### 46. Tình yêu đồng tính có phải là tà dâm không?


Hỏi:
"Tình yêu đồng tính có phải là tà dâm không? Nhưng chính tôi lại thích đồng tính, vậy phải làm sao?"
 
Tôi trả lời:
Lúc tôi ở Seattle nước Mỹ, có một hôm tôi xem bói hỏi chuyện, một anh chàng đi õng ẹo đến chỗ tôi. Anh chàng này toàn thân mặc một tấm áo khoác đen, quần ống dài đi giày cao gót, tóc gọt cao, mặt thoa phấn, bôi son, lại còn kẻ cả mí mắt, lần đầu gặp mặt tôi cũng thấy sốc.

Sau đó tôi biết anh ta là người đồng tính.

Lúc hỏi chuyện, thỉnh thoảng anh ta còn nháy mắt đưa tình, người ngoáy bên nọ lắc bên kia, giọng nói bẽn lẽn. 
"Vì sao lại như vậy nớ?"
Lúc chia tay, anh ta đưa cho tôi một cái kẹo.
"Lư Sư Tôn! Cho ngài một cái kẹo ăn chơi nè!"
Lúc quay đầu đi còn chần chừ nháy mắt đưa tình tiếp.

Anh ta lấy từ trong túi ra một cái khăn tay, nói tạm biệt, trong phòng lẫn lộn mùi nước hoa, mùi son phấn và mùi mồ hôi hôi nồng.

Tối đó, tôi chẳng thể ăn nổi miếng cơm nào.

Anh chàng đó vốn dĩ là loại "cong". Còn người yêu của anh ta lại là một bác sĩ thuộc loại "thẳng". Cặp đôi này là người đồng tính, có trình độ học vấn cực kì cao, đều tốt nghiệp đại học Havard. Đều là tiến sĩ. 
 
Nếu xét theo giới luật mà Phật Thích Ca Mâu Ni đã định ra, "phi khí" tức là tà dâm.

"Phi khí" nghĩa là gì?
Chính dâm là vợ chồng, nhưng nếu vợ chồng sử dụng "phi khí" thì cũng là tà dâm. 

"Phi khí" là:
Dùng đạo cụ. (Ví dụ dùng dương vật giả, v.v.)
Uống thuốc kích thích. (Thuốc kích dục.)
Dùng miệng lưỡi.
Dùng tay.
Không đúng lỗ. (Đi vào hậu môn.)
v.v.
Tất cả những hành vi trên đều là tà dâm.

Do vậy, trong giới luật của hệ thống Phật giáo thì tình yêu đồng tính chắc chắn xếp vào loại tà dâm.
 
Theo như tôi biết, thời đại của Phật Đà hẳn là chưa có cụm từ "đồng tính luyến ái". Nhưng lịch sử tình dục của Ấn Độ cũng dài như lịch sử của đất nước. Từ thời kì ban đầu ở Ấn Độ rất lâu về trước đã có "Ấn Độ dục kinh" (Kamasutra). 

Cuốn sách "Tây Tạng dục kinh" của vị Lama Tây Tạng Gendün Chöpel đến từ cuốn "Ấn Độ dục kinh".

Thời đại của Phật Đà từ sớm đã có kỹ viện. Trong kinh điển thì nơi gọi là kỹ viện này giống như chốn hưởng lạc, gái bán dâm đã sớm xuất hiện.

Phật Đà vì muốn thuận lợi cho cư sĩ tại gia tu hành nên mới đề xuất ra các điều khoản về "chính dâm". Còn trên thực tế, Phật Đà chủ trương hoàn toàn bỏ dâm dục.
 
Tuy nhiên, trong thời đại đổi mới, có một vài quốc gia đã đồng ý rằng người đồng tính luyến ái kết hôn là hợp pháp. Hôn nhân đồng tính đương nhiên là "phi khí". "Phi khí" đương nhiên là "tà dâm".

Ở đây nếu phải xét giữ theo giới luật của hệ thống Phật giáo thì thực sự là vấn đề khó. 
Tuy nhiên Mật giáo lại không giống như vậy.

Trong tất cả các pháp Mật giáo, quan điểm của Vô Thượng Mật Bộ là tất cả đều là thanh tịnh. Dùng chú ngữ, quán tưởng, thủ ấn, biến hóa thanh tịnh.

Tình yêu đồng tính là:
Quán tưởng, nam biến thành nữ, nữ biến thành nam, cơ quan sinh dục cũng có thể quán tưởng, biến biến hóa hóa, dương vật biến thành chày kim cương, âm vật biến thành hoa sen. 

Niệm chú thanh tịnh. Biến hóa ra thủ ấn "kính ái". Do vậy tình yêu đồng tính trong pháp Song thân của Mật giáo là giống như pháp, chỉ cần hiểu được để ứng dụng.
 
Tuy vậy, Thượng sư Mật giáo hiểu được một cách chân chính pháp Song thân từ lâu đã không có nhiều. (Lư Sư Tôn là cực kì hiếm có rồi!)


### 47. Nghiệp chướng của ăn cá sống ba món


Hỏi:
"Ăn đồ vừa mới giết mổ, ví dụ như ăn cá sống ba món, có phải là nghiệp chướng sẽ càng nặng hơn không?" [ND: Cá sống ba món: người ăn tùy chọn cá còn đang bơi, sau đó nhà hàng sẽ bắt đem chế biến thành ba món ăn.]
 
Tôi trả lời:
Trước tiên tôi lấy một ví dụ để nói rõ:
Trong số các ông tổ của phái mũ trắng Mật tông, có một bức tượng của một vị tổ sư tay trái nắm một con cá sống. Con cá này đương nhiên không phải là vật nuôi của lão tổ sư, mà là cá được nuôi trong trại cá của tổ sư. 

Mỗi ngày vị tổ sư này lấy tay chẻ một con cá ra, rồi ăn luôn ruột của con cá sống. Việc này so với việc ăn cá sống ba món thì còn khủng khiếp hơn nhiều.

Vị tổ sư này tiếng tăm lẫy lừng, là một nhân vật rất quan trọng.
Ngài ăn ruột cá sống (sashimi), rồi liền hà một hơi mạnh, đưa con cá đến Phật quốc tịnh độ. Vị lão tổ sư này có mắc nghiệp chướng không?
 
Tôi lại lấy một ví dụ nữa.
Liên Hoa Sinh đại sĩ tới thành phố giết mổ. Đàn ông ở thành phố này vô cùng hung bạo, nghiệp chướng rất nặng, không thể cứu độ.

Vậy nên Liên sư đến một hang động trong núi lập đàn tu pháp, dùng pháp hàng phục. Đàn ông ở thành phố này lao vào chém giết lẫn nhau, toàn bộ đàn ông đều chết hết. Liên sư liền đem toàn bộ linh hồn của đàn ông ở thành phố giết mổ, lần lượt độ cho từng người một đến Phật quốc tịnh độ.

Đây là Liên sư đã giết người.
Xin hỏi Liên Sinh đại sĩ có mắc nghiệp chướng không?
 
Còn nữa:
Tôi từng đến một nhà hàng ở khu vực gần hồ chứa nước Thạch Môn, bảng hiệu của họ là "Cá sống ba món".
Tôi đã ăn thử rồi!
Những con cá này, tôi dùng pháp lực của mình, dùng pháp siêu độ lên từng con một đưa đến Phật quốc thanh tịnh.
Tôi quán tưởng.
Tôi trì chú.
Tôi hà hơi.
Khi chắc chắn những con cá sống này đã được tiếp dẫn đến tịnh độ Phật quốc rồi, tôi mới xuống đũa ăn cá.
Lư Sư Tôn tôi có mắc nghiệp chướng không?
  
Giới luật của Thích Ca Thánh Giáo là không thể sát sinh, sát sinh là tội nặng số một, hơn nữa nghiệp chướng cũng nặng nhất. Phật Đà đương nhiên là mong muốn người bình thường không sát sinh. 

Nhưng chính vì việc không sát sinh này đã phát triển đến mức Lương Vũ Đế hạ mệnh lệnh, lệnh cho tất cả những người xuất gia, tỳ kheo, tỳ kheo ni, không được ăn mặn, chỉ có thể ăn chay. Đây chính là nguồn gốc dẫn đến việc ăn chay của tăng nhân trong Hiển giáo Trung Quốc.

Còn tỳ kheo, tỳ kheo ni ở các nước Đông Nam Á khác, tăng nhân Tây Tạng, tăng ni Nhật Bản, đều có ăn mặn.
 
Phật giáo nhằm tạo thuận lợi đã đưa ra ba thứ thịt thanh tịnh.
Không nhìn thấy cảnh giết mổ.
Không nghe thấy tiếng giết mổ.
Không tự mình giết.

Ba thứ thịt thanh tịnh này cư sĩ tại gia có thể hưởng thụ được.
 
Phát triển cho đến ngày nay thì:
Người xuất gia theo Hiển giáo vẫn chỉ có thể ăn chay, không có ngoại lệ. 
Trừ Tiểu thừa.
Nhật Bản thì có một số tăng lữ ăn chay, một số ăn mặn.
Cư sĩ tại gia có một số người ăn chay.
Có một số người vào ngày mồng một, ngày rằm hàng tháng mới ăn chay.
Có một số người thì vào ngày đản sinh của Phật mới ăn chay.
Có một số người thì ăn ba thứ thịt thanh tịnh.
Có một số người hoàn toàn không ăn mặn.
(Không phải tất cả.)
 
Tôi cho rằng:
"Cá sống ba món" khả năng nghiệp chướng nặng hơn một chút! Bởi vì là giết ngay tại chỗ, phạm vào tội sát sinh.

Tuy nhiên nếu tu luyện đến công lực thâm sâu rồi thì có thể trong một ý niệm đã có thể đưa cá sống vãng sinh Phật quốc tịnh độ rồi. Hành giả thuộc loại này là ngoại lệ. 

Nếu bạn là một hành giả hoàn toàn bình thường, tôi khuyên bạn không nên ăn cá giết tại chỗ, hãy ăn ba thứ thịt thanh tịnh vậy!


### 48. Đốt tiền vàng mã, nhà giấy, xe giấy có tác dụng gì?


Hỏi:
"Đốt vàng mã, nhà giấy, xe giấy cho người đã chết có tác dụng gì không? Phải đốt bao nhiêu mới là đủ?"
 
Tôi trả lời:
Còn nhớ lúc tôi còn nhỏ, có lần thầy giáo giảng bài có kể một câu chuyện cổ về việc đốt vàng mã. Thầy giáo kể:
Có một nhà buôn giấy, việc buôn bán của ông không tốt, thế là ông bèn nghĩ ra một ý tưởng. 

Đầu tiên ông ta ra lệnh cho vợ giả vờ lâm bệnh. Sau đó mời thầy bói đến nhà để xem bói, thầy bói nói: "Phu nhân có bệnh là do nợ âm phủ một số tiền, cần đốt tiền giấy để đổi lấy vận may, làm như vậy thì bệnh của phu nhân mới khá lên được."

Thế là nhà buôn giấy nghe theo chỉ thị của thầy bói mà sản xuất ra tiền giấy, sau đó chọn ra một ngày để đốt rất nhiều tiền giấy. Mọi người bu xung quanh xem. Sau khi nhà buôn giấy đã đốt hết toàn bộ tiền giấy vàng, vợ ông ta nằm ốm trên giường cả tháng trời lập tức từ trong phòng đột ngột nhảy lên, hoàn toàn hết bệnh.

Mọi người trong làng vô cùng kinh hãi. Hết người này đến người khác mua giấy vàng mã do nhà buôn giấy sản xuất ra đem về đốt, thế là việc buôn bán của nhà buôn giấy thu được món lời lớn. Kể từ đó, việc đốt vàng mã đã trở thành một tập tục dân gian.
 
Đây là câu chuyện do thầy giáo tiểu học của tôi kể lại. Là chuyện thật? Hay là chuyện giả? Cũng đáng để thảo luận.

Sau này lúc tôi mới gặp người phụ nữ mặc áo xanh Lâm Thiên Đại, mỗi lần bà dẫn vong hồn cũng đều đốt tiền vàng mã. Mỗi lần đốt là cả một đống to. Có linh hồn thì đem túi lớn túi nhỏ đến để lấy đi. Có linh hồn thì không lấy được gì bởi vì bị người khác cướp mất. Thế là phải cần ghi rõ tên là để dành cho ai để thần linh bảo vệ, tránh khỏi bị người khác lấy đi mất.
Người phụ nữ mặc áo xanh đốt vàng mã là có thật. 

Cá nhân tôi thấy rằng:
Với Pháp khói cúng trong Mật giáo.
Xếp đặt bột hương, bên trong có một mẩu giấy nhỏ màu đỏ có in hình quần áo, xe, nhà, rồi châm lửa đốt. Sau đó nhờ tu pháp Quan Âm Tứ Thủ để gia trì, bố thí cho tất cả oan thân trái chủ, khiến cho tất cả các oan hồn có được Phật pháp, có được quần áo, nhà ở, xe cộ, có được vàng, bạc, châu, báu, được vui vẻ mà đi.
Cảm ứng của Pháp khói cúng vô cùng thù thắng.
Đây cũng là sự thật.
 
Trên phương diện đốt vàng mã, con người ngày nay càng làm càng tinh xảo.
Nhà giấy.
Tủ lạnh giấy.
Két sắt giấy.
Xe giấy.
Người hầu giấy.
Quần áo giấy.
Vàng bạc châu báu giấy.
Thậm chí máy giặt giấy, ti vi giấy, ghế sofa giấy, đồ đạc bằng giấy, v.v. Tất cả mọi vật dụng cần có đều có.

Cá nhân tôi đưa ra một điểm quan trọng.
Có "tâm" thì có tác dụng, vô "tâm" thì không có tác dụng.

Làm sao mà chẳng biết, đời người là huyễn, âm phủ cũng là huyễn, vốn là hệ quả của "thức", không thể nói là thật, cũng không thể nói là giả, tất cả chỉ là do tâm tạo nên!
 
Cần đốt bao nhiêu?
Tùy tâm mà làm.

Đốt rất nhiều mà không có "tâm" thì cũng vô dụng thôi!
Pháp khói cúng trong Mật giáo chỉ cần một lư hương, từ nhỏ biến thành nhiều, có thêm sự gia trì của Quan Âm Tứ Thủ thì sẽ biến một lần cúng dường nhỏ nhưng được công đức lớn, việc này vô cùng quan trọng.
 
Con người hiện đại chủ trương bảo vệ môi trường, không thể đốt quá nhiều vàng mã để tránh ảnh hưởng đến môi trường. Do vậy sự gia trì của Phật Bồ Tát là vô cùng quan trọng, đồ cúng ít nhưng có thể được viên mãn vượt xa tất cả công đức.

Bạn nghĩ sao?


### 49. Ma hóa thành Phật


Hỏi:
"Có một đồng môn tự xưng là Thượng sư, rộng rãi thu nhận đệ tử Chân Phật Tông. Hắn gây rắc rối khắp nơi như vậy, nghe nói là theo chỉ thị của Phật, Sư Tôn nghĩ thế nào?"
 
Tôi trả lời:
Trước đây đã từng xảy ra chuyện như vậy rồi.
Có một người đệ tử rất tôn kính, tu pháp vô cùng tinh tấn. Có một buổi đêm Phật xuất hiện trong mơ của anh ta.

Phật hiện thân thuyết pháp, truyền dạy chú ngữ, thủ ấn, quán tưởng và các giáo thị đặc biệt khác. Vị Phật này thọ kí cho anh ta "Kiến Mi đồng tử" và còn cho anh mũ Ngũ Phật. Bởi vậy anh tuyên bố:
"Tôi đã khai ngộ rồi!"

Trước tiên anh ta tìm đến Lư Sư Tôn để ấn chứng, tôi nhập tam ma địa quan sát thì thấy rằng đó là "ma hóa thành Phật", đến để quấy phá pháp mạch Chân Phật Tông. Tôi khuyên anh ta nên nhận ra pháp nghĩa để tránh việc thuyết pháp rời xa khỏi chính kiến. Anh ta không tin. 

Anh ta rộng rãi thu nhận người của Chân Phật Tông làm đệ tử, phạm vào Mười bốn đại giới của Mật giáo.
Rốt cục, anh ta bị ma bắt đi!
 
Lư Sư Tôn biết ma hóa thành Phật hoặc ma hóa thành bổn tôn, người bình thường không hiểu pháp nghĩa rất khó phân biệt được thật giả. 

Tôi nhận thấy:
Thậm chí là đại tu hành giả cũng rất khó phân biệt được có phải là ma không? Hay là Phật? Phần lớn những người này xuất hiện là ma biến thành chướng ngại cản trở việc hoằng dương thánh đạo, cố ý làm cho một số người tự thấy mình có thần thông, tự tin rằng mình là người đã khai ngộ, làm loạn pháp mạch.
 
Những người này rất dễ nhận thấy là:
Tự lập ra truyền thừa. (Truyền thừa không thật)
Tự xưng là Thượng sư.
Bóp méo pháp nghĩa.
Bắt chước bên này bắt chước bên kia.
Rộng rãi thu nhận đồng môn. (Phạm vào mười bốn đại giới)
Vọng truyền Phật pháp. (Ma pháp)
Luôn nghĩ rằng bản thân mình tu hành nhanh nhất. (Dễ cảm ứng nhất)
  
Mật giáo tu học Phật pháp, từ lúc mới phát tâm đế khi chứng quả, mỗi người đều sẽ gặp rất nhiều chướng ngại. Nếu như không phát tâm đúng đắn, cùng với người thông đạt Phật pháp, rất dễ đi vào ma chướng.

Bài thử nghiệm lợi hại nhất là:
Ma hiện thân Phật.
Ma hiện bổn tôn.
Ma này một khi xuất hiện thì sẽ đưa ra những kiến giải không đúng đắn, thường nghĩ cách để tuyển thêm đệ tử, dẫn dắt người khác đi vào con đường sai lầm.

Nói chú ngữ vô nghĩa.
Nói pháp nghĩa vô nghĩa.
Nói tu pháp vô nghĩa.
Nói thọ kí vô nghĩa.
Nói khai ngộ vô nghĩa.

Hơn nữa những người này vẫn luôn cho rằng mình là tu hành chân chính! Trên thực tế là đã đảo lộn chính pháp.
 
Truyền thừa Thượng sư của tôi đã nói:
Phải phân biệt Phật và ma thì quan trọng nhất là đi sâu vào pháp nghĩa, phải có lý giải rất sâu sắc đối với kinh Phật, với các bộ kinh sau đây: "Hiện quán trang nghiêm luận", "Nhập trung luận", "Thích lượng luận", "Câu xá luận", "Giới kinh". Phải có cái nhìn "trung quán".

Phải có sự hướng dẫn của truyền thừa Thượng sư chân chính.

Đây chính là:
Pháp nghĩa.
Trung quán.
Truyền thừa Thượng sư.
Mới có thể phân biệt được là Phật hay là ma.
 
(Nghiệp chướng con người thế gian rất nặng, si mê vô trí, không những không nghiên cứu kĩ càng giáo lý của Hiển Mật kinh thư, lại còn phá vỡ lung tung giới nguyện samaya, giới luật đều không giữ gìn bảo vệ. Nhìn thấy huyễn cảnh cho rằng là Phật, cho rằng đã thành tựu. Do vậy tự xưng mình là Thượng sư, rộng rãi thu nhận đồng môn làm đệ tử, đây là ma nạn lớn nhất.)

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/225-than-toan-sieu-chuan.md
# Title: 225. Thần toán siêu chuẩn
---

![image](/img/img_5c057566a4bbd0efe2f1bf904ca124d0.jpg)



## Thần toán siêu chuẩn


Văn tập số: 225
Xuất bản: 10/12/2011
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu


Trước khi bắt đầu cuốn sách, tôi muốn nói với độc giả một bí mật lớn, bí mật này là: 
Khi sóng não của con người chúng ta có thể kết nối với thần minh cũng tức là đã liên kết với vũ trụ, đương nhiên sẽ có thần thông.

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn là một người tu hành, 40 năm nay tôi tu Phật pháp, dồn hết mọi sức lực cả cuộc đời vào trong Phật pháp, nghiên cứu những nguyên lí của phương diện này, nghiên cứu đã thông đến đỉnh.
Tôi đã hiểu cái gốc của sinh mệnh.
Minh tâm.
Kiến tính.
Chân như, bồ đề, niết bàn, tất cả đã hiểu rõ trong tâm.
Tôi nói: Đương nhiên tôi biết bộ máy thế gian này, mỗi một phút, mỗi một giây đều đang trong sự biến hóa, nếu như chúng ta có thể nắm chắc được sự biến hóa này, nắm chắc được phép tắc, nắm chắc được quy luật, thì đây chính là “tạo hóa thông”. 
Ví dụ:
Ban ngày trôi qua, ban đêm sẽ đến.
Ban đêm trôi qua, ban ngày sẽ đến.
Sự tuần hoàn của xuân, hạ, thu, đông cũng có thứ tự.
Mặt trời, mặt trăng mọc và lặn, tất cả toàn bộ đều có đạo lí tuần hoàn của nó.

Đối với nhân loại chúng ta mà nói thì: sinh ra, đi học, đi làm, kết hôn, sinh con, già, bệnh, chết.
Căn bản chính là một cái lẽ của sự tuần hoàn.
Những cái lẽ tuần hoàn này từ từ biến đổi, cũng có đột ngột biến đổi, nhưng đột ngột biến đổi, quan sát một cách nghiêm túc cũng là từ dần dần biến đổi mà ra.
Ý tôi muốn nói rằng: vũ trụ vạn vật việc người trong trời đất đều có một quy luật, là biến đổi, trên dưới tương giao, biến hóa lẫn nhau, tinh thần, vật lí, sinh lí đều là sự biến hóa lẫn nhau. Dùng danh từ hiện đại thì gọi là logic học. Đối với người đời bình thường thì họ cho rằng:
Thần toán là mê tín!
”Không hỏi muôn dân lại hỏi quỷ thần!”
Có những con người “răng sắt” không tin số mệnh. [Răng sắt: cách người Đài Loan gọi những người không tin các khía cạnh tâm linh]. Loại người này [cũng vẫn ở trong nghiệp số], trừ Phật Đà và những đại tu hành giả bởi vì duy có Phật Đà và đại tu hành giả có thể thay đổi vận mệnh ra, đông đảo chúng sinh thiên hạ không ai là không ở trong nghiệp số.

Người tu hành chúng ta:
”Quân tử dựa vào sự cố gắng không ngừng.”
”Cẩu nhật tân, nhật nhật tân, hựu nhật tân.” [Tục ngữ, dịch nghĩa là ngày một mới, mỗi ngày mới, ngày ngày mới, ý nói ý chí không ngừng để tiến lên làm mới chính mình.]
”Học lập mệnh.”
Để phá trừ nghiệp số và thành tựu cảnh giới cao hơn con người.

Đương nhiên, chúng ta cũng tri mệnh, hóa mệnh, thắng mệnh, lập mệnh mà thành tựu trở thành tôn giả đại giác ngộ.
Tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) chỉ cần tập trung tinh thần, thân tâm hoàn toàn buông bỏ,  tự nhiên thần thông sáng tỏ, ánh sáng chiếu khắp toàn thân, cũng có thể đạt đến cảnh giới thần thông biết trời, biết đất, biết người, cũng có thể biết mọi thứ, trời đất vũ trụ đều nằm trong lòng bàn tay tôi.

Cho nên thần toán của tôi không phải là mê tín, không phải là quỷ thần, mà là Phật tính chiếu khắp nơi.
Tôi dám nói thần toán của tôi siêu chuẩn! Độc giả chỉ cần đọc tiếp sẽ biết thôi! 
Là trí tín.
Không phải mê tín.

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Dùng chú lực cứu một mạng người


Vương Khải Trọng là một yogi tu hành, anh thường xuyên đi lại giữa Ấn Độ, Nepal và Tây Tạng. Anh được một Hoạt Phật của Hồng giáo nhận định là chuyển thế của Milarepa, từ rất sớm đã được cho phép làm Thượng sư rồi.

Vương Khải Trọng quy y tôi từ rất sớm, sau này anh đi lại khắp thế giới, đi khắp nơi thuyết pháp độ người. Anh để tóc dài. Cả người mặc đồ trắng. Anh đem thân, khẩu, ý toàn bộ cúng dường Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, tôi tặng cho anh một chiếc long bào tôi đã mặc qua.

Ngày 24 tháng 8 năm 2011. 
Tại Lôi Tạng Tự ở thành phố Seattle bang Washington nước Mĩ, Vương Khải Trọng và tôi gặp mặt nhau. Anh ấy kể rằng:
Anh có một cô bạn gái người Pháp, là người da trắng, bố mẹ của bạn gái đến Trung Quốc Đại Lục du lịch đã gặp tai nạn giao thông lớn. Mẹ của bạn gái bị thương tích rất nghiêm trọng, đưa vào bệnh viện, chỉ số hôn mê cực kì thấp. 
Bệnh viện nhận định rằng không còn dấu vết của sự sống nữa. 
Bác sĩ nhận định rằng đã chết rồi. 
Người nhà của bạn gái đau đớn khóc than.

Vương Khải Trọng trì Căn bản Thượng sư tâm chú không ngừng nghỉ: “Om guru liansheng siddhi hum.” Ba ngày ba đêm. 
Vương Khải Trọng nhìn thấy Sư Tôn đến, khẽ mỉm cười với anh, thế rồi Sư Tôn phóng quang gia trì cho mẹ của bạn gái, hai tay phóng ra ánh sáng vô cùng thanh khiết, sức mạnh gia trì cực kì mạnh.

Vương Khải Trọng nói với bạn gái:
”Được cứu rồi! Lư Sư Tôn đến rồi!”
Bạn gái nói:
”Không thể nào, tất cả bác sĩ trong bệnh viện đều đã từ bỏ rồi.”
Vương Khải Trọng tràn đầy niềm tin. Anh thật sự đã nhìn thấy Lư Sư Tôn mỉm cười với anh, hơn nữa hai tay Sư Tôn còn phóng quang đại gia trì. Anh cho rằng nhất định là được cứu!

Kết quả:
Kì tích đã xảy ra rồi, mẹ của bạn gái bất ngờ mở mắt, đã sống lại, bác sĩ trong bệnh viện đều không dám tin!
Nước Pháp đã phái chuyên cơ đưa mẹ của bạn gái trở về nước tiếp tục điều trị cho đến khi phục hồi, người nhà bạn gái đều quy y Chân Phật Tông.

🌟

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người, tôi là người giao tiếp được với trời đất, âm dương. 
Tôi là người có thần thông. Tâm chú của tôi “Om guru liansheng siddhi hum” chính là lời hiệu triệu của một danh chú. Có thể “ngưng thần nhập thiên tâm” để kêu gọi tôi, tôi tất nhiên sẽ ”chấn lai thọ phù”, đây chính là bí quyết.

Vương Khải Trọng ba ngày ba đêm không ngủ không nghỉ kêu gọi tôi, là “ngoại tức chư duyên, nội tâm vô đoan, tâm như tường bích, khả dĩ nhập đạo”. [Bài kệ của Bồ Đề Đạt Ma, ý nghĩa là: ngoài dứt mọi duyên, trong không trói buộc, tâm như tường vách, có thể nhập đạo.] Ngưng thần [tập trung tinh thần cao độ] ở đây rất lợi hại, anh ấy đã khiến tâm của Lư Sư Tôn xúc động, Lư Sư Tôn dùng “hóa thân bên ngoài thân”để đến gia trì!

Thế là:
Mẹ của bạn gái, nét hào thứ nhất của sáu hào bắt đầu động, “nhất dương sơ động, vạn vật lai sinh”, đây là bước công phu đầu tiên từ chết biến thành sống. 

Trong bài viết ngắn này, mọi người cho rằng không có liên quan gì đến thần toán, thật ra đây là một hiện tượng thần thông.
Vương Khải Trọng vì sao nhận định mẹ của bạn gái có thể sống? Bởi vì anh ấy nhìn thấy hóa thân bên ngoài thân của Lư Sư Tôn đến gia trì rồi, bởi vì nhìn thấy cho nên chắc chắn có thể sống.
Tôi có thể thấy tất cả dị tướng. Cho nên có thể thần toán siêu chuẩn!


### 02. Cậu bé tám tuổi cưỡi hoa sen


Ở bang New Jersey nước Mĩ có một người là ông Cao Bỉnh Kiệt, đứa con trai tám tuổi của ông mắc một căn bệnh rồi không may qua đời. Được người ta giới thiệu, ông đã đến Kim Cang Lôi Tạng Tự ở New York thỉnh Liên Giả Kim cương Thượng sư làm lễ tụng kinh tang sự. Đó là sự việc xảy ra vào tháng 3 năm 2011.

Đến ngày thứ hai mươi mốt, trong khi tiến hành tụng kinh, ông Cao Bỉnh Kiệt trong lúc mơ hồ đã nhìn thấy dị tướng:
Liên Sinh Hoạt Phật cưỡi tòa hoa sen trắng lớn bay đến, bên tay phải là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, bên tay trái là Bạch Y Quan Thế Âm Bồ Tát. Liên Sinh Hoạt Phật Lư Sư Tôn thả ra một bông hoa sen nhỏ màu đỏ để tiếp dẫn cậu bé tám tuổi ngồi trên hoa sen đỏ này từ từ bay lên.

Lư Sư Tôn nói với Cao Bỉnh Kiệt:
”Nhớ nhé, anh Kiệt! Ngày 26 tháng 8 năm 2011 anh phải đến Seattle Lôi Tạng Tự!”
Điều Cao Bỉnh Kiệt nhìn thấy rất thần kì, ông ấy hoàn toàn không có tín ngưỡng, không biết Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, chỉ cảm thấy tướng mạo ngài rất phẫn nộ.
Lư Sư Tôn thì anh mới chỉ nhìn ảnh một lần.
Vợ chồng Cao Bỉnh Kiệt hỏi Thượng sư Liên Giả: 
”Ngày 26 tháng 8 đến Seattle có thể gặp được Lư Sư Tôn không?”
Thượng sư Liên Giả đáp:
”Không dám khẳng định.”
(Bởi vì khi ấy tôi đang ở Đài Loan, thời gian trở về Mĩ còn chưa xác định, nên không ai nói chắc được là tôi nhất định sẽ trở về Mĩ.)

🌟

Ngày 26/8/2011, tôi đã gặp vợ chồng Cao Bỉnh Kiệt, họ cảm ơn tôi đã tiếp dẫn cho đứa con trai tám tuổi đến tịnh thổ Ma Ha Song Liên Trì.
Lư Sư Tôn cưỡi hoa sen trắng.
Đứa bé tám tuổi cưỡi hoa sen nhỏ màu đỏ.
Hết sức rõ ràng.
Cái “siêu chuẩn” chính là đến vào ngày 26/8, một ngày sau, tức là ngày 27/8 là pháp hội tại Seattle Lôi Tạng Tự, là đại pháp hội Đại Phạm Thiên Vương, họ có thể tham gia. 
Chuẩn không?
Quá chuẩn!

🌟

Trong bài viết ngắn này, tôi nói với mọi người, đây lại là một minh chứng của hóa thân bên ngoài thân.
Cái gọi là nhìn thấy, người tu hành khi ngồi thiền tập trung tinh thần đều có xuất hiện cảnh giới này. Còn người bình thường, con người phổ thông cũng có thể có hiện tượng này, ông Cao Bỉnh Kiệt ngồi ở đó nghe pháp sư tụng kinh, nhất thời rơi vào trạng thái hôn trầm, chưa hoàn toàn là ngủ hẳn, nói là ngủ gật nhưng căn bản không phải, ông ấy vẫn nghe thấy tiếng tụng kinh, cũng biết người ta đang đi lại, chính là vào cái lúc “hỗn độn” ấy. 

Khi con người tỉnh táo hẳn thì suy tưởng không dừng lại, đây mới là tán loạn. Vào lúc này, bạn muốn nhìn thấy thì rất khó. 
Khi một người không tán loạn, cũng không nghĩ lung tung, chính vào lúc hôn trầm ấy, có một chút mơ mơ màng màng, lúc này gọi là “hỗn độn”, trong sự “hỗn độn” thì rất dễ nhìn thấy dị tướng, lúc này chính là lúc âm dương giao nhau.

Điều ông Cao Bỉnh Kiệt nhìn thấy và nghe thấy chính là vào lúc này.
Lư Sư Tôn thả ra bông hoa sen đỏ nhỏ, đưa cậu bé tám tuổi từ từ bay lên Ma Ha Song Liên Trì. 
Lư Sư Tôn còn dặn Cao Bỉnh Kiệt:
”Ngày 26/8 phải đến Seattle đấy!”
Quá chuẩn!
Bởi vì ngày 27/8 có đại pháp hội. 

Tôi thật lòng thật sự nói với các thánh đệ tử, thánh đệ tử muốn nhìn thấy tôi, thật sự rất đơn giản, chỉ cần ngưng thần, tâm không tán loạn, cũng không được ngủ gật, trong lúc “hỗn độn”, hoặc trong lúc đang thiền định, chắc chắn có thể nhìn thấy hóa thân bên ngoài thân của tôi.
Cảnh giới này là bất khả tư nghì!


### 03. Cơn bão Nanmadol


Năm 2011, tôi liên tục ở Đài Loan, trong thời gian ở tại Đài Loan tổng cộng có hơn mười cơn bão đã hình thành. Thế nhưng, mỗi khi bão thổi đến vùng phụ cận của Đài Loan thì lại chệch lên phía bắc, thổi qua Nhật Bản, hoặc thổi chệch xuống phía nam đến đảo Hải Nam. Mười mấy cơn bão đều không đổ bộ vào Đài Loan. 

Ngày 23 tháng 8 năm 2011, tôi rời Đài Loan trở về Seattle nước Mĩ. Trước khi trở về, tôi nói với người ta:
”Lần này tôi về, chân trước vừa đi thì chân sau bão sẽ đến đấy!”
Người kia nói với tôi:
”Sư Tôn, đừng đi!”
Tôi nói:
”Mặc dù anh có lòng từ bi, nhưng số trời là như vậy, tôi rời khỏi Đài Loan rồi là bão sẽ đổ bộ vào Đài Loan đó!”
Người đó nói:
“Sư Tôn, cầu xin thầy đó!”
Tôi nói:
”Khổ ghê! Tôi cũng đành chịu thôi!”

Ngày 27 tháng 8 năm 2011, cơn bão Nanmadol thật sự đã đổ bộ vào Đài Loan. 
(Cơn bão Nanmadol đã gây ngập lụt lớn ở Bình Đông.)
Là sự thật! 
Cách ngày tôi trở về Mĩ chỉ có bốn ngày. 
Thượng sư Liên Hương nói:
”Ông thật kì quái! Lời ông nói nhất nhất đều thành hiện thực, chân trước ông vừa rời khỏi Đài Loan thì chân sau bão Nanmadol đã đổ bộ Đài Loan rồi. Chuyện này là thế nào?”
Tôi đáp:
”Tôi cũng không biết!”

🌟

Tôi nói:
Ngày xưa, khoảng năm 2000, tôi ẩn cư tại Đài Loan trong thời gian ba năm rưỡi, trong ba năm rưỡi này, nói ra thì cũng kì lạ, mỗi năm đều có rất nhiều cơn bão hình thành, nhưng ba năm rưỡi này tôi ẩn cư tại Đài Loan, cho dù chỉ một cơn bão cũng không đổ bộ. Tất cả đều chuyển hướng. (Khoảng 60 cơn bão đã hình thành.) Quái lạ!
Chuyện này là sao?
Lẽ nào Lư Sư Tôn thật sự có thể chặn bão sao?
Vì sao? Vì sao? Vì sao?
Đệ tử Chân Phật Tông nói:
”Siêu chuẩn!”
Thượng sư Liên Hương nói:
”Siêu chuẩn!”

🌟

Có một câu là Phật nói với tôi:
”Liên Sinh sống không uổng phí, trên coi trời, dưới coi đất.”
Câu nói này tương tự như là “ngửa mặt có thể xem thiên văn, cúi xuống có thể xem địa lí”. 

Tôi tu hành cho đến nay, có thể xem thiên tướng, có thể biết vận thế của quốc gia, có thể biết nhân văn địa lí, kì thực đây chính là “dịch”, “dịch” tức là sự biến hóa của nhật nguyệt.
Tôi nói để mọi người biết:
Trời luôn luôn biến động, một năm có mười hai tháng, mỗi tháng có ba mươi ngày, mỗi ngày có mười hai giờ [cách tính giờ thời xưa], mỗi giờ có sáu mươi phút, mỗi phút có bao nhiêu giây, đây là một quy tắc. 

Còn con người thì sao? Con người là một tiểu thiên địa, tim đập bao nhiêu lần, huyết áp cao thấp bao nhiêu, đường huyết cao thấp bao nhiêu, thị lực bao nhiêu, hít thở bao nhiêu lần, cholesterol bao nhiêu… vân vân và vân vân, đều có một quy tắc nhất định.

Trời là như vậy, con người cũng như thế, nếu bạn có thể thu vào bên trong, quan sát sự biến hóa của trời, sự biến hóa của con người, lí giải được quy tắc biến hóa của nó thì tự nhiên có thể biết trời, biết người, đây chính là:
”Châu lưu lục hư, biến động bất cư.” [Lời trong Kinh Dịch của Đạo gia, chỉ âm dương sáu lần biến đổi trên bầu trời tạo thành các hiện tượng, luôn luôn thay đổi.]
Tôi có thể thần toán siêu chuẩn, không gì khác, chỉ là quan sát khí, sắc mà thôi!


### 04. Dạy bạn ngủ ra sao


Tôi viết tiêu đề này, ai ai cũng nhao lên, ngủ thì ai mà chẳng biết chứ? Nằm xuống là ngủ thôi, ngủ đẫy rồi thì tự nhiên tỉnh dậy!

Thế nhưng tôi hỏi:
”Xin hỏi bạn ngủ như thế nào? Xin hỏi bạn tỉnh dậy như thế nào?”
Thế là bạn sẽ nghẹn họng nhìn trân trối. 

Tôi nói để mọi người biết:
Mặt trời mọc lặn — so sánh với sự vượng suy của tinh thần.
Trăng tròn khuyết — so sánh với sự thịnh suy của khí huyết.
Một con người, khi tinh thần vượng, khí huyết thịnh, thì rất tỉnh táo.
Một con người, khi tinh thần suy, khí huyết suy, thì luôn buồn ngủ thèm ngủ. 

Ngủ rất quan trọng, ngủ là để “sạc pin”, ngủ là một dạng tuần hoàn, giống như mặt trời mọc, mặt trời lặn, trăng tròn, trăng khuyết.
Nguyên nhân tôi nói như vậy là vì nếu bạn làm nó đảo lộn, hoặc làm sai lệch, hoặc là ban ngày tinh thần suy, ban đêm tinh thần vượng, bạn sẽ không ngủ được, tất cả bệnh tật đều sẽ sinh ra. 
Giấc ngủ là một tri thức lớn, căn bản là vấn đề của “hỏa hầu”. [Từ “hỏa hầu” mang rất nhiều nghĩa, có thể là sức lửa, trình độ điêu luyện, đúng thời khắc…]
Khi nào là đại hỏa?
Khi nào là trung hỏa?
Khi nào là tiểu hỏa?
Khi nào là tức hỏa? [Tắt lửa]
Hoàn toàn dựa vào chính mình định đoạt, tự mình điều chỉnh việc ngủ của mình.

🌟

Tại California có một sinh viên 18 tuổi, họ Lưu, tên Li, buổi tối cô ấy không ngủ được.
Bố mẹ của cô rất lo lắng, đi khắp nơi tìm danh y để chữa trị, không ngờ chữa thế nào cũng không khỏi. 

Lưu Li vì không ngủ được mà thân thể gầy gò như cây khô, vô cùng đáng sợ, toàn thân như một cái bánh nướng, tinh thần đã rất suy kiệt, nhưng vẫn không thể ngủ được, cứ ở trong vọng tưởng đảo điên.
Bác sĩ nói với bố mẹ của Lưu Li:
”Anh chị nhìn xem, trong ba người đang đi trên đường sẽ có một người bị mất ngủ!”
Bố mẹ của Lưu Li sửng sốt. 
Uống thuốc tiêm thuốc, đủ mọi phương pháp đã thử qua rồi, vẫn không ngủ được.

6 năm trước, bố mẹ Lưu Li tìm đến tôi, tôi vừa gặp Lưu Li thì thấy “não hỏa” của cô ấy căn bản là không tắt thì làm sao mà ngủ đây?
Thế là tôi dùng cách gia trì để đại hỏa của cô ấy biến thành tiểu hỏa. Rồi lại dùng pháp phù để làm tắt luôn tiểu hỏa.
Lúc này Lưu Li vừa gối đầu xuống là đã ngủ ngay rồi!
Rồi tôi lại dùng hai tay vỗ vào lưng cô ấy để điều chỉnh lại sóng não của cô ấy trở về bình thường.

6 năm sau, vào ngày 28 tháng 8 năm 2011, mẹ của Lưu Li đến tham gia pháp hội Hộ Ma tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, là hỏa cúng Đại Luân Kim Cang.
Bà ấy vui mừng kể với tôi:
”Lưu Li đã khỏi hẳn rồi! Nó đã là sinh viên năm bốn rồi, rất khỏe mạnh, thật là cảm ơn ngài, Lư Sư Tôn!”
Tôi nói:
”Tôi đã thần toán nói cho bà biết là nhất định sẽ khỏi, đúng không?”
Bà ấy đáp:
”Quá chuẩn!”

🌟

Tôi muốn nói với mọi người:
Thần toán không phải là mê tín, mà là một dạng tín ngưỡng của lí trí. Trong văn hóa Trung Quốc có rất nhiều thứ quý giá, đừng cho rằng những liệu pháp dân tộc toàn là tư tưởng tôn giáo mê tín, cho rằng là việc rất mất mặt.

Thần thông cũng không nhất định là mê tín, nó có đạo lí của nó tồn tại, hiểu được đạo lí chính xác là trí tín, không hiểu đạo lí thì mới là mê tín. 

Tôi nghiên cứu Phật học, biết pháp tu hành, đây là cái tâm của trời đất, không có gì là không tương ứng. 
Hi vọng mọi người đừng trách tôi mê tín mới phải!


### 05. Nghe nói anh muốn rút khỏi Chân Phật Tông


Ngày 27 tháng 8 năm 2011, tôi truyền thụ pháp Đại Phạm Thiên Vương tôn quý, có bốn đồng môn từ phương xa đến tham gia, họ ở tại cùng một khách sạn trong cùng một phòng, họ trò chuyện với nhau.
A nói: “Tôi nghe nói có một đồng môn rút khỏi Chân Phật Tông.”
B hỏi: “Thật không?”
C nói: “Thật.”
D nói: “Tôi cũng muốn rút.”
A hỏi: “Vì sao?”
D nói: “Lư Sư Tôn không coi trọng tôi, tôi đã nghiền ngẫm mấy công án, Lư Sư Tôn đều nói không đúng, tôi thật sự rất chán nản, không muốn tham giải công án nữa, tôi muốn rút.”
Mọi người im lặng.

Buổi sáng ngày hôm sau, tôi gặp bốn đồng môn này ở Seattle. Tôi nói với D:
”Nghe nói anh muốn rút khỏi Chân Phật Tông?”
D giật thót mình, nói: 
”Lư Sư Tôn, sao thầy biết?”
Tôi đáp:
”Tối qua, tôi đã nghe bốn người nói chuyện.”
”Sư Tôn, thầy ở chỗ nào?”
Tôi đáp:
”Tôi đang ngủ.”
Tôi lại nói:
”Nghiền ngẫm công án, giải công án để minh tâm thật sự không phải là việc dễ, Phật nói là vô cùng khó, bản thân tôi cũng đã tốn thời gian mấy chục năm mới đạt đến sự tuyệt đối vô thủy vô chung, không phải là điều mà thế nhân có thể tưởng tượng được, anh nên tiếp tục tiến lên mới phải.”
Tôi nói xong thì bỏ đi.
Họ nói:
”Quá chuẩn!”

🌟

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người:
Có một khoảng thời gian, mỗi ngày tôi đều rất muốn ngủ, buổi tối cũng ngủ, buổi sáng cũng ngủ, buổi chiều lại ngủ, đến giờ đi ngủ buổi tối tôi lại ngủ…
Tôi nói:
”Tôi thật sự quá ham ngủ rồi!”
Đồng môn nói:
”Người tu hành phải tinh thần phấn chấn mới đúng, sao mà Lư Sư Tôn từ sáng đến tối đều ngủ vậy?”
Ấy! Làm sao họ biết được giấc ngủ của tôi không giống với thói ham ngủ của người bình thường. 
Tôi không phải là ngủ bình thường, tôi là âm cực rồi sau đó là dương sinh, cái này gọi là “âm cực nhất dương sinh”. 

Việc ngủ của tôi là “dụng công”, là tu luyện, tôi không phải là ngủ thật sự. 
Tôi thần hành khắp thế giới, hai mươi tám cõi trời, Phật quốc, sát thổ, tôi cũng có thể đi gặp các đệ tử.
Ban ngày, tôi thuyết pháp.
Ban đêm, tôi đến Đô Sử Thiên nghe Di Lặc Bồ Tát thuyết pháp.
Khi ngủ, là âm cực dương sinh, dương cực âm sinh, muốn ngủ thì ngủ, công phu ngủ đã tu thành rồi thì sẽ có lợi ích lớn.

Tôi nói:
Đệ tử như nước chảy, đây cũng là hiện tượng tự nhiên, tôi không cho là họ ngang ngược. Có duyên thì tụ, vô duyên thì tan, không miễn cưỡng một chút nào, đạo trời tự nhiên, không phải thế sao?
Tôi thường xuyên có thể nói ra những lời trong lòng đệ tử, khiến đệ tử thốt lên:
”Siêu chuẩn!”
Kì thực bạn nghĩ cái gì? Tôi biết. Chỉ là lời vô ích thì tôi không nói ra mà thôi.


### 06. Cảm ứng liên miên


Tại đây, trước hết tôi công bố một bức thư:

*Sư Tôn kính yêu, con chào thầy!
Lần này đến Seattle, đúng là cảm thấy thù thắng vô cùng, nghìn lời cũng khó có thể biểu đạt được sự cảm kích trong lòng con!*

*Cảm nghĩ về sự biến hóa của cuộc đời trong sáu tháng vừa qua thật khiến người ta khó mà tin được, chúng con từ lúc chưa từng bao giờ có tín ngưỡng tôn giáo cho đến lúc có bao nhiêu cảm ứng và quy y Sư Tôn. Nhiều điều kì lạ đã được trình bày chi tiết trong cuộc phỏng vấn với pháp sư Liên Dục. *

*Vì đứa con trai rất lanh lợi khiến cho người làm cha mẹ chúng con cứ tham chấp vào việc làm sao nó chỉ sống được tám năm cuộc đời ngắn ngủi? Rốt cục kiếp trước đã có nhân duyên gì gây nên sự gặp gỡ ngắn ngủi này, đời tương lai rồi sẽ ra sao? Hi vọng Sư Tôn từ bi có thể giải đáp nỗi hoài nghi trong lòng của vợ chồng đệ tử.*

*Cầu mong Sư Tôn thường trú thế gian, vĩnh chuyển pháp luân, không nhập niết bàn. 
Đệ tử Bỉnh Kiệt, Kiến Linh.
29/8/2011.*

🌟

Ở chương trước, “cậu bé tám tuổi cưỡi hoa sen” mà tôi viết chính là điều mà Cao Bỉnh Kiệt nhìn thấy.
Vợ chồng họ ở Seattle Lôi Tạng Tự vẫn có những cảm ứng liên miên, khiến vợ chồng họ không thể không tin.

Liên quan đến nhân duyên qua đời của đứa con trai tám tuổi của họ thì như sau:
Trong đời quá khứ, vợ chồng Cao Bỉnh Kiệt đã quy y một vị Kim cương Thượng sư có tu hành chứng ngộ, họ phát nguyện sẽ cúng dường Kim cương Thượng sư cho đến khi già. Thế nhưng nguyện vọng này họ chỉ làm có tám năm, vì những yếu tố khác mà họ không còn làm nữa. 

Vào kiếp này, vị Kim cương Thượng sư đã đắc chứng chuyển thế đến nhà của Cao Bỉnh Kiệt, trở thành đứa con trai mà vợ chồng họ hết sức thương yêu, nhận sự nuôi dưỡng của vợ chồng họ trong tám năm, sau đó lại trở về thiên giới. 
Đây chính là nhân duyên “tám năm thọ cúng”.

Cậu bé tám tuổi đã hiển hóa biến hóa thân của Kim cương Thượng sư để cho vợ chồng họ nhìn thấy, độ cho vợ chồng họ mở ra cánh cửa tu hành lại từ đầu. Đứa con trai tám tuổi cũng hiện thân cải trang của Kim cương Thượng sư, ngồi trên hoa sen đỏ, để cho họ nhìn thấy. 
Thật sự là:
”Quá chuẩn!”

🌟

Tôi nói với mọi người, điều mà ông Cao Bỉnh Kiệt nhìn thấy rốt cục là thế nào? Sự nhìn thấy này thật sự rất khó giải thích, nó vốn là điều nhìn không thấy sờ không được, vô hình vô tướng, đây chính là “nguyên thần mù khó thấy”, vốn dĩ cũng không phải là linh hồn, cũng không phải là vật chất.

Đại thành tựu giả tu hành chính là như trong hai câu nói của Phật Thích Ca Mâu Ni:
Một là, tâm tinh biến viên. [Tạm dịch: tinh túy của tâm ở khắp nơi.]
Hai là, hàm khỏa thập phương. [Tạm dịch: kín đáo bao bọc khắp mười phương.]
Tức là ở đâu cũng đều có, có thể thu về có thể thả ra.

Xuất hiện cảnh giới thần toán, xuất hiện cảnh giới nhìn thấy, hoàn toàn là khi “đường cảm ứng giao nhau”. Cái gọi là “chiêm hậu định cát hung” [Tạm dịch: khả năng chiêm bói xác định được lành dữ], trọng điểm nằm ở chữ “hậu” này. “Hậu” chính là công phu, “hậu” chính là pháp lực, “hậu” chính là cảnh giới, “hậu” chính là tu luyện, “hậu” cũng là cơ duyên. (dấu hiệu)

Điều mà Cao Bỉnh Kiệt nhìn thấy là sự kiến lập trên nền tảng cơ duyên, cho nên mới là cảm ứng liên miên. 
Còn cảm ứng của tôi là: 
”Tâm tinh biến viên.”
Là công phu đã đến trình độ cao nhất. 


### 07. Sài Trạch Dân quy tiên


Gần đây, tôi đã gặp lại một đệ tử mà rất lâu không gặp, đó là bà Lâm Huệ Chân. 
Vừa gặp tôi, bà ấy đã bật ngón tay cái và nói:
”Quá chuẩn!”
”Cái gì quá chuẩn?” - Tôi nhất thời không nghĩ ra.
Bà ấy nói:
”Thầy thần toán cho đại sứ Sài - Sài Trạch Dân đúng là vô cùng thần kì, quá chuẩn.”
”Ồ!” - Tôi đã nhớ ra rồi.

Năm ấy, tại thành phố Seattle bang Washington nước Mĩ, nhà hàng Hựu Nhất Xuân xuất hiện một vị khách quý rất thần bí. Vị khách quý này không phải ai khác, chính là đại sứ đầu tiên tại Hoa Kì Sài Trạch Dân, người đóng vai trò nối lại quan hệ ngoại giao giữa Trung Quốc và Hoa Kì. Khi ấy ông ấy đã ngoài 80 tuổi rồi, sức khỏe vẫn tráng kiện.

Đại sứ Sài vừa gặp tôi đã nói:
”Nghe nói anh thần toán rất chuẩn, chỉ xin thỉnh giáo một việc!”
”Xin mời nói!”
Đại sứ Sài đi thẳng vào vấn đề và hỏi:
”Xin hãy xem cho tôi khi nào tôi chết? Làm sao mà chết?”
Tôi lắc đầu nói:
”Không xem!”
Đại sứ Sài nói:
”Vì sao không xem?”
Tôi nói:
”Tôi xem ngày chết cho người ta sẽ dẫn đến rất nhiều phiền phức không cần thiết, con cháu họ sẽ tìm đến cửa nhà tôi hung hăng chỉ trích, thậm chí đe dọa tôi, đòi kiện tôi tội hăm dọa, đại loại như vậy, tôi không xem!”

Lúc này đại sứ Sài cứ năn nỉ ỉ ôi mãi, thậm chí viết ra lời thề sẽ không mạo phạm đến Lư Sư Tôn. Còn nói rằng biết được lúc nào chết để nhằm xử lí mọi việc sau khi chết.
Tôi đã bị ông ấy dồn ép đến mức chẳng còn cách nào, đành phá lệ.

Ông ấy hỏi:
”Năm nào chết?”
Tôi đáp:
”X giờ ngày X tháng X năm XX.” - Ngay cả giờ tôi cũng tính chắc được.
Ông ấy hỏi:
”Vì sao chết?”
Tôi hỏi ngược lại:
”Thân thể ông chỗ nào yếu nhất?”
Ông ấy đáp:
”Chính là cái bộ phận ở bên dưới đó.”
Tôi nói đúng rồi, chính là cái bộ phận đó bị suy kiệt mà chết.
(Nghe nói đại sứ Sài qua đời đúng vào X giờ ngày X tháng X năm XX, không sai lệch một chút nào. Và nguyên nhân tử vong cũng chính là cái bộ phận đó bị suy kiệt mà chết.)
Lâm Huệ Chân bật ngón tay cái nói:
”Siêu chuẩn!”

🌟

Vì sao có thể chuẩn như vậy?
Tôi nói:

“Hỏi quẻ thuận tiết lệnh, hào động không được thấy bị mất”
Sinh mệnh của con người chúng ta đều là sự biến hóa của một âm một dương, đều là biến hóa không ngừng, đây là “chư hành vô thường” mà Phật Đà đã nói.
Dương cực âm sinh, âm cực dương sinh.
Hào này đến hào khác biến hóa liên tục. Dương cực là “nhất âm lai phục”, âm cực là “nhất dương lai phục”. Có thể biến đổi hào này đến hào khác thì là có hiện tượng sống. Đợi đến khi “mất hào động” tức là chết rồi!

Người có thể thần toán như vậy, giữa trời đất này cũng không còn bao nhiêu người nữa. Lư Sư Tôn tôi “thiên hỏa đồng nhân” [quẻ thứ 13 trong Kinh Dịch, ý nghĩa ở đây là con người đạt tới mức độ giao hội cùng vũ trụ ở mức cao nhất], công phu tu hành đã đạt đến độ “ấm”, làm sao có thể xem không chuẩn chứ?


### 08. Không hợp làm mọi việc


Có vợ chồng Hoàng Bân là đệ tử của tôi, người vợ có thai, rất vui mừng. Họ xin tôi chọn ngày để sinh mổ, ngày dự sinh của cô ấy là khoảng ngày 14 tháng 9. 

Tôi thỉnh Diêu Trì Kim Mẫu chọn ngày, Kim Mẫu chỉ thị là ngày 9 tháng 9 có thể sinh mổ. Thế là tôi nói cho vợ chồng Hoàng Bân, họ vô cùng phấn khởi vì Lư Sư Tôn đã thỉnh Diêu Trì Kim Mẫu chọn ngày, cho nên họ không hề có ý kiến gì.

Nhưng sau khi trở về nhà thì lại gặp vấn đề khó khăn. Bố của Hoàng Bân rất bảo thủ, ông ấy nói:
”Không được!”
”Vì sao không được?” - Hoàng Bân hỏi.
Bố anh trả lời:
”Ngày đó là ngày giỗ của mẹ anh.” (Mẹ anh ấy đã mất.)
”Ngày giỗ thì có gì không được?”
”Không được là không được.” - Bố của Hoàng Bân nói.
Bố Hoàng Bân lại nói thêm:
”Bố đã kiểm tra hoàng lịch rồi, ngày 9 tháng 9 là ngày trực Đại Hao, mọi việc đều không nên làm. Sư phụ anh nói kiểu gì vậy, lẽ nào ngay cả không hợp làm mọi việc cũng không biết sao?”
”Là Diêu Trì Kim Mẫu chỉ thị đó.” - Hoàng Bân nói.
”Mặc kệ là Diêu Trì Kim Mẫu hay không phải là Diêu Trì Kim Mẫu, không hợp làm mọi việc thì tức là không hợp làm mọi việc, rõ ràng như giấy trắng mực đen, anh còn cãi chày cãi cối cái gì? Xin thầy anh chọn ngày mới đi!”

Hoàng Bân cũng tra hoàng lịch, quả nhiên là không hợp làm mọi việc. Phải làm sao đây? Hoàng Bân chỉ còn cách bất chấp khó khăn đến nói với tôi về ý kiến của bố anh, thỉnh tôi chọn ngày lại. 
Tôi điềm nhiên cười. Tôi hỏi:
”Anh có biết bài tụng cát tường không?” 
Hoàng Bân đáp:
”Biết. Ngày cát tường, đêm cát tường, một ngày sáu thời mãi cát tường, trong tất cả mọi điều cát tường, thỉnh cầu Thượng sư gia trì, Bổn tôn che chở, Hộ pháp bảo hộ.”
”Anh niệm ba biến, không được cũng sẽ được thôi!”
Hoàng Bân nói:
”Bố con cố chấp, ông ấy sẽ không nghe đâu. Ông ấy cương quyết nói: “Không hợp làm mọi việc thì tức là không hợp làm mọi việc.” Ông ấy tự mình xem hoàng lịch, ngày 12 tháng 9 không có xung phạm gì, hơn nữa còn là ngày Nhật Đức, Nguyệt Đức, phải là ngày đó thì ông ấy mới vừa lòng.”
Tôi nói:
”Đã vậy thì cứ thuận theo ý của bố anh đi! Ngày 12 tháng 9 thì ngày 12 tháng 9.”
Hoàng Bân nói:
”Xin lỗi thầy!”
Tôi nói:
”Có sao đâu, cả nhà hài lòng mới là tốt, tôi không để bụng đâu.”
Đến buổi chiều ngày 9 tháng 9. Hoàng Bân hét lên:
”Lư Sư Tôn thần toán quá chuẩn! Siêu chuẩn! Ngày 9 tháng 9, buổi sáng, vợ con đau bụng ghê gớm, đưa đến bệnh viện thì đã sinh tự nhiên rồi. Sinh ra một bé trai bụ bẫm, quá chuẩn! Siêu chuẩn!”
Tôi điềm nhiên cười:
”Chăm chỉ niệm Cao Vương Kinh bảy biến, hồi hướng cho em bé đi!”

🌟

Tôi nói, cá nhân tôi không phải là người rất mê tín, tôi là kiểu “có pháp có phá”. Bất kể là Nhật Hao hay Nguyệt Hao, không hợp làm mọi việc, tôi là người không hề có cấm kị.

Tôi là một người công phu đã đạt đến cực đỉnh, tất cả thần toán đều có dấu hiệu, có hiệu nghiệm, tôi không thể ăn nói bừa bãi, nói năng tùy thích hoặc nói suông. 

Tôi tin chính xác vào chỉ thị của Diêu Trì Kim Mẫu, bởi vì có thông tin truyền đến tôi mới có thể nói ra. Thần toán của tôi là:di
”Đối cảnh vô tâm.” [Tạm dịch: không dính mắc tâm vào hoàn cảnh.]
”Tâm trung hữu bảo.” [Tạm dịch: trong tâm có điều pháp bảo.]


### 09. Giấc mơ quái lạ


Có một người đàn ông thần sắc tiều tụy cầu xin tôi chỉ điểm, đó là anh Mạnh Tường Vu. 
Anh Mạnh nói:
”Mấy năm nay, buổi tối tôi đi ngủ liên tục có những giấc mơ quái lạ, chưa từng có một ngày nào là không mơ, khiến tôi sau khi tỉnh dậy thì toàn thân mệt mỏi, tinh thần hết sức ủ rũ, ngủ cũng như không ngủ, càng ngủ thì tinh thần càng sa sút. Tôi thật sự không chịu được nữa rồi, tôi sắp phát điên rồi, thỉnh cầu Lư Sư Tôn nhất định phải cứu tôi một mạng, năn nỉ ngài! Cầu xin ngài!”
Tôi hỏi:
”Anh nằm mơ thế nào?”
Anh Mạnh đáp:
”Đánh nhau với người ta, bị đánh chết; đánh nhau với rắn, bị rắn cắn chết; trên chiến trường bị tên bắn chết; bị gấu đuổi, rơi xuống vực mà chết; đánh  nhau với ma, bị ma bóp chết; gặp bước đường cùng, tự vẫn mà chết…” 
Tôi nói:
”Tôi giúp anh làm pháp thế thân.”
Tôi dùng một người giấy, viết lên họ tên và bát tự, hà vào ba hơi khí, đem “Mạnh Tường Vu” này vào sau buổi trưa ngày Trừ nhật, quay mặt về hướng bắc (Bắc Đẩu Thất Tinh), dùng giấy tiền vàng mã đốt, như vậy có thể loại bỏ những giấc mơ kì quái.
Tôi nói:
”Làm pháp xong thì những giấc mơ kì quái cũng chấm dứt.”
Tôi còn nói:
”Kể từ nay về sau, ban đêm sẽ ngủ một mạch đến sáng, không có giấc mơ kì quái nữa. Nếu có mơ thì cũng là những giấc mơ đẹp.”
Anh ấy hết sức vui mừng.

Không lâu sau, Mạnh Tường Vu trở lại tìm tôi, nói:
”Lư Sư Tôn, ngài đúng là thần tiên, thật là quá chuẩn! Không ngờ là những giấc mơ kì quái không còn nữa, quả nhiên là ngủ một mạch đến sáng. Chuyện này là sao đây?”
Tôi nói:
Anh đã bị xung phạm với Thần Chết.
Người nào bị xung phạm sát khí thì rất khó giải thích được rõ ràng, nói tóm lại xung phạm tức là xung phạm. 
Xung phạm không nhất định là thứ đến từ bên ngoài. Mà là từ một suy nghĩ của chính mình khởi lên, cái gọi là có động niệm thì lành dữ mới từ bên ngoài khởi lên. Cùng với cái bên trong của người này là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, cũng tức là tim, gan, lá lách, phổi, thận, toàn bộ đều biến hóa. Sự biến hóa này giao thoa với nhau rất phức tạp, cũng ảnh hưởng đến sóng não của con người.

Một khi sóng não đảo loạn thì những giấc mơ kì quái sẽ liên miên không ngừng dứt, cái gọi là hễ niệm động thì khí sẽ động, khí động thì sóng não động, xung phạm cũng chính là ý niệm của bản thân gây ra.

Người tu hành chúng ta tu:
”Không khởi một niệm.”
”Thiên tâm tĩnh lặng.”
Đây là một việc vô cùng khó.
Vì thế người bình thường đều ở trong pháp hữu vi, còn người tu hành phải tu pháp vô vi. 

Pháp vô vi là:
”Niệm khởi nhưng không vì cái gì mà động”, “nhất tâm bất loạn”, không dịch chuyển theo tâm niệm, cũng có nghĩa là biết dừng rồi sau đó có định, định rồi sau đó có thể tĩnh, tĩnh rồi sau đó có thể an.”
Không thể nhất tâm bất loạn thì sẽ loạn cào cào!

Tôi nói với anh Mạnh Tường Vu: anh liên tiếp có giấc mơ quái lạ là do khí mạch đều loạn, không khác nào sóng não đều loạn, đây là tử sát.
Cắt người giấy, viết bát tự đại diện cho tinh khí thần của anh. 
Chỗ của Bắc Đẩu Thất Tinh là chủ nhà của cái chết. (Chuyển tử sát đến phương chết.)
Nam Đẩu Lục Tinh là chủ nhà của sự sống. 
Tử sát chết đi rồi thì sóng não của Mạnh Tường Vu mới có thể hồi phục lại bình thường. 
Sau buổi trưa ngày Trừ nhật, cũng chính là trừ bỏ tử sát. 

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người, chúng ta ngồi thiền, là tu thiền định, không phải là tu để muốn nhìn thấy cảnh giới xuất hiện, bởi vì cảnh giới xuất hiện, nếu ta theo đó mà động niệm thì cái động này sẽ mê hoặc. Rất dễ tẩu hỏa nhập ma. 


### 10. Nguyên nhân thần toán siêu chuẩn


Có người nói:
”Có một người rõ ràng bị cho là “không có khả năng trúng cử”, nhưng ngài lại cứ khăng khăng đoán là họ có khả năng trúng cử.”
Người này nói:
”Mọi người đều cho rằng đã xác định là xong rồi. Vì sao ngài cho rằng vẫn còn cứu được?”
Người đó hỏi:
”Ngài tính toán thế nào?”
Tôi đáp:
Anh đã đọc về vị thần tiên Lưu Hải Thiềm của Đạo gia chưa? Ông ấy đứng trên biển, dùng ba đồng tiền xu mà câu được cóc ở dưới biển.
Ba đồng tiền xu này không thể coi thường, ba đồng tiền xu này có thể nhìn được trên trời dưới đất, mọi chuyện lớn nhỏ của vũ trụ.
Ba đồng xu chính là quẻ.

Tôi nói:
Tôi có thể xem sao, quan sát thiên văn, sao Tử Vi nằm ở cực Bắc, sao Thái Vi đứng thứ hai, tiếp theo là sao Thiên Thị, đây gọi là chòm sao Tam Viên. Còn như các sao Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ và hai mươi tám tinh tú thì nằm ngoài chòm sao Tam Viên. Chân Phật Tông có “Man thiên hoa cái”, trên đó vẽ chính là bản đồ phân bố các chòm sao này.

Tôi nói:
Tôi có thể nhìn được địa lí, địa lí có long, huyệt, cát, nước, hướng, có Thanh long, Bạch hổ, Chu tước, Câu trần. Có trời, đất, sấm, gió, sông, nước, lửa, núi. Có bát quái, trời đất vốn là sự phù hợp lẫn nhau. Trên quan sát thiên văn, dưới nhìn rõ địa lí. 

Tôi nói:
Tôi có thể thấy nhân văn, trời, đất, người, vốn là phù hợp lẫn nhau, ba mạch bảy luân xa, mười hai kinh mạch, kì kinh bát mạch của thân người, là đối ứng với các chòm sao ở trên trời. 
Cho nên nói: 
”Đẩu Tiêu trên trời cai quản Chu Thiên, giống như trong lưới đã tự có cương lĩnh. Giống như áo có nút áo, đây là đạo chí yếu. Ví von thiên tâm nhân thân là tương hợp, thực tế đó là cương lĩnh của vạn sự vạn vật.”

Tôi nói với mọi người:
”Thiên tâm và nhân tâm chính là liên kết chính yếu của sự biến hóa trời đất và con người, động mà chính thì lành, động mà tà thì dữ.”
Khởi tâm động niệm là tối quan trọng.
Động chính thì lành.
Động tà thì dữ.
Khổng Tử nói:
”Hào tượng động hô nội, cát hung kiến hô ngoại.” [Kinh Dịch. Hào tượng là căn cứ để đoán định lành dữ, con người chỉ cần động ý niệm tư tưởng là hào tượng sẽ động, hào tượng biến đổi ở bên trong thì lành dữ sẽ biểu hiện ra bên ngoài.]

Trời là tinh tượng.
Đất là long tượng.
Người là dịch tượng.
Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người, con người có thể thường thanh tịnh thì trời đất đều quy về.

Cho nên muốn thần toán lành dữ họa phúc của một người đều nằm ở nhất niệm thanh tịnh của người thần toán. Một người có thể thường thanh tịnh, tâm của họ như gương sáng vậy, sức mạnh của trời đất toàn bộ sẽ đến trong sinh mệnh của con người, lúc này chiêm bói thì sẽ cực chuẩn.
Chú ý đó!

Tôi là một người tu hành, người tu hành tức là tu “nhất niệm” mà thôi, thậm chí là tu “vô niệm”. Mục đích không phải là để thần toán, thần toán chỉ là tự nhiên sản sinh ra thôi. Chúng ta lấy tu tâm dưỡng tính làm chính, thần toán không phải là đạo, miễn cưỡng đặt cho nó một cái tên gọi thì chỉ là “trợ đạo phẩm” [thứ bổ trợ cho đạo], nếu như chỉ cầu thần toán thì sẽ sai lệch xa lắm!

Rất nhiều đệ tử mê đắm thần thông, mở miệng ra là thần thông, ngậm miệng lại cũng thần thông, mê hoặc không biết bao nhiêu chúng sinh. Thần thông cũng chỉ là một trợ đạo phẩm, chỉ cầu thần thông thì đó đúng là hết thuốc chữa.
Vì sao thần toán có thể chuẩn?
Một đáp án là:
Con người có thể thường thanh tịnh thì mọi cảm ứng đều thông.


### 11. Đi tìm Sư Bà đi


Ngày 4 tháng 9 năm 2011, khi tôi ngồi tĩnh tọa trước đàn thành ở Nam Sơn Nhã Xá tại Seattle nước Mĩ, tôi tiến nhập vào trong thiền định rất sâu, tam muội của lúc này không cách nào hình dung được.

Giống như bài thơ của Hàn Sơn Tử:
”*Lòng ta tựa trăng thu
Hồ nước xanh trong vắt
Chẳng thứ gì sánh bằng
Bảo tôi nói làm sao.”*

Tam muội thiền định này đúng là không biết nói từ đâu, thôi thì gọi là “lục căn đại định, bách mạch xung hòa” vậy! Bởi vì nó tịch nhiên thanh tịnh như trút bỏ toàn bộ thân tâm.

Khi tham thiền, cái gọi là “sự khác biệt giữa chủ và khách”, giống như chủ trong chủ, khách trong chủ, chủ trong khách, khách trong khách, còn trong thiền định của tôi, khách và chủ đều không thấy. Đến lúc sắp xuất định thì trong trăng thu xuất hiện mấy chữ “đi tìm Sư Bà đi”. 

🌟

Buổi chiều ngày 4 tháng 9, tôi ở Cầu Vồng Lôi Tạng Tự làm một đàn hỏa cúng Hộ Ma Đại Phạm Thiên Vương. 
Có một phụ nữ là Dương Huệ Trân bế theo một em bé mới sinh đến gặp tôi. Cô ấy nói: đứa bé này vào tháng 9 năm 2010 tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, ở trước mộ của Sư Bà, tôi đã cầu nguyện Sư Bà mà có được. 

Sư Bà là mẹ tôi Lư Ngọc Nữ. Cô ấy đã đi cầu xin Sư Bà. Tôi tò mò hỏi:
”Vì sao cô lại đi cầu xin Sư Bà Bồ Tát?”
Cô Dương đáp:
”Bởi vì tất cả bác sĩ đều nói tôi bị vô sinh, không thể sinh con, cho nên tôi mới đi cầu xin Sư Bà Bồ Tát.”
”Kết quả thì sao?”
”Ngay lập tức có thai!”
”Cháu bé tên là gì?”
Cô ấy đáp:
”Synclaire Yonglee Hernandez.”
Tôi nói:
”Tốt lắm! Bị vô sinh, tìm đến Sư Bà Bồ Tát!”

🌟

Kì lạ nhất là:
Khi tôi sắp rời khỏi Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, có một vị là cô Trương đi nhanh về phía tôi hỏi:
”Lư Sư Tôn, tôi bị vô sinh, thỉnh cầu Sư Phật gia trì!”
Tôi không nói gì khác, lập tức trả lời:
”Đi tìm Sư Bà đi!”
Cô Trương lập tức nói:
”Vâng!”

🌟

Từ chuyện này khiến tôi nghĩ rằng sự việc không thể trùng hợp hơn. Buổi sáng thiền định, tôi đã thấy “đi tìm Sư Bà đi”.
Buổi chiều cô Dương nói: 
”Đứa bé này là nhờ cầu xin Sư Bà mà có.”
Rồi lại có cô Trương hỏi tôi: 
”Tôi bị vô sinh, xin gia trì.”
Tôi đáp:
”Đi tìm Sư Bà đi!”
Ba sự việc này ăn khớp với nhau, chẳng phải là quá chuẩn hay sao?

Hành giả tu Mật giáo chúng ta “quản hoạt vi mật” [Đây là một cách ví von của Đạo gia, tám chữ đầy đủ là “ngự chính chi đạo, quản hoạt vi mật”, ý  nghĩa là việc quản lí phải bao quát đến mức vô cùng vi diệu, kín đáo nhưng không thần bí. Xét trên thực tế của việc tu Đạo thì mọi người tu Đạo nhất định sẽ nghĩ đến ngồi thiền, kì thực tu Đạo không nhất định là phải ngồi thiền, mà là quản lí tâm mình.] “Vi mật” này không chỉ gặp trong tu hành, ngay cả trong cuộc sống thường ngày cũng có thể gặp, đến một giai đoạn nào đó, thân tâm hoàn toàn thu về thì tức là ở trong “thối tạng vu mật” [lui về ẩn trong chốn bí mật]. 

“Mật” ở chỗ nào? Ở trong tâm sao? Ở trong toàn thân sao? Kì thực là không thể biết được. 
Thần toán của tôi siêu chuẩn!
Tất cả trong cõi vô hình căn bản là vô cùng vi diệu bí mật, đạo lí chính là như vậy!


### 12. Câu chuyện của sư tỉ Mạc


Buổi tối ngày 5 tháng 9 năm 2011, theo thông lệ, tôi cùng các đệ tử ăn bữa tối xong thì lễ Phật ở Lôi Tạng Tự trước, sau đó đến sân trước của chùa để tôi múa một bài Thái cực quyền, sau đó là nhiễu quanh chùa Phật và niệm Phật, niệm Phật xong thì ở trước sân thực hiện vài bài thể thao vận động, cuối cùng là đi dạo bộ.

Trước khi tôi trở về Nam Sơn Nhã Xá thì tôi nói chuyện một chút với đồng môn về những việc thường ngày. Có hai đệ tử tiến lên trước. Một người nói:
”Ngày mai con trở về nước Anh, xin Lư Sư Tôn gia trì!”
Tôi ban gia trì.
Người kia nói:
”Ngày mai con trở về Brazil, xin Lư Sư Tôn gia trì!”
Tôi ban gia trì.
Người ở Brazil rất kính cẩn nói với tôi:
”Cảm tạ Lư Sư Tôn đã cứu con rất nhiều lần!”
Cô ấy chính là sư tỉ Mạc - phó quản lí của Chân Đế Lôi Tạng Tự ở Brazil. Cô ấy kể, cô ấy có vài lần suýt mất mạng, đều là được Sư Tôn đến cứu.

Tim cô bị kết sỏi, Lư Sư Tôn đã hiện thân, đưa tay vào lấy ra. Tôi mới nghe có sỏi mật, hoặc là sỏi thận, chưa từng nghe nói có “sỏi tim”. Nhưng sư tỉ Mạc nói:
”Tim có bảy viên sỏi kết, Lư Sư Tôn phóng quang gia trì, rồi lấy ra hết.”
Mọi người nghe xong thì kinh hãi!

Sư tỉ Mạc lại nói:
”Lư Sư Tôn hiện thân rất nhiều lần, đã cứu con rất nhiều lần. Còn giúp con trai của con làm bài thi, khiến con trai con không biết viết gì đều có thể viết ra hết, kết quả là đã thi đậu rồi. Kì thi ấy rất khó đậu, con trai con không ngờ lại thi đậu, Sư Tôn ở ngay bên cạnh giúp nó làm bài.”
Sư tỉ Mạc nói:
”Lư Sư Tôn còn chỉ điểm vào thời điểm nào thì mua cổ phiếu, kết quả là chuẩn cực kì, thật sự là siêu chuẩn!”

Tổng hợp lại câu chuyện của sư tỉ Mạc thì có ba việc:
1. Cứu mạng cô ấy.
2. Giúp con trai thi đậu.
3. Chỉ điểm cổ phiếu.

Những việc này, sư tỉ Mạc đều cảm ứng thấy Lư Sư Tôn hiện thân ở bên cạnh. Chuyện này là sao đây? Hóa thân bên ngoài thân ư?
Kì thực người thật sự có thể tu hành thì việc này không có khó khăn gì lớn lắm!
Một câu nói là:
”Tâm anh có thể tịch nhiên bất động, duy trì sự đoan chính một cách tự nhiên thì trăm thể tự nhiên theo lệnh.”
Một câu nói nữa là:
”Giống như nơi có sao Bắc Đẩu thì các sao tự nhiên vây quanh. Bởi vậy nói rằng: “Thìn cực xứ chính, ưu du nhậm hạ.” [Lời trong Dịch Đồng Khế, mượn đạo trời để so sánh với việc luyện công, nói rằng luyện công phải giống như Bắc Đẩu Nam Thìn, đặt đúng vị trí thì thong thả tự có được sự vận hành]. Tâm anh đã bắt đầu ở quanh Thần thất thì bách tiết vạn thần không ai là không kính nể.”

Lại có một câu:
”Thánh thiên tử tại đây, bách linh tương trợ.” 
Tôi tu hành đến lúc “tịch nhiên mà định”, đến lúc “nhất niệm bất sinh”, đến lúc “nhất tâm bất loạn”, tôi ở chính giữa trong “quang minh trong vắt”. 
Quỷ Thần bên trong đều kính nể.
Quỷ Thần bên ngoài đều nghe lệnh.
Khi các đệ tử gặp tai họa, Quỷ Thần ở nơi đó nghe được tiếng kêu gọi của các đệ tử, bách linh của các Quỷ Thần đều đi ra để giúp đỡ các thánh đệ tử của tôi giải trừ đau khổ của họ. Cho nên khi tôi bất động, trong thiền định, trong giấc mơ, trong sự đi đứng ngồi nằm, hóa thân bên ngoài thân của tôi ở khắp xung quanh đó!
Vậy mới nói:
Các đệ tử chỉ cần một lòng kêu gọi, tôi sẽ đến ngay!


### 13. Thánh Mẫu Maria đến rồi


Có một lần ở trong phòng làm việc của Tông Ủy Hội, có đệ tử gửi thư đến xin tôi siêu độ cho em trai của anh ấy. 

Tông Ủy Hội tức là Chân Phật Tông tông vụ ủy viên hội, địa điểm ở bên cạnh Chân Phật Mật Uyển, Seattle nước Mĩ. Đệ tử gửi thư đó sống ở Hồng Kông, em trai của anh ấy bất ngờ qua đời, cũng ở Hồng Kông.

Tôi siêu độ có pháp đặc biệt.
1. Tinh thần tôi tập trung.
(Hư không vỡ tan, mặt đất san bằng. Tám chữ này miêu tả một người đã đạt đến cảnh giới cao nhất của tinh thần thống nhất.)
2. Nghênh đón Phật tiếp dẫn đến.
(Nhất tâm kính lễ Phật tiếp dẫn giá lâm, Phật tiếp dẫn không nhất định là đến từ bên ngoài, mà là từ tự tính thăng lên.)
3. Phóng ánh sáng trắng.
(Một chùm ánh sáng trắng xuất hiện đưa vong linh vãng sinh về Phật quốc tịnh thổ.)
4. Hồi hướng.
(Nguyện người cùng niệm Phật, cùng sinh cõi Cực Lạc, trên báo bốn ơn sâu, dưới cứu ba đường khổ, thấy Phật thoát sinh tử, như Phật độ tất cả.)

Tôi siêu độ là cảnh giới ý chí ngưng định, cho nên đặc biệt nhanh chóng. Khi tôi vô niệm chuyên nhất thì tôi nhìn thấy Thánh Mẫu Maria đến, đưa vong linh đi đến thiên đường. (Tôi nhìn thấy hết sức rõ ràng.)

Tôi quay sang các vị đang ngồi ví dụ như Thượng sư Liên Ninh để giải thích rằng Thánh Mẫu Maria đến tiếp dẫn vong linh đi rồi. Thượng sư Liên Ninh lập tức liên lạc với đệ tử ở Hồng Kông để hỏi xem rốt cục là chuyện gì. 

Kết quả đáp án là:
”Em trai của anh ấy không phải là đệ tử Chân Phật Tông, mà là một tín đồ Thiên Chúa giáo ngoan đạo.”
Những đồng nghiệp trong phòng làm việc của Tông Ủy Hội kêu lên:
”Siêu chuẩn!”
(Đúng là kì tích.)

🌟

Tôi nói với mọi người:
Phật Đà từng nói với chúng ta: “Tinh thần thống nhất, không có việc gì không làm được.”
Thật ra trên phương diện Phật học thì gọi là “đô nhiếp lục căn”, có nghĩa là sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý đều thu về, không phân tán tinh thần, không hướng ra ngoài để tìm cầu cảm giác, mà là tìm ngược ở trong chính mình, tự kiểm điểm chính mình.
Mắt nhắm lại.
Tai không nghe bên ngoài.
Pháp môn nhìn vào bên trong này có người cho rằng là pháp môn quán tâm, cũng gọi là pháp môn quán âm, trở về với trạng thái bản tính thanh tịnh vốn có của chính mình. Phật pháp có hai loại pháp quán, có thể đạt đến pháp môn tự tính thanh tịnh vốn có của chính mình:
1. Quán bạch cốt.
2. Quán bất tịnh.
Hai pháp quán lớn của Mật giáo này có thể khiến bản thân “đô nhiếp lục căn”, hư không vỡ tan, mặt đất san bằng.

Có được cảnh giới công phu tu hành này rồi, hễ nhắm mắt vào, tất cả tình hình của thế gian đều có thể nhìn thấy. Sự nhìn thấy này không giống với con mắt thường nhìn thấy, không phải đến từ bên ngoài, cũng không phải là thấy ở bên trong, càng không phải là ở giữa, mà là linh tính thấy, tự tính thấy, chỉ có thể mô tả như vậy thôi. 

Tôi nhìn thấy Thánh Mẫu Maria đến cũng không do tôi có hành động gì. Chỉ là khi tâm của anh tịch nhiên bất động thì tự nhiên xuất hiện.
Quá chuẩn!

Thơ:

*Chỉ cần nhắm lại con mắt
Không nghe nhân gian cười đùa
Thấu triệt Nam Hoa vi diệu
Hào quang vạn trường hồi chiếu.*


### 14. Ở bên dưới một cái cây to


Ở nước Mĩ, nền móng của hôn nhân đa số không ổn định, cho nên động một tí là chia tay, tỉ lệ li hôn rất cao. 

Có một cặp vợ chồng, ở Mĩ họ không có thân phận gì, nên họ thỏa thuận với nhau là tiến hành li hôn trước, sau đó nam lấy vợ nữ lấy chồng, đối tượng kết hôn đương nhiên đều là người có thân phận. Đợi đến sau khi họ có thân phận rồi thì lại li hôn với đối tượng kia rồi lại tái hôn với nhau. Trong con mắt của tôi, kiểu thỏa thuận này thật sự  là hoang đường, nhưng vì để được ở lại nước Mĩ mà không ngờ việc này cũng có người làm.

Người vợ cuối cùng đã lấy một người da trắng.
Người chồng đã cưới một người Mexico, nhưng là người có thân phận.
Sự việc không ngờ đến đã xảy ra rồi. 
Cô vợ lấy người da trắng kia chưa lâu, mới hai năm, không ngờ đã biến mất tăm mất tích, không thấy nữa.
Người chồng cũ (chồng trước), trước sau đều không tìm thấy người vợ cũ mà mình đã kết hôn trước đây. Không liên lạc được với cô vợ, không có một chút tin tức gì.

Anh chồng sau khi phát hiện ra vợ mình cưới người khác xong thì hoàn toàn mất liên lạc, thế là đi khắp nơi dò hỏi, cuối cùng phát hiện ra vợ đã nằm trong danh sách “nhân khẩu mất tích”, hoàn toàn biến mất khỏi nhân gian.

Thế là, anh chồng vội vàng đến tìm Lư Sư Tôn nhờ thần toán để tìm người vợ cũ mất tích.
Tôi định thần lại, bấm ngón tay để tính toán thì tôi kinh hãi. Tôi không dám nói cho anh ta chân tướng sự tình, tôi chỉ nói rằng:
”Sẽ báo mộng cho anh, gặp được cô ấy để chính cô ấy nói cho anh.”

Anh chồng sau khi trở về nhà thì có một đêm, trong mơ quả nhiên thật sự gặp được vợ mình, vợ anh u buồn nói với anh: “Em ở bên dưới một cái cây to.” Cô vợ muốn chồng đi báo cảnh sát. Lực lượng cảnh sát Mĩ căn cứ theo báo cáo đã tiến hành điều tra, cuối cùng ở sân sau ngôi nhà của người da trắng kia, bên dưới một cái cây to, đào lên được một xác người. 

Chân tướng sự việc là:
Cô vợ cưới người da trắng.
Người da trắng mở công ty xe container, tính tình không tốt, động một tí là đánh đập. Hai người cá tính không hợp nhau. Hai người cãi nhau. Cuối cùng, cô vợ đã bị đánh chết, người da trắng đem xác chết đi chôn ở dưới một cái cây to trong sân sau nhà mình. Thần không biết, quỷ không hay.
Đến khi chân tướng phơi bày, người chồng này rất cảm kích sự giúp đỡ của tôi, anh đích thân đến Chân Phật Mật Uyển để cảm tạ. Anh nói:
”Sẽ báo mộng đúng thật là đã báo mộng rồi. Hơn nữa cảnh tượng trong giấc mộng, nhìn thấy cái cây to đó, và xác chết thật sự nằm bên dưới cái cây. Quá linh ứng rồi, nói thẳng ra là bất khả tư nghì!”

🌟

Tôi nói với mọi người:
Việc thần toán không phải là đoán mệnh bình thường. Ví dụ sự việc này cần có người âm xuất hiện để giao tiếp thì mới có thể biết rõ ràng được, tôi vận dụng sóng điện não là dùng sóng não của  mình và sóng não của người âm để giao tiếp với nhau. 

Thần toán chính là vô hình vô tướng, chúng ta triệu thỉnh từ hư không. 
Đầu tiên suy nghĩ phải thanh tịnh.
Tư tưởng cảm nhận cái Không đến cực điểm.
Thì “thần” sẽ đến.
“Thần” sẽ nói với tôi tất cả tình hình.

Sau khi biết được sự tình, tôi kinh hãi, thế là tôi thỉnh cầu trực tiếp để cho vợ anh ta báo mộng, như vậy mới được!
Kì thực đây cũng là một dạng công phu của sự “trống rỗng tinh tế”, nếu không có công phu của sự “trống rỗng tinh tế” này thì thần toán cũng không thể thành, công phu này không thể dựa vào sự bốc phét được.


### 15. Khẩu quyết của Lữ Thuần Dương


Tôi rất yêu thích Lữ Thuần Dương (Động Tân), hai mươi câu khẩu quyết tu đạo của vị chân nhân này, tôi xin được kính cẩn ghi lại như sau:

*“Dưỡng khí vong ngôn thủ
Hàng tâm vi bất vi
Động tĩnh tri tông tổ
Vô sự cánh tầm thùy.*

*Chân thường tu ứng vật
Ứng vật bất khả mê
Bất mê tính tự trú
Tính trú khí tự hồi.*

*Khí hồi đan tự kết
Hồ trung phối khảm li
Âm dương sinh phản phục
Phổ hoá nhất thanh lôi.*

*Bạch vân triều đỉnh thượng
Cam lộ sái Tu Di
Tự ẩm trường sinh tửu
Tiêu dao thùy đắc tri.*

*Tọa thính vô huyền khúc
Minh thông tạo hóa cơ
Đô lai thập nhị cú
Đoan đích thượng thiên thê.”*

Tạm dịch:
”*Dưỡng khí đừng nên nói
Hàng phục tâm vô vi
Động tĩnh biết tông tổ
Vô sự còn tìm gì*

*Học chân thường gặp vật
Gặp vật chớ đắm mê
Không mê tự tính trụ
Tính trụ khí quy về*

*Khí về đan tự kết
Trong mộng phối khảm li
Âm dương sinh trùng lặp
Một tiếng sấm vang xa*

*Mây trắng bay lên đỉnh
Cam lộ tưới Tu Di
Rượu trường sinh tự uống
Tiêu dao ai biết đâu*

*Ngồi nghe khúc vô huyền
Hiểu cơ duyên tạo hóa
Hai mươi câu thơ này
Đích thực thang lên trời.*

Hai mươi câu chân ngôn của tổ sư Lữ Thuần Dương rất đáng nghiền ngẫm, tôi biết trọng điểm nằm ở:
Dưỡng khí hàng tâm.
Không mê tự trụ.
Khí hồi kết đan.
Trường sinh tiêu dao.
Tạo nên thang trời.

Hai mươi câu này có ý nghĩa là vô tư vô lự, mọi suy nghĩ đều thanh tịnh rồi, đó là cách dưỡng khí chân chính.

Hàng phục tâm chính là pháp vô vi, vô tâm, tâm này tự nhiên có thể ngưng tịnh. Đây là chân đế của vô tâm.
Nhập thế xuất thế là động tĩnh, động cũng vô sự, tĩnh cũng vô sự, động tĩnh nhất như, tự nhiên khí sẽ quy tụ về kết thành đan. 
Bạn chính là chân như, còn phải đi tìm chân như để làm gì? Lúc này bạn trường sinh tiêu dao rồi.
”Ngồi nghe khúc vô huyền, hiểu cơ duyên tạo hóa”, đây là thiền, đạt đến cảnh giới này gọi là minh tâm kiến tính.

🌟

Cá nhân tôi trên phương diện nhập thế, tôi đã giải quyết rất nhiều chuyện khó khăn nan giải của rất nhiều chúng sinh.
Đây chính là hỏi việc, hỏi việc, hỏi việc, hỏi việc, hỏi việc. 
Chúng sinh hỏi việc vĩnh viễn không kết thúc…
Còn tôi:
Vĩnh viễn vô sự.
Vì sao?
Bởi vì tất cả mọi việc đều là “không có việc”. Gần đây tôi đã giảm rõ rệt hỏi việc cho chúng sinh, thật ra cũng không phải là không có nữa, bởi vì tôi đưa tay ra sờ đầu chúng sinh cũng tương đương với đang hỏi việc rồi.
Có người đau đầu, tôi sờ vào là khỏi!
Có người bị bệnh mắt, tôi sờ vào là nhìn sáng rõ!
Có người thai lệch, tôi sờ vào, đã thẳng rồi.
Có người đau chân, tôi sờ vào, cơn đau liền dừng!
Có người bị sỏi, tôi sờ vào, sỏi sẽ rơi ra!

Khi tôi sờ đầu, có đệ tử tranh thủ hỏi:
”Cha tôi tuổi cao, đi lạc, không biết làm sao tìm?”
Tôi nói ba chữ đơn giản:
”Sẽ báo mộng.”
Ông Cao Chí Thanh này trở về nhà, đêm ấy mơ thấy Lư Sư Tôn đích thân để nói cho biết:
”Cha anh đi lạc, đi đến sông Đạm Thủy, trượt chân ngã xuống, ba ngày sau chắc chắn sẽ thấy rõ.”
Cao Chí Thanh tỉnh dậy, theo đó mà tìm. Tìm không được.
Ba ngày sau thì bố ông được người câu cá vớt lên, đúng là ở sông Đạm Thủy. 
”Đúng là siêu chuẩn!”
Chuyện này rốt cục là thế nào?
Vì sao câu “sẽ báo mộng” này lại chuẩn như thế?
Tôi đáp:
”Đây chính là vô sự ứng vạn cơ!”
Tôi có thể tự do tự tại ra vào trong giấc mơ của đệ tử.


### 16. Thượng sư Liên Điếm nói như vậy


8 giờ tối ngày 9 tháng 9 năm 2011, tôi và các đồng môn đi dạo ở quảng trường của Seattle Lôi Tạng Tự ở Mĩ. 

Thượng sư Liên Điếm kể với tôi một chuyện lạ. Bà ấy nói:
Đội trưởng Cao ở đội phòng cháy chữa cháy quận Đại Đồng ở Đài Bắc chúng tôi là đồng môn Chân Phật Tông, là một đồng môn rất ngoan đạo. Anh ấy có một người bạn thân, là tín đồ Cơ Đốc, ở trong bệnh viện đang hấp hối, đã sắp chết rồi. 

Đội trưởng Cao rất tốt bụng, anh bí mật lấy tên tuổi và địa chỉ của người bạn này báo danh cho lễ hỏa cúng Hộ Ma của Lư Sư Tôn ở Đài Loan Lôi Tạng Tự, cũng không nói cho người bạn biết chuyện này. Kết quả là, người bạn không ngờ đã bình phục, xuất viện rồi.

Người bạn này kể với đội trưởng Cao rằng:
Trong lúc hấp hối, anh đã đến âm gian địa ngục, nhìn thấy Diêm La Vương đúng lúc đang xét xử. 
Từ không trung có một vị hòa thượng hạ xuống. Hòa thượng này nói với Diêm La Vương:
”Người này tôi phải đưa đi!”
Diêm La Vương nói:
”Được.”
Thế là anh ta được hòa thượng đưa đi. 

Ở trong bệnh viện, người bạn tỉnh khỏi cơn hấp hối, rồi dần dần khỏe lên, bây giờ đã sống lại rồi. 
Đúng là một việc kì lạ.

Đội trưởng Cao không nói gì, đưa ra tấm ảnh pháp tướng của Lư Sư Tôn nói anh hãy nhìn kĩ xem có phải là hòa thượng này không?
Người bạn là tín đồ Cơ Đốc, căn bản không biết Lư Sư Tôn, kết quả là người bạn nói: “Đúng là ông ấy!”

🌟

Thượng sư Liên Điếm hỏi:
”Sao lại kì diệu như vậy?”
Tôi đáp:
”Diêm La Vương là bạn tốt của tôi.”

Tôi nói: 
Sau khi tôi tu hành đến được thông trung mạch, dần dần ba mạch bảy luân xa cũng thông, thậm chí cửu khiếu bách mạch đều thông, toàn thân ba trăm sáu mươi khớp xương, tám vạn bốn nghìn lỗ chân lông cùng thông rồi. Thế nên có ánh sáng từ tâm thất (trung cung) xuyên ra ngoài, xuyên thấu ra bên ngoài lỗ chân lông, giống như là mỗi một lỗ chân lông có một Lư Sư Tôn. Đạo lí này giống như Hoa Tạng thế giới, mỗi một hoa sen chính là một Phật quốc, và mỗi một Phật quốc lại có một Thích Ca. 

Công phu của một người tu hành khi đã đạt đến cực đỉnh thì người đó có thể hóa sinh ra trăm nghìn tỉ Lư Sư Tôn, đi khắp nơi để cứu độ chúng sinh và cứu mạng người. 

Phật nói ba cõi Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới.
Dục giới — nam nữ phải ôm ấp nhau mới có thể sinh con. Hoặc là nắm tay nhau là có thể sinh con. Hoặc là hai mắt nhìn nhau là có thể sinh con. Hoặc là cười với nhau là có thể sinh con.

Đến Sắc giới, Vô sắc giới thì càng cao cấp hơn, chỉ một suy nghĩ là có thể sinh con, sinh con ra từ đầu, từ vai, từ nách…

Dục giới — tính giao.
Sắc giới — khí giao.
Vô sắc giới — thần giao.
Tứ thánh giới — hóa giao.

Sự sinh ra cao cấp nhất chính là hóa sinh. Sinh ra không ngừng, người có thể đạt đến điều này, tức là một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh vạn vật…
Một suy nghĩ của tôi khởi lên sẽ hóa sinh ra một sinh mạng khác, người biết đạo lí này cũng không có nhiều nữa!

Kiểu hóa thân này còn cao minh hơn tinh quang thân [thân ánh sao] không biết bao nhiêu lần. Vì thế tôi nói:
Bạn đến Tây phương Cực Lạc thế giới rồi, nhìn thấy A Di Đà Phật rồi, không ngờ ngài lại là Lư Sư Tôn. 
Bạn đến âm gian, nhìn thấy Diêm La Pháp Vương, không ngờ ngài lại là Lư Sư Tôn. 

Không cần phải thấy kì lạ. Bởi vì vốn dĩ chính là hóa tới hóa lui, độ chúng sinh thôi!


### 17. Gia tộc ăn cơm


Có một hôm, tôi triệu tập cả gia tộc ăn cơm, bao gồm bố tôi Lư Nhĩ Thuận và bốn em gái là em gái cả Lư Thắng Mĩ, em gái hai Lư Ngọc Ý, em gái ba Lư Quắc Anh, em gái tư Lư Nghê Anh, tổng cộng lại có khoảng mười người, lại thêm tôi và Sư Mẫu, tổng cộng mười hai người, vừa đủ một bàn. 

Thế nhưng tin tức bị lan truyền đi, vào ngày ăn cơm đó, các con của bốn em gái tôi cũng kéo đến tề tựu, con trai con gái của các em gái tôi đều đến hết, thế là thành hai bàn.

Ban đầu là tôi đãi khách, địa điểm là nhà hàng Tân Thiên Địa ở bên suối cạn Thái Bình, tôi chỉ mang đủ tiền cho một bàn ăn. Đến nhà hàng không ngờ lại thành hai bàn, hai bàn thì đương nhiên tôi không thể đãi khách được, chỉ bởi vì tôi không mang đủ tiền mà thôi. 

Món ăn rất ngon, mọi người đều ăn đến cuối bữa. Tôi phải trả tiền, nhưng tiền không đủ. Đương nhiên có thể hỏi mượn tiền của người nhà, nhưng đường đường là Lư Sư Tôn mà lại mượn tiền vì chuyện này thì chẳng phải là chuyện cười sao. Tôi thần toán một lúc, đáp án là:
”Yên tâm! Sẽ có người trả tiền.”
Tôi nói với người nhà:
”Hôm nay tôi mời, nhưng sẽ có người đến trả tiền, mọi người có tin không?”
Người nhà tôi cười nói:
”Chúng em không trả tiền đâu!”
Có người cười nói:
”Đợi một lúc nữa chúng em đi rồi, để đại ca ở lại nhà hàng này rửa bát vậy, ha ha ha.”

Lúc ấy trong lòng tôi hơi lo lắng, người trả tiền sao vẫn chưa xuất hiện, mọi người sắp rời bàn ăn rồi, hoa quả cũng đã ăn xong rồi, món tráng miệng cũng đã ăn xong rồi, đồ cần đem về cũng đã đóng gói rồi.

Đám người chúng tôi đang chuẩn bị đi ra. Tôi kiên trì đến cùng đi về phía quầy thanh toán. Trên lối đi ra có ba người đang quỳ. Ba người này là:
Thượng sư Liên Gia.
Ông Bộ Lâm. (Mã Vĩnh Phi)
Hoa Hướng Dương. (bút danh)
Họ nói:
”Chúng con đã thanh toán rồi!”
Ôi chao! Vạn tuế! Vạn tuế! 
Cuối cùng đã có người thanh toán rồi!

Ở trên bàn ăn, tôi nói với người nhà rằng sẽ có người thanh toán, quả nhiên là có người đã trả tiền. 
”Thần toán siêu chuẩn!”
(Trước đó căn bản là tôi không biết ba người họ sẽ xuất hiện.)

🌟

Tôi nói:
Thần toán siêu chuẩn chủ yếu là hai chữ “tương ứng”.
Lão Tử nói: “Đắc một thứ, vạn sự xong.” Cá nhân tôi cho rằng về phương diện Mật giáo, đắc một thứ này chính là “Thần-Ta hợp nhất”, thần và ta hợp nhất tức là tương ứng.

Lão Tử còn nói:
“Thiên đắc Nhất dĩ thanh. Địa đắc Nhất dĩ ninh. Thần đắc Nhất dĩ linh. Cốc đắc Nhất dĩ doanh. Vạn vật đắc Nhất dĩ sinh. Hầu vương đắc Nhất dĩ vi thiên hạ bình.” [Ý nghĩa là: Trời được Đạo, nên trong. Đất được Đạo, nên yên. Thần được Đạo, nên linh. Hang được Đạo, nên đầy. Vạn vật được Đạo, nên sống. Hầu vương được Đạo, nên sẽ làm thiên hạ bình yên.]
Lư Sư Tôn tôi đắc Nhất thì thiên hạ chuẩn!
Pháp Nhất này tìm ở đâu?
Mật giáo nói rất hay: 
Thân thanh tịnh — thủ ấn.
Khẩu thanh tịnh — trì chú.
Ý thanh tịnh — quán tưởng.

Đây là công phu rèn luyện bản thân, từ đó mà đắc Nhất.
Phật giáo nói: “Nhất tâm bất loạn.”
Mật giáo nói: “Một tức tất cả, tất cả tức một.”
Không thể là hai ba bốn năm sáu bảy tám chín, bởi vì nhiều thì sẽ loạn.

“Thủ nhất” mà Đạo gia nói cũng tức là “tương ứng” mà Mật giáo nói, mọi người phải biết đó!


### 18. Quỷ Thần hữu vi


Lư Sư Tôn thường nói với người ta, Phật pháp mà Phật Đà giảng có bốn loại:
1. Pháp làm người. (mọi việc ác không làm)
2. Pháp thiện hạnh. (mọi việc thiện nên làm)
3. Pháp đối trị. (tự thanh tịnh ý niệm)
4. Pháp đệ nhất nghĩa.

Tôi nói:
Ba loại đầu là thuộc về pháp hữu vi, loại cuối cùng là thuộc về pháp vô vi. 

Có một câu nói rằng: Bậc thượng đức vô vi, chẳng hề tính toán kì vọng mưu cầu, thuận theo tự nhiên. Người hạ đức làm gì cũng tính toán mong cầu mãi không ngừng nghỉ.
Câu nói này có nghĩa tương đương là “Phật tính là tịch diệt thanh tịnh không tăng không giảm vô vi vô tác, còn đạo của Quỷ Thần là hữu vi hữu tác, có tướng có tạo.”

Trên phương diện tu hành, cá nhân tôi biết rằng tu pháp hữu vi mà đạt đến điểm cao nhất là pháp vô vi.
Ví dụ:
Ngồi thiền.
Quán chiếu.
Duy thức.
Trung quán.

Ngồi thiền là pháp từ động nhập tĩnh. Quán chiếu: quán là xem, chiếu là nghe lại. Đây đều là phương pháp hữu tác hữu vi. Duy thức là ngoài không trong có. Trung quán là không chấp Có-Không. Đây đều là tác dụng của niệm lực. 

Tu hành Mật giáo là:
Bảo bình khí, cửu tiết Phật phong, kim cang tụng, pháp vô lậu, pháp chuyết hỏa, pháp minh điểm. Thông trung mạch, mở năm luân xa, pháp kim cang, vô thượng mật… Đều là pháp hữu vi. 
Mật giáo đến Đại viên mãn mới là pháp vô vi. 
Minh tâm kiến tính mới là pháp vô vi.

Thiền tông có một vị là thiền sư Hữu Đường, ông ấy nói thế này:
”Trước núi nghìn trượng dựa gậy lê.” Tức là nói rằng, tu hành giống như leo núi, phải leo từng bước từng bước, phải dựa vào một cây gậy để leo lên đỉnh núi.
”Hữu vi đến cực đỉnh là vô vi.” Ý nói rằng, đầu tiên phải dùng pháp hữu vi, cuối cùng lên đến đỉnh rồi tự nhiên sẽ hiểu cái gì là pháp vô vi, minh tâm kiến tính rồi.

🌟

Sau khi tôi thành tựu, Phật nói với tôi:
”Ngài chớ lễ bái bất kì ai!”
Tôi nói:
”Lễ bái Phật, lễ bái cha mẹ, lễ bái sư phụ, lễ bái chúng sinh thì sao?”
Phật nói:
”Được. Đó là tứ ân.”
Tôi hỏi:
”Ý chỉ của Phật là bảo tôi đừng lễ bái một cá nhân, điều này là vì sao?”
Phật nói:
”Phật tính vô vi, Quỷ Thần hữu vi. Ngài vô vi, nhưng Quỷ Thần có thể phẫn nộ, có thể giáng tai họa cho đối phương.”

Có một lần, tôi quên mất lời nhắc nhở này, tôi khấu đầu đảnh lễ một người, thế là chuyện không ngờ tới đã xảy ra.

Con cháu của người này còn rất trẻ, mới ngoài 30 tuổi, đã bất ngờ tử vong. Ôi chao! Thật đáng sợ! Thật đáng sợ!
Đúng là sẽ có sự việc như vậy phát sinh, ngay đến tôi cũng kinh hoàng. 

Còn nhớ khi tôi tu hành, khi ấy tôi vẫn còn chưa minh tâm kiến tính, có rất nhiều sự việc kì quái phát sinh. Hễ tôi khấu đầu đảnh lễ ai thì nhanh chóng người đó sẽ không may mà chết, hơn nữa tỉ lệ tử vong rất cao. Ngoài những cao tăng có đạo ra thì một số tăng nhân bình thường bị tôi làm lễ đều đi đời nhà ma! 
Thượng hưởng! [Thỉnh cầu các vị về hưởng đồ cúng vậy.]


### 19. Tạ Nho Sinh cúng rượu


Buổi tối ngày 11 tháng 9 năm 2011, có hai tín chúng đến Nam Sơn Nhã Xá ở Mĩ, một người là Tạ Nho Sinh, người kia là Lí Tổ Gia, ở trước đàn thành của Nam Sơn Nhã Xá, họ dâng cúng hai chai rượu XO. 

Có một chuyện kể ra thì cũng kì lạ là:
Đêm hôm đó tôi nằm mơ tham gia vào một buổi tiệc, Chư Phật Bồ Tát tụ tập, giống như hội cúng của Mật giáo vậy. Rất nhiều thức ăn ngon, có cam lộ của cõi trời, có nước ngọc của cõi trời, có quả quý của cõi trời, có thiên đơn, có pháp vị mà ở nhân gian không có, các vị Phật Bồ Tát đều hết sức vui vẻ.
Ngoài ra còn có hai chai rượu XO. Khổng Tước Minh Vương nói với tôi:
”Lư Sư Tôn, uống một chén đi!”
Tôi uống.
Thần Tài Đầu Voi khuyến khích tôi:
”Ngài uống thêm một chén nữa đi!”
Tôi lại uống.
Diêu Trì Kim Mẫu khuyến khích tôi:
”Lư Sư Tôn, tối nay ngài hãy thoải mái “xả láng” đi!”
Tôi lại uống.
Phật Thích Ca Mâu Ni nói với tôi:
”Lư Sư Tôn, ngài có thần thông, dùng “thế thân” để uống rượu là được rồi!”
Tôi lại cạn thêm vài chén nữa.

Đến sáng ngày hôm sau, tức là sáng sớm ngày 12, tôi vừa tỉnh dậy thì, chà! Mặt tôi đỏ gay, đến cả hai con mắt cũng đỏ, Thượng sư Liên Hương và Lí Tổ Giai nhìn thấy thì sợ hết hồn. 
”Bị cao huyết áp rồi!”
Họ lập tức đem máy đo huyết áp ra để đo huyết áp cho tôi, đo xong thì vẫn ổn, huyết áp là 140-78, nhịp tim là 80. 
(Bình thường huyết áp của tôi là 130-70, nhịp tim là 75.)

Họ hỏi tôi:
”Có chuyện gì vậy?”
Tôi đáp:
”Đêm qua tôi uống rượu cùng Phật Bồ Tát.”
(Thật ra tôi thần toán siêu chuẩn cũng không phải che giấu, chỉ cần Phật Bồ Tát tiết lộ một chút thông tin cho tôi, tôi nói ra nếu không chuẩn tới mức làm người ta kinh hãi thì cũng chuẩn đến mức “chết người”.)

🌟

Tôi nói:
Trẻ con chúng ta khi mới sinh ra, ở cái thóp trên đỉnh đầu có một cái lỗ, bác sĩ gọi là huyệt bách hội, Đạo gia gọi là cung nê hoàn, Mật giáo gọi là huyệt đỉnh luân. Lúc mới sinh, cái thóp này còn chưa đóng lại, gọi là “tiên thiên”. Đến khi nó đóng lại thì gọi là “hậu thiên”. 

Tôi nói với mọi người, Lư Sư Tôn tôi được trời ưu ái, cho đến ngày hôm nay, cái huyệt ấy chưa từng đóng lại, cho nên tôi vĩnh viễn là “tiên thiên”. 

Chớ coi thường huyệt bách hội này của tôi, tôi và các thần minh qua lại thăm viếng nhau, giao tiếp trên dưới với nhau, đều là nhờ huyệt bách hội này. 

Chư Phật Bồ Tát đều từ huyệt bách hội này mà đi ra đi vào, các vị quán đảnh cho tôi cũng đi vào như vậy, đây mới là quán đảnh chân thực nhất đó!

Đạo gia nói: ”Nuốt một viên chân đơn vào bụng, biết mạng ta chẳng phải do trời.” Kim đơn này không phải là nuốt từ miệng, mà là đi vào từ cung nê hoàn. 

Lư Sư Tôn tôi khi nhập định, huyệt đỉnh luân căn bản là mở ra, lúc này vạn tia hào quang xuyên đến tam giới tứ Thánh, muôn việc trong thiên hạ làm sao mà không biết chứ? Thần toán siêu chuẩn căn bản là trò trẻ con.

Mật giáo có pháp khai đỉnh (pháp phowa). Dùng cỏ cát tường cắm vào để chứng thực là đã khai đỉnh. Đây là hậu thiên mở tiên thiên. Thế nhưng tôi nhận ra, cho dù đã khai đỉnh rồi, nhưng mở hết hay là mở một nửa thì một khe hở cũng đều có vấn đề. 

Ngoài ra, hậu thiên muốn biến tiên thiên thì cần tu luyện, hoàn toàn không phải là khai đỉnh rồi thì sẽ qua lại thăm viếng Phật Bồ Tát đâu!


### 20. Gặp phải một người “răng sắt” thật sự


[Răng sắt là một từ tiếng lóng ở Đài Loan, dùng để gọi những người bài trừ tôn giáo tín ngưỡng một cách tiêu cực.]

Có một người đến gặp tôi, người này họ Chu, tự xưng là hậu duệ của hoàng thất triều Minh, tôi xin lỗi không tiết lộ tên. 
Vừa mới gặp ông ta đã nói:
”Lư Sư Tôn, tôi biết ông là một tên bịp bợm!”
Tôi nghe xong thì chẳng hề nổi xung, tôi vẫn cười nói:
”Sao ông lại nói chắc như vậy?”
Ông ta không hề trả lời thẳng câu hỏi của tôi mà lại hỏi ngược lại:
”Xin ông hãy thẳng thắn nói cho tôi biết, ông có phải là người nhân nghĩa không? Ông có phải là một người tốt không?”
Câu hỏi bất thình lình này khiến tôi cảm thấy kinh ngạc, ông Chu này là loại người gì đây. 
Tôi đáp:
”Tôi đích thực không phải là một Thánh nhân hoàn mĩ, tôi còn có những chỗ thiếu sót!”
Ông ta nói:
”Điểm này thì tôi cũng biết, bởi vì trong Kinh Thánh có nói rằng, Thượng Đế nói, thế giới này không tìm thấy nổi bảy người nhân nghĩa. Jesus càng nói thẳng hơn, trên thế giới này không có người tốt, ngay cả một người cũng không có.”
Tôi hỏi:
”Thế còn ông?”
Ông ta đáp:
”Tôi không phải người tốt. Thế còn ông?”
Tôi đáp:
”Tôi cũng không phải.”
Chúng tôi cười vang ha ha.

Ông ta nói:
”Tôi không tin thần toán, không chỉ là không tin ông, mà bất kì người thông linh nào tôi cũng đều không tin!”
Tôi hỏi:
”Vì sao vậy?”
Ông ta đáp:
”Từ Kinh Dịch bát quái là có thể biết, dịch tức là biến dịch, bát quái là âm dương biến hóa, trời đất sấm chớp gió mưa sông ngòi núi lửa là đạo lí biến hóa, cho nên thần toán mà có thể chuẩn thì điểm này tôi không tin.”
Ông ta nói:
”Ví như thân thể con người, huyết áp mỗi ngày đều khác nhau, đường huyết mỗi ngày đều khác nhau, nhịp tim mỗi ngày đều khác nhau, sự tuần hoàn của khí mỗi ngày đều khác nhau, tâm trạng mỗi ngày đều khác nhau, giấc ngủ mỗi ngày đều khác nhau, ngay cả thân thể người cũng còn không tính chuẩn được thì thiên vận có thể đoán chuẩn được sao? Tôi nói với ông, thần toán là mê tín, ngay cả khoa học cũng là mê tín, không có cái gì chuẩn.”
Ông ta lại nói:
”Ngay như Lão Tử cũng nói, cho nên ta có hoạn nạn là vì ta có thân, nếu ta không có thân thì ta có hoạn nạn gì?”
Ông ta lại hỏi tôi:
”Trời có gió mưa khó đoán, người có họa phúc sớm chiều, đây cũng là biến tới biến lui, làm sao mà ông đoán được? Thần toán chưa chắc đã chuẩn, đây chính là cái ngu dốt của thần toán đó!”

Tôi đáp:
”Thần toán của tôi không giống với thần toán của người bình thường, thần toán của tôi nếu không phải nhờ tới công phu chí hư thủ nhất thì không thể thực hiện được, nhờ sự an định mà đắc được cùng tận của sự biến hóa cùng tận tất phản, quay trở về gốc. 

Ông ta hỏi:
”Trên thế gian này chẳng có ai thật sự có thể đạt đến “chí hư thủ nhất”, cho nên tất cả thần toán thông linh toàn là lừa đảo!”
Tôi đáp:
”Người là ai, ta là ai, người có làm thì cũng được như thế.” [Dựa theo câu nói gốc của Mạnh Tử là: Thuấn hà nhân dã? Dư hà nhân dã? Hữu vi giả diệc nhược thị. Nghĩa là: Vua Thuấn là ai, ta là ai, ta có làm thì cũng được như vua Thuấn.]
Ông ta hỏi:
”Ông có thể đoán nghề nghiệp của tôi không?”
Tôi đáp:
”Ông là thầy xem tướng mệnh.” - Tôi nói một mạch.
Ông ta nói:
”Trả lời đúng rồi! Nhưng chỉ là trùng hợp thôi!”
Ông ta nói:
”Tôi là một người xem tướng mệnh, cho nên tất cả tướng mệnh tôi hoàn toàn không tin. Thông linh thần toán là trò tưởng tượng, tôi càng không tin.”


### 21. Đạo sĩ Mao Sơn


Còn nhớ có một lần, tôi nhận lời mời đến Vancouver Canada làm pháp hội, địa điểm là đại lễ đường của trường đại học British Columbia, pháp hội lần đó làm theo một kiểu riêng, ý tôi muốn nói là rất đặc biệt.

Bởi vì có một người là đạo sĩ Mao Sơn, vì đố kị với tiếng tăm vang lừng của tôi mà bắn ba mũi tên về phía Lư Sư Tôn. Trong lúc pháp hội đang tiến hành, đầu tiên xuất hiện một đám khí màu xám mù mịt cả hội trường, nhưng đã bị bức tường kim cang của tôi chặn lại ở bên ngoài. 

Tôi chú ý thấy, nhưng phớt lờ. Tiếp đó, “viu” một tiếng, một mũi tên màu đen lao đến phía trước mặt tôi, tôi hóa tay mình thành cái khiên Thời Luân Kim Cang, miệng tôi tụng chú Thời Luân Kim Cang: “Om ha kamala walaya soha.” Mũi tên vừa đụng vào cái khiên thì gãy “rắc” một tiếng. 

“Viu” một tiếng nữa, lại có mũi tên màu đen thứ hai bắn về phía tim tôi. Tôi vẫn dùng khiên để bẻ gãy tên. 
”Viu” một tiếng nữa, lại có mũi tên màu đen thứ ba bắn về phía hạ bộ của tôi. Tôi vẫn dùng khiên để bẻ gãy tên.

Lần này, nếu tôi không dùng pháp khiên của Thời Luân Kim Cang thì e rằng tôi đã ngã từ pháp tọa xuống rồi, nói không chừng cũng đi đời nhà ma. 

Lúc này, tôi cũng không cần khách khí nữa, tôi niệm:
”Thiên viên địa phương, luật lệnh cửu chương, ngô kim trì chú, nhiếp trụ đối phương. Thần binh thần tướng hỏa tốc cấp cấp như luật lệnh.”
Tay tôi kết ấn Nhiếp hồn. 
Hồn phách kia bay phất phơ, một đạo sĩ Mao Sơn đã bị tôi hút về, tôi dùng một chén trà úp chặt hắn bên trong rồi ấn niêm phong lại. 

Ngay tại hội trường, tôi tuyên bố sự việc này:
Đạo sĩ này có một đạo quán ở phía đông nam. 
Tướng mạo của đạo sĩ này.
Tuổi tác của đạo sĩ này. 
Lúc này, có một đồng môn dùng máy ảnh để chụp lại chén trà, quả nhiên nhìn thấy phía trên chén trà có một khối khí màu xám. Các đồng môn đều kinh hãi.

🌟

Sau sự việc ấy, Thượng sư Triệu Thiếu Đông đi kiểm tra sự tình, quả nhiên có một đạo quán ở tại phương vị đó. Có một đạo sĩ tuổi tác và tướng mạo giống như thế. Đạo sĩ này đã bị ốm nhiều ngày. 

Đầu đuôi sự tình là có mấy đồng môn bị đạo sĩ này dùng phép “hút chặt” để cung cấp và phục dịch cho hắn tới mức đã trở nên lơ mơ mơ hồ rồi. Tôi đến Vancouver làm pháp, đồng môn cũng đến tham gia, đạo sĩ Mao Sơn ấm ức bèn bày đàn pháp dùng tên bắn tôi. Kết quả là ba mũi tên chẳng còn, lại bị lăn ra ốm nhiều ngày rồi, cho đến khi tôi thả hẳn ra, nhưng hắn đã bị mất nguyên khí rồi!

Thượng sư Triệu Thiếu Đông nói:
”Quá chuẩn!”
Thượng sư Triệu truy hỏi tôi, muốn tôi truyền cho anh pháp bẻ tên. Kì thực chẳng phải pháp bẻ tên mà là pháp lá chắn Thời Luân Kim Cang.

🌟

Tôi nói:
Trên thế giới này có bạch đạo thì sẽ có hắc đạo, thái cực đồ của Đạo gia một nửa là trắng, một nửa là đen, mỗi bên chiếm một nửa, mạnh tương đương nhau. 

Phật giáo nói nghiệp trắng nghiệp đen. 
Đạo gia gọi là nhất dương nhất âm. 
Trắng là đại diện cho dương, đen là đại diện cho âm, sức mạnh của dương và sức mạnh của âm là mạnh như nhau. 

Đây cũng giống như mặt trời, nó có lửa chí dương phóng xạ ra ngoài, chiếu khắp thiên hạ. Nhưng cũng có hắc động chí âm hút tinh chí âm vào trong, như thế, mặt trời mới có thể tồn tại vĩnh hằng.
Thần Sáng Tạo của Ấn Độ giáo là Đại Phạm Thiên, đại diện cho chí dương.
Thần Hủy Diệt của Ấn Độ giáo là Thần Shiva, đại diện cho chí âm.
Còn Đạo gia là:
”Tri bạch thủ hắc.”


### 22. Ông Kình Thu đã đi đâu?


Có vợ và con trai của một người là ông Kình Thu đến Seattle nước Mĩ tìm tôi, họ tìm tôi để xem bói. Thì ra ông Kình Thu đã qua đời, họ muốn biết ông ấy đã theo nhân quả mà luân hồi đi đâu rồi. 

Tôi tĩnh tâm lại. Tôi đến Tứ thánh giới là Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn nhưng tìm không thấy ông Kình Thu. Tôi đã đến Vô sắc giới thiên, Sắc giới thiên, Dục giới thiên, vẫn không tìm thấy ông Kình Thu, ở cõi trời không có.

Tôi nghĩ nhất định là ông ấy ở trong những đạo khác:
Đạo người không có.
Đạo Atula không có.
Đạo súc sinh không có.
Đạo ngạ quỷ không có.
Đạo địa ngục có.
Thảm rồi! Ông Kình Thu đã đọa lạc vào trong đạo địa ngục đau khổ nhất, chẳng phải là rất bi thảm hay sao? Tôi không nén nổi kinh hãi.

Tôi lại quan sát kĩ càng hơn, lúc này mới thở phào, thì ra Diễm Ma Pháp Vương muốn có một nhân viên văn thư, mà ông Kình Thu thì rất có tài năng, cho nên Diễm Ma Pháp Vương đã mời ông Kình Thu nhận chức quan văn thư. 

Tôi trả lời: “Ông Kình Thư ở âm phủ làm chức quan văn thư.”
Vợ và con trai ông khá xúc động và cảm phục. Vợ ông nói:
”Chuẩn quá! Ông ấy từng được báo mộng là ở trước mặt Diêm La Vương nhận chức quan văn thư, như thế này thì đã xác minh được rồi, quả nhiên là như vậy. Cảm tạ Lư Sư Tôn.”
Con trai ông ấy nói:
”Bản thân tôi cũng có hiện tượng thông linh, đại khái cũng biết bố tôi ở trong âm phủ giúp đỡ Pháp Vương âm phủ, tất cả đều vô cùng chuẩn.”

Thần toán của tôi hết sức chuẩn xác, vợ con ông Kình Thu không ngớt ca ngợi!

🌟

Tôi nói:
Việc tu hành của tôi bắt đầu từ thông trung mạch, đầu tiên tu khí, khí rất đầy rồi thì sẽ thông trung mạch. 
Một khi trung mạch thông thì khí từ hải để luân nâng lên, sẽ chuyển đến đỉnh đầu, rồi lại đi vào mạch trái, mạch phải, cứ như thế chuyển tới chuyển lui, lâu dần khí mạch toàn bộ đều thông.

Đạo gia tu hành cũng không khác mấy, họ chuyên về nhâm mạch và đốc mạch, hai mạch thông rồi thì gọi là chuyển hà xa, có nghĩa là hà xa vận chuyển tiểu chu thiên. Lâu ngày, kì kinh bát mạch đều thông.

Lúc này, liên tục trong khi chuyển hà xa, muốn chuyển đến cảnh giới khác, cảnh giới này là:
”Nhật nguyệt hợp bích” — mặt trời đại diện cho dương, mặt trăng đại diện cho âm. Nói đơn giản là âm dương hợp nhất, lúc này sẽ hiện lên thái cực đồ viên dung nhất. Nhật nguyệt có thể hợp bích thì Phật tính ở trong đó.
”Tuyền cơ đình luân” — tuyền cơ đình luân có nghĩa là khí có hiện tượng dừng lại, lúc này tức là định vào “một”. Thân thể không có cảm giác nữa, quên luôn cả thân thể này, lúc này sẽ sản sinh ra một thân thể khác, thân thể này sẽ có thể tự do tự tại đến Tứ thánh giới, 28 cõi trời, nhân gian, Atula, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.
Đây là sự bắt đầu lại từ đầu của một sinh mạng mới.

Tu hành Mật giáo và tu hành Đạo gia đều có thể tu đến được hóa thân bên ngoài thân, chủ yếu là khí, mạch, minh điểm.
”Tuyền cơ đình luân” này cũng tự nhiên là cực tĩnh, cực tĩnh thì sẽ sản sinh ra ánh sáng. Ánh sáng này ở bên ngoài nhìn không thấy, phải nhìn vào bên trong, không phải là ánh mặt trời, không phải là ánh mặt trăng, không phải là ánh điện, mà là ánh sáng của tự tính. Đến được cảnh giới này rồi thì có thể nói là kiến tính.
Tường quang phổ chiếu.
Thụy khí nghìn tia.
Cho nên thần toán của tôi có thể chuẩn xác chính là vì hóa thân bên ngoài thân, dùng thân ánh sáng của mình, trên lên tới Tứ thánh, dưới xuống tới Lục phàm, như thế thì tất cả nhân quả luân hồi tự nhiên có thể biết rõ.
Thần toán của tôi không phải là xem bói ở chợ, hi vọng mọi người có thể hiểu và phân biệt rõ ràng. 


### 23. Người mù nhìn thấy


Cuối tháng 8 năm 2011, tôi trở về Seattle nước Mĩ, vào ngày 16 tháng 9, tôi đi đến Thường Hoằng Lôi Tạng Tự ở Panama để truyền thụ hai Mật pháp.
Thứ nhất, Bất Động Minh Vương tứ tung ngũ hoành “thiết” tự quyết.
Thứ hai, Thời Luân Kim Cang nhật nguyệt luân pháp.

Tại Thường Hoằng Lôi Tạng Tự, pháp duyên thù thắng. Lúc này, pháp sư Liên Ngôn dẫn một cô gái là Trương Thụy Quyên đến gặp tôi. Cô Trương Thụy Quyên đó khấu đầu đảnh lễ tôi, liên tục cảm ơn tôi, cảm ơn rối rít, tôi thì không hiểu chuyện gì cả. 

Pháp sư Liên Ngôn vội vàng giải thích:
Có một năm, tôi (Lư Sư Tôn) ở New York Kim Cang Lôi Tạng Tự, đúng vào lúc trước khi khai thị mật pháp, pháp sư Liên Ngôn nhìn thấy trong mắt tôi có một “thứ”, pháp sư đưa khăn giấy cho tôi để lau cái “thứ” trong mắt đó. 
Sau khi tôi lau xong thì tiện tay đưa lại cho pháp sư Liên Ngôn mảnh khăn giấy đó, pháp sư vốn định tìm thùng rác để vứt mảnh giấy đó, nhưng rồi lại nghĩ là gấp mảnh giấy lại rồi bỏ vào túi áo của mình. Sau đó pháp sư từ New York Kim Cang Lôi Tạng Tự bay về Thường Hoằng Lôi Tạng Tự ở Panama. 

Đúng lúc có cô Trương Thụy Quyên, vì lí do nào đó mà mắt cô đã bị mù mấy năm nên cô đến để xin pháp sư giúp đỡ. Pháp sư Liên Ngôn cũng không biết có một linh cảm từ đâu đến, bèn đưa mảnh khăn giấy mà Lư Sư Tôn đã dùng để lau mắt cho cô ấy, nói rằng: “Đây là khăn giấy mà Lư Sư Tôn đã dùng để lau mắt mình, cô cầm lấy lau lên mắt mình đi!”

Đôi mắt của Trương Thụy Quyên hoàn toàn không nhìn thấy. Cô cầm lấy tờ khăn giấy và xoa xoa lên mắt mình mấy cái. 
Chà! Kì tích đã xuất hiện rồi. Không ngờ đôi mắt của Trương Thụy Quyên đều nhìn thấy rồi. Bản thân pháp sư Liên Ngôn cũng nhảy dựng lên vì kinh ngạc.
Cho nên lần này Lư Sư Tôn đến Panama Thường Hoằng Lôi Tạng Tự, cô Trương Thụy Quyên lập tức đến khấu đầu tạ ơn. 

Người bên cạnh nghe được, liên tục xuýt xoa:
”Siêu chuẩn! Siêu chuẩn!”
Có người nói:
”Nói thẳng ra là quá ư bất khả tư nghì!”

🌟

Rốt cục chuyện này là thế nào?
Tôi nói:
Người tu hành khi tu đến “kim thủy tương sinh”, trong Phật pháp gọi là “tịch diệt vi lạc”. Phiền não, dục vọng, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của bản thân đã hoàn toàn đoạn diệt rồi. Và vào lúc này, Phật tính mới hiển hiện ra. Cái này gọi là: “Linh quang độc diệu, khử hết căn trần.”

Sự tu hành này thật sự rất không đơn giản, tôi đã tu mấy chục năm mới tu được “linh quang độc diệu”. Còn Phật Thích Ca Mâu Ni 19 tuổi tự mình cạo đầu xuất gia, trải qua sáu năm khổ hạnh trên núi tuyết, rồi lại trải qua bảy năm nữa mới ở dưới cây bồ đề thiền định bảy ngày đắc đạo, Phật Thích Ca Mâu Ni cũng phải mất tới 13 năm mới đạt đến “linh quang độc diệu”.

“Linh quang độc diệu” này mới xem như là đã quăng bỏ được phàm thai, đổi thành Phật cốt. Linh quang lúc này là thông suốt trong ngoài, đã hoàn toàn thoát khỏi phàm phu phàm cốt rồi. 
Đạo gia gọi là Chân Nhân.
Phật gia gọi là Kim Tiên.

Trên nguyên tắc mà nói, hành giả trong ngoài có ánh sáng, tất cả mọi thứ trên người đều là ánh sáng, cầm giấy lau cái “thứ” ở trong mắt thì mảnh giấy này sẽ thấm ánh sáng. Dùng tờ giấy đã thấm ánh sáng này để lau vào mắt người mù thì người mù này sẽ có phúc báo. Một khi có được ánh sáng thì con mắt sẽ nhìn thấy được!

Tu hành cần có:
Công đức.
Thiện căn.
Phúc báo.
Người bình thường cũng thế, cần có công đức, thiện căn, phúc báo. Một người trong ngoài đều có ánh sáng gia trì cho một đệ tử có công đức, thiện căn, phúc báo thì tương ứng sẽ rất nhanh chóng!


### 24. Siêu độ cho hồn ma bị chôn tập thể trên đồi


Panama Thường Hoằng Lôi Tạng Tự có đại điện rất nguy nga, Phật Bồ Tát trang nghiêm thù thắng, nhìn bên ngoài có ba tầng, tầng trên là Thất Phật Thế Tôn, tầng giữa là Quan Âm Bảo Điện, tầng dưới là phòng chứa hương đèn. Hai bên còn có điện Kim Mẫu, điện Cực Lạc, v.v… 

Đệ tử nơi đây đến từ Hoa Đô, Quảng Đông, Trung Quốc, phần đông là tộc người Hakka, hiện tại có gần 300.000 người gốc Hoa, chiếm một phần mười dân số toàn Panama. Tiếng tăm của Panama Thường Hoằng Lôi Tạng Tự rất hưng thịnh, hễ nhắc đến Phật giáo thì Thường Hoằng Lôi Tạng Tự chính là đại diện cho Phật giáo. 

Tổng điều hành là ông Phạm Vận Sí, ông kể với tôi một sự việc:
Có một người già vô tình phát hiện ra một ngọn đồi chôn tập thể của người Hoa ở thượng du của kênh đào Panama. Kể từ đó người già này bị mất ngủ nghiêm trọng. Kĩ sư trưởng của kênh đào Panama là ông Hoàng (Ing Juan Wong) đã bàn bạc mời Thường Hoằng Lôi Tạng Tự siêu độ cho những vong hồn ở đồi chôn tập thể. (Số người bị chết trên khu đồi chôn tập thể của người Hoa đó rất nhiều, nghe nói là thời kì đầu di dân, họ là những công nhân đến châu Mĩ để làm đường sắt, từ San Francisco đi xuống phía nam cho đến tận Panama, Trung Nam Mĩ, tại Panama đã gặp dịch bệnh lan tràn, thương vong nặng nề, ngay cả mộ bia cũng không có.)

Kĩ sư trưởng hỏi:
”Siêu độ cần kinh phí bao nhiêu?”
Phạm Vận Sí đáp:
”Tùy ý, không cần cũng được!”
Kĩ sư trưởng hỏi:
”Cúng phẩm cần bao nhiêu?”
Phạm Vận Sí đáp:
”Chúng tôi tự chi, đồng môn Chân Phật Tông người người đều chi tiền là được.”
Kĩ sư trưởng hỏi:
”Nhân viên tụng kinh cần bao nhiêu?”
Phạm Vận Sí đáp:
”Chúng tôi dùng Chân Phật Mật Pháp để siêu độ, đồng môn ai ai cũng biết.”

Kĩ sư trưởng nghe xong thì rất kinh ngạc, không ngờ lại có đoàn thể Phật giáo hoàn toàn tự động giúp đỡ mà không cần kinh phí, kĩ sư trưởng và vợ ông đều hết sức cảm động. Phạm Vận Sí nói:
”Siêu độ vừa kết thúc thì người già bị mất ngủ kia ngay hôm đó đã hết bệnh rồi. Cảm ứng phi thường, kì tích phi thường.”
Tổng điều hành Phạm Vận Sí nói:
”Đó là siêu độ của Chân Phật Mật Pháp lợi hại, sự chỉ dạy của Lư Sư Tôn có linh có nghiệm, vô cùng chuẩn!”

🌟

Lư Sư Tôn nói:
Người tu hành chúng ta, cái mà chúng ta tu là một tấc đất, một tấc đất chính là tâm, tâm chính là lương tâm. “Chỉ để lại một tấc đất vuông, truyền lại cho con cháu gieo trồng.”

Phật giáo là dạy con người, làm một con người đứng đắn, làm người tốt, làm việc tốt, nói lời hay, tâm đừng xấu xa.
Lại có một câu nói:
”Làm đường chớ trồng cây có gai, để sau này tránh làm rách áo con cháu.”
Câu này nói về nhân duyên quả báo, không được chỉ biết hại người, tránh cho con cháu đời sau phải chịu tai họa.

Làm người cả một đời cần tâm lượng rộng mở, đừng lúc nào cũng trồng cây gai hại người, điều này sẽ làm cho con cháu đời sau chịu quả báo phải chịu tội vạ.

Đồng môn của Thường Hoằng Lôi Tạng Tự làm siêu độ cho vong linh là một việc công đức, họ làm rất tốt. Người già kia bị mất ngủ nghiêm trọng, đương nhiên là do vong hồn quấy nhiễu, người tu hành phải bảo vệ kiên cố, ngăn chặn gian tà, người bình thường thì không biết điều này. 

Thơ:

*Thần Tiên trên trời ai có thể
Giữa một tấc vuông giấu linh căn
Tồn tưởng siêu phàm ắt nhập Thánh
Bồ đề tâm ấy tối thượng thừa.*


### 25. Gia trì cho sát hạch thắng lợi


Trong mấy ngày hoằng pháp tại Panama Thường Hoằng Lôi Tạng Tự, hội trường đều chật ních, người đến tề tựu chật như nêm. 

Có một người Mĩ Latin gốc Tây Ban Nha đặc biệt chạy đến tặng tôi một món quà, miệng không ngừng nói lời cảm ơn. Tôi không kịp nghe anh ta nói gì thì đã bị đẩy đi về phía trước. Sau đó có người kể với tôi:
Người Panama này từng thi giấy phép hành nghề luật sư, quá nhiều lần thất bại nên rất nản lòng. Có đệ tử Chân Phật Tông bảo anh ta cầu nguyện Lư Sư Tôn gia trì cho kì thi, nhất định sẽ thi đạt. Thế rồi đệ tử Chân Phật Tông giúp cho người Panama này viết thư gửi đến Chân Phật Mật Uyển xin gia trì. 

Sau khi tôi gia trì xong thì còn trì chú rồi viết lên bức thư rằng, Phật Bồ Tát giúp cho người này thi cử thuận lợi trót lọt, lần này nhất định thắng lợi. 
Nghe nói:
Ba ngày trước kì thi, không ngờ Lư Sư Tôn đã xuất hiện trong giấc mơ của anh, cầm sách bảo anh rằng câu hỏi này sẽ xuất hiện, câu hỏi kia sẽ xuất hiện, thậm chí đưa quyển bài thi cho người Panama kia đọc.

Người Panama đó tỉnh dậy thì ghi nhớ hết, và lần lượt ôn tập những đề mục đó. Còn tự mình học hai lần những đề mục trong quyển bài thi, liên tục học thuộc làu làu như cháo chảy mới thôi. 

Vào ngày thi, quyển bài thi vừa phát ra thì trời ơi! Quả nhiên là giống hệt với quyển bài thi mà anh thấy trong giấc mơ, con mắt anh suýt chút nữa là rơi ra ngoài. Anh nghĩ thầm trong đầu: “Lư Sư Tôn, xin cảm ơn ngài!”
Anh có thể làm hết bài thi. Công bố kết quả, anh đứng thứ nhất. 

Trong đám người, tôi nhìn anh ấy một cái, trong con mắt anh trào dâng dòng nước mắt cảm kích. (Quá chuẩn!) 

Tôi ở Panama đã dùng tay sờ đầu cho: 
Bộ trưởng Công An, tương đương với Bộ trưởng Quốc phòng kiêm Trưởng sở Cảnh sát và Chính trị. (Bởi vì Panama không có quân đội.)
Hồng y giáo chủ của Thiên Chúa giáo Panama.
Thị trưởng Panama. Thị trưởng Panama tặng tôi một huy chương, nói tôi là vị khách tôn quý nhất của Panama.
Tôi còn đến kênh đào Panama, tự tay mở cửa đập nước, để cho tàu chở hàng ra vào kênh đào Panama, họ nói đây là: “Niềm vinh dự tối cao!”

🌟

Có người hỏi tôi:
”Lư Sư Tôn, làm sao mà ngài có thể gia trì cho kì sát hạch tiếng Tây Ban Nha đó? Ngài hiểu tiếng Tây Ban Nha sao?”
Tôi đáp:
”Tôi không biết tiếng Tây Ban Nha. Tôi chỉ là một người tu hành, tôi chỉ biết “cởi mạch mở tâm”, cái này là “tứ thông bát đạt” [thông suốt cả bốn mặt tám phía không có gì ngăn trở]. 

Tôi nói:
Ở đây có rất nhiều cấp độ cảnh giới, đều sẽ lần lượt xuất hiện, ví dụ như:
”Tứ thông trì trù.”
”Khúc các tương liên.”
”Thần khí mãn thất.”
”Cam lộ Tu Di.”
Mặc dù tôi mang nhục thân của Lư Sư Tôn, nhưng tôi đã tự cảm nhận được có thân bên ngoài thân, nhục thân này không hiểu tiếng Tây Ban Nha, nhưng thân khác thì không có gì là không biết, không có gì là không thể.
Thân bên ngoài thân này không chỉ là một thân, mà là vô lượng hóa thân. Tu hành đến cảnh giới này đã là khó bề tưởng tượng rồi, cũng chỉ có thể dùng điều bất khả tư nghì để giải thích thôi.

Tôi chỉ học đến cử nhân kĩ sư. Nhưng tôi có thể gia trì cho kì thi cấp Thạc sĩ, Tiến sĩ. Tôi không hiểu pháp luật, nhưng lại có thể cho thi đỗ pháp luật, đây thật sự là một việc hết sức kì dị!


### 26. Vẽ phù niệm chú


Tại Panama Thường Hoằng Lôi Tạng Tự, pháp sư Liên Ngôn dẫn một pháp sư mới xuất gia đến gặp tôi, pháp sư mới xuất gia này tên là Liên Viên, anh ta xin quán đảnh vẽ phù. 

Tôi viết vào lòng bàn tay anh hai chữ “sắc lệnh”, triệu thỉnh gia trì và hà khí. Hoàn thành xong nghi thức quán đảnh. 
Liên Ngôn nói với tôi:
”Pháp vẽ phù của Lư Sư Tôn đã cứu rất nhiều người, đều linh cảm phi thường, hơn nữa còn rất chuẩn.”
Pháp sư Liên Ngôn kể:
Có một người già ngồi xe lăn, hai chân không còn sức lực, rồi con vẽ một lá phù “hữu lực”. Người già đó uống xong, kết quả là người già ấy đã xuất hiện kì tích, không ngờ đứng dậy đi được, hơn nữa còn bước đi rất ngay ngắn. 
Bác sĩ hỏi người già:
”Ông dùng thuốc của ai vậy?”
Người già đáp:
”Tôi không dùng thuốc, chỉ uống một mảnh giấy thôi.”
Bác sĩ thốt lên là không thể tưởng tượng nổi. 

Pháp sư Liên Ngôn nói:
”Mỗi lần con vẽ phù đều thỉnh Căn bản Thượng sư trụ đỉnh, phù như vậy cực linh, cực chuẩn!”

🌟

Vẽ phù niệm chú cũng chính là “Chúc Do Khoa” [một trong số các khoa mục trị bệnh trong Đông y cổ xưa, khoa này rất đặc biệt, không cần bắt mạch, châm cứu, uống thuốc, chỉ dựa vào phù chú. Chúc tức là chú, Do là nguyên do của bệnh. Thuật Chúc Do rất thần kì.], là một pháp thuật của Đạo giáo. Khoa Chúc Do chữa bệnh, nếu dựa theo nghi quỹ mà làm thì phải bày hương án, dâng lễ cúng, thỉnh thần, lễ bái, cầu chúc, sau đó niệm chú, vẽ phù, thường xuyên xuất hiện hiệu quả lớn. Chớ coi thường thuật bàng môn tả đạo này, thật sự là có hiệu ứng, vẫn có thể cứu người.

Cái này trong Mật giáo cũng có:
Dùng cây gỗ bị sét đánh khắc thành phù của Uế Tích Kim Cang, uống phù thức này vào, cũng có thể chữa bệnh. 

Thể loại này, theo thời hiện đại mà nói thì là “chữa bệnh bằng liệu pháp tinh thần”. Chớ coi thường khoa Chúc Do, muốn học khoa Chúc Do thì cũng phải thanh tâm quả dục, giữ năm giới, làm mười điều thiện, giới luật (giữ lời thề) trong đó cũng không ít, phải là chính nhân quân tử mới có thể học được. 

Tôi nói:
Người thành kính và có tâm cung kính mới có thể luyện. 
Người trọng nghĩa khinh tài mới có thể luyện.
Người thuần khiết trung hậu mới có thể luyện.

Nếu như tâm còn ngờ vực, cười cợt xem thường, tâm tham lợi lộc, phỉ Thần báng Đạo, say sưa rượu chè, háo sắc tà dâm, tâm không trong sáng, nghĩ quàng nghĩ xiên, qua loa đại khái, thì những người này đừng học mà đắc tội với thần minh, đắc tội với trời. Học không được mà trái lại còn đọa xuống địa ngục, tội lỗi càng lớn, cho nên đừng học thì tốt hơn. 

Pháp tối thượng thừa của khoa Chúc Do chính là chúc do cho chính mình, tự mình vẽ phù tự mình uống, có thể khiến cho bản thân được thanh tịnh. Thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh. Cưỡi lên “ánh sáng phù” để thần hành đến tứ thánh lục phàm thập pháp giới. 

Chúc do cho chính mình để biến đổi nhục thân, trở thành “Phù Tiên”, như vậy là ở vào dòng dõi Thần Tiên rồi. 

Mật giáo vẽ phù là vẽ chú tự ở trên mặt nước, không dùng bút, chỉ dùng thủ quyết, lập tức thành nước chú Đại Bi. 
Dùng thủ quyết vẽ lên thân người, niệm chú, thì bệnh sẽ khỏi. 
Kết kim cang chỉ, vẽ lên trên mặt nước, vẽ chú tự, rồi hắt nước này đi, là cam lộ vẩy lên núi Tu Di. 
Đại bàng Kim Sí Điểu, khoáng dã quỷ thần chúng, la sát quỷ tử mẫu, cam lộ đều tràn trề.

Pháp phù của Lư Sư Tôn cực chuẩn, cực lợi hại!


### 27. Xá lợi pháp loa


Từ Panama Thường Hoằng Lôi Tạng Tự trở về Seattle phải quá cảnh ở thành phố Houston bang Texas nước Mĩ. Vì thế tôi dừng lại một thời gian ngắn ở Houston Mật Nghi Lôi Tạng Tự, làm một đàn hỏa cúng Hộ Ma Thời Luân Kim Cang. 

Ngày 20 tháng 9 tôi đến Mật Nghi Lôi Tạng Tự thì ngày 21 tháng 9 tôi làm pháp hỏa cúng. Khi ấy có con gái của bà Dương Tú Hạc cầm ảnh chụp xá lợi sau khi hỏa thiêu bà Dương Tú Hạc đưa cho tôi xem, trong bức ảnh ấy có:
1. Xá lợi hoa bảy màu sáng và đẹp.
2. Một xá lợi pháp loa màu trắng vàng.

Tôi nhìn thấy thì hết sức khen ngợi:
”Quả nhiên là một đại cư sĩ, xuất sắc phi phàm, lưu lại vết tích thù thắng như vậy cần phải tuyên dương rộng rãi.

Tôi nhớ lại quá khứ, khi tôi mới xuất đạo, lúc còn ở Đài Loan, ông Lưu Tu Như, vụ trưởng vụ Giáo dục Xã hội, bộ Nội vụ, viện Hành chính đã giới thiệu bà Dương Tú Hạc làm quen với tôi. Bà Dương Tú Hạc tặng tôi một tác phẩm bà ấy biên soạn là cuốn “Phật giáo Thánh kinh”, phân loại kinh Phật, lấy những kinh văn trọng điểm để lựa chọn ra những tinh hoa, tạo thuận lợi lớn cho người học Phật. (Công đức này không thể coi thường.)

Chúng tôi trao đổi thư từ qua lại với nhau. Về sau, bà Dương Tú Hạc quy y tôi, tu Chân Phật Mật Pháp.

Sau này tôi di cư sang Seattle nước Mĩ. Bà Dương Tú Hạc di cư sang Houston nước Mĩ. Ban đầu bà ấy ở chùa Ngọc Phật, đợi đến khi Houston Mật Nghi Lôi Tạng Tự hoàn thành thì bà ấy lại trở về Mật Nghi Lôi Tạng Tự. 

Bà Dương hỏi tôi:
”Tôi và Đại Bồ Tát hợp nhất tu pháp được không?”
Tôi đáp:
”Đương nhiên, du già chính là hợp nhất.”
Bà Dương nói:
”Hợp nhất tu pháp, cảm nhận càng kiên cố, cực kì vững chắc.”
Tôi vui mừng vì bà ấy đã hiểu hợp nhất tu pháp, bởi vì đây chính là tương ứng, và còn tiến nhập du già tinh vi nhất. Tôi đến Houston thì nhất định phải gặp bà ấy.

Bà Dương Tú Hạc tổng cộng sống đến 104 tuổi, sau khi hỏa táng thu được xá lợi hoa bảy màu và xá lợi pháp loa. Bà ấy là một đệ tử Chân Phật mẫu mực của tôi, là một người thực tu thực chứng.

🌟

Tôi nói:
Thân thể này của chúng ta là tứ đại giả hợp. 
Đất — là xương thịt vững chắc.
Nước — là huyết dịch và nước, minh điểm.
Lửa — là nhiệt độ, nhiệt năng.
Gió — là hít vào thở ra.

Thân thể vốn là tứ đại giả hợp mà thành, một khi tứ đại phân tán thì con người sẽ chết. Tu hành Mật giáo đầu tiên phải tu “gió”, trong Phật giáo chính là quán đếm hơi thở. Hơi thở này, mọi người cho rằng một lần hít vào thở ra là một hơi thở, nhưng mục đích chủ yếu nhất là dùng hơi thở để điều hòa tâm, tiến nhập vào sự tinh vi nhất.
Trọng điểm là hơi thở: mảnh, chậm, dài.

Đạo gia thậm chí còn điều hòa hơi thở đến mức gần như không có, có nghĩa là “khưu tức” [thở như loài rùa], “thai tức” [thở như thai nhi]. Vì sao? Bởi vì nếu là thai tức thì hậu thiên biến tiên thiên, chính vào lúc này, tâm mới đứng im, tâm khí hợp nhất, minh tâm kiến tính rồi!

Mật giáo tu hành thì hơi thở cũng là phần quan trọng, thiền định đến tam ma địa ngũ uẩn đều không mới có thể minh tâm kiến tính, mới có thể đại triệt đại ngộ. 

Trong những năm cuối đời của bà Dương, bà ấy im lặng không nói chuyện, gặp người ta chỉ gật đầu mà thôi, đây cũng là “bế tức”. 
Lúc này tức là trong lòng đã hiểu. 
Thế nhân không hiểu “tịch diệt vi lạc” mà Phật Đà nói là ý gì. Duy có tôi Lư Sư Tôn là người hiểu được chân chính. 


### 28. Liên Hoa Nhất Vân có thai


Có một tín chúng tên là Liên Hoa Nhất Vân, sống ở bang khác, biết tôi ở Seattle Lôi Tạng Tự bèn bay tới đây. 

12 giờ trưa, khi tôi đến nhà ăn để ăn cơm, cô ấy đi nhanh về phía trước nói với tôi, cô đã kết hôn 11 năm nhưng mãi chưa có thai. Chồng cô là bác sĩ Đông y, lại có một hiệu thuốc bắc, kinh doanh rất hưng thịnh, cuộc sống khá sung túc. Chỉ có một điều đáng tiếc là họ kết hôn đã 11 năm mà hoàn toàn không có tin tức gì. 

Bởi vì chồng cô là bác sĩ Đông y nên bản thân cũng thường xuyên pha chế thuốc để hỗ trợ cho người ta dễ có thai. Người bình thường có bệnh uống thuốc xong thì nhanh chóng có thai, xa gần đều nức tiếng. Thế nhưng chính mình thì lại không linh. 

Hai vợ chồng cũng rất thoải mái, có thai hay không có thai thì đều không bận tâm, nhưng ngược lại, các bề trên thì lại sốt ruột, nóng lòng muốn có cháu bế. Hai vợ chồng đều đến bệnh viện kiểm tra, nguyên nhân không rõ, tất cả đều bình thường, thế nhưng vẫn không có con. 

Nghe xong lời thổ lộ của Liên Hoa Nhất Vân, tôi chiêm bói một lúc. Tôi hỏi:
”Trong phòng khách nhà cô có phải là treo một cái gương Bát quái cổ không?”
Cô ấy đáp:
”Lư Sư Tôn nói chuẩn quá, đó đúng là chiếc gương Bát quái cổ, là do một Đạo trưởng tặng, treo trong phòng khách đã lâu rồi, để trấn âm uế.”
Tôi nói:
”Cô về nhà, trong khoảng thời gian thượng bán nguyệt [nửa tháng trước khi trăng tròn] thì bỏ nó xuống, sau đó trong khoảng thời gian hạ huyền nguyệt [sau khi trăng tròn và trước khi có trăng mới], làm như vậy chắc chắn sẽ có thai.”

Cô ấy trở về nhà, nghe lời tôi, trước ngày trăng tròn thì cô ấy bỏ gương xuống, sau ngày trăng tròn cô ấy lại treo gương lên. 
Lạ quá! Lạ quá! Đúng vào ngày bỏ gương Bát quái xuống thì cô đã có thai rồi!

Liên Hoa Nhất Vân lại đến bảo tôi:
”Thần toán siêu chuẩn, thật sự là quá chuẩn, có thai rồi!”
Tôi nói:
Quẻ hậu thiên của Văn Vương Bát quái, quẻ Can ở hướng tây bắc, Khảm thì ở hướng bắc, Cấn thì ở hướng đông bắc, Chấn ở hướng đông, Tốn ở hướng đông nam, Li ở hướng nam, Khôn ở hướng tây nam. 
Bởi vì thượng bán nguyệt, thượng huyền có hiện tượng của quẻ Đoài, ngày mồng 8 sẽ hơi sáng một chút, đến ngày 15 mới xem là trăng sáng hết cỡ. Nói chung, thượng bán nguyệt mà bỏ gương Bát quái xuống thì không sợ âm uế, để cho khí có thể đi vào. 

Thế còn hạ bán nguyệt thì thuộc về âm, lại qua tám ngày, âm lịch là sau ngày 22, thì là quẻ Cấn. Gương Bát quái lúc này có thể treo lên như cũ, có thể chặn được âm uế.

Nguyên lí của Bát quái là lưỡng huyền hợp nhất, thượng bán nguyệt thuộc về dương, hạ bán nguyệt thuộc về âm, cho nên thượng bán nguyệt là bạch nguyệt, hạ bán nguyệt là hắc nguyệt, đây là điều Mật giáo nói.

Bởi nguyên do là gương Bát quái chặn âm uế, một khi treo lên lâu ngày thì khí của hài nhi sẽ không thể vào được, cho nên không có thai. Vào thượng bán nguyệt bỏ gương xuống, dương khí không bị chặn, khiến cho khí của hài nhi có thể đi vào và thác sinh. Vào hạ bán nguyệt lại treo gương lên, lại chặn khí âm, tự nhiên cả nhà có thể bình an, đây là pháp mà tôi dùng.

Có người hỏi tôi:
”Treo gương Bát quái lẽ nào cứ phải thượng bán nguyệt thì hạ xuống, hạ bán nguyệt thì lại treo lên sao?”
Tôi đáp:
”Không phải vậy, cái gọi là gương Bát quái là đã được gia trì Đạo pháp, cách dùng nó có tính đặc thù, bát quái bình thường thì không cần phải như vậy. Ở đây là chỉ vì không có thai mới phải bỏ xuống, bỏ xuống treo lên đều phải theo đúng ngày tháng mà làm thì mới không xảy ra chuyện ngoài ý muốn.”

Tôi nói:
Hiện nay có rất nhiều người học Kinh Dịch, kì thực Kinh Dịch thật sự là không dễ. Chu Hi là người đời Tống, học Kinh Dịch mấy chục năm, học vấn của Chu Hi rất lớn, ai ai cũng biết rồi, nhưng vẫn không làm sao hiểu hết được.


### 29. Nhà anh có cháy rồi


Trong một lần hỏi việc từng xảy ra một sự việc hết sức kì lạ. Có một người là ông Tào Cẩn và vợ đến thỉnh cầu tôi một việc. Tôi nhắm mắt lặng im một lúc. Mũi tôi bỗng ngửi thấy một mùi khét lẹt, hơn nữa càng ngày càng đậm đặc, tôi bất thình lình mở to mắt ra, mọi người đều giật nảy mình.

Tôi hỏi:
”Cái gì đang cháy vậy?”
”Không có.” - Mọi người bảo tôi.
Tôi hỏi:
”Mọi người có ngửi thấy mùi cháy không?”
Mọi người đáp:
”Không có.”
Tôi nói:
”Lạ nhỉ, rõ ràng là mũi tôi ngửi thấy mùi cháy, mọi người đều không ngửi thấy, lẽ nào mũi tôi hỏng rồi.”

Tôi hỏi ông Tào Cẩn và vợ:
”Có phải là bếp lửa nhà ông quên tắt không?”
Vợ Tào Cẩn đáp:
”Đi ra ngoài thì không nấu gì cả.”
Tào Cẩn nói:
”Thật sự là không nấu gì, bữa sáng thì chúng tôi ra ngoài mua đồ về ăn, còn chưa động đến bếp.”
Tôi nói:
”Hai người mau trở về nhà đi, để cho người khác hỏi trước, xem xem trong nhà có bị cháy không. Sau đó lại đến đây hỏi việc đi!”
Tào Cẩn nói:
”Vâng, vâng, vâng, nhà chúng tôi không xa, chúng tôi về nhà đã, một lát nữa lại tới.”

Họ vội vã trở về nhà, nửa tiếng sau, họ vội vã quay lại. Vừa vào đến cửa thì họ đã lớn tiếng kêu lên:
”Quá linh! Quá chuẩn!”
”Chuyện gì cơ?” - Mọi người hỏi.
”Vợ tôi là quần áo, quên không rút phích cắm bàn là ra, quần áo bị cháy, ngay cả vải bọc cầu là cũng bị cháy một lỗ to, và còn đang tiếp tục cháy tiếp. Lư Sư Tôn! Ngài đúng là siêu chuẩn, vì sao mũi ngài có thể ngửi được mùi cháy khét trong nhà tôi chứ?”
Tôi cười cười:
”Tôi cũng không biết. Ha ha!”

🌟

Tại Panama Thường Hoằng Lôi Tạng Tự, có đệ tử kể với tôi, nhà hàng xóm bên trái của họ bị cháy, lửa cứ cháy về phía bên phải, tức là cháy sang tới nhà anh ta, anh ta vô cùng lo lắng. 

Sức lửa rất mạnh, bỗng dưng anh nghĩ đến tâm chú của Lư Sư Tôn, anh niệm: “Om guru liansheng siddhi hum.” Đám cháy này đang mãnh liệt thì từ từ tắt. Đám cháy của nhà hàng xóm đã đốt đến bức tường của nhà anh thì dừng lại. Thoát nạn!

🌟

Tôi nói:
Người tu hành là tu “tính” và tu “mệnh”, trong Mật giáo mà nói thì hoàn toàn dựa vào cảnh giới của công phu này. 
”Tính” là nhất niệm bất sinh, nhất tâm bất loạn.
”Mệnh” là khí mạch điểm đều thông.
”Tính” và “mệnh” phải song tu, thân và tâm này vốn là một thể, phàm phu bình thường thì là phân tách ra. 

Có người nói, học Phật là chuyên tu “tính”, học khí là chuyên tu “mệnh”. Kì thực không phải, cả hai cái phải phối hợp làm một, “tính mệnh đan xen” mới có thể có diệu dụng đặc biệt. 

Mật giáo tu khí, mạch, minh điểm, mặc dù là công phu của “mệnh” do thực thể tu thành, nhưng điểm cuối vẫn là phải biết tự “tính” nguyên bản không thể bàn cãi. Hai cái hợp làm một thì diệu dụng sẽ sinh ra!

Tôi có thể ngửi thấy lửa cháy ở nhà Tào Cẩn là dựa vào công phu song tu “tính” và “mệnh”. 


### 30. Chính tín Phật giáo


Có một tăng nhân tự xưng là chính tín Phật giáo đến tìm tôi. Ông ta nói:
”Lư Sư Tôn, tôi thấy ông là bàng môn tả đạo.”
Tôi nói:
”Bàng môn cũng là môn, tả đạo cũng là đạo.”
Ông ta nói:
”Bàng môn tả đạo có thể thành Phật không?”
Tôi nói:
”Nói một ví dụ đi, cửa chính có thể đi vào Đại Hùng Bảo Điện, cửa bên cũng có thể đi vào Đại Hùng Bảo Điện, thậm chí cửa sau cũng có thể đi vào. Còn với tả đạo thì cũng thế thôi, chỉ là đi một vòng quanh mà thôi, vẫn có thể đắc thành chính quả.”
Tăng nhân chính tín Phật giáo hỏi:
”Cách lí luận này của ông không được, ông là người đã từng học pháp nhĩ báo, học nhĩ báo có thể thành chính quả không?” 
Tôi đáp:
”Pháp nhĩ báo là thỉnh âm linh đến để thông báo tin tức, việc lớn chưa chắc đã chuẩn, việc nhỏ thì chắc chắn là linh. Cái này cũng có lợi ích, có thể độ rất nhiều chúng sinh đi vào cửa Phật, chẳng phải là thiện sao? Hơn nữa âm linh sau khi làm rất nhiều việc thì để cho họ chuyển thế đi đầu thai. Đầu thai thành nam thì sẽ trở thành người giàu sang, đầu thai thành nữ thì sẽ thành nhất phẩm phu nhân. Hoặc cũng có thể xuất gia tu đạo, chẳng phải là thiện sao?”

Tôi lại nói:
”Phật giáo nói Thanh Văn thừa, Duyên Giác thừa, là hai thừa, đương nhiên cũng có bàng môn tả đạo, là tà. Nhưng tu thành Thanh Văn, tu thành Duyên Giác, có một ngày họ lĩnh ngộ được Phật thừa duy nhất, tự nhiên cũng có thể thành tựu Phật quả, quay trở về chính đạo thôi!”
Ông ta nói:
”Ví dụ của ông rất mị dân, nhưng vì sao không bắt đầu đã đi luôn chính đạo?”
Tôi đáp:
”Pháp ẩn thân, có học không? Pháp ngũ độn, có học không? Pháp chuyển vận, có học không? Pháp độn giáp, có học không? Pháp thế thân, có học không? Pháp trị bệnh, có học không? Pháp trường sinh, có học không? Pháp nhĩ báo, có học không? Pháp hà diệp đồng tử, có học không?…”
Tôi nói:
”Những pháp này đều không phải là Phật giáo chính thống, nhưng có công dụng hay không? Tôi nói vẫn là có công dụng, độ người rất tiện lợi, hóa duyên cũng rất tiện lợi, làm việc tốt cũng rất tiện lợi, cứu người hay làm thế giới tốt đẹp hơn đều tiện lợi.”
Ông ta hỏi:
”Có gì tiện lợi?”
Tôi đáp:
”Tôi bảo trời mưa, trời sẽ mưa. Tôi bảo cơn bão chuyển hướng, báo sẽ chuyển hướng. Tôi lạc đường trên núi, tôi bảo Thổ Địa Công dẫn đường, ông ấy liền dẫn đường. Có người rơi xuống nước, tôi bảo Thủy Thần đỡ người đó, người đó liền sống. Rõ ràng là bị bệnh sắp chết rồi, tôi bảo Minh Vương tha cho họ, họ liền sống. Người nợ tiền, kêu họ đánh bạc, họ liền thắng. Tôi có thể nhìn được nhân quả ba đời, có thể sai khiến quỷ thần. Những việc này mặc dù không phải là Phật giáo chính tín, nhưng xét trên sự thuận tiện làm việc thiện độ người thì rất có hiệu quả, có đúng không?”
Ông ta nghe xong im lặng không nói.

Tôi nói:
”Đừng cho rằng tôi chỉ biết xem bói chuẩn xác, trên phương diện thiền định, không bị ảnh hưởng bởi cảnh giới tức là “thiền”, nhất tâm bất loạn tức là “định”. Trên phương diện tịnh thổ, tôi niệm Phật không ngừng. Trong Mật giáo, tôi tu đến thanh tịnh viên minh đại viên mãn, tự thấy bản tính, minh tâm kiến tính, trở về bên trong Phật tính Chân Như không sinh không diệt, không tăng không giảm, không sạch không bẩn vốn có. Về giới luật, chúng tôi giữ ngũ giới, Bồ Tát giới, xuất gia giới, v.v… tất cả Phật pháp tôi đều biết, sao mà không biết cái gì là tà đạo? Cái gì là chính đạo?”

Tăng nhân chính tín hỏi tôi:
”Trên người tôi có bệnh, khi nào thì tôi sẽ đi?”
Tôi đáp:
”Mồng ba tháng Giêng sang năm.”
Đến ngày mồng ba tháng Giêng năm sau, tăng nhân chính tín này quả nhiên quy tiên rồi. Ông ấy để lại cho tôi một lời nhắn là:
”Lư Sư Tôn là Chính Biến Tri!”


### 31. Tết Hải Dương


Mùa hè ở Seattle nước Mĩ có tết Hải Dương [Seafair Weekend Festival], tết Hải Dương có rất nhiều tiết mục, Seattle có một cái hồ lớn nhất, tức là hồ Washington, hồ lớn thứ hai là hồ Sammamish. Rất nhiều tiết mục được biểu diễn trên hồ Washington. 

Có một hôm, một người da trắng (người phương Tây) đến Lôi Tạng Tự tìm tôi. Anh ta kể:
Đêm qua nằm mơ, có một thiên sứ cao lớn mặc áo trắng, toàn thân tỏa ánh sáng, nói với anh rằng: “Đi tìm Lư Thắng Ngạn Sư Tôn Sheng-yen Lu, chỉ cần tìm ông ấy là anh sẽ thắng lợi.”
Tôi hỏi:
”Tìm tôi làm cái gì?”
Tôi đáp:
”Tết Hải Dương có thi đấu thuyền buồm, có vài trăm con thuyền buồm cùng xuất phát, người đầu tiên đến được trạm cuối cùng sẽ là người chiến thắng. Tôi đã tham gia nhiều năm rồi, lần nào cũng đều trượt, tôi đã cầu nguyện Thượng Đế, kết quả là Thượng Đế ở trong mơ bảo tôi đến tìm ngài thì sẽ thắng.”
Tôi nghe xong thì cười vang ha ha!
Anh ta nói:
”Thật đó! Là Thượng Đế bảo tôi đến.”
Tôi hỏi:
”Làm sao anh biết cách tìm tôi?”
Anh ta đáp:
”Tìm trên mạng.”

Tôi không hỏi gì anh ta nữa, tôi viết ra một lá phù, là phù “Phong Thiên Thần”, dán lên cột buồm. Kết quả là, trong cuộc thi đấu thuyền buồm của tết Hải Dương đó, anh ta thật sự đã về nhất. Anh ta rất vui mừng nói:
”Mảnh giấy đó dán lên, điều kì quái là, trời xanh vạn dặm không mây, chẳng hề có gió thổi, thuyền buồm đều đi rất chậm. Duy có thuyền buồm của tôi là xung quanh nổi gió, thổi thuyền của tôi chạy, đương nhiên là tôi về nhất rồi.”
Tôi vẫn chỉ cười ha ha. Anh ta nói:
”Lư Sư Tôn thật lợi hại, siêu chuẩn.”

🌟

Trong Mật giáo mà nói, thân thể này là đất, nước, lửa, gió - tứ đại giả hợp. Cái gì cứng chắc thì gọi là đất; nước bọt, máu dịch và những thể dịch khác thì gọi là nước; nhiệt năng của thân thể gọi là lửa; có hô hấp và động lực thì gọi là gió. 

Trên nguyên tắc, sinh mạng là một hít một thở, hít thở gió này là nguồn gốc của sinh mạng, cho nên Mật giáo có Cửu tiết Phật phong, Kim cang tụng, Bảo bình khí, đều gọi là tu gió. 

Ngũ hành là: Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ.
Tương sinh là: kim sinh thủy, thủy sinh mộc, mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim. 
Tương khắc là: kim khắc mộc, mộc khắc thổ, thổ khắc thủy, thủy khắc hỏa, hỏa khắc kim. 

Khắc này đại diện cho gió. “Tạo hóa thâm sâu, đều do Hà Đồ.” Cái gọi là “nhất điểm lưu châu” cũng tức là gió.

Chúng ta có thuyết gọi là “thiên nhất sinh thủy”, đương nhiên nước là vô cùng quan trọng, nhưng cái sinh trong “thiên nhất sinh thủy” này vẫn là tác dụng của gió. Mật giáo coi trọng hơi thở - gió, lấy việc tu gió làm đầu. Sinh mạng này của chúng ta trên thực tế bên ngoài có một lớp bảo vệ thân thể, tương tự như có một lớp khí quyển dày bao quanh trái đất là tầng bảo vệ, phải xuyên qua tầng khí quyển này mới có thể ra được bên ngoài vũ trụ. 

Tu hành của chúng ta phải xuyên qua được thể khí mới có thể chứng đắc thanh tịnh viên mãn, mới có thể minh tâm kiến tính. Tôi nói những điều này là để chứng minh tầm quan trọng của gió trời, Phong Thiên Thần là thần cách hóa của gió trời. 

Tôi vẽ phù Phong Thiên để giúp cho người phương Tây kia thi thuyền buồm thắng lợi, giống như Khổng Minh mượn gió đông, còn tôi thì mượn gió bắc, thổi về hướng nam mà thôi!


### 32. Tưởng nhớ Liên Tướng


Còn nhớ khi tôi còn trẻ, tôi giúp người ta xem phong thủy, cũng giúp người ta xem vận mệnh, tôi thường xuyên đi Gia Nghĩa. 

Tỉnh trưởng của Gia Nghĩa khi ấy là ông Đồ Đức Kì, mỗi lần tôi đến, tỉnh trưởng nhất định đích thân đón tiễn, còn giúp tôi mở cửa xe. Nguyên nhân là tôi sinh ra tại suối Ngưu Trù ở huyện Hậu Hồ, tỉnh Gia Nghĩa, tỉnh trưởng Đồ cũng sinh ra ở Gia Nghĩa, nên có tình đồng hương. 

Ngoài ra, tỉnh trưởng Đồ nhậm chức đảng bộ, đảng bộ tỉnh, trưởng ban Nội chính tỉnh, đảng bộ trung ương, ủy viên hội đồng hành chính Chính phủ, tư chính của phủ Tổng thống… đều nằm trong những suy đoán của tôi. Trên chính đàn, mọi việc của ông đều thuận buồm xuôi gió. 

Liên Tướng [Đồ Đức Kì] có việc gì đều tìm đến tôi để bàn bạc, ông ấy hơn tôi 11 tuổi nhưng coi tôi là thầy. Ông ấy là con người thật thà, phúc hậu. Ông ấy từng cùng với Hứa Thủy Đức đến Seattle, xa quê gặp người quen cũ, chúng tôi trò chuyện với nhau rất vui vẻ. Đài Loan Lôi Tạng Tự của chúng tôi có thể được cấp phép là nhờ công của ba người Ngô Đôn Nghĩa, Đồ Đức Kì và Trương Lệ Đường. 

Tôi từng có một tai nạn nhỏ, là nhờ công của đảng bộ tỉnh Quách Triết, Đồ Đức Kì và Vương Nhất hóa giải. Nói thẳng thắn, mặc dù tôi là sư phụ của Đồ Đức Kì (Liên Tướng) nhưng ông ấy giúp đỡ tôi còn nhiều hơn cả tôi giúp ông ấy. Chúng tôi giống như anh em, tình cảm rất sâu đậm, trong lòng cảm mến và nhớ nhung nhau. 

Một năm kia, ông ấy mất con trai, cứ đau lòng mãi, tôi làm sư phụ mà chỉ có thể an ủi ông ấy và làm siêu độ cho con trai ông ấy. Năm đó, năm 2010, tôi trở về Đài Loan sống một khoảng thời gian dài, nên chúng tôi siêng qua lại thăm hỏi. Ông ấy đã nghỉ hưu, ở nhà chăm đứa cháu trai mà con trai để lại. Ông nửa vui nửa buồn. 
Vui là vì có cháu bầu bạn.
Buồn là vì đứa cháu càng lớn càng giống con trai, thường xuyên khiến cho ông đầm đìa nước mắt. Có thể thấy được tính tình của Đồ Đức Kì là con người có tính tình trung hậu bẩm sinh, ai cũng chẳng có cách nào an ủi ông ấy.

🌟

Mùa hè năm 2011, ông ấy cùng một người bạn già đến Đài Trung tìm tôi. Tôi vừa gặp thì giật nảy mình, ông ấy ba hồn thì thiếu mất một, gầy gò nhợt nhạt, yếu ớt mong manh, ăn uống chẳng vào.

Tôi hỏi:
”Sao vậy?” - Tôi thật sự rất quan tâm đến sức khỏe của ông, muốn ông vui vẻ một chút. 
Ông ấy đáp:
”Tim, não, huyết dịch hoặc hệ miễn dịch có vấn đề, bác sĩ cũng không biết.”
Tôi nói:
”Đi kiểm tra lại lần nữa đi! Tôi giúp ông gia trì để tìm ra nguyên nhân bệnh.”

Tháng 8 năm 2011, vào tháng mà tôi sẽ trở về Mĩ, Đồ Đức Kì (Liên Tướng) lại đến tìm tôi, chúng tôi ăn cơm ở nhà hàng Bản Sắc Người Hẹ. Ông ấy nói:
”Chức năng tạo máu có vấn đề.”
Tôi nói:
”Là bệnh ung thư máu, phải cấy tủy.” - Tôi nói thêm: “Hãy trì nhiều Cao Vương Kinh!”
Ông ấy nói:
”Cấy tủy là bước cuối cùng, trước tiên phải nhập viện để hóa trị đã. Nhập viện phải ở trong phòng cách li, bởi vì hệ miễn dịch không còn nữa, một khi bị lây nhiễm thì cũng xong luôn, Lư Sư Tôn nhất thiết phải cứu tôi.”

Tôi bói toán cho Đồ Đức Kì một lúc, bói toán xong, trong lòng trùng xuống, tôi ủ ê không nói, chỉ có thể nói rằng:
”Nghe lời bác sĩ đi!”

Sau khi chúng tôi chia tay, tôi nói với người bên cạnh rằng, Liên Tướng đã không còn cơ hội sống nữa, tỉ suất cứu được chưa tới ba điểm trên mười. Trên xe, tôi nhìn thấy ông ấy vẫy tay chào, trong lòng tôi thầm nói với ông: “Vĩnh biệt, Liên Tướng.”

Ngày 2 tháng 10 năm 2011, từ Đài Loan truyền tin đến, Đồ Đức Kì đã đi rồi! Tôi thở dài một tiếng, ôi chao! Ngày 2 tháng 10 làm hỏa cúng Hộ Ma, tôi nhất định sẽ tận tâm siêu độ cho Đồ Đức Kì (Liên Tướng). 

Viết một bài thơ:

*Tuổi tác cao rồi tháng năm vội vã
Một cành rơi rụng ông trời xót xa
Linh hồn chắc chắn về miền Cực Lạc
Chỉ còn có thể tìm về quá khứ.*


### 33. Nhà anh bị ngập nước


Khi tôi sắp đi Mĩ, có một đệ tử họ Ông ở huyện Bình Đông cầm bản đồ địa hình đến thỉnh tôi xem phong thủy cho nhà của ông ấy, đồng thời hỏi tôi xem đàn thành nên bố trí ở hướng nào. 

Sau khi chỉ điểm sơ sơ thì đột nhiên tôi có một linh cảm là nhà của ông ấy sẽ bị ngập nước. Tôi cũng thật lòng nói:
”Nhà ông sẽ bị ngập nước!”
Ông ấy đáp:
”Nhà tôi ở thế đất cao, 60 năm nay chưa từng bị ngập nước, xin Sư Tôn yên tâm.”
Tôi nói:
”Sau khi về thì những đồ quý giá ở tầng một hãy chuyển lên tầng hai đi!”
Ông ấy đáp:
”Lư Sư Tôn! Đúng thật là 60 năm nay chưa từng bị ngập nước đâu.”
Tôi nói:
”Vẫn cứ phòng bị thì tốt hơn, không ngập nước thì lại chuyển đồ xuống tầng một.”

Đệ tử Ông trở về Bình Đông, ông ấy cũng không nghe lời tôi nói. Ông ấy nói với hàng xóm rằng: “Sẽ bị ngập nước.”
Hàng xóm nói:
”Bị lừa rồi, chúng ta ở đây chưa từng bị ngập nước, cái đầu của sư phụ của ông bị hỏng rồi!”
Đệ tử Ông cảm thấy xấu hổ không nói được gì.

Đúng là không thể ngờ! Cơn bão Nanmadol ập đến mang theo mưa lớn xối xả, một ngày mà lượng mưa bằng cả một năm, mưa lớn như trút nước, nước ngập hết cả miền nam Đài Loan (phần đuôi của Đài Loan), Bình Đông bị ngập lớn. 

Đệ tử Ông không nghe lời, bộ loa, ti vi, ghế sofa, những đồ nội thất quý giá, đàn piano… đều trôi bồng bềnh. Xe ô tô, xe máy cũng đều bị ngập hết. Đệ tử Ông nhớ đến lời cảnh báo của Lư Sư Tôn, đáng tiếc là tất cả đã muộn rồi. 

Sau sự việc ấy, hàng xóm của ông nói:
”Liên Sinh Hoạt Phật quả nhiên là Liên Sinh Hoạt Phật, quả nhiên đoán việc như thần, 60 năm chưa từng ngập nước, mà một câu nói của ông ấy đã bị ngập nước rồi, đúng là thần cũng biết ăn bánh ngọt.”
Đệ tử Ông nói với tôi:
”Lần sau nhất định sẽ nghe Sư Tôn.”

🌟

Tôi nói:
Trong “Hà Đồ Lạc Thư” đã chỉ ra “thiên nhất sinh thủy”, “địa nhị sinh hỏa”, hai cái hợp lại thì sẽ thành ba số. 

Chúng ta tu Mật giáo thì thiên nhất sinh thủy là chỉ bồ đề tâm nguyệt dịch. Địa nhị sinh hỏa là chỉ chuyết hỏa ở khoảng rốn. Thủy này hạ xuống, hỏa dâng lên, sẽ hợp lại tại “hoàng thổ” ở vùng tim, hoàng thổ này là cũng là “trung hoàng chân ý” [chân ý là một danh từ trong tu luyện nội đan, chỉ ý niệm tập trung cao độ trong quá trình luyện công, còn gọi là chân tâm, hoàng bà, chân thổ, chính giác.]

Trong Bát quái, Li đại diện cho mặt trời, cũng là hỏa. Khảm đại diện cho mặt trăng, cũng là thủy. Cái khối khí từ phía trên hạ xuống này cùng với khối khí từ phía dưới đi lên đâm vào nhau thì sẽ nổ ra một tiếng vang như sấm.

Mưa rơi sấm đánh gió thổi đều là một loại tác dụng của thượng hành khí, hạ hành khí, mệnh khí, biến hành khí, hỏa bạn khí. 
Đối với thời tiết thì là như vậy.
Còn đối với thân thể con người thì cũng như thế. Trên thân thể con người, muốn thủy hỏa tương tế, bên tám lạng người nửa cân thì phải hợp nhất, đó mới là tu đạo.
Hỏa quá vượng thì thủy sẽ bị đốt cạn khô!
Thủy quá vượng thì hỏa sẽ bị dập tắt!
Cho nên duy có dựa vào thổ đức ở trung ương, điều hòa nhiều mặt, mới có thể có được tác dụng trợ giúp lẫn nhau. 

Tôi quan sát thiên tướng:
Biết nước lớn thì lửa nhỏ, nước sẽ dập tắt lửa, vì thế mà biết sẽ có đại hồng thủy xảy ra. Lại biết Tốn phong sẽ hình thành nên bão, cái này chính là sự hô hấp của trời, sẽ dẫn đến đại thủy đổ ập xuống.
Hoàng thổ không có cách nào điều hòa.
Đây là linh cảm đặc biệt của tôi!


### 34. Em trai của pháp sư Liên Hỉ


9 rưỡi tối ngày 3 tháng 10 năm 2011, chúng tôi vào tiệm ăn Lẩu Bốn Mùa ở Seattle để gọi một chút đồ ăn. Pháp sư Liên Hỉ là người thường trú ở Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, bà ấy và pháp sư Liên Ngạn đến từ Panama Thường Hoằng Lôi Tạng Tự, về sau thích nước Mĩ nên đã ở lại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự tại Seattle. 

Pháp sư Liên Hỉ kể:
Khi Lư Sư Tôn ở Panama, có bốn nhân viên bảo vệ trẻ tuổi, bốn bảo vệ này là thành viên của nhóm thanh niên của Thường Hoằng Lôi Tạng Tự, một người trong số đó chính là em trai của pháp sư Liên Hỉ. 

Bốn bảo vệ này mặc áo trắng, thắt cà vạt đỏ, mặc quần tây màu đen, có thể ra vào mọi lúc để bảo vệ Lư Sư Tôn. Em trai của pháp sư Liên Hỉ mặc dù thân thể cường tráng nhưng có bệnh mãn tính từ lâu, lúc còn nhỏ bị bong gân nên lúc nào cũng có cảm giác đau âm ỉ. 

Khi tôi đi vào trong thang máy, bốn bảo vệ này canh giữ xung quanh. Lúc này, cái chân đau của em trai pháp sư Liên Hỉ phát tác nên mới thỉnh tôi đá cho anh ta một cái. Tôi đá anh ta một cái, hỏi:
”Còn đau không?”
Anh ta đáp:
”Còn một chút.”
Tôi lại đá anh một cái nữa. Tôi hỏi:
”Còn đau không?”
Anh ta đáp:
”Không đau.”
Kì lạ là, đá hai cái, bệnh đau chân hoàn toàn tiêu trừ. Càng kì lạ hơn là, cái chân đau của em trai pháp sư Liên Hỉ lúc trước thường xuyên phát tác, kể từ ngày hôm đó thì hoàn toàn không tái phát nữa. 
Pháp sư Liên Hỉ nói:
”Kì tích đó! Kì tích!”

🌟

Chúng ta học Mật giáo, thật sự phải hiểu rất nhiều, đây đều là vì tiện lợi độ chúng sinh, chúng sinh có trăm bệnh, chúng ta cần hiểu trăm phương pháp, biết nhiều cách để xử lí. 

Người học Mật giáo chân chính phải học Ngũ minh, Nhân minh, Y phương minh, Công xảo minh, Nội minh, Thanh minh, v.v… Có đôi khi còn phải biết võ công, kiếm thuật, khám bệnh, tướng mệnh, phong thủy, thiên văn, dược lí, châm cứu, đơn dược, ngũ thuật, trên phải ngửa mặt xem thiên văn, dưới phải nhìn xuống quan sát địa lí. 
Gần như là phải thông hiểu đủ mọi thứ. 
Đây là vì cái gì? 
Trên phương diện đối với chúng sinh thì là vì độ người ta đi vào cửa Phật. 
Trên phương diện đối với bản thân thì là vì minh tâm kiến tính. 
Đây gọi là “điều hòa nhiều mặt”. 

Tôi đá cho em trai của pháp sư Liên Hỉ một cái, cú đá này không phải là ung dung mà đá, tôi phải thỉnh cầu Bổn tôn đi vào người tôi. Tôi phải trì chú trị bệnh. Tôi phải biết chỗ cần đá vào, phải hiểu mạch đạo. 
Tôi vận dụng thuật vô hình của mình, dòng chảy pháp sáng rực đi vào chỗ đau bị sái chân của em trai pháp sư Liên Hỉ, đả thông khí huyết, để khí huyết tuần hoàn, sau đó thì không còn đau nữa!Đây gọi là: “Luyện đơn đã thành thì sỏi đá cũng thành vàng.”

Trong kinh Lăng Nghiêm, Phật Đà phê bình gắt gao 50 âm ma, nhưng Phật Đà cũng nói 10 loài tiên, 10 loài tiên mỗi loài đều có phương pháp tu trì đặc biệt. Phật Đà không hề quở trách, chỉ là nói rằng không thể thành bậc chính giác mà thôi. Kì thực thành hay không thành chính giác cũng là nhân duyên, có một ngày nhân duyên đến rồi thì cũng có thể thành chính giác. Tôi cho rằng học tập nhiều mặt, chỉ cần có lợi ích cho chúng sinh, thì có gì mà ngại chứ?

Tôi cho rằng:
Người làm thượng sư, phải chính biến tri.
Còn như con người bình thường hiền lành chất phác thì thâm nhập một pháp là được.


### 35. Tránh được hung thần


Trong số các thành phố lớn của nước Mĩ, Seattle là một thành phố nhỏ ở phía tây bắc. Còn chùa tổ của chúng ta ở quận Redmond, xung quanh quận Redmond là các quận Bellevue ở phía tây, Issaquah ở phía nam, Woodinville ở phía bắc. 

Nghe nói vào một buổi chiều ở quận Issaquah, khoảng tầm 6 giờ lúc tan tầm, trên con phố chính ở trung tâm có vang lên tiếng của một vụ nổ súng. 
Hầy!
Nguồn gốc của vụ nổ súng này là từ một người da trắng, hắn lái ô tô chạy xuôi theo con đường chính ở trung tâm, hễ gặp người và xe thì giơ súng bắn, bất kể là quen hay không quen đều bắn hết. 
Trong thoáng chốc, gần như những chiếc xe chạy qua đều bị đạn bắn vỡ cửa kính, có thể nói là một vụ hỗn loạn lớn. Tiếng xe, tiếng người, tiếng rít chói tai, tiếng bước chân vội vàng chạy trốn, tiếng cửa sổ xe bị vỡ. 

Xen lẫn những tiếng:
”Ôi lạy Chúa tôi!”
”Ngày tận thế rồi!”
”Xã hội điên rồ!”
”Đáng sợ quá!”
”Muốn giết người!”
Không lâu sau, tiếng xe cảnh sát hú còi inh ỏi, bốn chiếc xe cảnh sát bao vây lấy chiếc xe nổ súng. Một loạt tiếng súng nổ “binh binh binh binh” “peng peng peng peng”, tên thủ phạm nổ súng đã bị bắn chết.

🌟

Sau sự việc ấy, trợ giảng Linh kể với chúng tôi:
Con gái của trợ giảng Linh đang đi làm ở gần đó, khi tan làm trở về nhà thì chắc chắn phải đi qua con đường chính ở trung tâm quận Issaquah, và thời gian lúc nào cũng là tầm 6 giờ. Suốt mấy năm nay điều này đều không thay đổi, cứ khoảng 6 giờ là lái xe ra con phố chính ở trung tâm. 

Trên xe có treo bùa bảo hộ của Chân Phật Tông Lư Sư Tôn. Vào ngày xảy ra vụ bắn súng đó, con gái của trợ giảng Linh đột nhiên có một suy nghĩ là hôm nay về nhà không đi con phố chính nữa, mà lái xe chạy một vòng rộng, đến con đường nhỏ ở gần đó để ngắm phong cảnh rồi mới vòng về nhà. Thế rồi cô đột ngột bẻ tay lái, đúng là lần đầu tiên đi đường nhỏ về nhà. 

Về đến nhà, lúc này cô mới biết, con đường chính ở trung tâm đã xảy ra vụ nổ súng dọc đường, những chiếc xe đang chạy qua không một xe nào may mắn tránh khỏi.

Con gái của trợ giảng Linh thở hắt ra một hơi, sao lại trùng hợp như vậy, lần đầu tiên cô ấy không đi con đường chính thì con phố chính ở trung tâm lại bị bắn nát bét như vậy. Thật sự, quá kinh hãi, quá khủng bố!

Trợ giảng Linh ở Lôi Tạng Tự nói:
”Phật Bồ Tát linh thật!”
”Lư Sư Tôn bảo hộ!”

🌟

Tôi nói:
Phàm bất kì chuyện gì phát sinh đều bao gồm con người, sự việc, địa điểm, sự vật, thời gian. Thời gian, địa điểm và nhân vật là ba thứ quan trọng nhất. 

Môn đoán mệnh có một câu là: “Quan quỷ đồng cung dị vị.” 
Câu nói này cũng tương tự như đạo lí: “Họa phúc gắn liền với nhau mà sinh khắc.”
Quan — là tốt, là vận khí tốt, nhưng cũng bận chết luôn!
Quỷ — là xấu, là vận khí kém, nhưng không nhất định là rất nhàn hạ.

Mỗi một sự việc có mặt tốt và cũng có mặt xấu, cá nhân tôi không chiêm bốc cho chính mình, bởi vì sau khi tôi hiểu lí lẽ của âm dương, tôi biết trong dương có âm, trong âm có dương, trong tốt có xấu, trong xấu có tốt, thế gian này là biến đổi tới lui.

Giống như con gái của trợ giảng Linh, mỗi ngày đều đi làm về trên con phố chính ở trung tâm, cho nên đến thời điểm đó của ngày hôm đó, nhất định sẽ gặp phải “quỷ”. Nhưng có linh quang lóe lên, bỗng lần này cô không đi con phố trung tâm nữa, nên không đụng phải “quỷ”. 

Tu hành có thể thay đổi vận mệnh. 


###  36. Thần nhân đến báo


Buổi tối ngày 5 tháng 10 năm 2011, tôi đang ngủ mơ, có một thần nhân đi vào trong giấc mơ của tôi, thần nhân này thân cao trượng sáu, tức là chiều cao tương đương với hai người đứng lên nhau, đầu như cái thúng cỏ, thân mặc thiên y, ánh sáng chói lòa, trên đỉnh đầu có vòng ánh sáng, vai có cầu vồng, dưới chân có mây. 

Thần nhân bảo tôi:
”Lư Sư Tôn! Ngày mai có một người họ Chiêm đến để xin đặt tên, ngài hãy bảo anh ta rằng đặt tên là Lưỡng Huyền, đừng quên đừng quên.”
Thần nhân nói xong thì biến mất.

Sau khi tôi tỉnh dậy, sợ mình quên mất, tôi vội vã lấy bút rồi viết lên giấy hai chữ Lưỡng Huyền rồi bỏ vào trong túi áo mình. 

Ngày 6 tháng 10 năm 2011, sau bữa trưa, đột nhiên có một người vội vã tiến đến nói với tôi, vợ anh sinh con trai, muốn đặt tên, xin hỏi Sư Tôn.
Tôi nói:
”Họ gì?”
Đáp:
”Họ Chiêm.”
Tôi lấy tờ giấy trắng trên người tôi ra đưa cho anh ta, anh mở ra xem mảnh giấy thì giật nảy mình, luôn miệng nói:
”Chuẩn! Chuẩn! Siêu chuẩn! Thật đúng là thần nhân!”

Sau sự việc ấy tôi mới hiểu tình hình là như sau:
Người họ Chiêm này sinh được một đứa con trai. Vợ nói:
”Khi sinh đứa con này, em mơ thấy có ánh sáng chiếu vào bụng, rồi lại mơ thấy tổ tiên đến bảo rằng đứa con này nên đặt tên là Lưỡng Huyền, mộng cảnh rất rõ ràng, vậy đặt tên là Lưỡng Huyền đi!”
Người họ Chiêm nói:
”Lưỡng Huyền là ý nghĩa gì chứ? Em mơ lung tung nên đặt tên bừa, anh không tán đồng.”
Cô vợ tranh cãi, vợ nói:
”Là tổ tiên đặt tên đó.”
Chồng nói:
”Chưa từng nghe thấy có người đặt tên là Lưỡng Huyền, vì sao không phải là Nhất Huyền? Vì sao không phải là Tam Huyền, Ngũ Huyền, Thất Huyền?”

Sau đó hai vợ chồng họ thỏa thuận là thỉnh Lư Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật đặt tên cho con trai! Lấy tên của Lư Sư Tôn đặt cho là chuẩn nhất. Không ngờ cái tên trên tờ giấy trắng cũng lại là hai chữ Lưỡng Huyền. 
Vợ chồng đều thán phục!

🌟

Tôi nói:
Trên đời này đúng là có những việc thần kì như vậy, nửa đêm thần nhân đến nói với tôi là Lưỡng Huyền, còn người vợ kia cũng mơ thấy Lưỡng Huyền, sự tương ứng như vậy đúng là chuẩn như thần, bất khả tư, bất khả nghì. 

Nghe nói, tổ tiên nhà họ Chiêm thích Kinh Dịch, nghiên cứu khá nhiều về Kinh Dịch, cũng có được những tâm đắc, chẳng trách mà đặt tên là Lưỡng Huyền. 

Đạo lí của Dịch là:
”Vì khi phân tách sự hỗn độn thì nước và lửa sẽ phân ra.” Câu này là nói rằng hỗn độn vốn là một thể, một khi phân tách ra thì sẽ thành nước thành lửa. Chúng ta biết rằng nước là âm, lửa là dương, cũng chính là nhất thể phân âm dương. 

Lấy mặt trăng để so sánh:
Thượng huyền nguyệt (thượng bán nguyệt), hạ huyền nguyệt (hạ bán nguyệt), mặt trăng vốn tròn, phân ra thành lưỡng huyền [hai nửa hình tròn].
Trong Đạo gia mà nói thì tu hành là: “Về sau, khí của lưỡng huyền từ phân mà hợp, Mậu Kỉ nhị thổ, loại trừ và quy về trung thổ, lại là một hỗn độn như xưa.”
Đạo gia gọi là: “Lưỡng huyền hội hợp tức trở về nơi thái cực.” Trở về cái gốc, hoàn nguyên, sự kì diệu của quy căn phục mệnh.

Tổ tiên họ Chiêm đặt tên là Lưỡng Huyền là nói rằng:
Âm dương phân khai.
Nhật nguyệt phân khai.
Thủy hỏa phân khai.
Nếu như ngưng kết thì là kim đơn.


### 37. Hải quan thuyên chuyển công tác


Trong phòng làm việc của Tông Ủy Hội ở Seattle, có người nhắc đến chuyện: 
Sân bay Seattle có một nhân viên hải quan là phụ  nữ người Hoa, đối với những người Hoa nhập cảnh thì đặc biệt hung, đặc biệt dữ tợn, người Hoa nhập cảnh thường xuyên bị gọi lại, bị kiểm tra đặc biệt nghiêm ngặt. 

Mọi người cho rằng nhân viên người Hoa này nhất định là có vấn đề gì đó với người Hoa, kì thực như thế là sai rồi. 

Tôi đi vào cục Di dân, vào hải quan, sợ nhất là gặp phụ nữ, cũng không hiểu rõ vì sao, giống như là tâm sinh lí của phụ nữ vậy, làm phiền người ta rất nhiều. Sợ nhất là quan chức người Hoa, làm quan chức rồi thì cũng thay luôn cả não, tự cho rằng mình ngồi trên cao nên đặc biệt bắt nạt người mình, lộ rõ cái uy phong của quan chức. 

Có một lần, có một nữ đồng môn cao tuổi nhập cảnh, hải quan người Hoa kia hỏi:
”Vì sao cầm theo gần 10.000 đô-la nhập cảnh?”
Nữ đồng môn đáp:
”Vẫn chưa quá 10.000 đô-la mà!”
(Hải quan Mĩ quy định không được mang quá 10.000 đô-la Mĩ.)
Hải quan người Hoa hỏi:
”Nguồn gốc của tiền?”
Đáp:
”Tôi tự kiếm.”
Hỏi:
”Có phải là kiếm tiền nhờ vào cái đó không?”
(Cái đó là ẩn dụ cho tiền kiếm được nhờ xác thịt.)

Nữ đồng môn kia nghe xong thì tức muốn chết, mẹ già này đã là “nét đẹp vàng son” rồi mà còn nói cái kiểu đó, thật sự là quá đáng rồi. 
Người ta nói với tôi:
”Cái bà hải quan người Hoa kia thật quá đáng ghét!”
Tôi nói:
”Ba tháng, tôi sẽ cho bà ta thuyên chuyển công tác!”
Mọi người nghe xong thì hết sức vui mừng.

Khoảng hơn hai tháng sau, bà hải quan người Hoa kia quả nhiên đã bị thuyên chuyển công tác, không thấy nữa. 
”Đúng là siêu chuẩn!”
”Lư Sư Tôn thật lợi hại.”

🌟

Tôi nói:
Hoa Kiều ở hải ngoại lẽ ra nên là người Hoa chiếu cố người Hoa, nhưng thật sự không phải thế. Các quan chức người Hoa ngược lại mặt luôn khó đăm đăm. Biết nói tiếng Hoa nhưng cố ý không nói. 

Tôi đi qua hải quan, chưa từng có lần nào phải cởi long bào, chỉ có một lần gặp phải hải quan người Hoa liền bị yêu cầu cởi long bào ra để kiểm tra. Chiếc long bào đó rất mỏng, chỉ nhìn qua là thấy, ngay cả túi áo cũng không có, lại cũng không phải là áo khoác. Nói tóm lại, hải quan người Hoa kia lại muốn gặp xui xẻo rồi!

Vì sao tôi có thể điều quan chức hải quan người Hoa kia đi, kì thực cũng không phải là tôi làm pháp. Khi mọi người nhắc đến bà ta thì ở giữa đại não và tiểu não của tôi có một não giữa, bên trong não giữa giống như một cái gương nhỏ, có thể hiển hiện lên hình tượng của người đó, đồng thời gương nhỏ này sẽ xuất hiện chữ: “Ba tháng nữa bà ta sẽ chuyển công tác!”
Thế là tôi liền nói ra:
”Ba tháng nữa bà ta sẽ chuyển công tác!”

Từ đầu tới cuối tôi cảm thấy não giữa là một thứ đặc biệt kì quái, bên trong có thể giống như cái radar, hơn nữa còn có “kim tân ngọc dịch” [nước vàng dịch ngọc], có tiên thiên nhất khí, trong cơ thể con người vô cùng thần bí. Tôi nghĩ, sức mạnh thần thông của tôi và não giữa có mối quan hệ với nhau.

Tôi nói với mọi người:
Thiên nhất thần thủy [trong Sở Lưu Hương Truyền Kì, đây là một loại thuốc độc có độc tính mạnh  nhất] cũng là đến từ não giữa. 
Đó là một sự bí ẩn của sinh mệnh.


### 38. Đổ xúc xắc


Ngày 11 tháng 10 năm 2011, 5 giờ chiều, tôi đang ở thư phòng tại Chân Phật Mật Uyển, một mình tôi chơi trò đổ xúc xắc. 

Chính là viên xúc xắc dùng để đánh bạc, là viên xúc xắc hình lập phương từ một đến sáu. Tôi bỏ một viên xúc xắc vào trong một cái hộp bằng sắt, sau đó tôi lắc lắc rồi đặt lên trên bàn.
Tôi nhắm mắt lại.
Hai tay ấn vào huyệt thái dương.
Tinh thần hoàn toàn tập trung.
Tôi vận dụng thiên nhãn diệu quan sát của mình để nhìn con số ở bên trong chiếc hộp sắt. 
Tôi nhìn thấy là “sáu”. Mở hộp ra nhìn, quả nhiên là “sáu”. Chà! Chuẩn quá! (Tôi làm liên tục mấy lần.)

Lúc này, Thượng sư Liên Hương và cháu gái tôi Lư Quân đi vào thư phòng của tôi. Cháu gái Lư Quân chỉ vào cái hộp sắt hỏi:
”Đây là cái gì?”
Tôi giải thích:
”Đây là trò đoán số, từ một đến sáu, đoán ra một con số, đoán đúng sẽ có thưởng.”
Tôi lắc lắc viên xúc xắc rồi bỏ xuống. Thượng sư Liên Hương và cháu gái tôi đều đoán là năm. Tôi thì nói là hai. Mở nắp hộp ra, hầy! Đúng là hai. Điều này khiến Thượng sư Liên Hương và cháu gái tôi vô cùng kinh ngạc. 

Lư Quân nói:
”Ông nội lần nào cũng rất chuẩn!”
Thượng sư Liên Hương và cháu gái tôi chơi trò đoán xúc xắc, đoán bốn lần, cuối cùng mới đoán đúng. 

🌟

Tôi nói:
Một người đi trên con đường tu hành, toàn thân đều sẽ thay đổi, một khi đã đạt đến công phu thì tinh thần có thể thống nhất, tĩnh tọa đạt đến khi hơi thở rất nhỏ và mỏng, mạch cũng gần như dừng lại, đây là hiện tượng tịch tĩnh, có thể đến được Tứ thiền thì thân thể tự nhiên sẽ biến đổi. 

Tất cả tịnh quang xuất hiện, tiếp nối được với tiên thiên thì sẽ có thiên nhãn, thiên nhĩ, túc mệnh, tha tâm, thần túc, thậm chí thân tâm lậu tận, đắc chính đẳng chính giác, tu hành đến như vậy là đắc Đạo rồi.

Ví dụ như việc đoán xúc xắc, có thể nói là trò trẻ con, chỉ là chơi cho vui một chút mà thôi. Một khi đạt đến công phu thì điều càng kì diệu hơn là: 
Da dẻ tự nhiên sáng bóng mịn màng.
Tóc trắng tự nhiên biến thành đen.
Răng rụng rồi không ngờ mọc lại.
Thân thể ông già đột nhiên biến thành thanh niên trai tráng.
Bà lão cũng biến thành thiếu nữ.

Những điều này cũng chưa là gì, chỉ là tuổi tác không thể hạn chế được mà thôi, nghiêm túc mà nói là trường sinh bất lão, kiếp vận đã không thể hạn chế được bạn, tu hành đến được trường sinh bất lão thì cũng chính là “mặc cho mọi cuộc bể dâu, ta vẫn tiêu dao tự tại”. 

Về mặt y học, thành tựu này cũng chính là nội tiết vĩnh viễn bình thường, hormone mãi mãi sinh ra không thiếu, con người bị lão hóa đều là do hormone không còn, không còn thì sẽ bước vào tuổi mãn kinh, cũng tức là tất cả cơ quan đều thoái hóa rồi.

Tu hành Mật giáo có thể trong “chân không” xuất hiện “diệu hữu”, một khi diệu hữu xảy đến thì thân, tâm, suy nghĩ đều thay đổi.

Khổng Tử nói:
”Châu lưu lục hư, biến động bất cư.” [Chỉ trên bầu trời âm dương sáu lần diễn biến tạo thành các hình tượng.]
Tâm niệm rất thanh tịnh, thân thể rất đoan chính, vô cùng vô cùng an ninh, tất cả trí huệ xuất hiện, đương nhiên đã bao gồm thiên nhãn diệu quan sát. 

Có người nói:
”Sẽ tẩu hỏa nhập ma.”
Tôi nói:
”Tẩu hỏa nhập ma là tự mình suy nghĩ lung tung, chỉ cần trong lòng thuần chính thì không có vấn đề gì cả.”


### 39. Thái dương chân hỏa


Một đệ tử Brazil bị đau xương cổ và đau xương sống thắt lưng, tổng cộng đã bị bệnh 28 năm. 

Sự đau đớn trường kì này thật sự là không phải người bình thường có thể chịu đựng được. Đương nhiên, trong 28 năm đó, anh ta đã tìm bác sĩ đông tây y ở khắp nơi. Bác sĩ đông y dùng cách xoa bóp, bôi thuốc, uống thuốc, thuốc tây thì dùng miếng dán, uống thuốc giảm đau, v.v… nhưng từ đầu tới cuối đều vô hiệu.

Đệ tử Brazil biết Lư Sư Tôn có năng lực khác thường. Tôi chỉ dùng tay để xoa vuốt vào cổ, xoa vuốt vào eo, anh ta cảm nhận thấy có một ngọn lửa đi vào cổ và eo, và như thế, bệnh đau xương cổ và xương sống thắt lưng 28 năm nay không ngờ đã hoàn toàn khỏi rồi. 
Anh ta nói:
”Sẽ viết một bài văn để phát biểu!”

🌟

Lại có một người bị bệnh mũi mẫn cảm, từ nhỏ đến lớn, hơn 20 tuổi rồi, buổi sáng ngủ dậy là hắt hơi, xổ mũi, liên tục ngứa mũi, hắt xì hơi liên tiếp, phải nhỏ thuốc mũi mới ngăn được. 

Khi đi học ở trường cũng phát tác, ăn cơm cũng phát tác, nói chuyện cũng phát tác, bật máy điều hòa cũng phát tác, bật máy sưởi cũng phát tác, ngửi thấy mùi lạ cũng phát tác, gặp bạn gái cũng phát tác. 

Mẹ anh ta đưa anh đến gặp tôi. Tôi dùng tay sờ vào mũi anh. Chuyện rất kì lạ đã xảy ra rồi, từ sau khi được tôi sờ vào mũi, tất cả các thuốc trị mẫn cảm, hắt xì hơi, chảy nước mũi, ngứa mũi đều không phải xịt nữa, cũng không cần phải uống thuốc, bắt đầu từ cái giây phút tôi sờ mũi đó, tất cả đã hoàn toàn dừng lại rồi.
Đây không phải là trường hợp đặc biệt, mà sự việc này thường xuyên xảy ra, bệnh mũi mẫn cảm hơn mười năm, vừa sờ vào thì đã khỏi rồi, hoàn toàn khỏi rồi. 

Có người nói:
”Sao lại linh như vậy?”
Tôi đáp:
Tôi là người tu hành, bất kể là Đạo gia hay Mật tông, tài liệu chủ yếu của pháp nội tu chính là nước và lửa. Lửa là dương, nước là âm, chúng ta biết rằng trong âm có dương, trong dương có âm, điều  này có thể thấy trong Bát quái. 

Tôi tu chuyết hỏa của Mật tông, chuyết hỏa là ấm, lửa này không phải lửa thường, không phải là hiện tượng phát sốt, mùa hè thì mát mẻ, mùa đông không bị lạnh, chuyết hỏa này của tôi là thái dương chân hỏa.

Tiểu thuyết võ hiệp viết về thái dương chân hỏa (chuyết hỏa) càng lợi hại hơn, trở thành “cửu dương thần công” rồi. 

Tu Đạo gia, Mật tông là phải dung hợp cân bằng thái dương chân hỏa và thái âm chân thủy với nhau, lúc này mới gọi là “thủy hỏa kí tế”, nước và lửa cùng thành rồi thì cũng chính là “thủy hỏa cùng nguồn gốc, biến hóa lẫn nhau mà thành đơn” của Đạo gia.

Từng có đệ tử nói với tôi:
”Không dám tu pháp nữa, hễ tu là lửa nổi lên, toàn thân tôi nóng muốn chết, nó sắp thiêu đốt toàn thân tôi rồi.”
Tôi cười:
”Đây chẳng phải rất tốt sao? Xưa nay rất nhiều đại A La Hán muốn niết bàn chỉ cần phát động nội hỏa thì toàn thân hóa thành tro, đốt sạch nhục thân vật chất này, thế là thành đạo rồi.”
Đệ tử đó nói:
”Tôi vẫn chưa muốn chết, thiêu chết tôi rồi thì rất đau khổ.”
Tôi nói:
”Đó là anh không hiểu thái dương chân hỏa, phải cùng tu luyện với thái âm chân thủy để dung hợp lẫn nhau, anh chỉ biết một mà không biết hai.”

Tay tôi có thái dương chân hỏa, sờ vào chỗ đau bệnh, thái dương chân hỏa này một khi đi vào trên người của người bệnh thì sẽ đốt hết những gai xương nhô ra. Cũng dùng thái dương chân hỏa để đốt cái mũi mẫn cảm thì cái mũi mẫn cảm bị âm sẽ được chữa khỏi. 


### 40. Tình yêu thật giả dối


Có một hôm, sư huynh Ngụy ở California nước Mĩ dẫn theo một cô gái xinh đẹp đến Seattle Lôi Tạng Tự, sau đó họ ở Chân Phật Mật Uyển hỏi việc. 

Anh ấy nói:
”Lư Sư Tôn, con muốn cùng cô ấy mãi mãi yêu thương nhau, suốt đời suốt kiếp không chia xa, được không? Chỉ một câu nói của thầy thì người nhà chúng con đều sẽ đồng ý.”
Tôi chiêm bói một lúc thì nét mặt tôi bối rối, cảm thấy cực kì khó xử. Anh ấy nói:
”Chúng con ở chùa đã bói chén, ba chén Thánh, Phật Bồ Tát đã đồng ý.”
Tôi đáp:
”Phật Bồ Tát đã đồng ý rồi thì còn đến hỏi tôi làm gì, hai người cứ tự đi!”
Anh ấy nói:
”Không được, vẫn cần một câu nói của Lư Sư Tôn.”
Tôi nói:
”Tôi bói toán không chuẩn.”
Anh ấy hỏi:
”Vì sao nói như vậy?”
Tôi đáp:
”Chỉ có duyên mấy năm thôi, sau đó thì không còn nữa.”

Anh ấy và cô gái xinh đẹp kia, hai người ôm lấy nhau trước mặt tôi, lại còn hôn môi nhau, thề rằng sẽ tương thân tương ái suốt đời, hai người thề thốt trước tôi, hẹn ước trói buộc tuyệt đối không thay lòng, vĩnh viễn ở bên nhau đến già chết.

Tôi trông thấy vậy thì thật sự thấy đáng thương. Tôi nói:
”Như vậy đi! Hai người yêu nhau như vậy khiến người ta đồng cảm, nếu không có duyên nữa thì đến bảo tôi, tôi lại nối duyên cho!”
Lúc này, hai người họ mới yên tâm ra về. Tôi thở dài một hơi. Ôi chao! Ôi chao!

Mấy năm sau, sư huynh Ngụy không đến tìm tôi, cô gái xinh đẹp kia cũng không đến tìm tôi. Trái lại, người nhà họ Ngụy báo cáo với tôi rằng: “Đã chia tay từ lâu rồi, cô gái xinh đẹp trở về Đài Loan rồi!”
Tôi nói:
”Hai người họ phát lời thề son sắt kia mà!”
Người nhà họ Ngụy nói:
”Sư Tôn đoán chuẩn, chỉ là tình yêu làm cho họ chóng mặt thôi, trên thực tế hai người họ cãi nhau suốt ngày.”
Tôi nói:
”Tình yêu thật là giả dối.”
Người nhà họ Ngụy đáp:
”Chẳng phải thế sao!”

🌟

Tôi nói:
”Tình yêu là cái thứ hư vô lúc có lúc không, tôi đã bói ra được quẻ Li, quẻ Li là hỏa, cũng đại diện cho trái tim, và ở giữa quẻ Li là đứt đoạn, cũng chính là vô minh. Cho nên họ đến với nhau thế nào, họ rời bỏ nhau ra sao đều không rõ ràng. Cũng có nghĩa là chẳng hiểu vì sao mà đến với nhau, chẳng hiểu vì sao mà bỏ nhau. Tình yêu vội vã lắm thay!

Phần lớn con người trong tình yêu nghĩ đông rồi lại nghĩ tây, căn bản là trên dưới điên đảo, suy nghĩ lộn xộn đặc biệt nhiều.
Thuần dương, tức quẻ Càn, quá hiếm.
Thuần âm, tức quẻ Khôn, quá hiếm.
Cho nên đại đa số tình yêu là lờ mờ chẳng biết gì. Tôi đã thấy điều này rất nhiều rồi, cảm thấy tình yêu đúng là biến hóa bất định. 

Còn người tu hành thì giống như Lão Tử nói: “Trí hư cực, thủ tĩnh đốc”. [Tạm dịch là: đạt đến cực điểm hư không, giữ được sự tĩnh lặng sâu.]

Khi sự trống rỗng đạt tới cực điểm cũng chính là “trời xanh không một cụm mây”, lúc này mới gọi là một niệm cũng không sinh ra. Nếu còn sinh ra một  niệm thì cũng giống như trời xanh đã xuất hiện một cụm mây trôi rồi, sẽ che mất bầu trời xanh rồi. 

Người tu hành chỉ có vào lúc một niệm không sinh thì mới có thể minh tâm kiến tính, đó là đạo lí nghìn đời không thay đổi. 


### 41. Hoàng hôn ở chùa tổ


Ngày 14 tháng 10 năm 2011, 4 giờ chiều, tôi ở trong phòng vẽ tranh của mình vẽ một bức tranh, chủ đề là “hoàng hôn ở chùa tổ”. 

Vào ngày 23 tháng 8 năm 2011, tôi từ Đài Loan trở về Seattle nước Mĩ, cuộc sống của tôi ngày nào cũng như ngày nào, không bao giờ thay đổi, rất có quy luật. 
Vẫn là:
Viết sách.
Vẽ tranh.
Tu pháp.
Vận động.

Từ sau khi trở về Mĩ, ngày ngày tôi nhìn bầu trời ở Seattle, lúc nào cũng tối mờ mịt, những ngày mưa phùn bay lất phất rất nhiều, ánh mặt trời thỉnh thoảng mới lộ diện, nhưng lúc nào cũng chỉ một lúc là lại trốn mất. 
Mùa thu, mùa đông ở Seattle đặc biệt nhiều mưa. Lá cây đổi sang màu đỏ, vàng xen lẫn, mùa thưởng thức lá phong đã đến rồi. 

Khi tôi đang vẽ tranh, đột nhiên tôi nghĩ đến, sao không vẽ một bức về bầu trời lúc hoàng hôn ở chùa tổ. Thế là tôi vẽ chùa tổ, còn bầu trời thì sao? Tôi vẽ lên những ráng màu đỏ thắm, đó là tưởng tượng của tôi, đẹp vô cùng, đỏ vô cùng, ở Seattle khó gặp được cảnh ấy. Vẽ xong rồi, tôi rất vui. 

6 giờ tôi đi đến nhà ăn để ăn cơm, đến 6 rưỡi thì pháp sư Liên Liên kêu toáng lên:
”Bầu trời ở chùa đỏ rực cả một vùng, mọi người mau ra xem đi.”
Tất cả Thượng sư, pháp sư, đồng môn đang ở trong nhà ăn dùng bữa đều chạy ra xem, khi nhìn thấy thì ai cũng không ngớt lời tán tụng:
”Vận may rơi xuống đầu rồi!”
”Ánh sáng đỏ phổ chiếu!”
”Đẹp quá đi!”
”Khó mà gặp được bầu trời đỏ tươi như thế này!”

Tôi bảo pháp sư Liên Liên trở về phòng vẽ tranh đem bức tranh mà tôi vừa vẽ xong ra, mọi người nhìn thấy bức tranh thì ngây ra vì kinh ngạc. Bầu trời hoàng hôn và bức tranh “Bầu trời ở chùa tổ” mà tôi vẽ hoàn toàn giống hệt nhau, giống y chang. 

Thượng sư Liên Điếm nói:
”Bầu trời bên trái đặc biệt đỏ, tranh của Lư Sư Tôn cũng là bầu trời phía bên trái đặc biệt đỏ, đây là tương ứng rồi!”
Sư tỉ Cầu Đế nói:
”Tương ứng rồi! Sư Tôn phải ở lại Seattle. Lần trước là có một bầy quạ đen kêu ầm ĩ, lần này có bầu trời tương ứng, chuẩn quá rồi! Sư Tôn không ở lại Seattle không được.”

Bản thân tôi cũng cảm thấy có phần quá trùng hợp rồi! Hôm nay tôi vẽ Lôi Tạng Tự, lúc nào không vẽ lại vẽ đúng ngày hôm nay. Tôi vẽ ánh sáng đỏ rực rỡ, và hôm nay thì cũng có ánh sáng đỏ rực rỡ, dường như là ông trời đúng là cùng hô ứng với tôi. 
Tôi thật sự có thể gọi gió gọi mưa sao?
Nhưng, thật sự là quá trùng hợp rồi, trùng hợp đến không thể tưởng tượng được, quá kì diệu! Quá kì diệu!
Tôi có thể kêu gọi cầu vồng xuất hiện!
Tôi có thể kêu gọi ánh sáng đỏ xuất hiện!

🌟

Tôi nói:
Vũ trụ là một thiên thể to lớn, thân người là một thiên thể nhỏ bé, đều là đất, nước, lửa, gió, không tổ hợp mà thành. 

Đại thiên thể là đại tuần hoàn, tiểu thiên thể là tiểu tuần hoàn. Đông phương mộc, nam phương hỏa, bắc phương thủy, tây phương kim, trung ương thổ, tương ứng với tim, gan, tì, phổi, cật.

Người tu hành tu đất, nước, lửa, gió, để cho hậu thiên của mình tương ứng với tiên thiên. Cũng tức là: “Người học muốn học tính tông thì phải lấy mệnh làm cơ sở.”
Còn nữa:
”Đại thiên thể và tiểu thiên thể là cùng xuất xứ khác tên”, cảnh giới trời người hợp nhất chính là như vậy.

Tôi vừa vẽ trời thì trời liền tương ứng!
Tôi vừa vẽ đất thì đất liền tương ứng!
Đây cũng là hậu thiên và tiên thiên cùng xuất xứ khác tên gọi!


### 42. Thần toán sai rồi


Có lần, một doanh nhân khởi nghiệp đưa cho tôi một tờ danh thiếp, yêu cầu tôi chiêm bói nhà của ông ấy, những bài trí trong nhà đúng hay sai.

Tôi vận dụng niệm lực của mình nhìn chăm chú vào tấm danh thiếp này, trong não của tôi liền xuất hiện một ngôi nhà lớn, tôi dùng bút và giấy để vẽ ra ngôi biệt thự ấy, hơn nữa tôi còn viết ra những chỗ đã sắp đặt sai. 

Ví dụ:
Phòng khách không có vị trí tài khố.
Phía trên giường ngủ trong phòng ngủ.
Vị trí nhà vệ sinh không đúng.
Bước vào cửa là đụng ngay cầu thang.
v.v… 

Doanh nhân khởi nghiệp này nhìn ngôi nhà mà tôi vẽ, rồi lại nhìn những chỗ bố trí sai mà tôi vẽ ra, thế rồi cười vang ha ha ha. Doanh nhân khởi nghiệp nói:
”Ngài thần toán sai rồi!”
Rồi ông ta bước đi đầu không ngoảnh lại. 

Chỉ còn lại một mình tôi đứng ngây ra như phỗng, không ngờ thần toán của tôi lại sai, đây chẳng phải là một việc rất mất mặt hay sao?
Không lâu sau, tôi cũng quên luôn sự việc đáng tiếc này.

Có một hôm, doanh nhân khởi nghiệp này lại đến chỗ tôi, nói với tôi lời xin lỗi, tôi không hiểu chuyện gì cả. 
Doanh nhân khởi nghiệp nói:
”Tấm danh thiếp lần trước tôi đưa cho ngài xem là danh thiếp của bạn tôi, không phải của tôi. Ngôi nhà mà ngài vẽ ra và những bố trí sai trong ngôi nhà đó chính là nhà của bạn tôi. Ví dụ đi vào cửa chính là đụng ngay cầu thang, phía trên giường ngủ, phòng khách không có vị trí tài khố, những điều ấy đều đúng cả. Là tôi nhất thời sơ xuất, đưa nhầm tấm danh thiếp của bạn tôi, bây giờ tôi và bạn tôi thành khẩn cầu xin ngài đến nhà chúng tôi xem phong thủy.”

Tôi nghe xong cũng không tiện nói gì, người ta cũng không phải là cố ý, chỉ là nhất thời sơ xuất đã đưa nhầm tấm ảnh. Cuối cùng, tôi đã hoàn thành xem xét phong thủy cho hai ngôi nhà đó.

🌟

Tôi nói:
Khi tôi tập trung tinh thần chính là lúc tôi chế tâm một chỗ, chính xác như điều Phật Đà nói - không chuyện gì là không làm được. 
Chế tâm một chỗ chính là thanh tịnh. Bình thường chúng ta là phàm phu thông thường, khó có thể chế tâm một chỗ, mà là một đống những phiền não vọng tưởng, cho nên không có cách nào nhận ra diện mạo vốn có của mình. 

Cái này cũng không xem là thần thông gì, dù sao chế tâm một chỗ, chân dương chân âm, đồng loại giao cảm, dựa vào nhau mà vận dụng mà thôi.
Tinh khí thần của tôi tập trung tại một điểm nào đó thì tất cả tác dụng của nó liền xuất hiện, chỉ đơn giản như vậy thôi. 

Trọng điểm của Tịnh độ tông là:
Chế tâm một chỗ. Nhất tâm bất loạn.
Niệm Phật. 
Nhớ Phật.
Quán Phật.
A Di Đà Phật sẽ đến, sẽ từ hư không đến, từ trong tâm đến. Thấy được Phật rồi thì đã đến Tây phương Cực Lạc thế giới rồi. 

Còn tu Đạo gia thì chính là biến hậu thiên trở về với tiên thiên, chính là khiến hậu thiên khảm li, hoàn trả về tiên thiên càn khôn. 
Khi ta đã có tiên thiên, có Đạo, có Phật rồi, chính là “âm dương đắc loại quy giao cảm, nhị bát tương đương tự hợp thân”, lúc này là lúc viên mãn nhất.

Mật giáo tu tịnh quang, có thứ tự:
1. Minh điểm quang.
2. Kim cang liên quang.
3. Kim cang mạc quang.
4. Viên mãn quang.
Đây là vận dụng niệm lực, niệm lực thống nhất thì viên mãn quang xuất hiện, vạn vật trong thiên hạ sẽ lần lượt hiện lên thôi!


### 43. Tiên Ông cứu bần


Có một đệ tử nói với tôi:
”Lư Sư Tôn, thầy không cứu con không được, con đã đi vào đường cùng rồi, không còn đi tiếp được nữa.”
Tôi hỏi:
”Có chuyện gì vậy?”
Anh đáp:
”Từ năm 2009 đến năm nay 2011, con liên tục thất nghiệp, căn bản là không có thu nhập cố định. Bản thân con phải trả tiền vay mua nhà và học phí của con cái, tất cả chi phí điện nước, sinh hoạt đều dựa vào công việc thời vụ, gần đây công việc lại ít, bạn bè cũng cho vay, nhưng tiền của bạn cũng đã mượn hết rồi mà vẫn chưa vực lên được, người lớn trẻ con trong nhà bữa có bữa không, thuốc thang bảo hiểm đều không trả được, đúng là rơi vào đường cùng rồi, không biết phải làm sao đây?”
Tôi hỏi:
”Anh làm nghề gì?”
Anh đáp:
”Con học thiết kế kiến trúc, sau khi nghề xây dựng suy thoái, con cũng làm mấy việc nhỏ như trang trí nhà cửa, giờ đây ngay cả những công việc nhỏ cũng không còn, xin hỏi Lư Sư Tôn, con phải làm thế nào mới có thu nhập?”
Tôi nghe xong thì buồn bã.

Sau khi kinh tế Mĩ suy thoái, số người thất nghiệp đột ngột tăng lên, tỉ lệ thất nghiệp cao kỉ lục, cứ mười người thì có một người thất nghiệp, đến năm 2011 thì tỉ lệ thất nghiệp vẫn còn rất cao.

Người Mĩ phát động biểu tình, phong trào "Chiếm phố Wall" rầm rộ và bùng nổ ở khắp các thành phố lớn trên thế giới. Giờ đây, nợ của Mĩ và nợ của châu Âu đã trở thành gánh nặng cho thế giới.
Khi nào nền kinh tế sẽ phục hồi? Mọi người đều đang hỏi.
Sự chênh lệch giàu nghèo là một nỗi lo lớn.

Tôi bói cho đệ tử đang khổ sở khẩn cầu này một quẻ bói, là: “Nhất dương lai phục.” Ý nghĩa của quẻ này là sẽ xuất hiện một cơ hội sống. Cũng có nghĩa là, trong hoàn cảnh không hề có chút ánh sáng sẽ xuất hiện ánh sáng ban mai.
Anh hỏi:
”Khi nào?”
Tôi chiêm bói thời gian là khoảng ngày 18 tháng 10. 
Anh nói:
”Lư Sư Tôn chỉ an ủi con thôi, ngày 18 tháng 10 sắp đến rồi, trước mắt không hề có dấu hiệu nào, làm sao có thể chứ?”
Anh ta tiu nghỉu đi về!

🌟

Ngày 18 tháng 10, anh ta vui mừng như điên đến báo với tôi: 
”Thần toán siêu chuẩn!”
”Chuẩn thế nào?”
Anh kể buổi tối ngày 17, anh đi siêu thị, anh đang đẩy xe đẩy thì đằng sau có một chiếc xe ô tô sang trọng đi đến đâm trúng vào anh, anh bị đâm vào bên trái. Chủ nhân chiếc xe liền xuống xe kiểm tra, vừa nhìn thấy anh mặt đầy máu, toàn thân xây xát thì cho rằng anh bị thương rất nặng bèn yêu cầu tự hòa giải riêng ngay tại chỗ. Người đó lái xe khi đang say rượu, là người nổi tiếng, là một nhân vật chính trị. 

Anh xòe năm ngón tay đầy máu ra, ý rằng năm ngón tay tức là 5.000 đô Mĩ. Không ngờ người nổi tiếng kia không nói không rằng, bất ngờ kí cho anh tờ chi phiếu 50.000 đô Mĩ. Đôi bên đã hòa giải xong.

Anh nói:
”Bị xe đụng là họa, nhưng chỉ là bị thương bên ngoài, trong cái rủi lại là cái may lớn. Người kia say rượu nên đâm trúng người, lại là người nổi tiếng, đang tuyển cử, để cho qua chuyện không ngờ đã kí chi phiếu 50.000 đô. Con vô sự mà lại có được 50.000 đô, chẳng phải là cái may trong cái rủi sao! Lần này có thể tạm thời trang trải được một ít nợ rồi!”

Tôi nghe xong thì buồn bã. “Nhất dương lai phục” không ngờ lại là “nhất dương lai phục” họa phúc kề nhau. Tôi nói:
Khổ tận cam lai, có mùi vị “nhất dương lai phục” cũng tức là ý rằng âm cực dương sinh. Bất kì sự việc gì, chỉ cần không chết thì sẽ có một tia sống sót. 


### 44. Phóng sinh và bảo tồn sinh thái


Có một cặp vợ chồng tìm đến Lư Sư Tôn nói:
”Xin hỏi Lư Sư Tôn, tôi có một vấn đề, không biết có thể hỏi được không?”
Tôi đáp:
”Là vấn đề gì nói ra xem!”
Họ nói:
”Dòng họ nhà tôi, con cái sinh ra đều có khiếm khuyết. Hai đứa con do anh cả sinh ra đều sứt môi, đứa con trai do anh hai sinh ra thì mặt có một đốm đen lớn, con cái của anh ba thì đều bị ngớ ngẩn, còn con cái của tôi thì bị bệnh bại liệt. Đây là nhân quả hay là do phong thủy?”

Tôi bấm ngón tay thần toán:
”Nghiệp sát của ông nội quá nặng, ông ấy thích câu cá, cái móc câu móc vào mồm cá, cho nên bị sứt môi, cái móc móc vào mặt làm cá bị thương trở thành vết đen lớn, cá câu lên quăng vào nước cạn khiến chúng thở thoi thóp, cho nên thành ngớ ngẩn, cắt mổ cạo vảy cá cho nên bị bại liệt.”
”Là nhân quả sao?”
”Đúng vậy.”
”Có bằng chứng gì?”
Tôi đáp:
”Ông nội sẽ báo mộng cho mọi người!” - Tôi quả quyết nói.

Sau đó, điều khiến cho cả gia tộc nhà họ tin tưởng là bốn anh em họ đều mơ thấy ông nội đến bảo chính xác là do đam mê câu cá, ông nội còn giành giải nhất cuộc thi câu cá nữa. Ông nội còn nói:
”Mau tìm Lư Sư Tôn mới có thể cứu được.”
Tôi nói:
”Vậy chỉ có phóng sinh thôi!”

🌟

Tôi nói:
Chúng ta phóng sinh, không phải là “phóng tử”. Phải chú ý đến bảo tồn sinh thái, đây là trọng điểm của vấn đề bảo vệ môi trường thời hiện đại. 
Chúng ta phóng sinh là thuận. Còn phóng tử là nghịch. 

Tôi cho rằng: “Nên theo đồng loại.”
Cùng loài là thuận, khác loài là nghịch, cũng tức là phóng sinh là phóng ở nơi có môi trường hoàn cảnh cùng loài, cùng loại nước, cùng loại cá. 
Ví dụ: 
”Trồng mạ phải dùng ngũ cốc.” - Trồng lúa đương nhiên nhiên phải trồng từ hạt thóc.
”Gà mái ấp trứng nó.” - Gà mái mẹ ấp trứng thì nhất định phải là trứng của nó thì mới sinh ra được gà con.
”Cùng loài theo nhau.” - Chỉ cần cùng loài, thả vào sống cùng loài, như vậy mới có thể sống bình thường. 
”Làm trái khó thành việc.” - Phóng sinh bừa bãi, nơi không thích hợp với sinh tồn mà cũng vẫn phóng thì đó là phóng tử, cũng là vi phạm bảo tồn sinh thái. 

Chúng ta biết rằng:
”Yến tước không sinh phượng” - chim yến hoặc chim sẻ làm sao có thể sinh ra phượng hoàng.
”Cáo thỏ không sinh ngựa” - cáo và thỏ không thể cho ngựa bú sữa.
Nước không chảy ngược dòng.
Lửa không cháy xuống dưới.

Sau khi chúng ta hiểu được những đạo lí này thì cũng có khái niệm sơ bộ về bảo tồn sinh thái. Nói một cách rất đơn giản là:
Quả lựu thì nhất định phải trồng tại Thái Lan, Indonesia, Malaysia. Ở Đài Loan trồng lựu không được. 
Đương quy nhất định phải trồng ở Trung Quốc, Đài Loan trồng đương quy thì chẳng có vị đương quy. 
Cây dừa thì phải ở vùng nhiệt đới.
Hổ sống ở Ấn Độ, Trung Quốc. 
Sư tử sống ở châu Phi.
………

Phóng sinh cá nhất định phải cùng loài cá, cùng loại nước, cùng môi trường sống, cùng nhiệt độ. 
Động vật, thực vật, khoáng vật cũng đều như nhau, quan niệm về bảo tồn sinh thái cần phải theo như vậy!


### 45. Ma bị đánh văng ra ngoài


8 giờ tối ngày 23 tháng 10 năm 2011, tôi từ Seattle Lôi Tạng Tự lái xe về Nam Sơn Nhã Xá. Đến trước cửa nhà, tôi ấn nút điều khiển cửa sắt, cửa sắt từ từ mở ra. Đúng vào lúc này, tôi nghe thấy cuộc đối thoại của hai con ma. 
Ma A nói:
”Nhà này kì lạ ghê, thường xuyên nhìn thấy ánh hào quang tỏa ra, một lớp khí cát tường bao bọc lấy ngôi nhà, không biết là người nào sống ở đây?”
Ma B nói:
”Mày đúng là ngây thơ chả biết gì, đây là Nam Sơn Nhã Xá ở Mĩ của Lư Sư Tôn, nhà ông ấy có đàn thành trang nghiêm, Phật Bồ Tát đi đi về về, đương nhiên là có ánh hào quang lấp lánh rồi.”
Ma A hỏi:
”Lư Sư Tôn đạo hạnh thế nào?”
Ma B đáp:
”Nghe nói là không gì sánh bằng.”
Ma A nói:
”Tao không tin lắm.”
Ma B nói:
”Mày có trăm năm đạo hạnh, sao không thử đi!”

Tôi chỉ nghe đến đây thì đã lái xe mình vào trong nhà để xe rồi, sau đó tôi trở về phòng mình. Tôi cũng không để tâm đến những gì tôi vừa nghe thấy, vẫn làm mọi việc của mình như bình thường.

Khi tôi đánh răng thì phát hiện ra bàn chải điện của  mình bị hết điện, chỉ còn cách dùng bàn chải thường, còn bàn chải điện thì đem sạc. 
Khi tôi đi tắm, nước đột nhiên lại là nước lạnh, nước nóng bình thường không còn nữa, tôi cũng không bận tâm, dùng nước lạnh để tắm. Tắm xong, tôi kiểm tra bình đun nước thì không hề bị hỏng, nó vẫn duy trì nhiệt độ rất tốt. 
Khi tôi mặc quần áo, cúc áo bỗng dưng đứt. Tôi cũng mặc kệ, thiếu một cái cúc thì thiếu một cái cúc thôi. 

Đột nhiên tôi thấy mũi mình ngứa, muốn hắt xì hơi, một tiếng “ắt chu”, tôi hắt xì hơi thật. Tôi chưa bao giờ hắt xì hơi, hắt xì hơi tức là phải đề cao cảnh giác rồi. 

Tôi chú ý thấy, mỗi khi tôi đi đến chỗ nào, ví dụ soi gương, hoặc ở trong bếp, hoặc viết sách, hoặc ở trong phòng vận động, hoặc ở phòng nhà vệ sinh, thì bức tường đều có tiếng động, đi đến chỗ nào thì có tiếng động vang lên ở đó, thật sự là ồn ào quá mức rồi. 
Tôi cũng vẫn bình thản như không. 

Khi tôi đang ở chỗ tủ quần áo, tiếng động lại vang lên, tôi dùng ấn Tứ tung ngũ hoành dựng lên bốn bức tường chặn kín lại cái tủ quần áo, nhốt luôn con ma A ở trong đó. Con ma ở trong tủ quần áo muốn xông ra ngoài mà không được, dùng đủ mọi cách để thoát mà không thoát được. Cuối cùng con ma A cầu xin tôi:
”Lư Sư Tôn đại đức đại lượng, thả tôi ra đi!”
Tôi hỏi:
”Chơi đủ rồi chứ! Thấy mi có trăm năm đạo hạnh nên tha cho mi ra ngoài đó!”
Tôi thu ấn Tứ tung ngũ hoành lại. 
Con ma đó đi ra, thổi một hơi âm khí về phía tôi. Người bình thường bị thổi trúng thì toàn thân sẽ lúc nóng lúc lạnh, giống như bị trúng tà vậy, nói không chừng thì lập tức ngã lăn ra đất mà chết (đột tử). 

Tôi thấy con ma này mắt tóe lửa, còn dùng âm khí trăm năm thổi vào tôi, tôi cũng không khách khí nữa, tay kết ấn Ngũ lôi. Con ma này bị ánh sáng Ngũ lôi đánh trúng thì ngã văng ra, ngã ra bên ngoài bức tường bao quanh nhà. Nó cũng không dám quay trở lại nữa!
Tôi cười vang ha ha ha.

🌟

Tôi nói với mọi người:
Phàm là người tu Phật học Đạo đều cần phải xây “đê điều”, đạt đến “trong ngoài ngăn cách tuyệt đối”, Mật giáo chính là kiết giới. Đây là cái hữu hình, nghiêm cấm Thánh địa bị ô nhiễm, bảo trì sự thanh tịnh. 

Ngoài ra, khi chúng ta tu pháp cũng có “đê điều”, đó là để cho ý niệm (tâm) của bản thân không bị thế giới bên ngoài ảnh hưởng. Thế giới bên ngoài động và bạn cũng động theo thì sẽ trở thành rò rỉ nước, rò rỉ nhân. 

Tổ sư Đạt Ma nói:
”Một chút cũng không động tâm, là đê điều chân chính.”


### 46. Vương Ngao Chân Nhân


Ngày 21 tháng 10 năm 2011, buổi tối khi tu pháp, đến khi nhập tam ma địa, tôi để hai chân tùy ý rồi nhập vào cõi thiền. 

Việc nhập vào cõi thiền của tôi là “hư kì tâm thực kì phúc” [tim thì trống, bụng thì đầy], chân khí ngưng lại, hơi thở tiến vào trạng thái vi tế nhất. Lúc này sẽ không nghĩ ngợi lung tung, bởi vì đây chính là tâm khí hợp nhất của Mật giáo, nếu khí dừng lại thì tâm sẽ không loạn. 

Khẩu quyết nhập tam ma địa chính là:
Vô sự.
Vô tâm.
Khẩu quyết này có thể khiến tâm tính ngưng định bất động.
Chính vào lúc này.
Một vị Chân Nhân đội mũ Đạo từ hư không giáng xuống. Vị Chân Nhân này là từ tiên thiên nhất khí, từ trong hư vô mà đến. 

Đạo nhân bảo tôi:
”Lư Sư Tôn, ngài nhàn rỗi thật đấy.”
Tôi hỏi:
”Xin hỏi ai đến đây?”
Đạo nhân đáp:
”Tôi là Vương Ngao.”
Tôi không biết Vương Ngao là ai

Kết quả là Vương Ngao Chân Nhân tự giới thiệu bản thân:
”Tôi là Vương Ngao anh em ruột của Vương Thiền Quỷ Cốc Tử Tiên Sư.”
”Ồ! Thì ra là Vương Ngao Chân Nhân.” - Tôi đã hiểu rồi.
Quỷ Cốc Tử ở Vân Mộng Sơn thì cực kì nổi tiếng, tôi đã từng đọc câu chuyện về hai đệ tử của ông ấy là Tôn Tẫn và Bàng Quyên. Còn Vương Ngao chỉ biết tu chân dưỡng tính, chưa từng xuống núi, cho nên không ai biết đến, người đời không biết.

Dưới đây chính là cuộc đối thoại giữa Vương Ngao Chân Nhân và Lư Sư Tôn:
”Lư Sư Tôn, ngài dạy người ta Mật giáo, có mấy người là học Phật chân chính đây?”
Tôi đáp:
”Tụm năm tụm ba.”
”Vì sao lại là tụm năm tụm ba?”
Tôi đáp:
”Tu Bồ Đề từng hỏi Phật, những người tu hành làm sao hàng phục tâm ấy? Hiện tại đệ tử của tôi, người có thể hàng phục tâm ấy rất là ít, thế nên chỉ là tụm năm tụm ba.”
Vương Ngao hỏi:
”Lư Sư Tôn, ngài có hàng phục tâm ấy không?”
Tôi đáp:
”Tôi có thể xuất thế, có thể nhập thế, trong động tĩnh đều là đạo, trong tĩnh không loạn, trong động cũng không loạn, ở đây chính là mỗi ngày xử lí biết bao công việc nhưng tâm này vẫn vô sự. Hữu vi cũng là vô vi, vô vi cũng là hữu vi. Vào lúc này, tôi còn tìm ai?”
Vương Ngao khen rằng:
”Đây mới là pháp vô vi!”

Vương Ngao hỏi:
”Nghe nói chiêm bói của Lư Sư Tôn là đệ nhất thiên hạ?”
Tôi đáp:
”Đệ nhất thiên hạ thì không dám, tôi chỉ là “đắc nhất”. Nhất là cái gì? Đắc cái Nhất đó, vạn sự xong xuôi. Phật cũng nói như thế này: “Chế tâm một chỗ, không có việc gì không làm được.” Nếu tâm đắc Nhất, vạn sự đều rõ, tự nhiên mà nhìn ra được tất cả nhân duyên quả báo, biết hết việc trong thiên hạ.”
Vương Ngao nói:
”Hay!”

Vương Ngao bảo tôi:
”Năm xưa, Vương Thiền Quỷ Cốc Tử cũng học giống như Lư Sư Tôn vậy, cái gọi là Cốc Thần chí hư mà chí linh, điều kì diệu sinh ra không ngừng, đây chính là tịch nhiên bất động, cảm rồi sau đó thông, cũng chính là tương ứng mà Mật giáo nói đến, cảm ứng đạo giao chính là thần toán.”
Vương Ngao nói với tôi:
”Người anh em Vương Thiền của tôi lấy tên là Quỷ Cốc, cũng chính là ý nghĩa của Cốc Quỷ.”

Tôi nói, thì ra là như vậy, hiểu rồi. 
Tôi và Vương Ngao nói chuyện đến đây thì ông ấy về trời, tôi vẫn ở trong định.


### 47. Tương ứng Đại Tùy Cầu Bồ Tát


Lần này trở về Mĩ, ngoài đi Panama, tôi còn đi đến Đông Mĩ, đi Đông Mĩ bao gồm Thánh Đức Lôi Tạng Tự ở bang Florida, Liên Ngạn Lôi Tạng Tự ở Philadelphia, Kim Cang Lôi Tạng Tự ở New York. 

Tại Thánh Đức Lôi Tạng Tự, tôi giảng pháp Thần thủy, thiên nhất sinh thủy, địa nhị sinh hỏa. (Tinh chất của thủy là kim, tinh chất của hỏa là mộc.)

Tại Liên Ngạn Lôi Tạng Tự ở Philadelphia, tôi giảng pháp Thượng sư tương ứng. (Truyền thừa hư không - Tì Lô Giá Na Phật, Phật Nhãn Phật Mẫu, A Di Đà Phật, Liên Hoa Đồng Tử, Liên Sinh Hoạt Phật.) Tương ứng một pháp thì sẽ tương ứng Liên Hoa Đồng Tử, tương ứng A Di Đà Phật, tương ứng Phật Nhãn Phật Mẫu, tương ứng Tì Lô Giá Na Phật.

Tại Kim Cang Lôi Tạng Tự ở New York, tôi giảng pháp Đại Tùy Cầu Bồ Tát. (Vị Bồ Tát cho chúng sinh đại phương tiện, cầu gì đáp nấy.)

Pháp sư Liên Ốc kể lại, khi tôi ở New York truyền pháp, có một cặp vợ chồng mới quy y nghe thấy Đại Tùy Cầu Bồ Tát tiện lợi chúng sinh như vậy bèn làm một thí nghiệm ngay tại chỗ. Khi ấy giải bóng đá Mĩ đang thi đấu. Mọi người đều đặt cược là đội mạnh sẽ thắng, nhưng cặp vợ chồng kia lại chọn một đội yếu nhất. (Không có ai đặt cược vào đội đó.)

Vào lúc Lư Sư Tôn yêu cầu mọi người thỉnh cầu, cặp vợ chồng này liền thỉnh cầu đội yếu nhất phải thắng. (Đội bóng đó xưa nay không có ai ủng hộ.) Nhưng kết quả thi đấu đã làm mọi người rơi hết cả kính mắt, không ngờ đội yếu nhất đã thắng. 

Pháp sư Liên Ốc nói:
”Đại Tùy Cầu Bồ Tát thật lợi hại!”

🌟

Tôi nói:
Chúng ta học Phật quan trọng nhất là trước tiên phải hiểu rõ Phật lí, sau đó mới từng bước một đi thực hành làm công phu, ngọn nguồn của Phật lí là cái gì? Làm sao để nắm chắc trọng điểm của Phật lí, thế nào là Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh Văn thừa, Bồ Tát thừa, Phật thừa?
1. Làm người.
2. Thiện hạnh.
3. Đối trị.
4. Đệ nhất nghĩa.
Đây là một Phật pháp siêu phàm nhập Thánh, giải thoát phiền não, minh tâm kiến tính. Trong giai đoạn đó sẽ sản sinh ra hiện tượng “lóe sáng”, cũng cần phải hiểu được điều này. Đối với thần thông, chúng ta không mê đắm, đối với thông linh không mê đắm, đối với thần toán cũng không mê đắm.

Chúng sinh ở trong cảnh giới hữu sở cầu, còn Phật chân chính thì là cảnh giới vô sở cầu, và tu hành là từ hữu sở cầu đạt đến vô sở cầu.

Trọng điểm khi tôi viết cuốn sách này là:
Khởi niềm tin.
Lựa chọn.
Trí tuệ.
Nói nghiêm túc là để cho những người hiền tài, người có đạo đức, người có học vấn thấy được, từ khởi niềm tin mà có lựa chọn thông linh, cuối cùng là xác định vị trí trong tu học Phật pháp. 

Tôi không phải là thầy đoán mệnh. Thầy đoán mệnh xem bói giàu nghèo, lành dữ họa phúc, nhân quả được mất cho con người đều là pháp thế gian. Còn cái tôi viết ra là tu Phật tu đạo, ở trong đó có rất nhiều thiên cơ, cũng có khẩu quyết quan trọng, tuyệt đối không phải là thần toán đơn thuần mà thôi. 

Học Phật phải có tâm xuất li thế tục, chứ không phải ở thần toán, không phải đi sai đường. Thần thông cũng không phải là cứu cánh, rốt cục nó chỉ là một hiện tượng sau khi “lóe sáng” mà thôi, tất cả tự nhiên đến, tất cả cũng tự nhiên đi, là pháp sinh diệt mà thôi!


### 48. Thư của Thượng sư Liên Ha


Sư Phật kính yêu, con chào thầy!
Đệ tử Liên Ha nhất tâm đảnh lễ Sư Phật và đem thân khẩu ý thanh tịnh cúng dường Sư Phật.

Đệ tử y theo chỉ thị của Sư Phật, để vượt qua được tử kiếp nên đã tu mười bốn đàn Hộ Ma Thời Luân Kim Cang để tiêu tai, và trì chú Trường Thọ Phật. Mấy đàn Hộ Ma ban đầu thì quả nhiên là nghiệp chướng trầm trọng, sau bảy đàn thì thư thái dần, sau đàn thứ mười thì không ngờ có một giấc mơ. Trong mơ đệ tử thấy mình đã chết, nằm trong quan tài, xung quanh có hoa tươi, đồng môn và chị gái đều bận bịu. Trong lòng đệ tử rất bình thản, biết rằng mình đã chết rồi, nước chú Đại Bi rẩy trên thân mình, cảm giác mát rượi rất rõ ràng. Vì đã phải đi rồi nên đệ tử bắt dầu trì tâm chú của Sư Tôn, nhất tâm quán Sư Tôn trụ đỉnh, trong hai đến ba phút, ánh sáng trắng chói lòa xuất hiện, đệ tử tan vào trong ánh sáng trắng đó mà đi vãng sinh. 

Ở cảnh giới vãng sinh, đệ tử cảm thấy hết sức thanh tịnh, tịch tĩnh và bình an, đệ tử mặc dù nghĩ đến đồng môn Chân Đế ở Brazil, nghĩ đến sự nghiệp bồ đề, nhưng đệ tử hiểu tất cả đều đã rời xa rồi, tất cả đều đã huyễn hóa rồi, trong lòng không còn vướng víu nữa, chỉ có an tĩnh trong không tịch, thật lâu thật lâu.

Kết quả là đệ tử đột ngột mở to mắt ra, phát hiện thấy mình vẫn còn đang ở trong ngôi nhà mình đang bế quan, đồng hồ trên tường đang chỉ 5 giờ 32 phút. Giấc mơ này con đã ngộ ra được ba điểm:
1. Đời người như mộng, cái chết cũng như mộng.
2. Sự tiếp dẫn của Sư Phật là chắc chắn, vãng sinh tịnh thổ là chắc chắn.
3. Phật tính quả nhiên không sinh không diệt.

🌟

Tu luyện pháp Đúc kiếm, đã vô lậu rất lâu rồi.
Tu pháp Chuyết hỏa định 20 phút, nắm chắc được sức lửa, toàn thân giữ được nhiệt không tản mát.
Bảo bình khí, giữ được ba phút. 
(Tất cả đều tuân theo khẩu quyết của Sư Phật.)

🌟

Nhận được thư của Thượng sư Liên Ha, tôi có mấy điểm muốn giải thích như sau:

Thứ nhất, pháp Vô lậu, pháp Chuyết hỏa, pháp Minh điểm, đây là “tam vật tương hàm thụ, biến hóa trạng nhược thần”. Đó là sự biến hóa vô cùng, thần bí không thể đo lường, cảnh giới không thể nói ra thuật kể, tất cả tự nhiên mà thế.

Thứ hai, pháp Minh điểm, có thể bắt đầu tu từ pháp Thiên nhất thần thủy mà mới đây tôi đã truyền thụ, khiến cho thủy hỏa kí tế, đây là công phu, công phu lớn nhất của Mật giáo là ở đây.

Dưới có Chuyết hỏa, trên có Minh điểm, hai cái gặp nhau tại trung cung (tâm tế - vùng tim), như thế sẽ mở ra tâm luân thì có thể tự mình chứng được Phật tính, không cần phải sau khi chết mới chứng được, còn sống là có thể ấn chứng rồi. Ba mạch bảy luân xa đều có thể đả thông mở ra, công phu đã đạt thì tự nhiên mà thế. 

Thứ ba, cái gọi là đại lạc là Chuyết hỏa đi lên, Minh điểm hạ xuống, hòa vào nhau ở tâm tế, đều là lạc. Đó là cảm giác gặp nhau, cái này mới là pháp lạc bất biến. 

Thứ tư, giấc mơ của Thượng sư Liên Ha quả nhiên là huyễn, chỉ có thể xem là pháp tiếp dẫn tịnh thổ. 
Biết mộng rời mộng.
Biết huyễn rời huyễn.
Mới có thể chứng đắc tịnh thổ chân chính (chân thổ). 

Thứ năm, hành giả tối kị suy nghĩ lung tung, chữ định vô cùng quan trọng, có thể giữ vững, ngưng tụ, thu lại được chân ý, một suy nghĩ cũng không khởi lên, việc sinh ra suy nghĩ liên tiếp đã ngừng rồi. Suy nghĩ quá nhiều, nghĩ ngợi lung tung, cái đó chính là lậu [rò rỉ].

Lậu có hai ý:
Lậu về mặt sinh lí.
Lậu về mặt tinh thần. 
(Đây là khẩu quyết của pháp Vô lậu.)

🌟

Còn như thần toán, thần thông, đây đều là thứ yếu, không phải là trọng điểm. Vào lúc hậu thiên tiếp nối tiên thiên, trong thủy hỏa kí tế, biến hóa khôn lường, thông rồi sáng, sáng rồi thông, thì tự nhiên thần toán sẽ hiểu rõ. Cái này là tự nhiên đến. 
Còn do quỷ thần thông báo, không phải tiên thiên tự biết, thì đó lại càng là hạng kém hơn, chỉ có thể xem là trò vặt.


### 49. Lợi ích của sức khỏe và giáo dục


Lư Sư Tôn sáng lập Quỹ từ thiện Lư Thắng Ngạn là dựa theo tinh thần của Phật Đà mà lập ra.
Phật nói:
Mọi việc ác đừng làm.
Hãy làm mọi việc thiện.
Tự thanh tịnh ý mình.
Đó là điều Phật dạy.
Trong đó, làm mọi việc thiện chính là nguyện bồ đề, hạnh bồ đề và phát tâm bồ đề.

Ba trục chính lớn của Mật giáo là:
Xuất li tâm.
Bồ đề tâm.
Trung quán chính kiến.
Bồ đề tâm là trung tâm của Phật giáo Đại thừa, chủ yếu là cho chúng sinh niềm vui, giải quyết đau khổ của chúng sinh, hỉ vô lượng mà đi thực tiễn, hi sinh chính mình cho chúng sinh. 

Phật Đà nói: ”Trong mọi cái khổ thì bệnh là khổ nhất.” Vì thế, trọng tâm của Quỹ từ thiện Lư Thắng Ngạn là chăm sóc sức khỏe, mục tiêu mà chúng tôi nỗ lực là rộng rãi giúp đỡ sức khỏe của người nghèo, phương tiện thuốc thang, nâng cao nghiên cứu y học và dược phẩm, v.v…

Bất kể là học Phật hay là không học Phật, chúng sinh đều phải có trí huệ, giáo dục là mấu chốt, đời người nhất định phải học hiểu rõ những nguyên lí phép tắc thì mới bắt tay vào làm công phu tốt được. Muốn học Phật, bạn phải tìm được ngọn nguồn của nó, phải làm rõ cái gì là ánh sáng, cái gì là bóng tối. 

Phải biết rằng mục đích của đời người phải bắt đầu từ giáo dục, sự lan truyền văn hóa đều dựa vào giáo dục, tôi nhận ra giáo dục thì đã phổ cập, nhưng học vấn không có, về mặt này, trong và ngoài nước đều phải tăng cường.

Quỹ từ thiện Lư Thắng Ngạn chính là dựa theo hai mục tiêu tinh thần lớn để phát tâm bồ đề. Ngoài ra còn kiêm làm cả cứu tế tai nạn. Hi vọng những người có chí cùng đến phát tâm tài trợ. 

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/226-hay-mo-long-ra.md
# Title: 226. Hãy mở lòng ra
---

![image](/img/img_6c3165b3282d4eb3b659275452464481.jpg)



## Hãy mở lòng ra


🪷 Bí mật của khởi niềm tin

Văn tập: 226
Xuất bản: 02/2012
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


Vào tháng 10 năm 2011, tôi đã truyền pháp trong hai tháng tại Seattle Lôi Tạng Tự và chùa Cầu Vồng Lôi Tạng Tự ở Mỹ. Trong hai tháng này, những pháp được truyền đều là những khẩu quyết tinh yếu, nhiều điều rất quý giá.

Ngoài ra:

Tại Thường Hoằng Lôi Tạng Tự ở Panama, tôi đã truyền khẩu quyết thiết tự Cửu tự chân ngôn và pháp nhật nguyệt hợp bích của Thời Luân Kim Cang, đây là những điều hiếm có.

Tại Thánh Đức Lôi Tạng Tự ở Florida, Hoa Kỳ, tôi đã truyền pháp thiên nhất thần thủy - đây là bí mật trong những bí mật.

Tại Liên Nghiêm Lôi Tạng Tự ở Philadelphia, Hoa Kỳ, tôi đã truyền pháp lưu truyền thừa Liên Hoa Đồng Tử - điều này còn thâm sâu khó lường hơn nữa.

Tại Kim Cang Lôi Tạng Tự ở New York, Hoa Kỳ, tôi đã truyền pháp niệm tụng Đại Tùy Cầu Bồ Tát - thật sự là điều quý hiếm.

Tại Mật Nghi Lôi Tạng Tự ở Houston, Texas, Hoa Kỳ, tôi đã truyền pháp ngũ luân và giảng giải về "tịch diệt vi lạc" - đây là điều hiếm được nghe trên đời.
….

Những giáo huấn và khẩu quyết thực tu này đều được truyền thừa từ các vị Căn bản Thượng sư của tôi, tôi xin đảnh lễ:
Liễu Minh Hòa Thượng.
Đại Bảo Pháp Vương thứ 16 (Karmapa).
Sakya Chứng Không Thượng sư.
Thubten Dhargye Thượng sư.
Cùng chư vị Thượng sư.

Việc tu hành của tôi cũng giống như việc viết sách, chưa từng gián đoạn, suốt bốn mươi năm như một ngày, có thể nói sự kiên trì và bền bỉ không nao núng trong thiền định như vậy, trong đời này kiếp này, đã rất khó thấy được, vì vậy mà lực gia trì của tôi liên tục không ngừng, tôi đã đạt được thành tựu tương xứng.

Tôi cũng có thể tiên đoán:
1. Đời này thành Phật.
2. Vãng sinh Tịnh độ.
3. Thường trụ ở thế gian chuyển pháp luân.

Trong đời này, tôi đã thực sự đạt được điều mong muốn là lợi ích cho hành giả đời sau, đây chính là tâm nguyện, cũng là lời thệ nguyện của tôi.

Nhớ lại cách đây hơn bốn mươi năm, tôi đã được sư cô Lâm Thiên Đại chỉ dẫn khi tình cờ gặp bà tại Ngọc Hoàng Cung ở Đài Trung.
Được Diêu Trì Kim Mẫu giáng xuống, khai mở thiên nhãn.

Diêu Trì Kim Mẫu nói:
"Ta đã tìm kiếm con từ rất lâu rồi!"
Lại nói:
"Ta sẽ giúp con thuyên chuyển công tác, ở mãi tại Đài Trung." (Chỉ về cuộc đời trong quân ngũ.)
Lại nói:
"Khi có cơ duyên lớn, sẽ có đại pháp truyền cho con."
Lại nói:
"Một lòng học Phật, một lòng học pháp, một lòng hướng thiện."
(Lúc đó, tôi 26 tuổi.)

Kể từ ngày đó, tôi gần như hàng ngày đều gặp những điều kỳ diệu, không thể kể hết.
Tôi bay đến cõi Phật của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.
Trong các ngôi mộ cổ hoặc hang động.
Liên Hoa Sinh nuốt tôi vào miệng, và tôi được sinh ra từ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ hóa thành ánh cầu vồng, tôi đi vào trong ánh cầu vồng ấy, thọ nhận tất cả các quán đảnh do Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền thừa; Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã truyền tất cả pháp lưu truyền thừa, quán đảnh vào tám vạn bốn nghìn lỗ chân lông của tôi.

Trải qua:
Bầu trời nứt ra.
Sơn hà đại địa chấn động.
Tôi viết những trải nghiệm này ra, mọi người đều cho rằng tôi là "kẻ điên".
(Đây là bí mật khởi niềm tin của tôi.)
Mong rằng cuốn "Hãy mở lòng ra" này có thể giúp mọi người khởi tín tâm học Phật.

Địa chỉ liên lạc của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn:

**Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th Ct.,
Redmond, WA 98052
U. S. A.


### 01. Tôi có phải là kẻ điên không?


Thực ra, tôi có vẻ hơi điên một chút, nhưng chưa đến mức phải vào bệnh viện tâm thần.
Lý do điên là:
Kết bạn với ma.
Kết bạn với thần.
Kết bạn với Bồ Tát.
Kết bạn với Phật.
Một người như vậy, tất nhiên sẽ bị hiểu lầm là gần như điên rồi, bởi vì những người bị nhốt trong bệnh viện tâm thần hầu hết đều thuộc dạng người này.

Có một câu chuyện cười như thế này:
Viện trưởng bệnh viện tâm thần hỏi bệnh nhân: "Ai bảo anh là Chúa Jesus vậy?"
Bệnh nhân trả lời: "Thượng Đế nói với tôi."
Một bệnh nhân khác đi ngang qua, nói với người tự xưng là "Chúa Jesus": "Tôi đâu có nói với anh là anh là Chúa Jesus."
Tôi đọc câu chuyện cười này, cười ha hả.

Vì vậy khi có người biết tình trạng của tôi mà gọi tôi là kẻ điên, tôi cũng không thể trách họ được. Bởi vì tôi cũng chẳng khác gì một kẻ điên là mấy.

Ngoài điều đó ra, tôi là một người bình thường.
Khi đến giờ ngủ, tôi đi ngủ.
Khi đến giờ tu pháp, tôi tu pháp.
Khi đến giờ viết sách, tôi viết sách.
Khi đến giờ vẽ tranh, tôi vẽ tranh.
Mùa hè tôi không mặc áo lót dày, mùa đông tôi không bao giờ chỉ mặc mỗi áo thun, trời lạnh thì quàng khăn, trời nóng thì mặc áo mỏng.
Cuộc sống của tôi rất bình thường.
Không làm việc phạm pháp, không làm việc phạm giới, sinh hoạt rất có quy củ. Sáng 6 giờ ăn sáng, 12 giờ ăn trưa, tối 6 giờ ăn tối, giao tiếp với mọi người, tất cả đều bình thường.

Tôi nói: Tôi không phải là thánh nhân, tôi cũng chẳng vĩ đại gì, tôi chỉ là một người hết sức bình thường, mọi thứ đều rất tự nhiên, tự nhiên chính là đạo, Lão Tử nói: "Đạo pháp tự nhiên vậy."
Tôi cho rằng: "Thánh nhân hẳn là người ngu ngốc nhất trên đời." (Tự trói buộc chính mình.)
Tôi hiểu đạo lý trong Kinh Dịch: "Bậc đại nhân là người hợp đức với trời đất, hợp ánh sáng với nhật nguyệt, hợp thứ tự với bốn mùa, hợp cát hung với quỷ thần."
1. Giữ đạo đức.
2. Thân khẩu ý thanh tịnh.
3. Sống tự nhiên.
4. Hiểu rõ đạo lý lành dữ họa phúc.

Bốn điều này của tôi tương thông với đạo lý trong Kinh Dịch, tôi chỉ khác người thường ở một điểm, đó là kết bạn với quỷ thần, nên tôi là người biết được điều lành dữ.

Tôi có rất nhiều bạn là ma, họ đều là những người bạn rất tốt. Năm đó, tôi gặp phải một tai họa.
Ma nói với tôi: "Đại họa sắp đến."
Tôi hỏi: "Phải làm sao?"
Ma đáp: "Chạy trốn!"
"Chạy trốn như thế nào?"
Ma đáp: "Dương Đông kích Tây."
(Để mọi người tưởng bạn ở đây, nhưng thực ra bạn ở nơi khác, ha ha ha.)

Bạn ma của tôi giúp tôi, bạn thần của tôi cũng giúp tôi, để tôi vượt qua tai họa một cách bình an.
Việc kết bạn với ma, với thần, với Bồ Tát, với Phật này, tôi không phải nói khoác đâu, bất kì ai cũng có thể làm được. Vua Nghiêu Thuấn là người, ai ai cũng có thể làm vua Nghiêu Thuấn, Phật Thích Ca Mâu Ni là người, bạn cũng có thể thành Phật Thích Ca Mâu Ni, điểm này, tôi không lừa bạn đâu!


### 02. Ma sống ở nhà tôi


Tôi nói, ở Seattle bang Washington của Mỹ, tôi đã chuyển nhà nhiều lần.
Lần đầu tiên, từ Ballard chuyển đến Chân Phật Mật Uyển.
Lần thứ hai, từ Chân Phật Mật Uyển chuyển đến Phantom Lake.
Lần thứ ba, từ Phantom Lake chuyển đến Nam Sơn Nhã Xá.
Lần thứ tư, từ Nam Sơn Nhã Xá chuyển đến Tân Nam Sơn Nhã Xá.
Nhà ở Ballard có ma, ở tầng hầm, con ma này không mấy thân thiện với Phật Thanh và Phật Kỳ.
Khi tôi chuyển đi, vẫn còn nghe thấy tiếng thở dài của họ từ tầng hầm.

Ngôi nhà cuối cùng Tân Nam Sơn Nhã Xá rộng hai mẫu, nhà khá lớn, có hai con ma sống ở Tân Nam Sơn Nhã Xá.
Mỗi sáng khi thức dậy, tôi đi dọc hành lang, khi khách đi qua hành lang vào nhà vệ sinh, bên trong luôn có tiếng "cạch" rất to.
Ngày nào cũng vậy.
Thì ra ánh sáng của tôi chiếu vào họ khiến họ giật mình.
Ban đầu chỉ có một con ma, sau này, khi tôi về Đài Loan ở lâu, Tân Nam Sơn Nhã Xá lại có thêm một con ma nữa.
Hai con ma này vô hại đối với chúng tôi.

Trong số đó có một con ma, thật không ngờ lại chào tôi bằng "chào kiểu quân đội", hóa ra nó từng là lính Mỹ, biết tôi trước đây là sĩ quan cấp thiếu tá, nên cứ gặp tôi là chào theo kiểu quân đội.
Tiếng giày va chạm cũng phát ra âm thanh "cạch".
Con ma này giúp tôi rất nhiều.
Mỗi lần tôi hóa cam lộ cúng dường:
Đại bàng kim sí điểu.
Hoang dã quỷ thần chúng
La sát quỷ tử mẫu.
Cam lộ đều tràn trề.
Ôm mu-ti-yu sô-ha. Ôm mu-ti-yu sô-ha. Ôm mu-ti-yu sô-ha.

Con ma lính Mỹ này giúp tôi duy trì trật tự, nhận lãnh thực phẩm cam lộ của tôi cúng dường.
Có một lần, một con ma ăn xin lang thang cũng muốn ở lại Tân Nam Sơn Nhã Xá, nhưng tính tình không tốt, trình độ không đủ, đã bị con ma lính Mỹ tóm cổ đuổi ra ngoài, bảo nó xéo đi.

Thực ra Chân Phật Mật Uyển cũng có ma, chỉ là những con ma này đều là đệ tử quy y của tôi. Họ đều rất tốt, cũng hiểu cách tu Mật giáo, giúp tôi rất nhiều việc. Những con ma ở Chân Phật Mật Uyển đều biết bay lượn, cũng biết biến hóa thần thông, gần như đã trở thành thần rồi.
Tôi hỏi họ: "Làm ma có sướng không?"
Họ đáp: "Sướng!"
"Sướng chỗ nào?"
Đám ma nói: "Ma không có hình hài, chỉ có tinh thần, không có hình hài thì ít bệnh tật phiền não, chúng tôi đều có chút thần thông, biết biến hóa, biết bay lượn, muốn đi đâu thì đi đó, tự tại quá, chúng tôi không muốn bị hình hài trói buộc, mọi thứ đều quá phiền phức."
Tôi nói: "Ma cũng có người đầu thai làm người mà."
Đám ma đáp: "Hiếm lắm, họ đầu thai làm người là do nhân duyên nghiệp lực. Thực ra, người là ma, ma là người, một bên có hình hài, một bên không có hình hài mà thôi, không có hình hài thì sung sướng hơn nhiều."

Có một lần tôi ra ngoài.
Ma nói: "Nhớ mang theo ô đấy!"
"Trời nắng chang chang mà mang ô!" - Tôi ngạc nhiên.
"3 giờ chiều sẽ mưa!" - Ma nói.

Đến chiều, quả nhiên trời tối sầm.
3 giờ chiều, mưa như trút nước.
Ma nói chính xác thật.
Tôi hỏi: "Sao ngươi biết được?"
Ma đáp: "Không phải ngài đã nói ma có ngũ thông sao?"


### 03. Ma giấu châu báu


Ai cũng biết Lư Sư Tôn kết bạn với ma quỷ, tương ứng với ma quỷ, giao lưu với ma quỷ và thân thiết với ma quỷ.
Một ngày nọ, có một nữ ma già chậm rãi đến gặp.
Con ma này vẻ mặt vô hồn, không biểu cảm, rất thê lương, cũng không nói gì, chỉ chỉ vào tim mình.
Tôi hỏi:
"Có tâm sự gì phải không?"
Nó gật đầu.
Nó muốn tôi đi cùng, muốn dẫn tôi đi. Thực ra tôi không muốn đi lắm, nhưng nghĩ mình võ công cao cường nên cũng mạnh dạn, cứ đi thôi, biết đâu con gái của nó là một nữ ma xinh đẹp thì sao!
Đi vào một căn nhà.
Nó chỉ vào cột gỗ dưới một cái bàn tròn.
Nó nói: "Mở ra."

Cột gỗ mở ra, bên trong là rỗng, chứa một số lượng lớn châu báu. Mắt tôi sáng lên, nhìn kĩ:
Có nhẫn kim cương, kim cương.
Có thỏi vàng.
Có vòng cổ ngọc trai.
Có nữ trang.
Có vòng ngọc.
Một gói lớn, tất cả được cất giấu trong cột bàn rỗng, quả thật là nơi cất giữ châu báu tuyệt vời nhất.

Tôi hỏi: "Cho tôi phải không?" - Lòng tôi rộn ràng vui sướng.
Nó đáp: "Không! Là cho con cháu đời sau!"
Lần này, đến lượt tôi đờ người ra.

Vài ngày sau, có một gia đình họ Trang đến gặp tôi, trình bày có việc muốn nhờ:
Khi bà nội còn sống có một số lượng lớn vàng bạc kim cương châu báu, sau khi mất, không biết để ở đâu. Lúc còn sống, bà có thói quen cất giấu đồ đạc, sợ bị trộm lấy mất hoặc bị cướp.
Bà thường cất ở:
Trần nhà.
Tầng hầm.
Phía sau bảng gỗ.
Ngăn đá tủ lạnh.
Ghế sofa.
Bồn cầu.
Bụng tượng Phật Di Lặc.
Dưới gầm giường.
Vỏ gối.
......

Do vội vã lúc lâm chung, không kịp nói ra, không có ai biết nơi cất giấu châu báu, vì vậy chúng tôi đặc biệt đến thỉnh giáo Lư Sư Tôn, không biết châu báu của bà nội rốt cuộc ở đâu?
Tôi nghĩ thầm:
"Cuối cùng cũng đến!"
Đệ tử họ Trang nói:
"Nếu chúng con tìm được, sẽ có hồng bao cúng dường cho Quỹ từ thiện Lư Thắng Ngạn, điều này chúng con nhất định sẽ làm."
Tôi nghĩ thầm:
"Thế này mới phải!"
Tôi hỏi:
"Các con đã tìm hết mọi nơi chưa?"
"Dạ rồi, từ trần nhà đến tầng hầm, kể cả trong bụng tượng Phật Di Lặc, chỗ nào có thể giấu được chúng con đều đã lục tìm nhiều lần."
Tôi nói:
"Ở trong cột rỗng của bàn tròn."

Họ về tìm, quả nhiên tìm thấy.
Đệ tử họ Trang hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Sao thầy biết được?"
Tôi đáp:
"Bà nội của các con đích thân đến nói cho ta biết."
"Ôi! Chính xác quá!"
Tôi nói với mọi người, thật sự có ma, có thần, có Bồ Tát, có Phật, chúng ta nên tin điều đó.


### 04. Thủy Thần của hồ Sammamish


Khi tôi sống ở Chân Phật Mật Uyển, thường hay đi dạo đến hồ Sammamish, hồ này là hồ lớn thứ hai của tiểu bang Washington.

Tôi đã từng viết một cuốn sách tên là "Thiên Đường Bên Hồ", kể về những câu chuyện xung quanh hồ này.

Có một lần.
Tôi đi đến bến tàu ở công viên nhỏ bên hồ, bến tàu có những tấm ván gỗ nổi trên mặt nước, trải dài ra hồ.
Tôi đi đến tận cuối bến, nhìn những cỏ nước dưới đáy hồ, trên đám cỏ có những con cá bơi qua bơi lại. Tôi vốn thích nhìn cá bơi lội, cá luôn trông rất vui vẻ, và lòng tôi cũng vui theo.
Bỗng nhiên, tôi như thấy đáy hồ dần dần biến đổi, có hai con mắt to đang trừng trừng nhìn tôi.
Phía trên đôi mắt có lông mày rậm.
Có mũi, có đôi môi dày.
Khuôn mặt đầy râu.

Tôi giật mình hoảng hốt, thoạt đầu nghĩ là ảo giác.
Tôi nhìn những cây trong công viên, rồi nhìn ngọn núi đối diện, sau đó, lại nhìn xuống đáy hồ.
Trời ơi! Khuôn mặt đó vẫn còn đó, đôi mắt to vẫn đang trừng trừng nhìn tôi, cứ nhìn qua nhìn lại.
Dưới đáy nước có một khuôn mặt, kỳ lạ thật!

Sau đó, tôi từng ngồi thiền dưới gốc cây bên hồ.
Một người bước về phía tôi, chính là vị khách lạ có bộ râu rậm ấy, ông ta hỏi tôi:
"Ông nhìn thấy tôi sao?"
Tôi đáp:
"Nhìn thấy!"
Ông ta nói:
"Tôi thấy ánh mắt ông khác với người thường, mắt ông tỏa ra ánh sáng, có phải là âm dương nhãn không?"
Tôi nói:
"Không phải, tôi có thiên nhãn."

Ông ta rõ ràng rất vui mừng, vì thực sự có người nhìn thấy được mình, ông ta rất lịch sự, liền trò chuyện với tôi.
Ông ta kể, năm đó vào mùa đông tuyết rơi dày, xe của ông trượt xuống dốc, phanh bị hỏng, xe trượt xuống đáy hồ.
Ông ta đã trở thành ma nước.

Ông ta hỏi tôi:
"Ma nước có đáng sợ không?"
Tôi đáp:
"Tôi là người tu hành, không sợ."
Ông ta cười ha ha!

Ông ta tiếp tục kể, sau khi chết mới biết, hồ Sammamish vốn có không ít ma nước, những ma nước thấy ông ta thân hình lực lưỡng, đã suy tôn ông ta làm vua ma, chẳng bao lâu sau ông ta đã thống lĩnh tất cả ma nước ở hồ Sammamish.

Một năm nọ, trời cũng đổ tuyết lớn, lại có một chiếc xe rơi xuống hồ, đám ma mừng rỡ vì có ma mới đến.
Vua ma bỗng khởi lòng từ bi.
Ra lệnh cho đám ma đỡ chiếc xe đang chìm, mở cửa xe ra, để người bên trong thoát ra ngoài, rồi đỡ người đó bơi lên bờ, người đó đã sống sót một cách kỳ diệu.
Tôi nói:
"Thì ra ông cũng có lòng từ bi!"
Ông ta đáp:
"Ma cũng có kẻ không hại người." - Ông ta nói tiếp: "Tôi thấy làm như vậy rất tốt, đã cứu được không ít người. Sau này trời biết được, tôi từ vua ma đã trở thành Thủy Thần."
Tôi chúc mừng ông ta.

Ông ta nói, ông ta cũng có hào quang, có thể bay lượn, tuy là Thủy Thần nhưng vẫn có thể đi lại trong nhân gian.
Tôi hỏi:
"Ông còn muốn làm người nữa không?"
Ông ta đáp:
"Con người à! Người cứu người thì ít, kẻ hại người thì nhiều, không muốn làm người đâu."
Nghe xong, tôi không khỏi cảm khái!


### 05. Ma ở trên vai cô


Có một cô gái tên Lạc San An hỏi tôi:
"Bố tôi lúc còn sống rất thương tôi, trước khi mất đã nói bên tai tôi rằng, sau khi chết nhất định sẽ về thăm tôi, nhưng tại sao đến giờ tôi vẫn chưa cảm nhận được gì?"
Tôi đáp:
"Bố cô đã thực sự về thăm cô rồi!"
"Không có mà?"
Tôi nói:
"Ông ấy đang đứng trên vai cô đấy, sao lại không có?"
"Á!" - Cô Lạc San An thét lên kinh ngạc.

Cô Lạc nói:
"Trong buổi lễ tang, có một chuyện rất kỳ lạ xảy ra, đột nhiên có một con chim bay vào, giữa chừng buổi lễ, không nguyên cớ gì một con chim bay vào, kêu chíp chíp. Cuối cùng, nó đậu trên vai tôi, đậu rất lâu, lưu luyến không rời, dùng mỏ mổ nhẹ cổ áo tôi, rất là thân thiết, phải chăng đó chính là cha tôi về thăm tôi?"
Tôi nói:
"Đúng vậy!"

Tôi nói với cô Lạc:
"Con chim đó chính là hóa thân của bố cô. Ông ấy đã thực hiện lời hứa của mình, đã về thăm cô rồi!"
"Sao bố tôi lại biến thành chim được?"
Tôi nói với cô Lạc:
"Linh hồn vốn không có hình thể, nhưng chỉ khi nương vào thân thể của loài vật mới có thể trở về, để mọi người nhìn thấy và chứng kiến rằng họ thực sự đã về thăm."
Tôi nói với cô Lạc:
"Có một lần, tôi siêu độ cho một người thân, tôi nói rằng buổi siêu độ tối nay rất đặc biệt, tôi nhận được thông điệp là tất cả những người thân đã mất sẽ hẹn nhau về đây tối nay."
"Có dấu hiệu gì không?"
"Đến lúc sẽ biết!" - Tôi trả lời đầy bí ẩn.

Đến tối, trong buổi siêu độ, từ bên ngoài có một đàn kiến cánh bay vào. Kiến cánh có thể bay, có một đôi cánh dài, cả đàn ùa vào, thật là kinh ngạc.
Tôi nói:
"Đừng đập chết kiến cánh!"
Tôi nói:
"Tất cả chúng đều là sự nương náu của các linh hồn."
Trong đó có một con kiến cánh bay đến đậu trên kinh tôi đang tụng và không chịu bay đi, hóa ra đó chính là người thân mới mất.

Tôi nói:
"Nếu ngươi hiểu lời ta và là người thân, hãy bay đến ngọn nến trắng và bay vòng quanh ba lần."
Con kiến cánh đó quả thật rất nghe lời, thật sự bay đến ngọn nến trắng và bay ba vòng.
Những người tham dự buổi siêu độ đều vô cùng kinh ngạc.

Tôi nói với cô Lạc:
Đại sư Marpa - tổ sư phái Bạch giáo Mật tông Tây Tạng, vì thực hiện nghi lễ không đúng thứ tự nên phải mất một người con.
Khi con trai ngài ngã ngựa chết, Marpa đã dùng pháp thuật "đoạt xá", để linh hồn con trai nhập vào thân một con chim lớn, rồi ra lệnh cho chim bay đến Ấn Độ, tìm một cặp vợ chồng cao quý.
Để đầu thai chuyển thế.
(Chuyện này được lưu truyền rộng rãi trong Mật tông Tây Tạng.)

Tôi nói:
Người chết thành ma.
Ma sẽ trở về.
Trở về trên bàn thờ tế.
Ma trên bàn thờ tế nhập vào thân con vật, đừng vội giết chúng, vì rất có thể đó là sự nhập thân của người đã khuất.
Sau khi bố cô Lạc mất, đã nương náu vào thân một con chim nhỏ, bay vào nhà tang, đậu trên vai cô Lạc, đây chính là sự thật về linh hồn, có tin không?


### 06. Trạm xá của ma tự sát


Tôi chưa bao giờ giấu giếm việc em trai tôi Lư Chiêu Dung đã tự tử.
Em ấy từ nhỏ đã được nuông chiều quá mức.
Những đứa trẻ được cha mẹ bảo bọc, lớn lên thường trở thành "thế hệ mong manh", tâm hồn và thể xác đều rất yếu đuối.
Khi học cấp hai, em bị một nữ sinh lớp dưới dẫn dụ, hít hơi keo con voi, sống trong ảo giác.
Cô nữ sinh đó đã tự tử, nhưng em vẫn chưa tỉnh ngộ.
Sau khi tốt nghiệp trường kỹ thuật, em đi làm ở nhà máy kính, vẫn tiếp tục hít keo, bạn gái can ngăn không nghe, rồi chia tay.
Em trai út của tôi, người em trai duy nhất, vì quá kích động đã uống kali xyanua tự vẫn.
Cổ họng bị cháy nát, trong phút chốc hồn lìa khỏi xác.
Lúc đó, tôi đã ở Mỹ.

Em trai tôi đã trở thành oan hồn tự tử, theo mẹ đến thăm nhà tôi ở Mỹ, trong một đêm, hiện hình ba lần.
1. Hiện ra cho mẹ xem, lúc đó mẹ vẫn còn.
2. Hiện ra cho Liên Hương xem, giơ tay xin tiền.
3. Hiện ra cho tôi xem, muốn tôi chữa trị cổ họng cho.

Tôi đã dùng bí pháp của Diệu Sắc Thân Như Lai, kết hợp với "khí" để giúp em trai, và thật kỳ diệu là giọng nói của em đã được chữa lành hoàn toàn.
Sau khi tin này truyền ra, cả giới ma đều xôn xao.
Nhiều hồn ma tự tử lũ lượt tìm đến tôi xin chữa trị, nhà tôi bỗng trở thành phòng khám cho những oan hồn tự vẫn.
Người uống thuốc độc thì xin chữa nội tạng.
Người nhảy lầu thì chữa tứ chi.
Người treo cổ thì chữa cổ họng.
Người đốt than thì chữa não.
Người nhảy sông thì chữa phổi.
...

Một ngày nọ, một ma nữ có diện mạo rất xấu xí hiện hình, hóa ra cô ta đã tự thiêu, làn da đã hoàn toàn bị hủy hoại!
Tôi nói:
"Cô hãy đi tìm khoa da liễu đi!"
Cô ta đáp:
"Khoa da liễu vô dụng, nhất định phải tìm Lư Sư Tôn."
Tôi hỏi:
"Tại sao vậy?"
Cô ta đáp:
"Thầy có pháp Diệu Sắc Thân Như Lai, nương theo pháp này chắc chắn có thể chữa lành làn da bị thiêu rụi của tôi."

Thế là:
Tôi thổi khí lên thân thể ma nữ, thổi một hơi, xuất hiện "làn da diệu sắc", thổi hai hơi, xuất hiện hai mảng.
Khi thổi vào đầu ngực, cô ta tỏ vẻ khó xử.
Khi thổi vào chỗ kín, cô ta cũng tỏ vẻ khó xử.
Ba điểm đều được thổi xong.
Sau khi thổi khí xong xuôi, ôi chao! Ma nữ xấu xí này bỗng trở nên đẹp như tiên nữ.
Đến mức có thể làm cho một người tu hành như tôi phải mê mẩn!
Cuối cùng, vị ma nữ đẹp như tiên nữ ấy đã phát nguyện làm thị giả của tôi, có được vị ma tiên nữ này rồi, những người đẹp trần gian trở nên tầm thường.
May mà tôi có tu pháp quán bạch cốt.
Nếu không, có khi đã cưới ma nữ làm vợ rồi!

Thật lòng mà nói, tôi thích ma quỷ hơn người thường. Tôi có rất nhiều đệ tử là ma quỷ, họ cũng là những kẻ theo đuổi Phật pháp, họ giúp đỡ tôi trong thế giới vô hình, đôi khi còn hơn cả thế giới hữu hình.
Thế giới ma quỷ, tôi có thể thông suốt.
Tất cả bọn họ đều biết có một vị Lư Sư Tôn.

Ở đây, tôi vẫn muốn khuyên người đời, đừng tự tử, sau khi tự tử nghiệp chướng càng nặng hơn, những thương tật do tự tử, dù có đầu thai cũng vẫn mang theo dấu vết khiếm khuyết.
Tôi nói, sức mạnh của nghiệp lực thật không thể nghĩ bàn!


### 07. Ma sòng bạc rất nhiều


Người chơi mạt chược, phần lớn đều sẽ trải qua những chuyện kỳ lạ, sau khi gặp chuyện lạ, đều kêu lên: "Ván bài này có ma!"
Thực ra chơi mạt chược cần bốn người, thiếu một không thành ván, mọi người đều nghĩ là bốn người đánh bài.
Nhưng theo tôi thấy, là tám người, trong đó bốn vị là ma, hoặc thậm chí còn nhiều ma hơn nữa đang đứng bên cạnh xem.

Lại có một trải nghiệm khiến bạn khó quên.
Người mới học mạt chược, rõ ràng không biết chơi, đánh bừa. Điều kỳ lạ là, hễ là người mới học đều thắng.
Thắng đến nỗi cao thủ phải la ó om sòm.
Tại sao người mới học lại thắng.
Không gì khác, vì có ma giúp, lôi kéo bạn xuống biển cờ bạc, nghiện cờ bạc, mọi người cùng có cái để chơi!
Tôi nhìn người đời, người đời đều có tính cờ bạc.
Nhìn các ma, ma còn thích cờ bạc hơn.

Một lần nọ.
Tôi đến thăm một sòng bạc ở Đông Nam Á, vừa bước vào, đám ma liền hô to:
"Ma Vương đến rồi, mọi người tránh ra!"
Quả nhiên đám ma chạy tán loạn.
Tôi bắt một con ma hỏi: "Sao lại gọi ta là Ma Vương?"
Ma đáp: "Sau ngón cái tay phải của ngài có ẩn Ma Vương mặt cười, khi ngài xuất hiện, chúng tôi không địch nổi, ngài sẽ thắng!"
Tôi nói: "Ta không đến đây để đánh bạc."
Lúc này đám ma mới lục tục kéo về.
Tôi hỏi: "Tại sao các ngươi tụ tập ở sòng bạc?"
Chúng đáp: "Chúng tôi là do thầy cúng làm phép, bắt chúng tôi giúp nhà cái thắng, hầu hết sòng bạc đều có ma thuật, khiến khách thua sạch. Chúng tôi sẽ dịch chuyển bài qua lại, chỉ để khách thua, nhà cái thắng."
Tôi nghe xong bật cười.

Một lần khác, tôi đến xem show ở sòng bạc Las Vegas.
Tình cờ có bốn bà đánh một ván.
Tôi đứng phía sau trì chú.
Chú Phổ Ba Kim Cang: "Ôm ben-za chi-li chi-la-ya sa-ơ-wa bi-ka-nê pằng hùm pây."
Lại có Hùng Thiên Tôn Giả.
Hai vị này là Đại Lực Quỷ Vương.
Khiến đám ma cờ bạc hoảng sợ chạy tán loạn.

Trần Truyền Phương, Ngụy Tư Nhan, Tưởng Quán Dung, Tôn Ái Châu, bốn người đánh bài ván nào cũng thắng, nhà cái phải đổi liên tiếp bốn người chia bài.
Quản lý sòng bạc chạy đến.
Nhân viên bảo vệ chạy đến.
Mỗi lần chia bài đều xảy ra kỳ tích, lần nào cũng đánh cho nhà cái thua thảm hại.
Cả sòng bạc xôn xao.
Khiến đối phương không còn cách nào.
(Thực ra không phải vận may của chúng tôi tốt, mà là do hai vị Đại Lực Quỷ Vương "sắp đặt", đám ma cờ bạc không chống đỡ nổi ngã gục, chúng tôi không thua ván nào, khiến nhà cái cứ cười khổ không biết làm sao, liên tục thay người chia bài cũng vẫn thua.)

Có tôi là lão tổ tông của Ma Vương ở đây.
Các tiểu quỷ nghe lệnh.
Tôi nhất định phải thắng.

Tôi nói: Các sòng bạc ở Đông Nam Á, phần lớn đều mời cao nhân nuôi quỷ, dùng pháp thuật Ngũ Quỷ vận chuyển, khiến người chơi đều thua.
Ngay cả sòng bạc phương Tây cũng có người nuôi quỷ.
Vì vậy, những ai không có công lực thì tuyệt đối đừng bước chân vào sòng bạc, nơi say đắm vật chất và tiền bạc đó, một canh bạc lớn là có thể thua sạch túi, mọi người phải hết sức cẩn thận! Tốt nhất là đừng đánh bạc.


### 08. Ma quyến thuộc của bệnh viện lớn


Mỗi lần đến bệnh viện lớn, ma quỷ mà tôi nhìn thấy được thật giống như chợ vậy, ma đi tới đi lui, nối đuôi nhau không ngớt.
Ma trong bệnh viện đủ loại đủ kiểu, ma già, ma tráng niên, ma trẻ, ma trẻ con, ma nam, ma nữ, ngoài ra còn có cả "dị hình".
Mỗi lần thấy vô số ma đứng ngoài phòng bệnh hay trước giường bệnh, tôi biết ngay thời khắc của bệnh nhân đã đến!
Tôi chỉ vào phòng bệnh hay giường bệnh nói:
"A Di Đà Phật! Bệnh nhân sắp đi rồi!"
Người bị tôi chỉ, thật sự trong vòng hai tiếng đồng hồ là qua đời.

Người ta hỏi:
"Tại sao vậy?"
Tôi đáp:
"Tất cả ma quyến thuộc nghe tin mà đến, ma biết thời điểm đã tới, đến đón
người thân đi." (Thật là chính xác!)
Người ta hỏi:
"Không phải do sai nha đến đón sao?"
Tôi đáp:
"Người bình thường thì ma quyến thuộc đến đón. Còn sai nha đến đón là những người nghiệp chướng nặng, bị dẫn xuống địa ngục!"

Có một lần, là người thân của tôi sắp đi, bệnh nhân nhìn thấy người chồng đã mất đến đón, thấy con trai đã qua đời cũng đến, thấy cả một đám người thân đã khuất đều tập trung đông đủ.

Tôi nói:
"Không tốt rồi! Thế này là đi làm ma đấy!"
Tôi lấy tràng hạt của mình, đưa cho người thân đeo.
Người thân vừa đeo vào, tất cả ma quỷ đều biến mất.
Chỉ thấy giữa bầu trời trong xanh, Tây phương Tam Thánh hiện thân, đưa người thân lên Tây Thiên.

Người thân này lúc lâm chung, đã tự miệng kể lại, ban đầu thấy tất cả người thân đã khuất đến, sau khi đeo tràng hạt của tôi thì nói ma đều biến mất hết, giờ được tiếp dẫn, sắp về Tây phương rồi.

Lại có một lần khác, tôi thấy một vị sai nha cầm còng tay, định đến bắt người. Viên sai nha đi qua đi lại, rồi bước vào một phòng mổ. Tôi nghĩ, bệnh nhân kia xong rồi, đang mổ dở thì sắp bị bắt đi.
Nhưng không ngờ, người bị bắt lại không phải bệnh nhân.
Người bị bắt đi là bác sĩ phẫu thuật.
Chỉ nghe trong phòng mổ hỗn loạn một hồi.
Người được khiêng ra không phải bệnh nhân, mà là một bác sĩ mặc áo blouse trắng. Nghe nói bác sĩ đang mổ dở thì thân thể không chịu nổi, ngất xỉu tại chỗ, đột tử. Người ta nói bác sĩ chết vì làm việc quá sức.
Còn cảnh viên sai nha ra vào phòng mổ, tôi nhìn thấy rõ ràng.

Tôi lại thấy một hồn ma y tá, ma đội mũ y tá màu trắng, mặc áo y tá màu trắng.
Điều kỳ lạ là, cô ấy đi đi lại lại trong bệnh viện, ra vào tất cả các phòng bệnh, thăm khám tất cả bệnh nhân, đo huyết áp, đo thân nhiệt, đắp chăn cho bệnh nhân, v.v.
Tôi để ý thấy tên trên thẻ của hồn ma y tá là Ôn Thúy Hoa.
Tôi hỏi:
"Bệnh viện có một y tá tên Ôn Thúy Hoa phải không?"
Nhân viên y tế trả lời:
"Có." - Rồi nói thêm: "Cô ấy đã mất tuần trước, bị ung thư tụy, dù mắc bệnh ung thư nhưng vẫn làm việc không ngừng nghỉ cho đến lúc qua đời, tinh thần của cô ấy thật đáng khâm phục."
Nhân viên y tế nói:
"Cả bệnh viện từ trên xuống dưới đều ngưỡng mộ y tá này, cô ấy có trách nhiệm cao, luôn làm việc không quản ngại khó khăn vất vả."
Tôi nói:
"Tôi thấy cô ấy vẫn đang làm việc trong bệnh viện!"
Nhân viên y tế nói:
"Ông nói dối!"
Tôi không nói được gì, vì y tá Ôn Thúy Hoa đang mỉm cười với tôi!


### 09. Hồn ma phía sau "Anh Bạch Tuộc"


Các bạn còn nhớ bản tin truyền hình không?
Năm đó trong giải bóng đá thế giới, có một "bạch tuộc khổng lồ" trong thủy cung, nó có thể dự đoán đội bóng nước nào sẽ thắng.
Khi hai đội thi đấu, người ta đặt hai hộp vuông dưới nước, trên đó ghi tên hai quốc gia thi đấu.
Khi con bạch tuộc ngồi lên hộp nào, quốc gia đó sẽ thắng.
Thắng một lần, có lẽ là sự trùng hợp.
Thắng hai lần, có lẽ là xác suất may mắn.
Thắng ba lần, có lẽ là do vận may.
Thắng bốn lần, khiến người ta phải kinh ngạc.
Thắng năm lần, thật không thể tưởng tượng nổi.
…

Anh Bạch Tuộc tiên đoán quá chuẩn.
Những quốc gia thua cuộc căm ghét Anh Bạch Tuộc đến nghiến răng nghiến lợi.
"Làm sashimi bạch tuộc!"
"Xào bạch tuộc sống!"
"Nấu canh bạch tuộc!"
"Thái lát chấm nước sốt ăn!"

Các quốc gia thua cuộc đều muốn ăn thịt Anh Bạch Tuộc, tôi xem mà cười ha hả. Bởi vì khi xem tin tức truyền hình, với thiên nhãn của mình, tôi đã thấy sau lưng Anh Bạch Tuộc có một con ma lớn.
Con ma có đôi mắt xanh lục.
Tròng mắt cứ lăn tròn lăn tròn.
Thần kinh não phát triển, có khả năng tiên tri mạnh mẽ.
Chính con ma phía sau điều khiển Anh Bạch Tuộc, nên tiên tri mới chuẩn xác đến vậy, chẳng liên quan gì đến Anh Bạch Tuộc cả!

Tôi, Lư Sư Tôn, đã sớm biết và nhìn thấy rằng, đằng sau sự tiến bộ của văn minh thế giới, khoa học, y học, các tác phẩm sáng tạo, những phát minh của các nhà phát minh, đều có ma.
Bạn nên tin rằng:
Có ma.
Có thần.

Có một người mua xe mới.
Khi lái xe, vô lăng tự rung lắc, rung rất mạnh, anh ta chạy đến công ty bán xe phàn nàn.
Người bán xe nói:
"Cùng thương hiệu, cùng một mẫu xe, chưa từng xảy ra chuyện này, chỉ có xe của anh là bị."
Người bán xe thử lái.
Không rung.
Chủ xe lái.
Rung.
Thật kỳ lạ!

Người bán xe nói:
"Chúng tôi sẽ sửa xe của anh cho đến khi vô lăng không còn rung nữa, đó là trách nhiệm của tôi."
Sửa xe phải tìm nguyên nhân, nhưng không tìm ra nguyên nhân, biết làm sao đây, thợ kỹ thuật tự lái thử, không rung.
Giao xe rồi.
Chủ xe vừa lái, lại rung!
Người bán xe và thợ sửa đều ngớ người ra.

Cuối cùng, họ mời tôi đến, tôi tụng:
"Ôm ben-za chi-li chi-la-ya sa-ơ-wa bi-ka-nê pằng hùm pây."
Tôi làm phép tịnh hóa xe.
Tôi thấy một con ma thoát ra khỏi vô lăng, bay về hướng Đông Nam rồi biến mất!
Tôi nói:
"Vô lăng không rung nữa!"
Chủ xe hỏi:
"Thật vậy sao?"
Tôi nói:
"Thật đấy."
Chủ xe lái thử, mặt mày hớn hở, quả nhiên đã hết!
Phải tin rằng ma thật sự có tồn tại, điều này quả thật là sự thật.


### 10. Bóng ma xuất hiện trên sân bóng


Tôi vui vẻ đi xem một trận bóng, đến nơi thi đấu, người đông như nước, trận đấu này quả thật thu hút hàng vạn người, chỗ ngồi chật kín, người đứng cũng rất đông.
Hai đội đều có fan hâm mộ, các nhóm cổ vũ thi nhau biểu diễn, không khí vô cùng sôi nổi.
Cờ xí.
Mũ nón.
Còi.
Thi nhau xuất hiện.

Sau khi quan sát một lúc, tôi lặng lẽ rời đi trước, không dám ở lại lâu.
Tại sao vậy?
Bởi vì tôi thấy rất nhiều ma cũng đến xem trận đấu, tất nhiên tôi biết, có nhiều ma như vậy ắt phải có chuyện, như câu "không có việc thì chẳng tìm đến cửa Phật". Nhiều ma, rất nhiều ma cùng xuất hiện, báo hiệu sắp có chuyện lớn xảy ra.
Tôi đi đây!
Không xem bóng đá nữa, bởi vì tôi là người không nán lại chốn thị phi, không đến chốn thị phi.

Sau đó.
Tôi xem trên ti vi, khi trận đấu diễn ra được một nửa, vấn đề trọng tài không công bằng đã gây ra tranh cãi giữa các cầu thủ, rồi hai bên đánh nhau. Các fan hâm mộ cổ vũ cho đội của mình, ào xuống sân tiếp ứng, diễn ra cảnh hai phe đánh nhau, gậy gộc bay tứ tung. Tình hình mất kiểm soát, nhiều người bị thương tích, có người bị thương, thậm chí gãy xương, có người bị giẫm chết, thật là hỗn loạn.
Mọi người trong chốc lát đã mất lý trí.
Cảm xúc sôi sục.
Sao lại bốc đồng như vậy?
Câu trả lời của tôi là:
"Ma quá nhiều, tất nhiên ai cũng mất kiểm soát."

Lại có một lần:
Đó cũng là một trận đấu của các ngôi sao, khán giả đổ về như thủy triều, ngồi kín cả khán đài.
Lần này, trận đấu hẳn sẽ bình an, vì không có nhiều "bóng ma" đến tham dự.
Tôi cảm thấy rất mừng.
Tôi chỉ thấy một "ma chướng ngại" đến.
"Ma chướng ngại" này quen biết tôi.

Nó hỏi:
"Lư Sư Tôn xem bóng đá à!"
Tôi đáp:
"Tôi là fan bóng đá."
Nó hỏi:
"Ngài đến xem bóng đá không phải có mục đích gì khác chứ!"
Tôi đáp:
"Có mục đích gì? Tôi chỉ đơn thuần xem bóng thôi."
Nó hỏi:
"Ngài sẽ không dùng pháp lực can thiệp tôi chứ?"
Tôi đáp:
"Chúng ta không nợ nần gì nhau, sao tôi lại can thiệp?"
Ma chướng ngại nói:
"Vậy thì tôi yên tâm rồi!"

Trên sân vận động, tôi thấy "ma chướng ngại" đột nhiên xuất hiện ở phía Đông, rồi phía Tây, phía Nam, phía Bắc. "Ma chướng ngại" chạy qua chạy lại, không biết làm gì?

Lúc này, có một tuyển thủ quốc gia đang chạy, tôi thấy "ma chướng ngại" dùng thân mình cản lại. Vị tuyển thủ này, chưa kịp phản ứng thì đã bị cản, người nghiêng đi, đè lên chân trượt, chân kêu "rắc" một tiếng, xương gãy, gân bị trật, lập tức nằm bất động dưới đất, phải được khiêng ra ngoài, nghe nói anh ấy phải nghỉ thi đấu một năm.
Ma chướng ngại rất vui mừng.
Tôi hỏi: "Sao phải làm vậy?"
Ma chướng ngại đáp: "Hắn (tuyển thủ) nợ tôi."


### 11. Thượng sư Liên Trí kể chuyện ma cương thi


Đó là một bữa tiệc.
Thượng sư Liên Trí kể câu chuyện thật về ma cương thi:
Có một đồng môn thuộc một gia tộc lớn.
Ban đầu, trong gia tộc có một người qua đời, sau khi lo xong tang sự, chỉ cách một tháng, lại có thêm một người qua đời.
Họ nghĩ đó chỉ là sự trùng hợp, sau khi lo xong tang sự, mới được hai mươi ngày, người thứ ba qua đời.
Điều kỳ lạ là người thứ ba này còn trẻ, lẽ ra không phải chết mà lại chết, khiến cả gia tộc náo động.
Họ mời pháp sư đến làm lễ tịnh hóa, tưởng rằng mọi chuyện sẽ êm xuôi, không ngờ người thứ tư lại qua đời.
Cả gia tộc hoang mang lo sợ, chưa đầy nửa năm đã có bốn người chết.

Điều kỳ lạ hơn nữa là:
Người thứ năm cũng chết!
Lại mời thầy cúng giỏi làm pháp thế thân, nghĩ rằng có thế thân rồi thì có thể yên tâm.
Người thứ sáu cũng chết!
Trời ơi! Chưa đầy một năm đã có sáu người chết, mời thầy phong thủy đến xem dương trạch, âm trạch, thầy phong thủy xem qua rồi điều chỉnh phong thủy.
Người thứ bảy cũng chết!
Mọi người gần như phát điên phát rồ, ai cũng bất an trong lòng, thấy là sắp đến lượt mình rồi.
Lại thỉnh cao tăng tụng Lương Hoàng Bảo Sám, Đại Bi Sám, Thủy Sám, Pháp Hoa Sám, Du Già Diệm Khẩu, thí thực...
Người thứ tám cũng chết!
Cứu mạng với! Cứu mạng với! Chỉ cần nghe danh ai là mời hết - pháp sư, thầy cúng, thầy phong thủy, thầy âm dương, đạo sĩ, thầy xem mệnh, đại sư, thượng nhân, Hoạt Phật, thầy trừ tà...

Ngay cả bác sĩ và nhà khoa học cũng hoàn toàn bối rối, không hiểu tại sao, người vẫn khỏe mạnh bình thường vậy mà nói chết là chết.
Người thứ chín cũng qua đời.
Trời ơi! Trời ơi! Phải làm sao đây? Phải làm sao đây?

Lúc này, người đồng môn đã quy y Lư Sư Tôn mới chợt nhớ đến Lư Sư Tôn đang ở Seattle, Mỹ.
Hơn một năm, đã có chín người chết.
Thật đáng sợ phải không! Gần như ngày nào cũng phải lo tang sự.
Tôi liền chiêm bói.

Thiên Quan, Địa Sát nói chắc như đinh đóng cột: "Ông cố và bà nội được chôn ở đất cương thi, đã biến thành ma cương thi, mỗi đêm bay ra hút khí của người sống, khi hết khí thì chết, cứ tiếp tục như vậy sẽ còn nhiều người chết nữa."

Tôi bảo Thượng sư Liên Trí mau đến giúp.
Chọn ngày Trừ sau giờ Ngọ, mở quan tài.
Tìm đất "bùn thối", rắc lên xác cương thi.
Cứu họ như vậy.

Thượng sư Liên Trí theo lệnh của tôi, cùng với những người trong dòng tộc can đảm lên núi, vừa mở quan tài ra xem, quả thật khiến mọi người kinh hồn bạt vía!
Ông cố và bà nội mặc áo thọ, mũ thọ, giày thọ, nằm đó như còn sống vậy.
Tóc dài ra. (khiếp đảm)
Móng tay dài ra. (khiếp đảm)
Mặt mày như người sống, răng nanh lồi ra, đúng là ma cương thi.
Mọi người vừa nhìn thấy, nháo nhào bỏ chạy, chạy mất mấy người.
Số người còn lại, theo lệnh của tôi, ném "bùn thối" vào trong quan tài, rồi đóng lại.

Cách một tuần sau, mọi người mở quan tài ra lần nữa, lạ thay! Lạ thay! Thi thể đã bắt đầu phân hủy, quần áo vốn còn mới tinh đã bị côn trùng cắn rách, thật sự đã thành người chết.

Từ ngày đó.
Gia tộc đã trở lại bình thường, không còn xảy ra chuyện chết chóc liên tiếp nữa.
Tôi hỏi:
"Sao lúc đầu không tìm tôi?"
Anh ấy đáp:
"Lư Sư Tôn ở Seattle tận nước Mỹ xa quá, lại bận rộn như vậy. Thực sự không còn ai để nhờ nữa mới nghĩ đến ngài."


### 12. Ngồi sau xe máy là ai?


Năm đó, tôi trở về Đài Trung, Đài Loan.
Trên đường phố Đài Trung, tôi thấy một đệ tử đồng môn đang phóng xe máy vụt qua trước mặt tôi.
Tôi nhìn thấy anh ta, nhưng anh ta không để ý thấy tôi. Tôi thấy phía sau xe có một cô gái tóc dài, mặc váy ngắn, để lộ đôi chân ngọc ngà, hai tay ôm lấy người đệ tử đồng môn.
Trong lòng tôi nghĩ:
"Được rồi! Ngày mai sẽ trêu chọc anh ta một phen."
(Anh ta đã có vợ con, vậy mà còn chở gái đẹp đi khắp nơi.)

Ngày hôm sau.
Tôi hỏi:
"Hôm qua, khoảng 2 giờ chiều, anh chạy xe qua đường Ngũ Quyền phải không?"
Anh ta đáp:
"Sư Tôn nhìn thấy ạ?" - Anh ta tỏ ra tự nhiên.
Tôi nói:
"Phải, người ngồi sau xe anh là ai vậy? Cô ấy có quan hệ gì với anh?"
Anh ta rất kinh ngạc.
Tôi nghĩ là đã tóm được "thủ phạm" rồi.
Anh ta nói:
"Con không chở ai cả!"
Tôi hỏi:
"Tóc dài, váy ngắn bó, để lộ đôi chân ngọc ngà, tôi thấy rất rõ, cô ta còn ôm chặt eo anh, anh còn cố tình làm như không thấy tôi nữa."
Anh ta hoảng hốt:
"Thưa Sư Tôn, con thật sự không chở ai cả, có phải Sư Tôn nhìn nhầm không? Không thể vu oan cho đệ tử như vậy!"
"Anh không được lừa Sư Tôn."
"Con không dám lừa ạ."

Lần này tôi thật sự lo lắng, người đệ tử này không phải người hay nói dối, anh ta bảo không chở ai thì đúng là không chở thật. Nhưng vậy thì cái tôi nhìn thấy là gì? Chẳng lẽ là "ma đòi mạng"?

Tôi dùng thuật bấm ngón tay thần toán, hóa ra đúng là "ma đòi mạng" ngồi ở ghế sau, tôi đã nhìn thấy bằng thiên nhãn.
Tôi muốn cứu đệ tử, tôi nói:
Dùng vải đỏ, viết bát tự ngày sinh, họ tên, địa chỉ của mình; rồi cắt móng tay, tóc, gói lại, buộc bằng dây đỏ.
Chọn ngày Trừ, sau giờ Ngọ.
Treo trước ngực Quan Thế Âm Bồ Tát.
Cầu nguyện gia hộ.
(Làm như vậy sẽ không sao.)
Trải qua một năm như thế, anh ta bình an vô sự.

Sau đó:
Vào ngày 24 tháng Giêng âm lịch, anh ta đang đi xe máy, không có tai nạn gì, bỗng nhiên ngã khỏi xe, được đưa đi cấp cứu nhưng đã mất.
Bác sĩ chẩn đoán là xuất huyết não (đột quỵ), chết đột ngột.
Tôi nghe tin anh ta đã mất.
Không thể tin được, anh ta còn trẻ như vậy.
Tuy có "ma đòi mạng", nhưng tôi đã làm phép, có Quan Thế Âm Bồ Tát gia hộ, sao có thể chết được?

Tôi đến nhà anh ta.
Tại đàn thành nhà anh ta, tôi thấy trước ngực tượng Quan Thế Âm Bồ Tát không có treo túi vải đỏ.
Tôi hỏi vợ anh ta:
"Túi vải đỏ đâu rồi?"
Vợ anh ta đáp:
"Có túi vải đỏ đó, nhưng dọn dẹp Tết, thấy túi vải đỏ dính bụi bẩn, cầm lên rồi tiện tay vứt đi luôn!"
"Trời ơi!" Tôi kêu lên.
Vợ anh ta hỏi:
"Cái chết của anh ấy có liên quan đến túi vải đỏ sao?"
Tôi đáp:
"Đúng vậy!"

Tôi kể lại tường tận mọi chuyện cho vợ anh ta, giờ đây, anh ta đã bị "ma đòi mạng" bắt đi rồi, tôi phải dùng pháp lực để đưa anh ta về, rồi đưa anh ta đến cõi tịnh thổ Ma Ha Song Liên Trì!


### 13. Lư Phật Kỳ thấy gì?


Con dâu tôi là Lư San San có người cha vừa qua đời, con trai tôi là Lư Phật Kỳ cùng Lư San San từ Indonesia mang về một ít tro cốt của ông, đặt phía dưới đàn thành để tưởng nhớ.

Không ngờ rằng, linh hồn của cha vợ đã theo về, và ở luôn trong nhà của Lư Phật Kỳ tại Seattle, Mỹ.
Lư San San có cảm thấy.
Lư Phật Kỳ có cảm thấy.
Ví dụ:
Lư San San cảm nhận được cha mình nằm ngủ giữa hai vợ chồng, giữa Phật Kỳ và San San.
Hai người thường xuyên giật mình tỉnh giấc giữa đêm, cùng lúc nhận thấy trong phòng ngủ có người thứ ba hiện diện.

Có một lần, nửa đêm.
Lư Phật Kỳ đột nhiên thức giấc, nhìn sang Lư San San đang ngủ bên cạnh, vừa nhìn đã giật mình kinh hãi.
Bởi vì gương mặt của Lư San San đã biến thành gương mặt của cha vợ.
Một tiếng hét kinh hoàng.
…

Một lần khác.
Lư Phật Kỳ giật mình tỉnh giấc giữa đêm, thấy cha vợ đang lơ lửng giữa không trung, dần dần tiến đến gần mình. Lư Phật Kỳ hoảng hốt, miệng không tự chủ mà niệm:
"Om guru liansheng siddhi hum."
Đồng thời đẩy hai tay ra.
Từ hai bàn tay phát ra một luồng hào quang trắng, bắn về phía trước, đẩy lùi cha vợ, trong chớp mắt, ông đã biến mất.
Còn nữa:
...

Những hiện tượng linh dị này xảy ra với tần suất tương đối nhiều. Đây là cha của Lư San San, là bố vợ của Lư Phật Kỳ, là người thân của họ, nhưng xuất hiện quá thường xuyên, đã ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của hai vợ chồng.

Hai vợ chồng kể cho tôi nghe.
Tôi đến nhà chúng. Trước tiên tôi làm phép tịnh thủy, tôi rảy nước tịnh đến đâu, ông ấy nhanh chóng tránh đi đến đó, tôi đã rảy tịnh khắp cả nhà.
Ông ấy bị đẩy ra ngoài cửa.
Ông ấy nói:
"Lư Sư Tôn (thông gia), tôi không thể ở ngoài được, nếu bị thần ngày, thần đêm bắt gặp, sẽ bị bắt đi mất."
Tôi nói:
"Linh hồn về nơi linh hồn, cát bụi về nơi cát bụi, ông hãy đi tìm nơi của mình đi!"
Ông ấy nói:
"Tôi muốn chăm sóc con gái Lư San San."
Tôi nói:
"Ông muốn bảo vệ con gái, tôi không trách, nhưng hiện diện quá rõ ràng, ngược lại ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của hai đứa, hay là để tôi siêu độ ông về Phật quốc tịnh thổ nhé!"
Ông ấy nói:
"Tôi không quen, sợ lắm, không muốn đi."
(Khi còn sống, ông ấy là tín đồ Thiên Chúa giáo, nhưng không mấy thành tâm, lên thiên đường không được, xuống địa ngục cũng không xong.)

Tôi hỏi:
"Vậy ông muốn đi đâu?"
Ông ấy đáp:
"Ở bên cạnh San San!"
Tôi nói:
"Tôi sẽ biến tháp Thất Xảo Linh Lung thành nhà của ông, ông hãy vào ở trong đó! Nhớ nhé, vô hình thì phải vô hình, không được hiện thân nữa, âm dương phải phân biệt, người và ma khác nhau, ông ăn khí, người ăn thức ăn hữu hình; họ cúng dường ông, ông phù hộ họ, ông cũng không được ảnh hưởng đến hai cháu nội của tôi Lư Hoằng và Lư Quân, như vậy được không?"
Ông ấy đáp:
"Được!"
Từ đó, hồn ma của nhạc phụ đại nhân không còn hiện thân nữa!


### 14. Đại pháp hội trên bãi biển


Vào ngày 13 tháng 11 năm 2011, lúc 1 giờ 30 chiều, tôi đã chủ trì đại pháp hội phóng sinh tại bãi biển cảng Ô Thạch, thị trấn Đầu Thành, Nghi Lan.
Pháp hội này do:
Thượng sư Liên Duyệt.
Thượng sư Liên Diệu.
Thượng sư Liên Đăng.
Sư tỷ Châu Nghi Lan.
Thị trưởng thị trấn Đầu Thành. (Trần Tú Viên)
Đứng ra tổ chức đại pháp hội ngoài trời đặc biệt trên bãi biển. Đây cũng là lần đầu tiên trong đời tôi chủ trì đại pháp hội trên bãi biển đối diện với biển cả và đảo Quy Sơn, thật sự là một trải nghiệm độc đáo.

Những điểm đặc biệt là:
Trên bãi biển dựng lên một pháp đài cao, với hệ thống âm thanh và ánh sáng có thể nói là hàng đầu. (Còn có trống Già La Thần, trống Cửu Thiên Thần)
Bên cạnh bờ biển, xây dựng một mandala cát Thời Luân Kim Cang với khí thế phi phàm.

Trước mandala Thời Luân Kim Cang, dùng cát tạo nên một bức tượng Diêu Trì Kim Mẫu vô cùng tinh xảo, sống động.
Xung quanh có ba mươi ba mandala cát nhỏ, tượng trưng cho Đế Thích Thiên và ba mươi ba vị thiên chủ.
Cá giống được thả xuống biển theo phương thức tiếp sức, những cá giống này là đồng loại thả vào với đồng loại, nghĩa là thả những loại cá giống đặc trưng của cảng Ô Thạch.

Điều kỳ diệu là:
Cảng Ô Thạch đã mưa lớn liên tục hơn nửa tháng, ngày nào cũng mưa to, chỉ riêng ngày diễn ra pháp hội thì mưa tạnh. Sau khi pháp hội kết thúc, trời lại tiếp tục mưa không ngừng.
Ở cảng Ô Thạch, ngày nào cũng có gió giật cấp tám đến cấp mười, khi tôi bước lên pháp tọa.
Tôi hô:
"Gió ngừng!"
Gió liền ngừng thổi.
Tôi (Liên Sinh Hoạt Phật) quả thật có thể hô phong hoán vũ.
Bảo mưa ngừng, mưa liền ngừng.
Bảo gió dừng, gió liền dừng.
Có thể gọi đây là một phép màu vĩ đại, Thần Mưa, Thần Gió đều nghe theo mệnh lệnh của tôi.

Mọi người còn nhớ đại pháp hội Khổng Tước Minh Vương ở Đài Loan Lôi Tạng Tự không?
Hôm đó ngoài trời nắng chói chang, tôi nói với Khổng Tước Minh Vương:
"Mặt trời ơi! Ông muốn làm cho đệ tử của tôi bị bỏng da sao? Xin Khổng Tước Minh Vương hãy dang đôi cánh ra, che bớt ánh mặt trời đi!"

Chỉ trong tích tắc, hai đám mây đen khổng lồ, như đôi cánh chim, che phủ bầu trời nơi pháp hội, rồi từng cơn gió mát thổi về, khiến người nghe pháp thư thái, sảng khoái. (Chỉ riêng bầu trời trên Lôi Tạng Tự mới có mây.)
Tôi nói:
"Mây đến."
Mây liền đến!

Còn nữa, Indonesia gặp đại hạn hán, năm tháng trời không mưa.
Tôi đang ở pháp hội tại Senayan.
Tôi gọi:
"Mưa đến!"
Mười lăm phút sau khi pháp hội kết thúc, mưa như trút nước, khiến cả Indonesia đều có mưa, Indonesia có hàng nghìn đảo, tất cả các đảo đều có mưa, giải trừ hạn hán.
(Lần này, tạp chí ASEAN có đưa tin.)

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người:
Tổ tiên của tôi là Khương Tử Nha được Nguyên Thủy Thiên Tôn ban tặng cờ Hạnh Hoàng, có thể triệu tập tất cả thần linh trợ giúp.
Cờ Hạnh Hoàng vẫy lên, tất cả thần linh trong trời đất đều tuân lệnh.

Tôi không có cờ Hạnh Hoàng.
Nhưng tôi có:
Phật Tổ luật lệnh. (Phật Vương)
Địa Tạng luật lệnh. (Địa Vương)
Diêu Trì Kim Mẫu luật lệnh. (Tiên Vương)
Ba đại luật lệnh này có thể sai khiến tất cả quỷ thần.


### 15. Phụ thân vãng sinh


Vào tháng 10 và đầu tháng 11 năm 2011, khi tôi còn ở Seattle, Hoa Kỳ, bố tôi là Lư Nhĩ Thuận lâm trọng bệnh.
Ban đầu tôi đã định vội trở về Đài Loan thăm ông.
Diêu Trì Kim Mẫu nói:
"Con cứ tiếp tục hành trình hoằng pháp theo kế hoạch, ta sẽ bảo hộ ông ấy. Đợi khi con về Đài Loan sẽ gặp mặt lần cuối, rồi sau đó để cha con vãng sinh."

Tôi đảnh lễ Diêu Trì Kim Mẫu, bước ra khỏi đại điện, cầu nguyện trước lư hương trời.
Lần này, Quan Thế Âm Bồ Tát hiện thân, bảo tôi:
"Con đừng lo lắng, ta và Kim Mẫu sẽ đích thân đến Đài Loan, tiếp dẫn cha con về cõi Phật tịnh độ."
Nghe xong, tôi rất an tâm.

Vào lúc 7 giờ sáng ngày 3 tháng 11, tôi đã về đến Đài Loan, và ngay trong ngày đã vội đến bệnh viện thăm bố.
Tôi đã dùng Mật pháp Quang uẩn thiên thức.
Khai thiên môn.
Đóng địa hộ.
Bịt nhân đạo.
Chặn quỷ lộ.
Bên giường bệnh, tôi đã mở cửa trời cho bố; cửa trời này dẫn thẳng đến cõi Phật tịnh thổ.
Không sinh vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.
Không sinh vào cõi người.
Không sinh vào cõi quỷ.
(Như vậy tôi đã hoàn toàn yên tâm.)

Tôi về đến Đài Loan ngày mùng 3 tháng 11, chỉ ba ngày sau, ngày mùng 6 tháng 11, bố đã vãng sinh về cõi Phật.

Khi hỏa táng:
Đã xuất hiện một viên xá lợi kim cang, bốn viên xá lợi cỡ trung và nhiều viên xá lợi nhỏ.
Vô số vô số hoa xá lợi.
(Chú thích: Người tiếp dẫn cha về cõi Phật là mẹ tôi Lư Ngọc Nữ, người đã tu thành Quan Thế Âm Bồ Tát.)

Khi cha tôi, Lư Nhĩ Thuận còn sống, tính tình cứng rắn, không tin bất cứ điều gì, việc tôi độ hóa ông rất khó khăn.
Mãi đến khi ông già yếu mới dần dần phát tâm học Phật.
Mỗi lần tôi về Đài Loan hoặc khi tôi ở lại Đài Loan một năm vào năm 2010, bất kì pháp hội nào của tôi, ông đều tham dự.
Trở thành người theo Phật.
Tiếp nhận quán đảnh từ mọi vị.
Miệng thường niệm Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát.
Hạt giống Phật đã được gieo xuống.
Chỉ chờ lớn mạnh.

Pháp sư Liên Đẳng phỏng vấn ông, hỏi:
"Ông là phụ thân của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, tại sao người cha lại đảnh lễ con trai?"
Bố tôi trả lời:
"Tôi không phải đảnh lễ con trai mình, mà là đảnh lễ trí huệ Như Lai trong con trai tôi, tức là đảnh lễ chân như Như Lai, như vậy ông có hiểu không?"

Sau khi bố vãng sinh, ông đã về thăm tôi một lần, vuốt ve chân tôi, đánh thức tôi dậy.
Bố tôi hào quang rạng rỡ, mỉm cười trong không trung.

Tôi xin cảm ơn tất cả những người đã chăm sóc bố tôi:
Tiểu Chương.
Vương Tư Chủ.
Vợ chồng Hứa Hồng Xuân.
Bác sĩ Lý Gia Lâm.
Bác sĩ Tạ.
Pháp sư Liên Hạnh.
Thượng sư Lạc Trí.
Bốn người em gái và các em rể.
Thân quyến của Sư Mẫu.
Phó viện trưởng Thi của Bệnh viện Đại học Y dược Trung Quốc.
...


### 16. Tôi và Thành Hoàng là tri giao


Tôi sinh ra bên bờ sông Ngưu Trù ở Hậu Hồ, Gia Nghĩa. Năm 1945, khi máy bay Mỹ ném bom Gia Nghĩa, cha mẹ tôi đã lánh nạn đến trại gà ở sông Ngưu Trù, và tôi đã chào đời trong trại gà.
Thật trùng hợp là:
Chúa Jesus sinh ra trong chuồng ngựa.
Lư Thắng Ngạn sinh ra trong chuồng gà.

Tôi là đứa trẻ sinh non nên khó nuôi, từng được gửi cho Thành Hoàng Gia Nghĩa nhận làm con nuôi.
Ngay từ khi mới sinh, tôi đã kết được duyên lành với thần linh Thành Hoàng.
Lành thay!
Lành thay!

Sau này, tôi mới biết Thành Hoàng có nhiều cấp bậc:
Đô Thành Hoàng.
Phủ Thành Hoàng.
Huyện Thành Hoàng.
Ấp Thành Hoàng.
(Đài Nam còn có một vị Tiểu Thành Hoàng.)

Sau khi khai mở thiên nhãn, tôi đã trở thành tri giao với Thành Hoàng ở đường Trung Hiếu, Đài Trung.
Tôi nhớ khi ở Phật Giáo Liên Xã trên đường Dân Sinh, Đài Trung, một số đạo hữu như cư sĩ Uyển, cư sĩ Tưởng, cư sĩ Ôn và những người khác biết tôi có khả năng thông linh nên đã hỏi tôi việc.

Tôi an định tâm lại.
Bỗng thấy từ trên không trung hiện ra một người, mặc áo đỏ, đầu đội mũ ô sa, tướng mạo chính trực trang nghiêm, chính là Thành Hoàng Đài Trung không thể nhầm lẫn.
Các cư sĩ lần lượt hỏi việc.
Tôi hỏi Thành Hoàng.
Thành Hoàng lần lượt trả lời.
Các cư sĩ giơ ngón tay cái lên, thốt lên:
"Thần toán chuẩn quá!"

Lúc đó, khi tôi giúp người ở Đài Trung hỏi việc, hễ gặp khó khăn là tôi viết một mảnh giấy, trên đó ghi:
"Xin Thành Hoàng gia hộ!"
Người đến hỏi việc cầm mảnh giấy đó đến đền Thành Hoàng, đốt mảnh giấy cùng vàng mã.
Việc liền được giải quyết dễ dàng.
Bạn nói có lạ không.

Tôi dạy phương pháp cầu con cũng là cầu Thành Hoàng Đài Trung, năm đó, không biết có bao nhiêu người đã cầu con thành công từ Thành Hoàng Đài Trung.
Năm đó, mũ của Thành Hoàng có thể chữa khỏi nhiều căn bệnh nan y, chỉ cần tháo mũ của Thành Hoàng, đội lên đầu bệnh nhân ba lần, bệnh nhân lạ thay đã khỏi bệnh hoàn toàn.
Bạn nói có lạ không.
Lúc đó, tôi vẫn còn trong quân ngũ.

Chuyện của phó đại đội trưởng Ngụy Thanh Bình, mọi người đều rất quen thuộc, tôi xin nhắc lại ở đây.
Ngụy Thanh Bình và tôi cùng đến núi Củng Bắc ở Bành Hồ để đo đạc.
Ngụy cầm tiền xu nói với tôi:
"Sĩ quan đo đạc Lư này, trong tay tôi đang nắm một nắm tiền xu, anh tự nói mình có thể đoán được, vậy nếu đoán trúng, tôi sẽ tin anh. Nếu đoán không trúng, từ nay về sau, xin anh đừng nói chuyện Phật pháp gì trong đơn vị nữa!"

Tôi bị khích tướng.
Chỉ còn cách bình tâm lại.
Lúc này, Thành Hoàng Bành Hồ hiện đến, nói với tôi:
"Mười bốn đồng."
Tôi trả lời:
"Mười bốn đồng."
Phó đại đội trưởng Ngụy Thanh Bình mở tay ra, đếm từng đồng xu, đếm đến đồng thứ mười ba, trong tay còn lại một đồng, đúng là mười bốn đồng.
Ngụy Thanh Bình nói: "Tôi tin rồi!"

Từ đó đến nay, Ngụy Thanh Bình không ngừng niệm Phật. Ông ấy đã hai lần làm chứng cho tôi; một lần ở sân vận động Đào Viên, một lần ở Đài Loan Lôi Tạng Tự.

Tôi thật lòng nói với mọi người, việc tôi kết bạn với thần linh là sự thật không thể chối cãi.


### 17. 36 vị tiểu Địa Tạng Bồ Tát


Tôi có nhân duyên sâu đậm với Địa Tạng Bồ Tát, ngài thường xuyên xuất hiện trong các tác phẩm của tôi; Ngài là người anh của tôi, tôi gọi Ngài là đại huynh Địa Tạng.
Có khi như tri kỷ, tâm đầu ý hợp, như keo như sơn, không phân biệt ta người.
Có khi lại như cha con.

Ngài là một trong ba Bổn tôn của tôi - Đại Nguyện Địa Tạng Bồ Tát.

Địa Tạng Bồ Tát đối với tôi tốt vô cùng, tốt không thể tả, hơn nữa, khi tôi đến tịnh thổ của Địa Tạng Bồ Tát là tịnh thổ Thúy Vi, dường như chỉ có mình tôi mới có thể vào được.

Không những thế, Địa Tạng Bồ Tát còn phái một trong mười đại Quỷ Vương dưới trướng là Tiếu Diện Quỷ Vương theo bên tôi, hộ trì tôi độ chúng sinh ở nhân gian; những hung thần ác sát, hễ thấy Tiếu Diện Quỷ Vương xuất hiện là bỏ chạy tán loạn. Tiếu Diện Quỷ Vương ẩn thân trong ngón cái tay phải của tôi, trong vân tay ngón cái của tôi có tướng của Tiếu Diện Quỷ Vương.

Một đêm nọ.
Đột nhiên xuất hiện ba mươi sáu vị tiểu Địa Tạng Bồ Tát, cả ba mươi sáu vị đều có gương mặt giống hệt nhau, tay cầm tích trượng, đội mũ ngũ Phật, tay kia cầm bảo châu, ngồi trên con Đế Thính.
Các ngài nói với tôi:
"Lư Sư Tôn, thầy nhất định phải thả chúng tôi ra, nhất định, nhất định."
Tôi nghe xong giật mình.
"Chuyện gì vậy?"
Ba mươi sáu vị Địa Tạng đồng thanh:
"Ngày mai sẽ rõ, nhất định phải thả ra."

Ngày hôm sau, tôi được một ngôi chùa mời đến xem địa lý chùa, ngôi chùa này quy mô không nhỏ, có thể nói là vàng son lộng lẫy.
Trụ trì nói:
"Ngôi chùa này vốn rất nhỏ, sau đó vì rất linh thiêng nên người dân địa phương quyên góp xây dựng thành ngôi chùa lớn. Sau đó tôi làm trụ trì, nhưng không ngờ, sau khi xây thành chùa lớn, ngược lại, hương khói thưa thớt, khách thập phương không đến, sân chùa vắng lặng."

Tôi đến lễ từng điện.
Khi đến điện tháp Địa Tạng, thấy một tượng Địa Tạng Bồ Tát bằng vàng cao lớn sừng sững.

Tôi hỏi:
"Chùa đã xây to như vậy, sao lại không thịnh vượng?"
Địa Tạng Bồ Tát đáp:
"Phải đợi Lư Sư Tôn đến mới thịnh vượng!"
Tôi hỏi:
"Tại sao vậy?"
Địa Tạng Bồ Tát đáp:
"Ngày xưa chùa nhỏ mà thịnh vượng, ngày nay chùa to mà suy tàn. Chỉ vì người ta không hiểu đạo lý thịnh suy, không biết uống nước nhớ nguồn, ba mươi sáu tượng tiểu Địa Tạng vốn có xưa kia bị vứt bỏ trong phòng kho, không ai cúng bái, nên mới không thịnh vượng."
Tôi hỏi:
"Ba mươi sáu tượng tiểu Địa Tạng quan trọng đến vậy sao?"
Ngài đáp:
"Chùa nhỏ linh ứng là nhờ sức linh ứng của các tiểu Địa Tạng; xây thành chùa lớn, ba mươi sáu tượng tiểu Địa Tạng bị vứt bỏ trong kho, chùa làm sao không suy tàn?"
Tôi hỏi:
"Chẳng phải tượng Phật Bồ Tát hiện tại to lớn và trang nghiêm hơn sao?"
Ngài đáp:
"Bồ Tát không phân biệt to nhỏ, có linh lực là linh ứng."

Tôi hỏi vị trụ trì:
"Các vị đã cất giữ 36 tượng tiểu Địa Tạng từ thời khai chùa phải không?"
Trụ trì đáp:
"Tôi không biết, vị trụ trì tiền nhiệm thấy đã có tượng Bồ Tát lớn rồi nên đem các tượng nhỏ cất ở đâu đó không rõ."
Tôi nói:
"Trong phòng kho."

Trụ trì dẫn tôi đến phòng kho, vừa mở cửa, một mùi ẩm mốc xộc lên, mạng nhện bụi bặm phủ đầy, đồ đạc chất đống, trong đống đồ đạc, phát hiện các tượng tiểu Địa Tạng, đếm thử, đúng là 36 tượng.
Trụ trì kinh ngạc, nói:
"Lư Sư Tôn quả nhiên lợi hại!"


### 18. Bắc Cực Huyền Thiên Thượng Đế Đãng Ma Thiên Tôn


Vào một ngày nọ tại Seattle Lôi Tạng Tự ở Mỹ.
Có một bé gái từ California đến, dường như bị "nhập", "nhập" tức là bị tà linh xâm nhập.
Nếu mọi người đã xem phim "The Exorcist" [Thầy trừ tà] sẽ hiểu đây là chuyện gì.
Cô bé xinh xắn bỗng nhiên biến sắc, như một con người hoàn toàn khác.
Mặt mày méo mó dữ tợn.
Mắt long lên hung dữ.
Há miệng thè lưỡi.
Răng trắng nhởn muốn cắn người.
Mọi người vừa thấy, kinh hãi, vội vàng tránh xa.

Lúc này, chỉ thấy Lư Sư Tôn vẫn điềm nhiên, kết ấn ngũ lôi, hà một hơi, phóng lôi ấn ra.
Chỉ nghe "ầm" một tiếng, cô bé vốn đang vung vẩy chạy về phía tôi, bỗng ngã xuống đất, sùi bọt mép, sau đó tỉnh lại, trở về là cô bé xinh xắn như cũ.
Mọi người vỗ tay.

Tuy nhiên, không lâu sau "tà linh" lại nhập vào, khuôn mặt lại biến thành quỷ muốn cắn người, lao về phía tôi.
Lần thứ hai này, tôi không khách sáo nữa, Tiếu Diện Quỷ Vương xuất hiện, tôi kết ấn phi luân bằng hai tay, xoay vòng trên đầu cô bé, cô bé liền kêu lên:
"Không dám nữa! Không dám nữa!"
"Bịch!" - Cô bé lại ngã xuống đất.
Tà linh quỷ vật thực sự đã chạy mất.

Lần này, cô bé mới thực sự trở lại bình thường, và tà linh không còn nhập vào nữa.
Người mẹ đưa cô bé đến liên tục hỏi tôi:
"Làm sao đây? Làm sao đây? Khi con bé về California, tà linh sẽ lại nhập vào, chúng tôi phải làm sao?"
Tôi trầm ngâm một lúc.
Nghe thấy một giọng nói:
"Lư Sư Tôn! Việc này để tôi lo, mọi việc sẽ được giải quyết."

Tôi ngước nhìn lên đàn thành.
Trên đàn thành, một vị tôn giả đội mũ tướng quân, mình khoác áo giáp, tay phải cầm bảo kiếm, chân đạp lên rùa và rắn. Pho tượng thần này, toàn thân tỏa hào quang, chính là Ngài đang mở lời.
Ngài chính là: Bắc Cực Huyền Thiên Thượng Đế Đãng Ma Thiên Tôn.

Tôi vừa thấy, liền nói liên tiếp:
"Lành thay! Lành thay! Cô bé đã được cứu rồi!"
Tôi vẽ phù thượng yểm.
Rồi gia trì cho cô bé.
Nghe nói sau khi về California, hiện tượng "bị nhập" của cô bé ngày càng ít đi, cuối cùng hoàn toàn trở lại bình thường.

Một ngày nọ, họ quay trở lại Seattle Lôi Tạng Tự, đặc biệt đến để tạ ơn chư Phật Bồ Tát.
Cô bé chỉ vào tượng Bắc Cực Huyền Thiên Thượng Đế Đãng Ma Thiên Tôn và nói:
"Chính vị này đã cứu con."
Trong lòng tôi thầm nghĩ:
"Chính xác quá!"
Bởi vì việc Bắc Cực Huyền Thiên Thượng Đế Đãng Ma Thiên Tôn sẽ bảo hộ cho cô bé, tôi chưa từng nói cho mẹ cô bé hay bất kỳ ai biết.
Sau đó:
Chính cô bé đã tự chỉ ra vị thần đã cứu mình, chính là: Bắc Cực Huyền Thiên Thượng Đế Đãng Ma Thiên Tôn.
Đây chính là sự tương ứng.

(Ban đầu, khi cô bé bị nhập, họ đã tìm khắp các chùa, miếu, cung, điện ở California, cũng tìm hết tất cả danh y, tất cả người có khả năng thông linh nhưng vẫn không thể chữa trị được. Các đại pháp sư, Hoạt Phật, Thượng sư, đạo trưởng, đồng cốt... đều nói: "Không thể chữa được". Sau đó họ nghe tin tôi đang ở Seattle và muốn đến tìm tôi, một đại pháp sư nói: "Tìm Lư Thắng Ngạn cũng vô ích thôi, pháp lực của tôi còn lớn hơn Lư Thắng Ngạn". Kết quả sau đó thế nào, mọi người đều đã biết!)

Thật ra tôi - Lư Sư Tôn cũng không dám tự khoe pháp lực của mình lớn đến đâu, tôi chỉ thuận theo tự nhiên để độ hóa chúng sinh mà thôi, tôi chỉ là "luật lệnh tại đây, trăm thần tương trợ".


### 19. Mở miệng là linh nghiệm


Có một doanh nhân Hồng Kông là sư huynh Trịnh, tự nghiên cứu và phát minh nhiều pháp khí Mật giáo, những pháp khí này rất tinh xảo.
Gồm có:
Tràng hạt sáng đẹp.
Hộ thân phù tinh tế.
Chày kim cang thập tự.
Bình cam lộ báu.
Lư cúng khói.
Và nhiều thứ khác nữa...

Không chỉ được chế tác tinh xảo, mỗi món pháp khí đều có họa tiết tôn quý, như hình ô lọng, tám cát tường, mây cát tường, trang nghiêm và toát lên khí chất cao quý. Pháp khí Mật giáo do sư huynh Trịnh nghiên cứu chế tạo là loại có thể tháo rời, từng bộ phận có thể tách ra và lắp ráp lại, giống như "robot biến hình", khiến chúng tôi phải trầm trồ thán phục.

Pháp khí của sư huynh Trịnh là quà tặng miễn phí, anh ấy đã giúp đỡ Quỹ Từ thiện Lư Thắng Ngạn rất nhiều, chỉ cần bạn cúng dường cho quỹ bao nhiêu tiền là có thể nhận được pháp khí tặng kèm từ sư huynh Trịnh. Những món quà quý giá này có giá trị không nhỏ. Những pháp khí này hoàn toàn không liên quan đến công ty của sư huynh Trịnh, anh ấy thuần túy bỏ tiền bỏ công sức vì Chân Phật Tông, tất cả đều tặng miễn phí, nên anh ấy tự gọi mình là "ngốc tử".

Tôi từng cười anh ấy:
"Anh làm vậy, công ty chẳng phải sẽ phá sản sao?"
Anh ấy đáp:
"Không lo việc chính."

Thật kỳ lạ là, ngay khi tôi vừa nói đùa câu "công ty chẳng phải sẽ phá sản".
Công ty của sư huynh Trịnh bỗng nhiên không còn đơn hàng nào, một đơn hàng cũng không có. Không có đơn hàng, dây chuyền sản xuất của công ty biết làm gì đây?

Sư huynh Trịnh lo lắng, anh ấy tìm đến tôi:
"Lư Sư Tôn chỉ nói một câu 'công ty chẳng phải sẽ phá sản', mà giờ con không còn một đơn hàng nào, đúng như lời thầy nói rồi. Xin Sư Tôn giúp con, xin thầy nói trên pháp tọa, mở lời kim khẩu, nói rằng công ty của sư huynh Trịnh sẽ có đơn hàng! Con cầu xin thầy."
Tôi hỏi:
"Thật vậy sao?"
Anh ấy đáp:
"Lư Sư Tôn là Phật, Phật không nói chơi."

Ngày hôm đó, tôi thuyết pháp tại Đài Loan Lôi Tạng Tự, trên pháp tọa tôi nói:
"Hãy để công ty của sư huynh Trịnh có đơn hàng! Hãy để việc kinh doanh của anh ấy phát đạt!"

Thật kỳ lạ, vừa về đến Hồng Kông, anh ấy lập tức nhận được một đơn hàng lớn, hiện tại công việc kinh doanh khởi sắc, ngày càng phát đạt, thật đáng mừng. Vừa mở lời đã linh nghiệm? Thật là chuyện lạ.
Tôi nói:
"Phá sản!"
Đối phương liền mất hết đơn hàng.
Tôi nói:
"Hưng thịnh!"
Đối phương liền có đơn hàng.
Thật kỳ lạ, miệng của tôi linh nghiệm đến vậy sao?

Ngoài ra:
Tôi làm pháp hội tại bãi biển cảng Ô Thạch ở thị trấn Đầu Thành, Nghi Lan. Ba tuần trước đó, trời mưa lớn hàng ngày, nhưng khi tôi làm pháp hội, chỉ có ngày đó là tạnh mưa.
Trên pháp tọa, tôi lại nói:
"Pháp hội vừa xong, ông cứ tiếp tục mưa lớn đi!"

Nếu không nói câu này thì thôi, tôi vừa mở miệng, tối hôm đó trời đã bắt đầu mưa lớn.
Thế là Hoa Liên, Đài Đông, Nghi Lan mưa lớn không ngừng, nhiều hoa màu bị ngập úng hoàn toàn, lại thêm đá lở, lũ bùn, ngập lụt, đường sá bị phong tỏa, suối nước dâng cao, nước ngập tới nóc xe, nhà cửa lại bị ngập nước.

Tôi nghĩ, mình không thể đùa bừa nữa, bởi vì dường như vừa mở miệng là linh nghiệm.
Phật không nói chơi thật!


### 20. Miệng của Thủy Thiên Thần


Giữa tháng 11 năm 2011, nước Thái Lan ở Đông Nam Á gặp cơn đại hồng thủy, tổn thất thật sự không thể ước đoán. 
Nghe nói có ba nguyên nhân của cơn đại hồng thủy này:
1. Thời tiết khác thường.
2. Nhân tố địa lý.
3. Con người lơ là.
Thời tiết khác thường là đổ mưa lớn. Nhân tố địa lý là sông ngòi chảy ra cửa biển Thái Bình Dương, lúc bình thường có thể chảy thông, nhưng vào lúc bất thường thì sẽ tràn ngập đê điều. Con người lơ là tức là công trình thủy lợi của cả nước Thái Lan không tốt, công trình chống lũ lụt tiêu thoát nước đều không đủ, không cách nào ứng phó.
Trận lũ lụt ở Thái Lan, ngay cả thủ đô Bangkok cũng không có cách nào tránh được. Nói ra thì đã muộn, lũ ập đến thì nhanh, 30% khu vực Bangkok đã bị ngập nước, e rằng 70% khu vực còn lại cũng sắp bị ngập rồi.
Ở Thái Lan, Chân Phật Tông có Mật Hành Đường, địa điểm ở Bangkok. 
Có một đệ tử cầu nguyện Liên Hoa Đồng Tử.

Đêm ấy.
Lư Sư Tôn xuất hiện trong mơ của đệ tử, nói với đệ tử:
"Anh đi theo tôi!"
Lư Sư Tôn đưa đệ tử đến một nơi, nói:
"Anh nhìn đi!"
Nói đó hiện ra một hố nứt lớn.
Tất cả nước lũ trở thành vòng nước xoáy lớn, liên tục bị hố nứt lớn trên mặt đất hút vào. 

Ngày 23 tháng 11 năm 2011, cơn đại hồng thủy ở Bangkok đột ngột rút. 
Cơn lũ rút rồi, không hiểu vì sao lại rút!
Vốn dĩ thành phố Bangkok đều sắp bị ngập hết rồi, kết quả là chỉ ngập 30% khu vực, còn 70% khu vực khác thì tất cả đều như bình thường.
Đệ tử Chân Phật ở Mật Hành Đường đều lan truyền ca ngợi sự việc này, mặt đất nứt ra hố lớn, hút hết nước lũ vào đó. 

Ở Thái Lan, tôi có sách xuất bản bằng tiếng Thái, đệ tử xuất bản sách bằng tiếng Thái của tôi là sư tỉ Trương Ngọc Phương, nhà cô ấy không bị ngập.
Lành thay! Lành thay!
Bangkok ngập lụt, chỉ ngập đến 30% thành phố thì nước lũ đã rút rồi, chuyện này là thế nào?
Là vì đệ tử thỉnh cầu Liên Hoa Đồng Tử sao?

Theo như tôi biết:
Đó là Liên Hoa Đồng Tử đã thỉnh Thủy Thiên Thần đến. Thủy Thiên tên tiếng Phạn là Bà La Na, là một trong mười hai thiên của Mật giáo, một trong tám phương thiên bảo vệ thế giới, canh giữ tại tây phương thiên, là vua của tộc Rồng.

Thủy Thiên Thần là đại thần của Ấn Độ giáo, là chủ của tất cả sông ngòi, thống trị tất cả nước của nhân loại.
Lư Sư Tôn phụng thỉnh miệng của Thủy Thiên Thần nuốt hết nước lũ của Thái Lan. 
Tay tôi kết ấn Thủy Thiên:
Tay trái nắm lại, ngón cái không đặt trong lòng bàn tay, ngón trỏ giơ ra và hơi cong lại. 
Trì chú phụng thỉnh Thủy Thiên:
"Na-mô san-man-tô mô-tho-nan a-pan-hô-tô-ya sô-ha."
Rồi:
"Ôm pô-lô-na-ya sô-ha."
Rồi:
"Ôm mô-thô sư-li sô-ha."

Thế là, Thủy Thiên Thần há to miệng, nuốt tất cả đại hồng thủy.
Những người từng đến thành phố Bellevue ở Seattle nước Mỹ đều biết trong mật đàn ở Nam Sơn Nhã Xá của tôi có thờ cúng Thủy Thiên Thần. Thủy Thiên Thần trong tám phương thiên, mười hai thiên, hai mươi thiên, là vị thiên thần xinh đẹp nhất.
Ngài sống ở trong biển, đứng trên ốc biển.
Một đầu hai tay.
Trên đầu mọc ra rong rêu làm mũ miện.
Tướng mạo xinh đẹp như tiên trời, thân trên để trần.
Những đường cong đẹp lung linh quyến rũ, nửa dưới mặc thiên y váy xếp.
Xung quanh có long tộc, thủy tộc, ngư tộc vây quanh, chắp tay hướng về Thủy Thiên Thần. 

Lư Sư Tôn tôi mỗi ngày tu pháp, nhất định sẽ gọi tên của Thủy Thiên Thần, trì chú của Thủy Thiên Thần.
Vì thế, Thủy Thiên Thần đã dùng miệng để nuốt hết đại hồng thủy, cứu tai họa lũ lụt ở Thái Lan.


### 21. Hai vị phúc thần đứng gác


Có lần tôi đến một nhà hàng ăn cơm, vừa bước vào cửa thì giật mình, bởi vì bên trong cửa có hai vị Phúc Đức Chính Thần (Thổ Địa Công) đang đứng.
Tôi mỉm cười chào hai vị Phúc Đức Chính Thần.
"Chào các ngài!"
Lần này đến lượt hai vị phúc thần ngạc nhiên, không ngờ ở nhân gian lại có một người thực sự nhìn thấy được các ngài.
Hai vị Phúc Đức Chính Thần cũng rất tự nhiên nói:
"Mời khách ngồi."

Trong nhà hàng tôi nghe hai vị phúc thần thì thầm:
"Vị đó là ai?"
"Lư Sư Tôn đấy, ông không biết sao?"
"Là thần thánh phương nào?"
"Kiếp trước là Liên Hoa Đồng Tử, kiếp này độ chúng sinh."
"Liên Hoa Đồng Tử là ai?"
"Là hóa thân của Phật A Di Đà."
"Ái chà! Không phải tay vừa. Bảo sao ông ấy nhìn thấy được chúng ta."
"Ông ấy có rất nhiều sự tích thần kỳ."

Nghe đến đây, tôi không muốn nghe tiếp nữa, tắt luôn "thiên nhĩ thông" của mình.
Tôi nói với đệ tử ngồi cùng bàn:
"Nhà hàng này rồi sẽ rất thịnh vượng!"

Sau này, quả nhiên ứng nghiệm lời tôi tiên đoán, từ một cơ sở mở rộng thành hai cơ sở, rồi ba cơ sở, rồi bốn cơ sở, rồi năm cơ sở..., làm ăn phát đạt không tưởng, tài lộc dồi dào, kinh doanh thịnh vượng, tiền bạc cứ thế ùn ùn kéo về.

Tại sao tôi có thể tiên đoán nhà hàng sẽ thịnh vượng?
Bởi vì:
Có hai vị phúc thần đứng gác, làm sao mà không thịnh vượng được!

Nhiều năm sau.
Tôi quay lại nhà hàng này, vừa bước vào cửa, tôi đã không còn thấy hai vị Phúc Đức Chính Thần nữa; thay vào đó, tôi thấy có vài "phi nhân" giống như hung thần ác quỷ, đang vội vã qua lại trong nhà hàng.
Tôi hít một hơi,
Cảm nhận toàn là "sát khí".
Tôi thực sự kinh ngạc, chuyện gì đã xảy ra vậy? Hai vị Phúc Đức Chính Thần đã biến mất, thay vào đó là một đám hung thần ác sát.
Tôi nói với đệ tử ngồi cùng bàn:
"Xong rồi! Nhà hàng này sắp phá sản!"

Sau đó quả nhiên ứng nghiệm.
Thức ăn trong nhà hàng có vấn đề, hàng trăm người bị ngộ độc tập thể, phải vào viện, danh tiếng tụt dốc không phanh.
Ngày xưa, xe cộ tấp nập người đông.
Ngày nay, vắng tanh vắng ngắt.

Trong lúc sửa chữa bên ngoài nhà hàng lớn, giàn giáo bất ngờ sập, khiến nhiều người chết và bị thương.
Rồi hai chi nhánh nhà hàng vô cớ bốc cháy, ngọn lửa rất lớn, có người chết cháy, bị lệnh đóng cửa.
Chủ nhà hàng đi sòng bài, thua một khoản tiền lớn!
Chủ nhân sa đọa. (Chủ nhân dâm loạn với vợ con người khác.)
Chủ nhà hàng chơi cổ phiếu bị thua lỗ nặng.
Cổ đông mâu thuẫn.
Kiện tụng liên miên.
Tóm lại, chuyện xui xẻo cứ liên tiếp xảy ra, sự thịnh vượng bao năm chỉ trong vài năm đã trở về con số không.

Một ngày nọ, tôi gặp hai vị Phúc Đức Chính Thần.
Tôi nhắc đến chuyện này, hai vị kể cho tôi nghe rằng, khi chủ nhân đang ở đỉnh cao của sự nghiệp.
Vợ thất đức, dan díu với tài xế công ty.
Chồng thất đức, bên ngoài có ba người tình.
Nhà hàng thất đức, biết rõ thực phẩm hết hạn vẫn đem ra cho khách ăn, lại còn tham gia băng đòi nợ, kết giao bạn xấu.
Ngày đêm đánh bạc.
Cưỡng đoạt tiền bạc của các cổ đông.
Hai vị Phúc Đức Chính Thần không chịu nổi, bèn bỏ đi!
Thế là phúc phần cũng tiêu tan!


### 22. Mua hai mảnh đất nhỏ


Trong thời gian sống ở Mỹ, tôi đã mua hai mảnh đất nhỏ. Dĩ nhiên là do môi giới dẫn tôi đi xem rồi tôi mua.

Mảnh đất đầu tiên nằm rất xa nhà, theo quốc lộ số 5 đi về phía Bắc, đến lối ra 212 rẽ về phía Tây, đến một nơi mà tôi gọi là bán đảo Kermit, mất khoảng một tiếng rưỡi lái xe.

Khu đất này giáp Thái Bình Dương, là nơi tôi gặp Bát Đại Long Vương. Lúc đó khu vực này khá hoang vu, dân cư thưa thớt nên giá rất rẻ. Tôi mua để xây dựng Đại Học Chân Phật. (Lúc đó tôi nghĩ vậy.)
Diện tích đất là 130 mẫu.
Tôi tụng thần chú an thổ địa:
"Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha."
Tôi dậm chân trái xuống đất ba lần.
Một vị Thổ Địa Công xuất hiện.

Tôi hỏi:
"Mảnh đất này có thể mua không?"
Ngài đáp:
"Được."
Tôi hỏi:
"Liệu có tăng giá không?"
Ngài đáp:
"Sẽ tăng trưởng ổn định."
Thế là tôi mua nó, và quả thật là "tăng trưởng ổn định", có tăng giá nhưng khá chậm.

Còn nữa:
Mảnh đất thứ hai nằm ở phía Nam nhà, từ quốc lộ 405 đi về phía Nam, đến khu vực Kent, diện tích đất chỉ có 30 mẫu.
Khi đó khu vực xung quanh cũng hoang vu không một bóng người, là một vùng rừng rậm, cỏ dại mọc um tùm.
Gần đó chỉ có một siêu thị, không có một ngôi nhà nào.
Mảnh đất này cũng rất rẻ.
Tôi tụng thần chú an thổ địa:
"Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha."
Tôi dậm chân trái xuống đất ba lần.
Cũng có một vị Thổ Địa Công xuất hiện.
Tôi hỏi:
"Mảnh đất này có thể mua không?"
Ngài đáp:
"Được."
Tôi hỏi:
"Liệu có sinh lời không?"

Ngài không trả lời, chỉ tay vẽ một vòng tròn trên không trung. Tôi nhìn vào thật kinh ngạc, trời ơi! Từ trong vòng tròn hiện ra vô số con đường thương mại, các trung tâm mua sắm mọc lên san sát, xung quanh là những khu dân cư, nhà cửa san sát, xe cộ tấp nập, một cảnh tượng phồn hoa đô hội.
Tôi giật mình.
Hỏi:
"Tăng giá được bao nhiêu?"
Đáp:
"Hai mươi lần."
Tôi đương nhiên không nói thêm gì nữa, mua luôn.

Kết quả đúng là như vậy. Từ nơi hoang vu không một bóng người ban đầu, chính quyền quy hoạch thành khu thương mại, phía sau khu thương mại là khu dân cư. Chỉ vài năm sau đã trở thành một đô thị mới. Từ không thành có, từ hoang vu thành phồn hoa, mảnh đất nhỏ của tôi tăng giá gấp hai mươi lần. Trời ơi! Thật khiến người ta phải giật mình.

Lại nữa:
Năm đó tôi đi ngang qua một mảnh đất.
Tôi thấy mảnh đất ấy lóe sáng rực rỡ một cách kỳ lạ, đến nỗi mắt tôi không thể mở ra được.
Tôi nói: "Đây là mảnh đất của người giàu nhất thế giới!"
(Lúc đó tôi không có tiền để mua.)

Sau này quả nhiên ứng nghiệm, mảnh đất đó đã được Bill Gates mua lại và xây dựng công ty Microsoft. Bill Gates đã trở thành người giàu nhất thế giới, quả thật là "thần đoán siêu chuẩn".


### 23. Miệng tuôn ra hoa sen trắng


Một ngày nọ, khi đi ngang qua một ngôi chùa lớn, tôi nghe thấy tiếng tụng kinh vọng ra từ trong chùa, tò mò bước vào.
Hóa ra trong chùa đang làm lễ, ở giữa có một vị mặc áo cà sa màu vàng, khoác bên ngoài là áo giới màu đỏ, đầu cạo trọc.
Xung quanh có hai hàng nữ cư sĩ mặc áo màu xanh biển sẫm, mỗi vị đều ôm kinh tụng niệm.
Phía sau các vị mặc áo xanh biển là một nhóm tín chúng, tuy không đông lắm nhưng cũng làm chật kín Đại Hùng Bảo Điện.
Tôi lắng nghe kĩ thì thấy họ đang tụng Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, phẩm Phổ Môn của Quan Thế Âm Bồ Tát.
Các tín chúng tụng kinh và lễ bái đều rất thành kính, cúi đầu, chỉ nghe thấy tiếng tụng kinh, không một âm thanh nào khác.

Trong Đại Hùng Bảo Điện có ba tôn tượng kim thân. Đó là:
Ở giữa là Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Bên phải là Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật.
Bên trái là A Di Đà Phật.
Hai bên là Vi Đà Tôn Giả và Già Lam Tôn Giả.

Trên bàn thờ còn có một tôn tượng Quán Tự Tại bằng lưu ly, tượng Quan Âm này có màu xanh lam pha lẫn màu xanh lục, vô cùng trang nghiêm, vô cùng đẹp đẽ, có hào quang từ bi linh động, tựa như biển cả vậy.
Ngay lúc đó, tôi nghe thấy một giọng nói:
"Lư Sư Tôn, thầy cũng tụng kinh đi."

Tôi nhìn theo tiếng nói. Ồ! Tượng Quan Thế Âm Bồ Tát trên bàn thờ đã hóa thân to lớn, tràn ngập cả Đại Hùng Bảo Điện, như bong bóng xà phòng vậy, trong suốt và nhiều màu sắc, hư ảo mà cũng thật.
Tôi hỏi:
"Tụng kinh gì ạ?"
Bồ Tát nói:
"Cứ tụng theo."
Tôi thưa:
"Thưa Bồ Tát! Tôi trước đây có học Phổ Môn Phẩm, biết cả tụng lẫn niệm, nhưng hôm nay không có kinh văn trong tay, làm sao tụng? Tôi biết Cao Vương Quan Thế Âm Kinh, thuộc làu, vậy tôi tụng Cao Vương Kinh nhé!"
Bồ Tát gật đầu.

Tôi lại hỏi:
"Tôi tụng kinh ở đâu ạ?"
Bồ Tát nói:
"Thầy hãy đến phòng bên phải, ở đó có một thư viện nhỏ, lúc này không có ai, thầy ngồi đó mà tụng kinh."
Tôi hỏi:
"Tụng cho ai ạ?"
Bồ Tát đáp:
"Tự biết."
Tôi hỏi:
"Tụng bao nhiêu biến ạ?"
Bồ Tát đáp:
"Một trăm biến."
Tôi nói:
"Một trăm biến ạ? Ngài muốn tôi khô miệng nứt môi sao, tôi còn chưa ăn cơm trưa nữa! Xin Ngài tha cho tôi, hai mươi lần thôi được không ạ!"
Bồ Tát không trả lời, chỉ mỉm cười rồi biến mất.

Ngày hôm đó, tôi tĩnh tâm lại và tụng một trăm biến Cao Vương Kinh. Tuy Cao Vương Kinh ngắn, nhưng tụng một trăm biến thì thành ra rất dài. Tôi ngồi trong thư viện suốt hơn sáu tiếng đồng hồ mới tụng xong trăm biến. (Mỗi biến mất năm phút, càng tụng càng nhanh.)

Trong lúc đó, có người vào tôi cũng chẳng để ý; có người hỏi tôi cũng chẳng đáp lại, tôi chỉ muốn hoàn thành nhanh công việc vất vả này thôi. Tôi nghe có người nói: "Người này lẩm bẩm gì trong miệng thế, có phải bị điên không?", nhưng chẳng ai đuổi tôi đi cả, chỉ có tôi thầm kêu khổ trong lòng.

Tối hôm đó, tôi đi ngủ.
Thấy một trăm cái đầu người quỳ trước giường tôi.
Tôi hỏi:
"Làm gì vậy? Làm gì vậy?"
Cả trăm người nói:
"Đa tạ Lư Sư Tôn đã độ chúng con, một trăm người, thoát khỏi biển khổ u minh."
"Cái gì?"
Cả trăm người đáp:
"Mỗi lần Lư Sư Tôn tụng một biến, từ miệng thầy lại hiện ra một đóa sen trắng, chúng con đã nương theo hoa sen để thoát khỏi biển khổ!"


### 24. Pháp y Dương Nhật Tùng


Tối ngày 23 tháng 11 năm 2011, trong giấc mơ, tôi thấy một người đến trước giường, người này mặc quần kaki màu vàng, áo sơ mi trắng, tóc thưa thớt, màu xám bạc, gương mặt hơi gầy, có nét góc cạnh, tôi không nhận ra đó là ai nên hỏi: "Ông là ai vậy?"
Ông ấy đáp:
"Dương Nhật Tùng."
Tôi nói:
"Dương Nhật Tùng? Tên nghe quen lắm nhưng vẫn không biết là ai."
Ông ấy đáp:
"Pháp y Dương Nhật Tùng."

Lúc này tôi chợt nhớ ra ngay, pháp y Dương Nhật Tùng là một chuyên gia khám nghiệm tử thi nổi tiếng của Bộ Tư pháp, rất có danh tiếng, có nhiều tin đồn về ông và ông đã phá được nhiều vụ án kỳ lạ.

Tôi hỏi:
"Không biết ông tìm tôi có việc gì?"
Ông ấy đáp:
"Cần thầy đưa tiễn tôi một đoạn!"
"Ông sao vậy?"
"Chết rồi!"
"Bệnh gì vậy?"
"Ung thư ruột."
Tôi hỏi:
"Tại sao lại cần tôi đưa tiễn ông?"
Ông ấy đáp:
"Tôi phải đến Nhật Bản nhận nhiệm vụ, phải vượt biển, dưới biển có oan gia trái chủ, họ sẽ cản đường tôi, cần nhờ Phật pháp của Lư Sư Tôn để hộ trì. Thầy biết đấy, tôi cứu được một bên thì sẽ đắc tội bên kia, tôi là pháp y nên chuyện này là điều không tránh khỏi."
"Sao ông lại đi Nhật Bản?"
Ông ấy đáp:
"Tôi có duyên với Nhật Bản, tôi đến đó làm Thành Hoàng cai quản vùng đó."
Tôi kính cẩn đứng dậy, lập tức hộ tống ông ấy đi nhận nhiệm vụ.

Pháp y Dương Nhật Tùng của Đài Loan, thật không ngờ lại đến Nhật Bản làm Thành Hoàng cai quản vùng đó.
Dọc đường đi, tuy có oan hồn nhưng đều là vô cớ gây rối, tôi dùng ba ánh sáng hộ trì cho Dương Nhật Tùng, nên chẳng có chuyện gì xảy ra.
Dương Nhật Tùng nói:
"Có một lần, sau khi khám nghiệm tử thi xong, tôi kết luận là tự sát; trên đường về nhà, linh hồn người chết đuổi theo, vỗ vai tôi một cái, tôi lập tức quay lại khám nghiệm tử thi lần nữa, quả nhiên phát hiện ra điểm đáng ngờ, cuối cùng xác định là án mạng. Đây là một vụ án mạng tinh vi, được ngụy trang thành tự sát, nếu không tinh ý thì không thể phát hiện ra được."
Dương Nhật Tùng nói:
"Kiếp trước tôi là bí thư cơ yếu của Diêm La Vương, vì vậy kiếp này tôi đầu thai làm pháp y, Diêm La Vương còn từng mời tôi đi ăn cơm đấy!"
Dương Nhật Tùng nói:
"Lại có một lần, tôi khám nghiệm một người nằm trên đường ray tự sát, ban đầu tưởng là tự sát, sau đó phát hiện linh hồn người chết đuổi theo tàu đòi mạng, mới biết đó lại là một vụ án mạng."

Tôi hỏi:
"Ông nhìn thấy được à?"
Ông ấy đáp:
"Thấy được, có thần có linh."
Tôi hỏi:
"Có vụ nào oan uổng không?"
Ông ấy đáp:
"Dĩ nhiên là có, nhưng khi có thần có linh thì sẽ không sai sót được, trách nhiệm của pháp y thật sự rất lớn."
Tôi hỏi:
"Ông bị bệnh vết hoen tử thi à?"
Ông ấy đáp:
"Do tiếp xúc với tử thi quá nhiều nên bị nhiễm."

Khi Dương Nhật Tùng đến lãnh thổ Nhật Bản, cả người đều thay đổi, mặc áo choàng đỏ thẫm, đội mũ miện, diện mạo cũng khác, gương mặt tròn trịa, toát lên vẻ chính khí hiên ngang.
Tôi tiễn Dương Nhật Tùng một đoạn đường khá xa. Khi tỉnh dậy, vẫn thấy mình nằm trên giường.


### 25. Thần Garuda


Thần Garuda là tên tiếng Phạn, trong tiếng Hán dịch là Ca Lưu La, Ca Lâu La, Già Lâu La, Kim Sí Điểu, Diệu Sí Điểu, Đại Bàng Kim Sí Điểu và các tên gọi khác.

Vị thần này trong Ấn Độ giáo là một đại bàng có pháp lực vô biên, rất mãnh liệt, là tòa cưỡi của Vishnu.
Có hình dáng chim Ca Lâu Đạt.
Mắt phẫn nộ.
Mỏ sắc nhọn.
Hai tay nắm giữ các rồng.
Cánh được tạo thành từ các báu vật.
Hai cánh dang rộng dài hàng nghìn dặm.

Tương truyền:
Một cái vỗ cánh tạo thành bão táp.
Pháp tòa của chư thần rung động.
Thần Garuda lấy rồng làm thức ăn.
Quốc huy của Indonesia lấy chim Garuda làm biểu tượng, nguồn gốc bắt nguồn từ chim Đại Bàng Kim Sí Điểu trong Ấn Độ giáo.

Chân ngôn của vị thần này: Ôm ca-si-pô sô-ha.
Thủ ấn: Hai ngón cái bắt chéo nhau, bốn ngón còn lại như hình cánh, hướng ra ngoài, vỗ cánh ba lần như dáng bay.

🌟

Khi Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế, tộc rồng Naga đã cầu xin Phật Đà:
"Tộc rồng chúng con sắp bị chim đại bàng cánh vàng ăn hết rồi, xin Phật Đà cứu mạng!"
Thế là Phật Đà triệu tập Đại Bàng Kim Sí Điểu và tộc rồng đến họp để hòa giải.
Kim Sí Điểu nói:
"Nếu không lấy rồng làm thức ăn, chúng tôi biết ăn gì đây?"
Rồng nghe xong, sợ chết khiếp.
Tộc rồng nói:
"Nếu cứ ăn tiếp, chúng tôi sẽ bị tuyệt chủng, sau này tộc Kim Sí Điểu các người lấy gì mà ăn?"
Lời này vừa thốt ra, Kim Sí Điểu cũng ngớ người ra.

Thế là Phật Đà nói:
"Từ hôm nay trở đi, ta ra lệnh cho tất cả các đệ tử Phật trong thiên hạ, khi làm lễ cúng dường cam lộ rộng lớn, phải thỉnh mời Đại Bàng Kim Sí Điểu trước tiên, để thọ dụng cam lộ như mây, cam lộ này có thể no bụng, ngon miệng và thanh tịnh. Ngươi thấy thế nào?"
Đại Bàng Kim Sí Điểu ăn xong, vô cùng hài lòng.
Thế là ba bên đạt được thỏa thuận, Đại Bàng Kim Sí Điểu từ đó không ăn tộc rồng nữa mà chuyển sang ăn "cam lộ như mây".

Đại Bàng Kim Sí Điểu nhận sắc lệnh của Phật Đà, trở thành một trong những vị Hộ pháp của Phật giáo.
Mỏ nhọn có thể trừ ma.
Móng vuốt có thể bắt ma.
Cánh có thể lật bay ghế ma.
Cánh vàng có thể ban phúc cho chúng sinh, bởi được làm từ bảy báu.

Lư Sư Tôn làm lễ cúng dường hóa thực cam lộ vào giờ Ngọ:
Tụng:
*Đại Bàng Kim Sí Điểu.
Hoang dã quỷ thần chúng.
La sát Quỷ Tử Mẫu.
Cam lộ đều tràn trề.
Ôm mu-ti-li sô-ha. Ôm mu-ti-li sô-ha. Ôm mu-ti-li sô-ha.*
Vẩy cam lộ ra.

Có một lần, bỗng thấy mặt trời bị che khuất, trời đất tối sầm, gió lốc nổi lên, sự biến đổi trong chớp mắt khiến tôi kinh hãi.
Tôi nhắm nghiền mắt, không thể mở ra được.
Đến khi mở mắt, mặt trời vẫn treo cao, không còn gió thổi, vậy mặt trời vừa bị che khuất là chuyện gì?
Tôi hỏi Trực Nhật Công Tào.
Trực Nhật Công Tào đáp:
"Đó là Đại Bàng Kim Sí Điểu đến."

Mẫu thân tôi là Lư Ngọc Nữ, lần đầu cúng Đại Bàng Kim Sí Điểu, liền được Đại Bàng Kim Sí Điểu chở đi du ngoạn khắp thiên hạ, vui không tả xiết.
Vị Đại Bàng Kim Sí Điểu này có thần túc thông lớn, du hành thế giới chỉ trong một niệm mà thôi!


### 26. Đông Nhạc Đại Đế


Có một đệ tử họ Hàn từ nước ngoài đến Đài Loan Lôi Tạng Tự gặp tôi, trình lên một tờ giấy viết đầy chữ giản thể, nội dung như sau:
Đệ tử họ Hàn ly hôn, nuôi dưỡng ba đứa con.
Sau ly hôn, anh ấy có được hai triệu đô la Mỹ.
Anh có một người bạn rất thân thiết, vợ chồng người bạn này kinh doanh buôn bán châu báu, có vài cửa hiệu.
Vợ chồng người bạn không chỉ là bạn học, cũng là hàng xóm, lại còn là bạn thân, thường xuyên cùng nhau đi du lịch, tâm sự, ăn cơm, có thể nói là bạn bè đã có mối giao tình 30 năm.
Vợ chồng người bạn muốn mở thêm một cửa hiệu nữa. 
Mời anh ấy nhập hội.
Anh ấy vui mừng đồng ý, dùng cách thức cho vay, giao hai triệu đô la Mỹ cho đôi vợ chồng bằng hữu 30 năm này.

Sau đó, họ nợ đọng lợi tức, nhiều lần khất nợ, có ý xa lánh, mấy lần đòi nợ nhưng đều không có kết quả.
Không còn cách nào khác, anh ấy phải mời luật sư đưa đơn đòi nợ.
Kể từ đó, vợ chồng người bạn đoạn tuyệt qua lại với đệ tử họ Hàn, ngay cả gặp mặt cũng không thể gặp được. (Vợ chồng người bạn dứt khoát chuyển nhà.)
Đệ tử họ Hàn đau xót khẩn cầu tôi, sinh hoạt của anh ấy, học phí và sinh hoạt của ba đứa con kể từ đó rơi vào cảnh khốn khó. 
Anh ấy nói:
"Tình bạn 30 năm nên chẳng nghi ngờ gì họ, ngay cả giấy cho vay tiền cũng không viết, chỉ có tấm chi phiếu hồi đó làm chứng, bây giờ gia cảnh càng ngày càng căng, không biết xử lý thế nào?"
Tôi nghe xong thì khá xúc động, tôi nói:
"Vấn đề có liên quan đến pháp luật, anh phải bàn bạc với luật sư, điểm này luật sư sẽ tương đối am hiểu. Về phần tôi, tôi sẽ vẽ cho anh một lá phù, đây là phù đòi nợ, anh lấy phù này, cùng với tiền giấy, vào ngày trực Thành, sau giờ Ngọ, hóa đốt trước miếu thổ địa, có thể sẽ có hiệu quả."

Tôi vẽ phù thức như sau:


![image](/img/img_3ffb08b97371597a57014e659877afc7.png)


Theo tôi được biết:
Thổ Địa Phúc Thần đã nhận luật lệnh thì không dám sơ suất, vì là Lư Sư Tôn giao việc, sẽ mang luật lệnh đến miếu của Đông Nhạc Đại Đế.
Đông Nhạc Đại Đế nổi giận:
"Đầu trâu mặt ngựa mau bắt linh hồn của vợ chồng kia đến đây!"

Thế là hai vợ chồng này cùng mơ thấy đầu trâu mặt ngựa cầm lệnh bắt giữ bắt hai vợ chồng này đến trước mặt Đông Nhạc Đại Đế.
Đông Nhạc Đại Đế uy nghiêm như núi, mặt đen, hai mắt trợn tròn, uy phong lẫm liệt, khiến người ta không dám nhìn.
Hai vợ chồng quỳ xuống.
Xung quanh có vua quỷ, lính quỷ, đầu trâu, mặt ngựa Thất Gia, Bát Gia, ai nấy đều cầm dụng cụ tra tấn, dọa cho đôi vợ chồng kia sợ chết khiếp.
Đông Nhạc Đại Đế quát lớn một tiếng, giống như sấm nổ trên trời.
Đôi vợ chồng này lập tức rập đầu như bổ củi. 
Thế rồi tất cả đều được gọi tới.

Đông Nhạc Đại Đế nói:
"Sau khi trở về dương gian, lập tức trả tiền cả gốc lẫn lãi, bằng không sẽ đánh cho phải vào đại địa ngục A Tỳ."
Lính canh ngục đưa hai vợ chồng đi xem đại địa ngục A Tỳ, khiến họ run rẩy khiếp sợ, liên tục kêu gào.
Họ liên tục nói:
"Sau này không dám nữa!"
Hai vợ chồng cùng mơ giấc mơ này, tỉnh dậy cùng lúc, lúc tỉnh dậy thì toàn thân lạnh toát. Thế là họ vội vàng cộng hết hai triệu đô la Mỹ và tiền lãi đem trả cho đệ tử họ Hàn ngay trong đêm đó.

Sự việc này là do chính miệng đôi vợ chồng kia kể lại cho đệ tử Hàn, đệ tử Hàn còn bảo họ mau mau đến quy y Lư Sư Tôn, Lư Sư Tôn thật sự có pháp lực vô biên.
Đệ tử họ Hàn hỏi:
"Đông Nhạc Đại Đế là ai?"
Tôi đáp:
"Là vị đại thần ở âm gian, giống như Thái Sơn Phủ Quân."
Sự việc này xảy ra vào ngày 26 tháng 11 năm 2011. 

Chú thích của Tông Ủy Hội: Người sử dụng phù này không được dùng để đòi các khoản nợ nần phát sinh từ những hành vi vi phạm đạo đức tốt đẹp của xã hội như nợ cho vay nặng lãi, cờ bạc, nếu không sẽ bị Trời phạt.


### 27. Đáp án của trời


Tôi đã viết một cuốn sách có tựa đề "Thần Toán Siêu Chuẩn", cuốn sách này không phải là tự tâng bốc hay khoe khoang. Độ chính xác như thế nào thì bạn, tôi và mọi người đều biết rõ, thật không cần phải khoác lác.

Nhưng người đời vốn thường tự kiêu tự đắc, muốn tìm một người khiêm tốn thì quả là khó.
Người đời đều nói:
Văn chương thiên hạ thuộc Tam Giang.
Văn chương Tam Giang thuộc quê tôi.
Văn chương quê tôi văn chương em trai.
Văn chương em trai học từ tôi.

Dù sao thì những thầy bói thời nay, ai cũng tự xưng mình là số một, người khác là số hai, có chuẩn hay không thì chỉ có trời mới biết.

Có người hỏi tôi:
"Bầu cử tổng thống, thầy biết ai sẽ đắc cử không?"
Tôi đáp:
"Biết."
"Thầy chắc chắn không?"
"Chắc chắn!"
Người ta hỏi:
"Làm sao thầy biết chắc vậy?"
Tôi đáp:
"Câu trả lời của tôi đến từ trời."
(Tôi ngước lên trời, tên của vị tổng thống sẽ hiện ra trên bầu trời.)

Mỗi lần nhìn lên trời, lần nào cũng chuẩn. Tôi chỉ nói cho một số ít người biết, khi có kết quả, mọi người đều mỉm cười hiểu ý.

Gần đây truyền thông đã viết nhiều bài về tôi, nói rằng tôi làm thầy bói dự đoán bầu cử tổng thống cho ai đó.
Truyền thông chế giễu:
"Không hỏi dân sinh, lại đi hỏi quỷ thần?"
Giới truyền thông cứ bịa đặt lung tung về tôi.
Còn về việc có ai đến hỏi tôi hay không, họ cũng toàn nói bừa, nói càn.
Truyền thông hỏi tôi:
"Có ai tìm thầy xem bói về bầu cử tổng thống không?"
Tôi đáp:
"Không có."
Truyền thông hỏi:
"Ai sẽ đắc cử?"
Tôi đáp:
"Tôi biết, nhưng không nói cho các vị."
(Trong lòng tôi thầm cười, hóa ra người đến hỏi tôi xem bói về việc ai sẽ đắc cử tổng thống chính là giới truyền thông. Tôi biết ai sẽ đắc cử, nhưng đương nhiên không thể nói, nói ra chắc chắn sẽ gây náo loạn thiên hạ; hơn nữa, nếu đứng về một phía, ắt sẽ đắc tội với phía còn lại.)

Hơn nữa, những việc lớn như thế này, nếu truyền ra ngoài thì đối với một người xuất gia, một người tu hành như tôi, chẳng có lợi ích gì cả. Tôi là người chân tu, việc trong thiên hạ đã có người trong thiên hạ lo, tôi không muốn mượn việc này để nổi danh thiên hạ, tôi đã đủ nổi tiếng rồi. Nói ra chỉ thêm rắc rối lớn.

Người hỏi:
"Thầy thật sự biết ai sẽ đắc cử tổng thống sao?"
Tôi đáp:
"Biết!"
Người hỏi:
"Là ai vậy?"
Tôi đáp:
"Trời biết! Ha ha."
Người hỏi cười ha ha.
Tôi cũng cười ha ha.
Mọi người đều cười ha ha.

Bài viết này được viết vào ngày 27 tháng 11 năm 2011. Theo thăm dò ý kiến về cuộc bầu cử tổng thống, hai ứng cử viên chỉ chênh lệch nhau 0,4%, khoảng cách giữa hai bên chỉ có một chút xíu, tình hình bầu cử thật căng thẳng!
Tôi nhớ ba tháng trước.
Khoảng cách trong thăm dò giữa hai người còn cách nhau tới 20%! Lúc đó, tôi đã nói là sẽ "căng thẳng"!
Ông Tăng Hải Đường của bộ phận chương trình đài Trung Thiên đã giơ ngón cái lên và nói:
"Siêu chuẩn!"


### 28. Ánh đèn mờ ảo trong hành lang


Trong thời gian ở Đài Loan, khí hậu mùa đông se lạnh, tôi thường đi bộ vào khoảng 10 giờ tối, từ khu dân cư Thất Kỳ đến khu dân cư Ngũ Kỳ, đi mất khoảng 40 phút.
Đoạn đường này, tôi dùng để vừa tập thể dục vừa niệm Phật.
Từ Thất Kỳ đến Ngũ Kỳ, phải đi qua vài tòa cao ốc của Thất Kỳ, qua nhiều đoạn đèn giao thông, ba, năm con đường nhỏ, ba, bốn con đường lớn, tôi cố gắng đi trên vỉa hè càng nhiều càng tốt.

Thực tế, không thể đi hoàn toàn trên vỉa hè được, vì có những đoạn vỉa hè bị biển hiệu cản trở.
Bị xe máy đậu cản trở.
Bị ô tô đậu cản trở.
Bị máy biến áp cản trở.
Bị công trình xây dựng cản trở.
Bị cây to cản trở.
Vỉa hè mới lát thì còn đi được; vỉa hè cũ thì gập ghềnh không bằng phẳng, phải bước cao bước thấp.
Thường phải đi vòng, ra đi trên mặt đường nhựa dành cho xe máy, thận trọng đi suốt bốn mươi phút.

Tôi thường đi trên đường Thị Chính Bắc số 2, sau khi đi qua vài tòa cao ốc thì rẽ từ đường Thị Chính Bắc số 2, đi xuyên qua hành lang của một tòa cao ốc để sang một đại lộ khác.

Đến 10 giờ tối, ánh đèn trong hành lang này trở nên mờ ảo, hành lang khá dài, là lối đi của tòa cao ốc, rất yên tĩnh, không một bóng người; tôi lặng lẽ đi qua đoạn hành lang này, đã đi được một thời gian và chưa từng gặp ai đi qua đoạn hành lang này.

Hành lang này thuộc một tòa cao ốc, có những tác phẩm điêu khắc, những chiếc đèn treo to và cao, nền lát gạch phẳng láng, đoạn đường này khiến người ta cảm thấy thoải mái và dễ chịu nhất.
Ban đầu tôi đi một mình.
Sau đó càng đi càng thấy có điều gì đó không ổn.
Tôi cảm nhận được xung quanh có hai người lớn, ba đứa trẻ đang bước theo sau tôi.
Với bản lĩnh cao cường, tôi chẳng để tâm.
Tôi cũng không sợ hãi.
Tôi cứ đi đường của tôi, họ đi đường của họ.
Trong hành lang này, tôi bắt đầu niệm Phật, hoặc tụng Kinh Cao Vương, cuối cùng tụng chú vãng sinh...

Năm vị u linh này, ban đầu:
Đi theo tôi.
Vây quanh tôi mà đi.
Sau đó biến thành những vệt sáng trắng bay múa trước mặt tôi, như năm dải lụa đang bay lượn trong không trung.
Tôi không tụng chú, không kết ấn để đuổi họ đi.
Họ cũng không có ác ý với tôi, hai bên đều bình an.
Sau đó họ hỏi:
"Thưa hành giả, ngài là ai vậy? Trên người ngài có ánh sáng."
Tôi đáp:
"Tôi là Lư Sư Tôn."
Họ nói:
"Ah! Thì ra là Lư Sư Tôn, ngưỡng mộ đại danh đã lâu, danh tiếng vang dội, không ngạc nhiên khi thấy trên người ngài có ánh sáng cầu vồng."
Tôi hỏi lại họ:
"Thế các vị là ai vậy?"
Họ nói:
"Theo quy hoạch đô thị ban đầu, khu vực Thất Kỳ là một vùng hoang vu, cỏ dại mọc um tùm, chó hoang thành bầy. Ở giữa có một số ngôi mộ cổ, chúng tôi nằm trong một ngôi mộ, chôn hai người lớn và ba đứa trẻ, chúng tôi đều là ma giữ mộ. Sau này Thất Kỳ được phát triển, cao ốc mọc san sát, mộ và hài cốt đều bị đào lên, phân tán đi, chúng tôi trở thành ma giữ nhà. Ban đầu chỉ lẩn quẩn trong nhà trống, sau khi ngài đến, được nghe ngài niệm Phật, niệm chú, tụng kinh, được hưởng ánh sáng của ngài, nên cũng có thể tự tại bay lượn, nhờ vậy mới có thể ngưng tụ thành hình, thật sự cảm ơn ngài!"
Tôi nói: "Gặp nhau ngoài đường cũng là có duyên, việc gì phải cảm ơn." - Tôi lại hỏi: "Các vị sẽ đi đâu?"
Họ đáp: "Muốn theo Lư Sư Tôn tu hành."
Tôi nói: "Được thôi! Tôi nhận các người làm năm đệ tử ma, theo bên cạnh tôi, tôi sẽ dùng ánh sáng che chở cho các người, cùng tôi đi tu hành!" (Tôi thật sự đã nhận năm con ma này.)


### 29. Đại từ bi của Bạch Không Hành Mẫu


Tôi nhận quán đảnh Vô thượng mật bộ từ Thượng sư Thubten Dhargye. Sau khi được Thượng sư quán đảnh, ngài đã truyền cho tôi khẩu quyết tu pháp.

Những điểm chính của khẩu quyết là:
1. Bí mật.
2. Cúng dường.
3. Điều hòa hơi thở.
4. Tu khí.
5. Cảm thọ.
6. Không - Lạc.
7. Chứng ngộ.

Mỗi lần đến chỗ Thượng sư Thubten Dhargye, ngài đều nhắc đi nhắc lại về tầm quan trọng của khẩu quyết. Ngài đã truyền thụ pháp tu Vô thượng mật bộ cho tôi một cách trọn vẹn không giữ lại, điều này cho thấy sự coi trọng của Thượng sư.

Mỗi lần tôi đến Tịnh Âm Phật Các, Thượng sư đều cho tôi vào trước, chỉ có Thượng sư, thị giả của Thượng sư và tôi, ba người ở riêng với nhau. Lúc đó, ngài mới truyền cho tôi những khẩu quyết quan trọng.
Sau khi truyền thụ xong, ngài mới cho phép các đệ tử của tôi vào đảnh lễ Sư công Thubten Dhargye.
Về mặt lý thuyết, tôi đã hiểu rõ Vô thượng mật bộ.

Nhưng về thực tu, tôi không có thủ ấn sự nghiệp của thế gian. Tôi thành thật nói với mọi người:
Thủ ấn sự nghiệp của Mật giáo là phương tiện tối thượng trong các phương tiện tối thượng.
Nó tượng trưng cho sự kết hợp bí mật giữa trí huệ và phương tiện.
Thông qua sự kết hợp này.
Cảm thọ của chúng ta đạt đến sự thọ dụng tối đa.
Trí huệ tăng trưởng.
Quang minh tăng trưởng.
Đại lạc tăng trưởng.
Tâm chúng ta an trú trong bầu trời bao la trong sáng, thể nghiệm tự tính vô tận.
Tôi đã tương ứng với Bạch Không Hành Mẫu.

Tôi dùng thủ ấn triệu thỉnh:
"Hai tay đan nội phộc, hai ngón trỏ duỗi ra, không chạm vào nhau, chỉ tạo thành vòng tròn, hai ngón cái cùng dựng đứng."
(Hai ngón trỏ tượng trưng cho lá sen, hai ngón cái tượng trưng cho một đôi trong hoa sen.)

Quyển mười của Đại Nhật Kinh Sớ nói:
"Bạch là tâm bồ đề vậy, an trú trong tâm bồ đề này, gọi là chỗ trú của Bạch Không Hành Mẫu, tâm bồ đề này là Phật bồ đề, thường sinh ra chư Phật, cũng là bộ chủ của Liên Hoa bộ."

Tại đây, tôi xin dùng "bí mật ngữ" để nói như sau:
Bạch Không Hành Mẫu, dung mạo tuyệt vời, hoàn toàn không có chút tạo tác, khi Ngài giáng xuống, hương quang trang nghiêm.
Trong hư không xuất hiện một đóa sen trắng lớn, cánh sen, nhụy sen mềm mại thơm tho thanh khiết.
Thân tâm hành giả, như huyễn như hóa, đi vào trong đóa sen trắng lớn.
Thân tâm Bạch Không Hành Mẫu, như huyễn như hóa, cũng ở trong đóa sen trắng lớn.
Đóa sen trắng lớn đang nở, dần dần cánh sen khép lại, trở thành một nụ sen. (hoa sen chưa nở)
Khiếu hợp với khiếu.
Điểm tan vào điểm.
Khí thông với khí.
Mạch nối với mạch.
Bạch Không Hành Mẫu đem tất cả thành tựu, quán đảnh vào toàn thân hành giả, từ đỉnh đến chân.
Từ dưới lên trên.
Lạc - Không song vận. (Thiền định thâm sâu)

Lúc này, đại lạc, quang minh và Không tính cùng xuất hiện. Trí huệ viên mãn, ánh sáng cầu vồng quấn quanh, chứng được chân như Phật tính.

Cảnh giới này không thể tìm thấy trong thế giới người, đó là sự thể nghiệm siêu việt của đại giác; quả nhiên, tâm bồ đề của Bạch Không Hành Mẫu sinh ra tất cả chư Phật.

Trong tu hành Mật giáo, tôi đã lần lượt thành tựu:
Sự bộ.
Hành bộ.
Du già bộ.
Vô thượng bộ.


### 30. Tương lai tiếp nhận cúng dường?


Pháp cúng dường trong Mật giáo là một mắt xích quan trọng trong việc tu tập Mật giáo, thậm chí có Thượng sư nói rằng cúng dường là trọng điểm của Mật giáo.
Tổ sư Tsongkhapa nói:
"Ba đại thành tựu của Mật giáo là: Thứ nhất, trì danh thành tựu. Thứ hai, Hộ Ma (hỏa cúng) thành tựu. Thứ ba, Tam muội địa thành tựu."
Trong đó, Hộ Ma (hỏa cúng) chính là pháp cúng dường.

Pháp cúng dường trong Mật giáo có rất nhiều loại, ở đây không giới thiệu từng loại một, có ngoại cúng, nội cúng, mật cúng, mật mật cúng (chân như cúng) v.v...

Trong sinh hoạt hàng ngày khi ăn uống, tôi đều phải làm cúng dường, đó là cúng dường:
Thượng sư:
Bổn tôn.
Hộ pháp.
Trong lúc cúng dường, tôi có thể biết chắc chắn là các ngài có đến nhận cúng dường hay không.
Sự "biết" này cũng có nhiều dạng khác nhau:
1. Thấy trực tiếp.
2. Nghe được.
3. Cảm ứng tâm linh.

Chúng ta phải triệu thỉnh trước, sau đó "thổi hơi", cuối cùng trì chú (kết thủ ấn), khiến phẩm vật cúng dường biến hóa như mây, vô cùng vô tận.
Nói chung, khi tôi làm pháp cúng dường, mỗi lần Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp xuống nhận cúng, tôi đều có thể biết được, chắc chắn tuyệt đối không phải là hư giả.

Một ngày nọ.
Tôi đang dùng cơm trưa tại Chùa Cầu Vồng Lôi Tạng, vào khoảng tháng 10 năm 2011, tôi làm lễ cúng dường trước.
Triệu thỉnh Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp giáng lâm, lần triệu thỉnh đầu tiên, hoàn toàn không có cảm ứng gì.
Lần triệu thỉnh thứ hai, các ngài vẫn chưa đến nhận cúng.
Lần triệu thỉnh thứ ba, vẫn không đến.

Thông thường tôi triệu thỉnh ba lần, bình thường các ngài đều sẽ đến.
Nếu đến ngay lần đầu, biểu thị rất hoan hỷ.
Đến lần thứ hai, biểu thị bình thường.
Đến lần thứ ba, phẩm vật cúng dường sơ sài.
Nhưng, triệu thỉnh ba lần mà cả ba lần đều không đến, rất hiếm, rất hiếm.
Lần đó, tôi triệu thỉnh ba lần, cả ba lần đều không đến. Tôi liền biết có vấn đề, chư tôn không đến nhận cúng, chắc chắn có vấn đề.

Tôi rất cẩn thận nếm thử thức ăn, và ăn đến một đĩa hàu! (tiếng Đài Loan), hóa ra hàu (oyster) đã bị ươn, không còn tươi nữa, thảo nào mà Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp không đến nhận cúng.

Tôi đã báo cho Thượng sư Liên Ấn, Thượng sư Liên Ấn nhắc nhở pháp sư Liên Vạn khi mở hàu cần phải đặc biệt chú ý.
Hàu có vỏ.
Các pháp sư tự mình mở.

Lại có một lần nữa, lần này mọi người đều biết.
Chúng tôi một nhóm người đi chiêm bái tám Thánh địa của Đức Phật tại Ấn Độ, đến thành phố cổ năm nghìn năm tuổi Varanasi bên bờ sông Hằng. Thành phố cổ này là thánh địa của Ấn Độ giáo, có rất nhiều đền thờ Ấn Độ giáo, đền thờ Đại Phạm Thiên (thần Sáng Tạo), đền thờ Đại Tự Tại Thiên (thần Hủy Diệt), và đền thờ Biến Tịnh Thiên (thần Bảo Hộ), đều ở nơi đây.
Brahma.
Shiva.
Vishnu.
Ở Varanasi có màu sắc thần bí đặc biệt.

Sáng sớm hôm đó, lúc ăn điểm tâm.
Tôi triệu thỉnh ba lần, cả ba lần Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp đều không đến nhận cúng, dù triệu thỉnh thế nào cũng không đến.
Tôi nóng lòng, lại đặc biệt triệu thỉnh bằng ấn "tâm trong tâm", vẫn không đến.

Bữa sáng hôm đó, tôi không ăn.
Sau đó, trong số đồng môn ăn sáng, chúng tôi có tổng cộng mười tám người tham gia, mười bảy người bị "Tào Tháo đuổi", cả hội chạy ùa vào nhà vệ sinh, tiêu chảy dữ dội.
Chúng tôi đùa:
"Vội-ra-nhà-xí (Varanasi) ơi!"
Bạn nói có đúng không?


### 31. Phúc Đức Chính Thần mời tôi mua nhà


Vào khoảng năm 2000, tôi ẩn cư tại Đài Trung, Đài Loan. Khu quy hoạch đô thị Thất Kỳ Đài Trung lúc đó còn hoang vu, cỏ dại mọc um tùm, chó hoang thành bầy, một vùng ngoại ô không bóng người.
Trên mảnh đất đó có một vài tòa nhà cao tầng đã được xây dựng, tên các tòa nhà là:
Liên Tụ Hòa Bình.
Thiên Tỷ.
Hội trường Âm nhạc Quốc tế.
Lĩnh vực Nhân văn.
New Sydney.
Lý Tính Cảm Tính.
Ngoài sáu tòa nhà này ra, một vùng đất rộng lớn đều bỏ trống, đến đêm trở thành điểm mù an ninh và thiên đường của chó hoang.

Có một lần.
Tôi mang báo (Chân Phật Báo), tạp chí (Nhiên Đăng Tạp chí) đến phát tại miếu Thổ Địa Công gần đó.
(Đây là thói quen của tôi, thu thập một số tờ Chân Phật Báo và tạp chí Nhiên Đăng đã đọc, đợi tích góp được một thời gian thì ôm đến các miếu Thổ Địa khắp nơi để lưu giữ, chờ những chúng sinh có duyên đến lấy về đọc, đây cũng là một phương pháp độ chúng sinh.)

Một lần nọ.
Tôi lại đến miếu Thổ Địa Công để phát báo và tạp chí.
Khi đến miếu Thổ Địa Công ở Thất Kỳ Đài Trung, ngôi miếu này bị lõm xuống, trông giống như một vỏ sò. (Tôi gọi là động Vỏ Sò.)
Phúc Đức Chính Thần bỗng nhiên hiện thân nói với tôi:
"Sư Tôn Lư à, thầy phải mua nhà! Nhanh lên! Nhanh lên!"
Tôi đáp:
"Nơi này hoang vu, không tiện sinh sống."
Phúc Đức Chính Thần lại nói:
"Thầy phải mua nhà! Nghe tôi sẽ không sai đâu."
Tôi đáp:
"Tôi không có tiền."
Phúc Đức Chính Thần nói:
"Gom góp một chút."
Trong lòng tôi không có ý định ở lâu tại Đài Loan, tôi phải quay về Seattle ở Mỹ, ở Đài Loan chỉ là tạm thời ẩn cư mà thôi, vì vậy tôi không để tâm.

Phúc Đức Chính Thần nói:
"Hãy nhìn xem! Tương lai sẽ như thế này."
Tôi vừa nhìn. "Á"! Giật mình kinh hãi.
Một khung cảnh hiện ra trước mắt tôi.
Một cảnh tượng huy hoàng thịnh vượng nhất hiện ra, tòa nhà này nối tiếp tòa nhà khác xuất hiện trước mắt tôi. (Nhiều đến không đếm xuể.)
Đèn đóm rực rỡ.
Kiến trúc hùng vĩ tráng lệ.
Nhà cao tầng chọc trời.
Phong cách vừa độc đáo vừa tinh xảo vừa đẹp.
Tòa nào cũng là biệt thự sang trọng.
Phúc Đức Chính Thần nói:
"Khu Thất Kỳ Đài Trung này chính là khu Tín Nghĩa của Đài Bắc."
Tôi nuốt nước bọt, nói:
"Được rồi! Để tôi xem thử."

Lúc đó, tôi đã xem hết sáu tòa nhà, Liên Tụ Hòa Bình khá đắt, giá một phần là 190.000. Lý Tính Cảm Tính cũng đắt, gần như vậy, đắt tương đương. Thiên Tỷ, Hội trường Âm nhạc, Lĩnh vực Nhân văn, New Sydney, đều tương tự nhau.
Khi tôi đứng trước một tòa nhà nọ, người môi giới mời chúng tôi mua.
Tôi lấy đồng xu ra, dùng chén để xin keo, hướng về phía miếu thỉnh ý Thổ Địa Công xem có nên mua không?
Ba chén thánh, có thể mua.
Ba chén thánh này, tôi để cho Sư Mẫu Thượng sư Liên Hương xem, quả thật Phúc Đức Chính Thần bảo tôi mua nhà.
Cuối cùng chúng tôi đã mua!
Đó là giá năm 2000.
Đến năm 2010, giá đã tăng đúng năm lần. (Trong vòng mười năm, tăng gấp năm lần.)

Tôi rất cảm ơn Phúc Đức Chính Thần, đúng là Phúc Đức Chính Thần bảo tôi mua nhà; tuy Phúc Đức Chính Thần là vị thần nhỏ nhất trong thần vị, nhưng thần nhỏ cũng có thể lập công lớn.
Lời Ngài nói chuẩn xác vô cùng!


### 32. Chuột kêu chít chít


Nơi tôi ở tại Mỹ, có một thời gian tôi sống ở vùng núi, tạm gọi là Nam Sơn. Đó là một khu dân cư nhỏ, khoảng 50 hộ gia đình, chủ yếu là người da trắng sinh sống, nhà cửa không xem là nhỏ, mỗi căn rộng khoảng 6000 mét vuông, nhà to, kiến trúc mỗi nhà một kiểu khác nhau, được xem là khu dân cư có tiếng.

Khi chúng tôi sống ở đó, mọi thứ đều rất thoải mái, đêm ngủ ngon lành, môi trường vô cùng thanh nhã, mở mắt ra là thấy cả sân trước sân sau một màu xanh mướt, khiến người ta cảm thấy tâm hồn thư thái, không một chút tiếng ồn.

Tôi phát hiện ra vài vỏ đậu phộng trong phòng để chăn mền của mình, tôi rất ngạc nhiên.
Ai ăn vụng đậu phộng ở đây vậy?
Không cần nghi ngờ ai cả, vì đậu phộng ai cũng có thể ăn, cũng chẳng bị cấm, không cần phải trốn vào phòng để chăn mền để ăn.
Vậy là ai?
Không cần nói cũng biết, chắc chắn là chuột. Nhất là khi phát hiện phân chuột ở cùng một chỗ.
Tôi là người tu hành, không sát sinh, trước mắt cứ mặc kệ vậy.

Có một lần.
Tôi đang tu pháp trong đàn thành, tu đến phần Chính hành, nhập Tam muội địa, khi nhắm mắt, tôi nghe tiếng chuột "chít chít chít chít chít", mở mắt ra nhìn, thấy hai con vật nhỏ lông xù đang đuổi nhau qua khe lan can cầu thang, lan can thẳng đứng, hai con chuột chạy theo hình chữ S, lúc nấp bên trái lúc núp bên phải, vừa chạy vừa kêu chít chít.

Tôi nhìn chằm chằm vào chúng.
Chúng cũng nhìn lại tôi, chẳng hề sợ hãi, hai con mắt nhỏ như hạt đậu xanh, nhìn láo liên.
Đối với màn trình diễn này của chúng, tôi vốn không thèm để ý, nhưng chúng đã biến lòng khoan dung nhẫn nại và phong cách cao thượng của người Phật tử thành cơ hội để chúng lộng hành.
Chúng càng ngày càng quá đáng.
Làm tổ trên ghế sofa.
Phóng uế bừa bãi, đi tiểu lung tung.
Phá phách trên bàn ăn.
Cắn thủng ống dẫn nhiệt.
Ban ngày còn chơi trốn tìm trong phòng khách.
Cắn rách quần áo.
Nhe răng múa vuốt với người.

Tôi nghĩ:
"Không để ý thì chúng nghĩ có thể tự tung tự tác, trong núi không có cọp thì khỉ xưng vương. Nhà ta không nuôi mèo nên chuột cũng lên mặt!"
Tôi tìm đến chuyên gia diệt chuột người Mỹ.
Ông ta nói:
"Khu núi này có rất nhiều chuột, một nhà ở phía trước núi, tôi bắt một lần được hai mươi bảy con."
Tôi hỏi:
"Bắt sống hay chết?"
Ông ta đáp:
"Dùng thuốc, rồi xuống tầng hầm tìm, tổng cộng hai mươi bảy con."
Tôi nói:
"Có thể bắt sống rồi thả lên núi khác không?"
Chuyên gia diệt chuột nói:
"Tôi không biết bắt sống, dùng thuốc thì chắc chắn chết. Có một loại thuốc, chuột rất thích ăn, ăn xong sẽ khát nước, chúng sẽ đi tìm nước uống và chết trong mương nước."
Tôi hỏi:
"Có thể rắc thuốc để ngăn không cho chúng vào không?"
Chuyên gia nói:
"Chuột rất thông minh, chúng có thể đào hang chui vào!"
...

Thật tình mà nói, lũ chuột nhà tôi, ngoại trừ không mở được tủ lạnh, còn thì chúng đã hoành hành không còn coi trời đất ra gì nữa, xưng vương xưng bá, gây náo loạn khắp nhà tôi, cả một đám chuột con theo sau, giương cờ gióng trống, kêu la ầm ĩ.
Phải làm sao đây?

Tôi chợt nhớ ra Jambhala (Hoàng Tài Thần), Hoàng Tài Thần không phải đang nắm một con chuột nhả châu báu sao? Hoàng Tài Thần chắc chắn có thể đối phó với lũ chuột om sòm này.
Tôi cung thỉnh:
"Ôm chân-pa-la cha-lâng cha-na-yê sô-ha."
Jambhala thả chuột nhả châu báu xuống, chuột nhả châu báu đuổi lũ chuột hề ra khỏi nhà.
Ồ! Thật linh nghiệm quá!
Chuột nhả châu báu đã đuổi được lũ chuột ngông cuồng đi, nhà tôi không còn chuột nữa!


### 33. Bình luận xoi mói Lưu Đức Hoa


Giải thưởng Kim Mã năm 2011, Lưu Đức Hoa đã đoạt giải Nam diễn viên chính xuất sắc, điều này khiến tôi chú ý đến ông ấy. Ông ấy ra mắt từ rất sớm, nổi tiếng liên tục, đến tận tuổi trung niên vẫn nổi tiếng. Năm mươi tuổi rồi mà trong giới điện ảnh, truyền hình, ca nhạc đều luôn rất tốt, người như vậy thật hiếm có.
Tôi xem tướng mạo của ông ấy:
Lông mày - như lông mày của bươm bướm.
Mắt - như mắt diều hâu.
Mũi - như mỏ diều hâu.
Miệng - như miệng cá.
Tai - như tai thỏ.

Cung huynh đệ ở lông mày, tính ra về mặt nhân sự thì rất viên dung, hợp tác ăn ý, quý nhân phù trợ.
Cung thông tuệ ở mắt, ông ấy được xem là thông minh có trí tuệ, khá có khả năng nhìn thấu trước thời cơ.
Cung tài bảo ở mũi, loại mũi này, người thường không dám khen ngợi. Bởi vì ai cũng biết, loại mũi này sẽ hại người. May mắn là ông ấy có mắt diều hâu bù đắp cho khuyết điểm của mũi diều hâu, tài vận trở nên tốt đẹp.
Miệng là miệng cá, chỉ ở mức bình thường.
Cung thọ mệnh ở tai, ông ấy có tai kiểu thỏ, hơi gây họa, tuổi thọ cũng tàm tạm, nhưng phải đề phòng tai nạn.
Cung tình cảm ở phía sau lông mày và mắt, được xem là người tình nghĩa, nhưng khá kín đáo, có sóng gió nhưng vượt qua bình an.
Cung nô bộc ở cằm, cằm của Lưu Đức Hoa được xem là loại tệ nhất, e rằng vận về già không tốt, có tướng không giữ được khi về già, loại cằm này đôi khi bị mọi người phản bội, người thân xa lánh.
Cung quyền vị ở pháp lệnh, còn có quyền uy và địa vị.

Tôi chỉ phân tích đơn giản tướng mạo của Lưu Đức Hoa, điểm nổi bật nhất là mắt và mũi của ông ấy.
Điểm kém nhất là cằm.
Với tướng mạo như vậy, đáng lẽ chỉ nổi tiếng nhất thời, nhưng đến năm mươi tuổi vẫn nổi tiếng rực rỡ, đây là điều bất thường.
Với tướng mạo này, cũng có thể chỉ là một người bình thường buôn gánh bán bưng, nhưng lại có thể trở thành nhân vật đứng đầu trong giới giải trí, quả thật là khác thường. (Chắc hẳn ông ấy đã rất nỗ lực.)

Theo quan sát của tôi, tôi xếp khuôn mặt này vào loại "nghiệp chướng", là dạng nghiệp chướng nặng nề, điều này được nhìn nhận dựa vào "tam đình".
Nghiệp chướng nặng.
Từ lúc sinh ra đến tuổi thanh niên không tốt. (Thượng đình) Từ chân tóc đến chân mày.
Từ thanh niên đến trung niên không tốt. (Trung đình) Từ chân mày đến đầu mũi. Tuy nhiên, ông ấy rất chăm chỉ và tận tụy với nghề.
Từ trung niên đến tuổi già càng không tốt. (Hạ đình) Từ đầu mũi đến cằm.
Đây là nhìn từ "tam đình", cả ba đình già, trung, trẻ của ông ấy đều không tốt. (Ngắn và nhăn nheo.)

Điều kỳ lạ là:
Hiện tại đã năm mươi tuổi mà vẫn nổi tiếng cực đỉnh, đây là do nguyên nhân gì? Theo lý mà nói, ông ấy đáng lẽ phải rất xui xẻo; thế nhưng, đến năm mươi tuổi, thời vận, mệnh vận, số vận của ông ấy, trong mắt người ngoài đều rất tốt, không những tốt, mà còn là nhân vật đỉnh cao, đứng trên tầng mây.
Nghiệp chướng của ông ấy đã được thanh tịnh chăng?
Tôi rất tò mò.
Nghĩ mãi, nghĩ mãi, không thông, không thông.

Một đêm nọ, trong giấc mơ của tôi xuất hiện vị thần Uế Tích Kim Cang, vị Kim Cang này là Đại Quyền Thần Vương Phật.
Ngài được hóa sinh từ tâm của Phật Đà.
Chuyên trừ uế khí và chướng ngại.

Uế Tích Kim Cang vô cùng oai mãnh, pháp lực vô biên, trang nghiêm phi thường, ánh sáng của Ngài trừ uế không thể nghĩ bàn.
Ngài chủ động nói với tôi:
"Lưu Đức Hoa vốn là người có nghiệp chướng, điều này không sai, nhưng ông ấy đã làm người đại diện cho sản phẩm thiết bị vệ sinh HCG, hình ảnh của Lưu Đức Hoa được in trong nhà vệ sinh."
Kim Cang Uế Tích lại nói:
"Việc để ảnh trong nhà vệ sinh mà không lấy làm phiền, đó chính là công đức của Lưu Đức Hoa. Qua nhiều năm, uế khí đã tẩy sạch mọi nghiệp chướng của Lưu Đức Hoa, biến hung thành cát; nghiệp chướng được trừ, đại phúc giáng xuống, đó chính là lý do Lưu Đức Hoa có thể tránh hung gặp cát!"

Có thể để ảnh của mình trong nhà vệ sinh, đây là pháp trừ nghiệp chướng không thể ngờ (dùng uế để trừ chướng), có thể tiếp tục nổi tiếng.
Tin hay không tùy bạn!


### 34. Mấy ngày này anh đừng bán cá


Tôi đến chợ cá ở cảng phía Tây, đó là một khu chợ cá lớn. Tôi bước vào trong, ai cũng biết mùi của chợ cá như thế nào, đúng là cái mùi đó. Tôi không phải đến để mua cá, mà là đi vòng quanh chợ cá một lượt, tụng niệm chân ngôn siêu độ.
Trì chú.
Kết ấn.
Quán tưởng.
Thần thức của những con cá tôm lần lượt bay lên, cả không gian tràn ngập những linh hồn được siêu độ.
Che kín cả mặt trời đang lên.

Để miêu tả tình cảnh siêu độ này, tôi có một so sánh: trước đây tôi từng xem một bộ phim có tên là "Châu chấu di cư". Mọi người có thể tưởng tượng, hàng nghìn hàng vạn con châu chấu như đám mây đen che kín cả mặt trời. Việc siêu độ cho loài cá của tôi cũng giống như vậy.

Tôi đi dạo một vòng.
Bỗng nhiên có một người bán cá tiến đến trước mặt tôi:
"Lư Sư Tôn, sao thầy lại ở đây?"
Tôi hỏi:
"Ông là?"
Người bán cá đáp:
"Tôi là Liên Hoa Phúc Toàn, đệ tử của thầy."
Tôi "À!" lên một tiếng, không ngờ ở chợ cá này cũng có đệ tử của mình.
Người bán cá nói:
"Lư Sư Tôn, thầy đến mua cá đi, tôi có cá tươi nhất, tôi xin cúng dường thầy cá sống."
Tôi cười:
"Tôi đến mua cá, nhưng không phải mua cá hữu hình, mà là mua cá vô hình."
Người bán cá sững người:
"Có loại cá vô hình sao?"
Tôi đáp:
"Có chứ. Chúng sinh đầy đủ, sao lại không có?"
Tôi định bước đi, người bán cá lại nói:
"Lư Sư Tôn, xin thầy để lại cho tôi một lời dạy."

Tôi nhìn người đệ tử bán cá này, ấn đường tối đen, tôi nói:
"Mấy ngày này anh đừng bán cá nữa, được không?"
Người đệ tử bán cá hỏi:
"Mấy ngày nào ạ?"
Tôi đáp:
"Ba ngày này."
"Có chuyện gì ạ?"
"Không biết!" - Tôi đáp:
Người bán cá nói:
"Lư Sư Tôn, thầy phải cho tôi một lý do chứ, tôi có thể không bán, tôi nhất định nghe lời thầy; nhưng ba ngày không làm ăn, tôi cũng khó giải thích với gia đình lắm!"
Tôi thấy ấn đường anh ta tối đen, muốn nói lại thôi, tôi bảo:
"Có huyền cơ!"
"Huyền cơ gì ạ?"
"Không biết!"
Tôi cười ha ha rồi bước đi.
Tôi dặn người đệ tử bán cá: "Hãy tụng nhiều Cao Vương Kinh, để cầu may tránh họa, tiêu tan tai nạn."
Người đệ tử bán cá đáp: "Khi nào rảnh tôi sẽ tụng ạ!"

Sau đó tin tức truyền đến:
Người đệ tử bán cá không nghe theo lời dặn của tôi, vẫn cứ bán cá trong ba ngày; vào ngày thứ hai, anh ta bán được rất nhiều cá, trong đó có một con cá nóc, người mua đem về nhà nấu ăn, kết quả cả nhà bị ngộ độc, phải đưa đến bệnh viện điều trị.
Cảnh sát theo dấu vết, tìm đến người đệ tử bán cá.
Người đệ tử bán cá biện hộ:
"Hoàn toàn không biết là có độc!"
Nhưng, ai cũng biết cá nóc có độc, các đầu bếp ở nhà hàng Nhật Bản bán cá nóc đều biết cách xử lý để khử độc, nhưng các gia đình bình thường thì không biết.
Vụ ngộ độc cá nóc khiến anh ta vướng vào kiện tụng.
Người đệ tử bán cá rất hối hận, tại sao lúc đó lại không nghe lời khuyên của Lư Sư Tôn chứ!


### 35. Từ Vụ Phong đi đến Đại Khanh


Thời đại học tôi học chuyên ngành đo đạc, vì vậy tôi biết cách đọc bản đồ địa hình. Tôi nhìn thấy núi ở Vụ Phong nối liền với núi ở Đại Khanh.

Có một lần, tôi đến chơi ở Hội đồng tỉnh tại Vụ Phong. Bỗng nhiên tôi nảy ra một ý tưởng, nghĩ rằng nếu đi từ núi phía sau Hội đồng tỉnh, theo hướng Đại Khanh, chắc chắn sẽ đến được Đại Khanh.
Tôi cho rằng:
Thứ nhất là để luyện tập leo núi.
Thứ hai là để vận động.
Thứ ba là để xem phong thủy.
Thứ tư là để thử sức mình.
Thứ năm là vì tò mò.

Tôi nghĩ, dù sao cũng không phải núi cao hiểm trở, chỉ là vài ngọn đồi nhỏ, chắc không có gì nguy hiểm!

Một mình tôi, không mang theo thức ăn, không mang nước, không mang ba lô, không có dụng cụ leo núi, trước đây tôi từng là nhân viên đo đạc, núi lớn núi nhỏ đều đã từng thấy, mấy quả núi nhỏ này, với sức đi của tôi không phải vấn đề gì.

Tôi nghĩ thị lực của mình rất tốt, chỉ cần đi về hướng Bắc là chắc chắn sẽ đến được Đại Khanh.
Thế là, có ý định thì phải hành động ngay, nói đi là đi, nhất định sẽ đến được Đại Khanh.

Đi theo một con đường mòn nhỏ, tôi bước vào trong núi; lúc mới vào núi, vẫn còn nhận biết được phương hướng, có vài căn nhà nông của người dân miền núi, tôi nghĩ có người ở nên càng thêm yên tâm.
Thế là vượt qua một ngọn núi.
Lại vượt qua một ngọn núi nữa.
Rồi lại vượt qua thêm một ngọn núi.
Lúc này, mới cảm thấy có điều gì đó không ổn.

Con đường mòn có người đi trước đây giờ càng lúc càng nhỏ dần, cuối cùng chỉ còn lại vết chân mờ. (Vết chân mờ tức là đường mòn nhỏ.)
Sau khi vượt qua ba ngọn núi nhỏ, tôi bắt đầu thở dốc.
Cảm thấy khát khô cổ.
Mới vượt có ba ngọn núi, đứng trên đỉnh nhìn trước sau trái phải, phát hiện ra những đỉnh núi nối tiếp nhau không dứt, hoàn toàn không thấy điểm cuối, bốn phía đều như nhau.
Từ vùng đất khô có người canh tác trên núi, tôi đã đi đến thung lũng hoang vắng không người.

Chợt giật mình nhận ra:
Đã lạc mất phương hướng Đông Nam Tây Bắc.
Sức lực đã cạn kiệt.
Cảnh vật xung quanh thay đổi, thân mình lạc trong thung lũng.
Bốn phía đều là núi, không biết ngọn nào dẫn đến Đại Khanh.
Nếu cứ tiếp tục đi về phía trước, không quay đầu lại, liệu có càng lúc càng đi sâu vào trong núi không?
Trong lòng mông lung.
Lo lắng vô cùng.

Khi có cảm giác này, nỗi sợ hãi dâng lên, đưa mắt nhìn ra chỉ thấy một vùng rừng rậm, tôi kêu lên một tiếng: "Chết rồi!" Tôi vốn tài cao gan lớn, nhưng lần này có lẽ không về được nhà mất.
Không dám đi tiếp nữa!

Nhưng hướng nào mới là đường về Hội đồng tỉnh đây, tôi đã rơi vào tình
cảnh "sơn cùng thủy tận ngờ hết lối", nơi đâu là "liễu rủ hoa cười lại gặp làng"?
Lúc này, tôi nghĩ sao không cầu xin sơn thần thổ địa?
Tôi niệm chú an thổ địa chân ngôn:
"Na-mô san-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha" ba lần.
Chân trái dậm xuống đất ba cái.
Chết rồi, chẳng có cảm giác gì cả, tôi chắc chắn sẽ chết trong núi mất.

Bỗng nhiên, tôi nhận ra phía sau có một cây to ở đằng xa, dưới gốc cây hình như có một người. Tôi di chuyển về phía cây to đó, quả nhiên dưới gốc cây có một cụ già đang ngồi hút thuốc, cởi trần nửa thân trên, mặc quần đùi đen, da ngăm ngăm màu đồng.
Tôi hỏi:
"Làm sao để đến Hội đồng tỉnh ạ?"
Cụ già đáp:
"Đi thẳng về bên phải, sẽ thấy một con đường mòn, đi theo đường mòn vòng quanh núi khoảng một tiếng rưỡi sẽ về đến Hội đồng tỉnh."

Tôi mừng rỡ khôn xiết, đi được vài bước, quay đầu lại định cảm ơn cụ già, nhưng cụ già đâu rồi? Chỉ trong tích tắc hai, ba giây, cụ già đã biến mất. Trời ơi! Sơn thần thổ địa quỷ thần đã hiển linh rồi!
Cuối cùng tôi cũng đã về được đến đồng bằng! Tạ ơn trời đất!


### 36. Nhìn thấy thật sự


Kể từ khi khai thiên nhãn, tôi đã nhìn thấy vô số chư Phật Bồ Tát, đặc biệt là ngày đầu tiên khai thiên nhãn, từ Tứ Thánh đến Lục Phàm, tôi đã du hành qua khắp mười pháp giới, trời ơi! Thì ra là như vậy, thì ra là như vậy.

Tôi tự xưng là Liên Hoa Đồng Tử là có nguyên do, tôi thực sự đã nhìn thấy Liên Hoa Đồng Tử.
Đây là điểm cốt lõi trong 226 cuốn sách tôi đã viết, nếu tôi Lư Sư Tôn nói dối.
Theo tiếng Đài Loan: Chết tiệt!

Tất nhiên tôi không chỉ nhìn thấy Liên Hoa Đồng Tử, trong tam muội, tôi đều thấy một cách chân thật.
Là huyễn giác chăng? Tôi nói không phải.
Là tự lừa dối chăng? Tôi nói không phải.
Là bóng ma chăng? Tôi nói không phải.
Là ảo tưởng chăng? Tôi nói không phải.
Là thất thường chăng? Tôi nói không phải.
Là hồ đồ chăng? Tôi nói không phải.
Là tưởng tượng chăng? Tôi nói không phải.
Là mơ mộng chăng? Tôi nói không phải.
Tôi chỉ có thể nói, những gì tôi nhìn thấy là nhìn thấy thật sự.

Lấy vài ví dụ nhỏ!
Thứ nhất:
Trên chuyến bay từ Bắc Kinh đến Thái Nguyên ở Trung Quốc đại lục, trong tam muội, tôi đã thực sự nhìn thấy A Di Đà Phật ở thế giới Tây phương Cực Lạc, sự vĩ đại, trang nghiêm, hào quang của Ngài không thể nào diễn tả được.
Thật không thể nghĩ bàn!
Đặc biệt là bàn chân của Ngài, đứng trên hoa sen, đẹp không thể tả.
A Di Đà Phật dạy:
"Trong mọi hành vi, giữ gìn giới luật, tự nhiên sẽ được bình an."

Thứ hai:
Tại Gyeongju Hàn Quốc, tôi đã đến lễ bái Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật, phủ phục lạy Ngài.
Trên xe trở về, trong tam muội, tôi thực sự đã nhìn thấy Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Nhật Quang Bồ Tát, Nguyệt Quang Bồ Tát và mười hai Dược Xoa Thần Tướng. Mỗi vị đều hiện ra kim thân trang nghiêm vô song.
Hào quang muôn nẻo.
Khí lành nghìn tia.
Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật nói:
"Bệnh của ngài sẽ khỏi!"
Lúc đó tứ đại đang phân tán, não chia tám mảnh, nhưng sau đó thực sự đã bình phục hoàn toàn, thật là kỳ tích.

Thứ ba:
Tôi đang ở Đài Loan.
Lúc đó tôi đang vướng vào một sự việc bị liên lụy một cách vô cớ, tưởng chừng như không có cách nào cứu vãn, khó khăn chồng chất.
Trong tam muội, tôi thực sự nhìn thấy Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát, Bồ Tát nở nụ cười hiền từ.
Kim thân và hào quang của Bồ Tát đẹp không thể nào diễn tả được, vượt trội hơn tất cả những gì từng thấy, dung nhan không gì sánh được.
Quan Thế Âm Bồ Tát nói với tôi:
"Mọi việc sẽ được giải quyết êm đẹp!"
Ngay trong ngày nhìn thấy Bồ Tát, tin tức truyền đến, mọi việc đã được giải quyết xong.

Thứ tư:
Tôi đang ở Seattle, Mỹ.
Vào ngày đầu tiên, khi đang giảng "Mật Tông Đạo Thứ Đệ Quảng Luận", trong tam muội, tôi thực sự nhìn thấy Tổ sư Tsongkhapa, vị Tổ sư của phái Hoàng giáo Mật tông Tây Tạng (phái Gelugpa), xuất hiện trong hư không ngay trước chỗ ngồi của tôi.
Hào quang của Tổ sư Tsongkhapa, mềm mại tinh tế chiếu rọi gia trì cho tôi, hào quang như vậy, thật không thể nào diễn tả được!
Dày.
Mềm.
Tinh tế.
Có lực.
Tổ sư Tsongkhapa nói với tôi:
"Gia trì cho Lư Sư Tôn giảng Mật Tông Đạo Thứ Đệ Quảng Luận!"

(Tôi kể ra bốn ví dụ nhỏ này, tất cả đều là sự thật vô cùng chân thật. Sau khi tôi kiến đạo khai ngộ, tôi hiểu rằng tâm sinh thì vạn pháp sinh, tâm diệt thì vạn pháp diệt. Tất cả tôi đều tự biết rõ ràng.)


### 37. Không thể cố chấp không có Liên Hoa Đồng Tử


Đại học Lan Châu ở Trung Quốc đại lục đã nghiên cứu tỉ mỉ về hang động Đôn Hoàng và cho ra đời cuốn sách "Những câu chuyện Phật giáo ở Đôn Hoàng", trong đó có đề cập đến Liên Hoa Đồng Tử. Đó là câu chuyện về quá trình tu hành thành Bồ Tát của hai vị Liên Hoa Đồng Tử thời Phật Kim Quang. Hai vị Liên Hoa Đồng Tử này, một vị là Quan Thế Âm Bồ Tát, vị kia là Đại Thế Chí Bồ Tát.

Hơn nữa, nếu bạn đến Đôn Hoàng và hỏi người quản lý:
"Trong các hang động, hang nào có Liên Hoa Đồng Tử?"
Người quản lý đáp: "Hang nào cũng có Liên Hoa Đồng Tử."
Hỏi:
"Trong hang 314 đều là Liên Hoa Đồng Tử phải không?"
Người quản lý đáp:
"Đúng vậy."

Tại Đài Loan, ông Trương Minh Thông, một người say mê nghiên cứu lịch sử Phật giáo, đã đưa ra nhiều bằng chứng hơn nữa.

Ông đã liệt kê rất nhiều Liên Hoa Đồng Tử với đầy đủ hình ảnh và văn bản, và nói rằng:
"Liên Hoa Đồng Tử nhiều không đếm xuể!"

Tôi thường giải thích như thế này:
Kinh A Di Đà nói:
"Phía Tây phương này có mười vạn ức cõi Phật, trong đó có một vị Phật hiệu là A Di Đà."

Mọi người hãy nghĩ xem:
Mười vạn ức cõi Phật.
Tức là có mười vạn ức quốc độ Phật (tịnh thổ).
Mỗi cõi Phật đều có một vị Phật trụ trì, vậy bạn có biết danh hiệu của chư Phật trong mười vạn ức cõi Phật không?

Trong Cao Vương Kinh:
Một nghìn năm trăm vị Phật - danh hiệu là gì?
Một vạn năm nghìn vị Phật - danh hiệu là gì?
Vô lượng chư Phật - danh hiệu là gì?
Liệu đệ tử Phật có thể đếm hết được danh hiệu của chư Phật trong các cõi tịnh thổ không?

Hơn nữa:
Lại còn có người chấp trước vào thức thứ tám Như Lai tạng thức (A-lại-da thức), đây là sáu bộ kinh của Duy thức học:
Giải Thâm Mật Kinh.
Hoa Nghiêm Kinh.
Lăng Già Kinh.
Hậu Nghiêm Kinh.
Đại Thừa A Tỳ Đạt Ma Kinh.
Như Lai Xuất Hiện Công Đức Kinh.
(Trên đây là sáu bộ kinh Duy thức.)

Thực ra, trong nghiên cứu về Duy thức học, các bậc thiện tri thức có nhiều thuyết về Duy thức:
Thuyết một thức - Thành Thực Tông.
Thuyết hai thức - Khởi Tín Luận.
Thuyết ba thức - Lăng Già Kinh.
Thuyết năm thức - Khởi Tín Luận.
Thuyết sáu thức - Tỳ Bà Sa Luận, Câu Xá Luận, Năng Lượng Luận, Thích Lượng Luận.
Thuyết tám thức - Duy Thức Tông.
Thuyết chín thức - Nhiếp Đại Thừa Luận.
Thuyết mười thức - Ma Ha Diễn Luận.
Thuyết mười một thức - Thế Thân Nhiếp Luận.
(Thậm chí còn có thuyết vô lượng thức trong luận Đông Mật Thai Tạng.)
(Thuyết không thức - Lư Thắng Ngạn Luận.)

Theo cảm nhận của tôi, tám vạn bốn nghìn pháp môn của Như Lai được nói ra để đối trị với tám vạn bốn nghìn phiền não của chúng sinh. Hoàn toàn không câu nệ một khuôn mẫu nào, tùy bệnh cho thuốc, ứng cơ thuyết pháp, thể hiện trí tuệ phương tiện vô ngại của Phật giáo.

Chỉ biết chấp trước vào thức thứ tám cũng là không đúng, Đại thừa Phật giáo căn bản là phương tiện vô lượng vô ngã vô ngại.

Có người hỏi hòa thượng Triệu Châu:
"Thế nào là Triệu Châu?"
Hòa thượng Triệu Châu đáp:
"Cửa Đông, cửa Tây, cửa Nam, cửa Bắc." (Đây chính là vô ngại, vô ngã, vô lượng, vô chấp.)

Tôi đã tự thân chứng ngộ Liên Hoa Đồng Tử, tôi đã tự thân chứng ngộ Hoa Quang Tự Tại Phật. Nếu bạn nói không có, đó là vì bạn chưa chứng ngộ, nếu bạn đã chứng ngộ rồi thì sẽ biết điều này không giả dối.

Nếu bạn chỉ biết có giếng mà không biết có biển cả, thật đáng thương thay!


### 38. Cô đừng đi ra bờ biển đấy!


Năm đó.
Đệ tử họ Đào cùng phu nhân của ông đến thăm tôi.
Đệ tử họ Đào làm trong ngành xây dựng, khá có tiếng tăm, là một đệ tử rất mộ đạo.
Mỗi lần đến thăm tôi, ông ấy đều mang theo quà, như rượu vang, bánh quy, đặc sản địa phương. Một phần cúng dường Lư Sư Tôn, một phần cúng dường chư tôn nơi đàn thành, chưa bao giờ đến tay không.

Đệ tử họ Đào thường hỏi về những bí quyết tu hành, ví dụ:
"Cảm nhận khi chuyển khí phương tiện thành khí trí huệ là gì?"
"Khẩu quyết để đưa khí từ mạch trái phải vào mạch trung ương là gì?"
"Khẩu quyết về việc hạ minh điểm...?"
...
Tôi sẽ giải thích khẩu quyết và tâm pháp một cách ngắn gọn cho đệ tử họ Đào.

Lần này, đệ tử họ Đào dẫn theo vợ đến. Vợ của đệ tử họ Đào còn trẻ, không có tín ngưỡng, là một người theo thuyết vô thần, có dung mạo rất xinh đẹp quyến rũ.
Mỗi lần đệ tử họ Đào tham gia pháp hội đều đi một mình.
(Vì phu nhân không mấy hứng thú.)
Lần này cô ấy đi cùng, là vì đệ tử họ Đào năn nỉ ba bốn lần, cô ấy mới miễn cưỡng đồng ý.
Cô ấy toàn thân hàng hiệu, đứng trước đàn thành cũng không chịu chắp tay.
Thấy đệ tử họ Đào năm vóc sát đất đảnh lễ tôi, cô ấy có chút khinh miệt.
Khi đệ tử họ Đào nói chuyện Phật pháp với tôi, cô ấy chẳng có cảm xúc gì, vẻ mặt vô cùng lãnh đạm.
Cô ấy chỉ nhìn ra xe cộ vội vã qua lại ngoài đường, rồi quay lại ghế ngồi, đánh giá tôi một lúc.
Với vẻ chán chường, nhìn chiếc đồng hồ Chopard trên tay.

Khi đệ tử họ Đào sắp về, cô ấy đột nhiên hỏi tôi:
"Nghe nói thầy xem tướng rất chuẩn, thật hay giả vậy?"
"Người ta đồn đại vậy thôi." - Tôi nói.
"Thầy xem vận mệnh của tôi thế nào?"
"Rất tốt."
"Có điều gì cần chú ý không?" - Cô ấy hỏi.

Tôi tập trung tinh thần một chút, nhắm mắt lại, thấy Thần Biển, đó chính là vị Thần Biển trong thần thoại Hy Lạp.
Tôi giật mình kinh hãi.

Tôi nói với Đào phu nhân:
"Cô đừng ra bờ biển đấy!"
Đào phu nhân trả lời tôi:
"Thầy yên tâm! Tôi không biết bơi nên sẽ không ra bờ biển bơi đâu. Đi du lịch bên ngoài, những trò chơi dưới nước như mô tô nước, lướt ván nước, lặn biển, thuyền đáy kính, dù lượn, chuối bay..., tôi đều không chơi hết. Ngay cả ở những câu lạc bộ sang trọng, bên hồ bơi, tôi cũng chỉ mặc đồ bơi, nằm phơi nắng bên hồ thôi, cũng không xuống nước, tôi chẳng có duyên với nước đâu."
Đào phu nhân nói:
"Lư Sư Tôn, có phải thầy đoán sai rồi không?"
Tôi đáp:
"Có lẽ vậy!"
Nhưng, tôi vẫn khuyên cô ấy:
"Cô đừng ra bờ biển đấy!"
Đệ tử họ Đào lái xe sang đưa phu nhân ra về.

Một năm đã trôi qua, Đào phu nhân đã quên mất lời tôi dặn.
Có lần, bà đi theo đoàn du lịch đến khu danh thắng của một nước nọ, mọi người đang chụp ảnh trên những tảng đá ven biển, hôm đó có gió mạnh cấp 11.
Đào phu nhân muốn chụp ảnh một mình.
Cô ấy chọn một tảng đá cao.
Sóng phía sau bắn tung tóe như pháo hoa đang nổ bung, Đào phu nhân quay lưng về phía biển để chụp ảnh.
Một cơn gió mạnh thổi qua.
Sóng biển dâng cao.
Chỉ trong chớp mắt, một đợt sóng lớn cuốn đến rồi rút đi, Đào phu nhân bị cuốn xuống biển, trong tích tắc, không thấy người nổi lên, đã bị cuốn xuống tận đáy biển.
Tìm kiếm mãi cũng không thấy!
Trời ơi! Đệ tử họ Đào khóc lóc thảm thiết, cầu xin tôi siêu độ cho vợ.
Đệ tử họ Đào nói với tôi:
"Đừng ra bờ biển nhé! Lời cảnh báo của Lư Sư Tôn, cô ấy đã quên mất!"


### 39. Một cảnh ở tiệm bánh bát Điếm Khẩu


Cuối tháng 11 năm 2011, tôi cùng với Thượng sư Liên Ninh, Thượng sư Liên Điếm, Liên Nhai, Liên Tặng và những người khác đến tiệm Bánh bát Điếm Khẩu gần Bảo tàng Mỹ thuật Đài Trung để ăn bánh bát. Tiệm bánh bát Điếm Khẩu này khá nổi tiếng, mỗi ngày vào buổi trưa đều đông nghịt người, nhiều khi muốn đến ăn còn phải đặt chỗ trước!

Tôi ngắm bức tranh và đôi câu đối hai bên tại tiệm Bánh bát Điếm Khẩu, ở giữa là bức tranh Phổ Hiền Bồ Tát cưỡi voi. Đôi câu đối hai bên do nhà thư pháp Lữ Phật Đình viết.
Vế sau là "Năng Nhân là thầy tôi".

Tôi hỏi:
"Năng Nhân là ai vậy?"
Liên Ninh, Liên Điếm, Liên Nhai, Liên Tặng và những người khác nhìn nhau, không ai nói gì.
Tôi nói:
"Năng Nhân chính là Phật Thích Ca Mâu Ni."

Tôi giải thích:
Chúng ta tụng chân ngôn của Phật Thích Ca Mâu Ni.
"Ôm mô-ni mô-ni ma-ha-mô-ni sa-kya-mô-ni sô-ha."
Chữ "mô-ni" trong chân ngôn này chính là "Năng Nhân".
Phân tích chú ngữ như sau:
"Đại đạo sư của ý thức vũ trụ, năng hành nhân đạo; năng hành nhân đạo, đại năng hành nhân đạo; người năng hành nhân đạo của dòng họ Thích Ca, cát tường viên mãn."

Vì vậy tôi nói:
"Năng Nhân chính là Phật Thích Ca Mâu Ni."

Khi tôi đang giải thích, có hai người phụ nữ đến trước cửa tiệm, họ vẫy tay với tôi và nói: "Chúng con là đệ tử!"
Một người trong số họ nói:
"Khoảng vài tháng trước, khi Lư Sư Tôn cùng đồng môn đến ăn bánh bát tại tiệm Điếm Khẩu, chúng con đã gặp được thầy. Con đã quỳ xuống cầu xin thầy gia trì, vì con đã kết hôn 11 năm mà vẫn chưa có thai. Con đã đi khám cả Đông y lẫn Tây y nhưng vẫn không có kết quả. Biết Lư Sư Tôn có đại pháp lực nên con đã cầu xin được gia trì."
Người đệ tử lại nói tiếp:
"Lúc đó, Lư Sư Tôn đã đứng dậy, đặt tay lên đỉnh đầu gia trì cho con, pháp lưu không ngừng chảy vào khắp cơ thể, trước mắt con tràn ngập ánh sáng. Sau khi về nhà, con đã có thai. Con thật sự cảm ơn Lư Sư Tôn, giờ con muốn cầu xin khi sinh nở được mẹ tròn con vuông."

Cuối cùng tôi cũng nhớ ra rồi.
Người nữ đệ tử này cách đây vài tháng đã quỳ trước mặt tôi, cầu xin gia trì để có thai.
Vì đã kết hôn 11 năm mà chưa có con.

Tôi nhắm mắt lại, thấy Phổ Hiền Bồ Tát trên tường phóng ánh sáng vào thai của nữ đệ tử.
Ôi! Bàn tay tôi cảm nhận rất mạnh mẽ, đó là lực rung động khi Bồ Tát và tay tôi kết hợp với nhau.
Trong ánh sáng, có một đứa trẻ đi vào thai của nữ đệ tử.
Cuối cùng, vài tháng sau.
"Đã có thai rồi!"
Tôi nói với nữ đệ tử:
"Sau này đứa trẻ này sẽ là bậc đại thánh hiền đấy!"
Mọi người ở tiệm Bánh bát Điếm Khẩu đều chứng kiến cảnh này.

Ngoài ra:
Có một nữ đệ tử sống ở một đất nước rất xa xôi, đã hai mươi năm không thể sinh con.
Hai mươi năm, cộng với hai mươi năm trước khi kết hôn, tức là đã bốn mươi tuổi, liệu có thể sinh con được không?
Cô ấy không nản lòng, cầu nguyện trước tượng Liên Hoa Đồng Tử và dâng lễ vật lớn nhất.

Tối hôm đó, cô thấy Liên Hoa Đồng Tử mặc áo trắng, trang nghiêm phi thường, đầu đội mũ Ngũ Phật, trên mũ có năm viên ngọc ngũ sắc, trong đó có một viên ngọc màu đỏ rơi vào tay Liên Hoa Đồng Tử, lập tức hóa thành một em bé xinh xắn đáng yêu.
Liên Hoa Đồng Tử nói với nữ đệ tử:
"Em bé này là cho cô đấy!"
Trong mơ, bụng cô ấy bắt đầu to lên. Tỉnh dậy, cô nói với chồng rằng mình đã có thai.
Chồng cô trả lời: "Ngày nghĩ gì đêm mơ thấy cái đó, làm sao mơ mà đúng được?"

Nhưng, từ ngày đó, nữ đệ tử thật sự có thai. Giờ đây, bố mẹ chồng của cô đều quy y, cả họ hàng bạn bè, rất nhiều người cũng đã quy y. Chỉ vì một giấc mơ mà có thai!


### 40. Tôi sẽ đưa bạn bay


Ngày 10 tháng 12 năm 2011, thứ Bảy, tôi đã chủ trì pháp hội Hộ Ma Bảo Nguyên Độ Mẫu tại Đài Loan Lôi Tạng Tự. Hôm đó có hơn mười nghìn người đến nghe tôi giảng về nguồn gốc của Bảo Nguyên Độ Mẫu.

Sau khi giảng pháp xong, tôi làm lễ quán đảnh Bảo Nguyên Độ Mẫu cho đại chúng. Trong lúc quán đảnh, tôi có một cảm nhận đặc biệt.

Bảo Nguyên Độ Mẫu hiện thân trong hư không với sắc vàng kim, hình tướng giống như Lục Độ Mẫu, bay lượn tự do trên phan quán đảnh. Dáng bay của Ngài không giống như chim, mà khi thì đứng khi thì ngồi, một tay kết ấn ban nguyện, tay kia cầm hoa upala, từ mười ngón tay và đóa hoa tỏa ra muôn màu ánh sáng.

Trong ánh sáng có nhiều bảo vật:
Hoa sen.
Xe báu.
Đèn vàng.
Quả cát tường.
Hương xoa.
Pháp luân.
Nước tám công đức.
Hương hoa.
Phật quả.
Diệu nhạc.
Giày phi hành.
Và nhiều thứ khác nữa.

Vô số vô số thất bảo, bát bảo, nhị thập nhất bảo, tam thập nhị bảo, tam thập thất bảo, từ trên không trung tuôn xuống, rơi trên thân các đệ tử. Còn tôi, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, cũng nhặt được một bảo vật là "giày phi hành", tôi nhặt lên rồi cất vào lòng.

Bảo Nguyên Độ Mẫu hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn, thầy đã biết bay rồi, cần giày phi hành làm gì?"
Tôi đáp:
"Tôi sẽ đưa người khác bay đi."
Bảo Nguyên Độ Mẫu hỏi:
"Bay đi đâu?"
Tôi đáp:
"Bay đến cõi tịnh thổ Ma Ha Song Liên Trì."
Bảo Nguyên Độ Mẫu nói:
"Sao không bay đến cõi tịnh thổ Phổ Hiền Vương Phật Mẫu, đó mới là nguồn gốc của Bảo Nguyên Độ Mẫu."
Tôi đáp:
"Tất cả cõi Phật đều thông suốt, tôi sẽ cúng dường cõi tịnh thổ Phổ Hiền Vương Phật Mẫu."
Bảo Nguyên Độ Mẫu nói:
"Lành thay! Lành thay!"

Sau pháp hội, có một đệ tử hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn, con nghe nói thầy có thể thần hành đến mười phương cõi Phật phải không?"
Tôi đáp:
"Tôi biết bay."
Đệ tử hỏi:
"Thầy có thể đưa con bay cùng được không?"

Tôi chợt nhớ ra trong lòng mình có đôi "giày phi hành" do Bảo Nguyên Độ Mẫu ban tặng, thầm nghĩ thật là trùng hợp khi đệ tử hỏi vậy.
Tôi đáp:
"Tôi sẽ đưa bạn bay!"
Đệ tử hỏi:
"Khi nào ạ?"
Tôi đáp: "Tối nay."

Ngày hôm sau, ngày 11 tháng 12 năm 2011, khi tôi đang làm pháp Du Già Diệm Khẩu tại Cam Lộ Tinh Xá, đệ tử đó cũng tham gia và kể với tôi:

Tối qua, con thật sự đã bay được, Lư Sư Tôn dẫn con bay, bay qua núi cao, bay qua biển lớn, bay qua bầu trời đầy sao, bay đến Ma Ha Song Liên Trì để thăm các vị Liên Hoa Đồng Tử đủ màu sắc.

Rồi từ trong nhụy sen của Ma Ha Song Liên Trì, chúng con bay vào cõi tịnh thổ của Phổ Hiền Vương Phật Mẫu, được diện kiến Phổ Hiền Vương Phật Mẫu, Vô Ngã Mẫu, Kim Cang Hợi Mẫu, Bạch Độ Mẫu, Lục Độ Mẫu và tất cả chư Phật Mẫu.
Cảm giác bay thật kỳ diệu.
Chỉ cần dang hai tay, đạp chân một cái là bay lên tự tại, thân nhẹ như chiếc lá rơi, như huyễn như mộng.
Anh ấy nói:
"Lư Sư Tôn, thầy có thể đưa con bay, quả nhiên là thật!"
Tôi đáp:
"Đương nhiên là thật."


### 41. Tào Thương Minh nói như vầy


Ngày 10 tháng 12 năm 2011, sau khi kết thúc pháp hội Hộ Ma (hỏa cúng) Bảo Nguyên Độ Mẫu, khoảng 6 giờ tối, tôi đang dùng bữa tại nhà ăn của Đài Loan Lôi Tạng Tự.
Bên cạnh có một người ngồi, đó là anh Tào Thương Minh, anh ấy ngồi bên phải tôi.
Anh ấy nói:
"Con đã biết Lư Sư Tôn từ hơn 30 năm trước."
Tôi giật mình, hỏi:
"Lúc đó anh mấy tuổi?"
Anh ấy đáp:
"Lúc đó con còn học tiểu học." (Sư huynh Tào nay đã hơn 40 tuổi.)
Tôi hỏi:
"Sao học tiểu học mà biết được tôi?"
Anh ấy đáp:
"Mẹ con dẫn con đến gặp thầy để hỏi về chuyện của cha con, địa điểm ở đường Tiến Hóa. Con thấy Lư Sư Tôn rất hay nói đùa, người lớn nghe thầy nói chuyện ai cũng cười haha!"

Anh ấy nói:
"Năm đó, cha con phục vụ trong ngành công an, là trưởng đồn công an gần hồ chứa nước Đức Cơ. Cha con và cha của Lư Sư Tôn, ông Lư Nhĩ Thuận, thường qua lại với nhau, cha con hay trò chuyện với cha của Sư Tôn, hai người rất thân thiết, chính vì vậy mà cha mẹ con mới đến thăm Lư Sư Tôn."
Anh ấy nói:
"Lư Sư Tôn đoán việc siêu chuẩn!"
Tôi hỏi:
"Chuẩn như thế nào?"
Anh ấy đáp:
"Cha con đang truy tìm một tội phạm, có xin ý kiến Lư Sư Tôn. Lư Sư Tôn nói, vào tháng đó ngày đó, đến huyện Yến Sào ở Cao Hùng, nhất định sẽ bắt được tên tội phạm này."
"Thế kết quả sao?"
Anh ấy nói:
"Kết quả thật sự bắt được! Nhờ công lao trong vụ này mà cha con được điều từ huyện Đài Trung về thành phố Đài Trung. Cuối cùng cha con làm đến chức thanh tra rồi mới về hưu."

Anh ấy nói thêm:
"Thầy Lư đoán về chú con thì chính xác nhất."
"Sao vậy?"
Anh ấy nói:
"Thầy Lư tiên đoán chú con có thể lên đến chức thanh tra trưởng trong ngành công an, và quả thật chú con đã làm được đến chức đó. Thầy còn nói, phải cẩn thận khi đến tuổi 50."
"Rồi sao nữa?"
Anh ấy nói:
"Đến năm 50 tuổi, chú con bất ngờ qua đời vì nhồi máu cơ tim!"
Tôi hỏi:
"Tôi đâu có nói là chú ấy sẽ mất phải không?"
Anh ấy đáp:
"Dạ không, thầy Lư chỉ nói là phải cẩn thận khi 50 tuổi thôi."
Anh ấy nói thêm:
"Chuyện chú con làm đến chức thanh tra trưởng rồi đột ngột qua đời vì nhồi máu cơ tim lúc 50 tuổi đã gây xôn xao một thời, báo chí đều đưa tin."

Tào Thương Minh nói:
"Ngày đó, khi Lư Sư Tôn hỏi việc ở Đài Trung, rất nổi tiếng, ngày nào cũng có rất đông người vây quanh. Cả nhà chúng con đều đến xin lời chỉ dạy từ Lư Sư Tôn, cha, mẹ, dì, chú, chính xác nhất là việc bắt được tội phạm và việc chú con qua đời lúc 50 tuổi. Thời gian, địa điểm, tuổi tác, đều chính xác không sai chút nào."
Tôi hỏi:
"Cha anh đã từng đến Đài Loan Lôi Tạng Tự chưa?"
"Có ạ, ông ấy luôn muốn gặp lại cha của Lư Sư Tôn, chỉ là có thể cha thầy đã quên ông ấy rồi. Khi biết tin cụ Lư Nhĩ Thuận qua đời, cha con những ngày đó rất đau buồn, cứ im lặng không nói gì."
"Than ôi! Thời gian trôi nhanh quá! Không ngờ tôi đã 67 tuổi rồi, còn anh cũng hơn 40, lúc tôi xem tướng số mới hơn 20 tuổi, còn anh lúc đó mới học tiểu học."
Có câu nói rằng:
"Cuộc đời là một buổi trình diễn trực tiếp, và không có cảnh quay lại."


### 42. Hà Diệp Đồng Tử niệm tụng pháp


Từng có vị đại cư sĩ Phật giáo trong giới Phật giáo được hưởng danh tiếng cực lớn, Hiển Mật đều thông hiểu. Vị đại cư sĩ này cũng là một người giàu có, ông ấy quyên tiền xây chùa, quyên tiền in kinh sách, quyên tiền cúng dường tăng chúng, quyên tiền làm việc thiện, trong giới tôn giáo mọi người đều biết ông ấy.

Khi ông ấy trú tại New York đã in một cuốn kinh thư, cuốn kinh thư này rất ít người biết, không lưu truyền rộng rãi, tên sách là "Hà Diệp Đồng Tử Kinh". Vô tình tôi đã đọc được cuốn kinh này.

Trong kinh dạy người ta cúng dường Hà Diệp Đồng Tử, có lợi ích lớn:
1. Tăng phúc.
2. Tăng huệ.
3. Đại quyền uy.
4. Đại thần thông.
5. Kéo dài tuổi thọ.

Kim thân của Hà Diệp Đồng Tử muốn dùng gỗ, sứ, thủy tinh, đất, đá để làm đều được, tạc thành hình một đồng tử, trên đầu có hai búi tóc, đứng trên lá sen, hoặc là nam đồng, hoặc là nữ đồng. 
Một đầu hai tay. Hai tay đều giơ ngón trỏ ra, một ngón chỉ đất, một ngón chỉ trời. 
(Giống như kim thân đồng tử của Phật Đà trong Tết tắm Phật của Phật Thích Ca Mâu Ni.)

Chỗ khác nhau giữa kim thân này và đồng tử Phật Đà là đứng trên lá sen và trên đầu có hai búi tóc.
Pháp niệm tụng cúng dường trong kinh điển đó là:
Phải cúng dường tại mật thất.
(Gà, chó, mèo… không được đi vào.)
Cúng phẩm là hoa, hương, đèn, trà, quả và đồ chơi của trẻ con, kẹo, v.v… 
Một ngày ba thời thắp hương vào lúc sáng, trưa, tối.
Sau buổi trưa thì tu một đàn pháp.
Niệm tụng: (Thủ ấn: một tay chỉ trời, một tay chỉ đất.)
"Thiên linh, địa linh, Hà Diệp Đồng Tử linh. Cấp cấp luật lệnh. Seh."
(Càng nhiều càng tốt.)
Nhập ngã - Ngã nhập.
(Tương tự nhập Tam ma địa.)

Trên đây là pháp niệm tụng chủ yếu, những phần khác như lễ bái, cúng dường, cầu khấn… thì đều lượng sức mình mà làm.
Cứ thế một ngày tu một lần hoặc một ngày tu ba lần, tùy ý của mỗi người mà làm, nhưng không nên gián đoạn.
Phải niệm tụng đến khi Hà Diệp Đồng Tử xuất hiện trong giấc mơ của mình mới xem là có tương ứng.

Khẩu quyết:
Hành giả phải ăn cúng phẩm.
Cúng phẩm bị hỏng thì nên bỏ đi, đổi thứ tươi mới.
Tâm yếu:
Kiền thành.
Tinh tấn.

Sau khi tương ứng, Hà Diệp Đồng Tử thường ở bên cạnh như hình với bóng. Hành giả hướng về Hà Diệp Đồng Tử cầu nguyện tài phúc, tài phúc sẽ đến; cầu nguyện danh lợi, danh lợi sẽ đến; cầu nguyện con trai nối dõi, con trai sẽ đến; cầu nguyện bạn trai bạn gái, bạn trai bạn gái sẽ đến; cầu nguyện hôn nhân, hôn nhân sẽ đến; cầu nguyện thi cử, thành tích thi cử sẽ tốt; cầu nguyện ăn uống, ăn uống sẽ đến.
Sau khi tương ứng, cầu nguyện Phật huệ, đọc kinh sẽ hiểu nghĩa; cầu nguyện chư tôn, chư tôn sẽ hiện thân; cầu nguyện trí huệ tăng trưởng, trí huệ liền tăng trưởng; cầu nguyện có thần thông, thần thông cũng xuất hiện.
Sau khi tương ứng, Hà Diệp Đồng Tử có thể báo mộng, có nghĩa là ở trong mơ nói cho biết mọi lành, dữ, họa, phúc, v..v..

Tại đây, Lư Sư Tôn thật lòng thật sự nói cho mọi người biết, niệm tụng pháp của Hà Diệp Đồng Tử tương tự pháp Nhĩ Báo Đồng Tử, nhưng cao minh hơn một chút so với Nhĩ Báo Đồng Tử.
Tôi xếp Hà Diệp Đồng Tử vào hạng thần minh, có ý nghĩa là vị thần sáng tỏ.
Người học Phật đương nhiên không cần tu pháp Hà Diệp Đồng Tử.
Nhưng nếu có thần lực của Hà Diệp Đồng Tử thì cũng có trợ lực nhất định đối với việc học Phật.
Đích thực có Phật, Bồ Tát.
Đích thực có chư thiên.
Đích thực có Không hành.
Đích thực có Hà Diệp Đồng Tử.
Về thế tục đế thì đều là thật có, Phật pháp không xa rời pháp thế gian, chỉ như vậy mà thôi!


### 43. Báo mộng cho bạn biết


Một đệ tử của Chân Phật Tông tên Liên Hoa Xương Vũ, khoảng 50 tuổi, cùng với phu nhân là bà Trần Đình, được mời tham gia đoàn hành hương của ngôi chùa gần đó để đến chùa tổ dâng hương.

Dâng hương là một phong tục dân gian của Đài Loan, ví dụ như Ma Tổ ở Đại Giáp, mỗi năm một lần, từ điện Trấn Lan khởi hành đến điện Phụng Thiên ở Tân Cảng.
Lễ hội này được xem là số một cả nước, với lượng người tham dự đông nhất, đón Ma Tổ, rước Ma Tổ, đi vòng quanh khu vực, thắp hương...
Khi Ma Tổ Đại Giáp tuần du, ngoài Ma Tổ ra còn có Thiên Lý Nhãn, Thuận Phong Nhĩ và các vị thần lớn nhỏ khác đi theo, đội ngũ rất đông đảo.

Lãnh đạo trung ương, lãnh đạo địa phương và hàng đoàn tín đồ, tạo nên một làn sóng người cuồn cuộn, có thể nói là sự kiện lớn nhất cả nước.

Tháng Ba ở Đài Loan, người ta cuồng nhiệt với Ma Tổ, đây không phải là chuyện nhỏ.

Về việc này:
Khắp Đài Loan vốn có rất nhiều đền chùa lớn nhỏ, số lượng thần minh nhiều vô kể.
Các đoàn dâng hương, xe buýt chạy tới chạy lui, người đông nghịt trong các lễ hội đền chùa, đội bát gia tướng, Đài Loan đã hình thành nên một nền tín ngưỡng tôn giáo dân gian đa dạng.

Vợ chồng Liên Hoa Xương Vũ tham gia đoàn dâng hương, khởi hành đúng giờ.
Đêm trước khi khởi hành, hai vợ chồng đều nằm mơ.

Lư Sư Tôn xuất hiện trong giấc mơ, nói với vợ chồng họ:
"Ngày mai đừng đi!"
"Tại sao?"
"Sẽ có tai nạn xe!"
"Trên xe có kim thân Tam Thái Tử, kim thân Ma Tổ, kim thân Thành Hoàng, kim thân Vương Gia... Chư thần đều ở trên xe hộ trì, chắc sẽ không xảy ra chuyện gì."
Lư Sư Tôn nói:
"Kiếp nạn khó tránh!"
Vợ chồng họ cùng mơ thấy lời cảnh báo của Lư Sư Tôn, nên đã do dự không quyết. Đi hay không đi?

Tuy nhiên.
Liên Hoa Xương Vũ là một trong những trưởng đoàn, lại là người có tiếng tăm trong vùng, người đứng đầu mà không đi thì không ổn; đoàn dâng hương cũng do các bậc trưởng lão trong vùng đề xuất, nếu không đi thì có lỗi với bà con làng xóm.
Muốn hủy bỏ cũng không thể được.
Họ đành phải cắn răng tham gia. Họ nghĩ, đó chỉ là một giấc mơ, mơ chưa chắc đã là thật.

Cuối cùng họ đành đeo bùa hộ mệnh Liên Hoa Đồng Tử bên mình và đoàn dâng hương vẫn xuất phát như thường.
Suốt chuyến đi diễn ra thuận lợi, có ba chiếc xe buýt đi cùng nhau, Liên Hoa Xương Vũ ban đầu ngồi xe số 1, sau đổi sang xe số 2, việc dâng hương cũng rất thuận lợi.

Trên đường về.
Khi xe đang quay đầu ở lưng chừng núi A Lý Sơn, phanh của chiếc xe số 1 bỗng nhiên bị hỏng.
Xe tự đâm vào lan can bên đường, lật nhào, lao xuống sườn dốc, nằm nghiêng bên vệ đường.
Trời ơi! Tai nạn thật rồi!
Xe cảnh sát, xe cứu thương đều đã đến!
Trong số các tín đồ trên xe buýt, một người thiệt mạng, mười bảy người bị thương nặng nhẹ, tất cả được đưa vào các bệnh viện gần đó.

Cuối cùng.
Liên Hoa Xương Vũ kể:
Ban đầu anh cũng ngồi xe buýt số 1. Lúc về, khi anh lên xe buýt số 1, phát hiện chỗ ngồi của mình đã có người khác ngồi. Người đó nói không cần đổi chỗ đâu, anh cứ lên xe buýt số 2 ngồi chỗ của tôi. Thế là Liên Hoa Xương Vũ mới chuyển sang xe buýt số 2, cả vợ cũng đổi sang xe buýt số 2 luôn.
Vấn đề là, người đổi chỗ với Liên Hoa Xương Vũ chính là người duy nhất thiệt mạng trong vụ tai nạn.

Trời ơi, chuyện gì đã xảy ra vậy?
Nếu Liên Hoa Xương Vũ không đổi chỗ, người chết có phải là anh ấy không?
Là định mệnh chăng?
Là ngẫu nhiên?
Là do tác dụng của bùa hộ mệnh?
Liên Hoa Xương Vũ nói:
"Khi đoàn dâng hương đang đi xuống theo đường núi A Lý Sơn, tôi ngửi thấy mùi hương thoang thoảng, phải chăng đó là Liên Hoa Đồng Tử đang che chở? Nhưng tại sao ngài không bảo hộ những người trên xe số 1?"


### 44. Ý nghĩa của sờ đầu gia trì


Khi ở Đài Loan, mỗi thứ Bảy lúc 3 giờ chiều, tại Đài Loan Lôi Tạng Tự ở núi Hổ, thị trấn Thảo Đồn, Đài Trung, có khoảng hàng vạn đệ tử tín đồ tụ họp.
Họ tham gia lễ Hộ Ma do tôi chủ trì.
Họ lắng nghe tôi giảng Kinh Lục Tổ Đàn và các kinh khác.
Họ nhận quán đảnh từ chư tôn.
(Cờ lọng của chư tôn quán đảnh.)
Sau bữa tối, họ tự động xếp thành hai hàng, phần lớn đều quỳ xuống, tôi đi vào giữa đám đông, lần lượt sờ đầu gia trì cho từng người.

Miệng tôi tụng chân ngôn, trong tâm quán tưởng mình chính là Bổn tôn, tôi ban phúc cho chúng sinh:
Xin tiêu trừ bệnh tật!
Xin tăng thêm phúc báu!
Xin trí huệ tăng trưởng!
Xin kính ái viên mãn!
Xin oán địch thoái lui!
Xin hạnh phúc mỹ mãn!
Xin không tai không nạn!
Vân vân vân vân...

Nghi thức sờ đầu gia trì này kéo dài khoảng một giờ đồng hồ, tôi chuyên tâm sờ đầu gia trì cho các đệ tử.
Sức mạnh gia trì của dòng truyền thừa, sức mạnh của Bổn tôn, sức mạnh của Thượng sư, sức mạnh của Hộ pháp, sức mạnh ý niệm, sức mạnh chân ngôn cùng nhiều sức mạnh khác, tất cả hội tụ lại và thấm vào thân tâm của đệ tử và tín chúng.

Đã có rất nhiều điều kỳ diệu xảy ra:
Người mù đã thấy được!
Người điếc đã nghe được!
Bệnh tật đã tiêu trừ!
Làm ăn đã phát đạt!
Thi cử đã đỗ đạt!
Gia đình đã viên mãn!
Thăng quan phát tài!
Tai ương đã tránh xa!
Ước nguyện đã thành!
Vân vân vân vân...

Lư Sư Tôn tin rằng mình có được năng lực này là vì nguồn lực gia trì của tôi tuôn chảy không ngừng. Tôi thực sự biết rằng, lực truyền thừa của tôi là chân thật không hư giả, Bổn tôn của tôi tương ứng với tôi, lực Bổn tôn là chân thật không hư giả, Hộ pháp của tôi thường xuyên ở bên cạnh, lực Hộ pháp là chân thật không hư giả.
Ý niệm của tôi, ban phát cho chúng sinh.
Chú lực của tôi, trao cho chúng sinh.

Có một lần, một đệ tử xin tôi giúp khai quang đàn thành mà anh ấy đã tự thiết lập.
Tôi đã đồng ý.
Nhưng tôi thực sự quá bận.
Mỗi lần tôi sờ đầu gia trì cho đệ tử tín chúng, vị đệ tử này đều quỳ trong đám đông.
Khi tôi đi đến gần, anh ấy ngước đầu nhìn tôi và nói:
"Xin thầy hãy khai quang đàn thành cho con!"
Tôi đáp:
"Được!"

Tôi cầm gạo rắc vài hạt lên đầu anh ấy và lên tấm ảnh đàn thành anh ấy đang cầm trong tay.
Tôi nói:
"Tôi đã khai quang rồi đó!"

Khi về nhà, anh ấy bất ngờ phát hiện đàn thành ở nhà đã được rắc đầy gạo, gạo có cả trên đàn thành lẫn dưới đất, thật không thể tin được, không ai rắc gạo lên đàn thành, vậy mà gạo lại rải khắp nơi.
Anh ấy nói:
"Thần thông của Lư Sư Tôn thật không thể nghĩ bàn, đàn thành của con đã tự động được khai quang!"
(Trong nghi thức khai quang Mật giáo có dùng rắc gạo.)

Hơn nữa:
Có không ít người bị u bướu ung thư đã tự khỏi sau khi được sờ đầu gia trì! Một người đồn cho mười người, mười người đồn cho trăm người, trăm người đồn cho nghìn vạn người, ai ai cũng đến xin được sờ đầu gia trì!

Có một cô gái ngồi xe lăn, sau nhiều lần được sờ đầu gia trì, bây giờ đã đứng dậy được.
Khi tôi đang chủ trì lễ Diệm Khẩu tại Cam Lộ Tinh Xá, cô ấy đã đứng và lại xin tôi sờ đầu gia trì!


### 45. Đều có hạt xá lợi


Sau khi bố tôi Lư Nhĩ Thuận viên tịch, ông được đưa đến Thủy Lý để hỏa táng, và từ tro cốt đã xuất hiện xá lợi hạt và xá lợi hoa.
Lúc đó có rất nhiều Thượng sư, pháp sư, giáo thọ sư, đường chủ, giảng sư, trợ giảng, đồng môn... có mặt tại hiện trường.
Mọi người đều rất kinh ngạc.

Những xá lợi hạt và xá lợi hoa này đã được pháp sư Liên Cần tỉ mỉ chọn lựa và thu thập.
Bố tôi Lư Nhĩ Thuận sinh thời không tin bất kì tôn giáo nào, cũng không niệm Phật, càng không tu tập Mật giáo.
Bố thường nói với tôi:
"Chết rồi! Là hết tất cả!"
Ông không tin có thiên đường, không tin có địa ngục.
Ông từng nói với người khác:
"Vì con trai tin Phật, học Phật, lại còn hoằng pháp độ sinh, nên tôi ít nói chuyện, không muốn đối đầu với con."

Về già.
Bố tôi có chút thay đổi, khi tôi tập trung đại chúng hoằng pháp, ông đến nghe và cũng nhận quán đảnh.
Khi được mời niệm Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát, ông cũng thuận miệng niệm Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát.
Ông cũng nhận sự gia trì và sờ đầu của tôi.
Và thế là:
"Bố cũng có xá lợi hạt và xá lợi hoa."
Thật là kỳ diệu.

Hơn nữa:
Từ rất lâu trước đây, tại Nhà tù Changi ở Singapore, nơi giam giữ rất nhiều tử tù, có những tử tù nghe danh tiếng của tôi.
Vì thế, các tử tù lần lượt quy y theo tôi.
Họ dán ảnh nhỏ của tôi lên tường trong tù.
Họ đảnh lễ trước ảnh.
Tụng: "Om guru liansheng siddhi hum."
Thế là tiếng tụng chú vang vọng khắp nơi.
Nghe nói tụng đến khi tường bắt đầu tỏa sáng.
Nhiều tử tù trong giấc mơ đều thấy Lư Sư Tôn đến thăm, họ vô cùng phấn khởi.

Sau khi bị treo cổ.
Khi hỏa táng, những hạt xá lợi tròn lăn tứ tung trên mặt đất, các hạt xá lợi xếp thành hình như bát quái, từ lớn đến nhỏ, tạo thành một vòng tròn lớn.
Tử tù có được xá lợi.
Gây chấn động toàn thế giới.
Những tử tù này chỉ quy y Lư Sư Tôn, đảnh lễ trước pháp tướng, tụng: "Om guru liansheng siddhi hum."
Cứ như thế, như thế.
Từng người một hỏa táng đều có xá lợi.

Lại nữa:
Một bé gái ngồi xe lăn, bẩm sinh tàn tật, suy đa tạng, nghe danh Lư Sư Tôn.
Lúc sắp mất, xin được quy y.
Miệng tụng: "Om guru liansheng siddhi hum."
Sau khi mất, hỏa táng có xá lợi ngũ sắc và xá lợi hoa.
Gia đình vô cùng kinh ngạc.
Hỏi tôi:
"Có thật không ạ?"
Tôi đáp:
"Thật."

Gia đình hỏi:
"Dù ngồi xe lăn, không thể kết ấn, không biết tu pháp, chỉ một lòng mong muốn quy y, lúc lâm chung niệm chú Thượng sư không ngừng. Vậy mà lại có xá lợi ngũ sắc và xá lợi hoa, thật không thể tin được!"
Tôi đáp:
"Một lòng tin kiên định là đủ!"

Tôi thành thật nói với mọi người rằng, nếu ai một lòng cung kính Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, lễ bái, cúng dường, trì chú, cầu nguyện, thì năng lực sinh ra không thể nghĩ bàn, sau khi chết vãng sinh không thể nghĩ bàn, được xá lợi hạt, xá lợi hoa, không thể nghĩ bàn, tất cả đều là chân thật không giả dối.


### 46. Bọ sư tử ăn thịt sư tử


Trong thời gian ở Đài Loan, có một lần sau buổi pháp hội, tôi sờ đầu gia trì cho tất cả tín chúng.
Trong lúc đang lần lượt sờ đầu gia trì, tôi bỗng cảm nhận được một người đàn ông liếc xéo mắt nhìn tôi, người này đứng bên ngoài hàng người đang xếp hàng.
Nhìn qua diện mạo của người đàn ông này:
1. Râu tóc xồm xoàm.
2. Tuổi đã ngoài năm mươi.
3. Ăn mặc kỳ quặc.
4. Ánh mắt tà khí.

Tôi vừa nhìn thấy vậy, liền có tiếng nói báo cho tôi biết.
"Sớm muộn gì hắn cũng gây chuyện thôi, giống như bọ sư tử ăn thịt sư tử vậy!"
Trong lòng tôi giật mình, nhưng tôi không để tâm.

Nghe nói người đàn ông này tự xưng là người có khả năng thông linh, chuyên xem bói cho người khác. Mặc dù đã quy y dưới danh nghĩa của tôi, nhưng anh ta không thực sự giữ giới luật, không thực tu, chỉ là người lai vãng qua lại mà thôi.
Sau đó, quả nhiên xảy ra chuyện.
Anh ta vi phạm pháp luật.

Từ sự việc này, tôi muốn viết bài này để cảnh tỉnh mọi người.
Tôi đã phát một lời nguyện:
"Không bỏ rơi một chúng sinh nào!"
Nghĩa là bất cứ ai muốn đến quy y với tôi, tôi đều không từ chối, tất cả đều được chấp nhận.
Vì vậy, đệ tử của tôi tốt xấu lẫn lộn. Có những đệ tử rất xuất sắc, nhưng cũng có những đệ tử phẩm chất thấp kém, rồng rắn lẫn lộn, phàm thánh chung sống. Vì thế, tôi có rất nhiều đệ tử.

Trong số các đệ tử, có cả người lương thiện lẫn kẻ bất lương, thậm chí có cả những người từng là côn đồ, và cả những người từng là kỹ nữ. Tù nhân quy y với tôi còn nhiều hơn nữa, có tội phạm lừa đảo, cướp bóc, ma túy, xâm hại tình dục...

Tại nhà tù nữ, chúng tôi cũng có Thượng sư hoằng pháp trong tù, nam nữ phạm nhân quy y rất đông.
Như mọi người đã biết về tử tù có xá lợi, có thể thấy tôi nhận cả tử tù làm đệ tử.
Sự giáo hóa của tôi là như vậy đó!
Chính vì thế, người làm thầy như tôi đây khó tránh khỏi bị các đệ tử liên lụy.

Có những đệ tử tuy đã quy y theo tôi, nhưng những thói hư tật xấu cũ vẫn chưa hoàn toàn được gột rửa, chỉ có thể nói là đang dần dần được thanh lọc, tính tham vẫn còn, tính sân vẫn còn, tính si vẫn còn, trong một sớm một chiều không thể từ phàm thành thánh được.
Dù tôi đã kiên nhẫn chỉ dạy.
Nhưng họ chỉ để ngoài tai.

Tôi dùng lòng từ bi vô lượng của chư Phật Bồ Tát, cùng với sự chỉ dạy bằng trí tuệ, chỉ dạy bằng pháp lực, hy vọng các đệ tử có thể tương ứng với chư tôn Mật giáo, để từ đó cứu độ chúng sinh.

Tôi thường nhấn mạnh:
Chân Phật Tông là tín ngưỡng tôn giáo có lý trí nhất dưới sự hợp tình, hợp lý và hợp pháp.
Tất cả đều phải tuân theo đạo tình, đạo lý và giáo pháp để hoằng dương lòng từ bi và trí huệ của Phật Đà.
Đệ tử quy y phải tuân thủ pháp luật.
Đệ tử quy y phải giữ giới luật Mật giáo, không chỉ giữ Ngũ giới, Bát giới, Bồ Tát giới, Tỳ kheo giới, Tỳ kheo ni giới, mà còn phải giữ cả "Sự sư pháp ngũ thập tụng", "Mười bốn giới căn bản Mật giáo" và nhiều giới khác nữa.
Giới luật của Mật giáo còn nhiều hơn cả Hiển giáo.

Chân Phật Tông của chúng ta rất chú trọng giới luật, những ai phạm giới luật đều phải thành tâm sám hối cho đến khi thấy được tướng sám hối. Biết lỗi mà sửa, không gì tốt hơn thế!
Chúng ta nhấn mạnh:
Đại lễ bái pháp.
Đại cúng dường pháp.
Đại quy y pháp.
Đại sám hối pháp.
Phát tâm bồ đề tối thượng.

Tôi mong rằng, các đệ tử phạm lỗi phải chấp nhận sự trừng phạt của pháp luật, không chỉ phải chịu hình phạt mà còn phải hối lỗi sâu sắc, vĩnh viễn không tái phạm. Tôi yêu cầu các đệ tử phải tuân thủ pháp luật, giữ gìn giới luật, tuyệt đối không được làm bừa!

Mọi người phải hiểu rõ pháp luật, cũng phải hiểu rõ giới luật, tuyệt đối không được vi phạm pháp luật, cũng phải giữ gìn giới luật, có như vậy mới không trái với "một niệm thiện tâm" lúc quy y.


### 47. Một lá thư cảm ơn


Sư Phật kính yêu!

Đệ tử Liên Hoa Viên Viên cùng con gái nhỏ Liên Hoa Hân Duyệt đảnh lễ khấu bái Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật vô thượng tôn quý! "Om guru liansheng siddhi hum!"

Đệ tử vĩnh viễn không thể nào quên ngày rằm tháng Tám âm lịch năm nay, cũng chính là ngày Tết Trung Thu. Cơn đau đầu của con gái nhỏ Liên Hoa Hân Duyệt đột nhiên trở nên trầm trọng, chúng con lập tức đưa cháu đến bệnh viện để làm đủ các xét nghiệm, kéo dài gần ba tuần mà vẫn không tìm ra nguyên nhân.

Ngoài cơn đau đầu dữ dội vào ban ngày, đến đêm con bé còn đau đến mức phải đập đầu mình, không thể ngủ được. Với thể trạng vốn yếu ớt, con bé nhanh chóng gầy đi, mắt thẫn thờ, mặt tái xanh. Chúng tôi đành bất lực nhìn đứa con đáng thương bị cơn đau hành hạ như vậy. Là một người mẹ, tôi đau đớn tột cùng, nếu có thể, tôi thậm chí sẵn sàng đánh đổi mạng sống của mình để cứu con!

Cuối cùng, nhờ sự sắp đặt của chư Phật Bồ Tát, sau nhiều lần tìm kiếm, chúng tôi may mắn được liên lạc với sư tỷ Trần ở Vancouver. Dưới sự giúp đỡ tận tình của sư tỷ Trần, chúng tôi đã thu xếp làm chủ cầu Hộ Ma, và vào ngày 2 tháng 10, chúng tôi đã đích thân trao thư cầu xin gia trì cùng ảnh chụp đến Sư Tôn.

Chỉ thấy Sư Tôn khẽ nói: "Quan Thế Âm Bồ Tát làm chủ". Sau đó, Ngài đưa tấm ảnh của đứa bé lên ấn vào trán. Hành động tưởng chừng vô tình này lại mang ý nghĩa vô cùng quan trọng và sâu sắc đối với đứa bé, một nguồn pháp lực vô hình mạnh mẽ liên tục gia trì cho con bé, và sau đó, triệu chứng đau đầu của con gái tôi cuối cùng đã biến mất.

Nhìn con bé hớn hở đeo ba lô đến trường, khuôn mặt nhỏ nhắn dễ thương lộ nụ cười đã lâu không thấy, đệ tử làm sao không biết ơn ân cứu mạng của Sư Tôn? Đây là lòng biết ơn không có ngôn từ nào có thể diễn tả được!

Vào tối ngày 17 tháng 10, đệ tử mơ thấy Sư Tôn đích thân đến nhà để gia trì. Trong mơ, Sư Tôn bóp mũi đệ tử, làm chảy ra một chút dịch, sau đó đệ tử hỉ ra một đống như đờm đặc. Vài ngày sau, đệ tử vui mừng phát hiện căn bệnh viêm mũi dị ứng đã khiến đệ tử khổ sở nhiều năm bỗng nhiên tự khỏi!

Hết lần này đến lần khác đều chứng minh rằng Sư Tôn chính là Phật! Là chân thật không giả! Chính ánh sáng Phật quang thanh tịnh rạng ngời gia trì cho đệ tử, giúp chúng tôi thoát khỏi khổ nạn! Sư Tôn đã cứu đệ tử, cũng cứu cả gia đình chúng tôi!

Năng lực gia trì của Sư Tôn thật thù thắng biết bao! Là đệ tử của Chân Phật, tôi thật may mắn, được quy y Sư Phật quả là niềm tự hào và hạnh phúc vô thượng của đệ tử!

Sự cứu độ của Sư Tôn giúp đệ tử hiểu sâu sắc hơn rằng nhân quả thật đáng sợ! Đời người là khổ não, sinh mệnh thật mong manh và ngắn ngủi! Nếu không tuân theo lời dạy của Sư Tôn, thực tâm tu hành, tìm kiếm phương pháp giải thoát căn bản, quả thật là phí phạm cuộc đời này biết bao!

Đệ tử Liên Hoa Viên Viên một lần nữa cùng con gái Liên Hoa Hân Duyệt thành tâm đảnh lễ tạ ơn Sư Tôn!

Tuy đệ tử không biết dùng ngôn từ hoa mỹ để bày tỏ lòng biết ơn đối với Sư Tôn, nhưng đệ tử nguyện dâng trọn thân khẩu ý của mình cúng dường Sư Tôn, đời đời kiếp kiếp theo Sư Tôn tu hành, lấy sự nghiệp bồ đề làm trách nhiệm của mình, dốc hết sức mình dù nhỏ bé để hoằng dương Phật pháp, độ hóa chúng sinh!

Nguyện Sư Phật pháp thể an khang, không nhập niết bàn! Đại chuyển pháp luân! Phổ độ chúng sinh!

Đệ tử Liên Hoa Viên Viên cùng gia đình khấu bái.
Om guru liansheng siddhi hum.
25/10/2011

Thêm nữa:
Một bài kệ tạ ơn của bệnh nhân ung thư sau khi bình phục:

Đảnh lễ dưới chân Phật:
Đại Y Vương Phật khéo chữa bệnh.
Con nay dâng lời tôn kính nhất.
Mắc bệnh ung thư tâm bất an.
Sư Phật hiện về trong giấc mộng.
Dạy rằng:
Giác ngộ duyên khởi thù thắng nhất.
Không duyên làm gì cũng như không.
Không có khối u tự dưng có.
Đưa tay lấy vật dễ như không.

Lấy khỏi thân con bệnh ác duyên.
Giờ đây tất cả đã không còn.
Đời này chỉ có thầy vô địch.
Cảm ơn, cảm ơn, lại cảm ơn.

Ngày 17 tháng 12 năm 2011.
Liên Hoa Ứng Thành trăm lạy.


### 48. Cảm ứng sau khi sờ đầu


Thứ nhất:
Liên Hoa Ấn Đường nói:
Tay cầm tượng Hồng Tài Thần, con để Lư Sư Tôn sờ lên đầu tượng Hồng Tài Thần. Chỉ thấy Lư Sư Tôn niệm một câu: "Ôm ga-na-pa-ti-yê sô-ha."

Khi về đến nhà, con ngửi thấy một mùi hương kỳ lạ, cả đàn thành đều thơm ngát, một tuần sau vẫn chưa tan. Mùi hương này cả đời con chưa từng ngửi thấy, thật là kỳ diệu quá.
Kết quả:
"Trúng giải đặc biệt!"

Thứ hai:
Liên Hoa Nhất Trưng nói:
Con đã mang thai được sáu tháng, siêu âm thấy thai nhi nằm ngược. Bác sĩ nói rằng con cần phải tập thể dục đặc biệt để giúp thai nhi nằm đúng tư thế. Bác sĩ cũng nói nếu không tập thể dục, việc sinh nở sẽ khó khăn.

Nghe xong thật lo lắng, vì vậy con đã lên núi Hổ, đến Đài Loan Lôi Tạng Tự để nghe Sư Tôn giảng Kinh Lục Tổ Đàn.
Khi được Sư Tôn sờ đầu gia trì, con xin Ngài sờ vào bụng con. Thấy Sư Tôn vỗ nhẹ một cái và nói: "Xong rồi!"

Hai ngày sau, khi đi khám siêu âm với bác sĩ.
Bác sĩ nói:
"Thai nhi đã nằm đúng vị trí!"
Thực ra con còn chưa kịp tập thể dục mà thai nhi đã nằm đúng vị trí, con xin cảm ơn Sư Tôn.

Thứ ba:
Liên Hoa Song Song nói:
Tôi vốn bị đục thủy tinh thể, đã chuẩn bị phẫu thuật để loại bỏ đục thủy tinh thể và cũng đã sắp xếp thời gian, ngày tháng.

Khi Sư Tôn Lư sờ đầu, tôi buột miệng nói: "Xin Sư Tôn sờ vào mắt." Chỉ thấy Sư Tôn thuận tay sờ nhẹ vào mắt, chỉ là một cái phất nhẹ qua thôi.

Khi khám trước phẫu thuật, bác sĩ đột nhiên nói:
"Đục thủy tinh thể biến mất rồi!"
Tôi nghe xong, không thể hiểu nổi!
Tôi hỏi:
"Sao lại biến mất được?"
Bác sĩ cũng không biết tại sao.

Thứ tư:
Liên Hoa Năng Từ nói:
Ngày hôm đó, Sư Tôn Lư sờ đầu con, vỗ hai cái lên đỉnh đầu, ban đầu chỉ định sờ một cái thôi, nhưng lại vỗ hai cái, có lẽ vì sau khi sờ xong, con chưa đứng dậy ngay nên Ngài lại sờ thêm một cái!

Hôm đó về nhà tu pháp, cảm giác khác hẳn mọi khi, một luồng "chân khí" từ đỉnh đầu chạy thẳng xuống, toàn thân như có điện chạy, tràn đầy pháp hỷ, tự cảm thấy nhẹ nhàng an lạc.

Cảm giác sảng khoái đó không chỉ có khi tu pháp, mà sau khi tu pháp xong vẫn còn, điều này không thể nghi ngờ, cảm giác bí mật sinh khởi đó vẫn còn mãi, thật là kỳ diệu không thể tả!
Cảm ơn Sư Tôn Lư!

Thứ năm:
Liên Hoa Nhất Gia nói:
Khi được sờ đầu, con đã cầm chuỗi hạt của mình cho Lư Sư Tôn chạm vào, sau khi về nhà, con đặt chuỗi hạt lên bàn thờ, tắt đèn đi, kết quả bàn thờ tỏa ra ánh sáng cầu vồng.

Con quay lại nhìn thì thấy chính chuỗi hạt đang phát ra ánh sáng nhiều màu, điều này con chưa từng thấy bao giờ, không biết có phải mắt con có vấn đề không? Con nhìn ra ngoài cửa sổ thì thấy mọi thứ bình thường, nhìn lại bàn thờ vẫn thấy ánh sáng cầu vồng; ánh sáng cầu vồng này kéo dài bảy ngày mới tan.

Thứ sáu:
Liên Hoa Đức Kim nói:
Khi Sư Tôn sờ đầu, con nhớ đến cha và ước gì cha cũng được Sư Tôn sờ đầu, vì cha con vừa mới mất không lâu, trong lòng con vô cùng đau buồn, không biết cha đã đầu thai về đâu?
Không ngờ đêm đó con mơ thấy cha.
Cha nói với con:
Thầy của con đã tiếp dẫn cha về tịnh thổ rồi, con cứ yên tâm, ngay trong khoảnh khắc được sờ đầu, cha đã vào cõi Phật.
Cha trông vừa vui vẻ vừa trẻ trung.
Cha đích thân nói:
"Thầy của con là Phật tái thế."


### 49. Bí mật phát khởi lòng tin


Viết cuốn sách "Hãy mở lòng ra" này là để mọi người khởi niềm tin, đó chính là mục đích của cuốn sách.
Đối với tôi, trọng tâm cuộc sống là "viết sách" và "tu tập", từ khi còn trẻ cho đến năm 67 tuổi vẫn luôn như thế, không hề thay đổi.
Phật pháp xuyên suốt cả cuộc đời tôi.
Còn lại:
"Chẳng có gì cả!"

Phật pháp bắt đầu từ niềm tin, nên dù đã viết đến 226 cuốn, tôi vẫn viết về khởi niềm tin, bởi niềm tin là mẹ của mọi công đức.
Những năm qua, vì tâm không trú vào đâu, không mong cầu, không vướng bận, tôi đã bước vào cảnh giới thanh tịnh đạm bạc, tự thấy cuộc đời như vậy đã rất mãn nguyện rồi. Mọi phiền não trong quá khứ đều tan biến, giờ nhìn thế gian càng thêm thấu suốt, sau khi minh tâm kiến tính:
"Đốn nhập tịch tĩnh."

Tôi hiểu được Phật pháp về:
Không.
Không tính.
Phân biệt Không tính.

Tôi thấu tỏ:
Bát nhã.
Trung quán.
Duy thức.

Cuốn sách này của tôi là sách "khởi niềm tin", nên đây là một pháp môn tiện lợi. Theo tôi, dù có rất nhiều câu chuyện cảm ứng, nhưng tôi dùng những câu chuyện cảm ứng chân thật này để dẫn dắt mọi người vào cảnh giới "chính tín" của Phật pháp.
Ngũ uẩn tính Không.
Nhập vào tam muội thậm thâm, hiểu tất cả pháp như hư không.
Tôi đây,
Dù biết rằng tất cả quốc thổ đều là "huyễn hóa", nhưng tôi vẫn có thể dùng diệu hạnh thanh tịnh để trang nghiêm cõi Phật.
Dù biết rằng chư Phật Bồ Tát đều là "huyễn hóa", nhưng tôi vẫn có thể dùng diệu hạnh thanh tịnh để trang nghiêm chư Phật Bồ Tát.
Dù biết rằng cuộc đời như "huyễn hóa", nhưng tôi vẫn có thể dùng diệu hạnh thanh tịnh để mỹ hóa cuộc đời.
Dù biết rằng nhân quả luân hồi niết bàn đều là "huyễn hóa", nhưng tôi vẫn dùng diệu hạnh thanh tịnh để giải thích.
Tôi đã hiểu rằng:
Tất cả các pháp đều tịch tĩnh, không sinh không diệt. Sinh tử và niết bàn, phàm phu và chư Phật, đều là tướng không hoa.
(Đây là cảnh giới tột cùng của Không.)

Nhưng:
Tôi dùng tất cả những điều huyễn hóa để khơi dậy niềm tin nơi con người. Nếu không như vậy, Phật tính tịch diệt sẽ không thể diễn tả được. Tôi chỉ tùy theo các loại chúng sinh khác nhau mà thuyết các pháp khác nhau.

Trong Trung Quán Luận của Bồ Tát Long Thụ:
Các pháp do duyên sinh, ta nói tức là Không, cũng gọi là giả danh, cũng là nghĩa Trung đạo.
Do có nghĩa Không, nên tất cả pháp đều thành, nếu không có nghĩa Không, tất cả đều không thành.
Chưa từng có một pháp, không từ nhân duyên sinh, cho nên tất cả pháp, không pháp nào chẳng Không.
Phật Thích Ca Mâu Ni còn được gọi là Không Vương Phật.

Kinh Lục Tổ Đàn có mấy câu quan trọng, cũng như thế:

Diệu tâm của người đời vốn không, không có một pháp nào có thể đắc được, tự tính chân không, cũng là như thế.
Nếu ngộ được ba thân không có tự tính, tức là thông tỏ tứ trí bồ đề.
Bản tính của ngươi như hư không, hoàn toàn không một vật có thể thấy, đó gọi là chính kiến; không một vật có thể biết, đó gọi là chân như.

Sau khi minh tâm kiến tính, tôi chỉ biết hai chữ:
1. Không.
2. Huyễn.

Nhưng sự thấu tỏ này có được là nhờ 40 năm nghiên cứu sâu sắc Phật pháp trong cõi người. Nếu không nhờ nhân duyên mà sinh làm người; nếu không nhờ nhân duyên mà nghiên cứu sâu đến tận cùng chân lý Phật pháp; nếu không nhờ nhân duyên mà khởi tín; nếu không nhờ nhân duyên mà tương ứng; nếu không nhờ nhân duyên mà có thần thông; nếu không nhờ nhân duyên mà có trí tuệ, thì làm sao tôi giải thoát được?

Phật xuất thế, thật đáng tin thay!

**(Hết.)**

---

---
# File: sach-tam-linh/228-dai-chuyen-the-cua-phap-vuong.md
# Title: 228. Đại chuyển thế của Pháp Vương
---

## Đại chuyển thế của Pháp Vương


🪷 Điều không tưởng về nhân quả

Văn tập: 228
Xuất bản: 07/2012
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


**Nhổ một chiếc đinh sắt lớn**

Từ rất nhiều kiếp trước, tôi đã từng là một tiều phu đốn củi trong rừng. Một ngày nọ vào giữa trưa, có đám mây đen dày đặc bao phủ núi rừng, những tia chớp nối tiếp nhau, tiếng sấm vang rền khắp bốn phía.

Một tiếng nổ lớn, cây to bên cạnh tôi gãy làm đôi, gió lớn nổi lên, khắp khu rừng, gió mây sấm chớp ập đến cùng lúc, như thể là ngày tận thế vậy.
"Rắc!" "Két!"

Trong lòng tôi rất hoảng! Nguy rồi, trận mưa lớn sắp đến, tôi chạy như điên không biết phương hướng. Tôi muốn tìm một hang đá để trú ẩn, trong lúc chạy, gió mưa đã nhanh chóng trút xuống.

"Rào rào rào" tiếng mưa rào vang lên dữ dội, trận mưa như đang đuổi theo tôi, ngay sau lưng tôi, chớp giật sấm rền vang khắp xung quanh, cứ một tia chớp lại có một tiếng sấm nổ tung quanh tôi, lửa bắn tứ phía.
"Cứu tôi! Cứu tôi!"
Tôi vừa chạy vừa hét.

Tôi bị đuổi đến một ngọn đồi nhỏ xa lạ, nhìn thấy một ngôi đền hoang tàn, tôi chẳng kịp suy nghĩ gì liền chạy vào trú ẩn. Bên trong đền tối om, bên ngoài mưa lớn, bên trong mưa nhỏ, tôi núp dưới bàn thờ để tránh bị ướt, dùng khăn vải lau tóc, lau mặt, những chỗ quần áo bị ướt và tay chân.

Một lúc sau, gió mưa sấm chớp ngớt dần, bầu trời hiện lên một tia sáng trắng, tôi mới trèo ra khỏi bàn thờ.
Định thần nhìn kĩ.
"Hốt hoảng!"

Phía sau bàn thờ có một pho tượng thần rất lớn, đầu đội mũ phượng, diện mạo trang nghiêm như Phật, tay trái cầm một quả đào tiên, tay phải cầm phất trần. Dĩ nhiên, do lâu năm không được tu sửa, tượng đã nghiêng đổ một nửa, bụi bặm phủ đầy. Thảm nhất là có một thanh xà từ trên rơi xuống, đè ngay vào bàn chân của pho tượng, tôi thấy một cây đinh sắt to lớn cắm vào lòng bàn chân của tượng.

Ngôi đền cổ hoang tàn này đã bị bỏ hoang từ nhiều năm trước, mưa đã tạnh, tôi cũng nên đi rồi. Điều kỳ lạ là, trong lòng tôi cứ canh cánh về cây đinh sắt lớn từ thanh xà đó đang cắm vào giữa lòng bàn chân pho tượng thần. Nếu là người thật, chắc chắn sẽ chảy máu đỏ tươi, nhưng tượng điêu khắc bằng gỗ thì dĩ nhiên là không. Đang định bước đi, chợt quay đầu lại, tôi lại cảm thấy không đành lòng.

Tôi không thể trùng tu ngôi đền cổ.
Nhưng, tôi có khả năng nhổ cây đinh sắt lớn đang cắm vào lòng bàn chân kia.
Tôi nghĩ tượng thần là thần.
Thần đang bị cây đinh sắt lớn cắm vào chân.

Tôi không ngần ngại, nâng thanh xà lên, cây đinh sắt được đóng rất chắc chắn, tôi dùng cây rìu theo "nguyên lý đòn bẩy" nhổ cây đinh ra, rồi đặt thanh xà sang một bên, sau đó tôi còn dùng thuốc mỡ vàng thoa lên vết thương ở bàn chân pho tượng.
Tôi làm xong thì rời đi.
Trên bầu trời lại vang lên một tiếng sấm.
Tôi tưởng chừng như nghe thấy hai chữ "Lành thay"!

Tôi, một tiều phu, khi trở về nhà đã quên sạch sẽ chuyện này rồi.
Một đêm nọ.
Tôi được kiệu mang đến Diêu Trì Tịnh Thổ, tôi tận mắt nhìn thấy Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn. Thật quá trang nghiêm, không thể dùng lời để mô tả được.
Diêu Trì Kim Mẫu nói với tôi:
"Chúng ta có duyên với nhau, ta sẽ khai mở thiên nhãn cho ngươi, luôn luôn hộ trì ngươi, Liên Sinh, hẹn gặp lại sau!" 
Tại Diêu Trì Tịnh Thổ, tiên đồng tiên nữ đón tiếp tôi.

Hôm nay, tôi thành thật nói với mọi người:
"Việc nhổ một chiếc đinh sắt lớn đó thật không ngờ chính là nhân duyên lớn của tôi trong kiếp này với Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn."
Thật là: một mối liên hệ chặt chẽ!

Địa chỉ liên hệ của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn:

**Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th Ct.,
Redmond, WA 98052
U. S. A.


### 01. Nhìn thấy rồng thật sự 


Nhiều kiếp trước đây, tôi là một đứa trẻ sống ở vùng biển, tôi thích nhặt những vỏ sò và đá nhiều màu sắc trên bãi biển, đặc biệt là những viên đá có hình dạng kỳ lạ tôi đều đặc biệt yêu thích, trong nhà tôi đã trưng bày rất nhiều rất nhiều.

Tình cờ vào một buổi sáng sớm, tôi nhặt được một viên đá tròn màu đỏ trong suốt và tỏa ra ánh sáng kỳ lạ. Tôi vô cùng mừng rỡ khi nhìn thấy nó, bởi vì tôi biết, màu đỏ như vậy, tròn như vậy, trong suốt như vậy, lại có ánh sáng mờ ảo, thật hiếm có trên đời. Nếu đặt nó cùng với những viên đá và vỏ sò khác, tất cả những thứ khác đều trở nên lu mờ.

Tôi mang nó về nhà, đặt ở nơi tối, thế mà nó lại phát sáng trong bóng tối, khiến tôi vô cùng kinh ngạc. Hơn nữa, nó còn tỏa ra mùi thơm, giống như long diên hương.

Đêm hôm đó, như thể trong mơ.
Tôi nghe thấy tiếng quát lớn: "Trả lại cho ta!"
Tôi hoảng hốt. Tôi hỏi: "Ai vậy?" 
Nó không đáp lại, mà vẫn chỉ gầm lên: "Trả lại cho ta!"

Tôi hoang mang, nhưng theo linh cảm, tôi biết nó chắc chắn đang đòi viên đá đỏ kia, vì nó tuyệt đối không phải là vật tầm thường, tôi nhìn ra được điều đó.
Nó hét:
"Trả lại cho ta! Đó là kim đan của ta!"
Tôi hỏi:
"Làm sao nó là kim đan của ngươi được?"
Nó đáp:
"Ta đang tu luyện kim đan trong hang đá, giữa lúc đang nuốt vào nhả ra, bỗng nhiên một dòng nước cuồn cuộn từ đáy biển đẩy kim đan ta đang nuốt vào nhả ra trôi lên bờ, ta chưa kịp lấy lại thì đã bị ngươi nhặt mất!"
"Kim đan này có công dụng gì?"
Nó nói:
"Kim đan này là kết quả của 500 năm tu hành, là tinh hoa của tinh, khí, thần, có thể trường sinh bất lão, có thể cải lão hoàn đồng, có thể bay lên trời giữa ban ngày, có thể bay khắp chín tầng trời, có thể tu luyện thành tiên."

Khi nghe thấy vậy, vật tốt như thế, tôi muốn giữ lại.
Nó dường như đã biết được, nó nói:
"Liên Sinh, ta biết lai lịch của ngươi, ngươi có Phật cốt, tương lai ngươi sẽ độ chúng sinh, nhưng ngươi không thể cướp đi kim đan của ta, đó là kim đan của rồng, đối với ngươi vô ích, chỉ có lợi cho long tộc, ngươi hãy trả lại cho ta!"
Tôi cố ý nói:
"Trả lại cho ngươi được thôi, nhưng tôi có lợi ích gì?"
Nó đáp:
"Thế này đi! Ngươi trả kim đan lại cho ta, ta sẽ trao cho ngươi mật chú, long tộc chúng ta sẽ nghe theo hiệu lệnh của ngươi."

Tôi nói:
"Mật chú thế nào?"
Nó đáp: "xxxxx, xxx, xxx, x." Nó nói: "Ta còn dạy ngươi thủ ấn, như vậy ngươi có thể ra lệnh được rồi."
Tôi rất vui mừng, trả lại viên kim đan màu đỏ cho con rồng.

Tôi chỉ thấy: Một sinh vật dẹt và dài kỳ lạ, đầu vươn ra rất dài, không có chân, cũng không có sừng rồng, chỉ có cái đầu mềm mại, ngậm viên kim đan đi mất.
Một cơn gió thổi qua, không thấy gì nữa!

Đây là lúc tôi thực sự nhìn thấy rồng, hoàn toàn khác với rồng do con người trên thế gian tưởng tượng ra.

(Về sau, có tám vị Long Vương quy y theo tôi, tôi có thể gọi gió gọi mưa, có thể thay đổi hướng đi của bão, tất cả đều nhờ vào mật chú và thủ ấn. Tôi đã kết duyên với các Đại Long Vương từ kiếp trước nên kiếp này tôi mới có được năng lực lớn như vậy.)
Tôi ra lệnh cho bão đổi hướng.
Tôi có thể gọi gió gọi mưa.
Tất cả đều là điều không thể nghĩ bàn của nhân quả. Thật sự là: một mối liên hệ chặt chẽ!


### 02. Mì sợi trong rãnh nước


Nhiều kiếp trước, tôi từng là một học trò nghèo, và sống sau bức tường cao bên cạnh nhà tôi là một đại phú ông giàu có. Tôi thắp nến đọc sách đêm khuya, cuộc sống vô cùng thanh bạch. Còn đại phú ông kia, ba vợ bốn nàng hầu, đầy tớ thành đoàn, sống cuộc đời xa hoa, ra ngoài kiệu xe ngựa quý, ở nhà ca múa yên bình. Áo vải tôi mặc là loại vá đi vá lại, trong khi đám đầy tớ nhà ông ta đều mặc quần áo còn tốt hơn tôi.

Một ngày nọ, tôi phát hiện trong rãnh nước nhà mình có vật gì đó hình dạng như sợi, vớt lên xem thì hóa ra là những sợi mì, tôi nghĩ, những sợi mì này bị trôi đi, thật là đáng tiếc.

Hóa ra, rãnh thoát nước nhà phú ông thông với rãnh nước nhà nghèo của tôi, thức ăn từ nhà bếp của họ chảy ra đều chảy vào rãnh nước nhà tôi, tôi dùng một cái lưới để giữ lại những thức ăn thừa này.
Họ thải ra càng nhiều.
Tôi hứng được càng nhiều.
Rửa sạch, làm sạch, vẫn có thể ăn được. Ăn còn thừa, tôi phơi khô thức ăn, rồi cất giữ ở nơi sạch sẽ, rắc một ít muối lên để tránh bị hỏng.

Do vị đại phú ông tiêu xài quá độ, lại thêm làm ăn thất bại, vợ con ly tán, cộng thêm kiện tụng với quan phủ, chỉ trong vài năm ngắn ngủi, chủ nhân của căn nhà bên kia bức tường cao đã thay đổi. Người chủ trước kia cuối cùng lại trôi giạt trên đường phố trở thành kẻ ăn xin, thật là cuộc đời vô thường.

Có một năm đói kém, hạn hán, mùa màng thất bát, kẻ ăn xin khắp nơi, người đói ngày càng nhiều.

Vì vậy, tôi, một kẻ học trò nghèo sống cuộc đời đơn giản, đã dựa vào những thức ăn dự trữ để sống qua ngày. Tôi còn mang ra cả một kho thực phẩm để cứu giúp người nghèo khổ, khiến những người đói khổ đều vui mừng phấn khởi.

Vị phú ông giờ là kẻ ăn xin cũng nằm trong số đó.
Phú ông hỏi:
"Làm sao anh lại cất giữ được nhiều thức ăn ngon như vậy?"
Tôi đáp:
"Đây chính là thức ăn từ nhà ông đấy!"
Phú ông không hiểu:
"Thức ăn từ nhà tôi ư?"

Tôi chỉ tay vào cửa thoát nước từ nhà ông ta chảy sang rãnh nước nhà mình, vị phú ông mới hiểu ra, thở dài:
"Không trách được nhà tôi phải suy tàn!"
Phú ông ăn xin xấu hổ rời đi.

Năm đó mất mùa đói kém, lượng thực phẩm tôi tích trữ đã phát huy tác dụng lớn, cứu giúp được nhiều người nghèo đói.
Tôi mơ thấy Thần Bếp, Thần Bếp nói với tôi:
"Ngươi đã lập được hai công lớn!"
Tôi đáp:
"Tôi có công gì đâu?"
Thần Bếp nói:
"Trời cao đã biết. Thứ nhất, sống giản dị là một công; thứ hai, cứu giúp người đói là một công."
Thần Bếp lại nói:
"Những người ngươi giúp đỡ, trong tương lai đều là quý nhân của ngươi, họ sẽ giúp đỡ ngươi. Còn ngươi sống giản dị thành thói quen, tự hình thành tính cách của mình, ngươi sẽ không tiêu xài hoang phí."
"Vậy tôi sẽ mãi nghèo khó sao!"
Thần Bếp đáp:
"Không đâu, tiết kiệm sẽ dẫn đến giàu có nhỏ, ngươi sẽ biết hài lòng."

Lời của Thần Bếp đã trở thành châm ngôn cho các kiếp sau của tôi. 
Trong kiếp này, tôi sống rất tiết kiệm, không hoang phí tiền bạc, không phải vì tôi keo kiệt, mà chỉ cần có thiên tai hay thảm họa, tôi vẫn sẵn sàng bỏ tiền bỏ sức để giúp đỡ những chúng sinh cần được giúp đỡ.

Khả năng tiết kiệm của tôi là tích lũy từ nhiều kiếp trước.
Tâm thích giúp đỡ chúng sinh cũng là tích lũy từ nhiều kiếp trước. 
Thật sự là: một mối liên hệ chặt chẽ!


### 03. Thánh nhân của huyệt Nguyệt Mi


Nhiều kiếp trước, tôi là một Đạo sĩ đã thành công trong việc tu Đạo, trong lúc chu du khắp nơi, tôi đến nhà một người họ Lâm ở Phủ Điền Phúc Kiến, là một người tốt bụng, để xin cơm khất thực.
Người tốt bụng họ Lâm cho tôi bánh bột.
Người tốt bụng họ Lâm nói với tôi:
"Mấy năm gần đây gió không thuận, mưa không hòa, hoa màu chết khô rất nhiều, người đói ngày càng tăng, gia đình tôi vẫn còn khá ổn định, chúng tôi đã làm rất nhiều bánh bột, hễ có người đói đến cửa, chúng tôi đều cho họ. Ông là người tu đạo, không làm việc sinh nhai, nếu có nhu cầu cứ tự nhiên đến đây, chúng tôi nhất định sẽ giúp đỡ."
Tôi nói:
"Cảm ơn! Vậy xin ông cho thêm vài cái nữa!"
Người tốt bụng họ Lâm lập tức cho tôi mười cái.

Còn tôi tạm trú ở trong một hang đá trên ngọn núi phía sau nhà người tốt bụng họ Lâm, chuyên tâm tu luyện.
Khi đói bụng, tôi xin người tốt bụng họ Lâm vài cái bánh bột để đỡ đói.

Cứ như vậy, tôi đã trải qua ba năm, trong suốt ba năm đó, người tốt bụng họ Lâm luôn đáp ứng mỗi khi tôi cầu xin, lúc nào cũng vui vẻ niềm nở, không hề nhíu mày dù chỉ một lần.
Tôi cảm thán:
"Thật là một người tốt bụng!"

Một ngày nọ, tôi nói với người tốt bụng họ Lâm:
"Đã nhận ơn suốt ba năm, không có gì báo đáp, tôi xin chỉ cho ông một huyệt Nguyệt Mi ở núi sau nhà ông, nếu chôn cất ở đó, chắc chắn sẽ sinh ra một vị thánh nữ. Hãy nhớ kĩ! Nhớ kĩ! Ông hãy đưa hài cốt tổ tiên đi chôn ở nơi đó đi!"
Người tốt bụng họ Lâm hỏi:
"Đạo trưởng tên gì?"
Tôi đáp:
"Người tu hành không tên không họ, ông hãy mau đưa hài cốt tổ tiên đến chôn ở huyệt Nguyệt Mi đi!"
Sau khi chỉ dẫn cho ông ta xong, tôi nhẹ nhàng rời đi.

Sau đó.
Tôi biết rằng người tốt bụng họ Lâm đã làm theo lời tôi, đưa tất cả hài cốt tổ tiên đi chôn ở huyệt Nguyệt Mi.
Vì người tốt bụng họ Lâm có công đức lành.
Vì hài cốt tổ tiên được chôn ở huyệt đất quý.
Bồ Tát Quan Thế Âm từ tịnh độ Phổ Đà Lạc Già phóng một đạo hào quang đỏ chiếu xuống nhà người tốt bụng họ Lâm ở Phủ Điền, Phúc Kiến.

Trời chiếu hào quang đỏ.
Đất sinh huyệt Nguyệt Mi.
Người sinh ra Mặc Nương.

Nhà người tốt bụng họ Lâm sinh ra một bé gái, vì lúc sinh ra không khóc, lớn lên lại ít nói, nên được gọi là Mặc Nương.
Trí tuệ phi phàm.
Bẩm chất ưu tú.
Thích tu luyện chân đạo.
Gặp được người lạ chỉ dạy phương pháp tu hành, nên có thể xuất dương thần, đi khắp nơi cứu người, và còn thu phục hai yêu quái là Thiên Lý Nhãn và Thuận Phong Nhĩ trở thành phó tướng, thị hiện thần thông, cứu sinh linh trên biển cả.

Bồ Tát Quan Thế Âm dẫn Mặc Nương đến gặp Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn, Diêu Trì Kim Mẫu đưa Mặc Nương đến gặp Ngọc Hoàng Đại Đế, Ngọc Hoàng Đại Đế sắc phong làm Thiên Hậu, tức Thiên Thượng Thánh Mẫu Diệu Hạnh Ngọc Nữ.

Tại Trung Quốc:
Văn thánh nhân chỉ Khổng Phu Tử.
Võ thánh nhân chỉ Quan Vân Trường.
Nữ thánh nhân chỉ Lâm Mặc Nương.

Thiên Thượng Thánh Mẫu Diệu Hạnh Ngọc Nữ đã thị hiện tại Trung Quốc và Đài Loan, thậm chí lan truyền khắp thế giới, không chỉ trở thành tín ngưỡng của toàn dân Đài Loan mà còn là một vị đại Bồ Tát được tín đồ khắp nơi trên thế giới tôn kính.

Người chỉ dẫn huyệt Nguyệt Mi chính là bản thân tôi, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.
Và Lâm Mặc Nương chính là hậu duệ của người tốt bụng họ Lâm.
Trong kiếp này, với nhân duyên đó, tôi truyền thụ pháp niệm tụng Thiên Thượng Thánh Mẫu là lý do! Một mối liên hệ chặt chẽ!


### 04. Thả ra năm vị ôn thần


Nhiều kiếp trước, tôi từng là quốc vương của nước Nguyệt Hà, tức là Thánh Vương cai quản Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ.

Nguyệt Hà Quốc và Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ này rộng năm trăm do tuần, tổng quản toàn bộ dải Ngân Hà. Tôi đã viết hai cuốn sách, đó là "Dòng Nước Nguyệt Hà" và "Lưu Vực Ánh Trăng", trong đó có đề cập đôi chút về thánh địa này.

Trong ký ức của tôi, việc tôi giáng xuống nhân gian đã diễn ra như sau:
Nhân gian khi ấy có dịch bệnh lớn, người dân từ làng này đến làng khác đều chết hết, ruộng vườn tan hoang, dân chúng không thể sống nổi, tiếng kêu than khắp nơi, chúng sinh kêu cầu Phật Tổ cứu mạng. Do dịch bệnh, nhân gian đang trong cảnh khổ cực lầm than.

Một ngày nọ.
Tôi nhận được ý chỉ của Phật Tổ:
Mau mang "túi càn khôn", xuống phàm gian thu phục năm vị ôn thần, cứu sinh mạng của chúng sinh trần gian.
Đi nhanh về nhanh, không được lưu lại.
Đừng nghe lời người khác.

Sau khi nhận chỉ thị của Phật, tôi liền mang túi càn khôn, giáng xuống không trung ở nhân gian.
Tôi mở túi càn khôn ra.

Túi càn khôn vốn rất nhỏ, như gói trà, nhưng khi gặp gió thì nở to ra, có thể bao trọn cả nhân gian.
Tôi gọi năm vị ôn thần.
Năm vị ôn thần đáp: "Có".
Như "Hấp Tinh Đại Pháp", năm vị ôn thần lần lượt bị hút vào trong túi càn khôn.

Tôi cầm túi càn khôn định đến chỗ Phật Tổ giao cho Phật Tổ xử lý. Đi ngang qua một ngọn núi, phong cảnh tươi đẹp, xinh đẹp lạ thường, có bốn vị Thiên Vương đang sống trên đất đón tiếp tôi.
Thiên Vương hỏi tôi:
"Trong túi có gì?"
Tôi đáp:
"Năm vị ôn thần."
Thiên Vương nói:
"Năm vị ôn thần cũng là thần, sao không thả họ về vị trí của họ, bảo họ không quấy nhiễu dân nữa là được, cũng tính là một công đức."

Lúc này, năm vị ôn thần trong túi, khẩn cầu thảm thiết:
"Xin Thánh Vương thả chúng tôi, chúng tôi nguyện trở về vị trí của mình, không làm hại chúng sinh nữa, xin Thánh Vương phát tâm từ bi, phát tâm từ bi, năm ôn thần chúng tôi không dám nữa!"

Lòng tôi nhất thời mềm yếu.
Quên mất lời dặn dò của Phật Tổ.
Đặc biệt là tôi vốn mềm lòng, lại giàu lòng từ bi, nhất thời nghe lời Thiên Vương, lại thương xót năm vị ôn thần.
Mở túi càn khôn ra, năm vị ôn thần ôm đầu chạy trốn, biến mất trong chớp mắt, và trần gian lại rơi vào nhiều năm đen tối.

Tôi trở về Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ, không thể giải trình với Phật Tổ, vì vậy đã vi phạm thiên điều.
Tôi bị phạt chuyển kiếp ở nhân gian.

Khi đó, tất cả phi tần ở Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ đều chuyển kiếp theo tôi, cũng có rất nhiều thiên nữ chuyển kiếp theo tôi.
Nếu tôi không thả năm vị ôn thần ra, làm sao có thảm họa lớn như vậy?

Sai lầm chính là ở tấm lòng từ bi của tôi, tôi luôn nghĩ rằng tất cả mọi người trên thế giới đều là người tốt, muốn tạo thuận lợi cho chúng sinh.
Vì vậy, Thượng sư Thubten Dhargye cũng răn dạy tôi:
"Tiện lợi biến thành tùy tiện, từ bi biến thành đại bi. Lư Thắng Ngạn chính là một ví dụ điển hình."

Tôi thường tạo điều kiện thuận lợi cho người khác.
Tôi thường tin lời người khác.
Tôi thường ban lòng đại từ bi cho chúng sinh.
Cuối cùng lại thường xuyên bị họ quay ngược lại đổ lỗi cho mình. Dù những bài học như vậy đã quá nhiều rồi, nhiều đến không đếm xuể.
Nhưng, tôi vẫn phạm sai lầm nhiều lần.
Điều này đã trở thành bản tính của tôi, tôi luôn tha thứ cho người khác, tha thứ cho người khác, suy nghĩ cho người khác. 
Trời ơi! Một mối liên hệ chặt chẽ!


### 05. Đạo sĩ Lục Tây Tinh


Trong phần trước, tôi đã vâng lệnh Phật, xuống nhân gian bắt năm vị ôn thần, do đó đã vi phạm thiên điều, và phải chuyển kiếp luân hồi ở nhân gian.
Việc này rất ít người biết đến.
Tuy nhiên, một điều kỳ diệu đã xuất hiện.

Chúng ta biết tác giả của "Phong Thần Bảng" là Đạo sĩ Lục Tây Tinh, trong cuốn "Phong Thần Bảng" mà ông viết có một đoạn nhỏ, dường như ghi lại câu chuyện tôi xuống trần gian.

Lúc đó, phái Xiển Giáo của Nguyên Thủy Thiên Tôn trong Đạo giáo đang đối đầu với Triệt Giáo của Thông Thiên Giáo Chủ. Sách mô tả điều này như một sự tích hợp lớn giữa Phật, Tiên, Thánh, Thần, và việc phong thần của Khương Tử Nha.
Trong đó:
Tiếp Dẫn Đạo Nhân (A Di Đà Phật) ra lệnh cho Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử mang túi càn khôn xuống phàm trần.

Chủ yếu là một nhân vật tên Quy Linh Thánh Mẫu thuộc Triệt Giáo đã bị giết, Quy Linh Thánh Mẫu là loài khác thường, mặc dù có nhiều năm tu đạo, nhưng vẫn có vị trí trong Phong Thần Bảng, cuối cùng chết dưới tay tiên nhân của Xiển Giáo.

Sau khi Quy Linh Thánh Mẫu chết, thân xác đã phân hủy thành vô số loài độc, gây hại cho chúng sinh thiên hạ, độc vật rất nhiều, hình thành dịch bệnh lớn. Vì vậy, Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử xuống phàm trần, dùng túi càn khôn thu hết các loài độc.
Do miệng túi càn khôn buộc không chặt.
Các loài độc đã trở về thế giới Tây phương Cực Lạc nơi có mười hai phẩm liên hoa sinh.
Các loài độc thoát ra, ăn mất ba phẩm liên hoa sinh của thế giới Cực Lạc.
Vì vậy, hiện nay thế giới Cực Lạc chỉ còn chín phẩm liên hoa sinh, ba phẩm còn lại đã bị các loài độc ăn mất.
Do đó Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử bị đày xuống nhân gian chuyển thế.

Đoạn truyện nhỏ này do Đạo sĩ Lục Tây Tinh viết, có chút khác biệt so với nhân duyên chuyển kiếp mà tôi biết, nhưng đã là rất giống nhau rồi.
Đạo sĩ Lục Tây Tinh, khi viết về chư Phật Như Lai trong Phật giáo đều gọi là Đạo nhân, rất thú vị, ví dụ:
Nhiên Đăng Phật được gọi là Nhiên Đăng Đạo Nhân.
A Di Đà Phật được gọi là Tiếp Dẫn Đạo Nhân.
Văn Thù Bồ Tát được gọi là Quảng Pháp Thiên Tôn.
Phổ Hiền Bồ Tát được gọi là Phổ Hiền Chân Nhân.
Quan Thế Âm Bồ Tát được gọi là Từ Hàng Chân Nhân.
.......

Trong ký ức luân hồi của Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử, nhân duyên chuyển thế hiện ra rất rõ ràng, từ kiếp này sang kiếp khác, tuần hoàn không dứt.
Thực ra không chỉ là một Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử chuyển thế, mà còn có cả mười tám Đại Liên Hoa Đồng Tử chuyển thế; không chỉ mười tám Đại Liên Hoa Đồng Tử chuyển thế, các quyến thuộc khác cũng lần lượt giáng trần chuyển kiếp.

Tôi nói:
"Địa Tạng Bồ Tát và tôi như anh như em, điều này cũng không phải là không có nhân duyên."
Bởi vì:
Địa Tạng Bồ Tát là kiếp chuyển thế của Kim Liên Hoa Đồng Tử, ở nhân gian cũng có hóa thân là Kim Kiều Giác, toàn bộ đạo tràng Địa Tạng ở núi Cửu Hoa đều là đạo tràng lớn của Kim Kiều Giác. [Kim Gyo Gak: (630-729) là thái tử nước Tân La (vùng đông bắc Triều Tiên, nay là Đại Hàn)]
Tôi tôn trọng Địa Tạng Bồ Tát.
Địa Tạng Bồ Tát cũng tôn trọng tôi.

Vì vậy, tôi dùng đại uy thần lực ra vào địa ngục đạo, tự do đến đi, điều này có liên quan đến Địa Tạng Bồ Tát là Kim Liên Hoa Đồng Tử. Thái Sơn Phủ Quân, Thập Điện Diêm Vương, tất cả quan lính âm gian của mười tám đại địa ngục, không ai là không biết đến Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.

Tôi có thể vào địa ngục cứu người, điều này cũng có nhân duyên, Địa Tạng Bồ Tát vốn là anh em của tôi.

Trở lại chuyện ban đầu, tại sao năm đó Đạo sĩ Lục Tây Tinh lại chèn vào một đoạn nhỏ về việc Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử xuống phàm trần, thu các loài độc, và mười hai phẩm liên hoa sinh trở thành chín phẩm liên hoa sinh?

Làm thế nào Đạo sĩ Lục Tây Tinh biết được điều này? Cảm hứng của ông đến từ đâu? Ông đã bịa đặt ra điều này sao? Tại sao ông biết được một chút về sự chuyển thế của tôi?

Đạo sĩ Lục Tây Tinh là ai? Bí mật, bí mật, bí mật.


### 06. Hình hài vô dụng nhất


Nhiều kiếp trước, tôi chuyển thế ở huyện Sở Khổ.
Lúc đó, tôi là một nhà tư tưởng, tôi đã hệ thống hóa quan niệm của mình như sau:

1. Thứ vô dụng nhất chính là hình hài.
Tai họa lớn nhất của ta là vì ta có một thân thể, một hình hài.
Ví dụ: bệnh tật, phiền não, vui, giận, buồn, sướng, sinh, lão, bệnh, tử, tham, sân, si..., tất cả đều phát sinh từ thân thể, nếu không có thân thể, tất cả đều không.

2. Hiểu rõ đạo chân thật.
Vì hiểu rõ đạo chân thật, nên mới có thể nói đạo là vô danh, mập mờ, ẩn hiện, đạo tồn tại trong đó.
Đạo khả đạo phi thường đạo. [Đây là câu đầu của Đạo Đức Kinh của Lão Tử. Đạo mà có thể diễn tả được thì không phải là đạo thường hằng.]
Bạn có thể dùng bất kì danh từ nào để gọi đạo, nhưng, bất kì danh từ nào cũng đều không chính xác.

3. Vô vi.
Dù bạn tạo tác, vẫn như vậy.
Dù bạn trù tính, vẫn như vậy.
Dù bạn hữu vi, vẫn như vậy.
Dù bạn vô vi, vẫn như vậy.
Xin hỏi, đã như vậy, chúng ta con người nên làm gì mới tốt?
Tôi đáp:
"Thuận theo tự nhiên là tốt nhất!"

4. Như nước.
Điểm tột cùng trong tư tưởng của tôi là tuyệt thánh tuyệt trí, tốt nhất là "đại ngu".
Tùy duyên, tùy thuận, tùy thích.
Giống như nước vậy.
Vô cùng mềm yếu.
Đó là:
Trong tròn thì tròn, trong vuông thì vuông, ngăn lại thì dừng, thả ra thì chảy.
Vừa mềm yếu, vừa cứng mạnh.
Không biết.
Có thể biết.
Cuối cùng là: "Thiên hạ không ai có thể biết, không ai có thể hành."

5. Làm gì có sống chết.
Mọi người còn nhớ không? Một câu trong bài kệ cuối cùng của pháp sư Thánh Nghiêm: "Sống chết đều có thể buông bỏ."
Tôi chỉ ra sai lầm này:
"Làm gì có sống chết? Sống chết đều không, buông bỏ cái gì?"
Tôi không thấy có sinh có tử.
Pháp sư Thánh Nghiêm vẫn còn thấy có sinh, có tử!
Buông bỏ cái gì chứ?

6. Thánh nhân.
Mọi người nghĩ tôi là thánh nhân, thực ra đó là sự phỉ báng đối với tôi, trên đời này ngay cả con người còn không có, làm sao có sự phân biệt giữa thánh và phàm?
Nếu phải miễn cưỡng nói:
"Thánh nhân chính là trẻ thơ!"
Nghĩa là:
Người thiện, tôi đối xử thiện với họ.
Người không thiện, tôi cũng đối xử thiện với họ.
Người trung tín, tôi tin tưởng họ.
Người không trung tín, tôi cũng tin tưởng họ.
Đó chính là thánh nhân.

7. Tôi chính là hỗn nguyên.
Kiếp này của tôi, hãy gọi là hỗn nguyên [nguồn gốc của vũ trụ] đi! Không có tên, mới gọi là hỗn nguyên, tôi chính là người không ai nhìn ra được!

Khổng Tử nói:
"Chim, ta biết nó có thể bay; cá, ta biết nó có thể bơi; thú, ta biết nó có thể chạy. Loài chạy có thể bị bẫy lưới, loài bơi có thể bị lưới giăng, loài bay có thể bị bẫy tên. Còn về con người này, ta không thể biết được."
Ngay cả Khổng Tử còn không thể biết ta.
Bạn biết tôi là ai? Bí mật, bí mật, bí mật.


### 07. Từng là một trong Ngũ Đế


[Ngũ Đế là năm vị vua trong truyền thuyết Trung Quốc: Hoàng Đế, Chuyên Húc, Đế Cốc, Đế Nghiêu, Đế Thuấn.]

Nhiều kiếp trước, tôi đã hạ sinh làm người, nhưng bị cha tôi bỏ rơi, chỉ vì cha nghi ngờ mẹ tôi không chung thủy.
(Kiếp sống này của tôi về cơ bản giống với kiếp sống của một trong Ngũ Đế.)

Cha tôi đã giao tôi cho cận thần, đưa đến nơi hoang vu, không một bóng người, băng giá tuyết phủ, để mặc tôi sống chết tự nhiên.
Tuyết rơi dày đặc.
Đất đóng băng cứng.
Không có dấu chân người.
Tôi, một đứa trẻ sơ sinh, đã bị bỏ lại như vậy.

Chuyện thần thoại đến rồi!
Ngay lúc này, từ trên không trung, một đàn quạ bay đến, chúng đáp xuống làm thành chiếc giường nâng đỡ tấm thân bé nhỏ của tôi, rồi lại có đợt quạ thứ hai từ không trung hạ xuống làm chăn, phủ kín tấm thân bé bỏng.

Trong băng tuyết, một con sói mẹ cho tôi bú sữa sói, tôi "oa oa oa" khóc to, khuôn mặt đỏ bừng.
Như thế, tôi đã không chết, thật đáng gọi là kỳ tích.
Tôi viết như vậy, một trong Ngũ Đế, có ai biết tôi là ai không?

Tôi viết một bài kệ:
Một người vừa mới sinh ra đã bị xem là không đủ tư cách để sống.
Không cần phải gánh vác bất kì trách nhiệm và nghĩa vụ nào.
Không có chiến lược.
Không có trí tuệ.
Tuy nhiên,
Đạo vô tận vô cùng!
Chỉ tiêu dao nơi cõi vô biên không dấu tích.
Chỉ có bản tính như như.
Đây cũng là một khoảng hư vô.
Tưởng rằng có được điều gì.
Nhưng thực ra chẳng đạt được gì cả.

Là một trong Ngũ Đế, tôi không có sự nhanh nhẹn dũng mãnh, cũng không thông hiểu nhiều về sự vật. Tôi cũng chẳng từng học đạo. Người ngoài nói tôi có công lao vĩ đại muôn đời, nhưng thực ra điều đó chẳng liên quan gì đến tôi. Người ngoài nói tôi có sự giáo hóa, thực ra tôi chỉ sống cuộc đời của mình, giáo hóa gì chứ? Tôi tự thân lại đứng vào hàng Ngũ Đế, địa vị này cũng không phải do tôi theo đuổi mà có. Mỗi ngày tôi chỉ biết du hành trong cõi hư vô, vậy mà, lại được coi là một vị vua anh minh.

Tôi chưa từng bị sự vật ràng buộc.
Ví dụ:
Tôi không nghĩ.
Bầy quạ bay đến làm giường làm chăn.
Tôi không nghĩ.
Sói mẹ đã cho tôi bú sữa.
Tôi không nghĩ.
Tôi đã tự tại sống sót.
Tôi không nghĩ.
Đã trở thành một trong Ngũ Đế.
Tôi không nghĩ.
Đã nhận được sự ủng hộ của mọi người.
Tôi không nghĩ.
Để mặc người ta bàn tán.
Tôi không nghĩ.
Đã trở thành minh vương!

Người ta hỏi tôi: "Chuyện ngài là một trong Ngũ Đế là thế nào?" "Chẳng có gì đặc biệt cả." Tôi đáp. Tôi chỉ đơn giản đặt mọi việc thiên hạ ra ngoài tâm trí mà thôi, xem tất cả sự vật như không có chuyện gì, và nhìn sinh tử như không có sinh tử. Tất cả đều trở nên rõ ràng minh bạch, tôi không hề nghĩ đến việc đạt được đạo, nhưng tự nhiên lại đạt được đại đạo.

Là một trong Ngũ Đế, tôi cũng không xem trời người là hợp nhất, tôi chỉ làm bạn với người bình thường, không có đối lập, đó chính là minh quân.

Ai hiểu được Ngũ Đế là năm vị nào? Và trong Ngũ Đế, tôi là ai? Bí mật, bí mật, bí mật.


### 08. Vẫn là một nhà tư tưởng


Nhiều kiếp trước, tôi vẫn là một nhà tư tưởng, nhà tư tưởng này đã chuyển thế rất nhiều đời, nhưng vẫn không mất đi bản chất của một nhà tư tưởng, bản chất này vẫn được lưu truyền đến ngày nay.

Thực ra tôi đã sớm biết rằng, thế giới tương đối là cõi người, chỉ có đạt đến thế giới tuyệt đối mới là chân lý.

Trước đây có một người tên là Hỗn Độn.
Tuy có hình dáng như một con người nhưng không có mắt, tai, mũi, miệng - những cái gọi là khiếu.
Người ấy tiêu dao trong thế giới tuyệt đối vô hạn.

Nhưng một ngày nọ, có hai người đến, nhìn thấy Hỗn Độn, cảm thấy ông ta không giống người, nên họ đã khoét lỗ cho ông, dùng dùi và búa khoét mắt, mũi, miệng, tai.
Và sau khi khoét xong, Hỗn Độn đã chết.

Thành thật mà nói, tôi chính là người như vậy, không cần nhìn, không cần nghe, không cần biết, không cần dùng.
Người đời ai cũng biết cái dụng của hữu dụng.
Nhưng lại không biết cái dụng của vô dụng.

Nhà tư tưởng biết có ba người:
1. Bậc chí nhân - đầm lớn cháy mà không thể nóng, sông băng đóng mà không thể lạnh, sét dữ phá núi, gió làm chấn động biển cũng không kinh hãi.
2. Bậc thần nhân - cưỡi khí mây, cưỡi mặt trời mặt trăng, du hành ngoài bốn biển.
3. Bậc chân nhân - ngủ không mộng, thức không lo, ăn không màng vị ngon, hơi thở sâu lắng.

Tôi, một nhà tư tưởng, là:
Chí nhân vô kỷ. (vô ngã)
Thần nhân vô công. (vô lợi)
Chân nhân vô danh. (vô danh)

Nói với mọi người:
"Vật và ta, sống và chết, thọ và yểu, đúng và sai, họa và phúc...". Tất cả đều là một thứ! Không chỉ thế, mà còn là tuyệt đối.
Tôi đang tiêu dao ngoài vạn vật!
Tôi đang tự nhiên trong biến hóa!
Tôi đúng là không có cõi người!

Lấy cây làm ví dụ:
Những cây có công dụng, tất nhiên sẽ bị người ta đốn chặt.
Cây quế có thể ăn được, dĩ nhiên là như vậy.
Cây sơn có thể lấy nhựa sử dụng, dĩ nhiên là như vậy.
Cây dừa có thể làm dầu, dĩ nhiên là như vậy.
Cây tốt làm củi đốt, thật là thảm hại nhất!

Vì vậy:
Bậc thánh nhân phải hiểu đạo giữ thân an toàn!

Tôi sẽ kể một cuộc đối thoại giữa Khổng Tử và Nhan Hồi để minh họa:
Một ngày nọ, Nhan Hồi nói với Khổng Tử: 
"Con đã tiến bộ rồi." 
Khổng Tử hỏi: 
"Tại sao vậy?" 
Nhan Hồi đáp:
"Con đã quên hết nhân nghĩa rồi!" 
Khổng Tử nói: 
"Rất tốt, nhưng vẫn chưa đủ."

Nhan Hồi lần thứ hai nói: 
"Con đã tiến bộ rồi." 
Khổng Tử hỏi: 
"Tại sao vậy?" 
Nhan Hồi đáp: 
"Con đã quên hết lễ nhạc rồi!" 
Khổng Tử nói: "Rất tốt, nhưng vẫn chưa đủ."

Nhan Hồi lần thứ ba nói: 
"Con đã tiến bộ rồi." 
Khổng Tử hỏi: 
"Tại sao vậy?" 
Nhan Hồi đáp: 
"Con đã có thể tọa vong rồi!" 
Khổng Tử lúc này mới ngạc nhiên: 
"Tọa vong là gì?" 
Nhan Hồi đáp: "Buông bỏ hình hài của mình, loại trừ trí tuệ thông minh của mình, tách rời khỏi môi trường, hợp nhất với đạo, đó mới gọi là tọa vong."
Khổng Tử nghe xong vô cùng ngạc nhiên: 
"Đồng là vô ngã, hóa là không chấp trước, đây chính là bậc chí nhân rồi, ta cũng mong được như vậy!"

Điều tôi hướng tới chính là cái này.

Trong lần chuyển thế đó:
Không làm người gánh vác bất kì danh tiếng nào.
Không làm người nắm quyền trong bất kì âm mưu hay địa vị nào.
Không làm bất kì công trạng vĩ đại nào.
Không theo đuổi trí tuệ và từ bỏ trí tuệ.
Hòa làm một với trời đất!
Kiếp đó, bạn có biết tôi là ai không? Bí mật, bí mật, bí mật.


### 09. Tinh thần của Đại Vũ


Nhiều kiếp trước, có một người nghiên cứu về bản chất của nước, nghiên cứu của ông ấy rất thấu triệt.
Chỉ có người này mới thực sự hiểu được tính chất của nước.
Nước đó! Nó có thể chảy về Đông, chảy về Tây, chảy về Nam, chảy về Bắc, hoàn toàn không có ý chí riêng.
Nước đó! Nó không phân biệt cái gì là tốt, cái gì là xấu, dường như có quy luật, cũng dường như không có quy luật, chỉ là tự nhiên mà thôi.
Nước đó! Có thể bao phủ vạn vật, cũng có thể nâng đỡ vạn vật, Lão Tử rất thích nó, bởi vì nó rất gần với Đạo vậy.
Nước đó! Nhìn có vẻ rất mềm yếu, nhưng thực ra không phải vậy, đẩy, đánh, vỗ, sức mạnh của nó vô cùng, không ai có thể chế ngự. Là mềm yếu chăng? Là cương mãnh chăng? Biến hóa khôn lường!
Nước đó! Không biết phía trước, phía sau, độc lập không bầy đàn, giống như gió đang xoáy, cũng như lông vũ bay lượn trong không trung.
Động cũng có thể động.
Tĩnh cũng có thể tĩnh.
Nước đó! Vật vô tri.
.......

Đại Vũ sau khi nghiên cứu về nước, ông đã hiểu được nguyên tắc không thể chỉ dùng phương pháp ngăn chặn. Có người cho rằng ông dùng phương pháp dẫn nước, nhưng thực ra ông cũng không hoàn toàn dùng phương pháp dẫn nước. Với dòng nước nhỏ có thể dùng phương pháp ngăn chặn, nhưng với dòng nước lớn chỉ có thể dùng phương pháp dẫn nước, như sông Trường Giang, sông Hoàng Hà, những dòng nước lớn như vậy chỉ có thể dùng phương pháp dẫn nước, còn những dòng khác, ba nghìn nhánh sông có thể dùng phương pháp ngăn chặn. Xin nói với mọi người, chỉ có người hiểu nước và biết cách vận dụng nó mới có được phương pháp cứu độ chúng sinh.
Chỉ có phương pháp này, mới có thể thông đạt "tứ cảnh cửu châu".

Tinh thần của Đại Vũ thực sự đáng được ngưỡng mộ vô cùng, việc ba lần đi ngang qua cửa nhà mình mà không vào không có gì là lớn lao, ông đích thân cầm xẻng cuốc, tập hợp quản lý, khai thông những con sông bị tắc nghẽn khắp thiên hạ, ba trăm con sông lớn, ba nghìn dòng chảy nhỏ, cứ thế làm việc không ngừng nghỉ từng ngày.
Ông mệt đến nỗi mặt mũi đen sạm.
Chỉ còn đôi mắt sáng ngời.
Đùi và bắp chân không còn thịt.
Tay chai sần.
Tóc không cắt, để tự rụng theo tự nhiên.
Đội mưa lớn.
Đón gió mạnh.
Nắng thiêu đốt!
Giá lạnh mùa đông!
Oi bức mùa hè!

Nhiều năm trị thủy, đi ngang qua cửa nhà mình mà không vào, thậm chí khi bị bệnh, ông vẫn không ngừng làm việc chăm chỉ.
Đại Vũ đặt nền móng cho vạn quốc, vì điều gì?
Vua Thuấn nhường ngôi cho Vũ.
Thực ra Vũ không muốn vị trí này, chỉ là người đương thời đã ủng hộ ông mà thôi!
Tinh thần của Đại Vũ, trong cả cuộc đời của ông, có thể nói đã được phát huy đến tận cùng.

(Đời này của tôi, mỗi sáng sớm, tôi khom mình trên bàn viết nhanh, không có một ngày nghỉ ngơi, không bao giờ nghỉ, kể cả thứ Bảy, Chủ nhật cũng không ngoại lệ. Tôi đã cúi mình làm việc hơn 40 năm, đây là tinh thần gì? Vẫn là sự kế thừa tinh thần của Đại Vũ. Việc tu pháp của tôi cũng vậy, vì thế tôi nói, tôi là Ngu Công [một nhân vật trong thần thoại Trung Quốc, là nhân vật chính trong câu chuyện "Ngu Công dời núi"], viết văn và tu pháp có thể xuyên suốt cả cuộc đời này của tôi.)

Tinh thần của Đại Vũ.
Tinh thần của tôi.
Có ai có thể sánh được chứ!

Thực ra tôi đã học tập tinh thần kiên cường của Đại Vũ từ lâu, tôi làm những điều này không phải vì mục đích gì cả, tôi không cầu mong điều gì? Chỉ là trong quá trình chuyển thế từ kiếp này sang kiếp khác, tôi chỉ tập trung vào việc hài hòa, thích ứng và hòa hợp với tự nhiên. Tôi hiểu cách thuận theo sự biến đổi của tự nhiên.

Đạo đã thấu triệt, tất cả đều rõ ràng, tất cả đã đạt đến cực điểm.
Bạn nói tôi là Đại Vũ, tôi không phủ nhận; bạn nói tôi không phải là Đại Vũ, tôi cũng không phủ nhận. Tóm lại: bí mật, bí mật, bí mật.


### 10. Tự mình độ chính mình


Nhiều kiếp trước, có một bà lão phát một nguyện lớn, bà muốn niệm Phật hàng tỷ tỷ lần, rồi trở về cõi tịnh thổ ở thế giới Tây phương Cực Lạc.
Vì thế, bà lão này bắt đầu niệm Phật.
Thực ra, việc niệm Phật một cách kiên trì cũng không phải là điều dễ dàng.

Bà nghĩ ra một cách:
Dùng một thùng gạo lớn.
Đựng hàng tỷ tỷ hạt gạo.
Niệm một câu Phật.
Lấy ra một hạt gạo.
Thùng gạo đầy ắp, toàn là hạt gạo! Bà niệm Phật cả một ngày, nhưng gạo trong thùng dường như chẳng vơi đi chút nào.
Bà niệm đến mồ hôi đầm đìa, niệm từ năm này qua năm khác, thùng gạo mới hơi hạ xuống một chút. Bà lại tiếp tục niệm hết sức mình, lại thêm năm này qua năm khác.

Năm đó, bà lão đổ bệnh, cơ thể suy yếu, mà trong thùng vẫn còn đến nửa thùng gạo!

Bà tự biết mình không còn sống được bao lâu nữa, nhưng ước nguyện vẫn chưa hoàn thành! Trong thùng vẫn còn đến nửa thùng gạo, phải làm sao đây? Lòng bà như lửa đốt.

Cuối cùng, A Di Đà Phật, giáo chủ cõi Tây phương Cực Lạc cũng biết được chuyện này, Ngài hóa thành một vị sư già, đến trước bà lão để khất thực.
Bà lão đã cúng dường thức ăn cho vị sư già.
Vị sư già nói:
"Thấy nét u buồn trên gương mặt của bà, có nhân duyên gì vậy?"
Bà lão đáp:
"Vì cầu vãng sinh về cõi Phật, con đã phát nguyện lớn niệm Phật, nhưng giờ đây, gạo trong thùng vẫn còn đến một nửa, phải làm sao đây?"
Vị sư già nói:
"Để ta truyền cho bà một phương pháp!"
Vị sư già liền dạy bà niệm một câu: "Nam mô ba mươi sáu vạn tỷ mười một vạn chín nghìn năm trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật."
Câu này, vừa niệm xong.
Vị sư già giúp bà lão đổ hết gạo trong thùng ra.
Bà lão an nhiên qua đời.

A Di Đà Phật đã đón bà, và bà đã vãng sinh về cõi Tây phương Cực Lạc!
Vị sư già là ai? Chính là A Di Đà Phật.
Bà lão là ai? Chính là A Di Đà Phật.
Tại sao cả hai đều là A Di Đà Phật?

Tôi nói:
Không thể dùng phàm tình để phỏng đoán thần thông của Như Lai, A Di Đà Phật có thể có vô số hóa thân, vượt trên không gian và thời gian; đôi khi, hàng nghìn vạn A Di Đà Phật xuất hiện khắp nơi để giáng thế hóa độ.

Liên Hoa Đồng Tử cũng như vậy, Ngài là một trong những hóa thân của A Di Đà Phật, Ngài trong đời này đã sáng lập Chân Phật Tông, dạy mọi người niệm Phật, niệm chính là "Nam mô ba mươi sáu vạn tỷ mười một vạn chín nghìn năm trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật" đó!

Bạn nói:
Tôi là ai?
Bà lão, chính là Lư Thắng Ngạn.
Vị sư già, chính là Lư Thắng Ngạn.
A Di Đà Phật, chính là Lư Thắng Ngạn.

Đại chuyển thế của tôi không theo thứ tự hay trình tự nào cả, tôi chỉ viết ra những gì tôi nhìn thấy trong dải ký ức của mình. Tôi không nghĩ mình cao, cũng không nghĩ mình thấp. Tôi vốn không tên, vốn không họ, mọi người hãy cứ thông cảm cho nhau!

Chuyển thế vốn là:
Trên dưới trong ngoài xưa nay đều là một.
Đời này tôi dạy mọi người niệm: "Nam mô ba mươi sáu vạn tỷ mười một vạn chín nghìn năm trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật." Điều này có căn nguyên của nó.
Có phải vậy không?
Một mối liên hệ chặt chẽ!


### 11. Thần thông đệ nhất của Hoa Quang Phật


Nhiều kiếp trước, dưới Phật Thích Ca Mâu Ni có hai đại đệ tử, một vị chính là Xá Lợi Phất trí huệ đệ nhất, vị kia chính là Mục Kiền Liên thần thông đệ nhất. 
Xá Lợi Phất được Phật Đà thọ ký tương lai thành Phật, Phật hiệu là Hoa Quang Phật, sẽ là vị thủ tọa Hoa Quang Phật trong số một nghìn vị Phật.
Thủ tọa của một nghìn vị Phật khác là Lâu Chí Phật.
Thủ tọa của một nghìn vị Phật khác là Di Lặc Phật.

Tu hành của Xá Lợi Phất không có khiếm khuyết, Phật Đà ca ngợi ngài bằng một chữ "ổn"”. (đạo tâm mãi kiên cố)
Đệ tử bên dưới Phật Đà công nhận Mục Kiền Liên tôn giả là thần thông đệ nhất, nhưng thường quên mất Xá Lợi Phất.
Phật Đà có một lần nói: 
"Xá Lợi Phất là thần thông đệ nhất!"
Đệ tử bên dưới không phục.

Mục Kiền Liên tôn giả phát khởi thần túc thông, trong sát-na đã bay đến Tây phương Cực Lạc thế giới. Phật Đà ra hiệu cho Xá Lợi Phất tỏ rõ công lực của mình, Xá Lợi Phất tôn giả chỉ mỉm cười mà thôi, vẫn ở yên tại chỗ.
Mục Kiền Liên đến Tây phương tịnh thổ, nhưng bên cạnh A Di Đà Phật đã có Xá Lợi Phất tôn giả đứng đó.
Mục Kiền Liên đến Đông phương tịnh thổ, nhưng bên cạnh A Súc Phật đã có Xá Lợi Phất tôn giả đứng đó.
Mục Kiền Liên đến Nam phương tịnh thổ, nhưng bên cạnh Bảo Sinh Phật đã có Xá Lợi Phất tôn giả đứng đó.
Mục Kiền Liên đến Bắc phương tịnh thổ, nhưng bên cạnh Bất Không Phật đã có Xá Lợi Phất tôn giả đứng đó.
Mục Kiền Liên tôn giả sửng sốt, Xá Lợi Phất tôn giả không ngờ có đại thần thông lực như vậy nên rất hoảng sợ.

Phật Thích Ca Mâu Ni nói: 
"Xá Lợi Phất không chỉ là trí huệ đệ nhất, cũng là thần thông đệ nhất, ông ấy mới là Hoa Quang Tự Tại Phật đó!"

Hậu thế có người viết cuốn sách (tác giả là Phương Vĩnh Lai), nói Xá Lợi Phất chính là kiếp trước của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.
Tôi không thừa nhận, cũng không phủ nhận.
Sau này Phật Đà thọ ký cho tôi là: "Hoa Quang Tự Tại Phật".
Hoa Quang Phật và Hoa Quang Tự Tại Phật trong cõi vô hình đã hoàn toàn ăn khớp với nhau rồi.

Tôi sáng lập Hội Công Đức Hoa Quang đã kèm thêm hai chữ "Hoa Quang" để bày tỏ không quên nguồn gốc.
Hội Công Đức Hoa Quang trong đời này, tôi giơ ngón tay cái, cũng là biểu thị sự khen ngợi "ổn". 
Âm thầm xây nhà cho người dân bị nạn ở.
Âm thầm quyên góp gạo cho người dân bị nạn ăn.
Âm thầm gửi quần áo cho người dân bị nạn mặc.
Âm thầm xây cầu cho người dân bị nạn đi.
Giúp đỡ các em nhỏ không có tiền đi học, tài trợ học phí, cung cấp sách cho các em đọc, trở thành nghìn vạn tiểu thiên sứ Hoa Quang.
Xây cầu sửa đường.
Đến miền núi khô cạn đào hố nước để làm nước uống.
v.v…

Hội Công Đức Hoa Quang ngày nay nắm bắt sức mạnh đại thần thông của Hoa Quang Tự Tại Phật, muốn phát triển này khắp nơi có Hoa Quang, các nước có Hoa Quang, trong tim có Hoa Quang, giờ đây muốn nơi nào có người thì nơi đó có Hoa Quang.
Hội Công Đức Hoa quang sau này không còn âm thầm nữa.
Mà là: 
"Phát quang phát nhiệt."
Hiện ra thần thông của Hoa Quang Phật tỏa bốn phía, kéo theo sự nghiệp công ích của toàn thế giới.
Xá Lợi Phất của thời đại Phật Đà, Lư Thắng Ngạn của ngày hôm nay, Hoa Quang Phật của tương lai, thời đại của Hội Công Đức Hoa Quang đã đến rồi.


### 12. Hành động kỳ lạ của Văn Thù Bồ Tát


Nhiều kiếp trước, vẫn là thời đại Phật Đà tại thế, tôi (Xá Lợi Phất) đã tận mắt chứng kiến một sự việc rất kỳ lạ.

Năm đó vào mùa mưa, Phật Đà gọi các thánh đệ tử kết hạ an cư, tức là ẩn cư đóng cửa tu tập trong ba tháng, tránh dẫm đạp lên côn trùng bò ra ngoài, vì trong mùa mưa côn trùng bò đầy trên đường đất.

Bồ Tát Văn Thù cùng với phi tần của Vua A Xà Thế và một số phụ nữ xinh đẹp diễm lệ kết hạ an cư cùng nhau.
Tôn giả Đại Ca Diếp thấy những người phụ nữ ra vào phòng của Bồ Tát Văn Thù, rõ ràng là những phi tần và phụ nữ này đang sống rất thân mật với Bồ Tát Văn Thù.
Đại Ca Diếp rất phẫn nộ.
Đại Ca Diếp đánh chiếc cồng lớn trong tay, tuyên bố với thánh chúng về tội phạm giới của Bồ Tát Văn Thù.
Đòi Bồ Tát Văn Thù phải cuốn gói rời khỏi tăng đoàn.
Sự việc này đã kinh động đến Phật Đà!
Phật Đà nói:
"Đại Ca Diếp! Ông đã trách oan cho Bồ Tát Văn Thù rồi!"
Đại Ca Diếp nói:
"Tôi tận mắt thấy những người phụ nữ ra vào phòng của Bồ Tát Văn Thù, làm sao có thể sai được?"
Phật Đà nói:
"Đại Ca Diếp! Ông phải sám hối!"
Đại Ca Diếp nói:
"Người cần sám hối là Bồ Tát Văn Thù, không phải tôi. Tôi là người chứng kiến, tôi phải thực thi giới luật."
Lúc này, Phật Đà nói:
"Bồ Tát Văn Thù, hãy thị hiện công đức của ông đi!"

Thế là, Bồ Tát Văn Thù hiển lộ thần thông lực lớn, hóa hiện thành hai thân, ba thân, bốn thân, năm thân, thậm chí trăm nghìn triệu hóa thân, làm đầy khắp hư không, thậm chí bất kì tịnh thổ Phật quốc nào cũng đều tràn ngập hóa thân của Bồ Tát Văn Thù.

Phật Đà nói:
"Tôn giả Đại Ca Diếp, ông muốn đuổi Bồ Tát Văn Thù đang kết hạ an cư ra khỏi tăng đoàn, hay là muốn đuổi tất cả Bồ Tát Văn Thù trong khắp hư không giới và các cõi Phật tịnh thổ ra khỏi tăng đoàn?"
Đại Ca Diếp nhìn thấy sức thần biến lớn của Bồ Tát Văn Thù, cảm thấy mình đã quá nông nổi, liền sám hối với Phật Đà.
Phật Đà nói:
"Ông đừng sám hối với ta, hãy sám hối với Bồ Tát Văn Thù!"
Thế là, Đại Ca Diếp đã sám hối với Bồ Tát Văn Thù.
Đây là điều tôi (Xá Lợi Phất) đã tận mắt chứng kiến.

Tại sao tôi lại nêu ra ví dụ thực tế này? Tôi muốn giải thích:
Thứ nhất:
Tôn giả Đại Ca Diếp là đại đệ tử của Phật Đà, là đầu đà khổ hạnh đệ nhất, là bậc đại A La Hán đã chứng đắc giải thoát con đường Niết bàn, là bậc đại A La Hán vô cùng tôn quý.
Ngay cả bậc đại A La Hán còn không thể hiểu thấu đại thần lực của Bồ Tát Văn Thù thì còn ai có thể phê bình Bồ Tát Văn Thù được?

Thứ hai:
Sự chuyển thế của tôi, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, cũng đúng như vậy. Hóa hiện, hóa thân của tôi có thể xuất hiện trong cùng một không gian thời gian, hoặc khác không gian thời gian, hoặc đời quá khứ, đời hiện tại, đời vị lai, hoặc thế giới này, hoặc thế giới khác. Vì vậy, tôn giả Xá Lợi Phất vừa không phải là tôn giả Xá Lợi Phất, cũng chính là tôn giả Xá Lợi Phất, đó là lý do tại sao Xá Lợi Phất được gọi là trí huệ đệ nhất.

Thứ ba:
Ôi! Người phàm phu thế tục hiện nay chỉ trích Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn là vì họ không hiểu được Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, tôi ở cõi tịnh thổ, tôi cũng ở nhân gian, tôi cũng ở địa ngục, tôi cũng có rất nhiều hóa thân. Ngay cả Đại Ca Diếp còn không hiểu được Bồ Tát Văn Thù thì làm sao người phàm phu tục tử có thể hiểu được sự đại chuyển thế hóa thân của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn?

Đây chính là: Một mối liên hệ chặt chẽ!


### 13. Ai là Liệt Tử?


Nhiều kiếp trước, tôi không chỉ là một nhà tư tưởng mà còn có khả năng thần toán, người đến thăm tôi rất đông.

Một ngày nọ, người bạn của tôi đến, nhìn thấy nhà tôi khách đến tấp nập, giày dép chất đống trước cửa, ông liền núp ở bên cạnh cửa.
Tôi biết được, liền đi ra, đích thân đón tiếp bạn.
Tôi nói:
"Tiên sinh đã đến, sao không vào trong, để tôi tiếp đãi ông."
Bạn nói:
"Thôi đi! Hiện giờ đệ tử của ông đông đảo, danh tiếng lớn như vậy, mọi người đều đến quy y. Tôi đã là thừa thãi rồi, nhưng, ông có biết không? Ông đã bị trói buộc rồi, còn tôi mới là người tự do tiêu dao đấy!"
Người bạn vừa nói vừa bỏ đi.
Tôi đứng sững tại chỗ, nghĩ rất nhiều.
(Các thánh đệ tử thân mến, các bạn hãy nhìn xem đời này của tôi, so với những kiếp trước đây, có giống nhau không? Xin các thánh đệ tử hãy cho tôi biết, tôi nên tiếp tục hoằng pháp độ chúng, hay nên giải nghệ về quê ẩn cư tiêu dao?)

Ngày xưa.
Có một vị quốc vương mời tôi vào triều làm quan, tôi vốn định đi làm quan to. Đi được nửa đường, liền quay đầu trở về.
Người bạn hỏi:
"Tại sao lại quay đầu trở về?"
Tôi đáp:
"Sợ lắm!"
Người bạn hỏi:
"Tại sao lại sợ?"
Tôi đáp:
"Có nhiều người nịnh bợ tôi vì sắp làm quan to, tặng tôi nhiều quà, tôi lại không biết từ chối, làm quan to như vậy, người ta vừa nịnh bợ vừa tặng quà, sớm muộn tôi cũng sẽ gặp rắc rối, vì vậy mà sợ."
Người bạn nói:
"Rất tốt! Nỗi sợ này rất có lý." Lại nói: "Nếu nhà vua trọng dụng ông mà không trọng dụng người khác, chắc chắn sẽ gây ra lòng đố kỵ từ các quần thần, họ sẽ lập mưu hãm hại ông, bịa đặt phỉ báng ông. Ông lo lắng vì việc nước, vì đất nước lao tâm khổ tứ, nếu nhà vua không hài lòng, cũng sẽ đổ lỗi cho ông. Dù ông là người có trí tuệ lớn, làm sao có được ngày nào yên ổn, đó mới là điều đáng sợ nhất!"
Lúc đó tôi cảm ơn lời chỉ dạy của người bạn.

Tôi tỉnh ngộ:
Đừng dao động đạo tâm của mình.
Thế gian chỉ toàn những lời độc hại của người.
Người có kỹ năng sẽ rất vất vả.
Người quá thông minh không thể sống yên ổn.
Người quá khôn ngoan sẽ có nhiều người đến nương tựa.
Nhưng, không tránh khỏi lao tâm lao lực.

Người nào là tốt nhất? Người vô năng là tốt nhất. Họ không mong cầu gì, chỉ cần có cơm ăn là được, giống như một chiếc thuyền trôi nổi tự do, đó mới thực sự là chiếc thuyền nhỏ tự do trôi nổi!
Tôi đã hiểu được đạo rồi.
Nhưng, tôi không dám nói ra.
Bởi vì nói ra, tai họa sẽ đến ngay.

Hiểu được đạo mà không nói ra, đó mới là phù hợp với tự nhiên, tôi dần dần hiểu được đạo lý lớn của vô vi.
Còn một điểm nữa, chỉ cần người khác biết bạn đã hiểu được đạo cũng sẽ có tai họa. Bạn chỉ cần nổi tiếng, tai họa sẽ đến ngay, điều này không thể không biết!

(Người này rất giống Liệt Tử, có phải là Liệt Tử không, các bạn có thể tìm hiểu. Tôi Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn có giống Liệt Tử không? Kiếp này của tôi, có phải là sự trừng phạt vì đi ngược lại tự nhiên không?)

Tôi có bóng dáng của Liệt Tử, tôi có ứng hóa thành Liệt Tử hay không? 
Bí mật, bí mật, bí mật.


### 14. Tám bệnh và bốn họa


Nhiều kiếp trước, tôi đã hiểu rõ về tám bệnh và bốn họa, tôi liệt kê tám bệnh và bốn họa như sau:
Làm những việc không nên làm, gọi là bao đồng.
Người không nghe theo mà cứ cố gắng khuyên can, gọi là xu nịnh.
Quan sát tâm ý người khác để nói lời nịnh hót, gọi là nịnh bợ.
Nói chuyện không phân biệt đúng sai, gọi là tâng bốc.
Thích nói xấu người khác, gọi là gièm pha.
Xa lánh tất cả bạn bè, gọi là tiêu cực.
Thích giả dối và bài xích người khác, gọi là gian xảo.
Luồn cúi hai mặt, nói tất cả đều tốt, gọi là nham hiểm.
(Đây là tám bệnh.)

Bốn họa:
Thích thay đổi thể chế để cầu công danh, gọi là thao túng.
Lộng quyền hành sự xâm hại người khác, gọi là tham lam.
Có lỗi không sửa, cố chấp hành sự, gọi là ương ngạnh.
Ý kiến không đồng thuận dù tốt cũng không dùng, gọi là kiêu ngạo.

Khổng Tử nói:
"Vua nước Lỗ hai lần hạ bệ ta; ở nước Vệ ta chịu nỗi nhục 'xóa dấu vết'; ở nước Tống ta gặp họa 'chặt cây'; ở Trần Thái ta gặp phải tai nạn khốn cùng, bốn tai họa lớn này là vì sao?"
Người kia đáp:
"Chính là vì ông không hiểu khi nào nên dừng lại, đáng lẽ phải dừng lại thì lại không, nên mới có bốn tai họa lớn. Ví dụ, có người ghét cái bóng của mình, vội vã chạy đi, muốn vứt bỏ cái bóng của mình, nào ngờ càng chạy, cái bóng vẫn còn đó. Thực ra chỉ cần đi vào nơi tối tăm, cái bóng tự nhiên sẽ biến mất. Chạy vì cái bóng, kiệt sức, sẽ chết thôi. Điều quan trọng nhất là, chỉ cần dừng lại là được."

Khổng Tử hỏi:
"Làm thế nào để giữ được bản chất chân thật?"
Người kia trả lời:
"Mọi việc không gượng ép, đó chính là bản chất chân thật!"
Người đó nói:
"Thánh nhân chỉ chú ý đến bản chất chân thật, gìn giữ bản chất chân thật, không câu nệ vào tình người thế tục. Kẻ ngu muội thì ngược lại, lo lắng việc người, bị thế tục làm thay đổi, trong lòng thường không thỏa mãn, hành xử rất giả dối, những người này làm sao biết được đạo lý của bản chất chân thật?"
Khổng Tử muốn bái người đó làm thầy.
Người đó đáp:
"Bái tôi làm thầy không cần, hãy bái tự nhiên làm thầy!"
Khổng Tử muốn giữ ông ta lại.
Ông ta đáp:
"Giữ tôi vô ích, ông hãy giữ bản chất chân thật!"
Người đó tiêu dao ra đi!

Trong dải ký ức luân hồi của tôi, tôi đã có nhiều kiếp sống mai danh ẩn tích.
Thật sự là: bí mật, bí mật, bí mật.
Trong kiếp này làm Liên Sinh Hoạt Phật, tôi cũng từng mai danh ẩn tích.
Có người gặp tôi:
"Ông là Lư Thắng Ngạn phải không?"
Tôi đáp:
"Tôi là ông Mã."
Người đó nói:
"Ông giống hệt Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn!"
Tôi đáp:
"Nhiều người cũng nói vậy."
Người đó nói:
"Ông có thể dạy chúng tôi điều gì không?"
Tôi đáp:
"Tôi có một viên ngọc quý."
"Ngọc gì vậy?"
"Ngọc bản chất chân thật!"


### 15. Người từ bỏ của cải


Nhiều kiếp trước, tôi đã kiếm được rất nhiều của cải, là người giàu có nhất trong một quốc gia, cũng chính là người giàu có số một thiên hạ.

Vì tôi rất giàu có, tiền có thể khiến quỷ đẩy cối xay, nên không có gì là không thể, trong thế gian này tôi rất oai phong và có thế lực, cũng làm một chút bố thí, nên tiếng tăm của tôi là người thiện, đại thiện nhân số một.
Những quân tử đạo đức, tôi giúp đỡ họ, họ cũng biết ơn tôi, nói rằng tôi là một quân tử.
Những hiền nhân, tôi đến bái kiến, họ cũng nhường nhịn tôi ba phần.

Tôi tự cho rằng khi ở cùng với các quân tử và hiền nhân, bản thân tôi cũng trở thành một quân tử và hiền nhân. Tuy tôi không có quốc gia, nhưng ngôi nhà của tôi rộng lớn vô cùng, như cung điện hoàng gia, tôi có nhiều mỹ nữ làm vợ làm thiếp, gia nhân thành đoàn, khí thế không kém gì hoàng đế.

Những thú vui thanh sắc ấy khiến tôi vô cùng khoái lạc. Các quan lại ở nơi tôi sinh sống đều nghe lời tôi, bởi vì tôi có tài sản lớn nhất, chỉ cần tôi vận dụng chút ít tài sản, tôi có thể chọc ghẹo người khác.

Kẻ giàu có thiên hạ nuôi nhiều kiếm khách hiệp nghĩa, họ đều ngoan ngoãn tuân theo tôi.

Tôi duy trì:
Danh tiếng là người thiện lương.
Thích thưởng thức nghệ thuật và vẻ đẹp của phụ nữ.
Sống trong cảnh ca hát nhảy múa thái bình.
Nghe tiếng chuông trống và đàn nhạc.
Miệng thưởng thức cao lương mỹ vị, thịt bò cừu và rượu ngon.
Thân tận hưởng mọi thú vui xác thịt.
Làm cho tài sản của mình chỉ tăng không giảm, tiếp tục tìm kiếm ngày càng nhiều của cải hơn nữa.

Một ngày nọ, tôi gặp một người, anh ta nói với tôi:
Vừa đủ dùng, chính là phúc.
Tiền của dư thừa là có hại.
Tham lam vô độ, tham cầu của cải, sẽ đánh mất đạo đức, có thể nói là mê loạn.
Đắm chìm trong khoái lạc giác quan, thân thể tự nhiên dần dần tiêu hao.
Kinh doanh không từ thủ đoạn nào, có thể gọi là lao khổ.
Tận dụng hết tâm sức, chính là lao tâm.
Chỉ cần có chút không hài lòng liền sinh phẫn uất.
Đây đều là những căn bệnh của sự giàu có quá mức.

Hơn thế nữa:
Có rồi lại muốn nhiều hơn, giàu rồi lại muốn giàu hơn, trong lòng giống như người mang vật nặng đang leo núi.
Tham cầu vô độ có thể gọi là nỗi ô nhục.
Tích lũy của cải mà không sử dụng, vẫn còn kinh doanh và không buông bỏ, là người đầy phiền não, đây chính là người lo âu vô tận.
Trong nhà phòng ngừa trộm cướp.
Ra ngoài sợ hãi kẻ cướp tấn công.
Bên trong thì phòng thủ nghiêm ngặt.
Bên ngoài thì không dám hành động một mình.
Những điều này chính là sợ hãi vậy.
Về danh tiếng, thực chất chỉ là hư danh không đáng kể.
Về lợi lộc, cuối cùng là không thu được gì, sớm muộn cũng bị con cháu bất hiếu phá hủy sạch sẽ.
Bạn thực sự sở hữu được gì?
Theo đuổi của cải có phải là sự mê muội lớn không?

Từ xưa đến nay, có vị phú ông nào có thể quan sát kĩ càng ranh giới giữa đúng và sai? Tiền nhiều thế mạnh, họ thay đổi theo thế tục, bỏ đi điều quan trọng nhất là sinh mệnh, phẩm hạnh cao quý nhất, để làm những việc không đáng. Kiếm tiền lớn, hưởng thụ lớn, không biết bảo vệ sự sống và trường thọ, không biết làm thư thái thân thể, không hiểu đạo lý của sự thoải mái tâm hồn. Dù giàu có trong thiên hạ cũng không tránh khỏi tai họa!

Sau khi nghe xong, tôi bỗng nhiên tỉnh ngộ.
Liền từ bỏ tất cả của cải.
Theo người đó vào núi xuất gia làm nhà sư.
Tôi là ai? Bí mật, bí mật, bí mật.


### 16. Cửu Phương Nhân biết thần toán


Nhiều kiếp trước, tôi đã giáng sinh làm dị nhân Cửu Phương Nhân, khi sinh ra đã được thiên phú, xem mệnh rất chuẩn xác, tinh thông về tiên đoán tương lai, làm chấn động triều đình và dân chúng, mỗi ngày người tìm đến tôi để xem tướng số lái xe ngựa nối đuôi nhau không ngớt trên đường.

Một ngày nọ, một vị hiền sĩ Tử Kỳ có tám người con trai, tôi xem mệnh cho họ để xem ai là người giàu sang nhất?
Tôi nói:
"Ngôn là người giàu sang nhất."
Tử Kỳ hỏi:
"Tại sao vậy?"
Tôi nói:
"Tương lai anh ta sẽ gần gũi với quốc vương nhất, thậm chí còn hợp nhất, đương nhiên là giàu sang nhất."

Lúc này Tử Kỳ trái lại đau buồn rơi lệ, nói:
"Than ôi! Con trai của tôi, sao lại đến mức như vậy?"

Tôi hỏi:
"Vì sao ông lại buồn đau như vậy?"
Tử Kỳ đáp:
"Thân cận vua như thân cận hổ, sẽ bị hổ ăn thịt! Cửu Phương Nhân ơi! Cửu Phương Nhân ơi! Ông biết tính toán, có thể giúp con trai tôi tránh tai họa được không?"
Tôi đáp:
"Một miếng ăn, một ngụm nước đều có số mệnh định sẵn, khó lắm thay! Khó lắm thay!"
Tử Kỳ nói:
"Tương lai tôi cùng tám người con trai sẽ du ngoạn nơi núi rừng, cùng trời vui hưởng, cùng đất ăn uống, không cầu công danh, không mưu sự nghiệp, không giao du nhiều, không để danh tiếng vang xa, như vậy có lẽ có thể tránh được việc gặp gỡ quốc vương chăng!"
Tôi nói:
"Hãy thử xem!"

Tuy nhiên, một ngày nọ, Ngôn, con trai của Tử Kỳ, xuống chân núi hái rau dại và bị cướp bắt giữa đường.
Bọn cướp thấy Ngôn có vẻ ngoài trắng trẻo, sạch sẽ, nên đã xẻ thịt cậu ta để bán làm "thịt gạo". (Thịt gạo, nghĩa là thịt của người ăn gạo, ám chỉ thịt người.)
Vì lúc đó đang có nạn đói, mọi loại thịt đều khó tìm.

Bọn cướp đã giết Ngôn, rồi bán cho Khang Công, người phụ trách ẩm thực của quốc vương.
Và Khang Công đã dâng "thịt gạo" cho quốc vương ăn.
Vị quốc vương đó suốt đời chỉ ăn thịt, nên đã ăn Ngôn vào bụng mình.
Than ôi!

Thuật thần toán của tôi, Cửu Phương Nhân, chưa bao giờ sai cả. Ngôn là người giàu sang nhất, được diện kiến quốc vương, hợp nhất với quốc vương, chẳng phải là người giàu nhất, sang nhất sao?
Vì thế tôi nói:
Giàu sang hay không giàu sang là điều rất khó nói.
Gần gũi với quốc vương có phải là giàu sang không?
Người dân bình thường không được gọi là giàu sang sao?
Có được là sống?
Mất đi là chết?
Cũng có thể nói ngược lại, có được là chết, mất đi là sống.

Ví như dược liệu, cây hoa chuông tím, cây quế hoa, cây mào gà, chỉ là những loại thực vật thông thường, nhưng khi cần đến thì lại trở nên vô cùng quý giá.

Trong kiếp tôi là Cửu Phương Nhân, có rất nhiều vương công quý tộc tìm đến tôi để xem bói. Tôi quá giỏi về thuật thần toán, điều này cũng rất nguy hiểm, tôi biết rằng:
Quá chính xác, là nguy hiểm!
Quá ham cầu giàu sang, là nguy hiểm! (Xem bói cho quốc vương.)
Quá đuổi theo vật ngoài thân, là nguy hiểm!
Khi sự nguy hiểm đã hình thành, tai họa sẽ sinh sôi nảy nở, thần toán cũng không thể làm cho mọi người đều hoàn hảo.
Vị vua mất nước đó biết rằng tôi đã đoán ông ta là vua mất nước, liền muốn giết tôi diệt khẩu. Nhưng tôi đã trốn thoát rồi. (Bỏ chạy thoát thân.) Than ôi! Bí mật, bí mật, bí mật thay!


### 17. Quẻ Văn Vương tính nhầm


Nhiều kiếp trước, tôi chính là chủ nhân của quẻ Văn Vương, quẻ Văn Vương của tôi có nguồn gốc từ thánh nhân Phục Hy, chỉ có thánh nhân Phục Hy đứng trên tôi, tôi tương đương là đệ tử của thánh nhân Phục Hy. Khi tôi xin quẻ, tôi chỉ thỉnh cầu hai người:
1. Tổ sư Bát Quái.
2. Thánh nhân Phục Hy.

Sự linh nghiệm của quẻ Văn Vương nằm ở tiên thiên, từ tiên thiên diễn hóa đến hậu thiên, nếu tiên thiên linh nghiệm thì hậu thiên ắt linh nghiệm, đây chính là điều kỳ diệu nhất của quẻ Văn Vương mà người đời ít ai biết được.

Một ngày nọ, trong lúc tôi đi tuần tra, gặp một người dùng đòn gánh đánh chết người, tôi bèn vẽ một nhà lao trên mặt đất, ra lệnh cho kẻ đó không được rời khỏi, đợi tôi tuần tra xong sẽ đưa về phủ xét xử.

Vì mọi người đều biết rằng quẻ Văn Vương của tôi linh nghiệm bậc nhất, cho dù người có trốn đi, qua quẻ tượng tôi cũng sẽ biết được phạm nhân trốn đến nơi đâu, vẫn bắt về như thường, tội lại thêm nặng.

Ngày hôm đó, sau khi tuần tra xong, trên đường trở về, tên phạm nhân bị giam trong nhà lao vẽ trên mặt đất đã trốn thoát, hoàn toàn ngoài dự đoán của tôi.

Tôi vô cùng tức giận, lập tức bày quẻ Văn Vương và tính ra rằng:
Kẻ này vì sợ tội giết người, đã tự ý chạy lên núi cao và gieo mình xuống vực tự sát.
Phạm nhân đã chết, tôi không truy cứu nữa.

Nhưng sau đó tôi mới biết:
Lúc đó Khương Tử Nha (Khương Thượng) đi ngang qua chỗ phạm nhân, đoán được phạm nhân có mệnh làm tướng.
Khương Thượng đã cứu người này.
Phương pháp cứu người là dùng phép thế thân, Khương Thượng cắt một người giấy, viết lên đó bát tự của phạm nhân.
Bảo phạm nhân cầm người giấy thế thân chạy lên núi cao vách đá, ném người giấy thế thân xuống thung lũng.
Còn quẻ Văn Vương của tôi tính ra người này vì sợ tội đã chạy lên núi cao vách đá, nhảy xuống thung lũng tự vẫn.
Khương Tử Nha dùng phép thế thân đã đánh lừa được quẻ Văn Vương linh nghiệm nhất, đây cũng là lần đầu tiên quẻ Văn Vương của tôi: "Tính sai!"

Quẻ Văn Vương có nguồn gốc từ thánh nhân Phục Hy, có thơ rằng:
Hỗn độn sơ khai sinh Bàn Cổ.
Thái cực lưỡng nghi tứ tượng treo.
Tý trời Sửu đất người Dần xuất.
Tránh trừ nạn thú Hữu Sào hiền.
Toại Nhân lấy lửa thôi ăn sống.
Phục Hy vẽ quẻ âm dương tiền.
Thần Nông trị thế nếm trăm cỏ.
Hiên Viên lễ nhạc phối nhân duyên.

Bàn Cổ Công, Hữu Sào Thị, Toại Nhân Thị, Phục Hy Thị, Thần Nông Thị và Hiên Viên Thị được nhắc đến ở đây chính là sáu vị thánh nhân thời thượng cổ.

Trong đó, Bát Quái của Phục Hy Thị được lưu truyền đến ngày nay, trở thành "Dịch", "Dịch" chính là sự biến hóa của trời đất nhật nguyệt.
Tiên thiên hậu thiên.
Vô hình hữu hình.
Linh cơ một quẻ.
Liền biết rõ ràng.

Diệu dụng âm dương nguyên là ở giữa ẩn và hiện, muốn tin hoàn toàn thì không thể được, muốn không tin cũng không thể được. Sự vi diệu trong vận dụng, hoàn toàn ở tại một tâm, một tâm diễn hóa, trời đất nhật nguyệt cũng hiển lộ ra, số tiên thiên có chuẩn, số hậu thiên ắt toàn, quẻ Văn Vương này rất đáng lĩnh hội.

Năm ấy.
Chu Văn Vương mời Khương Thượng (Khương Tử Nha) làm tướng, tiến vào Tây Kỳ, Tử Nha được phong làm Hữu Linh Sinh Thừa Tướng.
Đây chính là nền tảng tám trăm năm của nhà Chu.

Tôi biết đạo lý của quẻ Văn Vương, chiêm toán tiên thiên hậu thiên, chỉ một lần tính sai mới có nhân duyên gặp được Khương Tử Nha vậy. Đây là một mối liên hệ chặt chẽ!


### 18. Hoàng Đế hỏi tiểu đồng tử


Nhiều kiếp trước, cuộc chiến giữa Hoàng Đế (Hiên Viên Thị) và Xi Vưu rất nổi tiếng. Xi Vưu có khả năng tạo sương mù khiến quân đội của Hoàng Đế lạc hướng. May thay, Cửu Thiên Huyền Nữ vâng chỉ thị của Diêu Trì Kim Mẫu, giáng trần giúp Hoàng Đế chiến đấu. Cửu Thiên Huyền Nữ đã dùng xe chỉ nam [xe chỉ phương hướng thời xưa ở Trung Quốc] đánh bại Xi Vưu.
Hiên Viên Thị trở thành tổ tiên của dân tộc Trung Nguyên.

Xi Vưu chạy trốn về hướng Đông Bắc, trở thành tổ tiên của người Triều Tiên.
(Chuyện này tạm gác lại không bàn.)

Một lần nọ.
Hoàng Đế nhớ đến công thần năm xưa là Đại Ngôi, và Đại Ngôi đang ẩn cư tại núi Cụ Tì.
Hoàng Đế mời Phương Minh lái xe.
Xương Ngụ hộ tống bên phải xe.
Trương Nhược, Nghiêm Minh dẫn đường phía trước.
Côn Hôn, Hoạt Kê theo sau xe.
Rầm rộ kéo đến núi Cụ Từ tìm Đại Ngôi.

Khi đoàn xe đi đến ngoại ô thành Tương, bỗng nhiên tất cả đều lạc đường, giữa vùng hoang dã, trời nối đất, đất nối trời, cỏ dại mọc um tùm, không phân biệt được Đông Nam Tây Bắc.
Ngoài đồng hoang chẳng có một ai để hỏi đường.

Lúc này, bỗng thấy từ trong mây đi ra một đàn ngựa, trên lưng ngựa có một đồng tử đang gọi đàn ngựa, đồng tử này có vẻ là chủ nhân của đàn ngựa.
Vì thế Hoàng Đế hỏi đồng tử chăn ngựa:
"Ngươi có biết núi Cụ Tì ở đâu không?"
Đồng tử chăn ngựa đáp:
"Núi Cụ Tì ở phía Tây, cứ theo đám cỏ dài này đi thẳng là tới."
Hoàng Đế hỏi:
"Ngươi có biết chỗ ở của Đại Ngôi không?"
Đồng tử chăn ngựa đáp:
"Biết chứ, Đại Ngôi ở sườn núi thứ hai của núi Cụ Tì, người tu luyện rất chuyên cần, đã đạt đến mức quên cả hình hài của mình, đã thành tựu việc dưỡng khí! Gần đạt đến cảnh giới thoái phù rồi!" [thoái phù là thuật ngữ trong môn tu luyện kim đan]

Hoàng Đế nói:
"Tiểu đồng tử chăn ngựa này rất kỳ lạ, không những biết núi Cụ Tì, mà còn biết cả chỗ ở của Đại Ngôi, lại còn thông tỏ cả đạo tu hành, e rằng là một dị nhân, chúng ta hãy hỏi về đạo trị thiên hạ!"
Tiểu đồng tử chăn ngựa đáp:
"Tôi chỉ là kẻ phiêu du thiên hạ, làm sao hiểu được đạo trị thiên hạ?"
Hoàng Đế nói:
"Xin đừng khiêm tốn, chúng ta muốn được nghe!"
Tiểu đồng tử chăn ngựa đáp:
"Trị thiên hạ cũng như tôi cưỡi ngựa chăn ngựa, đi khắp thiên hạ, chỉ đơn giản vậy thôi!"
Hoàng Đế hỏi:
"Mong được nghe chi tiết hơn."
Tiểu đồng tử chăn ngựa đáp:
"Trị thiên hạ có gì khác với việc chăn ngựa đâu! Hoàng Đế phải cưỡi một con ngựa tốt nhất, đàn ngựa sẽ noi theo con ngựa tốt ấy."
"Rồi sao nữa?"
"Để cho ngựa tự do gặm cỏ." (thả tự do)
"Rồi sao nữa?"
"Khi chúng đi quá xa, thì răn dạy cho quay về đội." (giới luật)
"Rồi sao nữa?"
"Phải loại bỏ những con ngựa gây hại cho bầy đàn."

Sau khi tiểu đồng tử chăn ngựa nói xong, từ từ dẫn đàn ngựa đạp lên không trung, biến mất vào trong mây.
Hoàng Đế (Hiên Viên Thị) cúi đầu lạy sâu, tôn xưng tiểu đồng tử chăn ngựa là Thiên Sư, chắp tay tiễn biệt.

Vị tiểu đồng tử chăn ngựa này không phải ai khác, chính là hóa thân từ nhiều kiếp trước của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.
Hoàng Đế (Hiên Viên Thị) chính là tổ tiên của Trung Quốc, là một trong sáu vị đại thần.


### 19. Chiến thắng quân địch mà không cần giao chiến


Nhiều kiếp trước, khi Ngụy Vũ Hầu làm vua, có một vị tu sĩ đến gặp Ngụy Vũ Hầu.
Vũ Hầu hỏi:
"Ngươi không phải là thầy tướng số sao?"
Vị tu sĩ đáp:
"Ta vừa là thầy tướng số, vừa là người tu hành."
Vũ Hầu nói:
"Ồ! Ta biết ngươi ẩn cư trong núi sâu, hôm nay ngươi ra đây gặp ta, chắc hẳn là đã chán ăn hạt dẻ trong rừng, muốn nếm mùi rượu thịt cung đình phải không?"
Vị tu sĩ đáp:
"Ta không dám ăn rượu thịt trong cung, ta vẫn chỉ ăn hạt dẻ thôi, ta chỉ đến thăm hỏi ngài mà thôi!"
Vũ Hầu nói:
"Thăm hỏi ta chuyện gì?"
"Thăm hỏi thân tâm ngài." - Vị tu sĩ đáp.
Vũ Hầu nói:
"Tại sao thân tâm ta lại cần ngươi thăm hỏi?"
Vị tu sĩ đáp:
"Quốc vương, ngài đang bệnh!"
Vũ Hầu nói:
"Ta khỏe mạnh lắm, bệnh tật gì chứ?"
Vị tu sĩ đáp:
"Quốc vương là chủ nhân của quốc gia vạn thừa [ý nói đất nước lớn, vua có hàng vạn cỗ xe], hưởng thụ tôn vinh phú quý của nhân gian, ăn rượu thịt, mặc gấm vóc, ở cung đình, đi xe cao, hậu phi thành đàn, tôi tớ thành bầy, trong khi trăm họ đang chịu khổ, đó chính là bệnh!"
Vũ Hầu nói:
"Đó là bệnh gì chứ? Đó là vận mệnh!"
Vị tu sĩ nói:
"Thần linh trên trời thích sự công bằng, không thích lòng ích kỷ, ích kỷ chính là bệnh. Ngài giàu sang, trăm họ nghèo khổ, đó chính là bệnh!"
Vũ Hầu nói:
"Xin hỏi tiên sinh, nguồn gốc của bệnh là gì?"
Vị tu sĩ đáp:
"Ngài dùng mưu mẹo để thắng người, dùng kế sách để thắng người, ngài dùng chiến tranh để thắng người, sát hại bách tính nước khác, thôn tính đất đai nước khác, đó là dục vọng riêng của ngài. Không biết bách tính của ngài có được lợi không? Hay bách tính nước khác có được lợi không? Thực ra đều vô ích cả, tự hại mình, cũng hại bách tính nước khác. Mà những điều này chỉ để thỏa mãn dục vọng riêng của một người làm vua mà thôi. Chiến tranh ai được lợi? Giá trị của chiến tranh là gì?"

Giết một vạn người.
Tự tổn thương ba nghìn.
(Áp dụng cho chiến tranh hiện đại.)
Vũ Hầu hỏi:
"Làm sao để chấm dứt chiến tranh?"
Vị tu sĩ đáp:
"Hễ có hành động ắt sẽ để lại dấu vết, có thành công ắt có thất bại. Muốn chấm dứt chiến tranh, điều quan trọng là vô vi, đừng thay đổi thường đạo, đừng trái đạo mà cầu dục, tâm không mong cầu. Đừng tập trung binh lực trong cung đình, đừng bày biện binh khí trên lầu cao, không gây chiến tranh, trăm họ tự an, không cần phải yêu dân mà dân vẫn được yêu thương, không cần đạo nghĩa mà vẫn có đạo nghĩa."
Vũ Hầu hỏi:
"Vậy nếu kẻ khác đến tấn công ta thì sao?"
Vị tu sĩ đáp:
"Khi bách tính yêu nước, quân đội nhân nghĩa, đất nước hùng mạnh, ai dám tấn công?"
Vũ Hầu hỏi:
"Tiên sinh muốn ta làm thế nào?"
Vị tu sĩ đáp:
"Hãy thuận theo bản chất tự nhiên của trời đất, đừng làm xáo trộn nó."
Vị tu sĩ này, bí mật, bí mật, bí mật.


### 20. Liệt Tử phải học cách không màng đến


Nhiều kiếp trước, có một người tên là Liệt Tử, ông rất uyên bác, giỏi bói toán và tính toán, lại là người học rộng tài cao, vì thế có rất nhiều người tìm đến. Thời của Liệt Tử, danh tiếng ngày càng vang dội, thật là phi thường.

Liệt Tử cũng giỏi bắn cung, tên không bao giờ trượt, vừa nhanh vừa chuẩn xác, hết sức nhanh nhẹn.
Khi Liệt Tử bắn cung, như một con rối gỗ, cử động nhịp nhàng.
Có một lần Liệt Tử bắn cung cho bạn học xem.

Ông kéo căng cung, tay phải bắn, tay trái đứng yên, có thể đặt một chén nước trên khuỷu tay mà nước không hề lay động. Tốc độ bắn tên nhanh đến mức không thể nhanh hơn được nữa, vừa bắn mũi tên này xong, mũi tên thứ hai đã được đặt lên cung, bắn xong mũi tên thứ hai, mũi tên thứ ba đã sẵn sàng trên cung. Động tác lấy tên, đặt tên, kéo cung của ông nhịp nhàng đến hoàn hảo, trong khi người khác bắn được một mũi tên thì Liệt Tử có thể bắn liên tiếp ba mũi, và mỗi mũi tên đều trúng chính giữa hồng tâm.

Liệt Tử nói:
"Tài bắn cung của ta thế nào?"
Bạn học đáp:
"Vẫn còn kém lắm!"
Liệt Tử hỏi:
"Tại sao lại kém?"
Bạn học nói:
"Ngươi vẫn còn bắn cung với cái tâm hữu ý, chứ không phải bắn cung với tâm vô tâm quên hết mọi thứ."
Liệt Tử không hiểu, không thể lĩnh hội được.

Bạn học dẫn Liệt Tử leo lên núi cao, trèo lên mỏm đá nguy hiểm, đứng bên vách núi sâu trăm trượng. Trên đỉnh đá nhọn, tám hướng gió thổi mạnh, hai phần ba bàn chân thò ra ngoài, chỉ còn mỗi mũi chân đứng trên đá, bạn học vẫn thản nhiên, vừa đi giật lùi vừa đổi chân liên tục để giương cung bắn tên.

Bạn học mời Liệt Tử lên bắn tên.
Liệt Tử sợ đến toát mồ hôi lạnh, kinh hãi nằm rạp xuống đất, hoàn toàn không dám lên.
Bạn học nói:
"Liệt Tử, ngươi có thể bắn không?"
Liệt Tử đáp:
"Không thể!"
Bạn học nói:
"Nếu là bậc chí nhân, coi sinh tử như không, buông bỏ tám cực, thần khí bất biến, đứng trên đá nhọn, trên có thể đo trời xanh, dưới có thể đạt hoàng tuyền, vẫn có thể vô tâm, như thế mới có thể bắn được. Ngươi trong hoàn cảnh khó khăn, lên núi cao, đạp đá nguy hiểm, đã không thể bắn, đầu choáng mắt hoa, làm sao có thể gọi là thiện xạ?"
Liệt Tử hoảng sợ:
"Đa tạ chỉ giáo!"

Liệt Tử trong thời đại đó đã là một bậc đại nhân danh tiếng vang dội, nhưng vẫn phải học tập "vô tâm".

Bạn học nói:
Điều vượt trội của con người nằm ở chỗ vô tâm.
Ngay cả người thông thái nhất cũng không thể biện luận với "người vô tâm".
Trước sắc đẹp, cũng không thể ô uế.
Kẻ trộm không thể cướp đoạt.
Sinh tử cũng không đổi sắc.
Nghèo hèn cũng không thể lay chuyển.
Tất cả phỉ báng đều không ảnh hưởng.
Huống chi là những chuyện nhỏ như chức tước bổng lộc.
......

Bạn học nói:
"Này Liệt Tử! Thần minh tràn ngập đại địa, chỉ thế thôi, không sợ núi cao, không kinh suối sâu, chỉ thế thôi!"
Cuối cùng Liệt Tử đã hiểu ra:
"Liệt Tử chưa từng chết, Liệt Tử cũng chưa từng sinh."

Riêng tôi cảm thấy kiếp sống này của Liệt Tử đã ảnh hưởng to lớn đến tôi, các bạn không thấy thế sao?
Kiếp này của tôi và kiếp đó của Liệt Tử, có gì khác biệt không?


### 21. Nguyên tắc xử thế của Thần Nông Thị


Nhiều kiếp trước, tôi đã học được Trung Quán và Duy Thức. Hãy cùng xem xét những việc làm của Thần Nông Thị!

Sáu vị thần nhân cổ đại của Trung Quốc là Bàn Cổ Thị, Phục Hy Thị, Hữu Sào Thị, Toại Nhân Thị, Thần Nông Thị và Hiên Viên Thị. Trong số đó, Thần Nông Thị được tôn xưng là Thần Nông Đại Đế và cho đến nay vẫn được người đời thờ phụng.

Thần Nông Thị đến vùng núi sâu, thấy một cây rất to, có một tiều phu đứng bên cạnh nhưng không chặt nó.
Thần Nông Thị hỏi:
"Tại sao không chặt?"
Tiều phu đáp:
"Cây tuy cao, nhưng gỗ không dùng được, nên không chặt!"
(Đây là lợi ích của sự vô dụng.)

Thần Nông Thị đến thăm nhà một người bạn.
Người bạn muốn đãi Thần Nông Thị nên định giết gà để thết đãi. Người bạn có hai con gà, một con biết gáy, con kia thì không biết gáy.
Người bạn hỏi:
"Nên giết con nào?"
Thần Nông Thị đáp:
"Giết con không biết gáy!"
(Đây là lợi ích của sự hữu dụng.)

Người hỏi Thần Nông Thị:
"Tiên sinh! Cây vô dụng thì không bị chặt; gà vô dụng lại bị giết. Vậy rốt cục ngài ủng hộ hữu dụng hay vô dụng?"
Thần Nông Thị đáp:
"Ta đứng giữa hữu dụng và vô dụng, không thiên về hữu dụng, không thiên về vô dụng. Biết rằng đó chỉ là phương pháp, nhưng vẫn chưa phải là đạo. Vậy đạo là gì? Đạo là sự thảnh thơi vượt ra ngoài hữu dụng và vô dụng, là thế giới hoàn toàn vô tri, là duy thức, nhưng thức này siêu nhiên, phi hữu phi vô, chỉ khi đạt đến cảnh giới này mới không bị ràng buộc!"

Đạo này!
Không phải lời khen.
Không phải lời chê.
Không phải động.
Không phải tĩnh.
Tám ngọn gió thổi không lay động.
Thuận theo thời thế mà biến hóa vô cùng, hoàn toàn hòa mình vào cát bụi, thả hồn vào thế giới của bách thảo.
Thần Nông có truyền thuyết nếm trăm loại cỏ, cuối cùng, vì nếm phải cỏ độc, thân thể chuyển đen mà chết.
Thần Nông Thị tuy chết, nhưng thần mà sáng suốt, sáng suốt mà thần, sinh tử cũng chẳng can thiệp được.

Người đời nay thì khác:
Hợp cũng là tai họa! Yêu cũng là tai họa!
Ly cũng là tai họa! Hận cũng là tai họa!
Thành cũng là tai họa! Tình cũng là tai họa!
Hủy cũng là tai họa! Thù cũng là tai họa!
Thanh liêm cũng bị công kích!
Tôn quý cũng bị hủy hoại!
Có triển vọng thì bị chê trách!
Có đức hạnh tài năng thì bị mưu hại!
Người không có tài đức thì bị ruồng bỏ!

Vì vậy, nguyên tắc xử thế của Thần Nông Thị là không thể thiên vị một bên, phải đứng ngoài tất cả, tất cả đều không có gì để bận tâm, ngay cả sinh tử cũng không tính đến, không chấp trước bất kì hình thức nào, đó mới gọi là thảnh thơi. Thần Nông nếm trăm loại cỏ, thảnh thơi mà chết, đó cũng là thảnh thơi.

Tôi, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, kiếp này đã sớm hiểu rõ phương pháp Trung Quán và đạo Duy Thức, tôi không chấp trước Trung Quán, cũng không chấp trước Duy Thức, tôi thuộc về bên ngoài Trung Quán, cũng không ở trong sự quán chiếu sâu sắc của Duy Thức.

Tôi là tôi, không bị ràng buộc!


### 22. Khi là linh hồn


Nhiều kiếp trước, tôi đã chết, trở thành một đống xương khô, bị vứt bỏ nơi hoang dã, thể xác tôi đã chết, nhưng tinh thần (linh hồn) vẫn còn sống, tôi đi du ngoạn khắp nơi, rất là hạnh phúc.

Có một vị thánh nhân tên Triển Tử đi ngang qua bộ xương khô, Triển Tử nhìn thấy bộ xương của tôi, thấy màu sắc đỏ tươi, cho rằng kỳ lạ, liền dùng roi ngựa gõ vào đầu lâu của tôi.

Triển Tử hỏi tôi:
"Bộ xương khô này, ta hỏi ngươi, ngươi chết vì già nua? Hay chết vì bệnh tật? Là vì phiền não mà tự sát? Là vì chiến tranh loạn lạc mà chết trận? Hay chết đói? Hay gặp kẻ cướp mà bị giết? Hay là...?"
Tôi báo mộng cho Triển Tử vào ban đêm:
"Thánh giả Triển Tử, câu hỏi của ngài có thể nói là trăm dáng vẻ của cái chết trong nhân gian, ngài chỉ biết sống mà không biết chết, ngài có muốn biết sau khi chết là trạng thái gì không?"
Triển Tử nói:
"Được thôi!"
Tôi nói:
"Thế giới sau khi chết tự do hơn rất nhiều so với khi có hình thể, tôi có thể tùy niệm mà đi, vì không có hình thể nên không cần ăn, mặc, ở, đi lại, hoàn toàn không có nhu cầu về hình thể, chỉ có ý niệm, ý niệm này chi phối tất cả."
Triển Tử hỏi:
"Có quốc gia không?"
Tôi đáp:
"Trên không có vua, dưới không có bề tôi, không có xuân hạ thu đông, không có tranh chấp nhân sự, không có bệnh tật, không có phiền não, sinh lão bệnh đều không có, không có thời gian không gian, cái chết của tôi còn hạnh phúc hơn cả niềm vui của đế vương."
Triển Tử hỏi:
"Sao có chuyện như vậy, chẳng lẽ không có thiên đường địa ngục sao?"
Tôi đáp:
"Đó chỉ là huyễn sinh huyễn thọ. Như tôi đây, đã sớm thoát khỏi huyễn sinh huyễn thọ rồi."
Triển Tử hỏi:
"Rốt cuộc ngươi là ai?"
Tôi đáp:
"Liên Hoa Đồng Tử!"
Triển Tử nói:
"Liên Hoa Đồng Tử, ta có nghe qua đôi chút về ngươi. Ta hỏi ngươi, nếu có vị thần cai quản sinh mệnh, vị thần này khôi phục thân thể của ngươi, tái sinh xương thịt da, ngươi lại có cha mẹ người thân và bạn bè thân thiết, mọi người đoàn tụ bên nhau, ngươi cũng có quê hương vợ con, như vậy ngươi có muốn không?"
Tôi nói:
"Làm sao tôi có thể từ bỏ cái chết tự do tự tại đầy khoái lạc này để đi tái sinh và chịu đựng những vất vả của nhân gian một lần nữa?"

Lúc này Triển Tử mới hiểu ra, thì ra:
Sống là nhà tù.
Chết là giải thoát.
Sống không bằng chết, niềm vui tột cùng của cái chết người đời không hay biết!
Kiếp này của tôi, lý do không sợ sinh tử chính là ở đây!

Trên đời vốn không có niềm vui tột cùng, sự an ổn của thân thể, món ngon, quần áo đẹp, sắc đẹp, âm thanh, đều rất ngắn ngủi.
Còn về nghèo khổ, thấp hèn, yểu mệnh, bệnh tật hiểm nghèo, khuyết tật, những nỗi đau này khắp nơi đều có.
Lại còn, không thể an cư, ăn không đủ no, mặc áo vải thô, dung mạo không đẹp, tranh cãi, rắc rối nhân sự, bị vu khống hiểu lầm, càng khiến người ta phiền não không ngừng.

Tôi lại cảm thấy chết còn tốt hơn sống. Đó chính là lý do tôi không chấp trước vào sự sống, cũng là lý do tôi không chấp trước vào cái chết, tư tưởng của tôi vượt thoát sinh tử.


### 23. Cái chết vào nhiều kiếp trước


Từ nhiều kiếp trước, vào thời Đức Phật, tôi đã từng có kinh nghiệm theo Phật Đà, Ngài thường dạy: "Nên không chết cũng không sinh!"
Phật Đà dạy:
"Khi giác ngộ, hãy nhanh chóng hướng đến Niết bàn!"
Phật Đà lại dạy:
"Sống là khổ, chết là vui, tịch diệt là an lạc, Niết bàn là an lạc."
Phật Đà cảnh tỉnh chúng ta:
"Chỉ có những người chưa thông đạt mới khóc lóc thảm thiết, kêu trời kêu đất khi người thân qua đời."

Trên thực tế, Phật đã báo trước ngày Ngài viên tịch. Vào thời điểm đó, ngài Mục Kiền Liên đã ra đi, ngài Đại Ca Diếp không có mặt trong tăng đoàn, chỉ có ngài A Nan ở bên cạnh Phật Đà, còn ngài Phú Lâu Na đã đi đến vùng biên địa để giáo hóa người dân nơi hoang dã. Tôi vốn muốn ở lại bên cạnh Phật Đà.

Phật Đà biết trước tâm ý của tôi, Ngài nói:
"Xá Lợi Phất, ông hãy trở về quê hương đi! Ông hãy nhập Tam ma địa và chờ ta trong giải thoát Tam ma địa!"
Vì vậy, tôi đã nhập Niết bàn trước Phật Đà.

Sau này, tôi biết được rằng sau khi Đức Phật nhập Niết bàn, các thánh đệ tử đã khóc lóc thảm thiết, ai ai cũng đau buồn. Những người này thực sự không hiểu giáo lý của Phật Đà, vốn không có sinh tử, nhưng họ lại xem sinh tử là chuyện quan trọng. Tuy nhiên nghĩ lại, cũng không thể trách họ quá đáng.
Dù sao thì hình hài cũng không còn.
Người đời đã mất chỗ nương tựa!
Lại có ai thực sự có thể thông đạt hoàn toàn?

Lại nữa:
Nhiều kiếp trước, vợ của Trang Tử qua đời, Huệ Tử đến viếng, thấy Trang Tử đang ngồi xổm, gõ chậu đất và hát.
Huệ Tử nói:
"Quá đáng quá! Không khóc thì thôi, sao lại còn hát?"
Trang Tử đáp:
"Tôi và vợ sống với nhau nhiều năm, biết nàng sống vất vả nhọc nhằn, hôm nay chết đi, mọi khổ nhọc đã kết thúc, nàng không còn vất vả nữa, vì thế tôi hát một bài cho nàng."
Huệ Tử nói:
"Đâu có lý như vậy, thật quá đáng!"
Trang Tử nói:
"Vợ tôi vốn không có hình thể, không chỉ không có hình thể, mà cả hơi thở cũng không có, chỉ là mơ hồ mà có được hình thể và hơi thở, hình thể và hơi thở này không ngày nào không biến đổi, biến đổi lâu rồi, lại trở về không có hình thể và hơi thở, đó là quay về cội nguồn. Tôi hiểu đạo lý này, thì có gì đáng khóc nữa."
Quan niệm của Trang Tử về cái chết là như vậy.

Còn nữa:
Lục Tổ Huệ Năng, khi Ngài sắp viên tịch, dặn dò các đệ tử rằng, đừng vì ta ra đi mà các con đau buồn tột cùng.
Nhưng dặn dò là dặn dò.
Huệ Năng nhập Niết bàn.
Tất cả đệ tử đều khóc lóc thảm thiết, kêu trời kêu đất.
Chỉ có một người ngoại lệ. (tiểu đồng tử)
Người đó biểu cảm lạnh nhạt, vì đã sớm thấu suốt sinh tử, vì đã thấu suốt nên thờ ơ.

Lại nữa:
Kiếp này, khi mẹ tôi qua đời, tôi đang ở phòng hỏi việc giúp hỏi việc, mẹ tôi được xe cứu thương đưa đến bệnh viện, tôi vẫn tiếp tục giúp hỏi việc. Tôi hoàn toàn không rời khỏi ghế.
Sau khi mẹ qua đời, tôi mới đến thăm bà.

Kiếp này, khi cha tôi qua đời, từ lúc ở bệnh viện đến khi hỏa táng thành tro, vẻ mặt tôi vẫn lạnh nhạt, không rơi một giọt nước mắt nào.
Khi tổ chức lễ tưởng niệm, tôi cũng không rơi một giọt nước mắt nào.
Người ta nói:
"Quá đáng quá!"
Tôi đáp:
"Có ai biết tôi là ai đâu? Bí mật, bí mật, vẫn là bí mật!"


### 24. Trang Tử và Huệ Tử


Nhiều kiếp trước, Huệ Tử là một hiền sĩ, còn Trang Tử là một bậc thông đạt. Huệ Tử được làm tể tướng nước Lương, chỉ đứng dưới một người, đứng trên vạn người.

Trang Tử đến nước Lương thăm Huệ Tử.
Có người lén nói với Huệ Tử rằng, Trang Tử là người thông đạt, tài năng của ông ta còn cao hơn cả ngài, một khi Trang Tử đến, ông ta sẽ lấn át ngài, chức tể tướng chắc chắn sẽ thuộc về Trang Tử, nên ngài hãy cẩn thận một chút thì hơn.
Vì thế Huệ Tử đem lòng đề phòng, liền cho người tìm kiếm tung tích của Trang Tử trong nước Lương, tìm suốt ba ngày ba đêm.
Cuối cùng Trang Tử cũng xuất hiện để gặp Huệ Tử.

Trang Tử gặp Huệ Tử, liền kể một ví dụ:
Ở phương Nam có một loài chim, nó được gọi là uyên sồ.
Loài chim này vô cùng tôn quý.
Bay từ biển Nam đến biển Bắc, không đậu nếu không phải cây ngô đồng, không ăn nếu không phải quả trúc, không uống nếu không phải nước ngọt tinh khiết.

Lúc này có một con cú mèo vừa bắt được một con chuột chết, tình cờ uyên sồ bay qua trên không.
Cú mèo tưởng uyên sồ muốn đến cướp con chuột thối của nó bèn ôm chặt xác chuột không buông, ra sức hét to với uyên sồ.
Nhưng uyên sồ chẳng thèm để ý.
Huệ Tử à! Giờ đây ông cũng muốn lấy chức tể tướng nước Lương để dọa tôi sao?
Huệ Tử nghe xong, cảm thấy vô cùng xấu hổ!

(Trong kiếp này, tôi - Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - khao khát tự do và dân chủ, rất không thích bị ràng buộc. Hơn nữa, tư tưởng của tôi vượt trên thế gian, nhiều kẻ nhảy nhót như hề tưởng rằng tôi sẽ bám chặt vào một thứ không buông ư? Tưởng rằng tôi sẽ chấp trước điều gì sao? Họ hoàn toàn không biết rằng tôi đã sớm là trời ngoài trời, người ngoài người, không còn vướng bận thế tục nữa.)

Huệ Tử xem thường Trang Tử.
Trang Tử hiểu rõ Huệ Tử.
Mỗi người có chí hướng riêng, không thể cưỡng ép.
Tôi là Huệ Tử?
Tôi là Trang Tử?

Lại nữa:
Trang Tử và Huệ Tử đang đứng trên cầu sông Hào.
Trang Tử nói:
"Cá thật vui sướng làm sao!"
Huệ Tử nói:
"Ông không phải là cá, làm sao biết được cá vui sướng?"
Trang Tử nói:
"Ông không phải là tôi, làm sao biết được tôi không biết cá vui sướng?"
Huệ Tử nói:
"Tôi không phải là ông, dĩ nhiên không biết được ông, nhưng, ông không phải là cá, ông không biết được cá vui sướng, điều này là chắc chắn."
Trang Tử và Huệ Tử hai người cứ như thế tranh luận qua lại với nhau.

Xin hỏi:
Trang Tử đúng chăng?
Hay là Huệ Tử đúng?

Ở đây tôi xin nói với mọi người:
Cá trong giếng không thể hiểu được cá trong biển cả.
Côn trùng mùa hè không thể hiểu được băng tuyết.
Trâu không biết ngựa.
Ngựa không biết trâu.

Trong kiếp này, tôi đã làm những việc khiến thế gian kinh ngạc, thế nhân nhìn nhận tôi thế nào, tôi sẽ không quan tâm. Tuy nhiên, tôi biết, tôi là cá của biển cả, làm sao cá thế tục có thể hiểu được? Tôi là thánh triết trong băng tuyết, làm sao côn trùng mùa hè thế tục có thể biết được tôi?

Tôi là Trang Tử?
Tôi là Huệ Tử?
Mọi người hãy mở to mắt một chút.
Hãy xem tôi có vui hay không vui? Bí mật, bí mật, bí mật.


### 25. Người biết cách vận chuyển


Nhiều kiếp trước, đó là thời đại Nghiêu làm hoàng đế, thầy của Nghiêu là một ẩn sĩ tên là Hứa Do, Hứa Do có trí tuệ cao siêu và vượt trội, không phải là tầm thường, mà là của bậc thánh nhân.

Vì vậy Nghiêu cũng được coi là một thánh nhân, nên ông nhường ngôi cho Thuấn, Thuấn nhường ngôi cho Vũ. Kiểu nhường ngôi này cũng là tiếng thơm của bậc thánh hiền.

Nghiêu Thuấn Vũ, ba vị hoàng đế có địa vị rất cao quý ở Trung Quốc, được tôn xưng là Tam Nguyên Tam Phẩm Tam Quan Đại Đế.
Nghiêu là Thiên Quan Đại Đế.
Thuấn là Địa Quan Đại Đế.
Vũ là Thủy Quan Đại Đế.
Được hưởng hương hỏa vạn năm.

Nghiêu từng đến một nơi để dạo chơi và gặp một người. Người này nói với Nghiêu:
"Xin chúc mừng thánh nhân đến đây, chúc thánh nhân trường thọ!"
Nghiêu nói:
"Không."
Người đó nói:
"Chúc thánh nhân giàu có nhất thiên hạ!"
Nghiêu nói:
"Không."
Người đó nói:
"Chúc thánh nhân sinh được nhiều con trai!"
Nghiêu nói:
"Không."
Người đó nói:
"Mọi người trên đời đều mong muốn có được ba thứ: tài, đinh, thọ. Tài, đinh, thọ là điều mà ai cũng mơ ước, vậy tại sao ngài lại không muốn?"
Nghiêu nói:
"Nếu tôi sinh được con trai, tôi sẽ lo sợ về tương lai của con. Ngoài ra, nếu tôi trở nên giàu có, sẽ có nhiều chuyện thị phi xảy ra, người giàu thường có nhiều vấn đề. Và nếu tôi sống lâu, những kẻ phỉ báng tôi sẽ có thêm thời gian để lăng mạ tôi. Vì thế, ba điều tài, đinh, thọ này, tôi không dám nhận."
Người đó nói:
"Hóa ra ông không phải là thánh nhân, thánh nhân phải biết cách vận chuyển, không biết vận chuyển thì không phải là thánh nhân."
Nghiêu hỏi:
"Vận chuyển là gì?"
Người đó nói:
"Khi sinh được con trai, cần phải giáo dục chúng, giáo dục để trở thành người đàng hoàng, chính nhân quân tử, có gì đáng sợ đâu? Khi có được tiền bạc giàu nhất thiên hạ, hãy đem số tiền đó bố thí cho người trong thiên hạ, như vậy chẳng phải tốt hơn sao? Như thế sẽ không có nhiều chuyện nữa. Ngoài ra, tuổi thọ dài, lời phỉ báng cũng dài, dù lời phỉ báng dài hay ngắn, chỉ cần có đạo là được, chỉ cần có thể tu dưỡng đạo này thì lời phỉ báng cũng chính là cách tu dưỡng đạo. Khi tu thành, bay lên tiên giới, cưỡi mây trắng, tiêu dao tự tại, những lời phỉ báng kia có là gì!"
Nghiêu nghe xong, rất kinh ngạc.
Người đó đi rồi!
Nghiêu muốn hỏi thêm.
Người đó nói:
"Ngài hãy mau trở về đi!"

Trong kiếp này của tôi:
Có một người con trai - giáo dục nó, tốt xấu tùy nó.
Có một chút tiền - thành lập Quỹ từ thiện Lư Thắng Ngạn.
Có một chút tuổi thọ - phỉ báng, mặc kệ nó.

Thực ra, Liên Hoa Đồng Tử của Ma Ha Song Liên Trì đã từng chuyển thế hóa sinh vào nhân gian từ thời Tam Hoàng Ngũ Đế, và không phải chỉ có một mà đôi khi còn chuyển thế thành nhiều người, như hóa thân chuyển thế, trong cùng một thời đại đã có nhiều Liên Hoa Đồng Tử. Các bạn đừng ngạc nhiên, trong mắt tôi, điều này rất bình thường.

Nghiêu không phải là tôi, vậy tôi là ai? Bí mật, bí mật, bí mật.


### 26. Thiền của Quảng Thành Tử


Từ nhiều kiếp trước, rất lâu rất lâu rồi, có một vị tên là Quảng Thành Tử tu hành trên núi Không Đồng, đã đạt đến cảnh giới của đạo tối thượng.
Vị quân vương thời bấy giờ đến hỏi ông:
"Ta muốn dùng tinh khí của trời đất để giúp ngũ cốc chín muồi, mang lợi ích cho chúng sinh, được không?"
Quảng Thành Tử mỉm cười:
"Đó là làm tổn hại ngũ cốc!"
Quân vương hỏi:
"Ta muốn dùng sức mạnh âm dương của mặt trời mặt trăng để điều hòa vạn vật, được không?"
Quảng Thành Tử lại mỉm cười:
"Đó là làm tổn hại vạn vật!"

(Hãy nhìn xem thế hệ của chúng ta, sử dụng thuốc trừ sâu, phân bón hóa học, v.v... để thúc đẩy ngũ cốc phát triển, kết quả chúng ta nhận được là gì? Con người hiện đại sử dụng hormone tăng trưởng, chất tạo nạc, các loại thuốc tiêm, v.v... để giúp động vật phát triển, và kết quả là gì? Thật đáng cười cho loài người, đó chính là đang tàn phá vạn vật!)

Quân vương hỏi:
"Làm thế nào để tu luyện đạt đến đạo tối thượng?"
Quảng Thành Tử đáp:
"Mắt đừng nhìn bất cứ thứ gì! Tai đừng nghe bất cứ thứ gì! Tâm đừng nghĩ bất cứ điều gì! Miệng đừng nói lung tung bất cứ điều gì! Tinh thần đừng dao động! Như vậy là gần với đạo rồi."
(Phật giáo dạy rằng, đóng lại sáu tên giặc: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, có thể gần với đạo.)
Quảng Thành Tử nói:
"Đừng để ngoại cảnh ảnh hưởng đến tâm mình, bản thân phải giữ tâm không loạn động!"
(Thiền tông dạy, không bị ngoại cảnh ảnh hưởng, đó là thiền; tâm không loạn động, đó là định.)
Quảng Thành Tử nói:
"Trong hư không mênh mông, có thể đạt đến cảnh giới dương tột cùng, cũng có thể đạt đến cảnh giới âm tột cùng, có thể trở về nơi tịch mịch, đây chính là sự điềm đạm trung hòa! Vạn vật đều tự nhiên như vậy, không cần phải lao tâm khổ tứ."
Đạo lý của Quảng Thành Tử, đến ngày nay, người đời đã sớm vi phạm đạo của Quảng Thành Tử rồi.

Người đời nay dùng phương pháp của mình để giúp ngũ cốc phát triển, thực tế là đang tàn phá ngũ cốc; giúp động vật phát triển, thực tế là đang tàn phá vạn vật. Thật đáng buồn! Thật đáng buồn! Sự phát triển của khoa học kỹ thuật thực tế là đang tàn phá con người, chỉ cần suy nghĩ một chút là hiểu ngay.

Các bạn còn nhớ cuộc đối thoại giữa thiền sư Hoài Nhượng và Mã Tổ thời nhà Đường không?
Mã Tổ Đạo Nhất đang ngồi thiền vô cùng chuyên tâm.
Hoài Nhượng hỏi:
"Ngồi thiền suốt ngày, vì sao vậy?"
Mã Tổ đáp:
"Để thành Phật."
Hoài Nhượng bèn lấy một viên gạch ra mài.
Mã Tổ hỏi:
"Tại sao thầy mài gạch?"
Hoài Nhượng đáp:
"Để làm gương."
Mã Tổ cười: 
"Làm sao mài gạch thành gương được?"
Hoài Nhượng cười: 
"Làm sao ngồi thiền mà thành Phật được?"
(Phật là chính đẳng chính giác, không câu nệ hình tướng, quá câu nệ vào hình tướng thì không thể thành Phật!)
Giai thoại này và đạo tự nhiên của Quảng Thành Tử đều đồng một ý nghĩa.

Hãy xem lời Phật dạy nói thế nào:
"Tuyệt đối đừng tìm ở nơi khác, xa cách với ta; ta nay một mình đi, nơi nơi đều gặp được "người ấy"; "người ấy" nay chính là ta, ta nay không phải là "người ấy"; cần phải hiểu như vậy, mới thật sự khế hợp với chân như."
Quảng Thành Tử có phải là tôi không?
Thiền sư Hoài Nhượng có phải là tôi không?
Nếu tôi không phải là họ.
Tại sao tư tưởng lại giống nhau? Bí mật, bí mật, bí mật.


### 27. "Không biết" của Vương Nghê


Nhiều kiếp trước, có một người tên là Vương Nghê, người này hiểu được đạo lý sinh và tử chẳng liên quan gì đến nhau.
(Trong kiếp này, tôi cũng hiểu rằng sinh và tử chẳng có liên quan gì. Chỉ có vị thiền sư Thánh Nghiêm ngốc nghếch kia vẫn còn đang vướng bận chuyện sinh tử!)
Kinh Phật nói:
Người nhìn một cốc nước, sẽ nói đó là một cốc nước.
Thiên nhân nhìn một cốc nước, sẽ nói đó là cam lộ.
Quỷ nhìn một cốc nước, sẽ nói đó là ao máu.
Vì vậy tôi nói:
"Tôi không biết!"

Có một người tên Niết Khuyết đến tham vấn Vương Nghê:
"Thưa tiên sinh, ngài có biết đạo lý vạn vật đều giống nhau không?"
Vương Nghê đáp:
"Không biết!"
Niết Khuyết lại hỏi:
"Tiên sinh có biết rằng mình không biết không?"
Vương Nghê đáp:
"Không biết!"
Niết Khuyết hỏi tiếp:
"Thưa tiên sinh, vậy có phải vạn vật đều vô tri?"
Vương Nghê lại đáp:
"Không biết!"
(Đây chính là một câu hỏi ba lần không biết, nếu để tôi trả lời, tôi cũng sẽ trả lời "không biết".)

Cái "không biết" của Vương Nghê là hiểu biết về đạo lý sâu rộng hơn, chính vì hiểu biết đạo lý sâu rộng nên mới gọi là "không biết". Là biết, là không biết, hay là vô tri? Thật ra đều không phải.

Vương Nghê giải thích về cái "không biết" của ông:
Con người ngủ ở nơi ẩm ướt, sẽ mắc bệnh phong thấp.
Còn cá chạch thì sao?
Con người sống trên cây to, hoặc leo lên cây to, sẽ sợ độ cao.
Còn khỉ thì sao?
Con người gặp sư tử sẽ có tâm lý sợ hãi.
Còn sư tử gặp người, thì sao?
Vậy nên cái gọi là vạn vật đều giống nhau, làm sao tôi biết được?

Ví dụ:
Con người ăn thịt bò, cừu, heo, gà.
Hươu lại ăn cỏ.
Cú mèo ăn chuột chết.
Trong ba loài này, ai biết được loại thức ăn nào thực sự là vị ngon khoái khẩu.
Cho nên là không biết.

Ví dụ:
Nai với hươu giao hợp.
Khỉ đực với khỉ cái giao hợp.
Cá chạch với cá giao hợp.
Mỹ nhân Lệ Cơ, cá thấy nàng liền lẩn vào trong nước; chim thấy nàng, liền bay cao lên trời.
Vậy thì cái gì là sắc đẹp? Thật sự cũng không biết.

Vương Nghê nói:
"Nếu suy luận theo cách này thì tiêu chuẩn của nhân nghĩa, con đường của đúng sai, đều rối ren phức tạp, làm sao phân biệt được? Thực sự chỉ có thể trả lời là không biết!"

Sau khi hiểu được đạo lý của Vương Nghê, tôi tiếp tục nghiên cứu ngũ trí của Phật, bao gồm: Pháp giới thể tính trí, Đại viên kính trí, Bình đẳng tính trí, Diệu quan sát trí và Thành sở tác trí.

Vương Nghê đạt được Diệu quan sát trí, và sau khi đạt được Diệu quan sát trí, ông ấy chẳng còn biết gì nữa!

Tôi, Lư Thắng Ngạn, bởi vì cũng đạt được ngũ trí của Phật, nên tôi cũng trở thành người biết tất cả, đồng thời cũng chẳng biết gì, nếu tôi trả lời, cũng là "không biết".

Vương Nghê là ai? Bí mật, bí mật, bí mật.


### 28. Em trai của Liễu Hạ Huệ


Nhiều kiếp trước, có một người tên Liễu Hạ Huệ, chính là Liễu Hạ Huệ "ngồi ôm không loạn", được người đời sau ca ngợi vì định lực rất mạnh, có thể để mỹ nữ ngồi trong lòng mà không khởi tâm tà dâm.

Liễu Hạ Huệ có một người em trai làm nghề cướp đoạt, chính là tên đạo chích nổi tiếng. Tên đạo chích tập hợp một nhóm cường bạo đi khắp nơi cướp bóc, không việc ác nào không làm.

Tuy nhiên, tên đạo chích làm cướp cũng có một bộ đạo lý riêng, đây chính là câu nói nổi tiếng "đạo tặc cũng có đạo".

Đạo chích nói:
Phỏng đoán trong phòng có hay không có vàng bạc châu báu, đây là thánh đức tiên tri.
Xông vào cướp trước, không sợ người khác, đây là thánh đức dũng khí.
Vào trước rồi rút lui sau cùng, dám chịu trách nhiệm, đây là thánh đức đạo nghĩa.
Chia chiến lợi phẩm rất công bằng, đây là đức nhân.
Biết được khi nào có thể hành động lớn, biết được khi nào không thể hành động lớn, biết khi nào tiến, khi nào lui, đây là thánh đức trí tuệ.

Đạo chích nói:
Làm cướp cũng cần phải có:
Tiên tri.
Dũng khí.
Đạo nghĩa.
Công bằng.
Trí tuệ.
Vì thế "đạo tặc cũng có đạo" vậy!

Đạo chích phê bình anh trai mình là Liễu Hạ Huệ, cái gì mà "ngồi ôm không loạn"? Đó chỉ là người chết, cố chấp, đạo đức giả, là hành vi được làm ra vì giả nhân giả nghĩa giả đức.

Đạo chích phê bình:
Anh trai tôi Liễu Hạ Huệ mới chính là kẻ cướp, anh ta đã cướp lấy tiếng thơm của thiên hạ.
Đạo chích nói:
Bá Di chết ở núi Thủ Dương là để cướp lấy nhân nghĩa.
Còn tôi, đạo chích, cả đời chỉ cướp vì lợi ích.
Tại sao Bá Di lại là quân tử?
Còn tôi, đạo chích, lại là tiểu nhân?
Thiên hạ này thật quá bất công!

Tôi sinh vào thời đại đó, đã sớm hiểu rõ đạo lý của Bá Di và đạo chích, cả thánh nhân và cướp đều là kẻ trộm.
Thánh nhân trộm nhân nghĩa.
Kẻ cướp trộm tiền của.
Tôi thường nói:
"Dù là thánh nhân hay kẻ cướp, tất cả đều bị nhân nghĩa và tiền tài làm hại mà chết! Quan Long Phùng bị giết, Tỷ Can bị mổ tim, Thương Hồng bị xe xé xác, Tử Tư bị ném xuống sông, tất cả đều bị nhân nghĩa liên lụy, nhọc cái thân mà lo cái tâm."

Tôi thường nói:
Dùng trí tuệ để tìm kiếm, không nhất định tìm được thành Phật.
Dùng mắt để tìm kiếm, đương nhiên không thể tìm thấy.
Dùng ngôn từ văn tự để tìm, càng xa rời hơn.
Chỉ có "vô tâm", "vô tâm" mới có thể thành Phật.
Tại sao "vô tâm" mới có thể thành Phật?
Bởi vì "vô tâm" chính là chính giác.
Đây mới là điều kỳ diệu nhất!

Vào thời đại đó, tôi đã sớm hiểu rõ những đạo lý này. Bản thân tôi cũng coi như là một người "quên mình". Tôi bước đi mà không biết mình sẽ đi đâu, tôi cũng không biết mình đang tìm kiếm điều gì. Tôi chỉ sống thuận theo trời đất mặt trời mặt trăng, hòa làm một với vạn vật, thuận theo bản tính của chúng, không rời xa bản chất chân thật, mỗi thứ đều đạt được niềm vui tự nhiên.
Tôi có phải là Liễu Hạ Huệ không? Không phải.
Tôi có phải là đạo chích không? Không phải.
Tôi có phải là Bá Di không? Không phải.
Tôi cũng tuyệt đối không phải là Tỷ Can, đương nhiên là không.
Tôi là ai? Bí mật, bí mật, bí mật.


### 29. Thần toán của Quý Hàm


Nhiều kiếp trước, Liệt Tử vốn đã biết bấm tay thần toán, vì vậy, có một thời gian, người người kéo đến nối gót nhau, cửa nhà đông như chợ, mỗi ngày ông đều xem tướng đoán mệnh cho người khác, việc làm ăn phát đạt khắp bốn biển, tiền của dồi dào đến ba sông.

Ở nước Trịnh cũng có một người tên Quý Hàm, người này còn giỏi hơn, có thể thông thần, mọi chuyện sinh tử tồn vong, họa phúc thọ yểu đều có thể tiên đoán, năm nào, tháng nào, ngày nào, giờ nào, sẽ xảy ra chuyện gì, lời tiên đoán không gì không linh nghiệm, giống như thần tiên vậy, nói gì đều đúng như vậy.

Một ngày nọ, Liệt Tử gặp Quý Hàm.
Liệt Tử hỏi:
"Nhà tôi thế nào?"
Quý Hàm đáp:
"Ba ngày nữa, vào giờ Tý, sẽ bị hỏa hoạn."
Và ba ngày sau, nhà của Liệt Tử thực sự bị cháy, Liệt Tử vô cùng kinh ngạc, làm sao có thể như vậy?

Liệt Tử hỏi:
"Tôi có một người thiếp yêu quý, tên là Mạc Dụ, tuổi thọ của nàng thế nào?"
Quý Hàm đáp:
"Sáu tháng sau sẽ qua đời."
Liệt Tử kinh hãi, đến khi tròn sáu tháng, người thiếp yêu quý Mạc Dụ của Liệt Tử bỗng nhiên đột tử không rõ nguyên do.
Điều này khiến Liệt Tử rất đau buồn, và do sự thần diệu chính xác của Quý Hàm, Liệt Tử tự thấy Quý Hàm ở trên trời, còn mình ở dưới đất.

Liệt Tử dẫn Quý Hàm đi gặp thầy mình là Hồ Tử.
Quý Hàm gặp Hồ Tử xong, đi ra nói với Liệt Tử:
"Ôi! Thầy của anh sẽ chết trong vòng mười ngày, tôi đã thấy tro tàn của cái chết."
Liệt Tử đem lời này kể lại cho Hồ Tử.
Hồ Tử nói:
"Ta đã cho hắn thấy tướng chết khi âm thắng dương, anh hãy mời hắn đến xem lại."

Quý Hàm vừa nhìn, liền nói:
"Thầy của anh khi gặp tôi, đã thấy tro tàn được hồi sinh, ông ấy sẽ không chết trong vòng mười ngày nữa, đã có cơ sống rồi!"
Liệt Tử đem tình hình thực tế kể lại cho Hồ Tử.
Hồ Tử nói:
"Cho hắn thấy dương sinh âm, dương khí đã xuất hiện, từ chân đi lên, anh hãy mời hắn đến xem lại."

Quý Hàm lần thứ ba gặp Hồ Tử, nói:
"Thầy của anh biến hóa không định, không thể đoán tướng chính xác, đợi khi ổn định rồi, hãy đến đoán lại, được không?"
Liệt Tử lại đem lời này kể cho thầy mình.
Hồ Tử nói:
"Điều ta cho hắn thấy là sự biến hóa không ngừng của nước và lửa trong cơ thể, biến hóa này có chín thức, ta chỉ cho hắn thấy ba thức, đây là biến hóa uyên thâm! Anh hãy mời Quý Hàm đến xem lần nữa."

Quý Hàm đến gặp Hồ Tử lần thứ tư, vừa thấy Hồ Tử, lập tức quay người bỏ chạy, Quý Hàm chạy rất nhanh.
Hồ Tử hét lớn:
"Đuổi theo hắn!"
Liệt Tử đuổi theo hết sức, nhưng không đuổi kịp, Quý Hàm đã trốn thoát!
Liệt Tử quay lại báo cáo.

Hồ Tử nói:
"Lần này ta cho Quý Hàm xem chân tướng của ta, chân tướng của ta là Đại Kim Tiên, hóa thân biến hóa vô cùng. Vừa nhìn thấy, hắn biết không thể đoán trúng được, nên đành phải chạy trốn. Người biết đoán tướng, khi gặp phải sự biến hóa khó lường, làm sao có thể đoán chính xác?"
Hồ Tử cười ha hả.
Hồ Tử bảo Liệt Tử, những gì ta dạy anh chỉ là "tướng bên ngoài", chứ không phải "tướng bên trong".
Liệt Tử quỳ xuống, cầu xin Hồ Tử dạy tướng bên trong.
Sau đó Liệt Tử được truyền pháp tướng bên trong, và giữ gìn trạng thái hư tĩnh.
Quý Hàm là thần núi non.
Hồ Tử là hóa thân của Phật A Di Đà. (Đại Kim Tiên)
Liệt Tử là ai? Bí mật, bí mật, bí mật.


### 30. Xây dựng chùa Samye


Nhiều kiếp trước, vua Tây Tạng Trisong Detsen đã mời Đại sư Tịch Hộ, sau đó mời Đại sĩ Liên Hoa Sinh, ba người cùng nhau xây dựng một ngôi chùa nổi tiếng là chùa Samye. Ngôi chùa Samye này tượng trưng cho núi Tu Di, bốn đại châu, tám tiểu châu...
Đây là vua Tây Tạng Trisong Detsen.
Đại sư Tịch Hộ.
Đại sĩ Liên Hoa Sinh.

Nhân duyên chuyển thế của họ rất đặc biệt:
Ba người này vốn là ba anh em, sống ở nước Ma Kiệt Đà, vì mẹ nuôi gia cầm, ba anh em đã xây tháp Phật cho mẹ, làm việc thiện. Ba anh em cùng lúc phát nguyện: "Nguyện có thể thiết lập Phật pháp ở những vùng biên địa chưa có Phật pháp."

Sau đó ba anh em lại chuyển thế, một người là con của la sát, một người là con của tiên nhân, người còn lại là con của Bà-la-môn.
Con của tiên nhân nguyện rằng:
"Nguyện sinh vào đất Tạng, xứ băng tuyết giá lạnh, trở thành vua hộ pháp, thiết lập giáo nghĩa Phật pháp."
Đó chính là vua Trisong Detsen.

Con của Bà-la-môn nguyện rằng:
"Nguyện đến vùng biên địa, lúc đó trở thành một bậc học giả uyên bác (Pandita), bảo vệ Phật pháp ở vùng biên địa."
Đó chính là Đại sư Tịch Hộ.

Con của la sát nguyện rằng:
"Ta sẽ bảo vệ Phật pháp ở vùng biên địa, ta nguyện trở thành một hành giả Du già có thần thông biến hóa, bảo vệ Phật pháp."
Đó chính là Đại sĩ Liên Hoa Sinh.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, với khả năng biết chính xác về các hóa thân trong đời trước và đời sau, là điều vô cùng hiếm có.
Vì vậy, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói:
Như ta, Liên Hoa Sinh này.
Hiện tại biết rõ chuyện quá khứ.
Trong thời kỳ trị vì của bệ hạ.
Giáo pháp và luật lệ của Phật sẽ cực thịnh.

Trong ký ức chuyển thế của tôi, tôi từng là người sáng lập tu viện Tây Tạng, khi đó tu viện có ba vị chủ trì, tôi là một trong số đó. Một vị khác chuyển thế thành Thubten Dhargye Thượng sư. Vị chuyển thế còn lại thì mơ hồ không rõ. Quả thật là như vậy.

Trong thời đại chuyển thế đó, Đại sư Tịch Hộ và Đại sĩ Liên Hoa Sinh cùng với vị tinh thông Phật pháp bằng tiếng Phạn, Tạng của Tây Tạng là Khước Cát Lộc Nghi Gia Sầm, đã cùng nhau dịch "18 Mật Chú Nội Tục".

Họ cũng dịch "Lục Tu Bộ Tục", "Ma Ha Du Già", "A Nỗ Du Già", "A Để Du Già", "Lục Bí Mật Bộ", "Huyễn Hóa Bát Bộ", v.v…

Tôi nhớ lại việc xây dựng chùa Samye, tôi là vua Trisong Detsen, Thubten Dhargye là Đại sư Tịch Hộ, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chính là Bà Tăng Tam Ma Da - Hải Sinh Kim Cang hóa sinh từ hồ Đạt Lạt Quách Khiếu.

Trong kiếp này:
Tôi được Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nhiếp thọ, nuốt vào từ miệng của Liên Sư và được phóng ra từ luân xa bí mật.
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ phóng ánh sáng trăm báu chiếu rọi tôi, tôi nhận được quán đảnh từ trăm vị tôn tịch tĩnh và trăm vị tôn phẫn nộ.
Trong ngôi mộ cổ, tôi được Liên Sư nhiếp thọ đại quán đảnh.

Khi tôi đến đảnh lễ Thượng sư Thubten Dhargye, Thượng sư nói với tôi: "Giáo pháp Mật tạng của con từ kiếp trước, tất cả đều ở nơi ta, con có muốn lấy lại không?"
Tôi nói:
"Giáo pháp đã in sâu trong tâm, không cần phải lấy lại!"

Kiếp trước của tôi đã từng làm vua qua nhiều đời, vua Trisong Detsen, người sáng lập chùa Samye, tên của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, tất cả đều xoay vần không ngừng trong tâm trí tôi. Đời này tôi hoằng truyền Mật tông Tây Tạng, độ chúng năm triệu người, quả thật có lý do vậy!


### 31. Nỗi bất lực của vua Trisong Detsen


若干世前，赤松德真王雖想制定佛教法規在藏地,事實上他是挫折滿滿，而且是非常無奈的。

例如：

寂護大師在藏地，除了赤松德真王之外，大師是毫無地位的。

蓮華生大士的迎請，及蓮華生大士的入藏，困難重重，縱然有成，但到處受排斥，甚至被驅逐，赤松德真王，犯了驅逐珍寶上師的三昧耶戒。

派五位比丘赴印度，從學「吽噶拉大師」，五位比丘，死的死，被驅逐的被驅逐，一位大成就者「南開寧波」也一樣被逐走邊地。

第二次派五比丘赴印度取經，從學「師利星哈大師」，這五位比丘一樣死的死，被驅逐的被驅逐，連大成就的「毘盧遮那」也被逐走邊地。

......。

（又犯了驅逐珍寶上師的三昧耶戒。）

Nhiều kiếp trước, dù vua Trisong Detsen muốn thiết lập giáo pháp Phật giáo tại Tây Tạng, thực tế ông đã gặp nhiều thất bại và vô cùng bất lực.
Ví dụ:
Đại sư Tịch Hộ ở Tây Tạng, ngoại trừ vua Trisong Detsen coi trọng, ngài không có địa vị gì cả.
Việc thỉnh mời Liên Hoa Sinh Đại Sĩ và việc đến Tây Tạng của ngài gặp vô vàn khó khăn, mặc dù có thành tựu, nhưng khắp nơi đều bị chối bỏ, thậm chí bị trục xuất, vua Trisong Detsen đã phạm giới samaya khi trục xuất bậc Thượng sư tôn quý.
Cử năm vị tỳ kheo đến Ấn Độ, theo học Đại sư Hồng Cát Lạp [Theo truyền thừa Nyingmapa, tôn giả Hồng Cát Lạp sinh ra trong một gia đình Bà-la-môn ở Nepal cổ đại (tức thung lũng Kathmandu), là một bậc trì minh của giáo pháp Đại Viên Mãn, và là hóa thân của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.], trong năm vị tỳ kheo, người chết, kẻ bị trục xuất, một bậc đại thành tựu giả Namkhai Nyingpo cũng bị đuổi đến vùng biên địa.

Lần thứ hai cử năm tỳ kheo đến Ấn Độ thỉnh kinh, theo học Đại sư Shri Singha, năm vị tỳ kheo này cũng có người chết, kẻ bị trục xuất, ngay cả bậc đại thành tựu Vairocana cũng bị đuổi đến vùng biên địa.
…
(Lại phạm giới samaya khi trục xuất bậc Thượng sư tôn quý.)

Trên thực tế, do phạm những giới luật này, vua Trisong Detsen đã có rất nhiều lỗi lầm.
Một mặt muốn thiết lập quy định Phật giáo.
Mặt khác lại trục xuất các bậc Thượng sư.
Một mặt muốn học hỏi pháp Mật giáo.
Mặt khác lại nghi ngờ các Thượng sư là pháp sư huyễn thuật ngoại đạo.

Đây hoàn toàn là lỗi của vua Trisong Detsen! Nhưng, cũng không hoàn toàn là lỗi của vua Trisong Detsen!
Bởi vì, các vương thần bảo vệ Tây Tạng thời đó được cấu thành từ các thổ ty, thổ ty là những địa chủ sở hữu trang viên, sức mạnh kiểm soát của các vương thần rất lớn. Vua Trisong Detsen bị nhiều vương thần điều khiển, không thể tự chủ, đây cũng là nỗi bất lực của vua Trisong Detsen.
Thế lực cũ, tín ngưỡng cũ (đạo Bön) và tư tưởng cũ, lực lượng phản đối rất mạnh.
Đưa Phật pháp vào Tây Tạng.
Bị thế lực cũ của các vương thần cản trở, đây chính là nỗi bất lực của vua Trisong Detsen - người thiếu niềm tin.

Khi đó, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã kể cho vua Trisong Detsen về truyền thừa Phật pháp:
A Đạt Nhĩ Mã Phật truyền cho Ngũ phương Ngũ Như Lai, Ngũ phương Ngũ Như Lai truyền cho Kim Cang Tát Đỏa, Kim Cang Tát Đỏa truyền cho Thắng Hỷ Kim Cang, Thắng Hỷ Kim Cang truyền cho Đại sư Shri Singha, Đại sư Shri Singha truyền cho Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền cho vua Trisong Detsen.
(Kiếp này, trong ngôi mộ cổ, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã truyền mười tám bộ pháp Đại Viên Mãn cho Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, chẳng phải điều này tái diễn giống như việc Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền pháp cho vua Trisong Detsen từ nhiều kiếp trước đó sao?)
Tất cả đều có nhân quả.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ ở Tây Tạng 50 năm, vua Trisong Detsen ban hành giáo quy Phật pháp, đây là phép màu khi Liên Hoa Sinh Đại Sĩ thể hiện thần thông lớn, chinh phục nhiều vương thần.
Các vương thần từ việc công khai nhục mạ Phật pháp chuyển thành tôn kính Phật pháp, thực ra là nhờ công của:
Đại sư Tịch Hộ.
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.
Tôn giả Vô Cấu Hữu Vimalamitra.
Yogi Yudra Nyingpo
Tôn giả Vairocana.

Còn vua Trisong Detsen giữ vai trò là người thực thi, thực tế, ông là một vị vua sống sót trong kẽ hở. Ông bị kẹt giữa Phật pháp và thế lực cũ của các vương thần Tây Tạng, có thể bảo vệ được Phật pháp cũng đã là điều rất tốt rồi.
Về sau, vua Trisong Detsen trở thành đệ tử thượng thủ trong tám đại đệ tử của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.
Và trong kiếp này, tôi được Liên Hoa Sinh Đại Sĩ tiếp dẫn đến ngôi mộ cổ để truyền pháp quán đảnh, quả thật điều này có nhân quả!


### 32. Terma ý của vua Trisong Detsen


Trong nhiều kiếp trước, vào thời đại khi tôi chuyển thế thành vua Trisong Detsen, tôi đã nhận thức sâu sắc về ý thức chủng tộc nặng nề.
Thứ nhất:
Ý thức chủng tộc ở Ấn Độ (Thiên Trúc) rất mạnh mẽ. Về nội bộ, tu sĩ, hoàng tộc, thương nhân, nô lệ, các giai cấp phân chia rất rõ ràng. Đối với bên ngoài, đạo Bà-la-môn của Ấn Độ tuyệt đối không truyền ra ngoài, bao gồm cả Tiểu thừa, Đại thừa và Mật thừa của Phật giáo. Muốn học hỏi Phật pháp từ Ấn Độ là điều cực kì khó khăn.

Ban đầu, mười tỳ kheo được cử sang Ấn Độ học hỏi Mật thừa, có thể nói mang tính chất "học lén", trường hợp nghiêm trọng thậm chí còn bị truy sát, tính bài ngoại của Ấn Độ rất mạnh. Khi học thành công trở về Tây Tạng, tương tự, họ cũng gặp phải tính bài ngoại mạnh mẽ từ dân tộc Tây Tạng, đặc biệt là vùng Amdo và Kham, những tỳ kheo học thành công đều phải đối mặt với số phận bị trục xuất.
(Trong kiếp này, tôi, Lư Thắng Ngạn, cũng cảm nhận được tính bài ngoại của người Tây Tạng, Mật tông Tây Tạng truyền vào Trung Nguyên vẫn còn rất hạn chế, không đến một phần mười hoặc một phần trăm. Không chỉ Ấn Độ có tính bài ngoại, Tây Tạng cũng vậy, người Hán ở Trung Nguyên cũng có tính bài ngoại, tính bài ngoại này đã khiến phạm vi truyền bá Mật thừa của Phật pháp bị thu hẹp, thật đáng tiếc.)

Vào thời đại của vua Trisong Detsen, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã sớm thấu suốt đạo lý về tính bài ngoại giữa các chủng tộc. Vì vậy, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã đặt tất cả giáo pháp của Ngài, bằng phương thức terma, phân bố trong các tảng đá, trong lòng đất, trong hồ nước, trong hư không, để dành cho người đời sau khai quật, truyền bá giáo pháp.
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ gọi loại terma như vậy là terma đất.
Thời gian.
Địa điểm.
Terton (người khai mở terma) vào đúng thời điểm sẽ khai mở terma, giúp người đời sau nhận được giáo pháp Mật chú thừa.

Ngoài ra:
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ cũng đã cất giữ terma trong tâm thức của tôi, vua Trisong Detsen. Loại terma này được gọi là terma ý. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ thật sự vĩ đại, Ngài đã lưu giữ giáo pháp của mình trong tâm thức của tôi. Khi cơ duyên chín muồi, tôi có thể truyền bá giáo pháp của Ngài, tôi có thể rút ra giáo pháp của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ từ chính tâm thức của mình.

Ở Tây Tạng:
Tôi hóa thân thành vua Trisong Detsen.
Hóa sinh thành quốc vương vương triều Guge.
Hóa thân thành tổ sư Tsongkhapa, v.v… 

Ở Ấn Độ:
Tôi hóa thân thành tôn giả Atisa - tiền thân của Tsongkhapa.
Hóa thân thành vua Ashoka.
Hóa thân thành tôn giả Tilopa. v.v…

Ở Trung Quốc:
Tôi hóa thân thành Cảnh Tông, Nhân Tông, Mạt Đế của vương triều Đại Bạch Cao Quốc (vương triều Tây Hạ).
Hóa thân thành Cát Tường Sư Tử, v.v…

Ở Đài Loan:
Tôi hóa thân thành Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, v.v…
(Đây là một vài hóa thân quan trọng hơn, còn những hóa thân khác là vô lượng vô tận.)
Nếu có cơ duyên, tôi sẽ viết thêm về nhiều hóa thân chuyển thế khác.

Hóa thân của vua Trisong Detsen đã nhận được terma ý từ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, do đó rất am hiểu về giáo pháp của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.

Vì lẽ đó, trong kiếp này, tôi đã hiểu rõ:
Hệ thống Phật pháp về loại trừ tất cả chướng ngại.
Chín bộ pháp tu căn bản.
Mật điển Đại Uy Đức.
Mười hai Mật điển Phổ Ba.
Mật điển Tập hội Ma Mẫu.
Và còn nhiều nữa.

Bởi vì tôi sở hữu terma ý của giáo pháp Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, tôi nói rằng tất cả giáo pháp đều ở trong tâm tôi, vạn pháp đều ở trong tâm tôi, điều này là có lý do.


### 33. Chủ nhân của kiếm gỗ đào


Từ nhiều kiếp trước, tôi là một người tu đạo tại động Ngọc Tuyền ở núi Chung Nam, đã có hàng nghìn năm công phu tu luyện.
Bỗng nhiên tôi thấy một luồng sát khí trong hoàng cung.
Tôi lấy một thanh kiếm gỗ đào, tặng thanh kiếm đó cho quốc vương, với mong muốn trấn áp luồng sát khí này.
Quốc vương hỏi:
"Đạo sĩ từ đâu đến?"
Tôi đáp:
"Từ vân thủy đến!"
Quốc vương hỏi:
"Vân thủy là cái gì vậy?"
Tôi đáp:
"Tâm như mây trắng thường tự tại, ý như dòng nước chảy đông tây. Đó chính là vân thủy, vân thủy hiện diện khắp mọi nơi."
Quốc vương thử tôi:
"Nếu mây tan đi, nước cạn khô, ngươi sẽ thế nào?"
Tôi đáp:
"Mây nếu tan đi, trăng sẽ hiện ra. Nước nếu khô cạn, minh châu sẽ tỏa sáng."
Quốc vương hỏi:
"Ngươi vừa gặp hoàng thượng, sao không quỳ lạy?"
Tôi đáp:
"Ta không một mảy may vướng bận, cũng chẳng một chút xíu ràng buộc; quốc vương dù quý là hoàng thượng, vẫn không bằng việc tu chân, làm sao quỳ được?"
Quốc vương thấy tôi trả lời như vậy, vô cùng hoan hỷ nói:
"Quả nhiên lời của tiên sinh đầy tinh thần sảng khoái, như đang ở ngoài cõi trần tục. Ta nhận thanh kiếm gỗ đào của ngươi tặng, sẽ đặt trong cung, trở thành bảo vật trấn giữ cung điện!"
Thế rồi tôi cáo từ quốc vương, trở về núi.

Thật đáng tiếc.
Quốc vương nghe lời gièm pha của quần thần, đã hỏa thiêu thanh kiếm gỗ đào, vận mệnh quốc gia từ đó suy tàn, cuối cùng bị diệt vong. Ánh sáng của thanh kiếm gỗ đào bay vào cõi hư không, rồi biến mất.
Việc tặng thanh kiếm gỗ đào chỉ là tấm lòng của người tu đạo mà thôi.

Tôi là:
Thân phóng khoáng, tâm tự tại;
Không cầm vũ khí, không làm điều quái dị;
Vạn sự mông lung gửi ngoài tâm trí.
Không bận tâm đến thiên hoàng, địa hoàng hay nhân hoàng;
Không hỏi đến âm thanh của trời, đất hay người;
Tâm này đã không còn bị trời đất ngăn ngại.

Trong đời này, tôi gặp một vị tăng, chính là Thích Tuệ Linh, ông ấy đã lấy một thanh kiếm gỗ đào từ phòng riêng của mình để tặng tôi.
Tôi hỏi:
"Thanh kiếm gỗ đào này của ai vậy?"
Thích Tuệ Linh đáp:
"Của ông."
Tôi hỏi:
"Có dấu hiệu gì chứng minh đó là của tôi?"
Thích Tuệ Linh nói:
"Tùy duyên tùy phận xuất trần lâm, ngày xưa gọt kiếm một tấm lòng, hai cuốn kinh thư kiếm gỗ đào, thiêu hóa hư không biến tinh linh."
Nghe xong, tôi đã có chút tỉnh ngộ.
Liền nhận lấy kiếm gỗ đào.
Về sau tôi dùng kiếm gỗ đào để trấn sát khí, trừ tà và yêu quái, rất linh nghiệm.

Sau khi chuyển đến Mỹ, tôi đã giao thanh kiếm gỗ đào cho mẹ tôi là Lư Ngọc Nữ cất giữ.
Về sau, không biết đã đi đâu mất.
Giờ đây, tôi xin hỏi những người nhân đức quân tử, có ai đã nhận thanh kiếm gỗ đào của tôi không? Nếu có ai đang giữ, xin vui lòng hoàn trả được không?
Chủ nhân của thanh kiếm gỗ đào là ai? Bí mật, bí mật, bí mật thay.


### 34. Tư tưởng của Quỷ Cốc Tử


Nhiều kiếp trước, có một vị tổ sư Bát Quái, ngài là vô hình, chúng ta có thể gọi là Đại Trí, Đại Trí chính là tự nhiên bao la.
Sau đó, Phục Hy vẽ ra Bát Quái, phân loại tự nhiên bao la, có liên tục có đứt đoạn, có một dài hai ngắn, tính ra là có trật tự.
Tiếp đến là Chu Văn Vương, có thể coi là Đại Trí biến thành Tiểu Trí, phát triển Bát Quái không ngừng, như hàng nghìn hàng vạn lỗ thông hơi, phát ra những âm thanh khác nhau.

Tiếp đến là Chu Công, con trai của Văn Vương, đã phát triển Bát Quái của Chu Văn Vương trở nên cụ thể hơn, như xuân hạ thu đông, sinh lão bệnh tử, sinh vượng tử tuyệt; khi thì vui mừng, khi thì tức giận, khi thì buồn bã, khi thì hoan hỷ, khi thì than thở, khi thì cố chấp, khi thì do dự, khi thì phù phiếm, khi thì kiêu căng...... Ông đã biến tất cả những điều này thành một hệ thống.

Sau đó xuất hiện Khổng Tử, ông nghiên cứu sáu kinh: Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân Thu, tự cho rằng mình đã hiểu hết tất cả, đi cầu kiến nhiều quốc vương, thảo luận về đạo lớn của các tiên vương, làm sáng tỏ công tích chính trị của Chu Công. Về sau, không có quốc vương nào trọng dụng ông, ông thường than thở rằng đạo lớn không thể phát triển rực rỡ.

Cuối cùng Khổng Tử nói:
Ta chưa hợp nhất với tạo hóa.
Không biết người hợp nhất với tạo hóa.
Không thể cảm hóa người khác!

Cuối cùng có một vị tên là Vương Thiền Quỷ Cốc Tử xuất hiện, ông đã hiểu rõ những đạo lý này, người đời chỉ biết ông giỏi binh pháp, nhưng không biết tư tưởng của ông, bây giờ tôi sẽ viết về tư tưởng của Vương Thiền Quỷ Cốc Tử!

Dịch là sự biến hóa của tự nhiên.
Nếu không có biến hóa, sẽ không có Quỷ Cốc Tử.
Không có Quỷ Cốc Tử, sẽ không có nhà tiên tri thể hiện sự biến hóa của tự nhiên.
Quỷ Cốc Tử chính là tự nhiên.
Tự nhiên chính là Quỷ Cốc Tử.

Trong vũ trụ này quả thực có một "chủ tể chân thật".
Nhưng, con người thế gian không thể nhìn thấy "chủ tể chân thật" này.
Tác dụng của nó có thể được kiểm chứng trong vạn vật.
Nhưng bản thể của nó thì không thể nhìn thấy được.
Dù bạn biết tình trạng của chủ tể chân thật cũng được!
Dù bạn không biết tình trạng của chủ tể chân thật cũng được!
Đối với "chủ tể chân thật", sẽ không tăng thêm một phần, cũng không giảm đi một phần.

Tư tưởng thật sự của Quỷ Cốc Tử là:
Cái kia tồn tại dựa trên sự đối đãi với cái này.
Cái này cũng tồn tại dựa trên sự đối đãi với cái kia.
Sự phân biệt giữa này và kia chỉ là một trạng thái khi vạn vật mới hình thành.
Sống sẽ dẫn đến chết.
Chết sẽ dẫn đến sống.
Cái kia chính là cái này.
Cái này chính là cái kia.

Loại bỏ sự đối lập giữa cái này và cái kia, đó chính là mấu chốt của đạo, có thể đối phó với vô số biến hóa.
Cần biết rằng biến hóa là vô tận.
Phi biến hóa cũng là vô tận.
Cho nên nói:
Diệu dụng nằm ở "minh".

Người đời đều biết đến Vương Thiền Quỷ Cốc Tử tiên sinh, biết chuyện về Bàng Quyên và Tôn Tẫn.
Bàng Quyên và Tôn Tẫn đều là đệ tử của Quỷ Cốc Tử.
Bàng Quyên là "Hữu".
Tôn Tẫn là "Vô".
Trí tuệ của Tôn Tẫn đã đạt đến mức tột cùng, vũ trụ ban đầu là không có vật gì cả.
Đây là tột cùng! Trọn vẹn!

Vương Thiền Quỷ Cốc Tử biết tư tưởng của hai đệ tử, đương nhiên ông biết ai là người đã hợp nhất với đạo?

Tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) đã sớm biết mình là ai?
Là Quỷ Cốc Tử chăng? Hay là Tôn Tẫn? Bí mật, bí mật, thật bí mật thay!


### 35. Tăng nhân ẩn thân


Nhiều kiếp trước, sách "Ngụy Thư", "Bắc Sử", "Pháp Uyển Châu Lâm", "Tục Cao Tăng Truyện"... đều ghi chép về sự linh nghiệm của "Kinh Cao Vương Quan Thế Âm".

Vào niên hiệu Thiên Bình nhà Nguyên Ngụy, tại Định Châu có một cư sĩ tên là Tôn Kính Đức. Sau đó ông bị liên lụy vào một vụ án, bị bỏ tù và sắp bị chém đầu. Trong giấc mơ, ông thấy một vị tăng dạy ông tụng "Kinh Cao Vương" một nghìn lần để thoát nạn.

Vị tăng dạy từng câu, ông học thuộc từng câu, cuối cùng đã thuộc lòng toàn bộ.

Lúc đó Tôn Kính Đức bị lôi ra pháp trường, vẫn còn vài phần chưa tụng xong, ông vừa đi vừa tụng, và vừa hay tụng đủ một nghìn lần. Khi hành quyết, một nhát đao chém xuống, đao gãy làm hai đoạn, da thịt không bị thương tích.
Đổi ba lưỡi đao, đao nào cũng gãy đứt.
Quan giám sát việc chém đầu vô cùng kinh ngạc!
Người hành quyết tâu lên hoàng đế, hoàng đế đã ân xá tội chết cho Tôn Kính Đức và yêu cầu ông chép ra kinh văn để lưu truyền.

Từ đó về sau, quyển "Kinh Cao Vương Quan Thế Âm" này, sau khi được lưu truyền từ thời Bắc triều, đã trở thành "kinh điển được tăng nhân truyền trong mộng" được người đời tôn kính, chính là "Kinh Cao Vương Quan Thế Âm".

Còn nữa:
Sách "Nho Lâm Truyện" thời Bắc Ngụy và "Lư Đồng Truyện" trong bộ Bắc Sử có ghi chép về một nhân vật tên là Lư Cảnh Dụ.
Lư Cảnh Dụ hâm mộ Phật pháp, thích nghiên cứu kinh sách, làm quan đến chức Quốc Tử Bác Sĩ.
Tuy nhiên, anh trai ông là Lư Trọng Lễ bị tình nghi phản loạn, cuộc nổi loạn của Lư Trọng Lễ đã bị Bắc Tề Hiến Vũ Vương dẹp yên.
Lư Cảnh Dụ bị liên lụy, bị giam trong ngục tại Tấn Dương.

Lư Cảnh Dụ trì tụng "Kinh Cao Vương", tụng đến khi gông xiềng tự động tháo ra, lính canh ngục thay gông xiềng mới, rồi lại tự động tháo ra, thay lần nữa, lại tháo ra.
Ngục lại vô cùng kinh ngạc.
Tề Hiến Vũ Vương nghe được chuyện này, biết ông bị oan, liền ân xá cho ông.
Về sau, Lư Cảnh Dụ được thăng làm quan to.

Lại nữa:
Có một viên quan tên là Hồng Sâm, phạm tội chết, cũng mơ thấy một vị tăng trong đêm dạy ông từng câu một tụng "Kinh Cao Vương Quan Thế Âm". Sau khi tỉnh dậy, từng câu đều rất rõ ràng trong trí nhớ, ông đã tụng đủ một nghìn lần.
Khi đến lúc hành quyết, một nhát đao chém xuống, đao đã gãy, phần cổ không hề bị thương tích.
Quan giám sát việc chém đầu đã tâu việc này lên Tề Hiến Vũ Vương.
Và Hồng Sâm cũng được ân xá.

Từ đó, bộ "Kinh Cao Vương Quan Thế Âm" này được lưu hành khắp thiên hạ, những sự linh ứng không ngừng xảy ra.
Kinh này là kinh được truyền trong mộng.
Không có trong "Đại Tạng Kinh".
Nhưng trong kinh toàn là danh hiệu Phật và danh hiệu Bồ Tát.
Có rất nhiều danh hiệu của Bồ Tát Quan Thế Âm.
Có trăm ức Kim Cương Tạng Phật.
Có Thanh Lương Bảo Sơn ức vạn Bồ Tát.
Có quá khứ thất Phật, Hiền kiếp thiên Phật.
(Bao gồm tất cả danh hiệu Phật Bồ Tát.)
Đồng thời điều quan trọng nhất:
"Diệt được khổ sinh tử, tiêu trừ các độc hại".

Cá nhân tôi nhận thấy, bộ "Kinh Cao Vương Quan Thế Âm" này không phải tầm thường, trong đó điều quan trọng nhất là "Thất Phật diệt tội chân ngôn", đây là một bộ kinh rất đáng trì tụng.

Chân Phật Tông chúng ta tôn sùng "Kinh Cao Vương", đệ tử không ngừng trì tụng, ai ai cũng có cảm ứng lớn.
Đặc biệt là đệ tử Chân Phật Tông, ai ai cũng cung kính thờ kim thân "Cao Vương Quan Thế Âm", trở thành nhà nhà đều có Quan Thế Âm.
Người hỏi:
"Tại sao Chân Phật Tông nhà nào cũng có Cao Vương Quan Thế Âm?"
Tôi đáp:
"Đó là kinh của tôi."
"Tại sao lại là của ngài?"
Tôi đáp:
"Người truyền dạy kinh này trong mộng, nếu không phải là tôi thì là ai?"


### 36. Sự hình thành Hoàng đế Cảnh Tông


Nhiều kiếp trước, dân tộc Tây Hạ (tộc Đảng Hạng) vốn sống phân tán, tức là một xã hội bộ lạc phân tán.
Thời đại đó, dân tộc Tây Hạ sống xen kẽ với người Tạng và các dân tộc khác ở hành lang Hà Tây, ở vùng Lũng Hữu, cấu trúc chủng tộc rất phức tạp.
Có tộc Khiết Đan.
Có tộc Tạng.
Có tộc Hồi Hột.
Cũng có tộc Hán.
Trong các dân tộc này, nhiều người theo đạo Phật, bởi vì đây là con đường lớn dẫn đến vùng Tây Vực, Phật giáo đã sớm được truyền bá tại nơi này.

Thực ra, dân tộc Tây Hạ, trong thời kỳ đầu cũng sùng bái tự nhiên và tín ngưỡng quỷ thần, pháp thuật rất thịnh hành. Sau khi thành lập quốc gia, họ mới tích cực đề cao Phật giáo, trong đó cũng có một số tín ngưỡng Đạo giáo.

Dân tộc Tây Hạ thời kỳ đầu (tộc Đảng Hạng), mỗi bộ lạc tự cai quản, phân tán tại Thiểm Tây, Thanh Hải, Cam Túc, trải qua hai trăm năm di cư, người dân sống cuộc đời khốn khổ, may mắn có tín ngưỡng Phật giáo mới giải trừ được nỗi đau về tinh thần và thể xác. Có thể nói, Phật pháp là sự an ủi tinh thần.

Hoàng đế Cảnh Tông cũng không trở thành hoàng đế ngay lập tức, ban đầu đó là một bộ lạc đặc biệt lớn, kết hợp hoặc chinh phục các bộ lạc nhỏ khác, từ Chủ nước Hạ đến Vua nước Hạ rồi đến Hoàng đế, được hình thành như vậy, cuối cùng, quyền lực ngày càng lớn mạnh.

Hoàng đế Cảnh Tông trở thành vị hoàng đế đầu tiên của Đại Bạch Cao Quốc (vương triều Tây Hạ).
Hoàng đế Cảnh Tông đã tích cực đề cao Phật giáo, mượn sức mạnh tôn giáo để củng cố vương quyền.
Ông dạy người Tây Hạ khi sống phải học tập Phật pháp, tiêu trừ tai ương, tăng thêm phúc lành, đời sau đến cảnh giới cao hơn.
Trên hòa với Phật pháp.
Dưới hòa với thánh hiền.
Tương hỗ thuận hòa.
Mọi người đều trì tụng "Kinh Cao Vương Quan Thế Âm".

Phật giáo trở thành một trong những trụ cột tinh thần của người Tây Hạ. Phật giáo tại Tây Hạ đã phát triển và truyền bá nhanh chóng hơn.
Hoàng đế Cảnh Tông là một vị hoàng đế am hiểu thiên văn.
Ông phân chia: trời, mặt trời, mặt trăng, tinh tú, chín sao, mười hai cung hoàng đạo, hai mươi tám chòm sao. Điều này không khác biệt mấy so với thiên văn học ngày nay.

Kinh điển Phật giáo ở Tây Hạ rất nhiều, có:
"Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật"
"Kinh Phật Thuyết Phụ Mẫu Ân Trọng Nan Báo"
"Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm"
"Kinh Bạt Tế Khổ Nạn Đà La Ni"
"Kinh Giáp Tụng Tâm"
"Kinh Thánh Lục Tự Tăng Thọ Đại Minh Đà La Ni"
"Kinh Phật Thuyết Kim Luân Phật Đỉnh Đại Uy Đức Xí Thịnh Quang Đà La Ni"
v.v…
Thời đó, ai ai cũng cầm kinh trong tay, sáng tối đều học kinh.

Vương triều Tây Hạ (Đại Bạch Cao Quốc) cũng chịu ảnh hưởng của Mật tông Tây Tạng, trong đó nhiều người tu tập Mật giáo, kinh điển Mật giáo được in ấn rất nhiều.
Thời đó, Hoàng đế Cảnh Tông có một vị quan tên là Quách Thiện Chính.
Vì người này bị buộc tội tham nhũng, ông bị phạt vào ngục mười chín năm, cuối cùng chết đói.
Sau này khi điều tra ra người tham nhũng thực sự là người khác, Quách Thiện Chính đã bị oan.

Ở kiếp sau:
Quách Thiện Chính đầu thai thành Lư Nhĩ Thuận.
Tôi đầu thai thành con trai của Lư Nhĩ Thuận là Lư Thắng Ngạn.
Vì vậy, tôi bị bắt nạt mười chín năm.
(Tất cả đều có lý do).

Câu chuyện quá khứ này đã được ghi lại trong "Cảnh Tông Ngọc Kính", dù là hoàng đế cũng phải chịu nhân quả. "Cảnh Tông Ngọc Kính" viết bằng văn tự Tây Hạ, nhưng cũng có bản tiếng Tạng và tiếng Hán.


### 37. Hoàng đế Nhân Tông dốc sức phát triển Phật giáo


Nhiều kiếp trước, Hoàng đế Nhân Tông triều đại Tây Hạ là vị hoàng đế tận tâm nhất trong việc phát triển giáo hóa của Đức Phật, ông là vị hoàng đế thứ năm của Đại Bạch Cao Quốc, Đại Bạch Cao Quốc có tổng cộng mười vị hoàng đế.

Trong giai đoạn đầu của Tây Hạ, có ba công trình lớn nhằm phát triển Phật pháp:
1. Có sáu lần cầu xin "Đại Tạng Kinh" từ Bắc Tống.
2. Dịch kinh Phật một cách có tổ chức bằng văn tự Tây Hạ.
3. Xây dựng chùa Cao Đài, Thừa Thiên, Hộ Quốc, Ngọa Phật và nhiều ngôi chùa khác.
4. Xây dựng chùa chiền không chỉ ở Hạ Châu mà còn ở Lương Châu, Cam Châu.
5. Toàn dân trong nước trì tụng "Kinh Cao Vương Quan Thế Âm".

Quốc hiệu "Đại Bạch Cao Quốc" lấy từ "Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử Cao Vương Quan Thế Âm".

Hoàng đế Nhân Tông, đời thứ năm, triều đại này kéo dài hơn năm mươi năm, Phật giáo phát triển mạnh hơn các triều đại trước.
1. Ngành in ấn phát triển nhanh chóng, việc hiệu đính và in ấn kinh điển mở rộng chưa từng có.
2. Sự nghiệp bố thí kinh điển phát triển mạnh mẽ, phân phát cho các dân tộc.

Trong thời Hoàng đế Nhân Tông, có một đại pháp hội đã mời ba vị quốc sư cùng hàng trăm, hàng nghìn pháp sư.
Các vị quốc sư là:
Quốc sư Tông Luật.
Quốc sư Huyền Mật.
Quốc sư Tịnh Giới.

Pháp hội này có cúng dường, thí thực, niệm Phật, trì chú, tụng kinh, tu pháp, có cả Hiển giáo và Mật giáo, các kinh được tụng là:
1. "Kinh Quán Di Lặc Thượng Sinh Đâu Suất Thiên".
2. "Kinh Kim Cang".
3. "Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện".
4. "Kinh Cao Vương Quan Thế Âm".
Phật sự kéo dài mười ngày đêm.

Hoàng đế Nhân Tông trị vì năm mươi năm, thông thạo cả Hiển giáo và Mật giáo. Vị quốc sư đầu tiên thời nhà Nguyên là Bát Tư Ba đã nhận định rằng vương triều Tây Hạ (Đại Bạch Cao Quốc) đã có những đóng góp to lớn cho sự phát triển của Mật giáo.

Ảnh hưởng mở rộng đến:
Thiên Trúc Quốc, Ca Thấp Di La Quốc, Lặc Quốc, Quy Tư Quốc, Niết Ba Lạt Quốc, Chấn Đán Quốc, Đại Lý Quốc.

Hoàng đế Nhân Tông rất coi trọng việc cúng dường tháp xá lợi, có bia văn ghi lại:
Hoàng đế bệ hạ Thánh Văn Anh Vũ Sùng Nhân Chí Hiếu của chúng ta, thông minh sáng suốt vượt xa Đường Nghiêu, anh hùng hơn cả Hán Tổ. Tôn sùng đạo Phật, biên soạn văn tự phiên, cung điện Nại Uyển Liên Cung, chỉnh trang tỉ mỉ, kim thừa bảo giới chắp tay hộ trì. Do đó, danh lưu Đông độ, cao tăng Tây Thiên, dâng cúng xá lợi một trăm chín mươi viên, cùng một đốt xương ngón tay giữa của Phật, hiến tặng một cánh tay Phật và một mảnh xương sọ. Trọn dùng quan tài bạc, áo quan vàng, hộp sắt, hòm đá, phủ lên bảo vật, trang trí bằng tì sa. Bên dưới thông với mạch nước ngầm, bên trên xây tháp cao vút mây. Hương hoa mãi thơm, vàng đá bày khắp. Điều mong ước là bảo hộ quốc gia vững chắc như núi Nam Sơn, duy trì con cháu, trường thọ như dây đay dẻo dai. Trăm quan đồng lòng phụng sự, vạn dân an cư lạc nghiệp. Biên ải không còn chiến tranh, kho rương đầy ắp ngũ cốc.
Đã xây dựng vô số tháp xá lợi!
Hoàng đế Nhân Tông đại hưng Phật giáo, sự ra đời của ông có liên quan đến sự giáng sinh của Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.

Trong "Gia Tĩnh Ninh Hạ Tân Chí" có đoạn:
Khi Hoàng đế Nhân Tông giáng sinh, Hoàng hậu đi dạo, thấy ở phương Tây có một ngọn núi với ánh sáng trắng rực rỡ chiếu thẳng đến, các quan đều nhìn thấy một đồng tử, tay cầm hoa sen trắng, ngồi trên hoa sen trắng, xuất hiện trước Hoàng hậu, rồi lóe sáng biến mất.
Sau khi trở về cung, Hoàng hậu có thai.
Khi sinh ra, thấy Phật A Di Đà ném xuống một đóa sen trắng lớn, Bồ Tát Quan Thế Âm đi cùng Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Ánh sáng tỏa chiếu bốn phương.
Hương thơm hoa bay phảng phất.
Kéo dài mười ngày không dứt.
Hoàng đế Nhân Tông chính là Đồng Tử Đại Bạch Liên Hoa không sai!


### 38. Nỗi bi ai của Mạt Đế


Nhiều kiếp trước, khoảng cuối thế kỷ 12, bộ tộc Mông Cổ ở phương Bắc dần dần trở nên hùng mạnh, Thành Cát Tư Hãn (Thiết Mộc Chân) với tài năng xuất chúng của mình, đã thống nhất các bộ tộc Mông Cổ khác. Sau đó, ông tiến quân về phía Tây, thế như chẻ tre, nhiều quốc gia nhỏ đều bị nuốt chửng như hổ đói sói tham.

Có một truyền thuyết kể rằng:
Khi Thành Cát Tư Hãn đang tấn công Ấn Độ, ông biết được ở Trung Nguyên có một tu đạo sĩ tên là Khâu Trường Xuân (Khâu Xử Cơ), chính là một đạo sĩ của phái Toàn Chân.
Thành Cát Tư Hãn đã hẹn gặp Khâu Chân Nhân ở phương Bắc.

Thành Cát Tư Hãn hỏi:
"Đạo là gì?"
Khâu đáp:
"Giữ tĩnh."
Thành Cát Tư Hãn hỏi:
"Nếu động thì sao?"
Khâu đáp:
"Nhưng không làm trái."
Thành Cát Tư Hãn hỏi:
"Chiến tranh không phải luôn là bạo lực sao!"
Khâu đáp:
"Giảm giết chóc."
(Truyền thuyết này đã trở thành bối cảnh lịch sử cho các tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung như "Anh Hùng Xạ Điêu", "Thần Điêu Hiệp Lữ".)

Đại quân Mông Cổ đã bắt đầu tấn công vương triều Tây Hạ vào đầu thế kỷ 13, Thành Cát Tư Hãn dẫn đại quân tấn công, các đại tướng của ông là:
Mộc Hoa Lê.
A Tô Lỗ.
Tốc Bất Đài.
Quốc vương Cao Xương Quốc cũng tham gia tấn công Tây Hạ.
Tướng Khiết Đan Na Luật A Hải.
Tướng Hán Sử Thiên Tường.

Trong lịch sử, đại quân Mông Cổ tấn công vương triều Tây Hạ được ghi nhận có tổng cộng sáu lần. Hai lần đầu chỉ chiếm được một số thành trại nhỏ, đến lần thứ ba mới đánh bại được con trai của Mạt Đế nhà Tây Hạ.
Họ bắt được:
Phó Nguyên soái Cao Lệnh Công.
Thái phó Tây Bích.
Ngôi Danh Lệnh Công.
Sau đó bao vây tấn công thủ đô Trung Hưng Phủ, nhưng không chiếm được.
Lần thứ tư bay vây tấn công vương thành Tây Hạ, Mạt Đế nhà Tây Hạ tránh sang Tây Lương.
Lần thứ năm, Thành Cát Tư Hãn đang ở Tây Vực, nghe nói Mạt Đế nhà Tây Hạ là Lý Hiến kết giao với các nước khác, tập hợp binh lực, nên đã bí mật ra lệnh cho Bột Lỗ dẫn quân tấn công vương triều Tây Hạ.
Lần thứ sáu Thành Cát Tư Hãn chinh phạt Tây Hạ bắt đầu từ năm 1226.

Điều này được ghi chép trong "Nguyên Sử":
"Năm thứ 21 Bính Tuất (năm 1226) vào tháng giêng mùa xuân, Thành Cát Tư Hãn vì Tây Hạ đã chứa chấp Xích Lạp Hạt Tường Côn, kẻ thù truyền kiếp, và không chịu gửi con tin. Thành Cát Tư Hãn khởi binh tấn công, chiếm được thành Hắc Thủy, Mạt Đế nhà Tây Hạ trốn lên núi Hỗn Thùy. Thành Cát Tư Hãn tấn công chiếm được Cam Châu, Túc Châu và các nơi khác."

Sau đó không còn nhiều ghi chép, thành Túc Châu rốt cuộc đã bị chiếm như thế nào, lịch sử không ghi chi tiết.

Chỉ có ghi chép về lần tấn công cuối cùng:
Dòng họ công thần Cử Lập Sa của thành Túc Châu đã dẫn quân đầu hàng và hiến thành cho quân Mông Cổ. Họ còn phục vụ quân Mông Cổ, nhưng cuối cùng vẫn không tránh khỏi số phận chết trận nơi chiến trường.

Sau khi chiếm được thành Túc Châu, họ lại chiếm thành Cam Châu, rồi lấy Lương Châu, tiếp đến lấy Linh Châu, rồi chiếm Trung Hưng Phủ. Từ đây, vương triều Tây Hạ đã diệt vong.

Theo như tôi biết:
Quân Mông Cổ tấn công vương triều Tây Hạ có đến hơn mười lần, các trận chiến đều vô cùng khốc liệt, quân Mông Cổ đã phải trả giá đắt. Thành Cát Tư Hãn đã chết trong lo âu.
Đó là kết cục lịch sử của vương triều Tây Hạ.
Nhưng, điều đó cũng tượng trưng cho khí phách hào hùng, sự uy vũ của Tây Hạ.


### 39. Không mong cầu của Hàn Phi Tử


Nhiều kiếp trước, có một người sống trong hang động nơi núi sâu, ông ta học tập pháp môn Quán tâm trong thời gian rất lâu.
Người này sau đó đã xuống núi, bắt đầu truyền bá chân lý của Thiên đạo.
Ông nói:
"Trời là vô tư."
"Trời yêu thương nhân loại."
"Nếu con người giống như trời, sẽ có thể bước vào cửa trời."

Đạo lý thật đơn giản như vậy, nhưng phàm phu thế tục lại không thể làm được.
Việc truyền đạo của người này đã thu hút rất nhiều người, rất nhiều người.
Về sau, ông bị hoàng gia hiểu lầm, cho rằng ông lợi dụng quần chúng, sẽ trở thành vua trong các vua.
Họ đã giết hại ông.
Người này là ai?
Bí mật, bí mật, bí mật.

Hơn nữa:
Có một câu nói rằng:
"Người đạt đến cảnh giới cao nhất không còn bản ngã, người thần thánh không cầu công trạng, bậc thánh nhân không cần danh tiếng."
Câu nói này ẩn chứa đạo lý của Thiên đạo, nếu đạt đến trạng thái này, thì không còn phân biệt đâu là phúc, đâu là họa.

Hàn Phi Tử có câu:
"An nguy thay đổi lẫn nhau, họa phúc sinh ra lẫn nhau."
"Đạo Đức Kinh" nói:
"Họa là nơi phúc nương tựa, phúc là nơi họa ẩn náu."

Hàn Phi Tử nói:
Con người vì rất sợ hãi thảm họa sẽ đến, nên hành vi thường cẩn trọng, và từ đó trở nên đoan chính.
Hành vi đoan chính của con người chính là do suy nghĩ của họ đã có chính niệm. Khi có chính niệm, người ta sẽ hiểu rõ tình người và lẽ đời.
Nếu không có thảm họa xảy ra, người này sẽ sống trọn tuổi trời, có thể thành công và giàu sang, nhưng thực ra thành công và giàu sang đó lại đến từ nỗi sợ hãi về thảm họa.

Hàn Phi Tử còn nói:
Nếu con người đạt được thành công và giàu sang, họ sẽ mặc y phục gấm vóc, ăn cao lương mỹ vị. Từ đó, lòng kiêu ngạo sẽ nảy sinh. Một khi đã có sự giàu sang kèm theo lòng kiêu ngạo, hành vi sẽ trở nên lệch lạc. Khi hành vi đã lệch lạc, người ta dễ dàng đoản mệnh, và tai họa lớn tự nhiên sẽ giáng xuống. Vì vậy, họa vốn sinh ra từ phúc, chúng là nhân quả lẫn nhau.

Hàn Phi Tử nói:
Bậc chí nhân xem này kia, vật và ta, sống chết, thọ yểu, đúng sai, phúc họa"... đều như nhau. Họ xem tất cả là tuyệt đối, không có phân biệt, nên không có bất kì tham cầu nào.

Hàn Phi Tử là ai?
Bí mật, bí mật, bí mật.

Chúng ta hãy quay lại nhìn người đã lĩnh ngộ Thiên đạo kia.
Nếu ông ấy suốt đời sống trong hang đá trên đỉnh núi, ông ấy sẽ không gặp tai họa đoản mệnh. Lĩnh ngộ Thiên đạo là phúc, nhưng lĩnh ngộ Thiên đạo cũng chính là họa.
Sống trên núi là phúc, xuống núi là họa.
Chúng sinh theo ông ấy là phúc; chúng sinh theo ông ấy cũng là họa.
Vô danh là phúc, hữu danh là họa.
Phúc họa gắn bó làm sao!

Người lĩnh ngộ Thiên đạo này truyền bá đạo lý tối thượng của Thiên đạo, cũng chính vì phúc của Thiên đạo mà chuốc lấy tai họa cho mình.

Tôi viết một bài kệ:
*Phúc họa vốn tương sinh.
Có chi mà vui buồn.
Lòng không còn mong cầu.
Mặc kệ mọi thứ trôi.
Tự tại từ nguyên thủy.
Thuận theo bậc thang trời*.


### 40. Atisa và Kim Châu Đại Sư


Nhiều kiếp trước, có một vị đại thành tựu giả Kim Châu Đại Sư, ngài đã du hóa đến vùng Jambi ở Indonesia. Vị thánh giả từ Thiên Trúc (Ấn Độ) này đã trụ lại tại Jambi, giáo hóa người dân địa phương.

Ở một khía cạnh nào đó, Kim Châu Đại Sư đã từng cùng với vị quốc vương tin tưởng Phật pháp xây dựng một đại đàn thành mandala độc nhất vô nhị tại Borobudur, và đó chính là Borobudur hiện tồn tại ngày nay.

Danh tiếng của Kim Châu Đại Sư đã lan rộng khắp Ấn Độ và Indonesia, nơi ngài trụ trì chính là vùng Jambi ở Indonesia. Lúc bấy giờ, ở Ấn Độ có một vị tôn giả uyên bác là Atisa, sau khi nghe về hạnh nguyện của Kim Châu Đại Sư, ngài đã dẫn theo đạo hữu Kim Kiều Ngõa Đế cùng hàng trăm người khác, từ Ấn Độ đến quốc gia Sư Tử (Sri Lanka), rồi tiếp tục đi xuống phía Nam đến Jambi ở Indonesia.

Khi vừa đến nơi, hai người không gặp nhau.
Nghi lễ Mật giáo:
Kim Châu Đại Sư cần quan sát tôn giả Atisa trong ba năm, và Atisa cũng cần quan sát Kim Châu Đại Sư trong ba năm. Sự quan sát lẫn nhau này nhằm hiểu rõ khả năng của nhau và xác định có thể truyền dạy cho nhau hay không.

Vì cả hai đều có thần thông nên rất nhanh chóng, anh hùng đã nhận ra anh hùng, và rồi Atisa đã cầu pháp từ Kim Châu Đại Sư. Vì vậy, nơi tôn giả Atisa cầu pháp chính là vùng Jambi ở Indonesia, và Jambi đã lưu lại một số di tích cổ của hai vị đại sư Phật giáo này.

Atisa và Kim Châu Đại Sư cùng nhau tĩnh tọa trên ngọn đồi đồng cỏ xanh mướt, tràn ngập hương thơm, xung quanh là hồ nước và vòng tay ôm ấp của đại dương.
Atisa đã nhận được hệ thống đại truyền thừa Bát Nhã, trở thành bậc đại truyền thừa của Phật pháp, và nhờ đó, ngài đã sáng lập ra Kadampa.

Vào thời điểm đó, vua Tây Tạng muốn thỉnh mời Atisa đến Tây Tạng.
Để thử lòng thành của nhà vua, Atisa nói:
"Muốn thỉnh ta đến Tây Tạng, phải có vàng chất cao bằng người."
Nhà vua bắt đầu chuẩn bị vàng, nhưng do ngân khố không dư dả, vị vua này đã qua đời, và mãi đến đời vua kế tiếp mới gom đủ vàng, sau đó mới thỉnh được Atisa đến Tây Tạng.

Trước khi khởi hành, Không hành mẫu đến báo:
"Nếu vào Tạng, sẽ giảm thọ mười năm!"
Tôn giả Atisa bất chấp việc giảm thọ mười năm, đã lên đường vào Tạng, sức gia trì lớn lao của dòng truyền thừa dài lâu Kadampa vẫn tiếp nối đến tận ngày nay.

Tác phẩm vĩ đại "Bồ Đề Đạo Đăng Luận" của Tôn giả Atisa có ảnh hưởng sâu rộng, người nắm giữ dòng truyền thừa Bạch giáo, Đại sư Gampopa với "Bồ Đề Đạo Thứ Đệ" và Tsongkhapa với "Bồ Đề Đạo Thứ Đệ Quảng Luận" đều mang dấu ấn của "Bồ Đề Đạo Đăng Luận".

Mặc dù Đại sư Gampopa là người kế thừa của Milarepa, nhưng truyền thừa xuất gia của Gampopa chính là truyền thừa của Kadampa, cho thấy sự vĩ đại của Atisa.
Tsongkhapa là hóa thân tái sinh của Atisa.
Khi Atisa du hóa khắp Indonesia, ngài đã phát hiện Lục Độ Mẫu xuất hiện tại vùng Yogyakarta, vì vậy ngài đã đưa Lục Độ Mẫu về Tây Tạng.

Tôn giả Atisa đã có thời gian mười hai năm ở Indonesia, vị Phật mẫu đồng hành với ngài là Kim Kiều Ngõa Đế, Tôn giả Atisa luôn mang theo xá lợi của Kim Châu Đại Sư bên mình.
(Khi tôi đến Jambi ở Indonesia, ngay khi vừa đến, trên trời sấm vang không ngớt, và mưa cam lộ rơi xuống. Tại nơi đó, tôi đã trồng một cây bồ đề, và từ trên trời có tiếng nói: "Ngươi là hóa thân của Tôn giả Atisa!")

Atisa từng nói với người bản địa:
"Nếu có người tụng 'Om guru liansheng siddhi hum', hãy quy y người đó, người đó chính là hóa thân của ta."
Vì vậy, người bản địa đã truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Khi người bản địa nghe được: Om guru liansheng siddhi hum.
Hết làng này đến làng khác đều quy y.


### 41. Đại quán đảnh của Kim Châu Đại Sư


Nhiều kiếp trước, tôn giả Atisa và Kim Châu Đại Sư đã gặp nhau tại Jambi ở Indonesia. Một ngày nọ, Kim Châu Đại Sư thiết lập một đàn tràng, Kim Châu Đại Sư dùng các loại nhạc khí khác nhau, với âm thanh vi diệu êm tai để cúng dường đàn tràng.
Có cúng dường bằng vũ đạo.
Có cúng dường bằng hát ca.
Có cúng dường bằng thi từ.
Có cúng dường bằng món ngon.
Tổng cộng có mười tám loại cúng dường.

Ngày hôm đó, ánh cầu vồng chiếu xuống từ bầu trời, một cầu vồng khổng lồ xuất hiện phía trên đàn tràng, và mưa hoa rơi xuống như những đóa sen đủ màu sắc. Tất cả những điềm báo này cho thấy Kim Châu Đại Sư, bậc đã hoàn toàn chứng ngộ, sẽ ban đại quán đảnh cho tôn giả Atisa.

Tôn giả Atisa đã cúng dường Kim Châu Đại Sư vàng ròng và tháp Phật pha lê trắng, tháp Phật pha lê này có thể phát ra ánh sáng nhiều màu sắc khác nhau, vô cùng huyền diệu và lộng lẫy.

Thế là Kim Châu Đại Sư tiến hành quán đảnh cho Atisa, từ đàn tràng phóng ra những tia sáng trắng, vàng, đỏ, xanh lá, xanh dương như những giọt mưa, từ từ hòa nhập vào năm mạch luân của Atisa.

Atisa cảm nhận được đại lạc, tràn đầy ánh sáng, trong ngoài rỗng sáng, và thân thể không ngừng tỏa ra hào quang.
Kim Châu Đại Sư nói:
Ngươi có biết không? Địa đại này, chính là Phật Nhãn Phật Mẫu.
Ngươi có biết không? Thủy đại này, chính là Ma Ma Kê Phật Mẫu.
Ngươi có biết không? Hỏa đại này, chính là Bạch Y Phật Mẫu.
Ngươi có biết không? Phong đại này, chính là Tam Muội Da Phật Mẫu.
Ngươi có biết không? Không đại này, chính là Bát Nhã Phật Mẫu.
Ngươi có biết không? Trí tuệ của năm vị Phật Mẫu này đang an trú trong thân thể ngươi.
Tám thức chính là bồ đề tâm trí tuệ bản sơ.
Tám trần chính là tự tính.
Bốn kiến chấp biên kiến cần được tịnh hóa.
Bốn vô lượng chính là an trú.
Bốn hỷ chính là chư Phật ba đời.

Đại lạc chính là không mê hoặc, không phiền não, không tham dục, đây chính là sự giải thoát của tự thân.
Đại quán đảnh này chính là năm đại quán đảnh của thân, ngữ, ý, công đức, sự nghiệp.
Tôn giả Atisa đã tiếp nhận đại quán đảnh như vậy.

Ngoài ra, tôn giả Atisa cũng đã cầu được chín cấp độ quán đảnh của Đại Du Già, A Nỗ Du Già, A Để Du Già...
Kim Châu Đại Sư nói với tôn giả Atisa:
"Thượng sư là nguồn mạch của tất cả chư Phật và tất cả quán đảnh, cũng là nguồn mạch của gia trì, nếu con cung kính Thượng sư tức là duy trì bảo vệ lời thề thuần tịnh, tu pháp sẽ không tách rời Thượng sư."

Về sau, tôn giả Atisa đã luôn mang theo xá lợi của Kim Châu Thượng sư bên mình.
Xá lợi hữu hình.
Pháp lưu vô hình.
Luôn an trú trong thân tôn giả Atisa.
(Khi tôi bước đi trên mảnh đất nơi Kim Châu Đại Sư và tôn giả Atisa đã gặp gỡ nhau, trên trời vang tiếng sấm lớn không ngừng, trong không trung một trận mưa hoa cam lộ rơi xuống.)

Tôi thấu hiểu:
"Ta là hóa thân tái sinh của Tôn giả Atisa!"
Trở thành nền tảng của tất cả, không nhị nguyên, không phương hướng, hỷ lạc vô thượng.
Không bao giờ làm tổn hại bất kì chúng sinh hữu tình nào.
Thượng sư hỗ chủ mãi mãi là đấng tôn quý trên đỉnh đầu tôi.
Hòa thượng Liễu Minh là hóa thân của Kim Châu Đại Sư.
Lư Thắng Ngạn là hóa thân của Tôn giả Atisa.
Kim Kiều Ngõa Đế là hóa thân của ai đó.
Lành thay, Namo Buddhaya!


### 42. Chân ngôn giáng trí


Nhiều kiếp trước, khi Đại sư Tsongkhapa ra đời, đã ứng với lời ghi chép trong "Kinh Văn Thù Căn Bản Giáo Vương":
"Khi ta nhập Niết bàn trong thế gian, mặt đất trở thành hư không, ngươi hãy hiện thân khác thường, hành theo đạo của chư Phật, lúc đó giữa núi tuyết, có tu viện Hoan Hỷ."
"Ta" - chính là chỉ Đức Phật.
"Ngươi" - chỉ Bồ Tát Văn Thù.
"Núi tuyết" - tức là Tây Tạng.
"Hoan Hỷ" - chính là tu viện Ganden.

Tsongkhapa chính là hóa thân của Bồ Tát Văn Thù, tuy nhiên, những thành tựu vĩ đại của Đại sư Tông Khách Ba lại nhờ vào sự giáo hóa của Bồ Tát Văn Thù.
Về khía cạnh này, nhiều Phật tử không hiểu được.
Tại sao lại là Bồ Tát Văn Thù đến giáo hóa Bồ Tát Văn Thù? Điều này không mâu thuẫn sao?

Trong Phật pháp, điều này không mâu thuẫn, với hàng trăm tỷ hóa thân, vô số hóa thân không thể nghĩ bàn, sự không thể nghĩ bàn của Phật pháp chính là ở điểm này.

Ví dụ:
Chúng ta biết về Liên Hoa Sinh Đại Sĩ! Ngài là hóa thân hợp nhất ba thân của  Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật A Di Đà, Bồ Tát Quan Thế Âm, tức là sự hợp nhất của thân, khẩu, ý.
Vì vậy, việc Tsongkhapa là hóa thân của Bồ Tát Văn Thù, và người giáo hóa ngài vẫn là Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, điều này không có gì lạ.

Một ví dụ nữa:
Khi tôi giảng giải về "Mật Tông Đạo Thứ Đệ Quảng Luận" tại Chân Phật Mật Uyển, vào ngày đầu tiên khai giảng, Đại sư Tsongkhapa đã hiện thân gia trì, trong một sát-na, ánh hào quang tỏa ra bốn phương, ánh sáng tinh khiết, những mạng lưới đa sắc như thể được dệt bằng tơ lụa đã thấm nhập vào thân tâm tôi.
Trong Tam muội địa, Đại sư Tsongkhapa nói:
"Ngươi chính là ta, ta chính là ngươi."

Điều này thật sự kỳ diệu, trong Đại sư Tsongkhapa mà tôi nhìn thấy có bóng dáng của Atisa, bóng dáng của Atisa chính là Đại sư Tsongkhapa, và trong bóng dáng của Đại sư Tsongkhapa có Pháp Vương Liên Sinh Lư Thắng Ngạn.

Thành tựu của Đại sư Tsongkhapa đến từ một người, người này chính là Lama Umapa. Trong tâm của người này, tự nhiên phát ra âm thanh của Văn Thù ngũ tự minh. Một ngày nọ, ngài đã đích thân nhìn thấy Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, và Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi có thể nhập vào thân thể của Lama Umapa.

Khi Đại sư Tsongkhapa có điều nghi hoặc trong quá trình tu tập, Bồ Tát Văn Thù thường nhờ Lama Umapa chuyển lời đến Đại sư Tsongkhapa, và lúc đó, Lama Umapa chính là Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi.
Việc Đại sư Tsongkhapa thỉnh giáo Lama Umapa cũng giống như đang thỉnh giáo chính Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi vậy.
(Đây chính là "Chân ngôn giáng trí".)

Đại sư Tsongkhapa đã từng thông qua Lama Umapa để chuyển lời về vấn đề "đoạn kiến" và "thường kiến". Bồ Tát Văn Thù đáp:
"Khi tu học Phật pháp, không nên phân biệt nặng nhẹ giữa 'đoạn' và 'thường'. Đoạn kiến là phủ nhận nhân quả, tương đương với hủy hoại tục đế. Nếu tục đế không còn tồn tại, chân đế cũng không tồn tại. Phá hủy một bên, ắt sẽ phá hủy bên kia, đây chính là quan điểm Trung Quán."

Đại sư Tsongkhapa hỏi:
"Hiện nay ở Tây Tạng, ai là người thích hợp nhất để giảng dạy về Trung Quán chính kiến của Bồ Tát Long Thụ và ý nghĩa thâm sâu của Mật pháp?"
Bồ Tát Văn Thù đáp:
"Người phù hợp nhất không ai khác chính là Jetsun Rendawa, nhưng ông ấy vẫn không thể giải trừ hết những nghi hoặc của ngươi. Phương pháp duy nhất chỉ có thể là thông qua ta truyền đạt qua Lama Umapa mà thôi."

Từ đoạn đối thoại này của Bồ Tát Văn Thù, ta có thể biết rằng, một số nghi vấn về Phật pháp của Đại sư Tsongkhapa chỉ có thể được giải đáp thông qua sự truyền đạt của Lama Umapa.
Lama Umapa vô cùng quan trọng, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi một thân hóa ba thân, thật kỳ diệu thay! Thật vi diệu thay!
Một vị là hóa thân của Văn Thù, một vị khác là nơi Văn Thù trú ngụ, và vị còn lại chính là Bổn tôn Văn Thù.


### 43. Điều trông thấy của Lama Umapa


Nhiều kiếp trước, có một vị Lama Umapa, ngài có thể nhìn thấy Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, và Bồ Tát thường hiện thân thuyết pháp cho ngài. Tuy nhiên, Lama Umapa là người có trí tuệ, ngài lo sợ đây chỉ là ảo tưởng, hoặc là sự biến hiện của ma quỷ, vì vậy Lama Umapa đã dùng nhiều phương pháp để kiểm chứng tính chân thực của hiện tượng này.

Chúng ta biết rằng:
Từ xưa đến nay, có rất nhiều hành giả học Phật với căn cơ không lớn, trí tuệ không sâu, nghiệp chướng sâu nặng, mê muội thiếu trí, suốt ngày mong được thấy Phật hay Bồ Tát, suốt ngày mong được nghe Phật Bồ Tát thuyết pháp, suốt ngày mong mình có thần thông.
Vì thế ma mới hiện thân Phật.
Vì thế ma mới hóa thành Bồ Tát.
Chỉ dẫn những kiến giải không đúng đắn, tìm cách dẫn dụ những người này vào con đường sai lạc.
Hoặc trao truyền thọ ký một cách bừa bãi.
Hoặc thể hiện những thần thông nhỏ.

Hành giả vì tham ái thần thông nhỏ, đến nỗi không phân biệt được Phật và ma, suốt ngày đi theo ma, ảo thị, ảo thính, ảo giác, cuối cùng vào bệnh viện tâm thần, mắc bệnh tâm thần.
Những người nhảy múa theo ma này, có người thậm chí cho rằng, mình đã đạt được thành tựu lớn hoặc đại thần thông, đã có chứng đắc.
Sống chung với ma, trở thành quyến thuộc của ma hoặc là món điểm tâm của chúng.

Lama Umapa tự mình có hiện tượng này, và ngài tự biết rằng thật khó phân biệt thật giả. Ngài chỉ còn cách nghiên cứu sâu kinh điển, tinh thông Phật pháp.
Ngài đã thỉnh giáo các vị Thượng sư có truyền thừa chân chính, những bậc Thượng sư có trí tuệ uyên bác để nương tựa và được chỉ dẫn.
Ngài đã thông đạt Trung Quán chính kiến và bát chính đạo.
Lama Umapa đã đến gặp Đại sư Urgyanpa, ngoài việc tu học Mật pháp của phái Kagyu, ngài còn xin thầy chứng thực những điều mình nhìn thấy.
Ngài cũng đã gặp Đại sư Thố Cát Oa, học pháp Thời Luân, và cũng xin chứng thực những điều mình nhìn thấy.
Ngài còn thỉnh cầu Lama Đồng Thắng ở núi Cát Tường giám định. Lama Đồng Thắng đã dùng "Đạo Quả" để khảo sát, dùng giáo lý để kiểm chứng, và phát hiện rằng những điều Lama Umapa nhìn thấy Bổn tôn và nghe được lời chỉ dạy của Bổn tôn là hoàn toàn chính xác không sai.
Lama Umapa cũng thỉnh giáo:
Jetsun Pawo.
Jetsun Rendawa.
Và cũng nhận được nhiều giáo pháp từ các vị Thượng sư này.

Về sau:
Lama Umapa và Đại sư Tsongkhapa gặp nhau, Đại sư Tsongkhapa đã xác nhận rằng tất cả những kiến giải mà Lama Umapa truyền đạt từ Bổn tôn Văn Thù Sư Lợi đều là chính lý.
Đại sư Tsongkhapa đã nhận được rất nhiều kiến giải từ Bồ Tát Văn Thù thông qua sự truyền đạt của Lama Umapa.
Hai người trở thành thầy và bạn của nhau.

Chỉ sau khi Lama Umapa qua đời, Đại sư Tsongkhapa mới thành tâm cầu nguyện Bổn tôn Văn Thù, và cuối cùng mới được thấy Bổn tôn Văn Thù hiện thân.
Lama Umapa cuối cùng đã chứng minh ngài đạt được đại thành tựu:
Ngọn lủa, khói mây hóa thành kiếm sắc và hoa sen. (biểu tượng của Văn Thù)
Xá lợi trong suốt long lanh, như thủy tinh màu vàng. (thân sắc của Văn Thù)
Xá lợi thành bánh xe sáu nan hoa. (trí tuệ của Văn Thù)
Điều này chứng minh Lama Umapa là hóa thân của Bổn tôn Văn Thù Sư Lợi.

Xin các đệ tử lưu ý:
Lư Sư Tôn trong kiếp này có trải nghiệm cuộc đời của gần như hoàn toàn giống với Lama Umapa.
Có thể thấy được hình tướng Bổn tôn.
Có thể nghe được lời dạy của Bổn tôn.
Đi khắp nơi tham vấn các bậc cao tăng đại đức, xin được chứng thực thật giả.
Lại đi khắp nơi bái sư học Mật pháp, Liễu Minh Hòa Thượng, Sakya Chứng Không Thượng sư, Đại Bảo Pháp Vương Karmapa đời thứ 16, Thượng sư Thubten Dhargye...
Lư Sư Tôn và Umapa có mối quan hệ gì?
Bí mật, bí mật, bí mật.


### 44. Quảng hành của Đại sư Tsongkhapa 


Nhiều kiếp trước, khi Đại sư Tsongkhapa ba tuổi, ngài đã nương tựa Choje Dondrup Rinchen Rinpoche, tu học Văn Thù ngũ tự minh và Diệu Âm Thiên Nữ. Ngài đã văn tư tu đầy đủ ba tư lương trí tuệ trong tất cả giáo pháp của Hiển giáo và Mật giáo.

Khi Đại sư bảy tuổi, Rinpoche Dondrup Rinchen đã truyền thụ quán đảnh và truyền pháp Đại Uy Đức Kim Cang, Hỷ Kim Cang, Thắng Lạc Kim Cang, Thủ Kim Cang, v.v… có thể thấy tài năng phi thường của Đại sư Tsongkhapa.
Hơn nữa, ngài đã thọ giới sa di, cạo tóc xuất gia.

Đại sư khi 16 tuổi ở Gungthang, nương theo Konchog Kyab, học tám nhánh y thư, cho đến khi thông đạt tường tận.
Đại sư tại Tu viện Wajin nương theo Sư Tử Cát Tường Trát Hi Tăng Cách, học "Hiện Quán Trang Nghiêm Luận", thấu hiểu mạch lạc nghĩa lý.
Từ Tôn giả Sonam Jetsun học tập Thắng Lạc Thân và Đại Hắc Thiên.
19 tuổi, từ Rinchen Namgyal học Thập Tam Tôn Thắng Lạc, Ngũ Tôn Đại Uy Đức; từ Choley Namgyal học "Thời Luân Kim Cang Lục Gia Hành".
Nương theo Jetsun Rendawa học Câu Xá Luận. (Căn bản Thượng sư) Jetsun Rendawa lại truyền dạy Trung Luận, Tập Luận, Lượng Luận, Giới Luật.
21 tuổi, nương theo Đại luật sư La Tái Ngõa học "Giới Kinh".
22 tuổi, từ Dorje Rinchen học Hỷ Kim Cang.

Từ Sonam Drakpa học "Bảy Luận của Pháp Xứng" và "Tập Lượng Luận" của Trần Na.
Từ Namkha Gyaltsen học "Pháp Tô Tất Địa".
Từ Gungah Gyaltsen nhận được "Trung Quán Luận", "Lục Thập Như Lý Luận", "Thất Thập Không Tính Luận", "Hồi Tránh Luận", "Quảng Phá Luận", "Bảo Man Luận". Đây là sáu luận của Trung Quán.

Đại sư Tsongkhapa đã thiết lập năm bộ đại luận của phái Gelug (Hoàng giáo): "Hiện Quán Trang Nghiêm Luận", "Tập Lượng Luận", "Thích Lượng Luận", "Câu Xá Luận", "Giới Kinh", đã hoàn bị.

Đại sư Tsongkhapa học tập Hiển giáo, là học các luận trước của các Đại sư như Long Thụ, Đề Bà, Vô Trước, Thế Thân, Trần Na, Pháp Xứng, Công Đức Quang, Thích Ca Quang.

Vào lúc này, danh tiếng của Đại sư Tsongkhapa đã vang xa, ngài đã thông đạt Tam tạng kinh điển, không ai có thể tranh biện thắng được ngài, nhiều người sẵn lòng theo học và trở thành đệ tử của ngài.

Năm 29 tuổi, Đại sư thọ giới cụ túc.
Đắc giới hòa thượng là Luật sư Tsodreng Rinchen.
Giáo thọ hòa thượng là Luật sư Kim Cang Phúc.
Tôn chứng hòa thượng là đại tỳ kheo Trì Giới.
Từ Rinpoche Drakpa Gyaltsen học "Đạo Quả", "Naropa Lục Pháp".

Đại sư Tsongkhapa ở tuổi 33 bắt đầu chuyển Đại pháp luân.
Đại sư Tsongkhapa ở tuổi 34 gặp Lama Umapa, người truyền đạt giáo pháp của Văn Thù Sư Lợi, từ đó mọi nghi hoặc đều được giải trừ.
Pháp Thời Luân Kim Cang của Đại sư Tsongkhapa được truyền thụ từ Rinpoche Khước Cát Bối Ngõa, và pháp Thời Luân Kim Cang của Rinpoche Khước Cát Bối Ngõa vào thời đó là hàng đầu.

Đại sư Tsongkhapa tại tu viện Shalu nương theo Rinpoche Khếnh Bạc Lôi Ba học Đại Bạch Tản Cái, Tam tam muội, Thập Nhất Diện Quan Âm, Kim Cang Tỏa Hoại, Bổn tôn A Di Đà Phật. Phần Vô thượng bộ gồm "Tập Mật", "Thắng Lạc"... Bốn bộ Mật pháp đều đã tu học hoàn thành.
Rinpoche Khếnh Bạc Lôi Ba nói:
"Toàn bộ Mật pháp đã quy về chủ rồi!"

36 tuổi, Đại sư Tsongkhapa đích thân thấy Bổn tôn Văn Thù Sư Lợi. Ba mươi lăm vị Phật hiện toàn thân.

Tôi viết ra những điều này là để kể về quá trình học tập Hiển giáo và Mật giáo của Đại sư Tsongkhapa, về những vị thầy mà ngài nương tựa, những vị thầy ngài theo học, rất nhiều, rất nhiều, vì vậy trong các khía cạnh văn, tư, tu, ngài đều đầy đủ, và Đại sư Tsongkhapa cũng có rất nhiều chứng nghiệm. Ngài có thể khiến Mật giáo tỏa sáng trở lại khi nó đang suy tàn, quả thật có lý do chính đáng!

Trước tác của ngài rất nhiều, giảng giải cũng rất nhiều, bắt đầu từ Giới luật, trước tu Hiển, sau chuyên tu Mật. Ngài là một bậc tông sư có thành tựu toàn diện, thành tựu của ngài khiến người ta kính ngưỡng.

Ngài là ai? Bí mật, bí mật, bí mật.


### 45. Chuyển thế của Tsongkhapa 


Một số kiếp trước, Tsongkhapa đã sáng lập phái Gelug (Hoàng giáo), và thiết lập hệ thống tái sinh. Trước đó, hệ thống tái sinh đầu tiên thuộc về Kagyu (Bạch giáo), với tái sinh sớm nhất là của Karmapa.

Tinh thần của phái Gelug không suy sụp, nhờ vào sự ủng hộ mạnh mẽ của các thánh tử, họ thông thạo Tam tạng kinh điển, hành trì Tam học, tinh thông ba con đường. Về mặt Mật giáo, họ thành tựu thứ tự sinh khởi và thứ tự viên mãn.

Các đại đệ tử hàng đầu bao gồm Gyaltsab Je (Dharma Rinchen), Khedrub Je, Jampa Gyaltsen, Jamyang Choje, Lodrö Sengge, Gendun Drupa, Shakya Yeshe và nhiều người khác.

Cái gọi là "ba vị thầy trò" bao gồm:
Đại sư Tsongkhapa.
Gyaltsab Je.
Khedrub Je.

Tu viện Ganden là đạo tràng căn bản nhất của Tsongkhapa, vì vậy vị trụ trì là Ganden Tripa, là vị trí Giáo chủ Hoàng giáo.
Khi Đại sư Tsongkhapa viên tịch, ngài trao mũ áo cho Gyaltsab Je, ông là vị Ganden Tripa đầu tiên. Vị thứ hai là Khedrub Je.

Đến vị Ganden Tripa thứ một trăm, Ganden Tripa đã đến Seattle, Hoa Kỳ, thăm viếng Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, và cởi bỏ pháp y của Pháp Vương tặng cho Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.

Câu hỏi:
Tsongkhapa có tái sinh không?
Sau đó:
Tái sinh qua các đời của Khedrub Je trở thành Panchen Lama, trụ trì Tu viện Tashi Lhunpo.
Tái sinh qua các đời của Gendun Drupa trở thành Đức Dalai Lama, trụ trì tu viện Sera, tu viện Drepung và các tu viện khác.
Tái sinh qua các đời của Shakya Yeshe trở thành Changkya Hutuktu, trụ trì các đại tự viện Mông Cổ. (Jetsun Dampa Hutuktu, Jebtsundamba Khutuktu.)
Sherab Sengge ở Ali, trụ trì tu viện Shechen và tu viện Tsurphu ở Tây Khang.

Ở vùng Amdo có:
Tu viện Tar - Rinchen Zongje Gyaltsen.
Tu viện Labrang - Jamyang Shepa Dorje.
Tu viện Tsurphu - nơi xuất phát của Changkya Hutuktu và Tuguan Hutuktu.

Về hệ thống tái sinh, Mật tông Tây Tạng Hồng, Hoàng, Bạch, Hoa mỗi phái đều có hệ thống tái sinh riêng.
Hoa giáo đặc biệt khác biệt, sử dụng phương thức truyền từ cha sang con, từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Sự tái sinh của Hồng giáo khá phức tạp.
Bạch giáo có một hệ thống tái sinh nhất định.
Sau khi Ganden Tripa của Hoàngg giáo viên tịch đều có thể có Hoạt Phật tái sinh xuất hiện.
Ngoài ra còn có nhiều tu viện lớn nhỏ khác, trụ trì của họ đều có thể tìm kiếm Hoạt Phật tái sinh.

Còn có Hoạt Phật "quyên ban".
Thế nào là "quyên ban"? "Quyên" tiền thì có thể vào "ban" vậy!
Tất cả những điều này đều là chuyện ngoài lề, không bàn ở đây.

Tôi xin hỏi:
Ai là người tái sinh của Đại sư Tsongkhapa?
Tôi nói:
Gyaltsab Je, Khedrub Je, Ngõa Thiện Tràng, Huệ Pháp Hộ, Pháp Tràng, Kiên Huệ, Nguyện Cát Tường, bảy đời Ganden Tripa này, tất cả đều là người Hậu Tạng, được gọi là "Bảy đời Văn Thù ở Hậu Tạng", tất cả đều là tái sinh của Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi. Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi vĩ đại biết bao!

Tại sao vị Ganden Tripa đời thứ một trăm lại đến thăm Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn? 
Tại sao vị Ganden Tripa đời thứ một trăm lại tặng pháp y của Pháp Vương cho Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn?
Hãy suy nghĩ kĩ:
Đó là nhân duyên gì?


### 46. Trên trời in sáu dấu chân


Nhiều kiếp trước, Lục tổ Huệ Năng sau khi nghe một câu trong Kinh Kim Cang "nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy", liền thu xếp mọi thứ, đến núi Hoàng Mai, yết kiến Ngũ tổ Hoằng Nhẫn, và viết một bài kệ:
Bồ đề chẳng phải cây cây.
Gương sáng cũng không có.
Vốn dĩ không một vật.
Chỗ nào mà dính bụi.

Ngũ tổ thấy bài kệ, biết Lục tổ Huệ Năng đã đạt đến mức chín muồi, liền vào canh ba, gọi ngài vào phòng, truyền trao tâm pháp.
Lục tổ Huệ Năng đã nhận được tâm pháp, dựng đại pháp tràng tại Tào Khê, sau đó, một hoa nở năm cánh, kết quả tự nhiên thành.

Tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn), khi giảng "Lục Tổ Đàn Kinh" trở về Đài Loan lúc 66 tuổi, trên bầu trời của Đài Loan Lôi Tạng Tự xuất hiện sáu dấu chân, đây là điềm báo trước.
Tôi giảng "Lục Tổ Đàn Kinh" tại Đài Loan, nên xuất hiện sáu dấu chân.
Tôi giảng "Lục Tổ Đàn Kinh", càng lúc càng hiểu rõ bộ kinh này chính là kinh của tôi.
Tôi hiểu rõ tất cả.
Không cần lời chú giải của người khác.

Tôi chỉ nói theo cảm hứng thôi, những gì tôi nói theo cảm hứng, chính là đại pháp chỉ, chính là thắng nghĩa pháp chỉ, chính là vô đẳng đẳng pháp chỉ, chính là đại minh pháp chỉ, chính là vô thượng pháp chỉ, chính là không pháp chỉ, chính là vô tận ý pháp chỉ......
Tôi minh tâm, bởi vì tôi chính là Lục tổ.
Tôi kiến tính, bởi vì Lục tổ chính là tôi.
Lục tổ, Lục tổ, Lục tổ, Lục túc, Lục túc, Lục túc. [lục túc tức là sáu dấu chân]

Các thánh đệ tử, sao không nghĩ suy:
"Cái gì là tuyệt đối?"
"Cái gì là không đến không đi?"
"Cái gì là bánh mặt trăng [bánh trung thu] không có mặt trăng, bánh mặt trời không có mặt trời, làm sao lĩnh hội?"
"Cái gì là không màng đến?"
"Cái gì là không chỗ trụ?"
"Cái gì là không chỗ đắc?"
"Cái gì của cái gì, là cái gì?"

Lại nữa:
Người hỏi:
"Thiền sư Huyền Sa không ra khỏi núi, Hòa thượng Bảo Thọ không vượt sông, Đồng tử Thiện Tài năm mươi ba tham, Huệ Viễn có mười tám sĩ, Thiền sư Tuyết Phong ba lần lên tham vấn Đầu Tử, Đại sư Trí Giả chín mươi tuổi giảng "Kinh Pháp Hoa", sáu vị hán tử này là tiếng gầm sư tử, hay là chuyển đại pháp luân?"
Xin hỏi:
Bạn trả lời thế nào?

Người hỏi:
Trong núi Thanh Lương có hàng vạn triệu Bồ Tát, trong hội của Đại sĩ Duy Ma Cật có tất cả thánh chúng, họ đang làm gì?
Xin hỏi:
Bạn trả lời thế nào?

Người hỏi:
Nhân quả luân hồi là chuyện như thế nào?
Xin hỏi:
Bạn trả lời thế nào?

Lục tổ Lư Huệ Năng, Liên Sinh Lư Thắng Ngạn, một tiếng gầm sư tử, một uy phong voi chúa, hai người là một người, một người là hai người, định rõ đường thánh phàm, ai dám nhướng mày?
Ha ha ha ha ha!

Ở đây tôi xin hỏi thánh đệ tử, các bạn đã gặp tôi, vị tổ sư già già già già này, tuy núi rất cao, người thường khó lên được, biển rất sâu, người thường không thấy được đáy. Tuy nhiên, các bạn đã gặp được Đức Phật chân chính, đừng không nhận ra mà đi lướt qua nhau!
Hiểu không? Các thánh đệ tử!


### 47. Ngũ Tử Tư và Tôn Vũ


Nhiều kiếp trước, Tư Mã Thiên thời Tây Hán viết trong cuốn "Sử Ký" có một câu:
"Khi đó, nước Ngô nhờ mưu kế của Ngũ Tử Tư và Tôn Vũ, đánh bại nước Sở mạnh ở phía Tây, uy hiếp các nước Tề và Tấn ở phía Bắc, và chinh phục người Việt ở phía Nam."

Câu chuyện về Ngô Vương Phù Sai và Việt Vương Câu Tiễn, chúng ta đều đã biết từ lúc còn đi học. Câu Tiễn dưới tay Ngô Vương Phù Sai, chịu khổ dịch ba năm, trong lịch sử gọi là "nằm gai nếm mật".

Trong đó, mưu thần và đại tướng chính là Ngũ Tử Tư và Tôn Vũ (tác giả "Binh Pháp Tôn Tử"). Ngũ Tử Tư có cái nhìn sâu sắc, luôn cho rằng nước Việt mới là kẻ thù thực sự của nước Ngô, chủ trương tiêu diệt nước Việt trong một lần để tránh hậu họa vô cùng.
Ngũ Tử Tư chủ trương không nên đối địch với Tề, Tấn.

Tuy nhiên, quan điểm của Ngô Vương Phù Sai hoàn toàn trái ngược với ý kiến của Ngũ Tử Tư, một lòng muốn xưng bá, muốn tấn công nước Tề, rồi tấn công nước Tấn.
Ngũ Tử Tư giả vờ bị bệnh.
Ngô Vương Phù Sai nghe lời gièm pha của Tể tướng Bá Bỉ, khiến vua tôi xung đột trầm trọng, ban cho Ngũ Tử Tư lệnh tự tử.
Ngũ Tử Tư đã tự cắt cổ mà chết.

Trước khi chết, ông ta nói:
"Sau khi tôi chết, xin hãy trồng một cây thị trên mộ tôi, khi cây thị lớn lên, gỗ của nó sẽ rất tốt để làm quan tài, có thể dùng để chôn cất chúa công của tôi."
Ông lại nói:
"Hãy khoét đôi mắt của tôi ra, treo ở cổng Đông thành Ngô, để tôi được tận mắt nhìn quân Việt xâm lược nước Ngô của tôi."

Ngô Vương Phù Sai nghe xong, cơn giận bốc lên, "tam thi thần" gào thét như sấm, lập tức ra lệnh cho xác của Ngũ Tử Tư vào một cái túi, ném xuống sông Tiền Đường để cho rùa ăn. [Tam thi thần trong Đạo giáo là chỉ ba loại thần linh sống ký sinh trong cơ thể con người, còn được gọi là "tam thi" hoặc "tam bành". Chúng bao gồm thượng thi, trung thi và hạ thi, lần lượt cư trú tại thượng đan điền, trung đan điền và hạ đan điền. Tam thi được coi là mầm họa trong cơ thể con người, chúng xúi giục người làm điều xấu, đồng thời báo cáo tội lỗi của con người lên thiên tào địa phủ, ảnh hưởng đến tuổi thọ của con người.]

Sự việc này khiến tôi ấn tượng rất sâu sắc, tôi cảm thấy Ngũ Tử Tư sao mà khờ khạo đến thế, dù Ngũ Tử Tư có cái nhìn sâu sắc, biết rằng Việt Vương Câu Tiễn chắc chắn sẽ báo thù trong tương lai, nước Việt mãi mãi mới là mối lo ngại lớn, nhưng khi vua không nghe, lẽ ra ông ta nên tìm cách rút lui một cách khéo léo, dùng phương thức ôn hòa, dần dần rút lui, ẩn cư đi.
Sao phải tự chuốc lấy họa chết người?

Chuyện này trong mắt Tôn Vũ, ông ta đã sớm hiểu rõ trong lòng, lúc này không đi, còn đợi đến khi nào? Tôn Vũ là bạn của Ngũ Tử Tư.

Năm đó, Tôn Vũ đến nước Ngô, được Ngũ Tử Tư tiến cử với Ngô Vương. Ngô Vương nghe nói Tôn Vũ giỏi luyện binh, liền đưa ra một thử thách khó, giao cho Tôn Vũ huấn luyện các cung nữ và thị thiếp trong cung.
Tôn Vũ ra lệnh chỉ huy, các cung nữ và thị thiếp chỉ cười khúc khích.
Sau khi Tôn Vũ ra lệnh nhiều lần, các cung nữ và thị thiếp vẫn còn hỗn loạn. Vì vậy, Tôn Vũ tuân theo quân lệnh, chém đầu hai thị thiếp. Những cung nữ khác vừa thấy vậy, mặt mày tái mét, và từ đó việc huấn luyện mới thành công.
Đây là câu chuyện nổi tiếng về việc Tôn Vũ luyện binh trong cung Ngô.

Tôn Vũ và Ngũ Tử Tư đầu tiên đánh nước Sở, sử dụng chiến thuật đánh luân phiên và chờ địch mệt mới đánh, khiến quân Sở phải chạy ngược chạy xuôi kiệt sức, lại liên minh với các nước Đường, Sái và các nước đồng minh khác, mới đánh bại được nước Sở.

Binh pháp của Tôn Vũ rất lợi hại, trí tuệ của Tôn Vũ rất cao, nhưng việc giết chóc cũng quá nặng nề.
Khi Ngũ Tử Tư bị giết, Tôn Vũ sẽ nghĩ gì?
Liệu ông ta cũng sẽ bị giết không? Hay là ẩn cư? Hay là xuất gia tu hành? Đây đều là những điểm đáng ngờ.
Trong lịch sử, sau khi Ngũ Tử Tư bị giết, Tôn Vũ (Tôn Tử) đã biến mất không dấu vết, tác giả "Binh Pháp Tôn Tử" này từ đó biến mất khỏi nhân gian.

Thơ:
*Thù oán Ngô Việt hai bờ mở
Chiến sự nghìn năm vẫn hoài niệm
Năm tháng trôi qua người tự già.
Non sông hùng vĩ ta lại đến.*

Trong những người này, có bóng dáng của Lư Sư Tôn. Tôi là ai? Bí mật, bí mật, bí mật.


### 48. Bộ sách "Đạo Quả"


Cách đây nhiều kiếp, có một hành giả họ Tống tìm cầu Phật pháp, tinh tấn khổ hạnh trong việc tu trì Phật pháp.

Ông ta ở núi Ngũ Đài, theo học với một vị thầy tên là Bối Lạp Cát Địa để học Mật pháp, cả Ngoại mật và Nội mật đều học trọn vẹn.
Sau đó, Bạch Y Đại Sĩ hiện thân và bảo ông:
"Duyên phận của ông nằm ở Thiên Trúc (Ấn Độ), ông có thể tìm được một vị thầy truyền thừa vĩ đại, học được Mật pháp thâm sâu nhất, tự mình thành tựu Đại Viên Mãn, và cũng sẽ truyền tiếp pháp Đại Viên Mãn này."

Vì vậy, ông thực sự đã đến Ấn Độ, ở vùng Tác Tát, tìm thấy Diệu Cát Tường Hữu và nương tựa vào Diệu Cát Tường Hữu, theo học Diệu Cát Tường Hữu trong tổng cộng 25 năm.

Ông đã học được "Đại Viên Mãn Cửu Thứ Đệ", cụ thể là Đại Du Già, A Nỗ Du Già, A Để Du Già, phân chia Mật pháp thành Ngoại mật, Nội mật, Mật mật và Cực mật.

Vị hành giả họ Tống này chính là Cát Tường Sư Tử, tên tiếng Phạn là Shri Singha. Ông là người truyền thừa Đại Viên Mãn. Sau đó, ông truyền pháp cho Gia Nạp Tô Kiệt, Tỳ Ma La, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, Tỳ Lô Giá Na...
Shri Singha không ngờ lại là thượng sư của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.

Từng có một vị Thượng sư Mật giáo nói với tôi:
"Ngài chính là hóa thân của Shri Singha!"
Tôi cười ha ha, không xác nhận cũng không phủ nhận.
Nếu tôi nói "phải", thì tôi là một người đã đóng hai vai trò, một vai là Tạng Vương Trisong Detsen, vai còn lại thậm chí là Thượng sư của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ - Shri Singha.

Ở cùng một thời đại, thật không thể tưởng tượng được, nhưng trong Phật pháp, hiện tượng này rất phổ biến, một người đóng ba vai trò, hoặc nhiều hơn, đây đều là chuyện thường thấy, bởi vì với bậc đại thành tựu giả, có hàng trăm tỷ hóa thân, điều này cũng có thể xảy ra.

Ở Nepal, một vị Thượng sư thuộc gia đình Đại Bảo Pháp Vương, nói với tôi rằng tôi chính là tái sinh của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Tôi cũng cười ha ha. Những người được gọi là tái sinh của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, theo tôi biết, còn có:
Liên Huyên Thượng sư. (đã viên tịch)
Thoát Khố Rinpoche.
Cả hai vị này đều là đệ tử của tôi đấy!

Hơn nữa:
Nhiều kiếp trước, có một hiệu trưởng trường đại học Nalanda, ông đã cố tình thị tịch, nhưng thực ra ông đã vào núi để tu học Mật pháp. Sau khi đạt được thành tựu lớn trong Mật pháp, ông đã viết một bộ sách, đó chính là bộ sách "Đạo Quả".

Khi tôi nương tựa vào Sakya Chứng Không Thượng sư (Dezhung Rinpoche), Thượng sư đã truyền dạy cho tôi "Đạo Quả" và Hỷ Kim Cang.
Thượng sư nói với tôi về thiền quán của ngài:
"Trong lúc thiền định, thầy đã nhìn thấy trong kiếp quá khứ của con, con chính là chủ nhân của bộ sách 'Đạo Quả', vì vậy hôm nay thầy truyền dạy 'Đạo Quả' và Hỷ Kim Cang cho con, đây là để hoàn trả nhân duyên tiền kiếp của con, thật sự là không thể nghĩ bàn, con lại chính là chủ nhân của bộ sách 'Đạo Quả'."

Chủ nhân của "Đạo Quả" là ai? Chính là Virupa.
Tôi có phải là Virupa không? Thật khó tin.
Năm đại truyền thừa của Mật giáo, cứ 500 năm chuyển một lần, thật kỳ diệu:
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. (Hồng giáo)
Long Thụ Bồ Tát. (Kim cang bộ và Thai tạng bộ)
Virupa. (Hoa giáo)
Naropa. (Bạch giáo)
Tsongkhapa. (Hoàng giáo)

Tôi có thực sự là chủ nhân của bộ sách "Đạo Quả" không? Khi đọc cuốn sách này, tôi hiểu ngay lập tức, đọc xong trong một ngày một đêm, hiểu từng điểm một, khắc sâu vào tâm trí, không hề quên một phút giây nào.
Tôi có phải là Virupa không? Bí mật, bí mật, bí mật.


### 49. Sự tái sinh huyền thoại


Về sự tái sinh của Lư Sư Tôn, những gì được viết ra trong cuốn nhật ký ký ức này chỉ là số ít trong số ít. Nếu phải viết hết tất cả, e rằng mười cuốn sách cũng không đủ, nhiều đến mức khó có thể tưởng tượng được. Tại sao vậy? Bởi vì đây là sự nghiệp vĩ đại của Liên Hoa Đồng Tử cứu độ chúng sinh qua trăm kiếp.

Trong quá trình tái sinh, tôi biết có ba sự chuyển hóa lớn:
1. Người tu hành.
2. Bậc vương giả.
3. Người bình thường.

Dù Lư Sư Tôn đã tái sinh thành người bình thường, vẫn có những biểu hiện phi thường, những biểu hiện phi thường này đã chứng minh một cách sâu sắc và đầy đủ về những lợi ích mà ngài đã mang lại cho thế hệ tương lai.

Tôi cũng không giấu giếm, trong quá trình tái sinh, tôi là hóa thân của "ý" Phật A Di Đà, và đương nhiên cũng là hóa thân của "khẩu" Văn Thù Bồ Tát. Mọi người có thể suy nghĩ, Xá Lợi Phất là trí tuệ đệ nhất, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi cũng là trí tuệ đệ nhất, trí tuệ của Xá Lợi Phất, trí tuệ của Bồ Tát Văn Thù, làm sao hai trí tuệ này có sự khác biệt được?

Hơn nữa, tôi cũng là "thân" của Quan Thế Âm Bồ Tát hóa hiện, điều này lại giải thích thế nào? Gần như mỗi kiếp đều là sự cứu độ chúng sinh bằng lòng từ bi, trong kiếp này, Lư Sư Tôn cũng nói:
"Không từ bỏ một chúng sinh nào."
"Tan xương nát thịt để độ chúng sinh."
Lư Sư Tôn liên tục nhấn mạnh:
"Tâm xuất ly."
"Tâm bồ đề."
"Trung quán chính kiến."

Tâm bồ đề chính là tâm nguyện đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn của Quan Thế Âm Bồ Tát. Đây là hạnh nguyện của Quan Thế Âm Bồ Tát.

Kiểu tái sinh này, tùy theo bối cảnh thời đại khác nhau và theo phương thức sống khác nhau của chúng sinh, mà thị hiện những hình tướng khác biệt, nhìn bề ngoài có vẻ khác nhau, nhưng thực chất lợi ích cho chúng sinh là như nhau.

Có lẽ một số người sẽ nghĩ rằng, Lư Sư Tôn không vĩ đại đến thế? Quan niệm này có thể tồn tại, nhưng, sao không nghĩ xem, làm thế nào mà một cậu bé non nớt ngày xưa, sau này lại trở thành vị thầy của năm triệu người, rất nhiều điều đều khiến bạn không thể tưởng tượng được, phải không!
Đại Nhật Như Lai.
Phật Nhãn Phật Mẫu.
A Di Đà Phật.
Liên Hoa Đồng Tử.

Sự tiếp nối lực gia trì truyền thừa của đại pháp như vậy không thể nào ngừng lại, không có khởi đầu, cũng không có kết thúc. Đối với những thánh đệ tử có lòng tin và tinh tấn kiền thành, sự gia trì luôn luôn tồn tại, không bao giờ thay đổi, cũng không thể giảm bớt.

Việc tái sinh của tôi có phạm vi rất rộng, thực ra ở châu Á là nhiều nhất, nhưng cũng có ở châu Phi, châu Mỹ, châu Âu, Trung Đông... Trong quyển sách này, tôi chưa viết ra hết, nếu có duyên, tương lai sẽ viết tiếp! Tôi cũng từng tái sinh ở Nhật Bản, Hàn Quốc, khu vực Đông Nam Á, nhưng tôi cũng chưa viết, quyển này chỉ viết về Ấn Độ, Tây Tạng, Trung Quốc, chỉ ba khu vực này thôi mà đã không thể viết hết được rồi, trong dải ký ức còn rất nhiều nhiều nữa.

Trong nhiều kiếp tái sinh, có rất nhiều kiếp là người tu hành.
Có rất nhiều kiếp là hoàng đế, quốc vương.
Có rất nhiều kiếp là triết gia.
Cũng có những kiếp là người dân thường.

Tôi xin viết một bài kệ:
*Sinh mệnh vốn dĩ không dài ngắn
Cho dù chết rồi cũng tái sinh
Gặp nhau xem như có duyên phận
Hãy nhớ tu hành đừng lãng quên
Tụ họp rồi cũng phải chia ly
Tự biết mọi thứ đều như huyễn.*

Mùa hè 2012.


### 50. Phụ lục: Liên Sinh Hoạt Phật truyền thụ đại pháp dây xích Thời Luân Kim Cang 


【25.03.2012 Trung tâm hội nghị SICC Jakarta Indonesia】

Trước tiên, chúng ta cung kính đảnh lễ Tổ sư truyền thừa Liễu Minh Hòa Thượng, đảnh lễ Sakya Chứng Không Thượng sư, đảnh lễ Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16, đảnh lễ Thubten Dhargye Thượng sư. Chúng ta đảnh lễ Thời Luân Kim Cang Phật - chủ tôn của lễ Hộ Ma hôm nay, đảnh lễ Tam Bảo Phật Pháp Tăng trong đàn thành, Namo Buddhaya, Namo Dharmaya, Namo Sanghaya. 

Sư Mẫu, các vị Thượng sư, giáo thọ sư, pháp sư, giảng sư, trợ giảng, đường chủ, các vị đồng môn, và các đồng môn đang theo dõi qua mạng Internet. Khách quý của chúng ta hôm nay là bà Trâu Lệ Anh, Chủ tịch Hội đồng Trung ương Hiệp hội Phật giáo Indonesia, Phó Chủ tịch Hội đồng Trung ương Hiệp hội Phật giáo Indonesia, Tổng thư ký, Phó Tổng thư ký và tất cả các ủy viên, tất cả đều là khách quý đáng kính của chúng ta. Ngoài ra, chúng ta có cựu Giám đốc Sở Tôn giáo Indonesia, ông Stiawan, xin chào mừng ông. Chúng ta còn có nhiều khách quý khác, tôi sẽ không giới thiệu từng người một với mọi người.

Bây giờ là 5:30, 6 giờ chúng ta sẽ ăn tối, còn lại 30 phút. Xin Thời Luân Kim Cang hãy dùng phương pháp đơn giản nhất để chỉ dạy tất cả chúng sinh làm thế nào để thành tựu pháp Thời Luân Kim Cang và đến được cõi tịnh độ Shambhala. Trước hết, cảm ơn ban tổ chức pháp hội này, cùng tất cả các thiện nguyện viên, trong thời gian rất ngắn, họ đã xây dựng đàn thành như thế này, tôi xin kính lễ tất cả các thiện nguyện viên và các đơn vị tổ chức. Bởi vì đàn thành này được hoàn thành chỉ trong vài ngày, có thể thấy họ rất tâm huyết, rất nỗ lực và tinh tấn; đồng thời cảm ơn sự giúp đỡ và hỗ trợ của rất nhiều quý khách đã giúp pháp hội này thành công, xin cảm ơn họ. Cũng xin cảm ơn tất cả các đồng môn từ khắp nơi trên thế giới đến nghe bài pháp 30 phút này.

Tôi cần phải hoàn thành bài pháp này trong 30 phút, điều này rất khó khăn, vì vậy, các bạn cũng nên cảm ơn tôi, đây gần như là một trong những "nhiệm vụ bất khả thi" như trong phim - phần một, phần hai, phần ba. Làm thế nào để tôi hoàn thành nhiệm vụ bất khả thi này? Hôm nay tôi giảng về pháp dây xích Thời Luân Kim Cang, "dây xích kim cang" là một tên gọi đại diện, pháp Thời Luân Kim Cang là một hệ thống pháp, ngoài pháp Bổn tôn ra, còn có một loạt các pháp khác, và pháp cuối cùng, cao nhất, vô thượng nhất chính là pháp dây xích kim cang.

Tại Thường Hoằng Lôi Tạng Tự ở Panama, tôi đã giảng về "nhật nguyệt hợp bích". "Nhật" là gì? "Nguyệt" là gì? Thực ra, nhật, nguyệt, hỏa, thủy, dương, âm, tất cả đều được bao hàm trong nhật nguyệt hợp bích. "Toàn cơ đình luân" nghĩa là gì? Khi bạn thiền định, đi vào trạng thái tam muội thâm sâu, vào lúc tất cả sự vận chuyển gần như hoàn toàn dừng lại, đó gọi là "toàn cơ đình luân". Khi bạn thiền định, đạt đến cảnh giới tam muội, thiền định thâm sâu, gọi là "âm cực" hay "Khôn lục đoạn", tức là lúc âm đạt đến cực điểm, tịch diệt nhất, sẽ sinh ra "nhất dương lai phục". Khi "nhất dương lai phục", bạn sẽ thấy ánh sáng.

Khi tu tập Mật giáo, điều quan trọng nhất là nhật - dương, đại diện cho lửa; Thủy đại diện cho nguyệt, âm đại diện cho nước. Khi nước và lửa hòa hợp với nhau tại trung tâm trái tim, luân xa tim mở ra, bên trong có mệnh khí, nó sẽ phát ra ánh sáng. Thứ này được gọi là "minh điểm bất hoại", điểm sáng vĩnh viễn không hoại diệt.

Khi hoa sen tám cánh mở ra, ở giữa trung tâm, có một điểm sáng, đó chính là "kho chân thật" của bạn, cũng chính là mệnh khí của bạn. Trong Mật giáo, nó được gọi là "mệnh khí", hay còn gọi là "minh điểm bất hoại". Khi bạn quán chiếu nội tâm, nhìn thấy minh điểm bất hoại, lúc này sẽ có ánh sáng phát ra, đó chính là ánh sáng minh điểm được hiển lộ từ minh điểm; khi ánh sáng minh điểm này hiển lộ, cũng chính là minh tâm kiến tính, bạn đã thấy được Phật tính, ánh sáng minh điểm chính là Phật tính.

Thượng sư chúng ta ở đây, Thượng sư Liên Vượng, thầy đã thấy ánh sáng minh điểm chưa? Đã thấy rồi! Trong số các Thượng sư của chúng ta, có nhiều vị đã thấy ánh sáng minh điểm, đó chính là kiến tính. Trong Mật giáo, trong tất cả Phật pháp, điều quan trọng nhất là minh tâm, tức là bản thân bạn đã giác ngộ, hiểu rõ đạo lý của vũ trụ, gọi là "minh tâm". "Kiến tính" là gì? Khi tu Mật giáo đến mức mở được luân xa tim, hướng nhìn vào bên trong, nhắm mắt lại, thiền định đến mức thâm sâu nhất, hoa sen tám cánh mở ra, bạn thấy được minh điểm, minh điểm này chính là Phật tính của bạn, gọi là "kiến tính". Thật ra, minh tâm kiến tính đều rất khó khăn, đó là điều thâm sâu khó lường, và bạn phải loại bỏ tất cả tham, sân, si, nghi, mạn, phải giữ giới không sát sinh, không trộm cắp, không nói dối, không tà dâm, không uống rượu.

Tôi sẽ chia sẻ một câu chuyện đơn giản với mọi người. Trong Tây Du Ký có viết về Đường Tam Tạng, bản thân ngài chính là ánh sáng minh điểm, chính là một vị Phật. Phật tính không có phân biệt, ngài mang theo bốn người đồng hành: một là Tôn Ngộ Không, Tôn Ngộ Không là gì? Là khỉ, đại diện cho lửa; rồi có Trư Bát Giới, Trư Bát Giới là gì? Là nước, thuộc về tính tham; sau đó, còn có Sa Ngộ Tịnh, vị này tượng trưng cho tính bình đẳng, tốt xấu đều chấp nhận được. Bốn người đi thỉnh kinh là có ý nghĩa sâu sắc. Trong bốn người này, có một "tâm vượn" chính là Tôn Ngộ Không; một "ý mã" chính là con long mã mà Đường Tăng cưỡi; ngài cưỡi tâm vượn ý mã cùng với lòng tham; còn Sa Ngộ Tịnh đại diện cho si mê, Tôn Ngộ Không đại diện cho sân hận, vì vậy tham-sân-si, tâm vượn ý mã cùng Phật tính đồng hành đến Thiên Trúc thỉnh kinh.

Đường Tam Tạng cùng bốn người đi du lịch bằng máy bay, giữa đường máy bay gặp sự cố, nhưng chỉ có ba cái dù. Vì vậy, Đường Tăng nói: "Mọi người hãy trả lời câu hỏi, ai không trả lời được sẽ phải nhảy xuống." Đường Tăng hỏi Ngộ Không: "Trên trời có mấy mặt trời?" Ngộ Không đáp: "Một." Đường Tăng nói: "Tốt, cho ngươi một cái dù." Đường Tăng hỏi Sa Tăng: "Trên trời có mấy mặt trăng?" Sa Ngộ Tịnh trả lời: "Một." "Tốt, cũng cho ngươi một cái." Bát Giới rất vui mừng: "Câu hỏi đơn giản thế này, tôi chắc chắn sẽ trả lời được." Đường Tăng hỏi Bát Giới: "Trên trời có bao nhiêu ngôi sao?" Kết quả, Bát Giới phải nhảy xuống. 

Sau đó, không lâu sau, bốn người lại đi du lịch bằng máy bay, giữa đường máy bay lại gặp sự cố, dù cũng chỉ có ba cái, họ lại tiếp tục trả lời câu hỏi. Đường Tăng hỏi: "Ngộ Không! Trung Quốc Đại Lục được thành lập vào năm nào?" Ngộ Không đáp: "Năm 1949." Ồ! Rất chuẩn xác. Đường Tăng nói: "Tốt, cho ngươi một cái dù." Đường Tăng hỏi Sa Ngộ Tịnh: "Chiến tranh giải phóng có bao nhiêu người chết?" Sa Ngộ Tịnh trả lời: "Hai triệu năm trăm nghìn người." Đường Tăng nói: "Tốt, cũng cho ngươi một cái." Bây giờ, Đường Tăng lại hỏi Bát Giới: "Tên của hai triệu năm trăm nghìn người đó là gì?" Bát Giới đành phải nhảy xuống lần nữa. 

Lần thứ ba, bốn người lại đi du lịch bằng máy bay, giữa đường máy bay lại gặp sự cố, lúc này Bát Giới nói: "Sư phụ ơi! Thầy không cần hỏi nữa, con tự nhảy xuống." Sau đó, Bát Giới nhảy xuống. Đường Tăng chắp tay: "A Di Đà Phật! Lần này có bốn cái dù."

Tại sao tôi kể câu chuyện này? Thực ra, Phật tính đi cùng với tham - chính là Bát Giới, sân - chính là Ngộ Không, si - chính là Sa Ngộ Tịnh. Nếu hôm nay bạn muốn thấy được Phật tính, trước tiên phải loại bỏ tham, sau đó làm dịu cơn sân hận của mình, rồi tiếp đến là xóa bỏ sự ngu si, bạn phải diệt trừ tham-sân-si thì Phật tính của bạn mới hiển lộ, đây là đạo lý cơ bản của người Phật tử. Bạn phải loại bỏ hoàn toàn tham, sân, si, nghi, mạn, rồi sau đó đóng lại mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, vì nếu bạn có thể đóng lại sáu cửa này, bạn mới có thể thấy được Phật tính của mình, bởi vì cả sáu cửa này đều có ô nhiễm. Mắt - ô nhiễm của sắc; tai - ô nhiễm của việc nghe âm thanh dễ chịu; mũi - ô nhiễm của việc ngửi mùi thơm và mùi hôi; lưỡi - ô nhiễm của vị giác; thân thể - ô nhiễm của sự tiếp xúc; và ý niệm - rất nhiều suy nghĩ đã làm ô nhiễm ý niệm của chính bạn. Vì vậy, trước tiên phải đóng lại sáu tên giặc này, sau đó diệt trừ tham-sân-si, Phật tính của bạn mới có thể hiển lộ, mới thấy được ánh sáng minh điểm.

Hãy để tôi giải thích sâu hơn một chút, thực ra, cũng rất đơn giản. Tối hôm qua, Phật Thời Luân Kim Cang đã hiện ra với tôi, Ngài nói với tôi: "Ngài hãy giảng như thế này, mọi người sẽ hiểu được, tất cả mọi người đều sẽ hiểu. Lửa là gì? Lửa chính là 1. Nước là gì? Nước chính là zero, 0." Làm sao có thể so sánh nước và lửa với 1 và 0 được? Con người sinh ra như thế nào? Đức Phật đã dạy chúng ta đạo lý làm người, hiện giờ tôi không nói về "đạo lý làm người" theo lời Phật dạy, mà nói về đạo lý "làm người" của con người. Bạn được sinh ra như thế nào? Vừa rồi có 43 cặp đôi làm lễ đính hôn, sau khi họ về nhà sẽ học cách "làm người"; vợ chồng viên mãn, con cái ra đời. Trước đây, khi giáo viên giảng về vệ sinh sinh lý, thường tránh không đề cập, vì đó là "đạo lý làm ra con người".

Phật Thời Luân Kim Cang đã giảng giải cho tôi: "Hãy thuyết giảng về ý nghĩa của số 1 và số 0. Thực tế, mọi thứ đều bắt nguồn từ số 0 và số 1." Sau khi 43 cặp đôi này hoàn thành nghi lễ chúc phúc, họ sẽ hiểu rõ điều này. 1 đại diện cho điều gì? Xin đừng hiểu sai. 0 tượng trưng cho điều gì? Cũng xin đừng hiểu lầm. Tôi xin giải thích: Những gì phát xuất từ người nam đều là 1. Còn khả năng sinh sản của người nữ dựa vào 0. Tất cả đều liên quan đến các tế bào! Một đám 1 - những tế bào này thi đua với nhau, tiến về phía một tế bào hình tròn. Tế bào đầu tiên chạm đến sẽ đi vào, kết hợp, và sau đó là quá trình mang thai mười tháng, sinh ra một đứa trẻ. Đây chính là lực lượng tương lai của Chân Phật Tông. 

Phật Thích Ca Mâu Ni đã dạy rất hay: "Con người là do trùng biến thành." Con người vốn là do trùng biến thành, là con trùng 1 và con trùng 0 kết hợp lại biến thành con trùng là bạn, cũng biến thành con trùng là tôi, tất cả chúng ta đều là trùng. Đức Phật nói thân thể con người là ổ trùng, là hang ổ của sâu bọ! Bạn thấy đó, từ rất lâu về trước, Đức Phật đã biết về sự kết hợp của 1 và 0. Chúng ta rất may mắn, vì mỗi người trong chúng ta đang ngồi đây, đều là người chạy về nhất.

Phật Thời Luân Kim Cang giảng, lửa trong cơ thể bạn chính là "dương", nước, minh điểm, hormone trong cơ thể bạn chính là "âm". Khi bạn dùng lửa của mình đi vào nước, đó chính là "nhật nguyệt hợp bích", "toàn cơ đình luân". Mọi người hãy nghĩ xem, lửa là một đường đi lên, nước là hình tròn đi xuống, ánh sáng bát nhã mà các bạn nhìn thấy, chính là đàn thành nơi chúng ta đang ở, Sư Tôn bây giờ giống như Phật Thời Luân Kim Cang ngồi ở trung tâm đàn thành, các Thượng sư bên trái phải và tất cả pháp sư đều là quyến thuộc, đây chính là "nhật nguyệt hợp bích". Bạn nhìn thấy mặt trời và mặt trăng hợp lại với nhau, là âm và dương hợp lại với nhau, lúc này, bạn nhìn thấy ánh sáng minh điểm, khi các bạn chụp ảnh, không phải thường xuyên chụp được ánh sáng bát nhã sao? Trong bát nhã chính là một đàn thành, đàn thành hình tròn, giống như chúng ta hiện nay, hình tròn, đàn thành thực thể, trong hư không, có vô tận, tất cả ánh sáng bát nhã, rất nhiều rất nhiều đàn thành của chư Phật Bồ Tát và chư tôn, hạ giáng nơi này.

Sau khi nhìn thấy ánh sáng bát nhã, sau khi nhìn thấy Phật tính của chính mình, mắt bạn phải nhìn thật rõ ràng! Nhận ra ánh sáng bát nhã này, giữ vững Phật tính này, bạn phải liên tục gìn giữ Phật tính này. Giữ vững Nó để làm gì? Để Nó không dao động, Nó là minh điểm bất hoại, là bất động. Khi tâm bạn tịch diệt, ánh sáng Phật tính sẽ hiển lộ. Tại sao Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói "tịch diệt là vui", tại sao? Tịch diệt rồi thì không còn gì cả, sao gọi là vui được? Khi bạn nhìn thấy ánh sáng minh điểm, nhìn thấy Phật tính, niềm vui sinh ra là vô tận.

Sự hạ xuống của nước là một khoái lạc, sự đi lên của lửa cũng là một khoái lạc, khí lưu chuyển trong toàn thân cũng là một khoái lạc. Khoái lạc này trong Mật giáo được gọi là "đại lạc", không phải là khoái lạc thế tục giữa nam và nữ. Khoái lạc thế tục giữa nam và nữ chỉ là khoái lạc nhất thời, thuộc về khoái lạc thế gian. Khoái lạc mà tôi nói hôm nay là khoái lạc của khí đang lưu chuyển, khoái lạc của nước đi xuống, khoái lạc của lửa đi lên. Nước được gọi là "bồ đề tâm nguyệt dịch", lửa được gọi là "chuyết hỏa", chuyết hỏa chính là 1, minh điểm chính là 0, sau khi đi xuống, hợp lại với nhau, ở giữa luân xa tim, cuối cùng mở được luân xa tim của bạn, khi bạn nhìn thấy Phật tính, đó chính là sự kết hợp của 1 và 0, được gọi là "nhật nguyệt hợp bích", "toàn cơ đình luân".

Chỉ cần bạn nhìn thấy ánh sáng minh điểm của nhật nguyệt hợp bích xuất hiện, đó chính là nhìn vào bên trong, thấy được ánh sáng minh điểm, rất tốt, ánh sáng minh điểm có thể tạo ra một luồng ánh sáng trong trung mạch của bạn, sự hình thành của luồng ánh sáng này bắt đầu từ những hạt minh điểm lần lượt xuất hiện. Ban đầu chỉ là một hạt, sau đó biến thành hai hạt, rồi thành ba hạt, thành bốn hạt, càng nhìn càng nhiều, khi xâu chuỗi lại chính là chủ đề hôm nay, đó là dây xích kim cang. Không chỉ nhìn thấy một ánh sáng, bởi vì ánh sáng đó chỉ là bạn, là Phật tính của chính bạn, nhưng Phật tính có thể tăng trưởng, có thể tăng thêm, có thể tăng về số lượng và phát triển. Tại sao? Là vì sự tu luyện của bạn, tu luyện bằng pháp Mật giáo. Trong thiền định, bạn nhìn thấy một Phật tính, tiếp theo, bạn phân ra một Phật tính, phân ra hai Phật tính, phân ra ba Phật tính, phân ra bốn Phật tính, đây chính là hóa thân bên ngoài thân.

Bản thân Phật có rất nhiều ứng hóa thân, hàng trăm nghìn tỷ hóa thân. Khi chúng ta niệm Phật, chúng ta niệm: "Nam mô ba mươi sáu vạn tỷ mười một vạn chín nghìn năm trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật". A Di Đà Phật có vô lượng ánh sáng, còn được gọi là Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang. Ngài có rất nhiều ứng hóa thân, hiển hiện rất nhiều ứng hóa thân. Bồ Tát Quan Thế Âm cũng tương tự có hàng trăm nghìn tỷ hóa thân, điều này người thường không thể tưởng tượng được. Chỉ có một Phật tính, làm sao có thể hóa thân nhiều như vậy? Đó chính là trong trung mạch của bạn, sử dụng tâm và khí của bạn, kết hợp với nhiều thứ khác nhau, bao gồm nước, lửa, tâm khí, tất cả đều tập hợp lại, sẽ sinh ra một hóa thân khác, một ánh sáng minh điểm sinh ra ánh sáng minh điểm thứ hai, sinh ra ánh sáng minh điểm thứ ba, sinh ra ánh sáng minh điểm thứ tư, và trở thành dây xích kim cang.

Khi chúng ta tu học Phật pháp, mỗi lần đều phải tinh tấn, và phải đi tìm chứng nghiệm, chứng minh Phật tính mà bạn đã thấy, sau đó, Phật tính sẽ dần dần tăng trưởng. Bạn liên tục quan sát nó, liên tục tu luyện nó, nó sẽ biến thành hai, ba, bốn, năm, tất cả đều là Phật tính của bạn, bên trong đều là chính bạn. Giống như ứng hóa thân của Bồ Tát Quan Thế Âm, tất cả đều là Bồ Tát Quan Thế Âm, ứng hóa thân của Phật A Di Đà, tất cả đều là Phật A Di Đà, đây chính là từ dây xích kim cang mà ra, sau đó, bạn tiếp tục tu tập. Tuy nhiên, tại sao dây xích kim cang lại ổn định? Là vì tâm của bạn không lay động, sẽ ổn định, đó chính là thiền định, khi đạt được trạng thái "nhất", điểm này sẽ không di chuyển, dây xích kim cang và ánh sáng minh điểm mà bạn vừa thấy, tự thân nó là chuyển động, sẽ di chuyển qua lại, khi bạn định tâm nhất tâm bất loạn, ánh sáng minh điểm sẽ bất động, bên trong hiển hiện chính là Bổn tôn của bạn, cũng chính là bạn. Rồi sao nữa? Không chỉ là một dây xích kim cang, nó sẽ biến thành màn kim cang.

Làm sao để giải thích điều này? Tôi xin nói với mọi người, có một người tên Tiểu Lý, đã chơi đàn piano cho bạn của mình. Sau khi chơi xong, anh ấy hỏi bạn: "Tôi chơi thế nào?" Người bạn nói: "Bạn nên lên chương trình truyền hình để chơi đàn, để mọi người cùng xem." Tiểu Lý hỏi: "Tôi chơi đàn piano hay đến vậy sao?" Người bạn đáp: "Nếu bạn chơi đàn piano trên truyền hình, tôi có thể tắt ti vi ngay lập tức." Chơi không hay thì tắt ti vi. Ngày nay, chúng ta có internet, mọi người đều đang xem, tôi cũng có thể thấy được tư thế của mình khi đang thuyết pháp, đều có thể nhìn thấy.

Dây xích kim cang sẽ biến thành màn kim cang. Màn kim cang là gì? Lấy một ví dụ đơn giản, giống như tôi vừa nói về ti vi, hình ảnh hiện ra trên ti vi chính là một màn kim cang được tạo thành từ sự tập hợp của những ánh sáng minh điểm. Ban đầu là ánh sáng minh điểm, biến thành dây xích kim cang, dây xích kim cang tập hợp lại, sẽ biến thành những đường, một đường dọc, một đường ngang, đường ngang và đường dọc tập hợp lại biến thành những điểm sáng, lúc này, nó trở thành màn kim cang. Sau khi trở thành màn kim cang, khi bạn đã đạt được thành tựu tam muội địa, trong thiền định, nhìn kĩ vào bên trong, bạn có thể thấy được Phật. Tất cả các vị Phật xuất hiện từ bên trong màn kim cang đều hiện ra nửa thân trước, sau đó mới hiện ra toàn thân, vô số Phật có thể xuất hiện trong màn kim cang vô tận. Sau khi tất cả các vị Phật xuất hiện, họ sẽ nói với bạn: "Bạn đã thành Phật rồi." Lúc này, trong màn kim cang, tất cả các vị Phật đều biến thành Bổn tôn của bạn, và bạn cũng nhập vào Bổn tôn, bạn đã thành Phật. Thế nào gọi là tức thân thành Phật? Sau khi nhìn thấy ánh sáng minh điểm, tiếp tục tăng thêm phân thân của bạn, nó sẽ biến thành dây xích kim cang, dây xích kim cang tiếp tục tăng thêm, sẽ biến thành màn kim cang, trong màn kim cang, ngoài việc xuất hiện tất cả chư Phật, trước tiên hiện nửa thân, sau đó toàn thân, họ nói với bạn: "Bạn đã thành Phật rồi."

Vì vậy, việc tu hành của chúng ta, thiền định có quan trọng không? Thiền định vô cùng quan trọng, chỉ khi bạn có thể thiền định, bạn mới có thể nhìn thấy ánh sáng minh điểm của Phật tính trong chính mình, và chỉ có ánh sáng minh điểm của Phật tính mới có thể tu luyện thành dây xích kim cang trong tương lai, rồi từ dây xích kim cang tu thành đường dọc, tu thành đường ngang, tất cả tập hợp lại sẽ trở thành màn kim cang vô tận, trong màn kim cang vô tận đó, bạn nhìn thấy Bổn tôn của mình, sau đó biến thành Bổn tôn của chính mình, vô số Bổn tôn, đó chính là sự biến hóa của Phật tính của bạn. Lúc này, được gọi là "tức thân thành Phật".

Chúng ta không thể dùng thứ giả để mua thứ giả; thân thể chúng ta là giả, thân thể của bạn tuyệt đối không thể thành Phật. Bởi vì thân thể chúng ta được tạo thành từ đất, nước, lửa, gió, không; muốn thành Phật, nhất định phải có thứ thật mới có thể thành Phật, thứ giả không thể thành Phật. Trong Mật giáo, bạn phải tự nhìn thấy ánh sáng minh điểm của mình, đó chính là thiền định. Khi thiền định đạt đến trạng thái sâu nhất, "nước lửa hòa hợp", "nhật nguyệt hợp bích", "tinh cầu ngừng quay", "dương khí trở lại", nhìn thấy ánh sáng, đó chính là Phật tính của bạn, gọi là kiến tính, chỉ có tu hành như vậy, mới có thể thành Phật.

Có một đứa trẻ cầm tiền đến cửa hàng đồ chơi mua máy bay, người bán hàng nói với cậu: "Đây là tiền giả, cậu không thể mua được." Đứa trẻ nói: "Chiếc máy bay của anh cũng không phải là máy bay thật, em dùng tiền giả để mua máy bay giả." Dùng tiền giả để mua máy bay thật là điều không thể, dùng tiền giả mua đồ giả cũng không thể được. Vì vậy, điều tôi nói hôm nay là muốn nói với mọi người về điều mà ngày xưa sư phụ đã dạy tôi: "Con nhất định phải tu thiền định."

Trong Mật giáo, người ta gọi là "nước hạ xuống, lửa đi lên". Khi luân xa tim của bạn mở ra, mặt trời và mặt trăng hợp nhất, nước và lửa hòa hợp. Bạn nhìn thấy ánh sáng minh điểm, lấy ánh sáng minh điểm đó làm Bổn tôn, rồi tu luyện thành một chuỗi ánh sáng minh điểm, tiếp tục tu luyện thành màn kim cang, sau đó nhìn thấy tất cả chư Phật Bồ Tát hiện ra bên trong, Phật bảo với bạn rằng bạn đã thành Phật, tất cả đều biến thành bạn, khi tất cả chư Phật đều biến thành bạn, cũng biến thành Bổn tôn của bạn, đó mới là tức thân thành Phật, mới gọi là sự tương ứng chân thật.

Pháp này rất hay, dễ nói nhưng khó tu. Thế nào gọi là hay? Người vợ nấu món ăn, hỏi chồng: "Anh yêu, món gà xào của em thế nào?" Chồng đáp: "Không đến nỗi dở." Vợ hỏi: "Thế món rau thì sao?" Chồng đáp: "Bình thường." Vợ lại hỏi: "Còn con cá này?" Chồng đáp: "Cũng được." Vợ hỏi: "Anh không thể nói một từ 'ngon' à?" Chồng uống một ngụm canh rồi nói: "Nóng quá." Cuối cùng cũng có một từ "ngon" nhưng lại có nghĩa là nóng quá. Điều "ngon" quan trọng nhất của Mật pháp nằm ở đâu? Hay ở chỗ bạn có thể tức thân thành Phật.

Chúng ta phải tinh tấn mỗi ngày. Bài tập của Tiểu Bảo từ trước đến nay vẫn luôn tốt hơn Tiểu Minh. Một ngày nọ, bố hỏi: "Tiểu Minh, kỳ thi tháng này, Tiểu Bảo được bao nhiêu điểm?" Tiểu Minh đáp: "Nó được chín mươi lăm điểm." Bố hỏi: "Không tệ, Tiểu Bảo được chín mươi lăm điểm, còn con thì sao?" Tiểu Minh rất tự hào nói: "Con còn nhiều hơn nó một điểm." Bố rất vui mừng. Ông hỏi: "Chín mươi sáu điểm à?" Cậu bé đáp: "Không phải, trên bài kiểm tra ghi chín chấm năm điểm." Nhiều hơn một điểm (dấu chấm) là vậy.

Mật giáo không chỉ tốt hơn một chút, điều tốt của Mật giáo là nó giúp tức thân thành Phật, điều tốt của Mật giáo không chỉ là thiền định, mà nó còn có phương pháp tu hành riêng, như tu khí, tu mạch, tu minh điểm, tu thủy hỏa kết hợp, tu nhật nguyệt hợp bích, tu nhất dương lai phục, tu nhìn thấy ánh sáng, nhìn thấy ánh sáng của dây xích kim cang, nhìn thấy ánh sáng của màn kim cang, ánh sáng vô tận của màn kim cang, trong đó hiện ra Phật, tương ứng với Bổn tôn của bạn, bản thân bạn sẽ đi vào bên trong màn kim cang. Điều đó có nghĩa là, bản thân bạn hoàn toàn tương ứng với Phật, bạn chính là màn kim cang, cũng chính là vô số Phật, và Phật tính của bạn hoàn toàn giống hệt với Phật tính.

Hôm nay cảm ơn mọi người đã đến, cũng rất cảm ơn tất cả các vị khách quý. Hôm nay tôi nói với mọi người rất đơn giản và súc tích, Thời Luân Kim Cang cũng đã giáng lâm đàn thành. Cái gọi là dây xích kim cang, mọi người đã hiểu rõ, dây xích kim cang không chỉ là dây xích kim cang hữu hình, mà còn có dây xích kim cang vô hình, màn kim cang có màn kim cang hữu hình, cũng có màn kim cang vô hình. Cơ thể chúng ta có nước và lửa hữu hình, cũng có nước và lửa vô hình, có mặt trời và mặt trăng vô hình, cũng có âm và dương vô hình. Hôm nay, không có món quà nào tặng cho mọi người, chỉ đơn giản nói như vậy thôi.

Có một câu chuyện cười, một người ăn xin nói với một phụ nữ đi qua: "Chị gái ơi, tôi đã hai ngày chưa ăn gì, có thể cho tôi một miếng bánh ngọt không?" Người chị trả lời: "Bánh ngọt à? Tôi không có, tôi chỉ có cơm thôi, không có bánh ngọt." Người ăn xin đáp: "Bình thường thì thế cũng được rồi, nhưng hôm nay là sinh nhật của tôi." Người ăn xin muốn bánh ngọt vì đó là sinh nhật của anh ta. Hôm nay, thứ tôi dành cho mọi người, vừa là cơm vừa là bánh ngọt. Đó chính là Phật tính! Mọi người không cần tranh giành.

Có một người đến ngân hàng, anh ta nói với cô nhân viên ngân hàng: "Tôi muốn lấy tiền." Cô nhân viên hỏi: "Số tài khoản (account number) của anh đâu?" Người đàn ông đáp: "Nếu tôi có tài khoản, sao tôi phải chĩa súng vào cô?" Ý là, Phật tính không thể giành giật được, mà là thứ vốn có trong bạn. Ánh sáng minh điểm là thứ vốn có trong bạn, nước và lửa là thứ vốn có trong bạn, dây xích kim cang là thứ vốn có trong bạn, màn kim cang là thứ vốn có trong bạn, tất cả chư Phật đều ở trong tâm bạn. Chỉ khi bạn tương ứng với Phật, tức thân thành Phật, bạn mới thực sự hiểu rằng tất cả chư Phật đều giống như bản thân bạn, sau khi bạn tu thành, tất cả đều hoàn toàn giống nhau, bình đẳng và không có sự khác biệt.

Tại đây, chúng ta cầu xin Thời Luân Kim Cang Phật gia hộ cho Indonesia, mang đến cho Indonesia thời tiết thuận lợi, đất nước thịnh vượng và người dân an lành. Thực ra, khi giảng pháp này, cần phải giảng chi tiết hơn, tỉ mỉ hơn, bắt đầu từ khí, từ minh điểm, từ chuyết hỏa, cuối cùng giảng đến "nhật nguyệt hợp bích", "toàn cơ đình luân", rồi "nhất dương lai phục", khi trong thiền định bạn nhìn thấy ánh sáng minh điểm. Cần phải giảng theo thứ tự như vậy mới có sự kết nối, tức là có một trình tự. Tại Đài Loan Lôi Tạng Tự, tôi giảng về Hỷ Kim Cang, chính là muốn từ từ giảng như vậy, để mọi người hiểu rằng thực ra pháp của Mật giáo có liên quan đến vũ trụ.

Ồ! Tôi quên nói, ánh sáng minh điểm của bạn - Phật tính, khi nào mới có thể biến thành Bổn tôn? Tối qua Thời Luân Kim Cang nói với tôi: "Hãy nói với mọi người rằng, con người, khi 1 và 0 hợp nhất, cần bao lâu để sinh ra? Cần mười tháng." Thời Luân Kim Cang đã nói với tôi một bí mật, đây là bí mật lớn nhất, khi bạn nhìn thấy ánh sáng minh điểm, bạn nhìn chăm chú vào ánh sáng minh điểm đó, mỗi ngày bạn tu thiền định, nhìn chăm chú vào ánh sáng minh điểm, tức là đang thực hiện công phu "ôn dưỡng". Lúc này, cần bao nhiêu thời gian để ánh sáng minh điểm của bạn biến thành vô số dây xích kim cang, rồi biến thành màn kim cang vô tận? Theo lời Thời Luân Kim Cang, bạn cần mười tháng thời gian để từ ánh sáng minh điểm biến thành dây xích kim cang, đây là bí mật Ngài đã nói với tôi, tức là mười tháng.

Thời Luân là gì? Nó kết hợp với thời gian, khi con người sinh một đứa trẻ, sau khi 1 và 0 kết hợp, cần mang thai mười tháng, đứa trẻ mới chào đời. Thời Luân Kim Cang cũng nói, tương tự như vậy, khi bạn nhìn thấy ánh sáng minh điểm, nhật nguyệt hợp bích, là bạn đã mang thai thánh. "Thánh thai" là gì? Chính là Phật thai, thai Phật ở bên trong. Sau khi bạn mang Phật thai, bạn nhìn chăm chú vào Ngài, ôn dưỡng Ngài, thiền định nuôi lớn Ngài trong mười tháng, cuối cùng bạn có một thai, mười tháng nữa, bạn sẽ có hai thai, mười tháng tiếp theo, sẽ thành ba thai, đó là cách tu luyện.

Tôi suýt quên không nói, bởi vì bài giảng này là điều Phật Thời Luân Kim Cang đã nói với tôi tối qua, Ngài nói rằng điều này giống như việc mang thai trong cơ thể con người, sau mười tháng sẽ sinh, sau mười tháng, ánh sáng minh điểm của bạn sẽ biến thành hai, sau mười tháng nữa sẽ biến thành ba, mười tháng tiếp theo sẽ biến thành bốn, cứ tiếp tục tăng lên, trở thành dây xích kim cang. Màn kim cang là gì? Sau khi tu tập lâu dài một cách đúng đắn, bạn sẽ trở thành màn kim cang. Trong màn kim cang, bạn có thể nhìn thấy chính mình, bạn đã là Bổn tôn, bạn cũng là Bổn tôn Phật, hiển hiện trong màn kim cang, bạn hợp nhất với Ngài, bạn đã tức thân thành Phật.

Những điều tôi giảng cho mọi người hôm nay chắc đã rất rõ ràng! Tuy nhiên, quá trình tu tập là một hành trình rất dài, vì vậy, người học Phật chúng ta cần phải tinh tấn, ở mức căn bản nhất, phải loại bỏ tham, sân, si, nghi, mạn. Phải giữ năm giới, phải diệt trừ sáu giặc: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Phải đi theo bát chính đạo, tứ diệu đế, phải hiểu thập nhị nhân duyên. Pháp của Mật giáo có sự tương ứng bên ngoài, cũng có sự tương ứng bên trong, tương lai mọi người cùng nhau tức thân thành Phật. Hy vọng Thời Luân Kim Cang gia hộ cho tất cả mọi người, mỗi người đều có thể đạt được thành tựu, đều có thể thấy được Phật tính, minh tâm kiến tính, rồi tu luyện, tức thân thành Phật.

Om mani padme hum.

**(Hết.)**

---

---
# File: sach-tam-linh/233-bay-muoi-tien-mong.md
# Title: 233. Bảy mươi tiên mộng
---

![image](/img/img_db536949c4d232da50cd7294c8756d7e.jpg)



## Bảy mươi Tiên mộng


🪷 Đại cảm ứng của giấc mộng

Văn tập: 233
Xuất bản: 15/5/2013
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**

**Lưu ý:** trong sách có xuất hiện 2 từ thần trí và thần chí, là hai từ khác nhau dịch đúng nguyên văn, không phải viết nhầm chính tả.


### Lời mở đầu


Liên Sinh Hoạt Phật đã gần 70 tuổi rồi, vì thế tôi viết cuốn sách này mới lấy tên là “Bảy mươi Tiên mộng”. 

Cuộc đời này, có thể nói tôi đều sống trong sự thể ngộ Phật pháp. Tôi hiểu chuyện nhân quả báo ứng, phát hiện thấy cuộc đời con người không có gì là không lần lượt hiện lên rõ ràng trong nhân quả báo ứng. 

Tôi từng nói:
Sự tích cảm ứng của Lư Thắng Ngạn nhiều như số cát sông Hằng, thật sự không thể tính đếm, hơn nữa linh cảm vô biên, những chuyện truyền từ miệng qua tai lại càng nhiều, có thể ghi chép lại chỉ là một số ít mà thôi. Cuốn sách “Bảy mươi Tiên mộng” này lại càng là số ít trong số ít.

Viết ra những văn tự này, chủ yếu là tôi muốn khởi phát chính tín của chúng sinh, để họ biết có thiện ác báo ứng, cũng có thể khiến cho những người học Phật đạo tâm kiên cố, tu pháp kiên định, có ích đối với việc tăng trưởng thượng duyên. 

Vậy thế nào là “Tiên mộng” đây?

Tôi nói:
Trong cuộc sống thường ngày, tôi “đại cảm đại ứng, tiểu cảm tiểu ứng”, tuyệt đối không có chuyện không có cảm ứng.
Những sự việc tương ứng:
Trong lúc mơ.
Trong lúc tỉnh.
Trong lúc thiền.

Bởi vì đời người như mộng huyễn, biết đời như mộng, những sự tích linh ứng rõ ràng này, tôi lấy tên là “Tiên mộng”. Mặc dù như mộng như huyễn, nhưng trong cõi vô hình có sức mạnh của nó, vô cùng bất khả tư nghì.
Tôi dùng tấm lòng chân thành nhất để viết nên cuốn sách này. Chỉ mong chúng sinh có được thiện căn!

🌟

Tôi lấy một ví dụ:
Có một đệ tử họ Trương, viết thư xin tôi đặt tên, bởi vì vợ của anh ấy sinh một đứa con gái. 
Tôi tiện tay viết ra chữ “tình”, đặt tên là Trương Tình.
Đưa cho đồng môn phụ trách việc trả lời thư, thư vẫn còn chưa gửi đi. Đệ tử họ Trương này tình cờ ngủ gật trên ghế sofa, nghe thấy có người nói:
”Con gái anh đã được Lư Sư Tôn đặt tên là Trương Tình rồi! Tôi đặc biệt đến thông báo cho anh biết!”
Người này nói xong thì biến mất luôn. Đệ tử họ Trương bảo với vợ:
”Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đã đặt tên cho con gái là Trương Tình, trong mơ anh nghe thấy.”
Vợ nói:
”Mơ chắc gì đã là thật!”
”Nghe thấy rất thật mà, Hoạt Phật nhờ người đến báo!”
Vợ nói:
”Em không tin!”

Một tuần lễ sau. Thư trả lời đã đến, mở ra xem. 
”Trời ạ! Quả nhiên là Trương Tình.”
Đệ tử Trương ngạc nhiên! Vợ cũng ngạc nhiên!
Vợ chồng đệ tử Trương quyết định thử lại một lần nữa. Thỉnh Lư Sư Tôn đổi tên cho con trai của họ. 
Tôi đổi tên thành Trương Đình. 
Kết quả là hai vợ chồng đều nằm mơ con trai được đổi tên thành Trương Đình. Con trai của họ cũng nằm mơ được đổi tên thành Trương Đình.
Ba người cùng có một giấc mơ, quái lạ!

Có một hôm, thư trả lời gửi đến, quả nhiên là Trương Đình. Người nhà họ Trương kêu lên:
”Trời ơi! Thật là không thể tưởng tượng nổi, chúng tôi tin tưởng Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn!”

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Thoát nạn trên núi cao


Cư sĩ Mạnh Hưng thích nhất là leo núi, tuổi mới 25, cao to đẹp trai, thể trạng cường tráng. Sau khi tham gia Hiệp hội Leo Núi, anh thường đi leo núi cùng những người bạn, từ núi nhỏ trèo tới núi lớn, từ trong nước trèo ra nước ngoài, dần dần anh hứng thú với leo núi không biết mệt mỏi.

Trong nhà, cư sĩ Mạnh Hưng là con trai thứ, bố mẹ là người có một chút tiền tài địa vị, tuy vậy bố mẹ thấy thành tích của anh tốt nên cũng không ngăn cản anh lúc nào cũng đi leo núi, chỉ là thường xuyên căn dặn:
”Hưng con! Leo núi phải chú ý an toàn!”
Mạnh Hưng trả lời:
”Con biết rồi! Con biết rồi!”
Thế là anh lại đi leo núi.

Cư sĩ Mạnh Hưng có một người bác là đệ tử Chân Phật Tông, người bác tặng cho anh một tấm thẻ bài hộ thân, bảo anh đeo vào cổ, Mạnh Hưng cũng thường xuyên đeo trên cổ.
Người bác dạy anh niệm một câu chú: “Om guru liansheng siddhi hum.” Anh cũng đọc đến thuộc làu như cháo chảy.

🌟

Có một buổi tối, tôi (Lư Sư Tôn) nằm mơ, không ngờ lại mơ thấy mình đang bay trên một ngọn núi lớn. Tôi nhìn thấy một người con trai bị rơi xuống khe núi. Anh mặc áo khoác màu đỏ và trắng, có hiện tượng bị gãy xương. Anh không thể cử động được, hơi thở thì đã yếu ớt. Nhưng không ngờ tay phải của anh lại nắm chặt thẻ bài, thẻ bài này lại là thẻ bài hộ thân Liên Hoa Đồng Tử. 

Và trong miệng anh vẫn lầm rầm niệm:
”Om guru liansheng siddhi hum.”
Tôi thấy vậy thì sửng sốt!
Tôi cảm thấy phải cứu người con trai này, bởi vì anh ta đeo thẻ bài hộ thân của tôi, lại còn niệm tâm chú của tôi nữa.

Tôi lại đi một vòng quanh núi, nhìn thấy một người của nhóm tìm kiếm đang đi tìm anh ta, nhưng hướng đi lại không đúng, càng đi càng xa, hơn nữa vì trời tối và trên núi có mưa nên đã có hiện tượng dừng tìm kiếm. 
Tôi vội quá, thế là tự mình phóng ra ánh sáng trắng ba lần, đội tìm kiếm nhìn thấy ánh sáng. Thế là họ quay trở lại, hướng về nơi có ánh sáng để tìm kiếm. Tôi lại vội vàng nói bên tai người thanh niên này:
”Cố chịu đựng, 30 phút nữa sẽ có người đến cứu anh!”
Tôi lại phóng ra ánh sáng trắng ba lần nữa để chỉ dẫn cho đội tìm kiếm đến cứu anh ta. Cuối cùng, đội tìm kiếm đã tìm được anh, họ dùng cáng để khiêng anh xuống núi. 
Đợi đến khi tất cả đều tốt đẹp rồi, tôi mới tỉnh giấc mơ.

🌟

Sự việc này qua đi một khoảng thời gian, tôi gần như cũng đã quên rồi!
Có một hôm, cư sĩ Mạnh Hưng và bác của anh đến gặp tôi, nói muốn cảm ơn tôi. Tôi vừa nhìn thì thấy đó chính là người thanh niên ở trong khe núi, tôi cười, tôi nói:
”Ngày hôm đó cậu mặc áo khoác đỏ trắng đúng không?”
Mạnh Hưng sửng sốt. Tôi nói:
”Tôi nói với cậu: Cố chịu đựng, 30 phút nữa sẽ có người đến cứu anh!”
Cư sĩ Mạnh Hưng kêu lên:
”Đúng rồi, chính là câu nói này, con nghe rõ mồn một! Đơn giản là quá ư bất khả tư nghì!”
Mạnh Hưng nói với người bác:
”Quả nhiên là Lư Sư Tôn đã cứu cháu! Quả nhiên là Lư Sư Tôn đã cứu cháu!”

Đối với việc phóng quang sáu lần, nhân viên cứu hộ cho rằng đèn pin của Mạnh Hưng phát ra. Sau đó mới biết, khi rơi xuống núi, đèn pin đã bị rơi mất từ lâu rồi, không biết ở chỗ nào. Nhân viên tìm kiếm cũng thấy kì quặc, sáu ánh sáng đó từ đâu đến?

Tôi nói:
”Tôi phóng đó!”
Cư sĩ Mạnh Hưng đã quy y ngay tại chỗ!


### 02. Tế bào ung thư hoàn toàn biến mất


Bà Nhật Hân, khoảng 40 tuổi, bị mắc ung thư tử cung. Người phụ nữ này là chủ tịch ngân hàng, là tiến sĩ ngân hàng học, cũng là tiến sĩ kinh tế, có hai bằng tiến sĩ. 
Con người bà hoàn toàn không có tín ngưỡng gì. 
Chuyện bà ấy mắc ung thư tử cung là như thế này. 
Khi đến kì kinh nguyệt thì bà ấy bị đau dữ dội, chảy máu không ngừng, rồi cứ ra máu từng chút một kéo dài nửa tháng. Nói cách khác là nửa tháng thoải mái, nửa tháng không ngừng đau đớn phiền muộn. 

Bà ấy đi bệnh viện kiểm tra, phát hiện thấy bên trong tử cung có khối u, bác sĩ kiểm tra sinh thiết, bác sĩ nói:
”U ác, phải cắt bỏ.”
Bà đồng ý cắt bỏ. Sau khi cắt xong, lại phát hiện ra hai khối u nhỏ nữa, lại cắt bỏ. 

Vốn dĩ một khi đã cắt bỏ thì sẽ không sao nữa, nhưng thực tế không như vậy. Sau khi cắt không lâu, lại mọc thêm u mới, cắt xong không lâu lại mọc lên u mới, cắt xong không lâu lại mọc lên u mới. Một thời gian rất dài cứ liên tục không ngừng như vậy. 

Bác sĩ đề nghị:
”Cắt bỏ hết, làm một lần khỏe suốt đời!”
Bà Nhật Hân đáp:
”Không được, tôi muốn sinh một đứa con!”
Chị của bà Nhật Hân là đệ tử Chân Phật Tông tên là Nhật Âm. Bà ấy khuyên em gái đến Lôi Tạng Tự xin Lư Sư Tôn sờ đầu gia trì. Bà Nhật Hân nói:
”Mấy người toàn là mê tín, thần thông của Lư Sư Tôn toàn là giả, những thông tin tiêu cực về ông ấy quá nhiều, những bình luận về Chân Phật Tông không tốt, em là phần tử tri thức, không dễ bị mắc lừa đâu!”
”Đi thử xem đi! Dù sao cũng chỉ một lần thôi, có hề gì đâu!”
Bà Nhật Hân đáp:
”Em vĩnh viễn không tin mấy trò của ông ta!”
Bà ấy còn gào lên:
”Đừng đến làm phiền em nữa!”

🌟

Có một hôm, Nhật Âm đem ảnh của Nhật Hân đến thỉnh tôi gia trì. Tôi cầu nguyện Diêu Trì Kim Mẫu, quán tưởng Diêu Trì Kim Mẫu, Diêu Trì Kim Mẫu đi vào người tôi rồi chạm một lúc trên tấm ảnh. 

Đêm đó, bà Nhật Hân có một giấc mơ rất kì lạ:
Mơ thấy mình đang nằm trên bàn mổ ở bệnh viện. Một bác sĩ ngoại khoa đi vào, bắt đầu làm phẫu thuật cho bà, bà ấy nhìn mặt của bác sĩ. 
Hây! Thì ra là Lư Sư Tôn.

Bà Nhật Hân nhìn thấy Lư Sư Tôn giống như thầy phù thủy, đưa tay vào trong không khí, từng hạt nhỏ màu đen liên tục bay vào trong tay của Lư Sư Tôn, trên tay Lư Sư Tôn đầy những hạt nhỏ màu đen, rồi đưa tay cho bà Nhật Hân nhìn và nói:
”Chúng đều là hạt giống của khối u!”
Từng hạt từng hạt đen như hạt vừng.
Lư Sư Tôn trước khi đi còn nói với bà:
”Đừng nghe và tin theo những lời thêm thắt đặt điều, chính mình thanh tịnh là quan trọng nhất!”

🌟

Sau khi có được giấc mơ này, bà Nhật Hân cảm thấy tràn đầy sức sống, tinh thần rất tốt, giống như là vừa trải qua một cơn bạo bệnh vậy. Bà ấy giấu giấc mơ này không kể ra, liên tục kiểm tra sức khỏe lần này tới lần khác, bác sĩ nói:
”Tế bào ung thư hoàn toàn biến mất rồi!”
Chính bà ấy cũng nhận thấy tất cả đều bình thường rồi!

Có một hôm, Nhật Hân chủ động nói với Nhật Âm:
”Em muốn đi gặp Lư Sư Tôn!”
Nhật Âm hỏi:
”Thật không?”
”Đương nhiên là thật, bởi vì em đã có một giấc mơ rất kì quái!”
”Em tin Lư Sư Tôn rồi à?”
”Em đi quy y ông ấy, ông ấy là thật, không phải giả.”
Nhật Âm hết sức vui mừng.


### 03. May mắn không bị cướp


Một phường kia chỉ có bảy hộ gia đình, bảy hộ gia đình này đều ở tại những biệt thự rất xa hoa. 

Bảy ngôi biệt thự xa hoa này cao năm tầng, nhà nào cũng có thang máy, người ở trong đó đều là người giàu sang quyền thế. Đây là những ngôi nhà đơn lập có gara đôi ở tầng hầm, vật liệu xây dựng tốt, trang trí đẹp, địa điểm nằm ở lưng chừng núi, có rừng cây bao bọc rất khí thế. Nhưng đã bị bọn lưu manh để mắt đến rồi!

Vào một buổi đêm không trăng gió lộng, có hơn hai mươi tên cướp đã ập đến phường này, cướp sạch tài sản, những vật dụng có giá trị cao, đồ trang sức đáng giá, vàng và kim cương, tiền bạc châu báu, thậm chí két sắt, toàn bộ đều bị lấy đi. 

Phường nhỏ này vốn có một người bảo vệ, nhưng đã bị bọn du côn trói lại, dùng vải và băng keo bịt miệng, không thể cử động được. 
Vụ cướp đã xảy ra rồi! Nhưng điều kì lạ là, trong bảy hộ, có một hộ ở chính giữa, hai hộ bên trái, hai hộ bên phải, một hộ phía trước, một hộ phía sau, chỉ có một hộ ở giữa không bị cướp, và hộ ở giữa này có một người họ Hoàng tên Tiểu Đông là đệ tử của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.

Khi anh ấy mua ngôi nhà này, tôi đã từng đích thân xem phong thủy. Vừa bước vào cửa lớn của ngôi nhà đã có thể nhìn thấy bức ảnh của Lư Sư Tôn to bằng người thật. Hoàng Tiểu Đông là Tổng giám đốc công ty, ngoài lúc làm việc ra, anh ấy thích niệm chú đại bi, chú Chuẩn Đề. Ban đầu anh quy y Pháp Vương Penor [Kyabjé Drubwang Padma Norbu Rinpoche] trước, sau đó quy y Liên Sinh Pháp Vương Lư Thắng Ngạn. Bổn tôn của anh là Chuẩn Đề Phật Mẫu.

🌟

Hai tuần trước vụ cướp, Hoàng Thiếu Đông có một giấc mơ đặc biệt: anh mơ thấy sáu hộ gia đình ở trước, sau, bên trái, bên phải không ngờ đều chuyển nhà đi. Bảy hộ gia đình chỉ còn lại một hộ nhà anh. Anh cảm thấy rất sợ hãi, vì sao mọi người đều chuyển nhà đi, còn lại độc mỗi nhà anh là không chuyển?

Giấc mơ này có điều kì lạ, hơn nữa trong mơ lại vô cùng rõ ràng, trực giác anh cho rằng Lư Sư Tôn báo mộng. Sau đó, Hoàng Thiếu Đông thỉnh tôi giải thích giấc mơ này.

Tôi trả lời:
”Đúng là kì lạ, chắc chắn có chuyện!” (Tôi bấm ngón tay thần toán.)
Anh ấy hỏi:
”Làm thế nào để phòng tránh?”
Tôi đáp:
”Trước tiên dùng cái khiên Thời Luân Kim Cang đặt bốn xung quanh ngôi nhà, tôi sẽ truyền cho anh một câu chú tạo sương mù.”
Anh ấy hỏi:
”Chú tạo sương mù? Vì sao phải niệm chú tạo sương mù?”
Tôi nói:
”Đến lúc ấy khắc biết!”
(Chú tạo sương mùa này là mật truyền.)

Nghe nói, hằng đêm Hoàng Thiếu Đông đều niệm chú tạo sương mù, trong núi quả nhiên có sương, nhưng mà điều kì quái nhất là, sương trong núi hạ xuống dày đặc nhất là ở nhà của Hoàng Thiếu Đông.

Khi những tên lưu manh đến cướp tài sản, phường này đều có sương, nhưng duy có nhà của Hoàng Thiếu Đông là sương dày đặc nhất, bao bọc từng lớp từng lớp xung quanh ngôi nhà, sáu ngôi nhà khác bị cướp, không ngờ bọn chúng lại không nhìn thấy ngôi nhà họ Hoàng, ngôi nhà bình yên vô sự, không tổn thất dù một cành cây ngọn cỏ.

Sáu hộ kia hỏi Hoàng:
”Anh dùng cách gì mà tránh được?”
Hoàng đáp:
”Tin tưởng Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.”
Sáu hộ kia hỏi:
”Lư Sư Tôn có cách gì?”
Hoàng đáp:
”Thuật tạo sương!”
”Tạo sương?” - Sáu hộ gia đình kia nhìn trân trân không nói nên lời. 
Cuối cùng, sáu hộ gia đình kia cũng đều đến quy y tôi.


### 04. Chiếc xe buýt bị lật


Tôi có một đệ tử, người ta gọi cô là Ngọc Du, người thân thì gọi cô ấy là Tiểu Ngọc. Cô ấy cả đời ăn chay, vẻ ngoài vô cùng xinh đẹp. Gia cảnh giàu có, cô ấy sống trong biệt thự, bởi vì tin Phật nên gọi biệt thự của mình là Liên Hoa Tịnh Viện, nghe có vẻ rất giống một ngôi chùa, thật ra đó là nhà ở. 

Buổi sáng hôm ấy, ở trước đàn thành trong nhà, cô ấy tu một đàn pháp Liên Hoa Đồng Tử tương ứng.

Cô ấy đã niệm trên tám triệu biến Thượng sư tâm chú, từng trong lúc nửa ngủ nửa tỉnh, cô ấy đã đi tới Tây phương tịnh thổ Ma Ha Song Liên Trì. Ngày hôm ấy, cô ấy phải đi lên miền bắc để gặp chồng, chồng cô ấy là một nhân viên công vụ cao cấp làm việc tại miền bắc.

Tay cô ấy đeo nhẫn kim cương, y phục và trang sức thanh nhã, nền nã, dắt theo cô con gái nhỏ bốn tuổi, lên xe buýt đi đến miền bắc.
Ngay khi vừa lên xe thì cô con gái nhỏ đã ngủ thiếp đi. Bản thân cô ấy dưới sự lắc lư của chiếc xe cũng đã dần dần đi vào giấc mộng, hoàn toàn không biết chuyện gì nữa.

Chiếc xe buýt mới đi được một phần ba lộ trình, đột nhiên cô ấy cảm thấy có người đang lay mình. Cô nhìn thì thấy là Lư Sư Tôn, vội vàng hỏi:
”Sư Tôn, thầy cũng ở trên xe à!”
Lư Sư Tôn đáp:
”Không phải, tôi đặc biệt đến để cứu cô đây. Cô và con gái, đến trạm sau, mau mau xuống xe.”
”Vì sao?”
”Bởi vì chiếc xe buýt này sắp lật rồi, nhớ kĩ, phải mau mau đưa con gái xuống xe.”
Tiểu Ngọc nói:
”Không được. Con phải hét lên cho mọi người đều xuống xe, thầy cứu con, con muốn cứu mọi người trên xe.” (Quả nhiên Tiểu Ngọc có tấm lòng lương thiện.)
Tôi nói:
”Không được. Người ta sẽ cho rằng cô bị bệnh thần kinh (bệnh tâm thần), không ai tin đâu, cô xuống xe đi! Cô xuống xe đi!”

Lư Sư Tôn lại thúc giục cô:
”Nếu không xuống xe sẽ mất mạng đó.”
Cô ấy tỉnh dậy trong sự hoảng hốt. Cô nhớ đến việc Lư Sư Tôn hiện thân trong giấc mơ, năm lần bảy lượt dặn dò. Ban đầu cô không chú ý lắm, đây chỉ là một giấc mơ, mơ sao có thể là thật? Có khả năng là cô ấy ban ngày nghĩ nhiều nên tối nằm mơ, không cần phải để ý đến, sẽ không có chuyện gì đâu. 

Lúc này, chiếc xe buýt đã chạy vào trạm nghỉ để cho mọi người xuống xe nghỉ ngơi mười phút. Cô ấy lại nghĩ, giấc mơ vừa rồi rõ ràng quá, bất luận thế nào thì cũng xuống xe thôi, để tránh gặp chuyện thật sự. Cô ấy dắt theo đứa con gái bốn tuổi đang say ngủ xuống xe. 

Tại trạm nghỉ, cô gọi điện thoại để đặt một chiếc xe khác đi miền bắc. 

Sau khi hỏi thăm sự việc thì được biết, chiếc xe buýt kia chạy không lâu, trên đường đi, phía trước có một chiếc xe con đột nhiên phanh đi chậm lại, vì chiếc xe buýt cách chiếc xe con một khoảng cách quá gần, tài xế cũng vội vàng phanh gấp. Không ngờ đằng sau có một chiếc xe kéo, tốc độ của chiếc xe kéo rất nhanh, phanh không kịp, đâm thẳng vào chiếc xe buýt từ phía sau, trong một thoáng đã đâm lật chiếc xe buýt nằm ngang ra làn xe đối diện. 

Xe bên làn đối diện cũng phanh không kịp nên đã đâm vào đầu xe. Tài xế xe buýt chết ngay tại chỗ. Còn những hành khách trên xe buýt thì chết tám người, mười bảy người bị thương ở các mức độ nặng nhẹ. Đó là một vụ tai nạn lớn. 

Chiếc xe buýt, chiếc xe kéo, hai chiếc xe con đâm nhau thành một khối. Khói đen mù mịt khắp xung quanh. Xe cảnh sát, xe cứu thương kêu inh ỏi, cả con đường quốc lộ đều tắc nghẽn. 

Đây đúng là:
Trời có gió mưa bất trắc.
Người có họa phúc khó lường.
Là phúc chẳng phải họa, là họa tránh không qua. 

Tiểu Ngọc không hề bị thương tổn gì, con gái cũng không hề bị thương, đây chính là lợi ích của việc quy y trì chú tu pháp, bằng không, hậu quả thật khó tưởng tượng!


### 05. Câu Nhiếp Tài Tục Mẫu (Câu Tài Thiên Nữ)


Vào đầu năm Thủy Long (năm 2012), cô Trương Giai Kì chủ trì, cùng với hai người dẫn chương trình nổi tiếng là Lâm Triều Hâm và Hứa Thánh Mai, ba người chúng tôi nói chuyện về vận của năm. 

Một người hỏi:
”Năm Thủy Long có niên vận thế nào?”
Tôi đáp:
”Thảm!”
Một người hỏi:
”Thảm thế nào?”
Tôi đáp:
”Tai họa đất, nước, lửa, gió đều đến, cũng có cả họa chiến tranh do con người gây ra. Kinh tế toàn thế giới không khởi sắc, kinh tế khu vực Đài Loan rất kém.”
Một người hỏi:
”Ngài chấm bao nhiêu điểm cho tình trạng kinh tế trì trệ của Đài Loan?”
Tôi đáp:
”Không đạt. 50 điểm.”

Sau này, quả nhiên ứng nghiệm. Các nơi trên thế giới, động đất trên cấp 7 tổng cộng hơn 10 vụ; các nơi trên thế giới bị lũ lụt, Đài Loan cũng bị như vậy; hỏa hoạn liên tục, núi lửa phun trào. Khu vực Đài Loan có 20 cơn bão. Ngay cả New York Mĩ chưa từng có gió bão, vậy mà đã có cơn bão Franken ập đến, tạo nên một đợt thiên tai lớn ở New York. Bắc Kinh Trung Quốc không phải gặp lũ lụt mà gặp bão tuyết dữ dội. Thời tiết bất thường, vô cùng quái dị. Chiến tranh ở Trung Đông, Israel và Palestine, v.v…
Kinh tế Châu Âu yếu kém.
Mĩ và Canada suy thoái kinh tế.
Kinh tế Đài Loan không khởi sắc.
v.v…

🌟

Vào ngày 15 tháng 11 năm 2012, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn từ Mĩ bay về Đài Loan. Hơn 2000 người đã đến sân bay tiếp đón. 

Có 5 đài truyền hình đến phỏng vấn, tôi nói: “Tôi quay trở về cứu nền kinh tế của Đài Loan. Bởi vì tôi ở Lôi Tạng Tự ở Thảo Đồn huyện Nam Đầu, thứ bảy hàng tuần, lúc 3 giờ chiều, đều có đại pháp hội Hộ Ma. Đệ tử trên toàn thế giới đều kéo đến Đài Loan, số người đến lên tới hai, ba vạn người, chí ít thì cũng sẽ thúc đẩy ngành du lịch của Đài Loan. Tôi cũng sẽ cử hành pháp hội cầu nguyện cho kinh tế Đài Loan bay lên, dân sinh lợi lạc, tai nạn giảm đến mức thấp nhất.

🌟

Ngày 23 tháng 2 năm 2013 là đại pháp hội Hộ Ma mùa xuân để tiêu tai cầu phúc, Đài Loan Lôi Tạng Tự mời tôi chủ trì, hơn nữa còn hỏi tôi muốn truyền đại pháp gì? Tôi nhất thời không nghĩ ra. 

Có một buổi tối, tôi mơ thấy:
Một vị thiên nữ từ trong hư không giáng xuống, thân ngài có màu đỏ, mặc thiên y lụa mỏng, trên người đeo các loại châu báu, thần thái duyên dáng, tỏa ra ánh sáng tài bảo màu vàng. Tay phải của ngài cầm móc câu kim cương, tay trái ôm con chuột nhả châu báu, chân phải duỗi, chân trái cong, ngồi trên tòa sen.

Tôi hỏi tên ngài:
”Thiên nữ tên gì?”
Ngài đáp:
”Câu Nhiếp Tài Tục Mẫu, ngài gọi tôi là Câu Tài Thiên Nữ là được rồi!”

Tôi hỏi:
”Vì sao giáng lâm?”
Ngài đáp:
”Ngài cầu phúc cho kinh tế Đài Loan, tôi đặc biệt đến giúp ngài!”
Tôi hỏi:
”Thủ ấn và chú ngữ của thiên nữ là gì?”
Ngài đáp:
”Ấn móc câu kim cương. Chú ngữ là: Om. Marua haru ah. Haru ah. Om. Inkhusa. Inkhusa. Seh seh seh. Hum hum hum. Pei. Soha.”

Ngài còn dạy tôi khẩu quyết tu pháp. Rồi lại kể về lai lịch.
Ha ha! Tốt quá rồi, tôi cần thuyết pháp, Thiên nữ đến giúp. Chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, Chư Thiên… đều đến giúp tôi. Tôi đúng là được trời ưu ái!


### 06. Bảo vệ nông dân trồng dưa


Cư sĩ Vân Như do một người bạn giới thiệu mà quy y Chân Phật Tông. Anh ấy là một nông dân trồng dưa, trồng rất nhiều dưa. Là một nông dân chịu khó thật thà, sau khi quy y, anh đã chăm chỉ tu hành đại lễ bái. 

Anh đã thỉnh về ba vị hộ chủ là Văn Thù Bồ Tát, Quan Âm Tứ Thủ, Kim Cang Thủ Bồ Tát. Mỗi ngày anh làm pháp đại lễ bái. 108 lạy. 
Ngoài ra, anh không có nhiều thời gian dư thừa để tu những pháp khác.
Chuyện không ngờ đến là, cư sĩ Vân Như vì làm pháp đại lễ bái mà thân thể vốn dĩ yếu ớt đã trở nên cường tráng. Khí huyết không thông, bệnh đau xương sườn đã không còn nữa. Khuôn mặt ban đầu đen đúa cũng đã trở nên hồng nào sáng sủa, thân thể khỏe mạnh.

Anh ấy đã nhận quán đảnh pháp Tứ gia hành. Cũng đã nhận quán đảnh pháp Thượng sư tương ứng.

Bạn bè khuyên anh:
”Nhận quán đảnh thêm mấy Bổn tôn nữa đi!”
Anh nói:
”Không tu pháp, không dám nhận quán đảnh nhiều.”
Bạn bè nói:
”Kết một cái duyên thôi, cũng không có gì sai.”
Anh nói:
”Kết duyên thì được, nhưng đã quán đảnh mà lại không thực tu, thì quán đảnh nhiều cũng mất đi ý nghĩa.”

Trên phương diện này, anh ấy tương đối cố chấp, cho rằng đã quán đảnh thì nên thực tu. Vì thế anh ấy nhận quán đảnh xong là liền tu đại lễ bái, tu pháp tứ quy y, pháp cúng dường mandala, pháp sám hối Bách tự minh. 

Có một buổi tối, anh nằm mơ, mơ thấy Lư Sư Tôn đứng trên mảnh ruộng mà anh trồng dưa. Người nông dân trồng dưa hái một quả dưa, rửa sạch, rồi cúng dường Lư Sư Tôn, Lư Sư Tôn ăn rất ngon lành. 
Lư Sư Tôn nói:
”Ngày mai hãy thu hoạch toàn bộ số dưa đi!”
Người nông dân trồng dưa nói:
”Không được! Phải sau nửa tháng nữa mới đến kì thu hoạch.”
Lư Sư Tôn nói:
”Vân Như à! Lần này anh nhất định phải nghe tôi, hãy thu hoạch toàn bộ dưa trước, chúng cũng sẽ chín thôi.”
Người nông dân trồng dưa nói:
”Chín tự nhiên là tốt nhất, nửa tháng nữa thì cũng rất nhanh thôi, đến lúc đó, dưa chín cuống rụng, tự nhiên những người thu mua dưa sẽ đưa người đến thu gom.”
Tôi nói:
”Không được! Ngày mai hãy thu hoạch đi.”
Người nông dân trồng dưa nói:
”Lư Sư Tôn! Như thế này là thầy đang làm khó tôi sao?”
Tôi nói:
”Lời của tôi, nhất định không sai, mau lên! Mau lên!”
Người nông dân trồng dưa hỏi:
”Nếu không nghe thì sao?”
Tôi nói:
”Đến lúc đó sẽ biết.”

Nói xong, người nông dân trồng dưa cư sĩ Vân Như liền tỉnh giấc, những tình cảnh trong giấc mơ rất rõ ràng, đối thoại rất rõ ràng. Anh hiểu rằng nhất định là Lư Sư Tôn báo mộng.

Anh ấy gọi người đến thu hoạch sớm, chỉ vì một lời nói của Lư Sư Tôn trong giấc mơ mà anh đã tin tưởng lần này. 
Sau một tuần, trời đổ mưa lớn, mưa như trút nước, liên tiếp hai ngày hai đêm, các ruộng dưa trong vùng đề bị nước mưa cuốn trôi. Trận mưa lớn lần này khiến cho cây nông nghiệp bị tổn thất nặng nề, nếu không bị cuốn bay thì cũng bị thối hết.

Mọi người đều muốn khóc mà chẳng có nước mắt, không còn lời nào để hỏi Ông Trời. Độc mỗi ruộng dưa của cư sĩ Vân Như vì thu hoạch từ sớm nên không sao cả, không bị tổn thất lớn. Hàng xóm trong vùng hỏi:
”Làm sao anh biết mà thu hoạch sớm?”
Cư sĩ Vân Như đáp:
”Sư phụ chỉ thị cho tôi trong mơ.”
Lần này rất nhiều nông dân trồng dưa đều đến quy y rồi!


### 07. Một cơn sóng xô bờ


Cư sĩ già Nhan Băng là một cư sĩ đã quy y tôi nhiều năm, Bổn tôn là Liên Hoa Đồng Tử. (Họ Nhan là họ của người chồng.)

Mỗi ngày bà ấy tu hai đàn pháp Liên Hoa Đồng Tử. Chồng bà đã sớm qua đời, để lại một đứa con trai, con trai trưởng thành thì kết hôn, cưới vợ là Tôn Thị, sinh ra một đứa con trai đặt tên là Nhan Chí, trông rất khôi ngô đẹp trai, đã mười tuổi rồi. 

Bởi vì gia cảnh bình thường, con trai và con dâu đều đi làm, nên đứa cháu trai Nhan Chí này đều do bà Nhan Băng chăm sóc cho đến lớn. 

Có một hôm, lão cư sĩ Nhan Băng ở tại đàn thành trong nhà mình tu pháp, tu đến lúc nhập tam ma địa, nhất thời thấy mệt nhoài, cảm thấy mệt mỏi rã rời, không ngờ cứ ngồi như thế rồi ngủ gật mất, đi vào trong giấc mộng.
Lúc này.
Lư Sư Tôn ở trong mơ xuất hiện, Lư Sư Tôn mặc trang phục Lama, nhưng toàn thân lại ướt sũng, bộ dạng như thể bị rơi vào trong nước rồi lại bò lên, trông rất thảm hại. 

Nhan Băng nhìn thấy thì sửng sốt:
”Lư Sư Tôn! Sao thầy lại thành ra như thế này?”
Tôi đáp:
”Tôi bị rơi xuống nước.”
Nhan Băng hỏi:
”Sao thầy lại bị rơi xuống nước chứ? Nhất định là có nguyên nhân.”
Tôi đáp:
”Bà thật thông minh, tôi xuống nước cứu người, hóa thành cơn sóng lớn.”
”Cứu người nào?”
”Cứu cháu trai Nhan Chí của bà.”
”Thầy nói bậy, hôm nay cháu Nhan Chí của tôi cùng mấy đứa bạn cùng lớp đi leo núi ở ngoại ô rồi, Nhan Chí làm sao có thể rơi xuống nước được chứ?”
Tôi đáp:
”Nhan Chí và bạn học không phải là đi chơi núi đâu, mà là đi ra biển, trượt chân rơi xuống nước, tôi vừa đi cứu cháu bé.”
Nhan Băng kinh hãi:
”Thật ư?”
Tôi nói:
”Đương nhiên là thật, tôi về thay quần áo đây, tạm biệt!”

🌟

Nhan Chí trở về nhà, vẫn như bình thường, ăn mặc gọn gàng, lớn tiếng gọi:
”Bà ơi! Cháu về rồi!”
Nhan Băng hỏi:
”Cháu đã đi leo núi đấy à?”
”Đương nhiên, chơi vui lắm.”
”Có thật là đi leo núi không? Nói thật đi, không được nói dối, bà ghét nhất là trẻ con nói dối, có thật là cháu đi leo núi không?”
Nét mặt bà Nhan Băng giận dữ, giọng hầm hầm hỏi. Nhan Chí chưa bao giờ thấy bà tức giận như vậy, hỏi bằng giọng rụt rè:
”Bà ơi! Có gì không đúng ạ?”
”Cháu đã đi ra biển!”
Nhan Chí nghe xong biết rằng không giấu được, liền một năm một mười nói hết ra. Cậu bé và bạn học không đi leo núi mà đi ra biển chơi, nhất thời không cẩn thận, cậu đã rơi xuống biển. 

Khi đang lúc chìm lúc nổi, cậu đã uống mấy ngụm nước, mắt không nhìn được nữa, đột nhiên có một cơn sóng lớn xô tới, đẩy cậu vào bãi cát. Cậu nằm xoài trên bãi cát. Hai người bạn học vội vàng chạy đến cứu cậu, thật may khí lực của cậu vẫn còn. 

Bọn trẻ không còn hứng thú chơi nữa, đầu tiên chúng đến nhà một đứa bạn khác, giặt sạch quần áo, là phẳng để tránh về nhà bị bà mắng. Ba đứa bạn học đã giao hẹn với nhau là trở về nhà tuyệt đối không nhắc đến chuyện rơi xuống biển, để tránh lần sau không được đi chơi nữa.

Nhan Chí ngờ vực hỏi:
”Bà ơi! Sao bà lại biết?”
Nhan Băng nói:
”Lư Sư Tôn hóa thân thành cơn sóng lớn đẩy cháu lên bãi cát, là Lư Sư Tôn cứu cháu đó.”
”Làm thế nào mà Lư Sư Tôn nói cho bà biết?” - Nhan Chí vẫn nghi hoặc.
”Nói cho bà biết trong mơ.” - Người bà kể lại một lần sự việc Sư Tôn chỉ thị trong giấc mơ. 
Nhan Chí nói:
”Cháu muốn tự mình đi gặp Lư Sư Tôn, Lư Sư Tôn đã cứu cháu, cháu muốn quy y!”


### 08. Sự kiện đánh thức chạy nạn


Cư sĩ Chính Vũ là người sống độc thân, anh ấy là một đệ tử rất kiền thành, tự mình sắp đặt một đàn thành nhỏ ở một góc trong ngôi nhà nhỏ mà mình thuê, ngoài lúc đi làm ra thì anh lại ở trước đàn thành tu pháp. 

Đàn thành rất nhỏ, vì thế tượng Phật cũng nhỏ, anh cúng Tây phương Tam Thánh — A Di Đà Phật, Quan Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, và tượng của Căn bản Thượng sư. Bình thường anh dùng tấm vải màu vàng để che lại, khi tu pháp thì anh mới bỏ tấm vải ra. 

Cư sĩ Chính Vũ dồn sức niệm Thượng sư tâm chú và A Di Đà Phật tâm chú, niệm mỗi ngày không gián đoạn. Anh là một người thợ điện nước, tay nghề rất giỏi, rất nhiều đồng môn gặp vấn đề về điện nước trong nhà đều mời anh đến sửa chữa, anh lấy chi phí rất ít, đôi khi còn làm không công, vì thế mà tương đối bận rộn. 

Ngày hôm đó, anh làm việc rất muộn mới về nhà, lên đến căn phòng nhỏ ở tầng trên cùng thì anh nhanh chóng lên giường đi ngủ, bởi vì thật sự đã quá mệt rồi. Trong mơ, anh thấy Lư Sư Tôn đến. Xung quanh Lư Sư Tôn đang tỏa ra ánh lửa. Ánh lửa ấy dường như đang đốt cháy cả căn phòng nhỏ, sàn nhà, trần nhà, giường, bàn, ghế, đàn thành, chiếc ghế sofa nhỏ, cửa sổ, ti vi, nhà bếp, phòng tắm, tất cả đều bốc cháy.

Lư Sư Tôn nôn nóng nói:
”Dậy mau, tòa nhà này sắp cháy rồi!”
Chính Vũ nói:
”Con muốn ngủ!”
Lư Sư Tôn nói:
”Không được! Một lúc nữa thôi lửa sẽ cháy tới đít, đến lúc đó tôi không cứu được anh nữa đâu!”
Chính Vũ nói:
”Con thật sự rất buồn ngủ!”
Anh xoay người rồi lại ngủ tiếp. 

Tôi bực mình, kéo người Chính Vũ ra khỏi giường, người rơi xuống đất kêu lên tiếng “bịch”. Tiếng “bịch” này khiến anh cũng tỉnh khỏi giấc ngủ. 

Anh ấy tỉnh lại, nhìn xung quanh, căn phòng vẫn như cũ, không hề có lửa gì cả, anh bật một ngọn đèn nhỏ lên, nhìn trái phải một lúc, tất cả đều bình yên.

Chính Vũ ngồi ở đầu giường, nghĩ về giấc mơ vừa xong, Lư Sư Tôn đã đến, nói mau tỉnh dậy chạy thoát thân, lửa sắp cháy tới đít rồi, nhưng căn bản là không có chuyện này. 
Anh tự nhiên bật cười. Anh lại muốn tiếp tục lên giường đi ngủ. Anh vừa mới chợp mắt thì trời ạ! Lư Sư Tôn lại hiện thân:
”Dậy mau, đi tới khách sạn, 3 giờ đêm nay sẽ có cháy!”
Anh ấy lại bị giật mình tỉnh giấc. Nhìn đồng hồ, mới có 2 giờ 30 phút. Cư sĩ Chính Vũ lần này không nghi ngờ nữa, lấy một chiếc vali nhỏ, bỏ sơ sơ một vài thứ quý giá, đáp thang máy, đi bộ đến một khách sạn nhỏ phía sau một ngã ba để tìm chỗ trọ. 

Cư sĩ Chính Vũ vẫn rất muốn ngủ, thế là ngủ một giấc đến sáng, tỉnh dậy đánh răng rửa mặt chải đầu xong xuôi, anh đi bộ về chỗ ở của mình. 
Ui cha! Trong một đêm, tòa nhà năm tầng đã biến thành một đống đổ nát. Hơi nước bốc lên khắp nơi, còn ngôi nhà thì sao? Chuyện gì đã xảy ra?

Sau đó anh mới khám phá ra:
Nhà chủ hộ của tòa nhà năm tầng này, có một cô con gái và một người bạn trai yêu nhau, cô gái chê bạn trai không tốt, quyết định chia tay, bạn trai không cam lòng, đã phóng hỏa để đốt chiếc xe ở tầng dưới, không ngờ tạo thành một vụ cháy lớn, cháy hết cả năm tầng lầu.

Nửa đêm 3 giờ, xe cứu hỏa, xe cứu thương, xe cảnh sát, xe cứu hộ đều đến, mất tới hai giờ đồng hồ mới khống chế được ngọn lửa, rất nhiều hộ gia đình đã vội vàng thoát thân, một ông lão và hai đứa trẻ bị chết, người bị thương nặng nhẹ đều có. 

Cư sĩ Chính Vũ nghĩ, thật may có Lư Sư Tôn cứu nguy, không thì anh sống ở trên tầng cao nhất, rất khó mà chạy thoát. 

Lư Sư Tôn đúng là không đâu là không hiện thân!


### 09. Vụ án của ba mẹ con ở California


Một hôm, có một người mẹ ở California nước Mĩ đi cùng con trai và con gái đến Seattle Lôi Tạng Tự tìm tôi. 
Người mẹ tên là Mĩ Châu. 
Con gái tên là Thánh Đệ.
Con trai tên là Vĩnh Chính.
Ba người họ kể với tôi:
”Có một vụ kiện tụng tranh cãi dây dưa đã nhiều năm mà vẫn chưa có kết quả. Chúng tôi có một cửa hàng cho người da trắng thuê, nhưng người da trắng đó từ đầu tới cuối đều nợ tiền thuê nhà, cuối cùng bất đắc dĩ phải đuổi họ đi. Không ngờ người da trắng kiện ngược lại, vụ kiện đã kéo dài rất lâu, không biết phải làm thế nào mới được?”
Tôi nói:
”Tôi đã thỉnh thị Diêu Trì Kim Mẫu, Diêu Trì Kim Mẫu sẽ ban cho chỉ thị trong mơ.”
Tôi nói:
”Ba người các vị đến thưa bẩm với Diêu Trì Kim Mẫu ở trong chùa, chắc chắn có chỉ thị!”

Ngày đầu tiên, tôi hỏi ba người:
”Có mộng thị không?”
Đáp: “Không có!”
Ngày thứ hai, tôi hỏi ba người:
”Có mộng thị không?”
Đáp: “Không có!”
Ngày thứ ba, tôi hỏi ba người:
”Có mộng thị không?”
Đáp: “Không có!”

Lúc này, người con trai Vĩnh Chính mới nói:
”Tối qua, hình như Diêu Trì Kim Mẫu có hiện thân, trên tay cầm một bát cháo đậu xanh.”
Người mẹ và con gái đưa mắt nhìn nhau, cháo đậu xanh là ý nghĩa gì? Tôi cười lớn ha ha, bởi vì chỉ có tôi là hiểu ý của Diêu Trì Kim Mẫu nhất. 
Tôi nói:
”Đậu xanh, là để hạ nhiệt! Cháo, có nghĩa là hòa giải! Như vậy có thể tránh được đau khổ vì kiện tụng kéo dài nhiều năm.”
Họ nói:
”Luật sư của hai bên đều không chịu hòa giải!”
Tôi nói:
”Luật sư chỉ muốn kiếm phí luật sư thôi, kiện tụng càng lâu càng tốt, từ lâu họ đã kiếm bộn từ phí luật sư của hai bên rồi.”
Ba mẹ con đều nói:
”Đúng vậy!”
(Phí luật sư cho vụ kiện đã vượt quá cả tiền cho thuê nhà.)

🌟

Ba người họ trở về California, đến cuối cùng thì họ cũng đã hòa giải sự việc rồi, đôi bên không kiện cáo nhau nữa, loại bỏ được nỗi khổ não do kiện cáo rầy rà. 

Ba người họ đều quy y Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, họ đều ca ngợi mộng thị đầy linh cảm của Diêu Trì Kim Mẫu. 
Thần toán của Lư Sư Tôn thật là linh. 
Tôi nói:
”Oan gia nên giải không nên kết.”
Tôi nói:
”Trong bốn biển đều là anh em, năm trăm năm trước là một nhà.”

Đệ nhất nghĩa của Phật giáo chỉ ra:
Bản thân và người khác là một thể, xin hãy ngẫm nghĩ câu nói này, hiểu thấu đáo câu nói này. 
Chúng sinh đều có Phật tính, pháp tính của pháp nhĩ bản nhiên ai ai cũng có, người người là Phật.
Bất kì đàn ông nào cũng đều là cha của bạn.
Bất kì phụ nữ nào cũng đều là mẹ của bạn.
Phật Đà nói:
”Nếu coi một người nào đó là kẻ thù của bạn thì thật là ngu si biết bao.”
Phật Đà nói:
”Kẻ vẫn còn thêm thắt đặt điều nói nhà họ Trương thì dài, nhà họ Lí thì ngắn, nói đúng nói sai, đều không phải là đệ tử của Phật.”
Phật pháp của tôi không có gì khác ngoài: “Một hợp tướng.”


### 10. Hóa thân làm bác sĩ phẫu thuật


Cư sĩ Trọng Thành là một đệ tử Chân Phật Tông sùng tín, tuổi tác đã ngoài bảy mươi rồi. Khi mới quy y, ông ấy hăng hái đọc Chân Phật Kinh tổng cộng đạt đến một triệu biến, Cao Vương Kinh mười nghìn biến. 

Cư sĩ Trọng Thành lấy A Di Đà Phật làm Bổn tôn, ngoài việc đọc kinh ra thì ông còn tu Di Đà đại pháp, thề nguyện vãng sinh Tây phương tịnh thổ. 

Sau khi tu pháp, ông có được thần thông nhỏ. Trẻ con khóc đêm không ngừng, ông bảo trẻ con dùng tay sờ lên râu ông, tay trẻ con vừa sờ râu ông thì chứng khóc đêm cũng hết luôn. Trăm lần thử trăm lần ứng nghiệm. 
Trẻ con bị sốt, sờ râu ông, liền hạ sốt. 
Trẻ con hoảng sợ, sợ râu ông, không còn kinh sợ.
Trẻ con bị ho, sờ râu ông, hết ho.
Trẻ con bị cảm, sờ râu ông, nhanh chóng khỏi ốm.
Trẻ con bị nổi mẩn trên da, sờ râu ông, những nốt mẩn liền thuyên giảm.
Chúng tôi trêu cư sĩ Trọng Thành đã trở thành giống như bác sĩ khoa nhi rồi.

Người hỏi:
”Là sức mạnh gì?”
Ông đáp:
”Tóc dài pháp lực dài!”
Người hỏi:
”Là râu, không phải tóc?”
Ông đáp:
”Như nhau.”

Về sau, ông cảm thấy hơi khó chịu, đến bệnh viện kiểm tra sức khỏe thì không tìm ra nguyên nhân. Ông đi chụp cắt lớp thì phát hiện ra trong não có khối u, không to không nhỏ, nhưng khiến cho cư sĩ Trọng Thành cảm thấy hơi chóng mặt. Bác sĩ đề nghị mổ. Cư sĩ Trọng Thành cũng rất thản nhiên đối diện, ông ấy nói:
”Không vì bệnh tật hiện tại mà phiền não, nhân gian chỗ nào cũng có nguy cơ.”
Mổ mà vẫn không chữa được thì thỉnh Phật tiếp dẫn thôi mà!

🌟

Cư sĩ Trọng Thành đến tìm tôi:
”Lư Sư Tôn! Tôi sắp mổ rồi, mổ bỏ khối u, nếu thành công thì đương nhiên là tốt, nếu không thành công, xin Lư Sư Tôn nhất thiết phải tiếp dẫn!”
Tôi nói:
”Được!”
Trước khi đi, ông ấy thỉnh cầu gia trì. Tôi quán tưởng A Di Đà Phật trụ đỉnh đầu, sau đó, dùng đại pháp lực gia trì lên đầu của ông, cảm ứng mãnh liệt.
Tôi nói:
”Một tuần sau, ông hãy chụp cắt lớp một lần nữa, sau đó mới lại chọn ngày để mổ nhé!”
”Có phải xem hoàng lịch không?”
Tôi nói:
”Không cần!”

🌟


Một ngày trước khi chụp cắt lớp, ông nằm mơ:
Ông ấy đã ở trong phòng mổ, bác sĩ và y tá đều tập trung ngay ngắn, tất cả đã chuẩn bị xong xuôi. Trước khi gây mê, ông nhìn bác sĩ một cái, bác sĩ mặc áo khoác trắng đội mũ trắng, đeo khẩu trang, hai con mắt để hở, ông ấy cảm thấy đôi mắt rất quen thuộc, hầy! Vị bác sĩ này chẳng phải là Lư Sư Tôn sao?

Ông ấy hét lên:
”Lư…”
Thế rồi ông ấy hôn mê bất tỉnh!

Ngày hôm sau, ông đi chụp cắt lớp một lần cuối cùng. Báo cáo kiểm tra đưa ra:
”Trời ơi! Khối u không ngờ đã biến mất rồi! Thật sự biến mất rồi!”
Bác sĩ không tin.
Nhân viên kiểm tra không tin.
Bản thân ông ấy cũng không dám tin.

Vấn đề là, khối u não thật sự đã biến mất, ông ấy không cần mổ nữa. Hơn nữa cảm giác khó chịu đã không còn nữa. Cư sĩ Trọng Thành nói:
”Là Lư Sư Tôn hóa thân làm bác sĩ phẫu thuật, trong mơ đã cắt bỏ khối u não rồi!”
Cư sĩ Trọng Thành dẫn càng nhiều người hơn đến quy y!


### 11. Hóa thân làm giáo sư


Cư sĩ Bảo Khâm là sinh viên tốt nghiệp ngành pháp luật, bố mẹ đều là đệ tử của Lư Sư Tôn. 

Cư sĩ Bảo Khâm nghe quen tai nhìn quen mắt nên cũng biết niệm Thượng sư tâm chú, đồng thời được bố mẹ dẫn đến quy y, nhận quán đảnh quy y, tham gia một lần pháp hội quán đảnh Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, nhưng không thực tu. 

Bởi vì tốt nghiệp ngành pháp luật, do đó anh phải học ôn luyện để lấy được giấy phép luật sư. Nghe nói giấy phép luật sư tương đối khó thi, mỗi năm ngành pháp luật tốt nghiệp rất đông, nhưng số người thi được, lấy được giấy phép luật sư thì không dễ chút nào. Phạm vi bài kiểm tra rộng, thí sinh khó đoán. Vì thế, cư sĩ Bảo Khâm liên tục hai năm thi lấy giấy phép luật sư nhưng căn bản không có cơ hội thi đậu.

Bố mẹ nói:
”Đi xin Lư Sư Tôn sờ đầu gia trì!”
Bảo Khâm nói:
”Vẫn phải dựa vào bản thân chứ!”
Bố mẹ nói:
”Niệm kinh Cao Vương Quan Thế Âm một nghìn biến!”
Bảo Khâm nói:
”Thời gian học còn không đủ, đọc kinh Cao Vương Quan Thế Âm chẳng phải là chiếm rất nhiều thời gian sao.”
Bố mẹ nói:
”Tham gia pháp hội Văn Thù Bồ Tát, nhận quán đảnh để tăng trí tuệ vậy!”
Bảo Khâm nói:
”Văn Thù Bồ Tát là trí huệ của Như Lai, không có trí huệ của pháp luật, e rằng không thành.”
Bố mẹ nói:
”Giới luật cũng là pháp luật!”
Bảo Khâm nói:
”Không giống nhau!”
Bố mẹ nói:
”Như vậy đi! Con hãy đến trước đàn thành, thắp một nén hương trước Lư Sư Tôn, thỉnh cầu thuận lợi một chút, được không?”
Bảo Khâm nói:
”Được!”

Lần này cư sĩ Bảo Khâm đã gật đầu rồi, anh cung cung kính kính thắp hương, hướng về chư Tôn ở đàn thành khấu đầu, thỉnh cầu gia trì cho thi cử thuận lợi.
Bố mẹ nói:
”Niệm Thượng sư tâm chú đi!”
Bảo Khâm niệm:
”Om guru liansheng siddhi hum.”

Buổi tối hôm đó, Bảo Khâm nằm mơ:
Trong mơ, anh trở về ngôi trường mà mình đã học, trong cùng một lớp học, lớp học trống không, không có bạn học nào khác. Giáo sư môn pháp luật đã đến rồi, cũng không nói gì với Bảo Khâm, giáo sư cầm lấy phấn viết bảng, trên tấm bảng đen, giáo sư viết câu hỏi và đáp án, những gì giáo sư viết ra có những cái là điểm chính, có những cái rất kì quặc lung tung.

Giáo sư nói:
”Mau ghi chép lại!”
Cư sĩ Bảo Khâm rất nghiêm túc ghi chép, đồng thời vừa ghi chép vừa học thuộc hết câu này tới câu khác. Giáo sư viết kín tấm bảng đen, quay đầu lại nói:
”Đây là phần ôn tập quan trọng.”
Bảo Khâm nhìn mặt giáo sư, không ngờ lại là mặt của Lư Sư Tôn, hết sức kì lạ!

Ngày hôm sau tỉnh dậy, Bảo Khâm kể cho bố mẹ. Bố mẹ rất sốt sắng hỏi:
”Đã nhớ kĩ chưa?”
Bảo Khâm đáp:
”Cũng coi là nhớ rồi.”
Sau đó, anh tham gia kì thi luật sư, vừa cầm lấy quyển bài thi, câu hỏi toàn là những câu đã được viết trên bảng đen. 

Cuối cùng Bảo Khâm đã trở thành luật sư rồi, đúng là: “Om mani padme hum.”


### 12. Khỏi bệnh đau đầu


Cư sĩ Ngọc Phương là một giáo viên, cô ấy là sinh viên giỏi của trường Đại học Sư Phạm, thành tích học tập ở trường luôn rất tốt. Cô cũng là một cô gái xinh xắn duyên dáng. Trong sự nghiệp dạy học của mình, học sinh cực kì ca ngợi người giáo viên này, cho rằng cô là một giáo viên kiểu mẫu.

Về sau, không biết vì sao mà cô thường xuyên bị đau đầu. Ban đầu cô cho rằng đó là một bệnh nhẹ nên không chú ý, nhưng bệnh đau đầu mãi chưa khỏi, hơn nữa còn trở nên nặng hơn, đau đến mức sắc mặt tái xanh, nôn mửa, không thể dạy học được, người giáo viên giỏi này không thể không đối mặt với vấn đề đau đầu này.

Cô ấy đi khắp nơi tìm bác sĩ:
Bác sĩ gia đình.
Bác sĩ khoa thần kinh.
Bác sĩ khoa não.
Bác sĩ khoa phụ sản.
Bác sĩ khoa miễn dịch.
v.v…

Thậm chí cô còn chụp cắt lớp não bộ. 
Bác sĩ đông y cũng đã khám rồi, bác sĩ châm cứu cũng đã khám rồi. Rốt cục, từ đầu đến cuối vẫn không khỏi.

Ngay từ đầu cô ấy đã đi khám bác sĩ, bác sĩ chữa không khỏi, cô ấy lại tìm đến những “thầy lang băm”, dùng rất nhiều phương thuốc dân gian, cuối cùng cô ấy tìm đến “phù tử tiên”, thỉnh người ta vẽ phù niệm chú.
Cô giáo Ngọc Phương đã tuyệt vọng rồi. 

Sau đó, cô nghe có người bảo cô:
”Trên núi Hổ ở trấn Thảo Đồn huyện Nam Đầu có ngôi chùa Lôi Tạng Tự, thứ bảy hàng tuần vào lúc 3 giờ chiều, có một vị là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì hỏa cúng Hộ Ma của Mật giáo, rồi còn giảng kinh thuyết pháp.”
”Thuyết pháp xong lại có quán đảnh, sau khi quán đảnh, Lư Sư Tôn lại lần lượt sờ đầu cho mọi người.”
”Rất nhiều người sau khi được sờ đầu thì có nhiều loại bệnh đã khỏi, sự tích thần kì liên miên, rất nhiều người khỏi bệnh không ngớt ca ngợi, vì thế người đến đó càng ngày càng nhiều, ngại gì mà không thử.”
Cô giáo Ngọc Phương nói:
”Không đi!”
(Cô ấy cảm thấy chữa bệnh kiểu tôn giáo không có chút căn cứ khoa học nào, sờ đầu có thể chữa bệnh thật không thể tin được.)

Lại có người bảo cô:
”Có người bị đau chân, Lư Sư Tôn sờ chân một cái đã hết đau rồi!”
Cô nói:
”Làm gì có chuyện ấy?”
Lại có người bảo cô:
”Có người đau đầu, vừa sờ đầu một cái, không còn đau đầu nữa!”
Cô nói:
”Thật không?”
Cô nói:
”Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, những lời bình luận về ông ấy ở bên ngoài không hay lắm.”
Người đó nói:
”Con người thật khác với những lời bình luận bên ngoài, mỗi lần pháp hội đều có vạn người lên núi, thật sự không giống như người ta bình luận đâu.”

Cô giáo Ngọc Phương cuối cùng đã đến Lôi Tạng Tự ở Thảo Đồn, cô ấy ngồi từ đầu đến cuối, không cảm thấy có gì sai cả. Đây là hỏa cúng Hộ Ma của Mật giáo, thuyết pháp về Hỉ Kim Cang, thuyết pháp rất sinh động và dí dỏm.
Đến khi sờ đầu, vạn người đứng xếp hàng, Lư Sư Tôn lần lượt sờ đầu. Cô giáo Ngọc Phương cũng được sờ nhẹ lên đầu một cái. 

Buổi tối hôm đó, cô có một giấc mơ:
Cô đến thẩm mĩ viện làm tóc, Lư Sư Tôn là thợ làm tóc chải tóc cho cô giáo Ngọc Phương. Khi chải tóc, từ trong đầu của cô giáo Ngọc Phương rơi ra rất nhiều những con sâu nhỏ, những con sâu nhỏ này đều là sâu róm lông lá, khiến cô giáo Ngọc Phương sợ quá hét lên.
Khi hét như vậy thì cô tỉnh giấc. 

Chuyện kì lạ đã xảy ra rồi! Cô giáo Ngọc Phương không còn đau đầu nữa, một tuần, một tháng, một năm. Cô ấy chủ động lên núi nghe pháp. Cũng đã nhận quán đảnh quy y. Cô ấy đã trở thành cư sĩ Ngọc Phương. 

Cư sĩ Ngọc Phương đã trở thành đệ tử Chân Phật Tông chính thức, cô chủ động giới thiệu nhiều người quy y, bởi vì bệnh đau đầu của cô đã khỏi là nhờ Lư Sư Tôn đã cho cô có được giấc mơ đó!


### 13. Ôm một đứa bé trai đến


Cư sĩ Tĩnh Ngọc được gả vào nhà họ Đào. Không bao lâu, cô có thai, sinh ra một bé gái, đây là đứa con gái đầu lòng, nhà chồng không mừng không lo. 

Cách một năm, cô ấy lại sinh một bé gái, mẹ chồng nói một câu:
”Sao lại là con gái chứ!”
Cư sĩ Tĩnh Ngọc trong lòng có chút buồn. 
Vợ chồng không ngừng cố gắng, lại sinh thêm đứa con thứ ba, vẫn lại là bé gái, vậy là đã có ba thiên kim tiểu thư rồi.

Mẹ chồng nhà họ Đào không chịu nổi nữa: “Xong rồi, họ Đào nhà chúng ta không có người nối dõi rồi!”
Bởi vì chồng của cư sĩ Tĩnh Ngọc là con trai duy nhất, nên mẹ chồng hi vọng có một đứa cháu trai, không biết phải làm thế nào mới được. 

Mẹ chồng đi cầu xin Chú Sinh Nương Nương. Đến lần mang thai thứ tư, trời ạ! Cũng vẫn không có được thằng cu, gia đình bắt đầu nổi giông tố rồi.

Cư sĩ Tĩnh Ngọc cũng không biết phải làm sao. Chồng cô cũng cảm thấy có chút tiếc nuối. Mẹ chồng thì cứ cằn nhằn chỗ kia chưa tốt, chỗ này không đúng, rồi lại xem mộ phần tổ tiên, xem âm trạch, xem mệnh, xem bói, tìm phương thuốc dân gian, đã dùng hết mọi cách rồi.
Cái thai thứ năm, khổ sao! Lại là con gái, năm thiên kim tiểu thư rồi! Cả gia đình dường như sụp đổ rồi!

🌟

Nhà họ Đào và cư sĩ Tĩnh Ngọc đều không có duyên với Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn của Chân Phật Tông, thậm chí chưa từng nghe nói đến Chân Phật Tông, chưa từng nghe nói đến Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. 

Nhưng có một buổi tối, cư sĩ Tĩnh Ngọc nằm mơ:
Cô ấy mơ thấy mình đến một ngôi chùa, ngôi chùa ở giữa lưng chừng núi. Bên trên có viết ba chữ Lôi Tạng Tự.

Cư sĩ Tĩnh Ngọc đi vào bên trong chùa, nhìn thấy một vị Pháp Vương đầu đội mũ Ngũ Phật, thân khoác long bào, mặc đồ Lama đang ngồi trên pháp tọa. 
Pháp sư hỏi:
”Cô muốn con trai phải không?”
”Đúng!” - Cư sĩ Tĩnh Ngọc òa khóc.
Pháp sư nói:
”Tôi biết cô muốn con trai, cô và tôi có duyên, tôi sẽ tặng cô một đứa con trai nhé!”
Cư sĩ Tĩnh Ngọc hỏi:
”Ngài tặng thế nào?”
Pháp sư không nói gì, ông ấy ngồi trên pháp tọa, lập tức viết một lá phù “Trời ban có thai”, rồi viết thêm một chữ “nam”. 

Nói ra cũng kì lạ. Lá phù này tự nhiên bay lên, nhẹ nhàng bay bay trên không trung, sau đó đến gần miệng của cô, cô tự nhiên nuốt lá phù xuống. 
Cô bỗng cảm thấy:
Bụng mình nhô lên.
Là một đứa bé trai.
Đến đây, cô tỉnh giấc mơ.

🌟

Cư sĩ Tĩnh Ngọc kể lại giấc mơ này cho mẹ chồng và chồng nghe, mẹ chồng khịt mũi khinh bỉ, chồng thì cũng không ừ hử gì cả, căn bản là họ không tin. 

Rồi cái thai thứ sáu, quả nhiên là con trai. Cả nhà mừng rỡ dị thường! Chúc mừng rồi lại chúc mừng.

Có một hôm, cư sĩ Tĩnh Ngọc xem ti vi, tình cờ nhìn thấy một cảnh về một pháp sư đang ngồi trên pháp tọa thuyết pháp. Cô nhìn chăm chú, chẳng phải vị này là pháp sư mình đã gặp trong mơ sao?
Cuối cùng cô ấy đã tìm đến Lôi Tạng Tự. Cũng đã tìm được tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) rồi. 

Cô ấy một năm một mười kể lại cho tôi giấc mơ của cô, cô quyết định lập tức quy y tôi, cũng đưa cả nhà họ Đào đều quy y tôi. 

Cô rất phấn khởi nói:
”Đây đúng là một cái duyên trong mơ nhỉ!”
Tôi nói:
”Rất huyền diệu!”
Cô ấy ôm đứa bé trai mà cô sinh ra đến gặp tôi, tôi nhìn đứa bé trai này, trong lòng chấn động:
”Trời ơi! Lại một Liên Hoa Đồng Tử nữa đến rồi!”


### 14. Ác mộng của người sỉ nhục


Có một vị là cư sĩ Chu Bảo, anh ta học pháp thiền, cá tính rất cương trực, cũng cực kì cố chấp.

Cư sĩ Chu Bảo rất tài hoa, viết văn chương rất hay. Sau khi học thiền, anh ta tự cho rằng Phật pháp của mình đã đạt đến cảnh giới “siêu giác” rồi, có nghĩa là tự cho rằng mình đã khai ngộ rồi, tự nhận là vô năng thắng, không ai cao bằng anh.

Về sau, anh ta đọc được cuốn sách “Ngũ Đăng Hội Nguyên” của tôi, anh cho rằng sự khai ngộ của Lư Thắng Ngạn là “thác ngộ”, khai ngộ của mình mới là “chính ngộ”. 
Vì thế, anh ta viết bài phê bình tôi.

Kì thực, “ngộ” và “không phải ngộ” rất dễ phân biệt. 
Là nhất nguyên.
Không phải nhị nguyên.
Thậm chí ngay cả nhất nguyên cũng không có.
Tôi nói:
”Không có Chân Phật Tông, không có Lư Thắng Ngạn, tôi chưa từng bao giờ viết một chữ nào, chưa từng thuyết pháp.”

Nhưng cư sĩ Chu Bảo cho rằng:
Lư Thắng Ngạn không có chỗ đứng.
Lư Thắng Ngạn là ngoan không. [Ngoan không: vô tri vô giác, cảnh giới hư vô tự nhiên không nghĩ suy.]
Cuồng thiền của Lư Thắng Ngạn không đáng bàn luận.

Cư sĩ Chu Bảo đã viết rất nhiều bài văn, hết bài này tới bài khác để bác bỏ tôi, hết bài này tới bài khác đả phá tôi. Lời văn phê phán tôi là:
”Ngớ ngẩn.”
”Hoang tưởng.”
”Điên cuồng.”
”Tà thuyết.”
”Bệnh thần kinh.”
v.v…

🌟

Về sau, cư sĩ Chu Bảo này bỗng biệt tăm biệt tích, anh ta không còn phê phán tôi nữa. Đây cũng là một việc kì lạ. Bởi vì cư sĩ Chu Bảo này từng nói, năm nào anh ta còn sống thì sẽ lấy cái việc lật đổ Lư Thắng Ngạn làm thú vui. Trong những bài viết của anh ta từng gọi Lư Thắng Ngạn là “thối tha”, “đồi bại”, “sa đọa”. 
Muốn Lư Thắng Ngạn đi nhảy xuống biển.
Muốn Lư Thắng Ngạn đi tự thiêu. 
Muốn Lư Thắng Ngạn đi treo cổ.
Muốn Lư Thắng Ngạn đi tự tử.
Dụng ý chính là: anh ta ghét cay ghét đắng Lư Thắng Ngạn, mau mau đi chết đi!

Nhưng, tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) vẫn:
Sống một ngày, vui vẻ một ngày.
Sống một ngày, tu pháp một ngày.
Sống một ngày, cảm ơn một ngày.

🌟

Cư sĩ Chu Bảo lặn mất tăm hơi rồi, bạn chí thân của anh ta báo cho tôi biết, có một đêm, anh ta nằm mơ, mơ thấy những người thân của mình gồm ông nội, bà nội, bố, mẹ, người thân đã chết, đầu bù tóc rối đến trước cửa nhà anh ta, cả một đám người gào thét, tiếng khóc kinh thiên động địa. 

Anh ta mở cửa ra hỏi:
”Có chuyện gì vậy?”
Bạn thân nhất của anh ta gào lên:
”Mày chửi Lư Sư Tôn, hại chúng tao đều vào địa ngục chịu cực khổ.” 
Anh ta hãi hùng. Bạn chí thân lại kêu lên:
”Mau mau dừng lại! Mới có thể tránh được tội của chúng tao.”

Cư sĩ Chu Bảo không tin, lại viết, lại nằm mơ, lại viết lại nằm mơ, ngay cả mơ cũng rất nhiều lần… Cuối cùng, cư sĩ Chu Bảo mới dừng bút. 

Tôi nói với bạn chí thân của cư sĩ Chu Bảo:
”Không sao cả, cảnh giới của mỗi người khác nhau, anh ta có quyền phát biểu và quyền ngôn luận.”
Bạn chí thân nói:
”Nhưng anh ta không nên công kích cá nhân.”
Tôi đáp:
”Tôi đã vô ngã rồi, ngôn ngữ, văn tự đều chẳng đến thân tôi!”
Tôi cười vang ha ha ha.


### 15. Tiền tự động trả lại


Cư sĩ Tùng Đức là một người hào phóng, thích giúp người, hễ gặp thiên tai nhân họa là anh ấy sẽ bỏ tiền bỏ sức. Có người xây chùa, anh ấy bỏ tiền; có người in sách thiện, anh ấy bỏ tiền; có người khốn khó, anh ấy bỏ tiền; xây cầu làm đường, anh ấy bỏ tiền. Anh ấy vô cùng hoan hỉ hành thiện bố thí. 

Có một lần, người bạn thân đầu tư mở một nhà máy, thiếu một khoản tiền lớn nên tới vay anh. Cư sĩ Tùng Đức một mực đồng ý, cho vay luôn. Lời nói rõ ràng rằng sau ba năm chắc chắn sẽ trả.

Công ty sản xuất đó kinh doanh vô cùng thuận lợi, nghe nói kiếm được rất nhiều rất nhiều tiền. Người bạn thân trở nên bảnh bao sáng láng, vợ anh ta cũng ăn mặc trang điểm xinh đẹp, kinh doanh hết sức phát đạt, họ liên tục tăng tài sản. Nhà máy thứ hai, nhà máy thứ ba cũng lần lượt được thành lập. 

Ba năm trôi qua, nhưng người bạn thân và vợ anh ta tuyệt đối không nhắc đến chuyện vay tiền. Cư sĩ Tùng Đức cũng không nhắc đến. 

Sáu năm trôi qua, cư sĩ Tùng Đức vẫn cảm thấy khoản tiền đó không phải là con số nhỏ, nhưng vì không muốn phá hỏng tình bạn nên cũng nhẫn nhịn!

Chín năm trôi qua, vợ chồng người bạn làm ăn vô cùng tốt, đã là một đại gia ở địa phương, quan hệ chính trị tốt, những cuộc gặp gỡ giao tế xã hội không thể thiếu anh ta, người bạn thân đã trở thành người giàu nhất ở địa phương. Nhưng vẫn tuyệt đối không nhắc đến chuyện vay tiền.

Cư sĩ Tùng Đức cũng xác định rồi, rốt cục anh ấy là một người có tu dưỡng, quyên tiền là quyên tiền, vay tiền là vay tiền, anh ấy là người cẩn thận tỉ mỉ. Nhưng anh nghĩ, có thể nào người bạn đã quên mất, thế nhưng, một số tiền lớn như vậy làm sao có thể quên được?

Một hôm, cư sĩ Tùng Đức có nhắc đến chuyện này với Căn bản Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn là tôi đây, tôi liền thưa bẩm với chư Tôn ở đàn thành chuyện là như vậy.

Nghe nói:
Bạn thân của cư sĩ Tùng Đức ngay đêm đó đã có một giấc mơ. Mộng cảnh là như thế này:
Anh ta và vợ cả hai người đều xuống địa ngục. Diêm Vương ở trước mặt bày ra một cái chảo dầu sôi, bên dưới chảo dầu là củi đang bốc cháy hừng hực, phát ra âm thanh ì xèo ì xèo. 

Diêm Vương hét lên một tiếng:
”Ném hai người vào chảo dầu!”
Anh ta vội nói:
”Tôi phạm tội gì?”
Diêm Vương nói:
”Vay tiền không trả.”
”Tiền gì?”
Diêm Vương nói:
”Tiền mượn của cư sĩ Tùng Đức chưa trả.”
Anh ta và vợ đổ mồ hôi ròng ròng, nghĩ một lúc, quả nhiên là vậy, khoản tiền vay để xây nhà máy đầu tiên quả thật chưa trả. Một là thật sự đã quên rồi; hai là, công việc bận rộn quá; ba là, có thể trì hoãn thì cứ trì hoãn; bốn là, cư sĩ Tùng Đức không nhắc đến nên cứ mặc kệ.

Diêm Vương hạ lệnh:
”Ném vào chảo dầu!”
Anh ta và vợ vội vàng nói:
”Chúng tôi biết sai rồi, ngày mai chúng tôi sẽ trả hết cả tiền gốc lẫn lãi, rồi sẽ xin lỗi cư sĩ Tùng Đức!”
Diêm Vương yêu cầu anh ta phải điểm chỉ mới ra lệnh miễn tội vào chảo dầu.

🌟

Mới một ngày sau, bạn thân và vợ đã đến xin lỗi cư sĩ Tùng Đức, tiền vốn và tiền lãi trả lại đầy đủ. 
Cư sĩ Tùng Đức hỏi:
”Tôi không đòi hai người, vì sao hai người lại nghĩ tới chuyện trả?”
Bạn thân nói:
”Diêm Vương ra lệnh.” - Anh ta rất hổ thẹn.
Ha! Ha! Ha! Tiền tự động trả lại, chính là như thế đấy. 


### 16. Hoàng đế nương nương đến hỏi việc?


Có một buổi tối, tôi có một giấc mơ.
Tôi mơ thấy một quý phu nhân đầu đội mũ phượng, trên người đeo đầy vàng bạc châu báu, y phục thời xưa. Tôi hỏi:
”Là ai?”
Cô ấy đáp:
”Hoàng đế nương nương.”
Tôi giật nảy mình, đây là triều đại nào vậy? Thời đại dân chủ sao lại có Hoàng đế nương nương?
Tôi hỏi:
”Tìm tôi có chuyện gì?”
Cô ấy đáp:
”Một người hầu đã ăn trộm một viên đá quý của tôi, xin hỏi Lư Sư Tôn liệu có chuyện này không?”
Tôi nói:
”Tôi phải thần toán một chút.”

Tôi lập tức cong duỗi ngón tay để thần toán, phát hiện ra viên đá quý này hoàn toàn không phải do người hầu ăn trộm, mà là Hoàng đế nương nương đã để viên ngọc quý giá này ở trong tay áo mình. Sau khi thay y phục nhiều lần, chính cô ấy đã quên mất là mình để viên đá quý ở trong bộ y phục nào, vì thế mà hiểu lầm rằng viên đá quý đã bị trộm mất.

Tôi nhìn thấy: người hầu kia đã bị Hoàng đế nương nương làm cho thảm hại, bị đánh đến chết đi sống lại, tôi đưa tay ra cứu người hầu đó, nhưng mơ đến đây thì tỉnh lại.

🌟

Giấc mơ này đến rất đặc biệt, tôi không kìm được mà bật cười, thời đại này lấy đâu ra Hoàng đế nương nương chứ.

Ngày hôm sau vào lúc chạng vạng, có một vị khách không mời mà đến ghé thăm, là một phụ nữ trung niên, tôi cũng tùy hỉ hỏi chuyện, tôi hỏi:
”Cô hỏi chuyện gì?”
Cô ấy đáp:
”Tôi làm rơi một viên đá quý, tôi muốn hỏi, người làm của tôi đã giấu viên đá quý đó ở đâu? Hay là đã bán rồi? Bán cho ai? Ngài có thể biết được không?”
Trong lòng tôi kinh động, đây chẳng phải là mộng cảnh tối hôm trước sao! Tôi quan sát người phụ nữ một lúc, không nhìn ra cô ấy là Hoàng đế nương nương nào. Người phụ nữ này làm nghề gì đây? Tôi hỏi:
”Cô làm nghề gì?”
Cô ấy đáp:
”Hát ca kịch!”

Tôi nghe xong, cuối cùng tôi bỗng hiểu ra:
”Cô diễn Hoàng đế nương nương à?”
Cô ấy nói:
”Sao ngài biết?”
Tôi nói:
”Đương nhiên là tôi biết. Cô đừng đổ oan cho người làm, người làm thật sự không lấy trộm đồ của cô đâu. Cô về nhà kiểm tra lại những trang phục diễn của cô, chính là ở trong túi áo của bộ trang phục diễn đó.”
Cô ấy nói:
”Trang phục diễn của tôi có tới ba hòm lớn!”
Tôi nói:
”Bất kể là có bao nhiêu hòm, cô đều phải kiểm tra túi áo của từng bộ đồ diễn, hãy kiểm tra cẩn thận, không được bỏ sót bộ nào.”
Cô ấy nói:
”Trang phục diễn tôi cũng từng kiểm tra rồi!”
Tôi nói:
”Kiểm tra lại một lần nữa, ba hòm lớn, không được bỏ sót chiếc nào.”
Cô ấy hậm hực bỏ đi.

🌟

Cách một tuần sau, người phụ nữ đưa tất cả thành viên của đoàn diễn ca kịch đến quy y tôi. 

Cô ấy trở về tìm kiếm trong những bộ y phục diễn của mình, kiểm tra cẩn thận từng túi áo, trong đó có một bộ có túi áo chìm bên trong túi áo, cô ấy đã tìm được viên đá quý ở cái túi chìm đó. 

Giấc mơ này đúng là quá kì diệu rồi!


### 17. Người sống không khởi lòng tin thanh tịnh


Cư sĩ Trí Phu cùng với bạn đến tham gia pháp hội Hộ Ma, cũng nhận quán đảnh quy y, nhưng anh ấy mang theo cái tâm tùy duyên, chỉ tham gia một lần, sau này không đến nữa. 

Đối với Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, anh ấy không cách nào phát khởi lòng tin thanh tịnh, nguyên nhân thì có rất nhiều:
1. Lư Thắng Ngạn thấp bé.
2. Nhiều bình luận bất lợi và xấu về Lư Thắng Ngạn.
3. Liên tục gây náo động.
4. Những lời đồn toàn là tiêu cực.
5. Tu pháp song thân.
6. Nghe nói có nhiều minh phi.
7. Ông ta lái xe Bentley.
8. Ấn tượng của con người trong cả thành phố dường như đều không tích cực.
……………….

Cư sĩ Trí Phu nhìn Lư Thắng Ngạn, điều duy nhất không hiểu được là, người thầy này chưa từng bao giờ để ý đến những bình luận bên ngoài, vẫn cứ viết sách, thuyết pháp, sinh hoạt, cứ như thể mọi thứ đều không có liên quan đến mình.

Có một buổi tối, cư sĩ Trí Phu nằm mơ. Ở trong mơ, anh ấy nhìn thấy Lư Thắng Ngạn ở chính giữa vầng mặt trăng, biến hóa thành một vị Đại Uy Đức Kim Cang cao to hùng vĩ, thân màu xanh lam, nhiều đầu, nhiều tay, nhiều chân, mặt là khuôn mặt của Lư Thắng Ngạn, đáng sợ vô cùng, nhưng lại có sự uy nghiêm vĩ đại, khiến người ta không dám nhìn gần. 

Anh ấy lại nhìn thấy Đại Uy Đức Kim Cang biến hóa thành A Di Đà Phật, thân tướng Như Lai cao lớn trang nghiêm, toàn thân phóng ra nghìn tia khí cát tường, vạn tia sáng vàng kim, khuôn mặt hiền từ. Anh ấy hướng về A Di Đà Phật chắp tay lại, không kìm lại được mà đảnh lễ A Di Đà Phật. Anh ấy nhìn lên thì mặt A Di Đà Phật đã biến thành mặt của Lư Thắng Ngạn. 

Sau đó, anh ấy nhìn thấy Lư Thắng Ngạn của hóa thân A Di Đà Phật biến thành một vòng ánh sáng, ánh sáng từ từ bay lên hư không, rồi tiêu biến không nhìn thấy nữa. 
Trong hư không có âm thanh nói:
”Vì sao không một lòng quy y?”

Cư sĩ Trí Phu có được giấc mơ này thì cũng thỉnh thoảng dành thời gian đến Lôi Tạng Tự nghe pháp. Có một lần, anh ấy thật sự nhìn thấy trên pháp tọa không phải là Lư Sư Tôn, mà là Đại Uy Đức Kim Cang Minh Vương. 

Lại có một lần, rõ ràng Lư Sư Tôn đang ngồi trên pháp tọa, nhưng anh ấy lại nhìn thấy đó là A Di Đà Phật đang tỏa sáng. 

Lại có một lần khác, Lư Sư Tôn biến thành một vòng ánh sáng, lúc thì là ánh sáng, lúc thì là Lư Sư Tôn. 

Cư sĩ Trí Phu hỏi tôi:
”Trước kia tôi không khởi lòng tin thanh tịnh, đó là chướng ngại gì?”
Tôi đáp:
”Tai của anh, mắt của anh bị ô nhiễm quá nhiều.”
”Làm sao để không bị ô nhiễm?” - Cư sĩ Trí Phu hỏi.
Tôi đáp:
”Vậy thì phải thiền!”
”Tâm tôi không thể nào có lòng tin thanh tịnh được sao?” - Cư sĩ Trí Phu hỏi.
Tôi đáp:
”Vậy thì phải định!”
Cư sĩ Trí Phu nói:
”Thế những lời bình luận và đồn đại bên ngoài là thật hay là giả?”
Tôi đáp:
”Thực vô thật giả!”
”Không hiểu!” - Cư sĩ Trí Phu nói.
Tôi đáp:
”Đệ nhất nghĩa của Như Lai là vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả, vì thế thực tế là không có thật giả.”
Cư sĩ Trí Phu nói:
”Làm sao để tôi phát khởi lòng tin thanh tịnh?”
Tôi đáp:
”Hãy bắt đầu từ những thiện công đức của Lư Sư Tôn đi! Ví dụ bố thí, trì giới, tinh tấn, trí huệ, thiền định, nhẫn nhục của tôi, thiện công đức của tôi, anh hãy nghĩ về những điều đó đi!”
Về sau, cư sĩ Trí Phu quả nhiên đã phát khởi lòng tin thanh tịnh. Thì ra Lư Sư Tôn đúng là có thiện công đức đó!


### 18. Quán đảnh quy y như chớp điện


Cư sĩ Gia Trân là người viết thư xin quán đảnh quy y từ xa, vào ngày mồng một hoặc ngày mười lăm, vào bảy giờ sáng, cô ấy quay về phía đông (hướng mặt trời mọc), niệm chú Tứ quy y: 
”Namo guru bei, namo buddha ye, namo dharma ye, namo sangha ye. Liên Sinh Hoạt Phật chỉ dẫn. Quy y Chân Phật.” (Nói ba lần, vái ba lạy.)

Sau đó gửi tên, địa chỉ, tuổi của mình và kèm theo khoản phí cúng Phật tùy ý đến địa chỉ liên lạc của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn thay cho thủ tục tiến hành quy y. Sau khi nhận được thư quy y, nơi liên lạc sẽ gửi chứng thư quy y và pháp tướng của Căn bản Thượng sư. 

Có hai nơi liên lạc:
**Mĩ:**
Sheng-yen Lu
17102 NE 40th Ct.,
Redmond, WA 98052
USA

**Đài Loan:**
Số 100 đường Liên Sinh, làng Chân Núi, trấn Thảo Đồn, huyện Nam Đầu, Đài Loan.
Sheng-yen Lu
No. 100, Lian-Sheng Lane, Shan-jiao Village, Tsao-Tun Township, Nantou Country
Taiwan 54244 ROC. 

🌟

Cư sĩ Gia Trân gửi thư đi, kèm theo phí cúng dường. 
Khoảng nửa tháng sau, có một buổi tối, cô ấy nằm mơ. Mơ thấy Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đứng ở trong vầng mặt trăng, chân dẫm lên tòa hoa sen trắng lớn. Đầu đội mũ Ngũ Phật, thân khoác long bào và mặc trang phục Lama, toàn thân tỏa ra ánh sáng ngũ sắc, nghìn tia khí cát tường.  

Phía dưới vầng mặt trăng, có trăm, nghìn chúng sinh chắp tay cung kính nhìn thánh dung trang nghiêm của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Trong hư không truyền đến bài lư hương tán, còn có tiếng chuông, tiếng trống, âm thanh vô cùng vui tai. 

Lúc này, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn tay cầm phất trần phe phẩy về bốn phương tám hướng, phóng ra trăm, nghìn, vạn, triệu ánh sáng trắng giống như ánh chớp điện, phóng chiếu đến chúng sinh của thế giới Ta Bà. 

Cư sĩ Gia Trân giống như bị chớp điện bắn trúng, ngay lập tức toàn thân râm ran, dường như có dòng điện chạy xuyên qua người. Trong chốc lát, cô có được một cảm giác vui sướng êm dịu đầy ắp toàn thân.
Sau đó, cô ấy tỉnh giấc mơ.

Cô ấy kể với chồng:
”Đã được Lư Sư Tôn quán đảnh quy y rồi, quán đảnh này vô cùng chân thực.”
Chồng cô cũng cảm thấy bất khả tư nghì.
Ngày hôm đó, cư sĩ Gia Trân đã nhận được chứng thư quy y, cô ấy hết sức vui mừng.

Có một sự việc khiến cư sĩ Gia Trân cho rằng quá thần kì. Vốn dĩ cánh tay trái của cư sĩ Gia Trân không thể đưa lên cao và giơ thẳng được, chỉ có thể giơ lên được khoảng 45 độ, nhưng kể từ khi bị trúng tia chớp điện, cánh tay trái của cô đã bình thường rồi, có thể giơ lên đầu và giơ thẳng được. 

Cư sĩ Gia Trân vui mừng lắm, gặp ai cũng nói:
”Quy y quán đảnh từ xa không chỉ có thể được quán đảnh mà còn có thể chữa khỏi cánh tay nữa.”
Cô ấy giơ thẳng cánh tay của mình lên cho bạn bè xem. Bạn bè đều xuýt xoa kinh ngạc. 
Dưới sự kêu gọi của cư sĩ Gia Trân, bao gồm cả chồng, bạn bè, và đồng nghiệp của cô đều lũ lượt xin quy y nhận quán đảnh từ xa.

Có người cảm ứng thấy:
Trời quang mà lại có giọt nước rơi xuống.
Mơ thấy tiếng chuông trống.
Mơ thấy được ăn tiệc Tiên.
Cũng có người bị bệnh ở chân đã khỏi.
Có người bị bệnh ngoài da đã khỏi.
Sự hồi đáp như tiếng vang. 


### 19. Xương đầu gối vỡ hết


Có một hôm, cư sĩ Tường Đạm chạy xe máy đi đến nhà bạn, trên đoạn đường rẽ đã bị một chiếc xe tải chạy tốc độ cao va quệt vào xe, cả người bị hất văng ra. Khi bị hất văng ra, anh vẫn giữ tư thế đang lái xe, nên hai đầu gối bị đập xuống đất trước, đau tới mức anh không thể nào cử động được.

Anh được khiêng đến bệnh viện, chụp X-quang. Hai đầu gối xương đã bị vỡ hết rồi! Cư sĩ Tường Đạm vô cùng đau đớn. 

Anh ở trong bệnh viện chữa trị một tháng, chân của anh căn bản không thể cử động, cũng không thể đi bộ. Thật may, người nhà anh đều quy y Chân Phật Tông, tất cả người nhà đã vì cư sĩ Tường Đạm mà trì tụng Chân Phật Kinh, niệm Căn bản Thượng sư tâm chú, bản thân anh cũng ngày ngày niệm trong nước mắt. 

Người nhà thỉnh thị Lư Sư Tôn:
”Làm sao để khỏi được?”
Tôi đáp:
”Một là tụng kinh chú, hai là in Ngọc Lịch Bảo Sao, ba là tống sát về hướng nam.”
Đây là:
Lấy sức mạnh của kinh để gia trì.
Lấy thiện công đức để gia trì.
Lấy sức mạnh của Phật để gia trì. 
Người nhà của anh đều làm theo.

Trên giường bệnh tại bệnh viện, cư sĩ Tường Đạm có một giấc mơ. Anh nhìn thấy rất rõ ràng Lư Sư Tôn đi vào phòng bệnh, tìm kiếm một lúc rồi đi đến giường bệnh của anh, dùng hai tay xoa lên đầu gối của anh, đồng thời ấn lên đó. Tay của Lư Sư Tôn dường như có điện, điện đi vào trong đầu gối của anh, xương đầu gối của anh hình như đụng vào nhau. Ở trong mơ, anh đau tới mức hét lên:
”Cứu tôi! Cứu tôi!”
Lư Sư Tôn nói:
”Phải đau mới có hiệu quả!”
Cư sĩ Tường Đạm bất ngờ nhìn thấy Lư Sư Tôn lấy ra những mảnh xương vỡ, rồi lần lượt gắn lại với nhau, không bỏ qua dù chỉ một mảnh xương vỡ nhỏ. 

Anh lại nhìn thấy trán của Lư Sư Tôn lấp lánh những giọt mồ hôi. Cư sĩ Tường Đạm nói:
”Không dám nhọc công Sư Tôn!”
Lư Sư Tôn đáp:
”Không hề gì! Không hề gì!”

Cuối cùng, Lư Sư Tôn lại dùng hai tay dốc sức xoa bóp đầu gối, còn kéo thẳng hai chân của anh. Anh ấy đau quá mà tỉnh dậy. Sau khi tỉnh dậy, anh thử duỗi hai chân, không ngờ có thể cử động được rồi, cũng không còn đau nữa. 

Mấy hôm sau, lại chụp X-quang. Bác sĩ và y tá không dám tin, hiện tượng xương đầu gối bị vỡ hết đã không thấy nữa. Xương vỡ đều tự động kết hợp lại với nhau như ban đầu rồi. Bác sĩ nói:
”Kì tích! Kì tích!”
Y tá nói:
”Kì tích! Kì tích!”
Cư sĩ Tường Đạm nói:
”Là Lư Sư Tôn đến chữa cho cái đầu gối bị đau của tôi đó.”

Anh ấy vui mừng quá đỗi, cảm động rơi nước mắt, anh không chỉ in Ngọc Lịch Bảo Sao (sách thiện), mà còn in Chân Phật Kinh, cũng in Cao Vương Kinh, hơn nữa còn phát nguyện phải độ năm trăm tín chúng quy y Chân Phật Tông.

Nhờ có sự tuyên dương của cư sĩ Tường Đạm, mỗi lần Lư Sư Tôn xoa đầu hoặc xoa vào chỗ đau đều có mấy nghìn mấy vạn người đến. Một truyền mười, mười truyền trăm, trăm truyền nghìn, nghìn truyền vạn, sau pháp hội của Lư Sư Tôn, chúng sinh tự động xếp hàng thỉnh Lư Sư Tôn sờ đầu gia trì, hơn nữa số người càng ngày càng đông, mỗi lần sờ đầu phải mất vài tiếng đồng hồ. 

Người quy y càng ngày càng nhiều!
Kì tích cũng càng ngày càng nhiều!


### 20. Tai nạn khủng khiếp chỉ bị thương nhẹ


Có một chiếc xe buýt to đang chạy trên đường quốc lộ cao và dốc trên núi, xe chạy ổn định. Đến chỗ hai xe giao nhau, xe ô tô phía trước đi qua trước, xe buýt phải dừng lại để nhường cho xe kia đi trước.

Không ngờ động cơ của xe buýt đột nhiên bị tắt, bánh xe buýt trượt đi và chiếc xe bị chạy lùi lại, tài xế vội vàng phanh xe thì đã không kịp nữa, bánh sau của chiếc xe buýt đã trượt khỏi đường cái đến mép của vực sâu. 

Trong sát-na, cả chiếc xe buýt lớn rơi từ vách núi xuống thung lũng, thung lũng này có độ cao bằng tòa nhà năm mươi tầng. 
Có người bay ra ngoài cửa sổ.
Có người bị va đập lung tung.
Có người bị rơi mà chết.
21 người trong chiếc xe buýt này đã chết. 12 người bị thương nặng. 1 người bị thương nhẹ. 
Người bị thương nhẹ này là cư sĩ Bảo Đức. Khi chiếc xe buýt rơi xuống, anh ấy đã hôn mê rồi, không còn biết gì nữa.
Trước khi hôn mê, anh ấy chỉ niệm một câu: “A Di Đà Phật!”

🌟

Trong lúc cư sĩ Bảo Đức đang hôn mê, tựa như mơ mà không phải mơ, anh nghe thấy tiếng nói của rất nhiều người.
Một người nói:
”21 người này nghiệp chướng rất nặng, số mạng phải chết, cho nên có tai họa bất ngờ, giao cho minh sứ đưa về nơi của những người chết thảm xử lí.”
Một người nói:
”12 người bị thương nặng này cũng ngày ngày tạo các nghiệp giết, trộm, dâm, vọng, rượu, nhưng còn xem là có thể sám hối, gặp dữ hóa lành, gặp nguy mà bình an, cho họ một chút đau khổ, chưa cần phải đưa về âm phủ.”
Một người nói:
”Ở đây vẫn còn một người đang hôn mê!”
Người khác nói:
”Người hôn mê này trên người có mang ảnh và mật chú của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, là bùa hộ thân, vẫn còn hơi tỏa sáng đó, nên xử lí anh ta thế nào đây?”
Cư sĩ Bảo Đức nghe xong, muốn mở to mắt ra nhưng không mở được, anh muốn biết những người đang nói chuyện này rốt cục là người nào.

Không lâu sau, anh lại nghe thấy một người nói:
”Người hôn mê này không cần phải lo, đợi một chút đội cứu hộ đến, để cho đội cứu hộ xử lí là xong, cộng thêm 12 người bị thương nặng, cùng do đội cứu hộ xử lí một thể.”
Lại có người nói:
”Ấy! Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đến rồi!”
Đám người đột ngột yên lặng như tờ.

Cư sĩ Bảo Đức chỉ cảm thấy có người đến xoa đầu anh, rồi dùng tay xoa lên người anh, từ đầu đến chân, vuốt lên toàn thân, tay vuốt đến đâu thì cơn đau liền tiêu biến.

Chỉ nghe thấy Liên Sinh Hoạt Phật nói với đám người kia: 
”Người này chỉ bị trầy da thôi, một lát là khỏe lại. Não anh ta chỉ bị chấn động một chút, bây giờ cũng hết rồi, mấy người vất vả rồi!”
Đám người nói:
”Liên Sinh Hoạt Phật mới vất vả!”
Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn nói:
”Mọi người giải tán đi! Đội cứu hộ sắp đến rồi!”

Thế là:
Cư sĩ Bảo Đức cuối cùng đã bình an trở về nhà, người nhà vui mừng thay cho anh. Anh kể với mọi người những lời mình đã nghe thấy trong lúc hôn mê, mọi người cũng không hiểu những người đó là ai.

Tấm bùa hộ thân đó là do người cô của cư sĩ Bảo Đức tặng, cô anh là một trong những tín chúng của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Cư sĩ Bảo Đức đã đến Lôi Tạng Tự xin quán đảnh quy y và kể lại sự việc này.

Tôi nói:
”Đám người đó là những tinh linh ở nơi đó!”
Cư sĩ Bảo Đức hỏi:
”Ngài đến sờ lên đầu và khắp người tôi phải không?”
Tôi đáp:
”Anh nghĩ thế nào?”


### 21. Bụng mọc khối u


Cư sĩ Vĩnh Cẩm là người thường đến nghe pháp, nhưng cũng không biết vì sao mà bụng lại mọc khối u, khối u này ban đầu là một nốt đỏ, dần dần càng ngày càng to, to bằng cỡ quả bóng bàn.

Sau đó, màu sắc từ trắng chuyển thành đỏ, khối u ấy thỉnh thoảng lại chảy máu loãng, mùi hôi vô cùng, ban đầu không đau, sau này càng ngày càng đau.

Đầu tiên, cư sĩ Vĩnh Cẩm tự mình bôi thuốc, ví dụ như dầu cù là, dầu bạch hoa, dầu giảm sưng, v.v… Hình như cũng có đỡ, nhưng không được lâu lại tái phát, mỗi lần tái phát thì ban đầu ngứa sau đó đau, hết sức khổ sở.

Cư sĩ Vĩnh Cẩm tìm đến bác sĩ đông y để chữa trị, bác sĩ đông y đứa cho anh một miếng cao thảo dược, một miếng to đen sì. Vừa dán lên thì khối u đều biến thành màu đen, máu mủ ứa ra. Bề ngoài dường như nó đã xẹp xuống, nhưng nó lại lở loét ra xung quanh. Thế rồi lại mọc thêm những nốt đỏ khác, ngứa kinh khủng.

Cư sĩ Vĩnh Cẩm lại tìm đến tây y để chữa trị, bác sĩ tây y tiêm thuốc, cho thuốc uống, thuốc bôi, nhưng tình hình cũng không cải thiện. 

Cư sĩ Vĩnh Cẩm đã từng nghe Lư Sư Tôn thuyết pháp rằng: dùng bút lông đã được gia trì, chỉ cây bút lên trời, rồi lại chỉ vào khối u trên bụng mình, một nét thành sông, hai nét thành sông, ba nét, bốn nét thành giếng vàng. Bút này không phải bút phàm, mà là bút của tú tài núi Lư. 
Chỉ trời trời xanh.
Chỉ đất đất yên.
Chỉ người trường sinh.
Chỉ ma tiêu diệt.
Sau đó dùng bút này chấm một cái, hi vọng khối u trên bụng của mình sẽ mau chóng tiêu biến.
Kết quả là chẳng hề tiêu biến, mà càng to hơn, càng lở loét hơn, càng đau hơn. Phải làm sao đây?

Cư sĩ Vĩnh Cẩm khóc lóc, ở trước đàn thành trong nhà mình khóc lóc trước Liên Hoa Đồng Tử:
Pháp giếng vàng không linh.
Càng sưng.
Càng loét.
Càng đau.
Pháp giếng vàng đáng chết, pháp giếng vàng thối tha, pháp giếng vàng đáng ghét, pháp giếng vàng ngu xuẩn…

Cũng không biết thế nào mà đêm đó, Lư Sư Tôn đã nhập mộng rồi, ngài cười hi hi nói:
”Bút của anh không linh, bút của tôi đây mới linh à!”
”Vì sao bút của Lư Sư Tôn mới linh?”
Lư Sư Tôn nói:
”Bút có linh là vì uy lực của Phật Bồ Tát gia trì, có phải là tùy tiện gia trì đâu.”

Lư Sư Tôn lấy ra cây bút đỏ, vẽ một vòng xung quanh cái u và những nốt đỏ khác trên bụng của cư sĩ Vĩnh Cẩm, sau đó dùng miệng thổi một hơi khí vào trong vòng tròn đó. Lư Sư Tôn vẽ vòng tròn xong, thổi một hơi khí xong, không ngờ từ trong khối u lớn nhảy ra một người phụ nữ mặc đồ đỏ, người phụ nữ này lườm Lư Sư Tôn một cái với ánh mắt hung hăng, sau đó vội vàng chạy trốn!
Lư Sư Tôn cười vang ha ha ha. Còn cư sĩ Vĩnh Cẩm thì tỉnh giấc mơ!

Kể từ sau khi có giấc mơ đó, khối u trên bụng đã tiêu mất một nửa, không ngứa cũng không đau, cũng không còn chảy mủ nữa, những nốt đỏ nhỏ cũng tiêu biến rồi, những ngày tiếp theo đó càng ngày càng đỡ. 

Cư sĩ Vĩnh Cẩm nguyện làm chứng cho pháp lực của tôi, anh ấy nói:
”Thật sự là quá thần kì! Trùng hợp như vậy, vừa nằm mơ thấy Lư Sư Tôn đến, vẽ một vòng tròn, thổi một hơi khí, ngày hôm sau đã khỏi dần rồi, đây có phải là pháp Thiên y xúy sát không?”
Tôi nói:
”Không phải!”
Tôi nói:
”Pháp Thiên y xúy sát là pháp cao siêu hơn thế!”


### 22. Đưa cô ấy đi xem tiền kiếp


Cư sĩ Hoành Cơ là một bác sĩ, anh ấy là bác sĩ khoa thần kinh. Anh có một bệnh nhân nặng, bị mất ngủ, huyễn thính, huyễn thị nghiêm trọng, hành vi điên đảo, nói năng lộn xộn.

Sau này, bệnh nhân đó đến tìm tôi, tôi dùng:
Nước chú Đại bi chữa bệnh mất ngủ.
Dùng phù “sương” để chữa huyễn thính.
Dùng phù “thượng nhãn” để chữa huyễn thị.
Dùng phù “thượng yểm” để chữa hành vi và ngôn ngữ.
Yêu cầu người nhà của bệnh nhân in sách thiện để tặng mọi người trong xã hội. Bệnh nhân bị tâm thần nặng này không ngờ đã khỏi bệnh rồi.

Thế là, cư sĩ Hoành Cơ liền đến học tập Phật pháp với tôi. Bác sĩ quy y tôi. Bác sĩ tu Mật giáo. Lập đàn thành thực tu.

Đáng tiếc là vợ của cư sĩ Hoành Cơ là tín đồ Cơ đốc giáo, tín ngưỡng rất kiên định. Khi cư sĩ Hoành Cơ tu pháp, vợ anh ấy dùng nước hắt vào anh, lấy trộm tượng Phật trên đàn thành đi, phá bỏ đàn thành.

Cư sĩ Hoành Cơ kể với tôi:
”Bà xã muốn tôi đi đến nhà thờ làm lễ, tôi có thể đi được không?”
Tôi đáp:
”Đi!”
”Bà xã muốn tôi nhận rửa tội nữa?”
Tôi đáp:
”Rửa!”
”Bà xã muốn tôi mỗi ngày phải đọc kinh Thánh, một chương hoặc một tiết?”
Tôi đáp:
”Đọc!”
Cư sĩ Hoành Cơ hỏi:
”Vậy ý của Lư Sư Tôn là muốn tôi phản bội Phật, đi tin Jesus Christ à?”
Tôi đáp:
”Cái này thì không phải, đợi đến khi bà xã đổi sang tin Phật thì anh lại quay về tu hành với tôi.”
”Có thể sao?” - Cư sĩ Hoành Cơ rất ngờ vực.
Tôi đáp:
”Có thể.”

🌟

Không lâu sau, vợ của cư sĩ Hoành Cơ bị mắc bệnh tim, đã chữa nhiều lần mà vô hiệu, hơn nữa còn được thông báo là chỉ có thể sống được năm tháng. 
Cư sĩ Hoành Cơ khuyên vợ:
”Tìm Lư Sư Tôn xem sao!”
Vợ đáp:
”Không! Em sẽ cầu nguyện, em sẽ không phản bội Jesus Christ!”

Cô vợ có một giấc mơ:
Mơ thấy Lư Sư Tôn đưa cho cô uống một cốc nước, rồi đưa cô đi xem tiền kiếp của mình, chỉ cho cô ấy thấy kiếp trước cô là một tì kheo ni già, mỗi ngày đều lạy Phật, tụng kinh.
Rồi lại đưa cô ấy đi xem chùa mà chính mình đã xây dựng. 
Rồi lại cho cô ấy xem Quan Thế Âm Phổ Môn Phẩm mà chính mình đọc hàng ngày.
Rồi lại đưa cô đi xem cô lập lời thề trước tượng Quan Âm Bồ Tát: “Con không phản bội Bồ Tát.”

Trong mơ, cô vợ hỏi tôi:
”Tôi có phản bội Quan Âm không?”
Tôi đáp:
”Không.”
Cô vợ hỏi:
”Nếu tôi quy y Phật, có phải là lại phản bội Jesus không?”
Tôi đáp:
”Không.”
”Vì sao? Đây rốt cục là thế nào?” - Cô vợ hơi nghi ngờ.
Tôi đáp:
”Đó chỉ là một giai đoạn của con đường tu hành, thật ra không hề xung đột.”

🌟

Dưới nỗ lực chữa trị của tôi, không ngờ cô vợ đã sống tiếp như một kì tích. Tôi đã dùng pháp Nhật nguyệt minh, pháp Nhật nguyệt minh của tim. 

Cô vợ không còn phản đối cư sĩ Hoành Cơ tin Phật và tu Phật pháp nữa. Cô vợ đến nghe tôi giảng kinh. Sau đó cũng quy y tôi. Bây giờ, hai người cùng ở nhà đồng tu rồi!
Thật tốt.


### 23. Đích thân gặp Thổ Địa Công


Cư sĩ Huệ Trung là một cư sĩ 60 tuổi, bình thường ông tu tịnh nghiệp, hàng ngày thực hành sáng tối chỉ niệm Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát. Ông ấy là một nhân viên công vụ chính trực tuân thủ pháp luật. 

Bỗng dưng ông ấy bị mắc bệnh đau đầu gối, hai đầu gối sưng tấy, không tốt cho việc đi lại, không phải là đau xương mà là đau cơ. Ông vội vàng đi khám bác sĩ. Bác sĩ cho miếng dán tiêu viêm giảm đau, uống thuốc giảm đau. Uống thuốc xong thì có đỡ một chút, nhưng thuốc hết hiệu quả thì lại đau. 

Ông ấy tìm đến khoa phục hồi chức năng. Bác sĩ hướng dẫn các kĩ thuật phục hồi. Dùng dải băng để buộc chặt lại bó cơ sau khi đã được xoa bóp, để các bó cơ được cố định và không hoạt động cơ nữa. Cũng đỡ một chút. Nhưng hễ tháo dải băng ra là lại đau. 

Cư sĩ Huệ Trung đã tìm đến bác sĩ đông tây y, và những bác sĩ chữa trị theo cách tự nhiên, cứ thế suốt một năm nhưng tình trạng không hề khởi sắc.

Có một buổi tối, ông ấy mơ thấy Thổ Địa Công, tóc trắng râu trắng, tay chống gậy, bảo ông:
”Đi tìm Lư Sư Tôn, có thể khỏi bệnh.”
Cư sĩ Huệ Trung hỏi:
”Lư Sư Tôn, là người nào vậy? Làm sao để tìm được ông ấy?”
Thổ Địa Công nói:
”Lư Sư Tôn là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, hiện nay là Phật Đà trụ thế đó!” 

Cư sĩ Huệ Trung hết sức vui mừng:
”Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, tôi biết rồi. Sư phụ Tịnh tông của tôi nói cho tôi biết, ông ấy là phụ Phật ngoại đạo, là tà giáo, là dị đoan, không thể tin được. Sao tôi có thể đi tìm ông ấy chứ?”
Thổ Địa Công cho hay:
”Đó là biểu hiện bên ngoài để cố tình che giấu thân phận của mình, còn bên trong ông ấy quảng đại vô song bất khả tư nghì đấy.”
Cư sĩ Huệ Trung hỏi:
”Làm sao để tìm ông ấy?”
Thổ Địa Công đáp:
”Sao không ngày đêm thắp hương gọi ông ấy, ba bảy hai mốt ngày, tất có linh nghiệm.”

Sau khi tỉnh giấc mơ, cư sĩ Huệ Trung làm theo lời dạy của Thổ Địa Công, ngày đêm cung kính đảnh lễ, thắp ba nén hương để triệu thỉnh.
Cứ như vậy một khoảng thời gian.

Quả nhiên cư sĩ Huệ Trung mơ thấy Lư Sư Tôn:
Ông ấy nhìn thấy Lư Sư Tôn cầm một cái cờ đến, cờ này tỏa ra rất nhiều ánh sáng, chiếu khắp tất cả thế giới mười phương, ánh sáng của nó còn nhiễu  quanh đầu gối của cư sĩ Huệ Trung ba lần, sau đó, ánh sáng lại trở về trong miệng của Lư Sư Tôn. 

Cư sĩ Huệ Trung hỏi:
”Đây là cờ gì?”
Đáp:
”Cờ Tôn Thắng Phật Mẫu đà-la-ni.”
Cư sĩ Huệ Trung hỏi:
”Có công đức gì?”
”Có thể tiêu trừ tất cả ác bệnh và đau khổ của thế gian, vĩnh viễn không đọa tam ác đạo, có thể hóa giải mọi tai nạn, có thể hàng phục mọi ma cảnh, có thể ban cho chúng sinh phúc huệ, có thể tiêu trừ ngu si và nghèo khổ, có thể khiến ông được trường thọ, tránh được mọi tai nạn bất ngờ.”
”Làm sao để tán dương?”
Đáp:
”Búi tóc Như Lai, loại sạch ác đạo, nghìn vạn chư Phật cùng ngợi ca, lợi lạc khắp Thiệm Bộ Châu, thánh đức khó đo lường, gột rửa nghiệp chướng muôn kiếp.”
Nói xong, Lư Sư Tôn bay lên trời, biến mất không nhìn thấy nữa!

Sau khi tỉnh giấc mộng, trời ơi! Đầu gối của cư sĩ Huệ Trung không ngờ không còn đau mà còn có lực, mọi triệu chứng đau đớn đã hoàn toàn biến mất, sau khi có được giấc mơ này, ông đã hoàn toàn khỏi bệnh rồi. 

Cư sĩ Huệ Trung tìm đến tôi để kể sự việc này, đồng thời dẫn theo nhiều người đến quy y tôi.


### 24. Rừng trúc phóng quang


Cư sĩ Trường Sinh là một nông dân, anh ấy có một mảnh rừng trúc rộng lớn, bán măng trúc kiếm kế sinh nhai. 

Một hôm, vào lúc hoàng hôn, anh đi tuần tra rừng trúc, phát hiện bên trái trong khu rừng trúc có một khối ánh sáng trắng lớn, khác với ánh sáng vàng lúc hoàng hôn khi ánh mặt trời chiếu xiên, nhưng anh cũng không chú ý lắm. 

Đến buổi tối, mặt trời đã xuống núi rồi, rừng trúc trở thành một vùng đen đặc, cư sĩ Trường Sinh mở cửa sổ ra, vô tình phát hiện thấy khu vực phát ra ánh sáng trắng đó sáng dị thường, sáng chói lọi như ánh đèn huỳnh quang nhấp nháy, trong lòng anh kinh sợ!
Là kẻ trộm đang trộm măng sao?
Không thể nào, đi trộm măng mà dùng ánh đèn huỳnh quang để chiếu sáng chẳng phải là quá trắng trợn sao, lại còn không khôn ngoan nữa. 
Là trẻ con trong vùng tụ tập sao?
Không thể nào, mấy đứa trẻ con tụ tập trong rừng trúc vui chơi thì cũng quá đà rồi, đi chỗ nào chơi không đi mà lại đến rừng trúc của mình?
Là hội cờ bạc sao?
Người lớn tụ tập đánh bạc, họ là người nông thôn, chỉ cần một khoảnh đất trống để trải mấy quân bài, nhiều ít thắng thua thì cũng chỉ mấy chục đồng, đâu cần phải chạy tới rừng trúc để giành thắng thua cái gì chứ?

Cư sĩ Trường Sinh nghĩ không ra lí do, anh tự mình đi xem, trên tay cầm chắc chiếc đèn pin, dọc đường bước thấp bước cao nhằm theo hướng ánh sáng mà đi, anh ấy vẫn nhìn thấy ánh sáng trắng lớn đó.

Nhưng khi đến được địa điểm thì ánh sáng trắng bất ngờ biến mất, dùng đèn pin chiếu vào thì chỉ thấy trống trơn, chỉ là một đám đất vàng, còn lại chẳng có gì. Anh quay trở về nhà, vào trong nhà quay đầu nhìn lại thì, hây! Lại là khối ánh sáng chói lọi đó. 
Thôi kệ! Thôi kệ!
Ngủ thôi! Ngủ thôi!

Đêm đó anh nằm mơ, trong mơ rất rõ ràng:
Có một đứa bé phóng ra ánh sáng trắng lớn, đứa bé nhảy nhót trên hoa sen, kêu lớn:
”Cứu mạng! Cứu mạng! Thả tôi ra! Thả tôi ra! Chỉ cần thả tôi ra thì tôi sẽ giúp anh phát tài.”
Trường Sinh hỏi:
”Làm sao để thả chú mày ra?”
Đứa bé nói:
”Tôi ở trong đất.”
”Trong đất nào?”
”Chỗ đất phát quang.”

Sáng sớm ngày hôm sau, cư sĩ Trường Sinh liền đi vào rừng trúc, ở chỗ đám đất phóng ra ánh sáng trắng đó, anh đào mấy nhát thì đào thấy một bức tượng Phật bằng gỗ. Bức tượng đứng trên hoa sen, trên tay cầm hoa sen, đầu độ mũ Ngũ Phật, có hoa văn. Lau sạch bụi và đất thì thấy bức tượng vẫn tốt, không bị sứt mẻ. Cư sĩ Trường Sinh bèn đem bức tượng về bày ở phía trước bức hình Quan Thế Âm Bồ Tát và Ma Tổ Nương Nương ở tại đàn thành trong nhà mình, thắp hương cúi lạy.

Bức tượng Phật này quả nhiên rất linh. Không ngờ vị này báo mộng cho hàng xóm trong vùng, kêu hàng xóm đến nhà của cư sĩ Trường Sinh để vái Liên Hoa Đồng Tử, uống nước cúng trong nhà cư sĩ Trường Sinh. 
Trẻ con khóc đêm thì hết khóc.
Người lớn thì khỏi đau tay.
Người bị bệnh ngoài da cũng khỏi.
Người bị chứng đi tiểu rắt cũng khỏi.
……

Các thứ bệnh nặng nhẹ đều có thể chữa khỏi, chẳng bao lâu, nhà của cư sĩ Trường Sinh đã trở thành một thần đàn làm xôn xao cả thôn. 

Có người đề nghị cư sĩ Trường Sinh đi tìm Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, bởi vì ông ấy chính là hóa sinh của Liên Hoa Đồng Tử. 
Cư sĩ Trường Sinh đã quy y tôi. Lại còn dẫn theo người của toàn thôn đó đến quy y tôi. 

Càng kì diệu hơn là, cái giếng trong nhà của cư sĩ Trường Sinh, từ sau khi Liên Hoa Đồng Tử ở trong nhà, nước giếng trở nên ngọt, uống vào có mùi thơm, làm thông ngực, khắp thân thể thoải mái. 


### 25. Ba cụ già tranh cãi không ngừng


Cư sĩ Huệ Thành, tuổi khoảng ngoài 50, là một quản đốc nhỏ của công ty, thuần tin Mật tông, quy y Urgyen Tulku Rinpoche, thường đi Nepal và Đài Loan. Có một lần đến pháp hội, khi nghe pháp, Rinpoche có nhắc đến cảnh giới tu thiền rất sâu. 

Rinpoche nói:
”Khi tôi chỉ có một mình, từ trong tâm có một niềm vui sướng tuôn trào, lúc này, tôi sẽ cười. Thậm chí trong lúc ngủ cũng có thể cười rất lớn tiếng, người khác sẽ cảm thấy tôi rất kì lạ khó hiểu.”
Rinpoche nói:
”Mọi niềm vui sướng không biết đến từ đâu, tất cả ánh sáng không biết đến từ đâu, tất cả vô niệm cũng không biết đến từ đâu.”
Rinpoche nói:
”Dorje Shri có bài kệ:
Tâm vô nhị như nước và sữa hòa lẫn
Phản ánh mọi giác thọ như chúng chính là
Giống như tâm du già dựa vào chứng ngộ
Cũng như hư không phổ quát khắp nơi
Đừng để giác tính tán loạn theo niệm tưởng
Nên biết vạn niệm đều là tâm.。

Cư sĩ Huệ Thành nghe xong, trong lòng trống rỗng. Đột nhiên trong tai truyền đến một âm thanh, giống như ba cụ già đang cãi nhau. 
Một người nói: “Một hợp tướng rồi!”
Một người nói: “Không thể nào chạm vào!”
Một người nói: “Hiểu rõ vạn vật đều là tâm!”
Ba cụ già ở trong tai liên tục phát biểu ý kiến, có lúc còn cãi nhau ầm lên, giống như đang tranh luận kịch liệt. 
Một người nói: “Phải thường trụ trong lạc, quang minh, vô niệm.”
Người khác nói: “Không thể thường trụ, tâm thường trụ sẽ tán loạn.”
Một người lại nói: “Nói láo, nói láo, mấy ông toàn là nằm mơ.”
Cãi cọ kiểu như vậy.

Cư sĩ Huệ Thành ban đầu cảm thấy ba cụ già trong tai tranh luận cũng có pháp vị của tu thiền, nhưng về sau thì toàn là thế này:
Một người nói: “Tôi phải đi tè đã!”
Một người nói: “Tôi phải đi ị đã!”
Người khác nói: “Các ông đi chết hết đi!”

Ba cụ già này cá tính đều cực kì cố chấp, những lời nói tục tĩu bẩn thỉu đều tuôn ra rồi, khiến tâm thần cư sĩ Huệ Thành bất an, ông ấy đi tìm Urgyen Tulku Rinpoche. Urgyen Tulku nói:
”Đó cũng là tâm.”
”Phải làm thế nào để chặn lại?”
Urgyen Tulku nói:
”Mặc kệ.”

Nhưng cư sĩ Huệ Thành đã không chịu nổi nữa. Ban ngày cũng thế, ban đêm cũng thế. Ông ấy đi tìm bác sĩ, bác sĩ nói: “Là chứng bệnh ù tai tâm lí.” Đã chữa rất lâu mà không khỏi.

Ông ấy nghe nói Lư Sư Tôn có sờ đầu, thế là cư sĩ Huệ Thành cũng chen vào trong đám người để thỉnh tôi sờ vào hai tai ông, ông ấy nói là bị ù tai nghiêm trọng, tôi thổi khí vào hai tai, hai tay che lấy hai tai.

Đêm đó, cư sĩ Huệ Thành có một giấc mơ. 
Ba cụ già đều bị ngất đi, khi tỉnh lại thì nói:
”Phải chuyển nhà rồi, ở đây sét đánh ghê quá, khiến ba người chúng ta bị kinh động mà chết lịm rồi, đi mau, đi mau!”
”Đi đâu?”
”Tìm một chỗ ở mới! Chọn một người tâm hay nghĩ ngông cuồng, mau chuyển nhà đi! Lư Sư Tôn kia biết thả sấm, chúng ta chịu không nổi đâu!”

Từ trong tai của cư sĩ Huệ Thành, ba cụ già đi ra, một người mặc đồ đen, một người mặc đồ trắng, một người mặc đồ xanh. Từ đó, bệnh ù tai của cư sĩ Huệ Thành đã khỏi hẳn rồi!


### 26. Ba câu khẩu quyết


Cư sĩ Bích Như tuổi tác đã ngoài 70, yêu thích Phật pháp, đã du học trong biển pháp tôn giáo 40 năm. 
Bà ấy từng là tín đồ Trai giáo.
Bà ấy từng theo phái Long Hoa.
Bà ấy từng là một tín đồ Đạo giáo nhất quán.
Bà ấy từng là tín đồ Thiên Đức giáo.
Bà ấy từng là tín đồ Toàn Chân giáo. 
Bà ấy từng tu theo phái Chính Nhất Thiên Sư, phái Lư Sơn, phái Mao Sơn.
Bà ấy từng là đệ tử của Thanh Hải Vô Thượng Sư.
Bà ấy từng là đệ tử của lão hòa thượng Quảng Khâm.
Bà ấy quy y Phật môn, sư phụ rất nhiều, Bạch Thánh, Nam Đình, Hiền Đốn, Ấn Thuận, Thánh Ấn, Từ Hàng, Ngộ Minh, Tịnh Tâm, Tịnh Không, Tinh Vân, Thánh Nghiêm, Chứng Nghiêm, Duy Giác, Đạo An, Lạc Quả…
Bà ấy từng học Côn Luân Tiên Tông.
Bà ấy từng học pháp sư Hỗn Nguyên.
Bà ấy từng học Từ Huệ Đường.
Bà ấy từng học pháp sư Thánh Luân của Thánh Đức Đường.
……

Việc du học trong giới tôn giáo của cư sĩ Bích Như thật khiến người ta trố mắt nghẹn lời vì kinh ngạc. Ngay đến thiền hiện đại của Lí Nguyên Công bà ấy cũng từng đi tìm hiểu, ngay cả Nhật Liên Tông của Nhật Bản bà ấy cũng tiếp cận.

Trên phương diện Mật giáo, bà ấy rất thân cận với Tai Situpa Rinpoche của Bạch giáo, Kalu Rinpoche, Đại Bảo Pháp Vương, Cam Châu Nhĩ Ngõa, v.v…
Môn Thái cực.
Hiệp hội Hiển tượng.
Phái Tổng trì tự.
Hội học thuật Sáng Giá. (Soka Gakkai International)
Cư sĩ Bích Như cũng từng đến Nhật Bản để tiếp cận A Hàm Tông, đến Ấn Độ để học yoga tĩnh tọa. 

Sau này bà mắc bệnh tiểu đường, thị lực suy giảm, thận không khỏe, đầu mút dây thần kinh hơi có vấn đề. Bà ấy đi khắp nơi tìm thầy thuốc nhưng không có cải thiện gì đáng kể. 

Bà ấy muốn dùng những trải nghiệm tôn giáo của mình để cải biến trăm bệnh bùng phát của mình, nhưng không biết bắt đầu từ đâu. 

Có một ngày, bạn bè giới thiệu Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, bà ấy lắc lắc đầu. Bà ấy nói:
”Là Chân Phật Tông thì không đi!”
”Vì sao?”
”Bình luận quá tệ, tin tức tiêu cực quá nhiều.”
”Sao không thử xem?”
Bà ấy nói:
”Mọi giáo phái trên thế giới tôi đều đi qua rồi, giờ chỉ còn hai giáo phái là chưa từng thử thôi!”
”Hai giáo phái nào?”
Bà ấy đáp:
”Thống Nhất Giáo và Chân Phật Tông.”
”Vì sao?”
Bà ấy đáp:
”Tôi thấy hai người này chỉ làm phong trào quần chúng, không phải là người tu hành!”
Người bạn nói:
”Sao bà không thử niệm một chút tâm chú Liên Sinh Hoạt Phật Om guru liansheng siddhi hum.”
Bà ấy cũng tiện mồm đọc mấy câu.

Đêm đó, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đã hiển hiện trong giấc mơ. Bà ấy hỏi:
”Ông tu hành cái gì?”
Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đáp:
”Tôi không tu hành, chỉ là phụng hành ba câu khẩu quyết.”
”Ba câu nào?”
Tôi đáp:
”Ăn ít đi, vận động nhiều. Nói ít đi, trì chú nhiều. Tham sân ít, hỉ xả nhiều.” Rồi tôi phóng ánh sáng chiếu đến bà ấy ba lần. 

Cư sĩ Bích Như sửng sốt, đây chỉ là ba câu nói rất bình thường, nhưng đã đi qua đạo Phật 50 năm mà bà ấy vẫn không làm được ba câu này. Bà ấy làm theo ba câu khẩu quyết này, sau đó không ngờ bệnh đã khỏi, khí sắc tốt hơn. 

Bà ấy đến kể cho tôi nghe sự việc này. Tôi cười lớn ha ha ha:
”Ba câu này, tôi chưa từng nói!”


### 27. Ma treo cổ chiếm thân


Cư sĩ Chí Gia có một người bạn gái cũ nhiều năm không gặp. Một hôm bỗng nghe tin người bạn gái này đã treo cổ tự tử, anh ấy cũng đến lễ truy điệu với cương vị là một người bạn. Trong lễ truy điệu, đột nhiên anh cảm giác có khí lạnh ập vào người, nhưng anh không lưu tâm. 

Sau khi trở về nhà, anh có một giấc mơ. Mơ thấy người bạn gái cũ mặc đồ trắng tinh, tướng mạo xinh đẹp muốn ngủ lại. Cư sĩ Chí Gia cảm thấy thông cảm nên để cho cho cô ở trong căn phòng trống. Người bạn gái không chịu, nói:
”Em sống ở trên người anh.”
Trong mơ, Chí Gia hỏi:
”Sống thế nào?”
Bạn gái đột ngột biến thân, tóc dài xõa vai, bảy lỗ chảy máu, lưỡi vươn dài ra, lao về hướng cư sĩ Chí Gia. Lúc này hồn ma đã bám vào thân thể, cư sĩ Chí Gia ở trong mơ kinh hoàng ngất lịm đi. Kể từ ngày hôm đó, dường như họ cùng dậy cùng ngủ, cùng ăn cơm, cùng đi lại, cùng mặc quần áo…
Tiếng nói lúc nam lúc nữ.
Tính tình lúc âm lúc dương.
Công việc lúc làm lúc không.
Ăn mặc quái dị.
Vốn dĩ anh là một thanh niên sáng sủa và cởi mở, bỗng dưng biến thành một kẻ lôi thôi lếch thếch tự nhốt mình trong nhà, miệng lầm rầm nói một mình.

Cư sĩ Chí Gia đã là một con người khác, bố mẹ anh nghe tin thì sửng sốt thất kinh, bố mẹ đi đến nhà mà cư sĩ Chí Gia thuê. Chí Gia mở cửa, hỏi:
”Hai người là ai?” - Không ngờ anh lại không biết.
Sau khi vào nhà, Chí Gia làm việc của mình, mặc kệ bố mẹ, chỉ bảo bố mẹ ở trong phòng khách. 
Hỏi Chí Gia đã xảy ra chuyện gì thì anh hỏi một đằng trả lời một nẻo, nói năng không đầu không đuôi!

Bố mẹ mời bác sĩ khoa thần kinh đến, tiêm thuốc uống thuốc, sau một tháng không hề có gì khởi sắc. Trái lại, hai con mắt trợn ngược lên, tay nắm chặt lại. Bác sĩ nói:
”Phải vào viện, đã nghiêm trọng rồi!”
Bố mẹ thương xót đứa con trai, không muốn anh nhập viện, ngay đêm hôm ấy đã đến Lôi Tạng Tự tìm tôi Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.

Tôi yêu cầu bố mẹ anh cấp tốc thỉnh cầu Diêu Trì Kim Mẫu. Bố mẹ anh đã cầu rồi, phát nguyện in sách thiện, nguyện bố thí xây chùa và bố thí cơm cho tăng chúng.

Đúng vào đêm hôm đó, cư sĩ Chí Gia có một giấc mơ. Mơ thấy Liên Sinh Hoạt Phật đến, và người bạn gái cũng xuất hiện. Bạn gái vẫn đầu bù tóc rối, bảy lỗ chảy máu, lưỡi vươn dài ra, nhưng Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chẳng hề sợ hãi chút nào. 

Lư Sư Tôn nói:
”Cô đi ra đi, đi luân hồi đi!”
Ma nữ nói:
”Không đi!”
Lư Sư Tôn nói:
”Cô không đi, Chí Gia làm sao mà làm việc, sẽ bị cô ép chết.”
Ma nữ nói:
”Tôi cảm thấy như thế này rất tốt, tôi rất vui vẻ!”
Tôi nói:
”Tôi sẽ thỉnh Ngũ Lôi đánh cô đó.”
Ma nói:
”Tôi không sợ, Chí Gia bị Ngũ Lôi đánh trên đầu thì cũng tàn phế!”
Tôi hỏi:
”Cô có điều kiện gì thì cô mới chịu đi?”
Ma đáp:
”Trừ phi ông chịu để tôi bám lên người ông thì tôi mới ra!”
Tôi đồng ý.
Con ma nhập vào người tôi thì bổ nhào vào không khí, ngã lăn ra đất “bịch” một tiếng.

Nói ra kể cũng lạ, cư sĩ Chí Gia có được giấc mơ này, sau khi tỉnh lại thì hoàn toàn bình thường, tất cả đã bình phục.
Còn tôi vẫn điềm nhiên như không, bởi vì ma nữ kia đã vào lớp tu hành của âm hồn rồi!


### 28. Muốn gặp người mẹ đã khuất


Cư sĩ Thái Kì là một cô gái vô cùng xinh đẹp, lúc cô còn nhỏ thì bố cô đã qua đời rồi. Mẹ cô nuôi nấng cô trưởng thành, cô rất hiếu thuận với mẹ, mẹ con sống nương tựa lẫn nhau. 

Thái Kì rất nỗ lực học hành, thành tích ưu tú, luôn đứng hạng nhất. Sau khi tốt nghiệp cô ấy đi làm trong xã hội, dốc sức vì công việc, tổng giám đốc rất yêu thích cô.

Thái Kì đã cưới con trai của tổng giám đốc. 
Ở biệt thự.
Đi xe sang.
Cuộc sống rất sung túc.

Thái Kì muốn đón mẹ đến nhà mình ở cùng, nhưng người mẹ nhất quyết không chịu, chỉ còn cách mua một căn biệt thự và thuê một người giúp việc, và bản thân cô hàng ngày đều dành thời gian ở bên mẹ một lúc. Tình cảm mẹ con tăng lên chứ không hề suy giảm.

Người mẹ quy y Chân Phật Tông, cư sĩ Thái Kì cũng theo mẹ quy y Chân Phật Tông, mọi thứ hết sức tốt đẹp. Nhưng ngày vui ngắn chẳng tày gang, người mẹ vì mắc ung thư mà qua đời. 

🌟

10 năm sau, bố chồng của Thái Kì cũng qua đời, chồng cô lên làm tổng giám đốc, việc kinh doanh của công ty vẫn ngày một phát triển, nhưng nỗi nhớ mẹ của Thái Kì càng ngày càng nặng. 

Điều kì lạ là, lúc nhỏ sống nương tựa lẫn nhau, sau khi cô lấy chồng thì cũng ngày ngày kề cận, nhưng suốt mười năm cô không hề mơ thấy mẹ một lần nào, cô thường xuyên nhớ mẹ nhưng chẳng hề mơ thấy mẹ lần nào, đây cũng là điều cô thấy đáng tiếc. 

Cư sĩ Thái Kì đến gặp tôi, hỏi:
”Rốt cục mẹ con đã vãng sinh về đâu?”
Tôi nói:
”Cho cô mộng thị vậy!”
Cư sĩ Thái Kì nói:
”Chắc không được đâu! Hơn 10 năm rồi, ngay cả một giấc mơ về mẹ cũng không có!”
Tôi nói:
”Cô sẽ mơ thấy, tôi nói có là có!”

Đêm ấy, cư sĩ Thái Kì quả nhiên đã nằm mơ, mơ thấy Lư Sư Tôn hóa thành thiên nhân cao lớn, bàn tay vươn dài đến tận 28 cõi trời, khi bàn tay thu về, trên tay có một thiên nữ đang đứng, đẹp lộng lẫy, mặc thiên y, chân dẫm lên hoa sen. Càng thần kì hơn là thiên nữ này lại gọi tên lúc nhỏ của Thái Kì. 

Tên lúc nhỏ của Thái Kì là Xinh Xinh, chỉ có mẹ cô mới gọi cô như vậy, không ai biết tên gọi này. Người mẹ thiên nữ và Thái Kì ôm lấy nhau mà khóc. Mẹ nói với cô:
”Mọi thứ hãy yên tâm, mẹ ở thiên cung tất cả đều tốt, đừng lo.”
Mẹ nói với cô:
”Lư Sư Tôn là vị Phật đương đại, đừng bỏ lỡ pháp của ngài, phải nỗ lực tu hành, chắc chắn sẽ được quả lành.”
Mẹ nói:
”Nếu bỏ mọi tình cảm, ắt rời xa tham sân.
Nếu tuân thủ giới luật, ắt sẽ được trang nghiêm.
Nếu tinh tấn tu trì, ắt quả vị tăng trưởng.
Nếu pháp nhĩ bản nhiên, ắt hiểu được diệu đế.”

Thái Kì rất kinh ngạc:
”Bài kệ này ý nghĩa sâu sắc, không phải người bình thường có thể nói được, làm sao mẹ biết được?”
Mẹ đáp:
”Hoa Quang Phật dạy đó.”

Lúc này, người mẹ tặng cho con gái một chuỗi niệm hạt bằng ngọc thạch màu lam vô cùng quý báu, ngọc thạch là vật phẩm quý giá, hạt nào cũng tròn và sáng lấp lánh, hơn nữa mẹ còn dặn dò nhiều lần là phải ngày ngày niệm Phật.
Mơ đến đây thì tỉnh. 

Ngày hôm đó, chồng cô vừa về nhà thì tặng cho cô một chuỗi niệm hạt bằng ngọc thạch màu lam quý báu, cô vừa nhìn thấy thì sửng sốt, sao lại trùng hợp như vậy! Đêm mơ thấy mẹ tặng chuỗi hạt, đến sáng đã nhận được chuỗi hạt rồi. 
Thật sự quá bất khả tư nghì!

Cư sĩ Thái Kì vô cùng cảm tạ Lư Sư Tôn, bởi vì tất cả đều quá linh cảm. Cô kể với rất nhiều bạn bè, bạn bè lũ lượt tới quy y, Chân Phật Tông đúng là Chân Phật đó!
Tôi nói:
”Sự tích cảm ứng quá nhiều rồi!”


### 29. Ghi chép về trâu điên ám thân


Khi tôi ở Lôi Tạng Tự, có một người là cư sĩ A Văn đến kể:
”Con trai tôi là Ngạn Sinh, đang ở trong nhà bỗng dưng đứng trên ghế nhảy nhót, khoa chân múa tay giống như người lên đồng, toàn thân run rẩy, miệng sùi bọt trắng, tự xưng là Giác Lực Thiên Vương giá đáo, muốn đến nhân gian để trừng trị Lư Thắng Ngạn của Chân Phật Tông. Vì tôi lo sợ quá nên đặc biệt đến thông báo.”

Tôi hỏi:
”Con trai anh sống ở đâu?”
A Văn nói:
”Đại Lí……”
”Sinh vào giờ nào?”
A Văn nói:
”Nó tuổi trâu, âm lịch là ngày 14 tháng 8, … giờ.”

Lúc đó, tôi định thần lại, cong duỗi ngón tay để thần toán, tôi nhìn thấy một bóng đen rất to, trên đầu mọc hai sừng. Tôi cười lớn ha ha:
”Chỉ là một con ma trâu nhỏ bé, đâu có gì đáng sợ.”
Tôi nói với A Văn:
”Tôi vẽ một lá phù Kim Giáp Thần, anh cầm về, dán trên đầu giường của con trai Ngạn Sinh, xem cậu ấy có nói gì không.”

Cư sĩ A Văn cầm phù về nhà, dán lên đầu giường của con trai. Cách hai ngày sau, Ngạn Sinh lại lên cơn, lần này Ngạn Sinh nói:
”Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn rất lợi hại, ông ta phái Kim Giáp Thần đến bắt ta, ta phải tạm thời tránh đi.”
Nói xong thì “đùng” một tiếng, con trai tỉnh lại, tất cả mọi thứ lại bình thường.
Sự việc cứ thế kết thúc.

🌟

Một năm sau, một ngôi chùa ở Đại Lí làm lễ phổ độ, Ngạn Sinh đi qua ngôi chùa đó, đột nhiên nhảy lên bàn, ngồi khoanh chân, miệng nói: “Giác Lực Thiên Vương giá đáo, có thể biết quá khứ tương lai, các người cầu ta, ta giúp các người giải đáp thắc mắc, mau mau tới hỏi!”
Mọi người vây xung quanh. Bắt đầu lần lượt hỏi việc.

Giác Lực Thiên Vương nhập trên người Ngạn Sinh liền nói không ngừng nghỉ những chuyện lành dữ họa phúc… Một đám người gây ồn ào huyên náo. Người người truyền tin là Giác Lực Thiên Vương hạ giáng hiển linh, mọi người mau đi hỏi việc, cầu bình an.

Lần ấy, cả Đại Lí náo động. 
Hội chùa ba ngày, Giác Lực Thiên Vương nhập vào người Ngạn Sinh cũng gây huyên náo ba ngày, chủ chùa cũng mặc kệ, bởi vì người đến rất đông, hương hỏa rất hưng thịnh, chủ chùa cũng kiếm được không ít tiền hương hỏa. 
Hội chùa kết thúc. 

Giác Lực Thiên Vương lại nói:
”Lần này, ta đã tu luyện trở về, muốn thật sự trừng trị Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn!”
Tôi có một giấc mơ, giấc mơ này cũng quá kì lạ:
Mơ thấy mình bay lên thiên giới, bay đến bầu trời của Đông Thắng Thần Châu, nhìn thấy Ngưu Lang Tinh Quân. 
Ngưu Lang Tinh Quân chính là lang quân của Chức Nữ Tinh Quân.
Ngưu Lang Tinh Quân bảo tôi:
”Ma trâu này là của tôi, nó xuống hạ giới làm nhiễu loạn chúng sinh, lại còn phao tin là muốn trừng trị ngài nữa, thật là xin lỗi! Xin lượng thứ! Tên súc sinh  này không biết ngài là Phật!”
Tôi nói:
”Tên ma trâu này năm lần bảy lượt đến, phải làm sao đây?”
Ngưu Lang Tinh Quân nói:
”Tôi sẽ quăng dây thừng buộc trâu, dây thừng này là khắc tinh của ma trâu, nó sẽ ngoan ngoãn trở về, không ở nhân gian làm loạn nữa.”
Tôi nói:
”Ngài hãy mau mau đi quăng dây thừng đi!”
Ngưu Lang Tinh Quân liền quăng dây thừng. Tôi mơ đến đây thì tỉnh dậy!

Nghe nói, kể từ lần làm kê đồng đó, Ngạn Sinh đã lại thành người bình thường rồi. Còn cư sĩ A Văn thì hết sức cảm ơn tôi và đã dẫn rất nhiều người đến quy y tôi.


### 30. Lãng tử quay đầu


Cư sĩ Duy Đông tuổi khoảng 70, một hôm ông ấy nói với tôi:
”Lư Sư Tôn, tôi có một việc khó khăn, ngài có thể giúp tôi không?”
Tôi hỏi:
”Việc gì?”
Cư sĩ Duy Đông nói:
”Nói ra thì rất hối hận, cũng rất hổ thẹn, tôi và đứa con trai duy nhất của tôi cá tính không hợp, từ nhỏ đã không hợp nhau, thường xuyên xung đột cãi vã. Con trai và mẹ nó thì cũng tốt, nhưng với tôi thì như người xa lạ, thậm chí còn không bằng người xa lạ.”
”Sau này, mẹ nó vì bệnh mà qua đời, trong nhà chỉ còn lại tôi và con trai, tôi bắt đầu yêu thương nó, nhưng nó không đón nhận. Sau đó nó cũng bỏ nhà đi, thế rồi cũng đi luôn 20 năm rồi, hoàn toàn không có tin tức gì.”
”Bây giờ tôi đã ngoài 70 tuổi rồi, gần đây không biết thế nào mà càng ngày càng nhớ con trai mình, bởi vì mất tin tức đã 20 năm, cũng không biết dạo này nó thế nào. Nhớ lắm, nhớ lắm, cứ thế chảy nước mắt.”

Tôi hỏi:
”Con trai ông không tốt sao?”
Cư sĩ Duy Đông nói:
”Kì thực cũng không phải, là khoảng cách thế hệ thôi! Nó có hoài bão và lí tưởng của chính nó, tư tưởng của nó rất mới mẻ, tôi thì khá cố thủ, nhưng từ khi nó bỏ đi chưa từng về nhà, tôi rất buồn.”

Tôi hỏi:
”Ông có một chút tin tức nào của cậu ấy không?”
Cư sĩ Duy Đông đáp:
”Có bạn bè từng nhìn thấy nó, chỉ biết nó đã thành gia lập nghiệp, có hai đứa con, tự mở một công ty điện tử, nó là giám đốc, tình hình cũng không tệ. Nó nói với người ngoài là nó không cha không mẹ, việc quá khứ không nhắc đến một tí nào. Bạn bè nói như vậy, cũng không biết là có đúng hay không. Cũng có người bạn nói nó bày sạp bán hàng ở chợ đêm. Hai tin tức này khác nhau rất nhiều.”

Tôi hỏi:
”Sao ông không tự mình đi tìm cậu ấy?”
Cư sĩ Duy Đông đáp:
”Trước sau gì tôi vẫn không dám! Chỉ hi vọng nó trở về.”
Tôi nói:
”Để tôi tu pháp giúp ông vậy.”
Trước tiên tôi vẽ một tấm phù, là phù “tìm người trở về”, vào ngày Thành nhật, sau giờ Ngọ, hóa đốt ở phía đông miếu Thổ Địa Công, tôi còn thỉnh cầu cả thần Hộ Pháp nữa. 

Nghe nói, con trai của cư sĩ Duy Đông đã có một giấc mơ. Anh ấy xuống địa ngục, nhìn thấy Diêm La Vương. Diêm La Vương hét lên:
”Anh không cha không mẹ phải không?”
”Vâng.”
”Anh nói vớ vẩn cái gì đấy? Con người anh không cha không mẹ thì làm sao mà lớn lên thành người, lôi ra đánh!” - Diêm Vương phẫn nộ.
Con trai của cư sĩ Duy Đông hãi hùng:
”Có, có cha có mẹ, cha là Hứa Duy Đông, mẹ là Hoàng Nhất Tư, mẹ đã mất, còn cha thì không biết.”
Diêm Vương nổi giận:
”Bỏ vào chảo dầu! Sao lại có loại con bất hiếu này, lại không biết cha mình ra sao! Bỏ vào chảo dầu!”
”Diêm Vương! Ngài muốn tôi phải làm sao?”
Diêm Vương nói:
”Về nhà hiếu thuận với cha thì ta mới tha cho anh hoàn dương.”
Con trai của cư sĩ Duy Đông liên mồm kêu lên:
”Vâng, vâng, vâng, vâng, nhất định, nhất định.”

Sau đó anh tỉnh dậy. Giấc mơ này khiến anh suy nghĩ, anh đưa vợ con về nhà gặp cư sĩ Duy Đông. Cư sĩ Duy Đông nước mắt đầm đìa, đem tất cả tiền tiết kiệm và châu báu mà ông giấu kĩ tặng hết cho con trai và con dâu. Con trai và con dâu xin lỗi ông. Cư sĩ Duy Đông rất thương hai đứa cháu, cháu cũng yêu ông nội. 

Một gia đình đã đoàn viên rồi!


### 31. Gặp mặt Lư Sư Tôn một lần


Có một người là cư sĩ già Lí Thanh Lam đến Lôi Tạng Tự gặp tôi, vừa gặp mặt đã nói:
”Cảm tạ ơn cứu mạng của Lư Sư Tôn!”
Tôi đáp:
”Vì sao mà cảm ơn?”
Cư sĩ Lí nói:
”Ngài không nhận ra tôi sao?”
Tôi nghĩ một lúc rồi nói:
”Hình như cũng có ấn tượng!”
Cư sĩ Lí nói:
”Khoảng ba năm rồi, có một lần, tôi đi theo một ủy viên hội đồng thành phố đến gặp ngài, tôi đã nghiêm túc hỏi ngài là Lư Sư Tôn ngài sinh hoạt ra sao. Ngài trả lời rất thẳng thắn là: “Sống một ngày tu pháp một ngày; sống một ngày vui vẻ một ngày; sống một ngày cảm ơn một ngày.” Tôi nghe xong đã khắc ghi trong lòng, cảm thấy đó là những lời răn rất đáng quý, vì thế mà tôi ghi nhớ.”

Tôi hỏi:
”Tôi cứu anh như thế nào?”
Cư sĩ Lí nói:
”Có một lần, tôi bị mắc bệnh lạ, toàn thân như bị buộc vào tảng đá, như thể có vật nặng trăm nghìn cân đè lên tôi, tôi nằm trên giường không thể cựa quậy, đại tiểu tiện đều ở trên giường, mông bị loét hết cả, da dẻ thì nổi ban đỏ, bác sĩ cũng bó tay, thần chí của tôi thì cứ hốt hoảng.”
Cư sĩ Lí nói:
”Tôi dường như là đã xuống địa ngục, đã gặp Diêm La Vương, Diêm Vương hết sức tức giận đối với tôi.”
Diêm Vương nói:
”Ông đắc tội với Âm Sơn Vương, đi vào địa ngục đi!”
Tôi cãi:
”Âm Sơn Vương là ai?”
Diêm Vương đáp:
”Chính là Thanh Sơn Công.”
”Đắc tội thế nào?”
Diêm Vương nói:
”Ông đã tè bậy ở phía sau miếu Thanh Sơn Công, đã xung sát với Thanh Sơn Công.”

Cư sĩ Lí nghĩ ngợi một lúc, đúng thật có chuyện này, bởi vì cư sĩ Lí buồn tiểu quá, khi đi qua miếu Thanh Sơn Công, ông đi tìm nhà vệ sinh, kết quả là nhà vệ sinh đang lau dọn, ông ấy nhất thời gấp quá đã đi ra chỗ không có người ở vườn sau tè một bãi ở chỗ bức tường sau, giải quyết cơn nguy cấp nhất thời. Cư sĩ Lí cúi đầu không dám nhiều lời.

Diêm Vương nói:
”Ở nhân gian ông có công đức gì? Nếu không có công đức thì hãy vào địa ngục đi!”
Cư sĩ Lí nói:
”Tôi từng gặp mặt Lư Sư Tôn một lần.”
”Ông là đệ tử à?”
”Không phải.”
”Lư Sư Tôn nói gì với ông?”
Cư sĩ Lí đáp:
”Ông ấy dạy tôi: Sống một ngày tu pháp một ngày; sống một ngày vui vẻ một ngày; sống một ngày cảm ơn một ngày.”
”Rất tốt! Ông đã làm chưa?”
”Chưa làm!”
”Vì sao không làm?”
Cư sĩ Lí đáp:
”Chuẩn bị làm!”
Diêm Vương nói:
”Niệm tình ông đã gặp Phật Đà đương đại một lần, ông hãy trở về dương gian đi! Chăm chỉ quy y học pháp, mỗi ngày một tu, như vậy mới có thể thật sự giải thoát sinh tử, ông đi đi!”

Cư sĩ Lí nói, chính vì có được giấc mơ này mà ông đã sống lại, không ngờ bệnh mỗi ngày một giảm nhẹ, gánh nặng đã được giải trừ, không thuốc mà sống lại, hơn nữa còn hồi phục khỏe mạnh. 

Cư sĩ Lí Thanh Lam nói:
”Tu pháp thế nào?”
Tôi đáp:
”Đầu tiên quy y, tu Tứ gia hành và Thượng sư tương ứng pháp.”
Cư sĩ Lí đã quy y rồi. Bây giờ mỗi ngày đều tu pháp, hết sức nghiêm túc đó!


### 32. Đứa bé bị mù bẩm sinh


Vợ chồng cư sĩ Bồi Thành sinh ra một đứa con trai, toàn thân tứ chi khỏe mạnh đầy đủ, chỉ có con mắt là không mở ra. Cư sĩ Bồi Thành rất nóng vội, dùng tay kéo căng da mắt, không ngờ mí mắt trên dưới của đứa bé dính lại với nhau, không mở là không mở.

Bác sĩ nói:
”Đây là da thịt, không thể dùng tay để kéo cho mở ra được đâu.”
Cư sĩ Bồi Thành hỏi:
”Phải mổ ư?”
”Vẫn đang đợi kiểm tra.”

Đầu tiên bác sĩ cho uống thuốc và bôi thuốc, nhưng không thấy hiệu quả. Sau đó, bác sĩ dùng thủ thuật, phát hiện ra bên dưới da mắt lại có một lớp màng nữa đã che kín nhãn cầu, vẫn không nhìn thấy thế giới bên ngoài. 

Có người bạn tự nói rằng có thể làm cho mắt bé mở ra. Người bạn lấy hai đồng xu 50 đồng đánh vào nhau, đứa bé vẫn không mở mắt. Hỏi là vì sao lại làm như vậy, bạn cười nói:
”Người bình thường nhìn thấy tiền là mắt mở to ra, đứa bé này nhìn thấy tiền mà cũng không mở mắt, là anh hùng đó.”

Cư sĩ Bồi Thành hỏi bác sĩ:
”Cái lớp màng đó che nhãn cầu, chuyện này là thế nào?”
Bác sĩ đáp:
”Chưa từng gặp bệnh nào như vậy!”
Vợ chồng cư sĩ Bồi Thành có một người bạn là đệ tử của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Người này muốn cư sĩ Bồi Thành đi tìm Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, nói không chừng Hoạt Phật có cách. Nhưng cư sĩ Bồi Thành không có đủ lòng tin, vợ chồng anh là người theo tín ngưỡng dân gian, người vợ tin kê đồng. 

Hai người đi hỏi kê đồng, không ngờ kê đồng lại nói:
”Lư Sư Tôn là Chân Phật, mau mau đi tìm Lư Sư Tôn!”
Kê đồng này là kê đồng của Bắc phương Huyền Thiên Thượng Đế Đãng Ma Thiên Tôn. Hai người họ muốn tìm tôi nhưng tôi lại đang ở Seattle Lôi Tạng Tự ở Mĩ.

Vợ chồng Bồi Thành gửi thư cho tôi, thư mới gửi đi thì vợ chồng đã có một giấc mơ. Trong mơ nhìn thấy Lư Sư Tôn bay trong hư không, có tám vị Không Hành Mẫu bay cùng với Lư Sư Tôn:
Cao Lợi Minh Phi ở phương đông, thân màu đen.
Khả Lợi Minh Phi ở phương nam, thân màu đỏ.
Duy Đa Lợi Minh Phi ở phương tây, thân màu vàng.
Cát Tư Mã Lợi Minh Phi ở phương bắc, thân màu lục. 
Bốc Tạp Tây Minh Phi ở phương đông bắc, thân màu xanh. 
Sa Ngõa Lợi Minh Phi ở phương đông nam, thân màu trắng.
Quân Đồ Lợi Minh Phi ở phương tây nam, thân màu xanh.
Đông Tỉ Minh Phi ở phương tây bắc, thân nhiều màu.
Bay lượn đẹp đẽ. 

Tám đại Minh Phi hỏi Lư Sư Tôn:
”Con trai của vợ chồng cư sĩ Bồi Thành mắt có lớp màng dày là nhân quả gì? Rồi làm sao để giải trừ nhân quả này?”
Tôi đáp:
”Con trai của họ có hai sư phụ, đều là các pandita (đại thiện tri thức) thành tựu, đáng tiếc là con trai họ đã rời bỏ sư phụ, mắt không thấy minh sư, vì thế mà chuyển thế xuất sinh, hai mắt có hai lớp màng dày.”

Tám đại Minh Phi hỏi:
”Nhân quả thật là đáng sợ, nhưng làm sao để mở mắt ra đây?”
Tôi đáp:
”Tôi tụng một bài kệ là có thể mở mắt, bài kệ là:
*Ánh sáng thanh tịnh không dơ bẩn
Mặt trời trí huệ phá bóng đêm
Có thể hàng phục họa lửa gió
Ánh sáng rộng khắp chiếu thế gian.
*Đây là một bài kệ trong Phổ Môn Phẩm. Nhớ kĩ, nhớ kĩ.”

Vợ chồng Bồi Thành trong giấc mơ có được bài kệ này thì lễ bái Quan Thế Âm Bồ Tát và Liên Hoa Đồng Tử.

Một lớp màng trên mắt đứa bé dần dần biến mất, họ càng tụng càng thành tâm, quả nhiên đứa bé đã tái hiện ánh sáng rồi. Vợ chồng cư sĩ Bồi Thành quy y Chân Phật Tông. Lại còn đưa nhiều người đến quy y Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.


### 33. Phiền muộn vì ho


Cư sĩ Tấn Bình là một ngôi sao ca nhạc, biểu diễn tại những nhà hàng lớn và trong những buổi dạ hội lớn. Cô ấy hát đã nhiều năm, giọng hát đẹp đẽ giống như âm thanh của tự nhiên, có rất nhiều người nghe, cũng có rất nhiều *fan* hâm mộ. 

Cư sĩ Tấn Bình tình cờ cùng với bạn đến tham gia pháp hội của Lư Sư Tôn, đã nhận quán đảnh quy y và quán đảnh Quan Thế Âm Bồ Tát. 

Về sau, cô ấy có làm một đàn thành cho chính mình ở nhà, thờ phụng Liên Hoa Đồng Tử, Quan Thế Âm Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.

Cô ấy có hứng thú là lược bỏ và thay đổi Xuất Môn Kinh cho hợp với nghề nghiệp của mình. Xuất Môn Kinh của cô ấy như sau:
*Xuất môn xuất môn kinh.
Bước xuống cầu thang là gặp Quan Thế Âm. 
Phía đông cũng có Phật.
Phía tây cũng có Phật.
Phía nam cũng có Phật.
Phía bắc cũng có Phật.
Mọi người đều đến nghe.
Nghe tôi hát những âm thanh đẹp đẽ.*

Cô ấy không biết tu pháp lắm, chỉ biết thắp hương, hướng về Thượng sư, Bổn tôn khấu đầu một cái, niệm một chút thánh hiệu của Quan Thế Âm Bồ Tát. Về sau, bạn cô dạy cô rằng cũng cần niệm một chút Thượng sư tâm chú và Quan Thế Âm Bồ Tát tâm chú, cô ấy niệm thêm:
”Om guru liansheng siddhi hum.”
”Om mani padme hum.”
Khi ra ngoài đi hát thì cô niệm Xuất Môn Kinh của chính mình.

Nói ra thì cũng lạ, kể từ đó, việc làm ăn của cô rất tốt, các nơi mời cô đến hát càng ngày càng nhiều. Cô vừa mới hát xong ở chỗ này thì lại phải vội vàng đến nơi khác để hát, thế nên bận nhưng rất thuận lợi. Những buổi tiệc liên hoan cuối năm cũng liên tiếp mời cô hát. Đó là thu hoạch của cô sau khi quy y nhận quán đảnh. Cô cảm thấy cuộc sống của mình vô cùng đầy đủ. 

Có một năm, dịch cúm lưu hành, cô không cẩn thận một cái là đã bị cúm. Ban đầu cô cũng không chú ý lắm, nhưng rồi sau đó bệnh càng nặng thêm, giọng cô bị khàn, nếu là người khác bị khàn tiếng thì không hề gì, nhưng cô bị khàn tiếng thì cũng chẳng khác gì không thể kiếm tiền. Âm thanh khàn tiếng không hay, lại còn bị ho, ban ngày cũng ho, ban đêm cũng ho dữ dội hơn, khi ngủ cũng không ngừng ho, ho đến mức đỏ mặt tía tai, thậm chí ho đến mức thở hổn hển.
Cô phải xin nghỉ ở những chỗ đến hát.
Cô uống thuốc bắc. Rồi lại uống thuốc tây. Tất cả đều không được!
Cô đến bệnh viện tiêm. Rồi lại tìm đến những bác sĩ chuyên gia điều trị ho. Kết quả là mãi vẫn chưa khỏi. Cô ấy thật sự đã bị cơn ho hành hạ tới mức vô cùng phiền não. 

Một tháng ho không khỏi, đồng nghĩa với việc một tháng không thể đi làm, trong lòng cô sốt ruột, nhưng sốt ruột thì cũng vô ích. Cuối cùng, cô thắp một nén hương trước đàn thành, khấu đầu mấy cái, lặng lẽ rơi nước mắt….

Đêm đó, cô có một giấc mơ. Cô mơ thấy Lư Sư Tôn đến, Lư Sư Tôn đưa cô đi chơi núi ngắm sông. Lúc thì ở trên núi ngắm mặt trời mọc, lúc thì ở trên bãi biển ngắm mặt trời lặn, lúc thì ngắm hàng thông già mọc vòng quanh, lúc thì ngắm mặt hồ như tấm gương. Tiếp đó, Lư Sư Tôn đưa cô đến Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ, Lư Sư Tôn lấy nước ở dòng sông trăng đưa cho cô uống. 
Cô cũng có thể bay rồi! Bay lên bay lên, thế là cô tỉnh dậy!

Lần này tỉnh dậy thì trời ơi, cơn ho của cô không ngờ đã khỏi rồi, một chút cảm giác ho cũng không còn nữa. Dường như căn bản là giống như chưa từng bị ho!

Cô kể lại chuyện này cho những người bạn của mình, bảo các bạn cô mau mau quy y Lư Sư Tôn. Cô nói, Lư Sư Tôn là thật đó!
Cô thật sự vui mừng quá!


### 34. Bị ma đè


Cư sĩ Vĩ Chính từ nhỏ đã dễ giật mình hoảng sợ, cha mẹ thường đưa anh đi “thu kinh” và “thu sát”. 

Cư sĩ Vĩ Chính vóc dáng gầy gò nhỏ bé, sợ nhất là nhìn thấy đám tang, chỉ cần nhìn thấy đám tang là người anh ấy đã lúc nóng lúc lạnh rồi, thậm chí bị ốm liệt giường, rất lâu mới có thể hồi phục.
Đi xem bói, thầy bói nói:
”Bát tự nhẹ!”
”Phải làm sao?”
Thầy bói đáp:
”Đeo bùa hộ thân của Quan Âm.”

Sau khi đeo bùa thì quả nhiên có đỡ một chút. Nhưng có lúc anh thường mơ thấy quỷ thần đuổi theo anh, anh từ trong giấc mơ tỉnh lại, hét lớn:
”Cứu tôi với! Cứu tôi với!”

Có một lần, anh ở trên tầng, bỗng nhiên nghe thấy trên phố có tiếng chiêng trống, “tùng tùng cheng, tùng tùng cheng” từ xa đến gần, hơn nữa còn có âm thanh của kèn souna. Anh rất tò mò nên thò đầu ra nhìn. 
Trời ạ! Là một đội quân đưa tang!
Trời ạ! Chiếc quan tài to tới tám người khiêng!
Trời ạ! Đoàn người xếp hàng rất dài, có tới ba đội nhạc lớn!
Chả trách mà tiếng chiêng trống vang trời.

Cư sĩ Vĩ Chính vừa nhìn thấy thì toàn thân run rẩy, sắc mặt xanh lét, đột ngột cảm thấy một cơn ớn lạnh ập đến. Vĩ Chính lại bị ốm rồi, lần này rất nghiêm trọng. 

Anh mơ thấy một người con trai màu đen, thân thể rất cường tráng, từ xa đến gần, khuôn mặt rất hung dữ, không những hắn đè anh xuống, mà hắn còn cắn anh, cắn từ đầu tới chân, cắn tới mức anh bị thương khắp thân thể.

Tỉnh dậy! Trên người thật sự có những vết xanh vết đỏ, từng đám từng đám. 

Lần này anh bị ốm rất nặng, hắc quỷ đó ngày ngày đến đè anh, anh đau khổ không thể chịu nổi. Mỗi đêm, anh đều ngủ mơ mà giật mình tỉnh dậy, nhìn thấy bên cạnh mình có một người nằm, không ngờ là hắc quỷ kia đang nhe răng cười. 
Hằng đêm, anh nhìn thấy ma bay nhảy trong không khí, ở gần ngay trước mắt.
Hằng đêm, hắc quỷ lại trốn dưới giường, gõ vào giường khiến anh rất khó ngủ.
Hằng đêm, hắc quỷ bay trong không khí, bay khắp nơi trong nhà anh, cứ liên tục như thế!

Bệnh trạng của anh rất nặng rồi! Anh phải vào viện. Những bệnh nhân khác trong bệnh viện bị anh làm ồn mà tỉnh ngủ, họ không chịu được. Anh phải chuyển sang nằm phòng riêng. 

Hắc quỷ dẫn theo những quỷ quái khác đến làm loạn, anh ấy càng không chịu nổi nữa. Trở về nhà, quỷ cũng theo về nhà.
……

Cha mẹ anh lo lắng đến sắp chết, anh ấy đã là sinh viên đại học rồi mà vẫn dễ bị xung sát như vậy. Phải làm sao đây?

Cha mẹ đã thỉnh giáo rất nhiều rất nhiều pháp sư, đều không có biện pháp. Đưa anh đi gặp Hoạt Phật, Lama, Thượng sư, cũng đều nhận gia trì rồi, nhưng vẫn không có hiệu quả, mọi thứ vẫn rối bòng bong như cũ.

Có người dạy cha mẹ anh thờ phụng pháp tướng Liên Hoa Đồng Tử. Anh đã thờ phụng rồi.

Đêm đó… 
Hắc quỷ xuất hiện, Liên Hoa Đồng Tử Lư Sư Tôn cũng xuất hiện. 
Hắc quỷ phóng ra khói độc, bị Liên Hoa Đồng Tử dùng túi trắng thu hết lại.
Hắc quỷ duỗi móng vuốt quỷ, bị khiên kim cang chặn lại.
Hắc quỷ hung hãn bổ nhào tới, bị ánh sáng trắng đẩy lùi.
Hắc quỷ bỏ chạy, Liên Hoa Đồng Tử đuổi theo. 
Liên Hoa Đồng Tử phóng ra thiên la địa võng, hắc quỷ bị chụp ngay tại chỗ. Thu võng về, hắc quỷ lèo nhèo xin tha chết. 
Thế rồi hắc quỷ đã bị thiên la địa võng gửi đến chỗ của Chuyển Luân Thánh Vương, quăng vào lục đạo luân hồi, chuyển thế thành con lợn đen. 

Cư sĩ Vĩ Chính, cha mẹ và bạn bè anh cùng quy y Lư Sư Tôn của Chân Phật Tông. Tôi dạy cư sĩ Vĩ Chính pháp mặc giáp hộ thân, thân thể của Vĩ Chính ngày một cường tráng.


### 35. Cổ tay phải đau nhức


Cư sĩ Hiểu Mai là một nhân viên làm việc với máy vi tính, mỗi ngày đi làm tám đến mười tiếng đồng hồ, đều dùng hai tay để làm việc.

Bởi vì cô ấy làm việc nghiêm túc chăm chỉ nên nhanh chóng được thăng chức làm quản lí nhỏ. Về sau, cô cảm thấy cổ tay phải của mình do làm việc quá lâu, lại giữ nguyên một tư thế, nên cảm thấy đau mỏi và tê tay. 

Cô tìm người xoa bóp và châm cứu. Kết quả là tình hình không tốt lên, ngược lại còn trở nên tồi tệ hơn ban đầu, cổ tay phải không ngờ sưng lên và rất đau. 

Cô ấy uống thuốc giảm đau thì đỡ, nhưng không ngờ dạ dày lại gặp vấn đề, đã vậy còn bị loét dạ dày, cô ấy vội vàng chữa dạ dày, dạ dày đỡ hơn một chút. Nhưng không thể uống thuốc giảm đau nữa!

Cái đau ở cổ tay phải chỉ có tăng không giảm, tìm đến khắp các chuyên gia đông tây y mà từ đầu tới cuối đều vô hiệu. 

Quản lí tổng ở công ty biết bệnh của cô cũng chủ động cho cô nghỉ làm một tháng để tay cô được nghỉ ngơi một thời gian rồi đi làm lại. 

Sau một tháng, vẫn không khỏi.
Sau hai tháng, cũng vẫn không khỏi.
Cư sĩ Hiểu Mai biết rằng nếu cứ tiếp tục như thế này thì công việc của cô cũng chấm dứt, phải dừng công việc làm máy tính này. Không chỉ như vậy, cổ tay phải chỉ cần chuyển động tới một tư thế nào đó là sẽ đau. 
Cầm đồ vật cũng đau.
Mặc quần áo cũng đau.
Nấu cơm cũng đau.
Lái xe cũng đau.
Đi vệ sinh cũng đau.
……

Cô đã dùng mọi phương pháp rồi mà vẫn không khỏi, cô gọi Ông Trời, Ông Trời chẳng đáp.
Bác sĩ nói:
”E rằng sẽ trở thành chứng bệnh co rút.”
Đàn anh của cô đưa đi hỏi kê đồng, là kê đồng của Tế Công Hoạt Phật. Tế Công Hoạt Phật nói:
”Đi tìm Hoạt Phật đi!”
Mọi người nói:
”Thì chính là Tế Công Hoạt Phật đang chữa mà!”
Tế Công Hoạt Phật nói:
”Không phải Tế Công Hoạt Phật tôi, mà là Hoạt Phật khác.”
Mọi người nói:
”Ồ! Dạo gần đây có Kì Thanh Hoạt Phật đến đây hoằng pháp, có phải là thỉnh Kì Thanh Hoạt Phật gia trì không?”
Tế Công Hoạt Phật nói:
”Cũng không phải, là Liên Sinh Hoạt Phật.”
Mọi người nói:
”Chúng tôi đều biết Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, nhưng lời đồn về ông ấy quá nhiều, nên có nghi ngờ.”
Tế Công Hoạt Phật nói:
”Cái thật giả liên miên, cái giả thật liên miên. Đi! Đi! Đi!”

Cư sĩ Hiểu Mai đi tham gia pháp hội của tôi, cũng nhận quán đảnh, đồng thời cũng quy y rồi. Khi tôi sờ đầu, cư sĩ Hiểu Mai đưa cổ tay phải ra cho tôi gia trì một lúc. 

Đêm ấy, cô nằm mơ. Mơ thấy Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đến, cầm tay cô, đưa cô đến một nơi vô cùng đẹp đẽ, cổ tay mà Lư Sư Tôn cầm chính là cổ tay phải. Cô hét lên: “Đau!”
Liên Sinh Hoạt Phật nói:
”Một lúc sẽ không đau nữa!”
Lư Thắng Ngạn đưa cô đi xem một cái hồ. Lư Sư Tôn nói:
”Đây là nước tám loại công đức, tới đây, tôi giúp cô rửa cổ tay phải.”

Khi rửa tay, cô ấy nhìn thấy cổ tay phải chảy ra rất nhiều rất nhiều nước đen. Lư Sư Tôn cười:
”Tốt rồi! Tốt rồi!”
Mơ đến đây thì cô tỉnh lại. 

Kết quả là: tỉnh dậy thấy đau cổ tay đã giảm bớt hơn một nửa, dần dần không còn đau nữa, khoảng hai tuần thì đã hoàn toàn hồi phục, cũng không còn sưng nữa. 
Giờ đây, cư sĩ Hiểu Mai là một đệ tử cung kính nhất.


### 36. Cứu thai chết lưu


Cư sĩ Duy Trinh là một tín đồ Phật giáo kiền thành cung kính, từ nhỏ bố mẹ đã dạy cô ấy pháp môn niệm Phật của Tịnh độ tông. Vì thế, cô ấy thường xuyên niệm A Di Đà Phật một trăm lần, rồi niệm Quan Thế Âm Bồ Tát ba lần, rồi niệm Đại Thế Chí Bồ Tát ba lần, từ nhỏ đã rèn thành thói quen, ngày ngày đều như vậy.

Cư sĩ Duy Trinh lấy chồng, chồng cô là đệ tử Chân Phật Tông Quế Đạt, chồng cô tu Mật pháp. Bởi vì pháp môn khác nhau, hai người cũng có tranh cãi:
”Tịnh độ tông là pháp nhanh nhất, lại vừa tiện lợi, dễ dàng nhất.”
”Mật tông mặc dù khó tu, nhưng từ thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh, tam nghiệp chuyển thành tam mật, pháp môn này mới là chính đạo.”
”Tịnh độ là Phật Đà chính miệng tuyên thuyết đó.”
”Mật tông là Đại Nhật Như Lai tuyên thuyết đó.”
”Tịnh độ tông có thể mang nghiệp vãng sinh.”
”Mật tông là tiêu nghiệp vãng sinh.”

Cư sĩ Quế Đạt đến hỏi tôi hai tông phái này, cái nào thù thắng nhất? Tôi đáp:
”Cả hai đều thù thắng!”
Cư sĩ Quế Đạt hỏi:
”Vợ tu Tịnh độ có được không?”
Tôi nói:
”Được. Mật giáo cũng có Di Đà Đại Pháp, tu pháp mặc dù khác nhau, nhưng khác con đường mà cùng đích đến đó!”

Cư sĩ Duy Trinh và cư sĩ Quế Đạt kể từ đó không cãi nhau nữa. Bởi vì trong số tám đại Bổn tôn cũng có A Di Đà Phật. Chân Phật Tông chúng ta cũng có niệm Phật: ”Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật.”
Thế là, trong nhà họ cũng có thờ phụng Tịnh thổ Tam Tôn và các Bổn tôn của Mật tông, mọi người sống hòa thuận với nhau. 

Cư sĩ Duy Trinh có thai, khi cái thai được bốn tháng, cô ấy dọn dẹp nhà cửa đã bị động tới thai nhi. Khi kiểm tra sản phụ thì không ngờ thai nhi đã không còn nhịp tim nữa, thai nhi đã chết trong bào thai rồi. 

Thai nhi không có nhịp tim. Bác sĩ nói:
”Thai nhi chết trong bụng đã bảy ngày rồi, phải lấy ra, không có cách nào khác!”
Cư sĩ Quế Đạt, cư sĩ Duy Trinh, hai người lên núi tìm tôi, tôi nói:
”Tôi vẽ một lá phù, uống vào.”
Tôi nói:
”Nếu ba ngày không có hiệu quả thì hãy nghe lời bác sĩ để lấy thai nhi ra nhé!”
Quế Đạt hỏi:
”Lư Sư Tôn, thật sự là không có cách nào sao?”
Tôi nói:
”Để xem xem có kì tích không!”

Đêm ấy, cư sĩ Duy Trinh nằm mơ. Cô ấy mơ thấy Quan Thế Âm Bồ Tát nhẹ nhàng từ trong hư không giáng xuống, rồi đứng ở bên giường. Cô định mở miệng ra nói, Bồ Tát ra hiệu cô không cần nói, lập tức Bồ Tát từ trong tịnh bình đổ ra một ít nước, dùng cành dương liễu thanh tịnh vẩy nước lên cái bụng của Duy Trinh. Bồ Tát mỉm cười, gật gật đầu, rồi lại nhẹ nhàng bay lên trời. 

Duy Trinh nhìn thấy mặt của Bồ Tát, kì lạ là, mặt Bồ Tát không ngờ lại biến thành mặt của Lư Sư Tôn. Lư Sư Tôn nói:
”Không sao rồi! Không sao rồi! Đi kiểm tra lại đi!”
Mộng cảnh đến đây thì dừng.

Cư sĩ Duy Trinh đến bệnh viện để kiểm tra, kì tích quả nhiên đã xuất hiện rồi, thai nhi lại có tim thai rồi!
Bác sĩ nói:
”Đây là lần đầu tiên thấy chuyện này, thai nhi sau bảy ngày tim ngừng đập mà không ngờ lại đập trở lại, kì quái thật!”
Quế Đạt, Duy Trinh hết sức vui mừng.
Mười tháng mang thai, họ sinh ra một đứa bé trai, tôi đặt tên là: “Lí Ân.”


### 37. Phát nguyện in sách thiện


Con trai của cư sĩ Tấn Trang tên là Tấn Xương, sinh ra lúc mới được 6 tháng 26 ngày tuổi, ngay khi sinh ra đã bị thiểu năng bẩm sinh, não của cháu bé có hiện tượng lõm xuống, tay chân tứ chi cong vẹo. 
Không chỉ như vậy, còn có:
Bệnh động kinh.
Bệnh suyễn.
Bệnh nổi mụn.
Bệnh vảy nến vùng mắt.
Bệnh bìu dái.
Bác sĩ nói:
”Đứa bé này không có sinh lí đâu!”

Cư sĩ Tấn Trang vì vợ đã lâu chưa có thai, lần đầu tiên có con nên đành phải mời danh y điều trị cẩn thận. Vợ chồng đi khắp nơi cầu thần bái Phật, hi vọng con trai có thể sống được. Khi bác sĩ dùng thuốc thì con trai Tấn Xương sẽ bị đầu rung bụng trướng, ngủ mê man cả ngày, hai con ngươi lồi mạnh ra, cổ họng gầm ghè, bụng thì căng ra và kêu òng ọc, bác sĩ cũng lắc đầu, tỏ vẻ có cứu cũng vô ích. 

Tấn Xương vốn không thể ăn. Bác sĩ đông y dùng một cách:
Nhục quế, hồ tiêu mỗi thứ một phần.
Bốn miếng gừng sấy.
Nấu lên rồi uống. 
Trong miệng vốn có nhiều đờm, đờm đi ra là có thể uống được sữa, tạm thời có thể kéo dài mạng sống. Ngoài cách này ra, những bệnh trạng khác đều không có cách nào chữa được. 

Có một bác sĩ nổi tiếng nói với cư sĩ Tấn Trang:
”Anh có thể đi tìm Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, đi xem bói thử, xem xem có thể sống hay không, nếu có thể sống thì chữa tiếp, nếu không thể sống thì không cần chữa nữa. Để cho đứa bé tự nhiên ra đi, anh xem, cho dù có sống tiếp thì nó cũng tàn phế cả một đời, đó cũng là đau khổ. Bản thân đau khổ, người nhà cũng đau khổ.”

Vợ chồng cư sĩ Tấn Trang cuối cùng đã tìm đến tôi. Tôi bốc quẻ, đáp án là: “Có thể chữa.”
Cư sĩ Tấn Trang hỏi:
”Chữa thế nào?”
Tôi bốc quẻ:
”Thánh nhân sẽ chữa.”
Cư sĩ Tấn Trang hỏi:
”Ở đâu có Thánh nhân chứ?”
Tôi bốc quẻ:
”Trên trời.”
Cư sĩ Tấn Trang ngây người ra, lên trời dể tìm Thánh nhân đến chữa, thế này thì hỏi cũng như không. 
Hai người họ xuống núi với tâm trạng đầy u ám.

Kết quả, Tấn Trang có một giấc mơ. Anh ấy mơ thấy Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đã đến, nói với Tấn Trang rằng, đứa bé này có thể chữa được, phải in sách thiện.
”In sách thiện ư?” - Tấn Trang hỏi.
Trong mơ, tôi trả lời hết sức mơ hồ, cư sĩ Tấn Trang không sao biết được tên sách. Sau khi tỉnh dậy, anh ấy đến hỏi tôi, tôi nói:
”Ngọc Lịch Bảo Sao.”
”Thái Thượng Cảm Ứng Thiên.”
”Văn Xương Đế Quân Âm Trắc Văn.”
”Liễu Phàm Tứ Huấn.”
”Kim Cang Tâm Tổng Trì Luận.”

Cư sĩ Tấn Trang nghe lời tôi, nhanh chóng in sách thiện hồi hướng, anh ấy nỗ lực hết sức để làm.

Có một hôm, Tấn Xương đang ngủ, anh ấy chỉnh lại người đứa bé cho ngay ngắn, không ngờ thấy tứ chi đã thẳng ra. 
Rất kì lạ!
Anh lại phát hiện ra não bộ bị lõm có hồi phục.
Lại thấy bìu dái đã hồi phục như người bình thường. 
Còn những bệnh trạng khác mỗi ngày qua lại trở nên bình thường hơn, Tấn Xương đã giống như một người bình thường rồi.

Sự việc này được lan truyền rộng rãi, thì ra in sách thiện có lợi ích lớn đối với tiêu trừ túc nghiệp, tăng phúc huệ, thân thể trở nên khỏe mạnh.


### 38. Gặp gỡ tình cờ ở chợ đêm


Tôi đang đi bộ trong một khu chợ đêm nổi tiếng, đúng lúc ấy bỗng dưng có một cô gái từ phía sau gọi tôi:
”Ân nhân, xin dừng bước! Ân nhân, xin dừng bước!”
Tôi ngoảnh đầu lại. 
”Phộp” một tiếng, cô ấy quỳ xuống. Cô ấy ra sức rập đầu xuống đất phát ra tiếng “cộp cộp cộp”. 

Tôi cuống quýt. Dòng người trên cả con phố đều quay ra nhìn chúng tôi, không biết đang xảy ra chuyện gì. Cô ấy cứ bán mạng rập đầu, tôi bảo cô ấy dừng lại, đưa cô ấy đến một nơi yên tĩnh. Tôi hỏi:
”Cô là ai?”
Cô ấy hỏi một đằng trả lời một nẻo:
”Ngài là ân nhân cứu mạng của tôi, ngài là ân nhân cứu mạng của tôi, ngài là ân nhân cứu mạng của tôi.”
Tôi hỏi lại:
”Cô là ai?”
Cô ấy mới trả lời:
”Tôi là A Lan.”

Tôi hỏi:
”Có chuyện gì vậy? Tôi từng cứu cô khi nào?”
Cô ấy đáp:
”Rõ ràng là ngài, ngài là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, tôi từng nhìn thấy ngài trên ti vi, ngài đã cứu mạng tôi!”
Tôi nói:
”Cô từ từ nói, nói rõ một chút xem.”
A Lan kể:
Cô ấy chạy xe máy vội vàng đi làm, chạy tới đầu một con phố thì đột nhiên có một chiếc xe từ trong phố lao ra, cô ấy không kịp phanh xe lại nên đã bị đâm bay ra khỏi xe, nằm trên đường hôn mê bất tỉnh.

Trong lúc thần trí không rõ ràng vào lúc hôn mê bất tỉnh, cô ấy dường như đến một nơi rừng sâu u ám, cô ấy cứ đi thẳng về phía trước, dường như muốn đi đến một thành phố lớn ở âm gian.

Cô nhìn thấy con người ở đây đều là người đã bị cụt đầu, cụt chân, cụt tay, tứ chi không đầy đủ. Cô hỏi:
”Đây là đâu?”
Người đáp:
”Thành phố người chết vì tai nạn xe cộ.”
Lúc này cô mới biết mình đã chết rồi, đi vào trong thành phố chết oan này, cô ấy cảm thấy vô cùng đau khổ. 

Lúc này đột nhiên có một vị hòa thượng mặc trang phục Lama chặn đường cô và bảo cô:
”Đây không phải là chỗ cô đến đâu, mau quay về đi!”
”Ông là ai? Làm sao để quay về?”
Hòa thượng này nói:
”Tôi là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, mạng cô chưa hết, thân hãy còn ánh sáng, tôi đưa cô trở về!”

Vị Hoạt Phật này dẫn tôi đến một cái hồ, đẩy tôi xuống hồ. Tôi hét lên một tiếng, thế là tỉnh lại. Thấy mình đang ở trong bệnh viện, bố mẹ và chồng con đều đang ở bên cạnh. Thì ra tôi đã hôn mê ba ngày rồi, chỉ số rất thấp, đến giờ mới tỉnh lại.
Bác sĩ nói:
”Đây là kì tích. Vốn dĩ đã cho rằng cô sẽ chết, thế mà đột nhiên lại sống lại.”

Cô kể với mọi người điều cô đã nhìn thấy trong lúc hôn mê, ai ai cũng bảo là kì tích. Nhưng người nhà không biết Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn bởi vì họ không phải là tín đồ Phật giáo. Sau đó có người nói với cô, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn có xuất hiện trên ti vi. Cô cũng không biết đi đâu để tìm tôi, không ngờ hôm nay lại tình cờ gặp tôi ở chợ đêm, vì thế mới hướng về tôi liên tục lễ bái, cảm tạ ơn cứu mạng.

Tôi nghe xong thì mới biết nguyên do. Tôi đã đến thành phố của những người chết oan ở âm giới để cứu A Lan, thật ra ngay chính tôi cũng đã quên rồi. Đây là hóa thân bên ngoài thân rồi!


### 39. Phật pháp Đại viên mãn


Cư sĩ Huệ Thông từ nhỏ đã rất thông minh, từ tiểu học đến đại học thành tích luôn đứng số một, khi tốt nghiệp thì đứng thứ nhất toàn trường. 

Có một lần, anh ấy đi qua một nhà sách, nhà sách này chuyên môn bán sách Phật giáo, anh ấy đọc sách Phật xong thì bị cuốn hút rất sâu. Anh ấy đọc sách Phật, hiểu sinh tử là chuyện lớn, từ đó anh không đọc những sách khác nữa. Không chỉ như vậy, anh còn ra ngoài tìm kiếm sư phụ để học tập Phật pháp.

Anh đến Ấn Độ tìm Dalai Lama.
Anh đến Washington DC tìm Đôn Châu Hoạt Phật. [Kyabje Dudjom Jigdral Yeshe Dorje.]
Anh đến Ấn Độ tìm Trì Tân Hoạt Phật.
Anh đến Tây Tạng tìm Panchen Rinpoche.
Anh đến Upper State New York tìm Karmapa. [Đại Bảo Pháp Vương thứ 16.]
Anh đến Nepal tìm Urgyen Tulku Rinpoche. 
v.v..….

Bố mẹ can ngăn, bạn bè can ngăn, cư sĩ Huệ Thông không nghe. Bản thân anh cho rằng tất cả mọi việc của thế gian đều không quan trọng, anh ấy bỏ lại phía sau việc kiếm tiền, lấy vợ, sinh con, địa vị. 
Anh bế quan đọc kinh tục.
Đắc pháp bế quan.
Quy y rất nhiều vị thầy không thể đếm hết, dùng những truyền miệng và pháp bản của các vị thầy để nỗ lực tu hành.
Anh không chỉ học Mật giáo, anh cũng học Hiển giáo.
Không chỉ học Tạng mật, Đài mật, Đông mật, Trung mật, anh còn đi Sri Lanka học Tiểu thừa. 
Anh đã đi Cao Dã Sơn học Đông mật. 
Anh đã đi Bhutan học pháp Đại viên mãn của Giáp Trát Rinpoche, cũng học Mật pháp của Tưởng Dương Khâm Triết. 
Anh học ngoại tam thừa.
Anh học nội tam thừa.
Anh học tâm tam thừa.

Bởi vì cảnh giới của anh rất ưu việt khiến anh không còn nỗi lo về sau. Trình độ Phật pháp của anh đã trở thành một đại thiện tri thức. Cư sĩ Huệ Thông không muốn nổi danh, chỉ âm thầm khổ tu, mỗi khi gặp “nút thắt cổ chai” thì lại tìm sư phụ thỉnh giáo.

Thiền định của cư sĩ Huệ Thông đã có thành tựu. Có một hôm, Quan Thế Âm Bồ Tát nói với anh:
”Con đã thông tám thừa, nhưng có một thừa vẫn chưa thông!”
”Thừa nào?”
Bồ Tát nói:
”Tâm trong tâm.”
Cư sĩ Huệ Thông nói:
”Là nyingtig ư? Con đã từng học Longchen Nyingtig và terma nyingtig của Jigme Lingpa, đó không phải sao?”
Bồ Tát nói:
”Đó là truyền thừa tâm pháp vô thượng thậm thâm tịch tĩnh, con vẫn chưa đắc!”
Cư sĩ Huệ Thông hỏi:
”Vậy ai có truyền thừa này?”
Quan Âm Bồ Tát nói:
”Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.”

Sau khi cư sĩ Huệ Thông xuất định, anh vẫn còn nghi hoặc, anh biết Lư Thắng Ngạn này, cũng có nghe nói đến, chỉ là những thông tin tiêu cực nhiều hơn tích cực. Kẻ phụ Phật ngoại đạo này có được truyền thừa thậm thâm tịch tĩnh, cao hơn cả tâm bộ, giới bộ, khẩu quyết bộ, sao có thể như vậy chứ?

Anh không tin. Anh thu thập tư liệu về Lư Thắng Ngạn, thì ra đều là những lời sỉ nhục, phỉ báng, chỉ trích ông ấy. Lư Thắng Ngạn này là người xấu, sao lại có thể như vậy?

Sau đó, Quan Thế Âm Bồ Tát lại hạ giáng, nói với anh:
”Hãy lên núi Hổ đi!”
Cư sĩ Huệ Thông bí mật lên núi Hổ, bí mật ẩn trong tín chúng ở Lôi Tạng Tự để nghe Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn thuyết pháp.
Lư Sư Tôn nói:
”Trong bánh mặt trời không có mặt trời, trong bánh mặt trăng không có mặt trăng.” [Bánh mặt trời là một loại bánh nổi tiếng của Đài Loan, tiếng anh gọi là Suncake. Bánh mặt trăng tức là bánh trung thu, tiếng Anh gọi là Mooncake.]
Cư sĩ Huệ Thông nghe xong câu này thì lập tức khai ngộ. Anh đến quy y tôi. Cầu truyền thừa vô thượng thậm thâm tịch tĩnh. 


### 40. Rút đinh ở chân


Có một người là anh Chung Khải, nhà giàu có, tính thích vợt bắt gái đẹp, đêm nào anh cũng phải đến quán rượu để tìm hoa thơm mua vui. Anh Chung Khải thường nói với người ta thế này:
Đêm nào cũng vậy, cứ từ 10 giờ trở đi là trong lòng cảm thấy ngứa ngáy khó chịu, phải vội vội vàng vàng hẹn bạn nhậu cùng ra quán rượu. 

Gái ở quán rượu vừa ngồi xuống ghế là anh kêu họ ngồi lên đùi mình, gọi là ngồi trên “sofa thịt”. Gái quán rượu mời anh uống rượu thì họ phải uống một ngụm rượu vào trong miệng mình trước, sau đó mới dùng cách thức hôn môi để chuyển rượu ở trong miệng gái sang miệng của anh Chung Khải. 
Gái quán rượu ngồi trên ghế thì chắc chắn anh ta sẽ giở trò sàm sỡ. 
Hôn vào môi và cổ.
Sờ ngực.
Ôm eo.
Sau đó chọn lấy một em gái xinh đẹp đưa đến Motel [nhà nghỉ] để tiếp tục tìm hoa thơm hưởng lạc. Cho đến tận khuya mới trở về nhà mình. 

Anh ta để đầy tiền giấy loại mệnh giá một nghìn tệ ở trong cốp sau chiếc xe ô tô cao cấp của mình. Tác phong của anh ta là, một xấp tiền khoảng 100.000 tệ, lấy ra ba xấp, hễ ai ngồi trên “sofa thịt”, uống rượu bằng hôn môi, để cho anh sờ soạng, thì mỗi một lần anh sẽ cho một tờ một nghìn tệ, hát một bài hát cũng cho một nghìn tệ. Còn những khoản tiền boa nhỏ khác anh ta cũng vung tay nghìn tệ. Ai đi nhà nghỉ cùng anh thì cho 100.000 tệ. 

Mỗi lần anh ta mở thùng xe ô tô ra thì đều nói với hàng xấp tờ tiền giá trị lớn nghìn tệ đầy ắp thùng xe sau rằng: “Sao mà tiêu ít thế này, tiêu mãi chưa hết!”

Anh Chung Khải uống rượu có gái hầu hạ đã nổi danh, gái quán rượu biết anh ta đều gọi anh ta là anh Trư! Anh ta sống cuộc đời như vậy đã hơn mười năm, tự xưng là: “Người ta là gái quán rượu, ta là trai quán rượu.”

Có một hôm. 
Bỗng dưng bàn chân của anh Chung Khải không thể cử động, có nghĩa là bàn chân không có lực, không có cách nào chống đỡ được thân người. Đông tây y đều đã khám cả, vô hiệu!

Bàn chân không chỉ không có lực mà còn đau nhức, đau tới mức anh ta kêu la oai oái, anh ta không thể nào đi đến quán rượu vui chơi được nữa. 
Đau đớn dị thường. Anh nói: “Sống không bằng chết!”

Bố mẹ anh tin Phật, đi thỉnh giáo kê đồng của Đại Đạo Công, kê đồng của Đại Đạo Công nói:
”Đi tìm Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn!”
Bố mẹ anh ta đến tìm tôi. Tôi nói:
”Tôi có thể giúp anh ta, nhưng anh ta phải dừng ngay việc đi đến quán rượu, dừng ngay việc uống rượu, 10 giờ tối hàng ngày phải tu một đàn Chân Phật Mật Pháp.”
Anh ta không chịu. Anh nói:
”Cả đời này việc sung sướng nhất của tôi là uống rượu và chơi gái. Ngoài uống rượu và chơi gái ra thì tôi chẳng khác gì chết, sống cũng vô ích.”

Cứ như vậy trải qua nửa năm. Anh Chung Khải không chịu nổi nữa, tha thiết khẩn cầu, sẵn sàng tuân theo lời của tôi. 

Anh ta có một giấc mơ:
Mơ thấy Lư Sư Tôn đưa anh đến địa ngục, đến một nơi, anh nhìn thấy chính mình đang nằm trong địa ngục, hai bàn chân bị đóng đinh, thì ra là vì tội háo dâm.
Tôi ra lệnh cho quan coi ngục rút đinh ra. Quan coi ngục đi rút đinh ra. Nói ra thì cũng kì lạ, kể từ khi rút cái đinh ở chân ra, bàn chân của anh ta mỗi ngày một hồi phục khí lực, cũng không còn đau nhức nữa, tất cả đã khỏi rồi. 

Quả nhiên anh quy y tôi. Mỗi ngày tu một lần Chân Phật Mật Pháp. Nghe nói, thỉnh thoảng anh ta vẫn đi đến quán rượu, nhưng số lần đã ít đi rất nhiều rồi. 


### 41. Câu chuyện của tên trộm


Cư sĩ Thiếu Hoa đi đến pháp hội Hộ Ma ở Lôi Tạng Tự. Anh vừa đến nơi thì trời ơi, con đường trên núi hai bên là hai hàng xe đã chật kín biết bao nhiêu là xe. Cư sĩ Thiếu Hoa phải đậu xe ở dưới núi. 

Anh xách túi xách tay của mình đi bộ lên núi. Dòng người đi bộ lên núi thật sự quá đông, bên này cũng có một đám người, bên kia cũng có một đám người, đằng sau cũng có một đám người, đằng trước cũng có một đám người. 

Anh đi đến Lôi Tạng Tự, điện Mật pháp đã đông nghịt, quảng trường bên ngoài điện cũng đầy ắp người, điện Tam Bảo lại càng chật ních tín chúng, anh chỉ còn cách đi vào nhà ăn (Hương Tích Đường), bên trong đó tìm được một chỗ ngồi cũng khó. (Ước tính có khoảng hai mươi nghìn người.)

Cư sĩ Thiếu Hoa chỉ còn cách tìm một chiếc ghế, chen vào trong Hương Tích Đường và choán lấy một chỗ ngồi tạm thời. 
Quảng trường bên ngoài điện thì nhìn ti vi lớn.
Đại Hùng Bảo Điện thì nhìn ti vi lớn.
Hương Tích Đường cũng nhìn ti vi lớn. 

Cư sĩ Thiếu Hoa đặt túi xách tay của mình lên ghế rồi đi vào nhà vệ sinh. Đến khi quay lại Hương Tích Đường thì thấy cái túi xách tay mà mình để trên ghế đã biến mất rồi. Anh ấy tìm một lúc, tìm dưới ghế, xung quanh, hỏi những người xung quanh một lúc, ai cũng bảo không nhìn thấy. 

Trong lòng anh hoảng hốt, túi xách tay biến mất rồi, phải làm sao đây? Trong túi xách tay có:
Hộ chiếu.
Tiền.
Thẻ tín dụng.
Một chiếc đồng hồ có giá trị.
Tài liệu quan trọng.
Chi phiếu.
……

Cư sĩ Thiếu Hoa đổ mồ hôi ròng ròng, đầu tiên anh ấy chạy đi tìm nhân viên phát thanh để báo cáo, sau đó lại tìm Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, Lư Sư Tôn đang bận kí sách. Anh ấy không chờ được đám đông người, chen lên phía trước nói với Lư Sư Tôn:
”Sư Tôn! Sư Tôn! Xin cứu mạng! Xin cứu  mạng!”
”Có chuyện gì?”
Anh ấy kêu lên:
”Túi xách tay của tôi bị kẻ trộm lấy mất rồi, xin Sư Tôn giúp cho, xin Sư Tôn giúp cho!”
Tôi nói:
”Tôi biết rồi!”
Tôi búng ngón tay một cái để thỉnh Diêu Trì Kim Mẫu giúp đỡ tìm kiếm, thỉnh Diêu Trì Kim Mẫu bắt kẻ trộm. 
Rồi tôi tiếp tục bận việc của mình. 

Nghe nói, tên trộm lấy túi xách tay của cư sĩ Thiếu Hoa đã xuống núi trở về nhà từ lâu, nhìn cái túi xách, hắn rất vui sướng. Tên trộm bỗng dưng buồn ngủ, thế là ngủ nửa tiếng. Tên trộm mơ thấy chính mình xách một chiếc vali to, lại leo lên núi đến Lôi Tạng Tự, trộm được nhiều túi ví của người ta hơn nữa.

Sau khi tỉnh dậy, hắn liền lấy vali to, thế rồi cũng mơ mơ hồ hồ bỏ chiếc túi xách tay của cư sĩ Thiếu Hoa vào trong cái vali to đó. Đến Lôi Tạng Tự, hắn đi đến chỗ gửi đồ để trộm đồ. Hắn lấy trộm những chiếc túi đặt trên ghế mà không có ai chú ý. Hắn đã trộm được không ít, đã nhét đầy cả cái vali to rồi. Cuối cùng, hắn bị nhân viên của chùa nhìn thấy và bắt giữ, đưa đến đồn công an Thảo Đồn. Nhân viên ở đồn công an đã mời những người bị mất đồ đến nhận. 

Cư sĩ Thiếu Hoa cuối cùng đã lấy lại được túi xách tay của mình rồi. Anh cho rằng đây là do Diêu Trì Kim Mẫu đã giúp anh rất nhiều, những thứ ở trong túi xách tay không thiếu một món nào.

Tôi đặc biệt tại đây kêu gọi:

Buổi Hộ Ma (hỏa cúng) vào lúc 3 giờ chiều thứ bảy hàng tuần tại Thảo Đồn Lôi Tạng Tự, bởi vì số người rất đông nên đã thu hút nhiều tên trộm tới, nhân lúc người đông mà xuống tay ăn trộm đồ. 
Xin mọi người đặc biệt chú ý những đồ mang theo người. 
Xin mọi người chú ý những nhân vật khả nghi.


### 42. Nhà bị kẻ trộm ăn trộm


Cư sĩ Lạc Minh vốn tu Tịnh độ tông, sau này quy y Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Tôi bảo anh ấy, Mật giáo vốn có Di Đà đại pháp, cũng vãng sinh Tây phương tịnh thổ Phật quốc, có thể vừa tu Tịnh độ vừa tu Mật, một đằng là niệm Phật, một đằng là trì chú, cộng thêm quán tưởng, thủ ấn, nhập tam ma địa. Cư sĩ Lạc Minh đã tu Di Đà đại pháp, cảm thấy càng thù thắng hơn, trải nghiệm được đại lạc của nhập ngã ngã nhập. Khi anh ấy tu nhập ngã ngã nhập, không ngờ đã cảm nhận được dòng chảy pháp trút xuống và đi vào trong người, thân tâm đều thoải mái.

Anh ấy kể với rất nhiều người:
”Chân Phật Tông rất chân thực, người thực tu sẽ thấy.”
Cư sĩ Lạc Minh từng nhìn thấy:
A Di Đà Phật hiển hiện.
Liên Hoa Đồng Tử hiển hiện.
Quan Thế Âm Bồ Tát hiển hiện.
Tín tâm của anh tăng cao.

Có một lần, cả nhà cư sĩ Lạc Minh đi du lịch ba ngày, sau khi trở về nhà thì phát hiện ra cửa sổ nhà bị đập vỡ, kẻ trộm vào trong nhà khoắng sạch châu báu quý giá, đồ trang sức, tiền mặt. Lại còn cho rằng chày kim cang, chuông kim cang ở trên đàn thành làm bằng vàng nguyên chất nên cũng lấy đi luôn. Kì thực chuông chày đó là mạ vàng, rất nặng, nhưng mạ vàng rất tinh xảo nên cũng bị lấy trộm.
Anh ấy hốt hoảng, đi báo cảnh sát. 
Anh thắp hương bẩm báo với Tây phương Tam Thánh và Liên Hoa Đồng Tử.

Cư sĩ Lạc Minh có một giấc mơ. Anh mơ thấy mình đi đến Lôi Tạng Tự, nhìn thấy Lư Sư Tôn. Lư Sư Tôn đang thuyết pháp, khi nhìn thấy cư sĩ Lạc Minh, Lư Sư Tôn từ pháp tọa đi xuống. 

Lư Sư Tôn vỗ vỗ lên vai cư sĩ Lạc Minh, bảo với anh:
”Đừng căng thẳng, những thứ anh bị mất đều ở chỗ tôi đây.”
Lư Sư Tôn lấy ra một gói đồ, cư sĩ Lạc Minh nhận lấy gói đồ, nhìn một cái, quả nhiên mọi thứ đều ở trong đó. Mơ đến đây thì tỉnh dậy.
Anh ấy kể với vợ, vợ cười anh:
”Ban ngày nghĩ gì, ban đêm mơ vậy.”

Không lâu sau, anh lại có một giấc mơ. Mơ thấy mình đi ra vườn sau, lại nhìn thấy Lư Sư Tôn, Lư Sư Tôn giao gói đồ cho anh, sau khi giao cho anh thì biến mất. 
Lại là giấc mơ kì lạ!
Vợ nói:
”Đúng là đồ ngốc nói mê!”

Sau đó, thật sự là cư sĩ Lạc Minh nhặt được một gói đồ ở sau vườn nhà mình. Mở ra xem, trời ơi! Đúng là tất cả châu báu, trang sức và tiền mặt, cả chuông chày kim cang mà nhà anh đã bị mất trộm, toàn bộ đã trở về rồi.
Căn bản là không thể nào!
Căn bản là không thể nào!
Căn bản là không thể nào!
Vợ anh cũng nói như vậy. 

Kẻ trộm viết một mảnh giấy để ở trong gói đồ. Kẻ trộm nằm mơ thấy có một người xuất gia dắt theo hai tiểu quỷ, hai tiểu quỷ này ngày nào cũng đánh roi anh ta. Yêu cầu anh ta trả lại châu báu, trang sức, chuông chày và tiền mặt. Ngày nào cũng mơ thấy hai tiểu quỷ đánh anh ta. Anh ta không chịu nổi nữa, chỉ còn cách dùng một tấm vải gói những châu báu, trang sức, tiền mặt và chuông chày đã lấy trộm hoàn trả lại nguyên si. Cầu xin người xuất gia bảo hai tiểu quỷ đừng đánh anh ta nữa. 

Cư sĩ Lạc Minh lấy lại được đồ bị mất thì vui mừng khôn xiết! Anh ấy đem chuyện này kể cho rất nhiều rất nhiều người, rất nhiều rất nhiều người đều xuýt xoa khen là kì lạ. 

Nói thẳng ra là có thể xảy ra chuyện như vậy cũng thật không thể tưởng tượng được!


### 43. Trong nháy mắt


Mẹ của cư sĩ Mặc Hương tuổi cao sức yếu, cũng mắc bệnh mất trí nhớ và những bệnh khác rất nghiêm trọng, sống ở trung tâm an dưỡng của bệnh viện. 

Có một lần, bà ở trong trạng thái hấp hối, người đã mất tri giác, cư sĩ Mặc Hương vội vàng thông báo cho sư tỉ Tâm Di ở Seattle nước Mĩ. Sư tỉ Tâm Di lập tức thông báo cho Lư Sư Tôn đang làm hỏa cúng tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự. 

Tôi vừa nghe tin thì lập tức giơ tay phải lên, hướng về hư không, búng ngón tay ba lần. Trong hư không xuất hiện:
Ánh sáng như điện. 
Trong ánh sáng có một ông lão mặc y phục cổ trang màu xanh đang ngồi, tôi nhìn chăm chú, thì ra là Dược Sư Lưu Li Quang Vương Phật. Hai bên ông lão mặc đồ màu xanh, mỗi bên có một người đàn ông mặc quần áo bình dân, trên tay cầm bình nước và dược thảo. 

Tôi chăm chú nhìn kĩ hơn, không ngờ là Dược Vương Bồ Tát và Dược Thượng Bồ Tát. Tôi thông báo:
”Mẹ của cư sĩ Mặc Hương đã ở trong trạng thái hấp hối, con trai con gái đều đang ở bên cạnh bà ấy, liệu có cứu được không? Nếu vẫn còn cứu được thì mau mau cứu độ đi!”
Ông lão và hai thị giả bên cạnh ở trong ánh sáng từ bi gật đầu, ánh sáng bay về hướng đông. Tôi nói với sư tỉ Tâm Di:
”Gia trì đã thành!”

Tết Nguyên Đán 2013, ngày mồng một tháng Giêng, tôi có dịp gặp mặt cư sĩ Mặc Hương tại Đài Trung Đài Loan. Cô ấy kể với tôi:
”Mẹ con đã rất nghiêm trọng, xem ra không sống được nữa, trong trạng thái hấp hối, con lập tức gọi điện thông báo cho sư tỉ Tâm Di mau mau thông báo với Lư Sư Tôn, Lư Sư Tôn lập tức chủ cầu hỏa cúng. Thật không ngờ mẹ con lại sống lại! Sống lại rồi lại còn khỏe hơn rất nhiều, thậm chí vào cuối năm 2012, mẹ con có thể từ Đài Bắc đi Gia Nghĩa, gặp lại những anh chị em mà mẹ con nhớ nhung bấy lâu, mọi người còn đoàn tụ nữa! Họ đã nhiều năm không đoàn tụ rồi.”

Cư sĩ Mặc Hương nói:
”Quá ư là bất khả tư nghì! Bởi vì trăm bệnh bộc phát, người ở trong trạng thái hấp hối lại có thể hồi phục, trở về quê hương gặp lại người nhà, đây đều là lực gia trì của Lư Sư Tôn!”
Tôi nói:
”Đâu có! Đâu có! Đều là Phật Bồ Tát từ bi!”

🌟

Còn có một người là cư sĩ Thu Diệp thường xuyên bị bệnh dạ dày, không thiết ăn uống, bụng thường đầy hơi, người gầy như cái que, không phải bị loét dạ dày mà là đau dạ dày. Ruột cũng không tốt, bị tắc ruột, ruột thừa, viêm ruột, thậm chí thủng ruột, đau đớn vô cùng. 

Cư sĩ Thu Diệp đã đi khám bác sĩ khoa ruột và dạ dày không biết bao nhiêu lần, bao nhiêu lần chữa bấy nhiêu lần thất bại. 

Có người giới thiệu tôi:
”Đi tìm Lư Sư Tôn vẽ một lá phù cho cô uống đi!”
Cư sĩ Thu Diệp đáp:
”Lư Sư Tôn có những lời phê bình không tốt, có quá nhiều người phỉ báng ông ấy!”
Người kia nói:
”Không đúng! Không đúng! Con người ông ấy căn bản là hoàn toàn khác với những gì đồn đại bên ngoài.”

Cư sĩ Thu Diệp nói:
”Người nói xấu nghe nói quy y đã nhiều năm rồi!”
Người kia nói:
”Mặc dù quy y nhiều năm, cũng chưa chắc đã từng được gần gũi một lần, cho nên vẫn không hiểu tính tình của Lư Sư Tôn lắm.”

Sau đó, cư sĩ Thu Diệp tìm đến tôi, tôi vẽ một lá phù đưa cho cư sĩ Thu Diệp uống. 
Đêm đó, cư sĩ Thu Diệp có một giấc mơ. Mơ thấy Lư Sư Tôn đến, tay cầm một bộ dạ dày và ruột, ruột dài hơn một trượng. [1 trượng bằng 3,3 mét.] Lư Sư Tôn nói:
”Thay cho cô dạ dày và ruột khác!”
Sau đó là làm thủ thuật. Ruột và dạ dày đã thay xong, cư sĩ Thu Diệp tỉnh lại. 

Trời ơi! Bệnh ruột và dạ dày trong chớp mắt đã biến mất, cô đã trở thành một con người hoàn toàn khỏe mạnh rồi.


### 44. Chuyên niệm Liên Hoa Đồng Tử tâm chú


Cư sĩ Trọng Nhân là một người khá hài lòng với hoạn lộ của mình, giữ được vị trí quan chức đã mấy chục năm, đến năm 43 tuổi thì anh quy y Tam Bảo. 

Khi quy y Tam Bảo thì anh cũng là gặp nhân duyên thì mới quy y, bởi vì vợ anh quy y pháp sư Lạc Quả, đi đến chùa nghe pháp, anh ấy đi cùng vợ. 

Khi pháp sư Lạc Quả trao quy y, anh đứng xếp hàng, nghe pháp Tam quy y. Kết quả là anh nhận được chứng thư quy y thì mới biết là mình đã quy y rồi. Mặc dù quy y nhưng chỉ là cái hư danh mà thôi. Cư sĩ Trọng Nhân chưa từng niệm Phật, chưa từng đọc kinh, không biết Phật pháp, không hiểu phải giữ năm giới, tu mười thiện. 

Lão pháp sư Lạc Quả là một vị đọc và giải thích kinh Kim Cang nổi tiếng thế giới, cư sĩ Trọng Nhân cũng có được một cuốn chú thích kinh Kim Cang của pháp sư Lạc Quả, nhưng anh ấy quẳng kinh Kim Cang vào một xó, chưa từng giở ra đọc một trang nào.

20 năm sau, cư sĩ Trọng Nhân đã 63 tuổi rồi, vì thế, anh ấy rút khỏi quan trường, không lâu sau thì trải qua đau khổ. Anh ấy mắc bệnh ung thư ruột, đã phẫu thuật cắt bỏ, nhưng ung thư đã lan rộng, anh tiếp tục làm hóa điện liệu, thể xác và tinh thần đều mệt mỏi.

Khi anh ấy nằm viện, giường bên cạnh có một người tu hành bị ốm, dán ảnh của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn ở đầu giường, rồi mỗi ngày đều niệm: “Om guru liansheng siddhi hum.”
Anh ấy hỏi:
”Bác niệm chú gì đấy?”
Người tu hành đáp:
”Căn bản Thượng sư tâm chú.”
Anh ấy hỏi:
”Căn bản Thượng sư là cái gì?”
Người tu hành đáp:
”Là sư phụ mà tôi quy y!”
Anh hỏi:
”Căn bản Thượng sư của bác là ai?”
Người tu hành đáp:
”Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.”
Cư sĩ Trọng Nhân nói:
”Tôi nghe nói, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn cũng quy y lão pháp sư Lạc Quả, tôi cũng từng quy y lão pháp sư Lạc Quả, đây đúng là có duyên rồi!”
Người tu hành nói:
”Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đã chứng quả, chú ngữ của ngài ấy vô cùng linh nghiệm, sao anh không thử niệm xem!”
Cư sĩ Trọng Nhân niệm một câu: 
“Om guru liansheng siddhi hum.”

Đêm ấy, cư sĩ Trọng Nhân nằm mơ. Mơ thấy pháp sư Lạc Quả và Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn cùng xuất hiện, lão pháp sư Lạc Quả không nói gì, kéo tay cư sĩ Trọng Nhân đặt vào tay Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Sau đó thì nói với cư sĩ Trọng Nhân rằng:
”Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn là Phật Đà tái thế, anh phải kiền thành niệm Thượng sư tâm chú, trăm lần, nghìn lần, vạn lần, vạn vạn lần, tự sẽ được cứu!”
Sau đó thì hai người đều biến mất. 

Bởi vì giấc mơ này không hề mơ hồ một chút nào, hết sức rõ ràng, cho nên cư sĩ Trọng Nhân cũng ra sức niệm. Niệm được khoảng một tháng thì anh ấy lại có một giấc mơ. Mơ thấy Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn lại đến, trong tay ngài cầm một bình nước. Trong mơ, Hoạt Phật tắm gội cho anh, rửa sạch thân thể anh, kì cọ nghe thấy cả tiếng “kin kít”. Rồi lại lấy nước cam lộ rót vào miệng anh, anh thải ra nước đen. 

Cuối cùng, chỉ thấy Hoạt Phật nói:
”Tốt rồi!”
Cư sĩ Trọng Nhân ngày hôm sau tỉnh lại, cảm thấy tràn đầy sức sống. Bác sĩ kiểm tra chỉ số ung thư, kết quả là không còn chỉ số ung thư nữa, thật sự khỏi rồi! 

Cư sĩ Trọng Nhân đến Lôi Tạng Tự gặp mặt tôi, kể cho tôi nghe tin thức tốt lành này. Tôi nghe xong thì rất vui mừng. Kể từ đó, cư sĩ Trọng Nhân niệm tâm chú của tôi, chưa từng gián đoạn!


### 45. Khi cơn gió lạnh thổi qua


Cư sĩ Nhuận Thanh là đệ tử Chân Phật Tông. Có một năm, anh ấy trở về quê ăn Tết, đã nhiều năm anh chưa về quê, đó là một nơi mà dưới quê gọi là Liễu Đường, là một thôn nhỏ ở Sơn Đông, một căn nhà rất xưa cũ, nghe nói là ông bà nội và bố anh đã từng sống. Anh sống ở ngôi nhà cũ đó bốn ngày. 

Có một buổi tối, anh ấy đi dạo loanh quanh, nhìn ra bốn xung quanh đều là cánh đồng hoang dã, một vùng tối đen, có một đồi cây nhỏ, có dòng sông nhỏ yên lặng chảy qua. Nhìn xuyên qua đám cỏ, bên phải ngôi nhà thực ra là một khu đồi với những ngôi mộ rải rác, có ánh đom đóm lập lòe, trông rất u ám tối tăm đáng sợ. 

Cư sĩ Nhuận Thanh đột nhiên cảm thấy có một cơn gió lạnh thổi qua, khiến anh rùng mình một cái, cảm thấy mình đột nhiên bị miệng méo mắt xếch, lại có cảm giác chếnh choáng, miệng nói những lời không rõ ràng.

Anh vội vàng chạy vào trong nhà, nằm trên giường, người lúc nóng lúc lạnh. Ban ngày bạn bè đến thăm, phát hiện ra hình như anh ấy đã bị điên rồi. 
Anh nhìn thấy nam nữ trong trang phục cổ xưa.
Nghe thấy tiếng kêu khóc.
Miệng nói lắp bắp không rõ ràng.
Suy nghĩ không minh mẫn.
Hành vi cử chỉ trở nên quái dị.

Anh đã biến thành một con người khác. Bạn bè đưa bác sĩ đến khám, bác sĩ nói: “Bị tâm thần.”
Bác sĩ đông y nói:
”Tà khí xâm phạm!”
Họ đều kê đơn thuốc. Bác sĩ tây y cho thuốc trấn tĩnh. Bác sĩ đông y cho thuốc bắc an thần. 

Anh uống thuốc được khoảng hơn nửa tháng nhưng không hề cải thiện. Sau đó có một người thân đưa cư sĩ Nhuận Thanh về Đài Loan. Cư sĩ Nhuận Thanh tinh thần vẫn không ổn định, trong miệng nói ra từng cái tên của tổ tiên. 
Cử chỉ quái dị.
Đột ngột như trẻ con, khóc oa oa.
Đột ngột như ông già, cười hề hề.

Người nhà đưa anh đến Lôi Tạng Tự. Mỗi lần Lư Sư Tôn làm một đàn hỏa cúng, giảng một lần Hỉ Kim Cang,làm một lần quán đảnh, trước khi xuống núi, anh phải chen vào trong đám người để thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn sờ đầu cho anh. Tổng cộng cư sĩ Nhuận Thanh đã được sờ đầu khoảng sáu lần, đến lần thứ bảy thì bản thân anh có cảm giác thấy: 
Trong đầu có một tiếng nổ “oàng”. 
Đột ngột nổ tung ra.
Anh về nhà ngủ một giấc. Sau khi ngủ dậy, anh không còn nói lẩm bẩm trong miệng nữa, không còn có những cử chỉ hành động bất bình thường nữa, không khóc không cười nữa, dường như tất cả đã hoàn toàn bình thường rồi. 

Người hỏi:
”Anh lúc trước bị làm sao vậy?”
Đáp:
”Không biết.”
Người hỏi:
”Anh không cảm thấy quái dị sao?”
Đáp:
”Không có cảm giác gì lắm.”
Người hỏi:
”Quãng thời gian đó anh đã sống thế nào?”
Đáp:
”Những bề trên đã khuất, những người ngang hàng đã khuất, những người thân chết trẻ thường xuyên ở bên cạnh tôi, nói chuyện, vui chơi, ăn uống, tôi ngày ngày sống cùng với họ, cũng không cảm thấy gì cả!”
Người hỏi:
”Thế còn bây giờ?”
Đáp:
”Lư Sư Tôn sờ đầu bảy lần, sờ một lần thì người lại bớt đi một ít, sờ bảy lần thì không thấy có người nào nữa, giống như là tôi sống lại sau khi chết vậy.”
Tôi nói:
”Mỗi ngày tôi đem đi một vài u linh, tổng cộng đem đi bảy lần mới đem hết, cư sĩ Nhuận Thanh cuối cùng mới hồi phục đó!”


### 46. Tượng đúc trên chuông kim cang


Pháp khí mà Mật giáo thường dùng có chuông kim cang và chày kim cang, trống lắc tay, chuỗi hạt, v.v… Chuông kim cang mà đệ tử Chân Phật Tông dùng rất đặc biệt, ngoài tay cầm ra thì trên đó còn đúc chân dung của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, tượng được đúc rất rõ nết, sinh động y như thật.

Ngoài ra, xung quanh chuông còn khắc “Văn cầu thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật gia trì”:
*Om Ah Hum.
Kính đem thân khẩu ý thanh tịnh
Cúng dường Tì Lô Giá Na Tôn
Pháp thân Phật Nhãn Phật Mẫu Thánh
Báo thân Liên Hoa Đồng Tử thân
Ứng thân giáo chủ Liên Sinh Phật
Ba thân không khác - đại Phật ân.
Cung kính Chân Phật đại truyền thừa
Thần thông ban trải đầy thế giới
Phóng quang chiếu rọi khắp ba thời
Hóa hiện không ngừng chứng nhất như.
Đệ tử tha thiết thường cầu tới
Soi chiếu quang minh phúc huệ tăng.
Xưa đến thọ kí, Phật Thích Ca
Phó thác ân cần, A Di Đà
Di Lặc Bồ Tát ban hồng quán
Liên Hoa Đại Sĩ, Mật pháp truyền.
Thánh tôn xin thỉnh đừng quên nguyện
Cứu độ chúng sinh chúng con đây
Hộ niệm như thế xin nhiếp thọ
Thành tựu nhanh nhanh thỉnh gia trì.
Nam mô Đại Nhật Như Lai
Nam mô Phật Nhãn Phật Mẫu
Nam mô Liên Hoa Đồng Tử
Nam mô Liên Sinh Hoạt Phật
Nam mô Chân Phật hải hội thập phương tam thế Chư Phật Bồ Tát Ma Ha Tát. *

🌟

Có một người là cư sĩ Văn Chất đã thỉnh chuông này về nhà, đặt tại đàn thành, lắc mấy cái, đêm hôm ấy liền có một giấc mơ. 
Lư Sư Tôn hiện thân nói:
”Tôi đến rồi đây!”
Cư sĩ Văn Chất hỏi:
”Làm thế nào để chiêu đãi Lư Sư Tôn?”
Lư Sư Tôn đáp:
”Mỗi ngày anh niệm văn cầu thỉnh một lần, chính là chiêu đãi.”

Sau khi tỉnh dậy, cư sĩ Văn Chất vô cùng vui mừng, mỗi ngày quả nhiên anh niệm một biến văn cầu thỉnh. 

Bỗng dưng có một ngày, có một người bạn cũ rất thân thiết đến nhà để bàn bạc việc kinh doanh. Việc kinh doanh này là mua đất đầu tư, chuyên mua đi bán lại các dự án đầu tư. Người bạn nói:
”Kiếm ổn định lắm!”
Người bạn nói:
”Văn Chất, anh đầu tư dự án này, sau này có thể kiếm được gấp năm lần trở lên.”
Người bạn nói:
”Mua đất thì cho dù thời cơ không đúng, nhưng đất vẫn ở đó, khi thời cơ đến thì lập tức biến thân thành đại gia.”
Cư sĩ Văn Chất động lòng. 
Bạn nói:
”Đối tác chỉ có năm người thôi, dành một chỗ cho anh, vì có lợi nên báo cho anh biết!”

Đêm ấy, Lư Sư Tôn hiện thân trong mơ của cư sĩ Văn Chất, nói với cư sĩ Văn Chất rằng:
”Là lừa bịp đó!”
Cư sĩ Văn Chất kinh hãi hỏi:
”Là bạn thân, rất có uy tín, hơn nữa tài liệu đầu tư đều có đầy đủ cả.”
Tôi nói:
”Vẫn là lừa bịp, chớ đầu tư!”
Cư sĩ Văn Chất nghe lời tôi, không đầu tư. 

Một khoảng thời gian sau, người bạn thân đó quả nhiên đã gom tiền riêng bỏ chạy, chạy đến một đất nước khác, sống những ngày tháng ung dung vui vẻ!


### 47. Thần Mưa nghe lệnh


Trung Quán Đường mà Thượng sư Liên Duyệt lập ra, pháp vụ đương nhiên rất hưng thịnh, tín chúng tụ tập rất đông, tuyên truyền Chân Phật Mật Pháp rất nhanh chóng, rất nhiều người đều tán thưởng.

Những pháp hội quy mô lớn gần đây đều ở ngoài trời, có hai pháp hội:
1. Tại cảng Ô Thạch ở trấn Đầu Thành, huyện Nghi Lan.
2. Tại nhà tưởng niệm Tưởng Giới Thạch ở Đài Bắc.

Lần tổ chức tại bãi biển ở cảng Ô Thạch, một tháng trước đó, ngày nào trời cũng mưa, đồng môn đều nói là thôi rồi. Bởi vì pháp hội ở ngoài trời mà mưa trút xuống như nước thì tín chúng sẽ không chịu nổi pháp hội đó mất. 

Vào ngày pháp hội, mây đen che kín bầu trời, nhưng một giọt mưa cũng không rơi xuống. (Người ở trấn Đầu Thành nói mây đen che kín đảo Khâu ở ngoài khơi thì chắc chắn sẽ mưa. Ngày hôm ấy đảo Khâu bị che kín không nhìn thấy, nhưng cũng không mưa.)

Đến khi pháp hội kết thúc, đám người đã ra về thì mưa lại đổ xuống như trút nước. Hơn nữa lại mưa liên tiếp một tháng nữa, có nghĩa là mưa suốt hai tháng, chỉ có đúng ngày chủ trì pháp hội đó là trời không mưa.
Chà! Có điều thần kì!

Có người nói:
”Có gì đâu! Trùng hợp thôi mà!”
Có người nói:
”Không khéo không thành sách.”

🌟

Pháp hội Tôn Thắng Phật Mẫu tổ chức tại nhà kỉ niệm Tưởng Giới Thạch ở Đài Bắc cử hành vào ngày 6/1/2013 tại quảng trường Tự Do rất rộng. Trước ngày 6/1, trời đã liên tục mưa hai tuần, ngày nào cũng ẩm ướt và rét mướt. 

Mưa rất to, đảm bảo sẽ khiến người ta ướt hết từ đầu tới chân. Thế rồi, vào ngày 6/1 đó, bầu trời vẫn có mây đen che kín, nhưng thật sự là mưa đã ngừng. Đúng vào lúc khai quang tháp Tôn Thắng Phật Mẫu thì lại có kì tích, ánh mặt trời từ trong những tầng mây đã chiếu rọi ra, chiếu một tia nắng vào tháp Tôn Thắng Phật Mẫu. Sau khi chiếu xong thì ánh sáng cũng thu về. 

Khai quang vừa kết thúc thì có một bầy chim kêu vang, bay xuống để nhiễu quanh tháp Phật ba vòng, đúng là thần kì. 

Từ lúc pháp hội bắt đầu đến khi pháp hội kết thúc, mặc dù mây đen đầy trời nhưng trời không đổ mưa! Trời ơi! Pháp hội ngoài trời quy mô lớn lần thứ hai có vạn người tham dự đều thù thắng như vậy, lạ thay, lạ thay!

Sau khi pháp hội kết thúc, trời lại mưa! 
Một lần trùng hợp, hai lần cũng là trùng hợp sao?

🌟

Nói thẳng thắn là:
Pháp hội quy mô lớn tổ chức ngoài trời, nếu gặp mưa lớn trút xuống thì đương nhiên không hay rồi, nên ai cũng lo lắng. Chính tôi cũng sẽ lo lắng. 

Thế nhưng, buổi tối trước ngày pháp hội, Thần Mưa đều đến gặp tôi. Thần Mưa là một vị trông đẹp đẽ nhất trong số các vị Thần Đất, Thần Lửa, Thần Gió, là vị thần có sắc đẹp nhất trong số các thần. 

Thần Mưa bảo tôi:
”Trời sẽ mưa!”
Tôi nói:
”Không được đâu!”
Thần Mưa nói:
”Trừ phi có Cửu Thiên luật lệnh.”
Tôi nói:
”Tôi có luật lệnh của Diêu Trì Kim Mẫu có được không?”
Thần Mưa nói:
”Luật lệnh Diêu Trì Kim Mẫu uy thần chí tôn, tổng quản mọi luật lệnh, đương nhiên phải tuân lệnh.”

Vì thế: 
Pháp hội quy mô lớn ngoài trời đều không mưa!


### 48. Bác sĩ nói như vậy


Bác sĩ Du Quân là một bác sĩ ở nông thôn, ông ấy mở phòng khám là để giúp đỡ người dân nghèo khổ ở vùng sâu vùng xa. 

Phòng khám của bác sĩ Du Quân cách bệnh viện lớn tận năm tiếng đồng hồ lái xe, cho nên người ở nông thôn bị bệnh đều phải tìm đến bác sĩ Du Quân trước. 

Bác sĩ Du Quân nói:
”Bệnh gì cũng khám hết!”
Bác sĩ Du Quân nói:
”Kỉ lục cao nhất là có một ngày từng khám hơn trăm bệnh nhân!”

Bác sĩ Du Quân là đệ tử Chân Phật Tông, hàng ngày ông ấy đều niệm Thượng sư tâm chú: “Om guru liansheng siddhi hum.”
Khi niệm chú, ông đều đặt một chén nước sạch, thỉnh cầu Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đặc biệt gia trì cho nước chú.

Có một buổi tối ông nằm mơ. Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn xuất hiện trong giấc mơ của ông, ông ấy nhìn thấy tôi cười hi hi và nói:
”Sắp tới bệnh cúm sẽ lan tràn, người trong thôn này sẽ đều bị ho nặng, tôi đặc biệt tới đây để gia trì cho nước chú Thượng sư, anh có thể để cho người bệnh uống, họ sẽ đều khỏi bệnh.”
Tôi cầm nước chú Thượng sư lên, tay kết ấn kim cương chỉ, viết trên nước chữ “Hum”. Tôi làm pháp xong thì nói với bác sĩ Du Quân:
”Nhất định phải đưa cho bệnh nhân uống đó!”

Sau giấc mơ đó không lâu, quả nhiên bệnh cúm lan tràn, bệnh cúm ban đầu bắt đầu từ những cơn ho, dường như người trong cả thôn đều bị nhiễm virus cúm. Phòng khám đông như trẩy hội. 

Đầu tiên, bác sĩ Du Quân không dám dùng nước chú Thượng sư đưa cho họ uống, chỉ dùng thuốc cảm cúm bình thường, người bị nặng mới tiêm thuốc. Sau một thời gian chữa trị, virus cúm này càng trở nên lợi hại hơn, rất nhiều người bệnh tình hình trở nặng. Bác sĩ Du Quân nghĩ đến lời dặn của Lư Sư Tôn, bất kể thế nào, ông dùng những chiếc lọ nhỏ màu trắng đổ đầy nước, rồi đặt từng lọ ở trong tủ thuốc. 

“Đó là thuốc gì vậy?” - Người bệnh hỏi.
”Thuốc đặc hiệu trị ho.”
”Sao không đưa cho chúng tôi uống?”
”Cái này…” - Bác sĩ Du Quân không dám nói là nước.
Kết quả là bệnh nhân bị ho đó lấy một lọ nước, uống ngay một ngụm. 

Buổi sáng ngày hôm sau, phòng khám mở cửa, bệnh nhân toàn thôn đều đã tụ tập, họ đều muốn uống “nước chú trong cái lọ trắng”. Bác sĩ Du Quân liền đưa cho mỗi người một lọ. Nước chú trong lọ nhỏ đã hết sạch rồi, bác sĩ Du Quân đêm ấy lại phải tăng ca, bắt đầu niệm chú, thỉnh cầu Căn bản Thượng sư gia trì cho nước chú, rồi lại chia vào những lọ trắng nhỏ. 

Chẳng bao lâu, thuốc đặc hiệu trị họ này đã nổi danh,  không chỉ ở trong thôn đó, mà người ở các thôn bên cạnh cũng đến. 

Nói ra cũng kì lạ, người nào uống nước chú này vào thì ngày hôm sau đều khỏi ho. Trời ơi! Nước chú trong lọ trắng nhỏ - thuốc đặc hiệu trị ho, không ngờ đã xôn xao cả năm, sáu thôn làng. 

Sau này, có người cảm cúm bị ho, bác sĩ Du Quân kê thuốc cảm cúm, thuốc tiêm, nhưng người trong thôn đều lắc đầu, nói với bác sĩ rằng:
”Tôi chỉ cần lọ nước màu trắng!”
Bác sĩ Du Quân nói với tôi:
”Phải làm sao?”
Tôi cười cười nói:
”Vẫn cho người bệnh thuốc cúm, tiêm thuốc, rồi cho thêm một lọ nước chú vậy!”
Bác sĩ Du Quân lúc này mới yên tâm làm theo!


### 49. Tâm đắc của Thượng sư Liên Gia


Mỗi ngày đều tu thiền định, rất tốt.
Mỗi ngày đều tu nghi quỹ theo pháp bản, rất tốt.
Mỗi ngày đều tu Tứ gia hành, rất tốt.
Mỗi ngày đều đọc kinh, rất tốt.
Bất kể thời gian tu bao lâu, năm phút đọc Cao Vương Kinh, rất tốt. 
Một ngày bốn lần tọa thiền, rất tốt.
Cách nghĩ của tôi là, mỗi ngày đều tinh tấn hơn ngày hôm trước một chút, cho dù chỉ có tiến bộ một millimeter cũng tốt. 
Thực tu có thể tiến bộ.
Mỗi phút mỗi giây đều cần tiến bộ hơn một phút một giây trước đó một chút. 
Sư Tôn từng nói: “Người nghe pháp nhiều, người tu pháp ít, đây là điều bình thường trên thế giới này.”

Sau khi tôi nghe Sư Tôn thuyết pháp, một việc mà tôi không bao giờ quên, đó chính là “tu pháp”. 

Kể từ sau khi tự sát sống sót trở về, tôi ra sức thu thập toàn bộ văn tập Sư Tôn, không ngừng đọc sách, rất nhiều lần tôi phát hiện thấy cách nghĩ của ngài và của mình không giống nhau. Tôi không dám nói với ngài rằng tôi là phàm phu, không làm được. Chỉ dám nói là, hiện tại chưa làm được, nhưng một phút một giây qua đi, tôi phải dần dần tiến gần hơn một chút, dần dần từ không làm được biến thành làm được.

Tốt nhất là phải giống như huyết dịch chảy trong huyết quản, không cần phải để ý đến, đều là như vậy. 

Lời dạy của Sư Tôn, từ giảm bớt dục vọng, trở thành loại bỏ bám chấp, rồi lại trở thành cho dù bám chấp cũng không ảnh hưởng đến thân khẩu ý của chính mình. Trên thực tế, chính là mỗi ngày tiến bộ một chút chút, rồi sẽ có một ngày, nhất định có thể thành Phật. Nếu như ngay cả bước ra ngoài cũng không có thì làm sao mà đến được điểm đích? Bởi vì đã lên đường rồi thì hà tất lúc nào cũng phải nghĩ làm sao để bước ra cửa?

Giống như bây giờ, mọi người đều hỏi làm sao để thỉnh Phật trụ thế. Bản thân tôi là như thế này, nhất định phải ép buộc chính mình, về thân khẩu ý đều phải giống như Sư Tôn, từ bi như thế, trí huệ như thế, thề nguyện như thế. 

Cho dù là nói chuyện, cho dù là làm việc, hoặc suy nghĩ trong đầu, đều là như thế, không suy nghĩ cho chính mình. 
Để Sư Tôn biết, mặc dù tôi là một đệ tử ngu si, tôi rất ngốc nghếch, nhưng tôi có nỗ lực để bản thân tiến bộ. 
Để Sư Tôn biết, trên con đường này chỉ có ngài ấy mới có thể cứu tôi.
Để Sư Tôn biết, ngài ấy cứu tôi rồi, tôi sẽ biến thành một người tu hành giống như ngài ấy, trí huệ, từ bi, nguyện lực đều giống ngài, làm những việc giống ngài, cũng phân thân xả cốt không từ bỏ một chúng sinh nào giống ngài.
Để Sư Tôn biết, bây giờ có lẽ tôi vẫn không thể làm được giống ngài một trăm phần trăm, nhưng tôi sẵn sàng dành tất cả nỗ lực và thời gian, ra sức cố gắng để chính mình sau này làm được như thế.

Phương pháp chính là mỗi ngày đều phải tiến bộ một chút chút, mỗi ngày đều phải bỏ bớt dục vọng một chút chút, mỗi ngày đều tiến bộ hơn so với ngày trước đó. 

Để Sư Tôn biết, trên đoạn đường “tiến bộ hơn đoạn trước một chút” này, đúng là cần có sự hướng dẫn của ngài, khẩn cầu ngài đừng rời xa, đừng bỏ đi mà tiếp tục dạy dỗ và gia trì. 

Để Sư Tôn biết, trên đoạn đường “tiến bộ hơn đoạn trước một chút” này, tôi cũng sẽ nỗ lực thực tiễn những lời dạy của ngài, nỗ lực để mình tương đồng với ngài, sẽ không đợi đến khi tương đồng rồi mới làm lợi ích cho chúng sinh, mà là không lúc nào quên làm lợi ích cho chúng sinh, từng giờ từng khắc đều nỗ lực làm lợi ích chúng sinh.

Tôi cũng muốn từ bi, trí huệ, nguyện lực giống như ngài, thế nhưng chỉ dựa vào chính mình thì tuyệt đối không thể làm được, lúc này càng cần có sự gia trì và hướng dẫn của Sư Tôn, để bản thân có thể tiến bộ, thực tiễn những lời thề nguyện giống như ngài. 

Tôi cảm thấy tài sản lớn nhất của Sư Tôn là thề nguyện của ngài ấy. 
Đó là lời thề nguyện chung của tất cả Phật Bồ Tát trong thập phương tam thế. 
Ngài hi vọng chúng ta cầm gậy đi tiếp để làm rạng rỡ giáo pháp. Cầm gậy gì? Chính là chuyền tay cái gậy “thề nguyện” này. 
Tôi hiểu, vì thế tôi đang nỗ lực.
Cần có ngài ấy, không có ngài ấy không được.

Tôi sẽ không ỷ lại sư phụ, từ trẻ sơ sinh biến thành trẻ nhỏ, thậm chí trên con đường thành niên, đều cần có sự nâng đỡ và che chở của cha mẹ. Giống như học đạp xe đạp, ban đầu đều cần có cha mẹ đỡ ở phía sau thì sẽ không ngã không đổ, sẽ không hỗn loạn, cha mẹ cũng cần phải buông tay để cho đứa bé tự mình đạp. 

Thế nhưng bây giờ tôi vẫn đang còn bò, chưa biết đi, đạp xe đạp thì sẽ bị ngã rất thảm. Đợi đến khi tôi biết đi biết chạy rồi, đợi đến khi tôi có thể tự mình đạp xe rồi, tôi sẽ không làm con bọ bám trên người con sư tử nữa, mà là tôi sẽ phải đón lấy cây gậy chuyền tay của sư phụ, tiếp tục vì nhân duyên đại sự giải thoát chúng sinh mà nỗ lực. 

Cho dù có phát sinh hoan nghênh, phỉ báng, chế nhạo, tên tuổi đẹp đẽ, đau buồn, vui vẻ, đắc ý, thất vọng gì thì tôi cũng sẽ không thay đổi. 

Chỉ có thực tiễn lời thề nguyện của sư phụ, cũng là lời thề của chính mình. 

Bây giờ, cần sự dìu dắt và hướng dẫn của sư phụ.
Chân thành thỉnh cầu!
Thỉnh Phật trụ thế!

🌟

Khẩn cầu thầy, vì giải thoát chúng sinh mà ở lại, đệ tử sẵn sàng lập tức chết đi để đem thọ mạng tặng lại cho thầy, chỉ để thầy có thể thường trụ thế gian, như vậy chúng sinh trong đêm tối u mê mới có được đèn sáng, trong cơn sóng biển sinh tử mới có con thuyền an vui. 

Chúng sinh u mê không biết đêm dài đằng đẵng
Chỉ có Phật Liên Sinh từ bi quảng diễn pháp lực
Ánh sáng chiếu khắp không bỏ sót đau khổ lục đạo
Tứ chúng cúi đầu thỉnh bất diệt vĩnh viễn trụ thế gian.
Khẩn cầu thầy, cầu xin thầy…


### 50. Ý nguyện của pháp sư Liên Chất


Gần đây, Liên Chất có được rất nhiều mộng thị và điềm báo. Hi vọng sẽ Liên Chất con phát đại bồ đề tâm, dũng mãnh tinh tấn thỉnh Phật trụ thế, xây dựng Đại Nguyện Lôi Tạng Tự, để vĩnh viễn bảo tồn và lưu truyền giáo pháp của Căn bản Thượng sư, tiếp nối thề nguyện của Sư Tôn.

Nhưng đồng thời Sư Tôn cũng thị hiện rất nhiều khó khăn và phỉ báng, phản công còn sâu hơn trước kia, xông thẳng đến Liên Chất. Hi vọng nhờ đó mà hiển lộ việc phát ra lời thề này, để con lựa chọn tiếp tục bước đi và không hề rút lui, chỉ có thể kiên cường, cho dù gặp chuyện gì cũng không thể dao động. Hi vọng Liên Chất luôn cẩn thận suy xét, đừng ân hận mà ngược lại lại tạo thêm ác nghiệp lớn hơn. 

Thời gian qua, Sư Tôn đã khiến đệ tử dần dần hiểu rõ, không có cái gọi là thiện tuyệt đối, cũng không có cái gọi là ác tuyệt đối, mỗi người đều ở trong thiện có ác, trong ác có thiện. 

Đồng thời, tiêu chuẩn thiện ác rốt cục từ đâu mà tới?
Căn bản không có cái gọi là tiêu chuẩn so sánh, hay là ai ai cũng đều có một bộ tiêu chuẩn. Nên dựa vào cái gì để làm chuẩn đây?

Chỉ dựa vào bổn phận làm những việc nên làm, không nghĩ ngợi, mới có thể thật sự rời xa hai bên thiện ác, sẽ không bị trói buộc nữa, cũng sẽ không vì thế mà mất đi sự cân bằng. Đồng thời, Sư Tôn cũng dạy Liên Chất những ý nghĩa liên quan đến pháp hiệu:

Hoa sen gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn, không phải là ra sức gìn giữ sự thuần tịnh, trốn tránh ô uế, mà là cho dù hoàn cảnh thế nào, sạch sẽ hay ô uế, thì đều sẽ không thay đổi bản chất của hoa sen. 

Sẽ không vì hoàn cảnh ô uế mà sẽ trở nên ô uế theo, cũng sẽ không vì hoàn cảnh sạch sẽ mà trở nên đặc biệt đẹp đẽ, mà là khó khăn, hay thuận lợi, ta đều không thay đổi ý chí, đó mới là bản chất của hoa sen, cũng là tâm kim cương. 

Nhiều lần lưỡng lự, sợ hãi và đấu tranh, Liên Chất con đã suy nghĩ rõ ràng rồi, đệ tử đời này không muốn bỏ lỡ cơ hội thỉnh cầu Căn bản Thượng sư trụ thế, không muốn lại phải khóc vì hối hận. Thỉnh cầu thầy từ bi trụ thế ân cần dạy dỗ. Ngày xưa Liên Chất đã nói lên nhiều lời thề trước thầy, chưa bao giờ quên. Thỉnh cầu Sư Tôn ban cho Liên Chất cơ hội dựa vào bản chất của mình để mà thực tiễn.

Đệ tử bất luận người khác thực sự nghĩ ra sao, Liên Chất chỉ muốn hướng về Sư Tôn phát nguyện, đời đời kiếp kiếp đều muốn đội thầy trên đầu mình, làm thành món đồ trang sức trang nghiêm, nhờ đó mà đảm đương tất cả sự nghiệp Phật pháp, giống như Bạch Độ Mẫu đội Căn bản Thượng sư A Di Đà Phật trên đầu, đi đứng ngồi nằm đều có sự hiển hiện lực gia thì của dòng truyền thừa, thường xuyên không dám quên.

Đồng thời, Liên Chất phải dũng cảm phát nguyện với thầy, đời này sẽ tu hành cho đến khi tức thân thành Phật, tiếp tục kế thừa lời nguyện của thầy, lợi ích vô lượng vô số chúng sinh, pháp mạch không đứt, pháp duyên không đoạn.

Thỉnh cầu thầy theo lời nguyện không bỏ rơi một chúng sinh nào mà trụ thế gian thật lâu, từ bi dạy dỗ, đồng thời với thành tựu này, đệ tử thề hóa làm cam lộ trường thọ mời thầy uống, thỉnh cầu thầy thường trụ thế gian, mãi không nhập diệt.

Cũng thỉnh cầu Sư Tôn đại lực gia trì, để các đồng môn miền nam có thể hiểu rõ rằng Hội học thuật Đại Nguyện từ đầu chí cuối đều kế thừa và duy trì giáo pháp của Sư Tôn, bảo trì sự thuần tịnh vô nhiễm, chưa từng rời bỏ. Dưới dự dẫn dắt của Thượng sư Liên Gia, nơi đây có thể đào tạo ra rất nhiều thành tựu giả trên con đường giải thoát, để cho các đồng môn có lòng tin vững chắc. Đê tử không vì chính mình, chỉ vì vô lượng vô số chúng sinh cần cứu độ của Hội học thuật Đại Nguyện mà thỉnh cầu. 

Cầu nguyện có thể nương nhờ vào công đức phúc đức của Kim cương Thượng sư, để loại bỏ tầng tầng lớp lớp chướng ngại và ma nạn, xây dựng được Đại Nguyện Lôi Tạng Tự, để lá cờ pháp Chân Phật đứng sừng sững dài lâu tại miền nam Đài Loan, cùng hoàn thành lời hứa của Thượng sư Liên Gia đối với thầy.

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/234-lu-thang-ngan-va-nhung-bi-mat-lon.md
# Title: 234. Lư Thắng Ngạn và những bí mật lớn
---

![image](/img/img_16da0d705aa9a183cd10af9dc67ffb25.jpg)



## Lư Thắng Ngạn và những bí mật lớn


🪷 Một lòng hướng thiện

Văn tập: 234
Xuất bản: 07/2013
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu


Tác giả nay đã 70 tuổi rồi. Quay đầu nhìn lại những năm tháng đã đi qua, tôi cũng không nén nổi những tiếng thở dài. Có một số chuyện nên nói ra, có một số chuyện vẫn cần giữ bí mật mới tốt. Nhưng sau khi ngẫm nghĩ, tôi thấy chi bằng đem tất cả những chuyện siêu bí mật hé lộ toàn bộ ra. Tôi nghĩ như vậy là để cho những độc giả của tôi biết được:

1. Tôi là con người rõ ràng minh bạch.

1. Cuộc đời của tôi đã thấu triệt như vậy.

1. Mỗi ngày của tôi trải qua như thế nào.

1. Tôi là một người hết mực chân thành.

1. Tôi không giả tạo.

Tôi sâu sắc cảm thấy rằng tôi đang hé lộ tất cả mọi điều bí mật một cách chi tiết thận trọng, lấy chính trải nghiệm của bản thân mình để truyền dạy cho người khác, để cho nhóm độc giả của tôi sau khi đọc xong có thể hoàn toàn hiểu rõ về tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) - con người cả một đời sống và làm vì nghĩa này. Tôi nghĩ, đối với lối sống của con người thế gian cũng sẽ có chút lợi ích, chí ít người ta cũng sẽ không nghi hoặc nữa!

Những cảnh giới giác ngộ của tôi, người chưa tu đến mức độ giác ngộ tương đồng thì rất khó có thể hiểu được. Người bình thường muốn hiểu được cũng rất khó. Tôi nói rằng:

Tôi không phải là Lư Thắng Ngạn.

Tôi không sáng lập Chân Phật Tông.

Tôi chưa từng viết 234 cuốn sách.

Tôi chưa từng thuyết pháp.

Tôi không có dù chỉ một đệ tử.

Tôi chưa từng sống.

Tôi chưa từng chết.

Những lời này là chân lý, nhưng e là không có nhiều người có thể hiểu được. Tôi rất muốn dùng những lời lẽ thẳng thắn minh bạch nhất để giải thích, dùng những lời văn rõ ràng nhất, đơn giản mà không tầm thường để đưa ra những đạo lý về minh tâm kiến tính, cân nhắc về thời điểm thích hợp để hé mở ra những huyền chỉ [ **ND**: mục đích bí mật ] chân chính của Phật giáo. Mặc dù tiêu đề của cuốn sách là "Lư Thắng Ngạn và những bí mật lớn", thế nhưng những bí mật lớn này cũng là những điều rõ ràng minh bạch, chính xác chân thực. Muốn hiểu được con người này của tôi chỉ cần đọc cuốn sách này, sau khi hiểu được rồi thì chẳng còn gì khó khăn nữa!

Tôi thích câu nói này của Lục Tổ:

*Bồ Đề tự tính*

*Vốn dĩ thanh tịnh*

*Biết dùng tâm này*

*Thành Phật được ngay.*

Tôi nói rõ hơn ý nghĩa của câu này thành:

*Nào có Bồ Đề, nào có tự tính!*

*Chẳng có bản lai, chẳng có vị lai!*

*Thanh tịnh ô trọc, chẳng có chẳng có!*

*Mơ mơ hồ hồ, Phật ở đây rồi!*

Mặc dù đã chứng ngộ tính Không bằng cách này nhưng con người huyễn sinh huyễn thọ cần đem mọi thứ của đời người hóa thành ánh sáng, ánh sáng chính là hình tướng, dựa vào ánh sáng để chiếu sáng vạn tượng. [ **ND**: vạn vật hiện tượng của tự nhiên ]

*Thân thể của tôi là tính không.*

*Hình tướng của tôi là ánh sáng.*

*Những gì tôi dùng là vạn tượng.*

Bây giờ tôi muốn viết hết ra vạn tượng của mình, đây chính là những bí mật lớn của tôi. Tôi biến những thứ bí mật lớn thành những thứ minh bạch rõ ràng.

Nhân đây, tôi muốn gửi đến những độc giả của tôi lời cảm ơn sâu sắc và sự trân trọng lớn nhất.

Chúc bạn mở sách ra là được lợi lạc!

Chúc phúc mọi người!

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01.** Bí mật về truyền thừa Đại Thủ Ấn**


Bây giờ tôi muốn hé lộ bí mật lớn nhất về truyền thừa Đại Thủ Ấn.

Thật bất ngờ tôi lại là ông lão tổ sư của truyền thừa này. Lần này thì lại là một tiếng gầm tiếng hét lớn dọa đến cả dòng Mũ trắng của Tạng mật rồi, khiến chúng sinh thất kinh!

Tôi nói cho mọi người biết:

Người sở hữu pháp Đại Thủ Ấn sớm nhất là vị Kim Cương Trì, có địa vị của Bản Sơ Phật, ngài đã truyền pháp Đại Thủ Ấn cho Bảo Ý Đồng Tử.

Trời ạ!

Vị Bảo Ý Đồng Tử này lại truyền pháp cho Bảo Thượng Đồng Tử, lại truyền cho vị Saraha……

Các đệ tử biết rằng:

Bảo Ý Đồng Tử và Bảo Thượng Đồng Tử đến từ "Quan Thế Âm Bồ Tát thọ giới kinh".

Bảo Ý Đồng Tử, Bảo Thượng Đồng Tử là đồng tử hóa sinh ra từ hoa sen, hai vị đồng tử này đã làm một việc đại sự, đó là: tiếp dẫn vua Đại Uy Đức đi quy y Kim Quang Phật.

Vua Đại Uy Đức chính là kiếp trước của Phật Thích Ca Mâu Ni. Thế cho nên: Liên Hoa Đồng Tử chính là người thầy đã tiếp dẫn Phật Thích Ca Mâu Ni.

Đó là còn chưa kể đến:

Người kế thừa đầu tiên của pháp Đại Thủ Ấn của Bản Sơ Phật, lại cũng là Bảo Ý Đồng Tử, rồi lại truyền cho Bảo Thượng Đồng Tử.

Truyền cho Saraha.

Truyền cho Niguma.

Truyền cho Tilopa.

Truyền cho Naropa.

Truyền cho Marpa.

Truyền cho Milarepa.

Truyền cho Gampopa.

Truyền cho Đại Bảo Pháp Vương đời thứ nhất Düsum Khyenpa…. Rồi cứ thế truyền đến vị Đại Bảo Pháp Vương thứ mười bảy Ogyen Trinley Dorje và Trinley Thaye Dorje.

Bây giờ xin hỏi:

Bảo Ý Đồng Tử tức Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.

Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử tức Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.

Hơn nữa Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn lại có:

1. Thầy tiếp dẫn của Thích Ca Mâu Ni Phật.

1. Lão tổ sư của pháp Đại Thủ Ấn.

Đây chẳng phải là bí mật lớn và sự thật lớn sao?

Đại Thủ Ấn có Thực Trụ Đại Thủ Ấn và Hằng Hà Đại Thủ Ấn, cái đầu tiên là pháp Tiệm [**ND**: pháp tu tập đạt tới sự thành tựu từ thấp lên cao, theo lộ trình], cái sau là pháp Đốn [ **ND**: pháp thành tựu, giác ngộ lập tức ], thứ tự của nó là:

- Chuyên nhất du già.

- Ly hí du già.

- Nhất vị du già.

- Vô tu du già.

Pháp Đại Thủ Ấn vận dụng bốn loại quán đảnh, dùng tự tính phóng quang, tu đến khi vô niệm thì phóng ra vô số ánh sáng, đưa minh điểm dung hòa thành ánh sáng. Tứ đại và ngũ uẩn cũng như vậy mà chuyển hóa thành thân ánh sáng cầu vồng.

Tôi thực lòng nói cho mọi người biết:

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn tôi đây kể từ khi mở thiên nhãn, lúc đó đã biết mình là "cốt Phật" rồi. Lai lịch của tôi rất vĩ đại.

Là người thầy tiếp dẫn của Phật Thích Ca Mâu Ni.

Là lão tổ sư của pháp Đại Thủ Ấn dòng Mũ trắng Mật tông Tây Tạng.

Là…

Tại đây tôi có lời khuyên tới các quý ông quý bà, hoàn toàn chân thực chính xác, rõ ràng minh bạch, rằng đây là lai lịch của truyền thừa từ xưa đến nay không hề thay đổi, có thể lưu truyền thiên thu vạn thế.

Thảo nào mà sư huynh Trương Minh Thông khi nghiên cứu về Liên Hoa Đồng Tử đã phát hiện ra từ thời xa xưa, Liên Hoa Đồng Tử đã đứng ngang hàng với chư Phật, Trương Minh Thông cảm thấy vô cùng kì lạ.

Chẳng có gì lạ cả!

Bởi vì Liên Sinh Hoạt Phật chính là Phật.

Nương dựa duy nhất vào Liên Sinh Hoạt Phật, tức thành Phật thành Bồ Tát, thì có gì khó đâu?


### 02.** Bí mật về Âm tào địa phủ**


Thời gian này viết cuốn "Lư Thắng Ngạn và những bí mật lớn", tôi cân nhắc cả nửa ngày trời xem cần viết cái gì cho hay nhỉ? Vì cuốn sách này mà tôi ban ngày nghĩ, ban đêm cũng nghĩ, trong lúc tu pháp cũng nghĩ, ở tại đàn thành cũng nghĩ, cần viết gì đây?

Có một hôm, tôi nằm phủ trên bàn (nằm trên mặt bàn), hai mắt nhắm lại, tôi lập tức nhìn thấy chư thần hiện thân, gồm có: Thái Sơn Phủ Quân, Đông Ngạc Đại Đế, Thập Điện Minh Vương, Văn Xương Đế Quân, v.v…

Các vị nói:

"Kính thỉnh Lư Sư Tôn đi vào địa phủ."

Tôi hỏi:

"Mệnh tôi sắp hết à?"

Các vị đáp:

"Vẫn chưa."

Tôi hỏi:

"Thế đến Âm tào địa phủ làm cái gì?"

Các vị đáp:

"Đi vào Âm tào địa phủ để cho ngài viết cuốn sách về những điều đại bí mật này đó."

Tôi hỏi:

"Âm tào địa phủ thì có gì mà đại bí mật?"

Các vị cười:

"Người trong dương thế chẳng có cái gì là bí mật, chỉ có Âm tào địa phủ chúng tôi mới là có lắm điều bí mật. Tại sao lại không viết vào sách để nói rõ cho thiên hạ biết, để cho thế nhân hiểu rõ những bí mật lớn trong đó, khiến bí mật thành minh bạch rõ ràng. Nhờ đó có thể tuyên giảng khắp nơi để khai ngộ cho những đám người mê lầm cùng chứng được Phật quốc tịnh độ. Xin Lư Sư Tôn vui lòng viết ra."

Tôi nói:

"Cũng được!"

Thế rồi họ mới lần lượt tản đi. Tôi ngủ gục trên bàn một lúc, không ngờ lại có được linh cảm này, thật là vô cùng hài lòng.

Sau việc này tôi nghĩ:

"Thọ mệnh của tôi hết thì tôi cũng chẳng thể nào đi vào địa ngục được. Tôi tu đạo hạ sĩ, có thể lên trời; tu đạo trung sĩ, có thể đến được Phật quốc tịnh độ; tu đạo thượng sĩ có thể thành Phật Bồ Tát. Tôi xuống Âm tào địa phủ, ý định ban đầu là xem những bí mật của địa ngục, viết vào sách, mục đích là để cảnh tỉnh con người thế gian."

Tôi nghĩ:

Bởi vì người ta vốn dĩ cũng biết những chuyện báo ứng, nhưng đại bộ phận đều lờ đi. Phản ứng này của con người rất dễ hiểu, cũng giống như dùng búa đánh chuông vậy.

Đánh mạnh tiếng to.

Đánh nhẹ tiếng nhỏ.

Có đánh thì có tiếng.

Không đánh thì không tiếng.

Có cảm ứng không? Tôi đáp: "Đương nhiên có."

Nhân quả báo ứng có không? Tôi đáp: "Đương nhiên có."

Đạo lý này quá rõ ràng rồi.

Ban ngày tôi là Lư Thắng Ngạn, ban đêm tôi đến Âm tào địa phủ, các vị cho tôi một phong hiệu là: "Mật Mật Mật Như Lai trụ Âm Tào Địa Phủ giám sát đặc sứ".

Tôi cười. Phong hiệu này có thể nói là danh thực tương phù. [ **ND**: tên gọi phù hợp, đúng với thực tế ]

Ban đêm tôi đến Âm tào địa phủ. Ban ngày tôi ở nhân gian sáng tác văn chương. Tất cả những gì tôi nhìn thấy nghe thấy đều là đại bí mật. Tên tuổi những nhân vật xuất hiện trong cuốn sách này có đôi lúc tôi sẽ dùng tên giả, tạm thời giấu đi tên thật để tránh khỏi những đối tượng có tật giật mình, sẽ làm tăng thêm không ít phiền não.

Trong sách có thiện.

Trong sách có ác.

Họa phúc chẳng có cửa, chỉ do người ta tự tạo.

Thân phận của tôi trong cuốn sách này chính là: "Mật Mật Mật Như Lai trụ Âm Tào Địa Phủ giám sát đặc sứ".

Oa! Mật hiệu này thật là vĩ đại làm sao!


### 03. **Bí mật về Thành Cát Tư Hãn**


Tôi ở Âm tào địa phủ gặp được một nhân vật anh hùng, không ngờ lại chính là thủy tổ của đế quốc Đại Mông Cổ nổi danh trong lịch sử - Thành Cát Tư Hãn (Thiết Mộc Chân). [ **ND**: tên khai sinh của Thành Cát Tư Hãn Genghis Khan ]

Vị đại Khan đời thứ nhất của đế quốc Mông Cổ là hoàng đế Thành Cát Tư Hãn. Thành Cát Tư Hãn có xây chùa, đặt tên là Thái Miếu. Nguyên Võ Tông ban cho ông danh hiệu là: Pháp Thiên Khải Vận Thánh Võ Hoàng Đế.

Tháng 12 năm 1999, tuần san Times [ **ND**: tờ Thời Đại ] của Mỹ đã bình chọn ông là một trong những nhân vật vĩ đại nhất của Thiên niên kỉ thế giới. Thành Cát Tư Hãn được xếp hạng là một trong số những nhân vật của Thiên niên kỉ, là người ở vị trí thứ 22 của châu Á, người ở vị trí thứ 17 là ngài Gandhi của Ấn Độ.

Ngày sinh: 31 tháng 5 năm 1162.

Ngày mất: 25 tháng 8 năm 1227.

Thủy tổ của đế quốc Đại Mông Cổ Thành Cát Tư Hãn này lúc còn tại nhân gian đã được nghìn nghìn vạn vạn người sùng bái. Thời học tiểu học tôi đã từng đọc những truyền kì về ông, rằng ông là một anh hùng, một đại anh hùng. Ông đã chinh phục được rất nhiều quốc gia, xâm lấn vào châu Âu, chiếm phía bắc biển Đen, chiếm nhiều vùng lãnh địa Âu Á.

Tôi ở trong Âm tào địa phủ gặp được nhân vật lớn này, hóa ra là ông ta ở trong địa ngục, chẳng biết khi nào mới được ra. Tiền kiếp của tôi có một kiếp là Lý Hiển – vị hoàng đế cuối cùng của vương triều nhà Tây Hạ.(*) Hồi đó, trong di chiếu của Thành Cát Tư Hãn có nói muốn chặt đầu Lý Hiển. Tôi chính là người bị chặt đầu - Lý Hiển.

Hôm nay.

Tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) đối thoại với đại hoàng đế Thành Cát Tư Hãn, chẳng phải là nhân duyên trùng hợp hay sao?

Tôi hỏi Thành Cát Tư Hãn:

"Ông có hối hận không?"

Đáp: "Hối hận. Thực sự nghiệp sát quá nặng."

Hỏi: "Rốt cục là ông chết thế nào?"

Đáp: "Cưỡi trên lưng ngựa, bị sét đánh trúng, ngã ngựa mà chết."

Hỏi: "Vì sao mà bị sét đánh trúng?"

Đáp: "Giết người máu chảy thành sông. Tôi đã giết nghìn nghìn vạn vạn người, xâm chiếm vô số quốc gia, phần lớn đều là tàn sát hàng loạt."

Hỏi: "Đây là nhân quả chăng?"

Đáp: "Là nhân quả."

Thành Cát Tư Hãn tự mình nói:

"Tâm phục thù của tôi rất mạnh, bởi vì gia tộc Thiết Mộc Chân đã từng ba lần bị tấn công, nhà tan cửa nát, người chết gần hết. Tôi thề báo thù cho gia đình, mất răng đền răng, mất mắt đền mắt, do đó sau khi mở rộng thế lực lớn, tôi trở nên khát máu, một lòng muốn tiêu diệt kẻ khác, thống nhất thế giới."

Hỏi: "Có ai khuyên nhủ ông không?"

Đáp: "Có."

Hỏi: "Là ai?"

Đáp: "Là chân nhân Khâu Trường Xuân (Khâu Sở Cơ). Là Toàn Chân Giáo của đạo gia bắc phái."

[ **ND**: Toàn Chân Giáo, còn gọi là Toàn Chân Đạo, nghĩa là giáo phái toàn hảo, là một giáo phái của Đạo giáo ở phương bắc. Tôn chỉ của Toàn Chân Giáo là quên mình phục vụ xã hội, cứu giúp chúng sinh, tôn trọng sự thật, được dân chúng rất kính trọng. ]

Hỏi: "Ông ấy khuyên điều gì?"

Đáp: "Đừng giết quá nhiều người, đặc biệt là những người vô tội, nhưng, tôi đã không nghe."

Hỏi: "Ông bị nhốt trong địa ngục này bao lâu mới có thể được ra?"

Đáp: "Chẳng thể nào ra được!"

Hỏi: "Vì sao vậy?"

Đáp: "Tôi biết ông là Lý Hiển, cũng là bị tôi hạ lệnh giết. Người đã giết Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn còn có thể nào thoát ra khỏi đây được sao?"

(*) Trong lịch sử, có Lý Hiển (Tây Hạ Mạt Chủ Nam Bình Vương Lý Hiển), là vị hoàng đế cuối cùng của nhà Tây Hạ, bị Thành Cát Tư Hãn ra lệnh giết theo di chiếu (vào tháng 8 - năm 1227 sau Công nguyên).


### 04. **Bí mật về Độc Nê Châu**


Tôi đã đến Độc Nê Châu, chứng kiến một đầm lầy xa tít mù tắp. Kì thực nó không phải là một đầm lầy mà là một vùng đất lầy lội rộng mênh mông, nhìn thì tưởng là đất, nhưng lại không thể đi trên đó được. Bởi vì hễ đi lên là bùn sẽ lún xuống, nuốt sống lấy người và súc vật, đầu tiên là chân, rồi đến bụng, rồi đến cổ, cuối cùng là đầu, thế là chết! Nhưng, trong chốc lát, cái chết này lại lặp lại từ đầu.

Ở đây đầy ắp:

Sự kinh hãi.

Nỗi ghê sợ.

Cái chết đau đớn.

Vùng vẫy.

Phía trên của Độc Nê Châu có vô số muỗi độc, côn trùng độc, chỉ cần có kẻ tội nhân nào thò đầu lên là muỗi độc, côn trùng độc sẽ lao vào đốt cắn, đau đớn không gì sánh bằng. Còn thụt đầu xuống là sẽ bị bùn độc lấp đầy mũi, chẳng có cách nào thở được, bị ngạt mà chết.

Tôi chỉ thấy:

Độc Nê Châu đầu người trồi lặn như sóng cuồn cuộn, cái này nổi lên cái khác lại chìm xuống.

Tôi hỏi:

"Vì nguyên nhân gì?"

Minh sứ đáp:

"Ngày xưa có một con thuyền lớn chở mấy trăm người đâm phải đá ngầm, thuyền bị chìm xuống nước, mấy trăm người rơi xuống biển. Bờ biển gần đó có một ngôi làng, trưởng làng là Hoàng Nguyên Thọ, ông ta tận lực hô hoán thanh niên trai tráng đi cứu người. Nhưng trong làng cũng có một kẻ độc ác, tên là Diêu Nam Giả, kêu mọi người đừng đi cứu người."

Trưởng làng hỏi:

"Vì sao không cứu người?"

Diêu Nam Giả đáp:

"Chẳng được thưởng tiền thì cứu người làm gì?"

Trưởng làng nói:

"Cứu một mạng người công đức lớn như xây bảy ngôi chùa. Nay ở đây tôi có ba mươi hai nén bạc, đem chia cho mọi người đi cứu người."

Diêu Nam Giả đáp:

"Không đủ để chia cho mọi người!"

Trưởng làng hét lên:

"Cứu người là chuyện khẩn cấp, mau đưa thuyền cá ra cứu."

Nhưng tất cả thanh niên trai tráng đều nghe theo Diêu Nam Giả, đứng im bất động, khoanh tay không cứu. Trưởng làng một mình lái bè trúc đi ra biển cứu người.

Toàn bộ thanh niên trai tráng trong làng cười lớn ha ha ha, chế giễu trưởng làng là ngu ngốc, chuyên làm những việc chẳng có lợi gì cho mình. Kết quả là trưởng làng Hoàng Nguyên Thọ bị lật bè trúc và cũng bị chôn sống trong lòng biển.

Còn Diêu Nam Giả kia không những thấy người gặp nạn không cứu, lại còn bảo người khác không cứu. Sau đó Diêu Nam Giả lên làm trưởng làng, hơn nữa còn chiếm đoạt luôn cả toàn bộ tài sản của vị trưởng làng cũ.

Minh sứ nói:

Vị trưởng làng Hoàng Nguyên Thọ đó chính là tiền kiếp của ngài. Hơn nữa Độc Nê Châu hóa hiện lên cũng chính là tái hiện lại sự việc lật thuyền. Cả ngôi làng đó, Diêu Nam Giả và những thanh niên trai tráng đều ở trong Độc Nê Châu, chính là những người hết nổi lại chìm kia.

Về sau:

Hễ ai thấy người chết mà không cứu, đều sẽ bị tống xuống Độc Nê Châu, chịu cảnh chết đi sống lại, sống rồi lại chết.

Minh sứ hỏi:

"Thế còn Diêu Nam Giả kia, ngài biết là ai không?"

Tôi nhập định một lát thì đã hiểu ra rồi.

Tôi nói:

"Là XXX."

Minh sứ đáp:

"Chính là XXX."

Tôi nghe xong mà kinh hãi. Thiện có thiện báo, ác có ác báo, nhân quả này cũng giống như cái bóng của con người ta, luôn luôn theo sát bên ta, tuyệt đối đừng phạm lỗi lầm. Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn tôi đây trong một kiếp là Hoàng Nguyên Thọ, cho dù cứu người không thành, nhưng đã phát tâm cứu, việc này đã trở thành tư lương cho việc tôi chứng ngộ Phật tính sau này.

Chuyện này thật khiến người ta thở dài cảm thán!

[**ND**: Độc Nê Châu: đây là tên gọi của một cõi giới địa ngục, tên gọi này cũng có ý nghĩa là vùng đầm lầy độc địa.]


### 05. **Bí mật về Thánh Teresa**


Trong cuốn "Thiên cung mật lục" [ **ND**: sổ ghi chép của cõi trời ], tôi đọc được một đoạn thông tin có liên quan đến thánh Teresa, nói rằng Teresa hiện đang ở trong địa ngục. Tôi đọc thấy mà kinh ngạc.

Thánh Teresa của Ấn Độ, lúc còn sống là người rất quảng đại, có tấm lòng từ bi, thường im lặng ít lời, là một con người chất phác, chưa từng phụ người. Cả một đời Teresa tham gia vào các công tác cứu tế người nghèo, phục vụ mỗi con người như phục vụ thượng đế. Sự nghiệp tế thế từ bi của bà nổi danh khắp thế giới.

Bà chưa từng nói xấu người ta, chưa từng làm việc gì xấu đối với người khác. Số người được bà cứu và cảm hóa đương nhiên là rất nhiều. Bà đã đạt giải thưởng Nobel. Sau khi qua đời, Thiên Chúa Giáo đã phong cho bà là Thánh.

Thánh Teresa - mọi người đều nghĩ rằng hẳn là bà đang ở trên thiên đường cùng với Thượng Đế.

Hoan hỷ.

Vui vẻ.

Hưởng phúc.

Thế nhưng Thánh Teresa lại không hề đang ở trên thiên đường hưởng phúc, mà lại ở trong địa ngục, làm sao mà chẳng khiến người ta không ngớt kinh ngạc!

Tôi đã gặp bà ở Uổng Tử Thành [ **ND**: thành phố của những người chết oan uổng ]. Tôi hỏi:

"Bà không ở thiên đường, lại ở địa ngục làm gì vậy?"

Bà đáp:

"Tôi là người sống trong địa ngục."

Tôi hỏi:

"Chỗ này là thế giới bẩn thỉu, nhơ nhuốc, khổ nạn và u tối, chẳng có người nào thánh tiết đến đây cả."

Bà đáp:

"Tôi không ở chốn tươi sáng, tôi vĩnh viễn phải ở nơi tăm tối."

Tôi hỏi:

"Vì sao vậy?"

Bà đáp:

"Nơi u tối nhất mới là thiên đường của tôi."

Tôi hỏi:

"Không ở thiên đường mà lại ở địa ngục, thật là khó hiểu!"

Bà đáp:

"Tôi từ bi tế thế, không phải là để được lên thiên đường nên mới từ bi tế thế, không phải là để hưởng phúc nên mới từ bi tế thế, không phải là muốn vui vẻ nên mới từ bi tế thế, không phải vì muốn được gọi là Thánh nên mới từ bi tế thế."

Tôi hỏi:

"Thế mục tiêu của bà là gì?"

Bà đáp:

Đơn giản - cả một đời giản dị, không mong cầu, không mục tiêu.

An tịnh - âm thầm, lặng lẽ làm việc.

Nền tảng - cơ bản là tấm lòng từ bi.

Phúc - có thể được như thế này chính là phúc.

Tôi nghe xong rất cảm động.

Tôi nhìn dáng dấp Thánh Teresa từ phía sau lưng gầy gầy nhỏ nhỏ, bà ở trong Uổng Tử Thành này mà vẫn giữ được tinh thần như vậy, dựa vào sức mạnh này của bà để an ủi và giúp đỡ những chúng sinh khổ nạn ở nơi đây.

Tôi bỗng nhiên nhớ đến ba cấp bậc tu đạo.

Hạ sĩ đạo - đến được cõi chư Thiên đẹp đẽ.

Trung sĩ đạo - đến được Phật quốc tịnh độ.

Thượng sĩ đạo - thành Phật Bồ Tát.

Vậy thánh Teresa là cấp bậc tu đạo nào?

Tôi hỏi Địa Tạng Vương Bồ Tát:

"Thánh Teresa vì sao lại đọa thân dưới địa ngục?"

Địa Tạng Vương Bồ Tát đáp:

"Có hai loại người xuống địa ngục, một là người có nghiệp tội rất nặng, hai là người có nguyện lực cực lớn. Thánh Teresa là người có nguyện lực rất lớn, con người thuộc dạng này chính là Bồ Tát chân chính đó!"

Tôi hỏi:

"Thánh Teresa liệu có ra khỏi địa ngục không?"

Địa Tạng Vương Bồ Tát đáp:

"Bà ấy sẽ không ra. Ra khỏi địa ngục để làm gì?"

[**ND**: Thánh Teresa: một nữ tu và nhà truyền giáo Công giáo Roma người Ấn Độ gốc Albania. Bà sáng lập ra Dòng thừa sai bác ái, hơn 40 năm chăm sóc cứu tế người nghèo. Năm 1979 bà đã được trao giải Nobel Hòa bình.]


### 06. **Bí mật về người què chân**


Có một hôm tôi đến khu vực đình Long Thần, phát hiện thấy có rất nhiều ác quỷ tụ tập tại ngôi đình này.

Tôi gọi một ác quỷ lại hỏi:

"Các người tập trung lại ở đây làm gì vậy?"

Ác quỷ đáp:

"Nghe hai đệ tử của ông buôn chuyện!"

"Buôn chuyện gì?"

"Chuyện tầm phào."

Tôi hỏi:

"Các người thích nghe buôn chuyện tầm phào à?"

Ác quỷ đáp:

"Ác quỷ chúng tôi đúng là thích chuyện tầm phào, loài người các ông chẳng phải là rất thích ngồi lê đôi mách sao."

Tôi á khẩu không nói.

Tôi hỏi:

"Thế hai đệ tử này buôn chuyện tầm phào gì vậy?"

Ác quỷ đáp:

"Bọn họ buôn vài chuyện thị phi của nhân viên hoằng pháp chùa XX, còn kể là nhân viên hoằng pháp chùa XX này tham tiền như thế nào, nhân viên hoằng pháp chùa XX tham sắc thế nào, việc nhân viên hoằng pháp tranh quyền lực, tranh giành địa bàn."

Tôi hỏi:

"Có phải sự thực không?"

Ác quỷ đáp:

"Đương nhiên là nghe đồn thôi, người nghe đồn xong thì đi buôn chuyện khắp nơi. Một phần thật, chín phần giả, tin đồn chính là như vậy." Tôi nói:

"Đệ tử nên giữ năm giới, tối kị nói lời hai lưỡi, ác khẩu, lời ong bướm, vọng ngôn, nếu làm vậy sẽ có báo ứng đó."

Ác quỷ đáp:

"Đương nhiên là có rồi."

Nửa đêm, tôi đi xuống địa ngục. Tôi trông thấy một hồn một phách của hai đệ tử nọ ở trong địa ngục bị trói chặt, chân bị đóng đinh. Hai đệ tử kêu la thảm thiết.

Minh sứ bèn hỏi:

"Đệ tử học Phật cần phải cẩn thận lời nói hành động, luôn phải niệm Phật trì chú, đọc kinh sách, phát Bồ Đề tâm, nói những lời tốt đẹp. Hai người các ngươi chuyên môn nói xấu người ta sau lưng, bởi vậy đóng đinh vào chân các người để cảnh cáo, để xem lần sau các người còn dám phạm tội không?" Hai đệ tử liền hét to:

"Không dám! Không dám!"

Kể ra cũng kì lạ. Hai đệ tử này kẻ trước người sau đều bị què chân, kêu la oai oái vì đau. Họ tìm đến tôi xin gia trì. Tôi nắn nắn vào chân họ, nắn vài lần thì chân họ cũng đỡ hẳn.

Họ hỏi:

"Vì sao chúng con lại bị què chân?"

Tôi đáp:

"Phạm giới vọng ngữ, cần cẩn thận lời nói hành động."

Tôi nói cho mọi người hay:

Phàm là một hành giả mà bàn luận những chuyện tầm phào của thế gian, đặc biệt là nhục mạ tăng chúng xuất gia, đã khiến cho quỷ thần phẫn nộ, nói gì đến việc nhục mạ tăng nhân, vậy là phạm vào giới luật của Phật Đà.  Người xuất gia sẽ có sự thưởng phạt từ vị trưởng lão xuất gia.

Người tại gia không thể lo chuyện của người xuất gia.

Điều này là giới luật của tăng đoàn.

Con người trong xã hội ngày nay không hiểu giới luật của Đức Phật, những ác nghiệp được tạo ra bởi thân, khẩu, ý cao như núi, sâu như biển. Do vậy vô hình trung khiến cho quỷ thần phẫn nộ, việc này rất nghiêm trọng.  Buôn chuyện tầm phào.

Hé lộ chuyện riêng tư của người khác.

Đều là những nghiệp tội rất nặng. Cẩn thận! Cẩn thận!


### 07. **Bí mật về Tổ sư Đạt Ma**


Theo truyền thuyết của Mật giáo Tây Tạng:

Tổ sư Đạt Ma ở Đông Thổ sau khi truyền pháp xong đã bị Lưu Chi Tam Tạng hạ độc sáu lần, lần cuối cùng thì đã mất mạng. Sau khi được mai táng, ngài liền dùng pháp độn thổ để rời bỏ Đông Thổ, trở về Tây Tạng.

Về sau khi mở quan tài của ngài ra, người ta chỉ thấy có một chiếc dép cỏ. Tổ sư Đạt Ma trở về Tây Vực liền được gọi là "Quảy dép về Tây". Tổ sư Đạt Ma trên đường trở về Tây Trúc đã đi qua Tây Tạng, ngài liền ở lại Tây Tạng truyền pháp, pháp mà ngài truyền được gọi là pháp Cổ Lý Tát, thành lập phái Hy Giải.

Danh hiệu của Tổ sư Đạt Ma ở Tây Tạng được gọi là: Dampa Sangye.

Trong truyền thuyết:

Dampa Sangye và tổ sư phái Mũ trắng Milarepa đã từng gặp mặt nhau. Phái Hy Giải ở Tây Tạng bây giờ không còn tồn tại nữa. Nhưng pháp của phái Hy Giải lại có ảnh hưởng rất lớn đến Tạng mật. Pháp này có tư tưởng của Thiền tông. Đệ tử năm đó rất nhiều, cũng từ phái này mà xuất hiện rất nhiều đại thành tựu giả, ví dụ như Mã Cát Lạp Tôn cũng là một trong số đó.

Tôi ở Âm tào địa phủ.

Tổ sư Đạt Ma đến địa phủ để thuyết pháp, tôi cũng tham dự pháp hội này. Ban đầu tôi ẩn thân dưới một cột trụ lớn, lúc sau tôi mới nhập vào trong đám linh hồn ma quỷ. Tôi đảnh lễ Tổ sư Đạt Ma.

(Bởi vì trong truyền thừa của Thiền tông, tại một kiếp quá khứ, tôi đã từng là đệ tử truyền đời thứ sáu của Tổ sư Đạt Ma, vậy nên cần đảnh lễ Tổ sư Đạt Ma. Hơn nữa trong kiếp hiện tại của tôi, vị thầy cạo đầu xuất gia cho tôi là đại hòa thượng Quả Hiền, cũng là một sư phụ của phái Lâm Tế Tông. Bởi vì hai điểm này nên tôi cần phải đảnh lễ Tổ sư Đạt Ma mới là phải phép.)

Nhưng tôi vừa đảnh lễ thì xảy ra chuyện kì lạ. Tôi không ngờ lại biến thành Tổ sư Đạt Ma. Hơn nữa, lại không ngờ là Tổ sư Đạt Ma đang ngồi trên pháp tọa đã biến thành Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Hai người hoán đổi vị trí cho nhau.

Tôi hỏi:

"Sao lại thành ra thế này nhỉ?"

Tổ sư Đạt Ma đáp:

"Bây giờ thân phận của ngài khác rồi, ngài là Mật Mật Mật Như Lai, là địa vị của Phật, tôi nên đảnh lễ ngài mới đúng."

Tôi nói:

"Trong quá khứ, tôi là đệ tử truyền đời thứ sáu của Tổ sư, còn kiếp này, tôi được pháp sư Quả Hiền xuống tóc, tôi nên đảnh lễ ngài mới đúng." Tổ sư Đạt Ma nói:

"Ngài phục vụ tôi nhiều, tôi phục vụ ngài ít, tôi nên đảnh lễ ngài!"

Tôi nói:

"Ai đảnh lễ ai?"

Tổ sư Đạt Ma dùng thiền cơ đáp:

"Bản lai vô nhất lễ." [ **ND**: vốn dĩ chẳng có cái gì là đảnh lễ ]

Tôi nói:

"Vạn tượng thâm nghiêm, có trước có sau, lễ chẳng thể mất."

Hai người cười lớn ha ha.

Tổ sư Đạt Ma ở tại Âm tào địa phủ giảng về đạo hiếu. Tổ sư Đạt Ma nói:

Thiên địa quân thân sư, thế nhân nghi cung kính, nếu không, luân thường sẽ mất.

[ **ND**: con người thế gian cần kính trọng trời đất, vua, cha mẹ, thầy, nếu không thì sẽ chẳng còn giữ được những mối quan hệ đúng đắn giữa người với người ]

Cũng không thể chỉ biểu hiện cung kính bên ngoài, còn trong lòng thì lại đầy một bụng phỉ báng. Bên ngoài thì giống như quân tử khiêm nhường, nhưng trong lòng thì lại phỉ báng, như vậy gọi là một bụng phỉ báng.

Thế gian bây giờ, con người ác nghiệt nhiều, người rộng lượng thì ít, bởi vậy người lên trời thì ít, người xuống địa ngục thì nhiều.

Con người đừng học thói ác nghiệt!

Hãy học cách rộng lượng!

Người ác nghiệt thì bản thân cao ngạo tự phụ, thường thường không để ý đến quan hệ tình cảm, thế nhưng lại tự ảo tưởng cho rằng bản thân mình là thánh hiền quân tử.

Người học Phật nếu như cũng ác nghiệt thì không những càng ngày càng xa rời Phật, mà kì thực cũng chẳng phải là học Phật, mà là học ma.

Các bạn nói xem có đúng vậy không?


### 08. **Bí mật về hang rắn**


Tôi từng đi qua một hang rắn trong địa ngục, gặp một bầy rắn cuộn xoắn chồng chéo lên nhau, thực sự khiến người ta sợ đến vỡ mật, phải có đến cả nghìn cả vạn con rắn độc. Chúng tụ lại một chỗ, con mắt lóe lên hung dữ, lưỡi thò thụt ra ngoài, khiến tôi thất kinh.

Loài động vật mà tôi sợ nhất trong đời này chính là rắn. Tôi thường nghĩ nếu như có người ném tôi vào trong bầy rắn, chúng chẳng cần cắn, tôi cũng đã chết vì sợ rồi.

Tôi trông thấy có một người ở trong hang rắn, bị bầy rắn trói chặt, toàn thân bị trăn quấn chặt, miệng anh ta bị rắn bịt lại, hai mắt bị rắn cắn nát. Tứ chi, da thịt đều bị rắn cắn tới mức nát bấy lộ cả xương trắng, cuối cùng chỉ còn lại một bộ xương khô. Xương khô này chỉ cần một cơn gió thổi qua là lại sống lại. Sau đó "màn biểu diễn" này lại bắt đầu lại từ đầu.

Trong lòng tôi không thể chịu đựng được khi nhìn cảnh này. Tôi hỏi:

"Người này vì sao bị như vậy?"

Minh sứ đáp:

"Người bị tống vào hang rắn chỉ bởi vì tâm tính của anh ta độc địa như rắn thôi!"

Tôi hỏi:

"Đã phạm tội gì?"

Minh sứ đáp:

"Thế gian có một loại người tự cho mình là có chút tài cán và trí thức, thích bình luận những chuyện thị phi của người ta, thậm chí là văn nhân khẩu nghiệp, cho rằng mình có tài ăn nói và tài văn chương, khoa trương ăn nói, cười cợt chế giễu những điểm yếu của người khác cho sướng mình, để lộ ra những chuyện riêng tư của người khác, khiến suy giảm âm đức." "Người cực kì ác độc được gọi là Phật khẩu tâm xà, tâm địa gian trá, một bụng mưu mô hại người, bất trung, bất hiếu, bất tín, bất nghĩa, tâm của họ giống như rắn bọ cạp, bởi vậy sẽ gặp phải ác báo như vậy."

Tôi hỏi:

"Đây có phải khẩu nghiệp không?"

Minh sứ đáp:

"Chính là khẩu nghiệp."

Vọng ngôn --- những gì nói ra toàn là lời dối trá, lời suy đoán, lời đoán mò, cơ bản chẳng phải là sự thật.

Ỷ ngữ --- dùng hoa ngôn xảo ngữ để mê hoặc người khác, nói lời ong bướm, nói lời tán tỉnh phong hoa tuyết nguyệt.

Ác khẩu --- mở miệng ra là nói lời ác, hạ bút là viết lời thô tục, hung bạo, hận thù, độc địa, ác khẩu ác văn, lời nói giống như dao như kiếm, muốn đẩy người khác vào chỗ chết, dẫm đạp lên nhân cách của người khác.

Hai lưỡi --- mượn A chửi B, mượn B chửi A, xúi bẩy kích động chuyện thị phi của người khác, bêu riếu khiếm khuyết của người khác, soi mói chuyện riêng tư của người khác.

Những việc này đều là khẩu nghiệp.

Tôi hỏi:

"Cái người vừa bị đẩy vào hang rắn kia là ai?"

Minh sứ cười đáp:

"Ông ta là Thái Thuận."

"Á! Là ông ta!"

Minh sứ nói:

"Ông ta là người công kích ngài sớm nhất, thấy ngài viết sách mà nổi danh bèn nghĩ kế hãm hại ngài. Làm người nham hiểm xảo trá, khi còn trẻ, ông ta có chút tài hoa, do vậy đã viết sách để phỉ báng ngài."

Minh sứ lại nói:

"Lấy vợ thì vợ chết, đến những năm cuối đời thì con trai, con gái đều gặp tai nạn xe mà chết, chỉ còn lại một thân một mình ông già nghèo đói, sa sút đến mức không đủ cơm ăn áo mặc. Ông ta thỉnh cầu Thành Hoàng vì sao lại như vậy?" 

Minh sứ nói tiếp:

"Thành Hoàng Thần Minh nói với ông rằng, ông đã nhục mạ thánh hiền, ông đã tạo ác nghiệp rồi, nên mới có ngày hôm nay, vợ bệnh chết, con trai con gái bị tai nạn xe chết. Nay thọ mệnh của ông cũng sắp hết rồi, ông vẫn cho rằng chỉ là nhà tan cửa nát mà thôi, chỉ là cuộc sống nghèo đói mà thôi. Nhưng thực ra ông đã sắp xuống địa ngục rồi, bị đọa vào hang rắn chết đi sống lại nghìn vạn lần, cho dù có chuyển thế thì cũng chỉ làm kẻ hạ tiện mà thôi."

Tôi nghe mà thất kinh.

Tôi hỏi:

"Việc này cần làm sao cho tốt?"

Minh sứ đáp:

"Ngài có thể dùng pháp lực siêu độ cho ông ta, như vậy thì sau này ông ta chắc chắn sẽ là đệ tử của ngài!"


### 09. **Bí mật về nhà sắt nung**


Tôi đã từng đến địa ngục nhà sắt nung, đó là một căn phòng bốn mặt bằng sắt. Nhà sắt này làm tôi nghĩ đến những căn nhà tổ hợp ở Đài Loan.

Tôi hỏi:

"Ở đây cũng có nhà tổ hợp à?"

Minh sứ đáp:

"Đây không phải nhà tổ hợp, mà là nhà sắt nung của địa ngục."

"Nó dùng để làm gì?"

Minh sứ đáp:

"Để nhốt phạm nhân, sau đó nhà sắt sẽ từ từ nóng lên, tốc độ tăng nhiệt không nhanh, nhưng cũng không chậm. Nhiệt từ từ tăng lên, phạm nhân ở trong cái lò đóng kín giống như con kiến trong lò lửa không có lối thoát, kêu gào van xin thảm thiết, da bị nung chảy máu. Khi nóng nhất, toàn thân cháy xém, trở thành cục than đen, mùi khét lẹt khắp nơi, đến cuối cùng thì tất cả đều cháy hết, chỉ kịp hét lên một tiếng là chết!"

Tôi nghe mà thất kinh!

Minh sứ nói:

"Đây là một kiểu hình thức khác của vạc dầu sôi. Đến khi phạm nhân chết rồi, nhà sắt nung sẽ nguội, tử thi chỉ cần một cơn gió thổi qua là lại sống lại. Nhà sắt nung lại nóng lên, nóng đến khi đốt cháy phạm nhân thành than cốc, cứ như vậy sống rồi lại chết, chết rồi lại sống, trải qua vô số kiếp, chẳng biết đến ngày nào mới thoát ra được."

Tôi nghe mà cũng túa mồ hôi.

Tôi lại gần một nhà sắt nung, đi vào ngó xem, bên trong chẳng có thứ gì cả, bốn phía đều là tường sắt, không một bóng người.

Tôi hỏi minh sứ:

"Phòng này không có người à?"

Minh sứ đáp:

"Phòng này vẫn đang đợi khách!"

"Đợi ai?"

Minh sứ cười:

"Một phụ nữ."

"Phụ nữ à?" - Tôi hỏi.

"Đúng vậy, là nữ."

Minh sứ nói:

"Người nữ này dâm niệm rất nặng, nội tâm không thanh tịnh, hành dâm với vô số đàn ông, đi tới đâu là phá thai tới đó, hại chết không biết bao nhiêu thai nhi. Không chỉ như vậy, cô ta có tính đố kị rất mạnh, tính ghen tuông rất mạnh, đàn ông hễ muốn rời bỏ là cô ta bày kế hạ tiện để làm hại anh ta. Không phải là chỉ lên cơn tức tối một lúc mà là tức giận đến mức làm hại đàn ông, từ đó chiếm đoạt tiền bạc."

Tôi nhớ trong "Nhập Bồ Tát Hạnh" có viết:

"Bất luận bạn đã từng làm bao nhiêu việc thiện, ví dụ như cúng dường chư Phật hoặc bố thí cho chúng sinh, mấy nghìn kiếp tích tập thiện nghiệp đều có thể bị hủy hoại hết chỉ trong một phút lên cơn tức giận."

"Nhập Trung Luận" có viết:

"Trong tích tắc nổi lên lòng sân hận thì cũng đủ để phá hủy hết thiện nghiệp tích lũy trong hàng trăm kiếp."

Minh sứ nói:

"Người nữ này phạm vô số dâm nghiệp, hơn nữa lại còn nhân đó mà chiếm đoạt tiền tài, hại chết vô số thai nhi. Nếu đàn ông nào không theo cô thì cô liền đố kị, ghen tuông, hãm hại, những việc ác cô đã phạm phải vô cùng vô tận."

Còn nữa:

"Người nữ này ác tâm không dừng dứt, ác niệm không dừng dứt, việc ác không dừng dứt, sau khi chết sẽ lập tức rơi vào địa ngục nhà sắt nung."

Còn nữa:

"Đây không phải là lửa sân hận trong chốc lát mà là lửa sân hận đại ác, bởi vậy mới rơi vào địa ngục này."

Tôi nhớ đến những lời vàng của cổ nhân:

Đừng có tâm nham hiểm.

Đừng có tâm hận thù.

Đừng có tâm soi mói chuyện riêng tư của người khác.

Đừng có tâm soi mói khuyết điểm của người khác.

Đừng có tâm đố kị với tài năng của người khác.

Đừng có tâm phỉ báng thánh hiền.

Đừng có ghen tức với thành công của người khác.

Đừng có tâm bày kế hãm hại người khác.

Đừng có tâm lừa người chiếm đoạt tài sản.

Còn cảm tưởng của tôi thì:

*Ôi phòng sắt nung! Ôi phòng sắt nung!*

*Mặt trắng phù dung (*) cũng chỉ là đầu lâu đắp thịt!*

*Dù xưa phong lưu, giờ cũng ở đây!*

*Ngọn lửa sân hận, chớp mắt chẳng còn!*

(*) Mặt trắng trẻo xinh đẹp và mong manh như đóa hoa phù dung.


### 10. **Bí mật về yêu ma**


Tôi đến Hắc Sâm Lâm [ **ND**: khu rừng sâu đen tối ] trong địa ngục, ở nhờ nhà của một quỷ dân, quỷ dân trong nhà này thường xuyên bị yêu ma quấy nhiễu. Tôi hỏi minh sứ:

"Hộ gia đình này cũng là quỷ dân, thế mà lại vẫn bị quấy nhiễu?"

Tôi cảm thấy rất kì lạ.

Minh sứ đáp:

"Thế gian có một loại người tâm niệm bất chính, nhưng vẫn không tạo nghiệp ác lớn, sau khi chết thì sẽ bị rơi vào địa ngục Hắc Sâm Lâm, chịu cảnh bị yêu ma quấy nhiễu."

Tôi vô cùng kinh ngạc:

"Chỉ là tâm niệm bất chính, thế mà phải chịu quấy nhiễu, thật là quá kì lạ."

Minh sứ đáp:

"Tâm niệm bất chính, ma quỷ liền nhập vào, vốn dĩ là như vậy."

Tôi lại hỏi:

"Yêu ma từ đâu đến, địa ngục có không?

Minh sứ đáp:

"Yêu ma đến từ tâm, tự chính tâm mình đã dẫn dắt yêu ma của Hắc Sâm Lâm đến."

Đêm đó, tôi ở tại Hắc Sâm Lâm. Đêm đó yêu ma không xuất hiện. Người chủ gia đình thấy vô cùng kì lạ, bởi vì yêu ma đêm nào cũng tới quấy nhiễu, tại sao trong nhà có khách thì yêu ma liền không đến nữa. Họ hỏi minh sứ: "Vì sao có khách đến, yêu ma không đến nữa?"

Minh sứ đáp:

"Người khách này không thể xem thường, yêu ma không dám tới."

Quỷ dân hỏi:

"Là khách nào?"

Minh sứ đáp:

"Mật Mật Mật Như Lai trụ Âm tào địa phủ giám sát đặc sứ."

Quỷ dân sững người:

"Là Như Lai ở nhà tôi!"

Lúc tôi ở nhà anh ta, yêu ma đều không tới. Tôi vừa đi khỏi, yêu ma lại tới. Cuối cùng, quỷ dân cầu xin tôi viết một thẻ chữ dán ở trong nhà anh ta.

Tôi nghĩ một lúc rồi viết xuống mấy chữ:

"Kiến tự như kiến nhân." [ **ND**: thấy chữ như thấy người ]

Kí tên: "Mật Mật Mật Như Lai trụ Âm tào địa phủ giám sát đặc sứ." Lần này, thực sự yêu ma lại không dám đến quấy nhiễu nữa.

Mọi nhà quỷ dân khác ở trong Hắc Sâm Lâm nghe được tin tức này liền lũ lượt đến cầu xin tôi viết chữ. Tôi lần lượt viết cho họ.

Minh sứ nói:

"Tất cả tà ma, yêu ma đều bởi vì tâm niệm bất chính của con người nên mới nhập vào quấy nhiễu. Nếu như là một chính nhân quân tử, quang minh thanh tịnh, thì thần minh sẽ bảo vệ họ, khiến cho yêu ma ác quỷ không dám xâm phạm. Việc này nghĩa là tà không thể thắng chính. Ở đây là hễ nhìn thấy chữ của Lư Sư Tôn liền tránh xa."

Tôi tổ chức một pháp hội tại Hắc Sâm Lâm. Tôi dạy quỷ dân tu pháp Cửu tiết Phật phong.

1. Cửu tiết Phật phong là cơ sở tu luyện của Mật giáo, ý nghĩa của nó vô cùng quan trọng.

1. Tập trung vào hơi thở, lỗ mũi trái, lỗ mũi phải, hai lỗ mũi, hít thở một vòng tuần hoàn đủ chín lần.

1. Hít vào là nghiệp tốt màu trắng, thở ra là nghiệp xấu màu đen.

1. Trải qua chín lần biến chuyển sẽ làm cho người tu hơi thở tập trung vào sự ra vào của hơi thở mà có thể chặn lại những suy nghĩ tà ác.

1. Tinh thần hoàn toàn tập trung.

1. Chính là dựa vào nhất niệm mà phá bỏ vọng niệm.

1. Có thể nhập định.

1. Tạo lập căn cơ làm nền tảng cho thiền định.

Tôi khiến cho toàn bộ quỷ dân của Hắc Sâm Lâm đều luyện Cửu tiết Phật phong, quỷ dân chỉ cần luyện từ nửa năm đến một năm thì tất cả mọi suy nghĩ tà ác đều không còn nữa. Thật bất ngờ, quỷ dân không còn sợ yêu ma của Hắc Sâm Lâm nữa.

Nghe nói quỷ dân có thể rời khỏi địa ngục rồi.

Vạn tuế! Vạn tuế!


### 11. **Bí mật về đất nước người tí hon**


Tôi thực sự đã thấy đất nước người tí hon rồi, hơn nữa không phải là ở dương gian đi thăm quan địa danh của người lùn đâu.

Người lùn ở dương gian là do tỉ lệ người của họ bị thu nhỏ lại, trở thành người lùn, khiến cho người ta thích thú đến thăm quan những phiên bản con người thu nhỏ hoàn hảo có thật. Du lịch tới đất nước người lùn khiến người ta giật mình vì những điều kì lạ.

Còn như bây giờ là tôi ở âm gian cũng gặp được đất nước người tí hon, khiến cho tôi thật sự không ngớt kinh ngạc. Làm sao mà nơi đây cũng lại là một địa điểm tham quan nhỉ?

Minh sứ nói:

"Đây không phải là đất nước người tí hon cho dịch vụ du lịch tham quan đâu, người của đất nước người tí hon này là đất nước người sống thật sự." Tôi hỏi:

"Người sống thật, mà lại biến thành nhỏ thế này à?"

Minh sứ đáp:

"Ngài nhìn kĩ lại xem, đất nước này khiến cho những con người nhỏ bé kia đau khổ vạn lần."

Tôi đưa mắt nhìn chăm chú. Ồ! Quả nhiên là như vậy.

Rất nhiều người, đầu cực kì nhỏ, giống như một tấm thẻ treo trên cổ vậy, lắc lư lắc lư.

Rất nhiều người, tay cực kì ngắn, bàn tay gần như dính liền thân, chẳng có cách nào với tay ra, làm sao nắm được đồ vật?

Rất nhiều người, chân cực kì ngắn, đi bộ giống như chim cánh cụt, lắc bên đông, lắc bên tây, rất buồn cười.

Rất nhiều người, cơ thể gần như không có, chỉ có đầu, tay, chân gắn lại với nhau thành một khối, chẳng nhìn thấy thân người đâu.

Rất nhiều người, không mắt.

Rất nhiều người, không tai.

Rất nhiều người, không mũi.

Rất nhiều người, không miệng.

Rất nhiều người, không thân.

Rất nhiều người, không não.

Người trong đất nước người tí hon này cao cỡ ba thốn đinh, mệnh sống của họ chỉ là sáng sinh tối chết, tối chết sáng sinh, thậm chí có khi chết theo giây, chết theo phút, chết theo giờ, chết theo ngày.

Bệnh khổ thì không dừng dứt.

Từ xa nhìn vào, đất nước người tí hon này giống như một đám sâu bọ trên mặt đất, bò tới bò lui, bò đi bò lại.

Tôi hỏi minh sứ:

"Vì sao lại như vậy?"

Minh sứ đáp:

"Bọn họ đều là tiểu nhân, vốn dĩ là như vậy."

Tôi hỏi:

"Tiểu nhân như thế nào?"

Minh sứ đáp:

"Tự làm tự chịu mà thôi!"

Minh sứ nói:

Làm ăn giả dối, bớt xén một hai, là tiểu nhân về tay.

Không biết thật thà, quen thói giả mạo, là tiểu nhân về não.

Bớt xén vật liệu, là tiểu nhân không thân người.

Luôn suy nghĩ hại người, là tiểu nhân không não.

Trộm cắp, là tiểu nhân về tay.

Khoác lác lừa người thành thói là tiểu nhân về miệng.

Chuyên bới móc khuyết điểm của người khác là tiểu nhân về mắt.

Thích nghe chuyện ngồi lê đôi mách là tiểu nhân về tai.

Chuyên môn nói điều thị phi về người khác là tiểu nhân về miệng.

Ỷ lớn bắt nạt bé là tiểu nhân về thân.

Lừa gạt tiền của người khác là tiểu nhân về chân.

Lập mưu hại người là tiểu nhân về não.

Lừa ăn lừa uống là tiểu nhân về miệng.

Buôn bán hương thơm giả là tiểu nhân về mũi.

Lừa gạt phụ nữ để cướp đi trinh tiết là tiểu nhân về thân.

Lừa gạt đàn ông cũng tương tự.

Tham tiền là tiểu nhân, tham danh là tiểu nhân, tham sắc là tiểu nhân…

Trên đời này kẻ tiểu nhân rất nhiều, thế nên mới làm nên thế giới người tiểu nhân.

Tôi nghe xong mà lòng đau đớn vô cùng!

Tôi nói: "Đừng lấy bụng tiểu nhân đo lòng quân tử!"


### 12. **Bí mật về kẻ đi ngược**


Tôi gặp một loại người, họ là những người đi ngược, nghĩa là hình dạng bên ngoài của họ bị lộn ngược. Đầu quay về phía trước, chân quay về phía sau.

Nói cách khác là đầu và chân họ không giống như người bình thường. Người bình thường thì đầu hướng về phía trước, chân cũng hướng về phía trước, nhưng loại người này thì đầu hướng về trước, còn chân lại quay ra đằng sau. Bởi vậy khi đi đường, đầu họ quay về đằng sau 180 độ.

Nhìn kĩ hơn thì thấy mắt của họ có tròng trắng, nhưng lại không có con ngươi [ tròng đen ], đúng thực sự là có mắt không tròng. Bởi vậy họ cũng giống như là người mù có mắt không tròng vậy.

Những người này ở trên đỉnh núi cao mò mẫm loanh quanh, bốn xung quanh đều là sườn núi dốc đứng, hễ không cẩn thận là sẽ rơi từ đỉnh núi xuống vực sâu, thế là thịt nát xương tan, đau đớn tới mức kêu la oai oái, thế rồi chết.

Rồi cứ như thế mà lặp đi lặp lại việc này. (Nếu xong ở địa ngục này thì lại chuyển sang địa ngục khác.)

Tôi hỏi minh sứ:

"Đây là địa ngục gì vậy?"

Minh sứ đáp:

"Địa ngục phản nghịch."

Tôi vô cùng kinh ngạc.

"Những người này có mắt không tròng, hơn nữa còn đi ngược, chắc chắn là sẽ bị rơi xuống sườn núi mà chết, chẳng phải thế sao?" Minh sứ đáp:

"Những người phản nghịch thì đều rơi vào địa ngục này."

Tôi hỏi:

"Là loại người kiểu gì?"

Minh sứ nói:

Đề Bà Đạt Đa - kẻ phản đồ của Phật Thích Ca Mâu Ni. (quay lại công kích thầy) Lưu Chi Tam Tạng - kẻ đối địch của Tổ sư Đạt Ma.

Thao Phổ Geshe - đệ tử phản nghịch đầu độc Milarepa.

Khô Đôn - kẻ phản nghịch của Atisha Tôn giả.

Lục sư, Chiến Già, Tôn Đà Lợi, v.v… những kẻ công kích Phật giáo vào thời của Đức Phật.

Tần Cối - kẻ đã bẫy hại Nhạc Phi.

Bàng Quyên - kẻ đã bẫy hại Tôn Tẫn.

……

Tôi hỏi:

"Trần Quýnh Minh mưu hại Quốc phụ Tôn Trung Sơn cũng là như vậy phải không?" Minh sứ đáp:

"Đương nhiên cũng là như vậy."

Minh sứ nói tiếp:

"Những kẻ phản nghịch thì đều khó chạy thoát được khỏi địa ngục này."

"Thế còn bất hiếu với cha mẹ?"

"Phản nghịch."

"Thế còn bất kính với sư trưởng?"

"Phản nghịch."

Tôi bỗng dưng nhớ tới có một ni sư già đã lập nên một ngôi chùa lớn, thu nhận một số đồ đệ, trong số đó có một đồ đệ không thích ni sư già bởi ngài tuổi đã cao, không thể làm được việc, liền lập mưu làm hại ni sư già. Ấy vậy mà đồ đệ này còn là một đại đệ tử đó!

Đại đồ đệ này trước tiên đã bôi một lớp xà phòng lên sàn nhà tắm của ni sư già, xà phòng rất trơn, chỉ cần dẫm chân lên là trượt ngã tới mức tứ chi chổng lên trời, ni sư già chắc chắn sẽ chết mà không có chút nghi ngờ gì.

Ni sư già đi vào phòng tắm, chân vừa dẫm lên sàn, trượt một cái, quả nhiên là tứ chi chổng lên trời, đầu đập xuống bậc đá, mất mạng một cách đầy bi ai!

Đại đồ đệ danh chính ngôn thuận lên làm trụ trì. Ngày ngồi lên nhậm chức, quan lại tụ tập rất đông.

Tôi hỏi minh sứ:

"Ni sư già vãng sinh nơi nào? Đại đồ đệ này sau này vãng sinh về đâu?" Minh sứ đáp:

"Ni sư già trong tâm có Phật, đã vãng sinh đến Phật quốc tịnh độ. Còn đại đồ đệ này phản nghịch, chắc chắn sẽ rơi vào địa ngục này!"

Tôi nghĩ đến:

Người tu hành mà vẫn tranh danh đoạt lợi như vậy, vậy thì chẳng gọi là biết tu hành, lại càng chẳng biết thế nào nham hiểm xảo trá.

Lòng người thật đáng sợ!

Lòng người thật ghê gớm!


### 13. **Bí mật về thành phố Cực Lạc**


Tôi bất ngờ phát hiện thấy Âm tào địa phủ cũng có thành phố Cực Lạc. Phát hiện này khiến tôi vô cùng kinh ngạc.

Thành phố Cực Lạc này bốn bề hương thơm, ngửi thấy, như say như mê. Thành phố Cực Lạc này âm nhạc quyến rũ, nghe thấy, đắm đuối quay cuồng. Thành phố Cực Lạc có vô số "soái ca", thành phố Cực Lạc có vô số "lạt muội".

[ **ND**: "soái ca" là những anh chàng "hot boy" đẹp trai hấp dẫn, "lạt muội" là những cô gái "hot girl" xinh đẹp quyến rũ ]

Nam nam nữ nữ trong thành phố Cực Lạc nhảy múa hát ca, hôn hít thủ thỉ. Rất nhiều cặp nam nữ nhanh chóng không kiềm chế được, lộ liễu diễn "cảnh nóng". Thành phố Cực Lạc này giống như "home party" của hàng nghìn vạn người vậy. [ **ND**: home party - mở tiệc tại nhà ]

Miệng kề miệng.

Lỗ kề lỗ.

Lưỡi kề lưỡi.

Làm những chuyện "bí mật".

Tư thế của họ có đứng, có ngồi, có quỳ, có nằm, có thẳng, có lộn, có nghiêng, có thế "cắt kéo", có thế "kẹp giấy", có miệng kề lỗ, có lỗ kề miệng, đảo lộn lẫn nhau…..

Những khối thịt đó cùng nhau lăn lộn như những con trùng.

Rên rỉ nỉ non.

Muốn chết vì sướng.

Hỏa dục phừng phừng.

Kích thích kêu la.

Đây chính là khoái lạc lớn nhất của nhân gian, là trò vui của nhân gian, là cực lạc của nhân gian, lạc lạc lạc lạc lạc….

Những nam nữ này khi đến đỉnh điểm cao trào thì cùng nhau thăng hoa, sung sướng kiệt sức, dâm thủy ồ ạt, ôm nhau cùng ngủ.

Nhưng, sau khi tỉnh dậy thì mọi thứ hoàn toàn khác.

Thành phố Cực Lạc có bốn cửa.

Người đi ra cửa đông -- thân mọc đầy lông, biến thành các loài dê cừu chó. Người đi ra cửa tây -- thân mọc thêm cánh, biến thành các loài chim gà vịt. Người đi ra cửa nam -- thân mọc thêm miệng nhọn, biến thành các loài ruồi muỗi côn trùng.

Người đi ra cửa bắc -- thân mọc thêm vảy, biến thành các loài cá tôm cua. Bò trên đất.

Bay trên không.

Bơi trong nước.

Sinh ra trong bào thai, sinh ra nơi ẩm thấp, sinh ra trong trứng, sinh ra từ hóa sinh.

Những loại người này biến thành động vật, súc vật, cầm thú.

Tôi hỏi minh sứ:

"Những ai vào địa ngục này?"

Minh sứ đáp:

Thương Trụ Vương.

Ngô Phù Sai.

Đường Minh Hoàng.

Đường Bá Hổ.

v.v………………

Đều từng rơi vào địa ngục này.

Tôi nói:

"Họ đều là những người thân mang áo bào đầu đội mũ quan sao?"

Minh sứ đáp:

"Nếu không chịu tu thân, dưỡng tính, khắc chế, tự kiểm điểm mình, thì đều rơi vào địa ngục này, rơi vào tam đồ hắc đạo."

Tôi thở dài:

"Hoàng đế và anh hùng tuấn kiệt đều vốn là những người có vị trí cao, hưởng hết phúc báo ở nhân gian, nhưng lại chìm đắm trong thanh sắc thì cũng rơi vào tam đồ, bi ai làm sao!"

Minh sứ đáp:

"Cho dù có là thiên tử của 33 cõi trời, thì do đã hưởng cạn thiên lạc, cũng sẽ rơi vào trong đạo súc sinh."

Tôi hỏi:

"Những khi dối lòng nơi phòng tối, trời cũng vẫn biết sao?"

Minh sứ đáp:

"Cho dù có tìm cách bí mật, thì cuộc đời của con người đều có quỷ thần giám sát, ví dụ Tam Thái Thần, Bắc Đẩu Thần. Mỗi người đều có ba vạn sáu nghìn vị thần đi theo, hễ đi, đứng, ngồi, nằm, khởi tâm, động niệm, chẳng có gì là các vị không biết. Con người cho rằng chẳng có ai biết thì đó là tự lừa mình lừa người mà thôi."

Tôi nói:

"Hành giả có ba loại nghề không thể làm!"

1. Nghề giết mổ.

1. Tổ chức cờ bạc.

1. Kinh doanh sắc tình.


### 14. **Bí mật về hoàng đế Ung Chính**


Tôi đi qua một ngọn núi nọ, trên đỉnh núi có một con nửa người nửa thú sống ở đó. Đột nhiên nó biến thành cực to, rồi cũng đột nhiên lại biến thành cực nhỏ; đột nhiên nó bay vút lên, rồi cũng đột nhiên lại lẩn xuống đất. Tôi trông thấy cảnh tượng này cũng có phần thấy kì lạ.

Minh sứ thấy tôi ngạc nhiên, chỉ nói:

"Đó là hoàng đế Ung Chính."

Tôi lại càng tò mò:

"Hoàng đế Ung Chính, vì sao lại có thể ở đây?"

Minh sứ nói:

"Ông ta là King Kong biến hình ở Âm tào địa phủ của chúng tôi đó."

Tôi ngạc nhiên nói:

"King Kong biến hình?"

Minh sứ đáp:

"Hoàng đế Ung Chính, hỷ nộ bất định."

"Dận Chân [ **ND**: tên húy của Ung Chính ] biểu hiện bên ngoài là không tranh giành ngôi vị hoàng đế, nhưng lại bí mật đấu tranh mãnh liệt." 

"Tự gọi mình là người nhàn nhã nhất thiên hạ, nhưng lại câu kết với  Niên Canh Nghiêu và Long Khoa Đa để tăng trưởng thế lực."

"Khi hoàng đế Khang Hy băng hà, Long Khoa Đa tuyên chiếu truyền ngôi vị, truyền ngôi cho ai thì chỉ có bốn người biết."

"Ung Chính kế vị, đối với anh em ruột của mình thì bất nhân bất nghĩa, cho người giám sát mọi lúc mọi nơi, giáng xuống làm thường dân, thủ đoạn cay độc." 

"Hoàng đế Ung Chính đối với ân nhân của mình là Niên Canh Nghiêu đã ban cho cái chết, đối với ân công của mình cũng ban cho cái chết, tất cả đều chết." 

"Hoàng đế Ung Chính đã mở rộng nhà tù văn hóa, hại chết vô số sĩ tử, ví dụ như Cảnh Kì và Tiền Minh Thế."

"Ung Chính bị phê phán là đã trở thành một hoàng đế tàn nhẫn và vô tình, Ung Chính bị vạch trần là soán vị, đầu độc chết phụ thân, làm mẫu thân tức giận mà chết, không làm những việc ngay thẳng, đấu tranh với những người chống đối, nhưng ở âm gian lại có người phân xử."

"Trên thực tế, hoàng đế Ung Chính đã cải tổ không ít những bất lợi trong chính sách lỏng lẻo của hoàng đế Khang Hy. Nhưng hoàng đế Ung Chính chăm lo việc chính sự, lần lượt cải cách mọi thứ đi vào quỹ đạo đúng đắn, từ đó mới có thể khiến cho hoàng triều Mãn Thanh kéo dài liên tục nhiều năm như vậy. Ông chăm lo việc chính sự thì không có vị hoàng đế nào sánh bằng, đây là điểm đặc biệt duy nhất."

Tôi hỏi:

"Vì nguyên nhân gì mà Ung Chính bị đọa vào địa ngục?"

Minh sứ đáp:

"Nghi ngờ và đố kị!"

Tôi hỏi:

"Ông ta rất chăm lo việc chính trị cơ mà?"

Minh sứ đáp:

"Nhưng tâm địa tàn độc."

Tôi hỏi:

"Đọa địa ngục rồi sẽ thế nào?"

Minh sứ đáp:

"Thành King Kong biến hình, thế thôi!"

Tôi hỏi:

"Làm sao ông ta ra khỏi địa ngục?"

Minh sứ đáp:

"Hoàng đế Ung Chính tín ngưỡng Phật giáo, ông ta và Dalai Lama có giao tình không ít, lại qua lại thân mật với Chương Gia Hoạt Phật. Bản thân ông cũng có những ghi chép trên phương diện Phật học, cũng nghiên cứu Kim Cang Kinh và Ngũ Đăng Hội Nguyên, chỉ là ông chưa thể thực sự minh tâm kiến tính. Diêm Vương cho rằng chỉ cần hoàng đế Ung Chính minh tâm kiến tính thì tự mình có thể thoát khỏi thân làm Kinh Kông biến hình, nhờ đó có thể thoát khỏi tam đồ ác đạo."

Tôi hỏi minh sứ:

"Ông ta có thể làm được không?"

Minh sứ đáp:

"Khó lắm."

Tôi hỏi:

"Vì sao?"

Minh sứ nói:

"Hoàng đế Ung Chính ở trong địa ngục còn có thời gian rảnh rỗi mà tu hành sao? Có tám nơi không thể tu hành được. Đó là đạo địa ngục, đạo ngạ quỷ, đạo bàng sinh, nơi biên giới xa xôi, nơi cõi trời trường thọ, nơi người có tà kiến, nơi không có Phật xuất thế, và nơi người câm."

Tôi hỏi:

"Vì sao ông ta lại thành King Kong biến hình?"

Minh sứ đáp:

"Bởi vì tâm ông ta biến hình."


### 15. **Bí mật về địa ngục hàn băng**


Tôi nghe Trần Gia Bình nói:

Khi anh ta đi làm việc tại Cát Nhĩ Mộc tỉnh Thanh Hải, trời lạnh đất đóng băng, nhiệt độ là -27 độ C, chân bị đông cứng, tất cả các đầu ngón chân đều không còn cảm giác gì, những chỗ bị đóng băng thì các tế bào đều bị hoại tử.

Còn nữa:

Một đồng nghiệp cũ làm ở công ty công trình Trung Hưng, khi lên đỉnh núi Chomolungma, bỗng dưng cảm thấy mũi mình rất ngứa, dùng tay gãi gãi một cái, mũi liền rơi xuống, bỗng nhiên mất luôn cả mũi. Rồi tay bị đóng băng, chân bị đóng băng, tế bào hoại tử, bỗng nhiên tứ chi bị cắt cụt, trở thành người chỉ còn thân, khi đó nhiệt độ gần -100 độ C!

Tôi lại nghe nói:

Phương bắc Trung Quốc có bão tuyết.

Nhật Bản có bão tuyết.

Nước Mỹ có bão tuyết.

Nước Nga có bão tuyết.

Châu Âu có bão tuyết.

v.v……

Trong những tin tức báo cáo:

Có người ném một sợi dây vào trong thùng nước, sau đó ném ra ngoài cửa sổ, sợi dây không ngờ biến thành một cây gậy thẳng tưng, y như cây gậy dây.  

Có người để chuối ở bên ngoài, chỉ sau tích tắc cầm vào, quả chuối mềm không ngờ trở nên cứng như búa sắt có thể dùng để đóng đinh. Đem áo khoác bỏ vào trong nước, rồi lại nhấc lên, không ngờ lập tức biến thành băng, quần áo trở thành một khối băng cứng đặc. Có người đem nước máy hất ra ngoài, nước lập tức biến thành sương băng rồi trở thành trạng thái như phấn bột.

Trời ạ! Thực sự là lạnh ghê gớm!

Tôi lại nói về Âm tào địa phủ, ở đó có địa ngục hàn băng. Người sống trong địa ngục hàn băng khổ sở nhiều lần, mức độ lạnh hơn nhiều lần. Tôi hỏi minh sứ:

"Người thế nào thì phải sống ở địa ngục hàn băng?"

Minh sứ đáp:

"Người máu lạnh!"

Tôi hỏi:

"Người máu lạnh nghe hơi chung chung, có thể nói rõ hơn được không?"

Minh sứ đáp:

"Giết người không chớp mắt, tàn nhẫn không ghê tay, thì được gọi là máu lạnh. Đối với cha mẹ, thầy cô, ông chủ, ân nhân đều không chùn tay hạ thủ, thuộc loại người hoàn toàn vô tình vô nghĩa."

Còn nữa:

"Hoàn toàn không trung thành với anh em bạn hữu, không biết thương xót người neo đơn cô độc, không biết kính già yêu trẻ, tâm hoàn toàn không chút xót thương người khác, không giúp người lúc gặp nguy cấp, thấy chết không cứu, chỉ cần đạt được việc mình muốn thì không từ bất kì thủ đoạn hại người nào. Những người này đều thuộc loại máu lạnh." 

Còn nữa:

"Chiến tranh tình ái."

"Không cứu người chết đói chết lạnh."

"Không cứu người bị bệnh."

"Trộm cắp giết người hàng loạt."

Đây đều là những người máu lạnh, chắc chắn rơi vào địa ngục hàn băng.

Tôi nói:

"Trong "Trung Dung" [ **ND**: tên một trong bốn cuốn sách về triết học Khổng Tử, cũng là tên gọi của một học thuyết Nho giáo ] có câu nói rằng: "Thiên mệnh chi vị tính, suất tính chi vị đạo" [ **ND**: mệnh trời gọi là tính, phát triển thuận theo tính gọi là đạo ]

Tôi xếp loại chúng sinh hữu tình là đều ở giữa tính và tình, làm mọi việc đều chân thành, không lừa người khác dù chỉ một chút. Còn đối với tính tình kiếm khuyết thì chính xác là máu lạnh rồi."

Minh sứ nói:

"Đúng vậy, đúng vậy."

Minh sứ nói:

"Người có tính tình nhiệt huyết, phúc báo chắc chắn được hưởng dài. Người có tính tình lãnh cảm, khả năng được hưởng phúc rất ít."

Người phải vào địa ngục hàn băng là loại người máu lạnh kiểu này.

Địa ngục hàn băng có những bí mật lớn gì?

Lạnh đến mức không có tai, mũi.

Lạnh đến mức không có tứ chi.

Lạnh đến mức máu đông lại không chảy.

Sau đó lại lặp lại một lần, lặp lại hai lần, lặp lại ba lần, vĩnh viễn bị lạnh bị cóng đến chết, vòng tuần hoàn không bao giờ chấm dứt. Tojo Hideki [ **ND**: nhà lãnh đạo quân đội Nhật Bản ] vĩnh viễn phải ở trong địa ngục này, không có ngày thoát ra.


### 16. **Bí mật về sông Nại Hà**


Tôi đi qua sông Nại Hà, hỏi minh sứ:

"Vì sao gọi là Nại Hà?"

Minh sứ đáp:

"Nại Hà đúng thực là *nại hà*."

Tôi hỏi:

"Cái gì lại là *nại hà* đây?"

Minh sứ đáp:

"Người dương gian đến âm gian chịu những đau khổ của địa ngục, đều chẳng phải là "vô khả nại hà" đó sao!"

[ **ND**: cụm từ "vô khả nại hà" có nghĩa là chẳng có cách nào thoát ra, chẳng có lựa chọn nào khác. Ở đây có sự chơi chữ của hai chữ “hà” đồng âm khác nghĩa. ]

Tôi hỏi:

"Ai ai cũng biết Âm tào địa phủ là nơi cực khổ nhất, thế mà sao cứ cố tình đi vào địa ngục cực khổ này?"

Minh sứ đáp:

"Một suy nghĩ mà thôi!"

Minh sứ kể cho tôi nghe một chuyện cũ.

Từng có một người rất thù hận bạn gái vì đã thay đổi tình cảm. Người này mang dao đến nơi ở của bạn gái, dự định chém bạn gái thành tám mảnh. Ngay khi anh ta xuất phát, hung thần ác quỷ [vô hình] đã đi theo anh, khiến cho anh càng tăng thêm ác tâm.

Anh ta hừng hực phẫn nộ chạy đến nhà bạn gái nhưng chưa đi vào trong ngay, mà đi một vòng ở bên ngoài. Anh ta nhìn thấy bạn gái đang rót trà mời cha già, mẹ già, lại còn tự mình làm bánh cho cha mẹ ăn, giúp cha mẹ già mặc quần áo, chuẩn bị chăn màn cho cha mẹ lên giường ngủ. Bạn gái rất cẩn thận, lời nói nhẹ nhàng đầy hiếu kính đối với cha mẹ già.

Anh ta nhìn thấy, quay đầu đi nghĩ ngợi. Nếu như ta giết bạn gái, rồi bản thân mình cũng tự sát, thế thì cha mẹ già của cô sẽ sống làm sao? Nghĩ như vậy, anh lập tức mềm lòng. Lúc này hung thần ác quỷ, vốn dĩ là đến để xem chuyện hay, không ngờ hung thủ lại mềm lòng, liền lần lượt rời đi.

Lúc này, Sơn thần Thổ địa cát tường xuất hiện, lão Thành Hoàng cũng đến, thần may mắn xuất hiện, tẩy sạch đi sát khi trên người kẻ hung thủ vốn định giết người, hóa sát khí thành quang minh.

Anh ta nghĩ:

Giết một người, hại nhiều người, sẽ khiến cho cả nhà cô ấy sầu muộn như mây giăng.

Giết một người hại nhiều người, chi bằng không giết.

Bản thân không nên vì chuyện riêng của cá nhân mà lại giết người!

Hay là tự mình làm lại từ đầu, làm lại cuộc đời của mình, nói không chừng tương lai lại càng thành công hơn.

Thế là anh ta từ bỏ ý định giết người, quay đầu trở về nhà. Lúc này, trên mặt anh ta có ánh sáng vui vẻ cát tường. Bởi vì một khi suy nghĩ thay đổi thì sẽ có cát thần chiếu rọi quang minh thôi mà!

Tôi hỏi minh sứ:

"Nếu như anh ta không đổi ý thì sao?"

Minh sứ đáp:

"Thì Nại Hà chờ anh ta đến!"

Tôi hỏi minh sứ:

"Nại Hà có đau khổ gì?"

Minh sứ đáp:

"Sông Nại Hà sâu không thể đo hết, một sợi tóc cũng không thể nổi. Dưới sông có cá sắt ăn thịt người, răng như cái móc, lần lượt ăn thịt hết sạch những chúng sinh rơi xuống, ngay cả một miếng xương dính thịt cũng ăn sạch sẽ tinh tươm. Người chết rồi lại sống, sống dậy lại chết, cứ như vậy luân hồi không ngừng dứt. Lúc chết không phải bị nuốt chửng một cái là xong, mà là bị nhai từ từ từng chút một, đau khổ không gì sánh bằng, toàn bộ nước sông Nại Hà đều là máu."

Tôi nói:

Yêu hận dễ dẫn đến cực đoan, hãy cẩn thận.

Uống rượu dễ dẫn đến cực đoan, hãy cẩn thận.

Mong muốn ích kỉ dễ dẫn đến cực đoan, hãy cẩn thận.

Phẫn nộ dễ dẫn đến cực đoan, hãy cẩn thận.

Đố kị dễ dẫn đến cực đoan, hãy cẩn thận.

Ghen tuông dễ dẫn đến cực đoan, hãy cẩn thận.

Đa nghi dễ dẫn đến cực đoan, hãy cẩn thận.

Đừng ghi nhớ mối thù hận.

Hiểu được đến đây mới là quan trọng nhất nhất.


### 17. **Bí mật về bệnh chân tay cong**


Từng có một đệ tử bị mắc chứng bệnh tay cong chân cong kì lạ. Anh ta được người khác dùng xe lăn đẩy đến trước mặt tôi, cầu xin tôi gia trì.

Tay cong là tay bị cong hướng vào trong, không có cách nào duỗi thẳng ra, ngón tay không thể điều khiển được, tay trở nên gầy còm, hai cánh tay cong hướng vào ngực, không thể cử động được.

Chân cong là chân gầy khô dơ xương, gan bàn chân bị cong biến dạng, bàn chân quái dị, hai cẳng chân cong hướng vào trong, giống như con cua bị bó càng lại vậy.

Con người anh ta nhìn giống như là con cua bị bó lại vậy, anh kêu la vì đau đớn.

Tôi cầu nguyện bổn tôn. Tôi dùng tay sờ lên chỗ cong ở chân tay anh. Nghe nói anh đỡ đau được một ngày, nhưng sang ngày thứ hai lại vẫn như trước. Anh lại đến xin tôi gia trì, cũng chỉ đỡ được một ngày, ngày thứ hai lại đau tới mức không thể chịu được, không thuốc nào chữa được.

Ở Âm tào địa phủ, tôi hỏi minh sứ:

"XX này vì sao tay chân lại cong như vậy?"

Minh sứ đáp:

"XX đang ở đây, tôi đưa ngài đi xem!"

Tôi đi theo minh sứ, đi qua địa ngục bát nhiệt, địa ngục bát hàn, địa ngục cận biên, rồi mới đến địa ngục cô độc. Hóa ra cư dân của địa ngục cô độc rất thưa thớt, có người sống trên mỏm núi, có người sống trong hang đá, có người sống trên băng tuyết, có người sống ở khe núi, có người sống trong rừng sâu, thậm chí có người sống trong tường đá…

Tôi được minh sứ đưa đến đáy sông. Tôi thấy một vị Diêm Vương đang ở đó. Phía dưới nơi Diêm Vương ngồi có có hàng trăm nghìn vạn con cua, càng to càng nhỏ bị bó chặt cong queo hết lại. Kì thực chẳng phải là cua, mà là người, nam nữ đều có cả.

Minh sứ chỉ vào một người trong số đó:

"Đó chẳng phải là XX sao?"

Tôi vừa nhìn, quả nhiên là XX. Tôi thất kinh, sao mà anh ta lại rơi vào trong địa ngục này, thảm rồi!

Tôi nhìn thấy xung quanh những "người cua" này có rất nhiều rất nhiều hài nhi nhỏ đang hướng về người lớn kêu gào:

"Trả mạng cho ta!"

"Trả mạng lại cho ta!"

"Trả mạng sống tại nhân gian cho ta!"

Tôi hỏi:

"Sao lại vậy?"

Minh sứ đáp:

"Những nam nữ này do đã sinh nhiều con cái rồi, liền đem những đứa con mới sinh bé xíu ném xuống vực núi. Có người thì đi phá thai, giết chết những đứa bé trong bào thai, có người thì để cho thai nhi cho chết đuối. Nhiều nam nữ chưa thành niên đã làm chuyện "vụng trộm" với nhau, có thai là dùng thuốc sảy thai, sau đó đi toilet cho nước dội đi. Có người thì trong nhà không đủ tiền để nuôi trẻ nhỏ, liền giết chết rồi đem chôn. Có người ngoại tình mà có thai, liền tìm cách đầu độc chết thai nhi. Có những cha mẹ bởi vì trẻ nhỏ quấy nhiễu quá, lỡ tay đánh chết trẻ nhỏ. Có những cha mẹ thì vì quá tức giận mà ném chết con. Rất nhiều người nữ háo dâm, hễ có con liền đem bỏ. Cũng có cả những bác sĩ chuyên môn phá thai. Những việc kiểu này không chỉ có một mà là rất nhiều."

Minh sứ còn nói:

"Đối với những cha mẹ và bác sĩ kiểu này, Diêm Vương đều gông họ lại, lần lượt trói chặt, một chút cũng không thể cựa quậy được."

Tôi hỏi:

"XX phải làm sao?"

Minh sứ đáp:

"Anh ta ở dương gian chịu khổ, ở âm gian cũng phải chịu khổ, đây chính là hoàn cảnh ở địa ngục cô độc."

Tôi hỏi:

"Có thể cứu không?"

Minh sứ đáp:

"Sám hối, siêu độ, vãng sinh chú, Địa Tạng kinh. Người phạm phải tội nặng thì trải qua số năm nhiều ít không giống nhau, đợi đến khi nghiệp tiêu hết rồi mới có thể thoát ra."

Tôi cảm thương:

"Cần cảnh tỉnh thế nhân thôi! Đừng giết hại sinh mệnh!"

Cầu Vồng Lôi Tạng Tự ở bang Washington nước Mỹ có cúng dường Thủy tử linh, đây chính là một pháp sám hối.


### 18. **Bí mật về sát sinh**


Tôi trông thấy địa ngục vô gián, một địa ngục cực kì đau khổ, đáng sợ hơn hẳn các địa ngục khác. Vì sao các địa ngục khác đều "thua xa" địa ngục vô gián?

Bởi vì:

Thời gian vô gián --- sự bi thảm và đau khổ của nó không gián đoạn, từng giây từng phút không dừng.

Không gian vô gián --- một khi đã rơi vào địa ngục này, bản thân bạn sẽ phân ra làm vô số thân, tất cả đều phải chịu đau khổ bi thảm.

Kiếp đời vô gián --- không biết khi nào có thể ra khỏi nơi này, tù chung thân.

Tôi hỏi minh sứ:

"Nghiệp sát sinh nặng nhất, đặc biệt là giết cha, giết mẹ, giết A La Hán, phá hòa hợp tăng đoàn, làm thân Phật chảy máu."

Minh sứ đáp:

"Đúng vậy. Những đại ác nghiệp này đều trực tiếp xuống địa ngục vô gián."

Còn nói:

"Sát sinh bao gồm giết người và giết bàng sinh. Giết người không nhất định là phải cầm hung khí, mà kích động người khác giết người, khởi lên ý nghĩ giết người, đều nằm trong phạm vi sát sinh. Đặc biệt là giết bàng sinh, thường là trong lúc ta cố ý hoặc vô ý thì đã xảy ra rồi, do vậy cần luôn luôn giữ tâm sám hối."

Tôi hỏi:

"Có khi nào sát sinh mà không rơi vào địa ngục không?"

Minh sứ đáp:

"Có."

Tôi hỏi:

"Ai?"

Minh sứ đáp:

"Phật Thích Ca Mâu Ni."

Minh sứ nói:

Phật Thích Ca Mâu Ni có một kiếp là thương nhân, có lần ngài cùng năm trăm thương nhân vượt biển đi giao thương. Khi lênh đênh trên biển, có một tên cướp tên gọi là Đoản Mâu Hắc Nhân, tên này vô cùng tàn nhẫn, tâm tưởng vô cùng tà ác. Tên trộm Đoản Mâu Hắc Nhân này thấy tài sản của năm trăm thương nhân vô cùng khổng lồ bèn nghĩ cách tìm cơ hội giết chết năm trăm thương nhân, sau đó sẽ chiếm đoạt tài sản của họ. Tên ác nhân này nghĩ:

1. Dùng thuốc độc.

1. Cho đắm thuyền.

1. Dùng thuyền cướp biển để phá thuyền của thương nhân.

Nhưng việc này đã bị Phật Thích Ca Mâu Ni biết được, vì Phật Thích Ca Mâu Ni có "tha tâm thông".

Phật Đà nghĩ:

"Năm trăm thương nhân này đều là người tốt, sẽ đạt đến quả vị Bát Địa Bồ Tát, thế nhưng nếu để tên Đoản Mâu Hắc Nhân này giết chết năm trăm thương nhân, hắn sẽ rơi vào địa ngục chịu vô số kiếp, hơn nữa chẳng có ngày thoát ra, gần như vĩnh viễn không siêu sinh. Thực sự đây là một việc rất nghiêm trọng."

Phật Đà nghĩ:

"Nếu như ta giết tên Đoản Mâu Hắc Nhân, hy sinh thân mình, ta có thể cứu được năm trăm thương nhân, đồng thời cũng cứu được tên Đoản Mâu Hắc Nhân không phải sống lâu trong địa ngục, để cho chính ta vào địa ngục là được rồi."

Thế là, Phật Đà vào một đêm tối gió mạnh, tìm cơ hội đẩy tên Đoản Mâu Hắc Nhân rơi xuống biển lớn.

Việc đã xảy ra là:

Phật Thích Ca Mâu Ni không rơi vào địa ngục vì tội giết người.

Năm trăm thương nhân tránh khỏi bị giết chết.

Đoản Mâu Hắc Nhân cũng không phải vĩnh viễn ở địa ngục.

Minh sứ nói:

"Phật Thích Ca Mâu Ni giết người không có liên quan tới dục vọng cá nhân, xuất phát điểm của ngài hoàn toàn là để cứu người. Không phải là ác nghiệp, ngược lại, lại là thiện nghiệp."

Thay vào đó, việc làm này của Phật Thích Ca Mâu Ni đã làm viên mãn tư lương của bảy vạn kiếp, giúp Phật Đà sớm thành Phật. Do vậy thiện và bất thiện đều từ một cái "tâm" mà thôi!

Từ câu chuyện này, tôi nghĩ đến pháp hàng phục của Mật giáo.

Hàng phục một con người đại ác.

Giải cứu vô số đệ tử Phật.

Có nên làm chăng?

Không nên làm chăng?

Nghĩ xem, nghĩ xem!


### 19. **Bí mật về "cày lưỡi"**


Tôi trông thấy trong địa ngục cận biên có một địa ngục tương đối rộng lớn. Tôi đến gần hơn để nhìn thì cũng có phần bị "sốc". Hóa ra đó là địa ngục “cày lưỡi”.

Người của địa ngục này hễ mở miệng là lưỡi thè ra. Đầu lưỡi kéo dài ra giống như cánh đồng. Cai ngục sẽ lấy trâu và lưỡi cày móc vào đầu lưỡi họ, trâu lập tức bắt đầu cày ruộng (lưỡi), dao sắc cắt một cái là một dòng máu xổ ào ra, thành hào thành sông, hơn nữa phạm nhân lập tức đau đớn tới mức hóa điên.

Phạm nhân ở đây nhiều không đếm hết.

"Địa ngục cày lưỡi, máu từ lưỡi chảy ra hết, người chết rồi, chỉ cần một cơn gió thổi qua, lại sống lại, thế rồi lại "cày lưỡi" từ đầu. Thế rồi lại kêu la oai oái không dừng dứt!

Tôi nhìn thấy tình trạng bi thảm này cảm thấy chúng sinh thật đáng thương, chút xíu nữa là mặt tôi đã đẫm nước mắt rồi!

Những người này đã phạm phải khẩu nghiệp, khẩu nghiệp có bốn loại: Vọng ngữ --- thông thường vọng ngữ là chỉ những ngôn ngữ lừa bịp thông thường, đại vọng ngữ là những bình luận phỉ báng Phật pháp. Ngoài ra có vọng ngữ thuyết pháp, nghĩa là lấy Phật pháp làm vỏ ngoài để lừa bịp đại chúng. Ví dụ:

Giả hành giả.

Giả tăng nhân.

Giả Phật pháp.

Giả thần côn.

Lưỡng thiệt ngữ --- có lời nói công khai, có lời nói trong bí mật, thông thường rất dễ gây chia rẽ, lời nói hai lưỡi nặng nhất là phá hòa hợp tăng, ở trong đám tăng nhân khiến tăng nhân chia rẽ. Người phạm tội nặng thì xuống địa ngục vô gián, người phạm tội nhẹ thì bị đưa xuống địa ngục cày lưỡi, tội này là cực lớn cực nặng.

Ác ngữ --- mở miệng là nói lời hạ lưu bỉ ổi, tiết lộ chuyện riêng tư, tiết lộ điểm yếu của đạo nhân, làm hại người khác, chửi bới thô tục.

Ỷ ngữ --- chỉ những lời nói vô vị, buôn dưa lê, làm phiền người khác, quấy nhiễu tu hành.

Những khẩu nghiệp này rất dễ mắc phải, bởi vì con người khi còn chưa biết chân tướng sự việc thường hay liên tưởng, đưa ra phán đoán, hơn nữa trên thực tế sự việc lại không hề như vậy, nhưng họ đã tiện mồm bình luận rồi. Khẩu nghiệp kiểu này cực kì nhiều, thực sự rất đáng sợ.

Tôi ở địa ngục cày lưỡi nhìn thấy trâu và lưỡi cày nhàn nhã nằm một bên.

Tôi hỏi minh sứ:

"Sao lại không sử dụng vậy?"

Minh sứ đáp:

"Đợi người đến."

Tôi hỏi:

"Là ai?"

Minh sứ đáp:

"Người chửi ngài, người phỉ báng ngài, người chia rẽ Chân Phật Tông, người ác khẩu, người chế nhạo ngài, người đoán mò không đúng, người nói ngài là tà giáo, người trộm văn, người đạo văn, người làm ô nhục tăng nhân, người đoán bừa cảnh giới của ngài..."

Tôi hỏi:

"Những thứ chưa dùng đến này đều sẽ móc lên lưỡi của họ à?"

Minh sứ đáp:

"Đúng vậy."

Tôi nói:

"Không đúng, không đúng, những người kiểu này từ khi tôi xuất đạo cho tới nay đều luôn có, có khi cũng tới nghìn vạn người. Việc này chẳng phải là bởi vì có tôi nên đã hại rất nhiều chúng sinh phải vào địa ngục cày lưỡi sao?"

Minh sứ nhất thời á khẩu, sau đó nói:

"Thế ngài định làm gì?"

Tôi nói:

"Để Mật Mật Mật Như Lai tôi siêu độ cho họ thoát khỏi khổ luân, hơn nữa tôi sẽ độ hóa cho họ một lần nữa."

Minh sứ nói:

"Ngài cũng bạo gan đó. Thế nhưng, chỉ dựa vào một câu nói này thì công đức cũng đã vô lượng rồi."


### 20. **Bí mật về ăn mày**


Dương gian có ăn mày. Ở âm gian tôi cũng trông thấy ăn mày, khiến tôi giật mình kinh ngạc. Trong địa ngục này cũng có ăn mày, thật là chuyện vô cùng kì quái!

Tôi nhìn thấy ăn mày ở địa ngục tôn giáo đi khất thực hóa duyên, nhưng người trong địa ngục khó có thể tự đảm bảo được cho bản thân, làm sao còn có thể đi hóa duyên xin ăn được thứ gì, người này tới người khác lần lượt đói quá mà chết, bị chết đói, người chết đói vô số. Những kẻ ăn mày này sau khi chết lại sống lại, rồi lại đi ăn mày, vòng tuần hoàn cứ như vậy không dừng dứt.

Tôi ngạc nhiên hỏi minh sứ:

"Trong địa ngục sao lại có ăn mày?"

Minh sứ đáp:

"Những kẻ ăn mày này không phải là ăn mày, toàn là một số Thượng sư, Phật sống (Rinpoche), Pháp Vương."

Tôi hỏi:

"Thượng sư, Phật sống, Rinpoche, Pháp vương đọa xuống âm gian làm ăn mày là vì nguyên nhân gì vậy?"

Minh sứ đáp:

"Lẽ nào ngài không biết sao? Rất nhiều thượng sư trình độ thấp, rất nhiều Phật sống trình độ về Phật học không cao, danh hiệu Rinpoche có được do "đóng góp" (bỏ tiền mua) mà có, Pháp vương đối với Phật pháp cũng chỉ là dạng "nghiệp dư". Những người này có cuộc sống Phật pháp vô cùng nghèo nàn, tùy tiện lạm dụng danh hiệu thượng sư, Phật sống, Rinpoche, Pháp vương, sau khi chết sẽ đến âm gian đi ăn xin sống qua ngày. Nguyên nhân chính là như vậy!"

Tôi hỏi:

"Họ đều có giấy chứng nhận cả mà!"

Minh sứ đáp:

"Đương nhiên là có thượng sư có nền tảng về Phật pháp, có Phật sống có trí thức về Phật học, có Rinpoche là vị tái sinh chuyển thế thực sự, có Pháp vương đã khai ngộ kiến tính, những người như vậy thì là danh thực tương phù [ **ND**: danh vị tương hợp đúng thực tế ]. Nhưng cũng có một số người là nghiệp dư giả chuyên gia, học được một số kiến thức nông cạn, dùng tiền để mua giấy chứng nhận, những người này sẽ bị đọa địa ngục."

Tôi nói với minh sứ:

Tôi nhớ có một chuyện tương tự như vậy. Có một người ở Dharamsala bên Ấn Độ cũng hành nghề ăn xin ăn mày, ông ta bị chứng hoang tưởng nặng. Ông mặc đồ theo kiểu Lama Tây Tạng, giống như kiểu một vị Lama khổ hạnh.

Ông tranh thủ được một cơ hội để đến Đài Loan. Vào thời điểm đó có rất nhiều các vị Lama của Mật tông Tây Tạng đến Đài Loan. Lama ăn mày này cũng đến Đài Loan.

Người Đài Loan vừa trông thấy Lama khổ hạnh là liền đảnh lễ và cúng dường, Lama khổ hạnh niệm một câu:

"Om. Ah. Hum."

Rồi lại niệm một câu:

"Om mani padme hum."

Người Đài Loan nghe xong thì vui lắm, hỏi:

"Ngài có phải là Pháp vương không?"

Lama ăn mày gật gật đầu.

Kẻ ăn mày này không ngờ chỉ cần lắc người một cái là đã biến thành đại pháp vương rồi, tự gọi mình là Giác ngộ minh tâm đại Kim Cương Trì Tôn giả, đi đến đâu cũng quán đảnh cho người ta, truyền dạy những Phật pháp quái dị (khẩu quyết), nhận vô số vô số cúng dường.

(Vị Giác ngộ minh tâm đại Kim Cương Trì tôn giả này chính là một trò cười lớn, ăn mày biến thành Pháp vương, ha ha ha.)

Tôi kể xong câu chuyện truyền kì này, minh sứ nói:

"Bây giờ vị pháp vương này cũng chính là ăn mày ở âm gian. Phàm người nào tùy tiện lạm dụng danh hiệu Thượng sư, Phật sống, Rinpoche, Pháp vương đều trở thành ăn mày của âm gian. Ở Âm tào địa phủ, loại người kiểu này rất nhiều. Người giả thì nhiều, người thật thì ít. Kì thực là có thượng sư, Phật sống, Rinpoche, Pháp vương nổi tiếng, và cũng có rất nhiều người là *hàng giả*."

Trời ạ!

Việc này phải làm sao?

Minh sứ nói:

"Hành giả nên hiểu rằng cần phải đi từ minh tâm, minh tâm thực tu sẽ kiến chứng được Phật tính, đây mới là Pháp vương."

Tôi nói:

"Lừa mình lừa người, chắc chắn xuống địa ngục làm ăn mày!"


### 21. **Bí mật về lợn đội mũ Phật**


Ở âm gian, tôi trông thấy một con lợn sinh ra từ "bàng sinh". Điều thú vị ở con lợn béo này là trên đỉnh đầu của nó có đội một chiếc mũ Ngũ Phật Bảo Quán. Trông thấy tôi, nó rụt đầu lại lẩn sang một bên trốn.

Tôi hỏi minh sứ:

"Trong tam đồ, người tham lam rơi vào đạo ngạ quỷ, người ngu si rơi vào đạo súc sinh. Vì sao trong đạo địa ngục lại có bàng sinh?"

Minh sứ đáp:

"Việc này là chỉ đại bộ phận là như vậy, nhưng cũng có ngoại lệ. Cái khổ của nhân quả luân hồi là tuần hoàn trong lục đạo. Cũng có người tham dâm thì rơi vào bàng sinh làm gà, có người sân hận thì bàng sinh làm rắn, đương nhiên cũng có người ngu si rơi vào đạo địa ngục. Bởi vì trong đám chúng sinh, người tham sân si rất nhiều, do vậy người luân chuyển đến đi trong tam đồ ác đạo rất nhiều."

Tôi hỏi:

"Thế còn con lợn đội mũ Ngũ Phật Bảo Quán này thì sao?"

Minh sứ đáp:

"Đây là một vị Thượng sư."

Tôi kinh hãi:

"Thượng sư?"

Minh sứ đáp:

"Đúng vậy. Thượng sư này giảng dạy Phật pháp, người dựa vào ông ta tương đối nhiều, đệ tử của ông thực tu đạt được thành tựu lớn. Nhưng bản thân Thượng sư thì lại chạy theo tiền tài hưởng lạc mà chẳng hề thực tu, do vậy đọa vào đạo địa ngục, trở thành con lợn đội mũ Phật. Thượng sư cùng lúc có cả tham sân si, chết đi có được hình dạng là lợn đội mũ Phật, trở thành đối tượng cho người ta chê cười."

Ngũ Phật Bảo Quán là Thượng sư.

Không có thực tu là lợn ngu.

Người khác khuyên giải liền nổi giận.

Bởi vậy biến thành Phật Quán Trư. [ **ND**: Lợn đội mũ Phật ]

Tôi nhớ đến một câu chuyện cũ của Tây Tạng. Có một Thượng sư dẫn theo nhiều đệ tử đến bên bờ của một con sông. Họ muốn vứt qua sông, nhưng ở đây không có bến phà, không có một chiếc phà nào cả. Thượng sư ra lệnh cho đệ tử A qua sông.

Đệ tử A có niềm tin thanh tịnh vào Thượng sư, tu Cửu tiết Phật phong, tụng chú Kim Cương, bảo bình khí, khí đi vào trung mạch, do đó mà có được thần thông. Đệ tử A vừa nghe mệnh lệnh của Thượng sư liền đưa khí lên, hiển lộ thành chuồn chuồn chạm nước, trong chốc lát đã qua được sông.

Đệ tử B có niềm tin thanh tịnh vào Thượng sư, cũng bởi đã có khí đi vào trung mạch, đạt được minh tâm tính không, nên có thể trực tiếp bay trên sông mà qua sông.

Đệ tử C có niềm tin thanh tịnh vào Thượng sư, khí đi vào trung mạch, cũng đạt được minh tâm tính không, dùng chuyết hỏa hóa thành ánh sáng, một tia sáng lóe lên là đã bay qua sông rồi.

Đệ tử D có niềm tin thanh tịnh vào Thượng sư, từ lâu đã tu thành tựu kim cương luyện, đã luyện ánh sáng thành cây cầu rồi dạo bước qua sông.

Thượng sư này thấy đệ tử đều có được thành tựu thì rất vui. Thượng sư cho rằng đệ tử đều có thể qua sông, huống chi bản thân mình là Thượng sư, đương nhiên càng có thể qua sông. Ông ta vừa bước lên mặt nước thì "chủm" một tiếng, ông ta chìm xuống sông và chết đuối.

Thượng sư này bản thân dạy Mật pháp, biết tu khí, mạch, minh điểm, Cửu tiết Phật phong, tụng chú kim cương, bảo bình khí, trung mạch quang minh, mở năm luân xa. Nhưng bản thân Thượng sư không thực tu, chỉ tham cúng dường và hưởng lạc. Chẳng ngờ đệ tử thì đều thành tựu, còn Thượng sư thì vẫn chẳng thành tựu.

Do vậy Thượng sư bị đọa vào đạo địa ngục và đạo bàng sinh, trở thành lợn đội mũ Phật.

Minh sứ nói:

"Có niềm tin thanh tịnh chính là đã có được sức mạnh rồi."

Còn nữa:

"Khí đi vào trung mạch thì thần thông tự có thể hiển hiện!"

Tôi nói:

"Người dạy Phật học chỉ giảng suông mà không dung nhập Phật pháp vào trong cuộc sống hàng ngày, không dựa theo thứ tự tu hành để có được chứng nghiệm, thì cho dù có hiểu Phật pháp thế nào cũng chẳng có cách nào thoát khỏi luân hồi."


### 22. **Bí mật về sách khiêu dâm**


Tôi ở âm gian gặp được một người quen, ông ta năm đó là một trong những người bạn văn chương của tôi, họ Đàm. Phong cách viết văn của ông nhẹ nhàng trôi chảy, viết tiểu thuyết có ý cảnh đặc biệt, tôi thích tiểu thuyết có tính đặc biệt và mới lạ của ông ta.

Nay ông ta bị dìm trong ao phân giòi, mỗi lần đói bụng thì lấy giòi và phân làm thức ăn.

Da bị chảy máu.

Bụng trương đầy giòi.

Toàn thân thối rữa.

Cứ thế rồi chết.

(Chết xong lại sống, lấy đồ hôi thối làm thức ăn, toàn thân bốc mùi, thống khổ vô cùng.)

Tôi trông thấy mà kinh hãi.

Tôi nói với minh sứ:

"Tôi muốn cứu ông ta!"

Minh sứ đáp:

"Không được."

Tôi hỏi:

"Vì sao?"

Minh sứ đáp:

"Ông ta viết vô số sách khiêu dâm, hại người không hề ít!"

Minh sứ lại nói:

"Người họ Đàm này là một người văn tư tài học rất ưu tú, vốn dĩ sẽ có tiền đồ tương lai rất lớn, thọ mệnh cũng rất dài, công danh sự nghiệp cũng rất hanh thông, phúc lộc thọ đều có thừa. Đáng tiếc là thiện nghiệp được vun trồng bởi tổ tiên mấy đời đều đều bị hủy hoại trong lòng bàn tay của người này." "Ông ta đã làm việc ác gì?"

Minh sứ đáp:

"Ông ta viết sách khiêu dâm." - Minh sứ nói tiếp: "Nhà xuất bản Bất Hiếu mời ông ta viết tiểu thuyết khiêu dâm về người lưỡng tính, trả cho ông nhuận bút rất hậu hĩnh. Ông ta tham tiền liền đánh mất lương tâm mà viết, do vậy đã làm suy tổn âm đức. Sách khiêu dâm của ông ta khiến thanh niên trẻ đọc được thì thần hồn phiêu đãng, dẫn dắt người ta trở thành kẻ nghiện tình dục, làm bại hoại phong tục, hủy hoại hạnh kiểm con người không ít. Người trẻ tuổi đọc sách khiêu dâm của ông ta xong liền học theo cái xấu."

*"Như say như mê*

*Mong chết thành tiên*

*Thích thú dâm lạc*

*Đức hạnh bại hoại."*

Tác giả họ Đàm này sau khi chết đã đọa vào địa ngục phân giòi.

Tôi nhớ cái chết của ông ta là như thế này. Có một hôm ông ta chạy xe máy trên đường. Trời đổ mưa rất to, nước mưa trút xuống như thác. Xe máy của ông ta đi qua một con sông, nước sông dâng lên nhanh chóng, cuốn theo cả người cả xe nhấn chìm xuống lòng sông. Con sông này thông ra biển, thế là ông ta đã bị cuốn trôi ra biển, theo dòng thủy triều, cuối cùng được tìm thấy ở ngoài biển Nghi Lan. [ **ND**: Nghi Lan (Yilan) là một thành phố ở đông bắc Đài Loan. ]

Tôi chỉ biết ông là một tác giả lớn. Ông ta ẩn danh viết tiểu thuyết "màu vàng", tôi không hề biết. [ **ND**: tiểu thuyết "màu vàng" là tiếng lóng ở Đài Loan, ám chỉ sách khiêu dâm ]

Còn bây giờ:

Người đã ở trong địa ngục phân giòi.

Quá thảm rồi!

Nhân đây tôi khuyên thế nhân:

Đừng viết ngôn từ dâm dục.

Đừng viết ca khúc diễm tình.

Đừng viết sách khiêu dâm.

Đừng viết điều bạo lực.

Đừng làm phim khiêu dâm.

Đừng viết kịch khiêu dâm

Đừng viết chuyện dâm dật.

Những thứ này đều hại người ta rất nặng nề, không chỉ hại đương thế mà còn hại hơn đến hậu thế, là tội hãm hại người khác. Nếu đã từng làm rồi thì từ nay về sau đừng làm nữa, mau mau quy y Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.  

Học tập pháp Tứ Gia Hành của Mật giáo:

1. Pháp đại lễ bái.

1. Pháp đại cúng dường.

1. Pháp tứ quy y.

1. Pháp sám hối Kim Cang Tát Đỏa.

Trong pháp Kim Cang Tát Đỏa có thể sám hối hoàn tịnh.


### 23. **Bí mật về cát vàng sỏi bay**


Tôi trông thấy một cảnh tượng, đó là cát sỏi bay mù mịt, giống như là bị bão vòi rồng cuốn đi vậy, nhưng, điều không giống là, cát là cát mịn và có màu vàng kim, những viên sỏi thì cũng biến thành sỏi vàng kim. Những cát vàng sỏi vàng này đều hướng về phía người mà bay tới.

Những người đó bị cát vàng bủa vây.

Những người đó bị sỏi vàng bay trúng.

Sỏi vàng bay trúng thì vỡ đầu chảy máu, đám người kia bị sỏi đánh cho tới mức toàn thân máu thịt nát be bét, người trong đám bụi mù đó thì hoảng hốt tháo chạy.

Cát vàng tấn công, sức mạnh của nó giống như dao cắt. Những hạt cát vàng bé xíu đó có sức mạnh xuyên thấu vô cùng mạnh, đau tới mức quỷ khóc thần kêu.

Trước tiên bị cắt da.

Tiếp theo bị cắt thịt.

Thứ ba bị cắt lục phủ ngũ tạng.

Thứ tư bị cắt xương.

Cuối cùng xương cốt cũng hóa thành tro bụi, tất cả đều tan biến hết rồi! Tôi nhìn thấy cực kì khủng khiếp.

Tôi còn nhớ trước đây:

Điều tôi nhìn thấy là những người nuốt ngấu nghiến "nước thép", đó là những tham quan ô lý đã đến địa ngục.

Cai ngục sẽ lấy tiền xu (bằng kim loại), nung ở nhiệt độ cao cho tan chảy thành "nước thép", rồi ép những tham quan ô lý phải nuốt ngấu nghiến "nước thép" này. Nước thép đỏ rực đó theo miệng của tội phạm đổ thẳng vào trong.

Đầu tiên là miệng bị đốt cháy.

Thực quản bị đốt cháy.

Dạ dày bị đốt cháy.

Tội phạm chỉ kịp hét to một tiếng là chết. Chết xong, một cơn gió thổi qua là lại sống lại, rồi lại tiếp tục chịu đau khổ của việc bị dội "nước thép".

Tôi hỏi:

"Trước đây là chỉ có dùng nước thép dội vào người thôi."

Minh sứ đáp:

"Con người hiện đại tâm tham càng lớn, do vậy mới dùng cát vàng, sỏi vàng. Sỏi vàng đánh tới là máu thịt be bét, cát vàng xuyên vào bên trong, hồn bay phách tán, nhức nhối vô cùng, ngay cả xương cũng bị cắt vụn."

Tôi nghe xong mà thấy lòng nặng trĩu. Tôi hỏi:

"Ai sẽ đọa vào địa ngục cát vàng sỏi bay?"

Quản ngục đáp:

"Ví dụ như Thạch Sùng và Vương Khải triều đại nhà Tấn, hai người họ đều là đại tham quan, đại ô lý."

Nghe nói:

Thạch Sùng và Vương Khải, hai người này thường ganh đua ai có nhiều tiền nhất. Vương Khải dùng chất liệu tơ đắt tiền nhất làm thành một tấm chướng bằng tơ màu tím, chiều dài đến bốn mươi lý. [ **ND**: lý là đơn vị đo chiều dài của người xưa, một lý khoảng 500m ] Thạch Sùng cũng dùng loại vải tơ tương tự làm một tấm chướng bằng tơ màu tím, dài năm mươi lý, thế là Thạch Sùng đại thắng.

Vương Khải đem ra khối san hô đường kính tới một xích [ **ND**: 33cm ] mà hoàng đế ban cho, Thạch Sùng cũng đem ra thỏi vàng như ý, đập vỡ vụn khối san hô đó. Vương Khải phẫn nộ đùng đùng, đòi Thạch Sùng bồi thường.

Thạch Sùng cười lớn ha ha, mở ngân khố ra, san hô để trong đó cả nghìn khối, vạn khối, hơn nữa không chỉ đường kính rộng một xích, mà toàn là những khối san hô đường kính rộng tới hai, ba xích. Thạch Sùng lấy ra một khối đền cho Vương Khải. Vương Khải chỉ còn có cách nhận thua.

Vàng bạc châu báu mà Thạch Sùng tham lam thu về thậm chí còn nhiều hơn cả hoàng đế, thực sự là giàu có sánh ngang với tiền bạc của cả một đất nước! Về sau Thạch Sùng bị giết, tất cả gia sản đều bị xung công.

Khuyên những người làm quan:

Đừng chỉ theo đuổi lợi ích của bản thân.

Đừng nhận tiền "hoa hồng" môi giới.

Đừng lấy những đồng tiền sai trái.

Đừng gây khó dễ cho những thương nhân đàng hoàng.

Đừng trộm của công bớt xén vật liệu.

Đừng hoang phí khi làm việc công sự.

Tôi nói:

"Quan môn hảo tu hành đó!"

[ **ND**: "Quan môn hảo tu hành" là một câu thành ngữ, ý nói rằng ở vào vị trí làm quan chức thì rất có lợi cho việc tu sửa những hành vi đạo đức của bản thân vì đây là vị trí mà rất nhiều người nhờ cậy vào, và là vị trí thay mặt cho nhiều người. Làm một vị quan chức tốt, không những tu sửa bản thân trở nên thiện lành hơn, mà những quyết sách do quan chức đưa ra có thể làm lợi ích cho người dân. ]


### 24. **Bí mật về thầy phù thủy**


Tôi trông thấy một bầy quỷ vây xung quanh một người "bất ngờ ngã xuống đất". Những con quỷ này đều rất phẫn nộ.

Một con quỷ lật người kia lại, quay mặt người hướng lên trời. Một con quỷ khác thì cầm dao chiến đâm vào ngực và bụng người này một nhát, ngay lập tức phanh ngực mổ bụng, máu túa ra ào ào. Người kia hét lên một tiếng kêu thảm thiết.

Lại có một con quỷ thè lưỡi ra liếm hết sạch máu xung quanh. Quỷ cầm dao chiến, mỗi người cắt lấy một miếng thịt, ăn sống một cách đầy ngon miệng. Còn người nằm dưới đất kia không ngừng kêu lên những tiếng đau đớn.

Lúc này, bầy quỷ từng con một vươn cánh tay với móng sắc nhọn ra, con thì tóm lấy quả tim, con thì móc phổi, con thì cắt gan, con thì moi ruột, con thì tóm lấy hai quả thận, con thì uống dịch nồng, ăn tươi nuốt sống sạch sẽ lục phủ ngũ tạng của người này.

Còn một con quỷ khác cầm dao bổ dưa hấu cắt đứt đầu, cắt đứt tứ chi của người này. Tứ chi thì ném cho bầy quỷ, đầu thì chặt phanh ra cho lũ quỷ ăn não. Tiếp đó bầy quỷ này dựng lên một cái bếp, đem tất cả những gì còn lại của người kia như lông tóc xương cho vào trong nồi, nổi lửa cháy phừng phừng để nấu chín mắt, tai, mũi, miệng, v.v. Tất cả biến thành món canh sủi bọt, sau đó cả bầy quỷ chia nhau ăn.

Người này đã bị ăn sạch sẽ.

Khi sự việc này diễn ra, có một hàng người xếp hàng đều tận mắt chứng kiến thảm cảnh này. Đám người sợ hãi tột độ. Bởi vì đám người này xếp hàng là để chờ nhóm quỷ khác đến ăn thịt họ, làm sao mà không run sợ kinh hoàng.

Tôi hỏi một người:

"Các người đã làm cái gì vậy?"

Người đó đáp:

"Chúng tôi là những thầy phù thủy."

Tôi sửng sốt:

"Á! Là những thầy phù thủy chuyên môn hại người ta."

Tôi nghĩ đến những thầy phù thủy ở khu vực Đông Nam Á.

Có một lần.

Tôi đến Penang ở Malaysia hoằng pháp. Bởi vì danh tiếng của tôi quá lớn nên có một thầy phù thủy cực kì không phục. Ban đêm ông ta làm pháp, phái năm, sáu con quỷ miệng nhọn răng sắc đến đối phó với tôi.

Đến khi tôi trở về khách sạn, tôi liền cảm thấy không khí có gì đó không ổn. Lúc sắp đi ngủ:

Tôi niệm: "Lang". [Ram] Thân thể của tôi bị lửa đốt thành tro.

Tôi niệm: "Yang". [Yam] Lúc này tro bị gió thổi bay sạch không còn dấu vết.

Tôi niệm: "Kang". [Kham] Trên chiếc giường đã chẳng còn thứ gì, trở thành

hư không.

Tôi nghĩ đám quỷ này có thể sẽ đi hại người khác. Tôi lại quán tưởng bản thân mình biến thành chày kim cương cứng như thép, hơn nữa kim cương là bất hoại. Đám quỷ mồm nhọn răng sắc đó cắn vào tôi một cái là "ka-cha", răng nanh của chúng vỡ ngay, đau tới mức kêu "oa oa"! Bầy quỷ lao vào cắn, răng đều vỡ hết cả.

Ngày hôm sau tỉnh dậy, tôi chẳng hề xảy ra chuyện gì, còn thầy phù thủy kia thì bị mất đi năm, sáu con quỷ.

Đại bộ phận các thầy phù thủy đều là nuôi dưỡng ma quỷ. Họ có tà thuật có thể hại người, lấy tiền của người ta, còn giúp người ta hại người khác. Bản thân việc hại người đã là ác nghiệp rồi, đến Âm tào địa phủ tự nhiên sẽ có báo ứng thôi.

Dương gian, anh sai bảo quỷ.

Âm gian, anh bị quỷ ăn.

(Đây là lời thề ràng buộc lẫn nhau như vậy.)

Tôi nghe nói các thầy phù thủy đều phải phát ra lời thề độc vì họ dùng pháp thuật đen. Năm xưa, Milarepa - vị đại thành tựu giả của Bạch giáo, ban đầu đã học pháp đen, sau này mới học "pháp trắng".

Tôi nói:

"Không thể có tâm hại người!"


### 25. **Bí mật về hoa sen trong lửa**


Trong một biển lửa rộng lớn, những thi thể bị lửa thiêu đốt thành than đen rất nhiều, than đen làm thành cả một cánh đồng mênh mông. Trong biển lửa có một đóa hoa sen màu đỏ, vô cùng đẹp đẽ tươi tắn, nổi bật trong đám xương cốt.

Tôi hỏi minh sứ:

"Trong địa ngục biển lửa, sao lại có một bông hoa sen trong lửa thế kia?" Minh sứ đáp:

"Đại bộ phận chúng sinh ở âm phủ, một khi rơi vào địa ngục biển lửa này thì chẳng có một người nào có thể thoát mạng được. Một khi đã rơi vào biển lửa là người nhanh chóng biến thành giống con mực nướng ngay. Chỉ kêu lên được một tiếng thảm thiết, muốn khóc cũng chẳng có nước mắt, thân thể lập tức co quắp lại, tay chân vặn xoắn, thân thể rút nhỏ lại, da thịt từ đỏ chuyển thành đen, trút hơi thở cuối cùng, bi thảm lắm thay! Còn bông hoa sen trong lửa này là một tăng nhân, là cao tăng."

Tôi hỏi:

"Cao tăng này là ai?"

Minh sứ đáp:

"Là người mà ngài biết đó."

"Ai vậy?"

Minh sứ đáp:

"Là Thích XX."

Tôi thở hắt ra một tiếng, không ngờ đây lại là một đại trưởng lão mà tôi tôn kính, là đại trưởng bối, lần này thì tôi bị làm cho giật bắn mình rồi. Tôi hỏi minh sứ:

"Đại trưởng lão cả một đời độ vô số chúng sinh, phạm hạnh thanh tịnh, không có lầm lỗi gì, vì sao lại rơi vào địa ngục biển lửa?"

Minh sứ đáp:

"Thích XX khi còn trẻ có một thị giả là một tiểu sa di, ông ta đối xử hà khắc với tiểu sa di, bảo tiểu sa di một ngày chỉ được ngủ ba tiếng, còn lại là làm việc bạt mạng. Nếu làm việc không chăm chỉ thì sẽ bị đánh mắng. Có một hôm, tiểu sa di ngủ gật, ông ta dùng tay kéo tiểu sa di đi đập đầu vào tường, không ngờ mạnh tay quá, tiểu sa di ngã lăn ra, đập đầu vào đá nhọn, não bị tổn thương, không lâu sau thì chết."

Tôi hỏi minh sứ:

"Đây là tội gì?"

Minh sứ đáp:

"Tội hà khắc sát sinh."

"Thế còn ở dương gian?" - Tôi hỏi.

"Vô tội." - Minh sứ đáp. "Thích XX chỉ nói là tiểu sa di bị ngã, rồi chết bất ngờ! Thích XX sau khi chết vì tuổi cao, linh hồn vào địa ngục, bị ném vào địa ngục biển lửa."

Nhưng: Thích XX có thể nhập tứ thiền. Một khi nhập tứ thiền thì trở thành Hỏa quang định.  Toàn thân ông bốc cháy.

Là ngọn lửa mát lành.

Lửa biến thành hình dạng hoa sen, cánh hoa sen là lửa đỏ, tám cánh hoa sen lửa, co lại thành nụ hoa bao bọc xung quanh Thích XX. Hơn nữa Thích XX lại ở trong hoa sen trong lửa mà thiền định, mặc dù không có chút đau khổ nào, nhưng phải ở trong biển lửa đợi đến khi kiếp số hết rồi mới có thể giải thoát ra khỏi địa ngục này.

Tôi quan sát thấy:

Thích XX thiền định trong hoa sen trong lửa, tâm tính của ông có cả phần "không", cũng có cả phần "hữu". Phần "hữu" chính là tâm tính quang minh, chính là lửa. Lửa này có thể chiếu soi tất cả vạn vật thế gian. Phần "không" chính là pháp thân Phật. Phần "hữu" chính là lửa.

Thích XX đã thuần tịnh vô nhiễm, tâm tính quang minh có thể chiếu soi tất cả, từ trong Phật tính của ông sinh ra ngọn lửa của ngọc quý mani, hóa thành hoa sen tồn tại vĩnh viễn không thay đổi.

Ông đã tu được thiền định cửu thứ đệ: từ sơ trụ đến tục trụ, từ tục trụ đến hồi trụ, từ hồi trụ đến cận trụ, từ cận trụ đến phục trụ, từ phục trụ đến tịch trụ, từ tịch trụ đến tối tịch trụ, từ tối tịch trụ đến chuyên trụ, từ chuyên trụ đến đẳng trụ.

Sơ thiền.

Nhị thiền.

Tam thiền.

Tứ thiền.

Tôi nói:

"Hoa sen trong lửa, thật thù thắng, là kì hoa trong biển lửa đó!"


### 26.** Bí mật về đầu to**


Tôi đến địa ngục đầu to. Người ở địa ngục này đầu to như cái thúng, thân người thì rất ngắn, tay chân lại càng ngắn. Thực sự là một cái đầu này có thể đỡ được ba thân người lớn.

Con người hiện đại chúng ta rất ưa chuộng "búp bê", có loại đầu rất to, tay chân và thân người thì tương đối nhỏ. Những người kia cũng có chút giống vậy.  

Đầu to thì đi đứng không vững, lắc lắc lư lư.

Đầu to thì hay bị "bầm dập", không phải vì ngã, mà do cứ va trái đụng phải. Đầu to thường không đứng dậy được, hễ ngã lăn ra là tay chân trầy xước, trầy xước cả nửa ngày trời cũng vẫn không đứng dậy được. (Giống con rùa, không sao tự lật thân mình được.)

Đầu to mắc bệnh mất ngủ, bởi vì đầu to quá, nghĩ quá nhiều, ban đêm không thể ngủ được.

Đầu to mắc bệnh đau đầu, đau một cách dị thường.

Đầu to mắc bệnh chấn động não, ngã lăn ra rồi co giật mà chết.

Đây là những cảnh tượng không thể nào tránh khỏi ở địa ngục đầu to. Nếu người đầu to ngã chết, hoặc đau đầu mà chết, hoặc mắc những bệnh khác mà chết, thì thông thường cách một ngày hoặc hai ngày là lại sống. Sau đó lại sống những ngày tháng loạng choạng đảo điên.

Địa ngục này nhìn từ phía xa trông giống như một ruộng dưa vậy. Tôi hỏi minh sứ:

"Là do nguyên nhân gì lại có địa ngục này?"

Minh sứ cười lớn:

"Sự sáng tạo này đến từ dương gian. Loài người các ngài có không ít người bị mắc bệnh đầu to đâu."

"Thật không thể tưởng tượng được!"

Minh sứ nói:

"Nhìn chung đó là những người thích quyền lực địa vị, tranh chấp không ngừng, người dùng quyền lực để mua chuộc, dùng tiền để mua phiếu ủng hộ, dùng thủ đoạn bất chính để tranh giành danh vị. Có được danh vị rồi thì dùng danh vị để lợi dụng lừa gạt người khác. Có được tiền tài rồi thì dùng tiền tài để chèn ép người nghèo, tác oai tác quái. Những loại người kiểu này đều đến địa ngục đầu to."

Tôi nói:

"Xin lấy một ví dụ."

Minh sứ đáp:

Triều đại nhà Đường có một người là Đậu Quỹ. Đậu Quỹ này là đường huynh của hoàng hậu Đại Mục của vua Đường Cao Tông, dựa vào mối quan hệ của em gái mà tranh giành leo lên được chức đô đốc cai quản Lạc Châu.  Quyền lớn thế lớn.

Thế là lợi dụng vị thế mà hà hiếp người khác. Ông ta đã hại chết thượng thư Vi Vân Khởi.

Lúc ông tuyên án:

Đối với người phạm tội nhỏ thì phán cho hình phạt nặng.

Đối với người phạm tội lớn thì phán cho tội chết.

Những hình phạt này đã giết chết rất nhiều người dân vô tội và học giả. Ông ta đương chức được hai năm thì phát bệnh. Trong lúc mơ màng, ông ta trông thấy rất nhiều người dâng lên những chiếc đĩa, trong đĩa đều đặt một quả dưa hấu to. Rất nhiều dưa đem cúng cho ông ta.

Đậu Quỹ rất thích. Nhưng nhìn kĩ lại, hóa ra không phải là những quả dưa to, mà là từng cái từng cái đầu người rất to hướng về ông ta đòi mạng. Đậu Quỹ hét lên một tiếng to rồi chết. Sau khi chết thì xuống địa ngục đầu to, chịu cảnh chợt sống chợt chết.

Minh sứ nói:

"Có một số người sau khi dùng những thủ đoạn phi pháp để tranh giành quyền lực, liền vi phạm luân thường, hoặc vô tình vô nghĩa, hoặc tác oai tác quái, hoặc chua ngoa ác nghiệt, hoặc cứng đầu ngạo mạn, hoặc lừa người tư lợi, hoặc tham tài háo sắc, hoặc chèn ép dân thường…….."

Tôi hỏi:

"Chỉ là như vậy thôi sao? Có phải là quá dễ dàng không, địa ngục đầu to chỉ là chịu mỗi cảnh đầu to sao?"

Minh sứ đáp:

"Đối với người làm quan, ban đầu thì xuống địa ngục đầu to. Sau đó sẽ dựa theo nguyên nhân quả báo khác mà bị chuyển tới địa ngục khác. Đau khổ lần lượt từng cái từng cái kéo đến, không lọt đi đâu được cái nào!"

Tôi nói:

"Thiện ác báo ứng, như bóng theo thân."


### 27. **Bí mật về chim mổ mắt**


Tôi nhớ có một câu chuyện cũ thế này:

Khi Phật Thích Ca Mâu Ni sống tại tịnh xá Trúc Lâm, có một người xây nhà bên cạnh tịnh xá. Phật Đà đi qua xem, trông thấy một đốc công đang đứng trên thang để lợp mái nhà. Phật Đà muốn độ cho người đốc công này liền nói: "Đốc công, đốc công, anh có thời gian rảnh sao không đến tịnh xá Trúc Lâm để nghe giảng Phật pháp?"

Đốc công đáp:

"Bây giờ tôi đang bận đây này! Làm gì có thời gian để mà đi nghe ngài giảng Phật pháp."

Phật Đà hỏi:

"Thế anh khi nào mới có thời gian rảnh?"

Đốc công đáp:

"Đợi tôi lợp xong mái ngôi nhà này thì sẽ nói!"

Phật Đà chỉ còn biết quay người trở về tịnh xá Trúc Lâm.

Đợi đến khi nhà lợp xong mái.

Người đốc công này lại tiếp tục lợp mái cho ngôi nhà thứ hai.

Phật Đà lại đến hỏi:

"Đốc công, đốc công, anh đã lợp xong một ngôi nhà rồi, có thể đến nghe ta giảng Phật pháp được rồi đó!"

Đốc công đáp:

"Ngài không nhìn thấy tôi đang bận đây à? Căn nhà thứ hai mới bắt đầu làm, không có thời gian đâu mà nghe ngài thuyết pháp."

Phật Đà nói:

"Luôn luôn có thể dành ra được một chút thời gian mà!"

Đốc công đáp:

"Một chút thời gian cũng không có, ngài đừng làm phiền tôi nữa!"

Phật Đà không nỡ vô tình quay trở về tịnh xá Trúc Lâm. Phật Đà gặp Xá Lợi Phất, nói với Xá Lợi Phất rằng:

"Đốc công này mệnh sắp hết rồi, ta muốn cứu anh ta, nhưng anh ta luôn chẳng có thời gian rảnh, làm sao đây! Làm sao đây!"

Xá Lợi Phất đáp:

"Đốc công cơ bản là không biết ngài là Phật đó!"

Sau đó, người đốc công kia trong lúc làm việc đã bị ngã xuống đất, chết rồi!

Tôi kể lại câu chuyện cổ này là muốn nói rằng, khi tôi ở Âm tào địa phủ, đã trông thấy địa ngục chim mổ mắt.

Ở địa ngục này, dòng người cuồn cuộn. Một bầy chim sắt bay đến, chuyên mổ vào nhãn cầu mắt của người ta. Mọi người kêu la, chạy nháo nhào. Thế nhưng chim sắt đuổi theo rất nhanh, bao nhiêu con mắt đều bị chim mổ ra, xếp thành một hàng. Máu từ trong hốc mắt người chảy ra. Chim sắt nuốt sống luôn những con mắt này. Đám người kêu gào thảm thiết.

Trước tiên chim sắt mổ mắt, sau đó mổ từng bộ phận trên người, đám người chạy đông chạy tây, cuối cùng thì máu khô hết mà chết.

(Nếu có ai từng xem bộ phim kinh dị của Alfred Hitchcock "Những con chim", thì chắc chắn có thể liên tưởng đến tình huống này, thực sự là cực kì bi thảm.)

Địa ngục chim mổ mắt, thật quá đáng sợ!

Minh sứ nói:

Đề Bà Đạt Đa, mặc dù là đệ tử của Phật Đà, học Phật cũng gần như xong hết rồi, nhưng tín tâm không đủ, không tin rằng Phật Đà đã thành Phật, do vậy cũng đã bị xuống địa ngục chim mổ mắt, là loại người có mắt không tròng.

Người đốc công kia cũng là loại người có mắt không tròng, không muốn theo Phật, Phật muốn độ anh ta, nhưng anh ta không tiếp nhận.

Trên đời này, loại người như vậy nhiều lắm thay!

Vợ không biết chồng đã thành Phật!

Con cái không biết cha đã thành Phật!

Bạn học không biết bạn học ngày xưa đã thành Phật!

Chị em gái không biết anh trai đã thành Phật.

Thậm chí:

Đệ tử không biết sư phụ đã thành Phật!

Tôi nói:

"Có mắt không tròng, không biết chân Phật, thế thì con mắt, dùng để làm gì?"


### 28. **Bí mật về lưng gù**


Tôi nhớ có một bài kệ như thế này:

*Tất cả mọi phiền não,*

*Chẳng bao giờ dừng lại.*

*Đến đều như soi gương.*

*Nên ở nơi quang minh,*

*Lời Phật đừng phê phán,*

*Đạo gia không tranh giành.*

*Đường sống vui thì có,*

*Thế gian ít người đi.*

(Bài kệ này ý nói rằng, người tu tâm, phát tâm thanh tịnh thì sẽ hợp với đạo chân chính. Nếu khởi lên dù chỉ một suy nghĩ tức giận, ngọn lửa tức giận một khi đã nhen lên, thì lửa này cũng sẽ thiêu trụi cả rừng công đức. Thế là, tất cả việc tu tâm đều trôi theo dòng nước, từ đó thần khí mờ đục, thiện niệm cũng hoàn toàn tiêu tan.)

Phật giáo chúng ta giảng: "Không tranh chấp."

Đạo gia giảng: "Đừng tranh đấu."

Đây là một trong những điều kiện quan trọng nhất của người tu hành. Trong lục độ, nhẫn nhục là điều cực kì quan trọng. Có thể nhẫn nhịn mọi thứ thì chính là thánh hiền đó!

Tuy nhiên, "thế gian ít người đi" nghĩa là sao? Là bởi vì con người thế tục không biết tu nhẫn nhục, người hiếu chiến nhiều, thật đáng thương! Thật đáng thương!

Tôi thấy rất nhiều người:

Cá tính người nọ cứng rắn hơn người kia, người nọ cố chấp hơn người kia, người nọ hiếu thắng hơn người kia.

Lời nói: chua cay ác nghiệt.

Lời viết: phẫn nộ chửi bới.

Những người này vẫn cho rằng bản thân là kẻ chính nghĩa chẳng làm gì sai bao giờ sao? Kì thực chỉ là một đám "tiểu nhân" thôi!

Cá nhân tôi cho rằng:

*Oan oan tương báo bao giờ hết.*

*Kiếp kiếp đeo bám chẳng ngẫu nhiên.*

*Chi bằng lòng yên khí sẽ hòa.*

*Lập chí thành Phật về tây phương.*

Tôi đã trông thấy địa ngục lưng gù. Lưng gù là sao? Lưng gù không phải chỉ là cái bướu trên lưng lạc đà thôi đâu. Hình ảnh ngược lại của lưng gù chính là con rùa, lưng con rùa mang một cái mai to, chúng ở trong sa mạc chậm chạp bò, chậm chạp đi, loạng choạng, lảo đảo.

Mặt trời chiếu gay gắt.

Không có nước.

Không có thức ăn.

Đám người đông đúc này trên lưng mang tấm mai rùa lớn, nhưng không phải là mai rùa, mà là một tấm lưng gù lớn. Trời ơi! Những người này bò lê trên sa mạc rộng lớn, bò đến khi sức tàn lực kiệt mà chết, chết xong lại sống lại. Rồi lại bò.

Rồi lại chết.

Tôi hỏi minh sứ:

"Là vì nguyên nhân gì? Mà bị lưng gù to đến thế này?"

Minh sứ đáp:

"Chửi trời, chửi đất, chửi người, chửi Phật, chửi Bồ Tát, chửi A La Hán, lại còn nhổ nước bọt, còn chỉ ngón tay, còn phóng uế… Đây đều là những hành động ác. Nếu sự việc là đúng thì còn có thể nói. Đằng này nếu chỉ là nghe đồn thì đều là những hành động phỉ báng vô căn cứ. Phỉ báng cao như núi thì cái lưng gù cũng cao to như núi. Phỉ báng giống như cái lưng gù, khiến cho những người này phải mang cái lưng gù to như mai rùa bò trên sa mạc. Bò đến khi nào chết thì thôi."

Tôi nói:

"Tôi chưa từng nghe nói đến địa ngục lưng gù?"

Minh sứ nói:

"Mới được tạo ra."

"Vì sao vậy?"

Minh sứ:

"Người thế gian bây giờ ngày càng thích đưa chuyện thị phi, lấy việc phơi bày chuyện riêng tư của người khác làm thú vui."

"Ai sẽ phải xuống địa ngục này?"

Minh sứ đáp:

"Nhiều lắm thay!"


### 29. **Bí mật về cửa cầm thú**


Tôi đi đến một nơi, trông thấy một cánh cửa cao sừng sững, ở trên đó viết ba chữ "Cầm Thú Môn" [ **ND**: cửa cầm thú ]. Một đám nam nữ ai nấy đều đang bò lom khom, bò qua Cầm Thú Môn. Ở giữa cửa có cai ngục, cai ngục sẽ khoác lên mỗi người nam nữ một bộ lông, gắn thêm đuôi, gắn thêm sừng. Cũng có người sẽ bị thay đầu.

Một số người sẽ bị thay thân.

Có người thì được gắn thêm lông, cánh.

Sau khi đi qua cửa này thì họ sẽ biến thành bàng sinh, chuyển thế thành những loài chim thú.

Tôi hỏi minh sứ:

"Bàng sinh có noãn sinh, thai sinh, thấp sinh, hóa sinh. Vì sao lại còn có bàng sinh ở cửa cầm thú?"

Minh sứ đáp:

"Bàng sinh phân ra làm rất nhiều loại, tùy theo nghiệp chướng nặng nhẹ mà phân loại. Ai nên noãn sinh thì cho noãn sinh, ai nên thai sinh thì cho thai sinh, ai nên thấp sinh thì cho thấp sinh, ai nên hóa sinh thì cho hóa sinh. Nhân quả bất khả tư nghì, bốn hình thức tái sinh này cũng bất khả tư nghì, nói ra thì dài lắm."

Minh sứ lại nói:

"Ba nghiệp độc tham, sân, si, kì thực cũng không đơn thuần. Cần phải biết tham, sân, si biểu hiện bên ngoài là ba thứ, nhưng thực tế cũng chỉ là một. Nghĩ mà xem, tham thì cũng là ngu si, sân hận thì cũng là ngu si, ngu si cũng là tham, ngu si cũng là sân hận... Ba thứ này gắn liền với nhau tạo thành nhân quả."

Minh sứ nói:

"Nghiêm khắc mà nói thì tội tà dâm cũng sẽ phải đi vào cửa cầm thú, chẳng phải trong vạn điều ác thì tà dâm đứng đầu sao? Tham sắc cũng là ngu si, thất tình lục dục, rất dễ thành bàng sinh cầm thú."

Tôi hỏi:

"Tà dâm đứng đầu trong vạn tội ác, sẽ gặp hoạn nạn gì?"

Minh sứ đáp:

1. Hại danh tiết con người -- danh tiết con người một khi bị hủy hoại thì cũng giống như cầm thú.

1. Hại thanh danh -- thanh danh một khi bại hoại thì thể diện cũng mất hết.

1. Hại môn phường -- làm mất mặt người thân, xấu hổ bạn bè thân quyến.

1. Hại sinh mệnh -- tức mà chết, xấu hổ mà chết, phẫn nộ mà chết, tự sát mà chết.

1. Hại phong tục -- làm tổn hại đạo đức xã hội, bại hoại phong tục.

1. Hại tâm thuật -- huyễn vọng, tham đắm, sinh tâm cơ hội.

1. Hại âm đức -- tổn hại đến luật của trời đất, hủy hoại lương tri, cạn kiệt ruộng phúc.

1. Hại danh lợi -- mất hết danh dự, mất hết niềm vui, mất hết lợi ích.

1. Hại tuổi thọ -- tinh khô, khí tán, giảm thọ.

1. Hại tổ tiên -- công đức của tổ tiên đều tiêu tán.

1. Hại người thân bạn bè -- vợ bỏ con rời, xấu hổ với bạn bè.

Những điều trên đều là những việc rất tệ hại.

Tôi hỏi minh sứ:

"Có ví dụ không?"

Minh sứ đáp:

"Có." Minh sứ nói:

"Thời hiện đại có một người họ X, khi anh ta sinh ra, Thiên đế ban cho anh ta một ngọc ấn. Anh ta rất thông minh, là người có trí huệ lớn, thành tích rất ưu tú, đi học luôn đứng nhất, sự nghiệp cũng vô cùng thuận lợi, lẽ ra có thể trở thành một người lãnh đạo đất nước. Nhưng rốt cuộc thì anh ta cũng chẳng có được gì."

Tôi hỏi:

"Vì sao vậy?"

Minh sứ đáp:

"Anh ta từng nhìn trộm phụ nữ nhà hàng xóm tắm."

"Anh ta từng gian dâm với một người con gái nhà lành."

"Anh ta từng chơi gái."

"Anh ta từng gian dâm với thư kí nữ."

"Anh ta có rất nhiều tình một đêm."

"Do vậy ngọc ấn làm lãnh đạo của anh ta đã bị Thiên đế thu hồi lại."

Tôi thở dài một tiếng:

"Tiếc thay! Tiếc thay!"

Tôi nói:

"Mỗi người cần có: một là tâm địa trong sạch, hai là giữ giới luật đạo đức, ba là cần kính trời kính Phật, bốn là cần tu thân dưỡng tính, năm là cần quyết tâm thành Phật."


### 30. **Bí mật về rắn hai đầu**


Khi còn nhỏ, tôi đã đọc được một câu truyện cổ:

Tôn Thúc Ngao khi còn nhỏ tuổi đã nhìn thấy một con rắn hai đầu đang uốn éo bò trên bãi cỏ, hai cái miệng rắn đều thò thụt cái lưỡi bất thình lình. Vừa trông thấy rắn ông đã thất kinh. Bởi vì những lời đồn đại dân gian ở quê ông cho rằng hễ ai nhìn thấy rắn hai đầu thì rất mau chóng sẽ bị chết bất ngờ. Tôn Thúc Ngao đã trông thấy nó rồi, lập tức cầm lấy cục đá ném chết con rắn hai đầu. Sau đó, ông đào một cái hố rồi chôn nó xuống.

Sau khi về nhà, ông âu sầu không vui. Mẹ ông hỏi:

"Vì sao không vui?"

Tôn đáp:

"Nhìn thấy rắn hai đầu rồi, chắc chắn sẽ phải chết, không còn nghi ngờ gì nữa." Mẹ hỏi:

"Thế sau đó thì sao?"

Tôn đáp:

"Bởi vì con sợ người khác trông thấy nó rồi cũng sẽ bị chết, thế nên đã ném chết nó, đem chôn rồi!"

Mẹ nói:

"Con tuổi còn nhỏ đã có lòng tốt nghĩ cho người khác, ông trời nhất định sẽ bảo vệ cho con không chết, hơn nữa tương lai chắc chắn có thiện báo."

Về sau:

Tôn Thúc Ngao quả nhiên không chết, sau này còn làm đến chức Tể Tướng, cai trị đất nước đều rất hợp nhân tình đạo nghĩa.

Tôi kể câu truyện cổ này là có nguyên nhân của nó. Bởi vì tôi cũng nhìn thấy rất nhiều rất nhiều rắn hai đầu, nhện hai đầu, chim hai đầu, cá hai đầu, chó hai đầu… ở Âm tào địa phủ.

Tôi rất ngạc nhiên. Minh sứ nói với tôi:

“Sự tranh đấu lẫn nhau giữa người với người quá nhiều, sự hòa hợp giữa người và người quá ít.”

Có người nói: con người vốn dĩ là bất hòa.

Con người kị nhất là:

Che giấu ác tâm.

Khắc sâu thù hận.

Ghen tị với tài năng.

Ghen tị với người cao quý.

Nói lời làm tổn thương người khác.

Vu oan giá họa.

Tự rèn mình khỏi tính xấu thì kém.

Bắt bẻ người khác thì giỏi.

Minh sứ nói:

"Thế nhân, người đố kị ghen tuông thì nhiều, tiểu nhân thì luôn ôm mối thù hận, đeo bám lẫn nhau cho đến chết cũng không buông."

Cắn nhau không buông tha.

Diêm Vương phán quan rất khó xử lý họ, ở dương gian thì họ cắn nhau không chịu buông, ở âm gian cũng cắn nhau không chịu buông như vậy.

Thế là âm phủ phán cho làm:

Rắn hai đầu.

Nhện hai đầu.

Chim hai đầu.

Cá hai đầu.

Chó hai đầu.

………….

Kì thực đây đều là tiểu nhân với tiểu nhân cắn nhau mãi không buông mà biến hiện ra.

Lấy rắn hai đầu làm ví dụ: mắt đối mắt, lưỡi đối lưỡi, răng đối răng, cứ thế cắn lẫn nhau không ngừng. Cuối cùng đôi bên đều chết. Chết xong lại sống. Rồi lại mắt đối mắt, miệng đối miệng, răng nhọn đối răng nhọn, cũng lại cắn mổ lẫn nhau, rồi cùng nhau mất mạng.

Tôi hỏi:

"Những cặp song sinh liền thân ở thế gian thì sao?"

Minh sứ đáp:

"Đã lộ tin tức này đến nhân gian sao!"

Tôi nói:

"Con người ai cũng có lúc mắc lỗi, nếu có thể tha thứ thì nên tha thứ, sẽ tránh được cảnh oan oan tương báo biết khi nào dứt."


### 31. **Bí mật về “trùng nhân”**


Triều đại nhà Minh có một vị là Mạo Khởi Tông, ông ta đã kể lại không ít những câu truyện cổ để khuyên đời, trong đó có một truyện như sau:

Ấp Phù Lương ở phương bắc có một người tên là Trương Minh Tam, theo cha làm quan đến huyện Quỳnh Nhai. Quan xá của cha anh và nhà của chỉ huy họ Lý ở gần nhau. Chỉ huy họ Lý có hai người con gái rất xinh đẹp đáng yêu. Trương Minh Tam này liền quyến rũ tán tỉnh.

Đến khi nhiệm kì làm quan của cha đã hết, lúc quay trở về quê hương, Minh Tam liền bí mật đưa hai cô gái lên thuyền. Thuyền chuẩn bị rời đi thì chỉ huy họ Lý đuổi kịp, Minh Tam sợ sự việc bại lộ, trong lòng lo lắng, không ngờ đã đẩy hai cô gái xuống biển. Sự việc này trôi qua được mười năm.

Minh Tam mắc bệnh, buổi đêm nằm mơ thấy hai cô gái trẻ đến đòi mạng, hai cô gái này đã trở thành "trùng nhân". Trùng nhân nói rằng mắt của hai cô gái trẻ có trùng bò ra, mũi có trùng bò ra, tai có trùng bò ra, trong miệng có trùng bò ra, lỗ chân lông khắp người đều đầy trùng bò ra. Cảnh tượng vô cùng ghê rợn.

Minh Tam vừa nhìn thấy hai cô gái đã biến thành "trùng nhân" thì trong mơ hét ầm lên, miệng kêu "tha mạng". Minh Tam rốt cục cũng biến thành "trùng nhân", mắt, tai, mũi, lưỡi đều có trùng bò ra bò vào, lỗ chân lông trên toàn thân đều có trùng bò ra bò vào, khắp đầu khắp thân toàn là trùng. Anh ta hét to một tiếng rồi chết.

Tôi ở dưới Âm tào địa phủ không ngờ cũng nhìn thấy "trùng nhân", cả một đám lớn "trùng nhân" tụ tập lại với nhau.

Nghe nói:

Những người này sau khi đến địa phủ, phán quan địa ngục sẽ đưa hai con trùng cho kẻ phạm tội nuốt vào bụng, sau đó hai con trùng này sẽ đẻ trứng bên trong người phạm nhân. Trứng lại nở thành trùng, thế là trùng sẽ ăn dần từ trong ra ngoài toàn bộ thân thể phạm nhân. Sau khi nuốt trùng vào thì phạm nhân mắc phải đủ mọi bệnh khổ, những con trùng này sẽ ăn sạch mắt, tai, mũi.

Tiếp đó:

Đám trùng sẽ từ lỗ chân lông bò ra.

Phạm nhân toàn thân trở thành "trùng nhân".

Cuối cùng chỉ còn lại xương trắng chất một đống.

Cứ như vậy, chết rồi lại sống, sống rồi lại chết, cái đau khổ của "trùng nhân" cũng là một kiểu khổ khác. Khổ không lời nào tả xiết.

Tôi hỏi:

"Trùng nhân phạm tội gì?"

Minh sứ đáp:

"Nam không trung thành lương thiện, nữ không mềm mỏng ôn hòa.”

Minh sứ nói:

Đàn ông tâm thuật bất chính, bất trung, không thật thà, cũng không làm việc thiện, thích hưởng biếng làm, chỉ dám làm những việc lén lút trong bóng tối, thân không sạch sẽ, tâm không lương thiện, mở miệng là nói tục chửi bậy. Đàn bà cực kì hung hãn, ví dụ như giống phụ nữ hung tợn, đối với người khác không có chút hòa nhã nào. Cũng có thể là người, một là hay khóc lóc, hai là dễ làm loạn lên, ba là dọa treo cổ, hoặc là có những hành động tàn bạo, hoặc nói lời dối trá, phẩm chất đạo đức bất lương, tham dâm, tham tiền, có tính tắt mắt trộm vặt, mồm năm miệng mười nói lời hung tợn cay độc. Những loại người này sau khi chết sẽ rơi vào địa ngục "trùng nhân".

Tôi hỏi:

"Còn có loại người nào biến thành trùng nhân nữa?"

Minh sứ đáp:

Buôn bán hàng giả thay thế hàng thật.

Vàng giả, bạc giả, tiền giả, thuốc giả, hàng hóa giả.

Vàng pha chì, muối pha cát, rượu pha nước, sơn pha dầu, gạo pha ngô.

Còn nữa:

Thực phẩm hại đến tính mệnh người khác, lén buôn bán thuốc phiện, buôn bán gian lận, lập sòng cờ bạc, làm giả giấy tờ, buôn bán người, dụ người làm gian, giả văn tự hợp đồng, giả bằng cấp, giả làm người tu hành, giả làm thương nhân, giăng bẫy người khác, v.v.

Tôi nói:

"Trời ạ! Toàn là lừa đảo, lừa đảo, lừa đảo."


### 32. **Bí mật về tiếng kêu "chiu chiu"**


Tôi đến một khu rừng rậm, khu rừng này cứ phát ra một thứ âm thanh lớn "chiu chiu". Tiếng kêu "chiu chiu, chiu chiu chiu" cứ vang mãi bên tai không ngớt. Tôi lại gần hơn để xem. Trên mỗi một cái cây, cành cây, lá cây, nhánh cây đều là ve sầu bò chi chít. Tôi lại nhìn kĩ hơn, thấy đầu của những con ve sầu này không ngờ lại là đầu người, có ngũ quan rõ ràng. Mắt, tai, mũi, lưỡi cực kì rõ rệt, ngoài cái đầu ra thì toàn thân lại là thân ve sầu.

Những con "người ve" này phát ra âm thanh:

"Chiu chiu!"

"Chiu chiu! Chiu chiu chiu!"

Những con ve mang đầu người không có cách nào để dừng kêu được. Chúng kêu đến mức giọng khàn sức cạn, miệng nôn ra máu, sau đó thì chết. Đến khi chúng sống lại thì lại tiếp tục kêu, một khi đã kêu thì sẽ lại kêu suốt đến khi nôn ra máu mà chết. Vòng tuần hoàn cứ như vậy không dừng dứt. Tôi trông thấy mà cực kì kinh ngạc.

Minh sứ nói:

"Việc này không có gì là nghiêm trọng quá cả, người thích khích bác chia rẽ người khác nhiều mà. A nói với B là C nói xấu anh ở sau lưng đấy, A lại nói với C rằng B nói xấu anh ở sau lưng đấy. Thế là B và C trở thành kẻ thù, một việc ác đã được tạo ra. Sau khi A chết thì sẽ biến thành người ve."

"Những phụ nữ xinh đẹp nhất thì lại càng hay nói láo."

"Nói láo là thiên tính của phụ nữ."

Nhưng, trên thực tế:

"Đàn ông hiện đại cũng nói láo nhiều chẳng khác gì, nam nữ như  nhau, cũng rất hay buôn dưa lê về những chuyện thị phi."

"Loại đàn ông này còn giỏi hơn cả phụ nữ, đều là những cái loa phát thanh, chuyện tốt còn chưa hay nhưng chuyện xấu thì đã lan truyền xa nghìn dặm."

"Buộc tội vô căn cứ."

"Mới trông thấy đầu đã tự vẽ thêm đuôi."

"Lời người đáng sợ, đáng sợ."

"Lời nói láo mà nói ra trăm lần thì cũng biến thành thật, lời người thật đáng sợ!"

"Mười cái miệng chín cái mông." (Mồm miệng đều rất thối.)

"Truyền đi truyền lại, dây cỏ cũng biến thành rắn rồi."

"Đao môi kiếm lưỡi."

"Họa từ miệng mà ra."

"Phá hòa hợp tăng."

Những loại người này sau khi chết đều xuống địa ngục ve đầu người, bọn họ sẽ kêu chiu chiu chiu.

"Chiu chiu! Chiu chiu chiu!", kêu đến khi nôn ra máu mà chết.

Tôi nghe xong, kinh hãi!

Tôi nhớ có một chuyện thế này:

Có một anh con trai lấy được một cô vợ xinh đẹp, nhưng cô vợ này có thiên bẩm là chuyên gia nói láo. Cô nói với anh con trai: "Cha anh thường quấy rối em!" Con trai nghe xong vô cùng tức giận.

Cô vợ xinh đẹp này lại nói với bố chồng rằng, con trai ông ở sau lưng rất bất hiếu với ông, nói những lời không thể nào nghe lọt tai được. Bố chồng cực kì phẫn nộ.

Tình cảm giữa hai cha con đã trở thành thù địch. Đến cuối cùng thì con trai giết chết cha, gây ra một thảm kịch cho gia đình, gây nên chấn động lớn.

Con trai đương nhiên là xuống địa ngục. (địa ngục vô gián)

Cô vợ cũng xuống địa ngục rồi thành "người ve".

Còn nữa:

Vốn dĩ là bạn bè nhiều năm, sau đó có một người bạn xấu thích nói láo xen vào. Bạn tốt bỗng trở thành kẻ thù, việc này rất nhiều.

Tôi nói:

Người tu hành kị nhất là tâm khẩu bất nhất, tâm khẩu bất nhất cũng là kẻ tiểu nhân. Kẻ đạo đức giả cũng là quân tử giả mạo.

Khẩu Phật tâm xà, chắc chắn là một kẻ bất trung, bất hiếu, bất tín, bất nghĩa.

Tu hành Mật giáo thì khẩu thanh tịnh là cực kì quan trọng.

Tuyệt đối ghi nhớ! Tuyệt đối ghi nhớ!


### 33. **Bí mật về thịt viên**


Tôi đi theo Minh sứ đến một nơi cực kì tanh hôi, người bình thường mà đi đến nơi này thì có lẽ không thể thở được. Nhưng Minh sứ và tôi thì không bị như vậy, nguyên nhân là vì chúng tôi có thành tựu của việc tu trì, tu đến mức độ là người bình đẳng nhất vị rồi, thơm hay thối đều không có ảnh hưởng gì cả.

Cái mùi tanh hôi này rất đặc thù, giống như là:

1. Mùi thối của tử thi.

1. Mùi thối của răng sâu.

1. Rãnh nước bị ứ đọng.

1. Cá chết lên giòi.

1. Chuột chết lên giòi.

1. Mùi thối của bệnh nứt kẽ ngón ngân.

Mùi hôi thối tổng hợp này có thể gọi là tập hợp toàn bộ hết thảy mọi mùi hôi thối, người bình thường mà ngửi thấy mùi thối này thì chắc chắn sẽ nôn thốc nôn tháo. Đúng rồi, nó cũng giống như cả bãi nôn của người nữa, nôn ra những thứ nhầy nhụa rồi kết hợp với không khí mà bốc mùi lên, thành thứ mùi lảng vảng trong không khí.

Tôi quay người đi thì nhìn thấy một đống lớn thịt viên, cơ man là nhiều, vô cùng vô tận thịt viên. Cái mùi thối này quả nhiên là bốc ra từ cái đống thịt viên này.

Tôi thất kinh, hỏi:

"Đám thịt viên này là cái gì?"

Minh sứ nói:

"Ngài không cần hỏi trước, ngài nhìn kĩ xem thịt viên là cái gì?"

Tôi đưa mắt nhìn kĩ hơn, trời ạ! Thịt viên là người, không chân không tay, tuy vẫn có mắt, tai, mũi, lưỡi bé tí tí, từng viên từng viên thịt rung lên giống như là đang tức giận đến cực điểm.

Minh sứ nói với đám thịt viên:

"Ta đã mời Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đến đây, đặc biệt sờ đầu gia trì cho các người, để các người có thể trở về dương gian!"

Đám thịt viên nhảy tưng tưng hoan hô.

Tôi hỏi minh sứ:

"Vì sao lại thối như vậy?"

Minh sứ đáp:

"Đây là do tâm thù hận mà sinh ra, trên đời này tâm thù hận là thối tha bẩn thỉu nhất, thối nhất thối lắm."

Tôi hỏi:

"Vì sao muốn tôi sờ đầu?"

Minh sứ đáp:

"Giúp cho thịt viên được hoàn dương."

Tôi đưa tay ra sờ đầu, từng viên từng viên thịt lăn đến, bàn tay tôi vừa chạm vào thì thịt viên cũng biến mất luôn. Một tiếng "viu", thế là được hoàn dương rồi. Thịt viên đến nhanh, đi lại càng nhanh.

"Viu!"

"Viu!"

"Viu!"

Chuỗi âm thanh bất tuyệt!

Tôi tò mò hỏi Minh sứ:

"Đám thịt viên này sau khi trở về dương gian thì sẽ làm gì?"

Minh sứ đáp:

"Báo thù!"

"Sao lại báo thù?"

Minh sứ nói:

"Thịt viên hoàn dương, sẽ đến nhà mà nó thù hận, sẽ đi vào trong nhục thể của kẻ thù, thế rồi trở thành các khối ung thư."

"Ung thư!" - Tôi sợ đến giật mình.

"Đúng vậy."

Tôi nói:

"Vậy chẳng phải là tôi đã trở thành kẻ hành hình sao?"

Minh sứ nói:

"Đây không phải lỗi của ngài, ngài chỉ giúp cho họ sớm được thoát khỏi đây và làm giảm đi mối thù hận giữa bọn họ mà thôi, ngài chỉ là Chuyển Luân Thánh Vương, ngài khiến cho ái hận bình đẳng."

Tôi chẳng còn lời gì đáp lại.

Tôi chỉ muốn nói thêm rằng:

"Thù hận là cái gốc rễ của lục đạo luân hồi, thế nhân nên sớm tỉnh ngộ lại đi!"


### 34. **Bí mật về người trong giếng**


Ở Âm tào địa phủ, tôi cũng trông thấy từng cái từng cái giếng khô hình bát giác, không phải giếng hình tròn. Nhìn xuống đáy giếng, độ sâu của nó là không thể đo được. Tôi dùng Phật nhãn để nhìn thì thấy đáy giếng không có nước, mà có một đạo nhân ngồi trong đó. Miệng người này cứ lẩm nhẩm niệm mãi hai chữ: "Khai ngộ!".

Một người khác cũng ngồi dưới đáy giếng, miệng niệm mãi hai chữ: "Đắc đạo!".  Lại một người khác ngồi dưới đáy giếng, là một đại sư, cứ ngồi niệm: "Thiên hạ đệ nhất!"

Một người khác ngồi dưới đáy giếng, là một thượng nhân, cứ ngồi niệm: "Cứu giúp chúng sinh!"

Một người khác ngồi dưới đáy giếng, là Phật sống, cứ ngồi niệm: "Chứng ngộ vô sinh!"

Lại một người khác ngồi dưới đáy giếng, là Thượng sư, cứ ngồi niệm: "Sư phụ vô thượng!"

Tôi thấy trong đó có một người mà tôi quen, là một đại thiền sư, ông cũng ngồi trong một cái giếng hình bát giác, nhìn hướng về chân trời, nhưng chân trời đương nhiên chỉ to bằng cái miệng giếng, còn miệng ông thì lẩm nhẩm: "Đã hiểu sinh tử!"

Tôi nhìn mà kinh ngạc. Những con người ngồi trong giếng này năm đó đều là những người tu hành lớn danh tiếng chói ngời, tên tuổi lớn, đệ tử đông. Khi còn tại thế đều là đại hòa thượng, đại thượng nhân, đại Hoạt Phật, đại Thượng sư, đại thiền sư với quyền lực điên đảo một thời, là những đại thành tựu giả, đại pháp vương được thế nhân tôn kính.

Còn bây giờ, tất cả đều ngồi dưới đáy giếng hình bát giác.

Tôi hỏi:

"Vì sao lại như vậy?"

Minh sứ đáp:

"Lừa gạt người đời trộm lấy hư danh."

"Còn chưa đắc đạo đã nói đắc rồi."

"Còn chưa chứng ngộ đã nói chứng rồi."

"Kiêu căng ngạo mạn."

"Người mù dắt người mù."

Tôi nhớ có một sự việc thế này.

Trước đây ở Đài Loan có một nhóm đệ tử của tôi đã mời một đại thiền sư đến Trung Sơn Đường để nói chuyện về pháp thiền. Vị đạo sư này ở nước ngoài, được mời về Đài Loan để thuyết pháp. Vị đại thiền sư này vẫn chưa biết ai là người đưa ra lời mời này, hễ có người mời là ông sẵn sàng lên pháp tọa thuyết pháp.

Không ngờ rằng…

Ông lên pháp tọa, chẳng nói chuyện thiền. Mà ông lại nói chuyện về Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Phê phán tới, phê phán lui.

Người ngồi dưới pháp tọa nghe bài giảng không ngờ phần lớn là đệ tử của tôi, đệ tử ngồi đó cứ nhấp nhổm không biết nên ngồi tiếp hay đứng dậy. Người mời thiền sư đến thì cực kì bối rối.

Đệ tử Chân Phật mời đại thiền sư đến để nói chuyện về pháp thiền, pháp thiền thì chẳng thấy nói, lại thấy chửi Căn bản Thượng sư của họ, đây chẳng phải là đảo lộn hết cả hay sao?

Sau đó:

Đại thiền sư viên tịch.

Chưa thành tựu quả vị, cũng chưa đến được Phật quốc, cũng chẳng đến được cõi trời, ngược lại lại đọa xuống giếng bát giác khô ở Âm tào địa phủ. Tôi trông thấy ông thì chỉ biết lắc đầu.

Ông ta không biết rằng, "nhân ngoại hữu nhân, sơn ngoại hữu sơn, thiên ngoại hữu thiên". [ **ND**: những câu tục ngữ này đều có chung một ý là người tài ắt có người tài hơn ]. Cho rằng bản thân đã cực kì tuyệt đỉnh rồi, kì thực là chẳng hơn được ai. Lúc trụ thế còn chẳng hiểu đầu cua tai nheo thế nào là khai ngộ, thế nhưng khi nói ra thì lại cố tình làm lẫn lộn điểm chính, chưa chứng ngộ đã nói là chứng ngộ rồi, chưa đắc đạo đã nói là đắc đạo rồi, chẳng phải là sỉ nhục chết người không cơ chứ.

Những thể loại đại tu hành giả này đều ngồi đáy giếng bát giác khô, chỉ có thể nhìn được một mảnh trời trên miệng giếng, miệng thì lầm rầm. Bị đói mà chết, chết rồi lại sống, sống rồi lại chết. Dưới giếng nhìn trời, thương thay thương thay!

Tôi nói:

"Buôn bán Như Lai, buôn bán Phật pháp, buôn bán tăng bảo đều thuộc về loại người này, kiêu căng ngạo mạn, đều xuống địa ngục hết!"


### 35. **Bí mật về việc chém đầu**


Tôi từng đến thăm thành Tsuruga của Nhật Bản [ **ND**: lâu đài Hạc Trắng Tsurugajo ], nghe hướng dẫn viên du lịch nói về tinh thần võ sĩ đạo của Nhật Bản.

Võ sĩ đạo Nhật Bản nếu phạm tội thì sẽ dùng cách tự xử mình, phần lớn sẽ dùng con dao nhỏ giắt ở đai lưng lưng mình mà mổ bụng tự sát.

Quỳ xuống.

Hai tay cầm dao.

Rạch từ phải qua trái.

Ruột đứt máu tuôn.

Hơn nữa phía sau lưng còn có một võ sĩ khác cầm một cây đao võ sĩ dài, chém xuống một nhát là đầu rơi ra, đầu và thân mỗi thứ một nơi. Người võ sĩ đứng ở sau lưng này tin rằng làm như vậy sẽ giúp  cho người tự sát không phải chịu đau đớn quá lớn (đau đớn trước khi chết). Một nhát dao chém xuống là nhanh chóng kết thúc rồi.

(Các võ sĩ tự kết liễu đời mình đều là như vậy.)

Người còn thành còn.

Thành mất người mất.

Tôi ở Âm tào địa phủ cũng thấy địa ngục chém đầu, nhưng việc chém đầu ở đây rất khác các võ sĩ đạo Nhật Bản. Nói chung, võ sĩ Nhật Bản khi chém đầu là đầu và thân lìa khỏi nhau, thế là chết luôn, là xong luôn, không đau đớn gì nữa. Nhưng việc chém đầu ở địa phủ thì khác.

Người phạm tội sẽ được đao phủ trói chặt trên sàn hành hình, toàn thân run bần bật vì sợ hãi. Lưỡi dao lóe lên, một nhát chém xuống là đau đến chết luôn. Tiếp đó cổ của phạm nhân lại mọc ra một cái đầu khác.

Lại chém một nhát. Rú lên một tiếng!

Rồi lại mọc ra một cái đầu nữa.

Lại chém một nhát.

Lại mọc ra một cái đầu nữa.

Cứ như vậy mà chém mãi không dừng.

Âm thanh gào rú vì đau đớn hết lần này đến lần khác không ngừng dội vào tai. Tôi nhìn mà kinh hãi!

Những người nhận hình phạt này đương nhiên là càng đau khổ hơn, bởi vì không chỉ là chém đầu một lần mà là vô số lần. Biết rằng bản thân mình phải chịu chém đầu nghìn lần, vạn lần, tỉ lần... làm sao mà không sợ muốn chết!

Chết rồi vẫn còn tốt, nhưng chỉ e là chết cũng chẳng chết được, chỉ có chém, chém, chém, chém, chém, chém…

Khổ lắm!

Tôi hỏi minh sứ:

"Việc chặt đầu này là vì sao?"

Minh sứ nói:

"Có một loại người thích thề độc, thường xuyên đến trước các chùa miếu chặt đầu gà để lập lời thề, đưa ra lời nguyền, nói rằng nếu bản thân họ đã làm cái việc đó thì sẽ bị giống như con gà kia, lập tức chặt đầu. Nói như vậy họ sẽ có được lòng tin của người ta, nhưng sự thật là họ có làm cái việc đó. Trước chùa thề độc.

Chỉ trời thề độc.

Chỉ sao thề độc.

Trước thần thề độc.

Trước Phật thề độc.

Tuy những lời thề độc này xem ra có vẻ không làm sao cả, nhưng kì thực đã có chú thần ghi nhận lại. Nếu sự việc là thật, thì tự nhiên sẽ vô sự. Nếu sự việc là giả thì nghiệp tội rất lớn, sẽ đều phải vào địa ngục chém đầu.

Nhìn chung, một câu nói, một hành động, một thời điểm đều có quỷ thần ở bên cạnh.

Người lương thiện sẽ không dám lừa bịp, mọi việc ác sẽ không làm, chỉ chuyên làm việc thiện.

Còn người ác thì vì tư lợi, tâm không thành thật, mua danh chuộc tiếng, vì muốn có được hư danh mà tùy tiện phát lời thề độc. Chú thần sẽ lập tức ghi lại, những người này chắc chắn sẽ gặp tai họa, sau khi chết sẽ xuống địa ngục chém đầu!

Tôi khuyên thế nhân:

Đừng cuồng vọng điên đảo mà tùy tiện phát lời thề độc, đừng chỉ trời chỉ đất mà thề thốt.

Đừng thề thốt, nếu không sẽ bị Lôi Công [ **ND**: thần sét ] đánh chết.

Đừng thề sẽ bị xe đâm chết.

Đừng tự nguyền rủa mình và nguyền rủa người khác, đừng đưa ra lời thề sẽ xuống địa ngục.

Những lời thề kiểu này đều không có ý nghĩa gì cả.


### 36. **Bí mật về bạch quang đạo**


Chúng ta biết rằng thiên thượng giới là cõi cực lạc, cõi nhân gian thì nửa buồn nửa vui, tam ác đạo thì cực khổ. Thiên nhân ở thiên thượng giới, phúc báo dài rất dài, nhưng khi phúc báo đã hưởng hết thì cũng có khả năng đọa vào đạo địa ngục.

Đây là năm biểu hiện sút kém của thiên nhân:

1. Thiên y nhiễm bụi.

1. Thân đổ mồ hôi.

1. Hoa trời khô héo.

1. Thiên tâm bồn chồn hoảng hốt.

1. Không còn vui khi thực hành pháp.

Năm hiện tượng sút kém này sẽ khiến thiên nhân đọa vào chốn nhân gian hoặc đạo địa ngục, nguy cơ trực tiếp đến thế giới cực ác cực khổ của tam ác đạo cũng tương đối nhiều. Do vậy, thiên thượng giới vẫn chưa phải là cứu cánh. [ **ND**: đích đến cuối cùng ]

Mặt khác, thiên nhân có thể bị xuống tam ác đạo, vậy thì có chuyện ngược lại là chúng sinh ở tam ác đạo có thể trực tiếp lên cõi trời không?

Đáp án là: "Có."

Tôi ở Âm tào địa phủ trông thấy bạch quang đạo - đường ánh sáng trắng, chiếu thẳng lên thiên giới. Bạch quang đạo này nằm ở phía sau Tịnh thổ Thúy Vi.

Nếu có chúng sinh ở tam ác đạo, dù nghiệp chướng vẫn còn nặng, nhưng khi nhận những khổ đau tột cùng đã phát tâm sám hối thực sự. Tâm sám hối thực sự này rất kiên cố thì ánh sáng tự tính hiển hiện. Lại cộng thêm có chư Phật Bồ Tát thánh nhân hiền sĩ hạ giáng xuống nơi ác thú để độ hóa chúng sinh.

Có tâm sám hối rồi. Lại cộng thêm những lời giảng pháp của Phật Bồ Tát thánh nhân hiền sĩ, tự tính quang minh sẽ tương hợp với đạo cõi trời. Thế là những chúng sinh này sẽ theo bạch quang đạo trực tiếp lên thiên đình.

Tuy nhiên, phần lớn chúng sinh ở cõi u minh sẽ không nghĩ như vậy, cũng chẳng biết pháp sám hối là thế nào, do đó chẳng biết thế nào là ánh sáng của tự tính. Bởi vậy, cơ bản là rất ít người đi trên bạch quang đạo. Ngược lại, người đọa xuống địa ngục thì càng ngày càng nhiều, thực tế này thật khiến người ta phải cảm thán!

Tôi thấy nhân gian cõi Ta Bà thực sự là đáng thương ghê gớm! Người cố chấp bảo thủ tương đối nhiều.

Không giữ giới luật.

Vọng tưởng điên đảo.

Cố chấp với cái ác.

Bới móc chuyện riêng tư của người khác.

Phê bình phỉ báng.

Hoàn toàn bất chấp luân thường lương tri.

Tạo vô số nghiệp ác.

Con người của cõi nhân gian, bản tính khó sửa đổi, không tự kiểm điểm mình ba lần mỗi ngày, mọi cử chỉ động niệm đều tạo ra nghiệp. Thực sự là khó điều chỉnh thay đổi. Do vậy chúng sinh cực khổ của cõi địa ngục cũng giống nhưng cõi nhân gian thôi, muốn chúng sinh của địa ngục sám hối ư, nói thì dễ làm thì khó. Kể cả Phật Bồ Tát, ví dụ Địa Tạng Vương Bồ Tát, Quan Thế Âm Bồ Tát, một vị thường ở trong địa ngục, một vị thường đi đến địa ngục thuyết pháp khuyên răn, nhưng bạch quang đạo kia vẫn rất hiếm người đi.

Bồ Tát có thừa: bi tâm, trí huệ, vô nhiễm, cứu độ. Nhưng cũng khó cứu được những chúng sinh khổ não ngoan cố ở dưới địa ngục, ngay cả phương tiện đại thiện xảo cũng không cứu được bọn họ.

Tôi nhìn bạch quang đạo, bạch quang đạo rất ít người đi. Ngược lại, hắc quang đạo dẫn xuống địa ngục thì đầy ứ nghẽn đặc là người.

Tham dục.

Vô minh.

Ngã kiến.

Chính là ba đại ác nghiệp này khiến nhân gian và tam ác thú mãi chìm trong hố đen tăm tối. [ **ND**: tam ác thú chính là tam ác đạo, ba đường ác ]


### 37. **Bí mật về hình phạt đánh roi**


Chúng ta xem ti vi hoặc xem phim thấy cảnh diễn về quan phủ thời xưa (nha môn) thường thấy:

Quan viên ngồi ở giữa.

Nha dịch đứng hai bên, mỗi người cầm một cây gậy gỗ to.

Phạm nhân quỳ phía dưới.

Quan viên giận dữ quát:

"Lôi ra ngoài, đánh một trăm trượng."

Thế là phạm nhân bị cởi quần ngay tại sân đình, hai nha dịch chấp hành một trái một phải đứng nện bình bịch tới tấp, đánh cho phạm nhân kêu la ầm ĩ, đánh tới toét da hở thịt, đau tới mức kêu oai oái. Đây chính là hình phạt đánh roi.

Nghe nói chính phủ Singapore vẫn áp dụng chế độ đánh roi này đối với phạm nhân, thực sự là xưa nay cũ mới vẫn vậy.

Tôi ở Âm tào địa phủ cũng trông thấy cảnh đánh roi.

Diêm Vương ngồi ở giữa.

Minh sứ đứng hai bên.

Diêm Vương quát lệnh:

"Lôi ra ngoài đánh!"

Minh sứ chấp hành lệnh, dùng roi sắt đánh ngay tại chỗ, đánh cho phạm nhân tới mức bảy phần choáng tám phần say. [ **ND**: tinh thần hoảng loạn ] 

Tôi hỏi:

"Người bị đánh là ai?"

Có người nói với tôi:

"Người bị đánh là đệ tử của ngài đó!"

Tôi kinh ngạc:

"Đệ tử của tôi sao lại bị đánh?"

Người kia nói:

"Đệ tử này vẫn còn ở dương gian, bởi vì anh ta đã chỉ trích thầy của mình ở sau lưng, cũng nhục mạ thầy mình, do vậy phải chịu phạt đánh roi ở âm gian." "Có chuyện như vậy à?"

"Có."

Sau đó, đệ tử này quả nhiên đến tìm tôi, nói:

"Có một buổi tối, mơ thấy đi vào địa ngục, đột nhiên bị Diêm Vương ra lệnh cho Minh sứ dùng gậy sắt đánh cho 50 gậy. Buổi sáng tỉnh dậy thấy da bị bầm xanh bầm đỏ, đau đớn dị thường, bôi cao cũng không hết, xin Lư Sư Tôn gia trì."

Tôi vẫn gia trì cho anh ta. Tôi nói:

"Sau này khi nói lời gì hãy nghĩ ba lần!"

Anh ta gật gật đầu.

Tôi nhớ có hai câu chuyện xưa thế này.

Chuyện thứ nhất:

Triều đại nhà Minh, phủ Nam Xương sửa sang lại miếu Khổng Tử, rất nhiều người muốn dịch chuyển tượng thánh của Khổng Tử nhưng không thể dịch chuyển được. Có một quan viên đứng bên cạnh nhìn liền nói đùa:

"Chả trách mà không nhấc được Khổng Tử, bởi vì Khổng Tử còn có tên gọi là Trọng Ni mà, ha ha ha! Nếu Khổng Tử tên gọi là Thanh Ni thì các người mới có thể nâng được!"

[ **ND**: Trọng Ni 仲尼, âm tiếng Hán là Zhòng Ní - đồng âm với từ 重泥 nghĩa là đất nặng (nên không bê được). Còn Thanh nghĩa là nhẹ, Thanh Ni là đất nhẹ. (ở đây có sự chơi chữ) ]

Vị quan viên này đêm đó lập tức bị xuống địa phủ, bị đánh roi, khi tỉnh lại, đầu đau như muốn vỡ tung ra, không thể tiếp tục làm quan viên được nữa.

Chuyện thứ hai:

Có một vị quốc sư giảng kinh thuyết pháp cho các quan viên, trong đó có một người vốn dĩ không tin Phật pháp.

Quan viên nói:

"Toàn là một đống phân to, không hiểu thực tế, Phật pháp là cái thá gì, chẳng qua chỉ là tăng nhân kiếm cái ăn mà thôi. Tôi chẳng hề tin việc tu hành, tu hành thì có tác dụng quái gì, chết rồi thì cái gì cũng hết, cực lạc thế giới cái gì, địa ngục cái gì, đều là lừa bịp hết."

Đêm đó, quan viên này xuống địa ngục, cũng bị đánh roi như vậy, bị đánh tới mức hai chân tàn phế luôn.

Quan viên tỉnh dậy, hai chân không thể nào cử động được, tìm thầy thuốc khắp nơi, thầy thuốc đều không biết phải chữa thế nào, chữa cũng không chữa khỏi được. Cuối cùng chỉ có cách từ quan, lui về tu dưỡng!

Tôi nói:

"Bằng mọi giá không bao giờ được phỉ báng thánh hiền đó!"


### 38. **Bí mật về hố bẫy**


Tôi đến một vùng núi, nơi đây toàn là rừng rậm. Cai ngục đang truy đuổi một can phạm đã chạy trốn vào rừng sâu trong núi. Rừng rậm của núi này bên ngoài thì không có gì, chỉ là rừng cây lá rụng phủ ken dày cả ngọn núi mà thôi. Nhưng điều người ta không ngờ tới là can phạm này chạy vào trong rừng rậm thì lúc này sự việc bi thảm mới xảy ra đây.

Hóa ra bên dưới lớp lá rụng đầy rẫy những hố bẫy. Can phạm này dù có cẩn thận bước đi thì chỉ cần dưới chân lún xuống một cái là rơi ngay xuống hố bẫy.

Bên trong hố bẫy có đầy dao gươm, mũi dao đều chĩa thẳng lên trên.

Bên trong hố bẫy có tre nhọn, mũi tre nhọn chĩa thẳng lên trên.

Bên trong hố bẫy có nước độc, chỉ cần chạm vào là da sẽ bị hủy hoại.

Bên trong hố bẫy có dung nham, xương cốt đều đốt tan chảy hết.

Bên trong hố bẫy có rắn độc, cắn người cho đến chết.

Bên trong hố bẫy có mãnh thú, cắn xé vô số người.

…….

Tôi chỉ thấy can phạm chạy vào rừng rậm, hết người này tới người khác đều rơi xuống hố bẫy, âm thanh kêu la thảm thiết khắp nơi.

Có người máu chảy không dừng, cạn máu mà chết.

Có người da nát thịt nhũn, chỉ còn lại bộ xương khô.

Có người toàn thân cháy xém, xương cốt cũng chẳng còn.

Có người không ngừng gào thét, vì bị cắn xé.

Trong lòng tôi không thể chịu đựng được. Tôi muốn cứu một can phạm, từ trong tâm hóa hiện ra một đóa hoa sen trắng, hoa sen trắng sẽ nâng đỡ can phạm này, không bị rơi vào trong hố bẫy nữa.

Cai ngục nói với tôi:

"Dừng! Dừng! Dừng! Đây là sự hóa hiện của nhân quả, không thể cứu độ can phạm này được."

Tôi hỏi:

"Những người này phạm tội gì?"

Cai ngục đáp:

"Bọn họ kiếp trước đều là những kẻ đi săn, sát sinh vô số. Cũng có người là ngư dân, có người là dân câu cá, có người thì chuyên làm lồng chim, có người chuyên môn rèn dao săn, làm súng săn, có người chuyên môn làm các dụng cụ săn bắt, vì thế mà có quả báo này!"

Cai ngục nói:

Những người gặp hoạn này, biểu hiện bên ngoài là họ làm việc để mưu sinh, nhưng trên thực tế là họ lại làm việc "mưu tử".

*Xạ phi trục tẩu*

*Phát trập kinh thê*

*Điền huyệt phúc sào*

*Thương thai phá noãn.*

Nghĩa là:

*Bắn chim đuổi thú*

*Phá tổ rung cây*

*Lấp hang lật tổ*

*Hại trứng phá thai.*

Đây đều là những kẻ không chút nhân từ, người tu hành đương nhiên không thể làm, người thế tục bình thường làm vậy thì cũng không có gì tốt đẹp. Đối với kiến côn trùng, chúng ta cũng không thể tùy tiện làm hại. Hễ là chúng sinh có huyết khí thì đều giống như loài người chúng ta, chúng đau ta cũng đau, chúng thảm ta cũng thảm, đây là tấm lòng trắc ẩn. Trong năm giới thì sát sinh là tội nặng nhất.

Tôi còn nhớ:

Triều đại nhà Tống, Tô Thức đã tự làm nhà ở cho mình ở huyện Đông Pha, do vậy người đời gọi ông là Tô Đông Pha. Nơi ông ở người ta thích trồng trúc, bách và hoa cỏ, chim đến làm tổ trên cây rất nhiều. Tô Đông Pha cấm trẻ con và người hầu không được bắt chim, cũng không được phá hoại tổ của chúng. Thế là chim làm tổ càng ngày càng thấp, con người chỉ cần bước tới là liền trông thấy trứng trong tổ chim. Đây chính là tấm lòng nhân từ của cư sĩ Tô Đông Pha.

Còn nữa:

Có một vị sa di được một hòa thượng có thần thông đoán rằng bảy ngày nữa sẽ chết. Sa di liền trở về nhà tạm biệt mẹ, nhưng bảy ngày trôi qua mà vẫn chưa chết, vẫn tiếp tục sống. Hòa thượng có thần thông thấy rất kì lạ, hỏi tiểu sa di xem có chuyện gì.

Tiểu sa di nói:

"Trên đường về nhà, gặp cơn mưa lớn, tổ kiến bị nhấn chìm trong nước lớn, trăm nghìn con kiến nổi trên mặt nước, thế là sa di bèn dùng phiến trúc để cho kiến bám vào, đám kiến đều được cứu."

Hòa thượng có thần thông cảm thán:

"Nhờ âm đức này, mà không phải chết!"

Tôi nói:

"Muốn độ sinh, đừng sát sinh!"


### 39. **Bí mật về Đại thượng sư**


Ở Âm tào địa phủ, tôi nhìn thấy một nhà nhỏ trong rừng trúc, có một người tu hành sống ở đó. Tôi thấy kì lạ, bởi vì địa ngục u minh là chốn cực khổ, sao lại có được hoàn cảnh nho nhã này? Đây chẳng phải là quá kì lạ sao.

Tôi đi qua một cây cầu nhỏ bắc ngang qua dòng nước, từ cửa sổ nhìn vào trong, tôi thấy một tấm lưng rất quen thuộc. Đây…? Đây là…?

Người tu hành này quay đầu lại, trời ạ! Quả nhiên là một trong những vị Thượng sư kết duyên của tôi. Nhìn thấy Thượng sư của mình ở trong u minh địa phủ, tôi kinh ngạc không kể xiết, vì sao lại thành như vậy? Tôi đảnh lễ  Thượng sư.

Đại thượng sư vừa nhìn thấy tôi cũng rất kinh ngạc, sao mà Lư Thắng Ngạn cũng lại đến Âm tào địa phủ nhỉ?

Khi tôi hướng về Thượng sư đảnh lễ, có một sức mạnh vô hình đã chặn tôi lại không cho quỳ xuống, chỉ nhẹ nhẹ nâng tay lên, đỡ lấy thân tôi dừng lại. Vị Thượng sư này là người thầy kết duyên, trên phương diện lễ nghĩa thì nhất định cần đảnh lễ, nhưng tôi đã quên mất thân phận của bản thân. Tôi bây giờ có thân phận là Mật Mật Mật Như Lai, đây là thân phận đối đãi bình đẳng, chỉ có chắp tay lại thôi.

Tôi hỏi Thượng sư:

"Sao thầy lại ở đây?"

Thượng sư nói:

"Ta đã làm một việc vô ích lợi."

"Chuyện gì?"

"Ta nói rằng kinh Cao Vương Quan Thế Âm là kinh giả."

"Á! Trời ạ!"

Thượng sư nói:

"Từ đầu đến cuối ta nghĩ rằng chỉ có những kinh điển nào do chính miệng Đức Phật tuyên thuyết thì mới được gọi là Kinh Phật, còn không phải do chính miệng Đức Phật tuyên thuyết thì tự nhiên sẽ là kinh giả, ta đã khuyên đệ tử đừng niệm."

Thượng sư nói:

"Khi đó, ngài đang ủng hộ việc đọc Cao Vương Kinh, đọc Chân Phật Kinh, ta đã cực lực chửi bới ngài."

Tôi nói:

"Thực lòng xin lỗi."

Thượng sư nói:

"Ngài cũng không cần phải tự trách mình, bây giờ tôi đã biết, Cao Vương Kinh mặc dù không phải là từ miệng Phật tuyên thuyết nhưng cũng là của bậc Như Lai từ trong hư không đi vào trong giấc mơ của con người mà tuyên thuyết. Chân Phật Kinh cũng không phải từ miệng Phật tuyên thuyết nhưng cũng là Như Lai trong tâm ngài tuyên thuyết. Do vậy tôi đã phạm phải tội vô lợi ích."

Tôi hỏi:

"Trong địa ngục lại có nhà nhỏ thanh nhã thế này?"

Thượng sư nói:

"Do công đức của tôi hóa thành."

Tôi hỏi:

"Thầy ở trong địa ngục này làm gì?"

Thượng sư nói:

"Sao chép Cao Vương Kinh và Chân Phật Kinh."

Tôi hỏi:

"Cần chép bao lâu?"

Thượng sư nói:

"Cần chép 36 vạn tỷ, 11 vạn, 9 nghìn, 5 trăm biến."

"Đây chỉ là con số thiên văn thôi!"

Thượng sư nói:

"Đúng vậy, chỉ cần nói một lời vô lợi ích thì đều phạm tội này."

Tôi nói:

"Đại Chu Hồng hòa thượng cũng chửi Cao Vương Kinh đúng không?"

Thượng sư nói:

"Đúng vậy, ông ta cũng đang phải chép kinh đó!"

Tôi nghe xong mà giật mình! Hóa ra một lời nói sai liền bị xuống Âm tào địa phủ, người tu hành hãy thận trọng, thận trọng.

Tôi nói:

"Sao không dùng pháp Thiên chuyển luân?"

Thượng sư nói:

"Âm phủ không thể chuyển được. Nơi đây nghiệp nặng, bất kì đại la thần tiên nào cũng đều không chuyển được."

Tôi nghe xong mà thở dài. Tôi nói:

"Bản thân không biết thì cũng không thể tùy ý buông lời kết luận được!"


### 40. **Bí mật về tấm bia mục tiêu**


Tôi còn nhớ thời thanh niên, tôi đã được huấn luyện tại trung tâm huấn luyện số 5 ở núi Đông Qua thuộc Đài Trung. Chúng tôi là những sinh viên mới nhập ngũ của năm trường học. Năm trường học bao gồm các học viện như Viện y học quốc phòng, Học viện trắc lượng, Học viện pháp luật quân đội, Học viện tài vụ.

Sau này thì:

Học viện công binh.

Học viện công trình hải quân.

Học viện trắc lượng.

Đã hợp lại thành Học viện khoa học công nghệ Trung Chính.

Đây là việc rất lâu trước đây rồi.

Ở trung tâm số 5, tôi thường được huấn luyện môn "bắn bia", đó là huấn luyện kết hợp ba thứ: người - súng - bia. Người và súng cần phải "hợp nhất", bắn trúng vào hồng tâm của tấm bia.

Ở phương diện con người thì sẽ bao gồm tư thế và hơi thở, nhắm mục tiêu bằng mắt.

Ở phương diện súng thì phải điều chỉnh được điểm chuẩn, nòng súng, mỗi cây súng đều cần phải điều chỉnh.

Quan trọng là người - súng phải hợp nhất, khi đã phối hợp chặt chẽ với nhau thì khi bắn sẽ đều đúng hồng tâm. Hồng tâm chính là giấy dán trên tấm bia mục tiêu.

Ở Âm tào địa phủ tôi cũng trông thấy trường bắn. Nhưng tấm bia mục tiêu ở đây là con người. Con người bị trói lên tấm bia mục tiêu.

Thế nhưng có một nhóm cai ngục không cầm súng mà cầm phi tiêu để bắn người. Phi tiêu bắn vào đầu, thân, chân tay người, sau đó sẽ để cho máu từ từ chảy xuống.

Máu chảy cho đến khi chết.

Chết xong sống lại.

Rồi lại bị làm tấm bia mục tiêu để bắn.

Rồi lại từ từ chảy máu mà chết.

Cũng có lúc bắn không trúng, nhưng những người làm tấm bia mục tiêu đó không phải bị bắn trúng mà chết, mà là sợ đến mức vỡ gan vỡ mật mà chết. Thực sự như vậy cũng đã đủ thảm rồi!

Tôi lại nhớ xưa kia:

Chúa Jesus bị đóng đinh trên thập tự giá, hai cánh tay bị những chiếc đinh to đóng chặt trên thanh gỗ ngang của thập tự giá, hai chân thì bị đóng cùng vào thanh gỗ dọc, đinh xuyên qua chân ghim chặt vào gỗ. Trên đầu đội một chiếc vòng gai.

Pháp hành hình cho máu nhỏ từ từ mà chết này thực sự là quá bi thảm! Khi đó, có binh sĩ thương xót cho cảnh máu nhỏ dần mà chết này thảm quá mức chịu đựng, thời gian cho tới lúc chết rất dài rất lâu, thế là binh sĩ cầm gươm nhọn thọc vào mạng sườn Jesus một nhát, khiến cho Jesus được chết nhanh hơn một chút, thoát khỏi đau khổ của việc chết từ từ. Nghe nói binh sĩ này cuối cùng cũng được cứu độ.

Tôi nói:

Tại nhân gian, trở thành một chính nhân chính là cơ sở của tu hành. Chúng ta cần theo đuổi mười việc đem lại lợi ích lớn cho chúng sinh:

1. Giúp đỡ người khác.

1. Giữ tâm yêu quý và tôn trọng người khác.

1. Giữ đức tính làm người đẹp đẽ.

1. Khuyên người khác làm việc thiện.

1. Cứu người lúc nguy cấp.

1. Xây dựng những lợi ích lớn.

1. Góp tiền làm phúc.

1. Hộ trì chính pháp.

1. Kính trọng bề trên.

1. Trân trọng sinh mệnh.

Tôi khuyên con người đừng đi hại người khác, hại động vật, hại sinh mệnh. Đôi khi không phải bạn trực tiếp sát hại sinh mệnh nhưng thân, khẩu, ý của bạn làm hại người khác thì cũng không thể được.

Nếu bạn thường xuyên lưỡi kiếm môi dao làm hại người khác. (khẩu nghiệp)

Nếu bạn thường xuyên đánh người khác bị thương. (thân nghiệp)

Nếu bạn dùng văn chương, tranh vẽ gây hại cho người khác. (ý nghiệp)

Thì quả báo sau này sẽ là đọa vào địa ngục làm tấm bia mục tiêu.

Hỡi những kẻ thường làm hại người khác, hãy nhớ lấy! Hãy nhớ lấy!


### 41. **Bí mật về quỷ vương**


Trong "Địa Tạng Bồ Tát bản nguyện kinh", các vị Diêm La Vương tán thán phẩm đệ thứ tám, các quỷ vương được ghi lại trong đó gồm:

Ác độc quỷ vương. Đa ác quỷ vương. Đại tránh quỷ vương. Bạch hổ quỷ vương. Huyết hổ quỷ vương. Xích hổ quỷ vương. Tán ương quỷ vương. Phi thân quỷ vương. Điện quang quỷ vương. Lang nha quỷ vương. Thiên nhãn quỷ vương. Đạm thú quỷ vương. Phụ thạch quỷ vương. Chủ háo quỷ vương. Chủ họa quỷ vương. Chủ thực quỷ vương. Chủ tài quỷ vương. Chủ sức quỷ vương. Chủ cầm quỷ vương. Chủ thú quỷ vương. Chủ mị quỷ vương. Chủ sản quỷ vương. Chủ mệnh quỷ vương. Chủ tật quỷ vương. Chủ hiểm quỷ vương. Tam mục quỷ vương. Tứ mục quỷ vương. Ngũ mục quỷ vương.

…..

Mỗi quỷ vương này đều đến cùng với trăm nghìn tiểu quỷ vương, ở nhân gian hay địa ngục đều có họ.

Ví dụ Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, ở trong ngón tay cái bàn tay phải của ngài có giấu một vị Tiếu diện quỷ vương. Tiếu diện quỷ vương phụng sắc lệnh của Địa Tạng Vương Bồ Tát sống ở trong người tôi, trợ giúp tôi độ hóa chúng sinh. Vị Tiếu diện quỷ vương này không thể rời khỏi thân tôi.

Tôi nhìn thấy một cảnh tượng ở Âm tào địa phủ:

Có một đám linh hồn đang vừa chạy vừa gào thét bởi vì có rất nhiều rất nhiều quỷ vương lớn nhỏ đang truy đuổi đám linh hồn. Quỷ vương lớn nhỏ biểu hiện ra:

Những con mắt hung dữ.

Những chiếc răng nanh sói.

Những móng vuốt sắc nhọn.

Những chiếc lưỡi dài.

Phi thân bay lên.

Giương súng ngắm bắn.

Bọn họ truy đuổi những linh hồn rơi xuống địa ngục, những linh hồn này không có chỗ nào có thể lẩn trốn, chỉ có chạy tán loạn và gào thét. Trong khi những linh hồn này chạy và gào thét, hễ nhìn thấy cái hang nào liền chui xuống.  Hang động.

Hang đất.

Hốc cây.

Hố cây.

Hang đá.

Đám linh hồn bị truy đuổi vào núi, đám linh hồn bị truy đuổi vào rừng sâu, đám linh hồn bị truy đuổi vào ao, hồ, biển, sông, suối.

Tôi kinh ngạc phát hiện ra:

Những linh hồn chui vào trong hang núi và hang đất đều biến thành các loại động vật sinh ra từ trứng.

Những linh hồn chui vào hố cây hốc cây đều biến thành các loài chim lớn nhỏ sinh ra từ trứng.

Những linh hồn chui vào hang đá biến thành những con thú lớn cao to. Những linh hồn chui xuống ao hồ sông suối biển thì biến thành các loài cá tôm cua sinh ra từ trứng…

Những cái hang mà tôi nhìn thấy vốn là hang noãn sinh. Đám linh hồn không biết, lần lượt bị quỷ vương truy đuổi, tìm cách trốn vào trong các hang động, nhưng chỉ trong tích tắc đã bị "sập bẫy", bị mắc kẹt trong noãn trứng, biến thành các loài động vật chim thú sinh ra từ trứng.

(Kì thực các loại chim thú sinh ra từ bào thai cũng là từ các linh hồn trốn trong các hang động tăm tối mà sinh ra.)

Thế còn các quỷ vương và tiểu quỷ vương thì đều có nhiệm vụ to lớn là truy đuổi đám linh hồn.

Tôi khuyên con người:

Sinh nhật đừng nên sát sinh.

Sinh con đừng nên sát sinh.

Cúng tế tổ tiên đừng nên sát sinh.

Đám cưới đừng nên sát sinh.

Đãi tiệc đừng nên sát sinh.

Cúng thần đừng nên sát sinh.

Kiếm sống đừng nên sát sinh.

(Nếu biết pháp siêu độ thì trước tiên nên siêu độ, như vậy có thể tránh được tội.)


### 42. **Bí mật về áo sắt**


Tôi trông thấy có một đám người cùng leo núi. Leo núi là một hoạt động rất tốt, có thể rèn luyện thể trạng, tăng trưởng thể lực, khỏe mạnh sống lâu, hít thở không khí trong lành.

Nhưng việc leo núi ở âm gian thì không giống như ở dương gian.

1. Người leo núi đều mặc áo sắt.

1. Leo núi bằng cả tứ chi.

1. Áo sắt được làm từ gang đúc vừa dày vừa nặng.

1. Giống như phải vác thêm một gánh nặng lớn.

1. Thở phì phì như trâu.

1. Tay chân run rẩy.

1. Leo cho đến khi kiệt sức mà chết.

1. Bụng đói thì ăn phân.

1. Miệng khát thì uống nước tiểu.

1. Cuối cùng là chết.

Chết xong sống lại, sống rồi lại chết, cứ tuần hoàn như vậy không dừng.

Đây chính xác là hoạt động leo núi ở âm gian, cũng không phải là huấn luyện ma quỷ trong quân đội, mà là dựa theo nghiệp chướng của chúng sinh cõi u minh, dựa theo nghiệp lực lớn hay nhỏ mà chế tạo ra những bộ áo sắt. Vác nặng. Leo núi. Chết.

Tôi đọc một bài kệ cực kì hay, ghi lại như sau:

*Tích được nhiều việc thiện*

*Hơn là tích nhiều tiền*

*Tích thiện thành người tốt*

*Tích tiền thành họa tai.*

*Thạch Sùng xưa giàu có (*)*

*Mua lấy họa giết thân*

*Đặng Thông vẫn chết đói (*)*

*Ích chi cả núi đồng.*

*Buồn thay những người giàu*

*Chẳng biết mở to mắt*

*Miệng luôn nói tích tiền*

*Cười kẻ ngốc tích thiện*

*Bao nhiêu kẻ có tiền*

*Họa đến rồi kêu ai.*

Con người ngày nay, người tích thiện thì ít, người tích tiền thì nhiều. Quan chức thì tham ô, người làm kinh doanh thì đẩy giá cao, cán bộ thì chèn ép bóc lột dân thường, thương lái và người buôn bán thì ăn cướp trắng trợn, bày ra món hời lớn để dụ bạn bè đánh bạc, v.v…

Cũng có loại thương nhân, ép mua ép bán, tranh giành chiếm đoạt, cướp của làm giàu, thủ đoạn xảo trá.

Cũng có loại thương nhân, tung hô nhà đất, đẩy giá bất động sản, hời được không ít tiền.

Cũng có loại chính khách có được chức quan, lại càng muốn leo cao nữa, âm mưu đoạt chức cao hơn, tham ô làm tiền, giả mạo việc công, ăn trộm bớt xén công trình, đu bám mong đạt được danh lợi.

Cũng có loại lái buôn chiếm đoạt sức lao động, trả giá lao công thấp, làm việc ngoài giờ, sản xuất hàng giả để thu được nhiều tiền.

Những người này sau khi chết thì con cháu cũng đều hư hỏng bất tài.

Chúng ta cần biết rằng phú quý tại thiên [ **ND**: việc giàu có là nhờ phúc trời cho ], chỉ nên cố gắng hết sức, năng làm việc thiện, tu nhiều âm đức, tự tránh được họa.

Xảo trá.

Chiếm đoạt.

Cưỡng ép.

Tích tiền.

Ích gì?

Tôi thấy rất nhiều người giàu có đều phải mặc áo sắt. Tiền càng nhiều thì áo sắt càng to nặng, đè những kẻ giàu có này không sao thở được, mà những kẻ giàu này vẫn cứ phải leo núi. Từng người từng người nôn ra máu mà chết.

Còn con cháu chắt đời sau của họ vẫn còn đang tranh chấp tài sản đó! Kì thực từ lâu mà biết giúp người nghèo khổ một chút, có phải đã tránh được nghiệp tội này không?

Càng là người giàu có. Càng làm ít việc thiện.

Tỉ lệ này thật không nên.

Tôi nói cho mọi người biết:

"Càng giàu có càng cần bố thí nhiều. Trúng được tài sản lớn càng cần bố thí nhiều. Giàu có ít thì bố thí ít."

Bố thí, bố thí, bố thí……..

Tôi nói:

"Nếu không sẽ đến lúc phải mặc áo sắt thì thảm rồi đó!"

[**ND**: Thạch Sùng, Đặng Thông: đều là những quan chức giàu có số một số hai thời đại Trung Quốc phong kiến.]


### 43. **Bí mật về lột da**


Khi xưa đọc sách, tôi đã biết được một hình phạt rất đặc thù, đó chính là lột da của người còn đang sống.

Trình tự của việc này là:

Đem chôn tội phạm xuống đất đến nửa thân người. (Không thể chôn ngập tới tim vì nếu chôn tới tim thì người cũng chết rồi.)

Đầu tiên là cắt lớp da đầu. (Da người rất mỏng, dính vào xương thịt, việc cắt da đầu trước là kĩ thuật chuyên môn.)

Dùng thủy ngân đổ vào giữa da và thịt, giữa da và xương. (Thủy ngân có trọng lượng, tự động sẽ phân tách da và thịt, da và xương, đi thẳng xuống dưới.)

Tự nhiên tội phạm sẽ cảm thấy ngứa ngáy vô cùng, sẽ vùng vẫy, càng vùng vẫy thì da càng tự động bị tuột ra. Tội phạm từ từ vùng vẫy trồi lên trên, thủy ngân sẽ phân tách da và thịt ra.

Một tiếng "bịch".

Một "người máu" máu me ướt đẫm từ dưới đất vùng vẫy ngoi lên, rồi nhảy liên tiếp. Không được lâu. "Người máu" vẫn còn sống này không có lớp da bảo vệ thì từ từ sẽ chết. Đây là những ghi chép lại về hình phạt lột da.

Ở Âm tào địa phủ cũng có địa ngục lột da.

Cai ngục lôi một người đến. Tôi vừa nhìn thì thất kinh. Hóa ra là một người đàn bà bán rau ở chợ mà tôi có biết.

Người đàn bà vừa trông thấy tôi thì hét to:

"Lư Sư Tôn cứu tôi!"

Tôi nói với cai ngục:

"Có thể tha cho bà ta không?"

Cai ngục đáp:

"Quả báo thiện ác, như bóng như hình, việc này không tha được."

"Chỉ tha một người thôi!"

"Không công bằng!"

Cai ngục nói:

"Người đàn bà này bán rau ở chợ, cân đong điêu chác, dùng cân giả, đã lừa được vô số người rồi, đương nhiên cũng lừa được vô số tiền. Việc này là đại họa mà bà ta tự chuốc lấy."

"Việc này phạm vào địa ngục lột da sao?"

Cai ngục nói:

"Chính là lột da!"

Tôi trông thấy:

Người đàn bà bán rau bị biến thành lợn.

Cai ngục biến thành đồ tể. Rất nhiều cai ngục đều biến thành đồ tể, đem những con lợn sống này cắt sạch toàn bộ da lợn. (Lúc sống thì "lột da" người khác, sau khi chết cũng bị lột da.)

Tôi lại nhìn thấy một Thượng sư tiến vào, tôi nhảy dựng lên vì kinh ngạc.

Thượng sư kia vừa trông thấy tôi liền cúi đầu không nói.

Cai ngục nói:

"Ông ta cũng cần lột da!"

"Vì sao vậy?"

Cai ngục cười:

"Khi còn sống, ông ta ỷ vào danh nghĩa Thượng sư để kêu gọi đồng môn chuyển tiền xây chùa, chùa xây xong rồi liền chiếm luôn chùa làm tài sản riêng, rời bỏ tông phái mà đi. Ông ta đã "lột da" rất nhiều đồng môn, đương nhiên bị xuống địa ngục lột da."

Tôi hỏi:

"Ông ta cũng biến thành lợn sao?"

Cai ngục đáp:

"Ông ta không biến thành lợn."

"Thế thì…?"

Cai ngục đáp:

"Thượng sư thì biến thành gấu, gấu thì to hơn lợn mà!"

Cai ngục hỏi:

"Ngài có muốn xem ông ta biến thành gấu rồi bị lột da không?"

Tôi nói:

"Tôi không xem."

Tôi thở dài thôi! Đừng cho rằng chỉ có lợi dụng đồng môn, hóa ra việc chiếm đoạt chùa cũng đều bị lột da hết!


### 44. **Bí mật về hành động phỉ nhổ**


Tôi nhớ khi Phật Đà còn tại thế, có một người đến nói với Phật Đà rằng có người ở bên ngoài đã mắng chửi ngài.

Phật Đà nói:

"Đó là loại ác nhân phỉ nhổ lên trời, nhổ vào hư không, kết quả là đờm vẫn rơi xuống, lại rơi trúng mặt kẻ ác nhân đó thôi."

Tôi nói:

"Những ví dụ kiểu này nhiều không kể hết, cực kì nhiều ví dụ. Khi Phật Đà tại thế, bởi vì tăng đoàn lớn, người đông, người đông thì miệng lưỡi phức tạp, không chỉ có người ngoài phỉ báng Phật Đà mà ngay cả đến người trong tăng đoàn cũng phỉ báng Phật Đà. Cách mà Phật Đà đã dùng chính là hai chữ "không nhận". Đệ tử của chính mình phạm lỗi, Phật Đà cũng chỉ "không nhận", không mảy may để ý.

Trần Hy Di triều Tống nói:

"Từ xưa đến nay, tiếng tăm vẫn là thứ con người thích nhất, nhưng, tiếng tăm lại là thứ mà trời đất quỷ thần rất kị. Bởi vậy trên đời này, chẳng có người nào có thể được hưởng thụ danh tiếng hoàn hảo. Ngày nay, nếu danh tiếng của bạn càng ngày càng sáng chói thì người ngoài sẽ càng đố kị với bạn, người xung quanh bạn cũng ghen tị với bạn, bởi vậy cần đặc biệt cẩn thận và thận trọng đó!"

Tôi nhớ có một chuyện cũ thế này:

Vào triều Minh. Có một người tên là Uông Hội Đạo, thiên tính thông minh hơn người, đọc sách chỉ cần xem một lần là nhớ, hơn nữa lập tức có thể đọc thuộc lòng, viết văn chương mượt mà và có lý lẽ.

Uông Hội Đạo có học một thầy giáo. Đến khi học biết hết các thứ của thầy giáo, liền từ bỏ thầy, cho rằng thầy giáo lẩm cẩm rồi, không thể sánh bằng bản thân mình được. Ông đã dùng khẩu khí ngạo mạn mà nhục mạ thầy. Ông ta ỷ mình tài giỏi mà ngạo mạn nên đã không ngớt lời chửi rất nhiều vị thầy giáo.

Một hôm, ông ngồi một mình trong thư phòng, ngáp một cái. Từ trong miệng có một vị Bắc Đẩu bay ra. Vị Bắc Đẩu này nói:

"Uông Hội Đạo, ông vốn dĩ có thể trở thành một ngôi sao khuê trong thiên hạ, thi đỗ được trạng nguyên, nhưng ông lại tức giận mọi thầy giáo, không kính trọng thầy, nói rằng thầy không bằng ông, nên ông trời đã cắt bỏ lộc vị của ông rồi. Bắc Đẩu ta vốn là ở đây để giúp đỡ ông, nhưng giờ ta cũng đi đây!" Nói xong thì cũng biến mất.

Từ sau hôm đó, Uông Hội Đạo đầu óc luôn trống rỗng. Sách ông từng đọc trước đây ông đều quên hết cả. Ngay cả chữ cũng quên luôn. Thế là ông trở thành kẻ mất trí.

(Bất kính với thầy, ngạo mạn chửi người, thì thần may mắn cũng tránh xa!)

Tôi ở Âm tào địa phủ trông thấy một kiểu người, những kiểu người này đã làm thành một "bộ tộc phỉ nhổ".

Mỗi ngày đều phỉ nhổ vào hư không.

Khiến cho toàn thân đều là đờm.

Sau đó tìm một cái hồ sạch để tắm rửa.

Vừa bước xuống nước.

Không ngờ dưới nước có quỷ, kéo chân những kẻ thích phỉ nhổ.

Lần lượt từng người của bộ tộc phỉ nhổ đều bị chết đuối!

Chết đuối xong lại sống.

Lại phỉ nhổ.

Lại chết đuối.

Đây đều là những hậu quả của việc bất kính với thầy giáo!

Tôi nhớ đến:

Khi Phật Đà tại thế, bên ngoài thì bị sáu vị thầy ngoại đạo mắng chửi sỉ nhục, bên trong thì lại bị thiếu nữ Chiến Già, bị phu nhân Tôn Đà Lợi nói những lời vu khống nhơ bẩn, ngoài ra còn bị những người thân thiết của mình phản bội.  Sau khi Phật Đà viên tịch, lại có một đám đệ tử cao giọng hét:

"Hoàng Diện Lão Tử chết rồi, từ nay chúng ta được tự do rồi."

[ **ND**: Hoàng Diện Lão Tử là một tên gọi khác của Đức Phật Thích Ca, do ngài sinh ra ở thành Ca Tì La Vệ, tên gọi của thành có nghĩa là chỗ ở vị tiên đầu vàng. ]

Thử nghĩ mà xem, Phật Đà giáo hóa chúng sinh, vậy mà chúng sinh đối xử lại với ngài như vậy, không biết phải nghĩ sao đây?

Kì thực, người làm đệ tử chỉ cần học được từ sư phụ dù chỉ một chữ hay nửa chữ, ví dụ như học được một cách quán tưởng, một câu chú, một thủ ấn, có được một pháp tu, thì sư phụ chính là sư phụ rồi. Cho dù có rời xa thì vẫn phải cung kính, không thể coi thường. Nhưng con người hiện đại thì khác, lòng người đã trở nên bại hoại rồi, hễ rời xa thầy là phỉ báng thầy, nhục mạ thầy, coi như kẻ thù.

Như vậy thì, luật trời ở đâu!

Thế là những loại người thích phỉ nhổ này khiến cho tôi nghĩ đến những thị phi của chốn nhân gian.

Tôi biết:

"Rất khó để hiểu rõ chân tướng."

Tôi biết:

"Đại bộ phận con người đều hay tự suy đoán."

Đặc biệt là khẩu nghiệp của văn nhân, những ỷ ngữ và vọng ngữ cực kì nhiều, cậy vào tài ăn nói và đầu óc văn chương của anh ta mà thể hiện trí tưởng tượng, dùng miệng và bút mà phê bình cười chê khuyết điểm của người khác rồi lấy thế làm vui, việc này sẽ dẫn đến kết quả là tổn hại âm đức. Tôi thường thấy những người văn học tài hoa nhưng luôn luôn cả một đời lao đao bần cùng, đều vì nguyên nhân là khẩu nghiệp quá nặng.

Đại bộ phận những văn nhân kiểu này đều là những kẻ ngờ nghệch, rất thích nghe chuyện thị phi, nghe khuyết điểm, thích loan truyền điểm yếu của người khác ra công chúng, rồi thêm thắt những đoán mò của bản thân, thậm chí là bịa thêm, tô vẽ thêm làm tổn thương đến danh tiết con người, làm như vậy cũng tự tổn hại âm đức.

Con người kiểu này dù có nói vào đầu thì vẫn còn chưa biết đâu! Đặc biệt là những kẻ bám chấp, tự cho rằng mình là kẻ sĩ chính nghĩa, thì chính là đang bị tà lấn át chính đó! Anh ta vẫn còn chưa biết mình đã phạm vào giới vọng ngữ rồi.

Bản thân không nhìn thấy.

Chỉ là nghe nói.

Bạn có thể biết được có bao nhiêu sự sai khác giữa trời đất này không? Trông thấy cũng còn chưa chắc là thật, huống hồ chỉ nghe nói?

Con người ngày nay lại càng hay thêm thắt phỏng đoán của bản thân, vậy thì lại càng quá trớn rồi!

Ví dụ:

Chiến Già mỉa mai phỉ báng Phật Đà.

Tôn Đà Lợi mỉa mai phỉ báng 500 La Hán và Phật Đà.

Hai người đàn bà này xém chút nữa là hủy hoại cả tăng đoàn của Phật Đà.

Các vị thánh triết ngày xưa đã có lời rằng:

"Tĩnh tọa thường tư kỉ chi quá, nhàn đàm mạc luận nhân chi phi."

[**ND**: Ngồi yên thường ngẫm nghĩ lỗi mình, rảnh rỗi đừng bàn lỗi người ta.] 

Người tu hành đương nhiên cần như vậy.

Bình luận thị phi về người khác chỉ có tổn hại âm đức của bản thân. Sao không là người vui với đạo, thiện ngôn thiện hành, ca ngợi người tốt việc tốt, tăng thêm người làm việc thiện, người người đều vui, có thể thay đổi được những phong tục xấu.


### 45. **Bí mật về vị trí của địa ngục**


Trước tiên tôi đọc một bài kệ:

*Cúi đầu sát đất lòng thanh tịnh*

*Từ bi chư Phật ẩn khắp nơi*

*Nam phương thế giới hương vân cuộn*

*Mây hoa mưa hoa tỏa ngát hương.*

*Mây mưa trân quý vô số loại*

*Điềm triệu tốt lành hóa trang nghiêm*

*Thiên nhân hỏi Phật nguyên nhân ấy*

*Phật nói Địa Tạng Bồ Tát vừa đến đây*

*Như Lai tam thế cùng tán thán*

*Thập phương Bồ Tát lại quy y*

*Nay tôi nhờ thiện duyên từ trước*

*Tán dương công đức Địa Tạng Vương.*

Theo như bài kệ này đã chỉ ra thì địa ngục chính là ở phương nam.

Còn nữa:

Thánh nữ lại hỏi Quỷ Vương Vô Độc:

"Địa ngục ở đâu?"

Vô Độc đáp:

"Trong ba biển lớn là đại địa ngục, trong đó có hàng trăm nghìn địa ngục khác, mỗi địa ngục đều khác nhau. Địa ngục được coi là lớn thì có mười tám địa ngục, tiếp theo có 500 địa ngục, khổ đau vô lượng. Tiếp theo nữa là trăm nghìn địa ngục, đau khổ cũng vô cùng tận."

Theo như đoạn nói chuyện này thì địa ngục ở phương nam nằm dưới ba biển lớn.

Còn nữa:

Phu nhân Maya hỏi Địa Tạng Bồ Tát:

"Xin ngài nói xem địa ngục vô gián là thế nào?"

Địa Tạng Bồ Tát đáp:

"Tất cả địa ngục đều ở trong núi Thiết Vi. Có mười tám đại địa ngục, tiếp theo có 500 địa ngục, mỗi địa ngục đều không giống nhau. Tiếp theo nữa là trăm nghìn địa ngục, mỗi địa ngục cũng khác biệt. Địa ngục vô gián, chu vi của ngục thành này hơn tám vạn lý, tường thành bằng thép nguyên chất cao một vạn lý…"

Theo như đoạn nói chuyện này thì địa ngục ở phương nam nằm dưới ba biển lớn bên trong ngọn núi Thiết Vi.

Còn pháp đại viên mãn của Mật giáo thì chỉ ra:

Địa ngục bát nhiệt.

Địa ngục bát hàn.

Địa ngục cận biên.

Địa ngục cô độc.

Địa ngục cận biên ở xung quanh địa ngục vô gián.

Thế còn địa ngục cô độc thì ở đâu?

Đáp: vị trí của địa ngục cô độc không cố định, có thể ở nơi vách đá, hoặc ở bên trong những hang đá lớn, hoặc ở trong núi băng, hoặc ở trong những cây lớn, hoặc ở nơi hoang dã, hoặc ở bờ biển, hoặc ở sa mạc, hoặc ở trong nước sôi, hoặc ở bệnh viện, hoặc ở trong rãnh nước hôi thối, hoặc ở trong thác nước…….

Tôi thực lòng thực sự nói cho mọi người biết:

Địa ngục ở khắp mọi nơi, tất cả đều là sự huyễn hóa của tâm bạn. Tôi nói như vậy, bạn có hiểu không?

Ngày xưa, tôi từng trông thấy một người bị kẹp giữa bức tường đá. Tôi hỏi:

"Anh ở giữa bức tường đá làm gì vậy?"

"Nóng nở lạnh co."

Tôi hỏi:

"Cái gì mà nóng nở lạnh co?"

Đáp: "Khi trời nóng, đá sẽ nứt vì nở ra, tôi sẽ bị ép tới mức không thể nào thở được. Khi trời lạnh, các khe đá nứt đã rộng ra, khí lạnh luồn vào, tôi sẽ bị lạnh đến chết, rơi vào trong khe núi, cái khổ ở đây là như vậy."

Ha! Đây cũng là địa ngục. Thế còn bệnh viện cũng là địa ngục sao?

Những người mổ não, mổ tim, mổ gan, gắp sỏi thận, chạy thận, bị cắt cụt tứ chi, cắt tay, cắt chân, mổ bụng, thụt rửa, luồn ống qua khí quản, phù nề, mọc nhọt, kéo xương, gắn đinh sắt, cứu ngải, rửa ruột, mổ mắt, nhổ răng, phanh bụng, v.v…

Đây là gì?

Là địa ngục cô độc đó.


### 46. **Bí mật về địa ngục có trước hay sau**


Từng có người hỏi tôi:

"Địa ngục có trước, hay là Địa Tạng Vương Bồ Tát có trước?"

Tôi đáp:

"Có ác nghiệp thì sẽ có địa ngục, địa ngục là nghiệp cảm.

[ **ND**: nghiệp cảm nghĩa là sự chiêu cảm của tâm ta từ đó tạo ra địa ngục tương ứng ]

Còn đối với việc địa ngục có trước hay Địa Tạng Vương Bồ Tát có trước, tôi lấy ví dụ như sau:

Phật nói với Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát:

Vào một kiếp rất rất lâu trong quá khứ, Địa Tạng Bồ Tát tiền thân là một vị trưởng giả, ngài trông thấy một vị Phật là Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hành Như Lai. Vị trưởng giả thấy Phật có hình tướng rất đẹp nên hết mực trang nghiêm hỏi Phật rằng cần làm gì để có được hình tướng đẹp như vậy?

Phật đáp, muốn chứng được thân này thì cần phải dành thời gian rất dài để cứu độ giải thoát tất cả mọi chúng sinh chịu khổ đau.

Trưởng giả phát nguyện:

"Tôi sẽ dùng đến tận cùng giới hạn của tương lai, không tính được bao nhiêu kiếp, sẽ vì lục đạo chúng sinh chịu tội khổ mà có mặt khắp nơi tận lực giải thoát, còn thân này của tôi chỉ hướng về Phật đạo."

Vị trưởng giả này chính là tiền thân của Địa Tạng Vương Bồ Tát. Từ lời nguyện này có thể thấy:

"Lục đạo chúng sinh có trước. Địa Tạng Bồ Tát có sau."

Còn nữa:

A tăng tì kiếp là bất khả tư nghì. Vào một thời có Phật, hiệu là Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, khi đó có một cô gái Bà-la-môn vốn có rất nhiều phước, ai nấy đều ngưỡng mộ. Nhưng mẹ của cô gái Bà-la-môn này lại tin theo tà, thường coi thường Tam Bảo, khi mẹ của cô gái này chết, quỷ thần đã đọa bà xuống địa ngục vô gián. Thế là, cô gái Bà-la-môn làm một lễ cúng dường rất lớn để cúng dường đến Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai.

Sau đó, Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai nói với cô gái Bà-la-môn hãy quay trở về nhà và ngồi thiền, cô có thể biết được mẹ cô đã đi về đâu. Cô gái Bà-la-môn ngồi thiền một ngày một đêm, cô đã đến được địa ngục và ở địa ngục đó đối đáp với Vô Độc Quỷ Vương. Sau đó cô mới biết, mẹ của cô, bà Duyệt Đế Lợi, nhờ việc cô gái đã làm đại cúng dường mà đã lên trời được ba ngày rồi. Còn cô gái Bà-la-môn này chính là tiền thân của Địa Tạng Vương Bồ Tát trong tương lai.

Từ câu chuyện này:

Địa ngục có trước.

Địa Tạng Vương Bồ Tát có sau.

Bởi vậy Phật Đà nói:

Vô Độc Quỷ Vương là Tài Thủ Bồ Tát.

Cô gái Bà-la-môn là Địa Tạng Vương Bồ Tát.

Còn nữa:

Vào thời đại của Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai, trong hình tượng pháp, có một vị La Hán đã độ phúc cho chúng sinh. Có một cô gái tên là Quang Mục cúng dường La Hán.

La Hán hỏi:

"Cô muốn biết việc gì?"

Quang Mục đáp:

"Người mẹ đã chết sinh về nơi nào?"

La Hán nhập định quan sát thấy mẹ của cô gái Quang Mục đã đọa vào địa ngục, chịu bao cực khổ.

Quang Mục hỏi:

"Làm sao để cứu mẹ?"

La Hán đáp:

"Cần chí thành niệm Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai, kèm thêm đúc tượng, vẽ hình tướng Phật để cúng dường."

Cô gái Quang Mục mơ thấy Phật đến nói:

"Mẹ của cô sẽ sinh về nhà cô…"

Sau này:

Cô gái Quang Mục vì cứu mẹ mà phát đại nguyện:

"Trong trăm nghìn vạn tỷ kiếp, xin thề nguyện cứu giúp hết các chúng sinh của tất cả thế giới, tất cả địa ngục và tam ác đạo, giúp họ tránh xa được địa ngục ác thú, súc sinh, ngạ quỷ, cho đến khi những người mắc phải tội báo đều đến hết được cảnh giới Phật, thì khi đó tôi mới thành Chính Giác."

Phật Đà nói:

Vị La Hán độ phúc chính là Vô Tận Ý Bồ Tát.

Mẹ của Quang Mục chính là Giải Thoát Bồ Tát.

Cô gái Quang Mục chính là Địa Tạng Vương Bồ Tát.

Do vậy tôi nói:

Địa ngục có trước (nghiệp cảm).

Địa Tạng Vương Bồ Tát có sau.


### 47. **Bí mật về bộ xương**


Tôi đến một nơi gặp một cảnh tượng khủng khiếp, đó là một anh con trai ôm một bộ xương người.

Bộ xương người trông vô cùng tục tĩu, sự dâm ô bẩn thỉu đến mức cực điểm. Anh con trai này dùng lưỡi hôn một cách điên cuồng những con dòi trong miệng của bộ xương. Rồi anh ta lại hôn cả vào lỗ tai của bộ xương, trong tai cũng đầy những dị vật. Miệng anh ta dính với miệng của bộ xương để mút đầy dịch thử thi. Hai tay cũng không có quy củ, một tay thì vuốt ve ngực của bộ xương, một tay thì với ra để xoa vào bên dưới giữa hai chân của bộ xương. Bộ phận sinh dục của anh ta thì đặt vào giữa hai mông của bộ xương. Trông như con ếch.

Trông như cây gậy èo uột.

Tôi nhìn cảnh tượng này mà kinh hãi.

Minh sứ nói với tôi:

"Vẫn còn phần sau nữa!"

Tiếp theo tôi thấy bộ xương nữ đó mở to miệng để lộ hàm răng ra, cắn đứt lưỡi của anh kia, thế là một tiếng "ka-cha"! Lưỡi đứt lìa, máu tuôn ra xối xả, bắn đầy mặt, anh ta thét lên đau đớn.

Hai mắt của bộ xương khô bốc lửa, đốt cháy mặt anh kia thành than đen.

Bộ xương cũng dùng hai bên mông kẹp chặt cái "của quý" của anh chàng kia, cũng "ka-cha" một tiếng, thế là gẫy. Bộ xương cũng dùng hai tay bóp chặt cổ anh kia lại, trong chốc lát anh ta không thể nào thở được, bị ngạt mà chết.

Tôi hỏi:

"Anh chàng này sao có thể dâm ô tục tĩu đến vậy?"

Minh sứ đáp:

"Cái chúng ta thấy là một bộ xương, nhưng trong mắt của anh kia thì bộ xương đó là một cô gái điếm rất xinh đẹp quyến rũ. Tất cả những điều này đều là huyễn hóa mà ra. Kì thực những kẻ nghiện sex xuống đến địa ngục sẽ có kết cục kiểu như thế này. Có người bị đứt lưỡi, bộ phận sinh dục cũng gãy, đau đớn quá mà chết.

Minh sứ nói:

"Những kẻ nghiện sex khi xuống địa ngục sẽ giao cấu với những bộ xương, cho đến khi tinh huyết cạn khô mà chết cũng rất là nhiều."

"Đây chẳng phải là chết vì khoái lạc sao?"

"Chính là chết vì khoái lạc."

"Mã thượng phong?"

"Chính là mã thượng phong."

"Đây đâu phải là hình phạt?"

"Chính là hình phạt."

Minh sứ nói:

"Kẻ háo dâm thì làm gì cũng chỉ vì mĩ sắc. Đến khi anh ta cô ta sống lại sẽ được nhìn thấy đối tượng thực sự là ai, lúc đó thì ai cũng dậm chân đấm ngực mà hối hận không ngừng."

"Tà dâm cùng với bộ xương sao?"

"Thỉnh thoảng thì cùng với loài dị hình."

"Dị hình giống như trong các bộ phim à?"

"Đúng vậy."

Tôi nói:

"Một chữ "dâm" này đã hại hết sạch anh hùng hảo hán trong thiên hạ. Chưa gặp tà duyên liền sinh tâm vọng tưởng, dụ dỗ không được liền sinh tâm lập mưu, hơi có chút chướng ngại liền sinh tâm sân hận, yêu đến điên cuồng liền sinh tâm tham chiếm, ghen tị khi người khác có tình yêu thì sinh tâm đố kị, tình duyên cưỡng ép thì sinh tâm sát hại. Đây đều là những việc làm mất hết liêm sỉ, hoàn toàn không còn luân lý."

"Phật thuyết tứ thập nhị chương kinh" có viết:

Coi người già như mẹ.

Coi người lớn như chị.

Coi trẻ nhỏ như em.

Coi em bé như con.

[ **ND**: đây là những lời Phật dạy về việc cần cẩn thận khi tiếp xúc với nữ sắc, nếu có phải nói chuyện hay tiếp xúc với giới nữ thì cần giữ tâm ngay thẳng và quán tưởng như trên. ]

Tôi hỏi:

"Thế còn loạn luân thì sao?"

Minh sứ đáp:

"Địa Ngục Căn Miêu, Nghiệt Hải Hồng Ba, phần lớn đều đọa thành chim thú." 

"Người tu hành trước tiên nên giữ năm giới, không được sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu."

Ở dương gian: "Là nhục trùng giao triền!"

Ở âm gian: "Là xương khô đánh lộn!"


### 48. **Bí mật về người cây**


Nghe nói rằng:

Một nơi ở khu vực Đông Nam Á có cây cao su, mủ của nó màu trắng, đây là nguồn nguyên liệu để làm ra các loại nhựa. Người ta sẽ trồng cây lớn đến một mức độ phù hợp thì dùng một con dao cong rất sắc để cắt thành một rãnh xiên xiên, từ đó mủ trắng sẽ theo rãnh này mà chảy ra một vệt màu trắng. Bên dưới dòng keo trắng này người ta đặt một cái thùng chứa, thùng chứa sẽ hứng toàn bộ mủ cây chảy xuống. Người lấy mủ sẽ gom những thùng chứa này lại để bán. Đây chính là nguồn gốc của mọi sản phẩm nhựa.

Mỗi một cây (cây cao su) chỉ có thể cắt ở phía trước một nhát, cắt phía sau một nhát là mủ sẽ chảy ra cho đến khi hết. Rồi những cây này cũng từ từ mà già chết! Sau đó sẽ bị con người chặt đi. (Quá trình này gọi là quá trình cạo mủ.)

Những gì tôi thấy ở âm gian cũng có một dạng hình phạt như vậy, thực sự là khủng khiếp.

Tôi đến một khu rừng lớn. Nhìn kĩ hơn thì hóa ra không phải cây, mà là người mang hình cây, mái tóc xõa xuống giống như những cành cây liễu, có mặt mũi, có cả nam cả nữ. Còn thân cũng có tay có chân, nhưng bị trói lại, nhìn thực sự giống một cái cây. Hóa ra từng cái cây đang đứng sừng sững đó đều là người cây.

Bọn họ đều không thể di chuyển dù chỉ nửa bước, bị cố định trong hình dạng một cái cây. Trên thân của họ đều bị lính quỷ dùng dao rạch hết vết sẹo này đến vết sẹo khác, mỗi lần rạch xuống một được là một dòng máu chảy ra. Lính quỷ dùng bát để hứng máu rồi nộp cho quỷ vương uống.

Trong địa ngục có rất nhiều đại quỷ vương, bọn họ đều uống máu, máu chính là thức ăn chính của họ. Trong lúc rạch người cây, hễ rạch xuống một nhát là một tiếng kêu thét lên, rạch xuống hai nhát là hai tiếng kêu thét lên. Cả một rừng người cây, khắp nơi đều là những tiếng thét thảm thiết, vô cùng khủng khiếp.

Cái khổ này, còn hơn cả cái khổ của một lần chặt đầu.

Cái khổ này, còn hơn cả cái khổ của bị tên bắn trúng.

Cái khổ này, còn hơn cả cái khổ của bị núi đè.

Cái khổ này, còn hơn cả cái khổ của bị xe đâm.

Cái khổ này, còn hơn cả cái khổ của bị chiên trong chảo dầu.

Cái khổ này, còn hơn cả cái khổ của bị thiêu sống.

Cái khổ này, còn hơn cả cái khổ của bị móc mắt.

Cái khổ này, còn hơn cả cái khổ bị rơi xuống vách núi.

………

Cá nhân tôi cảm thấy, những chuyện bí ẩn bí mật trong địa ngục có kể mãi cũng chẳng hết. Muốn viết hết những bí ẩn bí mật này ra thì cả đời cả kiếp cũng chẳng viết xong được. Những tư tưởng ác, suy nghĩ ác, hành động ác của con người thế gian, tất cả đều tạo ra những sự hóa hiện của địa ngục.

*Biển nghiệp mênh mang.*

*Địa ngục hàng hàng.*

*Bụi trần hỗn tạp.*

*Khổ nạn ẩn tàng.*

Nếu bạn uống máu người ta, nhai xương người ta, ăn thịt người ta, chắc chắn sẽ đọa vào địa ngục người cây đó!

Người tốt cần nghiêm khắc giữ giới luật:

Đừng phá hoại thành tựu của người khác.

Đừng bớt xén của người làm lợi cho mình.

Đừng dùng cái xấu đánh tráo lấy cái tốt.

Đừng ích kỉ mà phá hỏng lợi ích của cộng đồng.

Đừng vừa chỉ mới giàu lên đã ngạo mạn.

Đừng ác tâm lén lút tích trữ của riêng.

Đừng xâm phạm người khác.

Đừng sát hại sinh mệnh.

Bằng mọi giá cần phải chú ý, đừng hại người, đừng làm bị thương người khác, đừng hại sinh mệnh.

Nghìn nghìn vạn vạn lần khuyên bạn cần chú ý, cần phải từ bi hỉ xả, như vậy mới không đọa vào địa ngục.


### 49. **Ba câu hỏi và trả lời của Liên Hoa Trung Chính**


Xin quỳ gối trước Sư Tôn vĩ đại.

A Di Đà Phật!

Tạ ơn, tu hành, vui vẻ!

Cuốn văn tập mới của Sư Tôn "**Câu chuyện huyền bí về giải thoát**", những tâm đắc mà Sư Tôn đã truyền tải đến đệ tử, ngoài ra còn phần tự hỏi tự đáp phía sau, đã cho đệ tử nhiều lời khuyên. Kì thực cũng giống như đệ tử được trực tiếp Sư Tôn chỉ cho biết phương hướng. Mặc dù đã vô cùng rõ ràng minh bạch, đệ tử vẫn đọc hết sức cẩn thận, ngẫm đi ngẫm lại. Có ba câu này đã trở thành châm ngôn tu luyện của đệ tử.

Hỏi: "Thầy hát khúc hát của ai?"

Đáp: "Khúc hát của mình." Còn thêm lời bình luận "tự tin". Giống như Sư Tôn đang thưởng thức đồ ăn ngon, muốn đệ tử đến ăn cùng, để tử hỏi đông hỏi tây xem mùi vị thế nào? Có thể ăn đủ no không? Sư Tôn nói, con tự mình đến ăn sẽ biết thôi. Đệ tử cho rằng, nhờ có tín tâm vào thầy mà con đã tìm được cái gốc của sự tự tin, tự tin mới là mẹ của tất cả mọi công đức.

Hỏi: "Tông phái để ai thừa kế?"

Đáp: "Đầu to thì đuôi to", thêm lời bình luận "cứ thẳng tưng". Phong cách dạy dỗ của Sư Tôn là đầu to đuôi to, rộng lượng khai ngộ, rộng lượng truyền pháp, rộng lượng độ chúng sinh, rộng lượng giải đáp, bị chửi khắp nơi, chịu đựng tất cả, khắp nơi bình phẩm, khắp nơi nói cười. Đầu to đuôi to là ý muốn đệ tử không bao giờ nên đầu hổ đuôi rắn, đừng bao giờ sợ hãi rụt rè.

Sư Tôn truyền pháp giống như quân tử, không có chuyện gì là bí mật, không có đạo lý nào là bí mật. Thậm chí có là cảnh giới Tam quán khiến người nghe bị sốc, con người thế tục nhất thời khó tiếp nhận, nhưng Sư Tôn vẫn nói thẳng, nói rất khéo, tôi nói là việc của tôi, anh nghe là việc của anh. Cứ thẳng tưng, là tự thu về với chính bản thân mình, mặc kệ vạn người chĩa mũi nhọn vào mình, là chuyên nhất, tinh tấn, thiền định…

Hỏi: "Chứng ngộ Phật thế nào?"

Đáp: "Một cú nhảy thôi", thêm lời bình luận "thử ngạn tức bỉ ngạn" [ **ND**: bờ sông bên này cũng chính là bờ sông bên kia ], nhậm vận. Tu hành tại thế gian này, giặc đến thì đánh - lũ đến thì ngăn [ **ND**: mỗi tình huống xảy đến sẽ vận dụng cách xử lý phù hợp ], cái tốt, cái xấu đều chấp nhận hết, mà cũng là chẳng nhận cái gì cả. Giống như người kị sĩ điều khiển ngựa hung, thắng yên thật chặt, hai chân ấn chắc, phần thân trên buông lỏng, vừa lên là phi nước đại. Sư Tôn từ bi chỉ ra "thử ngạn tức bỉ ngạn", người hiểu được chính là nhất thời, vô gián, di lục hợp, do vậy đâu đâu cũng là tịnh thổ.

Nhậm vận là khẩu quyết Đại Viên Mãn, là tự tại viên mãn mọi lúc, ngay lúc này tiêu trừ đối vị, khiến cho hai con trâu đất đều biến mất. Cảnh giới vi diệu này đệ tử dù vẫn chưa thể đến nhưng trong lòng đã mong mỏi rồi!

Kính chúc

Luôn hé miệng cười!

Đệ tử Liên Hoa Trung Chính đảnh lễ.

21/2/2013.


### 50. **Phật Mẫu Kamala kí tên thư cảm ơn**


Liên Sinh Hoạt Phật và Sư Mẫu Liên Hương Thượng sư tôn quý!

Xin cảm tạ các vị đã mời tôi đến tham dự pháp hội cầu phúc tại Lôi Tạng Tự. Chứng kiến bốn vạn người đến tham gia pháp hội hôm nay và biết được mỗi thứ bảy đều có hơn vạn người đến đồng tu tại Lôi Tạng Tự, tôi cảm thấy thật bất khả tư nghì, pháp duyên quả là thù thắng.

Điều này đã chứng minh rằng đại trí huệ của Liên Sinh Hoạt Phật có thể dựa vào những cách nói đơn giản nhất để giải thích những ý nghĩa sâu sa ảo diệu của Phật pháp. Trong lúc thuyết pháp, phong cách hài hước của Liên Sinh Hoạt Phật cũng đầy ắp, khiến người ta cảm thấy rất vui vẻ lắng nghe. Liên Sinh hoạt Phật là một Mật hành tôn giả đại thành tựu vô cùng đầy ắp trí huệ và kiến thức đối với Phật pháp và Mật giáo.

Pháp hội ngày hôm nay tôi cảm thấy tràn đầy pháp hỷ, cảm tạ Liên Sinh Hoạt Phật đã giới thiệu Chatral Rinpoche với đệ tử Chân Phật Tông, kết nên thiện duyên. Tôi đã thể hội được quá trình học tập khó khăn gian khổ của Liên Sinh Hoạt Phật, tích tập được những kinh nghiệm tu hành phong phú. Chatral Rinpoche cũng đã từng kinh qua một thời gian dài học tập gian khổ mới có thể tích lũy được những kinh nghiệm phong phú để hướng dẫn cho học trò. Sư Mẫu Liên Hương Thượng sư và tôi đều là hai người hộ trì trung thành nhất của hai tông phái lớn. Phật Mẫu của Mật Tông đều là những thị giả xinh đẹp, tinh tấn, và trung thành ở bên cạnh các Hoạt Phật.

Chatral Rinpoche và tôi thỉnh nguyện Liên Sinh Hoạt Phật và Sư Mẫu Liên Hương Thượng sư khỏe mạnh trường thọ, pháp luân thường chuyển, cát tường như ý. Đồng thời Chatral Rinpoche và tôi thỉnh nguyện các đệ tử Chân Phật Tông đều khỏe mạnh trường thọ, đạo tâm kiên cố, tu hành thành tựu. Xin nguyện cho phái Nyingma của Tạng Mật và Chân Phật Tông hữu nghị trường tồn.

Phật Mẫu Kamala.

(kí tên)


### 51. **Trai tăng đại nghi quỹ**


1. Nghênh thỉnh các vị trưởng lão núi vào hội trường. Hoan nghênh…., hoan nghênh…. 2. Dùng cành liễu rẩy nước tẩy tịnh.

1. Đại bi chú - hồi hướng đến hộ pháp Long Thiên.

1. Bắt đầu đại hội -- đánh trống, rập chuông, hát thỉnh Tam Bảo.

1. Trưởng lão phát biểu.

1. Dâng mười cúng phẩm (tụng bài tán thán hoặc hát) -- cư sĩ xếp hàng để dâng cúng -- hương, hoa, đèn, đồ hương, quả, trà, thức ăn, đá quý, ngọc châu, y áo (áo cà sa).

1. Đọc bài kệ Lư hương tán.

1. Vu lan bồn kinh và Thất Phật diệt tội chân ngôn -- hồi hướng (Vu lan bồn pháp hội).

1. Làm đại cúng dường trước chư Phật -- giới định chân hương.

1. Niệm sớ văn.

1. Cúng thực phẩm ngon đến nhà bếp của trời.

1. Bảy đệ tử đại diện cung thỉnh Tân Đầu Lư tôn giả ứng cúng (lập bài vị, ngồi vị trí thứ nhất).

1. Trai tiệc trong hai tiếng, nghi quỹ kết thúc trai tiệc.

1. Bài hát tán thán tăng.

1. Khách quý phát biểu.

1. Hồi hướng.

1. Cung tiễn các vị trưởng lão núi.

Buổi chiều

Đồng tu sám hối hoặc tụng kinh, hoặc niệm Phật / Kinh Nhân Vương hộ quốc / Thuyết pháp khai thị.

Khóa tu buổi tối / Phóng đại mông sơn.

Kết thúc viên mãn.


### 52. **Thư của Thượng sư Liên Ha**


Sư Tôn muôn vàn kính yêu,

Chào Sư Tôn! Đệ tử Liên Ha nhất tâm đảnh lễ Sư Phật! Xin đem thân khẩu ý này cúng dường Sư Phật!

Xuân mới năm con rắn vừa đến rồi, trước tiên đệ tử với tấm lòng kiền thành nhất xin kính chúc Sư Phật: Năm mới hạnh phúc! Thân tâm an khang! Trường trụ thế gian! Đại chuyển pháp luân! Như ý tự tại!

Sư Tôn kính yêu, khoảng thời gian gần đây đệ tử trước khi tu pháp thường ngồi trước đàn thành, đối diện với tượng kim thân và ảnh của Sư Tôn, suy ngẫm rất sâu về ân đức của Sư Phật.

Đệ tử nhớ lại, đời này nếu không có Sư Phật, đệ tử căn bản là không thể có được cơ duyên đi vào điện đường Mật giáo thâm sâu ảo diệu. Sư Phật, Thầy là khởi nguồn của tất cả mọi thứ!

Chính là Sư Phật, là sách Phật tuôn chảy từ trong tâm của Sư Phật, đã gợi lên một sự rúng động tới nơi sâu nhất trong nội tâm của đệ tử. Phật duyên nghìn năm nhờ có sự xuất hiện của Thầy mà thức tỉnh các mầm sinh!

Chính là Sư Phật đã dạy dỗ đệ tử khởi động tu hành từ cơ bản nhất là Tứ gia hành, cho đến Thượng sư pháp, Bổn tôn pháp, Bảo bình khí, chuyết hỏa, minh điểm, vô lậu, thậm chí là Thời luân pháp, Mật mật pháp, cho đến cuối cùng là đại pháp khai ngộ thành Phật. Đều là Sư Phật đã truyền thụ những Mật pháp trân quý không gì sánh bằng này.

Còn nhớ năm 1996, đệ tử lần đầu tiên đến Seattle, ở trong phòng hỏi chuyện, chính là Sư Phật đã dạy cho đệ tử khẩu quyết của pháp Bảo bình khí. Cho đến tận bây giờ đệ tử vẫn có thể nhớ rất rõ ràng hoàn cảnh năm đó khi Sư Phật truyền dạy khẩu quyết cho đệ tử. Cho đến tận bây giờ mỗi sáng sớm, khi đệ tử hướng về mặt trời để luyện tập pháp Bảo bình khí, khẩu quyết mà Sư Phật truyền dạy mười bảy năm trước vẫn rất mới mẻ trong kí ức đệ tử, hơn nữa càng tu càng cảm thấy được tầm quan trọng của khẩu quyết!

Đệ tử cũng nhớ khi đó Thầy đã rất quan tâm hỏi thăm người học trò nghèo này, từ trong ví của mình, Thầy đã lấy ra năm trăm đô-la Mỹ tặng cho đệ tử. Đệ tử không chỉ cảm động rớt nước mắt lúc đó, mà cho đến tận ngày hôm nay của mười bảy năm sau hồi tưởng lại chuyện này, đệ tử vẫn nước mắt nhạt nhòa!

Một người thầy từ bi như Sư Phật, dưới bầu trời này có thể đi đâu để tìm được đây?

Sư Phật kính yêu, đệ tử vẫn nhớ Sư Phật vì truyền thụ Thời Luân Kim Cang Quyết pháp tối bí mật mà đã khóc, đệ tử chúng con cũng đều khóc theo. Nếu không phải vì Thầy đã truyền dạy cho chúng sinh pháp bí mật thần kì như vậy, sức lực nghèo nàn cả đời này của chúng con làm sao có thể đủ để tương ứng với pháp Thời Luân Kim Cang tôn quý vô thượng như vậy đây?

Còn pháp Nhật Nguyệt Luân trân quý không gì sánh bằng, chính là Sư Phật đã truyền dạy câu nói: "Nhật Nguyệt hợp bích, huyền cơ đình luân, âm đến cực điểm, nhất dương lai phục" [ **ND**: mặt trời mặt trăng hòa hợp, cơ duyên huyền bí sẽ dừng bánh xe, âm đến cực điểm thì mặt trời sẽ trở lại ], khiến cho đệ tử khổ tu mười năm nhưng chuyết hỏa vẫn hoàn toàn bặt vô âm tín này có được sự thay đổi hoàn toàn! Khẩu quyết của sư phụ thực sự còn trân quý hơn cả sinh mệnh đó!

Đệ tử vẫn còn nhớ năm mà Sư Phật mới trở về sau khi ẩn cư, ở Biệt Thự Cầu Vồng, Sư Phật đã vì đệ tử mà đích thân một mình minh họa pháp vô lậu Sakya sáu thế chuyển ba thức bí mật và Kim Mẫu thần thủy pháp. Năm đó đệ tử xuất gia, tại Chân Phật Mật Uyển, Sư Phật đã truyền pháp Khai đỉnh, pháp Chú kiếm, còn tự tay vẽ cho đệ tử hình tượng Thời Luân Kim Cang tại tâm luân để quán tưởng. Đệ tử sao lại may mắn đến vậy!

Đây đều là những mật pháp trân quý mà vô số hành giả ngày đêm mong mỏi muốn có được!

Những mảng kí ức này đệ tử cả đời này sẽ khắc ghi vào trong tâm, không chỉ vậy, những vô thượng mật pháp này càng là sức mạnh tinh thần cho đệ tử có thể bền bỉ tu hành đến tận cùng cuộc đời này, ngày ngày thực tu!

Chính những mật pháp này đã giúp cho đệ tử được thân tâm an lạc, vô lậu kiên cố, khí mạch thông suốt, tâm luân khai mở, đã đem đến cho đệ tử những thay đổi lớn về toàn bộ thân tâm.

Chính là Sư Phật đã tự tay vẽ bức đồ án Thời Luân rất chi tiết đó khiến cho việc thiền định của đệ tử có tiến bộ vượt bậc. Khi đệ tử an trụ tại tâm luân, bức Thời Luân chi tiết đó phóng quang, khi quán tưởng đạt đến mức độ cực điểm, tất cả suy nghĩ đều dừng lại, có một luồng ánh sáng trắng cực mạnh xuất hiện, cường độ mạnh như mặt trời, còn ở giữa luồng ánh sáng đó có một cột ánh sáng màu xanh lam.

Sư Phật, chính là khẩu quyết của Thầy đã đem đến cho đệ tử tất cả mọi cảm nhận này.

Sư Phật kính yêu, Thầy đã liên tục gia trì quán đảnh cho chúng con một cách đầy tỉ mỉ cẩn thận. Thầy giảng giải chi tiết những pháp yếu vi diệu, dặn dò rồi lại khích lệ, chúng con sao mà may mắn đến thế, có một người Thầy như thế này! Chúng con có đức năng gì mà nhận được Phật ân từ Thầy như vậy, chúng con đời này làm thế nào mới có thể báo đáp được Phật ân này?

Điều khiến cho tâm cảnh của đệ tử thay đổi hoàn toàn chính là nhờ có Sư Phật khai sáng giúp đệ tử tham thiền khai ngộ. Dưới sự chỉ bảo khai sáng của Sư Phật, ngộ cảnh của đệ tử đã có được sự biến đổi và thăng hoa cực kì to lớn.

Cuộc đời này nếu như không có bàn tay chỉ dạy của Sư Phật, đệ tử làm sao có thể “thể ngộ” được Phật tâm? Nếu như không phải vì Sư Phật đã khổ tâm viết nhiều thiền sách như vậy, đệ tử làm sao có thể lĩnh ngộ được chân đế của Phật pháp?

Còn nhớ khi đệ tử đi khắp các nẻo chân trời để tìm thầy, cuối cùng gặp được Sư Phật, Sư Phật truyền thụ cho đệ tử dựa vào tứ không tâm yếu, bây giờ nghĩ lại mới thấy quan trọng làm sao!

Còn có tâm chú đại diện cho truyền thừa Chân Phật nữa, đệ tử thật là có phúc ba đời rồi!

Chính nhờ sự dạy dỗ của Sư Phật mà đệ tử từ một học trò đa sầu đa cảm ngày xưa đã trở thành một hành giả không còn sợ hãi và tất cả đều vô vị. Tất cả mọi phiền não của trần thế đều tiêu tan, tất cả mọi chướng ngại thế tục đều tan biến thành hư không.

Bây giờ đệ tử có thể hiểu được sâu sắc mỗi lời khai thị của Sư Phật, không chỉ là "một con người trên mặt trăng", mà còn là "chẳng có người nào trên mặt trăng", bởi vì vô nhân vô pháp mới là Chân Như!

Sư Phật kính yêu, mỗi lần đệ tử hồi tưởng lại đời này được vô số lần Sư Phật ban phúc cho, trong lòng đệ tử ngập tràn sự xúc động và biết ơn. Đệ tử biết rằng hai việc quan trọng nhất để báo đáp Phật ân chính là: mạnh mẽ tinh tấn cho đến khi thành tựu viên mãn, và phát đại bồ đề tâm để đẩy mạnh sự nghiệp Chân Phật Bồ Đề.

Do vậy, đệ tử mỗi ngày bất luận thế nào đều bền bỉ bốn lần ngồi thực hành pháp chuyết hỏa, bốn lần ngồi thực hành pháp Thời luân, luôn thực hành pháp bảo bình khí, chú kiếm, vô lậu, thể công. Đồng thời mỗi ngày bất luận thế nào đều dốc toàn lực đẩy mạnh sự nghiệp Chân Phật, đặc biệt là việc phát triển công tác tuyên truyền, trong đó có:

Cuốn sách "Hành hương đến các đạo tràng Chân Phật Tông thế giới" đang được triển khai lan truyền nhanh như lửa cháy, hiện tại đã được gửi đi đến toàn bộ các chùa Lôi Tạng Tự thế giới, ngày ngày đều bận rộn viết bản thảo, thu thập tài liệu, công việc tiến triển với tốc độ rất tuyệt vời.

Thế còn trang web "Chân Phật Hộ Pháp viên địa" dưới sự đồng lòng nỗ lực của mọi người cũng đã đi vào quỹ đạo, không chỉ có được tỉ lệ nhấn vào trang cao đến 120 vạn lần, mà về cơ bản đã có thể bảo đảm mỗi ngày có được hai bài viết mới nhất. Đồng thời, "Sư Phật truyền kí" cũng đang trong quá trình biên tập khẩn trương, tìm kiếm người có chuyên môn giúp đỡ, hơn nữa cũng bắt đầu thu thập tư liệu có liên quan…

Sư Phật kính yêu, một năm mới đã bắt đầu rồi, đệ tử chỉ một lòng cầu xin Sư Phật dùng đại uy thần lực và đại từ bi gia trì cho đệ tử trong năm mới này tu hành tiến bộ, thành tựu viên mãn!

Xin gia trì cho sự nghiệp Chân Phật Bồ Đề tiến triển thuận lợi, công đức viên mãn!

Một lần nữa toàn tâm kính chúc Sư Phật khỏe mạnh trường thọ! Hạnh phúc tự tại!

Năm mới như ý cát tường!

Đệ tử Liên Ha kính lạy.

16/2/2013. São Paulo, Brazil.

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/236-ban-tay-ky-dieu-cua-lu-thang-ngan.md
# Title: 236. Bàn tay kỳ diệu của Lư Thắng Ngạn
---

![image](/img/img_6c482da31555bf0d08a4d792f8c71ddd.jpg)



## Bàn tay kỳ diệu của Lư Thắng Ngạn


🪷 Tay Phật và tay ma

Văn tập: 236
Xuất bản: 10/2013
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu


Có một hôm.

Kim Cương Thủ Bồ Tát hiển hiện trước mắt tôi, quanh thân ngài là ngọn lửa cháy hừng hực, một tay cầm dao cong, một tay cầm cốc sọ người, đứng trên một tòa sen.

Kim Cương Thủ Bồ Tát nói với tôi:

"Lư Sư Tôn, vì sao ngài không viết về bàn tay phép thuật của ngài?"

Tôi hỏi:

"Tay có phép thuật à?"

Kim Cương Thủ Bồ Tát nói:

"Trên tay của ngài có Đại Ấn kí, ngài không biết sao?"

Tôi nói:

"Xin được nghe Bồ Tát giải thích rõ."

Kim Cương Thủ Bồ Tát nói:

"Trên tay ngài có:

1. Tinh vân --- sức mạnh của Chân Như.

1. Pháp thuyền --- sức mạnh siêu độ.

1. Công đức --- sức mạnh tiêu tai.

1. Quỷ vương --- sức mạnh hàng phục.

1. Phúc đức --- sức mạnh tăng ích.

1. Pháp nhãn --- sức mạnh trí huệ.

1. Ái nhiễm --- sức mạnh kính ái."

Tôi á khẩu không nói gì.

Kim Cương Thủ Bồ Tát nói:

"Lư Sư Tôn, chỉ cần bàn tay ngài đặt lên đầu của tất cả chúng sinh là pháp lực đã sản sinh rồi. Sức mạnh này là bất khả tư nghì, sức mạnh này thật khó tưởng tượng, phi thường phi thường, thậm chí siêu thường, ngài hãy nhớ viết một cuốn sách đi!"

Tôi nói:

"Khắc ghi trong tâm!"

Kim Cương Thủ Bồ Tát nói:

"Đã từng có lần ngài nhập thiền định, có người chụp một tấm ảnh của ngài, trong tấm ảnh đó, bàn tay của ngài biến thành trong suốt, hơn nữa còn phóng ra luồng ánh sáng trắng lớn, chỉ chụp được ảnh thân ngài còn tay thì hoàn toàn biến mất. Lư Sư Tôn, ngài không biết sao? Bàn tay vô hình này đã hóa thành pháp thuyền tiếp dẫn những linh hồn âm gian đi đến Tây Phương Cực Lạc Thế giới rồi."

Tôi nghe xong kinh ngạc, thật sự là có chuyện này ư.

Kim Cương Thủ Bồ Tát phân tích bàn tay tôi:

"Tay gồm da, móng tay, vân tay, xương, thịt, mạch máu và máu tạo thành. Nó không phải một bộ phận độc lập, nó cũng luôn luôn trong quá trình biến đổi, sự thay đổi bên trong vô cùng vi tế. Màu sắc, độ thô mịn, tuổi tác, nếp nhăn, hình dạng của nó thay đổi từng ngày từng ngày, nó không phải là một thứ thường tại, cũng là vô thường."

Kim Cương Thủ Bồ Tát nói tiếp:

"Tay nối với cơ thể, cũng là một phần của cơ thể, cũng giống như các yếu tố đất, nước, lửa, gió hợp lại mà thành. Vì vậy mà nó cũng vô ngã. Đến một ngày tay cũng sẽ chết, khi tứ đại phân rã chỉ còn lại không thức, hành giả chúng ta nhận ra chân tướng, chính là vô ngã."

Cuối cùng Kim Cương Thủ Bồ Tát nói:

"Bàn tay của Lư Sư Tôn bởi vì có pháp lực tu hành, khiến cho tay phóng ra ánh sáng vô lượng. Ánh sáng này đi sâu vào thân tâm chúng sinh, liền sản sinh ra rất nhiều việc không thể tưởng tượng được, vì thế hãy ghi chép lại thành sách, cũng là có lợi ích cho chúng sinh trong thiên hạ."

Tôi nói:

"Thiện tai! Thiện tai! Đã hiểu tất cả rồi!"

Cuốn sách này được viết chính là để đáp lại lời thỉnh cầu của Kim Cương Thủ Bồ Tát, hy vọng tất cả chúng sinh chứng nhận:"Bàn tay kì diệu."

Chúc bạn: mở sách ra là có được lợi ích.

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 0**1. Ký hiệu của Sàng Mẫu**


Một cặp vợ chồng đem đứa con trai nhỏ đến gặp tôi.

Quá nửa khuôn mặt cậu bé này có màu đen. Từ bên mép phải đến chỗ lông mày phải, rồi toàn bộ xuống đến vành tai, hoàn toàn là màu đen. Tôi vừa nhìn thấy mặt cậu bé thì đã sốc. Bé có đôi chút giống như vị Phán Quan của miếu Thành Hoàng.

Cặp vợ chồng này nói: “Khi bé sinh ra, nửa khuôn mặt đã có màu đen rồi. Một số người nói rằng đó là một dấu hiệu được tạo ra bởi Sàng Mẫu (ND: một vị nữ thần trong dân gian Đài Loan, giống như bà Mụ trong dân gian Việt Nam), một vết bớt. Khi những vết bớt xuất hiện ở trên các phần khác nhau của cơ thể, ví dụ như ở mông thì chúng không có ảnh hưởng gì về thẩm mỹ. Nhưng với vết bớt to như vậy ở trên mặt thì mọi người đều thấy cậu bé rất kì dị.”

Họ nói: "Chúng tôi nghe nói bàn tay của Lư Sư Tôn có pháp lực. Chúng tôi hy vọng ngài có thể chữa khỏi cho thằng bé!"

Tôi nói: "Sao hai người không đưa cậu bé đi khám bác sĩ?"

Họ đáp: "Các bác sĩ da liễu nói rằng họ chẳng thể làm gì."

Tôi quán tưởng bổn tôn ngụ ở đỉnh đầu và năng lượng vũ trụ từ ngài chảy vào trong người tôi. Tôi chạm bàn tay lên gương mặt cậu bé.

Tôi nói: "Bé sẽ khỏe lại!"

Cặp vợ chồng cùng đứa con trai ra về. Không lâu sau, ba người họ quay trở lại gặp tôi. Bố mẹ cậu bé nói: "Vết đen trên mặt bé không mờ đi chút nào. Bàn tay của Sư Tôn dường như mất linh rồi."

Tôi rất bối rối.

Tôi lại chạm vào mặt cậu bé. Lần này một vòng xoáy ánh sáng xuất hiện trong lòng bàn tay tôi. Bên trong vầng ánh sáng là một người phụ nữ nằm trong quan tài. Má phải của bà chìm trong nước, và cuối cùng thì tôi đã hiểu ra.

Tôi giải thích cho họ: "Có chút vấn đề về phong thủy đối với ngôi mộ của tổ tiên các vị. Nó có liên quan đến một vị tổ tiên nữ. Má phải của bà ấy bị chìm trong nước, đó là lý do khiến cho khuôn mặt của cháu bé bị màu đen."

Cặp vợ chồng nói: "Đó hẳn là mộ của bà nội bé."

Họ làm theo chỉ dẫn của tôi và đã khai quật phần mộ của bà nội lên. Khi họ mở quan tài ra, mọi người có mặt đều sửng sốt. Phía bên phải của quan tài bị ngập nước, và phía mặt phải của người bà bị chìm trong nước và đã biến thành màu đen.

Cặp vợ chồng đã đem hỏa táng thi thể của bà nội và đem tro gửi vào nhà lưu giữ tro hỏa táng.

Sau khi làm mọi việc xong xuôi, cặp vợ chồng đưa đứa bé đến gặp tôi lần nữa. Họ nói: "Lư Sư Tôn, ánh sáng từ lòng bàn tay ngài thật chính xác. Bây giờ thì chúng tôi nên làm gì?"

Tôi lại đưa tay vuốt khuôn mặt cậu bé như lúc trước. Một điều kì lạ xảy ra ngay lúc này! Sau khi vuốt một cái, vết đen nhạt đi một chút. Vuốt một cái nữa, nó nhạt đi thêm chút nữa. Vuốt vài cái, vết đen lại nhạt thêm nữa.

Cuối cùng, khuôn mặt cậu bé đã hoàn toàn sáng đều.

Ôi trời ạ!

Gương mặt nửa đen nửa trắng như Phán Quan đã hoàn toàn bình thường. Nhiều người biết sự việc này. Bàn tay pháp thuật của Lư Thắng Ngạn đã vuốt lên khuôn mặt nửa trắng nửa đen của cậu bé và đã chữa lành cho cậu.

Nhiều người đã đến gặp tôi và muốn tôi chạm vào mặt họ.

Những người có miệng méo và mắt xếch.

Những người mặt bị liệt dây thần kinh.

Những người có nhiều đốm đen trên mặt.

Những người có mắt to mắt nhỏ.

Những người có mũi nhỏ.

Những người có tai to rộng.

Những người có nhiều nốt ruồi.

Những người có nhiều nếp nhăn…

Tất cả họ đều muốn tôi chạm vào mặt họ, cứ như thể tôi là bác sĩ phẫu thuật thẩm mĩ vậy.

Tôi muốn nói cho mọi người biết rằng:

"Tôi đã 70 tuổi rồi. Tôi cũng có nhiều nếp nhăn và một vài nốt đen trên mặt tôi. Đây là những hiện tượng sinh học tự nhiên. Xin hãy chú ý và đừng tự liên tưởng nhiều quá. Sức mạnh của Phật pháp là vô biên. Nhưng nó cũng không chữa được tất cả mọi bệnh tật.

Mỗi lần tôi sờ đầu thì lực gia trì là không thể nghĩ bàn. Nhưng điều này không có nghĩa là mỗi người trong số hàng trăm hàng nghìn người được sờ đầu đều có thể được chữa khỏi bệnh tật chỉ với một cái sờ đầu."


### 0**2. Chỉ là một giấc mơ mà thôi**


Có một thiếu phụ vẻ mặt rất buồn rầu, vô cùng chán nản đến chùa Lôi Tạng Tự tìm tôi. Tôi liền hỏi rõ lý do.

Hóa ra thiếu phụ này đã hạ sinh một thiên kim tiểu thư - một bé gái vô cùng dễ thương và đáng yêu. Bé đem đến cho người nhà rất nhiều niềm vui tiếng cười. Tất cả mọi người đều cực kì yêu quý bé.

Thời gian thấm thoắt.

Khoảng ba tuổi rưỡi, thiên kim tiểu thư mắc phải bệnh dịch cúm đang bùng phát rồi đột ngột qua đời trong sự ngỡ ngàng. Kể từ đó, người nhà buồn rầu u ám, đau đớn không nguôi.

Riêng với người thiếu phụ này, sau khi mất đi bảo bối ruột gan của mình, dường như mọi niềm vui trong cuộc sống của cô đều bị tước đi mất. Vì vậy cô mắc chứng trầm cảm, ngày nào mặt cũng đẫm nước mắt. Nói đơn giản thì chính là cô không muốn sống nữa, luôn nghĩ đến việc mau chóng tự sát.

Tôi nghe xong không nói gì, bởi vì những lời khuyên giải cô ấy thì những người khác đều nói cả rồi. Tôi sờ đầu gia trì cho cô.

Tối hôm đó, thiếu phụ gặp một giấc mơ. Cô ấy mơ thấy con gái không hề chết, bé ở trong mơ vẫn rất dễ thương đáng yêu. Mẹ và con gái thì thầm đùa vui, cực kì hạnh phúc.

Nhưng khi tỉnh lại, thiếu phụ mới biết là mơ, cô thở dài một tiếng: "Hóa ra chỉ là một giấc mơ mà thôi!"

Thiếu phụ lại đến Lôi Tạng Tự tìm tôi. Tôi lại sờ đầu cho cô.

Cô lại nằm mơ.

Con gái cô dần lớn lên, đi học đều đứng đầu lớp khiến cho người mẹ cực kì vui mừng. Mẹ và con gái thân thiết, không có điều gì là không chia sẻ với nhau. Con gái làm lớp trưởng, là học sinh gương mẫu, giấy khen giải thưởng dán kín cả một bức tường. Người mẹ lúc này cực kì vui sướng, ai nấy đều khen ngợi rằng cô bé này thật là ưu tú.

Sau khi tỉnh khỏi giấc mơ, lại ngộ ra:

"Chỉ là một giấc mơ mà thôi!"

Thiếu phụ lại đến Lôi Tạng Tự tìm tôi. Tôi lại sợ đầu cho cô.

Giấc mơ lần này lại càng đáng kinh ngạc. Giấc mơ của thiếu phụ như thế này. Sau khi cô con gái tốt nghiệp đại học liền ra nước ngoài du học. Con gái cô lấy được học vị thạc sĩ, lại lấy được học vị tiến sĩ, ở nước ngoài tìm được rất nhiều công việc tốt.

Mọi việc của cô gái đều thuận lợi. Nhưng cơ hội để hai mẹ con gặp nhau rất ít, chỉ đành biết nhớ nhung. Về sau này cô con gái kết hôn, định cư ở nước ngoài. Có công việc rồi, có gia đình rồi, lại càng ít khi về nước, chỉ thỉnh thoảng liên lạc với mẹ đôi chút mà thôi.

Trong mơ, thiếu phụ đôi lúc liếc nhìn vào gương, phát hiện ra chính mình cũng đã tóc trắng điểm sương.

Tỉnh mộng.

Thiếu phụ thở dài nói:

"Hóa ra là như vậy, chỉ là một giấc mơ mà thôi."

Thiếu phụ lại đến Lôi Tạng Tự tìm tôi.

Tôi hỏi: "Lại muốn sờ đầu sao?"

Cô đáp: "Không ạ! Con đã biết kết quả rồi!"

Tôi hỏi: "Kết quả thế nào?"

Cô đáp: "Hợp tan là duyên phận, cái kết của đời người cũng là sinh ly tử biệt, chỉ là một giấc mơ mà thôi, tỉnh cơn mơ rồi, tất cả đều giải thoát cả."

Thiếu phụ cảm ơn tôi đã sờ đầu. Chứng bệnh trầm cảm của cô cũng đã khỏi hẳn. Sự việc lần này, tôi không an ủi gì cả, chỉ là sờ đầu mà thôi, mà rồi cô ấy cũng ngộ ra rồi.


### 0**3. Sáu cái đinh sắt**


Ở khu vực Đông Nam Á, có một người phụ nữ ngoài 50 tuổi được giới thiệu đến tu tại một đồng tu hội của Chân Phật Tông. Không lâu sau bà cũng quy y Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Sư Tôn.

Người phụ nữ này bị mắc bệnh đau đầu mãn tính.

Câu chuyện được truyền miệng nhau thế này. Lúc 20 tuổi thì bà là một cô gái xinh đẹp như tiên trên trời, ngũ quan thanh tú, dáng người mảnh mai, vô cùng quyến rũ người khác.

Cùng thôn có một tên côn đồ trẻ tuổi đem lòng yêu cô. Tên côn đồ này hành vi bất lương, đã từng hãm hiếp mấy cô gái trẻ.

Tên côn đồ còn đe dọa cướp tiền.

Tên côn đồ cũng lập bè kết đảng, thu phí bảo kê.

Tên côn đồ còn xúi giục giết người.

Tên côn đồ cũng là thủ lĩnh nhóm đầu gấu.

Cô thiếu nữ xinh đẹp không muốn kết bạn cùng với tên côn đồ, từ chối khéo sự theo đuổi của hắn. Mỗi lần hắn yêu cầu hẹn gặp, cô đều tìm cách từ chối.

Tên côn đồ mất mặt nên tức giận, đe dọa:

"Tao sẽ cho mày xem!"

Cô van nài:

"Xin đừng giết tôi."

Tên côn đồ nói:

"Tao sẽ không giết mày mà sẽ làm cho mày sống không nổi chết không xong, như thế mới gọi là sướng!"

Cô hỏi:

"Anh định đánh gãy chân tôi sao?"

Tên côn đồ trả lời:

"Không. Lẽ nào mày không biết cha tao là thầy pháp nổi tiếng sao?" (pháp thuật đen)

Sau lần nói chuyện đó, tên côn đồ liền chia tay với cô gái.

Từ đó trở đi cô gái xinh đẹp mắc chứng bệnh đau đầu. Bệnh đau đầu này không phải đau bình thường, là đau tới mức đầu muốn nứt ra làm đôi, não giống như bị người ta chặt ra vậy. Đau tới mức khiến cô ngất xỉu lăn ra đất.

Cô gái đi các nơi tìm bác sĩ, nhưng không ai biết vì sao.

Cô gái cũng đi tìm thầy phù thủy ma thuật nhưng cũng không có hiệu quả, ngược lại còn bị mất ngủ nghiêm trọng.

Cô gái vì chứng đau đầu này mà nhan sắc suy tàn, gương mặt cũng bị biến dạng. Bởi vì uống quá nhiều thuốc giảm đau, cơ thể cô cũng trở nên thô cứng. Chứng bệnh đau đầu này giày vò cô suốt 30 năm.

🌟

Mỗi ngày trước đàn thành, bà đều hướng về Liên Hoa Đồng Tử mà than khóc. Có một hôm, buổi tối bà nằm mơ. Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn hiện thân nói với bà:

"Tìm Lư Sư Tôn sờ đầu!"

Thế là bà theo các đồng môn đến Đài Loan Lôi Tạng Tự tham gia pháp hội Hộ Ma, nghe pháp, cuối cùng đợi Lư Sư Tôn sờ đầu. Người đợi sờ đầu đông đến hàng nghìn người, e là cũng đến cả vạn người. Bà ở trong đám đông, Lư Sư Tôn đi qua, chỉ vỗ nhẹ nhẹ một cái, cũng không nói gì, như vậy là đã xong rồi.

Đêm đó tại nhà trọ, bà mơ thấy:

Lư Sư Tôn đến, nói:

"Tôi sẽ giúp bà nhổ sáu cái đinh sắt."

Lời vừa nói xong, trên đỉnh đầu xuất hiện sáu tên tiểu hắc nhân.

Lư Sư Tôn quát lên ra lệnh:

"Không tự biến đi, còn đợi cái gì?"

Sáu tên tiểu hắc nhân nói:

"Chúng tôi biết ngài lợi hại, nhưng chúng tôi sẽ không rời bỏ nơi đã ở suốt 30 năm nay đâu!"

Lư Sư Tôn nổi giận. Bàn tay của ngài biến thành móng vuốt kim cương cháy rực, sáu tên tiểu hắc nhân giờ mới biết sợ, chớp mắt một cái đã chạy biến!

Người phụ nữ tỉnh lại, chứng đau đầu không ngờ hoàn toàn khỏi hẳn. Ba mươi năm đau đầu mất ngủ hết bay sạch sẽ.

Đây là một bằng chứng sống.

Tôi nguyện:

*"Dùng bàn tay công đức*

*Trừ diệt hết bệnh tình*

*Phúc phận làm tăng trưởng*

*Hạt giống Bồ Đề gieo*

*Tai nạn không còn nữa*

*Viên mãn mọi yêu thương*

*Dù ác tà ma giáng*

*Nguyện quét sạch mới thôi."*


### 0**4. Chiếc chìa khóa két sắt**


Này các bạn, có phải các bạn thường cất giấu đồ vật gì đó, rồi bẵng đi một thời gian liền quên luôn phải không?

Đặc biệt là người lớn tuổi thường quên đông quên tây, thậm chí vừa uống thuốc xong mới đây thôi, trong đầu đã là một bức màn trắng xóa, không biết là đã uống thuốc hay chưa.

Có một vài người già rõ ràng vừa mới ăn cơm xong.

Hãy hỏi ông: "Ăn cơm chưa?"

Ông đáp:

"Chưa!"

Người già ngay lập tức quên mất chuyện đã ăn cơm.Với người già, hồi ức lúc nhỏ lại thường ghi nhớ rất rõ, nhưng chuyện hôm qua thì lại quên hết rồi. Hôm qua vừa giới thiệu bạn với họ, hôm nay đã hỏi: "Anh là ai?" Sớm đã quên hết sạch sẽ.

Tổng thống Mỹ, ngài Ronald Reagan, những năm cuối đời đã mắc chứng bệnh Alzheimer (chứng hay quên), ngay cả bà Nancy vợ mình cũng không nhận ra. Rất nhiều người già mắc chứng bệnh hay quên, vừa đi ra khỏi cửa là không biết cách trở về nhà nữa.

"Quên cả tên họ!"

"Quên cả người nhà!"

"Quên cả nhà luôn!"

Quên rồi! Quên rồi! Quên rồi! Quên rồi! Quên rồi!

Đến mức cuối cùng người nhà phải đăng báo: Tìm người thân mất trí nhớ.

Trong những lần tôi sờ đầu đệ tử có một chuyện như thế này.  Khi tôi sờ đầu đến lượt một cụ già, cụ già đó bỗng nhiên hét lên một tiếng to:

"Tìm thấy rồi!"

Tôi giật nẩy mình:

"Tìm thấy cái gì cơ?"

Cụ nói:

"Tiền, vàng, ngọc trai đá quý, đồng hồ xịn, sổ tiết kiệm ngân hàng, ấn chương, ngoại tệ… mà tôi để trong két sắt."

Cụ già vốn sợ rằng chìa khóa của két sắt bị người khác lấy mất thì sẽ bị mất hết sạch tài sản. Thế là cụ đem chìa khóa:

Giấu dưới ghế sofa.

Giấu trong gối.

Giấu sau giá sách.

Giấu trong túi áo. (Túi áo của bộ quần áo treo trong tủ.)

Giấu sau tấm bảng.

Giấu trong bình hoa.

Giấu trong tủ lạnh.

Giấu trên trần nhà.

Giấu giữa dát giường.

Giấu trong giày cũ.

Cứ cách một khoảng thời gian cụ lại đổi chỗ giấu khác. Chiếc chìa khóa này rất quan trọng, vì thế cụ giấu tới giấu lui. Vấn đề bắt đầu xảy ra, cụ già giấu ở nhiều chỗ quá, thời gian cũng hơi lâu, không ngờ cụ quên mất. Thế là cụ bắt đầu tìm, tất cả mọi chỗ đều đã lục tung lên mà vẫn không tìm thấy, cụ vô cùng buồn chán.

Cụ già đến Đài Loan Lôi Tạng Tự xin tôi sờ đầu, cái sờ đầu này làm lóe lên một tia sáng, trong não cụ đã hiện ra: "Lỗ thông gió của điều hòa nhiệt độ!"

Trời đất ơi! Lư Sư Tôn vừa sờ đầu một cái, cụ liền nhìn thấy lỗ thông gió của điều hòa. Cụ về nhà tìm, chìa khóa thực sự nằm ngay ngắn tại chỗ đó!

Cụ già nói:

"Cảm tạ Lư Sư Tôn!"

Cụ già thường đến xin tôi sờ đầu, bởi vì sờ đầu một lần thì trí nhớ lại hồi phục được một chút, sờ nhiều lần thì trí nhớ lại được như bình thường.

Cụ nói: "Thực sự là rất kỳ diệu!"


### 0**5. Con rắn bò đi rồi**


Trong lúc sờ đầu các đệ tử, tôi quán tưởng bổn tôn trụ tại đỉnh đầu, hoặc tôi hóa thành bổn tôn. Tôi vừa sờ đầu vừa trì chú bổn tôn.

Hai tay tôi làm rất nhanh, bởi vì nếu không nhanh thì rất có thể phải mất một hoặc hai tiếng đồng hồ mới xong việc sờ đầu.

Tôi sờ đến đầu một cậu thanh niên.

Anh này nói với tôi:

"Lư Sư Tôn, cánh tay phải của con rất đau, đã đau tới nửa năm rồi, xin hãy vỗ vài cái giúp con."

Tôi nghe xong lập tức dùng tay phải của mình vỗ vào tay phải của anh từ trên xuống dưới, tổng cộng vỗ vào ba điểm: khớp tay trên, khuỷu tay, cổ tay. Vỗ xong tôi lại tiếp tục sờ đầu cho các đồng môn khác.

Một tuần sau, tôi nghe tin của cậu thanh niên này nhắn lại: Anh nói cánh tay sau khi được Sư Tôn vỗ xong, khi trở về vẫn còn rất đau, thậm chí không chỉ đau mà còn đau dữ dội hơn, đau như vậy mất hai ngày.

Nhưng tới cuối ngày thứ hai, anh có một giấc mơ. Mơ thấy: Trên cánh tay mình có một con rắn bò ra, là một con rắn ống tre màu xanh dài. Lưỡi nó thè ra khỏi mồm, uốn éo bò đi mất.

Sau khi tỉnh giấc mơ, cánh tay anh không ngờ không đau gì nữa. Trước đây khi cánh tay bị đau, tay không thể nhấc lên, tay không thể cong lại, ngón tay cũng không thể cầm bút viết được. Sau khi tay được Sư Tôn vỗ đã có thể nhấc lên, có thể cầm cốc uống, có thể cầm bút viết, tất cả đều bình thường.

Vạn tuế! Vạn tuế!

Anh thanh niên kể lại:

Nhà anh ở huyện Danh Gian (một địa danh ở tỉnh Nam Đầu, Đài Loan). Nhà làm nghề nông trồng chè, sản xuất rất nhiều lá chè, ngoài ra còn có một đám đất trồng dâu tằm.

Cũng vào khoảng nửa năm trước, anh ngủ dưới một gốc cây dâu tằm. Cảm thấy có thứ gì đó ở trên bụng mình, anh ta kinh hãi bừng tỉnh. Hai mắt vừa nhìn thì thấy một con rắn ống tre màu xanh lục đang bò trên bụng. Anh thuận tay tóm lấy nó. Con rắn lập tức quay đầu muốn cắn. Tay phải anh vớ lấy con dao cong dùng để làm việc vung lên một cái, con rắn liền đứt thành hai đoạn.

Việc này cơ bản là anh cũng không để tâm. Người làm nông đã từng nhiều lần trông thấy rắn rồi.

Rắn tre xanh.

Rắn trăm bộ.

Rắn gấm.

Rắn hoa vỏ rùa.

Trăn.

Rắn ô.

Rắn nước.

v.v.

Tóm lại là anh cũng không để tâm.

Nhưng sau khi cánh tay phải bị đau được Lư Sư Tôn vỗ vào, rồi mơ giấc mơ kia, anh mới nhớ lại sự việc này, đây cũng là một sự trùng hợp.

Anh thanh niên lại tới tôi thỉnh cầu.

Anh lo sợ con rắn tre xanh đó lại bò đến quấn lên cánh tay anh, nên anh muốn Lư Sư Tôn mau chóng siêu độ cho con rắn tre xanh đó. Thế là tôi cũng siêu độ cho con rắn tre.

Tôi cho rằng sự việc này như thế là xong, nhưng không ngờ vẫn còn chưa hết. Sau khi tôi siêu độ, anh thanh niên lại có một giấc mơ, mơ thấy con rắn tre xanh.

Con rắn tre giơ móng vuốt rồng, vảy trên người xù ra, đầu biến thành đầu rồng, hướng về phía anh con trai nói một tiếng cảm ơn. Rồng thăng trên trời, hướng thẳng lên mây bay đi!

Đây là một giấc mơ lành!


### 0**6. Tìm ngôi nhà phù hợp**


Có vị trợ lý giám đốc một công ty muốn tìm căn nhà thích hợp cho người nhà ở. (Nhà cho 2 người lớn 3 trẻ em.) Thế là anh giao phó cho môi giới bất động sản từ đầu năm 2012 bắt đầu tìm nhà.

Mỗi thứ bảy, chủ nhật, thậm chí là ngày nghỉ và đến cả buổi tối rảnh rỗi đều đi ra ngoài xem nhà. Anh ta rất năng nổ tìm nhà. Yêu cầu về căn nhà của anh trợ lý là: bốn phòng ngủ, một phòng khách, một bếp, ba phòng tắm, một phòng để bố trí đàn thành.

Giá cả phù hợp.

Phong thủy không khiếm khuyết.

Quyền sở hữu rõ ràng.

Anh trợ lý xem xét hơn một năm, tổng cộng đã xem hơn 100 căn nhà, nhưng vẫn không tìm được ngôi nhà nào ưng ý.

Anh trợ lý cảm thấy bối rối.

Người môi giới bất động sản cũng cảm thấy chán nản.

Có căn nhà thì tốt, nhưng phong thủy lại tệ.

Có căn nhà thì giá cả không phù hợp.

Có căn nhà thì quyền tài sản có vấn đề.

Có căn nhà thì lại không đủ rộng.

Có căn nhà thì hàng xóm phức tạp, môi trường xung quanh không tốt. Không có căn nhà nào như anh muốn tìm.

Anh trợ lý mỗi lần đi xem nhà, trong lòng đã chẳng còn tí hy vọng nào nữa rồi. Anh ta cũng không rõ vấn đề nằm ở đâu.

Một hôm, anh nảy ra một ý, tại sao không xin Lư Sư Tôn gia trì cho anh tìm được nhà. Anh trợ lý quỳ trong đám đông, đợi tôi sờ đầu, trong lòng niệm thầm: "Xin gia trì cho con tìm được nhà! Xin gia trì cho con tìm được nhà! Xin gia trì cho con tìm được nhà!"

Tôi đi tới và đặt tay lên đầu anh trợ lý.

Không ngờ kì tích xuất hiện.

Đêm đó, Lư Sư Tôn đã đến, đưa anh ta đi xem nhà, là một ngôi nhà được trang hoàng rất đẹp. Vừa hay lại có bốn phòng ngủ, một phòng khách, một bếp, ba nhà tắm, trong đó có một thư phòng, ngay cả đồ đạc trong nhà, rèm cửa sổ cũng đều có sẵn.

Lư Sư Tôn và anh trợ lý ngồi ở phòng khách.

Lư Sư Tôn nói:

"Đây là ngôi nhà tương lai của anh, phong thủy rất tốt."

Anh trợ lý xem qua:

Rèm cửa sổ màu xanh của nước.

Đồ đạc trang trí kiểu cổ điển.

Ghế sofa màu tím.

Phòng khách có một giá sách làm bằng gỗ cây cù tùng và viền vàng. Tivi để ở trên giá sách gỗ này.

Lư Sư Tôn nói:

"Thư phòng có thể thay đổi thành đàn thành, như vậy là ổn rồi!"

Anh ta xem xong rất vui mừng, thế là cũng tỉnh giấc mơ.

Cách ba ngày sau, người môi giới đưa anh trợ lý đi xem nhà, môi giới nói: "Căn nhà này đã có đồ đạc rồi, chủ nhân bị điều đi làm việc ở nước ngoài nên bán gấp, giá cả hợp lý, anh xem thử xem sao!"

Anh trợ lý vừa đi vào nhà thì nhảy dựng lên, đây chính là phòng mà trong giấc mơ Lư Sư Tôn đã chỉ thị.

Rèm cửa màu xanh.

Sofa màu tím.

Giá sách, tủ gỗ đều là gỗ cù tùng, tivi để trên tủ gỗ.

Một trong bốn phòng là thư phòng (phòng đọc sách).

Trời ạ! Hoàn toàn phù hợp.

Làm sao có thể? Làm sao có thể chính xác đến thế?

Anh ta đến Lôi Tạng Tự nói với tôi:

"Cảm tạ Sư Tôn đã ban cho nhà ở cát tường!"

Tôi hỏi:

"Lúc nào?"

Anh nói:

"Ở trong mơ, ngài đã đưa con đi xem nhà!"

Tôi nói:

"Thật sao? Ha ha ha!"


### 0**7. Xe cứu thương lao tới**


Tôi đến một đất nước hoằng pháp, tới một phân đường kia, nội đường, ngoại đường, trên đường phố đều chật kín người.

Bỗng nhiên một chiếc xe cứu thương tăng tốc chạy lại, còi hiệu kêu vang "…i...ò...i…ò".

Dòng người nghe tiếng còi hiệu cứu thương cũng tự động tạo thành một đường cho xe chạy qua. Xe cứu thương từ từ chạy tới trước mặt tôi thì bất ngờ dừng lại. Một người phụ nữ từ trên xe bước xuống, quỳ trước mặt tôi.

Cô nói:

"Cứu mạng! Cứu mạng! Lư Sư Tôn, xin ngài cứu mạng!"

Tôi hỏi:

"Có chuyện gì vậy?"

Người phụ nữ đáp:

"Từ lâu đã nghe đại danh của Lư Sư Tôn cứu vô số người, nên tôi đặc biệt từ bệnh viện nhờ xe cứu thương chở người bệnh đến cầu xin Lư Sư Tôn phát lòng từ bi cứu mạng anh ấy."

Tôi hỏi:

"Bệnh nhân có bệnh gì?"

Người phụ nữ đáp:

"Hai năm trước anh ấy bị trúng phong nghiêm trọng, chảy máu não, đến bây giờ vẫn hôn mê bất tỉnh. Đã hai năm rồi, các bác sĩ cũng bó tay. Anh ấy là chồng tôi, là người thật thà, hy vọng ngài có thể cứu anh ấy."

Tôi nói:

"Có thể chữa được hay không, tôi không dám nói, nhưng tôi hi vọng sẽ có kì tích!"

Cửa sau của xe mở ra, một người bệnh đang nằm trên giường bệnh, gắn bình dưỡng khí, ống truyền, máy hô hấp, mũi cắm ống thở. Người đó nằm im bất động, hai mắt nhắm nghiền.

Hai bàn tay tôi chắp lại cầu nguyện bổn tôn, thêm nữa tôi còn niệm bổn tôn tâm chú, tâm tập trung vào một việc duy nhất. Lúc này hai bàn tay tôi tự động tách ra, bàn chân tôi bắt đầu chuyển động những bước song song hơi chếch, tay trái kết "kì khắc ấn", tay phải kết "kiên chỉ ấn".

Một dòng chảy pháp lực dội xuống toàn thân tôi. "Kiên chỉ ấn" tự động vẽ ra: Ấn tứ tung ngũ hoành --- chính là lâm, binh, đấu, giả, giai, trận, liệt, tại, tiền.

Đây chính là:

Tứ tung ngũ hoành ấn. (*bốn dọc năm ngang)

Cửu tự chân ngôn pháp.

Sau khi gia trì kết thúc, tôi hà một hơi vào lòng bàn tay phải rồi vỗ vào thiên tâm của người bệnh.

Tôi nhận thấy dòng chảy pháp lực tự động tràn đầy khắp toàn thân mình. Khi tôi vẽ ấn, vẫy ấn, hà hơi vào lòng bàn tay đều vô cùng có lực. Tôi cảm ứng thấy Phật, Bồ Tát, Kim Mẫu thực sự muốn cứu người này.

Pháp sự đã hoàn thành. Xe cứu thương lại bật còi hiệu "… i… ò…i… ò" rồi chạy đi. Lúc này tôi mới đi vào trong phân đường. Tôi bước lên pháp tọa, khai thị về tầm quan trọng của sự "viên dung".

Tôi nói:

"Giữa ta và người khác, không nên có sự phân biệt. Bạn, tôi, anh, đều là người một nhà. Cứu độ chúng sinh là việc hành giả nên làm, đây là Đại thừa. Không chỉ không làm hại người khác mà còn cần tận tâm tận lực cứu độ người khác. Chúng ta vốn đều nhập vào nhất thể Phật tính đại quang minh, lan tỏa khắp hư không và vô biên pháp giới."

Thuyết pháp xong, mọi người vỗ tay.

Lúc này có một người truyền tin tới, người bệnh trong xe cứu thương ban nãy vừa mới trở về bệnh viện, người hôn mê hai năm đã mở mắt rồi, miệng còn mấp máy nói rằng Bồ Tát đến cứu anh ta.

Mọi người trong bệnh viện thốt lên cảm thán: "Kì tích! Kì tích!"

Mọi người ở phân đường hét to:

"Thật là bất khả tư nghì!"

Tôi nói:

"Người có thành tâm, Phật có cảm ứng!"


### 0**8. Đánh cược một phen**


Đây là câu chuyện về đánh bạc. Mục đích của bài viết này không phải để dạy mọi người cách đánh bạc, mà chỉ đơn giản là minh họa cho sức mạnh thần kì của bàn tay. Cá nhân tôi chủ trương không đánh bạc, vì vậy xin đừng bắt chước.

Vào quãng thời gian từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2013, Bắc Triều Tiên và Nam Triều Tiên nổ ra tranh chấp. Có một đệ tử đầy hào hứng chạy đến tìm tôi: "Bắc Triều có thể đánh thắng được Nam Triều không?" Tôi không trả lời anh ta ngay. Tôi nghĩ ngợi một chút rồi nói: "Tôi sẽ báo mộng cho anh!"

Tôi đặt bàn tay mình lên đầu người đệ tử đến hỏi chuyện này, bảo rằng anh sẽ có được câu trả lời trong giấc mơ.

Còn suy nghĩ riêng của tôi về tình hình này là:

1. Lãnh đạo Bắc Triều Kim Jong-un nhắc đi nhắc lại rằng muốn dùng chiến tranh để giải quyết tất cả mọi chuyện.

1. Theo nguồn tin từ đài truyền hình Bắc Triều, tuyên bố rõ ràng với toàn thế giới rằng tác chiến nhất định thành công, tất cả đã chuẩn bị sẵn sàng, chỉ còn chờ khai chiến mà thôi.

1. Thủ trưởng quân đội Bắc Triều đã đưa ra quyết tâm khởi chiến.

Đây không còn là lời đe dọa miệng nữa mà đã liên tục có hành động.

1. Bắc Triều điều động hỏa tiễn bắn tới bờ biển phía đông.

1. Kêu gọi những công nhân Bắc Triều làm việc tại khu công nghiệp Nam Bắc Triều trở về.

1. Yêu cầu đại sứ quán của mỗi nước xem xét rút về bởi sự an toàn của họ không còn được đảm bảo nữa.

1. Bắc Triều đã chuẩn bị hỏa tiễn nhắm sẵn vào Okinawa, Guam, Nhật Bản, Nam Triều Tiên, và thậm chí cả nước Mỹ.

1. Giữa tình hình căng thẳng gia tăng, toàn thế giới đã tập trung sự chú ý vào Nam và Bắc Triều Tiên.

Kim Jong-un tuyên bố:

"Khai chiến!"

Đài truyền hình nói:

"Khai chiến!"

Thủ trưởng quân đội nói:

"Khai chiến!"

Tôi nghĩ:

"Khả năng là chiến tranh thật rồi!"

Nhưng người đệ tử của tôi trở về lại có một giấc mơ:

Mơ thấy tôi xuất hiện, nói với anh một câu:

"Từ tháng 3 đến mồng 1 tháng 5, sẽ không có chiến tranh!"

Anh rất phấn chấn, lập tức đi đánh cược "không có chiến tranh".

Sự tình hóa ra là như thế này:

Có người dự đoán rằng vào ngày kỉ niệm sinh nhật của cố lãnh đạo Kim Jong-il Bắc Triều sẽ khởi chiến. Lại dự đoán rằng sẽ nổ súng trong vòng vài ngày diễn tập quân sự giữa Nam Triều và Mỹ quốc.

Chiến tranh có nổ ra hay không đã trở thành tâm điểm. Thế là các tổ chức cá cược đã tổ chức cá cược lớn, chiến tranh hay không chiến tranh. Mọi người đánh cược đi!

Cũng chính là từ tháng 3 đến mồng 1 tháng 5.

Ai tin là sẽ có chiến tranh sẽ cược là Có.

Ai không tin sẽ có chiến tranh sẽ cược là Không.

Hoạt động cá cược diễn ra sôi sùng sục.

Người đệ tử đó của tôi cũng muốn cá cược, vậy nên mới đến tìm tôi hỏi xem rốt cuộc sẽ chiến hay không chiến?

Có người cho rằng:

Sẽ đánh! Bởi vì đã khai chiến đến mức kinh thiên động địa rồi.

Có người cho rằng:

Sẽ không đánh! Có thể chỉ là đe dọa mà thôi, đầu hổ đuôi chuột, rùa rụt đầu, hay còn gọi là chó sủa là chó không cắn.

Có người cho rằng:

Tổng thống Park của Nam Triều Tiên cũng ra mặt nói, mọi người hãy cùng thương lượng! Có thể thấy được sự căng thẳng của tình hình.

Có người cho rằng:

Bắc Triều tiên nhiều lần nói đánh, kết quả là lại không đánh, nên chắc là sẽ không đánh đâu.

Thời gian cá cược là từ tháng 3 đến mồng 1 tháng 5.

Đáp án cuối cùng là:

"Không khai chiến!"

Đệ tử của tôi rốt cục đã:

"Trúng một vố lớn! Ha ha ha!"


### 0**9. Xin Sư Tôn vỗ thêm chút nữa**


Năm 2013, thời gian tôi ở Đài Loan Lôi Tạng Tự, cứ ba giờ chiều thứ bảy hàng tuần đều làm Hộ Ma hỏa cúng chư Tôn.

Sau khi ăn bữa tối xong, tôi sẽ sờ đầu cho các đệ tử. Mỗi ngày thứ bảy đều có vạn người tham dự.

Tôi làm bài thơ này:

*"Tay Phật sờ đầu ôi vui sướng*

*Chảy xuống Cam lộ sạch thân tâm*

*Mong ước lâu nay đều như nguyện*

*Hóa hiện bao nhiêu chuyện diệu kì."*

Việc bàn tay tôi sờ đầu các đệ tử đã làm xuất hiện vô cùng, vô cùng nhiều những sự việc kì diệu. Trong số đó, có một người làm công việc chế tạo cơ khí chính xác. Cái gọi là cơ khí chính xác chính là các loại máy móc có độ chính xác rất cao. Máy móc anh sản xuất luôn được xuất khẩu đi châu Âu, châu Mỹ, Nhật Bản, v.v.

Trong giai đoạn hưng thịnh của nền kinh tế thế giới, các đơn đặt hàng liên tiếp đổ về không ngừng.

Trong thời kì nổi sóng lớn ngành tài chính, anh vẫn có được một ít đơn hàng. Nhờ máy móc mà anh thiết kế có chất lượng xuất sắc, được ca ngợi rất nhiều, đơn đặt hàng chưa từng gián đoạn. Do vậy, người ta không có đơn hàng, nhưng anh thì vẫn duy trì sự ổn định, kiếm được rất nhiều tiền.

Đủ mua nhà đất.

Xây nhà tầng.

Đầu tư.

Tuy nhiên vào nửa sau năm 2012, có hiện tượng rất kì lạ xảy ra. Bỗng nhiên ngay cả một đơn hàng cũng không có, đây là hiện tượng trước nay chưa từng thấy.

Trong ngành công nghiệp cơ khí, rất nhiều công ty đã phá sản. Còn anh thì ngay cả một đơn hàng cũng không về. Trong lòng anh rất lo lắng, không có đơn hàng, làm sao tiếp tục duy trì đây?

Anh nghe nói Lư Sư Tôn sờ đầu rất linh nghiệm, thế là anh cũng lên núi xin được sờ đầu. Kì lạ là lần đầu tiên được sờ đầu xong, ngày tiếp theo anh liền nhận được một đơn hàng. Anh lại lên núi xin sờ đầu, lại có được đơn hàng thứ hai. (Trùng hợp là, sờ đầu xong, ngày hôm sau lại nhận được một đơn hàng.)

Giờ đây anh đã có lòng tin, lại lên núi lần thứ ba. Ngày hôm sau anh lại có đơn hàng. Anh đã có được ba đơn hàng rồi.

Có một lần anh rất bận, không đến tham dự pháp hội Hộ Ma và sờ đầu. Kết quả là cách một ngày không có đơn hàng rồi tới một tuần lễ cũng không có. Liền cả bốn tuần lễ (một tháng) anh không lên núi. Cả tháng ngày không có dù chỉ một đơn hàng.

Thế là anh lại lên núi. Ngày hôm sau thực sự lại có một đơn hàng nữa. Chuyện này đã thử nghiệm trong một khoảng thời gian, việc này thực sự rất kì quái.

Có một lần tôi tình cờ đi ngang qua chỗ vị giám đốc này, anh gọi lớn: "Xin Lư Sư Tôn vỗ đầu thêm vài cái! Xin Lư Sư Tôn vỗ đầu thêm vài cái! Xin Lư Sư Tôn vỗ đầu thêm vài cái!"

Tôi quay lại, vỗ ba cái.

Lại có chuyện quái lạ, ngày hôm sau anh có ba đơn hàng.

Giai đoạn tình hình xuất khẩu của Đài Loan rất tệ, nhưng vì anh có cái sờ đầu của Lư Sư Tôn, tình hình đơn đặt hàng vẫn tốt.

Anh chàng giám đốc này đặc biệt tới tìm tôi, nói cho tôi hay sự cảm ứng của mình, hơn nữa còn thỉnh cầu:

"Xin Lư Sư Tôn vỗ đầu thêm vài cái!"

Tôi hỏi:

"Thực sự là linh nghiệm như thế à?"

Anh giám đốc nói:

"Thật ạ! Không sờ đầu thì không có đơn hàng nào, sờ đầu thì lại có, sờ ba lần thì có ba đơn."


### **10. Đứa trẻ não thiếu ô-xy**


Lúc ở Seattle Lôi Tạng Tự, có một cặp vợ chồng ôm theo một đứa bé sơ sinh đáp chuyến bay bốn tiếng đến tìm tôi. Họ vừa xuống máy bay là vội vã đến cầu xin gặp.

Nhân viên phụ trách hỏi:

"Có chuyện gì cần gặp Lư Sư Tôn vậy?"

Hai vợ chồng nói:

"Chuyện tối quan trọng!"

Nhân viên phụ trách cười:

"Mỗi người đến xin gặp Lư Sư Tôn đều nói là có chuyện quan trọng số một trong thiên hạ, vậy rốt cục là chuyện gì?"

Vợ chồng nói:

"Là chuyện đứa con nhỏ của chúng tôi, rất gấp."

Nhân viên phụ trách nói:

"Thông thường Lư Sư Tôn sau giờ ăn trưa xong mới tới, mọi người đợi một chút đi."

Hai vợ chồng sốt ruột nói:

"Chúng tôi đến chỗ của Lư Sư Tôn vậy."

Nhân viên phụ trách nói:

"Nơi ở của ngài là bí mật, chúng tôi cũng không biết."

Người chồng nghe xong trở nên rất tức giận, nói:

"Sao lại có chuyện như thế được."

Hai vợ chồng ôm đứa bé sơ sinh sốt ruột đi lòng vòng khắp nơi để hỏi người khác, câu trả lời vẫn là như vậy. Đợi đến giờ ăn cơm trưa, cuối cùng đã gặp được tôi.

Tôi được nghe câu chuyện như sau:

Cặp vợ chồng này đã sinh được một bé trai. Lúc sinh bé, dây rốn đã quấn quanh cổ đứa bé khiến cho đứa bé không thể thở được trong một khoảng thời gian, dẫn đến não đứa bé bị thiếu ô-xy.

Đứa bé vừa sinh ra thì:

1. Mặt đen sạm.

1. Não bị úng.

1. Mắt không mở.

1. Tai không nghe.

1. Chậm phản ứng.

1. Chân tay không có phản ứng.

1. Nôn ói.

Hai vợ chồng mời bác sĩ cấp cứu bởi vì đứa bé xuất hiện tình trạng không bình thường, thế là bác sĩ đưa vào lồng chăm sóc trẻ sơ sinh để quan sát. 

Hai vợ chồng hỏi bác sĩ:

"Có cứu được không?"

"Không biết." - Bác sĩ đáp: "Cứu được thì khả năng cũng bị tàn phế!"

Trời ơi! Hai vợ chồng òa khóc.

Một sinh linh nhỏ bé đang đợi sự an bài của số phận. Đứa bé mặc dù sống được nhưng tất cả các triệu chứng về cơ bản là không có chút gì khả quan.

Họ lại hỏi bác sĩ. Bác sĩ xòe bàn tay lắc lắc, biểu hiện "vô phương cứu chữa".

Lúc này có người nói với họ:

"Sao không bay tới Seattle Lôi Tạng Tự tìm gặp Lư Sư Tôn?"

"Có tác dụng không?"

"Rất thần kì!" - người đó nói. "Xin Lư Sư Tôn dùng tay xoa lên toàn thân đứa bé."

Hai vợ chồng ôm đứa bé cùng bình thở ô-xy rồi đáp máy bay tới đây.

Tôi xoa đầu đứa bé. Xoa mắt, tai, miệng, mũi.

Một luồng chảy pháp lực đi vào trong thân thể đứa bé, từ não bộ đi thẳng xuống. Đột nhiên miệng đứa bé nôn ra một miếng máu đen, miếng này lại đến miếng nữa. Hai vợ chồng nhìn thấy cảnh này vô cùng sợ hãi.

Sau đó đứa bé ngủ rất ngon lành, hơi thở bình thường. Sau khi tỉnh lại, mặt hồng hào, não bình thường, hai mắt mở to, tai có thể nghe được, tứ chi cử động, miệng kêu ya ya.

Oa! Thật sự khỏi rồi, hai vợ chồng sung sướng quy y Chân Phật!


### **11. Chúa Jesus tới tiếp dẫn**


Một người phụ nữ cầm theo một tấm ảnh đến xin tôi gia trì cho người trong ảnh, đó là một người con trai bị bệnh khoảng ngoài 30 tuổi.

Người phụ nữ nói:

"Người con trai trong tấm ảnh này là cháu của tôi đang ở Úc, làm nghề kĩ sư điện. Năm ngoái nó được chẩn đoán là mắc bệnh ung thư và đã phải làm hóa liệu, các tế bào ung thư đã lan ra khắp toàn thân rồi. Xin Lư Sư Tôn gia trì, xem xem nó có thể khỏe lại được không?"

Bàn tay tôi sờ lên tấm ảnh một lúc.

Tôi quán tưởng bổn tôn của tôi, hai mắt tôi nhắm lại, lập tức tôi nhìn thấy Chúa Jesus Christ. Hình ảnh của Chúa Jesus cũng giống như người mà chúng ta thường nhìn thấy trong những tranh ảnh về Chúa.

Tóc dài râu dài.

Đôi mắt từ bi dịu dàng.

Bộ đồ bên trong màu trắng bên ngoài màu đỏ trông như một vị Lama.

Hai tay đưa xuống xiên xiên.

Toàn thân tỏa sáng.

Từ trên mây Jesus từ từ hạ xuống, đem người con trai trong bức ảnh đi. Tận mắt tôi nhìn thấy, cũng không khỏi kinh ngạc!

Tôi nói:

"Anh ta chết rồi, là Chúa Jesus Christ đến đưa anh ta đi rồi."

Người phụ nữ này nói:

"Lư Sư Tôn, sao ngài có thể nói lung tung vậy, hôm qua tôi vừa mới liên lạc với nó, nó đồng ý cho tôi đem tấm ảnh này đến cho ngài gia trì mà!"

Tôi nói:

"Anh ta chết rồi, thật sự là Chúa Jesus đã đến đưa đi rồi."

Người phụ nữ nói:

"Nó cũng không phải là tín đồ đạo Cơ Đốc, ngày trước nó theo tôi quy y Lư Sư Tôn đó!"

Lúc đó người phụ nữ lập tức liên lạc sang Australia nói chuyện với mẹ của chàng trai. Khuôn mặt người phụ nữ từ từ trở nên đờ đẫn. Nói chuyện điện thoại xong, người phụ nữ nói:

"Lư Sư Tôn, tôi bái phục ngài!"

Tôi hỏi:

Sao thế?"

Người phụ nữ nói:

"Cháu của tôi vốn quy y theo ngài, ba năm trước lần đầu gặp một cô gái người nước ngoài, hai người qua lại thân mật. Cô gái này theo đạo Cơ Đốc, đã đưa cháu tôi đi tới giáo hội nhận lễ rửa tội, trong nhà cháu tôi còn treo một tấm hình Chúa Jesus rất lớn nữa."

Tôi nói:

"Vậy cũng rất tốt!"

Người phụ nữ nói:

"Kết quả, người tiếp dẫn nó không ngờ lại là Chúa Jesus ở trong bức ảnh to đó, giống y như là ngài mô tả vậy."

Tôi niệm:

"A Men!"

Người phụ nữ nói:

"Lư Sư Tôn, ngài không bài trừ Cơ Đốc giáo sao?"

Tôi đáp:

"Đương nhiên không!"

Người phụ nữ hỏi:

"Vì sao vậy?"

Tôi nói:

"Trước đây tôi cũng là tín đồ Cơ Đốc giáo, từng nhận chức vụ là giáo viên ngày chủ nhật, thầy giảng Kinh Thánh. Về sau gặp nhân duyên kỳ lạ, tôi mới tin theo đạo Phật. Tôi hiểu rõ Cơ Đốc giáo là một giai đoạn trên con đường lên thiên đường của Phật giáo. Tôi là một tôn giả đã Minh tâm Kiến tính, căn bản là không có tâm phân biệt, cái tôi có là tâm bình đẳng."


### **12. Kim Châu đại sư hiện thân**


Tháng 5 năm 2013, trời vừa sáng, tôi trông thấy giữa cây tùng đại thụ một vầng mặt trời đang nhô lên, ở giữa vầng mặt trời có một vị tôn giả.

Vị này hiện thân, ánh sáng rực rỡ. Đây chính là:

*Ánh sáng cầu vồng.*

*Ánh sáng khánh vân. (ND: Mây phúc lành)*

*Ánh sáng nghiêm mật.*

Hào quang vạn trượng, ngồi trên hoa sen ánh sáng trong vầng mặt trời. Tôi trông thấy thì vô cùng vui sướng, nhưng cũng không rõ vị tôn giả này là ai.

Tay phải tôi kết "Câu triệu ấn".

Tay trái tôi kết "Thời thần ấn".

(Ấn pháp loại này là do Trị Nhật Công Tào Thần truyền dạy cho tôi, có thể kết "Thời thần ấn" thì chư Tôn sẽ hạ giáng, khẩu quyết của nó cũng là một chữ "sờ" nổi bật.)

Người trong vầng mặt trời quả nhiên hạ giáng.

Tôi hỏi:

"Tôn giả là ai?"

Đáp: "Ta chính là Kim Châu đại sư!" (ND: Đại thành tựu giả Serlingpa)

Tôi hỏi:

"Tôi từng đến Jambi, Indonesia, nơi Atisha Tôn giả đến cầu pháp tại chỗ ở của Kim Châu đại sư. Khi tôi đến, trên trời sấm nổ vang rền, những hạt mưa nhỏ thi nhau rơi xuống, trong lòng tôi có một cơn chấn động, vì sao lại như vậy?" 

Kim Châu đại sư đáp:

"Người có duyên đến, không ai là không như vậy!"

Tôi hỏi:

"Kim Châu đại sư, tôi có một băn khoăn này, xin chỉ giáo."

Kim Châu đại sư đáp:

"Vì ngài có băn khoăn nên tôi mới hiện thân để chỉ giáo cho ngài. Ngài muốn hỏi về lai lịch và truyền thừa của ta đúng không?"

Tôi đáp:

"Chính xác."

Thế là Kim Châu đại sư nói:

"Ta sinh ra tại đảo Java, đảo Java khi đó rất thịnh hành những giáo hóa của Phật Đà."

"Đức Phật truyền pháp cho Đại Ca Diếp (Mahakasyapa), Đại Ca Diếp truyền cho A Nan (Ananda), sau lại truyền đến Đại Cốc Tô Lô (Maha Kusulupa), Đại Cốc Tô Lô lại truyền cho Tiểu Cốc Tô Lô (Kusulupa), Tiểu Cốc Tô Lô truyền cho Kim Châu Đại Sư, đây chính là truyền thừa." (Tiểu Cốc Tô Lô chính là Bảo Quân, cũng tức là Ma Ha Bảo Lợi La Na.)

Tôi hỏi:

"Thế nhân chỉ biết đến Kim Châu đại sư, đại sư có tên gọi khác không?" Kim Châu đại sư đáp:

"Ta sinh ra ở Java, được đặt tên là Biến Đẩu. Pháp danh sau này là Cụ Đại Chủng Tính Bạch Liên Hoa Vương."

Tôi nghe xong, sững cả người!

"Bạch Liên Hoa Vương!"

Kiếp này tôi là Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử chuyển thế, Kim Châu đại sư là Bạch Liên Hoa Vương, giữa hai chúng tôi có mối liên hệ gì đây?

Tôi hỏi:

"Thế còn Atisha tôn giả là ai?"

Kim Châu đại sư đáp:

"Atisha tôn giả đến gặp tôi ở Suvarnadvipi, tôi đã truyền mọi thứ tôi biết cho Atisha Tôn giả, vì Atisha Tôn giả và tôi đã có nhiều kiếp là quan hệ thầy trò, hai người cơ bản là không thể tách rời."

Tôi hỏi:

"Thế còn Lư Sư Tôn tôi thì sao?"

Kim Châu đại sư đáp:

"Ngài có nguồn gốc bản thể là Bạch Liên Hoa, không thể tách rời khỏi Bạch Liên Hoa Vương, cũng không thể tách rời khỏi Atisha Tôn giả. Ngài đến Jambi, trên trời nổi sấm sét, chính là thế, chính là thế."

Tôi hỏi:

"Nguồn gốc bản thể không thể tách rời? Ý ngài là gì?"

Kim Châu đại sư nói:

"Phật nói, chính là Nhất hợp tướng, nếu như ngài hiểu được Nhất hợp tướng, thì sẽ hiểu được tất cả!"


![Bạch Liên Hoa Vương](/img/img_bffe3d5a5d5de238546d434d69ed4120.png)



![Kim Châu đại sư](/img/img_9759e0e3e2d4ca2a7aaec7724a8bf6d2.png)



### **13. Phẫu thuật trong giấc mơ**


Tôi đứng sờ đầu cho một dòng người dài rất dài, người chờ sờ đầu thực sự là nhiều vô cùng.

Một người đàn ông vội vã chạy đến, vừa chạy vừa hét lên:

"Xin mọi người tránh ra, cho tôi đi qua."

Mọi người nói:

"Chúng tôi đều đang xếp hàng, anh cũng phải xếp hàng, anh đi ra phía sau xếp hàng đi."

Người đàn ông nói:

"Tôi bị sỏi thận, bây giờ đang đau lắm, chờ không nổi nữa. Xin mọi người giúp đỡ, xin Lư Sư Tôn giúp đỡ. Làm ơn đi! Làm ơn đi!"

Tôi ngẩng đầu nhìn người đàn ông một cái, trông thấy những giọt mồ hôi túa ra đầy trên trán anh, anh thì kêu lên: "Đau, đau, đau."

Từ trong đám đông, tôi bước ra, trong miệng tụng chú:

*"Thiên viên địa phương*

*Luật lệnh cửu chương*

*Ngã kim thi pháp*

*Cấp dữ bình an."*

Bàn tay tôi vỗ nhẹ lên vị trí thận ở sau lưng người đàn ông, vừa vỗ vừa niệm:

*"Om, su-ba-wa, su-ta, sa-er-wam, ta-er-ma, su-ba-wa, su-to, ham."*

(Đây là chú Quán Không. Tôi quán tưởng những viên sỏi thận là hư không.)

Vỗ được vài cái, người đàn ông đột nhiên đứng thẳng dậy nói: "Hết đau rồi! Hết đau rồi! Cảm ơn! Cảm ơn!"

Mọi người đứng nhìn, miệng không ngớt cảm thán "wow".

Càng kì lạ hơn, người đàn ông này trở về nhà, buổi tối nằm mơ, đột nhiên nhìn thấy có mấy người đi vào phòng anh ta.

Những người này kêu lên: "Mổ thôi! Mổ thôi!"

Người đàn ông nói:

"Tôi không mổ!"

Những người này nói:

"Lư Sư Tôn vỗ cho anh vài cái vào thận, đã hết đau rồi, nhưng vẫn chưa tiêu trừ tận gốc, lâu lâu sẽ lại đau lại. Chúng tôi là bác sĩ trên trời, đặc biệt tới đây mổ cho anh."

Người đàn ông đáp:

"Tôi chỉ tin tưởng Lư Sư Tôn thôi!"

Mấy người đó nói:

"Chính vì ông tin Lư Sư Tôn, chúng tôi mới đến đó."

Mấy người bác sĩ từ trên trời không nói lôi thôi nữa, vây xung quanh người đàn ông, bắt đầu làm phẫu thuật.

Một người mổ bụng.

Một người mổ thận. (tách thận ra)

Một người gắp sỏi. (sỏi thận)

Gắp toàn bộ những viên sỏi nhọn, sỏi tròn, sỏi hình thù kì quặc ra hết. Sau đó người bác sĩ này vuốt tay phục hồi lại vết mổ trên thận, thận trở lại như ban đầu. Một bác sĩ khác lại vuốt tay lên vết mổ trên bụng, một vết tích mổ cũng không còn nữa.

Những động tác này đều rất rõ ràng sống động trong tâm trí người đàn ông, hơn nữa lại không đau một chút nào. Một bác sĩ trong số đó đầu đội mũ trắng, đeo khẩu trang, toàn thân màu trắng, đứng bên cạnh nhìn.

Sau khi tất cả đã xong, người bác sĩ từ trên trời đó tháo khẩu trang ra. Người đàn ông nhìn rõ khuôn mặt của bác sĩ liền hét lớn: "Là Lư Sư Tôn!"

Tiếng hét này khiến anh tỉnh dậy, hóa ra là một giấc mơ mà thôi!

Thế nhưng mà…

Người đàn ông đến bệnh viện kiểm tra, bác sĩ nói:

"Quái thật! Không thấy viên sỏi nào nữa. Lấy ảnh chụp siêu âm ra xem thì rõ ràng sỏi thận từng lớp từng lớp, thế mà bây giờ hết sạch như chưa từng có."

Người đàn ông chạy tới nói cho tôi kết quả kiểm tra này.

Tôi nói:

"Cuộc đời vốn là một giấc mộng, không phải thế sao?"


### **14. Nỗi khổ của bệnh dị ứng mũi**


Nhà họ Ngô có ba đứa trẻ, hai trai một gái, chúng đều bị mắc bệnh dị ứng mũi. Lúc đầu họ không chú ý lắm, về sau khi chứng bệnh dị ứng mũi ngày càng nghiêm trọng, họ mới nhận ra có vấn đề.

Buổi sáng ngủ dậy, lũ trẻ vừa ra khỏi chăn là sẽ bị chảy nước mũi.

Hắt xì hơi.

Chóng mặt.

Ảnh hưởng đến học tập.

Dễ bị cảm, sốt, ho.

Tâm trạng không tốt.

Về sau, họ đưa lũ trẻ đi khám bác sĩ Tây y không có hiệu quả mấy, lại đi khám bác sĩ Đông y, cũng không có hiệu quả.

Trên thực tế, mỗi ngày chúng đều bị chảy nước mũi, hắt xì hơi, ngạt mũi, hít thở rất khó khăn… Lũ trẻ liên tục phải lấy khăn giấy lau mũi, vô cùng phiền phức.

Có người nói chúng cần phải được "bao bọc" kĩ hơn.

Ngủ dậy phải đeo khẩu trang, giữ ấm. Rửa mũi. Uống thuốc chống dị ứng. Mặc dù làm như vậy cũng đỡ được một thời gian, nhưng kết quả là bệnh dị ứng mũi vẫn tái diễn, không có thuốc nào chữa được.

Những người lớn nhà họ Ngô vì mấy đứa trẻ này mà luôn đau đầu mệt óc, cũng không khác gì chính họ bị bệnh mãn tính.

Lại có người mách với họ rằng Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn ở Thảo Đồn Lôi Tạng Tự, sau khi kết thúc pháp hội sẽ có phần sờ đầu, nghe nói rất nhiều chứng bệnh khó chữa sau khi được sờ đầu đều đã khỏi.

Trưởng họ nhà họ Ngô không tin:

"Làm gì có chuyện như vậy?"

Trưởng họ nhà họ Ngô hỏi:

"Dựa vào sức mạnh gì?"

Người kia nói:

"Dựa vào sức mạnh của Phật đó!"

Trưởng họ nhà họ Ngô không tin, sờ đầu một cái là khỏi, làm gì có chuyện vô lý thế? Nhưng người kia nói:

"Vô hại thì cứ thử, cũng chẳng có tổn hại gì!"

Một ngày thứ bảy, nhà họ Ngô cả lớn cả bé đến tham gia pháp hội Hộ Ma (hỏa cúng) do tôi chủ trì. Họ cảm thấy pháp hội rất trang nghiêm.

Lại nghe tôi thuyết pháp, cảm thấy rất có pháp vị.

Cuối cùng họ tham gia sờ đầu. Không ngờ, người chờ xin sờ đầu có tới cả vạn người. Lúc sờ đầu đến lượt mấy người nhà họ Ngô, họ kêu lên: "Lư Sư Tôn, sờ vào mũi một chút có được không?"

Tôi hỏi:

"Mũi bị làm sao?"

Họ nói:

"Mũi bị dị ứng!"

Bàn tay tôi chạm vào mũi ba đứa trẻ, cảm thấy tay mình có chút rung động nhỏ giống như dòng chảy pháp âm ấm đi vào trong mũi của bọn trẻ.

Tôi chạm vào ba cái rồi nhanh chóng chuyển qua người khác.

Họ kêu lên:"Xin sờ thêm vài cái nữa!"

Tôi quay đầu lại:

"Như vậy là được rồi!"

Sau khi nhà họ Ngô lớn nhỏ về nhà, buổi sáng hôm sau, điều quái lạ là mũi ba đứa nhỏ không bị dị ứng nữa.

Một ngày như vậy, hai ngày như vậy, một tuần cũng như vậy, một tháng cũng như vậy, sau đó hoàn toàn khỏi hẳn!

Nhà họ Ngô nói:

"Quả nhiên kì diệu vô cùng!"

Tôi nói:

"Cảm ứng như thủy triều, sức mạnh của Phật quả nhiên ghê gớm!"


### **15. Anh chắc chắn được nhận**


Có đệ tử tên là Nhã Tịnh nộp đơn xin học Tiến sĩ tại một trường đại học danh tiếng. Anh đem hồ sơ xin nhập học đến xin tôi gia trì.

Lúc bàn tay tôi phủ lên tập hồ sơ của anh, tôi liền cảm ứng thấy một vầng ánh sáng.

Tôi nói với Nhã Tịnh:

"Chắc chắn anh sẽ được nhận!"

Nhã Tịnh nói:

"Con chỉ định thử xem thôi, bởi vì thành tích chưa đạt đủ yêu cầu nhập học, do vậy chẳng có hy vọng gì."

Tôi nói:

"Chắc chắn là được nhận, tôi có cảm ứng thấy!"

"Có thật không ạ?" Nhã Tịnh nói.

"Thật." - Tôi nói.

Trong việc này, người nộp đơn cũng không ôm hy vọng, bởi vì thành tích của tập hồ sơ về cơ bản là không đạt được tới tiêu chuẩn nhập học. Nhưng tôi vẫn nói chắc như đinh đóng cột, bởi vì tôi không chỉ nhìn thấy một vầng ánh sáng mà còn nhìn thấy Quan Thế Âm Bồ Tát cười tươi như hoa nở, hơn nữa lại còn gật gật đầu với tôi.

Sau khi Nhã Tịnh nộp đơn, không lâu sau liền nhận được giấy thông báo của trường, thông báo rằng thành tích không đạt, do vậy:

"Không được nhận vào học!"

Nhã Tịnh nghĩ thầm:

"Lư Sư Tôn đã gia trì vào hồ sơ nhập học, hơn nữa còn nhắc đi nhắc lại là sẽ được nhận cơ mà. Vậy mà bây giờ không được nhận, có thể thấy là Lư Sư Tôn cũng có lúc không chuẩn. Nói "thần toán cực chuẩn" xem ra cần phải "chiết khấu" một chút rồi!"

Nhã Tịnh không nói ra miệng nhưng trong lòng rất hối hận. Khi đó không đưa cho Lư Sư Tôn gia trì thì đã không có chuyện bối rối thế này.

Phiền não quá! Phiền não quá! Anh đã khoe với rất nhiều người rằng Lư Sư Tôn đã nói: "Anh nhất định sẽ được nhận!"

Bây giờ biết trốn vào đâu đây?

Khoảng ba tháng sau, Nhã Tịnh lại nhận được một lá thư gửi từ trường đại học.

Lá thư nói:

Vốn dĩ trong số những sinh viên được chọn, có một người mắc bệnh nặng, không thể đi học Tiến sĩ được nữa. Mặc dù anh chưa đạt được điểm chuẩn của khoa, cũng chưa đạt được tiêu chuẩn nhập học, nhưng các môn học khác cũng khá tốt. Do vậy trường vẫn nhận anh vào học chương trình Tiến sĩ và chỉ định một giáo viên giúp đỡ thêm cho anh.

Trời ạ! "Được nhận rồi!"

Vốn dĩ không được nhận, giờ lại biến thành được nhận, chuyện này quả thực vô cùng khó tin.

Nhã Tịnh vui sướng ngoài sức tưởng tượng!

Nhã Tịnh vui sướng nhảy tưng tưng!

Việc này giống như đâm vào tường! Đâm vào tường! Kết quả đúng là: "Liễu ám hoa minh hựu nhất thôn" (*). Đã được nhận rồi!

Nhã Tịnh lập tức tới Đài Loan Lôi Tạng Tự thông báo với tôi. Tôi nghe xong cũng cảm thấy "phong hồi lộ chuyển" (*), thật là không tưởng tượng nổi, thật là một kì tích.

Thực tế việc gia trì cũng cần dựa trên việc có cơ sở. Ví dụ: nhìn thấy vầng ánh sáng, không phải là nhìn thấy một quầng đen. Ví dụ: nhìn thấy Quan Thế Âm Bồ Tát, không phải là nhìn thấy La-sát. Ví dụ: nhìn thấy nụ cười rạng rỡ, không phải là nhìn thấy mặt đẫm nước mắt.

Do vậy mà tôi nói:

"Nhất định sẽ được nhận!"

Tôi thường cầu nguyện:

"Cho phép tôi có thể thực sự giúp người khác. Để cho năng lực cảm ứng của tôi làm chỗ dựa cho chúng sinh."

**(*): Đây là vế sau của hai câu thơ:**

"Sơn trùng thủy phục nghi vô lộ, Liễu ám hoa minh hựu nhất thôn.”

Câu này dịch nghĩa rằng: Núi cùng nước tận tưởng hết lối, Bóng liễu hoa tươi một thôn làng.

Ý tứ là: giữa cảnh núi non trùng điệp, sông ngòi chằng chịt, tưởng như không còn đường đi nữa, thì bỗng nhiên ở ngay trước mắt, phát hiện thấy trong bóng râm rặng liễu xanh mát và khóm hoa tươi đẹp rực rỡ sắc màu còn có một thôn làng.

Tóm lại nghĩa là, khi tưởng rơi vào tình huống không còn đường tiến nữa thì đột nhiên có chuyển biến và hy vọng.

**Phong hồi lộ chuyển: **nghĩa là đột nhiên thay đổi. Đây là tên một chương trong truyện kiếm hiệp Bách luyện thành Tiên.


### **16. Toàn thân tràn đầy xá lợi**


Ngày xưa, khi một số hành giả đã đạt được quả vị nào đó, thì lúc họ chuyển hóa thời điểm vãng sinh thường xảy ra rất nhiều hiện tượng lạ.

1. Toàn thân hóa thành cầu vồng hiện lên trên hư không.

1. Toàn thân biến thành cầu vồng bay đi, còn lại tóc và móng tay.

1. Toàn thân đầy các hạt xá lợi lăn tới lăn lui.

1. Toàn thân rung lắc làm rơi ra các hạt xá lợi.

1. Hạt xá lợi dính trên đỉnh hộp sọ.

1. Hạt xá lợi có ở chỗ các khớp nối.

1. Xá lợi tim.

1. Xá lợi lưỡi.

1. Xá lợi máu.

1. Xá lợi ngón tay.

Tương tự như vậy…

Trong số các đệ tử của tôi có một người là tỳ kheo xuất gia đã cao tuổi, sống tại thành phố Montreal, Canada. Đó chính là pháp sư Ích Dân hơn 90 tuổi.

Lần cuối cùng tôi gặp ông là vào mùa hè năm 2012. Pháp sư Ích Dân bay từ Montreal đến Seattle gặp tôi, tôi đã cùng ông nói chuyện một lúc tại thảm cỏ trong Chân Phật Mật Uyển.

Tôi nói: "Pháp sư Ích Dân dạo này có khỏe không?"

Ông nói: "Khỏe! Khỏe! Khỏe!"

Tôi nhìn mặt của ông. Sắc mặt hồng hào, lông mày trắng phau, gương mặt vuông vức, khi cười nhìn trông như một đứa trẻ nhỏ.

Tôi hỏi:

"Thân thể có khỏe không?"

Ông đáp:

"Chân có phần hơi yếu, bây giờ đi lại cần phải chống gậy. Ai dà! Ai dà! Già rồi!" Tôi vỗ vỗ lên vai ông nói:

"Pháp sư, ông là một đại thành tựu giả, sau này ông sẽ đến được Phật quốc tịnh độ."

Pháp sư Ích Dân đáp:

"Xin Lư Sư Tôn tiếp dẫn!"

Tôi nói:

"Lần này tôi tiếp dẫn ông, lần khác ông tiếp dẫn tôi."

Pháp sư Ích Dân nói:

"Sao có thể như vậy được?"

Tôi nói:

"Sau này xá lợi của ông rất nhiều, tôi đảm bảo toàn thân ông đầy xá lợi đó!"

Tôi lại nói:

"Chúng ta đứng trước cửa Chân Phật Mật Uyển chụp một tấm ảnh, đây là cuộc gặp gỡ do bởi nhân duyên nhiều kiếp của chúng ta."

Tôi biết:

Pháp sư Ích Dân trì Thượng Sư Tâm Chú đã hơn 8 triệu biến.

Trì "Cao Vương Kinh" tới vài nghìn biến.

Trì "Chân Phật Kinh" tới vài nghìn biến.

Tu pháp Thượng Sư, pháp bổn tôn, pháp hộ pháp vô số.

Nội pháp cũng đạt thành tựu vượt trội.

Thân, khẩu, ý đều thanh tịnh.

Khí, mạch, điểm thanh tịnh.

(Đã chứng quả vị A La Hán.)

Pháp sư Ích Dân tuổi ngoài 90, mỗi lần có đại pháp hội Thời Luân Kim Cương, ông nhất định sẽ tới.

Ngày 15 tháng 5 năm 2013, tôi từ Đài Loan bay về Seattle thì biết pháp sư Ích Dân đã viên tịch rồi. Sau khi hỏa táng, toàn thân ông chuyển hóa thành xá lợi, hàng vạn vạn viên, mỗi viên to cỡ hạt gạo.

Trong những lần tôi chủ trì đồng tu, pháp sư Ích Dân hiện thân bảy lần, lần cuối cùng biến hóa thành bậc Trí Giác A La Hán, bay lên trời biến mất.

Người ta hỏi:

"Vì sao pháp sư Ích Dân thành tựu lớn như vậy?"

Tôi đáp:

"Ông tin tưởng 100% vào Căn bản Thượng sư, được sự gia trì lớn, kết quả là thành tựu lớn."


### **17. Vì sao chưa thấy Ma Ha Song Liên Trì**


Một đệ tử nữ thấy có người niệm 8 triệu biến "Liên Hoa Đồng Tử tâm chú" thì thực sự đã vãng sinh đến được Ma Ha Song Liên Trì.

Hơn nữa Lư Sư Tôn đã từng nói:

"Niệm 8 triệu biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú thì lập tức có thể vãng sinh đến Ma Ha Song Liên Trì, kiến chứng Ma Ha Song Liên Trì."

Thế là cô cũng niệm.

Khi cô niệm đến 7 triệu biến vẫn không nhìn thấy gì cả. Cô lại niệm đến 7 triệu 990 nghìn biến, cũng vẫn không nhìn thấy gì cả. Cuối cùng thì cô cũng niệm hết 8 triệu biến, cô gần như nhảy ra khỏi chỗ ngồi vì hốt hoảng.

Bởi vì khi âm thanh của tiếng niệm thứ 8 triệu vừa xong, trong một sát-na, ngay trước mắt từng đám từng lớp mây trắng phát ra ánh sáng trắng. Trong ánh sáng xuất hiện một cây ngọc như ý. Ngay chính trung tâm của cây ngọc là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.

Trên đỉnh đầu của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là các vị tổ sư của dòng truyền thừa trong lịch sử, ở vị trí cao nhất là Phổ Hiền Vương Như Lai. Cô nhận ra Phổ Hiền Vương Như Lai.

Ngay phía trước Liên Hoa Sinh Đại Sĩ có Phật Thích Ca Mâu Ni cùng chư Phật của mười phương ba cõi xung quanh.

Bên phải của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ có ba vị hộ chủ --- Văn Thù Bồ Tát, Kim Cương Thủ Bồ Tát, Quan Âm Bồ Tát. Bên trái Liên Hoa Sinh Đại Sĩ có các Thanh Văn, Duyên Giác, Thánh Chúng, ví dụ như ngài Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên.

Ở khoảng không giữa các cành lá của cây ngọc như ý là các vị Kim Cương Minh Vương Hộ pháp, các vị nam thì mặt hướng ra ngoài, còn các vị nữ thì mặt hướng vào trong.

Theo ước tính của cô thì có tới hàng nghìn vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương, Hộ Pháp, Không Hành, Chư Thiên xuất hiện, thực sự là không thể đếm được.

Cô chạy đến thông báo với tôi:

"Những gì con nhìn thấy là gì vậy?"

Tôi đáp:

"Đó là cây ngọc như ý của cảnh giới quy y đó."

Cô hỏi:

"Vì sao không nhìn thấy Ma Ha Song Liên Trì?"

Tôi đáp:

"Cây ngọc như ý mọc lên từ trong nước của tám loại công đức, nước của tám loại công đức cũng tương đương như Ma Ha Song Liên Trì."

Cô nói:

"Con không quan tâm. Con chỉ muốn nhìn thấy mười tám đại Liên Hoa Đồng Tử của Ma Ha Song Liên Trì thì mới tính!"

Tôi cười nói:

"Đừng cố chấp như vậy, cô đã niệm 8 triệu biến tâm chú, nhìn thấy trăm nghìn tỷ vị Phật, Bồ Tát, Kim Cương, Hộ Pháp, Không Hành, Chư Thiên, như vậy cũng thỏa đáng rồi!"

Cô nói:

"Con chính là muốn nhìn thấy mười tám Đại Liên Hoa Đồng Tử của Ma Ha Song Liên Trì, chỉ có như vậy mới tính."

Trong phút chốc, tôi cũng không biết làm thế nào mới được. Tôi nói:

"Thôi được! Ta sờ đầu cho cô, cô về nhà xem thử xem!"

Cô về nhà, ngày hôm sau lại tới, nói:

"Cái sờ đầu này cũng không có tác dụng gì, con vẫn không nhìn thấy mười tám Đại Liên Hoa Đồng Tử của Ma Ha Song Liên Trì."

Tôi nghe xong cũng sững người lại.

Tôi triệu thỉnh bổn tôn hạ giáng. Bổn tôn nói với tôi:

"Bảo cô ấy đọc ba biến Chân Phật Kinh, rồi lại sờ đầu, nhất định sẽ nhìn thấy!" Tôi làm theo lời của bổn tôn, bảo cô cần đọc ba biến Chân Phật Kinh, tôi lại sờ đầu cho cô.

Lần này cô vô cùng sung sướng chạy lên núi thông báo với tôi:

"Con nhìn thấy rồi, kiến chứng rồi!"

Tôi thấy rất ngạc nhiên, vì sao lần đầu tiên sờ đầu không nhìn thấy, lần thứ hai sờ đầu mới nhìn thấy.

Sau này tôi mới biết được là cô từng đem về nhà ba bản Chân Phật Kinh, rồi tiện tay ném vào trong đống báo cũ, do vậy phải đọc thêm ba lần Chân Phật Kinh, vậy thì mới có thể nhìn thấy được Ma Ha Song Liên Trì!


### **18. Bên gối có người**


Có cô gái họ Hứa kể với tôi một chuyện khiến cô cảm thấy rất phiền toái.

Có lần cô đi dự đám tang người anh trai của bạn thân. Anh trai của người bạn thân này đang lái xe máy thì bị một chiếc ô tô từ phía sau đâm phải, cả người cả xe lao xuống vực mà chết.

Khi còn sống, anh ta vốn có cảm tình với cô Hứa, hai người từng cùng nhau đi du lịch, cắm trại, picnic,… Nhưng họ vẫn chưa đến mức độ cặp đôi, các buổi gặp gỡ vẫn đều có rất nhiều người.

Sau khi cô dự đám tang người anh trai của bạn thân trở về, đúng hôm đó trời mưa, vào trong nhà có chút lạnh lẽo khiến cô cảm thấy có phần u ám. Cô thấy lạ, nhà của mình bình thường rất ấm áp, vì sao hôm nay lại lạnh lẽo như vậy?

Thêm nữa, những cảnh tượng tang thương của buổi tang lễ từ đầu tới cuối cứ lởn vởn trong đầu cô, không thể nào rũ bỏ. Đôi mắt buồn rầu trên tấm ảnh người quá cố trong tang lễ có chút ai oán, dường như cô đi đến đâu thì ánh mắt đấy cũng đi theo cô đến đó.

Cô đi tắm nước nóng, cảm thấy thoải mái được một chút rồi lên giường đi ngủ. Nhưng đến nửa đêm thì có chuyện xảy ra.

Giữa đêm cô đột ngột bị tỉnh giấc, cảm thấy dường như có người đang ngủ bên cạnh mình. Nửa tỉnh nửa ngủ, cô liếc nhìn người đang nằm ngủ bên cạnh thì không ngờ lại là anh trai của bạn thân.

Toàn thân anh có màu xanh nhạt của nước. Bảy lỗ trên thân chảy máu. Anh nói: "Hãy cưới anh đi!"

Cô hét to lên một tiếng rồi tỉnh hẳn. Cô nhìn kĩ lại lần nữa thì thấy bên giường không có ai cả. Anh đã hoàn toàn biến mất.

Từ đó, sự việc về sau vẫn liên tục xảy ra vào lúc nửa đêm. Cô hay nhìn thấy anh trai người bạn thân bay phía trên giường cô, lại nói với cô: "Hãy cưới anh đi!"

Còn nữa. Cô xoay người, sờ phải bộ xương lạnh như băng, lại là anh ta, anh ta vẫn nói: "Hãy cưới anh đi!"

Còn nữa. Trong khi ngủ, cô cảm thấy có ai đó đè lên người cô, cô đưa tay đẩy ra, người đó bay lên không trung, hóa ra lại là anh ta.

Anh lại nói với cô: "Hãy cưới anh đi!"

Gần một tháng, đêm nào cũng như vậy, phiền phức đến nỗi cô cảm thấy mình sắp phát điên mất!

Thậm chí giữa đêm, cửa tủ lạnh tự động mở.

Nửa đêm có tiếng gõ cửa, mở ra thì không có ai.

Toilet tự động xả nước.

Phòng tắm có tiếng người đang tắm, nhưng khi chạy tới xem thì lại không có ai.

Buổi sáng ngủ dậy, cửa sổ vốn đều đóng thì đều bị mở ra. Dép lê đi trong nhà không thấy đâu nữa, hóa ra bị vứt vào thùng rác.

Cô Hứa nói với tôi:

"Lư Sư Tôn, phải làm sao đây? Cứ như anh ta thực sự sống trong nhà con vậy." Tôi nói:

"Anh ta đâu chỉ sống trong nhà cô, cô đi tới đâu, anh ta đi theo tới đó, bây giờ anh ta cũng đang ở ngay bên cạnh cô đây này."

Sợ ghê! Cô Hứa hỏi:

"Phải làm sao đây?"

Tôi nói:

"Chỉ là chuyện vặt. Thứ nhất, tôi sẽ kết thủ ấn tứ tung ngũ hoành gia trì cho cô, tiếp đó kết giới, anh ta sẽ không thể đến gần cô. Thứ hai, tôi sẽ an vị bốn chiếc khiên Thời Luân Kim Cương vào bốn góc nhà ở, anh ta không thể đi vào trong nhà cô. Thứ ba, cô trì tâm chú của tôi, anh ta mà tiến đến gần sẽ bị hất văng ra ngoài."

Cô Hứa đều nghe và làm theo. Quả nhiên bình an vô sự, tất cả đều trở lại như bình thường.

Sau này, có một đêm thấy anh chàng kia bám theo, tôi quay người, hai tay kết "luân hồi ấn". Linh thể của anh bị hút vào trong "luân hồi ấn", đã đi luân hồi chuyển thế rồi!

Tôi cười lớn ha ha ha!


### **19. Thành Hoàng hiện trong lòng bàn tay**


Có một người nọ, anh không phải tín đồ Phật giáo, cũng không phải là tín đồ tôn giáo nào khác. Từ trước tới nay anh đều không tín ngưỡng thứ gì cả.

Anh là quân nhân chuyên nghiệp, lúc còn nhỏ gia cảnh nghèo khó. Trải qua nhiều khó khăn vất vả, sau này anh đầu quân vào trường quân đội. Tốt nghiệp xong, anh sống cuộc sống kiểu quân ngũ.

Cuộc sống quân ngũ rất đơn thuần.

Con người anh thật thà chất phác.

Rượu chè cờ bạc đều không dính nhiễm.

Phong hoa tuyết nguyệt cũng chẳng dính mắc. (*)

Ăn uống chơi bời, hiếm lắm mới có.

Anh thích đọc sách, khá thích sự yên tĩnh, quanh năm nghiền ngẫm kiến thức, chỉ thỉnh thoảng mới đi xem phim.

Lại cộng thêm:

Trong quân đội rèn luyện được sức mạnh ý chí kiên cường.

Cuộc sống bình thường rất có kỉ luật.

Thói quen hành vi sạch sẽ gọn gàng.

Anh cho rằng:

Giữ sự thanh tịnh đơn thuần so với việc lạy Phật tụng kinh, cũng không khác gì nhau cả.

Giữ phẩm chất đạo đức không khiếm khuyết trong phòng tối thì cũng giống như giữ giới luật của Phật giáo thôi.

Do vậy anh chẳng tin chuyện gì cả! Bạn bè vài lần khuyên nên tin Phật, nhưng anh cũng không lay chuyển.

Anh sống mỗi ngày:

Đi làm về nhà.

Phục vụ quân đội.

Không chút đòi hỏi.

Có một hôm, lúc đi đại tiện thì thấy có máu tươi, anh rất sợ hãi, suốt cả mấy tuần đều bị như vậy. Anh mua thuốc trị viêm đường ruột để uống nhưng vô hiệu. Anh đi khám bác sĩ, uống thuốc kháng sinh, cũng vô hiệu.

Cuối cùng, anh đi chụp nội soi đường ruột thì phát hiện ra u ác tính (ung thư). Bác sĩ phụ trách khuyên nên phẫu thuật cắt bỏ u. Anh có chút e sợ, bởi vì phẫu thuật cắt khối u sẽ để lại di chứng về sau.

Có người bảo, trên núi Hổ ở Thảo Đồn có ngôi chùa Lôi Tạng Tự, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn sờ đầu thường có kì tích.

Anh hừ mũi nhạo báng, nói:

"Âm dương rạch ròi, yêu ma hoặc chúng!"

Người đó vẫn khuyên anh nên thử xem thì anh nói:

"Người chỉ trích Lư Thắng Ngạn rất nhiều, những lời bình phẩm thực sự chẳng tốt đẹp gì, tôi không tin."

Người kia không thuyết phục được nữa nên thôi, chỉ tặng anh một cuốn sách có tên *Bảy mươi tiên mộng*. Anh đọc sách, cảm thấy có nhiều điều mới mẻ. (Cuốn sách *Bảy mươi tiên mộng*.)

Sau đó người bạn kia lại tới khuyên. Lúc này, cảm thấy khó từ chối thịnh tình của người bạn, lại cũng không tốn kém gì, thế là anh cũng đi thử xem sao.

Lúc tôi sờ đầu tới anh, thì nhìn thấy ánh sáng trong lòng bàn tay xuất hiện Thành Hoàng tới cứu anh ta.

Tôi nói:

"Có Thành Hoàng đến cứu anh này!" (Thành Hoàng là vị thần làm chủ của một địa phương.)

Anh đáp:

"Vớ vẩn, tôi chẳng tin tôn giáo nào hết. Thành Hoàng này ở đâu tới vậy?"

"Anh có thờ cúng ngài không?"

"Đương nhiên là không!" Anh đáp.

Tôi hỏi:

"Anh có chắc là không có mối liên hệ gì không? Anh tự mình nghĩ xem, thử nghĩ lại xem, chắc chắn sẽ có nguyên nhân."

Người quân nhân này đột nhiên nhảy dựng lên nói:

"Tôi nhớ ra rồi, khi tôi còn nhỏ, kế bên nhà tôi chính là miếu Thành Hoàng. Tôi thường vào trong miếu chơi. Bắt chước theo người lớn, tôi cũng chắp tay cúi đầu lạy. Từng có một lần bố mẹ cho tôi một ngọn đèn để đặt vào trong miếu."

Trời ạ! Quá chuẩn!

Cả đời anh ta chỉ chắp tay trước Thành Hoàng, chỉ cúi lạy Thành Hoàng.

Sau khi tôi sờ đầu cho anh, kì tích xảy ra là khối ung thư của anh tự biến thành nhỏ, rồi nhỏ biến thành không có gì.

Bác sĩ phụ trách vốn tưởng là phải cắt bỏ khối u, nhưng giờ chẳng còn gì để cắt nữa.

Anh đến cảm ơn tôi, và cũng quy y tôi.

Tôi nói:

"Đi cảm ơn Thành Hoàng đi!"

Anh đáp:

"Miếu Thành Hoàng ở Bành Hồ, khi nào rảnh con sẽ đi!"

**Phong hoa tuyết nguyệt**: ý nói những việc lăng nhăng ong bướm.


### **20. Thiên sứ Gabriel**


Ngày 22 tháng 5 năm 2013, khi đó tôi đã trở về chùa Seattle Lôi Tạng Tự ở nước Mỹ.

Sáng sớm ngày 22 đó, trong lúc đang ngủ, tôi mơ mơ hồ hồ nhìn thấy một người với đôi cánh trắng dài, trong đạo Thiên Chúa hoặc đạo Cơ Đốc thì người này được gọi là Thiên sứ.

Thiên sứ này nói với tôi:

"Tôi là thiên sứ Gabriel!"

Tôi hỏi:

"Có việc gì cần sao?"

Thiên sứ nói với tôi:

"Lúc đến sẽ biết."

Trong lúc mơ mơ hồ hồ, tôi chỉ nghe thấy cái tên "thiên sứ Gabriel", những việc khác đều không biết.

Đến chập tối ngày 22, sau khi tôi ăn tối xong, có một người già chống gậy đi tới xin tôi gia trì. Người này đưa cho tôi một mảnh giấy, trên đó viết: "Tuần này tôi đã bị ngã hơn 10 lần, bác sĩ chụp cắt lớp cho thấy trong đầu tôi có một cục máu đông. Bác sĩ cho rằng cần lấy cục máu đông này ra thì tôi mới không bị ngã nữa. Xin Lư Sư Tôn gia trì cho tôi."

Tôi lập tức đưa tay ra đặt lên trên đỉnh đầu của ông.

Tôi tập trung tinh thần quán tưởng bổn tôn Diêu Trì Kim Mẫu. Nhưng kết quả là Diêu Trì Kim Mẫu không đến, thay vào đó là thiên sứ Gabriel xuất hiện. Thiên sứ Gabriel đến để giúp đỡ cụ già này.

Bất kể là ai gia trì! Dòng chảy pháp từ trong lòng bàn tay tôi đều tuôn chảy đi vào từ đỉnh đầu của cụ già.

Tôi nói: "Sẽ có kì tích!"

Tôi nói: "Ông sẽ khỏe lại!"

Ngày 23 tháng 5, cụ già đến gặp bác sĩ để chụp cắt lớp lại, quét một lần không thấy cục máu đông. Quét lại lần hai, vẫn không thấy cục máu đông.

Bác sĩ lấy tấm phim chụp cắt lớp ra xem. Lần trước rõ ràng là có cục máu đông to. Lần này hai lần chụp đều không thấy đâu nữa.

Bác sĩ hét to: "Có ma!"

Bác sĩ nói: "Thật không thể tưởng tượng được!"

Cụ già nói vài ngày tới sẽ đến cảm ơn tôi. Vài ngày sau cụ đến, tôi rất tò mò hỏi: "Thiên sứ Gabriel là ai vậy?"

Cụ già đáp:

"Tôi không biết."

Tôi hỏi:

"Nhà cụ có tượng của thiên sứ nào không?"

Cụ già suy nghĩ một lúc rồi nói:

"Con trai tôi có lần đi công tác ở Syria, đã nhìn thấy một bức điêu khắc thiên thần bằng gỗ rất đẹp trong một tiệm bán đồ cổ ở Syria bèn thỉnh về. Đem về nhà, con trai tôi để bừa ở một nơi trong nhà. Tôi nhìn thấy tượng thiên sứ có đôi cánh đẹp, nghĩ hẳn phải là thần thánh, tôi liền đem tượng thiên sứ đặt ở trên giá cao nhất trong tủ trưng bày của mình để bày tỏ sự cung kính. Tôi cũng không rõ đây là thiên sứ của Thiên Chúa giáo hay Cơ Đốc giáo, tôi cũng chẳng hiểu chút gì cả."

Cuối cùng, tôi tự mình đi tìm hiểu về thiên sứ Gabriel. Sau khi tìm hiểu xong thì giật nảy mình vì ngạc nhiên!

Theo đạo Hồi, khi Mohammad 40 tuổi, trong thời gian lui vào trong một hang núi, hang Hira, cách Mecca ba dặm, có một vị thiên sứ xuất hiện, xác nhận rằng ông là một nhà tiên tri được thánh Allah đích thực phái đến, và tiết lộ rằng chân lý mà ông cần phải truyền bá rộng rãi đều được ghi trong kinh Koran.

Tên của vị thiên sứ đã tiết lộ điều này quả nhiên chính là: Thiên sứ Gabriel!


### **21. Cô cần mời Lư Sư Tôn xoa bụng**


Một cô gái trẻ từ sau khi mang thai thường cảm thấy nôn nao, buồn nôn, cơ thể cảm thấy khó chịu, cô bị nôn đến mức có cảm giác ngay cả thai nhi trong bụng cũng bị rơi tụt xuống. Có lần cô còn bị chảy máu.

Cô gái đi khám bác sĩ. Bác sĩ nói:

"Rất dễ sảy thai, cô cần nằm nghỉ mới có thể giữ được đứa bé này." Vậy là cô liền làm theo chỉ dẫn của bác sĩ, nếu không có việc gì thì ít đi lại, phần lớn thời gian là cô nằm trên giường.

Cô gái là người tin Phật. Có sư phụ của chùa Phổ Tế đến thăm cô, bảo cô rằng: 1. Niệm chú Đại Bi, uống nước chú Đại Bi.

1. Niệm Phổ Môn Phẩm, có thể giúp cho việc sinh đẻ khó.

1. Niệm kinh Dược Sư, có thể giải được các bệnh tật khác.

Cô gái bèn làm theo lời dạy của sư phụ, niệm chú Đại Bi, niệm Phổ Môn Phẩm, niệm kinh Dược Sư. Kết quả là cô có cảm ứng rất tốt. Cô nằm nghỉ ngơi hai tháng thì hài nhi đã cố định chắc chắn, không có cảm giác bị tụt xuống nữa, cơ thể cũng cảm thấy thư thái hơn rất nhiều.

Cô đến chùa Phổ Tế để cúng dường tăng chúng, nghe Phật pháp, phát Bồ Đề tâm, làm công đức. Sư phụ giảng về phương pháp uống thuốc a-cà-đà cho cô nghe, cô vô cùng vui sướng.

Đến khoảng tháng thứ bảy hay thứ tám của thai kì, bác sĩ kiểm tra định kì thì phát hiện ra thai nhi có ngôi thai ngược.

Trước khi sinh thì đầu đứa bé cần hướng xuống dưới và chân hướng lên trên, nhưng trong trường hợp của cô, chân đứa bé hướng xuống dưới còn đầu thì hướng lên trên. Bác sĩ dùng hình ảnh để hướng dẫn cô các bài tập vận động có tác dụng từ từ hướng thai nhi xoay đầu xuống dưới, tới lúc sinh con thì đầu sẽ hướng xuống dưới chân hướng lên trên.

Cô gái rất nghiêm túc thực hiện theo. Khi ngày sinh gần kề, bác sĩ siêu âm phát hiện thấy thai nhi đã hướng đầu xuống dưới rồi, còn chân thì hướng lên trên, thực sự là rất tuyệt vời.

Nhưng khi bác sĩ đặt ống nghe lên bụng kiểm tra thì không ngờ lại không nghe thấy tiếng nhịp tim. Kiểm tra kĩ càng hơn thì quả nhiên là không còn nhịp tim nữa. Thai nhi đã chết rồi!

Bác sĩ thở dài một hơi.

Cô gái trẻ mặt tái nhợt.

Làm sao đây?

Cô gái trẻ chỉ còn cách nghe theo lời bác sĩ rằng cần phải lấy thai nhi đã chết lưu ra.

Sau khi cô gái trở về nhà, buổi tối đó cô trằn trọc không ngủ được, cảm thấy vô cùng đau buồn. Cuối cùng khi cô vừa ngủ thiếp đi, cô nhìn thấy Quan Âm Bồ Tát từ tấm tranh tướng treo trên tường bước ra nói với cô: "Cô cần đi xin Lư Sư Tôn xoa vào bụng!"

Nói xong, ngài lại đi trở vào bức tranh tướng Quan Âm Bồ Tát.

Lần đầu tiên cô cho rằng chính mình ban ngày nghĩ sao thì ban đêm mơ vậy.

Nhưng đến đêm thứ hai, Quan Âm Bồ Tát lại nói với cô:

"Cô cần đi xin Lư Sư Tôn xoa vào bụng!"

Lần này cô mới hỏi:

"Lư Sư Tôn là ai?"

Có người nói với cô Lư Sư Tôn thuyết pháp ở Lôi Tạng Tự, thế là cô thực sự đã đi và xếp hàng trong đám đông. Khi tôi đi qua, cô đưa cái bụng to ra và nói:

"Xin Lư Sư Tôn chạm vào thai nhi trong bụng! Thai nhi không còn nhịp tim."

Tôi giật mình rồi vỗ nhẹ một cái. Chỉ như vậy thôi, rồi đột nhiên tim của đứa bé bắt đầu đập trở lại. Sau đó cô sinh được một đứa bé trai trắng trẻo, mũm mĩm và khỏe mạnh.

Cô gái trẻ này sau đó đã giới thiệu rất nhiều người đến để quy y tôi!


### **22. Thất da Bạch Vô Thường**


Có một lần tôi đi đến khu chợ đêm.

Người ở chợ đêm lúc nào cũng đông nghìn nghịt, nam nữ đi lại tấp nập. Người bán hàng rong trên phố rất nhiều, các hàng quán ăn vặt và quần áo là nhiều nhất, tiếp theo là các cửa hàng khác, công việc kinh doanh đặc biệt tốt.

Tôi lại nhớ đến bài kinh cầu nguyện làm ăn phát đạt.

*Tôi bước ra khỏi cửa*

*Vừa bước ra là gặp Quan Thế Âm.*

*Chư Phật ở phương Đông.*

*Chư Phật ở phương Tây.*

*Chư Phật ở phương Nam.*

*Chư Phật ở phương Bắc.*

*Tất cả hàng hóa của tôi đều bán hết sạch.*

Tôi cứ niệm rồi niệm, nghĩ đến những người bán hàng rong ở chợ đêm, tôi thấy rằng bài kinh cầu nguyện này thực sự tuyệt vời và thích hợp để cho họ niệm.

Lúc này, có một người lạ đặc biệt chú ý tới tôi, tôi cũng liếc nhìn anh ta một cái. Người lạ này cũng đi thăm thú chợ đêm. Anh có vẻ ngoài khỏe khoắn, chiều cao trung bình, mặt vuông chữ điền, da ngăm đen.

Tôi nhìn sau lưng anh thì thật ngạc nhiên, hóa ra sau lưng anh có một vị Thất da Bạch Vô Thường, vô cùng cao lớn, trên đầu viết mấy chữ "nhất kiến đại cát" (*). Vị Bạch Vô Thường này vô hình, là Thất da phó tướng của lão Thành Hoàng. Tôi vô cùng kinh ngạc!

Người lạ này nói với tôi:

"Ngài có phải là Sư Tôn Lư Thắng Ngạn không?"

Tôi đáp:

"Đúng vậy. Là tôi."

Người lạ nói:

"Từ lâu tôi đã đọc sách của ngài, hơn nữa cũng từng xem ngài thuyết pháp trên tivi, rất có ấn tượng."

Tôi nói:

"Cảm ơn anh!"

Người lạ nói:

"Tôi nghe người ta nói thần toán của ngài là chính xác số một, có thể xin ngài bói thử cho tôi được không?"

Tôi hỏi:

"Bói việc gì?"

Người lạ đáp:

"Bói về nghề nghiệp!"

Ở ngay trên đường lớn, tôi đưa tay ra, nhìn ánh sáng trên tay tôi, trong ánh sáng lại xuất hiện vị Bạch Vô Thường (vị *nhất kiến đại cát* kia). Quái lạ! Quái lạ!

Vì sao lại là Thất da Bạch Vô Thường nhỉ? Tôi bị làm cho mơ hồ mất rồi, nghề nghiệp của người này và Thất da Bạch Vô Thường thì có liên quan gì với nhau đây?

Người lạ cười nói:

"Nghề nghiệp của tôi không dễ đoán, phải không?"

Tôi rất bối rối, bởi vì ngoài việc nhìn thấy Bạch Vô Thường ra, tôi chẳng nhìn thấy gì khác. Tôi nghĩ, liệu có phải người này sớm sẽ bị Thất da Bạch Vô Thường đem đi không, sinh mệnh không giữ được thì nghề nghiệp cũng chẳng thể đoán được?

Người lạ nói:

"Ông không đoán được, ha ha!"

Tôi nói:

"Nói thật là tôi thực sự không đoán được, nhưng từ ánh sáng trong lòng bàn tay tôi, tôi nhìn thấy một vị màu trắng là Thất da Bạch Vô Thường, nhưng Bạch Vô Thường này và nghề nghiệp của anh có liên quan gì với nhau không?"

Lúc này người lạ kia sững người lại. Anh ta quỳ xuống trước tôi xin được quy y. Tôi hỏi:

"Vì sao vậy?"

Người lạ đáp:

"Lư Sư Tôn, tôi nói thật với ngài! Tất cả những người xem bói tôi đều đã xem qua rồi, họ đều không bói được nghề nghiệp của tôi. Nghề nghiệp của tôi chính là thế này: trong các nghi thức đón thần linh, tôi là người mang biểu tượng của Bạch Vô Thường."

**Thất da Bạch Vô Thường:** ông thần Bạch Vô Thường thứ bảy (gọi là da, không phải gia, da là tiếng tôn xưng bậc trên hoặc chủ nhân).

Trong các điện thờ Địa Tạng Bồ Tát hoặc Thập Điện Diêm Vương, người ta vẫn thường thấy tượng thờ hai vị tiểu thần, một trắng một đen, ấy chính là Hắc Bạch Vô Thường, tục xưng là Vô Thường Nhị Da, chuyên tróc nã ác quỷ.

**Nhất kiến đại cát:** chỉ cần nhìn thấy ta là sẽ được may mắn.


### **23. Ai có thể quán đảnh cho tôi trong giấc mơ**


Có một người trẻ tuổi rất tin tưởng vào các pháp của Mật giáo. Anh đã đọc rất nhiều sách của tôi, nhưng anh vẫn chưa quy y. Anh vẫn luôn muốn tìm một vị Căn bản Kim cương Thượng sư người Tây Tạng thì mới đi quy y nhận quán đảnh.

Lý do anh không quy y Lư Sư Tôn là như sau:

Lư Sư Tôn là người Hán, là người Đài Loan. 2. Truyền thừa của Lư Sư Tôn khó phân biệt thật giả. 3. Những lời chỉ trích phê bình quá nhiều. 4. Mật pháp của Lư Sư Tôn khó phân biệt thật giả. 5. Chân Phật Tông cũng có khả năng là một tôn giáo giả mạo.

Anh chàng trẻ tuổi này rất muốn đi tìm gặp Chatral Rinpoche (*) để quy y và nhận quán đảnh từ ngài, bởi vì Chatral Rinpoche là bậc trưởng lão vĩ đại của dòng phái mũ đỏ và mũ trắng, trong lòng anh luôn hướng về ngài. Chatral Rinpoche đã hơn 100 tuổi rồi!

Một hôm, anh đọc một tờ tin tức thấy Phật mẫu của Chatral Rinpoche là ngài Kamala sắp đến thăm Đài Loan Lôi Tạng Tự. Thế là anh bèn đến Đài Loan Lôi Tạng Tự. Lần này đến anh vô cùng sửng sốt.

Hóa ra có hàng vạn người từ khắp mọi nơi trên thế giới đổ về Đài Loan Lôi Tạng Tự. Phật mẫu Kamala ngồi ở hàng ghế thứ nhất dành cho khách quý, ngài nghe Lư Sư Tôn thuyết pháp, liên tục gật gật đầu.

Anh chen lên trước đám đông để cố gắng nói vài lời từ đáy lòng mình với ngài Kamala, nhưng có mấy người bảo vệ xung quanh Phật mẫu Kamala rồi, do vậy anh từ xa xa hỏi với tới: "Lư Sư Tôn có phải là Phật sống chuyển thế không?" Phật Mẫu đáp: "Đúng vậy." Lại hỏi: "Chatral Rinpoche có bình luận gì về Lư Sư Tôn không?" Phật Mẫu đáp: "Anh hùng trẻ tuổi."

Anh muốn hỏi tiếp nhưng bị đám người xung quanh chặn lại.

Ngày hôm đó, dù không quan tâm nhưng anh đã nhận được quán đảnh "Câu Tài Thiên Nữ". Anh vốn chỉ đến Đài Loan Lôi Tạng Tự để bày tỏ lòng ngưỡng mộ đối với Phật mẫu Kamala mà thôi.

Anh chàng trẻ tuổi này lại nghe người ta nói màn sờ đầu của Lư Sư Tôn vào buổi tối còn lợi hại hơn nữa, rất nhiều kì tích xảy ra. Anh liền ở lại, chuẩn bị để Lư Sư Tôn sờ đầu.

Anh nghĩ:

"Từ lâu mình đã mong nhận được quán đảnh bổn tôn phẫn nộ, nhưng đã đi rất nhiều đạo tràng Tạng mật rồi, rất nhiều vị Lama đều không ban cho quán đảnh. Khi sờ đầu, mình sẽ cầu nguyện nhận được quán đảnh này, xin Lư Sư Tôn trong mơ quán đảnh cho mình. Nếu không có quán đảnh trong mơ thì Lư Sư Tôn này chính là giả. Nếu như có, thì lúc đó mới xem xét tiếp!"

Anh đứng xếp hàng trong đám đông để được sờ đầu.

Tối đó, anh ngủ mơ, quả nhiên Lư Sư Tôn xuất hiện, Lư Sư Tôn nói: "Ta biết anh muốn được quán đảnh bổn tôn phẫn nộ." Anh chàng trẻ tuổi hỏi: "Thế sao ngài còn chưa quán đảnh cho tôi?" Tôi nói: "Quán đảnh cũng cần phải theo thứ tự, ngay cả quy y anh còn chưa quy y thì làm sao tôi có thể quán đảnh cho anh đây?"

Có được giấc mơ này, anh mới làm theo những phương pháp mà tôi dạy, chính thức quy y Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Sau khi quy y xong, Liên Sinh Hoạt Phật mới chính thức ban cho đệ tử này quán đảnh bổn tôn phẫn nộ.

Anh chàng trẻ tuổi này quả nhiên rất tinh tấn, có hiện tượng cảm ứng ban đầu.

Anh nói: "Tất cả mọi điều về Lư Sư Tôn đều là thật!"

**Chatral Rinpoche**: pháp danh là Chatral Sangye Dorje Rinpoche (1913 - 2015), nghĩa là "Phật Vô úy bậc từ bỏ mọi hoạt động tầm thường", là một trong những vị yogi chứng ngộ nhất của Phật giáo Tây Tạng. Năm 1947, ngài đã có địa vị cao quý của một bậc Giáo thọ sư của lãnh đạo xứ Tây Tạng, Nhiếp chính Reting, nhưng ngài luôn thích sống như một vị yogi bình thường không bị xao lãng bởi danh tiếng và tiền bạc.

Ngài thực hành điều ngài thuyết giảng mà không có sự thỏa hiệp nào, và kết quả là, ngài được yêu quý bởi người dân thuộc mọi tôn giáo ở khắp vùng Himalaya.


### **24. Thành tâm niệm Phật đi**


Có một cư sĩ già luôn cảm thấy mình đã già rồi.

Ông đã tu pháp chuyết hỏa của Mật giáo được vài năm mà vẫn chưa thấy có cảm giác gì cả. Phần dưới cơ thể ông vẫn cảm thấy yếu và lạnh. Ông tu pháp minh điểm, minh điểm không hạ xuống. Ông tu pháp nâng lên, minh điểm cũng không đi lên. Ông tu khí đi vào trung mạch nhưng cũng chỉ nín thở được chưa đến một phút, thậm chí nửa phút cũng chưa được, chỉ có thể nín thở được khoảng mười giây thôi. Ông tu pháp bảo bình khí cũng không thành.

Ông cảm thấy rất nản lòng.

Có một lần, tôi sờ đầu cho ông. Tối đó ông nằm mơ. Lư Sư Tôn nói với ông: "Thành tâm niệm Phật đi!"

Cư sĩ già chạy tới nói với tôi:

"Lư Sư Tôn, tôi nằm mơ thấy ngài bảo tôi rằng hãy thành tâm niệm Phật đi! Xin ngài dạy tôi thành tâm niệm Phật là như thế nào?"

Tôi nói với ông:

"Trung tâm đàn thành của ông thờ A Di Đà Như Lai, bên phải thờ Quan Thế Âm Bồ Tát, bên trái thờ Đại Thế Chí Bồ Tát. Tam tôn như vậy là được rồi.

Cúng hoa, hương, đèn, trà, quả. (Ngũ cúng)

Cúng hoa, hương, đèn, trà, quả, nước thanh tịnh, nước tắm, ốc như ý. (Bát cúng) Đều được cả.

Mỗi ngày vào sáng và tối niệm tụng, rửa tay, xúc miệng, dâng hương trước Phật, dâng trà, chắp tay cúi lạy niệm Phật.

Nhất tâm đảnh lễ, Nam mô Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Thánh tôn. (Nhắc lại ba lần, ba lạy.)

Nhất tâm đảnh lễ, Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (Ba lần, ba lạy.)

Nhất tâm đảnh lễ, Nam mô Tây phương A Di Đà Phật.(Ba lần, ba lạy.)

Nhất tâm đảnh lễ, Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát. (Ba lần, ba lạy.)

Nhất tâm đảnh lễ, Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát. (Ba lần, ba lạy.)

Nhất tâm đảnh lễ, Nam mô Thanh tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. (Ba lần, ba lạy.)

Sau đó hồi hướng:

*Nguyện ai cùng niệm Phật*

*Cùng sinh cõi Cực lạc*

*Trên báo bốn ân sâu*

*Dưới giúp ba đường khổ*

*Thấy Phật thoát sinh tử*

*Độ tất cả như Ngài.*

(Nếu ai đồng thời niệm chú thì có thể niệm: Om Amite waseh. Om Mani padme hum. Om xixi suo soha.)

Thực hiện nghi lễ này ngày hai lần vào buổi sáng và tối. Bình thường có thể niệm nhiều câu Nam Mô A Di Đà Phật mọi lúc mọi nơi, có thể đếm hoặc không đếm."

Cư sĩ già hỏi tôi:

"Có thể đọc Kinh A Di Đà không?"

Tôi nói:

"Đương nhiên là có thể."

Cư sĩ già hỏi tôi:

"Có thể đọc kinh Cao Vương Quan Thế Âm không?"

Tôi nói:

"Đương nhiên là có thể."

Cư sĩ già hỏi:

"Có thể đọc Chân Phật Kinh không?"

Tôi nói:

"Đương nhiên là có thể."

Cư sĩ già hỏi:

"Có thể đọc thêm chú Vãng sinh không?"

Tôi nói:

"Đương nhiên là có thể."

Cư sĩ già hỏi:

"Có thể………….?"

Tôi cười:

"Cái gì cũng đều có thể, chỉ cần có thời gian, nhưng quan trọng nhất là hai lúc buổi sáng và buổi tối."


### **25. Quan Thế Âm Bồ tát bảo tôi đến**


Có một lần sờ đầu, dòng người vẫn còn rất đông, nhưng tôi phát hiện ra trong dòng người đó có một "phi nhân".

Người người chen lấn xô đẩy, ai cũng vươn đầu ra muốn tôi sờ đầu. Nhưng trên đầu những người này có một thứ vô hình cứ bay lên bay xuống, bay qua trái qua phải trên đầu mọi người. Mặc dù tôi thấy nhưng tôi cũng không nói gì. Tôi chỉ đưa tay ra trong hư không chạm vào một cái.

Nó cười! Rất vui sướng!

Tôi cũng cười!

Bởi vì "phi nhân" này đến một cách rất kì quặc, giống như con chuồn chuồn, bay lên bay xuống, bay trái bay phải. Thỉnh thoảng nó lại đưa đầu ra chính là muốn tôi sờ thêm một chút nữa. Cứ như vậy tổng cộng tôi sờ đầu nó 32 lần.

Tôi hỏi:

"Mi là ai?"

Nó đáp:

"Tinh linh."

Tôi hỏi:

"Mi đến sờ đầu làm gì?"

Nó đáp:

"Quan Thế Âm Bồ Tát bảo tôi đến."

Tôi hỏi:

"Quan Thế Âm Bồ Tát bảo mi đến để được sờ đầu 32 lần, có ý nghĩa đặc biệt gì không?"

Nó đáp:

"Tôi có thể nhờ vào pháp lực gia trì mà tiêu trừ được một vài chướng ngại, thanh tịnh chính bản thân mình. Quan Thế Âm Bồ Tát thương xót tôi là một tinh linh, sau khi nghiệp chướng được tiêu trừ và tôi được sờ đầu 32 lần, tương lai tôi sẽ có 32 biến hóa thân."

"Giống như là 32 ứng hóa của Quan Âm à?"

"Đúng vậy."

"Để làm gì với chúng?" - Tôi hỏi.

Nó đáp:

"Ở phương Nam có một ngôi miếu nhỏ do người dân trong làng mới xây.  Chủ thần của miếu này là Quan Thế Âm Bồ Tát. Bồ Tát bảo tôi đến đó sống, lấy miếu làm nơi an cư lập nghiệp, đừng đi lang thang khắp nơi nữa."

Tôi "ha" lên một tiếng.

"Này tinh linh nhỏ bé, mi có đức có năng gì mà được vào trong miếu nhận hương hỏa của nhân gian, lại còn có thêm sự tin tưởng nhờ danh của Quan Thế Âm Bồ Tát?"

Nó đáp:

"Tôi tuy là tinh linh, nhưng từ trước tới nay chưa hại người, trái lại tôi âm thầm giúp đỡ người ta. Bồ Tát thương tôi, nhận thấy tinh linh có thể dạy được. Để có thể sống tại miếu và giúp đỡ người ta, Bồ Tát mới kêu tôi đi nhận lấy 32 cái sờ đầu để hiển lộ 32 ứng hóa thân của Quan Âm mà đi cứu độ chúng sinh."

Tôi nghe xong rất cảm động.

Dù tinh linh chỉ là tinh linh.

Nhưng cả đời vẫn biết không làm hại một chúng sinh nào.

Lại còn tận lực đi cứu độ chúng sinh.

Việc trước là Tiểu thừa.

Việc sau là Đại thừa.

Tinh linh cũng có thể tu thành Bồ Tát! Hiếm có hiếm có!

Tôi hỏi:

"Ngôi chùa trong tương lai của ngươi tên gì?"

Nó đáp:

"Chùa A."

Vào năm nọ khi tôi đi đến một vùng nông thôn ở Cao Hùng, có một vị Bồ Tát hiện thân nói với tôi:

"Sắp tới chùa A rồi!"

Tôi vừa nhìn ra bên ngoài cửa sổ xe ô tô, nhìn thấy ở chân đồi có một ngôi chùa, quả nhiên là chùa A. Tường đỏ ngói xanh, trông khá ấn tượng. Tôi kinh ngạc:

"Đây là chùa của người?"

Vị Bồ Tát đáp:

"Miếu nhỏ đã thành chùa lớn rồi!"


### **26. Một đám cháy**


Có một đôi vợ chồng là tộc người tóc bạc đã nghỉ hưu, hiện tại thường hay đi du lịch. Họ đi du lịch về, cứ đến thứ bảy đều đến tham dự buổi đồng tu hoặc pháp hội của chúng ta.

Họ thích rong ruổi trên những chiếc du thuyền lớn, ở trên du thuyền bảy ngày bảy đêm, ngày tháng dài ngắn chẳng bận lòng, tự do tự tại.

Họ đã đi tới Alaska.

Họ đã đi tới vùng biển Caribbean.

Họ đã đi tới châu Âu.

Họ đã đi tới Đông Nam Á, Đông Bắc Á………..

Đều là cưỡi du thuyền lớn đi khắp các nơi trên thế giới.

Họ nói đi du lịch khắp thế giới thì đi du thuyền là hay nhất, cả con tàu giống như một công viên nước khổng lồ vậy.

Bạn thích ăn --- có nhà hàng ẩm thực các nước.

Bạn thích uống --- có quán bar, quán cà phê.

Bạn thích chơi --- có câu lạc bộ đêm, rạp chiếu phim, hát karaoke, bể bơi, phòng xông sauna, sòng bài, tất cả mọi thứ đều có.

Bạn thích vui vẻ --- có yoga, có vũ trường, khiêu vũ cộng đồng, phòng thể dục, có bàn chơi mạt chược, v.v.

Đi trên du thuyền lớn giống như "rời xa chốn nhân gian, tới thiên đường trên biển" vậy. Quên hết tất cả phiền não. Mỗi khi du thuyền đến một thành phố nào đó đều sẽ cập bến, dừng lại cho du khách trên thuyền đi vào thành phố dạo chơi, buổi tối quay lại du thuyền, tiếp tục du hành đến trạm kế tiếp.

Hai vợ chồng vừa mới từ quốc đảo ở nam Thái Bình Dương trở về, họ đã lại chuẩn bị bay đi Orlando, Florida để lên du thuyền đi đến Bahamas. Tôi nghe xong thấy vô cùng ngưỡng mộ.

Lúc rời đi, đôi vợ chồng xin tôi dùng tay sờ đầu gia trì, cầu thượng lộ bình an. Tôi đưa tay ra đặt trên đầu họ. Cảm ứng có vẻ không giống như bình thường. Máu tôi dồn về tim, toàn thân nóng bừng, giống như cơ thể bị lửa đốt vậy.

Lần này tôi sờ đầu gia trì lâu hơn một chút, rồi lại cẩn thận xem ánh sáng trong lòng bàn tay, tôi nhìn thấy:

"Một đám cháy lớn đang cháy!"

Lần này tôi không dám nói: "Thượng lộ bình an!"

Tôi chỉ nói:

"Hình như có chút gì đó không ổn lắm!"

Đôi vợ chồng cũng cảm thấy ngạc nhiên bèn hỏi:

"Cái gì không ổn vậy?"

Tôi đáp:

"Cháy!"

Đôi vợ chồng hỏi:

"Có nghiêm trọng không?"

Tôi đáp:

"Tôi chỉ nhìn thấy một đám lửa, không nhìn thấy gì khác nữa, khả năng là không có chuyện gì đâu."

(Tôi nói một cách thành thật.)

Đôi vợ chồng cười nói:

"Chúng tôi đi du lịch trên du thuyền lớn, thuyền trưởng là bạn của chúng tôi, sẽ không có vấn đề gì đâu. Chuyến đi lần này là đi trên du thuyền lớn nhất thế giới đó."

Tôi chúc phúc cho họ.

Tôi thực sự chẳng ngờ là chiếc du thuyền lớn nhất thế giới này trên hành trình du ngoạn của mình, tới vùng biển Caribbean, cả một tua-bin đã bắt lửa cháy, ngọn lửa dữ dội đã thiêu rụi cả khu vực phòng ăn và phòng khách không còn gì cả.

Tất cả hành khách tập trung lại trên boong tàu chuẩn bị thuyền cứu sinh để thoát khỏi tàu. Thật sự là một cảnh hỗn loạn lớn. Ba nghìn người lên những con thuyền cứu sinh, ai nấy đều hoảng loạn.

Cuối cùng tất cả đều được cứu, thật là trong cái rủi vẫn còn cái may!


### **27. Đứa cháu lên thiên đường**


Một cụ già rất yêu thương cháu mình. Ông có một đứa cháu trai tên gọi là Hựu Hựu. Khi Hựu Hựu sinh ra thì bố của cậu đã qua đời rồi. Người mẹ đã giao Hựu Hựu cho ông chăm nom để đi làm xa, vì vậy tình cảm ông cháu gắn bó rất sâu đậm.

Từ lúc Hựu Hựu còn nhỏ xíu ông nội đã chăm sóc cậu bé rất tỉ mỉ cẩn thận. Buổi tối ông tắm cho cháu, cho cháu ăn, ôm ấp cháu cho đi ngủ.

Vào ngày nghỉ, nếu mẹ cậu không về nhà, ông nội lại đưa Hựu Hựu đi chơi, đi vườn thú, đi vương quốc người tí hon, đi thủy cung, đi công viên giải trí, v.v. Ông chăm sóc và đối xử với cháu giống như với con trai của mình vậy.

Sau này.

Hựu Hựu đi học về đến nhà, câu đầu tiên cậu bé hỏi chính là: "Ông ơi! Ông đâu rồi?"

Hựu Hựu rất thông minh. Cậu biết pha trà cho ông nội uống, biết rửa bát, biết đổ rác, biết xoa bóp cho ông nội, biết kể chuyện cười ở trường học cho ông nội nghe, khiến ông nội cười không thể ngưng được. Ông nội thực sự vô cùng yêu thương đứa cháu này. Hai ông cháu còn chơi trò trốn tìm nữa.

Khi Hựu Hựu 9 tuổi thì mắc phải bệnh cúm, ông nội chăm sóc cậu rất cẩn thận. Nhưng thật bất hạnh, triệu chứng cúm của Hựu Hựu phát triển phức tạp, thế là Hựu Hựu đã không thể sống được nữa.

Hựu Hựu chết rồi. Người ông tan nát cõi lòng, nhưng cũng chẳng thể thay đổi được gì. Ông chỉ còn biết kêu gào với ông trời:

"Ông trời ơi! Ông thật là vô tình!"

"Ông trời ơi! Ông thật là vô nghĩa!"

Trời ơi! Phải làm sao đây?

Sau đó có người giới thiệu ông đến báo danh siêu độ ở pháp hội của Chân Phật Tông. Liên tục năm lần ông đứng tên cầu siêu độ.

Lư Sư Tôn trả lời ông rằng:

"Cháu Hựu Hựu của ông đã được Phật A Di Đà tiếp dẫn, đã vãng sinh đến Phật quốc tịnh độ rồi."

Người ông đi hỏi kê đồng. Kê đồng nói:

"Hựu Hựu đang bị nhốt trong địa ngục chết thảm, ở đó bị đói bị lạnh."

Người ông vô cùng tức giận, không đến Lôi Tạng Tự nữa. Ông tin vào lời kê đồng nói, mỗi lần đốt vàng mã là đốt nhiều hết thùng này tới thùng khác. Kê đồng nói:

"Hựu Hựu muốn ăn!"

Thế là ông nội lại gửi những thứ mà lúc còn sống Hựu Hựu thích ăn nhất, cũng chính là cúng cho kê đồng ăn.

Kê đồng nói:

"Hựu Hựu cần tiền!"

Ông nội lại lấy rất nhiều tiền đưa cho kê đồng.

Kê đồng nói:

"Hựu Hựu muốn chuyển thế, cần phải có phí thông quan!"

Ông nội lại lấy tiền đưa cho kê đồng…

Về sau.

Bạn ông thấy ông càng ngày càng sai lầm, bảo ông đừng bị lừa bịp nữa. Chi bằng ông lên núi để Lư Sư Tôn sờ đầu, không biết chừng Hựu Hựu sẽ về báo mộng. Người ông nghe vậy cũng thấy đúng. Bởi vì Hựu Hựu đã qua đời cũng ba năm rồi nhưng ông chưa từng mơ thấy cậu lần nào.

Ông lại đến Lôi Tạng Tự xin tôi ban cho sờ đầu. Lần sờ đầu này, ngay tối đó ông nằm mơ thấy:

Hựu Hựu cưỡi hoa sen.

Xung quanh đều là Liên Hoa Đồng Tử.

Hựu Hựu nói với ông nội:

"Ông ơi, ông yên tâm! Từ lâu con đã vãng sinh đến Phật quốc tịnh độ rồi!"


### **28. Tay vươn rất rất dài**


Một người phụ nữ ở trọ tại một vùng nông thôn. Buổi tối nọ, trời cao trăng sáng, không khí vô cùng mát mẻ, người phụ nữ quyết định đi dạo quanh những con đường làng.

Cô nhìn thấy từ phía xa xa thấp thoáng bóng dáng của vài thiếu nữ, thỉnh thoảng còn vọng tới âm thanh của những tiếng cười khúc khích. Cô nhìn thấy rất rõ ràng, nhìn thấy một cô gái trong số đó còn vẫy vẫy tay với cô. Thế là cô bước nhanh về phía trước.

Nhưng khi cô đến gần thì xảy ra chuyện rất kì lạ. Cô không thấy mấy cô gái đâu nữa. Tiếng cười khúc khích cũng biến mất. Cô nhìn khắp xung quanh, trước mặt là ngọn đồi nhỏ phủ đầy cỏ dại, bốn bề hoàn toàn vắng lặng. Dưới ánh trăng tuyệt nhiên không có bóng dáng một người nào cả.

Thế còn mấy cô gái lúc nãy thì sao nhỉ?

Tiếng cười khúc khích lúc nãy thì sao nhỉ?

Ai đã vẫy tay với cô?

Chắc chắn không phải là huyễn ảo. Cô thu hết dũng khí đi len vào đám cỏ dại cao tới đầu người. Cái lạnh thấm vào người cô. Vài đám mộ lạnh lẽo hiện ra trước mắt. Người cô run lên một chặp giống như bị trúng tà vậy, cô liền ba chân bốn cẳng chạy về nhà trọ.

Đêm đó cô lên cơn sốt lúc nóng lúc lạnh, cơ thể mệt nhoài, người nhà nhận được thông báo liền tới đón cô về nhà. Sau khi về nhà, cô bắt đầu nói năng lảm nhảm, cuộc sống bỗng nhiên đảo lộn hết cả.

Cô thường xuyên gặp ác mộng.

Cô nói những lời kì quái.

Cô có những việc làm kì quặc, không bình thường.

Cô hết khóc lại cười, rồi đòi tự sát.

Cô vốn là một cô gái trẻ trung tươi tắn, sau khi ở nhà trọ đó thì biến thành một người bệnh hoạn.

Bác sĩ nói:

"Cô bị tâm thần rồi!"

Kê đồng nói:

"Phạm âm!" (*)

Cô uống thuốc rồi tiêm thuốc, có lúc đỡ có lúc không. Cô được làm phép đuổi tà ma, nhưng cũng lúc đỡ lúc không. Bác gái của cô biết được chuyện này, bà là một đệ tử Chân Phật Tông. Bà liền muốn đưa cô lên núi, đi tìm Lư Sư Tôn để hỏi chuyện, tìm cách hóa giải.

Nhưng người nhà cô không đồng ý, bởi vì người nhà tin theo một tông sư của nhóm tôn giáo khác, họ mời vị thầy này chữa trị. Tuy nhiên chữa một thời gian cô gái vẫn không khỏi. Người bác gái này chỉ còn cách lấy ảnh chụp của cô đem tới Lôi Tạng Tự, xin tôi chạm vào bức ảnh.

Bác gái của cô nói:

"Xin Sư Tôn sờ lâu một chút!" Tôi liền "sờ lâu một chút". Tôi thấy ánh sáng trong lòng bàn tay chiếu tới tận sao chòm sao Đại Hùng, tôi nói: "Người này sẽ khỏi bệnh!"

Sau khi tôi sờ lên tấm ảnh.

Cô gái mơ một giấc mơ, nhìn thấy một vị Liên Hoa Đồng Tử đứng trong bông hoa sen, cánh tay vươn ra rất dài rất dài, từ trong những đám mây trên trời với xuống đầu cô bắt ra bốn, năm con bọ nhỏ.

Sau giấc mơ này, bệnh tình của cô mỗi ngày một khá lên. Bà bác của cô hỏi:

"Làm sao cháu biết đó là Liên Hoa Đồng Tử đến cứu cháu?" Cô đáp:

"Liên Hoa Đồng Tử tự xưng mình là Lư Sư Tôn!"

Lúc này cô gái và cả nhà cô cùng đến Đài Loan Lôi Tạng Tự để bày tỏ lòng cảm ơn đối với tôi. Tôi nói:

"Không phải là tôi cứu, là Phật Bồ Tát cứu đó."


### **29. Chúng thần đều đến hết cả**


Một hôm, sau khi ăn xong cơm tối tại Đài Loan Lôi Tạng Tự, như thường lệ tôi sẽ sờ đầu cho tín chúng, từ rất sớm tín chúng đã xếp hàng kín cả sân lớn phía trước Lôi Tạng Tự rồi.

Tôi bước ra ngoài xem thì sửng sốt. Bởi vì không chỉ có đám người đông đứng kín cả núi cả chùa, mà trên không trung, chúng thần cũng đều đến hết cả. 

Trong lòng tôi băn khoăn:

"Có chuyện gì vậy nhỉ?"

Tôi nhìn lại:

Ngọc Hoàng Đại đế cũng đến! Đây là vị thần tiên tối thượng.

Nguyên Thủy Thiên Tôn cũng đến, đây là chí tôn của Đạo gia.

Các vị quan của tam giới đều đến, có Thiên quan (vua Nghiêu), Địa quan (vua Thuấn), Thủy quan (vua Vũ).

Huyền Thiên Thượng đế, một tay cầm kiếm, ngón trỏ tay kia chỉ thẳng.

Lữ Tổ, còn gọi là Lữ Động Tân, một trong Bát Tiên, cũng đến.

Bảo Sinh Đại đế, cũng chính là vị quan bảo vệ sinh mệnh, cũng đến.

Thiên Thượng Thánh Mẫu, cũng chính là Lâm Mặc Nương - ngài Mazu, cũng đến. Quan Công, Võ Thánh.

Cửu Thiên Huyền Nữ.

Tam Nãi Phu Nhân, cũng chính là Trần Tĩnh Cô.

Thái Tử Da, Na Tra Tam Thái Tử.

Thành Hoàng, vị chủ giới của địa phương.

Phúc Đức Chính Thần, Thổ Địa Công.

...

Trời ạ! Sao mà nhiều thần minh đến đầy khắp hư không phía trên quảng trường Lôi Tạng Tự thế này?

Hóa ra là như thế này.

Có một ngôi chùa nọ, chủ nhân của ngôi chùa là đệ tử của Lư Sư Tôn. Chủ nhân của chùa nằm mơ rằng:

"Chư Tôn của chùa này cần phải đến Đài Loan Lôi Tạng Tự một chuyến, xin Lư Sư Tôn sờ đầu để thanh tịnh từng người từng người một."

Còn nữa:

"Tín chúng của chùa này, mỗi người cầm tượng của một vị tôn lên núi, xin Lư Sư Tôn làm thanh tịnh cho từng vị."

Thế là mọi người đều đem theo tượng thần minh, lần lượt xếp hàng chờ sờ đầu.

Tôi thiết nghĩ:

"Chuyện này sao có thể được nhỉ?"

"Những thần minh này bình thường đều được các thiện tín quỳ lạy khấu đầu, làm sao tôi có thể sờ đầu chúng thần này được?"

Chúng thần nói:

"Có thể được."

Diêu Trì Kim Mẫu nói:

"Có thể được."

Tôi nói:

"Không thể được."

Bản thân tôi mặc dù tu hành tinh tấn, khi tôi khai quang điểm nhãn, trên tới tận chư Phật, dưới tới tận Thổ địa công, nhưng đó là khai quang điểm nhãn, việc này không giống như việc sờ đầu. Việc sờ đầu thần minh giống như tôi tự đề cao mình quá rồi.

Tôi hướng về chúng thần chắp tay kính lễ, biểu thị sự tôn kính, làm sao có lý nào tôi lại sờ đầu họ được?

Người chủ ngôi chùa nói:

"Nằm mơ thấy vậy! Xin nâng tay quý!"

Thế là tôi liền nghĩ ra một cách. Trong lúc sờ đầu chúng sinh, gặp người nào ôm tượng thần minh trong tay, tôi cũng sẽ dùng hai tay nâng tượng thần lên, chạm trán mình vào trán của tượng thần minh để biểu thị lòng kính trọng của tôi đối với thần minh.

Thế là trong rất nhiều tình huống sờ đầu, bạn có thể nhìn thấy Lư Sư Tôn đưa tay ra sờ đầu các đệ tử. Còn đối với các tượng thần minh được ôm trong tay, Lư Sư Tôn sẽ cúi thấp đầu, dùng cách thức trán chạm trán - thể hiện lòng kính trọng.

Tôi là Phật tử.

Tôi là Kim Cương Thượng Sư. (Người sáng lập Chân Phật Tông.)

Nhưng, đối với bất kì tôn giáo hay giáo phái nào, bất kì chư Phật, Bồ Tát, Kim Cương, Hộ Pháp, Không Hành, Chư Thiên, Không Cư Thiên, Địa Cư Thiên, thậm chí là lục đạo chúng sinh, tôi đều tôn trọng.


### **30. Nói về phái Nyingma**


Cá nhân tôi tu tập Mật pháp, khởi đầu được Liễu Minh Hòa Thượng ban quán đảnh. Sau này Liễu Minh Hòa Thượng nói ngài thuộc phái Nyingma (phái Mũ Đỏ - cổ mật) của Norlha Rinpoche.

Truyền thừa này là:

Norlha Rinpoche --- Liễu Minh Hòa Thượng --- Liên Sinh Hoạt Phật.

Đối với mối liên hệ giữa tôi và Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, từ lâu trong sách của tôi đã có giải thích rõ:

1. Tôi được Liên Sư đưa đến một cái động trong khu mộ cổ để ban quán đảnh. 2. Tôi bị Liên Sư nuốt vào trong miệng, rồi đi ra từ lỗ bí mật.

1. Liên Sư phóng ra ánh sáng huy hoàng, quán đảnh hàng trăm bổn tôn hiền hòa và phẫn nộ.

1. Liên Sư đem phương thức được cất giữ bí mật, là Đại Viên Mãn cửu thứ đệ pháp, cất giấu vào sâu trong trí não của tôi.

Nói thật lòng, khi Liễu Minh Hòa Thượng ban quán đảnh Đại Viên Mãn cửu thứ đệ pháp cho tôi, tôi hoàn toàn không hiểu gì về pháp này. Nhưng Liễu Minh Hòa Thượng nói:

"Trong tương lai tự nhiên con sẽ hiểu được, sau này con sẽ tự thành tựu. Bởi vì đối với mọi giáo phái của Mật giáo, con đều có nhân duyên thâm hậu."

Lại có thêm một kì tích nữa như sau:

Một hôm tôi tự đặt tay lên trên đỉnh đầu mình, tự mình dùng tay gia trì cho chính mình.

Những hình ảnh sau liên tục xuất hiện:

Trong dòng Nyingma, tôi là pháp vương Trisong Detsen.

Trong dòng Kagyu, tôi là Bảo Ý Đồng Tử.

Trong dòng Sakya, tôi là Biwapa.

Trong dòng Gelugpa, tôi là Tsongkhapa.

Ôi trời ạ!

Thực sự tôi không dám tin. Bốn vị này là các lão tổ sư nổi danh trong Mật giáo, thế mà terma giấu trong não của tôi thực sự là có hình ảnh của họ. Truyền thừa của tôi không hề đơn thuần, càng ngày càng phức tạp hơn, vượt qua cả tưởng tượng của bản thân tôi. Bây giờ, đối với Đại Viên Mãn Cửu thứ đệ pháp, tôi càng ngày càng hiểu rõ ràng rồi.

Đại Uy Đức pháp.

Đại Thủ Ấn pháp.

Đạo quả Đại viên Thắng huệ pháp.

Đại Viên Mãn cửu thứ đệ pháp.

Tất cả đều rõ ràng trong tâm trí tôi, đặc biệt là khi tôi mới giảng về Đại Viên Mãn cửu thứ đệ pháp. Tất cả tinh yếu của pháp này lần lượt hiện ra rất rõ ràng.

Còn bây giờ, nhờ việc tôi tự mình dùng tay gia trì cho não mình, tôi hiểu ra rằng:  Phái Nyingma tương đối phân tán. Ngay sau Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, có ba vị thầy của dòng tộc Zur đã thiết lập nên phái Nyingma. Đến thế kỉ thứ 14 có Longchenpa tôn giả. Jigme Lingpa là một vị đại sư khai mở terma trong phái Nyingma.

Cửu thừa của truyền thống Nyingma là:

Hiển tam thừa: Thanh văn, Duyên giác, Bồ Tát.

Nội tam thừa: sự mật (kriya tantra), hành mật (charya tantra), du già mật (yoga tantra).

Mật tam thừa: Đại du già (mahayoga tantra), A nỗ du già (anuyoga tantra), A để du già (atiyoga tantra).

Cửu thừa bao gồm: Tiểu thừa, Đại thừa, Du già bộ, Vô thượng bộ. Cá nhân tôi cho rằng Đại Viên Mãn cửu thứ đệ pháp có vài nhân vật trọng yếu từ thời kì ban đầu là:

Shri Singha.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.

Vimalamitra. Santaraksita. Trisong Detsen.

Đến hiện tại, Đại Viên Mãn cửu thứ đệ pháp đã cất cánh bay rồi, đã được truyền bá rộng rãi khắp thế giới rồi.


### **31. Chính là pháp sư này**


Tôi có một đệ tử bị gãy chân do tai nạn xe. Anh được người ta đưa tới bệnh viện, nằm trên giường bệnh.

Phòng bệnh này là phòng dành cho hai bệnh nhân, người bệnh kia bị liệt chân tay. Hai giường bệnh chỉ được ngăn cách nhau bởi một tấm rèm có thể kéo lên được. Khi tấm rèm được kéo lên, hai người bệnh trò chuyện với nhau.

Đệ tử của tôi họ Tiền.

Bệnh nhân bị liệt kia họ Dư, đã bị mắc chứng liệt hơn 10 năm rồi. Bởi vì anh và chị của người này đều rất giàu có, ngay từ đầu họ đã trả rất nhiều tiền để thuê bác sĩ khám chữa bệnh, nhưng đều không có hiệu quả gì.

Cuối cùng họ đành gửi anh vào bệnh viện để anh được chăm sóc nốt những năm tháng còn lại. Tay và chân anh không thể cử động, nhưng đầu óc thì vẫn rất minh mẫn. Bản thân anh và anh chị của mình đều hết hy vọng rồi.

Đệ tử họ Tiền dán một bức pháp tướng của Lư Sư Tôn trên đầu giường bệnh. Mỗi ngày anh đều niệm Cao Vương Kinh, niệm Căn bản Thượng sư tâm chú.

Một sự việc xảy ra kể cũng rất kì lạ.

Kể từ khi người bệnh họ Tiền nhập viện, người bệnh họ Dư kia mỗi đêm đều nhìn thấy rất rõ ràng có một pháp sư lướt đi vào trong phòng bệnh. Mặc dù cửa đóng nhưng pháp sư vẫn đi vào được. Pháp sư đưa tay ra sờ vào cái chân gãy của người họ Tiền, chạm vào chỗ bị gãy, chạm xong thì lại lướt đi.

Có lần, pháp sư sờ xong chỗ chân bị gãy thì quay lại nhìn bệnh nhân bị liệt, khẽ mỉm cười. Bệnh nhân họ Dư cũng mỉm cười đầy thiện ý. Pháp sư liền bước tới, dùng tay chạm vào toàn thân bệnh nhân bị liệt. Xong xuôi, ngài lại nhẹ nhàng lướt đi!

Kì lạ là chiếc chân gãy của đệ tử họ Tiền bình phục rất nhanh chóng! Anh sắp được xuất viện rồi. Anh gỡ tấm pháp tướng của Lư Sư Tôn trên đầu giường xuống, chuẩn bị đem về nhà. Người bệnh họ Dư bị liệt liền gọi:

"Tôi có thể xem bức pháp tướng đó không?"

Họ Tiền nói:

"Đó là Lư Sư Tôn của tôi."

Họ Dư nhìn bức pháp tướng liền nói:

"Chính là pháp sư này. Mỗi đêm đều đến giường bệnh thay anh xoa bóp cái chân gãy, ngài cũng đến xoa bóp chân tay tôi. Tôi nhìn rõ ràng như ban ngày. Anh hãy nhìn chân tay tôi mà xem, những chỗ bị liệt cứng dường như mỗi ngày đều lỏng ra một chút. Tôi xin anh đem bức pháp tướng này dán lên đầu giường tôi, rồi xin dạy tôi đọc kinh, đọc chú. Cầu xin anh! Cầu xin anh!"

Họ Tiền rất tốt bụng. Anh liền dán bức pháp tướng lên đầu giường họ Dư, dạy anh tâm chú, tặng anh một cuốn Cao Vương Kinh. Thế rồi họ Tiền tạm biệt họ Dư trở về nhà.

Nửa năm sau, họ Tiền nhớ lại chuyện này, khi đi ngang qua bệnh viện kia liền đi vào thăm người bệnh họ Dư bị liệt phải nằm viện đó. Thật không ngờ, người họ Dư đã xuất viện rồi.

Bác sĩ nói:

"Vốn dĩ người bệnh đã hết hy vọng, tay chân căng cứng co giật bỗng nhiên lỏng ra. Không chỉ có vậy, mỗi ngày anh ta niệm chú, mỗi ngày anh ta đọc kinh, dần dần chân tay đều có thể cử động, cũng không biết vì sao lại cử động được. Cuối cùng không ngờ anh có thể xuống giường đi lại được." Thế là anh đã xuất viện rồi!

Họ Tiền hỏi:

"Còn bức pháp tướng thì sao?"

Bác sĩ đáp:

"Anh ta đã tặng cho một bệnh nhân khác rồi!"


### **32. Đau vai và lưng**


Một ngày nọ, đệ tử họ Ngô đang lái chiếc xe buýt mini của anh đi trên đường, gặp đèn vàng chuyển sang đèn đỏ, anh phanh gấp. Bởi vì xe phanh gấp quá nên người anh văng qua bên trái.

Phía sau xe anh là một chiếc xe tải chở xi-măng đang chạy nhanh tới, người lái xe phanh không kịp, đầu xe tải đã đâm vào đuôi xe buýt mini của anh.

Sau một tiếng "binh" rất to, đệ tử họ Ngô cảm thấy trời đất quay cuồng, quả nhiên là xe của anh bị lật đổ nghiêng xuống rãnh nước phía bên phải đường. Sự việc xảy ra khiến vai trái của anh kẹt vào bánh lái, anh cảm thấy một cơn đau xé dọc bả vai anh.

Tai nạn xảy ra ở giao lộ, vừa hay có cảnh sát đang điều khiển giao thông, cảnh sát đã tới ngay để xử lý sự cố. Xe tải chở xi-măng không bị tổn hại gì lớn, nhưng rìa xe của đệ tử họ Ngô thì bị móp méo biến dạng và tất cả cửa sổ xe đều bị vỡ tan.

Đệ tử họ Ngô là người tín Phật, không muốn đôi co phiền phức. Sau khi cảnh sát phân giải xong thì anh cũng cho qua mọi chuyện.

Thế nhưng vai và lưng đệ tử họ Ngô đều bị đau một cách dị thường. Anh đi chụp X-quang, không bị gãy xương. Bác sĩ cho thuốc giảm đau, rồi anh dán cả cao dán Salonpas, nhưng đều không đỡ, lưng và vai vẫn đau đến mức không thể chịu nổi. Cứ như vậy suốt hai tháng mà anh vẫn chưa hết đau.

Anh tìm đến thày thuốc Đông y để thử chữa trị bằng xoa bóp, dán cao thảo dược, vẫn không thấy đỡ. Có người khuyên anh làm một đợt chữa trị bằng steroid (*), nhất định sẽ khỏi. Nhưng anh nghĩ: Steroid có nhiều tác dụng phụ, anh không dám dùng.

Lúc đệ tử họ Ngô tìm đến Lư Sư Tôn để xin sờ đầu, anh nói:

"Lưng và vai con rất đau."

Tôi dùng tay vỗ vỗ hai cái rồi đi qua!

Đệ tử họ Ngô nghĩ trong lòng:

"Thầy thuốc Đông y xoa bóp lưng và vai mình mỗi lần cũng mất thời gian tới một tiếng rưỡi, nắn bóp tới mức đỏ đỏ tím tím cả da thịt, lại dùng cả phương pháp giác hơi khiến máu nổi đỏ cả trên da. Hôm nay Lư Sư Tôn chỉ vỗ nhẹ có hai cái, gia trì kiểu này có thể khỏi được sao?"

Đêm đó, anh ngủ một giấc ngon lành, trong lúc mơ mơ hồ hồ, anh cũng không biết mình đã đi đến đâu. Nói chung nơi đó là một ngọn núi thanh tịnh, sáng trong, gió mát lành, một nơi rất đẹp. Anh nhìn thấy một bà lão trông rất hiền từ, phong thái đoan trang vô cùng, đang sắc một bát thuốc.

Họ Ngô hỏi:

"Bà sắc thuốc làm gì vậy?"

Bà lão đáp:

"Trị chứng đau lưng đau vai của anh đó."

Họ Ngô hỏi:

"Sao bà biết con bị đau lưng đau vai?"

Bà lão đáp:

"Đều tại Lư Sư Tôn lắm chuyện của anh đó, đến đây cầu xin ta sắc thuốc." Họ Ngô nói:

"Sư phụ thật là quá quan tâm đến con rồi!"

Bà lão đáp:

"Sư phụ của các anh nhàn rỗi quá đó mà, chỉ có mấy cư thần chúng ta đây phải bận rộn thôi, vì ông ta mà phải vất vả."

Họ Ngô nói:

"Con thay mặt sư phụ cảm ơn bà!"

Họ Ngô uống bát thuốc xong, nói kể cũng kì lạ, sau khi tỉnh dậy, lưng và vai anh từng đau một cách dị thường thì giờ đây đều hết đau. Họ Ngô chạy đến kể với tôi chuyện này.

Họ Ngô hỏi:

"Bà lão đó là ai vậy ạ?"

Tôi đáp:

"Là Lê Sơn Lão Mẫu rồi!" (*)

 

**Steroid:** một loại thuốc khá phổ biến dùng để chữa các chứng bệnh về cơ xương khớp.

**Lê Sơn Lão Mẫu:** vị thần cai quản núi Lê Sơn, một ngọn núi ở Đài Trung, Đài Loan.


### **33. Bầy quỷ xếp hàng xin sờ đầu**


Ngày 15 tháng 5 năm 2013, tôi (Lư Sư Tôn) từ Đài Loan đáp chuyến bay trở về nhà tôi ở Nam Sơn Nhã Xá tại Seattle nước Mỹ.  Lúc tôi ở Đài Loan thì ngôi nhà Nam Sơn Nhã Xá này suốt nửa năm không có ai ở.

Chỉ có:

Phật Thanh (con gái tôi), mỗi tuần đến để lấy thư gửi đến trong hòm thư. Phật Kỳ (con trai tôi), thỉnh thoảng đến ga-ra ô tô ở nhà đánh xe đi, bởi vì xe để cả nửa năm mà không có ai dùng, ắc-quy cũng không có điện. Phật Kỳ giúp tôi chăm sóc chiếc xe Bentley của tôi.

Những lúc khác đều không có ai ở nhà.

Trong nhà không có người giúp việc.

Vườn hoa trong sân nhà, mỗi thứ năm hàng tuần thì có người làm vườn đến để nhổ cỏ tỉa cành chăm hoa.

Nam Sơn Nhã Xá có hệ thống mật mã bảo vệ điện tử, chỉ cần mở cửa chính hoặc cửa sổ, cả căn nhà sẽ kêu váng lên, mật mã sẽ thông báo tới đồn cảnh sát, trong vòng năm phút là cảnh sát sẽ tới ngay.

Một tuần lễ trước ngày chúng tôi trở về nhà, Phật Thanh sẽ gọi người giúp việc đến để dọn dẹp các phòng trong nhà, đem chăn ga gối của phòng ngủ ra giặt giũ phơi phóng. Tất cả đều sạch sẽ ngăn nắp chờ chúng tôi trở về.

Chúng tôi về tới nhà là mọi thứ đều đã gọn gàng sạch sẽ tinh tươm rồi. Tôi vừa về đến nhà là đi một lượt khắp mọi nơi trong nhà, không chỉ có phòng ốc sạch tinh, ngay cả một con ma cũng chẳng có.

(Tôi không ở đó thì ma cũng không ở đó nữa.)

Tôi vừa về nhà, ngay hôm đầu tiên đã sắp xếp bàn thí thực, cúng dường cam lộ cho ma quỷ.

Tôi niệm:

“*Đại bàng Kim Sí Điểu*

*Hoang dã quỷ thần chúng*

*La sát quỷ tử mẫu*

*Cam lộ được tràn đầy*

*Om, mu di li, so ha. Om, mu di li, so ha. Om, mu di li, so ha.”*

Tôi dùng thủ ấn Kim cương chỉ vẽ chữ "Hum" trên mặt nước, niệm ba tiếng hum, hum, hum, rồi lấy cam lộ rắc xung quanh nhà.

Khoảng một tuần, ma quỷ ở khu vực xung quanh Nam Sơn Nhã Xá sẽ hay tin tôi đã trở về mà kéo đến.

Ma quỷ trong nhà tôi sẽ tăng lên.

Bọn chúng cũng lan truyền tin tức, rằng tại nhà tôi có ban cho nước cam lộ, ma quỷ xung quanh đều biết được, thế là lũ lượt kéo đến hàn xá của tôi làm khách.

Việc này thực sự khó mà tưởng tượng. Vô số ma quỷ vô hình đều tới sống hết trong nhà tôi. Ban đầu vốn dĩ Nam Sơn Nhã Xá sạch sẽ không một bóng ma quỷ. Từ khi tôi thí thực thì ma quỷ kéo đến chật kín cả nhà tôi rồi.

Tôi vào toilet, có ma.

Tôi vào phòng giặt, có ma.

Tôi vào phòng bếp, có ma.

Tôi vào thư phòng, có ma.

Tôi vào phòng ngủ, có ma.

Tôi vào phòng khách, có ma.

Ma ma ma ma ma. Trời ạ! Chỗ nào cũng có ma.

Tôi đi tới đâu là có ma quỷ ở đó, bọn chúng lẩn trốn, đâm vào tường gây ra những tiếng ồn ào "binh binh binh".

Cả ngày tôi chơi trốn tìm với ma quỷ. Cá nhân tôi bản tính không sợ ma quỷ, tôi nhìn thấy ma là chuyện rất bình thường.

Có một hôm tôi thí thực, bầy ma quỷ xếp thành hai hàng rất có thứ tự.  Tôi hỏi:

"Có chuyện gì thế?"

Ma đáp:

"Xin Lư Sư Tôn dùng tay sờ đầu!"

Tôi hỏi:

"Sờ đầu có gì tốt?"

Ma đáp:

"Gia trì thanh tịnh! Tăng trưởng Phật huệ! Tăng trưởng phúc phần!"


### **34. Tự sờ đầu khai mở Terma tâm**


 Gần đây tôi thường đặt tay mình lên đầu để gia trì cho não bộ của chính mình. Kết quả vô cùng kinh ngạc. Trong não tôi xuất hiện những lời dạy của pháp Đại Viên Mãn Cửu thứ đệ.

Sau khi gia trì xong.

Đầu tiên là một làn khói xuất hiện.

Sau đó xuất hiện những giọt ánh sao.

Giọt ánh sao tập trung lại làm xuất hiện ánh sáng rực rỡ.

Trong luồng ánh sáng là những con chữ.

Tôi nhìn chữ, kinh ngạc, hóa ra là Đại Viên Mãn Cửu thứ đệ pháp, từng thứ từng thứ một đều hiện ra. Trong một giây, tôi đã nhớ ra rằng đây chính là Phật pháp mà tôi đã được biết từ những kiếp trước, đây là Terma tâm. (*)

Ngoài ra đây còn là "Thậm thâm thanh tịnh truyền thừa".

Tôi có ba truyền thừa:

◾ Truyền thừa ở cõi người:

◾ Norlha Rinpoche - Liễu Minh Hòa Thượng - Liên Sinh Hoạt Phật.

◾ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ - Trisong Detsen - Liên Sinh Hoạt Phật. (Terma tâm)

Đối với Thậm thâm thanh tịnh truyền thừa:

Chính là trong khi tôi thiền định, không chỉ khai mở được Terma tâm của chính mình, mà còn được:

◾ Chư Phật hé lộ cho tôi.

◾ Bồ Tát hé lộ cho tôi.

◾ Tổ sư hé lộ cho tôi.

Khiến tôi không chỉ hiểu được Đại Viên Mãn Cửu thứ đệ, thậm chí các ngài còn dạy tôi thực tu ra sao.

(Tôi ở trong thiền định, trong mơ, trong các hiện tượng huyễn ảo đã có được hướng dẫn của chư Tôn.)

Kiểu Thậm thâm thanh tịnh truyền thừa này, trên thế giới rất ít người có, và tôi chính là một người trong số đó.

Vô cùng khó đạt.

Vô cùng tôn quý.

Chúng ta biết rằng:

◾Thanh Văn thừa dựa vào bốn thứ "khổ, tập, diệt, đạo" mà chứng được quả A La Hán.

◾ Duyên Giác thừa dựa vào "thập nhị nhân duyên" mà chứng được Phật quả Tích Chi.

◾ Bồ Tát thừa dựa vào "lục độ" để chứng quả Bồ Tát.

(Đây là Ngoại tam thừa)

◾ Sự mật (Kriya tantra - Mật điển Hành động) dựa vào việc tu hành động trong bảy kiếp để chứng quả thành Phật.

◾ Tác mật (Charya tantra - Mật thừa Tư duy) dựa vào việc tu hành gắn với thành tích trong năm kiếp để chứng quả thành Phật.

◾ Du già mật (Yoga tantra - Mật điển Du già) dựa vào việc tu hành "Nhất vị" để trong ba kiếp tu chứng thành Phật.

(Đây là Nội tam thừa) (*)

◾ Đại du già dựa vào "Thứ tự sinh khởi" tu chứng Ứng thân Phật.

◾ A Nãi du già dựa vào "Thứ tự viên mãn" tu chứng Báo thân Phật.

◾ A Để du già dựa vào tâm, giới, khẩu, minh tâm kiến tính tu chứng Pháp thân Phật. (Đây là Mật tam thừa)

Tôi tự dùng tay mình gia trì cho não mình, có thể nói rằng tôi đã hoàn toàn thấu hiểu toàn bộ Đại Viên Mãn cửu thứ đệ pháp.

Do vậy tôi tuyên bố như sau:

◾ Ngoại tam thừa được Phật Thích Ca Mâu Ni nói.

◾ Nội tam thừa được Kim Cương Tát Đỏa nói.

◾ Mật tam thừa được Phổ Hiền Như Lai nói.

Cảnh giới cao nhất của A Để du già chính Liên Sinh Hoạt Phật tôi đã từng nói: "Cắt đứt." (Trekcho)

"Vượt qua." (Tögal)

Trong bản văn này, tôi chủ yếu muốn giải thích việc tôi đã thấu hiểu Đại Viên Mãn cửu thứ đệ pháp như thế nào. Thêm nữa tôi muốn hé lộ ba dòng truyền thừa lớn của tôi:

◾ Các vị thầy ở nhân gian.

◾ Terma tâm.

◾ Thậm thâm thanh tịnh.

Các bài giảng của tôi sẽ không dựa trên kinh điển, mà dựa trên kinh nghiệm, đây là con đường mà chính bản thân tôi đã đi qua. Tôi mong muốn mô tả tất cả những cảnh đẹp mà tôi đã gặp được trên con đường tu hành của mình, việc này khiến cho những bài giảng pháp càng tuyệt diệu hơn.

**(*) Terma:** kho tàng giáo lý.

Những hành giả nào theo Mật điển Hành Động (Action Tantra): trước hết là phải cố phát huy cao độ phúc lạc của mình bằng phương pháp quán tưởng đến một vị Phật, Bồ Tát hay vị Thần nào đó. Phúc lạc chỉ phát sinh trong khi tập trung việc quán tưởng đến đối tượng đó mà thôi. Nhờ vậy, tâm hoan lạc tập trung thiền quán về chân không.

Những hành giả nào theo Mật điển Tư Duy (Performance Tantra): Tập trung để gây phát sinh phúc lạc, nhờ quán tưởng đến vị Phật, Bồ Tát hay vị Thần với những nét hoan lạc, thoát tục, hiền hoà. Sử dụng phúc lạc này để thiền quán chân không, để có thể chuyển hoá phúc lạc thành pháp môn tu tập của mình.

Những hành giả nào theo Mật điển Du Già (Yoga Tantra): Tập trung để phát sinh phúc lạc bằng cách lại gần và sờ tay vào vị Phật, Bồ Tát hay vị Thần mà mình đã quán tưởng. Khi phúc lạc do việc cảm xúc khởi lên, hành giả dùng thứ niềm vui này để thiền quán chân không. Do đó chuyển phúc lạc thành phép tu.


### **35. Nguồn gốc của dòng chảy truyền thừa**


Theo tôi được biết:

Đại Viên Mãn cửu thứ đệ pháp được tuôn chảy từ Đức Bản Sơ Phật Phổ Hiền Vương Như Lai. Đầu tiên là Bản Sơ Phật in dấu vào trong tâm của Ngũ Phương Phật --- Tỳ Lô Giá Na Phật, A Súc Phật, A Di Đà Phật, Bảo Sinh Phật, Bất Không Thành Tựu Phật, cũng như đối với tất cả chư Phật.

Tiếp theo, Ngũ Phương Phật cũng sử dụng phương thức "tâm tâm tương ấn" truyền cho Báo thân Phật Kim Cương Tát Đỏa. Truyền thừa theo dạng "tâm tâm tương ấn" này không dùng văn bản ngôn ngữ, mà giống như sữa bò trực tiếp đi vào trong bình sữa vậy. Đây chính là "Truyền thừa tâm ấn", hoặc cũng được gọi là "Truyền thừa Mật ý".

Sau này Kim Cương Tát Đỏa hóa thành:

◾ Đại diện cho Trí tuệ --- Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.

◾ Đại diện cho Từ bi --- Quan Thế Âm Bồ Tát.

◾ Đại diện cho Sức mạnh --- Kim Cương Thủ Bồ Tát.

Dựa vào phương thức Trì Minh Vương (Vidyadhara) để truyền cho chư Thiên, rồng, dạ xoa, v.v. Truyền cho 33 cõi trời, truyền cho vị đứng đầu của 500 Thiên tử là Thắng Tâm Thiên Tử (Semlhag Chen), vị Thắng Tâm Thiên Tử có được bốn giấc mơ cát tường. Thế là, nhờ được truyền từ Kim Cương Thủ Bồ Tát mà Thắng Tâm Thiên Tử đã lĩnh ngộ được những bí mật liên tục vô hạn, cũng như đều có được quán đảnh.

Sau này Thắng Tâm Thiên Tử chuyển thế thành Ổ Kim Quốc, trở thành Cực Hỷ Kim Cương (Garab Dorje).

Được Kim Cương Thủ quán đảnh.

Đắc chứng ngộ.

Cực Hỷ Kim Cương là con người đầu tiên tại nhân gian được truyền thừa.

Tiếp theo:

◾ Cực Hỷ Kim Cương truyền cho Diệu Cát Tường Hữu (Manjushrimitra).

◾ Diệu Cát Tường Hữu truyền cho Cát Tường Sư Tử (Shri Singha).

◾ Cát Tường Sư Tử truyền cho Liên Hoa Sinh Đại Sĩ (Padmasambhava), Vairotsana, Vimalamitra, và Jnanasutra.

Đến cuối cùng:

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đến Tây Tạng truyền Đại Viên Mãn cửu thứ đệ pháp cho quốc vương Tây Tạng là Trisong Detsen và công chúa Yeshe Tsogyal. Truyền thừa dạng này được gọi là truyền thừa khẩu.

Như vậy, truyền thừa có thể phân thành:

◾ Truyền thừa tâm ấn.

◾ Truyền thừa Trì Minh Vương.

◾ Truyền thừa khẩu truyền.

◾ Truyền thừa ý.

◾ Truyền thừa Terma.

◾ Thậm thâm thanh tịnh truyền thừa.

Trên phương diện truyền thừa thông qua Terma, ngài Jigme Lingpa và Longchenpa đã có đóng góp nhiều nhất.

Còn truyền thừa mà tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) có được gồm:

1. Truyền thừa khẩu (từ Liễu Minh Hòa Thượng).

1. Truyền thừa ý (từ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ).

1. Truyền thừa thậm thâm thanh tịnh (từ chư Phật).

Trên phương diện truyền thừa, cũng có thể nói thêm rằng, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã đem Đại Viên Mãn cửu thứ đệ pháp trao truyền terma vào trong não bộ cho Đức Vua Trisong Detsen, thế rồi qua nhiều lần chuyển thế, tôi chỉ cần dùng tay tự gia trì cho bộ não của mình, thế là các bộ nghi quỹ tu hành và dòng năng lượng liên tục cứ thế từ nguồn tuôn chảy ra, trước nay chưa từng dừng lại.

Ở đây tôi muốn nhắc đến rằng, kì thực trong các giáo phái Mật tông Tây Tạng, phái Nyingma là ra đời sớm nhất. Ba vị thầy nổi tiếng từ dòng tộc Zur mà ai ai cũng biết đã phân loại có hệ thống các kinh sách của dòng Nyingma.

So với ba giáo phái còn lại thì phái Nyingma khá phân tán, bởi vì họ không có một người lãnh đạo thực sự, không có tự viện trung tâm, không có tổ chức cốt lõi. Còn giáo phái khác như phái Kagyu, Sakya, Gelugpa đều có người lãnh đạo trung tâm.

Nhưng Đại Viên Mãn Cửu thứ đệ pháp của phái Nyingma chính là đạo của mọi phái, là trân quý nhất. Tất cả mọi pháp đều từ đây mà lưu xuất ra.


### **36. Năng lực của pháp Đại Viên Mãn**


Pháp Đại Viên Mãn là cực thiện!

Pháp Đại Viên Mãn là pháp về niềm vui và hạnh phúc, là pháp đem lại niềm vui sướng tột bậc.

Pháp Đại Viên Mãn là pháp tối thượng.

Pháp Đại Viên Mãn là toàn mỹ vô khuyết.

Pháp Đại Viên Mãn là vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế.

Năng lực của pháp Đại Viên Mãn có kể cũng không hết, có thể kể một cách sơ lược như sau:

1. Thân thể khỏe mạnh.

1. Tinh thần vui vẻ.

1. Cân bằng thân tâm.

1. Chuyển hóa thân tâm.

1. Giải thoát thân tâm.

1. Tức thân thành Phật.

1. Tức sinh thành Phật.

1. Cầu vồng hóa thân.

1. Hóa thân cầu vồng.

1. Cầu vồng bất tử.

Một cơ thể khỏe mạnh có được từ việc tu hành các pháp Cửu tiết Phật phong, Bảo bình khí, tụng chú Kim Cương, Chuyết hỏa, Minh điểm, Vô lậu, Kim cương quyền, Kiên cố, Đoán luyện.

Tinh thần vui vẻ có được từ việc tu hành các pháp Thông trung mạch, Khai mở bảy luân xa, toàn thân kinh mạch đều thông, chứng ngộ minh tâm, chứng ngộ Phật tính, tâm khí bình hòa.

Còn thân thể khỏe mạnh, tâm khí bình hòa chính là thân tâm cân bằng rồi. Với việc tu hành như trên thì có thể đạt đến được cảnh giới cân bằng thân tâm, giải thoát thân tâm.

Pháp Đại Viên Mãn có pháp nhìn ánh sáng, có pháp bế quan, một kiếp là có thể thành tựu được.

Pháp Đại Viên Mãn có thể khiến ngay cả thân thể này có thể thành Phật.

Thân thể hóa thành cầu vồng!

Từ cầu vồng bất tử mà thành Phật!

Nhậm vận tự tại rồi!

Tôi biết:

Xa xưa có Lama Bạch Phổ Nhân đến Trung Thổ hoằng pháp.

Lama Norlha Rinpoche ở Tây Khang (vùng Kham) đến Trung Thổ hoằng pháp đã kết nên nhân duyên với Liễu Minh Hòa Thượng. Liễu Minh Hòa Thượng là vị thầy gốc dòng Nyingma của tôi.

Norlha Rinpoche cũng mời Gangkar Rinpoche đến Trung Thổ hoằng pháp. Gangkar Rinpoche ở Thành Đô, Côn Minh, Trùng Khánh, Nam Kinh v.v. hoằng pháp, có một khoảng thời gian Mật pháp rất thịnh hành ở những nơi này.

Thubten Nyima cũng hoằng pháp tại Trung Thổ, truyền pháp cho Thubten Dali. Thubten Dali truyền pháp cho Thubten Dargye, rồi Thubten Dargye truyền pháp cho Thubten Qimo. (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chính là Thubten Qimo.)

Ngoài ra còn có:

Chương Gia Hoạt Phật hoằng pháp ở Trung Thổ.

Cam Châu Hoạt Phật hoằng pháp ở Trung Thổ.

Cá nhân tôi cho rằng:

Norlha Rinpoche truyền dạy pháp Đại Viên Mãn một cách có hệ thống hơn. Ngoài ra Gangkar Rinpoche, mặc dù ngài là người nắm giữ truyền thừa của pháp Đại Thủ Ấn dòng Kagyu, nhưng ngài cũng biết rất rõ pháp Đại Viên Mãn. Gangkar Rinpoche cùng lúc nắm trong tay hai dòng truyền thừa của dòng Nyingma và Kagyu.

Tôi đã đọc những ghi chép về pháp Đại Viên Mãn của ngài Longchenpa, nhưng ngài lấy Thượng Sư Tương Ứng pháp làm xuất phát điểm, và cuối cùng cũng dựa vào Thượng Sư Tương Ứng pháp làm điểm kết thúc. Việc này cũng hết sức thù thắng.

Cá nhân tôi có những khẳng định như sau:

1. Mật pháp không thể chỉ dựa vào việc đọc sách.

1. Tâm yếu, khẩu quyết cần được Thượng Sư truyền thụ.

1. Cần có quán đảnh.

1. Pháp Đại Viên Mãn là thù thắng nhất.


### **37. Năng lực của thần hộ mệnh quá mạnh**


Có một cô gái trẻ từng đến tìm tôi. Mới gặp mặt, tôi có đôi chút cảm thán, cô gái này dáng vẻ giống như thiên nữ vậy, cô có một vẻ đẹp hoàn mỹ không chút khuyết điểm.

Ngời sáng rạng rỡ.

Diễm lệ yêu kiều.

Rung động lòng người.

Học vấn, trải nghiệm của cô cũng hơn người. Gia cảnh của cô cũng thuộc tầng lớp trung thượng lưu. Tuy nhiên có một điều hơi đáng tiếc, đó là cô đã 30 tuổi rồi nhưng vẫn cô đơn một mình.

Thanh niên hiện đại, có một số cô gái không muốn lập gia đình, có một số

chàng trai cũng không muốn kết hôn, nhưng cô gái này thì không phải như vậy. Cô xin tôi sờ đầu gia trì cho cô sớm tìm được bạch mã hoàng tử.

Tôi sờ đầu cho cô. Không thành công.

Lần thứ hai sờ đầu. Không thành công.

Lần thứ ba sờ đầu. Không thành công.

…

🌟

Cô cảm thấy có phần thất vọng, bởi vì việc sờ đầu của Lư Sư Tôn luôn luôn rất linh nghiệm, nhưng vì sao trường hợp của cô thì lại không thành công?

Cô không có ai theo đuổi sao?

Không phải.

Người theo đuổi cô nhiều như cá chép bơi trên sông vậy. Rất nhiều người "cao không tới, thấp chẳng thành", nhiều người không với tới kì vọng cao của cô, và cô cũng quá tự kiêu để chấp nhận ai đó mà kém hơn mình.

Dù vậy cũng có một vài mối khá tương đương, nhưng mỗi lần bàn đến chuyện hôn nhân thì đều xảy ra chuyện ngoài ý muốn.

Bạn trai lái xe gặp tai nạn chết.

Bạn trai đột nhiên ngã gãy chân, thành người tàn tật.

Bạn trai bỗng nhiên bị động kinh.

Bạn trai bất ngờ mắc chứng loạn dưỡng cơ.

Vân vân và vân vân.

Tất cả những người có ý kết hôn với cô hoặc là chết, hoặc là bị thương, thực sự là vô cùng kì lạ, cực kì quái dị.

Chính tôi cũng cảm thấy rất kì quặc. Thế rồi tôi hỏi bổn tôn của mình: "Cô ấy có nhân duyên không?"

Bổn tôn đáp:

"Có!" Tôi hỏi:

"Vì sao đến giờ vẫn chưa kết hôn?"

Bổn tôn đáp:

"Thần hộ mệnh của cô ấy có năng lực quá mạnh."

Tôi hỏi:

"Thần hộ mệnh của cô ấy là ai vậy?"

Bổn tôn đáp:

"Người bạn trai đầu tiên và cô ấy đã đính hôn, sắp kết hôn rồi, nhưng gặp tai nạn xe mà chết. Sau khi người bạn trai này chết đã trở thành thần hộ mệnh của cô. Vong linh của người bạn trai cho rằng cô là vợ của anh ta, hễ gặp người con trai khác muốn thân thiết với cô là nghĩ cách để phá đám!"

Oa! Cuối cùng tôi đã biết nguyên nhân rồi! Tôi hỏi cô gái này, quả nhiên đúng là như vậy. Người bạn trai đầu tiên của cô đã chọn ngày kết hôn rồi, nhưng trước đám cưới ba ngày đã gặp tai nạn xe mà chết.

Tôi nghĩ cách để siêu độ cho người bạn trai này, đưa linh hồn người bạn trai giao cho Chuyển Luân Thánh Vương, kết giới cho cô gái, rồi lại sờ đầu gia trì cho cô.

Sau tất cả mọi việc, cô gái xinh đẹp khiến người ta phải động lòng cuối cùng đã kết hôn rồi. Cô cũng gửi thiệp mời dự đám cưới tới tôi, tôi không đi, chỉ gửi quà mừng.

Gần đây, tôi nghe nói cô đã có thai, trong lòng cũng âm thầm cảm thấy mừng cho cô. Do vậy, chỉ cần tìm ra được "nút thắt" của vấn đề, tháo ra, nhất định sẽ thành công!


### **38. Bà nội là thần hộ mệnh**


Có một nữ sinh trẻ tuổi, vẻ bề ngoài của cô:

*Lông mày thanh tú*

*Đôi mắt long lanh*

*Môi hồng chúm chím*

*Răng màu ngọc trai.*

Rất nhiều người theo đuổi cô, cô vô cùng đào hoa.

Cô cũng rất hoạt bát phóng khoáng, vì vậy trở thành nhân vật rất gây chú ý ở trường học, được mọi người xem như hoa khôi của trường.

Bỗng một ngày, đôi chân của cô đột nhiên trở nên mềm yếu, không thể đứng vững được, thế rồi bị liệt, phải ngồi xe lăn đến trường.

Từ khi chân cô bị liệt, bạn bè từng người từng người một giữ khoảng cách với cô. Cô tự mình biết tình cảm con người khi nóng khi lạnh. Mọi người đều bày tỏ niềm thương cảm, nhưng người xung quanh cô ngày càng ít đi.

Mặc dù vậy, cô lại chuyên tâm vào học hành, bài vở vẫn rất tốt, thành tích vô cùng xuất sắc. Bố mẹ đưa cô đi khám bác sĩ nổi tiếng ở khắp nơi để chữa đôi chân bị liệt, Đông y, Tây y đều khám cả.

Kết quả chụp MRI cho thấy não bộ không có vấn đề, xương không có vấn đề, thần kinh không có vấn đề, cơ thịt không có vấn đề, gân cốt không có vấn đề.

Họ đi gặp kê đồng xem bói. Thế rồi: uống phù, uống tro hương, đem que hương về đun nước tắm.

Lại còn mời: bác sĩ xoa ấn, bác sĩ chỉnh xương, bác sĩ mát-xa, bác sĩ châm cứu, bác sĩ bấm huyệt, thầy kinh dịch, thầy xem tướng, bác sĩ tẩm quất.

Bố mẹ cô đã dùng hết mọi cách rồi nhưng cô con gái được nâng niu như ngọc quý này vẫn không thể đứng lên được. Nguyên nhân là gì? Không ai biết được.

Có người giới thiệu tôi, bố mẹ cô vốn cũng muốn đến, nhưng nghe được những lời bình luận đầy châm chọc của sư phụ mà họ quy y dành cho tôi.  "Không cần phải đến gặp con người này làm gì!"

"Tất cả mọi thứ về ông ta đều là giả!"

"Tôi khinh con người này tới nỗi ngay cả tên ông ta cũng không muốn nhắc tới!" "Giả làm Phật sống!"

"Quái lực loạn thần!"

Sư phụ quy y của họ cũng là một thầy tu già có tiếng trong giới Phật giáo, sư phụ không ưa Lư Sư Tôn, do vậy đã ngăn cản họ.

Qua một thời gian rất dài, hai vợ chồng lén bí mật đưa con gái lên núi gặp tôi. Tôi vừa sờ đầu một cái, nhìn ánh sáng trong lòng bàn tay thì thấy một bà lão có đôi chân bị thân cây leo quấn chặt lại, không thể di chuyển được dù chỉ một bước.

Tôi hỏi bổn tôn:

"Việc này có nghĩa là sao?"

Bổn tôn đáp:

"Bà nội của cô là thần hộ mệnh, đôi chân của thần hộ mệnh bị trói nên hai chân của cháu gái liền bị mềm ra."

Tôi đề nghị họ về mở quan tài của bà nội ra xem thử. Vừa mở quan tài ra:  

BINGO! (*)

Sự thật đúng là hai chân của bà nội bị thân dây leo quấn lại, chỉ cần cắt bỏ dây leo đi là xong. Bắt đầu từ hôm cắt bỏ đám dây leo trong quan tài đó, đôi chân của cô bé nữ sinh dần dần có lực trở lại. Cuối cùng, cô đã có thể đứng lên được rồi.

Bạn nói xem, có kì lạ không!

**Bingo:** xuất phát từ tên gọi của trò chơi Bingo, có ý nghĩa là reo lên, chính xác, đúng rồi!


### **39. Khỏi hẳn bệnh dị ứng da**


Có cô gái cầm theo ba tấm ảnh đến cầu xin tôi gia trì cho người thanh niên trong ảnh. Tôi hỏi:

"Người này là ai?"

Cô gái đáp:

"Là anh của con."

Tôi hỏi:

"Anh của cô bị làm sao?"

Cô gái đáp:

"Anh của con toàn thân bị bệnh dị ứng da, vừa ngứa vừa gãi, vừa gãi vừa ngứa. Dạo này từ đầu tới chân, không có chỗ nào là không có các ổ lồi lõm, không chỉ như vậy, chúng còn sưng đỏ, tấy lên và mưng mủ."

Tôi hỏi:

"Đã khám bác sĩ chưa?

Cô gái đáp:

"Châm cứu, uống thuốc, bôi thuốc, uống kháng sinh, tất cả đều đã làm rồi, nhưng đều vô hiệu."

Tôi chăm chú nhìn người thanh niên trong ba tấm ảnh, vừa nhìn tôi đã kinh hãi. Bởi vì người thanh niên từ đầu tới ngón chân, từ ngực tới lưng, từ tay tới chân, không có chỗ nào là không bị các vết cào xước lồi lõm, các loại ung nhọt, thực sự là khiến người khác nhìn thấy phải rùng mình.

Tôi nói:

"Trì chú An thổ địa chân ngôn - 50 vạn biến."

Cô gái đáp:

"Anh ấy đã trì được 10 vạn biến."

Tôi nói:

"Cứ tiếp tục trì đi!"

Tôi quán tưởng chính mình biến hóa thành bổn tôn, dùng tay phủ lên người thanh niên trong tấm ảnh, cảm thấy dòng chảy pháp từ tay đi vào trong tấm ảnh. Tôi nói:

"Được rồi đó!"

Cô gái hỏi:

"Việc gì được ạ?"

Tôi đáp:

"Sẽ có kì tích đó!"

Nghe nói, anh trai của cô gái này mơ thấy một giấc mơ, trong mơ nhìn thấy một người phụ nữ mặc y phục màu trắng, tướng mạo đoan chính, hỏi anh ta: "Toàn thân anh bị làm sao?"

"Bị dị ứng da nghiêm trọng." - Anh đáp.

Người phụ nữ mặc y phục trắng hỏi:

"Nếu tôi giúp anh chữa khỏi bệnh, anh hãy đi quy y Lư Sư Tôn!"

Anh trả lời:

"Đương nhiên rồi. Tôi niệm chú An thổ địa chân ngôn đã được 10 vạn biến. Lư Sư Tôn bảo tôi niệm 50 vạn biến, tôi vẫn tiếp tục niệm không ngừng đó!"

Người phụ nữ mặc y phục trắng lấy ra một tịnh bình, dùng một nhành cây vẩy nước, những giọt nước rơi lên toàn thân anh. Ở trong giấc mơ, anh cảm thấy vô cùng mát mẻ, da thịt rất dễ chịu. Anh lại nhìn thấy rất nhiều con sâu nhỏ màu đen từ trên da anh bò ra ngoài, rơi xuống đất rồi đột nhiên biến mất.

Người phụ nữ mặc y phục trắng nói:

"Bệnh dị ứng da của anh sẽ khỏi, nhưng trên mu bàn tay sẽ có một chỗ không khỏi, cần chờ đến khi anh niệm đủ 50 vạn biến chân ngôn thì tự động sẽ khỏi."

Nói rồi người phụ nữ mặc y phục trắng đi mất. Anh muốn chạy theo thì tỉnh giấc.

Bắt đầu từ ngày hôm đó, da của anh trở nên sạch hơn, không ngứa nữa, da từ từ bong ra những viết dị ứng, khoảng một tháng thì các vết đó mới hết hẳn. Nhưng trên mu bàn tay có một chỗ vẫn không khỏi.

Anh đến quy y tôi. Tôi nói:

"Người phụ nữ mặc y phục trắng là Quan Thế Âm Bồ Tát, anh đi cảm ơn Bồ Tát đi!"

Sau này, vết dị ứng trên mu bàn tay của anh cũng hoàn toàn khỏi hẳn rồi!


### **40. Tử Dương chân nhân đến**


Một hôm, trong lúc tôi ngồi tĩnh lặng, tay của tôi tự động kết ấn: Móc câu mời gọi (triệu câu ấn).

Từ trên không trung, một vị thiên nhân nhẹ nhàng duyên dáng hạ xuống. Tôi rất vui mừng, mau mắn hỏi:

"Xin hỏi là thánh hiền nào vậy?"

Đáp: "Tử Dương chân nhân."

Tôi hỏi:

"Chân nhân biết pháp Chuyết hỏa không?"

Tử Dương chân nhân đáp:

*"Nội hỏa thiên nhiên thực sự*

*Hừng hực cháy đỏ trong lò*

*Hít thở mỗi ngày chăm luyện*

*Thần diệu như lửa rồng thần."*

Tôi hỏi:

"Chân nhân có biết về Trung quán không?"

Tử Dương chân nhân đáp:

*"Thần thánh cao nhất phái này*

*Bình đẳng không còn phân biệt*

*Bất kể Phật hay Bồ Tát*

*Đều là khéo trùng hợp thôi."*

Tôi hỏi:"Chân nhân có biết pháp nước thần không?"

Tử Dương chân nhân đáp:

*"Nước này quý nhất nhân gian*

*Chảy trong hồ sen lấp lánh*

*Chuyết hỏa nhập với nước thần*

*Hiển lộ thần thông vi diệu."*

Tôi hỏi:

"Chân nhân có biết Vô lậu không?"

Tử Dương chân nhân đáp:

*"Biết dùng thì rất tuyệt diệu*

*Pháp này không thể xem thường*

*Làm bừa sẽ gánh tổn hại*

*Thành tựu, tất cả đều dừng."*

Tôi hỏi:

"Chân nhân biết giữ giới không?"

Tử Dương chân nhân đáp:

*"Đức hạnh tu được tám trăm*

*Công đức tích được ba nghìn*

*Hóa giải oan tình nhân thế*

*Bản nguyện bởi vậy đã thành."*

Tôi hỏi:

"Chân nhân biết về Thiền tông không?"

Tử Dương chân nhân đáp:

*"Thiền tông nghiên cứu bản tính thật*

*Chẳng ngờ biến hóa thật vô cùng*

*Quy bản hoàn nguyên không thể nói*

*Trước hết là có đại thần thông."*

Tôi hỏi:

"Làm sao để hàng phục phiền não?"

Tử Dương chân nhân đáp:

*"Phiền não không cần đi hàng phục*

*Nguồn gốc nằm ở không mong cầu*

*Trước không có thì sau không đến*

*Tích tắc ngộ ra thành Phật ngay."*

Tôi hỏi:

"Thế còn cái gì là không tu?"

Tử Dương chân nhân đáp:

*"Sau khi ngộ rồi tự không tu*

*Sắc - không sáng - tối vốn chẳng khác*

*Thật giả cũng nào phải là hai*

*Thiên Trúc Tào Khê đều rộng lớn."*

Tôi hỏi:

"Cái gì là vô thiện vô ác?"

Tử Dương chân nhân đáp:

*"Tất cả đều không đặt vào tâm*

*Tâm này trống rỗng không tên gọi*

*Nhậm vận tự tại để mặc nó*

*Đói ăn khát uống cứ thế thôi."*

Tôi hỏi:

"Cái gì là vô sinh pháp nhẫn?"

Tử Dương chân nhân đáp:

*"Nguyên nhân quả báo bởi trời người*

*Chẳng có nhân duyên trở về nguyên*

*Tất cả tình thù và ái hận*

*Là kịch, là mơ, là khói sương."*

Tôi nói:

"Điều ngài nói, tôi đều đã biết."

Tử Dương chân nhân nói:

"Ngài biết, tôi biết, người khác không biết."

Ha ha ha!

Tử Dương chân nhân cười lớn rồi đi.


### **41. Tổ sư của Đại Viên Mãn - Garab Dorje**


Theo tôi được biết, lai lịch của ngài Garab Dorje (Cực Hỷ Kim Cương) là như sau:

100 năm sau khi Đức Phật tịch diệt, ngài Garab Dorje hạ sinh tại nhân gian. Kiếp trước của ngài Garab Dorjie là Đao Lợi Thiên, con trai của thiên nhân Sang Jiong của 33 cõi trời. Ngài cũng là Thắng Tâm Thiên Tử trong số 500 vị thiên tử, trên thiên thượng giới đã tu chứng pháp Đại Viên Mãn.

Ngài hạ sinh làm con trai của công chúa con quốc vương đất nước Ổ Kim Quốc (Uddiyana). Công chúa cũng là một tỳ kheo ni xuất gia.

Tỳ kheo ni này có một giấc mơ:

Mơ thấy một người con trai toàn thân tỏa sáng rực rỡ đi vào trong bào thai. Ngũ Phương Phật dùng bảo bình dội lên đầu của tỳ kheo ni ba lần. Tỳ kheo ni công chúa mang thai 12 tháng thì hạ sinh ngài Garab Dorje. Tỳ kheo ni rất xấu hổ, đem đứa bé ném vào trong hố đất sâu trên núi, ba ngày sau đứa bé vẫn không chết. Tỳ kheo ni nhận ra đây là thánh hiền hạ giáng liền đem về nuôi dưỡng.

Khi Garab Dorje bảy tuổi đã cùng với 500 vị pandita (*) bàn luận về pháp nghĩa của Phật giáo, kết quả là Garab Dorje chiến thắng, các đại thiện tri thức vô cùng kinh ngạc. Tiếp đó Garab Dorje đến núi Thái Dương Quang Minh đóng cửa tịnh tu đến năm 32 tuổi.

Kim Cương Thủ Bồ Tát xuất hiện, ban quán đảnh cho Garab Dorje, khai mở ra kí ức kiếp trước ngài đã tu thành tựu pháp Đại Viên Mãn, chỉ trong một sát-na, ngài đã đắc được vô thượng chính đẳng chính giác. Garab Dorje đã ghi chép thành văn bản pháp Đại Viên Mãn.

Trong khu rừng Thi Đà Lâm (rừng vứt xác) ở thành Thi Đạt Ngõa, ngài đã giảng pháp Đại Viên Mãn cho rất nhiều người tu hành. Lúc này Diệu Cát Tường Hữu (Manjushrimitra) đến học pháp, Diệu Cát Tường Hữu đã dành thời gian 70 năm đi theo ngài Garab Dorje để học pháp môn Ninh Đề (tâm trong tâm) quan trọng nhất.

Cuối đời, Garab Dorje phát quang làm rung chuyển mặt đất, toàn thân hóa thành cầu vồng, tan biến vào pháp giới.

Những điểm chính trong câu chuyện này là:

1. Kiếp trước có liên hệ tới kiếp này.

1. Ngài là vị tổ sư con người đầu tiên.

1. Sự ra đời kì lạ.

1. Tài hùng biện xuất sắc.

1. Kim Cương Thủ mở ra kí ức của kiếp trước.

1. Trong tích tắc một sát-na đắc chứng Phật quả.

1. Dạy pháp tại Thi Đà Lâm.

1. Truyền pháp cho Diệu Cát Tường Hữu.

Tên gọi Garab Dorje có nghĩa là Cực Hỷ Kim Cương. Các vị pandita gọi ngài là Bát Nhã Ba La (Trí huệ tự tính). Garab Dorje còn có tên gốc là Devaputra Adhicitta, là tên do Quốc Vương đặt.

Tôi viết bài kệ về ngài Garab Dorje:

Bài thứ nhất:

*Cõi trời đã ngộ, Ngài xuống nhân gian*

*Mọi vật cuối cùng, đều tan như khói*

*Chỉ cầu tùy duyên, độ được thì độ*

*Thường hằng duy nhất, lợi ta lợi người.*

Bài thứ hai:

*Muốn “không sinh ra” cần tu tinh tấn*

*Quan tâm dồn về hai chữ "chân tâm"*

*Đạo đây sắc thể vô hình vô tướng*

*Một tiếng Mani ấy chính chân kinh.*

Bài thứ ba:

*Ngũ nhãn tam thân tứ trí*

*Lục độ vạn hạnh tu tề*

*Tùy duyên chỉ tiếp người tin*

*Đưa tay trở về cõi thực.*

Tôi cảm thấy các vị tổ sư trong lịch sử đều có những điểm kì diệu, nói cách khác là lai lịch đều phi thường. Đệ tử có thể học Phật pháp cũng là do có nhân duyên từ kiếp trước!

**Pandita:** là một danh hiệu trong Phật giáo Ấn Độ dành cho những học giả đã thông thạo năm môn khoa học: ngôn ngữ, lý luận, y học, nghệ thuật và thủ công, tâm linh.


### **42. Đạo sư Manjushrimitra mà tôi biết**


Diệu Cát Tường Hữu sinh ra trong một gia đình Bà-la-môn giàu có, từ nhỏ ngài đã yêu thích Phật pháp. Ngài còn có tên gọi là Manjushrimitra.

Ngài học Phật pháp từ 500 vị đại thiện tri thức, đã học Bát thứ đệ pháp.

Một hôm, Văn Thù Bồ Tát hiện thân nói:

"Trong Phật pháp, con học tới Bát thứ đệ, vẫn còn một bậc nữa con vẫn chưa học tới."

Diệu Cát Tường Hữu đáp:

"Con đã là một bậc pandita lớn, Phật pháp đều biết, vẫn còn có đạo chưa biết sao?"

Văn Thù Bồ Tát nói:

"Chỉ có Cực Hỷ Kim Cương (Garab Dorje) mới là bậc toàn trí, con nên tìm đến ngài để học tập."

Diệu Cát Tường Hữu nói:

"Con không phục, con phải đi thử thách ông ta!"

Thế là…

Tại khu rừng Thi Đà Lâm ở thành Thi Đạt Ngõa đã tổ chức một cuộc thi biện luận, không ngờ ngài Garab Dorje đã chiến thắng Diệu Cát Tường Hữu. Diệu Cát Tường Hữu rất xấu hổ, tìm dao muốn cắt lưỡi mình để biểu thị ý tạ tội. Garab Dorje nói:

"Cắt lưỡi vô ích, càng tăng nghiệp tội, làm tổn thương đến thân Phật vi diệu của chính mình, không bằng đem tất cả Phật pháp tập hợp lại, giúp cho tất cả chúng sinh được ích lợi."

Diệu Cát Tường Hữu bởi vậy đã bái Garab Dorje làm thầy, theo thầy suốt 75 năm.

Lại có một ngày, ngài Garab Dorje hóa thành cầu vồng nhập niết bàn, Diệu Cát Tường Hữu vội vàng cầu thỉnh tâm yếu quan trọng. Garab Dorje từ trong hư không trung ném xuống "Tam yếu ngữ" rơi trúng đầu Diệu Cát Tường Hữu, bởi vậy Diệu Cát Tường Hữu đã đắc chính đẳng chính giác - minh tâm kiến tính.

Sau này Diệu Cát Tường Hữu đã chỉnh lý pháp Đại Viên Mãn của ân sư thành 640 vạn bài kệ, phân làm ba bộ:

◾ Tâm bộ --- Trú tâm pháp môn.

◾ Giới bộ --- Cần tu pháp môn.

◾ Khẩu bộ --- Yếu quyết pháp môn.

Sau này, Diệu Cát Tường Hữu đã hoằng pháp 109 năm tại rừng Thi Đà Lâm, thành Tác Tát Châu ở phía tây Bodhgaya. Ở đó ngài đã truyền dạy pháp Đại Viên Mãn hoàn chỉnh cho Cát Tường Sư Tử (Shri Singha).

Tại đây tôi nói cho mọi người biết:

Cách nhập niết bàn của Diệu Cát Tường Hữu giống với Cực Hỷ Kim Cương, hóa thành cầu vồng bay lên thiên giới. Việc này vẫn còn chưa hết.

Diệu Cát Tường Hữu bởi vì việc độ hóa Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, ngài đã xuống trần gian một lần, ở Tây Thiên Trúc, sinh ra từ trong hoa sen, biến thành Liên Hoa Đồng Tử. Vị Liên Hoa Đồng Tử đó được người đời sau gọi là Hậu Diệu Cát Tường Hữu. Ngài đã từng thuyết pháp cho Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.  Đây là: Liên Hoa Đồng Tử truyền pháp cho Liên Hoa Đồng Tử.

Tôi viết bài kệ tặng Diệu Cát Tường Hữu. Cảm thán rằng:

*Không đến từ trời*

*Chẳng từ thiên cung*

*Nhưng nhân tính Phật tính không khác biệt*

*Như mặt trời vẫn mọc phương Đông*

*Người Phật tương thông*

*Cho dù biến hóa*

*Học pháp công đức cùng*

*Trong tâm lửa tự cháy*

*Chăm tu nước tự rơi*

*Trong bông hoa sen có tự tính*

*Tỏa hào quang*

*Hiện lung linh.*


### **43. Lư Quân**


Tôi trở về Seattle nước Mỹ, vừa ra khỏi sân bay, nhìn thấy Lư Hồng và Lư Quân tới đón, thế là trước tiên tôi phải ra ôm hai đứa cháu này một cái.

Cháu trai cháu gái gọi:

"Ông ơi! Ông ơi!"

Ai nói người xuất gia là đi ra khỏi nhà, không còn nhà nữa? Tôi đối với các cháu của mình càng yêu thương hơn cả trước đây.

Bởi vì rốt cục: Ông bà nội vẫn yêu thương nhất là các cháu.

Tôi nhìn Lư Hồng, cậu bé vẫn còn nhỏ lắm, tôi lại mong cháu mau lớn mau cao.

Tôi nhìn Lư Quân, kinh ngạc!

Không ngờ toàn thân Lư Quân bị dị ứng da. Vốn dĩ cháu gái tôi có nước da trắng trẻo mịn màng, mỗi khi đỏ mặt trông đáng yêu vô cùng. Bây giờ khắp người có những nốt đỏ, ngay cả trên đầu, trên mặt, trên tay, trên chân, trên lưng, trước ngực đều có, gần như khắp người đều lốm đốm nốt đỏ.

Nghe nói những đứa trẻ con châu Á sinh ra ở phương Tây đều mắc phải bệnh da bị quá mẫn cảm. Có đứa lớn lên sẽ tự khỏi. Có đứa sẽ không khỏi. Chẳng thể ngờ da của Lư Quân mẫn cảm dị ứng tới mức này. Vốn dĩ cô bé có khuôn mặt rất đáng yêu, bây giờ khắp mặt bị lỗ rỗ.

Đã đi khám bác sĩ chưa? Đã khám rồi!

Bác sĩ dùng thuốc, không phải kháng sinh, chính là dùng steroid để tẩy, đã lâu rồi chưa khỏi.

Bác sĩ hướng dẫn khi tắm không được dùng nước nóng.

Bác sĩ hướng dẫn hạn chế tắm.

Bác sĩ hướng dẫn buổi tối đi ngủ mặc quần áo dài để tránh bị ngứa mà dùng tay gãi, gãi trầy da sẽ bị sưng tấy, sẽ càng nghiêm trọng hơn.

Đối với vấn đề tắm rửa cần như vậy là bởi vì sau khi tắm xong, da sẽ trở nên khô, kiểu khí hậu ở Đại Lục vốn dĩ rất khô, người có da mẫn cảm đều cần phải xoa kem dưỡng da ban đêm.

Lư Quân đã đi khám bác sĩ nhiều lần, tất cả đều không khỏi, việc này thực sự rất tồi tệ. Lại còn có quy định cái gì được ăn, cái gì không được ăn, khiến cho khuôn mặt của Lư Quân trở nên gầy tọp và dài ra. Tôi nhìn cháu gái mà đau lòng vô cùng.

Có lần, Lư Hồng, Lư Quân đến nhà ông bà nội ngủ qua đêm. Nhân cơ hội này, tôi gọi Lư Hồng, Lư Quân đến quỳ xuống trước đàn thành, tôi dùng tay sờ đầu Lư Hồng, Lư Quân.

Tôi cầu nguyện:

Lư Hồng mau mau lớn!

Da của Lư Quân mau mau khỏi.

Tôi cầu nguyện Diêu Trì Kim Mẫu gia trì thêm cho cháu trai và cháu gái của tôi. Hai đứa ngoan ngoãn chắp tay lại, cũng ra dáng lắm. Tôi lại dùng ấn "tứ tung ngũ hoành" gia trì cho bình nước thánh Diêu Trì Kim Mẫu rồi cho Lư Quân uống.

Một tuần sau, kì tích đã xảy ra!

Các vết sần đỏ trên mặt không còn nữa, các vết sần đỏ trên cổ không còn nữa, toàn thân bị các đám sần đỏ cũng đều hết. Vốn dĩ khắp người là các vết sần đỏ, giờ đây đều hết, chỉ còn để lại chút dấu vết. Các dấu vết này cần thêm một khoảng thời gian nữa thì mới có thể hoàn toàn hết hẳn.

Như thế này đã là rất tốt rồi!

Vào ngày 16 tháng 6 (chủ nhật), hôm đó là Ngày Của Bố, Lư Quân viết tặng ông nội một cái thiệp, nói:

"Cảm ơn ông nội đã gia trì! Cảm ơn Kim Mẫu!"

Tôi hướng về Diêu Trì Kim Mẫu cầu nguyện.

Xin nguyện thông qua pháp lực của bàn tay tôi, sức mạnh có thể chảy xuyên vào trong thân tâm của các đệ tử, ai nấy thân thể được khỏe mạnh, tâm hồn vui vẻ, tu hành thành tựu!


### **44. Châm cứu trong giấc mơ**


Sư huynh họ Hồng từ Edmonton, Canada đưa vợ đến Seattle Lôi Tạng Tự tìm gặp tôi.

Anh kể:

Anh bị đau lưng đã 15 năm nay rồi, chữa Đông Tây y khắp nơi đều không khỏi. Anh đọc sách và biết được chuyện nhiều năm trước đây Lư Sư Tôn từng bị mắc hội chứng não phân liệt, tứ đại phân tán, Lư Sư Tôn từ Đài Loan bay qua Hàn Quốc, đến các chùa viện và tháp Phật lớn nhỏ để lạy Phật và đi nhiễu tháp.

Lư Sư Tôn đã nhiễu tháp Phật Đa Bảo.

Đã đảnh lễ Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật (Đại Phật).

Kính lễ Bạch Quang Bồ Tát, Nguyệt Quang Bồ Tát, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, 12 thần tướng Dạ Xoa…

Trên đường quay trở về Seoul, Sư Tôn đã tận mắt nhìn thấy Phật Dược Sư và quyến thuộc của ngài, trong lòng vô cùng cảm động, bởi vậy mà tự biết rằng: chứng bệnh não phân liệt, tứ đại phân liệt của mình chắc chắn sẽ khỏi.

Sau đó, quả nhiên là Sư Tôn khỏi bệnh! Bởi vậy sư huynh họ Hồng cho rằng công đức của việc đến chùa lạy Phật và đi nhiễu tháp là cực kì lớn.

Sư huynh họ Hồng liền từ Canada bay tới Nhật Bản. Anh cũng học theo Lư Sư Tôn, đến các chùa viện và tháp Phật ở khắp nơi trên đất nước Nhật Bản để lạy Phật nhiễu tháp. Anh cũng đến lạy ở điện Dược Sư.

Đêm đó, anh mơ thấy Lư Sư Tôn từ trong không trung từ từ hạ xuống, châm cứu cho anh ở phần lưng. Cả tấm lưng anh bị châm đầy kim châm cứu. Sau đó Lư Sư Tôn lại nhổ kim châm cứu ra từng cái từng cái một.

Ngày hôm sau tỉnh dậy, lưng anh vẫn đau như lúc trước, không hề thấy khỏi ngay.

Nhưng! Cái lưng đau mỗi ngày mỗi ngày qua lại thuyên giảm. Cách vài ngày, lưng anh đã hoàn toàn khỏi đau hẳn! Cái lưng đau 15 năm không ngờ sau khi châm cứu đã hoàn toàn không còn đau nữa. Thực sự là kì tích!

Sư huynh họ Hồng cho rằng:

"Chính là kĩ thuật châm cứu của Lư Sư Tôn đã cứu anh!

Ở đây tôi xin nói rõ:

Tôi vốn không phải là bác sĩ Đông y, cũng không phải là thầy thuốc châm cứu. Tôi hoàn toàn không biết gì về kĩ thuật châm cứu. Muốn học Đông y thì phải thi. Châm cứu cũng cần phải thi. Cả hai thứ đều phải có giấy phép, không thể làm bừa. Nhưng trong giấc mơ vốn có thể xảy ra những việc quái lạ dị thường, có thể châm cứu mà không cần giấy phép.

Còn nữa.

Lư Sư Tôn vốn dĩ không hề biết châm cứu, vì sao trong mơ lại có thể châm cứu cho người khác? Đáp án rất đơn giản.

Tôi nói:

Tôi chỉ muốn lên thiên thượng giới, làm Nhật Đức thượng nhân, Nguyệt Đức thượng nhân, Thiên Y thượng nhân của thiên thượng giới. Ba vị thiên nhân này và Lư Sư Tôn là một. Chính là tôi biến thành Thiên Y thần thánh, tự nhiên có thể châm cứu khỏi bệnh đau lưng của sư huynh họ Hồng.

Nhưng chỉ có thể ở trong mơ mới châm nghìn vạn mũi kim được thôi. Ở trong mơ thì làm như vậy không phạm pháp! (Ha ha ha!)

Sự việc này, sự tích thần kì này, người bình thường đều thấy là rất kì diệu, không thể tưởng tượng được. Nhưng trên thực tế, sự việc này thực sự không phải là mơ, mà là sự thật.


### **45. Sư phụ nắn xương**


Có đệ tử cao tuổi, buổi sáng tỉnh giấc do bật dậy quá đột ngột đã bị ngã khỏi giường, chân yếu nên cả người ngã nhoài trên mặt đất nền gạch. Lúc ngã xuống, người lập tức có phản ứng là đưa tay ra trước để chống xuống đất, một tiếng "ka-cha", thế là gãy xương, đau đớn kêu thấu trời.

Mọi người mau chóng chạy tới, gọi xe cứu thương, khẩn cấp đưa ông tới bệnh viện.

Bác sĩ nói:

"Bị gãy xương, ngoài ra không có vấn đề gì khác."

Thế là bác sĩ chỉnh xương thẳng lại rồi nhanh chóng bó bột. Một cánh tay của ông phải giơ thẳng hướng lên trên, giống như đang giơ tay vẫy gọi người khác vậy.

Bác sĩ nói:

"Tháo bó bột ra thì sẽ khỏi thôi!"

Bác sĩ nói:

Người cao tuổi buổi sáng ngủ dậy, trước tiên cần nằm trên giường vài phút, đợi cho ý thức của toàn cơ thể thức dậy rồi mới bước xuống giường.

Bởi vì thường thường người già khi mới thức giấc, ý thức vẫn còn chưa tỉnh, đột ngột xuống giường thì chân không kịp nghe được "hiệu lệnh", rất dễ ngã.

Những tình huống dễ ngã gồm có:

Bước ra khỏi giường.

Không biết có bậc thềm.

Bước hụt bậc cầu thang.

Trượt chân trong phòng tắm.

Bác sĩ nói:

Thức dậy cần chậm, trước tiên nán lại trên giường cũng tốt.

Đi đường cần chú ý có bậc cao thấp hay không.

Bước lên cầu thang cần bám vào tay vịn, chú ý bậc thang dưới chân, dừng chân lại một chút, đặc biệt là ở những bậc cầu thang cuối cùng cần nhìn cho rõ ràng. Lúc leo cầu thang, không nói chuyện hoặc chào hỏi người khác, chỉ lơ đãng một chút là sẽ ngã ngay.

Chuyện trượt chân ngã trong phòng tắm rất nhiều, nguyên nhân là: sàn trơn, bồn tắm cao thấp, làm rơi rớt xà phòng trên nền đất, chỉ cần dẫm chân vào một cái là trượt ngã, sẽ bị chấn động não.

Ngoài ra, không đi trên nền đất mọc rêu, không dẫm lên đá mọc rêu, không bước qua rãnh nước, v.v.

Người đệ tử già sau khi bó bột xong thì cánh tay vẫn cảm thấy đau, mỗi ngày càng trở nên đau đớn hơn. Đệ tử già lại tới bệnh viện chụp X-quang thì phát hiện ra đầu xương vẫn chưa được chỉnh vào đúng vị trí, không thẳng, hơi chệch một chút. Ngoài ra còn có một mảnh xương vỡ nhỏ, do vậy mà cánh tay vẫn rất đau.

Bác sĩ nói:

Phải tháo bó bột ra rồi chỉnh lại từ đầu.

Trước khi tới bệnh viện, đệ tử già đến Lôi Tạng Tự cầu nguyện cho tất cả mọi việc được bình an thuận lợi. Vừa hay gặp được tôi (Lư Sư Tôn), ông liền cầu thỉnh tôi sờ đầu, sờ tay gia trì. Tôi dùng tay phải sờ vào tay phải của đệ tử, sờ lên phần bó bột một lượt, đồng thời niệm chú.

Đêm đó, Lư Sư Tôn xuất hiện trong giấc mơ của đệ tử. Lư Sư Tôn nói:

"Tôi thay ông nắn lại xương."

Lư Sư Tôn nắm lấy cánh tay của đệ tử giống như đang chơi đồ chơi vậy, cầm tay quay vòng vòng như con quay, lại một tiếng "ka-cha", có vẻ như đã chỉnh thẳng rồi.

Trong giấc mơ, tay cũng không còn đau. Vô cùng kì lạ.

Đệ tử già tới bệnh viện để tháo bó bột như đã hẹn, trước khi chỉnh xương lại chụp X-quang.

Lúc này bác sĩ khoa xương mắt mở to hết cỡ, vô cùng kinh ngạc. "Xương đã nối liền với nhau rồi, chỗ bị gãy cũng không thấy đâu nữa!" Bác sĩ hỏi:

"Ai nắn xương vậy?"

Đệ tử già đáp:

"Lư Sư Tôn đã nắn!"


### **46. Chứng hay quên**


Có một câu chuyện cười thế này:

Một người mắc bệnh hay quên, anh đi gặp bác sĩ chuyên khoa để khám bệnh.

Bác sĩ hỏi:

"Anh quên cái gì?"

Bệnh nhân đáp:

"Mỗi lần mua đồ thường hay quên trả tiền."

Bác sĩ vội vàng gọi y tá:

"Mau lên, kêu ông ta thanh toán tiền phí khám bệnh trước đã!"

(Ha! Ha! Ha!)

Còn nữa.

Bác sĩ lại hỏi:

"Anh còn quên chuyện gì nữa?"

"Quên đông quên tây, cái gì cũng quên. Xin hỏi bác sĩ, bệnh này chữa thế nào?" Bác sĩ đáp:

"Phương pháp chữa bệnh hay quên tốt nhất chính là quên luôn việc mình bị bệnh hay quên đi."

(Ha! Ha! Ha!)

Ở đây tôi lấy một ví dụ:

Có một đệ tử nữ tuổi trung niên bị mắc bệnh hay quên.

Quên uống thuốc.

Quên đóng cửa.

Quên kính.

Quên tắt bếp lò.

Quên ví tiền.

Quên cầm ô.

Quên mã số két sắt.

v.v.

Bà học Phật, đã đọc không ít kinh điển, nhưng đọc mà cũng như chưa đọc, dù một câu bà cũng không thể nhớ được, nhớ rồi quên ngay, việc này khiến bà cảm thấy vô cùng đau khổ.

Bà quên cách đọc chú ngữ.

Bà quên cách kết thủ ấn.

Bà quên cách quán tưởng.

Cả nghi quỹ tu tập bà cũng quên gần hết.

Ngồi xuống nghe pháp, lúc nghe thì bà vẫn còn nhớ, nghe xong không lâu thì đã quên sạch sành sanh.

Hỏi bà:

"Hôm qua Sư Tôn giảng pháp đã nói gì?"

Bà đáp:

"Quên hết rồi, đầu tôi trống rỗng."

Thế rồi bà xin tôi sờ đầu gia trì, tôi sờ đầu cho bà nhiều lần, bà vẫn không thể nhớ được. Tôi vẽ phù cho bà, cũng không khiến bà nhớ được. Đưa nước cam lộ cho bà uống, cũng vô ích.

Niệm "Hư Không Tạng Bồ Tát cầu văn trì chân ngôn", niệm từng chữ từng chữ, niệm từng ngày từng ngày, vô hiệu.

Chính tôi cũng không thể nghĩ ra cách gì nữa, điều này làm cho tôi cũng cảm thấy thần kinh mình có chút lơ ngơ, trong đầu cũng trống rỗng.

Một hôm, Anan Tôn giả hạ giáng. (Không mời mà đến.)

Tôi đột nhiên lóe lên linh quang, Anan Tôn giả là Đa Văn đệ nhất, là vị Tôn giả nghe một lần thì không bao giờ quên, ngài Anan nhất định sẽ có cách. Anan Tôn giả nói với tôi:

"Ngài quán tưởng tôi, tôi trụ ở đỉnh đầu ngài, còn ngài thì gia trì."

Tôi lại sờ đầu cho bà. Lần này thì hoàn toàn khác. Bà mơ thấy Bát công đức thủy (*) chảy vào trong não của bà, lại còn mơ thấy nhiều bộ "Kinh tục luận" lấp đầy trong não, lại mơ thấy tôi lấy sách mà tôi viết đem lấp đầy trong não của bà.

Quá khứ, hiện tại, tương lai, từng việc một hiển hiện trước mắt.

Trời ạ!

Khả năng ghi nhớ của bà bây giờ rất tốt, khác hẳn người thường. Cả những con số, cộng, trừ, nhân, chia, bà trả lời rất nhanh.

Bây giờ bà đã có trí nhớ số một, việc gì qua trước mắt là nhớ ngay!

**Bát công đức thủy:** nước quý có tám loại công đức.


### **47. Tôi ăn ba quả trứng**


Một buổi tối, trong giấc mơ tôi nhìn thấy ba đệ tử khấu đầu trước tôi, ngay sau đó ba đệ tử này mỗi người cúng dường tôi một quả trứng luộc lòng đào. 

Tôi hỏi:

"Mấy quả trứng này sao lại kì lạ thế, không có vỏ trứng?"

Ba đệ tử nói:

"Đây là loại trứng không có vỏ."

Tôi hỏi:

"Sao mấy người lại có?"

Ba người đáp:

"Trứng tự sinh ra từ trong người chúng con, chúng con cũng không rõ là thế nào."

Tôi ăn ba quả trứng này vào bụng. Ba đệ tử hướng về tôi cảm ơn. Giấc mơ kì lạ này khiến tôi tỉnh giấc!

Ngày hôm sau.

Quả thực có ba đệ tử từ một đất nước xa xôi tìm đến xin tôi sờ đầu gia trì. Tôi hỏi:

"Có việc gì vậy?"

Ba đệ tử đáp:

"Ba người chúng con đều có khối u trong ruột, bác sĩ nói chúng con cần phẫu thuật cắt bỏ, nên đặc biệt tới đây cầu thỉnh Sư Tôn sờ đầu, sau đó quay trở về bệnh viện để cắt bỏ ba cái khối u này."

Tôi nói:

"Các vị đều không sao nữa rồi!"

Ba người hỏi:

"Vì sao lại không sao ạ?"

Tôi đáp:

"Đêm qua tôi nằm mơ thấy mình ăn ba quả trứng, tôi tin rằng trứng mà tôi ăn chính là khối u trong người của các vị. Các vị không tin thì tới bệnh viện kiểm tra lại. Khối u trong người các vị thực sự là không còn nữa, đã bị tôi ăn rồi!" "Có thật vậy không?"

"Thật."

Sau đó ba đệ tử đi kiểm tra lại, quả nhiên thực sự phát hiện ra khối u ung thư trong ruột đã không thấy đâu nữa rồi!

Ba người nói:

"Ba khối u biến mất, mà Lư Sư Tôn ăn ba quả trứng, chẳng lẽ nào là một kiểu chịu thay, Lư Sư Tôn không lẽ sẽ sinh ra ba khối u sao, việc này chẳng phải là hại Lư Sư Tôn rồi sao?"

Tôi đáp:

"Tôi không sao."

"Vì sao vậy?"

Tôi đáp:

"Ba quả trứng đó tôi đã nhai nát rồi, ăn vào trong bụng, tiêu hóa rồi bài tiết ra ngoài hết rồi."

Việc này thực sự là vô cùng kì quái. Không ngờ ba quả trứng lại là ba khối u.

Lại có một lần, tôi mơ thấy mình nhai vỏ cây. Vỏ cây này trông rất thô cứng, nhưng tôi lại nhai hết sạch cả vỏ cây. Tỉnh giấc mơ, tôi thấy lại là một giấc mơ quái lạ.

Thế rồi tôi gặp một đệ tử đến cầu xin tôi sờ đầu. Đệ tử vén áo khoác và xắn quần dài lên cho tôi xem. Trời ạ! Da anh phủ đầy các vết lốm đốm, ngay cả bên trong quần cũng có, thực sự là toàn thân bầm dập.

Tôi nói với anh:

"Anh sẽ khỏi!"

Anh đáp:

"Đã 30 năm nay rồi, tất cả các loại thuốc con đều đã dùng rồi, liệu có thể khỏi sao?"

Tôi nói:

"Ba ngày sẽ khỏi!"

Quả nhiên ba ngày sau anh khỏi bệnh, không cần uống thuốc, bởi vì Lư Sư Tôn đã "xử" hết sạch bệnh ngoài da của anh rồi.


### **48. Bàn tay là thuốc giảm đau**


Chuyện thứ nhất:

Có Trần Truyền Phương đến Cầu Vồng Lôi Tạng Tự tham dự pháp hội Hộ Ma (hỏa cúng), hai đầu gối của bà bị đau một cách bất thường, ảnh hưởng tới đi lại. Bà xin Lư Sư Tôn gia trì. Tôi dùng tay vỗ vỗ lên hai đầu gối của bà. Vỗ xong thì không còn thấy đau nữa.

Một tháng sau, bà lại đến Seattle Lôi Tạng Tự tham gia pháp hội, bà nói: "Đầu gối con bị đau đã nhiều năm rồi, sau khi được Sư Tôn vỗ xong thì không đau nữa."

Bà nói:

"Tay của Lư Sư Tôn là thuốc giảm đau đó!"

Chuyện thứ hai:

Chị của pháp sư Lệ Lệ đến tham gia buổi đồng tu Trường Thọ Phật vào ngày sinh nhật của tôi. Đột nhiên lưng dưới và hai đầu gối của bà bị đau, đau tới mức bà phải ngồi xổm dưới đất, không đứng lên được. Bà định gọi xe đưa về nhà nghỉ ngơi. Pháp sư Lệ Lệ nhìn thấy việc này nên xin tôi gia trì.

Tôi dùng tay vỗ một chút vào lưng dưới của bà, vỗ một chút vào hai đầu gối của bà. Trước khi buổi đồng tu Trường Thọ Phật bắt đầu, cái lưng đau của bà đã hết đau, hai đầu gối cũng hết đau. Thế là bà đã có thể ở lại tham gia buổi đồng tu.

Bà nói:

"Tay của Lư Sư Tôn là thuốc giảm đau đó!"

Chuyện thứ ba:

Có đệ tử tên là Nghiêm Thành một buổi tối nằm ngủ bị cứng cổ, cổ bị đau dị thường, lại còn không thể cử động được.

Anh dán cao Salonpas.

Anh dán thuốc của Tây Tạng.

Anh uống thuốc giảm đau, thuốc tiêu viêm.

Sau một tháng, cổ vẫn chưa khỏi đau, cơn đau không dứt mà cổ anh còn bị nổi ban do dán thuốc.

Nghiêm Thành đến Lôi Tạng Tự tìm tôi, tôi dùng tay vỗ vỗ lên cổ anh. Cách một ngày sau, cổ anh hoàn toàn hết đau, ngay cả vết đỏ rát cũng mất luôn.  Nghiêm Thành nói:

"Tay của Lư Sư Tôn là thuốc giảm đau đó!"

Chuyện thứ tư:

Có một người tên là Kính Hùng từ phương xa đến thăm Seattle, lúc ở trên máy bay thì bị đau răng. Vừa xuống máy bay là anh tới ngay bệnh viện để khám răng, phát hiện ra là bị viêm lợi.

Một bên mặt bị sưng húp, đau tới mức kêu oai oái, phải uống thuốc giảm đau và tiêu viêm mà bác sĩ cho, nhưng không hết ngay, thế là anh tới cầu xin tôi gia trì.

Tôi vỗ vào bên mặt bị sưng của anh một chút.

Kì tích!

Lập tức tiêu viêm, cũng không còn đau nữa!

Kính Hùng nói:

"Tay của Lư Sư Tôn là thuốc giảm đau đó!"

Chuyện thứ năm:

Có một cô gái tên là Mỹ Kỳ, trước lúc pháp hội ở Cầu Vồng Lôi Tạng Tự bị đau tim, đau tới mức sắc mặt xanh mét, mồ hôi liên tục túa ra, cô đến tìm tôi xin gia trì.

Tôi đứng cách một khoảng, dùng "kiếm chỉ ấn" hướng vào vị trí tim của cô để phát công, chỉ trong một sát-na. Sắc mặt cô chuyển từ xanh sang hồng. Không đổ mồ hôi nữa. Cơn đau tim cũng dứt.

Cô nói:

"Tay của Lư Sư Tôn là thuốc giảm đau đó!"

Tôi nói:

"Có bệnh, có đau, trước tiên cần khám bác sĩ, sau đó mới tới tìm tôi xin gia trì!"


### **49. Giới luật của Thời Luân Kim Cang**


Ngày trước (năm 2000), trong pháp hội Thời Luân Kim Cang tại Hồng Kông Thượng sư Liên Hàn đã từng nói về giới luật của Thời Luân Kim Cang.

Hôm nay tại pháp hội Thời Luân Kim Cang ở London nước Anh, tôi nhắc lại giới luật của Thời Luân Kim Cang.

**Trước tiên phải giữ không rơi vào 14 đọa giới cơ bản:**

Khinh chê phỉ báng Căn bản Thượng sư.

Khinh chê giáo huấn về mật giới.

Phê phán, nói về lỗi lầm của huynh đệ Kim cương thừa đồng môn.

Từ bỏ sự phát tâm từ bi với chúng sinh hữu tình.

Không hành trì tâm bồ đề

Phỉ báng bắt lỗi kinh điển.

Tiết lộ pháp bí mật cho người chưa đủ chín muồi.

Khi chê thân người của chính mình, coi thường ngũ âm. (*)

Từ bỏ thực hành tính Không.

Không ghi nhớ quan kiến về tình Không.

Thân cận làm bạn với kẻ độc hại, vô đạo đức.

Phá hoại tín tâm và giáo pháp mật thừa của hành giả khác.

Không giữ gìn lời thệ nguyện giữa thầy và trò.

Khinh chê nữ giới.

**Giữ 18 giới cơ bản, không được làm những điều sau:**

Khen mình chê người.

Không dạy Phật pháp hoặc không giúp đỡ vật chất cho người cần.

Không tha thứ cho người cầu xin sám hối.

Từ bỏ Đại thừa.

Ăn trộm những thứ thuộc về Phật, pháp, tăng.

Từ bỏ Phật pháp.

Ăn trộm quần áo của tăng nhân.

Năm tội vô gián.

Tà kiến.

Phá hoại thay vì tu sửa.

Giảng về tính Không cho người chưa đạt tầm mức hiểu được.

Khiến người khác từ bỏ con đường đạo vô thượng.

Khiến người khác phá bỏ giới luật.

Phỉ báng Tiểu thừa.

Chưa ngộ nhưng đã tuyên bố mình đã ngộ ra tính Không đích thực.

Nhận tiền phi nghĩa.

Coi thường quy tắc lễ nghi.

Từ bỏ lời thề giúp ích cho người khác.

**25 hành vi theo quy tắc:**

Ngũ đại ác --- cần tránh sát sinh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ, uống rượu.

Ngũ trung ác --- cờ bạc, kiếm tiền phi pháp, đọc sách xem tranh ảnh truyền   bá dị giáo, hiến tế người sống để cúng tổ tiên hoặc ma quỷ linh hồn, ăn thịt bất tịnh (không sạch).

Ngũ trọng sát --- tránh năm loại sát sinh: giết đàn ông, giết phụ nữ, giết trẻ em, giết gia súc, phá hủy thân, khẩu, ý của Phật.

Ngũ tiểu ác --- làm hại Phật hoặc thầy, làm hại người của tăng đoàn, làm hại gia đình và bạn bè, làm hại người lãnh đạo hoặc chủ nhà, làm hại người tin tưởng vào mình.

Năm loại bám chấp vào dục vọng --- tránh bám chấp vào sắc, thanh, hương, vị, xúc.

**Phải giữ không được phạm vào các tội lỗi sau:**

Dùng thủ ấn khi chưa được cho phép.

Không tìm cách thức để phát triển sự chuyên chú.

Dạy Vô Thượng Mật cho người chưa đủ tầm mức.

Làm loạn trong pháp hội.

Nói những điều khiến người có tín tâm mất đi tín tâm.

Sống trong nhà của hành giả Tiểu thừa quá 7 ngày.

Mạo danh là tu sĩ yoga tu khí.

Giảng Mật pháp thù thắng cho người không tin Phật pháp.

Tu pháp mà chưa hoàn thành việc "hợp nhất" hoặc đến gần với "hợp nhất".

**Giữ giới Trí huệ (Bát Nhã):**

Không nói điều ác, không làm điều ác.

Không tán tỉnh nịnh nọt phụ nữ.

Giữ quan điểm đúng đắn trong mọi hành động.

Liên tục giữ tư tưởng vui vẻ.

Ngoại pháp, nội pháp đều quan trọng.

Không để rò rỉ giọt tinh.

Giữ tất cả thanh tịnh.

Giữ mãi bồ đề tâm.

(Người phạm giới cần sám hối, hoàn tịnh, thọ giới lại từ đầu, được Thượng sư gia trì, v.v.)

Chú thích (của nhà xuất bản sách)

Căn cứ theo khai thị của Liên Sinh Hoạt Phật về "Giới luật cần giữ khi tu trì pháp Thời Luân Kim Cang", 25 hành vi bị cấm gồm:

1. Ngũ đại ác (5 hành vi tội ác nghiêm trọng, chính là ngũ giới): giới sát, giới trộm cắp, giới tà dâm, giới vọng ngữ, giới nghiện rượu.

1. Ngũ trung ác (5 hành vi tội ác có mức độ nghiêm trọng tiếp theo): cờ bạc, mưu sinh kiếm lời bằng hành vi không đúng đắn, đọc và phát tán các sách tranh ảnh nội dung xấu, dùng cách thức sát sinh để cúng tổ tiên hoặc bái quỷ thần, tín ngưỡng tà giáo ngoại đạo.

1. 5 loại sát (5 loại hành vi giết hại gây tội nặng): giết đàn ông, giết phụ nữ, giết hại trẻ em, giết gia súc, phá hoại chùa miếu và tượng Phật.

1. Ngũ tiểu ác (5 loại hành vi có tính chất làm hại): làm hại Phật và sư phụ, làm hại tăng chúng, làm hại người thân bạn bè, làm hại chủ nhân, làm hại người tin vào mình.

1. Bám chấp vào 5 thứ dục vọng (5 hành vi tham dục): mắt tham sắc đẹp, tai tham âm thanh, mũi tham hương vị, miệng tham miếng ngon, thân tham an lạc.

**Ngũ âm:** 5 tạng của con người gồm thận, gan, lá lách, tim, phổi.

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/242-man-dam-chuyen-quai-di.md
# Title: 242. Mạn đàm chuyện quái dị
---

![image](/img/img_14679e682c1287d1d0f9066c8863201e.jpg)



## Mạn đàm chuyện quái dị


🪷 Kiến văn giác tri

Văn tập: 242
Xuất bản: 09/2014
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu. Chuyện ba con chim non


Lúc tôi còn nhỏ, mẹ rất hay kể một câu chuyện cho tôi nghe, vì vậy tôi thường nhớ đến câu chuyện này.

Mẹ tôi tên Lư Hoàng Ngọc Nữ, vốn họ Hoàng, gả cho ba tôi Lư Nhĩ Thuận, cho nên mang thêm họ của chồng. Trước khi lấy chồng, mẹ sống ở Tiểu Trì Giác - Bành Hồ. Tiểu Trì Giác ở Tây Tự (*). Trước đây, khi chưa xây cây cầu bắc qua biển, chỉ có một cách là từ Mã Công ngồi thuyền mới có thể đến được Tây Tự.

Mẹ tôi nói:
"Gió cát tại nơi đó rất mạnh, nông sản phần lớn là củ lạc và khoai lang, muốn trồng ruộng, trước tiên phải trồng những lùm cây cản gió."

Có một lần.
Trên chạc cây của lùm cây có chim xây tổ, bên trong có ba con chim non đang kêu chíp chíp đợi chim mẹ mớm mồi. Chúng ta có thể tưởng tượng một cái tổ chim, ban đầu có ba quả trứng, rồi trứng nở ra ba con chim non nhỏ bé đáng yêu. Chim mẹ sẽ bay đi tìm thức ăn, ngậm con sâu nhỏ trắng nõn, từ mỏ của chim mẹ mớm vào trong mồm của chim non. Đây là cảnh tượng vô cùng ấm áp. Mỏ của chim non há ra rất to, lưỡi chim đưa ra đưa vào phát ra âm thanh "oá... oá..." nho nhỏ, chúng từ mỏ của chim mẹ nhận lấy con sâu nhỏ.

Trong thôn Tiểu Trì Giác có một cô bé rất tinh nghịch, khi đi ngang qua lùm cây đã phát hiện ra tổ chim. Cô bé rất nghịch ngợm, lấy ba cây đinh mang đến, ngay khi chim non há mồm ra phát ra âm thanh "óa…óa…", cô liền bỏ ba cây đinh vào trong mồm của mấy con chim non.

Ôi trời ơi!
Đương nhiên là ba con chim non đó đã chết!
Còn sự bi thương của chim mẹ có ai hay biết không?

Không lâu sau, cô bé này lớn lên rồi lấy chồng, sinh được ba đứa con. Chuyện không ngờ đến đã xảy ra. Ba đứa con này đều bị câm, trong miệng chỉ có thể phát ra âm thanh "óa...óa..." Điều càng trùng hợp hơn là miệng của ba đứa trẻ này thường xuyên há lên phía trên, lộ rõ trạng thái "chờ chim mẹ mớm mồi", giống như bộ dạng của ba con chim non đó.

Mẹ tôi bảo: "Đây chính là nhân quả báo ứng! Ai dám nói không có nhân quả báo ứng chứ?" Tôi nghe xong, hoảng kinh!
Tôi viết cuốn sách này là văn tập thứ 242, tên của cuốn sách là Mạn đàm chuyện quái dị, tiêu đề phụ là Kiến văn giác tri. 
Kiến - Là cái tôi nhìn thấy.
Văn - Là cái tôi nghe thấy.
Giác - Là cái tôi cảm nhận được.
Tri - Là cái tôi biết được.

Cái gọi là chuyện quái dị: Là linh dị. Là quỷ thần. Là nhân quả. Là dị thường.

Tuy các mẩu chuyện có vẻ quái dị như thế, nhưng cuốn sách này tôi đã bỏ thêm chút thận trọng khi viết. Mục đích chính là  thông qua cách diễn đạt rõ ràng dễ hiểu, giúp mọi người sửa đổi lại tâm mình, cân nhắc rõ ràng về sự xác đáng của luân lý. Chỉ mong rằng những câu chuyện kể trong cuốn sách này không làm bạn đọc cảm thấy bị bối rối.

Phàm là những chuyện linh dị:
Người tin tự sẽ tin.
Người không tin sẽ không tin.

Tin hay không tùy bạn!

(*) Tiểu Trì Giác: tên một thôn nhỏ nằm trên đảo Tây Tự.
(*) Tây Tự: đảo lớn thứ hai trong quần đảo Bành Hồ ở Đài Loan.

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Sự chỉ dạy vô hình


Vào năm 26 tuổi, tôi được Diêu Trì Kim Mẫu khai mở thiên nhãn. Trước đó, tôi là:
Sĩ quan trắc lượng.
Thanh niên văn nghệ.

Sau khi Diêu Trì Kim Mẫu khai mở thiên nhãn rồi, tôi trở thành:
Người thông linh.

Đến năm 70 tuổi tôi nhớ lại ngày trước, sau khi mở thiên nhãn, ấn tượng sâu sắc nhất chính là sự dạy bảo hết lòng của "linh sư vô hình". Mỗi tối tôi học tập một giờ, kéo dài suốt ba năm. Tôi ngồi thẳng người ngay ngắn, hai tay chắp lại, ngón tay tự động uốn cong. "Pạch…pạch…pạch…" Những ngón tay mềm mại uốn cong, xoay chuyển, cuộn lại, chụm vào, mở ra… dạy kết "thủ ấn". Những chuyển động này đều là tự động cả. Hai mắt tôi nhìn các ngón tay tự động kết ấn, kinh ngạc đến mức chết lặng. Những điều này đều là sự thật.

Còn nữa:
Hai chân tôi đứng thẳng, tay thì chắp lại. Hai chân tự động di chuyển, nhấc lên, đặt xuống, di chuyển chỗ, hỗ trợ với nhau. 

Sau này tôi mới biết những bộ pháp này là:
Thất tinh bộ.
Vũ bộ.
Bộ cương đạp đấu.
Khôi cương bộ.

Có một chuyện khiến tôi vô cùng kinh ngạc. Một lần, chân trái  nhấc lên cao, tôi tự cảm thấy giơ quá lâu rồi, mệt rồi, rất muốn bỏ chân xuống, kết quả là không bỏ xuống được. Là "lực vô hình" khiến chân của tôi bị nhấc lên, giữ cố định không thể di chuyển, sau đó từ từ chuyển sang góc 60 độ mới thả lỏng ra cho chân của tôi hạ xuống. 

Lúc này trong đầu của tôi có một phản ứng:
Ôi trời!
Thực sự là có vô hình!
Thực sự là có Phật Bồ Tát!
Thực sự là có quỷ thần!

Chuyện này hoàn toàn là sự thật. Đây là do tôi đích thân trải nghiệm. Tay của tôi kết ấn, chân của tôi đạp khôi cang, tất cả đều hiện ra ngay trước mắt tôi.

Có lẽ có người sẽ nói là "bệnh hoang tưởng".
Có lẽ có người sẽ nói là "ảo giác".
Có lẽ có người sẽ nói là "rối loạn thần kinh".
Có lẽ có người sẽ nói là "khí động".
Có lẽ có người sẽ nói là "linh động".
Có lẽ có người sẽ nói là "tự phát công", "ngoại đan công".

Nhưng tôi thực sự, thực sự nói cho mọi người biết rằng: Tôi vô cùng tỉnh táo. Tôi còn ghi chép lại "thủ ấn" và "bộ pháp" được chỉ dạy, lần lượt từng cái từng cái một đều ghi chép hết ra. 

Khi đó, liên đoàn trưởng liên đoàn trắc lượng số 5802 của tôi gọi bố mẹ tôi đến nói: "Con trai ông bà sợ là thần kinh có chút vấn đề rồi đó."

Còn liên đoàn phó Ngụy Thanh Bình thấy trải nghiệm thần kì của tôi mà quy y tôi rồi theo tôi học Phật. Phụ đạo trưởng Bì Chí Thanh thường hay hỏi tôi về chuyện lành dữ, ông ấy cũng vô cùng tin tưởng tôi.

Tôi nói:
Người đời không thể nói, nếu họ không nhìn thấy điều gì, thì  điều đó không tồn tại.
Người đời không thể nói, nếu họ không nghe thấy điều gì, thì  điều đó không tồn tại.
Người đời không thể nói, nếu họ không cảm thấy điều gì, thì  điều đó không tồn tại.

Đến sau này:
Những gì tôi thấy được, tôi nghe được và cảm nhận sâu sắc được, tôi tự biết tất cả những chuyện như thế này đều là thật. 

Bên ngoài trời đất, thánh nhân biết có những thứ tồn tại nhưng  thường không bàn luận tới. (*)

Tuy nhiên bên ngoài trời đất, thực sự vẫn có thể bàn luận được về những thứ có tồn tại. Họa phúc có mệnh, sống chết có số, cứ để tôi nói ra thôi!

(*) Lục hợp chi ngoại, thánh nhân tồn nhi bất luận: trích trong Nam Hoa Kinh, chương Tề Vật Luận, Trang Tử. Vế tiếp là: "Lục hợp chi nội, thánh nhân luận nhi bất nghị". Ngụ ý thánh nhân dù biết những thứ tồn tại ngoài trời đất cũng không bàn tới. Nhưng ở đây Tôn Sư không e ngại, sẵn sàng nói tới và kể cho mọi người.


### 02. Ma tìm người thế thân


Có bà lão thông linh sống tại một tòa nhà, trước nay bà đều có thể nhìn thấy ma quỷ. Bà nói: "Ma quỷ là có thật."

Có một buổi tối, bà nhìn thấy ở góc tường rào của tòa nhà có ánh sáng màu xanh lục lập lòe, là một màu xanh ảm đạm. Bà nhìn kỹ lại: Trong ánh sáng có một con ma đứt đầu gãy chân, đầu tuy đứt ra nhưng vẫn dính liền với da, chân tuy gãy nhưng vẫn bước xiêu xiêu vẹo vẹo đến gần cánh cổng chính của tòa nhà. 

Con ma đứt đầu này, bảy lỗ trên đầu (*) chảy máu, bất ngờ đi vào sân trong của tòa nhà. Một lúc sau thì không thấy đâu nữa. Bà lão không chút hoảng sợ, bà đoán ngay, "con ma nhảy lầu" này e là đến đây để tìm người thế thân.

Vì vậy bà quyết định cứu một ai đó của tòa nhà, bà phải ngăn chặn tòa nhà khỏi có người nhảy lầu thôi.

Bà lão tìm đội trưởng đội bảo vệ: 
"Tòa nhà của chúng ta sẽ có người nhảy lầu!"
Bảo vệ nói: "Bà đừng có nói bậy!"
Bà lão nói: "Tôi nhìn thấy ma nhảy lầu ở trong sân trong, nó đang chờ người thay thế!"
Bảo vệ nói: "Bà nói linh tinh! Tòa nhà của chúng ta làm sao lại có ma!"
Bà lão nói: "Chúng ta có thể dán thêm lên bảng thông báo, dán trước cửa thang máy vài tờ giấy ghi số điện thoại của Trung tâm phòng ngừa tự sát."
Bảo vệ nói: "Không có việc gì, dán số điện thoại của trung tâm phòng ngừa tự sát làm cái gì?"
Bà lão nói: "Có thể phòng ngừa có người tự sát mà!"
Bảo vệ nói: "Không có ai tự sát, tùy tiện dán số điện thoại của trung tâm phòng ngừa tự sát sẽ khiến người ta cười cho." 

Đội trưởng đội bảo vệ không làm.
Bà lão thở dài, không thể làm gì hơn.

Khoảng một tuần sau đó. 
Tòa nhà thực sự có người nhảy lầu, là chủ hộ sống ở tầng 12. Một cặp vợ chồng cãi nhau, người chồng nghi ngờ vợ mình ngoại tình. Người vợ tự nói mình trong sạch. Trong phút dại dột, người vợ bất ngờ từ trên ban công nhà mình nhảy xuống, rơi xuống sân trong.

Một tiếng "bộp" rất to.
Thế là chết!

Đương nhiên là cái đầu nát bét, toàn thân bị gãy xương, thê thảm đến không thể nhìn nổi. Các chủ hộ khác của tòa nhà ai nấy đều sốc. 

Bà lão nói: "Những gì tôi nói chỉ có chuẩn, đáng tiếc là có người không tin."

Lại lần khác, bà lão nhìn thấy nhà của một hàng xóm cùng tầng, trước cửa tụ tập một bầy ma, giống như đang nghênh đón ai đó. Nghe ngóng thêm chút thì quả nhiên là vậy. Ông cụ ở nhà hàng xóm bên cạnh đêm qua bệnh tim bộc phát đã chết rồi!

Tôi nói:
Trong xã hội hiện đại, ma vẫn có thể tìm người thế thân sao?
Tôi (tự) đáp: Có. Đây là một trong những thú vui của ma quỷ. 
Lại hỏi, tại sao ma lại biết được sẽ có người nhảy lầu?
Tôi (tự) đáp: Ma vẫn có thông lực, chỉ là thông lực không lớn mà thôi.

Đối với việc thế thân, tôi có một chuyện để chứng minh:
Có một học sinh đi bơi tại một con suối ở Seattle bị chết đuối. Tôi thông linh: "Bị bốn nam, một nữ bắt đi rồi!"

Hỏi những người sống gần con suối đó thì được trả lời rằng: Một năm trước, có bốn nam một nữ cùng đi bơi ở đó và cũng bị chết đuối y như vậy. 

Nơi mà bốn nam một nữ bị chết đuối cũng là nơi mà học sinh đó bị chết đuối, trùng hợp như vậy đó.
Người nghe hoảng sợ!

(*) Bảy lỗ trên đầu: hai mắt, hai tai, hai lỗ mũi và miệng.


### 03. Đứa con đòi nợ


Vào thời Lương Võ Đế khoảng hơn 1400 năm về trước, Lương Võ Đế tin Phật sùng đạo nhất nên được gọi là Phật Tâm Thiên Tử. Chí Công Hòa Thượng khi đó là một vị cao tăng. Đạt Ma Sư Tổ gặp mặt Lương Võ Đế, do nhân duyên không hợp, Đạt Ma Sư Tổ rời xa Lương Võ Đế, vô cùng đáng tiếc. 

Nhưng Lương Võ Đế nói: "Không sao cả, chúng ta có Chí Công Hòa Thượng."

Có một lần Chí Công Hòa Thượng đi tham gia yến tiệc của một đại thí chủ. Đại thí chủ này sinh được một đứa con trai nên làm tiệc đầy tháng. 

Trong lúc bữa tiệc đang diễn ra.
Chí Công Hòa Thượng vừa nhìn thấy đứa bé trai này, không giải thích lời nào, lập tức ôm lấy đứa bé bỏ đi. Đại thí chủ cùng người thân bạn bè đuổi theo phía sau. Chí Công Hòa Thượng ném đứa bé trai đó vào trong nước sông đang chảy cuồn cuộn. Đứa bé chìm vào trong nước mà chết.

Đại thí chủ gào lớn tiếng: "Hòa Thượng, ông điên rồi!"
Người thân bạn bè đều phẫn nộ. 
Chí Công Hòa Thượng nói: 
"Mọi người xin nhìn kĩ trước rồi trách mắng cũng được!"

Trong một tích tắc, trên mặt sông hiện ra một con quỷ độc ác, tướng mạo đáng sợ khủng khiếp, giận dữ gào to với Chí Công Hòa Thượng:
"Chí Công, ông đã phá hỏng chuyện tốt của tôi! Trong nhân duyên nhiều kiếp đại thí chủ là kẻ thù của tôi. Tôi sinh vào nhà ông ta là muốn phá hoại hết sản nghiệp của nhà này, khiến ông ta mất nhà mất người thân. Tôi đến là để báo thù, hôm nay ông làm sao trả oán thù bám kết của tôi?"
Chí Công Hòa Thượng bình thản từ tốn:
"A Di Đà Phật, oan gia nên giải không nên kết, oan oan tương báo khi nào mới dứt. Ta đương nhiên sẽ siêu độ cho ngươi hết khổ được an lạc. Ngươi sám hối bước vào cửa Phật, ta sẽ đưa ngươi đến cảnh giới tốt đẹp hơn."

Con quỷ ác đó biết Chí Công là cao tăng đắc đạo, là người tinh tường, cuối cùng đã nghe theo Chí Công mà đi theo ông ấy.

Đại thí chủ lúc này mới hiểu ra: 
"Việc làm của Chí Công là thiện."
Nếu như giữ lại đứa con, sau này sẽ vô cùng thê thảm, thật sự là đáng buồn!

Tôi nói:
Thời xưa, Chí Công Hòa Thượng làm như vậy thì được.
Ngày nay, thì không thể được. (Vấn đề pháp luật)
Ngày nay, những người sinh con đẻ cái vừa mừng vừa lo bởi vì không biết là đứa con này đến đòi nợ hay là đến để trả ơn.

Sinh tử chuyển thế, nhân quả tuần hoàn, sự biến hóa này tôi ví giống như là mây, bởi sự biến hóa này là không thể tưởng tượng được, có ai biết chứ? "Mây" vốn không cố định ở một kiểu hình dáng nào cả.

Đến cũng không biết.
Đi cũng không biết.

Nhân quả chính là giống như mây, không thể nào đoán biết. Hạt giống thiện ác nhiều như hằng hà sa số, số lượng không thể đo lường được, cũng không thể đếm được. Vì vậy vận mệnh của con người, may rủi họa phúc thật khó mà hiểu rõ.

Sử ký
"Thiên hạ hỗn loạn, đều vì lợi mà đến. Thiên hạ thịnh vượng, đều vì lợi mà ra." Chúng sinh đều vì chữ lợi.

Vì vậy được cái này chắc chắn mất cái kia, được lời cái này sẽ lỗ cái khác, thị phi vì vậy mà khởi lên, thù oán do vậy mà sinh ra, nghiệt duyên và báo thù, cái này lên thì cái kia xuống.

Người mưu lợi rất nhiều.
Kẻ đòi nợ không ít.

Câu nói "oán thù bám kết" phần lớn đều là như vậy.

Khi xưa.
A Nan Tôn Giả nói: "Con biết nhân quả rồi!"
Phật Đà nói: "Vẫn còn sớm!"
Nếu như tôi nói: "Tôi là người tinh tường!"
Không biết Phật Đà sẽ nói thế nào?
Nhân quả nếu như biến hóa giống như mây, thử nghĩ, chúng sinh thế gian có người nào đoán biết được?


### 04. Ma có luân hồi không?


Khi tôi tiếp xúc với linh giới thì mới biết được thế giới này có ma quỷ. Đến khi tu Mật giáo lại được biết, khi con người chết đi, thân trung ấm sẽ thoát ra. Thân trung ấm tức là linh hồn, cũng chính là hồn ma. 

Bắt đầu từ lúc chết, thân trung ấm thoát ra trải qua tối đa 49 ngày là phải đi vào lục đạo luân hồi. Lúc này, nảy sinh ra khúc mắc mới:

1. Thân trung ấm trải qua một số ngày, theo nguyên tắc thì sẽ phải luân hồi. 
2. Nhưng nhiều thân trung ấm, từ xa xưa đến giờ vẫn còn thấy tồn tại rất nhiều, tại sao nhóm này lại không thấy đi luân hồi?

Thắc mắc này cứ lảng vảng ở trong đầu tôi mãi không thôi. 

Tới ngày nọ, tôi mơ một giấc mơ. Mơ thấy một ngọn núi cao, xung quanh là nước bao phủ, yên tĩnh khác thường, rất hiếm được gặp, đẹp đẽ vô cùng. Tôi men theo con đường núi cạnh hồ thưởng thức cảnh quan, tinh thần thư thái. Giữa núi có ngôi nhà tranh, có một ông lão ở bên trong đó. Ông lão tướng mạo tươi tắn diệu kì, đôi mắt từ bi, trông giống như một tu sĩ đắc đạo. Chúng tôi cùng vẫy tay chào nhau.

Ông lão nói: "Ta là Thái Bạch Kim Tinh, ở đây đợi Lư Sư Tôn đã lâu rồi!"
Tôi vô cùng kinh ngạc: "Tại sao lại đợi tôi?"
Ông lão nói: "Tâm ngài có băn khoăn, tôi cố tình đến để giải đáp băn khoăn cho ngài!"
Tôi hỏi: "Là chuyện hứng thú với ma quỷ à?"
Ông lão đáp: "Có luân hồi, có không luân hồi."
Tôi hỏi: "Tại sao luân hồi?"
Ông lão đáp: "Có phúc báo, sẽ luân hồi. Có nghiệp tội, sẽ luân hồi. Có ân có oán, vẫn sẽ luân hồi."

"Thế nào là không luân hồi?"
Ông lão đáp:
"Đã tu thành Tứ thánh, Phật Bồ Tát, Thánh hiền thì sẽ không luân hồi. Người đi vào địa ngục vô gián cũng không luân hồi. Có một số người không có nghiệp tội, cũng không có phúc báo, sau khi chết thì tự do du hành, không phải luân hồi. Hơn nữa, thọ mệnh chưa hết nhưng tự sát mà chết, thì nếu còn dư khí sẽ tồn tại làm ma, nếu không còn dư khí thì sẽ bị tiêu tán, cả hai đều không thể luân hồi."

Ông lão lại nói:
"Lại có người chí khí trung nghĩa, gửi hồn vào trong núi non, sông nước, cây cối, núi đồi, v.v. có thể dựa vào cảm ứng của người khác, họ cũng không luân hồi. Riêng người chịu oan ức, mượn hình để hiện hồn về trả thù người ở cõi dương, cũng không luân hồi."

Cuối cùng ông lão nói: "Có thần linh giáng xuống phò tá giúp người, có những bầy quỷ quái giết cướp, mê hoặc con người, những việc này đều có hết."

Tôi nghe xong, mọi thắc mắc đều được sáng tỏ.
Tôi nói: "Nghe xong những lời này của Thái Bạch Kim Tinh, quả thật có lý."

Còn nữa:
Con người của tôi thích làm việc với quỷ thần, cũng thường xuyên dùng cam lộ cúng dường chúng quỷ thần.

Niệm chú chiêu thỉnh:
Đại bàng kim sí điểu, khoáng dã quỷ thần chúng. La sát, quỷ tử mẫu. Tôi ban cam lộ cúng dường hết thảy. 
(Chú: Om mutili, soha.)

Tôi phát hiện ra:
Tại Đài Loan, rất ít ma và tinh linh thọ nhận đồ cúng của tôi.
Tại Mỹ, rất nhiều ma và tinh linh thọ nhận đồ cúng của tôi.

Khác biệt tương đối lớn.

Tại sao vậy? Tôi biết như sau:
Tại Đài Loan, người thờ cúng quỷ thần rất nhiều.
Tại Tây phương, người thờ cúng quỷ thần rất ít.


### 05. Quan Thánh Đế Quân nói


Ngày trước tại Đài Trung, khi đi ngang qua một ngôi miếu thờ Đế Quân, tôi bèn đi vào thăm viếng, vừa hay có thư sinh viết phù kê (*) ở đó.

Kê bút đột nhiên viết: "Có một người họ Lư đến, mau truyền ông ta, ta có chuyện muốn nói!"

Tôi chỉ đi ngang tự dưng ghé thăm, thế mà Đế Quân lại biết, có thể thấy Quan Thánh Đế Quân rất linh. Tôi vốn kính phục sự trung hiếu tiết nghĩa của Đế Quân.

Tôi bước vào bên trong điện thờ. 
Đế Quân hỏi: "Ngài độ chúng sinh chưa?"
Tôi đáp: "Độ rồi."
Đế Quân hỏi: "Độ bao nhiêu?"
Tôi đáp: "Trăm người."
Đế Quân nói: "Quá ít."
Tôi đáp: "Nghìn người."
Đế Quân nói: "Vẫn quá ít."
Tôi đáp: "Vạn người."
Đế Quân hỏi: "Năm trăm vạn người thì sao?"
Tôi giật mình: "Năm trăm vạn người thì quá nhiều rồi! Tôi đâu thể độ năm trăm vạn chúng sinh?"
Đế Quân nói: "Kinh Phật nói năm trăm nghĩa là rất rất nhiều, ví dụ năm trăm La hán, năm trăm thương nhân, v.v., đều có nghĩa là nhiều vô số, ta khuyến khích ngài độ vô lượng chúng sinh."

Tôi hỏi Đế Quân: "Tương lai vận mệnh sẽ ra sao?"
Đế Quân đáp: "Đức đại." (*)
Tôi hỏi: "Còn gì không?"
Đế Quân đáp: "Ma cao." (*)

Tôi cảm tạ lời chỉ thị của Quan Thánh Đế Quân, cảm ơn rồi lui xuống. 

Hôm nay hồi tưởng lại, vận mệnh quả nhiên như vậy, "Đức đại ma cao" độ năm trăm vạn chúng sinh. 
Có đệ tử nói: "Chắc là độ chúng được sáu trăm vạn rồi!"
Tôi đáp: "Vẫn là năm trăm vạn!"
Đệ tử hỏi: "Tại sao luôn là năm trăm vạn?"
Tôi đáp: "Năm trăm có nghĩa là vô lượng đó!"

Tôi nói:
Độ chúng sinh không nên quá "nóng", độ chúng sinh cũng không nên quá "lạnh". "Nóng" quá thì người độ nhiệt tình đấy nhưng ép buộc thái quá thì lại thành miễn cưỡng, khiến người khác nảy sinh phản cảm.

Độ chúng sinh không nên quá "lạnh", "lạnh" quá thì quá yếu, quá yếu thì xa cách, không dễ giao tâm (*) . 

Lúc đó việc độ chúng sinh ngược lại, sẽ thành chặn chúng sinh, chẳng phải là vô cùng bi ai sao. Nên phải dùng "tâm điềm tĩnh" độ thì mới được!

Tôi nghiêm túc viết văn, nghiêm túc thuyết pháp.
Tin hay không tùy bạn!

Mọi người cứ tự nhiên quy y là được, cánh cửa mở rộng, tự nhiên đến, tự nhiên đi, không miễn cưỡng gì hết!

Tôi chỉ thích "túc nhân" (*), tùy duyên kiếp trước. 
Chẳng thích mê hoặc người.

Đây chính là "nghĩa" vậy.

-----------------
Phù kê: pháp bói dân gian, tên khác là phù toán, phù thư, hàng bút, thỉnh tiên... thần linh sẽ nhập vào và thông qua người trung gian (gọi là thư sinh hoặc kê thân) cho biết thông tin.
Đức đại: uy đức rất lớn.
Ma cao: pháp lực rất cao cường.
Giao tâm: kết nối tâm với nhau.
Túc nhân: nhân duyên từ kiếp trước, trích từ Nho Lâm Ngoại Sử của Ngô Kính Tử đời Thanh, chỉ trích mạnh mẽ thói háo danh. Tôn Sư dùng từ này hàm ý rõ sự đồng tình của mình với tư tưởng trên.


### 06. Thiên Thượng Thánh Mẫu tiếp dẫn


Có vị đại gia vừa chết! 
Vợ và người nhà của đại gia nghe danh của tôi liền đến xin tôi siêu độ, hy vọng vãng sinh tịnh độ Phật quốc.

Tôi cử hành pháp sự theo Mật pháp:
Triệu thỉnh.
Cúng dường.
Quy y.
Sái tịnh.
Thỉnh trí huệ bổn tôn…

Lúc này tôi thấy trong hư không mây ngũ sắc phủ đầy, có hàng nghìn tia khí tốt lành, xuất hiện hàng vạn luồng ánh sáng cát tường, có một vị Thần tiên giáng xuống.

Đầu đội mũ thông thiên, cổ đẹp đeo chuỗi ngọc.
Thân khoác áo choàng đỏ, mặc thiên y váy xếp.
Hai tay cầm ngọc chỉ.
Ngồi song long bảo tọa.

Vị đó từ từ giáng xuống, mang thân trung ấm của đại gia đem đi, đưa lên cõi trời.

Tôi nói với vợ và người nhà của đại gia: "Chồng của bà được Thiên Thượng Thánh Mẫu đến tiếp dẫn rồi."
Người vợ đáp: "Thiên Thượng Thánh Mẫu? Tại sao không phải là Quan Thế Âm Bồ Tát?"
Tôi hỏi: "Bà có thờ cúng Thiên Thượng Thánh Mẫu không?"
Người vợ đáp: "Không có, nhà tôi chỉ thờ Quan Thế Âm Bồ Tát!"
Tôi hỏi: "Bà và Thiên Thượng Thánh Mẫu có nhân duyên gì?"
Người vợ đáp: "Đúng ra không có bất cứ nhân duyên gì mới phải."

Vợ và người nhà nhìn nhau ngơ ngác, không nghĩ ra được bất cứ lý do gì mà Thiên Thượng Thánh Mẫu đến tiếp dẫn. Đôi bên đều ngại ngùng.

Lúc này, con trai thứ của đại gia nói: "A! Có rồi!"
Người con trai thứ nói:
"Tôi nhớ mười năm trước có người phụ trách một ngôi chùa đến nhà chúng tôi chơi, ông ấy khuyên nên quyên góp làm tượng chủ tôn của chùa lớn là Thiên Thượng Thánh Mẫu. Cha tôi liền đồng ý ngay, tượng chủ tôn do một mình cha tôi bỏ tiền ra làm. Sau này, ngôi chùa lớn xây xong đã thờ cúng chủ tôn, người phụ trách trong chùa còn mời chúng tôi đến tham bái."
Vợ và người nhà lúc này mới nói: "Đúng là có chuyện như vậy!"

"Teng!" Thắc mắc đã được giải đáp. 

Thì ra lúc đại gia còn sống đã cúng dường vị thần tiên lớn nhất là Thiên Thượng Thánh Mẫu, cúng dường tượng cho vạn người lễ bái. Với nhân duyên đó nên được Thiên Thượng Thánh Mẫu hạ giáng tiếp dẫn. Lúc này, vợ và thân nhân của vị đại gia đó mới hoan hỷ ra về!

Tôi nói:
Tôi trước nay không nói dối về việc tiếp dẫn siêu độ. Vì vậy, người cầu xin siêu độ rất nhiều, người cầu tiếp dẫn cũng nhiều. Tôi cũng không nói điều vô trách nhiệm, những gì tôi nói đều rất chuẩn xác.

Ở nhà thờ Quan Âm, dành cho người nhà cầu nguyện.
Tạc một pho tượng Thiên Thượng Thánh Mẫu khổng lồ, dành cho nghìn vạn người cầu nguyện.

Kết quả là:
Thiên Thượng Thánh Mẫu tiếp dẫn, trong cõi vô hình đã có  sẵn định số như vậy. Thiên Thượng Thánh Mẫu xuất hiện, thần thái sinh động, đặc biệt phi thường.

Còn nữa:
Chủ nhân của một đàn thành qua đời, cũng mời tôi siêu độ tiếp dẫn. Trên đàn thành thờ cúng trên một trăm vị, trên cùng là Phật Tổ, phía dưới là chư tôn, hộ pháp thần tướng vô số…

Tôi làm pháp sự.
Không ngờ không thấy bổn tôn đến, ngược lại là quan của âm phủ đến dẫn đi. Tôi giật mình, không dám tin.

Sau đó nghe người ta nói, chủ nhân đàn thành lừa gạt tiền của vô số người, lại dụ dỗ phụ nữ.
Ôi! Buồn thay!


### 07. Đốt xe giấy


Tôi có người đệ tử họ Dương sống ở vùng quê phía Nam, tuổi tác đã cao, bị một trận bệnh rất nặng rồi chết lịm đi. Gia đình làm theo tập tục địa phương, chuẩn bị hậu sự cho người chết, trong đó có một mục là hỏa thiêu các đồ bằng giấy:
Nhà.
Xe hơi.
Két sắt.
Vàng mã.
Giấy vàng mã Chân Phật Tông.
Người hầu, v.v. 
(Nghe nói ngày nay cũng đốt cả tivi, máy tính, điện thoại.)

Trong lúc đang hỏa thiêu, ô tô hàng hiệu làm bằng giấy có một cái bánh sau rơi ra ngoài, chắc là do dán chưa chắc, vì vậy bánh xe sau vô duyên vô cớ rơi ra.

Người A nói: "Bánh xe sau bị rơi ra rồi, còn đốt được không?"
Người B nói: "Dù sao cũng làm bằng giấy, không phải thật, cứ đốt đi thôi!"
Người C nói: "Không được! Không được! Tâm ý là quan trọng nhất. Hỏng rồi, phải mau chóng dán lại rồi mới đốt."
Người D nói: "Vừa hay có một chén cơm cúng, dùng hạt cơm dán lại vậy!"
Dán xong thì cũng đốt luôn chiếc xe làm bằng giấy đó.

Chuyện không ngờ tới đã xảy ra. Sau khi ông lão họ Dương này chết được khoảng 20 tiếng thì lại tỉnh lại. 

Ông kể:
Khi chết rồi, ông đi ra khỏi cửa, hồn phách phiêu bồng, nhìn thấy ngoài cửa có một chiếc ô tô rất đẹp. Ông lên xe vừa khởi động là xe liền lao vút đi, bản thân ông cảm thấy gió thổi ù ù, tất cả cây cối lùi lại phía sau. Nhưng mới lái đi được một đoạn, một bánh xe sau bất ngờ bị rơi ra. Xe dừng lại không di chuyển được nữa, ông sốt ruột nên đứng chờ bên đường. Sau đó, vừa hay có hai người đi đường đi ngang qua nhìn thấy xe bị hỏng, tốt bụng qua giúp đỡ. Họ lấy cái bánh xe bị rơi ra đó lắp trở lại như cũ. Xe vẫn có thể lái được nhưng có chút lắc lư. Rốt cục ông bực mình quá nên quay đầu xe, lái xe chạy về nhà, không đi nữa. Vừa về đến nhà của mình thì ông liền tỉnh dậy!

Vợ con nghe xong, kinh ngạc.
Sau đó, họ đến Lôi Tạng Tự hỏi tôi chuyện này rốt cuộc là sao?

Tôi nói:
Chuyện trong thiên hạ, là "duy tâm" (vạn thứ do tâm tạo). Cái gì là thật chứ? Bạn tưởng rằng nhà cửa, ô tô trong thế gian này, tất cả đều là thật sao?

Phật điển nói rồi:
Nhà cửa, (chỉ) là làm từ bùn, từ sắt mà thôi.
Xe hơi, cũng là keo, là sắt mà thôi.
Con người, là đất nước gió lửa không khí mà thôi.

Những thứ khác của thế gian, tất cả chỉ là trò chơi huyễn hóa. Nếu hoàn toàn hiểu thấu sẽ thấy không cái gì là thật cả. Thậm chí tiền của, châu báu cũng là sự nhận định nhất thời của con người. Ví như quốc gia bị hủy diệt thì tiền bạc của quốc gia đó còn có thể lưu thông được nữa không? Ngay đến tiền bạc cũng là giả.

Hơn nữa. Vạn thứ do tâm tạo.

Giấy vàng mã Chân Phật Tông cũng là do tâm tạo ra, chỉ cần được công nhận là sẽ biến thành hữu dụng.
Giống như bài viết này, người C nói:
"Duy tâm quan trọng nhất!"

Như nước Đại Bi chú có thể chữa bệnh? Con người nói chung sẽ cho rằng chỉ là một ly nước, không thể nào chữa được. Gia trì cộng thêm chú nguyện xong sẽ trở thành nước Đại Bi chú. Có linh nghiệm, cũng có không linh nghiệm. 

Bạn nhận định thế nào?


### 08. Gia đình cúng tổ tiên


Hồi mẹ tôi còn sống, lúc tôi mới chỉ là đứa bé bò ở dưới đất, có một hôm là tiết Thanh Minh, mẹ cúng tổ tiên. Trong phòng khách trước bài vị của tổ tiên, mẹ bày ra bốn cái bàn, hương, nến, giấy vàng mã, trà, chén, đũa. 
Chính giữa bàn là đồ dâng cúng gồm:
Chè trôi nước.
Bánh nếp mai rùa.
Bánh chén.
Bánh nhuận. (*)
Hoa quả theo mùa.
Bánh ú.
Và nhiều thứ khác nữa.
Bày đầy một bàn.

Mẹ tôi lạy ba lạy, sau đó ngồi lên chiếc ghế trong phòng khách được một lúc thì ngủ gật. Đột nhiên mẹ nhìn thấy ông nội, bà nội, cả hai cùng đi đến. 

Ông nội nói một cách nghiêm túc: 
"Con nhìn đi, con làm mẹ như thế đó hả, Thắng Ngạn còn nhỏ như vậy, bò trên mặt đất, con phải đặc biệt lưu ý. Đừng để nó cầm đồ vật nguy hiểm múa may khắp nơi, nếu có gì xảy ra, chúng ta đắc tội với trời đất không nổi, con cũng đắc tội không nổi đâu."
Bà nội nói:
"Ba ngày nữa nơi này sẽ có một trận mưa to, nước lớn sẽ ngập, con để thùng gạo thấp quá, nếu bị nước vào thì không ăn được nữa, mau để lên chỗ cao đi."

Mẹ tôi trong lúc ngủ gật nghe thấy lời của ông bà nội xong thì bừng tỉnh dậy. Mẹ đi tìm tôi ngay.

Mẹ nhìn thấy tôi một mình bò trên chiếu tatami ở trên giường, trên tay cầm một cây kéo đang múa may, dễ đâm vào mắt của mình, nhìn rất nguy hiểm. Bà giành lấy cây kéo của tôi. Cây kéo này là mẹ dùng để cắt quần áo vest, sao lại ở trên tay tôi được chứ? Mẹ tôi nghĩ không ra.

Lúc này mẹ tôi lại nhớ ra lời bà nội nói. Lời bà nội nói liệu có chính xác không? Dù sao đi nữa lời của ông nội lúc này đã ứng nghiệm, lời của bà nội cũng không thể không nghe. Mẹ tôi xách thùng gạo để ở chỗ thấp đặt lên trên chiếc tủ khá cao. 
Cha tôi đi làm về nhìn thấy thùng gạo để trên tủ thấy không thuận mắt, bắt mẹ tôi phải lấy xuống. Mẹ tôi kiên quyết không chịu. Nghe nói cha mẹ tôi còn cãi nhau một trận.

Mẹ nói: "Là bà nội nói đó."
Cha nói: "Mê tín! Người chết là hết rồi, lời quỷ quái này không thể tin."

Ba ngày sau.
Quả nhiên mưa rất to, cơn mưa to đổ xuống liên tiếp năm giờ, nước ngập rất cao. Nước ở ngoài đường tràn vào từng căn nhà, trong nhà bị ngập nước, ngập gần lên đến giường. Cũng may thùng gạo ở trên tủ không bị nước ngập vào. Vào thời đó, thùng gạo rất quan trọng.

Mẹ nói với tôi: "Cúng bái tổ tiên, tổ tiên thực sự sẽ đến, đây là chuyện có thật." 

Chuyện này khi tôi lớn lên rồi mẹ mới kể với tôi.

Tôi nói: 
Khổng Tử dạy: "Kính thần, như có thần ở tại đây."
Bây giờ tôi đổi thành: "Kính thần, vì có thần ở tại đây." 
Chữ "như" này, tôi sửa lại. (Do tôi biết rõ có quỷ thần.)

Nghĩ xem: 
Người chết phải ở đâu? Hoàn toàn trong ý nghĩ của người sống. 
Người hiện đại có thể giữ được việc cúng tổ tiên hình như càng ngày càng ít đi. Tổ tiên chúng ta sẽ có cảm tưởng gì đây?

(*) Bánh nhuận: một dạng bánh giống nem cuốn.


### 09. Quan Thế Âm nhà bạn


Thời kì đầu tôi thông linh, nhà tôi ở hợp tác thôn mới, Đài Trung. Đối diện có nhà chị dâu Vạn Cát, chị ấy thờ cúng Quan Thế Âm Bồ Tát, hay mời tôi đến giúp tụng kinh.

Tượng Quan Âm chị thờ rất đặc biệt, tướng mạo trung niên, ngũ quan rõ ràng, ngồi trên đài sen, toàn thân màu trắng, hai mắt mở to, rất có linh tính. 

Tôi thắp hương, tụng Quan Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm. Tụng xong, tôi về nhà mình. Thời gian đó, tôi cảm ứng được Quan Thế Âm Bồ Tát nhà chị dâu Vạn Cát thường xuyên qua nhà tôi, có thể nói gần như ở lại lâu dài trong ngôi nhà xoàng xĩnh của tôi. 

Có một hôm, chị dâu Vạn Cát đến nhà tôi. Tôi kể với chị:
"Quan Thế Âm Bồ Tát nhà chị thường xuyên ở nhà tôi."
Chị liền thay đổi sắc mặt, nói: "Đó là Quan Thế Âm Bồ Tát của nhà tôi, sao lại có thể đến nhà chú?"
Tôi nghe xong, tròn mắt cứng họng.

Chị nói: "Tôi thờ cúng Quan Âm là để trấn giữ gia trạch, ngài chạy đến nhà chú thì làm sao được chứ!"
Tôi không dám nói gì cả.

Chị lại nói: "Không cho Bồ Tát đến nhà chú."
Chị còn kêu lên: "Ngài là của tôi."
Tôi vội vàng nói: "Phải, phải, phải."

Lúc này, chúng tôi nhìn thấy chị dâu Vạn Cát đột nhiên bị nhập vào người, toàn thân run rẩy, người nghiêng trái nghiêng phải, thân người ngã tới ngã lui, nhào trước nhào sau, giống như là lên đồng vậy. Chị đột nhiên quỳ xuống.
Mở miệng nói:
"Tôi nói sai rồi, xin lỗi!"

Chị tự tát vào mặt mình, phát ra tiếng "bốp, bốp", tát đến hai má đều đỏ, cũng sưng hết lên. 
Chị lại kêu la: "Bồ Tát tha mạng! Bồ Tát tha mạng! Con sẽ không dám nữa! Con sẽ không dám nữa!"
Chị lại hướng về tôi nói: "Ca Tử! Xin lỗi! Tôi biết sai rồi!"
Ca Tử là tên lúc nhỏ của tôi.

Tôi nói:  "Quan Thế Âm Bồ Tát, ngài hãy tha cho chị ấy đi! Vì chị ấy cũng không biết gì cả."
Khi tôi nói xong, tất cả hiện tượng đều dừng lại. Chị dâu Vạn Cát phẩy phẩy quần áo, đứng dậy, không nói một câu nào thê thảm đi thẳng về nhà của mình.

Tôi nói:
Tôi đối với Phật Bồ Tát, hiểu rõ phân minh.

Bồ Tát là:
Vô duyên đại từ, đồng thể đại bi.
Là vô ngã vô tha, giác hữu tình chúng.

Bồ Tát là Vô Sở Trụ, vốn không trú ngụ tại đâu cả, (cõi giới của Bồ Tát) là thế giới không chướng ngại, vĩ đại bất khả tư nghì (không thể nghĩ bàn). 
Bồ Tát là Viên Thông (thấu suốt mọi sự), cứu độ mỗi một chúng sinh trên đời.

Không phải của anh.
Không phải của tôi.
Không phải của người khác.

Bồ Tát thuyết pháp là lợi ích chúng sinh, cũng là lợi ích lục đạo, không phải chỉ bảo hộ gia đình mà thôi.

Quan Thế Âm Bồ Tát dùng phương tiện độ chúng sinh:
1. Tiêu nghiệp chướng.
2. Tăng phúc huệ.


### 10. Hai cơn lốc xoáy


Có một lần tôi tới Vân Lâm, đến miếu Mazu (*) ở đó, vào tham bái Thiên Thượng Thánh Mẫu. Khi ra khỏi miếu, vừa mới bước tới quảng trường bên ngoài, phía trước cửa liền nổi lên hai cơn lốc xoáy.

Một trái một phải.
Cát đá tung bay.

Tôi nhắm mắt lại, do lốc xoáy thổi bay đất cát gần như sắp bay vào trong mắt rồi. Bỗng nhiên tôi nghe thấy trong miếu vọng ra tiếng nói: "Dừng mau! Dừng mau! Vị này là Phật tử, không được đùa giỡn."

Chỉ một câu nói này, hai cơn lốc xoáy đó liền rút lui lại đến trước cửa miếu, trong chốc lát biến mất không thấy nữa.

Sau này tôi mới hiểu ra. 
Hai cơn lốc xoáy này là Thiên Lý Nhãn và Thuận Phong Nhĩ, họ đi ra khỏi miếu để đuổi theo tôi. Tiếng nói trong miếu là của Thiên Thượng Thánh Mẫu.

Nguyên nhân của sự việc này:
Tôi vào miếu lễ bái Thiên Thượng Thánh Mẫu, trước đó đã ấn giữ tam quang trên đỉnh đầu. Tam quang này là Phật quang, Linh quang, Tịnh quang. Nhưng lúc tham bái tôi đã mở miệng, trong miệng xuất hiện Tịnh lưu ly quang, ánh sáng màu xanh lam vô cùng lạ thường. Các thần tướng đều nhìn thấy hết.

Nhìn chung khi trong miệng một người xuất hiện Tịnh lưu ly quang, nếu không phải thánh hiền thì sẽ là yêu quái. Thế là hai vị phó tướng của Thiên Thượng Thánh Mẫu liền vội vàng phóng ra cửa miếu điều tra lai lịch của tôi. Thiên Thượng Thánh Mẫu lập tức biết ngay. Dù sao Thiên Thượng Thánh Mẫu có đại thần lực, trong tích tắc liền biết tôi là ai, vội vàng triệu hồi hai vị phó tướng. Đây là một câu chuyện có thật.

Còn nữa. 
Có một lần, tôi đi Italy, đến đấu trường của Italy. Vừa bước xuống xe du lịch, bên cạnh xe liền nổi lên một cơn gió lốc rất lớn, cũng là lốc xoáy, thổi rụng hết toàn bộ lá cái cây to bên đường. Trong gió có âm thanh gào thét:
"Độ!" 
"Độ!" 
"Độ!"

Tôi nói: "Salvation" (*)

Tôi nói xong câu này gió mới dừng lại, liền nhìn xem xung quanh thấy gió nhẹ trời nắng, cơn lốc xoáy ở đâu ra chứ? 
Bên tay trái chính là đấu trường.

Tôi nói:
Đây là vong hồn của đấu trường đang đợi tôi đến siêu độ. Mọi người đều rõ ở Italy vào thời đại vua Rome có biết bao nhiêu người bỏ mạng tại đấu trường. Nhưng thời đại đã qua lâu như vậy rồi mà vong hồn vẫn chưa tan biến thì đúng là chuyện vô cùng kì lạ. Cao thủ tâm linh trong lịch sử có rất nhiều, Trung Quốc và phương Tây đều có, họ vẫn chưa độ hóa vong hồn sao? Còn phải chờ tôi đến sao?

Tôi nhìn thấy trong cơn lốc xoáy đó có vô số vô số hồn ma rất đáng sợ. Oan khí không tan!

Cơn lốc xoáy nổi lên đột ngột đó thổi mạnh đến mức quần áo bay phần phật! Mọi người đều nhìn thấy! Mọi người cũng nghe thấy! Lạ thay! Lạ thay!

Điều làm tôi nghĩ không ra là: Chẳng lẽ oan hồn của phương Tây cũng biết là tôi sắp đến đấu trường? 

Kỳ lạ thay! kì lạ thay! Họ làm sao biết được chứ?

(*) Mazu: Ma Tổ, còn gọi là Thiên Hậu hay Thiên Thượng Thánh Mẫu, ngài được dân chúng các nước Đông Á rất tôn kính, đặc biệt là ở Đài Loan. 
(*) Salvation: tiếng Anh có nghĩa là "cứu rỗi, siêu độ", Tôn Sư đã nói tiếng Anh ở đây.


### 11. Kiên giáp chú của Đại Bạch Tản Cái


Có một năm, lúc tôi truyền thụ pháp Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu, chúng tôi chế ra cái ô nhỏ có chữ Phạn trên đó.

Lại truyền dạy "Kiên giáp chú".
Lại truyền dạy "Niệm tụng pháp".

Rất nhiều người thờ cúng cái ô nhỏ tại nhà, ngày ngày tụng chú, hy vọng phòng tránh vận xui đến nhà, cản vận xui lại bên ngoài cửa.

Đến một hôm. 
Có dãy nhà bị cháy, dãy nhà này có tổng cộng mười sáu căn, lửa cháy từ hướng bắc lan sang hướng nam. Gió lại làm lửa cháy to hơn, khí thế hùng hồn. Thần lửa có thần gió giúp đỡ đã nhanh chóng nuốt chửng tám căn nhà. Lửa cháy đến căn thứ chín thì không cháy nữa, đột nhiên nhảy qua căn khác. Lại bắt đầu cháy từ căn thứ mười, từ căn thứ mười cháy đến căn thứ mười sáu, thiêu rụi thêm bảy căn nhà.

Lúc này, xe cứu hỏa kêu "hú…hú…" inh ỏi. Nhân viên cứu hỏa phun nước nhưng lửa thực sự quá lớn, nước không dập được lửa. Tám cộng bảy, tổng cộng mười lăm căn nhà bị đốt cháy. Chỉ có căn chính giữa đứng vững, hoàn toàn không bị cháy. Lửa đến căn nhà này liền nhảy qua nhà khác. 

Duy có mỗi nóc nhà bị nhân viên cứu hỏa đục một lỗ to, tại sao vậy? Nguyên do là nhân viên cứu hỏa yêu cầu:
"Đục một cái lỗ trên nóc nhà chuẩn bị để xả nước vào."
Chủ nhà nói: "Không được đục lỗ!"
Nhân viên cứu hỏa nói: "Theo quy định là phải đục lỗ."

Nhưng đục lỗ xong lại không cần xả nước vào, vì lửa đã nhảy qua nhà khác. Căn nhà này vốn dĩ lửa không động đến gì cả. Đây là chuyện lạ khó lý giải. Cả một dãy nhà đều bị thiêu rụi, chỉ để lại một căn chính giữa vẫn hoàn toàn như lúc đầu.

Ảnh chụp ra được cảnh tượng ngoạn mục, hai bên trái phải đều đổ gạch sập tường, chỉ có một căn chính giữa hoàn chỉnh nguyên vẹn. 

Căn nhà này của ai vậy?
Đáp án: Của đệ tử Chân Phật Tông.

Nhà có cái ô nhỏ của Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu. Chủ nhân có niệm Kiên giáp chú, có tu Niệm tụng pháp. Vì vậy những căn nhà khác đều bị thiêu rụi, chỉ duy nhất một căn nhà đứng vững, không chút tổn hại nào.

Tôi nói:
Đại Bạch Tản Cái có thể che trời, đất nước lửa gió đứng sang một bên. Pháp này lợi ích vô cùng, có thể tiêu diệt tội lỗi, lửa đến sẽ hóa thành sen đỏ.

Kiên giáp chú: "Om mama siddhi, soha." (Tôn Sư cũng  truyền một câu tâm chú khác nữa trong nghi quỹ Bạch Tản Cái là: Hum mama hum ni, soha.)

Kết ấn: Tay trái nắm lại, giơ ngón trỏ thẳng đứng. Bàn tay phải đặt úp lên trên ngón trỏ. 

Quán tưởng: Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu đứng giữa hư không chiếu vào nhà cửa và bản thân hành giả. Tất cả vận rủi đều tan biến. 

Nhờ đó căn nhà đó của đệ tử Chân Phật, lửa không thể đốt, nước không thể xâm phạm được. 
Có người hỏi tôi:
Tại sao Phật pháp chỉ bảo hộ người tin Phật, Phật pháp từ bi quảng đại, tại sao không bảo hộ tất cả?
Tôi đáp:
Hãy lấy nam châm mà suy luận, nam châm chỉ có thể hút kim loại, còn gỗ đá thì không sao hút được.


### 12. Bói đĩa


Vào thời tôi học công nghệ đúc tại Trường công nghệ cao Cao Hùng, có một khoảng thời gian trò bói đĩa (cũng gọi là Đĩa Tiên) rất phổ biến. Lúc đó bói đĩa vô cùng thịnh hành, các tiệm tạp hóa đều có bán bộ bói đĩa - là một cái đĩa nhỏ cùng một tờ giấy thiên tự văn (*). Đem thiên tự văn đặt ở bề mặt trơn, sáng bóng, đặt cái đĩa nhỏ lên trên thiên tự văn, dùng mực nước vẽ một đầu mũi tên lên trên đĩa. Sau đó dùng đầu ngón tay của ba người đặt nhẹ lên đường viền đáy đĩa, cái đĩa sẽ tự nhiên di chuyển. Chỉ ra phúc họa, v.v.

Một lần người hàng xóm chơi bói đĩa, tôi tò mò nên cũng chạy qua xem. Cái đĩa đặt trên thiên tự văn đi rất nhanh, những chuyện mà mọi người hỏi đều giải đáp toàn bộ. Giải đáp chính là mũi tên chỉ vào chữ, từng chữ ghép thành câu, đây chính là đáp án.
Trong lúc xem tôi nói xen vào:
"Sau khi tôi tốt nghiệp trung học, sẽ đi học ở đâu?"
Bói đĩa đáp: "Đài Trung."
Tôi lại hỏi: "Tôi có cần đi lính hay không?"
Bói đĩa đáp: "Không cần."

Nghe đồn hôm đó có Quan Thế Âm Bồ Tát giáng xuống. Đương nhiên, có phải là Quan Thế Âm Bồ Tát hay không, chẳng ai biết cả, vì vốn dĩ không ai có thể nhìn thấy. Nghe nói trò bói đĩa có khi chính xác, có khi không chính xác, có khi linh nghiệm, có khi không linh nghiệm. 

Lúc đó tôi không đăng ký kì thi cao đẳng, vì nếu có thi đỗ thì gia cảnh khó khăn nên cũng sẽ không có tiền để học. Tôi chỉ có thể thi tuyển sinh trường quân đội. Học trường quân đội không cần tiền, nhưng sau khi tốt nghiệp phải phục vụ trong quân đội 10 năm. Thời gian đó trường quân đội có:
Viện y học quốc phòng.
(Học viện) Trường trắc lượng.
(Học viện) Trường quân pháp.
(Học viện) Trường tài chính.
(Học viện) Bách khoa, v.v.

Khi trường quân đội công bố kết quả tuyển sinh, tôi thi đỗ Học viện trắc lượng. Điều khiến tôi kinh ngạc nhất là Học viện trắc lượng lại chính là ở Đài Trung. (Bói đĩa trên rất chính xác, bởi trước đó tôi không hề biết Học viện trắc lượng ở Đài Trung.)

Còn nữa:
Tôi đã học trường quân đội, đương nhiên không cần làm lính nữa, không cần nhập ngũ huấn luyện, bởi vì tôi đã trở thành quân nhân chuyên nghiệp rồi. (Không cần đi lính, nghĩ lại cũng rất chính xác, sau này tôi giải ngũ khi đang là thiếu tá.)

Có người nói:
Bói đĩa hoàn toàn là giả! Ngón tay của ba người lực không đồng đều, đương nhiên là cái đĩa sẽ bị di chuyển. 

Có người nói:
Bói đĩa là thật. Bởi vì bói đĩa cũng có thể ghép từng chữ lại với nhau, lại còn biết làm thơ. (Người phụ trách ghi chép chữ trong trò chơi này đều không biết làm thơ.)

Tôi nói:
Kê đồng, phù kê hay bói đĩa, cơ sở của chúng đều giống nhau. Linh hồn của linh giới cần mượn tinh khí con người để làm được việc này, đây cũng xem như là "Trời - Người hợp nhất" thôi!

Nhưng linh giới cũng rất phức tạp, có linh cao, có linh thấp, linh cao thì độ chính xác cao, linh thấp độ chính xác thấp. Tự xưng là Phật đến chưa chắc đã là Phật. Là quỷ, là yêu, là ma, bạn cũng không thể biết. 

Vì thế: Đừng mê tín - đừng vội tin bừa bãi!

(*) Thiên tự văn: 1000 chữ Hán cổ.


### 13. Siêu độ chim anh vũ


Trong nhà của đệ tử Liên Hoa Nhất Mai có nuôi một con chim anh vũ (*). Có một đêm cô nằm mơ. Mẹ của Nhất Mai xuất hiện trong giấc mơ (bà mẹ đã qua đời từ rất lâu). 

Bà mẹ nói với Nhất Mai: "Mẹ mong được đến Đài Loan Lôi Tạng Tự, thỉnh Lư Sư Tôn sờ đầu siêu độ!"
Nhất Mai hỏi: "Mẹ đi bằng cách nào?"
Bà mẹ đáp: "Mẹ sẽ nhập vào trong con chim anh vũ."
Nhất Mai hỏi: "Mang cả lồng chim lên trên núi ư?"
Bà mẹ đáp: "Không cần, mẹ nhập vào trong người nó, nó sẽ không bay, sẽ ngoan ngoãn đi theo con lên núi."
Bà mẹ trong giấc mơ còn nói:
"Khi mẹ còn sống, con khuyên mẹ niệm Thượng sư tâm chú. Mẹ luôn cho rằng một câu chú của người sống thì có gì để niệm chứ, mẹ vốn dĩ không tin. Sau khi chết đến âm phủ mới biết Sư Tôn của con là một vị Phật thực sự. Chỉ cần ngài ấy sờ đầu, mẹ sẽ nhanh chóng được giải thoát cái khổ của u minh, vì vậy con cần đưa mẹ đi sờ đầu."
Nhất Mai lại hỏi: "Mẹ không thể đích thân đi thỉnh cầu sao?"
Bà mẹ đáp: "Không thể."
Nhất Mai hỏi: "Tại sao không thể?"
Bà mẹ đáp:
"Mẹ là một âm linh, đâu đâu cũng có các thần đi tuần hành, vả lại xung quanh Lôi Tạng Tự có thần tướng ngăn cản không thể vào được. Chỉ có nhập vào trong người chim anh vũ mới có thể đi vào Lôi Tạng Tự."

Mơ đến đây thì tỉnh dậy.

Đến hôm sau.
Pháp hội vào ngày thứ bảy, Liên Hoa Nhất Mai đưa chim anh vũ lên núi, gặp ai cũng nói: "Đây là mẹ tôi."
Có người đưa tay chạm vào nó.
Nhất Mai nói: "Đừng có chạm vào mẹ tôi."
Mọi người đều cười.

Đến buổi tối sờ đầu, tôi sờ đầu đến lượt Nhất Mai thì nhìn thấy chim anh vũ.
Tôi nói: "Hãy để bà ấy giải thoát khỏi nỗi khổ của u minh!"
Nhất Mai hỏi: "Sư Tôn biết ư?"
Tôi đáp: "Biết."

Tôi giơ tay sờ vào đầu chim anh vũ. Chim anh vũ ngoan ngoãn đứng im, một luồng ánh sáng lam nhạt bay xuyên vào hư không.

Còn nữa:
Đêm ngày 19 tháng 4 năm 2014, có một con bướm to đậu lên trên người một đệ tử nam. Không bay đi là không bay đi. Chờ tôi đến sờ đầu.

Tôi vừa nhìn, thấy cũng là một chúng sinh u linh nhập vào con bướm to rồi đậu lên trên người đệ tử này, nguyện cầu tôi sờ đầu siêu độ. Con bướm này to bằng bàn tay đậu trước trán của đệ tử đó, đang chờ sờ đầu!!!

Tôi nói:
Việc sờ đầu của tôi, chẳng phải là hư không, không có gì ở đó.
Tôi thỉnh cầu bổn tôn hòa nhập vào tôi. Tôi tức là bổn tôn, bổn tôn tức là tôi, không phải hai thực thể, không có khác biệt nào. 
Tôi một mặt niệm bổn tôn tâm chú, một mặt thì sờ đầu.

Những chuyện cảm ứng xảy ra do sờ đầu nhiều như những vì sao trên bầu trời!

(*) Chim anh vũ: chim vẹt, con vẹt.


### 14. Ma thật ma giả


Liên Hoa Bội Ngọc là một nữ đệ tử của tôi. Thời còn đi học cô cùng với một người bạn cùng thuê một căn chung cư sống cùng với nhau. Vào một buổi tối nọ, Liên Hoa Bội Ngọc ngồi bên bàn học chăm chú làm bài tập, còn bạn chung phòng thì đang tắm trong phòng tắm. Cô bạn chung phòng bỗng nảy ra ý định đùa cợt.

Cô mặc bộ áo dài màu trắng, chải tóc của mình thẳng tăm tắp, người lả lướt bay bồng bềnh. Dùng chì kẻ mắt vẽ hai con mắt vừa to vừa đen, cô lại còn dùng phấn màu trang điểm bôi mặt mình thành mặt hồn ma.
….
Sau đó cô bạn nhón chân bước nhẹ nhàng đến phía sau của Liên Hoa Bội Ngọc, dùng tay vỗ nhẹ vào vai của Liên Hoa Bội Ngọc.
"Khaaa!"
Liên Hoa Bội Ngọc quay đầu lại nhìn: "Á!"
Cô hét lên rất to, rồi như sắp chết ngất!
Người bạn cười: "Đừng sợ, là mình, mình đóng giả đó, dọa bạn một chút thôi mà!"
Liên Hoa Bội Ngọc nói: "Không phải đâu, sau lưng bạn…"

Người bạn liền quay đầu lại nhìn.
Kinh hoàng! Cả hai cô đều ngất xỉu.

Một lúc sau, hai cô gái bị dọa sợ đến gần chết này cùng tỉnh dậy. Thì ra lúc nãy phía sau lưng người bạn chung phòng có một ma nữ mặc áo trắng đang đứng đó. Ma nữ này đầu chạm đến trần nhà, tóc dài bay bay, hai mắt như cá chết, khuôn mặt xanh lè không chút huyết sắc, chân hình như không chạm đất.

Hai cô tỉnh dậy, cảm thấy nhiệt độ trong phòng dường như rất thấp, khí lạnh ùa vào. Con ma nữ người dài ngoẵng đó đã biến mất rồi. Hai người vội vàng kiểm tra. Cửa vẫn khóa trái phía trong, người ngoài vốn không thể đi vào, đồ đạc trong nhà  cũng không thiếu món nào cả. Liên Hoa Bội Ngọc thực sự nhìn thấy. Cô bạn cùng phòng quay đầu lại cũng thực sự nhìn thấy. Rõ ràng là một ma nữ thân hình cao dài. Tại sao ma lại hiện thân chứ?

Liên Hoa Bội Ngọc đem chuyện này nói với tôi, hỏi chuyện này là sao?
Tôi hỏi: "Sau khi xảy ra chuyện này, hai người còn tiếp tục sống ở đó không?"

Cô đáp:
"Đâu dám chứ, con đã nhanh chóng dọn đến căn chung cư khác từ lâu rồi. Về sau con thấy mọi người vẫn đồn nhau, căn phòng đó quả thật rất quái lạ. Những người vào sống có người bị trầm cảm, có người mất ngủ, có người bị bóng đè, có người nhìn thấy cái này cái kia…"

Tôi nói:
Tôi tin tưởng có ma quỷ, vả lại tôi cũng từng nhìn thấy thế giới của ma quỷ giống như nhân gian.

Người bạn chung phòng của cô gái trước tiên đã khởi lên cái tâm hù dọa, tự mình hóa trang thành ma, đây là đóng giả ma dọa người. Còn ma thật thì sao? Đã biết cái tâm đó của người bạn chung phòng, ma thật không cần đóng giả.

Cô dọa người!
Tôi dọa các cô!
Đây là bọ ngựa bắt ve sầu, chim sẻ rình sau lưng, ha ha ha!

Tại sao tôi lại tin có ma quỷ?
Tôi thành thật nói cho mọi người biết, đó là vì tôi mỗi ngày đều thí thực cúng dường chúng quỷ thần. Rất nhiều ma quỷ đều ở nhờ ngôi nhà xoàng xĩnh của tôi. Tôi vốn không kết giới, hoan nghênh đến ở. Vì thế ma quỷ trong nhà tôi đặc biệt nhiều, tôi và chúng sống cùng nhau một cách yên bình.

Tôi đi, bọn chúng đều gói ghém đi mất!
Tôi quay về, bọn chúng lại tụ hợp lại!
Ngôi nhà xoàng xĩnh của tôi giống như cái chợ.


### 15. Niệm Chân Phật Kinh


Liên Hoa Hương Mính (*) từ khi quy y Lư Sư Tôn đã tự động tích cực niệm Thượng sư tâm chú tám triệu biến. Ngoài ra, cô cũng niệm Chân Phật Kinh 108 biến. Tu Tứ gia hành vô số lần. 

Cô nói: "Có rất nhiều cảm ứng lớn nhỏ."
Tôi nói: "Vậy mời cô lấy ví dụ nói rõ được không?"

Cô nói:
Có một lần đi du lịch, cô quá cảnh tại sân bay Tokyo Nhật Bản. Thời gian chờ đổi chuyến là một tiếng rưỡi, sẽ khởi hành đúng giờ. Một mình cô rất buồn chán ngồi trên ghế chờ đợi, lúc này đột nhiên cảm thấy rất buồn ngủ, thèm ngủ. Cô không dám ngủ, lỡ như ngủ rồi mà ngủ quá say không tỉnh dậy thì phải làm sao? Nhưng cô vẫn thèm ngủ vì thực sự hai mắt không mở nổi nữa.
Mắt nhắm mắt mở. Giằng co!
Lúc này cô nghĩ đến Lư Sư Tôn, liền tự mình niệm một biến Chân Phật Kinh (cô ấy đã thuộc lòng), sau đó cầu nguyện Sư Tôn xin ngài bảo hộ. Thế là cô yên tâm ngủ say. Giấc ngủ này của cô quá sâu, tất cả thông báo trên loa đều không nghe thấy. 

Ngủ quá một tiếng rưỡi, cô vẫn chưa tỉnh. Loa đài lại thông báo mời cô lên máy bay, cô cũng không nghe thấy, đây là thời khắc khẩn cấp.

Lúc này Lư Sư Tôn xuất hiện trong giấc mơ nói với cô: "Đã đến giờ rồi, lên máy bay đi."
Cô ở trong mơ trả lời: "Con quá buồn ngủ rồi, không thể cử động được nữa, ngài để cho con ngủ đi!"
Lư Sư Tôn nói: "Không được, máy bay sắp bay rồi!"
Cô không nhúc nhích chút nào, thực sự là ngủ như chết!

Thế là… Lư Sư Tôn đột nhiên rung lắc chiếc ghế của cô, không khác gì động đất cấp tám. Một trận trời long đất lở, cô ngã từ trên ghế xuống, tỉnh dậy nhìn đồng hồ.

Thảm rồi! 1 giờ 39 phút. Máy bay đã trễ 9 phút rồi, đang khởi động rồi. Cô kéo chiếc vali nhỏ mang theo bên mình, lao vút vào cửa ra tàu bay. Cô vừa lên máy bay xong, cửa máy bay liền đóng lại. Thật đúng là "nghìn cân treo sợi tóc".

Tiếp viên hàng không nói với cô:
"Chúng tôi gọi tên của cô đến năm lần!"
Cô đáp: "Xin lỗi! Xin lỗi!"
Khi cô bước lên máy bay, toàn bộ hành khách trên máy bay đều vỗ tay vui vẻ.

Liên Hoa Hương Mính kể: 
Còn có lần khác kì diệu hơn! Cô đi xin việc. Một ngày trước đó, ở trước đàn thành cô cầu xin Lư Sư Tôn giúp đỡ, lại tụng niệm một biến Chân Phật Kinh. 

Ngày hôm sau đi ứng tuyển, cấp trên nói với cô:
"Cô được chọn rồi!"
Cô hỏi: "Tôi vẫn còn chưa thi tuyển mà?"
Cấp trên đáp: "Đêm qua trong mơ, tôi thấy cô đến ứng tuyển, đối đáp trôi chảy. Ở trong mơ tôi đã chọn cô rồi!"

Ôi trời! Trên đời lại có chuyện như vậy sao? 
Chân Phật Kinh kì diệu thay!

(*) Mính: tên là Mính, không phải tên Minh.


### 16. Lời khiển trách của Kim Cương Thủ Bồ Tát


Tại một quốc gia Đông Nam Á nơi khu vực hẻo lánh có một phân đường của Chân Phật Tông, do trần nhà bong tróc nên đã mời vài công nhân trang trí lắp đặt đến sửa chữa. Khu vực Đông Nam Á thời tiết nóng bức, lại đang mùa hè, giờ nghỉ ngơi đúng vào lúc giữa trưa. Nóng quá nên họ cởi bỏ áo và quần dài, ở ngay trước đàn thành ngổn ngang nằm ngủ. 

Lúc này vị đường chủ Phật đường cũng bắt chước giống các công nhân, ông ta cởi áo, quần dài, tìm tấm chiếu rồi nằm một góc trong Phật đường ngủ ngáy khò khò. Sàn Phật đường được lót bằng đá cẩm thạch mát mẻ nên ngủ rất dễ chịu và thoải mái.

Chính vào lúc vị đường chủ ngủ say nhất, ông mơ thấy Kim Cương Thủ Bồ Tát đến. 

Kim Cương Thủ Bồ Tát hiện tướng phẫn nộ:
"Sao ngươi có thể nằm ngủ hở hang ở đây. Như vậy là ô uế đạo tràng, ngươi có biết không? Không chút lễ tiết."
Đường chủ hỏi: "Công nhân cũng ngủ trưa ở đây như thế, sao ngài chỉ trách mắng một mình con?"
Bồ Tát nói:
"Đàn thành này vốn là nơi vạn đức giao quy, xem trọng trang nghiêm nhất, nhưng các công nhân vô tri, không biết nên không nói làm gì. Còn ngươi là đường chủ Chân Phật Tông, sao có thể không biết lễ nghi? Đã biết lễ nghi như nhà ngươi thì sẽ có tội lớn, ngươi nên biết như vậy!"

Đường chủ lại hỏi: "Con đã biết lỗi, sẽ tự mình sẽ sửa đổi. Nhưng con muốn hỏi, thế nào là tùy thuận theo chúng sinh?"
Bồ Tát nói: "Khi có thể tùy thuận thì tùy thuận, khi không thể tùy thuận thì không thể tùy thuận."
Đường chủ nói: "Con không hiểu!"
Bồ Tát nói:
"Chuyện trong thiên hạ này có chuyện tồi tệ nào mà con người chưa từng làm chứ? Chuyện người khác đã làm, ngươi nhắm mắt bắt chước làm theo, vậy là không đúng. Nếu với mỗi một chuyện đều nói là người khác cũng làm thế, thì bảo sao thiên hạ không đại loạn chứ? Tùy thuận mà ta nói là tùy thuận không tạo nghiệp."

Đường chủ hỏi: "Vậy chuyện mà Lư Sư Tôn đã làm, đệ tử chúng con có thể bắt chước làm theo không?"
Bồ Tát nói: "Có việc được, có việc không được!"
Đường chủ nói: "Con không hiểu!"
Bồ Tát đáp: 
"Ví dụ nếu hôm nay nếu Lư Sư Tôn hở hang tại Phật đường, ta sẽ không trách mắng. Còn ngươi hở hang tại Phật đường, ta sẽ trách mắng."
"Tại sao?"
Bồ Tát đáp:
"Lư Sư Tôn có thể từ tính Không đích thực hóa hiện thành hư vô, không ảnh hưởng lễ tiết. Ngươi không thể từ tính Không đích thực hóa thành hư vô, vì vậy đáng bị phạt."

Đường chủ nói: "Như câu nói nơi mà sư tử nhảy nhót, thỏ không được bắt chước nhảy theo, có đúng không?"
Bồ Tát đáp: "Chính là như vậy."
Đường chủ nói: "Chuyện Lư Sư Tôn đã làm, có một số chúng con có thể học, lại có một số không thể học, có phải không?"
"Đúng vậy."

Tôi nói:
Giống như cuộc thi cử tạ. Có người có thể nâng 100kg, 1000kg.
Thử hỏi các bạn nâng được không? 

Người có khả năng nâng được thì sẽ nâng được, 
Người không có khả năng nâng được thì sẽ không thể nâng được!


### 17. Tóc của tôi


Tôi từng đến một tiệm cắt tóc để cắt tóc. Đầu của tôi vốn dĩ là đầu hòa thượng, tóc mọc dài một chút là tôi liền cạo sạch, mớ tóc cạo xuống đều là những sợi ngắn tủn.

Tôi hỏi thợ cắt tóc:
"Anh đã từng nghe hay thấy tóc của ai sau khi đã cắt xuống rồi lại vẫn mọc dài ra chưa?"
Thợ cắt tóc nói: "Chưa nghe thấy bao giờ."
Tôi nói: "Tóc của tôi cạo xuống rồi sẽ biến thành rất nhiều và còn mọc dài nữa!"

Thợ cắt tóc kinh ngạc.

Thợ cắt tóc nói:
"Mỗi ngày tôi cắt tóc cho vô số người, mỗi ngày quét tóc rụng xuống, chưa từng nghe nói tóc đã cắt xuống lại mọc nhiều, mọc dài. Nếu như vậy thật, tiệm cắt tóc của chúng tôi chẳng phải bị ngập chìm trong tóc sao?"

Còn nữa:
Liên Doanh Thượng sư ở Đào Viên Đài Loan xin được một ít chấm tóc nhỏ của tôi, chỉ một vài chấm tóc nhỏ. 

Bày trong tháp xá lợi.
Cách một khoảng thời gian.
Bèn lấy ra xem thử.
Chết lặng vì ngạc nhiên. 

Bởi vì chấm tóc nhỏ li ti đó không chỉ biến thành rất nhiều mà còn mọc dài, dài đến năm inch (*), từ lâu đã cao đầy lên đến đỉnh tháp xá lợi, hơn nữa tóc còn chìa ra ngoài. Ai nhìn cũng thấy kì lạ.

Còn nữa:
Em gái lớn Lư Thắng Mỹ của tôi cũng sưu tầm tóc của tôi, cũng là một vài cọng chấm nhỏ li ti. Có một ngày lấy ra xem, rõ ràng  tóc đã nhiều hơn. Vả lại tóc ban đầu vốn là một chấm nhỏ, bây giờ biến thành tóc viên, cũng tức là từng hạt từng hạt to giống như "nhân đan", thành những viên "xá lợi tóc" tròn tròn.

Một chấm tóc biến thành xá lợi tóc to bằng "nhân đan", tròn vo.
Những ai nghe nói, đều kinh ngạc!

Còn nữa:
Phật Đạt đồng tu hội ở Brazil có Liên Hoa Hạnh Chiêu xin được một chấm tóc nhỏ của tôi. Vô cùng trân quý.

Cô đem tóc bỏ vào trong máy dây chuyền sản xuất, kết quả thu được rất nhiều. 

Có người xin cô cho thỉnh tóc. 
Đã cho. Nhưng tóc lại mọc ra.
Lại cho nữa. Lại tự mọc ra.
Không biết đã cho hết bao nhiêu người.

Tóc mãi tự mọc ra, trước sau không hết, tóc Sư Tôn của cô  mãi không hết đi, từng đó cứ lấy mãi không hết.

Những người nghe nói đến,
Cảm thấy thật không thể tưởng tượng được. 

Những câu chuyện liên quan đến tóc của tôi thực sự rất nhiều, đếm cũng đếm không hết, ở đây chỉ có thể kể ra ba câu chuyện để mọi người tham khảo.

Tôi nói:
Tóc cũng là pháp, pháp lực của tôi tăng trưởng, tóc sẽ tăng trưởng. Lông tóc móng tay, những thứ này đều là tượng trưng cho sức mạnh tinh thần. Sức mạnh tinh thần vô hạn, thì lông tóc móng tay sẽ vô hạn.

Tôi nhận ra:
Bất cứ thứ gì thuộc về thánh giả đều có lực gia trì vô cùng tận. Lý do là vì tinh thần của con người không bao giờ chết!

(*) Năm inch: khoảng 13 cm.


### 18. Lôi Bộ Chính Thần


Có một buổi tối, tôi ở Chân Phật Mật Uyển. Đột nhiên từng cơn từng cơn gió nổi lên, cành cây kêu xào xạc, thỉnh thoảng lại có tiếng cành cây bị gãy rơi lộp độp xuống dưới bùn. Lúc này mưa bắt đầu đổ xuống, mưa to dần theo sức gió đánh vào cửa sổ bồm bộp, tiếng mưa rơi "đing đing đoong đoong". Xem ra cơn mưa này cũng không nhỏ, mưa không trút thẳng xuống mà đổ xiên xiên. 

Tôi cảm thấy có chút kì lạ. Hôm nay thời tiết ban ngày nắng đẹp gió nhẹ, đến tối lại đột nhiên nổi gió lớn, mây đen phủ khắp bầu trời rồi nhanh chóng đổ mưa xuống. 

Thật là:
Trời gió mưa khó đoán. 
Người họa phúc khó lường.
Tất cả vô thường thế.
Khi tôi tĩnh tâm ngồi thiền, đột nhiên có âm thanh đi vào trong tai, âm thanh nho nhỏ run run: 
"Lư Sư Tôn! Lư Sư Tôn! Xin bảo vệ tôi!"

Tôi hỏi: "Ai đó?"
Hắn đáp: "Tôi là yêu thần!"
Tôi rất tò mò: "Ngươi là yêu gì, thần gì?"
Hắn đáp: "Tôi là phi nhân (không phải người), nên gọi là yêu. Tôi tu hành rất lâu, nên gọi là thần."
Tôi hỏi: "Ta làm sao cứu ngươi?"
Hắn đáp: "Ngài chỉ ngồi thiền, không rời khỏi căn phòng này là tôi được cứu."
Tôi hỏi: "Ngươi rốt cuộc đã phạm phải chuyện gì mà cần ta cứu? Còn nữa, ai sẽ đến giết ngươi?"
Yêu thần đáp:
"Tôi tuy tu hành nhưng phạm phải một vụ án. Bây giờ bị lôi thần đuổi bắt, tôi chỉ có thể trốn vào trong phòng của Lư Sư Tôn để lánh họa. Bây giờ tôi biết lỗi rồi, cũng hối cải rồi, mong Lư Sư Tôn cứu giúp!"
Tôi nói: "Ta cũng sợ lôi thần đánh đó!"
Yêu thần nói: "Lôi thần không dám đánh ngài, vì trên đầu ngài có tam quang."

Không lâu sau.
Quả nhiên chớp lóe lên trong khoảng hư không đen tối, hết tia này đến tia khác xuất hiện, mỗi một tia sáng trắng lại có tiếng sấm kèm theo. Ánh sáng trắng chớp nhoáng. Âm thanh "bùng bùng! bùng bùng!" bắt đầu nổ ra. Xung quanh phòng của tôi toàn bộ bị sấm đánh giống như chiến trận vậy đó.

Có tiếng sấm trầm trầm.
Có tiếng sấm mãnh liệt.

Lại càng giống pháo nổ trên mái nhà. Càng giống trận súng tập trung bắn vào phòng của tôi. Liên hoàn pháo sắp làm tai của tôi nổ tung luôn rồi. Thực sự là vô cùng đáng sợ.

Khoảng một canh giờ sau, mấy tia chớp tiếng sấm đó mới dần dần biến mất. Vị yêu thần này nói với tôi:
"Đại ân không lời nào cảm tạ xiết, sẽ khắc ghi trong lòng, tôi đi đây!" Nói rồi một quả cầu ánh sáng bay đi.
 
Tôi nói:
Gió mưa sấm chớp là khí tượng thời tiết, đâu phải là thần gì? là tướng gì? Nhưng nếu thực sự có thần thao túng, thì là âm dương - vốn cũng là khí.

Thật ra:
Yêu cũng là khí, thần cũng là khí, cũng là âm dương - vốn cũng là khí. Mọi thứ trên đời, chỉ là âm dương mà thôi. Quỷ thần ấy cũng âm dương hai loại khí!


### 19. Thi An cư sĩ kể chuyện


Thi An cư sĩ sống tại thành phố Tân Trúc, thường ở Phúc Hữu Lôi Tạng Tự (Liên Chân giảng sư) đồng tu.

Có một hôm, trong bữa tiệc tối anh ta kể chuyện:
Lúc hai mắt của mẹ anh bị bệnh, không nhìn thấy gì, đã từng tìm bác sĩ khoa mắt điều trị nhưng chữa không khỏi. Về sau lại tìm bác sĩ khoa thần kinh điều trị, vẫn không thể chữa được. Cũng tìm đến khoa não, bác sĩ cũng bó tay chịu thua. Anh ta hết cách. Mẹ anh vì hai mắt bị mù, đi lại bất tiện, phải ngồi trên xe lăn và thuê một chị giúp việc người Indonesia chăm sóc sinh hoạt thường ngày. Do  ngồi xe lăn lâu ngày không vận động, cơ thịt của bà dần dần co rút lại.

Anh ta nghe nói Lư Sư Tôn ở Đài Loan Lôi Tạng Tự sờ đầu các đệ tử, có người bị mù không ngờ sau đó lại nhìn thấy. Anh liền đẩy xe lăn đưa mẹ đến cho Lư Sư Tôn sờ đầu, tổng cộng ba lần. Tay của Lư Sư Tôn sờ vào mí mắt của mẹ anh.

Cho đến một hôm.
Con trai Thi An cư sĩ mơ một giấc mơ. Trong mơ cậu nhìn thấy Lư Sư Tôn bay trong không trung, từ từ bay vào trong nhà của mình, xuyên tường vào nhà như vào nơi không có người. Ngài đi thẳng vào phòng bà nội, làm gia trì đặc biệt cho đôi mắt  của bà. 

Con trai Thi An cư sĩ miêu tả lại quá trình gia trì rất chi tiết. Điều kinh ngạc hơn ở chỗ mẹ Thi An cư sĩ lúc tỉnh dậy mở mắt ra, không ngờ lại nhìn thấy được trần nhà.

Đôi mắt của mẹ nhìn thấy rồi! 
Đôi mắt của mẹ thực sự nhìn thấy rồi! 

Bây giờ mẹ có thể tự động xuống giường, không cần người đỡ, không cần chống gậy, có thể đi được. Nhờ cơ thể vận động nhiều hơn, cơ thịt lại từ từ khôi phục, bây giờ so với trước lúc bị mù còn khỏe mạnh hơn.

Thi An cư sĩ nói: "Cám ơn Lư Sư Tôn đã cứu mẹ con."
Tôi nói: "Là Diêu Trì Kim Mẫu cứu, là Phật Bồ Tát cứu."

Còn nữa:
Liên Nhai pháp sư, học bảy pháp lớn của Kim Mẫu, trong đó có "chuyển nhãn châu pháp". Mỗi buổi sáng sớm nhắm mắt đảo 14 lần, sau đó đột ngột mở mắt nhìn thẳng ra xa. Trải qua một khoảng thời gian, không ngờ mắt cận thị đã hồi phục thành bình thường, giờ không cần đeo mắt kính.
Oa! Quá hay! Quá tuyệt diệu!

Tôi nói:
Trên đời luôn có một số chuyện vi diệu sẽ xảy ra, nhưng những chuyện đó cần có sự phối hợp giữa Thiên, Địa, Nhân. 

Tương ứng luôn có nhân quả của tương ứng. Cũng như vậy, không tương ứng luôn có nhân quả của không tương ứng. Việc này liên quan đến nghiệp, liên quan đến nhân duyên quả báo.

Nếu chúng ta tu hành đến mức quang minh thấu triệt thì sẽ có được trí tuệ chân thực, sẽ hiểu được những điều trên.

Đây cũng là: Ngũ nhãn lục thông. 
Tuy vậy cảnh giới cao nhất vẫn chưa phải là ngũ nhãn lục thông. Cảnh giới cao nhất là khi đã khai ngộ triệt để, giải thoát triệt để.

Cá nhân tôi phát nguyện:
Đời đời kiếp kiếp độ chúng sinh.
Đi khắp thế gian cứu hữu tình.


### 20. Quy y từ xa


Trong một lần gặp mặt, Liên Hoa Phi Diệu kể chuyện:
Khi cô quy y là theo phương pháp quy y quán đảnh từ xa, tự mình làm lễ quy y. Sau đó, cô ra khỏi nhà đi bộ một quãng đường dài, khi đang đi thì đột nhiên cảm thấy từ trên không trung có mưa, nước mưa từ trên cao đổ ào xuống.

Đầu tóc ướt hết.
Quần áo ướt hết.
Mặt đất cũng ướt hết.

Cô nói: "Trời mưa rồi!"
Một người đi bộ cùng nói: "Đâu có mưa chứ?"

Cô ngước đầu lên nhìn thấy gió nhẹ trời trong, vốn dĩ không có mây, vậy mưa ở đâu ra nhỉ? Cô nhìn kỹ lại xem có phải nước rơi xuống từ cành cây không thì chỗ đi bộ không có cây. Cô lại nhìn những người xung quanh, vốn dĩ không có ai bị mưa ướt cả, trên thân mỗi người đều khô ráo. Nhìn lại chỗ mặt đất bị ướt, thì chỉ trong khoảng tròn xung quanh chỗ đứng của Liên Hoa Phi Diệu là có mưa, bị ướt, những chỗ khác đều khô ráo. Sao lại có loại mưa như vậy?

Sau đó, Liên Hoa Phi Diệu suy nghĩ một lúc. 
Ha ha! Thì ra đây là tương ứng của việc quán đảnh từ xa.

Còn chuyện nữa:
Từng có một đệ tử cũng quy y từ xa. Cậu ấy đi xe buýt, đột nhiên đầu tóc quần áo đều là nước. Cậu ngước nhìn lên trên,  nóc xe buýt không bị dột nước, vẫn khô ráo. Nhìn bên ngoài, trời trong vạn dặm, một làn mây mỏng cũng không có. Cậu nhìn những người xung quanh. Không có ai bị ướt cả, ngay cả người ngồi hai bên trái phải cũng không bị ướt. Mọi người đều lấy làm khó hiểu. Lúc này cậu mới nhớ ra là buổi sáng mình đã cầu nguyện quy y từ xa!

Lại chuyện nữa:
Liên Hoa Phi Diệu độ Liên Hoa Lệ Anh quy y, cũng là quy y quán đảnh từ xa. Liên Hoa Lệ Anh trong mơ nhìn thấy mình mặc long bào. Trước đó đối với long bào cô vốn không có chút ấn tượng nào cả, vì thế khi thấy chuyện lạ này cô liền khắc ghi trong tâm.

Sau này, cô nhìn thấy long bào Lư Sư Tôn mặc, không ngờ lại giống hệt long bào mà mình đã mặc trong mơ, cô giật bắn mình. Đây cũng là tương ứng của quán đảnh từ xa sao?

Sau khi quy y không lâu, cô lại nhìn thấy Lư Sư Tôn phóng đại quang minh chiếu thế gian, hiện thân trong quang minh vô tận. Lư Sư Tôn cầm bảo vật pha lê đặc biệt tặng cho cô. Cô cảm thấy vô cùng vinh dự.

Tôi nói:
Hành giả của tông giáo chính là gắn với sự chuyển vận của đất, nước, lửa, gió.

Đất biến kiên cố.
Nước biến thanh tịnh.
Lửa biến quang minh.
Gió biến nhậm vận.

Dùng nước để quán đảnh, ý nghĩa chính là ban thanh tịnh, vì vậy quán đảnh thứ nhất là quán đảnh bình. Quán đảnh từ xa là  pháp phương tiện mà một vị Thượng sư thành tựu ban cho người ở xa muốn quy y. Cảm ứng sau khi được truyền đạo vốn bất khả tư nghì, thời gian không gian đều không còn là chướng ngại.


### 21. Cùng Diêm Vương nói chuyện háo danh


Một hôm mơ đi đến cõi địa ngục, Diêm Vương dẫn tôi vào trong nội đường. Hầu ngục dâng trà lên. 

Diêm Vương nói: 
"Từ xưa đến nay, con người đều háo danh. Có câu hổ chết để lại da, người chết để lại danh, ngài thấy sao hả?"
Tôi nói: 
"Phật Đà giảng, đất cát sông núi bao la vốn đều là bọt bong bóng, không có gì đáng lưu giữ."
Diêm Vương nói: "Ngài vẫn còn có tâm háo danh!"
Tôi hỏi: "Điều gì cho thấy như vậy?"
Diêm Vương nói: 
"Bây giờ ngài ký tên nhiều nhất, đệ tử của ngài rất nhiều, xin chữ ký của ngài rất nhiều, đó chẳng phải háo danh sao?"
Tôi đáp: 
"Đó là đệ tử háo cái danh của tôi, không phải tôi háo danh."
Diêm Vương nói: 
"Chân Phật Tông chẳng phải vì ngài mà nổi danh sao?"
Tôi đáp: "Không liên quan."

Tôi nói:
"Chân Phật Tông tuy do tôi khởi xướng, tương lai truyền thừa được tiếp thì truyền, không truyền thừa được tiếp thì không truyền, thời gian trôi nhanh, mây khói thoáng qua, khỏi cần quan tâm do ai sáng lập."
Diêm Vương nói: "Coi như ngài thoát được việc này."

Diêm Vương tiếp:
"Nhưng ngài viết sách, cuốn nào cũng ghi tác giả Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, điều này giải thích thế nào?"
Tôi đáp:
"Tôi trăm năm sau chỉ còn sách ở lại nhân gian, phát tán khắp nơi. Sách nào cũng đều có tên tác giả, đây vốn là lệ thường, tôi không phải ngoại lệ. Tôi vẫn phải nói, truyền được thì truyền, không truyền được thì không truyền. Sau này nếu tôi biết không còn sách của Lư Sư Tôn nữa thì cũng vẫn vui, đâu phải háo danh chứ!"

Diêm Vương nói: "Tranh của ngài vẫn đề tên?"
Tôi nói: "Tranh chỉ giúp mọi người tiêu khiển và tự tìm niềm vui, tôi đề tên lưu danh thực sự không có ý nghĩa khác. Tôi đối với thư họa giống như danh sơn thắng thủy ngẫu nhiên gặp gỡ, thực sự không phải tôi sở hữu chúng. Khắc hiệu đề tên mục tiêu không phải để người đời sau nhớ, sao lại là háo danh?"
Tôi nói:
Chân Phật Tông, chỉ là tiểu danh, có gì đáng nhớ?
Liên Sinh Hoạt Phật, chỉ là tiểu danh, có gì đáng nhớ?
Lư Thắng Ngạn, chỉ là tiểu danh, có gì đáng nhớ?
Đại thiên thế giới đều là bọt bong bóng nhỏ, hiện ra rồi tan biến, đều là nhất thời. Sao phải háo danh chứ?

Tôi lại nói:
"Tôi tương lai chỉ là gửi thân vào đất cát, hoặc bị sâu bọ và chuột cắn, hoặc hóa tro bụi, lâu ngày cũng chẳng còn ký ức. Tôi đã không còn, sao phải háo danh?"
Diêm Vương nghe xong, chắp tay:
"Quả nhiên dứt khoát!"

Tôi nói:
Từ xưa đến nay người nổi tiếng rất nhiều, nhưng rồi cũng nhạt cũng mỏng cũng biến mất như khói tan. Xưa nay trong ngoài có ai biết chứ? Nguyên do con người ngày nay tự cho mình là danh nhân, lại hay có sở thích thiên lệch, tâm ô nhiễm mà không thể tự chủ. Chuyện thiên hạ luôn như vậy, vẫn chấp vào cái tôi nên mới háo danh.

Mọi người có thể nghĩ như vầy: 
Danh - Không thể nắm bắt.
Địa vị - Không thể nắm bắt. 
Lợi - Không thể nắm bắt.
Sắc - Không thể nắm bắt.


### 22. Yêu tinh mèo


Có một đệ tử người Malaysia tên Liên Hoa Minh Lâu sống ở nông thôn, lần đầu theo mọi người đến Đài Loan Lôi Tạng Tự. Khi được gặp Lư Sư Tôn ở đại pháp hội tại Nhà thi đấu Thái Tử Malaysia, ông mới quy y.

Tại Đài Loan Lôi Tạng Tự, sau khi tham gia hỏa cúng, có người kêu ông ở lại để sờ đầu.

Ông hỏi: "Sờ đầu có gì tốt không?"
Người đó đáp: "Có thể giải trừ bệnh tật! Giải trừ nghiệp chướng!"

Thế là ông liền ở lại vì ông có bệnh đau lưng đã mười mấy năm rồi, khám bác sĩ khắp nơi mà vẫn chưa khỏi.

Khi tôi sờ đầu đến lượt ông, ông nói: "Con đau lưng dưới, xin Sư Tôn sờ một cái!"
Tôi đập nhẹ một cái vào lưng ông. Ngay lập tức nhìn thấy từ trong lưng ông nhảy ra một khối đen. Tôi chưa kịp nhìn xem là gì thì nó đã biến mất không thấy nữa. Tôi cũng không nói gì, sau đó tiếp tục sờ đầu cho đám đông đệ tử.

Buổi trưa ngày hôm sau. 
Đúng dịp nhóm người của ông cúng dường tôi bữa trưa,  Liên Hoa Minh Lâu ngồi trong bàn ăn kể chuyện với mọi người:
"Hôm qua tôi nằm mơ thấy Lư Sư Tôn đến gia trì cái lưng đau cho tôi, tôi bị đau lưng mười mấy năm rồi.

Lư Sư Tôn hình như hao tốn rất nhiều sức lực mới kéo ra được một cái đuôi màu đen, cái đuôi nối với một con vật màu đen khổng lồ, sau đó tiếp tục kéo ra một cái đầu, răng của cái đầu đó đang cắn vào lưng của tôi.

Cuối cùng, răng của con vật đó bị Lư Sư Tôn nhổ ra từng chiếc một, đặc biệt là hai chiếc răng nanh to, rất dài cắm sâu vào trong thịt. Lư Sư Tôn nhổ hai chiếc răng nanh đó ra khỏi thịt. Tôi nhìn toàn bộ chiếc răng trắng cũng thấy rất đáng sợ. Tiếp theo, Lư Sư Tôn ném con quái vật đó ra ngoài, ném ra ngoài cửa sổ. Đến đây thì tôi tỉnh dậy, giấc mơ này vừa rất thật vừa kì diệu."

Ông nói: "Sáng nay ngủ dậy, cái lưng bị đau mười mấy năm hoàn toàn lành lại, toàn thân hoàn toàn nhẹ nhõm, tôi chưa từng được dễ chịu như vậy."
"Cám ơn Lư Sư Tôn!"

Liên Hoa Minh Lâu kể, ông nhớ lúc mình hai mươi mấy tuổi lên núi đi làm công, trên người luôn mang theo liềm. Đi qua một con đường núi nhỏ mọc đầy cỏ dại, đột nhiên có một con vật màu đen nhảy ra tấn công. Ông mở to mắt nhìn thì thấy một con yêu quái mèo khổng lồ toàn thân màu đen, hai mắt màu xanh phát sáng, nhe ra hàm răng trắng đậm. Răng nanh và móng vuốt của nó rất có uy lực. Ông không kịp phản ứng, chỉ thuận tay vớ lấy liềm quăng ra cắt rách phần bụng của yêu quái mèo.

"Meo!" Nó kêu lên một tiếng rồi lại chạy đến cắn tiếp… Ông chém liên tiếp mấy nhát, chém rơi luôn đầu của con yêu quái mèo. 

Liên Hoa Minh Lâu hỏi: "Có phải là bị hồn của con yêu quái mèo bám vào thân, hại con bị đau lưng suốt mười mấy năm không?"

Tôi nói:
Mọi chuyện đều tồn tại nhân quả. Con yêu quái mèo tấn công ông, ông có phản ứng như vậy cũng là bình thường. Rốt cuộc nên oán trách ai? Tôi không biết nhân duyên quả báo cần tính toán thế nào mới là hợp lý.

Nhưng quy y Chân Phật Tông, oan gia được hóa giải cũng là may mắn lớn rồi.


### 23. Trâu quỳ trước mộ


Tôi có đệ tử tên Liên Hoa Minh Thụ, là một đệ tử nông dân. Trong nhà có một con trâu nhưng chân trái của nó cũng bị què, đã không thể làm việc được nữa. Liên Hoa Minh Thụ muốn đưa nó đến lò giết mổ để làm thịt, hơn nữa người của lò giết mổ cũng đến xem qua rồi, đã thỏa thuận xong giá tiền. Chuyện không ngờ là con trâu già hình như biết được nó đã bị bán, sắp bị đưa đến lò giết mổ để người ta làm thịt.

Có một hôm. 
Con trâu thoát ra khỏi chuồng, chạy về phía đồng ruộng, chẳng ngờ lại chạy thẳng đến trước mộ của cha Liên Hoa Minh Thụ.
Chân trước quỳ xuống.
Nước mắt chảy dài.
Cúi đầu. Kêu to "Ọ..ọ..ọ…"

Người nhà Liên Hoa Minh Thụ nhanh chóng đuổi kịp, muốn dắt nó về chuồng nhà. Nhưng nó không chịu đi, mặc cho có kéo thế nào, đẩy thế nào vẫn cứ không đi. Chỉ kêu ọ… ọ… Rồi lại liên tục khấu đầu trước mộ của người cha.

Ở nơi thôn quê tin tức lan truyền đi rất nhanh, người trong thôn lũ lượt kéo đến xem con trâu già quỳ trước mộ.

Anh một câu. 
Tôi một câu.
Chuyện này thực sự quái lạ.

Lúc này, người làm trong nhà đã lấy roi để quật nó, lấy cây để đánh nó. Con trâu già vẫn không đi. Liên Hoa Minh Thụ nhớ đến Lư Sư Tôn, liền truyền tin cho tôi. Tôi ở đàn thành hỏi Diêu Trì Kim Mẫu. 

Diêu Trì Kim Mẫu nói: "Năm xưa khi con trâu còn to khỏe, cha của Liên Hoa Minh Thụ còn sống từng hứa với nó rằng khi nó già sẽ không giết nó."

Trâu tuy không biết nói, nhưng trong lòng lại hiểu rõ.

Diêu Trì Kim Mẫu nói: "Hôm nay trâu già quỳ trước mộ của người cha chính là yêu cầu người cha phải thực hiện lời đã hứa." Tôi đem thông tin này truyền lại với Liên Hoa Minh Thụ. 

Liên Hoa Minh Thụ lúc đầu không tin cho lắm vì ông vốn không  hề biết có việc này. Người nhà cũng nhìn nhau ngơ ngác.
Sau đó, nhà hàng xóm có một ông lão kể: "Năm xưa khi cha Minh Thụ nói câu này với con trâu, tôi cũng có mặt. Tôi cũng chỉ là nghe vậy thôi rồi cho qua, không ngờ con trâu lại để trong lòng." Ông lão nói: "Thực sự có chuyện này, hôm nay nhớ lại, giống như mơ một giấc mơ vậy!"

Thế là:
Liên Hoa Minh Thụ nói với con trâu già sẽ không đưa nó đến lò giết mổ nữa. Tiền cọc ông sẽ trả lại cho lò giết mổ. Lúc này con trâu già mới bằng lòng rời khỏi ngôi mộ. Mọi chuyện kết thúc viên mãn.

Tôi nói:
Trâu biết nghe tiếng con người. Lời hứa của con người không thể tùy tiện. Lời hứa đáng giá nghìn vàng, đây cũng chính là tình nghĩa con người. Diêu Trì Kim Mẫu cũng lạ, thậm chí cả chuyện cha Liên Hoa Minh Thụ nói chuyện với con trâu, Kim Mẫu không ngờ cũng biết, sao có thể tỉ mỉ không bỏ sót đến mức như vậy, dù một chút cũng không bỏ sót. 

Tôi nghĩ:
Quỷ thần đối với mọi chuyện lớn nhỏ của nhân gian, từng lời nói hành động, đều có ghi chép cả!

Thiên hạ nhiều người như vậy, những lời nói ra nhiều như hằng hà sa số. Chính người nói cũng có thể đã quên mất mình nói cái gì.

Bạn thấy sao? Quỷ thần đều có ghi chép cả đấy!


### 24. Trong huyễn sinh huyễn


Có một thanh niên sau khi quy y tôi đã kể lại trải  nghiệm của mình vô cùng huyền diệu, nên tôi đặc biệt ghi chú lại.

Cậu kể rằng:
Có một lần cậu đưa người bạn thân đi chôn. Người bạn này chết do tai nạn xe. Cậu tham gia nghi lễ an táng. Tại nghĩa trang chôn bạn của cậu, mồ mả lấp đầy khắp mọi ngóc ngách. 

Cậu đi bộ trên con đường nhỏ ở nghĩa trang, nhìn thấy bia đá đầu các ngôi mộ đều có ảnh của người chết, ảnh người già rất nhiều, thanh niên khỏe mạnh cũng có. Trong đó có một cô gái đặc biệt thanh tú xinh đẹp, cậu nhìn đi nhìn lại vài lần, cảm thấy vô cùng đáng tiếc. Một cô gái xinh đẹp như vậy mà đã chết rồi, vô cùng bi ai! 

Sau khi về đến nhà, cậu cảm thấy hơi mệt. Đến ban đêm nằm ngủ mơ, không ngờ cô gái này lại xuất hiện trong giấc mơ của cậu thanh niên này.

Gương mặt đẹp như tranh.
Eo thon người nhỏ nhắn.
Da mịn màng như kem.
Thân vô cùng quyến rũ. 

Hơi thở uyển chuyển như gió thổi vào sáo trúc khiến người khác mê mẩn. Bốn cánh tay ôm lấy nhau, ôm hôn trong hơi thở nhè nhẹ. Thân mật dị thường. Cậu thanh niên trong mơ hồn bay phách lạc rất lâu.

Từ đó:
Trong giấc mơ huyễn ảo, cô gái hiện thân mỗi đêm. Cậu thanh niên tham ái như nghiện, tâm bị chìm trong sự phóng đãng mà không cách nào tự dứt ra được.

Khoảng nửa năm trôi qua, thân thể khỏe mạnh của cậu thanh niên hình như bị bào mòn hết, trở nên gầy yếu khô héo. Lúc này, cô gái quyến rũ đó không còn xuất hiện nữa. Cậu thanh niên tưởng nhớ nhiều ngày, giờ như kẻ ngây dại, cơm không ăn, nước không uống, đến bài tập cũng ngày càng tệ hại. 

Hình như có một bài thơ:
Chàng như đóa hoa đào,
Thiếp như cây tùng bách,
Hoa đào nhanh tàn sạch,
Tùng bách chẳng hề chi.

Sau quãng thời gian rất lâu trôi qua, cô gái quyến rũ đó lại xuất hiện vào trong giấc mơ. Hai người ôm nhau, quấn lấy rất lâu, thân mật như keo sơn. 

Sau đó, cô gái nghiêm mặt lại nói: 
"Cám ơn anh khổ sở thương nhớ, nhưng u minh không chung đường (*), không thể thường bên nhau. Anh yêu tôi là vì yêu thích cái đẹp của tôi, sự quyến rũ của tôi, sự gợi cảm của tôi, nhan sắc của tôi. Thật ra, tất cả đều là do tôi huyễn biến mà ra."

Cô gái lại nói: 
"Nếu như anh nhìn thấy diện mạo vốn có của tôi chắc chắn sẽ kinh hoàng mà chạy trốn, khiếp sợ còn không kịp."

Sau đó cô gái giải trừ huyễn biến, liền xuất hiện đầu lâu, da thịt có sâu bọ bò lúc nhúc, hai hàm răng lộ ra, mùi máu tanh xộc lên mũi, móng tay như mũi dao nhọn, mắt đỏ như chu sa, lông trắng bờm xờm mọc khắp cơ thể.
                                                            
Cậu vừa nhìn thấy liền ngất xỉu tại chỗ! 
Cậu thanh niên này từ sau khi tỉnh dậy, tất cả bệnh tương tư đều chấm dứt, không còn mê luyến nữa.

Tôi nói:
Thế giới này là huyễn!
Giấc mơ cũng là huyễn!
Mỹ nữ cũng là huyễn!
Thực là trong huyễn sinh huyễn!

Cô gái xinh đẹp quyến rũ này có thể ở trong huyễn ảo cảnh tỉnh sự si mê của cậu thanh niên, dẫn dắt cậu đi vào chính đạo. Tuy là một phi nhân, nhưng cũng được xem là một nghĩa nữ!

(*) U minh không chung đường: hai cõi âm gian và dương thế (cõi người) vốn không thể cùng đi chung đường, cùng sống với được.


### 25. Chuyện kể của Liên Hoa Vĩnh Thường


Có một ngày, mọi người tụ tập gặp mặt. Trong buổi tiệc có vị tên Liên Hoa Vĩnh Thường đứng dậy kể với mọi người:
Gia đình tôi chưa từng có tín ngưỡng tôn giáo. Cha mẹ, anh em, chị em đối với việc tôi tin theo Chân Phật Tông, quy y Lư Sư Tôn đều khinh khi cười nhạo. 

Khi tôi tu pháp họ thường tìm cách phá tôi, ví dụ:
Tượng Phật trên đàn thành hay bị lấy trộm.
Thangka bị phun nước mực.
Đồ cúng bị cắn mất một miếng.
Lúc tu pháp thì bị hắt nước vào người.
Lúc nhập định thì bị một tiếng hét lớn làm giật mình.
Pháp tướng của Căn bản Thượng sư Lư Sư Tôn thường không thấy đâu, mất rồi lại thay mới, thay mới rồi lại không thấy đâu.

Người nhà nói:
"Chân Phật Tông là mê tín, Lư Sư Tôn là người, không phải thần, tại sao lại cúng trên bàn thờ Phật?"
"Mật tông là tà giáo."
"Tông giáo khuyến thiện, dạy người ta làm việc thiện, tu pháp để làm gì?"
"Chết rồi mọi thứ không còn nữa."

Người nhà đều nói là tôi bị tà rồi, đều nói tôi là kẻ dị biệt, là con lạc đà trong bầy dê. Còn nói là tôi bị thôi miên.

Cho tới một ngày. 
Chị gái tôi mắc phải căn bệnh quái lạ, khi thì lạnh, khi thì nóng. Lúc lạnh, thế nào cũng phải mặc áo, áo trong áo ngoài, chăn bông cũng lấy để đắp rồi mà vẫn lạnh. Lúc nóng chị lại cởi bỏ hết từng cái áo một, cởi đến trên người không còn gì mà vẫn nóng, còn phải mở máy lạnh, dùng đá chườm mà vẫn nóng. Cuối cùng đưa vào bệnh viện, chị tôi hôn mê trên giường bệnh.

Trong lúc mê man, chị thấy bị hai vị quan âm phủ đưa vào địa ngục hàn băng. Có một ngọn núi băng, núi băng có rất nhiều dao băng, khi bị ném vào đó không chỉ lạnh buốt ghê gớm mà còn bị nằm trên dao băng. Dao băng rất sắc, cắt dứt da thịt chảy máu, máu tươi chảy ra lại bị đông cứng thành băng. Trên  khắp cả một vùng trời đất băng tuyết đều thấy người nằm la liệt.

Khắp nơi than khóc.
Vô cùng bi thảm.

Chị gái đến địa ngục hàn băng nghĩ cách nào cũng thấy nản lòng, không thể hô cứu. Đột nhiên chị nhớ đến câu "Om guru liansheng siddhi hum" mà Liên Hoa Vĩnh Thường vẫn hay tụng niệm. Trong lúc hoàn toàn tuyệt vọng chị đã niệm một câu: "Om guru liansheng siddhi hum".

Thật không ngờ kì tích xảy ra. Ở trong không trung bay xuống Liên Hoa Đồng Tử Lư Sư Tôn, đó là một vị Phật toàn thân phóng quang, đứng trên hoa sen bình thản hạ giáng xuống trước mặt. Ngài giơ tay ra kéo lấy tay của chị gái tôi, cứu chị ra khỏi hàn băng địa ngục. Lúc chị gái tỉnh dậy, thấy mình vẫn còn đang nằm trên giường bệnh.

Sau đó: 
Bệnh đã khỏi! Khi chị xuất viện đã kể lại chuyện mình bị đưa vào địa ngục hàn băng, vô tình niệm Căn bản Thượng sư tâm chú rồi được Lư Sư Tôn cứu thế nào. Cha mẹ, anh em, chị em nghe xong, tất cả đều kinh ngạc. 

Đến giờ cả gia đình và người thân bạn bè đều đã quy y rồi.

Tôi nói:
Đây không phải câu chuyện do tôi thêu dệt nên, cũng không phải tôi bịa đặt ra. Tất cả chuyện này không phải khả năng tưởng tượng của tôi. Một người có khả năng tưởng tượng phong phú cũng không có được sự tường thuật chi tiết như thế.

Những đệ tử quy y tôi đa phần là:
Đọc sách của tôi mà đến.
Có cảm ứng mà đến.
Riêng những người có cảm ứng đặc biệt nhiều, vì vậy số đệ tử quy y theo dạng này rất nhiều.

Tôi nói:
Tôi đích thực có thể du hành đến Tứ thánh giới, cũng có thể đi tới Tam ác đạo để cứu chúng sinh.


### 26. Gia trì cách không


Liên Lai giảng sư là trụ trì của Kim Cực Lôi Tạng Tự, có lần ông kể chuyện với mọi người:

Năm xưa tôi muốn quy y Lư Sư Tôn nhưng ngài đã di cư sang Seattle bên Mỹ, thế là tôi viết một lá thư thỉnh cầu quán đảnh từ xa. Lá thư để ở trên bàn, vẫn còn chưa gửi đi. Đêm đó khi ngủ thì nhìn thấy Diêu Trì Kim Mẫu và Lư Sư Tôn cả hai cùng nhau đến gia trì và quán đảnh cho tôi.
Thật thần kì!

Vào năm tôi quy y, liền tu được tương ứng pháp, đến được Ma Ha Song Liên Trì, đứng trên một đóa hoa sen. Lúc này tôi biết mình phải làm gì rồi. Tôi cần phải đi hoằng pháp, mang lại lợi ích cho chúng sinh hữu tình.

Tôi nói:
Câu chuyện này của Liên Lai giảng sư có chỗ huyền cơ kì diệu. Thư quy y vừa viết xong vẫn chưa gửi đi, đêm đó liền đã thấy Diêu Trì Kim Mẫu, Lư Sư Tôn đến để gia trì quán đảnh. Chuyện này quá kì lạ phải không?
Thật ra, trong thế giới tâm linh này mà nói thì không kì lạ. Nhất cử nhất động, nhất tưởng nhất niệm của mỗi người trong chúng ta đều có quỷ thần biết hết, thậm chí có giám sát thần quân biết.

Thiên thượng giới có:
Trực niên tinh quân.
Trực nhật công tào.
Tứ thiên vương tuần thị.
(rồi còn) 
Sơn thần. Địa chi. Quỷ thần.

Chúng ta chỉ cần khởi lên một ý niệm, thiện ác lập tức được phán xét. Vì vậy Liên Lai giảng sư vừa khởi lên ý muốn quy y thì pháp thân của Diêu Trì Kim Mẫu, pháp thân của Lư Sư Tôn liền hiện thân ngay. Tưởng là chuyện kì lạ, nhưng điều này rất hợp lý. 

Còn nữa:
Tôi có đệ tử tên Liên Hoa Đại Quang, anh viết một lá thư gửi đến chỗ Lư Sư Tôn ở Seattle nước Mỹ. Thư hôm nay vừa mới gửi đi, trong đó có ý chính là anh muốn thi làm nhân viên công vụ, cầu xin gia trì.

Ngay đêm hôm đó, anh nhìn thấy Lư Sư Tôn xuất hiện cầm thư của anh viết vài chữ ngay tại chỗ: Đã ban gia trì! Ngài còn viết, anh sẽ thi đỗ 100%! Anh tỉnh dậy, vô cùng vui mừng.

Tôi nói:
"Công ty hồi đáp thư tín" ở Mỹ làm việc vô cùng bận rộn, thư tương đối nhiều. Do đệ tử nhiều, thư nhiều, mỗi ngày đọc thư, mỗi ngày gia trì thư, mỗi ngày trả lời vấn đề trong thư, công việc rất vất vả nên viết trả lời thư luôn luôn phải kéo dài khoảng hai tháng hoặc lâu hơn.

Luôn là ngày thư trả lời tới nơi, thì đã qua kì thi rồi!
Luôn là ngày thư trả lời tới nơi, bên trong kẹp lá phù, thì đã qua ca phẫu thuật rồi!
Luôn là ngày thư trả lời tới nơi thì vấn đề đã giải quyết rồi!
Luôn là ngày thư trả lời tới nơi, xin đặt tên, thì đã quá thời gian rồi!

Tốt nhất là gặp các đệ tử có năng lực cảm ứng tâm linh. Họ vừa mới viết thư thì trong mơ đã được phê duyệt. Thậm chí Lư Sư Tôn đích thân thị hiện ban cho đáp án, những hiện tượng này càng ngày càng nhiều.

Ban mộng thị (*), ban mộng thị, ban mộng thị.
Rất nhiều, rất nhiều, rất nhiều đệ tử đều từ trong mơ có được mộng thị.
Đây chính là: Cảm ứng đạo giao trong thế giới tâm linh. 
Tôi trở thành: Nghìn nơi thỉnh cầu, nghìn nơi thị hiện vậy.

(*) Mộng thị: xuất hiện và chỉ dẫn trong mơ.


### 27. Lư Sư Tôn trong suốt


Em gái Thượng sư Liên Dư là Chu Minh Châu được anh trai mình đưa vào Chân Phật Tông. Chu Minh Châu mỗi lần đến Đài Loan Lôi Tạng Tự nhìn thấy Sư Tôn, khóe mắt lúc nào cũng đều chảy nước mắt, cứ muốn khóc. (Nguyên nhân do có nhân duyên.)

Cô bắt đầu nghiêm túc niệm Thượng sư tâm chú, nhưng do công việc bận rộn nên cô vừa làm việc vừa niệm Thượng sư tâm chú. Cô không dùng máy đếm, cũng không biết tổng cộng niệm được bao nhiêu biến.

Có một hôm, cô phát hiện bên cạnh bàn thờ Thổ Địa Công của công ty có ai đó đang nhìn mình. Sau đó cô dụi mắt một cái, mở to mắt ra nhìn, bản thân sợ rằng mình đã nhìn nhầm.  

Vị đó thực sự là Lư Sư Tôn!

Thân trong suốt.
Nửa người.
Tướng mạo tinh kì.
Giống như vải voan trong suốt.

Cô lần đầu tiên nhìn thấy thì còn cảm thấy nghi hoặc. Lần thứ hai nhìn thấy, cô xác định rõ là Lư Sư Tôn. Lần thứ ba cô nhìn thấy rõ hơn, Lư Sư Tôn vẫn có thân trong suốt, nhiều lúc thay đổi trang phục. Về sau số lần cô nhìn thấy càng nhiều hơn. Cô nhìn thấy vào ban ngày, Sư Tôn đều là thân trong suốt, có lúc  nhìn thấy trong 15 giây, có lúc trong thời gian dài.

Mỗi lần xuất hiện, trên mặt Lư Sư Tôn luôn nở nụ cười từ bi. Chu Minh Châu thường xuyên nhận được sự gia trì của Lư Sư Tôn.

Còn nữa:
Cao Minh Lộc cũng có thể nhìn thấy Lư Sư Tôn trong suốt. Thời gian anh nhìn thấy còn lâu hơn, đến 15 phút. Thân Sư Tôn cao bằng hai tầng lầu, toàn thân trong suốt, đến túi hương đeo bên mình cũng nhìn thấy được. Cao Minh Lộc tại đàn thành tu pháp, vừa quay đầu lại liền nhìn thấy Lư Sư Tôn hiển hiện ra, cứ đứng mãi phía sau, vô cùng xuyên thấu và trong suốt.

Cao Minh Lộc tu nội pháp rất có căn cơ. Anh có thể đưa ngược minh điểm lên. Minh điểm trong luân xa bí mật thuận theo kinh mạch trung ương đưa ngược lên trên, sản sinh ra đại lạc suốt hai mươi bốn giờ. Minh điểm động một cái, liền xuất hiện cảm giác về đại lạc, sung sướng không thể chịu nổi.

Cao Minh Lộc có thể thấy minh điểm vọt lên phía trên. Anh đã có thể thể hội "Lạc - Minh - Không" của Mật giáo.

Tôi nói:
Trong "giai đoạn Phát triển" và "giai đoạn Thành tựu" của Mật giáo, dù là là nội pháp hay ngoại pháp, khi quán tưởng thân của chính mình đều là thân phải hiện ra trong suốt, trống rỗng và thanh tịnh. 

Quán tưởng ra cái bóng, cái viền ngoài của thân, hơn nữa là quán tưởng thêm kinh mạch luân xa. Thân được quán tưởng khi tu pháp đều là trong suốt. Khi tu hành đến lúc kiên cố vững chắc, thân Tịnh quang sẽ sinh ra tự nhiên, thân này lại cũng trong suốt.

Không phải vật chất, mà là:
Khí - Trong suốt.
Mạch - Bóng viền.
Minh điểm - Tịnh quang.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ (Padma Shambhava) từng nói:
Nếu có người tưởng nhớ đến ta, tụng niệm tâm chú của ta, làm theo giáo hóa của ta, ta chắc chắn xuất hiện ở trước mặt.

Tôi nói:
Lời của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, là thật 100%.


### 28. Chữa lành chân khuyết tật


Tôi có một đệ tử, lúc nhỏ sinh ra trong ngôi nhà đất ở quê, bên cạnh một ngọn núi. Cậu vừa sinh ra đã bị tàn tật, hai chân không thể nào duỗi thẳng, chỉ có thể để thành hình chữ O. Thậm chí cũng không hẳn được là chữ O tròn, mà là chữ O cong cong méo méo. 

Cha cậu là nông dân nghèo, hơn nữa cũng chỉ là tá điền trồng trọt giúp người khác, gia cảnh cơ cực, thực sự không cách nào tìm bác sĩ chữa trị cho cậu. Vì vậy cậu nhờ tự sinh tự dưỡng mà dần dần lớn lên.

Người đệ tử này đương nhiên không thể đi lại giống người bình thường. Cậu phải dùng khuỷu tay trợ giúp, hai chân co rút, dùng phần mông thay thế hai chân, phải chống tay mà đi.

Tốt nghiệp tiểu học xong cậu cũng nghỉ học luôn, nhưng do yêu thích đọc sách nên cũng biết ít chữ nghĩa. Cậu từng nhặt được một cuốn sách cũ nát tên là Sống từng phút giây trong sáng (*), vô cùng yêu thích.

Tại góc nhỏ chợ dưới quê, cậu giúp đỡ gia đình bán một số hàng hóa của nhà máy. Mọi người trông thấy cậu thì thích mua đồ của cậu. Cũng có thể do cậu tàn tật, nên phần lớn người mua đều có một chút tấm lòng thương cảm. Cứ thế, cậu tự cấp tự túc, lại giúp đỡ được gia đình. Số tiền còn thừa thì đem dành dụm.

Cậu nghĩ:
"Mình sinh ra tàn tật là do ông trời phạt mình, mình không thể tạo nghiệp thêm nữa, cần phải làm việc thiện nhiều hơn."
Cậu lại nghĩ:
"Hay là đem số tiền dành dụm được, cứ trông thấy người nào có khó khăn thì đem cho người ta để giảm bớt khó khăn của họ."

Cậu chỉ muốn làm việc thiện, không tính gì được mất, làm việc thiện cũng tuyệt đối không để người khác biết. Cậu làm như vậy, kiên trì trải qua bao nhiêu năm.

Người đệ tử này có một lần đến Đài Loan Lôi Tạng Tự, ngồi trên xe lăn. Khi sờ đầu, nhìn thấy cậu, tôi nói:
"Trên người cậu có ánh sáng!"
Cậu đáp: "Cảm ơn thầy!"
Tôi nói: "Sầm tịch nhân gian, hãn phùng thiện nhân, kí kiến quân tử, thực úy tố tâm" (*)
Cậu đáp: "Cám ơn Sư Tôn đã dạy dỗ!"

Cho tới ngày kia. 
Sau khi cậu bán xong hàng hóa, trên đường đi về, một cơn buồn ngủ chợt kéo tới. Cậu chọn am thổ địa nhỏ dưới một gốc cây to nằm ngủ. Trong mơ, cậu nhìn thấy hai người đàn ông cao to. 

Hai người đàn ông này trò chuyện với nhau:
Người A nói:
"Sơn thần phụng luật lệnh của Lư Sư Tôn phải giúp đỡ vị thiện sĩ này, chính là vị này sao?"
Người B trả lời :
"Sơn thần gọi hai chúng ta đến, nói người này đang nằm ngủ ở thổ địa am, vậy nhất định chính là vị này rồi."

Thế là:
Hai người đàn ông cao to bắt đầu kéo chân của cậu, người bên trái người bên phải, vừa ấn vừa xoa giống như xoa bóp "mát-xa". Làm như vậy được một lúc, cuối cùng họ hô lớn một tiếng rồi kéo mạnh, đau thấu tận tim. Cậu kêu lớn một tiếng, choàng tỉnh dậy.

Khi cậu tỉnh dậy thì phát hiện hai chân mình, ngày xưa vốn dĩ không có một chút cảm giác gì, thì bây giờ đã sinh ra chút sức lực. Đầu tiên cậu thử ngồi xổm, sau đó từ từ có thể đứng lên được. Cuối cùng cậu có thể di chuyển đi lại bình thường.

Cậu nói với ông trời rằng:
"Con tự biết an phận, chẳng mong người khác báo đáp. Hôm nay lại là thần tiên giúp đỡ con, thật đúng là thiện hữu thiện báo."

Tôi nói:
Tâm niệm tôi vừa khởi, sơn thần liền biết ngay, đúng là thần kì!
Thiện có thiện báo, ác có ác báo.

Người quân tử, hãy thận trọng, thận trọng!
Đệ tử học Phật, lại càng phải thận trọng!
Quyết chí như vậy có thể cảm động trời cao!

--------------------
Sống từng phút giây trong sáng: văn tập số 145 của Tôn Sư Lư Thắng Ngạn, đã được dịch ra tiếng Việt, đây là một cuốn sách được ban phước đặc biệt.
Hàm ý: "Người tốt cô đơn vì khắp nơi toàn kẻ xấu, giờ gặp được người tốt khác, lòng thấy vui sướng, được an ủi." Duyệt Vy Thảo Đường Bút Ký (tác giả Kỷ Hiểu Lam nhà Thanh chuyên đả kích thói xấu, đạo đức giả), có câu: "Sầm tịch hoang lâm, hãn phùng gia tân, kí kiến quân tử, thực úy tố tâm.." Tôn Sư chơi chữ, đổi "hoang lâm" thành "thế gian", "gia tân" thành "thiện nhân", ngài lại cũng hàm ý thế gian tựa rừng hoang, v.v.


### 29. Liên Hoa Cát Phủ kể chuyện


Tôi có đệ tử tên Liên Hoa Cát Phủ, cậu kể với tôi chuyện như sau: 

Gần nhà cậu có bãi nghĩa địa, cậu thường xuyên nhìn thấy có ba con trâu ăn cỏ ở đó, hơn nữa còn thường xuyên chạy nhảy và dẫm đạp lên các gò mộ. 

Liên Hoa Cát Phủ nhìn thấy:
Khắp nơi nghĩa địa đều có phân trâu.
Gò mộ có chỗ bị lõm.
Khắp nơi đều là dấu chân trâu.
Có bia mộ bị sừng trâu húc nứt ra.
Cỏ bị trâu ăn thành nát be nát bét.

Có lần cậu tình cờ gặp chủ nhân của đàn trâu đó. Chủ nhân đàn trâu kể với Liên Hoa Cát Phủ rằng trong đêm có một bầy ma xuất hiện, cảnh cáo ông ta không được thả trâu ra nghĩa địa. Họ đề nghị thả trâu ở chỗ khác.

Liên Hoa Cát Phủ nói:
"Nếu đã cảnh cáo vậy rồi thì thả trâu ở nơi khác đi!"

Tuy nhiên chủ trâu không nghe lời cảnh cáo của bầy ma, vẫn cứ thả trâu ở nghĩa địa. Nghe nói người chủ trâu này thấy bầy ma xuất hiện trên ba lần, nhưng ông ta vẫn mặc kệ, tự làm theo ý mình.

Sau đó:
Trong đám cỏ ở nghĩa địa mọc ra rất nhiều nấm độc. Trâu ăn phải nấm độc, ba con trâu chết liền lập tức. 

Liên Hoa Cát Phủ hỏi chủ nhân đàn trâu: 
"Tại sao không chuyển đến chỗ khác?"
Ông ta đáp: "Chỗ khác hơi xa."
Chủ nhân đàn trâu lại kể: "Không chỉ ba con trâu bị chết, mà ngay đến gia cầm, gà, vịt, v.v. mà tôi nuôi, toàn bộ đều chết cùng một lúc."

Không lâu sau đó. 
Ngay đến chủ nhân của đàn trâu trong lúc đang ngủ trưa, chẳng thể ngờ ngủ một giấc mà cũng đột nhiên chết luôn.

Tôi nghe xong câu chuyện của Liên Hoa Cát Phủ, trong lòng thất kinh, nói: "Quỷ thần không thể bắt nạt!"
Tôi nói:
Mộ ở nghĩa địa không khác gì nhà của ma, 
Mộ có thể có ma, 
Mộ có thể không có ma - đó là nhà trống.
Có ma - đó là ma giữ xác.
Không có ma - đó là ma đã đi nơi khác.
Con người giữ gìn nhà của mình như báu vật trân quý.
Ma đương nhiên cũng bảo vệ nhà của mình.
Đạo lý này là giống nhau.

Theo tôi biết, tuy sống chết khác biệt nhưng linh tính không khác, cảnh giới cũng tương đồng. Sông núi gió trăng, người có thể nhìn thấy, quỷ thần cũng có thể nhìn thấy.

Người có cá tính.
Ma quỷ cũng có cá tính.

Nhưng người không bằng ma quỷ, đây là điều tôi biết. Những nơi nguy hiểm người không thể đến, ma quỷ lại có thể đến. Ma quỷ có thể bay khắp nơi vì không có chướng ngại của thân thể. Những nơi con người không thể đến, ma quỷ có thể đến. Ma quỷ rất hay ho.

Ma quỷ biết người.
Người không biết ma quỷ.
Người không mạo phạm quỷ, quỷ lại có thể hãm hại con người.
Người sợ chết, thích sống.
Ma thích chết, sợ sống.
Tại sao tôi biết những điều này? Bởi vì tôi có rất nhiều bạn ma quỷ.

Phật gia nói con người chết đi đều vào lục đạo luân hồi.
Vậy sao vẫn còn rất nhiều ma quỷ ở nhân gian? 

Theo tôi biết, có một số người không thiện cũng không ác, không có nghiệp thiện ác rõ ràng. Họ không muốn theo đuổi tịnh độ, cũng không cần chuyển thế. Những người này phần lớn yêu thích sự tự do tự tại của ma. Diêm Vương của địa ngục cũng không miễn cưỡng, thế nên ma có thể tự do. Làm ma tự do tốt hơn con người rất nhiều!


### 30. Ác quỷ lưu manh


Một buổi tối, trong lúc tôi đang nằm ngủ, đột nhiên nghe thấy chỗ cửa sổ có tiếng "khơ... khơ...", âm thanh rất nhỏ nhưng lại vô cùng rõ ràng. Lúc đầu tôi không quan tâm, nhưng tiếng "khơ... khơ... khơ...khơ..." lại nhanh hơn lúc nãy một chút.

Tôi hỏi: "Ai?"
Hắn đáp: "Lư Sư Tôn! Xin đừng kinh hãi, tôi là ma."
Tôi thì không sợ ma rồi, tôi hỏi: "Có chuyện gì?"
Hắn đáp: "Ngày mai, con cháu của tôi mời ngài khảo sát vườn mộ của tôi."
Tôi hỏi: "Chuyện này tôi biết, nhưng ông tìm tôi có chuyện gì?"
Hắn đáp:
"Hầy! Tôi đã không còn ở trong vườn mộ nữa rồi. Khi con cháu xây vườn mộ rộng lớn như vậy cho tôi, đã gây ra sự chú ý của ác quỷ lưu manh ở nơi khác. Chúng thừa lúc tôi đi ra ngoài, liền tập hợp họ hàng đến ở. Tôi cũng muốn đánh lại, nhưng tôi vốn là văn sĩ, chắc chắn không thể thắng. Tôi muốn tố cáo với Thổ Địa Công, nhưng Thổ Địa Công lại là bạn của hắn, nên cũng không thể thắng. Vì thế hôm nay tôi đặc biệt đến cầu xin ngài!"
Tôi hỏi: "Tôi có thể làm gì?"
Hắn đáp: "Lư Sư Tôn có pháp xin hãy kết giới cho, chỉ mình tôi có thể vào, như vậy là được."
Tôi nói: "Nếu là như vậy, tôi đương nhiên sẽ làm."
Hắn nói: "Lư Sư Tôn, cảm ơn ngài, cảm ơn ngài, cảm ơn ngài!" 

Con ma này cảm ơn trăm lần, cảm ơn vạn lần rồi bỏ đi!

Ngày hôm sau. 
Chủ tịch của một công ty kêu tài xế mời tôi đi xem vườn mộ của cha anh ta. Vườn mộ quả nhiên xinh đẹp, có vườn hoa đình các, có núi hồ nhân tạo. Mộ đặt ở nơi cao, núi phía sau cao, sảnh chính lại rộng rãi. Ngôi mộ rất lớn, phía sau có chỗ dựa, phía trước được soi chiếu, trái phải đều có bảo hộ. Bàn thờ bằng phẳng, phong thủy thanh nhã cao quý.

Trước tiên tôi vẩy nước sái tịnh, trục xuất đám người của tên lưu manh ác quỷ đang cư trú bên trong vườn mộ ra bên ngoài. Tu hú chiếm tổ chích chòe, sao được chứ. Sau đó tôi kết giới. Tôi dùng dao Phổ Ba Kim Cương an lập bốn phía đông nam tây bắc, chỉ cho phép chủ nhân của vườn mộ ra vào.

Sau khi tôi làm pháp xong, con ma lại đến cảm tạ vì tôi đã đuổi lưu manh ác quỷ ra khỏi đó. Vườn mộ đã có Phổ Ba Kim cương trấn thủ. Ma không ngớt lời cảm ơn!

Chưa hết, con ma cũng báo mộng cho con cháu phải cảm tạ Lư Sư Tôn thật đàng hoàng.

Tôi nói:
Mộ có cái có ma.
Mộ có cái không có ma.
Mộ không có ma, là đã chuyển thế rồi
Mộ có ma, chính là ma tự do.
Có ma thì một mình ở một mộ.
Có ma thì cả đám ở một mộ.
Mộ có loại đẹp như vườn hoa đình các với hồ núi nhân tạo, giống như là biệt thự của ma.
Đương nhiên cũng có mộ như khu ổ chuột.
Thông thường vườn mộ không có ma ở sẽ có chuột, rắn, côn trùng và chồn sống ở đó.
Nhân gian thế nào, ma quỷ cũng như thế.


### 31. Âm thi


Có một đệ tử ở Đông Nam Á vội vàng đến tìm tôi. Tôi vừa nhìn vào mặt của ông thì giật mình. Trên mặt ông có "khí xanh". Không chỉ như vậy, bộ râu của ông cũng dài ra và trắng. Nếp nhăn trên mặt ông nhiều hơn đậm hơn, nếp nhăn ở mép sâu như dao cắt. Xung quanh mắt là vòng tròn màu đen như gấu trúc. Thịt trên cơ thể cứ chảy xuống như da bọc xương. Mới có mấy tháng không gặp, sao lại biến thành như vậy?

Ông nói:
"Từ sau khi ông nội, bà nội tôi qua đời, trong vòng mấy năm, phàm là các bậc cha chú thế hệ già liên tiếp hết người này đến người khác chết, gần như là chết hết rồi. Bây giờ đến thế hệ người trẻ tuổi hơn, anh họ, em họ tôi cũng chết, tiếp đến là anh trai sinh đôi cũng bệnh chết luôn."

Ông nói:
"Lúc đầu tôi không cảm thấy có gì kinh ngạc, bởi vì con người chết là chuyện rất tự nhiên, nhưng chết quá liên tục mới cảm thấy kì lạ. Tôi xin một vị Thượng sư xem xét, Thượng sư nói làm pháp thế thân đi! Làm xong pháp thế thân, trong gia tộc vẫn có người chết."

Ông nói:
"Gần đây, tôi tự cảm thấy buổi sáng thức dậy vô cùng mệt mỏi, sức lực cạn kiệt, hơi thở gấp, cơ thể đông cứng. Lông tóc mọc loạn xạ, cơ thể tôi càng lúc càng gầy, cân nặng cơ thể tụt xuống liên tục, giấc ngủ không ổn định, tim đậm mạnh, nhịp tim không đều. Tôi tìm bác sĩ, bác sĩ nói không có bệnh, là do tự cảm thấy có vấn đề."

Tôi chiêm toán một chút rồi nói: "Ông nội, bà nội ông đã trở thành âm thi!" (Âm thi lâu sẽ biến thành cương thi.)
Ông hỏi: "Âm thi là gì vậy?"
Tôi đáp: "Ông nội, bà nội an táng không đúng đã sắp trở thành cương thi rồi!"
Ông hỏi: "Cương thi? Có phải cứ nhảy nhảy giống như trên phim không…"
Tôi đáp:
"Ông xem nhiều phim ảnh quá rồi đó. Nhìn chung âm thi là thi thể không mục rữa, thi thể ở trong quan tài, lông tóc móng tay vẫn cứ mọc dài ra. Hồn phách đó cần phải hấp thụ khí của người thân mới có thể sinh tồn. Vì vậy những người thân từng người, từng người một tử vong, ông đã bị hút khí rồi, sợ rằng…"

Ông hoảng sợ: "Phải làm sao?"
Tôi đáp: "Mau chóng quay về mở quan tài. Lấy đất ẩm, bùn đất có lẫn cỏ rắc lên trên âm thi của ông nội bà nội, âm thi đó sẽ tự nhiên mục rữa thì sẽ không sao nữa."
Ông hỏi: "Nếu như không có âm thi thì sao?"
Tôi đáp: "Chắc chắn là âm thi!"

Tôi đã nhìn thấy ông ấy cũng giống như cương thi, chỉ là ông ấy không ý thức được điều này thôi.

Sau khi ông quay về, cùng người nhà và một vị Thượng sư mở quan tài. Vừa mở quan tài, mùi xác thối bay xộc ra, ai nấy liền tránh ra xa. 

Nhìn lại:
Ôi trời ơi! Thi thể vẫn hoàn chỉnh như lúc đầu, ông nội bà nội sắc mặt hồng hào, thân mọc lông dài, móng tay dài, tóc dài.  Thực sự giống như hai cái xác cương thi vậy.

Mọi người lập tức rắc đất lên trên thi thể, đất ẩm, đất bùn, cỏ cây ném xuống như mưa, rồi đậy lại quan tài.

Đệ tử của tôi từ hôm đó trở đi nằm ngủ yên giấc, thân tâm ngày lại ngày tươi tỉnh trở lại. Người trong gia tộc cũng không bị liên tiếp người này đến người kia chết nhanh chóng nữa.

Tôi nói:
Cương thi có viêm khí, dùng đất ẩm để khắc thì sẽ tiêu biến đi.
Xưa nay, cương thi còn gọi là quỷ hạn, có thể làm cho trời không có mưa. Cương thi cần có tinh khí của người thân mới có thể thành cương thi, vì vậy, người thân khó tránh khỏi bị lấy cắp tinh khí mà chết.

Tin hay không tùy bạn!


### 32. Chuyện của Liên Hoa Thừa Minh


Có một vị tên Liên Hoa Thừa Minh, ông ta âm thầm quan sát tôi rất lâu, một hôm ông nói với tôi lời thật lòng.

Ông hỏi: "Tôi quan sát Lư Sư Tôn rất lâu rồi! Lư Sư Tôn thuyết pháp lời lẽ cũng chân thực, thỉnh thoảng lại nói đùa nhưng vẫn nho nhã, độ chúng sinh với phong cách độc nhất vô nhị. Còn trong phương diện trị bệnh, Lư Sư Tôn quả nhiên là chữa khỏi các bệnh quái ác cho không ít người, như ung thư, u, mắt, mũi, miệng, gan, thận, tim, tay, chân, đầu… Tuy nhiên, có lúc linh nghiệm cũng có lúc không linh nghiệm, có lúc công hiệu cũng có lúc không công hiệu, chuyện này là sao vậy?"
Tôi đáp: "Tôi có thể trị bệnh nhưng không thể trị mệnh!"

Ông hỏi: "Tôi thấy có người chân bị bệnh mãn tính, người này không thể đứng quá lâu. Tôi thấy ngài sờ đầu người này nhiều năm rồi mà chân người này vẫn chưa khỏi?"
Còn nói: "Tôi thấy có người mắt mù đã lâu. Ngài cầu nguyện cho ông ấy hơn nửa năm cũng chưa thấy chữa lành?"
Tôi đáp: "Đây là số mệnh, không thể chữa lành."

Ông hỏi: "Vậy là người có thể chữa lành đều quy về bệnh, người không thể chữa lành đều quy về mệnh, phải không?"
Tôi đáp: "Đây là vấn đề của định số, người định số nhẹ tự sẽ được cứu. Người định số nặng, cho dù là Phật Bồ Tát cũng khó cứu độ."

Ông hỏi: "Như thế nào là người khó cứu?"
Tôi đáp: "Năm tội vô gián khó cứu, như giết cha, giết mẹ, giết Phật, giết thánh nhân, phá hòa hợp tăng, đều không thể cứu. Nếu rơi vào năm tội vô gián, không có hy vọng được thoát ra."

Ông hỏi: "Làm sao phân biệt định số? Là nhân quả sao?"
Tôi đáp: "Phân biệt chi tiết thì cực kì vi diệu mơ hồ, kì thực không thể đo đếm tính toán. Tôi chỉ làm hết sức, còn lại đích thực là do nhân quả."

Ông hỏi: "Nếu người đó hết lòng cầu xin chữa trị, ngài có cách gì?"
Tôi đáp: "Tôi nói thật với ông, có cách và không có cách cũng như nhau, có hiệu nghiệm và không hiệu nghiệm cũng như nhau."
Ông nói: "Không hiểu."
Tôi đáp: "Có sinh tất có tử, không cần biết ngày nào sinh đã biết có lúc  sẽ phải chết. Cho dù người giỏi chữa bệnh cũng có ngày phải chết."
Ông hỏi: "Bệnh viện lớn, cũng là trị bệnh không thể trị mệnh sao?"
Tôi đáp: "Đúng vậy, nếu không bệnh viện cũng không cần xây nhà xác. Bác sĩ chuyên trị bệnh, nhưng cuối cùng cũng chết vì bệnh đấy thôi. Đây là có cách và không có cách cũng như nhau, hiệu nghiệm và không hiệu nghiệm cũng như nhau."
Ông hỏi: "Nếu như vậy, ở đâu ra cảm ứng?"
Tôi đáp: "Người có duyên gặp tôi là khỏi, đây chính là cảm ứng. Người vô duyên đương nhiên không có cảm ứng."

Ông hỏi: "Lư Sư Tôn tại sao có thể chữa bệnh?"
Tôi đáp: "Người tập trung khí thì thần cũng tập trung lại, mong rằng có dấu ấn kì tích của thần tiên, không mong có sơ xuất."
Ông hỏi: "Tương lai ngài sẽ thế nào?"
Tôi đáp: "Tận tâm tận lực mà thôi!"


### 33. Thành Hoàng Đài Trung


Tôi có một đệ tử họ Thái, tính tình rất trung hậu thật thà. Anh kinh doanh một doanh nghiệp cỡ vừa vừa, nhờ nỗ lực làm ăn nên sự nghiệp ngày càng phất lên.

Ngày nọ, đệ tử họ Thái gặp được một người bạn đồng hương, người bạn than phiền với anh:
Thất nghiệp.
Gia đình tan nát.
Không có chỗ dựa dẫm.
Lang thang đầu đường xó chợ.
Không có nơi trú ngụ. 

Đệ tử họ Thái nghĩ đến vườn hoa trong nhà còn có một căn phòng kho, bên trong có một chiếc giường là chỗ ở của người làm vườn ngày trước.
Hỏi: "Anh biết thiết kế vườn tược không?"
Người bạn đáp: "Có thể làm thử!"
Thế là đệ tử họ Thái thuê người bạn, không ngờ người bạn này thiết kế sân vườn ra rất tinh tế trang nhã, vô cùng xinh đẹp.

Sau này anh ta lại giao cho người bạn đó xử lý mọi chuyện lớn nhỏ trong nhà, người bạn lại cũng xử lý đúng phép tắc. Phàm là chuyện mà chủ tịch Thái giao phó, chuyện nào cũng hoàn thành. Người bạn này nói sao làm vậy.

Cuối cùng người bạn trở thành thư ký quan trọng của chủ tịch Thái. Những việc người đệ tử họ Thái cần làm đều do anh ta đi hoàn thành, vả lại còn làm hết sức vui vẻ. Mọi chuyện đều không khiến người đệ tử họ Thái phải bận tâm.

Cho tới một ngày, người bạn tốt này đột nhiên mất tích. Anh bạn đưa bà Thái đi mất, còn mang theo cả một số tiền lớn bỏ đi. Đệ tử họ Thái mất cả tiền lẫn người.

Đệ tử họ Thái vội vàng chạy đến tìm tôi, nhờ tôi làm pháp:
1. Xin bà Thái tự mình đi về nhà.
2. Lấy lại số tiền của mà người bạn tốt lấy cắp.
3. Không truy cứu chuyện cũ.

Tôi không làm pháp mà kêu đệ tử họ Thái đến miếu Thành Hoàng Đài Trung báo cáo mọi chuyện để Thành Hoàng Đài Trung phán quyết công bằng. Thành Hoàng Đài Trung và tôi vốn có giao tình rất thân thiết.

Đêm đó… Thành Hoàng Đài Trung nhập vào trong mơ của đệ tử họ Thái: "Bạn anh hiểm ác như vậy, tại sao anh có thể tín nhiệm không nghi ngờ?"
Họ Thái đáp: "Bởi vì anh ta làm chuyện gì cũng vừa ý tôi."
Thành Hoàng nói: "Nếu có người chuyện gì cũng làm vừa ý mình thì là có mục đích, đáng sợ! Anh không sợ, ngược lại còn vui vẻ, đây chính là anh tự chuốc lấy. Bạn anh đã có tiền án, sao có thể không điều tra?"

Họ Thái hỏi: "Giờ tôi phải làm sao?"
Thành Hoàng đáp: "Người này nham hiểm quỷ quyệt, lừa tiền lừa sắc, tội ác sắp tràn đầy rồi, chẳng bao lâu nữa sẽ nhận báo ứng. Anh đừng lo, vợ anh sẽ tự quay về, vả lại còn đem một ít tài sản của anh ta về."

Thành Hoàng hỏi: "Anh sẽ tha thứ cho vợ chứ?"
Họ Thái đáp: "Lư Sư Tôn dạy con chuyện gì cũng phải tha thứ, chỉ cần cô ấy hối cải thì sẽ tha thứ."
Thành Hoàng đáp: "Tốt lắm!"

Kết quả:
Người bạn xấu đó bị viêm gan cấp tính, chết đột ngột.
Cô vợ quay về nhà, đúng như lời Thành Hoàng nói.

Tôi nói:
Phàm là người chuyện gì cũng làm như ý mình, càng phải thận trọng! Thiện ác báo ứng, như bóng với hình. 
Những gì bạn làm, thần đều biết hết.
Trên đời này, người có tâm kế rất nhiều. Nhưng dù anh có lắm mưu nhiều mẹo, thường làm tổn hại người khác, đó cũng là làm tổn hại chính mình.


### 34. Đường chủ phản bội


Tôi đã từng ghé qua các phân đường trên thế giới. 
Có lần đến trước cổng một phân đường, tôi chuẩn bị bước vào thì bên trong có đệ tử của phân đường nói: "Lư Sư Tôn, mời ngài cởi giày ra!" Tôi "Ồ!" một tiếng rồi cởi giày ra.

Thị giả bên cạnh nói với tôi:
"Lư Sư Tôn là bậc Thánh Tôn, Căn Bản Thượng Sư tôn quý nhất, ngài mang cả giày đi vào là hoàn toàn được."

Đúng lúc tôi đang muốn bước đi, đường chủ đứng bên cạnh  lại nói với tôi: "Sư Tôn! Đây là quy định nghiêm ngặt của từ đường chúng con, bất kì ai đi vào từ đường nhất định phải cởi giày để tôn trọng chư tôn trong nội đường."

Thế là tôi cởi giày đi vào. Đây vốn dĩ là một chuyện rất rất nhỏ, vào từ đường cởi giày hay không cởi giày, chuyện nhỏ như hạt vừng, nhưng cũng khiến tâm tôi "khựng lại" một thoáng.

Lúc này, bổn tôn xuất hiện nói với tôi:
"Đường chủ này chắc chắn sẽ phản ngài!"
Tôi đáp: "Không tin!"
Bổn tôn nói: "Đường chủ đã làm trái Sự sư pháp ngũ thập tụng (*) rồi."
Tôi nói: "Thời nay không câu nệ pháp cổ nữa."
Bổn tôn im lặng.

Trước đó…
Vị đường chủ này năm xưa từng lập lời thề trước mặt tôi:
"Con là đệ tử mãi mãi của Lư Sư Tôn!"
"Sư Tôn muốn con làm gì, muốn con vào núi đao biển lửa, con nhất định làm được."
"Con làm việc thì Sư Tôn yên tâm."
Trên thực tế, vị đường chủ cũng giúp đỡ tôi rất nhiều, ông ta là một người có năng lực hoằng pháp rất mạnh.

Sau này, vị đường chủ đó có hiểu lầm với một vị Thượng sư ở địa phương rồi rời khỏi Chân Phật Tông bỏ đi mất! Quả nhiên giống như dự đoán của bổn tôn.

Còn chuyện nữa:
Có một vị Thượng sư dùng số tiền đệ tử cúng dường mua một chuỗi hạt bằng vàng, quỳ trước mặt cúng dường tôi. Tôi vui vẻ  đeo lên người.

Tiếp theo ông ta nói:
"Lư Sư Tôn, con muốn xây một đạo tràng lớn hơn, cần tiền gấp, có thể dùng chuỗi hạt mà ngài vừa đeo đem bán làm quỹ không?"
Tôi "khựng lại" một cái! 
Tôi tháo chuỗi hạt bằng vàng vừa mới đeo lên người xuống, trả cho vị Thượng sư này.

Sau đó ông ta nói với mọi người rằng:
"Đây là chuỗi hạt bằng vàng mà Lư Sư Tôn thường đeo, một viên bán 300USD."
Chúng đệ tử tranh giành mua hết.

Bổn tôn nói: "Lư Sư Tôn, vị Thượng sư này tương lai chắc chắc sẽ phản bội ngài!"
Tôi hỏi: "Tại sao?"
Bổn tôn nói: "Ông ta phạm vào Sự sư pháp ngũ thập tụng."
Tôi đáp: "Tôi không tin."
Bổn tôn im lặng.

Về sau, vị Thượng sư này lừa gạt lớn nhỏ nhiều vô số, quả nhiên cũng lại bỏ đi!

Tôi nói:
"Mật giáo căn bản thập tứ đọa (*), Sự sư pháp ngũ thập tụng", các đệ tử xin hãy cẩn trọng ghi nhớ. Học Phật vì danh lợi thì rất tai hại!

---------------------
Sự sư pháp ngũ thập tụng: bài tụng nói về việc đệ tử cần kính trọng, phụng sự bậc Tôn Sư của mình theo các cách thức khác nhau.
Mật giáo căn bản thập tứ đọa: 14 giới luật căn bản Mật giáo mà các hành giả tu tập Mật tông cần giữ, bằng không sẽ bị đọa địa ngục lập tức.


### 35. Vừa quỷ vừa thần


Ngày xưa.
Tôi từng ở tại một nhà khách nhỏ trên vùng núi vô cùng quạnh vắng, giống như nhà trọ ngày nay. Kế bên nhà khách này là một ngôi tự viện, trong đó có một vị tỳ kheo ni dẫn dắt hai nữ cư sĩ tu hành. Vị tỳ kheo ni là đệ tử của tôi, xuất gia bên Hiển giáo, sau này quy y tôi. Tôi chính là nhận lời mời đến nơi này để khai quang.

Đêm đó ở nhà trọ, mở cửa sổ ra là nhìn thấy ánh trăng ngoài cửa sổ. Ánh trăng mềm mại nhẹ nhàng soi vào trong rừng sâu, thật mang lại cảm giác thơ tình - ý họa. Tôi ngủ từ rất sớm, chỉ thắp một ngọn đèn đêm nhỏ, ban ngày làm việc nhiều nên rất nhanh chóng đã chìm vào giấc ngủ.

Nửa đêm.
Đột nhiên tôi nghe thấy tiếng sột soạt giống như có người đi lại trong căn phòng nhỏ. Tôi nghe kỹ lần nữa, đúng là có người. Trong lúc mơ hồ, tôi nhìn thấy có ánh sáng màu xanh lướt qua trong phòng.

Tôi hỏi: "Là thần hay quỷ?"
Hắn trả lời: "Vừa thần vừa quỷ."
Tôi hỏi: "Thần là thần, quỷ là quỷ, tại sao lại là vừa thần vừa quỷ?" Tôi mỉm cười hỏi.
Hắn trả lời: "Tôi trước là một vong hồn, có được khí nhờ địa lý tốt  nên huyết khí mạnh hơn một số ma. Sau đó tôi lại đắc được đan đỉnh pháp, thổ nạp đạo dẫn (*), có được một viên nội đan, sống trong rừng sâu, trở thành thần rừng. Dưới trướng có trăm nghìn âm binh âm tướng."

Tôi hỏi: "Đã là thần, tại sao lại biến quỷ?"
Hắn trả lời: "Tôi làm thần rừng, vốn ổn định chắc chắn, vị thế nằm giữa thần núi và thổ địa. Ngày nọ có một phụ nữ nhà nông nhan sắc khá đẹp đi vào trong rừng. Tôi nhìn thấy, có lẽ bị nhân duyên kiếp trước xui khiến, liền ám vào thân cô ta, nhập hòa làm một. Người phụ nữ nông dân này rất kiều diễm quyến rũ, cười nói nhẹ nhàng, cởi lơi áo nằm ra, thân thân mật mật. Kết quả nội đan của tôi thoát ra nhanh chóng, bị người phụ nữ này hút hết. Kể từ đó thần lực tôi mất dần, tới nay mới biến thành quỷ!"

Tôi hỏi: "Tại sao không tiếp tục luyện đan đỉnh?"
Hắn đáp: "Tôi vốn thành quỷ nhờ tích khí do địa lý, sau tu đan đỉnh mà thành thần. Nhưng nội đan gặp tà niệm liền tiêu tán, không còn thuộc về mình nữa. Giờ nội đan của tôi bị người nữ hút, huyết khí tan đi, muốn tu tiếp nhưng có tâm mà không có lực rồi."

Tôi hỏi: "Sao không cầu thần núi?"
Hắn đáp: "Thần không quan tâm, tôi và phụ nữ đó dâm dục đã là tội rồi!"
Tôi hỏi: "Vậy ngươi ở chỗ này làm gì?"
Hắn đáp: "Tôi trốn đến sống ở đây tuy buồn chán nhưng yên tĩnh, vốn định ẩn giấu tung tích, gặp được Lư Sư Tôn bèn cố tình đến cầu pháp!"
Tôi hỏi: "Cầu pháp gì?"
Hắn đáp: "Tu Thái âm luyện hình chi pháp."
Nói xong, chỉ nghe tiếng khấu đầu.

Tôi nghe xong thở dài, đem cách luyện và khẩu quyết tu "Thái âm luyện hình chi pháp" nói sơ lược một lần.
Hắn tiếp tục khấu đầu chín cái rồi im lặng rời đi.

Tôi nói:
Thần là đại lực. Quỷ là tiểu lực.
Đại lực hay tiểu lực đều là lực của thiên địa.
Tuy là thần cũng không được có tà niệm. 
Một khi có tà niệm, thần lực sẽ mất hết, rất đáng sợ!

(*) Thổ nạp đạo dẫn: khí công tâm pháp tu luyện trong Đạo gia.


### 36. Hung trạch có ma hay không?


Trong số đệ tử có một người tên Liên Hoa Nhậm Ngọc, anh ta kể với tôi: Anh mua được một căn nhà "xấu" - hung trạch. Ngay từ đầu, người môi giới nhà đất cũng nói với anh đây là ngôi nhà sau khi hỏa hoạn đã được trang hoàng lại. Cũng vì thế nếu so ra thì rẻ hơn những ngôi nhà bình thường rất nhiều nên anh đã mua nó.

Ngôi nhà hung trạch này là một tòa nhà riêng biệt, có vườn hoa nhỏ, nhìn vào phong nhã lại có chút sang trọng. Nhà ba tầng lầu, phía trên còn có nhà khung thép nên xem như là bốn tầng. Tầng một là phòng khách và nhà bếp, tầng hai, tầng ba trở lên mới là phòng ngủ, phòng đọc sách, phòng khách nhỏ, tầng trên cùng là bàn thờ Phật và tổ tiên.

Vào ngày dọn nhà, cậu con trai và cô con gái nhỏ vừa bước vào phòng dành cho mình đã vô cùng kinh hãi, khi thấy ở cạnh giường có bốn người cháy đen đang ngồi, hình như là hai người lớn, hai trẻ em.

Hỏi ra mới biết là ngôi nhà hung trạch này tổng cộng có hai người lớn, hai trẻ con bị chết cháy. Một nhà năm người, trong đó người anh nội trú ở trường mới tránh được số chết, một mình sống sót, bốn người còn lại đều chết cháy.

Hai đứa trẻ con nhìn thấy, riêng Liên Hoa Nhậm Ngọc và vợ đều không nhìn thấy, vậy bèn đổi phòng ngủ. Con trai và con gái ngủ tầng ba thì không thấy gì cả. Cha mẹ ở tầng hai.

Từ khi vào sống, người trong gia đình anh thay phiên nhau bị cảm, rồi có rất nhiều chuyện xảy ra. Con trai nhỏ mơ thấy hai đứa bé bị cháy khét đến tìm nó chơi, nhìn thấy người lớn bị cháy khét nói cười với nó. Thỉnh thoảng mọi người lại nghe thấy tiếng khóc, rõ ràng là ở trong nhà nhưng tìm không thấy ai, rèm cửa không có gió cũng tự nhiên tung lên. Các hiện tượng xảy ra chính là ở căn phòng có người bị chết cháy, các phòng khác không có hiện tượng này. Vợ chồng Liên Hoa Nhậm Ngọc ngủ dậy thường hay nhức lưng mỏi vai, càng ngủ càng mệt.
…….
Liên Hoa Nhậm Ngọc hỏi tôi phải làm sao?
Tôi đi xem qua một lúc, không thấy gì cả. 
Tuy là như vậy nhưng tôi nói:
"Có thể khí dương cương của tôi quá nặng, thông thường ma quỷ thấy tôi liền trốn ngay, không dám hiện thân. Nhưng tôi là người luyện khí, vừa vào nhà đã thấy có sát khí, không gian cũng rất bất thường, đây đích thực là hung trạch."

Tôi nói:
"Người sống trong nhà "tốt" chưa chắc đã may, người sống trong nhà "xấu" chưa chắc là rủi. Nhà "tốt" như cơn gió ấm áp, người sống trong đó ít bị bệnh, nhưng có lúc cũng sẽ bị bệnh! Người sống ở nhà "xấu" như ở trong mùa đông lạnh giá, vừa tiếp xúc liền bệnh ngay! Sự khác biệt của hai cái là ở đây."
Tôi lại nói:
"Người sống trong nhà "tốt" giống như thuốc tốt bồi bổ thân thể, nhưng không hẳn thấy rõ ràng. Người sống trong nhà "xấu" như uống thuốc rởm, gặp hậu quả lập tức, chính là nguyên tắc này."

Liên Hoa Nhậm Ngọc nói: "Vậy phải làm sao?"
Tôi nói: "Tôi thấy vẫn nên chuyển nhà đi thôi!"
Liên Hoa Nhậm Ngọc nói: "Xin Lư Sư Tôn đuổi bọn họ đi!"
Tôi nói: "Đuổi thì chắc chắn đuổi đi được, nhưng bốn linh hồn đó sẽ về đâu? Bọn họ cũng là những kẻ đáng thương."
Tôi lại nói: "Ma vốn sợ người vì âm không thắng được dương. Nếu ma có thể xâm nhập chắc chắn dương không thắng âm. Đối với con người mà nói thì dương là quân tử, âm là tiểu nhân. Giữ tâm ngay thẳng, khí dương cương (tỏa ra từ tâm đó) làm âm sẽ không thể xâm phạm. Nếu anh không muốn chuyển nhà thì hãy thờ một vị thần dương cương, trì chú dương cương (*), như vậy hàn khí sẽ tự nhiên biến mất."

Sau đó Liên Hoa Nhậm Ngọc làm theo lời của tôi.
Quả nhiên âm dương khắc chế lẫn nhau, mọi thứ yên bình rồi!

(*) Thần / chú dương cương: các vị hộ pháp kim cương hoặc chính thần (như Lôi thần, Hỏa thần, Đế quân..); trì chú dương cương là trì chú của các vị này.


### 37. Chuyện tăng nhân


Có một vị tăng gầy gò, nhân lúc xung quanh không có ai liền nói với tôi:
 "Lư Sư Tôn! Con có chuyện muốn nói, nhưng xin ngài đừng nói lại với bất cứ ai, nếu phải viết sách cũng xin giấu pháp danh của con."
Tôi đồng ý: "Được."

Tăng kể:
"Khi con khoảng 30 tuổi, đột nhiên có một đêm trong lúc mơ màng phát hiện bên cạnh có một cô gái, thân hình vô cùng quyến rũ. Cả hai tâm đầu ý hợp, liền phát sinh quan hệ."
Tăng nói:
"Cô gái này đến trong giấc mơ, diễm lệ gợi cảm khác thường, chắc chắn có ngủ chung cùng con, mỗi buổi sáng thức dậy thì không thấy đâu nữa!"

Tăng lại nói:
"Hiện tượng này kéo dài khoảng hơn sáu năm không gián đoạn một đêm nào, cơ bản là không ngày nào thiếu vắng. Con 33 tuổi xuất gia làm tăng, mục đích là muốn tránh xa giấc mộng này nhưng vô hiệu. Con đã xin Lư Sư Tôn cho phù lục trục xuất, cũng không có cảm ứng. Bây giờ đã hơn sáu năm, thân thể con rất yếu, phải làm sao đây?"

Tôi nghe xong, giật mình!

Tôi nói: "Chẳng lẽ là ma nữ!"
Tăng nói: "Đương nhiên phải."
Tôi hỏi: "Sao anh không cự tuyệt?"
Tăng đáp: "Cô ta vừa xuất hiện, con liền không có cách nào tự kiểm soát được!"
Tôi nói: "Anh cứ viết một lá thư kể lại từ đầu đến cuối rồi gửi cho Thành Hoàng của tôi xem Thành Hoàng sẽ nói gì?"

Vị tăng này nghe lời tôi, liền viết một lá thư mang cho Thành Hoàng Đài Trung. Nhiều ngày sau, vị tăng mơ thấy Thành Hoàng đến nói cho biết.

Thành Hoàng nói:
"Đây là vấn đề nhân quả. Trong một kiếp quá khứ, anh cũng là tăng nhân, sống ở một ngôi chùa trong núi sâu. Một cô gái ngưỡng mộ danh tiếng của anh đã đến mời anh đi thuyết pháp. Cô gái lại rất có nhan sắc khiến anh bị mê hoặc, sau đó phát sinh quan hệ bất chính. Cô gái này tổng cộng đến chùa bảy năm. Anh trong bảy năm đó, cố tình dâm lạc, sau đó người trong trấn đều biết chuyện, cô gái xấu hổ mà tự tử.

Bây giờ cô gái lại quay về tìm kiếm anh. Tuy anh xuất gia cũng không thể ngăn cản, phù lục cũng không cách nào khắc chế. Cô gái và anh nhân duyên quả báo bảy năm, bây giờ chỉ còn vài tháng nữa thôi là đến kì hạn bảy năm, cô ta chắc chắn rời đi, không cần cầu xin Thành Hoàng."
Thành Hoàng nói xong, cô gái lại xuất hiện.
Cô gái nói với tăng:
"Ngày xưa anh và tôi cùng mê hoặc nhau, ngày nay tôi mê hoặc anh bảy năm. Anh viết thư kể cho Thành Hoàng, Thành Hoàng đã thuật lại rõ ràng, tôi nghĩ bảy năm này cũng đủ khiến anh chịu khổ rồi, tôi cũng sắp đi rồi!"

Quả nhiên qua vài tháng sau cô gái không còn hiện thân nữa.

Tăng nhân run rẩy nói với tôi:
"Thật không ngờ, nhân quả không sai lệch chút nào!"
Tôi nói: "Từ nay về sau hãy trân trọng!"

Tôi đối với chuyện này có cảm xúc rất sâu sắc:
Phật pháp linh nghiệm, nhưng không thắng nhân quả.
Phù lục linh nghiệm, không trị được nhân quả.
Nhân quả, quả nhiên khó biết, không thể nghĩ bàn.
Tự cổ chí kim đều là như vậy.

Tôi nói:
Tôi có thể trị bệnh!
Nhưng không thể trị mệnh!
Một tăng nhân bị sắc đẹp cám dỗ. 
Không biết liệu đó là Nhân?
Cũng không hay đó chính là Quả? 

Tóm lại là đeo bám lẫn nhau, 
Muốn hành giả giải thoát cũng khó! 
Trừ khi bạn có thể thành tựu siêu việt!
Người có thể thành tựu siêu việt, tức là thánh nhân!


### 38. Linh quang cao một trượng


Ngày xưa. 
Tôi nghe nói tại một tòa trung tâm thương mại, bên trong có thần đàn, có một vị đồng cốt tên A Chi, mọi người tới hỏi chuyện vô cùng linh nghiệm. Chủ thần của đàn thần là Hổ Tướng Quân. Vị Hổ Tướng Quân này tôi chưa từng nghe nói đến, không biết là thần thánh phương nào?

Nghe nói:
Hổ Tướng Quân nhập vào người A Chi, đầu tiên sẽ lấy thịt bò, dê được cúng dường ăn lấy ăn để, ăn cực kì vui vẻ! Sau đó lại uống rượu, sau khi uống hết nhiều chai mới lớn tiếng hỏi chuyện. Người hỏi chuyện đứng xếp hàng đi đến trước mặt Hổ Tướng Quân, vẫn còn chưa mở miệng hỏi thì đã được nghe câu trả lời.

Ví dụ:
Thương nhân hỏi có đơn đặt hàng không? Hổ Tướng Quân trả lời ngày đó tháng đó đặt hàng.
Kết quả linh nghiệm.

Hai người yêu nhau hỏi khi nào có thể kết hôn? Hổ Tướng Quân trả lời hai người không có duyên kết hôn, sẽ kết hôn với người khác. 
Kết quả đúng như vậy.

Nhân vật chính trị hỏi có trúng cử hay không? Hổ Tướng Quân trả lời kì này không trúng cử, kì sau mới trúng cử.
Cũng rất chính xác.

Có người cháu đưa tên của ông nội, hỏi vong hồn này đã đi đâu? Hổ Tướng Quân đáp: Ma cờ bạc. Mọi người cười phá lên.
Kết quả hỏi người cháu này, người cháu xấu hổ nói, cả đời ông nội không có sở thích gì khác, thứ duy nhất chính là cờ bạc.
…..
Một ngày nọ, tôi vào thần đàn, chỉ đứng một bên để xem mà thôi. Hôm đó, Hổ Tướng Quân ăn lấy ăn để thịt bò, thịt dê, lại uống mấy chai rượu. Đột nhiên nói:
"Hôm nay bổn thần bói không chuẩn!"

Có người hỏi: "Tại sao?"
Hổ Tướng Quân đáp: "Hôm nay có người linh quang trên đầu cao một trượng đến đây đứng, phải mời người này đi ra ngoài thì mới bói chuẩn được."
Có người hỏi: "Không chuẩn thế nào? Không thể bói được à?"
Hổ Tướng Quân đáp:
"Bổn thần trên đỉnh đầu linh quang chỉ cao một xích (*), gặp người trên đỉnh đầu linh quang cao đến một trượng (*), làm sao dám múa rìu qua mắt thợ!"

Mọi người nhìn tôi. Tôi chỉ còn nước im lặng rút lui ra ngoài.

Sau đó Hổ Tướng Quân nói với đồng cốt A Chi:
"Ta là Hổ Thần, đối với người linh quang tắt hết thì hỏi chuyện mới có thể chuẩn. Nên Lư Sư Tôn linh quang một trượng, chói chang như mặt trời, Hổ Thần nhìn thấy mắt lóa như mù, làm sao có thể bói toán?" 
Sau này, A Chi từng đến cầu pháp. Tôi cũng chỉ dạy.

Tôi nói:
Nhìn chung những người chưa mất hoàn toàn bản chất lương thiện, trên đầu đều có linh quang, cộng thêm nỗ lực học Phật, linh quang sẽ từ từ tăng trưởng. Những người đã mất hoàn toàn bản chất thiện lương, linh quang tắt sạch, thì tất cả mọi ác thần ác quỷ sẽ đều có thể bắt nạt.

Người tu hành xuất hiện ánh sáng trắng.
Người có phúc xuất hiện ánh sáng đỏ.
Người có lộc xuất hiện ánh sáng lam.
Người có thọ xuất hiện ánh sáng vàng.
Nếu người như cầm thú, linh quang hoàn toàn không có, sẽ xuống địa ngục thôi!

(*) Một xích: khoảng 33 cm. Một trượng: khoảng 330 cm.


### 39. Thông linh giả mạo


Theo tôi được biết:
Có vị cư sĩ họ Chung học ngũ thuật, sau đó tự xưng có thể thông linh quỷ thần, trên thông thiên văn dưới tường địa lí, chiêm bốc cho người, nói rõ lành dữ.

Có rất nhiều phụ nữ tìm ông ta hỏi cách giải xui.
Tài vận.
Hôn nhân.
Danh vị.
Sức khỏe.
May rủi.
Họa phúc, v.v.

Ông ta bịa ra rằng đó là lời Thái Thượng Lão Quân, Nguyên Thủy Thiên Tôn, Linh Bảo Thiên Tôn nói. Chung cư sĩ cũng nói, tiền kiếp của ông ta là phân linh của Hồng Quân Lão Tổ. Ông ta còn nói, Phật Thích Ca Mâu Ni cũng là phân linh của Hồng Quân Lão Tổ (*), vì vậy Phật Tổ và ông có quan hệ sư huynh, sư đệ. Nhờ giỏi dối trá ngụy biện nên ông ta kiếm được tiền cũng không ít.

Sau này nghe nói:
Ông ta rời bỏ đạo tràng của mình đến sống ẩn dật tại một thị trấn nhỏ vùng quê ở New Zealand, từ đó sống cuộc đời cô tịch, không còn gặp gỡ người đời.

Nguyên nhân thế này:
Một ngày nọ, trong lúc ông ta đang mơ màng thì nhìn thấy quỷ thần tề tựu trong nhà của mình, đòi hỏi đồ ăn thức uống. Kể từ lúc đó, ngày nào ông ta cũng phải bày một bàn tiệc cúng quỷ thần. Nếu không làm thì mỗi đêm chúng dùng roi quất ông, đánh cho chết đi sống lại, kêu la thảm thiết. Bọn quỷ thần này đòi hỏi vô độ khiến số tiền ông kiếm được từ bói toán lừa người tất cả đều tiêu hết sạch sẽ. 

Nếu không nghe, lũ quỷ sẽ làm Chung cư sĩ đổ bệnh nặng. Muốn sống không được. Muốn chết không xong.

Từ đó trở đi, ông biết rằng không thể lừa dối quỷ thần. Ông đã lợi dụng danh nghĩa của quỷ thần để kiếm tiền, thật không ngờ rằng cuối cùng, quỷ thần đem tiền tài của ông trả lại trời đất hết, thậm chí còn đe dọa ông sợ muốn chết. 
Quỷ thần nói: "Âm ti có địa ngục đang đợi ngươi đến. Ngươi dám giả danh bọn ta để kiếm lợi, chẳng phải là xem thường bọn ta hay sao."
Chung cư sĩ nói: "Ở trên đời, người thông linh giả mạo rất nhiều, tại sao chỉ tìm mỗi tôi?"
Quỷ thần nói: "Người khác có nhân quả riêng của họ, tất nhiên sẽ phải chịu quả báo. Còn bọn ta đã biết chuyện của ông mười năm, lấy chuyện của ông để cảnh cáo những tên thông linh giả mạo khác."

Chung cư sĩ khiếp sợ, quyết định sống ẩn dật.
Những ngày sống ẩn dật, ông ta vẫn còn nghe thấy quỷ thần cười lớn tiếng: "Xem ông có còn dám giả danh làm giàu nữa hay không?"
Nghe nói Chung cư sĩ dọn đến New Zealand, mua một nông trại nhỏ, ngày ngày đếm cừu rồi.

Tôi nói:
Trên đời có thật, tất có giả.
Người giả, tà tâm.
Người thật, quân tử.
Người giả, tiểu nhân.

Người tu hành học Phật chúng ta, lời nói cử chỉ nên để ý thận trọng. Đừng nghĩ rằng chuyện quả báo có lúc linh nghiệm, có lúc không linh nghiệm, thật ra chỉ là chuyện nhanh chậm mà thôi. Vì quả báo cũng có nặng nhẹ nhanh chậm, dù quả báo sớm muộn khác biệt, nhưng sự chú ý của thần linh cho đến cuối cùng vẫn không bị nhầm lẫn đâu!

Thông linh thật, còn có sơ hở.
Thông linh giả mạo, càng có sơ hở.
Bởi chuyện quỷ thần đa dạng vô cùng, khó thấu hiểu trọn vẹn hết được.

(*) Hồng Quân Lão Tổ: vị tổ đầu tiên, có pháp lực, đạo hạnh cao nhất trong Đạo giáo; ngài do khí hồng mông hoang sơ sinh ra từ lúc chưa có vũ trụ, chưa có thế giới vật chất hay ý thức tinh thần.


### 40. Vấn đề giữa hai đứa con


Có đệ tử là thương nhân giàu có, đã ở tuổi trung niên, vì chuyện con trai bị tai nạn xe chết đột ngột mà đích thân đến tìm tôi tâm sự.

Ông ta kể:
"Cả đời con tin Phật, lập đàn thành, mỗi ngày tu pháp, mỗi ngày thay cúng phẩm mới. Thứ bảy hàng tuần đều nghe Lư Sư Tôn giảng kinh thuyết pháp, mỗi lần pháp hội đều làm sớ cầu thỉnh, tại sao lại không thể bảo vệ con trai của con chút nào, khiến bị tai nạn xe mất mạng?"
Tôi im lặng không nói.

Ông ta nói:
"Cả đời con giữ giới luật, không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngữ, không uống rượu, ngay đến thuốc lá cũng không hút, không có thói quen xấu, thực hiện đúng nghĩa vụ công dân và tuân thủ pháp luật, không làm chuyện ác gì, tại sao con trai con lại chết thảm bất ngờ, chết thảm dưới lốp xe?"
Tôi im lặng không nói.

Ông ta nói:
"Con thường âm thầm làm việc thiện, ví dụ, thảm họa thiên tai thế giới, thảm họa thiên tai địa phương, giúp đỡ người nghèo khó, nhận nuôi trẻ mồ côi Châu Phi, viện dưỡng lão, cô nhi viện, tất cả những chuyện cấp cứu, cứu nạn thường xuyên góp tiền góp sức, bây giờ, sao ông trời lại đối xử với con như vậy? Khiến con đau khổ không muốn sống!"

Ông ta lại nói:
"Con kiên trì ủng hộ tiền, ủng hộ tiền làm tượng vàng, ủng hộ tiền xây cầu, ủng hộ tiền làm đường, ủng hộ tiền làm nhà hỏa táng, ủng hộ tiền in sách hướng thiện, ủng hộ tiền in kinh Phật, thế mà bây giờ như vậy, thử hỏi công bằng ở đâu?"
Tôi im lặng không nói.

Ông ta nói:
"Con thường xuyên tham dự sám hối, từ lương hoàng bảo sám lớn nhất, pháp hoa sám, kim cương sám, thủy sám, Chân Phật Bảo sám, v.v. Thường xuyên niệm kệ sám hối, tội khởi từ tâm, sám hối tâm, con sám hối nhiều như vậy, từ nay trở về trước đều sám hối. Con làm như vậy đến hôm nay vẫn không đủ sao?"
Tôi im lặng không nói.

Ông ta nói:
"Con là người làm kinh doanh, con cúng tế Địa Cơ Chủ, Thổ Địa Công, tứ phương Thần chỉ, mồng một, mười lăm, mồng hai, mười sáu, chưa bao giờ ngừng dứt. Mỗi khi đến ngày Phật đản hay vía Bồ Tát đều có cúng bái, làm như vậy vẫn không đủ sao?"
Tôi im lặng không nói.

Ông ta nói:
"Con nghe theo lời của Lư Sư Tôn, mỗi ngày cung kính tụng "Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh", niệm "Chân Phật Kinh", mỗi ngày mười biến, trước giờ chưa từng dừng lại, tụng  quá cả nghìn biến. Trong Kinh có nói, tụng đủ một nghìn biến, trọng tội đều tiêu diệt, có thể diệt sinh tử khổ, tiêu trừ các độc hại, bây giờ Sư Tôn có điều gì nói không?"
Tôi im lặng không nói.

Đột nhiên bên tai của tôi truyền đến âm thanh nho nhỏ của Nhĩ Báo Thần, Nhĩ Báo Thần nói:
"Đây là vấn đề giữa những đứa con. Vị doanh nhân giàu có này vợ trước đã mất, sau đó cưới vợ mới, hai người vợ mỗi người có một đứa con trai. Ông ta đối với con trai của vợ trước như kẻ thù, đối với con trai của vợ sau thì sủng ái vô cùng. Vợ sau xem con trai của vợ trước như kẻ thù. Doanh nhân giàu có này cũng xem con trai của vợ trước cũng như kẻ thù, ngược đãi đủ điều, khiến linh hồn của vợ trước dưới âm gian bất an, đem nói với quan âm phủ. Vì vậy, quan âm phủ phán thu hồi con trai của vợ sau."
Tôi hỏi: "Ngược đãi như thế nào?"
Nhĩ Báo Thần nói: "Giống như Đại Thuấn (*) vậy! Vô cùng vụn vặt, tính toán chi tiết."
"Phân biệt vậy sao!"
"Đúng vậy."

Tôi nói với người đệ tử thương gia giàu có:
"Ông ngược đãi con trai của vợ trước, ưu ái con trai vợ sau, đúng không?"
Ông ta liền cực kì bối rối, không thể đối đáp lại. (Nghe nói đánh con trai vợ cũ, có vết roi, vết gậy, vết sẹo bỏng, v.v.)

Tôi nói:
Nhân duyên quả báo, đa dạng vô cùng. 
Việc làm của doanh nhân giàu có đều là vì để tạo phúc cho bản thân, không sai. Nhưng đối xử với con trai của vợ trước và con trai của vợ bây giờ, khác nhau một trời một vực.
Nên "ông Trời phẫn nộ"!

(*) Đại Thuấn: vua Ngu Thuấn, một trong năm vị Hoàng Đế thượng cổ Trung Hoa;. Khi ông còn nhỏ, sau khi mẹ ruột qua đời, ông bị cha và mẹ kế đối xử tệ bạc như kẻ thù.


### 41. Viên quang thuật


Ngày xưa.
Liễu Minh Hòa Thượng từng nói chuyện rằng vùng Trung Thổ từ thời cổ đại đã thịnh hành:
1. Phù kê - Bút viết chữ trên cát.
2. Viên quang thuật - Hiện cảnh hoặc chữ viết trên giấy trắng.

Hai phương pháp bói toán này nhìn chung đều là hỏi chuyện tốt xấu, lành dữ họa phúc, từ việc lớn nhất là việc quốc gia đến việc nhỏ nhất là việc vặt cá nhân.

Liễu Minh Hòa Thượng nói:
Hai phương pháp này có lúc linh nghiệm, cũng có lúc không linh nghiệm, chỉ có thể lấy làm tham khảo, không nên xem là thật. Bởi vì phần lớn các vị giáng xuống là "tài quỷ" hoặc "linh quỷ", sức mạnh thần thông của chúng có hạn. Đương nhiên cũng có thần linh, thánh hiền, tiên nhân, Bồ Tát hạ giáng, nhưng đây chỉ là con số rất ít.

Liễu Minh Hòa Thượng nói:
Viên quang thuật phải dùng một tờ giấy vẽ màu trắng khổ lớn dán lên trên bức tường đã được làm thanh tịnh.
Thuật sĩ phải đốt bùa. (Bùa thỉnh thần)
Niệm chú. (Thỉnh thần chú)
Châm hương, bày đồ cúng.
Nói với thần linh cầu xin những chuyện gì.	

Sau đó mời đồng tử, đồng nữ năm hoặc sáu tuổi bước lên nhìn xem tờ giấy màu trắng xuất hiện cảnh tượng gì, từ đó  sẽ quyết định lành dữ họa phúc. Trẻ em nam, nữ năm hoặc sáu tuổi phần lớn đều có thể nhìn thấy. Ngoài ra người thông linh cũng có thể nhìn thấy.

Khi Liễu Minh Hòa Thượng còn sống từng có một người đến tìm ông nhờ làm Viên quang thuật. Người này đã có vợ, nhưng anh ta lại thích vợ của bạn mình nên muốn hỏi: "Anh ta có thể cưới vợ của bạn làm vợ bé hay không?"

Liễu Minh Hòa Thượng cho rằng chuyện này quá là bất chính, nhưng người này có chút thế lực ở địa phương, vì vậy không thể không làm.

Liễu Minh Hòa Thượng làm pháp. Mời đồng tử đến xem, đồng tử nhìn thấy: Có một nam một nữ cởi hết quần áo nằm ở trên giường, hai người ôm nhau, người nam thì hoàn toàn là một người lạ, còn người nữ lại chính là vợ của người hỏi chuyện.
Nhìn thấy việc như vậy khiến người hỏi chuyện nổi giận. Vợ của mình sao có thể ngủ với người đàn ông lạ mặt chứ.

Tiếp theo, Liễu Minh Hòa Thượng nhìn thấy một hàng chữ nhỏ, người đó hỏi: "Là chữ gì?"
Liễu Minh Hòa Thượng nói: "Việc mình không muốn, thì đừng làm việc đó với người khác!"
Người này nghe xong thì phủi áo bỏ đi.

Liễu Minh Hòa Thượng nói:
"Đây là một lời cảnh cáo, chuyện mà bản thân ta không muốn, sao ta có thể làm đối với người khác?"

Sau này:
Lúc tôi thuyết giảng tại Viện lập pháp, cũng có người tại Hoằng Quang giảng đường tu Viên quang thuật mời tôi đến xem. Lúc tôi nhìn, thấy trên giấy là nghìn đóa hoa sen, vạn đóa hoa sen, trên hoa sen đứng đầy các vị Liên Hoa Đồng Tử. Tôi nhìn thấy, trong lòng tràn ngập hoan hỷ.

Tôi tự biết: Tương lai sẽ độ chúng sinh, vạn vạn người!
Hôm nay, quả nhiên đúng như vậy.

Tôi nói:
Hỏi lành dữ họa phúc là một trong những phương pháp độ chúng sinh, nhưng chỉ là độ người sơ cơ. Chúng sinh mê đắm vào việc hỏi chuyện, đây là tập tính của chúng sinh, không thể trách được. Nhưng bạn học Phật pháp một cách chân chính thì phải lấy Phật pháp làm trọng, đừng lấy việc hỏi chuyện làm trọng, như vậy mới tốt.

Trên đời này, người thông linh thật thì ít, người thông linh giả mạo thì nhiều, nếu mượn thông linh để tùy tiện xét đoán nhân quả ba đời, hoặc mượn thông linh để mưu cầu lợi ích, thì xin đừng mắc bẫy.

Người hỏi chuyện nên dùng "trí huệ" để phân biệt. Cho dù là thần linh chỉ thị cũng sẽ có linh nghiệm hoặc không linh nghiệm, huống hồ là ma quỷ?

Vận mệnh tại tâm của chính mình!


### 42. Chuyện phá thai


Một lần, tôi và vài đệ tử nói về chuyện phá thai.
Tôi nói:
"Phá thai là sát sinh, tội rất lớn, cá nhân tôi chủ trương tuyệt đối không được giết hại sinh mệnh, dù thai chưa thành hình cũng không được, bởi tương lai nó cũng là một sinh mệnh."

A hỏi:
"Nếu gia đình nghèo khó, con cái rất đông, cũng không được phá thai sao? Đã không nuôi nổi nữa."
Tôi đáp:
"Vẫn phải sinh, sinh ra rồi, luôn có thể nghĩ ra cách!"

B hỏi:
"Nếu là con gái bị xâm hại mà có thai, kẻ xâm hại sớm đã bỏ trốn, sinh con ra đã không có cha. Vả lại, trong lòng cô gái cũng căm ghét kẻ xâm hại, là con của anh ta thì trong lòng càng khó chấp nhận, như vậy cũng không thể phá thai sao? Luận về tình thì phải làm sao mới đúng?"
Tôi đáp:
"Chuyện này, để tôi thỉnh thị luật âm phủ rồi mới nói tiếp!"	

C hỏi:
"Nếu như bác sĩ kiểm tra, thai nhi vừa sinh ra, thai này bẩm sinh là tàn tật, là đứa con có chướng ngại khuyết tật như bị mù, điếc, câm, mềm xương, tay chân không đầy đủ, có thể phá thai không?"
Tôi đáp:
"Chuyện này, để tôi thỉnh thị luật âm phủ rồi mới nói tiếp!"	

D hỏi:
"Nếu như biết là mắc hội chứng Downs hoặc là tim bị thủng lỗ bẩm sinh, hoặc con bị động kinh, não không phát triển hoàn toàn, vẫn phải sinh sao?"
Tôi đáp:
"Chuyện này, để tôi thỉnh thị luật âm phủ rồi mới nói tiếp!"	

E hỏi:
"Nếu thai nhi ảnh hưởng đến tính mạng của người mẹ, lúc này nên xử trí ra sao, giữ thai bỏ mẹ, hay là giữ mẹ bỏ thai? Chuyện này nên xử trí ra sao mới tốt?"
Tôi đáp:
"Chuyện này, để tôi thỉnh thị luật âm phủ rồi mới nói tiếp!"	

F hỏi:
"Nếu cơ thể người mẹ đã mắc bệnh AIDS, đứa bé như vậy còn có thể sinh ra hay không?"
Tôi đáp:
"Chuyện này, để tôi thỉnh thị luật âm phủ rồi mới trả lời!"

G hỏi:
"Huyết bồn kinh (*) là chân kinh? Hay là giả kinh? Phụ nữ khó sinh đã chịu khổ đến chết, sau khi chết còn bị đọa xuống ao máu, có phải quá tàn nhẫn không?"
Tôi đáp:
"Để tôi kiểm tra xem!"

H hỏi:
"Nếu phụ nữ có chồng và đàn ông có vợ, hai người thông dâm, đứa bé của dạng mang thai này có thể sinh ra không?"

Tôi thật không ngờ rằng một việc phá thai mà đã có lắm vấn đề như vậy! 

Tôi thỉnh sứ thần ở địa ngục, quan địa ngục trả lời.
Họ trả lời:
Nói về lý - đều không thể phá thai.
Nói về điều kiện hoàn cảnh - có một số tình thế vẫn có thể thông cảm, có một số là vô tội, có một số là tội nhẹ. Phải xem nhân quả mỗi trường hợp mới có thể phán quyết.

Huyết bồn kinh là kinh giả, là thuật sĩ sáng tạo ra, mượn chuyện này để thu được nhiều lợi ích hơn. 

Nếu ô uế là có tội, mà việc sinh đẻ chắc chắn ô uế, thế thì tất cả hiền viên thục mẫu (*) đều có tội. Tinh dịch cũng ô uế vậy, cũng có tội, thế mà chỉ một mình phụ nữ có tội, thật sự rất vô lý.

Ở âm gian, quan thần dựa theo tình, theo thế, theo lý để luận tội, tuy về mặt lý không thể phá thai, nhưng về mặt hoàn cảnh tình thế cũng có thể khoan dung.

Tôi nói:
Âm gian địa ngục
Tình, lý, pháp đầy đủ!

(*) Huyết bồn kinh: kinh nói rằng các bà mẹ sẽ xuống địa ngục, chịu đủ mọi tra tấn hành hạ đau khổ nếu sau khi sinh xong, đem đồ có máu huyết nhơ bẩn giặt giũ tại sông, hồ công cộng. Vì sau đó, mọi người sẽ lấy nước ở đây đem pha trà nấu nước cúng Tam Bảo, Thánh hiền. 
(*) Hiền viên thục mẫu: những người phụ nữ và người mẹ hiền thục.


### 43. Ông lão ghi sổ sách


Có lần tôi nằm mơ đi đến một vùng dưới chân núi. Có một tòa cung điện, ngoài cửa cung điện có mấy chục người ra ra vào vào, xem ra vô cùng bận rộn. Tôi đi đến cửa cung điện, từ bên trong xuất hiện một ông lão, ông lão vừa nhìn thấy tôi vội vàng dẫn tôi vào trong.

Tôi hỏi: "Đây là nơi nào?"
Ông lão đáp:
"Tôi là ông lão ghi sổ sách, chuyên môn quản lý công đức thiện ác của người tu hành để ghi chép lại thành văn bản."
Tôi hỏi: "Có ghi chép của Chân Phật Tông tôi không?"

Ông lão từ phòng lưu trữ hồ sơ lấy ra sổ ghi chép. Có rất nhiều cuốn sổ ghi chép phân biệt bởi các màu trắng, vàng, đỏ, tím, đen, xám, xanh lục các loại, cuốn nào cũng phóng ra ánh sáng sắc màu.
Tôi hỏi: "Sao lại phân biệt màu sắc ánh sáng?"
Ông lão đáp: "Đây là tầng thứ của người tu hành."

Tôi hỏi: "Phân tầng thứ như thế nào?"
Ông lão đáp:
"Minh tâm kiến tính, phóng quang động địa, đăng sổ trắng. 
Công đức đủ đầy, tinh tấn không ngừng dứt, đăng sổ vàng. 
Tu hành tốt đẹp, mỗi ngày mỗi tu, đăng sổ đỏ. 
Tùy chúng tu hành, nghiêm giữ giới luật, đăng sổ tím. 
Tùy chúng quy y, tu hành lười biếng, đăng sổ xanh lục. 
Tuy cũng quy y, nhưng hoàn toàn thế tục, không có tu hành đăng sổ xám. 
Tuy có quy y nhưng làm điều sai trái, phá hoại chính pháp, đăng sổ đen."

Tôi hỏi: "Làm sao phân biệt?"
Ông lão nói: "Phần lớn người tu hành đều có quang khí. 
Ánh sáng trắng trên đỉnh đầu phóng thẳng lên trời, có quả vị đăng sổ trắng.
Ánh sáng vàng kim lấp lánh, luôn thường có, đăng sổ vàng. Tinh khí dâng trào mạnh mẽ, đăng sổ đỏ…"

Tôi hỏi: "Đăng vào các cõi nào?"
Ông lão đáp: "Trên cùng là tứ thánh, chính giữa là chư thiên, phía dưới cùng là thiện đạo thần minh."

Tôi hỏi: "Còn sổ xám, sổ xanh lục, sổ đen thì sao?"
Ông lão đáp: "Trên cùng là nhân đạo, chính giữa là đại lực quỷ, thấp nhất là địa ngục, ngạ quỷ súc sinh."
Tôi hỏi: "Quang khí của ba cuốn sổ này ra sao?"
Ông lão đáp: "Tám chữ: Co rút lập lòe, nguội lạnh không sáng."

Tôi hỏi: "Xem bản thân tôi được không?"
Ông lão đáp: "Tự tâm biết, không cần hỏi."
Tôi hỏi: "Tôi xem một vị Thượng sư được không?"
Ông lão mở cuốn sổ đen ra, tôi sốc vì trong số tên được liệt kê ra có mấy vị là nhân viên hoằng pháp.
Tôi hỏi: "Tại sao lại như vậy?"
Ông lão đáp: "Phá hoại sự hòa hợp trong tăng chúng, là kẻ dẫm nát huệ mệnh."
Tôi hỏi: "Tương lai ra sao?"
Ông lão đáp: "Không có đường sống!"


Tôi nói:
Người tu hành nên tự vấn tâm mình một cách thành thật, sẽ tự biết mình đã được đăng vào sổ nào. Chính mình chưa hỏi, sao lại hỏi người khác?


### 44. Những lời nói xuyên tạc


Tôi thường xuyên nghe thấy hoặc nhìn thấy một số tin bài của truyền thông có liên quan đến các nhân vật công chúng, đến một số tin đồn giữa nam nữ. Những bài đưa tin này luôn luôn không có căn cứ, không mà nói có, hoặc là chút xíu tin đồn như gió mưa thoáng qua nhưng bị nghe sai nói bậy, trong nhiều trường hợp đã tạo ấn tượng thiên kiến, cuối cùng khiến cho đám đông nghĩ sai. 

Câu nói "Lời thị phi không ở nơi người trí tuệ" quả thực không sai, nhưng thử hỏi thiên hạ có bao nhiêu người trí tuệ?

Tôi gặp một vị quan âm phủ có địa vị rất cao, tôi hỏi:
"Ông là quan to, chắc chắn biết chuyện đó là thật hay giả."
Quan đáp: 
"Ngài là hành giả, không nên hỏi như vậy."

Tôi nói: 
"Sao không thể hỏi? Tôi cũng muốn biết thật giả mà!"
Quan nói:
"Mấy chuyện này là chuyện lặt vặt của người ta, ngài biết thật giả rồi thì sao? Chẳng lẽ ngài cũng muốn tuyên bố với thiên hạ?"
Tôi nói: "Thì cũng phải có một cái nhìn cho đúng."

Quan nói:
"Nói cho ngài biết, chuyện giữa nam nữ trong thiên hạ thuộc về bí mật phòng the. Nam nữ hẹn hò thì chỉ hai người biết, quỷ thần biết, người ngoài không biết. Là chuyện yêu đương mập mờ không rõ ràng thì dễ sinh nghi hoặc. Lại thêm lời nói dối của nữ, thêm lời nói dối của nam, thêm lời đồn trong thiên hạ, như thế nào là thật?"
Tôi nói: 
"Điều này thì tôi biết, nhưng người đời mù quáng."

Quan lại nói:
"Nói chung một khi nghi ngờ dấy lên, một tiếng chó sủa cả đàn sủa theo, thế là nghi ngờ thành thật. Tại sao cứ liên quan tới chuyện của người ngoài thì phải thổi phồng mới thấy sung sướng?"
Tôi nói: "Truyền thông vốn như vậy, biết làm sao được."

Quan nói:
"Điều nghi ngờ vớ vẩn, mập mờ không có cơ sở mà lại đi vẽ rắn thêm chân, tô điểm thêm thắt, phóng đại ngôn từ, giống như chính bản thân mình tận mắt trông thấy. Bên trong có rất nhiều uẩn khúc, người ngoài không thể biết được, nhưng cứ viết báo như vậy là phạm vào rất nhiều cấm kị."

Tôi hỏi: "Cấm kị ra sao?"
Quan đáp:
"Miệng nói hồ đồ, là khẩu nghiệp.
Bút viết hồ đồ, là thân nghiệp.
Suy nghĩ hồ đồ, là ý nghiệp."

Tôi hỏi: "Sẽ có báo ứng thế nào?"
Quan đáp:
"Người bị phỉ báng khó lòng chịu đựng được nhưng tranh cãi cũng khó, nhiều khi giữ trong lòng không thể nói ra mà bị trầm cảm. Từ đó bị tiếng oan, mất hết thanh danh, sinh ra khí đau khổ oán độc nhiều kiếp khó tan."

Quan nói tiếp:
"Báo ứng có ba loại:
Khẩu nghiệp - Đọa địa ngục cày lưỡi
Thân nghiệp - Đọa địa ngục chặt tay
Ý nghiệp - Đọa địa ngục móc mắt"

Tôi hỏi: "Hành giả chúng tôi phải làm sao?"
Quan đáp: "Hành giả nghe những chuyện này nên bỏ ngoài tai. Hành giả thấy những chuyện này, nên che mắt. Hành giả nhìn thấy người ta xuyên tạc, nên ngậm miệng."

Quan hỏi lại tôi:
"Ngài mà lại hỏi thật giả, là có dụng ý gì?"
Tôi á khẩu.

Quan nói:
"Những chuyện này cõi địa ngục tự có công bằng."

Tôi nói:
Tuyên dương điều thiện, không bêu điều xấu là hành giả.
Tuyên dương điều ác, xuyên tạc mọi thứ là tiểu nhân.


### 45. Muốn nhìn thấy ma


Tôi có một đệ tử tên Liên Hoa Vạn Cảnh. Sau khi nhận quán đảnh Phổ Ba Kim Cang, anh trở nên to gan hơn, liền một mình đi đến bãi tha ma vào lúc nửa đêm làm thí thực (*) cúng dường ma quỷ.

Anh chuẩn bị nước Đại Bi Chú, bánh gạo, bánh quy, bánh nếp, bánh bò, v.v. Vừa trì chú, vừa rải thức ăn.

Anh tuyên bố ở đó:
"Tôi vốn dĩ gan dạ nhưng cả đời chưa từng nhìn thấy ma quỷ, nay được Lư Sư Tôn quán đảnh Phổ Ba Kim cương nên đặc biệt đến đây thí thực, các vị dưới suối vàng nếu biết, hãy hiện thân cho tôi thấy một tí."

Anh nhìn ngó khắp xung quanh.
Đêm lạnh như nước, gió lạnh vù vù, vô số ngôi mộ san sát nhau, cỏ tranh ngả nghiêng, tiếng côn trùng kêu "ri…ri…"
Kết quả là: Chẳng nhìn thấy cái gì cả. 

Lần đầu tiên anh không thấy ma quỷ nhưng vẫn không nản lòng. Cứ thế mỗi đêm anh đều đến, tổng cộng liên tiếp suốt ba tháng.

Chỉ duy nhất một đêm anh nhìn thấy những ngọn cây đột nhiên rung lắc, gió thổi điên cuồng, gió xoáy nổi lên, các đốm lửa li ti bay đến, lùm cây lùm cỏ kêu "hú…hú…", khoảng mười phút thì tất cả đều dừng lại.

Anh kể: "Đêm đó đúng là kì lạ, nhưng vẫn không nhìn thấy gì cả!"

Cho đến một buổi tối.
Anh không ở nghĩa địa nữa mà về phòng ngủ của mình. Anh vừa mới nằm xuống, trong lúc còn chưa ngủ hẳn, đột nhiên nhìn thấy xung quanh giường mình có khoảng mười mấy cái bóng đen.

Có tiếng nói rằng: "Nhờ đại đức thí cam lồ và đồ ăn ngon, chúng tôi đặc biệt đến cảm tạ!"

Liên Hoa Vạn Cảnh hỏi:
"Con người sau khi chết, bảy bảy bốn mươi chín ngày, tùy theo nghiệp lực mà luân hồi, các ông sao vẫn còn chưa luân hồi?"
Ma trả lời: "Chúng tôi không giống họ, thông thường người nhiều thiện nghiệp thì vãng sinh cõi trời, cõi người, còn người nhiều ác nghiệp thì bị đọa xuống cõi ngạ quỷ, súc sinh, địa ngục. Mười bảy người chúng tôi, thiện nghiệp không nhiều, ác nghiệp cũng không nhiều, vì vậy chưa được luân hồi, chỉ dừng lại làm ma quỷ."

Liên Hoa Vạn Cảnh lại hỏi: "Thức ăn được Phổ Ba Kim cương Chú gia trì, có tốt không?"
Ma đáp: "Có tác dụng bình lặng (tâm trí), có tác dụng no bụng, có tác dụng thanh lọc, có tác dụng tăng trưởng trí huệ, có tác dụng hữu duyên với Phật, có tác dụng kiên cố hồn phách…"

Liên Hoa Vạn Cảnh hỏi: "Các ông làm ma quỷ, tại sao không tu pháp sám hối, thoát khỏi cảnh làm ma quỷ?"
Ma đáp: "Chúng tôi vô hình, pháp sám hối phải tu ở kiếp trước. Chết rồi, không còn đủ sức lực, không kịp nữa rồi!"

Liên Hoa Vạn Cảnh hỏi: "Sau khi chết thành ma, không tốt sao?"
Ma đáp: "Sau khi chết thành ma, thân thể không còn nữa, cũng không có gì là không tốt. Ngược lại ma quỷ rất nhiều. Phần lớn con người sợ chết, còn ma thì ngược lại, lại sợ sống, chỉ là làm con người thì dễ tu hành."

Liên Hoa Vạn Cảnh hỏi: "Tu pháp gì là tốt nhất?"
Ma đáp: "Pháp sám hối là tốt nhất."
"Tại sao?"
Ma đáp: "Từ trong pháp sám hối có thể có được giải thoát, nếu thật sự sám hối thì được giải thoát thật sự."
Liên Hoa Vạn Cảnh hỏi: "Cái gì của người đời là xấu nhất?"
Ma đáp: "Một chữ: tham."
Rồi lại nói: "Chúng tôi tặng anh bốn chữ: vạn sự đừng tham. Chúng tôi đi đây!"

(*) Thí thực: cúng thí thức ăn cho ma, quỷ đói, la sát hoặc các chúng sinh khác.


### 46. Điều nhìn thấy trong hôn lễ


Tôi đi tham dự đám cưới của con trai một người bạn. Địa điểm là tứ hợp viện (*) ở nông thôn, chính giữa là phòng cúng bái tổ tiên và phòng khách, có hai gian phòng bên trái và phải, còn tiệc cưới của chủ nhà được tổ chức ở sân giữa. Sân giữa vốn là nơi nông dân đem phơi thóc lúa sau khi thu hoạch.
Hôm đó vô cùng náo nhiệt.
Có đốt pháo dây.
Rất nhiều giỏ hoa.
Lại mời nhóm nhạc đến biểu diễn.
Xe hoa điện tử (*) .
Họ hàng bạn bè đến tham gia ai nấy đều mặc lễ phục, người đến người đi.
Chú rể du học ở nước ngoài về nước, là giám đốc của doanh nghiệp, đẹp trai bản lĩnh, là con một. Cô dâu là bạn gái quen biết trong thời gian du học, xuất thân là người phương Bắc của Trung Quốc Đại Lục. Cô dâu thân hình cao thon, vô cùng khỏe đẹp, vẻ ngoài xinh xắn quyến rũ. Hôn lễ của hai người vừa Trung vừa Tây, sáng tạo với phong cách mới.

Tôi được nghênh tiếp vào trong phòng khách nơi thờ cúng tổ tiên, bên trong bày đầy cúng phẩm, ngoài sơn hào hải vị ra còn có:
Bánh mai rùa.
Bánh bò.
Chè trôi nước.
Thạch Aiyu (*).
Bánh bột.
Bánh kẹo cúng tổ tiên vô cùng phong phú.
Mọi người ngập tràn niềm vui.

Nhưng:
Trong ngày vui mừng như vậy, tôi lại nhìn thấy linh vị tổ tiên của chủ nhà người nào người nấy ủ rũ lo lắng, bộ dạng như muốn khóc mà không khóc nổi. Bọn họ bước vào ngồi lên vị trí tổ tiên, cũng tức là ngồi trên bàn cúng. Tổ tiên từng vị từng vị biến thành rất nhỏ, hình như họ đang thảo luận chuyện gì đó nhưng không có kết quả. Người nào người nấy đơ ra như khúc gỗ. Chán nản, tay chân xụi lơ. Những cử chỉ vô hình này tôi đều nhìn thấy hết, người khác không nhìn thấy được. 

Người sống vui mừng phấn khích, người chết mặt ủ mày chau.
Nhìn thấy tình cảnh như vậy, tôi cũng không dám nói gì. Thật ra tôi cũng không thể nói gì, bởi vì tôi chỉ nhìn thấy tổ tiên của chủ nhà không vui mà lại lo, nhưng tôi lại không biết là vì nguyên nhân gì?

Sau đó:
Tôi quay về Seattle nước Mỹ. Độ khoảng sáu năm sau khi cô dâu chú rể kết hôn, có một tin tức truyền đến:
Cô dâu đã giết chú rể.
Tổng cộng hai mươi nhát dao.
Khi đưa chú rể đến bệnh viện thì đã tắt thở, chết rồi.
Hai người họ có một đứa con gái.
Gia đình này tan nát rồi!

Tôi chỉ nghe được tin tức này, còn những chi tiết khác tôi không muốn biết, cho dù biết rồi thì có tác dụng gì?
Tôi còn nhớ khi hai người họ kết hôn, những động tác tròng ghẹo thân mật của họ thật hoan hỷ tột cùng.

Thề non hẹn biển.
Một cặp trời sinh.
Duyên phận đời đời.
Hồ điệp tình thâm. 

Bây giờ mộng đẹp tan biến, một gia đình tan nát rồi, tôi không biết người bạn đó của tôi làm sao để vượt qua? Tôi cũng không biết con đường tương lai của cô dâu làm sao mà đi tiếp? Và còn đứa bé gái mà họ sinh ra?

Tôi nói:
Vô thường.
Mọi sự vô thường.
Không lẽ vào ngày kết hôn, linh hồn của tổ tiên đã sớm biết tất cả chuyện này rồi sao?

-----------------
Tứ hợp viện: tổ hợp nhà truyền thống của người Hoa, xây ở bốn hướng Đông Tây Nam Bắc, khuôn viên hình vuông hay chữ nhật, bao quanh sân vườn ở giữa.
Xe hoa điện tử: kiểu xe tải tích hợp sân khấu di động (cũng có thể gấp lại mở ra được), rất phổ biến ở Đài Loan.
Thạch Aiyu: một loại thạch làm từ hạt của quả vả chỉ có ở Đài Loan.


### 47. Cái bóng


Theo lời của đệ tử già tên là Liên Hoa Kì Tướng:
Có một thương gia giàu có lấy vợ tên là Hàn Thị, về sau người vợ bị mắc bệnh ung thư. Lúc Hàn Thị cận kề cái chết, con trai và con gái của chị đều ở bên cạnh. Hai tay của chị, một tay nắm lấy tay con trai, tay kia nắm lấy tay của con gái, hai mắt đẫm lệ rồi chết.

Khi chết vẫn nắm chặt tay của đứa con trai nhỏ và đứa con gái nhỏ không buông ra, đến cuối cùng, bác sĩ y tá phải dùng sức kéo các ngón tay chị ra. Lúc chết hai mắt chị cũng không nhắm lại, mở to nhìn vô hồn. Có người nói: "Là người mẹ không đành lòng buông tay rời xa con cái."

Sau đó vị thương gia giàu có đương nhiên tái hôn.
Xảy ra chuyện vô cùng kì lạ:
Vị đại gia này mỗi lần soi gương đều phát hiện có một cái bóng ở phía sau mình. Anh ta có cảm giác đó là Hàn Thị, nhưng vừa quay lưng nhìn thì lại không thấy gì cả.

Ban đêm vị đại gia mở cửa sổ ra cũng luôn nhìn thấy ở nơi hồ núi giả trong sân nhà có một cái bóng đứng đó. Cái bóng chính là vợ quá cố Hàn Thị, nhưng gọi chị thì không thấy trả lời, vẫy chị thì một lúc sau là biến mất không thấy nữa. Cái bóng của Hàn Thị có khi liền tù tì nhiều ngày không thấy, có khi trong một ngày lại xuất hiện rất nhiều lần.

Người nhìn thấy bóng Hàn Thị không chỉ có vị đại gia. Còn có cả người vợ mà đại gia cưới lúc sau, rồi con trai của vợ sau và cả người làm trong nhà.

Có vài lần bạn bè đến thăm, chị cũng xuất hiện, nhưng xuất hiện không lâu lắm, một lúc liền biến mất.
Có người nhìn thấy chị ở trong bức tường.
Có người nhìn thấy chị ngồi trên sofa ở phòng khách.
Có người nhìn thấy chị ở dưới gốc cây.
Có người nhìn thấy chị ở phòng tắm.


Khắp nơi đều nhìn thấy bóng của Hàn Thị, nhưng chị không hại người. Sự xuất hiện này giống như trong Kinh Kim Cương có nói, như ảo ảnh trong mơ, như tia điện lóe ra từ đá, như sương mờ, như điện chớp. 
Mọi người đều nói: "Hàn Thị chết rồi, nhưng linh hồn vẫn không rời khỏi gia đình này."

Như vậy cũng tốt:
Đại gia đối với con trai và con gái của vợ trước không dám thiếu sót, vẫn hết mực thương yêu. Vợ sau đối với con trai và con gái vợ trước cũng không dám sinh lòng phân biệt, mua quần áo sẽ mua cho chúng nó trước, sau đó mới mua cho con mình. Vợ sau tôn trọng vợ trước. Người làm cũng như vậy, đối với hai đứa con của vợ trước không dám ngược đãi, cũng không dám đặc biệt lấy lòng con của vợ sau. Bóng của Hàn Thị này giống như là linh hồn bảo vệ vậy, mãi mãi không dám rời khỏi con của mình.

Chuyện này cứ như vậy mãi cho đến khi:
Con trai của vợ trước kết hôn.
Con gái của vợ trước đi lấy chồng.
Dần dần số lần Hàn Thị xuất hiện càng ngày càng ít đi. Rồi không lâu sau thì hoàn toàn không còn xuất hiện nữa.

Tôi nghe xong.
Rất cảm động.

Tôi nói:
Linh hồn bảo vệ là có thật, phải biết giữa đất trời, chúng sinh hữu tình đều có thể thấu hiểu lẫn nhau. Tình yêu của người mẹ đối với con trai, con gái không vì lợi ích bản thân, liên tục bảo hộ cho đến khi kết hôn, lấy chồng mới thôi.
Linh hồn thường không thể thấy, nhưng vẫn có người thấy.
Tôi nói, chỉ cần có lúc cần, vẫn có thể thấy.
Bóng của Hàn Thị xuất hiện thì ra là có lý do.

Tôi nói, uẩn khúc trong lòng người, quỷ thần đều có thể biết, vì vậy tốt nhất không nên có bất kì một suy nghĩ tư lợi nào!


### 48. Năm cân vàng


Một đêm tôi vừa lên giường không lâu, tu xong Miên quang pháp - mật pháp ngủ trong đại quang minh, thì đột nhiên nghe có tiếng nói bên tai:
"Sư Tôn! Đừng có ngủ, xin nghe con một lời!"
Tôi bừng tỉnh dậy, hỏi: "Ai?"
Đáp: "Là đệ tử Ngưỡng Hùng."

Trong đầu tôi nhớ lại ấn tượng về Ngưỡng Hùng, nhớ ra ông là một vị sĩ quan trưởng trong quân đội đã già, cũng là đệ tử quy y tôi. Ông từ khi còn trẻ đã là quân nhân theo quân đội đến Đài Loan.

Ngưỡng Hùng một mình ở Đài Loan, không họ hàng thân thích, cả đời cống hiến cho đất nước, có vài lần muốn kết hôn nhưng bị người mai mối và cô gái lừa mất một số tiền, kết hôn không thành, tiền cũng bị mất không ít.

Sau đó nghe nói: "Bệnh chết!"
Tôi hỏi: "Bây giờ ông ở nơi nào?"
Ông đáp: "Đọa vào cõi ma."
Tôi hỏi: "Quy y tôi làm sao đọa vào cõi ma?"
Ông đáp: "Ngày thường con không thắp nhang, lúc gặp hiểm nghèo mới nhớ đến Phật. Con nhận quán đảnh vài lần nhưng không có thực tu, vẫn là phàm phu tục tử. Không có thiện, cũng không có ác, cho nên đọa vào cõi ma quỷ."

Tôi hỏi: "Vậy ông tìm tôi có chuyện gì?"
Ông đáp: "Con đem số tiền tích góp cả đời đúc thành 5kg vàng, mỗi thỏi 1kg, tổng cộng năm thỏi, gửi ở tủ bảo hiểm của đồng nghiệp. Nhân phẩm người đồng nghiệp này của con rất tốt, con tin tưởng anh ta. Con bị bệnh chết, anh ta đang nghĩ 5kg vàng này không biết xử trí thế nào? Xin Lư Sư Tôn giúp con in sách thiện bố thí, để nhờ đây mà được vãng sinh thiên giới."

Tôi nói: "Đồng nghiệp là ai?"
Ngưỡng Hùng đáp: "Lưu Đông, cũng là đệ tử của ngài, là người thật thà."
Tôi hỏi: "Có bằng chứng gì?"
Ông đáp: "Mỗi thỏi vàng đều có in hai chữ "Ngưỡng Nguyệt", chuyện này chỉ có con biết, Lưu Đông biết, người ngoài không biết."
Tôi nói: "Tôi nhận lời làm chuyện này, ông đi đi."
Ngưỡng Hùng vui vẻ rời đi.

Tôi đem chuyện này nói với Lưu Đông, Lưu Đông kinh hãi, mồ hôi túa ra như mưa. Ông xác nhận chuyện này đúng như vậy, trên thỏi vàng có in hai chữ "Ngưỡng Nguyệt", và không ai biết cả.

Lưu Đông đem 5kg vàng đó đi bán đổi thành tiền mặt, rồi dùng tiền mặt in sách thiện tặng người. In ấn:
Cao Vương Kinh.
Chân Phật Kinh.
Ngọc Lịch Bảo Sao (ở Việt Nam chính là Ngọc Lịch Bửu Phiêu).
Đạo Đức Kinh.
Liễu Phàm Tứ Huấn.

Tôi nói:
Rất nhiều người giữ quan điểm không có ma quỷ, đến nay vẫn cho rằng không có ma quỷ, cho là không đủ cơ sở. Nếu như có người cho rằng những việc ta làm "thần không biết quỷ không hay", thì quả thực là quá hoang đường. Bởi con người có thể không biết, nhưng quỷ thần đều biết.

Ngưỡng Hùng biết rằng in ấn sách thiện, công đức rất lớn!

Lưu Đông cũng là một chính nhân quân tử, ông ta hoàn toàn có thể che giấu, chiếm làm của riêng. Nhưng ông vừa nghe Sư Tôn nói liền biết không phải nói dối, cũng xem như là thiện căn rất sâu.

Có một số người gian trá lừa đảo, thực sự không đáng để ý tới!
Trong cõi vô hình, đã có quỷ thần giám sát rồi!


### 49. Hai con ma ngoài thế giới


Buổi tối.
Tôi dạo bước trên con đường mọc đầy cỏ. Lúc đó đêm cũng gần khuya, người đi tản bộ cũng ít dần, Thổ Địa Công miếu từ xa rọi ra ánh đèn màu đỏ sáng lấp lánh.

Mọi thứ dần trở nên yên tĩnh hơn, trăng rất tròn chiếu vào một cây chuối, trên cây chuối có hai cái bóng. Tôi liếc nhìn một cái, lúc đầu tưởng rằng là một đôi tình nhân, sau đó mới biết không phải vì cái bóng phát ra một chút ánh sáng màu xanh lục nhạt. Thì ra là hai con ma.

Hai con ma đang nói chuyện. Tôi đã đi tản bộ mấy vòng rồi nên ngồi nghỉ trên một cái ghế làm từ đá tảng, nghe xem bọn chúng nói cái gì.

Một trong hai con ma nói:
"Phật Thích Ca Mâu Ni đạt chính giác thành Phật, tăng đoàn gồm một nghìn hai trăm vị, duy chỉ có Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên là đẳng cấp tối thượng, những người khác đều bình thường."
Con ma kia nói:
"Khổng Tử ba nghìn đệ tử, người có thể giảng Nho giáo chỉ có Công Tôn Sửu, Vạn Chương mà thôi, Mạnh Tử không thể sánh bằng Khổng Tử."

Một trong hai con ma nói:
"Trong thời đại ngày nay, người có thể hoằng dương Phật pháp đều mang một chữ, chữ này là hiệt." 
Con ma kia nói: "Tôi không nghĩ là hiệt, mà là si." (*)

Một trong hai con ma nói:
"Ngươi nói si cũng đúng, chùa lớn mọc lên như rừng nhưng không có Phật pháp. Bệnh viện lớn mọc lên thành rừng, cũng không làm Phật pháp."
Con ma kia nói:
"Phật pháp hiện đại chẳng qua là xây chùa lớn, bệnh viện lớn. Có một số người, thấy thế nào bắt chước thế đó, đều là tụ tập  đám đông hàng nghìn hàng vạn, đều muốn đại danh đại lợi, tranh giành đệ tử, cuối cùng tạo thành tông đảng."

Một trong hai con ma nói: 
"Người nghiên cứu sâu Phật pháp cũng ít lắm!"

Con ma kia nói:
"Người có thể ngộ đạo hoằng pháp, lại càng ít!"
Hai con ma nhìn nhau thở dài.

Tôi nghe đến đây, vốn định đứng dậy bỏ đi. Không ngờ hai con ma lại nhắc đến tôi, nên tôi lại tiếp tục ngồi nghe.

Một con ma nói:
"Có một người họ Lư, ngươi từng nghe nói đến chưa?"
Con ma kia nói:
"Đương nhiên, người này vẫn chưa xây chùa lớn, bệnh viện lớn, trường học lớn, nhưng đệ tử rất nhiều, thêm nữa đệ tử không phải hạng tầm thường cũng có rất nhiều."

Ma thứ nhất nói: "Người họ Lư có điểm gì đặc biệt không? Nên quy về là hiệt, hay là si?"
Ma thứ hai nói: "Tuy rằng người trong thiên hạ đổ xô chạy đến như vịt, nhưng lại không có hệ thống, không có kế hoạch, không phải hiệt, cũng không phải si."

Ma thứ nhất nói: "Thế thì là cái gì?"
Ma thứ hai nói: "Là giác ngộ? Hay là sai lầm?"
Ma thứ nhất nói: "Ta thấy là không có khí phách lớn!"
Ma thứ hai nói: "Ta thấy là không thể làm được gì hơn!"
Ma thứ nhất nói: "Ta thấy trong cả đám người, một nhân vật như vậy cũng xem như là hiếm có đó!"
Ma thứ hai nói: "Tuy là hiếm có, nhưng không bằng kẻ hiệt, cũng không bằng kẻ si, suy đoán thế sự chỉ có như vậy thôi!"

Tôi vốn định đứng dậy bước đến hỏi, nhưng hai con ma này chỉ nói đến đây thì dừng.

Tôi nói:
Tôi không có tâm kế.
Tôi cũng không muốn xây vương quốc tông giáo khổng lồ.
Tôi vốn dĩ cái gì cũng không muốn.
Đây là giác ngộ?
Hay là sai lầm?

(*) Hiệt: có trí tuệ, thông minh. Si: ngu si.


### Phụ lục. Bàn tay kì diệu của Lư Thắng Ngạn


*(Trích văn tập 236: Bàn tay kì diệu của Lư Thắng Ngạn, chương “Dấu hiệu tạo ra bởi Sàng Mẫu")*

Một cặp vợ chồng đem đứa con trai nhỏ đến gặp tôi. Quá nửa khuôn mặt cậu bé này có màu đen. Từ bên mép phải đến chỗ lông mày phải, rồi toàn bộ xuống đến vành tai, hoàn toàn là màu đen. Tôi vừa nhìn thấy mặt cậu bé thì đã sốc. Cậu bé có đôi chút giống như vị Phán quan của miếu Thành Hoàng.
 
Cặp vợ chồng này nói: "Khi bé sinh ra, nửa khuôn mặt đã có màu đen rồi. Một số người nói rằng đó là một dấu hiệu được tạo ra bởi Sàng Mẫu (*), một vết bớt. Khi những vết bớt xuất hiện ở trên các phần khác nhau của cơ thể, ví dụ như ở mông thì chúng không có ảnh hưởng gì về thẩm mỹ. Nhưng với vết bớt to như vậy ở trên mặt thì mọi người đều thấy cậu bé rất kì dị.
 
Họ nói: "Nghe nói bàn tay của Lư Sư Tôn có pháp lực, chúng tôi hy vọng ngài có thể chữa khỏi cho thằng bé!"
Tôi nói: "Sao hai người không đưa cậu bé đi khám bác sĩ?"
Họ đáp: "Các bác sĩ da liễu nói rằng họ chẳng thể làm gì."
 
Tôi quán tưởng bổn tôn ngụ ở đỉnh đầu và năng lượng vũ trụ từ bổn tôn chảy vào trong người tôi. Tôi chạm bàn tay lên gương mặt cậu bé và nói: "Cậu bé sẽ khỏe lại!"
 
Cặp vợ chồng cùng đứa con trai ra về. Không lâu sau, ba người họ quay trở lại gặp tôi. Bố mẹ cậu bé nói: "Vết đen trên mặt cậu không mờ đi chút nào. Bàn tay của Sư Tôn dường như mất linh rồi."
 
Tôi rất bối rối.
 
Tôi lại chạm vào mặt cậu bé. Lần này một vòng xoáy ánh sáng xuất hiện trong lòng bàn tay tôi. Bên trong vầng ánh sáng là một người phụ nữ nằm bên trong một quan tài. Má phải của bà chim trong nước, cuối cùng thì tôi đã hiểu ra.

Tôi giải thích cho họ: "Có chút vấn đề về phong thủy đối với ngôi mộ tổ tiên các vị, liên quan đến một vị tổ tiên nữ. Má phải của bà ấy bị chìm trong nước, đó là lý do khiến cho khuôn mặt của cháu bé bị màu đen."
Cặp vợ chồng nói: "Đó hẳn là mộ của bà nội cậu bé."
Họ làm theo chỉ dẫn của tôi và đã khai quật phần mộ của người bà lên. Khi họ mở quan tài ra, mọi người có mặt đều sửng sốt. Phía bên phải của quan tài bị ngập nước, phía mặt phải của người bà bị chìm trong nước và đã biến thành màu đen.

Cặp vợ chồng đã đem hỏa táng thi thể của bà nội và đem tro gửi vào nhà lưu giữ tro hỏa táng.
 
Sau khi thực hiện xong xuôi mọi việc, cặp vợ chồng đưa đứa bé đến gặp tôi lần nữa. Họ nói: "Lư Sư Tôn, ánh sáng từ lòng bàn tay ngài chỉ dẫn thật chính xác. Bây giờ thì chúng tôi nên làm gì?"

Tôi lại đưa tay vuốt khuôn mặt cậu bé như lúc trước. Điều kì lạ xảy ra ngay lúc này! Sau khi vuốt một cái, vết đen nhạt đi một chút, vuốt cái nữa, nó nhạt đi thêm chút nữa, vuốt vài cái, vết đen lại nhạt thêm.
 
Cuối cùng, khuôn mặt cậu bé đã hoàn toàn sáng đều.
 
Ôi trời ạ!
 
Gương mặt đen trắng như Phán quan đã hoàn toàn bình thường. Nhiều người biết sự việc này. Bàn tay pháp thuật của Lư Thắng Ngạn đã vuốt lên khuôn mặt nửa trắng nửa đen của cậu bé con và đã chữa lành cho cậu. 

Nhiều người đã đến gặp tôi và muốn tôi chạm vào mặt họ.
Những người có miệng méo và mắt xếch.
Những người mặt bị liệt dây thần kinh.
Những người có nhiều đốm đen trên mặt.
Những người có mắt to mắt nhỏ.
Những người có mũi nhỏ.
Những người có tai to rộng.
Những người có nhiều nốt ruồi.
Những người có nhiều nếp nhăn…

Tất cả họ đều muốn tôi chạm vào mặt họ, cứ như thể tôi là bác sĩ phẫu thuật thẩm mĩ vậy. 

Tôi muốn nói cho mọi người biết rằng: 
"Tôi đã 70 tuổi rồi. Tôi cũng có nhiều nếp nhăn và một vài nốt đen trên mặt tôi. Đây là những hiện tượng sinh học tự nhiên. Xin hãy lưu tâm và đừng tự huyễn tưởng nhiều quá. Sức mạnh của Phật pháp là vô biên, nhưng cũng không chữa được tất cả mọi bệnh tật.
 
Mỗi lần tôi sờ đầu thì lực gia trì là không thể nghĩ bàn. Nhưng điều này không có nghĩa là mỗi người trong số hàng trăm hàng nghìn người được sờ đầu đều có thể được chữa khỏi bệnh tật chỉ với một cái sờ đầu..."

(*) Sàng Mẫu: một vị nữ thần trong dân gian Đài Loan, giống như bà Mụ trong dân gian Việt Nam.

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/247-lien-sinh-phu.md
# Title: 247. Liên Sinh phù
---

![image](/img/img_a528a3685d764e67435b776e78b50ad4.jpg)



## Liên Sinh Phù


🪷 Những lá phù thần thánh

Văn tập: 247
Xuất bản: 05/2015
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu


Lời nói đầu của Liên Sinh Phù

Tôi đã có hai cuốn sách viết về phù lục:
Linh Tiên Phi Hồng Pháp.
Tiên Thiên Phù Bút.
Những phù lục này, một số có được từ “tiên thọ” [nhận từ chư thiên đưa xuống], một số đến từ “sư thọ” [học và nhận từ thầy], có một số lại là “tự tâm tuôn chảy”. 

Sau khi xuất bản sách đã dấy lên một sự chấn động lớn.
Người học vẽ phù rất nhiều, người sử dụng phù lục đi giúp đỡ người khác cũng rất nhiều, lại cũng có người dùng để tu học Phật.
Có rất nhiều người đến xin quán đảnh vẽ phù. Quán đảnh vẽ phù là sao? Đó chính là tôi lấy phù bút, dùng phù bút viết hai chữ “sắc lệnh” vào trong lòng bàn tay của người cầu pháp. 

Chúng đệ tử xếp thành hàng dài, chắc phải có đến nghìn người. Tôi ngước đầu lên nhìn. Không ngờ trong đám đông, già trẻ lớn bé đứng đầy, trong đó có ông lão tám mươi, bà lão bảy mươi, và rất nhiều trẻ em ba, bốn tuổi.
Tôi sửng sốt!
Tôi nói:
“Người già và trẻ nhỏ có thể vẽ phù không? Có biết vẽ phù không?”
Một vị Thượng sư đứng bên cạnh nói:
“Sư Tôn từ bi, để cho họ được kết duyên vậy!”
Tôi nói:
“Nghi quỹ vẽ phù phức tạp, người không hiểu không thể vẽ. Vẽ phù là kỹ thuật thiên nhân hợp nhất, người bình thường không phải muốn là có thể làm được!”
Vị Thượng sư đứng bên cạnh nói:
“Con sẽ dạy họ sau, xin Lư Sư Tôn từ bi!”

Lần đó.
Tôi ban quán đảnh trao năng lực vẽ phù cho toàn bộ một đám người già yếu và cả phụ nữ, em bé ba bốn tuổi, thậm chí cả một người đám người già tàn tật bước đi cũng không nổi, có người còn ngồi xe lăn.

Kết quả:
Đêm đó, Kim Đào Tôn Giả hạ giáng, sấm vang sét giật, thiên long bát bộ, ngũ bộ chính thần cùng giáng xuống.
Tôi kinh ngạc.
Kim Đào Tôn Giả giáo huấn tôi một trận:
“Từ bi biến thành tùy tiện!”
“Tùy tiện biến thành hạ lưu!”
Kim Đào Tôn Giả lại dạy rằng:
“Vẽ phù là sai khiến cả sấm sét lôi đình, cần phải là người có phẩm đức cao thượng mới có thể học tập vẽ phù. Bây giờ, ngài không phân rõ trắng đen đúng sai, quán đảnh vẽ phù cho tất cả mọi người, đáng bị tội gì?”
Tôi đổ mồ hôi ròng ròng.
Chao ôi! Tôi đã phạm vào luật trời rồi!
Tại đây tôi xin khuyên những người học vẽ phù cần phải đọc kĩ “tổng thuyết về phù lục” mà tôi viết, nhất nhất khắc ghi trong tâm, mới không phạm phải sai lầm.
Thanh tịnh họa đàn, giấy, bút, mực, nghiên, tất cả thanh tịnh.
Người vẽ bỏ rượu bia thuốc lá, tắm rửa sạch sẽ.
Khẩu thanh tịnh, thân thanh tịnh, ý thanh tịnh.
Dâng cúng phẩm.
Thỉnh thần.
Chính tâm thành ý.
Cầu nguyện rõ ràng.
Người trời hợp nhất.
Như vậy mới đặt bút xuống vẽ, cần chú ý “phù”, “chú”, “ấn”, “bộ”.
Chúc: Linh nghiệm!

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu
**17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Long khẩu hóa cốt phù


Có một lần.
Thượng sư Liên Ấn mời tôi và thị giả đi ăn cơm, địa điểm ở Dã Quán, Đài Trung.
Sư mẫu Thượng sư Liên Hương gọi một món cá hố. Con cá hố rất to, chặt thành khúc, đem chiên giòn, thơm phưng phức. Thịt tươi ngon nhưng xương cứng, xương cá rất nhọn. Khi tôi ăn cá, không cẩn thận đã nuốt cả miếng cá gồm thịt và xương.
Thế là có vấn đề rồi đây.
Xương cá kẹt ở trong cổ họng rất sâu, có vẻ như cắm chặt vào trong cổ họng của tôi, có hơi đau. Cứ nuốt là đau. Không nuốt cũng có cảm giác tưng tức, đó là một miếng xương nhọn lớn vừa phải.
Tôi thử:
Nuốt một miếng cơm trắng, hy vọng kéo theo xương cá vào trong bụng nhưng không hiệu quả, xương cá vẫn ở đó.
Ăn một miếng *mochi* [bánh nếp Nhật Bản] muốn dùng cái dẻo của *mochi *để dính xương cá vào bụng nhưng xương cá vẫn còn.
Lúc này tôi bắt đầu thấy căng rồi.
Tôi liền lấy một ly nước, vẽ “long khẩu hóa cốt phù” trên mặt nước, rồi uống.


<details>
<summary>Long khẩu hóa cốt phù</summary>


![image](/img/img_7ba843c878c835d36938cc0ea2d52fc3.png)

</details>


Tôi đợi mọi người ăn cơm xong, chúng tôi lái xe đi tìm phòng khám tai mũi họng. Bác sĩ kêu tôi mở to miệng ra rồi chụp X-quang.
Bác sĩ nói:
“Thấy xương cá cắm rất chặt ở trong cổ họng!”
Bác sĩ lại nói:
“Do xương ở sâu phía trong họng, cây kẹp của tôi không đủ dài nên không kẹp tới được, ông vẫn nên đến bệnh viện lớn thì tốt hơn!”
Thế là chúng tôi lái xe đến bệnh viện Trung Sơn. Trên đường đi, tôi cảm nhận được xương cá trong cổ họng đột nhiên nóng lên một cái, rồi không còn cảm giác đau nữa. Nhưng chúng tôi vẫn đi gặp bác sĩ.
Bác sĩ dùng ống camera điện nội soi, cắm từ lỗ mũi vào đến cổ họng rồi tìm xương cá thông qua máy tính.
Kết quả, không tìm thấy xương cá.
Lại chụp X-quang.
Vẫn không tìm thấy xương cá.
Xương cá biến đâu mất rồi?
Rõ ràng vốn là có xương cá cắm vào chỗ rất sâu ở cổ họng, trước đó bác sĩ khoa tai mũi họng cũng nhìn thấy, lại còn vẽ hình thù của xương cá thế này “J”.
Xương đã đi đâu rồi?
Cảm giác lúc đó của tôi là pháp phù đã tiêu hóa xương cá rồi.
Không thấy nữa! Tiêu hóa rồi! Tan biến rồi!
Chính là lúc trên đường lái xe đến bệnh viện Trung Sơn, cổ họng nóng lên một cái, xương đã bị tiêu hóa. Toàn bộ miếng xương cá hoàn toàn biến mất không thấy nữa. Mọi người đi cùng thở phào nhẹ nhõm.

Kỳ lạ! Hóa cốt phù hiệu nghiệm!
Chú ngữ:
“Oản hoá đông dương đại hải, yết hầu hoá vạn trượng thâm đàm, cửu long quy động, ngô phụng Liên Sinh Hoạt Phật luật lệnh.”
Phù vẽ trên nước.
Hà một hơi chân khí.
Lập tức hiệu nghiệm.


### 02. Liên Sinh phù và các phù thức khác


Trên thị trường có những sách phù khác, nhưng Liên Sinh phù và các phù thức khác đó không giống nhau, hơn nữa cũng không giống với những phù thức đã từng có trước đây.
Đây là bởi vì:
Trên thiên giới có một loại cây là cây phù. Trên tất cả các phiến lá đều vẽ hình dạng cách thức của phù.
Muôn phần kỳ quái
Phượng múa rồng bay.
Vừa cong vừa xoắn.
Vừa đứt vừa liền.
Có một vị tiên nhân quản lý cây phù tên là Kim Đào Tôn Giả. Ngài hái quả của cây phù cho tôi ăn. Ăn xong, tôi có thể tự tâm tuôn chảy ra các loại phù thức, hơn thế nữa, mỗi ngày mỗi biến hóa.
Đây chính là:
Nay có Liên Sinh phù.
Cứu độ chúng sinh linh.
Tất cả đều linh nghiệm.
Lợi chúng sinh hữu tình.
Vì thế, chỉ cần tôi thiền định nội quán là tự nhiên có thể vẽ ra vô lượng vô tận phù thức.
Đó chính là: Liên Sinh phù!
Những người muốn học Liên Sinh phù, cần phải đọc tâm yếu vẽ phù Chân Phật Mật Pháp trong cuốn “Tiên Thiên Phù Bút” để tránh có sai sót.

Từng có một lão nông dân, cột sống mọc gai xương, nằm trên giường kêu la thảm thiết nhiều ngày. Bác sĩ kiểm tra, yêu cầu ông mổ. Nhưng nếu mổ không thành công thì cũng có rủi ro là sau đó sẽ phải ngồi xe lăn. 
Lão nông dân cầu thỉnh tôi giúp. Tôi nói: 
“Tôi có thể vẽ phù giúp ông, nếu như thành công, ông cần niệm Chân Phật Kinh một nghìn biến.”
Lão nông dân hỏi: 
“Cần bao nhiêu tiền?”
Tôi đáp: 
“Không cần!”
Lão nông dân cảm kích rơi lệ.
Lão nông dân nói: 
“Muốn mổ cần phải có một khoản chi phí lớn, khỏi hay không thì chưa biết, còn Liên Sinh phù của Lư Sư Tôn không cần tới tiền. Tôi thực sự quá cảm kích! Chỉ bảo tôi niệm mỗi Chân Phật Kinh.”


<details>
<summary>Gai xương phù</summary>


![image](/img/img_b34f0d2db9040b485a0c287a26a06a5f.png)

</details>


Chú ngữ:
Chân long hạ giáng, yêu phệ thảo long.
Thảo long tự khứ, toàn thân khai hoành.
Cấp cấp như Liên Sinh Hoạt Phật luật lệnh.

Uống một tấm phù, qua một đêm, tự ra khỏi giường được. Đến bệnh viện lớn kiểm tra, kết quả là: Gai xương to đã biến mất!
Lão nông dân liền niệm Chân Phật Kinh một nghìn lần. Những người trong thôn nghe nói chuyện này, toàn bộ đều quy Chân Phật Tông.
Xương gai của phù trước là: xương cá.
Xương gai của phù này là: tự xương cơ thể mọc ra xương.

Tôi thường xuyên khuyên người khác:
“Có bệnh cần đi khám bác sĩ trước. Nếu như chữa trị không khỏi mới đến tìm Lư Sư Tôn - Phù Tử Tiên này!”


### 03. Tổng phù khoa thần kinh


Tôi luôn cho rằng nguồn gốc của phù lục là từ thời cổ đại, khi Phục Hy vẽ Bát quái. Bát quái này chính là phù hiệu, tượng trưng cho sự biến hóa liên tục không ngừng của vạn vật tự nhiên trong trời đất.
Bát quái tức là: 
Thiên - Địa - Lôi - Phong - Trạch - Thủy - Hỏa - Sơn.
Trong đó có dương có âm, từ đó âm dương sinh vạn vật.
Những vị nghiên cứu thời cổ đại có: Bát Quái Tổ Sư, Phục Hy, Chu Văn Vương, Chu Công, Khổng Tử, Vân Mộng Sơn Quỷ Cốc Tiên Sư… Sau này thậm chí còn có học thuyết: “Lấy côn trùng làm dấu mà ghép lại thành phù, lấy âm thanh cầm thú để gom tụ lại thành chú ngữ.”
Trong đó:
Có hợp có khắc.
Có cát có hung. 
Âm dương Bát quái chuyển hóa thành sự vật hình dạng, thì trở thành Phật và ma, thần và quỷ.
Hôm nay, trạng thái đầu óc tinh thần của rất nhiều người vẫn nằm trong phạm vi trạng thái bình thường, chúng ta gọi là “người bình thường”. Nhưng cũng có trạng thái đầu óc tinh thần của rất nhiều người khác nằm ngoài phạm vi bình thường, chúng ta gọi là “bệnh tâm thần”. Phạm vi của “bệnh tâm thần” này rất lớn, rất rộng. Có một số bệnh chữa khỏi được, có một số không chữa khỏi được.

Về phương diện Liên Sinh phù, có phù để trị “tẩu hỏa nhập ma” và “phạm âm” (phạm quỷ). Cũng chính là ma quỷ nhập vào trong người, dân gian thường nói là bị ma nhập - quỷ nhập, hay là bị chiếm thân (đoạt xá).
Nếu mọi người từng xem bộ phim “Đại pháp sư” hoặc bộ phim “Người khử ma” [Người trục quỷ - The Excorcist - 1973] thì có thể thấy trên đời này thực sự có chuyện như vậy, chỉ là bệnh tình nhẹ hay nặng mà thôi.

Tổng phù khoa thần kinh này như sau:


<details>
<summary>Tổng phù khoa thần kinh</summary>


![image](/img/img_f8170a9f25c810f71d4c7b684cbca95f.png)

</details>


Thông thường những người trục quỷ trừ ma của Thiên Chúa giáo sẽ dùng nước thánh, dùng thập tự giá, dùng kinh thánh, dùng niệm kinh văn để đuổi ma quỷ.
Còn tôi thì đầu tiên sẽ hóa phù, cho người bệnh uống phù này rồi niệm chú ngữ. Người bệnh sẽ bình tĩnh trở lại rồi ngủ say, khi tỉnh lại thì đã trở thành “người bình thường”.
Tôi dùng pháp này đã cứu được hàng nghìn hàng vạn người.
Tuy nhiên có một số ma quỷ rất hung hãn. Lúc đó tay tôi kết ngũ lôi ấn, thỉnh Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thanh Phổ Hóa Thiên Tôn hoặc Bắc Phương Đãng Ma Thiên Tôn Huyền Thiên Thượng Đế, rồi tung ra ngũ lôi ấn! Những người bị bệnh thần kinh (bệnh quỷ thần) này ngay sau đó liền gục xuống đất không dậy nữa. Đợi khi tỉnh lại thì đã bình thường rồi.

Liên Sinh phù chữa bệnh thần kinh như sau:


<details>
<summary>Liên Sinh phù chữa bệnh thần kinh</summary>


![image](/img/img_e5494c7666fcf755e0a58ee3161081b5.png)

</details>


Chú ngữ:
“Thành tâm thỉnh Liên Sinh, ngũ phương thần cùng bảo vệ, đệ tử ... (tên người đọc chú) nguyện xin nhận sự gia hộ. Thiên ma ác quỷ cản khoái ly, khẩn khẩn thoái, khẩn khẩn hảo, mạc lưu cửu bệnh thọ phiền não, tiêu tai giải ách tận khoái hảo. Cấp cấp như luật lệnh.”


### 04. Liên Sinh Hoạt Phật hộ thân phù


Nhà văn nổi tiếng - cư sĩ Phùng Phùng từng xin phù của tôi. Đó là do Lại Văn Ngạn (Thượng sư Liên Cao) giới thiệu, trong đó có một tấm phù chính là Liên Sinh Hoạt Phật hộ thân phù.

Cư sĩ Phùng Phùng kể:
Có một lần ông về nhà lúc nửa đêm, đi ngang qua một rừng thông tĩnh mịch tối đen, đột nhiên Phùng Phùng nhìn thấy xung quanh có du quỷ dã quỷ tiến gần chỗ ông.
Lúc này con quỷ đứng sát người ông kêu: 
“Trên người ông ta có ánh sáng!”
Một con quỷ khác kêu: 
“Có hộ thân phù!”
Quỷ lại nói: 
“Là Liên Sinh Hoạt Phật hộ thân phù.”
Thế là du quỷ dã quỷ ba chân bốn cẳng bỏ chạy. Chỉ một lúc sau, toàn bộ đã bỏ chạy hết. 

Tôi nghe xong cười ha ha ha! Tấm hộ thân phù này của tôi có rất nhiều truyền thuyết linh nghiệm. Từng có một đệ tử đeo hộ thân phù bằng đồng gặp băng cướp xã hội đen. Chúng móc súng ra bắn vào ngực của đệ tử tôi. 
“Pằng” một tiếng, bắn trúng ngay ngực của người đệ tử.
Kết quả:
Toàn thân đệ tử không bị tổn hại dù chỉ một cọng tóc. Điều trùng hợp chính là viên đạn bắn trúng vào miếng đồng hộ thân trước ngực của đệ tử. Miếng đồng hộ thân bị lõm vào, thực sự đã cứu được mạng của đệ tử!
Còn nữa:
Có đệ tử đeo Liên Sinh Hoạt Phật hộ thân phù đi vào nhà của một thầy tướng số. Thầy tướng số hôm đó xem tướng số hoàn toàn mất linh. Thầy tướng số là người nuôi nhĩ báo đồng tử (nuôi tiểu quỷ).

Sau đó:
Thầy tướng số hỏi nhĩ báo đồng tử: 
“Tại sao không linh?”
Nhĩ báo đồng tử đáp: 
“Lư Sư Tôn đến, cho nên chúng tôi chạy đi chỗ khác!”
“Bản thân Lư Sư Tôn đâu có đến chứ!”
Nhĩ báo đồng tử đáp: 
“Bản thân Lư Sư Tôn chưa đến, nhưng thẻ hộ thân đến, ánh sáng chiếu khắp phòng, chúng tôi đành phải bỏ chạy.”

Liên Sinh Hoạt Phật hộ thân phù như sau:


<details>
<summary>Liên Sinh Hoạt Phật hộ thân phù</summary>


![image](/img/img_7a7d97eb2fe56bc7e9cbdd61a6b36185.png)

</details>


Chú ngữ:
“Liên Sinh Hoạt Phật bản tính Lư, thủ nã bảo kiếm trảm yêu ma. Đệ tử kim nhật thành phụng thỉnh, si mị võng lượng tẩu mang mang. Liên Sinh Hoạt Phật bản tính Lư, thủ nã cương đao tứ phương du, Đệ tử kim nhật thành phụng thỉnh, yêu ma quỷ quái toàn đào độn. Liên Sinh Hoạt Phật bản tính Lư, thủ nã ma tuyến kiêm thiết toả. Đệ tử kim nhật thành phụng thỉnh, nhất thiết tinh mị toàn khổn bang. Liên Sinh Hoạt Phật cấp cấp như luật lệnh.”

Tôi nói với mọi người:
Phù này có thể in với số lượng lớn, in trên giấy vàng hoặc in trên miếng đồng đeo trên người. Phù phải do Liên Sinh Hoạt Phật Lư Sư Tôn đích thân gia trì mới được.
Hoặc:
Do Thượng sư, pháp sư, cư sĩ của Chân Phật Tông gia trì, nhưng nhất định phải là người có tu hành. Phàm phu không gia trì được.
Với bất cứ phù nào thì việc gia trì là quan trọng hàng đầu. Có gia trì rồi, cũng tức là thần binh thần tướng đã “bố quang” ở trên tấm phù đó. Nếu như không có “bố quang” thì phù cũng chỉ giống như giấy trắng mà thôi.
Nhớ kĩ! Nhớ kĩ!
Gia trì “bố quang” quan trọng số một.


### 05. Liên Sinh Hoạt Phật thỉnh thần phù


Trong văn chương “Hiên Viên Bổn Ký” có nhắc đến vua Hoàng Đế, một mặt bình loạn trị quốc, một mặt cũng luyện đan tu đạo. Sau này tới khi công đức viên mãn, ngài đã thăng lên trời tại Đỉnh Hồ.
Ngoài ra:
Vua Hoàng Đế khi đi tuần về phía Đông, gặp được Tử Phủ tiên sinh. Tử Phủ tiên sinh trao “Tam Hoàng Nội Văn” cho vua Hoàng Đế, có thể triệu thỉnh vạn thần. “Tam Hoàng Nội Văn” tức là thần phù.
Trong “Đạo Giáo Bản Thủy Bộ” có viết:
*Phục Hy thọ nhận Đồ.
Hiên Viên thọ nhận Phù.
Cao Tân thọ nhận Thiên kinh.
Hạ Vũ thọ nhận Lạc thư.*
(Về việc Hiên Viên thọ nhận phù, có truyền thuyết nói rằng, khi vua Hoàng Đế đại chiến với Si Vưu, Tây Vương Mẫu - Diêu Trì Kim Mẫu đã lấy phù tặng cho vua Hoàng Đế.)
Diêu Trì Kim Mẫu đã gửi Cửu Thiên Huyền Nữ hạ giáng ban cho vua Hoàng Đế “Triệu thỉnh phù”. Hoàng Đế lập tức lên đàn thành triệu thỉnh, lấy được “Huyền ngư hàm phù” rút ra từ trong nước. Đó là sự việc Hoàng Đế bắt đầu được phù.

Ngoài ra:
Đại Vũ trong thời cổ đại nhờ việc trị thủy mà nổi danh. Lạc thư mà ngài có được cũng là phù hiệu. Đại Vũ là nửa người nửa thần.
Thiên Đế lúc bấy giờ cũng đem Lạc thư truyền cho Đại Vũ. Đại Vũ dùng Lạc thư trong tế đàn, có thể trì chú triệu thần. Nhờ vậy ngài đã trị được nước lũ. Lạc thư là lục văn phù hiệu rất quái dị.
Độc giả nếu như thường xuyên đọc sách của tôi, chắc chắn sẽ biết:
Đông Hoa Đại Đế.
Diêu Trì Kim Mẫu.
Liên Hoa Đồng Tử.
Ba vị này vốn dĩ không thể tách rời. Mà Liên Hoa Đồng Tử tức là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.

Còn nữa:
Con gái của Diêu Trì Kim Mẫu-Vân Hoa phu nhân, chính là phu nhân của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.
Vì vậy:
Việc Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn được Diêu Trì Kim Mẫu mở thiên nhãn không có gì kỳ lạ cả. Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn có Thỉnh thần phù (Triệu thần phù) cũng là chuyện đương nhiên. 

Triệu thần phù:


<details>
<summary>Triệu thần phù</summary>


![image](/img/img_40a28e688032da847a3b2d4883c1ee2b.png)

</details>


Chú ngữ:
“Lôi đình hiệu lệnh, cấp như tinh hỏa, khoảnh khắc dao văn, Liên Sinh sắc lệnh, phần phù triệu thỉnh, linh quan truyền tấu, trị niên trị nguyệt trị nhật, thiên cung công tào thông linh thổ địa, văn triệu tức chí, hỏa tốc đáo đàn, thính ngô pháp chỉ, hữu sự sai khiển. Cấp cấp như luật lệnh.”

Phù này có một điểm quan trọng:
Chân phải bước vũ bộ.
Đốt phù trước, rồi trì chú, sau đó bước vũ bộ.
Cuối cùng chư thần từng vị một giáng xuống, người chủ sự nói rõ với chư thần việc muốn làm và thỉnh cầu chư thần đi giúp đỡ hoàn thành việc đó.

Đặc biệt phải chú ý:
Phù này không phải tầm thường, do vậy không được khinh xuất, không được đùa giỡn, không được xem là trò chơi. Những linh phù trị bệnh thông thường vốn đã không thể tùy tiện rồi, “Thỉnh thần phù” lại càng cần phải trang trọng.
Việc rất lớn mới được triệu thỉnh.
Nếu tùy tiện triệu thỉnh thần sẽ bị trời trách phạt!


### 06. Phát tài phù


Ngày trước tôi đi ngang các cửa hàng, nhìn thấy trước cửa rất nhiều cửa hàng đều dán một tấm phù. Phù này là bản in, giấy màu đỏ, chữ màu đen, vô cùng ngay ngắn. Chữ là “nhật nhật kiến tài” [ngày ngày thấy tiền].


<details>
<summary>Phát tài phù thức thông thường</summary>


![image](/img/img_a3355198bbbb0fe96d6e84350fabe04e.png)

</details>


Phù này vừa nhìn vào là thấy ngay bốn chữ nhật, nhật, kiến, tài đem tổ hợp lại thành một chữ, vừa là chữ, cũng là phù. Nhưng mọi người phải biết là phù được in ấn cũng giống như dùng đĩa hát niệm Phật vậy. Có phù mà không có tâm, có tiếng mà không có tâm. Loại phù in ấn chế phẩm này không có bất cứ hiệu lực nào, trừ phi mời đại pháp sư đến dùng pháp lực gia trì thì loại phù được in ấn này mới có hiệu lực.

Về việc vẽ phù, có câu rất hay:
“Nếu biết vẽ phù giỏi, sẽ khiến quỷ thần sợ. Chẳng biết vẽ phù hay, sẽ khiến quỷ thần cười.”

Vẽ phù nằm ở sự nhất tâm.
Tâm của thần linh.
Tâm của người vẽ phù.
Tâm của người xin phù.
(Ba tâm này hợp làm một tâm thì phù mới linh nghiệm.)

Có một đệ tử nói: “Thỉnh Lư Sư Tôn vẽ một tấm phù, con mang đi in, sau đó thỉnh Lư Sư Tôn gia trì rồi phân phát cho hàng xóm láng giềng.”
Tôi nói: “Hàng xóm láng giềng nếu như không có tâm thỉnh phù mà cố tặng phù cho họ thì phù này không có công hiệu đâu.”

Vì vậy:
Người xin phù.
Người vẽ phù.
Thông linh với thần linh.
Đều là các yếu tố tạo nên sự linh nghiệm, thiếu một thứ cũng không được.

Cái gọi là thông linh với thần linh cũng có nghĩa là thần linh mà người vẽ phù thỉnh đến có giáng xuống bố quang hay không?
Có thì mới được, không có thì không linh nghiệm, chỉ vậy thôi!

Tôi có một tấm phù:


<details>
<summary>LIên Sinh phát tài phù</summary>


![image](/img/img_b0e59b2992a51239988189c808012344.png)

</details>


Chú ngữ: 
“Bái thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật, Đại Phúc Kim Cang đại vô tỉ, uy linh hiển thập phương, chủ tể nhân gian tăng phúc sự. Vận lai Đông Nam Tây Bắc, nhất thiết tài. 
Nhật nhật tài, nguyệt nguyệt tài, niên niên tài, ngũ lộ ngũ phương tài. Hữu tài lai, vô tài khứ. Cấp cấp như luật lệnh.”

Khi đốt giấy vàng có thể cho phù vào cùng đốt, hoặc đeo phù trên người cũng được.

Tấm phù này vô cùng bí mật. Bình thường tôi không tùy tiện cho tặng bởi vì cần phải quan sát người xin phù.
Đó phải là người tốt.
Có thiện quang.
Có thiên phúc.
Có tài lộc.

Do vì gặp một người lúc khốn đốn, tôi mới lấy phù mở kho báu của trời, ban phúc cho người đó.
*Liên Sinh ban tài đến.
Người tốt tăng sắc quang.
Hành thiện kèm bố thí.
Phật pháp ở trong tâm.*


### 07. Xuất môn bình an phù


Liên Sinh phù mà tôi vẽ, thực tế phân tách kĩ lưỡng ra sẽ có năm bộ phận, cũng tức là do năm điểm hợp thành:
Đầu phù.
Thần phù.
Bụng phù.
Ruột phù.
Đuôi phù.

Tôi giải thích như sau:
Ba điểm đầu phù: nhật, nguyệt, tinh. (thiên-địa-nhân)
Thần phù: Liên Sinh Hoạt Phật.
Bụng phù: Dùng vào việc gì, tác dụng gì.
Ruột phù: Linh của phù
Chân phù: Thần binh thần tướng.

Tôi đặc biệt giải thích, thần phù này dùng Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh, ý nghĩa của nó rất rộng lớn. Hai chữ Liên Sinh tương ứng với chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, chư Thiên, đồng nghĩa là thỉnh mời khắp tất cả.
Lại nữa:
Liên Sinh tôi là hợp lực gia trì của Diêu Trì Kim Mẫu, A Di Đà Phật và Địa Tạng Vương Bồ Tát, cũng tượng trưng cho sức mạnh của ba Bổn tôn là Tiên Vương, Phật Vương, Địa Vương.
Còn Hộ pháp Đại Uy Đức Kim Cang là Heruka, tất cả quỷ thần đều phải nghe lệnh. Tất cả chính là một, một chính là tất cả.
Vì vậy hai chữ Liên Sinh chính là cách gọi chung của thần phù.

Tôi thuật lại một chuyện như sau:
Có hộp đêm bị cháy, cửa thoát hiểm khẩn cấp lại bị khóa. Vốn dĩ không cách nào thoát hiểm, rất nhiều người bị chết trong đám cháy. Trong đó có một người bị người khác xô đẩy, cuối cùng lại từ cửa một phòng thay đồ có lửa cháy yếu hơn mà chạy được ra ngoài. Người này là đệ tử của tôi, trên người đeo phù Xuất môn bình an.
Một đám cháy lớn.
Một người thoát được.
Người này đeo Liên Sinh Hoạt Phật xuất môn bình an phù.
Phù này bảo hộ:
Đi tàu xe bình an, máy bay bình an, rời nhà bình an, đến chỗ hiểm bình an, leo núi bình an, xuống nước bình an, ra công trường bình an, lái xe bình an.

Phù thức như sau:


<details>
<summary>Xuất môn bình an phù</summary>


![image](/img/img_c58823787b173e6b27a8ec3666a34f45.png)

</details>


Chú ngữ:
“Nhật cát tường, dạ cát tường, nhất nhật lục thời hằng cát tường, nhất thiết cát dạng trung chi giả.  Kì thượng sư gia trì, Bổn tôn nhiếp thụ, Hộ pháp ủng đái. Cấp cấp như Liên Sinh Hoạt Phật luật lệnh.”

Liên Sinh Phù này có điểm đặc biệt, do những phù này là khi tôi nội quán sẽ từ tự tâm tuôn chảy. Phù từ trước đến nay chưa từng có, rất hiếm khi nhìn thấy.
Đây là Liên Sinh Hoạt Phật thương xót chúng sinh, từ bi với chúng sinh thiên hạ, bảo hộ thiên hạ quần sinh, mong rằng người người xuất môn bình an, có thể đi ra khỏi nhà một cách vui vẻ, về nhà một cách vui vẻ.
Bình an quan trọng nhất. 
Đeo phù này thì tâm an. Tâm an cũng tức là bình an.
Phật thuyết: Vô thường vô thường!
Còn chúng ta sống thì phải: Tâm an. Bình an.


### 08. Thanh tịnh phù


Muốn vẽ Liên Sinh phù nhất định phải giữ giới luật. Không giữ giới luật cũng chính là làm bừa, không có thành tâm thành ý. Không giữ giới luật, tâm có tà niệm, tư tưởng hỗn loạn, thân không sạch sẽ, thì vẽ phù chắc chắn vô hiệu!

Giới thứ nhất: 
Không được có tâm niệm bất chính: Muốn lừa tiền lừa sắc.

Giới thứ hai: 
Không được có tay miệng ô uế: Không rửa tay, không tắm rửa, không đánh răng. Tay hôi, thân hôi, miệng hôi, người sợ, thần cũng sợ.

Giới thứ ba: 
Không để giấy mực bất tịnh: Giấy vẽ, bút vẽ, mực nước, nghiên mực, mặt bàn, phải tăng cường giữ gọn gàng sạch sẽ.

Giới thứ tư: 
Phải nhất tâm thỉnh thần: Phải biết quán tưởng hình tướng của chư Phật. Phù Liên Sinh phải quán tưởng hình tướng của Liên Hoa Đồng Tử, trang nghiêm thần thánh.

Giới thứ năm: 
Không được nhìn trái nhìn phải: Nếu vẽ một hai đường lại dừng lại, vẽ một nửa lại nghỉ ngơi thì đều không được. Phải vẽ một mạch là thành.

Ngoài ra còn một số cấm kị: Kị thai phụ, kị chó mèo, kị quấy nhiễu, kị phù chú không hợp, kị ô uế không sạch sẽ.

Trên đây là giới luật của vẽ phù, đây là điều tôi đã nhắc nhở đi nhắc nhở lại, cần phải ghi nhớ!


<details>
<summary>Thanh tịnh phù thứ nhất</summary>


![image](/img/img_a42a0f5f245d48b9ab593493745b9a23.png)


</details>


Chú ngữ:
“Nam-mô sa-man-tô mô-thô-nam wa-zư-la ta-mô sê. Phụng Liên Sinh. Cấp cấp như luật lệnh.”

Nếu như gia trạch không thanh tịnh, có thể dùng phù thanh tịnh để thanh tịnh trước. Nếu như thân tâm không thanh tịnh, cũng có thể dùng phù thanh tịnh để thanh tịnh. 
Trong nhà có âm hồn, dùng phù thanh tịnh. Thân tâm vướng âm, dùng thanh tịnh phù.

Tác dụng của hai tấm phù này rất quảng đại, gia trạch đều có thể dùng, thân người cũng có thể dùng.
Đem đốt pha vào nước, tưới khắp gia trạch, hoặc uống vào trong người. 
Phù không chỉ có thể thanh tịnh. Người có phù lực lớn cũng có thể dùng để khử tà đuổi quỷ, thanh tịnh tất cả vật phẩm.


<details>
<summary>Thanh tịnh phù thứ hai</summary>


![image](/img/img_eb7fba960aaf7dc7f02c64ad064d96fa.png)

</details>


Chú ngữ:
“Nhất sái thiên nhất thủy, thiên thanh địa linh. Nhị sái thiên nhất thủy, gia trạch thanh minh. Tam sái thiên nhất thủy, thân tâm giai ninh. Phụng Liên Sinh Hoạt Phật. Cấp cấp như luật lệnh.”


### 09. Đột quỵ phù


Tôi thường nghe nói:
Có người lái xe máy, đi được nửa đường, đột nhiên người lái ngã từ trên xe xuống. Vậy mà chết luôn!
Có người đang họp, họp được nửa buổi, có chút mệt mỏi gục xuống mặt bàn. Vậy mà chết luôn!
Có người đang ngủ, ngủ đến nửa giấc, chết luôn!
Đệ tử của tôi là bác sĩ Phùng Cẩm Lương, nửa đêm phẫu thuật khẩn cấp cho bệnh nhân, khi phẫu thuật kết thúc, về đến nhà thì bị hôn mê dưới đất, sau đó bị đột quỵ.
Theo như tôi biết, đột quỵ có rất nhiều loại, chủ yếu là đột quỵ não hoặc tắc nghẽn cơ tim. Não là bộ phận quan trọng, tim là bộ phận quan trọng. Hai bộ phận này bị tắc nghẽn hoặc nứt ra đều dẫn đến đột quỵ. Còn có rất nhiều nguyên nhân khác.

Vừa đột quỵ phải lập tức đưa đến bệnh viện ngay, bởi vì cứu chữa đột quỵ chỉ trong vòng tám giờ vàng. Huyết quản bị tắc nghẽn hoặc huyết quản bị vỡ nứt cũng đều là đột quỵ.

Dạo này thời tiết nóng lạnh phức tạp, lạnh thì co rút, nóng thì trương phình, người bị đột quỵ rất nhiều.
Có đệ tử bị đột quỵ, lúc được chăm sóc từng xin Đột quỵ phù, kết quả là khỏi rất nhanh. Phù mà anh uống là phù Đột quỵ như sau:


<details>
<summary>Đột quỵ phù cũ</summary>


![image](/img/img_838f07d0877783dfce1c806e23fdbb55.png)

</details>


Chú ngữ:
“Thượng Thanh sắc lệnh, Thái Thanh sắc lệnh, Ngọc Thanh sắc lệnh. Nhất thiết trở ngại toàn bộ thanh. Nhất chính phá vạn tà, thần chí thanh thanh thanh. Cấp cấp như luật lệnh.”

Trước là phù thức cũ. Còn phù mới - Liên Sinh phù như sau:


<details>
<summary>Đột quỵ phù mới</summary>


![image](/img/img_ae879e86ca01c4bd095f7a8a60988280.png)

</details>


Phù thức cũ chỉ chữa đột quỵ não. Phù thức mới có chữa thêm tắc nghẽn cơ tim và đột quỵ não. Lớp ngoài là não, lớp trong là tim. Chú ngữ cũng khác nhau, chú là:
“Phụng thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh, nguyên thủy an trấn, tảo đãng bất tường, nhất thiết trở tắc, nội ngoại túc thanh, các an phương vị, bị thủ đàn tràng, thượng não hạ tim, hồi hướng chính thường. Cấp cấp như luật lệnh.”

Người mới bị đột quỵ sẽ hồi phục nhanh nhất. Còn người bị đột quỵ lâu rồi cũng sẽ dần dần khỏe lại.

Hiện nay không phải chỉ có mỗi người già mới đột quỵ. Ngay cả thanh niên vẫn bị đột quỵ. Thậm chí mắt cũng bị trúng phong! Có rất nhiều người dây thần kinh ở mặt cũng bị trúng phong, miệng lệch mắt xếch, uống đột quỵ phù vào thì khỏi ngay!

Loại phù này dùng để uống, không phải dùng để dán, cũng không phải đeo trên người.

Còn trong trường hợp nhịp tim đập không đều, khi rất hồi hộp:
Dùng tay phải vẽ vào lòng bàn tay trái. (Tay phải bắt kiếm ấn hoặc kim cang ấn rồi vẽ.)
Niệm chú ba tiếng “Hum. Hum. Hum”.
Tay trái đập vào chỗ tim bùm bùm, ấn hướng vào tim. Tim sẽ lập tức bình thường.
Tôi dùng cách này chữa cho rất nhiều người bị nhịp tim không đều.


### 10. Phù trong lòng bàn tay


Phần trước tôi đã nhắc đến vẽ phù trong lòng bàn tay, đó là vì sự việc xảy ra nhanh chóng quá, vốn dĩ không kịp chuẩn bị công cụ. Luôn có một số sự việc đột ngột xảy ra mà không thể chuẩn bị từ trước. Thế là bó tay, không còn cách nào nữa!
Phải làm sao đây?
Là đại pháp sư thực sự thì vẫn có cách.
Dùng ngón tay của tay phải vẽ vào lòng bàn tay của tay trái.
Hà một hơi chân khí Ah.
Ấn vào.
Ví dụ:
Nửa đường gặp ma. 
Tay phải vẽ phù vào lòng bàn tay trái. 
Dùng kiếm chỉ hoặc kim cang chỉ vẽ: 
Phù này là Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh ngũ lôi phù.


<details>
<summary>Liên Sinh Hoạt Phật sắc lệnh ngũ lôi phù</summary>


![image](/img/img_fd41ff6fe1406ce93d536ba263d8a5d2.png)

</details>


Chú ngữ:
“Đông khởi Thái Sơn lôi, Nam khởi Hoành Sơn lôi, Tây khởi Hoa Sơn lôi, Bắc khởi Hằng Sơn lôi, Trung khởi Tung sơn lôi, ngũ lôi tốc phát. Om. Hum. Hum.”

Nếu không kịp niệm chú dài, thì niệm chú: “Hum. Hum. Hum. Hum. Hum.”  Niệm năm chữ “Hum” cũng được.
Nếu vẽ phù cũng không kịp, cần vẽ nhiều nét như vậy thì phải làm sao? Thì vẽ một chữ đẩu cũng được, hình như sau:


<details>
<summary>Chữ đẩu</summary>


![image](/img/img_c6d910a6cc72d3d9565680f1753699ce.png)

</details>


Chữ Đẩu này chính là “quang minh”. Hà một hơi chân khí Ah. Lòng bàn tay trái ấn về phía ma quỷ, miệng đọc: “Hum. Hum. Hum. Hum. Hum”. Ma quỷ vẫn kinh sợ mà bỏ chạy! Những ma quỷ này gặp phải đại pháp sư thực sự, vừa nhìn thấy đại pháp sư tĩnh khí ngưng thần, tay phải vẽ lên tay trái, mở lòng bàn tay ra niệm chú, trong lòng bàn tay xuất hiện đại quang minh, thì liền bỏ chạy mất hút.
Tôi nói cho mọi người biết. Chữ Đẩu bên cạnh là tinh tú, chữ Đẩu là quang minh, chữ Đẩu là thần tướng, chữ Đẩu là đại lực, chữ Đẩu là chư tiên. 
Tôi lại nói cho mọi người biết một chữ Thượng (ở phía dưới):


<details>
<summary>Chữ thượng</summary>


![image](/img/img_14aae2f7b5b01663d2217f6cc0b5efb5.png)

</details>


Trong chữ Thượng đại diện: Ba chấm là Tam Thanh, tức Thái Thanh, Thượng Thanh, Ngọc Thanh. Khẩu chính giữa chính là sắc lệnh, luật lệnh, mệnh lệnh.

Chữ Thượng này không phải tầm thường, là phù chữ mà trước đây tôi từng nói. Những thứ trên tôi đã từng giới thiệu qua rồi. Những điều này đều là sự vi diệu được tạo ra của tự nhiên, vượt ra ngoài sự hiểu biết tính toán của con người, lại cũng có ý nghĩa tình lý của hình tượng cụ thể. Muốn biết vẽ phù thật ra cũng không đơn giản.


### 11. Vẽ trong hư không


Khi dùng pháp kết giới của Mật giáo, tôi thường dùng “cửu tự chân ngôn” làm kết giới. 
Cách này là vẽ trong hư không. Vẽ phù trong hư không, dùng cho kết giới. 
Kết giới là gì?
Bức tường kim cang.
Nền móng kim cang.
Lưới võng kim cang.
Nhà lửa kim cang.

Lấy một ví dụ: Giả định có một tòa nhà tụ tập cả đám ác quỷ ở bên trong, chúng ta sẽ dùng pháp thanh tịnh để thanh tịnh trước, sau đó làm kết giới.  

Bốn mặt là tường kim cang:


<details>
<summary>Tường kim cang</summary>


![image](/img/img_9c54715e082887637a047edc503043c6.png)

</details>


Vừa niệm chú ngữ “Lâm binh đấu giả giai trận liệt tại tiền”, vừa vẽ bốn bức tường trong hư không, tổng cộng bốn mặt thành tường kim cang. Hướng về bốn hướng Đông, Nam, Tây, Bắc để vẽ. 

Sau đó hướng xuống đất vẽ nền móng kim cang:


<details>
<summary>Nền móng kim cang</summary>


![image](/img/img_52ebc44e8a1cb7e73aacb99365757bbb.png)

</details>


Chú ngữ là: “Ah! Ah! Ah! Ah! Ah!”

Tiếp đến, hướng về hư không vẽ lưới võng kim cang. Lưới võng kim cang giống như một tấm lưới từ trong hư không chụp xuống dưới:


<details>
<summary>Lưới võng kim cang</summary>


![image](/img/img_c1cfabad640d6c75730042f0acc852fb.png)

</details>


Chú ngữ: “Khang Khang Khang Khang Khang.” Hư không sẽ có lưới võng kim cang chụp xuống. 

Rồi lại vẽ nhà lửa kim cang.


<details>
<summary>Lửa kim cang</summary>


![image](/img/img_86355fa316a7c72de6b1406d010abf36.png)

</details>


Cũng tức là ở dưới mặt đất của bức tường kim cang, bay lên ngọn lửa kim cang. Chỉ ở trong nền đất của bức tường kim cang, móc thành bốn chữ “V” tức là thắp cháy lửa kim cang, trở thành nhà lửa kim cang.
Chú ngữ là: “Yang Yang Yang Yang Yang.”


<details>
<summary>Nhà lửa kim cang</summary>


![image](/img/img_8b5c5c1d4a23be7d6c6062af00084cb1.png)

</details>


Cũng chính là hình tượng căn nhà: (Mái nhà là lưới võng kim cang, tường là bức tường kim cang, đất là nền móng kim cang, không gian bên trong có nhà lửa kim cang.) Căn nhà như vậy một khi được kết giới, hung thần ác quỷ, quỷ  ma tinh linh đều không dám vào nhà này.

Trên cơ thể người cũng có thể kết giới như thế. Xem thân thể người là căn nhà, tự mình sẽ có thể không cho ngoại linh xâm nhập và chiếm nhà nữa, đây là đại pháp phòng ma.


### 12. Cách dùng Liên Sinh phù


Theo cách sử dụng phù pháp, kì thực có rất nhiều cách dùng. Có cách dùng để đốt, có cách dùng để đeo trên người, có cách dùng để dán, có cách dùng để tắm rửa.
Đốt: Chính là dùng để chữa bệnh. Dựa theo bệnh tình bệnh lý, vẽ ra tấm phù đối trị bệnh. Sau khi đốt sẽ uống.
Có thể dùng lửa đốt trực tiếp, đốt từ đuôi phù (đốt từ dưới lên). Pha nước để uống. (Có một số bệnh nhân từ chối uống phù thì có thể lấy tro phù đem lọc bỏ đi, nước cho vào canh, trà, thức uống.)
Đeo trên người: Chính là phù dùng để hộ thân, bảo vệ thân. Đem tấm phù gấp thành hình bát quái, sau đó dùng túi vải đỏ để đựng, bỏ vào trong túi áo túi quần hoặc là trong ví da. Nếu như phù chế bằng đồng hoặc kim loại, có thể dùng dây chuyền đeo trước ngực của mình. (Khi tắm có thể cởi ra, sau đó đeo lại là được. Đi vệ sinh cũng vậy. Nếu lỡ quên cũng không sao cả, không cần lo lắng.)
Dán: Trực tiếp lấy phù dán ở trên cửa, cửa sổ, cột nhà, trên đàn thành, trên đầu giường hoặc phòng khách, nhà bếp, phòng ngủ, hay trên thùng gạo, trên vật dụng.
Cũng có kiểu dán phù lên người, trực tiếp dán lên chỗ đau bệnh.
Tắm rửa: Ví dụ nếu như vận khí không tốt, trực tiếp đem đốt phù cho vào bồn tắm, rồi vào bồn tắm ngâm mình. Đem đốt cho vào bồn rửa mặt, dùng rửa mặt.
Một số có thể đem đốt, cho vào trong nước, rồi dùng 108 cánh hoa đỏ và trắng bỏ vào trong bồn tắm.
Màu đỏ mang đến hỷ khí. (mang tới niềm vui)
Màu trắng mang đến tiêu tai. (loại bỏ cái xấu)

Còn có những cách sử dụng đặc thù khác tôi không nói rõ ở đây. Ví dụ trong đó có cách như sau: 
Với tình huống nghiêm trọng có thể dùng chính thân người làm giấy phù. Trực tiếp lấy bút vẽ lên trên thân người có thể cứu được người đó. Ví dụ tâm thần của người này đã không còn tỉnh táo, hôn mê bất tỉnh. Đại pháp sư sẽ trực tiếp vẽ phù này giữa lồng ngực. 

Đây là:


<details>
<summary>Phản hồn phù thứ nhất</summary>


![image](/img/img_703399ea3470997ca3d33e446044df5f.png)

</details>


Dùng chú ngữ niệm: 
“Liên Sinh sắc lệnh, mang mang u minh trung, trùng trùng kim cang sơn, hóa xuất linh phù vô lượng quang, cửu u chi hồn phách, tùy quang lai phản hồn, nhất nhập thân tâm trung, tỉnh lai thân vĩnh an. Cấp cấp như Liên Sinh Hoạt Phật luật lệnh.”

Phù trên thân này đã cứu vô số người.
Còn nữa:


<details>
<summary>Phản hồn phù thứ hai</summary>


![image](/img/img_f650445eae197e07baf81cb511a2e094.png)

</details>


Vẽ giữa lồng ngực.
Chú ngữ là: 
“Si mị võng lượng, nhất thiết chúng quỷ, tốc tốc ly thử thân, hung uế tốc khứ, đạo khí trường tồn. Cấp cấp như Liên Sinh luật lệnh.” 

Đây là đám quỷ chúng đoạt xá (chiếm thân - chiếm nhà). Phù vẽ trên người, ra lệnh cho chúng quỷ dọn nhà. 
Phù này cứu người vô số. 
Phù này vốn dĩ không truyền, nay tôi đặc biệt vẽ ra. 
Phù này là trân bảo.


### 13. Phù tránh cảm cúm


Con người thời hiện đại sợ nhất là bệnh cảm, đặc biệt là người có khả năng miễn dịch kém, trong một năm kiểu gì cũng nhiều lần không khỏe.
Còn có bệnh cảm rất phổ biến, chúng ta gọi là cảm cúm. Đến thời kỳ dịch cúm bùng phát, mọi người đều khó mà thoát được.
Ho.
Chảy nước mũi.
Sốt.
Những triệu chứng khác xảy ra cùng lúc cũng rất nhiều. Một trận cảm lan truyền rộng thì giết người mất mạng cũng không ít.
Ngày nay không chỉ con người có cảm cúm, mà còn phổ biến cả cúm gia cầm. Gà, vịt, ngỗng v.v..., một khi bị cúm gia cầm thì gà, vịt, ngỗng bị bắt giết cả một trăm cả nghìn, cả triệu, cả mười triệu con mà vẫn vô cùng khó khống chế.

Con người không chỉ có cảm cúm. Còn có bệnh Sars đáng sợ nữa. Còn có Ebola v.v… Vi khuẩn thời nay vẫn luôn biến đổi, một khi biến đổi sang đến người lây người thì sẽ có khả năng giống như dịch tả gà, chỉ trong chớp mắt, toàn bộ nhân loại sẽ chết sạch.

Có người hỏi tôi, phải làm sao?
Tôi đáp:
Diêu Trì Kim Mẫu là thượng cổ thần tiên, ngài kiểm soát thần Ôn Dịch. Ngũ đại ôn thần sợ ngài nhất. Ngài biến thành Hổ Đầu Kim Cang, quản lý ngũ đại ôn thần.

Phù thức như sau:


<details>
<summary>Hổ Đầu Kim Cang phù tránh cúm cho gia cầm</summary>


![image](/img/img_3feab29fad5b3b53a504de08465f9e0a.png)

</details>


Chú:
“Liên Sinh sắc lệnh, hổ thần uy linh, áp ngũ ôn thần, trấn ngũ ôn thần, khu ngũ ôn thần, tróc ngũ ôn thần. Trần uế tiêu trừ, nguyên hanh lợi trinh. Cấp cấp như luật lệnh.”

Phù này dùng để dán.
Chuồng gà. 
Chuồng vịt.
Chuồng ngỗng.
Vì có hổ linh thần của Diêu Trì Kim Mẫu, virus cúm gia cầm liền tháo chạy!
Có người hỏi:
“Vậy người sợ cảm cúm phải làm sao?”
Tôi nói:
“Có thể chích ngừa từ trước, rồi đeo phù lên người.”

Phù thức như sau:


<details>
<summary>Kim Giáp Thần phù tránh cúm cho người</summary>


![image](/img/img_316c2c7dc3de3e2373c6928f159913ec.png)

</details>


Chú:
“Liên Sinh sắc lệnh, Kim Giáp Thần giáng, hộ hựu thân hóa, an định hồn thần, bệnh độc dịch chí, bất đắc vọng kinh, các an phương vị, nội ngoại túc thanh, thân bất nhiễm độc, tật bệnh toàn tiêu. Cấp cấp như luật lệnh.”

Phù này đeo trên người.
Phù Kim Giáp Thần này, nếu như cộng thêm áp ấn, sẽ càng thêm công hiệu.
Ấn có:
Lục đinh lục giáp ấn.
Nguyên thủy thái cực ấn.
Đô thiên lôi hỏa ấn.
Liên Sinh giáo chủ ấn.
Tam hoàng ấn.

Phù Kim Giáp Thần trước giờ không truyền, phù này rất hiếm có!


### 14. Quán tưởng và đường vẽ


Liên Sinh phù làm sao mà có được?
Tôi đáp: “Có từ thiên nhân hợp nhất!”

Thiên nhân (trời người) hợp nhất như thế nào?
Tôi đáp: “Minh tưởng (thiền), quán tưởng, nhập định.”
Kết quả ra sao?
Tôi đáp: “Tự tâm tuôn chảy!”

Vì vậy sự quán tưởng của Mật giáo trong pháp phù sẽ biến thành một loại sức mạnh của ý niệm.
Bạch Ngọc Thiềm nói: “Bất cứ phù hiệu nào, toàn bộ đều là diễn hóa từ trong hư không mà ra. Nếu con người có thể quán tưởng, phù hiệu sẽ xuất hiện.”
Đổng Xung Thư nói: “Quán tưởng nhập hư không, hư không tự có linh, là thiên nhân hợp nhất.”
Tôi nói: “Vẽ phù có linh đều nhờ vào có linh khí. Phù có linh khí tự nhiên sẽ linh.” 
Nói một câu đơn giản là: “Có công hiệu!”

Còn về ý nghĩa của đường vẽ là:
Đường thẳng: cương liệt.
Đường cong: nhu hoãn.
Đường tròn: trung hòa.
Chú: cường đại ý niệm.
Thủ ấn: kết hợp ý niệm.
Bộ pháp: khí tụ ý niệm.

Chú ngữ:
“Phụng thỉnh đại y vương, lôi lệnh đáo đàn tràng. Nhân hữu tai nạn lai cầu nhĩ, nhĩ họa tiên phù cứu vạn dân. Thu ác nguyệt, thu ác nguyệt, phiên phiên phúc địa, phúc địa phiên thiên, thu khởi ác nguyệt, viễn tẩu tha phương. Cấp cấp như luật lệnh.”


<details>
<summary>Phù trị u thứ nhất</summary>


![image](/img/img_3d731a6354cfaa2f3c0c7a11ce7fecb8.png)

</details>


Đây là phù trị khối u, lành tính, ác tính đều tiêu trừ. Ác nguyệt tức là khối u. Phù này từng xuất hiện nhiều lần trong sách phù của tôi, thực sự linh nghiệm kỳ diệu phi phàm.
Ngoài ra còn có phù sau. Chú ngữ giống câu chú ngữ của phù trước đó. Phù này tại sao lại không giống với phù trước? Dùng một chữ thủy thay thế ác nguyệt.


<details>
<summary>Phù trị u thứ hai</summary>


![image](/img/img_344435e923d443609cc185e20bc63c7f.png)

</details>


Tại sao thủy lại là ác nguyệt? Chúng ta thường nói, “thiên địa nhật nguyệt thủy hỏa”.
Thiên: Dương
Địa: Âm
Nhật: Hỏa
Nguyệt: Thủy
Nguyệt tức là đại diện của thủy. Ác nguyệt là biểu thị của khối u không tốt. Hình tròn “O” trong phù đại diện cho khối u, từ đầu đến đuôi đều có thể chữa khỏi.

Tôi vẽ phù này đã cứu độ rất nhiều người rồi! Bệnh nhân có bệnh, thấy tôi hiện trong mơ đưa tay vào trong người lấy khối u ra. Bệnh nhân tỉnh dậy đến bệnh viện kiểm tra lại, phát hiện khối u khổng lồ không còn nữa, đã biến mất! Bác sĩ và bệnh nhân đều vô cùng kinh ngạc!


### 15. Phù bộ ấn


Khi tổ chức pháp hội hỏa cúng tại Đài Loan Lôi Tạng Tự, sau khi đốt lửa xong, tôi bước lên phía trước pháp tọa. Đột nhiên tôi bước chân xoay một cái, thân người tạo thành vòng xoay 360 độ, rồi mới bước lên pháp tọa.
Mọi người kinh ngạc.
Có người hỏi: “Chuyện này là sao vậy?”
Tôi đáp: “Đây là phá trừ toàn bộ chướng ngại, cái ấn xoay này là Thiên hạ thông chính ấn.
Đó chính là Phù bộ ấn.

Phần lớn Phù bộ ấn có:
Kiếm bộ: Hai chân một trước một sau, vừa tiến vừa lui. Đây là dùng để bái thỉnh thần linh, hoặc đốt phù, đốt sớ văn.
Vũ bộ: Cũng chính là dùng cho bộ cương đạp khôi, hai chân ngang dọc làm thành bộ chữ đinh. Đây là dùng để triệu tướng.
Hạc bộ: Hai chân tạo thành chữ số 8, đây là hành lễ.
Thất ấn bộ: Chính là thất tinh bộ.
Trước khi tôi gia trì, bước đi chính là thất tinh bộ, tổng cộng có bảy bước, tương tự như thất tinh Bắc Đẩu. Dùng để gia trì.
Tôi có một tấm phù quét sạch những thứ không cát tường:


<details>
<summary>Phù tịnh hóa</summary>


![image](/img/img_0d5c4f157cffb2a59d6114729a01b78b.png)

</details>


Chú ngữ:
“Thiên hạ thông ấn tại thử, tà ma tiểu quỷ tẩu phân phân, thử phù năng thượng thiên, thử phù năng hạ địa, tảo nhất thiết bất chính quỷ thần. Đầu đỉnh Liên Sinh, cước thải cương ấn, nhân khán trường sinh, quỷ khán diệt vong. Cấp cấp như luật lệnh.”
Phù này dùng để dán, quét sạch những thứ không may mắn.

Lúc tôi ở Biệt thự Cầu Vồng, vào mùa đông, trong núi có gió mùa, gió thổi rất gấp, thổi cây nghiêng về một phía. (Cành lá của cây bị thổi về một phía). Người bị thổi bạt đi, đất đá bay tứ tung, giương oai thanh thế với con người. Sau đó tôi treo một tràng phan trấn áp, bây giờ đã không còn gió mùa nữa.

Thất tinh trấn phong kỳ như sau:


<details>
<summary>Thất tinh trấn phong kỳ</summary>


![image](/img/img_510f7312c7fec94be678e5706314c417.png)

</details>


Chú:
“Vân lục thái hư, phong kiếp chi sơ, sạ hà sạ nhĩ, hoặc trầm hoặc phù. Phan huyền thất tinh, phổ lợi vô biên, trấn phong hỏa kỳ, thiên tội tiêu khiên. Các tôn pháp chỉ, bất đắc kê duyên. Cấp cấp như Liên Sinh luật lệnh.”

Tôi vẽ tấm phù này.
Gió mùa tự đi mất!
Bây giờ Biệt thự Cầu Vồng gió nhẹ trời trong, trăm hoa đua nở, trở thành biệt thự đẹp nhất.
Tôi cảm thấy:
Vẽ phù thực sự không phải là một chuyện dễ dàng, không những phải cố gắng học tập mà còn phải có sư phụ truyền dạy.
Trí huệ trời ban. 
Học đúng, người tốt.
Chẳng phải trò đùa!


### 16. Bảy loại phù hiệu


Trong Liên Sinh phù của Lư Sư Tôn có bảy loại đại phù hiệu. 
Tôi nói rõ chi tiết như sau:
**Phù hiệu của Đạo: **Loại phù hiệu thường gặp này, ở trong bất kì phép thuật nào cũng đều phổ biến, khi ở trong phù sẽ như sau:


<details>
<summary>Phù hiệu của Đạo</summary>


![image](/img/img_bb91e5f1857d5cee43c85841ef314cbf.png)

</details>


Đây là chữ Vũ, thật ra chính là chữ Linh. Mọi người nghĩ xem, bất cứ sự vật gì đều có linh khí. Nếu không có linh khí sẽ mất đi Đạo. Linh khí chính là hóa sinh của Đạo. Bất cứ phép thuật nào cũng đều cần Đạo, cũng chính là bất cứ phép thuật nào cũng đều cần linh, đều cần linh nghiệm.

**Phù hiệu của Tam Thanh: **Dùng phù hiệu của Tam Thanh, biểu trưng Thái Thanh, Ngọc Thanh, Thượng Thanh. Cũng chính là thiên-địa-nhân, cũng tức là nhật-nguyệt-tinh. Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam hóa vạn vật. Trong phù có ký hiệu ba chữ “v” nhỏ và chữ thượng đều là phù hiệu của Tam Thanh, là Đạo hóa Tam Thanh.


<details>
<summary>Phù hiệu của Tam Thanh (chữ v)</summary>


![image](/img/img_f5bb4a93832a8f4a4433a854ba94a5b1.png)

</details>



<details>
<summary>Phù hiệu của Tam Thanh (chữ thượng)</summary>


![image](/img/img_f1b0d02e412e2d7a639af57aaed0a054.png)

</details>


**Phù hiệu của Ngũ lôi: **Sức mạnh lớn nhất trong nhân gian chính là lôi (sấm sét). Âm thanh lớn nhất là lôi, vang khắp thiên hạ cũng là lôi. Ngũ lôi là sự biến hóa của kim mộc thủy hỏa thổ. Có đại lực, đại pháp lực. (ruột phù) 
Trong phù là kỳ hiệu như sau:


<details>
<summary>Phù hiệu của Ngũ lôi</summary>


![image](/img/img_facb1054ea0d606413e063c39bf66c36.png)

</details>


**Phù hiệu của Kim cang: **Vốn dĩ phù hiệu của kim cang là mang ý nghĩa bất hoại, nhưng nó cũng dùng làm “sắc lệnh”.
Kim cang là dùng cho sắc phù. Hoặc dùng bảo cái, để biểu thị không thể phá hủy. 
Phù hiệu như sau:


<details>
<summary>Phù hiệu của Kim cang</summary>


![image](/img/img_7b983229fb2852420847aa7bc3a89ac7.png)

</details>


**Phù hiệu của Quang minh: **Phù hiệu này là cơ mật nhất, là đại phù hiệu tăng trưởng uy lực. Trước nay tôi không truyền, giờ viết nó ra đã gần như là tiết lộ thiên cơ rồi. Phàm là khi khai quang, khi sắc phép cho tượng thần, cộng thêm phù hiệu này sẽ tăng đại quang minh, vô thượng quang minh. 
Phù hiệu như sau:


<details>
<summary>Phù hiệu của Quang minh</summary>


![image](/img/img_137b31d4e7cbe4a315f791b475c06b6c.png)

</details>


**Phù hiệu của Thanh tịnh: **Phù hiệu này là một trong những cái thường thấy, tức quét sạch tất cả chướng ngại và ô uế, chuyển hóa thành thanh tịnh. Phù hiệu như sau:


<details>
<summary>Phù hiệu của Thanh tịnh</summary>


![image](/img/img_a7f7b46eaf4bf1ce7996829a10936248.png)

</details>


**Phù hiệu của Lão Quân:** Phù hiệu này không thường thấy, cũng rất ít người biết đến, đây là phù hiệu của Thái Thượng. Khi tất cả đều vô hiệu mới dùng đến nó.


<details>
<summary>Phù hiệu của Lão Quân</summary>


![image](/img/img_db48057e17287deeb057dfa7f01ddc05.png)

</details>


Dùng không đúng sẽ bị trời khiển trách. Nhớ kĩ!


### 17. Vẽ phù trên mặt nước


Thông thường vẽ phù đều là vẽ trên giấy, nhưng cũng có cách vẽ phù trên mặt nước. Ví dụ khi lên núi, có người bị thương chảy máu, máu chảy không ngừng, cần phải cầm máu ngay. Lúc này không chắc là có giấy bút, sẽ đành phải dùng tay làm bút, dùng kim cang chỉ vẽ trên mặt nước. Cho người bị thương chảy máu uống nước này lập tức. Hoặc đem nước này rưới lên vết thương sẽ có linh nghiệm. 

Phù cầm máu như sau:


<details>
<summary>Phù cầm máu</summary>


![image](/img/img_0239d0e2bea4acce9276f4e677a19f19.png)

</details>


Chú ngữ: 
“Thái dương xuất lai nhất điểm hồng, Liên Sinh Hoạt Phật đảo kị long, hát chỉ trưởng giang thuỷ, mạch thuỷ vĩnh bất lưu. Cấp cấp như luật lệnh.”

Còn nữa:
Khi chúng ta tưới nước cam lộ cúng dường chúng quỷ thần, có thể dùng kim cang chỉ vẽ trên mặt nước.
Phù thức là:


<details>
<summary>Phù cam lộ cúng dường quỷ thần</summary>


![image](/img/img_6758b4707dd53d53dcd845b21814847b.png)


</details>


Chú ngữ:
“Đại bàng kim sí điểu, hoang dã quỷ thần chúng, la sát quỷ tử mẫu, cam lộ tất sung mãn. Ôm, mu-ti-li, sô-ha. Ôm, mu-ti-li, sô-ha. Ôm, mu-ti-li, sô-ha.” Ba lần.
Hắt nước ra ngoài là được. Quỷ thần được lợi ích lớn.

Còn nữa:
Nếu trẻ con bị kinh sợ, đêm khóc không ngừng, mặt trắng bệch, đi phân xanh, ta có thể lấy một ly nước, vẽ lên:


<details>
<summary>Phù chữa dạ đề</summary>


![image](/img/img_49daafed453770c4c2e7b3920dc1f165.png)

</details>


Chú ngữ: 
“Đài đầu khán thanh thiên, Liên Sinh tại nhãn tiền, chuyển đầu khán địa thượng, Liên Sinh tại thân biên, tứ phương nguyên thần lập phương vị, nhất thiết trùng phạm tốc khứ. Cấp cấp như luật lệnh.”

Nước lấy để uống hoặc vẩy lên người.

Còn nữa:
Rách da muốn lành lại, vết thương muốn liền lại, bị viêm muốn hết viêm. Phải làm pháp thế nào?
Phù thức là:


<details>
<summary>Phù chữa viêm sưng</summary>


![image](/img/img_8b0aa6a4db79a1c46ef108ef65f50338.png)

</details>


Chú ngữ: 
“Hoạ bì đắc bì, hoạ khẩu khẩu hợp, hoạ viêm viêm tiêu. Nhất thỉnh Liên Sinh Phật, nhị thỉnh Liên Sinh Phật, tam thỉnh Liên Sinh Phật, Phật Phật Phật. Thuỷ thần cấp cấp như luật lệnh.”

Nước rắc lên vết thương, nước dùng để uống. Những tấm phù vẽ trên mặt nước này, mục đích sử dụng rất rộng, danh mục rất nhiều, không thể đếm hết, cần tiếp xúc từng loại mới biết. Chắc chắn linh nghiệm!


### 18. Vợ chồng và kính ái - phân hợp


Tình cảm vợ chồng bất hòa, muốn tình cảm hòa hợp.
Trước giờ tôi thường dùng phù thức này tặng cho người ta uống.
Phù thức này là phù vợ chồng hòa hợp, có đôi có cặp, tình yêu bền vững. Phù này ở trong cuốn “Linh Tiên Phi Hồng Pháp” từng đăng rồi. 

Phù thức như sau:


<details>
<summary>Vợ chồng hợp hòa phù</summary>


![image](/img/img_b29615a2fdded973f2be2aa0652e022e.png)

</details>


Nếu uống phù này vào vẫn không đủ hiệu nghiệm, tôi còn có một pháp khác.
Pháp này vô cùng thần bí.
Cần khẩu truyền.
Lấy một vật của nam nữ.
Cùng uống phù này vào.
Chắc chắn linh nghiệm!
(Nhưng đây là thứ cực kỳ cơ mật, không thể viết ra trên sách được.)

Lại nữa:
Phù đào hoa dùng cho nam theo đuổi nữ, nữ theo đuổi nam. Ở đây tôi chỉ viết ra phù thức, chú ngữ thì phải mật truyền. Bởi vì e là nam nữ sẽ sử dụng tùy tiện, vi phạm ý trời, bản thân tôi sẽ tự chuốc lấy việc bị trời khiển trách.
Người nam uống phù sau.


<details>
<summary>Đào hoa phù cho nam giới</summary>


![image](/img/img_e402d77548a6a15ffead6d62dbe5f6c8.png)

</details>


Phù thức hai:
Người nữ uống phù sau.


<details>
<summary>Đào hoa phù cho nữ giới</summary>


![image](/img/img_3daec6bc6f2a637f0c68755ea0f01718.png)

</details>


Còn nữa:
Thường hay nghe nói nam nữ “đào hoa thối” rất nhiều. (Không hạnh phúc nhưng do nhân duyên vẫn cứ phải dính lấy nhau.) Cũng có thuật sĩ trừ bỏ “đào hoa thối”. Về phương diện phù pháp thì có phù sau.


<details>
<summary>Phù trừ bỏ “đào hoa thối”</summary>


![image](/img/img_86abd4584edf3a441ea86c05f7c6a6d2.png)

</details>


Chú ngữ:
“Liên Sinh lai gia trì, nhất đao biến thập đao, thập đao biến bách đao, nhất thanh hát linh hạ, đào hoa tự lạc hạ, chiêu chiêu kỳ hữu, minh minh kỳ vô, đào hoa khô uỷ. Cấp cấp như luật lệnh.”

Còn nữa:
Người tu đạo muốn thanh tâm quả dục, không muốn nhiễm phong trần, bao gồm cả người chủ nghĩa độc thân, thì có thể đeo phù này trên người.


<details>
<summary>Phù thanh tâm quả dục</summary>


![image](/img/img_dae373a7f11246b57936e47e87de1a64.png)

</details>


Thường xuyên niệm chú.
Tự nhiên có thể thoát khỏi bị đeo bám.
Chú:
“Tam quang hoán dĩ cửu, Phật quang tương giao thông, kim hoa chiếu quang cảnh, bất dữ thế tục đồng, độc siêu phong trần lộ, thân dữ nhật nguyệt hợp, tu đạo thượng thánh tiền, định tuệ bạch liên hoa. Cấp cấp như Liên Sinh luật lệnh.”
Vừa niệm chú này.
Sáng chói chang.
Tròn chằn chặn.
Không nhiễm hồng trần nữa!


### 19. Ngũ lộ tài thần phù


Trong khía cạnh nhân gian, tiền tài là nhất. 
Ở Đài Loan có thể bắt gặp rất nhiều miếu thần tài tổ chức pháp hội thần tài. 
Pháp hội thần tài, hương hỏa nghi ngút.
Thuật sĩ niệm kinh niệm chú, gia trì các loại bảo vật tăng phúc tăng tuệ.
Gia trì thần tài ăn uống.
Gia trì thần tài áo quần.
Gia trì thần tài nhà cửa.
Gia trì thần tài đi lại.

Có một câu chú:
“Thiên thương thương, địa mang mang: tài thần tại hà phương. Thái thượng thỉnh lai ngũ lộ tài, bái thỉnh Đông phương tài thần, bái thỉnh Tây phương tài thần, bái thỉnh Nam phương tài thần, bái thỉnh Bắc phương tài thần, bái thỉnh Trung ương tài thần, bái thỉnh ngũ lộ tài thần, văn tài thần, võ tài thần, thần thông đại vô tỷ, uy linh hiển thập phương, chuyên quản nhân gian thông tài sự, vận lai ngũ phương ngũ lộ tài. Nhật nhật tài, nguyệt nguyệt tài, niên niên tài, ngũ lộ ngũ phương tài, hữu tài tốc lai, vô tài tốc khứ. Cấp cấp như Liên Sinh luật lệnh.”


<details>
<summary>Ngũ lộ tài thần phù</summary>


![image](/img/img_8a295cf9963481eaa930c444abce562b.png)

</details>


Ở đây bao gồm phù của ngũ lộ thần tài và văn thần tài, võ thần tài. Trong đó “tây phương kim tài thần” cũng có thể viết thành “tây phương bạch tài thần”, cả hai đều thông dụng. Có thể chế thành đấu đăng (hộp đèn bài vị), mỗi ngày niệm chú một đến ba lần. Tài và người sẽ cảm ứng tương thông.

Tiền tài cuồn cuộn đến, tài đến, tiền đến, tiền nhiều nhiều, tài nhiều nhiều, ngày ngày tháng tháng năm năm, mang tài đến.
Dùng không hết, tiêu không cạn, nhanh nhanh như luật lệnh.
(Ngũ lộ thần tài và văn võ thần tài phù này là lần đầu tiên công khai.)

Còn nữa:
Rất nhiều thuật sĩ đều biết muốn thỉnh được ngũ lộ thần tài thật ra không phải dễ dàng.
Rất nhiều đại gia không phải một sớm một chiều là được. Đại gia cũng cần phải có công đức của rất nhiều đời mới có được của cải của nhân gian.
Có câu “Nếu có số thì cuối cùng sẽ có, nếu không có số đừng cưỡng cầu”.
Con người ăn bao nhiêu cơm, trời định sẵn.
Con người có bao nhiêu tiền của, trời định sẵn.
Vì vậy người giàu ít, người nghèo nhiều. Nếu muốn thay đổi vận mệnh cũng cần phải tu hành thật nhiều.
Sao không niệm Cao Vương Kinh. (nghìn lần)
Sao không niệm Chân Phật Kinh. (nghìn lần)
Cầu phúc.
Rồi đeo phù là có được phúc.

Phù thức như sau:


<details>
<summary>Ngũ lộ tài thần phù đeo người</summary>


![image](/img/img_8cf5c147a4ccc9c50211fe506deee786.png)

</details>


Chú ngữ: 
“Ôm lién-sâng sit-đi chu-li.”
Lâu ngày sinh phúc, tài đến.


### 20. Muốn làm Thiên y


Tôi nói cho mọi người biết, phù tử tiên xuất sắc nhất cũng giống như bác sĩ cõi trời vậy.
Chúng tôi có một câu nói đùa:
Bác sĩ nếu chữa không khỏi, phải tìm thổ ti.
Thổ ti là cách chữa đơn giản, là các cách chữa bệnh dân gian.
Thổ ti chữa không khỏi, phải tìm phù tử tiên.

Vị phù tử tiên này có nghiên cứu ra một bộ phương pháp giải quyết cuộc sống và sự sinh tồn của con người.
Phù tử tiên cao minh cũng không dễ tìm, cần phải có “thiên phú”. Việc này không phải đơn giản.
Tôi nói cho mọi người biết.
Phù tử tiên tối thượng thừa là bác sĩ cõi trời (Thiên y). 
Mà sự tu hành của Thiên y là thiên đức.
Thiên y - thiên đức là nhân quả của nhau, có thiên đức mới có Thiên y, vì thế phù pháp không phải chỉ là việc tùy tiện.

Tư cách của Thiên y:
Nhân phẩm đoan chính.
Con người trung hậu.
Chịu được thử thách.
Trời - người yêu thích.
Tấm lòng từ bi.
Thông minh xuất chúng.
Tu được quả vị.
Bảy điều trên đều có thể viên mãn mới được xem là Thiên y thượng nhân hay thiên đức thượng nhân. Nhưng thế gian khó tìm được nhân tài như thế.

Người xưa nói: “Nước trong quá thì không có cá, người xét kĩ thì chẳng có thượng nhân.” Ý muốn nói toàn bộ con người thế gian đều chỉ là dạng bình thường cả. Vì thế trên phương diện này, kẻ lừa gạt giả dối cũng đặc biệt nhiều!

Trên đời này:
Thật rất ít, giả rất nhiều.
Người thiện ít, người ác nhiều.
Kẻ cứu người thì ít, kẻ hại người thì nhiều. 
Vì vậy cần phải mở to mắt nhìn, không nên bị kẻ giả mạo làm hại.

Giống như Thiên y xuy sát (xóa sát khí) để trị bệnh vậy, cao nhân như thế không phải không có, chỉ là vô cùng ít thôi. Chỉ có tu hành tới mức độ tương ứng, có được quả vị, lúc đó uống phù mới có thể làm được bác sĩ cõi trời chân chính.


<details>
<summary>Phù thức Thiên y thứ nhất</summary>


![image](/img/img_36a3ead825dae6bb81ab916298347a81.png)

</details>


Uống phù này 108 ngày, niệm chú 108 lần. (Mỗi một tấm phù niệm một biến.)

Chú ngữ: 
“Thiên y thuận hành, thiên đức thí nhân, tinh hoa nguyên linh, lưu bố vô đình. Quang huy xán lạn, giải ách giải sát, cứu nhân tật khổ, phù chú linh linh. Nhân gian vạn sự, nhất xuy tức thanh. Cấp cấp như Liên Sinh luật lệnh.”

Còn nữa:


<details>
<summary>Phù thức Thiên y thứ hai</summary>


![image](/img/img_0c55eb2f350d33164a66d6f60640488e.png)

</details>


Chú ngữ giống câu trên.
Uống 108 tấm phù, niệm chú 108 biến.
Nếu người có tư cách Thiên y uống phù này, niệm chú này, dùng xuy sát pháp, có thể cứu vạn người.
Hai tấm phù trên đều cực kỳ quan trọng!
Phi nhân đừng dùng, sợ trời khiển trách!


### 21. Công khai pháp Kim quang phù


Hồ Thích tiên sinh có một cuốn sách nhắc đến một người đang đi bộ trong đêm khuya, đột nhiên một cơn gió to nổi lên. Gió to thổi cành cây bên đường phát ra âm thanh vù vù, cành cây lá cây như một bầy quỷ nhảy múa. Lại có đất cát bay tứ tung từ phía sau đuổi đến, đất đá bắn vào phía sau lưng, cảm thấy vô cùng đau nhức.

Trong cơn gió to lại có tiếng rú rít, giống như trăm nghìn người cùng gào thét, tiếng xùy xùy, tiếng pằng pằng, tiếng cha cha, tiếng hơ hơ, tiếng kêu thảm thiết, tiếng lùng bùng. Lại có bóng đen lấp ló thập thò, vô cùng đáng sợ!

Người này nhớ ra trên thân có phù, liền lấy tấm phù này ra, giơ lên trong hư không, kêu lên một tiếng:
“Kim quang phù ở đây.”

Không ngờ gió đột nhiên dừng lại, đất đá không còn bay loạn xạ nữa, tiếng kêu gào bỗng dưng chấm dứt, những bóng đen đều biến mất. Ánh trăng sáng xuất hiện chiếu xuyên mây đen. Mọi thứ trở về yên tĩnh, chỉ còn tiếng côn trùng kêu rả rích.
Hồ Thích nói:
“Không ngờ kim quang phù nhỏ bé lại có sức mạnh lớn như vậy!”

Kim quang phù như sau:


<details>
<summary>Kim quang phù</summary>


![image](/img/img_4817bb86b54d5bf15a08733a311ff107.png)

</details>


Kim quang phù xuất hiện ba lần trong sách phù của tôi, từ đó có thể thấy được tính quan trọng của phù này.
Kim quang phù có Kim quang thủ ấn: “Ngón giữa, ngón đeo nhẫn của hai tay đan vào nhau. Cặp ngón trỏ, cặp ngón út, cặp ngón cái chụm lại dựng đứng. Cặp ngón trỏ, cặp ngón út hướng lên trên, cặp ngón cái hướng xuống dưới.”

Khi bung thủ ấn ra có thể bung trên đầu của mình, chụp lấy toàn thân, hoặc có thể bung thủ ấn trên Kim quang phù.
Chú:
“Thiên địa huyền tông, vạn khí bổn căn, quảng tu vạn kiếp, chứng ngô thần thông, tam giới nội ngoại, duy đạo độc tôn, phù hữu kim quang, tráo hộ ngô thân, thị chi bất kiến, thính chi bất văn, bao la thiên địa, dưỡng dục quần sinh, thọ trì nhất biến, thân hữu quang minh, tam giới thị vệ, ngũ đế ti nghênh, vạn thần triều lễ, dịch sứ lôi đình, quỷ yêu táng đảm, tinh quái vong hình, nội hữu phích lịch, lôi thần ẩn minh, thông tuệ giao triệt, ngũ khí đằng đằng, kim quang tốc hiện, phúc hộ chân nhân. Cấp cấp như luật lệnh.”

Như vậy:
Có phù, có chú, có ấn.
Có thể tu pháp rồi!
(Phương pháp tu nằm trong cuốn Tiên Thiên Phù Bút.)

Còn nữa:
Trong Mật giáo cũng có “nhất tự kim luân pháp”, rất giống với pháp này:


<details>
<summary>Nhất tự kim luân</summary>


![image](/img/img_95e6124bb232689e08cd962bf56f0472.png)

</details>


Quán tưởng một chữ chú ở trên đỉnh đầu của hành giả, xoay tròn phóng quang. 
Tay kết ấn. (Kim quang ấn)
Trì chú: “Om. Pulu.” (108 biến)
Làm như vậy, kim quang sẽ chiếu bốn hướng. Tu hành lâu ngày thì hung thần ác sát xa lánh, ma quỷ tinh linh xa lánh, tang thần ai thần xa lánh. Từ đó ngày cát tường, đêm cát tường, một ngày sáu thời luôn cát tường, bách bệnh tiêu trừ, nghiệp chướng cũng tiêu đi.
Hành giả tu pháp này.
Công thành thăng thiên!


### 22. Triệu chứng của đau nhức


Khi tôi ở Mỹ hay Đài Loan, tại Lôi Tạng Tự, có rất nhiều người cầu xin sờ đầu. Mỗi lần sờ đầu, tôi tất nhiên sẽ luôn:
Quán tưởng Bổn tôn hợp nhất.
Trì Bổn tôn tâm chú.
Thiền định.
Sau đó mới lần lượt sờ đầu cho từng người, hy vọng nhờ lực gia trì của Bổn tôn để tiêu trừ bệnh tật đau nhức của các đệ tử. Cảnh tượng vạn người xếp hàng chờ được sờ đỉnh đầu tại Đài Loan Lôi Tạng Tự rất hoành tráng. Tôi luôn luôn phải mất tối thiểu một giờ mới có thể kết thúc việc sờ đầu. 
Có một số người không chỉ yêu cầu sờ đỉnh đầu mà còn yêu cầu chạm vào “đầu, tay, chân, lưng, eo, cánh tay, vai, bụng…”
Các đệ tử nói:
“Chỗ này đau!”
“Chỗ đó đau!”

Tôi cảm nhận thấy chúng sinh thực sự đáng thương. Sao lại có quá nhiều người không phải chỗ này đau thì là chỗ khác đau. Thế là hai tay tôi múa may, vừa trì chú, vừa cầu nguyện: “Để Bồ Tát từ bi giải trừ cái đau của chúng sinh.”

Tôi ở đây vẽ ra Dừng đau phù (số 1):


<details>
<summary>Dừng đau phù (số 1)</summary>


![image](/img/img_4ad3afb4ef8f637aac8f65092e2aaa69.png)

</details>


Phù này chuyên trị đau nhức, bên trong có một hình người, có 9 dấu chấm, đau đầu chấm đầu, đau eo chấm eo, đau ngực chấm ngực, đau tay chấm tay, đau chân chấm chân...

Chú ngữ: “Liên Sinh sắc lệnh, chúng sinh đa đông thống, oan thân nan giải trừ, ngã kim truyền phù chú, giải trừ chúng đông thống. Đông thống khứ, đông thống tiêu, đông thống trừ, đông thống chỉ. Cấp cấp như luật lệnh.” 

(Người bệnh dùng để uống.)

Còn nữa:
Đau nhức luôn có nguyên nhân. Có một số đau nhức do bệnh mà ra, do viêm mà ra, do vi khuẩn mà ra, tất cả đều có nguyên nhân cả. Chúng ta cần phải tìm ra nguyên nhân, sau đó uống thuốc đúng bệnh. Sau khi uống xong thuốc rồi cùng phối hợp với phù thức mới có thể giảm đau. 

Có Chuyển di phù (phù chuyển cái đau đi chỗ khác) như sau:


<details>
<summary>Chuyển di phù</summary>


![image](/img/img_baf8e3324ad9afa11ea885561bf367fa.png)

</details>


Chú ngữ: “Liên Sinh lai sắc lệnh, đông thống trường dạ khổ, phiền não tam đồ trung, như kim thỉnh chuyển di, di nhập Đông phương thổ, di nhập Tây phương thổ, di nhập Bắc phương thổ, di nhập Nam phương thổ, di nhập Trung ương thổ, thổ thổ thổ thổ thổ, thổ thần lai đảm đương, đông thống tốc tiêu vong.”

Phù sẽ cần người bị đau nhức hà hơi vào ba lần, rồi đem phù chôn vào trong đất.

Còn có Dừng đau phù (số 2), cũng là dừng đau. Phù đem đốt cho vào nước để uống, chú ngữ giống chú Dừng đau phù thứ nhất.


<details>
<summary>Dừng đau phù (số 2)</summary>


![image](/img/img_0a1f613d10f7e3e79a47db3955798c83.png)

</details>



### 23. Chú ngữ của Dược Vương


Có một câu chú được lưu truyền rộng rãi.
Câu chú như sau:
“Phụng Liên Sinh sắc lệnh, phụng thỉnh Dược Vương Thần Nông Đế, phụng thỉnh Dược Vương Tôn Tư Mạc, phụng thỉnh Dược Vương, Dược Thượng Bồ Tát. Tam môn thiên hạ luyện đan thành, kỵ long kỵ hổ du thế giới, thường giáng diệu dược tế chúng sinh, nhất thập tam đại minh y chủ, nhị thập bát đại Dược Vương Quân, chân đạo chân dược cứu quần sinh, điểm phù vi dược hiển thần thông, hữu nhân hữu nan lai thỉnh nhĩ, nhĩ hộ đệ tử cứu vạn dân, nhất thiết ôn ma thỉnh thoái khứ, thiên quỷ bách quỷ tốc hồi tị. Cấp cấp như luật lệnh.”

Thần Nông nếm bách thảo, là Dược Vương, tức Viêm Đế.
Tôn Tư Mạc là danh y đạo trưởng, cũng là Dược Vương.
Dược Vương, Dược Thượng Bồ Tát, là Y Vương Thích Gia.
Vì vậy gọi là tam môn (ba nhà).

Chú này là chú chữa đau nhức.
Đều có thể sử dụng.


<details>
<summary>Phù chống bệnh dịch cho gia cầm</summary>


![image](/img/img_e85369d2de855388f667d1b57215f790.png)

</details>


Phù này dùng để treo hoặc dán vào: Chuồng lợn, chuồng bò, chuồng gà.
Phòng các bệnh dịch như cúm gia cầm, dịch lở mồm long móng, bệnh bò điên. Bên trong có ngũ quỷ, chính là ngũ ôn thần.
Có người dán phù này trong nhà. Xung quanh những nhà khác đều bị dịch, riêng nhà dán phù không sao.
Tránh được dịch bệnh đều nhờ vào công lực của phù này. 

Còn nữa:
Dịch cảm cúm khi có tính lây lan đã cướp đi mạng sống của rất nhiều người. Khi dịch lây lan lớn đã làm rất nhiều người chết.
Phù thức như sau:


<details>
<summary>Phù tránh dịch cúm cho người</summary>


![image](/img/img_a67d7366fa0dec050e3e7f317966d2d4.png)

</details>


Phù này dùng để phòng tránh cảm mạo, đeo trên người. Nếu đã bị cảm rồi thì đem đốt uống, có hiệu lực rất lớn.

Còn nữa:
Khi có dịch bệnh lớn xảy ra, khi rất nhiều người bị nhiễm bệnh thì có một tấm phù với uy lực rất lớn.
Phù trước giờ không truyền, nay tôi cố tình vẽ ra, có thể dùng phòng bệnh kiêm chữa trị. Phù có Phật chỉ, có tam quang.


<details>
<summary>Phù chống dịch bệnh lớn</summary>


![image](/img/img_63e24c4ca53d43ee6c4dba272c990a72.png)

</details>


Vì vậy:
Không để đem cho người phi Phật giáo, không thể cho kẻ xấu, không thể cho kẻ phá giới, không thể cho kẻ phản thầy diệt tổ sử dụng. Đeo phù này và uống phù này bắt buộc phải giữ ngũ giới thập thiện.


### 24. Từ phù đến chú


Thỉnh thần chú ngữ:
“Thiên linh linh, địa linh linh, vân thủ vụ quyển, thỉnh tiên giáng lâm, đại phát từ bi, phổ giáng cam lâm. Cấp cấp như luật lệnh.”

Đốt phù tiên giáng.


<details>
<summary>Thỉnh thần phù</summary>


![image](/img/img_d8d6cb87029ecf292e0cd5470fea1470.png)

</details>


Tịnh thân chú ngữ:
“Dĩ nhật hỏa tẩy thân, dĩ nguyệt thủy luyện hình, dĩ tinh quang mộc dục, nguyện ngã thanh tịnh, ngọc nữ tùy hành, nhị thập bát túc, dữ ngô hợp hình, thiên tà vạn uế, trục thủy nhi thanh. Cấp cấp như luật lệnh.”


<details>
<summary>Tịnh thân phù</summary>


![image](/img/img_edf6c73bb277b940ff41a4dd8cb25d66.png)

</details>


Tắm rửa làm thanh tịnh thân thể.

Nhãn minh chú ngữ:
“Nhật phóng quang, nguyệt phóng quang, tinh phóng quang, bái thỉnh tam quang chí, nhất thiết vũ chướng giai khứ, mục hữu quang, nhãn hữu quang, thấu xuất tam quang. Cấp cấp như Liên Sinh luật lệnh.”


<details>
<summary>Nhãn minh phù</summary>


![image](/img/img_5bb75fcb1847778c27770367e260bce7.png)

</details>


Đốt uống mắt sẽ phát ra ánh sáng quang minh, dễ có được thiên nhãn.

Xuất môn cát tường chú ngữ:
“Xuất môn hóa không, không không thập đại vĩnh vô tung: Ngô kim hư không tàng, hóa vi thụ đầu phong. Tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ, tiền Chu Tước, hậu Câu Trần, tứ linh thần tướng, hộ ngô thân tâm. Cấp cấp như luật lệnh.”


<details>
<summary>Xuất môn cát tường phù</summary>


![image](/img/img_6739c84783740555eb1b5471760d2c40.png)

</details>


Phù này đeo trên người khi ra đường.
Không tai ương nạn kiếp.
Tất cả cát tường.

Quán tâm thần chú:
“Tháo thượng đài tinh, ứng biến vô đình. Khu tà phược mị, bảo mệnh hộ thân. Trí huệ minh tịnh, tâm thần an ninh. Tam hồn vĩnh cố, phách vô táng khuynh. Thung thử quan nhập. Bất động tịch tĩnh. Cấp cấp như luật lệnh.”

Phù đây là dành cho trước lúc thiền định đốt uống trì chú.


<details>
<summary>Quán tâm thần phù</summary>


![image](/img/img_3837aebfba4667bd3ded966423d02bcb.png)

</details>


Thiền định nhập tịch.
Bất động.
Từ một hóa không, nhập Không tính. Đây là đại pháp khẩu quyết trong tu hành.


### 25. Pháp môn Quán tâm


Pháp môn Quán tâm được người đời sử dụng để tu hành từ lâu rồi!
Lúc ở Đài Loan, tôi sống tại chung cư. Một lần đi thang máy, có một cặp vợ chồng già nhìn thấy tôi bước vào thang máy.
Hỏi tôi: “Hòa thượng tu pháp gì?”
Tôi đáp: “Tu Mật giáo.”
Tôi hỏi ngược lại cặp vợ chồng già: “Ông bà tu pháp gì?”
Cặp vợ chồng già đáp: “Pháp môn Quán tâm.”
Tôi nghe xong, thấy pháp môn Quán tâm là pháp môn trực chỉ vào tâm rồi, vô cùng quan trọng.

Phật nói:
“Phật tại Linh Sơn, đừng cầu ở xa làm gì. Linh Sơn chỉ ở trong tâm các ông. Ai nấy đều có một Linh Sơn tháp, hãy khéo hướng về Linh Sơn tháp mà tu.”
Lại có những câu: 
Đại đạo căn hành thức giả hy,
Thường nhân nhật dụng thục năng tri. 
Vy quân chỉ xuất thần tiên quật, 
Nhất khiếu loan loan tự nguyệt my.
(Cũng là tâm.)
[Đây là tâm pháp Thanh tâm của Đạo giáo.]

Bản nguyên của chúng sinh, tâm địa, bồ đề, pháp giới, niết bàn, thanh tịnh, chân như, Phật tính, tổng trì, Như Lai tạng, viên giác, mật nghiêm đồ,…
Cũng là tâm. Thế nên mới nói:
Quán chiếu thử tâm, dục chiếu bản tâm. Thị thường khiếu lãng nguyệt huy minh, mỗi hướng định trung tuệ chiếu.
[Sư Tôn trích dẫn trong “Tính Mệnh Khuê Chỉ Toàn Thư”, bí kíp của Đạo giáo.]
Luôn luôn ở trong trạng thái chưa phát thất tình.
Luôn luôn giữ được cơ thể bát thức chưa nhiễm ô.
Bên ngoài dập tắt các nhân duyên.
Bên trong đoạn tuyệt các vọng niệm.
Tâm tâm thường tại đây, không một sát-na quên quán chiếu.
Đây là tu hành pháp môn Quán tâm.

Nếu nhiễm thất tình, muốn xin hồi tâm, thì dùng Hồi tâm phù.
Phù thức như sau:


<details>
<summary>Hồi tâm phù thứ nhất</summary>


![image](/img/img_15dfc57f654b9a1bdfd3c4950b46b4d3.png)

</details>


Chú ngữ: 
“Nhược nhân nhập tà đạo, nhiệt não tam đồ trung, sắc lệnh hồi chính đồ, điện thần tốc giáng lâm. Nhất chấn lệnh thanh tịnh, nhị chấn lệnh hối quá, tam chấn bất tái phạm, tốc tốc hồi tâm. Cấp cấp như luật lệnh.”

Phù này: 
Kẻ sát sinh, trộm cắp, tà dâm, vọng tưởng, rượu bia có thể cho uống. Kẻ tham tài, tham sắc, tham danh có thể cho uống.
Là sắc lệnh hồi tâm.

Còn nữa:
Người bị mê lầm vào con đường sai trái cũng có thể cho uống phù này.
Phù thức như sau:


<details>
<summary>Hồi tâm phù thứ hai</summary>


![image](/img/img_e027e612850f680d5b8d31e4f828b5dc.png)

</details>


Chú ngữ: 
“Mang mang thiên nhai lộ, trùng trùng kim cương sơn, thử lộ bất khả hành, hoán hồi tâm lượng quang. Liên Sinh sắc lệnh, tà tâm du thần tốc giác tỉnh, thân tùy phù linh hồi, định tuệ bạch liên hoa. Cấp cấp như luật lệnh.”

Phù khiến người lầm đường mau chóng thức tỉnh, có công lực rất lớn.


### 26. Tam hoa tụ đỉnh


Căn cứ theo Đạo gia Đan Kinh, có bốn tầng thứ tu hành:
Luyện tinh phản khí.
Luyện khí phản thần.
Luyện thần phản hư.
Luyện hư hợp đạo.

Khẩu quyết là:
Thân bất động: tức tinh bất động.
Tâm bất động: tức khí bất động.
Ý bất động: tức thần bất động.
Khi ba thứ này đều bất động, tiên thiên nguyên thần tự nhiên sẽ dồi dào, biến thành thanh hư tự nhiên.
Đã có tam hoa tụ đỉnh, lại có ngũ khí triều nguyên. Sau đó mới luyện hư hợp đạo. Trong quá trình tu hành, khẩu quyết quan trọng nhất nằm ở “Động”.

Trương Tử Dương nói:
“Hư tâm, thực phúc nghĩa câu thâm, chỉ vi hư tâm yếu thức tâm.”
Tôi nói:
“Hư tâm là tâm bất động, thực phúc là thân bất động, còn thức tâm chính là minh tâm.”

Lưu Hải Thiềm nói:
“Trung ương thần thất bản hư nhàn, tự hữu tiên thiên chân khí đáo.”
Tôi nói:
“Nếu đạt được tam hoa tụ đỉnh, tiên thiên nguyên thần tự đến.”

Lã Thuần Dương nói:
“Thủ trung tuyệt học phương tri áo, bão nhất vô ngôn thủy kiến giai.”
Tôi nói:
“Trong từng con chữ, Đạo gia hay Phật gia đều nói đến cả, là thiền định đến cảnh giới tịch diệt thì có thể thấy chân tính.”

Bước đầu tiên nhất trong tu hành của Đan Kinh chính là “luyện tinh”. Nam tinh - nữ huyết, chữ “tinh” này là chỉ toàn bộ bài tiết bên trong cơ thể. Đương nhiên tinh cũng là một thứ quan trọng trong đó. Tiên tinh bất động, sẽ kiên cố.
Nếu có người hay bị mộng tinh, mơ thấy sắc dục, xuất tinh quá sớm, tâm động thân động ý động, thì tinh không kiên cố.
Có một phù ngăn chặn:


<details>
<summary>Phù chống mộng tinh</summary>


![image](/img/img_aa96c0325e7d65a16840c40f35141f2b.png)

</details>


Chú ngữ:
“Liên Sinh sắc lệnh, tâm bất mê, thân bất mê, ý bất mê, mê hồn mê phách đồng tử, khứ, ninh động thiên giang thủy, vật nhiễu đạo nhân tâm, phán kỳ phân minh, đại hiển uy linh. Cấp cấp như luật lệnh.”

Người tu hành nếu bị quỷ trộm tinh khí, mộng tinh liên miên, trở thành “vị tăng ướt giường”, thì thật tệ hại.
Lập tức đốt phù này uống, tụng chú trên.

Mật giáo cũng có một pháp, dùng chỉ trắng, tụng chú Cát Tường Thiên Nữ: “Ôm, ma-ha, si-li-yê, sô-ha.”
Niệm đủ 108 biến thắt một nút, tổng cộng thắt 20 nút, khi đi ngủ, buộc vào phần bụng, có thể tránh được ma quỷ trộm tinh khí.
Tôi cũng có phù Tam quang tụ đỉnh, phù thức như sau:


<details>
<summary>Tam quang tụ đỉnh phù</summary>


![image](/img/img_4adcb3846f91f597f0aecae40fe0b010.png)

</details>



### 27. Giấc ngủ thực sự rất quan trọng


Có một lần, tôi ở bệnh viện tâm thần Lưu Thiệu Hiền. Bác sĩ Lưu nói với tôi: “Ngài xem! Những người bên ngoài tới lui ra vào, chạy đông chạy tây, trong số những người này, cứ ba người là có một người bị mất ngủ.”
Tôi nghe xong kinh ngạc!
Nghe nói có một số người qua 40 tuổi, vốn dĩ giấc ngủ rất tốt nhưng dần dần xuất hiện hiện tượng mất ngủ.
Bác sĩ nói:
“Trước 40 tuổi, não bộ tiết ra hóa chất bình thường, giấc ngủ vô cùng tốt. Qua 40 tuổi rồi, não bộ tiết ra melatonin ít đi một nửa, giấc ngủ trở nên không dễ ngủ say, ngủ rất nông, chất lượng giấc ngủ không tốt, càng lúc càng khó ngủ.”
Chướng ngại đối với giấc ngủ liền sản sinh ra.
Rất nhiều người sau khi mắc chướng ngại về giấc ngủ, tất cả những triệu chứng kèm theo đều xuất hiện hết.
Tôi vì vấn đề giấc ngủ này mà vẽ ra một tấm phù, mong có thể cứu người khẩn cấp.
Phù thức như sau:


<details>
<summary>Phù chữa mất ngủ</summary>


![image](/img/img_804488b866813df94935964d35fdc5d1.png)

</details>


Chú ngữ: 
“Liên Sinh sắc lệnh, tàng ngô thân, hóa ngô thân, ngô thân hóa vi bán thiên nhất đóa vân, phong xuy vân đầu đóa đóa động, bất tri na đóa thị ngã thân. Mộng trung khứ, mộng trung phi, hóa vi thanh phong xuy, nhân khán bất tri, quỷ khán bất kiến, tự tại, tự tại, thanh tịnh bình an. Cấp cấp như luật lệnh.”

Có một số người mơ giấc mơ đẹp.
Tôi viết kệ:
*Món ngon hưởng trong mơ.
Giác ngộ nhận diệu pháp.
Tây quốc chẳng xa gì.
Lướt đi như như nước chảy.*

Giấc mơ xấu là:
*Gió thổi lại mưa bão.
Nghìn quỷ đòi mạng gấp.
Kinh hãi lại mệt mỏi.
Tỉnh dậy tự khóc ròng.*
(Hai bài kệ này vốn được viết trong cuốn “Tiên Thiên Phù Bút”.)

Phù này giúp người ta mơ giấc mơ đẹp.


<details>
<summary>Phù này giúp mơ đẹp</summary>


![image](/img/img_d83958f2875fa399b6d3dfecd73b48d3.png)

</details>


Chú ngữ: 
“Liên Sinh sắc lệnh, họa phù tối linh, kim dạ mộng trung, hồn phách tối thanh, thăng thiên đạt, xuất u nhập minh, lai khứ nguyệt trung, bình an hiện hình. Cấp cấp như luật lệnh.”

Tôi có một phù giúp người ta đi vào giấc ngủ.
Phù thức như sau:


<details>
<summary>Phù bắt phải ngủ</summary>


![image](/img/img_f8dd25fab68652f13fdc058cc53793e9.png)

</details>


Chú ngữ: 
“Kết đế. Kết đế. Ba la kết đế. Nhập mộng, nhập mộng. Cấp cấp như luật lệnh.”

Phù này rất ít xuất hiện.
Thực sự không cách nào ngủ được, bất đắc dĩ mới được sử dụng.


### 28. Tiểu chu thiên tự động chuyển


Về tu hành Thời Luân Kim Cang (Kalachakra) trong Mật giáo, vốn có tam luân:
Ngoại thời luân: không gian, thời gian ở bên ngoài.
Nội thời luân: sự luân chuyển bên trong cơ thể.
Biệt thời luân: nội ngoại phối hợp tự động chuyển.

Đạo kinh nói:
“Bát động pháp luân toàn nhật nguyệt, tu du hải kiệu khởi vân vũ, phong đào hung dũng ba trừng hậu, tán tác cam tuyền nhuận cửu cai.”
Lại nữa:
“Pháp thủy năng triều hữu bí quan, tiêu dao nhật dạ khiển luân hoàn, ư trung ủng trệ sinh chư bệnh, tài quyết thông lưu tiện trú nhan.”
Lại nữa:
“Toàn đẩu lịch ki. 
Hồi độ ngũ thường. 
Pháp thiên chi xu. 
Tiên thọ vạn ức.”
Đạo gia tu hành, có đại chu thiên, tiểu chu thiên, tâm khí luân chuyển.

Tôi nhận thấy:
Ngoại thời luân: đại chu thiên.
Nội thời luân: tiểu chu thiên.
Biệt thời luân: tâm khí luân chuyển.

Có người cho rằng đây chính là pháp luân. Khi bắt đầu tu pháp, dùng ý niệm đem khí xoay chuyển, sau đó khí sẽ tự động chuyển.
Khẩu quyết 12 chữ chính là:
“Bạch hổ ẩn ư Đông phương, thanh long tiềm ư Tây vị.”

Một câu một vòng, 36 vòng thì dừng. Từ bên ngoài xoay vào trong. Sau đó niệm đảo ngược: “Thanh long tiềm ư Tây vị, bạch hổ ẩn ư Đông phương.” Một câu một vòng, 36 vòng thì dừng, từ trong xoay ra ngoài.
Phục quy thái cực là một tiểu chu thiên. Cách tu hành này là tâm khí xoay chuyển. Sau cùng không dùng ý mà khí sẽ tự xoay, xoay vòng không ngừng, tự động quay. 
Đây là tu hành tiểu chu thiên.
Xoay không ngừng: không bệnh.
Chuyển động bị trở ngại: có bệnh.

Lúc này phải uống một tấm phù, là Tuyền ki tự chuyển phù.
Phù này Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn tôi mới có, người khác không có, ha ha!
Phù thức là:


<details>
<summary>Tuyền ki tự chuyển phù</summary>


![image](/img/img_461b8ef473a8ad922838faa29f912585.png)

</details>


Chú  ngữ: 
“Hạo tinh sinh pháp khí, nhân uân ngưng thiên trung. Lưỡng diệu cộng trừng triệt, ngũ vĩ tương giao thông. Tam quang hoán dĩ cửu, minh bảo ngưng tam cung. Đế hương hội cửu lão, yết phục bách hài phong. Kim hoa chiếu quang cảnh, thân dữ nhật nguyệt đồng. Pháp luân thường tự chuyển, thọ mệnh vô cùng thông, bách bệnh quân khiển khứ, đại đạo tự nhiên hoằng. Cấp cấp như Liên Sinh luật lệnh.”

Đại pháp bí mật ở bên trong, người đời không thể biết.
Đây là:
Hình dĩ đạo toàn.
Mệnh dĩ thuật diên.
Phù này của tôi, có từ (vị được ghi phù hiệu ở dưới):
Tôi hỏi: 
“Đây là phù hiệu của ai?”
Biết không?


<details>
<summary>Đây là phù hiệu của ai?</summary>


![image](/img/img_6f77ccddaaa75dfc3308784ff193ce48.png)

</details>



### 29. Đạo lý sinh và bất sinh


Dịch Kinh nói: “Thiên địa nhân uân, vạn vật hóa thuần. Nam nữ cấu tinh, vạn vật hóa sinh.”
Đan Kinh nói: “Giao có nội giao, ngoại giao, cái gọi là nội giao chính là khảm ly long hổ giao. Ngoại giao, càn khôn tử ngọ giao.”
“Nội giao sản dược, ngoại giao sản đan.”
Đạo giáo nói: “Nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật.”

Lại nữa: “Phu long hổ giao cấu, là phương pháp tam nguyên hợp nhất. Cho nên mới có càn khôn, giao khảm ly, tộc âm dương, hợp tính mệnh, khiến hai thứ hợp thành một. Còn về cửu quan, bát quái, thất chính, lục vị, ngũ hành, tứ tướng, tam tài, nhị nghi, cuối cùng quay về một.”
Trương Bình Thúc nói: “Rồng đến từ Đông hải, hổ hướng Tây sơn khởi, hai thú đấu một trận, hóa làm nhất hoằng thủy.”
Những gì nói ở trên là nêu rõ lý lẽ về sự sinh và bất sinh của thiên địa, minh nguyệt, long hổ, âm dương, nam nữ, trong đó cũng có pháp để tu hành.

Tôi cảm thấy:
Thuận sinh: nhất hóa vạn vật.
Nghịch sinh: vạn vật hóa nhất.
(Nghịch sinh tức là tu hành.)

Phù thức, vợ chồng hòa hợp:


<details>
<summary>Phù giúp vợ chồng hòa hợp</summary>


![image](/img/img_6f401473c06b3e03b663ad6e9e02c519.png)

</details>


Phù này giúp vợ chồng hòa hợp, đem đốt cho cả hai uống.

Chú ngữ: 
“Thái cực nhất phán, phân cư nhị thể, mậu kỷ hợp nhất, thiên kinh địa nghĩa, địa thiên thái, long hổ giao. Cấp cấp như luật lệnh.”

Lại nữa:
Phù thức dưới là phù có thai:


<details>
<summary>Phù giúp có thai</summary>


![image](/img/img_891d85c24b4b4514fa443fa455bfc8b4.png)

</details>


Chú ngữ: 
“Liên Sinh sắc lệnh tốc tốc sinh, yếu lai tốc lai hưu quan môn, nghênh tiến hảo nam cập hảo nữ, thanh thanh sở sở, linh linh lợi lợi, khinh khinh sảng sảng, hảo thuận lợi. Cấp cấp như luật lệnh.”

Rất nhiều người kết hôn nhiều năm rồi mà không có sinh đẻ, ngay đến một con gián cũng không sinh ra được. Sau khi dùng phù này, liên tiếp sinh hai ba lần, thậm chí sinh ba. Những trường hợp này nhiều đến đếm không hết.

Duy có một phụ nữ (sau khi uống phù) lại tức giận nói: “Sao tôi lại không sinh con!”
Mọi người sửng sốt. Sau đó hỏi kỹ lại mới biết, người phụ nữ này đã cắt bỏ tử cung rồi.


<details>
<summary>Phù để sinh con trai</summary>


![image](/img/img_9e21e42c8d14db1655899c5f1e399f83.png)

</details>



<details>
<summary>Phù để sinh con gái</summary>


![image](/img/img_283673c76f0831cc331ef657f7e50c18.png)

</details>



### 30. Phù hiệu đặc thù ở trên trời


Chúng ta thường nói: “Trên biết thiên văn, dưới biết địa lý”.
Bây giờ cuối cùng tôi đã biết, thì ra trên biết thiên văn là rộng lớn cỡ nào, trong đó có “thiên ý”, “thiên tâm”, “thiên phù”, “thiên tự”, mà “thiên tự” tức là phù hiệu đặc trưng ở trên trời.

Ví dụ:
Nếu như ngước đầu lên nhìn trời, trên trời xuất hiện “thiên tự” này, chúng ta có thể hiểu rằng, đây là: “Trên trời đang vui vẻ.” 
Làm chuyện gì đều có thể thành.


<details>
<summary>Phù hiệu “trên trời đang vui vẻ”</summary>


![image](/img/img_676b1d78b54caf7b240df017203ce967.png)

</details>


Còn nữa:
Khi tôi nhìn thấy chữ này, tôi tất nhiên biết là sẽ có đại hỷ sự sắp xảy ra rồi.
Tôi nghĩ đến hai người nào đó, mà trên trời lại hiện chữ Hỷ, liền biết hỷ sự đã gần.


<details>
<summary>Phù hiệu hỷ sự</summary>


![image](/img/img_c03cb166a374549ecc0f10ab3e650650.png)

</details>


Còn nữa:
Tôi đang nghĩ chuyện nào đó có làm được hay không? Ngẩng đầu nhìn trời, nếu như nhìn thấy phù hiệu như vậy, cho thấy sự nghiệp đó sẽ thành công, hơn nữa cũng rất thuận lợi.


<details>
<summary>Phù hiệu thuận lợi</summary>


![image](/img/img_7bef378decf082a93e91144f995fca32.png)

</details>


Còn nữa:
Khi mà hơi thở giận dữ không đều, nhìn thấy phù hiệu này trên trời, đó là ông trời đang gọi anh nói “Hãy chịu đựng một chút đi!”. Tôi thường xuyên nhìn thấy phù hiệu này. Đây là nhẫn nhục ba la mật.


<details>
<summary>Phù hiệu kiên nhẫn</summary>


![image](/img/img_4acda21055de440d9da2bb56d375392a.png)

</details>


Còn nữa:
Có người hỏi tôi: “Tôi có thể làm lãnh tụ quốc gia không?”
Tôi ngước đầu nhìn trời, trên trời xuất hiện chữ này, tôi sẽ nói với ông ấy: “Ông tuổi dê trong 12 con giáp phải không?”
Nếu không phải! Vô vọng rồi! Bởi vì tổng thống sẽ phải là người tuổi dê.


<details>
<summary>Phù hiệu tuổi dê mới thành công</summary>


![image](/img/img_2c910ddcb9456fa1d33a9924297690d5.png)

</details>


Lại nữa:
Có người xin làm ăn buôn bán, hỏi tôi được không?
Tôi nhìn lên trời, trên trời hiện ra phù hiệu này. Tôi liền biết ngay, không thể làm được!


<details>
<summary>Phù  hiệu bi ai</summary>


![image](/img/img_d5e8d62ca83bb03c7b654dc20c756c49.png)

</details>


Bởi vì “bi ai” !


### 31. Chế tâm vào nhất quán thiên văn


Cá nhân tôi dù sao vẫn thấy mỗi người trong chúng ta đều là một (tiểu) trời đất. Có câu, trời đất tuy lớn, cũng chỉ là giống một con người. Nhật nguyệt vãng lai vận hành, thật ra chính là ở trong cơ thể của con người. Sự xoay chuyển vật đổi sao dời cũng là ở trong thân của ta. Cũng có nghĩa là sự sinh ra của con người chúng ta là một tập hỗn độn, và sự sinh ra của trời đất cũng là một tập hỗn độn.

Con người do “địa, thủy, hỏa, phong, không” cấu thành.
Sự vận chuyển của trời đất.
Sự vận chuyển của cơ thể người.
Kỳ thực là cùng một sự vận chuyển.
Đạo gia cho rằng:
“Con người phải quay về lại với trời đất, phải đi ngược lại vào trong để mà tu tập, giống như từ nhiều biến lại thành một, rồi từ một biến thành không, thì hợp với Đạo.”
Đạo gia chú trọng:
“Sự tu luyện của tinh, khí, thần.”
Di Giáo Kinh của Phật gia nói:
“Chế tâm nhất xứ, vô sự bất biện.” (Kiểm soát tâm tại một chỗ, không việc gì là không làm được.)

Hành giả chúng ta muốn quán thiên văn biết chuyện thiên hạ, ở trên trời sẽ có dị tướng. Chúng ta đem dị tướng đó chiếu vào trong tâm là sẽ biết chuyện thiên hạ. Trời có phù hiệu, mà con người có thể hiểu được nó thì đều phải nhờ vào “chế tâm nhất xứ”. Đây chính là trên quán thiên văn.



<details>
<summary>Phù hiệu thành công, hỷ sự</summary>


![image](/img/img_5682ae04e919c3017b39d00b1309a880.png)

</details>


Giả sử như tôi nhìn thấy phù hiệu trên xuất hiện ở trên trời, nếu hỏi chuyện thiên hạ thì là hỷ sự, mừng vì có một vị minh quân xuất hiện. Nếu hỏi vận mệnh tương lai của một người, có phù hiệu này xuất hiện cũng là đại hỷ, đây là người có sự nghiệp lớn, chắc chắn xuất chúng hơn người.



<details>
<summary>Phù hiệu có thần linh bảo hộ</summary>


![image](/img/img_7e6bf9b8d7901116e5b965f6508782c8.png)

</details>


Nếu phù hiệu trên xuất hiện, cho thấy thần linh đang bảo vệ anh ta. Cho dù gặp khó khăn, sau này chắc chắn có gặp hung cũng hóa cát.



<details>
<summary>Phù hiệu “cầu mà không được”</summary>


![image](/img/img_202b907b60938602aef122aece375b4e.png)

</details>


Nếu như hỏi sự nghiệp, tương lai, sinh con, thọ mạng, sức khỏe, nhìn thấy phù hiệu trên xuất hiện thì không cần hỏi nữa, phí sức mà thôi. Phù thức này là ấn ký “cầu mà không được”.



<details>
<summary> Phù hiệu “nỗ lực sẽ thành công”</summary>


![image](/img/img_a1ea57bd748865489ce5f7f0cbb0fde7.png)

</details>


Quán thấy phù thức này, cứ nghiêm túc đi làm là được. “Cần” là khẩu quyết lớn nhất, tương lai chắc chắn thành công. (Cần ở đây là chuyên cần.)

Phù thức ở trên trời, có thể suy luận từ một thứ ra nhiều thứ.
Có ý cảnh vô cùng ở trong đó.


### 32. Phù phụng thỉnh Na Tra Tam Thái Tử


Tôi thấy con người thời nay đã biến nhân vật anh hùng Na Tra Tam Thái Tử trong Phong Thần Bảng thành Điện Âm Tam Thái Tử. 

Điện Âm Tam Thái Tử trở thành một con rối hợp nhất giữa người với thần.
Đeo kính mát, vừa hát, vừa múa.
Trêu tất cả khán giả, hoan hô vỗ tay không ngừng!
Thậm chí lan ra tận hải ngoại, trở thành tập tục cúng tế dân gian và văn hóa giải trí của vô số nơi vui chơi.

Tôi cảm thấy không có gì đáng chê trách cả, cũng không nỡ khiển trách, dù sao đó cũng là một sự sáng tạo. Nhưng trong hàng ngũ thần, ngài cũng là một vị tướng quân tiên phong, là thái tử nguyên soái, là hóa thân hoa sen, ba đầu sáu tay, pháp lực vô biên. Hai người huynh trưởng của ngài, Kim Tra và Mộc Tra đều là nhân vật thần tiên. Một vị là đệ tử của Văn Thù Quảng Pháp Thiên Tôn, còn một vị là đệ tử của Phổ Hiền Chân Nhân.

Na Tra Tam Thái Tử là đệ tử của Thái Ất Chân Nhân. Cha của ba anh em là Thác Tháp Thiên Vương Lý Tĩnh. Thái tử nguyên soái vốn là thần có địa vị khá cao, trong truyền ký của Phật giáo từng xuất hiện.

Cá nhân tôi cất giấu một phù thức, là phù phụng thỉnh Na Tra Tam Thái Tử. Phù này đem đốt, thái tử nguyên soái sẽ giáng lâm. 
Phù thức như sau:


<details>
<summary>Phù thỉnh Na Tra Tam Thái Tử giáng lâm</summary>


![image](/img/img_5236b7dca391ae3e83214fb93f0527a9.png)

</details>


Chú ngữ:
“Liên Sinh sắc lệnh, Khương công phong tướng, thái tử nguyên soái, công đức kim quang, liên hoa hóa sinh, hoa lưu kim hương, cước đạp nhị luân, tùy triệu tùy thỉnh, hạ giáng trần phàm, phổ cứu vạn dân. Cấp cấp như luật lệnh.”

Thái tử nguyên soái giáng lâm, bản lĩnh của ngài rất lớn, có thể hàng ma khử tà.
Phù thức như sau:


<details>
<summary>Phù thỉnh Na Tra Tam Thái Tử hàng ma</summary>


![image](/img/img_f54f03de2fcbf79678eb78e2ab1ebef3.png)

</details>


Chú ngữ:
“Thái tử nguyên soái bản tính lý, tam đầu lục tý đoàn đoàn chuyển, trảm ma quái, trảm tà quỷ, nhất thanh lệnh hạ, đáo thủ cầm lai, áp nhập Phong Đô Thành. Cấp cấp như luật lệnh.”

Không chỉ khử tà trói yêu, thậm chí có thể cầu mưa cầu gió, cầu mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, cầu trấn trạch, cầu nhân khẩu, cầu tài, cầu sức khỏe, cầu nhân gian phúc phần, cầu quang minh v.v…

Thái tử nguyên soái (Na Tra Tam Thái Tử) là thần hộ pháp của dân gian. Hễ có ai dùng phù này, chắc chắn ngài sẽ giáng lâm!
Hình thể thật sự của thái tử nguyên soái (Na Tra Tam Thái Tử), đơn giản vài nét bút thì chính là hình dạng này, trọng điểm là “phong hỏa luân”.


<details>
<summary>Phù hiệu của Na Tra Tam Thái Tử</summary>


![image](/img/img_5ca19e66799750d699840c943323a5b7.png)

</details>



### 33. Ngoại hô hấp và nội hô hấp


Phật nói: “Sinh mạng nằm ở giữa một hơi hít vào và một hơi thở ra.”
Sự hít thở của phàm phu, là ngoại hô hấp.
Sự hít thở của người tu hành, là nội hô hấp.

Tu hành của Đạo gia và tu hành của Mật giáo vô cùng xem trọng khí. Đạo gia là “tinh-khí-thần”, Mật giáo là “khí-mạch-minh điểm”.
Ngoại hô hấp là chuyện của thân thể.
Nội hô hấp là chuyện của pháp tính.

Đạo gia xem trọng: Thai tức.
Mật giáo xem trọng: Bảo bình khí.

Tôi nói: “Mật giáo chúng ta tu hành là đem khí hít vào trong, trực tiếp đưa xuống đến hạ đan điền. Đây gọi là hô hấp hoàn toàn, sau đó bế khí, trong Đạo gia gọi là phục khí. Lúc này khí không có chỗ thoát ra, chỉ có xông thẳng lên trên, xông lên thượng đan điền. Thượng đan điền cũng không có chỗ thoát, lại xông xuống hạ đan điền. Sự chạy qua chạy lại như vậy chính là sự bắt đầu của nội hô hấp. Cho đến khi nín thở không được nữa, mới thở ra từ lỗ mũi.”

Làm vậy có lợi ích gì?
1. Công hiệu cứu hộ bổ ích.
2. Công hiệu mậu kỷ nhị thổ giao hợp.
3. Công hiệu thêm dầu kéo dài thọ mạng.
4. Công hiệu trợ hỏa tàng kim.
5. Công hiệu lửa cháy hừng hực.
6. Công hiệu nội đan mộc dục.
7. Công hiệu ôn dưỡng nội đan.

Vì vậy Mật giáo xem trọng tu khí vào hạ đan điền, trung đan điền, thượng đan điền, ngưng khí mà vào, trên dưới giao lưu.
Đạo gia xem trọng thổ nạp (hít thở), tu khí vào dưới rốn bốn lóng tay, đến tim, đến thiên tâm. Trên dưới giao lưu.

Lã Trí Thường nói: “Một hơi thở tạm ngưng, không ra không vào, mới có thể mở ra được tạo hóa của trời đất.”
Trình Y Xuyên nói: “Nếu không mở ra được sự huyền diệu của tạo hóa tự nhiên, làm sao có thể trường sinh?”
Ông Bảo Quang nói: “Công phu một khắc khi thai tức đã có thể đạt được khí của trời đất cả một năm.”

Đương nhiên để có thể từ hô hấp thổ nạp mà bắt đầu tu hành, không thể bị bệnh về mũi, bệnh vặt về khí quản trong hô hấp, bệnh về tim mạch. Phù Liên Sinh của tôi có phù trị mũi, trị khí quản, trị tâm phế.


<details>
<summary>Phù thức trị mũi</summary>


![image](/img/img_12e99103406b429767fa472fb218e3ed.png)

</details>


Chú ngữ:
“Nhân thân khí tức trung, thường thường lộ bất thông, hạ nhật nùng vị thích, đông nhật thủy mông lung. Cấp cấp như Liên Sinh luật lệnh. Thông, thông, thông.”


<details>
<summary>Phù thức trị khí quản</summary>


![image](/img/img_3730b14b14d9e48058b289f2dc3cc6ba.png)

</details>


Chú ngữ:
“Khí đao vô viêm thủng, vô trở diệc vô ngại, thượng hạ lưu thông. Cấp cấp như Liên Sinh luật lệnh.”

Phù thức trị tâm phế, hen suyễn cũng có thể chữa.


<details>
<summary>Phù thức trị tâm phế</summary>


![image](/img/img_ddfe6b1ee4be3aaf032319390759e44a.png)

</details>


Chú ngữ:
“Vô ngại vô ngại hựu vô ngại, nhất khí quán nhật nguyệt sơn hải. Cấp cấp như Liên Sinh luật lệnh.”


### 34. Trưởng dưỡng thai tức


Có một lần tôi quán thiên văn, nhìn thấy trên trời xuất hiện sáu vết chân (lục túc):


<details>
<summary>Hư không xuất hiện “lục túc”</summary>


![image](/img/img_12dfb0d8907306795315822462090c07.png)

</details>


Trong lòng tôi rất vui mừng.
Vì tôi đang chuẩn bị khai giảng “Lục Tổ Đàn Kinh”.
Lục túc, Lục Tổ, đây là sự gia trì của ông trời cho tôi. Đây là ấn ký tương ứng.
Lại có một lần.
Khi tôi chuẩn bị giảng “Mật Tông Đạo Thứ Đệ Quảng Luận”, khai giảng lần đầu tiên, tôi nhìn về hư không, trong hư không xuất hiện:


<details>
<summary>Hư không xuất hiện chữ “Tsong”</summary>


![image](/img/img_3d02c5cb2a131ca61c132648d6424e43.png)

</details>


Ha! 
Đây là chữ “Tsong” của “Tsongkhapa”, điều này biểu thị tổ sư dòng Gelugpa sẽ đích thân đến gia trì cho tôi giảng “Mật Tông Đạo Thứ Đệ Quảng Luận”.

Tới khi khai giảng:
Tsongkhapa đã hiện kim thân, xung quanh phóng chiếu vô lượng quang. Đây là những gì tôi chính mắt nhìn thấy.
Tôi nhìn thấy phù hiệu của thai tức như hình sau:


<details>
<summary>Phù hiệu của thai tức</summary>


![image](/img/img_1331f1f975b693a58dcd69e99a8eb75a.png)

</details>


Cái gì là thai tức?
Tôi tổng hợp ý kiến của các đạo phái, khai thị như sau:
Viên Thiên Cương: Nguồn gốc của Đại Đạo, mẹ của trời đất, một âm một dương, sinh dục vạn vật. Người học thai tức, dẫn tiên thiên khí nhập thai.
Đạt Ma Tổ Sư: Thai từ trong phục khí mà kết, khí từ trong tiên thiên mà tức, tâm bất động niệm, không đến không đi, không ra không vào, tự nhiên trường trụ.
Vương Tử Kiều: Định tâm bất động, nói chính xác là thiền. Thần thông vạn biến, nói chính xác là linh. Trí chu vạn sự, nói chính xác là tuệ. Đạo nguyên hợp khí, nói chính xác là tu. Tu này tức là thai tức.
Hứa Tê Nham: Di khứ tam thi, khử trừ lục tặc, nạp khí vào đan điền, định tâm tại giác hải, khí trụ trong thai, trưởng dưỡng thai tức.
Vương Phương Định: Định tâm khí, ngưng thai tức, hoàn đan không xa.

Cá nhân tôi cho rằng:
Khẩu quyết học Phật không gì khác, nằm ở:
Tâm định.
Khí trụ.
Vô niệm.
Mà tiên thiên khi đi vào trong mạch, trưởng dưỡng ở ba đan điền: hạ, trung, thượng.
Thai tức chủ yếu nhất nằm ở hạ đan điền.
Đây là thai của tu hành.
Cũng chính là thánh thai.

Thánh thai và phàm thai không giống nhau.
Thánh thai: tiên thiên khí của người tu hành.
Phàm thai: thiên khí của người thế tục.
Người thế tục âm dương hợp nhất, sinh ra phàm thai. Có một loại phù Bình an, bắt đầu từ lúc có thai cho đến lúc sinh, đốt cho vào nước uống, thì thai nhi bình an, sinh đẻ bình an.
Phù thức như sau:


<details>
<summary>Phù thai nhi bình an</summary>


![image](/img/img_eb061be04284558fad96a8c46c19d616.png)

</details>


Chú:
“Trụ thai trưởng dưỡng khí, xuất sinh biến hậu thiên, nhập trụ cập xuất sinh, nhất thiết giai bình an. Cấp cấp như Liên Sinh luật lệnh.”
Phù này rất trân quý.


### 35. Khẩu quyết tu hành của tôi


Đời này của tôi bước vào con đường tu hành, quanh quanh co co, lật lên lật xuống, điên điên đảo đảo, sóng khởi sóng dừng, không sinh không tử. Cứ như vậy tôi đã đi qua được hơn bốn mươi năm.
Người ta hỏi tôi khẩu quyết?
Tôi đáp một chữ “cần”.
Tôi đích thực rất chuyên cần, vả lại dù có trăm nghìn trắc trở vẫn không thối chuyển, đạo tâm kiên cố.
Phương pháp của tôi là:
Thân không động, chính là giữ giới.
Giữ giới thì tâm bình. Tâm bình thì khí hòa.
Tâm khí có thể bình được, thì thần có thể kiên cố.
Thần có thể kiên cố thì phóng quang. Phóng quang thì thanh tịnh.
Thanh tịnh thì có thể vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thời gian.
Tất cả đều không, tức khắc Phật tính tự hiển.
Phật tính tự hiển thì minh tâm kiến tính.

Hòa thượng Bảo Chí nói: “Nếu có thể buông xuống, trong Không chẳng có vật gì, liền nhập vào trong Như Lai Tạng!”
Tôi nói: “Tâm bình khí hòa có thể buông xuống!”
Kinh Duy Ma Cật viết: “Đưa chân lên bỏ chân xuống đều là bước trên đường đạo!”
Tôi nói: “Thân bất động, hoặc động, đều là trên đường đạo!”
Kinh Pháp Tạng viết: “Trú tâm dạ tâm, thường du pháp uyển khứ!”
Tôi nói: “Minh tâm, nhất thiết giai không vô sở hữu. Kiến tính, quang minh thanh tịnh Phật tịnh du.”
Thơ:
Tâm vô sở hữu, trạm nhiên kiến tính;
Thể dụng như như, khuếch nhiên tương ấn.

Tôi có một phù thức:


<details>
<summary>Phù thức thiền định</summary>


![image](/img/img_47451e856ddda53e497eea7cebbc0a69.png)

</details>


Chú ngữ:
“Minh tâm hựu kiến tính, Phật quang tự đằng đằng, kim hoa chiếu quang cảnh, thân tâm nhật nguyệt đồng, chư thánh tại tiền hành, vạn kiếp thọ vô cùng, hữu thử nhất tự tại, pháp giới tự tại du. Cấp cấp như Liên Sinh luật lệnh.”

Tôi còn có một tấm phù thiền định khác. Phù thức là:


<details>
<summary> Phù thức thiền định đầy đủ</summary>


![image](/img/img_ef1763c30cccdaaec3551b8d088e7e3f.png)

</details>


Chú ngữ:
“Hành giả cử túc ư đạo thượng, trú giả ngưng thần ư thái hư, tọa giả điều đan điền chi tức, ngọa giả bão tề hạ chi châu, thị giá cá, thị na cá hành, trú, tọa, ngọa, cá cá cá. Cấp cấp như Liên Sinh luật lệnh.”

Phù này thù thắng, chưa từng tiết lộ.
Đem đốt pha nước uống, quang minh sẽ hiện ngay.
Phù này dùng để hỗ trợ cho thiền định, là phù thượng thánh, người trung căn và hạ căn đừng dùng.


### 36. Quang minh hiển hiện trong giấc mơ


Nói đến giấc mơ, đích thực là một chuyện rất kỳ diệu!
Trong Mật giáo có pháp Miên quang là nói tới pháp tu mà hành giả Mật giáo ngủ trong ánh sáng.
Phòng ma.
Kết giới.
Vô mộng. (Hoặc minh mộng)
Tu pháp.

Về nguyên tắc, hiểu rõ là giấc mơ, khống chế được giấc mơ, sẽ có thể tu hành trong giấc mơ. 
Phù thức như sau:


<details>
<summary>Phù kiểm soát giấc mơ</summary>


![image](/img/img_ffd3403ae9a1c829ceb05176d893facf.png)

</details>


Trong Đạo gia mà nói: Khi ngủ nếu không cảnh giác, nguyên tinh sẽ chảy ra từ phía dưới, còn khí sẽ từ phía trên bay mất, thần lúc này sẽ tự nhiên không có chủ mà chạy mất, không có chỗ dựa, chạy hết ra ngoài.
Thần ở chỗ nào?
Ban ngày ở mắt, lúc ngủ ở thận.
Tinh-khí-thần tan biến mất là phàm phu.
Tinh-khí-thần có thể kiên cố là Thánh hiền.
Đạo gia nhận định:
Hồn và thần tương hợp, khiến người ta tỉnh táo.
Phách và thần tương hợp, khiến người ta hôn mê.
Hồn là thần, là dương.
Phách là quỷ, là âm.

Khẩu quyết nằm mơ là:
“Trước lúc ngủ tuyệt đối không được vọng tưởng, như thế thần càng hư minh, cho dù trong mơ xuất hiện quấy nhiễu cũng vẫn có thể bình thường, tất cả chuyển thành thuận lợi.”

Người mơ thấy ác mộng liên miên là vì khí rất đục, vọng tưởng tán loạn, âm khí tương xâm, mặt quỷ mặt ma xuất hiện.
Có một bài kệ:
*Triều lên, nước tới táp bờ sông
Gió định, sông tâm lặng sóng dồn
Tính lặng, tình không, tâm bất động
Thiền không hôn tán, ngủ không ma.*

Nếu như khí đục, dùng phù sau khắc chế:


<details>
<summary>Phù khắc chế khí đục</summary>


![image](/img/img_d86edd506805bc0b0d18b1fd49f7051b.png)

</details>


Chú ngữ: 
“Thiên địa đồng sinh, nhật nguyệt đồng minh, hồn phách đồng tại, hoàn hình thái chân. Tảo uế khử khiên, mộng tại quang minh, huyền đài tử cái, sử ngã trường sinh. Cấp cấp như Liên Sinh luật lệnh.”

Tôi lại có phù chấm dứt ác mộng.
Phù thức như sau:


<details>
<summary>Phù chấm dứt ác mộng</summary>


![image](/img/img_b89aba13aa157335d939935419275706.png)

</details>


Chú ngữ: 
“Liên Sinh sắc lệnh. Tường quang oánh oánh. Ngô kim trì chú. Ngạc mộng tốc đình. Cấp cấp như Liên Sinh luật lệnh.”


### 37. Phù chú siêu độ


Khi siêu độ.
Trước tiên trai cúng.


<details>
<summary>Phù thức trai cúng</summary>


![image](/img/img_d701695835aba32d10df9b8fa5d94628.png)

</details>


Khi trai cúng niệm chú:
“Liên Sinh sắc lệnh, tự nhiên thiên thực trù, chử xuất thất vị hương, ngô kim lai gia trì, nhất lạp biến hà sa, nhất bàn biến vạn bàn, thập phương quỷ thần cộng. Cơ khát vĩnh tiêu diệt, thực chi như Dao Trì, kim đặc thi u hồn, công đức bất tư nghị. Nhất thiết hữu vi quỷ, cô hồn cập du quỷ, bạt độ tam đồ khổ, thi như cửu huyền thân, độ đàn thâu trì nhật, nhất thanh nam mô Phật, giai cộng thành Phật đạo. Cấp cấp như luật lệnh.”

Phù thức siêu độ như sau:


<details>
<summary>Phù thức siêu độ</summary>


![image](/img/img_b2345e299a4c1d1be76743329e72578c.png)

</details>


Khi siêu độ niệm chú:
“Liên Sinh sắc lệnh, siêu nhữ đẳng cô hồn, nhất thiết du quỷ chúng, tứ sinh giai triêm ân. Hữu đầu giả siêu, vô đầu giả sinh, thương đao đấu sát, khiêu thủy huyền thằng, minh tử ám tử, oan khúc khuất vong, trái chủ oan gia, thao mệnh nhi lang, toàn quỵ ngô đài tiền, Bồ Tát phóng quang, tiêu trừ tội nghiệp, nhất thời thanh minh, siêu sinh Phật phương. Cấp cấp như luật lệnh.”

Hai lá phù trên có chú tự bí mật ở bên trong. Dát vàng lá đem đốt, có thể siêu độ cửu tộc!

Một lần, có người xem tướng soi xét tôi, thấy nửa thân tôi biến mất, thay vào đó là xuất hiện một con rồng. 
Rất nhiều người nói:
“Lư Sư Tôn là rồng!”


<details>
<summary>Phù thức của rồng</summary>


![image](/img/img_ef227415451e124dbf19e187689d769e.png)

</details>


Trong số đệ tử của tôi, có người tu hành thành tựu muốn vãng sinh Ma Ha Song Liên Trì.
Tôi có lúc sẽ viết tặng một chữ, chữ ở dưới:


<details>
<summary>Chữ Seh vãng sinh</summary>


![image](/img/img_d7511664bd6518ae7a28ef022fb0c610.png)

</details>


Hà hơi vào chữ này, bỏ vào trong lòng bàn tay hoặc viết trong lòng bàn tay người muốn vãng sinh, người đó sẽ bay lên Phật quốc Ma Ha Song Liên Trì.
Chú:
“Liên Sinh sắc lệnh. Chú tự phóng quang. Nghiệp chướng tiêu trừ. Tốc tốc biến dị, phản hồi liên trì. Bạch vân pháp tọa. Giai đắc phi thăng. Song Liên thắng địa. Nguyên hanh lợi trinh.”


### 38. Cầu Long Vương giáng mưa


Nhớ có một lần Indonesia bị hạn hán, bốn tháng liền không có mưa. Tôi đến Indonesia tổ chức đại pháp hội.
Địa điểm tại Senayan, Jakarta.
Vào hôm pháp hội, trời vẫn nắng chói chang.
Lúc tôi ở trong pháp hội, hướng về hư không vẽ một tấm phù.
Niệm chú: “Động nhất cước, hảm nhất thanh, hảm đắc Long Vương tâm kinh kinh, thị ngã Liên Sinh tại thử hảm, cách sơn hảm sơn thần, cách thủy hảm thủy thần, hảm lai tứ hải đại Long Vương, ngã cước thải long đầu, hấp tận tứ hải thủy, ngã cước thải long yêu, ẩm tận giang hà, Long Vương a! Long Vương a! Ngã chỉ na phương, na phương hạ vũ, ngã chỉ tứ phương, tứ phương hạ vũ, cấp cấp hựu cấp cấp, khoái khoái hựu khoái khoái, hải thủy đảo lưu, giang hà tiết hạ. Cấp cấp như luật lệnh.”

Thế rồi tôi nói:
“Sau khi pháp hội này kết thúc, cả nước Indonesia sẽ mưa lớn!
Quả nhiên pháp hội vừa kết thúc được mười phút, toàn bộ cả đất nước Indonesia trút xuống một cơn mưa lớn. Chuyện này chấn động cả Indonesia. Tạp chí Asean cũng đưa tin.

Phù thức như sau:


<details>
<summary>Phù cầu Long Vương giáng mưa</summary>


![image](/img/img_1f6a737311bc42b5e2ec326e4a899783.png)

</details>


Hoặc sử dụng chú ngữ: 
“Xi-li, xi-li, xi-xi-li. Oa-la, oa-la, oa-oa-la. Liên Sinh sắc lệnh, long vũ cấp chí. Cấp cấp như luật lệnh.”

Còn nữa:
Vào ngày 21 tháng 2 năm 2015, tôi ở Đài Loan Lôi Tạng Tự tổ chức pháp hội Hồng Tài Thần Hộ Ma (hỏa cúng).
Năm đó Đài Loan hạn hán đã ở mức thiếu nước cấp hai. Tôi ở trên pháp tọa hát bài hát trời mưa.
“Xi-li, xi-li, oa-la, oa-la. Mưa xuống  đi thôi! Mẹ đưa ô đến đón con. Xi-li, xi-li, oa-la, oa-la, la-la-la.”
Các đồng môn hát theo tôi.
Tôi vẽ trong hư không, phù như sau:


<details>
<summary>Phù giáng mưa</summary>


![image](/img/img_cb930e18d867fbc9bd35b36037178742.png)

</details>


Tôi nói: “Pháp hội kết thúc, mau chóng mưa xuống cho ta!”
Kết quả là tới khi quán đảnh (lúc cuối kết thúc pháp hội), quả nhiên đã có mưa xuống! (Hàng vạn người có thể chứng minh.)
Tôi đã rất nhiều lần cầu mưa được mưa, vô số lần như vậy rồi. Tại sao lại được như vậy?
Tôi nói cho mọi người biết:
Tôi tu đến:
Tâm không một vật thì là hư, ý niệm không khởi thì là tịnh.
Tôi là Tiên thiên nhân, không phải Hậu thiên nhân.
Nói với mọi người một cách đơn giản, Liên Sinh Hoạt Phật không phải là hư danh, mà là thần tiên. 
Một tấm phù làm chứng, đây là phù hiệu gì, bạn có biết?


<details>
<summary>Đây là phù hiệu gì vậy?</summary>


![image](/img/img_4c07d8eb5544bfab3f5684bc349e3057.png)

</details>



### 39. Hung trạch biến vượng trạch


Có một truyền thuyết, nhưng cũng là sự thật.
Tôi nghiên cứu phong thủy địa lý, là chuyên gia cứu nghèo cứu khổ. Có đồng môn họ Trương, nhà nghèo rớt mồng tơi, đã vậy trong nhà liên tiếp xảy ra chuyện quái lạ. Người nhà thường xuyên bị tai nạn, không bị thương thì tàn tật, nếu không thì bị bệnh.
Tôi đến nhà của anh Trương.
Nhà này “trước cao sau thấp”.
“Hướng Bắc có sát thủy”.	
“Đông Nam cao, Tây Bắc thấp”.
Đây là gia trạch tam hung điển hình.
Tôi muốn họ chuyển nhà đi.
Anh Trương trả lời: “Không có tiền để chuyển nhà! Thực sự không có khả năng chuyển nhà.”

Tôi thấy anh Trương lương thiện, những người trong nhà cũng đều rất chất phác thật thà, nên đã quyết định giúp đỡ họ. Tôi đặt “long thần” ở hậu trạch của căn nhà này. Phù thức như sau (số 1):


<details>
<summary>Phù an trạch số 1</summary>


![image](/img/img_cf11f0bffb4bcc16a6e36b9f3ce5ad70.png)

</details>


Sát thủy ở hướng Bắc, đặt Tảo sát phù. Phù thức (số 2) như sau:


<details>
<summary>Phù an trạch số 2</summary>


![image](/img/img_64c83d708ae1e7f4ff3dd636bc7623c4.png)

</details>


Về phương diện Đông Nam cao, Tây Bắc thấp, tôi dán một tấm phù ngay chính giữa căn nhà. Phù thức (số 3) như sau:


<details>
<summary>Phù an trạch số 3</summary>


![image](/img/img_db4bb995828990c1329b750342bc2a23.png)

</details>


Ba phù trên đều cùng một câu chú. 
Chú ngữ là: “Tam phù thượng đạt ư thiên, tam phù hạ đạt nhất địa, nhất phù trấn thần quỷ, nhị phù trấn phong thủy, tam phù thị lôi cương. Nhân khán nhân trường sinh, quỷ khán quỷ diệt vong. Tiền môn tuy thị nhất trùng sơn, hậu môn khước thị nhất trùng thiên. Thủy lai tự áp sát. Nhân lai khán kiến Phật tổ điện, quỷ lai khán kiến Ngũ Đài sơn. Cấp cấp như Liên Sinh luật lệnh.”

Sau khi đặt ba phù này rồi.
Ba năm sau, anh Trương làm ăn cực kì phát đạt, tiền tài vào như nước, trở thành đại phú đại quý. Sáu năm sau, thành viên trong gia đình tăng lên, không bệnh không tai ương. Chín năm sau, người người trường thọ.
Ba mươi năm sau, bốn đời cùng chung sống, năm đời cùng chung sống, người người thành gia lập nghiệp. Người làm bá chủ phương này, người làm đại gia phương kia. Nơi đâu cũng có thiện sĩ, nơi đâu cũng có lãnh đạo chính trị gia, họ đều xuất thân từ nhà này. 

Chú ngữ: 
“Thiên chuyển chuyển, địa chuyển chuyển, chuyển lai chuyển khứ, quang minh tàng. Thử phù bội tự, vận tự chuyển, nguyên hanh lợi trinh.”

Các đệ tử! Có nhận ra phù sau đây không?


<details>
<summary>Đây là phù gì?</summary>


![image](/img/img_9645d093fe37bda373416bee21196081.png)

</details>



### 40. Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang


Vào mùa xuân năm 2015, tôi tổ chức hai pháp hội lớn nhất.
Tại Đài Loan Lôi Tạng Tự: Bản Sơ Phật (Adharma Buddha).
Tại Trung Chính Kỷ Niệm Đường: Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang.
Hai vị này rất ít thông tin được tìm thấy trong thông tin đại chúng. Những gì có thể tìm thấy chỉ được một phần rất ít mà thôi. Cũng rất hiếm ai truyền thụ pháp này. Vì vậy pháp duyên thù thắng.

Cao Vương Quan Thế Âm Kinh thịnh hành vào thời nhà Đường, có danh hiệu của vị Phật đầu tiên là Tịnh Quang Bí Mật Phật. Mọi người không biết là ai.
Tôi giảng:
“Đây chính là Bản Sơ Phật (Adharma Buddha), và hóa thân ra Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang.”
Trong cuốn sách này có một phù thức:


<details>
<summary>Phù thức diễn hóa từ chư Phật</summary>


![image](/img/img_6bb5ba40f8382d7a675ad9aa29f211eb.png)

</details>


Tôi nói cho mọi người biết:
Hình tròn có chấm ở giữa, ở phía trên tượng trưng Bản Sơ Phật, là biểu tượng của tất cả chư Phật.
Ba vân ở phía dưới là tượng trưng “Đại Huyễn Hóa Võng” là tất cả diễn hóa.
Vị Đại Huyễn Hóa Võng này cũng chính là do Bản Sơ Phật hóa hiện ra, hình tướng gồm hai mươi mốt khuôn mặt, bốn mươi hai cánh tay, tám chân. Phật Mẫu có chín mặt, mười tay, bốn chân.
Mỗi cánh tay cầm một gương sáng.
Trong kính (gương) có bốn mươi hai vị Tịch Tĩnh.
Bốn mươi hai vị Tịch Tĩnh bao gồm:
Năm bộ Như Lai, năm Phật Mẫu, tám đại Bồ Tát, tám đại Bồ Tát Mẫu, bốn Minh Vương, bốn Phẫn Nộ Mẫu, sáu Thích Ca Năng Nhân, cộng thêm Bản Sơ Phật và Đại Tự Tại Phật Mẫu.
Tổng cộng bốn mươi hai vị.
Ngoài ra còn có vị Phẫn Nộ gồm năm mươi tám vị, cộng lại là một trăm vị Tịch Tĩnh Phẫn Nộ.
Chú ngữ:
 “Ôm pê-cha chua-ta ma-ha-sê si-li hê-rru-ka hùm pây.”
Thủ ấn:
Hai tay chụm vào, để hở phía dưới. (như hình)


<details>
<summary>Thủ ấn chụm tay</summary>


![image](/img/img_cfb8bf43b833ed7a3d81ecf98364608f.png)

</details>


Có hình tướng, chú ngữ, thủ ấn, như thế là có thể tu pháp tụng niệm.
Thật ra ý nghĩa chính, chỉ có hai chữ: “Phản bổn”.
Nhân gian là “đại huyễn”, tất cả giống như “hóa võng”.
“Phản bổn” chính là tu quay lại. Có thể đắc thành tựu được tam thân.

Phù thức của Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, tôi vẽ như sau:


<details>
<summary>Phù thức của Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang</summary>


![image](/img/img_d2f70d5517ba279598fde620de5d90f2.png)

</details>


Phù này do tự tâm tôi tuôn chảy ra, cực kỳ cơ mật, là phù dùng để tu pháp này, uống hoặc đeo trên người đều được.


### 41. Pháp tu Bản Sơ Phật


Tôi chuẩn bị truyền thụ pháp tu Bản Sơ Phật Adharma Buddha.
Tôi thuật trước ý chính:
Trong Cao Vương Kinh, vị Phật đầu tiên tức Tịnh Quang Bí Mật Phật chính là Adharma Buddha (Bản Sơ Phật).
Phật Đà nói: “Chúng sinh đều có đủ Phật tính.”
Trong Kinh sách nói:
“Ban đầu trước khi con người được cha mẹ sinh ra thì chỉ là hư không bản sơ mà thôi, đó cũng chính là vô cực, Phật tính, tính Không. Từ sau khi cha mẹ cấu tinh, nhất điểm linh quang hạ giáng, sau này biến thành khí và biến thành hình thể. Phần lớn con người chỉ biết là có thân thể và khí thần mà thôi, nhưng lại không biết có Phật tính nhất điểm linh quang. Sinh ra như vậy, chết đi như vậy, tự cho rằng đời người chính là như vậy.”
“Nhưng người tu hành biết có nhất điểm linh quang, biết có thể tu quay về Phật tính, nhận biết bản lai diện mục, tu quay lại bản lai diện mục, hồi phục lại khí của hư không bản sơ, hồi quy Bản Sơ Phật.”


<details>
<summary>Bản Sơ Phật phù thức</summary>


![image](/img/img_ed5950ecf1da2091c425b2f3430d0059.png)

</details>


Chính giữa có một chấm là Bản Sơ Phật. Bên ngoài một vòng tròn là “thiên viên” (trời tròn), phía bên ngoài nữa là “địa phương” (đất vuông).
Đây cũng tức là “thiên viên địa phương, luật lệnh cửu chương, ngã kim tu hành, quy hồi trung ương.”

Tôi viết ra nghi quỹ tu pháp như sau:
Đại lễ bái.
Đại cúng dường.
Tứ quy y.
Tứ vô lượng tâm.
Các loại thất chi pháp.
Kết duy nhất thủ ấn: Hai tay đan nội phộc, hai ngón cái giơ thẳng chạm vào nhau.

Quán tưởng chữ Ah màu trắng trong hư không, biến thành chữ Hum màu xanh lam. Rồi trong nháy mắt biến thành Bổn tôn Bản Sơ Phật màu xanh lam. Ngài có một mặt hai tay, hai tay đều cầm chày kim cang, trang sức trang nghiêm, hai chân ngồi theo thế kim cương kiết già. Trong tâm Phật Phụ chữ "Uân" trong một sát-na phóng ra một luồng ánh sáng lớn. Luồng ánh sáng lớn này quay lại ngự ở trên đùi kim cương kiết già hóa làm Đại Tự Tại Phật Mẫu. Hai vị ôm lấy nhau. Hai vị đeo trên đầu năm loại báu vật làm trang nghiêm, bông tai, vòng cổ, tóc hoa, đầy đủ tám loại báu vật trang nghiêm. Hai vị thị hiện chín loại vi diệu tịch tĩnh tướng: thon thả, tay chân mềm mại tròn trịa, eo thon nhỏ, trẻ trung, minh hiển, tỏa ánh hào quang, trang nghiêm, hoan lạc.
Trọng điểm là:
Phật Phụ Phật Mẫu phóng ra ánh sáng quang minh, trong mỗi tia sáng tỏa ra đều có một vị Phật, vô lượng tia sáng có vô lượng Phật, hàng nghìn màu sắc, hàng nghìn vị Phật.
Ngoại quán giống như vậy.
Nội quán bản thân là chữ “Uân”, tự hóa thành Bản Sơ Phật và Phật Mẫu.
Niệm chú:
“Ôm pê-cha a-ta-ơ-ma ta-tu sô-ha.” Càng nhiều càng tốt.
Nhập định. (Đi vào hư không, tâm không một vật, một niệm cũng không khởi.)
Xuất định hồi hướng.
Đại lễ bái.
Phù chú của Bản Sơ Phật là chữ “Uân”.


<details>
<summary>Chữ “Uân”</summary>


![image](/img/img_628186fdef211610421fa90655d42e52.png)

</details>


Chữ “Uân” này chính là chữ sau khi tôi hồi hướng (trong tu pháp) thường hô lớn tiếng một tiếng: “UÂN”.


### 42. Khẩu quyết quan trọng cần ghi nhớ


Tôi biết thế gian là “đại huyễn”, vạn tượng là “hóa võng”. Vì vậy mà ngộ Phật tính, minh tâm trong đại đạo, vô sở đắc, vô sở trụ, vô sở vị, vô sinh. Do ngộ nhập như thế, liền “biết” tính Không, đây mới là khai ngộ. Chuyện này hàng vạn người không thể “biết”, chỉ có vài người có thể “biết”.
Ghi nhớ:
Thượng bất lậu khí. (Pháp vô lậu)
Hạ bất lậu tinh. (Pháp vô lậu)
Nguyên thần có thể cố thủ ở thượng đan điền.
Chỉ cần nguyên thần có thể cố thủ không chảy ra ngoài, lợi ích của nó rất lớn:
Khí tự nhiên đi lên trên. (Pháp chuyết hỏa)
Tinh tự nhiên dâng lên trên. (Pháp chuyết hỏa)
Khẩu quyết trọng điểm: “Thủy hỏa ngưng kết”. (Pháp minh điểm)
Khẩu quyết tối quan trọng là: “Tâm không một vật thì là hư, một niệm không sinh thì là tịnh.” (Pháp thiền định). 
Lúc này, trời mở ra, lỗ trên đỉnh đầu cũng mở ra, thần khí xuất hiện, giữ tới khi thành tựu ngọc mani vừa đỏ vừa tròn, nghìn Phật vạn Phật từ đó mà ra.
Thân bất động: giữ giới.
Tâm bất động: khí ngưng, tinh ngưng.
Ý bất động: thần ngưng.
(Tinh-khí-thần ba thứ hợp nhất.)

Phù thức như sau:


<details>
<summary>Phù hợp nhất tinh-khí-thần</summary>


![image](/img/img_e3687a4ecce3d98fdece5eae8f265fdf.png)

</details>


Thứ tự tu hành trong Mật giáo là:
Tụ khí trước. (Khí đi vào trung mạch.)
Dùng khí thúc đẩy chuyết hỏa.
Chuyết hỏa đi lên trên tiếp xúc với bồ đề tâm nguyệt dịch (chất lỏng).
Thủy hỏa ngưng kết tại Tâm luân.
Khai mở Tâm luân.
Phật tính tại Tâm luân xuất hiện.
Phật quang phóng chiếu khắp nơi.
Trong quá trình này, phải có pháp vô lậu, pháp chuyết hỏa, pháp minh điểm. Bên ngoài phải khai ngộ minh tâm, bên trong phải tu tới Phật tính tự hiện.
Khẩu quyết là:
Thân bất động: tinh cố (thủy triều nguyên).
Tâm bất động: khí cố (hỏa triều nguyên).
Ý bất động: thần cố (thần triều nguyên).
Tâm không một vật, một niệm không sinh, tinh-khí-thần đều ngưng tụ tại lỗ bí mật.
Vì vậy nói, khẩu quyết của thiền định là ở “vô sự”, “vô tâm”.
Chỉ sợ lòng người không kiên định.
Đạo kia muốn thành phải chuyên tâm.
Chỉ có chuyên nhất và tỉ mỉ.
Nắm chắc dũng mãnh thẳng tiến lên.
Gửi cho người thực tu: Nếu có thể học thuộc khẩu quyết tu hành của tôi, thực hiện từng cái, chắc chắn sẽ thành Phật.
Tôi viết một phù thức (như bên), gia trì năng lực thiền định (đốt rồi uống).


<details>
<summary>Phù giúp thiền định</summary>


![image](/img/img_5a872d57eaf72162cd4ea3953478f54c.png)

</details>



### 43. Phụ khoa tổng phù và những cái khác


Trong cuốn “Linh Tiên Phi Hồng Pháp”, tôi có vẽ một tấm phù, tên là Phụ khoa tổng phù, chuyên trị bệnh phụ nữ.
Phụ nữ trong thời kỳ sinh lý có nhiều triệu chứng:
Chóng mặt.
Đau nhức.
Chướng bụng.
Băng huyết.
Buồn bực.
Khó ngủ.
v.v.
Nếu như phát sinh ra các chứng bệnh thì càng không thể đếm hết được, trở nên vô cùng phức tạp. Ví dụ: lạc nội mạc tử cung, u nang buồng trứng, u xơ tử cung, các bệnh cổ tử cung, buồng trứng…

Phù thức chữa như sau:


<details>
<summary>Phù trị các bệnh phụ nữ</summary>


![image](/img/img_f76cbe491014b3b0caaa6d1b41dfc405.png)

</details>


Chú ngữ:
“Đinh hành kí, chu chu phanh tinh chu, nguyên sinh chủ. Cấp cấp như luật lệnh.”

Cái gì là “đinh hành kí”?
Đáp: Kí tức là khí, cũng tức là hành khí.
Cái gì là “chu chu phanh tinh chu”?
Đáp: Ý là trong chu kì hành kinh ra máu.
Cái gì là “nguyên sinh chủ”?
Đáp: Quay lại bình thường như ban đầu.
Tôi dùng phù này chữa trị rất nhiều chứng bệnh phụ nữ. Hiệu quả khiến người khác phải kinh ngạc, có thể loại bỏ toàn bộ nỗi khổ của bệnh phụ nữ.
Mười một chữ này là do sư phụ truyền thụ cho tôi, thuộc về phù chữ “thượng”, vốn vẽ thiếu một chữ, nay bổ sung. Thực ra nhiều hơn một chữ, hay thiếu mất một chữ, ý nghĩa của nó vẫn giống nhau.

Tôi lại có một phù thức:


<details>
<summary>Phù trị phụ khoa bổ sung</summary>


![image](/img/img_6f039985283052dd73c6b4374c57943e.png)

</details>


Chú ngữ:
“Chủ uế tiêu trừ, cửu khổng nguyên sinh, sử ngã biến dịch, phản hồi chính thân. Cấp cấp như luật lệnh.”

Phù này trị phụ khoa.
Công hiệu thù thắng.
Nếu như trị kiểu gì cũng trị không khỏi, vẽ hai tấm phù trên cũng vô hiệu, tôi sẽ cần phải:
Sái tịnh.
Trai giới.
Quán thiên văn.
Khi quán thiên văn, nếu trên trời hiện chữ sau:


<details>
<summary>Dấu hiệu oan trái nhân quả không thể cứu</summary>


![image](/img/img_f08e76d539df2a6da27a01232d844fdb.png)

</details>


Xuất hiện chữ này thì các pháp cứu không thể ứng nghiệm, bởi vì bệnh là oan trái sản sinh từ nhân quả, không ai có thể giải được.


### 44. Mắt và thận


Mắt ở trên cơ thể là rất quan trọng.
Hoàng Cực Kinh nói: “Thần của trời nằm ở mặt trời, thần của người phát ra từ mắt.”
Trương Tử Dương nói: “Đẩu cực kiến tứ thời, bát tiết vô bất thuận. Đẩu cực chí ngột nhiên, khôi tiêu tự di động. Chỉ yếu lưỡng nhãn hiệu, thượng hạ giao tương tống. Tu hướng tĩnh trung hành, mạc hướng mang lý tống.”
Tôi nói: “Nhật nguyệt triều thiên, tức là hai con mắt nhìn lên trên.”
Trong pháp Đại Viên Mãn của Mật giáo có pháp nhìn ánh sáng hay tụ quang, như quán mặt trời, quán mặt trăng, quán vì sao, quán đèn, v.v... Nếu như có bệnh mắt thì không thể quán được cái gì cả. 
Hỏa Hầu Ca có nói: “Dục thấu huyền huyền tu cẩn độc, cẩn độc công phu cơ tại mục.” [Muốn thấu tỏ những bí ẩn sâu xa thì phải cẩn thận từng chút một, công phu cẩn thận từng chút một nằm ở mắt.]
Cũng vì thế người hiện đại nói: “Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn.” 
Ví dụ: bệnh cận thị, viễn thị, đục thủy tinh thể, tăng nhãn áp, mắt mờ, viêm giác mạc, đau mắt đỏ v.v... đều có phù có thể trị.
Phù thức như sau:


<details>
<summary>Phù chữa bệnh mắt</summary>


![image](/img/img_14b38cbdabef0e502bb802ae57b58901.png)

</details>


Chú ngữ: 
“Ngã kim bái thỉnh nhật nguyệt tinh, tam quang khai nhữ vũ chướng ngại, sáp thời tự nhiên kiến quang minh, nhất thiết phong hỏa giai tiêu diệt, song mục y cựu phục thiên chân. Cấp cấp như Liên Sinh luật lệnh.”

Còn nữa:
Chúng ta biết rằng thần ở trong mắt, đó là vào ban ngày. Nhưng ban đêm khi ngủ, thần lại ẩn trong thận. Thận cũng rất quan trọng, quan trọng như mắt. Tôi nhận thấy thận có bệnh thường thuộc vào phạm “âm sùng” là nhiều nhất. Người Đài Loan là đất nước của chạy thận. Chạy thận là điều đáng buồn nhất của thế giới.
Tôi dạy mọi người cách bảo vệ thận:
Mỗi ngày buổi tối trước khi tắm, dùng hai bàn tay chà xát vị trí thận ở phía sau lưng, trên dưới khoảng dưới 200 lần. Một là massage thận, hai là để vị trí thận nóng lên, đề phòng suy thận, thận yếu. Lợi ích rất nhiều!

Nếu như thận có bệnh, phù thức như sau:


<details>
<summary>Phù chữa bệnh thận</summary>


![image](/img/img_c432a9800e7e406b50d28f53b62d49b1.png)

</details>


Chú ngữ:
“Dĩ nhật tẩy thân, dĩ nguyệt luyện hình, thượng đạt ư mục, hạ đạt ư thận, thiên tà vạn uế, nhất nhất thanh minh, ngô kim phục phù, trục thủy nhi thanh. Cấp cấp như Liên Sinh luật lệnh.”

Tôi quán thiên văn, nếu người cần xem phạm âm uế, sẽ xuất hiện một chữ như sau:


<details>
<summary>Dấu hiệu phạm âm uế</summary>


![image](/img/img_637e0e018b229c293e52c755bed85355.png)

</details>


Phạm phải chữ này, cần giữ giới luật để trừ âm uế. Uống phù (để trừ âm uế) càng công hiệu hơn.

[Trong chương có các câu giảng của Đạo giáo rất vi diệu và uyên thâm, ám chỉ nhiều mật nghĩa, vốn không thể dịch hay chú thích đơn giản. Việc giải thích chi tiết cũng nằm ngoài phạm vi của cuốn sách này. Quý vị muốn tìm hiểu sâu xin mời tham khảo các tài liệu về Đạo giáo. ]


### 45. Phù hiệu của 16 địa Phật


Chúng ta biết Adharma Buddha - Phổ Hiền Vương Như Lai là Phật ở địa 16. Tại sao lại phân thành 16 địa?
Tôi liệt kê như sau:
Hai địa quán đảnh — dòng chảy pháp mười phương đều vào thân Phật, thân Phật lưu xuất ra dòng chảy pháp mười phương, quán đảnh lẫn nhau.
Hai địa pháp vương — vũ trụ là số một, ta là vũ trụ, vũ trụ lại là chính ta, ban đầu hay kết thúc đều như nhau, đây là hai địa pháp vương.
Hai địa đồng chân — linh mười phương cùng chung sống, trong một lúc đều đầy đủ, là hai địa đồng chân.
Hai địa bất thối — thân không hai, tâm không hai, thân tâm hợp nhất, không tăng cũng không giảm, là hai địa bất thối.
Hai địa chính tâm — không thị hiện tức không như Không, nếu thị hiện chính là tâm, thành Như Lai đại viên mãn, là hai cấp độ chính tâm.
Hai địa phương tiện — nếu không thị hiện thì giống như ban đầu, nếu thị hiện thì cả nghìn nghìn vạn vạn tỉ tỉ Phật và vô số thế giới, phương tiện đầy đủ.
Hai địa trí huệ — biết đầy đủ chu toàn, biết rộng phổ quát khắp mọi nơi, là hai địa trí huệ, có năng lực biết thông tỏ mười phương.
Hai địa bí mật — địa Hiển, địa Mật - không có con người thế gian nào biết, là hai địa bí mật.

Xuất hiện phù hiệu như sau thì sẽ là:


<details>
<summary>Phù hiệu quán đảnh</summary>


![image](/img/img_7bf9261a81ea7c0d56b329ecafdf50d1.png)

</details>



<details>
<summary>Phù hiệu Pháp Vương</summary>


![image](/img/img_7d6e09a1a470bb6d39d24725f7185adc.png)

</details>



<details>
<summary>Phù hiệu đồng chân</summary>


![image](/img/img_84e329526fe2e2aa7b344e97f3b97ce1.png)

</details>



<details>
<summary>Phù hiệu bất thối</summary>


![image](/img/img_015f227695ffebc1a1ac92d3ff7094fe.png)

</details>



<details>
<summary>Phù hiệu chính tâm</summary>


![image](/img/img_2d7bd23dc88df7fed7d05272124c3004.png)

</details>



<details>
<summary>Phù hiệu phương tiện</summary>


![image](/img/img_f742bff155bf485d717f0dff7b6a4c68.png)

</details>



<details>
<summary>Phù hiệu trí huệ</summary>


![image](/img/img_ffab372ab56924479496e949d724682a.png)

</details>



<details>
<summary>Phù hiệu bí mật</summary>


![image](/img/img_c2a6be728e4edf143892d04bacc15531.png)

</details>



### 46. Hành phù và Chỉ phù


Có một đệ tử Chân Phật thấy những người khác sau khi niệm đủ tám triệu biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thực sự là có rất nhiều cảm ứng lớn.
Có người đã tới được tịnh thổ Ma Ha Song Liên Trì.
Có người đã tới được tịnh thổ Lưu Ly Quang.
Có người đã tới được tịnh thổ Đâu Suất Nội Viện.
Có người đã tới được tịnh thổ Thúy Vi.
Có người đã tới được tịnh thổ Ngọc Diệp.
Còn có một số người sau khi niệm đủ tám triệu biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú đã nhìn thấy Bổn tôn.
Gặp được A Di Đà Phật.
Gặp được Quan Thế Âm Bồ Tát.
Gặp được Tôn Thắng Phật Mẫu.
…..
Nhưng đệ tử Chân Phật này sau khi niệm đủ tám triệu biến thì không thấy đi tới tịnh thổ, cũng chẳng nhìn thấy Bổn tôn, cảm ứng gì cũng không có, niệm mà cũng giống như không niệm vậy.
Anh đến tìm tôi nói: “Lư Sư Tôn! Con chẳng thấy cảm ứng gì cả?”
Tôi không nói gì.
Anh lại hỏi:
“Tại sao con niệm đủ tám triệu biến, cảm ứng gì cũng không có vậy?” 
Tôi không để tâm.
Thế là mỗi lần anh gặp được tôi đều hỏi câu hỏi tương tự. Tôi bị hỏi đến phiền luôn, liền kêu anh: 
“Anh niệm thêm nữa xem!”
Một thời gian sau, anh lại hỏi: 
“Con vẫn không có cảm ứng gì cả?”
Lúc này tôi không còn cách nào nữa, đành phải vẽ một tấm phù, kêu anh uống vào. Tấm phù này chính là Hành phù. Ý nghĩa của “hành” là “mau chóng có cảm ứng”.

Phù thức như sau:


<details>
<summary>Hành phù</summary>


![image](/img/img_7359231d693737ce859ba810fa99fab3.png)

</details>


Chú ngữ: 
“Phù hựu hành hành, hành hành phù hựu, kim sắc quang chiếu, tự tại du hành. Cấp cấp như luật lệnh.”

Sau khi anh uống xong, quả nhiên thân bay lên, đi tới tịnh thổ Ma Ha Song Liên Trì. Tuy nhiên, sau này mỗi đêm đều đi, mỗi đêm đều xuất thần du hành tịnh thổ, không cách nào dừng lại được. Do vì nguyên thần của anh không thể tự chủ được.
Anh hoảng sợ, mệt mỏi, không muốn mỗi đêm đều xuất thần đi nữa. Anh cầu xin Bổn tôn, Bổn tôn cũng không ngăn cản được. Anh cầu Hộ pháp, Hộ pháp cũng không ngăn cản được. Cuối cùng anh lại đến cầu tôi.
“Lư Sư Tôn, con thần du không dừng, cầu xin ngài hãy cứu con!”
Tôi cười lớn ha ha ha:
“Muốn đi, đi không được, đã thực sự đi rồi, ngày ngày thần du, không dừng được, bây giờ lại cầu xin nữa.”
“Lư Sư Tôn, làm ơn! Làm ơn!”

Tôi đành phải vẽ Chỉ phù (như sau):


<details>
<summary>Chỉ phù</summary>


![image](/img/img_c2fed03d8811ac0062ea4b07348b63c6.png)

</details>


Chú ngữ: 
“Thiên viên địa phương, luật lệnh cửu chương, Liên Sinh sắc lệnh, tốc chỉ du phương.”

Thế là đêm đó việc thần du lập tức dừng lại.


### 47. Tôi lấy vô niệm làm chính giác Phật bảo


Học Phật đến nay, tôi đã nắm biết huyền chỉ của Phật Đà. Huyền chỉ của Phật Đà chính là “vô niệm” mà thôi!
Phật Đà từng nói:
“Ta ngay từ đầu, không đắc một pháp, cuối cùng định nghĩa, mới biết vô niệm. Nếu đắc được vô niệm, quán tất cả các pháp đều là vô hình, vì vậy mà đắc vô thượng chính đẳng chính giác.”
Lại nói:
“Người thế gian không thể thành đạo mà thoát khỏi được sinh tử, đích thực là do vọng niệm tạo nên chủng tử luân hồi.”
Tôi nói cho mọi người biết:
Nơi vọng niệm khởi tức là sinh diệt.
Nơi vọng niệm tắt tức là Chân Phật.
Huyền môn nói ngừng niệm, Phật lấy vô niệm làm tôn chỉ.
Người vô niệm, là vô tà niệm, không phải vô chính niệm.
Niệm có niệm không, tức là tà niệm.
Không niệm có không, tức là chính niệm.
Niệm thiện niệm ác, tức là tà niệm.
Không niệm thiện ác, tức là chính niệm. 
Ngay cả sướng khổ, sinh diệt, giữ bỏ, oán thân, yêu ghét... toàn bộ đều là tà niệm. 
Không niệm những thứ như sướng khổ, mới là chính niệm.

Trong “Lục Tổ Đàn Kinh” có một câu nói rất hay:
“Phàm phu tức Phật, phiền não tức bồ đề. Bởi vì niệm trước còn mê nên là phàm phu. Niệm sau đã giác ngộ nên là Phật. Niệm trước dính mắc cảnh là phiền não, niệm sau thoát khỏi cảnh tức bồ đề.”
Con người của tôi hiện nay:
Phiền não là không, vô chướng vô ngại. 
Tất cả mộng huyễn không tồn trong tâm. 
Xúc cảnh động tình, động niệm nào cũng dừng hết. 
Tôi dùng “vô niệm”. 
Đốn siêu tất cả.

Có người hỏi tôi: “Vô niệm liệu có phù thức không?”
Tôi đáp: “Vô niệm tức là không, vốn không có phù thức, nhưng nếu như muốn vẽ thì sẽ như sau.”


<details>
<summary>Phù vô niệm</summary>


![image](/img/img_b4e1ad6e7334ea649f2cfcc34406f7d9.png)

</details>


Chú ngữ: “Ôm chia-ti chia-ti pua-rưa-chia-ti sô-ha. Cấp cấp như Liên Sinh luật lệnh.”

Phù thức này có tác dụng gì? Nếu thường đốt để uống sẽ hiểu được nghĩa Không, cũng có thể khiến vọng niệm không sinh, có thể đạt đến không luân hồi.
Còn nữa:
Con người ai cũng có phiền não, bạn cần phải ngộ được rằng: 
Thân như mộng huyễn không thật có, việc như gió mây chẳng tồn lâu. 
Nếu đã hiểu thấu thì phải dứt, phiền não nếu khởi cũng là Không.

Muốn khử phiền não thì phù thức như thế nào? Phù thức như sau:


<details>
<summary>Phù khử phiền não</summary>


![image](/img/img_641cf3e97566921ac344328059ba8ab7.png)

</details>


Chú ngữ: 
“Cổ kim biến hóa như lưu thủy. Sự sự như đồng cảnh trung hoa. Ngô phụng Liên Sinh lai gia trì, dĩ giác thân tâm thủy nguyệt vô. Cấp cấp như luật lệnh.”
Phù này đoạn tuyệt phiền não!


### 48. Phù thức tu luyện


Đạo gia khi tu luyện, tôi phân chia ra như sau:
1. Luyện khí. 
2. Luyện tinh.
3. Luyện thần.
4. Luyện hình.
5. Luyện hư.
6. Luyện đạo.
Tôi chính là tu như vậy đó. 
Luyện khí chính là pháp Thổ nạp. 
Luyện tinh chính là pháp Vô lậu.
Luyện thần chính là pháp Chuyết hỏa, pháp Minh điểm.
Luyện hình chính là pháp Thần thủy.
Luyện hư chính là pháp Phản bổn.
Luyện đạo chính là pháp Đại viên mãn.

Tôi đem Đạo giáo cùng Mật giáo kết hợp lại với nhau. Điều kỳ lạ là, có rất nhiều pháp tu Mật giáo tu khí-mạch-điểm, so sánh với pháp của Đạo gia không ngờ lại vô cùng giống nhau. Khi hòa trộn với nhau, cả hai không đối kháng mà lại kết hợp chặt chẽ với nhau, không có phân biệt.
Và cho dù là Mật giáo hay Đạo giáo, khẩu quyết quan trọng nhất trong đó đều là: không để tâm ở việc, không để việc ở tâm, vượt lên trên đại huyễn, đích xác là vị Phật. (Đây chính là thiền.)
Chỉ có như vậy mới có thể trở nên nội ngoại tinh xảo, trong ngoài thông suốt, tâm hoa rực rỡ, Phật quang hiển hiện.
Tôi đem phù thức tu luyện dựa theo từng loại mà vẽ ra, với nhân sĩ có tâm hoặc hành giả tu Mật sẽ có ích!

**1. Luyện khí:**


<details>
<summary>Phù luyện khí</summary>


![image](/img/img_cc2d737e53912a69cfaa6c307beabf73.png)

</details>


**2. Luyện tinh:**


<details>
<summary>Phù luyện tinh</summary>


![image](/img/img_1afe0d96e03f38265362cd72664d8996.png)

</details>


**3. Luyện thần:**


<details>
<summary>Phù luyện thần</summary>


![image](/img/img_b33aacf6724ee55f021aad588472abce.png)

</details>


**4. Luyện hình:**


<details>
<summary>Phù luyện hình</summary>


![image](/img/img_aa3c962f68cc3e877a7a7bc348ee9238.png)

</details>


**5. Luyện hư:**


<details>
<summary>Phù luyện hư</summary>


![image](/img/img_c13726200ba65b257547d74bd45d2b38.png)

</details>


**6. Luyện đạo:**


<details>
<summary>Phù luyện đạo</summary>


![image](/img/img_9b2181532035b55cc187f6cc164d6690.png)

</details>



### 49. Phù hiệu của Lục thông


Kinh Hoa Nghiêm nói:
“Pháp tính vốn không tịch, không giữ cũng không thấy, tính Không tức là Phật, chẳng thể nào suy xét.”
Lục Tổ nói:
“Tất cả vạn pháp, không rời tự tính. Tự tính tự biết, tự tính tự thấy, tự tính tự ngộ, tự tính tự độ.”
Cá nhân tôi cho rằng:
“Khi tu hành đến nội ngoại minh triệt, một khi tự tâm tuôn chảy, trí huệ đạt đến mức độ rộng khắp, thì giống như hoa khai kiến Phật, cũng giống như tỉnh dậy từ trong giấc mơ, đột nhiên xuất hiện một vùng ánh sáng, trên trời dưới đất, kho tàng vô tận.”
Tôi nói:
“Đây là thần thông tự hiển lộ.”
Tôi nhận thấy rằng lục thông (sáu thần thông) cũng có phù hiệu.
Tôi đặc biệt vẽ ra phù hiệu của lục thông: 

**Thần túc thông:**

Ra vào tự do, thần thông biến hóa đi đi lại lại khắp mười phương pháp giới.


<details>
<summary>Phù thần túc thông</summary>


![image](/img/img_47a0b94a96e0bdaa41d5a45aff9e1404.png)

</details>


**Thiên nhãn thông:**

Tâm khiếu khai mở, cả sơn hà đại địa giống như trong lòng bàn tay, trên nhìn thấy tứ thánh mười hai tầng trời, dưới nhìn  hấy cả lục đạo tam đồ.


<details>
<summary>Phù thiên nhãn thông</summary>


![image](/img/img_d204109dc44ed363027301530074a75c.png)

</details>


**Thiên nhĩ thông:**

Nghe được pháp âm của mười phương pháp giới như âm thanh ngay bên tai. Mười phương xa gần, Phật quốc tịnh thổ, chư tôn pháp ngữ đều có thể nghe được. Đây là cảnh giới của thiên nhĩ.


<details>
<summary>Phù thiên nhĩ thông</summary>


![image](/img/img_1cb5f0f8bf810c1550462a71bfe5ae3e.png)

</details>


**Tha tâm thông:**

Thấu rõ tâm chúng sinh trong mười phương, biết những chuyện ẩn vi tế trong tâm người khác. Ý niệm vừa khởi liền biết trước hết tất cả.


<details>
<summary>Phù tha tâm thông</summary>


![image](/img/img_5c2ff50b069125220fbbcaf30f8858ce.png)

</details>


**Túc mệnh thông:**

Quán thấu nhân quả của ba đời, mười đời, trăm đời, năm trăm đời, vô số kiếp.


<details>
<summary>Phù túc mệnh thông</summary>


![image](/img/img_3d4438bb88bf68731acd22e0b293bf86.png)

</details>


**Lậu tận thông:**

Tất cả hữu lậu đều tận, vô thượng, vô đẳng đẳng.


<details>
<summary>Phù lậu tận thông</summary>


![image](/img/img_25efc1ab832064f71ece01f0565b91e5.png)

</details>


Sáu tấm phù này đều có diệu dụng, nhưng cần phải là người tu đến tầng thứ cao mới có thể sử dụng. Để có thể thực sự nắm rõ, cần thỉnh thị người thực sự ngộ tính, chứng đạo.
Những tấm phù này trân quý thù thắng, không thể nói hết.

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/248-troi-ban-di-tuong.md
# Title: 248. Trời ban dị tượng
---

![image](/img/img_e93335d699031ee00da11c6c4806f1ef.jpg)



## Trời ban dị tượng


🪷 Cảm ứng liên miên bất tư nghì

Văn tập số: 248
Xuất bản: 01/08/2015
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu


Ngày 8 tháng 3, mùa xuân năm 2015. Tôi đã đến Nhà tưởng niệm Tưởng Giới Thạch ở Đài Bắc (quảng trường Tự Do). Tại quảng trường có khoảng năm vạn tín chúng, mọi người đang chào đón tôi đến.

Mặt trời đã lên cao.
Ánh mặt trời rực rỡ không gì sánh bằng đang chiếu rọi khắp quảng trường. Đàn thành lập thể của Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang tráng lệ và cao chót vót, nhìn từ phía nào cũng tuyệt đẹp, tỏa ra vô vàn màu sắc lấp lánh.

Trong hư không mặc dù ánh nắng đang rót xuống.
Nhưng,
Những tia nắng quanh co uốn khúc xuyên qua những tầng mây trắng xám tích tụ. 
Nói cách khác là, trong những cụm mây cuồn cuộn ấy, ánh nắng bắn ra như những mũi tên, chiếu thẳng vào đàn thành Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang nghìn năm tĩnh mịch.
Tôi nhìn lên trời.

Chúng tôi cầu nguyện:
Chúng tôi cần trời trong xanh.
Đừng đổ mưa.
Nhưng cần trời râm mát.
Cần có gió nhẹ thổi tới.
Đây là thời tiết đẹp nhất để làm pháp hội.
Theo dự báo khí tượng, đó là thời kì mưa xuân tầm tã, trời mưa liên tục nhiều ngày, và vào ngày 8 tháng 3, khả năng trời mưa là 90%. 

Kết quả là hôm ấy:
Thi thoảng có ánh nắng mặt trời.
Không mưa.
Có mây.
Trời râm mát.
Có gió nhẹ.
Đến khi pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang kết thúc, ngay giây phút mọi người rời đi.
Trời đổ mưa!
Lời cầu nguyện của chúng tôi đã linh nghiệm 100%!

Tôi muốn nói với mọi người:
Chúng ta đều cầu nguyện Thiên long Bát bộ, bao gồm Thiên chúng, Long chúng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hô la già. Bát bộ này là Hộ Pháp Thần của Phật giáo. 
Lấy Thiên bộ, Long bộ đứng đầu.
Đặc biệt ấn tượng sâu sắc nhất là “rồng”. 
Tại hiện trường pháp hội, rất nhiều người ngẩng đầu lên nhìn bầu trời trong hư không, toàn thể nhân viên đều hét lớn một tiếng.
Nhìn thấy “rồng”!
Mọi người lũ lượt lấy điện thoại ra để chớp lấy khoảnh khắc đó! Để làm bằng chứng cho việc trời ban dị tượng.

Con rồng này giống như là từ thủa khai thiên lập địa đã đứng sừng sững ở đó rồi, hùng cứ cả hư không, từ ngàn xưa vẫn im lìm không nói.
Ngài thống trị sự biến hóa của gió mây sấm chớp.
Ngài đã đáp ứng lời cầu nguyện của tôi mà xuất hiện, vĩ đại thay! Ông Trời ơi! Chúng tôi là một đám đệ tử Phật chân chính đó! 

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Ánh sáng đỏ của chuông kim cang


Diễn hóa kiết giới bằng chuông kim cang và chày kim cang của Lư Sư Tôn là một tuyệt chiêu của Chân Phật Tông. 

Ý nghĩa của việc diễn hóa này bao hàm:
Kiết giới.
Tiêu tai.
Tăng ích.
Hàng phục.
Kính ái.
Gia trì.

Pháp lắc chuông chày của tôi ban đầu là tôi nhắm hai mắt lại, ngồi trên pháp tọa của mình, nghe thấy bên ngoài hư không có âm thanh của chuông đồng, tôi ngửi thấy mùi thơm của Kim Cang Tát Đỏa bao phủ. 
Thế là tôi biết dòng chảy pháp của Kim Cang Tát Đỏa đã hạ giáng rồi!
Trong cơn thảng thốt, tôi đã biến hóa thành Kim Cang Tát Đỏa.
Hai tay tôi tự động lắc chuông chày.
Tất cả đều tự động diễn hóa mà ra.
Tất cả những điều này đều là sự thật, giống như là Kim Cang Tát Đỏa hạ giáng và truyền thụ cho tôi phương pháp lắc chuông lắc chày. 
Sau đó tôi lần lượt ghi nhớ, đây là Kim Cang Tát Đỏa dạy diễn hóa. 

Tôi tin tưởng sâu sắc:
Mỗi một hành giả, chỉ cần đặt chân vào cảnh giới của sự tương ứng, tự nhiên Bổn tôn trong hư không sẽ đều hạ giáng.
Hành giả này thật sự chỉ cần “tâm không một vật” và “vọng niệm không khởi”, tức là giống như một cái bình rỗng.
Thì tự nhiên dòng chảy pháp trong hư không sẽ đổ pháp nhũ vào.
Lúc này, hai hợp làm một.
Đây chính là tương ứng.

Bạn không những tìm lại được chính mình mà cũng tìm lại được nguyên tính của mình. Bạn hít thở được khí tiên thiên, nghe được dòng máu của mình, rồi lại trở về trái tim mình.
Đây không phải là máu bình thường.
Mà là máu của Phật tính.
Phật Đà nói: “Chế tâm một chỗ, vạn sự đều thành.”

Khi tâm đã đạt đến cực rỗng cực tĩnh thì sẽ tự thấy được thiên tính. Chỉ cần thấy được thiên tính, tự có thể biết được diện mạo vốn có.
Đây chính là:
Tĩnh ắt sẽ hư.
Hư ắt sẽ linh.
Linh ắt sẽ thần.
Thần ắt sẽ hóa.
Hóa ắt sẽ quang.

Tôi lắc chuông kim cang hướng về hư không, kết quả là phóng ra một đường ánh sáng đỏ vàng. 
Điều này cần phải:
”Dừng” vọng niệm.
”Tịnh” phàm tâm.
”Rỗng” tự tâm.
Chuông này vừa lắc lên, ánh sáng đỏ vàng liền phóng ra, mọi việc mong cầu đều có thể thành tựu.
Phàm làm tất cả pháp sự thì không được có vọng tâm, phàm tâm, cho dù là Thánh tâm hay tưởng tâm thì cũng không được có.
Chỉ cần tất cả đều không.
Thì trời sẽ ban dị tượng đó!


### 02. Ngón tay phóng ánh sáng trắng


Tôi sâu sắc cảm thấy rằng, người học Phật phải hạ quyết tâm, có mấy việc cần đặc biệt chú ý:

1. Loại bỏ phàm tình — lập chí học Phật, phàm tình của thế tục hãy ít dính mắc.

1. Nên thoát tục khí — việc phàm thô tục không có liên quan đến hành giả, đừng đi học pháp tục.

1. Từ bỏ tập tính — con người đều có thói xấu, cần phải bỏ hết những thói quen không tốt như trộm, cắp, dâm, vọng, rượu, tham, sân, si…

1. Thanh tịnh dâm dục — lòng người quá nửa là tham sắc tham hoa, không được khởi tâm dâm, không đi đến những nơi bất tịnh.

1. Đừng cầu danh lợi — phàm việc gì cũng không cầu danh, không cầu lợi, cần không màng danh lợi, như vậy thì tâm cầu danh lợi mới không hỗn loạn rối bời.

1. Diệt bỏ ngã kiến — nói chung, người có ngã chấp nặng thì ngã kiến cũng nặng, ngã kiến thường thường là thiên kiến, nên học tập lời của các vị cổ Thánh. 

1. Nên bỏ chấp pháp — khi tu pháp cũng không nên quá chấp vào pháp, pháp pháp tự nhiên là quan trọng nhất, pháp còn nên bỏ huống chi không phải là pháp, học Phật cần hiểu sự uyển chuyển linh động.

1. Nên bỏ phiền não — cố gắng hết sức để mình không nghĩ gì, những phiền não của quá khứ đừng gợi lại, những phiền não của hiện tại nên bỏ qua, phiền não của tương lai thì đừng nghĩ đến.

Đây cũng là:
Tùy thế ứng thế. [tùy việc đời mà ứng đối]
Theo vật giao vật. [dựa theo hoàn cảnh mà gửi gắm]
Đối cảnh vong cảnh. [đối diện với hoàn cảnh cũng quên luôn hoàn cảnh]
Cư trần xuất trần. [sống nơi trần gian cũng vượt thoát khỏi bụi trần]
Việc đời nên xem là không có gì.
Việc đời nên xem nhẹ.
Đối với muôn vàn sự việc, gánh vác được thì đặc biệt cũng phải buông bỏ được.

Khi tôi ngồi trên pháp tọa, tôi phải gom về nghìn tâm vạn tâm, gom về vạn sự vạn vật, tôi biến thành một hành giả đơn độc, không khí cũng dần dần ngưng đọng lại.
Tinh thần tập trung.
Không có suy nghĩ gì khác.
Thân bất động.
Tôi đưa một ngón tay ra.
Miệng tôi niệm chú ngữ.
Thân là Bổn tôn.
Ý đang gia trì.
Thế là, ánh sáng trắng ở đầu ngón tay liền lộ ra.

Khi ấy:
Đó là sự xuất hiện của ánh sáng, ánh sáng sẽ phóng đến đoàn người đi dưới tràng phan quán đảnh. Lúc này phan quán đảnh sẽ có ánh sáng của Bổn tôn, đoàn người cũng có ánh sáng của Bổn tôn, ánh sáng trắng lơ lửng khắp trong không khí.
Ấm ấm.
Thơm thơm.
Nhè nhẹ.
Áp vào thân thể của mỗi người.
Dòng chảy pháp chậm rãi tuôn ra.
Mau chóng vận chuyển trong tâm của mỗi người.
Tâm của mỗi người lại hóa thành một đóa hoa sen nở ra.
Thế là:
Bổn tôn giáng xuống đàn thành.
Bổn tôn giáng lên người tôi.
Bổn tôn ở trên đầu ngón tay.
Bổn tôn ở trong tim quần chúng.


### 03. Mặt đối mặt với Thời Luân Kim Cang


Năm ấy, tôi liên tục làm đại lễ bái, không phải vì để yết kiến Thời Luân Kim Cang, chỉ là học cách khiêm nhường và cung kính với đại địa.

Tháng ấy, tôi liên tục nhớ đến “Thời Luân Kim Cang Tục”, không phải để hiểu về bản nghĩa của Thời Luân Kim Cang, chỉ là xoay vào kinh tục mà chẳng hề có mục đích gì cả.

Ngày ấy, tay tôi cầm hương, trong miệng tụng chú, đầu óc đều trống rỗng, không nghĩ gì cả.

Khoảng khắc ấy, tôi chẳng hề chờ đợi ngài đến, thế mà ngài tự nhiên đến, hơn nữa còn mặt đối mặt.
Ngài nhìn tôi.
Tôi nhìn ngài.
Trong tim ngài và tim tôi đều rất ấm áp.
Tôi chạm vào ngón tay nhọn của ngài.
Điều tôi muốn nói với mọi người là:
Kinh Kim Cang nói:
Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng.
Tôi nói:
Vô sắc tướng, vô pháp tướng, vô hữu tướng, vô không tướng, vô thế gian tướng, vô xuất thế gian tướng.

Nói sâu hơn một chút thì là:
Vô vô nhân tướng, vô vô ngã tướng, vô vô chúng sinh tướng, vô vô thọ giả tướng. Vô vô sắc tướng, vô vô pháp tướng, vô vô hữu tướng, vô vô không tướng, vô vô thế gian tướng, vô vô xuất thế gian tướng.

Càng sâu hơn một chút nữa thì là:
Vô phúc đức tướng, vô Bồ Tát tướng, vô Như Lai tướng.
Tôi nói:
Rõ ràng là có.
Thực tế là không.
Từ không thấy có.
Từ có thấy không.
Có không chẳng chấp.
Cao thêm một bậc.
Có gì để nói.
(Những điều này người bình thường không nghĩ được.)

Cảnh giới mà tôi đã đến kì thực cũng không phải là cảnh giới, tất cả đều thấy trống rỗng thì làm gì có cảnh giới?
Tứ đại đều không.
Ngũ uẩn đều không.
Vạn hữu đều không.
Lúc này tất cả tự nhiên buông bỏ, bỏ đến mức:
Không vướng một sợi tơ.
Không nhiễm một hạt bụi.
Không chấp vào một tướng.

Tôi viết cuốn sách này không phải là để giành lấy sự tín nhiệm của người ta, không phải vì danh lợi, không phải vì địa vị, không phải vì quan điểm cá nhân, không phải vì vợ, không phải vì con cái, không phải vì dục vọng, không phải vì yêu, không phải vì tham, không phải vì tức giận, không phải vì tình, không phải vì sắc, không phải vì người vì tôi.
Cái gì cũng không phải!
Người hỏi: “Vì sao mà viết?”
Tôi đáp:
”Vì viết mà viết!”


### 04. Trời ban xích kim cang ánh sáng


Pháp hội đại quán đảnh Thời Luân Kim Cang tại Jakarta Indonesia, trong khi hoằng pháp cho mấy vạn người, trong hư không buông xuống sợi xích kim cang ánh sáng.
Tại hội trường, không có đèn pha.
Tại hội trường, không có lưới đèn.
Nhưng chân trời lại buông xuống sợi xích kim cang. 
Các đệ tử ở hiện trường pháp hội dùng máy ảnh để chớp lấy khoảnh khắc để làm bằng chứng.

Trong pháp Đại viên mãn của Mật giáo có “nhìn ánh sáng”, thứ tự của nó là:
Ánh sáng minh điểm — đầu tiên xuất hiện từng điểm từng điểm.
Ánh sáng xích kim cang — xâu chuỗi từng điểm ánh sáng lại thành một sợi thẳng.
Ánh sáng võng kim cang — xích kim cang liên tục biến ra nhiều sợi, hình thành nên võng kim cang.
Ánh sáng màn kim cang — từ võng kim cang lại biến hóa thành một tấm màn màu trắng, chính là màn kim cang ánh sáng.
Ánh sáng bán thân Phật — từ trong màn kim cang xuất hiện Phật bán thân.
Ánh sáng toàn thân Phật — từ ánh sáng Phật bán thân lại hiện lên ánh sáng Phật toàn thân.
Lúc này, hành giả và ánh sáng Phật toàn thân, hai hợp làm một.
Thành đạo.

Tại pháp hội Thời Luân Kim Cang, mọi người nhìn thấy xích kim cang ánh sáng thì đều kêu lên là bất khả tư nghì.

Mọi người đều phát khởi tín tâm cung kính.
Có người hỏi tôi:
”Trời ban xích kim cang ánh sáng là đạo lí gì?”
Tôi đáp:
”Lúc mới học Phật, phải loại bỏ tham dục, trở về với sự thuần phác, thanh tịnh vô vi. Sau đó được minh sư truyền pháp, tu trì cẩn mật đến khi minh tâm, kiến chứng Phật tính. Đặt tâm trong sự điềm tĩnh, đặt hơi thở trong sự bao la.”
Tôi lại nói:
”Việc tu học của con người đã đạt đến tính Không thì khí mạch minh điểm đều có thể hóa quang, đây chính là cảnh giới của Thánh nhân.”
Tôi còn nói:
”Lúc này, chỉ có một niệm, trời người cảm ứng, miệng nói cái gì thì sẽ hiện ra cái đó, hiện tượng trời đất hoàn toàn hợp lại lần lượt hiện lên.”
Người học Phật tối kị:
Sốt sắng việc đời. (hao tổn tinh thần)
Địa lí phong thủy. (bàng môn)
Chiêm bốc tướng mệnh. (tả đạo)
Nam nữ quan hệ lén lút. (tà hành)

Nếu dựa vào địa lí phong thủy, chiêm bốc tướng mệnh để đưa người ta vào chính pháp thì đây mới gọi là pháp phương tiện nhập thế.
Còn nam nữ quan hệ (pháp song thân), nếu dẫn đến tính mệnh song tu, tính mệnh cùng dứt, tính mệnh hóa quang, thì đây cũng là phương tiện.
Thế nhưng, pháp song thân đòi hỏi phải có tính Không, có Vô lậu thì mới làm được, là việc cực kì khó. Những tên tiểu tử vô tri liều lĩnh mà làm thì rơi vào dâm dục, sẽ đọa địa ngục kim cang, chẳng mong ngày thoát ra.
Từ xưa đến nay, tu được pháp này cũng chỉ có một, hai người mà thôi! Nói chung là không được học theo.
Còn như sốt sắng việc đời thì cũng là đại kị. 

Phật Đà truyền giáo, mục đích chính ở tại:
”Giác ngộ.”
Tu thân tu tâm.
Nếu coi trọng việc xây chùa lớn, xây đủ thứ khác, tạo dựng thanh danh lớn, làm sự nghiệp lớn, tập hợp tiền của, kinh doanh khởi nghiệp, tập hợp quần chúng thành tông phái lớn, thì đây là sốt sắng lo việc đời bên ngoài.
Chi bằng, vào núi độc tu.
Tu thành, trời ban dị tượng!


### 05. Rồng xuống thân tôi


Tôi thường nói:
Ở thiên thượng, giàu có nhất là Tứ Đại Thiên Vương.
Ở mặt đất, giàu có nhất là Sơn Thần, Kiên Lao Địa Thần.
Ở dưới biển, giàu có nhất là Long Vương.
Đối với phú quý của nhân gian, tôi luôn giữ ở trạng thái:
Không buồn không vui.
Không đến không đi.
Không tăng không giảm.
Không xả không bỏ.
Tịch tĩnh hoan hỉ.

Tôi nói năm câu này, có lẽ rất nhiều người không hiểu, tôi nói một câu đơn giản nhất là:
”Tự nhiên!”
Cả đời tôi không chạy theo tiền tài, nhưng tiền ở ngay đó.
Cả đời tôi không nghĩ đến tiền tài, nhưng tiền ở ngay đó.
Cả đời tôi không tập trung vào tiền tài, nhưng tiền ở ngay đó.
Tiền và tôi.
Tôi và tiền.
Tiền ở trong tay tôi, tay tôi có tiền.
Không rời không bỏ.
Tôi ấy à!
Bạn - tôi không tương ái.
Bạn - tôi không tương tư.
Bạn - tôi không nợ nần.
Bạn - tôi không nhớ nhau.
Bạn - tôi không bỏ nhau.
Bạn - tôi không gặp nhau.

Nhưng mà, tiền ở trên người tôi, rồng giáng xuống thân tôi.
Vì sao rồng ở trên người tôi?
Hãy nhớ một câu nói:
”Sống chết có số, phú quý tại trời!”
Tôi là một người tu hành, minh tâm kiến tính mới là thật, phú quý vinh hoa đều là giả.
Tôi coi trọng tu hành vi.
Tôi coi trọng tu thân. (tu mệnh)
Tôi coi trọng tu tâm. (tu tính)
Chờ đợi tạo hóa, học theo Thiên nhân, vi diệu huyền bí, cho đến khi hiểu thấu mức độ cao nhất tột cùng.
Lúc này, Hộ Pháp Long Thiên tự nhiên giáng xuống thân tôi. 
Có đệ tử chụp được nhân vật trong tấm hình này là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn và sau lưng là rồng xuống thân tôi.
Đệ tử hỏi:
”Vì sao rồng lại xuống thân của Lư Sư Tôn?”
Tôi đáp:
”Ngày xưa, Bát Đại Long Vương đến kính lễ, tôi thu nhận làm đệ tử, tôi truyền thụ kinh Long Vương, rồi dẫn Long Vương trấn thủ long thạch của Lôi Tạng Tự. Tôi mặc long bào, cúng dường Long Tôn Thượng Vương Phật, ra biển để quăng bảo bình Long Vương, vì thế, Long Vương xuống thân tôi.”
Đệ tử hỏi:
”Đây là trời ban dị tượng sao?”
Tôi đáp:
”Đương nhiên! Trời ban dị tượng, Long Vương tại thân, đây cũng là một dạng cảnh giới. Khiến người người cùng ngưỡng mộ để có thể hạ quyết tâm tu học thành đạt.”


### 06. Thập phương Không Hành Mẫu hạ giáng


Tôi thường tụng một bài kệ:
Kính lễ tứ Thủ Phương Mẫu, bát phương Không Hành Mẫu, nhị thập Thiên Thiên Nữ.
Kính lễ Đại Tự Tại Thiên Mẫu, Nhất Kế Phật Mẫu, Bát Nhã Phật Mẫu.
Kính lễ Đại Cát Tường Mẫu, Diệu Âm Phật Mẫu, Bạch Y Phật Mẫu.
Kính lễ thập phương Không Hành Mẫu.

Kì thực, các vị Phật Mẫu thuộc mẫu hệ có kể cũng chẳng thể kể hết, ví dụ:
Bạch Độ Mẫu.
Hồng Độ Mẫu.
21 vị Độ Mẫu.
………

Tôi tu pháp Độ Mẫu, hoặc tu Hộ Ma Hỏa Cúng Độ Mẫu, hoặc tu Độ Mẫu hộ luân.
Đã cảm ứng đến thập phương Không Hành Mẫu hạ giáng.
Giữa tôi và Độ Mẫu có hẹn ước ngầm:
Không phụ nhau.
Không hiểu lầm nhau.
Không phán xét nhau.
Không rời bỏ nhau.

Tôi và Độ Mẫu không chỉ như vậy, còn có:
Bằng lòng nhau.
Nương dựa nhau.
Gắn bó nhau.
Tiếp nối nhau.
Nghĩ đến nhau.
Hiểu về nhau.

Hoàn toàn không giống như hai nhân vật trong bài thơ:

*Mới vừa gặp gỡ biết tri âm
Gặp rồi lại thấy thà chưa gặp
Chấp nhận cùng anh biệt xa cách
Tránh cho sinh tử khiến tương tư.*

Giữa Liên Hoa Đồng Tử và Độ Mẫu có mối duyên sâu nặng, bởi vậy mới có thể viết được:
”Dòng nước Nguyệt Hà”
”Nói chuyện với trăng”
”Nhật kí chiêm bao”
Tôi muốn nói với mọi người:
Mật giáo phân ra Phụ tục và Mẫu tục, Phụ tục là phương tiện, Mẫu tục là trí huệ.
Cá nhân tôi cho rằng:
”Hai tức là một, hai hợp làm một, không hai, không khác.”
Thế nào là Thánh?
Hư và vô, cảnh giới siêu phàm nhập Thánh chính là Thánh.
Thế nào là Thần?
Thánh mà không thể biết, biết mà không thể đoán chính là thần.
Thánh mà không thể biết, vì thế vô danh.
Biết mà không thể đoán, tức thần thông.

Phụ tục, Mẫu tục là đồng thể, căn bản là không thể phân tách, đây vốn là trời đất cùng chảy, trời người hợp nhất, cảnh giới ở cấp độ này cao không thể đoán.
Rộng lớn.
Không minh.
Siêu thế.
Tôi và những điều này, người bình thường đọc không hiểu, duy có Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn có thể hiểu thôi.
Bởi vì:
Thập phương Không Hành Mẫu và tôi là đồng thể.


### 07. Vẽ tranh vào hư không


Thời gian: Ngày 22 tháng 9 năm 2014.
Địa điểm: Vùng trời Seattle Lôi Tạng Tự. 
Nhân vật: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn và Thượng sư, pháp sư, đồng môn.
Sự kiện: Bầu trời hiện ánh sáng đỏ.

Sự việc như sau:
Tôi và mọi người đứng trước cửa Chân Phật Mật Uyển, tôi nhìn lên hư không, phát hiện ra bầu trời giống như một bức tranh thủy mặc khổng lồ.
Vùng trắng giống như nước.
Vùng xanh giống như mặt đất.
Vùng đen giống như nét mực.
Tôi nói với mọi người đầy thích thú:
”Bầu trời này đúng là một bức tranh thủy mặc, thiên biến vạn hóa, Ông Trời mới là đại họa gia vĩ đại nhất đó!”

Bỗng dưng tôi cao hứng tột độ, đột ngột lóe lên một ý tưởng kì lạ, hai tay tôi giống như cầm cây bút, hướng về hư không vẽ tranh, ra sức khua tay, trái phải vẽ lên mấy nét.
Tôi nói:
”Tôi cũng vẽ, cho thêm vài nét vậy!”
Tôi mới vẽ xong một bức. 
Mọi người sửng sốt:
”A! Bầu trời xuất hiện ánh sáng cầu vồng màu đỏ!”
”Trời ạ!”
”Lư Sư Tôn vừa mới vẽ xong, bầu trời đã hiện ánh sáng cầu vồng màu đỏ rồi!”
”Là thật đó!”
”Thật đó!”
”Sao lại chuẩn như thế chứ?”
”Trời ban dị tượng!”
”Đây đúng là cảm ứng tức thời!”
(Sư tỉ Từ Nhã Kì lập tức dùng máy ghi hình để ghi lại diễn biến sự việc xảy ra, toàn bộ đều được ghi lại không bỏ sót. Thế rồi trong tiết mục “Thắp sáng ngọn đèn tâm” của đài truyền hình Trung Thiên cũng đã phát sóng.)

“Nói đơn giản là quá bất khả tư nghì!”
”Sao mà Lư Sư Tôn mới động bút, vẽ mấy nét mà hư không đã hiện lên cầu vồng màu đỏ rồi!”
”Quá tuyệt vời!”
Điều tôi muốn nói với mọi người là:
Phật học thông tạo hóa, học theo Thiên nhân, thật sự vi diệu huyền bí, rộng lớn uyên thâm.
Tôi nói:
Phật Bồ Tát là con người hạng nhất ở nhân gian, Thánh hiền là con người hạng nhì ở nhân gian, Đế vương là con người hạng ba ở nhân gian, các anh hùng hào kiệt và nhân vật quan trọng, giàu có, công danh là con người hạng tư, thấp hơn nữa là các hạng năm, hạng sáu, hạng bảy, hạng tám.

Trong đó, duy có Phật Bồ Tát có thể thông thiên tạo hóa, tương ứng với trời, biến hóa khó lường.
Trời có thiên nhạc, êm ái và dễ chịu!
Trời có thiên nữ nhảy múa, bay lượn đẹp tuyệt vời!
Trời có trò chơi, gió mưa sấm chớp, hỉ nộ ái ố!
Trời có truyện kể, rủ rỉ rù rì!
Còn có, trời biết vẽ tranh, tôi cũng có thể vẽ trời! Dùng bút vẽ trời!


### 08. Mười đại Heruka hạ giáng


Thời gian: Ngày 8 tháng 3 năm 2015.
Địa điểm: Quảng trường Tự Do - Nhà tưởng niệm Tưởng Giới Thạch, Đài Bắc.
Sự việc: Đại pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang.
Nhân vật: Năm vạn tín chúng.

Diễn biến sự việc:
Ngày 8/3 khi Lư Sư Tôn bắt đầu quán đảnh, bầu trời xuất hiện mười con chim nhạn, xếp thành một trường xà trận, kèm theo chú âm đầy uy vũ hùng tráng: “Ôm ben-za chua-ta ma-ha sê xi-li he-ru-ka hùm pây.” Lên xuống bay múa, chao liệng trong hư không rất lâu, có đệ tử đã chụp được ảnh thực tế tại hiện trường và lưu truyền trên mạng. 

Đối thoại của tín chúng:
”Nhìn kìa! Trên trời có mười con chim nhạn đang bay!”
”Xếp thành một hàng kìa!”
”Bầu trời Đài Bắc rất ít khi nhìn thấy chim nhạn.”
”Đúng thế, đúng thế! Hiếm thấy! Hiếm thấy!”
”Nhất định có kì tích!”
”Nhất định có điềm báo!”
”Thật kì quái?”
”Cái gì kì quái?”
”Những con chim nhạn này từ đâu bay tới?”
”Còn xếp thành một hàng rất quy củ nữa.”
”Uy vũ hùng tráng.”
”Sao lại ở ngay trên bầu trời nơi quán đảnh chứ?”
”Sớm không đến, muộn không đến.”
”Trời ban dị tượng!”
”Trời ban dị tượng!”
”Trời ban dị tượng!”

Tín chúng cứ anh nói một câu, tôi nói một câu, ai ai cũng ngẩng đầu nhìn mười con chim nhạn trên bầu trời xếp thành hàng bay múa.
Tại đây tôi nói với mọi người, tôi nói:
Mười đại Heruka, hóa hiện mười con chim nhạn, đã giáng xuống rồi!
Mười đại Heruka này là:
Đại Uy Đức Heruka.
Mã Đầu Heruka.
Dương Đạt Heruka.
Thiên Thu Heruka.
Phổ Ba Heruka.
Vô Thượng Heruka.
Phổ Giáng Heruka.
Hắc Cụ Lực Heruka.
Đại Phẫn Nộ Heruka.
Đại Nộ Hống Heruka.

Ngày hôm đó, lần đầu tiên nhìn thấy mười con chim nhạn xếp thành một hàng, bay lượn oai phong hiển hách. 
Trong tích tắc…
Có được quán đảnh gia trì của mười vị Đại Minh Vương!
Giống như dòng chảy pháp gột sạch nghiệp chướng nhiều kiếp!
Trong sát-na, nước mắt tuôn rơi!
Đột nhiên hiểu ra: “Đã biến thành Bồ Tát thanh tịnh rồi!”
Có người vượt qua nửa vòng trái đất.
Vượt qua mọi khó khăn.
Đứng trên đỉnh núi cao nhất của rặng Tuyết Sơn.
Cũng chẳng gặp được đại cơ duyên này.
Bảy đời thành Phật rồi!


### 09. Hiển hiện ấn Tứ tung ngũ hoành


Mục đích gốc của học Phật là:
Chấm dứt sinh tử, cũng tức là giải thoát sinh tử.
Muốn chấm dứt sinh tử, tự mình sinh tử thì tự mình kết thúc, không ai có thể làm thay được. 
Cuối cùng là:
Giác ngộ “vô sinh vô tử”. 
Vượt lên “vô tử vô sinh”.
Mỗi một thành tựu giả đứng giữa trời đất, vượt ra ngoài trời đất, đây đâu chỉ là hơn người hơn đời.
Tôi cho rằng:
Thiên địa đồng lưu.
Vũ trụ đồng hóa.
Thái hư đồng thể.
Mỗi khi tôi thuyết pháp thì Ông Trời liền tương ứng, ví dụ khi tôi giảng pháp Bất Động Minh Vương cửu tự chân ngôn, có nhắc đến ấn Tứ tung ngũ hoành. 
Đây là “lâm, binh, đấu, giả, giai, trận, liệt, tại, tiền”. 
Đây là “thiết” tự quyết. [ấn quyết cắt chữ]
Dùng kiếm chỉ, vạch một đường, niệm một chữ, vạch chín đường, niệm chín chữ.

Tác dụng của nó là:
1. Kiết giới.
2. Tiêu nghiệp chướng.
3. Đuổi tà trói ma.
4. Trị bệnh.
5. Tiêu tai, trị bệnh, hàng phục, siêu độ.
6. Gia trì.
7. Quản thúc quỷ.
….

Pháp môn Cửu tự chân ngôn này là, có thể nhập thì nhập, có thể xuất thì xuất, có thể đi thì đi, có thể dừng thì dừng, là thuần thiên cơ, hoạt bát linh hoạt, vô câu vô thúc.
Pháp Cửu tự chân ngôn quảng đại cao minh, nó không hề bó hẹp tù đọng mà giống như một luồng gió phóng khoáng và thoáng đãng.

Tôi giảng dạy xong.
Đi ra ngoài cửa, nhìn lên bầu trời.
Chà! 
Hết sức tuyệt vời!
Hư không cũng hiện lên ấn Tứ tung ngũ hoành.

Bầu trời Seattle rất xanh rất sáng, chúng tôi mở to mắt nhìn lên, bầu trời vẽ nên những đường trắng, thành hình ca-rô bốn nét dọc năm nét ngang, đây đúng là ấn Tứ tung ngũ hoành rồi, không phải là huyễn giác, các đệ tử có mặt tại chỗ đều tận mắt nhìn thấy.
Lư Thắng Ngạn tôi không phải là thầy ma thuật, nhưng chỉ cần tôi khởi lên một suy nghĩ thì Ông Tròi sẽ cảm động.

Có người nói:
Hình như tôi là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ của Tây Tạng tái hiện, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nghĩ cái gì liền có cái đó. 
Tôi và Liên Sư. 
Một người là đại sư của hơn hai nghìn năm trước. 
Tôi là đại sư của thời hiện đại.
Như thế, như thế.


### 10. Tôi giảng Lục Tổ Đàn Kinh


Tôi ấn định vào ngày 1 tháng 5 năm 2010 tại Đài Loan Lôi Tạng Tự sẽ bắt đầu giảng Lục Tổ Đàn Kinh, thế là trên bầu trời của Đài Loan Lôi Tạng Tự, có đệ tử chụp được sáu dấu chân xuất hiện trên bầu trời. 
”Lục Tổ.”
”Lục túc.” (6 dấu chân)
Trời ơi!
Lại tương ứng rồi!
Có người đưa ra thuyết 500 năm chuyển một đời, đây liệu có phải là như vậy không, vẫn cần phải bàn bạc. 
Phật Thích Ca Mâu Ni viên tịch. 
500 năm sau. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ sinh ra.
Lại 500 năm nữa, Long Thọ Bồ Tát sinh ra.
Lại 500 năm nữa, Naropa Tôn giả sinh ra.
Lại 500 năm nữa, Tsongkhapa Tôn giả sinh ra.
Lại 500 năm nữa, Lư Thắng Ngạn Tôn giả sinh ra.
Tổng cộng là 2500 năm.
Lại 500 năm nữa, ai sinh ra?
Tôi nghe cách nói như vậy thì cười vang ha ha, nhưng tôi chẳng nói đúng sai!

Tôi giảng Lục Tổ Đàn Kinh, hiểu rằng:
Người thiên về nhập thế, thường vì cầu danh lợi mà gặp nạn hại.
Người thiên về xuất thế, thường vì cầu giải thoát mà gặp nạn hại.
Người thiên về thiện, vì thiện mà gặp nạn hại.
Người thiên về ác, vì ác mà gặp nạn hại.
Tôi không phải là nô lệ của danh lợi.
Tôi cũng không phải là nô lệ của giải thoát.
Không phải là nô lệ của thiện.
Không phải là nô lệ của ác.
Tôi chỉ biết: “Vô sinh.”
Có thể nhập thì nhập, có thể xuất thì xuất, nhập thế vô nhập thế tướng, xuất thế vô xuất thế tướng.
Trụ không vì trụ mà trụ.
Ẩn không vì ẩn mà ẩn.
Vô sở đắc.
Vô sở vị.
Tất cả vô vô, tất cả không không.
Làm tất cả mọi việc, khoáng đạt, thoải mái, tự nhiên, tự tại, tự như, tiêu dao, du hí…

Tôi thường dùng một so sánh.
Trên mặt trăng:
Cái gì là thiện? Cái gì là ác?
Cái gì là mặn? Cái gì là chay?
Con người là tấm lưới biến hóa!
Cuộc đời là đại huyễn!
Tôi chỉ biết:
”Vô sinh!”
Cái gì cũng đều có thể buông bỏ!
Tâm an thì bình an, vô tâm thì tâm an.
Tôi vô sinh vô tử.
Người vô sinh vô tử.
Chúng sinh vô sinh vô tử.
Dường như có đến, sự thật không đến.
Đây mới là cái “tỉnh” của Như Lai!


### 11. Thời Luân Kim Cang và tôi hợp nhất


Sau này tôi sẽ truyền thụ pháp tu trì của Bạch Liên Hoa Vương. 
Tôi nói với mọi người, Bạch Liên Hoa Vương là vị Quốc Vương thứ hai của tịnh thổ Shambhala. 
Bạch Liên Hoa Vương đã viết một danh tác chính là: Vô Cấu Quang Minh Luận.
Nhân vật chính của cuốn sách này chính là: Thời Luân Kim Cang.

Tôi Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, về pháp Thời Luân, có hai truyền thừa lớn:
1. Cam Châu Hoạt Phật — Thubten Nyima — Thubten Dali — Thubten Dhargye — Thubten Qimo.
Thubten Qimo chính là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.
2. Panchen Lama thứ 9 — Sakya Chứng Không Thượng sư — Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.

Thế là, tôi hoằng dương pháp Thời Luân Kim Cang ở năm đại châu, bao gồm:
Châu Á.
Châu Âu.
Châu Bắc Mĩ.
Châu Nam Mĩ.
Châu Trung Mĩ.
v.v…

Truyền thừa của tôi có truyền thừa chuyển thế, truyền xa, truyền gần, truyền thừa trong thiền định tịch tĩnh.
Về pháp Thời Luân Kim Cang, tôi đã làm sự nghiệp hoằng pháp quảng đại.
Thánh địa của pháp Thời Luân là vương quốc Shambhala.
Địa phương mà tôi đã hoằng truyền là đất lành.
Nghĩa gốc của pháp Thời Luân là mảnh đất của linh tính thần bí không thể suy đoán.

Tôi nói với mọi người:
Thiền định có một khẩu quyết. Khẩu quyết của tôi chính là “quên”. 
Quên vật có thể dưỡng tâm.
Quên tình có thể dưỡng tính.
Quên cảnh có thể dưỡng thần.
Quên sắc có thể dưỡng tinh.
Quên dục có thể dưỡng hình.
Quên hình có thể dưỡng khí.
Quên ngã có thể dưỡng hư.
Quên đời có thể dưỡng thần.
Quên tất cả mọi thứ, chính là thiền. Cũng chính là tiến nhập sự nuôi dưỡng mọi thứ vốn có, chính là Phật đạo.

Mỗi khi tôi làm thiền định của pháp Thời Luân Kim Cang.
Bổn tôn và tôi mặt đối mặt.
Bổn tôn dung nhập vào tôi, hợp nhất rồi.
Bổn tôn trong hư không và tôi, nhìn nhau.
Bổn tôn trong hư không và tôi, dung nhập và nhau.
Tôi chính là Thời Luân Kim Cang.
Thời Luân Kim Cang chính là tôi.
Vào lúc này, là ngài đến độ tôi? Hay là tôi tự độ? Trong biển người mênh mông, tôi đã quên tôi đang ở thế giới Ta Bà, trên đường tôi đã đi qua bánh xe khổng lồ của thời gian, lăn qua nghiền nát tất tần tật mọi thứ. 
Cuối cùng tôi chẳng có một thứ gì, tất cả biến thành huyễn hóa, giống như là bay lượn trên những đám mây.
Chân trần dẫm lên hoa sen.
Tôi là Bạch Liên Hoa Vương.


### 12. Dùng ánh sáng xoa đầu đệ tử


Trước khi sờ đầu cho đệ tử, tôi luôn phải làm ba mục sau:
1. Bổn tôn nhập vào người tôi.
2. Tôi hóa thành Bổn tôn.
3. Tôi trì chú của Bổn tôn. 
Sau đó tôi đưa tay ra để sờ đầu cho đệ tử.

Trong kí ức về đời quá khứ của tôi, tôi nhớ rằng, vào hơn 2000 năm trước, có ba người tụ tập lại với nhau, ba người này là:
Vua Trisong Detsen.
Tịch Hộ.
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.
Họ là ba người đã xây dựng nên tu viện Samye.

Sớm hơn cả lúc đó:
Ba người này vốn là ba đứa trẻ, chúng đang chơi đùa trên bãi biển. Ba đứa trẻ dùng cát để xây lên một ngôi chùa bằng cát. Sau đó, chúng bảo vệ cho ngôi chùa bằng cát này.

Về sau, nhân duyên này đã thúc đẩy ba đứa trẻ này lại tụ tập cùng nhau để xây dựng tu viện Samye. 
Một người trở thành Quốc vương Trisong Detsen.
Một người trở thành Hòa thượng Tịch Hộ.
Một người trở thành Tổ sư Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.
Đây chính là nhân duyên của ba người. 
Vạn sự trên đời đều có nhân duyên từ trước, chẳng phải sao?

Từ sự việc này, tôi liên tưởng đến tôi và các đệ tử.
Tôi sáng lập Chân Phật Tông, các đệ tử đến quy y, không biết kiếp trước là duyên phận kiểu gì? Đây đúng là điều khó tưởng tượng một cách không thể tưởng tượng được!

Có người nói:
Vương quốc Shambhala ?
Có người nói:
Đại Bạch Cao Quốc?
Có người nói:
Vương quốc Orgyen?
Có người nói:
Thiên sử thi Mahabharata?
Có người nói:
Thời đại của Bạc Già Phạm?
Có người nói:
Thời Đại Đường?

Tôi nhớ một kiếp đó.
Tôi ngồi trên ngai vàng của nhà vua, dân chúng tụ tập lại, mọi người hô vang:
”Thưa Đức Vua, chúng tôi muốn thỉnh cầu Đức Vua khỏe mạnh trường thọ, vận mệnh đất nước vĩnh viễn đứng vững, cho dù núi có bị san bằng, nước sông khô cạn, sấm rung tuyết lở, chúng tôi và Đức Vua vẫn sẽ ở cùng nhau, không dám đoạn tuyệt với Đức Vua, chúng tôi vĩnh viễn đi theo ngài!”
Lời thề này khiến ai nấy nước mắt tuôn trào.
Nhà vua và thần dân đều khóc, trời cao có thể làm chứng! Mặt đất có thể làm chứng! Đời này kiếp này quyết không phụ nhà vua. 

Đây chính là tình nghĩa giữa tôi và các đệ tử.
Tôi dùng ánh sáng để sờ đầu cho các đệ tử thân yêu của tôi!
Một lòng một ý.


### 13. Liên Sinh Hoạt Phật trên xà kép


Từ nhỏ tôi đã ưa thích vận động, xà đơn, xà kép, vòng đôi, nhảy ngựa, nhảy xa, tôi đều chơi hết.
Gập bụng mỗi ngày tôi đều làm trăm cái.
Chống đẩy mỗi ngày làm hai trăm cái.
Ngày ngày tập, chưa bao giờ gián đoạn. Cuộc đời này của tôi, tôi có một ưu điểm là tràn đầy nghị lực và sự bền bỉ. 
Viết sách hàng ngày.
Tu pháp hàng ngày.
Vận động hàng ngày.
Đọc sách hàng ngày. 

Tôi ở trên xà kép, khi ấy tôi đã 70 tuổi, khi tôi đu xà kép, xung quanh giáng xuống rất nhiều ánh sáng bát nhã. 
Trong ánh sáng bát nhã, từng vị từng vị Hộ pháp thần ở xung quanh xà kép của tôi, các vị ở đó là có rất nhiều tác dụng:
1. Bảo vệ tôi.
2. Gia trì tôi.
3. Trợ giúp tôi.
4. Thanh tịnh tôi.
Tôi ngày ngày vận động là để dưỡng thân, là để bồi dưỡng hình thể.
Mặc dù tuổi tác đã cao, nhưng thân thể không thể già yếu lọm khọm.
Đương nhiên, tôi dùng chữ “định”. 

Trong tĩnh có thể định:
Vô sự cầu sự tĩnh định của nó.
Hữu sự cầu sự tĩnh định của nó.
Trong tĩnh cầu định.
Trong động cũng cầu định.
Trong huyên náo cũng có thể định.
Thậm chí, trong “tiệc rượu phòng hoa xa hoa trụy lạc”, cũng có thể định. 
Thể phải định.
Tâm phải định.
Khí phải định.
Thần phải định.
Tôi ở trên xà kép, tập trung tinh thần để làm các động tác, cũng là một loại định, bởi vì tinh thần tập trung trên xà kép.

Đó là:
”Vận động định.”
Tác giả muốn có thể: ở trong phú quý có thể định, ở trong nghèo khổ có thể định, ở trong an lạc có thể định, ở trong hoạn nạn có thể định, ngay cả trong cảnh khốn cùng nguy nan giữa sinh tử tồn vong cũng có thể định, vì thế trong vận động cũng có thể định.

Tôi nói với mọi người:
Có thể định, Bổn tôn hạ giáng.
Có thể định, Hộ pháp thần hạ giáng.
Có thể định, khí tiên thiên hạ giáng.
Có thể định, dòng chảy pháp hạ giáng.
Có thể định, ánh sáng bát nhã hạ giáng.
Gìn giữ một phần tinh khí thì có nhiều thêm một phần tuổi thọ, bớt đi một phần suy nghĩ thì có nhiều thêm một phần tinh thần. Tinh không thể rò rỉ, thần không thể tiêu hao, phúc không hưởng cạn, vui đừng quá đà, bớt ham cái danh, lợi không nên giữ, thì có thể định.
Một chữ “định”. 
Toàn thân tràn đầy pháp lưu thôi!


### 14. Cổng trời đã mở


Còn nhớ có một hôm, chúng tôi đi du lịch Angkor Wat ở Cambodia. 

Buổi tối hôm ấy ở trong khách sạn. Trong lúc tôi nửa tỉnh nửa ngủ, tôi trèo lên một ngọn núi, cứ thế đi mãi, cứ thế trèo mãi, cho đến khi lên đến đỉnh núi.
Đến đỉnh núi, ngửa đầu nhìn lên, có mặt trời rực rỡ trên cao, xung quanh có cầu vồng tạo thành một vòng tròn, cực kì yên tĩnh, cực kì đẹp.
Đột nhiên có một lực hút. Tôi bay vọt lên không. Tôi bị hút vào trong vầng hào quang của mặt trời. Mặt trời không nóng, cũng không mát mẻ, mà là một sự ấm áp cực kì dễ chịu.
Khi tôi mở mắt ra, tôi bỗng nhìn thấy thiên giới.
Tôi đã nhìn thấy:
Nhân Đà La (Indra).
Cửu Tiêu Đại Thánh.
Thập Cực Chân Nhân.
Kim Tiên.
Ngũ Nhạc Thần.
Có âm thanh nói:
”Một vị Liên Sinh Phật, một lòng cung kính tu, cổng trời đã rộng mở, hút vào trong trời xanh, khói cát tường ẩn hiện, khí may mắn mịt mù, ngưng tụ thành thiên cung, người như ngài thành đạo, phù hộ khắp quần sinh, tính lũy bao công hành, nhấc mình là thăng thiên.”
Tôi hỏi:
”Sao tôi có thể đến đây?”
Âm thanh đáp:
Ở đây có ba thứ:
Nguyên tinh không mất.
Nguyên khí quang minh. (không tiêu hao)
Nguyên thần tự thủ. 
Tu có nhập không thì có thể đến nơi này thôi!
Tôi hỏi:
”Cái gì là chính pháp?”
Âm thanh đáp:
”Cái này chính là chính pháp!”
Còn nói:
”Ba pháp này rất thuần phác không hoa mĩ, nhưng không thể nói là bình thường không có gì kì diệu, nếu không sẽ bỏ lỡ mất đạo này. Nên nói rõ cho thiên hạ!”
Tôi nói:
”Cảm tạ lời giáo huấn!”

Nói xong, tôi liền tỉnh dậy, chỉ ghi nhớ:
Nguyên tinh không mất.
Nguyên khí quang minh.
Nguyên thần tự thủ.

Ngày hôm sau, tôi đã đến một ngọn núi, có bậc cầu thang đi thẳng lên trên, đến một cái động, trong động có thờ một vị Phật. Và trên đỉnh núi từ từ xuất hiện một cầu vồng lớn, giống như trong giấc mơ của tôi đêm qua. 
Những gì tôi thấy tối hôm trước.
Những gì tôi thấy khi đi du lịch.
Không ngờ đã ấn chứng lẫn nhau rồi.
Tôi nói:
”Nguyên tinh không mất, là pháp vô lậu. Nguyên khí không tản mát, là pháp chuyết hỏa. Nguyên thần tự thủ giữ, là pháp minh điểm.”


### 15. Miệng tuôn ra ánh sáng


Có một người chưa từng biết là có Chân Phật Tông, cũng chưa từng biết có Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, càng không biết có Lôi Tạng Tự. Anh ấy chỉ là đi theo bạn đến Đài Loan Lôi Tạng Tự chơi, khi lên núi thì mới biết có Hộ Ma hỏa cúng.

Anh ấy rất hiếu kì. Thì ra có trò đốt lửa tế trời. 
Có kết thủ ấn.
Có niệm chú.
Có cúng dường.
Có một số quán tưởng.
Anh cùng với người nhà nhắm mắt ngồi im lặng, không ngờ vừa mở mắt ra, anh bỗng nhìn thấy Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn từ miệng tuôn ra ánh sáng. 
Anh mô tả:
Khi Lư Sư Tôn thuyết pháp, miệng vừa mới há ra thì có ánh sáng vàng từ trong miệng tuôn ra.
Nói thêm một câu nữa lại có ánh sáng vàng tuôn ra, từng vòng từng vòng tròn ánh sáng vàng đó tuôn ra ngoài. 
Mỗi một vòng ánh sáng vàng tuôn ra xa khoảng một mét rồi từ từ tan biến.

Anh ấy nói với bạn mình:
”Cậu có nhìn thấy ánh sáng từ miệng Lư Sư Tôn đi ra không?”
Người bạn đáp:
”Không thấy!”
Anh ấy chỉ vào miệng tôi:
”Rõ ràng là trong miệng tuôn ra ánh sáng vàng, nhìn mà xem!”
Người bạn đáp:
”Không nhìn thấy!”
Anh lại hỏi người khác, người khác đều nói không nhìn thấy.
Anh ấy nôn nóng, rõ ràng là trong miệng tuôn ra ánh sáng vàng, nhưng lại không có ai nhìn thấy.
Sau pháp hội, người bạn đưa anh đến gặp tôi, nói rằng anh ấy nhìn thấy khi tôi thuyết pháp, trong miệng tôi tuôn ra ánh sáng vàng.
Tôi nghe xong thì mỉm cười không nói. 
Anh ấy nói:
”Rõ ràng tôi nhìn thấy trong miệng ngài tuôn ra ánh sáng vàng, bọn họ nói tôi bị bệnh vàng mắt, nếu nhìn thấy ánh sáng màu xanh thì là bị tăng nhãn áp. Tôi không phục, thỉnh Lư Sư Tôn nói cho chúng tôi biết có thật là miệng tuôn ra ánh sáng vàng không?”

Tôi đáp:
”Đối cảnh vô cảnh, cư trần vô trần; xử sự vô sự, ứng thế vô thế; động niệm vô niệm, dụng tâm vô tâm; vô thiên vô địa, vô nhân vô ngã. Cho đến khi vạn hữu đều không, vạn duyên đều không, trong đó sẽ có những thông tin thật sự.”
Anh ấy đáp:
”Nghe không hiểu!”
Tôi nói:
”Đợi đến khi anh thực tu rồi, anh sẽ từ từ hiểu thôi.”
Khi tôi thuyết pháp, trong miệng có tuôn ra ánh sáng không?
Tôi nói:
Bình thường bớt nói chuyện là dưỡng khí, khí dồi dào thì có thể dưỡng thần, thần dồi dào thì có thể phóng quang.
Hành giả Mật giáo:
Tu chuyết hỏa, có ánh sáng chuyết hỏa.
Tu minh điểm, có ánh sáng minh điểm.
Tu trung mạch, có phong mạch sáng ngời.
Pháp Đại viên mãn, toàn thân là ánh sáng.


### 16. Vẽ diều hâu có diều hâu


Tu hành Mật giáo vốn có bốn trọng điểm:
Ngoại mật — quán tưởng, thủ ấn, trì chú.
Nội mật — khí, mạch, minh điểm.
Vô thượng mật — hợp nhất, đại du già, vô thượng.
Mật mật — minh tâm, kiến tính, thành tựu.
Có nói về:
Sự bộ.
Hành bộ.
Du già bộ.
Vô thượng bộ. 
Bất kể là như thế nào, quá trình từ một phàm phu thế tục đạt đến thành Phật gọi là Đại thủ ấn.
Khi ta tu đến một cấp độ nào đó sẽ có một cảm giác hợp nhất. Khi ấy, ta sẽ trở nên vô sự, vô tâm.
Nét mặt dịu dàng.
Ánh mắt bình thản.
Không buồn không vui.
Không sân không hận.

Tâm đắc của tôi là:
Vô sở đắc.
Vô sở trụ.
Vô sở vị.
Đương nhiên tôi biết, tiến nhập lục đạo luân hồi không còn là kiếp nạn mãi mãi nữa, trong quá trình tu pháp dài đằng đẵng, mục tiêu là giải thoát lục đạo luân hồi, tiến nhập vào trong cái ban đầu có không một vật. 
Đánh thức Phật tính của chính mình, tức là biết tâm tức là Phật, vô tâm thì có thể hiển lộ thiên chân. Ở đây, trái lại là vô vi mà làm, bởi vì làm mà không vì gì cả, ngược lại chính là trời người hợp nhất. 

Tôi vẽ tranh cũng dựa trên tâm thái này, dùng mực để vẽ nên cuộc đời. 
Tôi ở trong phòng vẽ tranh của mình.
Tôi vẽ một bức tranh thủy mặc có hình diều hâu, vẽ xong tôi đề chữ:
”Vỗ cánh trên đồi cao nghìn thước, chạm chân xuống dòng sông vạn dặm.” 

Vẽ xong, tôi đi ra khỏi phòng vẽ, ngẩng đầu lên nhìn trời. 
Chà! Trên trời có một con diều hâu!
Diều hâu đang chao liệng, lúc thì bổ nhào xuống, lúc thì bay vọt lên.
Tôi vội vàng lao vào phòng vẽ tranh, cầm lên bức tranh để cho các Thượng sư, pháp sư và đệ tử đang có mặt ở đó nhìn thấy, tôi vẽ diều hâu, trong không trung có ngay diều hâu.
Tiếng kêu “Chiu! Chiu! Chiu!”.
Chà! Tương ứng rồi!

Tôi vẽ hoàng hôn ở Lôi Tạng Tự. 
Vừa đi ra khỏi phòng vẽ tranh, trời ơi! Bầu trời hoàng hôn ở Lôi Tạng Tự giống hệt với bức tranh mà tôi vừa mới vẽ. 
Cầu vồng bảy sắc.
Tranh của tôi cũng có cầu vồng bảy sắc.
Lại tương ứng rồi! Kiểu tương ứng này quá nhiều lần rồi!
Sự việc rất kì lạ đó là, khi tôi dồn mọi suy nghĩ vào việc vẽ tranh, thế giới hiện thực sẽ tương ứng với tranh của tôi.
Là tranh của tôi tương ứng với thế giới.
Là thế giới tương ứng với tranh của tôi.
Có ai biết được?


### 17. Lư Sư Tôn huyễn hóa


Tu Phật tính Như Lai, chỉ có pháp môn nhất tâm, biểu hiện của tu hành giả thật ra cũng chỉ là pháp môn nhất tâm địa.
Cho nên nói rằng:
Vạn pháp duy tâm, vạn Phật duy tâm. Tâm là chúa tể của con người; tâm cũng là chúa tể của khí, mạch, minh điểm; tâm cũng là Phật, pháp, tăng; tâm cũng là chúa tể của tinh, khí, thần.
Bất kể là tu hành pháp gì đều là lấy tâm làm chủ.
Theo như tôi biết: tâm như như bất động, tức là bản lai diện mục, cũng chính là bản tâm, cũng chính là tiên thiên.

Nếu tâm động thì thuộc tập tính sau này.
Mạnh Tử học Khổng Tử cũng là tâm bất động.
Lão Tử cũng tâm bất động.
Phật Đà cũng tâm bất động.
Tâm bất động tức là thiền.
Nếu không động tâm, sự trống rỗng đạt đến cực tịch tĩnh, chính vào lúc này, tình cảm và ý thức sẽ tiêu biến.
Người hay ta đều quên hết.
Có tâm cũng như không có tâm ấy.
Không có tâm nào có thể thấy.
Không có tâm nào có thể dùng.
Không có cái tâm nào mà thấy rõ cái vốn có ban đầu. 
Con người có thể vô tâm thì công danh, phú quý, sắc dục, sinh tử đều tiêu tan thôi!

Khi tôi ngồi trên pháp tọa, nói với mọi người:
”Tôi có thể tiêu biến!”
Sau đó có người nói:
”Lư Sư Tôn biến mất khỏi pháp tọa rồi!”
Tôi lại nói với mọi người:
”Tôi có thể hóa thành rất nhiều ánh sáng!”
Sau đó có người nói:
”Vừa nhìn lên pháp tọa, Lư Sư Tôn đã biến mất, chỉ thấy rất nhiều chùm tia sáng, có ánh sáng trắng, vàng, đỏ, lục…”
Điều này là vì sao?
Tôi đáp:
”Vô tâm mà thôi!”

Muốn tu hành, đi vào trong núi sâu, học tập công phu tâm bất động, rồi lại biến tâm bất động thành vô tâm.
Trên đời này có mấy người có thể từ bỏ cuộc sống của con người thế tục, từ bỏ thói quen ỷ lại vào những công cụ hiện đại?
Có mấy người có nghị lực ấy?
Có mấy người có chí hướng ấy?
Có mấy người chịu đựng được sự tịch tĩnh?
Thế nhân đều rất yếu đuối, có mấy người nếm được vị đắng?
Nhất là sự tĩnh mịch, cần cù, bền bỉ, kiên định, tín tâm…
Người có nghị lực này, tâm sẽ rộng lớn như gương, núi cao nước chảy, bầu trời xanh thăm thẳm.
Vắng lặng!
Lại không thấy đáy.
Có ai có được bản lĩnh này?
Có ai có thể vô tâm?


### 18. Ánh sáng bát nhã giáng xuống mặt tôi


Từng có người nói:
Pháp hội của Lư Sư Tôn có rất nhiều vòng tròn ánh sáng, bay lên bay xuống trong hư không, tạo thành kì quan.
Ánh sáng nhiều ít không giống nhau.
Vòng ánh sáng to nhỏ không giống nhau.
Ánh sáng lấp lánh mờ ảo không giống nhau. 
Thỉnh thoảng, lúc Lư Sư Tôn đang kết thủ ấn, những vòng ánh sáng đó ở ngay trên lòng bàn tay, trên ngón tay cứ bồng bềnh dập dìu, vô cùng đẹp mắt.
Có khi tụ tập lại.
Có khi lan tỏa ra.
Giống như thổi bong bóng vậy, sủi lên một vòng tròn lớn, rồi dần dần đi xa mất không thấy tăm tích nữa.
Lộ mặt ở chỗ này một chút.
Lộ mặt ở chỗ kia một chút.
Giống như là thoáng qua.

Có người phóng to vòng ánh sáng đó lên, thì ra bên trong không phải là không có một vật nào, mà là có những đường nét, những đường nét tổ hợp lại thành một tòa cung điện trong tròn ngoài vuông. Và ở chính giữa của cung điện dường như có một chủ tôn đang ngồi.
Dường như các vị vẫn cứ liên tục ngồi ở bên trong.
Đây đúng là điều hết sức kì lạ, vòng ánh sáng nhỏ như vậy mà không ngờ chứa được cả một tòa cung điện và Bổn tôn vĩ đại không gì sánh bằng.
Tôi nghĩ đến:
To chính là nhỏ, nhỏ chính là to.
Một chính là nhiều, nhiều chính là một.
To mà không ở ngoài, nhỏ mà không ở trong.
Một lá cây một thế giới.
Một bông hoa một Như Lai.

Ở giữa trời đất này, một hành giả Mật giáo là tôi đây, từ lâu đã hoàn toàn quên mất mình rồi. Còn ánh sáng bát nhã rong chơi ở giữa trời đất giống như là “đất thiêng nảy sinh hiền tài” như vậy thật là đầy ý thơ làm sao.
Tựa như nét mặt tươi cười.
Tựa như ánh mắt trong trẻo.
Là do người tu hành tu được ra, hay là chúng thích thú mà đến gần người tu hành, chúng xuất hiện mọi lúc mọi nơi. 
Đàn thành có ánh sáng bát nhã, Phật Bồ Tát hạ giáng, bất khả tư nghì!


### 19. Hoàng hôn ở chùa tổ


Mạnh Tử nói:
Phú quý không thể tham lam.
Bần tiện không để nao núng.
Vũ lực không thể khuất phục.
Ba điều này được tạo nên bởi chính khí.
Tôi nói:
Người học Phật:
Không vì danh vị mà động tâm.
Không vì phú quý mà động tâm.
Không vì tài sắc mà động tâm.
Không vì sinh tử mà động tâm.
Như vậy sẽ tiến gần với Đạo!

Kinh Định Quán nói:
Chỉ diệt động tâm, không diệt chiếu tâm. Chỉ ngưng không tâm, không ngưng trụ tâm. Nếu muốn không động tâm, phải không khởi lên nguyên nhân gây động tâm, mọi duyên bên ngoài đều không xâm nhập, duyên bên trong cũng không sinh ra, lục trần đều diệt hết, nội căn cũng dừng lại, lúc này:
Vô tâm.
Vô niệm.
Vô động.
Đây chính là thành tựu lớn của thiền!

Cá nhân tôi thích vẽ tranh, phương pháp mà tôi dùng là:
Buộc tâm tại một chỗ.
Niệm khởi lên lập tức nhận biết.
Tâm khí dựa vào nhau.
Thần khí tập trung vào nhau.

Khi tôi ở trong phòng vẽ tranh vẽ bức “Hoàng hôn ở chùa tổ”, đương nhiên tôi nghĩ đến Seattle Lôi Tạng Tự, sau đó tôi nghĩ đến hàng thông cao chót vót ở phía sau chùa, nghĩ đến cầu vồng trên bầu trời xanh.
Đây là sức mạnh của ý tưởng.
Tôi dùng ý tưởng để gõ lên bậc thang của chùa tổ.
Tôi dùng ý tưởng để gõ lên hàng thông cao vút.
Tôi dùng ý tưởng để gõ lên cầu vồng của bầu trời.
Tâm của tôi có một dạng sức mạnh, đó là phương pháp buộc tâm tại một chỗ, khi ấy đã mở ra hào quang của tâm trí, ánh sáng của tự tính càng ngày càng mãnh liệt, tiếp nhận lấy nơi sâu thẳm trái tim và tâm hồn tôi, thế là một bức tranh đã hoàn thành rồi.
Những điều này đều là sự trải nghiệm của nội tâm tôi.

Tâm.
Cảnh.
Linh.
Kết hợp lẫn nhau.
Khi tôi vẽ xong bức tranh “Hoàng hôn ở chùa tổ”, tôi lại đi ra bên ngoài chùa, vừa nhìn lên thì trời ơi! Bức tranh tôi vẽ và hiện thực hoàng hôn ở chùa tổ giống hệt nhau. 
Cầu vồng với bảy dải màu sắc của tôi.
Cầu vồng với bảy dải màu sắc ở trên bầu trời ngôi chùa. 
Các Thượng sư và pháp sư đều tận mắt chứng kiến.
Đây là kinh nghiệm cá nhân khi vẽ tranh của tôi, không phải là biết trước sự việc, đó là cái tâm lớn của vũ trụ và cái tâm nhỏ của tôi đã tương ứng với nhau.
Không có văn tự nào có thể mô tả.
Không có ngôn ngữ nào có thể nói ra.
Nhưng lại có thể vẽ ra được một cách chính xác.
Chỉ vì tôi đã cảm động tới trời rồi! Đây là thiền!


### 20. Trường Mi tôn giả hạ giáng


Bầu trời ở Seattle lúc nào cũng là ngày ngày trời xanh, không khí cực kì mát mẻ, bất kể là trước bình minh hay là sau hoàng hôn, hay là suốt cả một ngày, hiện lên trước mắt tôi luôn là một cảnh sắc tráng lệ.
Bốn xung quanh là bát ngát núi rừng. 
Những hàng cây xanh mướt. 
Một hồ nước mênh mông vô bờ.
Mặt trời sáng rực rỡ nhường ấy, mặt trăng sáng dịu dàng nhường ấy.
Sống ở Seattle nước Mĩ luôn luôn là những ngày tháng tràn ngập niềm vui như vậy.
Có một cảm giác sung sướng tách rời khỏi những thứ bên ngoài.

Có một hôm. 
Tôi nhìn thấy một vệt mây nằm ngang ở chân trời. Ban đầu tôi cho rằng đó là do máy bay bay qua, để lại cái đuôi của nó trên bầu trời xanh. 
Sau đó tôi có một cảm giác rung động, từ chân lên tới đầu, một cảm giác chưa từng có.

Thời khắc ấy. 
Tôi biết Trường Mi tôn giả Tân Đầu Lư đang hiện lên đôi lông mày của ngài trong hư không.
Tôi đã biết rồi!
Trong chốc lát, cõi lòng tôi trở nên trong veo không gì sánh bằng.
Trường Mi tôn giả hạ giáng rồi!
Mây rất trắng.
Mây rất dài.
Lông mày rất thẳng.
Tôi chưa từng nhìn thấy mây sắp xếp thẳng hàng như vậy, đây chẳng phải là lông mày sao?
Mấy ngày nay đúng là lúc tôi đang truyền thụ Mật pháp của Trường Mi tôn giả Tân Đầu Lư. 

Tôi còn nhớ khi chúng tôi đi du lịch Nhật Bản.
Đi đến ngôi chùa Todai ở Nara. Bên cạnh chùa Todai có Tân Đầu Lư, tôi nhìn thấy con mắt của Tân Đầu Lư cứ trừng trừng nhìn tôi. 
Thần quang phóng ra ngoài.
Tôi cười ha ha nói: 
”Đúng lúc Tân Đầu Lư đang ở đây, trên người các bạn có bệnh gì thì đi sờ vào bộ phận đó trên người Tân Đầu Lư đi, bệnh của các bạn sẽ khỏi đó.”

Luật sư La Nhật Lương đi cùng tôi có bệnh đau dạ dày đã mười mấy hai mươi năm rồi, vừa nghe lời tôi nói liền lao mình đến, sờ lên bụng của Tân Đầu Lư một cái.
Nói ra cũng kì quái. 
Bệnh đau dạ dày mười mấy hai mươi năm của anh ấy đã hoàn toàn khỏi hẳn. Cho đến hôm nay, dạ dày hoàn toàn bình thường rồi!

Tân Đầu Lư tôn giả là một trong số mười sáu vị La Hán vào thời Phật Đà, đạo hạnh rất sâu. Ngài là La Hán trụ thế. 
Vì ngài đã hiển lộ thần thông trước dân thường nên bị Phật Đà trách phạt, để cho ngài lưu lại ở thế gian. 
Cho nên cực kì dễ sơ xảy.
Rất khó tránh được cái tâm hám danh.
Mặc dù đã đoạn dục.
Mặc dù đã đoạn tình.
Mặc dù đã đoạn sinh tâm.
Nhưng vẫn háo danh.
Vì thế, Tân Đầu Lư Trường Mi tôn giả vĩnh viễn trụ ở thế giới Ta Bà, cứu độ chúng sinh thôi!


### 21. Triệu thỉnh Thánh Paul


Người mới học Phật có một thứ khó hàng phục nhất, đó chính là “vọng tâm”!
Bởi vì tâm như sóng cả, cứ lên xuống nhấp nhô bất định. 
Mỗi một hành giả mới học Phật đều như vậy.
Làm sao để hàng phục vọng tâm?
Thiền tông trước hết dạy người ta “tham thoại đầu”. [Tham thoại đầu còn gọi là khán thoại đầu. Thoại đầu là lúc chưa khởi niệm muốn nói. Đây tức là nhìn và quan sát ngay chỗ một niệm chưa sinh ra, khi không biết đó là cái gì, đây gọi là nghi tình, từ nghi tình dẫn đến chỗ giác ngộ.] Cần làm đến khi khai ngộ minh tâm.
Tịnh Độ tông yêu cầu bạn niệm Phật. Cần niệm tới khi nhất tâm bất loạn.
Luật tông yêu cầu bạn giữ giới. Giữ giới cho đến khi tâm bất động.
Mật tông yêu cầu bạn thân khẩu ý thanh tịnh. Thanh tịnh thì sẽ minh tâm.
Những cái này đều là:
”Phương pháp giữ cho cái tâm vượn ý mã của mình cắt đứt vọng tưởng.”

Tổ sư Đạt Ma nói:
”Ngừng mọi duyên bên ngoài, nội tâm tĩnh lặng, như người quay mặt vào tường, có thể nhập đạo.”
Tôi nói:
Trong ngoài cùng cắt đứt.
Hoàn cảnh và bản thân ta đều quên.
Tâm vượt lên trên hiện tượng bên ngoài.
Người và pháp đều xả bỏ.
Đến lúc này mới là vạn hữu đều không, một hạt bụi không nhiễm. Lúc này, diện mạo vốn có của bản thân mới hiện chứng.

Lư Sư Tôn tôi là một “đạo nhân vô tâm”. 
Nếu tôi niệm chú triệu thỉnh, tất cả những vị mà tôi triệu thỉnh nhất định sẽ hạ giáng, điều này là vì sao?
Đáp án là:
Rời xa tất cả tâm, vô tâm.
Cũng không rời nhất tâm.

Lấy một ví dụ:
Chúng tôi một đoàn hơn hai mươi người đi du lịch châu Âu. Đi đến Italy, ở ngoài thành Rome thăm giáo đường Thánh Paul. 
Giáo đường này có hai đặc trưng:
Thánh Paul được chôn bên dưới bàn thờ.
Trên các bức tường xung quanh treo pháp tướng của 267 vị Giáo hoàng, trong đó chỉ có một ngọn đèn sáng, đó chính là Giáo hoàng đương nhiệm.
Tôi đột ngột phát khởi suy nghĩ kì lạ: 
”Niệm chú triệu thỉnh, thỉnh Thánh Paul hạ giáng.”
Tôi niệm:
”Ôm ah hùm sô-ha. Ôm ah hùm sô-ha. Ôm ah hùm sô-ha.” 

Kết quả:
Trong những tấm ảnh mà mọi người chụp ra, ở bên trên bàn thờ xuất hiện người ánh sáng màu trắng. 
Kiểu tóc.
Lông mày rậm.
Mũi cao.
Con mắt.
Môi.
Quai hàm.
Cổ áo.
Vị này là Thánh Paul một trăm phần trăm.
Tôi cũng có thể nhìn thấy Jesus Christ, mọi người có tin hay không?
Có một ngày, tôi sẽ triệu thỉnh Jesus Christ hạ giáng nhé!


### 22. Ánh sáng của pháp Thập phương xạ tiễn


Người học Phật cần phá được ba cửa:
Cửa danh — Nếu không phá được cửa này thì cái tâm khen chê sẽ động.
Cửa lợi — Nếu không phá được cửa này thì cái tâm được mất sẽ động.
Cửa sắc — Nếu không phá được cửa này thì cái tâm dục niệm sẽ động.
Người học Phật luôn lấy thanh tịnh làm yếu nghĩa số một, ngồi thiền tức là muốn thanh tịnh.
Hễ ngồi lên ghế.
Tất cả ngoại duyên đều buông bỏ.
Hễ nhập tĩnh.
Tất cả sự vật đều tan biến.
Thanh tịnh lâu ngày tự có thể nhập đạo.
Minh tâm.
Kiến tính.
Cũng chính là lúc này.

Cái “cảm giác” này giống như kinh Tâm:
Không phải có.
Cũng chẳng phải không.
Cũng chẳng phải không có không không.
Không chạm được có, cũng không chạm được không, cũng không chạm được không có và không không.
Không chấp tướng.
Không chấp pháp.
Cũng không chấp Phật.

Đến được lúc này rồi:
Có biết đều sai, có nói đều sai, có Phật cũng sai, không có cũng sai.
Chấp vào tướng không rất sai, chấp vào tướng có càng sai, có chấp hay không chấp vào sắc tướng và không tướng cũng sai.
Ngước mắt đều sai.
Động niệm đều sai.
Tính toán đều sai.
Mở miệng ra là sai.
Có được cái “gì” này!
Phật là gì? Pháp là gì? Tăng là gì?
Xin mọi người thử trả lời.

Có một công án Thiền tông. Thiền sư Viên Ngộ khai thị cho Đại Huệ:
”Thế nào gọi là nơi xuất thân của chư Phật?”
Tự hỏi tự đáp rằng:
”Gió nam từ phương nam, trên lầu sẽ mát mẻ.”
Lẽ nào đó là lúc gió nam thổi đến mát mẻ sao? 
Thế gian vạn vật hữu tình, cỏ cây sông núi, có ý nghĩa gì?
Tất cả trí huệ của nhân loại làm sao có thể đo lường?

Chỉ có gửi vào:
”Tự nhiên!”
Hoa, cỏ, cành, lá.
Xuân, hạ, thu, đông.
Khi tôi tu pháp Thập phương xạ tiễn của Kurukulle Phật Mẫu, bắn tên ra khắp mười phương. Tên bắn ra mười phương hướng về hư không.
Bắn ra dòng chảy ánh sáng của pháp.
Có đệ tử chụp được kì quan khi ấy liền lan truyền trên mạng. 
Đây là gì?
Không phải là gì?
Là không phải cái gì của cái gì?
Các vị có ý kiến gì không?


### 23. Con mắt kim cang


Người học Phật cần quy y sư phụ, bởi vì có sư phụ rồi mới không đi vào rất nhiều con đường oan uổng [con đường vốn không phải đi mà lại đi vào], sẽ không rơi vào bàng môn ngoại đạo, mới không đui tu mù luyện, phí hoài bao nhiêu công phu.
Vì thế, thông thường có tam quy y:
Quy y Phật.
Quy y Pháp.
Quy y Tăng. (Thánh - Hiền - Tăng)
Mật giáo có tứ quy y:
Nam-mô gu-ru pây. (Kim cương Thượng sư)
Nam-mô bút-đa ya.
Nam-mô đa-ma ya.
Nam-mô sang-ga ya.
(Lục quy y là cộng thêm Bổn tôn và Hộ pháp.)

Còn nữa:
Một vị sư phụ như thế nào thì bạn mới đi quy y người đó, việc này bạn phải phân biệt cẩn thận. Các pháp sư ngày nay đầy rẫy trên đường phố, họ có phải là minh sư chân chính hay không là một câu hỏi lớn, sư phụ rất nhiều, minh sư khó tìm.
Học Phật cần có huệ nhãn:
1. Có truyền thừa.
2. Có thực tu.
3. Có học Phật.
4. Có chính kiến.
5. Có chứng lượng.
Có đủ những điều này rồi mới xem là Kim cương Thượng sư có đầy đủ phẩm đức.
Và khi bạn tu hành cũng không phải là ỷ vào sư phụ cứu độ, mà phải dựa vào “tự tu”, “tự độ”, “tự luyện”, “tự hóa”. 
Cũng có nghĩa là:
Tham cần tự tham. [tham trong tham thiền, tham công án]
Ngộ cần tự ngộ.
Tu cần tự tu.
Độ cần tự độ.
Trên phương diện này không thể mượn tay sư phụ, cũng không thể mượn tay người khác, điều này cực kì quan trọng.

Chúng ta thường nói, nếu không phải tự mình tu hành tu pháp, cho dù sư phụ của bạn là Phật Thích Ca Mâu Ni thì bản thân bạn cũng sẽ chẳng thể có thành tựu.
Lấy tôi làm ví dụ:
Tôi đã viết 248 cuốn sách, từ đâu mà có?
Đáp án là ngày ngày đều viết.
Tôi có thể minh tâm kiến tính, từ đâu mà có?
Đáp án là ngày ngày đều tu.

Người khác cho rằng tôi một phát là thành công, sai rồi!
Thiền sư Trường Khánh ngồi nát bảy chiếc bồ đoàn, thiền sư Triệu Châu ba mươi năm không để tâm đến những việc lặt vặt.
Tôi Lư Sư Tôn bốn mươi năm nay, ngày ngày tu pháp, không có một ngày nào gián đoạn, đây chẳng phải là lời nói xằng nói bậy.
Tôi từ nhục nhãn đắc thiên nhãn, từ thiên nhãn đắc huệ nhãn, từ huệ nhãn đắc pháp nhãn, từ pháp nhãn đắc Phật nhãn.
Từ Phật nhãn lại hóa thành:
Kim cang nhãn.
Vì sao trời hiển kim cang nhãn?
Là vì Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang hạ giáng, là Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang đến gia trì cho chúng sinh.
Để chúng sinh tu tập năm loại con mắt!


### 24. Ánh sáng đại bát nhã giáng xuống


Người học Phật, mọi thứ cần chân thực. 
Tham phải chân tham. [tham trong tham thiền, tham công án]
Ngộ phải thực ngộ.
Tu phải chân tu.
Luyện phải thực luyện. 
Trong tu luyện Mật giáo nội pháp, không được có một chút qua loa sơ sài nào, từng tí từng chút đều phải lưu ý.

Tu khí:
Cửu tiết Phật phong, Kim cang tụng, Bảo bình khí.
Yết dịch: [nuốt chất lỏng]
Pháp thủy thần.
Súc tinh: [giữ tinh khí]
Không ham tình dục, Sakya lục thức biến, tinh khí không tiết, pháp vô lậu.
Pháp chuyết hỏa:
Lên xuống chuyết hỏa.
Pháp minh điểm:
Thủy hỏa giao dung, trung mạch thông, mở ngũ luân.
Kiến chứng Phật tính:
Minh tâm kiến tính.
Tử - Mẫu quang gặp nhau:
Quang quang tương chiếu, hòa tan vào nhau mà thành tựu.

Các pháp tu này chính là những việc đại sự bậc nhất trong thiên hạ, thành Phật Bồ Tát chính là cao nhân bậc nhất trong thiên hạ.
Đây gọi là công phu điêu luyện nhất định sẽ đến, ánh sáng mãnh liệt tự nhiên sinh ra, ngoại quang nội quang hợp nhất.
Có người nói:
”Hết một phần trần thì sáng một phần đạo, hết mười phần trần thì sáng mười phần đạo, khi đến được trình độ tuyệt tận tâm trần thì hoàn toàn ở trong tính, tuyệt tận tâm sắc thì hoàn toàn ở trong mệnh, tuyệt tận tâm vô minh thì có thể hoàn toàn ở trong sự xung hòa. [xung hòa: chỉ nguyên khí, chân khí, đạm bạc bình hòa]
Con người tôi bây giờ đã đến gần với tự nhiên.
Sông hồ.
Mùi thơm.
Mây trắng.
Cỏ cây.
Hành giả.
Dường như đều ẩn giấu vô số và vô số bí mật.

Còn về ánh sáng bát nhã đột nhiên đến đó, lớn lớn nhỏ nhỏ, tôi giữ nguyên tư thế nằm phủ phục dưới đất một cách tự nhiên. 
Chẳng thể nào nghĩ ngợi.
Chẳng thể nào dịch chuyển bước chân.
Chẳng thể nào rời đi.
Tôi hiểu sâu sắc rằng, nó có thể giải đáp những điều bí ẩn, ánh sáng bát nhã lớn lớn nhỏ nhỏ, từng tia từng tia rơi xuống đàn thành, từng vị từng vị chủ tôn, các vị ở trong hư tĩnh tùy ý đến đi.
Giống như:
Shangri-La.
Núi Tu Di.
Vân vân tất cả những đều bí ẩn. Con người của vương triều Guge, chỉ trong một đêm đã hoàn toàn biến mất sạch sẽ…
Tôi chỉ biết:
Uyên bác.
Bao la.
Thần bí.
Giống như ánh sáng bát nhã giáng xuống người tôi, bên cạnh tôi, đỉnh đầu tôi, xung quanh tôi, căn bản là tôi chẳng thể nào tưởng tượng được.


### 25. Linh quang của Diêu Trì Kim Mẫu hạ giáng


Có một lần, Thượng sư Liên Triết của Đài Loan Lôi Tạng Tự hỏi:
”Lư Sư Tôn về Đài Loan, lễ Hộ Ma đầu tiên lấy vị nào làm chủ tôn?”
Tôi trả lời không chút do dự:
”Diêu Trì Kim Mẫu.”
Người hỏi:
”Vì sao?”
Tôi đáp:
”Terma!”
Người hỏi:
”Sao lại là terma?”
Tôi liền nói:
Diêu Trì Kim Mẫu lần đầu tiên mở thiên nhãn cho tôi.
Trong não của tôi toàn là hình ảnh của Diêu Trì Kim Mẫu.

Quá khứ.
Hiện tại.
Vị lai.
Ngài là Bổn tôn đầu tiên của tôi.
Tôi chuyển thế qua bao đời, bất kể là Xá Lợi Phất sống trong hang đá, hay là Naropa sống trong bên cạnh con sông cuồn cuộn, hay là Trisong Detsen sống trong hoàng cung, hay là Liên Hoa Đồng Tử sống ở cõi trời, hay là Tổ sư Đạt Ma bế quan, hay là Thủy Thần sống dưới nước… 
Trong tâm linh rõ mồn một của đời này, ý thức của chính tôi vẫn có linh hồn đang lưu chuyển.
Bầu bạn với tôi là Diêu Trì Kim Mẫu.
Diêu Trì Kim Mẫu nói:
”Con mang cốt Phật đó!”
Tôi nói:
”Con là Phật tử lưu lạc!”
Tôi từng là người bị bức hại.
Tôi từng là người trầm mặc cô độc.
Tôi từng là người nghèo khổ không nơi nương tựa.
Tôi từng là người bệnh tật.
Tôi từng là người lang thang lưu lạc khắp nơi.

Thế nhưng, Diêu Trì Kim Mẫu ở trong tim tôi, chỉ cần tôi niệm một câu “Ôm chin-mủ sít-đi hùm” đã hơn người khác niệm một nghìn câu. 
Tôi chỉ cần tu một đàn pháp Kim Mẫu thì đã hơn người khác tu một nghìn đàn pháp Kim Mẫu.
Vì sao?
Bởi vì tâm hồn và nhục thể của tôi chí ít cũng có một nghìn vị Diêu Trì Kim Mẫu, đây là điều mà thế nhân chẳng cách nào hiểu được.
Khi tôi làm Hộ Ma Diêu Trì Kim Mẫu, linh quang của Diêu Trì Kim Mẫu sẽ giáng xuống. 
Khi Sư Mẫu Thượng sư Liên Hương buổi đêm ngủ không ngon, tôi thỉnh Diêu Trì Kim Mẫu hà khí, bà ấy liền ngủ ngon. 
Khi Sư Mẫu đầy hơi dạ dày, tôi thỉnh Diêu Trì Kim Mẫu hà khí, bà ấy liền không bị đầy hơi nữa.
Vì sao?
Vì tôi chính là Diêu Trì Kim Mẫu. 
Diêu Trì Kim Mẫu là tôi. 


### 26. Trên đầu ba xích có thần minh (1)


Bao nhiêu năm nay, chúng ta thường nói “trên đầu ba xích có thần minh”, điều này có thật không?
Nghe nói:
Táo Quân là vị thần ghi chép lại thiện ác của một hộ gia đình.
Thổ Địa là vị thần ghi chép lại thiện ác của một thôn làng.
Tứ Thiên Vương là vị thần ghi chép lại thiện ác của một đất nước.
Tôi từng hỏi một vị thần trực nhật:
”Ghi chép lại thiện ác của một cá nhân như thế nào?”
Thần đáp:
”Rất đơn giản, hành vi của mỗi cá nhân chúng tôi đều nhìn thấy rõ mồn một, kể cả là suy nghĩ của người đó, trên đỉnh đầu đều sẽ hiện lên họ đang nghĩ cái gì. Cho dù họ ngủ trong phòng, họ nằm mơ thấy gì cũng đều có huyễn ảnh diễn biến ở trên đầu họ.”
Thần nói:
Thiện có thiện quang.
Ác có ác quang.
Biến huyễn trong chớp mắt.
Vì thế trên đầu ba xích có thần minh.

Thần nói:
Cho dù một cặp nam nữ ở trong phòng bí mật diễn trò bí mật, đây là trò ma quỷ thích xem nhất.
Ma quỷ vô hình vây xung quanh giường, xem đôi nam nữ này diễn trò bí mật. 
Khua tay múa chân.
Rủ rỉ rù rì.
Mắt miệng đờ đẫn.
Lộ tướng ngu si.
Nếu ma quỷ có duyên với họ thì có thể nhập thai để thụ thai.
Ai nói không có con mắt đang nhìn?
Điều ẩn giấu ở đây là thế giới hồng trần nhộn nhịp của người phàm hé lộ một cách mơ hồ những bí mật về nhân quả, kiếp trước và kiếp sau. 
Có người dạt dào niềm vui.
Có người tiu nghỉu như bị mất mát.
Đúng là:
Sống chết có số.
Giàu sang tại trời.

Người tu hành, trong cuộc sống thường ngày có sự kiên trì.
Nạp khí.
Yết dịch.
Thủ tinh.
Tồn ý.
Thiền định.
Ở phía trên đầu họ sẽ có vô số Bổn tôn chí cao vô thượng với tấm lòng từ bi nhìn xuống chúng sinh.
Không có hành vi xấu ác nào có thể thoát khỏi con mắt của các vị, không có bất kì xó xỉnh ngóc ngách nào có thể giấu được những việc ô uế.
Các vị nhìn chúng sinh bằng con mắt kim cang.
Kim cang nhãn!
Có tròng đen.
Có tròng trắng.
Treo ở trong bóng đêm của hư không, lần lượt từng con mắt hiện ra, đầy khắp!


### 27. Trên đầu ba xích có thần minh (2)


Căn cứ theo nội dung của chương 36 kinh Hoàng Đình Nội Cảnh, chúng ta có thể biết rằng không chỉ trên đầu ba xích có thần minh mà thôi. 
Bên trong thân thể con người chúng ta cũng có thần minh. 
Thần minh ở trong thân người.
Thần minh ở trong hư không.
Phối hợp chặt chẽ với nhau.

Trong chương thứ tám “Tâm Thần” có nói:

*Tâm thần: Đan Nguyên tự Thủ Linh,
Phế thần: Hạo Hoa tự Hư Thành,
Can thần: Long Yên tự Hàm Minh,
Ế uất: đạo yên, chủ trọc thanh, 
Thận thần: Huyền Minh tự Dục Anh,
Tì thần: Thường Tại tự Hồn Đình,
Đảm thần: Long Diệu tự Uy Minh,
Lục phủ ngũ tạng, thần thể tinh,
Đều ở trong tâm vận thiên kinh,
Ngày đêm giữ được sẽ trường sinh.*

[Đoạn kinh văn này nói đến tên của các vị thần chủ quản các cơ quan bộ phận trong thân thể người. Ế uất là một tên gọi khác của Thần Gan. Khi gan đục thì mắt mờ, khi gan trong thì mắt sáng. Các thần đều ở trong tâm, vận hành điều động cơ thể theo định luật của trời đất vũ trụ. Quan điểm của người xưa là phải giữ được tâm, giữ được thần thì mới sống thọ.]

Đoạn kinh văn này đã kể tên rõ càng các thần trong thân thể, mỗi bộ phận đều có thần điều khiển. Thân người có thượng nguyên cung (thượng đan điền), trung nguyên cung (trung đan điền), hạ nguyên cung (hạ đan điền), trong ba cung này, mỗi một cung đều có tám thần, tương đương với có tổng cộng hai mươi tư vị thần quân.
Bởi vậy mới nói:

*Trị sinh chi đạo liễu bất phiền,
Đãn tu Động Huyền dữ Ngọc Thiên.
Kiêm hành hình trung bát Cảnh Thần,
Nhị thập tứ chân xuất tự nhiên,
Cao củng vô vi hồn phách an,
Thanh Tịnh Thần hiện dữ ngã ngôn,
An tại tử phòng vi mạc gian,
Lập tọa thất ngoại tam ngũ huyền,
Thiêu hương tiếp thủ ngọc hoa tiền,
Cộng nhập Thái thất Tuyền Ki môn.
Cao nghiên điềm đạm đạo chi viên,
Nội thị mật phán tận đổ chân,
Chân nhân tại kỉ mạc vấn lân,
Hà xứ viễn sách cầu nhân duyên.*

Tạm dịch:

*Hiểu đạo dưỡng sinh chẳng còn phiền*
*Chỉ tu Động Huyền với Ngọc Thiên.
Kiêm tám Cảnh Thần trong hình thể
Nhị thập tứ chân xuất tự nhiên. **[Nhị thập tứ chân: hai mươi bốn vị thần trong thân người, cũng là hai mươi bốn khí.]**
Siêu tuyệt vô vi an hồn phách, **[Siêu tuyệt vô vi tức là nhập đại định.]**
Thần Thanh Tịnh hiện nói cùng ta.
Ngự tại tử phòng trong màn chướng, **[Tử phòng: tức Nê Hoàn.]**
Ngoài phòng dăm ba thần đứng ngồi.
Thắp hương trao tay trước thiên đình, **[Thiên đình: vị trí giữa hai chân mày.]**
Cùng vào Thái thất, Tuyền Ki môn. **[Các thần cùng vào cung Nê Hoàn qua cửa Tuyền Ki.]**
Điềm đạm cao nghiên khu vườn Đạo,
Nhìn thấu bên trong sẽ thấy thần.
Thần ở chính ta chẳng đâu xa,
Tìm kiếm nhân duyên ở chốn nào?*

[Đoạn kinh văn này trong chương thứ 23 “Trị Sinh”.]

Đoạn này nói rõ, duy trì suy ngẫm về hai mươi tư chân nhân của cung Tam Nguyên, đạt đến chân khí vận chuyển, đạt đến sự hư tĩnh điềm đạm, thân tâm hợp nhất, trời người hợp nhất, trong ngoài sáng rõ, thì có thể tiến vào cảnh giới của thần tiên. 
Trời có chín sao, gọi là cửu thiên; đất có chín cung, gọi là cửu địa; người có chín lỗ, gọi là cửu sinh.
Cho thấy người và trời là tương ứng.

Tôi nói:
Trong thân người có thần, lẽ nào trên trời không có thần ư?
Ở chỗ Lư Sư Tôn đây, chỉ cần là lễ Hộ Ma (hỏa cúng) hoặc pháp hội khác, đều có thể thị hiện đàn thành (ánh sáng bát nhã) của Bổn tôn, thật sự là quá nhiều không thể đếm xuể.
Ngoài có chư tôn bát nhã.
Trong có chư tôn nội thể.
Lí do: trời người hợp nhất, trong ngoài tương ứng.
Không chỉ là trên đầu ba xích có thần minh!
Ngay cả bên trong thân thể người, mỗi bộ phận đều có thần minh đó!


### 28. Lục Độ Mẫu hạ giáng


Hầu như người tu hành Mật giáo đều biết rằng những người tu trì pháp Bổn tôn Lục Độ Mẫu đều cực dễ tương ứng với Bổn tôn. 
Tôi từng hỏi Đại Bảo Pháp Vương thứ 16:
”Pháp Vương tu pháp ra sao?”
Đại Bảo Pháp Vương đáp:
”Ban ngày tu Lục Độ Mẫu, ban đêm tu Hộ pháp Mahakala.”
Câu trả lời của Đại Bảo Pháp Vương rất trực tiếp và dứt khoát.

Tôi còn nhớ:
Atisa Tôn giả từ Ấn Độ đến Indonesia, Tôn giả đã cầu pháp ở chỗ của Kim Châu Đại Sư. Kim Châu Đại Sư đã hướng dẫn Atisa Tôn giả:
1. Pháp Phát bồ đề tâm.
2. Pháp Lục Độ Mẫu.
3. Các đại pháp khác.
Atisa Tôn giả đem pháp Lục Độ Mẫu về Ấn Độ, rồi lại đem pháp Lục Độ Mẫu đến Tây Tạng. 
Ở vùng Tây Tạng, pháp Độ Mẫu thường xuyên có thể cảm nhận được sự gia trì từ bi của Độ Mẫu, giấc ngủ an lành, nội tâm thanh tịnh, đồng thời cảm nhận được Độ Mẫu thường xuyên giáng lâm, ở bên cạnh bảo vệ.

Cảm nhận của cá nhân tôi là:
Độ Mẫu rất thân thiết.
Độ Mẫu rất ân cần.
Độ Mẫu rất ấm áp.
Độ Mẫu rất quảng đại.
Ánh mắt của Độ Mẫu trong veo trong suốt giống như hồ nước sâu, sự từ bi là vô cùng tận.
Tại đàn thành của tôi có thờ phụng 21 vị Độ Mẫu, cũng thờ phụng cả Bạch Độ Mẫu.

Người ta nói rằng:
Giọt nước mắt từ bi của Quan Thế Âm Bồ Tát hóa thành Lục Độ Mẫu và Bạch Độ Mẫu.
Cứ như vậy lan truyền, tĩnh mịch, an lành, đẹp đẽ.
Tôi nói với mọi người, mỗi lần tôi tu pháp Lục Độ Mẫu, chỉ cần Lục Độ Mẫu giáng xuống là có tiếng leng keng của những món đồ trang sức như hoa tai, vòng tay, vòng chân,  phát ra những âm thanh tinh tang nho nhỏ khi chúng va đập vào nhau, thứ âm thanh ấy trong trẻo dị thường, tuyệt đối không phải là âm thanh của thế tục.
Khi Lục Độ Mẫu đến, ngài còn nhuộm những vật xung quanh thành màu xanh lục, giống như ở trong giấc mơ vậy.

Chúng ta niệm: “Ôm ta-rê tút-ta-rê tu-rê sô-ha”. 
Tụng tán:
*Mấy đời quá khứ con đã tu
Sự nghiệp của ba đời chư Phật
Một mặt hai tay thân lục sắc
Mau chóng Mẫu đem đến yên bình
Tay cầm cành hoa upala
Hành giả tán dương Thánh Độ Mẫu.*

Khi chúng ta tu pháp Lục Độ Mẫu, trời đều sẽ giáng dị tượng, có khi có mùi thơm, có khi là thiên nữ tung hoa, có khi có thiên nhạc tinh tang, có khi cả mặt đất biến thành màu xanh lục.
Vạn tuế! Vạn tuế!


### 29. Tôi du hí ở nhân gian


Có người hỏi tôi:
”Lư Sư Tôn ở nhân gian là vì cái gì?”
Tôi đáp:
”Vui chơi!”
Những ai nghe thấy đều cảm thấy rất mới mẻ.
Quá khứ.
Từng có người hỏi Phật Thích Ca Mâu Ni:
”Con người ở tại nhân gian là vì cái gì?”
Phật đáp:
”Trả nghiệp.”
Câu trả lời của Phật Đà là hay nhất, con người chuyển kiếp đến nhân gian không phải là thiện nghiệp, mà là ác nghiệp, theo nghiệp lực mà đến nhân gian, nếu không tiêu nghiệp này thì sẽ luôn luôn luân hồi trong lục đạo, vĩnh viễn không có hồi kết. Phải tiêu trừ hết nghiệp mới không chịu luân hồi, cho nên nhân gian là nơi để trả nghiệp.

Lí do tôi trả lời là “vui chơi” là:
Cuộc đời là một sự huyễn ảo lớn, cũng là một giấc mơ lớn, nhận thức được đây là đại huyễn, nhận thức được đây là đại mộng, cho nên tôi nói:
Là một chuyến vui chơi. 
Đã là vui chơi thì sống chết có số, giàu sang tại trời, cho nên cần phải tu sửa cái tâm tham lam, tâm đố kị, tâm ngu si.
So đo thiệt hơn.
Tính dài tính ngắn.
Báo thù ân oán.
Những điều này đều không cần phải tính toán.
Người học Phật đừng ham muốn giàu sang, đừng chán ghét nghèo khó, phải biết rằng mỗi ngày tiêu mấy vạn lượng vàng cũng không bằng vui với cơm trong ống nước trong bầu, hài lòng với những thứ giản đơn. 
Nghèo là cái gốc dưỡng sinh.
Khó là cơ sở nhập đạo.
Tiêu trừ nghiệp chướng, với người giàu có không dễ. Du hí ở nhân gian, người giàu có cũng không thể có được. 

Chốn quan trường, quyền lực địa vị, công danh lợi lộc, rất khó tu hành.
Chốn thương trường, tính toán tiền bạc, cũng rất khó tu.
Vinh hoa phú quý công danh lợi lộc, tu hành đều khó.
Chẳng dễ có được sự thanh tịnh.

Tôi du hí ở nhân gian:
Thờ ơ với công danh.
Thờ ơ với lợi lộc.
Thờ ơ với vinh hoa phú quý.
Khí không rò rỉ.
Tinh không rò rỉ.
Thần không rò rỉ.

Bớt nghĩ tiết dục, thanh sắc tự không có.
Khiêm tốn không tham, thần khí vĩnh viễn an.
Sự vui chơi của tôi là thanh tâm quả dục, vô tư vô lự. 
Người hỏi:
”Vì sao ngài tự xưng là Hoạt Phật?”
Tôi đáp:
”Vì tôi du hí nhân gian nên các đệ tử gọi tôi là Hoạt Phật!”
”Có gì đặc biệt?”
Tôi đáp:
”Không có gì đặc biệt.”
Mặc dù là không có gì đặc biệt, nhưng xung quanh tôi lúc nào cũng có dị tượng trời ban, ví dụ khi tôi tập trung tinh thần vào việc thuyết pháp, xung quanh có ánh sáng tỏa ra, chỉ tay một cái là ánh sáng sẽ bắn ra. Những hiện tượng kì dị này đều hiện lên trong những tấm ảnh chụp hiện trường pháp hội, lúc nào cũng khiến các đệ tử bình luận hăng say.


### 30. Chim kêu


Hồi đầu, ở San Francisco, tôi truyền thụ pháp Bất Động Minh Vương.
Pháp hội ấy được cử hành tại một khu cắm trại ngoài trời. 
Lần đó, Bất Động Minh Vương tay cầm bảo kiếm, ba lần tung kiếm ra, rơi tại chính giữa đàn thành, thật là quá ư bất khả tư nghì. 

Khi thuyết pháp, những con chim trên bầu trời đều đáp xuống mặt đất, từ khắp nơi chúng đổ dồn về xung quanh đàn tràng.
Chim kêu chíp chíp chiu chiu.
Tiếng kêu ấy giống như đang niệm chú.
Ồn ào náo nhiệt hơn cả tiếng niệm chú của những người tham gia pháp hội.
Quả là một kì quan đẹp đẽ.

Còn nữa:
Hồi đầu, ở núi Sa Mạo của Biệt thự Cầu Vồng, chúng tôi đặt một bức tượng của vị Di Lặc Bồ Tát. 
Tượng được đúc từ đá cẩm thạch trắng.
Vừa mới khai quang xong.
Ánh nắng đầu tiên của buổi bình minh xuyên qua cành lá, rọi lên mặt của Di Lặc Bồ Tát.
Ngẩng đầu nhìn lên.
Một không gian trong veo mát mẻ không gì sánh bằng.
Đúng là cảnh kì lạ, chúng tôi lập tức sực tỉnh, đây chính là đại lễ khai quang chân thực.
Đúng vào lúc ấy.
Bầy chim tụ tập trên những cái cây và chạc cây trên núi Sa Mạo ào ào đáp xuống.
Khi chúng tôi trì chú.
Bọn chúng cũng trì chú.
Thoáng chốc.
Chim kêu huyên náo cả sơn cốc.
Đến khi khai quang kết thúc thì bầy chim mới lũ lượt bay đi.

Còn nữa:
Trong pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang năm 2015, khoảng chừng vào lúc chúng tôi đang nhiễu tháp.
Trong hư không, bầu trời xanh thẳm bỗng xuất hiện mười con chim nhạn, xếp thành một hàng, tượng trưng cho mười Đại Kim Cang Minh Vương (Heruka) hạ giáng.
Hơn nữa còn có bầy chim tụ tập bay quanh tháp, hết vòng này tới vòng khác, vòng này tới vòng khác.
Bầy chim kêu hót réo rắt dị thường.
Chim kêu và bay nhiễu tháp đúng là cảnh sắc rất hiếm lạ.
Có hàng nghìn hàng vạn người đã tận mắt chứng kiến.

Tôi nói:
Trời đất có sức mạnh vô cùng, hư không có sức mạnh vô cùng, giới tự nhiên có sức mạnh vô cùng, vô hình có sức mạnh vô cùng. 
Còn sức mạnh của con người được bao nhiêu?
Việc muốn làm cho hết?
Phúc muốn hưởng cho cạn?
Trí khôn muốn dùng cho hết?
Sức mạnh vẫn rất nhỏ bé.
Hành giả chúng ta:
Tu khí.
Dưỡng thần.
Bảo tinh.
Tích đức. (Như thế, trời hợp với ta, đạo và ta hợp nhất.)


### 31. Ánh sáng chiếu rọi Đẩu Ngưu


Trong những cuốn sách hồi đầu, tôi thường nhắc đến “tam quang”, cũng tức là:
Phật quang.
Bạch quang.
Linh quang.

Kinh Hoàng Đình, chương 31 “Tâm Điển” nói rằng:

*Tâm điển nhất thể ngũ tạng vương.
Động tĩnh niệm chi đạo đức hành.
Thanh khiết thiện khí tự minh quang.
Tọa khởi ngô câu cộng đống lương.
Trú nhật diệu cảnh mộ bế tàng.
Thông lợi hoa tinh điều âm dương.*

(Quang minh cũng là tam quang.)

Tạm dịch:

*Vua của ngũ tạng là tim ta
Ý niệm động tĩnh có đạo đức
Thiện khí thanh khiết tự sáng tỏ
Đứng ngồi cùng ta như cột kèo
Ngày hiện diệu cảnh đêm ẩn tàng
Thông lợi hoa tinh điều âm dương.*

[Đại ý đoạn này nói rằng, tim là vua của ngũ tạng, tim cũng đồng thời là cái tâm-thần, gắn bó mật thiết với ta. Tâm phát khởi ý niệm có đạo đức sẽ làm con người trở nên tốt đẹp, thanh khiết. Khi tâm hướng ra ngoài thì làm đẹp cho ngoại cảnh, khi hướng vào trong thì ẩn tàng làm đẹp bên trong, khiến cho thể xác và tâm hồn đều được điều hòa.]

Kinh Hoàng Đình, chương 35 “Ẩn Tàng” có đoạn:

*Ngũ tạng lục phủ thần minh chủ.
Thượng hợp thiên môn nhập minh đường.
Thủ thư tồn hùng đỉnh tam quang.
Ngoại phương nội viên thần tại trung.*

Tạm dịch:

*Thần chủ của ngũ tạng lục phủ. **[Thần chủ ở đây là Tỳ Thần.]**
Trên hợp thiên môn nhập minh đường.
Hòa hợp âm dương hiện tam quang.
Ngoài vuông trong tròn thần ở đó.*

(Đỉnh hiện tam quang tức là tinh khí thông suốt thiên môn, cùng mặt trời, mặt trăng và các vì sao chiếu rọi lẫn nhau. Và tam quang bên trong thân thể cũng chỉ tâm hỏa, can hỏa, phế hỏa, sau khi được điều hòa, thì tam hỏa này hóa thành tam quang.)

Sự tu luyện theo kinh Hoàng Đình, tôi quy hoạch thành:
Nạp khí. [hít khí vào]
Thôn tân. [nuốt nước bọt]
Thủ tinh. [giữ tinh]
Tồn tư. [duy trì suy ngẫm]
Thiền định.

Trên hợp thiên môn, giữa hợp minh đường, dưới hợp thận cung, điều hợp âm dương, khiến ngũ tạng khỏe mạnh, mỗi cơ quan đều có công dụng của nó, tinh-khí-thần khi được luyện tập đến mức chín muồi và dồi dào thì ba thứ sẽ hợp làm một, phóng ra tam quang, ắt có thể thăng lên thượng giới, sai khiến được vạn thần, đắc đại thành tựu.
Đây cũng là:

*Hoảng hốt chi gian chí Thanh Linh.
Tọa ư biểu đài kiến Xích Sinh.
Dật vực hi chân dưỡng hoa vinh.
Nội phán trầm mặc luyện ngũ hình.
Tam khí bồi hồi đắc thần minh.*

(Tam khí cũng là tam quang.)

Tạm dịch:

*Thoáng chốc đến được cung Thanh Linh
Ngồi trên bục xoay ngắm Xích Sinh
Điều thần dưỡng khí nuôi hoa vinh
Trầm mặc nội quán luyện ngũ hình
Tam khí bồi hồi đắc thần minh.*

(Tam khí là hai khí âm dương và khí ôn hòa, từ ba khí này mà hóa sinh vạn vật, trong đó ẩn chứa những biến hóa thần diệu, cũng gọi là tam huyền, tam quang, tam khí.)

Bản thân tôi khi tu hành, trên đỉnh đầu phóng ra tam quang.
Còn nữa:
Hộ Ma Tôn Thắng Phật Mẫu, ánh sáng chiếu tới sao Đẩu Ngưu, trời ban dị tượng.
Những hiện tượng kì dị này đều được các đệ tử dùng máy ảnh bắt được khoảng khắc, sau đó lưu truyền trên mạng.


### 32. Thơ tình của Tsangyang Gyatso


Tôi rất yêu thích những bài thơ tình của Tsangyang Gyatso. [Vị Dalai Lama - Đạt Lai Lạt Ma thứ 6]

Tsangyang Gyatso là người dân tộc Monpa, những bài tình ca ở vùng ấy suốt một năm bốn mùa ngân vang trên ruộng vườn. 
Ví dụ:
*Núi phương đông có cao thế nào
Không che được mặt trời trên cao
Quyền mẹ cha có lớn thế nào
Không ngăn được tim yêu thiếu nữ.*

Vị Đạt Lai thứ 6 Tsangyang Gyatso viết thế này:

*Nơi tôi gặp người con gái trong lòng tôi
Là ở trong rừng sâu phía nam Monpa
Ngoài những con vẹt dẻo mỏ
Thì chẳng có ai biết đến.
Hỡi ơi con vẹt lắm mồm
Điều bí mật này xin đừng mách lẻo trên phố.*

Và:

*Ở đó trên đỉnh Đông Sơn
Nhô lên vầng trăng trong trẻo
Dung nhan thiếu nữ chưa chồng
Từ từ hiện trong tim tôi.*

Và:

*Tôi nghĩ khuôn mặt Lạt Ma
Trong tâm chẳng thể hiển hiện
Chẳng nghĩ khuôn mặt người yêu
Trong tâm lại thấy rõ ràng.*

Đương nhiên chúng ta hiểu trái tim của Tsangyang Gyatso, bởi vì ngài từng hỏi Phật:
”Nếu gặp được một người có thể yêu, nhưng lại sợ không có được người đó thì nên làm thế nào?”
Phật đáp:
”Để lại bao nhiêu tình yêu ở nhân gian sẽ đón lấy nghìn sự đổi thay nơi trần thế, cùng với người yêu làm chuyện vui vẻ, chớ hỏi đó là nạn hay duyên.”
Lại hỏi Phật:
”Vì sao thế gian lại có nhiều điều nuối tiếc như vậy?”
Phật đáp:
”Đây là một thế giới Ta Bà, Ta Bà là nuối tiếc. Không có nuối tiếc, để cho anh hạnh phúc mĩ mãn, thì anh không thể nhận thức được niềm vui.”

Có người nói:
”Tsangyang Gyatso không phải là Hoạt Phật thật!”
Có người nói:
”Tsangyang Gyatso tự nhiên bộc lộ tình cảm!”
Có người nói:
”Tsangyang Gyatso không bị ảnh hưởng!”

Tôi nói thế này:
”Người học Phật cần nhất là chính mình thấy rõ chính mình, đừng đi nói cái đúng sai của người khác. Chính mình giấu đi cái tốt của mình, chứ đừng giấu đi cái tốt của người khác.” 
Tôi nói:
”Suốt ngày không nhìn ra cái lỗi của mình, nhưng lại chặn đứt con đường của Thánh hiền; suốt ngày thích nói về cái lỗi của người khác, làm tổn hại hòa bình thế giới.”

Phàm là người thích tranh luận tốt xấu của người ta, thích đánh giá đúng sai của người ta, đều thuộc hạng tiểu nhân.
Đây chính là giới của người học Phật.

Tôi đuổi theo cầu vồng.
Biệt thự Cầu Vồng chính là nhờ tôi đuổi theo cầu vồng mà có.
Phía trên đầu tôi
Cầu vồng thường hiện ra.
Tất cả tất cả đều là tình yêu lớn!


### 33. Hai bộ kinh Hoàng Đình Nội Ngoại


Kinh Hoàng Đình có ba bộ, cũng chính là:
1. Hoàng Đình Nội Cảnh Kinh.
2. Hoàng Đình Ngoại Cảnh Kinh.
3. Hoàng Đình Trung Cảnh Kinh.

Tuy nhiên, vì Trung Cảnh Kinh xuất hiện tương đối muộn, cho nên người bình thường chỉ luận bàn Nội Cảnh và Ngoại Cảnh.

Về tác giả của kinh Hoàng Đình, có hai thuyết:
Thuyết thứ nhất, vào thời đại Đế Cốc, Thái Thượng Lão Quân giáng thế, hiệu là Lục Đồ Tử, đã nói về diệu pháp của Hoàng Đình.
Còn có Bão Phác Tử của Cát Hồng thời Đông Tấn, trong chương “Nội Thiên” có nhắc đến kinh Hoàng Đình. Kể từ sau triều Tấn, bộ kinh này được lưu truyền rất rộng.
Câu chuyện về Vương Hi Chi viết sách kinh Hoàng Đình để đổi ngỗng, mọi người đều biết. 

Thuyết thứ hai, Đại Đế của xứ Phù Tang ở tại thiên cung đọc tụng kinh này, Phù Tang Đại Đế là Ngọc Thần Quân, cũng chính là Đông Hoa Đế Quân. Vì thế, tên sách là Đại Đế Kim Thư hoặc Đông Hoa Ngọc Thiên.

Câu đầu tiên trong kinh Nội Cảnh là:

*Thượng Thanh tử hà Hư Hoàng tiền.
Thái Thượng Đại Đạo Ngọc Thần Quân.
Nhàn cư Nhụy Châu tác thất ngôn.
Tán hóa ngũ hình biến vạn thần.*

Tạm dịch: 

*Thượng Thanh mây tía trước Hư Hoàng.*
*Thái Thượng Đại Đạo Ngọc Thần Quân.*
*Nhụy Châu vui làm thơ bảy chữ.*                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                            
*Tán hóa thân mình thành vạn tiên. *

[Trong sắc mây lành nơi tầng trời Thượng Thanh, trước đức Hư Hoàng Thượng Đế, ở cung Nhụy Châu, Thái Thượng Đại Đạo Ngọc Thần Quân (còn có danh hiệu khác là đức Ngọc Thanh Linh Bảo Thiên Tôn) đã viết ra kinh văn này theo thể thất ngôn trường thi. Ngài biến hóa Ngũ khí tự thân mình thành hàng vạn vị Thần linh]

Vì thế, có hai tác giả là:
1. Thái Thượng Lão Quân.
2. Đông Hoa Đế Quân. 

Ngoài ra, do kinh Hoàng Đình được truyền miệng cho đến khi hình thành bản in, đến thời Ngụy Tấn đã rất phổ biến, sau khi được phu nhân Ngụy Hoa Tồn nghiên cứu kĩ thêm mới làm thành bản in. Có nghĩa là kinh Hoàng Đình Nội Cảnh và Ngoại Cảnh là do Ngụy Hoa Tồn phu nhân biên soạn mà thành. 

Vì sao đặt tên là kinh Hoàng Đình? 
Câu trả lời là:
Hoàng [vàng] là màu của trung tâm.
Đình [sân, phòng] là ở trong bốn phương.
Nội dung chủ yếu của kinh Hoàng Đình là thuyết: bên trong cơ thể người đã có vạn thần.

Trọng điểm nằm ở:
Thượng đan điền — Thượng nguyên cung có Thượng Bộ Bát Cảnh Thần.
Trung đan điền — Trung nguyên cung có Trung Bộ Bát Cảnh Thần.
Hạ đan điền — Hạ nguyên cung có Hạ Bộ Bát Cảnh Thần. 
Còn thân thể người Người-Thần hợp nhất có ba vạn sáu nghìn thần, chỉ cần y theo nội pháp mà Lư Sư Tôn đã dạy để tu hành:
Nạp khí.
Yết dịch.
Thủ tinh.
Tồn tư.
Thiền định.
Thì có thể tu thành Đại La Kim Tiên.

Năm quá trình tu hành lớn này là do tôi đề xuất, trong Mật giáo mà nói đó cũng chính là:
Pháp Bảo bình khí.
Pháp Thần thủy.
Pháp Vô lậu.
Pháp Quán tưởng.
Pháp Nhật tam ma địa.
Và các pháp Chuyết hỏa, Minh điểm đều nằm trong đó.

Sau khi tôi kết hợp Đạo, Hiển, Mật đạt được thành tựu, trong thân, ngoài thân, tụ tập các thần, đi đứng ngồi nằm, cho dù đang trong vận động cũng có thể hiển hiện ra. 


### 34. Hành pháp đồ


Tôi giơ kiếm ấn lên niệm rằng:
Chỉ trời trời xanh.
Chỉ đất đất yên.
Chỉ người trường sinh.
Chỉ quỷ diệt vong.
Thế rồi bên cạnh tôi bắt ra một ánh sáng trắng và xanh lam, y theo pháp chú của tôi mà “cấp cấp như luật lệnh”. 

Khi tôi đi bộ, trong miệng tôi thường trì một câu chú, cũng chính là chú của Bổn tôn. Trong đầu tôi luôn nghĩ đến Bổn tôn, Bổn tôn và tôi không hai không khác. Tôi đi bộ chầm chậm tự nhiên, tôi là:
*Xuất nhật nhập nguyệt là ngô đạo.
Thiên thất địa tam hồi tương thủ.
Thăng giáng tiến thoái hợp nãi cửu.
Ngọc thạch lạc lạc thị ngô thất.
Tử tự hữu chi hà bất thủ.*

Tạm dịch:

*Xuất nhập nhật nguyệt ấy đạo ta
Trời bảy, đất ba, hồi giữ khí
Lên xuống tiến lùi đắc trường sinh
Ngọc thạch gìn giữ như phòng quý
Bế tinh tụ khí, tập dưỡng thần.*

[Đoạn kinh văn này ở trong Hoàng Đình Ngoại Cảnh Ngọc Kinh. Giải thích ý nghĩa như sau: nhật nguyệt cũng chính là hai con mắt của ta, giúp quan sát xung quanh. Trời có thất tinh (bảy ngôi sao), đất có tam tinh (ba tinh - tinh trong ý nghĩa tinh túy), sự luân chuyển của nguyên khí là vô cùng cực. Nguyên khí lên xuống, trộn lẫn trên dưới, một cách vô hình khiến trời đất có thể trường cửu. Ngọc thạch chỉ ngọc hoàn ở hạ bộ, nơi chứa tinh khí cần được gìn giữ như giữ ngôi nhà quý bảo vệ sinh mạng của ta. Tự mình giữ được tinh thì sẽ hấp thụ được khí để nuôi dưỡng thần.]

Trên đỉnh đầu tôi hiện ánh sáng trắng, mọi lúc mọi nơi đều gia trì cho đệ tử, đệ tử có nạn, ánh sáng trắng có thể thanh tịnh gia trì, đây là một việc rất tự nhiên, mọi lúc mọi nơi đều gia trì cho chúng sinh.
Những vòng tròn ánh sáng trắng liên tục, có thể dùng bất kì lúc nào.
Tôi tu pháp Kurukulle Phật Mẫu. 
Tay phải cầm thanh kiếm quấn hoa upala.
Tay trái cầm cung. 
Biến thân thành hình tượng Kurukulle Phật Mẫu.
Trì chú: “Ôm ku-ru-ku-lê hờ-ri sô-ha.” 
Bắn trúng vào con người, con người tất sinh lòng kính ái.


### 35. Tu sửa hành vi của mình


Tôi nhớ có một người tu hành, tôi đã đọc những lời răn mình của người đó, tôi sâu sắc cảm thấy chúng rất có ích nên tôi đặc biệt ghi ra như sau:

*Ngôn hành học cổ nhân, ắt đức hạnh tiến bộ.
Công danh tùy mệnh trời, ắt thanh thản tâm nhàn.
Báo ứng nhớ cháu con, ắt không dám làm bậy.
Hưởng thụ nhớ bệnh tật, ăn nhạt uống trà xanh.
Hiếu thắng dễ nổi bật, sẽ khó mà dưỡng tính.
Quảng giao có thiện ác, độc cư tự vẹn toàn.
Làm ăn có được tiền, nên chắt chiu tiết kiệm.
Phô trương gây đố kị, sẽ chẳng thể ém mình.*

Tôi nghĩ:
Nếu một người có thể làm được như vậy, tu sửa cho đúng hành vi và suy nghĩ của chính mình thì sẽ có lợi ích lớn đối với việc học Phật.
Chí ít, họ cũng tiến được một bước lớn đến gần Thánh hiền.
Còn nữa:
*Quá si mê tâm dễ xao động.
Quá tức giận tổn hại tính khí.
Quá vui mừng tổn hại thân tâm.
Quá đau buồn tổn hại tâm trạng. *

Hành giả cần biết, khi âm dương biến hóa thì tâm khí đều động, tâm khí chấn động quá mức thì tinh thần sẽ tiêu tán, dễ có tà khí xâm nhập. Người tu hành đối với hỉ nộ ái ố đều không thể quá đà, thích hợp nhất là tiết chế ở mức vừa phải, cũng có nghĩa là trung quán, trung đạo, đạt đến trạng thái ở giữa.
Không được buông thả.
*Lạc sắc không tiết ắt tinh hao.
Giao du không ngừng thì tinh tản.
Vạn bệnh đều do thận kiệt suy.
Người chết đều vì tinh khô héo.*

Học Phật có một câu nói: “Nhân thành tức Phật thành!”
Làm người mà không thể được như thế này thì làm sao có thể thành Phật?
Khi bạn tu được đến cảnh giới như vậy rồi, tự nhiên có rất nhiều chư Thiên Hộ pháp bảo vệ. 
Hành giả đi máy bay. 
Bên ngoài máy bay có cầu vồng bao quanh, bảo vệ cho máy bay.
Cầu vồng chạy theo máy bay.
Cho đến tận khi hạ cánh bình an.
Hiện tượng này nhiều vô cùng.
Tôi đến đảo Guam truyền thụ pháp Lục Độ Mẫu, đồng thời dựng tháp Tôn Thắng Phật Mẫu (đều là lần đầu tiên). 
Đến đảo Guam rồi, trời ban dị tượng, màu sắc rực rỡ giống như pháo hoa vậy.


### 36. Mong lại đoàn tụ


Trong kí ức về tiền kiếp của tôi… 
Có một triều đại.
Tôi là một Quốc Vương trẻ tuổi. 
Trong vương quốc của tôi có rất nhiều núi, rất nhiều rừng rậm, núi cao vực sâu, phong cảnh đẹp đẽ.
Người ta gọi đó là thiên đường ẩn giấu.
Hoàng cung của tôi cao lớn và hùng vĩ, tráng lệ và trang nghiêm, mọi đồ dùng đều được nạm đá quý, rực rỡ dị thường.
Người dân của tôi chất phác, nếp sống thiện lương, yêu mến tự do và trân trọng lẫn nhau.
Tôi có rất nhiều bạn bè.
Rất nhiều thân quyến.
Rất nhiều người hầu hạ.
Mọi người đối xử với nhau rất dịu dàng, ngọt ngào như chấm mật ong, rất hòa thuận, rất hòa thuận.
Đất nước của tôi tín ngưỡng Phật giáo, tin tưởng sâu sắc rằng trời đất có linh, có thần Hộ pháp, có nhân quả.
Chúng tôi kính nể từng ngọn núi.
Kính nể từng hồ nước.
Thậm chí từng hòn đá, từng cái cây, từng lá cờ bay trong gió.

Đất nước này:
Lương thiện.
Thành kính.
Cần cù.
Hiền hậu.
Ôn hòa.
Tôi và những người thân của tôi, phi tử, người hầu, vào một buổi tối dưới ánh trăng dịu dàng cùng uống rượu hát ca, những khúc tình ca sôi nổi, tự do tự tại, vô câu vô thúc. Vào lúc tình ý thâm sâu, chúng tôi đã hát lời “Chúc Nguyện”:
*Hoàng cung yên ả.
Lòng như mặt trời.
Mong rằng gặp gỡ.
Mãi chẳng chia xa.
Ánh trăng làm chứng.
Thân quyến một nhà.
Nếu có cách xa.
Mong lại đoàn tụ.*
….

Câu nói “mong lại đoàn tụ” này không hề là một câu nói chơi, mà là lời khắc cốt ghi tâm in sâu trong lòng.
Vì thế, tôi và người thân của tôi đời đời kiếp kiếp, trong luân hồi không ngừng, đều sẽ lần lượt xuất hiện. 
Trở thành những người có duyên trong một đời.

Có một lần, vào sinh nhật tôi. 
Một bầy chim bay vào trong đại điện của Đài Loan Lôi Tạng Tự, bay một vòng quanh pháp tọa của tôi, sau đó chúng lại bay ra ngoài. 
Trên tháp cao của Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, tôi và các đệ tử nhiễu tháp, bầy chim tụ tập cùng chúng tôi nhiễu tháp.
Lúc này, điều tôi nghĩ đến là:
Mong lại đoàn tụ!
Mong lại đoàn tụ!
Mong lại đoàn tụ!


### 37. Khánh vân


Bài tụng “Hương tán” trong Phật giáo là bài hát tụng đầu tiên trong mỗi pháp hội, người học Phật đều cực kì quen thuộc.
Lư hương sạ nhiệt. Pháp giới mông huân. Chư Phật hải hội tất diêu văn. 
Tùy xứ kết tường vân. Thành ý phương ân. Chư Phật hiện toàn thân. 
Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát.

[Lư hương cháy lên. Pháp giới mịt mờ. Hải hội chư Phật đều nghe thấy.
Khắp nơi mây cát tường. Thành ý sâu nặng. Chư Phật hiện toàn thân. 
Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát.]

Có rất nhiều điệu hát khác nhau.
Bài “Hương tán” của Chân Phật Tông sau này chọn theo điệu hát của Indonesia, bởi vì tôi thích giai điệu vui vẻ, du dương, trang nghiêm và kì ảo của nó.
Nghe xong, khiến người ta ưu tư vô hạn.
Tường vân chính là khánh vân.
Hương vân cũng là khánh vân.

Và:
Nam phương thế giới hiện hương vân.
Mưa hương mưa hoa và mây hoa.
Mưa báu mây báu vô số loại.
Khói hương cát tường càng trang nghiêm.

Ở đây đều là: 
Mây hương.
Mây hoa.
Mây báu.

Khi Phật Đà thuyết pháp đã phóng tỏa trăm nghìn vạn ức mây ánh sáng, gọi là:
Đại viên mãn quang minh vân.
Đại từ bi quang minh vân.
Đại trí huệ quang minh vân.
Đại bát nhã quang minh vân.
Đại tam muội quang minh vân.
Đại cát tường quang minh vân.
Đại phúc đức quang minh vân.
Đại công đức quang minh vân.
Đại quy y quang minh vân.
Đại tán thán quang minh vân.
Vân vân và vân vân.

Mọi người hỏi tôi:
”Đó là những mây gì?”
Tôi đáp:
”Mây chúc mừng.”
Mọi người hỏi:
”Có hình dạng thế nào?”
Tôi nói:
”Có một lần, khi tôi thuyết pháp của Kim Cang Hợi Mẫu, trong hư không xuất hiện vô số kể những đám mây chúc mừng.”
Khi Lư Sư Tôn tôi thuyết pháp, trong hư không xuất hiện những đám mây chúc mừng vô cùng tráng lệ.
Mĩ lệ và cát tường.
Kiểu “trời ban dị tượng” này cực kì cực kì nhiều.
Phủ khắp trời đất.

Có một lần tôi giảng pháp Khổng Tước Minh Vương.
Thời tiết rất nóng, mặt trời rọi thẳng xuống quảng trường. 
Đột nhiên, có hai đám mây hình cánh chim công che kín cả quảng trường. 
Trời ơi! Trời xanh vạn dặm không mây, chỉ có mỗi hai đám mây chim công ấy thôi. 


### 38. Dị tượng của Đại Nhật Như Lai


Đó là chùa tổ ở Seattle Lôi Tạng Tự.
Tọa hướng tây, quay mặt về hướng đông. 
7 giờ sáng.
Mặt trời xuất hiện ở hướng đông, sao lại có thể có ánh mặt trời ở phía sau chùa tổ chứ?
Kì lạ?
Quái lạ?
Mặt trời này kì quái thay, mặt trời ở Mĩ lớn như vậy sao? Còn chiếu ánh sáng bảy sắc nữa.
Đây cũng là một bí mật! Lư Sư Tôn giống như con diều hâu tự do bay lượn trên bầu trời Seattle.
Bởi vì tôi không phải là người ham giàu có.
Bởi vì tôi không phải là người ham công danh.
Bởi vì tôi không phải là người ham lợi lộc.

Tôi là một hành giả, người tu hành không có vướng bận, cuộc sống thường ngày, tôi cũng quét tước nhà cửa, hành xử như một phàm phu.
Tôi cũng không phải là Thánh hiền.
Tôi cũng không phải là quân tử.
Tôi chỉ là một người thực tu Mật giáo, tự kiểm điểm những lỗi lầm của mình, du hí ở nhân gian.
Nhưng, tôi cũng không phải là kẻ tiểu nhân.
Không trộm cắp.
Không dâm ô.
Cùng lắm cũng chẳng qua là kẻ tương đối quê mùa mà thôi.
Tôi chẳng có tâm làm việc đại sự gì, ví dụ như cứu người cứu đời. Chỉ là khi gặp chuyện thì đưa tay ra giúp người ta một chút mà thôi.
Cứu vãn thói đời, tôi cười khanh khách.
Cứu vãn nhân tâm, tôi cười ha ha.
Trước tiên tôi giải thoát chính mình khỏi thế giới vật chất.
Trước tiên tôi giải thoát chính mình khỏi dâm loạn, kiêu ngạo, xa hoa.
Rồi mới từ phương pháp của mình mà truyền thụ lại cho người khác.

Có người nói:
Người không màng gì cả tức là Thánh.
Người ngộ và tỉnh chính là Phật.
Tôi không nói như vậy, tôi nói:
Du hí nhân gian, tất cả chẳng lưu giữ trong tâm, chính là Thánh.
Vô tâm và cả vô sinh, chính là Phật.
Tôi nói:
Diện mạo vốn có tức là không có diện mạo vốn có, muốn cầu cũng chẳng cầu được, muốn thấy cũng không thấy được.
Có cầu sẽ chấp, có chấp sẽ bám giữ, có bám giữ sẽ trì trệ, có trì trễ sẽ ràng buộc, có ràng buộc sẽ chết.
Vì thế, là vô sở đắc!
Vì vô sở đắc, cho nên không tham, không sân, không si, không nghi, không mạn, cho nên giải thoát.

Buổi sáng hôm đó.
Tôi quán tưởng Ngũ Phật tôn quý, Đại Tì Lô Giá Na Phật.
Tôi niệm: 
”Ôm ben-za ta-tu fan.”
Tôi kết ấn ngũ trí.
Nhập vào tam ma địa, nhập ngã ngã nhập.
Vì thế nhìn thấy trời giáng dị tượng, ánh sáng mặt trời xuất hiện ở phía tây, tuôn ra ánh hào quang chiếu khắp nơi.


### 39. Ánh sáng như bão tuyết


Hội đồng tu Pháp Minh sau mỗi lần tu pháp Liên Hoa Đồng Tử tương ứng thì sẽ niệm tụng kinh Địa Tạng. 
500 bộ kinh Địa Tạng, hồi hướng suốt cả năm.
Ngoài ra, niệm tụng đã hơn 3000 bộ kinh Địa Tạng.
Mỗi lần sau khi kết đàn hoặc khai đàn pháp hội, khi họ đốt thuyền pháp, hoa sen cúng Phật Bồ Tát và bố thí chúng sinh thì lại xuất hiện ánh sáng như bão tuyết. Có người hỏi:
”Đây là ánh sáng gì?”
Tôi đáp:
”Ánh sáng bát nhã của cõi Phàm Thánh Đồng Cư.”

Tôi nói:
”Cực Lạc thế giới có bốn đại tịnh thổ, thứ nhất là Thường Tịch Quang Thổ, thứ hai là Thực Báo Trang Nghiêm Thổ, thứ ba là Phương Tiện Hữu Dư Thổ, thứ tư là Phàm Thánh Đồng Cư Thổ.”
Tôi nói:
”Kiểu ánh sáng này có Thánh bát nhã quang, quang sắc sáng tươi hơn, có Phàm bát nhã quang, quang sắc hơi tối hơn. Hai ánh sáng này lẫn vào nhau, gọi là ánh sáng của cõi Phàm Thánh Đồng Cư, Thánh tức là Bồ Tát, phàm tức là quỷ thần.”
Hỏi:
”Quỷ thần cũng phóng quang ư?”
Đáp:
”Ngay cả lá cây cũng có thể phóng quang, huống chi là quỷ thần.”
Hỏi:
”Vì sao ma quỷ lại đến?”
Đáp:
”Vì có bố thí, cho nên mới đến.”

Hỏi:
”Họ có chịu siêu độ không?”
Đáp:
”Có thuyền pháp, có hoa sen, có một câu Nam mô Phật, thì sẽ lên thuyền pháp, theo Phật Bồ Tát lên Tây thiên.”
Hỏi:
”Những ánh sáng này đại diện cho điều gì?”
Đáp:
”Sự thù thắng của pháp hội Chân Phật Tông.”
Hỏi:
”Pháp hội này đã làm mấy năm rồi?”
Đáp:
”Bảy năm rồi!”


### 40. Tướng hiện lên trong lửa


Lão Tử nói:
Đại xảo nhược chuyết. [Người cực kì thông minh lại biểu hiện ra vẻ ngốc nghếch, không khoe khoang.]
Đại biện nhược nột. [Người thật sự có tài biện luận lại biểu hiện ra vẻ ăn nói vụng về.]

[Hai câu nói này thể hiện quan điểm mĩ học của Lão Tử. Người thật sự tài giỏi luôn khiêm tốn, nói năng thận trọng, không lộ tài năng.]

Tôi cũng là người như thế:
Có thể xảo nhưng không xảo.
Có thể biện nhưng không biện.
Mặc dù tôi có sức mạnh hàng phục rất lớn, nhưng tôi biết, ba nghiệp thân-khẩu-ý muốn thanh tịnh được không dễ. Lấy khẩu nghiệt [không phải khẩu nghiệp] để nói, phàm phu thông thường, những người có lời nói thất đức và ngòi bút thất đức, rất ít người có thể tránh được ác báo, bởi vì họ đã làm trái với sự liêm khiết và tổn hại thiên đức. 
Tôi tu Hộ Ma Ma Lợi Chi Thiên, có được pháp lực của Ma Lợi Chi Thiên, có được pháp lực nhưng lại thật sự không dùng đến. Bởi vì tôi biết dùng pháp lực sẽ làm tổn thương đến người khác.

Cho nên:
Tôi có thể xảo nhưng không xảo.
Có thể biện nhưng không biện.
Có thể dùng nhưng không dùng.
Đây chính là lúc tu dưỡng đạo đức phẩm hạnh.
Tôi đốt lửa Hộ Ma sẽ xuất hiện hình ảnh thiên nữ Ma Lợi Chi Thiên. 
Còn nữa, có người hỏi tôi:
”Hiện nay vấn đề an toàn thực phẩm rất nghiêm trọng, rất nhiều thực phẩm đều có độc, ngoài phòng ngừa ra, Phật pháp còn có phương pháp phòng chống nào không?”
Tôi đáp:
”Kinh Khổng Tước Minh Vương.”

Hỏi:
”Khổng Tước Minh Vương có sức mạnh gì?”
Tôi nói:
”Ngày xưa, khi Phật Đà tại thế, có một tì kheo bị rắn độc cắn, trúng độc sắp chết, A Nan đi cầu cứu Phật Đà, Phật Đà nói kinh chú Khổng Tước Minh Vương để cứu, kết quả là đã cứu được.”
Hỏi:
”Chim công có đức gì năng gì?”
Tôi đáp:
”Chim công ăn chất độc thì bộ lông sẽ càng bóng mượt và sáng đẹp, giống như phượng hoàng trong lửa vậy. Cho nên Phật pháp có chú giải độc, có chú trị ung thư, lợi ích của việc tu học Phật pháp thật sự là rất nhiều.”
Khi tôi tu Hộ Ma Khổng Tước Minh Vương, ngọn lửa khi ấy hiện lên hình chim công, có đệ tử dùng máy ảnh đã chụp được cảnh tượng lúc ấy.


### 41. Diêu Trì Kim Mẫu từ hư không giáng xuống


Tôi nhìn thấy Diêu Trì Kim Mẫu từ hư không giáng xuống. Ánh sáng bát nhã của ngài là phi phàm:
Có cầu vồng.
Có cánh.
Có cực quang trắng sáng.
Có quầng sáng các màu.
Dưới đây là đoạn đối thoại giữa tôi và Diêu Trì Kim Mẫu.

Tôi hỏi:
”Pháp ngoại đan và pháp nội đan, pháp nào nhanh hơn?”
Kim Mẫu đáp:
”Không thể cầu học cấp tốc, dục tốc thì bất đạt.”
Tôi hỏi:
”Phật môn có thuyết tiệm-đốn, chẳng phải là nhanh chậm đó sao?”
Kim Mẫu đáp:
”Rất nhiều người nói pháp đốn là dành cho người có thượng căn, pháp tiệm là dành cho người có hạ căn, thử hỏi, có ai tự nhận mình là người hạ căn? Cho nên, thuyết tiệm-đốn cũng có thể hại người. Thành tựu là có nhanh chậm, nhưng pháp không có nhanh chậm.”
Tôi hỏi:
”Pháp nào có thể nhanh?”
Kim Mẫu đáp:
”Học Phật là việc đại sự số một, thành Phật là thành tựu số một, tuyệt đối không phải là nhấc tay lên là đắc được, thò chân vào là thành được. Ta không tán thành những khóa học cấp tốc, cần biết rằng cấp tốc cũng là sự tu luyện nhiều đời thì đời này mới thành tựu được. Như con, sau khi con đã khai ngộ rồi thì mỗi một động cơ, mỗi một hành động đều là ngộ. Nhưng trong nhiều kiếp trước, con cũng đã khổ học, khổ luyện, cần cù học hỏi, cần cù thực hành rồi.”

Tôi hỏi:
”Nhiều kiếp trước con như thế nào?”
Kim Mẫu đáp:
”Như Trường Khánh, ngồi nát bảy chiếc bồ đoàn; như Triệu Châu, ba mươi năm không nhiễm mắc vào những việc lặt vặt.”
Tôi hỏi:
”Những người học Phật ngày nay thế nào?”
Kim Mẫu đáp:
”Ý nghĩa kinh điển chỉ mới hiểu sơ sơ phần thô nhưng đã ngông cuồng khoe khoang. Có một chút thông linh đã tự nói mình là Phật là ngộ.”
Tôi hỏi:
”Cần phải làm sao?”
Kim Mẫu đáp:
”Khổ công, khổ hành, khổ tu đi!”
Tôi và Kim Mẫu đối đáp với nhau trong ánh lửa Hộ Ma. 


### 42. Thời Luân Kim Cang ở trong lửa


Tôi làm Hộ Ma, Thời Luân Kim Cang nhập vào trong ngọn lửa, hóa hiện thành lửa Thời Luân Kim Cang, nhiều đầu nhiều tay, từng thứ một rất rõ ràng.
Tôi nói:
”Phật Thời Luân Kim Cang, vĩ đại lắm thay!”
(Bốn tông phái của Tạng mật đều tôn sùng.)
Thời Luân Kim Cang nói:
”Lớn mà không lớn, mới là lớn!”
Tôi hỏi:
”Vì sao lại nói như vậy?”
Thời Luân Kim Cang nói:
”Bậc chí tôn không dựa vào địa vị bổng lộc, bậc chí quý không dựa vào uy quan, bậc chí hách không dựa vào quyền thế, bậc chí phúc không dựa vào của cải nhiều, bậc dương danh không dựa vào thanh danh, bậc chí cao không dựa vào danh vị, lúc ấy mới nhìn thấy được cái to lớn của họ.”

Tôi ngẫm nghĩ:
”Thời Luân Kim Cang nói rất phải.”
Thời Luân Kim Cang nói:
Bốn mặt — tượng trưng cho bốn mùa.
Ba cổ — trời - đất - con người.
Sáu tay — một ngày sáu thời.
Mười hai tay — một năm mười hai tháng.
Hai mươi bốn tay — hai mươi bốn tiết khí.
Bánh xe khổng lồ của thời gian lăn qua làm sinh ra vạn vật, cũng phá hủy vạn vật.
Thời Luân Kim Cang nói:
”Đây là tự nhiên, con người ở trong tự nhiên, không thấy tự nhiên, nhưng tự nhiên là rất lớn.”

Tôi nói:
”Khắc kỉ phục lễ, thiên hạ quy nhân.” [Lời của Khổng Tử, nói rằng kiềm chế những ham muốn phàm tục của bản thân, trở về với lễ nghĩa, thiên hạ sẽ trở về với sự nhân từ vốn có.]
Còn nói:
”Bánh xe thời gian cũng chính là tự nhiên, người hiểu tự nhiên tất sẽ hiểu lẽ trời.”
Phật Đà nói:
”Người hợp với đạo là lớn!”
Tôi nói:
Ở trong tình cảm thế tục sâu đậm có thể thờ ơ.
Ở trong tình cảm thế tục phiền não có thể chịu đựng.
Ở trong tình cảm thế tục hỗn loạn có thể thanh thản.
Ở trong tình cảm thế tục vướng víu có thể cắt đứt.
Tôi nói:
Nội Thời luân là kinh Hoàng Đình.
Ngoại Thời luân là kinh Âm Phù.
Biệt Thời luân là hai hợp làm một.
Được như vậy mới có thể phóng tỏa hào quang.


### 43. Thập phương Phật, thập phương Không Hành Mẫu hoan hô


Có người hỏi tôi: 
”Trời ban dị tượng, cảm ứng liên miên, sao Lư Sư Tôn ngài đều không nói gì?”
Tôi đáp:
”Vì tôi là thằng ngốc vụng về.”
Người hỏi:
”Có một số người, có một chút xíu cảm ứng đã sớm khua chiêng gõ trống, chỉ sợ thiên hạ không có ai biết.”
Tôi đáp:
”Người tài vẻ ngoài đần độn, kẻ sính khoe khoang trí tuệ thì luôn tỏ ra tài giỏi khéo léo, nhất thời làm điên đảo nhân gian, nhưng trong sự vô hình đã thiệt hại rất lớn đó! Tôi vẫn cứ từng bước mà tiến thì hơn. Có mười phần thì chỉ nói mình được một phần, có trăm lần thì chỉ nói mình được mười lần, như vậy mới là tốt.”
Người hỏi:
”Vì sao?”
Tôi đáp:
”Phàm việc gì cũng giả ngu và hành động vụng về, giả mù giả điếc thì sẽ không sao cả. Không có chuyện gì sẽ tăng thêm đạo hạnh, tức là tăng thêm lợi ích, đây là điều mà người bình thường không nghĩ được. Đạo bất khả đạo đó!”
Người hỏi: 
”Nghe nói có thập phương Không Hành Mẫu hiện thân hoan hô ngài?”
Tôi đáp:
”Ôi! Người biết tôi hiếm lắm, ít có người biết mới tốt.”

Người hỏi:
”Vì sao?”
Tôi đáp:
”Nhạc cao ít người họa.” [Uyên thâm quá ít người hiểu.]
Người hỏi:
”Nghe nói có thập phương Phật hiện thân hoan hô ngài?”
Tôi đáp:
”Chớ nói chớ nói!”
Người hỏi:
”Vì sao?”
Tôi đáp:
”Chỉ khiến chúng sinh cười, thế thì hổ thẹn, tầm thường, hạ tiện. Bởi vì khi quá hi hữu thì trái lại con người chẳng tin. Tôi không dám tự tôn cho mình là cao quý, không dám tự cao tự đại, vênh váo tự hào!”
Người hỏi:
”Không như vậy thì phải thế nào?”
Tôi đáp:
”Đạo lớn ở chỗ vô ngã, không thể có suy nghĩ về cái tôi, có suy nghĩ về cái tôi tức chẳng thể đắc được đạo thành Phật.”

Tôi nói:
Đạo lớn bình đẳng.
Ta tức chúng sinh.
Chúng sinh tức Phật.
Như vậy mà thôi.

Tôi giải thích:
Phàm - Thánh không phân biệt.
Phật - phàm không phân biệt.
Vật - ta không phân biệt.
Người - ta không hai. 
Người - trời không hai.
Người - vật không hai.
Quan niệm không phân biệt.
Quan niệm không sai khác.
Tất cả tức là một.
Một tức là tất cả.
Tất cả đều không.
Không tức tất cả.

Vì thế:
Thập phương Phật vì tôi mà giáng xuống hoan hô!
Thập phương Không Hành Mẫu vì tôi mà giáng xuống hoan hô!
Tôi chỉ có thể:
Gật gật đầu.
Cười một cái.
Có gì đâu.


### 44. Bão nhất và thủ trung


Lão Tử nói:
”Bão nhất là thiên hạ.” [Bão nhất: một từ trong Đạo Đức Kinh, có ý nghĩa là chân lí hợp nhất, cũng có thể nói là chuyên tâm giữ vững đừng đánh mất đạo này.]
Lão Tử nói:
”Nhiều lời vô ích, chẳng bằng thủ trung.” [Thủ trung: gìn giữ sự thanh tịnh hư vô của nội tâm.]

Tôi nói:
”Bão nhất tức là chuyên nhất!”
Tôi nói:
”Thủ trung tức là bão nhất!”
Phật nói:
”Tinh thần thống nhất, không việc gì không làm được!”
Phật tức là một mà thôi, làm gì có nhiều đâu!
Ở trong thân thì có thể tồn giữ [thanh tịnh], ở ngoài thân thì có thể diệu dụng [biến hóa]

Thủ trung ứng chu. [Gìn giữ thanh tịnh hư vô thì sẽ tương ứng với xung quanh.]
Bão nhất ứng vạn. [Chuyên tâm hợp nhất với đạo sẽ tương ứng với vạn vật.]

Bất luận là đi, đứng, ngồi, nằm, không được rời xa những điều này.
Sẽ đắc được sự tinh túy kì diệu: “Mở ra thì quang minh biến chiếu; Thu lại thì bảo tồn tự tâm”

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người, đây chính là khẩu quyết lớn nhất của Mật giáo tương ứng niệm tụng pháp. 
Bổn tôn là một.
Ta là một.
Một cộng một vẫn là một.
Giống như một giọt nước nhập vào một giọt nước, hoặc như một giọt nước nhập vào một bình nước, hoặc như một giọt nước nhập vào một biển.
Tụng chú Bổn tôn.
Nhớ đến hình ảnh Bổn tôn.
Kết ấn Bổn tôn. 
Nhập ngã ngã nhập, Bổn tôn và ta kết hợp chặt chẽ, một ngày sáu thời luôn thực hành, lâu ngày, Bổn tôn tức là ta, ta tức là Bổn tôn, pháp lực của Bổn tôn chính là pháp lực của ta.

Lão Tử nói:
”Thường đức bất ly, phục quy ư anh hài.” [Không xa rời xa lẽ thường thì trở về trạng thái như một đứa trẻ.]
Tôi nói:
”Bổn tôn bất ly, phục quy ư vô nhị.” [Không xa rời Bổn tôn thì sẽ trở về với sự hợp nhất.]
Lão Tử nói:
”Hàm đức chi hậu, tỉ ư xích tử.” [Người nào đức dày, giống như đứa bé sơ sinh.]
Tôi nói:
”Không lìa Bổn tôn, ta như đồng tử.”
Bản lai diện mục trước khi cha mẹ sinh ra ta đã xuất hiện rồi.
Bạn là đứa bé sơ sinh.
Bạn là đồng tử.
Bạn là Bồ Tát.
Bạn là Như Lai.

Tu hành là đem “hậu thiên” hoàn trả thành “tiên thiên”. 
Thủ nhất.
Bão trung.
Thì sẽ thành tựu được “bản thể” của “bản tự như như”, giữ vững được điều này, không được xa lìa, như gà ấp trứng, lâu ngày ắt thành.
Khi tôi ngồi ăn chung cùng mọi người.
Thả lỏng.
Quang minh biến chiếu.


### 45. Đại trí huệ của Văn Thù Bồ Tát


Trong Phật giáo Đại thừa, Văn Thù Bồ Tát là bậc trí huệ đệ nhất.
Trong Phật giáo Tiểu thừa, Xá Lợi Phất là bậc trí huệ đệ nhất.
Trí huệ của Văn Thù Bồ Tát nằm ở điều gì?
Khi Phật sắp niết bàn, Văn Thù Bồ Tát nói:
”Thỉnh Phật trụ thế, thỉnh chuyển pháp luân.”
Phật đáp:
”Ta có chuyển pháp luân sao?”
Văn Thù Bồ Tát nghe xong liền đại ngộ.
Văn Thù Bồ Tát không nói một câu nào, đây chính là chỗ đại trí huệ của Văn Thù Bồ Tát. 
Thử hỏi các thiện tín:
Đại trí huệ của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát là gì?
Còn nữa:
Trí huệ đệ nhất của Atisa tôn giả là gì?

Phật ở trong hang núi của tôn giả Xá Lợi Phất. Xá Lợi Phất nói:
”Quét sạch tất cả vọng niệm thì sẽ biến thành vô niệm.”
Phật đáp:
”Thế nào là quét sạch?”
Xá Lợi Phất tôn giả nghe xong liền đại ngộ.
Xá Lợi Phất tôn giả không nói một câu nào, đây chính là chỗ đại trí huệ của Xá Lợi Phất. 
Thử hỏi các thiện tín:
Đại trí huệ của Xá Lợi Phất tôn giả là gì?

Còn nữa:
Sau khi tôi truyền dạy cách quán tưởng tráp kiếm Văn Thù, tôi tiếp tục giảng giải Lục Tổ Đàn Kinh. Lục Tổ đã nói rất rõ ràng, trong mọi hoàn cảnh, tâm của bạn phải hoàn toàn không bị ô nhiễm, đó mới chính là vô niệm.
Vô niệm của người bình thường là cho rằng mình ngồi thiền định, từ từ khiến cho mọi vọng niệm không còn nữa, trở thành không còn suy nghĩ gì cả, đây là một cách nói. 
Còn một cách nói khác là bạn không bị ảnh hưởng bởi mọi suy nghĩ, đây mới là vô niệm.
Đừng cho rằng vô niệm là trong đầu trống rỗng.
Đừng cho rằng vô niệm là trong đầu không vương một sợi tơ.
Đừng cho rằng vô niệm là trong đầu đóng chặt cửa.
Đừng cho rằng vô niệm là trong đầu chẳng biết cái gì cả.
Mà phải là ở trong mọi hoàn cảnh, không chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh.
Nhất tâm bất loạn.

Rất nhiều người cho rằng nhập định vào tính Không, vọng niệm hoàn toàn không còn nữa, như thế là chứng minh Phật tính rồi.
Không đúng, một lát sau xuất định, các suy nghĩ lại kéo đến thì lại bị ảnh hưởng bởi các suy nghĩ đó.
Phật nói:
Nhập định vô niệm.
Xuất định vô niệm.
Tất cả thanh minh.
Nhất tâm bất loạn.

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người:
”An tâm chính là bình an!”
Vấn đề là:
”Làm sao để an tâm?”
Tôi đáp:
”Vô tâm. Tâm mới có thể an!”
Vô tâm chính là vô sinh.
Nói đến đây là dừng, còn tiếp tục nói nữa thì đều là nói lôi thôi dài dòng thôi!


### 46. Đại hòa thượng Quả Hiền


Đại hòa thượng Quả Hiền là vị sư phụ đã cạo đầu xuất gia cho tôi. 
Đầu tiên, đại hòa thượng Quả Hiền quy y tôi. 
Sau đó lại xuống tóc cho tôi.
Đây là: thầy độ trò, trò độ thầy.
Ngày xưa, Lục Tổ Huệ Năng đầu tiên nhận một trưởng lão xuất gia làm đệ tử. Sau đó, Lục Tổ Huệ Năng xuất gia, và trưởng lão xuất gia đó cũng xuống tóc cho Lục Tổ.

Đây là:
Trên dưới xưa nay giống nhau.
Nghìn đời cùng soi sáng.
Cá nhân tôi tu hành cho đến nay đều với tâm vô thường, tâm vô thường này vô tâm mà dụng.
Dùng văn viết để giải thích, tất cả đều với cái tâm không có gì đáng kể.
Tôi.
Vô tâm với thiên hạ vạn vật.
Vô tâm với thiên hạ vạn sự.
Vô tâm với danh.
Vô tâm với lợi.
Vô tâm với người.
Vô tâm với tôi.
Vô tâm với dụng.

Vì như thế thì có thể hợp nhất với đạo.
Đại hòa thượng Quả Hiền thường nói với tôi:
”Không hề gì!”
”Không sao cả!”
Hai câu nói này dùng trong cả một đời cũng không hết lợi ích của nó.
Cổ nhân nói:
Đừng bảo vô tâm tức là đạo.
Vô tâm vẫn còn cách đạo một lớp cửa nữa.
Từ vô tâm đi lên nữa chính là vô sinh đó!
Tôi cảm thấy:
Vô tư vô lự.
Không dụng tâm.
Vô niệm.
Đều là “gần với đạo”.
Còn vô sinh thì điều gì cũng không cần phải nói nữa.

Phật Đà thuyết pháp bốn mươi năm, chưa từng nói một chữ nào.
Điều này nghĩa là gì?
Điều này là vô sinh.
Vì đã là vô sinh, sao có thể nói là có một chữ?
Đạo bất khả thuyết.
Nói ra thì không phải là đạo nữa.
Trời nói gì chứ!
Bốn mùa đi qua thế nào.
Trăm vật sinh ra thế nào.
Trời nói gì chứ!
Tự mình vươn lên thôi.
Đại hòa thượng Quả Hiền và tôi Lư Thắng Ngạn, ông ấy quy y tôi, tôi được ông ấy cạo đầu. Không có gì cả, kết một đoạn nhân duyên với nhau. 
Năm xưa đại hòa thượng Quả Hiền xuất quan, tôi gặp lại vị sư phụ đã cạo đầu cho tôi tại Seattle Lôi Tạng Tự, khi gặp mặt, thiện quang phổ chiếu, đều cực kì cát tường.


### 47. Căn nguyên của tiêu tai


Cá nhân tôi cho rằng:
”Phát sinh tai ách chính là do con người tự chuốc lấy.”
Sao lại nói như vậy?
Người học Phật nhất định cần có “tâm điềm đạm”, chỉ cần có được cái tâm “thờ ở không màng” này thì tự nhiên sẽ chẳng có tai nạn gì.
Lấy một ví dụ để nói:
Tâm tham lợi — dễ từ bỏ nghìn thứ, nhưng khó bỏ cái tâm tham lợi. Cái chữ “lợi” này rất ghê gớm, con người không vì lợi thì hiếm lắm. Vì lợi tất sẽ dẫn đến tham, có tham thì ắt sẽ gặp tai họa.
Tâm hám danh — dễ thờ ơ với vạn thứ, nhưng khó thờ ơ với cái tâm háo danh. Cổ nhân nói rằng, từ xưa đến nay, chẳng có người nào là không háo danh. Cái họa của học giả là không ai không háo danh. Vì háo danh nên ắt có tranh chấp, có ganh đua tất nhiên sẽ có tai họa thôi!
Tâm ham sắc dục — một người bình thường khó dứt tâm tham sắc. Trên đầu chữ sắc có một con dao, vì tham sắc mà tên tuổi anh hùng lẫy lừng nghìn năm cũng bị hủy hoại trong chớp mắt. Vì tham sắc mà công danh một đời đều đi tong, vô cùng đáng tiếc.
Kẻ giết người vì tình đâu đâu cũng thấy.
Anh hủy hoại tôi.
Tôi hủy hoại anh.
Người có cái chết yên lành, ít lắm!

Có câu danh ngôn:
*Mĩ nữ eo thon đeo bảo kiếm
Không chém Thánh hiền chém phàm phu
Mặc dù chưa thấy đầu rơi xuống
Xương tủy đã khô tự bao giờ.*

Sắc dục quá nặng thì sẽ tổn hại sức khỏe mà chết.
Con người phải cảnh giác với ba điều trên.
Đạm là vị của “đạo”. [Đạm nghĩa là nhạt, là tâm thái thơ ơ không màng.]
Tâm háo danh nên nhạt.
Tâm hám lợi nên nhạt.
Tâm háo sắc nên nhạt.
Nếu mọi tâm đều nhạt.
Nhạt đến mức không có gì.
Thì là tối thượng!

Các vị Thánh triết cổ đại nói thế này:
Bớt lời nói để dưỡng nội khí.
Ít sắc dục để dưỡng tinh khí.
Mùi vị nhạt để dưỡng huyết khí.
Nuốt nước bọt để dưỡng tạng khí.
Bỏ sân nộ để dưỡng can khí.
Bớt ăn uống để dưỡng vị khí.
Hít thở đều để dưỡng phổi khí.
Ít nghĩ suy để dưỡng tâm khí.
Không chảy tinh để dưỡng thận khí.
Thận trọng ứng xử để dưỡng thần khí.

Hành giả Mật giáo với các pháp thế gian có tiêu tai, tăng ích, hàng phục, kính ái, đây chính là bốn pháp tức-tăng-hoài-tru.
Và tiêu tai là cơ sở của mọi pháp.
Nếu không thể “tiêu” được “tai” thì:
Không thể tăng ích.
Không thể kính ái.
Không thể hàng phục.
Quan Âm Bồ Tát là Bạch Chư Tôn, tu pháp Quan Âm, ngài sẽ giáng đại bạch hào quang.
Chỉ mong người người biết rõ căn nguyên của tiêu tai.


### 48. Thân hóa Ái Nhiễm Minh Vương


Có người hỏi tôi:
”Lư Sư Tôn! Rốt cục ngài là ai?”
Tôi đáp:
”Tôi là Ai.”
Người kia hỏi:
”Xin đừng dùng những câu nói mơ hồ, có thể nói cụ thể được không?”
Tôi đáp:
”Tôi thật sự không biết mà!”
Đương nhiên, tôi thật sự đã chuyển thế rất nhiều, hơn nữa còn vô cùng phức tạp, ở trong rất nhiều cảnh giới tôi đều đã từng xuất hiện.
Thậm chí ở rất nhiều quốc gia.
Trong các chủng tộc khác nhau.
Trong các quốc gia cổ đại và hiện đại.
Kinh Bản Sinh của Phật Thích Ca Mâu Ni có nói về sự chuyển kiếp nhiều đời của ngài, thậm chí ngài cũng ở trong ba ác đạo.
Phật Đà đã trải qua năm trăm đời hành đạo Bồ Tát.
Còn chính tôi cũng chuyển thế qua rất nhiều triều đại rồi.

Người hỏi:
”Ngài có phải là người lại đến không?”
Tôi đáp:
”Đương nhiên tôi là người lại đến rồi, Thượng sư của tôi đã ấn chứng tôi là người lại đến, là một người lại đến với trình độ rất cao, là Tulku, là Rinpoche, là Khutukhtu (Hotogtu), là Hoạt Phật, là Pháp Vương.”
Nói riêng về tôn giáo:
Xá Lợi Phất.
Long Thụ.
Naropa.
Tsongkhapa.
Lư Thắng Ngạn.
Đều có thể truy về cùng một nguồn gốc.
Những nguồn gốc khác thì càng nhiều…
Trời ban dị tượng cũng cực kì nhiều.

Có một lần pháp hội, đó là pháp hội Ái Nhiễm Minh Vương.
Tôi đột nhiên biến hóa:
Pháp tọa biến thành bình cam lộ.
Trong bình có hoa sen trắng đỏ.
Trên hoa sen hóa hiện Ái Nhiễm Minh Vương.
Nhiều tay.
Có một tay cầm cung.
Có một tay cầm tên.
Bắn ra những ánh sáng cầu vồng hình tròn.
Ái Nhiễm Minh Vương và Kurukulle Phật Mẫu là hai vị tôn giả kính ái vĩ đại nhất.
Tôi kính ái mọi người.
Tôi quy công lao thuộc về mọi người.
Tôi dành lợi ích cho mọi người.
Trái tim tôi nhân hậu, chỉ có tim yêu chúng sinh.
Với nhân duyên như vậy mà hóa thân thành Ái Nhiễm Minh Vương.


### 49. Một người ngồi trong mặt trời


Cống Đường Thương Hoạt Phật (Gung Thang Tshang Rinpoche) lúc còn tại thế, ngài từ tu viện Labrang ở Cam Túc đến nước Mĩ, ngài đi kiểm tra răng ở một phòng khám nha khoa tại California. 
Khéo thay, nha sĩ ở đây là đệ tử của tôi.
Chính vì như thế mà trước khi Cống Đường Thương Hoạt Phật sắp trở về Trung Quốc, ngài đã hi vọng có thể đến Seattle một chuyến, khi đổi máy bay ở đây thì có thể gặp mặt tôi một lần.

Ấn tượng sâu sắc của tôi là:
Khuôn mặt của Cống Đường Thương Hoạt Phật cực kì giống với khuôn mặt của trưởng lão Ngộ Minh ở Đài Loan.
Lần đầu tiên tôi và Cống Đường Thương gặp mặt, lời ngài ấy nói khiến tôi cảm thấy hết sức kinh ngạc. Ngài ấy nói:
”Tôi đã biết ngài từ lâu, ngài là cái người ngồi ở trong vầng mặt trời đó!”
Ngài ấy giải thích rằng, có một năm, trên một thảo nguyên rộng lớn ở Cam Túc, ngài ấy đã cử hành đại pháp hội Thời Luân Kim Cang. 
Tất cả mọi thứ đều giống với trước đây, chỉ có một điểm không giống. 
Ngày hôm đó, ngài ấy đeo kính râm.
Ngồi giữa đám hoa cúc trên thảo nguyên rộng lớn.
Khi ngước nhìn lên mặt trời.
Trong thoáng chốc, ngài ấy dường như đã nhập định rồi, nhìn ra xung quanh không thấy gì hết, ngay cả ghế mà mình ngồi lên dường như cũng tan biến rồi.
Chỉ thấy:
Trong quầng ánh sáng mặt trời lộ ra một hình tròn kì dị.
Ở chính giữa có mây mù.
Trong mây mù có một bóng người đang ngồi.
Bóng người ấy càng ngày càng rõ nét, đầu tiên nhìn thấy mặt, rồi lại nhìn thấy cánh tay, sau đó nhìn thấy bàn tay…
Càng lúc càng rõ ràng.
Ngay cả cái lúm đồng tiền nông nông cũng đều rất rõ ràng.
Ngài ấy nhớ kĩ khuôn mặt này.
Ấn tượng sâu sắc.

Sau đó, người này cười với Cống Đường Thương Hoạt Phật, một nụ cười hết sức rạng rỡ, dường như nói rằng:
”Tương lai chúng ta sẽ gặp mặt.”
Cống Đường Thương Hoạt Phật dường như đã hiểu ra một chút, nhưng vẫn có nghi hoặc, không biết là đã xảy ra chuyện gì.

Khi chúng tôi gặp mặt ở sân bay, dường như ngài ấy đã hiểu ra rồi.
Tôi Lư Thắng Ngạn (Liên Sinh Hoạt Phật) chính là cái người ngồi trong mặt trời đó.
Cống Đường Thương Hoạt Phật nói:
”Đầu tiên tôi cho rằng người ngồi trong mặt trời là Tổ sư Tsongkhapa, sau đó tôi lại cảm thấy người này vừa quen vừa lạ. Sau này khi nhìn thấy ngài, trực giác nói với tôi rằng người này chính là Lư Thắng Ngạn đại sư, được gọi là Liên Sinh Hoạt Phật.”

Tôi nghe xong thì cười rạng rỡ. Cống Đường Thương Hoạt Phật nói:
”A! Ngày hôm đó ngài cũng là nụ cười này!”
Hai người chúng tôi cười vang ha ha không ngớt.
Dường như tất cả đều rất quen thuộc…


### 50. Phụ lục: Nghi quỹ Thất Phúc Thần niệm tụng pháp


Đầu tiên, thỉnh cầu Căn bản Truyền thừa Thượng sư gia trì: 

- Quán Không.

- Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì 7 biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, thỉnh cầu tu pháp viên mãn.

Sau đó quán tứ vô lượng tâm. Làm thủ ấn đánh thức (vỗ tay 2 lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay).

1. Chú thanh tịnh.

1. Chú triệu thỉnh.

1. Đại lễ bái.

1. Đại cúng dường.

1. Tứ quy y.

1. Mặc giáp hộ thân.

1. Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (1 biến)

1. Chú vãng sinh. (7 biến)

1. Căn bản Truyền thừa Thượng sư tâm chú.

Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hum. (108 biến)

1. Kết ấn và quán tưởng.

Kết ấn: thủ ấn Thất Phúc Thần.

Cổ tay phải đặt trước cổ tay trái, hai bàn tay úp lưng vào nhau, hai ngón cái giơ thẳng, các ngón tay còn lại giơ thẳng và đan vào nhau.


![image](/img/img_99c575ef2318fd83573162d00b8fb6e4.png)


Chủng tự tự: chữ Hum. 

Quán tưởng: 

Đầu tiên quán không, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)

(1) Trên mặt biển lớn trời xanh vạn dặm không mây, nguyệt luân từ mặt biển nhô lên hư không, trong nguyệt luân có chủng tử chữ “Hum” phóng tỏa ánh sáng màu vàng.

(2) Chữ “Hum” trong nguyệt luân xoay tròn, hóa thành một con thuyền báu xuất hiện trên mặt biển lớn, trên con thuyền báu có chở vô số vàng bạc tài bảo và bao gạo, thuyền báu chở bảy vị Phúc Thần: Huệ Bỉ Thọ, Biện Tài Thiên, Bì Sa Môn Thiên, Thọ Lão Nhân, Phúc Lộc Thọ, Đại Hắc Thiên, Bố Đại Hòa Thượng.

Huệ Bỉ Thọ là thần thương nghiệp, nét mặt tươi cười, có thể phù hộ kinh doanh hưng thịnh, hình tượng của ngài là mặc đồ săn bắt, tay phải cầm cần câu, tay trái ôm một cái đầu cá to.

Bì Sa Môn Thiên là thần tài của cõi trời, hình tượng của ngài là mặc áo giáp, một tay cầm bảo tháp, một tay cầm bảo kích.

Biện Tài Thiên là vị nữ thần duy nhất trong số bảy vị Phúc Thần, tinh thông âm luật, tài hùng biện vô ngại, hình tượng của ngài là đầu đội mũ tám hoa sen, ôm đàn tì bà.

Phúc Lộc Thọ là thần của phúc phần, hậu lộc, trường thọ, hình tượng của ngài giống với Tiên Ông Nam Cực của Trung Quốc, tay cầm tích trượng, thường làm bạn với chim hạc trắng.

Thọ Lão Nhân là thần trường thọ bất lão, là hóa thân của Đạo gia Lão Tử, hình tượng của ngài là mặt gầy râu dài, tay cầm bảo trượng, thường có hươu đi theo bầu bạn.

Đại Hắc Thiên là thần khai vận chiêu phúc, có thể đuổi ác thần, bảo vệ con người bình an, hình tượng của ngài là đầu đội khăn đen, vai khoác túi vải, tay cầm dùi vạn bảo có thể gõ ra vô tận tài phúc.

Bố Đại Hòa Thượng là thần hồng phúc cát tường, hình tượng của ngài là bụng to, mập mạp, cầm túi vải to.

(3) Quán tưởng bảy vị Phúc Thần giáng xuống đàn thành. Hành giả quán tưởng Huệ Bỉ Thọ trụ trên đỉnh luân của mình, Biện Tài Thiên, Bì Sa Môn Thiên trụ tại thượng nguyên cung (thượng đan điền) của mình, Thọ Lão Nhân, Phúc Lộc Thọ trụ tại trung nguyên cung (trung đan điền) của mình, Đại Hắc Thiên, Bố Đại Hòa Thượng trụ tại hạ nguyên cung (hạ đan điền) của mình.

1. Trì tâm chú Thất Phúc Thần. Trước tiên làm quán tưởng chuỗi niệm hạt.

Ôm ma-ha-ka-la-ya sô-ha. (108 biến)

1. Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa.

1. Xuất định.

1. Niệm thêm những tâm chú khác.

1. Niệm Phật.

Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)

1. Hồi hướng.

1. Bách tự minh chú. (3 biến)

1. Đại lễ bái. 

1. Chú viên mãn.

Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Làm thủ ấn giải tán. (Vỗ tay hai lần, bắt chéo tay và búng ngón tay.)

Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/249-ngon-ngu-den-tu-phat-quoc.md
# Title: 249. Ngôn ngữ đến từ Phật quốc
---

## Ngôn ngữ đến từ Phật quốc


🪷 Khẩu quyết vô thượng

Văn tập: 249
Xuất bản: 09/2015
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


Tôi (Lư Thắng Ngạn) từ năm 26 tuổi, trải qua cơ duyên kỳ diệu, cho đến nay đã 71 tuổi. Trong thời gian đó, tôi đã trải qua tu hành Đạo giáo, Hiển giáo, Mật giáo. Trong 45 năm qua, tiến lên từng bước, tôi có thể nói như vậy, đạo tâm không lùi, đạo tâm không diệt, đạo tâm không giảm, đạo tâm tăng trưởng.

Từ lúc mới học cho đến ngày nay, từng bước nghiên cứu thực tiễn, có thể nói là "vân thủy ba nghìn, động thiên tám trăm".
Tôi có thể nói, tất cả đã thấu hiểu tường tận rồi!
Tôi đến từ cõi Phật, và cũng sẽ trở về cõi Phật.
Giống như một giấc mơ, cũng như một trò chơi.
Cuối cùng là, biết không trở về không, từ không về không, không không cũng không.
Tôi không đến đi, vì vậy nói:
Tôi là Như Lai!

🌟

Tôi thật sự chân thành nói với mọi người, tôi đã "minh tâm".
Cái gọi là minh tâm chính là giác ngộ vậy!
Vô sở đắc.
Vô sở trụ.
Vô sở vị.
Do đó biết được "vô sinh" nên:
Vô tham.
Vô sân.
Vô si.

Tôi nhờ đạt được bí quyết chân thật, tu hành như thực, nên đã đến được cảnh giới "kiến tính".
Đến đây, tiêu dao ngoài cõi đời vậy!

🌟

Tôi đã viết 249 cuốn sách, sáng lập Chân Phật Tông, thuyết pháp vô tận, nhưng tất nhiên tôi cũng biết rằng:
Tôi chưa từng viết một cuốn sách nào.
Tôi chưa từng sáng lập Chân Phật Tông.
Tôi chưa từng thuyết một buổi pháp nào.
Kỳ thay! Kỳ thay!
Rõ ràng là có, tại sao lại nói là không có?

Tôi thành thật nói với mọi người:
Thế gian là đại huyễn.
Bởi vì là đại huyễn, nên không có.
Còn tôi là:
"Không sinh".

🌟

Cuốn sách này là:
Tuân thủ cổ học mà không bị đắm chìm trong cổ học.
Gìn giữ cổ học mà không bị ngưng trệ trong cổ học.
Thiên hạ xưa nay đều như nhau.

Cuốn sách này, thực ra chỉ nói một chữ, chữ đó là: "Nhất".
"Nhất" xuyên suốt vạn sự.
Cuối cùng lại đưa "Nhất" trở về "Không".
Tôi đã thấy Phật tính.

🌟

Tôi đã đưa hết khẩu quyết vô thượng vào cuốn sách này.
Hãy tôn kính Thượng sư!
Hãy coi trọng Phật pháp!
Hãy thực hành tu tập!
Từ bước đầu nhập môn, cho đến vượt phàm nhập thánh, và thành Phật!

Chúc:
Mở sách ra có lợi ích!

Địa chỉ liên lạc của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn

**Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U. S. A.


### 01. Bộ Đại Tạng Kinh


Tôi đã từng dành thời gian đọc các bộ tạng sau:
Kinh do Phật Đà thuyết giảng.
Luật do Phật môn chỉ dạy.
Luận của các bậc đại đức.
Tôi đã cảm thán thốt lên: "Kinh điển quá nhiều, cả đời cũng không đọc hết được."

Về sau:
Tôi quy y Đạo gia với Thanh Chân Đạo Trưởng.
Quy y Phật môn Hiển giáo với đạo sư Ấn Thuận, pháp sư Lạc Quả, pháp sư Đạo An.
Khi thọ Bồ Tát giới, tôi nương tựa vào ba vị thầy: pháp sư Hiền Đốn, pháp sư Huệ Tam, pháp sư Giác Quang. (Địa điểm ở chùa Bích Sơn Nham, Nam Đầu.)

Ở Mật tông Tây Tạng, tôi có bốn vị thầy chính:
Phái Hồng giáo — Hòa thượng Liễu Minh.
Phái Hoàng giáo — Thượng sư Thubten Dhargye.
Phái Bạch giáo — Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16.
Phái Hoa giáo — Thượng sư Sakya Chứng Không.

Thực ra, số lượng pháp sư, Thượng sư, Rinpoche, Pháp Vương, đạo trưởng, bậc đại đức... mà tôi đã kết duyên không thể đếm xuể!

Còn về việc xuất gia, đại hòa thượng Quả Hiền ở chùa Tuệ Tuyền, Hồng Kông đã làm lễ cạo đầu cho tôi.

Trên đây là trình bày về truyền thừa và pháp duyên của tôi.

🌟

Tôi nói với mọi người, nếu muốn học Phật tu hành, nhất định phải có sư phụ, vì vậy tìm kiếm minh sư là một khẩu quyết quan trọng. Nếu bạn không có sư phụ, kinh điển như biển, mênh mông vô tận, làm sao bạn học được?

Ai là minh sư?
Thứ nhất, nhất định phải có truyền thừa.
Thứ hai, nhất định phải có trí tuệ.
Thứ ba, nhất định đã tu tâm đến mức minh tâm khai ngộ.
Thứ tư, nhất định đã chứng kiến Phật tính.
Thứ năm, nhất định tài năng và học vấn phải vẹn toàn.

Vị minh sư này nhất định là:
Dứt tham bỏ dục.
Trở về thuần phác.
Thanh tịnh vô vi.
Tâm du nơi Phật.
Không đuổi theo việc ngoài.
Dứt danh dứt lợi.

Đó mới là minh sư chân chính! Nếu không phải vậy, tuyệt đối không thể noi theo. Nếu không, bái nhầm sư phụ, mọi thời gian và tiền bạc đều uổng phí.

Như người ta thường nói:
Tả đạo ba nghìn.
Bàng môn tám trăm.
Lại còn vô số ngoại đạo.

Vì vậy:
Nhận biết minh sư là khẩu quyết số một.
Sư phụ nếu khai ngộ mới có thể dẫn dắt đệ tử khai ngộ.
Sư phụ nếu thấy được Phật tính mới có thể dẫn dắt đệ tử thấy được Phật tính.
Nếu không có sư phụ, hoặc bái nhầm sư phụ:
Gấp đôi công sức mà hiệu quả chỉ được một nửa.
Nếu có được sư phụ, hoặc tìm đúng minh sư:
Một nửa công sức mà hiệu quả gấp đôi.

🌟

Có người hỏi Phật: "Ai là người vĩ đại nhất?"
Phật đáp: "Người hợp với đạo là vĩ đại nhất."
Hiện nay, ai có thể hợp với đạo? Và minh sư là ai?


### 02. Nhân năng thủ nhất vạn sự tất


Nói chung, những người muốn tu hành, khi đối diện với nhiều loại Phật pháp đa dạng, khó có thể lựa chọn, trôi dạt vô định trong mênh mông, tâm trí hoang mang bất định.

Hành trình tu tập tâm linh dài lâu, không có phương hướng.
Lúc này, nhất định phải:
"Có minh sư chỉ dẫn."
Minh sư là khẩu quyết đầu tiên.

🌟

Ngày xưa.
Gampopa đã tìm đến Milarepa để học Phật pháp.
Milarepa truyền dạy Phật pháp cho Gampopa, sau khi học xong, Milarepa và Gampopa xuống núi.
Khi đi qua một cây cầu.
Hai người ngồi xuống nghỉ ngơi trên cầu.
Gampopa hỏi:
"Thượng sư còn có khẩu quyết quan trọng nhất nào không?"
Milarepa cởi áo ra, để lộ những vết sẹo chi chít, rồi nói với Gampopa:
"Đây chính là khẩu quyết vô thượng!"
Gampopa vô cùng kinh ngạc.
"Đây là......"
Milarepa nói:
"Tinh cần chính là khẩu quyết lớn nhất!"
Tinh cần chính là:
"Sức chuyên chú."

🌟

Tôi xin nói với mọi người, tôi Lư Thắng Ngạn đã viết 249 cuốn sách, 249 cuốn sách này có được như thế nào?
Câu trả lời là:
"Mỗi ngày một bài viết, không có ngày nghỉ."

Làm sao tôi có thể minh tâm và kiến tính?
Câu trả lời là:
"Mỗi ngày tu tập một lần, không có ngày nghỉ." (Hoặc tu tập nhiều lần.)

Sức chuyên chú và nghị lực của tôi thật đáng kinh ngạc.
Tôi, vị Thượng sư này, không phải là kẻ nói dối.
Tôi là:
"Người có thể chuyên nhất, vạn sự thành!"

Sức chuyên chú của tôi như mây trôi nước chảy, rất tự nhiên, không nghĩ về quá khứ, cũng không nghĩ về tương lai, không có điểm khởi đầu và kết thúc, hiểu rõ bước đi của mình.
Mỗi ngày đều nỗ lực tu hành.
Tôi nhận ra:
Mỗi ngày tu tập, ý thức sẽ thay đổi một chút.
Điều này giống như:
Khoan gỗ lấy lửa.
Mài sắt thành kim.
Đãi cát tìm vàng.
Luyện sắt thành thép.
Ban đầu, tâm hồn bạn liên tục đấu tranh với chính mình, sau đó, bạn vượt qua bản thân, hàng ngày không ngừng tu tập, những nỗ lực bạn bỏ ra sẽ không uổng phí.

🌟

Đây không phải công phu của trăm ngày.
Cũng không phải công phu của nghìn ngày.
Càng không phải công phu của vạn ngày.
Mà là, học cả đời, dùng nỗ lực của một đời, thậm chí nhiều đời, cuối cùng là:
Đạo thông tạo hóa.
Học vượt thiên nhân.
Bác đại uyên thâm.
Vi diệu huyền u.

Công phu tu hành không phải thành tựu trong chốc lát, tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) có thể nói:
Sức chuyên chú là số một!
Hãy gọi tôi là người số một!


### 03. Tương ứng tức là hợp nhất


Có người hỏi tôi:
"Tương ứng là gì?"
Tôi đáp:
"Hợp nhất."
Người hỏi:
"Làm sao để hợp nhất?"
Tôi đáp:
"Chế tâm một chỗ."
Tôi lại nói:
"Phật Đà dạy, chế tâm một chỗ, không việc gì không thành!"
Ý Phật là nói: chỉ cần có thể kiểm soát tâm ở một chỗ, bất cứ việc gì cũng có thể thành công.
Điều này giống với lời Lão Tử nói: "Người có thể chuyên nhất, vạn sự thành!"
Là cùng một đạo lý.

🌟

Chúng ta thường nói: trời người hợp nhất.
Tôi nói:
Thần người hợp nhất.
Trời và tôi hợp nhất.
Phật và tôi hợp nhất.
Tâm khí hợp nhất.
Bổn tôn và tôi hợp nhất.
Thượng sư và tôi hợp nhất.
Hộ pháp và tôi hợp nhất.
Chư tôn và tôi hợp nhất.
Trí tuệ và tôi hợp nhất.
Vũ trụ và tôi hợp nhất.

Sự hợp nhất này chính là sự hòa quyện lẫn nhau, ta vào Ngài và Ngài vào ta, Ngài đi vào ta, ta đi vào Ngài.
Sức tập trung tinh thần của tôi hoàn toàn phóng chiếu vào thân, khẩu, ý của Bổn tôn.
Quán tưởng của tôi toàn là sự trang nghiêm tịch tĩnh của Bổn tôn.
Thần chú của tôi toàn là tâm chú của Bổn tôn.
Thủ ấn của tôi toàn là thân của Bổn tôn.
Từ đây mà cảm nhận!
Từ bi.
Tình thương.
Ánh sáng.
Bao la.
Từ chuyên nhất mà đi vào tịch tĩnh.
Từ chuyên nhất mà đi vào tầm nhìn rộng lớn.
Từ chuyên nhất mà đi vào sự ấm áp. (pháp lạc)

Mật giáo tu pháp tương ứng là nhờ vào quán tưởng (ý), thủ ấn (thân), chú ngữ (khẩu).
Ba yếu tố hợp nhất, thanh tịnh, đi vào trạng thái tam muội.

Trong đó ẩn chứa:
Huyền bí.
Cao siêu.
Vô hạn.
Vĩnh hằng.
Từ sự tu tập thực sự để đạt đến cảnh giới hợp nhất tương ứng.

Tịnh Độ tông dạy bạn niệm Phật để đạt đến hợp nhất tương ứng.
Thiền tông dạy bạn tham thoại đầu, thiền định để đạt đến hợp nhất tương ứng.
Luật tông dạy bạn giữ giới luật, để tinh thần đạt đến hợp nhất tương ứng.
Mật giáo dạy bạn thân khẩu ý thanh tịnh, dùng thủ ấn, trì chú, quán tưởng để đạt đến hợp nhất tương ứng.

Ở đây có một khẩu quyết quan trọng nhất:
"Một".
Vạn sự trên đời đều ồn ào hỗn tạp, rối ren không ngừng nghỉ.
Bạn chỉ cần thực tu "Một".
Tâm hồn bạn sẽ thăng hoa, đạt đến sự hợp làm một với Bổn tôn.


### 04. Tâm an thì sẽ bình an


Pháp sư Thánh Nghiêm có một câu nói nổi tiếng:
"Tâm an thì sẽ bình an."
Có người hỏi tôi:
"Đúng không?"
Tôi đáp:
"Đúng!"
Người hỏi:
"Đã đúng, sao ngài còn phê bình?"
Tôi đáp:
"Câu nói này đúng một trăm phần trăm. Nhưng vấn đề là, người đời đều không thể tâm an, nên nói ra cũng như không."
Người hỏi:
"Vậy ngài Lư Thắng Ngạn hãy nói thử xem!"
Tôi đáp:
"Muốn tâm an, cần phải minh tâm khai ngộ mới được!"
Người hỏi:
"Làm sao để minh tâm khai ngộ?"

🌟

Tôi đưa ra một ví dụ:
Thần Quang đến gặp Tổ sư Đạt Ma.
Thần Quang nói:
"Tâm con không an."
Đạt Ma đáp:
"Hãy đưa tâm ra đây, ta sẽ giúp ngươi an tâm."
Thần Quang nói:
"Con tìm mãi tìm hoài, không thể tìm thấy tâm của mình."
Đạt Ma đáp:
"Ta đã giúp ngươi an tâm rồi đó!"

Tôi nói:
Tìm mãi tìm hoài, không thể tìm thấy tâm của mình. Đây là người vô tâm, chỉ có vô tâm, tâm mới có thể an!
Người hỏi:
"Ngài Lư Thắng Ngạn là người như thế nào?"
Tôi đáp:
"Vô tâm đạo nhân!"
Tôi thành thật nói với mọi người, hãy tham cứu "vô tâm đạo nhân" này, bạn sẽ hiểu được:
"Khai ngộ là cái gì!"

🌟

Có thánh nhân nói:
"Người học Phật, trước tiên phải điều tâm, luôn giữ tâm chuyên nhất thì tâm thần mới có thể định, định rồi mới có thể vào cửa Phật."
Ăn cần tiết chế.
Mặc cần đơn giản.
Ở cần giản dị.
Đi cần giữ tĩnh.
(Đây là tướng bên ngoài.)
Ý niệm hướng về Phật, không quên một giây.
Thân không chạm vật, tránh bị mê hoặc.
Miệng không nói bậy, cẩn thận đừng nói nhiều.
Người học Phật, điểm này cần làm trước.

🌟

Có một người da trắng đến gặp tôi và nói:
"Tôi đã đắm chìm trong ba điều: một là tình dục. Hai là ma túy ảo giác. Ba là nhạc rock. Tôi đã nghiện trong mười năm. Thầy có thể cứu tôi bằng cách nào?"
Tôi gia trì cho anh ta, và anh ta đột nhiên cảm thấy tâm trí trống rỗng.
Anh ta nói:
"Bỗng nhiên, tôi cảm thấy như mình được tẩy sạch, toàn thân không còn cảm giác ô uế nữa."
Anh ta nói:
"Từ hôm nay, tôi sẽ bắt đầu thiền định!"
Người da trắng này thực sự đã thiền định mỗi ngày!

Tôi nói với mọi người:
"Nhận được đại gia trì từ Căn bản Thượng sư là điều quan trọng nhất, vô cùng quan trọng."


### 05. Tâm mới phát và tâm dài lâu


Người hỏi:
"Khi mới học Phật, tôi vừa mới phát tâm, tu hành rất mạnh mẽ. Nhưng, sau đó càng ngày càng cảm thấy lười biếng, tại sao vậy?"
Tôi đáp:
"Người thường đều như vậy."
Người hỏi:
"Làm sao để giữ được lâu dài?"
Tôi đáp:
"Đạo tâm phải kiên cố, thật sự không dễ dàng, bản tính con người luôn khó giữ đạo tâm kiên cố."

Tôi nói:
Đời sống của phù du chỉ có một ngày, một ngày đó chính là một đời.
Chúng ta con người tuy có trăm năm, trăm năm cũng chỉ là một đời.
Theo tôi:
Một ngày một đời hay trăm năm một đời, không có gì khác biệt.
Tại sao tôi nói như vậy?


### 27. Giải thích đơn giản về sáu pháp thành tựu


Trong cuốn sách này, tôi không muốn giải thích tỉ mỉ về sáu pháp Naropa, nên tôi chỉ nói sơ qua một chút. 

Sáu pháp này là nói đến:
Chuyết hỏa.
Huyễn thân.
Mộng quán.
Tịnh quang.
Trung ấm.
Phowa.
Tôi nói:
Chuyết hỏa đã từng nói kĩ càng.
Huyễn thân có thể dùng pháp Kính quang để tu, từ thân như huyễn, ngữ như huyễn, tâm như huyễn mà tiến nhập huyễn thân thanh tịnh.
Bạn ở ngoài gương và bạn ở trong gương, Bổn tôn ở trên gương, ba hợp thành một.
Lúc này, sản sinh biến hóa và hiển hiện. Sinh ra tâm xuất ly.

🌟

Tu trì Mộng quán cần chú ý: (Pháp này tu thành, chứng bình đẳng tính.)
Thời gian.
Thân thể.
Dục vọng.
Cảnh giới.
Thổ nạp.
Sau khi thành tựu, hóa giải mộng, cải biến mộng, trong mộng tăng ích, trong mộng có thể tu.
(Tôi luôn cho rằng, con người chết đi giống như giấc mơ, nếu như biết là giấc mơ, hiểu giấc mơ, thì có thể tu hành trong mơ, đạt giải thoát trong mơ.)
Trong đó đã bao gồm cả pháp “cổ-sa-lý”. 
[Cổ-sa-lý trong tiếng Phạn có nghĩa là ăn mày, ở đây cổ-sa-lý chỉ pháp tu bố thí thân thể, tức pháp thí thân, vì người ăn mày không có tiền bạc tài bảo gì cả, chỉ có đem thân thể ra để trên cúng dưới thí.]

🌟

Pháp Tịnh quang bao gồm:
Miên quang pháp. (công đức thù thắng)
Cân quang minh. (ánh sáng thực tế)
Đạo quang minh. (ánh sáng tính Không)
Quả quang minh. (ánh sáng tan vào nhau)
Giác thọ quang minh. (hiện chứng bồ đề)

🌟

Pháp Trung hữu phải chú trọng trung ấm nghe dạy, trong lúc trung ấm phải hướng về Bổn tôn.
Bình thường biết rõ.
Điều quan trọng lúc lâm chung.
(Phải nói bằng miệng, đoạn trừ tất cả tham chấp, giữ nghiêm samaya, cúng dường cầu thỉnh Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp gia trì.)
Bao gồm:
Trở về với đạo.
Che chắn cửa thai.
Chọn thai thọ sinh.
Mở thiên môn. (trung ấm thành Phật)

🌟

Pháp Phowa, xạ khí đi ra đỉnh đầu.
Khai đỉnh xong thì phải:
Tịnh nghiệp.
Giữ giới.
Từ lỗ đỉnh đầu xuất trung ấm. Đắc Ứng thân, Báo thân, Pháp thân, ba đại thành tựu.
Phowa có thể nói là di chuyển thần thức, đem a-lại-da thức di chuyển đến sát thổ thanh tịnh của Bổn tôn.
Tôi nói:
Sáu pháp thành tựu này đều có sự tương thông với nhau. Chuyết hỏa, Huyễn quán, Mộng quán, Tịnh quang, Trung hữu, Phowa. Cần chú ý là pháp Phowa không được tu không đúng lúc, chỉ có thể duy trì nó. Nếu tu không đúng lúc thì sẽ chết yểu, sẽ thành mắc tội tự giết mình.
Sáu pháp thành tựu này đã có nhiều hành giả giải thích, nếu tôi nói kĩ càng thì tự cảm thấy không ổn thỏa.
Tôi chỉ nói rằng:
Đây là phân nhánh.
Trong tu pháp có thể tiếp tục suy luận ra. 

Cái gọi là:
1 tuổi — khởi đầu một chương.
10 tuổi — học tập khẩn trương.
20 tuổi — tuổi trẻ đau thương.
30 tuổi — sự nghiệp tìm đường.
40 tuổi — bắt đầu phát tướng.
50 tuổi — tuy già vẫn gượng.
60 tuổi — huyết áp bất thường.
70 tuổi — trí nhớ ẩm ương.
80 tuổi — run rẩy chuyện thường.
90 tuổi — mất dần phương hướng.
100 tuổi — ảnh treo trên tường.

Nghĩ về thời thơ ấu, thiếu niên, thanh niên, trung niên, tuổi già và cái chết. Có gì khác so với phù du?
Nghĩ xem, thời gian như mũi tên.
Một đi không trở lại, làm sao có thể lãng phí thời gian sống?
Phật là bậc nhất.
Bồ Tát là bậc nhì.
Đế vương là bậc ba.
Anh hùng hào kiệt là bậc bốn.
Phú quý công danh là bậc năm.
Tiếp theo là những nhân vật phong vân thuộc bậc sáu.
Rồi đến bậc bảy, tám, chín, mười.
Vạn điều đều thấp kém.
Chỉ có học Phật là cao.

Hãy nghĩ xem:
Chỉ có Phật mới là vĩnh hằng, Bồ Tát mới là vĩnh hằng.
Tất cả những cái khác đều luân hồi trong sáu cõi.

我們學的是：

解脫生死。

自了生死。

無生無死。

無死無生。

立乎天地之間，超乎天地之外！

我們要時時自己勉勵自己，才能道心堅固，有長遠心。

常常如此想。

道心不會退。

學佛人是志願最大。

學佛人是志願最遠。

學佛人是志願最堅。

要想一想啊！世上萬事萬物，全在「無常」之中，也都是「不可得」的。

唯有學佛才是最有意義的。

「存思」至此，至重、至重，至要、至要。常常自勉，道心不退。

我能夠堅持，是明乎此也，世上之人，不可不知，做一個上上人吧！尤其有了「相應」，更當努力向上！

Những gì chúng ta học là:
Giải thoát sinh tử.
Tự giải quyết sinh tử.
Không sinh không tử.
Không tử không sinh.
Đứng giữa trời đất, vượt ra ngoài trời đất!

Chúng ta phải luôn tự khích lệ bản thân thì mới có thể kiên cố đạo tâm, có tâm lâu dài.
Thường xuyên nghĩ như vậy.
Đạo tâm không lùi.

Người học Phật có chí nguyện lớn nhất.
Người học Phật có chí nguyện xa nhất.
Người học Phật có chí nguyện kiên cố nhất.

Hãy suy nghĩ xem! Vạn sự vạn vật trên đời đều nằm trong vô thường, cũng đều là không thể đạt được.
Chỉ có học Phật mới là điều có ý nghĩa nhất.

Suy nghĩ đến đây, vô cùng quan trọng, vô cùng quan trọng, vô cùng thiết yếu, vô cùng thiết yếu. Thường xuyên tự khích lệ, đạo tâm không lùi.

Tôi có thể kiên trì là do hiểu rõ điều này, người đời không thể không biết, hãy làm một người thượng thượng! Đặc biệt khi đã có tương ứng, càng phải nỗ lực tiến lên!


### 06. Hãy lên núi đi


Khi thân tâm bạn đang ở giữa bụi trần cuộn xoáy, trong thế giới rộn ràng huyên náo, trong một thế giới ồn ào hỗn độn, bạn cứ mãi phiêu bạt, tâm trí chập chờn, hoang mang bất định.
Bạn rất muốn tìm một bến cảng yên tĩnh để nghỉ ngơi.
Sao không lên núi đi?

Đi để ngắm:
Cỏ xanh mềm mại như thảm.
Xuân ấm hoa nở.
Sức sống tràn đầy.
Đón chào ánh bình minh.
Hoặc như một cánh bướm, bay lượn giữa trăm hoa, mỏi mệt rồi, đơn độc đậu trên một chiếc lá, xếp cánh lại, lặng lẽ vô âm.
Bước vào cõi tĩnh lặng.
Bạn đã thoát khỏi trần tục rồi, yên bình như dòng suối róc rách, mọi xáo trộn, hỗn loạn đều theo gió mà đi!

Sắc.
Thanh.
Hương.
Vị.
Xúc.
Tất cả đều biến mất!
Chân lý tự nhiên dường như bao quanh bạn.

Đi qua khu rừng tĩnh lặng, đến với ngọn núi xanh hùng vĩ, trên đỉnh núi.
Bạn cảm nhận được:
Bao la.
Hùng vĩ.
Mênh mông.
Bạn sẽ hiểu rằng, một ngày nào đó, bạn sẽ không còn gì cả, và bạn cũng sẽ biết rằng bạn không mất đi điều gì.
(Không được không mất.)

Bây giờ bạn sẽ biết:
Trống rỗng.
Hư vô.
Vô tận.
Nhưng, từ đây bạn sẽ đạt được bảo vật như ý, báu vật không thể diễn tả.

Bạn sẽ biết:
Trước đây, bạn theo đuổi danh lợi, hưởng thụ rượu ngon gái đẹp, liệu sự phồn hoa này có phải lý tưởng cả đời của bạn?
Hiện tại:
Bạn sẽ hiểu rằng, giấc mơ thực tại mơ hồ, mê muội đã rời xa bạn!
Lên núi ẩn cư sẽ giúp bạn tỉnh thức!

🌟

Để trời người hợp nhất thì phải có trạng thái tâm như vậy.
Để tương ứng thì phải có môi trường như vậy.

Bạn có biết:
Tôi ẩn cư ba năm tại Linh Tiên Các ở Ballard Seattle Hoa Kỳ là vì điều gì không?

Tôi đã:
Khổ học khổ tu.
Khổ hạnh khổ luyện.
Nhà tranh phòng nhỏ, không phải khổ!
Cơm đạm nước lã, không phải khổ!
Áo rách giày cỏ, không phải khổ!

Cuối cùng:
Không tham cầu.
Không đố kỵ.
Không oán than.
Không khổ vui.
Tu hành muốn đạt đến "Một", khẩu quyết là:
"Không sắc thanh hương vị xúc".


### 07. Chín năm cô tịch


Tính ra thời gian tôi ẩn cư, cô đơn tịch mịch, tổng cộng là chín năm chín tháng.
Ballard ở Seattle — ba năm.
Tahiti, Đài Loan, Seattle — ba nơi này, tổng cộng sáu năm chín tháng. 
Ba năm cộng với sáu năm chín tháng, tất cả là chín năm chín tháng.
Tôi đã ẩn cư tổng cộng chín năm chín tháng.

Ngoại trừ thời gian ăn uống và vận động, toàn bộ thời gian còn lại đều dành cho việc tu trì Phật pháp.

🌟

Thành thật mà nói:
Khi tôi ẩn cư tại Linh Tiên Các và ẩn cư tại Hồ Diệp Tử, lúc mới bắt đầu, tôi đã rơi vào trạng thái trầm cảm nhẹ:
Tâm trạng sa sút.
Mất động lực.
Suy nghĩ u ám.
Bóng tối bao phủ.
Đến mức mỗi cảm nhận đều dễ dàng làm rơi nước mắt tôi.
Cá vàng trong bể cá.
Cống nước dưới đất khi đi dạo.
Những côn trùng nhỏ bé.
Những chú chim xinh xắn.
Cái chết của Tố Minh ở bang New Jersey.
.......
Tất cả đều khiến tôi cảm thấy buồn bã trong nhiều ngày, thậm chí mất ngủ.

🌟

Tôi nhớ trước khi bế quan ẩn cư, lúc đó tôi còn là một thanh niên, đang học tập trước mặt Liễu Minh Hòa Thượng, trong khu rừng rậm trên núi, có một sườn dốc thẳng đứng.

Trên sườn dốc có một căn nhà nhỏ, vuông vức, một cửa ra vào một cửa sổ nhỏ, bên trong không có âm thanh cũng không có động tĩnh, không thể nhìn vào bên trong, cũng không biết căn nhà nhỏ chỉ rộng khoảng bảy mét vuông này có ý nghĩa gì.

Tôi hỏi Sư phụ:
"Căn nhà nhỏ này dùng để làm gì?"
Sư phụ đáp:
"Bế quan!"
Tôi hỏi:
"Bế quan để làm gì?"
Sư phụ đáp:
"Tìm lại chân ngã của mình."

Lúc đó tôi nửa hiểu nửa không, tự nhốt mình lại, tìm lại bản thân, cần gì chứ?
Tôi nghĩ thầm:
"Tương lai tôi tuyệt đối sẽ không làm chuyện ngốc nghếch như vậy, tự nhốt mình lại, mất đi tự do."
Tôi chưa từng nghĩ đến chuyện ẩn cư bế quan.
Nhưng.
Khi thời điểm đến, thực sự chính mình đã ẩn cư, thật là vô thường.

🌟

Sau đó.
Trong thời gian ẩn cư, tôi cầu nguyện với Bổn tôn, quỳ trước đàn thành và khóc nức nở.
Trong đôi mắt đẫm lệ, tôi thấy Bổn tôn hiện ra, mỉm cười, ánh nhìn bí ẩn và sâu sắc, đưa tay xoa đầu tôi.
Ngài nói:
"Ta ban gia trì cho con! Con hãy nhìn kĩ vào chính mình!"
Lập tức, mọi thứ trở nên phi thường!

Tôi tỉnh ngộ.
Tôi bắt đầu tu tập Tiền hành.
Tu tập Chính hành.
Tu tập Hậu hành.
Tu tập tất cả pháp bí mật.
Tôi đạt được trạng thái một lần giác ngộ là mãi mãi giác ngộ.
Đây chính là công đức của việc ẩn cư.


### 08. Phật Đà ba lần chuyển pháp luân


Quan điểm của tôi về ba lần chuyển pháp luân của Đức Phật là:
Lần chuyển pháp luân thứ nhất — Tứ diệu đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo.
Đây là tu tập của A La Hán.
Lần chuyển pháp luân thứ hai — Bát Nhã thừa.
Đây là tu tập của Bồ Tát.
Lần chuyển pháp luân thứ ba — Mật thừa.
Đây là tu tập thành Phật.

Nhưng, nói chung:
Ba thừa là một thừa.
Một thừa là không thừa.

Phật Đà nói:
"Thuyết pháp bốn mươi năm, chưa từng nói được một chữ."
Đây là:
"Không thể nói! Nói ra thì không phải đạo."
Đây cũng là:
Trời nào có nói gì đâu! Bốn mùa vẫn vận hành!
Trời nào có nói gì đâu! Vạn vật vẫn sinh sôi!
Trời nào có nói gì đâu! Không nói, không nói!

Tôi viết đoạn này là để nói với mọi người:
"Rất nhiều người thuộc lòng Kinh Kim Cang, Kinh Tâm. Rất nhiều người biết viết Kinh Kim Cang, Kinh Tâm. Nhưng không hiểu ý nghĩa của kinh, biết làm sao!"
"Ý nghĩa của kinh là gì?"
Tôi đáp:
"〇".
Nếu bạn hiểu được "〇".
Thì bạn sẽ biết:
"Không."
"Bất không."
"Không không."
Trong đây chứa đựng điều vĩ đại nhất, tối thượng nhất, không gì sánh bằng:
"Khẩu quyết".
Đây chính là quan điểm về ba lần chuyển pháp luân.

🌟

Tôi nói:
Lần chuyển pháp luân đầu tiên chính là công phu!
Từ việc đóng lại mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.
Tức là đóng lại sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.
Cũng chính là:
"Không có cảnh giới của mắt."
"Không có vô minh."

Trở thành:
Quay về trạng thái của trẻ thơ.
Quay về trạng thái của hài nhi.
Quay về trạng thái của đứa trẻ.
Tôi ở đây xin tuyên bố thêm một câu:
"Quay về trạng thái của bào thai trong tử cung!"
Đây là khẩu quyết để bắt đầu.

Thiền tông nói:
Bản lai diện mục trước khi cha mẹ sinh ra.
Không đánh mất tâm hồn trẻ thơ.
Quay về nguồn cội.

Đây chính là điều Đạo gia gọi là:
Từ hậu thiên trở về đến cảnh giới tiên thiên.
Là trí tuệ khí của Mật giáo.
Là giết sáu giặc của A La Hán!

Những điều này, cách dùng từ có khác nhau, phương pháp có điểm giống và khác, nhưng chủ ý cao nhất thì đồng nhất.
Đây chính là bản thể, theo đuổi công phu bản thể, thì có thể tiếp cận với đạo.
Giữ vững điều này không rời, chính là "Một", như gà ấp trứng, lâu ngày sẽ phá vỏ mà ra.
Đốn siêu thánh địa.


### 09. Tất cả làm "Một"


Lão Tử nói:
"Người có thể chuyên nhất, vạn sự xong xuôi!"
Khổng Tử nói:
"Một xâu xuyên suốt."
Phật Đà nói:
"Một thừa."
Đạo gia nói:
"Luyện tinh hóa khí, luyện khí hóa thần, luyện thần hoàn hư."
Sau này, thêm một câu:
"Luyện hư hoàn đạo."
Đây cũng là đạo lý của "Một".
Hồi hướng của Tịnh Độ tông:
"Nguyện người cùng niệm Phật, cùng sinh cõi Cực Lạc, trên báo bốn ơn sâu, dưới cứu ba đường khổ, thấy Phật thoát sinh tử, như Phật độ tất cả."
Đây là "Một".

Tất cả quay về "Một" của cõi Cực Lạc.
Thiền tông, Tịnh Độ tông:
"Vạn niệm quy về một niệm!"
Mật tông nói:
"Yoga nhất vị."
Kitô giáo nói:
"Đấng duy nhất, Đức Chúa Trời Jehovah."
Mật tông có Hội Quang Minh Tử Mẫu:
"Tu luyện ánh sáng của chính mình (ánh sáng con), với ánh sáng của vũ trụ (ánh sáng mẹ), hợp nhất với nhau, quay về hòa nhập vào biển đại quang minh của Tỳ Lô Giá Na."
Tất cả đều là:
"Một".

🌟

Tu pháp Gia hành trong Mật giáo là xây dựng nền tảng của Mật giáo, điểm này vô cùng quan trọng.
Nền tảng càng vững chắc, tương lai càng dễ thành tựu.
Không nên xem thường pháp Gia hành.
Pháp Gia hành là pháp nền tảng.
Pháp Gia hành là điểm cơ bản của tất cả các pháp.

Chúng ta hãy xem:

Pháp đại lễ bái:
Lễ bái phủ phục toàn thân, ba bước một lạy, bất kể là đi vòng quanh núi, quanh hồ, hay đến thánh địa, tất cả đều thể hiện lòng thành kính nhất tâm.
Quán tưởng Bổn tôn ở trước mặt, nhất tâm nhất ý đại lễ bái phủ phục toàn thân.
(Hàng phục lòng kiêu mạn của chính mình.)

Pháp đại cúng dường:
Dùng đại mandala cúng dường, tương đương với việc cúng dường thất trân bát bảo của toàn vũ trụ, dùng "Một" cúng dường "Một".
(Hàng phục tư tâm của chính mình.)

Chú tứ quy y:
Nam mô Kim cương Thượng sư, Nam mô Phật, Nam mô pháp, Nam mô tăng.
Namo guru bhya (quy y Kim cương Thượng sư), Namo Buddhaya (quy y Phật), Namo Dharmaya (quy y pháp), Namo Sanghaya (quy y thánh tăng).

(Nhất tâm quy y Kim cương Thượng sư, Phật pháp tăng. Thực ra đó là một quy y, cuối cùng là quy y tự tính.)

Pháp đại sám hối:
Tụng Kim Cang Tâm Bách tự minh chú, đạt vạn vạn biến.
(Tiêu trừ nghiệp chướng của chính mình, pháp nghĩa của Bách tự minh chính là không tính, cũng chính là Phật tính.)

Bốn loại pháp này, thực hành càng nhiều càng tốt, mười vạn, trăm vạn, nghìn vạn......

🌟

Pháp Gia hành ở trên là để đi sâu nâng cao năng lực tập trung của chính mình, thông qua thân thể, thủ ấn, tụng niệm, quán tưởng, để đạt được sự thanh tịnh hợp nhất của thân, khẩu, ý.

Thực hành tu tập với tinh thần tập trung có thể đưa bạn vào trạng thái chuyên chú thực sự không vọng niệm.
Hết sức chăm chú.
Rèn luyện những ý niệm phân tán, trôi dạt của mình, để có thể đạt được:
"Một".


### 10. Pháp nghĩa của pháp Guru Yoga


Xin lưu ý các dòng chữ sau đây:
Nguyện tất cả hóa thân của chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, chư Thiên - Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn trường thọ khỏe mạnh, hoằng pháp như ý, tất cả cát tường.
Nguyện tất cả chướng ngại cho Phật sự của Ngài nhanh chóng được tiêu trừ, thành tựu Đại Viên Mãn.
Nguyện Ngài tự tại, tự nhiên chuyển hóa, mỗi đời đều có thể thành tựu sự cứu độ thiêng liêng.
Bản thân tôi là đệ tử có đạo tâm kiên cố thực tu, sự gia trì của Lư Sư Tôn là nguyên nhân chính để tiêu trừ nghiệp chướng và phiền não.
Tôi nguyện hợp nhất với Thượng sư.
"Om guru liansheng siddhi hum."

Trên đây:
Chính là pháp nghĩa của pháp Guru Yoga.

🌟

Pháp Vương Liên Sinh là người có đức.
Pháp Vương Liên Sinh là người có ân.
Pháp Vương Liên Sinh là người có pháp.
Pháp Vương Lư Thắng Ngạn và các vị thầy Phật pháp khác, rõ ràng có điểm khác biệt.
Ngài thuyết pháp trên pháp tọa.
Ngài thuyết pháp trong cuộc sống.
Ngài cũng thuyết pháp trong mơ.
Mỗi lời nói, mỗi hành động của Ngài đều là pháp.
Chính thức hay không chính thức, nghiêm túc hay không nghiêm túc. Phần nhiều, chỉ cần ở bên Ngài, từ Ngài tỏa ra sức mạnh vô song.
Bạn sẽ kiên định đạo tâm!
Để duy trì mối liên kết quý báu và khó có được này, bạn phải nghiêm túc thực hành:
"Pháp Thượng sư Yoga".

Quán tưởng pháp tướng của Ngài.
Kết thủ ấn của Ngài.
Tụng tâm chú của Ngài:
"Om guru liansheng siddhi hum."
Nhập định.
Hợp nhất với Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - Căn bản Thượng sư của mình.

🌟

Bạn chính là Phật.
Căn bản Thượng sư là Phật.
Phật và Phật hợp nhất.

Cuộc đời là một sân khấu.
Phật đang vui đùa.
Bạn đang vui đùa.
Kết một duyên vui đùa, duyên này mãi mãi kết nối với nhau.
Mãi mãi sống động.

🌟

Tôi kể bạn một câu chuyện nhỏ:
Có một đệ tử trẻ, anh ấy bị ung thư.
Bác sĩ mổ cơ thể anh ấy ra, rồi khâu lại, vì ung thư của anh ấy không thể cắt bỏ được.
Anh ấy vô cùng đau đớn.
Vì đã không còn hy vọng nữa!
Mỗi ngày anh ấy quán tưởng Thượng sư, niệm tâm chú Thượng sư, tuyệt vọng cầu xin Thượng sư tiếp dẫn.

Cho đến một ngày.
Anh ấy mơ thấy Căn bản Thượng sư đưa anh đến Ma Ha Song Liên Trì một chuyến.
Sau khi trở về.
Cơn đau của anh ấy biến mất.
Chỉ số ung thư của anh ấy trở về bình thường.
Ung thư biến mất.
Anh ấy sống khỏe mạnh bình an.

Xin nói với mọi người:
Đây chính là tương ứng Thượng sư!


### 11. Yếu nghĩa của thứ tự bốn bộ pháp


Bốn bộ pháp của Mật giáo phân biệt là:
Sự bộ.
Hành bộ.
Du già bộ.
Vô thượng bộ.

Tôi nói yếu nghĩa như sau:
Sự bộ – Bất kì chi tiết nào, đều làm theo trình tự từng bước.
Hành bộ – Chú trọng vào những điểm quan trọng.
Du già bộ – Chỉ dùng tâm niệm.
Vô thượng bộ – Như mộng như huyễn.

Lại nữa:
Sự bộ — Hiện thực.
Hành bộ — Biểu tượng.
Du già bộ — Tâm.
Vô thượng bộ — Siêu hiện thực.

Lại nữa:
Sự bộ — Phức tạp.
Hành bộ — Ít phức tạp hơn.
Du già bộ — Sức mạnh tâm.
Vô thượng bộ — Tự nhiên.

Với cách phân định như vậy của tôi, mọi người có lẽ đã có ấn tượng, khi học Mật giáo, bắt đầu từ Sự bộ, cuối cùng đạt đến Vô thượng bộ. Từ phức tạp đến đơn giản, từ thô đến tinh tế, tinh tế đến mức không còn gì, đó chính là vô thượng thượng.

Tương đương với:
Sự bộ — Thô.
Hành bộ — Tinh tế.
Du già bộ — Tinh tế nhất.
Vô thượng bộ — Không thô không tinh tế.

Tôi lấy Sự bộ trong bốn bộ pháp để giải thích:
Phải quy y.
Phải phát bồ đề tâm.
Phải sám hối.
Phải tích lũy tư lương.
Về phần chi tiết:
Đảnh lễ, cúng dường, sám hối, tùy hỷ, thỉnh chuyển pháp luân, thỉnh trụ thế, hồi hướng. Mỗi một chi tiết đều phải thực hiện đầy đủ. 
Ví dụ:
Làm đàn thành.
Tụng kinh.
v.v…

Nếu là Du già bộ:
Tự thân chính là đàn thành.
Tự thân thành tất cả, tất cả tức là một.

Nếu là Vô thượng bộ:
Tự nhiên.
Tự tại.
Thành tựu tất cả.

Tôi lấy thêm một ví dụ về pháp tu Hộ Ma (Hỏa cúng), Sự bộ pháp cần chú trọng: 1. Chọn ngày giờ. 2. Đầy đủ tín nguyện. 3. Tư thế và hướng ngồi. 4. Màu sắc y phục. 5. Bố trí đàn thành. 6. Lựa chọn cúng phẩm. 7. Ý nghĩa biểu tượng của cúng phẩm. 8. Gia trì cúng phẩm. 9. Gia trì tịnh thủy. 10. Gia trì chuông chày. 11. Thắp lửa. 12. Sinh khởi Bổn tôn. 13. Hòa nhập vào Bổn tôn. 14. Gia trì bằng thủ ấn. 15. Nhiếp thụ cầu nguyện. 16. Cầu nguyện. 17. Sám hối. 18. Cung tiễn. 19. Hồi hướng. v.v… 

Lại nữa:
Sự bộ — Chuyên nhất.
Hành bộ — Ly hí.
Du già bộ — Nhất vị.
Vô thượng bộ — Vô tu.

Tôi nói với mọi người:

Ngoài thứ tự chín thừa, bốn bộ pháp rất được coi trọng, trước tiên hiểu bốn bộ pháp, sau đó hòa nhập vào tu chín thứ tự. 
Chín thứ tự là:
Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát.
Sự bộ, Hành bộ, Du già bộ.
Đại Du già, A Nô Du già, A Để Du già. [Maha yoga, Anu yoga, Ati yoga]


### 12. Pháp hoán đổi mình và người khác (ta và người là một)


Phật giáo chú trọng phát bồ đề tâm.
Ba điểm trọng yếu của Mật giáo:
Phát tâm bồ đề.
Tâm xuất ly.
Trung quán chính kiến.

Vì vậy, bồ đề tâm là điều quan trọng hàng đầu.

Khi Tôn giả Atisa cầu pháp với Đại sư Kim Châu, Đại sư Kim Châu đã truyền dạy cho Tôn giả Atisa rất nhiều phương pháp phát bồ đề tâm, những phương pháp này rất đa dạng.
Một, biết ơn.
Hai, nhớ ơn.
Ba, báo ơn.
Bốn, hoan hỷ.
Năm, đại từ.
Sáu, tương ứng pháp phát tâm.
Bảy, phát bồ đề tâm.
Tám, pháp bình đẳng.
Chín, pháp hoán đổi mình và người khác.
Mười, lợi người.

Tôi cảm thấy pháp hoán đổi mình và người khác rất hay, vì vậy tôi thường dùng pháp hoán đổi mình và người khác để giáo hóa chúng sinh. Đây là một khẩu quyết quan trọng để phát bồ đề tâm.

Đại thánh nhân Trung Quốc Khổng Tử nói:
"Điều mình không muốn, chớ làm cho người!"
Đó chính là:
Pháp hoán đổi mình và người khác!

Ví dụ:
Bạn có thích bị người khác giết không? Không!
Vậy bạn không được giết người.
Bạn có thích đồ của mình bị người khác trộm cắp không? Không!
Vậy bạn không được trộm cắp của người khác.
Bạn có thích bị người khác bạo hành không? Không!
Vậy bạn không được bạo hành người khác.
Bạn có thích bị người lừa gạt, bị người vu khống, bị người mắng chửi không? Không!
Vậy bạn không được lừa gạt người.
Bạn không được vu khống người khác.
Bạn không được mắng chửi người khác.

Lại ví dụ:
Bạn nhìn thấy một người nghèo không nơi nương tựa đang nhặt rác để ăn.
Hoán đổi mình và người.
Bạn sẽ phát tâm bồ đề để giúp đỡ họ.
Bạn nhìn thấy một người bị bệnh, chịu đựng nhiều đau đớn vì bệnh tật.
Hoán đổi mình và người.
Bạn sẽ cảm thông với họ, hỗ trợ họ.
Bạn nhìn thấy một người già cô đơn không nơi nương tựa.
Hoán đổi mình và người.
Bạn phát tâm làm tình nguyện viên giúp đỡ người già.
Cứ như thế .........

Do đó pháp hoán đổi mình và người khác là một khẩu quyết quan trọng.
Chúng ta là người học Phật, phải biết ơn, trời, đất, quân vương, cha mẹ, thầy cô, tất cả đều là ơn.
Vì vậy phải báo ơn.

Mọi người đều bình đẳng, bởi vì mỗi người đều có đầy đủ Phật tính.
Lợi tha, tự giác giác tha, tự lợi lợi tha, làm một vị Bồ Tát chắc chắn phải lợi tha.

Tôi thường nói:
Từ – Đi cứu khổ cứu nạn. Mang lại niềm vui cho người!
Bi – Loại bỏ nỗi đau khổ của người.
Hỷ – Vui vẻ làm.
Xả – Xả với tâm bình đẳng.

Đã phát nguyện thì phải thực hành, hành bồ đề tâm chính là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ.
Người học Phật nếu rời xa những điều này, thì đó là:
"Người học ma!"


### 13. Phải nhìn thấu tâm xuất ly


Tôi thích đọc thơ của Trạng nguyên La, tổng cộng có hai mươi bài, tất cả đều viết về xuất ly, mọi người hãy xem:

Tham lợi cầu danh khắp thế gian
Không bằng áo rách đạo nhân nhàn
Gà lồng có ăn gần nồi luộc
Hạc hoang không lương trời đất rộng
Giàu sang trăm năm khó bảo tồn
Luân hồi sáu nẻo dễ tuần hoàn
Khuyên bạn sớm lo đường tu tập
Đánh mất thân người vạn kiếp nan.

Và:

Vinh nhục xôn xao đầy trước mắt
Ai biết an phận sống tùy duyên
Thân nghèo ít lo là phúc lành
Danh trọng như núi gây thêm oán
Cơm nhạt đủ để no một bữa
Áo gấm nào được mấy nghìn năm
Thế gian lớn nhất là sinh tử
Bạch ngọc hoàng kim đều vô ích.

Và:

Áo cơm không thiếu tu cho tốt
Đời người trên đời như phù du
Thạch Sùng chưa hưởng nghìn năm phú
Hàn Tín uổng công mười mặt mưu
Hoa rụng ba năm chim oanh hận
Cúc nở chín tháng nhạn ôm sầu
Núi rừng yên tĩnh nhiều niềm vui
Sao phải phong quan cầu hư vinh.

Và:

Suốt ngày bận rộn không dừng dứt
Chẳng bằng lùi bước ẩn núi rừng
Áo vải che thân như gấm lụa
Rau rừng đỡ đói hơn thịt cá
Đời đời xôn xao như điện chớp
Luân hồi cuồn cuộn tựa mây bay
Hôm nay không tính chuyện mai này
Nào có công phu quản thị phi.

Và:

Vội vội vàng vàng khổ sở cầu
Lạnh lạnh ấm ấm trải xuân thu
Sớm sớm tối tối lo sinh kế
Mờ mờ mịt mịt vì mình mưu
Đúng đúng sai sai ngày nào dứt
Phiền phiền não não khi nào thôi
Rõ ràng sáng tỏ một con đường
Khăng khăng chối bỏ chẳng chịu tu.

Tôi liệt kê năm bài thơ này đã là đủ rồi.
Biết rõ thế gian không thể có được gì.
Bạn cầu cái gì?
Bạn được cái gì?

Trong Tâm Kinh đã viết rõ ràng:
"Vì vô sở đắc, Bồ Đề Tát Đỏa."

🌟

Lẽ nào bạn không biết sao?
Thế giới bên ngoài vô thường.
Thế giới tình cảm bên trong vô thường.
Thiên đế, nhân vương vô thường.
Anh hùng, hào kiệt vô thường.
Phú quý, danh vị vô thường.
Thanh xuân, nhan sắc vô thường.
Tất cả, tất cả đều vô thường.
Cách chết không định.
Cái chết chắc chắn đến.
Vậy bạn không tu hành, còn đợi gì nữa?

🌟

Phật Thích Ca Mâu Ni là thái tử, sống trong giàu sang, tương lai sẽ là quốc vương.
Có tài lực.
Phật Thích Ca Mâu Ni có Da Du Đà La làm vợ cùng vô số phi tần.
Có nữ sắc.
Phật Thích Ca Mâu Ni có danh vọng địa vị, tài học thông minh.
Có danh vị.
Tại sao thái tử lại xuất ly?

Bởi vì ngài đã thấy được sự vô thường của sinh, lão, bệnh, tử, do đó mới quyết định tu hành, tìm kiếm con đường giải thoát.
Thái tử hưởng thụ vô tận, còn từ bỏ được.
Chúng ta phàm phu tầm thường, sao không mau mau tìm cầu con đường giải thoát?
Xuất ly.

🌟

Tôi nói cho bạn biết:
Cuộc đời có ai không vương bụi
Ta sao có thể rảnh nghỉ ngơi
Ta sao có thể mê danh lợi
Kiên quyết không để vô thường tóm
Bái kiến minh sư đạo pháp cầu.

🌟

Nhanh lên! Nhanh lên! Nhanh lên!
Mau quay đầu! Mau quay đầu! Mau quay đầu!
Mới có thể thành Phật!


### 14. Thanh tịnh là Một


Thượng sư Thubten Dhargye của tôi khi viên tịch chỉ nói hai chữ:
"Thanh tịnh."

Tất cả chúng ta đều biết, học Phật chính là chuyển hóa:
1. Phát tâm: phát bồ đề tâm, cầu Phật quả.
2. Tu hành: tu tam mật hành, hướng đến Phật quả.
3. Chứng bồ đề: nương theo hành nhân, chứng quả vị.
4. Niết bàn: quả vị viên mãn, bất sinh bất diệt.
5. Phương tiện cứu cánh: tùy duyên tự tại.

Trong đó, tu tam mật hành là tu khẩu thanh tịnh, thân thanh tịnh, ý thanh tịnh.
Tất cả pháp niệm tụng, pháp tương ứng, pháp du già.
Là chuyển hóa tam nghiệp thành tam mật, tức là khẩu nghiệp chuyển hóa thành khẩu thanh tịnh, thân nghiệp chuyển hóa thành thân thanh tịnh, ý nghiệp chuyển hóa thành ý thanh tịnh, như vậy hướng đến Phật quả.

Ba căn bản của Mật giáo là:
Thượng sư — Căn bản gia trì.
Bổn tôn — Căn bản nhiếp thọ. (Căn bản thành tựu)
Hộ pháp — Căn bản sự nghiệp.
Tất cả đều dựa vào tam mật hành mà tu.

Tam nghiệp là:
Thân, khẩu, ý.
Chuyển hóa tam nghiệp thân khẩu ý thành thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh, đó chính là tam mật.
Như vậy đạt đến "thanh tịnh là một".

Tôi nói:
Pháp tương ứng Thượng sư.
Pháp tương ứng Bổn tôn.
Pháp tương ứng Hộ pháp.
Quán tưởng khi tu pháp khác nhau, chú ngữ khác nhau, thủ ấn khác nhau, nhưng, lý của chúng là một.

Nhập Tam ma địa chính là hợp nhất.
Thanh tịnh cũng là "Một".

🌟

Theo quan điểm cá nhân tôi:
Người học Phật biết rằng từ tam nghiệp tu tam mật, tuy thân, khẩu, ý là ba, nhưng thực chất cũng chỉ là một.
Thân, khẩu đều do ý điều khiển, nếu không có ý, thân và khẩu không thể tự mình hoạt động.

Ý chính là tâm.
Điều quan trọng nhất là tâm pháp.
Điều giống nhau ở mọi người chính là tâm này.
Điều khác nhau ở mọi người cũng chính là tâm này.

Vì Phật tính bình đẳng nên thánh phàm bình đẳng.
Nhưng sự khác biệt của tâm này là do tập tính khác nhau, che chướng khác nhau, ô nhiễm khác nhau, nên tâm mới khác nhau.
Vốn không sai biệt, là Phật tính không sai biệt.
Thánh phàm có khác, Phật và phàm phu có khác là vì không biết không hay ngày càng tăng thêm tập tính, ngày ngày đánh mất bản tâm, mới có sự phân biệt.
Tâm tập tính tăng một phần, Phật tính giảm một phần.

Phật pháp nói rằng:
"Buông dao đồ tể, lập tức thành Phật!"
Tức là:
"Quét sạch tập tính, lập tức thấy Phật tính!"
Chúng ta chỉ cần quét sạch tập tính cho đến khi tâm thanh tịnh, đó chính là pháp môn tâm địa.
Là pháp môn quán tâm.
Chú trọng tu dưỡng, chú trọng chuyển hóa.
Pháp tu này, các tông các phái nhau đặt tên gọi khác nhau, phương pháp khác nhau, nhưng đều là một loại pháp môn tâm địa.

Lão Tử chú trọng dưỡng tính.
Phật Đà chú trọng chế ngự tâm.
Khổng Tử chú trọng giáo hóa.
Chỉ cần thanh tịnh, chính là pháp môn nhất tâm.
Hướng đến Phật vậy! Đây chính là khẩu quyết.


### 15. Vọng tâm và chân tâm


Khi mới bắt đầu học Phật, điều thường gặp nhất là vọng tâm rất khó chế ngự, vô số vọng niệm liên tục xuất hiện.
Không chỉ người mới học như vậy, người tu lâu năm cũng vậy, có người cả đời vẫn như vậy.
Làm thế nào?

Tôi lấy một ví dụ:
Khi nước đục, làm sao để trong?
Chỉ có thể chờ đợi, đến khi cát bùn lắng xuống nước mới trong.
Một là: Không quan tâm.
Hai là: Đối trị.

Không quan tâm, lâu dần tự nhiên trong sạch.
Đối trị:
Thiền tông dạy bạn tham thoại đầu.
Tịnh Độ tông dạy bạn niệm Phật hiệu.
Mật giáo dạy bạn tu quán tưởng.
Luật tông dạy bạn giữ giới. (từ ngoài vào trong)
Đạo gia dạy bạn ý thủ đan điền. [tập trung ý nghĩ tại đan điền]

Và:
Chỉ quán song vận: khi không thể dừng lại thì dùng quán, khi quán lâu rồi thì dùng chỉ. Vừa chỉ vừa quán, vừa quán vừa chỉ, cho đến khi tất cả lắng trong.

Còn khẩu quyết của tôi là:
Tất cả mọi thứ trên đời đều vô thường.
Tôi căn bản không tồn tại (vô ngã tưởng).
Vô sinh tưởng.
Tất cả mọi thứ trên đời đều là ảo huyễn lớn.
Suy nghĩ về điều này, vọng niệm tạp tư tự nhiên giảm bớt, cho đến khi lắng trong mới thôi.

Tổ sư Đạt Ma nói:
Ngoài dứt các duyên.
Trong tâm không thở.
Tâm như bức tường.
Có thể nhập đạo.

Chân tâm làm sao xuất hiện?
Tôi thực sự nói cho bạn biết, giảm một phần vọng tâm sẽ hiện một phần chân tâm, vọng tâm một khi trừ bỏ chân tâm sẽ hiện toàn bộ.
Căn bản không cần nghĩ chân tâm làm sao hiện?
Chỉ cần vọng tâm được trừ bỏ.
Chân tâm sẽ tự nhiên xuất hiện! Bản lai diện mục sẽ tự nhiên được chứng kiến.

🌟

Chú quán không của Mật giáo:
"Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng."
Đây là quán không.
Quán tưởng thân thể mình trở thành "không minh".


![image](/img/img_80327a33c5d2c619cf9e3fd1301f46c3.png)


Bên trong không có gì cả.
Tôi sẽ tiết lộ cho mọi người một bí mật: Đây là lúc hiện tượng huyền bí xuất hiện.
Trong ngoài đều dứt.
Vật và ta đều quên.

Nếu phải nêu ra thực tế:
Bản nguyên tiên thiên hòa quyện.
Phật linh đi vào.
Bản lai diện mục xuất hiện.
Một tiếng "Hum", hư không vỡ tan.
Trống rỗng hoàn toàn.

Lúc này:
Phật đến không ảnh, ma đến không ảnh, tiên đến không ảnh, thánh đến không ảnh, tất cả đều sạch sẽ, vạn hữu đều không.
Tâm siêu việt mọi hình tướng.
Bản lai diện mục đã được chứng kiến.


### 16. Nghi quỹ đơn giản tu các vị của Mật giáo


Tôi ở đây, tiết lộ nghi quỹ đơn giản tu các vị của Mật giáo:

1. Pháp đại lễ bái.
2. Pháp đại cúng dường.
3. Pháp tứ quy y.
4. Pháp tứ vô lượng tâm.
5. Pháp mặc giáp hộ thân.
6. Pháp sám hối.
7. Kết thủ ấn.
8. Quán tưởng.
9. Trì chú.
10. Nhập định.
11. Xuất định.
12. Hồi hướng.
13. Niệm Bách tự minh chú.
14. Xuất đàn.
(Về nguyên tắc, 1 ~ 6 là Tiền hành. 7 ~ 10 là Chính hành. 11 ~ 14 là Hậu hành.)

Trình tự của Tiền hành có thể đảo thứ tự.
Chính hành nhất định phải quán tưởng trước rồi mới trì chú.
Hậu hành niệm Bách tự minh chú là để bổ sung những thiếu sót trong nghi quỹ.
Nhập định (nhập Tam ma địa) là điều quan trọng nhất.
Nếu không hiểu rõ, có thể nghiên cứu "Chân Phật Nghi Quỹ Kinh", văn tập Lư Thắng Ngạn quyển 81.

🌟

Nhận thức của cá nhân tôi là:
Nhập định là quan trọng nhất, nhập định chính là nhập Tam ma địa, cũng tức là "nhập ngã ngã nhập".
Nhập ngã - Bổn tôn nhập vào tâm của hành giả, hợp nhất.
Ngã nhập - ta nhập vào tâm của Bổn tôn, hợp nhất.
Bổn tôn và ta kết nối.
Chính là "Một".
Không hai không khác.

🌟

Nhập định là ngồi thẳng lưng, tập trung tinh thần, làm trong sạch tâm, tất cả trở thành không minh, chỉ còn lại một điểm ánh sáng.
Đây gọi là gom sáu phương làm một tinh minh, đây chính là tâm tính thanh tịnh không nhơ của hành giả.
Ánh sáng tự tính đi vào ánh sáng pháp giới. (Ngã nhập)
Ánh sáng pháp giới đi vào ánh sáng tự tính. (Nhập ngã)
Hợp nhất thành "Một".

Chính là như vậy, có vô lượng vô biên công đức không thể nghĩ bàn.
Nói đơn giản, công đức này có thể:
Tiêu trừ tai ương.
Tăng trưởng lợi ích.
Phát triển tâm kính ái.
Hàng phục.
Độ tất cả chúng sinh.
Đạt được trí tuệ tối thượng.

Biết tất cả pháp thế gian và xuất thế gian, thành tựu thân kim cang bất hoại, có đại uy quyền, có đại thần thông, khỏe mạnh trường thọ, đầy đủ các thần thông.

Tất cả quỷ thần cung kính nghe lệnh.
Tiêu diệt nghiệp tội phá giới, phỉ báng Phật, phỉ báng tăng, phỉ báng pháp, nói dối, ác khẩu.
Công đức nhập định này không thể nói hết, đây là khẩu quyết quan trọng nhất của việc nhập định trong Mật giáo.

Hiển giáo dạy người tu thiền, cũng là tu điều này.
Và Mật giáo dạy người nhập định, cũng tương tự là tu điều này.
Điều này là trọng điểm của tất cả các pháp.
Điều này có thể thành tựu, tức là:
Cứu cánh Niết bàn, chuyển thức thành trí, từ thể khởi dụng, không trụ vào sinh tử và Niết bàn, trực chứng vô thượng Chính đẳng Chính giác, viên chứng bồ đề.
Đây là pháp giải thoát.
Hơn nữa còn là pháp bồ đề.


### 17. Nghĩa bí mật của quán đảnh


Mật giáo chia làm bốn cấp độ quán đảnh:
1. Bình quán.
2. Mật quán.
3. Trí quán.
4. Đại viên mãn quán.

Bình quán — là tu Hóa thân.
Mật quán — là tu Báo thân.
Trí quán — là tu Pháp thân.
Đại viên mãn quán — là tu Pháp tính thân.

Thêm nữa:
Phạm vi bình quán — gia hành pháp, tư lương pháp, Bổn tôn pháp, Thượng sư pháp.
Phạm vi mật quán — tu khí, tu mạch, tu vô lậu, tu chuyết hỏa, tu minh điểm, tu huyễn thân, tu mộng huyễn, tu tịnh quang, tu phowa, tu trung ấm, tu thiên thức.
Phạm vi trí quán — nam tu, nữ tu, nghiệp ấn, đơn tu, song tu, Bổn tôn quán, mật xứ quán, đại lạc quán. (sinh tất cả công đức)
Phạm vi đại viên mãn quán — Trekcho, Togal. Chỉ và đốn siêu.
Thành tựu giả — xá lợi vụn, xá lợi nguyên vẹn, thân hóa cầu vồng, thân cầu vồng bay đi.

🌟

Tôi đã trình bày sơ lược về bốn loại quán đảnh.
Trong Chân Phật Tông, các pháp khí quán đảnh gồm:
1. Bình quán — Bình quán đảnh, kapala [chén sọ người] v.v…
Cam lộ.
Đỉnh trang nghiêm. [hóa thân của vị Thượng sư chân chính đã đắc đạo]
Rải hoa.
Rải gạo.
Pháp tướng Bổn tôn.
2. Mật quán — hoa đỏ, hoa trắng.
Hoa đỏ là bồ đề đỏ.
Hoa trắng là bồ đề trắng.
3. Trí quán — dùng bút chạm.
Là xúc quán đảnh. Quyền pháp.
4. Đại viên mãn quán đảnh (lược bỏ)

🌟

Chúng ta tụng kệ cầu quán đảnh như sau:
Trước vị Căn bản Thượng sư, bậc chủ của vạn hữu
Con xin chuyển hóa thành tâm không phân biệt, cung kính đảnh lễ quy y.
Để chúng sinh bình đẳng như hư không an trụ quả vị Phật
Tâm tu pháp Du già thâm sâu được sinh khởi.

Và:
Trong minh điểm hiển hiện thanh tịnh trước mặt mình
Trên đệm sư tử, hoa sen, nhật luân, nguyệt luân.
Bậc chủ của vạn hữu, trí kim cang vô úy
Có thể làm viên mãn mọi nguyện vọng của chúng sinh bằng bất kỳ pháp thù thắng nào.
Thân tướng tốt đẹp, uy nghiêm rực rỡ ánh sáng, ngôn ngữ thù thắng giảng giải khiến người vui nghe.
Ba công đức trí tuệ, đại bi, đại lực, đầy đủ thiện căn, tâm yếu kim cang trí.
Từ bi truyền trao ban cho đại quán đảnh, ý nguyện thù thắng đều chuyển thành hiện lượng.

🌟

Ý nghĩa của quán đảnh:
Theo nhận thức cá nhân của tôi, quán đảnh giống như:
Như bát không đón nhận sữa đến đầy.
Như chim én bay vào tổ trống.
Như người phụ nữ đẹp soi gương.
Như con ngồi trong lòng mẹ.
Như nước chảy vào dòng nước.
......

Những điều này đều có ý nghĩa, từ những mô tả này, sinh ra sức mạnh.
Sữa pháp.
Nhà mới.
Gương sáng.
Bảo hộ.
Hòa nhập.

Đây chính là ý nghĩa của quán đảnh, từ quán đảnh bắt đầu, bạn có được sự chuyển hóa trong cuộc đời.


### 18. Lợi ích của Tỳ Lô thất chi tọa


1. Ngồi kiết già
Lợi ích của thế ngồi kiết già là giúp hạ hành khí dễ dàng đi vào trung mạch.
Giúp sinh ra dấu hiệu ấm trong cung △ dễ dàng.
Giúp khí của đại địa đi vào trung mạch.
Tiêu trừ phiền não ghen tị.

2. Kết ấn đẳng trì dưới rốn
Bình trụ khí đi vào trung mạch.
Chuyết hỏa dễ bốc cháy.
Khí của phong đại dễ đi vào trung mạch.
Tiêu trừ phiền não sân hận.
Niềm vui trong định dễ sinh khởi.

3. Lưng thẳng vai mở
Biến hành khí đi vào trung mạch.
Khí của thủy đại dễ đi vào trung mạch.
Tiêu trừ si mê.

4. Ép yết hầu
Thượng hành khí dễ đi vào trung mạch.
Khí của hỏa đại dễ đi vào trung mạch.
Tiêu trừ phiền não tham ái.
Tâm niệm dễ dừng.

5. Lưỡi chống lên vòm miệng
Mệnh khí an trụ tại trung mạch.
Khí của không đại dễ đi vào trung mạch.
Tiêu trừ phiền não kiêu mạn.

6. Ngữ tịch
Miệng thở ra khí trọc.
Pháp tu khí.

7. Ý tịch
Không nghĩ về quá khứ.
Không nghĩ về tương lai.
Không nghĩ về hiện tại.
Không khởi phân biệt đúng sai.

🌟

Tu pháp Cửu tiết Phật phong:
Bạn sẽ nhận ra rằng đây vẫn là sự rèn luyện sức chuyên chú. Và Tỳ Lô thất chi tọa chính là thân tịch, ngữ tịch, ý tịch.
Bắt đầu hít thở:
Bạn sẽ nhận ra, thở ra hít vào, mà khi hít vào sẽ dễ dàng đưa sự chú ý đến đầu mũi.
Thở ra thì dễ bị tán loạn.
Tôi thường dùng hơi thở vào để kéo lại sự tập trung.
Bạn cũng sẽ nhận thấy, hít vào sẽ ngắn hơn, thở ra sẽ dài hơn.
Chú ý đến sự thay đổi qua lại của Cửu tiết Phật phong.
Chú ý đến sự lưu thông của hơi thở.
Sức chú ý ở đầu mũi.
Lỗ mũi trái ba nhịp.
Lỗ mũi phải ba nhịp.
Cả hai lỗ mũi ba nhịp.
Đây là phương pháp thở ra khí trọc.

🌟

Khẩu quyết:
Người tu Cửu tiết Phật phong sẽ có một loại cảm nhận, cảm nhận khí tràn đầy toàn thân, khí đủ đầy.
Cảm nhận thân thể thanh tịnh và tinh khiết.
Cảm nhận khí có thể được điều khiển bởi chính mình.
Cảm nhận ba mạch bảy luân xa của mình, khí mạch như mạng lưới đạt đến từng lỗ chân lông.
Bạn như có một đôi cánh bay.
Đứng trên đỉnh núi đón gió.
Sau đó vỗ cánh.
Nhẹ nhàng bay đến những đám mây.

Tu Cửu tiết Phật phong là sự hợp nhất của tâm và khí, từ sự chuyên chú đến khí đầy đủ, vút bay lên trời cao.


### 19. Khẩu quyết tu Kim cang tụng


Tu khí bằng chú ngữ Om Ah Hum.
Vận dụng hít vào, giữ, thở ra. Quán Kim Cang Tát Đỏa trong suốt và sáng, đầy đủ ba mạch và các luân xa.

Công năng:
Có thể khai mở các nút thắt của mạch, cũng có thể khai mở các luân xa.

1. Tu thượng hành khí

Quán tưởng tại Tâm luân có nguyệt luân hoa sen, bên trên có chữ Hum ཧཱུྃ màu xanh. Đây là tướng trụ.
Khi khí vào, là chữ  Om ཨོཾ , đi vào Tâm luân biến thành Hum ཧཱུྃ  và trụ lại.
Khi khí ra, là chữ Ah ཨཱཿ.

Khẩu quyết:
Giữ khí càng lâu càng tốt.
Hít vào thở ra thì ngắn.
Tu lâu rồi, chỉ có trụ mà không có khí ra vào.

2. Tu hạ hành khí.

Tại Tâm luân chữ Om ཨོཾ màu trắng.
Khí vào từ chày bí mật, khi vào là chữ Om ཨོཾ.
Khi trụ tại Tâm luân là chữ Hum ཧཱུྃ .
Khí ra từ chày bí mật, thành chữ Ah ཨཱཿ.

Khẩu quyết:
Giữ khí càng lâu càng tốt.
Hít vào thở ra, dùng ý để thực hiện.
Tu lâu rồi, đầu nhọn dưới của trung mạch sẽ mở ra.
Có thể đốt cháy chuyết hỏa.
Phát sinh dấu hiệu ấm.

3. Tu hai khí thượng hành và hạ hành.

Tại Tâm luân chữ Hum ཧཱུྃ màu trắng.
Khí thượng hành đi vào từ lỗ mũi, khí hạ hành đi vào từ chày bí mật. Cả hai đều là chữ Om ཨོཾ.
Hai khí trụ tại Tâm luân, bằng chữ Ah ཨཱཿ mà trụ.
Khí ra là chữ Hum ཧཱུྃ .

4. Tu biến hành khí.

Tâm luân chữ Hum ཧཱུྃ màu trắng.
Quán tưởng toàn thân từ đầu đến gan bàn chân, tất cả các khớp xương và lỗ chân lông, đều bắt rễ tại trung mạch ở giữa tim.
Vào, trụ, ra đều giống nhau.

Công năng:
Có thể đạt được năm đại thần thông.
Trừ bệnh của ngũ căn.
Trừ tất cả chướng ngại.
Ma không thể xâm nhập.

Khẩu quyết:
Vào chữ Om ཨོཾ
Trụ chữ Ah ཨཱཿ
Ra chữ Hum ཧཱུྃ
Trụ càng lâu càng tốt.
Trong đó có tu theo khí của mắt, tu theo khí của tai, tu theo khí của mũi, tu theo khí của lưỡi, tu theo khí của thân.
Phương pháp tu giống nhau, chỉ khác nhau ở cách đối trị mà thôi.

Tôi tại đây nói với mọi người:
1. Để bạn biết một hơi thở vào một hơi thở ra quả thật rất quan trọng.
2. Về mặt ý niệm phải bám sát theo vào-trụ-ra.
3. Để bạn biết tầm quan trọng của trụ khí.
4. Lỗ chân lông, mật căn, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, đều có thể hô hấp.
5. Tam tự minh Om Ah Hum là khẩu quyết quan trọng nhất.
6. Khí có thể đến được khắp các bộ phận trong cơ thể.
7. Thể nghiệm sự sống.
8. Thanh tịnh.
9. Khí đầy đủ.
10. Ổn định.
11. Tự nhiên.
12. Quán chiếu.
13. Các loại thần thông sẽ xuất hiện.
14. Thấu triệt bản chất của vạn vật.


### 20. Yếu quyết tu Bảo bình khí


Tôi hỏi đệ tử:
"Khẩu quyết tu Bảo bình khí như thế nào?"
Đệ tử đáp:
"Khí trên ép xuống, khí dưới nâng lên, khí ở hạ đan điền giữ hồi lâu, sau đó mới thở ra."
Tôi cười:
"Đại thể là như vậy, nhưng nữ giới tu thì sao?"
Đệ tử đáp:
"Sư Tôn đã từng nói, giữ khí ở trung đan điền là thích hợp, tránh bị băng huyết."
Tôi nói:
"Đúng vậy!"

🌟

Vì tôi đã viết về Cửu tiết Phật phong, Kim cang tụng, đương nhiên cần phải lặp lại khẩu quyết tu Bảo bình khí.
Khí trên ép xuống.
Khí dưới nâng lên.
Như chiếc vung nồi.
Khí ẩn chứa bên trong.
Đó chính là Bảo bình khí.

Bảo bình khí thực ra chia làm ba loại:
Bảo bình khí hạ đan điền. (dưới rốn bốn lóng tay)
Bảo bình khí trung đan điền. (Tâm luân)
Bảo bình khí toàn thân.

Tu Bảo bình khí, điều quan trọng nhất là đưa khí phương tiện vào trung mạch, biến thành khí trí tuệ.

🌟

Người tu hành, trước tiên thở ra khí trọc, hít vào một hơi khí thanh, ép xuống là ép yết hầu, ngưng thở, sau khi ép xuống, lập tức nâng khí dưới lên, nâng là nâng hậu môn. Người tu trước tiên quán tưởng bản thân rỗng và sáng, trong thân có ba mạch năm luân xa.

Tôi nêu ra bốn yếu quyết: Hít, Đầy, Tiêu, Xạ.

1. Hít

Hít nghĩa là một hơi thở, dùng phương pháp dài, chậm, dùng toàn lực hấp thu toàn bộ, đi vào hạ đan điền. Sau đó nâng hậu môn bằng phương pháp nâng, ép trên nâng dưới, khiến cho khí trên dưới hợp nhất tại điểm dưới rốn bốn lóng tay.
Khí tích trữ càng lâu càng tốt.
Đây gọi là: Hít.

2. Đầy

Yếu quyết của làm đầy là quán tưởng khí ở mạch trái phải đều đi vào trung mạch. Có thể nuốt nước miếng trong miệng xuống, đồng thời quán tưởng nước miếng đi vào dưới rốn, lúc này sẽ cảm thấy cực kỳ tràn đầy. (Nuốt nước miếng cũng rất quan trọng.)
Giữ khí càng lâu càng tốt.
Tuy nhiên, không được quá mức.
Ban đầu ba mươi giây, dần dần giữ lâu hơn, có thể đạt một phút, hai phút.

3. Tiêu

Trước tiên là nội tiêu, khí từ mạch trái phải đi vào trung mạch, đến vùng tim mà tiêu tán.
Sau đó là ngoại tiêu, khí đầy trung mạch, sau đó đầy năm luân xa, tràn khắp toàn thân, đến các lỗ chân lông.

4. Xạ

Khi không thể giữ khí thêm nữa thì xạ ra từ đỉnh huyệt.
Phương pháp này tương tự pháp phowa, không nên làm nhiều, vì e ngại sinh ra tác dụng phụ.

Phương pháp xạ tự nhiên là:
Khí từ hai lỗ mũi xạ ra, như khói hương uốn lượn, tựa như không nên quá gấp gáp.

Kinh nghiệm của tôi là:
Vào nhẹ, chậm, dài, ra nhẹ, chậm, dài, mọi thứ giữ thật bình ổn, không cần gấp, sẽ tự nhiên hơn.
Tôi không ủng hộ khí cương mãnh, vì khí cương mãnh dễ sinh ra tác dụng phụ, chướng ngại sẽ phát sinh.

Lại nữa:
Khi thở ra, không nên thở hết toàn bộ khí, hãy giữ lại một chút khí, đây là khẩu quyết quan trọng nhất mà tôi Liên Sinh Hoạt Phật dạy cho mọi người, khí được giữ lại này là trung trụ khí. (Đoạn này ít người biết đến.)

Trung trụ khí có thể sinh ra thiền định.
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã chỉ ra:
"Tất cả công đức đều đến từ Bảo bình khí!" chính là nói về trung trụ khí này vậy.


### 21. Thâm nghĩa của pháp vô lậu (1)


Người học Phật thường có vẻ mặt thiếu sức sống, khí lực suy kiệt, xanh xao gầy yếu, mang nhiều bệnh cũ, bệnh nghiệp quấn thân.
Đương nhiên có rất nhiều nguyên nhân, nhưng có một chữ, không thể xem nhẹ, đó là: Lậu!

Bất kể là học Phật hay học Đạo, điều quan trọng nhất là bảo vệ tinh. Tinh là gốc của mạng sống, vì vậy người học Phật nên tiết dục để giữ tinh, tiếp đến là vững chắc tinh, cuối cùng là không lậu tinh, đây gọi là vô lậu.
Người trung niên.
Người cao niên.
Điều quan trọng nhất là bổ tinh.

Bản thân tôi cho rằng kẻ địch lớn của việc học Phật là sắc.
Nữ sắc hại đạo còn hơn cả sói hổ, đa phần người tu hành tu không thành, toàn hỏng vì nữ sắc.

Như người ta thường nói:
Lấn át tuổi thọ.
Gặm nhấm tinh phách.
Khí mỏng như tơ.
Đèn tắt vì hết dầu.
Tủy cạn người mất.
Người bình thường còn như vậy, người trung niên và cao niên còn nghiêm trọng hơn, những người chết vì nữ sắc nhiều vô kể!

"Đạo Kinh" có nói:
Tinh gan không vững – mắt hoa không sáng.
Tinh tâm không vững – não suy không sức.
Tinh tỳ không vững – răng tóc suy bạc.
Tinh phổi không vững – cơ thịt tiêu gầy.
Tinh thận không vững – thần khí tiêu tán.
Tinh lậu không vững – cái chết liền đến.

Vì vậy nói:
Đừng làm mệt thần của ngươi, đừng lay động tinh của ngươi, quay tâm tĩnh lặng có thể bảo đảm trường sinh.
Người chỉ cần hờ hững không ham muốn, tinh khí thần tỏa khắp trăm mạch, có thể kết thành xá lợi.

"Kinh Hoàng Đình" có dạy:
Hãy giữ gìn tinh phòng, không phóng túng tiết lậu, bảo vệ và gìn giữ nó thì có thể trường sinh.
Nếu không thì:
Dục niệm vừa nảy sinh.
Lửa mệnh môn bừng cháy.
Tinh khí tràn ra.
Không thể quay về cội nguồn.
Tiết lậu rồi lại tiết lậu.
Luân hồi vào cõi quỷ.
Đệ tử của tôi hỏi tôi:
"Làm thế nào để vô lậu?"
Tôi đáp:
"Cần nhanh chóng tu pháp vô lậu."
Hỏi:
"Nữ giới có lậu không?"
Đáp:
"Nữ giới cần đoạn huyết hà."
"Còn nam giới thì sao?"
"Cần đoạn tinh."
Hỏi:
"Làm sao có thể được, tinh đầy thì mộng tiết?"
Tôi đáp:
"Khi tinh đầy, dùng chuyết hỏa làm nó bay hơi, hóa thành khí, tràn đầy trăm mạch, thì không lậu."
Có người hỏi:
"Đạo gia có thuật phòng trung, có thể tu không?"
Tôi đáp:
"Có. Nhưng mười người thì chín người lạc lối, tả đạo bàng môn, người xuống địa ngục rất nhiều!"
Có người hỏi:
"Tạng truyền có pháp song thân, có thể tu không?"
Tôi đáp:
"Có. Nhưng điều kiện khắt khe, tu sai sẽ xuống địa ngục kim cang, người tu được, trong vạn người không có được một. Vì thế, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói, đó là lấy ngọc từ miệng rắn độc vậy!"


### 22. Thâm nghĩa của pháp vô lậu (2)


Trong giảng nghĩa "Tính không trong đại lạc" (Hỷ Kim Cang), chương 14, trang 78, tôi đã viết khẩu quyết tu pháp vô lậu, ghi lại như sau:

Thủ ấn: thất chi tọa.
Chú ngữ: chữ Hum ཧཱུྃ dài.
Quán tưởng: 
Trước tiên tu Bảo bình khí vài lần, dùng tay phải kết ấn kim cương chỉ, ngón giữa đặt tại đỉnh huyệt của trung mạch trên đỉnh đầu.
Quán tưởng tại Tề luân có chữ Hum ཧཱུྃ màu đỏ, phần móc ở đuôi chữ Hum ཧཱུྃ móc vào hoa sen trắng (minh điểm) ở phía trước đầu dương vật (đầu bảo châu).
Lúc này, co rút bụng lại, niệm âm Hum dài, đẩy chữ Hum theo trung mạch lên trên, đẩy lên trên đỉnh huyệt.
Quán tưởng phía trên cùng là chữ Hum ཧཱུྃ (màu đỏ).
Kế đến là hoa sen trắng.
Thứ ba là nhục kế.
(Nhục kế hình thành do dương cụ (cơ quan sinh dục) cuộn ngược vào trong trung mạch, đến đỉnh huyệt mà thành nhục kế.)

Phương pháp tu tập này, tôi cho rằng là phương pháp tu chính thức.
Ngoài ra: 
Phương pháp tu của nữ giới hơi khác:
Minh điểm là hoa sen đỏ.
Không có nhục kế.

🌟

Điều nhiều người không thể tưởng tượng được là, chỉ cần bạn tu tập tốt Bảo bình khí, một khi đẩy được trung trụ khí hướng lên, pháp vô lậu tự nhiên thành tựu. (Đây là khẩu quyết của tôi.)

Tiếp đến là:
Nâng chuyết hỏa.
Hạ minh điểm.
Nâng minh điểm.
Giữ minh điểm.
Tán minh điểm.

🌟

Vô lậu theo cách thông thường.
Trước tiên tu:
Ý niệm chuyển di.
Chuyển di, chuyển di, rồi lại chuyển di.
Kéo dài thời gian.

Về phần thân thể, theo sáu thế biến của Sakya:
Nhật nguyệt triều thiên - Hai mắt nhìn lên trên.
Lưỡi chống lên vòm miệng - Thông khí và nâng lên.
Khí thượng hành thở ra - Khí hạ hành đi lên, giữ chặt minh điểm.
Bụng dính lưng - Thu bụng vào, giữ chặt minh điểm.
Nâng hậu môn - Nâng minh điểm.

Về phần miệng:
Luân phiên sử dụng niệm âm Hum ཧཱུྃ dài, Hum ཧཱུྃ ngắn.

Thủ ấn:
Hai tay nắm chặt, ngón cái ở trong, đây là ấn nắm chặt.
Tay xoa Tề luân, bên phải 14 lần, bên trái 14 lần, xoay vòng. (có thể vững chắc tinh)

Quyền pháp:
"Nâng minh điểm bay lên núi Tu Di".
Gồm ba thức.
Thu nhỏ bốn châu, tức là thu nhỏ tứ chi.

🌟

Theo kinh nghiệm cá nhân của tôi, chỉ cần Bảo bình khí tu tập được tự tại thuần thục, trung trụ khí vừa nâng lên, thì minh điểm (tinh) đang chảy xuống lập tức dừng lại.
Nâng lên một lần nữa.
Đại lạc sinh khởi!

Điều tôi muốn nói với mọi người là:
Lậu tinh là niềm vui nhỏ của nhân gian, người đời theo đuổi không bỏ!
Nâng ngược tinh dịch hướng lên trên là đại lạc của người tu hành, khi nâng ngược bạch minh điểm đi lên, cảm giác đê mê không ngừng, có thể kéo dài cả ngày, toàn thân hòa tan trong đại lạc, niềm vui này mới gọi là Pháp lạc.

Đạo lớn là chuyển ngược, người nào chuyển ngược được, mới gọi Đại La Tiên.


### 23. Công đức của pháp vô lậu


Bốn giai đoạn tu hành của Đạo gia:
Luyện tinh hóa khí.
Luyện khí hóa thần.
Luyện thần phản hư.
Luyện hư phản đạo.
Những điều này có điểm tương đồng tuyệt diệu với việc tu khí, tu mạch, tu minh điểm của Mật tông Tây Tạng.

Pháp vô lậu là đại khẩu quyết:
1. Pháp vô lậu là giữ tinh, bảo vệ tinh, vững chắc tinh.
2. Chuyết hỏa dễ bùng cháy.
3. Tinh trong chuyết hỏa chính là luyện tinh hóa khí.
4. Chuyết hỏa là ánh sáng, trung mạch là ánh sáng, minh điểm là ánh sáng, chính là luyện khí hóa thần.
5. Tử quang gặp mẫu quang, chính là luyện thần phản hư.
6. Một giọt ánh sáng hòa nhập vào biển Đại Tỳ Lô Giá Na, chính là luyện hư phản đạo.

🌟

Về nguyên tắc:
Do vô lậu mà sinh chuyết hỏa, chuyết hỏa đốt cháy minh điểm quang minh phong mạch, mở ra các luân xa, kiến chứng Phật tính, từ ánh sáng của Phật tính, ánh sáng gặp ánh sáng, cuối cùng đạt Niết bàn.

Công đức của pháp vô lậu:
1. Tinh khí thần dồi dào.
2. Làn da tỏa sáng.
3. Quỷ thần không xâm phạm.
4. Cơ xương có sinh lực.
5. Trung mạch thông, năm luân xa thông, các mạch đều thông.
6. Thần thông tự tại.
7. Ngũ tạng lục phủ sinh động hoạt bát.
8. Toàn thân có ánh sáng.
9. Tự tại vô ngại.
10. Thành tựu đạo quả.

Từ pháp vô lậu có thể chứng:
1. Đại lạc.
2. Quang minh.
3. Không tính.

Muốn tu tập pháp song thân rất khó cần có đủ hai điều kiện lớn:
1. Đã thành tựu pháp vô lậu.
2. Đã thấu hiểu tính Không.
(Hành giả như một trong vạn người vẫn hiếm có, nếu cưỡng ép tu tập, dễ sinh lầm lạc, nên phần nhiều không tán thành.)
Có những hành giả vô minh, đọa vào địa ngục kim cang.
Tham đắm sẽ đọa địa ngục kim cang.

Và pháp tu song thân là:

Bốn loại quán:
Bổn tôn quán.
Liên hoa quán.
Mật xứ quán.
Đại lạc quán.

Bốn thiện xảo:
Giáng thiện xảo.
Trì thiện xảo.
Đề thiện xảo.
Tán thiện xảo.

Ngũ mật:
Thân, mạch, khí, minh điểm, không lạc.

Kỹ pháp:
Sáu mươi tư, mười sáu, chín, bốn.

Công đức:
Quang minh sinh khởi. Đại lạc thường trụ. Phật tính lấp lánh.

🌟

Tôi muốn đặc biệt nói với mọi người rằng:
Pháp vô lậu thực sự là nền tảng của pháp chuyết hỏa và pháp minh điểm. Và từ đó quang minh phong mạch được sinh ra. 
Về phần song tu, tôi lược bỏ. Bởi vì nhất định phải có bậc đại thành tựu chân chính đích thân chỉ dẫn, nếu không rất dễ đi vào con đường sai lầm!


### 24. Tinh yếu về chuyết hỏa


Chúng ta thường nói:
Thân người được cấu thành bởi bốn nguyên tố lớn: đất, nước, lửa, gió.
Đất — xương thịt.
Nước — máu huyết.
Lửa — nhiệt độ.
Gió — hơi thở và khí.

Việc tu luyện chuyết hỏa còn được gọi là linh xà, kundalini, v.v… Trong Đạo gia gọi là đại ôn dưỡng.

Phái Đan Đỉnh của Đạo gia mô tả như sau:
Xem thân người như cái vạc.
Xem tinh dịch, nguyên tinh như đan.
Dùng văn hỏa, võ hỏa ở hạ đan điền để luyện nó.
Đó chính là:
Luyện tinh hóa khí.

🌟

Mật giáo tu pháp chuyết hỏa có vẻ giống như Đạo gia, nhưng có điểm khác biệt và tương đồng.

Tinh yếu của nó là:
Khi chuyết hỏa bốc cháy là ở vị trí bốn lóng tay dưới rốn, có cung sinh pháp, là nơi Kim Cang Hợi Mẫu màu đỏ đứng vững.

Màu như chữ: 


![image](/img/img_bb5af826bbeb211a0bab84e3639212ca.png)


Sáng như đèn.
Ấm như nước sắt đỏ.
Tinh yếu của nó giống như kính lúp tập trung ánh sáng mặt trời vào một điểm, đốt cháy giấy. Hoặc như thời xưa cọ xát gỗ để lấy lửa.
Ý — Tập trung vào một điểm.
Thân — Lục táo ấn. Sáu hình tam giác, bên trong còn có sáu hình tam giác khác.
Miệng — Bảo bình khí.
(Dùng trung trụ khí của Bảo bình khí để thổi chuyết hỏa, khiến chuyết hỏa bốc cháy.）

Sau khi thắp chuyết hỏa, trước tiên đốt cháy luân xa rốn, tiếp đến đốt cháy luân xa tim, thứ ba đốt cháy luân xa cổ họng, sau cùng đốt cháy luân xa giữa hai chân mày.
Nơi nào chuyết hỏa đi qua, đều được đốt cháy hoàn toàn.

Khi đốt luân xa rốn, cần lan rộng khắp toàn thân, và xuống dưới khắp hai chân.
Ngọn lửa ấy như quả cầu lửa điện, lan khắp toàn thân, đạt đến từng lỗ chân lông, thậm chí lửa phát ra bên ngoài, tràn đầy ba cõi, mọi cảnh giới chạm phải đều là tự tính của Kim Cang Hợi Mẫu.

Khi tu tập chuyết hỏa, không chỉ bản thân sinh khởi sự vui thích, mà từ ba đường ác bên dưới cho đến chư thiên bên trên, tất cả đều đạt được hỷ lạc.
Chính mình chính là Kim Cang Hợi Mẫu.
Khi kết thúc pháp tu, chuyết hỏa thu về, ngọn lửa còn lại dài ba ngón tay, khi ngủ, quán tưởng ngọn lửa ba ngón tay đó mà ngủ.

Chi tiết quan trọng:
1. Dùng hai tay xoa bụng, tạo nhiệt.
2. Ấn lục táo: chân áp sát bụng, hai tay bắt chéo ôm lấy, tạo thành sáu hình tam giác bên ngoài.
3. Quán tưởng sáu hình tam giác bên trong.
4. Nếu ấn lục táo không chắc, có thể dùng dải vải buộc lại.
5. Ý cần tập trung vào lửa, đỏ, nóng, tia lửa.
6. Cầu xin sự gia trì từ Bổn tôn và Thượng sư.
7. Dùng trung trụ khí để thổi khí nhóm lửa.
8. Ban đầu lửa tụ thành điểm, thành đường.
9. Giữa là lửa cháy rực.
10. Sau cùng lửa dài ba ngón tay. (Mẫu hỏa)

Các điểm cần chú ý:
Khi biết lửa cần được thắp lên, có thể dùng võ hỏa (hơi thở nhịp điệu), còn những lúc khác thì không được dùng.
Võ hỏa là khí cương mãnh.
Trung trụ khí của Bảo bình khí là chìa khóa để khởi sinh chuyết hỏa.

Pháp chuyết hỏa vốn là một trong sáu pháp Niguma, sau đó truyền cho Tilopa, truyền cho Naropa, truyền cho Marpa, truyền cho Milarepa.
Milarepa là bậc đại thành tựu về pháp chuyết hỏa.
Milarepa truyền cho Gampopa.
Gampopa truyền cho Đại Bảo Pháp Vương Düsum Khyenpa đời thứ nhất, cho đến nay đã truyền đến đời thứ mười bảy.
Đó là dòng truyền thừa của Đại Thủ Ấn.

Pháp chuyết hỏa là cực kỳ quan trọng, cực kỳ quan trọng.


### 25. Bước đầu tu pháp minh điểm


Mật giáo Nhị quán, tu hành Nội pháp chủ về tu khí, mạch và minh điểm.
1. Phương diện tu mạch
Lấy tư thế ngồi Tỳ Lô bảy chi làm chính, chủ yếu tu sự tĩnh lặng của thân, tĩnh lặng của ngữ và tĩnh lặng của ý niệm.
Quán tưởng ba mạch bảy luân xa.
Quán minh không. [quán tưởng thân thể rỗng, trong suốt và sáng, bên trong hiện rõ ba mạch và bảy luân xa]
2. Phương diện tu khí:
Cửu tiết Phật phong.
Kim cang tụng.
Bảo bình khí.
Trung trụ khí.
(Bao gồm vô lậu và chuyết hỏa.)
3. Tu luyện minh điểm:
Bước đầu tu minh điểm.
Hòa tan minh điểm.

🌟

Ở chỗ của Thượng sư Thubten Dhargye, Thượng sư Thubten Dhargye đã tặng tôi một quả cầu thủy tinh nhỏ màu trắng.
Tôi hỏi:
"Thượng sư tặng con quả cầu thủy tinh này có ý nghĩa gì?"
Thượng sư đáp:
"Tu pháp minh điểm."

Sau khi nghe lời Thượng sư, tôi bắt đầu mới tu pháp minh điểm.

🌟

Bước đầu tu pháp minh điểm, theo khẩu quyết của Thượng sư là:
Trước tiên quán tưởng tự thân minh không.
Sau đó quán tưởng ba mạch năm luân xa mi tâm, họng, tim, rốn, sinh thực.

Quán tưởng:
Trong mạch của luân xa mi tâm có minh điểm trắng như pha lê. Hình tượng của minh điểm này là:
To bằng hạt cải.
Tròn và láng mịn.
Sáng đẹp rạng ngời.
Mát lạnh trong suốt.
Trắng tinh không tì vết.
(Minh điểm này chính là bồ đề tâm nguyệt dịch.)
Còn được gọi là "thiên đình thủy".

Với khí hít vào (nạp khí) của Bảo bình khí, theo khí đi xuống đến luân xa cổ họng, đến luân xa tim, đến luân xa rốn.
Rồi với khí thở ra (thổ khí) của Bảo bình khí, theo khí đi lên, từ rốn đến tim, từ tim đến cổ họng, từ cổ họng đến mi tâm.
Minh điểm trụ tại mi tâm.
Một lên một xuống, một xuống một lên này, đều theo Bảo bình khí mà đi, đây chính là mới tu pháp minh điểm.

Khẩu quyết là:
Khí và tâm hợp nhất.
Minh điểm và tâm hợp nhất.
Tâm, khí, minh điểm ba thứ hợp nhất.
Minh điểm trở về luân xa mi tâm, như viên thủy tinh lăn trên gạch, phát ra tiếng keng keng.
Sự di chuyển lên xuống này, cũng sinh ra đại lạc và quang minh.
Đây là khẩu quyết lớn của việc bước đầu tu pháp minh điểm.

🌟

Tôi hỏi Thượng sư:
"Mạch tượng trưng cho điều gì?"
Thượng sư đáp:
"Con đường của thân người."
Tôi hỏi:
"Khí tượng trưng cho điều gì?"
Thượng sư đáp:
"Chiếc xe chuyên chở trên con đường."
Tôi hỏi:
"Điểm tượng trưng cho điều gì?"
Thượng sư đáp:
"Hàng hóa vô cùng quý giá."


### 26. Hỏi đáp về chính tu pháp minh điểm


Hỏi:
"Làm thế nào để chính tu pháp minh điểm?"
Đáp:
"Bắt đầu từ pháp chuyết hỏa, dùng Bảo bình khí thổi chuyết hỏa, khiến lửa ban đầu nhỏ như kim trở nên to hơn, nóng hơn, đỏ hơn, thổi mười lần, lửa đi lên đến luân xa tim, thổi mười lần nữa, lửa đi lên đến luân xa cổ họng, lại thổi mười lần nữa, lửa đi lên đến luân xa mi tâm."
Hỏi:
"Bồ đề tâm nguyệt dịch ở luân xa mi tâm như thế nào?"
Đáp:
"Trắng như trăng thu, sáng như ngọn đèn, tròn như viên thủy tinh, rơi xuống như thủy ngân."
Hỏi:
"Quán tưởng như thế nào?"
Đáp:
"Như chữ Hang treo ngược."


![image](/img/img_8938a4f4f77eda8f404e192d24425e54.png)


Hỏi:
"Khi chuyết hỏa chạm vào bồ đề tâm nguyệt dịch, khiến nước chảy xuống, đây chính là minh điểm đã hòa tan, lúc này minh điểm thủy chảy xuống, qua luân xa cổ họng, đến luân xa tim. Chuyết hỏa và minh điểm hòa hợp tại luân xa tim, có tác dụng gì?"
Đáp:
"Sẽ khai mở luân xa tim!"
Hỏi:
"Khi chuyết hỏa và minh điểm hòa hợp với nhau, mở ra năm luân xa, sẽ tạo ra điều gì?"
Đáp:
"Đại lạc và quang minh."
Hỏi:
"Có tên gọi gì không? Đại lạc có phân biệt không?"
Đáp:
"Từ mi tâm đến cổ họng là sơ hỷ, từ cổ họng đến tim là thắng hỷ, từ tim đến
rốn là siêu hỷ, từ rốn đến mật luân là câu sinh hỷ. Ngược lại, từ mật luân đến rốn lại là sơ hỷ, thắng hỷ, siêu hỷ, câu sinh hỷ."
Hỏi:
"Tại sao gọi là không, đại không, thắng không, siêu không?"
Đáp:
"Vì không và lạc không hai."
Hỏi:
"Không quán chữ Ah


![image](/img/img_57d776812b7d22308af58bd1d0f7dfeb.png)


của cung sinh pháp và không quán chữ Hang


![image](/img/img_5259c11c51659b50bc3ff2d2b413592f.png)


của bồ đề tâm nguyệt dịch, có được không?"
Đáp:
"Cung sinh pháp là tính mẫu của Kim Cang Hợi Mẫu, bồ đề tâm nguyệt dịch là tự tính của phương tiện phụ. Tôi cho rằng quán nước của thủy ngân, quán lửa màu đỏ, cũng được."
Hỏi:
"Quán như thế nào?"
Đáp:
"Nước thành 〇, lửa thành -." (khẩu quyết)
Hỏi:
"Đạo gia gọi là long hổ chì thủy ngân thủy hỏa, cũng là sử dụng pháp minh điểm phải không?"
Đáp:
"Cơ bản là giống nhau."
Hỏi:
"Chính tu pháp minh điểm đều cần phải dùng Bảo bình khí phải không?"
Đáp:
"Pháp vô lậu, pháp chuyết hỏa, pháp minh điểm, tất cả đều nhờ vào sức mạnh của Bảo bình khí."
Hỏi:
"Nên dùng ấn nào là tốt nhất?"
Đáp:
"Dùng ấn lục táo là tốt nhất. Bởi vì lục táo ấn mạnh nhất." (khẩu quyết)
Hỏi:
"Tu pháp minh điểm dùng gì để hỗ trợ?"
Đáp:
"Kim cang quyền." (khẩu quyết)
Hỏi:
"Có điều gì cần đặc biệt chú ý không?"
Đáp:
"Khi chuyết hỏa hòa tan minh điểm, chuyết hỏa nên lan khắp toàn thân, như vậy mới có thể hòa tan minh điểm." (khẩu quyết)


### 27. Phân tích đơn giản về sáu pháp thành tựu


Trong cuốn sách này, tôi không muốn phân tích kĩ lưỡng về sáu pháp Naropa, chỉ xin nói sơ lược như sau:
Sáu pháp này bao gồm:
Chuyết hỏa.
Huyễn thân.
Mộng quán.
Tịnh quang.
Trung ấm.
Phowa.

Tôi nói:
Chuyết hỏa đã được trình bày chi tiết trước đó.
Huyễn thân có thể tu bằng pháp kính quang, từ thân như huyễn, ngữ như huyễn, tâm như huyễn, tiến vào thanh tịnh huyễn thân.
Bạn ở bên ngoài gương, bạn trong gương, và Bổn tôn trên gương, ba yếu tố hợp nhất.
Như vậy, tạo ra biến hóa và hiển hiện. Sinh ra xuất ly tâm.

🌟

Về tu trì mộng quán, cần chú ý: (Pháp này khi tu thành, chứng tính bình đẳng.)
Thời gian.
Thân thể.
Dục vọng.
Cảnh giới.
Thở ra thở vào.
Sau khi thành tựu, có thể hóa giải giấc mộng, thay đổi giấc mộng, tăng ích trong mộng, tu tập trong mộng.
(Tôi luôn nghĩ rằng, cái chết của con người như giấc mộng, nếu biết mộng, hiểu rõ mộng, thì có thể tu hành trong mộng, giải thoát trong mộng.)
Pháp tu thí thân bao gồm trong đó.

🌟

Pháp tịnh quang bao gồm:
Pháp miên quang. (công đức thù thắng)
Căn quang minh. (ánh sáng thực tế)
Đạo quang minh. (ánh sáng tính Không)
Quả quang minh. (ánh sáng tan vào lẫn nhau)
Giác thọ quang minh. (hiện chứng bồ đề)

🌟

Pháp trung ấm cần chú trọng đến giáo lý trung ấm, hướng về Bổn tôn trong trạng thái trung ấm.
Hiểu biết trong đời thường.
Những điểm trọng yếu khi lâm chung.
(Cần khẩu truyền, đoạn trừ mọi tham chấp, giữ nghiêm samaya, cúng dường và thỉnh cầu Thượng sư, Bổn tôn và Hộ pháp.)
Bao gồm:
Quy về với đạo.
Ngăn chặn cửa thai.
Lựa chọn thai nơi tái sinh.
Mở thiên môn. (trung ấm thành Phật)

🌟

Pháp phowa, dùng khí xạ đỉnh.
Sau khi khai đỉnh, cần phải:
Tịnh nghiệp.
Giữ giới.
Từ đỉnh khiếu xuất trung ấm. Đạt ba đại thành tựu Ứng thân, Báo thân, Pháp thân.
Phowa, cũng có thể nói là dịch chuyển thần thức, chuyển A-lại-da thức đến cõi tịnh thổ của Bổn tôn.

Tôi nói:
Sáu pháp thành tựu, từng pháp đều thông với nhau. Chuyết hỏa, huyễn quán, mộng quán, tịnh quang, trung ấm, phowa. Cần lưu ý là phowa không thể tu tập phi thời, chỉ có thể duy trì. Nếu tu tập không đúng lúc, sẽ chết yểu, tạo thành tội giết hại chính mình.

Sáu pháp thành tựu này đã có nhiều hành giả phân tích, nếu tôi trình bày chi tiết, tự thấy không thích hợp.
Tôi chỉ nói:
Đây là phân nhánh.
Trong tu pháp có thể từ một việc suy ra nhiều việc khác.


### 28. Đại lạc sinh ra từ đâu?


Đại lạc mà tôi nói đến trong bản văn này, trên đời rất ít người biết đến.
Cha mẹ không biết.
Thầy cô không biết.
Các ông chủ lớn không biết.
Chính trị gia không biết.
Thậm chí người nổi tiếng, nghệ sĩ, người đoạt giải thưởng cũng không biết.
Ngay cả những người tu hành lâu năm cũng không biết.
Vậy ai biết?
Chỉ có một loại người có thể biết, đó là người đã tu tập đến tận cùng mới biết được.
Tất nhiên, tôi là người biết điều đó.

🌟

Theo sự hiểu biết của tôi.
Người đời chỉ biết đến niềm vui giữa nam nữ, cuộc hoan lạc giống loài, điểm này ngay cả loài bay trên trời, bò dưới đất, bơi trong nước đều biết.
Đây là niềm vui nhỏ của thế tục.
Niềm vui của xúc chạm trước khi sinh con, đẻ trứng.
Hoặc chỉ có xúc chạm.
Hoặc chỉ có ma sát.
Hoặc sớm hơn.
Hoặc muộn hơn.
Loại dục vọng phóng ra này như mũi tên, bắn đi rồi!
Niềm vui nhất thời. Hết vui là hết.
Đây gọi là: Tiểu lạc.
Lạc ngắn bùng phát ngay khi chạm.
Lạc dài ma sát lâu hơn một chút.
Dù ngắn, trung bình hay dài, đều nằm trong phạm vi "tiểu lạc", dài hơn nữa, cũng chỉ kéo dài một, hai giờ mà thôi!

🌟

Đại lạc mà tôi biết là:
Sự xoay vòng lên xuống của khí trong trung mạch, sự di chuyển trong trăm mạch, từ sự ma sát này mà sinh ra lạc.
Sự lên xuống của chuyết hỏa trong trung mạch, sự cháy rực trong trăm mạch, từ sự ma sát này mà sinh ra lạc.
Sự nâng lên hạ xuống của minh điểm trong trung mạch, sự lưu thông trong trăm mạch, từ sự ma sát này mà sinh ra lạc.
Đây mới gọi là đại lạc.

Thời gian kéo dài đến hai mươi bốn giờ, bốn mươi tám giờ, hoặc nửa tháng, hoặc một tháng, hoặc thời gian, không gian vô tận. Cái lạc này khiến toàn thân đê mê, như thể bay bổng như tiên.

🌟

Lạc là gì?
Tôi đáp:
Ma sát.
Tiểu lạc là gì?
Đáp:
Nam nữ thế tục đến nhà nghỉ, sự ma sát tạo ra món quà nhỏ.

Đại lạc là gì?
Khí ma sát mạch, chuyết hỏa ma sát mạch, minh điểm ma sát mạch, tạo ra lạc.

Có gì khác biệt?
Tiểu lạc ngắn ngủi.
Đại lạc lâu dài.

Lâu dài về thời gian, không gian, thậm chí Pháp luân tự xoay, hạnh phúc không ngừng nghỉ, lạc này vượt qua tất cả khổ, không tồn tại đau đớn, không tồn tại phiền não, lạc này như tiên.

Đó có phải là cõi Dục giới không?
Tôi nói:
Gần như vậy. Chư thiên ở cõi Dục giới đều muốn hưởng lạc, tận hưởng niềm vui rất lớn.

🌟

Hương vị như thế nào?
Tôi nói, tu hành thật quá tuyệt vời, có được niềm đại lạc như vậy mà người đời lại không biết, thật là ngu xuẩn tột cùng!
Niềm vui thế tục hưởng quá rồi sẽ là khổ, chỉ có đại lạc của tôi mới là chân thật!


### 29. Sự hiển hiện của ánh sáng


Tôi nói:
Đừng nghĩ rằng chỉ có chư Phật và Bồ Tát với hào quang đỉnh đầu, hào quang sau lưng, hào quang toàn thân, và tất cả các loại hào quang khác, mới có ánh sáng.
Tôi xin nói với bạn:
Một hạt cát có ánh sáng của một hạt cát.
Một chiếc lá có ánh sáng của một chiếc lá.
Động vật có ánh sáng.
Thực vật có ánh sáng.
Khoáng vật có ánh sáng.

Tuy nhiên:
Mỗi loại ánh sáng chỉ khác nhau mà thôi, đây chính là ánh sáng thực tế, trong Phật pháp gọi là: Ánh sáng gốc.

🌟

Tôi nói:
Con người cũng có ánh sáng. Ngũ tạng lục phủ đều có ánh sáng.
Ban ngày có ánh sáng ban ngày.
Giấc ngủ có ánh sáng giấc ngủ. (pháp miên quang)
Cái chết có ánh sáng trung ấm.

Khi tu hành:
Giảm một phần vọng niệm, tăng một phần ánh sáng.
Khi bạn tu đến mức tất cả các pháp vô sinh, tu đến tính không, ánh sáng rốt ráo này, được gọi là: Ánh sáng đạo.

🌟

Tôi nói:
Ánh sáng từ bản thân bạn (ánh sáng con).
Biển ánh sáng vũ trụ (ánh sáng mẹ).
Hai ánh sáng hòa quyện vào nhau.
Ánh sáng gặp ánh sáng tạo thành biển ánh sáng Tỳ Lô Giá Na.
Lúc này được gọi là: Ánh sáng quả.

🌟

Tôi nói:
Tu xuất chuyết hỏa, chuyết hỏa là sự kết hợp của ánh sáng, nhiệt và màu đỏ.
Đây là: Ánh sáng chuyết hỏa.
Tu xuất minh điểm, minh điểm là sự kết hợp của bạc, trong suốt, tinh thể và sáng chói.
Đây là: Ánh sáng minh điểm.
Chuyết hỏa và minh điểm hòa quyện vào nhau tạo thành: Ánh sáng trung mạch.

🌟

Khi tan chảy ba luân xa, năm luân xa, bảy luân xa.

Lấy Tâm luân làm ví dụ:
Tâm hiện ra hoa sen bốn cánh.
Trong hoa hiện ánh sáng xanh lam, chữ 


![image](/img/img_25604cd282269b53c8c04eaa0e93b2a3.png)


Cánh trước hiện ánh sáng trắng, chữ 


![image](/img/img_3f28c5e66dd9302e1cceb4f9b089ee9e.png)


Cánh phải hiện ánh sáng vàng, chữ 


![image](/img/img_fb41e4052e53bb5bcdf98a6c054e6b17.png)


Cánh sau hiện ánh sáng đỏ, chữ 


![image](/img/img_c5c7236547f8580557f37727dac3454a.png)


Cánh trái hiện ánh sáng xanh lá, chữ 


![image](/img/img_b1cae86fe090aefb0abcdd88d1ae1ba4.png)


Tôi nói với mọi người:
Khi Tâm luân mở ra, chứng kiến ánh sáng xanh lam ở trung tâm Tâm luân, được gọi là thấy: Ánh sáng Phật tính.
Đây là: Chứng ngộ Phật tính.

🌟

Tôi nói:
Chuyết hỏa ánh sáng đỏ.
Minh điểm ánh sáng trắng.
Trung mạch ánh sáng thủy tinh.
Thành tựu ánh sáng cầu vồng.

Người hỏi: "Đây có phải là cảnh giới của cõi Sắc giới không?"
Tôi đáp: "Gần như vậy!"


### 30. Phát hiện tính không


Vạn vật trên thế gian, tôi chỉ đơn giản dùng vài từ để đại diện:
Có — huyễn có.
Không — không sinh.
Vì vậy có tức là không, không tức là có.
Điều này so với "sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc" còn mang nhiều ý nghĩa hơn!

🌟

Tôi so sánh đơn giản:
Chính trị gia, leo đến điểm cao nhất, trở thành tổng thống, cuối cùng lại rơi xuống vực thẳm, trở thành tù nhân.
(Họ phải thấu hiểu tính không.)
Bậc thần kinh doanh, làm ăn buôn bán kiếm được tỷ, tỷ, tỷ..., sau đó chết đi, trở thành người nằm dưới đất.
(Họ phải thấu hiểu tính không.)
Một mỹ nhân tuyệt sắc, toàn thân đều đẹp đẽ, đến khi mãn kinh, vẻ đẹp hoàn toàn biến mất, đẹp biến thành xấu.
(Họ phải thấu hiểu tính không.)

Tôi phát hiện ra: Tính không.
Và từ đó tôi đã giác ngộ!
Tôi tu tập, cuối cùng đã chứng thực được: "Không".

🌟

Phật dạy chúng ta:
Tất cả pháp hữu vi
Như mộng huyễn bọt ảnh
Như sương cũng như điện chớp
Nên quán chiếu như vậy.

Phật dạy mọi người về: mộng, huyễn, bọt, ảnh, sương, điện, chớp.
Như vậy vẫn chưa rõ ràng sao?
Làm sao để có thể hiểu được?
Chúng ta hãy cảm nhận lời Phật dạy và giác ngộ!

🌟

Nói với mọi người:
Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. (sáu căn)
Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. (sáu trần)
Sáu thức.
Gọi là mười tám giới không.

🌟

Thân như ảo.
Ngữ như ảo.
Tâm như ảo.
(Ảo, ảo, ảo)

🌟

Tất cả không có tự tính.
1. Người huyễn - vốn không có thực thể.
2. Trăng trong nước - ánh trăng huyễn, hiện khắp tất cả.
3. Bóng - không có vật thực.
4. Ngọn lửa - lưu động trong sát-na.
5. Mộng - không thật.
6. Ảo ảnh sa mạc - dường như có mà thực không.
7. Tiếng vang trong thung lũng - nhân duyên.
8. Mây - đến như Như Lai, đi như Như Lai.
9. Cầu vồng - không thực.
10. Chớp điện - chóng vánh.
11. Bọt nước - thành diệt trong sát-na.
12. Hoa trong gương - không có tự tính.

Tôi nói với mọi người, tất cả mọi thứ trên đời không gì không như vậy. 
Khi bạn tu hành chứng nghiệm tính không, bạn đã hòa nhập vào tính không.

Ngũ trí của Như Lai: tính bình đẳng, diệu quan sát, đại viên kính, thành sở tác, pháp giới thể tính. Đầy đủ.
Ồ! Vạn tuế! Vạn tuế! Nhậm vận rồi!


### 31. Điều cấm kỵ về nạp khí


Nạp khí có ba:
1. Cửu tiết Phật phong.
2. Kim cang tụng.
3. Bảo bình khí.

Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của tôi và sự trải nghiệm của các vị thầy, có những điều cấm kỵ. Khi nào có thể tu tập, khi nào không thể tu tập, liệt kê như sau:

Có thương tổn nội tạng:
Khi bạn mắc bệnh phổi, bệnh tim, viêm đường hô hấp, viêm dạ dày ruột, hoặc các loại bệnh ngũ tạng lục phủ.
Khi nạp khí dễ sinh ra các vấn đề.
Cần phải ngừng tu tập.

Phụ nữ đang mang thai:
Do trong phương pháp nạp khí, khí tụ như biển, sức mạnh của khí rất mạnh, có thể dẫn đến sinh non hoặc sinh khó.
Cần ngừng tu tập.

Người già yếu:
Người gặp khó khăn khi thở, không thể thở bình thường, người thở hổn hển liên tục, ho liên tục, người có đờm ứ đọng, thể chất suy yếu, nhiều bệnh toàn thân.
Không nên tu tập.
Nếu muốn tu tập, cần được minh sư chỉ dẫn.

Người rối loạn tinh thần:
Người bị rối loạn tinh thần thông thường, các khí mạch của họ đã rối loạn, người bị trầm cảm, người bị rối loạn lưỡng cực, khí mạch cũng bị rối loạn.
Nếu cố tu bừa.
Khí mạch sẽ càng rối loạn, không thể khắc phục được.

Người mệt mỏi:
Nếu thân tâm vô cùng mệt mỏi, tốt hơn hết là đi ngủ, ngáp liên tục không thể dừng, cần phải đợi đến khi tinh thần thể lực hồi phục mới có thể tu pháp.
Tu khí khi mệt mỏi.
Khí sẽ rối loạn.
Bị lệch khí.
Khó mà khắc phục.

Khi song vận:
Khi song vận, tu khí là điều cấm kỵ, nhưng trong pháp vô lậu, nâng khí là có thể được.
Nói chung, phàm phu trong khi song vận, không nên tu khí.
Bởi vì công lực không đủ sẽ đi vào đường lệch lạc.
Nhưng ngược lại, nếu là bậc thành tựu có thể tu khí, thậm chí đưa khí vào đối phương, khiến họ được lợi ích.

Khi cực kì bất an:
Lúc này khí mạch đều cực kì rối loạn, lúc này tu nạp khí vô ích mà còn có hại.
Cần tâm tình bình phục, tâm ổn định rồi mới có thể tu.

Quá no hoặc quá đói:
Quá no khí mạch không ổn định.
Quá đói khí mạch không ổn định.
Tu tập như vậy có hại.

Độ trong lành của không khí không tốt:
Hành giả tu nạp khí, nên ở nơi thông gió, thông khí, có gió mát lưu thông.
Có người hút thuốc.
Khí thải từ xe hơi.
Nhiều bụi bặm.
Chất lượng không khí kém.
Mùi phân nước tiểu hôi thối.
Không nên tu nạp khí.
Khí nạp vào nên trong lành, dễ chịu.
Trong phòng bệnh viện, trong nhà tang lễ, ở nơi có nhiều khí methan, trong phòng tắm nhiều hơi ẩm, ở nơi có nhiều khí lạnh, đều không thích hợp để thực hành pháp nạp khí.

Người mới học, có nhiều điều cấm kỵ.
Người đã thành tựu, ít điều cấm kỵ.
Tất cả đều nằm ở công phu điều chỉnh thích nghi!


### 32. Tu Chỉ


Tôi nói:
Mật giáo tu trekcho dịch thành "lập đoạn", cũng còn gọi là "chỉ", tức là bản tịnh.
Pháp chỉ này rất khó!
Bởi vì "tâm vượn ý mã".
Tâm như khỉ vượn không thể tĩnh lặng!
Ý như con ngựa hoang chạy nhảy lung tung!
Tâm động thì khí cũng động.
Khí động thì tâm cũng động.
Vì vậy người tu hành cần phải tu chỉ, chỉ có chỉ mới có thể thấy được sự thanh tịnh vốn có, bản lai diện mục mới có thể hiển hiện.

Nếu không thể chỉ, phải làm sao?

Phương pháp như sau:
Tỳ Lô thất chi tọa.
Chỉ thân — tọa thiền kiết già.
Chỉ ngữ — giữ im lặng.
Chỉ ý — không nghĩ về quá khứ, không nghĩ về tương lai, không phân biệt hiện tại.
(Quá khứ, không nghĩ đã làm. Tương lai, không nghĩ sẽ làm. Hiện tại, không phân biệt.)
Ý không liên quan vào bất cứ điều gì khác.
An trụ bình đẳng.
Tiếp tục như vậy, có thể đạt đến cảnh giới "chỉ".

Còn nữa:
Thắp một nén hương.
Mắt nhìn vào chấm đỏ trên hương.
Tập trung toàn tâm.
Nhưng cũng không cần dùng sức quá, chỉ cần tự nhiên quan sát là đủ.
Nếu không thể tĩnh tâm, khi tạp niệm nổi lên, cần phải nhìn vào chấm đỏ trên hương.
Không để vọng niệm lại sinh khởi.
Liên tục như vậy, đó chính là pháp thiền định nhất tâm.

Đối tượng tập trung cũng có thể dùng:
Tượng Phật.
Chữ chú.
Vầng trăng tròn.
v.v…
Đây gọi là "hữu y" mà chỉ. [dừng nhờ dựa vào đối tượng khác]

Lại nữa:
Cái gì gọi là "vô y" mà chỉ? 
Tôi đáp:
"Quán tự tính".
Tức là không chú tâm vào ngoại vật, tự nhiên an trụ, tự nhiên tịnh chỉ.

Quán tự tính là quán gì?
Cao minh nhất là không quán gì cả.
Hoặc quán niệm đầu.
Hoặc quán ánh sáng Phật tính.
Hoặc quán khí.
Hoặc quán thần.

Lại nữa:
Hôn trầm thì phải làm sao?
Giữ thân thẳng, nhìn lên trên, xốc tinh thần lên.
Hoặc đứng dậy trì chú.
Hoặc đánh quyền kim cang.

Lại nữa:
Trạo cử thì làm sao? Tinh thần quá hưng phấn.
Thả lỏng thân, mắt nhìn xuống, tư thế nghỉ ngơi, khiến thân tâm tự nhiên.

Tôi nói:
Tâm khí là một.

Có một ví dụ là:
Khí như con ngựa không mắt, nhảy lung tung, chạy loạn xạ.
Tâm như người què chân, cưỡi trên lưng ngựa mù.
(Đây là phàm phu.)
Phải dùng pháp chỉ để vây bắt người què ngựa mù.
Đó chính là lập đoạn!


### 33. Tu đốn siêu


Togal trong tiếng Tạng dịch là đốn siêu, là hiện kiến pháp tính.

Về nguyên tắc, thông qua khí trí tuệ, nâng chuyết hỏa, hạ minh điểm, qua tác dụng đốt nhỏ giọt, mở ra cánh cửa quang minh.
Khi cánh cửa này mở ra, sẽ sinh ra: Ánh sáng minh điểm.

Ánh sáng minh điểm là vòng hào quang. Có khi là một vòng, hai vòng, ba vòng hoặc nhiều vòng. Đó là ánh sáng rực rỡ của minh điểm, bên trong có những đường vân ngũ sắc, là ánh hào quang của pháp giới.
Bên trong có đàn thành.
Hào quang.
Bổn tôn.
Hòa quyện rung động.
Khi Bổn tôn giáng xuống, cũng hiển hiện ánh sáng minh điểm bên ngoài.
Ánh sáng minh điểm bên trong.
Ánh sáng minh điểm bên ngoài.
Không có sự khác biệt.

Hơn nữa:
Chuỗi ánh sáng kim cang được tạo ra từ việc nối liền các ánh sáng minh điểm, cũng là ánh sáng hiển hiện từ tính không.
Do kết nối liên tục như một chuỗi xích không đứt đoạn, nên được gọi là ánh sáng kim cang dây chuyền, có thể là một chuỗi, hai chuỗi, ba chuỗi hoặc nhiều chuỗi.

Thông thường khi tu thành huệ nhãn có thể kiến chứng:
Ánh sáng minh điểm.
Ánh sáng chuỗi kim cang.
Ánh sáng màn kim cang.

Lại nữa:
Ánh sáng màn kim cang là sự kết hợp lại của ánh sáng chuỗi kim cang, cụ thể là:
Điểm — ánh sáng minh điểm.
Đường — ánh sáng chuỗi kim cang.
Mặt phẳng — ánh sáng màn kim cang.

Tu pháp chỉ trekcho giống như đập vỡ cái bình (thân thể), khiến không khí bên trong bình hòa trộn với không khí bên ngoài bình. Đạo gia gọi là: từ hậu thiên trở về tiên thiên.

Khi tu togal:
Thân hành giả lập tức chuyển thành không, biến hóa thành ánh sáng đa sắc, dùng ánh sáng chuyển hóa thành cầu vồng, và thành tựu thân cầu vồng, tức là hóa thân cầu vồng.
Pháp thân ngồi tư thế sư tử.
Báo thân ngồi tư thế voi.
Ứng thân ngồi tư thế tiên nhân.
Đây là yếu quyết về thân.
Như người câm.
Đây là yếu quyết về khẩu.
Tâm không tán loạn, lìa vọng niệm ba đời, an trụ trong hư không tịch tĩnh.
Đây là yếu quyết về ý.

Lại nữa:
Tu pháp quán quang, dùng ý minh, đạt đến nơi quang minh.
Trong ánh sáng màn kim cang:
Xuất hiện Kim Cang Tát Đỏa, Phật Thích Ca Mâu Ni, và các Bổn tôn tương ứng khác.

Trước tiên:
Một tay một chân.
Nửa thân.
Thân trên, thân dưới. Không chỉ một mà rất nhiều.
Cuối cùng có thể hiện toàn thân.
Có khi hiện chày kim cang, chuông, chữ chú, hoa sen, bảo tháp, pháp loa, v.v...
Khi giải thoát, có:
Hoa xá lợi.
Xá lợi tử.
Thân hóa ánh sáng cầu vồng.
Thân cầu vồng bay đi.

Tất cả những điều này đều là khẩu quyết quan trọng, trong đó có nhiều chi tiết, cần được giải thích bởi vị Kim cương Thượng sư chân chính.


### 34. Xử thế của hành giả


Tôi nói:
Người tu hành sống trong thế gian, làm sao để xử thế?
Tu tập yoga chuyên nhất, phương pháp tốt nhất là bế quan, loại bỏ hoàn toàn mọi duyên bên ngoài.
Dừng các mối quan hệ xã hội.
Dừng việc kinh doanh mưu sinh.
Dừng danh lợi địa vị.
Dừng sự ràng buộc tình cảm gia đình.
Dừng, dừng, dừng, dừng, dừng...
Chuyên nhất.
Cho đến khi thành tựu.

🌟


Ly hí du già, phương pháp tốt nhất là lên núi.
Trong mắt chỉ có núi và cây.
Trong tai chỉ có gió và tiếng chim hót.
Trong mũi chỉ có không khí trong lành.
Trong lưỡi chỉ có một vị duy nhất.
Trong thân có không.
Trong tâm không trụ vào đâu.
"Giữ núi".
Cho đến khi thành tựu.

🌟

Nếu bế quan và lên núi đều không thực hiện được thì phải làm sao? 
Tôi tặng bạn ba chữ:

Một là: Từ.
Lòng từ đối với người, không tạo ác nghiệp.
Thân — giữ thân như ngọc.
Khẩu — một lời có hại cho người cũng không dễ dàng thốt ra.
Ý — mọi việc đều nghĩ cho người khác.
Lợi người có thể làm.
Lợi mình không nên làm.
Lợi mình lợi người có thể làm.
Không lợi mình không lợi người không nên làm.

Hai là: Kiệm.
Quý trọng sinh mạng nên kiêng sát sinh.
Quý trọng vật dụng, dùng tiết kiệm.
Quý trọng phước đức, không lãng phí.
Tiết kiệm trong ăn uống.
Tiết kiệm trong ham muốn.
Tiết kiệm trong lời nói.
Tiết kiệm trong uống rượu.
Tiết kiệm trong giao du.
Tiết kiệm trong xã giao.
Tiết kiệm trong suy nghĩ.
.....

Chữ "kiệm" là nuôi dưỡng thiên hòa, nuôi dưỡng điềm lành, nuôi dưỡng khí, nuôi dưỡng tinh thần, nuôi dưỡng đức, nuôi dưỡng thân thể.
Xử thế nên từ bi.
Xử thế nên tiết kiệm.
Vừa từ bi vừa tiết kiệm tự nhiên đạt được tĩnh.

Ba là: Tĩnh.
Có tĩnh mới định.
Có định mới an.
Như vậy tai ương không sinh.
Phúc luôn dư dả.
Mới có dư địa.
Bỏ phiền bỏ nhiễu.

Tôi nói:

Như vậy, ẩn lớn ẩn nơi đời, ẩn nhỏ ẩn nơi núi, tuy ở đời vẫn là ẩn.
Tôi nói, đây là tâm ẩn, thân không ẩn, cũng là thân tâm đều ẩn.


### 35. Chuyển hóa là khẩu quyết


Tôi đã từng nhắc đến biển số xe của mình, đây là một câu chuyện rất đáng nhớ.

Trước đây tôi có một chiếc xe Mercedes màu trắng, biển số là: 546.
Người ta nói biển số này đọc lên nghe giống như: "Tôi đã chết".
Rất không may mắn.

Sau đó, tôi chuyển hóa nó.
546 trở thành: "Không có chuyện gì".
Mọi việc đều ổn!
Đây là một ví dụ tốt về chuyển hóa.

🌟

Trong cuộc đời này, tôi có không ít thuận duyên, nhưng nghịch duyên cũng khá nhiều, tuy nhiên tất cả đều đã qua đi.

Mỗi khi gặp nghịch duyên, tôi thường suy nghĩ như sau:
"Tất cả rồi sẽ qua đi!"
"Thời gian sẽ làm nhạt nhòa tất cả!"
"Chết rồi! Chẳng còn gì cả!"
Điều này nghe có vẻ tiêu cực, nhưng suy nghĩ kĩ, nó giúp ta buông bỏ được nhiều.

Tôi đưa ra một số ví dụ:
Bệnh tật — giúp bạn nhận ra sức khỏe là quan trọng nhất, chỉ một lòng mong khỏi bệnh, buông bỏ mọi vọng tưởng khác, đây là điều tốt.
Già nua — thân thể suy yếu, đây cũng là điều tốt, bạn sẽ không phạm giới nữa, hãy ngoan ngoãn cầu vãng sinh Phật quốc!
Cái chết — đây là điều tốt hơn nữa, giúp bạn hiểu rằng một khi chết đi, mọi việc đều dừng lại, tranh danh đoạt lợi tranh địa vị v.v… tất cả đều chết theo, để bạn hiểu rằng, không có gì để đạt được.
Tổn thương tình cảm — đây là điều tốt, giúp bạn hiểu rằng thế sự vô thường, tất cả đều đang biến đổi.
Phỉ báng — đây là điều tốt, giúp bạn tu tập nhẫn nhục, cuối cùng thành tựu vô sinh pháp nhẫn.
Thất bại — đây là điều tốt, giúp bạn nỗ lực phấn đấu hơn nữa, không ngừng tiến lên.
Vào tù — đây là điều tốt, chỉ có như vậy, thân khẩu ý mới thanh tịnh nhất, vừa có thể giữ giới, vừa có thể bế quan.

Như vậy:
Tất cả thuận duyên đều tốt.
Tất cả ác duyên đều tốt.
Tất cả nghịch duyên đều tốt.
Chuyển hóa là một khẩu quyết rất lớn!

🌟

Tu đạo cũng là chuyển hóa:
Thuận hóa là:
Hư không hóa thần, thần hóa thành khí, khí hóa thành hình, hình sinh vạn vật.
Nghịch hóa là:
Quên hình để dưỡng khí, quên khí để dưỡng thần, quên thần để dưỡng hư, quên hư để dưỡng đạo.

Diêu Trì Kim Mẫu nói:
Tinh thần rò rỉ mất ở đâu, thì hãy thu hồi từ nơi đó.

Đạo trường sinh là:
80 tuổi tu thành 60 tuổi, 60 tuổi tu thành 40 tuổi, 40 tuổi tu thành 20 tuổi, 20 tuổi tu thành trẻ thơ.
Đây chính là phản lão hoàn đồng.
Tiếp tục quay trở lại sẽ thành thần tiên.

Học Phật cũng vậy:
Phàm phu biến thành quân tử, quân tử biến thành thánh nhân, thánh nhân biến thành Bồ Tát, Bồ Tát biến thành Phật.

Biến chính là chuyển hóa.
Công phu hoàn toàn ở hỏa hầu:
Lạnh đến cực điểm, nước đông thành băng.
Nóng đến cực điểm, vàng hóa thành nước.
Tu thân khẩu ý thanh tịnh sẽ tương ứng Bổn tôn.
Tu khí mạch minh điểm sẽ thành Phật thành Tổ.


### 36. Nhất vị du già


Tôi cho rằng, có năm hạng người, học Phật sẽ không thành tựu, đó là năm hạng nào?
1. Người không phẩm không đức — phàm phu thấp hèn.
2. Người cầu công ham danh — phàm phu giả dối.
3. Người tham tiền thích sắc — phàm phu súc sinh.
4. Người khao khát phú quý — phàm phu thế tục.
5. Người bận rộn chính trị — phàm phu vô tri.

Tuy nói rằng, công danh, làm quan, kinh doanh..., không cản trở tu hành.
Nhưng, có một phần theo đuổi thì có một phần chướng ngại, có thể toàn tâm toàn ý, nhất tâm học Phật, hiếm thay?
Năm hạng người này, muốn tu hành đến Nhất vị, khó thay! Không chỉ là khó, mà là khó trên cả khó.

🌟

Để tu hành đến Nhất vị, cần:
Buông bỏ vạn duyên.
Không sinh một niệm.
Đừng hỏi đúng sai.
Quên mình quên người.
Trăm ác đều dứt.
Tùy hỷ việc thiện.
Cảnh giới không động.
Không vui không buồn.

Công phu của Nhất vị là:
Ngưng thần nhập thiên tâm, linh độc nhất giác [chỉ còn duy nhất cảm giác/giác quan về tâm linh/linh hồn].
Bắt đầu từ khí, khí định thì thần định.
Tâm khí dựa vào nhau, điều khí tức điều tâm.
Khí có thể điều, tâm có thể nhất.
Giữ vững cái "nhất" này.
Vô lậu.
Chuyết hỏa.
Minh điểm.
Khai ngũ luân.
Minh tâm.
Kiến tính.
Nhất vị.
Tất cả đều có thể thành tựu!

🌟

Từ Nhất vị, xuất hiện một sức mạnh thần bí, sức mạnh thần bí này, người đời không bao giờ biết được.
Phật lực.
Bồ Tát lực.
Bổn tôn lực.
(Những điều trên thuộc tha lực.)
Tự lực.
Niệm lực.
Tự tính lực.
(Những điều trên thuộc tự lực.)

Cá nhân tôi cho rằng, khi tự lực sinh khởi, tha lực sẽ tự nhiên đi vào, cả hai không phân biệt, nhậm vận tự tại.

Có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn có sức mạnh thần bí?"
Tôi trả lời:
"Tôi không biết. Nhưng tâm nghĩ, việc liền thành."
Người hỏi:
"Nhiều chuyện kỳ lạ đều xảy ra trên thân của thầy, tại sao vậy?"
Tôi trả lời:
"Tôi không biết. Tôi chỉ là tu đến Nhất vị."

Khi tu đến Nhất vị:
Thấy được điều người khác không thấy.
Nghe được điều người khác không nghe.
Quá khứ, hiện tại, tương lai, hòa làm một.
Ý niệm ở đâu, tôi ở đó.
Hiểu rõ tất cả mọi điều!


### 37. Nói về chứng lượng


Hỏi: "Sư Tôn Lư Thắng Ngạn, người thường nói, tu luyện đạt được chứng lượng, vậy rốt cuộc chứng lượng là gì?"
Đáp:
"Phạm vi chứng lượng rất rộng, những điều tôi biết là pháp tính lượng, tăng trưởng lượng, liễu biệt lượng, pháp nhĩ lượng."

Hỏi:
"Đây chỉ là những thuật ngữ, có cái gì cụ thể hơn không?"
Đáp:
"Nói cụ thể, lấy việc nằm mơ làm ví dụ, chứng lượng bậc cao là không mơ, chứng lượng bậc trung là ánh sáng (miên quang), chứng lượng bậc thấp là biết mình đang mơ."

Hỏi:
"Tôi hiểu đại khái, có thể giải thích chi tiết hơn không?"
Đáp:
"Không mơ chính là pháp tính. Ngủ trong ánh sáng là tăng trưởng. Còn biết mình đang mơ trong giấc mơ là liễu biệt. Cả ba điều này đều không đơn giản, nhưng đã biết, đã tu ra chứng lượng rồi!"

Hỏi:
"Pháp tính lượng là chứng lượng gì?"
Đáp:
"Vô vi, vô ngữ, an trụ, không có bất kì vọng niệm nào, đó chính là pháp tính."

Hỏi:
"Tăng trưởng lượng là gì?"
Đáp:
"Xa lìa mọi sự chải chuốt, đi thẳng tới. Thuyết pháp tùy thuận, nhưng đều trúng đích, tâm như người điên, không có niệm khác. Nói chung, trạng thái này, người ta gọi là hành giả điên."

Hỏi:
"Liễu biệt lượng là gì?"
Đáp:
"Bất kì việc gì đều là vô sự. Bất kì ngôn ngữ nào đều là pháp ngữ. Tâm tịch nhiên an trụ. Đây là hành giả có khả năng chuyển hóa."

Hỏi:
"Pháp nhĩ lượng là gì?"
Đáp:
"Thân như chết, không có sợ hãi điên đảo. Miệng như tiếng vọng trong thung lũng, tùy âm thanh mà đáp ứng. Ý như hư không, không nhiễm, tịch tĩnh."

Hỏi:
"Còn có chứng lượng nào nữa không?"
Đáp:
"Tất cả khí thế giới, đều chuyển hóa thành tịnh thổ."
"Tất cả âm thanh, đều chuyển hóa thành chú ngữ."
"Tự thân ngũ uẩn, đều chuyển hóa thành cầu vồng."
"Tự thân tâm khí, đều chuyển hóa thành pháp luân."

Hỏi:
"Chứng lượng lớn nhất là gì?"
Đáp:
"Hóa cầu vồng bay đi!"

Hỏi:
"Hóa cầu vồng bay đi là lượng giải thoát, có phân biệt không?"
Đáp:
"Bậc thượng đẳng, không có bờ này bờ kia."
"Bậc trung đẳng, không có luân hồi để đọa lạc."
"Bậc hạ đẳng, vãng sinh tịnh thổ."

Hỏi:
"Lư Sư Tôn có chứng lượng gì?"

Biết đời như mộng
Biết người là ཧཱུྃ . (Một)
Biết là đại huyễn.
Biết không chứng không.
Đó là câu trả lời của tôi.

Hỏi:
"Lư Sư Tôn là người như thế nào?"
Đáp:
"Người tự hiểu rõ chính mình!"


### 38. Chí thiện là Một


Tôi hỏi một người: 
"Tại sao anh không có tín ngưỡng?"
Anh ta trả lời: 
"Tôn giáo nào cũng giống nhau, chỉ dạy người ta làm điều thiện mà thôi. Tôi chỉ cần làm điều thiện, không hại người là được, tin theo tôn giáo nào cũng như nhau."
Tôi hỏi: 
"Anh có chắc mình đang làm điều thiện không? Anh có chắc mình không hại người không?"
Anh ta suy nghĩ một lúc: 
"Mọi thứ từ từ sẽ đến."
Tôi hỏi: 
"Từ từ đến khi nào?"
Anh ta đáp: 
"Rồi sẽ có một ngày làm được thôi!"
Tôi hỏi: 
"Nếu không có ngày đó thì sao?"
Anh ta: 
"Ừm......"
Tôi nói: 
"Đứa trẻ ba tuổi còn biết, nhưng cụ già tám mươi vẫn không làm được."

🌟

Tôi nói:
Người thiện hay ác, tất cả đều ở trong tâm của mỗi người.
Làm thánh nhân, do tâm.
Làm phàm phu, cũng do tâm.
Thuần thiện là thánh nhân.
Thuần ác là tiểu nhân.
Thiện nhiều ác ít là quân tử.
Ác nhiều thiện ít là lưu manh.
Thiện ác cân bằng là người thường.

Tôi nói:
Ánh sáng mặt trời mặt trăng là thánh nhân.
Tâm trong dục ít là quân tử.
Thuần túy vì dục là phàm phu.
Điên đảo mê lạc là tiểu nhân.

🌟

Người hỏi: 
"Thiện là gì?"
Tôi đáp: 
"Đạo tâm duy vi, nhân tâm duy nguy, duy tinh duy nhất, doãn chấp quyết trung." [Câu nói trong Thư Kinh - Sách lược Đại Vũ, nghĩa là: Đạo tâm vi diệu, nhân tâm nguy hiểm, chỉ có tinh ròng và chuyên nhất, không nghiêng lệch.]

Đây là:
Thiện là nhất .
Thiện là trung.
Nhất là bất động, thất tình lục dục chưa khởi, là thánh là thiện.
Tinh ròng tại nhất, là tâm bất động, là chế ngự tâm vậy.

Và:
Giữ trung là ôm ấp đạo.
Ôm ấp đạo là chí thiện.
Là đạo tâm.
Là thiên tâm.
Là bản tâm.
Tâm pháp của Khổng Tử và Nhan Hồi là:
Chấp trung.
Chế tâm.

Và:
Thất tình lục dục bất động là nhất.
Cũng tức là nhất tâm bất loạn.

Muốn nhập vào Tam ma địa, Tam muội địa, samadhi, chỉ có chữ "Nhất".
Thân bất động.
Khẩu bất động.
Tâm bất động.
Đây là khẩu quyết của định.

"Kinh Hoàng Đình" nói:
Mắt thường nhắm, tai không nghe, răng thường khép, nước miếng nên nuốt, khí thường bình, tâm bất động. Đó là bí quyết!


### 39. Trời ơi! Trời ơi! Trời ơi!


Tôi thường thở dài:
"Trời ơi!"
Người nghe thấy, hỏi:
"Lư Sư Tôn, sao thầy thường kêu ‘trời ơi’ vậy!"
Tôi đáp:
"Không biết phải làm sao!"
Hỏi:
"Tại sao vậy?"
Tôi đáp:
"Tôi nhìn người đời, bậc thượng lấy việc trị quốc giúp đời làm chỉ nam, bậc trung lấy phú quý công danh làm chỉ nam, bậc hạ lấy gia đình bình an làm chỉ nam, trong đó, người tu hành rất ít, nên tôi thở dài."
Hỏi:
"Lư Sư Tôn không phải có năm triệu đệ tử sao?"
Tôi đáp:
"Năm triệu là đất trên mặt đất, người tu hành chứng quả là đất dính trên móng chim nhạn. Ý tôi là, dù có năm triệu hành giả, người thật sự tu hành chỉ ít ỏi như đất dính trên móng chim nhạn bay qua mà thôi!"
Hỏi:
"Vậy tại sao lại như thế?"
Tôi đáp:
"Vấn đề thực tế, vừa phải lo cho Phật Tổ, vừa phải lo cho cái bụng. Đa số đệ tử thực ra đã phí hoài những năm tháng quý báu của cuộc đời vào việc kiếm tiền, vào sinh kế, vào cầu bình an, vào phú quý, vào sức khỏe, vào danh lợi, vào chức quan, vào công việc. Còn chuyên tâm tu hành, được mấy người?"

Hỏi:
"Đây là thường tình của con người, có mấy người có thể chuyên tâm tu hành?"
Tôi đáp:
"Đúng vậy! Trời ơi! Ngay cả trong những người chuyên tu hành, cũng có người vì lợi, vì danh, vì chùa chiền, vì địa bàn, vì phe phái, vì cạnh tranh,..." (chỉ người xuất gia)
Người hỏi nói:
"Vậy người thành tựu còn ít hơn nữa!"
Tôi đáp:
"Trời ơi! Trời ơi! Đúng là như vậy!"

Điều tôi cảm thán là:
Người đời nay, tất cả đều chìm đắm trong môi trường phú quý công danh tài lợi, không ai có thể tự thoát ra được.
Ngay cả người tu hành, cũng giống như người thế tục, tham tiền bạc, tham lợi lộc, tham chùa chiền, tham địa bàn, tham danh vị, bề ngoài là tu hành, bên trong cũng chẳng khác gì.
Người thật sự hiểu được pháp tu nội chứng cao quý, thực tu có chứng lượng, tự mình tu tập và lợi ích người khác, tự giác ngộ và giúp người khác giác ngộ trong sự nghiệp bồ đề, làm Phật sự, thực sự quá ít.
Vì vậy tôi nói:
"Trời ơi! Trời ơi! Trời ơi!"

Tôi nói:
Làm quan, chôn vùi một đời.
Làm giàu, chôn vùi một đời.
Khoa học kỹ thuật, chôn vùi một đời.
Học hành, chôn vùi một đời.
Kinh doanh, chôn vùi một đời.
Lợi nhuận, chôn vùi một đời.
Tình yêu, chôn vùi một đời.
.......
Thường đến lúc chết vẫn còn mê muội, không biết quay đầu, không biết hối tiếc, thật đáng than thở!

Người người đều có Phật tính,
Người người đều có thể thành Phật,
Nhưng không tự biết,
Chỉ chìm đắm trong mê lầm thế tục.

Tôi cảm thán:
"Trời ơi! Trời ơi! Trời ơi!"


### 40. Khẩu quyết chữ Nhất


Tôi, Lư Sư Tôn thường nói khẩu quyết chữ Nhất, tôi cảm thấy chữ Nhất có bốn nghĩa, hãy để tôi viết ra, mọi người đọc xem.

Tôi nói:
Nhất chính là chân.
Trời đất chính là nhất, toàn bộ vũ trụ chính là nhất, sơn hà đại địa cũng là nhất.
Phật nói:
Huyễn hóa.
Nhưng từ huyễn hóa tu thật, cũng chính là lấy giả tu chân.
Trung lập không nghiêng lệch, là chính.
Chính cũng là chân.
Như đã nói:
Thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh.

Đây chính là:
Đường hoàng nghiêm túc.
Khí chất uy nghiêm.
Giữ chính không thiên lệch.
Là thật là một.

Tôi nói:
Nhất chính là tĩnh.
Tinh thần thống nhất.
Vạn sự quy nhất.
Chế ngự tâm vào một mối.
Nhất chính là thái cực viên dung, có được nhất, thì có thể nhập vào tĩnh.
Như gương mài bụi.
Như quay mặt vào tường tu tập.
Ngũ uẩn quy nhất.
Thất tình quy nhất.
Lục dục quy nhất.
Như thế vạn duyên lắng đọng và tịch tĩnh.

Không thấy. Không nghe.
Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, tất cả đều quy về một.
Pháp môn Bất nhị.
Chủ nhất chủ tĩnh.
Đây chính là tâm pháp của thánh nhân, khẩu quyết của Phật pháp.

Tôi nói:
Nhất chính là thuần.
Cái gọi là phàm phu chính là không thuần, niệm tục chính là đục, thế giới ngũ trược chính là phàm phu.

Từ phàm vào thánh.
Trước tiên cần phải bỏ đục giữ thuần.
Điều này luôn chí thành, chính là đạo tâm, đạo tâm chính là thủ nhất tồn thuần, không chút sai sót.
Thiên tâm không thuần thì không ngưng.
Khí không thuần thì không chân, thì không tĩnh, thì không nhất.
Nếu phẩm chất chỉ tàm tạm thì ắt không có hiệu quả thuần khiết.
Tu chân dưỡng tính, nhất định là:
Thuần tinh.
Thuần khí.
Thuần thần.

Như thế thuần cực thì diệu tới, thuần thì phóng quang, nếu không thuần thì không thể thành tựu.
Chí thành cũng là thuần.
Chí đạo cũng là thuần.
Chí tâm cũng là thuần.
Quang minh cũng là thuần.
Tôi nói:
Nhất chính là nhất.
Đạo chính là nhất.
Nhất chính là đạo.
Chủ nhất là quan trọng, đừng rơi vào tà môn, đừng vào ngoại đạo.
Nhất chính là yếu quyết.
Thái không hỗn nhiên, nhất tâm nhất đức, có thể đạt đến cảnh giới Phật.
Pháp môn Bất nhị, chính là Nhất.


### 41. Nữ tu vô lậu thế nào?


Một nữ đệ tử hỏi:
"Thưa Lư Sư Tôn, trong sách của thầy thường nói về vô lậu, nam tu thì nhiều, nữ tu thì rất ít, vậy phụ nữ làm thế nào để tu vô lậu?"
Tôi đáp:
"Vô lậu của nam giới là vô lậu nguyên tinh. Vô lậu của nữ giới là vô lậu kinh huyết (tức máu kinh nguyệt). Nữ giới khoảng 14 tuổi bắt đầu có kinh nguyệt, kinh huyết bị tổn hao, dù hàng tháng máu tái tạo nhưng thực tế kinh nguyệt đều có sự hao tổn, trong tuần lễ kinh nguyệt này tu hành không dễ dàng, nên tu vô lậu."
Nữ đệ tử hỏi:
"Lư Sư Tôn, nếu phụ nữ không có kinh nguyệt, liệu có ảnh hưởng đến tuổi xuân và dễ già đi, hoặc không thể mang thai không?"
Tôi đáp:
"Theo hiểu biết của tôi, không."
(Chú thích: Trước đây tôi đã hỏi ý kiến bác sĩ Tiêu Tương Quân.)
Nữ đệ tử hỏi:
"Với nam giới, thượng đan điền là thiên tâm, trung đan điền là vùng tim, hạ đan điền là dưới rốn bốn lóng tay, còn nữ giới thì sao?"
Tôi đáp:
"Nữ giới lấy vùng tim làm thượng đan điền, trung đan điền nằm giữa rốn và thận, hạ đan điền là âm hộ (bộ phận sinh dục nữ)."

Nữ đệ tử hỏi:
"Làm thế nào để bắt đầu thực hành?"
Tôi đáp:
"Dùng tư thế ngồi chéo chân như cò đứng, hai chân gối chồng lên nhau, trước tiên khép chặt hạ đan điền, giữ vững nguyên âm."
Nữ đệ tử hỏi:
"Nguyên lý là gì?"
Tôi đáp:
"Vô lậu của nữ giới vẫn cần giữ ý tại ba đan điền, đưa khí vào thượng đan điền, ý tập trung ở ba đan điền, dùng khí nâng lên."
Nữ đệ tử hỏi:
"Có cần thân không động, miệng không động, ý không động không?"
Tôi đáp:
"Tam bất động là pháp Tam ma địa, đây là thần tập trung vào một điểm, tính định trong biển giác, như gương sáng, như nước trong, đây là nơi thiện mỹ tối thượng. Nam nữ vô lậu là cảnh giới nhậm vận tự tại."
Nữ đệ tử hỏi:
"Đây là cảnh giới gì?"
Tôi đáp:
"Cảnh giới này chính là vô lậu rồi. Cô cần biết cách thực hành công pháp!"
Nữ đệ tử hỏi:
"Làm thế nào để thực hành công pháp?"
Tôi đáp:
"Bắt đầu từ rốn, đưa khí lên phía trên, tổng cộng 36 lần, đưa khí lên đến thượng đan điền tại vùng tim."
(Tức là, gót chân ép sát vào âm hộ, hai tay bắt chéo dưới rốn, dùng ý dùng khí, nâng lên 36 lần, nâng đến vùng tim. Sau đó, tay nâng lên hướng trời.)

Tôi lại nói:
"Nếu có cảm giác tại Vĩ Lư [vị trí đuôi xương cụt], hai tay chống hông, nghiến răng, hai vai nâng lên, đầu và lưng duỗi thẳng lên. Khí đi lên Ngọc Chẩm [huyệt nằm ngang với xương chẩm ở phía sau đầu], đạt đến Nê Hoàn [vị trí giữa hai lông mày đi vào sâu bên trong ba thốn], môi dưới cắn môi trên."
Nữ đệ tử hỏi:
"Cần luyện trong bao lâu?"
Tôi đáp:
"Luyện cho đến khi không còn kinh huyết mới thôi."
Nữ đệ tử hỏi:
"Có nguy hiểm không?"
Tôi đáp:
"Đó là vấn đề thể chất, tùy người mà khác nhau. Nếu gặp vấn đề nên hỏi ý kiến một Kim cương Thượng sư chân chính." (Nâng khí không nên quá gấp gáp.)
Nữ đệ tử hỏi:
"Có pháp hỗ trợ không?"
Tôi đáp:
"Có. Dùng kim cang quyền để hỗ trợ." (Quyền pháp vô lậu dành cho nữ.)


### 42. Cảnh tướng của Ma Ha Song Liên Trì 


Hỏi:
"Lư Sư Tôn thường nhắc đến Ma Ha Song Liên Trì, cảnh giới và công đức của nó như thế nào?"
Tôi đáp:
"Ở giữa thế giới Tây phương Cực Lạc trên cõi trời, có một cõi Phật gọi là Ma Ha Song Liên Trì."
Vị chủ tôn của cõi Phật này là Liên Hoa Đồng Tử.
Cõi Phật này tất cả viên mãn, không thể đo lường.
Cõi Phật này được tạo thành từ bảy báu.
Cung điện cõi Phật, mặt đất và vô số cung điện được trang trí trang nghiêm bằng bốn báu vật.
Hư không cõi Phật là đế võng minh châu, hiện năm màu hào quang.
Xung quanh cõi Phật là nước tám công đức, trong đó có hoa sen, đủ các màu sắc.

Cõi Phật có tám loại chim thần:
Vua các loài chim màu vàng kim.
Chim anh vũ.
Chim cộng mạng.
Chim hoàng oanh.
Chim diệu âm.
Chim như ý.
Chim ca-lăng.
Chim công.

Liên Hoa Đồng Tử thuyết giảng bốn pháp:
Bát Nhã.
Kim Cang.
Tam Du Già.
Đại Viên Mãn.

Trong cõi Phật, mọi nơi đều có Bồ Tát, Nhất Sinh Bổ Xứ, hóa sinh từ hoa sen.
Y phục, thức ăn, chỉ cần nghĩ đến là thành.
Không có bệnh tật.
Nếu có nghiệp nhỏ, vào nước tám công đức liền được thanh tịnh.
Hoa vi diệu cúng dường chư Phật.
Có niềm vui vô thượng.
Có nhạc trời.
Có gió thơm.

Cõi Phật Ma Ha Song Liên Trì có công đức trang nghiêm, giống như:
Cõi Phật Hiện Hỷ của Tỳ Lô Giá Na Như Lai.
Cõi Phật Cụ Đức của Bảo Sinh Như Lai.
Cõi Phật Cực Lạc của A Di Đà Phật.
Cõi Phật Cổ Âm của Bất Không Thành Tựu Như Lai.
Cõi Phật Bất Động của A Súc Như Lai.
Công đức các cõi đều như nhau.
Trang nghiêm như nhau.
Vi diệu như nhau.
Sự hóa hiện của Ma Ha Song Liên Trì này chính là do đôi mắt của Phật Nhãn Phật Mẫu hóa thành.

Hành giả khi sắp ngủ, quán tưởng Ma Ha Song Liên Trì.
Trì tâm chú Liên Hoa Đồng Tử.
Tự mình nghĩ muốn cầu vãng sinh, đưa Ma Ha Song Liên Trì từng bước hóa thành ánh sáng nhập vào thân mình.
Rõ ràng minh bạch mà ngủ, đây là pháp miên quang [ngủ trong ánh sáng].

Hành giả Chân Phật bình thường dựa vào mười một phương tiện sau có thể tiến vào Ma Ha Song Liên Trì:
1. Giữ giới.
2. Bố thí.
3. Tinh tấn.
4. Nhẫn nhục.
5. Thiền định.
6. Trí tuệ.
7. Phương tiện. (trì chú)
8. Lực.
9. Nguyện.
10. Độ.
11. Pháp thân.


### 43. Quán tu Bổn tôn tịch tĩnh


Mật giáo quán tưởng Bổn tôn có hai pháp:
Ngoại quán.
Nội quán.

Trong Đại Du Già (Maha Yoga) thuộc về ngoại quán rộng lớn, ví dụ: quán tưởng toàn bộ cõi Phật.
Hư không — đế võng minh châu.
Đại địa — vàng ròng phủ mặt đất.
Cung điện — được tạo thành từ bảy báu.
Xung quanh — nước tám công đức.
Nhạc trời — tám loài chim thần.
Gió thơm — hoa cỏ kỳ lạ.
Quyến thuộc — các đại Bồ Tát.
Bổn tôn — Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Thức ăn — tùy tâm hóa hiện.
Y phục — tùy tâm hóa hiện.
Hoa sen — vô tận ánh sáng.
…….

Trong pháp Ngoại quán, hành giả tuy đang ở thế gian, nhưng chuyển hóa tất cả thế gian thành cõi Phật. Loại quán tưởng này gọi là quán tưởng bên ngoài. Trong pháp Nội quán, như A Nậu Du Già, A Để Du Già, đã thuộc phạm vi quán tưởng bên trong.
Nghĩa là ngoại quán cõi Phật tất cả đều ở trong thân mình.

Năm uẩn — Ngũ Phương Phật.
Sắc uẩn là Bất Động Phật (A Súc Phật) ở trung tâm.
Thức uẩn là Tỳ Lô Giá Na Phật ở phương Đông.
Thọ uẩn là Bảo Sinh Phật ở phương Nam.
Tưởng uẩn là A Di Đà Phật ở phương Tây.
Hành uẩn là Bất Không Thành Tựu Phật ở phương Bắc.
(Hoặc A Súc Phật và Tỳ Lô Giá Na Phật đổi vị trí cho nhau.)

Năm đại:
Không đại — Tự Tại Phật Mẫu.
Địa đại — Phật Nhãn Phật Mẫu.
Thủy đại — Ma Ma Cơ Phật Mẫu.
Hỏa đại — Bạch Y Phật Mẫu.
Phong đại — Độ Mẫu.

Bốn thức, bốn căn, bốn cúng:
Mắt — Địa Tạng Bồ Tát.
Tai — Hư Không Tạng Bồ Tát.
Mũi — Quan Thế Âm Bồ Tát.
Lưỡi — Kim Cang Thủ Bồ Tát.
Nhãn căn — Di Lặc Bồ Tát.
Nhĩ căn — Trừ Cái Chướng Bồ Tát.
Tỵ căn — Phổ Hiền Bồ Tát.
Thiệt căn — Văn Thù Bồ Tát.
Sắc — Kim Cang Trang Nghiêm Mẫu.
Thanh — Kim Cang Ca Mẫu.
Hương — Kim Cang Hoa Man Mẫu.
Vị — Kim Cang Vũ Mẫu.

Bốn thời:
Quá khứ — Kim Cang Hoa Mẫu.
Hiện tại — Kim Cang Huân Mẫu.
Tương lai — Kim Cang Đăng Minh Mẫu.
Bất định — Kim Cang Đồ Mẫu.

Bốn cửa:
Đông, Nam, Tây, Bắc mỗi cửa có một Kim Cang Hộ Pháp và bốn Kim Cang Mẫu.

Sáu đấng Năng Nhân: [sáu vị Năng Nhân hóa thân của Phật Thích Ca Mâu Ni ở trong sáu đạo độ chúng sinh, đó là Thiên Đạo Năng Nhân, Nhân Đạo Năng Nhân, Atula Đạo Năng Nhân, Địa Ngục Đạo Năng Nhân, Ngạ Quỷ Đạo Năng Nhân, Súc Sinh Đạo Năng Nhân.]
Thanh tịnh ngã mạn.
Thanh tịnh đố kỵ.
Thanh tịnh tham.
Thanh tịnh ngu si.
Thanh tịnh keo kiệt.
Thanh tịnh sân.

Tôi nói:
Nói chung, pháp Nội quán toàn là do chư Phật, Bồ Tát, Hộ Pháp hóa hiện, và hành giả tự thân vốn đã có, cần phải thắng giải. Tổng cộng có 40 vị, thêm vào Phổ Hiền Vương Phật Phụ và Pháp Giới Tự Tại Mẫu, tổng cộng là 42 vị tịch tĩnh.


### 44. Quán tu Bổn tôn phẫn nộ


Tất cả Bổn tôn phẫn nộ trong Mật giáo là hóa hiện của tất cả Bổn tôn tịch tĩnh, ví dụ: Ngũ Phật biến thành Ngũ Đại Kim Cang, Bát Đại Bồ Tát biến thành Bát Đại Minh Vương, A Đạt Nhĩ Mã Phật biến thành Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang. Và tất cả Phật Mẫu đều hóa thành phẫn nộ Mẫu. 
Chủ ý là:
Hàng phục sân của chính hành giả.
Hàng phục tham của chính hành giả.
Tôi nói:
Tỳ Lô Giá Na Phật — Phật Bộ Heruka.
A Súc Phật — Kim Cang Heruka.
Vô Lượng Quang Phật — Liên Hoa Heruka.
Bảo Sinh Phật — Bảo Sinh Heruka.
Bất Không Thành Tựu Phật — Sự Nghiệp Heruka.

Ngũ Phương Phật Mẫu:
Phật Nhãn Phật Mẫu — Phẫn Nộ Tự Tại Mẫu.
Tự Tại Mẫu — Kim Cang Phẫn Nộ Mẫu.
Bạch Y Mẫu — Liên Hoa Phẫn Nộ Mẫu.
Ma Ma Cơ Mẫu — Bảo Bộ Phẫn Nộ Mẫu.
Độ Mẫu — Sự Nghiệp Phẫn Nộ Mẫu.

Bát Đại Bồ Tát:
Quan Thế Âm Bồ Tát — Ma Yết Ngư Tràng Phẫn Nộ Mẫu. [mài nghiến]
Văn Thù Bồ Tát — Đoạn Thân Phẫn Nộ Mẫu. [chặt thân]
Phổ Hiền Bồ Tát — Thực Tâm Phẫn Nộ Mẫu. [ăn tim]
Địa Tạng Vương Bồ Tát — Bạch Y Phẫn Nộ Mẫu. [áo trắng]
Di Lặc Bồ Tát — Trừu Trường Phẫn Nộ Mẫu. [rút ruột]
Hư Không Tạng Bồ Tát — Cung Tiễn Phẫn Nộ Mẫu. [cung tên]
Kim Cang Thủ Bồ Tát — Trì Kim Cang Xử Phẫn Nộ Mẫu. [cầm chày kim cang] 
Trừ Cái Chướng Bồ Tát — Ẩm Huyết Phẫn Nộ Mẫu. [uống máu]

Bát Đại Bồ Tát Phật Mẫu:
Trang Nghiêm Mẫu — Sư Diện Không Hành Phẫn Nộ Mẫu. [sư tử]
Ca Âm Mẫu — Hổ Đầu Phẫn Nộ Mẫu. [hổ]
Hoa Man Mẫu — Hồ Thủ Phẫn Nộ Mẫu. [cáo]
Vũ Mẫu — Lang Thủ Phẫn Nộ Mẫu. [sói]
Hoa Mẫu — Thứu Thủ Phẫn Nộ Mẫu. [đại bàng]
Huân Mẫu — Ưng Thủ Phẫn Nộ Mẫu. [diều hâu]
Đăng Minh Mẫu — Nha Thủ Phẫn Nộ Mẫu. [quạ]
Đồ Mẫu — Miêu Đầu Ưng Phẫn Nộ Mẫu. [cú mèo]

Bốn vị phẫn nộ của bốn cửa:
Đại Uy Đức Phẫn Nộ Vương － Mã Thủ Phẫn Nộ Mẫu. [đầu ngựa]
Đại Lực Phẫn Nộ Vương － Trư Thủ Phẫn Nộ Mẫu. [đầu lợn]
Mã Đầu Phẫn Nộ Vương － Sư Thủ Phẫn Nộ Mẫu. [đầu sư tử]
Quân Đồ Lợi Phẫn Nộ Vương － Xà Thủ Phẫn Nộ Mẫu. [đầu rắn]

Sáu Năng Nhân:
Phao Trịch Nhật Nguyệt Phẫn Nộ Mẫu. [Phẫn Nộ Mẫu Ném Mặt Trời Mặt Trăng]
Đại Lạc Chấn Linh Phẫn Nộ Mẫu. [Phẫn Nộ Mẫu Rung Chuông Đại Lạc]
Kim Sí Điểu Phẫn Nộ Mẫu. [Phẫn Nộ Mẫu Chim Cánh Vàng]
Phao Trịch Tinh Tú Phẫn Nộ Mẫu. [Phẫn Nộ Mẫu Ném Tinh Tú]
Trì Nhu Phẫn Nộ Mẫu. [Phẫn Nộ Mẫu Giữ Mềm Mỏng]
Kích Chưởng Phẫn Nộ Mẫu. [Phẫn Nộ Mẫu Vỗ Tay]
Điện Man Phẫn Nộ Mẫu. [Phẫn Nộ Mẫu Vòng Hoa Sấm Sét]
Trì Kiếm Phẫn Nộ Mẫu. [Phẫn Nộ Mẫu Cầm Kiếm]

(Hai vị đầu tiên không nằm trong danh sách sáu Năng Nhân. Do đó sáu Năng Nhân biến thành tám Năng Nhân.)
Bốn phương có Đông Nam Tây Bắc, mỗi phương có sáu vị Tự Tại Mẫu. (Không liệt kê danh hiệu.)

Ngoài ra, bốn vị bảo vệ ở bốn cửa:
Cửa Đông － Phẫn Nộ Mẫu Đầu Chim Cúc Cu.
Cửa Nam － Phẫn Nộ Mẫu Đầu Dê Núi.
Cửa Tây － Phẫn Nộ Mẫu Đầu Sư Tử.
Cửa Bắc － Phẫn Nộ Mẫu Đầu Rắn.

Tổng cộng có 58 vị phẫn nộ, có một số được liệt kê trong 58 vị, có một số ít không được liệt kê.

Theo hiểu biết của tôi, quán tu tịch tĩnh và phẫn nộ không phải là điều dễ dàng. Chỉ vì có quá nhiều hình tượng, và các bậc thầy lại truyền dạy khác nhau, cho nên không dễ tu tập, có thể để các vị tự nhiên hiển hiện.

(Nội quán của "Hoàng Đình Kinh" dễ dàng hơn nhiều so với Mật giáo!)


### 45. Pháp ba thiên nữ hỏi việc


Bày đàn tràng ba thiên nữ.

1. Pháp đại cúng dường.
2. Pháp đại lễ bái.
3. Pháp tứ quy y.
4. Tứ vô lượng tâm.
5. Pháp mặc giáp hộ thân.
6. Pháp sám hối.
7. Tịnh nghiệp quán không.

Thủ ấn:
Tay phải kết ấn ban nguyện, tay trái kết ấn cầm hoa sen. (thủ ấn duy nhất)

Quán tưởng:
Trong hư không có chữ Pang


![image](/img/img_c9e4aaedb56b21d7db1fea15c8d61cbc.png)


hóa thành hoa sen.
Trên hoa sen có chữ 


![image](/img/img_b9a69ae5aa4d6001745cab7725c7fd12.png)


hóa thành thiên nữ màu trắng.

Và, trên hoa sen có chữ 


![image](/img/img_b9a69ae5aa4d6001745cab7725c7fd12.png)


hóa thành thiên nữ màu vàng.

Và, trên hoa sen có chữ


![image](/img/img_b9a69ae5aa4d6001745cab7725c7fd12.png)


hóa thành thiên nữ màu đỏ.

Ba thiên nữ đứng trên hoa sen lớn, ở giữa màu trắng, trái vàng phải đỏ, hoặc trái đỏ phải vàng đều được.
Ba thiên nữ đều xinh đẹp, thiếu nữ 16 tuổi, dáng vẻ mỹ miều, y phục thiên nữ nhiều lớp, tay phải kết ấn ban nguyện, tay trái cầm ấn hoa sen. (Ba thiên nữ này đều là hóa thân của Quan Thế Âm Bồ Tát.)

Trì chú:
"Ôm a-a-ma sô-ha." (108 biến)
"Ôm chưa-chưa-ma sô-ha." (108 biến)
"Ôm tuân-tuân-ma sô-ha." (108 biến)

Và chú:
"Ôm chư-ni-cha-na ni-a-ka-ni-yê sô-ha." (ý)
"Ôm chư-chư-ma sô-ha." (tâm)
"Ôm cha-chiêu cha-chiêu cha-na cha-chiêu-yê sô-ha." (mắt)
"Ôm ni-rư-ti ya-ti-ta-yê pa-xi-a-na sô-ha." (tai)

Nhập Tam ma địa.
Vô sự.
Vô tâm.
Xuất định.
Cúng dường lần nữa.

Kệ tán thán:
Việc ta và người trong ba cõi
Vốn bị ngăn che không thể biết
Chỉ mong từ bi ban khai thị
Vì vậy nhất tâm cung kính lễ.

Và:
Ba đời ba cõi các chúng sinh
Thỉnh cầu thiên nữ ban chỉ dẫn
Xin hãy chỉ dạy thật tường tận
Chí tâm cung kính ba thiên nữ.

Khẩu quyết quan trọng:
1. Ba thiên nữ tay cầm hoa sen ba màu, hành giả cần nhỏ ba giọt máu từ ngón áp út tay phải lên hoa. (khẩu quyết linh pháp)
2. Người có duyên, thành công rất nhanh.
Người không có duyên, thành công rất chậm.
Có duyên hay không có duyên, cần xem điềm báo.
3. Đàn tràng tu pháp cần giữ thanh tịnh, cấm phụ nữ mang thai, người ác, súc sinh, động vật vào.
Uống rượu.
Hút thuốc.
Không thanh tịnh.
Đều không được vào.
4. Khi tu pháp thành công, ba thiên nữ hiện thân trong mộng, hoặc một thiên nữ hiện thân, thì có thể hỏi việc.
5. Cúng phẩm nên tự mình ăn một chút mỗi thứ.
6. Nếu hành giả tham danh lợi, công lực sẽ giảm nhiều. Đây là giới luật quan trọng.
7. Nếu vẫn chưa hiểu rõ, có thể thỉnh cầu chỉ dẫn từ vị Căn bản Thượng sư truyền pháp, đừng nghe lời người khác.


### 46. Bạch Liên Hoa Vương Bổn tôn pháp 


Bạch Liên Hoa Vương là vị vua đời thứ hai của tịnh thổ Shambhala. Còn tịnh thổ Shambhala là một tịnh thổ cực kì bí mật, vị vua đời đầu tiên có thể nói là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.
Bạch Liên Hoa Vương trước tác "Vô Cấu Quang Minh Luận".
Bạch Liên Hoa Vương chính là Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử, không hai không khác.

Tu pháp này có đại thành tựu:
1. Tự thân thành Bổn tôn Liên Hoa Đồng Tử.
2. Đến Phật quốc tịnh thổ.
3. Cha mẹ và quyến thuộc nhiều đời, từng người đều được giải thoát, tiến vào Phật quốc.
4. Đắc trí tuệ Như Lai.
5. Nếu ở nhân gian sẽ là Pháp Vương Đại Bát Nhã.
6. Thần thông nhậm vận, hàng phục bốn ma.
7. Vô cấu quang minh tự tại.

Tu pháp như sau:

1. Đại lễ bái.

2. Đại cúng dường.

3. Tứ quy y.

4. Tứ vô lượng tâm.

5. Đại sám hối.

6. Mặc giáp hộ thân.

7. Tịnh nghiệp quán không.

Quán tưởng: (Kết thủ ấn, tay phải ấn thuyết pháp, tay trái ấn cầm hoa sen.)

Hư không chữ Pang


![image](/img/img_9189625fd9a7167e08603c87cbf7c35d.png)


hiện hoa sen nghìn cánh, hoa sen nghìn cánh như hình núi, xuất hiện tịnh thổ Shambhala. 

Chính giữa cung điện Bạch Liên Vương, chủ tôn chữ Ah ཨཱཿ , biến hiện Bạch Liên Hoa Vương, xung quanh có chư Phật Bồ Tát mười phương, Kim Cang Hộ Pháp, Không Hành, chư thiên vây quanh.

Bạch Liên Hoa Vương, như đồng tử 16 tuổi, trang nghiêm tinh khiết, hai tay, tay phải kết ấn thuyết pháp, tay trái kết ấn cầm hoa sen, cầm hoa sen màu trắng, thân khoác thiên y trắng vi diệu, tự tại ngồi trên bảo tọa. Thân trang nghiêm với các loại vòng ngọc. Trên đầu đội mũ miện của Phật Tỳ Lô Giá Na.

Ánh sáng trắng Om ཨོཾ་ từ mi tâm chiếu đến hành giả.
Ánh sáng đỏ Ah ཨཱཿ từ cổ họng chiếu đến hành giả.
Ánh sáng xanh lam Hum ཧཱུྃ་ từ tim chiếu đến hành giả.
Làm pháp Nhập ngã Ngã nhập. Tự thân hành giả biến thành Bạch Liên Hoa Vương.

Trì chú:
"Ôm pê-cha seng-pa-la gu-ru pê-ma hùm."
Và chú:
"Ôm gu-ru lián-sâng sit-đi hùm."
(Tụng chú 108 lần.)

Nhập Tam ma địa:
Bạch Liên Hoa Vương và hành giả hợp thể.
Chư Phật Bồ Tát mười phương, Kim Cang Hộ Pháp, Không Hành, chư thiên, từng vị một quán đảnh cho hành giả, toàn thân hành giả tràn đầy cam lộ.
Khắp thân mát mẻ.
Tất cả phiền não nghiệp chướng tiêu diệt.
Cam lộ tràn đầy, thành tựu tất cả.
Sau đó trống rỗng tất cả.
Vô sự. Khẩu quyết.
Vô tâm. Khẩu quyết.

Xuất định. Tụng kệ tán thán:
Đầu đội mũ Tỳ Lô. Trang nghiêm và từ ái.
Người thấy đều hoan hỷ. Vô minh hóa quang minh.
Nơi hành thâm Bát Nhã. Đảnh lễ Liên Hoa Vương.

Và tán:
Bao đời cha mẹ và quyến thuộc.
Đã chìm trong tăm tối ngu si.
Mong cầu từng người được giải thoát.
Khiến cho mau đạt bát nhã trí.
Chỉ có Bạch Liên tối thắng pháp.
Nhập định thậm thâm mới thành tựu.

Cúng dường lần nữa.

Hồi hướng:
Con thành Liên Hoa Vương
Từ đây phúc huệ tăng
Mãi đắc lạc vô thượng
Miệng nói tám vạn pháp
Tất cả đều thành tựu.


### 47. Khẩu quyết Hỏa cúng (Hộ Ma)


Trên phương diện cúng dường chư tôn, Hỏa cúng (Hộ Ma) là một nghi lễ quan trọng nhất, Chân Phật Tông do Lư Sư Tôn sáng lập đặc biệt coi trọng Hỏa cúng, đã tổ chức vô số pháp hội Hỏa cúng.

Mục đích chính của Hỏa cúng là:
Tức — Tiêu tai (tiêu trừ tai ương).
Tăng — Tăng ích (tăng trưởng phúc báo).
Hoài — Kính ái (thu phục lòng người).
Tru — Hàng phục (hàng phục ma chướng).

Đây là bốn pháp sự nghiệp thù thắng nhất. Nghi quỹ của nó rất trang nghiêm, theo cảm nhận cá nhân của tôi, Hỏa cúng không chỉ là bốn pháp sự nghiệp mà còn có thể siêu độ (độ vong), tiêu trừ chướng ngại (nghiệp), tăng trưởng quang minh, thành tựu tu pháp, khỏe mạnh thân thể... Trước khi nhập thất, sau khi xuất thất đều cần phải làm Hỏa cúng.

Nghi quỹ, phương pháp tu tập, và nghi thức của Hỏa cúng khá phức tạp, sau đây tôi sẽ liệt kê những khẩu quyết quan trọng như sau:

1. Thời gian:
Tiêu tai — Thứ hai, thứ tư là tốt nhất.
Tăng ích — Thứ sáu, thứ bảy là tốt nhất.
Kính ái — Chủ nhật là tốt nhất.
Hàng phục — Thứ ba, thứ năm là tốt nhất.
(Trừ phi là bậc đại thành tựu thì có thể tu bất kì ngày nào.)

2. Tâm yếu:
Tiêu tai — Tâm định, sắc mặt vui vẻ.
Tăng ích — Hân hoan, tùy hỷ.
Kính ái — Biểu lộ sắc thái yêu thương.
Hàng phục — Hiện tướng phẫn nộ.

3. Hướng mặt của người hành pháp:
Tiêu tai — Mặt hướng về phía Bắc.
Tăng ích — Mặt hướng về phía Đông.
Kính ái — Mặt hướng về phía Tây.
Hàng phục — Mặt hướng về phía Nam.
(Bậc đại thành tựu thì ngoại lệ.)

4. Màu sắc trang phục:
Tiêu tai — Màu trắng.
Tăng ích — Màu vàng.
Kính ái — Màu đỏ.
Hàng phục — Màu xanh lam.

5. Cúng phẩm:

Tiêu tai — Cúng phẩm màu trắng, như sữa bò, vừng trắng, gạo trắng, lúa mì trắng, v.v…
Tăng ích — Cúng phẩm màu vàng, như đường vàng, vải vàng, quả óc chó, quả táo, v.v…
Kính ái — Cúng phẩm màu đỏ, như rượu đỏ, lá đỏ, quả đỏ, hoa đỏ, v.v…
Hàng phục — Cúng phẩm màu xanh lam, như đường đen, hạt cải đen, máu súc vật, thuốc độc v.v...

6. Hình dáng đàn tràng:
Tiêu tai — hình tròn.
Tăng ích — hình vuông.
Kính ái — hình bán nguyệt.
Hàng phục — hình tam giác.

7. Người thực hiện Hỏa cúng: (hòa nhập)
Lửa.
Bổn tôn.
Người hành pháp.
Ba yếu tố hợp nhất.

8. Nghênh thỉnh Bổn tôn theo nghi quỹ tu pháp.

9. Hành giả và Bổn tôn hợp nhất theo nghi quỹ tu pháp.

10. Cầu nguyện theo nghi quỹ tu pháp.

11. Nghênh tiễn theo nghi quỹ tu pháp.

12. Sám hối.

13. Hồi hướng.

14. Tụng cát tường.

15. Tắt lửa.

Để lửa cúng tắt tự nhiên.
Dùng sữa bò để dập lửa.
Dùng nước thơm thanh tịnh để dập lửa.
(Niệm thêm ba lần Bách tự minh chú, dùng để bổ khuyết.)


### 48. Quá trình học pháp


Tôi trước đây là tín đồ Cơ Đốc.
Sau đó được Diêu Trì Kim Mẫu mở thiên nhãn, học tập Đan Đỉnh.

Tôi quy y với đạo sư Ấn Thuận để học Phật.
Sau khi gặp hòa thượng Liễu Minh, tôi bắt đầu học Mật giáo.

🌟

Quy nạp pháp của môn phái Đan Đỉnh của Đạo gia, tôi chia như sau:
1. Nạp khí.
2. Nuốt dịch.
3. Ôn dưỡng.
4. Giữ tinh.
5. Kết đan.
6. Chu thiên.
7. Đan thành.
8. Phi thăng.

Tôi cảm thấy cách tu luyện của phái Đan Đỉnh của Đạo gia rất giống với pháp tu Nội pháp của Mật giáo.
1. Bảo bình khí.
2. Vô lậu.
3. Chuyết hỏa.
4. Minh điểm.
5. Thủy hỏa hòa tan.
6. Khai ngũ luân.
7. Minh tâm.
8. Kiến tính.
9. Thành tựu.

Cá nhân tôi đã viết ra những điểm chính, nhìn chung là như vậy. Tất nhiên, quá trình này rất phức tạp, mỗi một mục đều có thể viết thành một loạt sách, dù nói suốt cả đời cũng không nói hết. Nội pháp của Đạo gia và Nội pháp của Mật giáo có nhiều điểm tương đồng, chỉ khác nhau ở chi tiết.

Có không ít hành giả cho rằng thân người là "cái túi da hôi thối", việc tu mệnh này không đáng để tu.
Họ bài xích việc tu mệnh, chỉ tu tính.
Nhưng, tôi cho rằng:
Nếu không có mệnh, làm sao tu tính?
Không có thân thể khỏe mạnh, tính thật khó thay!

Bất kể bạn tu pháp gì, về nguyên tắc:
Tuyệt tham khử dục.
Trở về thuần phác.
Thanh tịnh vô vi.
Dưỡng tính toàn chân.
Tâm du nơi đạm bạc.
Khí hợp nơi hư không.
Không theo đuổi thế tục.
Tính mệnh song tu.
Đây mới là hành giả chân chính!

🌟

Nếu chỉ chú trọng vào trường sinh bất lão, đó là đạo nhỏ.
Nếu chỉ chú trọng vào:
Phù chú pháp thuật.
Phong thủy chiêm bốc.
Chiêm tinh đoán mệnh.
Đây thuộc về phương tiện bàng môn mà thôi.

Cầu phúc tiêu tai.
Thắp đèn giải ách.
Cầu lành tránh dữ.
Trừ tà diệt ma.
Đây thuộc về phương tiện tả đạo.

Lại nữa:
Thuật phòng trung.
Pháp song thân.
Dễ rơi vào tà đạo, người có khả năng thực hành rất ít, có thể coi là tà đạo rồi.
Cho dù là trừ bệnh kéo dài tuổi thọ, cũng chỉ là kỹ thuật nhỏ.
Tôi vẫn chỉ có một câu:
"Tu tập chân thật một cách chân phương là quan trọng nhất!"


### 49. Ba quán đảnh bí mật


Cái gọi là ba quán đảnh bí mật của Mật giáo cũng chính là quán đảnh trí huệ, bao gồm quán đảnh pháp song thân.

Tôi không giấu giếm, sau triều đại nhà Nguyên, có những vị Lama Mật giáo Tây Tạng đã lợi dụng pháp này, làm ô uế giáo pháp thiêng liêng, khiến người ta hiểu lầm, biến giáo pháp thiêng liêng thành tà giáo, nguyên nhân là ở đây.

Có người hỏi tôi:
"Mật tông Tây Tạng có pháp song thân không?"
Tôi đáp:
"Chắc chắn là có. Ví dụ đơn giản: Đại sĩ Liên Hoa Sinh, Mã Cát Lạp Tôn và nhiều vị khác đều là như vậy."
Hỏi:
"Có lợi ích gì?"
Tôi đáp:
"Thông khí, thông mạch, dễ sinh chuyết hỏa, minh điểm hòa tan. Lợi ích cuối cùng còn lớn hơn, có thể hóa thành ánh sáng, thành thân cầu vồng, hòa nhập không hai, thành pháp giới chân như, tức thân thành Phật."
Hỏi:
"Tại sao không dạy tu?"
Tôi đáp:
"Người có khả năng ít, người phối hợp ít, tức là hành giả nam ít, hành giả nữ ít. Không hiểu quán tưởng, không hiểu thiện xảo, không hiểu pháp về thân, mạch, khí, tinh chất, không lạc, không hiểu kỹ thuật, không hiểu cứu cánh. Vì người có thể tu rất ít, nên không dạy tu, chỉ truyền bí mật."

Hỏi:
"Nếu dạy tu thì sao?"
Tôi đáp:
"Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói, pháp này giống như lấy ngọc từ miệng rắn độc, như con rắn trong ống tre, không lên được thì phải xuống, người rơi vào địa ngục rất nhiều. Trong hàng chục triệu người, chỉ có một, hai người có thể tu được, còn lại đều rơi vào địa ngục. Người tu pháp này rơi vào địa ngục rất nhiều, thà tu đơn độc còn hơn!"
Hỏi:
"Nhiều người rất quan tâm đến pháp song thân?"
Tôi đáp:
"Tất nhiên rồi, con người đều có dục, dùng tham dục cũng có thể tu hành, ai mà không quan tâm. Nhưng, dục không giảm, ngược lại còn tăng, làm ô uế thánh giáo, quá bi thảm!"
Hỏi:
"Người nào có thể được dạy tu?"
Tôi đáp:
"Ít nhất đã tu chứng vô lậu, thấu hiểu tính không. Sau đó được chân sư đích thân truyền dạy."

Hỏi:
"Nếu chưa tu chứng vô lậu, không biết tính không, không hiểu kỹ thuật, không hiểu gì cả, tu rồi thì sao?"
Tôi đáp:
"Chỉ có ba chữ: xuống địa ngục! Pháp này bị phê phán là nói bậy, bị phê phán là mê tín, bị phê phán là tà giáo là có lý do chính đáng."
Hỏi:
"Trên thị trường có tượng Phật song thân, thangka song thân, điều này có ý nghĩa gì?"
Tôi đáp:
"Đây chỉ là biểu tượng mà thôi, con người tự thân vốn có âm dương, tu thủy hỏa thăng giáng, thủy hỏa hỗ dung, giao thái mà hòa hợp. Trong tu hành, phóng ra chủng tử tự, trở thành âm thể, âm thể chính là Phật Mẫu. Pháp tướng và thangka thành song thân, không giống như sự giao hợp thế gian, thực sự có mật ý trong đó."
Hỏi:
"Lư Sư Tôn cuối cùng tán thành pháp song thân hay không tán thành pháp song thân?"
Tôi đáp:
"Nếu cả hai bên đều đủ điều kiện, tôi tán thành. Nếu một bên không đủ điều kiện, tôi không tán thành. Nhưng, người đủ điều kiện thực sự rất ít, người tham dục thì nhiều, Mật tông Tây Tạng có pháp song thân, cũng là một điều đáng lo của thánh giáo, tôi không còn gì để nói."

**(Hết.)**

---

---
# File: sach-tam-linh/250-chua-doan-da-biet.md
# Title: 250. Chưa đoán đã biết
---

![image](/img/img_1407eaa7c50ae4c6939baf1df00fc492.jpg)



## Chưa đoán đã biết


🪷 Sự trùng hợp kỳ diệu

Văn tập: 250
Xuất bản: 11/2015
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu 


Bốn bác gái đi cầu mưa

Sinh nhật thứ 71 của tôi tổ chức tại Seattle, bang Washington nước Mỹ. Hôm đó tại Seattle Lôi Tạng Tự, từng dòng người lũ lượt kéo đến. Bốn bác gái ở California cũng đến, họ là:

Trần Truyền Phương.
Ngụy Tư Nhan.
Tưởng Quan Dung.
Tôn Ái Trân.

Thời gian này là tầm tháng 6 năm 2015, toàn cầu rất nóng. Tại Ấn Độ, Pakistan còn có người chết vì nóng. Nhiệt độ ở Rome, Paris bên Châu Âu là 40°C, nóng đến mức mọi người không thể chịu nổi. Ở tại Seattle là 35°C, cũng là chưa từng có trong lịch sử.

Bốn bác gái thỉnh cầu:
“Lư Sư Tôn, ngài cầu mưa đi! Để mọi người được mát mẻ một chút!”

Tôi ngước nhìn lên trời, đúng là bầu trời trong xanh không một áng mây, ngay đến một gợn mây nhỏ xíu cũng không có, không những thế còn nắng gắt chói chang. Như vậy làm sao có thể có mưa chứ?

Tôi nói:
“Cầu mưa phải cầu xin Long Vương, bốn người các bác đi cầu xin đi, nhất định sẽ mưa!”
Bốn bác gái nói:
“Thật sao?”
Tôi trả lời:
“Thật.”

Sau đó bốn bác gái cùng nhau đến Long Vương Đình ở phía bên phải Seattle Lôi Tạng Tự dâng hương, bày đồ cúng để cầu thỉnh Long Vương.

Buổi tối hôm đó, quả nhiên:
Chớp lóe.
Sấm rền.
Trời mưa.
Mưa đến tận sáng sớm...
Oa!

Mọi người kinh ngạc, thực sự là có mưa rồi, Seattle đã nửa tháng không có mưa mà hôm nay lại đổ mưa! Linh nghiệm quá!

Tôi ngồi trên pháp tọa nói:
“Bốn bác gái đây, trong đó có Tôn Ái Trân là hành giả chân tu, đã tương ứng với Quan Thế Âm Bồ Tát, đỉnh đầu phát ra ánh sáng trắng. Quan Âm ở đó, khi bác ấy đi cầu mưa thì Long Vương cũng phải đứng dậy nghênh đón. Còn Ngụy Tư Nhan thường tu Hộ Ma (homa – hỏa cúng), trên đỉnh đầu có vô số ánh sáng màu đỏ. Ngoài ra Trần Truyền Phương, Tưởng Quan Dung có công đức ánh sáng đỏ. Bốn bác gái đồng lòng cầu mưa, Long Vương tất nhiên sẽ cho mưa xuống.”

Đêm đó, sấm chớp đùng đùng khiến rất nhiều đồng môn đang ngủ mơ cũng tỉnh giấc. Lôi Công, Lôi Mẫu, Long Vương đều đến đủ, rồi mưa lớn ào ào trút xuống.

Bốn bác gái lại hỏi:
“Tại California nơi chúng tôi sống đã khô hạn nhiều năm, khắp nơi đều là cháy rừng lớn, một hạt mưa cũng không có, phải làm sao đây?”
Tôi nói:
“Bốn bác lại đi cầu thỉnh Long Vương lần nữa, nhất định có hiệu nghiệm.”
Bốn bác gái hỏi:
“Lư Sư Tôn không giúp đỡ cầu thỉnh sao?”
Tôi nói:
“Các bác đi là được, không cần đến tôi đâu. Chỉ dựa vào bốn người các bác đã đủ rồi, không cần tôi phải đích thân ra mặt.”
Giết gà đâu cần dùng đến dao mổ trâu.

Thế là bốn bác gái lại đi cầu Long Vương, lần này là cầu cho California đại hạn hán có chút mưa.

Kể ra cũng lạ.
Lần cầu mưa này Long Vương thực sự theo bốn bà bác về tận California. California rất lâu không có mưa rồi, vào ngày hôm sau khi họ quay về California, quả nhiên trời đổ mưa như trút nước.

(Hình ảnh mây chụp từ vệ tinh của trận mưa đó rất giống một con rồng, là rồng đang phun nước đó!)
Ha! Bạn nói xem có lạ không?

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Bữa cơm Bá Vương


Một hôm, tôi cùng các vị thị giả (*) lái xe đi ăn cơm.
Ngồi trên xe tôi nói:
“Hôm nay chúng ta đi ăn bữa cơm Bá Vương!”
Một thị giả hỏi:
“Thế nào là bữa cơm Bá Vương?”
Tôi nói:
“Bữa cơm Bá Vương chính là khi ăn xong cơm rồi phủi phủi cái mông, lau lau cái miệng, rồi đi ra khỏi quán ăn, không trả tiền.” “Không được! Chúng ta sẽ bị bắt đến đồn cảnh sát, sẽ bị đăng báo. Trên báo sẽ viết, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn ăn cơm không trả tiền, từ đó sẽ mất hết danh dự.”
Tôi cười ha ha:
“Hôm nay chúng ta ăn cơm, nếu trả tiền thì tôi là đồ con rùa.(*)”

Đến một nhà hàng ăn.
Nhà hàng này rất cao cấp, cũng phải thuộc hàng số một.
Chúng tôi gọi:
Bào ngư.
Vi cá mập.
Tôm hùm.
Cua hoàng đế.
Và nhiều món khác nữa…

Tôi nói: “Ăn đi!”
Rồi mọi người cũng không khách sáo nữa.
Như một cơn gió quét sạch lá rụng, một lúc sau đã ăn đến mức cốc chén ngổn ngang, bát đĩa sạch trơn.

Có một thị giả trong số đó hỏi tôi:
“Thực sự không cần trả tiền sao?”
Tôi nói:
“Sợ cái gì, trước nay tôi đi ăn cơm đều không trả tiền mà.”

Chúng tôi ăn cơm xong. Đầu tiên là từng người một đi rửa tay, sau đó thì đồng loạt đi ra ngoài cửa nhà hàng, chuẩn bị bỏ chạy…

Lúc này, ông chủ cùng nhân viên phục vụ và thu ngân của nhà hàng bước đến chỗ chúng tôi, bộ dạng có vẻ như muốn giữ người. Tôi và các thị giả đều giật mình.

Không ngờ ông chủ lại nói:
“Cám ơn sự ủng hộ của các vị, hoan nghênh lần sau lại đến!”

Nhân viên phục vụ và thu ngân hướng về chúng tôi cúi đầu xuống thấp:
“Hoan nghênh lần sau ghé đến!”

Chuyện này là sao vậy?
Chúng tôi thực sự đã không trả tiền mà!

Ông chủ nói tiếp:
“Tiền ăn của các vị đã được một doanh nhân ngồi ở bàn bên cạnh giúp thanh toán rồi. Doanh nhân đó căn dặn lần sau các vị có đến nữa xin nhất định phải thông báo với ông ấy, mỗi lần đến ăn ông ấy đều thanh toán.”

Chúng tôi hỏi:
“Ông ấy còn ở đây không?”
Ông chủ đáp:
“Đã đi trước rồi.”
Chúng tôi hỏi:
“Doanh nhân đó tên gì? Họ gì?”
Ông chủ nói:
“Ông ấy dặn, không cần nói với Lư Sư Tôn ông ấy là ai.”

Chúng tôi lên xe về. Tôi ngủ gật một lúc, trong lúc mơ màng tôi đã nhìn thấy vị doanh nhân đó. Ồ! Đã hiểu rồi!

Có một lần, mẹ của vị doanh nhân này bệnh nặng, trăm loại thuốc đều vô hiệu. Ông ấy mời tôi đến. Tôi chỉ bê một cục đá trong hướng tuyệt mệnh của mẹ ông ấy ra chỗ khác, bệnh của mẹ ông ấy liền khỏi ngay.

Ông ấy muốn gửi hồng bao (*), tôi nói không cần.
Ông ấy muốn mời tôi ăn một bữa thịnh soạn, tôi cũng nói không cần.
Chuyện là như vậy đó!

(*) Thị giả: người giúp đỡ, phục vụ mọi việc hàng ngày bên cạnh vị thầy.
(*) Đồ con rùa: chỉ những kẻ tồi tệ, đồ trời đánh.
(*) Hồng bao: phong bao đỏ, bao lì xì, trong đó để tiền mừng, tiền cảm ơn, tiền cúng dường.


### 02. Hắc bảo hoàn kì diệu


Vào các năm 1974, 1977, 1980, Đại Bảo Pháp Vương thứ 16 đã ba lần du lịch nước Mỹ.
Năm 1980, tôi cùng sư huynh Hoàng Triều Sơ tham gia cuộc họp hàng năm của “Câu lạc bộ Rotary (*) " tại Chicago. Sau đi đến New York, tại KTD (Karma Triyana Dharmachakra) của Uzdak, tôi vào gặp Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16.

Tôi hỏi Pháp Vương:
“Pháp Vương tu pháp như thế nào?”
Đại Bảo Pháp Vương đáp:
“Buổi sáng tu Độ Mẫu, buổi tối tu Hộ Pháp Mahakala.”

Pháp Vương quán đảnh cho tôi, tặng cho tôi rất nhiều thứ: chuỗi hạt đeo tay, ngọc khí, hắc bảo hoàn, v.v.
Tôi nói:
“Tôi sẽ trang hoàng Pháp Vương làm trên đỉnh đầu mình.” (Ngụ ý đặt Pháp Vương như viên ngọc quý lên trên đỉnh đầu.)

Pháp Vương cười phá lên, tuy ngài đã có bệnh nhưng vẫn vô cùng vui mừng trước sự viếng thăm của tôi.

Hắc bảo hoàn của Đại Bảo Pháp Vương là món đồ linh thánh do Karmapa làm ra, chỉ cần uống “Nhật Nạp” (Rilinag) hoặc đeo trên người. Lợi ích của nó là: Gia trì - Bảo hộ - Giải thoát - Trừ bệnh tật.

Thật không ngờ Đại Bảo Pháp Vương lại cho tôi tới mười viên mẫu hoàn (viên mẹ), vô số tiểu hắc hoàn. Hơn nữa, mẫu hoàn sẽ lại sinh ra tiểu hắc hoàn.

Hắc bảo hoàn này vốn là được làm từ:
Tsamba. (*)
Nước được chiết xuất từ cây rìu của Milarepa.
Thần chú gia trì qua thiền định của Karmapa.

Đến mùa hè năm 2015, đột nhiên tôi nhớ ra hắc bảo hoàn. Ở ngoài cửa Chân Phật Mật Uyển của Seattle Lôi Tạng Tự, tôi nói với các đệ tử: “Tôi sẽ cho mọi người thấy kỳ tích!”

Quay người bước vào trong Mật Uyển, tôi lấy ra mẫu hoàn mà Đại Bảo Pháp Vương thứ 16 đã tặng vào năm 1980. Tôi mang ra cho mọi người xem. Máy quay, điện thoại tới tấp quay phim. Rất nhiều Thượng sư cũng có mặt như Liên Ninh, Liên Khiết, Liên Truyền.

Chính vào lúc này, trong không trung bay đến một bầy quạ màu đen khoảng 80 đến 100 con, kín mít dày đặc, ồ ạt đậu xuống nóc nhà của thư viện. Quạc! Quạc! Quạc!

Đám đông kêu lên.
“Ôi trời! Thực sự là quá trùng hợp rồi.”

Tôi không hề tính trước mà lấy ra hắc bảo hoàn, nhưng đột ngột xuất hiện bầy quạ màu đen từ không trung bay đến, đậu xuống, kêu la đầy phấn khích: Quạc! Quạc! Quạc!

Đây là kỳ tích mà!
Đúng là kỳ tích đó!
Một kỳ tích quá lớn!

Đây là sự kết hợp hóa hiện của một vị Phật sống dòng mũ đen, đại hắc bảo hoàn cùng bầy quạ đen đông kín. Mọi người quay phim rất nhiều, quay hắc bảo viên cùng bầy quạ đen rồi đưa lên mạng Internet.

Tôi vô cùng cảm động. Đây là trời ban hiện tượng lạ. Sau đó tôi quay người đi vào trong lấy ra vô số tiểu hắc bảo hoàn, chia cho các đệ tử, mỗi người một viên.

Có người cảm ứng:
Sau khi uống tiểu hắc bảo viên rồi, trong mơ thấy có rất nhiều con sâu nhỏ từ các lỗ chân lông trên cơ thể bò ra ngoài, rơi xuống đầy mặt đất. (Điềm báo nghiệp xấu được tiêu trừ.)

(*) Câu lạc bộ Rotary International: thực hiện các hoạt động thiện nguyện, nhân đạo trên toàn thế giới, thành lập năm 1905, hiện có 34,282 câu lạc bộ tại hơn 200 quốc gia với hơn 1.22 triệu thành viên gồm doanh nhân, chuyên gia, viên chức chính phủ.
(*) Tsamba: còn gọi là tsampa, lương thực chính ở vùng Tây Tạng, Himalaya và Nepal, làm từ bột đại mạch hoặc lúa mì trộn với trà bơ mặn Tây Tạng.


### 03. Vì sao bầy ong biến mất


Năm đó, tôi truyền dạy một Mật pháp chữa trị ung thư, Mật pháp đó tu như sau:

Bắt thủ ấn:
Chúng ta dùng kiếm ấn, bàn tay phải nắm lại, giơ thẳng ngón trỏ và ngón giữa, ấn vào chỗ khối u. Nếu như khối u ẩn sâu bên trong cơ thể, thì ấn vào phần bên ngoài da của khối u.

Quán tưởng:
Đại La Kim Tiên “Diêu Trì Kim Mẫu” hiện thân ở trên không ở trước mặt hành giả. Ngài có một đầu hai tay, đầu đội vương miện phượng hoàng, tướng mạo trang nghiêm, hiền từ, mỹ lệ, đoan trang, tuổi tầm đôi mươi, hoặc ba mươi, hoặc bốn mươi đều được, tay phải cầm phất trần, tay trái cầm đào tiên hoặc (ngọc hay gậy) như ý.

Trì chú:
“Om, jinmu siddhi hum” (108 lần)
(Phiên âm Việt là: Ôm, chin mủ sít đi hùm)

Tiếp đó quán tưởng:
Từ chính giữa chân mày của Diêu Trì Kim Mẫu xuất hiện một luồng ánh sáng trắng vô cùng mãnh liệt, chiếu vào vị trí hoặc phần có khối u trên thân thể của mình. Khối u trên người giống như một tổ ong, xuất hiện một cái lỗ rồi một cái lỗ sâu hơn. Có rất rất nhiều con ong từ các lỗ của tổ ong bay ra ngoài, bay ra ngoài vào trong không trung rồi biến mất hẳn. Khối u trên người nhỏ lại, hoặc biến mất không còn.

Hành giả tiếp tục niệm ba tiếng: “Hum! Hum! Hum!”

Cuối cùng hồi hướng và cầu nguyện:
"Diêu Trì Kim Mẫu mẹ rất hiền.
Cứu độ chúng sinh mãi triền miên.
Khối u – bầy ong đều tan biến.
Cứu con hết nghiệp khỏi bệnh liền."

Còn nữa:
"Diêu Trì Kim Mẫu mẹ rất hiền.
Cứu độ chúng sinh mãi triền miên.
Khối u – bầy ong đều tan biến.
Giúp con khỏe mạnh thân như tiên."

Sau khi tôi truyền dạy xong Mật pháp này, mọi người hoan hỷ tin tưởng làm theo.

Sau đó đã xuất hiện chuyện kỳ lạ:
Ở khắp các bang nước Mỹ vốn có rất nhiều gia đình nuôi ong. Sau khi ong bay ra khỏi tổ, chúng bay ra mù mịt như những đốm sao. Bay đi rồi thì không quay về tổ nữa. Ngay đến một con cũng không bay về. Sao ong lại biến mất chứ?

Lúc đầu, mọi người cho rằng đây chỉ là một vụ riêng lẻ, sau này mới biết ong của rất nhiều gia đình nuôi ong toàn bộ đều bay vào không trung rồi biến mất.
Một đồn mười.
Mười đồn trăm.
Đài truyền hình cũng đưa tin.

Bị hang động trên trái đất hút vào trong?
Bị biển cả nuốt chửng hết rồi?
Bị đốt thành tro khi bay qua miệng núi lửa sao?
Bị gió lớn cuốn đi mất ư?
Hay là đi vào không gian ba chiều rồi?
Bị người ngoài hành tinh bắt đi nghiên cứu chăng?
Vân vân...

Sau khi tôi truyền dạy Mật pháp này xong, lập tức xuất hiện chuyện kỳ lạ như vậy. Thật trùng hợp!

Có người hỏi:
“Lư Sư Tôn truyền dạy cách làm tiêu trừ bầy ong khối u và việc bầy ong biến mất, có liên quan không?”
Tôi trả lời: “Tôi không biết!”


### 04. Tỳ kheo ba đời


Tôi nhớ lại khi còn trẻ có chụp một tấm ảnh, tôi cắt kiểu tóc đầu đinh ngắn, mặc bộ đồ Hải Thanh màu đen, khoác bên ngoài chiếc áo thọ Bồ Tát giới, hai tay bắt “định ấn”, đứng nghiêm trang. (Lúc đó, trông tôi rất đẹp đẽ phong độ.) Tấm ảnh này là tấm ảnh kỷ niệm khi tôi thọ Bồ Tát giới.

Tôi còn nhớ:
Như Học thiền sư đã xây chùa Bích Sơn Nham tại Nam Đầu (*). Chùa Bích Sơn Nham lần đó đã khởi xướng cho thọ “Bồ Tát giới tại gia.”
Chùa đã nghênh thỉnh ba vị đại giới sư:
Lão hòa thượng Huệ Tam.
Lão hòa thượng Hiền Đốn.
Lão hòa thượng Giác Quang.

Vì vậy, ba vị lão hòa thượng này là sư phụ thọ giới của tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn).

Trong số ba vị sư phụ thọ giới này, lão hòa thượng Huệ Tam từng truyền dạy cho tôi Uế Tích Kim Cương Pháp, lão hòa thượng Hiền Đốn truyền dạy pháp Vô Tướng Niệm Phật. Lão hòa thượng Giác Quang trẻ hơn lão hòa thượng Huệ Tam và Hiền Đốn, là một vị tỳ kheo có tướng mạo rất đẹp.

🌟

Năm tôi 38 tuổi, ngày 16 tháng 6 năm 1982 cả nhà đã di cư sang Seattle nước Mỹ. Sau khoảng 3 năm, vào năm 1985, tôi nghe nói sư phụ thọ giới của tôi, lão hòa thượng Giác Quang có một căn nhà ở trên đảo Mercer thuộc khu vực Seattle.

Tôi cùng Thượng sư Liên Hỏa và mọi người thông qua sự sắp xếp của cô Lâm Tư đã đi gặp lão hòa thượng Giác Quang. Lão hòa thượng nhìn thấy tôi đến vô cùng vui mừng, nói chuyện với nhau rất hợp ý, vô cùng tâm đầu.

Lão hòa thượng tặng cho tôi hai cái bình hoa bằng gốm rất to. Cho đến bây giờ, hai cái bình hoa gốm này vẫn đặt ở trong phòng khách của Nam Sơn Nhã Xá, được bày trí ngay ngắn.

Tôi từng mời lão hòa thượng Giác Quang tham quan Seattle Lôi Tạng Tự và Chân Phật Mật Uyển mà chúng tôi xây dựng.

Lão hòa thượng nhận xét: “Không đơn giản.”
Tôi hỏi: “Tại sao lại không đơn giản?” Lão hòa thượng nói:
“Nơi này là nước Mỹ, quy định pháp luật nhiều như lông trâu, muốn xây một ngôi chùa, không dễ dàng chút nào.” Chúng tôi mời lão hòa thượng dùng cơm.
Ông nói:
“Tôi ăn chay từ trong bụng."
(Cũng có nghĩa là khi ở trong thai mẹ, người mẹ chỉ có thể ăn chay.)

🌟

Vào một buổi sáng của năm 2015, tôi ngồi trong phòng khách ăn sáng, ngước đầu lên nhìn thấy hai cái bình hoa gốm, đột nhiên trong lòng chấn động, chắc do trong lòng đột nhiên nhớ đến.

Tôi nói với Thượng sư Liên Hương:
“Hai cái bình hoa gốm này là lão hòa thượng Giác Quang tặng.” Thượng sư Liên Hương chỉ “dạ” một tiếng, không nói gì thêm.

Tôi quay về phòng ngồi thiền, nước mắt tự nhiên chảy ra.
Tôi ở trong thiền định, xuất Nguyên thần (*). Nguyên thần hóa

thành bảy ngọn đèn vàng, ánh sáng chiều dài ba trượng (*), dẫn đường cho lão hòa thượng Giác Quang bay qua núi Cà Lam, đỉnh núi Tu Di, đi đến Tây Phương Đại Lôi Âm Tự.

Hôm đó, khi tôi đến văn phòng Tổng Ủy Hội, trên bàn của tôi có để một tờ giấy fax của một đệ tử Hồng Kông, trên đó viết: “Trưởng lão Giác Quang đã viên tịch, xin Lư Sư Tôn tiễn ngài ấy một đoạn.”
Tôi nói: “Tôi biết rồi!”
Tôi giơ tay ra bấm đoán: “Ồ! Thì ra sư phụ là tỳ kheo ba đời!”

(*) Nam Đầu: Nantou, một huyện ở Đài Loan.
(*) Nguyên thần: một dạng thuần khiết của thần thức, linh hồn.
(*) Ba trượng: khoảng 10m.


### 05. Phật xuất thế gian


Có đệ tử hỏi tôi:
“Phật là xuất thế gian, vậy lúc Phật còn tại thế thì có điểm đặc trưng gì không?”
Tôi nói:
“Phật chính là người đã giác ngộ, danh hiệu của Phật là: Như Lai, Ứng Cúng, Chính Biến Tri, Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.”

Tôi giảng:
Như Lai: Theo con đường Như Thật mà đến. (Như đến như đi, như đi như đến, do vậy là tướng của Chân Như.)
Ứng Cúng: Xứng đáng thọ nhận sự cúng dường của trời người.
Chính Biến Tri: Biết tất cả các pháp.

Minh Hạnh Túc: Hạnh của Tam minh đều đầy đủ.
Thiện Thệ: Nghĩa là khéo léo vượt qua mọi chướng ngại, lấy tất cả đại trí làm phương tiện, đạt tới Niết Bàn.
Thế Gian Giải: Có thể hóa giải những vướng mắc hữu tình hay vô tình của thế gian.
Vô Thượng Sĩ: Vô thượng ở trong các pháp, vô thượng Niết Bàn, vô thượng trong tất cả chúng sinh.
Điều Ngự Trượng Phu: Có thể sử dụng các loại phương tiện khiến chúng sinh đi vào con đường thiện.
Thiên Nhân Sư: Đạo sư của trời và người, dạy bảo cái gì nên làm và không nên làm.
Phật Thế Tôn: Bậc được người đời tôn sùng.

Đệ tử lại hỏi:
“Phật xuất thế gian, Phật tại thế gian, có vẻ bề ngoài ra sao, hay nói cách khác là xuất tướng, biểu hiện ở bên ngoài ra sao?”

Tôi lại giảng:
Theo như Mật giáo, biểu hiện bên ngoài có:
Như con rùa, ngài không chuyển động.
Như người câm, ngài không nói nhiều, thường thiền định.
Như người bệnh, ngài không trang điểm.
Như người điên, giống sư tử, ngài không bám chấp.
Nếu có nói, ngài thường nói lời cát tường.
Như xác chết, ngài không kinh không sợ.
Ngài đối đáp khéo léo.
Tập tính của ngài vẫn là thế tục, nhưng chúng vốn không dính mắc trong tâm. (Phương tiện thế tục).

Tự tại:
Biểu hiện tự tại.
Ngũ ấm tự tại,
Tâm khí tự tại.

Nhậm vận: (*)
Tất cả đều là Phật độ thanh tịnh.
Là cầu vồng huyễn hóa.
Là giải thoát tất cả.
Thấu triệt được vạn hình tướng như thị.
Không còn đọa vào ba đường ác đạo.

Đệ tử lại hỏi:
“Còn nữa không?”
Tay của tôi vừa bắt ấn “linh quang” liền biết hết mọi thứ.
Tôi đáp:
“Như trong Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, tất cả đều là danh hiệu của chư Phật.”

Tôi nói:
Tịnh Quang Bí Mật Phật: Thanh tịnh, quang minh, bí mật.
Pháp Tạng Phật: Cũng tức là pháp được cất giấu, có duyên thì truyền.
Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật: Chính nghĩa, thần túc, từ bi.
Tu Di Đăng Vương Phật: Là ngọn đèn sáng cho người đời.
Pháp Hộ Phật: Hộ trì Phật pháp.
Sư Tử Du Hí Phật: Vui chơi chốn nhân gian, vô chấp vô trước.
Bảo Thắng Phật: Mọi thứ siêu thắng như ý.
Thần Thông Phật: Hiển hiện thần thông.
Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật: Chữa lành bệnh khổ của chúng sinh.
Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật: Khắp nơi cứu giúp người đời, công đức như núi.
Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật: Vĩnh viễn cứu độ người đời.
Ngoài ra...

Vị đệ tử này sau khi nghe tôi thuyết giải xong, thốt lên:
“Trước giờ chưa từng nghe nói đến! Thì ra danh hiệu của chư Phật, cũng chính là biểu hiện của Phật trụ thế gian!”

(*) Nhậm vận: không hề cần dụng công hay khởi tâm cố tình tạo tác, thuận theo pháp tính tự nhiên là tự vận hành và tự thành tựu (Bát địa Bồ tát trở lên mới có đủ khả năng Nhậm vận). Một vị hành giả đạt tới mức “nhậm vận” thì đã vượt ra khỏi sự phân định giữa Ta (bản ngã) và Không phải Ta.


### 06. Đào giếng nước


Có nhà phát triển trong ngành kiến trúc đến tìm tôi nói:
"Lư Sư Tôn, tôi có một việc xin giúp đỡ!"
Tôi nói:
"Tôi biết! Anh không có việc thì sẽ không đến Tam Bảo Điện."
Anh nói:
"Xấu hổ! Xấu hổ!"
Tôi hỏi: "Có chuyện gì vậy?"
Anh đáp:
"Tôi đang phát triển một khu dân cư trên đỉnh núi, đã mời công ty đào giếng tìm kiếm nguồn nước dưới lòng đất, nhưng không ngờ là đào kiểu gì cũng đào không tới được nguồn nước, đã đào hết năm chỗ rồi vẫn không tìm thấy nước."
Anh muốn xin:
"Có thể mời Lư Sư Tôn đến đó một chuyến không?"
Tôi nói:
"Không cần, đưa bản đồ địa hình cho tôi xem!"

Anh lấy bản đồ ra. Tôi dùng ngón tay chỉ vào một chỗ cao, chính là nơi để đào. Tôi lấy bút khoanh tròn vị trí cao đó lại. Ở
trên vùng đất cao đó có một mảnh rừng nhỏ.

Anh nói:
"Khu quỷ quái này không được."
Tôi hỏi:
"Tại sao lại không được?"
Anh trả lời:
"Người của công ty đào giếng có kinh nghiệm lâu năm, họ nói khu đất cao nguyên quỷ quái này không thể có nước. Nước chảy xuống dưới, chỗ cao như vậy làm sao có nước được chứ? Lư Sư Tôn ngài chọn chỗ khác đi!"
Tôi nói:
"Tôi lại cứ muốn chọn chỗ này!"
Anh nói:
"Nếu như đào không ra nước thì sao?"
Tôi cười:
"Đào không ra nước thì là đào không ra nước thôi."
Anh nói một cách do dự:
"Lư Sư Tôn, đừng có nói đùa nữa!"
Tôi nói:
"Tôi nói đùa lúc nào chứ."

Anh tức tối bỏ đi!

🌟

Nói ra cũng kỳ lạ, chính tại vùng đất cao quỷ quái đó, nơi có mảnh rừng nhỏ đã đào ra được một giếng nước. Nhà phát triển và công ty đào giếng đến tìm gặp tôi. Hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn ngài đoán ra được hay sao?"
Tôi đáp:
"Tôi không dùng thần toán."
Anh hỏi:
"Không dùng thần toán, vậy làm sao biết?"
Tôi nói:
"Tôi xem địa hình."
Anh hỏi:
"Địa hình gì?"

Tôi đáp:
"Địa hình này là huyệt xoắn ốc, giống vỏ của con ốc xoay vòng mà lên. Còn gọi là huyệt suối dồn, nước chảy ở bốn phương tám hướng, tại chỗ này nước dâng lên trên nên sẽ có nguồn nước."
Họ nói:
"Chúng tôi chưa từng nghe qua có cách nói này!"
Tôi đáp:
"Chuyện gì cũng có ngoại lệ, cũng có lỡ như."
Họ nói:
"Lư Sư Tôn đúng là không thể nghĩ bàn!"
Tôi nói:
"Đừng nhiều lời, đưa hồng bao đây! Ha ha ha!"


### 07. Buổi phỏng vấn


Thời gian: 11 giờ 20 phút sáng (chủ nhật) ngày 12 tháng 7 năm 2015.
Địa điểm: Chân Phật Văn Vật quán, khu China Town ở Seattle nước Mỹ.
Nội dung: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì lễ khai quang đàn thành cùng với đệ tử Chân Phật Tông và quần chúng.

Nhóm quay phim gồm có:
• Phỏng vấn viên Đài truyền hình đa phương tiện nước Mỹ (American Multimedia Television USA).
• Nhà sản xuất Từ Nhã Kỳ, chương trình "Thắp sáng ngọn đèn tâm" của đài truyền hình Trung Thiên.
• Nhóm nhiếp ảnh Tây Thành Lôi Tạng Tự.

Việc đầu tiên:
Khai quang Thất Phật, Diêu Trì Kim Mẫu, Liên Hoa Đồng Tử
cùng chư vị Bồ Tát trụ tại đàn thành trước.
Rồi khai quang Uế Tích Kim Cương và Bất Động Minh Vương.
Sau đó khai quang thần tài, thần đất.

Việc tiếp theo:
Khi trả lời phỏng vấn của Đài truyền hình đa phương tiện nước Mỹ, tôi nói:

Tại Đài Loan:
Hội công đức Hoa Quang chia ra ba khu vực Bắc, Trung, Nam làm mọi công việc trợ giúp khẩn cấp. Ngoài ra là giúp đỡ trẻ em nghèo khó đi học, chăm sóc sức khỏe, chăm sóc mười triệu "thiên thần nhỏ Hoa Quang". Còn có nhà an dưỡng cuối đời, v.v. Tài trợ nghiên cứu bệnh ung thư.

Tại Mỹ:
Seattle Lôi Tạng Tự tài trợ 8,000 USD cho thư viện Đông Á. (Hoa Đại)
Nhóm "Vì gạo mà đi" (Walk for rice) vận động từ thiện 30,000 USD, giành được giải thưởng Hoa Đại. Nhóm "Vì gạo mà đi" giành được hạng nhất giải đoàn đội, hạng nhất cá nhân quyên góp.

Quỹ từ thiện mang tên Lư Thắng Ngạn: Cứu trợ thiên tai, tai nạn ở Nepal, tài trợ khẩn cấp 130,000 USD. Phân bổ 250,000 USD dùng cho "Học bổng Liên Hoa" và "Chăm sóc sức khỏe".

Tổng cộng ủng hộ 1,500,000 USD tiền từ thiện.

Tại Hồng Kông:
Tài trợ toàn bộ tượng Phật cho Chân Phật Văn Vật.
Hội công đức Hoa Quang xây hầm chứa nước và hồ chứa nước nhỏ tại các khu vực hẻo lánh, tỉnh Cam Túc, v.v. ở Trung Quốc đại lục, giải quyết được vấn đề khó khăn không có nước để sử dụng ở các vùng hẻo lánh của Trung Quốc đại lục. "Một giọt là cuộc sống" là mục đích chủ yếu của Hội công đức Hoa Quang Hồng Kông.
Cứu trợ động đất. Cứu trợ mưa bão.
Về phương diện cứu trợ khẩn cấp, Hội công đức Hoa Quang Hồng Kông làm nhiều nhất, chi ra số tiền nhiều vô số kể.

Ở các nơi trên thế giới, tất cả công ích từ thiện, Hội công đức Hoa Quang đều có phần quyên góp, đây chính là phát Bồ Đề tâm. Vô cùng vô tận.

Khi tôi ở Chân Phật Văn Vật khai quang xong, đi ra ngoài cổng lớn, bên ngoài cổng xuất hiện cảnh tượng kỳ lạ.
"Mọi người nhìn xem!" - Đám đông la lớn.
"Nhìn gì thế?"
"Trên trời có trăm nghìn con chim tụ tập."
"A! Chúng đang bay vòng tròn đó!"

Trăm nghìn con chim vây quanh Chân Phật Văn Vật quán bay lượn. Một vòng. Hai vòng. Ba vòng.

Tôi nói:
"Nhìn chung khi khai quang tượng Phật, bầy chim tụ tập nhiễu quanh Phật ba vòng, thông thường nhiễu ba vòng là dừng lại!"

Tôi vừa dứt lời. Bầy chim nhiễu ba vòng thì dừng lại, toàn bộ đậu lên trên dây điện kín mít dày đặc trông như một kỳ quan.
"Quá thần kỳ rồi, lại là thần tích! (*) "
"Trời giáng dị tượng (*) rồi!"

(*) Thần tích: sự tích về thần linh, hiện tượng dị linh.
(*) Dị tượng: hiện tượng quái dị, kỳ lạ


### 08. Nước gia trì có điện


Ngày 5 tháng 5 năm 2015 âm lịch là Tết Đoan Ngọ. Chúng ta thường hay lấy "nước vô căn" (nước không nguồn) vào giờ Ngọ.

"Nước vô căn" là cái gì? Vào giờ Ngọ (11h-13h), nếu như trời mưa, rơi từ trên trời xuống thì là "thiên vô căn". Chúng ta dùng xô để hứng nước, không để nước rơi xuống dưới mặt đất, đó gọi là "địa vô căn". Nếu như trời không mưa thì "nước vô căn" sẽ rất khó mà tìm được.

Thông thường đệ tử của tôi vào giờ Ngọ sẽ đi lấy nước suối chảy tự nhiên. Nước suối này ở Seattle rất nổi tiếng. Kết quả xét nghiệm cho thấy đây là nước suối ngọt thanh vô cùng, độ thuần khiết là 100%, sạch hơn bất cứ loại nước nào.

Ngày 5 tháng 5 năm 2015 âm lịch không có mưa. Thế là họ đi lấy nước suối tự nhiên, sau đó đặt ở trước cửa thư viện hoặc ở ngoài đường. Họ xin tôi gia trì.

Tôi niệm:
Thiên đồ địa phương.
Luật lệnh cửu chương.
Gia trì tịnh thủy.
Uống vào bình an.
Ta phụng luật lệnh của Phật Tổ. Nhiếp!

Tôi dùng khí trời gia trì, lúc gia trì niệm chân ngôn này, tay bắt kiếm ấn, một luồng ánh sáng trắng đi vào nước đựng ở trong bình.
Mọi người kêu lên:
"Là nước giờ Ngọ, nước giờ Ngọ của Tết Đoan Ngọ."
"Có bệnh chữa bệnh, không bệnh khỏe thân."
"Uống vào bình an."
"Giải tà tiêu tai."
"Tất cả vận xấu xa lánh, từ nay như ý cát tường."
"Tiêu tai giải nguy."
"Giải tất cả mọi tà ác."

Truyền thuyết kể rằng:
"Nước giờ ngọ của Tết Đoan Ngọ là có khí dương cương mạnh nhất, là khí thuần dương, có thể khắc chế mọi tà ác."

🌟

Có rất nhiều đồng môn từ phương xa đến. Mỗi người tay cầm một thùng hoặc một bình nước mang về đất nước của mình.

Khi qua hải quan sân bay, đây vốn dĩ là một loại nước suối bình thường, nhưng lại có tiếng loẹt xoẹt.
Hải quan hỏi:
"Nước có vấn đề hả?"
Đồng môn nói:
"Không có, là nước suối bình thường."
Lại đi qua lần nữa, vẫn là: có tiếng loẹt xoẹt.

Đồng môn lấy làm lạ! Hải quan cũng thấy kỳ lạ! Hải quan kêu đồng môn uống một ngụm, đồng môn liền uống một ngụm.
Cuối cùng, kết quả là được phép đi qua.

Đồng môn hỏi tôi:
"Rõ ràng là nước suối bình thường, tại sao trong nước lại có sóng điện từ, mà điện lại vô cùng mạnh."
Tôi nói:
"Tôi chỉ gia trì thôi mà!"
Đồng môn hỏi:
"Chỉ gia trì thôi đã sản sinh điện, từ lực, đúng là quá kỳ lạ mà,
Lư Sư Tôn đúng là pháp lực cao cường."

Tôi cười to ha ha ha!
Việc "nước gia trì" đi qua hải quan này xảy ra rất nhiều. Nhân viên hải quan đều không hiểu đầu cua tai nheo ra làm sao, đồng môn cũng không hiểu là chuyện quái lạ gì.

"Nước gia trì" của Lư Sư Tôn lại có điện mạnh vậy sao?


### 09. Tam quang trên đỉnh đầu


Vài năm trước, có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Tam quang trên đầu ngài đâu rồi?"
Tôi đáp:
"Tam quang nào?"
Người hỏi nói:
"Ngài đi vào chùa mang theo tam quang, lễ bái xong, ngài bước ra ngoài, chủ tôn trong chùa theo ngài đi ra, chẳng phải là chủ tôn nhìn thấy tam quang của ngài sao?"
Tôi nói:
"Tôi chỉ là khai báo họ tên của mình."
Người hỏi lại nói:
"Chỉ khai báo họ tên, mà chủ tôn đuổi theo phía sau?" "Không sai."
"Tại sao vậy?"
Tôi bật cười lớn:
"Đại danh đại thụ!" (Tên lớn, cây lớn)

🌟

Còn nữa:
Có một lần, tôi tới Bắc Cảng Triều Thiên Cung, vừa mới bước ra khỏi quảng trường cửa cung thì có hai cơn gió lốc xoáy đuổi đến.
Cát bụi đất đá bay mịt mù.

Thiên Lý Nhãn, Thuận Phong Nhĩ hỏi:
"Là tiên? Hay là yêu?"
Tôi xua tan gió cát. Tôi nói:
"Tôi là phàm phu tục tử!"
(Lần đó hai cơn gió lốc kèm theo đất đá thổi mạnh đến mức không thể mở nổi hai mắt, Thượng sư Liên Cực cũng nhìn thấy.)

🌟

Một hôm, tôi làm pháp sự.
Tôi bắt kiếm ấn, trước là cung, sau là tên.
Tôi niệm: "Ma ha bát nhã ba la mật. Om, mani padme hum. Tua li. Cấp cấp như luật lệnh. Nhiếp! Phụng Kim Mẫu luật lệnh, phụng Kim Mẫu luật lệnh, phụng Kim Mẫu luật lệnh. Cương."

Một kiếm chỉ thẳng vào hư không, hét lớn một tiếng: "Nhiếp!" Lúc này, dần dần lộ ra tam quang.
Có Pháp sư Liên Trạch nhìn thấy. Ông ấy nói:
"Nhìn thấy trên đỉnh đầu của Lư Sư Tôn phóng ra tam quang, một luồng ánh sáng trắng chiếu thẳng lên trời, một luồng ánh sáng đỏ thành hình tròn, một luồng ánh sáng vàng thành hình tròn."

Tôi giảng:
Tam quang là Phật quang, linh quang, kim quang.
Phật quang màu trắng - Là ánh sáng tu hành.
Linh quang màu đỏ - Là ánh sáng công đức.
Kim quang màu vàng - Là ánh sáng pháp lực.

Tam quang công đức vĩ đại, sáng chói lấp lánh, nghìn tia cát tường, vô cùng siêu thắng.
Một Lư Thắng Ngạn nhỏ bé như tôi, vốn là cầm luật lệnh của Tây Phương Đại Lôi Âm Tự, hạ sinh ở nhân gian. Lại có Diêu Trì Kim Mẫu luật lệnh. Lại có Địa Tạng Bồ Tát luật lệnh. Lại có... luật lệnh.

🌟

Ngày thường.

Tôi biểu hiện bình thường, có chút ngu muội, là một phàm phu tục tử, trên người không có chút ánh sáng, thích nói Phật pháp:
"Tham lợi lăn lộn khắp thế gian, không bằng xuất gia tu hành an nhàn.
Khoác lên tăng y học tự tại, trong tâm không cầu trời đất rộng lớn.
Không có phú quý nào có thể giữ mãi, lục đạo luân hồi khổ vô tận.
Giờ đây nhìn thấu hư huyễn, học làm một Tán Tiên (*) của nhân gian."

Người ta hỏi tôi: "Có tam quang không?" Tôi đáp: "Cái gì là tam quang?"

(*) Tán Tiên: là vị tiên không nắm giữ bất kì một chức vụ nào, luôn tiêu diêu tự tại, an nhàn vui vẻ.


### 10. Cũng xem như là cảm ứng


Một hôm, có một cô gái tên là Mạc Lợi đến tìm tôi hỏi chuyện. Mạc Lợi nói:
"Con có hẹn hò với một người bạn trai vài năm, bây giờ bọn con chia tay rồi. Thật lòng là con rất nhớ anh ấy, không biết Lư Sư Tôn có cách nào khiến bạn trai cũ của con quay về bên con không?"
Tôi nói:
"E rằng cậu ấy sẽ không quay lại nữa!"
Mạc Lợi nói:
"Con thực sự rất nhớ anh ấy, bọn con thực sự không có duyên phận nữa sao?"
Tôi nói:
"Chút chút!"
Mạc Lợi nói: "Xin Lư Sư Tôn ra sức giúp đỡ!"

Sau đó, cuối cùng tôi nói:
"Như vậy đi! Tôi có một lá phù, tôi vẽ cho cô, cô cầm lấy lá phù này cầu nguyện trước trời, rồi đem lá phù này với giấy vàng cho vào trong lư hóa vàng mã đốt, chắc chắn có cảm ứng."
"Có cảm ứng gì?" - Mạc Lợi hỏi.
Tôi đáp:
"Trong vòng bảy ngày cậu ấy chắc chắn đến tìm cô hoặc sẽ gọi điện thoại cho cô."

Thế là Mạc Lợi làm đúng theo lời tôi nói.
Ngày đầu tiên, không có.
Ngày thứ hai, không có.
Ngày thứ ba, tư, năm, sáu, không có.
Ngày thứ bảy, không có.

Oa! Tôi đoán nhầm rồi, không linh rồi! Lá phù đó của tôi như sau:


![image](/img/img_c63195e079ec8283291dc5ae2a602840.jpg)


Có một hôm, tôi gặp lại Mạc Lợi. Tôi hỏi Mạc Lợi:
"Cậu ấy có đến tìm cô không?"
Mạc Lợi trả lời:
"Không có!"
Tôi hỏi Mạc Lợi:
"Cậu ấy có gọi điện thoại cho cô không?"
Mạc Lợi trả lời:
"Không có!"
Tôi hỏi:
"Vậy một lời nhắn cũng không có sao?"
"Đúng vậy." - Mạc Lợi nói: “Thực sự đến một lời nhắn cũng không có."

Tôi có hơi thất vọng.
Mạc Lợi cũng rất hoang mang.
Trước mắt là khoảng không trống rỗng, pháp lực cũng vô dụng rồi!

Sau đó, Mạc Lợi mới nói:
"Đến ngày cuối cùng có một giấc mơ rất rõ ràng, bạn trai của con đã đến, tướng mạo của anh ấy có chút thay đổi, nhưng con vẫn biết anh ấy là bạn trai cũ của con. Anh ấy đi đến chỗ con, bọn con hôn nhau một cái. Đúng vào lúc muốn nói chuyện thì bừng tỉnh dậy, lại quay về thế giới hiện thực. Thực sự chỉ là một giấc mơ."

Tôi nói:
"Phải rồi! Phải rồi!"
Tôi nói:
"Duyên phận ít ỏi, sự thật chính là như vậy."
Tôi nói:
"Cậu ấy cũng có một chút tình cảm, chỉ là, chỉ là…"
Mạc Lợi hỏi:
"Anh ấy có quay về bên cạnh con không?"
Tôi trả lời:
"Tất cả đều là duyên phận."

"Vậy lá phù đó của ngài có được xem là cảm ứng không?"
Tôi nói:
"Cũng coi như là một dạng cảm ứng khác."


### 11. Con đường nhỏ tối khuya


Có một buổi tối nọ, trời không trăng và gió rất to, một mình tôi đi bộ về nhà. Tôi vốn dĩ thường đi con đường lớn, nhưng đột nhiên có một chút linh tính bèn đổi thành đi con đường nhỏ. Đi con đường nhỏ này không cần đi vòng nên đi nhanh hơn đường lớn một chút. Tôi đổi thành đi đường nhỏ, đi được nửa đường thì có một phụ nữ chạy xe máy gọi tôi:
"Lư Sư Tôn! Con đang ở đây đợi ngài!"

Tôi vừa nhìn, thì ra là một đệ tử trông khá quen.
Tôi hỏi:
"Sao con biết ta sẽ đi con đường này?" Ngày thường tôi không đi con đường này.
Cô trả lời:
"Là mẹ con kêu con vào giờ này phút này đợi ở con đường nhỏ, Lư Sư Tôn chắc chắn sẽ đi qua."
Tôi hỏi:
"Mẹ của con làm sao lại biết?"
Cô trả lời:
"Mẹ con nằm trên giường bệnh, ban đêm mơ thấy Bồ Tát đến nói vào ngày ấy tháng ấy, buổi tối 9 giờ Lư Sư Tôn chắc chắn đi con đường nhỏ này."

Tôi nghe xong giật mình, Bồ Tát chuẩn thật!

Tôi hỏi:
"Mẹ của con là ai?"
Cô trả lời:
"Liên Hoa Ngọc Mị."

À! Liên Hoa Ngọc Mị, bà ấy là một Bồ Tát già, niệm Cao Vương Kinh năm nghìn biến, niệm Chân Phật Kinh năm nghìn biến, trì Thượng sư Tâm chú tám triệu biến, mỗi ngày đều tu, là một Bồ Tát già đáng tôn kính.

Tôi nói:
"Ta biết bà ấy, bà ấy có chuyện gì không? Ta chỉ biết là bà ấy đã lớn tuổi rồi, thường xuyên đau ốm."
Cô trả lời:
"Mẹ con dặn là đưa một phong thư cho ngài, ngài xem xong sẽ biết. Mẹ con dặn đi dặn lại nhất định phải đưa thư cho ngài, phải đưa cho ngài."

Tôi nhận lấy phong thư thấy rất nặng. Cũng không biết là thư gì mà nặng như vậy?
Tôi nói với người phụ nữ đưa thư:
"Cho ta gửi lời hỏi thăm mẹ con."

Cô gật gật đầu, ngồi trên chiếc xe máy phóng vù đi biến mất nhanh như một làn khói.

Tôi về đến nhà, mở lá thư ra xem, kinh ngạc!
Bên trong vốn dĩ không có thư! Chỉ là một túi ảnh lớn, có ảnh trắng đen, cũng có ảnh màu. Tôi xem từng tấm một.
Có ảnh chụp lúc mới chào đời.
Có ảnh thời tiểu học.
Có ảnh thời cấp hai, cấp ba. Có ảnh thời đại học.
Có ảnh của cô gái trẻ. Có ảnh kết hôn.
Có ảnh khi làm mẹ.
Có ảnh đưa con gái đi du lịch. Có ảnh của tuổi trung niên.
Có ảnh của người già, tóc bạc da mồi, mặt đầy nếp nhăn. Có ảnh chụp nằm trên giường bệnh.

Ảnh từ lúc sinh ra đến lúc già đều có đủ cả, Liên Hoa Ngọc Mị đưa cho tôi những tấm ảnh này làm gì? Và tại sao chứ?
Tôi vừa ấn linh quang, lại kinh ngạc lần nữa!

"Ôi trời! Bà ấy đã đi hết cuộc đời này, sắp rời khỏi nhân gian rồi, muốn mời tôi tiễn bà ấy một đoạn!"

Tôi đã hiểu rồi!
Được! Tôi nhất định sẽ tiễn Liên Hoa Ngọc Mị một đoạn, để bà ấy vượt qua ba cửa "tham, sân, si".

Sau khi nhận được thư khoảng một tuần. Liên Hoa Ngọc Mị đã viên tịch rồi! Lúc ra đi, bà ấy thốt lên một câu: "Lư Sư Tôn đến đón tôi rồi!" Sự thật chính là như vậy.


### 12. Đệ tử mới quy y kể chuyện


Có một đệ tử mới quy y tên là Giác Sinh. Sau khi quy y, anh ta hỏi một vị Thượng sư: "Con nên tu pháp như thế nào?"
Thượng sư đáp:
"Tu đại lễ bái trước!" (Một phần trong pháp Tứ gia hành.)

Thế là anh rất chăm chỉ tu đại lễ bái. Mỗi ngày vào sáng sớm, anh vừa niệm "Tứ quy y chú" vừa làm đại lễ bái. Anh hết lần này đến lần khác ném thân mình nằm xuống mặt sàn, mặt đối diện với pháp tướng của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Anh lạy đến mức thở hồng học, mồ hôi đầm đìa, rồi lại nằm ra, lại chống người dậy, làm như vậy cho đến khi cạn kiệt sức lực, thực sự không còn sức để làm tiếp nữa mới dừng lại.

Có một lần.
Anh thực sự rất mệt rồi, ngước đầu lên nhìn, thấy Lư Sư Tôn tay áo bay bay, hình như có chuyển động.
Pháp tướng phóng ra ánh sáng, xoay chuyển giống như hồng quang hóa thân vậy, rồi không thấy Lư Sư Tôn đâu nữa. Pháp tướng trở thành cầu vồng, cầu vồng xoay chuyển.

Anh cho rằng mình bị hoa mắt, nhắm mắt lại khoảng một phút rồi mở mắt ra nhìn.
Ánh kim quang lấp lánh.
Nghìn tia sáng cát tường.
Anh kinh ngạc, nhưng không sợ hãi.
Trong lòng dấy lên "pháp lạc (*)" với một cảm giác vô cùng tráng lệ.

Lại có một lần.
Khi anh lạy đến sức cùng lực kiệt, hoàn toàn gục xuống dưới đất, mặt hướng xuống dưới, hai tay chắp lại đặt lên trên đầu của mình. Anh quán tưởng Liên Sinh Hoạt Phật Lư Sư Tôn đang ở trong hư không trước mặt, bốn vị đại Thượng sư của dòng truyền thừa ở trên đỉnh đầu mình.

Hồng giáo (dòng mũ đỏ) - Liễu Minh Hòa Thượng.
Hoàng giáo (dòng mũ vàng) - Thubten Dorje (Thubten Dargye).
Bạch giáo (dòng mũ trắng) - Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16.
Hoa giáo (phái Sakya) - Sakya Chứng Không.

Anh muốn mình bái lạy trong toàn bộ sự vĩ đại của dòng truyền thừa này như là một niềm vinh dự trang nghiêm.

Đột nhiên.
Anh cảm thấy có thứ gì đó đang rắc trên đầu mình. Anh ngẩng đầu lên nhìn thì giật bắn mình.
"Đây chẳng phải là Căn Bản Truyền Thừa Thượng sư Lư Sư Tôn của mình hay sao?"

Lư Sư Tôn một mình đứng ở phía trước, trên tay cầm cành dương liễu đang vẩy tịnh thủy lên người anh. Tịnh thủy được vẩy xuống giống như con gió thanh mát thổi qua đưa anh vào trong cõi thánh thanh tịnh, dường như nghiệp chướng của thân thể, sự ô uế của ý niệm, toàn bộ được tịnh hóa.

Toàn thân anh dễ chịu. Anh chống người đứng dậy, nhìn lại lần nữa, không thấy Lư Sư Tôn nữa, pháp tướng treo ở đó đang mỉm cười. Những gì vừa xảy ra là một giấc mơ sao? Anh cốc vào đầu mình, giống như mơ lại không phải mơ? Chuyện này là sao vậy nhỉ?

🌟

Giác Sinh chạy đến nói cho tôi biết.
Khi anh còn chưa kịp mở miệng để nói, tôi đã nói:
"Tôi biết rồi!"
Anh hỏi:
"Chuyện này rốt cuộc là thế nào vậy?"
Tôi đáp:
"Tâm thành tức linh!"
"Có ý nghĩa gì không?" Anh hỏi.
Tôi trả lời:
"Tất cả mọi thứ giống như một giấc mơ, chúng ta gặp nhau trong giấc mơ!"

(*) Pháp lạc: niềm vui của Phật pháp.


### 13. Một đàn rùa đông đúc


Tôi đến nhà đệ tử. Người đệ tử nói với tôi:
"Con có một người bạn giàu có, ông ấy vô cùng tò mò về ngài, muốn mời ngài đến nhà ông ấy ngồi chơi có được không?"
Tôi nói: "Được!"
Tôi trả lời rất dứt khoát.

Đó là nhà của một đại gia, đương nhiên không thể thiếu biệt thự hoành tráng, vườn hoa rộng, cổng sắt lớn. Từ cổng sắt đi vào, xe phải chạy mất một đoạn đường mới đến được cửa căn biệt thự.

Trên đoạn đường đi đó, tôi nhìn thấy hồ bơi, đài phun nước, núi giả, sông nước, rừng cây, vườn ươm hoa. Có rất nhiều người giúp việc đang làm việc, môi trường yên tĩnh và sạch sẽ gọn gàng.

Bước vào phòng khách thì càng thấy nguy nga tráng lệ, mọi thứ được trang hoàng kiểu cổ điển rất giống với một cung điện hoàng gia. Bên trong là ba tầng nối tiếp, toàn bộ sàn nhà, rèm cửa sổ, sofa, bàn ghế đều là đồ cổ hoặc hàng hiệu. Những vật trang trí là màu vàng kim và màu đỏ, vừa tráng lệ vừa trân quý, đến cột trụ, sàn nhà, tường cũng đều là đá marble. Chúng tôi giống như là bước vào cung điện Caesars (*).

Chủ nhân rất hiếu khách, đối với tôi vô cùng cung kính.
Chủ nhà vừa mở miệng đã nói:
"Hoạt Phật Lư Sư Tôn, nghe đại danh của ngài đã lâu, ngài cần cái gì, tôi có thể giúp gì cho ngài không?"
Tôi nói: "Có."
Tôi vẫn trả lời dứt khoát như vậy.

Chủ nhà hỏi:
"Muốn tôi xây Lôi Tạng Tự phải không?"
Tôi đáp:
"Không phải. Tôi muốn gặp một đám đông đệ tử của tôi."
Chủ nhà sửng sốt. Đệ tử của tôi cũng sững người. Chủ nhà hỏi:
"Một đám đông đệ tử ở đâu? Là cái gì thế?"
Tôi đáp:
"Là rùa."

Chủ nhà há mồm kinh ngạc, đệ tử tôi cũng vô cùng kinh ngạc. Bởi vì đệ tử này cũng không biết là chủ nhà có nuôi rùa.

Chủ nhà nói:
"À! Phía sau nhà tôi có một cái ao, đúng là có nuôi hơn một trăm con rùa, đó là thú cưng trong nhà, tôi rất ít khi cho người khác biết."

Chủ nhân đưa tôi đi xem. Tôi đứng ở cạnh ao rùa, đàn rùa nhìn thấy tôi tất cả đều bò đến trước chân của tôi.

Chủ nhà nói:
"Mỗi khi tôi đến, đàn rùa đều im lặng bất động. Hôm nay Lư Sư Tôn vừa đến, toàn bộ đàn rùa tụ tập dưới chân của ngài, đúng là chuyện lạ."

Tôi ở ngay tại đó: Niệm cầu thỉnh văn. Niệm Tứ quy y chú.
Lại gia trì cho từng con, lại niệm Bất đọa tam ác đạo chú. Niệm xong, đàn rùa chảy nước mắt mới lần lượt tản đi.

Tôi nói:
"Vẫn còn có hai con đại đệ tử, ông đem giấu chúng ở đâu rồi?"
Chủ nhân kinh hãi nói:
"Còn có hai con, hoa văn trên mai chúng rất đặc biệt và có bảy màu, tôi nuôi ở trong phòng, xem như báu vật. Hoạt Phật, chuyện này mà ngài cũng biết sao?"

Chủ nhà đưa tôi vào phòng đi xem hai con rùa bảy màu đó, tôi lại cầu thỉnh, quy y, gia trì như vậy.

Trên đường quay về, đệ tử hỏi:
"Lư Sư Tôn! Sao ngài lại biết hết vậy?"
Tôi mỉm cười nói:
"Chúng đều là đệ tử tiền kiếp của tôi, nếu như không biết, tôi còn làm Sư Tôn gì nữa?"

(*) Cung điện Caesars: khách sạn và sòng bài hạng sang ở Paradise, Nevada, cạnh Las Vegas, Mỹ. Thành lập năm 1966 bởi Jay Sarno, có kiến trúc đặc biệt mang lại cảm nhận về cuộc sống thời đế chế La Mã cho khách trọ.


### 14. Bà cô lắm chuyện


Ngày 18 tháng 7 năm 2015 (thứ bảy). Buổi tối sau khi đồng tu pháp bổn tôn A Di Đà Phật xong, tất cả mọi người giải tán, có một số người ở lại tụ tập trước cửa Chân Phật Mật Uyển trò chuyện với tôi.

Có thêm vài đệ tử đến từ Vancouver, Canada, trong đó có một người thường hay đặt câu hỏi để hỏi tôi, đó một Bà cô với mái tóc ngắn cũn.
Tại sao tôi lại gọi bà ấy là Bà cô? (*) Bà đã lớn tuổi, chưa kết hôn.
Cái giọng điệu nói chuyện lại có phần hơi... dở người.

Bà thường nói:
"Sư Tôn! Ngài để lộ cơ bắp sáu múi cho mọi người nhìn xem đi mà!"
Còn nói:
"Sư Tôn! Thời tiết nóng như vậy, ngài cứ mặc quần bơi ngồi lên pháp tọa mà thuyết pháp đi, nếu không thực sự là quá nóng rồi."
Lại nói:
"Sư Tôn! Ngài phải liếc nhìn tôi nhiều một chút, lúc tôi còn trẻ cũng là một đại mỹ nữ đó!"

Bà ấy đúng là không có lời gì để nói luôn!
Tôi thi thoảng cũng hay cười trêu bà:
"Bà cởi trước rồi tôi sẽ cởi."
Còn nói:
"Tất cả chúng ta cùng nhau mặc quần bơi đồng tu có được không?"
Lại nói:
"Bà trẻ lại đi, tôi sẽ nhìn bà."

Bà nói một câu, tôi đáp một câu, hai người giống như nói năng điên loạn vậy, giữa hai người với nhau vô hại, cũng chẳng phải vấn đề gì to tát cả.

🌟

Hôm đó, Bà cô lại nói:
"Lư Sư Tôn! California nước Mỹ đại hạn hán, rừng cháy lớn khắp nơi, không ngờ lại cháy ra đến tận đường cao tốc, rất nhiều chiếc xe trên đường cao tốc toàn bộ bị thiêu trụi rồi. Lư Sư Tôn, ngài mau cứu đại hạn hán ở California đi! Ngài có pháp lực lớn, sao lại không cứu California?"

Tôi vốn định nói:
"Tất cả chuyện này đều có số trời." Sau đó, tôi đổi lời thành:
"Được rồi! Cho California có mưa vậy!"

Có người lên tiếng:
"Có thật không? Thực sự sẽ có mưa xuống sao?"
Tôi nói:
"Tôi chỉ cần nói là xong!"

Bà cô nhiều chuyện đó ngẫu nhiên hỏi một câu, tôi cũng ngẫu nhiên mà đáp, không ngờ là lại bị Long Thiên Hộ Pháp nghe thấy.
Bắt đầu từ hôm đó. California đổ mưa bão. Trời mưa như trút nước.
Khối không khí đến.
Khối không khí đi.
Khối không khí lại đến nữa.

California gặp họa lũ lụt, California trở thành biển nước. Vốn dĩ ngày nào nhiệt độ cũng cao, mỗi ngày đều nắng gắt chói chang, hạn hán nhiều năm nhiều tháng, trong chốc lát biến thành biển nước.

Có người hỏi tôi:
"Ngài đã biết trước California sẽ có mưa sao?"
Tôi thành thật gật đầu:
"Tôi biết."

"Tại sao ngài lại biết trước? Là biết bói biết toán sao?"
Tôi đáp:
"Tôi bấm ngón tay tính toán là biết ngay thôi."

"Nếu không bấm ngón tay tính toán thì sao?"
Tôi đáp:
"Ngáp một cái là biết ngay! Ha ha!"

(*) Bà cô: lấy từ ý Tam cô lục bà (ba cô sáu bà), ý nghĩa hiện đại là chỉ người phụ nữ lẳng lơ, luôn theo đuổi những việc không hay ho cho lắm.


### 15. Tranh luận giữa hai người


Mùa xuân năm đó, tôi ngồi trên pháp tọa tu pháp. Pháp tôi tu là pháp tụng niệm Ma Lợi Chi Thiên (Marici).
Ma Lợi Chi Thiên thường đi lại và ở phía trước của mặt trời. Hình tướng của ngài là thiên nữ ngồi bảo tọa, phía trước có nhiều con heo vàng kéo xe.

Có người cho rằng: Ma Lợi Chi Thiên chính là Đẩu Mẫu Tinh Quân. Là Tổng trì của Trực Niên Thái Tuế (*).

Trước tiên tôi quán tưởng Ma Lợi Chi Thiên.
Niệm chú: "Om, marici, soha"
Sau đó bắt thủ ấn: Ma Lợi Chi Thiên ẩn hình ấn.
Tiếp đó tụng:
"Ma Lợi Chi Thiên phóng quang minh.
Bạch, Hồng, Lam quang liền xuất hiện.
Ba tia chiếu rọi trán, họng, tim.
Tam nghiệp thân con tiêu diệt hết.
Thủ ấn ở trong, ẩn thân này.
Như thị - ẩn thân, đại thành tựu.
Ma Lợi Chi Thiên ngụ đỉnh đầu.
Con hóa ánh sáng, chẳng ai thấy."

Lúc này, tôi quán thân mình như ánh sáng, từ từ nhập vào trong ẩn hình thủ ấn, một lát sau biến mất hoàn toàn. Tôi nhập sâu trong thiền định.

Ngồi phía dưới pháp tọa của tôi có rất nhiều đệ tử, trong đó có hai người, một người là Sĩ Hùng, người kia là Vĩ Lực.
Sĩ Hùng nói với Vĩ Lực:
"Tôi nhìn pháp tọa thấy Lư Sư Tôn đã không còn ngồi trên đó nữa, hoàn toàn biến mất không thấy nữa."
Vĩ Lực nói:
"Trạng thái mà tôi nhìn thấy thì khác, Lư Sư Tôn ngồi bên trong ánh sáng, vẫn còn ngồi ở đó."
Sĩ Hùng nói:
"Rõ ràng không thấy nữa!"
Vĩ Lực nói:
"Còn ở trong ánh sáng đó."
Sĩ Hùng nói:
"Biến mất rồi!"
Vĩ Lực nói:
"Vẫn còn."
Sĩ Hùng nói:
"Chúng ta đánh cược, ai thua bị mất 10,000 đồng (Đài tệ)."
Vĩ Lực nói:
"Được, đánh cược."

Khoảng hơn mười phút sau Sĩ Hùng nhìn thấy thân người của Lư Sư Tôn từ từ xuất hiện, trước tiên là đầu, rồi đến thân, cuối cùng là toàn thân. Lư Sư Tôn bước xuống dưới pháp tọa. Hai người đến đảnh lễ tôi.

Sĩ Hùng hỏi:
"Lư Sư Tôn lúc nãy ẩn thân biến mất, có đúng không?"
Vĩ Lực hỏi:
"Lúc nãy Lư Sư Tôn tu pháp, con nhìn thấy Lư Sư Tôn ở trong ánh sáng, rõ ràng là nhìn thấy, có đúng không?"

Tôi nói:
Nói biến mất là đúng. Trong quang ảnh cũng đúng. Thực tế chỉ có một. Mỗi người nhìn mỗi khác.
Hai người nghe tôi nói xong, mới từ trong mơ hồ thức tỉnh.

(*) Trực Niên Thái Tuế: vị thần của năm chủ.


### 16. Không có duyên hôn nhân


Có anh chàng cao khoảng 1m90, tướng mạo của cậu này:
Mặt trắng như ngọc.
Đôi mắt tinh anh.
Trán cao đầy đặn.
Lông mày thanh tú.
Mái tóc đen tuyền.

Anh chàng trẻ tuổi này để kiểu tóc dựng đứng, cắt tỉa đặc biệt, là mẫu người đàn ông đẹp trai phong độ, cũng chính là một "nam thần" vừa cao vừa tuấn tú. Gia cảnh của người này không tệ. Lại còn:
Môi đỏ như son.
Răng đều như ngọc.

Cậu ấy đến chỗ tôi hỏi:
"Duyên hôn nhân ra sao?"

Tôi vỗ vào đầu một cái, liền có một linh quang.
Tôi đáp:
"Cậu không có duyên hôn nhân!"

Bạn của cậu ấy ngồi bên cạnh nói một cách rất không phục rằng:
"Cậu ấy là cao-phú-soái (*), ai dám nói cậu ấy không có duyên hôn nhân? Các cô gái đều là theo đuổi ngược lại cậu ta đấy."

Tôi nói:
"Không sai! Con người tuấn tú như cậu ấy chắc chắn có rất nhiều bạn gái, đáng tiếc là hẹn hò nhau được một thời gian rồi cũng chia tay!"
Cậu ấy hỏi:
"Tại sao vậy?"
Tôi đáp:
"Tôi nhìn thấy hôn nhân của cậu thực sự là không có."

Anh chàng đẹp trai này lê thê bước đi trong sự buồn bã trống trải.

🌟

Về sau, tôi nghe nói cậu ấy đã kết hôn.
Không lâu sau, đã ly hôn rồi.
Lại không lâu sau, đã kết hôn lần nữa.

Cậu ấy gặp tôi trên đường, nói:
"Lư Sư Tôn, con kết hôn rồi, chẳng phải ngài nói con không có duyên hôn nhân sao?"
Tôi nói:
"Đúng vậy. Đúng vậy."
Cậu ấy nói:
"Bây giờ con kết hôn rồi, ngài nói thế nào đây?"
Tôi nói:
"Chuyện này, chuyện này... tôi cũng không biết nói sao nữa!"

Cậu ấy quay đầu bỏ đi.
Sau đó, cậu ấy lại ly hôn nữa. Tôi thực sự cũng không hiểu vì sao cậu ấy và người vợ thứ hai của mình lại ly hôn.

🌟

Lần thứ ba.
Cậu ấy có một người bạn gái mới, cũng là một tuyệt sắc giai nhân, mặt tựa hoa đào, xinh đẹp dịu dàng, vô cùng diễm lệ, thân hình mảnh mai. Cậu ấy và cô ấy tay trong tay, vô cùng thân mật. Không lâu sau, vẫn chưa kịp kết hôn đã lại chia tay rồi!

Có một hôm, tôi đoán việc cho người ta.
Người đến hỏi chuyện trùng hợp thay lại là người bạn gái lần thứ ba đó, cô gái tuyệt sắc giai nhân đó. Tôi không nén được sự tò mò liền hỏi cô ấy:
"Tại sao lại chia tay với cậu ấy?"
Cô ấy xấu hổ đỏ mặt, nói với tôi:
"Cái đó của anh ấy giống hệt như của một bé trai sơ sinh vậy."
"Ôi trời!"

Cuối cùng tôi đã hiểu rồi. Phải rồi. Phải rồi.

(*) Cao-phú-soái: chỉ người đàn ông vừa cao, vừa giàu có, vừa đẹp trai, là mẫu đàn ông lý tưởng của các cô gái.


### 17. Hai con ma nói chuyện


Tôi đến một bệnh viện lớn thăm đệ tử. Người đệ tử này bị mắc chứng "trúng phong (*)", tim đang đập đột ngột dừng lại, sau khi sơ cứu thì tim đập trở lại. Ông nôn ra bọt trắng, được đưa vào phòng bệnh đặc biệt.

Chiếc xe của tôi từ từ chạy vào bãi đỗ xe của bệnh viện. Bãi đỗ xe ở dưới tầng hầm, muốn đến phòng bệnh đặc biệt phải đi ngang qua trung tâm khám bệnh rồi mới đến được, cần phải đi hai lần thang máy.

Bước vào thang máy, tôi nhìn thấy hai con ma.
Tôi rất thản nhiên. Về cơ bản, tôi thường lờ đi, thật sự tôi không quan tâm đến hai con ma nhỏ này. Bởi vì trong bệnh viện lớn thường có rất nhiều ma quỷ lớn nhỏ, bản thân bệnh viện và nhà tang lễ là giống nhau.

Theo tôi được biết:
Bệnh viện.
Nghĩa trang.
Rạp chiếu phim.
Hộp đêm.
Nhà hoang.
Trường bắn.
Phòng tắm nước biển.

Phần lớn đều có bóng ma quỷ lượn lờ.

🌟

Tôi đi đến phòng bệnh đặc biệt, không ngờ hai con ma nhỏ này cũng đi đến phòng đó. Tôi nghe được cuộc nói chuyện của hai con ma nhỏ này.

Ma A nói:
"Người này là của tôi."
Ma B nói:
"Người này phải là của tôi."

Hai con ma tranh chấp với nhau. Tôi nghe xong cảm thấy rất buồn cười, hai con ma nhỏ này không ngờ lại muốn "chiếm nhà". Cái gọi là "chiếm nhà" chính là vì cơ thể của con người giống như căn nhà, "chiếm nhà" có nghĩa là xâm nhập vào trong cơ thể.

Tôi im lặng không thể hiện động tĩnh gì. Tôi nói với người nhà của bệnh nhân:
"Tôi sẽ làm kết giới gia trì cho bệnh nhân!"

Người nhà gật gật đầu.
Tôi giơ tay phải lên, kết kiếm ấn. Vận khí. Vẽ ra bốn đường kẻ dọc và năm đường kẻ ngang. Miệng đọc:
"Lâm binh đấu giả giai trần liệt tại tiền." (Chân ngôn chín chữ)

Đầu ngón tay của tôi phát ra ánh sáng màu xanh lam.

🌟

Hai con ma lại nói chuyện với nhau.
"Ôi! Người này có pháp thuật!"
"Quái lạ! Bây giờ một lớp ánh sáng màu xanh lam đã bao bọc bệnh nhân lại rồi!"
"Chúng ta cướp thôi!"
"Xông lên!"

Hai con ma đến gần ánh sáng xanh lam thì bị ánh sáng xanh lam cản lại, thậm chí không những bị cản lại mà còn bị bắn ngược trở ra đập mặt xuống đất, kêu la ui cha ui cha!

Hai con ma nói:
"Tên tiểu tử này pháp thuật cao cường!"
"Ở thời đại này người có loại pháp thuật như vậy đã là rất ít rất hiếm rồi!"
"Tôi không đoán được ông ta là ai?"
"A! Ánh sáng trắng trên người ông ta chiếu xuyên tới trời, sẽ làm chúng ta bị thương, mau chạy thôi!"

Hai con ma tháo chạy mất hút. Tôi nói với người nhà bệnh nhân:
"Bệnh của ông ấy sẽ khỏi." Người nhà nói:
"Xin cảm tạ!"

(*) Trúng phong: tai biến mạch máu não, thường đột ngột và rất nặng, triệu chứng ngã lăn ra bất tỉnh nhân sự, bán thân bất toại, tứ chi không cử động được, mặt méo, mắt lệch, nói khó.


### 18. Haiz haiz haiz haiz haiz


Có một vị Bồ Tát thích cho tôi xem livestream (*). Chuyện về livestream là như sau.
Buổi tối, tôi thường lên giường, nằm xuống đắp chăn, việc đầu tiên là tu "miên quang pháp" (ngủ trong ánh sáng).

Vị Bồ Tát này đã đến rồi!
Bồ Tát nói:
"Cho ngài xem livestream."
Tôi hỏi:
"Tôi không muốn xem, tôi phải đi ngủ đây, xem thì có ích lợi gì chứ?"
Bồ Tát đáp:
"Xem xong sẽ hiểu!"

Thế là trước khi hai mắt của tôi nhắm chặt liền xuất hiện một màn hình màu trắng, giống như là đang xem phim ở rạp vậy. Trong màn ảnh có hai người. Người nam là nhân viên hoằng pháp. Người nữ là người tin theo đạo, trang điểm nhẹ nhàng, vẽ sơ hàng chân mày, đôi mắt đượm tình, má thơm quyến rũ, hấp dẫn vô cùng.

Nhân viên hoằng pháp đưa tay kéo lấy tay của người nữ. Đầu tiên là hôn nhau cuồng nhiệt, sau đó là hai người cởi áo của nhau. Người nữ đó toàn thân mịn màng đáng yêu, hai ngực tròn đầy đặn, hai nhũ hoa trên ngực tròn tròn be bé, trắng trắng hồng hồng.

Trong chốc lát.
Người nam nói:
"Hôn em nè!"
Người nữ nói:
"Hôn anh nè!"

Đúng là trăm nghìn kiểu quyến rũ, nghìn vạn kiểu ve vãn, kéo dài liên tục trong ba mươi phút. (Nhưng hai người này không phải thực hành pháp. Người nam tạo ra một bãi lộn xộn.)

Tôi xem xong, nói:
"Đủ rồi chứ! Tôi không muốn xem nữa!"
Bồ Tát nói:
"Ngài đã hiểu chưa?"
Tôi nói:
"Hiểu rồi, hiểu rồi."

Thế là, tôi chìm sâu vào cõi mộng ngọt ngào. Nói thật là cá nhân tôi cũng chẳng bị ảnh hưởng bởi livestream.

🌟

Ngày hôm sau, có một nhân viên hoằng pháp đến hỏi chuyện.
Tôi ngước đầu lên nhìn, giật mình!
Vị này chính là vai nam chính trong livestream tối hôm qua. Tôi không nói gì cả, chỉ nghe anh trình bày.

Anh nói:
"Con là người tuân thủ giới luật nhất."
"Con người con không tham tài háo sắc."
"Con đã độ hóa không ít chúng sinh."
"Con rất nghiêm túc tu trì các loại pháp môn."
"Con đã có bổn tôn tương ứng rồi."
"Con muốn yêu cầu quán đảnh pháp lớn nhất, con sẽ không phụ lòng dạy dỗ của Sư Tôn!"

Bây giờ đến lượt tôi nói rồi, tôi nói:
"Được rồi. Được rồi."
"Biểu hiện của anh tôi biết rất rõ."
"Tôi nhất định tìm thời gian quán đảnh cho anh, nhưng không phải bây giờ, đợi thêm một thời gian nữa nhé?"

Anh nói:
"Con là đệ tử có đạo tâm bất thoái, Sư Tôn nhất định phải quán đảnh cho con mới phải, con sẽ có biểu hiện tốt hơn."
Tôi nói:
"Tôi biết rồi! Tôi biết rồi!"
"Tôi nhất định tìm thời gian quán đảnh cho anh, tôi hiểu con người của anh!"

Nhân viên hoằng pháp đi rồi!
Tôi như trút xuống gánh nặng: "Haiz haiz haiz haiz haiz!” (*)

(*) Livestream: phát video trực tiếp, xem trực tiếp trên mạng Internet
(*) Haiz: tiếng thở dài.


### 19. Siêu độ từ xa


Tại một ngôi làng nhỏ trên núi có một người già qua đời. Người nhà của ông không mời nổi tăng nhân làm pháp siêu độ, hơn nữa đường núi gập ghềnh, đất đá sạt lở không còn đường đi. Lúc đó, cho dù có mời nổi tăng nhân, tăng nhân cũng không dám đến.

Người nhà của ông nhớ ra hàng xóm có một người tin Phật, là đệ tử Chân Phật Tông tên là Liên Hoa Bỉnh Vượng. Không biết anh ta có biết siêu độ không?

Sau khi đôi bên gặp mặt nói rõ ý muốn, Bỉnh Vượng nói:
"Tôi mới quy y Lư Sư Tôn một năm rưỡi, chưa học được gì cả, không hiểu siêu độ, tôi không biết."
Người nhà ông hỏi:
"Vậy anh biết cái gì?"
Bỉnh Vượng nói:
"Tôi chỉ biết niệm một câu Thượng sư Tâm chú!"

Người nhà ông nói:
"Vậy mời anh, niệm Thượng sư Tâm chú siêu độ đi!"
Bỉnh Vượng nói:
"Tôi không làm được."
Người nhà ông nói:
"Chỉ một câu chú thôi cũng được."

Bỉnh Vượng cầm tràng hạt đến trước thi thể của ông cụ vừa mất, anh thực sự cũng rất sợ, nhưng liền nhắm mắt quán tưởng Căn bản Thượng sư ở trước mặt. Điều bất ngờ là anh đã nhìn thấy một quầng ánh sáng. Căn bản Thượng sư Lư Sư Tôn xuất hiện trong ánh sáng, phóng quang gia trì cho Liên Hoa Bỉnh Vượng.

Nhờ thế anh mới có thể bình tĩnh được. Anh niệm một câu: "Om, guru lian sheng, siddhi hum."
Dùng tràng hạt đặt trước ngực người chết, rồi nhấc lên. Lại niệm một câu:
"Om, guru lian sheng, siddhi hum."

Lại dùng tràng hạt đặt trước ngực người chết. Cứ như vậy, tổng cộng niệm hết 108 biến.
Liên Hoa Bỉnh Vượng nói:
"Tôi nhân danh Lư Sư Tôn siêu độ linh hồn của ông, ông vãng sinh Phật quốc tịnh độ đi!"

Lúc này chuyện kỳ lạ đã xảy ra:
Thi thể đột nhiên gật đầu một cái, ngước đầu lên rồi lại nằm xuống. Khuôn mặt hồng hào, còn mỉm cười.
Toàn bộ căn phòng tràn ngập hương thơm vô cùng dễ chịu, ba ngày không tan.
Đỉnh huyệt của người chết nhô lên.

Trong đó, cháu trai của ông cụ là người có con mắt thứ ba, nhìn thấy ông nội ngồi trên hoa sen trắng từ từ bay lên trên trời. Cả nhà của người chết đều vui mừng hoan hô. Vô cùng cảm kích Liên Hoa Bỉnh Vượng. Từ đó cả nhà của người chết đều niệm:
"Om, guru lian sheng, siddhi hum."

🌟

Tôi ở Lôi Tạng Tự Đài Loan làm Hộ Ma hỏa cúng.

Liên Sinh Bỉnh Vượng từ trên núi xuống đến tìm tôi. Tôi vừa thấy anh liền nói:
"Hôm đó, tôi và anh cùng nhau siêu độ cho một người chết, tràng hạt của anh đặt lên ngực của người chết cực kỳ tốt đó!"
Anh nói:
"Lư Sư Tôn! Ngài biết rồi sao?"
Tôi đáp:
"Tôi là Chính Biến Tri!"
Anh hỏi:
"Lư Sư Tôn! Ngài có thể thị hiện mọi lúc mọi nơi sao?"
Tôi đáp:
"Đương nhiên."
Anh hỏi:
"Làm sao mới có thể khiến Sư Tôn thị hiện?"
Tôi đáp:
"Chỉ một niệm thôi!" [ ND: Chỉ một niệm thôi: chỉ cần một suy nghĩ hướng đến Sư Tôn là ngài sẽ xuất hiện lập tức.]


### 20. Mũi anh làm sao vậy?


Một doanh nhân tuổi trung niên đến thăm tôi. Vừa mới gặp tôi rất ngạc nhiên:
"Mũi của anh bị làm sao vậy?"

Bởi vì tôi nhìn thấy chiếc mũi của anh, phần thịt trên đầu mũi hình như bị cắt mất một miếng to, màu thịt đỏ tươi.

Vị doanh nhân sờ vào mũi của mình một cái, nói:
"Bình thường mà, đâu có sao chứ!"

Tôi nhìn lại lần nữa. Ủa! Quả nhiên không sao. Đầu mũi vuông vắn, chóp mũi nhô lên, giống như mũi củ tỏi, có thịt, không bị dị dạng.
Tôi nói:
"Xin lỗi, chắc là tôi nhìn thấy ảo giác rồi, lúc nãy nhìn thấy đầu mũi của anh thiếu mất một miếng thịt, bây giờ lại hoàn toàn bình thường."

Vị doanh nhân cười lớn ha ha ha.
Tôi cũng cười lớn ha ha ha.
Sau đó vị doanh nhân về.

Anh ta đưa vợ đi ăn cơm, mua sắm, đi giao thiệp, đến tối mới về phòng ngủ ở nhà. Anh nói với vợ:
"Hôm nay đã đi gặp Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn!"
Vợ anh hỏi một cách lạnh nhạt:
"Lư Hoạt Phật nói sao?"
Anh nói:
"Lư Hoạt Phật chẳng ngờ lại nói mũi của anh bị mất mất một miếng thịt, em nói có buồn cười không hả?"
Vợ anh nói:
"Vừa buồn cười vừa không buồn cười."

Anh không hiểu câu nói này của vợ mình. Vị doanh nhân muốn qua âu yếm, mặt vừa áp vào mặt của vợ, không ngờ cô vợ đột nhiên há to mồm, thực sự cắn rơi một miếng thịt trên mũi của anh ta. Máu chảy ra màu đỏ tươi, ngay đến máu mũi cũng chảy ra.

Vị doanh nhân kêu lên thảm thiết:
"Á! Em làm gì vậy?"
Người vợ nói:
"Anh tự mình xem đi!"

Cô vợ ném một xấp lên trên giường, một đống ảnh lớn rơi ra, có cả máy thu âm, thư từ qua lại, lại có cả video quay lén, ngoài ra còn một số hóa đơn mua sắm.
Người vợ nói:
"Anh nói sao? Chứng cứ xác thực ở đây hết rồi."

Vị doanh nhân cứng họng, không thốt lên được một câu nào cả.
Thì ra vợ anh ta đã thuê công ty thám tử tư chuyên nghiệp đi thu thập những vật chứng này.
Kết quả ra sao? Không thể biết được.

🌟

Có một lần tôi gặp lại vị doanh nhân đó. Anh ta nói:
"Lư Sư Tôn! Điều ngài nhìn thấy là tương lai, không phải ảo giác."
Tôi nói:
"Đời người vốn là một giấc mơ lớn. Chỉ là cái thật nằm trong cái huyễn ảo lớn mà thôi, nhận rõ mọi thứ là huyễn mới có thể tu hành."
"Những điều này con không hiểu."
"Không hiểu thì phải học." - Tôi nói.
Vị doanh nhân nói:
"Con không có thời gian!"

Tôi nghĩ thầm, không có thời gian, vậy thì cứ "lục đạo luân hồi" đi!


### 21. Sư Tôn đội mũ miện đen


Đại Bảo Pháp Vương thứ 16 đã cử hành pháp hội dòng mũ đen, hóa độ cho rất nhiều đệ tử phương Tây.

Lai lịch của chiếc mũ miện đen này là như vầy:
Trong nhiều kiếp quá khứ, có một vị vương tử đi vào trong núi tu thiền. Vị vương tử này an trú trong Samadhi (định) đạt đến thời gian vô tận, đã thành tựu, trở thành Thánh giả giác ngộ. Lúc này có rất nhiều Dakini (*) giáng xuống tụ tập xung quanh vị Thánh giả, trở thành thị giả của ngài.

Để thể hiện lòng tôn kính của mình, mỗi một vị Dakini từ trên đầu lấy ra một sợi tóc, gom lại dệt thành một chiếc mũ, thu lấy ánh nắng và ánh trăng vào trong đó đem tặng cho Thánh giả, thể hiện sự tôn kính và tán dương của Dakini dành cho ngài.

Vị vương tử thông thái này chính là thành tựu giả Mật pháp vĩ đại: Bà-la-môn Saraha. Sau này, Saraha chuyển thế thành Düsum Khyenpa, cũng tức là Đại Bảo Pháp Vương Karmapa đời thứ nhất. Về sau, chiếc mũ miện đen này lúc ẩn lúc hiện, có rất nhiều người nhìn thấy. Truyền kỳ về nó thì nhiều vô kể.

Khi vị Karmapa đời thứ năm Deshin Shekpa được mời đến Trung Quốc, hoàng đế Vĩnh Lạc (*) của triều đại nhà Minh Trung Quốc không ngờ lại nhìn thấy trên đầu của ngài Karmapa chiếc mũ miện đen tàng hình.

Hoàng đế Vĩnh Lạc nói:
"Ngài đội một chiếc mũ đen vô cùng thần kỳ và thù thắng."

Thế là hoàng đế Vĩnh Lạc theo như những gì mình nhìn thấy đã làm ra một chiếc mũ đen bản sao.

Vì vậy:
Có mũ miện đen vô hình. (Nội tại)
Và có mũ miện đen hữu hình. (Ngoại tại)

🌟

Một lần, tôi cử hành pháp hội, Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16 bất ngờ giáng xuống hội trường của tôi.

Tôi nói:
"Vừa mới tưởng nhớ đến Thượng sư, quả nhiên thầy đã đến."

Lúc này, có đệ tử nhìn thấy trên đầu của Lư Sư Tôn có một chiếc mũ miện đen tàng hình, là Đại Bảo Pháp Vương Karma- pa thứ 16 đội lên cho tôi.

Có người nhìn thấy.
Có người không nhìn thấy.
Có người thấy mơ mơ hồ hồ.

Theo truyền thuyết, khi một người thanh tịnh được nghiệp lực của mình thì có thể nhìn thấy mũ miện đen vô hình.

Có người hỏi:
"Lư Sư Tôn, chẳng phải ngài là Kim Cương Thượng sư đội mũ miện đỏ sao? Sao cũng có mũ miện đen?"
Tôi đáp:
"Mũ đỏ của tôi là Bồ Tát Di Lặc đội lên cho tôi."
Có người hỏi:
"Mũ miện đen thì sao?"
Tôi đáp:
"Mũ miện đen là Đại Bảo Pháp Vương Karmapa đời thứ 16 đội lên cho tôi."
Có người hỏi:
“Sao lại như vậy?”
Tôi trả lời:
"Tôi sở hữu truyền thừa của bốn giáo phái, mũ đỏ, mũ vàng, mũ trắng, mũ đen, những mũ màu khác cũng đều có hết, chuyện này có gì đâu!"

Có người hỏi:
"Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16 cho ngài mũ đen là có ý nghĩa gì?"
Tôi đáp:
"Gia trì quán đảnh thôi! Không có ý nghĩa gì khác! Không cần quá để ý!"

(*) Dakini: còn gọi là Không Hành Mẫu, Không Hành Nữ, biểu trưng cho năng lượng giác ngộ âm tính, đại diện cho trí tuệ, tính Không, sự từ bi.
(*) Hoàng đế Vĩnh Lạc: chính là Minh Thành Tổ, hoàng đế nhà Minh đời thứ ba, niên hiệu Vĩnh Lạc, còn gọi là Vĩnh Lạc đế.


### 22. Xá lợi chảy ra từ trên người


Hạt xá lợi, còn gọi là "hạt kiên cố", là tượng trưng cho sự thành tựu trong tu hành. Theo tôi biết.

Xá lợi vụn: Khi hỏa táng, có năm loại “minh điểm trí huệ” hỏa thiêu không cháy, hóa làm năm màu sắc, hình dạng giống như hoa, nên gọi là xá lợi hoa. Ngoài ra, tim, lưỡi, mắt, hỏa thiêu cũng không tan biến. Những cái này đều được phân loại là xá lợi vụn.

Xá lợi hoàn chỉnh: “Minh điểm trí huệ” hỏa thiêu không tan, biến thành viên tròn vô cùng kiên cố, đập cũng không nát. Những xá lợi hoàn chỉnh này hạt lớn hạt nhỏ, một số chứa đầy ở trong não, một số ở trong hộp sọ, một số ở trong các đốt xương. Có màu trắng, có nhiều màu, đây là xá lợi hoàn chỉnh.

Xá lợi toàn thân: Khi hỏa táng, “minh điểm trí huệ” này có khắp thân thể, từ hộp sọ đến ngón chân cái, toàn bộ đều hóa thành xá lợi tròn. Nhặt những hạt xá lợi này có thể chứa đầy một bao tải.
Đây là xá lợi toàn thân.

Ngoài ra, có một số thành tựu giả chết trong tư thế ngồi, thân thể khi viên tịch từ từ thu nhỏ lại chỉ còn bằng một đứa bé tám tuổi.
Thân thể này không tan.
Hoàn chỉnh và nguyên vẹn.
Mùi hương còn thoang thoảng.
Sinh động như đang sống.
Đây là xá lợi cơ thịt, cũng được xem là một trong những xá lợi toàn thân.

🌟

Có một ngày, sáng sớm tôi thức dậy, vừa trở mình thì thấy trên giường của tôi có đống lớn các hạt nhỏ màu trắng. Có một số ở trên giường, có một số ở xung quanh giường. Tôi thu gom chúng lại, không ngờ lại là đống hạt xá lợi nhỏ màu trắng. Tôi không biết ở đâu ra?

Còn nữa:
Tôi đến Nhất Trí Đồng Tu Hội ở thành phố Đào Viên, ngồi trên pháp tọa cao nhất, thuyết pháp xong bước xuống.

Tì kheo ni phụ trách dọn dẹp nhặt được vài hạt xá lợi ở trên pháp tọa, nói là chảy ra từ trên người của Lư Sư Tôn, vô cùng trân quý.
Mọi người hỏi tôi:
"Lên xuống pháp tọa, có xá lợi ở trên pháp tọa, chuyện này là sao?"
Tôi đáp:
"Tôi không biết!"

Còn nữa:
Tôi đến Indonesia viết bút tích thư pháp cho Lôi Tạng Tự tại một địa phương là Makassar. Viết xong rồi quay người định đi thì từ trong bộ đồ Lama rơi ra hai viên xá lợi trắng tinh.

Người đệ tử đi ở phía sau nhặt được, hỏi tôi:
"Bộ đồ Lama sao lại rơi ra hai viên xá lợi?"
Tôi đáp:
"Thực sự không biết."

Còn nữa:
Tôi ăn cơm trong phòng ăn ở Seattle Lôi Tạng Tự, vừa cắn một miếng thì nghe một tiếng "cạch". Cắn phải thứ gì đó rồi.
Tôi lấy ra xem, thì ra là một hạt xá lợi rất tròn, tròn trịa xinh xắn, trong suốt sáng bóng. (Không phải là mảnh vỡ của răng). Tôi đưa cho Thượng sư Liên Ninh, mọi người nhìn vào, quả nhiên là hạt xá lợi.

Người ta hỏi tôi:
"Trong miệng sao lại có xá lợi?"
Tôi đáp:
"Tôi thực sự không biết."

Tôi không biết, thì ai biết chứ?


### 23. Thubten Siddhi Rinpoche


Rất nhiều năm về trước, có một vị Hứa sư huynh cùng Lam sư tỷ, họ đến thỉnh cầu tôi ban cho họ một đứa bé trai, trước đây họ toàn sinh con gái.

Sau khi gia trì xong, tôi nói:
"Có đó. Đứa bé trai này vô cùng đặc biệt đó."

Thế là đứa bé trai này đã ra đời.
Trước khi ra đời, Lam sư tỷ trong lúc đang tu pháp nhìn thấy Địa Tạng Vương Bồ Tát phát quang, từ từ đi vào trong bụng của Lam sư tỷ.

🌟

Khi chứng nhận Thubten Siddhi, tôi nói:
"Thubten Siddhi là hóa thân của Địa Tạng Vương Bồ Tát."

Nghe tôi nói xong, Lam sư tỷ mới kể cho tôi biết Địa Tạng Bồ Tát phát quang từ từ đi vào trong bụng của cô ấy. Đây hiển nhiên là chuyện khá hợp lý.

Thubten Siddhi lúc còn nhỏ được cha mẹ đưa ra ngoài ăn cơm, hai mắt của cậu bé nhìn chằm chằm vào tôi, mắt không hề chớp, cứ luôn nhìn thẳng vào tôi, giống như là nhìn một người đã thân quen lắm. Đây không phải là cách nhìn bình thường, dường như nhìn đến sững cả người.

Thượng sư Liên Hương nói:
"Đứa bé này, ánh mắt nhìn Lư Sư Tôn rất kỳ lạ, mắt không hề chớp, ngưỡng mộ Sư Tôn quá mức rồi!"
Tôi nói một cách thản nhiên:
"Chúng tôi là huynh đệ!"

🌟

Sau này:
Biểu hiện của cậu bé không giống với những đứa trẻ khác:
Tuệ thông minh xuất chúng.
Lãnh đạo giỏi ở trường.
Yêu thích nghe Phật pháp.

Thích được yên tĩnh để suy nghĩ từng vấn đề khó khăn. Có một bạn học nữ thích cậu.

Tôi nói:
"Bạn học nữ rất đáng yêu!"
Cậu bé đáp:
"Đúng vậy. Nhưng bạn ấy là nghiệp chướng của con!"
Tôi rất kinh ngạc:
"Một đứa trẻ nhỏ tuổi như vậy mà từ trong miệng lại nói ra bạn học nữ là nghiệp chướng của mình?"

Tôi chỉ ra những đặc điểm trên người của Thubten Siddhi, từng chỗ, từng chỗ đều phù hợp, cậu bé có tướng mạo sáng sủa thanh thoát. Chúng tôi đã dạy Thubten Siddhi Phật pháp từ rất sớm. Tôi cũng đặc biệt giới thiệu Thượng sư Liên Hải làm vị thầy giảng dạy kinh điển cho cậu. Hiển Mật Phật học của Thượng sư Liên Hải về căn bản là vô cùng giỏi, đối với lý thuyết Phật giáo đều thông suốt, là một vị đại sư kinh luân hiếm có. Vì vậy tôi thỉnh Thượng sư Liên Hải làm thầy giảng dạy kinh điển cho cậu bé.

🌟

Có một lần, Thubten Siddhi mang đến rất nhiều hồng bao muốn cúng dường tôi.
Cậu bé nói:
"Đây là hồng bao người ta cho con, con chuyển thành cúng dường Sư Tôn."
Tôi nói:
"Đây là người ta cúng dường cho con thì con cứ nhận lấy đi, tương lai tu hành cho tốt, ban phước cho thí chủ."
Cậu bé nói:
"Không được, con vẫn chưa tu hành mà!"

Rồi cậu đọc một bài kệ:
Một hạt gạo cúng dường.
Lớn như núi Tu Di.
Nếu không thực tu hành.
Khoác lông đội sừng trả. [ND: Khoác lông đội sừng trả: là làm súc sinh, làm trâu ngựa để trả nợ.]


### 24. Bức tượng quá to


Tại thành phố Medan, Indonesia có Medan Lôi Tạng Tự, bên trong có một bước tượng Liên Hoa Đồng Tử đúc bằng đồng rất to lớn.
Cửa chùa nhỏ. Tượng Liên Hoa Đồng Tử lớn. Rất nhiều người hoài nghi, cửa chính của chùa thì nhỏ, tượng Liên Hoa Đồng Tử thì lớn, làm sao mang vào được bên trong chính điện?

Từ đầu, Lôi Tạng Tự đã xây xong trước, đến lúc tượng đồng đúc xong, người phụ trách mới ngớ người ra. Tượng Liên Hoa Đồng Tử khổng lồ như vậy làm sao đưa vào chính điện?

Tháo nóc nhà? Vậy thì mái ngói của toàn bộ Lôi Tạng Tự sẽ bị hư hỏng.
Dỡ cổng lớn? Cổng lớn được xây dựng hoành tráng lộng lẫy, dỡ rồi lại làm lại từ đầu cũng vô cùng đau đầu, chi phí tiêu tốn cũng rất cao. Phải làm sao?

Họ gọi xe cẩu đến, thử hết vài lần:
Đưa thẳng, không được.
Đưa phía sau, không được.
Xoay bên cạnh, không được.
Xoay trái phải, không được.
Xoay nghiêng, không được.
Xoay ngược, không được.
Xoay nằm, không được.
Thực sự không có cách nào nữa!

Thượng sư Liên Bảo gửi fax cho tôi, xin tôi gia trì cho tượng Liên Hoa Đồng Tử bằng đồng khổng lồ có thể vào được trong chính điện.
Tôi trả lời lại:
"Đã gia trì!"

Thật không ngờ, sau khi cho gia trì rồi, tượng lại có thế đưa vào bên trong được!
Làm sao vào được vậy? Không thể biết được. Chỉ biết sau khi gia trì là vào được thôi!

Có người nói:
"Tượng Liên Hoa Đồng Tử, có thể biến thành to, cũng có thể biến thành nhỏ, đợi khi biến thành nhỏ rồi là có thể vào được!"
Có người nói:
"Tượng Liên Hoa Đồng Tử là đang sống, biết túc cốt công (*), rút xương lại một cái, là đi vào được ngay!"
Có người nói:
"Là do Lư Sư Tôn gia trì, thi triển thần thông một cái, biến không thể thành có thể!"

Tóm lại là, kỳ diệu vô cùng!
Tượng đồng to đưa vào qua cửa nhỏ, mà vẫn cho vào được!

Còn nữa:
Cam Lộ Tịnh Xá ở Đài Loan ở cửa vào có một tượng Liên Hoa Đồng Tử bằng đồng.

Liên Hoa Đồng Tử bằng đồng này dùng thước để đo thì lớn hơn nhiều so với cửa thang máy vận chuyển. Không thể nào đưa tượng Liên Hoa Đồng Tử bằng đồng vào trong thang máy, thử cả nửa ngày trời vẫn không vào được!

Cầu nguyện Liên Hoa Đồng Tử đi!

Cầu nguyện xong rồi không ngờ lại cho được vào! Lúc đi ra lại cầu nguyện một lần thì lại đi ra được. Đây là nhuyễn cốt công của Liên Hoa Đồng Tử. Thượng sư Liên Chủ từng nghĩ:
"Tượng Liên Hoa Đồng Tử này là không ra (vào) được rồi!"
Tôi nói:
"Rất nhiều thần tích!"

(*)Túc cốt công, nhuyễn cốt công: các công pháp tập luyện đặc biệt làm cơ thể cực kì mềm dẻo.


### 25. Kho chứa hàng được chọn


Tôi cùng với một chủ nhà máy đi đến một khu công nghiệp, vị này muốn mua một căn nhà kho lớn để chứa sản phẩm sản xuất ra. Ở đó có hơn hai mươi căn nhà kho, tôi cần giúp lựa chọn một căn. Chủ nhà máy này rất tin tưởng vào thuật phong thủy của tôi.

Tôi cứ đi, cứ đi, rồi chỉ vào một căn nhà kho lớn nói:
"Chính là căn này đây."
Chủ nhà máy hỏi:
"Ngài chắc chứ?"
Tôi nói:
"Chắc chắn."

Chủ nhà máy nói:
"Từng có một vị sư phụ tinh thông phong thủy nói rằng, căn nhà kho này là căn có phong thủy xấu nhất trong tất cả các nhà kho."
Tôi nói:
"Không liên quan đến phong thủy."

Chủ nhà máy nói:
"Mời Lư Sư Tôn đến chính là vì muốn nhờ xem phong thủy, sao lại không liên quan đến phong thủy chứ?"
Tôi nói:
"Nhà kho này cũng không có ai ở, không liên quan đến phong thủy, hôm nay tôi đến là để xem tướng nhà."

Chủ nhà máy nói:
"Cái gì là tướng nhà vậy?"
Tôi nói:
"Cũng chính là an toàn. Tôi vừa ấn linh quang, liền biết căn nhà kho này là an toàn nhất."

Chủ nhà máy không nói gì nữa. Nghe nói, sau khi ông quay về đã triệu tập một cuộc họp, cuối cùng họ quyết định: Loại bỏ căn nhà kho mà tôi đã chọn, họ chọn căn nhà kho có phong thủy tốt do một thầy phong thủy khác chọn.

Tôi nghe xong, rất thản nhiên. Con người tôi là như vậy, mọi chuyện tùy thuận! Không tranh với người.
Bạn tin tưởng tôi thì tin.
Không tin tưởng tôi thì không tin. Không miễn cưỡng!
Tin hay không tin do bạn!

Sau khi chủ nhà máy mua nhà kho lớn đó, khoảng hai ba tháng sau, nhà kho bên cạnh bị cháy. Đêm đó gió rất to, từng căn nhà kho nối đuôi nhau căn này cháy lây sang căn kia. Lửa cháy lan thường rất mạnh, gió lại càng làm lửa dữ dội hơn. Chỉ cháy có hơn ba giờ mà hơn hai mươi căn nhà kho đều bị thiêu rụi sạch sẽ. Chỉ còn lại một căn nguyên vẹn như lúc đầu.

Ôi trời! Chính là căn nhà kho lớn mà tôi đã chọn. Lửa đã cháy đến đó, nhưng lửa lại nhảy vượt qua. Nhà kho bên phải, nhà kho bên trái đều bị đốt cháy hết, không còn sót lại thứ gì, chỉ chừa lại một căn nhà kho, chính là căn nhà kho mà tôi đã chọn. Ồ! Có kỳ lạ không? Có trùng hợp không?

Theo như báo đăng:
Tổn thất nghiêm trọng lên đến cả trăm triệu bởi vì các nhà kho đều chứa hàng hóa. Nguyên nhân cháy là do dây điện bị chập, lửa cháy đến mức chỉ còn sót lại một căn.

Chủ nhà máy mời tôi chọn nhà kho đó về sau cũng có đến tham gia pháp hội của tôi. Sau khi pháp hội kết thúc, ông ở lại giơ ngón tay ra với tôi. Chủ nhà máy nói:
"Vẫn là Lư Sư Tôn siêu nhất!"

Tôi mỉm cười, không nói gì cả!


### 26. Nhổ ra là khỏi ngay thôi


Tôi có đệ tử tên là Liên Hoa Thịnh Huy đến từ Hồng Kông. Anh ta cao gầy, thường xuyên ho khụ... khụ...

Theo chính anh kể lại thì có lần, anh đến tham gia bữa tiệc của người bạn, trong bữa tiệc anh đã ăn một miếng ức gà có cả thịt lẫn xương. Do người bạn kể truyện hài quá buồn cười khiến anh cười liên tục không ngừng, kết quả miếng ức gà có cả thịt lẫn xương này không ngờ trôi tuột vào trong, kẹt ở vùng chính giữa cổ họng và phổi.

Lên không lên. Xuống không xuống.
Cứ kẹt như vậy mãi, ho liên tục không ngừng.

Anh đi gặp bác sĩ. Bác sĩ dùng kẹp để kẹp, nhưng lại tìm không thấy, cũng kẹp không được. Dùng một cái ống cắm từ trong mũi vào đến cổ họng, từ cổ họng đến khí quản, vẫn không thấy đâu. Chụp X-quang cũng không chụp ra được miếng ức gà.

Mỗi tội anh ta vẫn luôn cảm nhận được là có thứ gì đó đang kẹt ở khí quản, bị tắc nghẽn. Khụ! Khụ! Khụ!
Có lúc ho ra cả bát đờm. Có lúc ho ra cả tia máu.

Bác sĩ nói: "Phải mổ!"
Anh ta sợ muốn chết luôn! Chụp X-quang còn không thấy gì thì làm sao mổ đây? Mổ thì cũng đầy nguy hiểm.

Có lúc rất bình thường, nhưng có lúc lại ho khủng khiếp đến mức cảm giác như đốt sống cổ của mình cũng rung đến nứt ra luôn rồi.
Phần phổi thở mạnh như trâu, nhiều đêm khi ngủ mặt giường cũng rung lên, ho rất khổ sở. Anh cũng không ăn được gì, ngủ cũng không yên giấc, chỉ trong vòng mấy tháng người đã gầy tong teo.

Đồng môn gợi ý anh đến tìm tôi.

Tôi lần đó sờ đầu gia trì, khi đến lượt anh, anh ta dùng ngón tay chỉ vào trong cổ họng của mình.
Tay của tôi sờ vào cổ họng của anh, rồi lại dùng tay vỗ một cái vào lưng của anh.
Tôi nói:
"Nhổ ra là khỏi ngay thôi!"

Anh lại ho, khụ... khụ... khụ... hơi thở nặng nề. Đột nhiên anh ho lớn một tiếng, từ trong miệng nhổ ra một cục màu đen, là thịt ở miếng thịt gà? Không giống, giống một cục máu đen hơn. Tiếng ho này của anh làm mọi người giật mình. Nhưng anh thì như trút bỏ được gánh nặng, cảm thấy hơi thở trơn mượt, tim cũng thông, thực quản, khí quản toàn bộ thông suốt, anh vui mừng như điên.

Anh nói:
"Giống như thông trung mạch vậy, không có gì tắc nghẽn nữa."
Anh nói:
"Sờ một cái, vỗ một cái, không ngờ vỗ tan biến hết nỗi khổ của mấy tháng trời!"

Đồng môn hỏi:
"Lư Sư Tôn sờ đầu có công hiệu không?"
Anh đáp:
"Tôi đối với Lư Sư Tôn đã phát khởi lòng tin vô cùng tận!"


### 27. Kho báu dưới gốc cây


Mấy năm trước, trong giới Phật giáo thịnh hành hạt xá lợi và hạt xá lợi phát sinh.
Có người đi đến Nepal lấy về một hạt xá lợi của Phật Thích Ca Mâu Ni. Sau khi quay về không lâu, mở chiếc hộp quý báu ra không ngờ chiếc hộp đầy ắp hạt tròn trắng tinh, giống như viên nhân đan vậy, khiến mọi người kinh ngạc vô cùng.
Sau này nghe nói từ một hạt xá lợi lại sinh ra các hạt xá lợi đầy cả một căn nhà, đúng là kỳ tích.

Em gái lớn Lư Thắng Mỹ của tôi rất giỏi niệm "xá lợi chú". Hạt xá lợi mà em gái sưu tầm vẫn không ngừng sinh ra các hạt xá lợi con.
Hạt xá lợi có hai loại:

1. Xá lợi toàn thân.

1. Xá lợi vụn.

Xá lợi có ba màu:

1. Xá lợi xương màu trắng.

1. Xá lợi tóc màu đen.

1. Xá lợi thịt màu đỏ.

Lại nói:
"Hạt xá lợi là nhờ vào việc huân tu (*) theo giới-định-huệ mà thành."

Trong Bồ Tát Xứ Thai Kinh có viết:
"Sau khi Phật nhập niết bàn thì vẫn có xá lợi sinh ra nhiều đến mức bát hộc tứ đẩu (*)."

Tôi đọc thấy trong Như Ý Bảo Châu Kim Luân Chú Vương Kinh có nói:
"Nếu không có xá lợi, theo thứ tự dùng vàng, bạc, lưu ly, thủy tinh, mã não, các loại đá quý màu, v.v. để chế tác thành xá lợi. Nếu hành giả không có khả năng thì đến bên bờ biển lớn, nhặt sa thạch thanh tịnh về làm xá lợi. Cũng có thể dùng rễ của loại trúc mộc thảo dược để chế tác xá lợi."

Tôi nghĩ:
"Long cung xá lợi" của con người hiện nay là dùng nguyên liệu đá rắn màu trắng trong khai thác khoáng sản đem chế tạo thành xá lợi.

🌟

Có người hỏi:
"Lư Sư Tôn, ở chỗ ngài có hạt xá lợi không?"
Tôi đáp:
"Nhiều!"
Lại hỏi:
"Ngài có kỳ tích gì về hạt xá lợi không?"
Tôi đáp:
"Tôi trở mình một cái, có lúc vô tình sẽ xuất hiện xá lợi. Còn nữa, tóc mà tôi cắt xuống sẽ tự động mọc dài ra, càng mọc càng dài, tóc của tôi sẽ biến thành xá lợi tóc."
Hỏi:
"Ngài có rất nhiều rất nhiều xá lợi phải không?"

🌟

Tôi kể.
Có một hôm, tôi gọi đệ tử Hanifa đến nói:
"Con hãy tới nghĩa trang ở thành phố Lôi Môn, ở đó có ba cái cây, dưới gốc cây của cây thứ ba đào lên con sẽ tìm được báu vật."

"Thực sự có à?"
"Thật đó."

Hanifa đi ngay không chút do dự, ở dưới gốc cây của cái cây thứ ba, chỉ mới cuốc nhẹ một cái.
Ôi trời ơi! Đầy một cái hố ở bên trong đều là hạt xá lợi, màu trắng màu xanh lam đều có. Tròn trịa trong veo, kích cỡ lớn hơn hạt nhân đan một chút, đựng đầy mấy bao mang về.

Có người hỏi:
"Sao ngài biết chỗ nào có cất giấu kho báu xá lợi?"
Tôi đáp:
"Linh cảm!"
Tôi nói:
"Chỉ cần tôi đã nói, thì sẽ có."

(*) Huân tu: học tập tu hành.
(*) Bát hộc tứ đẩu: nôm na là tám hộc bốn đẩu để đựng, nghĩa là có rất nhiều. (hộc và đẩu là một kiểu bát và cốc dùng để đựng thời cổ.


### 28. Nghi quỹ Kim Cương Thủ


Có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Ba vị hộ chủ Mật giáo, là Tứ Thủ Quan Âm, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát và Kim Cương Thủ Bồ Tát, ngài đã truyền pháp Tứ Thủ Quan Âm, pháp Văn Thù Sư Lợi, chỉ còn thiếu pháp Kim Cương Thủ, tại sao vậy?"

Tôi vừa nghe nói thì giật mình. Tôi hỏi ngược lại:
"Tôi chưa truyền pháp Kim Cương Thủ sao?"
Người đó nói:
"Dạ phải."

Tôi suy nghĩ một lúc, nhớ ra Thượng sư Phổ Phương lúc dạy bia giáp hộ thân đã niệm Kim Cương Thủ Bồ Tát Chân Ngôn: "Om, bu ru, lan zhe li." Tôi vẫn luôn cho rằng niệm như vậy thì là tôi đã truyền pháp Kim Cương Thủ rồi, quên mất vẫn chưa có nghi quỹ hoàn chỉnh.

Tôi viết ra nghi quỹ chính yếu như sau:
Gồm 7 phần:
•  Đại lễ bái
•  Đại cúng dường
•  Tứ quy y
•  Đại sám hối
•  Bia giáp hộ thân
•  Phát bồ đề tâm
•  Kết ấn

Kim Cương thủ ấn:

Trước tiên hai bàn tay đan nội phộc, đặt hai ngón cái giơ thẳng chụm vào nhau, ngón trỏ giơ thẳng mở rộng ra ngoài, ngón giữa giơ thẳng ra chạm vào nhau, ngón áp út nắm trong lòng bàn tay, ngón út giơ thẳng chụm vào nhau.
(Giống như ấn của Kim Mẫu, chỉ là ngón út giơ thẳng chụm vào nhau.)

Quán tưởng:
Trước tiên, tịnh nghiệp, quán không. Không trung có hoa sen các màu, trên hoa sen có bánh xe mặt trời, trên bánh xe có chữ "Hum" biến thành chày Kim Cương. Chính giữa chày có chữ "Hum" phóng ra ánh sáng, hàng phục tất cả yêu ma. Chữ "Hum" đi vào trong tim của hành giả, bản thân hành giả biến thành Kim Cương Thủ.

Thân xanh lam đậm.
Một đầu hai tay.
Tay phải bắt phẫn nộ quyền, cầm chày kim cương. Giơ cao.
Tay trái bắt phẫn nộ quyền, để trước ngực (hoặc cầm dây thừng).
Lấy các loại ngọc báu và rắn làm chuỗi đeo cổ, tấm da hổ làm váy.
Chân phải cong chân trái thẳng. Đứng trong ánh sáng lửa lớn của trí huệ (bát nhã).

Chữ "Hum" trong tim phát quang, chiêu thỉnh trí huệ Kim Cương Thủ, và quán đảnh ngũ Phật, Phật cùng Bồ Tát giáng xuống.
Cha-Hum-Bam-Ho. (*) Nhập định hợp nhất.

Tụng chú:
"Om, vajra pani hum, pei" một nghìn biến, mười nghìn biến.

Nhập định.
Xuất định tụng lời tán thán:
"Đảnh lễ Bắc phương Kim Cương Thủ. Trường trú bất diệt tịnh diệu độ.
Chư Phật tán thiện chúng quy y. Đảm đương Như Lai bí mật chủ. Phiền não quỷ ma, đều trừ phá.
Tam nghiệp thanh tịnh, nhân Kim Cương."

Tụng "Bách tự minh chú" (chú 100 âm) ba biến.

Hồi hướng:
Nguyện đem mọi công đức tu hành.
Biến thành Kim Cương Thủ Tôn.
Hàng phục tất cả yêu ma.
Giải thoát bể khổ luân hồi.

Pháp Kim Cương Thủ có pháp Đơn thân, có pháp Song thân với Phật Mẫu là Mamagayi Phật Mẫu, màu xanh lam, cầm dao kim cương kartika (dao hình lưỡi liềm) và chén sọ người kapa- la.

Pháp này cần phải chọn ngày để truyền thụ.

(*) Cha-Hum-Bam-Ho: bốn loại thủ ấn trong "tứ nhiếp", có ý nghĩa như sau:
Cha: Bổn tôn di chuyển lên đỉnh đầu.
Hum: Bổn tôn nhập vào tâm.
Bam: Hợp nhất kiên cố cùng bổn tôn.
Ho: Phóng ánh sáng và hoan hỷ.


### 29. Lý Thụy cùng theo đến


Có một gia tộc họ Lý muốn đến Đài Loan Lôi Tạng Tự gặp Lư Sư Tôn. Họ cảm thấy muốn gặp được Lư Sư Tôn không dễ dàng gì. Họ luôn cho rằng Lư Sư Tôn không phải là người bình thường, không phải là Thượng sư bình thường, mà là một biểu tượng thần thánh. Không có sự chỉ dẫn của ngài, cuộc sống của con người sẽ trở nên rất khó khăn. Ngài dạy con người đi vào con đường đúng đắn.

Có một gia tộc họ Lý muốn đến Đài Loan Lôi Tạng Tự gặp Lư Sư Tôn. Họ cảm thấy muốn gặp được Lư Sư Tôn không dễ dàng gì. Họ luôn cho rằng Lư Sư Tôn không phải là người bình thường, không phải là Thượng sư bình thường, mà là một biểu tượng thần thánh. Không có sự chỉ dẫn của ngài, cuộc sống của con người sẽ trở nên rất khó khăn. Ngài dạy con người đi vào con đường đúng đắn.

🌟

Gia tộc họ Lý có chuyện buồn phiền về mặt tinh thần. Cha của họ là Lý Thụy đã qua đời ba năm rồi nhưng vẫn luôn xuất hiện lúc ẩn lúc hiện trong nhà.

Con trai nhìn thấy.
Con dâu nhìn thấy.
Em bé cũng nhìn thấy.
Ngay đến người giúp việc cũng nhìn thấy.

Điều khiến họ khó tin là họ đã mời cao tăng siêu độ, tiếp dẫn, nhưng rốt cục vẫn không mời được Lý Thụy đi. Khi gia tộc họ Lý đến tham bái tôi, họ thắp hương nói với Lý Thụy cùng nhau đi gặp Lư Sư Tôn.

Tôi vừa gặp người nhà họ Lý, liền nói:
"À! Có một vị trưởng bối đi theo mấy người đến đây!"

Họ vừa nghe là liền tin tưởng nể phục.
Họ hỏi tôi:
"Ông ấy thường xuyên hiện thân ở trong nhà, không biết là có chuyện gì?"

Tôi im lặng một lúc. Người ngoài cho rằng tôi đang nói chuyện với Lý Thụy.

Tôi nói:
"Ngôi mộ của Lý Thụy, ở phía dưới có mạch nước suối ngầm chạy qua, vì vậy quan tài của Lý Thụy không khác gì đang nằm trên nước suối, điều này vô cùng không tốt, cần phải hỏa hóa rồi mang đến tháp linh cốt trong chùa là được!"

Người nhà họ Lý nói:
"Chúng tôi đã mời thầy phong thủy hàng đầu xem rồi."
"Chúng tôi đã làm nghi quỹ chu toàn."
"Chúng tôi đã mời cao tăng siêu độ."
"Chúng tôi cũng đã mời pháp vương Caipa của Mật giáo đến chủ trì dịch chuyển thần thức cho thân trung ấm."

Tôi cười:
"Những cái đó tôi không quan tâm, mấy người quay về kiểm tra xem có phải dưới mộ có nước suối không."

Gia tộc họ Lý hỏi chuyện xong thì ra về. Sau đó, họ gửi tin đến nói quả nhiên dưới quan tài của Lý Thụy là nơi nước suối chảy qua. Họ liền nhanh chóng vội vã di dời, hỏa hóa, đưa đến linh cốt tháp trong chùa. Từ đó Lý Thụy không còn xuất hiện nữa!

🌟

Gia tộc họ Lý nói rằng:
"Vóc dáng của Lư Sư Tôn không cao to rắn chắc mà là vóc dáng rất bình thường, nhưng đích thực là có tướng uy nghi, tạo cho người ta một cảm giác rất thân thiện, nói chuyện không lôi thôi dài dòng. Tuy như vậy, mỗi một câu nói của ngài nói là trúng. Không nói lời hai mặt.
Thản nhiên và điềm đạm. Thích cười lớn ha ha. Quát tháo chẳng bao giờ.

Cả nhà chúng tôi đều đã quy y rồi."
Bởi vì: "Dưới quan tài Lý Thụy là nước suối." Ai mà biết chứ.

Có rất nhiều người nói chuyện với Lư Sư Tôn có vài câu liền quy y. Bởi vì một câu là trúng.
Mọi người đều nói:
"Rất lợi hại!"


### 30. Chặt cây thôi


Biệt thự Cầu Vồng, tức Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, diện tích 40 mẫu, có 7 mẫu đất là bằng phẳng, 33 mẫu đất là đồi núi. Toàn bộ 40 mẫu đất khắp nơi đều trồng cây tùng. Rừng tùng đâm thẳng lên trời một sắc xanh ngút ngàn, khung cảnh tuyệt đẹp.

Núi Cầu Vồng còn gọi là núi Sa Mạo bởi trông giống như cái mũ ô sa của quan lớn. Ở trên núi có rất nhiều cây đã hơn trăm năm tuổi, có một số thân cây to tới mức hai người cùng ôm cũng ôm không hết.

Tại sao gọi là núi Cầu Vồng? Bởi vì chúng tôi đi du ngoạn, nhìn thấy một dải cầu vồng lớn nhô lên, lái xe tìm đến điểm nhô lên của cầu vồng. Thế là mua lại mảnh đất này, cho nên đặt tên là núi Cầu Vồng.

Có khoảng thời gian, thời tiết ở Seattle đặc biệt nóng, vào khoảng tháng sáu, tháng bảy, tháng tám. Ban ngày sau giờ trưa, nhiệt độ là khoảng 95°F (35°C), có lúc gần 100°F (38°C), mọi người đều kêu: "Nóng! Nóng! Nóng!" Sau khi ăn trưa xong, tôi la lớn:
"Trời hanh vật khô, cẩn thận củi lửa."

Các đệ tử, nghe xong hoang mang.
Tôi tổng cộng kêu lên "Trời hanh vật khô, cẩn thận củi lửa" hai lần.
Các đệ tử, nhìn nhau ngơ ngác.

Tới một hôm, tôi lại đột nhiên nói:
"Tôi muốn chặt hết toàn bộ cây ở Biệt thự Cầu Vồng!"
Có người hỏi:
"Có ảnh hưởng phong thủy không?"
Có người hỏi:
"Có ảnh hưởng cảnh quan không?"
Có người hỏi:
"Có ảnh hưởng bảo tồn đất đai không?"
Câu trả lời của tôi là:
"Nếu như có một ngày, rừng cây cháy lớn, xin hỏi, việc nào nguy hơn?"

Thượng sư Liên Ấn hỏi:
"Ngay đến cây ở xung quanh phòng cũng phải chặt sao?" (Chính điện, Hộ Ma điện, Tứ quan phòng)
Tôi đáp:
"Nếu như có cháy sẽ ảnh hưởng đến các phòng. Chặt! Nếu như cây gãy sẽ ảnh hưởng đến các phòng. Chặt!"
Thượng sư Liên Ấn hỏi:
"Nơi đặt tượng Quan Thế Âm Bồ Tát, phía sau có một hàng cây, cũng phải chặt sao?"
Tôi đáp: "Chặt!"

Đến lúc này Thượng sư Liên Hữu mới kể:
"Hai tuần trước khi đổ tro Hộ Ma, con đã phát hiện thấy có các đốm lửa nhỏ chưa tắt, cỏ khô dưới đất đã bắt lửa. Mấy vị đồng môn vội vàng chạy đến nhanh chóng dập lửa, nếu như không dập được lửa, e là cả khu rừng cháy đã lớn rồi."

Bên ngoài Biệt thự Cầu Vồng của chúng tôi, núi nối tiếp núi với nhiều rừng cây, lửa mà cháy thì không thể nào dập được lửa.

Tôi "Ồ!" lên một tiếng.
Có đệ tử nói:
"Lư Sư Tôn! Có dự đoán sáng suốt."
Có đệ tử nói:
"Lư Sư Tôn! Muốn chặt cây nhất định là có nguyên nhân!"
Có đệ tử nói:
"Lư Sư Tôn! Có đại thần thông!"

Tóm lại, thủy hỏa vô tình, phải phòng ngừa tai họa mới được.


### 31. "Cây già" ở phía sau


Một ngày nọ. Có đệ tử 60 tuổi đến thăm, ông nói với tôi:
"Mấy ngày gần đây, tôi thường tới lúc hoàng hôn thì cảm thấy sợ lạnh, có nhiều lúc còn run rẩy. Nghĩ là không biết có phải bị sốt không, lấy nhiệt kế ra đo thử, quả nhiên là 38°C."

Đệ tử nói:
"Ban ngày, nhiệt độ là 36.5°C, bình thường. Nhưng mỗi khi đến lúc hoàng hôn chiều tối thì là 38°C hoặc là 39°C, bị sốt."
Đệ tử nói:
"Đi đến phòng khám kiểm tra thì không kiểm tra ra được gì, đến bệnh viện lớn cũng không tìm ra nguyên nhân sốt. Vì vậy, con đành phải đến tìm Lư Sư Tôn xem sao."

Tôi thực sự nhìn kỹ ông thì thấy, phía sau người đệ tử hiển hiện một cái cây già. Tôi nói:
"Ông bị sốt là có liên quan đến cây!"

Đệ tử nghe xong kinh hãi:
"Lư Sư Tôn! Ngài đúng là chưa đoán đã biết, gần đây tôi đang suy nghĩ chặt cái cây lâu năm ở bên hông nhà, bởi vì rễ của cái cây lâu năm đó đã cắm sâu vào trong lòng đất của ngôi nhà, khiến cho toàn bộ sàn nhà đều bị lồi lên, vì vậy không chặt cái cây già đó không được!"
Đệ tử hỏi: "Phải làm sao?"

Tôi im lặng suy nghĩ, vỗ linh quang một cái. Nói: "Có rồi."
Tôi nói với đệ tử:
"Sau khi về nhà, ông chắp tay nói với thần cây lý do muốn chặt cây, cầu thỉnh sự cho phép. Thứ hai, sẽ lập bài vị thần cây, thờ cúng để thần cây có một chỗ ở. Thứ ba, trong khi Lư Sư Tôn chủ trì pháp hội sẽ siêu độ thần cây, sắc lệnh vãng sinh thanh tịnh Phật Quốc."

Tôi hỏi:
"Ba điều này, ông có thể làm được không?"
Đệ tử đáp:
"Có thể làm được!"

Tôi nói: "Ông đi đi! Nhiệt độ của ông bắt đầu từ hôm nay bình thường rồi."

Kể ra cũng lạ!
Đệ tử đi về nhà, cầu nguyện với cây già, lập bài vị thần cây để thờ cúng, lại còn cầu nguyện ở pháp hội. Quả nhiên kể từ ngày hôm đó, nhiệt độ cơ thể không lúc nóng lúc lạnh nữa, luôn luôn đều dưới 37°C, ngày đêm đều bình thường.

Càng quái lạ hơn là:
Phần rễ cây vốn dĩ đâm vào trong nhà tới mức làm sàn nhà lồi lên nứt ra, không ngờ cũng co trở lại. Sàn nhà lồi lên cũng bằng phẳng trở lại. Đúng là chuyện quái lạ chỉ biết tặc lưỡi, vô cùng trùng hợp.

🌟

Mới chặt một cái cây già, liền đã xuất hiện chuyện lạ như vậy! Tôi nghĩ đến cái cây khổng lồ cao chọc trời ở Biệt thự Cầu Vồng. Phải làm sao?
Tôi buột miệng nói:
"Có tôi, mọi chuyện đều ổn!"

"Có vấn đề sao?"
"Không có vấn đề." Tôi nói.

Từ khi tôi nói muốn chặt cây, tất cả động vật trong núi, gấu con, gấu mèo, hươu nai, thỏ, sóc, chim chóc... bọn chúng đều tự động dọn nhà hết rồi! Kỳ lạ là: Chúng làm sao biết tôi muốn chặt cây?


### 32. Biến hiện Phật A Di Đà


Có một cô gái tên Judy bị bệnh đau đầu quanh năm. Được bạn bè giới thiệu, cô đi đến Đài Loan Lôi Tạng Tự tham gia pháp hội Hộ Ma (hỏa cúng) của tôi. Cô lần đầu tiên đến tham gia, còn trước đó hoàn toàn không biết đến Chân Phật Tông, Lư Sư Tôn hay hỏa cúng. Mật tông là gì cô cũng không biết.

Cô đến tham gia, đương nhiên là do một đệ tử của tôi đưa cô đến, chủ yếu là hy vọng sau khi tôi sờ đầu, bệnh đau đầu của cô sẽ khỏi.

Âm vang của chú ngữ vang vọng, liên miên không dứt. Nhạc cụ ầm ầm nổi lên.
Tiếng trống hòa quyện thành nhịp điệu. Lửa được đốt lên.
Lửa Hộ Ma cháy rực nửa bầu trời.

Cũng chính dưới lực ảnh hưởng như vậy, cô bị hiệu quả không gian làm chấn động, cảm giác bản thân mình được tịnh hóa. Bản thân cô không tự chủ được mà chân tay tự cử động. Đó cũng chính là khởi linh.

Tay cô tự vỗ nhẹ vào đầu mình, đồng thời đi vào trong một trạng thái tâm thức xoay chuyển. Do động tác của cô rất nhẹ nhàng, không có ai phát hiện ra cô có hành động khác thường, nên không bị can thiệp.

🌟

Đầu của Judy nhẹ nhàng xoay chuyển, cô mở mắt ra nhìn lên Căn bản Thượng sư đang ngồi trên pháp tọa. Trong chớp mắt cô đã bị mê hoặc rồi sao? Cô nghĩ thầm:
"Lư Thắng Ngạn hoàn toàn không phải người thường?"

Đầu của ngài với búi tóc xoắn lại.
Hai mắt sáng trong.
Dái tai chảy dài.
Mũi đầy miệng rộng.
Toàn thân viên mãn.
Thân mình màu đỏ.
Chữ Vạn "卍" trước ngực.
Chính xác là Phật A Di Đà.

Trên thân có ánh sáng trên đỉnh đầu, ánh sáng ở lưng, ánh sáng khắp người, ánh sáng trên pháp tọa... các loại ánh sáng phóng chiếu khắp nơi. Những sợi ánh sáng này giống như tơ dệt.

Khi Judy nhìn thấy những điều này, cô lấy làm lạ quay sang nhìn tín chúng ở xung quanh, mọi người vẫn đều biểu hiện bình thường tự nhiên. Judy nhìn thấy Phật A Di Đà, cũng không dám thốt lên nên không làm kinh động đến người khác.

🌟

Đợi pháp hội trôi qua một lúc cô mới nhìn lại Lư Sư Tôn.
Đầu đội mũ đỏ.
Mặc long bào đỏ.
Trang phục Lama.
Ngũ quan đã trở lại là của Lư Sư Tôn.

Cô đột nhiên nghĩ tới:
"Phật A Di Đà cô nhìn thấy lúc nãy chính là Lư Sư Tôn biến hiện huyễn hóa thành, hay là Phật A Di Đà biến hiện huyễn hóa thành Lư Sư Tôn? Huyễn hóa như thế nào? Cô không biết rõ, cũng không hiểu."

Điều kỳ lạ nhất là sau khi cô về nhà, bệnh đau đầu hoàn toàn biến mất, qua mấy tháng sau cũng không đau. Thuốc cô uống mỗi ngày cô đã vứt cả lọ đi rồi! Từ một lần pháp hội, một lần sờ đầu, cái gì cũng khỏi hết, từ đó cô nảy sinh lòng tin cực kỳ lớn.

Có một lần, tôi đến nhà cô khai quang tượng Phật. Cả căn nhà của cô treo đầy Phật tướng của Phật A Di Đà được mua về từ các nơi.

Tôi hỏi:
"Cô treo đầy hình tướng của tôi để làm gì?"


### 33. Thubten Dorje hạ giáng


Thượng sư Thubten Dorje là một trong những vị thầy gốc của tôi. Có một lần khi tôi sờ đầu cho các đệ tử, ngài từ trong hư không giáng xuống hóa nhập vào trong tôi cùng sờ đầu cho đệ tử.

Khi ngài 75 tuổi đã viên tịch tại Hồng Kông. Sau này tôi từng tuyên bố, ngài đã chuyển thế, tái sinh. Thế nên bây giờ có vấn đề rắc rối đây!

Đệ tử hỏi:
"Lư Sư Tôn, ngài từng tuyên bố sư công Thubten Dorje đã chuyển thế. Nhưng hôm nay ngài lại hạ giáng sờ đỉnh đầu đại chúng, chuyện này là sao vậy? Chúng con không hiểu?"
Tôi đáp:
"Con cần phải bỏ được khái niệm về anh, tôi, nó... trong hình tướng của tất cả chúng sinh thì con mới có thể hiểu."
Đệ tử hỏi:
"Câu hỏi tương tự nữa, Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16 đã chuyển thế thành Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 17. Nhưng Sư Tôn trong pháp hội Hộ Ma lại tuyên bố rằng Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16 giáng xuống gia trì pháp hội, điều này chúng con không hiểu?"
Tôi đáp:
"Tôi lấy mấy ví dụ, mọi người nghe xem nhé!" (Những việc này là thân ngoài hóa thân.)

Ví dụ thứ nhất:
Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp tại Linh Sơn. Ngài lại phân ra thêm một thân, đi đến Dhanyakataka ở Nam Ấn Độ, biến hóa thành hiện tướng Thời Luân Kim Cương, truyền thụ pháp Thời Luân Kim Cương cho Nguyệt Hiền Vương của đất nước Shambhala.

Thử hỏi:
Phật Đà ở Linh Sơn là thật?
Hay Phật Đà ở Dhanyakataka là thật?

Ví dụ thứ hai:
Một lần tôi ở pháp hội, sư huynh Cao Minh Lộc tại đàn thành trong nhà đột nhiên nhìn thấy Lư Sư Tôn hiện thân, cao bằng hai tầng lầu, thân đeo túi hương, hiện thân mười mấy phút.

Thử hỏi:
Lư Sư Tôn ở trên pháp hội là thật?
Hay Lư Sư Tôn ở trong nhà của sư huynh Cao Minh Lộc mới là thật?

Ví dụ thứ ba:
Vị thầy của Đạo sư Liên Hoa Sinh là Shri Singha.
Có truyền thừa của Manju-shrimitra (Diệu Cát Tường Bồ Tát). Sau đó Manju-shrimitra đã hóa làm ánh sáng bay đi.
Sau này lại có một vị Manju-shrimitra nữa đến, cũng ban truyền thừa cho đạo sư Liên Hoa Sinh.

Thử hỏi:
Manju-shrimitra trước là thật? Hay Manju-shrimitra sau là thật?

Ví dụ thứ tư:
Quan Thế Âm Bồ Tát có một trăm tỷ hóa thân.
Quan Thế Âm Bồ Tát mười phương, vị Quan Thế Âm Bồ Tát nào mới là thật?

Ví dụ thứ năm:
Lư Sư Tôn xuất thần đi vào trong giấc mơ của đệ tử. Đêm đi vào giấc mơ của một trăm đệ tử.
Lư Sư Tôn trong mơ của một trăm đệ tử này, vị nào mới là thật?

Ví dụ thứ sáu:
Nam Mô 36 nghìn tỉ 119 nghìn và 500 đồng danh, đồng hiệu A Di Đà Phật.

Thử hỏi:
Vị nào mới là thật?

Đại thành tựu giả, huyễn qua huyễn lại, biến tới biến lui, nhiều và một, một và nhiều, tại nhân gian là không thể tưởng tượng nổi. Nhưng trong Phật pháp lại rất bình thường. Tôi nói, tôi chính là Phật A Di Đà!


### 34. Vương Lễ đo lường


Tiến sĩ Vương Lễ là thành viên trong đoàn giáo sư tiến sĩ của Chân Phật Tông, ông nhiều lần đo sự phân bố điện lực từ trường:
• Trước khi Liên Sinh Hoạt Phật hỏa cúng
• Trong lúc Liên Sinh Hoạt Phật hỏa cúng
• Sau khi Liên Sinh Hoạt Phật hỏa cúng

Tiến sĩ Vương Lễ phát hiện: Pháp hội hỏa cúng của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn sản sinh điện lực từ trường đáng kinh ngạc. Có siêu đại pháp lực. Tiến sĩ Vương Lễ là giáo sư điện cơ, nghiên cứu của ông nhận được hưởng ứng lớn trong giới học thuật.

Còn trên phương diện tâm linh, tôi mô tả:
• Trước hỏa cúng: Màn đêm tối đen và yên tĩnh.
• Trong hỏa cúng: Chòm sao rực rỡ, lấp lánh thứ ánh sáng bậc nhất, trải đầy bầu trời đêm.
• Sau hỏa cúng: Trăng, sao cùng tỏa sáng, không có gì cát tường hơn điều này.

Tôi nói:
Nếu như hỏa cúng là một vở kịch, thì đó là một nghi thức thanh tịnh trang nghiêm. Trong chớp mắt xung quanh ngập tràn năng lượng bùng phát, năng lượng đó giống như nhân lên vô lượng, đi vào trong không gian vô hạn.

Đó chính là:
Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Lửa. Vũ trụ bổn tôn.
Tổng hợp lại làm nên một tác phẩm (kịch).

Tôi nói:
Thời gian dường như không tồn tại nữa!
Không gian dường như cũng không tồn tại nữa!
Còn lại chỉ là pháp lực đang xoay chuyển. Pháp lực này vô hình vô tướng, sức mạnh xuyên thấu cực kỳ mạnh, đẩy thần thức của mỗi người lên đến sự thanh tịnh vô thượng, là loại hoạt động tịnh hóa, rồi dừng lại ở điểm vô thượng chí cao.

Tôi nói:
Năng lượng từ trường.
Sự vận chuyển cơ thể con người.
Rung động của tâm.
Ba thứ này hợp lại với nhau, cảm nhận tình yêu và sự từ bi vô tận.
Pháp lực này là sự cộng hưởng, không gì có thể so sánh được.
Một khoảnh khắc của vĩnh hằng. Một khoảnh khắc của chuyển hóa. Một khoảnh khắc của pháp lực.
Khiến lời cầu nguyện của bạn, toàn bộ đều thành hiện thực cát tường như ý.

Tôi nói:
Trong hội trường hỏa cúng mười nghìn người, chỉ cần tập hợp được tâm lực của mười nghìn người, đó chính là thời khắc có tính chấn động.
Một người có thể làm xúc động mười nghìn người. Mười nghìn người cũng có thể làm xúc động một người. Chứng kiến ngọn lửa nhiều màu sắc tuyệt đẹp không gì sánh. Thời khắc huy hoàng trang nghiêm. Khiến sức mạnh tâm thức nâng cao, chỉ đích thân trải nghiệm sự chuyên nhất (*) của tâm lực mới thể hội (*) được sự sâu sắc bên trong này.

Tôi nói:
Máy đo năng lượng từ trường của tiến sĩ Vương Lễ đo ra những dao động và xoay chuyển của pháp lực.
Tương tự có thể đo ra được thế giới tinh thần to lớn vô hạn và thực tu chứng quả của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.
Hiện thực.
Hư huyễn.
Pháp lực.
Đó chính là khoảnh khắc thời gian và sự vĩnh hằng giao thoa!
Mời tất cả chúng sinh đến tham dự bữa tiệc tâm linh cao cả.

(*) Chuyên nhất: tập trung, không phân tán.
(*) Thể hội: nắm biết được toàn bộ, sâu sắc thông qua trải nghiệm cá nhân.


### 35. Thu hoạch hành lá ngay


Đây là một câu chuyện rất nhỏ nhưng cũng có tính khai thị.
Tôi có đệ tử làm nghề trồng hành lá. Khoảng thời gian tháng 7 năm 2015, anh có một giấc mơ, trong mơ, Lư Sư Tôn xuất hiện nói: "Đến lúc nên thu hoạch hành rồi!"

Sau khi tỉnh dậy, anh kể lại với người nhà. Mọi người nói: "Hành chưa hoàn toàn lớn, đợi lớn thì có thể bán được gấp đôi giá. Lúc này thu hoạch thì không được! Lời nói trong mơ làm sao có thể tin được chứ!"

Vài ngày trôi qua.
Anh lại nằm mơ giấc mơ thứ hai. Tương tự, Lư Sư Tôn ở trong mơ nói với anh: "Đến lúc nên thu hoạch hành rồi!" Lư Sư Tôn có chút lo lắng, giọng nói hối thúc gấp gáp.

Tỉnh dậy, anh lại kể với người nhà. Mọi người nói:
"Sao lại thế nữa, ngày nghĩ gì đêm mơ đó thôi. Hành thì nhất định phải thu hoạch rồi, nhưng vẫn chưa phải lúc!"

Lại thêm vài ngày trôi qua.
Đã là tháng 8, ở khơi xa trong khu vực xung quanh Quan Đảo (*) có một cơn bão to hình thành. Cơn bão tên là Soudelor (*).
Anh mơ tiếp giấc mơ thứ ba. Trong mơ Lư Sư Tôn phát ra tiếng hét sư tử to như sấm: "Đến lúc nên thu hoạch hành rồi!"

Tỉnh dậy, anh lại kể với người nhà. Mọi người nói:
"Những lần trước, thông thường bão nếu không thổi về Nhật Bản thì sẽ thổi về quần đảo Ryukyu (Đài Loan). Nhưng Đài Loan là hòn đảo ngọc, nếu bão có tới, gặp phải đảo ngọc thì cũng không sao, không cần sợ."
Anh nói:
"Lần này, Lư Sư Tôn đã hét ầm như sư tử luôn rồi, không thể không tin. Cơn bão này…"

Người nhà lại nói:
"Yên tâm, bão nhất định sẽ chuyển hướng, thổi đến Nhật Bản. Tôi xem bão hôm nay, tiếng sấm lớn nhưng mưa nhỏ hạt. Dự báo nói có bão nhưng bão đâu có đến. Được nghỉ do bão, mọi người đều đi xem phim hoặc đi hát karaoke, không có bão đâu."

Kết quả:
Cơn bão Soudelor tấn công Đài Loan, tình hình thiên tai nghiêm trọng. (08/08/2015)
Đổ cây.
Đất đá bị cuốn trôi.
Mất điện.
Nông sản đều bị hư hỏng.
Một cây hành cũng không còn nữa. Mất nước, v.v.

Anh nói với người nhà:
"Lần này hành mất sạch rồi!"
Người nhà nói:
"Không ngờ Lư Sư Tôn nói lại là thật."

Có lời giảng rằng, một người thầy vĩ đại có thể thông qua năm phương pháp để gieo trồng hạt giống giải thoát cho con người:

1. Niệm hát danh hiệu hoặc Tâm chú của Thượng sư.

1. Gần gũi sát Thượng sư. Sờ đầu.

1. Tham gia pháp hội, Hộ Ma, quán đảnh của Thượng sư.

1. Tu Thượng sư tương ứng pháp.

1. Nghe theo lời chỉ thị, khẩu thị và mộng thị.
Đây đều là những cách thức vô cùng quan trọng.

(*) Quan Đảo: đảo Guam thuộc Mỹ, nằm gần Trung Quốc, Nhật, Philippines và bán đảo Triều Tiên.
(*) Bão Soudelor: tên siêu bão mạnh nhất năm 2015, sức gió tới 354km/h, bão không đổ bộ vào Nhật mà hướng tới đảo Ryukyu, Đài Loan.


### 36. Ngày chủ nhật của tôi


Tại Seattle bên Mỹ, với tôi chủ nhật có lẽ là ngày bận rộn nhất. Người khác được nghỉ, tôi phải làm việc.

Giống như mọi ngày:
Buổi sáng tôi thức dậy, vệ sinh cá nhân xong, ăn sáng, viết sách. Viết sách xong đã 10 rưỡi hoặc 11 giờ. Xe của Thượng sư Đức Huy vừa đến, tôi và Thượng sư Liên Hương lên xe. Ngay khi tôi ngồi lên xe là sẽ bắt đầu "tu thiền".

Quán tưởng lễ bái hai mươi thiên chúng.
Lại lễ bái bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cương, Cát Tường Thiên, A Di Đà Phật, Quan Âm Tứ Thủ, Đại Uy Đức Kim Cương, Cao Vương Quan Âm, Lục Độ Mẫu, Tôn Thắng Phật Mẫu.
Lại lễ bái Bản Sơ Phật, Thời Luân Kim Cương, Liên Hoa Sinh đại sĩ, Diêu Trì Kim Mẫu, Kim Cương Tát Đỏa, Bất Động Minh Vương.
Lại lễ bái Khổng Tước Minh Vương, Sư Diện Không Hành Mẫu, Ma Lợi Chi Thiên, Đại Bàng Kim Sí Điểu Vương, Hỷ Kim Cương, Văn Thù Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát.
Lại lễ bái Hoàng Thần Tài, Hồng Thần Tài, Tứ Thiên Vương…

Trì chú:
"A Di Đà Phật Tâm chú."
"Quan Âm Tâm chú."
"Đại Thế Chí Bồ Tát Tâm chú.
" Niệm kinh:
"Cao Vương Kinh."

Nhập định. (Nhập Tam Ma Địa)

Xe đến Biệt Thự Cầu Vồng (Cầu Vồng Lôi Tạng Tự).
Lễ bái đàn thành trong chính điện.
Lễ bái đàn thành trong điện Kim Cương Minh Vương.
Ăn cơm trưa.
Tu thiền nhập định.

Đến Hộ Ma Bảo Điện làm pháp Hộ Ma.
Thuyết pháp.
Lúc này đã là 5 giờ chiều.
Xem biểu diễn văn nghệ.

Buổi tối 6 giờ. Về Nam Sơn Nhã Xá.
Buổi tối tu hộ pháp, thần thủy pháp, chuyết hỏa. Ngủ. (Miên quang pháp)

Một ngày chủ nhật của tôi chính là như vậy, nếu như có thay đổi thì cũng không có khác biệt là mấy.
Tôi có thể nói thế này.
Ngày bình thường và ngày chủ nhật cũng không khác gì, công phu tu thiền mỗi ngày không gián đoạn.
Công việc viết sách mỗi ngày cũng không gián đoạn.

Vào buổi chiều của ngày thường, tôi có thêm việc gặp đệ tử và vẽ tranh, nhiễu Phật sau cơm tối. Hồi hướng của tôi, phần lớn là hồi hướng cho các đệ tử!

Hầu như mỗi ngày, sau giờ cơm trưa và cơm tối, các đệ tử đều quỳ rất nhiệt thành. Họ xin tôi gia trì, tôi sờ đầu từng người một gia trì. Trước lúc tôi sờ đầu gia trì, nhất định phải quán tưởng bổn tôn cho đến khi bổn tôn hợp nhất với tôi, như vậy mới có thể sờ đầu.

Cuộc sống của tôi rất đơn giản:
Ăn - pháp cúng dường.
Mặc - pháp kết giới.
Ở - pháp miên quang.
Đi - pháp tinh tấn.

Tôi nói:
"Tôi chỉ cứ bền bỉ làm việc, chuyện tương lai vốn dĩ không nghĩ tới!"


### 37. Kết nối tâm với tâm


Có đệ tử người phương Tây tên là Rhodes. Trong một lần gặp gỡ nói chuyện, anh bộc bạch với tôi:
"Trung tâm cuộc sống của con hiện nay chính là ma túy, rượu và tình dục. Xin thỉnh giáo Lư Sư Tôn, con làm sao thoát ly được những thứ này?"
Tôi nói:
"Đệ tử của Phật là đều phải giữ giới luật."
Anh hỏi:
"Phải làm sao để giữ giới?"
Tôi đáp:
"Bắt đầu từ hôm nay, anh không được dùng những thứ độc hại, anh không được uống rượu, đó chính là giữ giới, chính là đoạn trừ."
Anh hỏi:
"Làm sao để đoạn trừ sắc?" Tôi đáp:
"Thanh tâm!"
Anh hỏi:
"Làm sao có thể thanh tâm?"
Tôi đáp:
"Anh phải học tu thiền, tu thiền nhiều ngày, tâm sẽ có thể từ từ thanh lọc, thanh lọc đủ lâu, dục niệm sẽ dần dần ít đi, anh có hiểu không?"
Rhodes nói:
"Con có thể thử xem sao!"

🌟

Có một lần Rhodes đến gặp và nói với tôi:
"Con rất ít khi đến tham gia buổi thuyết pháp khai thị của ngài, vì vậy rất ít được nhìn thấy mặt của Lư Sư Tôn. Có lẽ là vậy nên con thiếu mất sự liên kết về tâm với Lư Sư Tôn, lòng tin vô cùng mờ nhạt, cảm giác bản thân không có sức mạnh.

Bởi vì không có sức mạnh cho nên không cách nào chiến thắng ma túy, rượu và tình dục, vì vậy mà trầm luân rồi!" - Anh nói.

Tôi nghe xong lời anh nói, cười cười, gật đầu, tôi dùng tay gia trì cho Rhodes, đem chú ngữ ấn vào trong tim của anh.
Tôi nói:
"Đi tu thiền đi!"

Anh gật đầu, quay đi!
Tôi nhìn bóng dáng anh từ phía sau, rất cảm thán:
Thanh niên Tây thời nay, trầm mê trong tửu sắc ma túy, có biết bao nhiêu người?
Lắc lư nhạc rock.
Uống rượu chích thuốc.
Phê đến đỉnh điểm.
Quan hệ tình dục.
Người có thể hiểu biết tu thiền thì quá ít.

Nếu giảng lý thuyết Phật giáo cao thâm với họ, họ không hiểu, nếu giảng lý thuyết Phật giáo cơ bản với họ, thì có vẻ không có chút sức mạnh nào.

🌟

Rhodes mang một que hương đi vào trong rừng. Cắm que hương lên trên mặt đất, anh ngồi ở gốc cây của một cái cây to. Ánh nắng ở phía trên bị lá cây che khuất hết. Anh nhắm mắt lại, dựa theo phương pháp mà tôi dạy, đầu tiên tu Cửu Tiết Phật Phong (*) và Kim Cương tụng.

Sau đó, không khí đột nhiên ngưng kết lại. Anh cảm giác có một luồng sức mạnh thần kỳ của hư không đi vào bên trong cơ thể mình. Tuy anh nhắm mắt, nhưng lại nhìn thấy hào quang chói lọi, trong ánh sáng có Căn bản Thượng sư Lư Sư Tôn. Anh nhìn thấy rất rõ ràng.

Sau đó, Rhodes cảm thấy, tâm và tâm liên kết, còn là liên kết mạnh mẽ. Anh đã có sức mạnh.
Anh nói:
"Có sức mạnh có thể khắc phục tất cả thói quen xấu rồi!"

(*) Cửu Tiết Phật Phong: pháp thở gồm 9 bước, giúp hành giả thanh tịnh hóa khí nghiệp, đả thông kinh mạch.


### 38. Khoảnh khắc mở thư


Liên Hoa Truyền Lợi viết một bức thư dài gửi đến phòng làm việc của Tông ủy hội, là một bức thư kể chuyện "bị tinh linh quấy nhiễu".

Tôi gia trì bức thư, viết lên ba chữ "đã gia trì". Đồng thời tôi hà một hơi vào trong lòng bàn tay rồi ấn vào trong thư. Như vậy là hoàn thành thao tác gia trì cho bức thư.

Liên Hoa Truyền Lợi ở trong giấc mơ không ngờ đã nhìn thấy Lư Sư Tôn đến. Không những đã đến mà còn cùng với một bóng đen chui ra từ trong người của Liên Hoa Truyền Lợi, đôi bên "chưởng" nhau một đấm.

Lư Sư Tôn biến thành một vị đại hiệp, còn bóng đen giống như một Ninja. Lư đại hiệp đi quyền giống như "giáng long thập bát chưởng", đuổi đánh Ninja suốt cả quãng đường. Ninja liên tục tháo chạy, sau đó phóng ra một phi tiêu, bị Lư đại hiệp đưa tay ra chụp lấy. Lư đại hiệp xoay người một cái, phi tiêu bay ngược trở lại nhanh như một tia chớp.

Trong nháy mắt, phi tiêu cắm trúng chân của Ninja, khiến Ninja bị thương ngã xuống đất. Ninja khổ sở van xin Lư đại hiệp tha mạng. Lư đại hiệp dường như khuyên giải Ninja.

Liên Hoa Truyền Lợi ở trong mơ lập tức cảm nhận được lòng từ ái siêu phàm và ra sức mạnh tinh thần thuần tịnh tỏa ra của Lư Sư Tôn. Ông cảm nhận được rằng từ đến trước giờ chưa từng gặp người có sức mạnh tình yêu và từ bi vĩ đại như vậy.

Lư đại hiệp tha cho Ninja. Đây là:
Tình yêu.
Từ bi.
Sức mạnh.
Trí huệ.

Sau giấc mơ đó, cách một ngày sau Liên Hoa Truyền Lợi mới nhận được thư hồi âm.
Vào khoảnh khắc mở thư ra xem đó, ông nhìn thấy một luồng ánh sáng. Lực gia trì đi vào trung mạch trong người ông, tại đó tiếp tục gia trì trong một khoảng thời gian rất dài. Sự việc này là độc nhất vô nhị. Một lần duy nhất trong đời.

Cảm giác tất cả chướng ngại hoàn toàn được thanh trừ, thân thể của ông từ nặng nề biến thành thanh nhẹ. Thân này được mở ra rồi, tâm cũng mở ra rồi, toàn bộ vũ trụ mở ra rồi. Sự quấy nhiễu của tinh linh đã biến mất!

Đây là một khoảnh khắc vô cùng khó quên!
"Cái khoảnh khắc mở thư ra đó."

🌟

Sau này, Liên Hoa Truyền Lợi tham gia pháp hội Khổng Tước Minh Vương của tôi.

Lư Sư Tôn hoàn toàn hóa hiện thành Khổng Tước Đại Minh Vương.
Đầu tiên là Đại Khổng Tước.
Trên Khổng Tước có đài sen.
Khổng Tước Minh Vương ngồi trên pháp tọa đài sen.
Một tay cầm quả cát tường.
Một tay cầm quả kính ái quả. (Quả câu duyên)
Một tay cầm lông khổng tước.
Một tay cầm hoa sen trắng.

Ông nhìn thấy quá trình biến hóa, mặt và thân thể bắt đầu biến hóa, sau đó hoàn toàn là Khổng Tước Minh Vương.
Ông kinh ngạc không thể tả xiết!

Liên Hoa Truyền Lợi nhận được lực gia trì của truyền thừa Khổng Tước Minh Vương, ông phát ra một lời nguyện:
"Đời đời kiếp kiếp nguyện làm thành viên gia tộc của Lư Sư Tôn, cho đến khi tu hành thành Phật."


### 39. Một hạt gạo của thí chủ


Nhân viên hoằng pháp A (không nói tên ở đây) đến Tây Thành Lôi Tạng Tự. Sự xuất hiện của ông khiến rất nhiều người mắt sáng lên. Nguyên nhân là nhân viên hoằng pháp này rất ít khi đi đến Miếu Tổ, đã rất nhiều năm không đến. Đồng thời, ông cũng rất ít khi đến Đài Loan Lôi Tạng Tự. Ông ấy đi khắp thế giới.

Nhân viên hoằng pháp A rất ít cúng dường Căn bản Thượng sư, nguyên nhân là vì rất ít gặp. Cho dù gặp được rồi cũng chỉ chào hỏi mà thôi. Nhưng lần này thì khác.

Ông cầm một hồng bao to dúi vào trong tay của tôi. Tôi nói:
"Chuyện gì vậy?"
Ông nói:
"Cúng dường cho Sư Tôn đó."
Tôi nói:
"Tôi phải ký tên một cái!"
Ông nói:
"Không cần!"
Tôi nói:
"Là của người nào cúng dường? Dù sao cũng phải ký tên để người đó hoặc những người đó biết."
Ông rên thầm:
"Ừm! Ừm! Ừm!..."

Ông càng như vậy, tôi càng phải hỏi. Cuối cùng ông mới chịu nói ra nguyên nhân.

🌟

Nhân viên hoằng pháp A đi đến các phân đường trên thế giới hoằng pháp. Có đệ tử cúng dường cho ông, nói:
"Phần này là cúng dường cho ngài, phần còn lại xin thay con chuyển cúng dường Lư Sư Tôn."

Đệ tử như vậy không ít. Nhưng sau khi ông nhận lại để lẫn với nhau, thế rồi quên mất phần cúng cho mình bao nhiêu, cho Lư Sư Tôn bao nhiêu? Có một số ghi rõ ràng, có một số vốn dĩ không ghi rõ, lúc này rất phiền toái. Thế là toàn bộ ông đều giữ cho bản thân mình, lớn nhỏ đều tiêu hết, cứ như vậy suốt mấy năm trời.

Có một khoảng thời gian. Ông mơ một giấc mơ, trong mơ xuất hiện Tế Công Hoạt Phật.
Mái tóc ngắn cỡ hai thốn (năm phân).
Mặt đầy bùn đất.
Áo tăng rách bươm.
Tay áo ngắn, không còn cổ áo.
Dây thừng làm thắt lưng.
Lôi thôi lếch thếch, rách rưới thê thảm, bẩn thỉu vô cùng.

Tế Công Hoạt Phật nói:
"Thí chủ, xin hóa duyên cho một hạt gạo!"
Ông nói:
"Tôi không có."

Tế Công Hoạt Phật nói:
"Sẽ hóa duyên phần của Lư Sư Tôn! Phần đó ở chỗ của ông, sao lại không có?"

Ông hoảng sợ toàn thân toát mồ hôi lạnh. Tế Công nói:
"Nhận cúng một hạt gạo, lớn như núi Tu Di, nếu như không tu hành, mang lông đội sừng trả." (*)
Ông sợ đến tỉnh giấc!

Thế là nhân viên hoằng pháp A quyết định mau chóng bay đến Seattle nước Mỹ. Vừa gặp mặt liền đưa cho tôi một hồng bao to. Tôi mở hồng bao ra xem.
Ha ha! Bên trong hồng bao còn có kẹp một hạt gạo!

(*) Bài kệ Phật giáo, ý rằng dù chỉ một hạt gạo cúng dường cũng lớn như núi Tu Di, nếu không tu hành đúng thì kiếp sau phải đầu thai làm súc sinh để trả lại người cúng.


### 40. Là thuốc mà tôi cho sao?


Cô Huệ Chi từ một đất nước xa xôi đến. Cô chỉ là một vị khách lạ đến thăm, cũng không phải là đệ tử quy y. Khi đến, cô chỉ lặng lẽ đến Lôi Tạng Tự lễ bái Phật, lặng lẽ ăn cơm trong nhà ăn, trốn ở một góc trong đám đông, không lên tiếng. Cô len lén nhìn Lư Sư Tôn.

Tôi có chú ý đến cô. Cô gái này tuy cố tình tách rời đám đông, nhưng chỉ cần nhìn cô một lần là khiến người ta khó quên.

Tóc búi tròn cao.
Hoa tai lủng lẳng.
Lông mày lá liễu.
Môi hé anh đào.
Mắt to quyến rũ.
Khuôn mặt rạng ngời.
Dáng người thon thả.

Có một bài thơ, viết rất hay:
Đàm đàm sơ trang bạc bạc y,
Thiên tiên nhất dạng hảo dung nghi,
Độc hành hương kinh bồi hồi khứ,
Viễn ly nhân quần bất khứ ly.

Dịch thơ:
Y phục nhẹ nhàng không diêm dúa.
Mà vẫn như tiên nét đẹp xinh.
Một mình bối rối tự tìm đến.
Ngỡ là tách biệt hóa ra không.

Có một hôm, cô đến dâng hoa. Tôi hỏi:
"Từ đâu đến?"
Cô đáp:
"Từ nơi xa đến."
Tôi hỏi:
"Nhân duyên gì mà đến?"
Cô đáp:
"Phật duyên mà đến."
Tôi hỏi:
"Quy y chưa?"
Cô đáp:
"Vẫn chưa."
Tôi hỏi:
"Tại sao không quy y?"
Cô đáp:
"Vẫn đang tìm kiếm."

Hôm khác, cô lại đến dâng hoa, trong đó có một bông hoa hơi héo một chút.
Tôi hỏi:
"Bông hoa hơi héo này, làm thế nào đây?"
Cô đáp:
"Làm thế nào đây? Lư Sư Tôn có ý gì vậy?"
Tôi nói:
"Cho nó nước pháp, thuốc pháp, là có thể khiến nó hồi sinh."
Cô hỏi ngược tôi:
"Cái gì là thuốc pháp?"
Tôi đáp:
"Hắc bảo hoàn."
Cô nói:
"Con tìm được rồi, con muốn quy y!" Cô rất vui mừng.

🌟

Sau khi cô quy y với tôi đã kể lại rằng: Một năm trước cô bị bệnh, sốt cao không thuyên giảm, bất kì cách chữa trị nào cũng không hiệu quả, diện mạo khô héo giống như là sắp chết. Trong lúc hôn mê, cô thấy một tăng nhân bộ dạng Lama (thầy tu Tây Tạng), cầm một loại thuốc pháp đến cho cô uống.
Cô hỏi:
"Là thuốc gì vậy?"
Tăng nhân đáp:
"Hắc bảo hoàn."

Từ đó trở đi cô hạ sốt, cơ thể mỗi ngày một khỏe lại, cuối cùng hoàn toàn khỏi bệnh. Cô bắt đầu đi tìm kiếm tăng nhân đã cho cô hắc bảo hoàn, đi tìm nhiều nơi mới tìm được Lư Sư Tôn. Cô cho rằng là tôi đã cho cô hắc bảo hoàn.
Lần này đến lượt tôi do dự rồi:
"Là thuốc mà tôi cho sao?"

Ha! Tôi cũng quên rồi!


### 41. Lư Sư Tôn biến mất


Bài viết này là do một đệ tử họ Dư viết, nội dung mượt mà, có cảm giác chân thật, nên tôi kể lại ở đây.
"Từng có khoảng thời gian tôi đến Tây Thành Lôi Tạng Tự, ở đó khoảng một tháng. Mỗi ngày tôi đều nhìn thấy Lư Sư Tôn đi một chiếc Maserati màu trắng, vào lúc buổi trưa, lái xe tới Lôi Tạng Tự ăn trưa.

Nói thật là ngài không chút kiểu cách. Một mình đi vào Chân Phật Mật Uyển, không lâu sau đã thấy đội nón lá, cùng Thượng sư Liên Nhai bước ra, đi đến phòng ăn dùng cơm.

Ngài sẽ chào hỏi từng vị Thượng sư, Pháp sư. Chào hỏi những đệ tử bình thường. Chào hỏi những đệ tử đến từ khắp nơi trên thế giới. Chúng tôi đều quỳ xuống.

Ngài sẽ nói: "Không cần quỳ, sàn xi măng quá cứng, nắng quá gắt" kiểu kiểu như vậy, nhưng chúng tôi rất ít khi đứng dậy. Bởi vì chúng tôi đã quen quỳ để nghênh đón, quỳ để tiễn chào Căn bản Thượng sư của chúng tôi, một vị trưởng giả bác học, vừa thực tu, vừa có chứng ngộ.

Lúc dùng cơm. Ăn cơm thì rất thoải mái, giống như một đại gia tộc vậy, không có sự phân biệt, không có quy tắc gì cả, ăn cơm chính là ăn cơm. Ngài cũng không bận tâm khi có một số người đi qua đi lại trước mặt ngài. Ngài rất thích trẻ nhỏ, luôn trò chuyện với trẻ con, thậm chí là ca hát.

Khi ăn cơm, ngài sẽ trò chuyện, chuyện trên trời dưới đất đông tây nam bắc gì cũng được, có lúc cũng nói Phật pháp.
Có lúc cười.
Có lúc niệm Phật.

Ăn cơm xong thì ngài sẽ sờ đầu gia trì cho mọi người, sờ đầu từng người một, tuyệt đối không bỏ sót một người nào.
Chúng tôi đều cảm thấy thật may mắn. Có rất nhiều người sau khi được sờ đầu đều có cảm ứng. Vì vậy rất nhiều người đều đặc biệt tìm đến đây để cho Lư Sư Tôn sờ đầu gia trì.

Có người khỏi luôn đau nhức ở tay!
Có người khỏi luôn bệnh da liễu!
Có người không đau đầu nữa!
Có người không đau lưng dưới nữa!

Thậm chí là khối u biến mất luôn!
...

Ngày chủ nhật. Mọi thứ đều không khác gì những ngày thường.
Ngài sẽ làm Hộ Ma (hỏa cúng) chư tôn tại Biệt Thự Cầu Vồng, quán đảnh chư tôn cho mọi người. Đến 5 giờ có tiết mục văn nghệ.

Cuối cùng chính là Lư Sư Tôn múa Thái cực quyền. Có khúc nhanh. Có khúc khoan thai.
Lại có quyền pháp không biết tên gọi, ngài tự gọi là tán thủ. Tất cả không có gì khác biệt so với trước đây cả.

Nhưng lần này tôi lại thấy tất cả đều không giống.
Tôi nhìn xung quanh bốn phía, những người khác vẫn như vậy. Tôi quay đầu lại nhìn Lư Sư Tôn múa thái cực quyền, nhưng thấy thân người của ngài biến mất. Đầu tiên là bàn tay, cánh tay, mặt, cổ, thân người, chân. Toàn bộ đều biến thành trong suốt. Mắt của tôi nhìn xuyên qua thân thể của người, nhìn thấy đàn thành, tôi có chút rối trí? Sao lại như vậy? Không biết đã xảy ra chuyện gì.

Múa quyền xong, Lư Sư Tôn sờ đầu cho mọi người. Mọi người xếp thành hai hàng. Khi đến lượt tôi, ngài nở nụ cười nói với tôi:
"Anh đã nhìn thấy, phải không?"

Tôi vẫn còn chưa kịp phản ứng. Nhưng tôi biết, hình như cái gì ngài cũng đều biết."


### 42. Tranh Sai Baba hết thiêng


Bạn có nhớ là trước đây tôi từng kể:
Khi tôi ở "Mailong" Indonesia từng đến nhà của một đệ tử. Anh ta từng đến Ấn Độ, đi gặp một nhân vật tôn giáo kì lạ tên là Sai Baba (*), mang về một bức tranh khổng lồ của Sai Baba. Ấn tượng mạnh nhất là tóc của Sai Baba giống như bỏng ngô vậy, nở bung ra mọi hướng.

Đệ tử nói:
"Tranh pháp tướng của Sai Baba rất kỳ lạ, cứ cách một khoảng thời gian, từ trong miệng của ngài ấy sẽ chảy ra mật."
Tôi rất tò mò:
"Mật đó như thế nào?"
Anh đáp:
"Giống như mật ong vậy đó, có một chút ngọt nhẹ."

Anh hỏi:
"Lư Sư Tôn, tranh pháp tướng của ngài có chảy mật không?"
Tôi đáp:
"Chắc là không! Trước giờ tôi chưa từng nghe nói pháp tướng của mình lại chảy ra mật."
(Pháp tướng có thể huyễn biến, nhưng không chảy ra mật.)
Anh nói:
"Nghe nói chỉ cần thành tâm thờ cúng thì sẽ chảy ra mật!"
Tôi nói:
"Tôi không thích quá hiển dị hoặc chúng (*), nhưng các nơi mà tôi đi qua thì những sự việc kì dị ở đó đều sẽ biến mất."
Anh nói:
"Lư Sư Tôn thích nói đùa!"
Tôi nói:
"Thật đó."

Chuyện lạ là từ sau khi tôi đến xem, bức pháp tướng Sai Baba từ đó không còn chảy mật nữa, ngay đến một giọt cũng không có. Tôi chỉ đi qua, cũng không làm bất cứ pháp gì cả!

🌟

Lần khác, tôi đến nhà của một đệ tử Tây phương tên là Fuller. Trong phòng khách của ông cũng thờ cúng một bức tranh pháp tướng của Sai Baba.
Tôi hỏi Fuller:
"Trong miệng có chảy ra mật không?"
Fuller đáp:
"Không biết!"

Nhưng vợ của Fuller là Didi ngồi bên cạnh nói:
"Có đó. Cái bàn ở phía trước pháp tướng thường có vết nước dính bết, tôi thường xuyên phải lau chùi."
Didi nói:
"Con không biết là cái gì. Nhưng con thực sự có lau thấy, thì ra là cái này."
Tôi nói:
"Sau này chắc bà cũng không cần phải lau nữa rồi!"
Didi hỏi:
"Tại sao?"
Tôi nói:
"Bởi vì tôi đã đi qua!"

Fuller và Didi đều không hiểu tôi nói câu này có ý nghĩa là gì?

Buổi đêm của ngày tôi đến thăm, Didi có mơ một giấc mơ, mơ thấy Sai Baba đến, đại sư Sai Baba nói với bà:
“Có một khách quý đến nhà ông bà. Người đó giống như là mặt trời. Còn tôi là mặt trăng. Mặt trăng gặp mặt trời thì chẳng còn ánh sáng nữa!”

Sai Baba nói xong, thì liền biến mất! Sau khi bà mơ giấc mơ này, quả nhiên, vết nước dính bết đó cũng không còn nữa, không cần lau chùi nữa!

(*) Sai Baba: Tôn Sư kể về yogi Sathya Sai Baba tóc xù (1926-2011), là tái sinh của Sai Baba ở Shirdi (mất 1918), tương truyền là một hóa thân của thần Siva. Cả hai vị đại thành tựu giả Ấn Độ này đều rất giỏi, rất nổi tiếng và có thần thông cực kì lớn.
(*) Hiển dị hoặc chúng: làm ra sự việc, hiện tượng quái dị để mê hoặc mọi người.


### 43. Con chó đen hung hăng


Tôi sống ở Nam Sơn Nhã Xá tại Seattle, địa điểm ở góc tây bắc thành phố Bellevue. Nam Sơn Nhã Xá của tôi có diện tích khoảng hai mẫu (*)  đất, căn nhà rộng khoảng một mẫu, nhà một tầng. Xung quanh toàn là rừng cây tùng. Ở phía sau nhà xe, có hai căn nhà nhỏ được làm bằng gậy golf, là chuồng chó do chủ nhà trước xây.

Trước khi mua chỗ này, tôi hỏi:
"Cái chuồng chó này sao lại lớn như vậy?"
Chủ nhà trước nói:
"Chỗ này là vùng ngoại ô, ban đêm cả vùng tối đen. Hầu như nhà nào cũng nuôi chó bởi vì sân trước sân sau rộng lớn, vào ban đêm sẽ thả chó ra để chúng đi tuần nhà trước nhà sau giống như làm bảo vệ. Tôi nuôi bốn con chó, cần phải có hai cái chuồng sắt."
Tôi hỏi:
"An ninh công cộng thì sao?"
Chủ nhân trước nói:
"An ninh công cộng tạm ổn. Không nghe nói có chuyện gì, bởi vì chó rất nhạy bén, một con chó sủa thì tất cả các con chó khác đều sủa khiến bọn xấu sợ đến bỏ chạy lâu rồi!"

Tôi mua lại chỗ này. Nhưng không có nuôi chó! Vì tôi và Thượng sư Liên Hương đều không thích nuôi động vật lắm, đặc biệt là mùi trên cơ thể động vật. Vì vậy, chuồng chó để trống.

🌟

Có một buổi tối.
Tôi mở cổng chính của nhà mình ra. Tôi đứng ở cổng chính, hướng về bầu trời đêm hít vào, giữ khí, thở ra. Tôi đang tu hít thở theo pháp Bảo Bình Khí.

Đêm đó không có trăng, chỉ có một vài ngôi sao trên bầu trời. Xung quanh tối đen như mực, chỉ có âm thanh "xào xạc… xào xào xạc…" phát ra từ những ngọn cây tùng.

Đột nhiên...
Một con chó đen khổng lồ rất hung hăng xuất hiện trước mắt tôi, hai mắt của nó phát sáng xanh tím hình tam giác. Cái mõm rất to, lộ ra những chiếc răng nanh trắng dã. Hai chân giơ móng vuốt ra nhào lên. Trong miệng phát ra hơi thở "hà hà". Cái lưỡi lè ra, một mùi tanh hôi xộc lên mũi nhào tới.

Chính vào lúc nguy cấp, ý thức của tôi vẫn khá là trấn định. Hai tay tôi đan chéo. Niệm một câu: "Om hum hum."
Toàn thân tôi đột nhiên biến thân thành Đại Uy Đức Kim Cương (Yamāntaka). Thân cao một trượng sáu thước, uy phong tám mặt, trong miệng khạc ra lửa.

Con quỷ hung dữ giống như chó Ngao Tây Tạng đó, vừa nhìn thấy Đại Uy Đức Kim Cương giống như nhìn thấy sát thần vậy, sợ đến mức hai chân sững lại, toàn thân run rẩy, đột nhiên quay đầu bỏ chạy. Chỉ trong chốc lát, chạy mất hút không thấy bóng dáng đâu nữa.

Sau chuyện này, hàng xóm có kể với tôi rằng con chó ngao đen của ông ta bị hoảng sợ không còn hồn vía, ba ngày ba đêm, sắp phát điên luôn rồi!

Hàng xóm nói:
"Con chó ngao đen to lớn này, anh dũng vô địch, bắt kẻ xấu phải làm cho đối phương bị thương mới chịu dừng lại. Trước giờ chưa từng nhìn thấy nó nhút nhát hoảng sợ như vậy."

Mà ông không biết là người dọa con chó ngao đen của ông hoảng sợ lại chính là tôi!

(*) Hai mẫu: tổng diện tích khoảng gần 1,350 m2.


### 44. Truyền âm nhập mật


Có một cư sĩ tên Trần Du, là người theo đuổi tâm linh. Lúc ông còn trẻ khoảng hai mươi tuổi đã đến Ấn Độ gặp được thánh giả Muktananda. Cũng đã gặp vị Sai Baba.

Cư sĩ Trần Dư có một khoảng thời gian từng theo học pháp của Nityananda, lại học yoga theo vị Najah. Đến Thái Lan, ông ở tại một ngôi chùa Tiểu thừa, đã từng trải nghiệm qua thần giao cách cảm, là pháp Truyền âm nhập mật, ở khoảng cách xa dùng tâm của Thánh nhân nói chuyện trao đổi với nhau.

Ông đến thăm Nepal, đi gặp Tulku Urgyen, học Mật pháp của phái Nyingma. Năm đó, ông ở bên trong một hang động trên dãy Himalaya cùng với một vị Lama ẩn tu.

Sau đó ông lại đến Kalimpong Ấn Độ gặp được một hành giả khác tên là Lý Tĩnh.

Lý Tĩnh nói:
"Sao ông không đến Seattle, Mỹ, đi gặp Lư Sư Tôn một lần?"
Ông hỏi:
"Lư Sư Tôn có công đức gì?"
Lý Tĩnh nói:
"Không thể nghĩ bàn."
Trần Du hỏi:
"Lư Sư Tôn người phương nào?"
Lý Tĩnh đáp:
"Sinh ra tại Đài Loan."
Trần Du nói:
"Chỗ nào của Đài Loan?”
"Gia Nghĩa." (*)
Trần Du nói:
"Tôi cũng ở Gia Nghĩa, người Gia Nghĩa gặp người Gia Nghĩa."

Có một buổi tối.
Trần Du nằm mơ thấy Lư Sư Tôn tại địa điểm là thành phố Varanasi (*) tại bờ sông Hằng, thành phố thánh của Ấn Độ giáo có lịch sử năm nghìn năm. Đây cũng chính là nơi Phật Đà lần đầu chuyển pháp luân.

Lư Sư Tôn ở trong mơ nói:
"Tại sao không gặp Tất Đạt?"
Trần Du hỏi:
"Ông là Tất Đạt?"
Lư Sư Tôn đáp:
"Pandita (*)".

Sau khi Trần Du tỉnh dậy, một âm thanh bên trong nói với ông: "Đi gặp Lư Sư Tôn!"
Trần Du đến Seattle Lôi Tạng Tự. Cuối cùng ông đã gặp được Lư Sư Tôn, đầu đội nón lá, mặc một bộ đồ Lama kiểu hiện đại, chân đi dép lê. Ông đi tới bên cạnh Lư Sư Tôn, ông nhìn Lư Sư Tôn một cái, Lư Sư Tôn cũng nhìn ông một cái. Cứ như vậy mà đi ngang qua nhau, hoàn toàn thờ ơ. Lúc đi, hoàn toàn vô thức.

Ngày hôm sau, Trần Du lại đến. Trần Du nói:
"Tôi muốn hỏi chuyện!"
Lư Sư Tôn nói:
"5 giờ chiều nay đến!"

Trong lòng Trần Du nghĩ: "Mình muốn thỉnh quán đảnh pháp Phổ Ba Kim Cương Thập Tam Tôn, mình dùng pháp Truyền âm nhập mật để nói với ông ấy, không biết Lư Sư Tôn có biết hay không?" (Ông từng khẩn cầu Tulku Urgyen, Tulku Urgyen không trả lời.)

5 giờ chiều ông đến đúng giờ. Câu đầu tiên tôi nói với ông là:
"Tôi sẽ quán đảnh pháp Phổ Ba Kim Cương Thập Tam Tôn cho ông!"
Trần Du liền ngay tức thì sửng sốt.

(*) Gia Nghĩa: một tỉnh ở miền Trung Đài Loan.
(*) Varanasi: cách thủ đô New Delhi, Ấn Độ khoảng 1 giờ bay, còn có tên khác là Benares, Banaras hay Kashi, là một nơi rất linh thiêng nằm bên bờ sông Hằng.
(*) Pandita: danh hiệu cổ trong Phật giáo Ấn Độ chỉ các đại thành tựu giả đã đạt tới thành tựu cả Ngũ minh.


### 45. Chim đâm đầu vào cửa sổ


Tôi đến Seattle bang Washington nước Mỹ, căn nhà đầu tiên là ở quận Bala góc Tây Bắc của Seattlle. Bala có một tầng áp mái nhỏ, chính là Linh Tiên Các, tôi sống ở đó ba năm. Linh Tiên Các cũng là nơi tôi đóng cửa ẩn tu ba năm.

Bala cũng chính là một trong các pháp đài chủ yếu của giáo chủ Jigdal Dagchen Pháp vương phái Sakya. Tại Bala có một ngôi chùa phái Sakya. Tôi ở Linh Tiên Các tu Mật pháp 3 năm.

Có một chuyện tôi muốn kể lại.
Có một con chim cứ đâm đầu điên cuồng vào tấm kính cửa sổ tầng áp mái của tôi hết lần này đến lần khác, cuối cùng chết ở dưới cửa sổ. Tôi nhặt nó lên đem chôn ở gốc cây anh đào sau vườn.

Lúc đó tôi không hiểu tại sao chim cứ đâm đầu điên loạn vào cửa sổ chỗ tôi?
Tự sát chăng?
Hay là vì cái gì?
Tôi chỉ giúp nó niệm chú vãng sinh, sau đó đem nó đi chôn.

Sau đó, tôi từ Bala chuyển đến Chân Phật Mật Uyển.
Chân Phật Mật Uyển có ba con chim thường đến đâm đầu vào tấm kính cửa sổ, đâm đầu một cái xong liền bay đi mất. Cách vài ngày, lại bay đến đâm đầu. Trong đó có một con rất dũng cảm, vỡ đầu chảy máu, chết luôn!

Tôi siêu độ cho nó rồi chôn nó ở sau vườn, phía dưới ăng-ten vệ tinh (ăng-ten chảo). Tôi vẫn không thể hiểu, tại sao chim lại đến đâm đầu vào cửa sổ? Đâm đến khi chết mới thôi?

Sau đó tôi dọn đến Hồ U Linh, tôi sống ở Hồ U Linh lâu nhất, khoảng hơn mười năm. Lần này càng tệ hại hơn. Rất nhiều chim, hết con này đến con khác bay đến đâm đầu vào cửa sổ. Con trước vừa rơi xuống con sau đã lao đến không ngừng dứt. Máu nhuộm kín cửa sổ. Lông dính đầy cửa sổ.

Thời điểm xảy ra nhiều nhất thì phòng Phật Thanh cũng đâm, phòng Phật Kỳ cũng đâm, Phật đường cũng đâm. Phòng khách cũng đâm. Tình hình rất thảm khốc.

Đến lúc đó, tôi mới muốn biết chuyện này rốt cuộc là như thế nào?
Tôi ấn linh quang.
Om mani padme hum! Ôi trời!

Chúng đều là đệ tử tiền kiếp của tôi đọa vào cõi súc sinh, biết tôi có năng lực siêu độ cho chúng. Lũ lượt bay đến xin tôi siêu độ. Bằng lòng chết ở trước mặt tôi. Vì vậy thà là đâm đầu vào cửa sổ, chết ở dưới cửa sổ, nát đầu, dính lông, tự sát một cách quyết liệt.

🌟

Sau đó tôi lại dọn đến Liên Hợp Sơn. Chim chết ở ngoài cửa vẫn rất nhiều, toàn bộ bay đến nhà tôi chết cho tôi xem. Bây giờ sống ở Bellevue (Nam Sơn Nhã Xá), đám chim lao người vào trong lò sưởi. Tự thiêu sống cho đến chết. Tự nhịn đói cho đến chết. Đâm đầu cho đến chết.

Chúng thà chết ở trước mặt tôi còn hơn, tôi tất nhiên là từ bi tiếp dẫn chúng rồi.
Haizz! Ai bảo tôi là Lư Sư Tôn chứ!


### 46. Tôi đang chờ một gia đình


Có một lần, tôi cùng mấy đệ tử đi đến hồ Nhật Nguyệt (*).
Đến buổi tối, chúng tôi từ Hàm Bích Lâu (tên một khách sạn, nhà hàng) bước ra.

Sắc trời đã tối. Gió mát vi vu.
Chúng tôi dạo bước trên lối đi bộ men theo bờ nước, đi đến bến cảng nơi cửa hàng khá sầm uất, đứng ở bên lan can nhìn ngắm vẻ đẹp của hồ nước và núi. Thật ra lúc đó, mặt hồ đã là một màu đen đặc, trên trời có mây đen, gió cũng càng lúc càng mạnh. Sắc núi cũng mờ ảo, vả lại sương mù đã lên! Xung quanh đều tối đen.

Đệ tử nói:
"Chúng ta quay về thôi!"
Tôi vẫn đứng im bất động, màn sương trên mặt hồ trôi đến trôi đi trước mắt.

Đệ tử nói:
"Sư Tôn! Đã muộn rồi, chúng ta quay về thôi!"
Tôi nói:
"Đợi một chút!"
Đệ tử nói:
"Còn đợi gì nữa? Bến cảng này đã hoàn toàn vắng vẻ, ngay đến bóng người cũng không còn nữa."
Tôi nói:
"Tôi muốn nhìn ngắm hồ Nhật Nguyệt."
Đệ tử nói:
"Nhìn không rõ nữa rồi! Sương mù dày đặc hơn rồi!"
Tôi nói:
"Tôi đang đợi một gia đình!"

Đệ tự nhìn ngó xung quanh, thực sự là ngay đến bóng người cũng không có nữa rồi.
Đệ tử do dự:
"Là ma sao?"
Tôi nói:
"Là người, không phải ma."

Một lúc sau.
Có một đôi vợ chồng đẩy một chiếc xe nôi em bé, dẫn theo một đứa trẻ con, từ trong làn sương mù chầm chậm bước đến bến cảng. Họ từ trong sương mù xuất hiện, nhìn chúng tôi rất ngạc nhiên. Tôi mặc bộ đồ Lama.

Người chồng bước lên phía trước:
"Ngài có phải Lư Sư Tôn không?"
Tôi nói:
"Đúng vậy."

Người chồng nói với người vợ:
"Là Lư Sư Tôn, Liên Sinh Hoạt Phật đó! Mau quỳ xuống đi! Chúng tôi cầu xin sự gia trì của ngài!"

Hai người họ là một đôi vợ chồng sống ở Trung Quốc đại lục. Hai người họ sinh được một trai một gái, bé gái vẫn còn nằm ở trong xe nôi em bé, bé trai đang dắt trong tay.

Hai người họ đã nằm mơ. Trong mơ Lư Sư Tôn xuất hiện nói với đôi vợ chồng này rằng: "Hai người đi đến Nam Đầu (*) Đài Loan đi, tôi sẽ gia trì cho con gái của hai người!"

Thế là họ đã bay qua đây.
Người chồng nói với tài xế taxi là: "Đi Nam Đầu!"
Kết quả taxi chở họ đến hồ Nhật Nguyệt nghỉ qua đêm trước, ngày hôm sau chuẩn bị đi tìm gặp Liên Sinh Hoạt Phật Lư Sư Tôn. Họ trọ lại tại khách sạn ở gần đây. Do vì đứa bé gái vẫn chưa ngủ nên đẩy xe ra bến cảng.

Tôi gia trì cho hai người họ, bé trai, bé gái! Đứa bé gái được gia trì lâu nhất bởi vì bé mắc chứng bệnh bẩm sinh.

Tôi nói:
"Tôi đã gia trì cho bé gái rồi, bệnh của nó sẽ khỏi thôi! Không cần lo lắng nữa, nhất định sẽ khỏi!"

(*) Hồ Nhật Nguyệt: tên địa danh du lịch nổi tiếng ở Đài Trung, Đài Loan.
(*) Nam Đầu: tên một huyện ở Đài Loan. (Đài Loan Lôi Tạng Tự chính là ở Nam Đầu.)


### 47. Ban quán đảnh Hổ Đầu Kim Cương


Bạn còn nhớ đại quán đảnh Hổ Đầu Kim Cương tại Hoàng Đế Lôi Tạng Tự không? Ngày hôm đó Đài Loan rất lạnh, là một ngày lạnh nhất. Mà không chỉ là lạnh nhất, bên ngoài còn có gió lớn, gió thổi khí lạnh đến thấu cả vào trong xương!

Hôm đó Hoàng Đế Lôi Tạng Tự chật kín người, nhưng các đệ tử đến từ khu vực Đông Nam Á mặc rất ít quần áo, người nào người nấy lạnh run cầm cập.

Còn tôi thì sao?
Tôi thắt một chiếc khăn Kata màu trắng làm khăn quàng, long bào cũng rất mỏng. Tôi bước lên pháp tọa. Bức tường phía sau lưng cũng lạnh như băng. Không khí thổi từ cửa lớn vào cũng lạnh. Phía tay phải của tôi để một cái máy lạnh, khí lạnh được thổi ra cũng rất lạnh.

Ôi trời ơi! Tôi sắp bị chết cóng rồi!
Tôi cắn chặt răng, nâng “chuyết hỏa” bên trong cơ thể lên chiến đấu với ngày lạnh nhất.

Hôm đó có rất nhiều tiết mục.
Đợi đến khi có thể làm quán đảnh Hổ Đầu Kim Cương thì trời đã tối. Một khi trời tối thì càng lạnh hơn. Có một số đệ tử lạnh đến không thể chịu được nữa, người già bỏ về, trẻ nhỏ bỏ về, thanh niên cũng theo họ bỏ về. Còn có một số người phải đi cho kịp máy bay, do vì thời gian quá trễ, họ không đi không được, nên đã vội chạy ra sân bay. Những người này không nhận được đại quán đảnh Hổ Đầu Kim Cương.

🌟

Trong buổi đồng tu vào ngày thứ bảy ở Mỹ, sau khi đồng tu kết thúc, tôi như thường lệ sẽ quán đảnh cho các đồng môn mới quy y, làm quán đảnh bình của quy y.

Có một lần, tôi từ pháp tọa bước xuống. MC nói to:
"Mời Sư Tôn xuống pháp tọa, gia trì nước chú đại bi và khai quang tượng Phật."

Tôi xuống pháp tọa. Trên tay cầm bình quán đảnh và chuông kim cương. Tôi quán tưởng Hổ Đầu Kim Cương đi vào trong bình quán đảnh hòa cùng với nước cam lộ.

Tôi nói:
"Tôi muốn quán đảnh!"
Pháp sư ở bên dưới pháp tọa nói:
"Hôm nay không có ai quy y, không cần quán đảnh!"
Tôi nói:
"Tôi muốn quán đảnh, nhất định phải quán đảnh!"
Pháp sư nói:
"Hôm nay không có ai muốn quán đảnh!"

Tôi kiên quyết muốn quán đảnh. Pháp sư kiên quyết là không có ai muốn quán đảnh.
Cuối cùng Pháp sư nói với mọi người:
"Hôm nay có ai muốn quán đảnh không?"

Có một nhóm người bước ra. Những người này từ Hồng Kông đến, họ ở trên máy bay thảo luận xem có thể đi đến Mỹ cầu xin Lư Sư Tôn quán đảnh Hổ Đầu Kim Cương cho chúng ta không? Họ không hề nói ra. Nhưng tôi đã biết rồi.

Nhóm người này quỳ xuống, thỉnh cầu quán đảnh Hổ Đầu Kim Cương. Tôi liền quán đảnh cho họ ngay lúc đó. Tôi nói:
"Mọi người cần bổ sung cúng phẩm, cúng dường Diêu Trì Kim Mẫu và Hổ Đầu Kim Cương."
Họ nói:
"Dạ."

Nhóm người này chính là đồng môn đã bỏ về trước, chưa được nhận quán đảnh tại Hoàng Đế Lôi Tạng Tự.


### 48. Động vật và người viên tịch


Có một chuyện vô cùng lạ luôn xảy ra xung quanh tôi, đó chính là cái chết của động vật và con người. Điều này rốt cuộc là tại sao?

Ví dụ, tôi đã từng kể:
Không hiểu vì sao mà tôi dọn đến ở bất cứ chỗ nào, chim luôn bay đến đâm đầu vào cửa sổ chỗ tôi ở.
Đâm đầu vào cửa kính. Không phải một lần.
Đâm rồi lại đâm, đâm rồi lại đâm. Đâm đến vỡ cả đầu.
Máu và lông đều dính lên trên cửa kính. Chim chết rồi!
Thường xuyên xảy ra chuyện như vậy, chưa từng dừng lại.

🌟

Tại Liên Hợp Sơn có hai con rắn hoa sống ở dưới tầng hầm nhà chúng tôi. Khi mùa xuân ấm áp muôn hoa nở rộ, rắn sẽ bò ra ngoài, bò trong vườn hoa.

Tôi sợ rắn, nhìn thấy chúng tôi có chút rờn rợn. Tôi nói với chúng:
"Nếu như muốn tìm cái chết thì cứ nằm ngang ở chính giữa đường lộ, xe chạy qua là sẽ chết, ta sẽ giúp siêu độ tiếp dẫn cho các ngươi."

Không lâu sau đó, chúng thực sự nằm chết ở chính giữa đường lộ! Tôi nhặt xác rắn, chôn ở phía sau núi, siêu độ linh hồn của hai con rắn hoa này.

🌟

Tại Nam Sơn Nhã Xá.
Có một buổi sáng tôi mở cửa ra. Kinh hãi!
Một đống bươm bướm chết trước cửa nhà tôi.
(Có vẻ như là chết tập thể, cánh và thân dưới ánh nắng buổi sáng trở thành một đống rác lấp lánh.)
Tôi lại dọn xác, giúp chúng làm siêu độ linh hồn.
Cũng có một bầy chim, chết tập thể trước cửa nhà tôi. Cũng có chuột.
Cũng có sâu róm. Cũng có thỏ. Cũng có ong.
Tôi đều thu dọn toàn bộ, làm siêu độ linh hồn cho tất cả.

🌟

Nhớ năm đó.
Mẹ vợ của cư sĩ Hứa Hồng Xuân, tức là bà ngoại của Thubten Siddhi (hóa thân của Địa Tạng Vương Bồ Tát), bà phát nguyện muốn chết trong pháp hội của Lư Sư Tôn.

Kết quả:
Sau khi nhận quán đảnh, thực sự bà đã qua đời. Đi rồi! Đi đến tịnh độ rồi! Vô cùng thù thắng.

Còn nữa:
Chồng của Pháp sư Liên Trinh ở Mật Nghi Lôi Tạng Tự là Hoàng Đài Sinh, cũng qua đời trong pháp hội của Lư Sư Tôn giống như vậy. Tôi siêu độ trung ấm cho ông. Vô cùng thù thắng.

Theo tôi được biết:
Những động vật đã chết đó là đệ tử tiền kiếp của tôi. Chúng biết là chỉ cần tìm đến tôi mới có thể thoát khỏi cõi súc sinh. Vì vậy, chúng lũ lượt kéo đến ngôi nhà xoàng xĩnh của tôi để mà chết.

Còn những người qua đời trong pháp hội của tôi chắc chắn đã vãng sinh Phật quốc tịnh độ rồi, được Bồ Tát tiếp dẫn đi rồi!


### 49. Tất cả đều là sự sắp xếp hoàn hảo


Tôi có bốn vị Căn bản Thượng sư:
Liễu Minh Hòa Thượng (phái mũ đỏ).
Thượng sư Sakya Chứng Không (phái Sakya).
Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16 (phái mũ trắng).
Thượng sư Thubten Dorje (Thubten Dargye - phái mũ vàng).

Bất luận các vị có thị hiện thần thông hay không, tôi đối với các vị đều có tín tâm thanh tịnh mãnh liệt.
Mỗi lần tôi thuyết pháp, vừa bắt đầu bài giảng là đảnh lễ bốn vị thầy gốc của tôi, bao lâu nay không thay đổi, trên đầu tôi luôn có Căn bản Thượng sư.
Các vị Thượng sư khác mà tôi quy y, tuy tôi không nhắc tên họ, nhưng trong tâm vẫn mãi cảm kích, cũng tôn trọng giống như vậy. Ví dụ như Thượng sư Phổ Phương v.v.
Đây là một nguyên tắc học tập Phật pháp của tôi: KÍNH THẦY.

🌟

Rất nhiều người hỏi tôi:
"Sư phụ của ngài dạy ngài Phật pháp như thế nào?" Câu trả lời của tôi là:
"Đương nhiên các ngài truyền thụ cho tôi khẩu quyết, nghi quỹ, tâm yếu, bí mật, và ban cho các loại quán đảnh. Có nhiều khi các ngài không dạy gì cả. Khi tôi đến gặp Căn bản Thượng sư của tôi, tôi chỉ đơn giản nhìn thấy ngài, không cần nói gì cả, nhưng tôi đã nhận được gia trì rồi, bất cứ chuyện gì mà vị ấy làm đều là gia trì."

Tôi nói:
"Tôi thấy Căn bản Thượng sư của tôi đang khâu vá, đính cúc áo, tôi liền học làm theo, tôi cũng biết khâu vá, đính cúc áo. Chính là như vậy."
Căn bản Thượng sư nói:
"Cái gì cũng là Phật pháp!"

Ngoài lòng tôn kính đối với các vị thầy ra, tôi còn nghiêm túc học các loại Mật pháp, một chút cũng không bất cẩn. Tôi mấy chục năm giống như một ngày, một ngày một lần tu, một ngày nhiều lần tu, trước giờ không gián đoạn.

Cho dù đi du lịch.
Ở khách sạn.
Trên tàu xe.
Trên máy bay.
Tôi đều tu pháp.

Tôi cả đời này cung kính các vị thầy, kính trọng sự truyền thụ của họ.
Tôi hiểu được: Bồ đề tâm. Tâm từ bi. Trung quán chính kiến.
Đây chính là TRỌNG PHÁP của tôi.

🌟

Tôi cho rằng tu học Kim cương thừa, phải luôn nhớ như sau:
Phía dưới là địa ngục kim cương.
Phía trên là quả vị kim cương trì.

Tôi là hành giả, nếu như không tu hành, chắc chắn sẽ đọa vào trong địa ngục kim cương, vì vậy tôi thực tu Mật pháp.

Nỗ lực trên con đường chuẩn bị hành trang tu hành.
Nỗ lực trên con đường gia hành.
Nỗ lực tu ngoại pháp, nội pháp.
Nỗ lực khai ngộ.

Nói thật là với nghị lực của tôi, cuối cùng bây giờ tôi đã hiểu được hai chữ: THỰC TU.
Tôi vì thực tu, minh tâm kiến tính, mới dẫn đến những chứng lượng thực sự.

---

---
# File: sach-tam-linh/251-cat-mot-tam-ao-mong.md
# Title: 251. Cắt một tấm áo mộng
---

![image](/img/img_d89bf39fb27a5dfff12793e9d325fe69.jpg)



## Cắt một tấm áo mộng


🪷 Những áng văn thơ đẹp

Văn tập: 251
Xuất bản: 01/2016
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu


Cúng dường hoa
Theo thường lệ, vào ngày chủ nhật, tôi sẽ đến Biệt thự Cầu Vồng làm hỏa cúng Hộ Ma.

Xe chạy vào trong khu biệt thự, đến cổng chính của biệt thự. Ở cổng chính, rất nhiều các sư tỉ đã xếp thành hàng dài, trên tay cầm những bó hoa.
Có hoa hồng.
Có sơn trà.
Có bách hợp.
Có lay ơn.
Và nhiều loại hoa khác.

Họ đợi tôi xuống xe rồi muốn dâng hoa cúng dường tôi. Họ nói:
"Cúng dường Sư Tôn!"

Tôi liền nhận hoa, quán tưởng những bó hoa đầy ắp hư không, rộng lớn vô biên như mây như biển.
Tôi sẽ đem những bó hoa xinh đẹp này chuyển thành cúng dường chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Không Hành, Hộ Pháp, chư Thiên.
Trong sát-na!
Trong lòng tôi sinh ra niềm vui sướng vi diệu, niềm vui sướng ấy đến từ mối gắn kết giữa đệ tử, tôi và Bổn tôn.

Nói thật lòng:
Tôi thích hoa, tôi yêu thích vẻ đẹp kì diệu của hoa, cùng một nắm đất mà sinh ra trăm thứ hoa tươi đẹp rực rỡ.
Tôi nghĩ:
"Nếu như không có hoa, thế giới này sao có thể rực rỡ xinh đẹp như vậy được?"

🌟

Có Thượng sư hét lên với các sư tỉ:
"Các cô đừng làm phiền Sư Tôn nữa!"
"Các cô không biết Sư Tôn rất bận sao?"
"Mau để cho Sư Tôn đi vào cửa và lên lầu!"

Nhưng tôi vẫn lần lượt đón qua tay, lần lượt ngửi từng bó hoa thơm, lần lượt quán tưởng cúng dường, rồi lại lần lượt trả lại vào tay của họ.
Tôi nói:
"Cảm ơn cúng dường hoa! Chúc phúc cho cô trẻ trung xinh đẹp!"
Tôi nói:
"Hoa à! Hoa ơi! Hãy tăng thêm niềm vui trong lòng của con người!"

Tôi viết một bài thơ:
"Dù rằng thời gian như nước chảy
Chúng ta có thể cắt một quãng
Bẻ một nhánh
Đặt vào trong lòng bạn lòng tôi.

Thứ tình nghĩa ấy như mật ngọt
Sóng sánh
Đậm đặc
Tại thế giới Ta Bà này
Chúng ta cùng ngao du.

Gắn kết trong niềm vui hạnh phúc
Thật ngọt ngào
Thật thơm tho
Vô lo
Vô sầu
Mãi mãi không vương chút sầu lo."

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Cúng hoa anh đào


Tôi từng chỉ vì hoa anh đào mà đến Nhật Bản để ngắm hoa.
Thành phố Nikko.
Thành phố Hakone.
Biển hoa đầy khắp núi khắp khe ấy dường như khiến tâm tôi cũng tỏa hương thơm.

Chẳng thể ngờ nhỉ!
Tôi đi Nhật Bản.
Chỉ vì:
Biển hoa, mây hoa.

Tôi đến thành phố Gyeongju ở Hàn Quốc, cũng được thấy hoa anh đào, giống như thiếu nữ Hàn Quốc thời xưa mặc váy quây lùm xùm vậy.
Trên đỏ.
Dưới trắng.
Trên trắng.
Dưới đỏ.
Đứng sừng sững, xinh tươi yêu kiều.

🌟

Tôi từng nói với Thượng sư Liên Ấn ở Biệt thự Cầu Vồng:
"Thầy thích hoa anh đào!"
Thế là:
Từ cổng sắt lớn ở Biệt thự Cầu Vồng cho đến cửa chính của Biệt thự, dọc đường đều trồng đầy cây hoa anh đào.
Có một năm.
Khi con người đều đang co ro trong những tấm áo dày không ngớt kêu lạnh thì độc có hoa anh đào ở biệt thự là nở hoa.
Trước đó có mưa.
Liền sau đó, ngày chủ nhật lại nắng to.
Hoa anh đào hai bên đường đua nhau nở bung.
Có mấy cây nở trước, cánh hoa trắng rơi đầy trên mặt đất.
Những cây khác đều đã nở rộ.
Những cây vẫn chưa nở, ở giữa những chạc cây, hoa vẫn liên tiếp không ngừng bung nở, thật là tưng bừng.
Nhìn về phía xa xa, chúng trông như một biển mây trắng. Một cây hoa nghìn đóa trắng, một cây anh đào vạn đóa trắng.
Trời ơi!
Chúng ta đi bộ dưới mây trắng, lại cũng giống như đang đi bộ trên mây trắng, đó là một khúc nhạc của mùa xuân.

Tôi trông thấy:
Một chuỗi hoa trắng như dải tua rua.
Một thác hoa liên kết bởi những chuỗi hoa.
Chúng biểu hiện cho sức sống tràn trề của mùa xuân. Lúc tiết trời trăm hoa đua nở cũng tượng trưng cho một sự thanh tịnh.
Hoa anh đào ở biệt thự đều thuần một màu trắng, tôi cung kính nghiêm túc ngộ ra:
Vẻ đẹp của sự trầm tĩnh tao nhã.
Thuần khiết.
Chân thiện.
Anh đào nở.
Anh đào rụng.
Đó là sự biến đổi luân phiên vĩnh viễn không ngừng của vũ trụ.

Tôi viết một bài thơ:
"Từ đầu tới cuối mùa xuân
Hoa xinh đua nở
Chỉ yêu mỗi
Những chuỗi hoa trăng trắng
Như chiếc ô
Như cái khèn ống sáo.

Khiến Phật hoan hỉ ôi hoan hỉ
Sóng hoa dập dềnh như đón Phật
Hàng hàng cư sĩ và tăng lữ
Thỉnh Phật trụ thế
Mãi mãi
Lưu giữ cảnh ấy ở trong tâm
Tươi mới."


### 02. Cơn mưa nhỏ đêm qua


Nam Sơn Nhã Xá nơi tôi ở là nơi không nghe được tiếng mưa, bởi vì những ngôi nhà hiện đại đều làm cửa sổ cách âm với hai lớp kính. Cho dù bên ngoài đổ mưa cũng không nghe được chút âm thanh gì.
Thật may!
Phòng ngủ của tôi có một lò sưởi âm, khi mùa đông tuyết rơi có thể nổi lửa hồng.
Nhưng còn tiếng mưa, tôi cũng không hiểu vì sao mà có thể nghe thấy những âm thanh "tinh tinh tang tang" vang lên trong lò sưởi.
Tôi vốn nghĩ thử kiểm tra xem vì sao lại như vậy.
Nhưng rồi lại nói, không!
Bởi vì tôi nhớ tiếng mưa!
Tí ta tí tách.
Tí tách tí ta.
Tí tách tí tách tí ta tí tách.
Tí ta tí tách tí tách tí ta.
Tí ta tí tách.
Chao!
Những âm thanh ấy khiến lòng tôi dâng tràn nỗi nhớ cố hương.
Tôi có thể ngồi trên chiếc ghế sofa trong phòng ngủ lắng nghe tiếng nỉ non của mưa!

🌟

Đêm qua, khi tôi còn chưa ngủ. Trời đổ cơn mưa nhỏ!
Tôi nhớ khi xưa...
Tôi đến thăm nhà nàng, trước lúc rời đi, mưa đột nhiên trút xuống. Nàng nói:
"Em cầm ô tiễn chàng một đoạn, đến trạm xe buýt."
Tôi không từ chối.
Thế là, trong mưa, tình tiết một chiếc ô nhỏ đã xuất hiện rồi!
Phía trên chiếc ô là tiếng tí ta tí tách.
Còn hai chúng tôi nép mình vào nhau rất gần.
Tôi ngửi thấy mùi thanh xuân của người thiếu nữ, và cả những sợi tóc của nàng khẽ chạm trên mặt tôi.
Bóng hình thon thả của nàng, và bóng hình của tôi, chồng lên nhau dưới ngọn đèn đường.
A ha!
Theo thuật ngữ của truyền hình hiện nay thì đó là:
"Hạnh phúc nhỏ bé!"
Thế là đủ hạnh phúc rồi!
Tôi cầu mong trời tiếp tục mưa!
Và con đường thì đi mãi không hết!
Hạnh phúc không có cái gọi là chương kết thúc.
Đáng tiếc sao!
Trạm xe buýt đã tới rồi! Ảo mộng đã sắp tiêu tan rồi!
Nàng bây giờ đang ở đâu?
Ta đang ở đây.
Nàng đang ở đâu?

🌟

Viết một bài thơ vậy!
"Ta đang nghe mưa
Nàng có đang nghe mưa không
Âm thanh ào ào đẹp đẽ đó
Như mộng
Như tiên.

Ai cũng nói chẳng có bữa tiệc nào không tàn
Nhưng không biết đến năm nào mới có lần gặp lại
Ta biết
Tất cả là duyên
Là duyên
Duyên của cơn mưa nhỏ."


### 03. Bài hát "Đường lên trời"


Tôi rất thích nghe hát!
Bởi thế, mỗi ngày chủ nhật, sau khi làm Hộ Ma hỏa cúng xong, thường có thời gian một tiếng đồng hồ cho tiết mục biểu diễn văn nghệ.
Có đồng môn đứng lên hát.
Có một bài hát khiến tôi rung động!
Đó là bài: Đường lên trời. (Ca sĩ thể hiện là Hàn Hồng.)
Tôi nhớ có những đồng môn hát bài này là:
Hướng Hồng.
Lệ Văn.
Liên Hỉ.
Liên Ngạn.
Ca từ cảm động lòng người, giai điệu ngân vang, du dương. Như nước chảy mây trôi, khiến người ta hoài niệm...
Nghe mãi... nghe mãi...

Sáng sớm tôi đứng trên bãi cỏ xanh non
Trông thấy chim ưng thần khoác trên mình ánh hào quang
Giống như một đám mây cát tường bay qua bầu trời xanh
Đem đến may mắn cho con cháu những gia đình Tây Tạng.

Và còn:

Những con rồng khổng lồ lật núi vượt đỉnh
Gửi đến cuộc sống bình yên cho cao nguyên xứ tuyết
Đó là con đường lên trời thần kì
Gửi sự ấm áp của nhân gian đến biên cương.
...

🌟

Và thế là, trong đầu tôi:
Cứ đan xen, đan xen.
Mây trắng.
Núi non.
Ao hồ.
Bên sườn núi, con đường ngoằn ngoèo đang lượn vòng.
Đó có thể là mộng tưởng, nhưng lại hiện lên thật chân thực!
Cao nguyên Tây Tạng trẻ trung khỏe khoắn.
Đường lên trời tuyệt vời.

🌟

Bài hát hay.
Con người đẹp.
Đường lên trời.
Khiến người ta ngất ngây.
Nhưng ca khúc ấy.
Cứ vang vọng lặp đi lặp lại trong lòng tôi.
Có lẽ tôi tu hành pháp Mật tông Tây Tạng, tôi và Tây Tạng có duyên, nên chỉ mới nghe bài hát "Đường lên trời" mà đã giữ chặt được những tình cảm của tôi rồi.
Tôi nghe "Đường lên trời".
Nghe đi nghe lại, nghe đi nghe lại…
Tôi "kính chào" con đường ấy!

Viết một bài thơ:
"Tôi đã đi khắp nẻo đường chân trời
Tu hành
Uống hết cam lộ Phật pháp
Núi Đảng Hạng
Núi Đường Cổ Lạp
Núi dài sông rộng biết nơi nào

Đã biết tuổi tác có hạn
Một mình lên lầu cao
Trông ra biển mây
Núi sông trước mắt chỉ biết nhớ về phương xa
Tình này ai biết
Chỉ có cưỡi gió trở về
Mới có thể đến thôi."


### 04. Hai đứa cháu


Mỗi khi tôi lái chiếc xe bán thể thao Maserati từ Nam Sơn Nhã Xá đến Seattle Lôi Tạng Tự, tiến vào phía trong bức tường bao của Lôi Tạng Tự, có bóng của hai chiếc xe đạp lọt vào tầm mắt của tôi.
"Ông nội!"
"Ông nội!"
Hai cánh tay nhỏ vẫy chào tôi.
Tôi nhìn theo, chính là Lư Hoằng, Lư Quân. (Cháu trai, cháu gái của tôi.)
Cháu trai rất khôi ngô.
Cháu gái rất xinh xắn.
"Ông nội!"
Chao! Âm thanh ấy đáng yêu làm sao! Tiếng gọi ấy ngọt ngào làm sao!

Tôi đậu xe vào ga-ra, sau đó chạy thật nhanh về phía chúng. Tôi ôm Lư Hoằng vào trong lòng, hôn vào má thằng bé, ôm Lư Quân vào trong lòng, hôn vào má con bé.
Buông tay ra, tôi nói:
"Con trông bảnh lắm!"
"Con dễ thương lắm!"
Tôi nói bằng tiếng Anh.
Chúng lại trèo lên xe đạp, phóng vèo đi rất nhanh!
Tôi dùng tiếng Anh gọi:
"Đạp xe cẩn thận nhé! Chú ý xe qua lại!"
Sau đó, tôi quay người đi vào Chân Phật Mật Uyển, nghĩ đến cháu trai, cháu gái, sau đó có cả nghìn thứ vạn thứ không yên tâm.

🌟

Chúng là con trai con gái của Phật Kì.
Điều tôi cứ canh cánh trong lòng là:
Các cháu có đủ cao không?
Ở trường học có bị bạn bè bắt nạt không?
Các cháu có ăn đủ dinh dưỡng không?
Sau này các cháu có học Phật không?
Thị lực, thân thể có khỏe mạnh không?
Có thích ứng được với trường học không?
Ở trường học hành ra sao?
Có chơi được với bạn bè không?
Học hành có áp lực gì không?
...

Tôi thương hai đứa cháu trai cháu gái nhiều như vậy.
Tôi hy vọng Phật Kì, Sunny không tạo quá nhiều áp lực cho chúng.
Trên bàn làm việc của tôi chỉ đặt hai tấm ảnh.
Cháu trai Lư Hoằng lúc 4 tháng 23 ngày tuổi.
Cháu gái Lư Quân lúc 9 tháng 11 ngày tuổi.
Tôi sẽ thỉnh cầu Phật Bồ Tát gia trì cho chúng lớn lên được bình an khỏe mạnh và vui vẻ.

Phật từng nói:
"Con cháu tự có phúc của con cháu, đừng làm trâu ngựa cho con cháu."
Tôi nói:
"Tôi làm trâu ngựa là cái chắc rồi!"
Chỉ bởi vì một câu quá đỗi ngọt ngào:
"Ông nội!"

Viết một bài thơ:
"Các cháu sinh ra
Tôi có thọ kí
Các cháu có bí mật của chúng
Kiếp trước
Là ý nghĩa của Thập Địa Bồ Tát.

Kiếp này chỉ là gửi gắm
Hãy trông về phía chân trời
Nhân duyên mong manh
Giáng sinh tại Lư gia chỉ là tạm thời
Rồi sẽ về Phật quốc."


### 05. Trùng hợp


Tôi là một người tu hành, là hành giả, là một yogi.
Tôi tu Đạo.
Tu Hiển giáo.
Tu Mật giáo.
Nhờ Diêu Trì Kim Mẫu mở thiên nhãn, đến nay, tôi đã thực tu 45 năm rồi. Tôi một mực kính sư, trọng pháp, thực tu, 45 năm nay như một ngày.
Tôi nghe lời sư phụ, không dám trái lại.
Tôi coi trọng các pháp môn.
Tôi thực tu Mật giáo, một ngày một lần tu, nhiều lần tu.
Có người nói:
"Lư Sư Tôn có chứng lượng."
Tôi nói:
"Là trùng hợp thôi!"

🌟

Tay tôi chỉ trời. Trên trời xuất hiện một dải cầu vồng.
Tay tôi chỉ đất. Mặt đất xuất hiện sáu cơn chấn động lớn.
Tôi niệm "chú Phong thiên". Gió sẽ ầm ầm nổi lên.

Khi đi du lịch ở Campuchia, tôi ngồi trên xe du lịch. Tôi vừa bước lên xe thì trời đổ mưa như trút nước. Xe vừa dừng thì mưa cũng dừng. Đợi đến khi chuyến tham quan vãn cảnh của tôi kết thúc, tôi lại lên xe, thì trời lại đổ mưa.
Liên tiếp nhiều ngày đều như thế.
Hướng dẫn viên du lịch sửng sốt, đã quy y tôi ngay tại chỗ.
Hướng dẫn viên du lịch nói:
"Cả đời tôi chưa từng gặp một người nào như vậy, cứ như là ông trời nghe theo lời ông ấy vậy."

Tôi nói với bông hoa:
"Ngày mai, hoa hãy nở to một chút!"
Ngày hôm sau, hoa liền nở bung.
Tôi nói với đệ tử đã hôn mê tám ngày:
"Tỉnh lại đi!"
Anh ta liền tỉnh lại.
Tương tự, khi tôi lắc lắc đầu với người đang nằm trên giường bệnh, thì người ấy cũng không thể sống tiếp được nữa.
Người mắc bệnh ung thư cũng vậy, không phải là ai cũng có thể cứu được, nhưng chỉ cần tôi gật đầu thì:
Khối u sẽ thu nhỏ lại.
Hoặc là tiêu biến mất.

Tôi xuất hiện trong mơ của đệ tử, thuyết pháp cho họ ở trong mơ, chỉ cần tha thiết khẩn cầu thì tôi sẽ xuất hiện.
Trong thiền định.
Vào ban ngày.
Ở trong mơ.
Tôi tan vào tính Không, giống như bầu trời trong xanh không mây, giống như biển lớn.
Chỉ cần tôi mở miệng thuyết pháp, thì giống như ý chỉ, điều tôi nói sẽ thành hiện thực!
Vì sao lại như vậy?
Tôi đáp:
"Là trùng hợp thôi mà!"

Thơ:
"Những sự việc trùng hợp của tôi
Người ở gần tôi
Đều biết.
Là tâm tưởng tâm tư của tôi
Tan vào trời cao
Tương ứng rồi
Mỗi sự việc
Chính vào giờ khắc ấy
Mọi thỉnh cầu ý nguyện
Phổ thành những bài thơ."


### 06. Sư phụ không tức giận


Con người tôi đây rất kì lạ, tôi có thể nhớ những đệ tử trong quá khứ, mặc dù đệ tử của tôi càng ngày càng nhiều nhưng cũng có những đệ tử rời đi.
Thế gian này vốn dĩ là:
Người có duyên thì tụ lại.
Người vô duyên thì tản đi.
Tụ lại hay tản đi thì cũng nằm trong sự vô thường.

Tôi thường nói:
"Đệ tử như nước chảy, có đến có đi, điều này là rất tự nhiên. Và tôi đều chúc phúc."
Tôi không tức giận.
Bởi vì tôi hiểu rõ điều này.
Chư hành vô thường!
Chư pháp vô ngã!
Niết bàn tịch tĩnh!
Tôi có:
Bình đẳng quán.
Viên mãn quán.

🌟

Trong một dịp đi dạo chơi ở công viên, tôi từng gặp một đệ tử cũ, trong lòng tôi vô cùng vui mừng.
Anh ta đã ở cùng tôi để học phong thủy của phái Thanh Thành.
Sau đó anh ta đã dạy phong thủy.
Tôi gặp anh ta thì rất vui mừng, tiến nhanh lên phía trước chào hỏi:
"Ấy! Chào anh! Rất lâu rồi không gặp!"
Anh ta vừa thấy tôi thì đôi mắt đảo hướng, nhìn về phía trước và hoàn toàn lờ đi.
Tôi nói:
"Gần đây anh khỏe không?"
Anh ta một mực quay đầu đi, nói chuyện với bạn, cho tôi một cái hừ mũi.
Tôi hỏi:
"Anh không nhận ra tôi à?"
Anh ta hừ mũi một cái! Rồi phang ngay một câu:
"Thằng cha đáng ghét!"
Rồi sải bước bỏ đi!

Tôi ngơ ngác đứng tại chỗ, trong lòng dâng lên một nỗi buồn, nhưng ngay sau đó là một khoảng lặng.
Tôi lặng lẽ chúc phúc cho anh ta:
"Thuận lợi, cát tường như ý."
"Khỏe mạnh, sống lâu."
"Tu hành thành tựu."

🌟

Từ sau khi tôi minh tâm kiến tính, toàn bộ nhân sinh quan đã thay đổi rồi.
Tôi không có đối địch.
Tôi không có oán hận.
Tôi không có kẻ thù.
(Quan điểm oan thân bình đẳng.)

Lời thề nguyện của tôi là: "Không bỏ rơi một chúng sinh nào."
Lòng tôi giống như bầu trời trong không mây, một vùng xanh ngắt, hoàn toàn trống rỗng.
Không còn bản ngã của chính mình, tất cả đều nghĩ về người khác.
Tôi nhớ những đệ tử ngày xưa.

Thơ:
"Xuân thu hoa cỏ
Đời người có được mấy thời
Lại có được những năm tháng huy hoàng
Mỗi người đều phải già đi.

Hãy luôn quét sạch ân oán tình thù
Yêu cũng bỏ
Hận cũng bỏ
Tất cả tự nhiên
Tôi âm thầm chúc phúc
Bạn biết được bao nhiêu?"


### 07. Cô bé nữ sinh


Năm ấy, vào cuối xuân đầu hè.
Tháng 5, thời tiết nóng dần lên, tôi từ Đài Loan chuẩn bị bay về Seattle nước Mỹ.
Sau khi kết thúc pháp hội Hộ Ma hỏa cúng tại Đài Loan Lôi Tạng Tự, tôi sờ đầu gia trì cho nghìn vạn người.
Đám đông lộn xộn tại quảng trường Lôi Tạng Tự bắt đầu xếp thành hai hàng, sau đó hàng người uốn éo ngoằn ngoèo vòng quanh. Dòng người này bắt đầu từ bàn ăn của tôi kéo dài đến tận quảng trường, cho đến điểm kết thúc là nơi tôi sẽ lái xe rời đi.
Tôi sờ đầu gia trì hết mất hơn một giờ đồng hồ!

🌟

Lần sờ đầu gia trì hôm ấy, ấn tượng sâu sắc nhất là:
Có một nữ sinh nhỏ đứng trước mặt tôi, cô ấy nói:
"Con có một câu này muốn nói với thầy."
Tôi hỏi:
"Câu gì?"
Cô bé nữ sinh quỳ xuống, mái tóc dài đen nhánh, đôi mắt to tròn, môi hồng răng trắng, thanh tú đáng yêu, khoảng độ 18 tuổi, dáng vẻ rất xinh xắn.
Cô bé dùng tay ra hiệu, ý là muốn tôi cúi người xuống, cô ấy muốn nói vào tai tôi. Tôi không nghi ngờ gì khác, bèn cúi người xuống.
Rất nhanh chóng, cô ấy đưa hai tay lên môi rồi trao cho tôi một nụ hôn gió. "Chụt" một tiếng!
Cô ấy đột ngột quay người đi và bỏ chạy!
Trong một chốc!
Thời gian dường như ngừng lại.
Tôi đứng ngây tại chỗ.
Đến khi tôi tỉnh lại, tôi đưa tay ra gọi:
"Quay lại đây! Quay lại đây!"
Nhưng cô bé ấy đã vút đi như một cơn gió rồi!

🌟

Tôi hỏi thị giả hai bên, hỏi mọi người:
"Mọi người có biết cô ấy không? Ai biết cô bé ấy không?"
Thị giả đều lắc đầu:
"Không biết!"
Những người xung quanh chẳng ngờ là cũng không có ai biết cô bé ấy.
Chà!
Cái cử chỉ duyên dáng ấy khiến tôi ấn tượng sâu sắc, điều bất ngờ ấy khiến lòng tôi có chút ấm áp, ngọt ngào.
Có người hỏi tôi:
"Thầy gọi cô bé ấy quay lại là muốn trách mắng cô ấy sao?"
Tôi nói:
"Không!"
Hỏi:
"Thầy không trách mắng, thế gọi cô ấy lại để nói gì?"
Tôi nói đùa:
"Tôi muốn hỏi số điện thoại của cô bé ấy!"
Ha ha ha! Mọi người đều cười!

Thơ:
"Trang điểm nhẹ nhàng
Manh áo mỏng
Dáng vẻ xinh đẹp thanh tú

Ngẩng đầu lên
"Chụt" một tiếng
Như gió thoảng rèm xanh
Như mưa thưa tí tách
Một manh áo hoa mai

Vừa mới tiễn
Lòng đã nhớ
Đời người nhiều biệt ly."


### 08. Phật bài truyền thừa


Các đệ tử làm Phật bài, ý tưởng mới mang tính chất văn hóa sáng tạo.
Có người làm ra Phật bài truyền thừa, trên Phật bài có in bốn bức chân dung:
Liễu Minh Hòa Thượng.
Sakya Chứng Không Thượng sư. (Desong Rinpoche)
Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16.
Thubten Dorjie Thượng sư.
Tôi xem thấy vô cùng thích thú.

🌟

Tôi kể cho mọi người biết:
Tôi học Phật pháp từ bốn vị Căn bản Thượng sư này, điều rất đáng tiếc là tôi không có bức ảnh nào chụp chung cùng ba vị thầy đầu tiên.
Với thầy Thubten Dorjie thì cũng không phải là tôi dùng máy ảnh của mình để chụp ảnh chung với thầy.
Nguyên nhân là gì?
Câu trả lời là:
Căn bản là cả đời tôi không có máy chụp ảnh.
Đến tận hôm nay, tôi cũng không có máy chụp ảnh.
Điện thoại di động ngày nay đều có chức năng chụp ảnh. Nhưng tôi nói để mọi người biết: tôi cũng không có điện thoại di động.

Có người hỏi:
"Vì sao Thượng sư Thubten Dorjie và Lư Sư Tôn không chụp nhiều ảnh chung hơn?"
Tôi đáp:
"Đó là ảnh do đệ tử Thubten Jigong của thầy Thubten Dorjie chụp, sau khi chụp thì gửi tặng tôi."

🌟

Liễu Minh Hòa Thượng là do tôi vẽ dựa theo ấn tượng của mình.
Desong Rinpoche của phái Sakya thì trên mạng và trong sách có ảnh của ngài.
Ngài Karmapa cũng có ảnh.
Tôi và sư huynh Hoàng Triều Sơ cùng đi đến gặp Đại Bảo Pháp Vương tại Nasdag New York.
Cũng không biết vì sao mà rồi cũng không chụp ảnh chung!

🌟

Thế nhưng, mỗi lần thuyết pháp, tôi đều quán tưởng bốn vị Căn bản Thượng sư trụ ở trên đầu, tôi luôn mở đầu bài thuyết pháp bằng việc cung kính đảnh lễ bốn vị thầy truyền thừa.
Các ngài ở trên đỉnh đầu tôi.
Các ngài ở trong tim tôi.
Trong các buổi pháp hội của tôi, bốn vị Căn bản Thượng sư thường giá lâm tới pháp hội.
Bạn nói xem, tôi luôn:
Tưởng nhớ.
Nhắc nhở.
Dặn dò.
Cung kính.
Kính thầy.
Hương thơm phảng phất dịu dàng này còn hơn cả mùi thơm của những tấm ảnh chụp chung, chẳng phải sao?

Thơ:
"Sư phụ của tôi
Quang ảnh nghìn năm chẳng giữ được
Chiều qua sớm đến ai cũng già
Nhưng trong tim tôi
Đã khắc lên
Con chữ nhỏ

Xưa kia học pháp dù rất dài
Nhưng từ lâu đã như sương buổi sớm
Trên đầu tôi vẫn
Thường trụ
Luôn luôn tưởng nhớ
Đời người mấy độ."


### 09. Báu vật của buổi sớm


Sáng sớm.
Tôi có thói quen dậy sớm vào buổi sáng, không giống như những con người đô thị hiện đại đi ngủ muộn và dậy muộn.
Mở cửa ra.
Một luồng không khí trong lành tràn vào tim tôi, và sau khi hít vào một hơi, trái tim tôi như mở ra.

Sân vườn của Nam Sơn Nhã Xá rất rộng, xung quanh đều là cây tùng. Có cả cây trúc, cây phong, cây hoa trạng nguyên, có rừng cây lá kim, có cây bồ đề, có cây lá bản. Tôi giống như sống trong rừng vậy.
Tôi có thói quen làm Cửu tiết Phật phong vào thời gian này.
Lỗ mũi trái hít khí vào.
Lỗ mũi phải hít khí vào.
Hai lỗ mũi đều hít khí.
Hít thở, hít thở, hít thở.
Lặp lại ba lần, chính là cửu tiết.
Trong chốc lát.
Thân thể đã trống rỗng, quang khí đi vào trong tôi, uế khí đi ra, tôi thật sự trở thành "không minh".

🌟

Từ rất lâu rồi.
Tôi đã phát hiện ra lá của cây lá bản đọng lại những viên trân châu tròn tròn.
Là giọt sương.
Những khối cầu tròn trịa, trong suốt óng ánh.
Khi trông thấy những giọt sương, tôi không lớn tiếng gọi: "Mọi người mau đến đây xem này! Những giọt sương!"
Bởi vì:
Chúng chẳng có hương thơm.
Chẳng có mùi thơm gì đặc biệt.
Chẳng có mùi.
Chẳng có màu sắc.
Chẳng có gì đặc biệt.
Vì thế, chúng chẳng có sức cuốn hút nào đối với mọi người, chúng chẳng hề nổi bật bắt mắt, căn bản là không được chú ý đến.
Đó chỉ là không khí của hư không, là sự kết tinh từ cái không thành cái có, trở thành những viên ngọc trắng.

Tôi bỗng nảy ra một suy nghĩ kì lạ:
Vì sao không có người nào đi thu thập những giọt sương này để gom lại thành những bình nước sương nhỉ?
Sau khi loại bỏ chất bẩn.
Biết đâu nước sương này lại có một hiệu quả chữa bệnh nào đó đối với thân thể con người, đặc biệt đối với những người mắc bệnh hiểm nghèo.

Chà!
Cách nghĩ của tôi thật là đặc biệt, nếu như nước sương có ích đối với con người thì ở đây tôi không thể không hoan hô những giọt sương!

Bởi vì tôi nghĩ:
Trời sinh ra ta
Tất có công dụng
Chẳng phải thế sao?

Tôi nghĩ đến bài kệ trong kinh Kim Cương:
Tất cả pháp hữu vi
Như mộng huyễn bào ảnh
Như sương cũng như điện
Nên quán thấy như vậy.

Một bài thơ:
"Trong nháy mắt
Có
Trong nháy mắt
Không
Giọt sương chẳng cần rơi xuống.

Buổi sớm thức dậy
Không thưởng hoa
Không tìm kiếm hương thơm
Chỉ ngắm những giọt óng ánh
Khiến người vui mà không say."


### 10. Trăng ở ngoại quốc


Có rất nhiều đệ tử Đông Nam Á đến Mỹ, trông thấy trăng ở Mỹ, họ đều thốt lên:
"Trắng quá."
"Sáng quá."
"To quá."
Trăng ở Mỹ thật sự là to hơn sao?
Đồng môn nói:
"Đúng vậy!"
Đặc biệt là vào ba ngày 14, 15, 16 âm lịch, ánh trăng đẹp tráng lệ tuyệt vời.
Trăng ở Mỹ vì sao lại to hơn?
Tôi thật sự là:
"Không biết!"
Về mặt cảm giác thì là to hơn trăng ở Đài Loan, là do khoảng cách của trăng gần hơn sao? Sao có thể như vậy?
Rõ ràng là cùng một vầng trăng mà!

🌟

Tôi thích một bài thơ của tăng nhân Chính Ấn thời Nguyên.
Ông ấy là người Liên Giang tỉnh Phúc Kiến vào triều Nguyên, tên tục họ Lưu, hiệu là Nguyệt Giang, là người kế thừa pháp ở Hổ Nham Tịnh Phục, thuộc pháp hệ Hổ Khâu của Lâm Tế Tông.

Thơ ông rằng:
"Am nhỏ của ta gọi Tùng Nguyệt,
Là trăng sáng tỏ thông trường tồn.
Đông tây nam bắc chẳng ràng buộc,
Có trăng có tùng là nghỉ ngơi.
Ôm tùng hỏi tùng tùng không nói,
Ngẩng đầu hỏi trăng trăng điềm nhiên.
Nhóm củi đun nước mời trăng sáng,
Vòng tròn cô độc ta với trăng."

Trong bài thơ này, tôi đọc được:
Sự thanh tịnh.
Sự thuần chân.
Sự im lặng.
Vòng tròn lớn.
Trăng sáng soi lòng ta, lòng ta tựa trăng sáng. Ở đây còn có thể nói điều gì nữa, chính là như thế, băng tâm sáng trong.

Còn nữa:
Tăng nhân Trí Lượng viết:
"Nhân gian đừng nói chuyện lên trời
Lên nghìn vạn lần vẫn lạc thôi
Hãy như người già ngồi đỉnh núi
Trăng thanh gió mát với tâm này."

Ở đây vẫn là:
Mê và ngộ, tạo tác và vô vi, tục và Thánh. Cuối cùng là cảnh giới tự tâm minh bạch.

Tôi nói:
"Mặt trăng cũng lên cao, xuống thấp, nhưng trên thực tế không hề biến mất. Dấu vết của một Thánh nhân dù xa nhưng ở nhân thế gian thì vẫn tỏa sáng rực rỡ."

Thơ:
"Chuyện nhân gian
Thổ lộ cùng ai
Chỉ có cùng trăng tròn tròn
Nói lên nghìn nỗi
Tâm tư.

Từ khi khai ngộ lại ngộ ra
Cũng chẳng nói nên lời
Cho dù sớm hay tối.

Đêm qua hơi lạnh
Làn thu thủy thu vào tầm mắt
Tôi đã trở thành một cây tùng già."


### 11. Tôi đến từ miền tuyết rơi


Năm ấy.
Tôi từ Seattle trở về Đài Loan. Đêm ấy, tôi ăn bữa tối tại một quán ăn bình dân.
Chủ của quán ăn bình dân hỏi tôi:
"Này! Hòa thượng, ông từ đâu tới?"
Tôi đáp:
"Tôi từ nơi tuyết rơi đến đây!"
Chủ nhân quán ăn và những người xung quanh đều ngớ ra, nhìn trân trân vào tôi. (Đài Loan hiếm khi có tuyết.)
Chủ quán ăn hỏi:
"Nơi nào có tuyết rơi?"
Tôi đáp:
"Nhà tôi!"
Mọi người xung quanh đều cười. Ha ha ha ha ha!
Tôi nói:
"Thật đó!"

🌟

Đúng là thật đó mà!
Sáng sớm hôm ấy tôi ngủ dậy, ngồi xuống bàn ăn tại Nam Sơn Nhã Xá ở nước Mỹ. Bên ngoài cửa sổ, một cơn gió thổi qua mang theo những bông hoa bay bay trong gió, chúng như bông, như tơ, như phấn.
"Ha! Tuyết rơi rồi!"

Tôi đứng ở cửa sổ của ngôi nhà nhìn ngắm những bông tuyết, từ khi tuyết rơi nhỏ đến khi tuyết rơi lớn.
Những cây tùng đã bị tuyết nhuộm thành ông già Noel rồi.
Những mảng trắng rải rác thấp thoáng.
Chỉ một chốc.
Đã xuất hiện một thế giới trắng bàng bạc mênh mông rồi!
Như là một "bông hoa cẩm chướng" màu trắng được ném xuống từ bầu trời xám xịt.
Cảnh tuyết ấy:
Tĩnh mịch.
Thuần khiết.
Trắng xóa.
Như mộng.
Như hoa.
Vẻ đẹp ấy căn bản chính là một bài thơ, một bài hát, tình tính tang! Tình tính tang! Tiếng chuông ngân vang lên!

Đêm hôm đó, tôi lái chiếc xe hơi hai cầu mau chóng đến sân bay Seattle, đường băng của sân bay Seattle đang được xúc tuyết.
Chuyến bay đi Đài Loan của tôi đã khởi hành đúng giờ.
Tôi từ nơi có tuyết bay đến nơi không có tuyết.
Đó đúng là:
"Một giấc mộng."
Bạn hỏi tôi:
"Có thích tuyết không?"
Tôi trả lời:
"Thích!"
Người khác hỏi tôi:
"Có thích tuyết không?"
Tôi trả lời:
"Không thích!"
Bởi vì tôi thật sự thích vẻ đẹp của tuyết. Nhưng sự phiền phức của tuyết thì tôi không thích.

Thơ:
"Không chỉ là một bông hoa
Mà là nghìn nghìn vạn vạn
Bay bay

Không có hương thơm
Nhưng lại như có hương thơm
Mát lạnh cả mặt đất

Một thế giới bàng bạc thanh tịnh
Lấp lánh sắc trời."


### 12. Tiểu Thượng Hải


Trong số các đệ tử của tôi có nhiều người là người Thượng Hải.
Đối với đệ tử Thượng Hải, tôi có cách xưng hô thân mật là:
Lão Thượng Hải --- là người tuổi tác hơi cao.
Trung Thượng Hải --- là người tuổi tác trung bình.
Tiểu Thượng Hải --- là người trẻ tuổi.
Tôi cũng không biết từ khi nào tôi đã bắt đầu xưng hô với họ như thế.

Trong số đó có một người là Liên Hoa Lệ Văn, vóc dáng nhỏ nhắn xinh xắn, tôi gọi cô ấy là Tiểu Thượng Hải.
Tiểu Thượng Hải là con một, cha mẹ nuôi dưỡng cô ấy đến nước Mĩ du học, sau khi học thành tài, cô ấy làm việc ở Bộ Ngoại giao.
Cô ấy rất thành kính.
Cô ấy đã vẽ một bức tranh sơn dầu Quan Âm Tứ Thủ để tặng cho Lư Sư Tôn, vẽ rất đẹp, hết sức sống động, tôi rất thích.

Có một năm.
Cô ấy nghỉ việc, đến Seattle nước Mỹ sống nửa năm.
Tôi hỏi cô ấy:
"Cô có anh chị em gì không?"
Người bên cạnh trả lời tôi:
"Cô ấy thuộc chính sách một con đó."
Tôi "ồ" lên một tiếng. Tôi hỏi:
"Cô có thường gọi điện về hỏi thăm bố mẹ không?"
Cô im lặng.
Tôi nói với cô:
"Cần gọi điện thoại quan tâm đến bố mẹ, để họ biết rằng cô vẫn bình an là được rồi."
Tôi nói:
"Cha mẹ rất quan trọng!"

🌟

Tôi thường tự hỏi:
"Ta lớn lên như thế nào?"
Tôi tự trả lời:
"Đương nhiên là nhờ cha mẹ."
"Ta nhận được sự giáo dục như thế nào?"
"Đương nhiên là nhờ cha mẹ."
"Ta vì sao mà được khỏe mạnh?"
"Đương nhiên là nhờ cha mẹ."
...

Bởi vậy, ơn của cha mẹ nặng như núi, dĩ nhiên cha tôi tính khí không tốt, nhưng cha tôi cũng có áp lực lớn, nên khó tránh được.
Ai may áo cho ta?
Ai nấu cơm cho ta?
Ai dắt ta đi đường?
Ai chăm sóc ta lúc ốm đau?
Ai?
...

Ngày Của Mẹ hàng năm, tôi không biết nên cài hoa cẩm chướng màu gì.
Tôi nhớ đến mẹ tôi, mong bà thường tại, nên tôi chọn màu đỏ.
Mỗi lần ăn cơm, nếm thấy món ăn có mùi vị của mẹ, tôi vẫn cứ nhớ đến mẹ tôi.
Tiểu Thượng Hải! Cô thì sao?
Ơn cha mẹ sâu nặng, khó báo đáp đó!

Thơ:
"Cúc áo rơi ra
Ai khâu lại cho bạn
Và thêu lên bông hoa xinh

Để ăn uống khỏe mạnh
Ai vào bếp nấu cơm
Cá thịt đậu trứng sữa
Như ăn tiệc mỗi ngày

Ai già đi vì bạn
Đánh mất vẻ thuyền quyên."


### 13. Thiên Âm Nhã Nhạc


Tôi thích ca hát, và cũng thích nghe hát.
Luôn là như thế, hễ hát lên là trong lòng dạt dào những cơn sóng vui vẻ, những cơn sóng này càng ngày càng lớn lên...
Nghe hát cũng vậy, ca khúc đi vào tai, chạm đến tiếng lòng, tạo nên một sự cộng hưởng.
Tiếng vọng trong hang trống.
Thật lay động lòng người!
Dường như các tế bào toàn thân đều nhảy múa.
Ngay cả trong mơ, cũng vẫn vang vọng ngân nga, những giai điệu mượt mà lặp đi lặp lại.

🌟

Khi dàn hợp xướng Thiên Âm Nhã Nhạc xướng lên bài ca "Sừng sững ngọn đền Borobudur", ca từ của bài hát này là do tôi viết:
"Nhiễu quanh tháp Phật để tìm Phật
Chớ nghĩ rằng đây là một vở kịch thôi
Trong các tu viện trên mặt đất
Nhiễu tháp chính là ý chí vô tận của Bồ Tát

Có mùi hương cõi thiên thả xuống
Tôi cứ ngỡ đó là những hạt mưa trên bầu trời
Phối quyện cùng chú ngữ mà tôi đang niệm nhẩm
Thế là đời này tôi đã được trải qua

Rửa sạch mọi nghiệp chướng
Quét sạch mọi rong rêu
Kìa khắp mặt đất đều là Phật
Cõi tịnh độ ở khắp nơi này
Đứng nơi đây đền Borobudur
Bạn còn hoài nghi điều gì nữa?"

🌟

Nghe bài hát này, mắt tôi đã ánh lên những giọt nước mắt. Tôi đã khóc trong vô thức. Bài hát cứ vang lên mãi trong tim tôi.
Bản thân tôi cũng không biết là cảm xúc gì.
Tôi nhớ đến năm xưa…
Khi nhiễu Phật tại Borobudur, tôi đã có một ý cảnh rất đặc biệt.
Mồ hôi túa ra như mưa.
Chảy ròng ròng từ trên xuống.
Giống như những con sóng cuồn cuộn, hết đợt này đến đợt khác.
Bây giờ nghe bài hát này, dường như truyền thừa nghìn đời đang cảnh tỉnh hành giả đương đại vậy!

Tôi không biết vì sao tôi lại khóc.
Không biết người khác có khóc không.
Những giọt nước mắt, hẳn là vì sự tinh tấn!
Hay khả năng chỉ là do tôi xúc động!
Nhưng ở đây chắc chắn là có một thứ gì đó không thể mô tả được!

Thơ:
"Nghe bài hát dường như lại trở về
Đứng tại đến Borobudur
Mùa xuân đến sớm

Lòng thật tĩnh lặng
Tất cả đều tuyệt vời
Chỉ là những giọt nước mắt long lanh
Ai có thể hiểu cho

Lòng tôi có một điều mong ngóng
Ai có thể giải thích những ngày xa xưa
Muốn nói ra
Nhưng chẳng thể thốt nên lời
Chỉ có cõi lòng còn lăn tăn

Bay đằng tây lại bay đằng đông
Chư Phật toàn thân tìm sao đây?"


### 14. Tôi học Thiếu Lâm côn


Năm nọ.
Tôi nhìn thấy người bạn nhỏ Trịnh Gia đánh Thiếu Lâm côn, có một vài côn pháp uy nghi và thuần thục, trong lòng không ngớt ngưỡng mộ.
Thế là, đồng môn bèn đi mua về ba cây Thiếu Lâm côn.
Một cây để ở Nam Sơn Nhã Xá.
Một cây để ở Chân Phật Mật Uyển.
Một cây để ở Biệt Thự Cầu Vồng.
Tôi hỏi:
"Để làm gì vậy?"
Đồng môn nói:
"Lư Sư Tôn! Rảnh thì chơi chút chút."
Còn có sư huynh Bỉnh Tường mua DVD cho tôi, tổng cộng có bốn cái:
"Thiếu Lâm âm thủ côn"
"Thiếu Lâm phong ma côn"
"Thiếu Lâm thiêu hỏa côn"
"Thiếu Lâm Khẩn Na La Vương côn"
Tôi xem xong, trán nhíu lại, trời ơi, độ khó rất cao!

🌟

Thỉnh thoảng, tôi dùng tay xoa xoa cây côn, bắt chước theo các tư thế, múa loạn một lần coi như vận động.
Lần mò thử mấy hôm rồi tôi xem DVD hai lần.
Vốn dĩ cần phải đánh côn cho đến khi đầu, chân, thân mình cả côn rã rời lăn ra đất, rồi sẽ từ từ khá hơn.

Một hôm.
Trong tiết mục biểu diễn tài nghệ tại Biệt thự Cầu Vồng.
Không ngờ tôi lại dám tay cầm côn, đứng giữa đám đông, trông giống như một người múa võ.
Trời ạ! Tôi đang là gì vậy? Đánh Thiếu Lâm côn sao? Có phải là bị điên rồi không? Ông mới học có mấy ngày thôi mà!

Âm nhạc Hoàng Phi Hồng nổi lên.
Không thể không đánh.
Đầu tiên tôi làm mấy tư thế khởi đầu.
Tiếng vỗ tay xém chút nữa lật tung cả ngôi nhà lên.
Tôi kiên trì biểu diễu từng chiêu từng thức đến cuối cùng, đánh một chiêu lại nghĩ một chiêu, nghĩ một chiêu lại đánh một chiêu. Ở giữa xen vào những động tác côn hoa.
Âm nhạc kết thúc, tôi làm động tác thu thức.
Tiếng vỗ tay vang lên!
Tiếng huýt sáo vang lên!
Ôi trời! Tôi tự cảm thấy thân thể mình vẫn còn rất linh hoạt, cầm cây côn ấy trong tay, chỉ đông đánh tây, chỉ nam đánh bắc, múa một trận, các thức đầy đủ, cây côn chuyển động quay tròn quanh thân.

Tôi nghe thấy đồng môn hỏi:
"Ai dạy Lư Sư Tôn đánh Thiếu Lâm côn vậy?"
Rồi:
"Sao Sư Tôn lại biết đánh côn pháp vậy?"
Rồi:
"Sư Tôn lén học nhé!"
Ha ha ha! Người này chính là Lư Sư Tôn "đánh lộn" mà làm như "đánh côn"!

Thơ:
"Có người nói
Thời gian chỉ hối thúc con người già đi
Tôi thì chẳng tin

Thiếu Lâm côn trên tay
Ban ngày không ngừng tập
Trong mơ cũng dễ tỉnh
Đối diện trước cây côn
Tôi trở nên đa tình

Không cần quá kinh ngạc
Chỉ bởi vì tôi hiểu
Thế nào là tinh tấn."


### 15. Ba bài thơ


Tĩnh tọa
"Chẳng thể ngăn được suy tư
Bên ngoài cửa sổ
Hai nhành hoa lê
Còn có cả trái lựu
Thỉnh thoảng có chú chim bay qua
Kêu lên tiếng
Gù... gù... gù...

Rồi còn
Cuộc đời bao chuyện vui
Nhưng vẫn có
Đôi chút phiền não
Những việc ấy phải dứt áo ra đi
Xem như không biết

Đàn kia xin đừng gảy
Danh lợi ai biết đâu
Nơi ráng chiều phủ kín
Một vùng
Sáng mênh mông."

Tương ứng
"Tu hành phải chứng không không không
Hoa bất tận
Liễu vô cùng
Dù cho thấy chúng ở nơi nơi

Thế nhưng,
Cần hạn chế hát ca
Điệu múa gửi theo gió
Vinh hoa nhân gian không vướng bận
Một khi đến
Tất cả đều như chú chim mông lung

Đã ngộ rồi
Quá khứ đã qua đi
Tương lai còn chưa đến
Chỉ một chữ
Như nhau."

Khai ngộ
"Thời gian vẫn luôn có hạn
Nhân gian này
Biến hóa
Biến hóa
Biến hóa
Như mộng huyễn bào ảnh
Tất cả những gì ta thấy
Chỉ có
Tình yêu
Tình yêu
Tình yêu

Mọi tướng hiện ra
Giọt sương lấp lánh
Tuyết như bông
Sen buổi tối
Ráng chiều kề bên má
Lúc này cuối cùng đã hiểu ra
Chỉ còn lại
Nhớ thương
Nhớ thương
Nhớ thương."


### 16. Kim Mẫu hoàn mỹ


Tôi thỉnh Thượng sư Thường Nhân nặn tượng điêu khắc một bức Kim Mẫu hoàn mỹ xinh đẹp vô song.
Tôi nói cần phải có:
Búi tóc đen trên đỉnh đầu gắn một con rồng lớn.
Đội mũ phượng hoàng màu trắng được khảm bằng bạc nguyên chất.
Tai đeo bông tai hình hoa mai và lá trúc.
Toàn thân được trang điểm bằng những trang sức đẹp đẽ nhất.
Chỗ tóc mai cài nghiêng nghiêng một chiếc trâm ngọc.
Quần áo có màu sắc hoa văn đẹp đẽ cát tường.
Khuôn mặt hoa lê.
Đôi mắt to tròn.
Lông mày dài và thanh.
Đôi môi khép hờ.
Cằm thon thon.
Tay phải cầm phất trần của Tiên, tay trái cầm quả Như Ý.
Miệng khẽ mỉm cười.
Ngồi thẳng trên ghế tựa.
Khuôn mặt và vóc dáng của thiếu nữ khoảng 16 tuổi.

Bức chân dung này rất giống tiên nữ ở trên trời, chỉ có đặc điểm khác biệt với các tiên nữ khác là ngài cầm phất trần của Tiên và quả Như Ý.

🌟

Vì sao tôi có cách nghĩ như vậy?
Câu trả lời duy nhất là:
Đại La Kim Tiên vốn không có hình tướng.
Muốn như thế nào thì sẽ là như thế.
Tôi thích sự hoàn mĩ.
Vì thế nên mới cho chạm trổ bức tượng:
Đẹp đẽ như vậy.
Rực rỡ như vậy.

🌟

Tôi đã thấy những bức Diêu Trì Kim Mẫu ở khắp Đài Loan.
Có bức thì cầm gậy đầu rồng, khuôn mặt đầy nếp nhăn. (Vương Mẫu Nương Nương)
Có bức thì trang nghiêm hiền từ. (Tướng mạo trung niên)
Có bức thì uy nghiêm. (Mang vẻ phẫn nộ)
Có bức là phúc tướng. (Hơi đẫy đà)
Đại bộ phận là những bức tượng Kim Mẫu là phụ nữ trung niên.
Đó là tập tục dân gian, không có gì chê trách, bởi vì mẫu nương thì cần phải giống một người mẹ.

Ở Seattle Lôi Tạng Tự, Diêu Trì Kim Mẫu là linh uy đệ nhất, bức tượng đó là một phụ nữ trung niên xinh đẹp, cười mỉm và uy nghi.
Diêu Trì Kim Mẫu ở Chân Phật Mật Uyển thì hơi lộ vẻ trầm tư, khoảng sáu chục tuổi.
Diêu Trì Kim Mẫu ở Nam Sơn Nhã Xá thì khoảng ba chục tuổi, vẻ mặt xinh đẹp đoan trang.
Trẻ trung.
Thanh xuân.
Duyên dáng.
Một vị Diêu Trì Kim Mẫu như vậy căn bản là không tìm thấy.

Tôi bất chợt có một suy nghĩ, tôi muốn một vị Diêu Trì Kim Mẫu cũng xinh đẹp như thế, nhưng Kim Mẫu này không phải là hình tượng người mẹ già, hay người mẹ trung niên, mà chỉ là một người mẹ tượng trưng cho sự hiền từ, người mẹ cũng là người con gái trẻ.

Thơ:
"Không cần quá sửng sốt
Rằng thời gian luôn hối thúc con người già đi
Nhưng Kim Tiên
Thì tùy duyên biến hóa

Mây mỏng sương mờ biết được gì
Nước chảy hoa trôi
Lá cây rơi rụng
Chẳng qua là vì thu đến sớm

Tôi nghĩ Kim Mẫu thời nay
Không gian
Thời gian
Chẳng thể tác động
Diêu Trì vườn tiên cõi xa xăm."


### 17. Khi tôi đọc sách


Tôi thích mỗi ngày dành ra một chút thời gian, vào những lúc không có ai làm phiền, tĩnh lặng đọc sách.
Tốt nhất là trong một không gian nhỏ hẹp.
Ngồi xuống.
Không ai có thể vào.
Tập trung tinh thần.
Tiến nhập vào tam muội của sách.

🌟

Tôi không giới hạn sách mà tôi đọc, hễ là sách thì tôi đều đọc, từ sách cổ điển cho đến sách hiện đại.
Tôi đọc từ lịch sử cổ đại đến lịch sử hiện đại.
Đọc từ văn học đến khoa học kĩ thuật hiện đại.
Đọc từ kinh, luật, đến những bộ đại luận của các tôn giáo.
Thơ ca.
Bài phú.
Có một quãng thời gian, tôi say sưa đọc văn học tiểu sử truyện kí.
Có một quãng thời gian, tôi thâm nhập vào Mật tục.
Có một quãng thời gian, tôi nghiên cứu các sáng tác của các vị đại sư.

Thiên kinh bách điển, trong lòng tôi khẩn thiết thắc mắc:
"Đến khi nào thì tôi mới có thể đọc hết toàn bộ sách trong thiên hạ đây?"
Về sau, cuối cùng tôi đã hiểu, những sách mà tôi đã đọc chỉ là một hạt cát trên mặt đất mà thôi.
Tôi cũng biết chỉ là một giọt nước trong biển lớn.
Những sách tôi đã chọn đọc chỉ là một ngôi sao trên bầu trời.
Chỉ là một gò đất nhỏ trong vô số ngọn núi cao.

🌟

Tôi phải làm sao?
Không thể nào, không thể nào, không thể nào, không thể nào, không thể nào...
Thế rồi, tôi để tùy duyên, tùy thuận, tùy hỉ.
Tôi cũng không nôn nóng, đơn giản là cầm phải cuốn sách nào thì sẽ đọc cuốn sách đó.
Tôi xem sách hàng ngày.
Đọc sách mỗi ngày.
Mỗi ngày đều tóm tắt lại những nghiên cứu tìm tòi của mình.
Sách đã trở thành chất dinh dưỡng tinh thần của tôi.

Tôi tin rằng tôi sẽ cứ tiếp tục đọc sách, tôi và sách đi đâu cũng có nhau, cùng ngao du trong biển sách tươi sáng.
Lấy đó là niềm vui thích không gì sánh bằng.
Từ đó có thể dự đoán được sự phong phú của tâm linh.

Thơ:
"Có ai tin rằng
Sách gì tôi cũng đọc
Hiểu y thuật
Hiểu nghệ thuật
Hiểu luận chứng
Hiểu tiếng lòng
Hiểu nội tâm
Tôi biết đến những điều hay của chúng

Có ai biết
Tôi đã thâm nhập sâu vào kinh tạng mật tục
Mượn sức mạnh của sách
Nhấc mình đến trời cao

Thân tâm tôi vững vàng
Tôi là mặt trời chiều đỏ ối sau mưa
Du hành xa tận thiên cung
Khi tôi nhập vào tam muội
Thì đã ở giữa trời xanh."


### 18. Mùi thơm của trẻ sơ sinh


Cũng không hiểu vì sao mà tôi càng ngày càng thích trẻ con và trẻ sơ sinh.
Thượng sư Liên Hương nói:
"Đó là việc rất tự nhiên, ông nội bà nội đều thích cháu trai cháu gái của mình mà."
Tôi nói:
"Đâu chỉ có thế, bất kì đứa bé nào con của đệ tử tôi đều thích cả!"
Thượng sư Liên Hương nói:
"Đó là vì ông già rồi, người già thì đều thích trẻ con."
"Vì sao lại thế?" - Tôi hỏi.
"Kawaii." - Liên Hương đáp.
(Trẻ con rất dễ thương.)
Ví dụ:
Bình Nhi, Y Đình, Lôi Thiến, Nhân Nhân.
Cô bé Q ở thành phố Calgary Canada. (Minh Quân)
Lí Kì ở Malaysia.
Lư Hoằng.
Lư Quân.
Còn cả những em bé trai bé gái sơ sinh….

🌟

Tôi cảm thấy trẻ con ngây thơ hồn nhiên, thật sự là đáng yêu vô cùng!
Tôi thích bàn tay bé xíu xiu của trẻ con.
Gò má đỏ hây hây.
Còn cả mùi thơm đặc biệt của những em bé sơ sinh nữa.
Biểu cảm trên nét mặt của chúng thật sự đáng yêu vô cùng.
Chúng có thể:
Nháy mắt.
Cười chúm chím.
Tay chân khua khoắng.
Lanh lợi nhắng nhít.
Bi ba bi bô.
Bước đi những bước chập chững lảo đảo.

Tôi thích nắm lấy bàn tay nhỏ xinh của chúng, dắt chúng đi bộ chậm rãi bên trong nhà hàng của thư viện.
Tôi thích hát những bài hát thiếu nhi. Tôi đã học không ít những bài hát thiếu nhi để hát cho trẻ con nghe.
Khi bố mẹ của những em bé sơ sinh bế những em bé lên hôn vào má ông nội (Sư Tôn) và để lại nước dãi của chúng, thật sự có một hương vị đặc biệt đọng lại trong tim tôi.

Tôi nhớ trong Kinh Thánh có một câu nói của chúa Jesus:
"Hãy để những em bé đến bên cạnh ta!"
Câu nói này, tôi có thể thấu hiểu.
Tôi thích mùi thơm của những em bé sơ sinh, bởi vì chúng không có chút ô nhiễm nào, hoàn toàn tuyệt đối hồn nhiên.
Chúng gọi một câu:
"Ông nội Sư Tôn!"
Thế là cả người tôi đều tan ra rồi!

Thơ:
"Khi tôi bước ra ngoài Chân Phật Mật Uyển
Lũ trẻ lao đến tôi
Tôi đã thấy
Những khuôn mặt ửng hồng.

Tôi thích
Đôi mắt thông minh của cô bé
Cười tới nỗi
Tít cả mắt

Giống như chim én nhỏ
Nhảy nói cười
Cả một trời vui tươi."


### 19. Đậu tương tư


Có một hôm, tôi đang sắp xếp lại sách vở, kho tàng sách của tôi nhiều vô cùng, có những cuốn sách đã ba, bốn chục năm hoặc lâu hơn.

Tôi lấy từng cuốn sách từ trong thùng carton ra, phân loại, lau sạch, sắp xếp, tổ hợp, sau đó lại cất cẩn thận.
Một số sách thì cất lại vào thùng.
Một số sách thì bày ra tủ sách.
Cuốn sách nào muốn đọc thì đặt lên bàn.
Có một cuốn sách cũ, khi tôi mở ra thì rơi ra một bức thư, trên bức thư đã phai màu có kẹp hai hạt đậu tương tư óng ánh xinh xắn. Tôi đặt hai hạt đậu tương tư trên tờ giấy trắng, trông chúng lại càng sáng chói lấp lánh hơn.
Lúc này, tôi rơi vào dư âm của ngày xưa.

Đó là hồi đại học. Có một cô gái tên Như tặng cho tôi.
Chúng tôi:
Đi dạo bộ.
Đi xem phim.
Hẹn hò.
Trao đổi thư từ.
Về sau, cô ấy nói:
"Nếu như có một ngày, anh "tiểu đăng khoa", em nhất định sẽ đến." [ ND: tiểu đăng khoa là một cách nói chỉ việc cưới vợ ]

Trong thư có kẹp hai hạt đậu tương tư. Tôi phát hiện ra, trong sắc màu đỏ thẫm đó còn khắc một hình trái tim.
Hai hạt.
Hai trái tim.
Tiểu đăng khoa.

🌟

Khi tôi và Thượng sư Liên Hương kết hôn.
Có gửi thiệp mời cho cô ấy, bởi vì cô ấy nói, khi tôi "tiểu đăng khoa", cô ấy nhất định sẽ đến.
Kết quả là:
"Cô ấy không đến!"
Cô ấy chỉ gửi đến một lá thư, trong đó chỉ vẽ một vòng tròn to to, nghĩa là chẳng còn gì cả.
Về sau, cuối cùng tôi mới hiểu ra:
"Tiểu đăng khoa." "Em chắc chắc đến."
Điều ấy là để nhắc nhở tôi rằng: Có một ngày, tôi kết hôn, cô ấy muốn đứng bên cạnh tôi!
Trời ạ!
Thế mà tôi đã không thể nghĩ ra!
Tôi đúng là một tên ngốc tử.

Bây giờ, tôi chỉ có thể ngân nga:
"Đậu đỏ ở phương nam
Xuân đến ra mấy cành
Mong chàng thường tới hái
Đậu này lắm tương tư."

Viết một bài thơ vậy:
"Hoàn toàn bặt vô âm tín
Tiêu tan như một giấc mơ
Nhìn đậu đỏ
Mấy đêm không ngủ

Muốn viết một bức thư
Địa chỉ lại không biết
Gửi cho ai?

Cây ngô đồng đứng trong đêm mưa
Vọng nhìn trời bên ngoài cửa sổ
Trời xa mây xám
Con người cũng thấy tiêu điều
Trong lòng nghĩ đến
Bầu trời đêm thăm thẳm
Trăng thu."


### 20. Ngoài vợ chồng


Có một đệ tử nam đến hỏi chuyện.
Trên phiếu ghi thông tin của anh có viết:
"Vợ con có bầu, nhưng đứa bé là của người khác, con và vợ con có còn duyên phận không?"
Và:
"Vợ con nói, có thể bỏ đứa bé. Con muốn hỏi, có thể bỏ bé được không? Hay là giữ lại?"

Tôi hỏi:
"Hai người kết hôn được bao lâu rồi?"
Đáp:
"Ba năm."
Tôi hỏi:
"Anh còn yêu vợ anh không?"
Đáp:
"Còn yêu!"
Tôi nói:
"Giữ vợ lại."
Tôi hỏi:
"Hai người kết hôn ba năm, có con chưa?"
Đáp:
"Chưa có."
Tôi hỏi:
"Anh có thể xem đứa con của người ngoài như con của chính mình, yêu thương và bảo vệ nó được không?"
Đáp:
"Có thể, con sẽ yêu nó!"
Tôi nói:
"Vậy thì xong rồi! Anh có vợ, lại có cả con, đó là tình yêu vĩ đại, người tu hành cần như vậy."
Đệ tử nam nói:
"Xin tuân lệnh thầy!"

🌟

Tôi thường nói:
Người tu hành nên làm như vậy.
Yêu người khác như yêu chính bản thân mình.
Yêu người khác nhiều hơn yêu chính bản thân mình.
Tất cả đều nghĩ cho người khác, không nghĩ cho riêng mình.
Chúng sinh đều bình đẳng.
Không có cái gì là của tôi, không có cái gì là của bạn, không có cái gì là của người khác.
Bạn.
Tôi.
Người khác.
Không phân biệt.
Đó là quan điểm thống nhất của tôi. Mặc dù mỗi cá nhân đều có xuất phát chủng tộc khác nhau, mặc dù một hạt gạo giống nhau nuôi trăm vạn người nhưng mỗi người mỗi khác. Dù vậy, Phật tính của ai cũng giống nhau, trên đại tiền đề về Phật tính thì tôi khởi xướng người người bình đẳng, trên dưới xưa nay trong ngoài không khác biệt.
Toàn bộ đều như vậy.
Tôi chủ trương:
Lục đạo chúng sinh đều cần được yêu thương bảo vệ, yêu chúng sinh hơn yêu bản thân.

Thơ:
"Nhân gian giấc mộng lớn
Nhân gian một vở kịch
Đều là huyễn
Ai có thể nghĩ thông

Đã biết là như vậy
Thì còn gì ai trọng ai khinh
Thương xót thế nhân
Ai có thể làm được

Không từ bỏ một chúng sinh nào
Yêu thương bình đẳng
Không ai có thể làm tôi dao động."


### 21. Tăng phá giới


Tôi thường nói:
"Đàn ông cần chống lại được sự mê hoặc cám dỗ, phụ nữ cần chịu được sống trong cô quạnh."
Điều này cũng có thể dùng cho:
Tì kheo (nam chúng).
Tì kheo ni (nữ chúng).

Tôi không giấu giếm:
Tăng nhân xuất gia trong tăng đoàn của chúng ta rất đông.
Có một vị Thượng sư tì kheo rất ưu tú, nhưng bởi vì có một thiếu nữ xinh đẹp thường xuyên đến tìm ông ấy hỏi pháp, nên sau đó ông ấy đã hoàn tục. Rời bỏ tăng đoàn. Sau đó sinh con rồi!

Còn nữa:
Có một tì kheo ni mới xuất gia. Người bạn trai trước đây đã lái xe mấy ngày trời để đuổi theo tìm cô.
Họ ở bên nhau hai ngày. Tới ngày thứ ba, người bạn trai lái xe đi, đem theo cả tì kheo ni, từ đó một đi không trở lại.

🌟

Ở đây chỉ mới nhắc đến hai ví dụ nhỏ, thật ra, có rất nhiều tăng nhân hoàn tục. Điều này giống như một cây thông lớn, có rất nhiều cây lan tử la bò lên, khi gió thu dễ chịu thổi đến thì chúng tranh nhau đua nở.

Chúng ta học Phật cần phải biết đến hai đế:
Tục đế.
Thánh đế.
Chúng ta đi từ tục đế đến Thánh đế. Còn một số người lại đi từ Thánh đế đến tục đế.
Bất kể nói thế nào thì những thứ mê hoặc con người là:
Tiền.
Sắc.
Danh.
Ăn.
Ngủ.
"Thật cám dỗ, thật mê hoặc con người!"

🌟

Đối với tăng nhân, tì kheo hoặc tì kheo ni phá giới, chúng ta có nên phê phán không?
Tôi nói:
"Không!"
Vì sao vậy?
Tôi nói:
"Tì kheo, tì kheo ni xuất gia lại hoàn tục thì có rất nhiều nguyên nhân, hoàn cảnh không thoải mái, nhân sự không hợp, hoặc không chịu được sự cám dỗ của thế tục, bởi vậy mà bỏ đi. Đây cũng là vì bản tính con người khiến họ như vậy."

Tôi nói:
"Nhưng cũng cần kính trọng họ trước đây đã có được tâm xuất ly mà quyết định xuất gia tu hành."
Rất khó để có được tâm xuất ly này. Do vậy, họ vẫn xứng đáng được tôn trọng!

Thơ:
"Dù đã phá giới rồi
Vẫn đáng được tôn kính
Bởi vì lúc khi xưa
Đã có tâm xuất ly

Phàm việc gì cũng có nguyên nhân
Duyên phát khởi
Duyên lụi tàn
Thề nguyện vợ chồng cũng là như thế
Ân ái có được mấy lúc
Như buổi ban đầu."


### 22. Bà Hàn Vụ Trân


Bà Hàn Vụ Trân không theo tín ngưỡng tôn giáo nào. Chồng bà tên là Bồi Phú, là một đệ tử Chân Phật Tông.
Một hôm.
Bà Hàn đang gõ máy tính. Bên tai nghe thấy chú âm, từng câu từng từ vô cùng rõ ràng.
Bà đứng dậy đi kiểm tra khắp nhà, tổng cộng hai lần. Những thứ gì có thể phát ra âm thanh thì bà đều rút phích cắm ra.
Trong nhà không có ai. Nhưng vẫn có tiếng chú âm.
Sau đó, ông Bồi Phú chồng bà trở về nhà, nghe bà Hàn nói lại chú âm, không ngờ lại là chú Hoàng Tài Thần.
Ông lập tức kéo bà Hàn đi mua xổ số.
Quả nhiên trúng giải!

🌟

Bà Hàn đồng tu tại Đài Loan Lôi Tạng Tự, tận mắt nhìn thấy Phật Mẫu xuống. Bà kể với Thượng sư, không ngờ đó là: Tôn Thắng Phật Mẫu.

Bà cũng tận mắt nhìn thấy thần Kim Cang, diện mạo hung dữ, khiến bà cảm thấy rất kì lạ. Về sau bà biết rằng, thần Kim Cang có diện mạo hung dữ là thần Hộ pháp của Phật giáo Tây Tạng, cũng là Bổn tôn trong tu hành.

🌟

Bà Hàn có chứng bệnh hoa mắt chóng mặt đã 30 năm, không thể đi xa nhà. Nhưng đại pháp hội tại Seattle nước Mỹ vào ngày 12 tháng 9 năm 2015, bà ấy không chút do dự đã quyết định tham gia.
Bà đi chuyến bay đường dài đến Mỹ.
Tham dự pháp hội.
Đi du ngoạn núi tuyết Rainier.
Xe buýt du lịch núi tuyết đi vòng quanh đường núi, lắc bên này lắc bên kia, vòng bên này vòng bên kia. Nhưng chứng bệnh hoa mắt chóng mặt của bà không hề phát tác. Ngay cả mệt mỏi do sự sai khác giờ giấc cũng không có.
Không ngờ:
"Chứng bệnh hoa mắt chóng mặt suốt 30 năm qua đã khỏi rồi!"

Câu chuyện này rất thần kì, Thượng sư Liên Hương đã kể lại cho tôi nghe, tôi đem câu chuyện này tiết lộ trong sách.
Mượn câu chuyện này để tăng trưởng đạo tâm của thiện tín.

Thơ:
"Vân vân chúng sinh là Như Lai
Vân vân chúng sinh cũng là Như Lai
Bản nhiên như thế
Pháp nhĩ như vậy
Tính xem bao kiếp phù du
Nghìn đầu vạn mối

Kì thực ở đây vô cùng bí mật
Duyên phận nếu đến
Thì tự nhiên tìm thấy Bổn tôn
Tương phùng

Từ đây tiếp nhận thọ kí
Mặt trời vĩnh hằng
Tiệc Tiên mở ra
Đây chính là chân đế

Chỉ mong
Phật đường mát mẻ
Lư vàng ấm hương
Tĩnh lặng ngồi xuống
Trút bỏ danh lợi."


### 23. Bao điều kinh ngạc vui mừng


Pháp hội ngày 20 tháng 9 năm 2015 có rất nhiều điều kinh ngạc vui mừng.
Bạch tiên nữ.
Hồng tiên nữ.
Hoàng tiên nữ.
Tiên nữ xiêm y ba màu sắc đứng trên ba đóa hoa sen, lộ vẻ tươi cười, mỗi người đều có phong thái riêng, xinh đẹp vô cùng!
Thiên y lấp lánh.
Đồ trang sức thần tiên.
Xinh đẹp rạng rỡ.
Thật sự khiến người khác tự thấy thua kém.

Có người hỏi:
"Ba tiên nữ này pháp lực ra sao?"
Tôi đáp:
"Họ là hóa thân của Quan Thế Âm Bồ Tát!"
Vì thế mà pháp hội ấy có rất nhiều điều đáng kinh ngạc vui mừng.

🌟

Cư sĩ Lương Yến Long ở Đài Trung, Đài Loan, bị mắc một chứng bệnh gân cơ ở ngón tay, có nghĩa là ngón tay không thể co duỗi một cách tự nhiên thoải mái được. Bàn tay thường co lại như nắm đấm, không mở ra được.
Bác sĩ nói:
"Cần phẫu thuật!"
Cư sĩ Lương nói:
"Đi Mỹ tham gia pháp hội!"
Bác sĩ nói:
"Thế đi về rồi phẫu thuật!"

Tại pháp hội, tôi sờ đầu gia trì, cư sĩ Lương muốn tôi vỗ vào tay của ông ấy, tôi cũng vỗ ba cái.
Ngày hôm sau, các ngón tay có thể co duỗi tự nhiên bình thường. Ông ấy hết sức sung sướng kêu:
"Không cần phải mổ nữa rồi!"

🌟

Có một phụ nữ tên là Hồng Anh, bị một chân thẳng, một chân cong, đi lại lảo đảo.
Cô ấy thỉnh tôi vỗ vào chân, tôi cũng vỗ ba cái. Cái chân bị cong không ngờ đến hôm sau đã thẳng ra rồi. Cô ấy vui mừng đến nỗi miệng há hốc, nói liên hồi không ngừng. Bởi vì chân của cô ấy đã bị cong suốt 10 năm, thế mà vỗ một cái, đã khỏi rồi!

🌟

Có một cô gái tên là Y Thần. Buổi đêm đi ngủ thường không ngủ ngon. Hơn nữa còn thường xuyên mơ thấy ma. Ở nhà nghỉ tại Seattle, liên tục bảy đêm cô ấy bị bóng đè.
Tôi vỗ vào lưng cô ấy.
Đêm đó, cô ngủ một mạch từ đêm đến sáng, giấc mơ rất ngọt ngào.
Cô ấy thốt lên:
"Chưa từng có!"

Ngoài ra còn có rất nhiều chuyện đáng kinh ngạc, ví dụ như người mù bỗng nhìn được, người câm bỗng nói được, các khối u nhọt biến mất, khỏi chứng mất ngủ, khỏi các bệnh da liễu, v.v…

Thơ:
"Dòng chảy pháp ấm áp
Tôi sờ đầu
Dùng tay vỗ
Vậy mà làm nên tiếng vang

Niềm vui liên miên
Dòng người dài nối đuôi
Thật sự chẳng biết ngày đã muộn."


### 24. Tôi thích nhìn mây trắng


Đọc bài thơ Đường "Linh triệt":
"Luật nghi đã học thông
Ý thơ nhập tâm huyền
Yên cảnh tùy duyên đến
Phong tư cùng đạo nhàn
Dải hoa trong tịnh thất
Chú thủy độ không sơn
Ý phù vân ai hiểu
Xa xăm giữa đất trời."

"Ý phù vân" và "Xa xăm giữa đất trời" trong bài thơ này là điều mà tôi mong ngóng.

Còn nữa, bài thơ của Vi Ứng Vật:
"Phù vân đã đi rồi
Nước chảy đã mười năm
Cười vui tình vẫn thế
Tóc thưa đã điểm bạc."

Bài thơ này khiến tôi mê mẩn, cái cảm giác về "ánh tà dương mấy độ" lại trỗi dậy rồi.

Tôi thật sự rất thích mây trắng, chúng vừa như thật vừa như huyễn, vừa như tĩnh lại vừa như động, khiến lòng tôi vui vẻ.
Bất kể là ngắm mây qua cửa sổ, ngẩng đầu lên, lên núi cao, đi đường, hay là nghĩ đến bài hát "Quê hương":
Bầu trời xanh xanh
Đám mây trắng trắng.
Thì tâm tôi nhanh chóng ở trên mây rồi.

Thỉnh thoảng, tôi từ nhà ăn đi ra, trở về Chân Phật Mật Uyển, tôi lại nói: "Nhìn kìa! Trên trời có mây trắng!"
Thỉnh thoảng, tôi đứng bên ngoài cổng lớn của Lôi Tạng Tự, tôi lại nói: "Nhìn mây kìa, mây đẹp quá!"
Vẻ đẹp của sắc trời và áng mây khiến người ta mơ màng!

🌟

Nhìn mây trắng, tôi thấy được:
Sự khoan khoái.
Sự ung dung.
Sự tự tại.
Sự tùy duyên.
Sự thuần tịnh.
Sự huyễn biến.
Niềm hạnh phúc.

Tôi rất thích những ngày tháng bầu bạn với núi, bầu bạn với mây trắng, đặc biệt là ở Biệt thự Cầu Vồng, khi mây trắng ở lưng chừng núi trông tựa như một dải khăn khata màu trắng quấn quanh ngọn núi xanh, cảnh tượng lúc ấy, đẹp ơi là đẹp.
Ngắm mãi không thôi.
Hơn nữa, vào lúc chạng vạng, từng đám mây trắng lại biến thành những ráng mây ngũ sắc giăng khắp bầu trời, lại càng khiến người ta say ngất ngây!

Viết một bài thơ vậy!
"Mây
Vĩnh viễn chẳng bao giờ bị giam giữ
Bởi thế
Vĩnh viễn vô ưu vô họa

Mây
Khi tụ khi tan tự tại làm sao
Bởi thế
Chẳng có đọa hay không đọa

Mây
Có thể ngắm được bao lần
Bởi thế
Hãy ngắm cho hết
Sự thiên biến vạn hóa
Ai có thể biết về quá khứ của mây."


### 25. Trở về Cao Hùng thời thơ ấu


Tôi sinh ra ở Gia Nghĩa. Nhưng những năm tháng tuổi thơ của tôi lại ở Cao Hùng, tôi học tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông. Tôi đã sống ở Cao Hùng 19 năm.

Ngôi nhà tuổi thơ của tôi ở nhà số 77 giao lộ Lâm Sâm, quận Tân Hưng thành phố Cao Hùng, là khu nhà tập thể của công ty điện lực.

Có một năm, tôi trở về Cao Hùng. Tòa nhà đã bị dỡ bỏ. Con đường cũng đã được đổi tên rồi.
Trước kia, có rạp chiếu phim ở gần đó là Tân Hưng Hí Viện cũng đã không còn nữa.
Phố Đại Cảng hoàn toàn thay đổi rồi!
Tất cả những thứ thân quen đều hoàn toàn trở thành xa lạ rồi.
Vòng Tròn Lớn đã biến mất!
Vạn Long Hí Viện đã biến mất!
Chỉ có chợ đêm Lục Hợp là vẫn còn.

Tôi có thể nói gì đây?
Những bạn học ngày xưa đã hoàn toàn tan biến đi như khói.
Hoàng Kim Hùng, mắc bệnh tim, đã qua đời!
Trang Chính Hòa, đi leo núi, đã chết trên núi!
Đó là hai người bạn thân nhất của tôi, nghĩ đến họ, trong lòng tôi nặng trĩu như có đá đè vậy!
Thời thơ ấu của tôi?
Đã hoàn toàn bốc hơi...

Trong những sáng tác của Trương Tuyết Nhân có một bài thơ:
"Còn nhớ bên cầu đưa tay vẫy
Chim én hồng nhạn lần lượt bay
Chân trời góc biển đi muôn nẻo
Tổ cũ bên cầu nay còn không?
Gặp nhau chớ nói lời thê lương."

🌟

Tôi nhớ có một lần.
Tôi tình cờ gặp lại người bạn học thời tiểu học tên là Hoàng Long Chí. Ông nói:
"Tôi là Hoàng Long Chí đây!"
Tôi nhìn ông ấy, ông ấy không còn là "thằng Chí" ngày xưa nữa! Chỉ còn lại một vài nét mà thôi.
Tôi nói:
"Tôi là Lư Thắng Ngạn đây!"
Ông ấy cũng nhìn tôi.
(Chúng tôi sống trên cùng một con phố, cũng là bạn học.)
Nhưng...
Giữa chúng tôi không có gì để nói với nhau.
Bởi vì chúng tôi không biết phải nói gì.
Ôi! Thời thơ ấu của tôi!

Viết một bài thơ vậy!
"Hồi tưởng về ngày xưa
Nay chẳng thấy gì nữa
Trong kí ức tàn tạ
Gom góp rồi chắp vá
Thời thơ ấu đã chẳng còn thấy đâu

Uống một ly rượu
Uống luôn cả một thời tuổi thơ
Ly đã cạn
Cũng chẳng biết vui là gì

Là như thế rồi
Những gì đã mờ nhạt
Những gì đã đổi thay
Những gì đã vô thường
Hãy để tất cả những người bạn học thân quen
Được sống tiếp
Mong bạn sống lâu mãi mãi
Chẳng còn thất lạc nữa."


### 26. Bài thơ bế quan


Tăng nhân Thanh Liễu triều Tống viết:
"Ba mươi sáu năm toàn tác quái
Vỗ vỗ đâm đâm vỏ túi da
Một nghìn bảy trăm tên sư tăng
Lộn xộn láo nháo hay phá quấy
Ngồi thiền tịch lặng dừng đầu lưỡi
Trực nhận trọn vẹn vũ trụ kia."

Tôi sửa lại thành:
"Chín năm bế quan như thế
Tôi cũng chưa phải hành giả
Giờ đây đầu lưỡi vẫn còn
Nhưng chứng tất cả vô đắc."

Thơ của Hàn Sơn Tử:
"Sinh tiền quá ngu si
Chẳng nghĩ cho bây giờ
Giờ đây nghèo như vậy
Bởi kiếp trước gây ra
Đời này lại không tu
Kiếp sau vẫn như cũ
Đôi bờ vắng bóng thuyền
Mịt mù khó cứu độ."

Tôi sửa lại thành:
"Chẳng có sinh tiền hay tử hậu
Sao có nghèo khổ hay giàu có
Tính không trực quan khỏi cần tu
Bỉ ngạn bờ ấy đều chẳng phải."

Còn nữa, thơ của Hàn Sơn Tử:
"Thế nhân có gì mà ca thán?
Khổ vui tranh đấu mãi không dừng.
Sinh tử vãng lai bao nhiêu kiếp
Đông tây nam bắc biết là ai?
Trương, Vương, Lý, Triệu là tên tạm
Lục đạo tam đồ việc bao la
Chỉ vì chủ nhân không giác ngộ
Tìm cách sửa đổi bỏ mê tà."

Tôi sửa lại thành:
"Việc vốn chẳng có việc
Cái chết cũng chẳng có
Nhà vốn không có nhà
Tên họ ấy là ai
Làm gì có lục đạo
Chủ nhân ấy là ai
Như thế mới là ngộ."

Tôi đã bế quan tới chín năm ròng, sau khi ra ngoài, tất cả đã trở thành "không có việc gì vướng bận trong tâm".
Chẳng có gì quan trọng, xem thế sự biến hóa thì tôi chỉ:
Cười lớn ha ha ha!

Tăng nhân Phong Can triều Đường nói:
"Vốn dĩ chẳng có vật gì
Nên chẳng có bụi mà phủi
Nếu như thông suốt như vậy
Chẳng cần ngồi đó chần chừ."

Tôi sửa thành:
"Bản lai vô bản lai
Vị lai vô vị lai
Liễu đạt bất liễu đạt
Hết thảy vốn như như."

Viết một bài thơ vậy!
"Trung thu năm nay đã đến rồi
Bánh trung thu
Đệ tử luôn tặng sớm

Vừa mới ngủ
Đã liên tục giật mình tỉnh giấc
Cứ nghĩ rằng trời đã sáng rồi

Bước chân ra ngoài dẫm lên cỏ
Giọt sương tròn tròn
Như minh châu tan vỡ
Muốn thử đếm bước chân mình
Không biết được bao nhiêu."


### 27. Nơi nào được như nơi này


Tôi rất thích Biệt thự Cầu Vồng, lí do rất đơn giản, vì chỉ cần đứng ở cửa sổ là nhìn thấy núi Thiên Mã.
Sáng sớm.
Buổi trưa.
Chạng vạng.
Buổi tối.
Núi Thiên Mã đều chẳng khi nào giống nhau!

Hơn nữa, xung quanh Biệt thự Cầu Vồng đều là núi. Núi Thiên Mã ở chính giữa, bên phải là Kì Sơn, Cổ Sơn, bên trái là Quý Nhân Sơn, phía sau lưng là Sa Mạo Sơn, thấp hơn về phía dưới bên phải là Bình Phong Sơn, thấp hơn về phía bên trái là Ấn Sơn.
Tôi gọi chúng là "Thất tinh lạc địa". [ ND: bảy ngôi sao từ trên trời rơi xuống ]
Mùa xuân trăm hoa đua nở.
Mùa hè gió mát hiu hiu.
Mùa thu lá phong đỏ ối.
Mùa đông tuyết phủ lấp lánh.
Trời xanh, trời râm, mây, sương, mưa, tuyết… tận hưởng bất tận.

Có bài thơ của Đào Hoằng Cảnh triều Tấn:
"Trong núi có gì đây
Đỉnh phủ đầy mây trắng
Chỉ riêng mình tận hưởng
Chẳng thể tặng cho ai."

Chỉ có sống tại Biệt thự Cầu Vồng mới biết được vẻ đẹp của Biệt thự Cầu Vồng.

🌟

Nằm về phía tay trái của biệt thự vốn có một con sông đã bị một thương nhân chuyên khai thác cát đá để mắt tới. Người này đã xin khai thác cát đá. Giấy phép cho phép có thể khai thác 30 năm. 30 năm khai thác đã kết thúc. Nước được bơm vào và trở thành một hồ nước nhân tạo rộng lớn.
Chà! Thật tình, biệt thự khi xưa đã trở thành một biệt thự bên hồ.
Sau lưng có chỗ dựa.
Trước mặt có gương lớn.
Bên trái bên phải được bao quanh.
Trong hồ nước có bong bóng.
Thế nên Biệt thự Cầu Vồng vừa có phú vừa có quý, là một biệt thự có dáng vẻ đặc biệt xinh đẹp.
Thổ địa xung quanh đều có thế bay lên! Được trời đất ưu ái.
Nhưng 30 năm sau thì... Tôi không dám nghĩ nữa!

Viết một bài thơ vậy!
"Gió xuân thổi tới
Núi xanh xanh
Mưa xua màn khói mỏng
Trời quang đãng
Đêm đêm tiếng ếch kêu
Làm bạn cùng giấc ngủ
Chim cú kêu
Tiếng khẽ khàng

Xuân có hoa
Hạ có gió
Thu có trăng
Đông có tuyết

Ba mươi năm sau
Chẳng cần phải lo
Sơn thủy hữu tình
Thắt chặt tình người."


### 28. Công viên Nhật Bản


Giữa Seattle và thành phố Bellevue có một công viên Nhật Bản. Thành thật mà nói thì cuộc sống ở Mỹ không thể thiếu công viên. Ở Mỹ có rất nhiều công viên, là nơi rất tốt để mọi người vui chơi thư giãn.

Tôi đã từng đến:
Công viên Tạp Kì.
Công viên Hoàng Kim.
Công viên Thác Nước.
Công viên hồ Sammamish.
Công viên hồ U Linh.
Và những công viên khác.
Nhưng tôi ấn tượng sâu sắc nhất là công viên Nhật Bản.
Những con đường cát và sỏi ở công viên Nhật Bản rất nổi bật so với những nơi khác.
(Nghe nói vào thời Nhật Bản cổ đại, để phòng ngừa thích khách, thành chủ cho làm những con đường rải sỏi và cát bên ngoài thành lũy, có người đến gần sẽ phát ra tiếng kêu lạo xạo, như vậy sẽ biết ngay là có người đang đến gần.)

Ngoài ra, những cây thông kiểu Nhật, loại thông thấp lùn với thế cây xòe tán tròn rộng được tạo hình vô cùng đặc biệt, dưới ánh mặt trời, trên nền cỏ xanh, chúng đứng sừng sững bên hồ sen, linh khí của chúng khiến cho ta cảm thấy tâm hồn rất thoải mái.

Còn nữa, những mái đình lợp ngói xanh đứng giữa những vòm xanh biếc của những cây hoa anh đào.
Còn có cả cây trúc. Ngoài trúc xanh ra thì còn có trúc vàng và trúc nâu, cho bạn thỏa sức ngắm đã con mắt.
Còn có những thác nước nhỏ với những khe suối nước chảy quanh co uốn lượn, những cây cầu nhỏ bắc qua suối. Ngoài những dòng chảy quanh co uốn lượn ra thì còn có những guồng nước nhỏ, những bánh xe ấy cứ chuyển động ùng ục ùng ục.
Còn có những khu vực sắp đặt cát và sỏi tượng trưng cho Thiền Tông Nhật Bản dạy bạn cách im lặng suy tư.
Cát --- tượng trưng cho biển.
Sỏi --- tượng trưng cho đảo.
(Thiền giả nhìn chăm chú vào cát và sỏi, nhập vào biển, nhập vào đảo, hình thành nên thế giới mộng tưởng.)
Cách tưởng tượng này đặc biệt chỉ thiền Nhật Bản mới có.

Trong công viên Nhật Bản, bạn giống như trở về Nhật Bản thời cổ đại, không giống như đang ở Mỹ.
Đến khi bạn bước ra ngoài thì:
Đường cao tốc.
Xe ô tô.
Cao ốc san sát.
Khi ấy bạn mới trở về thế giới hiện thực.

Bài thơ của tăng nhân Xứ Mặc thời Đường:
"Một bát và một gậy
Vượt qua bao sa mạc
Nhã tính tuy là khách
Thiền tâm chính là nhà
Vườn vén màn mây tuyết
Đường dẫn vào trong mây
Bao đất nước đi qua
Thì ra là chân trời."

(Bài thơ này tôi thay đổi mấy chữ để phù hợp với bản văn này.)

Bài thơ tôi viết như sau:
"Ý Phật từ Tây phương
Trong công viên đã thấy
Vang một tiếng chim kêu
Rừng thông thưa trơ cành
Nhàn nhã chơi cát sỏi
Một cơn gió bay qua
Khiến thiền giả tỉnh ngộ
Mọi huyền chỉ tương đồng."

(Bài thơ này đối lại bài thơ của Xứ Mặc.)


### 29. Thác nước ở Snoqualmie


Ở giữa Seattle Lôi Tạng Tự và Biệt thự Cầu Vồng, nếu như không đi đường cao tốc số 90 mà đi đường bình thường thì bạn sẽ gặp một thị trấn nhỏ, gọi là Snoqualmie.

Thị trấn nhỏ này nằm ở vùng núi, tôi trông thấy có khoảng trăm hộ gia đình, hoặc những ngôi nhà tranh nhỏ nằm rải rác trong rừng sâu. Những con đường ở đây địa hình không thể nói là cao và nguy hiểm, chỉ có thể nói là uốn lượn lên xuống thôi.

Nhưng ở đây có một thác nước rất nổi tiếng.
Rất nhiều người đến Seattle thường tìm đến những địa điểm tham quan như:
Các điểm du lịch trong ngày.
Thành phố dưới lòng đất.
Bến sông ngư dân.
Bơi thuyền vịt.
Đi xa một chút thì đến:
Núi tuyết Rainier.
Ngôi làng nước Đức.
v.v...

Nhưng xin đừng quên đến thác nước ở Snoqualmie!
Điều đặc biệt khi đến, hóa ra mới biết nơi đó là đầu thác nước.
Đầu tiên, lọt vào mắt bạn là dòng sông trong vắt. Rồi đến một vách núi cao nơi dòng nước đổ xuống. Bạn có thể đi đến trạm quan sát để ngắm thác nước.
Thác nước ấy
Trong vắt long lanh không tì vết
Trông như một tấm vải lụa trắng
Treo giữa không trung
Âm thanh ào ào vang vọng rung trời ấy
Như tiếng sấm vang trong hang trống
Bụi nước bay
Hoa nước bay
Giọt nước bay
Ở giữa ánh lên một dải cầu vồng.

Từ đài quan sát, bạn có thể trông thấy toàn bộ chuỗi cảnh sắc tuyệt vời, có thể nhìn thấy thác nước đổ xuống hồ nước thăm thẳm  bên dưới thung lũng, bạn có thể hít thấy hơi nước, sự ẩm ướt, chạm vào những giọt nước sương mù, và bạn có thể tận hưởng sự tươi mát trong lành.

Bất kể là bạn đến vào ngày đẹp trời, hay vào ngày mưa, xuân hạ thu đông, một năm ba trăm sáu mươi lăm ngày, bạn sẽ không bao giờ hối tiếc vì đã đến đây.
Thác nước luôn ở đó, phô bày vẻ đẹp để phục vụ bạn.
Ở nơi đó, mọi phiền não của bạn sẽ trôi đi theo dòng nước!

Viết một bài thơ vậy!
"Dù cho ngày hè nắng chói chang
Cảm giác mát rượi vẫn ào đến
Bụi nước mù sương
Không gian mát mẻ như ngày thu

Có thể trầm tư
Có thể ngẫm nghĩ
Có thể làm thơ
Đẹp tựa như khói bay phất phơ

Đến từ phía xa xăm
Đi về phía xa xăm
Một hành trình chẳng cách nào hiểu được
Nhân gian tựa dòng nước chảy chẳng có thời gian

Âm thanh chú ngữ vang rền
Còn vang vọng ầm ầm khắp mười phương
Rửa sạch
Rửa hết mọi nghiệp chướng
Hóa thành đệ nhất thần tiên bay đi."


### 30. Sư tỉ Thục Quân tặng hoa hồng


Ngày hôm đó.
Sư tỉ Thục Quân tặng tôi một bó hoa hồng. Thục Quân tặng hoa hồng màu đỏ, bông nở to, vẻ đẹp tràn trề tuổi trẻ.
Thục Quân nói:
"Hoa hồng này rất đặc biệt, có một người Tây nói ông ấy sống cả nửa đời người rồi, lần đầu tiên mới nhìn thấy loại hoa hồng này!"

Tôi nghe xong lấy làm ngạc nhiên, bèn ngắm chúng kĩ hơn thì mới thấy rõ ràng, thì ra ở giữa những bông hoa hồng này có xen lẫn những đường vân màu trắng, quả nhiên là vô cùng đặc biệt.
Tôi hỏi:
"Hoa này trồng như thế nào?"
Thục Quân nói:
"Phải ghép cành."
Người bên cạnh nói:
"Khoa học kĩ thuật hiện đại phát triển, màu sắc của hoa đều có thể phối hợp tùy ý."

Nói cũng đúng.
Có một lần, tôi tham quan triển lãm hoa, tôi thấy những bông hoa năm màu, bảy màu rất sặc sỡ. Một bông hoa không ngờ có tới năm màu sắc, chỉ nhìn chúng cũng khiến bạn hoa cả mắt.
Đúng là xem đã con mắt.
Trời ạ!
Thế giới này thay đổi rồi!
Hoa cũng thay đổi rồi!
Mọi màu sắc đều hiện ra trong một bông hoa, hoa này là hoa gì chứ?
Có người trả lời:
"Hoa trong hoa!"
Có người nói:
"Hoa mà chẳng phải hoa!"

🌟

Trước kia.
Tôi thường ngâm nga:
Hoa đào đỏ.
Hoa mận trắng.
Trên những bông hoa bao nhiêu chú ong nhỏ.
Vu vu vu, vu vu vu...
Bây giờ thì không chắc nữa rồi, không chừng sẽ là:
Hoa đào tím.
Hoa mận đen.
Điều này cũng rất có khả năng xảy ra.

Tóm lại, thế giới khoa học kĩ thuật hiện đại có tốc độ thay đổi khiến tôi thật sự cảm thán.
Dưa hấu trở thành dưa hấu hình vuông.
Dưa hấu trở thành dưa hấu không hạt.
Trong quả dưa hấu lại có nước mận.
Dưa hấu biến thành quả dâu tây khổng lồ.
Những việc này đều đang trong quá trình tiến hành, có việc đã thành công, có việc thì vẫn đang được thử nghiệm.
Nếu như có một ngày, một hạt gạo to như quả dưa hấu thì bạn cũng không cần phải ngạc nhiên đâu.
Bởi vì:
Khoa học kĩ thuật đã thay đổi mọi thứ!
Tôi nói mọi người nhé, nói không chừng, hoa có thể mang thai em bé, em bé sẽ sinh ra từ hoa!!!

Thơ:
"Một bó hoa hồng
Có thể thêm vào hoa sen
Khiến người ta
Muôn suy nghĩ

Chính là biến hóa vô thường
Để tình yêu giản đơn
Khiến người ta
Tâm sự vô cùng."


### 31. Thục Quân xuất gia


Từ một cư sĩ tại gia trở thành một tì kheo ni xuất gia, từ con người thế tục trở thành Thánh chúng xuất thế.
Đây là một con đường chuyển hướng rất lớn.
Cuối cùng, Thục Quân đã xuất gia rồi!
Tại một giới đàn sáng rực rỡ như ban ngày, khoác lên mình tấm áo cà sa của giới xuất gia, cô đứng vào hàng ngũ đi ra.
Tôi nói:
"Bây giờ, trước giới đàn, im lặng tuyệt đối, cô có sẵn lòng tuân thủ giới luật xuất gia, không phạm giới không?"
Thục Quân nói:
"Dạ có."
Tôi hỏi:
"Vì sao cô muốn xuất gia?"
Đáp:
"Hiểu được vô thường."
Tôi nói:
"Câu trả lời này không hẳn là trọn vẹn một trăm phần trăm, nhưng cũng đã rất gần rồi!"

🌟

Mọi người không cảm thấy sao!
Nhân gian rất có khả năng là những cơn đau nối tiếp, tất cả những đau đớn này ta đều phải chịu đựng. Một cơn sóng chưa yên, một cơn sóng nữa lại tới, vô tận không dừng.

Lấy bệnh nghiệp mà nói thì:
Con người tìm đến bác sĩ là vì muốn giảm bớt hoặc loại bỏ những đau đớn của bản thân, còn bác sĩ cũng cố hết khả năng để làm giảm nhẹ những đau đớn của bệnh tật.
Nhưng:
Nếu như kết quả ngược lại thì sao? Đau khổ càng tăng lên thì sao?
Vậy thì chỉ có thể:
Nhắm chặt đôi mắt.
Lầm rầm cầu nguyện.
Gửi đi ước vọng.
Chờ đợi đợi chờ.
Và sau đó, trên khuôn mặt, có thể nhìn thấy niềm đau xót đang được che giấu!
Đó chính là vô thường.

Tôi nói để mọi người biết:
"Vô thường có thể đến bất kì lúc nào, có sinh tất có tử, có khỏe mạnh tất có suy yếu, có hợp tất có tan..."

🌟

Nói đến hợp tan. Đó cũng là vô thường!
Tôi nói:
Thấy lá non
Tiếc hoa hồng
Ý vô cùng.
Sau đó lại trở thành:
Người đã xa
Lúc trăng tròn
Thư đã muộn.

Tôi nói:
"Vô thường có thể đến bất kì lúc nào, lòng người cũng biến hóa vô thường, do vậy, vui buồn hợp tan là chuyện bình thường, nhưng cũng là vô thường."

Đây chính là cuộc sống, nếu như nhìn rõ những điều này thì khuôn mặt xuất gia ấy của cô mới có thể rạng rỡ như một đóa hoa.

Thơ:
"Xin người ghi nhớ bông sen ấy
Những gì đã qua
Chỉ là làn khói mỏng

Tâm người thanh tịnh lại từ đầu
Bây giờ đây
Phật quốc chẳng hề xa
Sự trang nghiêm của người
Yến tiệc Tiên mở ra."


### 32. Hoài niệm mưa rào


Còn nhớ lúc tôi còn trẻ, hình như tôi từng đọc một cuốn tiểu thuyết có tiêu đề là "Tai họa bởi cơn mưa rào".
Tôi còn nhớ là như thế này:
Ở một trấn nhỏ có một ngân hàng.
Đột nhiên, buổi chiều đó nổi lên một trận gió to, ngay sau đó là một cơn mưa rào!

Mưa đến vừa to vừa nhanh. Những người đi đường vội vã tranh nhau chạy vào mái hiên của ngân hàng để trú mưa, rất nhốn nháo hỗn loạn.
Một người trung niên đội chiếc nón rộng vành đạp xe đạp đi qua, hỏi:
"Sao mọi người lại chen chúc ở trước cửa ngân hàng vậy?"
Có một người bà con trong số đó nói đùa:
"Ngân hàng sắp phá sản rồi! Chúng tôi phải đến để đổi tiền!"
Người đạp xe đạp bỏ đi.

Không lâu sau.
Những người dân trong vùng tất cả đều đổ xô đến ngân hàng, lần lượt rút hết tiền gửi trong ngân hàng.
Đám người càng ngày càng đông, tin tức càng truyền đi càng rộng. Nhân viên ngân hàng nói:
"Chúng tôi đâu có phá sản!" "Chúng tôi không sập!" "Chúng tôi thật sự không có phá sản đâu!"
Nhưng đám người không tin.
Kết quả là:
"Ngân hàng bị mọi người đua nhau rút tiền mặt, kết quả là sập thật!"

Tôi đọc đoạn tiểu thuyết này mà bật cười ha ha. Ở đây gợi lên rất nhiều điều đáng nói!
Tin đồn rất đáng sợ!
Chúng sinh mù quáng!
Người khôn thì chẳng có mấy người!
Nước có thể chở thuyền!
Nước có thể lật thuyền!

🌟

Khi còn trẻ, tôi sống ở Đài Loan, cứ mỗi khi cơn mưa rào buổi chiều kéo đến, tôi lại chạy mưa, để mưa đuổi theo sau lưng. Những hạt mưa to như hạt đậu, ở phía sau lộp độp lộp độp rơi xuống, tôi chạy trên đường, tới khi chạy không thắng được nữa, tôi nhanh chóng tấp vào trú dưới mái che, vừa tránh mưa, vừa nhìn mây đen trên bầu trời xem đã tan đi chưa!
Mưa rào.
Đến thật nhanh.
Đi thật nhanh.

Tôi nhớ đến một bài hát:
"Tí ta tí tách, ầm ầm ào ào, trời đổ mưa rồi!
Mẹ em đem ô đi đón em
Tí ta tí tách, ầm ầm ào ào, ào ào ào!
Cảnh mưa ấy, giống như bây giờ.
Nhưng, không còn nữa rồi!
Chà! Tôi rất nhớ những cơn mưa rào!"

Thơ:
"Bạn biết không
Trùng trùng lớp lớp những chuỗi ngọc ấy
Khiến bầu trời trong xanh nắng ráo
Trong chốc lát
Đã trở thành màn mưa mịt mù

Tôi từng chạy cho mưa đuổi theo
Mưa đuổi
Tôi chạy
Cảm xúc ấy... vô tận

Tôi nhớ những cơn mưa rào
Và cả
Dải cầu vồng sau mưa
Mưa à
Có khi thưa có khi dày."


### 33. Cô bé Trần Nghiên


Tôi đi vào nhà ăn ở Seattle Lôi Tạng Tự, có một đệ tử nữ đến từ Brunei mang theo một bé gái.
Bé gái này khoảng ba, bốn tuổi, trông rất xinh xắn, ngũ quan đoan chính, cười chúm chím ngọt ngào.
Người mẹ nói với con gái:
"Gọi đi! Gọi ông nội Sư Tôn đi!"
Cô bé ngẩng đầu lên nhìn tôi một lát rồi gọi ngọt như mật:
"Ông nội Sư Tôn!"
Tôi thấy cô bé xinh đẹp dễ thương, xoa xoa lên đầu cô bé, sự vui vẻ tỏa ra từ bên trong tâm hồn cô bé thật sự đẹp tuyệt vời không gì sánh bằng.

Sau bữa cơm.
Cô bé giơ ngón tay bé xíu ra, muốn tôi dắt đi loanh quanh, thế là tay nhỏ dắt tay lớn.
Đây chính là niềm hạnh phúc của cuộc sống.
Niềm hạnh phúc của cuộc sống khiến khuôn mặt mỗi người đều tươi như hoa nở.
Chúng tôi giống như là:
"Ông nội và cháu gái!"
Sau đó.
Cô bé muốn tôi bế!
Tôi bèn bế cô bé lên ngực, cô bé chu cái miệng bé xíu "chụt" lên má tôi một cái.
Tôi cũng "chụt" lên má cô bé.
Bé thơm tôi.
Tôi thơm bé.
Bé thơm tôi.
Tôi thơm bé.
...

Chà! Trời ơi!
Tôi thích đến chết mất!

🌟

Tôi hỏi:
"Con có biết hát không?"
Cô bé lặng im một lúc. Người mẹ ở bên cạnh nói:
"Nó có biết! Nhưng khi ở chỗ đông người thì nó lại xấu hổ." - Người mẹ cười chê cô bé.
Tôi nói:
"Không sao, vậy để ông hát."
Tôi hát:
Bài hát trẻ em Nhật Bản: "Cậu bé quả đào."
Bài hát trẻ em Đài Loan: "Nông trại của ông già Vương."
Và cả bài hát: "Ngày âm u."
Những người lớn và trẻ em xung quanh đều nghe tôi hát, tôi thật sự rất thích trẻ con, thích tâm hồn ngây thơ vô lo vô nghĩ của chúng. Trong thoáng chốc, tôi đã biến thành trẻ con rồi!

Thơ:
Ngẫm lại bản thân
Năm xưa còn là con trẻ
Thời gian ơi
Làm thế nào cũng chẳng thể giữ được

Giờ đây
Tôi yêu trẻ nhỏ
Cũng xem như
Là cách trở về tuổi thơ

Chẳng ai có thể
Dừng chân
Chẳng ai có thể
Quay ngược đồng hồ
Sau này nếu có chuyển thế
Cũng chẳng biết sẽ đến nơi nào.


### 34. 14 năm quân ngũ


Tôi là quân nhân.
Tôi từng công tác trong quân đội suốt 14 năm. Sau khi tôi hoàn thành mười năm phục vụ thì tôi giải ngũ với quân hàm thiếu tá.
Bởi vì:
Sau khi tôi tốt nghiệp trung học, do gia cảnh khó khăn, cha mẹ tôi nói:
"Con chỉ có thể thi vào hai trường, hai trường học này là miễn phí. Một là Đại học Sư phạm, một là Học viện Quân đội."
Thế nên:
Tôi mới thật sự là một đứa trẻ "từ chối thi tuyển"
Tôi thi đỗ vào Học viện Quân đội. Gia nhập năm trung tâm huấn luyện. Tôi học trường Quân đội bốn năm.
Tôi phục vụ tại liên đoàn trắc lượng số 5802 và nhà máy vẽ bản đồ. Tôi từng bước leo lên các chức vụ từ thiếu úy, trung úy, thượng úy, thiếu tá.
Tôi từ một nhân viên đo đạc trở thành kĩ sư đo đạc công trình.

Điều tôi phải cảm ơn là:
Trong quân đội, tôi đã nhận được sự huấn luyện nghiêm khắc nhất trong quân đội, giúp tôi rèn luyện thân thể và tinh thần.
Rèn luyện cách dùng khí giới.
Rèn luyện giữa làm việc và nghỉ ngơi.
Tôi đã thực sự trở thành một quân nhân hùng tráng, uy vũ, có trách nhiệm, biết phục tùng.
Điều quan trọng nhất là:
"Đúng giờ."
"Đúng luật."
"Quy củ."
Bởi vậy, đến hôm nay, tôi vẫn xem mình là một quân nhân, tôi nói: "Tôi là một quân nhân!"
Bởi vì trong xã hội này đầy rẫy những kẻ "thối nát".
Nhưng,
Tôi là quân nhân.

🌟

14 năm trong quân đội, tôi biết sử dụng các loại súng ống, cũng học về súng lục, bắn lựu đạn, đại bác, súng cao xạ, súng hỏa tiễn,...
Quan trọng hơn nữa là kĩ thuật đo đạc.
Ngoài ra, thứ mà trên tay tôi luôn cầm vẫn là một cây bút.
Tôi từng là chủ biên của các tờ:
"Cao Thanh Văn Túy" [ ND: Tinh hoa Văn học Thanh niên Cao Hùng, chuyên san đặc biệt của toàn đoàn thanh niên cứu quốc Cao Hùng. ]
"Thanh Niên Hùng Công" [ ND: Tập san của Thanh niên Trung học Công nghiệp Cao Hùng. ]
"Văn Nghệ Trắc Lượng"

Những sáng tác của tôi từ hồi trung học đến nay, các tác phẩm được đăng tại các tờ báo lớn của toàn tỉnh và trong quân đội, như Báo Can Thành, Báo Phi Đà, Nhật Báo Thanh Niên...
Tôi đã từng đạt được vô số giải thưởng, ví dụ: Giải vàng văn nghệ quân đội toàn quốc.
Tôi là quân nhân.
Và cũng là văn nhân.

Viết một bài thơ vậy!
"Tôi biết võ
Tôi biết văn
Đây là ý nguyện lớn của bao nhiêu thế nhân

Thời gian như bữa tiệc
Cho dù thiên hà vận chuyển thế nào
Thì hồi ức cũng là vô tận

Mặt trời đã ngả về tây
Cây tùng đã già
Văn chương đã cũ
Rượu chúc thọ khẽ nhấm
Trong những đám mây bay khi dày khi thưa
Xin dâng lên những suy niệm chúc phúc của tôi."


### 35. Ai nhuộm vàng lá cây


Mùa thu đã đến rồi.
Vài cơn gió, vài cơn mưa, sau đó là mặt trời lộ diện, thúc giục lá cây mau ngả vàng. Một vài lá cây lìa khỏi cành, bay bay theo gió, rơi trên sân thượng và sân nhà.
Ai đã nhuộm vàng lá cây?
Là gió?
Là mưa?
Là thời gian?
Là thời tiết?

Cây cối ở Nam Sơn Nhã Xá rất nhiều, một số là cây xanh quanh năm, một số là cây phong lá đỏ, một số là cây tùng già, một số là cây lá vàng, lá ngả vàng vào mùa thu.
Lá bay điên cuồng.
Lá rơi tán loạn.
Lá hóa đất bùn.

Tôi biết một năm qua nhanh vô cùng, ở Seattle, xuân hạ thu đông bốn mùa rõ rệt. Điều này rất giống cuộc đời của con người, từ khi là thiếu nữ, thiếu phụ, phụ nữ trung niên, rồi thành bà lão.
Đến mùa lá vàng bay thì cũng là lúc tuổi già đã đến.

🌟

Nhà tôi ở Nam Sơn Nhã Xá, bên ngoài cửa lớn có một cây xanh tạo bóng râm, là một cái cây to cành lá xum xuê.
Nhưng đến mùa thu, lá rụng đầy mặt đất. Đến mùa đông thì chỉ còn trơ những cành khẳng khiu.
Vào những ngày lá rụng.
Tôi ra quét.
Nhưng đến hôm sau.
Lá lại phủ đầy mặt đất.
Tôi lại quét.
Lá lại rụng đầy.
Tôi lại quét ba lần, bốn lần, năm lần, sáu lần...
Tôi hỏi mọi người:
"Rốt cục thì có cần phải quét không? Rốt cục có cần phải quét không đây?"
Trời ạ!
Tôi ngày ngày quét, lá ngày ngày rơi. Cần phải quét cả mùa thu hay sao? Không quét có được không?
Lá vàng không quét sẽ chất thành đống cao, giống như một mô đất vậy, hàng xóm sẽ nhìn tôi bằng đôi mắt rất kinh ngạc.
Thử hỏi:
"Nếu là bạn, bạn sẽ làm sao?"

Thơ:
Tiết trời bỗng dưng mát mẻ
Mưa lất phất trên phiến lá ngô đồng
Gió cuồn cuộn
Và thế là
Lá rụng đầy mặt đất

Lá lìa cành
Kể từ đây
Sau khi rơi xuống là vĩnh viễn chia xa
Nghĩ mà xem
Có khác chi một vở kịch

Tôi quét
Tôi lại quét
Ngày ngày quét
Rốt cục có ý nghĩa gì
Đời người
Cũng là như thế
Chẳng khác gì diễn nghìn vở kịch như một.


### 36. Một chuỗi dạ minh châu


Không biết là ai đã tặng cho tôi một chiếc hộp gỗ rất tinh xảo, tôi mở ra xem, không ngờ bên trong có một chuỗi tràng hạt bằng đá. Đá có màu xanh lục nhạt, hơi có vằn, nhìn bề ngoài không thấy đẹp.

Tôi đậy chiếc hộp lại. Khi vừa định đóng hộp lại thì tôi nhìn thấy một tia sáng màu xanh thẫm ánh lên, tôi lại mở ra xem. Vẫn là chuỗi hạt bằng đá đó.
Tôi bỗng có một linh cảm, đem chuỗi hạt vào phòng thay quần áo, không bật đèn.
Ấy!
Mỗi một viên đá đều tỏa ra ánh sáng màu xanh thẫm, giống như mắt mèo, lại cũng giống như những bông hoa sao ken dày. Tôi cứ ngắm mãi không thôi, tôi đã bị vẻ đẹp quyến rũ của nó hút hồn rồi.

Thì ra đây là một chuỗi dạ minh châu.
Tôi không chỉ có dạ minh châu, cũng có cả "dạ minh thạch". Những viên đá dạ quang này nhìn như đá bình thường, không có gì khác biệt cả. Nhưng soi dưới ánh đèn, hoặc ánh mặt trời, hoặc để ở chỗ tối, thì nó sẽ tỏa ra ánh sáng.
Tôi không phải là một nhà sưu tầm. Vì vậy, tôi căn bản không biết giá trị của ngọc dạ quang và đá dạ quang này như thế nào.

Tôi biết:
Chuyện phóng quang thì cũng là bình thường thôi.
Rất nhiều động vật, loài bay trong không trung, loài bò trên mặt đất, loài bơi trong nước, đều có thể phát quang.
Còn có cả:
Thực vật.
Khoáng vật.
Đều có thể phát quang.

Ngoài ra:
Đại tu hành giả, ví dụ Cực Hỉ Kim Cang, Diệu Cát Tường Hữu, Sư Lợi Tinh Ha, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ... Khi họ nhập niết bàn thì họ đều hóa thân thành ánh sáng cầu vồng tan biến vào chân trời.
Đại tu hành giả có thể khiến thân thể, đầu, tay, chân, tim, gan, lá lách, phổi, thận, xương, thịt, lông tóc... đều chuyển hóa thành ánh sáng. Hóa thành cầu vồng mà đi!
Sự hóa thân cầu vồng này thật sự là vô cùng tuyệt vời. Trong pháp Đại Viên Mãn, sự thành tựu chí cao này có thể nói là: "Tức thân thành Phật".
Đó mới là điều vĩ đại nhất!

Tôi bỗng cảm thấy, dạ minh châu, dạ minh thạch chỉ tỏa ra ánh sáng yếu ớt. Giá trị này so với thân hóa cầu vồng, về cơ bản là không thể nào sánh bằng.

Thơ:
"Viên đá phóng quang
Phải ở nơi u tối mới thấy
Một chút năng lượng này
Cũng có thể xem như là điểm
Khiến người ta bị hút hồn.

Tu hành Mật giáo
Chuyết hỏa là ánh sáng
Minh điểm là ánh sáng
Khí cũng là ánh sáng
Ở trong tam ma địa

Tu sĩ ngày xưa
Khiến người ta hướng về
Thân thể hóa thành ánh sáng
Thành cầu vồng cứ thế bay đi
Trời cao đất rộng chẳng ngăn được
Lộ trình xa xăm."


### 37. Đứng sừng sững trước phỉ báng


Cuộc đời này của tôi.
Xung quanh đều là phỉ báng.
Bắt đầu từ lúc tôi còn trẻ, từ khi tôi viết cuốn "Mạn đàm linh cơ thần toán", kể từ khi thanh danh bắt đầu vang dội.
Trên thị trường xuất hiện những cuốn sách:
"Yêu ngôn hoặc chúng".
"Yêu ma quỷ quái".
Hai cuốn sách chửi bới tôi.

Ngoài ra, còn có rất nhiều rất nhiều sách, và báo chí, tạp chí tạo nên tình thế vây quét tôi.
Khi ấy, tôi còn trẻ người non dạ, tràn trề nhiệt huyết, một mình đương đầu với đám đông, tự nhiên sẽ xuất hiện kiểu như "anh cứ đến đây tôi xin tiếp".
Những khó khăn về sau này, nếu như không phải là chính bản thân tôi trải qua thì thật sự vô cùng khó tưởng tượng.

Tôi có thể nói như thế này:
Tôi đã bị chúng sinh bài trừ, im hơi lặng tiếng sống như những sinh vật nhỏ bé sống nhờ vào những khe hở bên cạnh rãnh nước.
Thứ duy nhất tôi giữ được là: Sự ngoan cường.

🌟

Sau này, tôi nhiều tuổi hơn.
Biết nhẫn nhục.
Cuối cùng tôi khai ngộ.
Tôi bắt đầu xem những thứ phỉ báng công kích tôi như thức ăn.
Cho đến cuối cùng thì, phỉ báng trở thành chẳng có gì cả.
Hiện tại, tôi vẫn cứ sinh tồn, vẫn cứ nỗ lực tu hành, bất kì phỉ báng gì đều không sợ!

Bởi vì thế này:
Tôi đã trở thành những ngôi sao.
Tôi đã trở thành mây trôi
Tôi đã trở thành núi.
Tôi đã trở thành mặt đất.
Tôi đã trở thành biển.
Sau cùng, tôi chẳng là cái gì cả, tôi đã trở thành tấm lưới biến hóa huyền ảo, tôi đã thành tựu "vô ngã" rồi.
Và vì đã "vô ngã", phỉ báng sao có thể làm hại?

Vì thế:
Điều này đã trở thành: "Sự sừng sững vĩnh hằng!"
Quá trình này là duy mĩ, duy thiện, tỏa ánh hào quang.

Viết một bài thơ vậy!
"Thời gian trôi đi như dòng điện
Người như chim yến
Bay đi là hết
Đời người có hạn
Nhưng
Ánh sáng vô hạn
Ở đây
Chẳng oán hận
Chẳng còn phỉ báng vốn có trước đây
Hiểu ra rồi
Thấy cũng như không thấy

Tôi chỉ đến tham gia bữa tiệc
Người tan rồi
Cũng chẳng còn gì nữa
Bạn, tôi hay người khác
Âm thanh đã xa hãy còn ngoảnh mặt."


### 38. Văn chương tâm tình


Ngày xưa.
Có một cô bạn gái nói với tôi thế này:
"Chúng ta đã là tri kỉ, có thể thổ lộ tâm tình với nhau, anh hãy viết cho em một bài văn tâm tình đi."
Tôi gật gật đầu.
Tôi còn nhớ, cô bạn gái nói:
"Rất lâu trước đây, khi anh đến, có người kêu em ra rót trà cho anh, lần đầu trông thấy anh, trái tim em đã trao cho anh rồi."
Cô bạn gái nói:
"Sau này, chúng ta qua lại với nhau có rất nhiều cảm xúc, giống như thơ vậy, cũng giống như mộng, em đã coi anh là người tri kỉ mãi mãi, là người tâm giao nhất trên đời này."
Tôi hỏi:
"Thế nào là tâm giao?"
Cô bạn gái nói:
"Tâm với tâm tương ấn, hòa hợp với nhau, anh chính là em, em chính là anh, hai người không phân biệt, chính là tâm giao."
Tôi lại một lần nữa gật gật đầu.

🌟

Tôi biết rất rõ rằng tôi cần viết một bài văn tâm tình tặng cho cô ấy, đó là một nhiệm vụ tương đối khó khăn, tôi nhất định cần phải viết thật hay, vừa chân thật, vừa hay vừa đẹp, phải viết ra được tấm chân tình để hai người đạt đến sự nhất tâm.
Khi tôi cầm bút lên thì tôi bỗng khựng lại!
Viết theo cách trẻ con?
Viết theo cách tuổi trẻ?
Viết theo cách tuyên thệ?
Viết theo cách mơ mộng?
Viết theo cách nồng nhiệt?
...

Bỗng dưng tôi chẳng có cách nào đặt bút viết, trong lòng đã quyết định rồi, nhưng cảm hứng lại thay đổi tới lui, chẳng có cách nào thật sự hạ bút thành văn được.

Những lý do để tôi bao biện cho bản thân mình là:
Tôi phải viết thật hoàn hảo.
Tôi phải viết thật chân thật.
Tôi phải hạ quyết tâm.
Tôi phải cam đoan cả đời này kiếp này.
Tôi phải hoàn chỉnh.
Tôi phải triệt để.
Tôi không thể viết như thật nhưng lại là giả.
Vì những lí do này mà tôi cứ lần lữa, không có cách nào đưa cho bạn gái bức văn chương tâm tình được.

Đặc biệt là tôi cảm thấy:
Chư hành vô thường.
Thế giới đang thay đổi, thời tiết đang thay đổi, núi sông đại địa đang thay đổi, quốc gia đang thay đổi, xã hội đang thay đổi, gia đình đang thay đổi, cuộc sống đang thay đổi, con người đang thay đổi, tâm đang thay đổi.
Tâm giống như người họa sĩ, tâm rất dễ thay đổi.
Và thế là, văn chương tâm tình của tôi chẳng thể nào viết xong.
Còn hoàn cảnh thì đã thay đổi rồi.
Bây giờ, tôi còn cần phải viết văn chương tâm tình nữa không? Bởi vì tôi cảm thấy khoảng cách dường như đã xa rồi, chẳng phải thế sao?

Thơ:
"Biển xanh thì rất sâu
Ngọc đài thì xa lắm
Muốn cả hai cùng bay
Tình chẳng thể nông cạn

Đành viết nỗi biệt li
Gửi đi cánh thư hồng
Tỉnh giấc mộng thu rồi
Khắp vườn ngập nắng mai."


### 39. Hồ Sammamish


Tôi sống tại bang Washington nước Mỹ, đã từng hai lần sống ven hồ, một là hồ Sammamish, hai là hồ Phantom.
Vì hồ Sammamish mà tôi đã viết cuốn sách "Ngày đặc biệt bên hồ".
Vì hồ Phantom mà tôi đã viết cuốn sách "Đêm ở hồ U Linh".
Tôi cũng từng bơi trên hồ Sammamish.

Hồ U Linh thì chưa từng bơi.
Hình như tôi từng nghe qua một bài hát rằng:
"Chảy mau đi, chảy mau đi
Hãy nhìn những dòng suối tuôn ra từ trong núi, tuôn ra từ trong núi
Tôi muốn giữ lại, tôi muốn giữ lại
Nhưng nó chẳng quay đầu, nó chẳng quay đầu.
..."

Ở đây tôi muốn nói một điều là: hồ Sammamish là hồ có dòng chảy ngầm. Vẻ bề ngoài thì trông rất bình tịnh. Nhưng một khi xuống nước thì bạn sẽ biết ngay, nước ở đáy hồ chảy rất nhanh, chảy rất nhanh.
Năm 1985, tôi đến hồ Sammamish.
Năm 2015, tôi vẫn ở hồ Sammamish.
Đã 30 năm rồi!
Đã 30 năm rồi!
Thử hỏi: Đời người có được mấy lần ba mươi năm?

🌟

Hồ nước này.
Vào hai mùa xuân hạ vô cùng náo nhiệt, những dòng xe đông đúc, dòng người tấp nập. Ven hồ tập trung nhiều người đến chơi nước, người nằm phơi nắng, người phương Tây rất thích chơi nước và phơi nắng.
Đến mùa thu và mùa đông thì ở đây rất tĩnh lặng, chẳng thấy có bóng người, lạnh lẽo thê lương, mưa dầm âm u.
Ở đây hiện lên hai thái cực!
Còn tôi thì:
Muôn hoa rực rỡ, có bầu không khí náo nhiệt.
Vắng vẻ thê lương, có vẻ đẹp đầy chất thơ.

Tôi còn nhớ hai bài thơ:
"Lá sen hoa sen mọc chen chúc
Xanh non đỏ hồng tựa vào nhau
Đêm qua trong hồ mưa lất phất
Uyên ương cùng tắm sóng lăn tăn."

Và:

"Nước xanh vời vợi trời thăm thẳm
Niên thiếu bao lâu kiếp phù du
Ba mươi năm qua như chớp mắt
Vạn sự nhân gian khi nào dừng."

Tôi đứng trước hồ Sammamish quan sát rất lâu, trong lòng dâng lên niềm xúc động vô hạn!

Viết một bài thơ vậy!
"Xin chào
Xin chào
Đây hồ Sammamish
Ngày ngày vui

Hồ còn đó
Sóng xa xăm
Thời gian chỉ biết
Hối thúc người ta già

Ngắm một hồi
Giảm một tuổi
Năm tháng đã qua
Ai hay biết
Cần tinh tấn
Sinh tử mau chóng chấm dứt thôi."


### 40. A! Sao băng


Tôi còn nhớ, Không Hải Đại Sư, người sáng lập Chân Ngôn Tông của Đông mật Nhật Bản, từng ba lần nhìn thấy sao băng.
Lần thứ nhất:
Không Hải đang ở trong hang động tu "Hư Không Tạng Bồ Tát cầu văn trì pháp" thì nhìn thấy một ngôi sao băng lóe lên trong bầu trời đêm. Sao băng lao vụt đến trước mặt mình. Không Hải Đại Sư há to miệng để nuốt lấy ánh sáng của sao băng.
Từ đó, Chân Ngôn Tông ở Nhật Bản phát triển hưng thịnh dị thường.

Lần thứ hai:
Không Hải Đại Sư ở đạo tràng của mình nhìn lên bầu trời chi chít sao. Bỗng nhiên, một ngôi sao băng rất lớn kéo theo một vệt đuôi dài bay về hướng đông bắc. Rồi sau đó nó biến mất.
Không Hải Đại Sư thở dài một hơi:
"Ôi! Một ngôi sao trí huệ đã tắt ngấm rồi!"
Ngôi sao trí huệ này là chỉ vị đại sư truyền giáo đến học tập Mật giáo tại núi Thiên Thai. Vị đại sư truyền giáo này quả nhiên đã viên tịch rồi!

Lần thứ ba:
Không Hải Đại Sư tuổi tác đã cao.
Ông đi bộ một mình trong rừng, trông thấy một ngôi sao băng lóe sáng, bay về phía tây. Ông lại thốt lên một tiếng:
"A! Sao băng."
Không Hải Đại Sư lẩm bẩm một mình:
"Ta sắp đến một nơi rất xa, đi du lịch, đời người chính là du lịch mà!"
Thế rồi, Không Hải Đại Sư đã viên tịch.

🌟

Đêm 16 tháng 10 năm 2015. Tôi ngồi bên cạnh bể phun nước ở Nam Sơn Nhã Xá, nhìn lên bầu trời sao.
"A! Sao băng."
Ngôi sao bay về phía đông, sáng rực rỡ.
Đã rất lâu rồi tôi chưa thấy sao băng, lần này nhìn thấy, tôi cảm thấy vô cùng hiếm có.
Có người hỏi:
"Sao băng này tượng trưng cho điều gì? Là sự hưng thịnh của Chân Phật Tông sao?"
Tôi đáp:
"Tôi không biết!"
Người hỏi:
"Là một vị đại sư nào đó sắp từ trần sao?"
Tôi đáp:
"Tôi không biết!"
Người hỏi:
"Là tuổi thọ của ngài đã hết sao?"
Tôi đáp:
"Tôi không biết!"
Có ai có thể biết đây? Tôi đây không biết, vậy mới là thực biết. Các đệ tử có biết hay không?

Thơ:
"Trên con đường của cuộc đời
Tôi còn có thể đi được mấy bước
Cho dù có thể giống như mặt trời hay sao Kim
Cũng chẳng sáng bằng tâm quang phát lộ

Mời bạn nhìn thử con đường lên trời ấy
Đã đến đoạn cuối cùng
Chẳng có gì gọi là nuối tiếc
Xứ Thiên Hà Thắng Cảnh ấy
Tôi đi đến đó ở lại vĩnh hằng."


### 41. Chuyện Phật Nhiên Đăng thọ kí


Có người muốn tôi kể câu chuyện Phật Nhiên Đăng thọ kí cho Phật Thích Ca Mâu Ni.
Tôi cho rằng câu chuyện này rất đẹp, rất thiện, còn có cả một đoạn nhân duyên, bởi vậy tôi xin thuật lại như sau:

Vào thời Ấn Độ cổ đại có một chàng trai trẻ khôi ngô tuấn tú vô song, tên gọi là Thiện Huệ.
Chàng trai rất thông minh, quyết chí học theo Phạn học.
Chàng trai bố thí toàn bộ tài sản.
Từ bỏ mọi dục vọng thế tục.
Đi vào núi tuyết tu hành.
Đã chứng đắc năm loại thần thông và định lực, được gọi là Thiện Huệ Đồng Tử.

Có một hôm.
Phật Nhiên Đăng đem theo các vị đại A La Hán đến thành Hỉ Lạc thuyết pháp. Bách tính ở thành Hỉ Lạc chào đón các vị đại thành tựu giả.
Đường xá bằng phẳng và sạch sẽ.
Rải cát mịn bằng vàng bạc.
Vẩy nước hoa lên mặt đất.
Trên đường treo đầy cờ phướn bảo tràng.
Quốc Vương ra lệnh toàn bộ hoa tươi của đất nước đều phải đem đến cho Quốc Vương, không được mua bán. Số hoa tươi này dùng để cúng dường Phật Nhiên Đăng.

🌟

Thiện Huệ Đồng Tử đã đến thành Hỉ Lạc, nhưng không tìm được hoa cúng Phật. Lúc này, có một cô gái đang rửa lọ bên cạnh giếng nước, trong lọ có bảy bông hoa sen màu xanh rất đẹp. Thiện Huệ muốn mua hoa sen xanh. Cô gái không bán, bảo rằng cô muốn để dành cho mình cúng Phật, nên mới lén giấu đi. Hai người thương thảo với nhau một lúc. Vì Thiện Huệ quá đẹp trai nên cô gái đã rung động. Cô gái nói:
"Năm bông hoa sen này đưa cho chàng cúng Phật, hai bông hoa để dành cho thiếp cúng Phật, sau này chàng chắc chắn thành Phật. Nhưng khi còn chưa thành Phật, chàng phải lấy thiếp làm vợ."
Thiện Huệ nói:
"Trước khi thành Phật, nàng không được cản trở ta xuất gia tu hành, thì ta sẽ cưới nàng làm vợ."
Sau này, Thiện Huệ thành Phật. Vợ của ngài là Da Du Đà La, là Vương tử phi.
Câu chuyện này cũng là nhân duyên!

🌟

Phật Nhiên Đăng vào thành, tín chúng dùng vải quý để trải lên mặt đất để Phật Nhiên Đăng đi qua, còn Thiện Huệ thì không có vải quý, nên đã dùng tóc của mình để trải lên mặt đất, đồng thời dâng lên bảy đóa hoa sen. Phật Nhiên Đăng vô cùng hoan hỉ, bảy đóa hoa sen xanh, có năm đóa hoa hóa thành liên hoa tọa. Phật Nhiên Đăng ngồi lên đó, còn hai đóa hoa còn lại thì ở hai bên.
Phật Nhiên Đăng nói:
"Tương lai, con chắc chắn thành Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Còn hai đóa hoa sen kia là người vợ trong tương lai của con tặng, hiệu của người ấy là Da Du Đà La."
Đây chính là câu chuyện Phật Nhiên Đăng thọ kí.

Thơ:
"Vừa là thiện hạnh
Vừa là huệ quang
Đồng tử anh tuấn và thanh tú
Trưởng thành rất khác người thường

Muốn cúng Phật Nhiên Đăng
Tâm cần phải thành kính
Hoa sen hóa pháp đài
Lấy tóc phủ mặt đất
Thọ kí đời tương lai
Thọ kí danh hiệu Phật
Một người là Phật Đà
Một người là Minh phi
Nhân duyên xuyên suốt không chướng ngại."

(Bài thơ này để tưởng nhớ câu chuyện Phật Nhiên Đăng thọ kí, tưởng nhớ Da Du Đà La thành minh phi.)


### 42. Hai vị Lama già


Ngày 17 tháng 10 năm 2015 (thứ bảy) là buổi đồng tu Chuẩn Đề Phật Mẫu vào lúc 8 giờ tối.
Có hai vị Lama già đứng dậy tự giới thiệu bản thân. Điều khiến tôi đặc biệt chú ý là hai người họ là người da trắng, mặc y phục Lama, tóc dường như đã bạc hết, nhưng họ lại tỏ thái độ vô cùng khiêm nhường và cung kính.

Tôi thầm đoán:
Họ là đệ tử của Karmapa chăng? Là Gongpa, là Qiyang?
Là đệ tử của Kata Rinpoche chăng?
Là đệ tử của Kalu Rinpoche chăng?
Hay là...?
Bởi vì trên khuôn mặt thiện lành của hai người họ luôn bộc lộ nét tươi cười mà hành giả đặc biệt có. Tôi dường như có thể thấy được ánh hào quang của mặt trăng trong tâm họ.

🌟

Buổi tối hôm ấy.
Dường như tôi rất bận rộn.
Tôi bận thuyết pháp. Tôi giảng giải về những lời kệ của Phật Thích Ca Mâu Ni, giảng về "diệt dĩ" và "thế gian nhất thiết trí".
Cuối cùng tôi nói về: Bồ đề.
Sau khi thuyết pháp xong, tôi lần lượt sờ đầu gia trì cho các đệ tử. Tôi cũng sờ đầu gia trì hai vị Lama da trắng. Dường như họ có lời muốn nói với tôi. Tôi cũng có điều muốn hỏi họ.
Nhưng, cả đám đông các đệ tử tiền hô hậu ủng đã bủa vây lấy tôi, căn bản là tôi không có thời gian để nói chuyện cùng họ.
Tôi muốn nói với họ rằng:
"Ngày mai, Biệt thự Cầu Vồng có pháp hội Hộ Ma, hoan nghênh hai vị đến tham gia!"
Nhưng, ngay cả cơ hội để tôi mở miệng cũng không có.
Ngày chủ nhật.
Tôi đã không còn trông thấy hai vị Lama già tại buổi Hộ Ma ở Biệt thự Cầu Vồng nữa. Trong lòng tôi có đôi chút tiếc nuối.

🌟

Tôi hỏi pháp sư:
"Có biết họ là ai không?"
Đáp:
"Dạ không biết!"
Tôi hỏi cư sĩ:
"Có biết họ là ai không?"
Đáp:
"Dạ không biết!"
Tôi hỏi Thượng sư:
"Có biết họ là ai không?"
Đáp:
"Dạ không biết!"
Trời ơi!
Đây chính là phong cách làm việc của Chân Phật Tông sao:
"Ai đến thì cứ việc đến, ai đi thì cứ việc đi."
Một chút niềm vui của tôi đã không còn nữa rồi!

Thơ:
"Rất hiếm khi có người khách lạ
Người tiếp khách phải tìm đâu ra
Chùa chiền mà tiếp khách như vậy
Thử hỏi xem có được hay chưa?

Tôi cũng đã già rồi
Nếu có chân tu sĩ
Tùy họ đến
Tùy họ đi
Duyên phận vì thế mà thu nhỏ lại
Luôn cảm thấy Tây Thành thật tiêu điều."


### 43. Nhà gỗ nhỏ trên đỉnh núi


Tôi từng đưa khách đi tham quan Biệt thự Cầu Vồng. Đi xem Kì Sơn, Cổ Sơn, Nhất Tự Án Sơn, Bình Phong Sơn, Thiên Mã Sơn, Ấn Sơn, Quý Nhân Sơn, Sa Mạo Sơn… ở bốn phía xung quanh.
Thăm Hộ Ma Bảo Điện.
Thăm Đại Điện.
Thăm Kim Cang Minh Vương Điện.
Xem những tín vật của Tổ Sư.
Xem phòng tranh.
Xem năm căn phòng nhỏ biệt lập dùng cho việc bế quan.

Khách ca ngợi rằng:
"Biệt thự Cầu Vồng thật sự quá đẹp, đình, đài, lầu, các, hoa, cỏ, cây, gỗ, thật là một trang viên tuyệt đẹp."
Tôi hỏi:
"Ấn tượng sâu sắc nhất là gì?"
Khách đáp:
"Những căn phòng biệt lập."
Tôi hỏi:
"Tại sao vậy?"
Khách đáp:
"Vuông vắn, xinh xắn, một cửa sổ nhỏ, một cửa ra vào nhỏ, năm màu sắc trắng, vàng, đỏ, lục, lam, trong rừng cây phía sau còn có hai bình địa nhỏ, thật sự là một cảm giác tách biệt khỏi thế giới."
Tôi cười:
"Trên đỉnh núi của Biệt thự Cầu Vồng còn có một gian nhà gỗ thô sơ, nơi đó mới là cảm giác tách biệt tuyệt đối khỏi thế gian đó!"

🌟

Trên đỉnh núi ở khu biệt thự thật sự là có một gian nhà gỗ nhỏ. Đó là nơi cắm trại của hướng đạo sinh, nhà do họ dựng lên, dùng những cây gỗ tròn để chống. Gian nhà gỗ cũng có một cái cửa sổ nhỏ nhìn ra ngoài trời, có một cánh cửa ra vào. Mái nhà dùng những phiến gỗ và đóng đinh mà thành. Bên trong nhà thì trống huơ trống hoác.

Trong căn nhà gỗ nhỏ đó đầy ắp tiếng chim hót ve kêu, những cây cổ thụ xung quanh cao ngút trời, nhìn ra bên ngoài là những rặng núi nhấp nhô, tầm nhìn bao la bát ngát, chỉ là không nhìn thấy bóng dáng con người thôi.

Sáng sớm ở nơi sơn cốc có hàng vạn tia sáng rực rỡ. Từ cửa sổ nhỏ của căn nhà có thể nhìn thấy trời xanh mây trắng. Chim kêu bướm lượn.
Ôi cái bầu không khí khoan khoái trong lành ấy!
Ở nơi đó, có một cảm giác may mắn, vui thích, bình an, tôi cảm thấy những tục khí đều tan biến hết.
Đã rất lâu rồi tôi chưa leo lên đỉnh núi Sa Mạo Sơn. Ngôi nhà gỗ nhỏ còn ở đó không?
Tôi rất nhớ nó!

Thơ:
"Bước vào nhà gỗ nhỏ
Là một cảm giác
Thuần tịnh

Rũ bỏ hết bụi trần
Phiền não quẳng xuống núi
Trần trụi hết

Trời xanh mây trắng
Ríu rít tiếng chim
Nếu còn tâm sự
Bày tỏ cùng ai

Chỉ có ngồi thiền
Nhập tam ma địa trong tích tắc
Thật khiến người ta ước ao."


### 44. Cầu nguyện Bổn tôn


Đây là lời cầu nguyện tha thiết nhất của tôi.

Thứ nhất, mong tôi vĩnh viễn cùng Bổn tôn hợp nhất, là thân tâm hợp nhất, không có sự phân biệt nào.
Thân thể của tôi cũng tức là Bổn tôn.
Khẩu của tôi tức là khẩu của Bổn tôn.
Ý niệm của tôi tức là ý niệm của Bổn tôn.
Thân khẩu ý đều thanh tịnh.
Vào ban ngày.
Vào ban đêm.
Trong cuộc sống.
Trong những lúc đi đứng ngồi nằm.

Thứ hai, mong tôi có thể làm "sự nghiệp Yết Ma", từng giờ từng phút tôi đều có thể giúp đỡ tất cả chúng sinh.
Tăng trưởng trí huệ.
Tăng trưởng phúc phần.
Tăng trưởng tu hành.
Tăng trưởng quang minh.
Tăng trưởng quả vị.
Mong không tai nạn, không điều bất trắc, không tai vạ bất ngờ, không bệnh tật, không kiếp nạn, không chướng ngại.
Mong tiêu diệt hắc nghiệp.
Mong tăng trưởng thiện nghiệp.
Mong người người được kính ái, từ gia đình cho đến xã hội, từ xã hội cho đến quốc gia, từ quốc gia cho đến thế giới.
Sự kính ái này là viên mãn, là bình đẳng, không phân biệt.
Không có người ghen ghét.
Không có kẻ thù.
Không chỉ là đối với con người mà với lục đạo chúng sinh cũng như vậy.

Thứ ba, mong pháp lực của Bổn tôn, mong sức mạnh bảo hộ mà Bổn tôn biến hóa ra có thể điều phục được kẻ ác, điều phục ma, điều phục quỷ, điều phục tứ ma: tử ma, bệnh ma, phiền não ma, thiên ma.

Thứ tư, mong mưa thuận gió hòa, mong mùa màng bội thu, mong quốc thái dân an, mong người người no ấm, mong người người đều có Phật duyên sâu dày.

Mong:
Phật quốc hữu duyên.
Phật pháp tương nhân.
Thường lạc ngã tịnh.
Hữu duyên Phật pháp.

Thứ năm, mong chính Pháp vĩnh viễn tồn tại, mong Phật pháp hoằng dương khắp năm châu, mong tất cả chúng sinh được cứu độ, mong tất cả chúng sinh cùng thành Phật đạo.

Thơ:
"Tôi phát năm đại nguyện
Chẳng vì bản thân
Mà vì người khác
Bởi nhân thế gian
Như trăng khi tròn khi khuyết
Khó mà tránh

Nguyện cùng Bổn tôn tương ứng
Bồ đề tâm trường tồn
Tạo thuận lợi khắp nơi

Khi đại nạn trùng trùng
Tôi không oán
Khi chướng ngại liên miên
Tôi khắc phục
Ngày sau gặp Phật không hổ thẹn."


### 45. Hồ ly vái nguyệt


Trong những câu chuyện Liêu Trai có ghi chép lại chuyện hồ ly vái nguyệt, hít quang khí của ánh trăng để tu nội đan.
Tôi biết chuyện này thì vô cùng kinh ngạc!
Hồ ly trong truyền thuyết quỳ xuống trước mặt trăng, há miệng hít khí, khí tụ lại thành viên đan. Tu năm trăm năm hoặc một nghìn năm có thể tụ khí thành đan, ngũ hình biến hóa, có thể biến thành người. Đó là sự tu hành của loài cáo.

Loài cáo cũng có những hành động tà ác như cướp tinh khí của con người, tụ tinh thành đan, đó là tà pháp hại người.
Bởi vậy sự tu hành của hồ ly có:
Chính pháp.
Tà pháp.
Thành tựu chính pháp thì sẽ thành hồ tiên.
Thành tựu tà pháp thì sẽ thành hồ tinh.

🌟

Trong tu hành Mật giáo rất phổ biến việc nhìn mặt trăng. Ở đây tôi xin thuật lại một pháp môn đơn giản.
Hành giả ngồi yên.
Quán tưởng trên đỉnh đầu có một mặt trăng tỏa ánh sáng trong trẻo, như trăng tròn ngày rằm. Ở chính giữa mặt trăng có một chữ "Om" tiếng Phạn:


![image](/img/img_e104c66c291d27669cdec186d1a07abc.jpg)



Chữ "Om" này lộn ngược lại thành như sau:


![image](/img/img_8681f5ca26818b5c064e1e93d6f99875.jpg)



Cái móc phía bên dưới của chữ Om lộn ngược này cắm vào lỗ đỉnh đầu của hành giả, ở phía trên trung mạch.
Hành giả lúc này trở thành một bảo bình được đậy kín.

Lúc này:
Quán tưởng mặt trăng tràn đầy cam lộ, từ bên dưới chữ Om, cam lộ từng chút từng chút một chảy vào trung mạch. (Cam lộ có màu trắng sữa.)
Từ đầu đến chân, toàn thân được tưới đẫm cam lộ.
Lúc này, toàn thân có cảm giác ấm áp, có cảm giác quang minh, có cảm giác pháp lạc.

Cuối cùng:
Quán tưởng mặt trăng cũng đi vào trong thân thể mình.

Và sau đó:
Dùng chày kim cương chữ thập phong kín lại lỗ đỉnh đầu, tức là đỉnh của trung mạch.
Tu pháp này:

- Tinh thần hoạt bát.

- Kéo dài tuổi thọ.

- Cải lão hoàn đồng.

- Thân thể phóng quang.

- Tu hành thành tựu.

Thơ:
"Tu hành tất phải có chính kiến
Tìm minh sư
Đắc chính đạo
Như vậy mới xứng với tâm nguyện

Thế gian này
Các pháp là vô hạn
Có pháp chỉ là
Bề mặt
Có pháp chỉ là
Mặt ngoài

Sao mà thế nhân đều mù quáng
Đi sai đường
Mê tà đạo
Lâu ngày tất sinh lòng chán ghét

Nghe ta nói đây lời chân thực
Chân Phật Mật Pháp đáng ước ao."


### 46. Bài kệ tụng cát tường


Thượng sư Liên Hoa Bội Văn, Thượng sư Liên Kềnh ở Hồng Kông tặng tôi một chuỗi tràng hạt bằng xà cừ trắng tinh và một chiếc vòng bạch ngọc phỉ thúy băng chủng, kèm theo hai bài kệ tụng cát tường của hai vị Thượng sư. Bài kệ tụng này vui tươi mới mẻ, tôi xin đăng ở đây như sau:

Liên Hoa Bội Văn viết:
"Xà cừ và ngọc phỉ thúy băng chủng
Chỉ ngẫu nhiên mà gặp chứ chẳng thể kiếm tìm
Nay gặp lúc nhân duyên hòa hợp
Xin dâng cúng dường Liên Hoa Vương
Để bày tỏ chân tình
Tâm này khắp thập phương
Không chỉ ở lời nói
Phật tâm tính thường tịch
Tâm đệ tử như tâm
Mong thầy thường soi chiếu
Hoan hỉ độ chúng sinh
Ta Bà hóa tịnh thổ
Tâm tĩnh tịch như như."

🌟

Thượng sư Liên Kềnh viết:
"Đại Bạch Liên Hoa Vương
Công đức khó đo lường
Thánh tôn bí mật chủ
Hương giang đến tuyên truyền
Tổ sư Thubten dặn
Truyền thất châu ngũ dương
Tu chứng thời luân tục
Sáu thời mãi cát tường
Tứ trí tam thân sinh
Ngã pháp nhị chấp vong
Kế thừa tính chân thực
Xa rời những ngôn từ
Tham sân si nghi mạn
Là tư lương thành Phật
Phiền não tức bồ đề
Đạo tràng ở khắp nơi
Shambhala tịnh thổ
Muốn đến phải trừ ngông
Khi ta hết tâm cuồng
Ngừng làm vua trong pháp
Du hí khắp tam giới
Theo thầy độ chúng sinh
Để báo ơn Chân Phật
Nguyện tuyên dương Mật pháp."

🌟

Tôi xem xong hai bài kệ tụng cát tường, bèn viết ra hai bài thơ, lời thơ như sau:
Bài 1:
"Trời sắp sang thu
Cúc vàng thơm ngát
Thời gian
Lại sắp đến Tết Trùng Dương

Núi xa
Hồ tròn
Mãi đẹp như tranh
Lá phong đo đỏ
Đã biến thành bao nhiêu lá vàng

Nhìn sóng nước lăn tăn
Bầu trời xanh thăm thẳm
Lâu nay
Nghĩ đến con đường độ chúng sinh
Có chút mênh mông mịt mù

Đi đến nơi cao
Nhìn về phía trước
Thấy những đàn chim bay lượn
Cuối cùng đã có
Vô hạn vô tận nghĩ suy."

🌟

Bài 2:
"Tặng tôi chuỗi hạt
Dâng tôi vòng ngọc
Trong lòng nhen lên niềm vui

Tâm ý trùng trùng
Nồng đượm chờ mong
Nguyện sẽ nói đôi lời khẩu quyết."


### 47. Mật Tập Kim Cang niệm tụng pháp


Đệ tử hỏi:
"Lư Sư Tôn đã truyền thụ pháp Hỉ Kim Cang, Đại Uy Đức Kim Cang, Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang. Đặc biệt là Hỉ Kim Cang và Thời Luân Kim Cang là thầy giải thích tường tận nhất. Còn pháp Mật Tập Kim Cang và Thắng Lạc Kim Cang thì vẫn chưa truyền, sao thầy không giảng một chút?"
Tôi đáp:
"Đã nói vậy thì tôi sẽ tiết lộ trong cuốn sách này vậy!"
Đệ tử hỏi:
"Mỗi lần trước khi tiến hành niệm tụng pháp thì thông thường đều là tứ quy y, tứ vô lượng tâm, phát bồ đề tâm, tịnh nghiệp quán không. Ngoài những bước này ra thì Chân Phật Tông có gì đặc biệt không?"
Tôi đáp:
"Chúng ta có thêm đại lễ bái, đại cúng dường, bia giáp hộ thân và pháp sám hối. Như vậy thì sẽ chu toàn hơn."
Đệ tử hỏi:
"Trong phần chính hành của niệm tụng Mật Tập Kim Cang thì quán tưởng như thế nào? Xin Lư Sư Tôn nói rõ."
Tôi đáp:
"Sau khi quán không, từ chữ "Hum" tiếng Phạn sinh ra một mặt đất kim cang, tường thành, cung điện, xung quanh là những rặng núi đang bốc cháy. Ở chính giữa cung điện có chữ Hum lại sinh ra hoa sen, ở giữa hoa sen có vầng mặt trời, trong vầng mặt trời xuất hiện chày kim cang chữ thập, chày kim cang chuyển hóa thành hình tướng Mật Tập Kim Cang."

Đệ tử hỏi:
"Quán tưởng Mật Tập Kim Cang như thế nào?"
Tôi đáp:
"Thân màu xanh lam, ba mặt sáu cánh tay, mặt có ba màu xanh lam, trắng, đỏ, hai cánh tay phía trước ôm Kim Cang Phật Mẫu, cầm chuông chày, tay phải cầm pháp luân, hoa sen, tay trái cầm báu vật và bảo kiếm. Ngài hiện tướng phẫn nộ hoặc tướng vui vẻ, hai vị cùng ngồi trên tòa hoa sen."


![image](/img/img_29ff246335e06fbf7169b5b9887e3318.jpg)


Tôi giải thích:
"Hình trang trí trên đỉnh đầu Mật Tập Kim Cang là A Súc Phật. Hình tượng trang sức trên thân giống với các pháp Kim Cang khác, hoặc là tơ lụa nhiều màu sắc."
Đệ tử hỏi:
"Sau khi quán tưởng xong thì niệm chú ra sao?"
Tôi đáp:
"Chú ngữ là: Om benza takua hum hum soha. Niệm 108 biến."
Đệ tử hỏi:
"Sau khi niệm chú, thì lại nhập tam ma địa đúng không?"
Tôi đáp:
"Tốt nhất là từ trong thân tâm có chữ Hum, từ chữ Hum, toàn thân biến thành Mật Tập Kim Cang, sau đó nhập tam ma địa."
Đệ tử hỏi:
"Khi quán tưởng thì kết thủ ấn như thế nào?"
Tôi đáp:
"Đầu tiên hai tay đan nội phộc, hai ngón trỏ giơ thẳng lên, chạm vào nhau."
Đệ tử hỏi:
"Phần hậu hành thì vẫn là xuất định, tụng tán, hồi hướng, đại lễ bái phải không? Hay là cũng niệm thêm bách tự minh chú?"
Tôi đáp:
"Đúng vậy."
Đệ tử hỏi:
"Tụng tán và hồi hướng có thể do tự mình soạn không?"
Tôi nói:
"Có thể được."

Tôi giải thích:
Phần tụng tán có thể như sau:
Thân sắc màu lam tướng phẫn nộ
A Súc Như Lai ở trên đầu
Quan sát chúng sinh đại thành tựu
Mật Tập Kim Cang con đảnh lễ.

Chú ý:
Pháp này cần được quán đảnh trực tiếp.
Còn các pháp tiêu tai, tăng ích, kính ái, hàng phục thì có thể tùy hỉ.


### 48. Thắng Lạc Kim Cang niệm tụng pháp


Đệ tử hỏi:
"Tu trì pháp Thắng Lạc Kim Cang như thế nào?"
Tôi đáp:
"Tiền hành thì giống với pháp Mật Tập Kim Cang."
Đệ tử hỏi:
"Thủ ấn thì sao?"
Tôi đáp:
"Thủ ấn duy nhất giống với thủ ấn Kim Cang Tát Đỏa, có thể đặt chéo hai nắm đấm đặt trước ngực. Hay tay giữ nắm đấm, bắt chéo nhau đặt trước ngực, có thể quán tưởng, tay phải cầm chày kim cang, tay trái cầm chuông kim cang."
Đệ tử hỏi:
"Quán tưởng ra sao?"
Tôi đáp:
"Tôi đặc biệt truyền dạy như sau: đầu tiên quán tưởng bản thân hành giả hóa thành không, tất cả đều biến mất."
"Sau đó từ hư không xuất hiện một bông hoa sen, trong hoa sen có một vầng mặt trời, trong mặt trời có chữ Hum tiếng Phạn, chữ Hum chuyển hóa thành chày kim cang."
"Tiếp đó, chày kim cang hóa thành Thắng Lạc Kim Cang ở tư thế đứng."

Đệ tử hỏi:
"Quán tưởng Thắng Lạc Kim Cang như thế nào?"
Tôi đáp:
"Lúc này Thắng Lạc Kim Cang chính là hành giả, hành giả chính là Thắng Lạc Kim Cang. Quán tưởng chính mình có thân màu xanh lam, một đầu hai cánh tay, đứng trên tòa hoa sen mặt trời, chân trái giơ lên chân phải duỗi thẳng, dẫm lên hai thiên nhân."
"Trên đầu có búi tóc, trang sức thì có ngọc mani, trăng non và chày kim cang chéo. Trên người đeo sáu loại trang sức bằng xương, phía sau gáy là sọ người, thân khoác váy da hổ, mặt hiện tướng phẫn nộ, hai tay cầm chuông chày, ôm Kim Cang Hợi Mẫu."
"Kim Cang Hợi Mẫu thân màu đỏ, tay cầm dao cong và đầu lâu, tóc để xõa, chân trái duỗi thẳng chân phải giơ cao, hai vị song vận, mặt hiện tướng hân hoan, thân có năm loại trang sức bằng xương."
"Phật Phụ và Phật Mẫu toàn thân đều tỏa ánh sáng của lửa trí huệ."


![image](/img/img_1d050ed9755f6cee715580ff4edab8f1.jpg)


Đệ tử hỏi:
"Vị Phật trên đỉnh đầu là ai?"
Tôi đáp:
"Có người thì dùng A Súc Phật, hoặc Đại Nhật Như Lai, cũng có người thì dùng A Di Đà Phật."
Đệ tử hỏi:
"Chú ngữ như thế nào?"
Tôi đáp:
"Om seh ha ha hum hum pay. Niệm 108 biến".
Đệ tử hỏi:
"Trì chú xong thì lại nhập tam ma địa đúng không?"
Tôi đáp:
"Đúng vậy."

Đệ tử hỏi:
"Sau khi xuất định thì tụng tán, vậy tụng sao cho hay?"
Tôi đáp:
"Thắng lạc cũng tức là không
Bản tính đầy đủ tam giới
Trí huệ quang minh song vận
Đảnh lễ Thắng Lạc Kim Cang."

Đệ tử hỏi:
"Phần hậu hành thì cũng giống như Mật Tập Kim Cang đúng không?"
Tôi đáp:
"Đúng vậy."
Đệ tử hỏi:
"Ngũ đại Kim Cang của Tạng mật là các vị nào?"
Tôi đáp:
"Hỉ Kim Cang, Mật Tập Kim Cang, Thắng Lạc Kim Cang, Đại Uy Đức Kim Cang, Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang."
Tôi nói:
"Tuy nhiên cũng có người thêm vào Thời Luân Kim Cang thay cho Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang. Tôi cho rằng một pháp thành tựu thì vạn pháp đều thành tựu, thành tựu một vị Kim Cang thì năm vị Đại Kim Cang đều thành tựu. Chỉ là cách tu pháp hơi khác một chút thôi."


### 49. Thân trung ấm và trăm vị văn võ


Có một đệ tử kính cẩn tu hành đến hỏi tôi về cảnh giới của thân trung ấm (linh hồn). Tôi đặc biệt phân tích cặn kẽ.
Hỏi:
"Người sắp chết thì xuất hiện hiện tượng gì?"
Đáp:
"Người sắp chết, khí hít vào hơi thở cuối cùng thì sự hô hấp hoàn toàn dừng lại, nhưng bên trong thân thể thì vẫn có hơi thở và ý thức. Lúc này giống như mơ như huyễn, sẽ có rất nhiều cảnh tượng xuất hiện."
Hỏi:
"Lúc này người nhà cần giúp đỡ họ thế nào?"
Đáp:
"Niệm Phật, hoặc tụng kinh văn "Thân trung ấm nghe dạy mà được độ", để khiến cho người chết biết giai đoạn trung ấm cần phải làm sao để được độ."
Hỏi:
"Trong quá trình chết sẽ xuất hiện điều gì?"
Đáp:
"Sẽ xuất hiện ánh sáng rất mạnh, đó là tịnh quang căn bản thứ nhất, tịnh quang thứ nhất này chính là Phật tính. Người chết phải dùng ý thức, phải nhận ra được đây là ánh sáng Phật tính, rồi dùng ý thức, khí để dung nhập vào trong ánh sáng đó, cái này gọi là trung ấm thành Phật."

Hỏi:
"Nếu như bỏ lỡ cơ hội tốt này thì phải làm sao?"
Đáp:
"Tốt nhất là đừng bỏ lỡ cơ hội tốt này, người chết lúc bình thường có tu hành thì lúc này tử quang sẽ vận hành đi vào mẫu quang, là cơ hội đẹp nhất, là một giọt nước hòa tan vào biển Tì Lô Giá Na, đây chính là niết bàn, là thành Phật. Nếu như bỏ lỡ cơ hội này thì sẽ xuất hiện trăm vị văn võ."
Hỏi:
"Trăm vị văn võ là gì?"
Đáp:
"Tức là các vị tịch tĩnh, các vị nửa tĩnh nửa phẫn nộ, và các vị phẫn nộ."
Hỏi:
"Nội dung này là như thế nào?"
Đáp:
"Các vị tịch tĩnh thì có mười vị Phật Phụ Phật Mẫu, tám vị Bồ Tát nam, tám vị Bồ Tát nữ, hai vị Phật Phụ Phật Mẫu bản sơ, sáu vị Phật của lục đạo, bốn vị nam phẫn nộ canh cửa, bốn vị nữ phẫn nộ canh cửa."
Hỏi:
"Các vị nửa tĩnh nửa phẫn nộ là như thế nào?"
Đáp:
"Các vị nửa tĩnh nửa phẫn nộ đến từ đông tây nam bắc và ở giữa, tổng cộng có mười vị, họ là những vị có trí huệ, hơi mang tướng phẫn nộ nhưng nằm ở giữa trạng thái tịch tĩnh và phẫn nộ, do vậy gọi là các vị nửa tĩnh nửa phẫn nộ."
Hỏi:
"Các vị phẫn nộ thì sao?"
Đáp:
"Có mười vị hách-lỗ-ca Phật Phụ Phật Mẫu, tám vị nữ thần Hàn Lâm Cao Ly, tám vị nữ thần thực-thi-tì-sát-hi, bốn vị nữ thần mang đầu thú canh cửa, hai mươi tám vị du già nữ, Đại Hắc Thiên, Diêm Ma Thiên. Đều là tướng phẫn nộ."

Hỏi:
"Gặp họ thì phải làm sao?"
Đáp:
"Hành giả dựa vào sức mạnh của Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp để dung nhập ý thức và khí vào các vị, như vậy thì cũng có thể đến được cõi tịnh thổ của các vị. Đây là cơ hội giải thoát thứ hai."
Hỏi:
"Còn có cơ hội khác nữa không?"
Đáp:
"Không còn. Do tập khí và nghiệp lực liên lụy đến người chết khiến họ đánh mất cơ hội lần thứ hai này. Người chết nhìn thấy ánh sáng dịu dàng của lục đạo luân hồi, hoặc thấy đủ mọi huyễn tướng, đủ mọi nỗi sợ, đủ mọi giận giữ, núi lở đất nứt,... Trong khi họ cảm thấy sợ hãi thì họ sẽ luân hồi vào lục đạo luôn!"

Chú ý: Phật tính hiển hiện (tịnh quang căn bản thứ nhất) là điều quan trọng để được cứu độ. Trăm vị văn võ, Bổn tôn xuất hiện, cũng là quan trọng để được cứu độ. Ngoài ra không còn gì khác.

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/253-mo-gap-lu-su-ton.md
# Title: 253. Mơ gặp Lư Sư Tôn
---

![image](/img/img_847cb2ad8507f348c2c3853ba7577215.jpg)



## Mơ gặp Lư Sư Tôn


🪷 Những lời pháp tuyệt vời

Văn tập: 253
Xuất bản: 05/2016
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


Chuyện kể rằng, một ngày năm 2015, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đang ngồi trên pháp tọa tôn quý tại Lôi Tạng Tự, đối diện với nghìn vạn đệ tử.
Lư Sư Tôn hỏi:
"Trong số các đệ tử đang ngồi đây, có bao nhiêu người đã mơ thấy Lư Sư Tôn?"
Các đệ tử giơ tay lên.
Oa!
Hàng nghìn vạn cánh tay đều giơ lên, thật là một cảnh đầy ấn tượng.
Tôi hỏi:
"Các bạn đều đã từng mơ thấy sao?"
Các đệ tử đáp:
"Đúng vậy."

Tôi nghĩ:
Các đệ tử mơ thấy Lư Sư Tôn, không có gì đáng tự hào hơn thế. Bởi vậy, đây không phải là nói khoác.

🌟

Thế là, tôi đã có cảm hứng:
Sao không thu thập các giấc mơ của đệ tử lại và viết thành một cuốn sách tiêu đề "Mơ thấy Lư Sư Tôn" nhỉ?
Tôi phát hiện ra:
Có một số giấc mơ rất đẹp đẽ.
Có một số giấc mơ có tính khai sáng.
Có một số giấc mơ là chứng nghiệm cảm ứng.
Có một số giấc mơ có tính tìm hiểu.
Có một số giấc mơ có tính nhân quả.
Có một số giấc mơ có tính khai thị.
Có một số giấc mơ có tính kỳ diệu.
Có một số giấc mơ có tính chỉ dẫn.
v.v...

🌟

Trong giấc mơ...
Có luật nhân quả nghiệp lực, có chuyện thần thông cảm ứng, có chuyện về chữa bệnh và hồi sinh, có chuyện thăng thiên độn thổ, có những chuyện thần kỳ kỳ lạ, có những sự việc đầy tính khai ngộ. Những điều thần kỳ trong đó là vô cùng kỳ diệu khó tưởng tượng nổi.

Cuốn sách này cố gắng chọn ra những giấc mơ tiêu biểu nhất. Tôi muốn viết ra những chuyện mà mọi người đều thấy dễ hiểu, dựa vào thủ pháp kể chuyện mà viết về:
Trí huệ.
Từ bi.
Triết lý.
Biến hóa.
Ngộ giới.
Để khơi dậy nên cảm hứng đối với Phật pháp cho mọi người.
Tôi nghĩ:
Cuốn sách này có thể khởi phát lòng tin thanh tịnh của mọi người, làm vững mạnh đạo tâm của đại chúng. Hài lòng với niềm tin đúng đắn sẽ giúp chúng sinh được vui vẻ.
Cuối cùng là:
Dẫn dắt người tu hành đến khai ngộ.
Thức tỉnh trong ánh sáng đại viên mãn.

🌟

Có một bài kệ:
*”Tất cả pháp hữu vi
Như mộng huyễn bào ảnh
Như sương cũng như điện
Nên quán thấy như vậy.”*

"Mộng" đứng ở vị trí thứ nhất, bạn không nhận thấy sao?
Đời người cũng là một giấc mộng lớn.

Chúc bạn:
Trong mộng có được lợi ích.
(Ngày xuân năm 2016)

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Rốt cục bạn là ai?


Ông Lưu Danh Thiện nói:
"Tôi đã mơ thấy Lư Sư Tôn tổng cộng ba lần, lần cuối cùng, tôi mơ thấy nói chuyện điện thoại với Lư Sư Tôn trong mơ."
"Nói bao lâu?"
"Nói chuyện điện thoại trong mơ khoảng hai tiếng đồng hồ." - Ông Lưu Danh Thiện nói: "Khi chúng tôi nói chuyện xong, Lư Sư Tôn bất ngờ hỏi tôi trong điện thoại."
"Hỏi gì?"
"Rốt cục anh là ai?"
Ha! Ha! Ha!
Mọi người đang có mặt đều cười vang!

🌟

Đây là câu chuyện do ông Lưu Danh Thiện kể trong bàn tiệc tràn ngập món ăn ngon tại bữa cơm tối ở nhà hàng do Thượng sư Lạc Trí cúng dường vào buổi tối ngày 24 tháng 12 năm 2015.
Nói chuyện điện thoại với nhau trong mơ là một chuyện rất kỳ lạ!
Nói chuyện tới tận hai tiếng đồng hồ, thời gian không hề ngắn!
Câu cuối cùng Lư Sư Tôn lại hỏi:
"Rốt cục anh là ai?"
Thật buồn cười quá!
Những người có mặt ở đó cười xong.
Mọi người im lặng.
Ăn cơm.

🌟

Điều tôi muốn nói với mọi người là:
Câu hỏi "Rốt cục bạn là ai?" là cực kì quan trọng, đây là một câu nói sắc bén và sâu sắc.
Tôi nói:
Con người trên thế gian này ai ai cũng đều hy vọng người khác hiểu mình. Nhưng, người tu hành chân chính cần phải tự hiểu mình trước tiên. Người tu hành là đang tìm kiếm chính bản thân mình.
Phân tích bản thân.
Thâm nhập bản thân.
Hiểu rõ bản thân.
Rất nhiều người sống cả đời trong sự mơ mơ hồ hồ, cuối cùng thì ngay chính bản thân mình cũng không hiểu mình, loại người này rất nhiều.

Còn có ai hiểu được chính mình đây?
Bạn cho rằng mình đã hiểu chính mình, kì thực nói thế là quá sớm rồi! Bạn mới chỉ biết về biểu hiện bên ngoài mà thôi!
Bạn trong quá khứ, bạn không biết.
Bạn trong hiện tại, bạn không biết.
Bạn trong tương lai, bạn không biết.
Đời quá khứ, đời hiện tại, đời tương lai, bạn biết được cái gì?
Rất nhiều người hỏi:
Tôi từ đâu đến?
Tôi sẽ đi về đâu?
Tôi sống vì cái gì?
Vì sao mà lại sống?

🌟

Tôi nói:
Khi tôi hỏi bạn "Rốt cục bạn là ai?".
Bạn cần nói:
"Tôi chính là Phật!"
"Tôi chính là Bổn tôn!"
"Tôi hiểu rằng bản thân đang trả nghiệp, tôi đang tiêu trừ nghiệp chướng, tôi đang học Phật, tôi giúp đỡ chúng sinh, tôi bố thí chúng sinh, tôi có bồ đề tâm rộng lớn, tôi hiểu ý nghĩa của cuộc đời này, tôi cần thành tựu trong đời này."
Hiệu kim cang của Đại Bảo Pháp Vương thứ 16 chính là: Tự Tâm Minh Bạch Kim Cang.

Đời này của chúng ta chính là cần hiểu rõ bản thân, hiểu rõ nghiệp tích tụ từ nhiều kiếp của bản thân, tập tính của bản thân, tâm của bản thân, suy nghĩ của bản thân, giá trị sinh mệnh của bản thân.
Tôi hỏi:
"Rốt cục bạn là ai?"
Câu trả lời hay nhất là:
"Tôi hiểu rõ tâm mình!"


### 02. Da bị bỏng


Liên Hoa Tông Nguyên ở Malaysia đã quy y được hơn 10 năm. Ông ta làm việc trên thuyền. Hai năm trước, khí gas trên thuyền phát nổ, thế là bất ngờ ông đã bị bỏng nặng.
70% da trên thân đã bị bỏng rồi!
Đau đớn.
Biến dạng.
Cháy xém.
Loang lổ.
Toàn bộ thể xác và tinh thần đều bị hủy hoại.

Bác sĩ nói:
"Chân bị nặng nhất, cần phải làm phẫu thuật ghép da!"
"Ghép thế nào?"
"Lấy da ở phần bụng để ghép vào da ở chân." - Bác sĩ nói.
Đây là thủ thuật hoán đổi da.

🌟

Liên Hoa Tông Nguyên có một đứa cháu gái tên là Vivian, cô đã cho cậu mình uống nước chú Đại bi. Trong phòng bệnh, cô để một bức tượng nhỏ của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, cũng để thêm một bức pháp tướng nhỏ của Diêu Trì Kim Mẫu.

Liên Hoa Tông Nguyên kết thủ ấn Liên Hoa Đồng Tử. Làm quán tưởng đại lễ bái. Cầu nguyện Căn bản Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn ban cho sự gia hộ, giúp đỡ cho ca phẫu thuật được thuận lợi thành công.

🌟

Hôm tiến hành phẫu thuật.
Liên Hoa Tông Nguyên được đẩy ra khỏi phòng phẫu thuật. Người thân không hiểu chuyện gì. Bác sĩ tuyên bố:
"Không cần phải làm phẫu thuật nữa, bởi vì chân của anh ta đã lên da non rồi!"
Đúng là một tin tốt!
Ha ha!

🌟

Liên Hoa Tông Nguyên nói:
"Đêm trước ngày làm phẫu thuật, trong mơ tôi đã gặp Lư Sư Tôn, Sư Tôn ngồi trên đài hoa sen trắng lớn, đến trước mặt tôi. Lư Sư Tôn đưa tay ra, chỉ vào chân tôi, phóng ra luồng ánh sáng trắng lớn chiếu vào chân tôi, chiếu rất lâu rất lâu. Sau đó ngài đột ngột biến mất."
Ồ!
Hóa ra là ánh sáng trắng chiếu vào.
Chân liền lên da non.
Da non đã sinh ra rồi!
Là Lư Sư Tôn đến cứu Liên Hoa Tông Nguyên.
Da của Liên Hoa Tông Nguyên không ngờ hồi phục rất nhanh chóng, so với những người gặp nạn khác thì nhanh hơn nhiều.

🌟

Có người nói:
Người có thành tâm.
Phật có cảm ứng.
Sự cứu độ của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn có ở khắp mọi nơi.
Nhìn xem!
Da bị bỏng 70%, muốn da hồi phục cần thời gian chữa bệnh lâu dài. Việc hồi phục cũng thường rất khó khăn. Nhưng, chỉ một đêm mơ thấy Lư Sư Tôn phóng quang gia trì. Thật không thể tin nổi!

Một đêm đã lên da mới.
Kỳ tích!
Kỳ tích!

Tôi nói:
Bồ Tát luôn ở rất gần.
Người có duyên thì sẽ đến gần được với Bồ Tát.
Ngài là nơi nương dựa cho chúng sinh.
Hãy quy y đi!


### 03. Hóa thân thành bác sĩ ngoại khoa


Có một đệ tử nữ tên là Liên Hoa Nhất Na mắc bệnh ung thư vú giai đoạn hai. Bác sĩ đề nghị làm phẫu thuật, ngoài ra còn phải làm hóa trị. Vừa nghe nói là bệnh ung thư, Liên Hoa Nhất Na cảm thấy như trời xanh nổ sấm, đau đớn tuyệt vọng!

Cô đến tìm tôi, tôi bảo cô:
"Tất cả đều là nhân duyên, bất tự sinh, bất tha sinh, bất cộng sinh, tất cả đều sinh ra bởi nhân duyên. Bởi vì có nhân duyên này rồi thì hãy đối mặt với nó đi! Nghe lời bác sĩ, chấp nhận trị liệu."
Cô hỏi:
"Có cần phải mổ không? Nếu mổ thì chẳng còn gì nữa!"
(Liên Hoa Nhất Na đúng lúc đang chuẩn bị kết hôn.)
Tôi đáp:
"Vẫn nên nghe theo lời bác sĩ đi!"
Cô nói:
"Con không muốn phẫu thuật cắt bỏ đâu."
Tôi nói:
"Tôi biết. Đây cũng là bất đắc dĩ thôi."
Cô khóc:
"Sư Tôn! Xin thầy giúp con nghĩ cách được không?"
Cô nói:
"Con một lòng tin tưởng thầy."
Tôi vẽ một lá phù đưa cho cô uống.
Tôi nói:
"Hãy tận lực niệm Thượng sư tâm chú, càng nhiều càng tốt." (Om guru liansheng siddhi hum)
Phù thức của phù trì bệnh ung thư như sau:


![image](/img/img_db38cfb2fe7cea563afdc2910c5230fe.jpg)


Sau khi trở về, đầu tiên là Liên Hoa Nhất Na trì tụng Căn bản Thượng sư tâm chú không ngừng nghỉ, ngoài lúc ăn cơm, đi ngủ thì lúc nào cũng trì chú.

Có một đêm, có lẽ là ngày nghĩ gì thì đêm mơ nấy, cô mơ thấy mình bị đưa vào phòng mổ. Tất cả dụng cụ phẫu thuật đều đã được chuẩn bị đầy đủ. Đèn bật sáng. Có mấy nữ y tá đi vào. Còn có cả trợ lý phẫu thuật. Bác sĩ ngoại khoa mặc áo khoác màu trắng, đeo khẩu trang. Đầu tiên là gây tê, gây tê cục bộ.
Bác sĩ không nói gì.
Chỉ có cầm dao lên và cắt.
Thủ thuật tiến hành rất nhanh, một chốc đã xong rồi.
Bác sĩ ngoại khoa tháo khẩu trang ra.
Liên Hoa Nhất Na vừa nhìn mặt bác sĩ thì thốt lên một tiếng:
"Là Lư Sư Tôn!"
Lư Sư Tôn gật gật đầu, mỉm cười không nói, quay người và rời khỏi phòng phẫu thuật.

🌟

Liên Hoa Nhất Na tỉnh dậy. Cô cũng biết đây chỉ là một giấc mộng Nam Kha, nhưng nó lại vô cùng chân thực, cô sờ lên ngực mình. Hai bên ngực vẫn còn nguyên, chưa bị cắt đi. Cô cũng không bận tâm, biết rằng chỉ là giấc mơ mà thôi.

Khi cô đến gặp bác sĩ để kiểm tra lại.
Bác sĩ vô cùng sửng sốt:
"Khối u biến mất rồi!"
Vô duyên vô cớ đã tiêu biến rồi!
Sao lại không thấy khối u đâu nữa! Sao không thấy khối u đâu! Biến mất rồi! Biến mất rồi!
Liên Hoa Nhất Na gặp người nào cũng nhắc đến sự việc này là:
"Quá kỳ diệu!"


### 04. Hóa thân làm giáo sư


Rất nhiều người khi chuẩn bị bước vào kỳ thi đều tìm đến tôi để xin gia trì cho thi đỗ, tôi đều ban gia trì cho họ.
Đồng thời, tôi cũng dặn thêm họ một câu:
"Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh một nghìn biến!"
Họ gật đầu đồng ý.
Trong việc này có rất nhiều kỳ tích, người người đều bình luận sôi nổi. Có người thi đại học, người thi viên chức nhà nước, người thi làm luật sư, người thi làm bác sĩ, người thi lấy các loại bằng cấp chứng chỉ.

🌟

Gần đây.
Có một đệ tử thi lấy bằng bác sĩ, đã thi mấy lần vẫn chưa qua. Đó là Liên Hoa Ích Sĩ. Anh ta đến tìm tôi nói:
"Lư Sư Tôn! Con đã thi rất nhiều lần rồi, xin thầy giúp con với!"
Tôi hỏi:
"Làm sao giúp anh đây? Tôi cũng không học ngành Đông y!"
Anh nói:
"Phật không có gì là không làm được!"
Tôi đáp:
"Cho dù là Phật cũng có ba điều không thể làm được. Một là, không thể độ người không có duyên. Hai là, không thể chuyển đổi định nghiệp. Ba là, không thể độ hết được chúng sinh. Anh thi Đông y, Đông y thi rất khó, anh tự mình nỗ lực, tự mình lo cho mình thôi."
Anh nói:
"Con đã sắp không còn lòng tin nữa rồi, càng thi càng mất niềm tin, đề thi người ta đưa ra đều rất lạ, phải làm sao đây?"
Tôi bảo anh:
"Anh đi cầu xin Văn Xương Đế Quân, ngài ấy có thể giúp đỡ chuyện thi cử. Cũng niệm một nghìn biến Cao Vương Kinh đi!"

🌟

Không bao lâu sau, anh mơ một giấc mơ:
Mơ thấy mình ngồi tại một chiếc bàn trong lớp học, xung quanh chẳng có ai, chỉ có mỗi một mình anh.
Một giáo sư bước vào. Không nói một lời. Giáo sư quay lưng vào anh, cầm phấn, bắt đầu viết đề thi Đông y và đáp án lên bảng đen. Giáo sư viết kín cả mặt bảng đen.

Anh thử đọc.
Có cái anh hiểu.
Có cái anh không hiểu.
Anh ghi nhớ trong đầu từng câu hỏi anh không hiểu, và cũng ghi nhớ cả đáp án trong đầu.
Một lúc sau.
Vị giáo sư này quay người lại.
"A!" - Anh kêu lên một tiếng: "Là Lư Sư Tôn!"
Anh hỏi:
"Lư Sư Tôn! Sao thầy lại có thể là giáo sư được?"
Lư Sư Tôn nói:
"Đừng hỏi, hãy ghi nhớ các câu hỏi trên bảng, rồi luyện tập nhiều lần đi!"
Lư Sư Tôn quăng viên phấn đi rồi đi ra khỏi lớp học.
Anh nhìn thấy Lư Sư Tôn cưỡi lên mây bay đi mất!

🌟

Kỳ thi bác sĩ Đông y.
Không ngờ tất cả các câu hỏi đều giống như các câu hỏi đã được viết trên bảng đen.
Liên Hoa Ích Sĩ đã thi đỗ rồi!
Vạn tuế!
Vạn tuế!
Liên Hoa Ích Sĩ chạy tới thông báo cho tôi biết và cảm ơn tôi!

Nói thẳng ra là:
Tôi không nghiên cứu về Đông y, tôi cũng không phải là giáo sư, bản thân tôi cũng không hiểu vì sao sự việc này lại xảy ra.
Tôi chỉ có thể nói rằng:
Cứ nghĩ nhiều, nghĩ mãi.
Rồi sẽ mơ, sẽ mơ.
Thế là sẽ giao tiếp, kết nối.


### 05. Ánh sáng trong tăm tối


Một bé trai mười tuổi sống cùng gia đình trong một ngôi nhà nhỏ dưới chân núi.
Có một hôm.
Đất núi lở đã chôn vùi cả thôn làng. Lực lượng cứu hộ nhanh chóng đến làm công tác cứu hộ. Họ không dám dùng máy xúc lớn vì sợ những người còn sống có thể bị máy xúc làm chết.
Lực lượng cứu nạn dùng chó để ngửi hơi người, khi ngửi thấy hơi người thì sẽ dùng công cụ đơn giản để đào. Từng ngày từng ngày trôi qua! Những xác chết đào được ngày càng nhiều.
Trời mưa liên miên. Bầu không khí u sầu cũng bao trùm. Cả thôn làng đã bị chôn sống, chìm trong tang thương.

🌟

Qua ngày thứ mười.
Mọi người đều cảm thấy tuyệt vọng, không còn người nào sống sót. Đúng vào lúc tất cả mọi người đều không còn hy vọng thì có một tin tức được truyền tới. Người ta đã đào thấy một bé trai, không ngờ cậu bé vẫn còn sống, toàn thân không có chỗ nào bị bầm dập, hơn nữa tinh thần cậu rất phấn chấn.
Người ta hỏi:
"Sao cháu còn sống được thế?"
Cậu bé đáp:
"Cháu kẹt ở khe tủ lạnh, tất cả đều tối đen."
Người ta hỏi:
"Cháu ăn cái gì?"
Cậu bé đáp:
"Nước mưa thấm vào, nhỏ giọt qua kẽ nứt, có nước mưa có thể uống được."
Người ta hỏi:
"Thức ăn thì sao?"
Cậu bé đáp:
"Trong lúc ngủ say, cháu mơ thấy có một người mặc áo đỏ thường xuyên đem thức ăn đến cho cháu ăn."
"Người mặc áo đỏ là người nào?" - Người ta hỏi.
Cậu bé đáp:
"Là một hòa thượng."
Người ta hỏi:
"Cháu có nhận ra ông ấy là ai không?"
Cậu bé đáp:
"Từ trước đến nay cháu không quen biết vị hòa thượng mặc áo đỏ này, nhưng mỗi đêm ông ấy lại đến cho cháu thức ăn, nếu ông ấy đứng trước mặt cháu thì cháu sẽ nhận ra được."
Mọi người nghe cậu bé kể đều tặc lưỡi kinh ngạc.
Đúng là:
"Chuyện lạ có thật!"

🌟

Một hôm, cậu bé xem ti vi, nhìn thấy một hòa thượng mặc áo đỏ đang thuyết pháp. Cậu bé há to miệng hét lên:
"Chính là hòa thượng mặc áo đỏ này đây!"
Mọi người nhìn thì:
"A! Là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn! Là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn! Là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn!"
Có người hỏi tôi:
"Có thật là ngài hóa thân đi vào trong đất đá để cứu cậu bé này không?"
Tôi đáp:
"Tôi cũng không biết!"
Có người hỏi tôi:
"Hóa thân đó là ngài phải không?"
Tôi đáp:
"Tôi cũng không biết!"
Có người hỏi tôi:
"Đứa bé đó đã xác nhận là ngài mà?"
Tôi đáp:
"Chắc là nhận sai người rồi!"
Tôi chỉ nói rằng:
"Bồ Tát có mặt ở khắp nơi, nghe thấy là cứu khổ cứu nạn. A Di Đà Phật!"


### 06. Tự thuật của Ngô Mạnh Hoa


Khi mới quy y Chân Phật Tông, ban đầu tôi quen biết hai vị sư huynh sư tỉ là Từ X Phương và Lưu X Hào, khi đó họ là những người mà ai cũng biết, là ví dụ điển hình cho sự tu tập tinh tấn nghiêm túc.

Họ sống cùng thành phố với tôi, khi đó tôi thường gặp họ trong một tiệm ăn chay, thỉnh thoảng tôi cũng cùng họ nói chuyện Phật pháp.
Thậm chí tôi có một cảm giác rằng tôi rất thích tìm kiếm các bài đăng trên Facebook của họ (tràn đầy thần thông và thần bí). Tôi đặc biệt chú ý đến họ, họ là người mà trong lòng tôi kính trọng và ngưỡng mộ.

Nhưng điều khá đáng tiếc là, qua một khoảng thời gian, tôi quan sát thấy các trạng thái hoạt động của họ đã thay đổi (dường như những bình luận của họ đã trở nên thiên lệch, rời xa pháp nghĩa của Chân Phật Tông), tôi chỉ còn lại một dạng tâm lý bán tín bán nghi.

Mới đầu khi tôi còn ngưỡng mộ họ, tôi báo danh tại pháp hội phóng sinh của họ, khi đó họ mới bắt đầu hoạt động phóng sinh.
Tôi mơ thấy Lư Sư Tôn, Sư Tôn trong mơ nói với tôi:
"Phóng sinh không nằm ở số lượng, mà nằm ở dụng tâm, cần thành tâm."
Khi đó tỉnh dậy, tôi cảm thấy rất hoang mang mơ hồ. Tôi nghĩ:
Việc họ phóng sinh như vậy là rất tốt, vì sao Lư Sư Tôn lại nói như vậy? Về sau tôi vẫn tiếp tục báo danh.

Đến bây giờ, cuối cùng tôi đã hiểu ra, chắc chắn là ngay từ khi họ mới bắt đầu hoạt động phóng sinh, Lư Sư Tôn đã biết từ lâu tất cả mọi diễn biến hoạt động của họ rồi.

Đó là họ dùng tâm để kiếm tiền, không những không thành tâm mà họ cũng không thực sự nghiêm túc cẩn thận, không có tâm thanh tịnh mà là có ý đồ khác. Bởi vì sau đó có người nhìn thấy một bức ảnh chụp họ phóng sinh, không ngờ họ đã đem cua sống ở nước ngọt phóng sinh vào nước biển mặn. (Phóng sinh chẳng khác gì cho chết.)

Ôi!
Xem ra giấc mơ về Lư Sư Tôn là thật rồi.
Từ khi tôi có được sự khai sáng của Lư Sư Tôn trong mơ, lại nghe được các đồng môn kể họ làm như vậy là không như pháp, tôi chỉ báo danh một lần, về sau không dám báo danh tiếp nữa!
Cảm ơn Sư Tôn đã giúp tôi giảm bớt được một chút cộng nghiệp.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) nói:
Tôi không từ bỏ một chúng sinh nào. Bởi vậy, trong số đệ tử của tôi có đủ loại thành phần, thậm chí lưu manh, kỹ nữ đều có cả. Có thể nói rằng đệ tử Chân Phật Tông không phân biệt:
Thánh phàm.
Cao quý thấp hèn.
Người giàu.
Người nghèo.
Người chân thật.
Người xảo trá.
Người tu thật.
Người tu giả.
……………..
Đương nhiên, tôi muốn các đệ tử làm mọi việc đều như pháp, tuân thủ pháp luật của đất nước, tuân thủ giới luật của Phật giáo, tuân thủ giới luật của Mật giáo. Dưới sự hợp tình, hợp pháp, hợp lý mà tinh tấn tu trì. Trong toàn bộ Chân Phật Tông này, rất nhiều những cá nhân tự mình tạo nên một vòng tròn ảnh hưởng xung quanh mình, điều này cũng thật khó để khiển trách gay gắt, chỉ là tự nhiên sẽ hình thành nên mà thôi.

🌟

Nhưng:
Đừng lừa tiền.
Đừng lừa sắc.
Đừng thiên lệch.
Đừng xa rời. (đánh mất sức mạnh gia trì truyền thừa)
Đừng cực đoan.
Đừng cường điệu thần thông. (đi trên chính đạo mới là quan trọng)


### 07. Bỗng nhiên nhận ra chính mình


Liên Hoa Hỷ Khánh thường hay nghĩ đến một câu hỏi:
"Lư Sư Tôn nói ai ai cũng đều là Liên Hoa Đồng Tử, điều này có đúng không?"
Anh nghĩ:
Mình là một người thấp hèn.
Mình cúi người khom lưng làm việc, có khi còn phải quỳ xuống.
Phải bưng chân khách lên.
Còn phải chà.
Còn phải rửa.
Còn phải xoa.
Còn phải bóp.
Mình làm việc xoa bóp bàn chân tại một tiệm dưỡng sinh.
Mình mà là "Liên Hoa Đồng Tử" sao?

🌟

Liên Hoa Hỷ Khánh là một đệ tử quy y Chân Phật Tông, anh rất chăm chỉ tu pháp.
Anh làm đại lễ bái.
Anh làm đại cúng dường.
Anh niệm chú Tứ quy y.
Anh làm pháp sám hối.
Anh rất ít đọc sách, anh chỉ dựa vào pháp Tứ gia hành mà Lư Sư Tôn đã dạy để mà tu. Ngoài công việc ra thì anh chỉ có tu pháp.

Anh nói:
Công việc luôn đều đều, đôi khi khách hàng nói chuyện thì anh cũng sẽ cùng nói chuyện với khách. Khi khách hàng im lặng thì anh liền niệm chú Tứ quy y: "Namo guru bei, namo buddha ye, namo dharma ye, namo sangha ye."
Hoặc niệm Thượng sư tâm chú: "Om guru liansheng siddhi hum."

Khi làm việc, anh vẫn tự nhắc nhở mình niệm chú. Nói kể cũng lạ, khách hàng của anh đặc biệt nhiều. Khách hàng đặc biệt thích gọi anh xoa bóp chân cho họ. Anh chăm chỉ tu pháp và cũng có được một ít thần thông nhỏ. Anh nghĩ hôm nay muốn có thêm mấy người khách, kỳ lạ là anh liền có thêm mấy người khách. Anh nghĩ hôm nay muốn làm bớt đi mấy người khách, kỳ lạ là khách hàng cũng bớt đi mấy người.
Ví dụ:
Anh nghĩ 20 người thì sẽ là 20 người.
Anh nghĩ 5 người, thì sẽ là 5 người.
Chứng nghiệm này khiến anh vô cùng thích thú, không ngờ chỉ có thực hành Tứ gia hành mà đã đủ để được như vậy.

🌟

Một buổi tối, anh mơ thấy Lư Sư Tôn:
Trong giấc mơ, anh bị rất nhiều dây dợ trói chặt. Những sợi dây đó đều có màu đen, trói anh kín từ đầu đến chân không cựa quậy được, rất khó chịu.
Khi Sư Tôn đến, ngài lại mặc quần áo bình thường. Sư Tôn cúi xuống, giúp anh cởi dây trói.
Từng sợi lại từng sợi.
Từng sợi lại từng sợi.
Rồi rất cẩn thận xếp hết toàn bộ sợi dây lại.
Điều khiến anh hết sức ngạc nhiên vui mừng là:
Sau khi anh được cởi trói.
Anh tự cảm thấy người được cởi trói không phải là chính mình, mà là một Liên Hoa Đồng Tử.

Khi anh nhìn thấy những sợi dây đen được cởi ra, bản thân phóng quang, không ngờ lại là Liên Hoa Đồng Tử.
Lư Sư Tôn là Liên Hoa Đồng Tử.
Bản thân cũng là Liên Hoa Đồng Tử.
Lư Sư Tôn nói với anh:
"Tâm, Phật, chúng sinh, ba thứ không khác biệt. Chỉ cần giải thoát được rồi thì ai ai cũng đều là Phật."

Tỉnh mộng.
Liên Hoa Hỷ Khánh cảm tạ sự chỉ dạy của Lư Sư Tôn!


### 08. Phải hai lần đổ máu


Vợ chồng Liên Hoa Vĩ Hào kết hôn đã nhiều năm nhưng vẫn chưa có con, thế là họ bắt đầu cầu tự. Cầu tự đã ba năm, đó là ba năm thật khó mà chịu đựng được.
Đông, Tây y đều đã khám khắp nơi rồi!
Bác sĩ nói:
"Sự rụng trứng của người vợ không đủ, chất lượng trứng cũng không tốt, khả năng thụ thai cực kì thấp."
Ngoài ra:
Đã làm phẫu thuật kích thích buồng trứng.
Đã làm thụ tinh nhân tạo.
Đã dùng các mẹo dân gian.
……………………

Họ đã tiêu hết rất nhiều tiền, nhưng đều đổi lại là những sự thất vọng và đau lòng hết lần này đến lần khác. Cũng chính vì vậy, vợ chồng Liên Hoa Vĩ Hào chìm trong nỗi ưu phiền cực độ, dường như không còn tự mình gượng dậy được nữa.
Cuối cùng:
Liên Hoa Vĩ Hào bảo vợ đừng bỏ cuộc, hãy thử niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. Họ hướng tới đàn thành trong nhà cầu xin chỉ thị, kết quả chỉ thị là họ phải niệm một vạn biến.
Anh nói:
"Anh cũng niệm giúp."
Bởi vì một vạn biến thực sự là quá nhiều.
Khi họ niệm đến bảy nghìn biến thì tâm trạng của người vợ đã có thay đổi, không còn u buồn nữa, cũng không còn đòi hỏi nữa.
Cô vợ nói:
"Đời này không có con cũng không sao cả!"
Anh chồng nói:
"Không sao là tốt rồi, nhưng vẫn cứ tiếp tục niệm đi vậy!"

Khi sắp được một vạn biến, Lư Sư Tôn liền nhập mộng.
Giấc mơ như sau:
Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn lặng lẽ đi vào.
Không có kim quang tỏa ra rực rỡ.
Không có hoa trời rơi xuống.
Tất cả đều rất tự nhiên, bình thường và an tịnh.

Có điều duy nhất là:
Trên vai Lư Sư Tôn có một bé trai rất đáng yêu đang ngồi đó. Lư Sư Tôn đang chơi cùng cậu bé. Cậu bé và Lư Sư Tôn đều cười hi hi ha ha.
Thế rồi, có một âm thanh nói với Liên Hoa Vĩ Hào:
"Đây là cậu bé mà Lư Sư Tôn sẽ ban cho anh, nhưng vợ anh sẽ phải hai lần đổ máu thì mới có được."

🌟

Sau khi có được giấc mơ này, quả nhiên cô vợ đã có thai. Nhưng là thai ngoài tử cung, đã bị sảy thai băng huyết.
Còn nữa, tệ hơn là, bác sĩ nói:
"Cần cắt bỏ buồng trứng bên trái, bởi vì nó đã bị hủy hoại nghiêm trọng và bị viêm."
Liên Hoa Vĩ Hào nói:
"Cắt bỏ rồi thì khả năng có thai chỉ còn lại một nửa sao?"
Bác sĩ nói:
"Đúng vậy."
Còn nói thêm:
"Tình trạng của vợ anh, nếu như không cắt bỏ thì sẽ nguy hiểm đến tính mạng. Cắt bỏ rồi thì khả năng có thai đã khó càng thêm khó."

🌟

Sự tình không ngờ tới đã xảy ra!
Sau khi phẫu thuật, quả nhiên cô vợ đã mang thai. Thai kỳ tất cả mọi thứ đều tốt đẹp, có rất nhiều giấc mơ báo hiệu điềm lành.
Đến ngày sinh nở, cả mẹ con đều bình an!

Liên Hoa Vĩ Hào nghĩ đến những điều Lư Sư Tôn đã nói trong mơ rằng:
"Phải hai lần đổ máu thì mới có được."
Liên Hoa Vĩ Hào nói:
Liên Sinh Hoạt Phật đúng là một vị Phật chân chính.
Bất kì chữ nào trong sách của Sư Tôn cũng đều là thật.
Niềm tin thanh tịnh là quan trọng nhất.
Cảm ơn Căn bản Thượng sư!


### 09. Bắt rắn và bắt sâu


Có một người phụ nữ cao tuổi, bà là đệ tử quy y, pháp danh là Liên Hoa Chiêu Đệ. Chiêu Đệ là tên thường gọi ở chợ của bà. Trước đây, bởi vì cha mẹ bà đã sinh nhiều con gái, vì muốn sinh một đứa con trai nên mới lấy đặt tên cho bà là Chiêu Đệ. (Nghĩa là gọi một đứa em tới.)

Mỗi lần trong pháp hội, tôi đều sờ đầu cho tín chúng, phần sờ đầu là nghi thức sau cùng. Khi tôi sờ đầu đến lượt Liên Hoa Chiêu Đệ, bà nói:
"Xin Lư Sư Tôn sờ đầu, sờ vai, sờ eo, sờ lưng, sờ chân, xin hãy sờ vào toàn thân tôi."
Tôi hỏi:
"Có chuyện gì sao?
Bà đáp:
"Toàn thân tôi đau nhức."

Người phụ nữ này đã rất già rồi, tôi giảm bớt một chút kiêng kị, bà muốn tôi chạm vào chỗ nào tôi đều chạm vào chỗ đó.

Trải qua nhiều lần sờ đầu. Tôi hỏi Liên Hoa Chiêu Đệ:
"Bà còn đau không?"
Bà đáp:
"Vẫn đau!"
Một tháng sau.
Tôi hỏi:
"Bà còn đau không?"
Bà đau khổ trả lời:
"Vẫn còn rất đau!"
Tôi cảm thấy rất có lỗi, nói với bà:
"Thật sự xin lỗi bà, tôi đã hòa nhập với Bổn tôn để sờ đầu cho bà rồi, công lực của tôi thực sự không đủ."
Bà nói:
"Kì thực tôi cũng đã khám bác sĩ khắp nơi rồi, bác sĩ đều bó tay với tôi, do vậy tôi mới tìm đến thầy."

Cứ như vậy qua một thời gian rất dài.
Rồi đến một hôm, bà kéo tay tôi nói:
"Cảm ơn thầy, Lư Sư Tôn, tôi đã khỏi rồi!"
Tôi nghe xong liền sững lại:
"Khỏi rồi?"
Ngay đến tôi cũng không dám tin. Tôi thấy bà tuổi đã cao, khí huyết đã suy kiệt, cả khuôn mặt đầy nếp nhăn, đi lại loạng choạng, làm sao có thể khỏi bệnh được!
Bà nói:
"Thật sự là khỏi hẳn rồi! Ngày ngày tôi đều trì Căn bản Thượng sư tâm chú."

Tôi hỏi:
"Đã có chuyện gì vậy?"
Bà đáp:
"Tôi đã mơ thấy Lư Sư Tôn!"
Bà kể:
Tôi mơ thấy Lư Sư Tôn đội mũ cỏ, ăn mặc đơn sơ, không nói lời nào. Sư Tôn đưa tay ra, lôi từ trên đầu tôi ra một con rắn, là con rắn tre màu xanh lục, vừa gầy vừa dài, rồi ném vào trong không trung, biến mất luôn.
Tiếp đó, Sư Tôn nắm lấy lưng tôi. Từ trên lưng tôi rơi xuống rất nhiều sâu, màu đen, đầy kín cả mặt đất, một cơn gió thổi đến liền thổi bay sạch lũ sâu không còn tung tích.
Hai vai tôi rất đau, Lư Sư Tôn cầm một cái kẹp, từ từ lôi ra hai con rết rất dài, màu vàng, rất nhiều chân.
Còn nữa:
Ở phần eo, cứ thế lôi ra mấy con ong rất to, đám ong đều bay biến mất.
Đặc biệt là đầu gối, là nơi đau nhất, không ngờ Lư Sư Tôn lôi ra một con rắn nước màu đen, mồm đầy máu.
Đám sâu bọ trên người tôi đều đã bị bắt sạch sẽ.
Lư Sư Tôn cười lớn ha ha, rồi biến mất, chỉ còn lại một làn khói!

Tỉnh mộng, toàn thân đều sảng khoái.
Trời ơi! Tất cả những chỗ đau đều đã khỏi hẳn rồi!


### 10. Đốt xương sống biến dạng


Chương sách này được viết bởi Liên Hoa Đằng Khánh, tôi chỉ thay đổi một chút thứ tự trước sau.

Liên Hoa Đằng Khánh kể:
Tôi là Hoàng Đằng Khánh. Hạ tuần năm 2006 tôi đã quy y Sư Phật, đến nay đã mười năm rồi. Từ khi còn nhỏ cho đến nay, tôi đã luôn ốm yếu nhiều bệnh. Vào năm 20 tuổi, tôi được bác sĩ chẩn đoán là bị bệnh "đốt xương sống biến dạng". Do vậy, phần cơ ở lưng tôi không thể phát triển bình thường, dẫn đến những cơn đau nhức ở lưng.
Điều đau khổ là:
Khi đứng lâu một chút, cảm giác đau đớn ở phần lưng càng ngày càng nặng, toàn thân không sao thoải mái được. Khi ngồi lâu một chút, cảm giác đau ở lưng cũng gia tăng, cũng không khác gì khi đứng. Vấn đề càng ngày càng nghiêm trọng. Tình trạng đứng ngồi không yên này càng ngày càng nặng.

Gần như ngày nào tôi cũng đều phải nhờ người nhà xoa bóp phần cơ ở lưng tôi thì tôi mới có thể ngủ được. Cứ như vậy, tôi bị căn bệnh hành hạ đã rất nhiều năm.

🌟

Tôi quy y Sư Phật, chưa tới một tháng thì đã mơ thấy Lư Sư Tôn. Giấc mơ của tôi như thế này:
Ngài sáng rực rỡ và trang nghiêm làm sao, ngài đứng trên bục ban quán đảnh cho tín chúng. Trời bên ngoài rất tối. Chỉ thấy Sư Phật ở trên bục phóng quang chói lọi. Tôi và những tín chúng khác xếp hàng theo thứ tự chờ nhận quán đảnh. Khi tôi đi đến trước mặt Lư Sư Tôn, Sư Tôn đưa tay đặt lên đầu tôi.

Trong một sát-na, kỳ tích đã xuất hiện:
Có vô số những hạt kim quang rơi xuống trên đầu và toàn thân tôi, tôi giống như khúc gỗ đứng im bất động, tiếp nhận ánh sáng bao phủ quán đảnh cho mình.
Mơ đến đây thì tôi tỉnh dậy. Rất rõ ràng. Tôi có thể nhớ mãi. Tỉnh mộng rồi, tôi cảm thấy rất an bình, nhẹ nhõm, cảm động, dễ chịu.

Có một sự việc bất khả tư nghì đã phát sinh:
Sau khi có được giấc mơ này.
Tôi để ý thấy cái lưng đau của mình hình như đã không còn đau nữa, dường như đã hoàn toàn hồi phục rồi. Cho đến ngày hôm nay, bệnh đau lưng vẫn chưa tái phát. Đây là một chuyện rất kì quái. Đang ngày nào cũng đau, giờ biến thành không còn đau nữa.
Đúng là:
Kỳ tích!

🌟

Giờ đây nhớ lại, tôi thật xấu hổ vì đã không ngay lập tức cảm ơn Sư Tôn trong mơ đã quán đảnh cho tôi. Tôi cũng không kể với ai về kỳ tích này. Và tôi cũng không độ ai quy y.
Chị tôi cũng đã rất kiên nhẫn thuyết phục tôi chia sẻ kỳ tích này cùng với mọi người, để khi Chân Phật còn trụ thế, có thể dẫn dắt và độ có càng nhiều người hơn đến quy y Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật.
Lư Sư Tôn là Chân Phật!

Cuối cùng, hy vọng các sư huynh sư tỉ đồng môn đọc được bản văn này thì đạo tâm càng kiên cố, tu pháp càng tinh tấn. Ai chưa quy y thì hãy mau quy y.

Tại đây, tôi xin lạy ngũ thể đầu địa, kiền thành đảnh lễ cảm ơn Lư Sư Tôn đã từ bi cứu độ.
Nguyện chúc Lư Sư Tôn:
Trường thọ tự tại.
Pháp luân hằng chuyển.


### 11. Ba lần mơ thấy chỉ thị


Có một người không phải là đệ tử của tôi, tên là Chu Dũng, anh ta chỉ là một người thợ chụp ảnh. Anh ta đi theo các phóng viên đến để chụp ảnh phỏng vấn tôi. Anh trông thấy tôi sờ đầu cho các đệ tử thì trong lòng thắc mắc.
Anh nghĩ:
"Sờ đầu có ý nghĩa gì nhỉ?" - Bản thân anh cảm thấy rất có hứng thú.
Chu Dũng cũng hùa theo mọi người nói với tôi:
"Tôi cũng muốn được sờ đầu!"
Tôi cười cười và sờ đầu cho Chu Dũng.

🌟

Chu Dũng trở về nhà, buổi tối đó liền có một giấc mơ.
Mơ thấy Lư Sư Tôn đến nhà anh, không có nhân viên tùy tùng đi theo. Lư Sư Tôn cầm 5000 Đài tệ trong tay, nói với Chu Dũng:
"Anh đang cần lấy lại 5000 tệ đúng không?"
Chu Dũng đáp:
"Đúng vậy!"
Lư Sư Tôn đi vào trong phòng kho, đến trước một chồng sách báo cũ, ấn số tiền 5000 tệ vào trong một cuốn sách.
Chu Dũng nhìn thấy rõ ràng như một với hai.
Lư Sư Tôn nói:
"Tôi để ở đây nhé."
Mơ đến đây thì Chu Dũng tỉnh dậy.

Sự việc là như thế này. Chu Dũng có thói quen giấu tiền. Có một lần vội vã đã tiện tay kẹp 5000 tệ vào trong một cuốn sách. Mấy ngày sau, không ngờ anh lại quên mất chỗ cất tiền.
Anh tìm khắp nơi.
Trong túi quần túi áo.
Trong giầy dép.
Trong bít tất.
Dưới đệm.
Dưới miếng lót ghế sofa.
Tìm kiểu gì cũng không thấy.
Không ngờ trong mơ Lư Sư Tôn đã chỉ thị cho anh, thế là Chu Dũng đã nhớ ngay ra rồi. Trong lúc vội vã, anh đã cất tiền trong một cuốn sách từ chồng sách cũ để trong nhà kho.
Ha!
Tìm thấy rồi! Thật là thần kỳ.

🌟

Lần thứ hai Chu Dũng mơ thấy Lư Sư Tôn. Lư Sư Tôn nói với Chu Dũng:
"Anh có thể tìm thấy tiền, anh có thể tìm được gia đình, tìm được sự nghiệp của anh, nhưng có một thứ anh sẽ không tìm được."
Chu Dũng hỏi:
"Là thứ gì?"
Lư Sư Tôn đáp:
"Phật pháp."
Chu Dũng nói:
"Phật pháp ư, trước nay chưa từng nghĩ đến!"

🌟

Lần thứ ba Chu Dũng mơ thấy Lư Sư Tôn. Lư Sư Tôn nói với Chu Dũng:
"Anh có thể đến quy y tôi được rồi! Đã đến lúc rồi!"
Chu Dũng đáp:
"Tôi không có thời gian."
Lư Sư Tôn nói:
"Thời gian sẽ vào ngày chủ nhật hai tuần tới, đến hôm đó anh sẽ quy y!"
Chu Dũng gật gật đầu.

Tỉnh mộng.
Điều kỳ lạ là, chủ nhật hai tuần sau đó, anh thợ ảnh này lại nhận được thông báo cần phải đi xuống phía nam để phỏng vấn Lư Sư Tôn!
Thế là:
Lần đó Chu Dũng đã quy y.
Công khóa mà tôi giao cho Chu Dũng thực hành là:
"Tứ gia hành."


### 12. Tìm nhà để chuyển nhà


Liên Hoa Truyền Hào muốn chuyển nhà, muốn chuyển nhà thì cần phải tìm nhà. Giữa biển người mênh mông, phải tìm ở đâu mới được đây!

Vì sao muốn chuyển nhà? Bởi vì chủ nhà cứ được dăm ba bữa là lại đòi tăng tiền thuê nhà, đã đến mức quá đáng rồi, cứ làm như người thuê nhà là "đại gia" không bằng.

Liên Hoa Truyền Hào đã tìm suốt mấy tháng nhưng đều không tìm được nhà phù hợp.
Có nhà thì môi trường xung quanh không tốt.
Có nhà thì sinh cơ không tốt.
Có nhà thì rất lộn xộn.
Có nhà thì có vấn đề về vệ sinh.
Có nhà thì đường vào quá nhỏ.
Có nhà thì cách xa công ty quá.
Có nhà thì đắt quá.
Có nhà thì phong thủy quá xấu.
………………………………
Thế là:
Liên Hoa Truyền Hào đã thắp hương cầu nguyện Liên Hoa Đồng Tử trước đàn thành nhỏ của mình.
Đêm đó:
Lư Sư Tôn đã đến. Lư Sư Tôn đưa anh đến một nơi cách phía sau căn nhà anh thuê lúc trước hai con phố. Là căn nhà trên tầng hai. Lư Sư Tôn mở cửa phòng.

Anh nhìn thấy:
Một bộ bàn ghế sofa màu đỏ.
Một chiếc kệ màu cà phê.
Trên tường có một chiếc đồng hồ màu đen.
Mọi thứ sáng sủa sạch sẽ.
Căn nhà rất đẹp đẽ.
Liên Hoa Truyền Hào thấy vậy thì trong lòng rất vui.

Lư Sư Tôn chỉ vào một phía bức tường nói:
"Chỗ này vừa đẹp để có thể sắp đặt một đàn thành nhỏ, là nơi tàng phong tụ khí."
Liên Hoa Truyền Hào nói:
"Vâng ạ."
Lư Sư Tôn nói:
"Căn nhà này không đắt, so với căn nhà hiện tại của anh thì còn rẻ hơn 2000 tệ, có thể thuê được."
Mơ đến đây thì anh tỉnh dậy.

🌟

Liên Hoa Truyền Hào làm theo chỉ thị của tôi trong giấc mơ, đi về phía sau nhà hiện tại hai con phố, quả nhiên đã nhìn thấy thông báo "cho thuê nhà".
Chủ nhà là một người theo đạo Phật, rất tốt bụng.
Anh xem căn nhà. Trời ạ! Giống hệt những gì anh nhìn thấy trong giấc mơ. Trong lòng anh vô cùng kích động, nói thẳng ra là không thể tưởng tượng được!

Anh hỏi giá tiền thuê nhà. Nhưng thực tế là giá thuê chỉ rẻ hơn căn nhà hiện tại có 1000 tệ mà thôi. Liên Hoa Truyền Hào thầm nghĩ: "Điểm này thì không chính xác rồi!"

Chủ nhà lại thấy vẻ hơi ngập ngừng của Liên Hoa Truyền Hào bèn chủ động nói: "Thế này đi! Tôi sẽ giảm thêm 1000 tệ nữa, tôi thấy anh là thanh niên thật thà, như vậy được chứ!"

Liên Hoa Truyền Hào lại được một phen sửng sốt. Điều này đã hoàn toàn đúng với những gì Lư Sư Tôn đã nói rồi.

🌟

Tôi nói:
Đây là một sự thực rõ ràng.
Tôi có thể đến trong giấc mơ của đệ tử, rồi xảy ra hết kỳ tích này đến kỳ tích khác, số lượng không thể tính đếm hết. 
Giá trị cuộc đời này của tôi là: phục vụ chúng sinh. 
Cũng chính là phát bồ đề tâm, độ hóa chúng sinh, đây chính là ý nghĩa cuộc đời này của tôi!


### 13. Đánh cho một trận


Liên Hoa Gia Vệ vì nghèo nên người vợ trẻ trung xinh đẹp của anh không ngờ đã bỏ anh mà đi. Liên Hoa Gia Vệ rất tiếc nuối.

Anh tìm đủ mọi cách để vợ quay về đoàn tụ với mình. Nhưng tình cảm trong lòng người vợ đã chết, cô sẽ không quay về nữa!
Liên Hoa Gia Vệ xin tôi gia trì.
Một lần.
Hai lần.
Ba lần.
Hết lần này đến lần khác, không đếm được đã bao nhiêu lần.

Một hôm, anh hỏi tôi:
"Vợ liệu có quay về không?"
Tôi không trả lời.
Lại có một lần khác, anh lại hỏi tôi:
"Vợ liệu có quay về không?"
Tôi vẫn không trả lời.
Lần thứ ba, anh lại hỏi:
"Vợ liệu có quay về không?"
Tôi nói:
"Để tôi báo mộng cho anh!"

🌟

Anh mơ thấy Lư Sư Tôn.
Lư Sư Tôn đưa Liên Hoa Gia Vệ đi gặp vợ, để anh thấy tình hình vợ mình hiện tại.
Anh nhìn thấy:
Vợ anh đã trở thành gái "bia ôm". (đã sa đọa rồi)
Làm việc tại hộp đêm để sinh sống.
Vợ anh đã thành diễn viên múa cột. (đã đánh mất liêm sỉ rồi)
Vợ anh lên giường với khách, trở thành gái bao của những đại gia.
Vợ anh đã thay đổi rồi, yêu thích hư vinh, đã hoàn toàn quên đi một người là Liên Hoa Gia Vệ.
Anh đã thấy tất cả……..

Trong mơ, tôi hỏi anh:
"Anh còn yêu người vợ này không?"
Anh đáp:
"Còn yêu!"
Tôi hỏi:
"Yêu như thế nào?"
Anh đáp:
"Con sẽ đi cứu cô ấy!"
Tôi hỏi:
"Anh dựa vào cái gì mà đi cứu? Bản thân anh còn chẳng có một xu dính túi."
Anh nói:
"Con dựa vào tình yêu của mình để đi cứu!"

Tôi tức giận, mắng anh:
"Anh đúng là cái đồ trí thức ngu si, anh nghèo như ăn mày thế này, anh còn không muốn từ bỏ, vợ anh đã được người ta bao rồi, trái tim cô ta cũng đã thuộc về những gã đại gia bao nuôi cô ta, cô ta đã như chim thêm cánh cùng bay với người ta rồi!"
Anh nói:
"Con vẫn yêu cô ấy!"

Tôi tức điên, cầm lấy một cây gậy đánh cho Liên Hoa Gia Vệ một trận thừa sống thiếu chết, thương tích khắp mình mẩy.
Tôi nói với anh:
"Yêu và hận là đối lập nhau, bám chấp vào cả hai cái này và đều không từ bỏ được, như thế thì sao có thể thấy được ánh sáng vô hạn của minh giác nội tại được? Tôi đánh anh chính là đánh cái vô minh bám chấp của anh."

🌟

Sau khi anh tỉnh giấc.
Anh đã có một cảm giác an bình không lời nào miêu tả được, như một bầu trời xanh trong vắt, dường như anh đã hiểu ra rất nhiều.
Anh thâm nhập vào mật pháp. Hiểu được rằng tất cả đều là duyên phận, cũng hiểu rõ nhân quả. Anh ta thiền định quán chiếu tất cả.
Cuối cùng anh đã hiểu ra: Tùy duyên đi! Tùy duyên đi!
Giờ anh đã tự do rồi!


### 14. Giấc mơ của Liên Hoa Bảo Dĩnh


Tôi, Liên Hoa Bảo Dĩnh tham gia pháp hội Quan Âm Tứ Thủ do Hoa Nghiêm Lôi Tạng Tự ở Malaysia tổ chức. Thượng sư chủ đàn là Liên Lai Kim cương Thượng sư.
Khi nhập tam ma địa, trong lòng tôi nghĩ:
"Thượng sư Liên Lai là Tranh Liên Hoa Đồng Tử, thế còn mình thì sao? Mình là ai?"
Đêm đó, Lư Sư Tôn đã nhập mộng, nói:
"Chẳng phải anh rất muốn biết anh là ai sao?"
Tôi tỉnh dậy một lúc, rồi lại ngủ thiếp đi.
Lư Sư Tôn lại nhập mộng, và lại nói:
"Chẳng phải anh rất muốn biết anh là ai sao?"
Sư Tôn nói:
"Anh là...................."
Lư Sư Tôn vừa nói xong.
Giấc mơ trở nên tối thui.
Sau đó, tôi tỉnh dậy, tuy nhiên không hiểu được huyền cơ của giấc mơ này.

🌟

Sau đó, tôi lên mạng. Tôi xem Kim Liên Hoa Đồng Tử thuyết pháp, Tranh Liên Hoa Đồng Tử thuyết pháp, Lục Liên Hoa Đồng Tử thuyết pháp.
Lư Sư Tôn nhập mộng. Xuất hiện:
Lư Sư Tôn.
Chủng tử tự. (Bổn tôn)
Kim Liên Hoa Đồng Tử.
Ngày hôm sau, tôi đọc cuốn sách "Bí mật niêm hoa thủ" [văn tập Liên Sinh Hoạt Phật số 207].
Trời ạ!
Câu trả lời nằm trong đó.
Cảm ơn Lư Sư Tôn.

🌟

Gần đây, Lư Sư Tôn lại nhập mộng.
Hỏi:
"Anh muốn đi đâu?"
Tôi không trả lời được, cúi đầu, chỉ nói:
"Sư Tôn."
Lư Sư Tôn lại hỏi:
"Anh muốn đi đâu?"
Tôi vẫn cúi đầu, cũng chỉ có thể nói:
"Sư Tôn, con................"

Gần đây tôi mới hiểu ra điều mà Sư Tôn hỏi trong mơ đều là những câu hỏi mang hàm nghĩa sâu sắc.
Tôi đã hiểu ra rằng:
Tôi chẳng là cái gì cả.
Nhưng tôi cũng đều là mọi thứ.
Tôi luôn luôn tồn tại.
Lư Sư Tôn cũng luôn luôn tồn tại.
Thật xin lỗi! Đệ tử ngu dốt, nghiệp chướng nặng, may có được Sư Tôn quan tâm, liên tục chỉ dẫn, liên tục đến trong mơ.
Thầy thật sự quá từ bi, đệ tử sẽ càng tinh tấn hơn.

🌟

Lư Sư Tôn nói:
Tâm.
Phật.
Chúng sinh.
Bình đẳng không khác biệt.
Tâm Phật chính là tính Không.

Còn nữa:
Anh muốn đi đâu?
Chẳng nơi nào thuộc về anh cả.
Đừng nên bám chấp vào việc đi đâu.
Anh chỉ cần từ bỏ sự bám chấp.
Thì bất kể là nơi nào cũng đều là anh.
Nếu vẫn còn bám chấp.
Thì anh chẳng là cái gì cả............


### 15. Liên Hoa Nguyên Sạn nói như vầy


Khi tôi vừa mới quy y Lư Sư Tôn, chính là thời kỳ Sư Tôn bế quan ẩn tu. (bảy năm)
Tôi vừa làm việc, vừa học thêm bằng cao học. Bởi vì làm việc quá độ nên tôi đã mắc bệnh gút. Khi bệnh gút mới bắt đầu thì nó hành hạ tôi không ngừng, luôn khiến tôi đau đớn khổ sở, không có lúc nào tôi được yên.

Một hôm, tôi làm việc đến tận khuya, đột nhiên cơn đau gút phát tác. Đầu gối tôi sưng lên, hơn nữa còn sưng đến mức khủng khiếp, tôi đau đến mức không biết đã đến cấp độ mấy rồi!

Tôi nằm trên giường mà không sao ngủ được.
Vợ thấy tình hình của tôi bèn nói:
"Đi cấp cứu đi!"
Tôi nói:
"Sáng sớm mai đi, tiêm một phát rồi sau đó lại đi làm."

Cứ như vậy tôi chịu đựng cơn đau, thế rồi bất tri bất giác tôi chìm vào giấc mơ. Trong mơ tôi tham gia pháp hội của Lư Sư Tôn.
Pháp hội chưa bắt đầu. Sư Tôn đi đến trước chỗ ngồi của tôi, nhìn tôi một cái. Cười với tôi một cái. Rồi bất ngờ, thầy đưa hai tay ấn vào chỗ bị gút trên đầu gối tôi.
Oa! Oa!
Tôi đau tới mức ngất xỉu luôn rồi!
(Kì thực vẫn là trong mơ, tôi nhớ rất rõ ràng.)

Ngày hôm sau tỉnh dậy.
Tôi chuẩn bị các thứ để toan đi làm. Vợ tôi nói:
"Đi đến bệnh viện gặp bác sĩ trước đã rồi hẵng đi làm."
Tôi sững người lại. Ớ! Buổi sáng tỉnh dậy, không ngờ tôi chẳng còn cảm thấy đau nữa, chỗ sưng cũng hoàn toàn tiêu biến, bệnh gút đã biến mất không còn tăm tích. Tôi đã quên mất cơn đau khủng khiếp của mình đêm qua.

Hóa ra, chỗ sưng đau do gút của đêm qua đã được Lư Sư Tôn ở trong mơ ấn xẹp xuống, chẳng ngờ đã khỏi rồi. Cảm ơn Sư Tôn đã cứu chữa. Sau khi tu tập Chân Phật Mật Pháp, bệnh gút đã rất lâu rất lâu không còn tái phát nữa.

Dường như tôi đã hoàn toàn khỏi bệnh.
Cảm ơn lại cảm ơn.

🌟

Lư Sư Tôn nói:
Liên Hoa Nguyên Sạn đã hoàn toàn khỏi bệnh gút.
Ngoài ra còn có:
Liên Hoa Sa Bạch đã không còn u não.
Liên Hoa Y Toàn đã khỏi bệnh sỏi thận.
Liên Hoa Hồng Long đã khỏi bệnh xuất huyết dạ dày.
Liên Hoa Thiên Thành đã thẳng được xương cột sống.
Liên Hoa Nhất Kiện đã khỏi bệnh thoát vị ruột.
..............................

Phật Đà là một Đại Y Vương, Phật có ước nguyện từ bi là đem đến niềm vui cho con người, loại bỏ mọi đau khổ của chúng sinh. Phật hy vọng rằng chúng sinh đều có thể trở thành những người chí thiện giống bản thân mình, thế nên người người đều có Phật tính, người và Phật bình đẳng.

Chỉ cần là người có nhân duyên thì Phật nhất định sẽ toàn lực cứu giúp.
Không được tạo nghiệp. (không được phạm giới)
Phật nhất định sẽ cứu độ.

Do đó:
Nếu Phật nghe thấy những tiếng than đau khổ thì Phật sẽ thực hiện lời nguyện với chúng sinh, giúp chúng sinh thoát khổ được vui.
Nếu Phật nhìn thấy người bị bệnh thì Phật sẽ thực hiện lời nguyện với chúng sinh, sẽ tiêu trừ nghiệp chướng.
Nếu Phật thấy người bị chết ngoài ý muốn thì Phật sẽ thực hiện lời nguyện với chúng sinh, giúp họ vãng sinh Phật quốc.

Kì thực Lư Sư Tôn
Chẳng có kỹ xảo gì.
Cũng chẳng có đại thần thông.
Cũng chẳng có đại pháp lực.
Pháp bảo lớn nhất của Lư Sư Tôn chính là tình yêu đối với chúng sinh.


### 16. Con cá thoát khỏi vụ nổ


Vụ nổ bụi ở công viên nước Bát Tiên là tin tức nổi bật tại Đài Loan. [Sự việc xảy ra vào ngày 27/6/2015 tại công viên nước Bát Tiên (Formosa Fun Coast Water Park) tại quận Bát Lý, Tân Đài Bắc, Đài Loan.]
Bởi vì màn trình diễn phụt ra rất nhiều bụi màu sắc đã gây cháy, trở thành một vụ hỏa hoạn lớn. Người chết đã chết, người bị thương đã bị thương. Người chết rất nhiều. Những người bị bỏng đều rất nghiêm trọng (bị bỏng nặng).
Đây là một tin tức rất lớn. Các kênh truyền hình, các tờ báo đều đưa tin và báo cáo rất dài và cũng khá lâu. Còn tôi, tôi cũng giúp những người họ cầu phúc, cũng làm siêu độ cho những người đã chết.

🌟

Một hôm.
Có một cô gái trẻ tên là Liên Hoa Thục Hòa đã lên tầng sáu ở Đài Loan Lôi Tạng Tự. [Tầng 6 tại Đài Loan Lôi Tạng Tự là nơi đặt đàn thành riêng của Sư Tôn, là nơi Sư Tôn ban quán đảnh, gia trì đặc biệt, việc hỏi chuyện cũng diễn ra ở đây.]

Cô nói:
"Cảm tạ ơn cứu mạng của Lư Sư Tôn!"
Tôi sững người lại, hỏi:
"Vì sao lại cảm ơn tôi?"
Cô đáp:
"Lư Sư Tôn ở trong mơ đã cứu con."
Tôi hỏi:
"Cứu như thế nào?"
Cô đáp:
"Trong mơ Sư Tôn đã cảnh báo con đừng đi!"
Tôi hỏi:
"Cảnh báo cô đừng đi, là cảnh báo điều gì?"
Cô đáp:
"Lư Sư Tôn nói, dạ tiệc tại công viên nước Bát Tiên đừng nên đi!"
Tôi gục gặc đầu.

Cô nói:
"Bạn con hẹn con đi, con đã đồng ý rồi. Nhưng sau đó, buổi tối con mơ thấy Lư Sư Tôn hiện thân nói với con rất nghiêm túc rằng: Không được đi! Không được đi!"
Cô nói:
"Mới đầu, con cũng không mấy để ý, nhưng hai ngày sau, con lại có giấc mơ giống như vậy: Không được đi! Không được đi!"
Cô lại nói:
"Lời cảnh báo trong mơ lần thứ hai, con cũng đều không bận tâm lắm. Con nghĩ ban ngày nghĩ sao thì đêm mơ thấy vậy, có thể chẳng phải là Sư Tôn bảo con đừng đi, bởi nói cho cùng cũng chỉ là một bữa tiệc thôi, có gì mà không thể đi?"

Cô nói tiếp:
"Nhưng giấc mơ thứ ba như thế lại đến. Cũng vẫn là: Không được đi! Không được đi!"
Cô cảm thấy hoang mang, do dự vẫn chưa quyết định được.
Điều càng lạ hơn nữa là:
Cô lại có giấc mơ thứ tư.
Không được đi!
Không được đi!
Không được đi!

Giấc mơ cực kì rõ ràng, và hiển nhiên, lần này Lư Sư Tôn tỏ ra vô cùng vội vã!

Sau khi tỉnh dậy. Vừa hay buổi tối hôm đó, cô có một người bạn từ nước ngoài đến thăm, thế nên cô cũng có thêm lý do thuyết phục mình không đi nữa. Nếu như cô đi đến dạ tiệc kia thì không chết cũng bị thương rồi. (Vết bỏng sẽ thành cơn ác mộng suốt cả cuộc đời.)

🌟

Cô nói:
"Cảm tạ ơn cứu mạng của Sư Tôn!"
Cô hỏi thêm:
"Con là đệ tử mới quy y, cũng không phải là ngày nào cũng tu, nhưng vì sao Sư Tôn lại cứu con?"
Tôi đáp:
"Là Phật Bồ Tát cứu cô đó!"
Cô hỏi:
"Vì sao Phật Bồ Tát muốn cứu con?"
Tôi đáp:
"Bởi vì trên người cô có sức mạnh gia trì của dòng truyền thừa."


### 17. Quan điểm tôn giáo của tôi


Khi còn nhỏ, tôi vốn là một tín đồ đạo Cơ Đốc, từ tiểu học cho đến trung học. Nguyên nhân là vì, ở con ngõ phía sau nhà tôi có ba nữ sinh họ Cao, tên là Cao Thuần Tư, Cao Thuần Cầm, Cao Thuần Tâm. Cả nhà họ đều theo đạo Cơ Đốc. Tôi thích Cao Thuần Tâm, thế nên tôi cũng theo đạo Cơ Đốc.

Tôi đã nhận lễ rửa tội. Mục sư của tôi là ngài Tô Thiên Minh.
Từ lớp học ngày Chủ Nhật, tôi đã học đến lớp sư phạm. Cuối cùng, tôi đã trở thành thầy giáo của lớp nghiên cứu kinh sách, cũng trở thành thầy giáo của lớp học Chủ Nhật.

Tôi tham gia vào đội thánh ca. Từng có lần, có một trưởng lão rất yêu thích tôi, muốn gả con gái của ông cho tôi. Cô ấy tên là Vương Tố Phân. Nhưng vì tôi đã gia nhập quân đội nên cả nhà tôi lại chuyển tới Đài Trung.

Cuộc đời tôi như thế này:
Sống tại Cao Hùng 19 năm.
Sống tại Đài Trung 19 năm.
Tôi sống ở Mỹ cho đến năm nay là tôi đã 72 tuổi, sống tại Seattle đã 34 năm rồi.
……………………

Cuộc đời với vai trò là một tín đồ đạo Cơ Đốc của tôi kéo dài suốt cho đến khi tôi học xong trường quân đội, vào liên đội trắc lượng số 5802 mới có sự thay đổi.
Bước ngoặt là:
Tôi đã gặp được nhân duyên kỳ lạ.
Tôi đã tận mắt nhìn thấy Diêu Trì Kim Mẫu, A Di Đà Phật, Địa Tạng Bồ Tát.
Do vậy tôi mới học đạo.
Học Phật giáo.
Học Hiển giáo.
Học Mật giáo.
Liên tục cho đến khi thành lập Chân Phật Tông.

Quan điểm tôn giáo của tôi khác với người bình thường, đối với các tông phái tôi đều kính trọng.
Tôi không phê bình Cơ Đốc giáo.
Không phê bình Thiên Chúa giáo.
Không phê bình Hồi giáo.
Không phê bình Do Thái giáo.
Không phê bình Đông Chính giáo.
Không phê bình Đạo giáo.
...
(Tôi vẫn luôn cho rằng tôn giáo có tính phổ cập.)
Quan điểm của tôi là:
Về mặt cấp độ, có chút khác biệt.
Về mặt nhân duyên, có chút khác biệt.
Chỉ là tôi cho rằng tư tưởng của Phật Đà có phần hoàn hảo hơn.

Do vậy, tôi độ chúng sinh không có sự phân biệt.
Quan niệm của tôi là:
Tâm, Phật, chúng sinh thực sự không có sự phân biệt.


### 18. Dòng sông chảy dài


Từ năm 2010 đến năm 2016.
Cứ mùa hè tôi trở về Mỹ ở nửa năm. Khi mùa thu, tôi lại trở về Đài Loan ở nửa năm. Nói cách khác là nửa năm ở Mỹ, nửa năm ở Đài Loan.
Vào mỗi thứ bảy và chủ nhật, tôi đều thuyết pháp.
Tôi thường thuyết pháp về:
Khổ.
Không.
Vô thường.
Vô ngã.
Tính Không.
Vốn dĩ thế giới này chẳng thuộc về ta, do vậy ta không cần phải từ bỏ nó, cái cần từ bỏ chính là sự bám chấp vào tất cả mọi thứ.
Vạn vật đều phục vụ cho chúng ta sử dụng, nhưng lại không thuộc về chúng ta. Ngay cả chính ta cũng không phải là ta, do vậy cần cắt đứt hết phiền não. Cái gì đến là do duyên, cái gì đi cũng là do duyên, cho nên điều này là duyên khởi tính Không.

Còn nữa:
Như đến, dường như có đến; như đi, dường như có đi.
Thế nên, ngộ Không.

🌟

Người phiên dịch Tiếng Anh của tôi là Liên Hoa Hiểu Phong. Có một lần, cô mơ thấy Lư Sư Tôn. Lư Sư Tôn biến thành rất to rất cao, đứng trên đỉnh một ngọn núi. Lư Sư Tôn nhổ ra một bãi nước bọt. Bãi nước bọt này hóa thành một dòng sông rất dài. Dòng sông rất dài này bất ngờ chảy vào khắp toàn thân của Liên Hoa Hiểu Phong.
Từ đầu đến chân. 
Cô cảm thấy mát mẻ sảng khoái vô cùng.

Tỉnh dậy! Tất cả các bệnh nghiệp đều được tiêu trừ. (Giấc mơ này vô cùng rõ ràng.)
Cô nói:
Trước khi có giấc mơ này, cô đã mắc phải một căn bệnh. Lục phủ ngũ tạng của cô đều rất nóng. Nhiệt miệng nhiệt lưỡi. Toàn thân khô nóng. Cực kì không khỏe mạnh. 
Cho đến khi mơ thấy Lư Sư Tôn, mơ thấy Sư Tôn nhổ ra bãi nước bọt hóa thành con sông rất dài. Sông chảy thấm đẫm toàn thân cô. Thế là tình trạng toàn thân khô nóng của cô đã hoàn toàn được tiêu trừ.
Cảm ơn Sư Tôn.

Tôi nói:
Giống như một chiếc bình, đừng đổ đầy bình với phiền não.
Giống như một chiếc bình, đừng đổ đầy bình với tham, sân, si.
Giống như một chiếc bình, đừng đổ đầy bình với những nóng giận, ghen tuông, đố kỵ, thù hận.

Tôi nói:
Giống như một chiếc bình, cần phải đổ đầy nó với:
Từ bi.
Lương thiện.
Bố thí.
Chân thật.
Thanh tịnh.
Pháp nhũ.
Trí huệ.

Kì thực, tu hành chính là tu sửa hành vi của chính mình cho đúng, tu cho từ bi, tu cho trí huệ, tu cho thanh tịnh, tu cho khiêm tốn, tu cho bao dung, tu cho biết ơn. Cảm ơn! Cảm ơn tất cả!


### 19. Ác mộng của Liên Hoa Ngọc Quốc


[Sự việc được nói đến trong chương này là việc một đệ tử trong dòng phái tên Chiêu Đức đã rời bỏ Chân Phật Tông, trở thành tà môn ngoại đạo. Anh ta lôi kéo, tổ chức, rốt cuộc tạo ra cái chết của một nhóm người trong một vụ hỏa hoạn.]

Là một đệ tử Chân Phật Tông, tôi cần phải nói mấy câu!

Đối với người bị tai nạn chết và gia đình họ, chúng ta cần phải biểu thị lòng tiếc thương sâu sắc! Bất luận là xuất phát từ đạo đức lương tâm, từ quan điểm xã hội hay phạm trù pháp luật, đều cần bày tỏ rõ ràng sự an ủi đối với người chết và gia đình của người chết.

Thực tế:
(1) Người phải chịu trách nhiệm và hậu quả chủ yếu:
Chiêu Đức và người chết cần có sự phân biệt rõ. Lần này, Chiêu Đức là người đứng ra tổ chức vụ cháy và tụ tập những người cùng lên kế hoạch, thuộc về hành vi cá nhân! Vậy Chiêu Đức là người chịu trách nhiệm chính!

(2) Thuộc tính hành vi của Chiêu Đức:
Lưu X Hào và Kim X (tên trên mạng) — hai người phụ trách của Chiêu Đức, thuần là hành vi cá nhân. 1 năm trước khi đi pháp hội Đài Loan và trên mạng, Lưu X Hào và Kim X đã biết tịnh xá của Chiêu Đức, hơn nữa họ còn tham gia vào nhóm trò chuyện [group chat] của những người này một khoảng thời gian.

Lúc mới đầu mọi người đều cảm thấy bọn họ rất tốt, rất tinh tấn, vui vẻ khiến người khác phải cảm động! Về sau dần dần phát hiện ra nội dung trên Facebook của bọn họ từ từ thay đổi, đa phần là các thể loại cảm ứng thần thông! Trong nhóm trò chuyện [Facebook group], Lưu là chủ nhóm, về sau Lưu muốn mọi người đi đến các nhóm trò chuyện khác để tuyên truyền và lôi kéo người ta. Nếu như có ai phản đối hành vi của anh ta thì sẽ bị khiển trách, thậm chí sẽ bị cảnh cáo "đá" ra khỏi nhóm!

Anh ta tùy tiện dạy mọi người cách trì chú "tốc độ", tự cho là có lúc có thể trong vòng một tiếng đọc được 1 vạn biến. Lưu tự xưng là Hứa Viễn (Vương Gia Công), sau này còn tự xưng rằng Tế Công là nghĩa phụ của anh ta và truyền pháp cho anh ta, tự khoác lác rằng đó là "giáo ngoại biệt truyền", sau này anh ta sẽ tự lập nên dòng truyền thừa riêng. Anh ta thường lên đồng cho bị nhập rồi múa đao múa kiếm, gia trì bừa bãi cho đồng môn, đốt những ngôi nhà vàng mã nhỏ.

Anh ta thường đăng ảnh lên nhóm, với những hành vi và lời bình luận kiểu như "trời chưa sáng đã đi ra nghĩa địa đốt tháp khói, thời gian ngủ càng ngày càng ít, thường xuyên đi khắp các chùa miếu, những việc gọi là siêu độ và lĩnh chỉ". Tất cả đã chứng thực rằng đây không phải là truyền thừa và thuộc phạm trù truyền dạy của Chân Phật Tông.

Khi đó, tôi đã bắt đầu nghi ngờ hành vi của bọn họ, Kim X nói không được nghi ngờ đại ca Hứa Viễn (chính là Lưu X Hào, tự gọi mình là Vương Da Công Hứa Viễn), Kim X nói Sư Tôn thường gọi điện cho bà ấy hỏi thăm các việc pháp vụ. Sợ tôi không tin, bà ta còn cho tôi xem một bức ảnh chụp lại màn hình điện thoại nhưng lại không có số điện thoại, rõ ràng là nói láo! (Trong các pháp hội, Sư Tôn đã nhiều lần nhấn mạnh rằng Sư Phật từ trước đến nay đều không dùng điện thoại, cũng không thể nào trực tiếp tìm gặp Sư Phật được, muốn gặp đều phải thông qua việc sắp xếp của thị giả của Sư Phật.)

Tôi chặn Facebook, và muốn tìm một hoàn cảnh thích hợp để rời khỏi nhóm trò chuyện của bọn họ. Một hôm, ở trong nhóm, Lưu chỉ trích một người nào đó không nói rõ tên, nói rằng sẽ "đá" người đó ra khỏi nhóm! Tôi không biết anh ta nói ai, nhưng nói luôn: "Vậy tôi sẽ rời nhóm luôn, không muốn một ngày nào đó bị bọn họ đá ra khỏi nhóm!"

Lưu và Kim X nói: "Cô hãy nghĩ cho kĩ, quyết định bỏ đi rồi sẽ không được quay lại nữa, tất cả hậu quả tự chịu, xuống địa ngục đừng có oán chúng tôi không giúp cô! Sẽ có báo ứng đấy, coi chừng!" Tôi vô cùng tức giận nói: "Chính vì cái nhóm trò chuyện đồng môn bạn bè này, không biết các người thì không bị phiền phức, biết các người rồi thì ngược lại lại chuốc phiền phức xuống địa ngục! Thật là xui xẻo! Tưởng tôi dễ bị dọa lắm sao!"

Về sau, tôi thường gặp những giấc mơ bẩn thỉu! Không thoải mái! (Về sau có một hôm tôi mơ thấy tôi và chị tôi bị thiêu cháy, ngọn lửa bao vây xung quanh tôi và chị tôi. Chị tôi chạy khắp xung quanh tìm lối ra, nhưng không tìm được lối nào để thoát.

Trong mơ chị thét gọi tôi: "Sao còn ngồi bất động ở đó, không thấy gấp lắm rồi sao?" Chị tôi nói xong, quay đầu lại thì nhìn thấy Sư Phật đang đứng bên cạnh tôi và nói với tôi: "Đến đây! Đi cùng ta!" Chúng tôi liền được Sư Phật cứu ra một cách dễ dàng. Chị tôi nghe được một âm thanh nói: "Bị bỏ bùa, hắn ta muốn để cho các người cả nhà đều chết hết!" Đột nhiên trong mơ tôi thấy sáng suốt cả! Sau khi tỉnh dậy, thân thể hồi phục lại như bình thường, sau này không còn bị gặp những giấc mơ bẩn thỉu và không thoải mái nữa!)

Sau này tôi mới nhớ lại rằng tôi đã từng cho bọn họ xem một tấm ảnh cả nhà mình. Cũng bởi vậy mà tôi biết được rằng Sư Phật đã dùng sức mạnh của Phật pháp để giải cứu cho hai chị em tôi.

Về sau tôi nghe những đồng môn khác nói rằng Lưu bị ác quỷ ám vào người, đi đâu cũng nói năng lung tung quấy nhiễu đồng môn. Còn nghe nói, anh ta muốn tự lập nên môn phái riêng, cũng có thông tin trên mạng của đồng môn. Tôi từng có kinh nghiệm tiếp xúc với họ, do vậy tôi biết được một vài tình huống. (Họ đã phá giới nguyện samaya của Mật giáo, không còn nghi ngờ gì nữa). Những việc làm của họ không có liên quan gì đến Chân Phật Tông và Liên Sinh Hoạt Phật!

Liên quan đến Chân Phật Tông
Rất nhiều điều thực tế đã chứng minh, Chiêu Đức đã lợi dụng danh nghĩa của Chân Phật Tông để gom tiền, lừa bịp đồng môn! Lại còn phủ nhận truyền thừa Chân Phật Tông, tự lập ra môn phái riêng, phá giới nguyện samaya của Mật giáo! Tịnh xá của Chiêu Đức không phải là đạo tràng được Chân Phật Tông ủy quyền cho phép, anh ta cũng không phải là nhân viên hoằng pháp được Chân Phật Tông chỉ định. Do vậy tất cả hành vi của anh ta đều thuần túy là những hành vi cá nhân!

Che mắt truyền thông
Truyền thông thường hay vẽ hươu vẽ vượn, râu ông nọ cắm cằm bà kia, xuyên tạc và làm méo mó để che giấu những sự thật về chủ thể — ở đây là tịnh xá Chiêu Đức. Truyền thông đã đem tạt xô nước bẩn về vụ hỏa hoạn và tai họa chết người của Chiêu Đức vào Chân Phật Tông và Liên Sinh Hoạt Phật!

Đài Loan là đất nước tự do tín ngưỡng tôn giáo, con người có thể tín ngưỡng các tôn giáo khác nhau, các đoàn thể tôn giáo không thể trói buộc hành vi của người theo tín ngưỡng, cũng không thể chịu trách nhiệm thay những hậu họa của những hành vi không chính đáng và hành vi phạm tội của người theo tín ngưỡng. Ví dụ, con cái phạm tội không thể nào truy cứu trách nhiệm của thầy giáo. Pháp luật không thể truy cứu sư phụ của người theo tín ngưỡng tôn giáo đã phạm tội, hơn nữa lại còn bỏ qua trách nhiệm và thực tế của chủ thể phạm tội! Ở đây có thể thấy sự đổi trắng thay đen của truyền thông, không hề có đạo đức nghề nghiệp, che giấu sự thật dắt mũi công chúng, lừa bịp đại chúng!

Ngày nay con người tự do tín ngưỡng, cảnh sát nếu như có bắt kẻ phạm tội, một khi đã hỏi thì hầu như rất ít người nên có tâm lý tìm kiếm tín ngưỡng tôn giáo. Có một số người vẫn có vài vị sư phụ của các tôn giáo khác nhau, lẽ nào họ đều được coi là vô tội sao? Nếu là như vậy thì rất nhiều đại sư tôn giáo phải nên bị bắn bỏ rồi. Thật quá nực cười! Truyền thông của một quốc gia dân chủ mà lại có lý luận bỉ ổi hoang đường như vậy!

Đối với phản ứng của đồng môn trong môn phái và các ý kiến quan điểm, chủ yếu tập trung vào một số điểm dưới đây:
(1) Quan hệ samaya giữa thầy và trò!
(2) Giới luật giữa huynh đệ kim cương không thể nào khởi lên sự oán ghét!
(3) Cảm thông với những người bị chết trong thảm họa và mối quan hệ giữa kẻ tội đồ Chiêu Đức vẫn chưa được làm rõ ràng!
(4) Những người đồng tu phân chia thành những người thực tu giữ im lặng và những người chủ trương bảo vệ thầy và tông giáo, phản ánh làm rõ sự thật và cung cấp những bằng chứng, nhằm bảo vệ tông phái và danh dự thanh sạch của Sư Phật!

Tôi chỉ muốn nói lên quan điểm của tôi:
(1) Liên Sinh Hoạt Phật và tôi có quan hệ thầy - trò, truyền thừa từ thầy và samaya của Mật giáo, xem thầy như Phật, kính thầy như cha! Thậm chí cho dù Phật Bồ Tát và Tổ Sư có đứng bên cạnh Sư Tôn thì tôi cũng cần phải đảnh lễ Sư Phật Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật tôn quý trước hết.

Mật pháp của tôi có được là do Liên Sinh Hoạt Phật truyền cho, không có Liên Sinh Hoạt Phật thì không có Mật pháp được truyền thụ và tôi. Sư Phật đã phải nhận sự buộc tội không đúng sự thật và ngớ ngẩn về sự kiện ảnh hưởng tới sinh mạng con người vô giá, tôi làm sao có thể không quan tâm đến Sư Phật mà bỏ đi tu pháp một mình được!

Tôi không làm được điều đó, bởi vì khi mẹ tôi mắc bệnh ung thư và đã qua đời, đều là tôi đã thỉnh cầu Sư Phật gia trì cho mẹ. Lúc đó bà vẫn ở Trung Quốc Đại Lục, nhờ Sư Phật gia trì mà không bị đau đớn. (Bệnh ung thư tụy giai đoạn cuối thì ở bên ngoài vùng bụng sẽ nhìn thấy rõ ràng và sờ thấy được khối u ung thư lồi lên to bằng nửa nắm tay.) Một người bị ung thư giai đoạn cuối vốn thường chỉ còn chờ chết kêu than vì đau đớn ở nhà và ở bệnh viện, hay bị sốt cao và thường rơi vào trạng thái hôn mê. Khi tôi đi ra bưu điện gửi thư đi Malaysia, thỉnh Thượng sư Liên Doãn ở Pháp Luân Lôi Tạng Tự tại Malaysia giúp mình chuyển lá thư thỉnh cầu Liên Sinh Hoạt Phật gia trì đi Mỹ. Lúc từ bưu điện trở về nhà, tôi đã kinh ngạc nhìn thấy mẹ biểu hiện vô cùng tỉnh táo và không hề đau đớn. Tôi liên tục quan sát suốt một tuần, mẹ tôi đều không bị sốt cao và đau đớn.

Bác sĩ chủ nhiệm khoa ung bướu của bệnh viện đích thân đến nhà thăm, cũng thể hiện sự kinh ngạc và hoang mang khó tin, bất khả tư nghì! Mẹ tôi kéo tay tôi nói, cảm tạ Liên Sinh Hoạt Phật! Cảm tạ đứa con này của tôi đã vì mẹ mà quy y Liên Sinh Hoạt Phật! Cảm ơn Hoạt Phật đã cứu khổ cứu nạn! Liên tục suốt hai tháng sau, cho đến khi mẹ tôi lâm chung, cũng đều không trải qua cơn đau đớn ghê gớm nào, mà mẹ cũng không hề uống bất kì loại thuốc nào (thuốc giảm đau vào thuốc hạ sốt).

Tôi không thể nào không nói ra bức xúc, bởi lúc bình thường khi báo danh ở pháp hội của Sư Tôn, tôi chưa hiểu thế nào là “như như bất động” [nên tôi vẫn chưa làm được điều đó]. Vì thế hôm nay tôi lại càng không thể có lòng dạ nào mà ngồi tại nhà tu pháp của Sư Phật được! Tôi không thể quên ơn!

(2) Thầy và pháp, cái nào quan trọng? Tôi thì nghĩ, thầy chính là Phật, chính là pháp, chính là tất cả mọi cái gốc, do vậy mới gọi là Căn bản truyền thừa Thượng sư. Nếu như tôi tu pháp mà không để tâm đến thầy, cũng chẳng khác gì tôi có pháp mà không thầy! Có thầy mới có pháp, do vậy trình độ tu hành của tôi trước mắt chỉ có thể xem là "có thầy vô pháp". Vì vậy cần phải coi Căn bản truyền thừa Thượng sư là chủ yếu.

Bảo hộ Sư Phật thật tốt mới có thể bảo hộ tốt được chính pháp! Tôi thường niệm thỉnh Phật trụ thế. Do đó, tôi không thể nào sau khi thỉnh Phật trụ thế mà lại giương mắt lên nhìn Sư Phật liên tục bị người ta hại như vậy. Tôi không có năng lực gì thì cũng phải hô lên thật to cho mọi người biết!

(3) Đối với những người có tu hành nói rằng Sư Tôn chứng đắc "tính Không", do đó căn bản là sẽ vô sự, lại còn mượn lời Sư Tôn để nói rằng: "Tất cả đều là huyễn! Tất cả đều sẽ qua thôi!" Nghe ra thì có vẻ có lý. Tôi nghĩ tôi vẫn chưa chứng đắc "tính Không", tôi không hiểu! Tôi chỉ biết là không có Sư Phật thì không thể dẫn dắt tôi chứng đắc "tính Không" được!

Nhưng tôi nhớ Sư Phật có nói: "Nơi đây là nhân gian!" Bởi vì là nhân gian nên sẽ có nhân đạo, nhân đạo thì có tình cảm thầy trò, chưa nói đến lời nguyện samaya, tôi cũng phải có tình người chứ! Nhân đạo vốn có đại nghĩa ở trong đó! Nếu tất cả đều là Không thì còn tu cái gì đây? Sư Phật nói, cần ngộ ra chân lý của cái Không, rồi còn cần phải phá bỏ cái Không, phá không Không, phá không không Không ….

Sư Phật nói, trong thiền định từng trải qua một ngày mà ở trong đó đều là những thây ma nằm yên bất động! Cảnh giới ngu xuẩn cứng đầu! Tôi nghĩ tôi không làm thây ma! Có người nói cần phải "tám ngọn gió đời thổi mà vẫn giữ được sự bất động", nhưng tôi nghĩ chính vì sống tại nhân gian có nhân đạo, chúng ta cần phải nói thật rõ ràng. Đó không phải là việc tranh cãi, việc mạng sống con người là vô giá và việc động hay bất động có liên quan sao?

Động này là cái động tự nhiên, hà tất phải làm cho nó bất động! Người bất động tranh cãi bảo rằng mọi người đừng có động, thế thì anh động hay là không động? Tôi tu không được tốt nên không hiểu, tôi tự đấm vào đầu tôi một cái thì biết ngay là Không hay là bất Không!

(4) Đều là huynh đệ kim cương, tôi nghĩ kim cương có ý nghĩa là kiên cố, chính nghĩa, hàng phục! Chiêu Đức đã phá vỡ samaya, sợ cái gì? Đừng có nói là không làm sai cái gì, lúc này nói câu "Sư Phật chúng con yêu thầy!" lại càng ấm áp làm sao! Ngọn lửa kim cương không nhất định phải là phá vỡ hủy diệt tất cả, ngọn lửa kim cương có thể làm ấm nhân gian, nói hay không nói đều là tự nhiên thì tốt, hộ sư hộ giáo cũng là cái lý của tự nhiên!

(5) Đồng cảm thương xót những người gặp nạn mà chết không thể nào tương đồng với việc đồng tình với tổ chức của Chiêu Đức và những kẻ lên kế hoạch. Chiêu Đức là người phải chịu trách nhiệm chủ yếu và trực tiếp về vụ hỏa hoạn. Chiêu Đức đã hủy hoại giới nguyện samaya, thế thì chẳng phải là huynh đệ kim cương, ai đồng tình với Chiêu Đức cũng tương đương với phá giới. Trong giới luật của Mật pháp, trong đạo đức xã hội, trong sự công bằng của pháp luật đều không thể dung tha! Tu đạo có giới luật, nhân đạo có pháp luật, thiên đạo có thiên luật, âm gian có âm luật, thầy còn phải giữ giới luật samaya, ai ai cũng tự suy ngẫm được thì vạn pháp cảnh nhiên!

Tôi muốn nói lớn lên rằng:
"Sư Phật con nhớ thầy! Chúng con đều yêu thầy! Cảm ơn Sư Phật! Cảm ơn Chân Phật Tông! Cảm ơn Chân Phật Mật Pháp!"
Cuối cùng, cảm ơn Sư Phật từ bi siêu độ cho các đồng môn kim cương gặp nạn trong vụ hỏa hoạn được vãng sinh!
A Di Đà Phật!
Om guru liansheng siddhi hum!
Đệ tử Liên Hoa Ngọc Quốc tại Thụy Điển chắp tay đảnh lễ.

🌟

Cá nhân tôi cho rằng:

1. Bài viết này quan trọng. (Những bức thư gửi đến với nội dung tương tự tương đối nhiều, tôi chỉ công bố bức thư này.)

2. Nhấn mạnh giới luật, giới samaya không thể phá hoại.

3. Xin chú ý vấn đề được và mất của sức mạnh gia trì của dòng truyền thừa. Sức mạnh gia trì của dòng truyền thừa mất đi thì sẽ không còn là đệ tử của Chân Phật Tông nữa.

4. Nhận quán đảnh của kê đồng thì sẽ đánh mất truyền thừa.

5. Người có liên quan lại không hề sám hối. (chỉ Lưu và Kim)

6. Những người theo họ chưa từng sám hối. (cần phải sám hối)

7. Phải quy y lại từ đầu và hoàn tịnh.

8. Cá nhân tôi có lời thề nguyện không từ bỏ một chúng sinh nào, do vậy chỉ cần sám hối và hoàn tịnh thì sẽ lại có được sức mạnh gia trì của dòng truyền thừa!

9. Đừng sa vào ma đạo. (Ma quỷ cũng có sức mạnh thần thông.)

10. Cần biết dùng trí tuệ để phân biệt đúng sai.


### 20. Xương sống của Liên Hoa Giai Văn


Liên Hoa Giai Văn quy y Lư Sư Tôn như thế nào?
Đáp án là do chồng cô dẫn dắt. Khi họ mới hẹn hò yêu đương thì chồng cô đã quy y rồi, hơn nữa anh còn cực kì kiền thành.

Liên Hoa Giai Văn khi đó vừa trẻ tuổi vừa "răng sắt". [Ở Đài Loan, từ lóng "răng sắt" là để chỉ những người cố chấp, bảo thủ, bài trừ những chuyện tâm linh.]

Cô nói:
"Anh quá khoa trương rồi đó! Niềm tin kiền thành như vậy cơ à?"
Anh nói:
"Đừng bướng bỉnh như vậy, cứ gặp đi rồi em sẽ biết thôi!"
Cô nói:
"Được thôi! Nếu như mơ thấy Lư Sư Tôn thì em sẽ quy y ngay!"

Không ngờ trong vòng ba ngày, cô đã mơ thấy Lư Sư Tôn cười với cô. Cô nghĩ thầm: "Chuẩn thế cơ à!"
Thế là cô liền quy y.

Còn nữa:
Nửa năm sau, cô lại mơ thấy Lư Sư Tôn và Thượng sư Lạc Trí cười với cô. Có một âm thanh nói với cô rằng:
"Cần trì chú, niệm kinh."
Thế là cô niệm:
"Thượng sư tâm chú."
"Chân Phật Kinh."
"Cao Vương Kinh."
(Khi cô niệm Cao Vương Kinh đủ một nghìn biến thì đã tìm được công việc mà cô đang làm hiện tại.)

Liên Hoa Giai Văn nói:
"Vô cùng cảm tạ Lư Sư Tôn đã khiến cho gia đình chúng con hòa thuận vui vẻ, tâm linh an định, thân thể khỏe mạnh, công việc thuận lợi, bố mẹ cũng được khỏe mạnh. Đồng thời xin chúc phúc cả nhà Sư Tôn mạnh khỏe, thật sự rất cảm ơn Sư Tôn! Xin chắp hai tay, A Di Đà Phật!"

🌟

Còn nữa:
Ba năm trước, do không hiểu vì nguyên nhân gì mà đầu gối chân trái của cô rất đau, đi lại rất khó khăn, mỗi khi bước chân đều rất đau, rồi dần dần, phần dưới chân trái và các ngón chân teo lại, cho nên cô đã đi khám Đông y, thực hiện xoa bóp. Người chủ nhiệm khoa xương của Tây y cũng không rõ nguyên nhân.
Bác sĩ nói, cần phải mổ.
Cô hoảng quá!
Bèn viết thư cho Lư Sư Tôn.
Và cô cũng làm sinh cơ.
Rồi còn xin Lư Sư Tôn gia trì.

🌟

Một ngày nọ, cô mơ thấy Lư Sư Tôn. Cô kể:
Tôi nhớ cực kì rõ ràng, tôi đứng ở bên trái Sư Tôn, hỏi Sư Tôn rằng chân tôi phải làm sao?
Sư Tôn cười cười bảo tôi đi bộ cho thầy xem. Khi tôi bước lên phía trước, Sư Tôn đột nhiên đưa tay ra chạm vào xương sống của tôi, nói một câu rằng:
"Sao cô không nói với tôi rằng ở chỗ này có vấn đề?"
Nói xong, Sư Tôn đẩy tôi về phía trước một cái. Tôi thét lên một tiếng, thế là tỉnh ngủ.

Kể từ sau hôm đó, chân của tôi từ từ có chuyển biến tốt, các cơ thịt cũng bắt đầu hồi phục. Công việc của đệ tử mỗi năm cần phải đi công tác nước ngoài một lần. Các đồng nghiệp vô cùng ngạc nhiên vì sao chân đã khỏi hẳn rồi!

Nhân đây, đệ tử thành tâm cảm tạ Sư Tôn, đệ tử nhất định sẽ không quên, luôn luôn nhớ về Sư Tôn, trì chú đọc kinh, hộ trì thầy, hộ trì tông giáo.

🌟

Lư Sư Tôn nói:
Có lòng tin thanh tịnh kiên định thì bạn có thể làm cảm động đến Phật Bồ Tát trong hư không. Còn sự từ bi của Phật Bồ Tát thì giống như cầu vồng sau cơn mưa.
Sự gia trì của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn có ở khắp mọi nơi.
Có pháp thân. (Tỳ Lô Giá Na Phật)
Có báo thân. (A Đi Đà Phật)
Có ứng thân. (Liên Hoa Đồng Tử)
Chỉ cần bạn có niềm tin thanh tịnh.
Luôn nhớ đến tôi.

Kì thực, tâm thuần tịnh cũng chính là tâm của Như Lai, tâm đó không thể bẻ cong, thay đổi. Tâm thuần tịnh chính là pháp bảo.


### 21. Hoan nghênh trở về


Tôi (Lư Sư Tôn) thường hay nói:
Chúng sinh là những người mù. Nói cách khác là, chúng sinh rất dễ bị người khác dắt mũi, thế là kẻ mù dắt kẻ mù cùng đi vào địa ngục.

Chân Phật Tông chúng ta có rất nhiều Thượng sư, pháp sư, giảng sư, trợ giảng, và có tới 5 triệu đệ tử.
Có khoảng 50 ngôi chùa Lôi Tạng Tự.
Có khoảng 400 trung tâm hoằng pháp.
(Tôi nói ước lượng là vì con số này tăng theo thời gian.)
Đương nhiên chúng ta có nhân viên hoằng pháp tốt.
Đương nhiên chúng ta cũng có đệ tử ích kỷ.

Rất nhiều nhân viên hoằng pháp cũng có quan điểm về thiết lập địa bàn, tiếp cận đến những người thuộc cùng phe, tạo khoảng cách với những người bên ngoài.

Tương tự, trong một đoàn thể lớn, cũng lại có sự phân thành rất nhiều nhóm nhỏ. Đây cũng là hiện tượng tự nhiên. Chỉ cần luôn coi Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật làm trung tâm là được rồi.
Giống như một cây đại thụ.
Có rất nhiều cành lá.
Nhưng:
Pháp nhũ như nhau.
Truyền thừa như nhau.
Tu pháp như nhau.

🌟

Tuy nhiên, thực tế không đơn thuần như vậy. Có một số đệ tử có tâm ích kỷ nặng, tự cho mình là đã đủ lông đủ cánh rồi.
Cây to có cành khô.
Người đông có kẻ ngốc.
Thích làm đầu gà.
Không làm đuôi trâu.
Thế là nảy sinh tư tưởng muốn độc lập, chỉ cần đến lúc liền thoát khỏi Chân Phật, đánh mất đi dòng truyền thừa.

Những người thích độc lập này.
Nếu như đã thành thục thì họ vẫn có thể có đóng góp.
Có một số người thì chỉ thành thục một nửa.
Hoặc căn bản là chưa hề thành thục chút nào.
(Giống như Đề Bà Đạt Đa chưa hề thành thục đã phản bội Phật Thích Ca Mâu Ni, đã đưa một nửa số đệ tử trong tăng đoàn bỏ đi.)
Đề Bà Đạt Đa đã đọa địa ngục.
Những người đi theo tự nhiên cũng xuống địa ngục. Nhưng, những người này dù có nói thế nào cũng không thể gọi họ quay lại được!

🌟

Tôi có một đệ tử đã đi theo một kê đồng bị ma nhập. Kê đồng này thực sự chưa hề giỏi giang thành thục.
Bái chùa bái miếu.
Cúng quỷ làm thần.
Vẽ phù làm phép.

Trong mắt tôi, căn bản đây chính là kiểu tín ngưỡng dân gian "Tẩu Linh Sơn", thuộc về linh cấp thấp. Đương nhiên, linh cấp thấp thì phải cúng dường họ, do vậy họ phải khéo léo tạo nên một danh mục để mà lừa tiền. Việc lừa tiền lừa sắc đều có cả.

Đệ tử của tôi cũng có một chút kiến thức, biết rằng đây không phải là tu hành, thế nên, anh có suy nghĩ rằng:
"Muốn quay trở về với Lư Sư Tôn!"
Nhưng anh lại không dám!
Bởi vì kê đồng đã khủng bố, đe dọa rằng nếu rời xa hắn ta thì anh sẽ xuống địa ngục! Hắn đã dọa cho rất nhiều người không dám quay về với Chân Phật Tông.

🌟

Có một hôm.
Đệ tử này mơ thấy Lư Sư Tôn:
Hai người cùng đi dạo trong công viên.
Đệ tử hỏi:
"Con muốn theo Lư Sư Tôn học Phật lại từ đầu, có được không?"
Tôi đáp:
"Hoan nghênh trở về!"
Đệ tử hỏi:
"Con có vẫn còn lực gia trì của truyền thừa không?"
Tôi đáp:
"Anh đã nhận được gia trì của ma, pháp lưu truyền thừa đã đứt, từ lâu đã mất đi sức mạnh gia trì của truyền thừa rồi."
Đệ tử sợ hãi:
"Vậy phải làm sao?"
Tôi đáp:
"Chỉ cần quay về, sám hối hoàn tịnh, nhận quán đảnh lại từ đầu là sẽ có lại lực gia trì của truyền thừa."

Đệ tử hỏi:
"Tu hành đúng đắn là như thế nào?"
Tôi đáp:
Tâm ngao du trong hư không an tịnh.
Buộc ý chí vào những điều vi diệu.
Chuyển suy nghĩ vào không ham muốn mong cầu.
Mọi điều đều quy về vô vi.
Theo thứ tự mà tu từ: Tứ gia hành, Thượng sư tương ứng, Bổn tôn tương ứng, tu khí, tu mạch, tu minh điểm. Vô lậu, chuyết hỏa, minh điểm. Liên tục cho đến khi minh tâm kiến tính, thấy Phật thoát sinh tử, hóa thân cầu vồng.
Đây mới là chính đạo đó!

Đệ tử nói:
"Lư Sư Tôn nói thật đúng."
Tôi đáp:
"Hoan nghênh trở về!"
Đệ tử này đã quyết định quay về rồi.
Tôi nói thêm:
"Cứ tu như vậy nhất định sẽ có thành tựu! Sẽ không bị người ta mê hoặc nữa."


### 22. Liên Hoa Huệ Quân kể


Đây là chuyện mà cả đời này tôi không thể quên.
Ngày xưa, khi người viết còn đang học bốn năm đại học đã được một đồng môn dẫn dắt, thường đến một phân đường ở Đài Bắc đồng tu. Đó là phân đường của một sư phụ vẫn sống ở nước ngoài, thời kỳ đó dựa vào đường chủ là chính! Tôi lại là người rất ngây thơ, đường chủ kêu tôi niệm kinh gì, tôi đều làm theo chẳng hề do dự, thế là mỗi ngày tôi bắt đầu niệm công khóa kinh Địa Tạng. Cũng vì thế mà ở đạo tràng này, tôi đã kết thân với sư tỉ Liên Hoa Kim Thiền. Và vì cũng là hàng xóm, do đó tôi thường đến nhà cô sau khi tan học, ở đây tôi đã đọc hết cuốn văn tập này tới cuốn văn tập khác của Sư Tôn, nói thẳng ra là tôi thích mê đến mức không rời ra được, ngưỡng mộ Sư Phật sâu sắc.

Đúng khi tôi 22 tuổi 2 tháng, bản thân tôi đã quyết định quy y Sư Tôn. Vì sư phụ vẫn còn ở Mỹ nên tôi đã bàn bạc với sư tỉ Liên Hoa Kim Thiền xem làm sao để mình làm nghi thức xin quán đảnh quy y từ xa. Chẳng ngờ chỉ như vậy, khi về nhà niệm kinh Địa Tạng, tôi hoàn toàn không dùng đến bất kì nghi thức đặc thù nào, thế mà tôi đã "khởi linh" rồi! Khi đó thân thể tôi chấn động và rung lắc rất mạnh, một cái "tôi tâm linh" khác đã thức tỉnh. Khi đó, chưa có ai nói với tôi đây vốn là sức mạnh gia trì của truyền thừa, nhưng, tôi tin việc này nhất định là do mình có duyên với Chân Phật.

Sau đó, cảm ứng mỗi ngày của tôi đều đặn tăng lên. Có một hôm, đường chủ hỏi tôi:
"Có muốn gặp Địa Tạng Bồ Tát không?"
Đương nhiên là tôi rất vui mừng, sung sướng hết mức. Ông liền bảo tôi:
"Chỉ cần đọc thuộc lòng kinh Địa Tạng là có thể gặp được rồi!"

Nói thật lòng, tôi là người không sao học thuộc lòng được, tư chất tôi chậm chạp, ngây ngô ngốc nghếch, nhưng chỉ cần có thể gặp được Phật là tôi rất có hứng thú rồi. Thế là, tôi sẵn sàng đồng ý. Cũng không rõ là tôi đã đọc bao lâu. Đến một ngày, tôi đột nhiên thấy mình thuộc cả bài kinh rồi, đường chủ kiểm tra tôi đọc không sai chút nào. Nhưng tôi có nhìn thấy được Địa Tạng Bồ Tát không? Không hề! Ngay cả một mộng thị cũng không có.

Khi đó tôi cũng không chán nản, chỉ là có phần cảm thấy bản thân mình nghiệp chướng nặng quá! Tuy nhiên, tôi vẫn tin tưởng là Sư Tôn nghe được những tiếng gọi từ phương xa của tôi. Khi đó, trên tờ tạp chí Liên Bang bất ngờ đăng tải một khai thị của Sư Phật: chỉ cần trước khi đi ngủ, quay mặt về phía nam, niệm chú hoặc thánh hiệu Địa Tạng là có thể có được mộng thị của Địa Tạng Bồ Tát.

Ý! Sư Tôn làm sao mà biết được tôi muốn thấy Địa Tạng Vương Bồ Tát nhỉ? Hơn nữa, tôi chỉ làm theo phương pháp được kể ở trên một lần mà thôi, chẳng ngờ đã thành công rồi. Đầu tiên, tôi mơ thấy mình đang giúp người khác khởi linh, trước mặt tôi hiện lên chính là Địa Tạng Bồ Tát đang ngồi trang nghiêm, ngài hiện pháp thân màu xanh lục. Tiếp theo, vào lúc giống như mơ mà không phải mơ, Địa Tạng Bồ Tát chuyển mình, đột nhiên, đột nhiên, đột nhiên… biến thành Sư Tôn!

Khi đó, tôi tỉnh dậy, kinh ngạc tột độ!
Hóa ra Địa Tạng Bồ Tát là Sư Tôn!

Sau đó, tôi xem trọng pháp Thượng sư tương ứng, tôi bắt đầu càng có tín tâm nhớ về căn bản truyền thừa! Kì thực, Sư Tôn Liên Hoa Đồng Tử chính là vị Phật Bồ Tát vĩ đại nhất, tôi còn đi tìm vị nào nữa đây?!

Sau này xuất gia rồi, bản thân tôi cũng chẳng có kinh nghiệm giao tiếp hành xử, chỗ nào cũng thấy đâm đầu vào tường bế tắc, tôi được trợ duyên cực kì ít! Các việc pháp vụ thường bận tới mức trời đất quay cuồng, kêu mẹ kêu cha! Một buổi tối nọ, tôi nhân lúc xung quanh không có ai, bèn mò đến đại điện Lôi Tạng Tự, đối diện với các vị Phật Bồ Tát ca thán một phen. Trong lòng nghĩ: thôi vậy, vì chẳng có người nào phụ giúp nên tôi đành buông bỏ pháp vụ vậy!

Tuy nhiên đêm đó, tôi lại mơ thấy Sư Tôn và Địa Tạng Bồ Tát cười với tôi! Thấy hai vị cười như vậy, tôi rất xấu hổ. Những bậc thánh giả đã phát đại nguyện này đều vẫn luôn giữ vững được sự tinh tấn, còn kẻ ngốc nghếch như tôi trẻ người non dạ, chỉ mới làm một tí xíu pháp vụ thì đã đáng kể gì chứ! Thế là hôm sau, tôi lại xốc lại mình làm lại từ đầu.

Khi đó tôi cũng đảm nhận trách nhiệm chụp ảnh, ngoài việc chụp ảnh Sư Tôn ra, tôi cũng thường sử dụng những tấm ảnh đẹp của Sư Phật để làm thành các poster cho các mục thông báo. Không ngờ đến cả việc này cũng mơ thấy Sư Tôn, suốt khoảng một tháng ngày nào cũng mơ thấy sư phụ……..

Sau này tôi ra ngoài hoằng pháp, có một hôm, một vị sư tỉ thường xuyên viết bài tư liệu quảng bá Chân Phật, vì một sự thất vọng nào đó mà trong lòng đau đớn khôn xiết, muốn từ bỏ pháp vụ. Tôi nói với chị ấy: "Sư Tôn vẫn luôn ở cạnh chúng ta, chưa bao giờ rời xa đệ tử. Nếu như hôm nay chị muốn từ bỏ pháp vụ thì thầy chắc chắn sẽ đến ban cho mộng thị!" Chị ấy nghe xong có phần do dự.

Chẳng ngờ, sáng sớm hôm sau, chồng chị vừa tỉnh dậy thì đã nói với chị:
"Bà xã, kỳ lạ lắm! Anh bất ngờ mơ thấy Lư Sư Tôn muốn anh nói lại với em một câu: "Bảo vợ anh tiếp tục viết đi!" Thế đã xảy ra chuyện gì thế? Vì sao Sư Tôn lại chỉ thị như vậy?" Oa! Đây đúng là đại cảm ứng siêu cấp! Bởi vì chồng của sư tỉ này vốn không hề biết chị ấy muốn từ bỏ pháp vụ viết bài, nhưng mộng thị của Sư Tôn thật là "chuẩn không cần chỉnh"!

Thế là chị ấy lại phục hồi niềm tin, tiếp tục viết các bài báo!
Thế nên, con người ta đều có lúc sẽ gặp nút thắt cổ chai, nhưng hễ nghĩ tới rằng pháp thân của sư phụ vẫn luôn ở cạnh bên ta, bất luận là sức mạnh gia trì ấy đang ở tận chân trời góc bể nào, cũng đều sẽ phá vỡ khoảng cách không gian thời gian. Một vị sư phụ như vậy tìm đâu ra? Có thể quy y một sư phụ như vậy thật sự là may mắn có phúc lắm đó! Các đệ tử Chân Phật, mong các bạn và tôi cùng giữ đạo tâm vững chắc, hãy biết trân trọng!

🌟

Lư Sư Tôn nói:
Các thánh đệ tử à! Hãy dùng cái tâm mang niềm tin thanh tịnh của bạn mà hấp thụ Phật pháp mà Căn bản Thượng sư đã truyền dạy, bên cạnh đó hãy thực tu, tự nhiên sẽ được tương ứng.
Các thánh đệ tử à! Hãy học tập theo vô sở đắc trong Tâm Kinh, bạn sẽ đoạn trừ được phiền não.
Có được tinh thần "vô tư đi" để mà đi độ hóa những chúng sinh cố chấp bảo thủ, từng bước từng bước, độ được một người tốt một người, thực tiễn sự từ bi vĩ đại của Phật pháp.
Bạn có thể tận mắt nhìn thấy Bổn tôn!
Có được thiên khởi!
Cuối cùng sẽ thành tựu.


### 23. Tin tức đã đến chưa


Có một đôi vợ chồng đến hỏi chuyện. Sau khi hỏi chuyện xong, người vợ nói với tôi:
"Lư Sư Tôn, tôi vẫn còn một việc nữa muốn biết thêm, tôi có thể hỏi không?"
Tôi hỏi:
"Có chuyện gì?"
Cô vợ nói:
"Chúng tôi kết hôn đã 11 năm, nhưng vẫn không có con, không biết còn có thể có con được không?"
Anh chồng đứng bên cạnh ngắt lời:
"Ấy! Việc này không cần hỏi, đã thử hết mọi cách rồi, hỏi việc này để làm cái gì!"
Cô vợ nói:
"Lư Sư Tôn linh như vậy, sao không hỏi chứ!"

Tôi bấm ngón tay tính toán một chút. Tôi đáp:
"Sẽ sinh con!"
Đôi vợ chồng rời khỏi nhà tôi. Anh chồng nói với vợ:
"Có mà sinh ra một con gián."
Cô vợ xổ toẹt một câu rằng:
"Anh mới chính là cái loại như thế!"

🌟

Khoảng hai tháng sau. Cô vợ này bất ngờ mơ thấy tôi.
Tôi từ trong hư không hạ giáng, chân đứng trên một đám mây trắng, trên tay còn ôm theo một hài nhi. Tôi nói với cô vợ:
"Cho cô đứa bé trai này!"
Cô vợ nhìn qua một cái:
"Đúng là có cái chim này!"
Cô vợ mắt lấp lánh vì vui sướng.
Tôi nói:
"Hãy nuôi dưỡng nó cẩn thận, đứa bé này có lai lịch lớn!"
Nói xong. Tôi liền bay lên trời đi mất.

🌟

Sau khi vợ tỉnh lại, cô kể giấc mơ cực kì rõ ràng này cho chồng nghe. Anh chồng nói:
"Ngày nghĩ sao, đêm mơ vậy."
Chồng còn nói:
"Hai tháng nay, chúng ta chỉ "làm" có một lần, hơn nữa còn vội vội vàng vàng, chẳng thể có đâu."
Cô vợ nói:
"Nhưng giấc mơ rất thật đó."
Anh chồng nói:
"Hoang tưởng. Kết hôn đã mười mấy năm, căn bản là không thể nào!"

🌟

Tuy nhiên. Tin tốt đã đến rồi. Sau khi cô vợ có được giấc mơ này, cô bắt đầu có chút khác lạ. Khả năng ghi nhớ của cô đột nhiên tăng lên. Việc ăn uống thay đổi, trước đây cô thích ăn, bây giờ không thích ăn nữa. Trước đây cô thường mất ngủ, bây giờ lại ngủ rất tốt, ngay cả thuốc cũng không cần uống nữa. Điều lạ là trước đây hiếm khi cô đọc sách, bây giờ lại rất thích đọc sách, đặc biệt là sách triết học, Phật học.
………………………………
Sau đó, bác sĩ đã xác nhận: "Có thai!"
Đứa bé sinh ra. Quả nhiên là một bé trai rất đẹp trai linh lợi.

🌟

Tôi nói:
Chỉ một giấc mơ, mơ thấy là thành hiện thực. Tôi đoán chuyện có chuẩn hay không thực tế không quan trọng. Điều quan trọng là cái ngọn nguồn tâm linh nội tại tịnh hóa, và rồi lòng từ bi hiển hiện, biến hóa thành mưa pháp cam lộ phủ rộng khắp chúng sinh hữu tình.


### 24. 100 lần mơ thấy Lư Sư Tôn


Cô Hoàng Lệ Dung. Sư huynh Hạ Mạn.
Tổng cộng đã mơ thấy Lư Sư Tôn hơn 100 lần.
Họ sống ở Lan Tự [một thị trấn ở tỉnh Đài Đông, phía đông nam Đài Loan], làm kinh doanh nhà nghỉ.
Họ nói:
”Chúng tôi xếp thứ nhất về mơ thấy Lư Sư Tôn, bởi vì đã mơ thấy hơn trăm lần rồi!"

🌟

Giấc mơ lặp lại nhiều nhất là:
Tổ đoàn của Hoàng Lệ Dung tham gia các pháp hội do Sư Tôn chủ trì tại khắp nơi trên thế giới. Và Lư Sư Tôn sẽ luôn tìm đến Hoàng Lệ Dung, nói rằng:
"Cô đến rồi à! Tốt lắm! Tốt lắm!"
Bởi vì cô mơ giấc mơ này quá nhiều lần, nên trong giấc mơ cô cố ý chơi trò trốn tìm với Lư Sư Tôn, tự mình trốn đi. Nhưng cho dù có trốn thế nào thì Lư Sư Tôn cũng đều tìm ra, và luôn nói một câu giống nhau:
"Tôi biết cô đến rồi!"

🌟

Có một lần, Lư Sư Tôn muốn đến Cao Hùng. Hoàng Lệ Dung thì đã mơ thấy từ trước. Cảnh tượng ở pháp hội đó giống y như những gì cô đã mơ thấy. Không khác một điểm nào. Đây là đã mơ trước về một sự việc.
Ồ! Thật lợi hại đó!

🌟

Có một lần trong mơ, cô hỏi:
"Bổn tôn của con là ai?"
Lư Sư Tôn đáp:
"Chuẩn Đề Phật Mẫu."
Về sau, có một lần hỏi chuyện. Hoàng Lệ Dung hỏi:
"Bổn tôn của con là ai?"
Lư Sư Tôn bấm bấm ngón tay (đếm ngón tay để thần toán), sau đó trả lời rằng:
"Chuẩn Đề Phật Mẫu."
Oa! Tương ứng rồi!

🌟

Có một chuyện rất kỳ lạ.
Hoàng Lệ Dung và Lư Sư Tôn trong mơ rất thân nhau, Lư Sư Tôn quan tâm đến cô giống như cha với con gái vậy. Nhưng ở thế giới hiện thực thì Lư Sư Tôn dường như không có ấn tượng nhiều lắm với Hoàng Lệ Dung.

Hoàng Lệ Dung thử kiểm tra. Nhưng Lư Sư Tôn luôn chỉ đáp lại bằng việc sờ đầu gia trì, và dường như Lư Sư Tôn đều biết hết cả. Chỉ cần cầu Lư Sư Tôn gia trì thì đều có được tương ứng hết.

Thế là mãn nguyện rồi! Hoàng Lệ Dung thường hay cầu nguyện cho đồng môn. Ví dụ: Cầu cho bão chuyển hướng thì bão thật sự đã chuyển hướng.
Năm ngoái đã hạ kỷ lục, trong vòng tám tháng không hề có cơn bão nào đổ bộ vào Đài Loan.

🌟

Hoàng Lệ Dung mơ thấy mình biết bay. Hơn nữa còn có thể kiểm soát được chính mình trong lúc bay không bị rơi xuống. Hoàng Lệ Dung thường giúp người khác thỉnh cầu. Lư Sư Tôn ở trong mơ sẽ đến gia trì cho những người đó, hơn nữa còn liên tục xuất hiện những cảm ứng.

Chỉ cần là cô cầu thỉnh thì sẽ được như ý nguyện.
Hoàng Lệ Dung tu pháp mỗi ngày, có thực tu.
Hoàng Lệ Dung nói:
"Lư Sư Tôn trong hiện thực rất bận, nhưng Lư Sư Tôn ở trong mơ thì rất thân thiết, có cầu có ứng."


### 25. Giấc mơ của một đệ tử mới quy y


Liên Hoa Truyền Toàn mới quy y được một ngày. Đêm đó anh đã mơ thấy Lư Sư Tôn đến.
Truyền Toàn hỏi:
"Sư Tôn từ đâu đến?"
Tôi đáp:
"Từ nơi rất xa đến!"
Truyền Toàn hỏi:
"Là đến từ Ma Ha Song Liên Trì phải không?"
Tôi đáp:
"Anh thông minh đấy."
Truyền Toàn hỏi:
"Rốt cục Lư Sư Tôn ở Mỹ hay Đài Loan, hay ở Ma Ha Song Liên Trì thế?"
Tôi đáp:
"Có nơi nào là không có tôi chứ!"
(Truyền Toàn không hiểu chân nghĩa của câu nói này.)

Truyền Toàn hỏi:
"Con mới quy y mà thầy đã đến rồi, có chuyện gì sao?"
Tôi đáp:
"Hôm nay tôi đến bàn chuyện với anh."
Truyền Toàn hỏi:
"Bàn chuyện gì?"
Tôi đáp:
"Bàn về chuyện anh với ông Đồng Đức Nghĩa hợp tác làm kinh doanh khai thác khoáng thạch."
Truyền Toàn hỏi:
"Sao thầy biết được chuyện này?"
Tôi đáp:
"Tôi đã quan sát anh rất lâu rồi, đã được một khoảng thời gian rất dài rồi."

Truyền Toàn hỏi:
"Công việc kinh doanh này tất cả đều tốt đẹp, vì sao cần phải bàn?"
Tôi đáp:
"Tôi nói thẳng vào vấn đề luôn, vì sao anh không bán đi một phần ba cổ phần?"
Truyền Toàn hỏi:
"Vấn đề này rất kỳ lạ, tất cả tình hình kinh doanh đều tốt, vì sao cần bán đi một phần ba cổ phần?" (có thể kiếm được tiền)
Tôi đáp:
"Phức tạp lắm, anh nghe lời tôi là được rồi."
Truyền Toàn hỏi:
"Bán toàn bộ hoặc hai phần ba không được sao?"
Tôi đáp:
"Bán hai phần ba e là việc sẽ không thành, huống chi toàn bộ."
Truyền Toàn hỏi:
"Nghiêm trọng đến thế sao?"
Tôi đáp:
"Đúng vậy."

Tôi nói:
"Đây chính là nguyên nhân mà tôi vội vội vàng vàng đến đây."

Mơ đến đây thì anh tỉnh dậy!
Giấc mơ cực kì rõ ràng. Truyền Toàn lập tức tìm ông Đức Nghĩa để thương lượng việc bán cổ phần. Không ngờ, bán toàn bộ không chịu, bán hai phần ba không chịu, bán một phần ba thì ông Nghĩa miễn cưỡng đồng ý giao dịch.
Đến khi việc bán đã xong. Hợp đồng đã hoàn thành.

Khoảng nửa năm sau, ông Đức Nghĩa bất ngờ phá sản và bỏ trốn. Hóa ra tham vọng của ông ta lớn quá, các việc kinh doanh khác của ông đổ bể, ông mất sạch sản nghiệp, đã bỏ trốn rồi. (Đương nhiên bao gồm cả kinh doanh khoáng thạch.)
Thật may, một phần ba cổ phiếu của Truyền Toàn đã bán được, anh đã bảo tồn được vốn ban đầu.

Tôi nói:
Giúp đỡ đệ tử cũng là một kiểu từ bi, hơn nữa còn là một kiểu "tình yêu" thanh tịnh không mong báo đáp!


### 26. Năm đầu ngón tay đều tê dại


Một buổi sáng, Liên Hoa Tri Thanh tỉnh dậy thì phát hiện ra năm đầu ngón tay của mình đều tê dại mất cảm giác. (tay phải)

Mới đầu anh không bận tâm, cho rằng sau một lúc thì năm đầu ngón tay sẽ tự động bình thường trở lại. Thực tế không như vậy.

Buổi sáng đó, tay anh đã không có lực để cầm đồ vật, ngay cả cầm cái cốc cũng không được. Dùng tay phải để mở nắp bình cũng không có tí lực nào. Rửa mặt đánh răng cũng đều gặp vấn đề. Nghiêm trọng nhất là ngay cả đến việc lau mông cũng trở thành khó khăn.

Anh làm việc gì cũng đều dùng tay phải, thế nên khi năm đầu ngón tay đều tê, tất cả công năng của bàn tay đều mất hết, chỉ có thể dùng tay trái. Nhưng tay trái thì lại không thuận.

Cầm bút để viết thì không giữ được bút. Viết bằng tay trái thì không được. Lúc này Liên Hoa Tri Thanh mới cảm thấy tình hình nghiêm trọng, hóa ra năm đầu ngón tay lại quan trọng đến như vậy.

Cầm đũa cũng không cầm được.
Không khác gì tay phải đã bị tàn phế! Ngay cả đến khuỷu tay cũng hơi đau.

Trời ơi!
Anh đi khám Tây y thì được bảo là:
"Tê liệt thần kinh!"
Uống thuốc vô hiệu!
Chụp cắt lớp cũng không tìm ra nguyên nhân.

Anh đi khám Đông y thì được bảo là:
"Khớp nối đè vào dây thần kinh!"
Thử châm cứu.
Thử xoa bóp.
Đều không có hiệu quả.
Các khớp nối chủ yếu ở cổ tay, mu bàn tay, khuỷu tay, vai.
Có bác sĩ Đông y nói:
"Do tại xương sống sau gáy."
Thế là lại xoa bóp, lại châm cứu.
Liên Hoa Tri Thanh còn tìm đến cả những thầy xoa bóp nổi tiếng để ấn, kéo, day, chà, vỗ…..
Nhưng:
Vẫn không khỏi.
Có người nói:
"Phải phẫu thuật!"
Anh sợ muốn chết!

Cuối cùng, anh đứng trước đàn thành trong nhà mình, thắp hương cầu nguyện Liên Hoa Đồng Tử.
Đêm đó anh mơ thấy Lư Sư Tôn đến. Lư Sư Tôn hỏi:
"Sao không tìm ta?"
Anh đáp:
"Chẳng phải Sư Tôn nói trước hết phải đi khám bác sĩ sao?"
Tôi nói:
"Đúng rồi, đúng rồi."

Anh hỏi:
"Vì sao chữa lâu như vậy rồi vẫn chưa khỏi?"
Tôi nói:
"Việc này có liên quan đến nhân quả. Anh từng phá hoại một ổ rắn, có một con rắn mẹ và năm con rắn con đã bị anh giết chết. Năm con rắn con ở trong năm ngón tay, con rắn mẹ ở khuỷu tay."
Anh nói:
"Có việc này, con đã dùng lửa đốt."
Thế là, tôi dùng tay lôi ra năm con rắn con và một con rắn mẹ, giao chúng cho Chuyển Luân Thánh Vương.
Sự việc là như vậy.

Sau khi anh tỉnh giấc mơ, ba, bốn ngày sau năm ngón tay của Liên Hoa Tri Thanh đã hoàn toàn khỏi rồi!
Anh nói:
"Lư Sư Tôn đúng là như thần!"


### 27. Bằng chứng của Liên Hoa Tử Dịch


Liên Hoa Tử Dịch kể chuyện được Thánh tôn ban mộng thị rằng cần lập tức từ chức ở công ty để tránh nạn bị bao vây!

Đảnh lễ Căn bản truyền thừa Thượng sư Thánh tôn Liên Sinh Hoạt Phật. Đệ tử Liên Hoa Tử Dịch tại đây xin được trình bày một sự việc mà đích thân đệ tử đã trải qua để chia sẻ với đồng môn, cảm tạ ơn cứu độ của Sư Phật!

Nhiều năm trước đệ tử ở Đại Lục làm việc cũng khoảng bảy năm, đảm nhận chức vụ quản đốc công xưởng. Giai đoạn sau áp lực công việc quá lớn, đệ tử nhiều lo lắng buồn phiền, rất muốn nghỉ công việc đang làm đó. Nhưng sau khi trình lên đơn thôi việc, công ty vẫn luôn không muốn phê duyệt việc này, hơn nữa còn dùng cách tăng lương để hy vọng đệ tử từ bỏ suy nghĩ đó.

Cũng vào thời gian này đệ tử từng viết thư đến Seattle để thỉnh cầu chỉ thị, nhưng thư hồi đáp chỉ nói rằng "trì niệm nhiều Căn bản Thượng sư tâm chú là được", không hề có chỉ thị nào khác hoặc có ý kiến gì về việc đổi công việc.

Sự việc này, vào một ngày khoảng sáu tháng sau, không ngờ buổi đêm Sư Tôn bất ngờ hiện đến trong giấc mơ. Bối cảnh là ở phòng khách, đệ tử đang nằm trên ghế sofa xem tivi, Sư Tôn một mình đột ngột mở cửa đi vào phòng khách (thân mặc pháp bào). Đệ tử giật nảy mình, lập tức ngồi dậy, quỳ xuống đảnh lễ Sư Tôn. Sư Tôn mỉm cười, từ tốn đi đến trước tivi, ngồi xuống trên chiếc ghế sofa đơn.

Đệ tử chắp tay quỳ, nói:
"Xin hỏi Sư Tôn có chỉ thị gì hay không?"
Sư Tôn chỉ chậm rãi nói một câu:
"Anh có thể trở về Đài Loan được rồi."

Lúc này đệ tử đột nhiên tự tỉnh dậy. Cầm đồng hồ báo thức lên xem thì đã hơn 5 giờ sáng rồi. Nhớ lại trước đây các đồng môn thường truyền nhau nói rằng nếu như mơ thấy Sư Tôn từ 5 đến 7 giờ sáng thì chính là Bổn tôn Sư Tôn. Đệ tử lập tức gọi điện thoại về Đài Loan kể với bà xã về sự việc này. Sau khi bàn bạc với bà xã, ngày hôm sau đệ tử y theo chỉ thị của Sư Tôn, lại đề xuất việc từ chức một lần nữa. Sau vài lần tranh luận, công ty cuối cùng đã đồng ý cho đệ tử nghỉ việc sau hai tuần. Đệ tử vui mừng bàn giao công việc và sắp xếp hành lý, hai tuần sau đó y hẹn đệ tử đã trở về tổng công ty ở Đài Loan, nhận lương và bàn giao các thủ tục.

Sự việc không ngờ đến đã xảy ra! Hai tuần sau đó, đồng nghiệp làm cùng công ty trước đây đột nhiên gọi điện cho đệ tử nói rằng: "Cổ đông cao cấp của công ty cũng có người muốn từ chức rồi!" Việc này cũng chưa có gì lạ. Lại sau hai tuần nữa, có một tin tức rúng động hơn nữa truyền tới: "Ông chủ công ty bị đau tim đã qua đời rồi!" Công ty có nguy cơ mắc nợ hơn một tỉ Đài tệ. Nhà máy ở Đại Lục lập tức bị các nhà cung ứng bao vây, họ đã bắt giữ hơn 20 người đến từ Đài Loan, yêu cầu phải chuyển khoản trả đầy đủ tiền thì họ mới thả người. Trong khi đó tổng công ty ở Đài Loan mỗi ngày đều có nhân viên ngân hàng đến cắm tại đó, yêu cầu phải làm sao để giải quyết nguy cơ của các khoản nợ. Khi sự việc bùng phát, có một người bạn Đài Loan mà đệ tử rất thân thiết ở Đại Lục đã thay bộ đồng phục công nhân để trèo tường thoát ra bên ngoài công xưởng. Anh đến một con ngõ nhỏ ở nông thôn gọi điện thoại cho đệ tử một cách khó khăn, nói: "Tôi đang đi trốn ở một ngôi làng nhỏ gần đó, trước mắt cứ trốn tạm một thời gian đã… Tôi cũng không biết những người khác có trốn thoát được hay không…"

"Sao anh lại xin nghỉ việc đúng lúc vậy chứ? Có phải anh biết rất nhiều nội tình bên trong không?" Nghe giọng nói gấp gáp đầy căng thẳng của anh ta, khi đó đệ tử cảm thấy mình thật may mắn, thật may mắn vì đã thoát khỏi kiếp nạn này, hơn nữa lại còn đã lĩnh được hết tiền lương. (Nghe nói sau sự việc này, vẫn còn có những người Đài Loan khác phải khoan lỗ chó qua tường để trốn ra ngoài.) Sự việc này đều là nhờ công lao to lớn của Thánh tôn Liên Sinh Hoạt Phật chí cao vô thượng đêm hôm đó đã chỉ thị trong mơ, giúp đệ tử một tháng trước đó đã kịp trở về Đài Loan tránh được tai nạn này. Cảm tạ mộng thị của Sư Tôn!

Trên đây là một câu chuyện có thật của đệ tử, xin chia sẻ cùng các đồng môn.
Om guru liansheng siddhi hum.
Đệ tử Liên Hoa Tử Dịch chắp hai tay đảnh lễ.

🌟

Từ bằng chứng của Liên Hoa Tử Dịch có thể chứng minh rằng:

1. Trì tụng nhiều Thượng sư tâm chú, chỉ cần kiên trì và có nghị lực, cộng thêm niềm tin thanh tịnh, thì cho dù bạn đang ở trong gió mưa vũ bão, vô cùng nguy hiểm, Lư Sư Tôn từ đầu tới cuối sẽ luôn ở bên bạn.

2. Chỉ cần trì Thượng sư tâm chú, Lư Sư Tôn sẽ luôn có mặt mọi nơi mọi lúc để bảo vệ bạn.

3. Bất kể là bạn ở cách bao xa, quanh đó có hay không có phân đường, ở trên núi cao, ở ngoài biển khơi, ở một đất nước xa xôi hẻo lánh, thì Phật lực cũng vĩnh viễn ở cạnh.

4. Lư Sư Tôn biết rõ quá khứ hiện tại tương lai, sự việc tương lai cũng có thể biết trước rất rõ ràng, biết rõ mồn một. Điều có thể thực sự giải thoát được bạn chính là bạn có niềm tin thanh tịnh quy y Căn bản Thượng sư.

5. Quá khứ, hiện tại, tương lai đều có thể dự đoán được.

6. Vì sao một số đệ tử gặp tai nạn mà Lư Sư Tôn lại không có cách nào cứu được?
Tôi đáp rằng:
Định nghiệp quá nặng.
Đã mất lực gia trì của truyền thừa.
Không có niềm tin thanh tịnh.
Đã nhập ma.
Đã quy y ma quỷ.
Đánh mất đạo tâm.
Xa rời chính đạo.
Ngu si nghi ngờ.
Phiền não.
Vô tri.
Bám chấp.

7. Bạn không tin vào Chân Phật Mật Pháp mà lại đi tin vào tà ma ngoại đạo, bị mê hoặc vào thần thông, mê hoặc vào quỷ thần, những người này đương nhiên là không có cách nào cứu được.

8. Nói chuyện thần thông công nhận là rất mê hoặc người ta, nhưng người có trí huệ có thể phân biệt được thật giả.

9. Vẫn là nên trì tụng thật nhiều Thượng sư tâm chú, tu Chân Phật Mật Pháp.


### 28. Có một quãng thời gian


Có một quãng thời gian, tôi (Lư Sư Tôn) thường cảm thán bản thân đã già rồi, hơn bảy mươi tuổi chẳng phải là già sao?
Nghĩ lại, từ lúc còn là đứa con nít lạch bạch bước đi như con vịt, đã trải qua:
Thời ấu thơ.
Thời con nít.
Thời tuổi trẻ.
Thời trưởng thành.
Đến ngày hôm nay là những năm tháng tuổi già.

Cuộc đời ngắn ngủi mấy mươi năm, tại cõi nhân gian này mà đâm chồi, nảy nở, tàn úa rồi tiêu tan. Sau đó, một sinh mệnh khác sẽ lại trải qua quá trình mấy mươi năm y hệt như thế, từ lúc sinh ra cho đến lúc già chết, đó chính là luân hồi, luân hồi không dừng dứt.

Vào quãng thời gian này, tôi thường gặp tổ sư Đạt Ma. Có người sẽ thấy rất kì quái: "Sao Sư Tôn lại ở cùng với tổ sư Đạt Ma được?"
Tôi nói:
"Là vì tôi đi tìm tổ sư Đạt Ma đó."

Có một chuyện rất buồn cười.
Tôi đi tìm Đạt Ma. Đã đến nơi cần đến. Nhưng thị giả của Đạt Ma không nhận ra tôi, chẳng ngờ lại đuổi tôi đi. 
Sau đó.
Đạt Ma hỏi thị giả:
"Hôm nay có người đến thăm, vì sao đến giờ vẫn chưa đến?"
Thị giả nói:
"Đúng là có người đến, chúng con thấy ông ta nhỏ nhỏ, lại trông rất bình phàm, nên đã đuổi ông ta đi rồi!"
Đạt Ma nói:
"Mau tìm ông ta quay lại đây, ông ấy chính là…, ông ấy là một vị Thượng sư rất tôn quý. Ông ấy đã che giấu tam quang của mình đó."
Thị giả tìm ra tôi, mời tôi trở lại gặp tổ sư Đạt Ma. Cuối cùng, tôi đã gặp tổ sư Đạt Ma rồi.

🌟

Lúc này.
Có một đệ tử của tôi là Liên Hoa Tấn Kiệt đã nằm mơ, anh kể:
Một đêm nọ, tôi mơ thấy Căn bản Thượng sư ngồi trước mặt tôi, tôi thì quỳ trước mặt Sư Tôn nghe Sư Tôn chỉ dạy. Điều kỳ lạ là, có một người khác rất kỳ bí mặc áo cà sa bằng tơ màu trắng, mái tóc dày, cằm có râu ngồi cùng với Sư Tôn. Lúc đó tôi vẫn chưa biết người này là ai, sau khi tỉnh giấc thì mới biết đó là tổ sư Đạt Ma.

Khai thị lúc đó có liên quan đến vấn đề công đức.
Đạt Ma nói:
Công đức chân chính là không có công đức.
Không có công đức là ngay cả một việc thiện cũng không nghĩ đến.
Không có công đức là quên hết sạch.
Không có công đức là không mong cầu báo đáp.
Không có công đức là tan biến hết.
Đây mới là công đức thật sự.

🌟

Kì thực, tổ sư Đạt Ma cũng nói với tôi rằng:
Không có thời ấu thơ.
Không có thời con nít.
Không có thời tuổi trẻ.
Không có thời trưởng thành.
Không có thời già yếu.
Không có sinh ra cũng không có chết đi.
Không có Lư Sư Tôn, không có Căn bản Thượng sư.
Đó mới là Hoa Quang Tự Tại Phật chân chính.

Đương nhiên tôi trực hiểu những lời này, nhưng trong thế giới hiện thực này cũng không phải là không có chút cảm khái!
Tôi là:
Người nói về tính Không.
Minh giác hết thảy.
Đã tiêu trừ hết mọi phiền não và chướng ngại.
Ở đây chỉ cần chính mình tịch diệt hết chính mình và mọi thứ xung quanh!


### 29. Đổi một cái cột đi!


Có một đệ tử nữ tên là Liên Hoa Giai Mỵ sống tại một ngôi nhà gỗ bên cạnh hồ ở một nước Đông Nam Á. Cô có một người chồng tốt rất chăm chỉ làm việc, khỏe mạnh và lạc quan. Họ sinh được hai đứa con, đều thông minh đáng yêu. Ngoài việc gia đình ra thì Liên Hoa Giai Mỵ còn làm thêm nghề giúp việc để tăng thêm thu nhập. Cả nhà bốn người rất hòa thuận hạnh phúc.

Liên Hoa Giai Mỵ tự thuật về quá trình quy y:
Cô có một người họ hàng sống tại Thái Lan, người này là đệ tử Chân Phật Tông. Nhờ người họ hàng này giới thiệu mà cô biết đến Chân Phật Tông. Cô đã viết thư xin quy y. Nhận quán đảnh từ xa.

Cô chưa từng đến Đài Loan Lôi Tạng Tự, cũng chưa từng đến Seattle Lôi Tạng Tự ở Mỹ, cũng chưa từng một lần đến phân đường ở Thái Lan. Cô chưa từng tham gia pháp hội của Chân Phật Tông một lần nào.

Nhưng:
Cô có ảnh pháp tướng của Lư Sư Tôn, cô thờ cúng tại đàn thành đơn sơ mộc mạc của mình.
Một cuốn Chân Phật Kinh.
Một cuốn Cao Vương Kinh.
Mỗi ngày cô đều niệm:
"Om guru liansheng siddhi hum."
Niệm Chân Phật Kinh, Cao Vương Kinh.
Đất nước mà cô sống không có phân đường của Chân Phật Tông. Cô sống ở Campuchia.

🌟

Một đêm nọ, cô bất ngờ mơ thấy Lư Sư Tôn:
Lư Sư Tôn từ trên đàn thành bước xuống. Cô cùng chồng và hai đứa con đang ăn cơm. Thế rồi Lư Sư Tôn cũng ngồi xuống, mọi người đều cùng ăn cơm, giống như một gia đình vừa ăn cơm vừa trò chuyện.

Cuộc trò chuyện trong giấc mơ, Lư Sư Tôn giống như một vị trưởng bối, thích món cá muối. Sư Tôn lại còn luôn nói là ăn rất ngon nữa.

Lư Sư Tôn nói:
"Dự án trồng rau quả của anh nhà năm sau sẽ càng tốt hơn! Sự nghiệp học hành của hai đứa nhỏ rất tốt, một đứa sẽ trở thành ông chủ lớn của giới khởi nghiệp, đứa kia sẽ đi trên con đường chính trị, trở thành một quan chức tốt."
Lư Sư Tôn khen ngợi Liên Hoa Giai Mỵ trong lúc làm công việc giúp việc cũng niệm Thượng sư tâm chú, hơn nữa còn niệm rất thường xuyên.

Lư Sư Tôn ăn cơm xong. Cuối cùng, Sư Tôn nói:
"Nhà này có bốn cái cột lớn, trong đó có một cái cột rất to, nó đã bị mục rồi, hãy đổi một cái cột khác đi!"
Sư Tôn đặc biệt nói lại ba lần.
Điều lạ nhất là, có một vệt ánh sáng của mặt trời lặn rọi vào trong nhà, thế rồi Lư Sư Tôn từ từ bay lên, giống như cưỡi ngựa vậy, cưỡi lên vệt ánh sáng chiều tà rồi biến mất.
Giấc mơ này quá rõ ràng!

Sau khi tỉnh dậy, cô kể với chồng, chồng không nghi ngờ gì hết, lập tức tìm người đến kiểm tra cây cột trụ lớn trong nhà. Quả nhiên có một cây cột trụ đã bị mục rất nặng, bị mọt ăn đến mức sắp gãy rồi. (Cây cột trụ này đã bị quên không được xử lý chống mối mọt.) Nếu như cây cột này mà bị gãy thì đúng là không dám nghĩ về chuyện sẽ xảy ra tiếp theo nữa. Thật may có Lư Sư Tôn cảnh báo trong mơ, nếu không thì nhà sẽ sập mất, nhà sập thì rất thảm. Cô rất cảm ơn Lư Sư Tôn.

🌟

Lư Sư Tôn nhắc nhở:
Nếu một ngôi nhà thật mà sụp thì có thể xây dựng lại. Nhưng, một người tu hành, nếu như trong tâm không có sự từ bi, không có lòng bao dung, không có lòng tin, thì đó mới thật sự là sụp đổ hết.
Đặc biệt là mất đi tín tâm đối với Phật, mất đi tín tâm đối với pháp, mất đi tín tâm đối với Căn bản Thượng sư.
Đây mới là điều thật sự nguy hiểm!


### 30. Ngôn ngữ đến từ Phật Quốc


Nhớ có lần tôi từng nói:
"Phật pháp không nằm ở chỗ của Phật Đà, mà là ở ngay trong mỗi người. Chúng ta cần thực tu để chứng minh, dựa vào Phật pháp của chính mình để chứng minh thành tựu của chính mình."
Tôi nói:
"Phật Đà chỉ là người chỉ đường, ngài không thể đi thay ta."

Tôi còn nói:
Ngoại tu tương ứng pháp.
Nội tu khí, mạch, minh điểm.
Mật tu quang minh.
Mật mật tu thành Phật.

Tôi giảng giải:
Vô lậu.
Chuyết hỏa.
Minh điểm.
(Tác dụng đốt cháy từng giọt.)
Mở năm luân xa.
Hóa thành ánh sáng.
Dung nhập vào tính Không.

🌟

Tôi có một đệ tử nữ tên là Liên Hoa Na Na, cô phát hiện ra rằng Phật pháp của Mật giáo Tây Tạng hình như chỉ được truyền cho đàn ông.
Ví dụ:
Hoạt Phật ở Tây Tạng toàn là đàn ông. (Chỉ có một vị là nữ.)
Lama ở Tây Tạng toàn là đàn ông. (Tất nhiên cũng có phụ nữ, chỉ là danh xưng khác nhau.)
Trên phương diện tu nội pháp, không thấy có nghi quỹ cho người nữ tu pháp vô lậu.
Thế nên cô sinh ra nghi hoặc.

Tôi từng nói:
Nam vô lậu — là không rò rỉ minh điểm, ở đây là nói đến tinh dịch.
Nữ vô lậu — ở đây nói đến không rò rỉ kinh huyết.

Liên Hoa Na Na nghĩ:
"Trong những bài Lư Sư Tôn thuyết pháp cũng thiếu phương pháp vô lậu của nữ, phần lớn đều giảng giải về pháp vô lậu của nam, lẽ nào pháp vô lậu của nội pháp chỉ có nam tu được hay sao?"

🌟

Có một buổi tối nọ, cô nằm mơ, mơ thấy Lư Sư Tôn, Lư Sư Tôn nói với cô:
"Hãy đọc cuốn Ngôn Ngữ Đến Từ Phật Quốc."
Cô hỏi:
"Ngôn Ngữ Đến Từ Phật Quốc là cái gì?"
Tôi đáp:
"Là sách tôi viết."
Tỉnh giấc mơ.
Cô đi đến hiệu sách tìm cuốn "Ngôn Ngữ Đến Từ Phật Quốc", quả nhiên đã tìm thấy.
(Khi ấy, cuốn sách này mới chỉ xuất hiện trên thị trường được mấy ngày.)
Cô mở sách ra xem, quả nhiên đọc thấy chương: "Nữ tu pháp vô lậu như thế nào".

Liên Hoa Na Na cho rằng cô cứ luôn nghĩ về việc phụ nữ tu pháp vô lậu như thế nào, thế mà không ngờ Lư Sư Tôn lại biết, chỉ dẫn cho cô đi mua cuốn sách này về đọc.
Việc này chính là:
"Tương ứng!"

🌟

Tôi nói:
"Tương ứng" là chỉ Thượng sư tương ứng pháp, cũng là chỉ pháp tương ứng với mọi vị Bổn tôn. Tương ứng cũng là hai hợp làm một, dung hợp lẫn nhau, không phân biệt lẫn nhau. Tương ứng cũng là phiếm chỉ về việc cảm ứng.
Có cầu tất ứng.
Bồ Tát linh ứng.
Tâm thành tắc linh.
Phật pháp vô biên.
Bi nguyện của Phật là muốn khiến cho người người và hết thảy chúng sinh đều có thể thành Phật giống như bản thân Phật. Do vậy, trong con mắt của Phật, nam nữ cùng có Phật tính, bình đẳng như nhau.


### 31. Đệ tử nhớ đến tôi, "tôi phải đến"


Ở Trung Quốc Đại Lục có một đệ tử tên là Liên Hoa Tự Tín, là người Lạc Dương, Hà Nam. Anh kể:

Trước năm 2009 tôi vẫn còn chưa từng nghe đến tên Lư Sư Tôn. Đến đầu năm 2010, nhân duyên đã đủ, vào ngày 16 tháng 3 dương lịch tôi đã quy y Sư Phật.

Tôi gửi thư đến Mỹ, nhưng rất lâu không nhận được thư hồi đáp, cũng không có chứng thư quy y.

Về sau.
Tôi lại đem thư xin quy y nhờ cậy một vị sư huynh ở Đài Loan giúp tôi mang thư tới chuyển cho Lư Sư Tôn. (Thời gian đó Sư Tôn đang ở Đài Loan.) Tôi đưa bức thư này vào đầu tháng bảy.

🌟

Vào buổi trưa ngày 6 tháng 7, tôi ngủ mơ thấy Lư Sư Tôn, giấc mơ như sau:
Tôi vội vàng đi đến sân bay để đón chuyến bay, một mình Sư Tôn đáp máy bay đến Lạc Dương.
Trong mơ, tôi rất ngạc nhiên hỏi Sư Tôn:
"Sư Tôn, sao thầy lại đến đây?"
Sư Tôn đáp:
"Đệ tử nhớ đến ta, ta phải đến!"

Sư Tôn đã cùng đệ tử đến nhà của đệ tử, tôi nhớ Sư Tôn rất thoải mái. Thầy rửa tay tại bồn rửa tay trong ngôi nhà đơn sơ của tôi. (Tất cả đều rõ ràng sống động.)

Trong mơ, tôi thực sự có một sự xúc động không sao mô tả được, hoàn toàn tươi mát, hoàn toàn ấm áp, cảm giác rất thân thiết gần gũi đó, cũng như sự gia trì của linh lực, không có cách nào hình dung được.

Tôi hỏi:
"Vì sao Sư Tôn không cười?"
(Trong lòng tôi nghĩ, khi Sư Tôn thuyết pháp, thầy thường xuyên cười lớn rất thoải mái, do vậy tôi mới hỏi như vậy.)

Từ đầu đến giờ Sư Tôn vốn dĩ rất trang nghiêm, bị tôi hỏi một câu, liền vì câu nói này mà bật cười. Mơ đến đây thì tôi tỉnh dậy.

Sau khi tỉnh dậy, tôi vẫn rất hưng phấn.
Tôi đi khắp nơi kể với mọi người rằng Lư Sư Tôn đã đến nhà tôi rồi. Ngoài ra còn có một chuyện kỳ lạ hơn là:
Sau giấc mơ này, tôi đã nhận được chứng thư quy y!

🌟

Sáu năm nay.
Trong cuộc sống tôi đã trải qua đủ loại khó khăn hoạn nạn, có lúc tôi như ở đáy vực. Nhưng, đạo tâm của Liên Hoa Tự Tín thì không thối chuyển. Đều chưa từng bao giờ mất đi sự tinh tấn và xuất ly. Vẫn giữ vững được sự phát tâm ban đầu của bản thân. Chỉ bởi vì Lư Sư Tôn đã đến trong giấc mơ của tôi và nói một câu rằng:
"Đệ tử nhớ đến ta, ta phải đến!"
Câu nói này đã biến thành tín niệm của tôi.

🌟

Lư Sư Tôn nói:
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ từng nói:
"Chỉ cần luôn luôn nhớ về ta, luôn luôn niệm tâm chú của ta, một ngày sáu thời tưởng nhớ ta, ta chắc chắn sẽ hiện lên trước mắt con."
Tôi nói:
"Đệ tử nhớ về ta, ta phải đến!"

Tôi nói:
Nếu tôi nghe được chuyện khổ não bi thương, tôi nguyện cho những chúng sinh ấy thoát khổ được vui. Nếu tôi biết về người bệnh, tôi nguyện cho người bệnh đó thoát khổ được vui, bệnh nghiệp tiêu trừ. Nếu tôi thấy người chết, tôi nguyện cho người chết đó thoát khổ được vui, vãng sinh Phật quốc.
Đây chính là tâm nguyện của Lư Sư Tôn!


### 32. Ba giấc mơ


Giấc mơ thứ nhất:
Sáng sớm ngày 15 tháng 10 âm lịch năm 2005, tôi chuẩn bị cúng phẩm gồm hương, hoa, đèn, trà, quả, đứng quay về hướng Đông niệm chú Tứ quy y, cầu xin quán đảnh từ xa. Mười phút sau khi làm lễ, có mấy trăm con chim bay đến khu vườn của tôi kêu inh tai nhức óc, rồi chúng nhanh chóng bay về phương Tây. (Tôi đã sống ở vùng này từ năm 90, đến nay tôi chưa từng gặp chuyện như vậy xảy ra.) Buổi tối hôm đó, tôi mơ thấy Lư Sư Tôn chải đầu cho tôi, chải ra rất nhiều chấy trên đầu. Sư Tôn nói với tôi: "Vẫn còn nhiều trứng chấy, cô tự mình gội sạch đi."

Sau sự việc này, có vô cùng nhiều kỳ tích đã xảy ra đối với tôi. Tôi gặp tai nạn xe rất nặng nhưng người lại không mảy may thương tích (cả chiếc xe bị hỏng không có cách nào sửa được). Điều khiến tôi cảm kích nhất là đã chuyển hóa được duyên xấu với mẹ tôi (chúng tôi cứ ba ngày cãi nhau một trận nhỏ, bảy ngày cãi nhau một trận lớn, tôi là bao cát trút giận của mẹ tôi), nay tôi đã trở thành đứa con gái mà mẹ tôi tín nhiệm nhất.
Liên Hoa Dong Dung chắp tay.

Lư Sư Tôn nói:
Trong những giấc mơ của đệ tử Chân Phật thì việc chải đầu rất thường xuyên xảy ra. Việc chải đầu ra chấy hoặc những con bọ đen biểu thị tiêu trừ được rất nhiều nghiệp chướng. (Cũng tương tự như ăn vào đồ trắng và nôn ra đồ đen.) Vẫn có trứng chấy, cần hành giả phải tự gội sạch. Điều này nghĩa là Lư Sư Tôn đã giúp bạn thanh trừ phần lớn nghiệp chướng rồi, những nghiệp còn lại thì bạn cần tự mình tiêu trừ. (Sư phụ dẫn bạn nhập môn, việc tu trì nằm ở chính bạn.)

Khi quy y, cả trăm con chim cùng đến kêu cũng là một điềm đại cát tường.
Xin hãy nắm chắc mỗi ngày, bởi vì mỗi một ngày đều là quá khứ, hiện tại, tương lai.

🌟

Giấc mơ thứ hai:
Việc "mơ thấy Sư Tôn" của tôi thật sự là một giấc mơ rất kỳ diệu, có lẽ sau này sẽ không lặp lại lần thứ hai. Thông thường con người nằm mơ đều là tự thấy mình trong giấc mơ, thế nên nếu như có mơ thấy Lư Sư Tôn thì cũng là Lư Sư Tôn và bạn ở cùng trong giấc mơ đó. Trong giấc mơ của tôi thì ngoài Sư Tôn và tôi ra thì còn có chị tôi.

Khi đó, chị tôi vẫn chưa quy y Sư Tôn. Một đêm nọ, chị tôi và tôi ở trong cùng một giấc mơ mà gặp được Sư Tôn. Sư Tôn ngồi ở giữa hai chúng tôi, còn nói với chúng tôi mấy câu. Nội dung Sư Tôn nói gì thì khi tỉnh dậy tôi đã không nhớ được, nhưng cả tôi và chị tôi đều nhớ rất rõ rằng trong giấc mơ chúng tôi đã gặp được Sư Tôn.

Thật là kỳ diệu, không ngờ Sư Tôn có thể cùng một lúc đi vào trong mơ của hai người, sau đó liên kết giấc mơ của chúng tôi lại, thật đúng là "gặp trong mơ".
Đệ tử Liên Hoa Thúy Hà - Malaysia.

Lư Sư Tôn nói:
Chị em cùng mơ một giấc mơ. Cùng lúc mơ thấy Lư Sư Tôn, việc này là rất hy hữu. Kì thực còn có chuyện hy hữu hơn thế.
Nhiều thành viên trong một gia đình đồng loạt mơ thấy Lư Sư Tôn, những người sống trong một ngôi làng cùng mơ thấy Lư Sư Tôn.
Cuộc đời là thiên biến vạn hóa. Mơ cũng như đời, cũng thiên biến vạn hóa y như thế.

Tôi nói:
Giấc mơ là phương tiện của chúng sinh.
Chị em cùng mơ một giấc mơ, như thế thì tín tâm sẽ càng kiên định hơn.

🌟

Giấc mơ thứ ba (tác giả là Khâu Chính Nghĩa - hội trưởng phân hội khu vực phía nam của Hội Công Đức Hoa Quang tại Đài Loan).

"Mơ thấy Sư Tôn", đệ tử Chân Phật là Liên Hoa Chính Nghĩa xin đưa ra một sự việc có thật xảy ra với chính bản thân: đệ tử khi còn trẻ bị mắc bệnh viêm mũi dị ứng rất nghiêm trọng, khi đi ngủ thường vì nước mũi cứ chảy ra nên không có cách nào ngủ được, đã đi tìm khắp các bác sĩ Đông Tây y và mọi phương thức chữa trị nhưng vẫn không có cách nào cải thiện được tình hình. Về sau đệ tử có đi tiêm (steroid), khi mới tiêm được một mũi thì thời gian hiệu quả được khoảng 4, 5 ngày, đệ tử nhanh chóng cảm thấy thoải mái và mũi đã trở nên thông thoáng, đệ tử cho rằng lần này đã thoát khỏi biển khổ rồi. Không ngờ khi thuốc hết công hiệu thì bệnh lập tức xuất hiện trở lại. Thế là cứ bệnh bắt đầu thì lại đi tiêm, kết quả là thời gian công hiệu của thuốc càng ngày càng ngắn, bản thân đệ tử cũng cảm thấy lo sợ: vì sao lại như vậy nhỉ?

Đệ tử đi thỉnh giáo người ta mới biết được rằng thuốc tiêm lúc ban đầu là steroid (khi đó vẫn còn đang là thuốc cấm). Không còn lựa chọn nào khác, đệ tử đành phải cầu cứu Sư Phật, xin ban cho linh phù bằng cách viết thư đến Seattle nước Mỹ. Một buổi sáng sớm nọ, đệ tử đang ngủ mơ thì Sư Tôn xuất hiện, nét mặt rất rõ ràng. Sư Tôn thổi vào mũi đệ tử một cái. Đệ tử khi đó lập tức tỉnh dậy, tự nói với mình: "Bệnh mũi chắc chắn có thể khỏi được." Những ngày sau đó đã chứng minh, không cần uống thuốc tiêm thuốc, bệnh dị ứng mũi suốt hơn 20 năm nay đã khỏi rồi. Cảm tạ Sư Phật từ bi cứu giúp.
Ghi chú: tôi khỏi bệnh này đến nay đã được 20 năm rồi, nay do Thượng sư yêu cầu viết kể lại câu chuyện nên tôi mới nói ra chút chuyện trong lòng này! Sự việc này là thật, mong không phiền đến mọi người.

Lư Sư Tôn nói:
Khâu Chính Nghĩa là một người đệ tử tốt, những việc thiện mà ông làm là chân thiện, không phải là giả thiện. Ở Hội Công Đức Hoa Quang, ông đã có rất nhiều đóng góp.
Tôi nói:
Thần thông trong giấc mơ là một loại phương tiện mà tôi cứu người độ thế, thổi một hơi khí là khỏi rồi.
Thổi khí trị bệnh là một trong những pháp vi diệu. (Thiên y xuy sát pháp)


### 33. Tôi cử hành pháp hội ở âm phủ


Giấc mơ đó là tôi mơ về khoảng thời gian tôi ở Chân Độ Lôi Tạng Tự ở nước Anh làm tình nguyện viên.

Khi mới chuyển đến London, nhà tôi ở cạnh London Lôi Tạng Tự, bởi vậy mà tôi hiếu kỳ vào ngôi chùa này thăm quan. Lúc đầu tôi chỉ cảm thấy việc cúng kẹo cúng quả trong chùa này khá thú vị, tôi vẫn chưa quy y, tôi đọc những sách Sư Tôn viết trong thời kỳ đầu. Một năm sau thì tôi chuyển đến chỗ ở mới, tôi phát hiện ra ở cạnh đó có Chân Độ Lôi Tạng Tự… sự yêu thích theo thói quen khiến tôi vào chùa chơi. Về sau tôi quy y ở Chân Độ Lôi Tạng Tự, tôi thường giúp pháp sư Liên Cảnh và mọi người ở đó làm tình nguyện viên.

Một đêm, tôi bất ngờ nằm mơ. Trong mơ, tôi đột nhiên tỉnh táo, phát hiện ra đang ở trên một con dốc hướng xuống dưới, hơn nữa tốc độ bay cực kì nhanh, tôi chú ý thấy cảnh sắc bốn xung quanh đều là màu đen. Có cây, nhưng tất cả cây cối đều không có lá. Có tường đất, nhưng toàn bộ là cảnh tượng chết chóc đầy tử khí. Tôi cứ bay mãi, bay mãi và từ từ xuống thấp hơn, rồi tự động dừng lại trước một bức tường đất. Tôi có cảm giác muốn đi vào bên trong xem, liền bước lên một đụn đất, hai tay bám vào mép tường rướn đầu lên nhìn vào trong. Vừa nhìn vào, tôi thấy bên trái có một đám người âm màu xám tro đang tập trung đông đúc ngồi tại một quảng trường, thân thể họ hơi nghiêng nghiêng về phía trước, giống như là họ đang rất tập trung lắng nghe, chăm chú nhìn cái gì đó. Ở bên phải nơi đám người âm hướng mặt về, Sư Tôn không đội mũ Pháp Vương mà hiện tướng xuất gia, mình mặc long bào màu vàng kim, ngồi trên pháp tọa đặt thấp, trước mặt là một chiếc bàn nhỏ.

Ở trong thế giới này, chỉ có Sư Tôn là tỏa kim quang sáng chói như vậy, còn tất cả những người khác đều là một tông màu xám đen, khiến người ta cảm thấy vô cùng lạnh lẽo, tử khí đậm đặc. Tôi nhìn thấy Sư Tôn tay trái lắc chuông kim cang, tay phải cầm chày kim cang, tôi phảng phất nghe thấy âm thanh của chuông kim cang. Không biết là từ lúc nào, tôi đã vượt qua tường để vào được bên trong. Tôi quay đầu lại về phía sau và nhìn qua bên ngoài bức tường, tôi bất ngờ thấy một khuôn mặt rất kì quái đang trèo lên bức tường nhìn vào bên trong, một cặp mắt cong cong, giống như mặt trăng lưỡi liềm cong cong vậy, biểu lộ một vẻ gì đó không nói lên được, nó ở trong rừng tối âm u mà cười hi hi hi. Tôi lại ngoảnh đầu lại nhìn thì pháp hội đã kết thúc rồi, những người ở đó tản ra tứ phía, còn có người hóa thành khói biến đi mất. Bỗng nhiên tôi nhìn thấy Sư Tôn khẽ cười và đi về phía tôi, tôi nhanh chóng tiến tới, từ trong ba lô đeo sau lưng, tôi lấy ra cây bút và cuốn vở xin "minh tinh" Sư Tôn ký tên.

Phía sau cuốn vở của tôi dày đặc chữ, bởi vì tôi nhìn thấy vết mực đen thấm qua trang giấy. Sư Tôn cầm lấy cây bút mực, rồi trên cuốn vở giấy to cỡ A4 của tôi, Sư Tôn đã vẽ một bức tranh gần như kín đặc cả giấy. Đây giống như một phù hiệu viết liền một mạch không dừng, bên trái là những đường thẳng đi lên đơn giản, rồi cong hướng về bên phải, rồi từ bên phải lại vòng bút trở lại bên trái. Khi bút trở về điểm khởi đầu, tôi nhìn thấy rõ ràng tay cầm bút của Sư Tôn phóng ra một năng lượng bí mật với tốc độ chậm, giống như dùng khí để vẽ vậy, rồi năng lượng bí mật lại hướng xuống dưới vẽ thêm mấy lượt nữa rồi mới kết thúc.

Vẽ xong, Sư Tôn đưa vở cho tôi, rồi Sư Tôn quay mình đi vào đám đông, đầu không ngoảnh lại, thế rồi biến mất vào trong đám đông chúng sinh. Tôi đứng nguyên chỗ cũ tay cầm quyển vở, nhìn theo Sư Tôn mất hút vào trong biển người, trong đó có nam có nữ, có già có trẻ, mặt mũi họ khác nhau. Nhìn vào những chúng sinh này khiến tôi có một cảm giác hoài niệm, rất nhớ nhung, trong lòng có một cảm giác ấm áp và hạnh phúc.

Giấc mơ đến đây thì kết thúc.

Những ngày tháng ở Lôi Tạng Tự rất vui vẻ, có biết bao linh cảm. Tôi mơ thấy những giấc mơ cảm ứng như có lão thần tiên mặc kiểu cổ trang nhập mộng dạy tôi niệm chú Thổ Địa Công, có Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát nhập mộng rủ tôi xem phim ngắn, mơ thấy Thượng sư Thường Trí, v.v… Có thể gặp được Sư Tôn thực sự là một điều may mắn nhất trên đời này.

Liên Chi Kiều kính thư.


### 34. Sự trùng hợp về thời gian


Liên Hoa Tử Siêu sống ở huyện Sơn Thành hẻo lánh, ở một nơi rất xa xôi tách biệt của Sơn Thành. [xã Sơn Thành, thuộc thành phố Hạc Bích, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc]. Anh gửi thư xin quán đảnh trì chú và pháp cúng khói.

Thời gian gửi thư đi là: ngày 4 tháng 10 năm 2013.
Sáng sớm ngày 29 tháng 10 năm 2013 anh có một giấc mơ, cảnh tượng trong mơ như sau:
Tôi mơ thấy mình nhẹ như lông vũ bay đến một ngôi chùa, ngôi chùa này không giống những ngôi chùa bình thường, tượng Phật được bày ra kín đầy một mặt tường. Ngôi chùa này cực kì yên tĩnh, thời gian khi đó dường như là vào lúc bình minh, ở trong chùa đã có một đám người mặc đồ màu xanh đang quỳ. Tôi cũng quỳ xuống ở một chỗ trống. Ở chính giữa có một vị Thượng sư mặc long bào quay người lại, tôi vừa nhìn thì hóa ra đó là Sư Tôn!

Thánh Tôn trầm mặc một hồi rồi nói với những người mặc áo xanh đang quỳ xung quanh:
"Các bạn đã nhớ hết chưa?"
Mọi người đồng thanh nói:
"Đã nhớ rồi!"
Tôi không biết chuyện gì, nhưng cũng hét to cùng mọi người:
"Đã nhớ rồi!"
Tôi chỉ thấy đám người sau khi hét lên như vậy xong thì có người liền bay đi khỏi chùa, có người thì độn thổ biến mất, trong một sát-na chỉ còn lại mỗi mình tôi.

Tôi không biết vì sao mà tôi nhất thời lại nằm trên mặt đất, khóc và ôm lấy chân của Thánh Tôn mà nói rằng: "Sư Tôn, con không muốn đi."
Sư Tôn xoa xoa đầu tôi nói:
"Sau này vẫn còn gặp lại."
Mơ đến đây thì trời đã sắp sáng, tôi liền tỉnh giấc.

🌟

Ngày 4 tháng 12, Liên Hoa Tử Siêu nhận được thư hồi đáp. Nhưng thời gian in bên ngoài phong bì thì lại là 3 giờ chiều ngày 28 tháng 10. Thời gian theo giờ Seattle là ngày 28 tháng 10, cũng chính là ngày 29 tháng 10 theo thời gian nơi anh sống. Chính là thời gian anh đã nằm mơ.

Sự trùng hợp về thời gian này khiến tôi vui mừng xúc động muốn khóc.
Nằm mơ — ngày 29 tháng 10. [nơi sống]
Gửi thư trả lời — ngày 28 tháng 10. [Seattle]

Trời ạ! Thật trùng hợp quá.
Bởi vậy mà việc này đã làm kiên định thêm tín tâm của anh, anh học tập Chân Phật Mật Pháp, tận lực thực hành mỗi ngày đều tu.

🌟

Tháng 2 năm 2015, Liên Hoa Tử Siêu đến Đài Loan, gặp mặt được Lư Sư Tôn, hơn nữa còn tham gia bữa cơm cúng dường.

Tháng 9 năm 2015, Liên Hoa Tử Siêu đến Seattle nước Mỹ, lại gặp mặt Lư Sư Tôn, và được chụp ảnh cùng Sư Tôn in trên tờ Chân Phật Báo, trang 2, kì báo số 1073.
(Liên Hoa Tử Siêu năm nay 21 tuổi.)

Những sự việc này đều là trong mơ Lư Sư Tôn đã:
Gia trì.
Dự đoán.
Cảm xúc của Liên Hoa Tử Siêu là:
Đệ tử có tâm.
Thầy tất có ứng.
Cảm ơn Sư Tôn.
Cảm ơn duyên lành.

🌟

Lư Sư Tôn nói:
Những người tu hành, luôn tự có Hộ pháp ở bên cạnh, luôn luôn bảo vệ cho người tu hành.
Tu hành nhờ vào giới — sửa đổi hành vi.
Tu hành nhờ vào định — cân bằng ý niệm.
Tu hành nhờ vào huệ — tịnh hóa tâm linh.
Sau đó thì thực hành vào trong cuộc sống thường nhật. Thực sự làm chủ được bản thân mình. Thay đổi tập tính tích tụ từ nhiều kiếp.

Đối với việc cảm ứng thì:
Đó là một hình thức khích lệ.
Một sự chỉ dẫn.
Một dạng gia tăng tín tâm.

Tôi thích mấy lời ngắn gọn của Vương Nhã Quân:
”*Đừng nghĩ ngợi rằng
Họ đã có ánh dương đẹp đẽ
Tôi nhìn thấy
Ánh tà dương mỗi ngày cũng đều thay đổi
Tôi biết
Tôi luôn có đôi cánh vô hình
Đưa tôi bay
Cho tôi hy vọng.”*

[Vương Nhã Quân, tên tiếng Anh là Tina Wang, là một tác giả chuyên sáng tác ca từ cho bài hát, người Đài Loan. Cô đã viết nhiều lời cho các ca khúc của nhiều nghệ sĩ nổi tiếng. Trong đó nổi tiếng nhất là bài Đôi Cánh Vô Hình do nữ ca sĩ Trương Thiều Hàm hát.]


### 35. Thiên thần nhỏ phiền phức


Đứa con thứ hai của Liên Hoa Vận Sương là Cổ Đức Thư, là một thiên thần nhỏ rất phiền phức. Từ khi sinh ra cho tới 3 tuổi đã phải trải qua năm lần phẫu thuật lớn nhỏ. Đến 2 tuổi cậu bé mới có thể tự động đại tiện. Nhưng tới 4 tuổi thì lại không thể đại tiện một cách bình thường được nữa.

Tổng cộng cậu bé đã học ba trường mẫu giáo rồi, các trường mẫu giáo đều không thích sự phiền toái của cậu nên cậu đã bị cho thôi học. Đứa bé này thật khiến người ta đau đầu muốn chết!
Cha mẹ lo lắng.
Các trường mẫu giáo lo lắng.

Có một ngày Liên Hoa Vận Sương mơ thấy Lư Sư Tôn như sau:
Tôi đi vào phòng hỏi việc, chắp tay đảnh lễ Sư Tôn. Tôi còn chưa nói gì, nhưng dường như Sư Tôn đã biết tôi muốn hỏi chuyện gì rồi. Lư Sư Tôn nói:
"Đợi thêm ba năm nữa đi!"
Tôi đáp:
"Ba năm cơ ạ! Lâu quá rồi!"
Lư Sư Tôn nói:
"Ba năm sẽ trôi qua nhanh thôi!"
Sau đó, Lư Sư Tôn bất ngờ hỏi:
"Bình thường cô tu pháp ra sao? Trì tâm chú của tôi thế nào?"
Tôi sững người lại, rồi bất ngờ lại hát lên bài "Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật", cuối cùng Sư Tôn tặng tôi hai cuốn sách.
(Tôi nhớ lại hai cuốn sách mà Sư Tôn tặng trong mơ thì có một cuốn tiêu đề là "Mở cánh cửa kho báu".) [Văn tập Liên Sinh Hoạt Phật số 240]
Giấc mơ này cực kì rõ ràng.

Khoảng thời gian đúng như lời Sư Tôn đã nói, ba năm mau chóng trôi qua. Đến nay, Cổ Đức Thư đã là cậu học sinh lớp 2 tiểu học rồi. Xin cảm tạ sự gia trì của Sư Tôn suốt bấy lâu nay!
Cổ Đức Thư tất cả đều đã bình thường. Như lời Lư Sư Tôn nói, hãy đợi 3 năm nữa đi!

🌟

Một chuyện khác:
Liên Hoa Minh Đức kể:
Rất nhiều năm trước, vào thời kỳ Sư Tôn đóng cửa ở ẩn, chúng tôi khi đó đã kinh doanh dịch vụ hoa quả cắt sẵn. Quãng thời gian này trôi qua rất bình lặng đều đều, cuộc sống khá ổn định.

Nhưng những thứ tốt đẹp không kéo dài lâu. Không được bao lâu, cạnh nhà đã xuất hiện đối thủ cạnh tranh, mặt tiền cửa hàng của họ làm hoành tráng hơn của chúng tôi gấp mười lần. Đồng thời họ cũng khoa trương một tấc đến giời rằng:
"Muốn lật đổ cửa hàng nhỏ của chúng tôi, bảo chúng tôi hãy dẹp tiệm là tốt nhất!"
Còn tôi thì vẫn tu pháp như thường. Đồng thời tôi hướng đến Sư Tôn cầu cứu.

Ngày hôm sau, tôi đã mơ thấy Lư Sư Tôn đến. Lư Sư Tôn nói:
"Daijoubu." [tiếng Nhật, だいじょうぶ, nghĩa là đừng lo lắng]

Rồi còn nói thêm:
"Lấy nhỏ thắng lớn!"
Kết quả là:
Tình hình kinh doanh còn tốt gấp mấy lần lúc trước, bận tối mắt, nói đơn giản là bất khả tư nghì!

🌟

Lư Sư Tôn nói:
Nếu một người không từng trải qua lúc khổ nạn thì không thể khởi phát tâm tinh tấn. Mọi thứ cứ dễ dàng và thuận lợi quá thì khiến người ta dễ buông lỏng. Bạn cần phải thực sự chịu khổ nạn thì mới có thể học được cứu khổ cứu nạn.
Tâm lý chung là, có trải qua khổ nạn thì niềm vui mới càng có ý nghĩa!


### 36. Tự thuật của Liên Hoa Minh Phương


Mùa hè năm 2001, vào ngày mà ông ngoại của tôi - đệ tử Liên Hoa Minh Phương, viên tịch, tôi đã đến nhà hỏa táng của thành phố Bình Đông để từ biệt ông. [Thành phố Bình Đông ở phía nam Đài Loan.] Buổi trưa trở về nhà bà ngoại, tôi và chị hai tôi cảm thấy người không khỏe, đau đầu.

Sáng sớm ngày hôm đó, khoảng 12 giờ khuya tôi đã ngủ từ lâu. Đột nhiên tôi không thở được, trong lòng bất an, giống như tôi cũng sắp chết vậy. Tôi vội vàng đi vào nhà tắm, dùng nắm đấm tự mình đấm vào tim mình, tối thiểu cũng phải mất một phút tôi mới hít thở được bình thường, tôi mệt tới mức không thể trở về phòng nghỉ ngơi được.

Sáng sớm ngày hôm đó, lần đầu tiên Sư Tôn nhập mộng, tôi chỉ thấy một Sư Tôn rất to lớn, cao và lớn như tượng kim thân của A Di Đà Phật ở Đại Hùng Bảo Điện, ngài mặc trang phục Lama, không đội mũ Pháp Vương. Có một pháp sư đứng bên cạnh Sư Tôn trông vô cùng nhỏ bé. Sư Tôn nói với tôi bằng tiếng Đài Loan: "Mở miệng ra."

Từ trong ống tay áo, Sư Tôn lấy ra một viên thuốc nhỏ màu đen, bảo tôi cho vào trong miệng. Viên thuốc nhỏ màu đen trước mắt tôi biến thành to như nắm đấm, trong lòng tôi nghĩ: "Làm sao mà uống được nhỉ?"
Sư Tôn lại nói:
"Há miệng to ra rồi nuốt xuống." (tiếng Đài)
Tôi há to miệng, Sư Tôn cầm viên thuốc nhỏ màu đen bỏ vào trong miệng tôi. Sau khi tôi tỉnh giấc, toàn bộ thân thể đều rất nhẹ nhõm.

Sau giấc mơ này, tôi liên tiếp mơ thấy Sư Tôn đưa tôi đi "thần du" vô số lần. Có một lần lên núi Tu Di, tôi đứng trên thảo nguyên, cạnh đó có mười mấy đồng môn đang ngồi trên thảo nguyên, nhàn nhã nhìn ngắm cầu vồng ba tầng trên bầu trời núi Tu Di, một tầng, hai tầng, ba tầng, phía trên cầu vồng có vầng thái dương, vầng mặt trời tròn vòng quanh ánh sáng cầu vồng. Khi đó tôi nghĩ trong lòng "Đó là cái gì nhỉ?", Sư Tôn đưa tay ra chỉ và nói: "Đó là vũ trụ." Đến nay ấn tượng này vẫn rất sâu sắc trong đầu tôi.

Lần thứ hai Sư Tôn đưa tôi đi Sơn Thượng [thị trấn Sơn Thượng ở Đài Nam, Đài Loan], trên đường đi có nhiều sỏi đá, đường hẹp chỉ đủ cho hai người đi bên cạnh nhau, hai bên đường là rừng tre ken dày. Sư Tôn đội nón tre đan, người mặc trang phục Lama, đưa chúng tôi đến một nơi rất lạ lẫm, theo sau có năm sư huynh sư tỉ mà tôi quen biết. Tôi đi theo sau Sư Tôn, trong lòng lo sợ, tôi đưa tay túm vào áo Lama của Sư Tôn, Sư Tôn nói: "Đi theo ta không phải sợ, đi lên núi thôi."

Mộng cảnh thứ ba là Sư Tôn ở trước mặt tôi. Khác với hai lần trước, Sư Tôn mặc long bào màu đỏ, tôi nhìn thấy ở sau lưng tấm long bào chỗ có hình thêu một con rồng vàng đã bị sứt chỉ.

Tôi nói: "Xin Sư Tôn cởi long bào ra, con sẽ giúp thầy thêu lại."
Sư Tôn đặt áo vào tay tôi, chiếc kim trong tay tôi bắt đầu thêu, chưa đến một phút đã xong rồi, tôi đưa lại cho Sư Tôn, Sư Tôn lập tức mặc lên người, cười với tôi, trong tay phải của thầy có cầm một xấp tiền giấy màu đỏ đưa cho tôi.
Tôi nói: "Con không lấy."
Tôi chỉ nghĩ đến nghĩa vụ mà thêu lại áo cho Sư Tôn, hoàn toàn không vì bất kì phần thưởng nào.
Sư Tôn lại lấy ra một xấp nhiều tiền hơn. Tôi lại nói: "Con cũng không lấy đâu."
Sư Tôn nói:
"Số tiền này là dành cho cô, cô hãy nhận lấy đi."
Tôi đáp:
"Con thật sự không cần số tiền này."

Từ ống tay áo, Sư Tôn lấy ra một túi vải được buộc bốn góc đưa ra trước mặt tôi. Sư Tôn nói:
"Cái này cô nhất định phải nhận lấy, nếu cô muốn cái gì thì từ trong cái túi này đều có thể lấy ra được thứ đó, tôi muốn cho cô cái túi này."
Khi đó tôi không nghĩ ngợi nhiều, chỉ nghe theo lời của Sư Tôn mà nhận lấy cái túi.

🌟

Trước khi Đài Loan Lôi Tạng Tự xây dựng xong, tôi cùng với người nhà và sư tỉ lái xe đến Lôi Tạng Tự, lái xe đến đoạn đường cong cuối cùng, "Đây chẳng phải là nơi mười lăm năm trước Sư Tôn đã từng đưa tôi đến sao!" Trên đường đi tôi phát hiện ra một viên thuốc nhỏ màu đen, hóa ra chính là cam lộ hoàn.
Sư Tôn trở về Đài Loan đến Lôi Tạng Tự, khi thầy ở trước mật đường khai thị, thân hình và giọng nói thầy thực sự giống như trong giấc mơ của tôi, thầy mặc long bào. Tiền giấy màu đỏ hóa ra là loại tiền tệ mà lâu nay Sư Tôn thường dùng. Tôi cũng lên mạng tìm kiếm thông tin xem vị pháp sư đi cùng có phải là vị tôi từng gặp trong giấc mơ đó không, hóa ra đó là Thượng sư Liên Ấn sống ở Seattle đã lâu. Những năm qua mọi việc đã từ từ ứng nghiệm, thật sự là có những chuyện như vậy. Thực sự trong mơ gặp được Sư Tôn. Trong lòng tôi sớm đã quy y Chân Phật Tông. Vào ngày hoàn thành xây dựng Đài Loan Lôi Tạng Tự, Liên Hoa Minh Phương đã quy y rồi.

Đệ tử Liên Hoa Minh Phương ở thị trấn Vạn Loan, thành phố Bình Đông, cảm ơn Sư Tôn đã từng cứu con, vì thế con không giữ im lặng không nói gì nữa, con dũng cảm đứng lên, nhờ việc thông qua nhân duyên là văn tập của Sư Tôn mà nói với mọi người. Lời con muốn nói là: "Trong mơ không phải mơ, trong gặp gỡ chẳng phải gặp gỡ." Câu nói này thể hiện cảm nhận của con suốt 15 năm qua.

🌟

Lư Sư Tôn nói:
Tôi nhớ nhiều năm trước, tại nhà của Đại Bảo Pháp Vương ở thượng bang New York Upstate, tôi đã gặp mặt Đại Bảo Pháp Vương thứ 16. Đại Bảo Pháp Vương cho tôi 9 hộp đại hắc bảo hoàn và tiểu hắc bảo hoàn. 9 hộp đại hắc bảo hoàn này tôi vô cùng trân trọng, xem chúng như tín vật truyền thừa.

Sau này tôi chuyển nhà nhiều lần. (vì người khác mà phải chuyển nhà)
Không ngờ tôi chỉ còn tìm thấy được ba hộp, thế nên ba hộp này lại càng quý giá hơn.
Đại Bảo Pháp Vương nói:
"Hắc bảo hoàn có rỉ sắt từ chiếc rìu mà Milarepa thường dùng và các vật truyền thừa khác, ngoài ra còn có kết tinh do các vị Lama đã trì chú vào."

Có một lần.
Khi tôi đem những viên đại hắc bảo hoàn ra cho mọi người xem, trong không trung bay tới một bầy quạ đen, ước chừng có tới cả trăm con, chúng đồng loạt đậu xuống mái nhà và cành cây, và chúng hết sức kêu to "A! A! A!", thật sự khiến người ta cảm động.

Đại hắc bảo hoàn của tôi có công dụng cấp cứu, có linh có nghiệm, ai uống vào sẽ không tái sinh vào tam ác đạo nữa.

Tôi nói:
Tôi là một vị Căn bản Thượng sư có đầy đủ phẩm tính, việc sống chết do tôi tự chủ, do vậy tôi không sinh ra cảm giác sợ hãi, nhờ vậy giải trừ được tất cả mọi khổ nạn. Mong cho sự gia trì của tôi không chỉ tồn tại ở thế giới hiện thực này mà cũng có thể tồn tại trong thế giới giấc mộng, hơn nữa còn phủ khắp thập phương pháp giới!


### 37. Sờ bụng một chút


Sư Tôn vô cùng yêu quý!

Đệ tử Liên Hoa Ngọc Phân đến từ Malacca, Malaysia, hiện đang sống tại Selangor, Puchong.

Vào cuối tháng 8 năm 2014, trong giấc mơ, đệ tử cùng với chồng lái xe trở về nhà, nhưng hôm đó nhiều xe quá, chúng con không sao về nhà được, chỉ còn cách đỗ xe bên đường rồi chúng con cùng đi bộ về nhà.

Đi được nửa đường thì phát hiện ra trong một căn nhà nhỏ bên cạnh hồ bơi đang có rất nhiều người tham dự pháp hội. Thế là đệ tử và chồng cũng mừng rỡ đi qua đó cùng tham dự cuộc vui. Khi đi tới bên cạnh căn nhà nhỏ đó, đệ tử nhìn vào bên trong, thấy Sư Tôn đang ngồi trên pháp tọa, đây là một pháp hội nhỏ nhưng rất trang nghiêm. Sư Tôn lúc này cũng để ý thấy đệ tử, đưa tay ra dấu hiệu với đệ tử. Con hiểu rằng Sư Tôn muốn con sau khi pháp hội kết thúc hãy ở lại gặp thầy.

Một lúc sau, pháp hội kết thúc, lúc này Sư Tôn đi về phía chúng con, Sư Tôn nói với chồng con rằng cần phải giúp đỡ những người gặp khó khăn hoạn nạn. Chồng con gật gật đầu, sau đó quay sang hỏi con có chuyện gì muốn thỉnh cầu Sư Tôn giúp đỡ không. Khi đó con nhất thời không biết hỏi gì, Sư Tôn lập tức nói thầy đã biết câu hỏi của con rồi. Thế rồi thầy liền đặt tay lên bụng con. Lúc này con lập tức cảm thấy bụng rất nóng, có một luồng khí nóng chạy vào trong cơ thể, sau đó con cảm thấy bụng rất đau, cơn đau thấu xương, giống như có một khối u trong thân thể con từ từ tiêu biến. Cơn đau khoảng sáu, bảy giây, rồi bụng lại không có cảm giác đau nữa, mà cảm thấy rất thoải mái. Khi con định quay sang cảm tạ Sư Tôn, Sư Tôn đã nhanh chóng biến mất rồi, còn khi đó con cũng tỉnh dậy.

Cuối tháng 9 đó, đệ tử lại được xác nhận là đã mang thai 5 tuần, khoảng cách về thời gian vừa trùng khớp với thời điểm có được giấc mơ trên. Vào ngày 18 tháng 5 năm 2015, đệ tử đã hạ sinh một bé gái. Kết hôn đã ba năm vẫn chưa có thai, trong giấc mơ được Sư Tôn chạm vào bụng xong liền có thai, cảm tạ sự cảm ứng linh nghiệm và sự gia trì của Sư Tôn. Đệ tử xin chắp tay cảm ơn.

Đệ tử Liên Hoa Ngọc Phân.

🌟

Lư Sư Tôn nói:
Gần đây, khi tôi sờ đầu gia trì, có rất nhiều phụ nữ muốn tôi sờ vào bụng họ.
Có một số người đã có thai, bụng to lên, nhô ra, thì đương nhiên là họ muốn được tôi gia trì cho thai nhi ở trong bụng.
Có người thai vị không thẳng.
Có người thì thai có dấu hiệu dị dạng.
Có người thì cầu việc sinh đẻ bình an.
Nhưng cũng có một số người phụ nữ thì bụng hoàn toàn bằng phẳng, không hề có dấu hiệu mang thai.

Tôi hỏi:
"Xoa bụng làm gì?"
Họ đáp:
"Để cầu xin có con!"
Tôi nghe xong, sững người lại hỏi:
"Dùng tay vỗ một cái như thế này thì sẽ có con sao?"
Họ đáp:
"Sẽ có!"
Thế là tôi cũng vỗ vỗ vào bụng họ với đôi chút ngại ngùng.
Nghe nói việc này có rất nhiều cảm ứng.
Có những cặp vợ chồng kết hôn đã nhiều năm mà người vợ vẫn chưa có thai, nhưng sau khi được tôi vỗ vào bụng thì không ngờ đã có thai!

Thế là tin tức cứ thế truyền đi, rất nhiều người có bệnh vô sinh đều muốn được tôi vỗ vào bụng một cái.
Giống như Liên Hoa Ngọc Phân.
Tay sờ lên bụng một cái liền có con luôn!
Vì sao lại có chuyện như vậy?

Tôi nói:
Nguồn gốc sinh mệnh của tôi vẫn là Phật tính vô sinh thanh tịnh. Nhưng, pháp lực thì biến hóa vô cùng tận. Chỉ cần vẫy tay là nguồn sức mạnh tuôn trào bất tận, từ đó sinh ra vô vàn hiện tượng.
Tôi có thể:
Tiêu tai.
Tăng ích.
Kính ái.
Hàng phục.
Tính Không và sức mạnh không thể phân tách.
Thiện và ác sẽ sinh ra nghiệp báo khác nhau.

Mong muốn của tôi là:
Hễ ai cầu vãng sinh tịnh độ thì để cho họ đến Phật quốc tịnh độ!
Hễ ai có mong cầu gì thì để cho họ đều có được cảm ứng.
Tôi dùng thọ mệnh và sức khỏe của tôi để giúp đỡ chúng sinh có duyên, mãi liên tục như vậy suốt về sau này.
Tôi mong ước ban phúc cho con người, phủ khắp cả đại địa này bằng tình yêu và sự ấm áp.


### 38. Các loại pháp cúng khói


Tôi nhớ vào ngày 16 tháng 2 năm 2008, khi đó là trong đại pháp hội Quan Âm dịp Tân Xuân tại Seattle Lôi Tạng Tự, thật may mắn buổi hôm đó đã được Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật truyền thụ pháp Cúng khói quý giá và ban cho quán đảnh pháp này, kể từ đó tôi đã liên tục tu trì pháp cúng khói, cho đến nay đã bảy năm rồi.

Lần đầu tiên tôi tu trì pháp cúng khói cúng cho oan thân trái chủ, tôi liền mơ thấy một đám người đông đúc mặc quần áo đẹp đẽ thêu hoa bay lên hư không. Thế là trong lòng tôi biết rằng pháp cúng khói mà Sư Tôn đã truyền cho là vô cùng thù thắng!

Trong bảy năm này, hễ thời gian cho phép là tôi đều nhất định sẽ tu trì pháp cúng khói. Tôi thành tâm buổi sáng cúng Phật Bồ Tát (trong lòng không mong cầu gì cả), và buổi tối thì cúng cho oan thân trái chủ (thực tâm sám hối).

Trong quãng thời gian tu pháp dài lâu nhiều năm, tôi dần dần đã cảm nhận được chư tôn hoặc oan thân trái chủ có đến thọ cúng hay không, và tâm mình có cảm thấy hoan hỷ hay không. Ngoài ra, tôi cảm nhận được những chướng ngại trong tu hành và trong cuộc sống đều lần lượt được tiêu trừ!

Gần đây tôi mơ thấy Thánh Tôn, tôi đang hỏi thầy về pháp. Thánh Tôn biết rất rõ tiến độ tu pháp của tôi, tôi thành tâm thỉnh giáo thầy xem cần làm sao mới có thể có tiến bộ lớn hơn. Thầy nghĩ một lúc rồi nói sẽ gia trì thêm cho tôi.

Thánh Tôn liền cầm một bức tượng Quan Âm Tứ Thủ đặt lên đầu tôi gia trì, lúc này tôi niệm thầm Lục tự đại minh chú. Thầy nhắc tôi đừng niệm nhanh quá, có một chữ tôi niệm không được rõ ràng, cần phải niệm rõ hơn. (Tôi niệm thầm trong đầu mà Thánh Tôn cũng đều biết cả.)

Sau khi gia trì cho tôi một lúc, Thánh Tôn bảo tôi khi niệm chú ngữ Lục tự đại minh thì niệm thêm "chu li", sau đó thầy lại tiếp tục gia trì cho tôi. Một lúc sau, tôi hỏi Thánh Tôn:
"Có thể đổi thành niệm "tâm chú trong tâm" của Quan Thế Âm Bồ Tát không?"
Thầy hỏi:
"Anh biết sao?"
Tôi nói:
"Biết."
Thế rồi tôi định mở miệng ra đọc, Thánh Tôn lập tức ngăn tôi lại, rồi bảo những người đồng môn khác ở cạnh tôi đi ra ngoài. Lúc này Thánh Tôn mới bảo tôi tiếp tục niệm tâm chú trong tâm mà tôi biết được, thế rồi thầy nói: "Hóa ra đúng là anh biết thật!"

Lúc này, tôi lập tức quỳ xuống, thỉnh cầu Thánh Tôn ban cho tôi quán đảnh tâm chú trong tâm của Quan Thế Âm Bồ Tát. Thầy đã từ bi ban quán đảnh này cho tôi.

Sau đó tôi tỉnh khỏi giấc mơ, thời gian vừa đúng 6 giờ sáng, và hôm đó vừa hay lại là ngày 18 âm lịch. (Đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ rất rõ ràng trong mơ tôi đọc tâm chú trong tâm của Quan Thế Âm Bồ Tát, về sau có duyên gặp mặt Thánh Tôn, tôi sẽ hỏi lại xem có được trì niệm không, tất cả tùy duyên.)

Thánh Tôn từng dạy rằng "lành mộng đừng vui, ác mộng đừng lo", tôi chia sẻ chuyện này ở đây chỉ mong muốn chứng minh sự thù thắng của việc quy y Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Pháp Vương, và sự trân quý của việc tu trì pháp cúng khói. Hy vọng có duyên được đọc những bài viết chia sẻ của đồng môn, trân trọng những ngày tháng Thánh Tôn còn trụ thế truyền pháp, dũng mãnh tinh tấn, sớm có ngày thành tựu! Om mani padme hum!

🌟

Lư Sư Tôn nói:
Truyền thừa của pháp Cúng khói là do Thubten Nyima truyền cho Thubten Dali, Thubten Dali truyền cho Thubten Dhargye, Thubten Dhargye truyền cho Thubten Qimo (Thubten Qimo chính là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.) Thubten Qimo lại tiếp tục truyền cho các đệ tử Chân Phật Tông!

Mục tiêu của pháp Cúng khói là:
Mượn việc cúng khói để tặng cho những oan thân trái chủ của bản thân ta những thứ ta muốn tặng họ, khiến họ nảy sinh tâm hoan hỷ đối với hành giả.
Nhờ vậy họ sẽ có được:
Siêu độ.
Phật pháp.
Tăng ích.
Hoan hỷ.
Những oan thân trái chủ trước đây sẽ không tiếp tục gây chướng ngại cho hành giả nữa, ngược lại, sẽ từ nghịch chuyển thành thuận, khiến hành giả tu hành thuận lợi, thành tựu quả vị.
Việc này là:
Tiêu trừ chướng ngại.
Tiêu trừ nghiệp chướng.
Pháp cúng khói tuy nhỏ, nhưng đây là một mật pháp có đại công đức.

Tuy nhiên…………….
Cúng khói không được dùng cho việc nuôi tiểu quỷ.
Cúng khói không được dùng cho việc cúng dường cô hồn dã quỷ.
Cúng khói không được cúng cho quỷ dữ.

Do vậy, pháp này chỉ giới hạn tu ở tại ban công trong nhà hoặc các buổi đồng tu ở chùa và Phật đường. Bởi vì những nơi này có kết giới nên khi tu mới không xảy ra hỗn loạn.

Tu ở nghĩa trang.
Tu ở nơi hoang dã.
Tu ở âm địa.
Sẽ rất dễ chiêu gọi ma quỷ tới, sẽ phát sinh nhiều hỗn loạn.
(Trừ phi bạn đã là đại thành tựu giả, đã chứng tính Không.)


### 39. Thần toán trong mơ


Tôi là Liên Bình. Năm 2008 đối với tôi mà nói là một năm vô cùng gian nan. Tháng ba năm đó, tôi đã chia tay với người bạn trai mà tôi quen biết gần chục năm, đồng thời công việc kinh doanh mà chúng tôi cùng làm với nhau cũng kết thúc luôn. Sau khi việc kinh doanh chấm dứt, tôi còn thiếu nợ ngân hàng một khoản lớn, ngân hàng thường xuyên thúc sau lưng tôi đòi nợ. Những ngày tháng đó tôi vô cùng khủng hoảng.

Vào khoảng tháng 5, tôi quyết định ghi tên học lớp môi giới bất động sản, nhưng tôi lại lo lắng không biết tôi có thích hợp tiến vào lĩnh vực bất động sản hay không. Mặc dù khoản nợ ngân hàng khi làm kinh doanh trước đây, người bạn trai cũ cũng có trách nhiệm phải trả một nửa, nhưng người đứng tên vay nợ ngân hàng lại chỉ có một mình tôi, do vậy mỗi tháng tôi đều phải trả lợi tức cho ngân hàng. Không những thế, người bạn trai mới chia tay còn từ chối giúp đỡ trả nợ. Khi đó, tôi đã phải chịu đựng một áp lực rất lớn.

Đồng thời lúc này, trên Facebook tôi quen biết một sư huynh tên là Linus sống tại Thụy Điển. Anh ấy sống ở Thụy Điển, còn tôi sống ở Singapore, do vậy chúng tôi chỉ có thể nói chuyện thường xuyên trên Facebook. Anh Linus và tôi cùng nói đến chuyện tháng 8 năm đó muốn đi Seattle tham gia pháp hội của Sư Tôn, khi đó Linus mong muốn trợ giúp tôi chia sẻ một nửa chi phí thuê khách sạn. Vào tháng 7, tôi vẫn đang lo lắng về việc mua vé máy bay, bởi vì tôi thiếu tiền, mà khi đó máy bay chỉ còn lại ba tấm vé. Khi đó, tôi hướng về Sư Tôn cầu nguyện rằng: "Con rất muốn đi Seattle, mong tận mắt gặp được Sư Tôn."

Một hôm, vào một buổi sáng khoảng bảy giờ, khi đó tôi vừa tỉnh dậy vẫn còn nằm trên giường, chỉ trong chớp mắt tôi đã nhìn thấy Sư Tôn. Sư Tôn đang ngồi ở một góc giường của tôi. Khi đó tôi giật nảy mình, lập tức ngồi dậy hỏi:
"Sư Tôn, vì sao thầy lại ở trong phòng con?"
Khi đó Sư Tôn trả lời tôi rằng:
"Thầy đến đây nói chuyện với con thôi."

Rồi cứ thế, tôi kể với Sư Tôn rằng tôi rất muốn đến Seattle. Sư Tôn nói thầy đã biết rồi, hơn nữa còn bảo tôi không cần lo lắng, bởi vì tôi sẽ nhanh chóng có tiền mua vé máy bay thôi. Sư Tôn còn nói, sẽ có một sư tỉ đưa tay giúp đỡ, ngoài ra còn có cơ hội sắp xếp được đến hỏi chuyện. Sư Tôn bảo tôi hãy cùng đi với Linus, bởi vì tôi sẽ giúp phiên dịch cho anh ấy. Sư Tôn còn nhắc nhở tôi cần chú ý trạm dừng xe buýt để không bị lỡ mất điểm dừng xe. Sư Tôn trả lời một số câu hỏi riêng tư của tôi và mẹ tôi. Sau đó, Sư Tôn dùng tay vẽ lên không trung một hình chữ nhật, hình chữ nhật này biến thành một màn hình ti vi. Tôi nhìn thấy anh Linus ngồi trước một cái bàn. Sư Tôn nói: "Sau này anh ta cực kì thích con."

Nói xong, Sư Tôn cười rồi sau đó biến mất. Lúc này, trong chớp mắt tôi phát hiện ra mình vẫn đang nằm trên giường. Đoạn đối thoại này tuyệt đối vô cùng chân thực, không khác gì hiện thực cả, huống hồ tôi còn xác định rằng tôi đang ở trạng thái vừa tỉnh ngủ. Tôi còn nhớ khi đó Sư Tôn mặc trang phục đời thường, xem chừng khoảng 60 tuổi.

Ba ngày sau, tôi nói chuyện qua điện thoại với một người bạn đã rất lâu không liên lạc. Trong khi nói chuyện, tôi có nhắc đến chuyện mua vé máy bay đi Seattle với anh ta. Bạn tôi nghe xong đã chủ động cho tôi vay tiền mua vé máy bay, bởi vì anh ta nói anh ta chơi cổ phiếu đã kiếm được tiền, do vậy tôi đồng ý nhận sự giúp đỡ của anh.

Và như thế, vào tháng 8 rốt cục tôi đã đến Seattle, và gặp mặt anh Linus lần đầu tiên tại sân bay. Về đến khách sạn, tôi gọi điện cho một sư tỉ mà tôi quen trên Facebook. Chị ấy nói: "Chị có một người dì làm tình nguyện viên tại Lôi Tạng Tự, dì nói buổi hỏi chuyện ngày mai có một người đã rút lại lịch hẹn, là người có thời gian hẹn sau cùng, em có muốn lấp vào vị trí trống này không?" Tôi đồng ý luôn không chút chần chừ. Bởi vì anh Linus cũng muốn gặp mặt Sư Tôn để hỏi chuyện, do vậy tôi nói với Linus rằng mặc dù chúng tôi chỉ còn một lịch hẹn trống nhưng tôi sẽ đưa anh ấy cùng đi, vì có thể một lịch hẹn mà có hai người hỏi chuyện được. Nhưng anh ấy lại rất quan tâm đến chuyện riêng tư của bản thân, không muốn tôi nghe anh ấy hỏi chuyện, thế là tôi liền hứa với anh rằng, chúng tôi sẽ cùng đi vào, tôi hỏi trước, hỏi xong tôi sẽ đi ra trước, để một mình anh ấy hỏi chuyện của anh.

Ngày hôm sau, Linus và tôi phải bắt hai chiếc xe buýt khác nhau đến chùa nên bị lãng phí nhiều thời gian. Trên xe buýt, tôi nói với tài xế nơi tôi muốn đến, thế rồi tài xế rất thân thiện nói sẽ thông báo với chúng tôi khi đến trạm xe buýt chúng tôi cần xuống. Thế nhưng trong lòng tôi vẫn cứ cảm thấy nên xuống xe sớm một chút. Cuối cùng, tôi vẫn nghe theo dự cảm của chính mình, không nghe theo lời khuyên của tài xế, tôi xuống trạm xe buýt mà tôi muốn. Kết quả là, trạm xe buýt mà tôi chọn xuống là đúng. Nếu tôi nghe theo lời của tài xế thì chúng tôi chắc chắn sẽ đến muộn.

Thượng sư Liên Ninh đưa chúng tôi đi vào phòng hỏi chuyện. Gặp được Sư Tôn tôi rất vui, cảm giác vô cùng thân thiết tự nhiên, tôi không cảm thấy căng thẳng chút nào. Sư Tôn nói, tôi có thể tiếp tục làm việc trong lĩnh vực bất động sản. Khi nói với Sư Tôn về các vấn đề khác, tôi phát hiện ra trong một số câu hỏi mà tôi từng hỏi trong mơ khi Sư Tôn tại phòng của mình, Sư Tôn đã đưa ra cùng một đáp án.

Khi tôi hỏi xong các vấn đề của mình, Thượng sư Liên Ninh nói ngài ấy có việc, hỏi tôi có thể giúp Linus làm phiên dịch không. Vốn dĩ tôi và Linus đã có thỏa thuận rằng tôi sẽ không tham dự vào cuộc hỏi chuyện của anh ấy, nhưng Thượng sư Liên Ninh đột ngột hỏi như vậy, Linus cũng không dám để tôi đi ra.

Thế nên tôi lại ở lại đó và thật sự đã giúp phiên dịch cho Linus. Việc kỳ lạ là Thượng sư Liên Ninh vẫn luôn chỉ đứng chờ ngay bên ngoài cửa phòng hỏi chuyện và cứ thế nghe tiếp cuộc hỏi chuyện.

Sau buổi hỏi chuyện hôm đó, Sư Tôn đã rất từ bi gia trì cho tôi, mặc dù tôi cũng không biết tôi được gia trì cái gì, nhưng trong lòng tôi tràn ngập sự biết ơn và hoan hỷ. Tôi tin rằng trong cõi vô hình đều đã có sự an bài hết rồi.

Một năm sau, tôi và Linus chính thức hẹn hò. Năm ngoái, tháng 6 năm 2015, Linus và tôi đã kết hôn tại Thụy Điển, hiện nay chúng tôi cùng sống tại Ireland.

(Bài viết trên được viết bởi Liên Bình.)

🌟

Lư Sư Tôn nói:
Trong bài viết này có ba điểm quan trọng:

1. Tiền để đi hồi hương đến Seattle có người giúp đỡ.

2. Đi xe buýt cần xuống trạm nào, tôi đã giúp chỉ điểm cho cô.

3. Những chỉ thị khi hỏi chuyện.

4. Cô Liên Bình và Linus đã kết hôn.

Những chỉ thị và thần toán trong mơ này chuẩn hay không?
Đáp án là:
"Chuẩn!"

Những việc này vốn dĩ là những việc nhỏ lặt vặt, nhưng đều có chỉ thị rất chi tiết. Có thể thấy rằng, số mệnh là đáng tin, mỗi người đều có quỹ tích sinh mệnh của chính mình.

Tôi nói:
Con người có vận mệnh, con người đều sẽ bị vận mệnh cuốn đi, chỉ người có tâm hướng đạo, thực tu Phật pháp mới có thể thay đổi được vận mệnh, mới có thể tự chủ vận mệnh của mình.


### 40. Đối thoại của tâm linh


Năm 2011, vào ngày cuối cùng của năm Âm lịch, buổi sáng tôi bước hụt ở bậc cao nhất của cầu thang sát trần nhà, chỗ cao nhất của căn nhà, thế là tôi rơi thẳng từ trần nhà xuống. Đầu tiên là tôi rơi xuống chiếu nghỉ của tầng hai, sau đó tôi lăn mười mấy bậc thang. Khi đó tôi cho rằng mình thế là toi rồi, nhưng kết quả là tôi vẫn còn tỉnh, có điều tôi đã bị thương đốt xương sống dưới cùng. Lúc đó tôi đi khám bác sĩ khoa xương, bác sĩ chỉ cho thuốc giảm đau, thuốc tiêu viêm, ngoài ra bảo tôi làm thêm các động tác giúp phục hồi. Bởi vì chỗ đốt xương sống bị chấn thương rất đau nên mỗi khi thuốc giảm đau hết tác dụng là tôi lập tức kêu la oai oái, tôi chỉ có thể nằm, ngay cả ngồi cũng rất đau. Khi tôi đi lên cầu thang cũng giống như ông già 80 tuổi vậy, đi một bước là phải nghỉ một lúc. Tôi đón năm mới đó trong sự đau đớn thê thảm.

Sau đó tôi quay trở lại làm việc, và tôi vẫn bị đau như trước đây. Về sau tôi không khám Tây y nữa mà khám Đông y, sau một lần đi xoa bóp về thì tôi càng đau hơn, thế là tôi lại khám Đông y và dùng cao xoa bóp vào chỗ đau, nhưng tôi vẫn không hề có chút chuyển biến tốt nào cả. Thời gian đó tôi có niệm Cao Vương Kinh, sau khi niệm hết 1000 biến, đương nhiên là tôi cầu xin cho cái xương sống bị thương khỏi đau, rồi tôi đốt tờ giấy đánh dấu các vòng tròn đi và hồi hướng. Đêm đó tôi rất thất vọng… trong mơ chẳng thấy gì cả, đau vẫn hoàn đau.

Buổi tối một tuần lễ sau đó, tôi mơ thấy mình nằm úp bụng xuống, tư thế giống như siêu nhân đang bay trong không trung vậy, nhưng là nằm úp lên mặt đất. Sư Tôn xuất hiện, hai tay thầy nâng một bức tượng kim thân nhỏ một vị A Di Đà Phật đang đứng, sau đó thầy đặt bức tượng kim thân lên chỗ đốt xương sống bị đau của tôi. Đột nhiên tôi cảm giác như có một luồng điện từ chỗ bị đau chạy lan khắp toàn thân. Tiếp đó tôi từ từ bay lên không trung cách mặt đất một khoảng cách nhỏ, rồi tôi lại bị một sức mạnh quật xuống mặt đất. Việc này lặp lại ba lần. Khi đó ngực tôi bị ném xuống rất đau, tôi kêu thét lên một tiếng, khiến tỉnh ngủ luôn. Sau đó, chỗ bị đau trên xương sống của tôi dần dần mỗi ngày lại đỡ đau hơn, không còn đau nhức và cũng không cần uống thuốc hay khám bác sĩ nữa.

Ngoài ra, trong suốt khoảng thời gian 5 năm học đại học trước đó, các sinh hoạt phí của tôi đều do tôi phải tự kiếm, tất cả các khoản chi tiêu đều vô cùng eo hẹp, tôi không mua quần áo mới, không tiêu xài vào các thú tiêu khiển, quần áo thì chọn đồ *second hand*. Khi đó, có một sư tỉ nhờ tôi giới thiệu mà đã quy y Sư Tôn. Một hôm, sư tỉ đó đã cho tôi 300 đồng ringgit [tiền tệ của Malaysia], còn bảo rằng sau này mỗi tháng sẽ đều cho tiền để hỗ trợ tôi sống. Khi đó đương nhiên tôi rất cảm kích sự giúp đỡ của chị ấy. Khoảng một năm sau, tôi sắp tốt nghiệp rồi thì sư tỉ mới nói cho tôi biết vì sao chị ấy đột nhiên lại cho tôi tiền như vậy. Là bởi vì có một đêm chị ấy mơ thấy một anh chàng đẹp trai, ha ha, một anh chàng đẹp trai tỏa ánh sáng hào quang. Trong mơ chị ấy biết rằng người này chính là Sư Tôn. Sư Tôn không nói gì, chỉ cùng với sư tỉ bốn mắt nhìn nhau. Sư tỉ lập tức hiểu ý của Sư Tôn, chính là muốn sư tỉ trợ giúp về kinh tế cho một tiểu sư huynh. Sư tỉ liền gật gật đầu đồng ý với Sư Tôn. Toàn bộ quá trình này chẳng có một câu đối thoại nào, chỉ có ánh mắt nhìn và những cái gật đầu, thế thôi.

Tôi nghe xong thì lập tức khóc òa lên, hóa ra Sư Tôn thật sự luôn ở bên cạnh để che chở bảo vệ cho chúng ta. Bởi vì tôi không có tiền, cuộc sống rất khó khăn mà không ai biết, tôi cũng ngại không muốn để người khác biết, thế nhưng Sư Tôn thì đã biết rồi, lại còn đi vào trong giấc mơ của quý nhân ở cạnh tôi để nhờ giúp đỡ. Sự cảm kích của tôi không lời nào diễn đạt được, tôi chỉ biết khóc mà cảm ơn và cảm ơn. Tôi tin rằng đây chính là điểm vĩ đại của việc Sư Tôn âm thầm dùng thần thông, trợ giúp tôi lúc cùng cực nhất, Sư Tôn âm thầm làm điều đó. Nếu không phải do sư tỉ nói ra thì tôi vẫn không biết rằng hóa ra chính là có Sư Tôn chỉ dẫn ở phía sau!

Cảm tạ sự cổ vũ của Sư Tôn, cảm tạ thầy luôn ở bên cạnh bảo vệ cho người đệ tử bất tài này. Con nguyện cả đời này trì niệm tâm chú của thầy, cho đến khi được trở về trong vòng tay của thầy, trở về cõi tịnh độ không còn lo âu không còn đau khổ của thầy.
Cảm ơn, cảm tạ.
Liên Hoa Thừa Hoa chắp tay.

🌟

"Đôi khi, không cần phải nói thành lời, chỉ cần dùng ánh mắt để bày tỏ ý, vẫn đều hiểu được hết tất cả."
Lư Sư Tôn nói: 
Đây chính là ngôn ngữ của tâm linh.

Có một lần. Tôi đi bộ trong một con đường nhỏ rất dài. Gặp một người bày sạp bán tào phớ, sạp hàng của anh ta chỉ bày trên mặt đất. Tôi thấy người này sắp gặp tai nạn. Nhưng đã không còn đủ thời gian để nói gì. Tôi chạy đến, đưa tay ra giật lấy cái muôi múc tào phớ của anh ta rồi tôi quay người chạy đi. Người chủ sạp tào phớ liền đuổi theo tôi.

Chỉ trong một tích tắc, có một người say rượu lái xe lảo đảo, rồi đâm sầm vào sạp bán tào phớ.
"Rầm!"
Sạp tào phớ tan tành. Nếu như người chủ quán còn đứng ở đó chắc chắn đã bị chết rồi. Anh ta muốn cảm ơn tôi. Anh biết rằng tôi đã cứu anh ấy. Nhưng tôi đã đi khỏi đó từ lâu rồi! (Chuyện này là ngôn ngữ chân tay, không phải ngôn ngữ tâm linh.)

Còn nữa:
Có một cô gái hỏi về chuyện hôn nhân. Tôi nói sẽ ban chỉ thị trong mơ cho cô. Trong giấc mơ, người bạn trai của cô xuất hiện, bên cạnh còn dẫn theo một cô gái khác.

Tôi hiện ra, không nói gì, chỉ nhìn cô gái kia một cái. Sau khi tỉnh dậy, cô đã hiểu rằng không có hy vọng gì vào cuộc hôn nhân kia.

Tôi nói:
Ý nghĩ có thể dùng ánh mắt để truyền đạt, có thể dùng tâm, tâm lực chính là từ trường!


### 41. Ảo giác của Lư Trương Viên


Khi 30 tuổi, tôi lấy vợ là Lư Lệ Hương, cũng chính là Thượng sư Liên Hương bây giờ.
Cha của nhà tôi là Lư Kim Thủy.
Mẹ của nhà tôi là Lư Trương Viên.
Lư Kim Thủy đã mất.
Lư Trương Viên đã mất.

Khi Lư Trương Viên còn sống tại nhân gian, bà ấy có đến sống tại Nam Sơn Nhã Xá ở Seattle một khoảng thời gian. Bà ấy thường làm việc nhà. Cả ngôi nhà được bà dọn dẹp ngăn nắp tinh tươm, sạch sẽ sáng bóng.
Nấu ba bữa cơm.
Lau sàn nhà.
Giặt quần áo.
Đủ các việc nhà bà đều có thể làm hết, hơn nữa bà còn làm rất tốt, tôi rất biết ơn bà.

🌟

Khi già, bà ấy cũng mắc bệnh. Có một khoảng thời gian rất dài nhiều năm, bà phải sống trong bệnh viện (bệnh viện Đài Loan). Ý thức của bà không còn minh mẫn. Mất trí. Cứ như thế cho đến một ngày, bà đột nhiên trở nên tỉnh táo. Bà nói:
"Mẹ thấy Thắng Ngạn đưa Địa Tạng Bồ Tát đến thăm mẹ. Lư Sư Tôn dùng tay cầm lấy cành liễu trong bình tịnh thủy vẩy lên người mẹ, rồi còn lấy nước cam lộ cho mẹ uống. Thế là mẹ liền tỉnh táo trở lại."

Vốn dĩ bà đã bị lẫn nhiều năm. Bây giờ lại trở nên tỉnh táo. Bà chỉ vào Thượng sư Liên Hương và nói:
"Cô này sống tại Mỹ."
Bà chỉ vào anh hai nói:
"Nó bị câm! Không thích nói chuyện."
Bà nhận ra:
"Hương Linh!"
Nhận ra:
"Hương Như!"
Bà nhận ra từng người một, nói những lời tốt đẹp về mỗi người. Bà còn nhấn mạnh lần nữa rằng:
"Là Thắng Ngạn (Lư Sư Tôn) đưa Địa Tạng Bồ Tát đến cứu mẹ đấy."
Bà cứ nói như vậy ba, bốn lần.

🌟

Cứ thế rồi một năm trôi qua.
Bà đếm từng ngày rồi nói:
"Lư Sư Tôn muốn đưa mẹ trở về trời rồi!"
Sau đó thì bà cũng qua đời!
(Những ngày tháng đó vừa đúng hay là lúc tôi bế quan ẩn tu, là khoảng thời gian sáu năm đó.)

🌟

Lư Sư Tôn nói:
Đối với việc cứu độ cho người thân của chính mình, tôi luôn rất nỗ lực. Ấn tượng sâu đậm nhất đối với tôi là:
Mẹ ruột của tôi Lư Ngọc Nữ. Tôi đưa mẹ bay đi. A Di Đà Phật đích thân đưa mẹ tôi đi.
Mẹ của Thượng sư Liên Hương, bà Lư Trương Viên, cũng là do tôi đích thân đưa đi.

Cứu độ chính là phương pháp tốt nhất để thường xuyên nuôi dưỡng lòng nhân từ, diệt tội tiêu nghiệp, điều này do chính miệng Phật Đà nói ra để nhắc nhở chúng ta.
Đối với người thân cũng thế.
Đối với người có duyên cũng thế.
Đối với chúng sinh cũng thế.
Đây mới là đồng thể đại bi chân chính!

Tâm nguyện của tôi là:
Thường xuyên làm cứu độ chúng sinh, quan trọng nhất chính là công đức của bồ đề tâm. Tôi dựa vào bồ đề tâm để chuyển hóa oan địch, chuyển hóa tà ác, chuyển hóa ích kỷ.


### 42. Nghe được tận tai


Vào một buổi tối sau khi tôi mới quy y Sư Tôn chưa lâu, lúc sắp ngủ (mắt còn chưa nhắm), tôi còn rất tỉnh táo, bỗng tôi nghe thấy một tiếng nói đàn ông rất rõ ràng (tiếng Đài Loan): "Này… ta đến đây gia trì cho con, để con có thể sớm trở về đoàn tụ gia đình."
Sau đó, tôi có cảm giác tê từ đỉnh đầu đến khắp toàn thân.

Sau sự việc này, tôi đã đi kiểm chứng khẩu âm tiếng Đài Loan của Sư Tôn (bình thường Sư Tôn đều nói tiếng quốc ngữ), và tôi có thể khẳng định chắc chắn rằng tiếng nói hôm trước tôi nghe thấy là tiếng của Sư Tôn.

Tối hôm đó tôi nằm mơ, mơ thấy một người phụ nữ bị chồng bỏ rơi. Chồng đi theo bồ, còn người phụ nữ thì một mình nuôi dưỡng một đứa bé trai từ nhỏ đến lớn.

Sau khi tỉnh mộng, trong lòng tôi hiểu rất rõ rằng người phụ nữ trong giấc mơ đó chính là tôi, người chồng đó chính là người chồng cũ của tôi, còn bồ anh ta là một người bạn nữ của tôi, đứa bé chính là đứa con mà tôi sinh ra.

Giấc mơ này cảnh tỉnh tôi cần phải cởi bỏ ác duyên, trở về tìm cách đoàn tụ với gia đình. Vốn có chết tôi cũng không chịu quay lại với chồng cũ.

Kiếp trước ta phụ người, kiếp này người phụ ta, oan oan tương báo chẳng có hồi kết.

Bây giờ cả nhà chúng tôi đã đoàn tụ rồi. Chồng tôi từ một người theo chủ nghĩa vô thần nay đã thay đổi mà quy y Sư Tôn, hơn nữa mỗi ngày đều niệm Cao Vương Kinh, bởi vì Sư Tôn không chỉ giúp cho gia đình tôi đoàn tụ mà cũng đã bảo hộ cho chồng tôi khỏi căn bệnh ung thư giai đoạn ba, ngay cả bác sĩ cũng vô cùng kinh ngạc vì không ngờ bệnh ung thư giai đoạn ba của anh lại khỏi được.

Từ khi tôi quy y Sư Tôn đến nay, Sư Tôn đã nhập mộng để khai sáng và gia trì cho tôi không biết bao nhiêu lần, nay tôi kể ra câu chuyện quan trọng nhất, đặc biệt nhất này để chia sẻ với mọi người. Điều đặc biệt nhất là việc này không phải là mơ, mà là do tận tai tôi nghe được (tôi đã gặp được Bổn tôn). Điều quan trọng là Sư Tôn không chỉ giúp cho gia đình tôi đoàn tụ mà còn khiến cho chúng tôi đều từ ác duyên oan oan tương báo đã chuyển hóa thành thiện duyên cùng tu tập, Sư Tôn cũng độ hóa người chồng trần tục của tôi, nói đơn giản là đã hoàn thành được một nhiệm vụ tưởng như bất khả thi! Tôi tán thán Sư Tôn đại từ bi vĩ đại. Om guru liansheng siddhi hum!

Đệ tử Liên Hoa Tiểu Trân tại Đài Loan.

🌟

Lư Sư Tôn nói:
Bên trong câu chuyện này của Liên Hoa Tiểu Trân có nhân quả, có rất nhiều nhân quả, cũng xem như rất rõ ràng.
Tiếng quốc ngữ của tôi không được xem là tiêu chuẩn. Nhưng cũng tàm tạm. Tôi biết nói tiếng Đài Loan. Do vậy tiếng quốc ngữ mà tôi nói là quốc ngữ Đài Loan.
"Này… ta đến đây gia trì cho con, để con có thể sớm trở về đoàn tụ gia đình."
Câu nói này rất thú vị!
Kì thực, muốn độ hóa cho cả một gia đình mà tất cả mọi người đều tin Phật không ai phản đối là việc vô cùng không dễ dàng gì.
Có nhà thì chồng tin, vợ không tin.
Có nhà thì vợ rất tin, chồng thì không tin.
Có nhà thì vợ chồng tin, con cái thì không tin.
...

🌟

Từng có một ví dụ về gia đình có chồng tin nhưng vợ không tin như thế này:
Mỗi lần người chồng đến Lôi Tạng Tự nghe pháp, vợ liền nổi giận đùng đùng:
"Bỏ mẹ nhà ông, chết mẹ nhà ông, Lư Thắng Ngạn, tôi sẽ phanh thây ông ra cho ông xuống mười chín tầng địa ngục."
Ui! Ghê quá!

Bà vợ còn nói:
"Tôi sẽ đem một can xăng đến Lôi Tạng Tự đốt sạch sẽ cái Lôi Tạng Tự đó đi."
Tôi nghe mà sợ xém chết! Phật pháp tốt đẹp như vậy, chỉ dạy người ta điều tốt, không tin thật đáng tiếc, thế mà còn tức giận tới mức ấy!

🌟

Có một nhà khác vợ thì tin, chồng thì "răng sắt" không tin.
Mỗi lần vợ đến Lôi Tạng Tự tu pháp, chồng nói:
"Bà chọn đi theo Lư Sư Tôn mà không chọn theo tôi. Được! Chúng ta ly hôn!"
Chồng nói:
"Tôi sẽ giết Lư Sư Tôn!"
Tôi nghe xong, sợ muốn chết!

🌟

Tôi từng hướng dẫn một pháp:
Mỗi lần đồng tu, tự mình cần quán tưởng toàn bộ người trong gia đình người lớn trẻ nhỏ đều ngồi bên cạnhh mình, tất cả cùng tham gia đồng tu, không phân biệt. Thì lâu dần, người nhà cũng sẽ có duyên với Phật!

Tôi nói:
"Cũng giống như những cái bình, một cái đựng đầy Phật pháp từ bi, một cái bình khác đựng đầy oán hận phẫn nộ. Phật pháp tốt đẹp như vậy, hà tất phải ngăn chặn gây khó dễ! Chân Phật Tông chúng ta dạy pháp thiện lành, là dạy chính pháp, xin mọi người hãy yên tâm."


### 43. Bắt ra rất nhiều sâu từ trên lưng


Sư tỉ Liên Hoa Mỵ Vân đến từ Hộ Thanh Đường ở Sungai Siput, Malaysia, vào năm đó (2013) cùng đường chủ là Liên Hoa Triệu Tương đã dẫn các đồng môn ở Hộ Thanh Đường hành hương về Lôi Tạng Tự. Trong bữa cơm cúng dường họ đã cảm ơn Sư Tôn ngày xưa nhiều lần cứu độ, khiến họ cảm động đến rơi nước mắt.

Nghe sư tỉ Liên Hoa Mỵ Vân kể lại với tác giả [tác giả ở đây là người viết lại câu chuyện này - Thượng sư Huệ Quân], là ngay cả Sư Tôn cũng cảm động tới mức cầm khăn giấy thấm nước mắt, còn Sư Mẫu nói:
"Đúng thật sự là khóc suốt từ món ăn đầu tiên cho đến món ăn cuối cùng…"
Rốt cục là họ vì nguyên cớ gì mà lại cảm ơn Sư Tôn như vậy?
Dưới đây là câu chuyện về sự cứu độ thù thắng của Chân Phật đã xảy ra trên chính cô ấy.

🌟

Năm 2006, sư tỉ Liên Hoa Mỵ Vân mắc phải căn bệnh viêm màng não rất nghiêm trọng, khiến cô rơi vào hôn mê sâu. Pháp sư Liên Vũ đã chuyển fax những thông tin về bệnh tình của sư tỉ đến Seattle Lôi Tạng Tự cầu Sư Tôn gia trì, ngoài ra còn cùng với đồng môn đồng lòng niệm Thượng sư tâm chú để hồi hướng cho cô, kết quả là đã xảy ra kỳ tích. Sư tỉ bất ngờ dần dần mỗi ngày qua lại tỉnh táo hơn và sức khỏe đã hồi phục.

Đường chủ của Hộ Thanh Đường là sư tỉ Liên Hoa Triệu Tương bộc lộ: "Trước đây sư tỉ Liên Hoa Mỵ Vân không có lòng tin, cũng rất ít khi đến Hộ Thanh Đường đồng tu. Sau khi khỏi bệnh, vì cảm ơn Sư Tôn đã cứu độ, không ngờ cô đã đảm nhận các việc chung của Hộ Thanh Đường trước đây, sau này còn rất nỗ lực làm pháp vụ, đúng là nhờ có Sư Tôn dẫn dắt cô đến giúp, công ích rất lớn!"

Sư tỉ Liên Hoa Mỵ Vân nói: "Mặc dù trước đây tôi ít khi đến Hộ Thanh Đường, nhưng tôi rất thích đọc sách của Sư Tôn. Kể từ sau khi căn bệnh nặng này khỏi, tôi trở về nhà và bất ngờ mơ thấy Lư Sư Tôn bắt ra từ trên lưng tôi rất nhiều sâu bọ! Giờ đây tôi làm pháp vụ thì giống như có được Sư Tôn ở bên cạnh đệ tử, luôn luôn có được sự gia trì của Sư Tôn!"

Năm đó (2013), sư tỉ Liên Hoa Mỵ Vân và con gái là Liên Hoa Hạnh Huệ đã hành hương đến Lôi Tạng Tự, hộ trì pháp hội của Sư Tôn và đảm nhận việc tình nguyện viên tại Đài Loan Lôi Tạng Tự một tháng. Một lần sau pháp hội, khi Thánh Tôn sờ đầu cho đệ tử, sư tỉ Liên Hoa Mỵ Vân vốn dĩ muốn con gái xin Sư Tôn khi sờ đầu thì sờ vào chỗ đau ở phần lưng, thế nhưng con gái lại nói: "Sư Tôn chủ trì pháp hội và khai thị đã đủ mệt rồi, không nên làm phiền sư phụ thêm nữa."

Thế là họ cũng từ bỏ luôn ý nghĩ xin Sư Tôn sờ gia trì thêm. Sau đó không lâu, sư tỉ Liên Hoa Mỵ Vân bất ngờ đã mơ thấy Lư Sư Tôn gia trì cho cái lưng đau của con gái. Sau giấc mơ này, cái lưng đau của con gái vì vậy mà không cần uống thuốc cũng khỏi!

Khi kết thúc chuyến hành hương đến Đài Loan và trở về Malaysia, sư tỉ đã hỗ trợ đem về những cuốn văn tập của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đã được Sư Tôn ký tên và gia trì. Sư tỉ Liên Hoa Mỵ Vân nói: "Không ngờ khi qua máy soi của hải quan Đài Loan đã bị chặn lại. Hóa ra là bị nhân viên hải quan cho rằng trong hành lý có "vật phát sáng”. Khi mở ra thấy toàn là sách văn tập của Sư Tôn, nhân viên hải quan ngớ ra không biết nói sao…… Kì thực tôi biết đó là sách của Sư Tôn phóng quang!"
(Liên Hoa Huệ Quân ghi chép.)

🌟

Lư Sư Tôn nói:
Có đệ tử mơ thấy Lư Sư Tôn giúp anh ta chải đầu, kết quả là chải ra rất nhiều chấy rơi xuống đất. Căn bệnh đau đầu anh đã mắc phải suốt 20 năm nay chỉ qua một đêm không ngờ đã không còn đau nữa.

Còn có đệ tử thì cánh tay bị đau đã 6 năm, suốt bao lâu chữa kiểu gì cũng không khỏi. Mơ thấy Lư Sư Tôn lôi từ trong cánh tay ra một con rắn, nhưng lại thấy Lư Sư Tôn ném con rắn đi rất xa. Sau khi tỉnh dậy, không ngờ cánh tay đã khỏi đau.

Lại có đệ tử cả đời bị đau bụng kinh, nói cách khác là cứ mỗi khi đến kỳ sinh lý lại bị đau không ngớt, từ nhỏ đến lớn luôn như vậy. Sau đó mơ thấy Lư Sư Tôn đưa đến Ma Ha Song Liên Trì để ngâm mình trong đó. Thế mà chứng đau bụng kinh đã hết. Càng kỳ lạ hơn là cô còn bị bệnh ngoài da, sau khi ở trong giấc mơ được ngâm mình trong nước thì đã khỏi hẳn, da trơn láng.

Lại có đệ tử bị bệnh thoát vị, cụ thể là ruột bị tụt xuống, trở thành một khối nang lớn. Mơ thấy Lư Sư Tôn lôi ra từ trong nang một con chuột. Kể từ đó không bị thoát vị nữa!

Lại có đệ tử bị bệnh tâm thần, khi quy y thì đã là người bị bệnh tâm thần rồi. Anh ta mơ thấy Lư Sư Tôn vỗ vào lưng anh, vỗ mạnh tới mức kêu "binh binh bộp bộp". Không ngờ có một con ma từ trên người anh ta ngã ra rồi vụt chạy biến mất. Thế mà bệnh tâm thần của anh không ngờ đã khỏi!
...

Tôi nói:
Cái Không mà Phật Đà giảng chính là sự sáng rõ tối cao tối thánh. Nhưng ở thế giới vật chất của cái Có này, ai cũng có những cái mê muội, nhân duyên quả báo, rắc rối phức tạp.
Chỉ có gặp được Thượng sư đã đắc "tính Không" thì mới có thể giải thoát được cái khổ của chúng sinh.


### 44. Khai thị quan trọng bậc nhất


Trong mơ Sư Tôn khai thị
Liên Hoa Mạnh Hoa (Ngô Mạnh Hoa)

Cách đây không lâu vào năm ngoái, tôi cảm thấy trống rỗng khi nghĩ đến tương lai, nên rất hy vọng Sư Tôn có thể biết được và gia trì cho tôi. Trong khi tôi cứ ngẫm nghĩ không biết Sư Tôn có nghe được những tiếng nói trong lòng tôi không, bởi khoảng thời gian đó tôi cũng tu pháp rất nhiều, tôi tu pháp Khói cúng và pháp Kim Cang Tâm.

Thế rồi có một tuần, liên tục suốt cả tuần đó tôi đều mơ thấy một vài giấc mơ có tính khai thị. Một trong số những giấc mơ đó chính là Sư Tôn nhập mộng, Sư Tôn ở trong mơ rất rõ ràng. Sư Tôn đi đến trước mặt tôi, xung quanh không có ai, Sư Tôn nói với âm lượng như bình thường, vô cùng rõ ràng!

Sư Tôn khai thị với tôi một câu rằng:
"Tất cả vô ngã, thế nên không có sự việc gì là ta không thể lý giải được. Tất cả vốn không có tự tính, tất cả tự tính vốn thanh tịnh."

Cảnh tượng trong mơ là lúc nghênh đón Sư Tôn.
Thế rồi gần đây tôi mới đọc xong cuốn văn tập "Chưa đoán đã biết", khiến tôi mười phần tán thán việc Sư Tôn có mặt ở khắp mọi nơi, chẳng có chuyện gì là thầy không biết!

🌟

Lư Sư Tôn nói:
Khai thị mà tôi nói với Liên Hoa Mạnh Hoa chỉ là vài câu đơn giản:
Tất cả vô ngã.
Thế nên không có sự việc gì là ta không thể lý giải được.
Tất cả vốn không có tự tính.
Tất cả tự tính vốn thanh tịnh.
(Đây chính là khai thị tối tối quan trọng.)

Phật Đà nói:
Khổ.
Không.
Vô thường.
Vô ngã.
(Trong giáo pháp của Phật Đà thì đây là bốn pháp ấn chân đế lớn nhất.)

Phật Đà còn nói:
Thuyết pháp 49 năm, nhưng chưa từng nói một chữ nào. (Không.)
Không có ai thuyết pháp.
Không có ai nghe pháp.
Trong pháp chẳng có một thứ gì.
(Không.)

Phật Đà nói:
Ta chẳng hề chuyển pháp luân.
Ngay cả một lần chuyển cũng không có, huống hồ ba lần chuyển.

Phật Đà nói:
Vô nhân tướng.
Vô ngã tướng.
Vô chúng sinh tướng. (không có không gian)
Vô thọ giả tướng. (không có thời gian)
(Không.)
Cái gì là "niết bàn tịch tĩnh"? Đây cũng chính là "Không".

🌟

Tôi nói:
Không có Chân Phật Tông, không có Lư Thắng Ngạn, không có việc sáng tác 253 cuốn sách, không có thuyết pháp, cũng không có khai thị, cũng không có vẽ tranh, tất cả những điều này căn bản là một trò đùa lớn.

Giống như:
Trên mặt trăng căn bản là ngay cả một con người cũng không có.
Trong bánh mặt trăng chẳng có mặt trăng. [Bánh mặt trăng là bánh trung thu, trong tiếng Trung gọi là nguyệt bính, tiếng Anh là mooncake, đều có chữ "trăng".]
Trong bánh mặt trời chẳng có mặt trời. [Bánh mặt trời tiếng Trung gọi là thái dương bính, là loại bánh nổi tiếng của thành phố Đài Trung.]
Trong bánh bà vợ chẳng có bà vợ nào. [Bánh bà vợ cũng là tên một loại bánh nổi tiếng ở Đài Loan.]

Nếu nói có, thì vốn là hư huyễn.
Nếu nói không, thì vốn là không có một sự vật nào.
Không có tự tính là chân lý, nếu không thì, bạn đem ra phân tích từng cái một, bạn sẽ hiểu đó!
Hiểu rồi thì nghĩa là bạn đã khai ngộ rồi!
Một khi đã khai ngộ thì sẽ không bám chấp vào mọi thứ nữa.


### 45. Dự đoán và thông báo


Xuân mới năm 2006, thật vui khi biết tin Sư Tôn đã kết thúc kỳ bế quan, các đệ tử vì quá nhớ Phật nên lập tức bay đến Đài Loan Lôi Tạng Tự để bái lạy. Còn nhớ Sư Mẫu cười và nói rằng:
"Mọi người thật là có thần thông, có thể biết được Sư Tôn đã kết thúc bế quan rồi."

Sư Phật từ bi, ngay tại đó đã ban cho mỗi đệ tử được có một điều ước, tôi thầm cầu xin cho mọi người trong nhà lớn nhỏ đều được bình an là tốt rồi!

Tháng 4 năm 2006, tôi đi du lịch theo đoàn đến núi Lư Sơn ở tỉnh Giang Tây Trung Quốc. Ở tại nhà nghỉ, lúc sáng sớm tôi đã mơ thấy Lư Sư Tôn đến nhà tôi, trong mơ tôi đứng ở cửa, Sư Tôn chuyển lời bảo tôi vào trong nhà, rồi nói với tôi vài chuyện. Đệ tử nghe xong thì lập tức quỳ xuống khấu đầu không ngừng….

Khi tỉnh dậy xem đồng hồ thì là hơn 5 giờ sáng. Sư Tôn trong mơ rất rõ ràng! Trong lòng cảm thấy hoang mang, không biết trong mơ Sư Tôn muốn nói với tôi việc gì đây? Nhưng tôi cũng không thể nhớ nổi việc tôi khấu đầu không ngừng là do Sư Tôn đã giao phó cái gì!

7 giờ thì tất cả tập trung lại để ăn sáng, điện thoại tôi đổ chuông, là chồng tôi ở Bắc Kinh gọi điện, nói như kiệt sức: "Em về nhanh, anh đang ở bệnh viện sắp không xong rồi."

Trời ạ! Hóa ra Sư Tôn nhập mộng, giờ tôi đã nhớ ra là Sư Tôn nói với tôi chuyện gì rồi. Tôi vô cùng lo sợ, lập tức bay trở về Bắc Kinh. Suốt nửa năm, tôi không ngừng cầu nguyện Sư Tôn cứu mạng, chồng tôi cuối cùng đã vượt qua được quỷ môn quan để trở về nhà bình an.

Sự việc này, đệ tử hễ gặp người có duyên liền nhắc đến ân điển của Sư Phật Liên Sinh Pháp Vương. Chớp mắt đã 10 năm trôi qua, nhưng mọi chuyện đều như mới đây. Cảm ơn rồi lại cảm ơn nữa, cầu mong đệ tử thuận lợi trở về cõi Phật tịnh độ để báo ân!

Đệ tử Liên Hoa Thanh Nguyệt ở Singapore xin khấu tạ.

🌟

Lư Sư Tôn nói:
Khi coi chúng sinh như chính mình thì hành giả chính là đã "tam tế nhất như, hoành biến thập phương" rồi. Hơn nữa những việc như "dự đoán" và "cứu chúng sinh" thì chính là công đức không ngừng dứt.

Ví dụ:
Tôi có thể thần hành đến khắp nơi trên thế giới, bất kể là bạn ở nơi xa xôi vạn vạn dặm, chỉ một suy nghĩ là tôi đến lập tức, đây chính là "thần túc thông".
Tôi có thể có "tha tâm thông", có thể dự đoán sao?
Chỉ bởi vì tôi hiểu được tâm của chúng sinh.
Tôi có thể dự đoán và thông báo, là vì tôi rất coi trọng mạng sống, và có tâm từ bi quảng đại.
Những việc này có thể có được nhờ tu hành.
Từ bi vô tận.
Trí huệ vô tận.
Quang minh vô tận.


### 46. Chỉ thị và chỉ điểm


Tôi là đệ tử ở Singapore Liên Hoa Trần Tiểu Cầm.
Khi tôi khoảng 18, 20 tuổi, vì chứng vẹo xương sống mà tôi đã phải trải qua hai cuộc đại phẫu thuật để chỉnh xương sống. Bác sĩ đã gắn thép không gỉ lên xương sống tôi để nó không còn bị cong mà đè xuống nội tạng nữa. Thanh thép không gỉ này sẽ được gắn vào xương sống cho đến hết đời không thể tháo ra nữa.

Khi tuổi của tôi tăng lên (bước vào độ trung niên), cuộc phẫu thuật ấy cũng dần dần xuất hiện hiệu ứng phụ, tôi rất dễ bị đau nhức vùng lưng và eo. Còn nhớ vài năm trước, tôi liên tục mỗi ngày đều đau, kéo dài suốt nửa năm. Tôi cũng uống thuốc giảm đau suốt nửa năm. Khi đó, tôi không thể ngồi quá lâu, cũng không thể đứng quá lâu, phần lớn thời gian là tôi đều nằm, thật sự khiến cho thân tâm tôi đều phải chịu nỗi giày vò lớn.

Về sau, ngoài việc uống thuốc giảm đau ra thì tôi cũng phải đi khám Đông y định kỳ hàng tuần để châm cứu để có thể giảm bớt cơn đau. Tôi thường ở trước đàn thành cầu nguyện Sư Tôn gia trì cho cái lưng và eo đau nhức của tôi hồi phục. Quãng thời gian đó tôi sống vô cùng tuyệt vọng, tôi không biết ngoài việc phải uống thuốc cả đời ra thì tôi còn có thể thế nào nữa.

Thời khắc chứng kiến kỳ tích đã đến rồi… Có một hôm, tôi mơ thấy Lư Sư Tôn nói với tôi: "Không cần đi xoa bóp nữa." Ngoài ra còn có một mộng cảnh là, Sư Tôn nói với tôi: "Đi học Thái cực quyền đi."

Sau đó tôi lên mạng tìm tài liệu học Thái cực quyền thì mới biết rằng luyện môn này có thể chữa được bệnh đau nhức lưng eo. Rồi cũng từ một vị bác sĩ Đông y chuyên về xương khớp khác mà tôi biết được tình trạng này của tôi là vì toàn bộ xương sống bị gắn thép không gỉ nên không thích hợp với việc xoa bóp.

Thế là tôi liền đi liên lạc và ghi tên vào lớp học Thái cực quyền. Không bao lâu sau thì thật sự là lưng và eo tôi đã khỏi dần, thật sự là không cần phải uống thuốc giảm đau nữa.

Tôi viết ra câu chuyện này để làm bằng chứng với Sư Tôn. Cảm ơn Sư Tôn Phật ân quảng đại, đệ tử sẽ tu hành thật tốt, ngoài ra sẽ phát nguyện đời này lúc lâm chung sẽ trở về ngôi nhà ở cõi trời.

🌟

Lư Sư Tôn nói:
Theo tôi được biết, những chỉ thị và chỉ điểm trong mơ là vô cùng nhiều, có rất nhiều cảm ứng, nếu như đem những chuyện cảm ứng này mà in thành sách thì e rằng có in cả trăm cuốn cũng chưa hết.

Ví dụ:
Mẹ của Liên Hoa Dục Thành không muốn Dục Thành tham gia pháp hội và tu pháp. Khi gặp được Lư Sư Tôn trong mơ, tôi đã giúp Dục Thành tháo bỏ sợi dây cao su màu đỏ để anh không bị trói nữa. Thế là, mẹ của anh liền chấp nhận anh, lại còn để cho anh được tự chủ nữa.

Còn nữa:
Liên Hoa Lệ Trân vốn dĩ ở trong Hội Công Đức Hoa Quang, nhưng có phần hời hợt. Trong mơ, tôi đã nhắc nhớ cô cần tích cực hơn. Giờ đây cô đã là một tình nguyện viên rất tích cực rồi! Tình nguyện viên của Hội Công Đức Hoa Quang nhờ hành thiện bố thí mà sẽ tích lũy được nhiều tư lương và phúc đức.

Còn nữa:
Liên Hoa Tự Tín khi mới quy y đã trải qua những ngày tháng băn khoăn trằn trọc. Anh cứ nhớ nghĩ về Lư Sư Tôn. Thế là anh đã nằm mơ. Anh mơ thấy đi ra sân bay đón người, người xuống máy bay chính là Lư Sư Tôn, Lư Sư Tôn đến nhà anh.
Anh hỏi:
"Lư Sư Tôn, sao thầy lại đến đây?"
Tôi đáp:
"Đệ tử nhớ ta, thì ta đến thôi!"
Sau khi tỉnh dậy, ba ngày sau, anh đã nhận được chứng thư quy y.

Còn nữa:
Liên Hoa Thụy Hồng mơ thấy tôi giúp tiếp dẫn thủy tử linh trong nhà anh đi hết. Còn mơ thấy tôi ban cho vợ anh có thai. Sau khi tỉnh dậy thì đã chứng thực được là vợ anh có thai. Giấc mơ thứ ba là mẹ con bình an. Quả nhiên có trải qua một ít khó khăn nhưng cuối cùng thì mẹ con đều bình an cả.

Ngoài ra còn có Liên Hoa Gia Thanh, Liên Hoa Vĩ Truyền, Liên Hoa Lệ Mẫn, Liên Hoa Anh Ức, Liên Hoa Kiếm Bàng, Liên Hoa Quyến Ý, Liên Hoa Dũng Kiện,...
Đều là cảm ứng liên miên.

Tôi nói:
Tin rồi thì sẽ muốn học Phật pháp, từ việc tu dưỡng, từ bi, trí huệ mà học tập. Hơn nữa, cần thực tu Phật pháp, giữ giới luật, cho đến khi quang minh xuất hiện, minh tâm kiến tính mà thành Phật.


### 47. Phỏng vấn của Liên Hoa Huệ Quân


Tin tức Lư Thắng Ngạn Tôn giả.
Các đệ tử sống tại Malaysia không ngừng lũ lượt báo cáo với Thánh Tôn về những cảm ứng và kiến chứng!
(Đưa tin nhanh/Báo cáo của Liên Hoa Huệ Quân)

Ngày 7 tháng 5 năm 2013, đồng tu hội đến từ Penang Malaysia, và các đạo tràng đến từ Bắc - Trung Malaysia và vùng bờ biển phía Đông, tổng cộng hơn 20 người, đã cùng nhau đến chào Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Bởi vì rất khó để gặp mặt được ân sư, các đệ tử đều muốn mình là những người đầu tiên được báo cáo với Thánh Tôn về những kiến chứng cứu độ, khiến ai nấy đều tán thán không ngớt!

Sư huynh Liên Hoa Duyệt Đắc đến từ đồng tu hội Phạm Đức báo cáo với Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật về kiến chứng của mình:
"Tôi từng tham gia cuộc thi đọc sách tại đồng tu hội Phạm Đức ở Bắc Malaysia, đọc một câu chuyện trong cuốn văn tập "Địa ngục biến hiện ký" của Sư Tôn cho đồng môn nghe. Sau hôm đó trở về nhà, thân thể tôi trở nên rất nóng, tôi vẫn cho rằng chắc mình bị sốt. Không ngờ đến ngày hôm sau, chứng bệnh đau lưng hơn chục năm của tôi đã hoàn toàn khỏi hẳn. Do vậy, việc đọc văn tập của Sư Tôn cho đồng môn nghe đã có thể có được sự gia trì lớn của dòng truyền thừa gốc, tiêu trừ được nghiệp chướng, vô cùng thù thắng, cảm ơn Sư Tôn!"

Trợ giảng Liên Hoa Á Hữu sống tại đồng tu hội này cũng có kiến chứng:
"Vốn dĩ tôi bị mắc bệnh đau cột sống, tôi viết thư và nhận được phù do đích thân Sư Tôn gia trì. Bởi vì tôi khá bận rộn nên sau pháp hội một tháng tôi mới đốt phù để uống, không ngờ tôi mơ thấy Sư Tôn đến vỗ vào lưng tôi, sau đó bệnh đau lưng từ từ hồi phục, cảm ơn Sư Tôn...."

Có sư huynh Liên Hoa Văn Thuyên thường gọi là Tiểu Mễ Vương đã đề xuất:
"Hy vọng các Thượng sư đến đây hoằng pháp có thể tổ chức nhiều khóa học hơn, đặc biệt là hướng dẫn về việc nâng cao trên phương diện nội tâm."

Liên Hoa Huệ Quân nói:
"Bởi vì tôi lo lắng về nghiệp chướng, nên đã viết thư cho Sư Tôn cầu xin gia trì. Khi bức thư thứ nhất, thứ hai, thứ ba của tôi liên tiếp gửi đến Mỹ thì ở Đài Loan tu pháp, tôi đã có được cảm ứng về sự gia trì của Sư Tôn rồi."

Kiến chứng rất xúc động của Liên Hoa Cần Tường như sau:
"Vốn dĩ tôi chìm đắm trong cờ bạc, đặc biệt là cứ thứ sáu hàng tuần tôi đều đánh bạc rất nhiều, thế nên tôi thường xuyên cãi nhau với vợ. Cho đến năm 2007, bạn tôi dạy tôi niệm Cao Vương Kinh để vượt qua khó khăn, cũng từ đó tôi bắt đầu đọc sách của Sư Tôn. Tôi đọc từ cuốn văn tập của Lư Thắng Ngạn số sáu mươi mấy đến bây giờ, cuốn nào tôi cũng phải đọc, cũng nhờ đó mà tôi đã thay đổi rất nhiều, giúp cho quan hệ vợ chồng của chúng tôi rất viên mãn, cuộc sống cũng rất thuận lợi. Ngoài ra, tôi cũng từng trì xong 10 vạn biến Bách tự minh chú, có được mộng thị về tiêu trừ nghiệp chướng…"

Liên Hoa Linh Lăng có kiến chứng như sau:
"Tháng 3 năm ngoái, tôi tham gia pháp hội của Sư Tôn, bởi vì tôi bị đau lưng nên xin Sư Tôn gia trì vào lưng, kết quả là đã xảy ra hiệu quả trị liệu rất lớn, bây giờ tôi đã khỏi rồi."

Liên Hoa Chí Thành nói:
"Ngày 17 tháng 11 năm 2011 Âm lịch, ba tôi qua đời. Trước khi ông vãng sinh, tôi niệm Thượng sư tâm chú để hồi hướng cho ba, ngoài ra còn cho ông uống viên cam lộ. Ba tôi không ngờ đã nhìn thấy Liên Sinh Phật. Em gái tôi hỏi Liên Sinh Phật có đội mũ không? Có tóc không? Thế rồi ba tôi trả lời rằng: "Đều không có!" Tại đây đệ tử vô cùng cảm tạ Sư Tôn đã gia trì. Cũng vào năm thứ hai sau khi ba tôi vãng sinh, tôi đã mơ gặp Sư Tôn gia trì và quán đảnh cho tôi."

Pháp sư Liên Ngụy sống tại đồng tu hội có kiến chứng:
"Có một lần tôi tụng kinh cho tang lễ của một thiện tín, tôi tu trì Chân Phật Mật Pháp niệm tụng Chân Phật Kinh. Con gái của người chết có mở nhãn, nhìn thấy hoa sen rơi xuống thành bậc thang để tiếp dẫn, người bố đã đi theo Liên Hoa Đồng Tử vãng sinh đến tịnh độ. Ban đầu cô cho rằng đây là hiện tượng huyễn ảo, về sau khi một lần tham gia pháp hội của Chân Phật Tông, cô lại nhìn thấy Lư Sư Tôn đưa bố cô đến. Cô tin rằng chính sức mạnh gia trì của dòng truyền thừa căn bản của Chân Phật Mật Pháp đã gia trì cho bố cô vãng sinh tịnh độ!"

Liên Hoa Tú Văn có kiến chứng như sau:
"Vốn dĩ mí mắt tôi thường giật không ngừng, Sư Tôn nói mấy lời động viên tôi, bệnh giật mí mắt của tôi không ngờ đã khỏi rồi!"
"Còn trước đây, con trai tôi đã bị tai nạn xe nghiêm trọng, nếu trong vòng ba ngày mà không tỉnh lại thì sẽ thành người thực vật. Bác sĩ từng nói với tôi rằng: "Nếu con trai bà không có tiến triển gì tốt thì tốt nhất là người nhà nên có tâm lý chuẩn bị…." Khi đó tôi rất thành tâm niệm Thượng sư tâm chú 4 ngày 4 đêm không ngừng. Buổi tối tôi mơ thấy pháp thân của Sư Tôn hạ giáng, gia trì cho con trai tôi, nhờ thế mà nó hồi phục, thật là kỳ tích, cảm ơn Sư Tôn..."

Sư huynh Liên Hoa Kiến Long ở Penang Malaysia nói:
"Trước đây vợ tôi mắc bệnh ngoài da, nhưng khi đến Đài Loan Lôi Tạng Tự, tham gia đại pháp hội Hộ Ma do đích thân Sư Tôn chủ trì, thêm nữa còn được Sư Tôn sờ đầu, không ngờ đã khỏi bệnh! Còn tôi hôm nay trước khi đến đây để bái chào Sư Tôn, tôi bị cảm nên đau họng, mặc dù tôi đã uống thuốc nhưng không khỏi. Nhưng sau khi gặp được Sư Tôn, cái họng đau của tôi không ngờ đã khỏi rồi! Thật sự vô cùng cảm tạ sự gia trì của Sư Tôn!"

Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật đã giải thích cho các đệ tử về ý nghĩa tinh túy của Bồ Đề Tâm.
"Hiểu rõ tự tâm chính là nhất nguyên, không phải nhị nguyên, không có sự phân biệt giữa ta và kẻ thù. Quan Âm Bồ Tát độ chúng sinh rất lâu, có một hôm cũng tính thử xem tự mình rốt cục đã độ được bao nhiêu chúng sinh rồi? Kết quả là không ngờ chúng sinh không tăng không giảm! Thế là ngài gần như nhanh chóng đánh mất bồ đề tâm, vi phạm chính lời thề của mình… não bị vỡ ra thành nghìn mảnh. Sư phụ của ngài là A Di Đà Phật truyền cho ngài thần chú Đại Bi, Quan Âm Bồ Tát vì thế mà lập tức trở thành Thiên Thủ Thiên Nhãn! Do vậy, việc quảng độ chúng sinh sẽ nuôi dưỡng bồ đề tâm của bạn."
"Thế giới có vài lần địa cầu bị hủy diệt, có rất nhiều sự biến đổi và chuyển hóa mà người bình thường rất khó có thể hiểu được. Tuy nhiên, sự bố thí chân chính là sự chuyển biến của chính tâm bạn mới là sự bố thí thật sự. Hành giả khi đã hiểu được "tâm ngoại vô pháp" [không có pháp ở ngoài tâm], bố thí trì giới đều là để tôi luyện cái "tâm" này. Người tu hành chúng ta khi biết ngày mai sẽ chết thì không sợ hãi, bởi vì có thể vượt qua sự sống chết mà ấn chứng quang minh. Do vậy, không sợ ngày tận thế, chỉ cần bình thường chăm chỉ nghiêm túc làm công khóa của mình thì sẽ có được thù thắng."

Đệ tử xin hỏi Thánh Tôn:
"Khi chết mà vui vẻ thì sẽ đến được thế giới tốt phải không?"
Sư Tôn trả lời:
"Cần tu hành minh tâm thì không cần phải lo lắng vãng sinh đến thế giới nào, bởi vì bám chấp vào cảnh giới cũng là một kiểu tham."

"Định hướng của tu thiền và định hướng của tu tịnh độ khác nhau. Cái đầu là không có mục tiêu, cái sau thì có. Trong quá trình tham ngộ của Thiền tông cũng tương tự như cánh hoa, ngắt đến cuối cùng thì chẳng còn gì nữa. Còn người tu tịnh độ thì rất nhiều người trong miệng thì niệm Phật nhưng trong tâm thì chẳng có Phật, trở thành vọng niệm lung tung. Do vậy cần phải chứng đắc "nhất tâm bất loạn" thì khi đó mới có thể thành công. Thiền tông thì không có việc hồi hướng đến cõi tịnh độ nào, mà chuyên tu Phật tính. Thiền tông cũng không có vãng sinh cảnh giới nào cả…. Bởi vì cứu cánh không đến không đi, đây là "đệ nhất nghĩa đế" của Phật. Bởi vì hiểu rõ thế giới không có khởi đầu không có kết thúc, duyên sinh duyên diệt. Tu tâm của chính mình, khi tự tại rồi, hà tất phải bám chấp vào vãng sinh nơi nào? Đây là cảnh giới tối cao của học Phật. Các cái khác đều có mục tiêu. Phật là chỉ có tịnh độ tâm, tâm tự tại chính là tịnh độ."

Cũng có đệ tử lại hỏi:
"Kiếp này vẫn chưa tương ứng, kiếp sau Sư Tôn có tiếp dẫn con không?"
Thánh Tôn đáp:
"Có duyên thì sẽ lại gặp nhau."
Đệ tử lại hỏi Thánh Tôn:
"Chúng con làm sao hóa giải được bùa chú?"
Sư Tôn đáp:
"Chân Phật Kinh, Cao Vương Kinh, Thượng sư tâm chú, đều có thể hóa giải được bùa chú."
Do vậy chỉ cần y theo căn bản truyền thừa mà tinh tấn thực tu thì chắc chắn sẽ luôn có Thánh Tôn ở cạnh gia trì và bảo vệ!

Lúc lưu luyến chia tay, Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn nói với các đệ tử ở Malaysia:
"Hoan nghênh mọi người đến Seattle!" (Bởi vì Thánh Tôn sẽ trở về Mỹ luôn.)
Các đệ tử đều không nỡ rời xa sư phụ, vẫy vẫy tay nói:
"Nhất định! Nhất định!"

Tiếp theo cuộc hành hương của các đệ tử Chân Phật, nhiều người đã báo cáo những kiến chứng của mình để biểu đạt tấm lòng cảm kích sâu sắc đối với sự cứu độ của sư phụ. Còn Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn cũng hướng dẫn các đệ tử rất ân cần chu đáo, làm thay đổi và hướng dẫn chúng sinh, khiến ai nấy đều được khai mở Phật trí, đúng là thù thắng không ngớt, tất cả đều viên mãn cát tường!

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) có một vài điểm ghi chú như sau:
Lư Sư Tôn đều coi tất cả chúng sinh như chính mình, do vậy có thể dẫn dắt chỉ dạy các chúng sinh của tôi đi về phía quang minh thành tựu.
Lư Sư Tôn coi những người - việc - vật mà Lư Sư Tôn đã tiếp xúc đều là duyên phận để học tập "chính đạo", như vậy mới có thể quán chiếu bản thân và người khác.
Nhờ vậy tránh xa được cái hoạn ngã mạn.
Bởi vì chúng sinh là bình đẳng!


### 48. Phổ Hiền Bồ Tát niệm tụng pháp


**I. TIỀN HÀNH**

Pháp Đại lễ bái
Pháp Đại cúng dường
Pháp Tứ quy y.
Pháp Đại sám hối.
Pháp Tứ vô lượng tâm.
Pháp Bia giáp hộ thân.
Pháp Phát bồ đề tâm.

**II. CHÍNH HÀNH**

**Trước tiên, kết thủ ấn:**
Đầu tiên, hai tay kết nội phộc, hai ngón tay cái dựng lên chạm vào nhau, hai ngón trỏ dựng thẳng mở hướng ra ngoài, ngón giữa dựng thẳng chạm vào nhau, hai ngón đeo nhẫn giữ nội phộc, hai ngón út dựng lên chạm vào nhau. (Giống thủ ấn Kim Cương Thủ.)

**Quán tưởng:**
Tịnh nghiệp quán Không.
Quán tưởng nguyệt luân trong hư không.
Trong nguyệt luân có một chủng tử tự (như hình trên).

Hình tượng từ trong chủng tử tự biến hiện:
Pháp tướng thường gặp của Phổ Hiền Bồ Tát là đầu đội mũ Ngũ Phật, thân màu vàng kim, tay phải cầm hoa sen hoặc gậy như ý, tay trái là ấn ban nguyện, ngồi tư thế bán già trên lưng voi trắng sáu ngà.
Tam quang bao trùm lấy hành giả.

**Trì chú:**
Na-mô san-man-tô wa-zư-la sat-tô ưa. (trì 108 biến)
Nhập tam ma địa. Sau đó xuất định.

**III. HẬU HÀNH**

**Xuất định niệm mười đại nguyện:**
Điều một, lễ kính chư Phật.
Điều hai, tán thán Như Lai.
Điều ba, quảng tu cúng dường.
Điều bốn, sám hối nghiệp chướng.
Điều năm, tùy hỷ công đức.
Điều sáu, thỉnh truyền pháp luân.
Điều bảy, thỉnh Phật trụ thế.
Điều tám, luôn theo Phật học.
Điều chín, luôn thuận chúng sinh.
Điều mười, hồi hướng phổ đều.

(Mười đại nguyện Phổ Hiền này mãi mãi sẽ không bao giờ ngừng nghỉ, cho dù chúng sinh có hết, nghiệp của chúng sinh cũng cạn hết, phiền não của chúng sinh có hết thì mười đại nguyện này cũng không có kết thúc.)

**Đọc bài kệ của Phổ Hiền Bồ Tát:**
*"Mỗi ngày qua đi,
Thọ mệnh lại giảm.
Như cá thiếu nước,
Nó còn gì vui?"*

**Ca ngợi Phổ Hiền Bồ Tát:**
Đại Bồ Tát đại trang nghiêm.
Đại công đức đại cụ túc.
Đại tương ứng đại liên hoa.
Đại uy lực đại thủ hộ.
Đại thành tựu đại thọ ký.

**Hồi hướng.**
Rời khỏi đàn thành.

**CHÚ Ý **

Phổ Hiền Bồ Tát là vị đại diện cho lý luận và đức hạnh, Văn Thù Bồ Tát tượng trưng cho trí tuệ và công đức, cùng với Phật Thích Ca Mâu Ni, ba vị luôn đi cùng nhau, được gọi là Hoa Nghiêm Tam Tôn.

Ở giữa: Phật Thích Ca Mâu Ni.
Bên phải: Văn Thù Bồ Tát.
Bên trái: Phổ Hiền Bồ Tát.

Truyền thuyết nói rằng Kim Cang Thủ Bồ Tát chính là Phổ Hiền Bồ Tát. Núi Nga Mi ở Tứ Xuyên là đạo tràng của Phổ Hiền Bồ Tát.

Kinh Hoa Nghiêm viết:
"Phẩm Phổ Hiền Bồ Tát hạnh nguyện", chỉ cần niệm tụng, thọ trì, tu hành, đã có vô lượng vô biên công đức.
Mỗi ngày tu một lần Phổ Hiền Bồ Tát niệm tụng pháp thì tất cả mọi nghiệp chướng đều được đẩy lùi. Tất cả công đức có đầy đủ, có thể vãng sinh đến thế giới Cực Lạc của Phật A Di Đà.


### 49. Mơ gặp Lư Sư Tôn


Liên Hoa Ngọc Quốc.
Trong mơ nói chuyện vô thường và sinh tử:

Tôi còn nhớ sau khi quy y không lâu, tôi bèn muốn rời khỏi Malaysia, bởi vì vấn đề thị thực nên tôi không thể tiếp tục ở lại Malaysia để làm việc được. Vào buổi trưa một ngày nọ, sau khi tôi đi ra ngoài và trở về nơi ở, tôi cảm thấy hơi mệt và có chút buồn, thế nên tôi nằm xuống chợp mắt một lúc. Nói là ngủ nhưng kì thực tôi lại cảm thấy đầu óc tỉnh táo, bởi vì tôi mơ thấy Sư Phật ở trong hư không, thầy xuất hiện với hình ảnh bán thân rất to lớn. Thầy an ủi tôi, nói rằng: "Cuộc đời con người luôn có sự chia ly, giống như sống và chết, mỗi người đều cần phải trải qua, Sư Tôn cũng như thế, nhưng Sư Tôn không phải là chết đi, mà là Sư Tôn sẽ trở thành một hóa hiện khác để độ chúng sinh vẫn y như trước, chỉ là các đệ tử không biết mà thôi!"

Khi đó tôi chỉ cảm thấy rất thần kỳ, nhưng căn bản không hiểu là Sư Phật đang nói về Phật pháp "vô thường, bất sinh bất diệt, luân hồi và niết bàn là nhất như". Đó là mùa xuân năm 1998, tôi trở về Trung Quốc, chỉ mấy ngày sau trận động đất lịch sử ở Vấn Xuyên (Tứ Xuyên). Tôi không bao giờ quên được những lời của Sư Phật!

Sư Phật tìm đứa trẻ khóc trong mơ.
Năm 2011 tôi đến Thụy Điển làm việc, bởi vì sau khi mẹ tôi mất, tôi đau buồn đến mức ngày nào tôi cũng khóc, lúc này tôi mới bắt đầu hiểu thế nào là vô thường. Để vơi đi nỗi đau buồn, mỗi ngày tôi đều niệm Bách tự minh chú và Cao Vương Kinh, và còn đọc tâm chú của Sư Phật nữa. 

Kể từ năm đó, tôi không ngừng mơ thấy Sư Phật, những giấc mơ tôi nhớ sâu sắc nhất là:

Giấc mơ thứ nhất:
Tôi mơ thấy Sư Phật đến gặp tôi và chị của tôi, sau đó Sư Phật nói muốn đi về. Tôi và chị tôi tiễn Sư Phật, dõi theo Sư Phật đi qua một con sông lớn rồi không thấy bóng dáng Sư Phật đâu nữa! Tôi và chị tôi vội vàng chạy đến bờ sông. Trời ạ! Không ngờ nước sông cạn khô! Sư Phật không ngờ lại đang đứng ở đáy sông, nhặt lên một tấm áo giáp chiến tranh thời cổ đại!

Sư Phật cầm tấm áo giáp lên bờ, và đứng trước mặt chúng tôi, cúi đầu ngẫm nghĩ về tấm áo giáp này. Đột nhiên một con quạ đen bay đến đậu trên vai trái của tôi (vai trái của tôi có một hình xăm đầu rồng), Sư Phật hiểu và cười, gật gật đầu và nói để tôi đứng thế đủ rồi, Sư Phật nhắm mắt niệm thầm chú ngữ! Mơ đến đây thì hết!

🌟

Giấc mơ thứ hai:
Lại có một hôm, tôi mơ thấy Sư Phật ngồi trên một con thuyền lớn, trên thuyền có đầy pháp sư, Thượng sư mặc áo màu đỏ. Sư Phật đứng trên bờ, giao cho tôi một cuốn sổ, bảo rằng: "Việc chữa bệnh không cần phải dạy con nữa, nhưng tên của những người trong này nhất định cần phải nhớ rõ!"
Bây giờ tôi đã hiểu, đó là Sư Phật đang an ủi một đứa con mất đi người mẹ của mình, và từ bi dẫn dắt một Phật tử trở về nhà và chờ đợi đệ tử!

🌟

Giấc mơ thứ ba: 
Sư Phật không từ bỏ một chúng sinh nào, thề luôn bảo vệ đệ tử!
Nửa sau của năm 2014 lại là một bước ngoặt nữa trong cuộc đời của tôi. Ngày hôm đó, đột nhiên Sư Phật xuất hiện trong mơ, Sư Phật nói: "Thầy vẫn luôn luôn nhớ đến con đó!" Trong mơ, tôi vội vàng quỳ xuống, trong lòng nghĩ thầm: "Đây chẳng phải là Phật đã đến rồi sao! Trời! Sao lại quên mất không lạy Phật rồi."

Tôi nghĩ chi bằng cứ nằm trên mặt đất lâu hơn một chút, nghĩ cho đúng rồi sẽ lạy Phật. Rồi tôi lại nghĩ thầm: "Sao Sư Phật lại đến tìm mình nhỉ?" Mới chỉ nghĩ thế, Sư Phật đã biết rồi, liền trả lời tôi: "Thầy biết địa chỉ của con."

Tôi lại nghĩ: "Sao Sư Phật lại biết được địa chỉ của mình nhỉ?" Sư Phật nói: "Thầy không chỉ biết được địa chỉ của con, mà còn biết cả số điện thoại của con nữa." Tôi nghĩ: "Sao cái gì Sư Phật cũng biết thế nhỉ!" Tôi muốn len lén ngẩng đầu lên nhìn Sư Phật, lúc này Sư Phật ấn lên đầu tôi, cười nói: "Chẳng phải là nếu chưa nghĩ ra cách gì hay để lạy ta thì con vẫn còn nằm trên mặt đất, đợi cho tới khi nghĩ ra cách rồi mới lại lạy sao! Đã nói thì phải giữ lời chứ!"

Ông trời ơi! Tôi chẳng nói gì, thế mà không ngờ Sư Phật đều biết tôi đang nghĩ gì! Sau này tôi đã hiểu, tôi bất ngờ thất nghiệp, lại bị lừa một vố! Khi đó tôi chẳng có xu nào trên người. Tôi nhớ đến lời Sư Phật nói là: "Thầy không quên con!" Đúng rồi! Tôi nhớ là niệm đủ 1000 biến Cao Vương Kinh thì có thể tiêu trừ tai nạn và được mãn nguyện, thế là tôi vắt chân lên cổ mà làm.

Hây hây! Khi tôi niệm xong đủ 1000 biến thì tôi đã tìm được một công việc mới. Hóa ra là Sư Phật nhắc nhở tôi, khi gặp lúc khó khăn thì nhất định phải nhớ rằng Sư Phật luôn ở cạnh và nhớ đến pháp mà Sư Phật ban cho. Cảm ơn lời thề nguyện từ bi không từ bỏ một chúng sinh nào của Sư Phật!

🌟

Giấc mơ thứ tư: 
Sư Phật từ bi - trí huệ song vận, viết sách tâm linh khai mở trí huệ, cứu chúng sinh cả phương diện nhập thế và xuất thế.

Là như thế này, vốn dĩ tôi cho rằng có được công việc mới rồi, tôi có thể thoải mái và thư thái mà sống, nhưng vô thường lại đến! Trước khi sự việc vô thường xảy đến, Sư Phật lại nhập mộng một lần nữa. Trong mơ, tôi buồn bã hỏi Sư Phật: "Con có thể đến Ma Ha Song Liên Trì được không?" Khuôn mặt Sư Phật đầy âu lo, nói: "Con cần có cái này." Thế rồi Sư Phật đưa cho tôi hai cây gậy chống, trên đó có dán hai tấm phù, bảo với tôi rằng người khác cũng đều có cả, cái này là cho tôi.

Tôi sắp xếp đón con trai tôi qua Thụy Điển sống. Tôi nỗ lực làm việc mỗi ngày, vừa mới tích góp được chút tiền, không ngờ vì cố sức quá mà tôi đã khiến cho thân thể bị tổn thương, những vết đau dữ dội hành hạ tôi đến mức tôi không thể làm việc được nữa, chỉ có thể ở nhà tĩnh dưỡng.
Con trai tôi vì đã nhiều năm không ở cùng tôi, nên tình cảm mẹ con giống như người qua đường. Tôi nằm trên giường không xoay người được, hễ cử động một cái là đau như xé gan xé ruột! Thỉnh thoảng vì cần đi vệ sinh mà không ngờ tôi quỳ hẳn xuống đất, không sao cử động được! Chẳng ngờ con trai tôi cả tháng chẳng ngó tới tôi một lần. Tôi nằm trên giường, buồn thảm nghĩ: "Nếu tôi có chết chắc cũng chẳng có ai phát hiện ra tôi!"

Sếp tôi còn đưa ra một yêu cầu không hợp lý rằng nếu tôi làm việc như vậy thì chỉ có thể từ chức. Tôi buồn bã sống qua thêm ba tháng nữa, người gầy rộc tới mức quần áo đều trở thành quá rộng, những sự việc vô thường trong nhà ngoài nhà, sự vô thường của tình người giữa người thân và người ngoài xã hội, dường như chỉ thoáng một cái đã tan biến rồi.

Tôi nhớ đến hai cây gậy chống mà trong mơ Sư Phật đưa cho tôi - trong ngoài đầy khó khăn! Chẳng có nơi nương dựa - tôi thực sự cần phải có gậy chống mới có thể đứng dậy được! Hai cây gậy chống chính là lòng từ bi bi-trí song vận của Sư Phật. Thứ có thể giúp tôi nhập thế và xuất thế để có được tự tại chính là Mật pháp. Tôi quyết tâm bắt đầu chăm chỉ tu Chân Phật Mật Pháp, đồng thời viết thư gửi đi Mỹ cầu Sư Phật gia trì cho công việc và tu hành.

Thế rồi, tôi lại bắt đầu một cuộc sống mới, tôi khởi nghiệp và tự mình làm việc cho mình (tiền trong tay tôi vừa hay đủ dùng). Một mặt tôi làm việc, một mặt tôi vẫn lên mạng tìm kiếm tin tức về Chân Phật Tông. Trên Facebook tôi gặp được một sư tỉ tên là Pinger chia sẻ văn tập của Sư Phật. Mặc dù rất vui, nhưng tôi phát hiện ra rất nhiều bài có liên quan đến Sư Phật viết về "Ngũ Đăng Hội Nguyên" rất khó hiểu! Tôi đọc đến đau cả đầu! Mỗi ngày đọc, mỗi ngày nghiền ngẫm, thế là kỳ tích xuất hiện! Không ngờ mỗi ngày vào buổi đêm, khoảng 3 đến 4 giờ sáng, tôi đột ngột tỉnh giấc, cảm giác hình như hiểu ra được cái gì đó rồi lại ngủ tiếp. Cứ như thế mấy tháng liền thì tôi cảm thấy mình sáng láng hơn, dường như ký ức của tôi đã được khai sáng rồi, tôi bắt đầu dần dần hiểu được một chút, tôi cảm thấy hưng phấn không gì sánh bằng! Cảm ơn Sư Phật và sức mạnh gia trì đến từ sách tâm linh của Sư Phật!

🌟

Giấc mơ thứ năm: 
Có tức là không, không tức là có.
Mỗi ngày mong ngóng có được Phật pháp, mong ngóng hiểu được ý nghĩa ảo diệu của Phật pháp! Mong ngóng có thể gặp được Sư Phật! Vào những lúc khó khăn nhất trong đời tôi, tôi đã luôn mơ thấy Sư Phật bầu bạn với tôi!

Một hôm, có một tin tức trên mạng đã thu hút sự chú ý của tôi: "Vào ngày 22 tháng 11 năm 2014, Sư Phật sẽ cử hành pháp hội đầu tiên sau khi trở về Đài Loan (pháp hội Diêu Trì Kim Mẫu)!" Tôi đột nhiên kinh ngạc nhớ đến tôi từng có một giấc mơ vào năm 2011, trong mơ Sư Tôn đã đưa cho tôi con số 22/11! Tôi tin rằng Sư Phật đã sắp đặt con đường của tôi rồi! Tôi biết đã đến lúc tôi nên đi Đài Loan! Thế là, không chút do dự, tôi bàn giao hết tất cả để chuẩn bị đi Đài Loan, rồi vội vàng hỏi thăm mấy người sư huynh sư tỉ trên mạng mà tôi chưa từng gặp mặt và cũng không mấy thân thiết về những thông tin liên quan đến Đài Loan, rồi tôi một mình đặt chân lên mảnh đất Đài Loan đầy xa lạ.

Tôi không biết làm sao để có thể gặp được Sư Phật, nhưng tôi tin tưởng mạnh mẽ rằng tôi nhất định có thể gặp được Sư Phật. Thế là dùng hành động để kiến chứng một thực tế: Cái "Có" trong cuộc sống hiện thực cũng sẽ trở thành "Không có", chỉ cần tin tưởng Sư Phật trong cái "Không" cũng sẽ sinh ra cái "Có"! (Bây giờ tôi mới biết đây là chân đế). Kết quả là, vì tôi đã bỏ lỡ một cơ hội, vì không gặp được Sư Phật nên liền khóc òa lên. Đêm đó tôi liền mơ thấy Sư Phật đến trêu đùa cho tôi vui, tôi cười liên tục cho đến khi tỉnh ngủ! Ngày hôm sau liền có một sư tỉ (tên là Quân Vân) cho tôi số điện thoại liên lạc của Thượng sư Huệ Quân, thế là tôi đã được đứng trước mặt Sư Phật như một kỳ tích! Tôi đã được Sư Phật sờ đầu gia trì, đồng thời còn đem được một ít sách tâm linh của Sư Phật về Thụy Điển! Nỗ lực!

🌟

Giấc mơ thứ sáu: 
Tính Không giải thoát khỏi nguy hiểm địa ngục, sám hối cảm ơn tiêu trừ nghiệp chướng.
Mặc dù có tâm tu hành, nhưng căn cơ của tôi nông cạn, sau khi quy y bảy năm mà tôi vẫn chưa tu hành, không biết bắt đầu ra sao. Bởi lúc gặp được Sư Phật, có một sư tỉ đưa cho tôi một ít nước mà Sư Phật đã uống, không ngờ uống xong nước đó thì bệnh gout của tôi đã khỏi, tôi vui sướng tới mức quên cả bản thân! Bởi vì tôi chưa từng biết đối trị tham, sân, si, thế là trong một lần tức giận, tôi một lần nữa bị cơn đau hành hạ trở lại. Khi đó tôi nghĩ: "Sư Phật chẳng phải là Phật sao? Chẳng phải đã từng giúp tôi không bị đau nữa sao? Sao bây giờ lại bắt đầu đau lại rồi? Hơn nữa còn đau hơn trước gấp trăm lần!" Tâm lý tôi có chút oán trách, thậm chí tôi không muốn tu hành nữa.

Vào cái đêm mà tôi có suy nghĩ như vậy, tôi liền được Phật lực của Sư Phật gia trì đưa tôi đến địa ngục: khắp nơi là những núi xương chồng chất! Những bộ hài cốt chất cao thành núi! Tôi đang là người tham quan liền biến thành người phải tự mình đi thể nghiệm. Không ngờ khi tôi đâm đầu vào đó rồi thì lại phải tự mình nghĩ cách thoát ra. Tâm lý tôi không hề sợ hãi, chỉ là có chút do dự, nên tôi liền ngồi xuống theo tư thế hoa sen, quán tưởng Sư Phật nói về tính Không. Chỉ là trong đầu tôi xuất hiện hai chữ "tính Không", nên trong chớp nhoáng tôi đã thoát ra khỏi địa ngục.

Sau khi tỉnh lại, tôi hiểu rằng nghiệp lực của mình vẫn chưa được tiêu trừ, bởi vì nhờ có sự gia trì của Phật lực nên tôi mới không bị đau, nhưng nếu tôi phạm giới thì sẽ gia tăng thêm ác nghiệp, và như thế cơn đau sẽ trở lại. Tôi lập tức hướng về Sư Phật sám hối và cảm ơn Sư Phật (mỗi ngày tôi đều sám hối và cảm ơn)! Ngày hôm sau, cơn đau lại biến mất như một kỳ tích! Tiếp sau đó, mỗi ngày tôi đều cật lực niệm Cao Vương Kinh, cuối tuần cũng không nghỉ, mỗi ngày đều cật lực niệm, nhất tâm mong tiêu trừ ác nghiệp phải xuống địa ngục.

🌟

Giấc mơ thứ bảy: 
Bám chấp vào phàm duyên sẽ sinh ra phiền não, pháp nhĩ bản nhiên rất ấn tượng.
Nỗ lực một cách cật lực cũng là một sai lầm, không hiểu rằng cần phải điều chỉnh cho hợp với tự nhiên! Sư Phật lại một lần nữa nhập mộng.
Chà! Sư Phật mặc đồ màu trắng, trẻ trung tiêu dao, đưa tôi đến một nơi phong cảnh rất yên bình, những thôn làng xinh đẹp một cách tự nhiên, người người mặc đồ trắng, phụ nữ và trẻ nhỏ ai nấy tươi cười đầy ngây thơ và thuần khiết.

Mọi người ngồi bên một bờ nước, một con thuyền nhỏ lặng lẽ neo bên bờ, trẻ con đang chơi đùa dưới nước. Tôi thì vội vội vàng vàng đi đến các nông gia tìm đồ ăn cho Sư Phật. Khi tôi dâng lên món cơm cá thơm phưng phức nóng hôi hổi của nhà nông cho Sư Phật thì mặt tôi đã dính đầy tro bếp, trông lem nhem rất ngố ngước nhìn Sư Phật. Sư Phật lắc lắc đầu, biểu thị là không muốn ăn.

Lúc này, bỗng nhiên tôi nhìn thấy trên người Sư Phật có một chiếc lá héo. Khi tôi đưa tay ra định lấy chiếc lá ra, Sư Phật đã quay đầu đi một cách đầy uy nghiêm rồi biến mất, chỉ còn lưu lại ba nghìn sợi phiền não giống như thác nước trong mơ. (Sau này tôi dần dần hiểu ra rằng, bám chấp vào pháp cũng là phiền não, tinh tấn quá độ cũng là vi phạm vào tính tự nhiên của pháp, ngược lại lại trở thành chướng ngại. Pháp tính là tự nhiên, tự nhiên là chất của pháp, những cảnh trí khác cũng là sinh diệt trong tự nhiên, không có liên quan đến bản thể của pháp. Bởi vì có sự điểm xuyết của cảnh trí mới hiển hiện được bản thể tự nhiên của pháp.)

🌟

Giấc mơ thứ tám: 
Lập tức cắt đứt phiền não, rời xa những trò vui mà nhậm vận.
Phiền não sinh ra từ những ràng buộc với hoàn cảnh, khiến cho những suy nghĩ lúc lên lúc xuống, mãi chẳng ngừng dứt, không biết thế nào mới là tốt. Một tối Sư Phật nhập mộng, làm tôi bất ngờ đến mức mồm miệng há hốc! Tôi chỉ thấy Sư Phật đứng trước biển lớn, vừa giơ tay lên thì mặt biển lập tức mở ra, nước biển giống như bức tường dựng lên như bức tường phân chia biển làm hai bên, một con đường lớn thẳng tắp xuất hiện giữa biển và xa tít tắp đến tận chân trời.

Sư Phật đứng ở chính giữa con đường lớn và đột nhiên biến mất, khiến tôi vội vội vàng vàng chạy khắp nơi tìm, miệng hét gọi: "Sư Phật! Sư Phật! Thầy ở đâu?" Tôi nghe thấy Sư Phật trả lời: "Này! Ta ở đây!" Giọng nói giống như kiểu dỗ trẻ con rất nhẹ nhàng và âu yếm, khẽ khàng giống như đang cùng với trẻ con chơi trốn tìm vậy. Tôi tìm thấy Sư Phật ở phía dưới con đường lớn, lúc này xung quanh chẳng có gì cả, chỉ thấy Sư Phật viết một chữ cát tường nằm trên mặt đất, nhìn tôi cười cười. (Nay thì tôi hiểu được là chỉ có một và một cách duy nhất, một cách là cái gì! Đó là: biển là Phật pháp, bao hàm sự đối lập, cũng tức là không đối lập, tức là nhất thể.)

🌟

Giấc mơ thứ chín: 
Tam tế nhất như, Phật tính bình đẳng.
Về sau, khi tôi trở về Trung Quốc thăm bố tôi, tôi gặp mặt bạn học cũ, phát hiện ra những tư tưởng và suy nghĩ của tôi đã hoàn toàn khác với các bạn học đã nhiều năm không gặp. Trở về nhà, buổi tối đó tôi tu pháp thì bất ngờ tôi lại khóc, tôi nói: "Con chẳng muốn giống như bọn họ!" Kết quả là đêm đó Sư Tôn lại nhập mộng.

Trong mơ, tôi thấy trên mặt đất xốp mềm có một hòn đá ương ngạnh, đột nhiên xuất hiện một con chim lớn dẫm lên hòn đá khiến nó lún xuống đất không nhìn thấy đâu nữa. Sau đó trên mặt đất mọc lên ba que hương! Kinh thán! Tuyệt vời hết chỗ nói!

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/254-khai-ngo-cua-bac-chi-ton.md
# Title: 254. Khai ngộ của Bậc Chí Tôn
---

![image](/img/img_02688ad3cd680e05b3a7ec914cd5bddf.jpg)



## Khai ngộ của Bậc Chí Tôn


🪷 Sức mạnh bí mật vô hạn

Văn tập: 254
Xuất bản: 08/2016
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


Thời gian: Ngày 21 tháng 2 năm 2016.
Địa điểm: Hoàng Đế Lôi Tạng Tự.
Nhân vật: Lư Sư Tôn và các Thượng sư, giảng sư, pháp sư, giảng sư, trợ giảng, đường chủ và đệ tử Chân Phật Tông.
Lý do:
Sau khi kết thúc pháp hội thủy cúng có buổi dạ hội cảm tạ thầy, có ăn liên hoan và biểu diễn.
Tiết mục cuối cùng là Lư Sư Tôn múa kim cang côn. Bây giờ, việc Lư Sư Tôn múa côn đã lưu truyền rộng khắp rồi.
Ban đầu tôi học Thiếu Lâm côn, tôi chỉ xem DVD chứ không có thầy dạy.
Phong Ma Côn.
Hỏa Thiêu Côn.
Khẩn Na La Vương Côn.
Xem xong, tự tôi cầm gậy lên múa, tôi chỉ rập khuôn bắt chước theo. Cuối cùng, càng luyện càng thạo, tôi đã nắm vững được vài bí quyết.
Các đệ tử gọi là kim cang côn.

🌟

Trong tiết mục cuối cùng, tôi lên sân khấu, mọi người chuẩn bị một cây hoa côn, cây hoa côn này:
Ngắn và mảnh.
Đầu trên và đầu dưới đều thắt hoa giấy.
Thân côn quấn giấy ngũ sắc.
Loại côn này dùng trong xiếc ảo thuật, không phải là côn Thiếu Lâm, cũng không phải là côn kim cang, không phải là côn bằng mây.
Cầm trên tay rất nhẹ, không cần dùng lực.
Tôi nghĩ, thôi thì đã đến rồi, cứ thoải mái vậy.
Trong tiết mục này, tôi vừa vặn chân một cái, giày xăng-đan của tôi đã tuột ra và bay mất. Tôi cúi xuống để nhặt giầy và xỏ lại. (Rất ngượng ngùng.)
Tay tôi cũng không nắm chắc cây côn, tôi tung nó lên chẳng khác gì quẳng đi, cây hoa côn rơi trên sân khấu.
Cây côn nằm ngay đơ, không động đậy chút nào.
Tôi tiến lên trước để nhặt cây côn lên. (Sắc mặt tôi đỏ ửng, cảm thấy rất mất mặt.)
Nếu theo diễn biến của tiết mục cuối cùng này mà nói thì đả pháp kim cang côn này có thể xem như là rất mất thể diện.

Nhưng, chỉ một sát-na, tôi đã lại như bình thường.
Có người hỏi:
"Vì sao giày lại bay mất?"
Tôi đáp:
"Giày đi chưa chắc nên bay mất!"
Có người hỏi:
"Vì sao gậy lại bay mất?"
Tôi đáp:
"Nắm không chắc nên bay mất!"
Tôi không bối rối.
Cũng không buồn chán và thất vọng.
Tôi chỉ cười cười trả lời.

🌟

Lư Sư Tôn tôi muốn nói với mọi người rằng:
Trong đầu tôi không ghi nhớ những thứ lộn xộn này.
Trượt tay cũng tốt.
Không trượt tay cũng tốt.
Bởi vì:
Những gì đã qua sẽ không trở lại, những gì hiện tại cũng sẽ trở thành quá khứ. Tương lai thì vẫn chưa tới!
Cho nên:
Cái gì cũng không có. (Không có gì thì cũng không mất gì.)
Phàm là người biết giá trị cuộc đời sẽ đều hiểu những điều này.

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Cảm tưởng thắng lợi trở về


Sau rất nhiều pháp hội, cái túi hương của tôi chật ních, căng phồng, to tướng lên.
Điều mà ai cũng ngầm hiểu là:
Bên trong có hồng bao mà các đệ tử cúng dường tôi.
Có đệ tử cầm túi hương của tôi lên, nói với tôi:
"Sư Tôn, thầy thắng lợi trở về rồi!"

Còn nữa:
Một người khác (người nước ngoài) nói:
"Sư Tôn, thầy thắng lợi trở về rồi!"
Tôi chỉ cười, không trả lời.

🌟

Đối với cái túi hương "thắng lợi trở về" của tôi, tôi nảy sinh một vài cảm tưởng, những cảm tưởng này tôi nghĩ rằng có ích đối với các đệ tử.
Tôi học Phật hơn bốn mươi năm rồi.
Đệ tử Chân Phật Tông đã hơn năm triệu người.
Tôi nhớ đến:
Liễu Minh Hòa Thượng nói với tôi:
"Con xuống núi cứu đời, chớ quy định số lượng tiền, không được mở miệng ra đòi tiền người khác. Nhớ kĩ! Nhớ kĩ!"

Đến nay:
Tôi chưa từng mở miệng đòi tiền người khác. (Tôi chưa từng quy định số tiền.)
Các thánh đệ tử cúng dường tôi, đó là các thánh đệ tử bày tỏ sự cung kính của họ.
Bởi vì đệ tử đông, cho nên "thắng lợi trở về" là có thật.

Tuy nhiên, mọi người có biết hay không?
Tôi là người chẳng bao giờ tiêu pha (lãng phí) một hào tiền nào, tôi là tôi, tiền là tiền.
Ăn — đệ tử cúng dường.
Mặc — trang phục Lama.
Ở — nhà trệt.
Đi — xe riêng.
Tôi chẳng tiêu đồng tiền nào, toàn bộ tiền đều tích cóp lại, không dùng cho bản thân mình. Chỉ dùng vào việc hoằng pháp, làm pháp vụ, cứu trợ thiên tai, cứu người bệnh khổ,…

🌟

Vì sao có nhiều người cúng dường Lư Sư Tôn như vậy?
Bởi vì:
Tôi viết sách, từ lúc trẻ cho tới lúc già, tổng cộng đã xuất bản 254 cuốn sách rồi, lại cộng thêm kỷ lục thuyết pháp hoằng pháp 40 năm nữa.
Tổng cộng phải cao tới ba tầng lầu.
Tôi viết sách, hoằng pháp, nặng.
Ngược lại, cúng dường thì nhẹ.

Còn nữa:
Công lực tu hành hơn bốn mươi năm, mỗi ngày một tu chưa bao giờ gián đoạn, đã đạt đến Thánh vực.
Tôi là bậc chí Thánh.
Tư lương của cõi trời là vô tận.
Ngược lại, tư lương của nhân gian thì ít.
Những thứ vô hình của tôi là chí Tôn chí Thánh, không có ranh giới hạn định.
Những thứ hữu hình của tôi có thể xem là rất mỏng.

Tôi:
Không được, không mất.
Chỉ còn lại Phật tính từ vô thủy tới nay.
"Thắng lợi trở về" của tôi chính là Phật tính.
Chứ không phải là một đống giấy. (Kính mong các đệ tử không cần cúng dường Lư Sư Tôn nữa.)

🌟

Tôi hiểu:
Tôi chết đi.
Một hào tiền cũng không đem theo được, bất kì thứ gì cũng không mang theo được.
Không có những thứ xa hoa.
Chỉ có niết bàn tịch tĩnh.
Tôi sẽ vứt bỏ đi những vật chất thế gian không đáng nhắc đến, tất cả những điều bẽ mặt.
Tôi giống như trời xanh, một giọt nước nhỏ tan vào trong hư không rộng lớn, bất kể là thứ hữu hình hay vô hình, tôi đều là chủ nhân.
Nói như vậy mọi người hiểu không?


### 02. Nấc cụt nấc cụt lại nấc cụt


Một hôm, tôi bất ngờ bị nấc suốt cả ngày, tôi đã dùng tất cả phương pháp để ngăn chặn lại cơn nấc:

1. Phân tán sự chú ý.

2. Hít vào một hơi khí, rồi giữ không thở ra.

3. Liên tục uống nước. (nước đá)

4. Đánh kim cang quyền.

5. Đánh kim cang côn.

6. Kích thích cổ họng.

7. Khởi linh.

Ấy thế mà đều vô hiệu, tôi cứ nấc liên tục không ngừng, cứ vài giây lại nấc một lần. Tôi ăn cơm cũng nấc, mặc quần áo cũng nấc, ở nhà hay ra ngoài đều nấc, nói chuyện cũng nấc, ngay cả tu pháp cũng nấc, viết văn cũng nấc…
Ôi! Thật không thể chịu nổi!

Tôi biết những yếu tố liên quan đến nấc:
Dạ dày.
Thức ăn.
Cơ hoành.
Trào ngược khí.
(Cho đến lúc này, y học vẫn không thể tìm ra nguyên nhân thật sự.)

🌟

Thị giả pháp sư Lị Lị nói với tôi:
"Lư Sư Tôn! Đã bao lâu rồi thầy không đánh rắm?"
Tôi hỏi:
"Sao lại nói thế chứ?"
Pháp sư Lị Lị nói:
"Không đánh rắm, thì rắm đánh ra từ miệng đó!"
Tôi nghe xong, cảm thấy mất hết cả khẩu vị, không ngờ còn có cả cách nói như vậy, thật khiến người ta không thể tưởng tượng được.

🌟

Tôi cùng với bốn bà bác ở California và Trang sư tỉ cùng tiến vào nhà ăn, họ đều nhận thấy là tôi bị nấc, có khi tiếng nhỏ, có khi tiếng to, có khi phát ra tiếng "ục" kì quái.
Tôi nói với các bà ấy:
"Ôi! Tôi bị nấc không ngừng. Lúc còn nhỏ tôi nghe người lớn nói, lúc nhỏ bị nấc là do trẻ con đang lớn lên, nhưng tuổi già mà bị nấc thì tức là sắp chết rồi đó!"

Bốn bà bác - Tôn Ái Trân, Trần Truyền Phương, Ngụy Tư Nhan, Tưởng Quan Dung vội vàng nói:
"Sư Tôn sẽ không chết đâu!"
Tôi nói:
"Vô thường!"
Trần Truyền Phương nói:
"Sư Tôn! Lúc này vẫn là năm mới, phải nói những điều cát tường chứ!"
Tôi nói:
"Tôi vô sinh tử!"

🌟

Tại đây, tôi nói với mọi người:
Chứng ngộ của tôi là:
"Vô sinh vô tử."
Pháp sư Thánh Nghiêm của Pháp Cổ Sơn lúc viên tịch nói một câu, câu nói cuối cùng, đó là:
"Sinh tử đều có thể vứt bỏ."
Tôi thay đổi câu nói đó thành:
"Vô sinh tử có thể vứt bỏ."

Bởi vì tôi hiểu, đời người thật ra là vô sinh vô tử mới là đúng, người có sinh có tử thì vẫn chưa đạt đến khai ngộ thật sự.
Sao có thể không biết, đời người như mộng, đời người như kịch, căn bản không có đời người.
Nếu ai vẫn còn theo đuổi cái gì đó thì tức là chưa đạt đến cảnh giới "tự tại", "nhậm vận".

Tôi nói:
Cho dù bạn có trở thành vua của một đất nước thì cũng không thoát khỏi cảnh bi thương thân thể héo mòn đâu!
Mọi người đã hiểu chưa?


### 03. Tinh tinh lông đen


Chủ tịch của Kính Phật Đường tại Malaysia - sư huynh Liên Hoa Mậu Thịnh, kể cho tôi nghe một mộng cảnh vừa kỳ diệu vừa rõ ràng.
Vốn dĩ con gái của ông ấy mắc bệnh u não, đã đến cấp độ nguy kịch rồi.
Ông ấy vội vàng viết một bức thư gửi đến Seattle, cầu thỉnh Lư Sư Tôn gia trì.

Sau khi gửi thư đi, ông nằm mơ:
Đầu tiên mơ thấy mình đang dắt tay con gái bay trong hư không. Xung quanh tối đen như mực, cũng không rõ là đã bay bao lâu. Cuối cùng phát hiện ra một đốm sáng, ông liền bay theo đốm sáng đó. Sau khi bay tới gần thì hóa ra là Đài Loan Lôi Tạng Tự, có Lư Sư Tôn đứng ở trước chùa.
Liên Hoa Mậu Thịnh dắt con gái theo Sư Tôn đi vào đại điện để lễ Phật trước.
Sau khi lễ Phật xong thì phát hiện ra Lư Sư Tôn tóm từ trên người con gái ra một con tinh tinh lông đen. Bàn tay bắt tinh tinh lông đen của Lư Sư Tôn biến mất về phía hành lang dài.
Mơ đến đây thì ông tỉnh giấc.

🌟

Thì ra điềm mộng là như thế này:
Con tinh tinh lông đen này là oan thân trái chủ kiếp trước của con gái, đã hóa thành u nhọt đến để đến lấy mạng con gái của Liên Hoa Mậu Thịnh.
Sau khi được Lư Sư Tôn gia trì xong, con tinh tinh lông đen này đã bị đem đi. Vì thế, bệnh u não của đứa con gái đã khỏi rồi.
Sư huynh Liên Hoa Mậu Thịnh vô cùng cảm tạ Lư Sư Tôn đã cứu độ, đây là cảm ứng bất khả tư nghì.

🌟

Thế rồi, một phụ nữ ở bên cạnh nghe được chuyện này nói:
"Tôi cũng như thế, Lư Sư Tôn bắt ra một con rắn từ trên người tôi, bệnh của tôi dần dần thuyên giảm. Lư Sư Tôn nói vẫn còn có hai con nữa, vậy tôi phải làm sao đây?"
Tôi đáp:
"Niệm Chân Phật Kinh, tự mình bắt đi!"

🌟

Điều tôi muốn nói với mọi người là:
Sức mạnh bí mật vô hạn đến từ Từ tâm vô hạn, Từ nguyện vô hạn, Nhiệt thành vô hạn, Thân thiết vô hạn, Phật tính vô hạn, Đại Không vô hạn.
Như thế mới là:
Từ vô lượng.
Bi vô lượng.
Hỷ vô lượng.
Xả vô lượng.

Tôi nói với mọi người:
Ở nhân gian, tôi chỉ có yêu mà không có hận!
Bởi vì tôi không có kẻ địch, tôi không có tâm muốn tranh đấu, dùng tâm kế để hãm hại người khác.

Tôi ngộ rằng:
Người có duyên với tôi đều là cha kiếp trước, mẹ kiếp trước, quyến thuộc kiếp trước, quý nhân kiếp trước, bạn thân kiếp trước, đệ tử kiếp trước, oan thân trái chủ kiếp trước…
Tôi đến để báo ơn họ!
Tôi đến để hóa giải oan kết!
Tôi đến để trả nghiệp!
Tất cả đều là sự huyễn hóa nhất thời, đều là ẩn hình, không phải là sự tồn tại thật sự.

Tôi biết:
Tôi là Như Lai, hình như có đến!
Tôi là Như Khứ, hình như có đi!
Tôi không tồn tại!
Tâm của tôi không tồn tại!
Không biết mọi người có hiểu được chân đế mà tôi nói không?


### 04. Khi chứng chóng mặt xảy đến


Rất nhiều năm trước, tôi từng mắc chứng bệnh chóng mặt, đó là ký ức rất không tốt lành, bệnh tình là như thế này.
Tôi đang cùng người bạn ăn cơm tại nhà hàng Thái Lan, đột nhiên tôi bị một cơn chóng mặt, thế là lập tức nôn ra hết những gì vừa ăn.
Sau đó, chứng bệnh ngày một nghiêm trọng.
Tôi nằm trên giường, cảm thấy cả chiếc giường đều quay cuồng, căn phòng cũng quay cuồng.
Đi cầu thang, chân đều không dẫm chính xác, lảo đảo xiêu vẹo, trọng tâm không vững, chỉ có thể vịn vào cầu thang để đi.
Thân thể đã ngã quỵ rồi!
Lúc rửa mặt, tôi đột ngột mất đi cảm nhận về phương hướng, trước mặt tối sầm, không biết mình đang ở đâu.
Nghe nói:
Có người thì gục xuống chậu rửa mặt mà chết ngạt.
Có người đập đầu xuống vòi nước, máu chảy đầy mặt.
Khi bị chóng mặt thì ăn thứ gì là nôn ra thứ đó.
Người gầy rộc đi.

Thỉnh thoảng có cảm giác người giống như đang quay cuồng trong hư không, tất cả mọi thứ đều quay vòng vòng, thân thể không tự chủ được mà cứ nghiêng về một bên, khi đi đường thì phải bám vào tường để đi.
Toàn bộ cuộc sống hoàn toàn thay đổi cả.
(Bác sĩ nói, tôi bị dịch tai mất cân bằng, hơn nữa còn có tính nghiêm trọng, phải uống thuốc rồi đợi phục hồi từ từ.)
Nói tóm lại là - cơ chế cân bằng đã hỏng rồi! (Chứng bệnh này một tháng sau mới khỏi.)

🌟

Vào ngày 25 tháng 2 năm 2016, tôi gặp ông Hàn Giai Lương, ông ấy muốn quy y tôi, nhưng vẫn chưa phải là đệ tử quy y. Ông ấy nói:
"Tôi đã mắc chứng bệnh chóng mặt! Tình hình rất nghiêm trọng."
Tôi hỏi:
"Làm sao mà khỏi được?"
Hàn Giai Lương nói:
"Tôi chưa quy y Lư Sư Tôn thì đã mơ thấy Lư Sư Tôn rồi. Mơ thấy Lư Sư Tôn ngồi ở chính giữa, hai bên có hai người. Chỉ thấy Lư Sư Tôn không biết đã dùng thủ pháp gì mà khiến cho tôi lăn lộn trong hư không, quay cuồng một lúc thì tôi tỉnh dậy! Quái lạ là, sau khi tỉnh giấc mơ, chứng bệnh chóng mặt đã khỏi rồi!"
Tôi nghe xong cười lớn ha ha.
Tôi nói:
"Xoay tròn rồi lại xoay tròn, để chỉnh cho cân bằng lại!"

🌟

Tôi cảm thấy:
Con người trên thế gian này đều là những người mất cân bằng! Bởi vì con người có những thiếu sót nên mới lưu lại trên thế gian hư huyễn này.
Người mắc bệnh thân thể quay cuồng thì ít.
Mà người mắc bệnh tâm quay cuồng mới nhiều!
Có một số người, một mặt thì nói là rất có học vấn, nhưng hành vi thì lại có rất nhiều lệch lạc.
Người rất có học vấn thì lại đố kỵ với người có học vấn hơn.
Ghen tuông.
Ganh đua.
Mù quáng.
Làm những việc trái với lẽ trời!

Những người đi vào con đường mất cân bằng nhiều vô cùng, hơn nữa đâu đâu cũng có, bởi vậy thế gian này là một thế gian mất cân bằng.
Duy có tu hành tính Không - mới có thể đạt đến sự cân bằng hoàn mỹ và vĩnh cửu, đây cũng là mục đích của hành giả!

Tự biết chúng sinh đều là chữ:						


![image](/img/img_c9656bacd9481889e13c915a9f3e18e5.jpg)



### 05. "Tôi hỏi Phật" của Dalai Lama đời thứ sáu


Tôi có một đệ tử tên Trúc. Anh ấy tặng tôi cuốn sách được lưu truyền rộng khắp "Thấy và không thấy" của Dalai Lama đời thứ sáu Tsangyang Gyatso (1683-1706).
Tôi biết:
Dalai Lama đời thứ sáu bình sinh là người mơ mộng, tài hoa, đồng thời cũng trải qua mọi sự bình luận và phê bình. Vị Dalai Lama thứ sáu này, bất kể nói như thế nào, thì những lời văn của ngài ấy cũng cảm động lòng người.

Tôi rất yêu thích một câu nói của ngài ấy:
"Sống trong cung điện Potala, tôi là vị vua vĩ đại nhất của xứ tuyết, khi lang thang trên đường phố ở Lhasa, tôi là người tình đẹp nhất thế gian."

Ngài còn có truyền kỳ với Mã Cơ A Mễ:
"Tự e sự đa tình làm tổn hại đến phạm hạnh, vào núi lại e có lỗi với người đẹp, thế gian này, làm sao để vẹn cả đôi đường, không phụ Như Lai chẳng phụ nàng."
Câu nói này cũng chẳng khác nào tiếng lòng của ngài ấy, rất truyền thần!

Tôi cảm thấy rất thú vị với "Tôi hỏi Phật" của Dalai Lama thứ sáu, ví dụ như sau:
"Tôi hỏi Phật: Vì sao không cho tất cả phụ nữ có được vẻ đẹp hoa nhường nguyệt thẹn?
Phật nói: Đó chỉ là vẻ đẹp nở một lần của hoa quỳnh, dùng để che mờ con mắt thế tục, không có vẻ đẹp nào có thể sánh bằng được một trái tim nhân ái thuần tịnh. Ta ban trái tim ấy cho mỗi một người con gái, nhưng có thể có người lại đem tro phủ lên nó.

Tôi hỏi Phật: Vì sao thế gian có nhiều điều đáng tiếc như vậy?
Phật nói: Đây là một thế giới Ta Bà, Ta Bà tức là đáng tiếc. Không có sự nuối tiếc, dù có cho ngươi bao nhiêu hạnh phúc thì cũng sẽ không hiểu được sự sung sướng ấy.

Tôi hỏi Phật: Làm sao để trái tim con người không còn cảm thấy cô đơn nữa?
Phật nói: Mỗi một trái tim sinh ra đã là cô đơn và khiếm khuyết rồi, phần đông con người sẽ mang theo sự khiếm khuyết đó sống cả đời, nếu khi gặp được một nửa khác có thể khiến cho nó trọn vẹn mà lại lơ là bỏ lỡ mất, thì coi như mất đi tư cách có được sự trọn vẹn đó.

Tôi hỏi Phật: Nếu gặp được người có thể yêu, nhưng lại sợ không thể nắm chắc được thì nên làm thế nào?
Phật nói: Lưu lại chốn nhân gian bao nhiêu tình thì cũng sẽ phải hứng lấy bấy nhiêu sự đổi thay của cõi trần phù phiếm. Làm những chuyện khoái lạc với người yêu, đừng hỏi là nạn hay duyên.

Tôi hỏi Phật: Làm sao mới có thể thông thái được như Phật?
Phật nói: Phật là người từng trải, con người là Phật tương lai. Phật phân biệt vạn vật thế gian thành mười giới: Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác, Trời, Atula, Người, Súc sinh, Ngạ quỷ, Địa ngục. Trời, Atula, Người, Súc sinh, Ngạ quỷ, Địa ngục làm thành chúng sinh lục đạo. Chúng sinh lục đạo phải trải qua nhân quả luân hồi, từ đó thể nghiệm được đau khổ. Trong quá trình thể nghiệm sự đau khổ, chỉ có hiểu thấu đáo chân đế của sinh mệnh mới có thể đạt đến bất tử, phượng hoàng niết bàn.

Phật nói: Đời người có tám khổ: sinh, lão, bệnh, tử, yêu phải xa cách, oán hận lâu ngày, cầu mà không được, không thể buông bỏ.

Phật nói: Mệnh do chính mình tạo ra, tướng do tâm sinh ra, vạn vật thế gian đều là các tướng được hóa hiện lên, tâm bất động thì vạn vật đều bất động, tâm bất biến thì vạn vật đều bất biến.

Phật nói: Ngồi cũng thiền, đi cũng thiền, một bông hoa là một thế giới, một chiếc lá là một Như Lai, xuân đến hoa tự nở, thu đến lá rụng rơi, tâm bát nhã vô tận tự tại, nói hay im lặng, động hay tĩnh là tự nhiên.

Phật nói: Vạn pháp đều sinh, đều là duyên phận, tình cờ gặp gỡ, bỗng nhiên nhìn lại, cả một đời gắn với nhau chỉ vì một khoảnh khắc giao nhau. Duyên sinh rồi diệt, duyên sinh đã không còn. Ta cũng từng ngây thơ như ngươi. Trong Phật môn nói, một người ngộ đạo có ba giai đoạn: nhìn thấu, buông bỏ, tự tại. Đích thực, một con người cần phải buông bỏ mới có thể đạt được tự tại.

Tôi hỏi Phật: Vì sao tuyết luôn rơi vào những lúc con đang đau buồn?
Phật nói: Mùa đông rồi sẽ qua đi, lưu lại một chút ký ức.

Tôi hỏi Phật: Vì sao mỗi lần tuyết rơi, đều là những buổi đêm con không chú ý đến?
Phật nói: Lúc không chú ý, con người sẽ luôn bỏ lỡ rất nhiều vẻ đẹp thật sự.

Tôi hỏi Phật: Vậy qua mấy ngày nữa có còn tuyết rơi không?
Phật nói: Đừng chỉ có chú ý vào thời tiết, sẽ bỏ lỡ mất mùa đông này."

🌟

Điều tôi muốn nói với mọi người là:
Mỗi người chúng ta, trong thế giới vật chất, trải qua thời thơ ấu, trải qua đủ mọi đổi thay suốt thời thiếu niên, thanh niên, tráng niên, lão niên. Người không thức tỉnh thì luôn luôn thở dài buồn bã, nhưng người thức tỉnh thì sẽ không bị những biến đổi ấy làm cho mê hoặc.
Ví dụ:
Mới yêu.
Nhớ nhung.
Yêu cuồng nhiệt.
Nhân duyên.
Đủ mọi biến hóa sau này…
Những cơn sóng tình cảm, sinh diệt biến hóa khôn lường.

Cho dù thế nào, người thức tỉnh sẽ không bị những biến hóa này làm cho mê hoặc. 
Vật chất là những thứ không tồn tại, đương nhiên con người cũng không tồn tại. (Con người cũng là vật chất.) Con người không tồn tại, thì tình yêu có còn tồn tại không?

Bạn nên biết, chỉ có linh hồn bất diệt mới không bị hủy diệt. Dalai Lama thứ sáu hẳn là đã hiểu rõ, ngài ấy không phụ Như Lai, cũng chẳng phụ nàng.


### 06. "Chấm dứt sinh tử" là đại sự


Vào ngày 28 tháng 2 năm 2016, Trung Quán Đường ở Nhà Tưởng Niệm Tưởng Giới Thạch (quảng trường Tự Do) tại Đài Bắc cử hành đại pháp hội trăm vị văn võ Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang.

Lần này, chủ đề thuyết pháp của tôi là:
Giải thoát qua sự nghe với thân trung ấm.
Pháp dịch chuyển thần thức của thân trung ấm.
Trăm vị văn võ.
Sự cứu độ của Bổn tôn.
Kì thực ý nghĩa quan trọng ở đây là, làm sao vào lúc lâm chung có thể thoát sinh tử, đắc được giải thoát.

Tôi nói:
Giải thoát qua sự nghe với thân trung ấm — là con người vào lúc lâm chung, hô hấp ngừng lại, nhập vào trong mộng huyễn, chỉ còn lại khí và ý thức. Lúc này, cần có thiện tri thức ở bên cạnh hướng dẫn cho người chết đừng cuồng loạn, phải định tâm lại, nghe theo sự hướng dẫn của thiện tri thức để thuận lợi thoát khỏi sinh tử.

Pháp dịch chuyển thần thức của thân trung ấm — thiện tri thức nếu biết pháp dịch chuyển thần thức thì càng tốt. Thiện tri thức có thể đóng lại hai lỗ ở phía dưới, một lỗ ở giữa thân, bảy lỗ ở trên khuôn mặt. Tức là:
Mở thiên môn.
Đóng địa hộ.
Bịt nhân đạo.
Chặn quỷ lộ.
Cũng có nghĩa là linh hồn chỉ có thể thoát ra từ thiên môn, những lỗ khác đều bị đóng lại hết, linh hồn sẽ bay lên trời để mà thành Phật tác Tổ.

Trăm vị Bổn tôn văn võ — sự xuất hiện của trăm vị Bổn tôn văn võ đều là vì cứu độ linh hồn của chúng sinh mà đến. Lúc chết nhìn thấy trăm vị văn võ thì chỉ cần dung nhập vào là được.

Còn nữa:
Sự xuất hiện của Bổn tôn - dung nhập, là có thể đến được tịnh thổ của Bổn tôn.

Tôi nói:
Lúc chết, sẽ có hai lần xuất hiện đại tịnh quang, nhưng thời gian rất ngắn, có thể dung nhập vào trong đại tịnh quang tức là trung ấm đã thành Phật.
Nếu không thể dung nhập vào trong đại tịnh quang, chỉ có chờ lúc Bổn tôn xuất hiện mà dung nhập vào Bổn tôn để đến được tịnh thổ của Bổn tôn.
Đó là hai phương pháp duy nhất, không có phương pháp nào khác nữa!

Hai phương pháp này chính là:

1. Đại tịnh quang.

2. Bổn tôn tiếp dẫn. (Bổn tôn có vị tịch tĩnh, có vị vừa tĩnh vừa phẫn nộ, có vị phẫn nộ.)

🌟

Tôi nói với mọi người:
Phật pháp cứu độ chúng sinh, điều đặc biệt nhất và duy nhất là:
Thiền — phá bỏ nội ngoại, tức thân thành Phật.
Mật — phá bỏ nội ngoại, tức thân thành Phật.
(Chỉ pháp Đại Thủ Ấn, pháp Đại Viên Mãn.)
Tịnh — chỉ Bổn tôn hiện tiền tiếp dẫn.
Luật — chỉ hành giả giữ giới thanh tịnh, Bổn tôn tiếp dẫn.

🌟

Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang có pháp "thấy là giải thoát" là ý nghĩa gì?
Tôi trả lời là:
Chỉ cần vào lúc lâm chung, bạn nhìn thấy trăm vị Bổn tôn văn võ xuất hiện, bạn chỉ cần dung nhập vào bất kì một vị nào trong số trăm vị văn võ là có thể đạt được giải thoát.

Còn nữa:
Tại thế gian, bạn nhiễu tháp Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, nhìn thấy đàn tràng, thì trong bảy kiếp, bạn nhất định sẽ thành Phật đạo.

Vì sao vậy?
Bởi vì thấy chính là có Phật duyên, tương lai chắc chắn sẽ gặp được thiện tri thức dẫn dắt bạn tu hành thành Phật.

Sự khai ngộ của tôi là:
Sinh tử là một giấc mộng huyễn!
Còn bản thân ta ư? Ta chính là Phật.
Nguyên thủy.
Vĩnh hằng.
Trường tồn.


### 07. Một luồng nhiệt đi qua


Trong pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang vào ngày 28 tháng 2 năm 2016, tôi đột ngột có được sự khai sáng từ thiên giới: "Hãy lập tức giải trừ bệnh nghiệp của đại chúng tham gia pháp hội!"

Thế là, tôi lập tức tuyên bố:
"Niệm chú Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang trong vòng năm phút, có thể giải trừ bệnh nghiệp của chúng sinh."
"Xin các đệ tử có bệnh nghiệp đặt tay lên nơi có bệnh."

Kết quả là cảm ứng đã xuất hiện.
Liên Hoa Thúy Lan nói:
Trong một lần vô ý, ngón tay cái của cô ấy đã hoàn toàn bị gãy. Mặc dù đã được bác sĩ ngoại khoa nối liền, nhưng ngón tay cái đã mất đi chức năng, không thể cong gập, có nghĩa là công năng của ngón tay cái đã hoàn toàn mất hẳn.
Trong buổi đại pháp hội, cô ấy nghe được điều Lư Sư Tôn nói chỗ nào có bệnh thì hãy đặt tay vào chỗ đó. Thế là cô liền giữ vào ngón tay cái của mình. Trong sát-na, cô cảm thấy ngón tay cái của mình có một luồng nhiệt đi qua, ngay tại chỗ cô cảm giác tay mình ấm lên, huyết dịch đang tuần hoàn. Ngón tay cái lập tức có thể cong lại được.
Tất cả chức năng đã hồi phục rồi.
Liên Hoa Thúy Lan khóc nghẹn ngào.
Trời ơi! Thật quá sức bất khả tư nghì!
Thật quá vĩ đại!

🌟

Còn nữa:
Liên Hoa Vĩ Sơn nói:
Khoảng ba năm trước, có một lần chạy xe máy đã va chạm với xe máy của người khác, nên đã bị gãy bắp đùi. Kể từ lần đó, chân không có lực, hơn nữa còn phải vặn hông, mãi vẫn chưa khỏi.
Liên Hoa Vĩ Sơn nói, xem ra cả đời này vĩnh viễn đi lại cong cong vẹo vẹo, anh ấy đã tuyệt vọng rồi.
Nghe thấy Lư Sư Tôn nói chỗ nào có bệnh thì đặt tay vào chỗ đó, anh ấy liền dùng tay đặt vào chỗ bắp đùi. Anh cảm thấy một luồng nhiệt đi qua, dường như toàn thân đều chấn động, anh ấy có hơi hoảng sợ!
Niệm chú vừa xong, anh đứng dậy thử bước đi, chà! Không ngờ không còn cong cong vẹo vẹo nữa, đi lại đã như bình thường rồi.
Liên Hoa Vĩ Sơn hướng về phía Lư Sư Tôn khấu đầu chạm đất.
Trời ơi!
Đúng là kỳ tích!

🌟

Còn có Liên Hoa Lệ Trân, Liên Hoa Dục Khánh, Liên Hoa Mạnh Hoa, Liên Hoa Hải An, Fujen Lin, v.v…
Cảm ứng liên miên.
(Đây chỉ là những báo cáo của ngày đầu tiên, còn có rất nhiều cảm ứng của người khác, không kịp viết ra.)
Có một người, anh ta không nghe thấy Lư Sư Tôn nói có thể chữa được bệnh tật bởi vì lúc ấy anh đang đi toilet.
Kết quả là sau khi đi toilet anh trở lại hội trường thì nhìn thấy:
Trong hư không có hào quang cao vạn trượng, như tơ như lưới, liên tiếp bao trùm lấy cả hội trường.
Anh sửng sốt!
Sau đó mới biết, thì ra là niệm chú giải trừ bệnh nghiệp!

🌟

Điều tôi muốn nói với mọi người là:
Phật tính là vĩnh hằng.
Cái cơ thể vật chất hữu hình là vô thường, hơn nữa tương lai chắc chắn sẽ hủy hoại.
Pháp lực chữa bệnh của đạo tràng thủy nguyệt chỉ là giải trừ những căn bệnh tạm thời của nhân gian, vẫn là thủy nguyệt thôi! [như trăng dưới nước]
Làm như vậy sẽ vững mạnh thêm lòng tin!
Mọi người đã hiểu hay chưa?


### 08. Truyền kỳ của người lạ mặt


Trong lúc diễn ra pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, có một chiếc xe buýt đi qua con đường phía trước quảng trường Tự Do. Trên xe buýt có một người nghe thấy chú âm Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, anh ấy cứ nghe, cứ nghe.
"Bộp" một tiếng!
Anh cảm thấy có một luồng điện từ đỉnh đầu dội xuống toàn thân mình, toàn thân ấm lên.
Người ở trên xe buýt này đang muốn đến bệnh viện để làm phẫu thuật cắt bỏ một khối u nhỏ ở cổ. Trước khi làm phẫu thuật, anh đã làm kiểm tra nhiều lần, là một khối u nhỏ lành tính, giống như một hạt đậu nành non.
Anh bắt xe buýt đến bệnh viện.

Bác sĩ kiểm tra trước khi làm phẫu thuật, bất ngờ nói với anh: 
"Khối u của anh biến mất rồi!"
Bác sĩ nói:
"Không phải làm phẫu thuật nữa, hoàn toàn khỏi rồi!"
Anh nghe xong, không tin. Anh nói:
"Buổi sáng lúc tôi cạo râu, tôi dùng tay để sờ, rõ ràng là vẫn còn khối u mà, không thể nào u lại tiêu biến được!"
Anh nói với bác sĩ:
"Không thể nào!"
Bác sĩ nói:
"Tôi cũng nghĩ là không thể nào, nhưng rõ ràng là không thấy nữa rồi!"

Thế là anh nhớ lại:
Lúc đi qua quảng trường Tự Do, anh đã nghe thấy: "Ôm ben-za chua-ta ma-ha-sê xi-li he-ru-ka hum pây." Khi ấy, toàn thân như có dòng điện chạy! Chính vào lúc ấy khối u nhỏ đã biến mất rồi!
Thế rồi anh bắt đầu điều tra.

Thì ra là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn làm pháp hội tại quảng trường Tự Do, là do Trung Quán Đường ở Đài Bắc tổ chức, có năm mươi nghìn người tham gia, nghe nói còn gia trì chữa bệnh. Còn bản thân mình đúng lúc ấy lại đi ngang qua, nghe được chú âm, thế là được chữa khỏi, khối u nhỏ đã tiêu biến rồi!
Thật là thần kỳ!
Trong thiên hạ còn có chuyện gì thần kỳ hơn chứ?
Tin tức này được truyền đến tai tôi, tôi cũng cảm thấy rất thần kỳ đó!
Các đệ tử nghe xong đều nói:
"Hay!"
Một chiếc xe buýt đi qua quảng trường Tự Do, một người lạ ngồi bên trong, không phải đệ tử Chân Phật Tông, cũng không tham gia pháp hội, đơn thuần chỉ là đi ngang qua nghe được chú âm, kết quả là khối u đã biến mất, đủ thần kỳ rồi nhỉ!

🌟

Tôi nói:
Phật là Đại Y Vương.
Việc chữa bệnh của Phật không có sự phân biệt, bất kể là đệ tử Phật quen thuộc hay là người lạ hoàn toàn không quen biết, chỉ cần nghe được chú âm "Ôm ben-za chua-ta ma-ha-sê xi-li he-ru-ka hum pây." thì đều có được giải thoát!
Không chỉ là "thấy là giải thoát".
Ngay cả nghe thấy cũng đã được giải thoát rồi!

Tôi nói:
Sự khai ngộ của bậc chí tôn là:
Không phân biệt anh, tôi, người khác.
Không phân biệt nam, nữ.
Không phân biệt sang, hèn.
Không phân biệt đẹp, xấu.
Không phân biệt già, trẻ.
Bình đẳng cứu độ.
Tất cả chúng sinh bình đẳng, không phân biệt.

Điều tôi muốn nói với mọi người là:
Bình đẳng tiếp nhận niềm vui và đau khổ, tiếp nhận mất mát và có được, tiếp nhận hạnh phúc và chịu khổ, tiếp nhận danh vọng và nhục nhã, tiếp nhận phú quý và bần cùng, tiếp nhận khỏe mạnh và suy yếu.
Những thứ này sinh ra lẫn nhau và luân chuyển, đã hiểu chưa?


### 09. Cô gái không thể nào gia trì


Ngày hôm đó.
Một cô gái thỉnh cầu gia trì, bởi vì toàn thân cô đều có bệnh. Tôi đưa tay ra sờ đầu, vận chân khí để gia trì.
Hầy!
Không ngờ không vận được chân khí.
Tay gia trì bị hất ra, một sức mạnh vô hình đã hất tay tôi ra.
Hả!
Tôi không tin, lại vận chân khí.
Không ngờ khí bị đẩy lệch đi. (ngoặt khí)
Tôi sửng sốt nói:
"Tôi không sao gia trì cho cô được!"
"Vì sao vậy?" - Cô gái hỏi.
Tôi nói:
"Trên người cô có một khối sức mạnh vô hình chặn lại lực gia trì của tôi!"

Giống như là:
Cô gái có luyện "kim chung tráo" hay là "thiết bố sam" vậy, tôi phát công là bị hất ngược trở lại.
Cô gái nói:
"Con là đệ tử quy y mà!"
Tôi hỏi:
"Hay là cô đắc tội với quỷ thần?"
Cô gái nói:
"Không có đâu! Con rất thành kính mà!"
"Còn chồng cô?"
Cô gái nói:
"Chồng con cũng là đệ tử Chân Phật, rất kiền thành!"

Lần này chẳng còn lý do gì nữa, tôi cảm thấy rất ngại.
Sau đó, tôi dùng thiên nhãn để quan sát thì thấy có một khối oan khí tụ tập ở trên đỉnh đầu cô gái. Tôi nói:
"Có vô hình quấy nhiễu!"

Sau khi quan sát thì tôi mới biết được nghề nghiệp nhiều đời của nhà cô gái này là giết mổ ếch nhái.
Là lột da ếch.
Chặt chân tay.
Mổ bụng.
Moi ruột.
Nấu chín.
Công việc này đã kéo dài qua nhiều thế hệ, là công việc sát sinh.

Trong ngũ giới thì sát sinh là nghiệp nặng thứ nhất.
Nghiệp cướp bóc, nghiệp tà dâm, nghiệp vọng ngữ, nghiệp nghiện rượu đều nhẹ hơn.

Thế là tôi dạy cô ấy một pháp:
Quán tưởng Bổn tôn ở trong hư không phóng quang chiếu đến lỗ đỉnh đầu, mở huyệt đỉnh đầu ra, từ huyệt đỉnh đầu những con ếch lần lượt nhảy ra, nghĩa là vô số ếch nhái.

Rồi niệm chú vãng sinh:
Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê
Tô-tây-ya-tha
A-mi-ni-tô pô-pi
A-mi-ni-tô si-tam pô-pi
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê
A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô
Ka-mi-ni ka-ka-na
Chê-tô ka-ni sô-ha.
[Namo amitabhaya, tathagataya, tadyatha, amrito dbhave, amrita siddhambhave, amrtia vikrante, amrtia vikranta gamine gagana kirta kare, svaha.]
Cứ làm như thế, lâu ngày, nghiệp chướng tự tiêu trừ, bệnh nghiệp khi ấy mới tiêu trừ.
Ngoài ra, sự nghiệp phải thay đổi. Cần phải làm chính nghiệp.

🌟

Điều tôi muốn nói với mọi người là:
Với mỗi một chúng sinh, sinh mạng của bản thân là thứ quý giá nhất, giết chết sinh mạng của người khác là mối hận cực sâu, mối oan kết cũng sâu nhất. Trong nhân quả cũng là tội nặng nhất.
Trừ phi hành giả tu đến cảnh giới cao nhất, đã siêu việt rồi, độ hóa được toàn bộ nghiệp sát, thì đây là pháp giết để mà độ. Có thể độ hóa sinh mạng đến Phật quốc tịnh thổ là cái ngộ tối cao.
Đã hiểu chưa?


### 10. Cháu là do ta câu lên đó!


Đây là một câu chuyện rất nổi tiếng.
Lão tổ sư của Mật tông Bạch giáo Tilopa câu cá bên một dòng sông. (Tượng điêu khắc của ngài Tilopa trên tay có cầm một con cá.)
Đúng lúc đang câu cá, có một đứa bé đến bờ sông xem Tilopa câu cá. Đứa bé không nhịn được bèn hỏi:
"Người tu hành có thể câu cá sao? Đó chẳng phải là sát sinh sao?"
Tilopa đáp:
"Người tu hành không thể câu cá, không nên sát sinh!"
Đứa bé hỏi:
"Thế sao ông lại câu?"
Tilopa đáp:
"Cháu là do ta câu lên đó!"

Câu nói "Cháu là do ta câu lên đó!" này chứng minh rằng kiếp trước đứa bé này chính là một con cá. Tilopa đã câu nó lên, độ cho sinh mạng con cá đó được lên làm người.
Từ cá hóa người.
(Đây là từ đạo súc sinh được độ hóa lên ba cõi thiện để được làm người.)

🌟

Còn nữa:
Có một lão tổ sư có hai thị giả phục vụ bên cạnh. Lão tổ sư tóm lấy con bọ chét rồi bóp chết trên đầu ngón tay. Sinh mạng của con bọ chét thế là đi đời nhà ma!

Một thị giả nhìn thấy, trong lòng nghĩ:
"Lão tổ sư sát sinh rồi!"
Thị giả kia nhìn thấy thì nghĩ thầm:
"Con bọ chét kia thật hạnh phúc quá! Lão tổ sư bóp chết, thổi một hơi khí, sinh mạng của nó đã được đến Phật quốc tịnh thổ, mình còn chẳng được như con bọ chét đó."

Lão tổ sư có tha tâm thông, sớm đã biết được ý nghĩ của hai thị giả. Lão tổ sư nói với người thị giả kia:
"Ngươi ngưỡng mộ con bọ chét sao?"
Thị giả đáp:
"Vâng!"
Lão tổ sư nói:
"Được rồi! Ngươi hãy đến Phật quốc tịnh thổ trước đi!"
Lão tổ sư búng ngón tay một cái, thị giả liền ngã ra, linh hồn đã tiến vào Phật quốc tịnh thổ.
Người thị giả còn lại thì rất hối hận.

Trên đây là hai câu chuyện về pháp giết để mà độ, cũng có thể xem là vô cùng đặc sắc.

🌟

Tôi nói:
Con người từ xưa đến nay có ai mà không chết.
Mỗi người, không chết sớm thì cũng chết muộn, tóm lại là đều phải chết hết.

Người học Phật có hai mục tiêu quan trọng:

1. Thành Phật.

2. Đến Phật quốc tịnh thổ.

Vì thế tôi nói:
Có thể đến được Phật quốc tịnh thổ hoặc thành Phật là điều quan trọng số một. Những thứ khác thật ra đều không quan trọng.

Xin hỏi bạn lưu lại tại nhân gian để làm gì?
Kiếm tiền.
Tranh danh lợi địa vị.
Tình yêu nam nữ.
Ăn uống.
Ngủ nghỉ.
Vui chơi.

Những sự hưởng thụ này rốt cục đều là bong bóng ảo ảnh, không phải là những thứ có được vĩnh viễn. Đến lúc già chết, tất cả đều hoàn toàn trống rỗng!
Tiền là không, danh vị là không, tình yêu là không, ăn uống là không, ngủ nghỉ là không, vui chơi là không.

Hành giả cần xác nhận được những điều này, mới biết:
Khí trở về với khí, đất trở về với đất.
Đó là cái ngộ số một.


### 11. Ngộ ra "đôi cánh vô hình"


Tôi khá thích ca hát, đặc biệt là những bài hát thiếu nhi, đó là những bài mà tôi hát cho các bạn nhỏ nghe.
Hát cho Bình Nhi.
Hát cho Y Đình.
Hát cho Lý Kỳ.
Hát cho Lôi Thiến.
...

Thật ra có một bài hát mà người lớn hát, chính là bài "Đôi cánh vô hình" do Vương Nhã Quân viết lời, sáng tác giai điệu cũng là Vương Nhã Quân.

Tôi thích ca từ, rất có ngộ cảnh:
*"Mỗi lần, vào những lúc bải hoải và cô đơn đều phải kiên cường.
Mỗi lần, cho dù có rất đau buồn cũng không được rơi nước mắt.
Tôi biết rằng, tôi vẫn luôn có đôi cánh vô hình.
Đưa tôi bay, vượt qua sự tuyệt vọng."*

Đoạn này có thể ngộ ra sự:
Tinh tấn.

*"Chẳng nghĩ về việc người ta có mặt trời đẹp đẽ thế nào.
Tôi đã thấy rằng ánh tà dương mỗi ngày đều sẽ thay đổi.
Tôi biết rằng, tôi vẫn luôn có đôi cánh vô hình.
Đưa tôi bay, cho tôi hi vọng."*

Đoạn này có thể ngộ ra sự:
Vô thường.

*"Cuối cùng tôi đã nhìn ra, tất cả mộng tưởng sẽ đều nở hoa.
Những lời ca tuổi trẻ mà ta theo đuổi thật to và rõ."*

Đoạn này có thể ngộ ra:
Quả vị.

*"Cuối cùng tôi đã hét vang, bền bỉ tập trung và không còn sợ hãi.
Nơi nào có gió bão thì lại càng bay xa hơn."*

Đoạn này có thể ngộ ra sự:
Tự nhiên.

*"Đôi cánh vô hình khiến cho giấc mơ còn lâu dài hơn cả trời đất.
Lưu lại một nguyện ước để bản thân suy gẫm."*

Đoạn này có thể ngộ ra:
Phật tính.

🌟

Tôi nói với mọi người:
Phật tính bất khả thuyết.
Không tính bất khả thuyết.
Ngộ tính bất khả thuyết.
Cho nên: "Suy gẫm."

Bài "Mộng thơ" của Vương An Thạch:
*"Biết đời như mộng vô sở cầu,
Vô sở cầu lòng tĩnh lặng không.
Vẫn tưởng trong mơ tùy mộng cảnh,
Thành tựu công đức tựa hà sa."*

Ha ha ha!
Đôi cánh vô hình chính là mơ.
Bay chính là mơ.
Mộng tưởng lại càng là mơ.
Hét vang là mơ.
Suy gẫm là mơ.
Tất cả những điều này chẳng phải là mơ sao?

🌟

Đối với sự khai ngộ chí tôn thì phải dùng hư không để tượng trưng:
Đó là thứ mà lửa vĩnh viễn không thiêu hủy được.
Đó là thứ mà nước vĩnh viễn không làm ướt được.
Đó là thứ mà gió vĩnh viễn không thổi khô được.
Hành giả ơi! Chỉ cần tâm bạn như hư không, tâm hòa tan vào hư không, cái ngộ này chỉ có thể suy gẫm.
Không phá vỡ.
Không tan biến.
Không khô cạn.
Không hủy hoại.
Các thiện đệ tử, đã hiểu hay chưa?


### 12. Sau khi ngã nhào


Một buổi tối thứ bảy, sau khi pháp hội Hộ Ma của chúng tôi kết thúc, chúng tôi ăn xong bữa tối tại Đài Loan Lôi Tạng Tự.
Tôi sờ đầu cho những đệ tử còn ở lại.
Sờ đầu xong, Thượng sư Liên Cần chuyển cho tôi cây gậy gỗ trơn thẳng.
Gần đây tôi có thói quen như vậy. Kết thúc việc sờ đầu, tôi sẽ đánh kim cang côn.
Đầu tiên là khởi thế.
Côn hoa.
Quét.
Chặt.
Bổ.
Chọc.
Chấm.
Nâng.

Tôi cầm cây côn múa tới mức nghe tiếng gió vù vù đầy uy lực, đầy khí chất, mưa gió không thể cản trở. Tôi tập trung tinh thần, tay, chân, toàn thân chuyển động xoay tròn, cây côn gỗ cũng chuyển động theo thân.

Nhưng rồi,
Cây côn bất ngờ văng đi, tuột khỏi tay từ phía bên trái bay ra, tôi vội vàng tóm lấy cây côn, nhưng không tóm trúng, chỉ chạm được một chút vào thân côn, cây côn bay càng xa hơn. Tôi vội vàng lao nhanh đuổi theo cây côn. Không ngờ mặt đất không bằng nên tôi đã trẹo chân một chút. Cả người tôi ngã nhào về phía trước, lúc này trọng tâm không vững, hai tay hai chân đều sõng soài trên mặt đất.
(Giống với tư thế ngã vồ ếch.)

Lúc ấy.
Các đệ tử xung quanh đều kêu ầm lên. Mấy người bảo vệ vội vàng chạy đến đỡ tôi dậy.
Tôi tự kiểm tra thân thể mình, kỳ lạ là, thân thể ngã sấp xuống rất nhanh, trọng lực tăng tốc, mặt đất rất cứng, là đá phủ nhựa đường.
Hai tay không bị trầy da.
Tay không bị bong gân.
Đầu gối khuỵu xuống, kiểm tra hai đầu gối thì cũng không bị trầy da, cũng không bị thương.
Mắt cá chân cũng không bị bong gân.
Tôi sờ khắp thân thể, thấy đều ổn cả.
(Một chút vết thương bên ngoài và bên trong đều không có.)

Tôi đứng dậy, cầm côn.
Rồi tôi lại đánh thêm hai lượt kim cang côn nữa, cảm thấy gió vẫn vù vù đầy uy lực. Xoay chuyển như sấm chớp.
Tôi nói:
"Tôi ngã ở chỗ nào thì đứng dậy ở chỗ đó!"

🌟

Sự việc mới qua một đêm.
Tin tức rất nhanh, liên tiếp những lời hỏi thăm từ:
Tân Cương.
Brunei.
New York.
Thụy Điển.
Vân vân và vân vân.

Cứ như là tất cả đệ tử Chân Phật Tông và người lạ đều biết vậy! Sự việc này khiến tôi ngộ ra rằng, sự lan truyền của tin tức thực sự là đáng sợ. Có người nói, tôi đã nhập viện, có người nói tôi sắp chết rồi, có người nói tôi đang nguy kịch…

🌟

Điều tôi muốn nói với mọi người là:
Nhân gian hiện thực có sinh tất có tử, có tử tất có sinh. Nhưng bậc Chí Tôn thì vô sinh vô tử.
Ngã nhào, đứng dậy, đứng dậy không vui mừng, ngã nhào không lo âu.
Tất cả tự nhiên, tất cả nhậm vận.
Nếu như có một ngày, các bạn nhìn thấy tôi chết rồi, cũng không cần đau thương! Bởi vì ở nhân gian này, căn bản không có sự việc gì đã từng xảy ra, có vui có buồn là vì có sự bám chấp, đã hiểu hay chưa?


### 13. Chim ưng ba lần xuất hiện


Tôi quen biết phó tổng thống Ngô Đôn Nghĩa cũng đã 35 năm rồi.
Khi ấy tôi 37 tuổi, sống tại biệt thự Tinh Võ quận Thái Bình.
Có một buổi tối, ông ấy đến thăm tôi.
Lúc đó ông ấy tranh tuyển chức huyện trưởng Nam Đầu, đối thủ là ông Dương Quốc Bình.
Chúng tôi nói chuyện đến tận khuya.
Lần ấy, ông Ngô Đôn Nghĩa đã trúng cử chức huyện trưởng Nam Đầu.
Về sau, ông ấy vẫn luôn lang bạt trong giới chính trị.

🌟

Khi ông Ngô Đôn Nghĩa giữ chức phó tổng thống, mồng một âm lịch hàng năm, ông ấy đều đến thăm Đài Loan Lôi Tạng Tự ở thị trấn Thảo Đồn huyện Nam Đầu. Vẫn như trước kia, chúng tôi đều nhiệt tình chào đón ông ấy.
Ba năm gần đây, mỗi khi ông ấy đến thăm đều có chim ưng xuất hiện.

Lần thứ nhất.
Đoàn xe của ông ấy vừa đến thì chim ưng đã xuất hiện rồi, nó bay rất gần, kêu lên "chiu, chiu, chiu".
Thế là:
Chúng tôi chúc ông ấy sắp bước lên một tầng cao hơn.
Nhưng cuối cùng ông ấy đã không trúng cử tổng thống.

Lần thứ hai.
Đoàn xe của ông ấy vừa đến, quái lạ là chim ưng lại xuất hiện, điều duy nhất không giống là chim ưng không kêu gì, chỉ có lượn vòng vòng.
Thế là chúng tôi chúc ông ấy trúng cử chức chủ tịch đảng.
Nhưng,
Cuối cùng ông ấy cũng không trúng cử chủ tịch đảng.

Lần thứ ba.
Vào tháng một âm lịch năm 2016, đoàn xe của ông ấy lại đến Đài Loan Lôi Tạng Tự.
Chim ưng cũng lập tức xuất hiện, lần này nó cũng không kêu, nhưng bay cao và xa hơn, biến thành một chấm nhỏ bay lượn vòng trong hư không rồi biến mất.
Chúng tôi không nói gì cả.
Ông ấy tự nói:
"Bóng tối bao hàm ánh sáng!"

🌟

Tôi có một cảm giác:
Cuộc đời của một nhân vật chính trị không nằm ở việc tuổi thọ thế gian dài ngắn, hay là sắc thân khỏe yếu, mà nằm ở việc giỏi sử dụng sinh mạng và tài trí hữu hạn để mưu cầu phúc lợi cho nhân dân, để lại những cống hiến cho đất nước.

Tôi cảm thấy:
Phó tổng thống Ngô dường như đã nhận ra được rằng:
Một nhân vật chính trị có khổ não của nhân vật chính trị.
Mặc dù quyền thế tốt, nhưng cũng rất nhanh chóng mất đi sức hấp dẫn của nó!

Đặc biệt là:
Gánh nặng.
Tranh chấp.
Vĩnh viễn ở trong tâm!

Dường như ông ấy nghĩ đến:
Không mong cầu thì sẽ không có sợ hãi!
Không kỳ vọng thì sẽ không có lo âu!
Trong thuần phác và tự tại, đi trên con đường trung đạo.
Tự nhiên duy trì sự dễ chịu và an yên.
Là hư không.
Cũng là đại địa.

🌟

Ở đây tôi muốn nói với mọi người rằng:
Chúng ta bắn lên trời một mũi tên, bất kể là bắn bao xa thì bạn cứ bắn đi! Nhưng cuối cùng nó cũng lại trở về mặt đất.
Cho nên, duy trì được tâm trong sáng, đi nhậm vận, là quan trọng nhất.


### 14. Cuối cùng tôi đã bị bán rồi


Mấy năm gần đây tôi có một cảm giác, cuối cùng tôi đã bị bán rồi.
Có người làm ra con dấu có ba chữ Lư Thắng Ngạn, tới mấy trăm nghìn con dấu để bán cho rất nhiều người.
Tôi thật sự không hiểu:
Mua con dấu của tôi để làm gì?
Ba chữ Lư Thắng Ngạn có thể đuổi ma trấn tà sao? Có thể chiêu tài tấn bảo sao? Có thể vinh hoa phú quý sao? Có thể...?

Hòa thượng trượng hai chẳng sờ tới đầu, tôi thật chẳng hiểu ra làm sao!
Xin mọi người giúp tôi nghĩ thử xem:
Bán con dấu của tôi để làm gì?
Mua con dấu của tôi để làm gì?
Hộ thân sao?

🌟

Có một người cũng không phải là quen biết rõ lắm. Nghe nói anh ta học được cách ký tên của tôi, tôi ký tên hai chữ "Thắng Ngạn" (tiếng Trung).
Thế là:
Anh ta bán long bào có chữ ký của tôi.
Anh ta bán tượng Phật có chữ ký của tôi.
Anh ta bán pháp khí có chữ ký của tôi.
Anh ta bán chỉ thị viết tay có chữ ký của tôi.

Trời ơi!
Anh ta có tín vật truyền thừa của tôi sao? Truyền cái thừa gì chứ?
Cũng có cả chỉ thị viết tay của tôi sao?
Mánh khóe lừa bịp chúng sinh này là vì danh lợi, đây chẳng phải là lừa đảo sao?
Ngay cả giới y, thiền y cũng đều là do tôi ban tặng anh ta sao?
Mẹ nó chứ!
Bà nó chứ!
Trời đất ơi!
Tôi bị bán sạch sẽ rồi!

🌟

Chân Phật Tông có tiền giấy Chân Phật Tông.
Rất nhiều người vì muốn buôn bán tiền giấy kiếm tiền mà lũ lượt thỉnh tôi ký tên.
Tiền giấy có rất nhiều kiểu dạng, đại bộ phận là do các phân đường tự thiết kế. Chân Phật Tông rốt cục có bao nhiêu dạng tiền giấy, tôi thật sự không biết. Nhưng đại bộ phận đều có chữ ký của tôi.
Để cho công bằng nên tôi không từ chối một ai.
Cũng có một số phân đường dựa vào việc bán tiền giấy để lập nghiệp. Nhưng cũng có tiền giấy giả mạo.
Quá hỗn loạn rồi!
Có tiền giấy cũng in cả ảnh pháp tướng của tôi, cùng đốt cho trời, đất, quỷ, thần.
Tôi bị bán quá triệt để rồi.

🌟

Còn có một người khác, tôi hoàn toàn không quen biết. Anh ta bán quán đảnh Đại Viên Mãn của tôi.
Anh ta thu tiền.
Còn tôi quán đảnh từ xa.
Ông Trời ơi! Quán đảnh Đại Viên Mãn lấy đâu ra quán đảnh từ xa, đó là đại pháp vô thượng, pháp tối cao.
Người có thể nhận quán đảnh, trong vạn người chẳng thể kiếm được một người.
Không có chuyện tùy tiện như vậy.
Xin mọi người đừng có để bị lừa!

🌟

Điều tôi muốn nói với mọi người là:
Tôi chỉ là một người hoằng pháp, tôi đang thực hiện nguyện lực của tôi, tôi chỉ hoằng dương Phật pháp, độ hóa chúng sinh, chỉ đơn giản như vậy thôi.
Tôi đương nhiên biết rằng:
Nhân gian này rất phức tạp.
Bạn nương nhờ vào Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn để mà tu hành, đây chính là đi trên chính đạo.
Nếu dựa vào tên của tôi để kiếm lời thì đó là "chệch đạo" đó!


### 15. Thời đại của sách điện tử đã đến rồi


Mấy năm nay.
Điện thoại di động đã hình thành nên thời đại mỗi người một máy!
Người di chuyển theo máy.
Máy di chuyển theo người.
Máy và người hợp nhất.
Còn có cả máy tính bảng….
Bất kì nghề nghiệp gì, vốn dĩ là tác nghiệp trên giấy, nay gần như đã biến thành tác nghiệp điện tử rồi.
Điện tử!
Điện tử!
Điện tử!
Thời đại điện tử đã đến rồi!

🌟

Con người trước kia đọc sách đều là sách giấy.
Khi tôi còn đi học, muốn đọc một cuốn sách thì phải mua sách, mượn sách, thuê sách, phải đến nhà in hoặc thư viện.
Nhà in là nơi tôi thường xuyên đến, gần như mỗi lần tôi ra đường thì đều là để đến nhà in.
Tôi đọc sách mỗi ngày, đây là thói quen của tôi.
Tôi viết sách mỗi ngày, đây lại càng là thói quen của tôi.
Nếu không thì ở đâu ra 254 cuốn sách chứ?
Tôi viết mỗi ngày.
Ngày ngày viết.

Một hôm, có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn, ngài vẫn viết sách bằng tay sao?"
Tôi đáp:
"Đúng vậy."
Người đó nói:
"Con người hiện đại đã dùng máy tính viết sách rồi, những tác giả trên mạng đâu đâu cũng có. Ngài đã..."
Tôi đón lời:
"Tôi đã lạc hậu rồi, đúng thế, thật sự là lạc hậu rồi, tôi vẫn là dùng tay tôi để viết sách tôi."

🌟

Các đệ tử của tôi đều biết:
Tôi không có điện thoại di động.
Tôi không có máy tính bảng.
Tôi không có máy vi tính.
Ngay cả lên mạng tôi cũng không biết.
Tôi bị người ta cười là:
"Lư Sư Tôn là người nguyên thủy!"

🌟

Đương nhiên tôi biết, sách giấy đang dần dần bị đào thải, và sách điện tử trở thành con cưng của thời đại này.
Các nhà sách và xưởng in đều đóng cửa.
Ánh sáng nháy có tần số từ lâu đã phổ biến khắp thế giới, [hầu hết ánh sáng từ thiết bị điện tử, TV, điện thoại, đèn huỳnh quang đều là ánh sáng chớp tắt, hoặc quét liên tục với tốc độ cao] nhưng tôi vẫn hoài nghi:
Dùng mắt của con người nhìn chăm chú thời gian dài vào ánh sáng điện tử, có tốt không?
Sách điện tử có tốt không?
Tôi cho rằng:
Sách điện tử đương nhiên có mặt tốt.
Nhưng lại có rất nhiều mặt không tốt.
Nói tóm lại, đến bây giờ, tôi vẫn thích sách giấy, bởi vì tôi muốn bảo vệ con mắt và thân thể của mình.

🌟

Lý do tôi không dùng điện thoại di động là gì?
Tôi đáp:
*Tâm du nơi hư tịch
Chí đặt nơi Phật quốc
Thủ giới nơi vô dục
Ngộ đạo nơi vô vi.*
Tôi thích:
Vô dục!
Vô sự!
Ít nghĩ! (vô tâm, vô niệm)


### 16. Triết học nhân sinh của hành giả


Gần đây đọc sách, tôi đọc cuốn "Bão Phác Tử dưỡng sinh luận" [cuốn sách của Cát Hồng (283-343) hiệu là Bão Phác Tử], cảm thấy tên sách là dưỡng sinh nhưng kì thực không thiếu những triết học nhân sinh. Ví dụ:

12 cái ít:
Tức là: ít nhớ, ít nghĩ, ít cười, ít nói, ít mừng, ít giận, ít vui, ít buồn, ít lành, ít ác, ít việc, ít động cơ.

6 cái không:
Không ngồi lâu.
Không đi lâu.
Không nhìn lâu.
Không nghe lâu.
Không ăn lâu.
Không uống lâu.

4 cái đừng:
Đừng lừa gạt.
Đừng tranh giành.
Đừng khinh miệt.
Đừng giết hại.

Ngoài ra còn loại trừ 6 cái hại:
Coi nhẹ danh lợi.
Cấm tiếp xúc thanh sắc.
Liêm khiết với tiền tài.
Giảm tiếp xúc mùi vị.
Bỏ nịnh nọt ngông cuồng.
Dừng mọi đố kị.

Cá nhân tôi cho rằng, 12 cái ít, 6 cái không, 4 cái đừng, 6 cái hại này, nếu có thể thực tiễn chúng thì đó chính là giới luật chí cao của cuộc đời, con người làm theo những điều này thì nhất định sẽ trở thành:
Thân tâm an tịnh như Thánh giả
Nghìn tai vạn hại chẳng đến thân
Sống làm bậc quân tử Thánh Hiền
Chết làm hạng Tiên quan thượng phẩm.

🌟

Cá nhân tôi là một yogi tu khí, tôi biết pháp nạp khí, pháp hành khí, pháp đạo dẫn, pháp tuần hoàn, pháp thông khí...
Biết:
Tâm bình khí hòa.
Hai khí âm dương.
Giáng đề trì tán.
Khí hóa thành Thần.
Thần hóa phản hư.

Cho nên, một yogi tu khí không thể có tham, không thể có sân, không thể có si.
Đương nhiên, 12 cái ít, 6 cái không, 4 cái đừng, 6 cái hại này chính là nói cụ thể của tham sân si.
Những điều này có thể kết hợp với nhau.
Dưỡng sinh và tu hành cũng vậy, có thể kết hợp với nhau.
Có người nói, dưỡng sinh không quan trọng, tu tính mới quan trọng. [Tu tính: ý là tập trung tu để giác ngộ tính Không, phần còn lại là tu mệnh, tu thân]

Cá nhân tôi cho rằng:
Tính quan trọng.
Mệnh cũng quan trọng.
Không có Mệnh thì Tính cũng chẳng thành được!
Bão Phác Tử (Cát Hồng) nổi tiếng trước nhờ Nho giáo, sau đó trở thành Đạo sĩ, tinh thông lý thuyết y học, nội đan, ngoại đan, cũng tu thuật thần tiên đạo dưỡng, những điều mà ngài ấy nói, tôi cho rằng rất có lý.

🌟

Tại đây tôi muốn nói với mọi người:
Một người tu hành lớn có ba điểm phải không được tính toán:
Không tính toán khổ vui — vô khổ vô lạc.
Không tính toán được mất — vô đắc vô thất.
Không tính toán thắng bại — vô thắng vô bại.
Đây không phải là điều tôi nói bởi vốn dĩ chính là như thế, nếu bạn đã đạt đến sự khai ngộ chí cao, tất nhiên sẽ hiểu điều tôi nói. Còn nếu không hiểu thì vẫn còn cách sự giác ngộ xa lắm!
Thánh đệ tử! Bạn có hiểu không?


### 17. Mẹ của Thượng sư Liên Điếm


Pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang đã qua rồi, đàn thành trăm vị Bổn tôn văn võ được lập nên cũng đã tháo dỡ rồi, năm mươi nghìn người đổ về cũng đã tản đi, những lời thuyết pháp của tôi cũng đã tan biến vào hư không xa xăm rồi.
Tập hợp.
Giải tán.
Cả hai đều trống không.

Nhưng, có người đã đưa chú âm gia trì ngày hôm đó đăng lên mạng:
Ôm gu-ru lién sâng sít đi hùm. 
Ôm ben-za chua-ta ma-ha-sê xi-li he-ru-ka hum pây.

Bởi vì chú âm này đã được:
Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang gia trì!
Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn gia trì!
Sức mạnh tập trung khí của mọi người!
Do đó, những tín chúng có mặt tại pháp hội khi ấy:
Rất nhiều bệnh tật, trong sát-na, đã khỏi hẳn, một sát-na, bệnh tật đã biến mất!
Kỳ tích! Kỳ tích! Kỳ tích!

🌟

Mẹ của Thượng sư Liên Điếm ngày hôm ấy không tham gia pháp hội bởi vì thân thể không được khỏe, lại thêm ở trên cổ có mọc ra một cái bướu nên bà ấy không đi. Sau khi Thượng sư trở về nhà đã kể lại những tin tức về sự xuất hiện kỳ tích cho mẹ nghe.
Thế rồi, Thượng sư Liên Điếm đã mở lại video ghi hình ghi âm (chú âm khoảng mười phút) cho mẹ nghe.
Mẹ của Thượng sư Liên Điếm đặt tay vào chỗ có cái bướu.
Tập trung tinh thần.
Công phu chỉ có một ngày, thế mà cái bướu đã biến mất rồi!
Sau khi được bác sĩ kiểm tra đã không còn bệnh, cái bướu cũng không thấy, hoàn toàn bình thường rồi.
Tin tức truyền đi, chúng tôi đều vô cùng vui mừng.
Chỉ nghe chú âm.
Không ngờ đã khỏi bệnh rồi!
Quả thật là quá xịn!

🌟

Tôi kèm thêm một phụ lục từ một vị đệ tử như sau:
*Ngày 28 tháng 2 năm 2016, tại quảng trường Tự Do ở Đài Bắc, Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật truyền đại pháp Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang lần thứ hai, đồng thời quán đảnh trăm vị Bổn Tôn văn võ và pháp Giải thoát qua sự nghe với thân trung ấm. Trong pháp hội, Thánh Tôn bất ngờ tuyên bố, Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang chỉ thị lại tụng chú thêm năm phút để gia trì cho đệ tử, ở chỗ nào có bệnh thì đặt tay lên chỗ đó. Tôi nhớ đến khối u mỡ trên bả vai trái của mình đã hơn mười năm nay, thế là tôi vội vàng đặt tay phải lên đó, miệng không ngừng niệm chú Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang: "Ôm gu-ru lién sâng sít đi hùm. Ôm ben-za chua-ta ma-ha-sê xi-li he-ru-ka hum pây."*

*Vừa kích động, vừa cảm động, tôi không ngừng chảy nước mắt. Trong lòng nghĩ trên toàn thế giới này sao lại có một vị sư phụ và Kim Cang Thần thần thánh, vĩ đại, từ bi, năng lượng lại siêu mạnh đến nhường ấy? Trái tim của năm mươi nghìn con người, cái miệng của năm mươi nghìn con người nhất tề xướng tụng thần chú nghìn đời khó gặp này, đều hy vọng có thể mượn sức mạnh đại từ bi của Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang và bàn tay gia trì của Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật mà bệnh tình được dễ chịu và giải thoát!*

*Cái khối u của tôi ban đầu to cỡ hai quả trứng gà, đã từng phẫu thuật để xử lý, bây giờ lại tái phát, lại phát triển thành to như hai quả trứng gà. Tôi nghĩ khối u biến thành nhỏ lại, một phút, ba phút, năm phút, thời gian dần dần trôi qua, tôi cảm thấy thời gian sao trôi qua nhanh quá! Đột nhiên tôi nhận ra, chú âm thần bí vẫn tiếp tục, bàn tay từ bi của Thánh Tôn cũng chưa buông xuống! Tôi vội vàng sờ lên khắp các chỗ có bệnh trên thân thể mình một lượt! Sau mười bốn phút, chú âm mới dứt, lúc ấy gia trì cũng mới kết thúc!*

*Hai ngày sau, sáng sớm ngày 2 tháng 3, theo thông lệ, tôi vẫn đi gặp bác sĩ phục hồi để chỉnh sống lưng và điều chỉnh lại thân thể. Khi ông ấy ấn vào khối u trên bả vai trái tôi thì thốt lên kinh ngạc: "Khối u của cô sao lại biến thành nhỏ thế này? Nhỏ đi rất nhiều, có thể sờ thấy xương bả vai rồi!" "A! Cô có tu hành, Phật Bồ Tát che chở cho cô rồi!" Bác sĩ phục hồi nói với tôi. Nhưng tuần trước ba lần tôi đến khám và điều trị, khối u vẫn còn to như hai quả trứng cơ mà! Lúc ấy tôi biết kỳ tích đã xảy ra rồi! Kỳ tích! Đúng là kỳ tích! Đây chính là thời khắc chứng kiến kỳ tích! Khối u kích thước khoảng mười phân đã nhỏ lại chỉ còn một nửa!*

*Bạn có tin không? Lúc ấy tôi không dám nói với người bác sĩ phục hồi không phải là đồng môn rằng: "Sư Tôn của tôi và Kim Cang Thần đã phát ra uy lực đó!" Bởi vì ông bác sĩ ấy không hề biết tôi tham gia pháp hội thù thắng ấy, nhờ có đôi bàn tay tràn đầy pháp lực ấy mà tôi đã có được sức mạnh vĩ đại đến từ hư không vũ trụ, có được đại pháp lưu gia trì!
Sư Tôn đã tuyên bố trước năm mươi nghìn đệ tử rằng sẽ được! Tôi tin! Tôi mong chia sẻ với các đồng môn về kỳ tích tuyệt vời này của tôi!*

*Liên Hoa Thế Trân kính thư.
7.3.2016.*

Tôi nói:
Nếu bạn ngộ nhập hư không, thì sẽ giải trừ được tất cả sự trói buộc.


### 18. Một quả táo


Cô Liên Hoa Siêu Hà, trong bữa tiệc tôn vinh của công ty Evergreen, đã kể với tôi một sự việc.
Cô và Liên Hoa Vĩ Bằng kết hôn nhiều năm nhưng vẫn chưa có con, không hề có một chút tin tức nào. Họ đã thử dùng mọi phương pháp, ví dụ sinh con trong ống nghiệm, v.v… nhưng đều bị tuyên bố thất bại. Trong lúc không biết phải nghĩ sao, chỉ còn cách đi cúng bái thần linh, thỉnh cầu có con.

Cô ấy đã ăn tàn hương.
Người chủ quản trong chùa đã lấy một bát nước to rồi hòa một túi to tàn hương vào trong đó, miệng lẩm bẩm mấy lời rồi bảo cô uống bát nước đó, một bát nước lớn đậm đặc tro hương, cứ thế mà nuốt xuống.
Cô ấy nuốt xuống mà thấy rất ghê, mà thật ra là vốn chẳng dám nuốt. Nhưng rồi vẫn bị tuyên bố việc có con là thất bại.

Về sau, họ mới quy y Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Vì sống ở đất nước khác nên họ đã xin quán đảnh quy y từ xa.
Mỗi ngày, Liên Hoa Siêu Hà cố gắng niệm Thượng sư tâm chú, Cao Vương Kinh, sau đó cầu nguyện:
"Có con!"
Lời cầu nguyện của Liên Hoa Siêu Hà rất khẩn thiết, bởi vì bố mẹ chồng cô đều nóng lòng muốn bế cháu rồi, nên áp lực rất lớn.

🌟

Một hôm, trong lúc mơ hồ, cô ấy đã nhìn thấy Lư Sư Tôn đến. Sư Tôn đưa cho cô một quả táo.
Cô không muốn ăn, Lư Sư Tôn nói:
"Ăn đi, ăn rồi mới có con được!"
Cô vừa nghe là sẽ có con thì mới ăn.
Kỳ lạ là, sau khi ăn táo xong, không bao lâu sau thật sự cô đã có thai rồi.
Vào ngày 13 tháng 3 năm 2013, cô đã sinh hạ một bé gái, đặt tên là Trịnh Tử Quân, cũng tức là Liên Hoa Tử Quân, bây giờ bé gái đã 3 tuổi rồi.
Liên Hoa Siêu Hà vì muốn cảm ơn tôi nên đặc biệt bay tới Đài Loan để cảm ơn sự việc này.
(Ngày chúng tôi liên hoan là ngày 13 tháng 3 năm 2016, trùng hợp làm sao.)

Còn nữa:
Liên Hoa Siêu Hà nói:
Ở nơi họ sống vẫn còn chuyện trọng nam khinh nữ, ông ngoại và bà cố nội vẫn muốn họ sinh một đứa con trai.
Cô ấy chỉ còn cách tới Đài Loan một chuyến, thỉnh cầu Lư Sư Tôn lại ban cho một đứa con trai khỏe mạnh, phúc đức, trí tuệ.
Tôi nghe xong cười lớn ha ha!
Tôi nói:
Được rồi! Lại ban cho cô một bé trai kháu khỉnh! Để cho cô được mãn nguyện.

🌟

Điều cô muốn nói với mọi người là:
"Tu hành cần đến được cảnh giới "Không" mới có thể thỏa mãn được cảnh giới "Có" của chúng sinh.
Bất kì một cái "có" nào cũng đều từ cái "không" mà ra. Là một vị đạo sư tâm linh, ngài là một con người siêu nhiên và vì tình yêu mà cống hiến. Nhờ thành tựu "Không", chính vì đã có được "sức mạnh bí mật vô hạn", ngài đã biến tất cả điều không thể thành điều có thể. Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chính là con người mượn sức mạnh siêu nhiên của Bổn tôn trí huệ, giai đoạn hai hợp thành một, mang theo trái tim yêu thương siêu nhiên đến để phục vụ chúng sinh. Và như thế, vị Hoạt Phật tôn quý đã nhìn thấy cá thể vật chất và khiến cho cô thai nghén một linh hồn cá thể khác."


### 19. Thuyết pháp chẳng biết nói gì


Ngày hôm ấy là pháp hội Hộ Ma Trường Thọ Phật tại Đài Loan Lôi Tạng Tự, ngày 12 tháng 3 năm 2016.
Tôi lên pháp tọa, bắt đầu thuyết pháp.
Đầu tiên tôi nói cần dưỡng sinh ra sao.
Tiếp theo tôi nói dưỡng sinh là có thể trường thọ.
Rồi lại nói về cuộc đời dưỡng sinh, chính là cuộc đời tu hành.
Dưỡng sinh bên ngoài.
Dưỡng sinh bên trong.
(Không tham, không sân, không si, không nộ, không hỷ, không ưu, không sầu, không bi ai, không đố kị, không hận, không thù.)

Tiếp theo, đề tài câu chuyện thay đổi. Tôi nói:
Trường thọ cũng giống như đoản thọ.
(Chỉ cần sống có giá trị là được.)
Bất kể là hoàn cảnh nào, hoặc là cái chết như thế nào đều được, hoặc thậm chí là cái chết bất ngờ.

Tôi còn nói:
Bản thân giống như ở tại hư không, hoặc là hư cấu.
Bản thân không có bất kì mục tiêu nào ư? Cũng không có bất kì mục đích nào ư? Không có tương lai? Không có mong muốn gì ư?
Lại nói:
Bản thân bị bệnh thần kinh sao?
Bản thân điên rồi sao?
Ha ha ha, tôi nói một hồi lung tung cả lên.
(Tôi tự cảm thấy tôi thuyết pháp ngày hôm đó là một buổi trò chuyện chẳng có chút mục tiêu nào, nói năng lung tung rỗng tuếch, thật sự là chẳng hiểu đang nói cái gì.)

Cuối cùng chẳng ngờ tôi lại nói:
Giảng Phật pháp giảng chán rồi!
Không muốn giảng Phật pháp nữa!
Ngay cả đến bản thân tôi muốn tiếp tục sống ra sao cũng không biết nữa, sống tiếp vì cái gì cũng không biết.
Nói xong, tôi rời khỏi pháp tọa.

Bản thân tôi có một cảm giác:
Người thuyết pháp không biết mình đang nói gì.
Người nghe pháp lại càng không biết tôi đang nói gì.
Chẳng hề nhắc đến pháp niệm tụng Trường Thọ Phật phải quán tưởng thế nào, kết thủ ấn ra sao, niệm chú thế nào, nhập tam ma địa ra sao.
Cũng không giảng pháp Đại Viên Mãn.

🌟

Ngày hôm đó.
Là có chuyện gì vậy?
Tôi đáp:
"Không có người thuyết pháp, không có người nghe pháp, cũng không có Phật pháp được thuyết."
Tôi nói:
"Đây là khai ngộ chí cao của bậc Chí Tôn."
Tôi hiểu.
Không biết các đệ tử có hiểu hay không?

Tôi nói:
Vô sở đắc.
Vô sở trụ.
Vô sở vị.
(Không biết các đệ tử có ngộ ra không?)

Xin hãy ngẫm nghĩ về câu nói dưới đây:
Nếu như có người buông bỏ tất cả mọi thứ thế tục để đi theo Lư Sư Tôn, nhưng anh ta chưa hoàn thành cái gì cả, hoặc chưa đạt được cái gì cả, cũng chưa có thành tựu gì cả.

Tôi nói:
Con người này rất hoàn mỹ!
Nếu như có người buông bỏ tất cả mọi thứ thế tục để đi theo Lư Sư Tôn, anh ta xây Lôi Tạng Tự rất lớn, độ hóa rất nhiều chúng sinh, đạt được quả vị lớn, thành tựu đương đối lớn.
Tôi nói:
Vẫn thiếu một chút!


### 20. Mang nghiệp vãng sinh và tiêu nghiệp vãng sinh


Còn nhớ rất lâu trước kia, có hòa thượng của hai phái nổ ra trận bút chiến, pháo nổ đùng đoàng, đôi bên thi nhau trích dẫn kinh điển hoặc kinh nghiệm thực tế.

Một phái nói:
Chỉ cần vào lúc lâm chung nhất tâm bất loạn niệm Phật thì lập tức có thể vãng sinh Tây phương Cực Lạc thế giới Phật quốc.
Phái kia nói:
Không được. Nghiệp chướng chưa tiêu trừ mà đến Tây phương tịnh thổ, tịnh thổ bị ô nhiễm thì có còn là tịnh thổ không?

Một phái nói:
Tây phương Cực Lạc thế giới thuộc về con đường tu hành dễ dàng, nếu phải tiêu nghiệp rồi mới vãng sinh thì có còn xem là con đường tu hành dễ dàng nữa không?
Phái kia nói:
Phật pháp bình đẳng, không có cái gọi là con đường tu hành dễ hay khó. Chúng sinh thấy có con đường tu hành dễ thì còn ai tu con đường tu hành khó nữa?

Một phái nói:
A Di Đà Phật từ bi nhất, vì thế có pháp môn niệm Phật.
Phái kia nói:
Lẽ nào các vị Phật khác không từ bi sao?

Một phái nói:
Tịnh thổ tông không cần tiêu nghiệp, niệm Phật chính là tiêu nghiệp, tịnh tâm thập niệm quyết định vãng sinh.
Phái kia nói:
Nhất định phải:
Trước tiên tu Tu lương đạo.
Tiếp theo tu Gia hành đạo.
Tiếp đến là Kiến đạo.
Tiếp tục tu Gia hành đạo.
Cuối cùng mới là Cứu cánh đạo.
Đây là thứ tự tu hành, không có chuyện một bước lên trời.

Một phái nói:
Trong lịch sử, rất nhiều vị tổ sư các tông phái, cuối cùng đều quay về Tịnh thổ tông, bởi vì Tịnh thổ tông có thể mang nghiệp vãng sinh.
Phái kia nói:
Đến Phật quốc tịnh thổ mà dễ dàng như vậy thì học Phật có giá trị gì để mà nói đây? Đến tịnh thổ mà dễ như đi chợ mua thức ăn như vậy thì còn cần gì tới học viện Phật giáo nữa? Niệm Phật là được rồi!

Một phái nói:
Đến Phật quốc rồi, nghiệp chướng tự tiêu.
Phái kia nói:
Nếu nghiệp chướng có thể tự tiêu, thế thì còn cần gì Phật pháp?

Tóm lại:
Không bên nào chịu nhường bên nào, tranh tới tranh lui, chủ đề chính vẫn là mang nghiệp vãng sinh hay tiêu nghiệp vãng sinh.

Có người hỏi tôi:
"Rốt cục là mang nghiệp vãng sinh là đúng, hay là tiêu nghiệp vãng sinh là đúng?"
Tôi đáp:
"Cả hai đều đúng!"
Người hỏi:
"Mang nghiệp, tiêu nghiệp, hai cái khác nhau, làm sao mà cả hai đều đúng được?"
Tôi đáp:
"Nghiệp chướng quy về nghiệp chướng, vãng sinh quy về vãng sinh."
Người hỏi:
"Nói vậy là sao?"
Tôi đáp:
"Khí trở về với khí, đất trở về với đất."
Người hỏi:
"Đó vẫn không phải tiêu nghiệp sao?"
Tôi đáp:
"Nghiệp chướng giống như cái bóng của con người, là nghiệp gắn liền với thân, nếu thân người không tồn tại thì còn có cái bóng không?"
Người hỏi:
"Không phải là chỉ có nghiệp chướng theo thân sao?"
Tôi đáp:
"Nếu không có con người, làm gì có nghiệp?"
(Câu nói này, xin mọi người hãy nghĩ cẩn thận, có huyền cơ ở trong đó.)
"Huyền cơ trùng trùng, chồng chất huyền cơ!"


### 21. Khuyết điểm đầy mình


Có một người nổi tiếng đã nói:
"Tôi không muốn nhắc đến cái người mang tên Lư Thắng Ngạn."
Người hỏi:
"Vì sao vậy?"
Người nổi tiếng đáp:
"Ông ấy có quá nhiều tai tiếng."
Người hỏi:
"Có tai tiếng gì?"
Người nổi tiếng đáp:
"Anh tự đọc tin tức là biết thôi. Tôi biết ông ấy có vợ, đã xuất gia rồi mà vẫn có vợ, có thể được sao?"
Người nói:
"Phật Thích Ca Mâu Ni xuất gia rồi cũng có vợ đó thôi, cũng có một đứa con trai nữa! Ông nói sao đây?"
Người nổi tiếng nói:
"Ông ấy đeo vàng đội ngọc, không giống người xuất gia!"
Người đáp:
"Đó là những thứ mà đệ tử cúng dường, không phải tự mình mua, ngài ấy không đeo thì đệ tử sẽ trách."
Người nổi tiếng nói:
"Ông ấy thuyết pháp không giống những nhân vật chính giáo."
Người đáp:
"Nhân vật chính giáo thuyết pháp đều khô khốc như ngói, Lư Thắng Ngạn thuyết pháp mới có hương vị đó."
Người nổi tiếng nói:
"Rất nhiều người xuất gia chính phái người nào người nấy không ưa ông ta, nói ông ta là kẻ phụ Phật ngoại đạo."
Người đáp:
"Phụ Phật thì đúng, ngoại đạo cũng là đạo, nội đạo cũng là đạo. Những điều này không thể nào phân định."
Người nổi tiếng nói:
"Ông ấy thuyết pháp còn kể chuyện cười."
Người đáp:
"Ngài ấy nói, đời người vốn dĩ chính là một câu chuyện cười lớn."
Người nổi tiếng nghĩ một lúc rồi nói:
"Ông ấy cởi trần, để lộ hai cái núm."
Người đáp:
"Việc đó là để bác bỏ tin đồn nhảm." (Có người nói thân thể ngài ấy suy nhược, ngài ấy đã cho thấy thân thể tráng kiện.)
Người nổi tiếng nói:
"Ông ấy đánh côn!"
Người đáp:
"Tăng nhân Thiếu Lâm cũng đánh côn!"
Người nổi tiếng nói:
"Ông ấy còn khiêu vũ, hát ca?"
Người đáp:
"Đó là lúc trẻ tuổi. Hoằng Nhất Đại Sư lúc còn trẻ cũng khiêu vũ, hát ca đó!"
Người nổi tiếng nói:
"Ông ấy… ông ấy… ông ấy."
Người đáp:
"Anh chỉ nhìn biểu hiện bên ngoài, còn cái nội tại của ngài ấy thì như hư không rộng lớn vô biên đó! Các đệ tử của ngài ấy ngưỡng mộ trí huệ độc đáo của ngài ấy, ngài ấy chỉ cần đứng ở nơi đó là đã đủ khiến người ta cảm thấy đầy sùng kính rồi!"
Người nổi tiếng nói:
"Ông ta khuyết điểm đầy mình!"
Người đáp:
"Chính vì khắp người đều là khuyết điểm nên đó mới là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Sư Tôn."
"Nhiều khuyết điểm như thế mà làm Sư Tôn ư?" - Người nổi tiếng hỏi.
Người đáp:
"Lấy khuyết điểm độ khuyết điểm, đó đích thực là Sư Tôn!"

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) nói:
Chỉ có người điên mới có thể độ hóa người điên.
Chỉ có uống rượu ăn thịt mới có thể độ hóa uống rượu ăn thịt.
Lấy cái tục mới có thể độ cái tục. Có hiểu không?
(Không vào hang cọp, sao bắt được cọp con?)


### 22. Lại trúng xổ số Power


Tôi nói:
Sau pháp hội Tài Thần lần này, tôi thấy trên trời giáng xuống rất nhiều tờ tiền giấy mệnh giá lớn, phủ kín cả Lôi Tạng Tự.
Tôi nói:
Các đệ tử! Sẽ có người trúng xổ số Power, lotto, giải nhất, giải đặc biệt đó.
Tôi nói:
Người trúng giải lớn không cần phải nói ra đâu, bí mật nói với Lư Sư Tôn là được rồi.
Tôi nói:
Ở Mỹ, Liên Hoa Thoa Mạch trúng giải nhất lotto, nói ra xong, tài sản lộ ra hết, vì thế, họ thường giấu kín việc này.
Sau này, người trúng giải lớn, đừng có nói ra.
Ở Mỹ cũng có một người trúng giải nhất lotto, là 160 triệu đô la, người ấy bí mật nói cho tôi biết.
Ở Đài Loan, giải nhất xổ số Power là 3 tỉ Đài tệ, là đệ tử Chân Phật Tông trúng. Người này len lén đưa cho tôi một hồng bao rồi bỏ chạy. Trên hồng bao viết: "Con trúng số rồi!"
Ngoài ra:
Những người trúng giải nhì, và những giải nhỏ thì nhiều không đếm xuể!

🌟

Giải xổ số tại Singapore, có một người không phải là đệ tử ở Singapore, mà là người ở một đất nước láng giềng, nhưng đặc biệt mua xổ số Singapore.
Người này đã trúng giải nhất. Lần này có hai người trúng giải nhất, một người trong số đó là đệ tử Chân Phật Tông, người này đã trúng 200 triệu Đài tệ.
Trong một bữa tiệc tối, có một người phụ nữ hay là một cô gái gì đó tóc dài dài, khuôn mặt thanh tú đưa cho tôi ba chiếc hồng bao. Cô ấy nói:
"Đây là để cảm ơn Sư Tôn, con thay mặt gửi tặng."
Là chính cô ấy trúng?
Hay đúng là thay mặt?
Tôi không suy đoán.
Nhưng, chính xác là trúng giải nhất xổ số.

Ngoài ra, Malaysia cũng có đệ tử trúng giải nhất xổ số, nghe nói con số giải thưởng cũng tương đối khiến người ta sửng sốt.
Trong bản văn này, tôi không muốn tiết lộ tên họ, đất nước của người trúng giải để bảo vệ thông tin.
Người hỏi:
"Vì sao Lư Sư Tôn nói trúng là trúng?"
Tôi đáp:
"Tôi thấy tiền từ trên trời rơi xuống!"
Người hỏi:
"Vào thời điểm xuân mới, họ chọn ngày Thành nhật, 7 giờ sáng, đi ra khỏi cửa, hướng về phía nam bước 8 bước, nói "Thần Tài đến nhà tôi" phải không?"
Tôi đáp:
"Đúng vậy."

🌟

Tôi nói:
Tôi có pháp Tài Thần.
Có pháp kính ái.
Có pháp tiêu tai.
Có pháp chữa bệnh.
Có pháp trường thọ.
...

Những cái này đều là để "Tiên dĩ dục câu chi, tái lệnh nhập Phật đạo" [trước tiên lôi kéo bằng sự ham muốn, sau đó từ từ đưa vào Phật đạo].
Phật pháp nếu không có pháp phương tiện thì cũng sẽ không có pháp cứu cánh!
Đương nhiên, đối với người quá bám chấp vào tài lợi, địa vị, sắc đẹp, người quá theo đuổi những thứ cảm giác và giàu có, thì cần ban cho cảm ứng. Sau đó, chúng ta sẽ chỉ bảo cho họ rằng tất cả đều là vô sở đắc!
Hiểu được vô sở đắc rồi, tâm linh sẽ được nâng cao!


### 23. Thăm đệ tử già


Khoảng mấy năm trước, tôi đi Chương Hóa để thăm hai đệ tử cũ ở Chương Hóa.
Một người là Hoàng Triều Sơ, biệt hiệu là "Mở nút chai", đọc theo âm tiếng Nhật là Doraiba.
Ông ấy lớn hơn tôi 10 tuổi!

Đệ tử này là hội viên của Rotary Club. Năm 1980 Rotary Club mở đại hội toàn thế giới tại Chicago Mỹ, Hoàng Triều Sơ và tôi đã đến buổi đại hội đó. Sau đó, chúng tôi ở Upstate New York đi thăm Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16. Đó là việc của hơn 30 năm trước!

Khi tôi gặp lại Hoàng Triều Sơ, ông ấy hiền như khúc gỗ, nét mặt không có biểu hiện gì. Tôi nói:
"Ông không nhận ra tôi à?"
Ông ấy lẩm bẩm nói:
"Ông là ai?"
Tôi nói:
"Tôi là Lư Sư Tôn, ông còn nhớ chúng ta cùng đi Mỹ, đi thăm Đại Bảo Pháp Vương, nhận quán đảnh, ông còn nhớ không?"
(Năm xưa, đệ tử già này gọi tôi là thầy.)
Nét mặt ông ấy có một chút xao động.
"Thầy, thầy, thầy ơi! Thầy là thầy Lư!"

Miệng ông ấy lẩm bẩm, dường như ông ấy có một chút ký ức.
Tôi gia trì cho Hoàng Triều Sơ!
Khi tôi tạm biệt ông, ông ấy đuổi theo ra tận đầu ngõ, miệng vẫn nói:
"Thầy! Thầy! Thầy ơi!"
Hai mắt đẫm lệ, nước mắt long lanh!
Tôi cũng khóc, nước mắt thấm ướt vạt áo.
Tôi nghĩ:
"Già rồi! Nhất định sẽ như thế này sao?"

🌟

Tôi đến gặp Trương Thố, đệ tử này là Trương Văn Thụy bố của Trương Diệu Nhân.
Ông ấy ngồi trên xe lăn.
Vào những năm cuối đời, Trương Văn Thụy bị trúng phong, đi lại bất tiện, tóc đã bạc, mặt đã biến dạng, tay chân còng queo.
Nhưng trí nhớ của ông ấy cũng còn tốt.
Ông ấy hét lên:
"Thầy Lư đến, mau mau mời khách, chuẩn bị bàn!"
Ông ấy hét một hồi, mọi người xung quanh đều bất động. Ông ấy tức đến nỗi mặt đỏ bừng.
"Sao mọi người đứng im hết vậy?"
Tôi nói:
"Tôi đã ăn rồi mới đến đây!"
Trương Văn Thụy lại hét lớn:
"Phải mời thầy Lư ngồi, mời thầy Lư uống nước."
Mọi người xung quanh vẫn bất động.
Tôi nói:
"Tôi chỉ đến thăm ông thôi, một lúc rồi tôi đi ngay."
Tôi gia trì cho Trương Văn Thụy!
Tôi nghĩ:
"Già rồi! Nhất định phải ngồi xe lăn sao?"

🌟

Tôi vẫn luôn nghĩ về một vấn đề:
Người già mất trí nhớ, còn có thể nhớ được sự giáo hóa của Phật Đà không? Người mất trí nhớ, còn có thể thực tu Phật pháp không?
Quán tưởng.
Trì chú.
Thủ ấn.
Hoàng Triều Sơ, Trương Văn Thụy còn có thể trì chú niệm Phật không?
Tôi gia trì cho họ có được "yoga bình yên"!


### 24. Bản tin "Cái nhìn thật về Đài Loan"


Đài Truyền hình Trung Thiên có một tiết mục phỏng vấn, tiết mục đó là "Cái nhìn thật về Đài Loan".
Họ phỏng vấn tôi.
Vào ngày 20 tháng 3 năm 2016.

Hỏi:
Xin Lư Sư Tôn chia sẻ về động cơ sáng tác, là vì hứng thú sao?
Đáp:
Thời tôi học tiểu học, có cuốn nguyệt san Bạn Học kêu gọi những mẩu truyện cười, thế là tôi liền hưởng ứng, kết quả được đăng báo. Nhà trường đăng những bản thảo được đăng báo lên bản tin của trường, ai ai cũng liếc đọc. Ha ha! Hứng thú của tôi bắt đầu từ đó.

Hỏi:
Xin Lư Sư Tôn chia sẻ vì sao vào năm 31 tuổi đã xuất bản 5 cuốn sách tâm linh, tạo nên một bước ngoặt thay đổi cả cuộc đời?
Đáp:
Tôi gặp người phụ nữ mặc áo xanh tại Ngọc Hoàng Cung, tôi đã rất chân thực viết ra cuốn "Mạn đàm linh cơ thần toán", kết quả là đã gây xôn xao. Lúc này tôi đã chuyên tâm đi trên con đường tâm linh không quay trở lại rồi.

Hỏi:
Xin Lư Sư Tôn chia sẻ sứ mệnh sáng tác ra sao? Là vì hoằng pháp sao?
Đáp:
Tôi không có vĩ đại như vậy, ban đầu tôi viết sách là vì danh vì lợi, vì một chút tiếng tăm và tiền nhuận bút. Về sau, tôi nhận ra mình có thiên mệnh, nên điều này đã trở thành sứ mệnh. Từ đó tôi viết sách chính là để hoằng pháp, hoằng pháp chính là viết sách, một thời gian sau thì tôi trở thành một vị thầy tôn giáo, gánh vác sự nghiệp cứu độ chúng sinh.

Hỏi:
Xin Lư Sư Tôn giới thiệu, đối mặt với đông đảo chúng sinh với những tư chất khác nhau, làm sao có thể dùng văn chương để độ chúng sinh? Làm sao khiến dân chúng dễ đọc, dễ hiểu, và trong lòng sinh ra sự cảnh giác?
Đáp:
Viết sách phân làm nhiều loại:
Dùng những câu chuyện thần thông để hấp dẫn những người sơ cơ.
Dùng lý niệm triết học để hấp dẫn những người trung căn.
Dùng trí huệ Như Lai để hấp dẫn những người thượng căn.
"Tiên dĩ dục câu chi, tái lệnh nhập Phật đạo."
Cuối cùng là:
Người người thành Phật!

Hỏi:
Xin Lư Sư Tôn chia sẻ triết lý tinh thần viết sách tâm linh như thế nào?
Đáp:
Tôi đi đến bước này đã không còn là một Lư Thắng Ngạn bình thường rồi. Tôi đã có được sự khai ngộ tôn quý nhất, đây là kết quả của việc thực tu của bản thân, lý - sự hợp nhất. Tôi sống một ngày tu hành một ngày, sống một ngày viết sách một ngày, sống một ngày vui vẻ một ngày, sống một ngày cảm ơn một ngày. Triết lý tinh thần của tôi chính là đem những thành quả của tôi ban cho những người hữu duyên.

Hỏi:
Xin Lư Sư Tôn Hoạt Phật chia sẻ khoảng thời gian 50 năm qua, nghị lực viết tới 253 cuốn văn tập, động lực đến từ đâu?
Đáp:
Sứ mệnh!
Trách nhiệm!
Nghĩa vụ!
Từ bi!
Bồ đề!

Hỏi:
Xin Lư Sư Tôn chia sẻ linh cảm sáng tác đến từ đâu?
Đáp:
Giữa trời đất tự có linh cảm, trong linh cảm cũng có trời đất. Từ tâm tuôn chảy, từ trong hiện thực mà có được, không có một việc nào, không có một vật nào không là linh cảm.

🌟

Tôi nói:
Khai ngộ chí cao chí tôn của tôi là, tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) căn bản không từng viết một cuốn sách nào.
(Nghĩ đi, nghĩ đi, hiểu đi, hiểu đi.)


### 25. Sách. Cà phê. Món ăn nhẹ


Quán Duyệt Hương ở Đài Bắc đã khai trương rồi!
Trên tường trưng bày đầy những sách của tôi, sách được phân loại theo chủ đề linh dị, nhân quả, luân hồi, bát nhã, du lịch, tu pháp,… đó là về mặt tâm linh.
Quán Duyệt Hương bán cà phê.

Tôi đã đọc một câu chuyện cười:
Có hai thiên thần giáng xuống nhân gian.
Họ ăn uống chơi bời tại nhân gian.
Kết quả là không bay lên được, không có cách nào trở về thiên giới!
Họ đã đến gặp Thiên Thượng Thánh Mẫu, kể rõ cảnh khổ.
Thiên Thượng Thánh Mẫu mời hai thiên thần uống hai ly đồ uống màu đen, uống xong là có thể bay được.
Thiên thần hỏi Thiên Thượng Thánh Mẫu đó là cái gì. Thiên Thượng Thánh Mẫu nói:
Đây là cà phê, bởi vì:
"Cà phê có thể làm tinh thần bay bổng!"
Ha ha ha!
Quán này còn bán đồ ăn nhẹ, có nghĩa là những món ăn đơn giản, do hai tiến sĩ dinh dưỡng trẻ tuổi làm ra những món ăn nhẹ tốt cho sức khỏe.

Quán Duyệt Hương đã kết hợp:
Sách.
Cà phê.
Đồ ăn nhẹ.
Để thân thể khỏe mạnh, tâm linh phong phú.

🌟

Từ "sách - cà phê - món ăn nhẹ", tôi liên tưởng đến "sao băng - bươm bướm - kiếm".
Lại liên tưởng đến:
"Hoa cúc" và "kiếm".
Lại liên tưởng đến:
"Ngôi sao - mặt trăng - mặt trời".

Những tổ hợp này là:
Thơ.
Tản văn.
Tiểu thuyết.
(Sách tôi viết có thơ, tản văn, tiểu thuyết, tạp văn, văn học, phi văn học, tôn giáo, phi tôn giáo.)

Đều là:
Thiên mã bay trên không.
Không phải người, không phải không phải người.
Trên trời.
Dưới đất.
Dương gian.
Âm gian.

Cầu mong:
Sức mạnh tỏa ra từ quán Duyệt Hương có thể khiến những dòng người liên tục kéo đến hiểu được cách thưởng thức và phẩm vị, phù hộ cho tất cả mọi người được thân tâm khỏe mạnh, tâm linh phong phú.

Tôi hỏi Thượng sư Liên Duyệt:
"Nếu việc kinh doanh này…"
Thượng sư Liên Duyệt nói:
"Đây hoàn toàn là một dạng cúng dường, toàn bộ quán này đều là cúng dường, cuộc đời là cúng dường, cúng dường Phật Bồ Tát chư Tôn, cúng dường Sư Tôn, cúng dường Hộ pháp, vĩnh viễn dài lâu…"

🌟

Tôi nói:
Tinh thần của Duyệt Hương là sự thành kính đối với một vị Thượng sư tôn quý.
Là nội thánh hóa thành ngoại thánh.
Là một dạng thuần nguyên.
Một con đường bằng phẳng không chướng ngại.
Giản đơn mộc mạc.
Lan truyền rộng rãi.

Tại đây tôi muốn nói với mọi người:
Sức mạnh của mỗi cuốn sách chính là muốn dạy con người thấy ánh sáng bình minh của sinh mệnh.
Bằng không, đời người chỉ như một màn đêm u tối!


### 26. Ca ngợi thánh tượng chư Phật Bồ Tát


Tôi đọc một cuốn sách tên là "Ca ngợi Thánh tượng chư Phật Bồ Tát", bên trong có mấy lời tán thán có ý nghĩa sâu sắc, có ý chỉ sâu xa, có nội hàm, tôi liệt kê như sau:

Long Thụ Bồ Tát:
"Long Thụ xưng danh tôn quý
Trời người vạn tượng quy y
Đoan trang đài sen lặng lẽ
Tâm tâm đại phát từ bi."

Bài tán thán này có hai trọng điểm: lặng lẽ, tâm tâm.
Vì sao lặng lẽ?
Vì sao tâm tâm?

🌟

Vô Trước Bồ Tát:
"Vốn là Tây phương Đại Giác
Huệ căn siêu thoát lục trần
Nhìn thấu ngũ trọc đều không
Tổ sư Nhất Hào Vô Trước."

Tôi hỏi:
Thế nào là Đại Giác?
Thế nào là Nhất Hào?
[Nhất Hào Vô Trước - không bám chấp dù chỉ một sợi tóc.]

🌟

Liên Hoa Diệu Vũ Tự Tại Quan Âm:
"Ma quân trong gương hàng phục
Tác hành Phật sự trong mơ
Liên Hoa Diệu Vũ ngợi ca
Tự Tại Quan Âm Đại Sĩ."

Tôi hỏi:
Trong gương là cái gì?
Trong mơ là cái gì?

🌟

Bí Mật Mã Đầu Kim Cang
"Đầu ngựa kim cang làm mũ
Vì ý như ngựa trong chuồng
Lục uẩn đều không ai hiểu
Quanh quẩn trong thùng sơn đen."

Tôi hỏi:
Ai hiểu?
Thùng sơn đen là cái gì?

🌟

Đại Luân Thủ Trì Kim Cang:
"Hàng phục ác ma rắn độc
Khen ngợi kim cang uy thần
Hộ Pháp Vương chuyển đại luân
Độ chúng sinh đức vô cùng."

Tôi hỏi:
Kim Cang nào?
Pháp Vương nào?

🌟

Du Già Hư Không Phật:
"Kim thân huyễn hóa hiển tượng
Phật tôi sao mà từ bi
Nếu hiểu mùi vị trong đó
Sao phải tĩnh lặng nghĩ suy."

Tôi hỏi:
Thế nào là trong đó?
Thế nào là mùi vị?

🌟

Tôi nói:
Trong những bài kệ tán thán này, rất nhiều cái là ý vị sâu xa, có cái là đại lôi âm, có cái là đại quang minh, có cái là đại pháp vị, có cái là vô ảnh, có cái là vô tung, có cái là đại huyễn, có cái là đại Không.
Ai hiểu được? Nói thử xem.


### 27. Người nào hiểu pháp âm dương?


Tôi ngồi trên pháp tọa, bỗng ngâm một bài kệ:
"Cửu Thiên Huyền Nữ Hoàng Thạch Công
Âm dương chỉ tại chuyển chuyển thông.
Có ai hiểu được âm dương pháp.
Lo chi đại địa bất tương phùng."
(Bài kệ này là tôi viết ngắn gọn lại.)

Bài kệ này nói rằng:
"Nếu có người hiểu được pháp âm dương thì người đó nhất định có thể tìm được đại địa lý."
Đại địa lý này cũng tức là "phong thủy bảo huyệt".

Vậy pháp âm dương là cái gì?
Tôi nói:
Giữa trời đất này đều là pháp âm dương.
Ví dụ như:
Trời chính là dương, đất chính là âm.
Núi chính là dương, biển chính là âm. (sông)
Nam chính là dương, nữ chính là âm.
Ban ngày là dương, ban đêm là âm.
Lồi ra là dương, lõm vào là âm.
Lửa chính là dương, nước chính là âm.
Động chính là dương, tĩnh chính là âm.
...

Tôi nói: Người phát hiện ra pháp âm dương sớm nhất có lẽ là Phục Hy, ông ấy đã vẽ ra bát quái.
"-" chính là dương.
"--" chính là âm.

Sau đó là Văn Vương, tiếp nữa là Chu Công, rồi đến Khổng Tử, Quỷ Cốc Tiên Sinh,… (Dịch học gia)
Vì sao trong bài kệ nhắc đến Cửu Thiên Huyền Nữ Hoàng Thạch Công, tôi cho rằng:
Cửu Thiên Huyền Nữ tượng trưng cho âm.
Hoàng Thạch Công tượng trưng cho dương.
(Hai vị đều là âm dương đại gia.)

Môn học về âm dương rất rộng lớn, đến thời đại điện tử ngày nay vẫn là điện chính - phụ, điện âm - dương.
Vô cực sinh thái cực, thái cực phân lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tam tài, tam tài biến tứ chính, tứ chính biến ngũ hành, ngũ hành biến lục độ, lục độ biến thất kì, thất kì hóa bát quái, bát quái phân cửu cung, cửu cung sinh thập toàn.
Truyền bá nhân gian là:
Luân hồi.
Tu hành phản hư là:
Vô cực.

🌟

Có người viết bài kệ này thành:
"Cửu Thiên Huyễn Nữ Hoàng Thạch Công
Âm dương chỉ tại chuyển chuyển thông.
Có ai hiểu được âm dương pháp.
Lo chi mỹ nữ bất tương phùng."
Ha ha ha!
Tôi ngẫm nghĩ một hồi, trong đó đương nhiên cũng có đạo lý.

Pháp song thân.
Thuật phòng trung.
Phái tính lực.
Là nói về thái cực, khi âm dương điều hợp đến lúc cân bằng nhất thì chính là thái cực.
Âm dương điều hòa, hợp nhất, dung hợp, thì sẽ trở về vô cực.
Pháp này bị coi là "dâm ô".
Vì thế mà "bí mật".
(Bản thân nhân loại cũng vẫn luôn mơ hồ không biết rõ về vị trí vốn có thật sự của mình.)
Làm chuyện dâm ô, lại đi phê phán dâm ô, tại sao không chuyển dâm ô thành thanh tịnh?

🌟

Tôi nói:
Bạn hiểu được pháp âm dương, biết được sinh tức là dương, tử chính là âm, sau đó kết thúc sinh tử chính là giải thoát khỏi sinh tử luân hồi. Bạn lúc này sẽ không còn ở trong âm dương nữa, bạn đã xuyên qua khu rừng rậm của âm dương rồi, đạt đến sự khai ngộ giải thoát chí tôn, bạn không còn là dương, cũng không phải là âm nữa.


### 28. Ai có thể tỉnh ngộ?


Cuốn sách "Khai ngộ của bậc Chí Tôn" này, ban đầu tôi đặt tên là "Ai có thể tỉnh ngộ?".
Vì sao là "Ai có thể tỉnh ngộ?"?
Xin chú ý:
Chữ "ai" này có rất nhiều ý nghĩa sâu xa, anh là ai? Anh là ai? Nếu hiểu rõ anh là ai rồi thì nghĩa là khai ngộ rồi đó!
"Có thể ngộ" nghĩa là ai có thể hiểu được? Ai có thể hiểu? Đây lại là một câu hỏi tốn công phỏng đoán.

🌟

Trong bài kệ ca ngợi Phật Hải Quan Thế Âm có nói:
"Thế âm không dùng tai để nghe.
Phật Hải Quan Âm là kiệt xuất.
Kim thân trang nghiêm thật khác thường.
Ngộ được điều ấy là ai đây."

Xin chú ý:
Âm thanh thế gian không dùng tai để mà nghe, không dùng tai nghe, vậy dùng cái gì để nghe?
Ai có thể hiểu được?

Còn nữa:
Trong bài kệ ca ngợi Thượng Lạc Vương Phật có nói:
"Cực Lạc xưa nay vô thượng.
Thượng Lạc là hình trạng gì.
Ngộ được Thượng Lạc chân hình.
Đích thị Thượng Lạc bản tướng."

Ở đây tôi hỏi thử mọi người, Thượng Lạc có hình trạng thế nào? Câu này là quan trọng nhất.
Hai chữ Cực Lạc, ai có thể hiểu được?

Còn nữa:
Trong bài kệ ca ngợi Bạch Thượng Lạc Vương Phật có nói:
"Anh là tôi, tôi là anh.
Ma tức Phật, Phật tức ma.
Thượng Lạc Vương cùng hòa hợp.
Thật thú vị anh biết chăng."

Cá nhân tôi cho rằng bài kệ này vô cùng quan trọng.
Tôi - anh hòa hợp.
Phật - ma hòa hợp.
Đây cũng là nhất vị!
Điều thú vị này, bạn biết được cái gì? Thấu triệt điều này, chân tri chân kiến, mới là ngộ đó.

Còn nữa:
Trong bài kệ ca ngợi Uy La Ngõa Kim Cang có nói: [tức Đại Uy Đức Kim Cang Yamantaka]
"Nhiều chân nhiều tay nhiều đầu.
Huyễn tượng trang nghiêm biết chăng.
Quả vị kim cang tuyệt diệu.
Muôn đời tên ấy lưu truyền."

Nói để mọi người biết:
Huyễn tượng, biết chăng?
Nếu biết là huyễn tượng thì đã gần tới khai ngộ rồi đó!

Còn nữa:
Trong bài kệ ca ngợi Đại Huyễn Kim Cang có nói:
"Kim Cang tên gọi Đại Huyễn.
Kim thân vững chãi chói lòa.
Phải biết pháp độ hữu duyên.
Đúng thật siêu chứng bỉ ngạn."

Tôi nói:
Từ huyễn tượng đến đại huyễn, cái này càng rõ ràng hơn, cực kì sáng tỏ rồi.
Hà tất phải bám chấp!
Chấp vào huyễn sẽ nhập vào huyễn, biết là huyễn mà rời xa huyễn, thì càng ngày càng gần với khai ngộ rồi.

Tại đây tôi nói với mọi người, thế gian này thiên biến vạn hóa, vốn dĩ là như nhau cả.
Không phân biệt anh - tôi - người khác.
Ai có thể hiểu được vô sinh!


### 29. Có bác sĩ Khâu


Một hôm, bác sĩ Khâu nói với tôi rằng, ông ấy rất thích mấy câu nói của tôi:
Sống một ngày, vui vẻ một ngày.
Sống một ngày, cảm ơn một ngày.
Sống một ngày, tu hành một ngày.

Còn nữa:
Làm tốt mỗi "tiểu sự" chính là làm đại sự đó!
Bác sĩ Khâu trước kia tu Hiển giáo, sau này quy y tôi xong thì đổi sang tu Mật giáo. Đàn thành từ Hiển chuyển thành Mật.

🌟

Bác sĩ Khâu thích làm việc thiện, rộng rãi kết thiện duyên, đồng thời y thuật cao minh nhưng thu phí rất phải chăng.
Đối với tăng nhân thì đặc biệt ưu đãi.
Rất nhiều tăng lữ đã đến chỗ ông ấy để khám bệnh.
Ông ấy thích tăng lữ.
Tăng lữ thích ông ấy.
Những tăng lữ ấy đại bộ phận là tu Hiển giáo.

Về sau đàn thành thay đổi. Đàn thành của bác sĩ Khâu đổi thành đàn thành Mật giáo. Có tăng nhân nói:
"Bác sĩ Khâu, ông tin ma rồi!"
Còn nói:
"Đàn thành đó chính là ma đó!"
Tăng nhân không dám đến, rất nhiều tăng nhân bỏ đi, bác sĩ Khâu kể cho tôi sự việc này.

🌟

Tôi nói với bác sĩ Khâu:
"Tín quy tín, bệnh quy bệnh."
Tôi lấy ví dụ:
Nếu có một tăng lữ mắc bệnh, phải phẫu thuật, mà người phẫu thuật là một bác sĩ theo Thiên Chúa giáo, thì tăng lữ kia có muốn phẫu thuật không?
Tôi lại nói:
Rất nhiều bệnh viện là do Thiên Chúa giáo mở ra, có một số bệnh viện là bệnh viện Cơ Đốc giáo, đương nhiên cũng có bệnh viện Phật giáo.
Tôi nói:
Bệnh là bệnh.
Tín ngưỡng là tín ngưỡng.
Bác sĩ nào tốt thì đi khám ở bác sĩ đó, không cần thiết phải đi lựa chọn bệnh viện nào đúng với tín ngưỡng của mình.

Hơn nữa:
Bệnh viện lấy danh nghĩa của ngài Ma Tổ, người tin theo Cơ Đốc, Thiên Chúa, Hồi giáo… đều thăm khám như nhau. Làm gì có sự phân biệt.

🌟

Phật giáo tam chuyển pháp luân có Tiểu thừa, Đại thừa, Kim cương thừa (Mật thừa), có tính địa phương.
Khu vực Đông Nam Á, Tiểu thừa đông.
Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đại thừa đông.
Tây Tạng, Kim cương thừa đông.
Cá nhân tôi thích giới luật của Tiểu thừa, các tông của Đại thừa, giáo pháp tu trì của Kim cương thừa.
Tam thừa là nhất thừa.
Hợp lại mà tu hành.
Mật giáo cũng không phải là ma giáo, từ tam nghiệp chuyển thành tam mật, chủ trương tu hành thân, khẩu, ý thanh tịnh, sao phải bài trừ?

🌟

Khai ngộ chí tôn là:
Là một hành giả, phải vứt bỏ tất cả bám chấp, không tự mình bó buộc vào một thừa nào đó của tam thừa, như thế tâm của hành giả ấy đã được giải thoát rồi, người đó chính là một bậc trí giả ổn định.
Tôi thậm chí không xem thường bất kì một tôn giáo nào.
Tôi cho rằng:
Tất cả đều nằm trong tấm gương tròn lớn!


### 30. Sinh và tử của linh hồn


Giai đoạn đầu, trong sách mà tôi viết từng nói:
"Linh hồn là vĩnh hằng bất diệt."
Giai đoạn sau, trong sách mà tôi viết lại nói:
"Thể xác và linh hồn đều diệt."
Vì thế, cư sĩ Trần Nhân Hòa đặt ra nghi vấn:
"Rốt cục linh hồn diệt hay bất diệt? Không phải là vĩnh hằng bất diệt sao? Như thế chẳng lẽ không phải là mâu thuẫn sao?"
Câu trả lời của tôi là:
"Không hề mâu thuẫn."

🌟

Tôi nói:
"Con người có sinh tử không?"
Đáp:
"Có."
(Con người từ khi sinh ra sẽ phải trải qua sinh, lão, bệnh, tử. Đây là điều chắc chắn, vì thế, có sinh tất có tử.)
Tôi lại nói:
"Con người có sinh tử không?"
Đáp:
"Không."
"Như thế chẳng phải là mâu thuẫn sao?" - Tôi nói.
Đáp:
"Sinh là khởi đầu của tử, tử lại là khởi đầu của sinh, sinh sinh tử tử, tử tử sinh sinh, luân hồi không ngừng, chỉ là đổi sang một căn nhà mới mà thôi, hình hài con người chính là ngôi nhà."

🌟

Tôi nói:
"Linh hồn là khí còn dư lại sau khi chết, Phật giáo gọi là trung ấm, linh hồn có sinh tử không?"
Đáp:
"Có."
"Con người chết đi sẽ tạo ra trung ấm, tức là sinh ra, cho đến khi trung ấm tiến nhập vào trong một thể xác hữu hình, thì tức là thể xác và linh hồn hợp nhất, điều này cũng là cái chết của trung ấm, do vậy, linh hồn có sinh tử."
Tôi lại nói:
"Linh hồn có sinh tử không?"
Đáp:
"Không sinh tử, linh hồn là vĩnh viễn bất diệt."
"Như thế chẳng phải là mâu thuẫn sao?"
Đáp:
"Linh hồn vĩnh viễn cứ mãi lục đạo luân hồi như thế, mãi hoán chuyển như thế, thậm chí tất cả hiện tượng biến tới biến lui. Tại tứ Thánh giới cũng là cái linh này, tại địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, cũng là cái linh này."
Hỏi:
"Vậy thế nào là thể xác và linh hồn đều diệt?"
Đáp:
"Giữa có và không." (Là hiện tượng nhất thời.)
(Thể xác và linh hồn đều diệt là không, thể xác và linh hồn lại hiện là có. Linh hồn như mây, ở chỗ này không có, ở chỗ kia lại có, ở chỗ kia không có, ở chỗ này lại có.)
Hỏi:
"Điều này thật quá bất khả tư nghì!"
Đáp:
"Nghiệp lực là bất khả tư nghì!"
Hỏi:
"Nghiệp lực là có hay là không?"
Đáp:
"Giữa có và không."
Hỏi:
"Rất nhiều việc rất mâu thuẫn với nhau, khiến người ta không hiểu rõ được, càng nghĩ càng thấy hồ đồ."

Tôi nói:
Không cần phải nghĩ.
Trong kinh Phật có liễu nghĩa, có bất liễu nghĩa, có chân đế, có phương tiện, cái này không mâu thuẫn. Khai ngộ chí tôn là vô sinh và vô tử, thể xác hay linh hồn đều như thế.


### 31. Pháp Bạch Y Đại Sĩ như ý bảo châu


Ở đây, tôi nói với tất cả các hành giả Mật giáo, thứ tự tu hành Mật giáo nhất thiết phải đi lên từng bước từng bước một.
Nói một cách đơn giản là, từ nông đến sâu, từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao, cuối cùng đạt đến thành tựu cao nhất.

Thứ tự đơn giản như sau:
Tứ gia hành pháp.
Thượng sư tương ứng pháp.
Bổn tôn pháp.
Kim cang pháp.
Vô thượng mật.
Đại viên mãn pháp.

Còn có phân loại:
Ngoại pháp.
Nội pháp.
Mật pháp.
Mật mật pháp.

Trong Tứ bộ pháp thì phân ra:
Sự bộ.
Hành bộ.
Du già bộ.
Vô thượng bộ.

🌟

Cá nhân tôi cảm thấy pháp Bổn tôn là một mấu chốt quan trọng, tu pháp tu đến khi tương ứng với Bổn tôn rồi, Bổn tôn thường xuyên ở bên cạnh, thậm chí Bổn tôn là bạn, bạn là Bổn tôn, lúc này lại tu những pháp khác thì cũng có thể lần lượt tương ứng.
Bởi vậy mới nói, một chính là nhiều, nhiều chính là một.

Rất lâu trước kia, tôi trì một câu chú:
"Tan-chi-tô, ôm, ka-la-fat-tô, ka-la-fat-tô, ka-huô-fat-tô, la-ka-fat-tô, la-ka fa-tô, sô-ha.” [Tadyatha om garavatha garavatha gahavatha ragavatha ragavatha svaha.]
(Câu chú của Bạch Y Đại Sĩ.)
Nếu thêm vào:
"Chia-chự chia-chự chia-chự."
Thì sẽ trở thành:
”Tan-chi-tô, ôm, ka-la-fat-tô, ka-la-fat-tô, ka-huô-fat-tô, la-ka-fat-tô, la-ka fa-tô, ôm, chia-chự chia-chự chia-chự sô-ha.”
(Đây chính là câu chú Bạch Y Đại Sĩ như ý bảo châu.)

Về mặt quán tưởng:
Bạch Y Đại Sĩ tay phải cầm bảo châu, tay trái kết ấn ban nguyện.
Hoặc:
Bạch Y Đại Sĩ ngồi trên tòa hoa sen, hai tay nâng bảo châu.

Khẩu quyết quán tưởng:
Hành giả ngồi trước Bạch Y Đại Sĩ, quán tưởng mọi vẻ trang nghiêm của Bạch Y Đại Sĩ, hai tay nâng bảo châu.
Hành giả kết ấn nâng bảo châu, tức là ấn hai tay kết thành hoa sen nở.
Dùng tâm lực khiến cho bảo châu của Bạch Y Đại Sĩ tỏa ra ánh sáng vàng chiếu đến ấn hoa sen của bản thân hành giả. Lúc này chính hành giả tay nâng bảo châu.
Sau đó:
Trì chú Bạch Y Đại Sĩ như ý bảo châu. (cố gắng tụng nhiều)

🌟

Nhập Tam ma địa.
Khi xuất định thì tụng bài tán thán:
"Bạch Y Đại Sĩ người tán dương.
Nghe tiếng cứu khổ giúp thiện lương.
Mật pháp như ý xảo diệu nhất.
Trang nghiêm thần uy khắp đàn tràng."

🌟

Tôi nói:
Pháp này dễ tu hành, cũng dễ tương ứng, tu luyện lâu ngày sẽ được Bồ Tát gia trì sâu, phóng ánh sáng trắng và vàng, có thể thay đổi vận mệnh của bản thân, từ nghèo thành giàu, từ hèn thành sang, công danh phú quý đều xuất hiện.
Nếu gặp đại hạn thì có thể vãng sinh Phật quốc tịnh thổ.
Tôi dùng pháp nhãn của tôi để quan sát:
"Nhất tâm chính là khẩu quyết!"


### 32. Đón nhận hư không cảnh


Người hỏi:
"Lư Sư Tôn, rốt cục ngài ngộ được cái gì?"
Tôi đáp:
"Không có."
Người hỏi:
"Cái gì là không có?"
Tôi đáp:
"Hư không cảnh."
Người hỏi:
"Có thể giải thích cụ thể được không?"
Tôi đáp:
"Thực sự không có cụ thể."
Người hỏi:
"Xin lấy ví dụ được không?"
Tôi đáp:
"Khi kinh, luật, luận của Phật giáo, bất kì câu từ nào cũng không còn làm tâm bạn hỗn loạn nữa. Khi bạn ổn định trong trạng thái quang minh tự ngã thì bạn sẽ lĩnh ngộ được hư không cảnh."
Người hỏi:
"Trong tự ngã quang minh có biểu hiện gì? Ngôn ngữ gì? Hành vi gì? Cử chỉ gì?"
Tôi đáp:
"Nói ngắn gọn là tự tại và nhậm vận."
Người hỏi:
"Thế nào là tự tại?"
Tôi đáp:
"Tự tại đến từ siêu nhiên, không phải là lắc lư bất định, mà là ở vào tình huống nào cũng không chịu ảnh hưởng của bất kì hoàn cảnh nào."
Người hỏi:
"Thế nào là nhậm vận?"
Tôi đáp:
"Hoàn toàn không trói buộc vào cảm quan của bản thân, không chế ngự cảm quan của bản thân, chỉ là ở trong cảm quan đó, bạn vẫn sáng ngời, vẫn là Thánh giả trí huệ ổn định."
Người hỏi:
"Trả lời như vậy, chúng tôi cũng nửa hiểu nửa không."
Tôi đáp:
"Ăn có mỹ vị, sắc có tính dục, tiền có dục vọng, danh vị cũng thế, nhưng bạn không mê loạn, không quyến luyến, bạn biết những thứ này đều rất tạm thời, đều là không. Trong sự nhậm vận, trong quang minh, bạn đều không mất một chút gì."
Người hỏi:
"Cái này là tự tại và nhậm vận sao?"
Tôi đáp:
"Người chưa đến được hư không cảnh thì bất kì lúc nào cũng có khả năng đọa lạc. Đến được hư không cảnh rồi thì sẽ không bị như thế. Trong trí lực siêu nhiên từ sớm đã nhận ra rằng: danh vị là tạm thời, mỹ vị quay đầu lại là không, tính dục chỉ trong sát-na, tiền bạc thì lại càng là hư huyễn."
Người hỏi:
"Như thế thì có sung sướng không?"
Tôi đáp:
"Tịch tĩnh chính là sự sung sướng vĩnh hằng, những cái khác đều không phải."
Người hỏi:
"Tịch tĩnh chính là sung sướng ư? Sao có thể nói vậy?"
Tôi đáp:
"Chỉ có giống như hư không, mặc dù có mây, có gió, có mưa, có sấm, có chớp, có băng, có mưa đá, nhưng hư không vĩnh viễn không bị quấy nhiễu, vĩnh viễn bình tịnh."
Người hỏi:
"Đây chính là khai ngộ sao?"
Tôi đáp:
"Đây là ví dụ."
Người hỏi:
"Thế khai ngộ là cái gì?"
Tôi im lặng không nói.
Không nói một câu nào, chỉ nhìn trời thôi!


### 33. Nhớ đệ tử cũ


Sáng sớm một ngày nọ, tôi bỗng nhớ đến lúc còn trẻ ở Đài Loan, tôi có một nhóm các đệ tử già, họ đều đã rời xa nhân thế rồi!

Trương Hoàng Minh
Ông ấy là một danh sư về công phu, quyền thuật tuyệt vời, nghề nghiệp là "thợ phun sương" (phun thuốc trừ sâu), sau khi quy y Lư Sư Tôn đã học tập phong thủy địa lý, rất có kinh nghiệm, thường xuyên theo bên cạnh tôi, có được rất nhiều chân truyền. Trương Hoàng Minh dáng dấp cao to, cường tráng, để tóc dài, khuôn mặt giống như Quan Vân Trường, cặp mắt như chuông đồng. Ông ấy giống như vệ sĩ của tôi.
Tiếc thay. Ông ấy đã qua đời vào lúc rực rỡ nhất của đời người, tim bị đột quỵ, rồi ra đi trong giấc ngủ.

Vưu Ngân Thọ
Ông ấy là người Phong Nguyên, là một nhân vật giang hồ, trên người có xăm trổ, từng kinh doanh quán rượu. Là lão đại ở địa phương.
Sau khi quy y Lư Sư Tôn thì theo sát bên cạnh tôi, cũng giúp tôi xách đồ giống như Trương Hoàng Minh vậy. Ông ấy đã sửa đổi những cái sai trước kia, từ đó đi trên chính đạo, nghiêm túc học tập Mật pháp. Con người này mặt ác tâm thiện, thật ra tâm địa rất mềm mại, ông ấy là lão đại xã hội đen, thật khiến người ta khó tin. Trong một lần đi hoằng pháp, ông ấy đã bị đột quỵ não, qua đời lúc khoảng 70 tuổi.

Trang Hoàng Du
Ông ấy là chuyên viên của Cục Lương Thực, là một vị quan chức, ông ấy làm việc tương đối nhiệt tình, cẩn thận. Tinh tấn tu Hộ Ma. Thâm nhập Mật pháp. Tính khí hơi nôn nóng, có bệnh cao huyết áp, lần đầu tiên đột quỵ, tôi đã cứu chữa được, rồi ông ấy hồi phục. Về sau, lại bị đột quỵ một lần nữa, lần này kéo dài rất nhiều năm, cuối cùng không thể địch nổi ma bệnh, nên đã đi rồi, chuyển hóa rồi.

Trịnh Dụ Tín
Ông ấy là người Đài Trung, cùng với Trương Hoàng Minh cùng bái một vị là thầy Vương làm thầy, học công phu, tu luyện tới mức toàn thân đầy bản lĩnh, bát quái du thân chưởng, thâm hiểu tam muội trong đó, nghề nghiệp ban đầu là buôn gạo. Tiền vàng mã đầu tiên của Chân Phật Tông là do ông ấy chịu trách nhiệm in ấn. (Thành Ích Đường)
Trịnh Dụ Tín là người hiền lành, trung thành, đã cùng tôi di cư sang Mỹ. Sau đó vì có liên quan đến chuyện của con cái mà chuyển nhà đến California. Đến những năm tuổi già, ông ấy bị suy thận mà qua đời!

🌟

Khi tôi nghĩ đến họ, trong lòng thấy thảng thốt, nhớ đến một bài kệ:
"Mắt thấy người ta chết
Trong lòng nóng như lửa
Chẳng phải lo người khác
Lo sắp tới lượt mình."

Tôi nghĩ đến:
"A! Lư Thắng Ngạn tôi cũng sắp rồi!"

Tôi nhớ đến ba vị sư phụ Hiển giáo của tôi, là Ấn Thuận đạo sư, Đạo An pháp sư, Lạc Quả pháp sư.
Bốn vị thầy Mật giáo của tôi, là Liễu Minh Hòa Thượng, Sakya Chứng Không Thượng sư, Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16, Thubten Dhargye Thượng sư.
Lại nhớ đến ba vị thầy thọ giới, là Hiền Đốn pháp sư, Huệ Tam pháp sư, Giác Quang pháp sư. Họ đều viên tịch rồi.

Trời ơi!
Tiếp theo là đến lượt tôi rồi! Đây là điều đầu tiên tôi nghĩ đến trong hành trình cuộc đời của mình.
Nhưng,
Khai ngộ chí tôn của tôi là:
"Thiên hạ này chẳng có việc gì cả, việc gì cũng chẳng hề phát sinh, ngay cả sinh tử cũng thế."
Chỉ có hai loại người vô sinh cũng vô tử:
Một là, người khai ngộ và thực tu, tâm có đại quang minh.
Hai là, người phục vụ cho người khai ngộ, có được đại gia trì.


### 34. Thơ khai ngộ (1)


"Khi hiểu rồi
Mới biết
Chẳng thể dùng ngôn ngữ để miêu tả
Chẳng phải tư
Chẳng phải niệm
Càng chẳng phải dùng con mắt để mà nhìn

Thế gian này
Trăm nghìn mối kết
Không có gì không là nghiệp nhân nhân quả quả
Của anh
Của tôi
Sẽ xuất hiện khi chúng ta bám chấp

Một đám lờ mờ
Một vùng ngu ngơ
Ánh nắng
Ánh trăng
Núi cao cao
Biển sâu sâu
Chính là như thế
Đi qua vô số tháng năm

Cười lớn ha ha ha
Cười những thứ phù phiếm rơi rụng hết
Cười những anh hùng
Cười những hào kiệt
Cười những nhân vật lãnh tụ
Cười những lái buôn lạc đà
Cười những
Hoa bay vạn ngọn đèn trời
Lẳng lặng mà chết."


### 35. Thơ khai ngộ (2)


"Thế nào là vĩnh hằng bất biến
Là gió thoắt đến thoắt đi
Là hoa nở rồi hoa lại rụng
Là tuyết ngưng rồi tuyết lại tan
Là trăng tròn rồi trăng lại khuyết
Là ái hận
Là tình thù
Là giác ngộ của Phật Đà
Kết quả ngay cả giác ngộ cũng chẳng phải

Là rung rung khe khẽ
Là hừng hực chói chang
Là nhợt nhạt lờ mờ
Vẫn cứ mong mỏi ngóng trông
Kết quả
Đều không phải đều không phải

Từ xa xưa cho đến ngày nay
Hướng về đông
Hướng về tây
Hướng về nam
Hướng về bắc
Đi qua con đường nghìn núi vạn sông
Để tìm kiếm
Ngọn gió thổi mà không tan biến
Tâm dung hòa mà chẳng đổi thay
Kết quả
Đều là khói sương mịt mờ

Tôi lặng lẽ đến
Tôi lặng lẽ đi
Tôi chẳng mang theo một chút gì
Chuyện đời ở trần gian."


### 36. Lưu Kim Đỗ nói như vậy


Lưu nói:
"Tôi không phải đệ tử của thầy!"
Tôi "ồ" lên một tiếng.
Lưu nói:
"Nhưng bây giờ tôi là đệ tử của thầy!"
Tôi lại "ồ" lên một tiếng.
Lưu nói:
"Tôi là kiện tướng bóng đá quốc gia, đá bóng cho đội bóng của Malaysia."
"Thế rồi sao?"
Lưu nói:
"Tôi tình cờ có được bức tượng của vị Liên Hoa Đồng Tử của thầy, nên tiện tay đem về nhà."
"Sau đó thì sao?"
Lưu nói:
"Đêm đó, thầy đã đến, xoa bóp cái lưng của tôi. Cái lưng của tôi bị đau."
"Có đỡ không?"
Lưu nói:
"Ngày hôm sau tỉnh dậy, cái lưng thật sự đã khỏi rồi!"
Lưu tiếp tục nói:
"Nhưng hai hôm sau, khi tôi đá bóng, lưng lại nhói đau. Tôi nghĩ, nếu Lư Sư Tôn lại đến để xoa bóp cái lưng của tôi thì tốt quá."
Lưu nói:
"Đêm đó, Lư Sư Tôn lại đến thật, cũng lại xoa bóp cái lưng của tôi, kết quả là lưng tôi thật sự lại khỏi rồi! Cho nên, tôi liền quy y thầy đó!"
Lưu nói:
"Hôm nay tôi đặc biệt từ Malaysia đến đây để gặp Lư Sư Tôn, thật sự rất thần kỳ!"
Tôi nói:
"Đó là Bồ Tát bảo hộ cho anh!"
Lưu nói:
"Rất kỳ diệu!"
Tôi nói:
"Tôi rất bình thường thôi."

Rất nhiều đồng môn ngồi đó sôi nổi kể những cảm ứng kỳ diệu của họ, họ đều không ngớt ngưỡng mộ tôi!
Tôi nói:
"Tôi rất bình thường thôi."

Tôi nói:
Tôi chỉ kiên trì làm tốt công việc trách nhiệm vốn có của mình, thực hiện thoát khỏi tất cả vọng tưởng.
Buổi sáng viết văn, tu pháp.
Buổi trưa vận động, nghỉ ngơi.
Buổi tối tu khí.
Đây là nhiệm vụ hàng ngày của tôi, tôi không có đời sống phóng đãng, cũng không hưởng thụ những thứ thỏa mãn các giác quan, không theo đuổi những lợi ích cao nhất vì bản thân mình, tôi sống một cuộc đời như vậy đó.
Không chấp vào việc cần mở rộng tông phái.
Không chấp vào việc cần độ bao nhiêu chúng sinh.
Không chấp vào việc cần lãnh đạo cái gì.
Không chấp vào việc tương lai có kế hoạch gì.
Tôi sống một cuộc sống rất có quy luật.

Tôi:
Thành tâm.
Thành ý.
Nỗ lực.
Nhưng không mong cầu báo đáp!
Tất cả tự nhiên đến, tất cả tự nhiên đi, cái gì phải đến sẽ tự nhiên đến, cái gì phải đi sẽ tự nhiên đi.
Trên phương diện này, tôi rất thờ ơ.

Từ đầu đến cuối, tôi cảm thấy thế này:
"Trên thế giới này, tôi đã vô sở cầu, vì đã vô sở cầu nên chỉ có tự nhiên mà thôi!"


### 37. Hống Phong đại tướng


Trong phim điện ảnh cổ trang thường thấy có cảnh:
Đạo sĩ đăng đàn làm pháp.
Một đàn tràng hình vuông.
Treo năm lá cờ vải.
Phía đông là Giáp Ất mộc.
Phía nam là Bính Đinh hỏa.
Phía tây là Canh Tân kim.
Phía bắc là Nhâm Thìn thủy.
Ở giữa là Mậu Kỷ thổ.
Đàn tế ngũ hành, bát quái, cửu cung được thiết lập, và ở chính giữa thì bày hương án, có giấy, bút, mực, kiếm bằng gỗ đào, gỗ bị sét đánh trúng, pháp khí, v.v…
Chỉ thấy đạo sĩ lên đàn.
Đội tóc.
Cầm kiếm.
Đốt phù.
Hướng về hướng Tốn hít vào một hơi khí, rồi thở ra.
Trong miệng lầm rầm mấy từ, rồi hét lên một tiếng "nhiếp", thế là mặt đất nổi lên một trận gió cuồn cuộn thổi đến, cuồng phong trỗi dậy, trong cơn gió đó xuất hiện một quỷ thần hoặc cái gì đó.
Tiếp theo là một trận đấu pháp.

🌟

Trải nghiệm của tôi là:
Tôi từng đi làm "tiến kim" cho người ta.
(Tiến kim là chôn người chết vào trong đất.)
Sau khi chôn xong, cuồng phong nổi lên, cây cối xung quanh vang lên những tiếng lạch tạch lộp độp, tiến kim xong thì gió cũng ngừng.

Còn nữa:
Tôi đến thăm Triều Thiên Cung ở Bắc Cảng. Vừa ra khỏi cửa miếu thì sau lưng có hai cơn gió lốc thổi đến (gió xoáy cỡ nhỏ cuồn cuộn thổi đến). Đất cát bay một hồi, gió thổi rất ghê gớm.
Tôi thấy trong hai cơn gió lốc đó:
Thì ra là hai vị thần tướng Thiên Lý Nhãn và Thuận Phong Nhĩ.

Còn nữa:
Tôi đến đấu trường La Mã.
Xe vừa dừng, cây cối bên đường nổi gió lớn, lá cây rụng lả tả. Tôi xuống xe thì thấy:
Thì ra là một đám vong linh của đấu trường này muốn thỉnh tôi siêu độ, trong đó có cả hổ, báo, sư tử, voi, v.v…
Tôi gật đầu thì gió mới ngừng thổi.

🌟

Khi tôi ở Đài Loan Lôi Tạng Tự thuyết pháp.
Xe của tôi mới rẽ vào đường lên núi Hổ, chuẩn bị lên núi. Pháp sư Liên Cẩn hướng dẫn nhân viên tổ giao thông để họ biết rằng xe của tôi đã đến rồi.
Vì sao vậy?
Họ nói:
Hễ xe của Lư Sư Tôn đến thì ven đường thế nào cũng nổi gió lớn, gió thổi ào ào trên ngọn cây, hết trận này đến trận khác, cành rung lá rụng, rất là kì quái.
Xe chưa đến thì không có gió, không lắc lư.
Xe đi qua rồi thì cũng không có gió, không lắc lư.
Hơn nữa chim trong không trung còn bay đến nghênh đón!
Các động vật trên mặt đất cũng chạy nháo nhào để nghênh đón!
Tôi nghe xong thì "ồ" lên một tiếng, thì ra "Hống Phong đại tướng" đi theo tôi à.

Tôi có một cảm giác rằng:
Trên cõi đời này, chỉ cần có sinh vật tồn tại thì tất nhiên sẽ có khí của sinh vật tồn tại, khí của các sinh vật này chính là linh và phi nhân, có khí thì cao cấp, có khí thì thấp cấp.
Pháp hội mà tôi cử hành có thể đưa những linh và phi nhân đến cảnh giới giải thoát. Cũng có thể khiến cho con người có được những ngày tháng hạnh phúc vui vẻ, sức mạnh này là vô tận.
Tôi sâu sắc thấu hiểu vì sao vô tận, sự vô tận này, các đệ tử có biết hay không?


### 38. Trì minh, hộ ma, tam ma địa


Có đại tổ sư Mật giáo nói:
Mật giáo có ba thành tựu lớn:
Thành tựu trì minh.
Thành tựu Hộ Ma.
Thành tựu tam ma địa.
(Tôi cho rằng thành tựu Hộ Ma cũng chính là một trong những thành tựu cúng dường.)
Trì minh (trì chú vô số lượng, trì cho đến khi xuất ra ánh sáng).
Hộ Ma (Bổn tôn, lửa, hành giả, đạt đến ba thứ hợp nhất thật sự.)
Tam ma địa (hành giả tiến nhập vào ý thức sâu nhất, hợp nhất cùng với ý thức tôn quý của vũ trụ, dung hợp, đồng hóa).

🌟

Vì khi tôi (Lư Sư Tôn) ở Đài Loan, mỗi ngày thứ bảy lại tổ chức lễ Hộ Ma tại Lôi Tạng Tự, và Cầu Vồng Lôi Tạng Tự ở Mỹ cũng tổ chức Hộ Ma vào mỗi ngày chủ nhật.
Có đệ tử hỏi:
"Hộ Ma là cái gì?"
Đáp:
"Cúng dường lửa."
Người hỏi:
"Cúng dường có ý nghĩa gì?"
Đáp:
"Nói trực tiếp thì có thể nói cúng dường chính là lễ cúng tế."
Người hỏi:
"Cúng tế là cái gì?"
Đáp:
"Cúng tế là thực tu một trong các Phật pháp."
Người hỏi:
"Vì sao cúng tế là thực tu Phật pháp?"
Đáp:
"Cúng tế có nghi thức, có trì chú, có ý niệm, có ca hát, có tụng tán, có nhập định, có hồi hướng, v.v…"
Người hỏi:
"Làm những việc này để làm gì?"
Đáp:
"Tiến nhập lạc, minh, không." (thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh)
Tôi nói với các đệ tử:
"Hành giả thông qua cúng tế và ăn những cúng phẩm đã được cúng tế mà có thể tránh được nghiệp chướng tích lũy nhiều kiếp, nếu ăn những cúng phẩm chưa qua cúng tế thì thuần túy chỉ là ăn để thỏa mãn các giác quan mà thôi, như thế thì sẽ tăng thêm nghiệp chướng của bản thân."
Người hỏi:
"Là như vậy sao?"
Tôi đáp:
"Thân thể của chúng sinh cần ngũ cốc, ngũ cốc cần ánh mặt trời và nước, ánh mặt trời và nước cần có trời, trời chấp thuận cúng tế của con người, cúng tế đến từ tâm linh của con người."
Người hỏi:
"Không hiểu thiên tâm và nhân tâm?"
Tôi đáp:
"Đây chính là tôn giáo."
Người hỏi:
"Nếu thiên tâm và nhân tâm không hề có liên quan gì đến nhau?"
Tôi đáp:
"Tu hành sẽ mất đi ý nghĩa, con người và cầm thú không khác biệt, con người và chó lợn không khác biệt."
Người hỏi:
"Vậy thì ý nghĩa của tu hành là gì?"
Tôi đáp:
"Tịnh hóa."
Người hỏi:
"Tịnh hóa dựa vào cái gì?"
Tôi đáp:
"Trì minh, Hộ Ma, tam ma địa."
Người hỏi:
"Thành tựu cuối cùng là cái gì?"
Tôi đáp:
"Quang minh. Lấy quang minh dung nhập vào quang minh. Một giọt nước nhập vào biển lớn, một tấm lòng nhập vào hư không."


### 39. Nói rõ về kệ tán thán


Phật Đà nói bài kệ:
Người khai ngộ đắc tự tại,
Siêu việt thiện và ác,
Vì thế,
Vô lợi ích và tổn thương,
Người chứng ngộ có thể chuyển hóa sức ảnh hưởng của tam độc có hại,
Tham, sân và si
Phàm độc đâu thể làm hại ta.

Đệ tử hỏi tôi:
"Bài kệ này là nghĩa đế gì?"
Tôi đáp:
Không đế.
Trong Không đế, không có thiện cũng không có ác.
Tam luân thể không.
Thực không có lợi ích và tổn hại.

Ví dụ:
Không có chúng sinh,
Thì làm gì có tham, sân và si?
Làm gì có phàm độc?

🌟

Lợi Lạp Kim Cang nói bài kệ:
"Dường như chẳng có ai biết được
Hôm nay ai sử dụng cảm quan của chính mình
Hình tượng huyễn hóa vô số vô lượng,
Còn tự tính chính xác là thủy ngân ở trong bụi
Độc nhất và hiển lộ."

Đệ tử hỏi tôi:
"Bài kệ này là nghĩa đế gì?"
Tôi đáp:
Huyễn đế.
Có ai biết ta là cái gì?
Cảm quan là ai đây?
Khóc cười vui buồn đều là huyễn,
Nếu thật có thực tướng
Người khai ngộ giống như thủy ngân
Đặt vào trong bụi bặm
Vẫn phát ra vô tận vô lượng đại huyễn hóa võng.

🌟

Pandita nói bài kệ:
"Đừng ngẩng đầu nhìn trăng
Người ngu nhìn chăm chú vào cái bóng trong nước
Không tìm kiếm Thánh giả chân chính
Kẻ ngu chỉ theo vô minh.

Thà theo thầy
Thà theo pháp
Chớ theo văn tự
Mà theo nghĩa của nó
Không theo cái không phải liễu nghĩa
Nên theo liễu nghĩa."

Đệ tử hỏi:
"Đây là nghĩa đế gì?"
Tôi đáp:
Huệ đế.
Con người phải tu hành thật sự,
Phải tìm kiếm một cái
"Thật".
Không thể dựa vào tà sư
Phải dựa vào pháp của Phật Đà.
Không thể dựa vào bên ngoài của văn tự
Phải dựa vào ý nghĩa bên trong của văn tự.
Không thể dựa vào thuyết phương tiện
Phải dựa vào ý nghĩa tột cùng.
(Các đệ tử đọc xong ba bài kệ này, và câu trả lời của tôi, có thể ngộ được gì?)


### 40. Pháp sư Liên Trừng nói với tôi


Pháp sư Liên Trừng trước kia sống tại Vancouver (Canada), sau này lại sống ở Hongkong, ông ấy nửa năm ở Hongkong, nửa năm ở Vancouver.
Khi ở Hongkong, ông ấy chủ trì Phật đường Thiện Khánh.
Pháp sư Liên Trừng nói:
"Trong pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, Lư Sư Tôn đột ngột tuyên bố, trong âm thanh niệm chú, muốn thể hiện pháp lực để tín chúng có được sự gia trì, để bệnh tật tiêu trừ."
Pháp sư Liên Trừng nghĩ, trên cổ mình có một cái nhọt, cánh tay phải có một cái nhọt, vùng eo có một cái nhọt, và bên trong cơ thể cũng có một cái nhọt, tổng tộng có bốn cái nhọt.
Lư Sư Tôn nói:
"Đặt tay vào chỗ có bệnh!"
Thế là pháp sư Liên Trừng bèn:
Một tay đặt lên cổ.
Một tay đặt lên cánh tay.
Không còn tay nào để mà đặt lên eo!
Rồi quán tưởng cái nhọt ở bên trong cơ thể.
Pháp sư Liên Trừng nói:
"Cái nhọt ở trên cánh tay rất đáng ghét. Hễ có ai chạm vào tay tôi là họ liền kêu lên: Pháp sư! Cánh tay của ông bị làm sao vậy?"
"Còn cái nhọt ở trong cơ thể thì khiến bản thân ban đêm đi tiểu nhiều lần, một buổi đêm phải dậy tới bốn lần."
"Bác sĩ từng nói phải phẫu thuật. Tôi không muốn phẫu thuật, cho nên tình trạng cứ kéo dài mãi."
Pháp hội kết thúc rồi.
Pháp sư Liên Trừng cũng không để ý xem bốn cái nhọt đó có tiêu biến hay không.

Có một lần đi tắm, ông ấy đột nhiên phát hiện ra, cái nhọt ở cổ đã biến mất rồi.
Ông ấy sờ lên cổ, thấy phẳng lì.
Ông ấy lại sờ lên cánh tay, cái nhọt trên cánh tay cũng biến mất rồi!
Ông ấy sờ lên eo, cái nhọt ở eo vẫn còn, nhưng hình như cũng thu nhỏ lại.
Ông lại nghĩ đến cái nhọt bên trong cơ thể mình, ông ấy bỗng sực tỉnh, cái nhọt đó không biết có còn hay không, nhưng chứng đi tiểu nhiều lần của ông đã không còn nữa.
"Oa! Cảm tạ Sư Tôn!"
Tôi nói:
"Sao ông không viết ra?"
Ông ấy đáp:
"Tôi không biết là phải viết ra!"
Tôi nói:
"Vậy hãy viết ra đi!"
Ông ấy đáp:
"Thế còn cái nhọt ở eo thì sao?"
Tôi nói:
"Tự mình tu trì để tiêu trừ nó đi, dùng pháp tiêu ung nhọt của Diêu Trì Kim Mẫu."
Ông ấy đáp:
"Bình thường tôi cũng có làm mà!"

🌟

Có người hỏi tôi:
"Ung nhọt sao có thể tiêu biến chứ?"
Tôi đáp:
Trong pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang lần này, điều rất đặc biệt là Bổn tôn Bản Sơ Phật A Đạt Nhĩ Mã Phật đã giáng xuống. Mọi người dường như đều chìm ngập trong sự gia trì vô hạn của Phật lực, trong pháp hội tôi cũng gia trì cho đại chúng, lực gia trì này cũng chưa từng có trước đây.
Có người cảm nhận thấy dòng chảy pháp xuyên qua thân, giống như điện giật.
Có người cảm ứng thấy dòng nhiệt ấm áp.
Có người cảm nhận thấy một sức mạnh không thể mô tả được.
Có người toàn thân nóng bừng lên.
Có người thân tâm run rẩy.
Có người ngay lập tức thấy thư thái thanh thản hơn.
Có người tiến nhập thiền định.

Đó là pháp lực cuồn cuộn vô biên không thể nói bằng lời, nó không có hình ảnh, không có dấu vết, không có màu sắc, không có hình tướng, nhưng có thể sản sinh kỳ tích.
Kết hợp lực của Phật, lực của Pháp Vương, tâm lực của chúng sinh lại với nhau, sản sinh ra sự biến hóa hoàn mỹ.


### 41. Bạn có tin vào lành dữ họa phúc không?


Đệ tử (Tạ Chính) hỏi:
"Lư Sư Tôn! Thầy có tin vào lành dữ họa phúc không?"
Tôi đáp:
"Tin!"
Đệ tử hỏi:
"Vì sao tin?"
Tôi đáp:
"Rất đơn giản, bởi vì tôi tin, từng li từng tí đều là sinh mạng, là nhân duyên quả báo, là nhân quả. Lành, dữ, họa, phúc là trồng đậu được đậu, trồng dưa được dưa, trồng hoa được hoa, trồng cỏ được cỏ."

Đệ tử hỏi:
"Vậy Lư Sư Tôn có tin vào vận mệnh không?"
Tôi đáp:
"Không tin!"
Đệ tử hỏi:
"Thế chẳng phải là mâu thuẫn sao?"
Tôi đáp:
"Không mâu thuẫn."
Đệ tử hỏi:
"Vì sao vậy?"
Tôi đáp:
"Trong cuốn sách "Liễu Phàm tứ huấn", có học lập mệnh, vận mệnh có thể cải biến, lành dữ họa phúc cũng có thể cải biến được. Con người chỉ cần ra sức làm việc thiện là có thể thay đổi vận rủi thành may mắn."

Đệ tử hỏi:
"Vậy rốt cục là Lư Sư Tôn tin hay không tin?"
Tôi đáp:
"Tin và cũng không tin."
Đệ tử hỏi:
"Sao có thể như vậy chứ?"
Tôi đáp:
"Lão Tử nói, họa là chỗ dựa của phúc, phúc là nơi ẩn náu của mối họa đang rình rập. Lành dữ họa phúc chuyển hóa lẫn nhau."
Đệ tử hỏi:
"Lư Sư Tôn! Ngài có thái độ gì đối với lành dữ họa phúc?"
Tôi đáp:
"Lành, tôi không mừng; dữ, tôi không lo; họa, tôi không buồn; phúc, tôi không vui."
Đệ tử hỏi:
"Vì sao lại như vậy?"
Tôi đáp:
"Cuộc đời chính là vòng đi vòng lại như vậy, lên lên xuống xuống, vừa lành vừa dữ, vừa phúc vừa họa, trong phúc có họa, trong họa có phúc, thấy nhiều rồi thì sẽ tự nhiên thôi!"
Đệ tử hỏi:
"Nên đối mặt thế nào?"
Tôi đáp:
"Thuận theo và vượt qua. Con người xem là lành, tôi xem là dữ, con người xem là họa, tôi xem là phúc. Nhưng bất kể là lành dữ họa phúc, một hành giả phải bảo nhậm sự tự tại."

Đệ tử hỏi:
"Xin lấy ví dụ."
Tôi đáp:
"Tổng thống Biển đó." [Cựu tổng thống Đài Loan Trần Thủy Biển]
(Từ một tổng thống tôn quý nhất đọa xuống làm tù nhân thấp hèn nhất.)
Tôi nói:
"Khi làm tổng thống chẳng phải lành, làm tù nhân cũng chẳng phải dữ, bởi vì chỉ là tuần hoàn không dứt mà thôi."
Đệ tử hỏi:
"Thầy có điều gì muốn nói với chúng con không?"
Tôi nói:
Tuân theo giáo pháp chính xác không sai của Phật Đà.
Đối với những thứ như lành dữ họa phúc, vận mệnh, không khởi lên sự phân biệt.
Trong những cảnh ngộ này vẫn tự tại.
Rất tự nhiên.
Rất an nhiên.


### 42. Đại Lực Kim Cang niệm tụng pháp


Pháp bản tu pháp:
Vị này rất ít người biết đến, thật ra vị ấy chính là biến hóa của A Di Đà Phật, ngài có hai sự nghiệp lớn:

1. Hàng phục.

2. Kính ái.

Tính bí mật của ngài là pháp khí:
Một tay cầm côn — dùng côn đánh ngất kẻ thù.
Một tay cầm dây thừng — dùng thừng để trói buộc.
Một tay cầm phất trần — quét sạch nghiệp chướng.
Một tay kết kì khắc ấn — kết kì khắc ấn để ra hiệu.

Thứ tự tu pháp:
Tiền hành 7 bước. 
Kết kì khắc ấn, đặt trước ngực. Hai tay đều kết ấn.
Quán tưởng:
Từ chữ "bang" sinh ra hoa sen, trong hoa sen có một nhật luân, trong nhật luân có chữ Hum màu đỏ.
Chữ "bang" như hình:


![image](/img/img_56017d6924c37f1ff2a8023846abf21e.jpg)



Từ chữ Hum tỏa ra ánh sáng đỏ, hiện ra Đại Lực Kim Cang, vị Kim Cang này thân màu đỏ, bốn cánh tay như mô tả ở trên.
Chân trái duỗi, chân phải cong.
Một mặt bốn cánh tay, tóc màu vàng kim dựng thẳng đứng, được buộc lại bằng rắn, miệng chìa ra răng nanh.
Thân quấn váy da hổ.
Đầu đội chuỗi ngọc nhật quang.
Trên đầu được trang điểm bằng A Di Đà Như Lai.
Vị này giống như đá hồng ngọc, từ chữ Hum màu đỏ phát sáng ra bốn phía, triệu thỉnh chư tôn của vũ trụ.
Sau đó phóng quang, chiếu thẳng đến thân của hành giả, bản thân hành giả biến hóa thành Đại Lực Kim Cang.
Trì chú:
"Ôm ma-ha ba-la-ya sô-ha.” [Om mahabalaya soha.] (108 biến)
Xuất định, tụng tán:
Đại Lực Kim Cang phẫn nộ vương.
Thân sắc giống như đá hồng ngọc.
Ý nghĩ duy nhất hàng tà ma.
Kính lễ Bổn tôn mang đại lực.

Hồi hướng có hai điều:

1. Đánh côn trói buộc. (kẻ thù)

2. Đánh côn trói buộc. (đối tượng - người yêu)

Đại Lực Kim Cang có thể hàng phục kẻ thù, quét sạch chướng ngại, tất cả những người đối địch đều hàng phục hết.
Đại Lực Kim Cang có thể giành được sự kính ái, có thể khiến cho đối tượng ban đầu không có ý gì với bạn sau một thời gian chuyển thành có tình ý với bạn.
(Thủ pháp của ngài tương đối uy lực, vì ngài là Đại Lực Kim Cang.)

Tu hành pháp này lớn nhất sẽ thu được:
Thân thể tráng kiện.
Uy phong bát diện.
Đại Lực Kim Cang.
Hướng đến chỉ huy.
(Bất kì ý niệm nào cũng đều có thể đạt được.)

Kì khắc ấn như sau:


![image](/img/img_83f7a9bbc8dd446493d89881c0fa6d9a.jpg)



(Tay trái phải đều kết ấn và đặt trước ngực, hướng ra ngoài.)

🌟

Bàn tay của Lư Sư Tôn, ngón cái tay phải có vân tay là tướng của Đại Lực Kim Cang. Giống một cách kỳ diệu.
Đại Lực Kim Cang (Tiếu Diện Quỷ Vương) cũng là một trong sáu đại thị giả của Địa Tạng Vương Bồ Tát.

Tôi nói:
Trong các đời tương lai của tôi
Vĩnh viễn không có kẻ thù.
Trong các đời tương lai của tôi
Sẽ không làm tổn thương chúng sinh.
Trong các đời tương lai của tôi
Sẽ không xa rời ánh sáng.


### 43. Độ chúng sinh không tăng không giảm


Trước tiên tôi lấy một ví dụ:
Ngày xưa.
Quan Thế Âm Bồ Tát phát đại nguyện độ chúng sinh. Trải qua vô số thời gian. Bồ Tát vô cùng hoan hỷ, muốn biết rốt cục mình đã độ được bao nhiêu chúng sinh rồi. Bồ Tát tự mình tính đếm.
Nhưng, Quan Thế Âm Bồ Tát phát hiện ra:
Chúng sinh không giảm bớt một người.
Chúng sinh không tăng thêm một người.
Thực tế đã chứng minh, nỗ lực bao nhiêu năm của Bồ Tát, sự tận tình khuyên bảo nhiều năm, sự từ bi ứng hóa nhiều năm, đều là phí công vô ích.
Quan Thế Âm Bồ Tát rất kinh ngạc.

Thế là:
Ngài đã phá bỏ lời thề của mình, không độ chúng sinh nữa!
Quan Thế Âm Bồ Tát vì phá bỏ lời thề nên đầu bị vỡ thành ba phần, não phân thành tám mảnh, toàn thân vỡ nát.
A Di Đà Phật biết được chuyện này liền vội vã tới cứu, bởi vì Quan Thế Âm Bồ Tát là đệ tử của A Di Đà Phật.
A Di Đà Phật đem những mảnh thân vỡ nát để sắp xếp lại từ đầu, rồi thổi một hơi khí.
Quan Thế Âm Bồ Tát đã sống lại rồi!
Biến thành Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát.

🌟

Ví dụ trên đây, xin mọi người suy nghĩ kĩ càng.
Có người hỏi Lư Sư Tôn:
"Lư Sư Tôn! Thầy có đang độ chúng sinh không?"
Tôi đáp:
"Có!"
Người hỏi:
"Độ được bao nhiêu rồi?"
Tôi đáp:
"Không có."
Người hỏi:
"Nếu đã là không có thì vì sao lại độ chúng sinh?"
Tôi đáp:
"Bởi vì không có, không có chúng sinh nào được độ, thì đó mới gọi là độ chúng sinh!"
Người hỏi:
"Không hiểu!"
Tôi đáp:
"Kêu người hiểu được tới nghe!"

🌟

Người hỏi:
"Địa Tạng Vương Bồ Tát độ chúng sinh, thề rằng "địa ngục chưa trống, thề không thành Phật" phải không?"
Tôi đáp:
"Đúng."
Người hỏi:
"Địa ngục có thể trống không không?"
Tôi đáp:
"Không thể trống không."
Người hỏi:
"Địa ngục không thể trống không, vậy Địa Tạng Vương Bồ Tát không thể thành Phật sao?"
Tôi đáp:
"Đã thành!"
Người hỏi:
"Điều này rất mâu thuẫn đó!"
Tôi đáp:
"Kêu người hiểu được tới nghe!"
Người hỏi:
"Thế nào là người hiểu được?"
Tôi đáp:
"Người đã khai ngộ."

🌟

Trong chương sách này, tôi đã dạy mọi người thế nào là khai ngộ. Khai ngộ là cái gì?
Lấy huyễn độ huyễn, không tăng không giảm.


### 44. Hoàng Ca Trình nói như vậy


Hoàng Ca Trình sống tại Singapore kể với tôi:
Anh ấy lớn lên tại Malaysia, sau đó đi học tại Singapore, sau khi tốt nghiệp thì ở lại Singapore để làm việc.
Anh ấy đồng tu tại Sư Thành Lôi Tạng Tự, đảm nhiệm tổ tuyên truyền.
Tổ tuyên truyền phải viết văn, ban đầu anh ấy cảm thấy rất khó khăn. Một buổi tối, anh nằm mơ.

Mơ thấy Lư Sư Tôn.
Cũng không biết như thế nào mà anh lại cõng Lư Sư Tôn, Lư Sư Tôn ở trong mơ nói vào tai anh:
"Dùng sức để thở chữ Hum ở trong tâm ra."
Anh ấy nhìn thấy trong hư không sinh ra vô số vô số những chữ Hum nhỏ, đầy kín cả hư không.
Lư Sư Tôn nói:
"Bây giờ thì thu hết những chữ Hum trong hư không vào bên trong thân thể mình, toàn thân mình đầy chữ Hum."
Anh ấy nhìn thấy khi mình hít vào thì chữ Hum trong hư không đều trở về bên trên thân mình.
Sau khi tỉnh dậy, lúc này, những ý văn tuôn trào.
Thiện tai!
Đó là pháp chữ Hum.
(Chú thích: Chữ Hum có hai cách viết, có thể viết chữ Hum dạng ngắn, cũng có thể viết chữ Hum dạng dài, sự khác biệt ở âm ngắn âm dài.)

🌟

Tôi nhớ trong lịch sử Trung Quốc có một câu chuyện như thế này.
Lịch sử các triều đại phương nam ghi chép rằng:
Giang Yêm vốn dĩ không biết viết văn.
Trong mơ, ông ấy gặp được Quách Phác, Quách Phác cho ông một chiếc "sinh hoa diệu bút".
Giang Yêm tỉnh dậy thì có thể viết văn rất giỏi.
Vì chuyện này mà danh tiếng lẫy lừng!
Cứ như vậy trải qua rất nhiều năm.

Có một ngày, Giang Yêm lại mơ thấy Quách Phác, Quách Phác nói với Giang Yêm rằng, tôi có để lại một cây bút ở chỗ ông, hôm nay, tôi muốn lấy lại cây bút ấy.
Sau khi cây bút bị thu hồi, Giang Yêm khô cạn ý văn.
Vì thế mới có hai câu thành ngữ:
"Mộng bút sinh hoa."
"Văn nhân hết thời."

🌟

Có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Ngài đã viết 254 cuốn văn tập, linh cảm của ngài đến từ đâu?"
Tôi đáp:
"Giữa trời đất tự có linh cảm, trong linh cảm tự có trời đất."
Người hỏi:
"Rất mơ hồ đó!"
Tôi đáp:
"Mơ hồ chính là linh cảm."
Người hỏi:
"Sao lại nói vậy?"
Tôi đáp:
"Lững lờ tới, lững lờ đi, thật sự không có định số, đến đi tự nhiên, đến đi tự tại, huyễn bút sinh hoa."
Người hỏi:
"Làm sao ngài có được nghị lực như thế?"
Tôi đáp:
"Chắc là vì cảm động trước sứ mệnh độ chúng sinh!"
Người hỏi:
"Độ chúng sinh là chuyện thế nào?"
Tôi đáp:
Thở ra.
Hít vào.
Luân hồi và niết bàn nhất như.
Hỏi mọi người, thế nào là luân hồi - niết bàn nhất như?


### 45. Phụ lục: Những chuyện cảm ứng


**Chuyện cảm ứng 1**

Hội giáo sư tiến sĩ Chân Phật Tông ở Hongkong có Lương Siêu Phàm, sau khi tham gia đại pháp hội được tổ chức tại Nhà tưởng niệm Tưởng Giới Thạch của Sư Tôn, bệnh thoái hóa đốt sống cổ nhiều năm cải thiện rõ rệt, đặc biệt viết bài viết này để báo cáo với Sư Phật!

Liên Hoa Siêu Phàm.
Không phải là Hà sư huynh nói khoác, anh ấy dặn dò tôi cần viết ra bản văn này, tôi rất căng thẳng, không biết bản thân mình viết ra làm sao, nên chỉ dùng những câu văn đơn giản nhất để mô tả lại những gì mà chính bản thân mình đã trải qua, nếu như có sơ xuất thì mong được thứ lỗi cho.

Cá nhân tôi cảm thấy ở trên cõi đời này, ốm đau là cái khổ lớn số một. Như tôi đã kể ngày hôm qua, trong một năm, số lượng từ chữ Hán mà tôi có thể nhập lên tới 1,5 triệu chữ, đó là chưa bao gồm việc nhập tiếng Anh, vì thế, tôi đã mắc bệnh đau đốt sống cổ.

Thật ra tôi bị bệnh đau đốt sống cổ đã 10 năm rồi, tôi đã gặp vấn đề này kể từ khi còn học trường Y. Những đứa trẻ học ở trường Y tương đối vất vả, thứ bảy, chủ nhật người khác đều được chơi thì chúng tôi vẫn vùi đầu ở trong khoa để đọc sách, thật sự là học mải miết luôn! Vì thế, sau một thời gian dài cúi đầu, đốt sống cổ của tôi không chịu được sức nặng, độ cong sinh lý của thân thể bắt đầu tiêu biến, xương dần dần trở nên cứng, từ từ xuất hiện cơn đau dai dẳng. Lúc đó tôi có đến gặp cô giáo vật lý trị liệu trong bệnh viện, cô ấy lấy tay sờ thì bảo đốt sống cổ thứ tư bị vẹo nên đau là lẽ tự nhiên. Kể từ đó, các liệu pháp massage khác nhau đã kết duyên với tôi. Cũng may khi ấy tôi vẫn còn trẻ, sau khi ngồi học cả đêm thì cổ rất đau, nhưng trị liệu và nghỉ ngơi một, hai ngày là có thể cải thiện đáng kể.

Sau này, tôi tiếp tục học y học cơ sở và nghiên cứu khoa học về bệnh lý và sinh lý, đòi hỏi dành nhiều thời gian trước kính hiển vi và công việc cần phải làm mỗi ngày - đó là dùng sợi dây thép mảnh như sợi tóc xuyên qua lớp màng động mạch của màng ruột của chuột để làm thành một vòng mạch máu. (Tôi đã cố gắng hết sức để nói một cách phổ cập khoa học, vòng mạch máu không dày hơn sợi tóc là bao nhiêu, còn có một lớp tế bào nội mô ở trong cùng, nếu không xuyên được đúng thì sẽ khiến cho các tế bào bị bong ra, thí nghiệm ngày hôm đó đã kết thúc sớm hơn. Chà, cho nên đủ mọi thứ không dễ dàng.)

Do công việc thường xuyên lặp đi lặp lại hàng ngày, bệnh thoái hóa đốt sống cổ càng nặng thêm, nhưng tôi vẫn tiếp tục bước đi trên con đường dài đằng đẵng của ngành y.

Tôi nhớ từng gặp bác sĩ khoa xương đã chụp X-quang cho tôi và ông ấy nói rằng đốt sống cổ thứ tư, thứ bảy và đốt sống ngực thứ tư đều bị lệch, cùng với công việc cúi nhiều và căng thẳng trong thời gian dài, một số dấu hiệu vôi hóa đã xuất hiện ở rìa đốt sống cổ (tôi thấy có lẽ là tổ chức xương sụn). Bác sĩ ấy đã điều trị một số triệu chứng, nhưng cơn đau cổ vẫn thường xuyên phát tác. Sau đó, tôi cũng tập vật lý trị liệu Tây y, bệnh cũng thuyên giảm phần nào nhưng không khỏi. Bác sĩ vật lý trị liệu còn nói đùa với tôi: "Xương của anh rất cứng, ngồi sai, ấn lại rất khó. Anh đúng là có khí phách! Anh chắc chắn là nằm trong số năm phần trăm người châu Á có xương cứng nhất."

Căn bệnh thoái hóa đốt sống cổ đã nhiều lần đồng hành cùng tôi suốt những năm tháng học đại học, rồi bước vào công việc hiện tại. Công việc hiện tại của tôi liên quan nhiều đến giấy tờ, nhập liệu nhiều văn bản trên máy tính khiến bệnh thoái hóa đốt sống cổ của tôi ngày càng trầm trọng hơn.

Thật may, lần này quy y Căn bản Truyền thừa Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật, tôi cũng đoán bệnh đau cổ của mình là do có nghiệp chướng, cho nên khi tham gia pháp hội, tôi sẽ thỉnh cầu gia trì cho xương cổ của mình không còn đau như vậy nữa.

Quả nhiên là do duyên số, tôi đã quen biết một vị bác sĩ cũng có duyên với đạo Phật và có tài năng điều trị những căn bệnh liên quan đến xương khớp (tôi luôn nghĩ rằng do Sư Tôn sắp xếp cho tôi có thể gặp được bác sĩ ấy). Vị bác sĩ này họ Lâm, ban đầu tôi tìm đến ông ấy chỉ là để điều chỉnh phần dưới cơ thể (vì lý do công việc nên tôi thường xuyên phải đi công tác, bôn ba khắp nơi).

Có một lần trong lúc chờ bác sĩ, tôi nghe mấy người già bên cạnh nói chuyện rằng bản thân họ vốn bị bệnh viêm dính bao khớp vai, cánh tay của họ đau đến mức không thể cử động, nhưng sau khi được bác sĩ Lâm châm cứu, giờ đây họ có thể chơi mạt chược hàng chục ván liên tục. Nghe vậy tôi mừng quá, nghĩ chắc căn bệnh thoái hóa đốt sống cổ của mình có thể cứu được. Vì vậy, khi tôi gặp bác sĩ Lâm, tôi đã nhờ ông ấy giúp châm cứu và xoa bóp.

Quả nhiên bác sĩ Lâm y thuật cao cường, sau vài lần châm cứu và uống thuốc bắc, cơn đau cổ thuyên giảm rất nhiều, ban đầu là cơn đau kéo dài liên tục suốt 24 giờ (từ lúc mở mắt ngủ dậy đến lúc nhắm mắt đi ngủ, dù đi, đứng, ngồi, nằm, lúc nào cũng đau), sau đó khoảng cách giữa các cơn đau kéo dài dần, tôi cảm nhận sâu sắc rằng các triệu chứng của bệnh thoái hóa đốt sống cổ đã được kiểm soát. Là một sinh viên y khoa, tôi nhận thức rõ rằng bệnh thoái hóa đốt sống cổ sẽ không thể chữa khỏi hoàn toàn, và việc làm thuyên giảm được các triệu chứng và làm chậm quá trình tiến triển của bệnh đã là điều rất may mắn rồi. Tôi đã lo sợ rằng cả đời này sẽ phải chịu căn bệnh thoái hóa đốt sống cổ cho đến khi già chết. Bởi vì tôi thường đến bác sĩ Lâm để khám bệnh và làm bạn với ông ấy, ông ấy cũng cười nhạo cơ vai của tôi quá cứng khiến cho kim của ông ấy cũng bị cong luôn.

Nói một hồi lâu vẫn chưa vào chủ đề chính, đoạn đầu tôi có nói đến bệnh thoái hóa đốt sống cổ của tôi có từ lâu, cho đến tận bây giờ vẫn chưa chữa khỏi. Sau khi quy y Sư Tôn, tôi luôn cố gắng hết sức để tham gia pháp hội của Sư Tôn, nhưng vì sức ì của bản thân khá lớn, tôi thường xuyên chỉ nghe pháp mà không thực tu (thật xấu hổ, đúng là điển hình chỉ hiểu lý thuyết mà không thực hành).

Tuy nhiên, lần này rất có nhân duyên tham gia đại pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang do đích thân Sư Tôn chủ trì tại Nhà tưởng niệm Tưởng Giới Thạch, hơn nữa trong pháp hội Sư Tôn nói: "Xin mọi người dùng tay đặt vào chỗ bị đau của mình, thỉnh Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang gia trì!"

Tôi dùng tay đặt lên cổ, nhưng thực ra, tôi cảm thấy hơi không tự tin, vì tôi bình thường không thực tu. Tuy nhiên, sau khi được gia trì, tôi thực sự cảm thấy đốt sống cổ nóng ran, giống như cảm giác tôi thường cảm thấy sau khi châm cứu ở chỗ bác sĩ Lâm, sau đó, tôi bắt đầu cảm thấy cổ của mình ngày càng linh hoạt hơn trước. Trước kia khi tôi quay đầu ra sau sẽ cảm thấy căng cơ ở cổ, khi quay sang phải thì vì xương cổ bị lệch nên biên độ quay rất có hạn.

Sau khi tham gia pháp hội, cảm giác này đột nhiên biến mất, hơn nữa lại còn đúng vào ngày diễn ra pháp hội đó! Cảm giác về áp lực bình thường ở cổ đã biến mất, cả người tôi đều nhẹ nhõm hơn rất nhiều, cơn đau cổ đã đeo bám tôi nhiều năm thực sự đã biến mất tám phần mười sau pháp hội đó, còn lại hai phần mười cơn đau nhức thì dần dần biến mất trong những ngày tiếp sau đó.

Sau pháp hội, vì lý do công việc, tôi đã làm việc liên tục trước máy tính hơn mười giờ mỗi ngày, và cúi đầu làm việc trước máy tính trong gần hai tuần. (Trong vòng một tuần, tôi đã hoàn thành một tài liệu khiếu nại, hai kế hoạch thử nghiệm lâm sàng sản phụ khoa, hai kế hoạch thử nghiệm lâm sàng về hô hấp, một kế hoạch phát triển dự án nhãn khoa, hai kế hoạch lâm sàng hiệu đính tiếng Trung và tiếng Anh và những kế hoạch khác.) Và chứng đau cổ của tôi không hề phát tác, điều này hoàn toàn không thể xảy ra trước đây! Tôi thực sự biết ơn từ tận đáy lòng mình đối với Căn bản Truyền thừa Thượng sư của tôi, nếu không có thầy, tôi sẽ không có tất cả những gì tôi có!

Vì vậy, mỗi ngày sau giờ làm việc, tôi sẽ cảm ơn sư phụ một lần trong lòng, nhờ có thầy mà tôi có thể hoàn thành công việc một cách hiệu quả và chu đáo, không bị phân tâm, không còn lo lắng về chứng đau mỏi cổ. Khi tôi viết điều này, đốt sống cổ thứ bảy của tôi hơi đau một chút, nhưng tôi rất mãn nguyện rồi, vì tôi đã được trải nghiệm lại niềm hạnh phúc khi không còn đau cổ! Tôi không biết sau này có bị đau cổ hay không, nhưng điều tôi muốn nói đến chính là sự linh nghiệm chân thực trong pháp hội của Sư Tôn, bệnh thoái hóa đốt sống cổ mười mấy năm nay, rất nhiều loại thuốc tây, Tây y đều không chữa được, thế mà trong pháp hội của Sư Tôn đã khỏi rồi!

Đây tuyệt đối không phải là nói khoác, không phải khoác lác, không hề khoác lác, điều quan trọng này phải lặp lại ba lần! Sư Tôn mới là đại thần y chân chính ở thế gian.

Liên Hoa Siêu Phàm.

🌟

**Chuyện cảm ứng 2**

Đảnh lễ Sư Tôn:
Kể từ sau khi Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật đích thân chủ trì pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang ngày 28 tháng 2, tôi trở về Thụy Điển, trong mấy ngày này mới phát hiện ra bệnh thấp khớp ở bắp chân trái của tôi đã lành. Căn bệnh kéo dài bảy năm, vào những ngày âm u, bệnh phong thấp giống như con rắn nhỏ chạy lên chạy xuống, sang trái sang phải. Bây giờ không còn đau một chút nào nữa rồi!

Tôi còn có mấy khối u mỡ dưới da ở trước ngực, cũng đã bảy, tám năm rồi, chúng cứ to dần lên, có lúc rất đau đớn. Tôi vẫn luôn muốn làm phẫu thuật, nhưng bệnh viện không dễ sắp xếp thời gian, tôi cũng bận đến nỗi không có thời gian đi đặt lịch khám, không thể đình chỉ công tác. Thế nhưng, bây giờ đột nhiên phát hiện ra những khối u ở dưới da không to lên nữa, mà từ từ thu nhỏ lại, hy vọng có thể tiêu trừ, tôi sẽ tiếp tục trì chú!

Còn nữa, thông thường sau khi khỏi cảm cúm, tôi sẽ bị viêm mũi, nhưng sau pháp hội này, khi khỏi cảm cúm, rất kỳ lạ là mũi còn thông hơn so với lúc trước. Ha ha ha, ngay cả chứng viêm mũi cũng khỏi rồi. Trước kia tôi cho rằng chứng viêm mũi ảnh hưởng đến việc hít vào thở ra khi tôi tu pháp, bây giờ thì tốt rồi, là nhờ Sư Tôn gia trì để tôi có thể làm hít thở của nội pháp! Bệnh axit dạ dày cũng đỡ nhiều rồi! Cảm ơn lòng từ bi của Sư Tôn và pháp lực vô thượng đã gia trì!

Liên Hoa Ngọc Quốc khấu đầu.

🌟

**Chuyện cảm ứng 3**

Căn bệnh kinh niên hơn 20 năm ấy thế mà biến mất rồi.
Khi tham gia pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang của Sư Tôn vào ngày 28 tháng 2, trong pháp hội Thánh Tôn đột ngột tuyên bố, Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang chỉ thị lại tụng chú trong vòng năm phút để gia trì cho đệ tử, chỗ nào có bệnh thì sờ vào chỗ đó.

Khi ấy tôi ngay lập tức cảm thấy đây đúng là cơ hội nghìn năm khó gặp, bởi vì cái chứng bệnh giãn tĩnh mạch suốt hai mươi mấy năm qua đã luôn quấy nhiễu tôi, không thể nào nói hết bằng lời được. Mỗi khi căn bệnh ấy phát tác, tôi không có cách nào đứng dậy được, hơn nữa nó còn kéo dài suốt mấy giờ đồng hồ không hết. Trong suốt hai mươi mấy năm qua, nó cực kì ảnh hưởng đến cuộc sống thường ngày và việc tu hành của tôi. Hơn 20 năm trước tôi đã tìm đến bác sĩ Đông, Tây y để trị liệu, bất kể là dùng thuốc Đông y hay Tây y, hay là châm cứu, đều không có cách nào chữa trị hoàn toàn được, nó vẫn luôn thỉnh thoảng lại phát sinh. Sau khi quy y, tôi biết đây là do nghiệp lực nhiều kiếp, căn bệnh kinh niên này sẽ theo tôi cả đời để thường xuyên nhắc nhở tôi phải giữ giới hạnh!

Tại pháp hội, sau khi nghe Sư Tôn từ bi tuyên bố, tôi lập tức dùng tay đặt vào chỗ đau, nhìn Sư Tôn, trì tụng chú Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, suốt năm phút quán tưởng đại quang minh gia trì vào chỗ đau, rất ấm áp!

Khi pháp hội kết thúc, tôi bận rộn với những việc khác, cũng không để ý xem chỗ đau này có còn không. Từ khi tham gia pháp hội xong trở về Thụy Điển đã 21 ngày rồi, từ đầu tới cuối chỗ đó đều không còn đau nữa, bây giờ thật sự khiến tôi vui mừng đến phát điên, nghiệp chướng bệnh tật đã theo tôi cả đời không ngờ dưới sự gia trì của Sư Tôn đã hoàn toàn tiêu trừ rồi, đã giải trừ cái xiềng xích trói buộc trên thân thể tôi, thật sự quá cảm ơn Sư Tôn vô thượng từ bi và pháp lực đại gia trì!

Các đệ tử Thụy Điển lần này tham gia pháp hội của Sư Tôn hai tuần, thật sự đã thu hoạch được rất rất nhiều, Sư Tôn đã gia trì cho đạo tràng ở Thụy Điển và ban cho tên là Tu Đức Đường và ban cho bút tích trân quý, còn khích lệ chúng tôi ở Thụy Điển tu hành cho tốt, ở nơi ấy hoàn cảnh thuần phác, là một nơi vô cùng thích hợp với tu hành, chăm chỉ tu hành và nỗ lực truyền bá Chân Phật Mật Pháp. Sư Tôn từ bi đã gia trì rất nhiều cho các đệ tử Thụy Điển hành hương tham gia pháp hội lần này, Sư Tôn còn vỗ lên vai trái của tôi năm lần, là đại gia trì đó! Đạo tràng mới của Thụy Điển dưới đại gia trì của Sư Tôn nhất định sẽ tinh tấn thực tu, phát triển mạnh mẽ, quảng độ chúng sinh!

Các đệ tử Thụy Điển ở Bắc Âu xa xôi quỳ xuống cảm tạ Phật ân.
Liên Hoa Đại Bàng tại Thụy Điển.

🌟

**Chuyện cảm ứng 4**

Đoàn tổng hội Mật giáo Malaysia và Liên Hoa Thúy Lan đại diện làm chứng:
Vô cùng cảm động, tôi muốn cảm ơn Sư Tôn từ bi vĩ đại nhất, chính tại pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, Sư Tôn từ bi với tấm lòng yêu thương vĩ đại trong lúc khai thị đã nói, niệm thêm năm phút tâm chú Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, chỗ nào có bệnh thì đặt tay vào chỗ đó, cho nên trong tiếng niệm chú âm, tôi đã đặt lên ngón tay cái của mình, vốn dĩ tôi đã vô tình khiến ngón tay này bị đứt và đã được nối lại, nhưng nó hoàn toàn không thể cong lại được. Khi ấy ngay tại pháp hội, tôi đã cảm giác tay mình ấm lên, máu đang tuần hoàn, sản sinh ra kỳ tích, ngón cái của tôi ấy thế mà lập tức có thể cong lại được, ngay tại chỗ tôi cảm động đến mức khóc òa lên. Cảm ơn Sư Tôn từ bi vĩ đại, thật là quá bất khả tư nghì rồi! Cảm kích bất tận!

🌟

**Chuyện cảm ứng 5**

Lưu Nghi Hoa nói:
Tôi muốn cảm ơn cảm tạ Thánh Tôn, Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, chư Phật Bồ Tát Hộ Pháp Kim Cang thần chúng. Ngày 28 tháng 2, tại pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang của Trung Quán Đường tại Nhà tưởng niệm Tưởng Giới Thạch, đã phát năm phút tâm chú Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, khiến cho cái tay bị thương từ tháng 10 năm ngoái đến nay của tôi, cho dù đã mấy lần đi khám Đông y và uống thuốc bắc, nhưng vẫn không nhấc lên được, thì nay đã có thể nhấc lên được rồi!

🌟

**Chuyện cảm ứng 6**

Aimee nói:
Nhất tâm đảnh lễ Căn bản Truyền thừa Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật, đảnh lễ pháp hội chủ tôn Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, cảm tạ Sư Tôn và Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang từ bi phóng quang gia trì. Đệ tử Liên Hoa Tĩnh Văn vốn dĩ hai mắt thường xuyên bị đau nhức, dưới sự gia trì của Sư Tôn và Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, sau khi mở to hai mắt thì lập tức mắt nhìn rất rõ ràng và thoải mái! Những người bạn ở xung quanh trên người có chỗ nào không thoải mái thì cũng đều cảm nhận được sự dễ chịu ngay lập tức, thật sự quá cảm tạ Sư Tôn và Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang từ bi cứu độ chúng sinh.

Trong pháp hội thỉnh thoảng đã kiến chứng tâm từ bi và sức mạnh thu hút của Phật Bồ Tát. Đệ tử Liên Hoa Tĩnh Văn có may mắn trở thành đệ tử của Sư Tôn, từ nhỏ đã được cha mẹ đưa đến quy y Sư Tôn, đã hơn 20 năm rồi. Từ nhỏ không có người đặc biệt dạy bảo con, con từ nhỏ đã rất thích niệm thầm tâm chú của Căn bản Thượng sư, mỗi khi có nguy nan xảy ra đều gặp dữ hóa lành, rất nhiều lần tai nạn cũng đều xảy ra kỳ tích khiến con không bị thương dù chỉ một sợi tóc. Lúc nhỏ con cũng rất thích ở bên cạnh mẹ, cùng mẹ đi mua băng đĩa, nghe Sư Tôn giảng giải Viên Giác Kinh, Sư Tôn thuyết pháp thật sự không hề giả dối. Sau này trưởng thành, con còn có duyên gặp được người chồng cũng quy y Sư Tôn, mỗi lần pháp hội cả nhà đều tham dự, con trai con từ nhỏ cũng thích Sư Tôn và Phật Bồ Tát.

Cảm tạ Sư Tôn thuyết pháp suốt 40 năm như một ngày, không nề hà gian lao vất vả vì chúng sinh mà quảng thuyết pháp yếu, là một người chứng ngộ đắc đạo chân chính! Om guru liansheng siddhi hum.
Đệ tử Liên Hoa Tĩnh Văn thành kính chúc Sư Tôn: Phật thể an khang, trường trụ thế gian, đại chuyển pháp luân, phổ độ chúng sinh!

🌟

**Chuyện cảm ứng 7**

Liên Hoa Đạt Trí nói:
Đệ tử từ Kuala Lumpur Malaysia. Pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng ngày hôm đó, lúc Sư Tôn phát đại lực, tay con đặt vào cổ họng, căn bệnh suốt 3 tháng nay, bây giờ cảm giác đã tốt hơn nhiều. Tay đặt vào đầu gối chân trái, căn bệnh đau chân suốt 10 năm qua cảm giác đã khá hơn. Cảm ơn Sư Tôn và Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang.

🌟

**Chuyện cảm ứng 8**

Đệ tử Hongkong Liên Hoa Khải Hân "Mắt To" đảnh lễ cảm ơn Sư Tôn vĩ đại, con cũng làm chứng:
Kể một sự việc cho mọi người nghe! Mấy ngày trước pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, ở Đài Trung con chạy xe bị tông xe, lúc đang ở trên đường chuẩn bị qua đường, đầu xe bên phải va vào đầu gối trái, bánh trước bên phải đập vào chân phải, và hơi sượt một chút vào chân trái. Toàn bộ chân phải của con sau khi bị tông trúng thì từ mắt cá chân trở xuống đã hoàn toàn không còn cảm giác gì nữa. Những người qua đường đã giúp gọi cảnh sát đưa con đến bệnh viện. Đến phòng cấp cứu của bệnh viện, chụp X-quang, bác sĩ xem X-quang xong nói cơ bản không làm sao cả. Con cũng ngồi đơ ra trước mặt bác sĩ. Rõ ràng là chân con bị mất cảm giác sau khi bị va đập, và hai tiếng sau, con đau như thể xương gãy ra, chân vẫn luôn bị tê, nhưng chụp X-quang cho thấy xương hoàn toàn ổn! Con luôn cảm thấy đó là Sư Tôn và chư Phật Bồ Tát gia trì, bởi vì nếu phải nhập viện thì chắc chắn sẽ không tham gia được pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang. Bác sĩ thấy xương của con không có vấn đề gì nên lập tức cho con xuất viện.

Trong pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, Sư Tôn bảo mọi người trì chú trong năm phút, gia trì cho chỗ đau bệnh của mọi người. Trong lúc trì chú, con cũng đặt tay lên chân phải của mình, cảm giác cũng giống rất nhiều đồng môn, đó là có cảm giác dòng chảy pháp dội xuống toàn thân như điện giật. Bàn chân phải của con vốn dĩ vẫn luôn không cử động được, nhưng khi trì chú, bàn chân phải cứ thế tự nhún nhảy, trì chú xong, chân đã hoàn toàn không đau nữa rồi! Đúng là Sư Tôn đại gia trì, nghiệp lớn quả báo nhỏ!

🌟

**Chuyện cảm ứng 9**

Sư tỉ Trần Truyền Phương nói:
Tham gia pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang xong trở về Mỹ, hôm nay ngày 9 tháng 3 tôi đi khám bác sĩ khoa mắt, bác sĩ nói mắt trái của tôi bị bệnh mắt đỏ không ngờ đã khỏi rồi, cũng không còn bị viêm nữa, tuyến lệ cũng thông rồi, thật sự cảm tạ sự gia trì của Sư Phật, thật là vui quá! Pháp lực, sự gia trì và lòng từ bi của Sư Phật là bất khả tư nghì! Cảm ơn!

🌟

**Chuyện cảm ứng 10**

Đệ tử Malaysia Liên Hoa Mị Lợi (Sherry) nói:
Lúc Sư Tôn giới thiệu khách quý, đệ tử tranh thủ đi vào nhà vệ sinh (lúc ấy nhà vệ sinh nữ xếp hàng dài, cho nên phải tranh thủ dùng bên nhà vệ sinh nam), bởi vì lo lắng không nghe được Sư Phật khai thị, nên khi con đi ra thấy Sư Phật đang gia trì thì nghĩ thầm: "Sư Tôn khai thị xong nhanh như vậy nhỉ? Bắt đầu quán đảnh ư?" Thật sự không biết phải làm sao…..

Trông thấy mọi người đều đang ngồi, thế là con vội vàng trở về chỗ ngồi của mình, chỉ thấy Sư Tôn đang gia trì, nên cũng yên lặng ngồi xuống trì chú Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang thì có một sức mạnh cảm ứng nói rằng: "Chỗ nào có đau bệnh thì đặt tay vào chỗ đó, Căn bản Thượng sư đang gia trì." Con liền vội vã đặt tay lên chỗ có bệnh ở trên người, mau chóng thỉnh cầu Sư Tôn gia trì, Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang và trăm vị Bổn tôn văn võ gia trì, Diêu Trì Kim Mẫu gia trì cho bệnh tật trên thân thể của đệ tử tiêu trừ, nghiệp chướng tiêu trừ, định huệ giải thoát, v.v… không ngừng cầu nguyện. Sau khi xong, con liền hỏi đồng môn vừa rồi xảy ra chuyện gì vậy. Thế rồi con mới biết là đó là năm phút gia trì, thật sự bất khả tư nghì. Buổi tối hôm đó con mơ thấy mình trì tâm chú Sư Tôn và kết thủ ấn, nhìn thấy sợi chỉ ngũ sắc gia trì trên đỉnh đầu con, oan thân trái chủ trên người con từ đỉnh đầu bị lôi ra, vùng vẫy đầy phẫn nộ, tiếp theo từ mi tâm lôi ra… Con cứ khóc mãi cho đến khi tỉnh dậy. Buổi tối ngày thứ hai, con mơ thấy đang tham gia pháp hội Tôn Thắng Phật Mẫu, cầm chày kim cang chữ thập cho vào lò Hộ Ma. Ngày thứ ba con mơ thấy Sư Tôn trong pháp hội kêu đệ tử cầm nước bát cúng, Sư Tôn vỗ vào lưng của đệ tử (vì lưng thường xuyên bị đau), sau khi tỉnh dậy cảm giác lưng không còn đau nữa, thật sự là một pháp hội thù thắng rất bất khả tư nghì.

Đệ tử vô cùng cảm ơn sự gia trì của Sư Phật, chắp tay đảnh lễ!

🌟

**Chuyện cảm ứng 11**

Khuyết Huệ Linh nói:
Sư Tôn cũng làm môi giới nhà cửa đó! Sự tình là như thế này, tôi có một căn phòng đôi ở Keelung, và người thuê nhà vừa nói với tôi vào ngày 5 tháng 3 rằng anh ta đã được chuyển đến Đài Bắc để làm việc, phải nhậm chức vào ngày 10 tháng 3 nên ngày 9 tháng 3 người thuê nhà đã chuyển đi, ngày 10 tháng 3 tôi dọn dẹp nhà, và ngày 11 tháng 3 tôi quảng cáo cho thuê. Vào 10 giờ và 11 giờ sáng thứ bảy ngày 12 tháng 3, có hai nhóm khách đến xem nhà, một là cặp vợ chồng mới cưới muốn thuê để làm phòng tân hôn, sẵn sàng trả trước nửa năm tiền thuê phòng, nhóm kia là hai cô gái trẻ, muốn làm bảo mẫu tại nhà, chăm sóc cho bốn đứa trẻ dưới 3 tuổi.

Thật tình cờ, bảo mẫu Trần nhìn về phía tủ sách, trông thấy tôi để cuốn sách "Gặp được quý nhân", cô ấy nói đó là sư phụ của cô ấy. Tôi hỏi: "Cô cũng là đệ tử Chân Phật Tông sao?" Cô ấy nói cha của cô ấy là ông Hứa X Tân đã quy y 30 năm rồi. Cô ấy nói đã tìm nhà nửa năm nay nhưng đều không có nơi nào vừa ý. Bạn của cô nói: "Cô ấy à, thể chất nhạy cảm lắm, có lúc đi vào một căn nhà sẽ cảm thấy trời đất ngả nghiêng, hoa mắt chóng mặt." Bởi vì cô ấy là đệ tử Chân Phật Tông, pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang ngày 28 tháng 2, cô ấy cũng cầu nguyện Sư Tôn ban cho cô ấy một căn nhà tốt.
Bạn nói xem có đúng là trùng hợp không!
Căn nhà đã được cho thuê ngày hôm nay.

Tôi còn lo lắng nếu ngày 13 tháng 6 tôi phải đi Seattle thì tôi phải làm sao mới được đây. Như thế này là tôi đã nhấc được tảng đá lớn trong lòng ra rồi.

🌟

**Chuyện cảm ứng 12**

Hứa sư huynh nói:
Làm chứng muộn - đệ tử Liên Hoa Ngốc Nghếch tham gia pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang ngày 28 tháng 2, Sư Phật nói: "Lại tụng tâm chú Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang trong năm phút, mọi người hãy sờ vào chỗ có bệnh hoặc chỗ không khỏe thì sẽ khỏi." Lúc ấy tôi quay sang nói với sư tỉ: "Toàn thân đều hỏng hóc hết cả rồi, phải sờ vào chỗ nào đây?" (Chỉ muốn ngồi lên một tòa hoa sen rồi tự thiêu sạch chính mình luôn!) Đột nhiên tôi nhớ đến lời mẹ vợ tôi nói: "Sư Phật khỏe mạnh sống lâu có thể cứu được càng nhiều chúng sinh hơn." (Hơn nữa Sư Phật cũng từng nói bản thân ngài sẽ không cầu thành Phật Bồ Tát.) Khi ấy tôi liền thỉnh cầu Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang gia trì cho Sư Phật được Phật thể an khang vĩnh viễn 80 tuổi. Thật là kỳ diệu đó! Tôi thỉnh cầu Sư Phật Phật thể an khang, không ngờ những căn bệnh trên người tôi cũng khỏi cả rồi (tôi mổ trĩ dẫn đến chảy máu huyết quản, gây ra vấn đề về tim), bệnh trĩ đã hai tuần không còn chảy máu nữa, thân thể khỏe mạnh và cũng dần dần hồi phục. Sư Phật thật sự quá thần diệu rồi, Chân Phật Mật Pháp là số một.

🌟

**Chuyện cảm ứng 13**

Không phải khoác lác.
Tôi có thể trọng vượt quá 100kg, cỡ chân chỉ là cỡ 40, cũng không phải là từ nhỏ đã có thể trạng béo tốt nên cơ gân khớp đều tương đối mỏng. Thời cấp hai tôi thích đá bóng, bong gân, bị thương ở mắt cá chân đã là chuyện thường gặp. Chứng viêm gan bàn chân thường xảy ra, nhất là khi ra khỏi nhà phải đi bộ tương đối nhiều, hoặc do phải đẩy xe lăn, khiến cho cơn đau càng trầm trọng, những năm gần đây thì tôi phải luôn mang theo cao dán có dược tính bên mình.

Tham gia pháp hội mùa xuân năm Bính Thân, lúc rời khỏi nhà, tôi vội vội vàng vàng nên quên mang theo cao dán đã chuẩn bị sẵn, cho nên buổi tối đầu tiên đến Đài Trung, bàn chân của tôi đã sưng lên, phải ngâm nước nóng để giảm tốc độ sưng của nó. Bữa sáng bắt đầu vào lúc 8 giờ sáng ngày hôm sau, và sau đó tôi phải chống đỡ cơ thể 100kg của mình trong mười hai giờ trước khi đi ăn tối. Tối hôm đó trở về khách sạn, kéo theo thân thể mệt mỏi này, có thể tưởng tượng được cơ gân bàn chân tôi thê thảm đến thế nào. Ngâm nước nóng dường như không còn có thể làm nó dễ chịu nữa. Vào ngày thứ ba, khoảng 6:30 sáng, tôi cố gắng hết sức để mát xa chân trước khi bắt đầu tập thể dục. Nhưng thật không may, đoạn đường phải đi bộ để ra tàu cao tốc đã khiến cho tôi bước đi mỗi bước mà như nghe thấy được cơ bàn chân căng cứng của mình đang nổ tung ra!

Lúc đi trên tàu điện cao tốc tôi đã gặp Sư Phật, thật sự giống như được uống một liều thuốc kích thích nhẹ, mãi cho đến khi ngồi xuống hội trường, lúc ấy thì bất kì một bước chân nào một động tác nhỏ nào cũng đều cảm thấy đau đớn. Thế nhưng tôi vẫn phải vội đến khách sạn vào buổi trưa để xác nhận phòng, sư tỉ Sherry rất tốt bụng đã đi cùng tôi, nhưng rõ ràng là rất khó khăn để tiếp tục cất bước.

Ông trời vẫn đối tốt với tôi, ngay khi tôi vừa ra khỏi ngã tư đường Tín Nghĩa, tôi đã nhìn thấy chiếc xe "chó bay 116", đó là người anh em Lâm Khuê Hoành của tôi! Vòng vèo một hồi chúng tôi đã đến tầng dưới của khách sạn trên đường Công Viên. Người anh em ấy không lấy tiền của tôi, ha, lần này lại lời nữa rồi!

Sau khi đặt hành lý nặng nề xuống, tôi ăn mì udon cà ri ở đường Vi Phong dưới lòng đất, rồi vội vã quay lại quảng trường Tự Do để gặp sư huynh Quốc Hưng. Pháp hội vẫn chưa bắt đầu, cơn đau cơ bàn chân đã lan đến vùng lân cận của đĩa đệm thắt lưng, nhưng tôi không dám kêu lên sợ ảnh hưởng đến người khác. Cứ ba, năm phút là tôi phải thay đổi tư thế ngồi, thậm chí phải đá chân và xoa bóp. Cuối cùng tôi vẫn không thể chịu đựng được, phần tu pháp của pháp hội vừa kết thúc, tôi liền rời khỏi chỗ ngồi đứng ra bên ngoài để vươn mình. Sư Tôn ngồi trên pháp tọa thần toán, sau đó tuyên bố tụng chú năm phút, tôi cũng ngoan ngoãn trở về chỗ ngồi để tụng niệm. Không phải khoác lác, sau mấy phút này, tất cả mọi cơn đau nhức ở chân và thắt lưng đều biến mất ngay lập tức không còn tông tích gì, ơn thầy vĩ đại quá!

Sư huynh Quốc Hưng ngồi bên cạnh tôi nên tôi đã nói thật cho anh ấy biết. Ha ha, chen chúc xếp hàng để đi qua tràng phan quán đảnh, còn phải đi nhiễu tháp, sư huynh Quốc Hưng luôn đi cùng tôi. Buổi tối tôi cùng với sư huynh Jimmy, thiện tri thức và các trai xinh gái đẹp sư huynh tụ tập vây quanh lò cúng Hộ Ma, cho mãi đến tận khuya mà vẫn không hề thấy đau đớn gì. Sáng nay tôi thức dậy lúc 6 giờ, về tới nhà lúc 3 rưỡi, nhìn lại bàn chân của tôi thì gân cơ hai bên hết sưng, nhưng không đau như mọi khi, chỉ còn hơi nhoi nhói một chút. Nói để bạn biết, sư phụ của tôi là Liên Sinh Hoạt Phật! Từng chữ tôi viết ra đều là chân chân thật thật, không phải là khoác lác đâu!

Liên Hoa Trọng Hành ở Hongkong cung kính.

🌟

**Chuyện cảm ứng 14**

Được là một trong số 50 nghìn người có được may mắn chữa bệnh bằng tâm linh.

Ngày 3 tháng 2 năm 2016, tôi từng có may mắn được dùng bữa cơm cùng Sư Phật, khi Sư Phật gia trì cho mọi người, thật sự tôi rất muốn cầu thỉnh Sư Phật gia trì đặc biệt cho cái dạ dày của tôi, chính xác như lời Sư Phật nói: "Thói quen sinh hoạt và ăn uống không đúng cách ảnh hưởng lớn nhất đến cơ thể bạn." Chính vì vậy mới sinh ra tình trạng trào ngược axit dạ dày lâu ngày. Nhưng với tư cách là một đệ tử, tôi thực sự không dám làm phiền Sư Phật về vấn đề tầm thường này, và vì nam nữ có sự khác biệt, nên không hay lắm khi làm cho Sư Phật khó xử, vì thế đến trước Sư Phật tôi cũng không dám nói ra.

Đêm đó, tôi nằm mơ thấy một người tu đạo trẻ và rất đẹp ở chợ xem bói hỏi chuyện cho người ta. Tôi thấy hiếu kỳ nên bước lên trước để xem, hành giả này liếc nhìn tôi một cái rồi không nói năng gì mà đẩy tôi ra phía sau, ấn vào dạ dày của tôi mà nói: "Vẫn còn uế khí phải nhổ cho sạch." Thế rồi sau khi tôi nhổ ra một hơi khí đen, một dòng điện truyền đi khắp toàn thân tôi. Đúng vào lúc nước sôi lửa bỏng này, tôi vốn muốn tức điên và hét lên: "Người là ai? Sao lại tùy tiện gia trì cho tôi, làm loạn truyền thừa của tôi…" Kết quả là tôi mới chỉ thốt ra tiếng "người" thì ngay lập tức miệng đã đông cứng lại, bởi vì từ trường lan ra khắp toàn thân tôi thật sự là quá đỗi quen thuộc, chính là từ trường mà buổi tối hôm trước khi dùng cơm cùng Sư Phật vẫn còn rất mới mẻ trong ký ức của tôi.

Kể cũng lạ, sau khi ngủ mơ tỉnh dậy, chứng trào ngược axit dạ dày uống thuốc lâu ngày không khỏi mà giờ đã khỏi. Tôi cũng tự hỏi không biết Hộ Pháp Không Hành bên cạnh Sư Tôn có biết suy nghĩ của tôi không mà đặc biệt gia trì cho tôi trong mơ? Nhưng nghĩ nhiều mà không có được đáp án thì cũng vô ích, thế là tôi chỉ cho là cũng có một chút lợi ích, nên thầm cảm ơn trong lòng.

Mặc dù chứng trào ngược axit dạ dày đã đỡ rồi, nhưng thói quen ăn uống muốn thay đổi cũng không dễ, ngược lại, vì dạ dày đã khỏe rồi, cho nên những thứ như trà, cà phê tôi lại chẳng kiêng kị gì cả. Kết quả là vào ngày 28 tháng 2 năm 2016, buổi sáng ngày hôm Sư Phật chủ trì pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, khả năng là do lại uống cà phê, lại ăn bánh mì, thế là bệnh cũ tái phát. Khi pháp hội kết thúc, trong lòng tôi nghĩ thôi rồi không mang theo thuốc, miệng tôi đầy vị chua còn sót lại đang dần dần ăn mòn định lực của tôi, mà bên cạnh tôi chỉ có nước trà, càng uống càng nghiêm trọng hơn. Đúng vào lúc không biết làm thế nào mới tốt thì Sư Tôn tuyên bố với mọi người: "Chủ tôn chỉ thị rằng mọi người cùng trì tâm chú Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, xin mọi người đặt tay lên chỗ đau, có thể gia trì chữa bệnh." Chao ôi! Bằng cách này, để hơn 50 nghìn đệ tử tại pháp hội được cùng chữa bệnh bằng tâm linh, điều này thực sự chưa từng có, đại pháp lực chẳng ai sau này có thể làm được, khiến cho các đệ tử có mặt tại đó không ngớt kinh ngạc! Tại pháp hội tiếng vỗ tay không ngớt.

Ban đầu tôi có cảm nghĩ là, những người làm đệ tử thì nên cật lực khẩn cầu Sư Phật không thể làm như vậy mới phải, sao phải vì chúng sinh mà gánh lấy nghiệp lực lớn như vậy? Phật trụ thế gian mới là điều quan trọng nhất, là việc có lợi ích nhất đối với chúng sinh! Nhưng vì trước sự việc này tôi có chú ý thấy những ngón tay của Sư Tôn vì có sự chấn động do thần toán, nên biết Sư Tôn có nắm bắt được điều gì đó, cho nên lập tức tín tâm đã tràn đầy trong dạ dày tôi.

Hôm nay, người viết xin lấy nhân cách của mình ra để đảm bảo rằng những gì tôi nói là đúng, chính xác như Sư Tôn đã nói: "Bệnh nhẹ có thể khỏi lập tức!" Mấy ngày nay lại vì tôi ăn uống không hợp lý nên lại gây nên chứng trào ngược axit, nhưng nó đã biến mất mà chẳng vì lý do gì cả, ngay cả vị chua trong miệng cũng biến mất hết rồi!

Xin tán thán đại pháp lực của Sư Phật, cũng cảm ơn đại bi tâm vô lượng vô biên của Sư Phật! Thường ngày có thể tắm trong cam lộ pháp ngữ của Sư Tôn cũng thật sự khó mà gặp được giống như con rùa mù gặp đúng khúc gỗ nổi vậy, huống hồ lại được Sư Phật cứu độ bằng đại pháp lực như vậy. Ngày sau đệ tử sẽ trân trọng thân thể của mình, và chăm chỉ tu hành, mong kiếp sau vẫn có duyên thầy trò và có thể thân cận với Sư Phật hơn để báo đáp Sư Phật! Đệ tử vĩnh viễn cảm ơn cảm kích!

Liên Hoa Điền Châu chắp tay quỳ lạy!

🌟

**Chuyện cảm ứng 15**

Ngọc Quán Thăng:
Tôi cũng có được cảm ứng, vết thương cũ ở bả vai trái đã hành hạ tôi rất lâu rồi, được Sư Phật và Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang gia trì, cái vai và lưng vốn dĩ rất đau nhức nay thật sự không còn nhức nữa, thật quá bất khả tư nghì. Cảm ơn cảm tạ Thánh Tôn Căn bản Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật và Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang. Một cảm ứng khác là trước khi Sư Tôn quá bộ đến nơi diễn ra pháp hội, chim bồ câu đã sắp hàng trên không trung để bay múa, nếu không phải là tôi tận mắt nhìn thấy thì thật sự không dám tin. Cái vai lưng đau nói đến ở trên đã được chữa khỏi, và chim bồ câu xếp hàng chào đón Sư Phật đều là chính bản thân đệ tử tận mắt chứng kiến, tuyệt đối không nói khoác. Cảm tạ Sư Tôn, đệ tử hổ thẹn, sau này càng tinh tấn làm tốt kính sư, trọng pháp, thực tu! Cảm tạ Sư Tôn!

🌟

**Chuyện cảm ứng 16**

Sư huynh Phạm Tử Kiện ở Penang Malaysia kể:
Trước hết phải cảm ơn sự gia trì của Căn bản Truyền thừa Thượng Sư và Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang. Tôi là Phạm Tử Kiện, vào ngày chủ nhật 28/2, tôi ở tại Penang Malaysia thông qua truyền phát trực tiếp mà xem được pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang. Khi Sư Tôn đang khai thị từ bi nói rằng, niệm thêm năm phút tâm chú Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, chỗ nào có bệnh thì sờ vào chỗ đó. Khi đó trong lòng tôi rất hưng phấn, thế là tôi liền sờ vào chỗ eo sau lưng tôi, bởi vì mấy ngày trước không cẩn thận nên đã bị thương, bắp thịt hơi đau, đã khám bác sĩ rồi, thuốc cũng đã uống, nhưng vẫn còn hơi đau.

Ai ngờ khi chú âm vang lên, nước mắt tôi tự động cứ thế chảy ra không ngừng, điều này ngay cả bản thân tôi cũng không thể kiểm soát được, dường như là tôi đã bị tâm chú làm cho như vậy, nhưng tôi vẫn lớn tiếng và tập trung trì tâm chú Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang. Chú âm kết thúc, tôi bèn sờ thử vào phần eo bị thương, lúc này cảm thấy rất kì quái, dường như đã đỡ rất nhiều rồi, bắp thịt ở chỗ đó không còn cứng và đau như lúc trước nữa. Lúc này cả người tôi cảm thấy nhẹ nhõm hơn rất nhiều, thật là rất thù thắng.

Chuyện tốt lại tiếp tục đến, buổi chiều sau đó một ngày, có công ty điện tử của Mỹ gọi điện mời tôi phỏng vấn, nói rằng có một vị trí kỹ sư rất hợp với tôi, họ muốn tôi đi thử việc, kỳ lạ là, tôi chưa từng nộp đơn xin làm bất kì công việc gì ở công ty này. Vì thế tôi cảm ơn Sư Tôn, đây chính là sức mạnh gia trì cách không của Sư Tôn và Đại Huyễn Hóa Võng!

🌟

**Chuyện cảm ứng 17**

Vào ngày 2 tháng 3, Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật cũng tiết lộ rằng, đúng vào ngày pháp hội hôm đó, khi mọi người cùng trì tụng chú Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang trong năm phút, dùng tay đặt vào chỗ bị đau trên người mình. Có người chưa quy y vốn dĩ có khối u ở cổ, buổi sáng cạo râu vẫn còn có thể sờ thấy, thế mà người này ngồi xe buýt đi ngang qua nơi diễn ra pháp hội, nghe được toàn hội trường đang niệm tụng chú Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, đột nhiên có dòng chảy pháp đi xuyên qua chỗ đau bệnh của người này, đó là lần đầu tiên anh ta có trải nghiệm ấy. Thế rồi cái người đang đi xe buýt để đi khám bác sĩ này, đến bệnh viện kiểm tra, không ngờ khối u ở cổ đã không cánh mà bay, quả thật là không thuốc mà khỏi! Thế là anh ấy liền nghĩ đến lúc trước đi qua hội trường có chú âm, rất hiếu kỳ không biết đây là pháp hội gì, sau đó đã gặp được đệ tử Chân Phật Tông nói với anh rằng: "Đó là pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang do Sư Tôn chủ trì!"

🌟

**Chuyện cảm ứng 18**

Sư tỉ Liên Hoa Nghi Tĩnh đến từ Đài Bắc kể:
Trước Tết năm ngoái tôi bị cảm cúm, đờm đọng ở trong cổ họng không thể ho ra hết, họng rất khó chịu đã hơn một năm rồi. Trong pháp hội hôm đó, sau khi được Sư Tôn và Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang gia trì, lập tức có dòng chảy ấm áp liên tục không ngừng gia trì cho tôi, sau khi trì chú xong, tình trạng họng khó chịu lập tức cải thiện, đờm bị mắc kẹt cũng liên tục ho ra được.

🌟

**Chuyện cảm ứng 19**

Sư tỉ Liên Hoa Uyển Ngâm đến từ Đào Viên Đài Loan nói:
Vào ngày diễn ra pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, trì Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang tâm chú, tập trung đặt tay vào chỗ có đờm ở trong phổi và chỗ khó chịu ở họng do bị cảm cúm, và do uống thuốc nên dẫn tới bài tiết nước tiểu ít đi. Sau khi pháp hội kết thúc trở về nhà, nước tiểu đột nhiên bài tiết như bình thường mà còn nhiều nữa. Buổi sáng một ngày sau đó, tôi làm hít thở, làm đại lễ bái, hoàn toàn không còn cảm thấy có đờm nữa, vô cùng dễ chịu. Thật sự cảm tạ đại gia trì của Sư Tôn! Thầy đúng là quá vĩ đại rồi!

🌟

**Chuyện cảm ứng 20**

Hoàng Phong Nhất đến từ Đài Đông viết rằng:
Lúc chưa tham gia pháp hội, trong lòng đệ tử đã cầu nguyện Sư Tôn gia trì chữa bệnh cho những chỗ đau khác nhau trên người đệ tử. Đệ tử là một công nhân lao động, việc làm này sớm mang lại cho đệ tử nhiều tác hại liên quan, bị bệnh thấp khớp, bệnh gút, nội thương và nhiều bệnh khác nhau. Trong pháp hội lần này đệ tử cũng tham gia hoạt động tình nguyện. Ban đầu lúc Sư Tôn nói muốn chữa bệnh cho mọi người, chú âm vang lên, sau đó tay của đệ tử đặt vào và cộng thêm quán tưởng chỗ bị bệnh của mình. Chuyện thần kỳ đã xảy ra rồi! Trước kia bất kể là làm việc hay không làm việc, gân cốt, cơ bắp nội thương sẽ luôn âm ỉ phát tác, uống thuốc tây thỉnh thoảng cũng không thể áp chế được cơn đau. Lần pháp hội này, được Sư Tôn chữa bệnh, những nội thương, gân cốt cơ bắp bị đau âm ỉ của đệ tử không ngờ đã tan biến gần hết, đặc biệt là đau do nội thương và bệnh gút. Thật lòng rất cảm ơn Sư Tôn đã cứu chữa những đau đớn hơn 20 năm này của đệ tử.

Đệ tử Liên Hoa Phong Nhất chắp tay.

🌟

**Chuyện cảm ứng 21**

Liên Hoa Minh Nho nói:
Tôi không biết đây có được xem là cảm ứng trên phương diện chữa bệnh không, nhưng cũng cảm ơn Sư Tôn từ bi, nên tôi có đính kèm câu chuyện như sau:
Tham gia pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang xong, tôi trở về nhà, vào nửa đêm ngày hôm sau, tôi mơ thấy ở cuối giường có người, thân thể tôi muốn cử động nhưng nó lại không nghe theo sự sai bảo của tôi, giống như đã bị người kia tóm giữ chặt vậy, thế là tôi niệm một câu: "Ôm gu-ru lién sâng sít đi hùm. Ôm ben-za chua-ta ma-ha-sê xi-li he-ru-ka hum pây." Ban đầu tôi không thể cử động thì lập tức đã được giải thoát, đúng là thù thắng!

🌟

**Chuyện cảm ứng 22**

Liên Hoa Quang Trung đến từ Sarawak Malaysia, có chứng nghiệm khi tham gia pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang.

Vốn dĩ bàn tay trái của tôi, chỗ lưng bàn tay gần với đầu xương cổ tay, có một khối u mỡ to cỡ đầu xương, thế mà sau pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang ngày 28 tháng 2, sau khi được Căn bản Thượng sư và Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang gia trì cách không, nó đã tiêu biến một cách đầy thần kỳ.

Ngày hôm đó sau khi tiếp nhận gia trì xong, tôi cũng không để ý đến khối u mỡ trên bàn tay nữa. Sáng hôm sau dậy thoa dầu thì mới phát hiện ra khối u mỡ đã biến mất rồi. Vốn dĩ tôi dự định đi xin tư vấn chữa trị xong thì sẽ tiến hành thủ thuật để cắt bỏ nó, không ngờ nó đã biến mất như thế rồi. Ha ha! Tôi vẫn cho rằng tôi chỉ có suất xem đồng môn làm chứng thôi, không ngờ sự việc thần kỳ như vậy cũng xảy ra trên người tôi nữa.

Đảnh lễ mang ơn Căn bản Thượng sư, đảnh lễ Phổ Hiền Vương Như Lai, đảnh lễ Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, đảnh lễ trăm vị Bổn tôn văn võ.

🌟

**Chuyện cảm ứng 23**

Liên Hoa Tâm Nghĩa đến từ Singapore làm chứng:
Đệ tử vốn dĩ thân hình to béo, thỉnh thoảng cảm thấy ngực nặng nề, đặc biệt là những lúc công việc áp lực lớn thì càng cảm thấy rất khó thở. Kể từ sau năm phút kỳ tích đó, đệ tử không còn cảm thấy tim bị khó chịu nữa, cả phần ngực cũng đột nhiên thoải mái hơn hẳn, cho đến tận bây giờ! Vô cùng cảm ơn! Còn nữa, ngày hôm ấy sau pháp hội, con đi bộ như bay, bạn bè đều nói không kịp đi theo con. Ha! Bất luận thế nào, vẫn cần phải tuân theo lời dạy của Sư Tôn: ăn ít, ít muối, ít đường, ít dầu, ít mì chính và cần vận động. Cảm ơn tất cả. Trên đây là tình huống thực tế của bản thân.

🌟

**Chuyện cảm ứng 24** (Liên Hoa Huệ Quân tổng hợp)

Pháp Vương Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, vào ngày 28 tháng 2 năm 2016 (chủ nhật), lúc 2 giờ chiều, tại Nhà tưởng niệm Tưởng Giới Thạch tại Đài Bắc đã chủ trì đại pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, đầu tiên truyền quán đảnh trăm vị văn võ Đại Huyễn Hóa Võng và quán đảnh pháp trung ấm nghe dạy được siêu độ.

Điều đặc biệt là, pháp hội vừa kết thúc, Thánh Tôn lập tức tuyên bố: "Vừa rồi có được chỉ thị của Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, chúng ta lại tụng chú Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang trong năm phút, dùng tay đặt vào chỗ có bệnh trên người mình, ngài ấy sẽ gia trì cho bệnh tật của mọi người bình phục!" (Thế là mọi người có mặt làm theo y pháp. Thánh Tôn cũng từ bi gia trì cho đại chúng, hơn nữa cũng thỉnh cầu chủ tôn, Kim Mẫu và chư tôn gia trì cho đại chúng tiêu trừ bệnh nghiệp.)

Hôm đó, Thánh Tôn đã nói riêng với mấy thị giả rằng, lần này chắc chắn sẽ có rất nhiều đệ tử có được cảm ứng.

Ngày hôm sau, người viết đã thông báo trên Facebook của mình rằng hoan nghênh mọi người báo cáo cho biết những kiến chứng. Không ngờ mới chỉ trong hai ngày ngắn ngủi đã có nhiều đệ tử thông báo đến, thật sự vô cùng linh nghiệm thù thắng!

🌟

Liên Hoa Lệ Trân kể:
Khi tham gia pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, triệu chứng cảm cúm của đệ tử đúng vào giai đoạn "đờm vàng đậm" và rất dễ ho. Mặc dù đeo khẩu trang suốt cả quá trình để tránh lây nhiễm, nhưng cơn ho không ngừng không chỉ khiến tôi khó chịu mà còn nhiều lần làm phiền đến người khác.

Vừa nghe nói Sư Tôn nói niệm thêm năm phút tâm chú Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang để chữa bệnh cho mọi người, cái người chịu đủ mọi bệnh khổ như tôi đương nhiên vội vàng đặt tay lên cổ, toàn tâm chuyên chú niệm chú, đồng thời quán tưởng ánh sáng trắng tập trung chiếu đến cổ họng để tiêu đờm dừng ho.

Quả nhiên, sau khi được Sư Tôn tại pháp hội đại gia trì, chứng ho của tôi lập tức thuyên giảm, nhiều nhất cũng chỉ ho nhẹ mấy tiếng, mãi cho đến sau khi quán đảnh xong cũng vẫn duy trì trạng thái ho nhẹ lâu lâu mới ho đôi ba tiếng. Một ngày sau pháp hội thì càng hồi phục tốt hơn nữa, đã không còn đờm đặc, không còn những trận ho, đi ra ngoài cũng không phải đeo khẩu trang nữa. Chỉ cần đầy ắp tín tâm thì sự gia trì của Sư Tôn nhất định sẽ có hiệu quả! Cảm ơn Sư Phật từ bi giải trừ bệnh khổ của đệ tử.

Đệ tử Liên Hoa Lệ Trân đảnh lễ.

🌟

Liên Hoa Dục Khánh kể:
Dưới sự gia trì của tâm chú Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang ngày chủ nhật, tôi đặt tay lên họng của mình không bao lâu thì cảm thấy đờm trong họng đã giảm đi rất nhiều, hơn nữa còn lờ mờ cảm giác thấy có một vật thể gần giống như cái kim nhưng cũng không lâu sau thì cảm giác này đã biến mất, tình trạng thỉnh thoảng lại có một trận ho cũng đã đỡ rồi! Đệ tử Liên Hoa Dục Khánh cảm ơn sự gia trì của Sư Tôn và Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, Chân Phật Mật Pháp thật sự không hư giả!

🌟

Liên Hoa Mạnh Hoa kể:
Khi ấy nghe thấy Sư Tôn nói gia trì cho bệnh tật của chúng tôi trong năm phút, tôi cảm thấy rất ngạc nhiên và cảm ơn, trải qua năm phút gia trì này, chứng ho của tôi vốn không làm sao tiêu đờm được, vốn dĩ ho đến ngứa rát cả họng, không ngờ tôi cảm giác chỉ trong nháy mắt đã tiêu được rất nhiều đờm. Khoảng hai tuần sau, họng tôi không còn ngứa nữa, cũng bớt ho rất nhiều.

🌟

Đệ tử Lý Hải An ở Datuk Malaysia kể:
Muốn cảm ơn Sư Tôn vĩ đại từ bi nhất, trong pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, Sư Tôn vừa từ bi vừa đầy yêu thương đã khai thị nói rằng niệm thêm năm phút tâm chú Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, chỗ nào có bệnh thì đặt tay vào chỗ đó, tất cả các đệ tử đều vừa niệm vừa sờ vào chỗ đau bệnh của mình, đệ tử cũng không ngoại lệ, trong khi niệm chú âm cũng sờ vào họng và phổi của mình. Buổi sáng ngày hôm sau ngủ dậy, sư tỉ nhà tôi nói: "Tối hôm qua ông ngủ sao không nghe thấy ông ho vậy?" Thì ra trong vô thức, bệnh ho đã kéo dài suốt cả tháng của tôi không ngờ dưới sự gia trì của Sư Tôn và niệm chú đã khỏi rồi. Thật sự quá thù thắng rồi! Cảm kích không ngừng!

🌟

Sư Mẫu Liên Hương Thượng sư cũng ca ngợi rằng:
Thật sự quá thù thắng! Ban đầu đến Đài Loan, bản thân tôi cũng luôn chịu khổ do không khí ô nhiễm dẫn đến mẫn cảm mà bị ho, thế nhưng theo như Sư Tôn tuyên bố, mọi người có thể trì tụng tâm chú Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang trong năm phút, tay đặt vào chỗ đau bệnh, có thể có được sự gia trì của Bổn tôn để được khỏi bệnh. Sau đó, chứng bệnh ho kéo dài nhiều ngày nay của tôi không ngờ cũng ngay lập tức không thuốc mà khỏi, đến bây giờ cũng không tái phát nữa, đúng là khiến người ta vô cùng kinh ngạc vui mừng phấn khởi, đúng là rất kỳ diệu! Những gì Sư Tôn nói đích thực là chân thật không giả dối!

🌟

Fujen Lin viết:
Om guru liansheng siddhi hum. Cảm ơn Sư Phật từ bi!
Việc đệ tử muốn đặc biệt chia sẻ là: hôm nay tại pháp hội, đệ tử đã thỉnh ba tấm nệm kim cang đã được Sư Tôn gia trì, trở về nhà liền trải nó trên sàn nhà, định là nằm xuống để nghỉ ngơi một lát, không ngờ trong chớp mắt đã ngủ quên mất! Đệ tử đã ngủ một tiếng rưỡi, từ 8 rưỡi cho đến 10 giờ, đối với đệ tử đây là việc đại sự bởi vì bình thường đệ tử rất khó ngủ, là người có chất lượng giấc ngủ vô cùng kém. Tấm nệm kim cang này thật là hay quá!

🌟

Lili Duong kể:
Hai ngày trước pháp hội, dạ dày của tôi liên tục bị đau, giống như bị ngộ độc thức ăn vậy. Sau pháp hội thì tôi lập tức khỏi bệnh. Đó là ngày hôm sau khi bạn bè hỏi tôi "Đã đỡ chưa?" thì tôi mới phát hiện ra. Cảm ơn Căn bản Truyền thừa Thượng sư, cảm ơn chủ tôn Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang.

🌟

Cho nên, ngoài những người có mặt tại chỗ có cảm ứng, còn có những cảm ứng thông qua truyền phát trực tiếp, ngay cả người không quy y cũng có cảm ứng, thật sự có quá nhiều không thể viết cho hết. Tiếp nữa, cũng có rất nhiều người cảm ứng thấy dòng chảy pháp mạnh mẽ khi trì chú tại hội trường, còn có rất nhiều người cảm ứng nhưng không kịp viết báo cáo để làm chứng!

Tại pháp hội cũng có đồng môn chụp được những bức ảnh lúc Sư Tôn đang quán đảnh thì trên bầu trời xuất hiện ánh sáng cát tường bất khả tư nghì, đây đúng là bằng chứng siêu khoa học!
Ngày hôm ấy Thánh Tôn nói: "Nhất định sẽ có rất nhiều người có cảm ứng!" Quả nhiên là thật không hề hư giả! Điều này chứng tỏ chứng lượng vĩ đại của Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật, đại từ bi của chủ tôn Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang và Chư Phật Bồ Tát!
Chúng con đảnh lễ cảm ơn, tất cả viên mãn cát tường!


### 46. Phụ lục: Cảm ứng của đệ tử phương xa


Thích Liên Đẳng

Ngày 27 tháng 2 năm 2016 (thứ bảy) và 28 tháng 2 (chủ nhật), đầu tiên Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật truyền và quán đảnh pháp Kim Cương Thủ Bồ Tát và trăm vị văn võ Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, pháp Giải thoát qua sự nghe với thân trung ấm, hơn 40 nghìn đệ tử Chân Phật Tông từ khắp nơi trên thế giới lũ lượt kéo về Đài Loan Lôi Tạng Tự, trong đó có rất nhiều đệ tử có duyên lần đầu tiên đến Đài Loan.

Có một người là sư huynh Liên Hoa Hằng Minh nhiều lần ca ngợi lòng từ bi của Sư Tôn, Chân Phật Mật Pháp thật là bất khả tư nghì, là thật sự có sức mạnh. Ban đầu anh ấy quy y Tạng mật, cũng tu nhiều năm rồi, bao gồm cả pháp hỏa cúng của Tạng mật. Nhưng nói chung thì tu Tạng mật tốt nhất là đến chùa để tu, không khuyến khích tu tại nhà. Vì thế, trong nhà anh ấy mặc dù có mật đàn, nhưng ở nhà tu pháp cũng có hơi không thuận lợi, bởi vì cảm giác ở nhà không được thanh tịnh. (Sau khi quy y Sư Tôn mới biết rằng anh ấy mới chỉ học đến phần Chính hành của Tạng mật mà chưa học nghi quỹ kết giới.)

Sau đó ở trên mạng, anh ấy đã xem Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật truyền pháp và khai thị, có pháp Hoàng Tài Thần, pháp Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử tương ứng, xem xong thấy trong lòng hoan hỷ, mới bắt đầu mỗi ngày trì tụng một vạn biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú "Om guru liansheng siddhi hum". Đúng khi trì tụng đủ một trăm vạn biến tâm chú của Sư Tôn thì mơ thấy Sư Tôn dùng tay sờ đầu gia trì, liên tiếp ba lần. Khi ấy anh ấy còn chưa quy y, thế rồi lập tức viết thư xin quy y.

Sau đó xem được Sư Tôn truyền pháp khói cúng, thế là anh viết thư thỉnh cầu Sư Tôn quán đảnh từ xa pháp này, đêm đó mơ thấy Sư Tôn quán đảnh pháp khói cúng cho anh, Sư Tôn ngồi trên tòa hoa sen trắng lớn, một luồng ánh sáng trắng mạnh mẽ rộng lớn dội xuống, từ lỗ đỉnh đầu đi thẳng vào tâm luân, toàn thân phóng tỏa ánh sáng. Sư Tôn nói với anh: "Bây giờ anh có thể tu pháp này được rồi."

Tu được ba ngày, anh mơ thấy rất nhiều khói hoa bay lên bầu trời, sau đó trên sàn nhà có rất nhiều kiến, sâu nhỏ, chủ yếu nhất là có bọ cạp lần lượt chạy ra ngoài, thì ra Sư Tôn trụ tại hư không phóng ánh sáng trắng lớn gia trì cho cả ngôi nhà. Từ đó trong nhà đã thanh tịnh rồi.

Lại tu ba ngày nữa, anh mơ thấy có ba người muốn giết anh, anh nói: "Nếu tôi có nợ các người thì sẽ trả lại cho các người." Hai người trong số đó lao tới giữ anh lại, dùng dao đặt vào cổ anh để chuẩn bị giết anh, đúng vào lúc ấy Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật xuất hiện hét lớn: "Hai người sao dám to gan! Dám giết đệ tử Chân Phật à? Các người xuống địa ngục đi." Lúc ấy mặt đất liền nứt ra, hai người đó rơi vào địa ngục, sau đó mặt đất lại liền lại. Người thứ ba liền nói với Lư Sư Tôn: "Người này có thiện duyên, ông hãy đưa đi đi!"

Tu xong đàn khói cúng thứ bảy thì lại có một giấc mộng lành, trong mơ có người nói với anh rằng: "Những thứ này cho anh." Anh đưa tay ra nhận lấy rất nhiều vàng, là những xấp tiền vàng chồng lên nhau rất cao, anh rất sợ hãi hỏi: "Những cái này để làm gì?" Người đó nói: "Sau này sẽ dùng tới."

Pháp khói cúng vừa tiện lợi và có sức mạnh thật sự, sư huynh Liên Hoa Hằng Minh nghĩ đến Sư Tôn thì vô cùng cảm động, mỗi ngày anh tu pháp Thượng sư tương ứng, mỗi ngày tu khói cúng. Anh nói cuối cùng đã tìm được sư phụ của chính mình, trăm nghìn vạn kiếp khó gặp, sao có thể không trân trọng chứ?

Sư Tôn từ bi tại Đài Loan Lôi Tạng Tự thấy đoàn của họ đến, Sư Tôn nói: "Hoan nghênh các bạn đã đến." Sư Tôn biết họ, Sư Tôn vừa nhìn là đã biết là những đệ tử ở xa tới, mối duyên phận giữa thầy và trò cứ thế truyền liên tục đi xa mãi.
(Chú ý: Pháp sư Liên Đẳng nói: "Người này đến từ Trung Quốc, Liên Hoa Hằng Minh không phải tên thật mà là pháp hiệu, tên thật là Mã Tứ Bảo. Tứ Bảo tôi viết ra theo âm nói nên không khẳng định là có phải hai chữ này không.")


### 47. Phụ lục: Thư của Liên Già


Sư Phật muôn vàn kính yêu!
Thầy có khỏe không ạ?
Lần này quyết định đi Đài Loan tham gia pháp hội Như Ý Bảo Châu Quan Thế Âm Bồ Tát, thời gian ở lại rất gấp gáp, đệ tử đến nơi là ngày thứ sáu, sau hai buổi pháp hội thì thứ hai là quay về Brazil rồi. Mặc dù đường xá xa xôi, nhưng đệ tử có thể có cơ duyên tham gia pháp hội, thật sự là vô cùng cảm động và cũng cảm ơn vạn phần, bởi vì có thể được gặp lại Sư Phật, trong lòng đệ tử đã tràn đầy niềm hoan hỷ rồi.

Tuy thời gian trở về Brazil không lâu, nhưng đệ tử đã cảm nhận thấy được sức mạnh gia trì lớn của Sư Phật trong đại pháp hội mùa xuân và mấy lần pháp hội khác, việc tu hành và cuộc sống của đệ tử lại có chuyển biến. Đặc biệt là trong pháp hội Hộ Ma Kim Cương Thủ Bồ Tát, khi Sư Phật quán đảnh cho đại chúng, bởi vì các Thượng sư ở phía trước cách hàng ghế, đệ tử liền di chuyển đến bên cạnh chỗ ngồi của Sư Phật, ở bên đó thiền định quán tưởng, lúc đó đệ tử cảm nhận được khối hào quang trên người Sư Phật di chuyển đến trên thân của đệ tử, liền sản sinh ra một cảm nhận hợp nhất rất kín kẽ. Cái sức mạnh gia trì ấy từ trên trời đưa xuống, đệ tử thật sự không có cách nào dùng ngôn từ để diễn đạt cảm nhận này, chỉ có lặng lẽ cảm ơn Sư Phật đại gia trì.

Sau khi trở về Brazil, đệ tử căn cứ theo dạy bảo của Sư Phật vào ngày Thành nhật đón Thần Tài, cũng có được cảm ứng rất tốt đẹp và cảm nhận rất kỳ diệu. Bởi vì thời gian đón năm mới không ở Brazil, sau khi trở về thì ngày Thành nhật đầu tiên lại rơi vào đúng ngày kỷ niệm 30 năm xuất gia của Sư Phật. Lúc 7 giờ sáng, đệ tử đến cổng lớn của Chân Đế Lôi Tạng Tự để đón Thần Tài, y theo lời Thánh Tôn đã nói, quay mặt về hướng nam đi tám bước, sau đó nói: "Mời Thần Tài đến nhà tôi." Lời nói này vừa cất lên thì ngay lập tức, đệ tử cảm ứng thấy Thần Tài và quyến thuộc của ngài đã từ phương nam cưỡi mây đạp gió kéo đến rất nhanh, cảm giác không chỉ có một vị Thần Tài mà là một đội ngũ.
Lúc đó trong lòng đệ tử rất kinh ngạc, cảm thấy pháp môn thuận tiện đơn giản như thế này sao mà lại có cảm ứng lớn đến vậy? Cảm giác Thần Tài ào đến trước mặt đệ tử vẫn còn nhớ như in đây! Lúc sau đệ tử đã hiểu rằng đây chính là sức mạnh của truyền thừa, chính là uy lực của Sư Phật. Chính vì Sư Phật đã nói, pháp này rất linh nghiệm thật sự quá kỳ diệu!

Sau khi trở về, có một đêm, đệ tử còn có một giấc mơ, đệ tử mơ thấy ở trong một pháp hội, đệ tử mặc lễ phục màu đỏ, sau lưng còn đeo thêm một bông hoa sen lớn màu đỏ, khi ấy rất nhiều rất nhiều tín chúng, nhưng Sư Phật chỉ đích danh chọn đệ tử cùng múa, đệ tử khi ấy cảm thấy xúc động muôn phần, vô cùng vinh hạnh. Mặc dù chỉ là trong mơ, nhưng có cơ duyên được một lần nữa cùng múa với Phật, đệ tử đúng là có phúc ba đời! Vạn phần cảm ơn Sư Phật đã ban phúc.

Ở đây đệ tử cũng gửi kèm toàn bộ cúng dường từ pháp hội Hộ Ma quy mô lớn mà lần đầu tiên đệ tử làm chủ đàn tại Chân Đế Lôi Tạng Tự để thay cho tấm lòng cảm ơn của đệ tử. Đệ tử biết rằng cúng dường này so với những dạy bảo, sự gia trì và ban phúc của Sư Phật thì nhỏ bé không đáng kể gì, đệ tử sâu sắc biết rằng tất cả đều không thể dùng bất kì vật chất nào để báo đáp được, chỉ có thể thay cho một chút tâm ý của đệ tử mà thôi.

Cuối cùng, đệ tử muốn dùng những lời chân thành nhất và tấm lòng kiền thành và niềm tin thanh tịnh để nói với Sư Phật rằng: Sư Phật muôn vàn kính yêu, thầy là nguồn gốc huệ mệnh của năm triệu đệ tử chúng con, thầy là cội nguồn phúc đức của năm triệu đệ tử chúng con, thầy là tất cả mọi thứ của năm triệu đệ tử, chúng con không thể không có thầy! Mong thầy Phật thể an khang, thường trụ thế gian, pháp luân vĩnh chuyển!
Mong chúc cuộc sống của Sư Phật hạnh phúc mỹ mãn, thường nở nụ cười, tất cả hài lòng vừa ý!

Già Già một lần nữa đảnh lễ kính bái.
06/04/2016

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/255-doi-canh-trong-mo.md
# Title: 255. Đôi cánh trong mơ
---

![image](/img/img_9a8843497261c3a84f4f2fd198237e4e.jpg)



## Đôi cánh trong mơ


🪷 Linh cảm cuộc đời của tôi

Văn tập: 255
Xuất bản: 10/2016
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu


Vốn dĩ mỗi ngày tôi đều viết một chương sách, trong cuộc đời này rất hiếm khi gián đoạn. Nhưng tháng tư, tháng năm năm 2016, ấy thế mà tôi đã gián đoạn mất hai tháng, không viết được một chữ nào.
Thật xin lỗi!
Tôi bị ốm rồi!
Thân thể tôi hoàn toàn kiệt sức, trong suốt hai mươi tư giờ tôi đều ngủ mê man, trật tự cuộc sống đều bị đảo lộn hết cả.
Đây là trận ốm lớn nhất trong cuộc đời tôi.
Mong thứ lỗi!

Trong trận ốm nặng này, điều duy nhất tôi có thể làm là vĩnh viễn bảo trì tự tính quang minh trong tâm tôi.
Bảo trì tự tính quang minh.
Đây là điều mà sư phụ tôi, Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16 đã dạy bảo tôi.
Trong thân thể ốm đau mê man, tôi chỉ có thể giữ được tự tính quang minh, còn những cái khác đều không quan trọng.
Nguyện lực của tôi lúc này là:
Khi tôi có bệnh.
Chỉ mong chúng sinh khỏe mạnh an khang.
Khi tôi chịu khổ.
Chỉ mong chúng sinh vô khổ vô phiền.
Khi tôi đau đớn.
Chỉ mong chúng sinh không bệnh không đau.

Trên bàn viết của tôi.
Có đặt một tờ giấy.
Và bút.
Tôi không quên sau này vẫn còn muốn viết sách, tôi vẫn muốn viết cuốn sách "Đôi cánh trong mơ"!
Đây là công việc mỗi ngày của tôi:
Tu pháp.
Viết sách.
Vẽ tranh.
Mỗi một cuốn sách đều là những linh cảm nhân sinh của tôi, tôi sẽ xếp chồng lên nhau từng cuốn sách.
Không chỉ cao bằng thân người thôi đâu.
Mà phải cao bằng căn nhà.
Phải cao bằng tòa nhà nhiều tầng.
Sách đại diện cho trái tim tôi.
Viết một bài thơ mới vậy!

Không thể ngủ mãi mãi
"Chẳng phải tôi đang say
Mà là mê man ngủ
Trong mênh mông mịt mù
Vẫn còn nhớ rõ
Tôi khóc
Những giọt lệ của chúng sinh

Màu đen
Màu xám
Tôi thắp lên ngọn nến trong tim
Dù rằng ánh nến lay lắt
Dù tôi tiều tụy
Tôi vẫn tìm kiếm
Một chút xanh biếc còn lại

Nụ hoa sắp nở rồi
Đôi cánh muốn bay
Vầng trăng sáng vằng vặc
Chẳng bao giờ rơi xuống."

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Òa khóc trên pháp tọa


Những bài thuyết pháp của tôi gần đây đều được phát trực tiếp trên mạng, có nghĩa là chỉ cần lên mạng là có thể xem được.
Ngày hôm đó, tôi lên pháp tọa.
Vì tôi đang ốm nên thân thể rất yếu ớt, tôi thật sự đang chịu đựng nỗi đau đớn cực kì lớn.
Tôi nói đầy tủi thân:
"Diêu Trì Kim Mẫu của con ơi, ngài đã bỏ mặc con rồi!"
Thế là tôi khóc!
Trận khóc này đúng là kinh thiên động địa.
Nước mắt đầm đìa.
Tất cả các đệ tử đều khóc theo, giống như là một pháp hội mà tất cả đều khóc vậy.
Có người mới quy y nói:
"Ngày đầu tiên chúng tôi quy y là đến để nghe Lư Sư Tôn thuyết pháp, có phải đến để nghe Lư Sư Tôn khóc đâu."
Chà!
Cũng thật là…!
Bạn đã từng nghe lão hòa thượng thuyết pháp mà từ đầu tới cuối đều khóc chưa? Vì thế, bạn nghe một lão hòa thượng khóc trên pháp tọa cũng là chuyện vô cùng kì lạ hiếm có đó.
Như Thánh Nghiêm pháp sư, bà ấy bị bệnh rồi giấu kín luôn, cho đến khi niết bàn. Khi ấy mới công bố với đại chúng.
Như Duy Giác pháp sư, ông ấy bị ốm, cũng giấu kín luôn, cũng cho tới khi niết bàn. Khi ấy mới công bố với đại chúng.
Vân vân và vân vân.
Còn cái kiểu bị ốm mà trực tiếp tuyên bố với đại chúng bệnh tình ra sao thế nào này, rất hiếm thấy.
Cho nên, Lư Sư Tôn tôi trực tiếp nói rõ với tín chúng cũng có nghĩa là để nói rằng:
Tôi không giả dối.
Tâm tôi rất thẳng.
Tôi không giấu giếm.
Tôi trực tiếp bày tỏ tâm mình với đại chúng.
Người khác cho rằng đại hòa thượng thì nên có điều bí mật, không thể đem ra bàn luận.
Tôi thì khác.
Tôi cho rằng đây là chuyện nhỏ nhặt không đáng kể, không quan trọng, tôi không phải kiểu người mà phân biệt cái gì có thể nói và cái gì phải giấu giếm.
Tôi rất phóng khoáng.
Có cái gì thì nói cái đó.
Khi tôi khóc, tôi đã quên sự tồn tại của chính mình từ lâu rồi.
Viết một bài thơ vậy!

Khóc trời
"Chẳng bao giờ giấu giếm
Chẳng bao giờ giả dối
Rất thẳng thắn
Khóc lóc với trời

Mặt trời buổi chiều muộn
Đúng là mặt trời buổi chiều muộn
Sau này
Sẽ bay thẳng tới bờ bên kia

Cuộc đời của tôi
Chưa bao giờ tính toán dài hay ngắn
Hay là nhanh
Hay là chậm

Tôi chỉ biết truyền thừa tiếp tục không ngừng
Dựa vào điều này
Mà tâm bất loạn."


### 02. Sư phụ của tôi đều đi rồi


Ngày hôm đó.
Là như thế này, mỗi khi ăn cơm tại nhà ăn màu hồng ở Seattle Lôi Tạng Tự, sau khi ăn xong, tôi và các Thượng sư đều ngồi lại quanh bàn ăn một lát. Cũng không hẳn là muốn nói chuyện, mà là cứ ngồi thế thôi.
Ngày hôm đó, tôi nói một câu rất cảm thán, tôi nói:
"Sư phụ của tôi đều đi rồi!"
Bao gồm các sư phụ Hiển giáo:
Pháp sư Đạo An.
Pháp sư Lạc Quả.
Đạo sư Ấn Thuận.

Sư phụ Mật giáo:
Thượng sư Phổ Phương.
Liễu Minh Hòa Thượng.
Thượng sư Sakya Chứng Không.
Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16.
Thượng sư Thubten Dorjie.

Còn có các sư phụ thọ giới:
Pháp sư Hiền Đốn.
Pháp sư Huệ Tam.
Pháp sư Giác Quang.
Ngoài ra, vân vân và vân vân.

Tôi nói:
"Tiếp theo là đến lượt tôi rồi!"
Các Thượng sư khác đang ngồi đó lập tức nói với tôi, vị sư phụ của họ, rằng:
"Không có đâu!"
"Sư Tôn sống lâu khỏe mạnh, thường trụ thế gian, thường chuyển pháp luân."
"Lư Sư Tôn, lão hòa thượng Hư Vân sống đến 120 tuổi, thầy cũng phải sống đến 120 tuổi."
"Liên Hoa Sinh Đại Sĩ sống đến 800 tuổi, thậm chí còn nhiều hơn, Lư Sư Tôn cũng phải như thế."

Mọi người đều nhao nhao nói.
Tôi vừa nghe vừa cười khổ, rồi đứng dậy, chỉ vào một đám mây trắng trên bầu trời. Tôi nói:
"Đã nhìn thấy chưa?"
Mọi người nói:
"Đã thấy rồi!"
Tôi nói:
"Mây bay rất nhanh, loáng một cái đã biến mất rồi!"
Tôi viết một bài thơ "Chẳng sống được mãi mãi", sau khi viết xong tiêu đề, tôi phát hiện ra hình như là một câu chửi, thế là tôi vội vã đổi tên:

Nhớ khuôn mặt
"Trả nghiệp
Đó là điều Đức Phật đã nói
Cuộc đời là gì
Câu nói này là đanh thép nhất

Mỗi một tin tức
Ai đã đi rồi
Mọi người đều sẽ thở than
Ôi
Nhưng chẳng mấy chốc là cũng quên

Tôi thường nghĩ
Tôi đến nhân gian làm lao dịch
Trong biển cả mênh mông
Chỉ là một giọt nước

Biển mờ mịt ngăn trở
Cho đến khi chẳng còn ai nói
Chỉ mong vẫn còn có thể nhớ được khuôn mặt."


### 03. Cuối cùng cũng trèo lên trên đống sách


Phóng viên phỏng vấn tôi:
"Lư Sư Tôn, làm sao mà ngài có thể viết được nhiều sách như vậy? Là có hứng thú sao?"
Trong lòng tôi nghĩ:
"Nói nhảm!" (Không có hứng thú thì làm sao viết chứ?)
Phóng viên lại hỏi:
"Lư Sư Tôn, ngài viết sách là viết ra từng chữ, từng chữ sao?"
Trong lòng tôi nghĩ:
"Nói nhảm!" (Thế không phải là viết ra từng chữ, từng chữ sao?)
Phóng viên hỏi:
"Lư Sư Tôn, ngài viết sách có cần có cảm hứng không?"
Trong lòng tôi nghĩ:
"Lại nói nhảm!" (Viết sách đương nhiên cần có cảm hứng rồi.)
Phóng viên lại hỏi:
"Lư Sư Tôn, cảm hứng của ngài đến từ đâu?"
Lần này tôi đáp:
"Giữa trời đất đều là cảm hứng, trong cảm hứng đã có trời đất."
Phóng viên nói:
"Không hiểu lắm."
Tôi đáp:
"Khắp nơi đều có cảm hứng, tựa như có tựa như không, thoắt ẩn thoắt hiện, đối với tôi mà nói thì giống như nhặt thóc vậy."
Phóng viên hỏi đến đây thì không hỏi tiếp nữa, vội vội vàng vàng đi cùng với thợ chụp ảnh.

Lúc trước tôi nói:
"Viết đến khi không thể viết được nữa mới dừng."
Luật sư Chu Huệ Phương nói:
"Viết một trăm cuốn sách đã ghê gớm lắm rồi, thầy đã viết hai trăm năm mươi lăm cuốn rồi đó!"
Tôi nói:
"Tôi là người đứng trên đống sách."
Mọi người nghĩ xem:
Trên đời này có thứ gì lưu truyền lâu nhất?
Đáp án là:
Sách.
Tri thức của nhân loại, trí tuệ từ đâu tới?
Đáp án là:
Sách.
Từ nhỏ đến lớn bạn phải làm gì?
Đáp án là:
Đọc sách.
Viết một bài thơ vậy!

Người trèo lên đống sách
"Cho dù dưới ngọn đèn
Hay ban ngày sáng sủa
Một dáng người cắm cúi
Hình bóng luôn hao gầy

Cũng chẳng phải vì thành tựu này khác
Chỉ e rằng
Pháp lưu rò rỉ
Chẳng thể quá đổi mới
Cũng chẳng thể quá cố chấp

Linh cảm đến từ
Thấy
Nghe
Ngửi

Bản thân tôi phải hiểu thật rõ
Tôi sẽ bay
Để những người chạy theo phía sau
Gió đầy trong tay áo."


### 04. Vì sao ngài không có Facebook?


Đó là vào năm nay.
Người hỏi:
"Lư Sư Tôn, vì sao ngài không có Facebook cho mình?"
Tôi đáp:
"Tôi đây không có điện thoại di động, không có máy tính bảng, không có máy tính, ngay cả lên mạng tôi cũng không biết, đương nhiên là không có Facebook."
Người hỏi:
"Ngài có năm triệu đệ tử, cũng có nghĩa là ngài có quần chúng, chỉ cần ngài có Facebook thì mỗi ngày về cơ bản là có năm triệu khách hàng. Như thế chẳng phải là quá đáng tiếc sao?"
"Có ích gì chứ?"
Người đó nói:
"Mỗi ngày một câu nói, một câu nói truyền cảm hứng, một câu nói khiến người ta tỉnh ngộ, một câu nói làm rung động lòng người, một bài kệ, một bài thơ, đột nhiên có cảm hứng mà thốt lên một câu nói, bảo đảm sẽ rất vang dội."
Tôi nói:
"Nói cái gì đây?"
Người đó nói:
"Cái gì cũng có thể nói được, chính trị, kinh tế, ngoại giao, quốc phòng, nội chính, xã hội… Không nhất định giới hạn ở tôn giáo, dựa vào phong cách viết văn của ngài, tuyệt đối sẽ tạo tiếng vang khắp trong nước và quốc tế."
Tôi nói:
"Chẳng phải Chân Phật Tông đã có trang web sao?"
Người đó nói:
"Đó là cách thức lạc hậu quá! Người hiện đại ai cũng dùng điện thoại di động, không thích cách thức cũ, đến lúc đó mọi người sẽ nhấn "thích" cho ngài, chỉ cần nói những điều trong tâm của mọi người, chạm đến lòng người, li kì cổ quái ra sao cũng đều được, ngài sẽ biến thành tiêu điểm của thế nhân!"
Tôi nói:
"Là như vậy sao?"
"Đương nhiên!"
Tôi nói:
"Tôi đã đủ gây chấn động rồi, tôi không muốn gây chấn động thêm nữa, mặc dù ngày nào tôi cũng có ý tưởng sáng tạo, đủ để khiến người ta đập bàn khen hay, nhưng tôi cũng không muốn phát biểu."
Người đó hỏi:
"Vì sao vậy?"
Tôi đáp:
"Gây tiếng vang cũng là Không."
Người đó hỏi:
"Ngài không muốn trở thành Lư Thắng Ngạn trong con mắt của thế nhân sao?"
Tôi đáp:
"Thế nhân có một ngày vẫn sẽ quên luôn bạn, tôi chỉ muốn mỗi một ngày làm một việc có ý nghĩa, người ta biết cũng tốt, không biết cũng tốt, tôi không muốn làm con cá lấp lánh ánh vàng nhảy trên mặt nước."
"..."
Viết một bài thơ vậy!

Cá nhảy trên mặt nước
"Nhìn kìa
Có con cá đang nhảy trên mặt nước
Chà
Thật là đáng trầm trồ

Bên hồ
Gió bỗng nổi lên
Những người dạo bước quanh hồ
Một chốc nữa mưa xuống
Là tản đi hết

Dù cá có nhảy
Có lẽ có nghìn nghìn vạn vạn người xem
Nhưng bờ hồ này
Cuối cùng cũng sẽ bị quên lãng."


### 05. Tôi muốn đi Tây Tạng


Có một bài hát là "Tôi muốn đi Tây Tạng". Trong lời ca có một đoạn thế này: "Tôi muốn đi Tây Tạng, tôi muốn đi Tây Tạng, ngắm nhìn vùng tuyết mênh mông, cảnh sắc tuyệt mĩ, sắc cỏ xanh xanh, khắp nơi đều là nơi nuôi dưỡng cho tâm hồn tôi. Tôi muốn đi Tây Tạng, tôi muốn đi Tây Tạng, ngắm nhìn sinh tử mênh mông, đã quen với những đêm tối cô độc dài dằng dặc, những bông hoa tuyết nở rộ nơi tâm phòng."
Đoạn ca từ này đã đủ làm tôi mê mẩn rồi!

Tôi vẫn luôn do dự chần chừ. Hai vị thầy ở Tây Tạng của tôi là:
Sakya Chứng Không Thượng sư.
Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16.
Đều nói:
"Đến Tây Tạng thử xem!"
Thật sự đệ tử của tôi đã có rất nhiều người đi Tây Tạng, họ đều nói: "Đáng để đi xem!"

Đương nhiên tôi biết:
Bây giờ đã có tàu hỏa có thể đi thẳng đến Tây Tạng.
Ngồi máy bay có thể đến được sân bay Gonggar.
Tôi muốn đi xem.
Dòng sông Yarlung Tsangpo.
Núi Tanggula.
Núi Gangdise.
Núi Đảng Hạng.
Hồ Yamdrok.
Hồ Lhamo Latso.
Tôi muốn đi Chamdo, Ü-Tsang, Nagchu, vùng Kham, Guge, còn cả quê hương Shigatse của tôi.
Ngắm những rặng núi cao cao, những đám mây lưng chừng, những ngọn cỏ xanh xanh, và bầu trời thăm thẳm, và tuyết trắng lấp lánh.
Trời ơi!
Tây Tạng trong giấc mơ của tôi, trong quãng thời gian còn lại của cuộc đời tôi, khi nào tôi mới có thể lên đường đến đó?
Có một buổi sáng sớm, tôi mở cánh cửa chính, một luồng không khí mát rượi phả vào mặt. Một vùng tuyết trắng mênh mông. Ngoài cửa, chẳng có cái gì cả. Chỉ có một vùng tuyết trắng mênh mông bát ngát.
Lúc này, một kinh nghiệm tâm linh từ từ trỗi dậy, cuối cùng tôi dã hiểu:
"Tâm của tôi và Tây Tạng từ lâu đã kết hợp thành một thể rồi."
Tôi viết một bài thơ.

Hoa tuyết đầy tay áo
"Có ai
Có thể dùng niệm tưởng
Và thực tế
Mà kết hợp thành tựu

Có một người
Đã đem Seattle và Tây Tạng
Chuyển thành
Hoa tuyết đầy tay áo

Ống tay áo dài của điệu múa kim cương
Ống tay áo dài của điệu múa Tây Tạng
Vẻ đẹp ấy
Là sự bảo vệ lẫn nhau
Không phải là khư khư cố chấp

Trăng soi sáng một vùng núi tuyết
Cảnh tượng tuyệt đẹp
Đúng vào lúc tôi mở cửa ra.


### 06. Đi thăm người bạn cũ


Thật sự, mùa hè năm nay đúng thật là quá lạnh!
Vì nguyên nhân gì vậy?
Bởi vì tôi đi thăm một người bạn cũ từ hồi còn trẻ. Tôi đáp một chuyến máy bay, xuống máy bay lại phải ngồi xe ô tô mấy tiếng đồng hồ nữa để đi đến một ngôi làng nhỏ yên bình ở ngoại ô thành phố lớn.

Tôi giới thiệu về người bạn cũ này trước:
Ông ấy từng rất quan tâm đến tôi, thậm chí là bảo vệ tôi. Hai chúng tôi rất thân thiết với nhau. Ông ấy ủng hộ việc hoằng pháp của tôi. Chúng tôi nói với nhau mọi chuyện.
Tôi tán thưởng ông ấy.
Ông ấy tán thưởng tôi.
Ông ấy từng treo một bức tranh của tôi ở nơi nhìn thấy đầu tiên nơi cửa ra vào, trân trọng giữ gìn những cuốn sách của tôi.
Chuyện của ông ấy cũng là chuyện của tôi.
Chuyện của tôi cũng là chuyện của ông ấy.
Hai người quan tâm lẫn nhau.
Sự đối đãi nhau như vậy đã rất đủ rồi! Tôi rất phấn khởi muốn đi thăm ông ấy.
Thế nhưng, sau này chúng tôi sống quá cách xa nhau, thư từ thưa dần, tin tức ít dần, thậm chí sắp chẳng thư từ nữa rồi. Nhưng tôi vẫn thường nhớ đến ông ấy.

Lần này, vì có duyên mà tôi đã đến thành phố lớn ấy, tôi liền vội vã muốn đi thăm ông. Vừa bước vào cửa, ngay cái nhìn đầu tiên tôi đã không thấy tranh của tôi đâu nữa rồi!
Tôi ngạc nhiên hỏi:
"Tranh của tôi đâu rồi?"
Ông ấy hỏi ngược lại tôi:
"Tranh nào?"
Tôi đưa cho ông tấm ảnh chụp chung hai chúng tôi mà tôi rất trân trọng giữ gìn. Ông ấy cũng không buồn nhìn thẳng, chỉ liếc bằng một con mắt. Ông ấy nói:
"Tôi quên mất rồi!"
Tôi nói:
"Tôi lo lắng tình hình hiện tại của ông, bây giờ ông khỏe không?"
Ông ấy hỏi một đằng đáp một nẻo:
"Xem ra ông cũng già rồi, rất tiều tụy!"
Một đứa bé chạy đến. Đứa bé đã lớn rồi, trước kia nó nhìn thấy tôi đến thì đều chạy tới ôm một cái. Tôi nói:
"Con đã lớn thế này rồi!"
Ông ấy bảo đứa con:
"Mau ra ngoài chơi!"
Khoảnh khắc này thật sự giống như một sự châm biếm, tôi giống như đi vào một ngôi nhà trống rỗng chẳng có thứ gì cả.
Cảm giác lạnh như băng dâng lên trong lòng tôi, ngay cả hơi thở của tôi cũng đóng băng lại rồi.
Bầu không khí yên ắng như tờ khiến tôi cảm thấy rất bất an. Tôi có thể nói gì đây chứ?
Ông ấy nhìn tôi, nét mặt không có biểu hiện gì cả. Cuối cùng ông ấy nói một câu:
"Tôi không còn là đệ tử của ông nữa!"
Tôi gục gặc đầu, khẽ nói:
"Tạm biệt!"
Giống như người lạ, tôi đi ra cửa, tháo chạy khỏi cái không gian lạnh băng đó. Tôi rất sợ hãi.

Thơ:

Đổi thay
"Tâm giống như tuyết
Liên tục
Rơi suốt đêm qua
Sớm nay trời đã lại trong xanh

Chẳng có gì là vĩnh viễn
Cuối cùng tôi đã hiểu
Cái gọi là tình nơi thế gian này."


### 07. Người "thần kinh thông"


Cuộc đời này tôi rất thông hiểu linh giới.
Tôi biết đủ kiểu các linh hồn (vô hình) lớn nhỏ, từ hơn bốn chục năm trước tôi đã giao tiếp với họ rồi. Về sau, cuối cùng tôi đã biết:
"Thì ra linh giới cũng có những tập đoàn lừa đảo!"
Vì thế, linh giác của tôi càng ngày càng tinh, tinh đến mức chỉ còn lại những vị Bồ Tát mà tôi thông thuộc biết rõ như lòng bàn tay.

Được rồi! Tôi kể cho mọi người nghe một chuyện.
Có một số người tự xưng là người thông linh. Thật ra không phải là thần thông, mà là "thần kinh thông".
Kiểu người thần kinh thông này, xung quanh họ thật ra đều là yêu ma, sẽ dẫn đến kết quả là:
Họ giao tiếp với những linh cấp thấp.
Trong miệng toàn là chuyện thần thông, nhưng thật ra đều là chuyện thần kinh, là tự thần kinh của họ bịa đặt mà ra.
Lừa mình.
Và lừa người.
Đôi khi tôi nhìn họ, căn bản là chẳng hề thông linh mà cũng có thể tạo ra chuyện thông linh, không có thần thông mà cũng có thể tạo ra chuyện thần thông, hơn nữa còn càng ngày càng kì lạ.
Họ dần dần rơi vào: "Thần kinh thông!" (Lừa bịp)
Họ khoác lác rằng chỉ cần nói một câu, tất cả Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, La Hán, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, Chư Thiên trong hư không đều đứng dậy vỗ tay.
Tiếng vỗ tay vang thập pháp giới.
Tạng Ngã Như Lai hiển thần thông.
Ai nghe xong cũng đều như say như si, lũ lượt mang tiền của tới giao nộp.
Có ai biết không?
Đương nhiên tôi biết.
Tất cả các thần chân chính đều biết. Họ là những kẻ thần kinh thông.
Hùa theo gu của chúng sinh, chỉ có những chúng sinh lầm lạc mới khúm núm quỳ mọp dưới ống quần kaki của họ.
Ha ha!
Tương lai, dưới địa ngục, sẽ có rất nhiều đầu lâu đội mũ Ngũ Phật thuyết pháp cho chúng sinh ở địa ngục. Thuyết về pháp thần kinh thông.
Tôi viết một bài thơ vậy!

Ai biết
"Có ai biết chứ
Chính vì có ai biết chứ
Cho nên
Chỉ có bạn tự biết mà thôi

Đừng biến chúng sinh thành những con lợn
Tự mình mê
Lại khiến chúng sinh cùng mê
Trên đường đạo tu hành đã đánh mất
Chỗ nương dựa

Thượng sư
Bổn tôn
Hộ pháp
Không thể coi thường

Chuyện thần thông hợp gu đại chúng
Nghìn năm đều như thế
Thử hỏi
Khi nào mới tự tỉnh hết lạc đường."


### 08. Cảm giác ở Đài Loan của tôi


Khi ở Đài Loan, tôi thật sự rất ít đi ra ngoài, bởi vì bên ngoài đều là các hạt bụi mịn PM2.5.
Núi mờ mịt.
Chim mờ mịt.
Người mờ mịt.
Ngay cả những tòa nhà cao tầng cũng mờ mịt.
Ngoài lúc đi ăn cơm, tôi ngồi trong xe kín, đến một phòng ăn kín, rồi lại trở về trong nhà kín.
Ở nhà tôi chỉ có:
Tu pháp.
Viết văn.
Dưới nhà tôi, ban ngày tiếng xe cộ ồn ào thỉnh thoảng lại rộ lên, tiếng rao hàng, tiếng còi của cảnh sát, tiếng xe cộ, xe ô tô, xe máy, người đi bộ.
Tiếng phanh xe, két! Két! Két! Xịch! Xịch! Xịch!
"Binh" một tiếng to. Tai nạn rồi!
Người lăn xe lật!
Mở ti vi lên thì ở đâu cũng có tai nạn giao thông, từ bắc tới nam, từ đông tới tây.
Hại tôi suốt cả ngày niệm A Di Đà Phật.
Nếu như không phải tai nạn giao thông thì sao đây?
Thì lại là những tin tức về ẩm thực, cái gọi là tin tức kiểu "ăn xổi" đặc biệt nhiều.
Các tiết mục có tính chính luận cũng rất kích thích thần kinh, đôi bên đối đáp, đấu đôi, đấu nhóm, đấu đơn, ai cũng nhao nhao nói, mồm năm miệng mười. Rất đáng sợ!
Chà! Tổng thống Thái Tiểu Anh, người phụ nữ đứng vị trí mười bảy trong số một trăm phụ nữ quyền lực nhất đã xuất hiện rồi! Tôi chỉ cần nhìn thấy cái mũi của bà ấy là tôi lại tự lẩm bẩm: Tôi trở về đây làm gì chứ?
Vì lễ Hộ Ma (hỏa cúng) vào mỗi thứ bảy, các đệ tử ở các nước Đông Nam Á vội vàng đến Đài Loan Lôi Tạng Tự.
Pháp hội vạn người.
Mỗi ngày thứ bảy đều như thế.

Tôi làm:
Sự nghiệp hoằng pháp.
Lúc này, tôi mới cảm thấy mình đang sống, bằng không, tôi thật sự sẽ chết ở Đài Loan. Ứng với câu nói:
Sinh làm người Đài Loan.
Chết làm ma Đài Loan.
Mảnh đất Đài Loan này nhỏ bé quá, nhỏ đến nỗi người bình thường như tôi đây cũng có thể lên tin tức, lên truyền hình.

Viết một bài thơ:

Hoàng hôn ở Formosa
"Ánh nắng hoàng hôn
Đỏ ối
Vẫn cứ
Treo trên những lớp mành cửa sổ

Quán rượu đêm
Rượu tiên ngon làm sao
Những kẻ thử rượu
Xếp hàng kín cả lan can

Lái xe sang
Lượn vòng vèo như cầu vồng
Bạn bè gặp nhau
Tay bắt mặt mừng

Duy trì hiện trạng
Để hòn đảo xinh đẹp mãi mãi được yêu mến."


### 09. Dự đoán về năm Khỉ


Năm 2016 là năm Khỉ, phóng viên phỏng vấn tôi hỏi:
"Ngài cho năm con Khỉ bao nhiêu điểm?"
Tôi đáp:
"30 điểm."
"Chà!" - Phóng viên sửng sốt: "Thấp như vậy ư, có chuyện gì vậy?"
Tôi đáp:
"Năm Hỏa Hầu là một năm động loạn, tôi nói, kinh tế Đài Loan biểu hiện không tốt. Các yếu tố đất, nước, lửa, gió đều tập trung, thế cục bất an, chỉ có thể cho 30 điểm."

Điều tôi nói không sai:
Đất --- đã xảy ra trận động đất lớn ở Đài Nam, tương lai vẫn còn nữa…
Nước --- sân bay Đào Viên bị ngập lụt lớn, tương lai vẫn còn nữa…
Lửa --- căn buồng sắt ở Miêu Lật đã thiêu chết chín người, tương lai vẫn còn nữa… (Xe cháy khiến 26 người chết.)
Gió --- cơn bão cuối tháng bảy… (Trận bão ở Đài Đông.)
Kinh tế cho đến hiện tại:
Tổng cộng có mười sáu phần tối. (Xuất khẩu)

Tôi tự dự đoán năm con Khỉ cho chính mình: hai nạn lớn, ba nạn nhỏ.
Hai nạn lớn --- tôi đã bị ốm hai tháng, cũng có khả năng mất luôn tính mạng, thoát chết trong gang tấc. Chín đệ tử mất đi truyền thừa đã chết.
Ba nạn nhỏ --- lần lượt từng việc phát sinh, không đáng để kể ra với người ngoài.
Chao ôi!
Chuẩn quá!

Mấy năm nay tôi dự đoán đều chuẩn xác không sai, phóng viên phỏng vấn nói:
"Lư Sư Tôn, vào mỗi dịp đầu năm, thần toán của ngài luôn khiến người ta đập bàn kinh ngạc, không có lần nào là không chuẩn, đây là nguyên nhân gì?"
Tôi đáp:
"Người tính không bằng trời tính!"
Phóng viên hỏi:
"Không thể thay đổi sao?"
Tôi đáp:
"Cộng nghiệp."
Phóng viên hỏi:
"Hai nạn lớn, ba nạn nhỏ của ngài cũng không có cách nào cải vận sao?"
Tôi đáp:
"Là phúc thì chẳng phải họa, đã là họa trốn chẳng xong."
Cải vận không dễ. Nhưng đương nhiên có thể thay đổi.
Tình hình thế giới càng ngày càng căng thẳng, như năm con Khỉ, khí hậu thế giới sẽ rất khác thường kì dị!

Viết một bài thơ:

Tính toán
"Lấy la bàn bày ra
Thấy lòng se lạnh
Cây kim nhỏ bé ấy
Rung rung
Tình hình thế giới
Thiên lệch dị thường

Bấm ngón tay thần toán thấy rằng
Tình hình chẳng hề sáng sủa
Nói rằng tháng năm năm nay
Tôi sẽ quy tiên

Vội vàng thắp lên một nén hương
Cúng một thế thân
Để ngăn chặn
Bắc Đẩu Nam Đẩu chẳng còn ai quản
Lúc này
Nhân gian khắp nơi đều điên cuồng."


### 10. Bản thân kì dị


Xin hãy tin bản thân tôi.
Cái bản thân này thật ra vô cùng xa lạ, ở trước tấm gương, dùng con mắt cá chết để mà nhìn bản thân, phải ghi nhớ cái khuôn mặt ở trong gương ấy.
Nhưng bạn có tin không?
Tôi mãi mãi không nhớ được khuôn mặt mình.
Có thể quán tưởng Bổn tôn.
Có thể quán tưởng Hộ pháp.
Có thể quán tưởng Thượng sư.
Có thể quán tưởng tình nhân.
Nhưng lại không thể quán tưởng chính mình.
Có lạ không?
Cái người lạ này có phải người tốt không? Hay là kẻ xấu? Hay là không tốt cũng không xấu? Ý nghĩ thật vô cùng kì quặc. Ý nghĩ có mãi mãi là chính niệm không?
Là thánh nhân sao? Không dám nói.
Là ác nhân sao? Không nói được.
Tôi từng hỏi chính mình, tôi cũng tự lẩm bẩm nói quanh co.
Thuyết pháp kể chuyện cười.
Còn cả biểu diễn tạp kĩ, bao gồm:
Ca hát.
Đánh quyền.
Chống đẩy toàn thân.
Cởi áo.
Làm rất nhiều động tác kì quái.
Chỉ khác là không có nhảy múa mà thôi.
Khi vui thì cười lớn.
Khi buồn thì khóc to.
(Có người nói: "Xưa nay chưa từng thấy một lão pháp sư nào ngồi trên pháp tọa mà khóc từ đầu đến cuối.")
Thế nhưng,
Xin hãy tin tôi.
Tôi thật sự có sức mạnh vô hình, biết rất nhiều về kiếp quá khứ, biết rất nhiều về kiếp tương lai.
Biết xem bói.
Có thể đánh đuổi rất nhiều ma quỷ!
Tôi có thể thần hành.
Có thể bay.
Bản thân tôi biết trong lòng người khác đang nghĩ trò gì.
Tôi có đại lực.
Tôi biết thế giới này sẽ phát sinh chuyện gì.
Tôi có thể đến Thiên giới, Địa giới, Thánh giới.
Sức mạnh này khả năng là trời sinh, lại cộng thêm nỗ lực tu luyện của bản thân. Tôi cảm thấy bản thân mình cũng vô cùng kì dị, cuộc đời của tôi đều là những chuyện kì dị.
Giờ đây tôi đột nhiên cảm thấy:
Thật đáng chết!
Tôi viết như vậy, chẳng phải là công khai thông tin của tôi sao?

Thơ:
"Tôi vẫn luôn tự thương xót mình
Nói không được cũng không được
Nói được cũng được
Cũng không hiểu rõ
Được mà cũng không được

Tôi thuyết pháp rất thoải mái tự nhiên
Còn người ta thuyết pháp
Đầy giả dối

Nhưng thật sự có một nguồn sức mạnh
Từ bản thân đến hư không
Không diễn tả nổi."


### 11. Lừa đảo khắp nơi


Đó là khi tôi ở Đài Loan.
"Reng…." Điện thoại trong nhà vang lên, tôi nhấc ống nghe lên. Đối phương nói:
"Cháu của ông đang ở trong tay tôi…." - Đối phương truyền đi tiếng trẻ con khóc.
Tôi hỏi:
"Cháu tôi nói tiếng gì?"
Đối phương nói:
"Vớ vẩn, đương nhiên là tiếng Đài Loan!"
Tôi nghe xong.
"Cạch" một tiếng, tôi gác điện thoại.
(Cháu tôi sinh ra ở Mỹ, chỉ biết nói tiếng Anh.)

Còn nữa:
"Reng…."
Đối phương nói:
"Bạn chưa trả tiền điện thoại, chúng tôi sẽ cắt điện thoại của bạn."
"Để kiểm tra, xin ấn số x, để trả phí xin ấn số x,…"
Tôi quay qua hỏi Sư Mẫu:
"Chúng ta chưa trả tiền điện thoại sao?"
Sư Mẫu nói:
"Chi phí của chúng ta đều do ngân hàng tự động trừ tiền, không có chuyện chưa trả, nhất định là tập đoàn lừa đảo rồi."
Tôi "cạch" một tiếng, rồi lại gác điện thoại.

Còn nữa:
"Reng…."
Đối phương nói:
"Ông rút thăm trúng thưởng, đã rút trúng một chiếc xe ô tô."
Chà! Tôi rất vui mừng! Quả nhiên tôi cũng có thể rút thăm trúng thưởng lớn.
Đối phương nói:
"Xe hiện nay đang ở hải quan, cần trả thuế, khoảng xx tiền, và phí vận chuyển là xx tiền. Ông vẫn lời rất nhiều, xin hãy chuyển tiền trước, 9 giờ sáng thứ sáu chúng tôi sẽ giao xe đến."
Tôi chợt bình tĩnh lại. Tôi hỏi:
"Tôi rút thăm trúng thưởng ở đâu?"
Đối phương đáp:
"Bách hóa XX."
Tôi nghĩ, tôi chưa từng đi đến bách hóa XX mà!
"Cạch" một tiếng, gác điện thoại luôn.

Chà! Thật là, lừa đảo khắp nơi!
Các tập đoàn lừa đảo ở Đài Loan thật là nhiều, những người bị lừa cũng có rất nhiều phần tử tri thức cao cấp.
Như giáo sư.
Như thẩm phán.
Như quan chức chính phủ.
Như nghệ sĩ.
Hiện nay, Đài Loan là vương quốc lừa đảo, đã nổi danh toàn thế giới rồi, Kenya ở Châu Phi, Malaysia, Indonesia là các tập đoàn xuất ngoại lừa đảo.
Tôi muốn trao giải thưởng cho Đài Loan, giải thưởng tên là "Giải siêu lừa đảo!"

Thơ:

Muốn tu hành
"Ngẫm nghĩ về biến hóa vô thường
Ngẫm nghĩ về cái Không
Nhân gian
Ai thật sự sống đến nghìn tuổi

Ngẫm nghĩ về danh dự chính mình
Ngẫm nghĩ về nhân duyên quả báo
Bạn tu
Tôi tu
Thật sự hối hận tội lỗi

Sám hối xong
Thì mới không đọa lạc."


### 12. Mơ và hiện thực


Trong trận ốm này, vì đã tiêm rất nhiều thuốc, cho nên tôi mê man suốt hai mươi tư giờ, có thể nói là ngày ngày đều đang nằm mơ.
Tỉnh cũng là mơ.
Mơ cũng là mơ.
Mơ thật.
Mơ giả.
Dường như là mơ mà chẳng phải mơ.
Tôi rất biết ơn cơn mê man này, có thể nói đó là khoảng thời gian đẹp đẽ nhất.
Lão hòa thượng Hư Vân đã phá vỡ không gian, chìa tay ra gia trì cho lão Lư tôi.
Ông ấy nói: "Đừng có tin phụ nữ!"
Tôi nói: "Người nào cơ?"
Ông ấy nói: "Tất cả."
(Cá nhân tôi không hề phân biệt giới tính, nhưng mà lão hòa thượng Hư Vân thì lại phân biệt giới tính.)
Phụ nữ muốn chửi thì hãy chửi Hư Vân ấy.

Còn nữa:
Địa Mẫu Bồ Tát đưa cho tôi một cốc nước.
Uống nước xong.
Ngủ rất ngon.
Là Diêu Trì Kim Mẫu bảo Địa Mẫu Bồ Tát đem đến cho tôi một cốc nước để uống.

Còn nữa:
Mẹ tôi đã xuất hiện trong cơn mê man của tôi, tôi nhìn thấy rõ mồn một, bà cầm một hộp kim châm nhỏ, trên cánh tay trái của tôi, bà đã châm cứu cho tôi. Sau lần ấy, chân trái của tôi hình như không còn sưng phù nữa, chứng sưng phù cũng thuyên giảm rồi!

Những việc này đều là:
Dường như mơ mà chẳng phải mơ.
Dường như ngủ mà chẳng phải ngủ.
Tôi nhận thức được rằng, mơ và hiện thực là giống hệt nhau.
Trong cơn ngủ mê man, tôi nghe thấy một bài hát, rất hay rất đẹp, âm luật vô cùng hài hòa, ca từ cũng rất đặc biệt, tôi đã nghe rất nhiều lần, tôi muốn biết là ai hát.
Ai đang hát?
Bởi vì đó không phải là âm thanh của nhân gian, đó là tiếng hát từ hư không, nàng ở phía sau lưng tôi hát, tôi muốn trở mình, nhưng không quay người được, không thể nhìn thấy nàng.
Đôi khi tôi quay người được rồi, nhưng trong sát-na, nàng lại ở sau lưng tôi.
Tôi hỏi:
"Nàng là ai đó?"
Nàng ấy đáp:
"Bạch muội."
A! Tôi biết rồi, nàng ấy là Bạch Không Hành Mẫu.

Lời ca như sau:
"Trăng đang tròn
Ngủ đang ngon
Chàng và ta chẳng hề xa cách

Một ở trời
Một ở đất
Cùng gặp nhau
Ta chuẩn bị cho chàng bữa tiệc thần tiên

Lư vàng bồng bềnh thả trôi khói cát tường
Thiên nữ gảy lên khúc nhạc kì diệu
Chúc phúc
Thọ miên man

Chàng đừng gọi mình là mặt trời đã ngả về tây
Bởi chàng là thiên thượng nhân gian Đại Kim Tiên."


### 13. Đi vào bên trong cốt truyện


Tôi thích đọc sách. Tôi và sách không phải hai, mà là một. Điều này nghe có vẻ rất kì quái!
Tôi cảm thấy điều này chẳng có gì cả! Bởi vì đi vào bên trong cuốn sách cũng chính là:
Tình tiết văn tự trong sách biến thành bức tranh này lại đến bức tranh khác, tôi đi vào bên trong bức tranh.
Tôi không phải là người quan sát.
Tôi cũng không đọc văn tự.
Tôi trở thành người chuyên chú.
Dung nhập.
Tôi và sách là một.
Đôi khi, tôi sắm những vai khác nhau, vai nam chính, vai nữ chính, vai phụ, diễn viên tạm thời…
Điều này khả năng là có liên quan đến việc tôi tu tập Mật giáo.
Tập trung diễn hóa tất cả thân khẩu ý bí mật của Như Lai.
Thân kết ấn.
Khẩu tụng chú.
Ý Bổn tôn.
Khi ba thứ hợp làm một, tôi liền biến thành Bổn tôn, tôi không phải là Lư Thắng Ngạn, cũng không phải là Liên Sinh Hoạt Phật, càng không phải là con người, mà là Bổn tôn.
Lúc thì là Diêu Trì Kim Mẫu.
Lúc thì là A Di Đà Phật.
Lúc thì là Địa Tạng Bồ Tát.
Thậm chí là chư Tôn.
Những điều này đều là nghiệm tướng.
Tôi đã quán tu nhiều năm như vậy, sự chuyên chú quá mạnh, nên rất dễ:
Hai hợp làm một.
Ba hợp làm một.
Nhiều hợp làm một.
Hợp nhất tướng.
Trời ơi!
Tôi có thể bay, dưới chân tôi là những rặng núi lớn, là sông Trường Giang Hoàng Hà chảy êm đềm, là những sa mạc lớn cát vàng, là núi băng, là mặt đất tuyết phủ.
Con người tôi biến hóa cùng những tình tiết trong sách.
Trên mặt đất bao la.
Trên những cơn đại hồng thủy.
Trên những cuộc hỏa hoạn.
Trên những trận cuồng phong.
Hoặc là, tôi tiến nhập vào hư không, nhìn ngắm ánh sáng trắng của những vì sao treo trên màn trời đen thẫm. Lúc này là tĩnh hay là động, hoặc đều không phải tĩnh hay động, chỉ trong chốc lát, những văn tự đã hoàn toàn biến mất.
Tôi thật sự đã đi xuyên vào, không biết là bao lâu sau mới có thể tỉnh lại.
Đặt sách xuống!
Viết một bài thơ vậy!

Nhập ngã ngã nhập
"Bạn đã từng nghe chưa
Cái gì cũng không thấy
Phía đông hay phía tây
Trở thành một mặt phẳng

Đôi khi như chim én
Tung cánh
Vụt lên phía trước
Giống như một mũi tên

Tiến vào cõi sâu xa
Tôi nhập vào lưu luyến
Chẳng thể nào hình dung
Tất cả đều biến hiện."


### 14. Leo núi Chẩm Đầu


Tại nhân gian, có một việc mà tôi thích nhất, đó chính là leo núi Chẩm Đầu. Thật ra, cái tên gọi núi Chẩm Đầu có nghĩa là "đi ngủ", tôi luôn cảm thấy đi ngủ thật là thích! [ ND: Chẩm đầu có nghĩa là cái gối. ]
Tôi thường nghĩ:
Vô phiền.
Vô não.
Quên hết.
Vô khổ.
Điều tối tối quan trọng là không bị ai làm phiền.
Chà! Thật cừ quá!

Có một lần, ở Biệt Thự Cầu Vồng, tôi nói: "Tôi muốn đi leo núi Chẩm Đầu!"
Có một người mới đến, là một em gái rất xinh đẹp nói: "Để tôi đi cùng Sư Tôn leo núi Chẩm Đầu!"
Tôi nhìn cô ấy.
Cô ấy thật sự rất xinh đẹp. Vấn đề là, cô ấy căn bản là không biết núi Chẩm Đầu là ngọn núi nào.
Những đồng môn đã biết thì cười ầm cả lên, tôi cũng cười, còn bản thân cô ấy thì không hiểu gì.
Sau đó, có đồng môn nói cho cô ấy biết, núi Chẩm Đầu chính là ý nói rằng Sư Tôn muốn đi ngủ đó.
A! Cô ấy há hốc miệng, khuôn mặt ửng đỏ. Rất ngại ngùng.
Thành thật mà nói, một em gái xinh đẹp như vậy muốn cùng tôi leo núi Chẩm Đầu thì tôi cũng sẵn lòng.
Nhưng mà, tôi còn có thể ngủ được không? Cá nhân tôi đây ngủ một mình đã hơn bốn mươi năm rồi. Tôi uống thuốc "ngủ một mình", giờ có người ở bên cạnh, tôi sẽ không ngủ được. Tôi có thói quen niệm chú, nhanh chóng thư giãn, chỉ một lúc sau đã chìm vào trong mộng huyễn.
Đó là thế giới không sợ không lo không sầu.
Ở trong mơ, tôi:
Rất mảnh.
Chầm chậm.
Rất dài.
Cho dù vĩnh viễn không tỉnh lại, tôi cũng sẽ không hối hận, bởi vì vô sự, vô tâm là pháp mà tôi theo đuổi, là một cảnh giới cao nhất.
Tôi yêu thích việc "ngủ một mình" của mình.
Điều tối tối quan trọng là không ai có thể làm phiền tôi!
Bạn có biết không? Đi ngủ chính là "bế quan" chân chính của Lư Thắng Ngạn tôi đây.

Thơ:

Núi Chẩm Đầu
"Trăng thanh
Gió nhẹ
Thế là có hứng thú
Đi ngủ

Đó tuyệt đối không phải là sa đọa
Tôi sẽ tiến vào vùng xanh biếc
Xa xăm
Nếu bảo vẫn còn có việc
Thì đều là giả
Tôi có thể đang
Nhặt lúa

Ngày dài tựa dòng nước
Đó là bay
Chẳng ai có thể hiểu được
Điềm lành
Thiên thiên tuế vạn vạn tuế."


### 15. Phá bỏ khuôn mẫu của cuộc đời


Tôi thường nghĩ:
Có ai phá bỏ được khuôn mẫu của cuộc đời. Khuôn mẫu của cuộc đời là cái gì vậy?
Bạn không cảm thấy sao?
Sơ sinh - nhi đồng - thiếu niên - thanh niên - tráng niên - trung niên - lão niên - chết.
Sinh ra - đi học - tiểu học - trung học - đại học - thạc sĩ - tiến sĩ - đi làm - kết hôn - sinh con - già - chết.
Những cái này chính là khuôn mẫu.
Những cái này chính là kiểu cách cố hữu.
Cho dù…..
Không đi học.
Không kết hôn.
Không sinh con cái.
Thì cũng vẫn phải sinh - lão - bệnh - tử.
Tôi rất thắc mắc là ai đã quy định phải sống như vậy? Tôi không thích những kì kiểm tra thời còn đi học.
Nhưng vẫn cứ phải thi.
Thi hàng tháng.
Thi giữa kì.
Thi cuối kì.
Thi ………. (thố).

Bây giờ tôi cũng cảm thấy kết hôn rất mệt mỏi, vì sao phải kết hôn? Chẳng phải bạn đã đi ra khỏi một khuôn mẫu, rồi lại đi vào một khuôn mẫu khác sao?
Con cái, trời ơi!
Tự bạn tìm đến một đống phiền não, còn có cả một đống phiền não của cháu chắt nữa.
Sợ, sợ, sợ.
Khủng bố, khủng bố, khủng bố.

Mỗi một khuôn mẫu đều từng khiến tôi không biết phải làm sao, mỗi một khuôn mẫu đều là các bài thi, niềm vui ít, đau khổ nhiều, để sống sót trong cuộc đời này thật gian nan!
Tôi đưa ra một lời thề:
Tôi phải phá bỏ những khuôn mẫu của cuộc đời.
Nhất định phải làm cho rõ nội dung của cuộc đời và những điều ảo diệu trong nó.
Vì thế, tôi xuất gia.
Nhưng rồi, tôi phát hiện ra, xuất gia cũng lại là rơi vào một cạm bẫy khác, cũng là một khuôn mẫu.
Tôi tìm đáp án.
Phát hiện ra sau mỗi một vấn đề vẫn còn liên tiếp các vấn đề khác.
Bây giờ tôi đã biết rồi:
Khổ.
Không.
Vô thường.
Vô ngã.
Vô sinh.
Cho dù có đi hết cả cuộc đời này thì đến đời sau, đến đời sau nữa, bạn cũng không thoát ra khỏi khuôn mẫu của cuộc đời.
Vì thế, vô sinh mới có thể vô tử. Đây là phát hiện vĩ đại nhất trong cuộc đời này của tôi.

Thơ:

Phát hiện
"Tôi như con chim én
Tôi như một mũi tên
Bay đi
Bắn đi
Vẫn không ra khỏi giới hạn của khuôn mẫu

Năm tháng như hoa
Rơi đầy vườn rêu xanh
Tuổi già đến
Vẫn không biết thế nào là chính kiến

Cuối cùng học Phật rồi
Mới bắt đầu toàn diện."


### 16. Quá thấu hiểu nhân gian


Tôi có thể giúp chúng sinh thần toán, chủ yếu là "bấm ngón tay thần toán", vì thế, hơn bốn chục năm nay, tôi quá hiểu con người.
Bấm ngón tay thần toán là để đoán về:
Tiền tài.
Con cái.
Sức khỏe.
Nhân duyên.
Kiện tụng.
Chức vị.
Tuyển cử.
Đủ loại nghi vấn khó xử lý.
Có một số ít người hỏi về pháp, cầu pháp, quán đảnh và giải trừ tất cả nghiệp chướng.
Đại bộ phận thì không tách rời ba chữ "tài, sắc, danh", đây chính là nhân gian.

Người hỏi về bệnh tật cũng không ít, dù sao thì cũng là sinh, lão, bệnh, tử, đều là những thứ này.
Còn có gì nữa không? Tôi nghĩ, phạm vi hỏi việc của tôi đã đủ rộng rồi. Còn như vấn đề luân hồi, vấn đề nhân quả ba đời, vấn đề vãng sinh về nơi nào, cũng đều có người hỏi.
Bây giờ, thịnh hành "làng toàn cầu", có một chút hiện tượng của "thế giới đại đồng".
Nhưng tôi nghĩ:
Con người đều muốn trèo lên trên, trở thành người ở trên người khác.
Gia đình cũng thế.
Cộng đồng cũng thế.
Quốc gia cũng thế.
Tôi đã hiểu rất rõ về sự vận hành và thao tác của con người, gia đình, cộng đồng, quốc gia.
Giờ đây, vì đã quá hiểu rõ, lịch sử không ngừng tái hiện, các sự kiện không ngừng tái diễn, quốc gia, cộng đồng, gia đình, con người đều không ngừng tái diễn.
Tôi đã thấy quá nhiều rồi!
Tôi đã thấy quá rõ ràng rồi!
Vì quá hiểu rõ, nên tôi hoàn toàn không có cảm hứng gì đối với nhân thế gian.
Bởi vì nó không ngừng lặp lại.
Giống như mấy câu nói trong tiểu thuyết lịch sử:
"Chuyện kể rằng những chuyện đại sự trong thiên hạ, hợp lâu sẽ tan, tan lâu sẽ hợp."
Ha ha ha!
Chính là cái kiểu ấy!
Tôi muốn hét lớn với xã hội loài người:
"Bỏ mẹ chúng mày đi!" (Căn bản tôi không muốn ở lại nhân gian này.)

Thơ:

Luận tương đối
"Ăn một bát đá
Giảm bớt nóng nực
Giữa trưa
Mặt trời gay gắt
Chỉ còn lại cơn buồn ngủ mơ màng

Mùa hè nóng quá
Mặt đường nhựa cũng nóng bỏng chân
Những đám cháy vô cớ
Đã đốt cháy đại địa

Đến mùa đông
Băng tuyết như bông liễu
Ngoại trừ cảnh sắc đẹp
Bao kì dị tiềm tàng
Nhân gian
Chính là như thế đó
Thay đổi tới lui."


### 17. Nơi nào đẹp nhất?


Đệ tử đến từ khắp nơi trên thế giới đều hi vọng tôi đến đất nước của họ, họ đều nói rằng:
"Ở đó đẹp lắm!"
Nói thật lòng, đời này tôi đi du lịch cũng đã đủ rồi, tôi đã đi đến rất nhiều đất nước rồi.
Những nơi có phong cảnh rất đẹp tôi đều đã nhìn đến no cả mắt rồi.
Tôi nói:
Cái mùi vị nguyên thủy của rừng rậm Amazon.
Puerto Yamata, vùng biển của Ernest Hemingway.
Bắc cực quang ở Alaska.
Rặng núi Grand Canyon.
Biển Aegean (Ái Cầm) ở Hy Lạp.
Cây bồ đề ở trong rừng rậm Vienna.
Rất nhiều thác nước ở New Zealand.
Ngũ Đài Sơn (Thanh Lương Sơn) ở Trung Quốc.
Tám Thánh địa lớn ở Ấn Độ.
Cối xay gió ở Hà Lan.
Chùa chiền ở Bangkok.
Hoàng cung ở Brunei.
Kênh đào Panama.
Hồ nước ngọt rộng lớn ở Campuchia.
Lâu đài Aizuwakamatsu ở Nhật Bản trong bài hát "Trăng ở thành đổ".
Tượng Phật Dược Sư khổng lồ ở Hàn Quốc.
Và còn… và còn… và còn…

Đệ tử ở Thụy Điển nói:
"Sư Tôn đến Thụy Điển đi, sông núi ở đây như trinh nữ, đang đợi thầy đó!"
Đệ tử ở Tây Ban Nha nói:
"Lư Sư Tôn đến Tây Ban Nha đi, kiến trúc ở đây mang phong cách đặc biệt lắm!"
Đệ tử ở Nga nói:
"Lư Sư Tôn! Điện Kremlin đang đợi thầy đó!"
Đệ tử ở Kuwait nói:
"Thành phố này đã khác nhiều rồi."
Đệ tử ở Dubai nói:
"Con đưa thầy đi xem hoàng cung của đại công quốc Ả Rập."
……………

Ôi!
Con người tôi đây đã đi du lịch hai phần ba trái đất rồi, nhưng vẫn còn một phần ba trái đất chưa tới xem. Phía trên nơi rộng nhất là Greenland, cho đến đảo Christmas ở phía dưới.
Thế nào là nơi có phong cảnh đẹp nhất?
Tôi ngẫm nghĩ, rồi lại ngẫm nghĩ, cứ nghĩ mãi, cứ nghĩ mãi, cuối cùng tôi rút ra được một manh mối:
"Bồ đề tâm là đẹp nhất, người có bồ đề tâm là xinh đẹp nhất!"

Thơ:

Bồ đề tâm đẹp nhất
"Chạy khắp nơi
Cuộc đời chính là chuyến du lịch
Đó là câu nói của Không Hải Đại Sư
Nghĩ mà xem
Cá nhân tôi thì nghĩ
Dừng lại nghỉ
Thì càng đẹp hơn

Nhìn ra ngoài
Bao nhiêu phong cảnh vẫn còn chưa đi
Cho dù đã từng đi
Ai có thể nhớ được
Vẫn là một khối lờ mờ
Một trò chơi

Hay là đi xem bồ đề tâm của chính mình
Ấy là chân đế."


### 18. Câu chuyện chuyển nhà


Thử tính một chút về lịch sử chuyển nhà của tôi đi!
Kể từ khi tôi có thể tự mình "làm chủ", tôi đã chuyển nhà từ đường Tiến Hóa ở Đài Trung đến một con ngõ ở đường Tinh Võ, rồi lại từ đường Tinh Võ chuyển đến phường Nghi Hân. Tiếp theo, lại từ phường Nghi Hân chuyển đến cao ốc Lạc Quần. Rồi lại từ cao ốc Lạc Quần chuyển đến ngôi biệt thự ở đường Tinh Võ.
Nguyên nhân của lần chuyển nhà đầu tiên là vì: "Tôi tạo lập gia đình nhỏ của mình."
Nguyên nhân của lần chuyển nhà thứ hai là vì: "Bị người ta tố giác nhà tôi ồn ào quá, bởi vì tôi xem việc cho người ta khiến khắp nơi xôn xao."
Nguyên nhân của lần chuyển nhà thứ ba là vì: "Mỗi lần trời mưa to nhà tôi lại bị ngập."
Nguyên nhân của lần chuyển nhà thứ tư là vì: "Gặp phải hàng xóm xấu bụng."

Trong những lần chuyển nhà ở Đài Trung thì lần chuyển nhà thứ tư là kì diệu nhất, không ngờ là lại chuyển đến ngôi biệt thự kép, hàng xóm chính là Tinh Xá Hoa Vũ của Ấn Thuận Đạo Sư.
Mồng một hoặc mười lăm hàng tháng, tôi bèn đến lễ Phật ở Tinh Xá Hoa Vũ, thăm hỏi vị thầy quy y của tôi là Ấn Thuận Đạo Sư.
Sau đó, gia đình nhỏ này của chúng tôi lại chuyển nhà, từ biệt thự Tinh Võ chuyển đến Linh Tiên Các ở Seattle Hoa Kì. Đây là lần chuyển nhà thứ năm. Từ Đài Loan chuyển đến Mỹ.

Tôi, Liên Hương, Lư Phật Thanh, Lư Phật Kì, bốn tên "tiểu tử" rất dũng cảm đến một đất nước khác lập nghiệp, mỗi người chỉ đem theo một túi đồ, ngay cả hành lý cũng không có.

Ở Mỹ, chúng tôi trú tại quận Ballard, chính là Linh Tiên Các.
Tiếp theo lại từ Linh Tiên Các chuyển đến Chân Phật Mật Uyển.
Từ Chân Phật Mật Uyển chuyển đến hồ U Linh.
Từ hồ U Linh chuyển đến tiểu Nam Sơn Nhã Xá.
Từ tiểu Nam Sơn Nhã Xá chuyển đến đại Nam Sơn Nhã Xá.

Nguyên nhân của lần chuyển nhà thứ năm là: "Diêu Trì Kim Mẫu bảo tôi đi Mỹ!"
Nguyên nhân của lần chuyển nhà thứ sáu là: "Chuyển đến ở cạnh chùa Tổ Lôi Tạng Tự."
Nguyên nhân của lần chuyển nhà thứ bảy là: "Chân Phật Mật Uyển trở thành nơi làm việc của tôi."
Nguyên nhân của lần chuyển nhà thứ tám là: "Diêu Trì Kim Mẫu nói, có pháp nạn, phải mau chuyển đi."
Nguyên nhân của lần chuyển nhà thứ chín là: "Pháp nạn đã được giải trừ, hãy đến Nam Sơn Nhã Xá đi!" -
Diêu Trì Kim Mẫu bảo vậy.
Thế rồi tôi sống ở đây đến bây giờ.
Trời ơi! Cuộc đời tôi đã chín lần chuyển nhà. Có còn chuyển nhà nữa không thì có trời mới biết!
Tôi thử nghĩ, đại khái là, tôi chỉ nói đại khái, khả năng lần chuyển nhà thứ mười sẽ là đại viên mãn rồi.
Tôi sẽ chuyển đến tây phương Cực Lạc thế giới, đến Ma Ha Song Liên Trì, khi ấy, tôi đã viên tịch rồi.
Đây chính là cuộc đời chuyển nhà của tôi.

Thơ:

Chim nhạn phương nam
"Có lẽ
Tôi là con chim nhạn
Thay đổi hoàn cảnh sống
Để thân tâm an bình

Cảm thấy bản thân thật non nớt
Có phần khốn đốn
Chỉ muốn
Chỉ muốn
Chạy trốn

Đời người chỉ trong một tích tắc
Chuyện cũ đã qua
Đừng vướng bận trong lòng."


### 19. Tán thán: "Nước"


Còn nhớ không? Khi tôi đi học ở Tiểu học Đại Đồng Cao Hùng, bên trái trường học có một hồ bơi, đến giờ học bơi, thầy giáo đẩy tôi xuống nước. Lần đầu tiên xuống nước, tôi đã biết quạt tay đạp chân, hầy! Tôi tự nhiên đã biết bơi rồi.
Chưa từng có ai dạy tôi bơi.
Tôi tự nhiên biết bơi.
Thật ra cũng không cần phải lấy làm lạ, ở trong thai mẹ, tôi sớm đã học bơi suốt mấy tháng rồi.
Hơn nữa, khi tôi làm con tinh trùng, chẳng phải là tôi đã giành giải quán quân bơi lội mới có thể sinh ra chính tôi sao.

Về sau, phạm vi bơi lội của tôi đã trở nên rộng hơn:
Hồ bơi.
Suối.
Sông.
Hồ.
Biển.
Còn nhớ lúc nhỏ, tôi đến hồ bơi thành phố Cao Hùng để đi bơi, một hôm có cơn giông lớn, hồ bơi đóng cửa, tôi trèo hàng rào dây thép gai để vào, dưới trời mưa to, tôi vẫn bơi.
Suối, sông, hồ đều có dấu chân của tôi, có điều mỗi khi trở về nhà, tôi đều bị bố mẹ đánh.
Khi còn nhỏ, tôi đã đi bơi ở vịnh Tây Tử, tôi có thể bơi từ chỗ cạn đến đê chắn sóng, vượt ra khỏi bờ kè, nghĩa là bơi ra biển.

Còn nhớ một câu chuyện cười:
Có một nhà thơ đến bên bờ biển, ca ngợi biển rằng: "Biển ơi, biển ơi, người là mẹ của ta."
Đột nhiên, một đợt sóng lớn xô đến, nhà thơ bị ướt như chuột lột, nhà thơ nói: "Ôi! Thì ra người là mẹ kế!"
Ha ha ha!

Tôi thật sự đã bơi ngoài đại dương, đó là ở ngoài khơi Puerto Yamata ở biển Mexico.
Tôi là một thi nhân biển chân chính.
Tôi nhặt vỏ sò.
Tôi nhặt đá ở biển.
Tôi lặn bắt tôm hùm.
Tôi bắt cá ở vịnh Bành Hồ.
Tôi thích ngắm biển.
Tôi nghe tiếng rì rà rì rầm của biển.
Tôi ở bên bờ biển ngắm mặt trời, từ từ chìm vào trong đại dương, nhìn mặt trời lặn của buổi chiều tà.
Tịch dương hồng mấy độ. Tịch dương hồng mấy độ. Tịch dương hồng mấy độ.
Tôi nghĩ:
Tôi còn có bao nhiêu lần tịch dương hồng mấy độ nữa đây?

Thơ:
"Tán dương nước
Chăm chú ngắm biển
Nước bằng phẳng
Nước nhấp nhô
Nước rốt cục vẫn là
Tròn đầy

Nước rì rầm
Tiếng nước
Sóng thì thầm
Tiếng đàn

Nghìn tuổi
Vạn tuổi
Vẫn là
Hàng năm

Chưa từng thành sắc đỏ
Một bữa tiệc vĩnh hằng
Bày trước mắt thi nhân."


### 20. Tiếng vỗ tay của biển người


Tôi nhớ một bài hát tên gọi: "Tiếng vỗ tay vang vọng".
Bài hát này rất giống với cuộc đời của tôi, nhưng cũng không hoàn toàn giống, người khác thì là ca hát, còn tôi thì thuyết pháp, nói Phật pháp.
Ở Đài Loan Lôi Tạng Tự, tôi thuyết pháp, mỗi lần đều có trên vạn người đến nghe tôi thuyết pháp.
Trên thực tế, đây chính là cuộc sống của tôi, một tuần một lần lên pháp tọa, cũng có thể nói rằng:
"Lặp đi lặp lại."
Người đến nghe pháp, quá nửa là đến từ Đài Loan, Đông Nam Á, cũng có người đến từ châu Âu, Mỹ, Úc, đệ tử của tôi có ở khắp các nước trên thế giới.
Họ ùn ùn kéo đến nghe pháp, tiếng vỗ tay không dừng dứt.
Tôi không dám tự mình đề cao chính mình, ví dụ như:
Thuyết pháp hay.
Thuyết pháp giỏi.
Thuyết pháp khéo.
Thuyết pháp hài hước.
Thuyết pháp không chê vào đâu được.
Nhưng bất kể là thuyết thế nào thì luôn luôn là tiếng vỗ tay không ngớt vang lên.

Tôi thuyết pháp, tôi tự biết rằng:
Lý lẽ viên dung thông suốt.
Về phương diện pháp, tôi cũng là thực tu, có thể có được những nghiệm tướng và tương ứng rất cụ thể.
Tôi không khoác lác!
Tôi thật sự đã tu được những nghiệm tướng khiến người ta không dám tin, nói ra thì khiến người ta líu lưỡi không nói nên lời.
Tôi thông hiểu tứ Thánh giới.
Thông hiểu Thiên giới.
Thông hiểu nhân giới.
Thông hiểu quỷ giới.
Tôi lặng lẽ hoằng dương Phật pháp, người tin tôi thì tự sẽ tin, người không tin tôi thì tự sẽ không tin, tin hay không tùy bạn.

Cuộc đời tôi có một nguyên tắc, tôi theo phái tự do dân chủ, đệ tử cứ đến rồi đi.
Người đến tự họ đến.
Người đi tự họ đi.
Bản thân tôi hiểu rõ, dù tôi là người đã chứng ngộ, nhưng cũng không thể miễn cưỡng người khác nhất định phải tín nhiệm tôi làm Căn bản Thượng sư.

Đương nhiên tôi biết:
Sẽ có rất nhiều người mượn Phật pháp để mà lừa gạt chúng sinh. Nhưng tôi cũng không tức giận! Bởi vì đây là vấn đề về cái duyên.
Tôi quá may mắn rồi, mỗi lần pháp hội đều có trên vạn người, hơn nữa lần nào cũng vang lên tiếng vỗ tay không ngớt.
Có một ngày, tôi cũng tự biết:
Tôi sẽ được chôn cất, được mai táng dưới những tràng vỗ tay!

Thơ:

Chân thực
"Vốn dĩ ở trong tứ Thánh giới
Xuống cõi phàm nhơ đục
Chí hướng đặt vào hoằng pháp lợi quần sinh

Điều tôi nói hoàn toàn là thật
Chỉ mong con người có huệ nhãn
Đi theo bậc trí giả
Phúc huệ sẽ gia tăng

Chẳng phải vì những tràng vỗ tay
Danh
Lợi
Chúng chỉ là những thế tục đế
Điều tôi thật sự muốn
Là báo đáp Phật ân."


### 21. Ngoài việc thỉnh Phật trụ thế


Mười lời nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát:

1. Lễ kính chư Phật.

1. Xưng tán Như Lai.

1. Quảng tu cúng dường.

1. Sám hối nghiệp chướng.

1. Tùy hỉ công đức.

1. Thỉnh truyền pháp luân.

1. Thỉnh Phật trụ thế.

1. Thường tùy Phật học.

1. Hằng thuận chúng sinh.

1. Phổ giai hồi hướng.

Năm 2016, sinh nhật của tôi ngày 18 tháng 5 âm lịch rơi vào ngày 22 tháng 6. Vì năm 2016 tôi bị một trận ốm nặng, cho nên các đệ tử đã bừng bừng khí thế "thỉnh Phật trụ thế".
Thời gian này, dòng người từ các nơi đổ về để chúc thọ tôi và "thỉnh Phật trụ thế".
Mỗi đệ tử gặp tôi đều nói:
"Khỏe mạnh sống lâu, xin Phật trụ thế!"
Tôi vui vẻ đồng ý.
Các chùa, đường, hội đều làm pháp hội, đều là pháp hội "thỉnh Phật trụ thế".
Có Lương Hoàng Bảo Sám.
Có Liên Hoa Đồng Tử.
Có pháp hội Trường Thọ Phật để "thỉnh Phật trụ thế", pháp hội Tôn Thắng Phật Mẫu, Bạch Độ Mẫu, đều là những pháp hội cầu kéo dài tuổi thọ.
Có trì tâm chú.
Có niệm Chân Phật Kinh.
Có niệm Cao Vương Kinh.
...
Những cái này đều không có gì đáng trách.

Nhưng,
Cũng có một số người đã làm kinh doanh trên việc "thỉnh Phật trụ thế".
Bán rượu sống thọ "thỉnh Phật trụ thế".
Bán thuốc lá trường thọ "thỉnh Phật trụ thế".
Bán hương trường thọ.
Bán thuốc viên trường thọ.
Bán hỏa cúng trường thọ.
Bán giấy vàng mã trường thọ.
Đều gắn lên cái biển hiệu "thỉnh Phật trụ thế".
Tôi dám bảo đảm rằng họ vì việc "trụ thế" của tôi mà đã phải động não ghê lắm, rồi làm rất nhiều vụ kinh doanh, nhờ "thỉnh Phật trụ thế" mà kiếm được món hời lớn.
Tôi thốt lên: "Vì tôi bị ốm mà thỉnh Phật trụ thế, nhờ đó mà kiếm bộn rồi!"
Ôi!
Tôi dạo bước bên hồ, gió thổi lên tôi mát rượi, tôi cảm thán:
"Lão phu! Không thể ốm được!"

Thơ:

Thọ
"Cúng hoa
Mong cho khuôn mặt
Đẹp
Cúng hương
Mong cho thân thể
Khỏe
Cúng đèn
Mong cho ánh sáng
Hiện
Cúng trà
Mong cho trường thọ
Tiên
Cúng quả
Mong cho quả vị
Tăng trưởng chứng đắc
Phật bảo điện."


### 22. Xin đừng giới thiệu tôi ra bên ngoài


Tôi nói với đệ tử và những người khác:
"Cho dù thế nào, xin đừng giới thiệu tôi ra bên ngoài!"
Người ta hỏi lại rằng:
"Chẳng phải ngài từng nói, nếu không tiêu thụ thì sẽ tiêu tùng sao. Vì sao lại không giới thiệu?"
Tôi nói:
"Tôi đã 72 tuổi rồi, xin để tôi dừng lại ở đây thôi!"
"Sao lại không chứ?" - Người hỏi.
Tôi nói:
"Không còn trẻ nữa rồi!"
Người hỏi:
"Ngài muốn người ta quên ngài đi ư?"
Tôi cười:
"Đó là hiện tượng tự nhiên, con người trên đời, họ chỉ nhớ đến hiện tại. Quá khứ sẽ dần dần bị lãng quên, giống như Trường Giang sóng sau xô sóng trước, đợt sóng trước đã chết trên bãi cát rồi."
Người nói:
"Ngài sẽ không chết đâu!"
Tôi nói:
"Trên thế gian không có con người bất tử!"
Người nói:
"Đời người bảy chục mới bắt đầu mà."
Tôi nói:
"Bảy chục mới bắt đầu... rụng răng đó!"
Người nói:
"Ngài sẽ không đâu."
Tôi nói:
"Có chứ."
Tôi nói:
"Sẽ có một ngày, con người sẽ quên rằng từng có một người tên là Thánh Nghiêm. Cũng sẽ có một ngày, con người sẽ quên rằng từng có một người tên là Duy Giác. Cũng thế, sẽ có một ngày, con người sẽ quên rằng từng có một người tên là Lư Thắng Ngạn."

Giống như hôm nay, tôi hỏi một Phật tử:
"Anh có biết trưởng lão Bạch Thánh không?"
Phật tử đó đáp:
"Bách tính sao có thể là trưởng lão được?" [Bạch Thánh, nghe như Bách tính]
Phật tử đó nói:
"Ý của ngài là mỗi một bách tính đều có Phật tính ư?"

Tôi không muốn nói gì nữa, Khổng thánh nhân ơi, bảy mươi ba tuổi đã đi rồi, con người bây giờ không còn Khổng Tử nói này, Khổng Tử nói nọ nữa đâu. Tô Đông Pha sáu mươi tuổi đã trả tự do cho thê thiếp, Tô Đông Pha có rất nhiều điều lưu truyền, nhưng con người ngày nay chỉ nhớ đến "thịt nấu đông" thôi.
Ha ha!
"Mọi người còn muốn giới thiệu tôi đến nơi nào nữa, giới thiệu đến Châu Phi sao?"
Tôi không phải là: "Lu ủ mắm" đâu!

Thơ:

Quên
"Quên mất rồi cái việc soi gương
Bản thân tôi chẳng còn hay biết
Mình béo hay gầy

Tên gọi ở thế gian
Còn ai có thể nhớ được người xưa
Những năm qua
Tôi đã hiểu thấu rồi

Buổi sáng ngủ dậy
Buổi trưa ngủ dậy
Thậm chí tỉnh dậy sau khi chợp mắt
Không ngờ quên sạch lúc nào ở đâu

Chỉ biết mặt trời mọc lặn vẫn y như cũ."


### 23. Cảm nhận sau trận ốm nặng


Sau trận ốm nặng, tôi ngồi trên pháp tọa, chỉ nói một câu:
"Sức khỏe là quan trọng nhất, những cái khác đều không quan trọng. Còn nữa, trong tâm có ánh sáng là quan trọng nhất, những cái khác không còn nữa."
Ý tôi muốn nói rằng:
Tôi chỉ còn lại hai điều quan trọng:

1. Sức khỏe. (nhập thế)

1. Quang minh. (xuất thế)

Một đệ tử nữ bất ngờ nói với tôi:
"Con không quan trọng sao?"
Tôi nghe xong, cười khanh khách.
Tôi nghe Bắc Triều Tiên thử bắn mấy tên lửa đạn đạo, có ý dọa dẫm.
Tôi cười lớn ha ha ha.
Tôi thấy Trung Quốc đối đầu với Mỹ, Nhật, Ấn Độ ở biển Nam Hải, bão táp Nam Hải hết sức căng thẳng.
Tôi cười lớn ha ha ha.
Tôi thấy Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan tranh chấp chủ quyền ở đảo Senkaku (quần đảo Tiêm Các).
Tôi cười lớn ha ha ha.
Tôi thấy giá dầu hỏa lên xuống, giá vàng lên xuống, giá cổ phiếu lên xuống.
Tôi cười lớn ha ha ha.
Tôi thấy có Thượng sư Chân Phật Tông xây Lôi Tạng Tự lớn nhất thế giới.
Tôi cười lớn ha ha ha.
Tôi thấy Thượng sư Chân Phật Tông muốn tậu đám đất rộng để phục vụ nhiều công năng, tiêu tốn một khoản tiền lớn.
Tôi cười lớn ha ha ha.
...

Có đệ tử hỏi:
"Lư Sư Tôn! Vì sao lại cười?"
Tôi đáp:
"Có gì quan trọng đâu!"
Đệ tử hỏi:
"Chẳng phải ngài muốn đập bỏ Chân Phật Mật Uyển, xây mới lại từ đầu một tòa nhà Chân Phật Mật Uyển ba tầng sao?"
Tôi đáp:
"Tôi đã không còn cái tâm ấy nữa rồi!"
Đệ tử hỏi:
"Trên thế gian này, ngài còn muốn làm gì nữa?"
Tôi đáp:
"Chẳng muốn làm gì cả!"
Tôi lại nói:
"Không muốn làm cái gì cả, nghĩa là vô tâm. Bởi vì trong lòng tôi, chẳng có cái gì là quan trọng nữa!"

Thơ:

Chẳng quan tâm
"Từ lâu đã chẳng buồn xem bói
Mặc kệ là hung ác
Hay là cát tường

Tâm đã vỡ vụn từ lâu
Phỉ báng cũng được
Ca tụng cũng được
Tôn sùng cũng được
Vẫn cười như thường
Mặc kệ
Đê tiện hay cao quý

Hôm nay có rượu hôm nay say
Cho dù chỉ là so sánh
Nhưng
Thật sự là thế
Chỉ mong từ đây được ngủ dài."


### 24. Khúc hát bi thương của Bắc Cực


Một nghệ sĩ dương cầm nổi tiếng thế giới đã chuyển cây đàn dương cầm đến Bắc Cực ngập tràn băng tuyết.
Tấu lên giai điệu:
"Khúc hát bi thương của Bắc Cực"!
Khắp xung quanh là tuyết trắng óng ánh.
Lạnh căm căm.
Không có một bóng người.
Chỉ có tiếng đàn bay bổng trong không gian kì ảo, trở đi trở lại.

Nghe đâu:
Trái đất nóng lên, những núi băng ở Bắc Cực đã tan mất hai phần ba rồi, chỉ còn lại một phần ba thôi.
Bắc Cực đã không còn là Bắc Cực trước đây nữa.
Kết quả của việc trái đất nóng lên là ngay cả những động vật ở Bắc Cực đều cực kì ít khả năng sống sót.
Trái đất nóng lên, đương nhiên là ảnh hưởng đến toàn thế giới, khí hậu biến đổi, địa lý biến đổi, thời tiết biến đổi, núi sông đại địa đều biến đổi rồi.
Đất.
Nước.
Lửa.
Gió.
Đều biến đổi.
"Nóng chết mất!"
Thật đó! Rất nhiều người đã chết vì nóng!

Tôi luôn có một cảm giác, tất cả mọi thứ vẫn luôn ở trong sự vô thường. Trên thực tế, thế giới này không hề là một trạng thái bình thường, mà là luôn luôn chuyển biến.
Con người luôn luôn không tự ý thức được rằng, vũ trụ này, trái đất này, thế giới này, quốc gia này, gia đình này, con người này, đều đang biến đổi.
Ngay cả tình yêu nhỏ bé ấy cũng đang biến đổi, lúc thì nóng, lúc thì lạnh, một chốc đã không còn, một chốc đã thành không.
Tôi vẫn thường trở về Đài Loan qua mùa đông.
Sau đó trở về Seattle qua mùa hè.
(Bởi vì mùa hè ở Seattle giống như mùa đông ở Đài Loan vậy.)
Nhưng mùa đông ở Đài Loan đã không còn lạnh nữa rồi.
Mùa hè ở Seattle cũng không còn quá lạnh nữa.
Tôi phải làm sao đây?
Con người tôi rất sợ nóng, có muốn chuyển nhà đến Bắc Cực không nhỉ? Có đi nghe "khúc hát bi thương của Bắc Cực" không?
Sẽ có một ngày.
Bắc Cực không còn núi băng nữa, cũng không còn tuyết, bạn muốn tôi chuyển đến đâu?
Trong lòng tôi gào lên:
"Ông trời ơi! Ông trời ơi! Ông trời ơi!"

Thơ:

Bốn mùa
"Xuân có hoa
Hè có gió
Thu có trăng
Đông có tuyết
Đó là khúc ca của bốn mùa!

Phong hoa tuyết nguyệt
Thời gian đâu còn nhiều
Nóng lên
Mặt đất khắp nơi đầy khói bụi!

Bắc Cực
Có người đánh đàn
Hát lên khúc
Phải làm sao!

Ngước nhìn ông trời
A! A! A!"


### 25. Đứng trên đỉnh ngọn sóng


Tôi muốn viết ba bài thơ, tiêu đề là "Đứng trên đỉnh ngọn sóng".
Vì sao lại là tiêu đề này, đáp án rất đơn giản.

1. Tôi không phải sống, thì là chết.

1. Tôi không phải nổi, thì là chìm.

1. Tôi không phải lên, thì là xuống.

1. Tôi không tiến lên, thì rơi rụng.

1. Tôi không phải thần, thì là quỷ.

Bài thứ nhất:
"Dường như chẳng có thời gian ngơi nghỉ
Tôi giống như đang đi bước đều
Tiến lên trước
Bất kể là cành liễu rủ
Bất kể là mầm cỏ xanh

Thời gian trong nháy mắt
Chỉ khiến người ta luyến tiếc
Con người đứng trên đỉnh ngọn sóng
Là để chỉ
Cái mơ màng

Đương nhiên tôi có kì ngộ
Tôi không hoài nghi
Nhưng chúng sinh
Tặc lưỡi kinh ngạc

Cuộc đời vội vã hối hả như thế
Nghìn dặm
Vạn dặm
Đôi khi ngoảnh đầu nhìn lại
Khiến người ta thật nhớ nhung"

Bài thứ hai:
"Tôi có ba cái siêng
Viết văn
Tu pháp
Hoằng pháp
Nhà ở Tây Thành

Hộ pháp thường ở bên
Khẩu tụng chú
Ý Bổn tôn
Kết nên ấn triệu gọi
Móc vào áng mây trôi

Linh nghiệm không tính xuể
Chẳng phải dương
Thì là âm
Bát quái tùy thân chuyển
Chư thiên nhậm ngã hành."

Bài thứ ba:
"Ngồi thiền trong thâm nghiêm
Cửu chuyển nhậm phi đằng
Hơn ở nơi đỉnh sóng
Không đâu
Là không thần hành

Mở thiên môn
Đóng địa hộ
Bịt nhân đạo
Chặn quỷ lộ
Trước mắt hiện lên
Cảnh Tây phương

Nếu hỏi tôi là loại người gì
Xin thưa cứu độ chẳng nghỉ ngơi"


### 26. Đời sống tinh giản


Tôi từng nói:
Ở Đài Loan, tôi chỉ mua nước.
Ở Mỹ, tôi chỉ mua xăng.
(Nước là nước suối đóng chai, xăng để chạy xe.)
Những cái khác, tôi đều có cả. Bởi vì đệ tử của tôi năm triệu người, những thứ họ tặng tôi đã quá đủ để sống rồi.
Những thứ ở Đài Loan, tôi không chuyển đến Mỹ.
Những thứ ở Mỹ, tôi không chuyển đến Đài Loan.
Hành lý khi đi ra khỏi nhà của tôi chỉ là một vali da nhỏ, giá trị chỉ có hai nghìn Đài tệ.
Trong vali du lịch đựng:
Hai bộ đồ lót. (Ở khách sạn tôi tự giặt.)
Hai bộ quần áo Lama.
Hai chiếc long bào.
(Bàn chải và kem đánh răng, đồ tắm gội, dao cạo tóc.)
Là như thế đó.
Những lễ phẩm mà các đệ tử tặng tôi, cái gì có thể dùng, cái gì thiết thực, thì tôi giữ lại, cái gì không thể dùng, không thiết thực thì tôi tặng cho người khác.
Việc ăn uống của tôi thì:
Tuyệt đối không ăn linh tinh, không ăn vặt, không ăn nhiều.
Ít muối.
Ít đường.
Ít dầu.
Không dùng mì chính.
Trang phục của tôi là:
Quần áo Lama.
Long bào.
(Tinh giản nhất.)
Nơi tôi sống:
Ở Đài Loan, tôi sống ở chung cư. Mô tả bằng hai chữ: rộng và trống.
Ở Mỹ, tôi ở Nam Sơn Nhã Xá. Cũng vẫn là hai chữ: rộng và trống. Ngăn nắp.

Tôi đi lại:
Ở Đài Loan, có đệ tử lái xe. Tôi không dám tự lái xe.
Ở Mỹ, tôi tự lái xe. Là xe Maserati do đệ tử cúng dường.
Tất cả mọi thứ của tôi, nếu như có nhiều thì sẽ tặng lại. Những thứ dùng đã cũ thì vứt bỏ.
Những thứ không thiết thực mà người khác có thể dùng thì đem tặng người khác.
Còn những thứ không dùng thì:
Vứt bỏ.
Vứt bỏ.
Vứt bỏ.
Trong nhà không giữ lại những thứ rách nát gãy vỡ, những thứ có nhiều thì đem tặng người khác.
Quen với cuộc sống tinh giản rồi thì cuộc sống sẽ nhẹ nhõm hơn nhiều!
Cũng không làm bản thân thêm nặng gánh.
(Đến cuối cùng, ngay đến chính thân thể mình tôi cũng vứt bỏ, chỉ còn hai bàn tay trắng.)

Thơ:

Vứt bỏ
"Chúng ta vốn dĩ là hai bàn tay trắng
Hà tất
Phải chất chồng thêm nữa
Giản đơn chính là đẹp
Cuộc đời nhẹ nhàng
Thanh thản mà đi

Túi lớn túi nhỏ
Chuyển tới chuyển lui
Vì lý do gì
Tất cả tinh giản
Không còn phiền lo

Tất cả đều không thể đem đi
Hà tất phải ưu sầu."


### 27. Đoạn đường cuối cùng


Ở Mỹ, tôi và Thượng sư Liên Hương đều đã viết một văn kiện tuyên bố, mục đích chính của văn kiện này là:
Khi chúng tôi đi đến đoạn đường cuối cùng của mình:
Không cắm ống hỗ trợ.
Không phẫu thuật mở khí quản.
Muốn được chết tự nhiên.
Tuyên bố này có nghĩa là vào lúc hấp hối, không cần phải cấp cứu chúng tôi, không cần cắm ống thở, mở khí quản. Chúng tôi không muốn trì hoãn thời gian chết.
Mặc dù cắm ống, mở khí quán, đôi khi có thể cứu sống và sống được thêm vài năm nữa. Nhưng chúng tôi không muốn.
Mặc dù cắm ống, mở khí quản, có thể sống thoi thóp thêm một chút thời gian nữa. Nhưng, chúng tôi càng không muốn.
Chỉ muốn khi thời gian đã đến thì được ra đi trang nghiêm một chút thôi!
Toàn thân đều cắm ống lớn ống nhỏ thì khó coi lắm!

Có một lần.
Tôi và Thượng sư Liên Hương cùng ngồi xuống, tán dóc về cuộc sống những năm cuối đời của chúng tôi.
Khi tôi không thể tự do di chuyển, đương nhiên là Liên Hương sẽ chăm sóc tôi.
Khi Liên Hương không thể tự do di chuyển, tôi có thể chăm sóc bà ấy.
Vấn đề là, nếu cả hai chúng tôi đều không thể tự do di chuyển thì ai sẽ đến chăm sóc?
Con cái chăm sóc ư?
Tôi thật sự không muốn làm phiền con cái, bởi vì sẽ quấy rầy cuộc sống gia đình của chúng.
(Mặc dù chúng đều nói rằng chúng sẽ chăm sóc chúng tôi.)
Đệ tử chăm sóc ư?
Tôi có rất nhiều đệ tử thành tâm, họ đều muốn chăm sóc những năm cuối đời của chúng tôi. Tôi khước từ và cảm tạ!
Vì sao vậy?
Tôi thật sự không muốn các đệ tử vì hai người già này mà hao phí những năm tháng tuổi trẻ của họ.
Chăm sóc người già không dễ dàng, rất nhiều việc vụn vặt.
Tôi và Thượng sư Liên Hương cho rằng vào viện dưỡng lão và viện cho người sắp chết là hay nhất. Miễn là chi phí không quá đắt.
Để cho những người có kinh nghiệm chăm sóc thì sẽ tốt hơn!
Thứ tự sẽ là:
Viện dưỡng lão.
Viện cho người sắp chết.
Nơi an nghỉ cuối cùng.
Đây cũng chính là trình tự của việc chết!
(Tôi chưa từng nghĩ rằng muốn chết cũng đầy khó khăn như vậy. Tôi rất ngưỡng mộ những người nằm trên giường đi ngủ, sáng hôm sau đã đi rồi, thật sự là quá tốt, đúng là cái chết số một.)

Thơ:

Đoạn đường cuối cùng
"Khi hai đóa hoa héo tàn
Không thể đón sớm mai
Thời tiết cuối thu
Đầu cành chẳng bám trụ được bao lâu nữa

Chung quy cũng phải trở về
Với đất
Mong sao đến được Tây phương

Thường ngày lo người khác
Kì thực nghĩ mà xem
Mình sẽ có ngày này
Rồi lặng lẽ hướng tới
Đoạn đường cuối cùng."


### 28. Cả một đời hồ đồ


Ngẫm nghĩ về cuộc đời này, tôi đúng là một tên đại ngốc hồ đồ, đại đần độn.
Thời đi học, hai môn mà tôi khổ sở nhất là:
Anh văn.
Toán học.
Anh văn không tốt là vì tôi không thích học thuộc các từ đơn, học tới học lui vẫn lẫn lộn thì quá khứ, thì hiện tại, thì tương lai.
Toán học không tốt là vì tôi không thích tính toán, tôi thích một câu nói thời thượng:
Học hình học rồi thì thế nào?
Không học hình học thì sẽ làm sao?
Hình học làm sao?
Cuộc đời thế nào?
Tôi rất đau đầu với môn toán, tóm lại, tôi là một người cẩu thả lơ đễnh, là cái kiểu "rau cải xanh" (tiếng lóng ở Đài Loan).

Sau này lớn lên, câu cửa miệng của tôi là:
Cũng tàm tạm!
Không sao đâu!
Tốt!
Được!
Không hề gì!
Tùy ý!
Đó đều là những câu nói mơ hồ, chính là vì cá tính của tôi, cho nên bất kì người nào cũng đều có thể mặc sức "lên kế hoạch" với tôi.

Muốn tôi kí tên, tôi cũng thoải mái ừ thì kí.
Muốn tôi đáp ứng, thì tôi cũng ừ thì đáp ứng.

Đến khi xong xuôi rồi, tôi nói:
"Không sao đâu! Không hề gì!"
Khi phải trả giá đắt cho việc đó, tôi nói:
"Chịu thiệt thòi là chiếm được món hời đó."
Khi phải chịu khổ, tôi nói:
"Chịu khổ cũng giống như được tẩm bổ đó."
Khi tai họa giáng xuống đầu, tôi nói:
"Là phúc chẳng phải họa, là họa tránh không xong."
Người ta nói:
"Ngài phải lanh lợi lên một chút!"
Tôi nói:
"Bệnh của tôi chính là cái tật hồ đồ đó!"
Bất kì việc gì, tôi cũng đều cẩu thả lơ đễnh.

Thơ:

Tùy ý
"Chúng sinh đều nói tôi nhẹ dạ
Vô tâm
Không mưu tính
Tôi xem nhân gian
Như một trò chơi

Từ trẻ tới già
Từ già tới chết
Tôi sẽ chẳng tính toán
Tôi gìn giữ
Sự ấm áp quang minh vĩnh hằng

Chẳng bận lòng những chuyện thế tục
Trống không
Trống rỗng
Đó chính là nội hàm
Tôi hồ đồ
Thế nên mới nói học thiền."


### 29. Gương biến dạng


Có một công ty bách hóa, bên trong công ty có bày hai tấm gương, một tấm là gương lồi, một tấm là gương lõm.
Tôi đứng trước tấm gương lồi, người tôi giống như được thổi phồng lên như quả khí cầu vậy. Người lồi ra.
Bản thân tôi đã bị biến dạng trông như Trư Bát Giới trong Tây Du Kí vậy, tôi biết đây gọi là gương biến dạng.
Còn nữa, tôi đứng trước tấm gương lõm, người tôi liền biến thành gầy như khỉ ho, lại giống như Bạch Cốt Tinh. Người lõm vào.
Bạch Cốt Tinh cũng là một tình tiết trong Tây Du Kí.
Nhắc đến Bạch Cốt Tinh, tôi nói, mỗi một người đều là Bạch Cốt Tinh. Bạn nhớ không? Nếu bạn đến khoa phóng xạ của bệnh viện lớn, chụp MRI toàn thân, hay là chụp cộng hưởng từ, chụp cắt lớp gì đó, chẳng phải bạn là một bộ xương trắng thì là cái gì?

Còn nữa:
Nếu bạn đã từng đến nơi hỏa táng, những thân xác vừa hỏa táng xong được đẩy ra, bạn không phải là Bạch Cốt Tinh thì là cái gì?
Ở đây tôi phải giải thích trước một chút. Đời người rất kì diệu, có khi lồi, có khi lõm, có khi là Bạch Cốt Tinh.
Còn nữa, bạn đã đọc cuốn sách Liêu Trai Chí Dị, có một chương gọi là "Họa bì" chưa?
Có một con quỷ ăn thịt người. Nó có một bộ da của mỹ nữ. Con quỷ ăn thịt người chỉ cần khoác lên tấm da của mỹ nữ là sẽ biến thành một cô gái kiều diễm tuyệt sắc vô song.
Thư sinh nhìn thấy thì đều quẳng sách của Khổng Thánh nhân qua một bên.
Sau một cuộc chè chén, thư sinh chỉ còn là một đống xương trắng.
Ha ha!
Cái trò "họa bì" rất vui, nhưng bạn hãy để ý cẩn thận mà xem, những người ấy là quỷ ăn thịt người sao? Những người ấy cũng là thư sinh sao?
Quân tử ở đâu?
Thánh nhân ở đâu?
Hiền nhân ở đâu?
Trên thế giới này đầy ắp tham dục, có rất nhiều con quỷ ăn thịt người.
Còn những thư sinh chết thảm đó thật ra cũng tràn đầy tham dục. Còn những người chưa chết thì sao? Đó là vì họ chưa gặp phải quỷ ăn thịt người mà thôi!
Bạn biết những câu chuyện này kì thực cũng đều là những chuyện về gương biến dạng.
Chỉ có hai chữ "biến dạng" là mô tả vi diệu nhất.
Thế giới này thật:
Dung tục.
Còn bản thân Lư Sư Tôn thì sao? Tôi tự biết rằng, tôi đã hiểu chân tướng của con người là cái gì rồi!

Thơ:

Khúc hát biến dạng
"Đời người chính là một trận cười
Mặc dù cũng có đôi chút ấm áp
Chẳng phải lồi
Thì là lõm
Có người lùn tịt
Có người lêu đêu

Có người suốt đời chẳng có tiền đồ
Giống như con rối gỗ điều khiển bằng tay
Bị điều khiển phía sau sân khấu
Giấu kín

Tôi hiểu chân tướng
Dù là cỏ xanh
Dù là hoa thơm
Tôi chỉ ngồi trong rừng
Ngày ngày ngắm tà dương."


### 30. Rất nhiều thế kỉ trước


Nghe nói:
Rất nhiều thế kỉ trước, Lương Vũ Đế là một con giun, chỉ vì chỗ ở của nó là ở gần chùa Phật, nên sớm tối nó được nghe kinh, nhờ vậy đã gieo được Phật duyên.
Đến hơn 1400 năm trước, không ngờ con giun ấy lại làm hoàng đế, vị hoàng đế này hộ trì Phật giáo, trở thành một vị Phật tâm thiên tử nổi tiếng.
Cuối đời thì Lương Vũ Đế cũng chết đói tại Đài Thành.
Nguyên nhân ông ấy bị chết đói là gì đây?

Còn nữa:
Rất nhiều thế kỉ trước, Phật Đà cũng từng ở trong đạo súc sinh, hơn nữa còn chuyển thế nhiều lần thành:
Vua Hươu.
Vua Voi.
...

Trong đạo súc sinh, Phật Đà cũng thực hành Bồ Tát đạo.
Nhờ có công đức nhiều như vậy mới có thể thành tựu thành Phật.
Tuy nhiên, trước khi viên tịch, Phật Đà đã nhận cúng dường của người thợ rèn, ăn đồ ăn đã bị ôi thiu, vì thế mà mắc bệnh thổ tả, bị mất nước, thế rồi ngài viên tịch dưới gốc cây sa la trên đường trở về tăng đoàn. Đây là nhân quả gì vậy?

Còn nữa:
Thượng sư của tôi ngài Karmapa thứ mười sáu Rangjung Rigpe Dorje (1924 - 1981)
Thầy đã truyền thừa từ đời Karmapa thứ nhất từ thầy Dusum Khyenpa (1110 - 1193), cứ như thế truyền mười sáu lần, sự nghiệp Phật của thầy tôi vô cùng huy hoàng.
Những phẩm hạnh và đạo nghĩa của thầy tôi tràn đầy thần thông tự tại, rất nhiều sự việc đã chứng thực thành tựu vĩ đại của ngài ấy.
Ngài ấy đã thể hiện năng lực lãnh đạo của cá nhân, là người đại diện cho Phật Đà trong quãng thời gian huy hoàng nhất của ngài.
Thượng sư cũng bị mắc bệnh ung thư dạ dày, điều này là nhân quả thế nào đây?
Tại sao vị lãnh tụ tinh thần của chúng ta với khí chất của một vị vua lại qua đời sớm như vậy?

Còn bản thân tôi nữa.
Đã trải qua rất nhiều thế kỉ, tôi trước kia, rất nhiều thế kỉ trước kia, tôi lần lượt tìm hiểu.
Cuối cùng tôi đã biết:
Tất cả là một giấc mộng.
Bất kể bạn là nhân vật vĩ đại của thế kỉ nào hay là sinh vật thấp hèn, tất cả nghiệp đều không thể thay thế.
Không có một ngoại lệ nào.

Thơ:

Chuyển thế
"Bao nhiêu thế kỉ
Nghìn năm vạn năm trước
Bất kể ai là ai
Thì cũng đều tàn lụi

Biết được chân tướng
Một giọt nước
Một cái nghiệp
Nói ra thật cảm thương

Ha
Đã hiểu rồi cuộc đời của ta
Chớ cần kinh ngạc
Không cần cưỡng ép

Chuyển thế chuyển thế lại chuyển thế
Vô minh vô minh lại vô minh."


### 31. Họa Tam Võ


Chúng ta biết rằng Phật giáo có ba lần pháp nạn gọi là họa Tam Võ.
Ngụy Thái Võ.
Chu Võ Đế.
Đường Võ Tông.
Ba vị hoàng đế này đều phá hoại Phật giáo, sự đàn áp phá hoại Phật giáo ấy đều kinh thiên động địa. Không hề tầm thường.
Cưỡng ép tăng ni hoàn tục.
Hoặc giết hết không tha.
Phá chùa.
Diệt tượng Phật.
Đốt kinh điển Phật giáo.
Đem nung chảy tượng Phật bằng vàng, bạc, đồng để đúc thành tiền.
Chôn sống tăng ni.
...

Nhìn chung mà nói, các tín đồ Phật giáo đều tràn đầy ác cảm đối với ba vị hoàng đế họ Võ, cho rằng họ đã chôn sống Phật giáo, chắc chắn tội lỗi tày trời, không thể được xá tội. Đương nhiên ba vị hoàng đế này nhất định sẽ có ác báo không tốt.
Nhưng, bạn có biết không? Họa Tam Võ cũng có nội tình, chứ không phải là muốn diệt Phật là diệt Phật.
Tôi thích nghiên cứu tìm hiểu nguyên nhân, thì ra việc diệt Phật của ba vị hoàng đế này là có nhân tố cả.

1. Thế lực Phật giáo quá lớn, gần như kéo theo cả lực lượng chính trị, thậm chí tôn giáo còn vượt lên trên cả chính trị, điều này đương nhiên khiến cho hoàng đế không thể chịu được.

1. Những ưu đãi cho tăng ni quá lớn: được miễn nghĩa vụ quân sự, miễn thuế khóa, miễn tội. (Chỉ cần xuất gia thì tất cả tội đã phạm đều được xóa bỏ.)

1. Bên trong các chùa miếu Phật giáo có giấu binh khí, thế lực quá lớn, tiềm ẩn nguy cơ mưu phản.

1. Các chùa miếu Phật giáo giấu giếm những điều nhơ bẩn, hoang dâm vô độ với phụ nữ ở dân gian.

1. Cao tăng có thể không cần lễ độ với hoàng đế.

1. Tín đồ Phật giáo phạm tội có thể được giảm tội, tăng ni phạm tội có thể coi như vô tội.

1. Chính trị và tôn giáo không tách rời, Phật giáo hưng thịnh thì trái lại, sức mạnh chính trị lại suy giảm. Đôi bên tranh đấu.

1. Đạo giáo, Nho giáo phản đối. Tinh thần đấu tranh giữa các bên bắt đầu.
Biết được những điều này rồi! Thì cần phải hiểu trung đạo.

Thơ:

Hát đôi
"Thế giới này
Vốn dĩ là hát đôi
Một vở kịch
Hà tất phải kinh động hội trường

Thịnh hành
Đâu cần quá cuồng điên
Cần phải nhớ
Trăng thanh gió mát là đẹp nhất

Huống hồ lại còn khoa trương
Ai cũng nên đừng quá ngang tàng
Lư hương trong chùa cổ
Như thế mới lâu dài

Hư và thực
Đen và trắng
Phật pháp hưng thịnh
Phải kiêm cả quốc thái dân an."


### 32. Xác sống


Có một khoảng thời gian, điện ảnh Âu Mỹ được xem như là phim kinh dị! Họ diễn những phim về xác sống.
Có nghĩa là thây ma sống lại.
Xác sống này ở Trung Quốc cũng đã lan truyền rất lâu rồi.
Phim điện ảnh về xác sống của Âu Mỹ thì những xác sống kia nhe răng trợn mắt, mặt không có chút hồng hào nào, giống như người uống rượu say vậy, đi đường thì loạng choạng xiêu vẹo.
Thân người chúi về phía trước.
Quai hàm ép xuống dưới.
Xuất hiện một cách kì dị khó hiểu như vậy.
Xác sống có thể ăn thịt người. Người bị ăn thịt thì lại biến thành xác sống.
Những xác sống này sống thì cũng không hề có chút ý nghĩa nào, có khi thì là một hai con, có khi là hơn chục con, thậm chí là cả một bầy đàn.

Tình tiết trong phim:
Có một người đi du lịch, đến ở trọ tại một ngôi làng nhỏ hoang vắng. Phát hiện ra bầu không khí của cả ngôi làng có gì đó bất thường. Rất kì dị!
Chỉ có mấy người là người thật. Còn những người khác đều là xác sống.
Còn người khách du lịch này làm sao cứu được những người thật đó, làm sao dũng cảm tiêu diệt xác sống.
Những căng thẳng gây rúng động lòng người, gay cấn đến rùng mình, hơn nữa còn cả tâm trạng sợ bị xác sống ăn thịt.
Ngoài ra, người khách du lịch này còn vận dụng trí tuệ khiến cho ngôi làng nhỏ có được ánh sáng, loại bỏ được sự thống trị một phía của bóng đen xác sống.

Sau khi xem xong bộ phim này, tôi sinh ra một cảm giác kì quái.
Tôi cảm thấy nhân gian này dường như chính là một thế giới của xác sống, thật sự không có con người chân chính tồn tại.
Đây là thế giới người ăn thịt người.
Tràn đầy tham lam, dục vọng, thân tâm mất thăng bằng, tất cả đều lạc điệu.
Biểu hiện bên ngoài thì đều là con người.
Kì thực toàn là xác sống, lương tâm bại hoại.
Cá lớn nuốt cá bé, đào thải tự nhiên, sinh tồn không có mục tiêu, mảy may một chút ý nghĩa cũng không có.
Tranh danh.
Tranh lợi.
Tranh sắc.
Tranh sản.
Tất cả luân thường đều biến mất, tôi thấy thứ mà một bầy xác sống đang tranh nhau chính là vật chất nhân gian.
Thế giới này, có mấy người, là con người chân chính?

Thơ:

Liên tưởng
"Có lẽ
Cuộc đời của tôi cũng như Thần Tiên
Bởi lẽ tôi chẳng tranh giành
Một ngày
Cũng như một nghìn năm

Tôi nhìn con người
Cảm thấy rất nực cười
Tức cười
Thứ họ tranh giành
Lại chỉ là
Những tờ tiền bằng giấy in

Danh à
Lợi à
Sắc à
Sao biết được
Chỉ là một làn khói bếp."


### 33. Có một Thượng sư nói như vậy


Thượng sư hỏi đường chủ:
"Ông có muốn tham gia vào tập đoàn của tôi không?"
Đường chủ ồ lên một tiếng:
"Tập đoàn?"
Thượng sư nói:
"Nghĩa là Phật đường của ông thuộc về tôi đó."
Đường chủ hỏi:
"Tên hiệu của Phật đường mà Lư Sư Tôn ban cho là gì?"
Thượng sư nói:
"Rất nhiều Phật đường đã thuộc về tôi rồi!"
Đường chủ:
"Ồ!............"
Tôi nghe đường chủ này thuật lại, tôi hoàn toàn không có một chút khởi tâm động niệm nào.
Tôi đã già rồi!
Thật sự cũng không còn muốn gây nên những đúng sai thị phi ở nhân gian nữa, điều tôi nghĩ là:
Có được thứ trên mặt đất.
Sẽ đánh mất thứ ở trên trời.

Tôi nhớ thời đại Phật Thích Ca Mâu Ni:
Phật Đà đã già.
Vị đại vương tử thứ tám xuất gia là Đề Bà Đạt Đa:
Mặc y phục của Phật Đà.
Ngồi lên pháp tọa của Phật Đà.
Đề Bà Đạt Đa từ lâu đã có dã tâm muốn lãnh đạo tăng đoàn, thế là ông ta nói với các đồng môn:
"Anh có muốn tham gia vào tập đoàn của tôi không?"
Đồng môn nói:
"Đức Phật là đạo sư của chúng tôi!"
Đề Bà Đạt Đa nói:
"Ông ấy già rồi, lung lay rồi! Đi theo tôi mới là đúng đó!"
Thế là:
Rất nhiều đồng môn đã theo Đề Bà Đạt Đa.
Địa bàn của Đề Bà Đạt Đa càng ngày càng nhiều, quyền thế đạt đến đỉnh cao nhất.
Sau đó:
Ông ta khiêu chiến với Phật Đà, công kích Phật Đà, đề ra:
"Ngũ pháp tuyên ngôn."
Cuối cùng, ông ta phân tách tăng đoàn, đem theo vô cùng nhiều, vô cùng nhiều đệ tử của Phật Đà.
Đây là chuyện đáng tiếc nhất trong những năm cuối đời của Phật Đà.

Sự việc "nuôi ong tay áo" này từ xưa đến nay không ngừng tái diễn, chuyện giữa Phật và Ma cứ lặp đi lặp lại, giống như phát lại một bộ phim nhiều tập vậy.
Vì sao vậy?
Bởi vì đây là nhân gian, thật là cảm thán!

Thơ:

Đừng
"Lòng người
Lúc nào cũng kết
Nghìn tơ
Vạn sợi
Sao không như tôi
Lòng tôi là một vùng tuyết trắng

Nhân gian
Càng thêm hỗn loạn
Hoa bay lả tả
Sao không học tôi
Tu hành ngày qua ngày

Nhắn gửi các đệ tử trân trọng truyền thừa
Vì sao phải theo ai."


### 34. Không thể không cáo biệt


Tôi nhớ bài hát "Bầu trời mãi xanh", và tôi cũng từng hát bài này, có người nói, tôi hát cũng không tệ. Đoạn sau phần ca từ có bốn câu:
Tình là sâu.
Ý là nông.
Xa là khổ.
Nhớ là không.

Tôi nhớ đến ba chữ "xa là khổ". Chữ "xa" này phạm vi quá rộng.
Tôi học tiểu học, rời xa trường tiểu học; tôi học cấp hai, rời xa trường cấp hai; tôi học trung học, rời xa trường trung học; tôi học đại học, rời xa trường đại học.
Có quá nhiều cái "xa".
Quần áo cũ, xa rồi!
Giày cũ, xa rồi!
Nhà cũ, xa rồi!
Bạn cũ, xa rồi!
Thầy cũ, xa rồi!
Đồng môn cũ, xa rồi!
...

Đương nhiên tôi biết, sẽ có một ngày, ngày này nhất định đang đến gần rồi.
Viết văn, xa rồi!
Vẽ tranh, xa rồi!
Thuyết pháp, xa rồi!
Tu pháp, xa rồi!
Một chữ "xa" to nhất chính là xa rời thế giới Ta Bà, vãng sinh đến Phật quốc tịnh thổ để mà thành Phật tác Tổ!
Đệ tử của tôi ngày ngày gào lên:
"Xin Phật trụ thế, vĩnh viễn đừng nhập Niết Bàn!"
Tôi cười cười:
"Gào xót cả ruột!"
Căn bản điều này là không thể, xin hỏi, có người nào vĩnh viễn ở tại thế giới Ta Bà, vĩnh viễn sống mãi được chứ?
Giống như câu chuyện tình cảm này, đúng là chuyện nhỏ như hạt vừng, người đến, người đi, nhớ một chút về quãng thời gian đẹp đẽ của ngày xưa, nhưng đáng tiếc là chẳng là mãi mãi, ta không thể không vứt bỏ, quên đi.
Trong thế giới tầm thường này, có một định luật vô hình, định luật này chính là:
"Vô thường."
Cho dù có là tâm giao thì cũng là:
"Vô thường."
Có biết không?
Xa là khổ!
Nhớ là không!
Tôi đang nghĩ, mỗi một lần "xa", tôi đều chúc phúc, tôi chỉ có thể nói:
"Tất cả đều là sự an bài tốt đẹp nhất!"

Thơ:

Vô sở đắc
"Có một ngày
Chúng ta đều sẽ già
Lúc này đây
Mọi người xếp thành hàng
Không biết được
Ai là người đi trước

Cho dù
Chúng ta rất tốt
Chúng ta rất khéo
Chúng ta rất giỏi
Có một ngày
Sẽ cùng chung một điệu

Tất cả đều vô sở đắc
Khi tất cả đều rời xa
Chỉ còn lại tiếng gió vi vu trên cây cao."


### 35. Không có người thuyết pháp


Phật Đà thuyết pháp 49 năm, nhưng lại nói không hề thuyết pháp, ngay cả một chữ cũng chưa từng nói.
Quái lạ!
Tổ sư Đạt Ma lên pháp tọa, ngài đập bàn một cái, ngay cả một chữ cũng không nói, rồi xuống khỏi pháp tọa.
Các đệ tử ngơ ngác. Đạt Ma nói:
"Thuyết pháp xong rồi!"
Còn nữa:
Phật Đà sắp nhập Niết Bàn, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nói với Phật Đà:
"Xin hãy tiếp tục chuyển pháp luân!"
Phật Đà hỏi ngược lại:
"Ta có chuyển pháp luân sao?"
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nghe xong thì đã ngộ ra rồi!

Còn nữa:
Có người hỏi tôi:
"Cái gì là Chân Phật Tông?"
Tôi đáp:
"Căn bản chẳng có Chân Phật Tông!"
Có người hỏi tôi:
"Hẳn là có một người là Lư Thắng Ngạn nhỉ?"
Tôi đáp:
"Không có Lư Thắng Ngạn!"
Có người hỏi tôi:
"Lư Thắng Ngạn có năm triệu đệ tử, chắc cái này thì có nhỉ?"
Tôi đáp:
"Không có đệ tử, ngay cả nửa người cũng không không có. Vì đã không có Lư Thắng Ngạn nên cũng không có năm triệu đệ tử."
Người kia hỏi:
"Thế ông là ai?"
Tôi đáp:
"Ai là ai cơ?"
Không có người thuyết pháp, không có người nghe pháp, càng không có cái gọi là pháp.
Đó là "tam luận thể không".
Người đó hỏi:
"Cái này là không sao?"
Tôi đáp:
"Không cái đầu anh ấy!"
Tôi muốn nói để mọi người biết, chân tướng chính là như vậy, cái gọi là độ chúng sinh chính là không có chúng sinh nào có thể độ, bởi vì không có chúng sinh nào có thể độ nên mới gọi là độ chúng sinh.
Còn nữa:
Cái gọi là Lư Thắng Ngạn chính là vì không có Lư Thắng Ngạn, vì thế mới gọi là Lư Thắng Ngạn.

Thơ:

Thuyết pháp
"Không có người thuyết pháp
Không có người nghe pháp
Không có pháp
Đây mới là thuyết pháp

Không có người bố thí
Không có người nhận bố thí
Không có vật bố thí
Đây mới là bố thí

Biết
Không biết
Biết và không biết
Vô tri

Chân tướng
Mơ mơ hồ hồ."


### 36. Cùng sống với nhân quả ba đời


Rất nhiều người đến hỏi việc đều muốn hỏi về nhân quả ba đời, kiếp quá khứ thế nào ra sao, kiếp hiện tại thế nào ra sao, kiếp tương lai thế nào ra sao.
Các vị thầy thành tựu thì nói:
Quá khứ trồng nhân gì.
Đó chính là hiện tại lúc này của bạn. (quả)
Hiện tại lúc này bạn trồng nhân gì.
Đó chính là quả tương lai của bạn.
(Đây chính là nhân quả ba đời của bạn.)
Thế nhưng, đông đảo chúng sinh vẫn muốn hỏi về nhân quả ba đời, đúng là quá không hiểu chuyện rồi.

Giáo pháp của Phật Đà là:
Đời quá khứ không thể nắm. (đã qua rồi)
Đời hiện tại không thể nắm. (rồi sẽ qua)
Đời tương lai không thể nắm. (vẫn chưa đến)
Vì thế, rất nhiều đại sư thành tựu biết chúng sinh không hiểu được những điều này, nên đề xuất một cách đơn giản là: "Nắm chắc hiện tại."
Cho nên bây giờ rất nhiều người đều gào lên: "Nắm chắc hiện tại".
Nhưng rất nhiều người vẫn mê hoặc vào nhân quả ba đời, không muốn đi vào tận cùng của vấn đề.
Bởi vậy mới xuất hiện các thần côn:
"Kiếp trước em chính là vợ tôi đó!" (lừa sắc)
"Kiếp trước anh đã nợ tiền tôi, nếu không trả thì anh sẽ thê thảm đó!" (lừa tiền)
"Kiếp trước anh người hầu của tôi, kiếp này cũng phải làm người hầu cho tôi!" (lừa người)
"Kiếp trước anh đã đồng ý với tôi rồi… Kiếp này anh phải đi theo tôi mãi mãi! Thay tôi hoàn thành sứ mệnh!" (lừa tín chúng)
Lừa lọc lừa lọc lừa lọc.

Nhân quả ba đời trở thành việc xem bói đoán mệnh, thành công cụ để lừa tài gạt sắc.
Tôi rất muốn tặng cho cái thể loại thần côn đó một ống sáo trúc. Thần côn hỏi:
"Vì sao tặng sáo trúc?"
Tôi đáp:
"Để tiếp tục thổi!"
Tôi nói:
"Nắm chắc hiện tại, nghĩa là hãy chăm chỉ tu hành, cùng sống với nhân quả ba đời của bạn."

Thơ:

Thời gian
"Chim én bay đi
Chim én bay đến
Rồi hoa rụng
Nhụy hoa lại nở ra

Mặt ao rêu xanh ba bốn chấm
Lá rơi hoàng oanh thốt tiếng kêu
Chẳng mấy chốc
Bồng bềnh hoa tuyết bay

Đó là nguyên nhân gì
Tôi đáp
Phụ họa
Người cũ đã đi
Người mới lại đến
Mặt đất lại một lần đổi thay."


### 37. Mày chỉ là thằng quỷ sứ


Mẹ tôi từng nói với tôi:
"Lư Thắng Ngạn mày chỉ là một thằng quỷ sứ!"
Mẹ tôi nói:
"Đồ hèn nhát!"
Mẹ tôi nói:
"Cái tâm mày bé như vậy, làm sao mà phát đạt được chứ?"
Tôi nói với mẹ rằng:
"Con chỉ mong một cái tâm an thôi!"
Mẹ tôi nói:
"Thế giới bây giờ có ai giống như mày đâu, đúng là một thằng quỷ sứ!"
(Đây là lời mẹ thường nói với tôi lúc còn sống.)

Nhưng,
Tôi nhớ Liễu Minh Hòa Thượng, sau khi tôi hoàn thành xong việc học tập Phật pháp, thầy đã dặn dò tôi rất cẩn thận:
"Dựa vào hoằng pháp mà duy trì pháp mạch, né tránh những ô nhiễm của quần chúng, cũng là khiến bản thân khỏi phải chịu tổn thương, con hoằng dương Phật pháp, trên phương diện tiền bạc, chỉ có hai chữ, chính là tùy ý."

1. Tùy ý.

1. Tuyệt đối không mở miệng đòi tiền người khác.

1. Các chùa đường hội, tài chính, hành chính, nhân sự, tôi đều không quản.

1. Hoàn toàn không chạm vào những đồng tiền nhạy cảm cực đoan.

Tôi đã 72 tuổi rồi. Đối với chuyện tiền bạc, tôi rất ít phiền phức. Bởi vì tôi chỉ có hai chữ "Tùy ý".
Tôi cũng từng viết một chương sách: "Xin đừng cúng dường Lư Sư Tôn".
Thế nhưng, các đệ tử của tôi thì khác, tôi thấy họ đều đang "tranh tiền", "moi tiền", với các chiêu trò khác nhau.
Phương pháp "moi tiền" vô cùng thù thắng, tôi cũng tuyệt đối không vì thấy thế mà đỏ con mắt. Tôi chỉ thở than:
"Quá đáng quá rồi!"

Các đệ tử của tôi không học theo thái độ tất cả đều tùy ý của tôi, mà họ lại khăng khăng muốn tiền. Có một số người không chỉ quy định bảng giá mà thậm chí có người còn muốn nhà cửa của người ta, muốn đất đai của người ta.
Còn nữa, muốn cả "di sản" của người ta.
Trời ơi! Trời ơi! Trời ơi!
Ngoan ngoãn mà xuống địa ngục đi!
Thượng sư hoằng pháp chỉ là một cái bảng tên đẹp đẽ, "moi tiền" mới là mục đích của họ.
Hôm nay tôi cảnh cáo những người hoằng pháp:
"Đối với tiền bạc phàm tục, cần phải mang thái độ hờ hững và trong sáng."

Thơ:

Tâm trong sáng
"Trăng tròn thì ít
Trăng khuyết thì nhiều
Đáng tiếc thay
Cho sự âm u

Quá khứ xa xăm
Tương lai cũng xa xăm
Chữ tham
Khi nào mới dừng dứt

Trăng sáng cần trong trẻo
Gió mát cần sảng khoái
Nước chảy cần trong veo
Mong
Mười châu ngập tràn ánh sáng."


### 38. Chân của thầy đã khỏi chưa?


Có một lần, trong lúc múa côn tại Đài Loan Lôi Tạng Tự, tôi tung cây côn ra rồi đuổi theo côn, không ngờ mặt đất không bằng phẳng nên tôi đã ngã lăn ra, toàn thân nằm sấp xuống đất.
Thật may tôi không bị thương, tay không bị trầy xước, chân cũng không bị thương, tôi đứng dậy.
Tôi lại tiếp tục múa gậy (Thiếu lâm côn).
Sau đó không lâu, tất cả các loại thuốc bôi ngoài da cho vết thương do ngã từ khắp nơi trên thế giới ào ào gửi tới, chiếm hết cả tủ thuốc trong nhà tôi.
Đệ tử gặp tôi liền hỏi:
"Sư Tôn bị ngã sao?"
"Sao Sư Tôn có thể bị ngã chứ?"
"Lư Sư Tôn có bị thương không?"
"Đã khỏi chưa?"
"Có phải bị xung sát không?"
"Vì nguyên nhân gì mà ngã vậy?"
"Do quỷ thần đẩy Lư Sư Tôn sao?"
"Đây là điềm báo gì vậy?"
"Thế thân ư?"
Tôi nghe các đệ tử trên thế giới hỏi thăm một hồi, tôi chỉ muốn nói một câu:
"Lẽ nào mọi người không nhìn thấy Lư Sư Tôn đã lại đứng dậy và lại múa côn sao?"
Sau đó nói:
"Đã đủ chưa? Đó chẳng qua chỉ là một cú ngã bình thường thôi, có đáng truyền bá khắp thế giới không?"

Còn nữa:
Chân trái của tôi bị sưng phù. Bác sĩ Trịnh Sâm Long và mấy vị bác sĩ hội chẩn cho tôi, tôi đã trải qua hai tháng khám chữa bệnh.
Tôi nhập viện một tuần.
Tôi tuyên bố:
"Khỏi rồi!"
Ba tháng sau.
Pháp sư Liên Kí vẫn hỏi:
"Chân của thầy khỏi chưa?"
Ông Jodie hỏi:
"Thật sự khỏi hẳn chưa?"
Bác sĩ Tiểu Kiều hỏi:
"Để con xem chân của thầy xem sao?"
Càng nhiều người nữa hỏi:
"Chân của thầy thật sự khỏi hẳn chưa?"
Đó là ba tháng sau khi tôi đã tuyên bố "chân khỏi rồi" đó, thế mà họ vẫn còn hỏi. Tôi thật sự không chịu nổi nữa, tôi tin rằng cho dù có chụp ảnh hai chân của tôi đăng trên mạng thì mọi người vẫn sẽ hỏi:
"Chân của thầy thật sự đã khỏi chưa?"
Tôi biết, tôi không thể bị làm sao đó, cho dù chỉ ho một tiếng thì cũng lan truyền đi khắp thế giới.
Tôi không cần phải bỏ công sức để đi xử lý "tin vịt", bởi vì đó chỉ lãng phí hơi sức thôi.

Thơ:

Chân Phật
"Chân Phật nghĩa là thật
Là nói đến
Chân đế

Diệu cảnh ở Ma Ha Song Liên Trì
Huyễn hóa của Liên Hoa Đồng Tử
Ở nơi Phật
Có thập địa

Thứ tự tu hành Mật pháp
Chỉ cần tương ứng dung hòa
Chứng nghiệm khi ấy khởi lên
Phật Bồ Tát đến thọ kí."


### 39. Người xuất gia thật giả


Tôi ở New York Mỹ vào đúng ngày 4 tháng 7, là ngày quốc khánh của Mỹ.
Buổi tối hôm đó có người cúng trai, địa điểm là ở Câu lạc bộ trên nước ở Mahattan [ ND: Water Ski Club ], bởi vì vào lúc 9 giờ tối ngày 4/7 có bắn pháo hoa, cho nên mấy đường phố đều bị phong tỏa, những dòng người đổ về để xem pháo hoa đều đi bộ.
Chúng tôi là những người xuất gia mặc y phục Lama, phải đi bộ trên những con phố rất rất dài, qua những đường hầm vòng vèo quanh co mới đến được khu vực cửa cảng.
Rất nhiều cảnh sát được phân bổ tại các trạm gác phong tỏa, lần lượt kiểm tra túi da, hành lý, vật tùy thân. (E sợ phần tử khủng bố thực hiện tấn công khủng bố.)
Vì chúng tôi đến trước còn người cúng trai thì vẫn chưa đến, nên chúng tôi chỉ có thể chờ ở khu vực cửa cảng.
Lúc này có nhiều cảnh sát đến.
Hỏi:
"Mấy người có thật là người xuất gia không?"
Đáp:
"Thật."
Tôi hỏi có chuyện gì.
Cảnh sát nói:
"Ở New York đã xuất hiện rất nhiều người xuất gia giả, họ cạo đầu trọc, mặc áo cà sa, ngoại hình căn bản là người xuất gia, tay cầm bình bát đi hóa duyên. Những người giả xuất gia này cũng bán cả những bùa hộ thân nữa."
Khi cảnh sát đến thì họ liền tản ra như chim. Trên báo nói, những người xuất gia này đều là giả, không có chùa chiền, không hỏi rõ được nguyên do. Chỉ là họ muốn xin tiền, muốn tiền.
Cho nên, cảnh sát mới đến hỏi chúng tôi:
"Các người là người xuất gia thật không?"
Tôi nghĩ:
Tôi đương nhiên là thật.
Tôi có sư phụ cạo đầu cho tôi - là đại hòa thượng Quả Hiền.
Tôi có chứng thư tăng nhân - do hội Phật giáo phát hành.
Tôi có thẻ tu hành - chứng minh thư đã thọ giới.
Tôi có chùa - là Lôi Tạng Tự.
Nhưng, có người bảo tôi, những cái này đều có thể làm giả được, có thể in ra được, lừa đảo được.
Thế giới này có cái thật thì nhất định sẽ có cái giả.
Ví dụ:
Tiền giả.
Đá quý giả.
Hộ chiếu giả.
Thân phận giả.
Bảng tên giả.
...
Vậy thế nào là người xuất gia thật đây?
Tôi đáp:
"Tu hành thật!"
Nếu không tu hành thật, cho dù bạn cái gì cũng có thì cũng vẫn là người xuất gia giả.

Thơ:

Quang minh
"Mải miết nhìn
Quang cảnh sông núi
Phong cảnh của thế giới tự nhiên

Nghĩ mà xem
Thánh hiền xưa nay suy bại
Đời này
Ai thật sự tu hành

Thật giả khó căn cứ
Nếu trong lòng không có ánh sáng
Chẳng phải càng cảm thương sao."


### 40. Tư tưởng vô vi


Chân Phật Tông có:
50 tòa Lôi Tạng Tự.
Hơn 400 Phật đường và trung tâm đồng tu.
5 triệu đệ tử. (Có một đất nước đưa ra báo cáo điều tra của họ, nói rằng chỉ riêng ở đất nước đó đã có một triệu đệ tử Chân Phật Tông rồi.)
Đây hoàn toàn không phải khoe khoang bản thân tôi giỏi thế nào, năng lực của tôi siêu thế nào mà độ được nhiều chúng sinh như vậy.
Tôi thường nghĩ:
Nhiều Lôi Tạng Tự như thế, nhưng tôi cũng chưa hề đi hết tất cả từng ngôi chùa, thậm chí chùa xây dựng xong đã nhiều năm, tôi cũng chưa từng đến khai quang, chưa từng đến thuyết pháp.
Hơn 400 phân đường đó, thậm chí đến tên gọi của phân đường, tôi cũng không nhớ được.
5 triệu đệ tử đó thì cũng chỉ biết được một số rất ít.
Nói thẳng ra, tôi muốn ghi nhớ họ tên và khuôn mặt của đệ tử thì cũng là nhiệm vụ không thể.
Vậy làm sao tôi quản lý được?
Câu trả lời thật sự là tôi cũng chưa bao giờ quản lý.
Nhân sự.
Chính trị.
Tài chính.
Hoằng pháp.
Tôi chưa từng quản lý.

Có ba nơi mà tôi khá thường xuyên hoằng pháp là:

1. Đài Loan Lôi Tạng Tự.

1. Seattle Lôi Tạng Tự.

1. Cầu Vồng Lôi Tạng Tự.

Cho dù hoằng pháp thì tôi cũng chưa từng hỏi về vấn đề nhân sự, chính trị, tài chính, hoằng pháp….
Thật sự là tôi chẳng hề quản việc gì cả.
Nếu thật sự yêu cầu tôi quản thì thực tế là tôi cũng không quản nổi, tôi chỉ có hai quan niệm:
"Thuận theo tự nhiên."
"Tất cả đều là sự an bài hoàn hảo."

Cuộc đời này tôi chỉ làm mấy việc:
Viết sách.
Vẽ tranh.
Tu pháp.
Hoằng pháp.
Triết học cuộc đời của tôi là:
Sống một ngày, vui vẻ một ngày; sống một ngày, cảm ơn một ngày; sống một ngày, tu pháp một ngày.
5 triệu đệ tử, hãy tự mình thành Phật đi!
Đệ tử thành Phật cũng được.
Đệ tử thành ma cũng được.
Đệ tử quy y rồi lại bỏ đi, cũng được.
Đệ tử bỏ đi rồi lại quy y, cũng được.
Tất cả đều tốt cả.

Thơ:

Tất cả đều tốt đẹp
"Cuộc đời tôi chỉ có hai chữ
Mà chẳng ai có thể nghĩ đến
"Vô cầu"

Tôi chỉ thấy
Trạm cuối của đời người
Hết mô này đến mô khác
Những nấm mồ

Cái gì có thể lưu giữ
Bởi lẽ như thế
Bạn lo nghĩ điều gì

Bao nhiêu mùa xuân thu
Lại thêm bấy nhiều sầu
Tôi cũng đều vứt bỏ
Quẳng hết lại phía sau.


### 41. Tuyệt đối không phải nhân vật tiêu điểm


Phật giáo Đài Loan xướng tên Tứ Đại Sơn Đầu thông thường là để chỉ:
Phật Quang Sơn, Tinh Vân Đại Sư là người sáng lập.
Pháp Cổ Sơn, Thánh Nghiêm Pháp Sư là người sáng lập.
Trung Đài Sơn, Duy Giác Pháp Sư là người sáng lập.
Từ Tế, Chứng Nghiêm Pháp Sư là người sáng lập.
Tứ Đại Sơn Đầu này đã thúc đẩy hoằng dương Phật giáo, vững như Thái Sơn, đồng thời cũng khiến cho Phật pháp tại nhân gian tỏa sáng rực rỡ.
Trên phương diện giáo hóa tâm linh cũng có những cống hiến cực kì to lớn.
Tứ Đại Sơn Đầu là tiêu điểm.
Người trụ trì cũng là nhân vật tiêu điểm.

Vì thế, khi các phóng viên phỏng vấn tôi, tôi rất thẳng thắn nói với các phóng viên:
"Tôi không phải là nhân vật tiêu điểm!"
Không những tôi không phải là nhân vật tiêu điểm, nghiêm túc mà nói, tôi chỉ là một nhân vật nhỏ bé tu học Phật pháp mà thôi.
Mặc dù tôi là người sáng lập tông phái, nhưng trên phương diện kiến thiết và tài lực thì có hơi căng, không được dồi dào như người ta.

Tôi cảm thấy:
Tôi giống như gió mát.
Tôi giống như mây trắng.
Tôi giống như nước chảy.

Từ đầu tôi đã bàn giao rất rõ ràng rồi, tôi không dính vào quyền lực, trên phương diện hữu hình, bản thân tôi chẳng có thứ gì, chỉ có trên phương diện vô hình thì có thể xem tôi là một vị đạo sư tinh thần.
Trên phương diện tiền bạc, tôi không dính vào, tôi không bị ô nhiễm bởi tiền bạc, chỉ có một câu "tùy ý". Không mở miệng ra đòi tiền người ta.

Tôi dùng phương pháp phân quyền, hơn nữa lại mạnh ai nấy làm, tôi lấy một ví dụ để minh họa cho rõ:
Giống như tôi mở một công ty xe taxi, xe taxi tự mình vận hành, chẳng hề do tôi quản.
Cách làm này cũng tương đối thời thượng.
Cá nhân tôi rất hài lòng với việc tác pháp của mình, mặc dù không thịnh hành, nhưng tôi là một người theo chủ nghĩa thực tu, bản thân thực tu, người khác không thực tu thì tôi cũng không quản.
Xem ra thì cũng là người theo chủ nghĩa lãng mạn.

Chân Phật Tông lớn, nhưng, vô thực.
Đệ tử nhiều, nhưng, rời rạc.
Trên thực tế là một đám người ô hợp, chia bè kết cánh, phân tách chứ không hề ngưng kết.
Nó không hề có tư cách hình thành nên một tông phái tiêu điểm.
Tôi không phải là nhân vật tiêu điểm.
Tôi vĩnh viễn sẽ không là nhân vật chính, bởi vì đối với nhân gian này, tôi không có một chút quan tâm nào.
Vấn đề chính là nằm ở đây:
"Không quan tâm!"
"Mặc kệ!"
"Cái gì cũng bảo tốt cả!"

Thơ:

Tự nhiên
"Đi một bước
Tính một bước
Bóng hình cô độc đến đến đi đi
Cũng không biết
Đêm nay trọ nơi nào

Nói ra cũng thật nực cười
Đã qua bao mùa xuân thu như thế
Đôi khi ngoảnh lại
Nắng chiều đã sắp tắt rồi

Nói là muốn độ chúng sinh
Phật pháp nghìn đầu vạn mối
Cũng chẳng thực sự có nổi
Một chốn an bài."


### 42. Atisha tôn giả


Atisha tôn giả, tác giả của Đạo Cự Luận, là một trong những bậc pandita mà tôi tôn kính.
Ở Tây Tạng, đại tu hành giả khiến người ta tôn kính nhất ngoài Liên Hoa Sinh Đại Sĩ ra thì chính là Atisha tôn giả. Hai vị này đều là những đại sư hoằng pháp từ Ấn Độ vào Tây Tạng.

Lúc Atisha tôn giả chưa xuất gia thì đã nổi danh rồi.
Trong một lần thiền quán, ngài đã đến Sắc cứu cánh thiên.
Trông thấy Phật Thích Ca Mâu Ni ở trên pháp tọa cao nhất, hai bên có rất nhiều pháp tọa ngồi đầy các vị A La Hán, nhưng có một pháp tọa không có ai ngồi.
Atisha tôn giả tiến nhanh đến ngồi. Phật Đà nhìn thấy hỏi:
"Là ai?"
Người bên cạnh trả lời:
"Atisha tôn giả."
Phật Đà quở trách:
"Đây là pháp tọa cho A La Hán xuất gia, sao có thể cho phép cư sĩ tại gia ngồi lên?"
Atisha tôn giả bị chỉ trích, ngoan ngoãn xuống khỏi pháp tọa. Vô cùng xấu hổ và hối lỗi, mặt đỏ tía tai.
Sau khi xuất khỏi thiền quán, ngài bèn tìm đến Thượng Tọa Bộ [ ND: phái Theravada ] để xuất gia. Nhưng bị từ chối. Thế là ngài chỉ còn cách tìm đến Đại Chúng Bộ [ ND: phái Mahasanghika ] để xuất gia, xuất gia tượng trưng cho xuất ly tâm, là quy định nhà Phật của Phật Thích Ca Mâu Ni.

Phật nói:
Phật pháp đã đến thời mạt thế.
Có cư sĩ tại gia (bạch y) ngồi trên ghế.
Người xuất gia thì đảnh lễ người tại gia.
Đây là Ma tướng.
Khi ấy, ma mạnh pháp yếu, Phật pháp bị bỏ bê, giới luật Phật giáo mất hút. Tà sư dẫn dắt pháp sư xuất gia, cùng nhập ma đạo, vô cùng đáng sợ.

Gần đây, tôi thấy trong địa ngục đã xếp danh sách tên các tà sư.
Thân là bộ xương người.
Vẫn đội mũ Ngũ Phật.
Tà sư vào địa ngục.
Lòng tôi đầy bi thương.
Tôi mong sao Chân Phật Tông hãy dựa theo chế độ của giáo chủ Thích Ca Mâu Ni Phật.
Để tránh phạm giới luật.
Người xuất gia đảnh lễ người tại gia.
Quả thật không thể chấp nhận được!

Thơ:

Mạt thế
"Giới luật đã thật sự thất thủ
Thời mạt thế
Khi xa Phật càng xa
Xuất hiện bao hiểm trở

Cõi Ta Bà xinh đẹp
Làm sao để
Ma không thể lộng hành
Gió thu vẫn đẹp xinh

Bao nhiêu can qua thời mạt thế
Hành giả lúc này
Chỉ thở dài
Thiên cổ khúc bi ai

Truyền bá bao lừa lọc
Hoằng pháp háo lợi danh
Bao nhiêu chuyện như thế
Thật đáng để sầu thương."


### 43. Nói về điện thoại di động


Con người hiện đại là tay cầm điện thoại.
Công năng của điện thoại di động không thể kể rõ ra được, bởi vì nó đã trở thành tất cả của cuộc sống rồi.
Điện thoại di động có thể nghe và viết ra cùng lúc.
Tín hiệu khác nhau vô cùng phức tạp.
Ngôn ngữ khác nhau.
Văn tự khác nhau.
Tác dụng khác nhau.
Lớn thì chuyện vũ trụ, quốc gia, nhỏ thì chuyện vặt vãnh của mỗi cá nhân, ăn mặc ở đi, v.v…
Nhưng,
Tôi thì không có điện thoại di động.
(Ha ha ha! Tôi là người quái dị số một thiên hạ mà.)

Người ta nói:
"Lư Sư Tôn là người nguyên thủy."
Đúng vậy, tôi là một người học Phật, không có điện thoại di động, không có máy tính bảng, không có máy vi tính.
Tôi chỉ là một con người, và một quả tim.
Nói nghiêm túc, tôi cũng không phải là người, tôi cũng không có tim, đương nhiên tôi không cần điện thoại di động. (Lời khai ngộ.)
Cái tôi nhìn là không có gì cả.
Cái tôi nghe là không có âm thanh, cũng không có bất kì nhịp điệu nào, chỉ là một vùng tĩnh lặng.
Vùng tĩnh lặng ấy vừa hay đã chứng minh tính Không tịch diệt, Phật tịch diệt, thiền tịch diệt, khoái lạc tịch diệt.
Công năng của điện thoại di động càng ngày càng siêu, càng ngày càng phức tạp, cái gì cũng có.
Quái lạ là:
Người có điện thoại di động càng ngày càng bận.
Còn tôi, càng ngày càng an nhàn.
Càng quái lạ hơn là, có điện thoại di động rồi, giữa người với người càng ít hiểu về nhau, càng nhiều những lời nhục mạ lẫn nhau, càng nhiều sự kết bè kết phái, càng nhiều ý kiến, càng nhiều quan điểm khác nhau, sinh ra những mâu thuẫn cuộc sống càng phức tạp hơn.
Đương nhiên.
Những đệ tử nhiệt tình đều mua cho tôi điện thoại di động hàng mới nhất. Công năng tuyệt vời nhất.
Nhưng mà, tôi đã cất nó vào trong két sắt. Xin lỗi, tôi đã cách quá xa thời đại hiện đại rồi, chúng là sự im lặng tuyệt đối.
Cuộc đời này của tôi, cái tôi tìm thấy là sự tĩnh lặng.
Chứ không phải là một đám ồn ào náo động.

Thơ:

Im ắng
"Trên người tôi
Chẳng hề có tiếng "tinh tinh tinh", "tang tang tang"

Bạn không thấy được
Trên hai tai tôi
Đã dán lên cơ linh vuông vắn

Như thế tôi lại càng quang minh
Không tin tức
Trên trời
Dưới đất
Đều quy về không

Không có nước mắt trong veo
Vô sự
Vô tâm
Không có tình cảm quá nhiều

Tất cả quy về tịch tĩnh
Không nghe
Không nhìn
Đông tây nam bắc tùy tôi đi."


### 44. Tất cả đều là giả ư?


Thượng sư Liên Khiết kể với tôi một chuyện:
Pháp sư Hải Đào trong một buổi khai thị nói:
Có một người vợ trở về nhà, nhìn thấy chồng và một người phụ nữ đang ở trên giường diễn cảnh giường chiếu.
Người vợ đứng sững lại.
Sau đó nhẹ nhàng khép cửa, rồi nhắm mắt lại, nghĩ rằng: "Tất cả những điều này đều là giả, tất cả điều này đều là giả, tất cả điều này đều là giả." (Là nghiệp chướng của con mắt mình nặng.)
Tiếp đó, người vợ đi vào Phật đường, ngồi xuống, tu pháp, quán tưởng.

Còn nữa:
Pháp sư Hải Đào trong khi khai thị nói:
Nam nữ ngoại tình.
Giống như tiền giấy.
Tiền giấy mà bạn có không chắc đã là của bạn, cũng không chắc có người đã dùng qua, ai dùng trước, bạn dùng, người sau cũng dùng.
Có nghĩa là:
"Của công, mọi người đều dùng!"

Còn nữa:
Pháp sư Hải Đào nói về chuyện ngoại tình:
Người chồng ngoại tình với người phụ nữ bên ngoài, việc này nhất định có nhân duyên của nó, vào kiếp trước, người chồng và người phụ nữ bên ngoài nói không chừng lại là vợ chồng của nhau. Còn người vợ hiện tại thì lại là "tiểu tam".

Nghe nói:
Những lời thuyết pháp của pháp sư Hải Đào đã khiến cho dân chúng trong xã hội tranh luận không ít.
Pháp sư Hải Đào trở thành một pháp sư đầy tranh cãi, quần chúng xã hội thảo luận sôi nổi.

Được rồi!
Trái lại, Lư Sư Tôn nghĩ như thế này, tất cả những lời thuyết pháp của pháp sư Hải Đào là có ngộ cảnh.
Không cần phải lấy làm lạ.
Người khai ngộ sẽ biết:
Thế tục đế, vốn chính là mộng.
Thế tục đế, vốn chính là huyễn.
Thế tục đế, vốn chính là bào.
Thế tục đế, vốn chính là ảnh.
Tất cả thế gian là sự huyễn hóa nhất thời, như sương cũng như điện, điện quang đá lửa, sẽ biến mất.
Vốn dĩ tất cả mọi thứ của thế gian chính là giả, là một trò chơi mà thôi, có cái nào là thật chứ? Căn bản đều là giả, giả, giả.
Nói thế nào thì cũng đều là:
"Giả."

Còn nữa:
Trên phương diện luân hồi chuyển thế:
Tất cả nhân duyên sinh.
Tất cả nhân duyên diệt.
"Không bám chấp" là quan trọng.
"Của công" và "nhân duyên nhiều kiếp" ở đây đều nói rất đúng, pháp sư Hải Đào quả nhiên là có kiến địa.
Chỉ là kiến địa kiểu này không thể khiến cho thế nhân tiếp nhận được mà thôi.

Tôi viết một bài thơ:

Tất cả đều là giả
"Thế sự phong phú
Tái hiện liên miên
Lúc hãy còn như hoa như ngọc
Thì ai cũng nhìn

Cả viện thơm nức
Như đóa hoa nở ai nấy ngợi ca
Vẻ yêu kiều chẳng ở đâu có

Quân tử cẩn thận mà phân biệt
Liệu được bao ngày
Tất cả đổi thay."


### 45. Khách đến hỏi chuyện


Có khách đến hỏi:
"Vụ hỏa hoạn nhà sắt ở Miêu Lật thiêu chết chín người, ngài có cảm tưởng gì?"
Tôi nói:
"Tôi đưa anh đi xem chim!"
Khách nói:
"Vì sao lại muốn đưa tôi đi xem chim?"
Tôi đáp:
"Chuyện đó thì có liên quan quái gì đến tôi chứ!"
Người khách sửng sốt:
"Chín người ấy không phải là đệ tử của ngài sao?"
Tôi đáp:
"Nhà sắt đó là một đạo tràng giả, chín đệ tử đó là đệ tử giả, chân tướng chính là như vậy."
Người khách hỏi:
"Vì sao lại giả chứ?"
Tôi đáp:
"Nhà sắt đó là của một người là Lưu Huyền (Lưu X Hào) và một người là Kim Đa, chín người bị thiêu cháy đi theo hai người này."
Người khách hỏi:
"Như vậy là giả sao?"
Tôi đáp:
"Một cây đại thụ, chặt mất cành, cành này có còn thuộc về cái cây đại thụ không?"

Người khách nghĩ một lúc, cuối cùng đã hiểu ra, thì ra là hai người này đã lừa gạt đệ tử Chân Phật Tông, dựng lên một cái bếp mới, tự lập một gia đình mới. Tôi cười lớn ha ha ha.
Người khách hỏi:
"Ngài có giúp chín người này làm siêu độ tiếp dẫn không?"
Tôi đáp:
"Đương nhiên rồi."
Người khách hỏi:
"Chín người này đã không còn là đệ tử của ngài, vì sao ngài vẫn từ bi siêu độ tiếp dẫn họ chứ?"
Tôi đáp:
"Mặc dù là việc chết tiệt, nhưng, rốt cục thì cũng có một đoạn nhân duyên. Cho dù là người vô duyên thì cũng đều cần độ hóa, huống hồ vẫn có một đoạn nhân duyên thầy trò chứ!"
Tôi nói:
"Đây chính là vô duyên đại từ, đồng thể đại bi."
Người khách hỏi:
"Lưu Huyền và Kim Đa kia sau khi sự việc xảy ra có đến gặp ngài không?"
Tôi đáp:
"Vẫn chưa."
Khách hỏi:
"Sao mà ngay cả đạo lý đối nhân xử thế cũng không hiểu chút nào vậy?"
Tôi đáp:
"Bát nước đã hắt đi, sao có thể lấy lại được? Suy cho cùng đây là nhân gian, nhân gian chính là đành vậy thôi!"

Thơ:

Đành vậy
"Có một số chuyện luôn khiến tôi động lòng
Bấm tay tính toán
Nhận đệ tử
Đuổi đệ tử
Thế sự biến hóa vô thường
Khiến lòng tôi
Nặng trĩu
Bạn cần nhìn cho thoáng
Bất luận cười hay khóc
Bất luận thật giả hư thực
Thì cũng chẳng thể khác được
Ai bảo tôi là Sư Tôn chứ
Ai cùng ai
Giấc mộng đau buồn
Đành tiễn đưa."


### 46. Thoải mái


Tôi từng nói như thế này, cuộc đời tôi có bốn điều quan trọng:

1. Viết sách.

1. Vẽ tranh.

1. Tu pháp.

1. Hoằng pháp.

Tôi có thể nói một cách khẳng định rằng:
Tôi là người có nỗ lực nhất, cũng là người có nghị lực nhất, lấy việc viết sách làm ví dụ.
Từ cấp hai, cấp ba, tôi đã bắt đầu viết văn. Khi học đại học, tôi đã xuất bản bốn cuốn sách. Kể từ đó về sau, ngày ngày tôi viết sách, gần như không có ngày nào là không viết, viết liên tục cho đến khi 72 tuổi.
Đến nay, tôi đã viết đến cuốn thứ 255 rồi.

Trước kia, tôi muốn trở thành nhà thơ, nhà văn. Cũng muốn trở thành nhà văn chuyên nghiệp, tất nhiên tôi cũng có hi vọng được người người biết đến.
Sau này học Phật rồi, Hiển, Mật giáo, tôi biết, thì ra "xuất thế" mới quan trọng làm sao.
Phương hướng sáng tác của tôi đã thay đổi rồi, trong "thế tục đế", tôi thêm vào cả "thắng nghĩa đế".
Việc viết sách của tôi phần lớn là vào buổi sáng, mỗi ngày viết một chương. Mỗi buổi sáng tôi chỉ làm hai việc, tu pháp và viết sách, chỉ như thế thôi đã hết cả buổi sáng rồi.
Tôi vẽ tranh vào buổi chiều.
Hoằng pháp vào ngày thứ bảy, chủ nhật.
Cứ như vậy không hề gián đoạn, tôi đã đi đến tuổi 72.

Gần đây, tôi có hơi thay đổi một chút, tôi nghĩ:
"Thoải mái" đi!
Thế nào là thoải mái?
Thoải mái không phải là lười nhác.

Ví dụ, tôi viết được nửa chương sách, đột nhiên tôi buồn ngủ, muốn đi ngủ, thế là tôi liền đặt bút xuống để mà đi ngủ. Chương sách chưa viết xong đó để đến hôm sau lại viết tiếp.
Tôi đã buông bỏ sự bám chấp rồi, không nhất định cứ hai tháng là phải hoàn thành xong một cuốn sách nữa.
Tôi muốn đi xa để hoằng pháp, vậy thì đi thôi!
Tôi muốn đi xem phong cảnh, vậy thì đi thôi!

Cái cảm giác ấy đã lỡ nhịp với cuộc sống đều đều đơn điệu rồi, đương nhiên tu pháp không nhất định phải ở Phật đường, tôi có thể tu ở trên máy bay, ở trên thuyền, ở trong xe của mình, không bó buộc ở tại Phật đường.

Tôi duy trì:
Mỗi ngày tu pháp, nhưng không định thời gian!
Tôi muốn đi công viên Disney, thế là tôi đi chơi giống như một đứa trẻ con!
Tôi muốn đi đến hãng phim Universal, vậy thì đi thôi!
Tôi muốn đi đến thành phố casino [ND: Las Vegas], vậy thì đi!
Tôi dần dần thoải mái hơn, tôi không muốn bị trói buộc, nhưng tôi vẫn không thể đi đến các câu lạc bộ đêm.
Tôi hỏi chính mình:
"Người 72 tuổi vẫn còn có thể đi câu lạc bộ đêm không?"
Bây giờ, tôi là như vậy đó!

Thơ:
Thoải mái
"Bảy mươi hai tuổi đầu
Giống như cả một đời đong đưa
Con thuyền sáng tác nhỏ
Đã mất đi mái chèo

Hướng đông hướng nam hướng tây hướng bắc
Đã mất đi nhịp điệu
Giờ đây
Thêm một phần ồn ào

Biết sự đời là huyễn
Đừng cố chấp khăng khăng
Muốn nằm thì nằm
Muốn ngủ thì ngủ
Ở thế giới trong mơ
Cớ gì không mỉm cười."

**(Hết)**

---

---

---
# File: sach-tam-linh/258-viet-ve-quy.md
# Title: 258. Viết về quỷ
---

![image](/img/img_40666abc77faff886ee87ba42f4560ee.jpg)



# Viết về quỷ


🪷 Một kiểu ma quỷ khác

Văn tập: 258
Xuất bản: 04/2017
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời dịch giả


Viết về quỷ là văn tập số 258 của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, xuất bản ngày 15/4/2017 tại Đài Loan bởi nhà phát hành sách Văn Hóa Đại Đăng.
Trong sách kể chi tiết về lai lịch, nguồn gốc và hoạt động của một nhân vật có tên gọi Samantha (còn được gọi là XX - người mà ai cũng biết là ai đấy). Bà vốn từng là một đệ tử Chân Phật Tông, đã được phong làm Thượng sư, nhưng vì lựa chọn tu hành theo ma quỷ, thờ cúng nuôi dưỡng ma quỷ, dùng ma quỷ nên bản thân đã trở thành "quỷ bà". 

XX vì tư lợi bản thân đã dùng quỷ thông mê hoặc, lôi kéo làm hại rất nhiều người khiến họ xa rời con đường tu hành chân chính để rồi chuốc lấy đau đớn, rủi ro, bệnh tật. Vô số người còn bị mất sạch sẽ tiền bạc, gia đình, thậm chí mất đến cả mạng sống của người thân và chính mình.
Sự bành trướng và ảnh hưởng xấu của "quỷ bà" cùng nhóm người tin theo đã lan rộng ra khắp thế giới, khiến Lư Tôn Sư buộc phải chính thức tuyên bố, viết sách, khai thị để nhắc nhở nhằm cứu giúp các đệ tử của mình. 

Tôn Sư cũng nói rất rõ ràng, là một hành giả tu hành đạo vô vi, ngài vốn không có hứng thú chút nào về những việc chỉ trích, tranh giành đấu đá, nói lý nói lẽ, phân biệt đúng sai hơn thua với ai. 
Tuy nhiên trải qua hai chục năm, tính chất sự việc liên quan tới XX càng ngày càng nghiêm trọng, có quá nhiều người đã bị hại đến thê thảm, quá nhiều đệ tử đã tìm đến Tôn Sư xin được cứu giúp, xin được hoàn tịnh. Tôn Sư đã rất nhiều năm bao dung với hy vọng con người XX đó sẽ cải tà quy chính nhưng không thành, vì vậy cuối cùng ngài đã viết và công bố cuốn sách này. 

Viết về quỷ không chỉ kể để biết những câu chuyện đau lòng từ các nạn nhân mà còn giúp các hành giả tu tập khác tự nhìn nhận, tự đánh giá lại mục đích và con đường tu hành của chính mình. Hơn thế nữa, cuốn sách còn cho thấy rõ sự đau lòng của Tôn Sư, tấm lòng từ bi của ngài đối với việc cứu độ chúng sinh. 

Văn tập 258 Viết về quỷ là cuốn đầu tiên trong một chuỗi tác phẩm có cùng chủ đề này, các độc giả quan tâm có thể đón chờ những cuốn sách tiếp theo. 
Mong rằng lời nhắc nhở của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn: "Tu hành chính là tu tâm" sẽ luôn là kim chỉ nam cho các hành giả chúng ta trên đường tu Phật pháp chân chính.

Gửi đến bạn mọi lời chúc an lạc, cát tường. 
Sarva mangalam!
Om mani padme hum!


### Lời mở đầu


Trước tiên tôi có ba lời tuyên bố:
Điều tôi viết là sự thật.
Tôi không hề chủ quan.
Tin hay không tùy bạn.
 
Tôi là một người tu hành, một hòa thượng xuất gia, tu trì Tạng mật (Mật tông Tây Tạng). Mỗi ngày vào buổi tối trước khi ngủ, đầu tiên là tôi tu Bất Động Minh Vương để kết giới, lên giường thì tu Miên quang pháp. Miên quang pháp chính là ngủ trong ánh sáng đại quang minh.
 
Miên quang pháp đơn giản và dễ dàng như thế này:
Niệm chữ Om, từ vị trí giữa hai lông mày phóng ra ánh sáng trắng, đi vào hư không.
Niệm chữ Ah, từ vị trí giữa cổ họng phóng ra ánh sáng đỏ, đi vào hư không.
Niệm chữ Hum, từ vị trí giữa ngực phóng ra ánh sáng xanh lam, đi vào hư không.
Ba luồng ánh sáng gặp nhau trong hư không, nổ một tiếng "bang".
Một mạng lưới ánh sáng kết hợp ba màu trắng, đỏ, lam từ không trung phủ xuống, giống như cái màn chống muỗi bao phủ lấy toàn bộ giường ngủ của hành giả. Sau đó đi ngủ chính là ngủ ở trong mạng lưới ánh sáng.
 
3 giờ sáng ngày 3 tháng 10 năm 2016. Tôi đột nhiên tỉnh ngủ (đang ngủ bị giật mình tỉnh dậy).
Nhỏm đầu dậy.
Miệng mở to.
Kêu to lên một tiếng "A!"
Từ trong miệng tôi bay ra một vị Đại Lực Kim Cương, vị Đại Lực Kim Cương biến hóa thành 10 nghìn tỉ hóa thân. Bất Động Minh Vương mà tôi kết giới biến hóa thành 10 nghìn tỉ hóa thân, quét sạch sẽ bọn quỷ đến xâm phạm.

Lũ quỷ thiên quân vạn mã. Hai bên giao tranh trực tiếp, trận chiến vô cùng thảm khốc. Tôi tỉnh dậy, nghe thấy cực kì rõ ràng.
Binh binh.
Bang bang.
Peng peng.
Âm thanh cực kì lớn giống như gió thổi vào cửa nhà khiến cửa đóng kêu sầm một cái.

Tôi cũng không lấy làm sợ hãi, rất muốn ra khỏi giường xem xem là việc gì, nhưng nghĩ rằng có Bất Động Minh Vương rồi, lại có Đại Lực Kim Cương rồi, tôi đi ra chỉ thêm lắm chuyện, do vậy tôi chỉ nằm im trên giường nghe ngóng.

Khoảng 20 phút sau có hai tiếng nổ giống như tiếng sấm sét của Lôi Công, lại giống như tiếng nổ của lựu đạn ném. "Bùm! Bùm!" Hai tiếng nổ lớn.
Cuối cùng tất cả đều trở nên im lặng dần, không còn tiếng động nào nữa. Sau khi không thấy tiếng động gì, tôi nghĩ tất cả đã kết thúc rồi liền chìm tiếp vào giấc ngủ sâu.
Ngày hôm sau, tôi đi một lượt kiểm tra nơi ở của Nam Sơn Nhã Xá, tất cả đều bình thường, một chút vết tích cũng không thấy có. 

Sau đó tôi đã hiểu ra nguyên nhân.
Một bầy quỷ lớn đã đến xâm phạm và đã bị Bất Động Minh Vương và Đại Lực Kim Cương dẹp sạch.
Nếu như không có sự bảo hộ của Bất Động Minh Vương và Đại Lực Kim Cương thì ngày 3 tháng 10 năm 2016 đã thành ngày giỗ của tôi - Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.
Nguyên nhân chết: Chết bất thình lình!
 
Đương nhiên tôi biết nguyên nhân xảy ra sự việc này. Còn đám quỷ đến xâm phạm không phải chỉ là một cặp hai con, mà bất ngờ là nghìn nghìn vạn vạn con. Đám quỷ này vì sao mà lại đến vậy? Là nghe lệnh của ai?
Vì sao nhiều quỷ như vậy lại đến để hãm hại tôi? Bọn chúng không biết rằng tôi là chuyên gia bắt quỷ sao?
Cuốn văn tập này sẽ giải thích rõ ràng!

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Phát hiện ra bài vị quỷ


Có một hôm, tôi đến lễ Phật ở miếu Tổ tại Seattle Lôi Tạng Tự. Đứng trước mặt Thất Phật Chư Tôn, tôi không quỳ lạy mà chỉ đứng chắp tay. Các đệ tử lần lượt quỳ lạy, chỉ có tôi đứng yên bất động. Các đệ tử ngạc nhiên hỏi:
"Lư Sư Tôn vì sao không lạy Phật?"
Tôi không đáp. Chỉ nhìn buồn bã.
 
Còn nữa. Ngày hôm sau lại vào lúc lễ Thất Phật Chư Tôn, tôi lại đứng yên. Các đệ tử lần lượt quỳ lạy. Tôi vẫn chỉ nhìn buồn bã như vậy.
Còn nữa. Ngày thứ ba, tôi cũng đứng yên như vậy. Không quỳ lạy.
 
Đồng môn hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn vì sao không lạy?"
Tôi đáp:
"Ai chà! Toàn là quỷ, làm sao tôi lạy?"
Các đệ tử đều kinh hãi!
 
Tôi đứng niệm: "Trời tròn đất vuông, luật lệnh cửu chương, tôi nay trừ quỷ, nguyện được bình an, cấp cấp như luật lệnh."
Tay tôi kết "ngũ lôi ấn".
Niệm: "Cửu thiên ứng nguyên lôi thanh thiểm điện phổ hóa thiên tôn, cấp cấp như luật lệnh, nhiếp!"
Ngũ lôi ấn tung ra, chân trái tôi dậm xuống đất một cái, miệng tụng: "Hum! Hum! Hum!"
Lập tức thấy một bầy quỷ chạy nháo nhào, thật kinh hãi là cả vạn con lũ lượt tức tốc chạy vào trong điện Địa Tạng ở phía bên trái.
Tôi niệm "cửu tự chân ngôn" để thanh tịnh: "lâm, binh, đấu, giả, giai, trận, liệt, tại, tiền."
Tôi vẽ:


![image](/img/img_ebc4156ab9fa4122478812674120e46c.png)


Rồi lại phụng thỉnh Thất Phật Chư Tôn hạ giáng. Sau đó tôi mới làm đại lễ bái.
 
Ngày thứ tư. Tôi mời Pháp sư Liên Kim điều tra điện Địa Tạng xem có bài vị quỷ hay không. Vừa mới tìm kiếm ở đây mọi người đã trợn mắt há hốc mồm kinh hãi:
"XX phủ."
"Thập phương vô chủ cô hồn."
"Thanh đàm chúng linh."
…
Tôi cũng giật thót mình, thảm rồi! Vậy là có chuyện gì đã xảy ra với toàn bộ các chùa, phân đường, hội ở nước Mỹ và Canada?
 
Kiểm tra một lượt các chùa: Cầu Vồng, Bồ Đề, Tôn Thắng, Mật Nghi, Thường Hoằng, Chi Thành, Kim Cương… đều phát hiện ra bài vị quỷ. Tôi im lặng không nói. Vậy còn các chùa, phân đường, các hội của Chân Phật Tông trên toàn thế giới thì sao đây?
 
Tôi thở dài:
"Chân Phật Tông đã biến thành Chân Quỷ Tông rồi!"

Tình hình rất nghiêm trọng.
Vì sao lại thành ra như vậy?
Là ai đã làm điều này?
Khiến cho trong chốc lát các chùa, đường, hội Chân Phật Tông đều biến thành "miếu quỷ". Tôi yêu cầu từng chùa, đường, hội khắp nơi tịnh trừ quỷ bài.
Tẩy tịnh.
Đốt sạch.
Đem chôn.
 
Tôi nói:
"Để hư không trở về hư không đi!"


### 02. Chuyện của sư cô Lâm Thiên Đại


Lâm Thiên Đại (Ki Nga) đã qua đời rồi. Cô đã dẫn tôi đến gặp Diêu Trì Kim Mẫu, vị sư phụ đã khai mở thiên nhãn cho tôi.

Lúc còn sống, cô ấy đến Seattle Lôi Tạng Tự, chúng tôi tiếp đãi rất nồng nhiệt. Sau đó khi đến Mật Nghi Lôi Tạng Tự ở Texas nước Mỹ, cô ấy vào trong Đại Hùng Bảo Điện ở chùa Mật Nghi đã vô cùng sửng sốt, kinh hãi! Bên trong toàn là quỷ. Điều này nghĩa là chư tôn trên đàn thành đều bị quỷ ám.
 
Sư cô Thiên Đại hỏi: "Là Lư Sư Tôn khai quang sao?"
Người bên cạnh đáp:
"Không phải. Là XX đến khai quang."
Thiên Đại kinh ngạc.
"Trời ạ! Sao lại toàn là quỷ thế này? XX này có quan hệ gì với quỷ?"
Người bên cạnh không biết trả lời ra sao. Lúc này có một con quỷ người Nhật Bản mau chóng tiến lên trước, sư cô Thiên Đại càng kinh ngạc, vì sao lại có cả quỷ hồn người Nhật ở chỗ này?
 
Sư cô Thiên Đại biết tiếng Nhật, cô hỏi: 
"Các người từ đâu mà tới?"
Quỷ đáp:
"Được mời mà tới."
Sư cô hỏi:
"Là từ nơi nào mời tới?"
Quỷ đáp:
"Chúng tôi là quân nhân Nhật Bản, vốn dĩ sống ở Đài Loan, bị chết trong chiến tranh thế giới thứ hai. Chúng tôi được XX mời đến nước Mỹ, chỉ cần là miếu chùa do XX khai quang thì chúng tôi đều có thể đi vào ở, được hưởng thụ đồ cúng dường từ hỏa cúng và khói cúng của con người thế gian."
Sư cô hỏi:
"Thế còn Phật Bồ Tát thì sao? Còn Kim Cương thì sao?"
Quỷ đáp:
"Tất cả đều là lũ chúng tôi."
Sư cô hỏi:
"Quỷ cũng có thể làm việc sao?"
Quỷ đáp:
"Đương nhiên. Chúng tôi đều có liên kết sức mạnh của quỷ! Chúng tôi mặc dù là quỷ cõi thấp nhưng cũng có thể giúp người ta giàu có, cũng có thể giúp người ta tiêu diệt kẻ khác."
Sư cô hỏi:
"Còn Mật Nghi Lôi Tạng Tự thì sao?"
Quỷ đáp:
"Chúng tôi làm tới mức bọn họ như gà bay chó chạy rồi."
Sư cô hỏi:
"Vì sao phải làm như vậy?"
Quỷ đáp: 
"Vui mà. Ha ha ha! Đây chính là trò vui của quỷ."
…
 
Viết sách tới đây, trong lòng tôi rất đau xót. Nếu như là Lư Sư Tôn khai quang thì chỉ có Phật Bồ Tát Kim Cương hộ pháp vào an vị thôi. Nhưng hễ là do XX khai quang, chắc chắn chỉ có lũ quỷ đến ngồi. Lũ quỷ này đều là quỷ của phủ XX.
 
Vấn đề là:
Lư Sư Tôn đã khai quang rồi, sau đó XX vừa đến liền bảo: "Vị trí không đúng!" (Vị trí đặt tượng Phật Bồ Tát không đúng.) "Phải sắp xếp thêm vài bức tượng chư tôn dát vàng (thế là lại thêm vài bức tượng chư tôn), do vậy mà phải khai quang lại từ đầu!"
 
Có người hỏi tôi:
"Vì sao không nói sớm?"
Tôi đáp:
"Tôi là kiểu người tùy thuận, cũng là người không quá quan tâm đến điều hành sự vụ. Trước tiên tôi độ chính mình, rồi độ người khác, độ bao nhiêu tùy ý, một người hai người cũng được, tất cả tùy duyên tùy phận."
Lại hỏi:
"Vì sao bây giờ mới nói?"
Tôi đáp:
"Nếu không nói thì Chân Phật Tông biến thành Chân Quỷ Tông rồi!"


### 03. Nguồn gốc phủ XX


Rất nhiều người thường hỏi tôi rằng phủ XX này rốt cuộc là thế nào?

Kì thực họ (XX phủ) có in ra một cuốn sách nhỏ giới thiệu về bản thân, chỉ cần xem cuốn sách đó là biết. Nhưng cá nhân tôi không tin vào cuốn sách đó. 

Vì sao vậy?
Bởi vì người ta sẽ tự nói tốt về mình. Còn tôi sẽ nói cho mọi người biết những gì tôi biết. Việc này cần kể bắt đầu từ việc XX đầu tư vào xây dựng Linh Cốt Tháp.

Linh Cốt Tháp này ở thành phố Tịch Chỉ ở Đài Bắc, hiệu là Lôi Môn Tự. Rất nhiều người đem linh cốt của tổ tiên chuyển đến Linh Cốt Tháp của XX. Sau này chính phủ phát hiện ra đây là xây dựng trái phép nên đương nhiên phải phá bỏ.

Tháp bị tháo dỡ (toàn bộ Linh Cốt Tháp bị phá hủy sạch sẽ). XX liền quay về nước Mỹ (chuyển theo cả những thứ có liên quan).
Những thứ được chuyển về là:
Linh cốt cúng dường.
Cả một tấm dạng như bình phong bằng đá nguyên tấm.
Một vị gọi là Vi Đà Bồ Tát. Một vị là Già Lan Tôn Giả.
Lại thêm bầy quỷ của phủ XX. (Chính là di cốt của người sau này được phát hiện ra.)
 
Tôi nói:
Ma quỷ vốn vô danh tính, năm con quỷ đầu mục này tên họ từ đâu mà có? Kì thực chính là tên do XX tự nghĩ ra trong đầu, tự huyễn tưởng ra mà có.
Hoàng Kim Tuyền. (Người Hoa)
Lâm Lương Tri. (Người Hoa)
Kobayashi. (Người Nhật)
Watanabe Ichiro. (Người Nhật)
Nakamura Kazumu. (Người Nhật)
 
Ngoài ra, khi XX siêu độ cũng lại thu nạp rất nhiều ma quỷ, ví dụ như thời kì chiến tranh thế giới thứ hai, các linh hồn bị chết trong cuộc chiến tranh đẫm máu tại Serbia và các linh hồn lang thang ở khắp mọi nơi đã hình thành nên vương quốc quỷ với nghìn nghìn vạn vạn ma quỷ.
 
Điều nực cười nhất là:
Kobayashi vốn là một Ninja.
Watanabe Ichiro là sát thủ mặt lạnh.
Nakamura là một vị tướng quân.

Có cả nghìn nghìn vạn vạn quỷ nhiều như vậy tập trung bên cạnh XX, do vậy vô hình trung, XX đã có được "quỷ thông" (sự giao tiếp với quỷ) và “quỷ tương ứng". Tất cả mọi việc XX làm được bọn quỷ giúp đỡ nên chắc chắn sẽ có sự linh nghiệm nhỏ, nhưng sự linh nghiệm lớn thì không thể nào có. Năng lực của quỷ thông là thấp nhất!
 
Tôi nói:
Tương ứng với Phật - sẽ thành Phật.
Tương ứng với Bồ Tát - sẽ thành Bồ Tát.
Tương ứng với A La Hán - sẽ thành A La Hán.
Tương ứng với Chư Thiên - sẽ thành người trời.
Tương ứng với Kim Cương - sẽ thành Kim Cương hộ pháp.
Tương ứng với quỷ - sẽ thành ma quỷ.
 
XX tương ứng với quỷ, không biết là bà ta có biết không? Cảnh giới cao nhất của bà ta là "quỷ thông".
Quỷ thông là thứ rất mê hoặc người ta. Người mà thích thần thông một chút thì sẽ hoàn toàn bị lôi cuốn, do vậy XX đã mê hoặc được không ít đệ tử Chân Phật Tông.

XX thường lợi dụng:
Quỷ thôi miên.
Quỷ tẩy não.
Khoác lác về quỷ thông.
Đe dọa nhằm lấy tiền.
XX cực kì xem trọng "Phủ XX", bằng chứng như sau:
Bọn họ làm bất kì pháp sự nào, trên văn sớ triệu thỉnh, nhất định sẽ phải triệu thỉnh phủ XX (in trong văn triệu thỉnh).
Khi cúng dường đều phải cúng dường phủ XX.
Trong lúc XX xem bói cho người ta thường nói: "Đi cầu phủ XX đi."

Bọn họ không cầu Diêu Trì Kim Mẫu mà lại kêu người ta đi cầu "quỷ đầu mục". Làm như vậy có đúng không?
 
Phân đường của họ đã biến thành:
"Bách tính công miếu."
"Hữu ứng công miếu."
"Thập bát vương công miếu."
"Thất tướng quân miếu."
…

Những cái này đều là miếu quỷ. Bây giờ còn có thêm miếu phủ XX, XX đường.


### 04. Thượng sư Liên Thi nói


Rất nhiều năm… rất nhiều năm về trước. Tôi đã đến XX đường.
Vào lúc ăn tối, ngồi cạnh tôi là Thượng sư Liên Thi. Bữa tối đó rất nhiều đồ ăn phong phú, nghe nói là do Hạng sư huynh nấu. 

Tôi đói bụng nên ăn rất nhiệt tình, nhưng Thượng sư Liên Thi thì chẳng ăn gì. Ông ấy dùng tay nắm vào hư không. Nắm trái. Nắm phải. Nắm trên. Nắm dưới. Có một lần còn nắm cả vào váy Lama của tôi ở phía dưới bàn ăn, chạm cả vào hai chân tôi.
Tôi kêu:
"Ui cha! Ông đang làm cái gì vậy?"
Ông ấy đáp:
"Tôi đang bắt quỷ."
Tôi hỏi:
"Nó có ảnh hưởng gì đến ông không?"
Ông ấy đáp:
"Không ảnh hưởng gì."
Tôi nói:
"Không ảnh hưởng gì thì hãy cứ ăn cơm đi."
Ông ấy nói:
"Bên trong XX đường đều là quỷ, tôi bắt mãi vẫn chưa hết, thực sự là khiến tôi mệt muốn chết!"
Tôi nói:
"Bây giờ ăn cơm, không nói chuyện ma quỷ."
Thượng sư Liên Thi nói thầm vào tai tôi:
"Sư Tôn, đợi một lát ăn cơm xong, tôi muốn nói với ngài mấy câu, có được không?"
Tôi gật gật đầu.
 
Ăn cơm xong, tôi và Thượng sư Liên Thi bí mật gặp nhau ở trước đàn thành phía bên trái. Thượng sư Liên Thi bí mật đi đóng cửa lại. Ông ấy nói:
"Sư Tôn! Ngài phải cẩn thận!"
Tôi vờ như không biết, sửng sốt nhìn Thượng sư Liên Thi.
Ông ấy lại nói: "Ở đây có bầu không khí rất ma quái, chỉ cần cơ hội đến lúc chín muồi, sức mạnh có đủ, XX sẽ rời đi." (Rời đi chính là tách riêng ra tự lập một mình.)
Tôi cố ý hỏi: "Ai?"
Ông ấy đáp: "XX."

Tôi nói: "Trong lòng tôi rất rõ ràng, dùng người sẽ không nghi ngờ, nghi ngờ thì không dùng người, bởi vì tôi đã dùng XX rồi nên sẽ chỉ có xoa dịu, xoa dịu liên tục. Sau này ai mà biết được sẽ xảy ra chuyện gì, tôi chỉ hy vọng rằng, đợi tôi xuống đài rồi thì XX mới rời đi."
 
Ái chà!
Tôi vẫn nhớ khi tôi đi đến XX đường lần đầu tiên, XX đưa cho tôi xem một tấm ảnh. Tôi xuất hiện ở trong tấm ảnh đó. Thế rồi, mặt tôi từ từ biến hóa, chỉ một lát sau, mặt của tôi biến thành mặt của XX. Cũng có nghĩa là tôi đã biến thành bà ta.

Lúc đó tôi nghĩ: "Duyên khởi kiểu này thực sự là quá tệ! Đệ tử này không biết quy tắc Mật giáo." Nhưng tôi cũng không trách cứ bà ta.
 
Nguyên tắc của tôi là:
Xoa dịu.
Có thể bỏ qua được bao lâu thì cứ bỏ qua bấy lâu.
Nhẫn nhịn, nhẫn nhịn, nhẫn nhịn.
Vô vi.


### 05. Phân biệt năm quỷ đầu mục


Theo phủ XX, năm quỷ đầu mục đã được kể tên ở trước là: Hoàng Kim Tuyền, Lâm Lương Tri, Kobayashi, Watanabe Ichiro, Nakamura Kazumu.

Những danh tính, tuổi tác, trải nghiệm của mấy quỷ này tất cả đều do XX tự huyễn hóa ra, mỗi quỷ đều đứng đầu trăm nghìn vạn ma quỷ. Những con quỷ này đều có quỷ thông, rất giỏi biến hóa, có lúc biến thành Kim Mẫu, có lúc hóa thành Phật Bồ Tát chư Tôn, v.v.

Có một lần, pháp sư Liên Tiến đến sám hối hoàn tịnh. Tôi hỏi:
"Ông có chiêu thỉnh XX phủ không?"
Ông ấy đáp: "Có."
Tôi hỏi: "Ông có mang theo họa tướng của XX phủ không?"
Ông ấy đáp: "Không có."
Tôi hỏi: "Có chiêu thỉnh, lại không mang theo trên người, việc này rất kì lạ, rốt cuộc là ông để ở đâu?"
Ông ấy đáp: "Trong túi hương."
Mọi người nghe thấy đều cười, để ở trong túi hương chẳng phải là đem theo người hay sao, thế mà lại nói là không đem theo người. 

Pháp sư Liên Tiến lấy ra lấy ra hai cái túi giấy màu vàng, bên trong có hai bức họa tướng của phủ XX và một bản giới thiệu ngắn gọn. Hai bức họa này đều có mùi hôi, đã ngả vàng, ông ấy đã thờ cúng rất rất lâu rồi, vừa lấy ra là thấy có mùi kì lạ. Tôi gia trì rồi đốt. Tôi gọi Thượng sư Liên Đông đem lò lửa đến để đốt, chỉ cần niệm một câu: "Để hư không trở về với hư không."

Thượng sư Liên Đông y theo lời của tôi mà đi làm.
 
Buổi tối hôm đó, năm quỷ đầu mục đến tìm tôi, mỗi con đều dẫn theo một bầy ma quỷ. Bọn chúng vây quanh giường ngủ của tôi, ở bên ngoài lưới ánh sáng đứng nói chuyện với tôi. Bọn chúng nói:
"Hoạt Phật tha mạng! Hoạt Phật tha mạng! Hoạt Phật tha mạng!"
Tôi hỏi:
"Các người có hại người ta không?"
Bọn chúng đáp: "Không có."
Tôi hỏi: "Bình thường các người làm cái gì?"
Bọn chúng đáp: "Chúng tôi giúp pháp sư Liên Tiến, kéo người ta đến phủ XX, giúp XX hỏi chuyện."
Tôi hỏi: "Giúp thế nào?"
Bọn chúng đáp: "Làm cho đầu óc người ta u mê để bọn họ đến phủ XX." (mơ mơ hồ hồ)
Tôi nói: "Chỉ như vậy thôi à! Vậy thì tha cho các người!"
Bọn chúng đáp: "Đúng là vậy. Cảm ơn Hoạt Phật."
 
Vậy là tôi đã hình dung ra thế này: năm quỷ đầu mục mà XX đường chiêu thỉnh là quỷ hung ác, còn quỷ mà Liên Tiến chiêu thỉnh là năm con quỷ đầu mục khác, những con quỷ này cá tính không giống nhau, chúng (quỷ của Liên Tiến) tương đối ôn hòa.

Vì vậy: việc chiêu thỉnh sẽ tùy theo từng người, có người thì sẽ làm hại người ta, có người thì sẽ không làm hại người ta. Liên Tiến này dùng phủ XX chỉ để lôi kéo người ta đến XX đường.
 
Những người như Liên Tiến là những người tiên phong của XX đường. Hễ có chùa, đường, hội mới thành lập là ông ta bèn lẻn vào, lôi kéo người ta đến XX đường. 

Ông ta nói: "Lư Sư Tôn quá bận, không thể gặp được. Đến XX đường tìm XX mới có thể được giúp đỡ!"

(Ở đây cho phép tôi khuyên Liên Tiến đừng dẫn người đến miếu quỷ nữa!)


### 06. Hắc ma pháp


Ngày xưa, tăng đoàn của Phật Thích Ca Mâu Ni có một đệ tử phản bội, chính là Đề Bà Đạt Đa. Cứ khi nào Phật đi vắng, ông ta lại mặc quần áo và đeo trang sức của Phật, ngồi trên bảo tọa của Phật, giảng pháp cho tăng chúng nghe.

Phật Đà đã cảnh cáo Bồ Đề Đạt Đa, nhưng ông ta không nghe.
Phật Đà ngồi trên giảng. Ông ta cúi mặt xuống.
Phật Đà ngồi dưới giảng. Ông ta ngửa mặt lên.
Phật Đà ngồi bên trái giảng. Ông ta quay mặt qua phải.
Phật Đà ngồi bên phải giảng. Ông ta quay mặt qua trái.
 
Bồ Đề Đạt Đa nói:
"Phật Đà già rồi! Tăng đoàn cần phải do ta lãnh đạo."
Cuối cùng Bồ Đề Đạt Đa đem người của tăng đoàn đi, phải tới hơn một nửa số đệ tử. Bồ Đề Đạt Đa đã dùng "hắc ma pháp".
 
Có một lần tôi đến Tịnh Âm Phật Các tại núi Phù Dung ở Hồng Kông tìm sư phụ của tôi là Thổ Đăng Đạt Cát. Thầy mời tôi ngồi xuống. Thầy nói:
"Con có một người đệ tử đã từng ngồi lên ghế giảng pháp của con."
Tôi cũng không bận tâm chuyện này.
Thầy nói:
"Việc này không đúng với pháp, quy tắc trong Mật giáo là đệ tử không thể ngồi vào ghế giảng pháp của sư phụ."
Tôi hỏi:
"Việc này rồi sẽ thế nào?"
Thầy đáp:
"Đây là nguồn gốc của phản nghịch."
Tôi hỏi:
"Là ai vậy?"
Thầy đáp: "XX. Con cần chú ý, nó sẽ chiếm lấy vị trí của con đó."
Tôi cười cười:
"Con làm gì có vị trí gì!"
Thầy nói:
"Con là người sáng lập Chân Phật Tông mà!"
 
Đối với các Thượng sư ở Hồng Kông, từng người từng người một, nói:
"Đây là ghế giảng pháp của Lư Sư Tôn, chúng con không dám ngồi lên." Cuối cùng chỉ có XX là đặt cái mông ngồi lên ghế. Do vậy Thổ Đăng Đạt Cát Thượng sư nói rằng XX có vấn đề.
 
Thổ Đăng Đạt Cát Thượng sư nói:
"XX có hắc ma pháp."
Tôi hỏi:
"Cái gì là hắc ma pháp?"
Thầy đáp:
"Hắc ma pháp là pháp không phân biệt đúng thần và quỷ. Con xem, toàn thân nó có khí đen, nhất định là hắc ma pháp."

Thổ Đăng Đạt Cát Thượng sư rất nghiêm khắc, thầy nói: "Nếu nó ở chỗ ta, ta lập tức khai trừ nó."
Tôi nói: "Không được."
"Vì sao không được?"
Tôi nói: "Con đã phát nguyện sẽ không từ bỏ bất kì một chúng sinh nào."
Thổ Đăng Đạt Cát Thượng sư nói:
"Tương lai Chân Phật Tông của con sẽ không giữ được."
Tôi nói: "Đây là số trời rồi."
Thổ Đăng Đạt Cát Thượng sư hỏi: "Vậy con sẽ làm thế nào?"
Tôi đáp: "Con sẽ xoa dịu, khen ngợi nó, xem xem nó có tỉnh ngộ ra không!"
Thổ Đăng Đạt Cát Thượng sư lắc lắc đầu, thở dài một cái.
"Thôi thì tùy ý con vậy!"


### 07. Đại Trí Phật?


Năm đó, Từ Nhuệ Quang sư tỷ đến Seattle Lôi Tạng Tự. Cô ấy là người Cát Lâm vùng Đông Bắc Trung Quốc, gương mặt thanh tú, thân hình cao ráo. Chỉ có nước da là đen, cô là người có nước da đen mặn mà. Cô vốn làm nghề trang điểm cho các diễn viên. Thượng sư Liên Hương từng mời cô ấy đến trang điểm, đã từng chụp vài tấm ảnh khá đẹp.
 
Về sau này, cô ấy vì nguyên nhân nào đó mà bị điều khiển đưa tới gặp XX. Từ đó về sau, cô ấy trở nên rất kì lạ.
Buổi tối rất khó ngủ.
Nhìn thấy ma quỷ.
Cơ thể suy nhược.
Bị rút mất sinh khí.
Hành vi kì quặc.
Toàn thân lập lòe bóng quỷ.
 
Cô từ một con người bình thường biến thành một người bị hồn ma nhập, chúng tôi đã đến nhà cô ở Mỹ do pháp sư Liên Tự dẫn đường. Vừa trông thấy đàn thành ở nhà cô tôi đã giật mình kinh hãi, bởi vì toàn bộ đàn tràng đều là quỷ, những con quỷ này đều đến từ XX đường.
 
Cô nói với tôi:
"Đàn thành có quỷ, sân vườn có quỷ, phòng ngủ có quỷ, nhà bếp phòng tắm đều có quỷ."
Tôi vốn định quét bay lũ quỷ trong nhà của cô, nhưng vào thời điểm đó, tôi vẫn không muốn đắc tội với phủ XX, tôi chỉ muốn phủ XX lập tức cải tà quy chính, muốn XX lập tức cải tà quy chính. Thế nên tôi chỉ thanh tịnh đàn thành.
 
Có một hôm, Từ Nhuệ Quang mặc một bộ trang phục màu trắng toàn thân, trên đầu cũng quấn khăn trắng che kín mặt, chỉ để hở hai con mắt, cách ăn mặc rất là quái dị. Tôi phải ngó mất nửa ngày mới nhìn ra đây là Từ Nhuệ Quang.
 
Cô nói: "Tôi chỉ hỏi một câu thôi!"
Tôi đáp: "Cô nói đi!"
Cô nói: "Sau này ngài liệu có thể cho tôi ở nhờ không, cho tôi vĩnh viễn làm đệ tử của ngài."
Tôi đáp: "Tôi nhất định cho cô lưu lại, cô là đệ tử của tôi." Tôi không nghi ngờ gì cô. Cô nghe xong rồi bỏ đi. Vài ngày sau thì tôi cũng trở về Đài Loan.
 
Sau này, Từ Nhuệ Quang sư tỷ một mình lái xe đến một vùng nông thôn ở Mỹ, vào lúc trên đường không có xe nào khác đã lái xe đâm vào một ống bê-tông bên đường. Toàn bộ chiếc xe bị đâm nát, cả cô cũng nát giống như chiếc xe vậy. (Cô nghe theo mệnh lệnh của quỷ đã tự sát mà chết.)
 
Sau khi cô Từ chết liền đến tìm tôi, phía sau lưng cô là một bầy quỷ tự sát. Tôi y lời nói trước đây là sẽ che chở cho cô nên đã xua hết lũ quỷ theo sau lưng cô đi. Tôi cho cô trú lại ba năm, sau ba năm mới chuyển thế.
 
Sau khi Từ Nhuệ Quang chết, XX biết được liền siêu độ cho cô. Sau khi siêu độ xong thì tuyên bố: "Từ Nhuệ Quang đã thành Phật, có Phật danh là Đại Trí Phật."
Pháp sư Liên Tự biết việc này đã thông báo với mọi người ở Seattle Lôi Tạng Tự: "Từ Nhuệ Quang đã thành Phật, danh hiệu là Đại Trí Phật."
 
Tôi hỏi linh hồn Từ Nhuệ Quang: "Cô đã thành Phật rồi à?"
Cô Từ cười đau khổ: "Ai dà! Ngài biết rồi mà, ma nữ tự sát thì làm sao thành Phật được? XX lừa người ta một vố to rồi!"
 
Tôi nghĩ:
Phật Đà ở cõi trời Đao Lợi cũng chẳng thể tiếp dẫn cho mẹ của mình là bà Maya thành Phật được. Nếu như năng lực của XX có thể làm như vậy thì tôi có lẽ cũng tự sát để đến cho XX siêu độ, rồi bà ta có thể công bố với mọi người rằng: "Lư Sư Tôn đã thành Phật rồi, danh hiệu là Đại Ngu Ngốc Phật."


### 08. Bắt để thế thân


Người ta đồn rằng năm quỷ đầu mục này có tượng điêu khắc bằng vàng để thờ cúng do một tổ chức ở bắc California nước Mỹ và một nhóm khác ở Đào Viên Đài Loan làm ra.
Tượng điêu khắc được làm tại Trung Quốc Đại Lục. Người trung gian là Trương Nhuệ Minh, có nickname là "đồ cặn bã". Cũng chính Trương Nhuệ Minh đã thay mặt XX tìm người điêu khắc tượng Phật để chạm khắc tượng cho năm quỷ đầu mục.
 
Trương Nhuệ Minh trong lúc hoàn tịnh đã nói với tôi:
"Chi phí để làm tượng bằng vàng là do tôi tự bỏ tiền ra."
Trương Nhuệ Minh nói:
"Tôi với vợ tôi sớm đã nhìn ra bộ mặt thật của bà ta, sớm đã rời xa bà ta rồi."
 
Đây gọi là: nuôi quỷ, cúng quỷ, dùng quỷ.
Chứng cứ rõ ràng nhất không chỉ có tranh vẽ mà còn có cả tượng vàng để cho người ta cúng bái. Bất kể có chuyện hay không có chuyện đều kêu những người tin theo bà ta là "đi cầu xin XX phủ đi!"
 
Điều tôi muốn hỏi là:
"Vì sao lại không đi cầu Kim Mẫu mà lại đi cầu phủ XX?"
Việc "cầu XX phủ" chính là: dùng ma quỷ.
 
Chúng ta nói chuyện bắt để thế thân một chút. Từ Nhuệ Quang chính là bị bắt để thế thân mà chết. Có một cô gái xinh đẹp hiền thục tên Tiết Vương cũng bị như vậy.
Theo như tôi biết, việc bị bắt để thế thân có hai loại:
1. Do quỷ tự sát.
2. Do quỷ đột tử.
(Bất kì ma quỷ nào bị chết bất ngờ đều được quy vào là quỷ đột tử, ví dụ như tai nạn xe, chết cháy, chết đuối, chết do sập nổ, chết do rơi xuống từ vách núi, chết do bị đâm, bị cướp, v.v.)
 
Ở phủ XX có đầy những con quỷ tự sát và quỷ đột tử. Những con quỷ này rất khó chuyển thế (tái sinh), cần phải bắt được người thay thế thì mới có thể chuyển thế.
Giống như thuộc hạ của quỷ đầu mục Kobayashi đều là các con ma tự sát.
Giống như Lâm Lương Tri cũng là ma đột tử.
Giống như Hoàng Kim Tuyền cũng là ma đột tử.
 
Quỷ đầu mục không phải là tự sát mà là bị đột tử. Những con quỷ này đều là những con quỷ hung ác. Con quỷ trưởng Hoàng Kim Tuyền vẻ ngoài thì lương thiện nhưng bên trong thì gian trá, cực kì giống với XX. Hoàng Kim Tuyền là chết do bị bệnh tim.
 
Trên phương diện bắt để thế thân, rất lâu rất lâu trước đây, toàn bộ gia đình XX và họ hàng thân thích trong một năm chết mất bốn người, có già có trẻ, người già là mẹ của XX, người trẻ là họ hàng, một năm làm tang ma đến bốn lần.
 
Nói cho mọi người hay, việc bắt để thế thân không phân biệt họ hàng gần hay xa, nếu bạn kém may mắn thì sẽ bị bắt đi. Ví dụ:
Chủ Phật đường của hội đồng tu Phật Lâm tổng cộng có bốn người trong gia đình bị đột tử, trong đó chỉ có một người là vật vã mãi mới chết, còn lại phần lớn là đột tử. Ngoài ra có bốn người khác là bị ma nhập, Thượng sư Liên Thi cũng là một trong số đó, những người này đều là bị bắt để thế thân.
 
Số người bị bắt để thế thân cũng tương đối nhiều, người bị trộm mất sinh khí lại càng nhiều hơn, bị ma quỷ quấy nhiễu thì nhiều không kể hết. Ở đây tôi không thể kể hết lần lượt ra được, nhưng  chỉ cần nghĩ một chút thì không hề khó để nhận ra.

Mặc dù là: gọi quỷ, nuôi quỷ, cúng quỷ, dùng quỷ thì quỷ sẽ giúp việc cho bạn, nhưng cũng cần phải hy sinh, trả giá rất nhiều thứ khác. Đặc biệt là XX dùng phủ XX, dùng những linh hồn lang thang khắp mười phương, những linh hồn lang thang đây đó để xâm nhập vào các chùa, đường, hội Chân Phật Tông, khắp thế giới đều lấp ló bóng dáng ma quỷ! Ai da! Thảm rồi! 

Trong lòng tôi thật là lo lắng!


### 09. Làm sao để chặn quỷ?


Có người hỏi tôi, XX phủ lợi hại như vậy mà lại là ác quỷ, quỷ dữ, chúng ta phải làm sao đây?
Tôi nói: "Chỉ cần ta có chính niệm thì bất kì quỷ ma nào cũng không sợ."
Hỏi: "Chính niệm là gì?"
Tôi nói:
1. Không màng danh lợi.
2. Đoạn tuyệt sắc dục.
3. Không tham tiền tài.
4. Không tham ăn uống.
5. Từ bỏ hư vọng.
6. Không đố kị.
 
6 quy tắc này nếu có thể giữ gìn thì bản thân sẽ không còn ham muốn mà mạnh mẽ, có được cái khí cương chính(*) rồi thì ma quỷ không dám lợi dụng, cũng giống như không có ma quỷ, mà kể cả có ma quỷ thì ma quỷ cũng tránh xa người ngay thẳng.
(Đây là người tu hành chân chính, tu hành chính là tu sửa việc này.)
 
Nhưng con người kiểu này nói cho cùng thì cực kì hiếm, trong vạn người e rằng cũng không tìm thấy được một, hai người.
Hỏi: "Vậy thì phải làm sao?"
Tôi đáp: "Mật giáo cần phải tu hộ luân, cũng chính là tu hộ pháp."

Hỏi: "Tu thế nào?"
Tôi đáp:
1. Tu pháp hộ thân.
Quán tưởng: Kim Cương Thủ Bồ Tát.
Trì chú: Om buru lan zhe li. (nhiều lần)
Kết ấn tại các điểm: thiên tâm, họng, tim, vai trái, vai phải, quay trở về thiên tâm giải ấn.
Dùng Kim Cương ấn hoặc Kim Cương Thủ ấn đều được.
(Đây là tự kết giới bản thân.)
 
2. Bốn lớp kết giới.
Quán tưởng: 
"Nền đất Kim Cương." (phía dưới)
"Lưới Kim Cương." (phía trên)
"Bốn bức tường Kim Cương." (toàn thân)
"Lửa Kim Cương." (ở bốn phía của tường Kim Cương)
Trì chú: chú bổn tôn hoặc chú hộ pháp đều được.
 
3. Quán âm thân đàn thành pháp.
Tôi đã từng giảng rồi, đây là pháp để tránh tai nạn. 
Mật pháp có rất nhiều pháp, ví dụ như "Miên quang pháp". 
 
Ngoài ra:
Kết giới phòng ốc và khu vực.
Tôi đã dạy, quán tưởng Đại Lực Kim Cương điểm ấn tại cửa đi, cửa sổ, tay kết ấn "kì khắc", niệm chú: Om maha bala ye, hum hum pei điểm ấn tại giường, cửa đi, cửa sổ thì ma quỷ không dám vào.
Rồi lại điểm ấn cả nhà, quỷ ma không dám vào.
Rồi lại điểm ấn thổ địa xung quanh, quỷ ma không dám vào.
Bình thường thì trì chú: 
Om maha bala ye, soha.
Om maha bala ye, hum hum pei.
Hai câu chú này đều được.
 
Ngoài ra có pháp đánh bay ma quỷ.
Quán tưởng: Bất Động Minh Vương.
Kết ấn: kiếm ấn Bất Động Minh Vương.
Trì chú: cửu tự chân ngôn lâm, binh, đấu, giả, giai, trần, liệt, tại, tiền.
Vẽ vào không trung 4 vạch dọc và 5 vạch ngang (chính là hình ảnh của kiếm ấn).

Còn nữa:
Phụng thỉnh: Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thanh Phổ Hóa Thiên Tôn. (3 lần)
Kết ngũ lôi ấn. Thở ra một hơi mạnh. Chân trái dậm xuống đất, tung ấn.
Miệng niệm: Hum hum hum.
Ma quỷ liền chạy biến, còn nếu như không chạy trốn thì cũng chết.
 
Còn nhiều pháp nữa. Tụng kinh, trì chú, kết ấn, đều có thể ngăn chặn được quỷ và bắt quỷ.
(*) Cương chính: mạnh mẽ, ngay thẳng.


### 10. Chỉ hỏi một câu


Ở Hồng Kông, có một vị sư tỷ bỗng nhiên ngồi máy bay qua Seattle nước Mỹ để cầu xin được gặp tôi. Sau nhiều lần thỉnh cầu, tôi đồng ý gặp cô. Thượng sư Liên Đông cũng có mặt.
Cô nói: "Chỉ hỏi một câu thôi!"
Tôi nói: "Hỏi đi!"
Cô hỏi: "Tôi có nên ly hôn không?"
 
Người phụ nữ trẻ này chỉ mới khoảng ngoài 30 tuổi, diện mạo cũng có thể xem như là xinh xắn, dáng người thon thả. Không ngờ cô ấy lại hỏi rằng có nên ly hôn không. Tôi cũng có chút tò mò, thế nên tôi hỏi ngược lại cô: 
"Chồng cô không yêu cô à?"
Cô đáp:
"Chúng tôi rất yêu thương nhau."
Tôi hỏi:
"Chồng cô ngoại tình à?"
Cô đáp:
"Không có."
Tôi lại càng tò mò.
"Anh ta không có tiền à?"
Cô đáp:
"Anh ấy là một doanh nhân lớn, có rất nhiều bất động sản, sự nghiệp rất lớn, tiền nhiều như nước."
Tôi hỏi:
"Anh ta có thói quen xấu à?"
Cô đáp:
"Anh ấy là một người đàn ông cao ráo, giàu có, đẹp trai, sống có quy tắc. Anh ấy rất yêu tôi, tôi cũng rất yêu anh ấy."
Tôi hỏi ngốc rồi, nhưng lại hỏi tiếp:
"Vậy vì sao lại ly hôn?"
Cô đáp:
"Tôi đi hỏi chuyện!"
"Hỏi chuyện ai?" Tôi hỏi.
Cô đáp: "XX."
"A!" Tôi kêu lên một tiếng, lại nữa rồi, lại là XX.
 
Tôi hỏi: 
"Thế bà ta nói sao?"
Cô đáp:
"XX hỏi hoàn cảnh của tôi rồi bảo tôi ly hôn. XX nói, chồng của cô kiếp trước chính là kẻ thù lớn nhất của cô, hiện tại đúng là rất tốt đẹp, nhưng sau này anh ta chắc chắn sẽ giết chết cô."
Cô ấy cực kì khiếp sợ. XX nói:
"Mau chóng ly hôn, lấy một nửa gia sản đến XX đường, ngoan ngoãn tu hành. Sau này chúng tôi có thể độ cho cô đến Ma Ha Song Liên Trì tịnh độ, chúng tôi cùng với cô đã có ước hẹn từ kiếp trước."
 
Cô hỏi:
"Tôi có cần ly hôn không? Tôi rất sợ hãi!"
Lúc này tôi tĩnh tâm lại, bấm ngón tay tính đoán.
Tôi nói:
"Không có chuyện này đâu, cô không cần ly hôn!"
Cô rất phấn khởi nói:
"Tôi nghe theo Sư Tôn, tôi nghe theo Sư Tôn, tôi rất vui, tôi rất vui."
Thế là cô ấy quay trở về Hồng Kông.
 
Tôi biết việc XX kêu người ta ly hôn rồi đem gia sản đến XX đường đã rất nhiều rồi. Việc này là sao? Việc này có phải là dọa người ta để lấy tiền không?

Người tu hành chúng ta khuyên hòa hợp không khuyên chia ly, đây là một đạo đức tốt đẹp. Lẽ nào XX bái XX phủ rồi toàn bộ tâm tính đã thay đổi rồi, ngay cả việc này mà cũng làm được!


### 11. Quỷ không phân biệt (1)


Năm 2016 tôi trở về Seattle nước Mỹ, đó là vào tháng 5.
Trong đám đông đón tôi tại sân bay Seattle, tôi nhìn thấy một nữ đệ tử đã nửa năm không gặp. Tôi vừa nhìn thấy cô ấy thì đã giật thót mình. Thượng sư Liên Hương cũng phát hiện ra, giật mình cảnh giác. 
Có chuyện gì vậy?
Đã trở mặt rồi sao?
 
Tôi và Thượng sư Liên Hương nói với cô:
"Vì sao cô lại biến thành như vậy?"
Cô ấy đáp:
"Làm gì có!"
 
Cô mà trước đây tôi biết là một vũ công hoạt bát, nghiêm túc tu hành, tướng mạo trắng trẻo hồng hào, là một cô gái xinh đẹp quyến rũ. Còn cô bây giờ thì thất thần, trên mặt phủ một lớp khí xanh đen, nhợt nhạt, hai mắt mất đi vẻ long lanh, gương mặt mất đi nét tươi trẻ.
Tôi hỏi lại cô lần nữa:
"Có chuyện gì vậy?"
Cô đáp:
"Làm gì có!"
 
Nhưng nửa năm không gặp, vừa gặp lại, chúng tôi đều phát hiện ra tinh thần của cô thực sự không hề giống như trước đây. Rất nhiều đồng môn cũng nhận xét về cô như vậy. Cô ấy tự cho là mình ngủ rất tốt, cũng chẳng mơ thấy gì cả. Chúng tôi hỏi cô có bị xung phạm gì không. Cô đáp: "Không có."
 
Cuối cùng tôi mới biết cô cùng với một sư tỷ khác đều muốn đi California dự pháp hội Lương Hoàng Bảo Sám, đã đăng kí, nhưng vẫn chưa đi tham dự.
Cô hỏi:
"Như vậy có thể bị xung phạm không?"
Tôi cho là như vậy thì có lẽ là chưa bị!
 
Tôi thực sự nghĩ cách hồi phục lại thân tâm khỏe mạnh cho cô, khiến cho thần sắc của cô có trở lại. Chúng tôi ở Seattle đã sắp được nửa năm, vừa mới nghĩ đến chuyện rời nước Mỹ quay về Đài Loan thì cô nói với tôi:
"Thực sự là có một lần tôi đi đến XX đường, đã bái phủ XX."
 
A! Quả nhiên là vậy. Trong lòng tôi rất lo lắng cho cô.
 
Còn nữa, tôi ở Đài Loan đã gặp đường chủ và các đệ tử của hội đồng tu Tam Trùng, họ cầu xin tôi cho hoàn tịnh.

Đồng tu hội Tam Trùng nhiều năm chỉ mời một vị Thượng sư tu pháp tại Tam Trùng. Vị Thượng sư này đã an vị "thập phương vô chủ cô hồn" tại đàn thành của đồng tu hội Tam Trùng. Tôi nhìn mặt các đồng tu ở Tam Trùng thì thấy trên mặt mỗi người đều có một lớp khí xanh đen, tinh thần suy nhược, trên mặt không có vẻ khỏe mạnh chút nào.

Tôi thở dài một tiếng. "Những người này đều tin theo XX, cũng tin theo XX phủ nên mới đều có dáng vẻ như vậy.”
 
Tôi biết, chỉ cần là do XX khai quang thì tất cả đều biến thành ma quỷ. Gia trì đàn thành cũng biến đàn thành thành ma quỷ. Tin theo XX phủ thì tất cả đều có rất nhiều quỷ khí. Bài vị quỷ sắp xếp lộn xộn, bị làm đến mức tất cả mọi đệ tử tin theo chỉ cần hít thở thì đều bị quấy nhiễu, hoặc mơ mơ hồ hồ, hoặc là chết, hoặc tự sát. Mọi người đều biến thành một bức tranh mặt quỷ.
 
Tôi biết phủ XX vốn hoàn toàn không có đạo nghĩa, một khi đã bái XX phủ rồi thì tất cả đều giống như vũ khí đã quăng đi không thể thu lại!


### 12. Nguồn gốc của XX


Năm đó.
Tại Vancouver, Canada tôi có thu nhận một đệ tử nữ, đặc điểm của đệ tử nữ này là cô ấy thích mặc quần áo màu tím. Tên của cô là Xà Diệu Chi. Cô là một họa sĩ có danh tiếng lớn, dạy mỹ thuật ở một trường đại học, cũng nhận học trò để dạy vẽ tranh tại nhà.

Dáng người cô cao ráo, xinh đẹp, tóc dài tha thướt, nhìn giống như một thiên nữ. Tôi nói, cô ấy là một vị Liên Hoa Đồng Tử.
 
Không lâu sau.
Một lần trong pháp hội tại Seattle Lôi Tạng Tự, tôi ngồi trên giảng pháp. Tôi nói: "Có một vị Liên Hoa Đồng Tử thích mặc trang phục màu tím, xin mời đệ tử này đứng dậy!"

Xà Diệu Chi mặc đồ màu tím, cô ấy vốn định đứng dậy, nhưng vào lúc cô ấy chuẩn bị đứng lên thì có một người nữ khác "sột soạt" đứng dậy trước. Người phụ nữ này chính là XX. Bà ấy mặc bộ đồ màu xanh lam. Do là XX đã đứng dậy trước nên Xà Diệu Chi không đứng dậy nữa, và thế là XX tự nhiên trở thành Liên Hoa Đồng Tử.

Tôi muốn tuyên bố rằng:
1. Sự việc này không phải là giả.
2. Những người tham dự pháp hội lần đó có đều có thể chứng minh, tham dự pháp hội có Thượng sư Liên Trí, pháp sư Minh Nghi, v.v.
3. Vốn dĩ tôi muốn chứng nhận Xà Diệu Chi (là Liên Hoa Đồng Tử).
4. Kết quả là XX lại đứng dậy.
5. Liên Hoa Đồng Tử thật thì không đứng dậy.
6. Liên Hoa Đồng Tử giả thì lại đứng dậy.
 
Tôi khựng lại một lúc. Khi đó tôi nghĩ, đây cũng là số trời của Chân Phật Tông, là vận mệnh của Chân Phật Tông, tôi thở dài một tiếng.
"Ai dà! Khó tránh khỏi kiếp nạn!"
Tôi theo mười lời nguyện mãi mãi thuận theo chúng sinh của Phổ Hiền Bồ Tát mà đành để cho XX làm Liên Hoa Đồng Tử.
 
Khi đó, XX có hai người bạn trong hội chơi mạt chược cực kì không phục, một người họ Diêu, một người họ Tiết. Hai người này nói: "XX sao mà lại là Liên Hoa Đồng Tử được? Bà ta là một người mồm miệng trơn tru như nước chảy…"
 
Thực tế đã chứng minh:
Bà ta rất giỏi nói chuyện, có thể nói những lời tốt đẹp, một lần mở miệng là có thể nói liền hai, ba tiếng, thậm chí càng nói càng lâu càng dài, có cái lưỡi dài ba thốn nói không biết mỏi, lời nói có thể chuyển mây, có thể che mưa, giỏi kể chuyện đến mức hoa trời rơi rụng.
Thượng sư Liên Tử nói: "Đây là sở trường của bà ta."
 
Bà ta chửi Thượng sư Liên Hương.
Bà ta chửi Tông ủy hội.
Thượng sư Liên Hương và Tông ủy hội bị chửi chưa từng bao giờ chú ý đến bà ta và cũng không biết nguyên nhân bị chửi là gì.
 
Bà ta học thuật thôi miên, lợi dụng thôi miên và các dấu hiệu để tẩy não, thêu dệt nên những huyễn tưởng về nhân quả ba kiếp. Mỗi người ở chỗ bà ta đều là: đệ tử kiếp trước của bà ta, con cái kiếp trước của bà ta, người phải báo ân kiếp trước của bà ta, người thân kiếp trước của bà ta.

Do vậy, có rất nhiều người con kiếp trước của bà đều gọi bà ta là "mommy, mommy, mommy". (Những người này đều trở thành trợ thủ đắc lực cho bà ta.)


### 13. Từ chuyện con nhện nói đi


Tôi kể chuyện Phật đường Tôn Bình ở Malaysia có Liên Hoa Giai Tân đã mời XX đến làm pháp hội và giảng pháp.

Một tín đồ của Phật đường Tôn Bình đã cúng dường XX ở tại một khách sạn lớn. Khi người này dẫn XX đi check-in khách sạn thì phát hiện ra trong phòng có một con nhện. Người này yêu cầu khách sạn giết chết con nhện.
"Đợi một chút!"
Bà ta kêu lên một tiếng rồi nói tiếp:
"Con nhện này là anh em kiếp trước của anh, nó ở đây chờ anh đã lâu rồi."
"Nó đợi tôi làm gì?"
Đáp: "Để siêu độ cho nó!"
Hỏi: "Siêu độ thế nào?"
Đáp: "Là tôi đến để siêu độ!"
(Mọi người biết rằng siêu độ cần phải có chi phí, nhưng tín đồ này không tin XX là loại người có thể làm được việc này.)
Do vậy vị tín đồ này đã không bị lừa.
 
Còn nữa:
Từ Nhã Kỳ sư tỷ và XX cùng du lịch đến cảng cá ở San Fransisco bang California. Từ sư tỷ đứng ở trước một quầy bán cua thì bỗng nhiên thấy đau bụng. 

Bà ta nói: "Cô mua một con cua đi!"
Từ sư tỷ liền mua một con cua. 
Bà ta nói:
"Con cua này chính là người cha kiếp trước của cô, cô như vầy như vầy, cha cô như vầy như vầy, cho nên bị đọa xuống phải mang thân cua."
Từ sư tỷ không biết đây là một trò lừa gạt nên cô đã khóc bù lu bù loa!
 
Còn nữa:
Có chuyện về một con tắc kè hoa.
Có chuyện về một con ruồi.
Có chuyện về một con vẹt.
Có chuyện về một con muỗi.
Có chuyện về một con rùa.
…
Có vô số chuyện không thể kể hết, động vật và con người, những chuyện nhân quả ba kiếp toàn là do XX huyễn tưởng từ trong đầu mà ra. Dựa vào cái lưỡi dài ba thốn trơn tru mềm mại mà bà ta nói đến mức hoa trời rơi rụng, mặt trăng mặt trời không còn chiếu sáng, thay nhau đến rồi thay nhau đi.

Đây gọi là:
Không có nói có.
Tử Hư Ô Hữu. (*)
Người chết rồi thì chẳng thể đối chứng.
Người sống cũng chẳng thể đối chứng.
Sống chết đều không thể đối chứng.
 
Bà ta điên rồi!
Trên đường trông thấy một con rắn, là mẹ tôi đó! Mẹ tôi tìm đến cửa rồi.
Những người tin theo những lời huyên thuyên của bà ta có không ít, họ tiêu tốn tiền bạc cũng không ít.
Nghe thì biết thế, đừng có tùy tiện mà tin theo.
 
XX rất biết thêu dệt nên những câu chuyện về quỷ thông, hại người ta bán tín bán nghi, thẫn thẫn thờ thờ. Những người bị chuyện của XX ám ảnh thì rất nhiều, rất nhiều.
 
Nhưng cũng có người không tin. Có phải là thật không? Chỉ có trời biết!
Cá nhân tôi nghe chuyện thì cười ha ha thật to. Tôi ở trên đồi Nam Sơn Nhã Xá tại nước Mỹ có rất nhiều chuột, nếu như chuyện của XX là thật thì tôi mà chuyển nhà đi thì là tôi đã vứt bỏ hết bố mẹ anh em trai chị em gái con cháu chắt của tôi à?

(*) Tử Hư Ô Hữu: là tên của hai nhân vật dân gian Trung Quốc nổi tiếng với việc nói khoác nói dối, bịa đặt dựng chuyện, gây nên nhiều tai họa và rắc rối cho người khác.


### 14. Lời nói gian dối


Chuyện này xảy ra tại Panama.
XX muốn đến Panama làm pháp hội siêu độ, Panama có Thường Hoằng Lôi Tạng Tự. 

Người thủ quỹ của Thường Hoằng Lôi Tạng Tự lái xe đến sân bay đón bà ta. Xe của anh đi được nửa đường thì bị đâm trầy móp cả xe. (Người được gọi là thủ quỹ này chính là một vị công đức chủ thường chi rất nhiều tiền.)

Người thủ quỹ cảm thấy rất chán nản. Mặc dù xe bị móp nhưng vẫn có thể lái được đến sân bay. 

Người thủ quỹ nói với XX là xe bị đâm móp méo cả rồi. XX nói:
"Hôm nay tôi đến Panama để làm pháp hội siêu độ, anh có biết vì sao không?"
Người thủ quỹ nói:
"Không biết."
XX nói:
"Tôi đến là để siêu độ cho anh đó."
Người thủ quỹ kinh hãi:
"Tôi vẫn còn sống đây, vì sao lại cần siêu độ cho tôi?"
XX nói:
"Anh vốn có một cái nạn phải chết, do vậy tôi đến siêu độ cho anh. Nhưng tôi dùng năng lực của tôi để hóa giải nạn chết, chỉ khiến cho xe của anh bị đâm trầy móp thôi đó!"
Người thủ quỹ nghe xong nói:
"Ây da! Má ơi! Hóa ra là bà đến để cứu tôi, bà là ân nhân cứu mạng của tôi!"

Do vậy người thủ quỹ càng sùng bái XX và cúng cho XX rất nhiều tiền. (Đối với khả năng ứng biến của XX, đầu óc chuyển đổi rất nhanh, nói thật là tôi rất khâm phục, nhưng tôi thấy tất cả đều là lừa bịp hết.)
 
Còn nữa:  
Ở thành phố Tịch Chỉ, Đài Bắc, chẳng phải có một năm bị ngập lụt một trận lớn đó sao!
XX nói:
"Ý nghĩa của cái tên Tịch Chỉ là nước đến đó là sẽ dừng lại, nhưng nhà cửa ở Tịch Chỉ bị ngập đến hết cả tầng một là do chính phủ đã tháo dỡ Lôi Môn Tự nên mới có trận lụt lớn như vậy."
Thế nếu không tháo dỡ thì sao?
"Thì Tịch Chỉ sẽ không bị ngập lụt!" (Nhưng tôi thấy đây là lừa bịp thôi.)
Còn nữa:
Khi tổng thống Lý Đăng Huy còn đương nhiệm kì, Đảng Cộng Sản Trung Quốc chẳng phải là đã phóng tên lửa sao? Tên lửa đều được phóng ra ngoài biển khơi. XX nói:
"Đó là do tôi bảo vệ Đài Loan, tôi dùng thân thể của mình ôm trọn lấy Đài Loan, khiến Đài Loan không bị thương tổn. (Nhưng tôi thấy đây là lừa bịp thôi.)
 
Còn nữa:
Có người hỏi:
"XX, vì sao bà nuôi ma quỷ?"
XX đáp:
"Biệt thự Cầu Vồng thờ cúng thủy tử linh, chẳng phải cũng là nuôi ma quỷ sao?"
Có người hỏi:
"XX, vì sao thờ tượng vàng của năm con quỷ đầu mục?"
XX đáp:
"Chẳng phải là từng con từng con thủy tử linh ở biệt thự Cầu Vồng đều là tượng vàng sao?"
Người đó không biết phải nói sao nữa.
 
Lư Sư Tôn trả lời:
Những người thờ cúng thủy tử linh là các người chủ gia đình thờ cúng, không phải là Biệt Thự Cầu Vồng thờ cúng. Chi phí đều tùy tâm. Ở Biệt Thự Cầu Vồng có thủy tử linh nhưng không có việc dùng quỷ, đây là một điểm quan trọng, chúng tôi không triệu tập thủy tử linh.

Thủy tử linh chẳng phải do tôi sử dụng.
 
Phủ XX thì khác. XX phủ đều là các ma quỷ tự sát và các ma quỷ bị chết bất ngờ do binh đao, là những con quỷ vô cùng hung ác.

Thủy tử linh ở Biệt Thự Cầu Vồng cũng không bành trướng đến toàn thế giới. (Còn XX phủ thì bành trướng đến toàn thế giới, các chùa, đường, hội đều an vị bài vị quỷ.)

Thủy tử linh ở Biệt Thự Cầu Vồng không ảnh hưởng đến người khác. Phủ XX thì phá hoại khắp nơi. Chính và tà chính là ở điểm này, chỉ nhìn lướt qua là thấy ngay, không thể nào lẫn lộn được.


### 15. Quần áo mới của nhà vua


Lại có thêm một sự việc mới xuất hiện.
XX muốn xây Thiên Thượng Lôi Tạng Tự, Lôi Tạng Tự này cần phải xây ở trên trời. Ôi mẹ ơi! Lại nữa rồi!

Có một lần tôi xuất thần thức đi gặp Diêu Trì Kim Mẫu. Tôi nói:
"XX muốn xây Lôi Tạng Tự ở trên trời!"
Diêu Trì Kim Mẫu không nói gì. Ngài đưa tôi đến bên một ô cửa sổ, mở cửa sổ ra, tôi nhìn ra bên ngoài thì thấy hết ngôi chùa này đến ngôi chùa khác, hết dãy này đến dãy khác toàn là Lôi Tạng Tự, trùng trùng điệp điệp, liên tiếp không dứt. Tôi không đếm hết được, có lẽ phải đến hàng nghìn, hàng trăm, hàng vạn, hàng tỉ ngôi chùa.
Tôi sửng sốt!
Kim Mẫu nói:
"Còn cần bà ta phải xây nữa không?"
Tôi hỏi:
"Kim Mẫu! Từ bao giờ mà có nhiều Lôi Tạng Tự như vậy?"
Kim Mẫu đáp:
"Chỉ cần nghĩ một cái là có."
Tôi hỏi:
"XX cũng có một suy nghĩ thế này thôi à!"
Kim Mẫu đáp:
 "Suy nghĩ của bà ta là vì danh lợi."
Tôi hỏi:
"Tu hành của bà ta thì sao?"
Kim Mẫu đáp:
"Zero."
Tôi hỏi:
"Vậy thì bà ta làm cách nào để xây Lôi Tạng Tự ở trên trời?"
Kim Mẫu đáp:
"Chỉ nhận tiền của công đức chủ thôi, về cơ bản là có xây đâu!"
Tôi hỏi:
"Là lừa bịp sao?"
Kim Mẫu đáp: "Chính là bộ quần áo mới của nhà vua đó." (*)
 
Còn nữa:
XX mở "trường học âm phủ", những học sinh báo danh đều là những người thân quen họ hàng đã chết của những tín đồ tin theo bà ta, hoặc là những oan gia trái chủ của người sống.

Bà ta tuyển vào:
Bố mẹ hoặc thế hệ già đã chết.
Con cái đã chết.
Người thân đã chết.
Thủy tử linh đã chết. (không có tên họ nên tự lấy tên họ khác)
Mỗi người phải nộp 1000 đô-la Mỹ cho mỗi học kì.

Người ta nói rằng sau khi tốt nghiệp trường học này thì có thể đầu thai đến một nơi tốt đẹp hơn.
 
Tôi nghe xong, thật là thán phục! 
Không cần mời giáo viên.
Không cần những bữa ăn dinh dưỡng.
Không cần……………………………… .
 
Tôi thích nói đùa rằng: 
Sao XX không sớm nói cho tôi biết, tôi sẽ xây lên một tòa nhà chung cư hạng nhất ở cạnh trường học âm phủ, bên trong đều là các căn hộ cho học sinh ở, tan học là trở về căn hộ mà tôi cho thuê.

Tôi sẽ cho thuê các căn hộ, hàng tháng tôi đều thu được tiền thuê nhà. Bà thu tiền học phí mỗi học kì. Tôi thu tiền cho thuê nhà. Rồi còn có truyền hình âm phủ, bình tắm nóng lạnh miễn phí nữa.

Đào hố chôn chết các đệ tử Chân Phật Tông đi thôi!
 
Tôi hỏi:
"Trường học âm phủ có thật không?"
Kim Mẫu đáp:
"Bộ quần áo mới của nhà vua."
Tôi hỏi:
"Bởi vì tất cả đều là Tử Hư Ô Hữu(*) , làm sao mà bà ấy dám lừa bịp?"
Kim Mẫu đáp:
"Ở đâu cũng có người lừa bịp, việc lừa bịp trong tôn giáo lại càng nhiều!"

(*) Bộ quần áo mới của nhà vua: đây là một câu chuyện ngụ ngôn kể về một ông vua ngu ngốc bị những tên thợ may lừa bịp may cho một bộ quần áo vô hình với giá đắt đỏ, chúng nói rằng chỉ có những ai thông thái mới có thể nhìn thấy bộ quần áo này, người ngu ngốc sẽ không thể nhìn thấy. Chẳng ai nhìn thấy bộ quần áo, kể cả nhà vua, nhưng đều tỏ ra là mình nhìn thấy vì không muốn bị cho là kẻ ngốc.


### 16. Đem tài sản của bạn đi theo XX


Thời gian: khoảng gần hai năm trước.
Địa điểm: Phúc Hựu Lôi Tạng Tự.
Nhân vật: XX.

Khi đó Thượng sư Liên Chân của Phúc Hựu Lôi Tạng Tự đã cưu mang toàn bộ các phân đường của XX khi bà tháo chạy khỏi Đài Loan. Giáo sư Vương Tiến Hiền và vợ là bà Lâm Thế Trân ở Phúc Hựu Lôi Tạng Tự nghe bà ta giảng pháp.
 
XX nói:
"Các người cần quán tưởng ta trụ tại đỉnh đầu."
Giáo sư Vương hỏi:
"Thế còn đứa con trong bụng thì sao?"
XX đáp:
"Sau khi sinh ra thì đi theo ta, người mẹ phải từ bỏ vị trí giáo viên, đem theo toàn bộ gia sản đi theo ta."

Giáo sư Vương Tiến Hiền, giáo viên Lâm Thế Trân, lại còn đứa con ở trong bụng, hai vợ chồng có vẻ rất sợ hãi hỏi:
"Nếu không làm theo như vậy thì sao?"
XX đáp:
"Đầu tiên đứa con sẽ chết, sau đó người mẹ sẽ chết, sau đó Vương Tiến Hiền sẽ chết, trong vòng một năm cả nhà đều chết hết."
"Cả nhà đều chết hết ư!"
"Đúng vậy."
 
Sau này, đứa bé sinh ra chính là pháp sư Liên Anh, hiện nay đang học tại đại học Đông Hải (ở Đài Trung). Giáo viên Lâm Thế Trân bị ma quỷ quấy nhiễu suốt hai mươi năm, rất đau đớn. Giáo sư Vương Tiến Hiền thì dạy học tại trường đại học.
Bà Lâm Thế Trân bị ma quỷ quấy nhiễu rất nghiêm trọng, hai vợ chồng đến cầu Lư Sư Tôn giúp đỡ nên tôi mới biết được chuyện này.
 
Tôi vừa nghe kể, thì ra lại là "việc tốt" do XX làm. Những chuyện kiểu này tôi đã nghe rất nhiều rất nhiều rồi, phần lớn mọi người đều bán tài sản của gia đình đem cho XX. Còn nếu như không bán gia sản thì "cả nhà đều bị chết hết".
 
Ví dụ:
Ở Panama có một phụ nữ trung niên đã bán hết bất động sản cúng cho XX. XX nói:
"Con của bà phải xuất gia, bởi vì nó là người đầu thai vào phủ XX, nếu không xuất gia thì không được."
Người phụ nữ nói:
"Con tôi không muốn xuất gia!"
XX nói:
"Bán con đi New York."
Người phụ nữ nói:
"Tình nghĩa mẹ con sâu đậm làm sao có thể bán."
XX nói:
"Vậy thì trong vòng 5 năm, cả nhà sẽ chết hết."
Cả nhà họ đến tìm tôi, họ vô cùng sợ hãi.
Tôi nói:
"Làm gì có chuyện này, yên tâm đi."
 
Còn nữa:
Pháp sư Liên Phổ đem gia sản cúng cho XX. Sau này sinh bệnh, muốn lấy lại một ít tiền để chữa bệnh, quả nhiên là không được. Khi pháp sư Liên Phổ gần kề cái chết đã nói một câu: 
"Tôi chết không nhắm mắt, làm ma quỷ cũng phải đi bắt XX."
 
Còn nữa:
Pháp sư Thúy Vi đem cả gia sản cúng cho XX. Nhưng cũng kể từ đó XX không còn thân thiết nữa nên lại phải bỏ trốn đi. Bát Nhã Lôi Tạng Tự ở Malaysia đã cho pháp sư trú nhờ. 
Đại loại như vậy.
Cực kì phức tạp.


### 17. Câu hỏi số 1


(Ba vị điều hành XX đường hỏi)

"XX nói đã chịu thay cho bệnh sưng chân của Lư Sư Tôn có đúng không?"

Lư Sư Tôn đáp:
Vào khoảng thời gian tháng 4 năm 2016 tôi phát hiện ra phần từ đầu gối trở xuống ở chân trái của tôi bị sưng, ban đầu tôi không để ý lắm. Tôi uống thuốc lợi tiểu và giơ chân cao lên khi ngủ, nhưng không thấy bệnh thuyên giảm. Ngược lại chân càng sưng đau hơn.

Tôi chẳng còn lựa chọn nào khác là phải tìm một người đệ tử là bác sĩ Trịnh Sâm Long đến nhà để khám bệnh. Ban đầu bác sĩ Trịnh liên tục dùng thuốc, nhưng đều không có hiệu quả. Sau đó tôi đã kiểm tra ở mức độ vi tế nhất thì mới biết là do bị nhiễm khuẩn, vi khuẩn đã làm chân sưng tấy to lên như tổ ong.

Cả đời tôi chưa từng nhập viện, đến lúc 72 tuổi thì mới nhập viện lần đầu tiên. Phải dùng thuốc:
Kháng sinh (thuốc uống).
Kháng sinh (thuốc tiêm).
Vẫn không có hiệu quả.

Rốt cuộc phải nhờ đến bác sĩ khoa nhiễm khuẩn, bác sĩ khoa tim mạch, bác sĩ khoa thận cùng bác sĩ Trịnh Sâm Long cùng hội chẩn. Dùng thuốc kháng sinh loại siêu siêu mạnh, thuốc kháng sinh này là "thuốc kháng sinh lão hổ". Vừa tiêm thuốc này xong thì tôi bị chìm sâu vào hôn mê, đau đớn không sao chịu được, tôi cực kì suy sụp.
 
Ở trong hôn mê, tôi gặp Diêu Trì Kim Mẫu, giống như mẹ đất, ngài đưa cho tôi một ly nước bảo tôi uống. Tôi thấy Hư Vân lão hòa thượng ở trên mây cao giang rộng hai cánh tay gia trì cho tôi. Các chư vị hộ pháp đều bảo vệ.
 
Nhưng chính là bởi "thuốc kháng sinh lão hổ" vừa tiêm vào là có hiệu quả, cái chân sưng đã đỡ dần. Khi tôi cực kì đau yếu như vậy, tôi vẫn lên pháp tọa giảng pháp, nói đến cái cảm giác rất đau đớn đó đã rớt nước mắt hai lần. Cuối cùng cái chân đau của tôi cũng đã khỏi rồi!
 
Ở Đài Loan Lôi Tạng Tự tôi đã tuyên bố: "Chân của tôi khỏi rồi!"
(Nếu như cái chân sưng tấy to như tổ ong không khỏi mà lan lên phía trên thì phải cắt cả chân đi.)

Sau đó vào tháng 5 thì tôi trở về Seattle. Bác sĩ gia đình của tôi là Cao Nhĩ đã kiểm tra lại, thực sự là khỏi rồi. Một đệ tử ở Canada là bác sĩ Emilia đã đề nghị tôi đi tất co giãn để phòng ngừa lại bị nhiễm khuẩn lần nữa.
Tôi nhấn mạnh:
Cái chân sưng lên như tổ ong của tôi là do bác sĩ chữa khỏi. XX nghe tôi nói "chân khỏi rồi" thì sau đó mới làm pháp hội "Thỉnh Phật trụ thế" và tự tuyên bố rằng "đã chịu thay cái chân đau của tôi".
 
Cho tôi được hỏi:
"Chân của XX có sưng không?"
"Chân của XX có các mô bị sưng lên như tổ ong không?"
Thế chịu thay cái gì?

XX lợi dụng việc tôi nói "chân khỏi rồi" mới khởi xướng ra pháp hội "Thỉnh Phật trụ thế". Bà ta mua cả một nhà chứa gỗ dùng để đốt lò Hộ Ma, quăng lưới đánh bắt được cả một mớ tiền.
 
Tôi thực sự thật lòng nói cho mọi người biết, tôi có bệnh thì đầu tiên là sẽ đi khám bác sĩ, nếu không được thì tôi mới dùng Phật pháp để chữa trị. Tôi nói, tôi là Căn bản Thượng sư của các Thượng sư, không thể để cho người khác “chịu thay” được. 

Đặc biệt là tôi coi thường việc dùng pháp quỷ của XX nhất. Việc dùng các tiểu xảo tầm thường này thì có thể chịu thay được sao? Chỉ là một sự đáng ngờ lớn mà thôi.
XX mặt dày như da trâu, thật là biết khoác lác!
Tôi nói: "Chân tôi khỏi rồi thì XX mới chịu thay."

"Chịu thay? Chịu thay? Chịu thay ư?
Chịu thay cái gì mà chịu thay! Ha ha!"


### 18. Câu hỏi số 2


(Ba vị điều hành XX đường hỏi)

"XX nói sẽ làm giảm tuổi thọ của Lư Sư Tôn có đúng không?"

Lư Sư Tôn trả lời:
Tôi vốn không biết việc này. Tôi thực sự nói cho mọi người hay, vào năm 2000 tôi đã đóng cửa ẩn cư, trước năm 2000 tôi và XX đường cũng có giao tiếp qua lại. Tất cả xem ra đều bình thường. 

Từ sau năm 2000 tôi ẩn cư đến năm 2006, rồi liên tục đến nay là 2016, XX và tôi hoàn toàn không có giao tiếp gì.
 
1. XX chưa từng lễ lạy Lư Sư Tôn.
2. XX chưa từng cúng dường Lư Sư Tôn.
3. 16 năm qua tôi cũng chưa từng gia trì cho XX.
4. XX cũng không hề xin tôi gia trì.
 
Bà ta đến tham dự pháp hội của tôi, pháp hội kết thúc thì cũng không thấy đâu nữa. 16 năm qua cũng chưa từng ngồi xuống, nói cho đúng ra thì vị Thượng sư này đến rồi đi rất chóng vánh. Tôi cũng chẳng muốn tìm hiểu về bà ta. Cơ bản là tôi cũng chẳng biết bà ta làm cái trò gì.
 
Từ Nhã Kỳ sư tỷ có một lần cùng bà ta đi gặp luật sư Châu Huệ Phương, bà ta cũng nói với luật sư Châu Huệ Phương rằng:
"Lư Sư Tôn ẩn cư rồi thì tốt nhất là đừng xuất hiện nữa!"
Cái ý tứ là như vậy.

Trước đây Thượng sư Liên Giới cũng nói:
"Lư Sư Tôn ẩn cư rồi thì tốt nhất là đừng xuất hiện nữa, bởi vì xuất hiện cũng không có việc gì, mọi thứ chúng tôi đều có thể làm hết rồi."
Hai vị Thượng sư này thật là giống nhau.
 
Lại nói tiếp, XX đến Phật đường Tôn Bình của Từ Giai Tân làm pháp hội (10 năm trước), nói với đường chủ Từ Giai Tân rằng:
"Cả đời này của tôi rốt cuộc điều hối hận nhất chính là đã quy y ông ta (Lư Thắng Ngạn)."
Từ Tân hỏi:
"Vì sao thế?"
XX đáp:
"Trước khi quy y tôi đã có thần thông rồi!"
Việc này chỉ ra rằng XX có thể xem chuyện âm dương.
 
Còn nữa, Liên Hoa Xuân Phi sư tỷ từng là thị giả của XX, một lần đi máy bay thì cô và XX ngồi cùng nhau. XX suốt cả quãng đường đã chửi những yếu kém của Lư Sư Tôn, chửi từ lúc lên máy bay đến khi xuống máy bay, cả quãng đường chửi không ngừng nghỉ.
XX cũng chửi Thượng sư Liên Hương.
XX lại càng chửi Tông ủy hội.
 
Nói thẳng ra, Thượng sư Liên Hương ngay cả tên của XX cũng chưa từng một lần nhắc đến, Thượng sư Liên Hương cũng không thể hiểu nổi XX chửi mình cái gì nữa.

Tông ủy hội đối với XX này cũng chưa từng một lần nhắc đến tên, nhưng XX cũng chửi bới Tông ủy hội.
 
Tôi thì đương nhiên biết rằng:
1. XX từ lâu đã muốn lập tổ chức riêng.
2. XX luôn luôn muốn tranh giành địa bàn.
3. Chiêu binh mãi mã.
4. An vị quỷ bài ở khắp nơi.
5. Dùng ma quỷ để xem bói. (cũng có linh nghiệm nhỏ)
6. Rất nhiều người bán gia sản đem cho XX.
7. XX thực sự tương ứng với quỷ.
8. XX tu pháp Hộ Ma rất tinh tấn, bởi vì nuôi nhiều quỷ quá, nhu cầu của ma quỷ rất lớn.
9. XX đe dọa để lấy tiền, tham vọng rất lớn.
10. XX nói chuyện nhân quả ba kiếp, tương ứng với quỷ thông, rất nhiều người đã bị mê hoặc.
 
Tôi hỏi:
"XX như vậy thì có thể làm giảm tuổi thọ của Lư Sư Tôn không? Còn khướt mới giảm ấy!"


### 19. Câu hỏi số 3


(Ba vị điều hành XX đường hỏi)

"Trong lễ Hộ Ma pháp Liên Hoa Đồng Tử, Sư Tôn đã nói rằng hôm nay tất cả các vị Liên Hoa Đồng Tử đều sẽ đến họp mặt trên trời, nhưng chỉ có XX là có thể đi?"

Lư Sư Tôn trả lời:
Với sự việc này, chuyện tôi nghe được là XX nói như sau:
XX đã đến Ma Ha Song Liên Trì. Lư Sư Tôn hỏi:
"Vì sao chỉ có ngươi tới?"
XX nói:
"Chỉ tôi là có thể đến được!"
Lư Sư Tôn hỏi:
"Các Liên Hoa Đồng Tử khác thì sao?"
XX nói:
"Những người khác công lực không đủ!"
Ha ha ha! Đúng là một kẻ tự phụ. Lại nói khoác.

Tôi thực sự nói cho mọi người hay:
Ở Ma Ha Song Liên Trì, Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử là chủ tôn, cũng là pháp báo thân của Liên Hoa Đồng Tử. Các vị Liên Hoa Đồng Tử màu sắc khác đều ở đó. Vị Liên Hoa Đồng Tử hạ giáng xuống cõi Ta Bà là ứng thân của Liên Hoa Đồng Tử.
 
Cũng chính là:
Pháp thân của Liên Hoa Đồng Tử.
Báo thân của Liên Hoa Đồng Tử.
Ứng thân của Liên Hoa Đồng Tử.

Liên Hoa Đồng Tử hạ giáng xuống cõi nhân gian Ta Bà đều là ứng thân của Liên Hoa Đồng Tử.
 
Đây cũng chính là tam thân của Phật Thích Ca Mâu Ni.
Pháp thân - Phật Tỳ Lô Giá Na (Vairocana).
Báo thân - Phật Lô Xá Na (Locana).
Ứng thân - Phật Thích Ca Mâu Ni (Sakya Muni).
 
Nếu theo quy tắc tu hành pháp mà nói thì:
Hành giả phải tu thành tựu xuất ra được "báo thân" của mình, lại tu thành tựu xuất ra được "pháp thân" của mình, thì mới có thể đến được Ma Ha Song Liên Trì.

Tôi (Lư Sư Tôn) ở Ma Ha Song Liên Trì, có một vị Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử khác nữa là Bạch Y Thánh Tôn. Bên trái bên phải là các Liên Hoa Đồng Tử các màu sắc khác.

Bởi vì tôi đã chứng đắc.
Nên có thể trở về đó.
Mỗi vị Liên Hoa Đồng Tử khác đều đã chứng đắc. 
Nên có thể trở về đó.
 
Còn ở chỗ tôi đây thì chẳng thấy XX.
Nguyên nhân:
Bà ta không phải là Liên Hoa Đồng Tử.
Bà ta cũng chưa chứng đắc.
Bà ta làm tà pháp.
Bà ta chỉ tương ứng với ma quỷ.
XX làm sao có thể trở về Ma Ha Song Liên Trì đây?
Thật là hoang đường!
 
Do vậy, tôi phát hiện ra: XX vốn chỉ là nói khoác.
Thượng sư Liên Tử nói rất hay: "Nói khoác là sở trường của bà ta."
 
Tôi (Lư Sư Tôn) tuyên bố tại đây rằng:
"XX đến Ma Ha Song Liên Trì cùng Lư Sư Tôn họp mặt hoàn toàn là chuyện bịa đặt, không hề có chuyện này. Tôi chưa từng gặp XX tại Ma Ha Song Liên Trì."
 
Có ai còn nhớ bài kệ này không?
Liên Hoa Đồng Tử kiến kim tiên
Lạc hoa hư không tả hữu toàn
Vi diệu thiên âm vân ngoại thính
Tận thuyết cực lạc thắng chư thiên.

Dịch thơ:
Liên Hoa Đồng Tử gặp kim tiên.
Khắp cả hư không hoa rơi xuống.
Vượt mây nghe tiếng trời vi diệu.
Lời nào tả xiết lạc cõi thiên.
 
XX cùng với đám quỷ tương ứng của phủ XX chẳng có tư cách gì đến Ma Ha Song Liên Trì. 
XX có đến Ma Ha Song Liên Trì không ư? Cứ nằm mơ đi nhé!


### 20. Câu hỏi số 4


(Ba vị điều hành XX đường hỏi)

XX nói: "Ta đã đắc chứng rồi!"

Lư Sư Tôn trả lời:
Phật Thích Ca Mâu Ni đắc chứng thành Phật có một công án:
Khi Phật nhập niết bàn, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát từ hư không hạ giáng nói với Phật:
"Thỉnh Phật trụ thế, lại chuyển pháp luân!"
Phật Đà đáp:
"Ta có chuyển pháp luân à?"
Văn Thù Sư Lợi nghe xong liền giác ngộ.
 
Còn nữa:
Nhị tổ của Thiền tông là Thần Quang lúc đầu gặp Đạt Ma tổ sư.
Thần Quang nói:
"Tâm con phân loạn, không thể an tâm."
Đạt Ma nói:
"Đem tâm của con ra đây, ta sẽ giúp con an!"
Thần Quang nói:
"Con không thể tìm thấy tâm mình."
Đạt Ma nói:
"Như vậy là an tâm được rồi đó!"
Nhị tổ vừa nghe, liền giác ngộ.
 
Còn nữa:
Phật nói:
Tâm của quá khứ không thể nắm được!
Tâm của hiện tại không thể nắm được!
Tâm của tương lai không thể nắm được!
Vậy con người thế gian nắm được tâm gì?
Tôi trả lời: "Không thể nắm được tâm!"
 
Còn nữa:
Một câu quan trọng nhất trong Tâm Kinh là:
"Dĩ vô sở đắc cố, bồ đề tát đỏa."
Tôi nói:
"Ngộ vô sở đắc, đốn đoạn phiền não." (ngộ được cái không thể nắm bắt được, thì chấm dứt phiền não)
 
Còn nữa:
Tôi thường hỏi đệ tử:
Cái gì là không?
Cái gì là có?
Trả lời được thì là giác ngộ. Không trả lời được là chưa giác ngộ.
 
Còn nữa:
Tôi thường nói:
"Ngộ hậu khởi tu (sau khi ngộ ra thì bắt đầu tu hành). Việc này hợp với thứ tự tu hành theo Bồ đề đạo mà Phật nói. Đầu tiên tu tư lương đạo, thứ hai tu gia hành đạo, thứ ba tu kiến đạo, thứ tư tu tu đạo, thứ năm tu cứu cánh đạo."
 
Tôi xem thấy XX tu hành thì là:
1. Thôi miên quan lạc âm. (một pháp thôi miên để dẫn dắt linh hồn người sống đi xuống âm phủ)
2. Tẩy não mê hoặc người ta tin theo.
3. Hộ Ma cúng dường bầy quỷ.
4. Đe dọa tín chúng.
5. Lấy tiền xoay tiền.
 
Bầy quỷ thì biến hóa thành Kim Mẫu, hóa thành Quan Âm, không có gì là không biến hóa ra, thậm chí hóa thành mặt của XX. Kiểu như vậy mê hoặc bà ta cùng đi vào quỷ đạo. Đắc chứng của XX đều là quỷ đạo, quỷ hóa thành XX đi vào trong mơ của tín chúng, tự cho rằng mình đã đắc chứng rồi.
Hóa thân.
Siddhi.
Tịnh độ.
 
Tôi (Lư Sư Tôn) là người có con mắt tinh tường, từ sớm đã nhìn ra XX mê đắm danh lợi, kiêu căng ngạo mạn. XX nói rằng ánh sáng tím thắng ánh sáng trắng, dính mắc vào điều này chứng tỏ là XX chẳng hiểu gì, chưa giác ngộ.
XX tương ứng với quỷ, dựa vào việc tương ứng với quỷ mà cho là đã đắc chứng. Còn kém cả mười vạn tám nghìn dặm nữa mới tới được nhé.
 
XX đắc chứng, thực sự là đắc chứng được "quỷ"!


### 21. Câu hỏi số 5


(Ba vị điều hành XX đường hỏi)

XX nói: "Tôi muốn các pháp sư đều phải mặc thiền y, ai mà không mặc thiền y đều là không nghe theo lời Sư Tôn. Kim Mẫu đang thanh lọc đội ngũ và nói cho tôi biết rằng chỉ người giỏi là được giữ lại thôi."
 
Lư Sư Tôn trả lời:
Nho giáo lấy "tu thân" làm trọng.
Đạo giáo lấy "vô vi" làm trọng.
Phật giáo lấy "tính Không" làm trọng.
 
Tôi thực lòng nói cho mọi người hay, việc mặc y phục chỉ là cái biểu hiện bên ngoài, quan trọng hơn chính là nằm ở Tâm.
Tu thân đến cuối cùng chính là tu tâm.
Vô vi ban đầu cần tự nhiên.
Tính Không ban đầu cần thanh tịnh.
 
Tôi nói:
"Tôi chưa bao giờ yêu cầu các Thượng sư, pháp sư, giảng sư, trợ giảng, đường chủ và các đệ tử thọ giới là buộc phải mặc thiền y cả. Tôi bảo thiền y hay mặc giới y đều được cả.
Theo Phật giáo mà nói thì:
Y phục của Phật giáo Nam truyền là để duy trì y phục từ thời Phật Đà.
Y phục của Phật giáo Bắc truyền thì đã thay đổi, thành tam y, đều mặc giới y.
Y phục của Phật giáo Nhật Bản thì theo kiểu Nhật.
Y phục của Phật giáo Trung Quốc thì đều mặc giới y.
Y phục của Phật giáo Tây Tạng thì đều mặc thiền y.
Nguyên tắc của cá nhân tôi là: "Mặc giới y, mặc thiền y đều có thể được, ai thích gì thì mặc nấy."
XX không phải là người giỏi giang được chọn ở lại.

Ví dụ:
Thượng sư Lạc Trí quanh năm đều mặc thiền y.
Thượng sư Liên Cục quanh năm đều mặc thiền y.
Pháp sư Lị Lị quanh năm mặc thiền y.
XX sao có thể là người giỏi giang nên mới được giữ lại?
 
Tôi nghe nói:
"XX bảo toàn thân của người mặc giới y đều là khí đen."
Thật là nhảm nhí! Phật giáo Bắc truyền đều mặc giới y, lẽ nào tất cả các vị cao tăng đại đức toàn thân đều là khí đen?
 
Tôi thích bài thơ của Đào Hoằng Cảnh.
Sơn trung hà sở hữu,
Lĩnh thượng đa bạch vân.
Chỉ khả tự di duyệt,
Bất kham trì ký quân.

Dịch thơ:
Trong núi có cái gì,
Ngọn phủ đầy mây trắng.
Chỉ riêng ta tận hưởng,
Mà chẳng thể tặng ai.
 
Ẩn sĩ này thì mặc cái gì đây?
 
Còn nữa:
San xuyên chi mỹ, cổ lai cộng đàm.
Cao phong nhập vân, thanh lưu kiến để.
Lưỡng ngạn thạch bích, ngũ sắc giao huy.
Thanh lâm thúy trúc, tứ thì câu bị.
Hiểu vụ tương hiết, viên điểu loạn minh.
Tịch nhật dục đồi, trầm lân cạnh dược.

Dịch thơ: 
Vẻ đẹp núi sông, xưa nay ca ngợi.
Đỉnh cao tận mây, nước trong tận đáy.
Hai bờ bãi đá, ngũ sắc rạng ngời.
Rừng xanh trúc thẳm, bốn mùa sum xuê.
Sương sớm vừa tan, chim kêu vượn hót.
Đêm vừa sụp xuống, cá liền đua bơi.

Vẻ đẹp của sông núi có thể nào cố định không biến đổi đâu?
 
Ở đây tôi muốn nói cho XX biết rằng:
"Kim Mẫu mà bà nói đến cũng là Kim Mẫu do quỷ biến hóa thành. Tất cả những gì bà nói đều là lời của quỷ nói."

Có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn, ngài vốn là một người theo tư tưởng vô vi, còn bây giờ, hà cớ gì mà lại vì mấy chuyện con người thế gian mà bận tâm suy nghĩ?" (*)
Tôi đáp:
"Bởi vì Chân Phật Tông sắp biến thành Chân Quỷ Tông rồi. Nếu tôi không thông báo và hướng dẫn thì lũ ma quỷ ngày càng bành trướng, thực tế sẽ cực kì đáng sợ.”
 
Tôi là người đại nhân đại lượng.
"XX, bà liệu có thể thiêu đốt hết những lũ quỷ mà bà thờ cúng không? Hoặc là giao cho tôi lo liệu mà cải tà quy chính. Còn nếu không thì thật là đáng tiếc! 

Bà đã đọa vào "quỷ thú" rồi, bà đã biến thành quỷ rồi!"


### 22. Câu hỏi số 6


(Ba vị điều hành XX đường hỏi)

"XX nói: Trong pháp hội có người làm pháp hại bà ta, tất cả các vị trong ban điều hành, pháp sư và các tình nguyện viên đều đã bị làm pháp (trù yểm)!"
 
Lư Sư Tôn trả lời:
Tôi nói thẳng cho mọi người hay:
Lư Sư Tôn là người sáng lập Chân Phật Tông, suốt 40 năm nay đã bị vô số người chỉ trích, hủy báng, công kích, chèn ép ác ý, nhưng tất cả đều là vô ích thôi!

Tôi lại còn công bố cả ngày tháng năm sinh của tôi: giờ Ngọ, ngày 18 tháng 5 năm 1945 (năm Dân Quốc thứ 34). 
Chắc chắn có người làm pháp (trù yểm).
Chắc chắn có người xuống để lãnh đạo (tà pháp).
Chắc chắn có người làm việc hại người.
Chắc chắn có người làm phù chú.
Chắc chắn có người tu pháp giết chóc.

Nhưng tôi hầu như chẳng có cảm giác gì. Tôi trước nay không phiền não về những việc thế này bởi vì tôi đã buông bỏ, tôi đã hòa nhập vào biển rộng trời cao, cơ bản là tôi chẳng buồn đi tìm hiểu mấy việc này.
Thứ mà tôi tu là:
Giúp người hạnh phúc - từ vô lượng.
Giải trừ bệnh khổ của con người - bi vô lượng.
Yêu thích và tinh tấn đi khắp nơi hoằng pháp - thiện vô lượng.
Có thể cống hiến cho tất cả chúng sinh - xá vô lượng.

Một người không có lòng sợ hãi, một người cho dù thế nào cũng vui vẻ, một người không tranh giành gì cả, một người không sở hữu gì cả, một người không có giới hạn gì cả, một người hiểu biết vô biên, thì sao có thể phiền não đây?
 
Nhưng con người thế tục không giống nhau, người phàm chưa thoát khỏi những thô tục, người phàm có nhiều phiền não, người phàm không nhìn ra sự thật, người phàm có nhiều bệnh khổ, người phàm không biết mọi thứ đều là huyễn hóa. XX thường bảo có người làm pháp hại người, tất cả mọi người xung quanh đều bị làm pháp, XX đường đều bị làm pháp, việc này có thể chứng tỏ rằng XX vẫn chưa giác ngộ.
 
Phật pháp tóm gọn lại có 12 nhân duyên: vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử.

Con người thế tục quay cuồng trong 12 nhân duyên, bị mắc kẹt trong chúng, không thể thoát ra được. Do vậy XX sẽ bảo mình bị người trù yểm. XX không thể lĩnh ngộ được rằng tất cả những điều này là huyễn hóa, đương nhiên nếu không ngộ ra được thì không thể giải thoát được!
 
Tiền của pháp sư Liên Phổ bị XX lấy đi mất, người đã rời bỏ XX đường rồi mà lúc sắp chết còn nói: "Chết không nhắm mắt, có làm ma quỷ cũng phải bắt XX."

Tiền bạc và nhà cửa của pháp sư Thúy Vy đều đưa cho XX hết, lúc rời bỏ XX đường thì không một xu dính túi, chỉ còn biết xin trú nhờ các phân đường Chân Phật Tông sống nốt những năm cuối đời.
 
Tôi nói:
Người theo chính pháp, sẽ không làm tà pháp.
Người giữ chính niệm, sẽ không làm quỷ pháp.
Ác pháp. Giáng đầu. Đầu độc. Tạo phù. Giết chóc.
Người thanh tịnh vô vi đều sẽ không làm.
 
Tôi nói:
Người nuôi quỷ chắc chắn có quỷ pháp, bởi vì tự mình nuôi quỷ thì mới có thể biết được là có người dùng tà quỷ để hại họ.

Tà pháp, Thượng sư Liên Hương không biết.
Tà pháp, Tông ủy hội cũng không có người nào làm.

Thượng sư Liên Hương, Tông ủy hội thường xuyên bị cá nhân bà ta và phe phái của bà ta chửi mắng. Chỉ có bà ta hại người. Bà ta đọa vào trong cuộc chiến tranh giả tưởng với kẻ thù, tự lừa mình và lừa người khác, là kẻ vừa ăn cắp vừa la làng.


### 23. Câu hỏi số 7


(Ba vị điều hành XX đường hỏi)

XX nói: 
"Lần này XX đường bị Tông ủy hội tuyên bố khai trừ là do văn phòng của Lư Sư Tôn tuyên bố, mọi người đều không có năng lực hiểu biết đánh giá nên Lư Sư Tôn nói rằng làm như vậy đều là vì để bảo hộ cho chúng tôi."
 
Lư Sư Tôn trả lời:
Đầu tiên là tôi cười ha ha ha, tên tiểu tử này quả nhiên biết phao tin đồn nhảm.

Trước tiên tôi sẽ nói thế nào gọi là thiện, thế nào gọi là ác.
Thiện là cống hiến bản thân mình cho chúng sinh. Ác là làm lợi ích cho bản thân.
Thiện là công. Ác là tư.
Thiện là cứu chúng sinh. Ác là hại chúng sinh.
Thiện là thanh tịnh. Ác là bám chấp không buông những vọng tưởng.
…………………..
Tôi quan sát XX:
Bà ta là người vừa ích kỉ vừa tư lợi, tôi từ lâu đã nhìn thấu tính xấu này của bà ta nhưng tôi không tiết lộ ra. Bà ta lập ra một tổ chức tư nhân, chính bà ngay từ đầu đã tách biệt:
Người sáng lập XX đường.
Pháp sư của XX đường.
Năng lực pháp thuật của chính XX.
Phật quốc của chính XX.
Chính quyền của XX đường.

Bà ta vọng tưởng nuốt trọn cả toàn bộ Chân Phật Tông, tống khứ Thượng sư Liên Hương, đánh bật Tông ủy hội.
(Bà ta vọng tưởng rằng bản thân đã vượt trội hơn cả Lư Sư Tôn, đợi thời cơ chín muồi sẽ lật đổ Lư Sư Tôn, tự mình thành bá chủ.)

Lại tách biệt rõ: ánh sáng trắng, ánh sáng tím, nói ánh sáng tím thắng ánh sáng trắng. 

Vọng tưởng rằng đám ma quỷ mà mình nuôi dưỡng đã trở thành "thiện thần", tương lai sẽ thành Bồ Tát, cuối cùng sẽ biến thành một bầy "Phật".
 
Tôi thấy rõ:
Bà ta dùng pháp quỷ, giảng quỷ thông (phép thần thông của quỷ), đã thu hút được một số lượng đông đảo người tin theo, tích lũy của cải, bám chấp mạnh mẽ vào việc xây dựng cõi tịnh độ của bản thân, đánh bại hết thảy các "Liên Hoa", đánh Sư Mẫu, đánh Tông ủy hội. Cuối cùng sẽ phải tống khứ được Lư Sư Tôn, thành tựu "Chân Quỷ Tông"!
Tôi thực lòng nói cho mọi người hay:
Tôi không xây dựng chùa miếu cho mình.
Tôi không mở miệng đòi tiền người ta.
Tôi không đe dọa đệ tử.

Tôi cơ bản là không bám chấp, không phân biệt, không vọng tưởng, tôi thậm chí không phân biệt Nho giáo, Đạo giáo, Thích giáo (tôn giáo của Phật Thích Ca).

Tôi tận dụng mọi sức mạnh để vì chúng sinh, mong rằng chỉ cần sức mạnh của tôi có thể đến được với chúng sinh thì tôi nhất định sẽ giúp đỡ.

Tôi có lòng bao dung với tất cả. Nhưng tôi không thể nào bao dung một XX ích kỉ và tư lợi. Tuy vậy tôi cũng không sắp đặt để trục xuất XX đường, đó là XX tự muốn cắt đứt và tách riêng ra, tự bà ta muốn cắt đứt.

Tôi có bảo hộ XX đường không?
Không! Vì sao?

Tôi dạy rằng trời và người hợp nhất, Phật và người hợp nhất, bổn tôn và ta hợp nhất. Nhưng XX thì nói rằng người và quỷ hợp nhất. Ma quỷ của XX là ác quỷ, hại người ta vô số kể, tự sát, đột tử, sinh bệnh tật, quấy nhiễu, ăn cắp sinh khí,…

Sao tôi có thể che đậy được đây?
Bảo hộ cái gì mà bảo hộ chứ?


### 24. Câu hỏi số 8


(Ba vị điều hành XX đường hỏi)

XX nói:
"Tông ủy hội của Chân Phật Tông luôn luôn muốn bưng bít bà ta, lần này Lư Sư Tôn cắt đứt XX đường chỉ vì muốn cứu lấy pháp mạch của Chân Phật Tông. Thiên ma đã thâm nhập vào trong lòng người thân cận và người trong gia đình của Sư Tôn, nắm được thông tin mật ở trong tay của Tông ủy hội, nội dung trong sách mới xuất bản của Lư Sư Tôn đã bị Tông ủy hội sửa lại rồi, không giống với văn bản gốc."
 
Lư Sư Tôn trả lời:
Cái đoạn nói chuyện này để tôi nói nhỏ nhỏ nhẹ nhẹ vậy nhé!
 
Tôi thường đến Tông ủy hội vẽ tranh, phòng vẽ tranh của tôi ở bên trong Tông ủy hội, tôi chưa từng nghe nói đến chuyện Tông ủy hội bưng bít cho XX. Thậm chí còn chẳng có ai buồn nhắc đến tên bà ta. Mấy năm nay chẳng có ai nhắc đến bà ta cả. Lư Sư Mẫu (Thượng sư Liên Hương) cũng giống như vậy, hai mươi năm nay chẳng nhắc đến tên bà ta một lần nào.
Về cơ bản mọi người đều mặc kệ bà ta đi làm loạn.
 
Còn đối với ý sau, từ lâu tôi đã giải thích rồi, là do tự XX muốn độc lập nên tự cắt đứt bỏ đi. Từ lâu bà ta đã nung nấu ý định lôi kéo người của Chân Phật Tông, lấy tiền để bành trướng bản thân. Bà ta nói muốn cứu pháp mạch của Chân Phật Tông, thật là một sai lầm lớn.

Việc bà ta muốn làm là: pháp mạch buộc chặt vào XX, chiếm địa bàn.
 
“Thiên ma đã xâm nhập vào trong lòng người trong gia đình, vào lòng của người thân bên cạnh Lư Sư Tôn”, câu nói này hay lắm.

XX chính là thiên ma.
Tôi nói cho mọi người hay: 
Miệng rắn trong ống tre.
Trâm trên đuôi ong vàng.
Cả hai đều không độc.
Bằng lòng dạ đàn bà.
Bà ta chính là thiên ma 100%.
 
Tôi lại trả lời tiếp.
Lư Sư Tôn có để lọt thông tin mật vào trong tay của Tông ủy hội không? Lại là một chuyện nhảm nhí quỷ quái.

Lão phu đường đường chính chính, chẳng hề có bí mật nào, làm gì có tin mật nào? Đây gọi là: bắn chẳng có đích! (nghĩa là: nói bừa thiếu suy nghĩ)
 
Tôi lại trả lời tiếp: Tông ủy hội có sửa nội dung sách mà tôi viết không?
Đúng là mẹ nó mà!
Sách của tôi viết, bản thảo đều còn đây, ai có thể sửa?
Đây đúng là: người đui mù nói lời ngu xuẩn.
Tôi viết sách, công ty Văn Hóa Đại Đăng xuất bản, chẳng có liên quan gì tới Tông ủy hội. Sách của tôi viết, có người chỉnh sửa, chẳng lẽ tôi không biết sao?

Còn nữa:
Người học Phật tu hành cần nói như Phật Đà.
Nói lời chân thật.
Không nói lời sai khác.
Nói đúng như nó là.
Không nói lời hư dối.
 
Không giống như XX:
Nói dối.
Nói hư.
Nói vọng.
Nói khoác.
Nói sai.
 
Thêm cho câu này nữa: Nói loạn ngôn.
Loạn ngôn là thế nào? Chính là nói lời hoang đường, nói lung tung vô trách nhiệm. (nói dối trắng trợn, lời nói nặng cả tạ)
Thượng sư Liên Tử nói: "Sở trường của bà ta là nói khoác!"
Câu này nói đơn giản chính là "nói khoác thành thần"!

Lời nói của bà ta dù lộn từ đầu đến chân, từ chân đến đầu thì vẫn toàn là nói dối. Nếu tôi mà là Diêm Vương thì tôi sẽ phạt cho XX vĩnh viễn bị câm.


### 25. Câu hỏi số 9


(Ba vị điều hành XX đường hỏi)

XX nói: "Sư Mẫu mời người đến làm pháp hại Sư Tôn!"
 
Lư Sư Tôn trả lời:
Năm 30 tuổi tôi kết hôn, Sư Mẫu Thượng sư Liên Hương khi đó 26 tuổi, chúng tôi đã cùng trải qua những năm tháng rất dài sống trong khổ cực.

Ban đầu chúng tôi phải sống ở khu vực xây dựng bất hợp pháp, nhà không có phòng tắm, không có bếp, chỉ có một cái vòi nước và một cái vòi gas. Nhà xây dựng trái phép ở trên một rãnh nước.

Sinh ra Phật Thanh, rồi sinh ra Phật Kỳ, một người mẹ cùng khổ nuôi nấng hai đứa con ốm yếu đã chịu đựng những ngày tháng cùng cực như vậy.

Chưa hết:
Lư Phật Thanh bị bệnh khó tiểu tiện rất nặng.
Lư Phật Kỳ bị bệnh tiêu chảy rất nặng.

Đã khám bác sĩ khắp nơi đều không chữa khỏi. Tôi đem theo vợ con ba người họ nay đây mai đó, nay Đông mai Tây, tổng cộng đã chuyển nhà đến năm lần. Thật may tôi có thể xem bói hỏi chuyện từ năm 30 tuổi đến năm 38 tuổi, cuối cùng cũng di cư được sang Seattle nước Mỹ.
 
Tôi thấy Sư Mẫu là người chăm chỉ chịu khó, mọi khổ cực dù lớn đến đâu bà ấy cũng có thể chịu đựng được. Bà ấy có tài năng, mọi việc trong gia đình dù khó đến đâu đều không thể làm khó bà. Bà ấy có trí huệ, đánh giá sự tình rất thông minh tinh tường và chuẩn xác. Bà ấy có tấm lòng hiền đức, tất cả những đức hạnh của người phụ nữ bà ấy đều giữ được, chưa từng làm những việc vượt quá chừng mực. 

Bà ấy có thể quảng đại khoan dung, việc mà người khác không thể khoan dung được thì bà ấy đều có thể làm được. Sự khoan dung của bà ấy, người phụ nữ bình thường khó mà có được.

Bà ấy không ngạo mạn.
Bà ấy không hách dịch.
Bà ấy không hà khắc.
Bà ấy không chạy lồng lộn lên.
Làm việc gì cũng đều nghiêm túc, rõ ràng, chỉn chu, hợp đạo lý.  Một Sư Mẫu như vậy chẳng thể nào mà là người kén chọn. 

Tôi chưa từng nghĩ rằng XX lại chửi mắng bà ấy suốt hai mươi năm, mà thậm chí Sư Mẫu cũng chẳng khi nào nhắc đến tên XX.

Tôi viết một bài kệ nhỏ ca ngợi Sư Mẫu:
Sư Mẫu là một người phụ nữ.
Có tài có trí giàu khoan dung.
Gia đình một tay bà xây dựng.
Tông phái cũng nhờ bà quản lo.
Nếu hỏi tông phái như thế nào.
Thì là nhờ trời cho.
Hey, là nhờ trời.
Là nhờ trời.
Bà xử lý bất kể việc gì.
Đều là nhờ trời cho, trời cho.
 
(Sư Mẫu không tranh giành quyền lực, cũng không theo đuổi lợi lộc, bà ấy chỉ muốn sống những ngày yên ả.)

Sư Mẫu giúp Lư Sư Tôn giải quyết ổn thỏa rất nhiều sự việc khó khăn, hóa giải được rất nhiều hoàn cảnh gian nan và kém may mắn. Ha! Một Sư Mẫu như vậy liệu có kêu người đến để làm pháp hại Lư Sư Tôn không?

Thiên hạ thật khéo đơm đặt. Vượt ra cả sức tưởng tượng của tôi. (nói rõ trắng đen)
 
Sư Mẫu sống theo bát chính đạo:
Chính kiến - không gian tà.
Chính tư duy - tư tưởng trung thực.
Chính ngữ - không nói hai lời, ác khẩu, vọng ngữ.
Chính nghiệp - làm theo Phật dạy.
Chính mệnh - từ người bình thường trở thành thánh hiền.
Chính tinh tấn - tu hành chính xác không sai lầm.
Chính niệm - không đi sai đường.
Chính định - nhất tâm không loạn.
 
Còn như XX thì điều gì kể trên cũng vi phạm, căn bản không phải là người mà là quỷ, không những là quỷ mà còn là ác quỷ. Thật là phi lý! XX mới chính là cái kẻ đi làm pháp (để hại tôi) đó.


### 26. Câu hỏi số 10


(Ba vị điều hành XX đường hỏi)

XX nói:
"Có một sư tỷ ở Hồng Kông nói rằng đã ở bên cạnh Lư Sư Tôn rất lâu, biết được rất nhiều chuyện nội bộ trong tông phái, sẽ ghi chép hết các chuyện xì-căng-đan của tông phái rồi gửi đến cho các phân đường, viết hết các xì-căng-đan của mỗi vị Thượng sư, và sẽ chỉ ca ngợi XX là một vị Thượng sư tốt."
 
Lư Sư Tôn trả lời:
Đệ tử mà ở gần kề bên cạnh tôi thì thực sự không có nhiều, người mà ở cạnh lâu nhất chính là Sư Mẫu. Đệ tử người Hồng Kông của tôi có rất rất nhiều, nhưng thị giả thì lại rất ít, việc này mọi người đều biết.

Thử nghĩ xem nào: sư tỷ người Hồng Kông ư, ở bên cạnh rất lâu ư, thực sự là chẳng có ai như vậy.

Bất kì ai cũng đều biết:
"Sự thật là không có vị sư tỷ người Hồng Kông nào ở bên cạnh tôi rất lâu cả."
Vậy câu nói này của XX là: "Chém gió!", chính là bịa chuyện.
Chúng ta lấy XX làm ví dụ:
Quy y 30 năm.

Ngoài tham gia pháp hội của tôi ra thì chúng tôi không hề có cuộc nói chuyện thân tình nào, không có giao tiếp qua lại. Thậm chí hoàn toàn không có cái gì cả, nhất là 16 năm sau khi tôi ẩn cư.
Không đảnh lễ.
Không gia trì.
Không cúng dường.

Có thể nói là ở bên cạnh tôi rất lâu không? Đương nhiên là chẳng phải, tôi không hiểu XX, XX cũng không hiểu tôi.
 
Những chuyện nội bộ của tông phái, những vụ xì-căng-đan của tông phái, tôi đều không biết, vị sư tỷ kia có thể biết được à? Ngoài việc "chém gió" ra thì XX còn có gì hay hơn để nói không?

Quan sát việc này, tôi tặng cho sư tỷ kia năm chữ: "Thần kinh có vấn đề!" Về sau sư tỷ này thừa nhận là "cô ta tự tưởng tượng ra là mình nghe thấy cảm thấy như vậy!".

Ha ha ha! Thật là bò lăn ra cười.

Đối với một đệ tử tưởng tượng ra là nghe thấy và cảm thấy thì chẳng có lý lẽ gì để mà nói, cứ kệ cho bà ta muốn nói gì thì nói đi, chẳng cần phải hiểu làm gì.

Trong các bản văn (của bà ta) có nhiều mâu thuẫn, (các phân đường) nhận được sách rồi thì chắc cũng ném vào thùng rác thôi.
 
Chỉ ca ngợi XX là một Thượng sư tốt?
Tôi cười đến vỡ cả bụng. Một người cúng quỷ, nuôi quỷ, dùng quỷ mà lại được ca ngợi, có gì đáng để vui mừng đây?

Đối với một người không kính sư, đối với một người quay lưng lại với vị thầy gốc, đối với một người vi phạm các giới luật Mật tông, người vi phạm "Sự sư pháp ngũ thập tụng" thì tôi thực sự không cần phải chỉ trích XX thêm nữa.
Tôi chỉ nói: "Nhân quả tự chịu."

XX trong mắt không coi ai ra gì, kiêu căng ngạo mạn, cơ bản là coi thường các Thượng sư khác chỉ là bởi vì bà ta có năm quỷ đầu mục và một đám quỷ ma thì đã tự cho rằng mình đã đắc chứng rồi!
 
Tôi viết cuốn sách này là có mục đích như sau:
1. Hướng dẫn đệ tử tránh xa khỏi tai họa quỷ.
2. Hướng dẫn đệ tử giải thoát khỏi phiền não.
3. Hướng dẫn đệ tử đi ra khỏi con đường sai lầm.
4. Hướng dẫn đệ tử nhận ra chính pháp.

Để cho các đệ tử Chân Phật Tông tìm được nơi quang minh mà kí thác tâm linh (*), tu được quang minh thanh tịnh, kết thúc những ngày tháng bị mê hoặc bởi ma quỷ. Giống như ánh sáng mặt trời chiếu phủ mười phương, giống như cơn mưa nhỏ tưới đẫm vạn vật.
Có hy vọng!
Không đau thương!
Có mục tiêu!
Không đọa lạc!
 
Cuốn sách này chính là con thuyền cứu mạng quý báu, phóng chiếu những tia sáng rực rỡ khắp năm cõi ác nhơ, cứu độ chúng sinh.

Hỡi những con cừu đang lầm đường lạc lối.
Hãy lên thuyền đi!
(*) Kí thác tâm linh: gửi gắm lòng tin trên phương diện tâm linh.


### 27. Câu hỏi số 11


(Ba vị điều hành XX đường hỏi)

Các vị ban điều hành nói:
"Mỗi người trong ban điều hành sau khi bắt đầu làm việc đều lần lượt phát sinh rất nhiều sự việc, rất nhiều việc đều là thiệt hại tài chính, con người dễ bị mê hoặc, tính tình thay đổi rất nhiều! Không biết nguyên nhân là gì?"
 
Lư Sư Tôn trả lời:
Theo tôi được biết, cha Thượng sư Liên Đông là một người thợ mộc, ông ấy đã từng đến đạo tràng của XX tại Đào Viên Đài Loan. Đạo tràng này thờ cúng tượng vàng năm quỷ đầu mục, là do có người ở Phố Lý (thị trấn ở huyện Nam Đầu) thỉnh người đến khắc tượng để cúng dường.
(Còn tượng vàng năm quỷ đầu mục ở Mỹ là do Trương Nhuệ Minh ở Trung Quốc Đại Lục tìm người điêu khắc.)

Đàn thành của đạo tràng ở Đào Viên là do cha của Thượng sư Liên Đông bố trí trang hoàng, kể từ đó về sau cũng cúng bái nơi đây.

“Vận may” của cha Thượng sư Liên Đông đã bắt đầu.
1. Mất tiền tài.
2. Hôn trầm.
3. Tính tình rất tệ.
4. Toàn thân mắc bệnh.
5. Nhìn thấy ảo giác, nghe thấy ảo thanh.
 
Cha Thượng sư Liên Đông nói ông ta luôn có một suy nghĩ là cạo sạch tóc bốn phía xung quanh trên đầu mình, chỉ để chừa lại một búi tóc trên đỉnh đầu, chính là kiểu để tóc của võ sĩ Nhật Bản.
Quái thai! Quái thai!
Hơn nữa bên tai còn luôn nghe thấy tiếng quỷ đầu mục rằng: "Đi chết đi!"
Oa! Thật là đáng sợ!

Cha của Thượng sư Liên Đông hằng đêm mất ngủ, ngủ rồi thì toàn mơ thấy những cảnh khủng bố.
 
Theo như ví dụ này, tôi nói cho các vị ban điều hành biết, các người đã thực sự gặp phải tình huống như vậy rồi. Cũng đều là: mất tiền, hôn trầm, tính tình biến đổi.
 
Tôi nói cho mọi người biết:
XX thờ cúng toàn là quỷ chết do bạo lực (nguyên nhân khủng khiếp), bao gồm:
Quỷ tự sát.
Quỷ chết bởi đao binh. (Quỷ chết trong chiến tranh thế giới thứ hai.)
Quỷ chết đuối.
Những con quỷ này hỏa khí lớn nên quỷ lực mạnh.
Người nào tiếp cận thì sẽ bị ô nhiễm.
 
Theo tôi được biết, loại ma quỷ này không an tịnh, cũng không an toàn, sẽ không phân biệt thân hay sơ, là lũ ác quỷ không phân biệt (đúng sai, tốt xấu).

Có thể nói như thế này:
Là lũ quỷ có tâm thù hận lớn.
Là lũ quỷ có tâm tức giận cực mạnh.


### 28. Câu hỏi số 12


(Ba vị điều hành XX đường hỏi)

XX nói:
"Phật sống nhỏ tuổi Thubten Siddhi chỉ một năm sau khi được công nhận thì đã không còn pháp lực nữa rồi bởi vì đã bị người ta làm pháp hại."
 
Lư Sư Tôn trả lời:
Đầu tiên tôi phải cười lớn ba tiếng ha ha ha cái đã!

Tôi giải thích như sau:
Tại vùng Tây Tạng, khi một vị Phật sống (Tulku - tái sinh của một vị thành tựu giả) được xác nhận nhận thì đương nhiên là một việc đại sự, rất thù thắng. Nhưng Phật sống thì cũng phải trải qua một quá trình rèn luyện vô cùng gian khổ. 

Trong tiểu sử của ngài Dalai Lama thứ 14 đã trình bày rất rõ quá trình rèn luyện, cho dù là Phật sống ở mức độ cao nhất mà không nghiêm túc học kinh Phật thì cũng sẽ bị thầy giáo đánh, không chỉ là bị đánh mà còn bị đánh rất nặng nữa.

Ở Tây Tạng có câu này rất phổ biến:
"Phật sống cũng phải thi lấy bằng Geshe, nếu không qua được kì thi Geshe thì vị Phật sống này cũng không có được sự kính trọng của mọi người."
 
Có bao nhiêu Phật sống ở vùng Tây Tạng?
Ngài Dalai Lama trả lời rằng đến cả ngài ấy cũng chẳng biết được!

Ở Đài Loan, các tín đồ Phật giáo đã quá đề cao Phật sống, cho họ một địa vị rất cao quý, cúng dường thật nhiều cho họ, cho nên (Phật sống ở Đài Loan) danh lợi đều có!
Vì thế mà Pháp vương Norbu đã nói:
"Đài Loan là cái kết của Phật sống."
 
Các vị Geshe (*) gồm có:
Geshe Lâm Tái, Geshe Thổ Nhiên Ba, Geshe Đa Nhiên Ba, Geshe Lạp Nhiên Ba. Vân vân.
(Trong số các đệ tử của tôi có rất nhiều người là Geshe, ví dụ như Geshe Thiên Tân.)

Thực ra, Phật sống chỉ là một danh hiệu, Geshe cũng chỉ là một danh hiệu, một hành giả bình thường, cũng có thể tu hành thâm sâu, nhưng thành tựu nội tại mới là quan trọng, những cái khác không quan trọng.

Con người thế gian chỉ nhìn thấy biểu hiện bên ngoài. Cái quan trọng đích thực chính là tu hành nội tại. (Giống như Thượng sư Liên Đăng thành Phật.)

Những người này ở ngay xung quanh ta đó! Chỉ là bạn không phát hiện ra mà thôi. (Ví dụ như Thượng sư Liên Hoa Ích Dân thành Phật.)
 
Tôi nêu ra những điều này là muốn giải thích rằng Phật sống không phải là một loại "công lực”. Cái gì mà sau khi được công nhận một năm công lực đã không còn nữa?
Thật chẳng hiểu ra làm sao.
 
XX cho rằng: "Phật sống từ lúc sinh ra đã có công lực rồi!"
Tôi cho rằng: "Đó chỉ là một danh hiệu, chẳng có cái gì là có công lực hay không có công lực!"
 
Như vậy thì bạn đã hiểu chưa? Phật sống cũng cần phải được giáo dục. Thubten Siddhi tiểu Hoạt Phật đã được tôi giao cho Thượng sư Liên Hải làm kinh sư dạy dỗ cậu.
Học kinh sách.
Học Phật pháp.
Học Phật học tri thức.
(Việc học tập này là mãi mãi, sau này cậu mới có thể trở thành tự giác - tự mình giác ngộ, và cao hơn nữa là giác tha - độ cho người khác )

Công lực ư?
XX làm những trò lừa đảo thì được gọi là công lực, nhưng đó chỉ là dùng thần thông của quỷ linh chứ công lực cái gì? Chỉ là tà ma bất chính.
 
Điều quan trọng là:
Sự tỏa sáng của bạn đến từ quang minh của nội tu và quang minh của độ thế, tu hành chính là tu tâm.
Tâm chính quang chính. (sẽ phát ra ánh sáng chính đạo)
Tâm tà quang tà. (sẽ phát ra ánh sáng tà đạo)

Ánh sáng tím của XX thắng ánh sáng trắng, dường như là muốn đua tranh thắng bại, tranh được mất. Tôi ngã lăn ra mà cười mất.

Chúng ta học Phật pháp, nghiêm túc tu hành, đó chỉ là tự giác và giác tha. Còn đạt đến giác hành viên mãn thì đây chính là đạo, cũng chính là quả.

So sánh công lực ư?
Bà thật quái gở đó mà!
Đừng biến việc tu hành thành làm võ lâm đại soái nhé!

- -----------------
Geshe: giống như học vị Tiến sĩ về Phật giáo của Tây Tạng vậy, thường mất hơn 20 năm học, phải thấm nhuần năm ngành học là Bát nhã ba la mật, Trung quán luận, Giới luật, A tỳ đạt ma luận và Lý luận, phải chiến thắng cao nhất trong kì ứng đối tranh luận cuối cùng. Học vị này chỉ có trong dòng Gelug, mũ vàng (Hoàng giáo).
Tự giác giác tha: tự mình giác ngộ và giúp người khác giác ngộ.


### 29. Câu hỏi số 13


(Ba vị điều hành XX đường hỏi)

Ba vị ban điều hành hỏi:
"Trước pháp hội Đại Lực Kim Cương, XX đã luôn nói rằng tông phái (ý nói Chân Phật Tông) sẽ tìm người giết bà ta và đánh các Pháp sư, nên XX đã yêu cầu các vị trong ban điều hành và con cái của họ tìm người bảo hộ. XX nói rằng ở Đài Loan có những đồng môn với phẩm tính phàm phu muốn tìm người đánh bà ấy có phải không?"
 
Lư Sư Tôn trả lời:
Gần đây có một bài hát được lưu truyền, ca từ do Hiểu Hà viết, Ngụy Ninh và Hiểu Hà hợp ca, lời ca như sau: (dịch nghĩa)
 
Những con trùng (dòi) trên người sư tử ăn thịt sư tử.
Căn bản Thượng sư khó bị nhiễm quỷ ma.
Khi xuất hiện là thân Phật thì tài mệnh đã định.
Nhúng tay vào sự thối nát của tông phái tông môn.
Kẻ nói lời ác gây nên tội phá vỡ sự hòa hợp giữa tăng chúng
Mập mờ với dòng truyền thừa khi cầu thỉnh quỷ ma.
Không giữ gìn giới tam muội.
Cuối cùng đồng môn cũng nhìn rõ sự phá hoại này.
 
Còn nữa:
Phật tôi từ bi không tranh đấu.
Chẳng nghĩ quay đầu lão thực tu.
Nay lòng phẫn nộ bèn đứng dậy.
Chuyện cũ khó lòng mà bỏ qua.
 
Còn nữa:
Làm điều bất nghĩa chết gần kề.
Đại Lực Kim Cương ngăn quỷ chú.
Cắt đứt bầy lũ bám yêu ma.
Bảo hộ Thượng sư cùng tông giáo.
(Om guru lian-sheng siddhi hum)
 
Bài hát này đã nói rõ hết mọi hành vi của XX.
 
Tôi lấy ví dụ hai sự việc sau:
XX cùng với một vị thị giả đồng môn cùng đi trên một chuyến bay, ngồi chỗ cạnh nhau. Từ lúc máy bay cất cánh đến lúc máy bay hạ cánh, XX đã liên tục nói đủ mọi lời cay độc khó nghe, chửi mắng Lư Sư Tôn. Đây là chuyện do Liên Hoa Xuân Phi kể lại.
 
Còn nữa:
XX nói với Liên Hoa Giai Tân - đường chủ của Tôn Bình Phật Đường ở Malaysia.
"Việc tôi hối hận nhất trong đời này là đã quy y ông ta (Lư Sư Tôn)."
Giai Tân hỏi:
"Vì sao vậy?"
XX đáp:
"Bởi vì trước khi tôi chưa quy y thì đã có thần thông rồi."
(Ám chỉ đến việc quán lạc âm.)
 
Cuộc đối đáp này đã xảy ra 10 năm trước. Mọi người thử nghĩ xem việc này là sao? Đây chính là phạm giới. (Giới thứ nhất trong 14 giới: hủy báng Căn bản Thượng sư, vứt bỏ tự tính.)

Phá vỡ giới tam muội, một vị Thượng sư phá giới, gây ra nhiều vụ xì-căng-đan như vậy, khi sự việc còn chưa vỡ lở ra và trong lòng bà ta vẫn còn sợ hãi thì tự nhiên sẽ nói:
Có người sẽ giết bà ta?
Có người sẽ đánh bà ta?
Đánh Pháp sư?
Đánh các thành viên trong ban quản trị và con cái của họ?

Thực sự có phải như vậy không? Chúng ta mà phải hạ mình như vậy à, xin hãy xem lời bài hát:
Phật tôi từ bi không tranh đấu.
Chẳng nghĩ quay đầu lão thực tu.
 
XX thờ cúng năm con quỷ.
Hoàng Kim Tuyền. 
Lâm Lương Tri.
Kobayashi.
Watanabe Ichiro.
Nakamura Kazumu.
(Tạc tượng vàng để thờ cúng, treo bài vị vàng.)

Xin hỏi: Phật Thích Ca Mâu Ni có dạy bạn đi lạy quỷ không? Lư Sư Tôn tôi có kêu bạn đi lạy quỷ không?

XX đã biến Chân Phật Tông thành Chân Quỷ Tông rồi. Tôi không cứu bạn thì ai cứu bạn?
Mau quay đầu đi!
Nếu không bạn sẽ biến thành "ma thần tử" đó!


### 30. Câu hỏi số 14


(Ba vị điều hành XX đường hỏi)

Ba vị đổng sự hỏi:
"Pháp sư Liên Cửu từng gọi điện thoại cho XX yêu cầu bà ta dẫn các Pháp sư và đồng môn đi sám hối với Lư Sư Tôn, XX nói, không làm gì sai vì sao phải sám hối?"
 
Lư Sư Tôn trả lời:
Biến mặt Lư Sư Tôn thành mặt của XX.
Tự cho rằng mình là người sáng lập XX đường.
Biến một số Pháp sư thành Pháp sư của bà ta.
Tại nhà người khác thì ngồi ghế trên, Pháp sư (người xuất gia) thì ngồi phía dưới.
Kêu mọi người quán tưởng XX trụ tại đỉnh đầu.
Ngồi vào ghế giảng pháp của Lư Sư Tôn.
Tuyên bố chỉ có bà ta đến được Ma Ha Song Liên Trì gặp Lư Sư Tôn.
Lấy một số Pháp sư và đồng môn phân loại ra là của riêng mình.
Hơn 10 năm không đảnh lễ Sư Tôn.
Hơn 10 năm không cúng dường Sư Tôn.
Hơn 10 năm không nhận sự gia trì của Sư Tôn.
Hơn 10 năm không báo cáo pháp vụ.
Chỉ trích hủy báng Tông ủy hội và Sư Mẫu.
Hủy báng Lư Sư Tôn sau lưng.
Tự cho là có cõi tịnh độ của riêng mình.
Tự cho là chính mình đã khai ngộ.
Tự cho là chính mình đã chứng đạo.
Tự cho là ánh sáng tím thắng được ánh sáng trắng.
Tự cho là đã xây dựng Lôi Tạng Tự ở trên trời.
Tự cho là mở trường học ở âm phủ.
Người rời bỏ bà ta thì sẽ xuống Kim Cương địa ngục.
Người không nghe theo bà ta thì cả nhà sẽ chết hết.
Có thể siêu độ người thành Phật.
Cúng dường năm quỷ đầu mục và bầy quỷ.
Đảnh lễ ma quỷ.
Dùng ma quỷ để xem bói hỏi việc.
Dạy người ta đi cầu quỷ.
Bí mật đặt bài vị quỷ ở các chùa, đường, hội.
Khiến người ta chết bất thình lình.
Khiến người ta tự sát.
Khiến người ta tâm thần thất thường.
Chiếm địa bàn trong tông phái.
Đe dọa người khác.
Kêu người ta ly hôn.
Kêu người ta phá thai.
Kêu người ta bán con cái.
Kêu người ta bán tài sản, nhà đất để cúng dường bà ta.
Xúi giục khích bác.
Ly gián.
Xúi giục giết người.
Chiếm đoạt tiền một cách thô bạo.
Mở mồm ra là nói phét.
Lừa gạt dối trá người ta về nhân quả ba kiếp.
Lừa gạt dối trá người ta về oan gia trái chủ.
Lừa gạt người ta rằng kiếp trước họ thế này thế nọ, lừa gạt rằng kiếp này họ phải thế nọ thế kia.
Lừa gạt rằng người mặc giới y đều là khí đen.
Lừa gạt rằng ai đi gặp Lư Sư Tôn xin hoàn tịnh thì sẽ bị xuống Kim Cương địa ngục.
Tôi vẫn còn chưa nói pháp thì bà ta đã chỉ trích.
Đòi độc lập, lại vẫn đòi sự gia trì của dòng truyền thừa.
Không có tâm buông bỏ.
Ngập chìm trong biển tham sân si.
Chống lại các quy tắc của Tông ủy hội.
Vi phạm 14 đại giới cơ bản của Mật giáo.
Phạm vào Sự sư pháp ngũ thập đại tụng.
Phạm năm giới, mười giới, tất cả mọi giới luật, vi phạm Bồ Tát giới tại gia.
v.v.

XX tự cho là mình chẳng sai gì? Tôi nói rằng đã sai quá mức giới hạn rồi, sai lung tung lộn xộn rối rắm cả lên rồi.

Xin mời XX tự mình đọc cuốn sách "Bảo kiếm của một Yogi" một chút, cuốn sách này là những lời răn dạy của Bạch Không Hành Mẫu.

Tự cho mình là đắc chứng. Quá kiêu căng ngạo mạn rồi!
Tôi nói: "Bà đã đắc chứng thành Đại Vương Nói Láo rồi đó!"


### 31. Câu hỏi số 15


(Ba vị điều hành XX đường hỏi)

XX nói:
"Con trai lớn của tôi nắm giữ được thông tin mật của Chân Phật Tông, nếu như để lộ ra thì Chân Phật Tông sẽ tiêu đời!"
 
Lư Sư Tôn trả lời:
Trước tiên tôi nhận định rằng: đây là một lời đe dọa!
Ở đây là XX cho rằng tôi không thể nói gì, không thể mở miệng, nếu không (thông tin mật) mà lộ ra thì Chân Phật Tông sẽ chết sạch.
 
Ai ai cũng đều biết tôi có tính cách chống đối, nổi loạn. Người ta dùng vũ lực áp bức, tôi không sợ. Người ta mà mềm mỏng thì tôi lại sợ!
 
Cá nhân tôi cho rằng Chân Phật Tông mà chết hết sạch là chuyện không thể nào xảy ra, bởi vì tôi có tới 500 vạn đệ tử, có hàng trăm Thượng sư, có hơn 50 ngôi chùa Lôi Tạng Tự, có hơn 300 trung tâm hoằng pháp.

Các Thượng sư trụ trì tự viện đều có đều phạm vi ảnh hưởng của riêng mình. Chúng ta lập hệ thống phân quyền xuống địa phương, không phải là hệ thống tập trung quyền lực tại trung ương. Cho dù Lư Sư Tôn có chết đi, trung ương có bị lật đổ thì các địa phương của Chân Phật Tông cũng sẽ không bị ảnh hưởng gì. Đây chính là lý do vì sao mà Chân Phật Tông không thể nào chết sạch được.
 
Lại lấy một ví dụ.
Một đệ tử Chân Phật Tông tên Dương Chung sư huynh có vợ làm việc tình nguyện tại tổ chức của XX trong ba năm. 
Dương Chung sư huynh kể:
Vợ bị ma quỷ quấy nhiễu.
Vợ thân tâm đau yếu, khổ sở vô cùng, luôn luôn sống chẳng bằng chết, luôn có suy nghĩ muốn tự sát.
XX kêu vợ của Dương Chung ly hôn.
Bán hết gia sản đến San Francisco.

Trò lừa bịp này lúc nào cũng là như vậy.
 
Còn nữa:
Bác sĩ K. ở Chicago cũng giống như trên, bán hết gia sản đến San Francisco cúng dường hết cho XX. Nếu bác sĩ K. không làm thế thì bà ta sẽ dùng quỷ đi bắt ông ta, khiến cho ông gặp tai nạn mà chết.
 
Còn nữa:
Đường chủ họ Liệu của hội đồng tu Hoa Liên cũng giống như vậy. Bán sạch gia sản đến San Francisco, đi xong rồi lại quay về, nhà đã mất, nghề nghiệp không có, không biết nên sống ra sao?
 
Những ví dụ như thế này rất nhiều rất nhiều. Ly hôn, bán hết gia sản. Đi theo phục tùng XX. 

Thầy giáo Chu dạy vẽ tranh cũng vậy: ly hôn, bán hết gia sản, từ đó tinh thần bị quấy nhiễu, mất nhà hại thân.
v.v.
 
Tôi xin hỏi XX:
"Có phải bà muốn tôi Lư Sư Tôn cùng với Lư Sư Mẫu ly hôn không? Sau đó tôi sẽ bán hết sạch gia sản để đi theo bà. Sau đó tôi sẽ bị năm quỷ đầu hút hết tinh khí, tâm thần thất thường. Rồi sau đó, Chân Phật Tông sẽ chết hết sạch?"

Nói cho bà biết:
Chân Phật Tông sẽ không chết sạch.
Bà cũng sẽ chẳng chết sạch.
Tôi đã vạch trần chân tướng của bà nhiều như vậy nhưng bà cũng chẳng chết sạch đâu.
Bởi vì Lư Sư Tôn tôi biết:
Ngay cả một đống phân to thì cũng có cả một lũ ruồi hâm mộ!


### 32. Câu hỏi số 16


(Ba vị điều hành XX đường hỏi)

XX nói:
"Bây giờ là lúc so tài công lực rồi!"
 
Lư Sư Tôn trả lời:
Trước tiên tôi sẽ ngâm một bài thơ.
 Lá rơi buồn, liên miên lớp lớp rơi.
Rơi rồi bay, dọc ngang mãi lìa cành.
Lá rơi buồn, người buồn nhìn lá rơi.
Người cũng vậy, héo tàn chẳng thể giữ.
Lá rơi buồn, lá rơi đến khi nào?
Sớm lìa khỏi cây rồi, còn chút nào liên quan.
 
Bài thơ này chính là nỗi lòng của tôi.
Đời người như vậy.
Có gì đáng so?
 
Tôi thích thơ của Đào Hoằng Cảnh.
Sơn trung hà sở hữu.
Lĩnh thượng đa bạch vân.
Chỉ khả tự di duyệt.
Bất kham trì tặng quân.
(Bài thơ này có tên gọi là Chiếu vấn sơn trung hà tửu hữu phú thi dĩ đáp.)

Dịch thơ:
Trong núi có gì nhỉ?
Đỉnh phủ đầy mây trắng.
Chỉ riêng mình tận hưởng.
Chẳng thể tặng cho ai.
 
Còn nữa: (bài thơ của Lư Sư Tôn)
 San xuyên chi mĩ, cổ lai cộng đàm.
Cao phong nhập vân, thanh lưu kiến để.
Lưỡng ngạn thạch bích, ngũ sắc giao huy.
Thanh trúc thúy lâm, tứ thì câu bị.
Hiểu vụ tương hiết, viên điểu loạn minh.
Tịch nhật dục đồi, trầm lân cạnh dược.
 
Dịch thơ:
Vẻ đẹp núi sông, xưa nay ca ngợi.
Đỉnh cao tận mây, nước trong tận đáy.
Hai bờ bãi đá, ngũ sắc rạng ngời.
Rừng xanh trúc thẳm, bốn mùa sum xuê.
Sương sớm vừa tan, chim kêu vượn hót.
Đêm vừa sụp xuống, cá liền đua bơi.
(Bài thơ thứ hai là một bài thơ nói về cái đẹp của ẩn cư, là tôi lúc ẩn cư buông theo tự nhiên, ý thơ tự nhiên mà nên.)
 
Tôi lấy cuộc đối thoại giữa Đạt Ma tổ sư và Lương Vũ Đế.
 
Tiêu Diễn nói: (*)
"Trẫm từ khi lên ngôi đã dựng nên bao nhiêu chùa chiền, đúc nên bao nhiêu tượng Phật, viết nên bao nhiêu kinh thư, độ cho bao nhiêu người xuất gia, những việc này có thể coi là công đức không?"
Đạt Ma đáp:
"Bệ hạ chẳng có công đức."
"Vì sao vậy?" - Tiêu Diễn kinh ngạc.
Đạt Ma đáp:
"Đây chỉ là những chuyện quá nhỏ nhặt, là chuyện vốn phải thế, giống như hình với bóng, chẳng phải là công đức thực sự."
"Thế công đức thực sự là cái gì?"
Đạt Ma đáp:
"Thanh tịnh, trí huệ, vi diệu, không tịch, đây mới là công đức."
Tiêu Diễn hỏi:
"Thế ý nghĩa thứ nhất của thánh đế là gì?"
Đạt Ma đáp:
"Không tịch vô thánh."
Tiêu Diễn nóng mặt hỏi:
"Rốt cuộc trước mặt Trẫm là kẻ nào?"
Đạt Ma đáp:
"Không biết!"
 
Tôi (Lư Sư Tôn) mượn câu chuyện của Đạt Ma tổ sư để trả lời XX.
XX tự cho mình là có đại công lực.
Tôi thấy: Chỉ là quỷ thông mà thôi! (*)
Quỷ thông thì có năng lực gì? Chẳng qua là xem bói hỏi chuyện một chút để giúp cho bà câu một mớ tiền.

Còn Lư Sư Tôn tôi một chút công lực cũng chẳng có, một chút công đức cũng chẳng có.
Tôi vô tâm.
Tôi vô vi.
Tôi vô sự.
Tôi thậm chí vô chứng.
Tôi lấy "vô vi" mà điều hành Chân Phật Tông, tôi là vô vi đạo nhân, có hiểu không?

Bà có công lực, tôi chẳng có công lực, thì so bì thế nào? Tôi là người im lặng cô độc, chẳng biết cái công lực mà bà nói đến là cái gì? Chẳng biết bà so bì công lực cùng ai?
 
Hôm nay, nếu như chẳng phải là vì quỷ ma hoành hành nên tôi mới xuất núi, chủ yếu là: để xem xem bà có còn thuốc chữa hay không.

(*) Tiêu Diễn: tên húy của Lương Vũ Đế.
(*) Quỷ thông: thần thông của ma quỷ.


### 33. Câu hỏi số 17


(Ba vị điều hành XX đường hỏi)

Các vị ban điều hành hỏi:
"Năm 2015 làm thành viên ban quản trị, XX nói sẽ lấy 20% tiền thu được từ mỗi lần làm pháp hội đem cúng dường Sư Tôn, không biết Sư Tôn có nhận được hay không?"
 
Lư Sư Tôn trả lời:
Năm 2000 tôi đã đóng cửa ẩn cư.
Từ năm đó trở đi đến năm 2016 là tổng cộng 16 năm, tôi không nhận được đồng cúng dường nào từ XX.
(Cho đến một lần XX yêu cầu tách ra hoạt động độc lập thì lần đó mới đưa một chút ít tiền cúng dường.)
Ha ha ha! Tôi nói thật đó.
 
Có đệ tử của XX đường hỏi tôi:
"Mỗi dịp năm mới, lễ tết hoặc là sinh nhật Sư Tôn, chúng tôi đều cùng kí tên vào thiệp chúc mừng sinh nhật hoặc thiệp mừng năm mới, Lư Sư Tôn có nhận được không? Ngoài ra mỗi người chúng tôi đều gửi một khoản cúng dường nhỏ, Sư Tôn có nhận được không?"
Tôi đáp:
"Một tấm thiệp và tiền cúng dường đều không có."
Tôi nói:
"Nếu như nhận được tiền cúng dường, tôi sẽ gửi thư kí tên xác nhận, các vị có nhận được chữ kí của tôi không?"
Đệ tử của XX đường đáp:
"Không có."
Tôi nói:
"Bị ăn chặn mất rồi!"
 
Lại có người ở đồng tu hội Sa Uy hỏi:
"Đồng tu hội có cúng dường Lư Sư Tôn, không biết Lư Sư Tôn có nhận được không? Chúng tôi gửi cúng dường cho XX thay mặt gửi đi."
Tôi nói:
"Bị ăn chặn mất rồi!"
Tôi đã từng nói rồi, từ khi tôi ẩn cư đến năm 2016, tôi không nhận được một chút cúng dường nào từ XX.
 
Nói thật lòng, tôi cũng chẳng để ý đến chuyện không nhận được cúng đường, chỉ là mọi người hỏi thì tôi mới trả lời. Tôi từng nói thế này:
Một chút một xíu cúng dường của đệ tử cũng đều là sự bố thí trân quý, đó là từ bi hỷ xả. Từ bi hỷ xả. Từ bi hỷ xả thăng hoa thành đại từ đại bi, có được tấm lòng đại từ đại bi rồi thì tất cả mọi công đức đều có được.
Tôi luôn đem công đức dành cho hội từ thiện Lư Thắng Ngạn, lấy tiền cúng dường để dùng vào các việc như: giáo dục, xây dựng, cứu nạn, cấp cứu.
(Mọi người có thể xem trang web của hội từ thiện Lư Thắng Ngạn sẽ thấy rất rõ ràng.)
 
Sư phụ của tôi từng bảo với tôi như thế này: Không thể mở miệng ra đòi tiền người ta! Nhớ cho kĩ! Nhớ cho kĩ!

Còn nói:
Có nơi bám chấp tất có đau khổ.
Không cần nghĩ nhiều về tương lai thế này thế nọ.
Đừng đi tìm cầu những thứ bên ngoài (cúng dường).
Phải trong sạch.
Phải thanh liêm.
Tự ý thức thì mới có thể sản sinh.

Hành giả mà mong cầu quá nhiều thì chỉ thêm lao tâm khổ tứ.
Không mong cầu gì cả, không gây nên việc gì, kết quả là sẽ tự nhiên thành tựu.

Tâm, Phật, chúng sinh ba thứ không khác biệt, cả ba thứ cũng đều là hư không.
Phải lĩnh ngộ được Phật tính là: hư không. Vô ngộ, vô mê, vô thánh, vô phàm, vô thí, vô thụ. 
(Ý đế thứ nhất)
 
Tôi muốn nói cho XX biết rằng:
Đừng cho rằng xây ngôi chùa Lôi Tạng Tự to nhất thì là có công đức lớn nhất. Cái cần phải xây chính là "Tâm", là "Không".

Bà có nhiều tiền như thế cơ mà, vì sao vậy?


### 34. Câu hỏi số 18


(Ba vị điều hành XX đường hỏi)

XX nói:
"Năm đó mua “từ thiện” được mũ pháp vương của Lư Sư Tôn, mũ do chính Lư Sư Tôn đội, điều này có ý nghĩa là trao truyền pháp."
 
Lư Sư Tôn trả lời:
Đó là lúc truyền pháp Uế Tích Kim Cương.
Địa điểm tại quảng trường Madison ở New York.
Tôi bán từ thiện chiếc mũ pháp vương để giúp đỡ cho Kim Cương Lôi Tạng Tự hoằng pháp. XX đã mua được mũ đó.

Khi tôi đưa mũ pháp vương cho bà ta, bà ta yêu cầu tôi đội lên đầu cho bà, tất nhiên là tôi đội mũ lên đầu cho bà ta. Do đó mà XX nói: "Đây là trao truyền pháp!"

Tôi thực sự nói cho mọi người hay: "Tôi chẳng hề có ý đó, chỉ có bà ta tự nghĩ thế, vậy thôi."
 
Còn nữa:
Có một đệ tử hỏi:
"Lư Sư Tôn, ngài chẳng phải là viết một bài kệ tên là "Thiên Long Bát Bộ chúng hộ trì X Liên Hoa Đồng Tử" sao? Ngài nói sao về việc này?"
Lư Sư Tôn trả lời:
Năm đó là khi tôi đến thăm XX đường. Bà ta thỉnh tôi viết bảo mực. (*)
Tôi ngẫm nghĩ một chút rồi cầm bút viết.
XX nói: "Tôi đọc câu này, ngài viết nhé."
Tôi nói: "Được!"
XX nói: "Ngài hãy viết: Thiên Long Bát Bộ chúng hộ trì X Liên Hoa Đồng Tử."
 
Tôi sững người lại!
Cần viết như vậy sao? Tôi cân nhắc một chút, thế rồi liền viết. Bởi vì tôi nghĩ đến việc Thiên Long Bát Bộ là hộ trì Phật pháp, chỉ cần là đệ tử thực sự học Phật, Thiên Long Bát Bộ đương nhiên sẽ hộ trì.
 
Tôi nói:
Hễ là đệ tử Chân Phật, Thiên Long Bát Bộ đều có lời nguyện hộ trì. Cho nên tôi đã quyết định viết như vậy!
Đương nhiên Thiên Long Bát Bộ không chỉ hộ trì cho mỗi bạn, chỉ cần là người học Phật chân chính thì họ đều hộ trì hết cả. Đây chính là điều tôi nghĩ đến. Cho nên tôi đã viết, việc này không phải để bao bọc cho một mình bà ta mà cũng giống như là bảo hộ toàn bộ các đệ tử Chân Phật.
Là như vậy đó.
Đã hiểu chưa?
(Việc này Thượng sư Liên Ấn ở cạnh cũng đã thấy, XX đọc một câu, tôi viết một câu, ha ha ha!)
 
Hơn mười năm trước tôi thường khen ngợi bà ta, việc này để xoa dịu XX với hy vọng rằng bà ta:
Đợi đến sau khi tôi ẩn cư thì bà ta mới tách riêng ra.
Đợi đến sau khi tôi chết thì bà ta mới tách riêng ra.

Tôi đã sớm biết XX muốn lập cờ hiệu riêng, nhưng việc xoa dịu vô hiệu, rốt cuộc XX cho rằng: bà ta đã điều khiển được toàn bộ mọi tình hình của Chân Phật Tông rồi.
Tình hình cực tốt.
Có được sức mạnh.
Hét một tiếng là có thể đứng trên đầu nói làm vua rồi!
 
Tôi (Lư Thắng Ngạn) vốn nghĩ để cho XX lãnh đạo Chân Phật Tông thì cũng không tệ, nhưng bà ta lại chẳng đẩy mạnh Phật pháp, mà lại đẩy mạnh quỷ pháp.

Bà ta đem toàn bộ các chùa, đường, hội trên toàn thế giới đem khai quang gia trì thành "miếu quỷ", việc này tôi không cho phép. 

Lại còn đem sắp đặt bài vị quỷ vào điện Địa Tạng ở các chùa, đường, hội, đây cũng là việc tôi không cho phép. Bà ta liên tiếp nói dối, tôi không cho phép.

(*) Viết bảo mực: viết để lưu lại bút tích quý giá.


### 35. Câu hỏi số 19


(Ba vị điều hành XX đường hỏi)

Các vị điều hành nói:
"Khi ban quản trị họp thì thấy sổ sách kế toán luôn luôn không rõ ràng, đặc biệt là các khoản tiền ủng hộ lớn."
 
Lư Sư Tôn đáp:
Những việc kiểu này là chuyện nội bộ của XX đường, tôi chẳng bình luận. Bởi vì tôi không hiểu, cũng không muốn biết các hoạt động về tiền bạc. 
Nhưng tôi đương nhiên biết rằng:
Rất nhiều người bán nhà cửa đem tiền cho XX.
Rất nhiều người bán đất đai đem tiền cho XX.
…
Chỉ vậy thôi.
Tuy vậy, để tôi kể một câu chuyện cổ của Tây Tạng nhé!

Có một vị Hoạt Phật tên là Patrul (*), ngài đi đến chùa Cát Đóa để khai thị Phật pháp. Trụ trì của ngôi chùa đó là một vị đại lama, tên là Cát-Đóa-Tích-Đỗ.
Sau khi khai thị xong, Cát-Đóa-Tích-Đỗ mời Patrul Hoạt Phật đến nhà riêng để ăn cơm. Nhà riêng của vị lama này vô cùng rộng rãi. 
Rất hoành tráng.
Rất lộng lẫy.
Rất có phong cách.
Giống như hoàng cung vậy.
Thảm đều được dệt từ da hổ báo.
Có rất nhiều rương hòm đựng đồ quý báu.
Hết hòm này tới hòm khác.
Có một hòm toàn là các pháp khí bằng vàng.
Có một hòm đầy tiền mặt.
Có một hòm toàn là quần áo bằng vải xa-tanh được may tinh xảo.
Có một hòm toàn là đồ cổ.
Có một hòm toàn là đồ thất trân bát bảo.
Có một hòm toàn là kim cương.
Chúng chất cao như núi.

Trong dinh thự rộng lớn này, người hầu hạ đông như một đội quân, có những người hầu là các cô gái Tây Tạng trẻ trung xinh đẹp, lại có cả vũ nữ để mua vui.

Vị đại lama Cát-Đóa-Tích-Đỗ sống trong dinh thự hoành tráng mĩ lệ này giống như một hoàng đế.

Lama Cát-Đóa-Tích-Đỗ phô trương sự giàu có của ông ta.
 
Ông ta hỏi Patrul:
"Ngài thấy thế nào?"
Patrul đáp:
"Giống như con voi đeo đầy vòng cổ bằng ngọc trai ngọc thạch."
Cát-Đóa-Tích-Đỗ nghe xong biết rằng có ẩn ý trong lời nói của Hoạt Phật, ông ta liền cảm thấy rằng không nên khoe mẽ sự giàu có trước mặt Hoạt Phật nữa.
 
Patrul nói:
"Tôi chỉ có một cái bát, một cái túi đeo lưng, bên trong đựng những vật dụng hàng ngày mà thôi, có bữa ăn có bữa không ăn, có bữa ngủ có bữa không ngủ."
Patrul Hoạt Phật là một đạo sĩ yoga lang thang.
Patrul Hoạt Phật nói:
"Tôi cái gì cũng chẳng có, có duy nhất trời và đất thôi!"
 
Cát-Đóa-Tích-Đỗ lama nghe xong rất xấu hổ.
Cuối cùng ông ấy dứt khoát rời bỏ chùa miếu và tất cả tài sản.  Từ bỏ luôn cả kẻ hầu người hạ, Cát-Đóa-Tích-Đỗ lama từ bỏ cuộc sống hưởng thụ đi vào trong núi sâu, một mình sống đơn giản. Cuối cùng ông ta đạt được sự tịnh hóa tâm linh, trong lòng rất an bình.
 
Tôi thực sự nói cho mọi người hay:
Tôi đầu tư toàn bộ tiền vào xây dựng Biệt thự Cầu Vồng xa xỉ, sau đó đem toàn bộ quyền sở hữu đăng kí dưới tên của Thượng sư Liên Ấn, Cầu Vồng Lôi Tạng Tự đều thuộc về quyền sở hữu của Thượng sư Liên Ấn.

Do vậy, tôi đã tặng hết cho Thượng sư Liên Ấn một ngôi chùa và đất đai rộng lớn.
 
Xin hỏi: Ai có thể làm vậy?
Thử nghĩ xem, bạn đang theo đuổi cái gì?

(*) Patrul: Peltrül Orgyen Jikmé Chökyi Wangpo Rinpoche (1808 - 1887)


### 36. Câu hỏi số 20


(Ba vị điều hành XX đường hỏi)

XX nói:
"X Lôi Tạng Tự từng bị Tông ủy hội chiếm mất, nhưng về sau lại bị XX lấy lại."

Điều tôi nghe được là:
"X Lôi Tạng Tự bị Tông ủy hội chiếm mất, nhưng rồi lại lấy lại. Hiện nay Tông ủy hội lại muốn chiếm mất. Các bạn có sẵn lòng để bị chiếm mất không?
Tín chúng ở phía dưới nói: "Không muốn, đó là chùa được xây bằng tiền do chúng tôi tự quyên góp."

Lư Sư Tôn trả lời:
Lại ăn nói hàm hồ!
Một đống nhảm nhí!
Đây thực là lời nói dối lừa con nít.

Chỉ cần có một chút hiểu biết là thấy, tất cả mọi nhà cửa đất đai, đăng kí dưới tên của một người, hoặc dưới tên một tổ chức, thì sẽ thuộc về người đó hoặc tổ chức đó sở hữu.
Bất kì người nào khác cũng chẳng lấy đi được.
Kể cả là Tông ủy hội cũng chẳng lấy đi được.
Bản thân tôi chưa từng nghe nói đến việc Tông ủy hội lấy đi dù chỉ một cái kim sợi chỉ của X Lôi Tạng Tự.
 
Tông ủy hội không có cảnh sát.
Tông ủy hội không có quân đội.
Tông ủy hội không phải là quan tòa.
Tông ủy hội không phải là tòa án.
 
Xin hỏi: 
"Tông ủy hội dùng lực lượng nào để đi lấy chùa của người ta, họ có quyền lực gì?"
 
Tông ủy hội chỉ là một trung tâm lãnh đạo và hỗ trợ chủ yếu về mặt tâm linh, và cũng không có quyền lực gì để đi lấy lại chùa, đường, hội.
 
Tôi rất đau lòng!
Thực sự là Chân Phật Tông có rất nhiều chùa, đường, hội. Có nhiều nơi đã bị người có tham vọng lấy đi, biến mất, không thấy đâu nữa, nguyên nhân rất nhiều.
 
Tôi lấy ví dụ nhé!
Chân Phẩm Đường - Đài Bắc - Ngọc.
Như Ý Đường - Đài Bắc - Sâm.
Giác Tâm Lôi Tạng Tự - Sĩ - Đài Trung.
Chân Như Đường ở Pháp - Bàn
Thập Hỷ Đường ở Hồng Kông - Hạnh
Uy Quang Lôi Tạng Tự ở Mỹ - Giới
Pháp Tràng Đường ở Mỹ - Lâm
Nghiêm Trì Đường ở Úc - Dong
Diệu Ấn Đường ở Mỹ - Sơn
Ở Philippines có ba phân đường đều biến mất - Manilla, Cebu. (Liên Quang Đường)
Bờ Biển Ngà, liên bang Nam Philippines mỗi nơi có một phân đường bị mất.
Malaysia, Singapore, Indonesia, v.v.
…
Các phân đường này không phải bị lấy đi mà là biến mất hoặc là do hoạt động không tốt, hoặc là thay đổi cờ hiệu.
Còn nhiều nữa.

Tôi viết ra mấy câu này.
Các chùa, đường, hội ở bên ngoài không quan trọng. Quan trọng là hành giả có hay không có Tâm từ bi, Tâm bồ đề, Tâm kiên trì, Tâm buông xả, Tâm tinh tấn.
Không có tín tâm là tệ nhất!
Không có đạo tâm càng tệ!
Không có Căn bản Thượng sư thì sẽ không thể thành tựu! Bởi vì không có truyền thừa thì không có lực gia trì.
Có chùa, đường, hội, đồng tu thì được tiến bộ lớn.
Không có chùa, đường, hội, một người tu thì được tiến bộ nhỏ.

Tôi thích sự chân thực.
Tôi không thích ngụy trang.
Người xấu xa nhất cũng từng làm một vài việc tốt.
Người tốt đẹp nhất cũng từng có lỗi lầm.
Người tu hành cần giữ gìn giới luật.
Những thứ thuộc về của công không thể tham lam giành lấy mất, biến thành của riêng.
Không thế lấy đi dù một cái kim sợi chỉ.
Nếu không, chính là "tham".


### 37. Câu hỏi số 21


(Ba vị điều hành XX đường hỏi)

XX nói:
"Các vị ban quản trị, nếu như các vị làm việc không tốt thì sẽ bị xuống địa ngục."
 
Lư Sư Tôn trả lời:
Tôi lấy ví dụ nhé!
 
Ngày 30 tháng 12 năm 2016 vào giờ ăn buổi trưa, đường chủ họ La của Viên Trì đường tại Perth, Australia nói: XX đã có vài lần đến Viên Trì đường. Có một lần XX nói:
"Thần thổ địa nói chuyện với tôi."
Vợ của đường chủ hỏi:
"Ngài ấy nói gì?"
XX nói:
"Hai vợ chồng anh chị chỉ còn sống được một năm nữa thôi!"
Đến đây thì vợ của đường chủ không nói thêm nữa.
 
La đường chủ nghĩ chỉ còn sống được một năm thì vô cùng sợ hãi, lẽ nào cầu xin XX hóa giải? Nhưng rồi lại nghĩ ta rất nỗ lực đẩy mạnh pháp Chân Phật Tông, cũng rất nghiêm túc tu hành, lại có Căn bản Thượng sư trên đầu. Nếu chỉ còn sống được một năm thì Phật Bồ Tát, Căn bản Thượng sư đều sẽ bảo vệ.
Chắc là sẽ không sao đâu!
Vợ của đường chủ họ La không trả lời XX.
 
Kết quả là:
Ba năm trôi qua rồi! Vợ chồng đường chủ La thân tâm đều khỏe mạnh, vẫn sống tốt, không chết.
 
Tôi nói:
Đây là trò lừa gạt của XX.
Đầu tiên là đe dọa.
Tiếp theo là lấy tiền.
Vợ chồng đường chủ La đã thoát được cái vận mất tiền rồi.
 
Còn nữa:
Có một đệ tử đến kể cho tôi hay:
"XX nói trong vòng ba năm này, trước tiên anh ta sẽ chết, rồi đến anh trai của anh chết, tiếp theo đến chị dâu của anh, chị dâu anh sẽ nhảy lầu chết. Trong vòng ba năm này sẽ chết ba người. Hơn nữa tất cả đều sẽ xuống địa ngục."
Đệ tử này càng nghĩ càng sợ, hỏi XX:
"Phải làm sao?"
XX đáp:
"Đưa ngày tháng năm sinh của ba người này cho tôi, tôi sẽ thỉnh Phật Trường Thọ đến kéo dài thọ mệnh của mấy người."
Hỏi:
"Hết chi phí bao nhiêu?"
XX đáp:
"Không nhiều, một căn nhà thôi."
Đệ tử líu lưỡi:
"Một căn nhà thôi?"
XX nói:
"Thọ mệnh của ba người mà chỉ mất có một căn nhà, coi như là rẻ rồi."
Đệ tử đó liền bán nhà đưa hết tiền cho XX.
 
Đây là gì vậy? 
"Đe dọa lừa tiền."
Thành viên ban quản trị làm việc không tốt sẽ xuống địa ngục?
Đây là "đe dọa".
 
Tôi (Lư Thắng Ngạn) thực lòng nói cho mọi người hay:
Tham - xuống địa ngục.
Sân - làm ngạ quỷ.
Si - làm súc sinh.

Sinh mệnh là quý giá! Chỉ cần sống có đạo đức, tu hành để có thể kiểm soát được những ý nghĩ huyễn tưởng, tâm linh tịnh hóa, đây chính là tu hành.

Có thể thực hành điều này trong cuộc sống thường ngày thì sẽ không đọa vào các đạo địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.

Xuống hay không xuống địa ngục.
Tự mình có thể quyết định được.
 
Tôi nói cho các vị ban quản trị biết, tất cả đều là do tâm tạo ra. Không phải XX nói thế nào thì sẽ là như thế. Còn đối với XX, bà ta có xuống địa ngục hay không thì tự bà ta biết.


### 38. Câu hỏi số 22


(Ba vị điều hành XX đường hỏi)

Các vị điều hành hỏi:
"Khi XX làm lễ Hộ Ma ban đầu chỉ có đại diện của các Phật đường dâng khăn Kata. Sau đó thì mới đến lượt cá nhân khác dâng khăn Kata. Lúc các cá nhân dâng khăn thì XX đều giải thích là có lệnh của Phật Bồ Tát yêu cầu mỗi người phải làm gì đó!"
 
Lư Sư Tôn trả lời:
Ý chính của đoạn này là ở chỗ "lệnh của Phật Bồ Tát", nghĩa là Phật Bồ Tát chỉ thị mỗi người phải làm việc gì đó.

Tôi có biết một lần XX khai thị đã nói rằng Địa Mẫu Nương Nương đã hạ giáng và dán lên trán của XX bốn chữ:
Chính là bốn chữ này: "Bà nói là được!"

Bốn chữ này có nghĩa là chỉ cần XX nói gì thì điều đó sẽ là đúng, cũng có nghĩa là XX nói cái gì, miệng nói ra điều gì, thì lời nói đó chính là lệnh của Phật Bồ Tát.

Bây giờ thì vấn đề xuất hiện rồi đây!
Vậy lời nói đó là ý chỉ của Phật Bồ Tát, hay là ý thức của chính bản thân XX? Hai điều này mập mờ lẫn lộn với nhau không rõ ràng.

Ở đây tôi muốn nói cho mọi người rằng Địa Mẫu Nương Nương cũng không thể chỉ nói là việc sẽ thành, bởi vì ở trên đầu vẫn còn có Ngọc Hoàng Thượng Đế. Ngọc Hoàng Thượng Đế cũng không thể nào chỉ nói là xong việc, bởi vì trên đầu vẫn còn có các vị thánh ở cõi trời hư không. Trên cõi trời Đao Lợi còn có cõi trời Phạm Thiên, cũng có Biến Tịnh Thiên, rồi lại có Tứ Không Thiên. 
Không vô biên xứ.
Thức vô biên xứ.
Vô sở hữu xứ.
Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Ở những nơi này cũng không thể nào chỉ nói là việc được xong.
Ở trên đầu vẫn còn có các vị: A La Hán, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật.

Nếu như Phật Bồ Tát dán cho XX chữ "Bà nói là được" thì cũng tốt đấy. Còn Địa Mẫu Nương Nương thì không thể nào dán chữ "Bà nói là được"!
 
Theo tôi được biết:
"Nói là được" của XX đương nhiên là một sự lừa gạt. Tôi không tin XX có thể nhìn thấy Địa Mẫu Nương Nương. Trừ phi thứ XX nhìn thấy là ma quỷ.

Đương nhiên việc Hộ Ma dâng khăn Kata mà có lệnh của Phật Bồ Tát cũng là lừa gạt. Cơ bản đây chính là suy nghĩ của chính bản thân XX, làm gì có chuyện chỉ thị của Phật Bồ Tát!

Rồi đến việc "Bà nói là được" cũng chẳng phải là chỉ thị của Phật Bồ Tát gì sất. Bà ta nói gì thì chính là như thế.
XX chính là Đấng cứu thế.
XX chính là Quan Âm sống.
XX chính là Thượng Đế.
XX chính là Phật.
XX chính là Phật nguyên thủy.

Do vậy nếu đi theo XX thì có thể đạt đến được trạng thái chạy lồng lộn lên, còn ngược lại quy y theo Lư Sư Tôn thì chỉ có thể coi như là rác rưởi của nhân gian, hoặc chỉ là một đống phân mà thôi!
 
Tôi nói cho mọi người biết, tôi ngưỡng mộ cái thiện và mỹ của nhân gian, nhưng ghét cay đắng sự dối trá và bịa đặt. Tôi thích những con người và sự việc "hữu xạ tự nhiên hương", tôi lại càng khoan dung hơn nữa đối với mọi sự hiển lộ tự nhiên của nhân gian. Nhưng không thể nào cho phép việc giả mạo lệnh của Phật Bồ Tát, lừa bịp tín chúng.

Tầm nhìn của tôi đã bao gồm cả Đạo giáo, Hiển giáo, Mật giáo, Chư Thiên. Nhưng không thể chấp nhận việc dùng ma quỷ để hại chúng sinh.


### 39. Bầy quỷ quấy nhiễu nhiều


XX đường thờ cúng năm quỷ đầu mục, lập tượng vàng, treo kim bài. Trong số đám quỷ thì có quỷ tự sát, quỷ đột tử, quỷ chết vì binh đao, quỷ chết đuối là nhiều nhất. Những loại quỷ này có quỷ lực (sức mạnh quỷ) cũng tương đối mạnh, do vậy có khả năng quấy nhiễu lớn.
Quỷ tự sát - các võ sĩ Nhật Bản.
Quỷ đột tử - chết ngoài ý muốn.
Quỷ chết vì binh đao - các binh lính sĩ quan Nhật chết trong thế chiến thứ hai.
Quỷ chết đuối - những người chết bởi sóng thần ở tỉnh Aceh, Indonesia.
…
Có một phụ nữ tên là Liên Thiến nói:
"Ở XX đường, tôi ở bên cạnh XX thay bà ta đi làm các việc lặt vặt tổng cộng đã hơn 10 năm. Đến năm Dân Quốc thứ 103 mới rời bỏ. Trước đây tôi vốn tưởng rằng tôi là người ở trong Chân Phật Tông, điều tệ nhất là bây giờ tôi mới biết rõ chân tướng, hóa ra chỉ là chân sai vặt ở trong nhà người ta mà thôi."

"Bây giờ tôi nhận ra, thì nghiệp chướng của bản thân đã nặng lắm rồi, nếu như gia đình tan nát thì cũng chẳng có cách nào cứu được. Nhưng tôi vẫn lấy hết dũng khí để cầu xin Sư Tôn cho sám hối."

"Đệ tử đã tin nhầm, nghe nhầm, truyền bá sai. Tất cả mọi việc về XX đều hoàn toàn không biết tí gì. Tôi chỉ là nhận việc do XX sai bảo mà tưởng là đang làm việc hộ trì cho Chân Phật Tông, hóa ra là giúp kẻ hung ác làm việc tàn bạo."
"Rất tức giận."
"Rất uất hận."

"Thỉnh cầu Lư Sư Tôn từ bi cứu cả nhà đệ tử được thân tâm hoàn tịnh, có thể sống một ngày vui một ngày, sống một ngày biết ơn một ngày, sống một ngày tinh tấn tu hành một ngày."

"Chồng của đệ tử tên Thịnh, hiện nay tinh thần có vấn đề, không sao ngủ được, tai không thể chịu được âm thanh, ví dụ như tiếng nhạc CD.”

"Con gái của đệ tử tên Kỳ, sau khi tốt nghiệp đại học liền đi Mỹ đến XX đường ở San Francisco để làm việc tình nguyện, một mặt thì học thiết kế quảng cáo thương mại. Nó ở XX đường, XX quở mắng nó là kiếp trước đã đối xử tệ hại với người khác v.v. nên kiếp này phải chịu báo ứng. Năm 103 (năm Dân Quốc) rời bỏ XX thì nó cũng phải vào bệnh viện tâm thần hai tháng, từ sau khi xuất viện cho đến nay thì cũng không có thư từ tin tức gì, nó bị mắc bệnh tâm thần là do ở XX đường."

"Con trai của đệ tử tên là Quan, trước khi đi lính đã từng đến XX đường, sau khi trở về thì bị ảo giác, ảo thanh, lúc đi làm lính bên tai thường có tiếng người nói rằng đi tự sát đi, tâm thần cũng có vấn đề, do vậy được thoái ngũ sớm."

"Cả nhà đệ tử đều gặp vấn đề về thần kinh, giống như sư huynh Dương Chung và rất nhiều đồng môn khác đều hoàn toàn bị giống như vậy. Cho đến nay đều muốn chết, sống chẳng có chút ý nghĩa gì nữa."

"Thỉnh cầu Lư Sư Tôn gia trì, cứu cả nhà con."
 
Lư Sư Tôn trả lời:
Theo tôi được biết, kiểu tình trạng này cực kì nhiều, mức độ có lớn có nhỏ, theo thứ tự lần lượt thì là:
Đầu tiên là có vấn đề về giấc ngủ.
Mất sinh khí.
Bị quấy nhiễu.
Bị trầm cảm, tính khí thất thường.
Tâm thần bất bình thường.
Ảo giác ảo thanh.
Muốn tự sát.
Cuối cùng là tự sát thật.
(Trên nguyên tắc, đầu tiên là bị nhiễm âm, xung phạm, rồi dẫn tới bị nhập, v.v.)
Có một số người rất dễ bị nhiễm âm là bởi vì âm khí của họ nặng nên vận số trở nên đen đủi. Lư Sư Tôn dương khí mạnh, vận mệnh đại thắng, không dễ bị nhiễm âm.

Bây giờ tôi truyền pháp Đại Lực Kim Cương, có thể dùng Đại Lực Kim Cương để ngăn chặn quỷ chú và kiểm soát ma quỷ.
Tôi sẽ gia trì cho cả nhà cô Liên Thiến.

Có một người Indonesia chỉ biết nói tiếng Anh, anh ta đưa XX đi đến vùng của những người thổ dân. Sau khi trở về thì không sao ngủ được, người đau đớn đến mức không muốn sống nữa. Ngoài ra còn có cô Susanna đi theo XX cũng bị nhiễm âm, mặt xanh xao, người gầy như cây bút.

Xin các đồng môn chú ý: đừng kết giao với những người thờ cúng quỷ ma! Cẩn thận! Cẩn thận!


### 40. Quỷ không phân biệt (2)


Nhìn chung, việc thờ cúng kumanthong rất thịnh hành ở khu vực Đông Nam Á, đặc biệt rất phổ biến ở Thái Lan. Giới diễn viên nghệ sĩ rất thích nuôi kumanthong. (*)

Người ta đồn rằng sau khi thỉnh kumanthong về thì nuôi nó ở một chỗ bí mật trong nhà, gọi tên kumanthong, yêu cầu nó làm cho que hương không có gió mà cũng rung rinh, hoặc là cái cờ xoắn lại với nhau, thậm chí là trong mơ nhìn thấy kumanthong, vì thế lại càng biết là kumantong đã về.

Sau khi thỉnh kumanthong về nhà lại cùng với kumanthong thề nguyện, ví dụ như chỉ là: "Cầu kumanthong giúp cho tôi thành danh, có của ăn của để nhiều đến mức không thể đếm được, tôi sau khi có được danh lợi rồi thì sẽ cúng bái thêm cho ngươi" v.v.
 
Còn nữa, tương đối đáng sợ hơn là:
"Ngươi giúp cho ta danh lợi được gấp nhiều lần thì ta sẽ cúng dường cho ngươi cả đời, thậm chí sau khi ta chết đi, thân này cũng cúng luôn cho ngươi dùng."
Sau khi cúng dường kumanthong thì thường xuyên nhớ tên kumanthong, gọi nó mọi lúc mọi nơi: khi kí hợp đồng với người ta, khi đòi nợ, khi cùng thương lượng với chủ, khi làm các chương trình lớn, khi thương lượng với trung gian, khi kết giao với bạn trai bạn gái. 

Nghĩa là vào mọi thời điểm quan trọng thì bạn đều cần cầu thỉnh kumanthong giúp đỡ để cho bạn phát triển sự nghiệp, mỗi ngày một giàu có hơn, tất cả mọi thứ đều đều vô cùng suôn sẻ, danh lợi thu về nhiều lần, nhà lầu, xe hơi, vợ đẹp, con xinh, giàu sang, phú quý.

Tất cả những điều này kumanthong đều có thể giúp cho có được, nhưng giới diễn viên nghệ sĩ sau khi công thành danh toại rồi thì nhất thiết không được quên báo đáp lại cho kumanthong. Nếu như quên báo đáp nó thì e là nó sẽ quay ngược lại cắn mình, lúc đó cũng rất thảm hại!
 
Còn nữa:
Ma quỷ của XX không phải chỉ có một hai con. Nguồn gốc của việc nuôi quỷ bắt đầu từ Linh Cốt Tháp. Bởi vì Linh Cốt Tháp là xây dựng trái phép nên bị tháo dỡ, do đó không tránh được việc phải dùng tên của XX phủ để nuôi dưỡng quỷ. 

Nguồn gốc của ma quỷ cũng tương đối phức tạp. Có quỷ đầu mục người Nhật Bản - Kobayashi, Watanabe, Nakamura. Có quỷ đầu mục người Hoa: Hoàng Kim Tỉnh, Lâm Lương Tri. (Đây là năm quỷ đầu mục.)
Có quỷ chết đuối bởi sóng thần ở tỉnh Aceh, Indonesia. 
Có quỷ chết trận ở đảo Saipan trong thế chiến thứ hai.
Có quỷ xưa quỷ nay.
Có quỷ được nuôi mới đây. Đám quỷ của XX là đám quỷ không có sự phân biệt, không phải chỉ là kumanthong. Quỷ tự sát cực kì nhiều, quỷ đột tử cực kì nhiều, quỷ chết trong binh đao cực kì nhiều, còn có các võ sĩ, ninja Nhật Bản. Bầy quỷ ước tính nhiều đến cả nghìn tỷ con.
 
XX công khai việc nuôi quỷ.
Điêu khắc tượng vàng.
Treo kim bài.
Lấy tên là "Tinh X Phủ".
Rồi lại dùng đội quân ma quỷ của Tinh X Phủ lén lút thâm nhập vào ở trong các điện Địa Tạng của các chùa, đường, hội Chân Phật Tông.
Vốn dĩ cần phải giấu quỷ miếu, chính là Miếu Phủ XX. (đến nay vẫn không thấy đâu)
Lũ quỷ lợi hại này đã khiến cho đồng môn bị:
Dính chặt vào. 
Quấy nhiễu.
Ngủ thất thường.
Tinh thần bất thường.
Tự sát.
Đòi thế thân. (bắt để thế thân)

Do vậy Lư Sư Tôn một lần nữa buộc phải mạnh tay làm đại nguyên soái trừng trị bầy quỷ.

(*) Kumanthong: còn được gọi là quỷ linh nhi, quỷ nhỏ, hoặc "cậu bé vàng", là một loại bùa ngải huyền bí rất phổ biến ở Thái Lan, được tạo ra bởi các nhà sư ở Thái Lan.


### 41. Hỏi đáp (1)


Hỏi:
"Người ta đồn rằng nơi nào mà do XX khai quang, gia trì, hoặc đi qua… thì đều bị bầy quỷ xâm chiếm, vậy chúng tôi phải làm sao?"
Đáp:
Dựa theo các cách thức của Phật pháp thì có ba cách:
Tẩy tịnh.
Kết giới.
Khai quang lại từ đầu.
 
Hỏi:
"Tẩy tịnh là tẩy tịnh thế nào? Kết giới là kết giới thế nào? Bởi vì thỉnh Lư Sư Tôn đích thân khai quang lại từ đầu thì không dễ, vậy thì phải làm sao mới tốt?"
Đáp:
"Dùng nước được trì chú Đại Bi hoặc thỉnh chư tôn để tẩy tịnh. Kết giới thì nhờ tới các vị thần hộ pháp, tốt nhất là Đại Lực Kim Cương, hoặc mời tôi đến các chùa, đường, hội. Hiện nay trên toàn thế giới có khoảng 50 Lôi Tạng Tự, phân đường và đồng tu hội cũng tới 400, tôi thực sự chẳng có cách nào để đến được hết, nhưng có thể chụp ảnh đàn thành yêu cầu tôi gia trì, đánh đuổi bầy quỷ đi."
 
Hỏi:
"Cúng dường Đại Lực Kim Cương có thể kiểm soát được ma quỷ không?"
Đáp:
"Đương nhiên rồi. Tượng vàng của Đại Lực Kim Cương được thờ cúng tại đàn thành thì ma quỷ tự nhiên sẽ tháo chạy hết, để ở trong nhà thì trong nhà không còn hồn ma quỷ, ma quỷ bình thường không dám vào."
 
Hỏi:
"Nếu như ở nhà không cúng dường Đại Lực Kim Cương thì phải làm sao?"
"Trì chú Đại Lực Kim Cương hoặc chú chặn quỷ của Đại Lực Kim Cương cũng có thể ngăn được ma quỷ xấu xa."
 
Hỏi:
"Tấm phù Đại Lực Kim Cương bằng giấy dùng như thế nào?"
Đáp:
"Phù Đại Lực Kim Cương bằng giấy có thể dán ở cửa đi hoặc cửa sổ, làm như vậy thì quỷ không dám vào."
 
Hỏi:
"Có cần kết hợp với niệm chú và tu pháp không?"
Đáp:
"Nếu có thể tu pháp thì đương nhiên là càng tốt, cần quán tưởng, trì chú, kết thủ ấn, nhập Tam Ma Địa. Không thể tu pháp thì trì chú chặn quỷ của Đại Lực Kim Cương thì cũng có thể giữ được bình an."
 
Hỏi:
"Đối với tượng vàng, tranh ảnh, phù, quỷ tướng của Tinh X Phủ do XX tặng thì chúng tôi phải làm sao?"
Đáp:
"Có thể trả lại cho XX đường là tốt nhất. Nếu là tượng vàng của Phật Bồ Tát thì nên tẩy tịnh khai quang lại từ đầu. Tranh ảnh cũng khai quang lại từ đầu. Tranh vẽ, phù, quỷ tướng thì nên đốt đi."
 
Hỏi:
"Khi đốt có cần phải nói gì không?"
Đáp:
"Chỉ cần nói: Đem hư không trả về với hư không."
 
Hỏi:
"Người đã bị nhiễm âm (ma nhập) thì phải làm sao?"
Đáp:
"Mau chóng tìm cách trục xuất và gia trì hoặc tẩy tịnh."
 
Hỏi:
"Người bị nhiễm âm làm sao để bình phục?"
Đáp:
"Đi khám các bác sĩ ở khoa thần kinh, phải ngủ đều đặn, phải dẹp bỏ ưu phiền, giữ thân tâm an bình, khí mạch lưu thông, kết hợp với trì chú thì có thể bình phục được.”


### 42. Hỏi đáp (2)


Hỏi:
"Con là đệ tử được ban quán đảnh từ xa chú Đại Lực Kim Cương. Con sống ở vùng xa xôi, không có nước chú Đại Bi, cũng không có tượng vàng, không có tranh pháp tướng, vậy làm sao để tẩy tịnh? Làm sao kết giới?"
Đáp:
"Có thể tự làm nước chú Đại Bi. Dùng một bình nước sạch, ngồi trước bình tụng chú đại bi 49 biến, tay kết Kim Cương chỉ ấn, ngay phía trên bình nước viết chữ "Hum" thì lập tức sẽ thành nước chú Đại bi, làm cách này có thể tẩy tịnh."

"Còn về việc kết giới, hành giả đứng nghiêm, tự quán tưởng mình biến hóa thành Đại Lực Kim Cương, tay kết kì khắc ấn, niệm chú chặn quỷ của Đại Lực Kim Cương 7 biến, 21 biến, 49 biến."

"Quán tưởng Đại Lực Kim Cương đứng tại cửa chính và mỗi cửa sổ, dùng ấn kì khắc để điểm ấn, đây chính là kết giới."
 
Hỏi:
"Chúng tôi không có tiền để đến Mỹ và Đài Loan, nhưng lại sợ những người cúng quỷ làm hại, chúng tôi phải làm sao?"
Đáp:
"Đại Lực Kim Cương là vị có sức mạnh hợp lực của năm vị A Di Đà Phật, Diêu Trì Kim Mẫu, Địa Tạng Bồ Tát, Liên Hoa Đồng Tử, Đại Lực Thị Giả, tin tưởng vào các vị thì các vị ở khắp mọi nơi. Thường xuyên trì tụng chú Đại Lực Kim Cương hoặc chú chặn quỷ của Đại Lực Kim Cương, tự khắc lực hộ trì bảo vệ sẽ xuất hiện, nên về cơ bản là không phải sợ gì."
 
Hỏi:
"Cúng dường Đại Lực Kim Cương như thế nào?"
Đáp:
"Việc cúng dường các thần hộ pháp thì có sự khác biệt, cần cúng rượu và thịt. Người có điều kiện nhiều thì cúng hàng ngày. Người có điều kiện trung bình thì có thể cúng vào mồng 1 và 15 hàng tháng. Người ít điều kiện thì cúng một tháng một lần là được. Người hoàn toàn không có điều kiện gì thì có thể quán tưởng việc cúng cũng được. Chỉ cần có tâm thuần khiết thì các thần hộ pháp sẽ không quở trách."
 
Hỏi:
"Chúng tôi đều sợ quỷ bà (cách gọi XX) làm hại, phải làm sao để ngăn chặn? Trong tâm cần phải nghĩ thế nào?"
Đáp:
"Phải tránh gặp gỡ thân mật với quỷ bà, cũng tránh đi bái lạy ở phủ XX thì sẽ khiến cho bà ta không có cách nào lợi dụng. Cũng không nên lấy các thứ mà XX cho, ví dụ như phù, hộ bài, sách, tranh ảnh, tượng vàng, v.v. Có người chỉ vì lấy của XX quyển lịch (âm lịch), bên trong có ảnh của XX, khiến cho trí óc không còn minh mẫn nữa."
 
Hỏi:
"Làm sao để tâm lý tốt trở lại?"
Đáp:
"Khi quy y thì điều quan trọng nhất là tâm phải thư giãn, tăng trưởng trí huệ, thường xuyên tu pháp tứ gia hành, tích tập công đức, không nên để cho sự ngu si và sợ hãi nhấn chìm."
 
Hỏi:
"Vì sao quỷ bà có thể mê hoặc người ta?"
Đáp:
"Một là dùng pháp thôi miên. 
Hai là dùng tẩy não.
Ba là dùng ma quỷ để mê hoặc.
Bốn là dùng xảo ngôn, lời nói khéo léo lừa bịp.
Năm là nói dối.
Sáu là dùng thần thông của ma quỷ, lôi kéo người ta vào bẫy, đi cúng đi cầu bà ta."
 
Hỏi:
"Làm sao để tránh khỏi bị dụ dỗ?"
Đáp:
"Lý tính rất quan trọng, trí huệ rất quan trọng. Lý trí giống như thủy tinh, lấp lánh ánh sáng, rõ ràng trong suốt. Phải vứt bỏ những trò lừa đảo như là "Lôi Tạng Tự ở trên trời", "Trường học ở âm phủ", giữ vững tâm Không và không bị mê hoặc, nếu không thì rất dễ bị lừa."
 
Hỏi:
"Lư Sư Tôn viết cuốn sách này là có dụng ý gì?"
Đáp:
"Phá bỏ mê tín, hoằng dương chính pháp, pháp bỏ quỷ pháp. Phật là chí thiện, quỷ là méo mó. Lạy Phật thành Phật, lạy quỷ thành quỷ. Thế nên chúng ta hãy học Phật đi!"


### 43. Hỏi đáp (3)


Hỏi:
"Lư Sư Tôn hơn 20 năm nay để cho XX mở rộng sức ảnh hưởng và địa bàn, lẽ nào ngài không biết sao?"
Đáp:
"Biết!"
 
Hỏi:
"Ngài biết như thế nào?"
Đáp:
"Có một chuyện mọi người không biết nhưng tôi biết. XX mỗi buổi sáng sớm đều ngồi trước gương, chỉnh đốn mái tóc đen bóng loáng của bà ta, cái đầu bóng như bôi mỡ, bà ta nhớ đến việc mình đã "chơi" các Thượng sư và tín chúng của Chân Phật Tông ra sao, nhớ những lúc chơi đùa và điều khiển bọn họ, không nhịn được mà cười lớn ha ha ha."
 
Hỏi:
"Ồ! Còn gì nữa?"
Đáp:
"Người bình thường đi qua chắc chắn sẽ có dấu vết. Lần đầu tiên tôi đến XX phủ, XX liền ra lệnh cho nhân viên IT biến mặt Lư Sư Tôn thành mặt của XX, thế rồi nhân viên IT và XX cùng cười lớn ha ha ha. Bản chất của việc này thực sự là quá thối nát rồi!"
 
Hỏi:
"Còn gì nữa?"
Đáp:
"Nhiều không thể đếm được, ví dụ: bà ta tự cho mình là người sáng lập XX đường, ngăn cấm Thượng sư Liên Khải Đang, tự nghĩ ra cái X siddhi, kêu người ta quán tưởng bà ta trụ ở đỉnh đầu, không đảnh lễ Căn bản Thượng sư, không nhận sự gia trì của Căn bản Thượng sư, không cúng dường Căn bản Thượng sư, hủy báng Căn bản Thượng sư, v.v."
 
Hỏi:
"Có ví dụ thực tế rõ ràng hơn không?"
Đáp:
"Hơn mười năm trước, em gái tôi là Lư Nghê Anh đã tham dự pháp hội của XX, em gái tôi mở một sạp bán các vật phẩm Phật giáo, có người nói với em gái tôi rằng vì sao mà bà lại đến đây để bán đồ Phật giáo vậy. XX của chúng tôi từ lâu đã tách riêng rồi."
 
Hỏi:
"Còn có ví dụ nào nữa không?"
Đáp:
"Có. Cực kì nhiều. XX ngồi trên pháp tọa đã chửi mắng Tông ủy hội và Lư Sư Mẫu, lại còn nói rằng tương lai sẽ đến cõi X Liên Siddhi hoặc Bạch Liên Hoa Siddhi, muốn các đệ tử đến cõi X Liên Siddhi."
 
Hỏi:
"Có còn ví dụ nào nữa không?"
Đáp:
"XX nói: vị Hoạt Phật trẻ tuổi Thubten Siddhi đã tham gia pháp hội của tôi, rồi cũng lại đến đạo tràng hiệp hội XX. XX nói: Thubten Siddhi đã quy theo tôi (XX), Thubten Siddhi ở chỗ của Lư Sư Tôn chẳng học được gì cả, phải đến chỗ của tôi đây mới học được các thứ."
 
Hỏi:
"Như vậy mà Lư Sư Tôn cũng chịu được à?"
Đáp:
"Tôi là một đạo nhân vô vi, có thể nhẫn nhịn được thì nhịn, tôi vốn hy vọng rằng XX đợi đến khi tôi thoái lui về ở ẩn thì mới tạo phản, hoặc đợi đến khi tôi chết rồi thì mới tạo phản, chẳng ngờ XX cũng nhanh chóng không thể nhịn được nữa rồi!"
 
Hỏi:
"Lư Sư Tôn, ngài có từng cảnh báo các đệ tử hay không?"
Đáp:
"Có. Tôi chẳng phải là đã cảnh báo khi tôi giảng pháp, kêu gọi các đệ tử mở to mắt ra, nhìn thử xem, cái con người háo danh nhất đó, cái con người háo lợi nhất đó, cái con người đã mất đi truyền thừa đó, yêu cầu mọi người đừng đi theo đó sao?"
 
Hỏi:
"Lư Sư Tôn, vì sao đến cuối cùng thì ngài lại hé lộ hết bộ mặt thật của XX, vì nguyên nhân gì vậy?"
Đáp:
"Đó là bởi vì bà ta nuôi quỷ, giống như đám cháy hoang dại không thể dừng, các đệ tử Chân Phật đã bị làm hại nghiêm trọng, người tự sát và chết bất ngờ ngày càng nhiều, tâm thần bệnh hoạn ngày càng nặng. Bà ta đã biến Chân Phật Tông thành Chân Quỷ Tông. Bởi vì muốn thức tỉnh đồng môn nên tôi mới ra mặt vạch trần bà ta. Tôi bây giờ mới cho thấy tiếng gầm của sư tử!"


### 44. Hỏi đáp (4)


Hỏi:
"Mọi người đều biết XX có thể giao tiếp với Phật Bồ Tát, có thể nhìn thấy Phật Bồ Tát, xin hỏi là thật hay giả?"
Đáp:
"Giả."
 
Hỏi:
"XX có thể cùng muỗi, ruồi, nhện, cua, cá, vẹt, tắc kè hoa, búp bê vải, thú nhồi bông… nói chuyện, việc này là thật hay là giả?"
Đáp:
"Là giả."
 
Hỏi:
"Năm quỷ đầu mục của XX: Kobayashi, Nakamura, Watanabe, Hoàng Kim Tỉnh, Lâm Lương Tri, lẽ nào những họ tên này đều là giả?"
Đáp:
"Cũng đều là tên giả."
Hỏi:
"XX nhìn thấy Địa Mẫu Nương Nương dán lên trán của bà ta bốn chữ "Bà nói là được" cũng là giả phải không?"
Đáp:
"Càng là giả."
 
Hỏi:
"Tôi đã từng hỏi chuyện ở chỗ XX, bà ta nói trên người tôi có bốn cái vong, lại còn viết tên lần lượt ra, kêu tôi đi đăng kí báo danh cho họ đi học tại "trường học âm phủ", là thật hay giả?"
Đáp:
"Tên họ là giả, các vong nhập vào thân lại càng giả, trường học âm phủ là cái thứ bịp bợm nhất."
 
Hỏi:
"Lôi Tạng Tự ở trên trời mà XX đang xây cũng là giả phải không?"
Đáp:
"Đúng vậy."…
 
Hỏi:
"XX có tài cán gì là thật?"
Đáp:
"Lưỡi không xương dài ba thốn là thật."
 
Hỏi:
"XX có ảo giác, ảo thị, ảo thanh không?"
Đáp:
"Nếu như có thì XX đã bị tâm thần rồi, nhưng bà ta không có, bà ta chỉ có trực giác."
 
Hỏi:
"XX dùng trực giác để dựng chuyện phải không?"
Đáp:
"Đúng vậy!"
 
Hỏi:
"Trực giác của con người có lúc thì đúng, có lúc lại không đúng, có phải như vậy không?"
Đáp:
"Đây chính là có một số người tin vào lý lẽ của bà ta!"
 
Hỏi:
"XX tu hành được gì rồi?"
Đáp:
"Zero."
 
Hỏi:
"XX nuôi quỷ, dùng quỷ, quỷ làm việc thay cho bà ta, XX có thể trông thấy quỷ tử sao?"
Đáp:
"Không nhìn thấy quỷ tử, nhưng vẫn có trực giác, cũng có được một chút ít quỷ tử thông."
 
Hỏi:
"Nói như vậy thì XX lừa đảo rất nhiều, việc biết được nhân quả ba kiếp cũng là giả phải không?"
Đáp:
"XX là thiên tài có thể nói những lời dối trá mà nghe có vẻ rất tốt đẹp, là vua nói láo chúa nói nhảm, cho nên phải lột mặt nạ cho thấy rõ bộ mặt thật của bà ta.”


### 45. Trần Nhân Hòa ghi chép


Tường thuật về buổi ăn cúng dường của Từ Hàng Lôi Tạng Tự

Ngày 13 tháng 12 năm 2016, các tín chúng của Từ Hàng Lôi Tạng Tự dưới sự phụ trách hướng dẫn của sư huynh Lưu Văn Hà đã cùng tổ chức một bữa tiệc tối cúng dường Sư Tôn.
 
Gần đây, các vụ việc do quỷ hãm hại của quỷ bà (XX) thường xuyên xảy ra. Trước bữa tiệc tối, đầu tiên Sư Tôn đã giúp hai sư tỷ xử lý vấn đề bị xung phạm. 

Sư tỷ thứ nhất nói cô ấy bị lực lượng vô hình quấy nhiễu. Sư Tôn đã gia trì cho cô, vỗ vào lưng cô, sau đó Sư Tôn nói cô bị hai con quỷ nam và một quỷ nữ trốn trong người, bây giờ đã bị đuổi đi rồi. 

Sư tỷ kia họ Thái còn khá trẻ, vẻ ngoài cũng khá xinh xắn, cô ấy nói cũng gặp tình trạng giống như sư tỷ kia, cũng là bị quấy nhiễu. Cô và người nhà có mâu thuẫn và cô đã rời khỏi nhà, phiêu bạt ở bên ngoài cũng đã nhiều năm rồi, khi thì ngủ ở ga tàu, khi thì trú nhờ nhà bạn. Hôm nay ở trên đường lộ tại thành phố Đài Trung, trong lúc mơ mơ hồ hồ cô nghe được người qua lại nói chuyện, bất giác đi tới trước cửa nhà hàng này, trông thấy xe của Sư Tôn, do vậy bèn đi vào bên trong nhà hàng gặp Sư Tôn. Sư Tôn cũng đã gia trì cho cô, hơn thế nữa ngài còn khuyên cô nên quay về nhà đoàn tụ với gia đình, đừng khiến cho gia đình lo lắng nữa.
 
Rất hiếm dịp các đệ tử có thể cùng với Sư Tôn, Sư Mẫu cùng ăn cơm như thế này, được ở gần ngay cạnh Sư Tôn để thỉnh cầu Phật pháp, hơn nữa Sư Tôn, Sư Mẫu cũng vui vẻ cùng mọi người nói chuyện đời sống thường ngày, bầu không khí rất vui vẻ. Trước tiên các đồng môn báo cáo với Sư Tôn, các vị thiện tín của Từ Hàng Lôi Tạng Tự thì tiến hành phóng sinh, từ đầu đến cuối phóng sinh được tổng cộng một vạn tôm cá, công đức hồi hướng cho Sư Tôn, Sư Mẫu mạnh khỏe sống lâu.
 
Chủ đề của buổi nói chuyện hôm nay vẫn không xa rời quỷ bà, Sư Tôn nói: "Lũ quỷ của XX để giúp cho XX đã biến hóa đủ kiểu dạng, biến thành hình dạng của XX, hoặc là biến thành hình tướng của Kim Mẫu, Địa Mẫu, Quan Thế Âm Bồ Tát đi vào trong giấc mơ của tín chúng, giúp XX bắt lấy những người có khởi lòng tin theo, giúp cho XX sau này sẽ càng lừa đảo chiếm được nhiều tiền hơn.
 
Đại lễ bái sư huynh Vương Hồ Cát Tỉnh đã chứng minh từ lâu XX đã có tâm phản trắc. 24 năm trước Hồ sư huynh đã từng tham gia pháp hội sám hối kéo dài 7 ngày do XX tổ chức tại Nội Minh Đường (tiền thân của Phúc Hựu Lôi Tạng Tự)  ở Tân Trúc (một địa danh ở Đài Loan). Khi đó XX rất tham tiền, liên tục bán các tượng Phật của bà ta, Hồ sư huynh cũng đã ủng hộ không ít tiền. 

Về sau XX nói một câu khiến sư huynh nhìn thấu dã tâm của bà ta, chính là câu mà XX nói: "Các người phải tin vào cõi giới của Tử Liên Hoa." đã khiến cho một người có trí huệ là Hồ sư huynh kể từ đó không còn tin theo XX nữa. (Bởi vì Chân Phật Tông chỉ có một cõi giới là Ma Ha Song Liên Trì, nơi mà mọi màu sắc Liên Hoa Đồng Tử đều bình đẳng, hà cớ gì mà lại đặc biệt nhấn mạnh cõi giới của riêng một màu sắc nào?)
 
Có đồng môn hỏi: "Ở gần nhà không có đạo tràng Chân Phật Tông, nhưng đạo tràng Hiển giáo tổ chức pháp hội sám hối, chúng tôi đi tham dự liệu có hợp giới luật của tông giáo không?"
Sư Tôn trả lời: "Cũng có thể được." (Việc này là do Sư Tôn đặc biệt khai duyên, trên nguyên tắc thì vẫn phải dựa vào đạo tràng của Chân Phật Tông là chính, người có nhân duyên đặc thù nên viết thư hỏi Tông ủy hội để được chỉ dẫn.)
 
Lại hỏi: "Ca sĩ Cao Lăng Phong (*) có nhân duyên may mắn giúp ông ta vãng sinh cõi Phật, các thói quen cũ của ông ta liệu có theo ông ta đến cõi Phật không? Thói quen cũ của ông ta liệu có khiến ông ta bị đày xuống trở lại nhân gian không?"
Sư Tôn trả lời: "Thói quen cũ của ông ta sẽ theo ông ta đến cõi Phật, đến cõi Phật rồi thì lại học tập và sửa đổi thói quen xấu, nhưng đã đến được cõi Phật rồi thì sẽ không chuyển thế nữa."
 
Hỏi: "Bồ Tát ở cõi Phật thề nguyện xuống nhân gian độ chúng sinh, trong trường hợp vị đó vẫn còn tập tính chưa từ bỏ được, đến nhân gian rồi thì liệu vẫn có thể xuất hiện được (là Bồ Tát) không?"
Sư Tôn trả lời: "Bồ Tát có một kiếp còn mê lầm, nếu như vẫn có tập tính chưa từ bỏ được thì vẫn có thể trở thành chướng ngại tu hành của vị đó."
 
Sư Tôn trả lời những câu hỏi của đệ tử, nói chuyện XX lợi dụng thần thông để đe dọa lấy tiền của người ta như thế nào, trong đó có một vị Pháp sư đã đem toàn bộ số tiền tiết kiệm đưa hết cho XX, đến khi già rồi muốn rời bỏ, nói với XX rằng muốn lấy lại một ít tiền để dưỡng lão thì XX đã lờ đi, cuối cùng khiến cho Pháp sư này ôm hận mà chết, khi chết còn đưa ra lời thề độc làm quỷ cũng không tha cho bà ta.
 
Nghe xong những lời giảng của Sư Tôn, những người đến tham dự buổi tiệc đều rất vui vẻ, từ lâu mọi người đã biết được rằng XX không hiểu pháp nên đã tránh xa bà ta, vì vậy đều không bị bất kì sự tổn hại nào, trong tương lai cũng cẩn thận đi theo bước chân của Sư Tôn, một lòng kính sư, thực tu.
 
Khi buổi tiệc tối kết thúc, lúc mọi người cung kính tiễn Sư Tôn, Thái sư tỷ lúc đầu vẫn còn đứng đợi ở bên ngoài, sau khi được Sư Tôn gia trì thì khí sắc đã tốt lên rất nhiều. Sư Tôn nhìn thấy cô ấy vẫn quan tâm khuyên cô về nhà sống hòa thuận vui vẻ cùng gia đình, Sư Tôn biết rằng trên người cô chẳng có chút tiền bạc gì bèn rút từ trong ví ra ba nghìn tệ đưa cho cô. Thái sư tỷ nhận tiền Sư Tôn ban cho mà cảm động không nói nên lời, nước mắt giàn giụa nơi khóe mắt. Những đồng môn có mặt ở đó cũng bị lòng từ bi của Sư Tôn khiến cho vô cùng cảm động. Sư Tôn bất kì lúc nào cũng cho các đệ tử chứng kiến phẩm chất tu hành.
 
Những bữa ăn cúng dường Sư Tôn như thế này là khoảnh khắc trong mơ của các đệ tử bởi vì họ có thể ở gần một vị thầy tâm linh kính ái nhất trong đời này là Sư Tôn, được nghe và học Phật pháp, mỗi phút mỗi giây chúng ta đều rất trân trọng. Hy vọng tương lai mỗi năm đều có thể có những bữa cơm như thế này, nguyện cầu Căn bản Thượng sư trường thọ tự tại, mãi mãi mạnh khỏe, thường chuyển pháp luân.

(*) Cao Lăng Phong: là một ca sĩ nổi tiếng người Đài Loan (tên tiếng Anh là Frankie Kao) qua đời năm 63 tuổi vì ung thư máu.


### 46. Ghi chép từ người đã từng bị mê hoặc


Các mánh khóe lừa đảo của XX… 
đâm đầu vào mê lộ mãi không thoát ra...

XX tung hoành bên trong Chân Phật Tông cũng được 10 năm, bí mật tạo lập các đạo quân ma quỷ ở khắp nơi trên thế giới, thiết lập các thế lực khủng bố vô hình, mê hoặc lòng người, điều khiển nhận thức của đồng môn. Một mặt thì lập các mạng lưới Chân Phật Tông nhỏ để nhằm xây dựng các cứ điểm vững mạnh.

Bà ta từ lâu đã chờ đến khi cơ hội chín muồi, vốn là vào năm 2016 khởi binh thống nhất giang hồ, không ngờ đã khuấy động đến Căn bản Thượng sư. Ngài đã hóa hiện thành vị hộ pháp của dòng truyền thừa là Đại Lực Kim Cương, chính thức vạch trần ra trước công chúng âm mưu của XX. Thế là những đồng môn từ nhiều năm bị XX hãm hại lần lượt kéo đến Seattle để kể lể sự tình với Sư Tôn, đủ mọi việc làm xấu xa trong quá khứ cũng được kể ra hết.
 
Khoảng một tháng nay trong các pháp hội diễn ra liên tục tại Đài Loan Lôi Tạng Tự đều có những người từng bị hại lên tiếng làm nhân chứng cho những việc làm xấu xa của XX. Những nhân chứng này ở trước mặt Căn bản Thượng sư, trước đàn thành Tam Bảo làm sao dám đưa ra những bằng chứng giả mạo như trò trẻ con đây?

Mãi cho đến ngày 31 tháng 12 năm 2016 tại pháp hội Đại Lực Kim Cương, Diêu Trì Kim Mẫu mật ý, Căn bản Thượng sư đã múa Kim Cương Côn để thể hiện uy lực của Phật, tuyên bố rằng XX đã phạm vào 44 đại giới luật cơ bản của Mật giáo. Bây giờ là lúc sư tử gầm lên quét sạch bầy quỷ, có thể nói rằng chính thức luận tội XX xuống địa ngục Kim Cương.
 
Tuy nhiên XX đã tu luyện 10 năm thành yêu tinh nên cuối cùng cũng có được công lực thâm sâu, một tháng nay cũng đã hóa thân thành quỷ bà phát tán đi một số ý kiến hoàn toàn sai lầm trên mạng Internet, nói dối bịa đặt dựng chuyện, bóp méo những lời giảng pháp của Sư Tôn, có ý đồ củng cố địa vị của bản thân, dụ dỗ những đồng môn không hiểu rõ nội tình, bịa đặt ra những lực lượng đen tối ở trong tông phái, phá vỡ sự hòa hợp giữa đồng môn. Cho đến bây giờ bà ta vẫn tiếp tục làm như vậy, không chịu thừa nhận tội lỗi.
 
Vì sao quỷ bà đến nay vẫn chưa chịu nhận tội? Không chịu rời khỏi Chân Phật Tông? Rất đơn giản, bởi vì không nỡ từ bỏ miếng bánh lớn của Chân Phật Tông, không nỡ từ bỏ các "doanh nghiệp trọng điểm" mà nhiều năm nay đã thiết lập trên khắp mọi nơi trong Chân Phật Tông, bởi vì không nỡ từ bỏ nguồn thu nhập khổng lồ này. Bởi vì chỉ cần ra ngoài thêu dệt nên một vài câu chuyện, thêm thắt một chút đe dọa thì tiền cúng dường cứ thế đều đều đổ về, bà ta làm sao nỡ từ bỏ đây?
Ấy vậy, quỷ bà đến nay vẫn lớn tiếng kêu gào rằng quỷ bà đang vất vả hoằng pháp độ chúng sinh.
 
Tuy vậy nhân đây tôi xin hỏi các đồng môn "bất hạnh" đã từng nghe XX giảng pháp: xin hỏi XX có khai thị những lý thuyết Phật giáo tinh túy thâm sâu gì không? Xin hỏi XX có mở mang ra được cho chúng sinh trí huệ Như Lai nào không? Xin hỏi XX có khai thị Mật pháp gì không? Xin hỏi khai thị của XX có pháp vị sâu sắc không?
 
Rất rõ ràng, vô số những video khai thị của XX đều không có những thứ kể trên!
 
Hơn nữa những bài thuyết pháp của bà ta chẳng có gì ngoài việc:
1.	Nói chuyện nhân quả ba kiếp.
2.	Nói chuyện nghiệp chướng.
3.	Nói chuyện quỷ thông.

Ngoài ra thì còn đe dọa nữa.

Bạn muốn tiêu trừ nghiệp chướng, tiêu trừ oan gia trái chủ thì cần phải bán hết sạch sẽ mọi gia tài đưa cho bà ta lập đàn Hộ Ma, tiền vào túi bà ta rồi. Những người ở chỗ bà ta làm việc tự nguyện để tăng phúc báo đã vì bà ta mà bán cả sinh mệnh, làm quỷ nô lệ. Một khi bạn không muốn theo nữa, muốn rời bỏ, thì lập tức sẽ xảy ra chuyện.
 
Xong rồi, dưới đây sẽ đưa ra một số mánh khóe lừa bịp mà quỷ bà thường dùng mới đây nhất:
1. Thẳng tay chỉ Sư Tôn là nghe lời đồn nhảm.
Trong các bài viết của mình XX thường nói Sư Tôn là chỉ nghe những tin đồn bậy bạ, giống như những hôn quân ngày xưa. 

Xin hỏi XX:
Các người nghi ngờ trí huệ Phật của Sư Tôn sao? Các người nghi ngờ năng lực phán đoán bằng thần toán của Sư Tôn sao? Các người nghi ngờ Sư Tôn không biết phân biệt những lời thị phi sao? Các người có hiểu Mật giáo không? Các người hiểu thế nào là "nhất quy y" không? Các người có niềm tin thanh tịnh đối với Căn bản Thượng sư không? Các người có mở miệng gọi tên Sư Tôn một cách tôn kính không hay là lại nghi ngờ năng lực của Sư Tôn? Các người có tư cách làm đệ tử của Sư Tôn không? Các người luôn mồm luôn miệng gọi "Sư Tôn" là vì sao vậy? Nói trắng ra thì chỉ là nói cho dễ nghe mà thôi, chính là nói để cho người khác nghe mà thôi.

2. Nói rằng Sư Tôn kiểm tra từng đệ tử để tìm ra câu trả lời chính xác.
Trước khi một vị sáng lập Mật giáo truyền tâm pháp cho đệ tử tâm phúc thì thực sự là có thể sẽ kiểm tra đệ tử. Nhưng đó là việc làm đối với từng cá nhân, là một việc riêng tư, trước tiên có thể phải xem xét xem đệ tử có thật là có pháp khí thật hay không. 

Nhưng bây giờ Sư Tôn nói công khai, là nói với với mỗi một người. Vậy thì còn kiểm tra cái gì nữa? Nói chuyện gì buồn cười vậy? Lại còn cần phải kiểm tra toàn bộ từng đệ tử hay sao?

Sư Tôn với tâm thuần tịnh của Đồng Tử, ngồi trên pháp tọa chẳng bao giờ quên giải thích tỉ mỉ trí huệ Như Lai, không bao giờ thiếu giảng dạy tỉ mỉ về Phật pháp, chính là vì sợ đệ tử không hiểu, chả lẽ lại còn phải nghĩ đến việc kiểm tra từng đệ tử sao?

Đây là do quỷ bà của các người lấy bụng của kẻ tiểu nhân mà suy lòng quân tử, cũng chính là lòng dạ Tư Mã Chiêu ai ai cũng biết, các người đã ăn cắp còn la làng, giả bộ là nạn nhân, cố ý đổ tội cho người khác để đánh lạc hướng sự chú ý của mọi người.
 
Tiếp theo lại hỏi quỷ bà:
Các người khi thì nói Sư Tôn là nghe lời đồn đại nhảm nhí, khi thì nói Sư Tôn kiểm tra mọi người, vậy thì xin hãy trả lời rốt cuộc là điều gì? Một đằng thì cho rằng Sư Tôn không biết chân tướng, một đằng thì nói Sư Tôn biết chân tướng sau đó kiểm tra mọi người, hai việc này không thể nào đồng thời xảy ra được! Đều là lời do các người nói lại còn tiếp tục lừa gạt sao!
 
3. Sư Tôn gọi "quỷ bà" là ám chỉ một người nào đó khác.
XX nói Sư Tôn không chỉ đích danh tên họ, người được gọi là "quỷ bà" là một người khác. Được rồi, tin rằng tai mọi người đều không có vấn đề, Sư Tôn không chỉ đích danh tên họ của quỷ bà là ai, nhưng cũng đã chỉ ra rõ ràng đó là San Francisco, Tinh Anh Phủ, đó còn chẳng phải là bà ta hay sao? Còn có thể là ai khác nữa?

Đừng cho rằng đồng môn ai cũng giống như các người có thể dễ quên một cách có chọn lựa như vậy.
 
4. Không phải dự đoán không chuẩn, mà là bằng mọi giá cứu quỷ bà được sống.
Ây dà, trò lừa đảo này mọi người đều có thể học hỏi một chút. Tiện đây tôi cũng dự đoán, quỷ bà nội trong vòng ba tháng sẽ chết, nếu như không chết thì là do tôi bằng mọi cách cứu bà ta, bằng mọi giá cứu bà ta, cố gắng hết sức để cứu, cứu bà ta được sống, không phải là tôi dự đoán không chuẩn đâu. Cho nên mau mau đem tiền cúng dường đưa cho tôi.

Mọi người chỉ cần học mánh khóe này thì người người đều có thể là Quan Âm sống, Bồ Tát sống, A Men!
 
5. Quỷ bà từ bi "phá bỏ nhân quả" cứu chúng sinh.
Muốn hỏi quỷ bà một chút: các người có thực sự hiểu Phật pháp không?

Cần phải biết rằng nhân quả là bất khả tư nghì, nghiệp lực là không thể đoán biết, ngay cả một người có thần thông đệ nhất cũng không thể vượt qua được nghiệp lực, Đức Phật Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni cũng không thể nhắm mắt trước nhân quả, cũng phải chịu rất nhiều quả báo.

Thế mà quỷ bà nhà các người chỉ cần có chút quỷ thông thôi là đã có thể chủ động từ bi "phá bỏ nhân quả" cứu chúng sinh, năng lực này còn vượt xa Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, thật là khủng.

Các người có thể tiếp tục làm hổ gầm to lên chút nữa, không sao đâu! (Ý nói khoác lác, chém gió, nói điều nhảm nhí.)
 
6. Những người đứng lên làm nhân chứng đều đang sống tốt là do được quỷ bà cứu, còn những người bị chết thảm là do tâm thần bất bình thường. Đều là do nghiệp lực kiếp trước.

Việc này kì quặc rồi đây. Các người nói quỷ bà từ bi năng lực cao siêu, có thể "phá bỏ nhân quả" dốc sức cứu độ, sao lại còn có người chết thảm vì thần kinh bất bình thường do nghiệp lực kiếp trước đây?

Còn kì lạ hơn là tất cả mọi người đều sau khi đi gặp quỷ bà về, hoặc là không phục theo quỷ bà mà muốn rời bỏ đi, thì nghiệp lực lập tức xuất hiện, thời gian quả báo phát sinh kể ra cũng khéo thật.
 
Được rồi, kể ra vài chuyện đơn giản như vậy, là những mánh khóe gần đây quỷ bà thường dùng. Trên thực tế các mánh lới của quỷ bà đều là trước nay chưa từng có. Rốt cuộc quỷ bà công lực thâm hậu, tiểu tử tôi còn lâu mới với tới được. 

May mắn có được Căn bản Thượng sư gia trì nên có thể "nhìn trộm" ra được một ít mánh khóe của bà. Nhân đây tôi chia sẻ với các đồng môn để mọi người có thể sớm được cảnh báo, tránh bị quỷ bà mê hoặc.
 
Cảm ơn Sư Tôn gia trì!
Om guru lian-sheng siddhi hum!


### Phụ lục 1. Liên Hoa Dật Nhân kể chuyện


Nhất tâm đảnh lễ Căn Bản Truyền Thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.

Quỷ ảnh lập lòe, gió âm lạnh lẽo, yêu ngôn hoặc chúng, lừa trên gạt dưới, chỉ đòi cúng dường, chơi đùa đồng môn, XX lợi dụng danh nghĩa của tông phái để lôi kéo đám đông, nuôi quỷ để điều khiển chúng sinh, thích thú kiêu ngạo, tranh đấu kiện tụng, làm phiền nhiễu người khác.

Gần đây Mật Nghi Lôi Tạng Tự tại Texas xuất hiện hai vị Pháp sư (Liên Tiến, Liên Phụng), mới đến chưa được bao lâu thì đã có được danh hiệu chính thức, được phong cho làm trưởng phụ trách giảng pháp tại Mật Nghi. Sau đó họ bắt đầu ngồi làm pháp cầu thần bái Phật, thường xuyên thúc người dưới rằng cần phải làm như vậy mới có thể tiêu tai trừ ách, do vậy mọi người đều cúng hồng bao, cảm kích dập đầu đảnh lễ. 

Thời gian đó trở đi, chẳng được vài tháng bắt đầu xuất hiện tình trạng đồng môn người thì chết, người thì bệnh, tai nạn xe cộ, sự tình nghiêm trọng hơn so với trước khi họ tới. 

Vì lý do đó, lần lượt từng người chạy đến xin cúng dường, sau đó tôi thấy Pháp sư cùng với các đồng môn đến nhà của người này người kia, vô cùng tất bật, điện thoại không ngớt.

Ghi chú: bạn trai của con gái lớn của Thiệu Mẫn Thanh sư tỷ gặp tai nạn xe mà chết, hai người ngồi trên xe đều chết (đều là đồng môn quy y). Họ thường đến chùa của XX làm công ích.
Diêu Tố Trinh sư tỷ gặp tai nạn xe nghiêm trọng, bây giờ không dám đến chùa nữa. 

Chồng của Trần Thiết sư tỷ là Trình Tấn Tài sư huynh gần đây mới chết do bị bệnh. Sư huynh David Lăng mắc bệnh mà chết. Mới đây, Tằng Tú Anh sư tỷ mắc bệnh mà chết. Ông Huệ Nghị sư tỷ mắc ung thư. La Uyển Ninh sư tỷ mắc bệnh tim mà chết.

Rất nhiều đồng môn bị ám và bị "điều khiển", quầng mắt luôn thâm đen.

Sau này, (ông ta) thẳng tưng không che giấu mong cầu ẩn sâu là nhận con gái nuôi, lúc khai thị trên Phật đường thích nhất nói đến điều này. Ông ta nhận hơn trăm người con gái nuôi trên toàn thế giới. 

Gần đây, hay cảm thấy thân thể không được khỏe. Một sư tỷ bên cạnh cũng cảm thấy tình trạng giống như vậy. Vì thế, tôi bắt đầu chú ý đến đồng môn, (thấy họ) hai mắt nhìn chằm chằm, màu da trắng bệch, hố mắt đen sạm, khi nói chuyện lúc thì hi hi ha ha, lúc thì không nói gì hoặc lại im lặng giống như người bị trầm cảm.

Vì sao Pháp sư già xuất gia nhiều năm như thế mà các thói quen tập khí còn nặng vậy, cơ bản là không giống người xuất gia. 

Còn có một chuyện đặc biệt kì lạ. 
Pháp sư già vừa đến chưa được bao lâu đã trở rất nên thích  Cực Lạc Điện, chui vào đó (khóa cửa và sử dụng) tới mức ngay cả ngài đổng sự trưởng Lâm Chí Minh và trợ lý Vương Tư Văn đều không có chìa khóa để cửa Cực Lạc Điện (bị lấy khóa đi mất). 

Pháp sư già nói lý do là: sợ lại bị trù yểm, vì thế (Cực Lạc Điện sẽ do ông ta và Pháp sư Liên Phụng quản lý. Tôi thì thấy là Pháp sư già mỗi ngày vào buổi tối sẽ đốt phù lệnh, mỗi ngày chủ yếu là ở Cực Lạc Điện khóa cửa lại để trốn.

Kính báo.
Sư An. Đệ tử Liên Hoa Dật Nhân.
Bái khấu.


### Phụ lục 2. Liên Chân kể chuyện


Tôi là Liên Chân, là một đệ tử Chân Phật. Hôm nay tôi ra mặt để làm nhân chứng, cũng hy vọng mọi người đến để cùng nhau  hỗ trợ sư phụ hộ trì tông giáo. 

Khoảng 20 năm trước, rất nhiều đồng môn Chân Phật Tông đều biết rằng tôi ủng hộ XX ở San Francisco nhất. Khi đó, XX luôn nhấn mạnh rằng mình bị Sư Mẫu, Tông ủy hội ép hại, bà ta lại nhấn mạnh Căn bản Thượng sư chỉ tin một mình bà thôi, và ngài rất cổ vũ bà ta. Khi đó tôi cũng tin là thật!

XX muốn tôi đem hết tài sản cá nhân tặng cho bản thân, đem bán Phúc Hựu Lôi Tạng Tự, đem vợ con, tiền bạc đến San Francisco hỗ trợ giúp đỡ cho bà ta. 

Sau này, tôi phát hiện ra XX xúi giục kẻ xấu làm hại bốn vị Thượng sư, lại biển thủ tiền đồng môn cúng dường cho thầy và Phật. XX lừa tiền, đối với Căn bản Thượng sư thì không kính trọng, gây nên chia rẽ bất đồng, tung tin đồn đe dọa khiến đồng môn không còn tin tưởng Tông ủy hội. 
Bà ta không những tự mình nuôi quỷ ác mà còn mở rộng việc nuôi quỷ ở các đạo tràng Chân Phật Tông khắp nơi, cúng bài vị quỷ ở XX phủ.

Bà ta nói ánh sáng tím thù thắng hơn ánh sáng trắng nên dễ tương ứng hơn. Đây là sự phản bội lời giảng của Sư Tổ, phạm vào mười bốn đại giới Mật giáo gốc, sẽ bị đọa xuống địa ngục Kim Cương. 

XX muốn ở trên đầu các đồng môn. Khi phát hiện ra bộ mặt giả dối của bà ta, tôi đã đem chân tướng sự việc nói với mọi người, nhưng không có ai tin. Cũng do đó XX muốn trừ khử tôi bằng mọi giá. 

XX đe dọa rằng nếu tôi không làm theo lời bà ta, Tông ủy hội sẽ cách chức tôi! XX còn chỉ tay vào giữa hai lông mày tôi nói rằng sẽ bắn cho tôi chết! 

Bà ta lừa bịp các đồng môn của Phúc Hựu Lôi Tạng Tự, nói rằng "Lão Thành Hoàng rất tức giận! Lão Thành Hoàng muốn trừ khử Liên Chân!"

XX còn nói dối đồng môn rằng chưa từng bao giờ lấy tiền cúng dường của pháp hội tổ chức bởi Phúc Hựu Lôi Tạng Tự, bịa đặt rằng tiền đều bị Liên Chân ăn chặn. Cuối cùng, bà ta kêu gọi những đồng môn ủng hộ bà ta, cùng đến Phúc Hựu Lôi Tạng Tự đòi tôi lập tức từ chức. 

Nhờ có sự gia trì của Căn bản Thượng sư và các vị Hộ pháp, kế hoạch lật đổ tôi của XX đã không thành công. 

Tiếp theo XX lại kêu gọi những người ủng hộ đến tìm tôi, đưa ra giá 500 vạn đòi mua Phúc Hựu Lôi Tạng Tự. Tôi lập tức từ chối. Khi đó, hầu hết đồng môn của Phúc Hựu Lôi Tạng Tự lại đều tin theo bà ta nên gần như chẳng còn ai muốn ủng hộ chùa nữa, tình hình hoạt động của đạo tràng rơi vào tình trạng èo uột. 

Tôi còn bị dí xuống, vẫn còn may có sự gia trì của Căn bản Thượng sư và Hộ pháp, biến nguy hiểm thành an lành. 

Tôi đã mù quáng tin theo những lời dối trá của XX, hơn thế nữa còn hết sức giúp đỡ XX làm pháp hội. Nhưng rốt cục chỉ nhận được sự đối xử như vậy, hơn thế bà ta lại còn muốn trừ khử tôi nữa!

Khi tôi tỉnh ngộ ra thì hướng về Căn bản Thượng sư, Sư Mẫu cầu xin sám hối. Tôi đã mắc nợ tấm lòng đại từ đại bi của Căn bản Thượng sư và Sư Mẫu vì các ngài đã chấp nhận sự sám hối của tôi. 

Sau đó, Sư Phật giảng: chư Phật, Bồ Tát, Hộ pháp từ lâu đã biết đạo đức và việc làm của XX rồi, nhưng Sư Phật không nỡ từ bỏ một chúng sinh nào, hy vọng sẽ có một ngày bà ta hối cải quay về cái thiện! Nếu không thay đổi thì tương lai cũng phải tự chịu nhân quả thôi! 

Trước đây, bởi vì Phúc Hựu Lôi Tạng Tự của chúng tôi đã giúp đỡ cho các hoạt động của XX, khiến cho các đồng môn bị XX lừa. Vì thế ở đây, tôi đặc biệt hướng về Căn bản Thượng sư, Sư Mẫu, Tông ủy hội và các đồng môn xin cúi đầu mười hai vạn lần sám hối!

Nguyện tất cả những người đã tin lầm XX, hãy tỉnh ngộ! 
Mau mau quay lại! 

Thật lòng hướng về Căn bản Thượng sư để sám hối, lại tu luyện Chân Phật Mật Pháp chính thống, sớm có ngày thành tựu!
Om guru lian-sheng siddhi hum!

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/260-chia-khoa-cua-coi-troi.md
# Title: 260. Chìa khóa của cõi trời
---

![image](/img/img_470d59b9270a4fcbed6a73b00085806f.jpg)



## Chìa khóa của cõi trời


🪷 Mở cửa thiên đường

Văn tập: 260
Xuất bản: 08/2017
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu


Tôi ngồi thiền trong nhà.
Có một thiên nhân từ trong hư không nơi tôi tọa thiền bay qua, thiên nhân này nhìn thấy trước mặt phát ra ba luồng ánh sáng, ba luồng ánh sáng này chính là:
Phật quang.
Linh quang.
Bạch quang.

Thiên nhân này giật thót mình, đến trước mặt tôi.
Hỏi:
"Xin hỏi tôn giả, ngài là người gì đấy?"
Tôi đáp:
"Tôi không biết."
Thiên nhân hỏi:
"Trong hư không hiện lên Phật quang, linh quang, bạch quang, ba ánh sáng này tỏa ra, vậy thì tôn giả lẽ nào là Phật, Như Lai, Thế Tôn?"
Tôi đáp:
"Không! Tôi không phải là Phật, Như Lai, Thế Tôn!"
Thiên nhân hỏi:
"Thế ngài nhất định là Đại La Kim Tiên rồi?"
Tôi đáp:
"Không! Tôi không phải là Đại La Kim Tiên!"
Thiên nhân lại hỏi:
"Tôn giả không phải Phật, cũng không phải Kim Tiên, thế nhất định là một vị Đại Bồ Tát, đúng không?"
Tôi đáp:
"Không! Tôi không phải là Bồ Tát!"

Cuối cùng, thiên nhân hỏi:
"Thế rốt cục ngài là ai?"
Tôi đáp:
"Tôi thật sự càng ngày càng không hiểu mình rốt cục là ai. Nhưng tôi có thể buông bỏ tất cả, chỉ là một con người, không bị thế gian nhiễm bẩn."

Thiên nhân nghe xong.
Cười lớn ha ha ha rồi bỏ đi, vừa cười vừa nói:
"Không bị thế gian nhiễm bẩn, không bị thế gian nhiễm bẩn, như thế là đã có chìa khóa của cõi Trời rồi, có thể đến tất cả mọi nơi, thảo nào, thảo nào!"
Thiên nhân bay lên hư không, nói:
"Tôi biết tôn giả là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn rồi!"
Tôi nói:
"Đó chỉ là phù hiệu thôi."
Thiên nhân nói:
"Tôi chỉ biết có một người, nhiều lần hạ sinh ở nhân gian, bảo vệ chính nghĩa, tiêu diệt tà ác, xây dựng chính pháp, trong tay của ngài ấy nắm giữ chìa khóa của cõi Trời, có thể đến tất cả pháp giới, tôi xin đảnh lễ trước tôn giả."
Tôi nói:
"Thiên nhân cao quý, vậy thì người hãy đảnh lễ hư không đi! Người sẽ hiểu được ý của tôi."
Thiên nhân nói:
"Đúng vậy, đúng vậy."

Thơ: Hư không
"Ai là tôi?
Tôi là ai?
Quên hết tất cả chẳng bận lòng
Đông cũng có
Tây cũng có
Nắm chìa khóa trong tay
Ở khắp chốn
Bạn hỏi tôi
Tôi hỏi bạn
Chưa bao giờ từng phụ lòng nhau."

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Phật Đà là người thế nào?


Tôi từng nghĩ mãi:
"Phật Thích Ca Mâu Ni là người thế nào?"
Điều tôi nghĩ đến là lai lịch. Về sau, tại thế giới Ta Bà, tôi đã gặp được Phật Thích Ca Mâu Ni. Tôi đã từng viết trong một cuốn sách trước đây.

Từ "Bản Sinh Kinh" của Phật Đà, tôi đã đi tìm hiểu về sự ra đời của Đức Phật. Rồi lại từ những lời nói và việc làm sau khi giác ngộ dưới gốc cây bồ đề của Phật Đà, tôi đã đi tìm hiểu về Đức Phật, biết được Phật Đà có hai việc:
1. Sau khi giác ngộ lập tức muốn rời khỏi thế gian.
2. Sau khi giác ngộ không muốn thuyết pháp.

Sau khi giác ngộ, Phật Đà từng nghĩ:
Pháp thâm sâu không dễ.
Chẳng cần dạy chúng sinh.
Tham sân trói con người.
Khó mà hiểu được pháp.
Người tham lam ngu muội.
Chẳng thấy chính pháp này.
Pháp này ngược sự đời.
Ảo diệu thực khó biết. 
Phật Đà hiểu như vậy.
Chẳng muốn truyền Phật pháp.

Đây là cách nghĩ của Phật Đà sau khi đã ngộ đạo dưới gốc cây bồ đề. Bởi vì Phật pháp quá thâm sâu, quá khó hiểu, lại không giống với các pháp thế gian, do vậy Phật Đà không muốn tuyên thuyết Phật pháp. 

Vì thế, Phật Đà thấy, vì đã không muốn tuyên thuyết Phật pháp, nên cũng không muốn lưu lại thế gian này, ở lại cũng vô ích, do vậy nghĩ chi bằng lúc đó đi luôn. 
(Sau đó, Đại Phạm Thiên Vương khuyên thỉnh, Phật Đà mới thuyết pháp, sự việc này những người học Phật đều biết.)

Điều tôi muốn nói với thế nhân là:
1. Phật không phải là người.
2. Phật biết quá khứ, hiện tại, vị lai.
3. Phật là Như Lai, Như Khứ, tất thảy đều là Như như. Ngài có chìa khóa của cõi Trời, có thể đến mọi nơi tùy ý. 
4. Phật là bậc Thiên nhân cực đỉnh.

Nói theo ngôn ngữ hiện đại ngày nay thì: 
"Phật Đà là người ngoài hành tinh đỉnh của đỉnh."

Tôi nói:
"Tôi cũng vậy."
Câu nói này của tôi hôm nay có thể khiến cho xã hội ngứa tai. Phật Thích Ca Mâu Ni là người ngoài hành tinh cực đỉnh, Chúa Jesus cũng là người ngoài hành tinh cực đỉnh, còn có rất nhiều rất nhiều người là người ngoài hành tinh cực đỉnh nữa….

Tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) nói:
"Tôi từ Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ  hạ sinh ở nhân gian, tôi không phải là người ngoài hành tinh cực đỉnh thì là cái gì?"

Tôi nói:
Diễm Đế --- Thần Nông Thị. 
Hoàng Đế --- Hiên Viên Thị.
(Con cháu của Diễm Đế, Hoàng Đế là tổ tiên của người Trung Quốc.)

Ngoài ra:
Phục Hy Thị, Nữ Oa Thị, Toại Nhân Thị, Hữu Sào Thị, được xưng là sáu vị thần cổ đại, đều là từ trên trời hạ giáng. Do vậy:
"Họ đều là người ngoài hành tinh."

Cách nghĩ của tôi là rất chính xác. Từ xưa đến nay, rất nhiều người tài giỏi làm nên những việc phi thường, đều là những chuyện "thiên ngoại thiên". 

Thiên ngoại thiên chính là những chuyện bên ngoài trái đất!
Người ngoài hành tinh, chẳng phải thế sao?
Phật giáo có một cuốn sách là "Nguyên Nhân Luận", chỉ ra nguồn gốc của nhân loại là từ cõi trời Quang Âm đến. 
Quang Âm Thiên là ngoài hành tinh.
Chúng sinh chẳng phải là người ngoài hành tinh sao. 

Điều tôi muốn nói với mọi người là, người ngoài hành tinh cực đỉnh, trí huệ rất cao, cao tới mức không thể đo lường được. 
Bởi vì cao tới mức không thể đo lường, ngộ cảnh của Phật Đà là bất khả tư, bất khả nghì. 
Hôm nay, tôi đã hiểu được:
"Tôi ngày xưa cũng là người ngoài hành tinh cực đỉnh."


### 02. Chúng sinh đang làm gì?


Tôi thường nghĩ thế này:
Chúng sinh ở thế giới Ta Bà đang làm gì?
Sinh ra.
Đi học.
Đi làm.
Kết hôn.
Nuôi dạy con cái.
Con cái kết hôn.
Già.
Chết.

Tôi nói:
Biết bao chúng sinh đều chạy, chạy, chạy theo cùng một cách này, từ lúc sinh ra cho đến lúc chết.
Con đường từ lúc sinh ra cho đến lúc chết đi này, mọi người cứ chạy theo quỹ đạo này bao lâu rồi!

Con đường này cũng chưa chắc là thuận lợi, có biết bao nhiêu chướng ngại, tôi lấy ví dụ đơn giản:
Mắc bệnh.
Chết yểu.
Tai vạ bất ngờ.
Chết oan.
Vướng vào kiện tụng.
Yêu phải xa cách.
Ghét vẫn phải gặp.
Mong cầu không được.
Vân vân... (Vô thường)

Nhân đây, tôi hỏi mọi người, bạn có từng nghĩ:
"Rốt cục bạn là ai?"
"Bạn từ nơi nào đến?"
"Chết sẽ đi về đâu?"
"Rốt cục sống vì cái gì?"
"Sống chết rốt cuộc là chuyện gì?"
"Cái gì là giá trị của việc sinh ra và giá trị của việc chết đi?"

Bạn đem những câu hỏi này đi hỏi tổng thống, hoặc đi hỏi những doanh nhân lớn, hỏi các chuyên gia đại học, hỏi những người nổi tiếng.
Họ sẽ đều chẳng trả lời được, bởi vì bọn họ cũng ở trong biển sinh tử chẳng khác gì bạn, như khúc gỗ trôi dạt. 

Bạn chỉ có thể hỏi ai?
Chỉ có thể hỏi Phật Đà, Phật Đà nói:
Pháp mà ta đã ngộ được vô cùng sâu rộng, tịch nhiên thanh tịnh, vượt lên sinh tử, vô sinh vô tử.
Thế nhân chẳng dễ gì hiểu được, cũng chẳng dễ gì lĩnh ngộ được, thực sự chẳng có sinh tử, chỉ có Thánh nhân mới hiểu. 
Chúng sinh tham chấp thực dụng, chẳng có cách nào hiểu được. 

Đại pháp này là: 
Phá hủy tiền bạc.
Phá hủy sắc đẹp.
Phá hủy danh lợi.
Phá hủy tham ăn.
Phá hủy tính cách.
Phá hủy mạng sống.

Nhân duyên đại sự này, chúng sinh chẳng có cách nào hiểu được. 
Ai có thể hiểu được Phật Đà? Ai có thể ngộ được điều Phật đã ngộ?
Tôi đáp:
"Tôi (Lư Sư Tôn)."

Có rất nhiều người đi trên con đường tu hành, nhưng rất buồn cười, người tu hành lại yêu tiền, người tu hành lại háo sắc, người tu hành tranh danh đoạt lợi, người tu hành không biết nhân cách, người tu hành không biết về cuộc sống.

Đó đều là giả tu hành, là mượn việc tu hành để lừa bịp, tội lỗi tăng thêm một cấp, càng dễ đọa vào tam đồ.

Do vậy:
Tu hành thì đầy như đất trên mặt đất.
Thành tựu thì như đất in dấu chân chim. 
Ai có thể thực sự nắm được "Chìa khóa của cõi Trời"?


### 03. Tổng tập chìa khóa của cõi trời


Phật Đà dạy Phật pháp là: 
Khổ - Tập - Diệt - Đạo (Tứ Thánh Đế) --- chứng A La Hán.

Diệt được vô minh thì diệt được Hành, diệt được Hành thì diệt được Thức, diệt được Thức thì diệt được Danh sắc, diệt được Danh sắc thì diệt được Lục nhập, diệt được Lục nhập thì diệt được Xúc, diệt được Xúc thì diệt được Thọ, diệt được Thọ thì diệt được Ái, diệt được Ái thì diệt được Thủ, diệt được Thủ thì diệt được Hữu, diệt được Hữu thì diệt được Sinh, diệt được Sinh thì diệt được Tử, sầu bi, khổ não, diệt được sự tuyệt vọng, như vậy thì mọi cái khổ đều được diệt sạch.
(Thập nhị nhân duyên) --- chứng thập nhị nhân duyên (Duyên Giác). 

Bố thí.
Trì giới.
Tinh tấn.
Nhẫn nhục.
Thiền định.
Trí huệ.
(Lục độ) --- chứng Bồ Tát.

Chính kiến, chính tư duy, chính ngộ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tấn, chính niệm, chính định.
(Bát chính đạo)

Tôi nói:
"Chiến thắng tất cả, giác ngộ tất cả, không chấp vào tất cả, xả bỏ tất cả, chế tâm vào một chỗ, tự giác tất cả."
Còn nói:
"Độc chứng viên giác, thanh lương an yên, chuyển động pháp luân, phổ hóa chúng sinh."
"Chứng hữu dư, vô dư niết bàn."
Đó chính là Phật.

Ngoài ra:
Cá nhân tôi thường đi dạo trong các khu nghĩa địa, đi thăm lần lượt từng ngôi mộ (trông như những chiếc bánh bao). 
Tôi nghĩ đến:
"Có sinh tất có tử."
"Chỉ có nghiệp theo thân."
Tôi nghe bác sĩ Trịnh Sâm Long nói:
"Trong bệnh viện của tôi, trong vòng một năm, có bốn bác sĩ trẻ, vì mắc bệnh ung thư, tuổi còn trẻ nhưng đã lìa xa cõi đời rồi."
(Đó là vô thường.)

Còn có rất nhiều:
Tai nạn giao thông.
Đột tử.
Chết thảm.
Tự sát.
Bị sát hại. 
(Cuộc đời này thật chẳng hề có trạng thái thường hằng, bởi vậy mới nói là vô thường. Một khi vô thường xảy đến thì cũng không biết khi nào sẽ chết.)
 
Còn có một câu nói mà tôi ghi nhớ kĩ, đó là (Trung Luận):
Vì duyên mà sinh pháp
Tôi nói tức là không.
Cũng chỉ là tên giả.
Đó là nghĩa trung đạo.
Chưa từng có pháp nào
Chẳng sinh bởi nhân duyên.
Bởi vậy chẳng pháp nào
Chẳng phải là hư không.

Từ những câu này, tôi nghĩ đến "vô tự tính", ta là một sự giả hợp, nhà cửa là một sự giả hợp, xe cộ là một sự giả hợp, núi sông đại địa chẳng có cái nào không phải là giả hợp. Nếu như phân tách ra khỏi nhân duyên thì đó chính là "Không". 
Chúng ta thấy là "người". 
Nhưng đất nước lửa gió khi phân tách ra thì chính là "Không". Xương thịt, dịch thể, nhiệt độ, hô hấp, lần lượt phân tách hết ra, thì con người cũng chẳng tồn tại nữa. 

Từ đó thấy được rằng:
Vô ngã.
Vô thường.
Khổ không.
Những điều này đều là nguyên nhân khiến chúng ta cần tu hành. Phật Đà vì một nhân duyên đại sự mà đến. Tôi có thể lĩnh ngộ được, bởi thế tín thọ phụng hành.


### 04. Thế nào là Trung quán?


Cá nhân tôi không muốn dùng pháp nghĩa thâm sâu để giải thích về Trung quán. 
Tôi nói như thế này:
Nhân thế gian có hai loại tà kiến:
Tà kiến thứ nhất:
"Con người chỉ có một kiếp, chết rồi thì tất cả đều kết thúc!"

Người theo phe này cho rằng chết chính là không còn tồn tại bất kì cái gì nữa, vì thế sinh ra những tư tưởng suy diễn từ điều này như:
1. Không có thiên đường, địa ngục, không có lục đạo luân hồi.
2. Tôn giáo là ngu muội.
3. Đạo đức chỉ là bịp bợm.
4. Chủ nghĩa hưởng lạc.
5. Chủ nghĩa buông thả theo dục vọng, tự tư tự lợi, thỏa thích hưởng thụ thế giới này, trộm, cướp, lừa lọc đều có thể làm.
6. Hưởng lạc tới điểm cao nhất chính là một sự vinh quang.
7. Không phân biệt thủ đoạn, tranh đấu đến quyền lực và địa vị cao nhất.
8. Kiếm tiền là số một, cực kì vô lương tâm. 
9. Dù gì cũng chẳng có kiếp sau, không có nhân quả, chỉ cần có lợi ích cho bản thân thì sẽ làm. 

Tà kiến thứ hai:
"Muốn thành tựu Phật quả, cần phải chịu những khổ hạnh lớn nhất. Nghĩa là muốn đạt đến giải thoát thì chỉ có khổ hạnh nghiêm khắc mới có thể đạt được."
1. Ngày ăn một bữa. Hoặc tuyệt thực. Hoặc ngày ăn một hạt kê.
2. Mặc quần áo vá chằng vá đụp. Hoặc lõa thể. 
3. Sống trong hang động, dưới cây, đất trống. Không đảo thiền (chỉ ngồi, không nằm).
4. Đi lại bằng chân đất.
5. Treo ngược.
6. Đi vào nước.
7. Đi vào lửa.
8. Đốt ngón tay.
9. Học tập những hình dáng của động vật.
10. Tự đâm chọc vào người.
11. Cắt xẻ thân thể. 
12. Dùng đủ loại khổ hạnh nhằm đạt đến mục đích giải thoát. 

Tôi nói: 
"Đây là hai loại tà kiến, cần phải loại bỏ lý luận về một kiếp, cũng cần phải loại bỏ khổ hạnh."
"Đó chính là Trung quán."
Phật Đà nói:
"Trung quán chính là bát chính đạo."
"Chính kiến" tức là cần có sự không bám chấp vào hai thứ cực đoan, cần xả bỏ hưởng lạc và khổ hạnh, từ bi thế nhân, cần có tư tưởng vô hại đối với bạn, với ta, với người khác. 
"Chính tư duy" chính là đối trị với sự ích kỉ, ác ý, tàn nhẫn. 
"Chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh", ba cái này chính là đạo đức giúp viên mãn đời người.
"Chính tinh tấn" tức là tiêu trừ ác nghiệp, tăng trưởng thiện nghiệp.
"Chính niệm" tức là tự thanh tịnh ý nghĩ của mình.
"Chính định" tức là nhất tâm bất loạn, chế tâm một chỗ.

Phật Đà từng dùng hình tượng dây đàn để so sánh với Trung quán. 
Dây đàn căng quá thì dễ đứt.
Dây đàn lỏng quá thì không phát ra âm thanh. 
Không căng không lỏng là vừa đẹp nhất!
Trung quán chính là không quá căng, không quá lỏng, thì sẽ tạo ra âm thanh đẹp đẽ tuyệt diệu nhất. Không lệch về sự sôi sục, không lệch về sự lỏng lẻo, đó chính là Trung quán.

Phật Đà nói:
Mọi điều ác không làm.
Hãy làm mọi điều thiện.
Tự thanh tịnh tâm ý.
Đó là điều Phật dạy.
Trong lời kệ này, "tự thanh tịnh tâm ý" là quan trọng nhất. 

Kinh Pháp Cú:
Từ tham lam mà sinh ra buồn rầu, từ yêu mà sinh ra sợ hãi, rời bỏ dục vọng thì không còn lo âu buồn rầu, càng không còn sợ hãi.


### 05. "Thiền tu" nghĩa là gì?


Từng có lần trong thang máy, tôi gặp một người học Phật, tôi hiếu kì hỏi: 
"Anh tu cái gì?"
Anh ta đáp:
"Thiền tu."
Tôi lại hỏi:
"Thiền tu là cái gì?"
Anh ta đáp:
"Quán tâm."
Tôi mới hỏi được hai câu thì thang máy đã đến nơi rồi. Do vậy, tôi muốn viết một chút về "thiền tu". 

Bản thân tôi thường xuyên trong lúc dạo bộ, hoặc lúc ngồi, lúc nằm thực hiện "thiền tu" (hoặc còn gọi là thiền quán). 
Mục tiêu của việc này là đạt đến "bất nhị pháp môn", thế bất nhị pháp môn là cái gì?

Tôi nói:
Đó là cảnh giới tuyệt đối, không có sự đối lập, lưỡng biên, cũng có thể nói như thế này, đó là pháp giới sâu thẳm nhất của cùng cực mọi pháp. 
Cũng có rất nhiều tên gọi khác tùy theo các phái:
Như Lai tạng.
Vô phùng tháp.
Tam ma địa. 
Quang minh tạng.
Tịch diệt hải.
Tổng trì môn.
Chân như cảnh giới.
Viên giác hải.
Pháp vương thành.
Bất động đạo tràng.

Nhưng làm sao để tu đây?
Cá nhân tôi cảm thấy nên tu "nhất". 
Kinh sách nói:
Sự đạt được đạo, ấy là nhờ vào sự tập trung chuyên nhất. Người học Phật do nhất tâm bất loạn mà đắc đạo. Người theo Nho giáo đắc đạo thì do từ sự nhất tâm mà quán chiếu được thông suốt.

Tôi nói:
Con người có thể thủ nhất thì vạn sự hoàn tất.
Phật Đà có nói: Con người có thể thủ nhất, chế tâm một chỗ, thì không việc gì là không làm được. 
Muốn minh tâm kiến tính cần chế tâm một chỗ, nhập tam ma địa nhất tâm bất loạn, mới có thể thành công.
(Theo kinh nghiệm thực tu của tôi, chỉ cần có thể thủ nhất thì chính là tam ma địa, rồi lại từ một hóa không, dòng chảy pháp trí huệ giữa vũ trụ sẽ từ hư không đổ xuống, tưới đẫm toàn thân ta, giống như làm thân thể này tan rã, rồi chính thân này hòa nhập vào trong hư không rộng lớn.)

Mọi người có thể lấy kinh nghiệm này của tôi để tham khảo. 
Thiền tu.
Quán tâm.
Dừng suy nghĩ.
Các cách gọi khác nhau, nhưng kì thực đều là một. 

Quán tưởng của Mật giáo chính là một phương pháp, ví dụ chúng ta quán tưởng một chú tự. Chữ "Hum"


![image](/img/img_d3bd63d7e84688469634b732bbc70206.jpg)


Đầu tiên ghi nhớ toàn bộ chữ này trong tâm. 
Tiếp đó, quán tưởng chữ Hum thiếu phần


![image](/img/img_b1459be9b13106b4fd65ed2cbac11d07.jpg)


Tiếp đó, quán tưởng chữ Hum thiếu phần


![image](/img/img_ed24301995799325351cb7e55e33aa33.jpg)


Tiếp đó, quán tưởng chữ Hum thiếu phần


![image](/img/img_3540422806a3dc420b146975365229d4.jpg)


Sau đó, chỉ còn lại


![image](/img/img_6e667a7115bc90e64ce55c59f95a313f.jpg)


Thế rồi, chỉ còn lại


![image](/img/img_c9b52f4b522991c7529855941cb29af9.jpg)


Rồi chỉ còn


![image](/img/img_158827739dcb3c828b51e29cbbe043a2.jpg)


Cuối cùng là:


![image](/img/img_fb8a21ec48d189f430ecbfec39179cca.jpg)


Lúc này ta đã tiến vào cảnh giới "không" rồi. 

Hoặc là:
Quán tưởng mặt của Bồ Tát, rồi lại hóa thành không.
Quán tưởng pháp khí, chú tự, rồi lại hóa thành không.
Khi bạn đã định vào một, hoặc hóa thành không thì đây chính là thiền tu, cũng tức là quán tâm, hoặc là dừng suy nghĩ.
Khẩu quyết của pháp này là dùng sự trợ giúp của việc hít thở.
Pháp này là đại bí mật vô thượng.
Tu quán lâu ngày rất dễ nhập vào tam ma địa. (cảnh giới định)


### 06. Các phương pháp chế ngự tâm ở một chỗ


Bàn về hai loại tà kiến, phân tích một cách đơn giản là:
1. Mê đắm vào hưởng thụ thanh sắc khuyển mã, sống cuộc đời xa hoa đồi trụy, như vậy là đê hèn, thấp kém, dung tục và vô bổ. 
2. Bám chấp vào tu mọi khổ hạnh, tự đày đọa bản thân, đây là nếm hết tất cả vị đắng, nhưng không phải là giải thoát thật sự, cũng là việc vô ích. 

Phật Đà đã lĩnh ngộ được Trung quán. 
Phật Đà nhờ vào việc chế tâm một chỗ mà lĩnh ngộ được:
Trí huệ vô thượng.
Bồ đề tâm.
Niết bàn tịch tĩnh.
Trung quán tức là: chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tấn, chính niệm, chính định. (bát chính đạo)

Vì sao lại khổ?
Bởi vì tham.
Vì sao lại tham?
Bởi vì tập tính.
Phật Đà cho rằng chỉ có nhờ chế tâm một chỗ mới có thể đạt đến trí huệ, bồ đề tâm, niết bàn. 

Cá nhân tôi cho rằng có rất nhiều cách thức để chế ngự tâm ở một chỗ:
Khi tôi tu hành ở chỗ của Đôn Chu Rinpoche, tôi đã trông thấy một miếng vải đỏ, ở giữa có vẽ một vòng tròn màu trắng. Địa điểm là ở bang New Jersey. 
Hình vẽ như sau:


![image](/img/img_cc66f74cfaea82aa70ae2780c4e35f6c.jpg)


Đôn Chu Rinpoche dùng hình tròn, quán tưởng vòng tròn để kiểm soát tâm tại một chỗ. 
Phương pháp của tôi là:
"Nhất duyên thiền định pháp", thắp một que hương, cắm vào trong lư hương. Như hình vẽ sau:


![image](/img/img_935d15b7feb15de653fe471a223258e5.jpg)


Hành giả tập trung sức chú ý vào điểm màu đỏ trên đầu que hương, không rời suy nghĩ về điểm màu đỏ này, lâu lâu sẽ có thể chế tâm một chỗ đó!

Còn có pháp tu Cửu tiết Phật phong. 
Hít khí vào từ lỗ mũi trái, phải. Chiếu theo phương thức chín bước để khiến cho sức mạnh tinh thần tập trung vào chín bước này. 
Như vậy sẽ có thể chế tâm một chỗ.

Còn có pháp tu niệm tụng Cao Vương Kinh. 
Ở trước đàn thành, niệm tụng từng chữ từng chữ của Cao Vương Kinh, tinh thần tập trung, cố gắng hết sức không để cho những vọng niệm thô ráp xen vào.Nhờ sức mạnh tinh thần đều tập trung vào những chữ trong bản kinh mà cũng có thể chế tâm một chỗ. 

Còn nữa:
Nhờ quán tưởng một chú tự như đã nói trong chương sách trước, ta tập trung vào chú tự:


![image](/img/img_d3bd63d7e84688469634b732bbc70206.jpg)


Làm như vậy cũng có thể chế tâm một chỗ. 

Còn nữa:
Nhờ quán tưởng Bổn tôn, thân tướng, cánh tay, pháp khí, v.v… của Phật Bồ Tát mà tinh thần tập trung, cũng có thể chế tâm một chỗ. 

Còn nữa:
Đại lễ bái.
Đại cúng dường.
Tứ quy y.
Tứ vô lượng tâm.
...
Đều có thể khiến cho con người chế tâm một chỗ. 

Còn nữa:
Những điệu hát kim cương, điệu múa kim cương, múa tóc kim cương, trò chơi kim cương đều có thể chế tâm một chỗ. Tóm lại, bất kì một phương pháp nào, cách thức nào, chỉ cần có thể khiến bạn tập trung được tinh thần, thì đều có thể luyện được việc chế tâm một chỗ. 

Việc chế tâm một chỗ có thể khiến ta quên đi sướng khổ, được mất, khen chê, đúng sai, tất cả đều biến mất. 
Có lợi ích lớn lắm đó!


### 07. Lợi ích lớn lao của nhất tâm bất loạn


Trong kinh A Di Đà, con người muốn đến được Phật quốc tịnh thổ thì phải niệm Phật nhất tâm bất loạn, khi ấy Tây phương Tam Thánh là A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát sẽ hiện lên trước mặt, tiếp dẫn chúng sinh được vãng sinh đến cõi tịnh độ. 
Đây là một lợi ích của việc nhất tâm bất loạn. 
Cực kì quan trọng.
Cực kì quan trọng. 

Mọi người nghĩ xem, vào lúc sinh mệnh sắp chấm dứt thì ùa ra rất nhiều cảm xúc phức tạp chua cay mặn ngọt đắng đủ cả, những vọng niệm trong lòng người rất rối bời và hỗn loạn. 
Muốn nhất tâm bất loạn là rất khó khăn đó!
Tuy vậy, chỉ cần lúc bình thường bạn luyện tập có hiệu quả thì vào lúc lâm chung, hãy nhớ đến Bổn tôn của mình. Miệng tụng chú của Bổn tôn. Không để cho ngoại cảnh làm phân tán. 
Liên tục nhất tâm bất loạn cho đến khi Bổn tôn hiện lên trước mặt, cả hai dung nhập hòa tan vào lẫn nhau, tự nhiên hoa sen nở ra sẽ thấy Phật. 
Đây chính là lợi ích lớn nhất. 

Kì thực, hành giả sống ở nhân gian, đương nhiên cuộc sống cần phải không màng danh lợi, cố gắng hết sức để giảm bớt dục vọng. Loại bỏ những sự phiền nhiễu từ các mối quan hệ giữa người với người. 
Loại bỏ những rắc rối về ham muốn tình cảm.
Tránh những chuyện thị phi lôi thôi. 
Tốt nhất là sống ở chùa, ở trên núi, ở những nơi yên tĩnh, nơi tinh thần dễ tiến vào trạng thái trống rỗng yên tịch. 
Thế mới gọi là:
Người kém thì ở núi.
Người giỏi thì ở chợ.
Ý của hai câu này có nghĩa là, nếu người nào đã có thể chế tâm một chỗ, nhất tâm bất loạn thì vẫn có thể nhập thế để độ chúng sinh. 

Thế mới nói là:
"Điềm tĩnh nhắm mắt quan sát bên trong thì trong lòng tự nhiên sẽ sáng suốt, không điều gì có thể làm phiền hà, nhờ đó được thái bình an yên."
"Bên trong mà giữ được kiên cố cái chân thật thì trong hư vô sẽ điềm nhiên mà thành thần tiên."
Nhất tâm bất loạn có lợi ích to lớn lắm thay!

Có thể giữ được tinh khí.
Có thể vận chuyển khí.
Có thể hiển thần.
Có thể vui vẻ.
Có thể sống lâu.
Có thể khỏe mạnh.
Nhất tâm bất loạn, chế tâm một chỗ, tinh thần thủ nhất là một khối hoàn chỉnh. 

Trên phương diện tâm linh:
Có thể hợp nhất với đạo.
Có thể tương ứng với Bổn tôn.
Có thể thông hiểu đạo lý huyền diệu.
Có thể thông linh. 
Có thể thành tựu tam ma địa. Cũng có nghĩa là có thể đạt được "định". 
Tam vô lậu học của Phật pháp là:
Giới - không màng danh lợi.
Định - nhất tâm bất loạn.
Huệ - minh tâm kiến tính.

Còn nữa:
"Không màng danh lợi, không nuôi dưỡng những ham muốn phồn hoa, ăn uống huyền khí thì có thể trường sinh."

Còn nữa:
"Sống ẩn mình, biểu hiện ra ngoài khác với thế nhân thông thường, hưởng niềm vui của tam Thần nhờ vào việc ẩn cư, vậy sao không lên núi tu tính mệnh, sống ở nơi sâu thẳm tĩnh mịch xanh mướt của những chân nhân. Vào núi nào đâu có khó mà còn chần chừ, nhân gian đâu đâu cũng xấu xa thối nát mà thôi."

Kinh nghiệm của cá nhân tôi là, con người chỉ cần tu đến nhất tâm bất loạn, tự nhiên tất cả sẽ đều sáng tỏ thông suốt, ta có thể cùng Bổn tôn hòa tan vào nhau, dòng chảy pháp từ hư không sẽ đổ xuống, tưới đẫm toàn thân ta, ta có thể chứng đắc được:
Đất --- kiên cố.
Nước --- thanh tịnh.
Lửa --- sáng chói.
Gió --- thần biến.

Đối với tu hành, cá nhân tôi tu giới trước, rồi mới tu định, chỉ cần có thể định được thì trí huệ sẽ tự đến mà thôi. 
Các thánh đệ tử à! 
Có hiểu không?


### 08. Thế nào là tương ứng thật sự?


Mật giáo chúng ta khởi đầu bằng việc tu pháp tương ứng. Mặc dù đó là ngoại pháp, thuộc loại pháp về phần thô, tuy nhiên, đây lại là nền móng của Mật pháp. 
Ý nghĩa của nó là:
Thân thanh tịnh --- thủ ấn.
Khẩu thanh tịnh --- trì chú.
Ý thanh tịnh --- quán tưởng.
Khẩu quyết khi tu pháp này là "nhất tâm".

Tôi có nhớ một bài kệ:
Nội tâm quán tâm tìm bản tâm
Tâm tâm đoạn tuyệt thấy chân tâm
Chân tâm thấu suốt thông tam giới
Ngoại đạo thiên ma chẳng dám gần.

Bài kệ này vô cùng quan trọng, đặc biệt là câu "tâm tâm đoạn tuyệt" chính là khẩu quyết chí yếu. 

Khi hành giả kết thủ ấn của Bổn tôn, miệng tụng chú ngữ của Bổn tôn, ý niệm quán tưởng Bổn tôn thì:
Bổn tôn ở tại hư không.
Bổn tôn di chuyển đến trên đỉnh đầu hành giả.
Bổn tôn hóa thành điểm sáng dung nhập vào bản thân.
Bổn tôn và hành giả không hai không khác.
Không hai không khác ở đây chính là: "Tương ứng."
Sự tương ứng lúc này chính là:
"Ta tức là Bổn tôn, Bổn tôn tức là ta."

Ở đây là muốn nói đến:
Khí và khí hòa tan.
Mạch và mạch thông nhau. 
Điểm và điểm hợp lại.
Lúc này, nguyện vọng (lời thề) của Bổn tôn cũng chính là lời thề của hành giả, là một. Đương nhiên thân là thân của Bổn tôn, khẩu là khẩu của Bổn tôn, ý là ý của Bổn tôn. Tâm tâm biến thành nhất tâm. 

Kinh Bảo Tích viết:
Chư Phật từ tâm đắc giải thoát.
Tâm thanh tịnh gọi là vô cấu.
Ngũ đạo trong sạch không nhiễm bẩn.
Người đã đạt được sự giải trừ này thì sẽ thành tựu đại đạo.

Kinh Hoa Nghiêm viết:
Con người muốn biết cảnh giới Phật
Ý cần thanh tịnh như hư không
Rời xa vọng tưởng và mọi vật
Tâm hướng về đâu đều chẳng khó.

Còn nữa:
Vì mọi pháp đều Không nên tâm ta Không.
Vì tâm ta Không nên mọi pháp đều bình đẳng. 
Mọi pháp và tâm ta không phải là những bản thể khác biệt. 
Tất cả chỉ nằm trong một ý niệm ngay lúc này.

Có người hỏi tôi:
"Có người tự nói rằng đã tương ứng với Căn bản Thượng sư rồi! Là thật hay là giả?"
Tôi đáp:
"Hành vi giống với thầy, ngôn ngữ giống với thầy, suy nghĩ giống với thầy, như thế tức là đồng tâm đồng đức."
Hỏi:
"Nếu vẫn chưa tương ứng thì sao?"
Tôi đáp:
"Rất đơn giản, hành vi sẽ sai lầm, ngôn ngữ sẽ đi ngược với lời của sư phụ, càng đi càng xa, bất đồng trong suy nghĩ, sẽ đi vào tà pháp, mất đi tín niệm đối với Căn bản Thượng sư, hành sự ích kỉ tự tư tự lợi, đã mất đi sự ngay thẳng, công bằng, chính trực. Loại người này đương nhiên là tương ứng giả, người minh nhãn nhìn là biết ngay."
Tôi nói:
"Người tương ứng thật thì một khi đã quy y, sẽ luôn hành sự dựa theo những lời của Lư Sư Tôn, giữ đúng theo "Sự sư pháp ngũ thập tụng", người nào đi ngược lại là chưa tương ứng, hãy nhớ rõ! Hãy nhớ rõ!"


### 09. Khẩu quyết của pháp tương ứng


Hỏi:
"Khẩu quyết của pháp tương ứng là gì?"
Đáp:
"Thực tu!" (hàng ngày)
Hỏi:
"Cần có quan điểm thế nào?"
Đáp:
"Kính sư!"
Hỏi:
"Trong cuộc sống có điều gì cần chú ý không?"
Đáp:
"Trung quán và Bát chính đạo."
Hỏi:
"Tương ứng với Thượng sư, rồi tương ứng với Bổn tôn, có phải là mù quáng quá không?"
Đáp:
"Không phải là tín ngưỡng mù quáng, cũng không phải là tu như đui mù, mà là tu bằng lý trí."

Hỏi:
"Cần giới định huệ không?"
Đáp:
"Giới định huệ là con đường duy nhất dẫn đến niết bàn."
Hỏi:
"Pháp tương ứng là Trời - Người hợp nhất phải không?"
Đáp:
"Trời và người có quan hệ mật thiết, nhưng sự mở rộng của tâm càng quan trọng hơn, nếu tự tâm mình đã rộng mở thì trời sẽ tự đến!"
Hỏi:
"Thế nào là tương ứng thật sự?"
Đáp:
"Nhất tâm."
Hỏi:
"Thế làm sao biết được đã nhất tâm?"
Đáp:
"Cần minh tâm."
Hỏi:
"Minh tâm là cái gì?"
Đáp:
"Là đã hiểu thấu về sinh tử luân hồi, hiểu rõ chân lý của núi sông đại địa, chứng đắc đạo lý thật sự của thế gian."

Hỏi:
"Kiến địa thì sao?"
Đáp:
"Hoàn toàn từ sự giác ngộ của bản thân, dựa vào cái thấy của con mắt chân thực, chính là kiến địa."
Hỏi:
"Làm sao để biết đã đi vào tà đạo?"
Đáp:
"Thật sự hiểu rõ Tứ thánh đế và Bát chính đạo và đưa vào thực tiễn, nếu không thì chính là đã đi vào tà đạo."
Hỏi:
"Bát chính đạo có sức mạnh gì?"
Đáp:
"Pháp lực của Bát chính đạo có thể đẩy lùi tham sân si tiềm ẩn trong mỗi cá nhân cũng như tất cả mọi tà tư ác niệm."
Hỏi:
"Chứng đắc của pháp tương ứng là như thế nào?"
Đáp:
"Tuyệt đối thanh tịnh."
Hỏi:
"Tương ứng được rồi thì sao nữa?"

Đáp:
Phật Phật đồng đạo đồng chí đạo
Tâm tâm chân khiết khiết chân tâm.
Âm thanh uy mãnh tự khuếch tán
Ngày dài tháng rộng biển càng sâu.

Tôi nói:
"Nếu như vẫn không hiểu thì có thể đến hỏi tôi!"


### 10. Thuyết "Vô Ngã" của Phật Đà


Tam Pháp Ấn của Phật Đà là:
Chư hành vô thường.
Chư pháp vô ngã.
Niết bàn tịch tĩnh.

Chúng ta đứng trên tư tưởng về sự vô thường, từ đó mà mọi hiện thực đều có thể lý giải được.
Ví dụ về vô thường thì đầy rẫy, đâu cũng có:
Động đất.
Lũ lụt.
Núi lửa.
Mưa bão.

Bài kệ cảnh giới người đời của Phổ Hiền Bồ Tát:
"Mỗi ngày qua đi
Mệnh lại giảm bớt
Như cá thiếu nước
Còn có gì vui?"

Phật Đà nói:
Có sinh tất có tử.
Có mạnh tất có yếu.
Có thịnh tất có suy.
Cái này sinh ra thì cái kia sẽ lụi tàn.
Thế gian là vô thường.

Phật Thích Ca Mâu Ni nói:
Sinh mệnh nằm trong sự vô thường, vô thường là chân đế, đời người như mộng huyễn, như ngọn đèn trước gió, một trận gió thổi qua thì lửa cũng lụi tàn.

Còn nữa:
Chúng ta lại bàn về chân đế "Vô Ngã".
Tôi ngồi trên pháp tọa tuyên thuyết cùng đại chúng rằng:
Thân thể này có phải là của ta không?

Tôi nói:
Thân thể này chẳng phải là của ta, nó chỉ là ngũ đại giả hợp:
Đất --- là xương thịt.
Nước --- là máu, là chất dịch.
Lửa --- là nhiệt độ.
Gió --- là hô hấp.
Không --- là linh hồn.
Nếu như ngũ đại giả hợp này mà phân tán thì ta tồn tại thế nào được?

Nếu thân thể này là của ta, thì sao ta lại không thể hoàn toàn khống chế được nó? Đôi khi ta muốn nó vận động nó lại bất động, muốn nó chạy nó lại chẳng có cách nào chạy được, muốn nó không sinh bệnh thì nó lại sinh bệnh, muốn nó không đau ốm thì nó lại đau ốm, muốn nó không chết thì nó vẫn chết.
Thân thể này sao có thể là của ta được đây?

Bạn cho rằng bạn có thể quyết được mọi chuyện?.
Sự thật là:
"Bạn chẳng thể quyết được mọi chuyện."
Do vậy, cái thân này có phải là của bạn không? Thân này có phải là thứ mà bạn sở hữu không?

Phật Đà nói:
Vô ngã.
Vô ngã sở.
Thọ tưởng hành thức và sắc, cũng là như thế thôi.
"Ta có phải là của ta không?"
Đáp:
"Không phải."
"Ta có phải là cái mà ta sở hữu không?"
Đáp:
"Đương nhiên là không."

Trong Kinh Vô Ngã, Phật Đà nói:
"Người nên hiểu rõ hết thảy bản chất của thọ-tưởng-hành-thức, bất luận là quá khứ, hiện tại, vị lai, trong hay ngoài, thô hay tinh, cao hay thấp, xa hay gần. Những cái này không phải là cái ta sở hữu, không phải là ta, không phải là thần ngã."

"Tất cả các thánh đệ tử hiểu biết sâu rộng, vì biết như vậy mà chán ghét và rời xa sắc-thọ-tưởng-hành-thức, rời xa ác nghiệp. Dựa vào sự vô chấp mà đạt đến giải thoát, sau đó tri kiến sẽ sinh ra, cái Ngã chứng được giải thoát, khi đã sáng rõ thì luân hồi kết thúc, lấy phạm hạnh làm chủ, những gì tạo tác ra đều xử lý được hết thì sẽ không còn kẹt trong cảnh giới này nữa."

Tôi nói:
"Vì vô ngã, xa rời phiền não!"
"Vì vô ngã, xa rời cái khổ!"
"Vì vô ngã, xa rời tất cả!"


### 11. Nhân gian như nhà cháy


Sau khi Phật Đà chứng đạo, đầu tiên Ngài đã nói mấy bộ kinh, trong đó có:
Kinh chuyển pháp luân.
Kinh vô ngã.
Kinh nhất thiết nhiên thiêu.

Có người hỏi tôi:
"Cái gì là Nhất thiết nhiên thiêu?"
Tôi đáp:
"Nhân gian như nhà cháy, cần nghĩ là phải thoát khỏi nó!"
Người hỏi:
"Vì sao nhân gian lại như nhà cháy?"
Tôi đáp:
"Bạn nhìn thấy mỹ nữ thì con mắt bốc hỏa. Bạn nghe thấy âm nhạc khiêu gợi thì đôi tai bốc hỏa. Bạn ngửi thấy mùi son phấn đàn bà thì mũi bốc hỏa. Bạn nếm thấy vị ngon thì đầu lưỡi bạn bốc hỏa. Thân thể bạn chạm vào thân của mỹ nữ thì thân thể bốc hỏa. Những ý niệm dục hỏa của bạn dâng lên thì ý niệm bốc hỏa."
(Đây chỉ mới nói đến việc gặp mỹ nữ.)

Ngoài ra còn có:
Tiền tài.
Tên tuổi.
Địa vị.
Hưởng thụ. 
Xe hơi, nhà lầu, v.v…
Tất cả đều khiến con người bốc hỏa. 
Vì nguyên nhân này mà nhân gian như nhà cháy, tất cả tham, sân, si, sinh, lão, bệnh, tử, bi ai, khổ não, ghen tuông, đố kị một khi khởi lên thì đều như thiêu đốt. 

Người hỏi:
"Vì sao tôi không có cảm giác bị thiêu đốt?"
Tôi đáp:
"Đó là khi anh đang gặp hoàn cảnh thuận lợi."
Người hỏi:
"Tôi sẽ gặp nghịch cảnh sao?"
Tôi đáp:
"Chắc chắn có nghịch cảnh, trong nghịch cảnh thì sẽ sinh ra lửa phiền não. Phật Đà nói, có thuận tất có nghịch."

Người hỏi:
"Xin lấy ví dụ để chứng minh được không?"
Tôi đáp:
"Ví dụ như ông Trần Thủy Biển, ông ta làm đến chức lãnh đạo tối cao, nhưng cuối cùng lại trở thành tù nhân."
"Lại ví dụ như tỉ phủ Vương Vĩnh Khánh, ông ta là thần kinh doanh, nhưng cuối cùng tài sản phân tán hỗn loạn."
"Lại ví dụ như Thôi Đài Thanh năm xưa, cô ấy là một đại mỹ nữ, cuối cùng cũng trở thành mỹ nữ xế chiều."
Bởi vậy,
Nhân gian là nhà cháy, tất cả đều đang thiêu đốt.

Người hỏi:
"Nếu đã là như vậy thì vì sao người người đều nhảy vào nhà cháy?"
Tôi đáp:
"Con người chỉ biết đến biểu hiện bên ngoài, không biết đến cái bên trong, do vậy, ở trong sự thiêu đốt vẫn giết người, cướp của, tà dâm, vọng ngữ, uống rượu."

Người hỏi:
"Vì sao Phật Đà lại biết tất cả mọi sự thiêu đốt?"
Tôi đáp:
"Phật Đà là bậc giác ngộ. Do vậy, Phật Đà mới chuyển pháp luân."
Người hỏi:
"Phật Đà khi chuyển pháp luân thì đầu tiên là chuyển cái gì?"
Tôi đáp:
"Pháp luân về Tứ thánh đế. Khổ, tập, diệt, đạo."
Người hỏi:
"Cái gì đang thiêu cháy? Trong bốn thánh đế?"
Tôi đáp:
"Khổ, tập đang thiêu cháy."
Người hỏi:
"Cái gì là diệt, đạo?"
Tôi đáp:
"Xuất ly và chứng quả."


### 12. Người tu hành không được nói dối


Phật Đà từng giảng một bộ Kinh La Vân. Đó là kinh dạy người tu hành không được nói dối, cũng dạy người tu hành cách sống ra sao.

Hành giả chúng ta cần giữ giới luật, bằng không sẽ trở thành phá hỏng pháp khí.
Ví dụ:
Một chiếc bát vỡ - dù có bao nhiêu pháp nhũ đổ vào thì cũng sẽ chảy ra hết.
Một chiếc bát bẩn - dù có bao nhiêu pháp nhũ đổ vào thì cũng vẫn bẩn.
Một chiếc bát đậy chặt nắp - dù có bao nhiêu pháp nhũ đổ vào thì cũng chẳng có cách nào thu nạp được. 

Phật Thích Ca Mâu Ni nói:
Không được nói dối. Lời nói dối không có bất kì ý nghĩa nào cả.
Không được nói dối. Điều này là vô cùng nhục nhã.
Không được nói dối. Điều này là ngược lại với tu hành. 
Lời nói dối rất trống rỗng.
Lời nói dối rất giả tạo.
Nói dối thì dẫn tới không từ việc xấu xa nào.
Nói dối một lần, vì muốn che giấu, lại phải nói dối thêm nhiều lần nữa để bưng bít. Đây là hành vi của sự vô trí tuệ.

Tôi nói như thế này:
Tôi có một đệ tử, người đó đã làm ba việc cực kì xấu xa:
Người đó nói dối, đe dọa để lừa tiền.
Người đó nói dối, ngụy tạo nên những chuyện thần thông.
Người đó nói dối, nuôi quỷ nhưng nói đó là thần tướng.
Đệ tử đó đã làm ba việc ác, khiến rất nhiều người gặp phải đau khổ. Đệ tử này đã không chỉ phá hỏng pháp khí mà còn làm tổn hại đến sự tu hành của bản thân, cũng làm tổn hại đến người khác và người thân bạn bè của người khác, v.v…
Đây là điều rất không nên. 

Có thể làm điều gì:
Việc lợi mình, lợi người thì có thể làm. 
Việc không lợi mình, nhưng lợi người thì có thể làm.
Việc không lợi mình, cũng không lợi người thì không được làm.
Việc lợi mình, nhưng không lợi người thì không được làm.
Những điều này cần thường xuyên suy nghĩ. 
Việc thiện nên làm nhiều.
Việc xấu không làm. 

Khẩu nghiệp cũng vậy.
Thân nghiệp cũng vậy.
Ý nghiệp cũng cũng vậy.

Phật Đà nói:
Phải thường xuyên sám hối khẩu nghiệp, phải thường xuyên sám hối thân nghiệp, phải thường xuyên sám hối ý nghiệp. 
Cần phải biết từ bỏ! Những tài, sắc, danh, thực, thụy mê hoặc con người, năm thứ dụng vọng lớn này cần phải coi nhẹ.
Đây là nguồn gốc của việc đoạn trừ khổ, đoạn trừ phiền não.
Cần rời xa thị phi, thường sống trong cô độc.
Không tham lam ăn uống, giữ trung đạo là tốt nhất.
Không chú trọng việc ăn, mặc, ở, đi lại, giản dị là tốt.
Cần giữ giới, nguyên nhân là để tiết chế ngũ căn.
Rời xa những thứ khơi gợi sự tham dục.
Cần có chính niệm, chính niệm làm cho hành giả tịch tĩnh an lạc.
Chế tâm một chỗ.
Nhất tâm bất loạn.
Vô ngã.
Chứng Thánh quả.

Người ta hỏi tôi, nếu như không làm được như thế này thì sẽ ra sao?
Tôi đáp:
Nếu như lúc nào cũng nghĩ tham thì trong lòng sinh phiền não, chướng ngại chưa được loại trừ thì không thể thấy đạo. Không chỉ như vậy, cái lưới của dục niệm sẽ trói buộc ta, càng ngày càng chặt, sẽ đọa vào tam ác đạo. Ta sẽ buông thả, không còn tinh tấn nữa.
Giống như cá mắc vào lưới, cầu sống chẳng được.
Giống như cua rơi vào nồi nước sôi, cái chết cận kề.
Không an ổn.
Ma chướng đến.
Nhiều quấy nhiễu.
Đánh mất tư cách tu hành.


### 13. Xá Lợi Phất trong mắt tôi


Vào thời Đức Phật, Ngài có hai đại đệ tử. Hai đại đệ tử này, một người là Xá Lợi Phất trí huệ đệ nhất, người kia là Mục Kiền Liên thần thông đệ nhất.

Khi Xá Lợi Phất ra đời có truyền thuyết rất đặc biệt:
Cả căn phòng có hương thơm kì lạ.
Ánh sáng rực rỡ tỏa ra.
Thiên nữ tung hoa.
Mái nhà phát sáng.
Khi mẫu thân của Xá Lợi Phất mang thai, bà trở nên vô cùng thông minh, mở miệng ra là nói những điều đầy trí tuệ, không ai có thể bắt bẻ, biện tài vô ngại.

Sau khi ngài sinh ra:
Đã học tập trí huệ của Bà la môn.
Có nhân sinh quan hoàn toàn mới mẻ.
Lại có trí huệ chín chắn.

Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên trong rất nhiều kiếp đã là bạn bè chí cốt, và kiếp này cũng là bạn bè sinh tử.
Hai người bạn thân thiết này từ lâu đã hiểu sự khoái lạc của ngũ dục cũng chẳng khác gì hư huyễn, chỉ là ngắn ngủi tạm thời. Hai người đều muốn tìm kiếm đạo giải thoát. 
Đầu tiên, hai người họ quy y Sa Giả Da, học pháp đốt lửa tế trời, cũng gần gũi với các đại thiện tri thức, nhưng vẫn chưa đạt được đạo lý giải thoát. Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên cũng có những nhóm đệ tử riêng của mình. 

Một hôm, Xá Lợi Phất ở thành Vương Xá, tình cờ gặp một đệ tử của Phật Đà, đệ tử này là A Thế Thị. 
A Thế Thị nói một bài kệ:
Mọi pháp bởi duyên sinh
Cũng bởi duyên mà diệt
Thầy tôi đại sa môn
Thường nói lời như vậy. 

Xá Lợi Phất vừa nghe thấy thì lập tức ngộ ra, đây chính là luật nhân quả, nhưng chỉ nghe hai câu trước đó thì đã có ngay ngộ cảnh rồi. 
Xá Lợi Phất nói với Mục Kiền Liên, hai người liền đến nương nhờ và quy y Phật Thích Ca Mâu Ni. Vì việc quy y của Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên mà tăng đoàn của Phật Đà nhờ đó mà hưng thịnh. 

Phật Đà giảng Thọ Phúc Kinh. 
Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên đều đạt đến cảnh giới A La Hán. Ý của Phật Đà là:
Tìm kiếm chính mình.
Tìm được tâm của chính mình.
Hiểu rõ tâm tức là Phật.
Phát triển thành đệ nhất nghĩa đế.
Không có Phật cũng chẳng có tâm.
Lúc này, chân tâm mới có thể xuất hiện.

Xá Lợi Phất là đại đệ tử chân chính của Phật Đà, được Phật vô cùng coi trọng.
Cả đời kính sư.
Không trái lệnh thầy.
Ngài ấy là người giác hành viên mãn, đến những năm về già, Xá Lợi Phất đã đến gặp Phật để cáo lão về quê. 
Đầu tiên, ngài ấy đã độ hóa cho những người thân và quyến thuộc của mình. 
Sau đó đã tọa hóa trước Phật Đà. Phật Đà thọ kí cho ngài ấy là Hoa Quang Phật. 
Là vị Phật đứng đầu trong số ba nghìn vị Phật tương lai. 

Cha của Xá Lợi Phất là một người Bà-la-môn cố chấp, mẹ của ngài cũng cảm thấy Xá Lợi Phất không đúng. Tuy nhiên, khi Xá Lợi Phất bay lên hư không, từ các lỗ chân lông trên người phóng ra nước và lửa thì lúc này cha mẹ của Xá Lợi Phất đều lập tức quy y ngài. 
Cha mẹ quy y con trai.
Thế gian hiếm thấy.

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn ngày nay, cha và mẹ đều quy y ông ấy, các chị em gái đều quy y ông ấy. Đây là điều vĩ đại của Phật pháp.


### 14. Tì kheo ni hỏi tôi về Bát kính pháp


Có một tì kheo ni đến hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn, ngài không cảm thấy thời đại đã tiến bộ rồi, bây giờ nam nữ đã bình đẳng rồi, có cần thiết phải tuân theo Bát kính pháp của Phật Đà nữa không?"
Tôi đáp:
"Nam nữ bình đẳng, nữ quyền lên ngôi. Thế nhưng thật ra quan điểm của Phật Đà vẫn không có gì sai cả."
Tì kheo ni hỏi:
"Vì sao lại không sai?"
Tôi đáp:
"Bát kính pháp của Phật Đà đã nêu lên những điểm yếu của giới nữ, giới nữ thực sự có một vài điểm yếu, đây là cách nhìn nhận của Phật Đà. Từ xưa tới nay, những điểm yếu này vẫn còn tồn tại."

Tì kheo ni hỏi:
"Lư Sư Tôn, đó là những điểm yếu nào?"
Tôi đáp:
"Thể lực của nữ không thể sánh bằng nam.
Khả năng hành tịnh của nữ tương đối không thể lâu dài.
Nữ giới có thân rò rỉ.
Nữ giới có thời kì kinh nguyệt.
Nữ giới tương đối có nhiều cảm xúc tình cảm.
Nữ giới tương đối dễ nói dối.
Nữ giới ghen tuông và đố kị..."
Tôi không dám nói tiếp, bởi vì vẻ mặt của tì kheo ni đã lộ vẻ giận dữ! Ha ha!

Tì kheo ni hét lên:
"Thế nam giới thì không có sao?"
Tôi nói:
"Nữ giới tương đối nhiều hơn."
Tì kheo ni nói:
"Thực tế chứng minh các tăng đoàn tì kheo ni có ảnh hưởng đến tăng đoàn của Phật Đà không?"
Tôi đáp:
"Phật Đà từng nói, nếu tăng đoàn không có tì kheo ni thì tăng đoàn y theo pháp và luật mà thực hành phạm hạnh, Thánh pháp sẽ tiếp tục một nghìn năm, chỉ vì cho phép phụ nữ xuất gia nên hành tịnh không thể tồn tại lâu, Thánh pháp chỉ có thể tiếp tục được năm trăm năm."

Tôi nói:
"Phật Đà từng nói, chính xác giống như một người xây hồ chứa nước để đề phòng nước tràn, nên ta đưa ra các quy định về Bát kính pháp cho tì kheo ni trước, để cho họ trọn đời không vi phạm."
Tì kheo ni nói:
"Bát kính pháp trọng nam khinh nữ, Lư Sư Tôn không cảm thấy thế sao?"
Tôi đáp:
"Tôi biết, nhưng đây là do Phật Đà vì những điểm yếu trong tính cách của nữ giới mà đưa ra."

Bát kính pháp như sau:
1. Tì kheo ni 100 tuổi cũng vẫn phải kính lễ trước tì kheo mới xuất gia. Phải cung kính, nghênh đón, tận lực thực hiện nghĩa vụ.
2. Tì kheo ni không được ở nơi mà tì kheo an cư.
3. Mỗi nửa tháng tì kheo ni phải đến tăng đoàn tì kheo để xin ý kiến về nghiệp, thỉnh cầu tì kheo khai thị.
4. Nghi thức kiết hạ của tì kheo ni phải được tiến hành trước sự chứng kiến tại chỗ của chúng tì kheo và tì kheo ni.
5. Không được phạm đại giới là ở cùng chỗ với tì kheo.
6. Sa di ni thọ sáu giới phải thọ nhận đại giới ở chỗ tăng đoàn của tì kheo và tì kheo ni.
7. Tì kheo ni không được chỉ trích tì kheo.
8. Tì kheo ni không nên khuyến cáo tì kheo, còn tì kheo thì nên khuyến cáo tì kheo ni.

Tì kheo ni hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn, những điều này quá không công bằng rồi?"
Tôi đáp:
"Thế gian này làm gì có chỗ nào công bằng?"
Tì kheo ni hỏi:
"Vậy phải làm sao?"
Tôi đáp:
"Tận lực mà làm thôi!"


### 15. Tôi chịu trách nhiệm về sự thẳng thắn của mình


Tôi thường suy nghĩ thế này:
Tôi sống cuộc đời này là vì điều gì? Rõ ràng tôi biết đời người là: khổ, không, vô thường, vô ngã. Nhưng tôi vẫn kiên trì độ hóa chúng sinh. 

Kinh Pháp Cú có một câu:
Cũng như hòn đá chắc, chẳng vì gió mà rung.
Phỉ báng và khen ngợi, trí giả chẳng động lay.

Tôi lập ra Chân Phật Tông. Vì vậy, cuộc đời này của tôi đầy ắp những sự phỉ báng và ca ngợi, tôi đã huấn luyện bản thân mình quên đi bản ngã, quên hết mọi phỉ báng, quên hết mọi ca ngợi. 

Tôi nói thẳng:
Tôi là Liên Hoa Đồng Tử. 
Tôi thật sự đã gặp Liên Hoa Đồng Tử.
Bổn tôn của tôi nói Lư Thắng Ngạn là Liên Hoa Đồng Tử.

Tôi còn biết:
"Liên Hoa Đồng Tử là hóa sinh của A Di Đà Phật."
Đây chính là sự đoan chắc và thẳng thắn của tôi, tôi chịu trách nhiệm đến cùng về sự thẳng thắn của tôi. Các đệ tử đến từ khắp nơi trên thế giới, có năm triệu tín chúng, có người ở tầng lớp cao cấp nhất, có người ở tầng lớp thấp cấp nhất, tầng lớp cao nhất thì có những người như Tổng thống, tầng lớp thấp nhất thì có những người như gái điếm. Tôi kính trọng mỗi một cá nhân, bởi vì họ đều mang trong mình Phật tính vốn có. Tôi thực hành độ hóa các nước trên thế giới, chẳng phân biệt giàu nghèo, sang hèn.

Tôi đã đưa ra lời thề nguyện lớn:
Không bỏ rơi một chúng sinh nào. 
Phân thân xả cốt độ chúng sinh.
Địa ngục chưa sạch, thề không thành Phật.
Đời đời kiếp kiếp độ hóa chúng sinh. 

Bởi vậy:
Tôi chưa từng kiện ai.
Tôi chẳng vào tòa án.
Tôi chẳng vào nhà lao.
Tôi nguyện cả đời tuân theo pháp luật, phụng sự việc công.

Thượng sư của tôi nói với tôi, không được mở miệng ra đòi tiền người khác, cuộc đời này tôi đã thề giữ giới này. 

Tôi cũng từng viết một bài nói rằng:
"Không cần cúng dường Lư Sư Tôn!"

Tuy nhiên, việc cúng dường của mọi người là tự phát. Cúng dường hoặc nhiều hoặc ít, hoặc rất rất ít, thậm chí là chẳng có cúng dường, thì tôi vẫn đối đãi bình đẳng. 

Tín chúng thuộc các tầng lớp tôn kính tôi, tôi rất cảm kích, họ tranh nhau sợ mất phần phục vụ tôi. Tôi cũng tận tâm tận lực phục vụ những đệ tử đã vì tôi và cả những chúng sinh vẫn còn chưa quy y tôi, chẳng hề có sự không công bằng và thành kiến. Tôi thật sự đã dùng tấm lòng khiêm nhường nhất để biểu đạt niềm cung kính của tôi đối với chúng sinh. 

Đương nhiên, Chân Phật Tông cần phải đương đầu trước những sự công kích và phê phán vô tình đến từ các giáo phái truyền thống, đã phải chịu những nỗi đau lớn nhất. 
Sự đấu tranh của những người phản đối!
Những lời bình luận cay nghiệt!
Những sự sỉ nhục ngang nhiên!
Thậm chí là bắt chẹt, sát hại, v.v...

Những sóng gió này của Chân Phật Tông, từng cơn từng cơn, chưa bao giờ ngừng dứt. Tôi không biết những tông phái khác đã từng trải qua những phong ba như vậy hay chưa, nhưng Chân Phật Tông thì thực sự là như vậy. 

Ngoài ra còn có rất nhiều những người theo Chân Phật Tông nhưng lại tự thành lập cơ sở riêng. 
Đối với cá nhân tôi mà nói:
Pháp mạch của tôi là thật. 
Ngộ cảnh của tôi là thật.
Tôi vì người khác là thật.
Tôi chịu trách nhiệm về sự thẳng thắn của mình, cũng là thật.


### 16. Có người hỏi tôi về Phật tính


Có một học giả là đại thiện tri thức đến chỗ tôi hỏi tôi về Phật tính. Anh ta nói:
"Lư Sư Tôn! Ngài đã từng giảng Lục Tổ Đàn Kinh, ngài cho rằng Lục Tổ Huệ Năng có bản lĩnh gì?"
Tôi đáp:
Lục Tổ nhận định rằng:
Tất cả chúng sinh đều có Phật tính. (Bản tính tự có trí huệ bát nhã.)
Bản chất con người vốn thanh tịnh, bởi vì có vọng niệm nên Phật tính mới bị che lấp. Chỉ cần rời xa vọng niệm thì bản tính sẽ lại thanh tịnh. 

Còn nữa:
Tận cùng của vạn pháp là Phật tính. 
Phật tính bát nhã ở khắp nhân gian, chỉ vì tâm mê muội nên không thấy Phật tính. Nếu tâm mê không còn thì Phật tính sẽ tự hiển lộ.
Có nghĩa là:
Người mê là chúng sinh.
Người ngộ là Phật.

Anh ta hỏi:
"Lư Sư Tôn, tôi lại hỏi ngài, "Niết Bàn Vô Trí Luận" do hòa thượng đưa ra, ngài nghĩ thế nào?"
Tôi đáp:
Phật tính phi văn tự.
Phật tính phi ngôn ngữ.

Có nghĩa là:
"Phật tính phi đồng dị
Thiên đăng cộng nhất quang
Tăng chi ninh giải dật
Giảm trứ thả vô thương.
Thủ xả câu vi quá,
Phần phiêu tổng bất phương.
Kiến văn tri giác pháp,
Vô nhất khả sai lượng."

Dịch nghĩa:

"Phật tính chẳng giống khác
Nghìn đèn đều rạng soi.
Tăng cũng chẳng thể tràn
Giảm cũng chẳng tổn hao.
Giữ hay bỏ cũng xong
Cháy hết đâu trở ngại. 
Pháp kiến văn tri giác,
Chẳng pháp nào lường đo."

[ND: Đây là một trong sáu bài tụng về Tính Địa.]

Tôi từng viết:
Phật tính là biển.
Cuộc đời là những con sóng.
Bạn và tôi nổi trôi giữa những con sóng.
Cuối cùng,
Vẫn là trở về với biển.

"Niết Bàn Vô Trí Luận" thuộc về sự đại viên mãn hết thảy. Tuy nhiên, bản thân tôi cho rằng: 
Vô dư niết bàn --- vô tri.
Hữu dư niết bàn --- hữu nguyện. 
Phật tính --- vô tác vô vi vô tri.
Phật tính --- tiếng vọng trong hang trống, biến hóa thành có.

Anh ta hỏi:
"Phật quả do ai nhận lấy?"
Tôi đáp:
"Báo thân Phật."
Anh ta hỏi:
"Tu hành có tác dụng gì?"
Tôi đáp:
"Tri huyễn li huyễn." [ ND: biết cái huyễn để rời xa cái huyễn. ]
Anh ta hỏi:
"Có tồn tại Thánh nhân hay không?"
Tôi đáp:
"Có tồn tại người khai ngộ!"
Anh ta hỏi:
"Ai biết về không và có?"
Tôi đáp:
"Lư Sư Tôn biết."
Anh ta hỏi:
"Biết thì có tác dụng gì?"
Tôi đáp:
"Mọi việc ác không làm, hãy làm mọi việc thiện!"
Anh ta hỏi:
"Phật tính làm gì có thiện ác?"
Tôi đáp:
"Mặc dù không có thiện ác, nhưng huyễn thân huyễn thụ, người đại ác thì vẫn phải gặp Diêm Vương." 
Tôi trả lời như vậy, các thánh đệ tử nghĩ thế nào?
Xin cho ý kiến!


### 17. Tuyên ngôn về năm pháp của Đề Bà Đạt Đa


Trước tiên tôi nói rõ một chút:
Tăng đoàn của Phật Đà từ đầu chẳng có giới luật nào cả. Sau này là do các tì kheo đã có những sai lầm. 
Có một sai lầm thì sẽ chế định ra một điều giới luật.
Cứ như vậy tích lũy lại nên trở thành càng ngày càng nhiều giới luật, bởi vậy mà thành Giới luật học. 

Cá nhân tôi hiểu rằng:
Giữ giới mới có thể định.
Giữ giới mới có thể huệ.
Giữ huệ mới có thể quang. (quang minh)
Giữ quang mới dung nhập.

Do vậy, Phật Đà nói:
"Giới, định, huệ là Tam vô lậu học."
Cá nhân tôi cho rằng đây là ba nấc thang để thành Phật. 
Chúng ta cũng biết rằng, quan hệ giữa Phật Đà và người đệ tử Đề Bà Đạt Đa của Phật Đà không hề nông. 
1. Đề Bà Đạt Đa là em họ của Phật Đà.
2. Đề Bà Đạt Đa là em trai của Da Du Đà La. 

Ban đầu, Đề Bà Đạt Đa ở trong tăng đoàn sống dựa trên phạm hạnh (thực hành thanh tịnh), là một người tu hành ưu tú. 
Xá Lợi Phất ca ngợi Đề Bà Đạt Đa. 
Nhân duyên của Đề Bà Đạt Đa còn tốt hơn cả Xá Lợi Phất.

Sau đó, Đề Bà Đạt Đa đã chứng đắc thần thông thế gian, cũng nổi danh. Có người nói, Phật Đà có 32 tướng tốt thì Đề Bà Đạt Đa có 30 tướng tốt. Điều này có thể chứng minh thành tích của Đề Bà Đạt Đa không tồi. Phật Đà thọ kí Đề Bà Đạt Đa tương lai thành Phật, Phật hiệu là Thiên Vương Như Lai.

Nhưng cuối cùng, danh lợi của thế gian đã ăn mòn tâm của Đề Bà Đạt Đa. 
Đề Bà Đạt Đa đố kị với Phật Đà.
Muốn lãnh đạo tăng đoàn.
Rốt cuộc, quả nhiên đã muốn sát hại Phật Đà. 
Phá hòa hợp tăng đoàn. 
Tăng đoàn chia thành hai phe. 
Đề Bà Đạt Đa cuối cùng đã gặp báo ứng, phải đọa địa ngục.

Đề Bà Đạt Đa từng đưa ra "Tuyên ngôn về năm pháp" để đối phó với Phật Đà. "Tuyên ngôn về năm pháp" này là:
1. Tì kheo phải sống ở trong núi.
2. Tì kheo phải mặc quần áo rách nát. (Vải rách tìm ở bãi rác hoặc các khu mộ.)
3. Tì kheo phải khất thực để sống.
4. Tì kheo phải ngủ dưới cây, trên mặt đất.
5. Tì kheo không được ăn thịt cá.

Những giới luật này có gì sai không?
Tôi đáp:
"Không sai!"
Tuy nhiên, đó là dành cho những ai mới xuất gia, cần huấn luyện giữ giới luật, thuộc về giới luật của thế tục. Thế nhưng, Phật Đà thâm niên từ lâu đã đắc được đạo lý xuất thế gian, là thành tựu giả không dựa vào giới thủ. 

Phật Đà sống ở Trúc Lâm tịnh xá, trong vườn Cấp Cô Độc (trang viên).
Phật Đà mặc áo gấm (long bào).
Phật Đà nhận cúng dường của đệ tử, ăn cơm.
Phật Đà đeo vàng đeo ngọc.
(Đây đều là đệ tử cúng dường, Phật Đà tiếp nhận, Phật Đà lúc này đã không còn sự phân biệt nào.)
Đề Bà Đạt Đa dựa vào những lý do này để công kích Phật Đà, hạ thấp Phật Đà, giành được sự ủng hộ của tăng chúng.

Khi Phật Đà đi vắng thì Đề Bà Đạt Đa ngồi lên pháp tọa của Phật Đà. Quần áo và đồ trang sức của Phật Đà thì Đề Bà Đạt Đa lấy ra mặc, đeo. 
Đề Bà Đạt Đa có được sự hỗ trợ của Vua A Xà Thế, đã chia rẽ hòa hợp tăng, gây nên sự chia rẽ lớn nhất trong tăng đoàn.

Cá nhân tôi nghĩ như thế này:
Con người thế gian có tâm phân biệt, muốn tu đến khi tâm không còn phân biệt là rất khó! Phật xuất thế gian, đã không còn những biểu hiện của thế gian, đây mới là chân đế. (Điều tôi nói, các thánh đệ tử có hiểu được không?)


### 18. So sánh của Phật Đà


Khi Phật Thích Ca Mâu Ni hoan hỉ thuyết pháp đã dùng so sánh. Ngài đã dùng những sự so sánh để dạy những cư sĩ tại gia cần tu trì như ra sao. 

Ví dụ:
Nói như việc bố thí. 
Cúng dường Như Lai và chúng xuất gia (cúng cơm), công đức rất lớn. Tuy nhiên, xây dựng chùa cho tăng chúng ở và tu hành thì công đức còn lớn hơn việc cúng cơm. 
Công đức của cư sĩ độ người khác quy y Phật - pháp - tăng còn lớn hơn việc xây chùa, xây tịnh xá. 
Thế nhưng công đức của việc giữ giới (giữ năm giới) còn lớn hơn công đức của việc độ người quy y. 
Công đức của việc tu trì thiền định còn lớn hơn công đức của việc giữ năm giới. 
Cuối cùng, công đức của sự chứng nhập vô thường, vô ngã còn lớn hơn công đức của thiền định. 

Bởi vậy: 
Đây là những so sánh của Phật Đà:
Cúng cơm.
Xây chùa.
Quy y.
Giữ giới.
Thiền định.
Chứng ngộ.
Những việc này đều có công đức cả. Cúng cơm có công đức nhưng không thể sánh bằng công đức của việc xây chùa, quy y, giữ giới, thiền định, chứng ngộ. Công đức của sự chứng ngộ là to lớn nhất. 

Phật Đà đã chỉ ra năm loại niềm vui của cư sĩ tại gia:
Kiếm được đồng tiền chính đáng, giữ được của cải - đây là niềm vui có của.
Giữ được của cải chính đáng, làm việc thiện - đây là niềm vui của sự giàu có.
Giữ được của cải chính đáng, không nợ nần - đây là niềm vui của việc không nợ nần.
Giữ được của cải chính đáng, không tham sân si - đây là niềm vui của việc không mắc sai lầm.
Giữ được của cải chính đáng, ngộ được trí huệ - đây là niềm vui của trí huệ.

Phật Đà cũng chỉ ra bảy loại vợ:
1. Vợ ác độc.
2. Vợ hoang phí.
3. Vợ lười nhác.
4. Vợ lương thiện.
5. Vợ hiền đức.
6. Vợ trung thành.
7. Vợ đức hạnh.

Phật Đà cho rằng, lấy phụ nữ làm vợ thì ba loại phụ nữ đầu tiên không thể lấy, bốn loại phụ nữ sau có thể lấy.

Phật Đà cũng nói:
1. Phụ nữ thích buôn chuyện, không phù hợp.
2. Phụ nữ thích nói láo, không phù hợp.
3. Phụ nữ thích nói chuyện thị phi, không phù hợp.
4. Phụ nữ thích vay mượn lung tung, không phù hợp.
5. Phụ nữ không lễ phép, không phù hợp.
6. Phụ nữ ức hiếp kẻ yếu, không phù hợp.
7. Phụ nữ vô trách nhiệm, không phù hợp.
8. Phụ nữ không thận trọng, không phù hợp.
9. Phụ nữ không biết điều, không phù hợp.
	
Phật Đà rất biết quan sát thế gian, có thể nhìn nhận vô cùng thấu đáo cả trăm trạng thái của cuộc sống. 
(Bản thân tôi cũng rất ghét những người phụ nữ nói láo, đặc biệt là những người phụ nữ hay buôn chuyện thị phi, tự cho rằng bản thân mình là nữ nhân vĩ đại nhất. Trong số đệ tử của tôi cũng có loại phụ nữ này, gây cho tôi rất nhiều phiền phức.)

Phật Đà không chỉ nói về những người phụ nữ xấu, Ngài cũng nói về những phụ nữ tốt. 
Ngài nói:
Không nói lời ác độc.
Có hứng thú với đời.
Có trí tuệ.
Có đạo đức tốt.
Khéo léo, thông minh, nhạy bén, không tham lam. 
Dịu dàng.
Biết giữ của cải.
(Đó là những người phụ nữ tốt.)


### 19. Phật Đà tu nhẫn nhục


Có cô gái Ma Đăng Già cực kì xinh đẹp, cha mẹ của cô muốn gả cô cho Phật Đà. 
Phật Đà nói:
Đã ngộ về tham dục
Ái dục ta đâu còn.
Thân pháp này đâu thể
Dính toàn thứ bẩn nhơ.
Dù chỉ một ngón chân
Cũng chẳng muốn ô nhiễm.

Vì thế, cô gái Ma Đăng Già cho rằng đây là một sự sỉ nhục vô cùng. Khi cô có được quyền thế lớn, cô bèn liên tục phỉ báng Phật Đà, lại còn xúi giục người khác phỉ báng Phật Đà.

Thế là, Phật Đà bị bêu danh là:
Cường đạo.
Ngu si.
Đồ ngốc.
Con lừa.
Đần độn.
Hạt giống của địa ngục.
Súc sinh.
Chẳng được giải thoát.
Ác thú.
V.v...

Lúc này, A Nan tôn giả không thể chịu đựng nổi sự nhục mạ nữa, liền nói với Phật Đà hãy đi đến nơi khác, ngài nói:
"Thế Tôn! Con người ở nơi này sỉ nhục chúng ta, chúng ta chuyển đến nơi khác đi!"
Phật Đà nói:
"Đi đến thành phố khác, nếu như người ở nơi đó cũng sỉ nhục chúng ta, thế thì ta lại đi đâu?"
A Nan nói:
"Thì lại đi đến thành phố khác."
"Không nên nói như vậy. Vấn đề phát sinh ở chỗ nào thì giải quyết ở chỗ đó. Chỉ có như vậy chúng ta mới có thể đến được nơi khác. Nhưng mà, ai đang chửi ta?" - Phật Đà hỏi.
A Nan nói:
"Thế Tôn! Tất cả mọi người. Ngay cả người hầu cũng chửi chúng ta!"

Phật Đà cảnh cáo A Nan tôn giả:
"Con voi trên chiến trường có thể chịu đựng được những mũi tên nhiều như châu chấu, ta sẽ dùng cách tương tự để chịu đựng sự nhục mạ, thế gian này thật sự có quá nhiều những kẻ ngang ngược coi trời bằng vung..."
Phật Đà nói:
"Hành giả chúng ta cần ngồi trên lưng những con lừa, ngựa, voi chưa được thuần hóa."
Cuối cùng, Phật Đà nói:
"Đừng sợ sự phỉ báng, bởi vì phỉ báng lâu ngày cũng xẹp xuống, tất cả đều sẽ qua hết thôi."
(Bản thân tôi rất yêu thích đoạn đối thoại này.)

Còn nữa:
Phật Đà đang đợi cúng dường của người ta. Người cúng dường nói:
"Tôi có được cơm ăn là vì có ruộng đất, có trâu, có cày, có lao động, thì mới có cơm ăn."
Phật Đà nói:
"Tôi cũng vậy."
Người kia nói:
"Nhưng có người nào trong chúng tôi nhìn thấy ngài có lưỡi cày, có vai cày, có trâu cày, roi điều khiển trâu, ngài cày ruộng thế nào được?"
Phật Đà trả lời:
"Niềm tin là hạt giống, giới là nước mưa, trí huệ là vai cày, trung đạo là lưỡi cày, ý chí là dây cương, tịnh niệm là roi điều khiển. Lời nói và việc làm thận trọng, ăn uống vừa phải, lấy sự chân thành như làm cỏ, thiền định vì sự giải thoát, tinh tấn là xe tải chở đến nơi niết bàn. Nỗ lực canh tác, kết quả bất tử."
Người cúng dường giật mình kinh ngạc.
Hoàn toàn khâm phục.
Người cúng dường nói:
"Đây mới là vị Thánh giả mà tôi đáng cúng dường."
(Tôi nhận cúng dường cũng như vậy.)


### 20. Trí huệ của đời người (Phật huệ)


Trí huệ của Như Lai không phải là trí huệ của người bình thường, hai thứ này khác nhau. Có người hỏi tôi trí huệ của Như Lai là trí huệ gì?
Người hỏi:
"Con người vì sao lại đến thế gian này?"
Tôi đáp:
"Trả nghiệp." (Điều Phật Đà nói.)
Người hỏi:
"Có chúng sinh phỉ báng ngài, ngài ứng đối như thế nào?"
Tôi đáp:
"Im lặng."
Người hỏi:
"Nếu như sự phỉ báng vĩnh viễn không dừng thì sao?"
Tôi đáp:
"Nhẫn nhục."
Người hỏi:
"Một số đệ tử ngang ngược và xấu xa, không có cách nào cứu độ, phải làm sao?"
Tôi đáp:
"Tôi không bỏ rơi một chúng sinh nào, dùng tất cả mọi phương tiện để độ hóa, cũng có thể là hết kiếp này đến kiếp  khác vẫn không từ bỏ."

Người hỏi:
"Nếu như đã dùng hết mọi cách mà vẫn không thành thì sao?"
Tôi đáp:
"Phật nói âm thầm bỏ đi, tôi nói im lặng."
Người hỏi:
"Cái gì là thứ quý giá nhất của đời người?"
Tôi đáp:
"Phật pháp."
Người hỏi:
"Cái gì là hạnh phúc vĩnh hằng?"
Tôi đáp:
"Đến được Phật quốc tịnh thổ cực lạc."
Người hỏi:
"Thế nào là một cuộc đời có giá trị nhất?"
Tôi đáp:
"Tu hành chính kiến."

Người hỏi:
"Làm sao để có thể vứt bỏ phiền não?"
Tôi đáp:
"Vô ngã, vô sinh."
Người hỏi:
"Làm sao để có thể đạt đến thanh tịnh?"
Tôi đáp:
"Tri huyễn li huyễn."
Người hỏi:
"Phải dùng cái gì mới có thể đạt được tri huyễn li huyễn?"
Tôi đáp:
"Trí huệ (Phật huệ)."
Người hỏi:
"Phật huệ là gì?"
Tôi đáp:
"Là trí huệ đã minh tâm kiến tính."

Người hỏi:
"Làm sao để biết người này đã minh tâm và kiến chứng Phật tính?"
Tôi đáp:
"Loại người này có bốn phẩm chất: chân thành, thiện đức, tinh tấn, bố thí."
Người hỏi:
"Thiếu một thứ thì sao?"
Tôi đáp:
"Thì không phải."
Người hỏi:
"Vì sao ngài viết sách phê bình đệ tử XX trước đây của ngài?"
Tôi đáp:
"Vì người đó nói láo, tà kiến, khủng bố người ta."
Người hỏi:
"Ngài đã vứt bỏ đệ tử đó rồi sao?"
Tôi đáp:
"Đặt người đó vào chỗ nguy hiểm chết người hòng tìm đường thoát, vẫn là một cách để cứu người đó."


### 21. Một ngày của Lư Thắng Ngạn


Người ta hỏi tôi, một ngày của tôi diễn ra như thế nào?
Người hỏi:
"Buổi sáng của ngài diễn ra như thế nào?"
Tôi đáp:
"Thông thường buổi sáng tôi có ba việc lớn, thứ nhất là viết sách, viết một chương sách."
"Thứ hai là tu tập Phật pháp (Bổn tôn pháp)."
"Thứ ba là thiền định (tọa vong)." [ ND: Tọa vong là ngồi ngay thẳng và yên lặng mà qua đời. Đây là cảnh giới của Đạo gia, Đạo giáo, trong đó tâm và pháp ứng hợp với nhau, vật và mình cả hai đều quên. Theo luận Tọa vong do Đạo sĩ Tư Mã Thừa Trinh soạn vào đời Đường thì điểm then chốt của việc tu luyện hình khí, dưỡng hòa tâm linh, sống lâu mạnh khỏe là nhờ ở công phu định tĩnh, tức là pháp Tọa vong an tâm. ]

Người hỏi:
"Buổi chiều của ngài diễn ra như thế nào?"
Tôi đáp:
"Thông thường buổi chiều tôi có hai việc lớn:
Thứ nhất là vận động.
Thứ hai là thiền định (vong ngã).'' [ ND: thiền định quên đi và loại bỏ bản ngã ]

Người hỏi:
"Buổi tối của ngài diễn ra như thế nào?"
Tôi đáp:
"Buổi tối tôi không đi ra ngoài, tôi có rất nhiều việc cần làm vào buổi tối, rất nhiều việc đều là dùng tâm linh để làm việc."
"Rất nhiều giới vô hình đến tụ tập để lắng nghe Phật pháp, thông thường là lúc chập tối."
"Nửa đêm mới là lúc tôi thật sự nghỉ ngơi. Ở trong sự quang minh, tôi tiến nhập vào trạng thái niết bàn (vô tri)."
"Vào lúc đêm muộn, tôi thần hành, bất kể là xa hay gần, tôi xuất hiện trong giấc mơ của rất nhiều đệ tử, hoặc dặn dò, hoặc triết lý, hoặc thuyết pháp, hoặc dẫn chứng, hoặc giảng giải để cảm hóa hết thảy chúng sinh hữu tình."
Đây là một ngày bình thường của tôi. 

Vào thứ bảy và chủ nhật, là ngày nghỉ của người ta thì tôi lại bận rộn nhất.
1. Tôi phải làm Hộ Ma (hỏa cúng). Thuyết pháp cho tín chúng đệ tử nghe.
2. Tôi phải lên pháp tọa. (Giảng kinh thuyết pháp)
3. Tôi phải hướng dẫn Đạo quả.
4. Tôi phải giảng nghi quỹ.
5. Tôi phải giải thích những câu kinh khó hiểu.
6. Tập hợp các đệ tử tu pháp Bổn tôn.
7. Giải quyết những khó khăn của đệ tử. (Bệnh tật và khốn khó)
8. Sờ đầu.
9. Quán đảnh.
10. Gia trì.
11. Tôi phải kí tên sách.
12. Tôi phải gia trì thư tín.
Vân vân và vân vân.

Người hỏi:
"Ngài thuyết pháp gì cho đệ tử mới nhập môn?"
Tôi đáp:
"Giảng giới luật, giảng bố thí, giảng gia hành, giảng Bổn tôn."
Người hỏi:
"Đối với người có căn cơ tầm trung thì ngài thuyết pháp gì?"
Tôi đáp:
"Giảng về bất thiện của ngũ dục, trừ bỏ ác nghiệp, tăng trưởng thiện nghiệp, và tiến nhập vào nội pháp, phương pháp tu trì khí, mạch, minh điểm. 
Người hỏi:
"Đối với người có căn khí cao thì ngài truyền thụ pháp gì?"
Tôi đáp:
"Pháp khai ngộ minh tâm, pháp quang minh xuất hiện, pháp thông thân thị nhãn, pháp vô thượng mật bộ, pháp kiến chứng Phật tính, pháp cứu cánh thành Phật, v.v…"

Người hỏi:
"Dựa theo cái gì mà xây dựng?"
Tôi đáp:
Tư lương đạo.
Gia hành đạo.
Kiến đạo.
Tu hành đạo.
Cứu cánh đạo.
(Mặc dù rất bận, nhưng tâm bình tịnh, ngày này qua ngày  khác.)


### 22. Quản lý Chân Phật Tông để không suy vong.


Đối với Chân Phật Tông mà tôi sáng lập, tôi có kì vọng là nó sẽ không suy vong. Để Chân Phật Tông tiếp tục phát triển, tôi đề nghị như sau:
1. Tông Ủy Hội phải kiện toàn.
2. Các ủy viên phải hòa hợp thống nhất.
3. Hoàn thành các pháp vụ của Chân Phật Tông.
4. Nhất nhất cần đầy đủ chu đáo. 
5. Toàn thể nhân viên phải giữ giới luật.
6. Cần cúng dường người già, để họ được an cư.
7. Không được tranh giành địa bàn.
8. Không chấp vào tham, sân, si.
9. Tu trì chính niệm là điều cốt yếu.
10. Không gần gũi với người phá giới, người có tà kiến để tránh bị ô nhiễm.

Nếu có thể giữ được mười điều như trên thì Chân Phật Tông sẽ không tiêu vong, bằng không thì chắc chắn sẽ có ngày tàn lụi, như tà dương, ráng chiều, mặt trời lặn, tất cả sẽ quay đầu về không, chỉ như một dải cầu vồng xuất hiện rồi tan biến.

Tôi cũng khuyên nhủ các hành giả Chân Phật:
1. Cần làm chính nghiệp.
2. Đừng buôn chuyện tào lao.
3. Đừng hút thuốc, uống rượu.
4. Đừng để nhiễm hành vi thế tục suy đồi.
5. Không được tham tiền, không được tạo khởi những cám dỗ thế tục cũng như không để bị chúng cám dỗ.
6. Không kết giao với bạn xấu và bạn ác.
7. Không ở cùng với những người phá giới.
8. Không làm bạn với người có tà kiến.
9. Kính sư, trọng pháp, thực tu.
10. Không hiển dị hoặc chúng. [ ND: tạo ra những chuyện dị thường để huyễn hoặc chúng sinh ]
	
Nói chung, các cấp quản lý và hành giả Chân Phật, các ủy viên đang giữ chức vụ và hành giả Chân Phật, đôi bên không được phân biệt, tình cảm phải rất hòa hợp, có sợi dây nối liền bền chặt mới có thể giải quyết được những khốn khó trên thực tế của hành giả Chân Phật. 
Chú ý:
Dân có thể chở thuyền.
Dân có thể lật thuyền.

Còn nữa:
Những lời căn dặn này của tôi thuộc về pháp nhập thế, đó là những lời càm ràm của cá nhân tôi, tóm lại là luôn hy vọng Chân Phật Tông sẽ không diệt vong.

Tuy nhiên, 
Có thể nào vì tôi rời xa thế giới Ta Bà này mà sẽ có người có dụng tâm chiếm lấy và thao túng khiến cho Chân Phật Tông tan rã, đây là điều có thể dự báo được.
(Chân Phật Tông chỉ còn tồn tại trên danh nghĩa, còn thực tế đã mất.)

Đương nhiên tôi cũng biết, khả năng xảy ra cảnh ngộ này là: từng cá nhân sẽ tự độc lập bỏ đi, chùa ra chùa, đường ra đường, hội ra hội, chẳng dính dáng gì đến nhau, chẳng hề có quan hệ phối hợp. 

Cũng có khả năng: 
Khi tôi vừa rời xa thế gian Ta Bà thì tất cả đều trở về con số không tròn trĩnh. Không chỉ là quả trứng tròn cũng chẳng có mà ngay cả vỏ cũng chẳng còn, các đệ tử đều chạy sạch. 
Những suy nghĩ này thật khiến người ta lo lắng không yên. 

Còn nữa:
Vốn dĩ tôi đã là một Đạo nhân vô tâm rồi. Tôi dựa theo pháp xuất thế gian mà kể ra như sau.
Tôi là một người khai ngộ. (minh tâm)
Tôi là một người kiến tính.

Thơ của Vương An Thạch: 
"Biết đời như mộng vô sở cầu,
Vô sở cầu lòng tĩnh lặng không.
Vẫn tưởng trong mơ tùy mộng cảnh, 
Thành tựu công đức tựa hà sa."

Tôi đã chẳng còn mưu cầu gì đối với tất cả mọi thứ rồi!

Do vậy, tôi viết Chân Phật Tông có tiêu vong không ư? Là do tôi tự mình lắm lời thôi, cũng là những lời nói mớ của tôi thôi. 

Hết thảy vì duyên sinh.
Hết thảy vì duyên diệt.
Tôi là một đại thành tựu giả, lẽ nào lại không biết?
Căn bản chẳng có Chân Phật Tông!
Căn bản chẳng có Lư Sư Tôn!
Đã biết như vậy rồi thì anh còn mong cầu cái gì?


### 23. Sẽ có một ngày tôi biến mất


Tôi nói với mọi người:
"Sẽ có một ngày, tôi sẽ chỉ còn đón tết Thanh Minh thôi!"
Mọi người nói:
"Lư Sư Tôn! Ngài sẽ không như vậy đâu! Không như vậy đâu!"
Tôi nói:
"Tôi chắc chắn sẽ thế!"
(Hết thảy vì duyên sinh, hết thảy vì duyên diệt.)
Tôi nói với mọi người:
"Tôi đã ý thức được tương lai không xa nữa, tôi sẽ không thấy mọi người, mọi người cũng sẽ chẳng nhìn thấy tôi nữa."
Mọi người vẫn nói:
"Sẽ không vậy đâu! Sẽ không vậy đâu!"

Tôi nói:
Kể cả là Phật Đà thì cũng vẫn có bệnh, cũng vẫn bị bệnh đau nửa đầu, bệnh gai xương và bệnh đau dạ dày.
Đến năm Phật Đà 80 tuổi, Phật phải cần có thị giả đỡ thì mới có thể đi được. 
Thân thể giống như một chiếc xe hỏng. 
Nét già yếu đã hằn rõ trên khuôn mặt Ngài.

Phật Đà nói:
"Nay ta đã 80 tuổi rồi, thân già sức yếu, đã đi đến điểm cuối của đời người rồi. Giống như một cỗ xe hỏng, chỉ có buộc vào dây vải kéo đi thì mới di động được. Cũng như thế, thân thể của Như Lai cũng phải được dìu đỡ thì mới có thể đi được, nhưng ta vẫn có thể nhập sâu vào thiền định, nhất tâm bất loạn, đoạn trừ vọng niệm và tán loạn, mọi thứ vẫn rất vững chắc."
Mọi người hãy chú ý câu nói này:
"Định, nhất tâm bất loạn, vô vọng vô loạn, vững chắc."

Phật Đà nhắc đến:
Cần dựa duy nhất vào Phật.
Cần dựa duy nhất vào Pháp.
Cần dựa duy nhất vào Tăng.
Có một điểm gợi ý rất quan trọng:
"Phải dựa vào chính bản thân mình, bởi vì quan trọng nhất là Phật, pháp, tăng ở trong tâm bạn."
Lại nói:
"Cần tinh tấn, cần chính tư duy, cần tỉnh giác, không được có tham niệm."
Lại nói:
"Lấy giới làm thầy."
Lại nói:
"Quy y Phật pháp tăng, là Phật mới có thể chỉ rõ giải thoát, pháp là phương pháp, tăng là tấm gương của cuộc sống."

Phật Đà nói:
Ta truyền dạy chân lý chân chính là:
Tứ niệm xứ.
Tứ chính cần.
Tứ thần túc.
Ngũ căn.
Ngũ lực.
Thất bồ đề chi.
Bát chính đạo.
(Ba mươi bảy đạo phẩm.)
Lấy giới, định, huệ làm Tam vô lậu học.

Lại nói:
Thế nào là Phật thuyết, thế nào là phi Phật thuyết, làm thế nào để phân biệt chính tà?
Phật nói:
Nếu như đối chiếu với kinh luật, nếu như tương hợp với kinh điển, thống nhất với giới luật, thì có thể khẳng định là lời do Thế Tôn nói.
Phật nói:
Phải cung kính Phật Đà như thế nào? Phật nói dựa vào chính pháp để tu hành, chính là sự cung kính lớn nhất. Tôn kính, đảnh lễ, sùng bái, tán dương chỉ là những biểu hiện bên ngoài thôi. 
Tu tập chính pháp là sự cung kính lớn nhất, đây mới là biểu hiện bên trong. 
Giáo huấn cuối cùng của Phật Đà là: 
Chúng đệ tử, hãy lắng nghe, ta nhắc nhở mọi người, hết thảy pháp hữu vi, đều là vô thường. Hãy nỗ lực tinh tấn tu pháp giải thoát.


### 24. Cái gì là Phật giáo?


Tôi nhớ đệ tử của tôi, tiến sĩ Trương Trừng Cơ, có viết một cuốn sách tiêu đề là: "Cái gì là Phật giáo?"

Thế nhưng, Lý Bỉnh Nam (cư sĩ Tuyết Lư) đã rất tức giận nói với tôi:
"Tôi muốn hỏi anh ta xem Phật giáo là cái gì?"
Lúc đó, tôi chỉ:
Im lặng.
Bởi vì:
Một người là đệ tử của tôi.
Một người là tiền bối của tôi. 
Tôi đều vô cùng tôn trọng cả hai người. Thời điểm đó, cả hai người đều từng trải hơn tôi rất nhiều. 

Có người hỏi tôi:
"Phật giáo là gì?"
Tôi đáp:
"Cái gì cũng đều là Phật giáo, cũng như cái gì cũng chẳng phải là Phật giáo!"
Người hỏi:
"Phật giáo là dạy người ta làm việc thiện phải không?"
Tôi đáp:
"Làm việc thiện là điểm khởi đầu, nhưng không phải là điểm cuối cùng."
Người hỏi:
"Phật giáo có phải là triết học không?"
Tôi đáp:
"Phật giáo là triết học trong triết học, tuy nhiên, sau cùng thì vẫn không phải là triết học."
Người hỏi:
"Phật giáo có phải là tôn giáo không?"
Tôi đáp:
"Phật giáo không phải là tôn giáo, nhưng cũng có thể nói là tôn giáo hoàn mỹ nhất trong các tôn giáo."
Người đến hỏi phủi phủi mũi, bỏ đi!

Tôi cười lớn ha ha ha. Bởi vì:
Phật giáo đích thực rất khó lý giải!

Mọi người cần biết rằng:
Phật giáo không phải là nghi thức, mà là một sự giác ngộ.
Đừng hoài nghi Phật giáo.
Cũng đừng lấy Phật giáo ra làm giáo điều.
Phật giáo không phải cái thường thấy.
Phật giáo không phải là chặt đứt cái thấy.
Phật giáo không phải là khổ hạnh.
Phật giáo cũng không phải dạy ta hưởng lạc.
Phật giáo tuyệt đối không bi quan.
Phật giáo cũng tuyệt đối không lạc quan.

Không duy vật.
Không duy tâm.
Phật giáo không phải là hiện thực.
Phật giáo không phải là siêu hiện thực.
Phật giáo không tìm kiếm ra bên ngoài.
Phật giáo cũng không hoàn toàn tìm kiếm ở bên trong.
Phật giáo không phải là sùng bái Phật, không phải là sùng bái thần.
Phật giáo cũng không phải là sùng bái ham muốn vật chất.

Ở đây, tôi đặc biệt nói cho mọi người biết rằng:
"Phật giáo là một phương pháp giải thoát, nếu như bạn đã giải thoát rồi thì không có cái gì là phải cả."
Phật Đà nói:
"Pháp còn nên bỏ, huống chi không phải là pháp!"
Tôi nói:
"Tôn giáo còn nên bỏ, huống chi không phải là tôn giáo!"

Nếu theo Trung Quán Luận thì Bát chính đạo chính là trung quán, là vi diệu nhất.
Nếu theo Duy Thức Luận thì  A-lại-da-thức chính là duy thức, là vi tế của vi tế nhất.
Cái Không không phải là tất cả đều chẳng có gì.
Mà là hốt hoảng lờ mờ.
Tôi nói:
Nếu như có người hiểu được chương sách này, coi như là đã kiến đạo rồi, cách kiến tính không còn xa nữa đâu!


### 25. Câu hỏi không cần thiết


Tôi thường lấy việc "Hoạt Phật trả lời khách hỏi" làm chủ đề để giải thích những thắc mắc nghi ngờ của chúng sinh. 

Nhưng có một số câu hỏi, tôi không trả lời. 
Ví dụ:
"Thế gian này là vô thường, đương nhiên trái đất cũng vô thường, xin hỏi, trái đất khi nào sẽ diệt vong?"

Còn nữa:
"Sư Tôn, ngài từng nói, anh - tôi - người ta là một, không khác biệt, xin hỏi Sư Tôn, khi nào người đời mới có thể biết là một?"
Còn nữa:
"Sau khi Như Lai niết bàn, là hữu tri? Hay là vô tri?"
Còn nữa:
"Sau khi Như Lai niết bàn, là phi hữu hay là phi phi hữu, xin Hoạt Phật giải thích?"

Đối với những câu hỏi này, tôi giao phó cho hư không, chẳng muốn trình bày, bởi vì chúng chẳng có ý nghĩa gì đối với sự giải thoát.
Đối với tôi mà nói, những câu hỏi này không cần thiết phải trả lời.

Tôi lấy một ví dụ:
Chính là những lời nói mò của người mù xem voi. 
Một người mù sờ thấy vòi voi, liền nói: "Con voi giống như ống nước, ống nước là voi."
Một người mù sờ thấy ngà voi, liền nói: "Voi như gươm sắc, gươm sắc chính là voi."
Một người mù sờ thấy thân voi, liền nói: "Voi như một bức tường, tường chính là voi."
Một người mù sờ thấy đuôi voi, liền nói: "Rắn chính là voi."
Một người mù sờ thấy tai voi, liền nói: "Cái quạt chính là voi."
...
Tranh luận kiểu như thế này thì cũng vô ích thôi.

Lại ví dụ:
Có một người bị trúng tên. Bác sĩ muốn phẫu thuật để rút mũi tên ra để điều trị. 
Bệnh nhân hỏi:
"Ai là người bắn tôi? Tôi cần phải điều tra rõ trước đã."
Lại hỏi:
"Người ta vì nguyên nhân gì mà lại muốn bắn tôi?"
Lại hỏi:
"Mũi tên dài bao nhiêu?"
Lại hỏi:
"Có chất độc gì không?"
Khi bác sĩ vẫn còn chưa giải thích được rõ ràng thì bệnh nhân đã chết rồi. 
Do vậy, quan trọng là phải rút mũi tên ra trước.
Những câu hỏi khác thì từ từ nói sau.

Còn có một số câu hỏi căn bản là chẳng có gì quan trọng, cũng không cần thiết phải hỏi, ví dụ:
"Nhà tôi nuôi gà, vì sao lũ gà lại không ăn gạo?"
"Lư Sư Tôn, đứa con tôi vì sao vẫn chưa biết nói, nó đã ba tuổi rồi?"
"Lư Sư Tôn, con gái tôi vì sao ruột không nhúc nhích?"
Tôi hỏi:
"Những việc này có quan trọng không?"
Họ đáp:
"Quan trọng."

Thế nên tôi vì những việc này mà tốn rất nhiều thời gian. 
Trên thực tế, những việc này không có liên quan quan trọng gì đối với Phật giáo, có thể bỏ qua. Nhưng tôi vẫn phải gắng gượng mà giải đáp!

Cá nhân tôi có tâm trí vượt trội, đương nhiên những điều này chính là thần thông. Nhưng mà chúng ta không thể hiển dị hoặc chúng, không thể hiển lộ tùy tiện, bởi vì rất nhiều người sẽ cho rằng "thần thông chính là Phật pháp". Một khi như vậy thì người người sẽ theo đuổi thần thông, như thế thì sẽ đi ngược với đạo rồi!

Nếu là:
"Chính đạo", có thể hỏi.
"Phi đạo", không nên hỏi.
"Phi phi đạo", kì thực không nên hỏi, nhưng vì phương tiện thiện xảo nên tôi mới hỏi giúp bạn.


### 26. Nhất định bạn phải hiểu Tứ Thánh Đế


Các tín đồ Phật giáo đều biết khi Phật Đà mới chuyển pháp luân, trong kinh Chuyển Pháp Luân nói đến Tứ Thánh Đế trước tiên.

Tuy nhiên, 
Có khả năng mọi người đều không biết rằng, bài thuyết pháp cuối cùng của Phật Đà vẫn là Tứ Thánh Đế. 

Có thể thấy được tầm quan trọng của Tứ Thánh Đế.
Đây là pháp mà Phật Đà đã thực sự chứng được bằng trí tuệ, là Phật pháp không có gì sánh bằng. Bởi vậy, bạn nhất định cần phải hiểu rõ ràng thấu đáo.

Thánh Đế thứ nhất là Khổ.
"Có sinh là khổ", đây là sự tri kiến thật sự của Phật Đà về bản chất của tất cả sự vật. 
Có người cho rằng hưởng thụ vật chất là sướng nhất.
Có người cho rằng thỏa mãn dục vọng là sướng nhất.
Có người cho rằng địa vị cao quý là sướng nhất.
Kì thực đây cũng là nguyên nhân của khổ.

Bởi vì:
Hưởng thụ không phải là vĩnh hằng.
Dục vọng vĩnh viễn không bao giờ thỏa mãn.
Địa vị không thể mãi mãi vững chắc.

Lại cộng thêm:
Tất cả chúng hữu tình đều có sinh, có sinh ra tất có già đi, già rồi thì có bệnh, có bệnh rồi đều chết. 

Bạn biết không?
Người mà bạn ghét sống ở xung quanh khiến bạn khổ.
Người bạn mà yêu sống ở xung quanh cũng là khổ. (vì sợ mất họ)
Cầu không được, lại càng khổ.
Được rồi mất, cũng là khổ.

Cần biết rằng, có tiền, có quyền, có vinh quang, có chinh phục, đều phải dùng đau khổ để đổi mà có được, nhưng những thứ này cũng sẽ mất đi, vốn dĩ người chiếm hữu cho rằng là hạnh phúc, nhưng kì thực chúng cũng là căn nguyên của đau khổ và bi thương.

Tôi nói để mọi người biết:
Thân mang ngũ uẩn là nhân của khổ.
Mọi sự theo đuổi là nhân của khổ.
Giữ mãi cái được là nhân của khổ.
Được rồi lại mất là nhân của khổ. (người sẽ già, sắc sẽ tàn)

Phật Đà nhận định:
Chỉ có vượt lên cái khổ thì mới kết thúc khổ. 

Thánh Đế thứ hai là Tập.
Nghiên cứu nguyên nhân của khổ, đó là tham, là bám chấp, đây chính là Thánh Đế thứ hai về Tập. 
Tham dục là bản tính của con người, cũng là căn nguyên lớn nhất trong số các nhân của khổ. 
Dục vọng sinh ra lo buồn.
Dục vọng sinh ra sợ hãi.
Tập hợp đủ loại tham dục và bám chấp là nhân của khổ.

Thánh Đế thứ ba là Diệt.
Tận lực xa rời dục.
Như vậy cũng có thể không lo không sợ nữa.
Nếu cái gốc triệt để của khổ kết thúc thì chính là Diệt.
Dừng tham chính là diệt.
Diệt tức là niết bàn, là thực hiện hoàn toàn dừng tham. 
Vứt bỏ tất cả tham và bám chấp, thực hành toàn diện triệt để, chính là diệt.
(Tham sinh sân, sân sinh si.)

Thánh Đế thứ tư là Đạo.
Đạo cũng chính là đạo trong Bát chính đạo.
Chính kiến.
Chính tư duy.
Chính ngữ.
Chính nghiệp.
Chính mệnh.
Chính tinh tấn.
Chính niệm.
Chính định.

Hiểu được Tứ thánh đế rồi thì mới hiểu hết tận cùng bản thân mình, vì dừng tham và dừng bám chấp thì mới có thể chứng đắc quả vị. Nếu không tu được như vậy thì vĩnh viễn trong lục đạo luân hồi, không có hồi kết.


### 27. Sự bất bình đẳng của bất bình đẳng


Có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Ngài thường nói, bình đẳng, không phân biệt. Nhưng tất cả mọi hiện tượng trên thế gian này đều là bất bình đẳng, là vì nguyên nhân gì?"
Tôi đáp:
"Một chữ thôi, Nghiệp."
Người hỏi:
"Có thể nói rõ hơn về Nghiệp không?"
Tôi đáp:
"Phật nói Nghiệp là bất khả thuyết. Có một lần, A Nan nói với Phật, cuối cùng con đã hiểu được về Nghiệp rồi! Phật nói với A Nan, ngài mới chỉ biết về biểu hiện bên ngoài của nó mà thôi!"

Người hỏi:
"Nguyên nhân gì tạo nên sự bất bình đẳng giữa con người trên thế gian này? Chúng ta làm sao để giải thích về sự bất bình đẳng trong thế giới không thể có được sự an ninh này?"
Tôi đáp:
"Nghiệp!"
Tôi nói:
"Thật ra để nói về sự bất công bình, bất bình đẳng thì cũng khó mà kể cho hết!"

Ví dụ:
Chiến tranh, có những đất nước gặp nạn trường kì, có đất nước thì lại hòa bình an ninh (bất bình đẳng).
Động đất, có đất nước bị động đất hại, có đất nước thì không hề có động đất (bất bình đẳng).
Bão, có đất nước thì hay có bão, có đất nước thì không biết bão là gì.
Lũ lụt, núi lửa, lở đất.

Trên phương diện cá nhân nhỏ bé thì:
Có người vinh hoa phú quý, có người cùng khổ lao đao.
Có người thông minh tuyệt đỉnh, có người ngu si dốt nát.
Có người thiện đức thanh cao, có người gian manh xảo trá.
Có người thân thể cường tráng, có người bệnh tật liên miên.
Có người là thiên tài, có người là đồ ngốc.
Có người là viện sĩ, tiến sĩ, có người vừa mù vừa điếc.
Có người kiện toàn, có người dị dạng.
Vân vân và vân vân.

Phật Đà trả lời rằng:
"Tất cả chúng sinh hữu tình đều có nghiệp của riêng mình, do nghiệp mà nhận quả báo của họ, do nghiệp mà sinh ra nhân, gắn chặt với nghiệp, dựa vào nghiệp, địa vị cao thấp của chúng sinh hữu tình là do tự nghiệp mà tạo ra sự phân định."

Còn tôi nói rằng:
"Bình đằng không phân biệt."
Là đứng trên góc độ: Phật tính bình đẳng.
Là đứng trên góc độ: Phật tính không phân biệt.
Trên góc độ pháp xuất thế gian trí huệ "Đại viên kính" và "Bình đẳng tính trí". 
Cũng tức là:
Huyễn không. (thế gian)
Chân không. (xuất thế gian)

Tôi xin trích Kinh Nhân Quả Ba Đời đơn giản nhất và cũng là trực tiếp nhất của Phật Đà như sau:

Kinh Nhân Quả Ba Đời:

Một thời, A Nan tôn giả ở tại Linh Sơn Hội Thượng cùng với một nghìn hai trăm năm mươi người. A Nan chắp tay đảnh lễ, nhiễu quanh Phật ba vòng, rồi chắp tay quỳ xuống thỉnh Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật: 
"Hết thảy chúng sinh ở cõi Nam Diêm Phù Đề này, đến thời mạt pháp, phần lớn sẽ trở nên bất thiện, bất kính với Tam Bảo, không tôn trọng cha mẹ, không giữ tam cương, ngũ luân lộn xộn, bần cùng hạ tiện, lục căn không đủ, suốt ngày sát sinh hại mệnh, phú quý bần cùng và bất bình đẳng, là quả báo gì? Mong Thế Tôn từ bi vì đệ tử mà giải thích tường tận!

Phật bảo A Nan và các đại đệ tử rằng:
Lành thay! Lành thay! Các người hãy lắng nghe, ta sẽ vì các người mà giải thích rành rọt. 
Trên thế gian này, tất cả nam nữ già trẻ, giàu nghèo sang hèn, chịu khổ vô cùng hoặc hưởng phúc vô tận đều là do báo ứng nhân quả từ đời trước. Nguyên nhân vì đâu mà như vậy? Trước tiên cần hiếu kính cha mẹ, kính tín Tam Bảo, tiếp đó cần bỏ giết chóc, cần phóng sinh, niệm Phật bố thí, có thể trồng ruộng phúc cho hậu thế.

Phật nói bài kệ nhân quả:
"Phú quý đều do mệnh
Kiếp trước đã tu nhân.
Người thọ trì kinh này
Đời đời hưởng phúc lộc.

Thiện nam, tín nữ nghe ta nói
Nghe niệm kinh Nhân Quả Ba Đời
Nhân quả ba đời việc chẳng nhỏ,
Phật nói chân ngôn chớ xem thường.

Đời này làm quan do nhân gì?
Kiếp trước dát vàng lên tượng Phật
Kiếp trước tu nên kiếp này hưởng
Áo tía đai vàng cầu nơi Phật.

Trang điểm thân Phật, trang điểm ta
Làm đẹp Như Lai, làm đẹp ta
Đừng bảo làm quan là chuyện dễ,
Kiếp trước không tu lấy đâu ra? 

Cưỡi ngựa, ngồi kiệu do nhân gì?
Kiếp trước xây cầu tu sửa đường.
Mặc áo gấm lụa do nhân gì?
Kiếp trước tặng áo giúp người nghèo. 

Có ăn, có mặc do nhân gì?
Kiếp trước cơm nước giúp người nghèo
Ăn mặc thiếu thốn bởi nhân gì?
Kiếp trước chút ít cũng chẳng chia.
 
Lầu cao nhà lớn do nhân gì?
Kiếp trước đem gạo tới cúng chùa.
Phúc lộc đủ đầy bởi nhân gì?
Kiếp trước xây chùa xây chòi mát.

Tướng mạo đoan trang do nhân gì?
Kiếp trước hoa tươi dâng cúng Phật.
Thông minh trí tuệ do nhân gì?
Kiếp trước tụng kinh thường niệm Phật.

Vợ hiền thiếp đẹp do nhân gì?
Kiếp trước Phật môn kết thiện duyên. 
Chồng vợ bền lâu do nhân gì?
Kiếp trước tràng phan dâng cúng Phật.

Có đủ mẹ cha do nhân gì?
Kiếp trước kính trọng người cô độc.
Không cha không mẹ do nhân gì?
Kiếp trước là người đánh bẫy chim.

Đông con nhiều cháu do nhân gì?
Kiếp trước mở lồng thả chim thú.
Nuôi con không được do nhân gì?
Kiếp trước luôn hận thù người khác.

Đời này không con do nhân gì?
Kiếp trước ghét bỏ con cháu người
Đời này sống lâu do nhân gì?
Kiếp trước mua vật phóng sinh nhiều.

Đời này mạng ngắn do nhân gì?
Kiếp trước xẻ thịt giết chúng sinh.
Đời này không vợ do nhân gì?
Kiếp trước tham gian vợ người ta.

Đời này góa bụa do nhân gì?
Kiếp trước khinh thường kẻ trượng phu. 
Làm thân nô bộc do nhân gì?
Kiếp trước vong ân và bội nghĩa.

Đời này mắt sáng do nhân gì?
Kiếp trước cúng dầu đốt đèn Phật.
Đời này đui mù do nhân gì?
Kiếp trước ham đọc sách khiêu dâm.
 
Đời này môi sứt do nhân gì?
Kiếp trước hay nói lời thị phi.
Đời này câm điếc do nhân gì?
Kiếp trước ác khẩu chửi mẹ cha.

Đời này lưng gù do nhân gì?
Kiếp trước nhạo báng người bái Phật.
Đời này tay cong do nhân gì?
Kiếp trước đã từng đánh mẹ cha.

Đời này chân cong do nhân gì?
Kiếp trước phá cầu đập đường xá
Làm thân trâu ngựa do nhân gì?
Kiếp trước nợ nần nhưng không trả.

Thân làm chó lợn do nhân gì?
Kiếp trước rắp tâm lừa gạt người.
Đời này nhiều bệnh do nhân gì?
Kiếp trước cười cợt người bất hạnh.

Đời này khỏe mạnh do nhân gì?
Kiếp trước cho thuốc cứu người đau.
Đời này ngồi tù do nhân gì?
Kiếp trước thấy nguy mà chẳng cứu.

Đời này chết đói do nhân gì?
Kiếp trước cười nhạo kẻ ăn mày.
Bị người đầu độc do nhân gì?
Kiếp trước ngăn sông hại chết cá.

Cô độc bơ vơ do nhân gì?
Kiếp trước ác tâm mưu hại người.
Đời nay thấp bé do nhân gì?
Kiếp trước khinh thường kẻ hầu hạ.

Đời này thổ huyết do nhân gì?
Kiếp trước thường gây chuyện chia rẽ.
Đời này bị điếc do nhân gì?
Kiếp trước nghe Pháp rồi chẳng tin.

Điên loạn lở loét do nhân gì?
Kiếp trước hành hạ thân súc sinh.
Thân này hôi thối do nhân gì?
Kiếp trước đố kị ghen ghét người.
 
Đời này treo cổ do nhân gì?
Kiếp trước hại người cầu tư lợi.
Góa bụa neo đơn do nhân gì?
Kiếp trước vợ con chẳng thương yêu.
 
Sét đánh lửa thiêu do nhân gì?
Kiếp trước phỉ báng người tu hành.
Hổ nhai rắn cắn do nhân gì?
Kiếp trước thường hay kết oán thù.

Muôn việc ta làm là ta chịu
Chịu khổ địa ngục còn trách ai?
Đừng nói nhân quả nào ai thấy
Xa ứng cháu con, gần ứng ta.

Bất tín Tam Bảo chẳng bố thí
Cái lợi trước mắt cứ bám vào
Kiếp trước tu sao đời này chịu
Đời này tích đức dành về sau.

Nếu ai phỉ báng kinh Nhân Quả
Hậu thế sa đọa mất người thân.
Tin và thực hành kinh Nhân Quả
Phúc lộc thọ tinh chiếu tới nhà.

Ai đem truyền bá kinh Nhân Quả
Đời đời gia cảnh được thịnh hưng.
Ai thường đem theo kinh Nhân Quả
Tai họa bất hạnh chẳng đến gần. 

Ai đem giảng giải kinh Nhân Quả
Đời đời kiếp kiếp được thông minh.
Ai thường đọc tụng kinh Nhân Quả
Kiếp sau người người đều cung kính.

Ai đem in ấn kinh Nhân Quả
Kiếp sau được làm thân Đế Vương
Theo kinh Nhân Quả hỏi đời trước
Chính sự thụ hưởng của đời nay.

Theo Kinh Nhân Quả hỏi đời sau
Chính là nhân tạo ở kiếp này.
Nếu như nhân quả không báo ứng,
Mục Liên cứu mẹ là vì đâu?

Ai tin sâu sắc kinh Nhân Quả.
Đồng sinh Cực Lạc ở tây phương
Nhân quả ba đời nói không hết
Trời, rồng chẳng bỏ người thiện tâm.

Tu trồng ruộng phúc nơi Tam Bảo
Một nhân hỉ xả hưởng muôn vàn.
Gửi kho kiên cố chẳng mất hỏng
Đời đời kiếp kiếp phúc vô cùng.

Muốn biết nhân đời trước,
Xem sự hưởng đời nay,
Muốn biết quả đời sau,
Xem việc làm kiếp này.

Tôi nói:
"Kinh Nhân Quả Ba Đời" này là do Phật Đà thuyết, hơn nữa Phật Đà còn thuyết giảng tường tận "Kinh Ba Mươi Hai Tướng", 32 tướng này đều có nhân duyên. Đó là do trong quá khứ, Phật Đà đã tập hợp đủ mọi loại công đức của Ngài mà có được 32 tướng tốt của bậc vĩ nhân.
Từ "Kinh Ba Mươi Hai Tướng" này, chúng ta có thể thấy rõ ràng tốc độ dòng chảy của nghiệp lực, quả nhiên bao gồm:
Nhục thể.
Khí quan.
Da thịt.
Hình dáng.
Có thể thấy nghiệp lực có thể tinh vi tới mức vô cùng vi tế.
Có một câu nói của Phật Đà khiến con người chấn động là:
"Chúng ta là những người kế thừa nghiệp của mỗi một chúng sinh, không có ai là ngoại lệ."

Ở đây, tôi đặc biệt nói rõ thêm rằng:
Phật Đà đã xác nhận rõ:
1. Có nhân duyên ba đời.
2. Sự bất khả tư nghì của nghiệp.

Tuy nhiên Phật Đà không thích chúng sinh tu Túc mệnh thông, cũng không muốn các đệ tử nói về nhân quả ba đời. 
Nguyên nhân là gì?
Phật Đà cho rằng:
Đời quá khứ đã qua rồi. (Tâm quá khứ bất khả đắc.)
Đời hiện tại cũng sẽ thành quá khứ. (Tâm hiện tại bất khả đắc.)
Đời tương lai còn chưa đến. (Tâm vị lai bất khả đắc.)

Phật Đà cho rằng:
Sống tại ngay lúc này là tốt nhất.
Ngay lúc này làm việc thiện, ngay lúc này tu pháp, ngay lúc này giúp đỡ người, ngay lúc này phát tâm, ngay lúc này chính niệm, ngay lúc này chính hành, ngay lúc này chính kiến, mỗi ngày trân quý thời gian. 

Ví dụ, giống như điều tôi nói:
Sống một ngày, vui vẻ một ngày.
Sống một ngày, tu hành một ngày.
Sống một ngày, cảm ơn một ngày.

Không cần phải nghĩ về quá khứ, không cần nghĩ về hiện tại, không cần nghĩ về tương lai.
Vì sao?
Nghĩ thì có tác dụng gì?
Các thầy tướng số hoặc thông linh ngày nay đều dùng nhân quả ba đời để mà:
"Lừa người!"
"Đe dọa hòng lấy tiền."
"Đổi vận."
"Chuyển vận."

XX chính là một ví dụ.
"Kiếp trước anh đã nợ tôi rất nhiều tiền!"
"Kiếp này anh phải trả lại tôi tiền!"
"Bằng không, kiếp sau anh phải xuống địa ngục!"
"Bằng không anh sẽ chết!"
"Bằng không anh sẽ gặp tai nạn lớn!"
Dọa tới mức người tới hỏi chuyện sợ chết khiếp, mau lẹ dâng tiền cho XX. 
Đây là những kẻ đại thần côn lợi dụng nhân quả ba đời để đe dọa lừa tiền của người khác. 

Cá nhân tôi chủ trương:
Sống tại ngay lúc này.
Sử dụng hoàn mỹ nhất thời gian của ngay lúc này.
Ngay lúc này mỗi ngày đều tu hành.
Chính nghiệp.
Chính niệm.
Chính hành.
Chính kiến.
Còn như quá khứ ra sao ra sao? Hiện tại ra sao ra sao? Tương lai ra sao ra sao? 
Đừng nghĩ ngợi làm gì. 
Tránh bị những thầy tướng số, thầy bói có cơ hội đe dọa lừa tiền, sẽ hối hận mãi thôi.


### 28. Bạn suy nghĩ về đời người như thế nào?


Trong chương sách này, tôi sẽ dạy bạn làm sao để suy xét về đủ mọi vẫn đề tồn tại trong cuộc đời. 

Vì sao Lư Sư Tôn cho rằng đời người là khổ?
Tôi nói:
Bởi vì Phật Đà nói, chúng ta sinh ra để trả nghiệp, trả nghiệp thì có gì vui để mà nói đây!
Tuy nhiên, nếu bạn tu hành giải thoát thì tất cả mọi cái khổ đều có thể chuyển hóa thành căn nguyên của niềm vui. 

Vì sao mỗi người sinh ra đều không bình đẳng?
Tôi nói:
Bởi vì mỗi người có nghiệp lực khác nhau, do vậy mới không bình đẳng, nói một cách rất đơn giản là:
Sinh ra ở đất nước nào.
Sinh ra ở dòng họ nào.
Sinh ra ở gia đình nào.  
Nghiệp lực khác nhau, nơi sinh khác nhau, thêm nữa, khuôn mặt của mỗi người đều khác nhau, đây là do nghiệp và luân hồi khác nhau. 

Vì sao có người là thiên tài, có người lại ngu dốt?
Tôi nói:
Vẫn là vấn đề nghiệp lực, thiên tài và kẻ ngốc, sinh ra đã không bình đẳng rồi. Việc này có thể tự hiểu được.
Vì sao sinh đôi, sinh ra trong cùng một gia đình, cùng một hoàn cảnh, tất cả đều tương tự, nhưng vận mệnh cuối cùng cũng khác nhau?
Tôi nói:
Trường hợp sinh đôi có rất nhiều điểm tương đồng. Tuy nhiên cũng vẫn có khác biệt. 
Bởi vì trong cái giống cũng có cái khác, bởi vì đó là hai con người, mỗi người có vận mệnh riêng của mỗi người. 
Điều này cũng có thể chứng minh mỗi người do mẹ sinh ra, mỗi người trưởng thành trong mỗi gia đình, thành tựu tương lai đều khác nhau. 

Vì sao Lư Sư Tôn dạy rằng có người căn khí cao, có người căn khí trung, có người căn khí thấp?
Tôi nói:
Căn khí cao - bẩm sinh đã có trí lực tốt.
Căn khí trung - bẩm sinh trí lực ở mức bình thường.
Căn khí thấp - bẩm sinh trí lực kém cỏi. 
Tuy nhiên, người tinh tấn thì vẫn có thể cần cù bù thông minh. Con cái trong cùng một gia đình có nghiệp lực riêng, nên sinh ra có khả năng trí tuệ khác nhau. 

Vì sao khi còn là trẻ sơ sinh đã có những biểu hiện tham, sân, si?
Tôi nói:
Sinh ra đã có, là vì nghiệp lực và luân hồi. 
Tôi bài trừ tư tưởng "nhân chi sơ, tính bản thiện".
Tôi bài trừ tư tưởng "nhân chi sơ, tính bản ác".
Tôi bài trừ tư tưởng "nhân chi sơ, tính bất thiện, tính bất ác".
Bởi vì:
Nhân chi sơ, vì nghiệp mà đã không bình đẳng rồi. 

Vì sao người ta mới gặp mặt nhau đã có cảm giác thích và không thích?
Tôi nói:
Là hiệu ứng từ trường, có lực hấp dẫn lẫn nhau, và có lực bài trừ nhau. 
Cảm giác này không nhất định là chính xác. 
Có liên quan đến duyên.
Có liên quan đến từ trường.

Vì sao người có phẩm cách lương thiện tốt đẹp lại xuống địa ngục, còn người tà ác cũng có thể thành Thánh giả?
Tôi nói:
Nghiệp lực thay đổi.
Buông bỏ đồ đao, lập địa thành Phật. 
Phẩm cách thiện lương, nhưng bị mê hoặc, nghiệp lực đổi thay.

Vì sao con người vừa mới đây đã chết rồi?
Tôi nói:
Vẫn là nghiệp lực.
Vẫn là hung sát.
Vẫn là tai ách.


### 29. Pháp thập nhị nhân duyên của Phật Đà


Dưới cây bồ đề, Phật Đà đã từng ngộ ra pháp Thập nhị nhân duyên, sự sản sinh đau khổ và sự kết thúc đau khổ. 

Thứ tự và giải thích về pháp Thập nhị nhân duyên thì đã có rất nhiều các vị đại đức từng nói rồi, ở đây tôi chỉ đưa ra những tổng kết toàn diện thôi. 

Vì vô minh, sinh ra nghiệp Hành.
Vì nghiệp Hành, sinh ra Thức tái sinh.
Vì Thức tái sinh, sinh ra Danh sắc.
Vì Danh sắc, sinh ra Lục nhập.
Vì Lục nhập, sinh ra Xúc.
Vì Xúc, sinh ra Thụ.
Vì Thụ, sinh ra Ái.
Vì Ái, sinh ra Thủ.
Vì Thủ, sinh ra Hữu.
Vì Hữu, sinh ra Sinh.
Vì Sinh, sinh ra Già chết. Buồn rầu, bi thương, đau khổ, phiền não, tuyệt vọng. 
(Đây là sự sinh ra đau khổ.)

Cá nhân tôi cho rằng:
"Ái."
"Thủ."
"Hữu."
Đây là ba căn nguyên chủ yếu của đau khổ. 
Người tu hành chúng ta, chỉ cần loại bỏ được Ái, Thủ, Hữu thì mới có thể giải trừ được đau khổ. 

Trong 12 nhân duyên, thứ tự như sau:
Trừ được vô minh, nghiệp Hành chấm dứt.
Trừ được nghiệp Hành, Thức tái sinh chấm dứt.
Trừ được Thức tái sinh, Danh sắc chấm dứt.
Trừ được Danh sắc, Lục nhập chấm dứt.
Trừ được Lục nhập, Xúc chấm dứt.
Trừ được Xúc, Thụ chấm dứt.
Trừ được Thụ, Ái chấm dứt.
Trừ được Ái, Thủ chấm dứt.
Trừ được Thủ, Hữu chấm dứt.
Trừ được Hữu, Sinh chấm dứt.
Trừ được Sinh, thì lão, tự, sầu, bi, khổ, não, tuyệt vọng chấm dứt. 
(Bởi vậy, đau khổ đã được giải trừ rồi.)

Trong kiếp quá khứ là:
Vô minh.
Nghiệp hành.
Trong kiếp hiện tại là:
Tái sinh.
Danh sắc.
Lục nhập.
Xúc.
Thụ.
Ái.
Thủ.
Hữu.
Trong kiếp tương lai là:
Sinh.
Lão.
Tử.

Cá nhân tôi thể ngộ như thế này:
Các hành vi thiện ác chính là nghiệp Hành.
Ái, Thủ, Hữu là tất cả phiền não. Ở đây kì thực chính là có lòng tham. 
Còn vô minh là nguồn gốc của tất cả mọi thứ.
Quả là cái gì?
Tái sinh là quả.
Già chết là quả.

Từ pháp Thập nhị nhân duyên, chúng ta hãy suy ngẫm, sẽ có được trí huệ. Nếu trí huệ thay thế được vô minh thì hành giả sẽ được giải thoát. Bởi vì vô minh khiến người ta ở trong sinh tử luân hồi, lặp đi lặp lại, liên miên không dừng.
Duy có người đại trí huệ thì mới vô sinh và vô tử.


### 30. Bài kệ luân hồi


Gần đây, tôi bỗng nhớ tới:

Mỗi năm lại thêm già
Ngày sống dần giảm bớt.
Xòe ngón tay tính đếm
Sắp sửa kết thúc rồi.

Và:
Mắt trông người ta chết.
Như lửa đốt trong lòng.
Chẳng nóng vì người khác.
Mà lo tới lượt mình.

Và: 

Lần này lại lần khác, mãi trầm luân không dừng.
Lần này lại lần khác, lại sinh rồi lại chết.
Lần này lại lần khác, người đưa ta đến mộ.

Tôi cảm thán rằng:
Trong kiếp quá khứ của tôi, tôi từng là Quốc vương, cũng từng là người tu hành, rồi thương nhân, cũng từng là nô bộc.
Trong lục đạo, trời, người, atula, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, tôi đều đã từng luân hồi qua cả.
Từng cả bầy thê thiếp.
Từng lăn lộn ăn mày.
Từng tu hành trong núi.
Từng vô số giang sơn.

Trong kiếp này, tôi đã hiểu thông hiểu thấu, hiểu triệt để quá khứ, hiện tại, tương lai của tôi. 
Tôi đã hiểu luân hồi và niết bàn là một.
Tôi đã hiểu Phật và ma là một.
Tôi đã hiểu một tức là tất cả, tất cả tức là một.
Tôi đã hiểu một quy về không.
Không quy về hư không.
Hư không quy về đạo.
Kiếp này, cuối cùng tôi đã thành tựu Vô thượng chính đẳng chính giác, tôi đã trở thành Phật Đà thời hiện đại. 
Khi tôi thành tựu Phật Đà thời hiện đại, tôi lập tức hiểu được rất nhiều những điều khó hiểu của những điều bất khả tư nghì.

Vì sao Phật có ba điều không thể làm được?
Không thể độ hết chúng sinh.
Không thể diệt định nghiệp.
Không thể độ người vô duyên.

Cho dù là luân hồi cũng có rất nhiều kiểu chết và nguyên nhân chết. 
1. Cái kết của sinh mệnh cực ác:
Thụ.
Tưởng.
Hành.
Tham.
Người sống mà có bốn thứ này chủ đạo thì khi chết sẽ đọa vào tam ác đạo.

2. Cái kết tự nhiên của tuổi già.
Thông thường mà nói thì cái này rất phổ biến, tuổi già đến thì sức sống trở nên yếu ớt, do vậy mà chết. 
Người làm việc thiện nhiều thì thăng lên trời làm thiên nhân.
Người làm việc thiện ác tương đương nhau thì lại tái sinh làm người.
Người làm nhiều việc ác thì đơn giản là vừa chịu khổ vừa tái sinh. 

3. Nghiệp lực đã hết, thọ mệnh cũng chấm dứt. 
Vì không còn nghiệp lực nên thọ mệnh cũng dừng. 
Không còn khả năng tái sinh, thế nên nhập vào niết bàn. 

4. Thọ mệnh chưa hết, nhưng gặp phải nghiệp lực rất lớn:
Đây gọi là chết tức thời. 
Ví dụ như chết do tai nạn xe, lở đất, mưa bão, lũ lụt, hỏa hoạn, cái chết tức thời. 
Chết yểu, đột tử.

Các cái chết từ phần 1 đến phần 3 là đến lúc thọ mệnh hết thì sẽ chết. 
Còn cái chết ở phần 4 là chết tức thời. 

Hiểu được những điều này sẽ cố gắng hơn để mà "mọi việc ác đừng làm, hãy làm mọi việc thiện, tự thanh tịnh ý niệm", cũng có nghĩa là trừ bỏ nghiệp lực, nghiệp lực đã hết thì tự có thể chứng được đạo.


### 31. Câu hỏi của một vị trưởng lão học Phật


Ông hỏi:
"Lư Sư Tôn! Tôi có băn khoăn, có thể hỏi ngài được không?"
Tôi đáp:
"Được."
Ông hỏi:
"Khi ngài ở Đài Loan, có người Hồng Kông hỏi chuyện, và một người New Zealand hỏi chuyện, về mặt thời gian thì là giống hay là khác?"
Tôi đáp:
"Giống."
Ông hỏi:
"Hồng Kông gần Đài Loan, New Zealand thì rất xa, vì sao hỏi ở hai nơi mà thời gian lại giống nhau?"
Tôi đáp:
"Khi ý thức của ông nghĩ đến mặt trời, rồi lại nghĩ đến mặt trăng, mặt trời cách trái đất rất xa, mặt trăng cách trái đất tương đối gần hơn, xin hỏi nghĩ đến mặt trời, nghĩ đến mặt trăng có khác nhau không?"
Ông đáp:
"Tôi hiểu rồi!"

Ông nói:
"Về mặt ý thức thì không có phân biệt xa gần."
Ông lại hỏi:
"A Di Đà Phật có thế giới Cực Lạc, Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật có thế giới Lưu Ly, Di Lặc Bồ Tát có thế giới Đâu Suất, xin hỏi Lư Sư Tôn, cõi tịnh thổ nào tốt?"
Tôi đáp:
"Cái gọi là tịnh thổ thực sự chẳng có xấu tốt. Ví dụ Tây phương Phật quốc thì việc ăn uống đi lại cũng giống như du hành khắp mười phương Phật quốc vậy."
Ông hỏi:
"Đi đến Phật quốc nào cũng đều có vấn đề về mặt thời gian sao?"
Tôi đáp:
"Ở giữa một tấc vuông."

Tôi lấy một ví dụ để nói cho trưởng lão nghe. 
"Có hai con chim bay đến một cái cây to. Một con đậu ở cành cao, một con đậu ở cành thấp, ánh mặt trời chiếu tới, bóng của chúng in lên mặt đất, xin hỏi bóng của con chim nào ở mặt trước, bóng của con chim nào ở mặt sau?"
Trưởng lão đáp:
"Như nhau."
Tôi đáp:
"Đúng vậy. Chính là như thế."

Ở đây, tôi xin viết ra một kiến thức bất khả tư nghì. 
Đại thừa, Tiểu thừa, Kim cương thừa, kì thực là một thừa, phân ra làm ba, hợp lại là một. 
Kim cương thừa thường nói, tương ứng một vị thì tương đương tương ứng trăm, nghìn, vạn vị. 
Đời quá khứ, đời hiện tại, đời tương lai kì thực là một đời, có nghĩa là:
Thụ cùng tam tế.
Hoành biến thập phương.
[ ND: Dọc cùng khắp ba đời, ngang trọn khắp thập phương. ]
Không có hạn chế về thời gian, không có hạn chế về không gian. 

Trưởng lão lại hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Tôi có một nghi vấn vẫn luôn để trong lòng, có Thánh giả nói "tức tâm tức Phật", lại có Thánh giả nói "phi tâm phi Phật", xin hỏi, cái nào mới đúng?"
Tôi đáp:
"Chẳng phải một cũng chẳng phải hai."
Trưởng lão hỏi:
"Có bằng chứng gì mà dám nói như vậy?"
Tôi đáp:
"Thanh Tịnh Đạo Luận."
Trưởng lão hỏi:
"Trong đó nói gì?"
Tôi đáp:
"Vô ngã."
"Thế thì cũng chính là phi tâm phi Phật mà!" - Trưởng lão nói.
"Ngay cả "phi" cũng chẳng có!" - Tôi nói.


### 32. Tư tưởng của tôi


Bạn có nhớ triết học của phương Tây không?
Tôi nghĩ, nên tôi tồn tại.

Bởi vậy, tôi viết:
Tư tưởng, tức là nhà tư tưởng.

Chúng ta biết rằng:
Con người sinh ra là do tâm pháp và sắc pháp cấu thành, cũng có nghĩa là linh hồn và đất nước lửa gió hợp thành. 
Đất là xương thịt. (vững chắc)
Nước là huyết dịch. (thanh tịnh)
Lửa là nhiệt độ. (độ nóng ấm)
Gió là hô hấp. (tuần hoàn)
Chúng ta cho rằng linh hồn mang nghiệp của kiếp trước từ đó mà lưu chuyển đến tái sinh. 

Tuy nhiên:
Trong cuốn sách "Chủ nghĩa hành vi" có nói:
"Chẳng ai có liên quan đến linh hồn, cũng chẳng có ai từng nhìn thấy nó từ trong ống nghiệm khoa học cả, lại càng chẳng có ai trong cuộc sống thường ngày phát sinh ra quá nhiều liên hệ với linh hồn cả. Cho dù là như vậy, rất nhiều người tin rằng có linh hồn, người thông linh có rất nhiều kinh nghiệm."
Bạn có tin có linh hồn không?
Bạn có tin không có linh hồn không?
Thuyết hữu thần?
Thuyết vô thần?
Cha tôi (Lư Nhĩ Thuận) hồi đầu đã bác bỏ tôi:
"Anh nói là có Phật, vậy đưa Phật ra đây cho bố xem, nếu như không đưa ra được thì nghĩa là không có. Con người chết đi rồi thì chẳng còn gì nữa, linh hồn ở đâu ra!"

Trong tư tưởng của Phật Đà không có nói đến linh hồn, nhưng đề cập đến "thức". Còn thời Ấn Độ cổ đại, các Thánh giả Ấn Độ có nhắc đến một thứ không thể tách rời, nó được gọi là "nguyên tử", hay còn gọi là "sơ lượng". 

Cá nhân tôi nghĩ thế này:
Nguyên tử.
Sơ lượng.
Thức.
Linh hồn.
Phật tính.

Điều mọi người cần hiểu rõ là:
Thức là thứ cứ trôi đi không dừng, không bị chướng ngại, hơn thế lại còn thay đổi khôn lường, cũng bị ô nhiễm, dòng chảy sinh mệnh này đối với các nhà duy thức học mà nói thì đó là tổ hợp của nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân, ý, ý căn, A-lại-da. 
Trong Như Lai Tạng có Như Lai.
A-lại-da là Như Lai.
A-lại-da là Phật tính.
Do vậy, tu hành là đãi vàng từ trong quặng sắt, luyện ra vàng, lúc đó nó không còn là quặng sắt nữa rồi. 
Đó chính là Phật rồi!

Tôi nhận thấy như sau:
Nếu như sắc thân sau khi chết, hỏa thiêu thành một đống tro, nếu không có linh hồn thì làm sao có lục đạo luân hồi?
Nếu không có lục đạo luân hồi thì lý luận của Phật gáo không tồn tại nữa.
Không có linh hồn thì làm sao có vãng sinh Phật quốc?

Có người đề xuất:
"Linh hồn mới cộng thêm nhục thể mới sẽ tạo thành một thể sinh mệnh mới. Còn nhục thể cũ thì đã chết từ lâu, cũng đã tự mất rồi. Do vậy, kiếp trước với kiếp này chẳng có liên hệ gì với nhau."
Đối với lý luận kiểu này, tôi không tùy tiện đồng tình. 
Phật Thích Ca Mâu Ni nói:
"Trả nghiệp!"
Tôi nói:
"Nếu kiếp trước, kiếp này chẳng có can hệ gì, thì nghiệp từ đâu đến?"
Tôi nói:
"Sinh ra là bắt đầu của cái chết, chết cũng là mở đầu của sinh ra, sinh rồi lại chết, chết rồi lại sinh, cứ thế luân hồi mãi không dừng."

Tôi từng trông thấy, trong quá trình hoán đổi linh hồn, có người so sánh:
Lấy loại bướm làm ví dụ.
Đầu tiên nó là trứng.
Sau đó nó là sâu róm.
Cuối cùng lại biến thành bướm.
Trứng, sâu róm, bướm, hình tượng của ba thứ này quá khác nhau, xem ra chẳng có mối tương quan nào. 
Tuy nhiên, 
Chúng có tính tiếp diễn và tính cùng chung. 
Ba thứ khác nhau.
Trong cái khác có cái chung.

Còn nữa:
Lấy đèn dầu làm ví dụ.
Khi chúng ta mới bắt đầu thắp đèn, trong quá trình đèn cháy. 
Có khi màu xanh.
Có khi màu đỏ.
Có khi tóe ra những tia lửa rất nhỏ.
Ba thứ này khác nhau.
Nhưng đèn dầu có tính tiếp diễn và tính cùng chung suốt cả đêm. Cuối cùng trở thành khô kiệt.
Màu xanh, màu đỏ, tia lửa nhỏ khác nhau. 
Nhưng, trong cái khác có cái chung.

Tôi lấy đời người làm ví dụ.
Thời sơ sinh.
Thời nhi đồng.
Thời thanh niên.
Thời trung niên.
Thời lão niên.
Bạn cho rằng thời nào đại diện cho Lư Thắng Ngạn? Tôi thật lòng nói với mọi người, thật sự là chẳng có thời nào. 
Tuy nhiên, một đời Lư Thắng Ngạn có tính tiếp diễn và tính cùng chung. 
Do vậy, linh hồn, hai thứ khác nhau, trong cái khác biệt có cái chung.


### 33. Vô số điều trải qua của con người


Phật Đà nói:
"Một người ở tại thế gian này, kì thực đã tích lũy xương cốt chồng chất cao như núi Tu Di, những đám xương người này là bất diệt, vĩnh viễn chồng chất tại cõi Ta Bà."

Và nói:
"Một người ở tại thế gian này, kì thực không đâu là không thấy khổ, thân ly tử biệt đầy rẫy khắp nơi. Cha chết, mẹ chết, anh chị em chết, thậm chí là con cái chết, muôn kiếp vẫn thế, nước mắt đã chảy từ lâu đã tích lũy lại đầy như nước bốn biển rồi."

Còn nói:
"Một người ở tại thế gian này, những việc từng trải qua trong đời quá khứ, hoặc làm trâu, hoặc làm ngựa, hoặc làm chó, hoặc làm cừu, hoặc làm đủ loại sinh vật lớn nhỏ, trải qua đủ mọi sự cắn xé lẫn nhau, quá trình đào thải tự nhiên, cá lớn nuốt cá bé, máu đã đổ ra qua những lần bị chặt đầu từ lâu đã nhuộm đỏ cát của toàn bộ đại địa này."

Còn nói:
"Một người ở tại thế gian này, có khi đã từng giết người, có khi là giặc cướp, có khi là tiện nhân thê thiếp, có khi lừa bịp người khác để cướp tiền, có khi ly gián, có khi phá hòa hợp tăng, có khi giết hại Thánh giả, có khi táng tận lương tâm, có khi lừa thầy diệt tổ, có khi áp bức người lương thiện, tham, sân, si, không gì là không phạm phải, tội lỗi đã tạo ra còn cao hơn cả núi Tu Di, sâu hơn biển, lục đạo luân hồi vĩnh viễn không có hồi kết!"
...

Phật Đà nói xong những lời này, lại nói:
Một người ở tại nhân thế gian này.
Đau khổ.
Đày đọa.
Bất hạnh.
Bệnh tật.
Thân ly. 
Khổ, khổ khổ, khổ khổ khổ.

Bây giờ bạn chỉ còn một con đường có thể đi:
"Tỉnh ngộ và giải thoát chính mình."

Con người đọa vào địa ngục, nguyên nhân chủ yếu là tham.
Con người đọa vào ngạ quỷ, nguyên nhân chủ yếu là sân.
Con người đọa vào súc sinh, nguyên nhân chủ yếu là si.

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người rằng:
Người minh nhãn có thể nhìn ra:
Sự tồn tại của con người chỉ là sự tồn tại tạm thời của nghiệp lực tạm thời ngắn ngủi, sự tồn tại của nó chỉ là tiếp nối nghiệp báo của đời trước. 
Ai từ Trời mà đến.
Ai từ Người mà đến.
Ai từ A-tu-la mà đến.
Ai từ đạo Địa ngục mà đến.
Ai từ đạo Ngạ quỷ mà đến.
Ai từ đạo Súc sinh mà đến.
Đều có thể từ hình dạng bên ngoài mà nhìn ra được.

Lấy đạo Súc sinh làm ví dụ:
Thân người có thể hiện lên những đặc tính của súc sinh. Điều này tương tự như việc nghiệp lực ác vẫn chưa bị trừ bỏ tận gốc, nên bất chợt sẽ lộ ra. 
Kẻ hay cắn bậy người khác - từng là rắn.
Kẻ nóng nảy - từng là khỉ.
Kẻ gian xảo - từng là lang sói.
Kẻ tham ăn - từng là lợn.
Kẻ giết người - từng là hổ báo.
...

Ví dụ:
Đề Bà Đạt Đa là một vương tử cao quý, là một trong những nhân vật quan trọng nhất trong tăng đoàn chủ yếu của Phật Đà, cũng có đầy đủ thần thông và pháp lực, thế nhưng vẫn không địch nổi lòng tham của nội tâm, muốn lãnh đạo tăng đoàn, bởi thế mà muốn giết hại Phật Đà.
Do vậy, Thánh nhân cũng có thể ngay ngày mai biến thành tội nhân độc ác. 
Tương tự, tội phạm cũng có thể thay đổi trở thành Thánh nhân. Đó là vì biết sám hối, hạt giống thiện ấy đã tạo ra sự thay đổi lớn.


### 34. Xin đừng đi vào con đường sai lầm


Trước tiên, tôi công bố một lá thư để làm bằng chứng:
Những lá thư kiểu này nhiều vô cùng, tôi xử lý chúng đến tối tăm mặt mũi, trời u đất ám. 
Chỉ vì trong tông phái chúng ta xuất hiện một Quỷ Bà XX, Quỷ Bà này đã đi vào con đường sai lầm, hại người vô số. 

Sư Tôn kính mến, xin chào Thầy!
Đệ tử là Lệ Linh, nhà ở khu dân cư mới tên là Hồng Lâm ở Tân Giới (Hồng Kông). 
Nay có sự việc này, cầu thỉnh Sư Tôn gia trì và hóa giải. Vào tháng 8 năm 2016, cả nhà đệ tử từng tham gia pháp hội của Thượng sư XX. Kể từ ngày hôm đó, sư huynh Đức Minh của con có xuất hiện linh chướng, có huyễn thính huyễn thị, trông thấy linh hồn xuất hiện và nói chuyện, sau đó liên tục có khuynh hướng bạo lực và suy nghĩ tự sát. Sau đó, bản thân anh ấy cũng có đến Đài Loan Lôi Tạng Tự tham gia pháp hội hoàn tịnh, nhưng tình hình chuyển biến tốt đẹp chỉ được vài tháng, rồi lại xuất hiện những hiện tượng kể trên. Bây giờ kinh tế gia đình con cũng đã xuất hiện khó khăn, cầu thỉnh Sư Tôn từ bi gia trì cho gia đình chúng con vượt qua được cảnh khốn khó này. 

Những người trong gia đình bị ảnh hưởng: 
1. Đức Minh: sinh ngày ? tháng 12 năm 1973. 
2. Lệ Linh: sinh ngày ? tháng 8 năm 1967.
3. Học Lễ: sinh ngày ? tháng 3 năm 2012. 
4. Học Nghiên: sinh ngày ? tháng 5 năm 2004.
Đệ tử Lệ Linh chắp tay đảnh lễ. 
Kính chúc Sư Tôn Phật thể an khang.

Lá thư này tôi đã sửa đi họ tên, che đi địa chỉ, che đi ngày sinh, để tránh cho họ bị Quỷ Bà theo dõi và làm hại.

Quỷ Bà này nuôi quỷ, năm con quỷ trùm sò này như sau:
Kobayashi. (Quỷ người Nhật)
Nakamura Kazumu. (Quỷ người Nhật)
Watanabe Chirou. (Quỷ người Nhật)
Lâm Lương Tri. (Quỷ người Hoa)
Hoàng Kim Tuyền. (Quỷ người Hoa)
Mỗi tên đầu sỏ lại dẫn theo trăm, nghìn, vạn quỷ binh quỷ tốt để sát hại nhân gian.

Quỷ Bà này làm ba điều đại ác:
1. Khủng bố lừa tiền.
2. Nuôi quỷ hại người.
3. Thần thông nói láo.

Những ngôi chùa mà Quỷ Bà từng đến đều biến thành miếu quỷ.
Quỷ Bà làm pháp hội, quỷ sẽ bắt người hoán đổi. 
Quỷ Bà gia trì thì quỷ lập tức chiếm lấy thân xác.
Người đi theo Quỷ Bà đều là những người bị ma quỷ ám, tương lai sẽ đều đọa vào quỷ giới. 

Tôi nói:
Chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, chư Thiên trong Phật giáo đều có thể thờ cúng, lễ bái, tu pháp….
Quỷ Bà thì khăng khăng muốn cung phụng năm con quỷ đầu sỏ, đó là đã đi vào con đường sai lầm rồi. 

Con đường sai lầm là:
Theo đuổi quỷ đạo thấp kém.
Sử dụng thần thông quỷ nhơ bẩn.
Có quỷ sống ở trong tâm.
Đánh mất bồ đề tâm.
Đánh mất giới, định, huệ.
Liên tục đi vào tam đồ ác đạo khổ nạn.
Không nghe theo lời kêu gọi của các bậc Thánh triết.
Lạc đường lạc lối.


### 35. Liên Hoa Đồng Tử không được thừa nhận


Tôi còn nhớ đó là một sự việc từ rất nhiều năm, rất nhiều năm trước.
Địa điểm là ở Seattle Lôi Tạng Tự. 
Tôi nhận ra một vị Liên Hoa Đồng Tử là Xa Diệu Chi.
Tôi kêu cô đứng dậy. 

Kết quả là có một người phụ nữ mặc váy bó màu xanh tím đến từ Vancouver, Canada đã đứng dậy. Đương nhiên là Xa Diệu Chi không dám đứng lên nữa. 
Khi đó, trong lòng tôi rất mâu thuẫn. Ý của tôi là muốn Xa Diệu Chi đứng lên, nhưng cô ấy lại chậm mất một bước. Không ngờ lại là một người phụ nữ khác đứng dậy. Thế nên tôi cũng sững người ra.

Tuy nhiên, tôi lập tức nghĩ, tình huống lúc này rất gượng gạo, để hóa giải sự gượng gạo, tôi nhanh chóng quyết định nếu là phúc thì chẳng phải họa, nếu là họa thì trốn cũng không được. 

Tôi liền nói:
Đây là X Liên Hoa Đồng Tử.
Hy vọng bà ấy có thể đảm đương sứ mệnh.
Một ngóng, hai trông, ba chờ đợi. Hy vọng biến thành tuyệt vọng.
Kết quả là, người giả thì vẫn là người giả. Bà ta muốn độc lập tách ra, giống như Đề Bà Đạt Đa thời Đức Phật vậy, muốn giết Phật để trở thành thủ lĩnh tăng đoàn. 

Vào lúc tôi xác nhận X Liên Hoa Đồng Tử, có một phu nhân họ Diêu đến gặp tôi, nói:
"Lư Sư Tôn, ngài nhận nhầm người rồi!
Bà X ấy là bạn chơi bài với tôi. Bà ấy có ba khuyết điểm lớn:
1. Nói láo giỏi nhất.
2. Chửi người ta giỏi nhất, chuyên môn thọc gậy bánh xe.
3. Nhân phẩm bà ta rất đê hèn, vô liêm sỉ.
Nếu như XX này là Liên Hoa Đồng Tử thì Diêu Mỗ tôi và chồng tôi lập tức rời khỏi Chân Phật Tông!"

Tôi nghe xong, chỉ nói nhàn nhạt:
"Hy vọng bà ấy sẽ thay đổi!"
Phu nhân họ Diêu hậm hực bỏ đi, phu nhân họ Diêu và chồng đã rời bỏ Chân Phật Tông, chuyển sang Thiên Chúa giáo.

Rất nhiều năm đã qua rồi!
X Liên Hoa Đồng Tử này cũng chính là Quỷ Bà XX ngày hôm nay. Chao ôi!
Quỷ Bà vẫn là Quỷ Bà, tất cả đã chứng minh bà ấy là Liên Hoa Đồng Tử giả, có lộn ngược đầu lại cũng vẫn là Liên Hoa Đồng Tử giả.

Phân biệt được điều này rất đơn giản:
Các Liên Hoa Đồng Tử hóa thân của A Di Đà Phật tại Ma Ha Song Liên Trì là cùng tâm cùng đức. 
Là vui vẻ.
Là thanh tịnh.
Là vĩnh hằng.
Là phạm hạnh.
Là vui đùa cùng nhau.
Chẳng có cái gọi là sự "đánh lẻ", muốn độc lập, muốn lãnh đạo tất cả Liên Hoa Đồng Tử khác. 

Tôi xin khuyên XX một câu:
Người không ngủ thấy đêm dài.
Người mệt mỏi thấy đường xa.
Kẻ ngu chẳng hiểu nhân quả.
Biển khổ mênh mông vô biên.
Quỷ Bà lựa chọn kính quỷ, lại còn sử dụng ác quỷ đi hại các đệ tử Chân Phật Tông lương thiện.

Tôi nói để bà hay:
Có người lựa chọn chuyển thế làm thiên nga.
Có người lựa chọn chuyển thế làm khỉ vượn.
Có người lựa chọn chuyển thế làm diều hâu.
Quỷ Bà lựa chọn chuyển thế làm ma quỷ.

Tất cả đều có linh hồn, tất cả đều là linh hồn, vì ý muốn và quy luật mà phải tuân theo chạy đi chạy lại trong lục đạo, bà không chọn tứ Thánh và chư Thiên, lại chọn làm quỷ hung ác, Quỷ Bà đê hèn như bà đây chỉ có thể chuyển thế đến Quỷ Thành mà thôi.
Hãy mau mau sám hối đi!
Quỷ Bà!


### 36. Lời xằng bậy của Tiên nhảm


Quỷ Bà XX nói:
Có lần bà ấy đi Calgary, Canada thuyết pháp.
Bà ấy đến nhà của sư tỉ họ Lôi. Trong nhà của Lôi sư tỉ có đàn thành. Thổ Địa Công của đàn thành nói với Quỷ Bà rằng:
"Tôi ở đây đợi XX, tôi đã chờ suốt 500 năm rồi, bây giờ cuối cùng đã gặp được bà, tôi muốn quy y bà."
Lôi sư tỉ nghe xong rất vui mừng. 
Quỷ Bà XX lại càng vui mừng hơn. 
(Sự việc này do Thượng sư Triệu Thiếu Đông viết ra.)

Tôi nghe xong sự việc này, trong lòng nghĩ:
"Lại là trò nhảm nhí!"
Người khác hỏi tôi:
"Vì sao lại nhảm nhí?"
Tôi đáp:
Rất đơn giản!
Trong số các loại Thần thì Thổ Địa Công thuộc loại Thần nhỏ, là Thần bảo vệ thôn xóm. Ngạn ngữ nói:
"Đầu thôn cuối thôn Thổ Địa Công."

Thổ Địa Công trong một nhà là Phúc Đức Chính Thần bảo vệ ngôi nhà đó. Nhìn chung mà nói thì người ta thờ cúng Thổ Địa Công ở vị trí thấp nhất trong nhà.
Ở Đài Loan, chúng ta gọi là Thổ Địa Công.
Ở Trung Quốc, có người gọi là Xã Công.
(Xã Công - Thần bảo vệ một phường.)

Trong các cấp độ Thần thì đây là vị nhỏ nhất, tuy vậy cũng vẫn nên tôn trọng. Theo tôi được biết, thần lực của Thổ Địa Công là nhỏ nhất, chỉ có thể biết được chuyện của bảy ngày trước, bảy ngày sau. 

Là vậy đó! Vị Thổ Địa Công của gia đình này đợi Quỷ Bà đã 500 năm, đây chính là điều mà Quỷ Bà bốc phét. Nói cách khác là, Thổ Địa Công, vì đã đợi Quỷ Bà 500 năm, vậy Thổ Địa Công này có thể biết được 500 năm trước và 500 năm sau, thần thông quảng đại như vậy, thật là oai phong lẫy lừng.

Tất cả Thần minh chẳng làm được. 
Thành Hoàng cũng chẳng có năng lực thần thông này.
Cảnh Chủ cũng chẳng có năng lực thần thông này.
Vương Da Công cũng chẳng có năng lực thần thông này.
Mã Tổ Bà cũng chẳng có năng lực thần thông này.

Tôi lại nói để mọi người biết:
Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn, người đứng đầu tất cả chúng Thần cũng chẳng có năng lực thần thông này. 
Dục Giới Lục Thiên cũng chẳng có năng lực thần thông này.

Điều này cần phải là:
Vô Sắc Giới Thiên mới có năng lực thần thông này.
Đại Tự Tại Thiên. (Thần hủy diệt)
Đại Phạm Thiên. (Thần sáng tạo)
Biến Tịnh Thiên. (Thần bảo hộ)
Thì mới có năng lực thần thông như vậy! Ngũ Bất Hoàn Thiên cũng có năng lực thần thông này. 
Rất đơn giản mà nói, Thổ Địa Công nhỏ nhỏ trong gia đình này mà có thể biết được chuyện 500 năm sau thì tôi nghe xong cũng muốn đảnh lễ ông ta. 
Cung kính.
Cúng dường.

Còn quỷ bà XX khoa ngôn trâng tráo, nói Thổ Địa Công đã ở đó đợi bà ta 500 năm rồi, và muốn quy y Quỷ Bà. 
Lại là khoác lác.
Bốc phét.
Tiên nhảm!
Ngay cả năm con quỷ đầu sỏ mà chính bà ta cung phụng cũng chẳng có được năng lực thần thông này.
Ngày cả chính bản thân bà ta cũng chẳng có được năng lực thần thông này.
Ngu.
Ngu.
Ngu.
Đồ tiên nhảm!


### 37. Niết bàn có tồn tại không?


Có người hỏi Phật:
"Niết bàn có tồn tại không?"
Phật đáp:
"Niết bàn là vô giới, vô vi, bất khả tư nghì, viên mãn, chí cao vô thượng, cứu cánh, là nơi tốt lành nhất để trở về, yên ổn, bình an, thanh tịnh tuyệt đối, xuất thế giới, bất tử, giải thoát, an lạc."
Người kia nói:
"Cảnh giới Niết bàn như vậy, e rằng chỉ là một điều lý tưởng mà thôi?"

Phật đáp:
"Đây là điều có thật."
Người kia nói:
"Chưa từng trông thấy!"
Phật đáp:
"Thật sự là có."
Người kia nói:
"Tôi không tin."
Phật im lặng không nói, người kia cười hả hê rồi bỏ đi!

Tôi biết, rất nhiều người không hiểu về Niết bàn, tôi từng nói chuyện với một bác sĩ về Niết bàn. Bác sĩ nói:
"Niết bàn chính là chết."
Tôi nói:
"Không phải."
Bác sĩ nói:
"Người xuất gia chết đi thì gọi là nhập Niết bàn!"
Tôi nói:
"Niết bàn có chân nghĩa, người thế tục không hiểu."
Bác sĩ nói:
"Xin Lư Sư Tôn có lời dạy bảo xem sao?"

Tôi lấy một ví dụ:
Đây là một ẩn dụ. Có một con cá đã sống cả đời ở biển cả. Con cá gặp người bạn tốt của nó là con rùa biển, hai người bạn rất lâu không gặp, bèn nói chuyện với nhau. 
Cá hỏi rùa:
"Anh đã đi đâu?"
Rùa đáp:
"Lục địa."
Cá kinh ngạc:
"Tôi chưa từng biết lục địa là gì, lục địa có rất nhiều cá đang bơi không?"
Rùa đáp:
"Không có, chỉ có người!"
Cá hỏi:
"Người là cái gì? Họ có vây không?"
Rùa đáp:
"Không có."

Cá sửng sốt:
"Họ không có vây, thế họ di chuyển thế nào?"
Rùa đáp:
"Họ có chân."
Cá hỏi:
"Chân là cái thứ gì? Mau mau nói cho tôi biết, còn cái gì đặc biệt nữa, chỗ họ có sóng không?"
Rùa đáp:
"Lục địa không có sóng."
Cá hỏi:
"Chắc là có dòng biển!"
Rùa đáp:
"Cũng không có."
Cá hỏi:
"Cái này cũng không, cái kia cũng không, tôi thật sự chẳng hiểu nổi lục địa."
Rùa đáp:
"Thật sự là anh không có cách nào hiểu được đâu!"
Cá nói:
"Căn bản là tôi chẳng tin có lục địa!"


### 38. Người tại gia và người xuất gia


Có người hỏi tôi:
"Tôi có nên xuất gia không?"
Tôi đáp:
"Đừng hỏi tôi, hãy hỏi chính bản thân mình."
Người đó nói:
"Vì tôi chẳng thể tự quyết định được!"
Tôi đáp:
"Trước tiên anh hãy tự hỏi bản thân xem anh có tự nguyện không, hơn nữa đã từng chấp nhận những phạm hạnh thanh tịnh chưa."

Người xuất gia trước tiên cần hiểu về việc giữ bốn giới luật:
1. Giới luật về tu luyện tâm trí.
2. Giới luật về cuộc sống đức hạnh.
3. Giới luật về những điều thiết yếu của cuộc sống.
4. Giới luật về cuộc đời thanh tịnh.

Có người hỏi tôi:
"Người tại gia tốt hay người xuất gia tốt?"
Tôi đáp:
"Người tại gia giống như sống trong ngôi nhà nhiều tranh chấp, luôn đầy những đòi hỏi và đắng cay. Còn người xuất gia thì chẳng còn mong cầu gì cả, giống như sống ở trên trời vậy, tự tại và cao vời vợi."
Người đó nói:
"Ý Lư Sư Tôn là muốn tôi xuất gia sao?"
Tôi nói:
"Cũng không hẳn là vậy!"

Tôi giải thích:
Người xuất gia dựa vào sự thanh tịnh của nội tại và cuộc sống mẫu mực, từ đó mà đạt được quả thắng lợi. Còn người tại gia phải đối diện với những quyến rũ từ bên ngoài, nhưng nếu có thể giữ vững được thân tâm không bị ô nhiễm, đạt được thắng quả, thì càng khiến người ta thán phục.
Phật Đà nói:
Cho dù là đeo vàng đeo ngọc, và sống một cuộc đời sung sướng, nhưng hành vi thì:
Điềm tĩnh.
Yên lặng.
Kỉ luật.
Tự tin.
Thuần tịnh. 
Không làm hại tất cả chúng sinh hữu tình. 
Người những người tại gia như vậy còn hơn cả những người xuất gia.

Người kia hỏi:
"Có những người tại gia như vậy sao?"
Tôi nói:
"Thời đại Phật Đà, trưởng giả Cấp Cô Độc đã chứng đắc quả vị Tư Đà Hàm, những phú hào nổi danh của gia tộc Thích Ca đã chứng đắc quả vị Nhất Lai, những công nhân làm gốm sứ bằng lòng cầm rìu làm việc thay vì giăng lưới bắt chim thì đã chứng đắc quả vị Bất Hoàn, vua Tịnh Phạn đã chứng đắc quả vị A La Hán…."
Có rất nhiều người tại gia đắc quả vị. 

Người kia hỏi:
"Lư Sư Tôn! Ngài nghĩ sao, ngài muốn chúng tôi xuất gia hay tại gia?"
Tôi đáp:
"Một người, nếu như có thể thanh tịnh, bỏ dâm dục, tình nguyện xả bỏ, khiêm tốn, giản dị, vô tư, kỉ luật, nhẫn nhục, từ bi, không hại chúng sinh thì xuất gia hay tại gia đều tốt cả."

Người kia hỏi:
"Thế nào là một hành giả tệ hại nhất?"
Tôi đáp:
Buông thả trong việc hành dâm.
Vừa trộm vừa cướp.
Sát sinh. 
Giả thần thông. Dùng quỷ thông nhưng lại tự nói là Thần đạo.
(Đây là việc tệ hại nhất.)

Người kia hỏi:
"Xuất gia đại diện cho việc gì?"
Tôi đáp:
"Một khởi đầu của sự tu hành! Ngoài ra, không đại diện cho cái gì cả! Chỉ là việc xuất gia tượng trưng cho phạm hạnh thôi."


### 39. Tri lượng, bỉ lượng, Thánh ngôn lượng


Có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Làm sao biết được một người tu hành đã đi vào con đường sai trái?"
Tôi đáp:
"Rất đơn giản."
Người hỏi:
"Là phương pháp đơn giản sao?"
Tôi đáp:
"Là tri lượng, bỉ lượng, Thánh ngôn lượng."
Người hỏi:
"Vì sao nói như vậy?"

Tôi đáp:
Tri lượng --- khả năng tri thức.
Chúng ta thấy một người tu hành đi vào con đường sai trái thì có thể phân biệt được, ví dụ như anh ta không giữ giới luật, giết người, cướp của, tà dâm, vọng ngữ, nghiện rượu, từ hành vi, lời nói đều có thể nhìn ra được.
Ví dụ:
XX bất kính với thầy.
XX diệt Tổ.
XX đang thôn tính địa bàn của Chân Phật Tông.
XX nhục mạ Sư Mẫu.
Đâu đâu cũng thấy.
Từ việc khoác lác mà gây nên chia rẽ, từ việc bịa đặt chuyện hoang đường, từ phẩm chất đạo đức đê hèn mà có thể nhìn ra được. Ví dụ như đe dọa để chiếm đoạt tiền, v.v…

Bỉ lượng --- khả năng tư duy logic. 
XX nói, Địa Mẫu đã dán lên mặt bà mấy chữ "Bà nói là được", nghĩa là bà nói thế nào thì sẽ là thế ấy.
Chúng ta dùng phương pháp tư duy có thể biết được bà ta đang nói láo. 

Bởi vì:
Địa Mẫu cũng không thể "nói là sẽ được", ở trên còn có Thiên Công, Thiên Công cũng chẳng thể nói là được, trên nữa còn có Không Cư Thiên, Dục Giới Thiên, Sắc Giới Thiên, Vô Sắc Giới Thiên. Phi Tưởng Giới Thiên cũng không thể nói là được, trên nữa còn có Tứ Thánh, A La Hán, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật.

Phật cũng chẳng thể nào "nói là được". 
Phật có ba điều không thể:
Không thể độ người vô duyên.
Không thể độ hết giới chúng sinh.
Không thể tiêu diệt định nghiệp.
Thế thì làm sao XX có thể nói là xong được, có thể thấy đây là lời khoác lác của ma quỷ.

Thánh ngôn lượng --- những lời mà Thánh hiền ngày xưa đã nói.
Ví dụ:
XX nuôi quỷ.
XX thờ cúng tượng vàng của quỷ.
XX dùng quỷ để sát hại người.
Những việc này đều chỉ ra rằng XX từ lâu đã rời xa những lời nói của Thánh hiền, lệch khỏi những lời trong kinh, luật, luận của Thánh nhân - Không hề dạy bạn nuôi quỷ.
Điêu khắc tượng kim thân.
Treo kim bài.
Những con quỷ của bà ta biết tìm vật chủ.
Mất ngủ.
Huyễn thị, huyễn thính.
Tinh thần thất thường.
Tự sát.

Có rất nhiều ví dụ có thể làm bằng chứng.
XX đe dọa đoạt tiền.
XX nuôi quỷ giết người.
XX bịa chuyện thần thông để dọa người.
Những điều này đều trái ngược với Thánh ngôn lượng, cho thấy từ lâu đã đi vào con đường sai trái rồi.

Bởi vậy tôi nói:
Đây không phải là những hành vi việc làm của người tu hành, mà là mượn danh nghĩa tôn giáo mà hình thành nên tập đoàn tôn giáo lừa đảo.
Chỉ có một mục đích --- tiền và địa vị.
Đây chính là tri lượng, bỉ lượng, Thánh ngôn lượng.


### 40. Phụ lục - Cuộc đối thoại


Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật tiếp nhận lời mời phỏng vấn của ông Nhan Liên Vũ, một nhân vật truyền thông thâm niên ở Hồng Kông.

Vào ngày 27 tháng 4 năm 2017, dưới sự giới thiệu của Thượng sư Liên Hoa Thiếu Đông, Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật đã tiếp nhận lời mời phỏng vấn của ông Nhan Liên Vũ, một nhân vật truyền thông thâm niên ở Hồng Kông, cuộc đối thoại như sau:

Ông Nhan: Năm 2012, có một đoàn thể tôn giáo đã nghênh thỉnh hạt xá lợi đến Hồng Kông phục vụ cho hoạt động của họ, khiến cho thời tiết chuyển biến tốt hơn, nhưng khi vừa gửi trả hạt xá lợi thì thời tiết lại chuyển thành xấu, xin hỏi tình huống này là như thế nào? Là trời ban dị tượng sao?...

Sư Tôn: Hạt xá lợi có từ trường đặc biệt, do vậy, đôi khi sẽ xảy ra hiện tượng thời tiết tốt, khi xá lợi không còn ở đó thì thời tiết sẽ quay trở lại xấu như lúc trước. Cá nhân tôi thì khá tự nhiên, bất kể là rất nóng, hay rất lạnh, trời mưa gió thổi, tôi cũng chưa hề lo lắng. Bởi vì dù có gió to thì chúng tôi vẫn có thể làm pháp hội được. Khi trời mưa to thì cũng vẫn có thể làm tốt được pháp hội. Thời tiết rất nóng thì cũng vẫn làm tốt được pháp hội. Do vậy, chúng tôi cứ tùy theo tự nhiên.

Ông Nhan: Bởi thế mà Sư Tôn cứ ung dung, nếu như đã ung dung thì tôi xin hỏi bình thường hàng ngày mấy giờ Sư Tôn ngủ dậy?
Sư Tôn: Mỗi sáng bình thường tôi đều ngủ dậy lúc 7 giờ.
Ông Nhan: Việc đầu tiên ngài làm là gì?
Sư Tôn: Việc đầu tiên đương nhiên là đánh răng, rửa mặt, bình thường sau khi làm xong những việc này thì mới làm những việc khác.
Ông Nhan: Sau đó thì sao? Các việc khác bao gồm những việc gì?
Sư Tôn: Đôi khi tôi phải cắt tóc, khi cắt tóc thì tôi sẽ xem ti vi. 
Ông Nhan: Ngài xem ti vi ư?
Sư Tôn: Đúng.
Ông Nhan: Xem chương trình ti vi gì?
Sư Tôn: À, luôn là xem tin tức.
Ông Nhan: Ok, nếu như ngài xem tin tức thì các chương trình ti vi khác ngài sẽ không xem, phải không?
Sư Tôn: Rất hiếm.
Ông Nhan: Rất hiếm, nhưng nếu có lúc đệ tử kể với ngài nội dung các thứ thì ngài có xem không? Đệ tử nói chuyện về những nội dung đó thì cũng không xem ư?
Sư Tôn: Không xem.

Ông Nhan: Sau khi ngài xem tin tức, ví dụ như hôm nay tôi xem thấy tình hình thế giới rất loạn, còn có rất nhiều những nội dung tin tức là sự thật. Có đôi khi, rất nhiều tin tức không vui vẻ gì, chiến tranh này, thiên tai này, họa do con người gây ra này. Tôi nghĩ không biết Sư Tôn của chúng ta khi xem những tin tức này, cảm giác trong lòng ra sao?

Sư Tôn: Khi tôi xem những tin tức như vậy, tôi vẫn luôn niệm Phật. Những thiên tai, hoặc những vụ án mạng, tai nạn giao thông này... Mục đích tôi xem tin tức chủ yếu là để niệm Phật, niệm chú giúp những người đó, hy vọng người bị thương nhẹ thì có thể khỏe nhanh, người bị thương nặng cũng sẽ thành nhẹ. Còn người đã chết thì hy vọng họ được vãng sinh. Tôi một lòng chỉ muốn giúp đỡ, những người gặp khó khăn khổ nạn trên ti vi, gặp tai nạn, gặp thiên tai, những người này cũng có thể xem là chúng sinh có duyên nên tôi mới xem thấy, do vậy tôi nhất định cần trì chú để giúp họ.

Ông Nhan: Vậy thì khi ngài xem tin tức, nhất định là vẫn rất bận bịu?
Sư Tôn: Đúng, bởi vì tôi vẫn luôn giúp họ chuyển hóa.

Ông Nhan: Đúng đúng đúng. Sư Tôn, vì ngài chính là nhân sĩ tôn giáo mà. Nhưng nếu như những người như chúng tôi đây, những người dân bình thường, có thể cũng chẳng có tín ngưỡng gì, hoặc là có thể tư tưởng không được trưởng thành như vậy, thì khi xem thấy những tin tức này, tâm trạng của chúng tôi sẽ bị ảnh hưởng đó, vậy thì chúng tôi nên xử lý thế nào đối với những sự việc như vậy?

Sư Tôn: Theo Phật pháp mà nói thì thật ra, ví dụ những sự việc kiểu này, nếu như đối với một vị thành tựu giả mà nói thì họ sẽ coi như cơ bản là chẳng có sự việc như thế. Đó là cảnh giới rất cao. 

Ông Nhan: Đương nhiên rồi.
Sư Tôn: Có khi, ví dụ như tôi đang ở trong khu chợ, tìm thấy một cái ghế, những âm thanh ở xung quanh vô cùng ồn ào, nhưng tôi vẫn có thể ngồi trên cái ghế đó, chỉ một chốc là tôi sẽ có thể tĩnh tâm được, tất cả mọi âm thanh đều biến thành không còn gì nữa. Còn năm nay, bản thân tôi cũng đã dành cho năm nay một chữ, chữ này chính là "loạn".

Ông Nhan: Loạn ư?
Sư Tôn: Vâng, là loạn.

Ông Nhan: Thật ra thế giới của chúng ta mỗi ngày đều loạn mà!
Sư Tôn: Trên thế gian rất nhiều sự việc đều là loạn. Nhưng cái loạn của năm nay thuộc về cái loạn của quốc gia. Bởi vì bản thân tôi đã ngửi thấy mùi của khói lửa chiến tranh. Đó là vào năm 2016, ngày 15 tháng 8 âm lịch, chúng tôi dùng phương pháp xem quẻ, phương pháp mà Phật Bồ Tát chỉ thị, mà biết được vào năm 2017, đó là hiện tượng của toàn bộ các quốc gia. Do vậy khi đó, tôi đã dự đoán năm nay có chiến tranh, tôi đã ngửi thấy mùi khói lửa của chiến tranh. Nhưng chúng ta vẫn đang cố gắng hết sức để hóa giải chúng, hy vọng có thể không xảy ra việc gì. Do vậy, năm nay cũng có đài truyền hình phỏng vấn tôi rằng: Ngài nói xem năm nay sẽ phát sinh sự việc gì? Tôi nói: Tôi ngửi thấy mùi khói lửa chiến tranh. Nhưng hy vọng là bản thân tôi có thể dùng sức mạnh của mình để hóa giải được những cuộc chiến tranh này.

Ông Nhan: Chúng ta giải trừ như thế nào? Ví dụ như nói về người dân thường như tôi đây?
Sư Tôn: Thật ra đó cũng chính là điều Phật Đà đã nói, một chữ "nghiệp" thôi.
Ông Nhan: Chữ "nghiệp"?
Sư Tôn: Nghiệp trong sự nghiệp, là chữ nghiệp đó. Bởi vì Phật Đà từng nói, có người hỏi Ta: Con người đến thế giới này để làm gì? Phật Đà đáp, chính là để trả nghiệp, chữ trả trong đáp trả.
Ông Nhan: Trả nghiệp ư?
Sư Tôn: Đúng, chữ nghiệp trong sự nghiệp. Con người đến thế gian này là bởi vì có nghiệp, cần phải hoàn trả lại nghiệp này, do vậy mới đến với thế giới Ta Bà này, gọi là trả nghiệp.
Ông Nhan: Đến chính là để trả nghiệp.
Sư Tôn: Đúng.
Ông Nhan: Như thế thì có gì vui? Chúng ta đến đây...
Sư Tôn: Nên mới nói là đời người là khổ. Bởi vì Phật nói: Khổ, Không, Vô thường, Vô ngã. Đây chính là tinh thần chủ yếu của Phật Đà. Cái thứ nhất chính là Khổ, bởi vì cái khổ này mà bạn cần phải trừ bỏ nó, chính là Tứ thánh đế mà tôi nói đến: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Cái thứ nhất, bởi vì bạn biết Khổ, do vậy phiền não vì cái Khổ. Bạn muốn giải thoát, phương pháp duy nhất là bạn phải khiến mình trở thành một thành tựu giả đã giải thoát thì bạn mới có thể giải thoát khỏi cái Khổ này, cần phải loại bỏ Khổ.

Ông Nhan: Có thể được sao?
Sư Tôn: Có thể được.
Ông Nhan: Có bao nhiêu người có thể làm được như vậy?
Sư Tôn: Rất ít. Tuy nhiên nếu như có thể trở thành một thành tựu giả, bởi cái Khổ này là do cái Ngã, do vậy mới có Khổ. Vì bạn có cái Ngã cho nên mới sinh ra cái Khổ. Nếu như bạn không còn cái Ngã nữa thì Khổ sẽ không tồn tại nữa. Ví dụ, cũng giống như mắc bệnh: bạn có thân thể này thì mới có việc mắc bệnh. Thân thể này mà không còn nữa thì sẽ chẳng có bệnh. 
Ông Nhan: Tôi hiểu rồi.
Sư Tôn: Do vậy, về mặt tâm lý, bạn cần phải có tư tưởng Vô Ngã.
Ông Nhan: Nhưng mà con người có thể làm được không?
Sư Tôn: Rất ít, rất hiếm. Nhưng những thành tựu giả có thể làm được. Bởi vậy, trong vấn đề này có nhắc đến một cái là Chết khổ. Chết là một việc rất bình thường, bởi vì Phật đã nói rồi, có sinh thì tất có tử. 
Ông Nhan: Đúng.
Sư Tôn: Có lúc khỏe mạnh thì tất sẽ có lúc suy yếu.
Ông Nhan: Đúng.
Sư Tôn: Sự nghiệp này có được thành tựu thì cũng có một ngày sẽ không còn.
Ông Nhan: Đúng.
Sư Tôn: Đây chính là Vô thường đó.
Ông Nhan: Có câu châm ngôn là, con người có điểm kì lạ, đó là "Chúng ta cố đấm ăn xôi", ngài đã nghe qua chưa? Khi thua thì chúng ta không phục, khi thắng thì cái gì cũng muốn.
Sư Tôn đáp: À đúng rồi. Giống như người mắc bệnh vậy, khi ấy người đó giống như là đã thua rồi. 
Ông Nhan: Thật ra, cũng ta đều là người bệnh cả!
Sư Tôn: Không sai.

Ông Nhan: Có bao nhiêu người sáng suốt? Ví dụ như tôi nhớ có một lần, trong sách của ngài, tôi có đọc được một mẩu đối thoại, hình như là tự ngài đối thoại với chính mình, nghĩa là tự mình soi gương, gọi là gương soi... bản thân ta trong gương là bản thân ta thực sự, hay là ta ở bên ngoài gương mới là ta thật sự đây? Khi tôi đọc mẩu đối thoại này, tôi cảm thấy vô cùng thú vị. Xin hỏi đâu mới là bản thân ta thật sự đây?
Sư Tôn: Thật sự là chẳng hề có bản thân ta.

Ông Nhan: Tôi đang nghĩ, nếu như ta thử trả lời đâu hỏi này, cái nào mới thật sự tồn tại? Tôi cảm thấy không biết là hình ảnh ở trong gương mới là thật sự tồn tại, hay là hình ảnh ở ngoài gương mới thật sự tồn tại đây? Tôi thì nghĩ nếu không có bên ngoài gương, nếu như không có ta ở bên ngoài gương, thì ở trong gương căn bản là chẳng có gì. Do vậy, khi tôi trả lời câu hỏi này thì lại thấy là bên ngoài gương thật sự có tồn tại. Nhưng mà tôi dường như cảm thấy cái mà ngài muốn truyền đạt trong bài viết đó là kì thực cả hai đều không tồn tại.
Sư Tôn: Cả hai đều không tồn tại.

Ông Nhan: Tôi không hiểu được rõ, xin ngài giải thích thêm một chút.
Sư Tôn: Bởi vì nếu cả hai đều không tồn tại thì đó là tốt nhất. Bởi vì cũng sẽ chẳng có khổ, khổ không còn nữa, cũng chẳng có phiền não. Bởi vì căn bản là bạn không tồn tại. Điều tôi đang muốn nói đến là, dựa vào cái Tôi này để nói, cái gì mà "Tôi nghĩ, tôi đang nghĩ..." ấy nhỉ...
Ông Nhan: "Tôi nghĩ nên tôi tồn tại" đúng không?
Sư Tôn: "Tôi nghĩ nên tôi tồn tại."
Ông Nhan: Đúng.
Sư Tôn: Vậy thì suy nghĩ của ta, người mà đang nghĩ, cũng có nghĩa là, ta chính là người đang nghĩ. Người đang nghĩ, ta đang suy tưởng, do vậy cái Ta này mới có thể tồn tại. Nếu như con người này không suy nghĩ thì bản thân người đó không tồn tại rồi. Sau đó, ta nói cái Ta này, vì sao không tồn tại? Bởi vì mọi người cho rằng đó là Ta, Ta của hiện tại chính là Ta.
Ông Nhan: Đúng.

Sư Tôn: Thật ra khi anh trải qua lúc anh là một em bé, sau đó tới lúc ấu thơ, tiếp đó là thời thiếu niên, tiếp theo nữa là thời thanh niên, tiếp theo là lúc trung niên, tiếp nữa là lão niên. Tiếp sau nữa là lúc thành người bệnh sắp chết. Xin hỏi đâu mới là anh?
Ông Nhan: Mỗi một người đó đều là tôi.
Sư Tôn: Mỗi người đều là anh ư?
Ông Nhan: Đúng.
Sư Tôn: Kì thực tất cả đều khác nhau. Mỗi một anh đều không giống nhau, chẳng có một người nào giống nhau cả, sao có thể nói mỗi người đều là anh được?
Ông Nhan: Mỗi người đều là tôi, đều là do bản thân tôi thay đổi mà ra mà. Mỗi một tôi đều là một quá trình thay đổi mà.
Sư Tôn: Đó chính là vô thường, đúng không?
Ông Nhan: Đúng.
Sư Tôn: Nhưng trong quá trình này, chỉ có diễn ra cho chính anh, cũng không thể diễn ra cho người khác. Bản thân anh cũng sẽ không tồn tại.
Ông Nhan: Đương nhiên.
Sư Tôn: Bởi vì sau này sẽ chẳng còn nữa.
Ông Nhan: Đúng đúng. Tôi hiểu rồi. 
Sư Tôn: Mỗi ngày đều đang thay đổi.
Ông Nhan: Đúng.
Sư Tôn: Bởi vì mỗi ngày đều có tế bào sinh ra, mỗi ngày đều có tế bào chết đi.

Ông Nhan: Vậy tôi muốn hỏi Sư Tôn một câu hỏi. Ngài nói đúng, mỗi ngày đều đang thay đổi. Dường như chúng ta tồn tại là phải đối mặt với sự thay đổi mỗi ngày, đang phải xử lý, phải đối diện, rất mệt phải không? Còn cái mà "Tôi nghĩ, nên tôi tồn tại". Vì chúng ta có suy nghĩ mà. Đôi khi, vấn đề phiền não của chúng ta chính là do chúng ta nghĩ nhiều quá, vậy phải làm sao đây?
Sư Tôn: Anh có thể không nghĩ nữa không?
Ông Nhan: Cảm xúc tình cảm khó mà tự kiềm chế được.
Sư Tôn: Tôi có thể không nghĩ.
Ông Nhan: Ngài có thể, vì ngài là Sư Tôn, tôi không phải mà.
Sư Tôn: Bởi vì chỉ cần anh ngồi yên lặng lại, dừng mọi suy nghĩ, thật ra anh đang ở đâu? Ví dụ như nói, buổi tối anh đi ngủ, anh đang nằm mơ, lúc đó anh đang ở đâu?
Ông Nhan: Ở trên giường.
Sư Tôn: Nhưng khi đó anh lại không cảm thấy mình đang ở trên giường. Khi anh đang mơ, anh đang nằm mơ, thì làm sao có thể ở trên giường được?
Ông Nhan: Tôi đang nằm trên giường và mơ mà!
Sư Tôn: Thế nhưng, trên thực tế, anh không có cảm giác rằng anh đang nằm trên giường, có đúng không?
Ông Nhan: Nếu như cảm thấy mình đang nằm trên giường...
Sư Tôn: Vậy thì là tỉnh rồi.
Ông Nhan: Vậy thì không phải là đang mơ?
Sư Tôn: Đúng rồi.
Ông Nhan: Đúng, vậy thì đúng là tôi đang ở trong mơ.
Sư Tôn: Đúng vậy. Trong mơ, lúc đó anh đang ở đâu?
Ông Nhan: Không biết. Tùy ý thôi. 
Sư Tôn: Đúng rồi.
Ông Nhan: Đúng thật.

Sư Tôn: Nếu như anh có thể thiền định thì bản thân anh sẽ không còn nữa. Hiện tượng này, khi anh đang thiền định, bản thân anh không còn nữa. Khi đó, cũng không có khổ, cũng chẳng có vui, cũng chẳng có phiền não, cũng chẳng có bệnh. Bản thân Phật Đà đã nói rồi, kì thực Ngài ấy đang giảng về Khổ, Không, Vô thường, Vô ngã, bốn điều này đều là tư tưởng của Phật Đà. 
Ông Nhan: Vậy thì Sư Tôn, sau khi nghe xong những lời này của ngài, tôi lại nghĩ, kì thực chúng ta đều sợ chúng ta chẳng có cái gì nữa.
Sư Tôn: Bản thân tôi không sợ. Người sợ chính là người còn cái Tôi thì mới sợ. Nếu như anh vận dụng tư tưởng Vô ngã thì anh còn sợ cái gì? Anh sẽ còn bị cái gì làm tổn thương sao? Thân anh còn mắc bệnh nữa sao? Còn việc gì đáng để anh phải phiền não nữa sao?
Ông Nhan: Rất nhiều việc đáng để tôi phiền não đó.
Sư Tôn: Phiền não, chính là vì còn cái Tôi, thì mới có phiền não. 
Ông Nhan: Kì thực mỗi con người...
Sư Tôn: Không còn cái Tôi thì chẳng còn phiền não gì cả.
Ông Nhan: Tôi hiểu rồi.

Sư Tôn: Giống như các cuộc chiến tranh thế giới này, rất nhiều người rất lo lắng. Thậm chí ở Mỹ, có người đào một công trình dưới đất để tránh đạn hạt nhân, ở nơi rất sâu. Có thể tồn tại được nửa năm, hoặc 10 năm, hoặc trong vòng vài năm, anh ta đều có thể sống ở dưới đất này, bởi vì anh ta sợ đạn hạt nhân. Vì mạng sống của chính mình mà dẫn tới điều này. Trước đó thì anh ta có ý thức về nguy cơ, do vậy mới làm cái việc như vậy.
Ông Nhan: Có đúng không? Cách làm như vậy có nên không? Có hợp lý không?
Sư Tôn: Tôi cho rằng điều này hơi uổng công vô ích.
Ông Nhan: Vì sao vậy?
Sư Tôn: Theo tôi mà nói thì trên cả trái đất này, tôi thấy cả địa cầu này, căn bản là chẳng có nhân loại.
Ông Nhan: Vì sao lại nói như vậy?
Sư Tôn: Anh xem, trên mặt trăng có người không?
Ông Nhan: Tôi không biết. 
Sư Tôn: Trên mặt trăng, chúng ta biết rằng, trên mặt trăng không có người. 
Ông Nhan: Tôi không dám nói chắc, như trước đây thì tôi sẽ trả lời, còn hôm nay thì tôi sẽ không trả lời, không dám nói là liệu trên mặt trăng…
Sư Tôn: Anh thấy không, trên mặt trăng có cái gì? Có người có thể đi đến mặt trăng, có thể có được cái gì?
Ông Nhan: Đây vẫn còn là một dấu chấm hỏi mà!
Sư Tôn: Đây là một dấu chấm hỏi, không sai. Nếu trên mặt trăng căn bản là không có người thì có còn phiền não không? Có còn thiện ác không? Thiện ác cũng không còn.

Ông Nhan: Thế nên, phiền não đều là đến từ con người chúng ta sao?
Sư Tôn: Đúng.
Ông Nhan: Bởi vậy không có con người thì sẽ không có phiền não. 
Sư Tôn: Đúng. Thế nên anh xem, trên mặt trăng căn bản là không có người. Tôi thường đi đến mặt trăng.
Ông Nhan: Sao cơ? Ngài thường đi đến mặt trăng?
Sư Tôn: Tôi chính là mặt trăng.
Ông Nhan: Ngài chính là mặt trăng ư? Vì thế nên gần đây ngài viết cuốn sách là "Chìa khóa của cõi trời" sao?
Sư Tôn: Đúng. Tôi nói cho anh biết nhé, tư tưởng của bản thân tôi chính là tôi biến mình thành một người sống trên mặt trăng. Cách nghĩ của tôi là như vậy.
Ông Nhan: Không cô đơn, không trống vắng sao?
Sư Tôn: Làm gì có chứ. Tôi nghĩ bản thân đang ở trên mặt trăng, trên mặt trăng chẳng có phong cảnh gì. 
Ông Nhan: Nhưng chẳng có ai cùng ngài chia sẻ nhỉ?
Sư Tôn: Một mình tôi là đủ rồi. Tôi rất vui vẻ. 
Ông Nhan: Thật sao? Vậy thì các đệ tử của ngài có dành cho ngài không gian riêng nhất định không?
Sư Tôn: Tôi nói để anh biết, trong tư tưởng của tôi, không có Lư Thắng Ngạn. Trong tư tưởng của tôi không có Chân Phật Tông. Trong tư tưởng của tôi, căn bản tôi chẳng hề truyền pháp. Trong tư tưởng của tôi, tôi cũng chưa từng thuyết pháp. Do vậy, tôi vẫn luôn sống với trạng thái đó. Thế nên tôi chẳng có khổ, cũng chẳng có vui, luôn luôn ở trong trạng thái không tịch. Giống như chỉ có một mình tôi sống trên trái đất này. 
Ông Nhan: Thế nhưng ngài có vui không?
Sư Tôn: Vì sao tôi lại vui?
Ông Nhan: Hay là không có gì vui, không vui?
Sư Tôn: Bởi vì tôi xem trò chơi ở nhân gian này, tôi cảm thấy rất vui. 
Ông Nhan: Cũng hay, có cơ hội để xem mà.
Sư Tôn: Cũng được. 

Ông Nhan: Đúng, ngài nói đúng. Nhưng tôi muốn hỏi Sư Tôn một câu, đó là có vài người bạn xem tôi làm chương trình, từng hỏi một vấn đề, đó là vì sao cuộc đời này đâu đâu cũng thấy phiền não?
Sư Tôn: Điều này thật ra đã nằm ở trong câu trả lời ở trên rồi. Bởi vì Phật Đà đã nói, bạn đến thế gian này là để trả nghiệp. Chữ "trả" này, bản thân nó đã là phiền não rồi. Nghiệp, bản thân chính là nguyên nhân. Bạn sống tại nhân gian chính là vì nghiệp này. Bạn có phiền não, chính là vì phải "trả". 
Ông Nhan: Đây chính là câu trả lời, phải không?
Sư Tôn: Đây chính là câu trả lời.
Ông Nhan: Sư Tôn ngài có biết không, câu hỏi này, tôi chưa từng bao giờ trả lời họ trong các chương trình của mình, đợi ngài trả lời đó. Bởi vì tôi chẳng biết trả lời câu hỏi này đó mà.
Sư Tôn: Đúng thế, đúng thế.

Ông Nhan: Sau đây là một câu hỏi khác. Đó là, Sư Tôn, mỗi ngày ngài đều viết sách sao? Đã bao nhiêu năm rồi? Hơn 30 năm, 40 năm? Mỗi ngày ngài đều viết sách ư?
Sư Tôn: Tôi đã viết sách 50 năm rồi.
Ông Nhan: 50 năm ư? Có nhiều thứ để viết thế sao?
Sư Tôn: Có rất nhiều thứ.
Ông Nhan: Sáng nay ngài đã viết gì thế?
Sư Tôn: Sáng hôm nay thì tôi viết về việc mà tôi mới nói đến, về việc của Quỷ Bà.
Ông Nhan: Đôi khi tôi cảm thấy, nếu như hàng ngày phải viết các thứ thì tôi sẽ viết về những chuyện thị phi đúng sai. 
Sư Tôn: Thật ra, tôi nói cho anh biết, tôi viết nhiều sách như vậy cũng chẳng khác gì không viết sách. 
Ông Nhan: Hẳn là vậy. Điều này tôi hiểu, đều là việc của ngày hôm qua, đều là việc của một phút trước. 
Sư Tôn: Không hẳn vậy. Bởi vì những cuốn sách chân chính này là "không có văn tự", cái đó gọi là "Vô tự thiên thư". 
Ông Nhan: Vô... cái gì cơ?
Sư Tôn: "Vô tự thiên thư". 
Ông Nhan: Điều này phải người có trí huệ rất cao mới hiểu được, thầy ạ.
Sư Tôn: Không sai. Bởi vậy tôi...
Ông Nhan: Cảnh giới của ngài cao như vậy. 
Sư Tôn: Do vậy tôi muốn nói với anh chính là..., thật ra cũng chẳng có cảnh giới cao, chỉ là vì đã giác ngộ, đã ngộ đạo thôi.
Ông Nhan: Thật ra ngộ đạo mà ngài vừa nói, chữ ngộ này…
Sư Tôn: Anh nói xem, tôi đã viết sách 50 năm rồi. Thật ra cuối cùng tôi lại bảo, căn bản là tôi chẳng hề viết sách!
Ông Nhan: Không hề viết, tôi đã nghe rồi.
Sư Tôn: Đúng. Anh hiểu được tâm cảnh của tôi. Tôi căn bản là không hề viết sách. Do vậy, Phật Thích Ca Mâu Ni từng nói một câu: "Ta ở thế giới Ta Bà này không hề thuyết pháp, chưa từng nói một chữ nào!"

Ông Nhan: Vậy tôi muốn hỏi Sư Tôn một câu hỏi, vừa nãy ngài nói, bao nhiêu năm nay, nếu như bản thân Sư Tôn cảm thấy không hề viết sách, không hề truyền đạo… 
Sư Tôn: Như vậy thì mới vui vẻ.
Ông Nhan: Tôi biết. Nếu như ngài nói như vậy thì tôi muốn hỏi ngài một câu, đó là chúng ta đang đọc cái gì, chúng ta đang nghe cái gì? Nếu như ngài không hề giảng, không hề viết, thế thì xin hỏi Sư Tôn chúng ta đang đọc cái gì, đang nghe cái gì?
Sư Tôn: Tôi nói cho anh nhé, tôi không hề viết sách, cũng không hề thuyết pháp. Nhưng cái mà anh nghe, cái mà anh đọc, chính là: hướng dẫn anh biết vì sao tôi lại không hề viết sách, không hề thuyết pháp. Mục đích cuối cùng của tôi chính là muốn nói cho anh biết: "Tôi đã viết sách rồi, nhưng vì sao lại nói là không hề viết sách?" Rõ ràng anh biết có một người tên là Lư Thắng Ngạn, nhưng vì sao lại nói là không hề có Lư Thắng Ngạn nhỉ? Rõ ràng có một tông phái gọi là...
Ông Nhan: Gọi là Chân Phật Tông.
Sư Tôn: À, Chân Phật Tông, True Buddha School. Vì sao lại bảo là không có Chân Phật Tông? Trò chơi con chữ này là muốn anh hiểu rõ: không có Lư Thắng Ngạn, không có Chân Phật Tông, không có thuyết pháp, không có viết sách.
Ông Nhan: Tôi vẫn phải về nhà suy nghĩ thêm một chút. 
Sư Tôn: Đúng rồi.

Ông Nhan: Thật đó, tôi rất thẳng thắn. Còn nữa, đó là tôi muốn biết, vừa rồi Sư Tôn nói đến "ngộ", là "ngộ" trong từ "lĩnh ngộ". 
Sư Tôn: Là "ngộ" trong "lĩnh ngộ". 
Ông Nhan: Đôi khi, làm sao chúng ta biết được bản thân mình đã "ngộ" rồi?
Sư Tôn: Tôi nói cho anh nhé.
Ông Nhan: Vâng.
Sư Tôn: Phật Đà đã nói đến một cái là Phật tính. Khi anh tiếp xúc được tới Phật tính thì mới gọi là "ngộ". Nhưng như người khai ngộ chúng ta thì giữa Phật và Phật sẽ biết ngay. Phật sẽ biết ta đã khai ngộ, ta cũng có thể biết Phật đã khai ngộ. Thế nhưng, nếu như có người tới bảo rằng, cái mà họ gọi là khai ngộ nằm ở một khía cạnh khác, khác với cái "ngộ" của Phật. Sau khi bạn đã ngộ rồi thì bạn sẽ nhận thức được Phật, Phật cũng nhận thức được ta. Khi cái "ngộ" ở một khía cạnh khác này sinh ra, chúng ta nhìn là biết người này chưa khai ngộ. 

Ông Nhan: Hiểu rồi. Vậy thì, Sư Tôn, có người hỏi một câu hỏi là: "Đời người như thế nào mới được coi là viên mãn đây?"
Sư Tôn đáp: Thật ra, câu trả lời của tôi là như thế này. Khi anh ngộ rồi, thì sẽ biết chẳng hề có đời người. Chỉ có "không có đời người" thì mới là viên mãn. Nếu như có đời người thì vẫn chưa viên mãn.
Ông Nhan: Thế đời người là cái gì?
Sư Tôn: Đời người chính là trả nghiệp.
Ông Nhan: Chính là trả nghiệp. Nếu như không có đời người thì sẽ không cần phải trả nghiệp nữa ư?
Sư Tôn: Lúc đó thì không còn nghiệp nữa. Lúc đó là thành Phật rồi.
Ông Nhan: Nhưng chúng ta đến là để trả nợ mà, đến để trả nghiệp mà. 
Sư Tôn: Đúng. Cần phải trả nợ hết. Đúng lúc mà anh trả hết nợ thì sẽ vãng sinh rồi, khi đó anh thành Phật rồi.
Ông Nhan: Thành Phật có gì hay?
Sư Tôn: Thành Phật, Phật nói tịch diệt là hạnh phúc. Tịch diệt, không còn phiền não, thế rồi thấy chúng sinh phiền não, thế là anh thấy vui sướng. (cười)
Ông Nhan: Ngài nói câu này hay lắm, nhưng cũng có cái không hay. Ngài nói lại lần nữa được không?
Sư Tôn: (cười)
Ông Nhan: Ngài thấy chúng sinh phiền não...
Sư Tôn: Tôi thấy chúng sinh phiền não, còn bản thân tôi thì chẳng còn phiền não nữa...
Ông Nhan: Thế nên ngài thấy vui sướng?
Sư Tôn: (cười) Thế nên tôi thấy vui!
Ông Nhan: Ngài nói câu này là có ý gì? Xin ngài nói lại lần nữa đi!
Sư Tôn: Tôi nói cho anh biết nhé.
Ông Nhan: Ok ok.
Sư Tôn: Đó là chẳng có ý gì cả. (mọi người cười) Đó chính là chẳng có ý nghĩa gì cả. 

Ông Nhan: Thật ra tôi cũng đã nghe ngài trả lời câu hỏi này rồi, thật ra tôi muốn nói là, một điều rất thực tế là, đối với tôi mà nói là một câu trả lời rất nhập thế đó. Nghĩa là, điều tôi chưa cảm thấy hài lòng là, tôi thấy chúng sinh phiền não, tôi thì chẳng phiền não, nên tôi cảm thấy vui sướng, bởi vì tôi đi trước anh một bước. Vì sao con người đều có tính cách này?
Sư Tôn đáp: Bởi vì chúng ta rất vui sướng. Giống như tôi nói, tôi sống rất vui vẻ. Nhưng tôi cũng vẫn phát bồ đề tâm. Bồ đề tâm này chính là để giải quyết những phiền não của chúng sinh, tôi đến để giúp đỡ chúng sinh.
Ông Nhan: Vậy thì chúng ta nên...
Sư Tôn: Đương nhiên là nên vui sướng rồi.
Ông Nhan: Tôi hiểu rồi. Vậy tôi nghe theo lời ngài nói như vậy, chúng ta nên đem cái tâm vui vẻ đó đi giúp người khác, hay là đem tâm từ bi đi giúp người khác?
Sư Tôn: À, đem tâm vui vẻ đi giúp người khác, nên đem cái tâm vui vẻ đi giúp đỡ người khác. Đó chính là Bồ đề tâm, đó cũng là từ bi rồi.

Ông Nhan: Vâng. Có người nói, đời người lên voi xuống chó, lên cao lại xuống thấp, kéo theo rất nhiều nỗi buồn phiền của chúng ta. Chúng ta nên xử lý như thế nào đây? Ngài không cần phải nói lại là trả nghiệp nữa nhé. 
Sư Tôn: Vậy tôi nói với anh nhé, tôi không nói trả nghiệp nữa.
Ông Nhan: Ok, tốt.
Sư Tôn: Bởi vì vốn dĩ việc này chính là trả nghiệp rồi. (mọi người cười)
Ông Nhan: Tôi biết rồi! Ngài đã trả lời tôi rồi, đúng không?
Sư Tôn: Tôi đã trả lời rồi đó.
Ông Nhan: Vậy tôi hỏi thế nào nhỉ, làm sao để xử lý những phiền não của…
Sư Tôn: Bởi vì Phật đã nói rồi, thế giới Ta Bà này là thành phố tạo nghiệp. Con người sống tại thế giới Ta Bà này cũng vì nghiệp mà tới đây.
Ông Nhan: Đúng, hay là ngài trả lời...
Sư Tôn: Tất cả mọi phiền não, toàn bộ đều là nghiệp. Tất cả mọi khổ đau cũng là nghiệp.
Ông Nhan: Hay là vì như ngài vừa nói ban nãy, vì vẫn còn cái Tôi, đúng không?
Sư Tôn: Đúng, vẫn còn có cái Tôi.

Ông Nhan: Ngài nói đúng. Vậy đối với Sư Tôn mà nói thì sinh mệnh là cái gì?
Sư Tôn: Sinh mệnh à, trước nay tôi chưa từng nghĩ về vấn đề này.
Ông Nhan: Thế tốt quá! Ngài chưa từng nghĩ về câu hỏi này, hôm nay tôi có vinh hạnh để hỏi câu này rồi.
Sư Tôn: (cười) Nhưng tôi chưa từng nghĩ về vấn đề này nên tôi cũng không thể trả lời câu hỏi này của anh được. (mọi người cười) 
Ông Nhan: Tốt thôi! Tôi cũng vui mừng, bởi vì hóa ra nếu như có một vài vấn đề mà đến ngài cũng không thể trả lời được thì đúng là đời người không viên mãn được mà, tôi biết rồi. 
Sư Tôn: Đúng.

Ông Nhan: Vậy một vấn đề khác, tôi muốn hỏi là, Sư Tôn, tôi nghĩ ngài cũng có xem tin tức nhỉ. Vậy đời sống xã hội của chúng ta càng ngày càng chính trị hóa, chúng ta nên làm thế nào đây?
Sư Tôn: Thật ra cũng chẳng có làm thế nào cả.
Ông Nhan: Vì thỉnh thoảng, hoàn cảnh tương đối chính trị hóa sẽ ảnh hưởng đến những hứng thú của chúng ta, hoàn cảnh của chúng ta mà.
Sư Tôn: Anh nói không sai. Nhưng tôi cũng chẳng bận tâm đến nó lắm.
Ông Nhan: Không bận tâm như thế nào?
Sư Tôn: Không bận tâm lắm, giống kiểu như là gặp phải vấn đề gì, chúng ta liền giải quyết vấn đề đó. Thế nhưng vấn đề này không thể giải quyết, vậy thì hãy để nó không thể giải quyết đi. Có thể giải quyết thì giải quyết nó. Không thể giải quyết thì không giải quyết nữa, chính là như vậy. 
Ông Nhan: Vậy ngài cũng có những vấn đề không giải quyết được sao?
Sư Tôn: Tôi ư?
Ông Nhan: Đúng.
Sư Tôn: Tôi cũng chưa từng gặp phải.
Ông Nhan: Thế thì thoải mái nhỉ.
Sư Tôn: Sống rất vui vẻ. 

Ông Nhan: Ngài nói đúng. Có đôi khi, rất nhiều sự tình quyết định chúng ta nên xem xét vấn đề như thế nào, đúng không? Nếu anh xem nó là vấn đề thì là có vấn đề, anh xem nó là không có vấn đề thì là không có vấn đề gì. 
Sư Tôn: Đúng.
Ông Nhan: Thế giới như vậy tốt biết mấy. Thế nhưng thế giới này có rất nhiều định luật, có rất nhiều phép tắc đang ảnh hưởng đến chúng ta. Vậy phải làm sao đây? Như tôi vừa nói, anh xem nó là vấn đề thì là có vấn đề, anh xem nó là không có vấn đề gì thì là không có vấn đề gì. Thế nhưng đôi khi, chúng ta ở trong đời sống này, thỉnh thoảng, bất luận là anh xem nó là không có vấn đề nhưng vẫn phải đối mặt với nó, cần phải giải quyết nó. 
Sư Tôn: Không sai. Kì thực giống như một quốc gia vậy, tôi muốn đến một quốc gia khác. Thế nhưng tôi chẳng có cách nào xin được visa của đất nước đó, thế thì tôi không đi nữa.
Ông Nhan: Đúng.
Sư Tôn: Tôi rất thích đi tới quốc gia đó, nhưng tôi không có cách nào xin được visa của đất nước đó, thế là xảy ra vấn đề rồi.
Ông Nhan: Phiền não rồi, muốn mà không được.
Sư Tôn: Đúng, chính là muốn mà không được. Khi ấy thì cần phải giải quyết vấn đề này. Vậy thì vĩnh viễn không thể có được visa của đất nước đó, mà anh lại rất muốn đi chơi, vậy phải làm sao đây?
Ông Nhan: Phải làm sao, xem ti vi thì sao?
Sư Tôn: Cũng không xem ti vi, cũng không xem về đất nước này, lập tức quên luôn sự việc này đi.
Ông Nhan: Nói thì rất dễ dàng.
Sư Tôn: Anh hãy học cách như vậy đi.
Ông Nhan: Dĩ nhiên đây là một cách làm rất thực tế.
Sư Tôn: Tôi hoàn toàn quên luôn việc đó.
Ông Nhan: Quên nó luôn.
Sư Tôn: Đúng.
Ông Nhan: Đúng. Xem xem anh có thể làm được không, phải không? Hay là anh nói đúng nhưng...
Sư Tôn: Tôi có thể quên ngay sự việc đó, không đi là không đi.
Ông Nhan: Không đi là không đi, trái lại, đây lại thành tổn thất của họ, đúng không?
Sư Tôn: (cười) Họ cũng chẳng có tổn thất gì. (mọi người cười)
Ông Nhan: Có, bởi vì ngài là Sư Tôn mà, đâu phải tôi. (mọi người cười) 

Ông Nhan: Vậy sau đây tôi muốn hỏi Sư Tôn một câu hỏi, đó là khi chúng ta đang sống, thân là phàm phu, có rất nhiều sự đối kháng, dường như là không có cơ hội đối thoại, vậy phải làm sao? Thật ra chúng ta rất muốn giữa người và người có nhiều cơ hội đối thoại, nhưng tôi phát hiện ra rất nhiều khi con người ở cùng với nhau, họ không phải là đang đối thoại với nhau, mà nhanh chóng trở thành đối kháng nhau.
Sư Tôn: Đó là vấn đề của "từ trường".
Ông Nhan: Vấn đề "từ trường" ư?
Sư Tôn: Vấn đề từ trường. Bởi vì thân thể mỗi người có thể sinh ra một lực từ. Khi anh ở cùng với người có duyên với anh, thì từ trường của người đó và anh giống nhau.
Ông Nhan: Vậy còn xã hội nhiều đối kháng này thì sao đây? Vậy đó đều là vấn đề từ trường sao?
Sư Tôn: Đúng, giống như có người đi đến chỗ này, bầu không khí ở đó tự nhiên có vấn đề. 
Ông Nhan: Hôm nay...
Sư Tôn: Người với người ở cùng nhau đôi khi...
Ông Nhan: Bầu không khí hôm nay có gì không đúng sao?
Sư Tôn: Bầu không khí không đúng, bầu không khí với người đó đúng hay không đúng, có hợp nhau không, hay là không hợp nhau, với tính cách này, với thói quen sinh sống này, tất cả đều là vấn đề. Nhưng với người giống như tôi đây thì tôi chẳng có vấn đề gì. Bất kì người nào có đối kháng, đối trọng gì với tôi, hoặc là phỉ báng tôi, mọi người nghĩ xem, Phật Đà cũng nói, cái gọi là "châm biếm, phỉ báng", tất cả những cái mà có thể nói là, tất cả những vấn đề xuất hiện, tôi đều quên hết. 
Ông Nhan: Vì đây là Sư Tôn...
Sư Tôn: Tôi không để ở trong lòng nữa.
Ông Nhan: Đúng. Đây là cách nhìn của Sư Tôn. Đôi khi, đệ tử hoặc một số chúng sinh...
Sư Tôn: Thì khác.
Ông Nhan: Đúng, họ sẽ đi tới trước mặt ngài, họ đều muốn ngài giúp họ giải quyết vấn đề đi.
Sư Tôn: Đúng. Tôi có thể giúp họ được thì sẽ tận lực giúp đỡ họ. Nhưng nếu không thể giúp được thì vẫn không thể giúp.

Ông Nhan: Nói ví dụ như, đệ tử của ngài, ngài thấy anh ta khá là cố chấp, tương đối bi quan. Vậy ngài sẽ làm sao đây? Anh ta cầu xin ngài giúp đỡ, thay anh ta giải quyết. Có đôi lúc, một số vấn đề trong cuộc sống của chúng ta đều đến từ tính cách của chúng ta. 
Sư Tôn: Không sai không sai. Đây chính là nguyên nhân của việc thuyết pháp. Ví dụ chúng ta giảng một vài pháp để anh ta nghe, để anh ta có thể giải thoát, tháo gỡ những khúc mắc trong tâm của anh ta. Thuyết pháp chính là vì lý do này mà mới thuyết pháp. Nếu như tôi đã nói rất nhiều, rất nhiều rồi, mà những nút thắt trong tâm của anh ta vẫn chưa tháo gỡ được, thì phải làm sao?
Ông Nhan: Phải làm sao?
Sư Tôn: Bây giờ tôi muốn phỏng vấn anh đó.
Ông Nhan: Thật sự tôi chẳng biết phải làm thế nào cả. Bởi vì ngài có trí huệ cao hơn tôi, tôi nghĩ ngài nên trả lời đi, tôi chẳng trả lời được đâu.
Sư Tôn: Thì tôi cũng thế thôi, cũng chẳng trả lời được giống như anh đó. (mọi người cười)
Ông Nhan: Cảm ơn ngài, Sư Tôn….
Sư Tôn: Bởi vì tôi đã nói pháp, đã nói nhiều như vậy rồi, ngày ngày nói với anh ta như vậy rồi...
Ông Nhan: Đúng, đúng.
Sư Tôn: Mà anh ta vẫn không sao cởi bỏ được những nút thắt trong tâm.
Ông Nhan: Vậy ngài có cảm giác thất bại không?
Sư Tôn: Lập tức quên việc này luôn, quên luôn sự việc này đi.
Ông Nhan: Ok. Vậy một số người sẽ nói rằng, chà, thế thì ngài chẳng có tâm từ bi?
Sư Tôn: Ồ, điều này cũng chẳng phải sợ, vì sao? Bởi vì họ nói thì họ cứ nói thôi. Tôi đâu có nghe thấy.

Ông Nhan: Ok, vậy Sư Tôn, tôi lại hỏi một câu nữa, đó là: đời người, con người có thể không có tín niệm không, có thể không có tín ngưỡng không?
Sư Tôn: Vấn đề trên phương diện tín ngưỡng là như thế này, thật ra Phật giáo cũng không phải là một tôn giáo!
Ông Nhan: Thế là cái gì?
Sư Tôn: Là những lời Phật dạy, không coi là một tôn giáo. Thật ra cũng không phải là một tôn giáo đâu. Đó chỉ là lời Phật dạy. Bạn nghe theo thì đến cuối cùng bạn sẽ đạt đến được cảnh giới của Phật, nên không coi là một tôn giáo. Bởi vậy nên nói là, nếu như bạn có thể đạt đến "định" thì trí huệ của bạn sẽ sản sinh ra. Nếu trí huệ của bạn sinh ra thì trí huệ này đến từ Phật. Tiếp đó, bạn sẽ tương ứng cùng với Phật, bạn sẽ trở thành Phật.
Ông Nhan: Vậy thì chúng ta có thể không cần phải có tín ngưỡng nhỉ?
Sư Tôn: Không cần tín ngưỡng Phật giáo, bạn chỉ cần theo phương pháp mà Phật dạy mà làm theo. 

Ông Nhan: Hiểu rồi. Con người có thể không có tín niệm không?
Sư Tôn: Bạn làm theo phương pháp mà Phật dạy, thì kì thực tự nhiên sẽ sản sinh ra một dạng tín niệm. Do vậy, trên vấn đề tín niệm mà nói thì ví dụ như bạn tin theo đạo Hồi, bạn tin theo Đạo giáo, bạn tin theo đạo Cơ Đốc, bạn tin theo đạo Thiên Chúa, đây là sự lựa chọn của mỗi người.
Ông Nhan: Đúng.
Sư Tôn: Nhưng chúng ta cảm thấy rằng, vì sao Phật giáo tương đối toàn vẹn hơn, tương đối hoàn mĩ hơn, là vì như Phật đã dạy ta. Những điều Phật dạy có thể giải trừ đau khổ của bạn, giải thoát bạn khỏi mọi phiền não, có thể giúp cuộc đời bạn vô cùng viên mãn, hơn nữa còn giống như hư không vậy. 
Ông Nhan: Cái gì không?
Sư Tôn: Hư không. Giống như hư không.
Ông Nhan: À, ok, tôi hiểu rồi.
Sư Tôn: Bạn có được một dạng trí huệ giống như hư không...
Ông Nhan: Cái này...
Sư Tôn: Đó chính là viên mãn đó.
Ông Nhan: Cái này...

Sư Tôn: Trên thiên đường, mọi người đều tập trung ở trên thiên đường. Lúc còn sống không hợp nhau, hai người cùng lên thiên đường, lúc còn sống không hợp nhau, lên thiên đường lại gặp mặt nhau, đến Thượng đế thấy cũng đều chán ngán. (mọi người cười) Một ngày từ sáng tới tối toàn cãi nhau.
Ông Nhan: Lên thiên đường rồi vẫn còn cãi nhau sao?
Sư Tôn: Lên thiên đường rồi thì có đỡ hơn một chút.
Ông Nhan: Tôi nghĩ là thế.
Sư Tôn: Tuy nhiên, có hai người lúc còn sống không hợp nhau, lên thiên đường vẫn cãi nhau. A Di Đà Phật cũng thấy phiền chết mất (cười) Thượng đế cũng bị mấy người này làm cho phiền chết mất. Bởi vì họ chưa đạt đến sự viên mãn thật sự.

Ông Nhan: Vậy thì Sư Tôn, ngài thấy những thanh niên ngày nay như thế nào? Có người nói họ khá yếu đuối. Ngài thấy vấn đề tự sát của thanh niên ngày nay như thế nào?
Sư Tôn: Đúng vậy. Nên nghĩ cách giảng Phật pháp cho họ nghe, để họ giảm bớt áp lực của họ. Tôi vẫn luôn giúp đỡ, bởi vì nhiều người tự sát quá. 
Ông Nhan: Đúng.
Sư Tôn: Tôi vẫn luôn nghĩ cách để tình trạng tự sát này, lấy ví dụ như người tự sát, vào một ngày nào đó, anh ta lại phải diễn lại một lần. Những đau khổ tương tự lại nảy sinh trên bản thân anh ta. Bởi vậy, căn cứ theo toàn bộ giai đoạn này mà nói thì khi tự sát cũng không thể đầu thai được. Anh ta sẽ luôn luôn chịu khổ ở bên đó, mãi cho đến khi đạt đủ số tuổi, đạt đến cái tuổi sinh mạng của anh ta, thì anh ta mới có thể đầu thai được, luôn phải chịu khổ. Chúng ta dùng cách này, dùng đủ mọi phương pháp để giúp đỡ họ, để họ không muốn đi tự sát nữa. Họ nghĩ rằng tự sát là một sự giải thoát, rũ bỏ hết áp lực. Trên thực tế không phải vậy, ngược lại còn là tăng thêm cái khổ cho họ. Nói cho họ nghe những điều này, họ sẽ có thể giảm bớt tự sát.
Ông Nhan: Đây cũng là việc, là một phần công việc mà hiện tại ngài đang làm sao?
Sư Tôn: Đúng. Bởi vì sau khi tự sát, anh muốn chuyển thế, nhất định anh phải đi hết thọ mệnh của anh. Ví dụ như anh có thể sống tới 64 tuổi, nhưng 30 tuổi anh đã tự sát rồi. Vậy thì anh phải tiếp tục 34 năm nữa mới đầu thai được. Trong 34 năm này, anh phải chịu đau khổ của việc tự sát, mỗi ngày phải diễn lại trò tự sát, như thế thì anh càng khổ. Thế nên hãy khuyên bảo họ đừng tự sát.

Ông Nhan: Tôi hiểu rồi. Vậy nhìn từ một góc độ khác, ví dụ như trong nhà có người trẻ tuổi tự sát, cha mẹ của người đó, hoặc là người thân của người đó sẽ rất đau lòng. Đối với bộ phận này, tôi muốn hỏi Sư Tôn một câu hỏi: nên xử lý thế nào, làm sao đối diện với cái chết của người thân hay người ở bên cạnh họ? Làm sao để giải quyết nỗi đau buồn của bản thân, làm sao để đối mặt với cái chết của họ?
Sư Tôn: Nếu người thân của tôi, ví dụ như cha mẹ tôi...
Ông Nhan: Hoặc là con cái ngài.
Sư Tôn: Hoặc là anh chị em tôi, hoặc em trai tôi, sự việc này, tôi không nghĩ ngợi gì. Đây chỉ là một cái duyên thôi. Giống như nói là, người thân của anh chết rồi, cha chết rồi, mẹ chết rồi, em trai chết rồi, đây là hiện tượng của bản thân tôi. Em trai tôi chết rồi, cha tôi cũng chết rồi, mẹ tôi cũng chết rồi. Nhưng bản thân tôi gần như cũng không hề sinh ra áp lực nào cho chính tôi. Bởi vì với bản thân cha tôi, chết là một sự giải thoát, mẹ tôi chết cũng là một sự giải thoát. Bản thân em trai tôi là người tự sát.

Ông Nhan: Đó có phải là giải thoát không?
Sư Tôn: Tôi nói cho anh biết nhé, bởi vì tôi dùng phương pháp của tôi, dùng phương pháp mà tôi cứu em trai tôi, để chỉ dẫn cho nó. Nó trở thành đội trưởng của đám quần chúng tự sát, tôi để nó lãnh đạo những người tự sát này. Sau đó, ngược lại, bản thân nó trở nên tốt hơn, là như vậy đó. Bởi vậy, tôi dùng phương pháp của tôi để giúp em trai tôi, sau đó để em trai tôi trở thành người đội trưởng của tất cả rất nhiều những người tự sát, dùng cách thức của nó để lại tiếp tục cứu những người tự sát này.

Ông Nhan: Ngài có phương pháp của ngài, nhưng đối với chúng tôi mà nói, nghĩa là những người dân thường, thì phải làm sao đây?
Sư Tôn: Vậy thì, nếu như lúc nào đó, bạn có thể nghe được Phật pháp của tôi thì bạn sẽ giảm bớt suy nghĩ tự sát. Đó chỉ là những người có duyên ở cùng bạn, những người có duyên ở cùng bạn trong cuộc đời này, có duyên hơn những người bình thường, họ trở thành thân quyến của bạn. Kì thực, giống như Phật giáo có nói, cái đó gọi là "vô duyên đại từ", người nào không có duyên thì thật ra cũng chính là những người thân của bạn. Có thể nói, toàn bộ nhân loại này, đều là người thân của bạn. Bạn có được cái tâm "vô duyên đại từ" này thì mới là một vị Bồ Tát. Bạn sẽ vì những chúng sinh này mà tới, vì tất cả mọi người mà tới, không phải đơn thuần là vì người thân của bạn mà tới. Người thân chỉ là tương đối có duyên với ta hơn mà thôi. Do vậy, tinh thần của Phật là "vô duyên đại từ", nói cách khác là bất kể bạn rất có duyên với tôi, hoặc là không có duyên với tôi, thì đều bình đẳng mà cứu độ hết. 

Ông Nhan: Vâng, khi ngài nói về bình đẳng, tôi có một câu hỏi, đó là người người sinh ra là bình đẳng, nhưng chúng ta đều có cái "tâm phân biệt". 
Sư Tôn: Không sai.
Ông Nhan: Vậy làm sao để xử lý cái tâm phân biệt này của bản thân?
Sư Tôn: Theo bản thân những gì Phật đã giảng là như thế này, vì sao con người lại bình đẳng? Đó là bình đẳng trên phương diện Phật tính. Trên phương diện Phật tính là bình đẳng, thế nhưng khi bạn vẫn chưa phát hiện ra Phật tính của bản thân thì sẽ có tâm phân biệt. Một khi tâm phân biệt này sinh ra thì sẽ có cái cao, thấp, đẹp, xấu, mọi sự phân biệt này đều xuất hiện ra hết. 
Ông Nhan: Còn có cả địa vị cao thấp. 
Sư Tôn: Đúng, địa vị cao thấp thế nào cũng đều sinh ra hết. Bản thân Phật nói, cái gọi là "bình đẳng" là Phật tính bình đẳng. Khi bạn đã thấy được Phật tính rồi, khi đã kiến chứng được Phật tính rồi, thì tất cả sẽ trở thành hoàn toàn bình đẳng. Bạn đối đãi với chúng sinh đều bình đẳng. Nếu bạn vẫn còn chưa thật sự kiến chứng Phật tính, bạn đối đãi với chúng sinh tuyệt đối sẽ không bình đẳng được.

Ông Nhan: Hiểu rồi. Vậy chúng ta nên yêu người khác ra sao, yêu bản thân ra sao?
Sư Tôn: Vậy thì cần học tinh thần của Bồ Tát.
Ông Nhan: Là như thế nào?
Sư Tôn: Tnh thần của Bồ Tát đều là nghĩ vì người khác, không nghĩ vì bản thân. Tôi có thể cứu năm trăm người, hy sinh bản thân mình. 
Ông Nhan: Vậy thì đây chính là biểu hiện của việc yêu người sao?
Sư Tôn: Đó chính là tình yêu, là từ bi.
Ông Nhan: Vậy thì yêu bản thân như thế nào?
Sư Tôn: Tôi nói cho anh biết nhé, người học Phật thì không còn bản thân nữa. Bồ Tát là vị không còn bản thân nữa.
Ông Nhan: Nhưng mà chúng ta đều nghe một câu nói là….
Sư Tôn: Thế nên mới phải nói đến bốn điều kiện: Có lợi ích cho người, không có lợi ích cho mình, bạn nên làm; Có lợi ích cho người, có lợi ích cho mình, bạn càng nên làm; Có hại cho người, có lợi cho mình, không được làm; Có hại cho người, có hại cho mình, càng không thể làm. Đây chính là tinh thần của Bồ Tát.

Ông Nhan: Hiểu rồi. Bây giờ vừa hay tôi muốn hỏi Sư Tôn một câu hỏi. Chúng ta yêu bản thân như thế nào, ngài nói không có bản thân, nhưng mà chúng ta thường nghe nói một câu là "đối xử tốt với bản thân". Vậy xin hỏi Sư Tôn giải thích câu nói này thế nào?
Sư Tôn: "Đối xử tốt với bản thân", muốn giải thích câu nói này thì rất đơn giản thôi. 
Ông Nhan: Vâng.
Sư Tôn: Đối xử với bản thân tốt một chút, để lĩnh ngộ Phật pháp, sau đó bạn có thể tương ứng cùng Phật, thấy được Phật tính của chính mình, đây mới là "đối xử tốt với bản thân". 

Ông Nhan: Đọc nội dung trong sách của Sư Tôn, từ thế giới văn chương của ngài mà nhìn thế giới này, sau đó sống trong cuộc sống này, có đôi khi, chúng ta có cảm giác rất mệt mỏi. Có đôi khi, tôi lại nghĩ có một số người lựa chọn rời xa thế giới này, hoặc tự sát, có người nói là họ chán đời. Thế nhưng có đôi khi, chúng ta muốn bỏ đi, nhưng không phải vì chán đời, chỉ là cảm thấy sống mệt quá rồi. Nếu chúng ta cảm thấy sống mệt mỏi quá rồi thì phải làm sao?
Sư Tôn: Đó vẫn là do có liên quan đến vì bản thân thì mới cảm thấy sống là mệt mỏi. Nếu bạn vì chúng sinh thì sẽ cảm thấy rất vui. Làm bất kì việc gì cũng đều thấy rất vui. Bởi vì bạn vì cá nhân mình nên mới thấy sống mệt mỏi quá. Thế nên tôi cảm thấy là, rất nhiều người phỏng vấn tôi, các câu hỏi đều giống nhau, tôi cũng cảm thấy sống mệt mỏi quá rồi. (mọi người cười)
Ông Nhan: Tôi hiểu rồi. Vậy hôm nay ngài rất mệt rồi nhỉ, tôi biết, đúng thế không?
Sư Tôn: Không phải không phải, là tôi muốn đi ngủ mà thôi.

Ông Nhan: Tôi biết, còn có hai câu hỏi nữa, ngài đừng lo. Đôi khi tôi nghĩ là, bạn yêu một người, khi bạn để ý đến người đó, bạn sẽ vì người đó mà làm rất nhiều việc. Đặc biệt là bạn đối với người mình yêu, người mà mình quan tâm, bạn làm rất nhiều việc vì người đó, không chỉ dừng lại ở việc bạn sẽ tạo nên áp lực cho đối phương mà thật ra chính bản thân bạn cũng có áp lực, bởi vì bạn có mong cầu mà. Rốt cục, chúng ta có thể yêu người khác như thế nào, đối với người mình quan tâm có thể thoải mái hơn một chút ra sao? Ví dụ như cha mẹ đối với con cái...
Sư Tôn: Đúng đúng đúng đúng đúng đúng đúng. Bây giờ tôi đang nghĩ đến quan điểm về tình yêu của tôi. Mặc dù Sư Tôn đã 72, 73 rồi, 73 tuổi rồi, nhưng tôi vẫn có tình yêu đấy.
Ông Nhan: Nhưng mà người ta nói tình yêu khiến người ta phiền não, tình yêu khiến người ta chẳng còn thoải mái nữa.
Sư Tôn: Không sai. Nhưng quan điểm tình yêu của tôi khác mọi người.

Ông Nhan: Tôi nghe đây.
Sư Tôn: Bạn cảm thấy cá nhân bạn đây có thể khiến một người phụ nữ hạnh phúc. Vậy thì bạn có thể tự cho mình điểm số xem mình có thể cho cô ấy được bao nhiêu hạnh phúc. Nếu như là 70, 80 điểm, thì cũng coi như là đạt yêu cầu. Nhưng người đàn ông khác cũng yêu người phụ nữ này, anh ta có thể làm được cho cô ấy tới 90 điểm hạnh phúc, vậy thì, quan điểm tình yêu của tôi là như thế này - Nhường. Hãy để cho người mà bạn yêu kết hôn với người đàn ông kia, bởi vì tình yêu của anh ta đem tới nhiều hạnh phúc hơn tình yêu của bạn dành cho cô ấy. 
Ông Nhan: Kì thực rất nhiều khi, chúng ta đều sẽ...
Sư Tôn: Thế thì ta sẽ không có phiền não nữa.
Ông Nhan: Tôi biết. Nếu như điểm số của chúng ta đạt được rất cao thì phải làm sao?
Sư Tôn: Thì tôi sẽ nhường người mình yêu cho người khác.
Ông Nhan: Tôi biết chữ "nhường" này của ngài rất tốt, chính là chữ "nhường". Tôi thích cái chữ này. Thế nhưng có đôi khi, chúng ta tự cho điểm bản thân, chúng ta sẽ tự cho mình điểm cao mà. 
Sư Tôn: Cũng không chắc đâu.
Ông Nhan: Tôi nói...
Sư Tôn: Bởi vì...
Ông Nhan: Tôi không phải là Sư Tôn mà!
Sư Tôn: Anh luôn cần hiểu rõ bản thân mà.
Ông Nhan: Có bao nhiêu người thật sự hiểu rõ bản thân đây?
Sư Tôn: Chính những người học Phật là cần phải hiểu rõ bản thân trước hết.
Ông Nhan: Tôi hiểu rồi, do vậy từ đầu tới cuối vẫn là một câu, tôi hiểu hết rồi.
Sư Tôn: Thật ra anh hỏi nhiều câu như vậy, chỉ có một vấn đề thôi. 
Ông Nhan: Tôi biết, tôi biết, là từ đầu tới cuối tôi chưa hề hỏi câu hỏi nào nhỉ? (mọi người cười)
Sư Tôn: Không sai, anh hỏi cũng giống như là chẳng hỏi gì.

Ông Nhan: Tôi biết mà! Đời người chính là như vậy. Câu hỏi cuối cùng, làm sao để đạt được sự thoải mái tự tại?
Sư Tôn: Giống như tôi đây là sống thoải mái tự tại rồi, có đúng không? Anh sẽ không còn khổ nữa. Rõ rành rành là anh yêu, tôi nói cho anh biết nhé, yêu chính là sinh ra khổ đó. 
Ông Nhan: Bởi vì có lòng tham nhỉ.
Sư Tôn: Nhưng mà tình yêu này của anh là "tình yêu lớn", là anh mở rộng cái tâm mình ra, tấm lòng anh rộng lớn như hư không, cái gì cũng có thể khoan dung tha thứ. Đây mới là tình yêu lớn đích thực.
Ông Nhan: Có tình yêu lớn thì có thể thoải mái tự tại.
Sư Tôn: Đúng, không sai. Bởi vì anh có tình yêu lớn rồi, anh biết người mà anh yêu nhất đã đi theo người khác rồi, nhưng anh cũng đồng ý để cho cô ấy đi theo người khác, hơn nữa anh còn chúc phúc cho cô ấy nữa. Đây mới gọi là tình yêu lớn chân chính.
Ông Nhan: Hiểu rồi. Có được tình yêu lớn thì có thể thoải mái tự tại. 
Sư Tôn: Còn nếu như anh hẹp hòi, thì đó là...
Ông Nhan: Tình yêu...
Sư Tôn: Ngọc nát đá tan.
Ông Nhan: Ngọc nát đá tan, tôi hiểu rồi. (mọi người cười)

Sư Tôn: Đúng mà, anh hãy nhìn những nam nữ thế tục đó.
Ông Nhan: Đúng rồi.
Sư Tôn: Cô gái kia không yêu anh ta, anh ta liền...
Ông Nhan: Đúng đúng đúng đúng.
Sư Tôn: Anh ta liền giết cô ấy.
Ông Nhan: Đúng, hoặc là cả hai cùng chết.
Sư Tôn: Đúng, cả hai cùng chết. Nhưng cô gái này yêu anh này, anh này lại không yêu cô, cô liền gào lên tố cáo anh ta là quấy rối tình dục cô ấy!

Ông Nhan: Tôi cảm thấy Sư Tôn ngài rất vĩ đại. Hôm nay nói chuyện cùng ngài, tôi đã học được rất nhiều. Mặc dù đều giống như là những lời nói mãi đã nhàm tai, nhưng từ một góc độ khác thì trí huệ của chúng ta đã được mở rộng. Chẳng hạn như làm sao để bản thân được thoải mái tự tại, chính là cần tình yêu lớn. Điều này tôi tán đồng, còn những cái khác không phải là tôi không tán đồng đâu nhé. Còn cả điều mà ngài vừa nói về quan điểm tình yêu, nói một cách rất chắc nịch. Quan điểm tình yêu của ngài chính là một chữ "nhường" - chữ "nhường". Cái này rất hay - "nhường". Đúng, nếu như bạn biết nhường, bạn sẽ vui vẻ. 
Sư Tôn: Đúng, hiểu được chữ "nhường". Người ta yêu cô gái ấy hơn anh mà. 
Ông Nhan: Đôi khi là vì chúng ta không biết nhường.
Sư Tôn: Đúng, "nhường" rồi là tốt, sẽ không sao nữa.
Ông Nhan: Hôm nay cũng cảm ơn ngài đã để cho tôi được ngồi cạnh ngài một khoảng thời gian, học được rất nhiều. Cảm ơn Sư Tôn, cảm ơn.
Sư Tôn: A Di Đà Phật. Bởi vậy tôi mới là "đạo nhân vô sự", chẳng có chuyện gì cả. 
Ông Nhan: Vô sự...
Sư Tôn: Vô sự, không có việc gì.
Ông Nhan: Ồ, tôi hiểu, đạo nhân vô sự. Hay, đạo nhân vô sự. Vậy thì cần phải có trí huệ rồi. 
Sư Tôn: Bởi có trí huệ rồi thì mới có thể trở thành đạo nhân vô sự đó.
Ông Nhan: Đương nhiên, đương nhiên. Tôi đã học được rất nhiều. Cảm ơn. Cảm tạ, cảm kích, cảm kích.


### 41. Phụ lục - Phân tích lá thư


Xin quỳ gối dưới chân Sư Tôn đại nhân. A Di Đà Phật!
Đảnh lễ cầu thỉnh
Trường lạc vĩnh khang
Trường kì trụ thế
Tục truyền Chân Phật Mật Pháp
Vì đời tiêu tai giải nghiệp!

Tết Xuân năm nay, Sư Tôn nhận lời phỏng vấn của truyền thông, như thường lệ dự đoán vận mệnh của năm nay. Những dự đoán liên quan đến thảm họa quân sự khu vực thì đã ứng nghiệm rồi! Trong số đó, "sự cố bán đảo Triều Tiên" có vẻ là nhiều nhất, và nó đang ngày càng trở nên tồi tệ hơn.

Ngoài ra, ngày 18 tháng 3, Sư Tôn chủ trì pháp hội Hộ Ma khai thị A Đạt Nhĩ Mã Phật, khiến cho các đệ tử một lần nữa khẳng định được rằng Sư Tôn đứng số một thế giới về việc khai thị Phật pháp. Phần hay nhất là Sư Tôn lấy chuyện viên tịch của Thượng sư Liên Đặng để khai thị, trước tiên là để an ủi Thượng sư Liên Diệu, người luôn hỗ trợ ở hậu trường, sau đó nhắc chuyện Thượng sư Liên Đặng luôn luôn đặt dòng truyền thừa căn bản trên đầu, mọi thứ đều không sợ, từ đó cho thấy rõ điểm tốt và quan trọng của dòng truyền thừa căn bản. Đoạn hay nhất là:
1. Sư Tôn nói, Thượng sư Liên Đặng không sợ chết, sau khi mắc bệnh, vẫn không hề rơi một giọt nước mắt nào. Sư Tôn thì lại cứ nỉ non vì mắc chứng sưng viêm, cứ hướng về Bổn tôn mà khóc mãi, hướng tới chúng sinh mà khóc mãi. Sư Tôn nên học tập theo ông ấy!
2. Thượng sư Liên Đặng có thể không biết là Sư Tôn khóc. Có lẽ ông ấy biết, nhưng cho rằng, thì ra Sư Tôn cũng biết khóc đấy.

Chuyện vui về thiền cơ có ứng dụng vào thực tế.

Những người phụ nữ ăn lẩu nổi giận.
Ngày 18 tháng 2 năm nay, Sư Tôn chủ trì pháp hội Hộ Ma khai thị Bát Nhã Phật Mẫu tại Đài Loan, có kể câu chuyện cười về những người phụ nữ ăn lẩu nổi giận. Khi những người phụ nữ đang ăn lẩu, ăn tới mức môi son đều bay mất, phải tới phòng rửa tay để tháo đồ hóa trang, không ngờ mấy người phục vụ lại tưởng họ giả mạo. Câu chuyện cười này ngoài sự châm biếm ngầm rằng "người già thích hóa trang" và có sự chê bai "càng hóa trang càng chẳng hợp" ra thì còn nêu ra: 
1. Người bình thường chỉ coi trọng vẻ ngoài của người khác.
2. Những quan niệm chính đã sớm ăn sâu vào đầu thì sẽ khiến người ta đánh giá sai tình thế. Câu chuyện cười này có thể giải thích là Tứ Đại Sơn Đầu [ ND: bốn phái Phật giáo lớn nhất ở Đài Loan ] hiện nay là "vô pháp", thuần làm các việc thế gian, phần lớn vẫn chỉ có thể khen ngợi là thúc đẩy làm việc thiện, gần như chẳng có dính dáng gì đến tu hành. Tình hình này càng ngày càng bị người trong nước nhìn ra. Còn tông phái chúng ta, cho dù là Phật pháp phong phú, giáo dục tất cả mọi người bất kể hoàn cảnh xuất thân, thế nhưng vẫn chưa được truyền thông và xã hội hoàn toàn tiếp nhận. Trên thực tế, nguyên nhân sâu xa là kết quả của nhiều thập kỷ trước, tông phái chúng ta, dòng truyền thừa gốc của chúng ta đã bị các tông phái lớn liên minh chính trị và truyền thông liên tục bôi nhọ. Con người vì những quan niệm về ấn tượng ban đầu khó thay đổi, hơn nữa nhận thức về Phật pháp nông cạn mà nhất thời khó phân biệt được. Duy mấy năm gần đây, mỗi lần tín chúng Đài Loan nhận được quán đảnh của Sư Tôn, thể hiện tín chúng nô nức hăng hái, nam nữ già trẻ đến từ nhiều nơi, mới khiến người ta thấy phấn khởi hơn. 

Trộm cắn một miếng ngập ba phân:

Trong câu chuyện cười về việc "Đau bụng tiêu chảy dọa thực khách chết khiếp", đệ tử gần đây mới suy ra được ý vị chân thực của câu chuyện cười này: kẻ cắp thì thường hay la làng, hơn nữa rất dễ xảy ra vàng thau lẫn lộn. Khi thực tướng còn chưa rõ ràng, những thực khách thích sinh sự nếu có thể bình tĩnh từ tốn chất vấn chủ quán vì sao quán lại chẳng có khách đến ăn? Còn ông chủ quán ăn bị hại thì lại trốn sau quầy hàng, đưa đầu ra chịu tội. Những việc kiểu này trên thế gian đâu đâu cũng thấy.

Đệ tử và Liên Hoa Trung Tam thường khích lệ nhau rằng, đời này có được Sư phụ thù thắng, Phật pháp thù thắng, hoàn cảnh sống yên ổn, thật khó mà có được, không thể phụ ơn phúc huệ này. Anh ấy cũng nói, xử lý các sự vụ cho tông phái chính là nghiêm khắc hành trì khảo nghiệm, không chỉ tự động toàn tâm dốc sức mà còn phải cân nhắc mọi thứ để đạt được lợi ích tốt nhất, điều đó không dễ dàng vì nó cần phải vượt ra ngoài "sở thích và không thích cá nhân". Ví dụ như vụ kiện "tố cáo truyền thông phỉ báng", dựa vào kinh nghiệm thì khó thắng kiện, nhất là "tông phái kiện truyền thông" thì hầu như không có cơ hội thắng kiện ở một nước dân chủ. Truyền thông, đặc biệt là truyền thông mạng, có những sai sót mù quáng về chính nghĩa công bằng, dễ bị lợi dụng khiêu khích. Thay vào đó, các phương tiện truyền thông có thể tổ chức họp báo bất cứ lúc nào để tăng cường sự vu khống. "Trộm cắn một miếng ngập ba phân, miệng lưỡi thế gian xói chảy vàng, điều tiếng dư luận làm lay chuyển cả những người có niềm tin vững chắc. 

Theo tông phái của chúng ta, dường như có "nhân viên pháp vụ" cho rằng tiêu tiền là có thể thuê luật sư để khởi kiện, huống hồ luật sư còn tán thành tiếp tục vụ kiện? Mạnh mẽ chất vấn rằng: "Thắng kiện rồi hà tất phải rút đơn kiện? Thế thì công lý ở đâu?" Đây thật sự là vì suy nghĩ đơn giản và không nghi ngờ gì về những gian ác của thế gian. (Luật sư dựa vào kiện tụng để kiếm tiền, có được tiền thì hầu hết họ sẽ chẳng e dè cơ hội kiếm tiền. Gặp bên đương sự ủy thác tự nguyện khuếch trương tranh tụng thì càng hay.)

Đệ tử phát hiện ra, cho dù biết đạo lý "vô sở đắc", ngày ngày vẫn có rất nhiều phiền não tuôn trào ra, giống như trong pháp hội Hộ Ma Địa Tạng Vương Bồ Tát, Sư Tôn đã dặn dò đi dặn dò lại rằng: "Phật tính không thiện không ác", biết rõ là không được, nhất định phải thành tựu xong thì nhận định này mới chắc chắn được. Kinh nghiệm của đệ tử là sự bám chấp của thiện niệm không dễ tẩy trừ. Lập tức khảo nghiệm bản thân, luôn phải "động tâm nhẫn tính". 

Thời nhà Nguyên, lão nhân Vạn Tùng từng khai thị: "Từng bước lên cao thì dễ, hạ thấp tâm xuống thì khó". Sư Tôn cũng từng nhấn mạnh, học tập cần làm đến nơi đến chốn, cần phải giống như cây cỏ nhỏ trưởng thành, mỗi ngày lớn lên một chút. Do vậy, đệ tử và Trung Tam cũng thường cảnh tỉnh lẫn nhau cho dù có nắm chắc được căn bản truyền thừa "nhất tâm hộ trì", thỉnh thoảng có trình báo, cũng đều nên tự nghiêm khắc cân nhắc thêm, chứ đừng bám chấp quá đáng. Và cũng không thể lăng xa lăng xăng, chỉ gây thêm phiền phức. 

Con xin bẩm báo như vậy. 
Kính chúc Sư Tôn
Ngày ngày vui vẻ! Luôn nở nụ cười!

Đệ tử
Liên Hoa Trung Chính đảnh lễ 
27/04/2017

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/266-nhung-loi-vang.md
# Title: 266. Những lời vàng
---

![image](/img/img_b4369d008e5ca5683256429e45a0fd1e.jpg)



## Những lời vàng


🪷 Câu chuyện của những lời vàng

Văn tập: 266
Xuất bản: 07/2018
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


Tôi là Guru chuyển thế

Cả cuộc đời tôi đều tìm cầu chân lý tối cao.
Tôi nói với mọi người:
"Linh thể là vĩnh hằng, vật chất là cực kì tạm thời!"
Cũng có thể nói như thế này:
"Phật tính là vĩnh hằng, thế giới Ta Bà là huyễn hóa!"
Tôi nghiêm túc nói với người đời:
"Đến lúc phải thức tỉnh rồi, nếu không thức tỉnh, bạn chỉ có luân hồi trong huyễn tướng hết đời này đến đời khác!"
Tôi nói:
"Mỗi người cần phải có một vị đạo sư tâm linh của mình - người có thể nâng cao tâm linh của bạn."

🌟

Lúc nhỏ.
Bố tôi cực kì bạo lực.
Đương nhiên việc này là có nguyên nhân, bởi vì mẹ tôi kết hôn chưa đến 10 tháng thì tôi đã ra đời rồi.
Bố tôi cho rằng tôi không phải là con do ông sinh ra.
Vì thế,
Tôi có một tuổi thơ rất bi thảm!
Mẹ tôi kể với tôi một sự việc có thật.
Khi tôi ba tuổi.
Có một lần bị ốm, mẹ tôi đút thuốc cho tôi uống.
Tôi không uống.
Bố tôi từ phía sau lưng trong nháy mắt nhấc tôi khỏi ghế ngồi, quát lên đầy giận dữ:
"Không uống! Thế thì chết đi!"
Sau đó giống như quăng quả bóng rổ, ông ném tôi ra ngoài sân bê tông. 
Mẹ tôi hét lớn:
"Lần này chết chắc rồi!"
Tôi bị ném ra ngoài theo hình vòng cung và đập xuống sàn bê tông do gia tốc trọng lực.
"Binh" một tiếng!
Về lý mà nói, tôi sẽ bị vỡ sọ, dịch não và máu sẽ chảy đầy mặt đất, gãy xương, tứ chi tách rời, chỗ này đỏ chỗ kia bầm, bảy lỗ chảy máu, máu thịt bầy nhầy.
Mẹ tôi ôm tôi lên.
Áp tai nghe, nói:
"Tim vẫn đập, Thắng Ngạn vẫn còn sống."

🌟

Sau này, khi tôi trở thành Guru.
Diêu Trì Kim Mẫu nói với tôi:
"Sàn bê tông đã biến thành tấm thảm mềm mại."
"Thần bảo hộ của ngài, Tứ Đại Thiên Vương đã dùng tám cánh tay để đỡ lấy ngài, nhẹ nhàng đặt lên tấm thảm."
Vì thế,
Tôi vẫn còn sống.
Vì sao tôi sống tiếp?
Bởi vì tôi có thiên mệnh, vị Guru là tôi đây phải đến thế giới Ta Bà độ hóa đệ tử hữu duyên!
Rất nhiều người cần nương dựa vào tôi để thành Phật.
Tôi từ sau 26 tuổi, trọn đời phải trang nghiêm tuyệt diệu, phải chiếu sáng xưa nay, phải kham nổi vai trò là thầy của trời người.
Tôi là vị Guru chân chính.
Tôi giống như những Guru chân chính khác, giáng sinh đất này, đều là đến để thức tỉnh thế nhân.
Tôi là báu vật.
Báu vật cần đánh thức báu vật đang ngủ say.

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn**
Sheng-yen Lu
17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Cầu nguyện phải rất chân thành


Lúc nhỏ, tôi theo người ta đi nhà thờ.
Chỉ bởi vì tiểu thư Cao Thuần Tâm ở con ngõ nhỏ phía sau  nhà tôi đi nhà thờ, đó là Giáo Hội Trưởng Lão quận Tân Hưng, Cao Hùng.
Học trường học ngày chủ nhật.
Sau đó tôi lại trở thành thầy giáo của trường học ngày chủ nhật.
Làm thầy giáo lớp kiểm tra kinh.
Đội hát thánh ca.
Văn cầu nguyện mà tôi đọc là:
"Chúng con ở trước Cha trên thiên đường, mong tên của Cha được tôn làm Thánh, mong đất nước của Cha giáng lâm, mong ý chỉ của Cha được thực hiện trên mảnh đất này, giống như thực hiện trên thiên đường. Ăn uống thường ngày của chúng con, hôm nay hãy ban cho chúng con. Tha thứ tội lỗi của chúng con, giống như chúng con tha thứ cho người đắc tội với chúng con. Đừng để chúng con gặp phải thử thách, cứu chúng con thoát khỏi hung ác. Bởi vì đất nước, quyền hành, vinh quang, đều là của Cha, từ nay cho đến vĩnh viễn. A men!"
Tôi nói với mọi người:
"Cầu nguyện phải rất chân thành."
Đây đích thực là điều vô cùng quan trọng!
Khi tôi còn ở trong Cơ Đốc giáo, Cha, Con, Thánh linh trên thiên đường, thật sự đều nghe thấy lời cầu nguyện của tôi.

🌟

Bố tôi dự định ngày mai sẽ đánh tôi.
Tôi cầu nguyện Chúa Trời:
"Con ở trước Cha trên thiên đường, xin lắng nghe lời cầu nguyện của con, để cho người cha ở mặt đất của con dập tắt cơn phẫn nộ của ông ấy đi!"
Kỳ lạ là.
Công ty điện lực đã cử bố tôi đi công tác xa.
Tôi đã tránh được một trận đòn.
Còn nữa:
Bố tôi lại muốn đánh tôi tiếp.
Tôi cầu nguyện Chúa Trời:
"Thiên Chúa, bố con lại muốn đánh con rồi, xin tha cho con khỏi bị đánh đi! A men!"
Quả nhiên lại linh nghiệm.
Cánh tay phải của bố tôi đột nhiên bị sưng đau, tay không giơ lên được, tôi đã tránh được một trận đòn đau đớn.
Còn nữa:
Bố tôi trở về nhà trong cơn tam bành.
Nhìn thấy tôi, ông liền xông đến, lại muốn đánh tôi.
Tôi vừa chạy vừa cầu nguyện:
"Chúa ơi! Mau mau tha cho con tai nạn này đi! A men!"
Đột ngột có một cuộc điện thoại.
Là cấp trên của bố tôi gọi đến, bố tôi được thăng chức rồi.
Cơn tức giận của bố tôi lập tức tiêu tan.
Bố tôi nói:
"Thằng oắt con, tha cho mày một lần!"

🌟

Có một lần, trên bãi đất trống bên trái bệnh viện Ngoại khoa của bác sĩ Từ có rất nhiều bạn học và các em nhỏ đang chơi thả diều. 
Trời xanh mây trắng.
Không khí mát mẻ.
Trên bầu trời có sáu, bảy con diều giấy đang bay lượn.
Có con diều bay rất cao, có con diều bay rất thấp.
Diều giấy liệng trái liệng phải.
Lúc cao lúc thấp.
Có con diều nhiều màu sắc, có con diều một màu sắc, cũng có con diều chỉ mỗi màu trắng.
Tôi nhìn thấy một con diều có hình con rết, rất nhiều chân, thật sự là nó bay lượn rất đẹp.
Là vua trong đám diều. Tôi đứng ngắm, tôi chẳng có một xu trên người, tôi chỉ nhìn, rất say mê ngưỡng mộ.
Tôi cầu nguyện:
"Thượng Đế! Con thích con diều hình rết đó quá, A men!"
Sau đó, con diều kia bay xuống, bỗng dưng lao trúng vào người tôi.
Chủ nhân của con diều chạy tới, nhìn thấy trên tay tôi cầm con diều giấy bèn nói với tôi:
"Cho cậu con diều này đấy! Tớ vẫn còn một con diều mới!"
Oa! Vạn tuế! (Chân thành cầu nguyện rất linh ứng.)


### 02. Trong giấc mơ của tôi bao hàm ý nghĩa sâu xa


Lúc còn nhỏ, tôi có hai giấc mơ, tôi từng kể rồi, bây giờ thuật lại như sau:

Giấc mơ thứ nhất:
Tôi ở trong lớp học, có tất cả các bạn học trong lớp, có cả thầy giáo.
Có một nữ thần bay đến, toàn thân tỏa hào quang, xán lạn xinh tươi, trực giác của tôi là cô ấy đến từ cõi trời.
Cô ấy muốn chọn một đạo sư tâm linh.
Thầy giáo bảo lớp trưởng đứng dậy.
Cô ấy lắc đầu.
Thầy giáo gọi bạn học có thành tích học tập tốt nhất đứng dậy.
Cô ấy lắc đầu.
Thầy giáo gọi bạn học cao nhất đẹp trai nhất đứng dậy.
Cô ấy nói: "Không phải."
Thầy giáo gọi một bạn học nữ xinh nhất đứng dậy.
Kết quả là cũng không phải.
Lúc này, nữ thần đưa ánh mắt hiền từ nhìn quanh các bạn học trong lớp, cuối cùng ánh mắt dừng lại trên thân thể nhỏ thó của tôi.
Tôi cái gì cũng chẳng phải.
Vóc dáng lại bé nhất lớp.
Chẳng có cái gì xuất sắc.
Trốn trong một xó của lớp học không có gì nổi bật. Trong mắt thầy giáo, tôi là một đứa học trò rất bình thường.
Nhưng,
Nữ thần lại chọn trúng tôi.
Nữ thần nói:
"Người này mới đúng."
Thầy giáo hỏi:
"Tại sao lại là Lư Thắng Ngạn nhát như thỏ đế chứ?"
Nữ thần đáp:
"Cậu ấy là vàng ẩn trong khoáng thạch đó!"
(Sau này tôi mới biết, vị nữ thần này là Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn hoặc Quan Thế Âm Bồ Tát.)

🌟

Giấc mơ thứ hai của tôi là như thế này:
Thân hình nhỏ bé của tôi không ngờ lại biến thành cực kì to lớn, cực kì to lớn, to lớn giống như một ngọn núi lớn vậy.
Tôi đặt thân thể to lớn như núi của mình nằm giữa hai ngọn núi, giống như là đầu gác trên ngọn núi này, chân đặt trên ngọn núi kia.
Còn mọi người thì từ trên thân thể tôi đi từ ngọn núi này sang ngọn núi đối diện.
Người giống như kiến.
Lần lượt bò trên người tôi.
Đi từ bờ bên này đến bờ bên kia.

🌟

Từ hai giấc mơ này tôi đã hiểu:
Tôi thuộc về chân lý tối cao, tôi cần tìm kiếm Thượng sư của chính mình, tôi cần quy y học tập chân lý.
Tôi nương dựa vào rất nhiều Thượng sư.
Tôi tìm kiếm vị Guru - Thượng sư chân chính.
Tương lai, tôi nhất định sẽ là một Avatar hợp nhất với ý thức tối thượng.
Tôi yêu cầu chính mình:
Trí huệ viên mãn. (từ nhập thế đến xuất thế)
Tôi và Bổn tôn hợp nhất. (trời - người hợp nhất)
Thiền định.
Giới luật.
Tôi giáng sinh chính là phải đến để độ hóa chúng sinh, chính mình giác ngộ, cũng phải hướng dẫn rất nhiều người giác ngộ.
Chính tôi giải thoát, cũng phải đưa người khác đến giải thoát.
Chính tôi thành tựu bồ đề, cũng phải dẫn dắt người khác thành tựu bồ đề.
(Tôi thường xuyên mơ thấy hai giấc mơ này, là một dạng khai sáng, truy ngược về tiền kiếp, hiện tại, vị lai.)
Phải vượt qua sự liên kết của thời gian và không gian.
Tôi là một vị Guru chân chính!


### 03. Chân bị đinh sắt đâm thủng


Lúc còn nhỏ, tôi luôn nghĩ thế giới vũ trụ này hẳn là có một "sức mạnh toàn năng", sức mạnh toàn năng này không dễ dàng hiển hiện.
Nhưng, sức mạnh toàn năng lại ở xung quanh chúng ta.
Thế giới mà chúng ta sinh tồn đã là một thế giới rất kỳ diệu rồi.
Mỗi con người, vì sao lại có con mắt để nhìn thấy.
Có tai để nghe thấy.
Có mũi để hít thở.
Có lưỡi để nếm vị.
Có tứ chi.
Có tư tưởng, có thể nhớ, có thể hồi tưởng, có thể nghĩ.
Cùng là người, cùng có ngũ quan, chỉ là một sự sắp xếp tổ hợp mà biến thành những khuôn mặt không giống nhau.
Còn có thế giới bên trong thân thể, lục phủ ngũ tạng, mỗi bộ phận đều có công dụng riêng.
Tôi cảm thấy huyền diệu vô cùng.
Và cả những nỗi tò mò không thể nói ra được.
Thế giới vũ trụ này làm sao mà có? Nhân loại chúng ta làm sao mà có? Hoàn cảnh bên ngoài từ đâu đến? Núi sông mặt đất từ đâu đến? Hoa cỏ cây cối từ đâu đến?
Mặt trời thì sao?
Mặt trăng thì sao?
Tôi tin rằng nhất định có một sức mạnh toàn năng, sức mạnh toàn năng này không đâu là không có, không gì là không thể.
Khó tưởng tượng một cách không thể dị nghị.

🌟

Có một lần, tôi đi chân đất, bị một cây đinh sắt dài đâm vào lòng bàn chân, đầu nhọn của đinh nhô ra ở mu bàn chân. 
Ôi! Tôi đau chết mất!
Nước mắt ròng ròng.
Tôi kêu la ầm ĩ:
"Ôi mẹ ơi! Ối mẹ ơi!"
Chúng tôi mời một bác sĩ Đông y đến thăm khám, nhổ cái đinh sắt ra, cầm máu, rửa sạch miệng vết thương.
Đắp lên một mớ thảo dược.
Dùng vải trắng băng bó lại.
Tôi không thể đi lại, chỉ có thể đứng trên một chân và dựa vào gậy chống.
Bác sĩ nói:
"Phải thay thuốc nhiều lần mới có thể phục hồi như cũ."
Tôi cam chịu số phận rồi!
Tôi đi một chân, dựa vào gậy chống để lên lớp, bạn cùng lớp và bạn khác lớp đều trêu tôi là:
"Lý Thiết Quải!"
(Một vị trong Bát Tiên.)

🌟

Có một buổi tối, tôi đi ngủ gác chân lên cao, tôi lặng lẽ khóc thầm, con người chỉ cần đau đớn một chút đã rất bi thảm rồi.
Tôi nghĩ đến sức mạnh toàn năng.
"Sức mạnh toàn năng nhất định có thể chữa khỏi chân tôi!"
Tôi cầu nguyện:
"Chúa trời, bậc toàn năng, con thành tâm cầu nguyện ngài, xin hãy chữa khỏi chân con, con cầu xin ngài đấy!" (Toàn tâm toàn ý, không có một chút thất lễ nào.)
Tôi nhìn thấy:
Xung quanh cái chân giơ cao có ánh lửa như sao.
Sau đó tập hợp lại thành một quả cầu lửa, ở trên cái chân đau của tôi đốt cháy, một lúc sau, tôi ngủ thiếp đi.
Ngày hôm sau tỉnh dậy.
Tôi tò mò cởi vải băng bó ra xem, lá thuốc rơi ra, một bàn chân trắng ngần, hoàn hảo như ban đầu, không có lỗ đinh, không có sưng tấy.
Bác sĩ Đông y nói:
"Không thể nào!"
Tôi nói:
"Không thể tưởng tượng được!"
Các bạn học nói:
"Giả vờ bệnh!"
Tôi công nhận:
"Chỉ cần hợp nhất với sức mạnh toàn năng, không gì là không thể!"


### 04. Mỗi lần kiểm tra đều là 60 điểm


Tôi thừa nhận, thời tiểu học, trung học cơ sở, tôi đều không thích đi học. 
Tôi thích đọc sách linh tinh.
Thích chơi.
(Tôi từng bị lưu ban hai lần khi học năm nhất trung học cơ sở.)
Sau đó tôi bị chuyển từ trường Trung học cơ sở Cao Thị số hai đến trường Trung học cơ sở Cao Thị số ba, hiệu trưởng trường số hai là ông Lâm Thủ Bàn, hiệu trưởng trường số ba là ông Trần Định Các.
Tôi có xem là học sinh có vấn đề không.
Đáp án là: Đúng vậy.
Nhưng, tôi không phải là cá biệt. (học sinh lưu manh)
Chỉ là tôi thích chơi, thích chơi, thích chơi…
Chơi đến mức trời đất tối tăm, hết ngày hết đêm, đầu óc mụ mị, bỏ trường bỏ lớp đến công viên.
Đợi đến giờ tan học, tôi sẽ về nhà đúng giờ.
Khi có họp phụ huynh, thầy giáo đưa tờ giấy đỏ ghi tôi bỏ học cho bố mẹ tôi xem, bố mẹ tôi mới biết là tôi đi học ở công viên, đi học ở bờ suối, đi học ở ga tàu hỏa, đi học ở bùng binh.
Đương nhiên, một trận đòn chí mạng.

🌟

Tiểu học, trung học cơ sở có rất nhiều bài kiểm tra.
Kiểm tra tuần, kiểm tra ngắn, kiểm tra tháng, kiểm tra giữa kỳ, kiểm tra cuối kỳ. Còn có kiểm tra đột xuất khi mà giáo viên hứng lên.
Đó là khoảng thời gian đau đầu.
Tôi không thích đi học, đương nhiên không thể làm bài kiểm tra.
Nhưng mà, tôi có thể cầu nguyện.

Có một lần, tôi nghiêm túc cầu nguyện.
Buổi tối cùng ngày, tôi mơ thấy một mình tôi ở trong lớp học, thầy giáo đến, thầy đứng trước bảng đen bắt đầu viết chữ.
Những thứ thầy giáo viết là:
Trọng điểm trong sách giáo khoa.
Những điểm mù dễ bị bỏ qua trong sách giáo khoa.
Và cả những thứ ngoài sách.
Viết kín cả tấm bảng đen.
Tôi nói:
"Thưa thầy! Vì sao thầy dạy có mỗi mình con?"
Thầy giáo nói:
"Ôn tập cho trò."
Tôi hỏi:
"Đây là đề kiểm tra sao?"
Thầy giáo đáp:
"Bớt nói linh tinh, học thuộc đi!"
Tôi nói:
"Con không thể thuộc được nhiều như vậy, buổi học này làm sao con có thể nhớ hết được?"
Thầy giáo nói:
"Thầy tận lực, trò tận lực."
Thầy giáo dạy xong, quay đầu cười với tôi một cái, nụ cười ấy vô cùng rạng rỡ, thầy giáo cao lớn đẹp trai, trên mặt có ánh sáng.
Thầy giáo kết thúc buổi học rồi nói với tôi:
"Bởi vì trò là Lư Thắng Ngạn, thầy mới đặc biệt lên lớp cho trò, trò đúng là rất phiền phức!"
Thế là tôi tỉnh giấc mơ.

Sự việc kỳ lạ và thần kỳ đã xảy ra rồi, đề mục của bài kiểm tra ngày hôm sau chính là đề kiểm tra mà thầy giáo đã viết lên bảng đen ở trong mơ, trời ơi! Sao lại trùng hợp như vậy?
Nhưng mà tôi biết, cho dù có nói cho tôi biết toàn bộ đề mục ôn tập, trong một đêm tôi cũng không thể nào nhớ được nhiều như vậy.
Tôi chỉ nhớ sáu phần.
Vì thế, thành tích bài kiểm tra của tôi luôn là 60 điểm, vừa đủ để đạt mà thôi.
Tôi từng có ý tốt nói cho một người bạn thân, đề văn là:
"Giữa động và tĩnh."
Cậu ấy không tin.
Nhưng, đề làm văn vừa đưa ra, quả nhiên là "giữa động và tĩnh".
Cậu bạn nói:
"Cậu là thần ư!?"


### 05. Một sợi dây cứu mạng


Hồi nhỏ tôi đã biết bơi rất giỏi.
Nhớ lại thời tiểu học, trường Tiểu học Đại Đồng có một bể bơi ở phía bên trái cổng trường.
Lần đầu tiên, thầy giáo thể dục đẩy chúng tôi xuống nước. Rất nhiều bạn chật vật khổ sở, có người hoàn toàn không dám xuống nước; có người vừa xuống nước đã vội ngoi lên ngay; có người bị sặc nước, kêu gào ầm ĩ; có người bơi được vài cái là vội vã trèo lên.

Khi thầy đẩy tôi, tôi "tõm" một cái nhảy xuống nước, điều kỳ lạ là:
Tôi có thể vung vẫy tay chân.
Đập chân. (kiểu tự do)
Nín thở.
Mở mắt.
Tôi bơi về phía bờ bên kia.
Thầy giáo và các bạn học đứng trên bờ thấy tôi chìm xuống nước, không ngoi lên hay bơi lên ngay.
Họ nhìn thấy bóng dáng gầy nhỏ của tôi lặn dưới nước, dần dần bơi xa hơn, từ gần đến xa, từ chỗ nông đến chỗ sâu, chỉ trong chớp mắt đã không thấy đâu nữa.
Thầy giáo hơi lo lắng.
Các bạn học đứng ngẩn người nhìn.
Bất ngờ tôi nhô đầu lên, trèo lên từ bờ bên kia.
Lúc đó, tiếng vỗ tay vang dội như sấm.
Thầy giáo nói:
"Lư Thắng Ngạn, cậu bé nhỏ con này, sinh ra đã biết bơi."

🌟

Chính vì thế, tôi đã học được:
Bơi tự do. (thở)
Bơi ếch. (ngẩng đầu)
Bơi ngửa.
Bơi bướm.
Bơi nghiêng.
Bơi kiểu cá.
Bơi lặn. (với bình dưỡng khí, kính bơi, chì đeo, chân vịt)
Bơi thẳng đứng.
Tôi còn biết cả bơi kiểu chó.

Tôi vốn thích nước, nên cũng học được cả nhảy cầu. Vì thế, bể bơi, suối, bãi tắm biển, hồ.
Thậm chí:
Vực sâu dưới thác nước.
Đê chắn sóng.
Giữa biển khơi.
Tôi đều đã từng bơi qua.
(Ngay cả khi gió to, mưa giông, sấm sét, bể bơi đóng cửa, tôi cũng lén lút trèo vào, chỉ để được bơi.)

🌟

Có một lần, tôi đến bãi tắm biển Khẩn Đinh ở miền Nam, có một bảng thông báo:
"Sóng to gió lớn, vui lòng không xuống nước".
Tôi mỉm cười khinh thường rồi vẫn bơi. Tôi bơi từ chỗ nông ra chỗ sâu, rồi lại từ chỗ sâu bơi về bãi cát.
Bỗng nhiên tôi cảm thấy có gì đó không ổn. Bơi mấy lần mà không thể quay vào bờ được.
Nước mặt biển đẩy về phía trước.
Nước dưới chân thì dồn nhanh ra giữa biển.
Một đẩy một kéo. Lực kéo rất mạnh, như thể đang hút vào, ngay cả cát trên bãi biển cũng bị hút ra biển sâu.
Tôi dùng hết sức lực, vẫn không thể bơi vào bờ được. Thử mấy lần, sức lực đã cạn kiệt.

Tôi lo lắng quá, chết rồi! Tôi cầu nguyện:
"Thượng Đế! Cứu con!" - Tôi thét lên một cách thê thảm, ai oán.
Bỗng nhiên, tai tôi nghe thấy tiếng nói: "Lặn xuống dưới". 

Tôi không chút do dự lặn xuống đáy, lực hút vẫn còn mạnh, tôi dùng hai tay bới cát, chộp được một sợi dây thừng to, tôi nắm chặt lấy dây, nước biển kéo xuống, tôi vẫn giữ chặt. Đến khi dòng nước ngừng, tôi kéo dây bước được vài bước về phía bờ. Cứ thế tôi bò về phía bãi cát, lên được bờ. (Sợi dây là dây buộc thuyền.)

Tôi ghi nhớ bài học:
"Không được tự phụ về khả năng của mình." 
"Phải kính trọng năng lực tối cao."


### 06. Nỗi kinh hoàng dưới bánh xe lớn


Bố tôi là trưởng phòng tại Công ty Điện lực Đài Loan, ông đã làm việc cả đời tại công ty điện lực cho đến khi về hưu.
Bác trai Phật Tục là Phó Tổng Giám đốc công ty.
Anh rể cả Phúc Khí là trưởng phòng Tổng vụ.
Cậu Anh Thanh là trưởng phòng Nghiệp vụ.
Các thành viên trong gia đình họ Lư chúng tôi đều phục vụ tại công ty điện lực, kể cả các em gái tôi, tất cả đều làm việc tại công ty điện lực.

Trong kỳ nghỉ đông và nghỉ hè thời trung học cơ sở và trung học phổ thông, tôi đều vào công ty điện lực làm việc bán thời gian.
Tôi từng làm:
Nhân viên ngoại vụ phòng Thi công - dựng cột điện ở khu Thảo Nha, Cao Hùng.
Nhà máy Nhiệt điện miền Nam - xưởng sửa chữa. (máy tiện, máy xoay, máy bào)
Trạm kiểm định công tơ điện - Chi nhánh Hoa Liên.
Xưởng sửa chữa - sửa chữa máy biến áp. (Hoa Liên)
.............

🌟

Đây là câu chuyện xảy ra khi tôi làm việc tại Nhà máy Nhiệt điện miền Nam:
Ông Trương - Trưởng xưởng sửa chữa đưa cho tôi phiếu lĩnh dầu, bảo tôi cầm thùng đi lĩnh dầu.
Từ xưởng sửa chữa đến kho dầu phải đi qua một đoạn đường ray rất dài, trên đường ray có một đoàn tàu dài đằng đẵng.
Đoàn tàu chở than.
Tôi xách thùng không, cứ thế đi bộ, vòng qua đoàn tàu để đến lĩnh dầu.
Sau khi lĩnh xong dầu.
Tôi ôm thùng dầu bằng cả hai tay, lúc này mới biết thùng đã đổ đầy dầu nặng đến nhường nào.
Mới đi được vài bước, hai tay tôi đã tê cứng, phải dừng lại nghỉ một chút.
Từ xưởng sửa chữa đến chỗ lĩnh dầu thực ra không xa lắm, chỉ cần bước qua đường ray là tới.
Nhưng,
Trên đường ray có một đoàn tàu dài thượt, ít nhất phải dài đến hai trăm mét, chở toàn than đá.
Muốn về xưởng sửa chữa, nhất định phải đi vòng qua đoàn tàu mới về được.
Thùng dầu lại nặng thế này.
Không biết phải đi vòng đến bao giờ?

Lúc này tôi nghĩ:
Tàu đang đứng yên trên đường ray, không có dấu hiệu sẽ chạy.
Sao mình không chui qua gầm tàu nhỉ.
Trước tiên đặt thùng dầu xuống gầm.
Rồi đẩy sang bên kia.
Mình cũng chui qua gầm, rồi chui ra, là sẽ thấy xưởng sửa chữa.

Lúc đó tôi không nghĩ nhiều.
Cứ thế làm luôn.
Trước tiên ôm thùng dầu, chui vào gầm tàu, rồi đẩy thùng dầu lên bờ bên kia.
Nói thì chậm nhưng việc xảy ra rất nhanh.
Tôi bỗng thấy bánh xe khổng lồ của tàu từ từ bắt đầu quay, tôi hoảng hốt.
Hồn vía lên mây!
Tôi cong người lại, như tên bắn, nhảy vọt ra khỏi gầm tàu.
Vừa kịp rút chân ra.
Bánh xe khổng lồ đã lăn qua.
Tàu ầm ầm rầm rầm, ầm ầm rầm rầm, ầm ầm rầm rầm, lao vút đi!

Tôi đứng chết trân tại chỗ, mồ hôi nhễ nhại, toàn thân ướt đẫm mồ hôi lạnh, tay chân run rẩy vì sợ hãi.
Nếu chậm một phút, hay chỉ vài giây thôi, thì đầu tôi đã lìa khỏi cổ, hoặc chân tôi đã không còn nữa.
Tôi ngước nhìn trời! Tôi thét lên:
"Thượng Đế! Người để con sống, chắc chắn con còn việc lớn phải làm!"
Tôi đã nhận ra:
"Đất nước nguy nan chớ vào, nơi nguy hiểm chớ ở, việc nguy hiểm chớ làm. Cẩn thận! Cẩn thận!"


### 07. Người ánh sáng đưa tôi vào hang động


Một lần nọ.
Một người ánh sáng xuất hiện ở đầu giường tôi.
Người ánh sáng này có đôi mắt long lanh sáng ngời, trong ánh sáng, người này toát lên vẻ trang nghiêm và thiêng liêng.
Tôi ngạc nhiên hỏi:
"Ngài là ai?"
Người ấy đáp:
"Ta là Đấng Tối Cao."
Tôi hỏi:
"Đấng Tối Cao là ai?"
Người ấy đáp:
"Đấng Tối Cao chính là Đấng Duy Nhất."
Tôi nghe xong nửa hiểu nửa không, thôi, không để tâm nữa.

Người ánh sáng đưa tôi vào trong không gian hư vô, rồi bắt đầu bay lên, chỗ chúng tôi đứng không giống như đang đạp trên hoa sen, cũng không phải cưỡi mây, càng không phải cưỡi gió.
Mây vun vút bay qua.
Gió rít bên tai.
Chỉ trong chốc lát đã đến một ngọn núi, hạ xuống, đi vào một hang động, hang động thực ra không lớn, không sâu, cũng không cao, người bình thường phải cúi người mới vào được.
Bên trong chỉ chứa được ba người, nếu là năm người thì quá chật, trong hang trống không.

Người ánh sáng nói:
"Đây là hang động nơi ngươi từng tu hành!"
Tôi hỏi:
"Tôi tu gì trong hang động này?"
Người ánh sáng đáp:
"Thiền định."
Tôi hỏi:
"Thiền định là tu gì?"
Người ánh sáng đáp:
"Tu đến cảnh giới tối thượng chính là Nhất thể."
Tôi hỏi:
"Con nửa hiểu nửa không?"
Người ánh sáng nói:
"Sớm muộn gì ngươi cũng sẽ hiểu thôi, đây chính là hang động nơi ngươi từng tu hành thời Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế, ngươi chính là hóa thân của ngài Xá Lợi Phất, ta tiên đoán, tương lai ngươi sẽ quay về thăm hang động này."
Người ánh sáng ấn một cái lên trán tôi.
Trong thoáng chốc, tôi như trở về thời Đức Phật, tôi nhớ ra hang động của A Nan.
Tôi nhớ ra hang động của Tân Đầu Lư.

Tôi hỏi:
"Người ánh sáng, ngài có phải là Phật Đà không?"
Người ánh sáng không trả lời.
Tôi lại hỏi:
"Ngài là Phật Đà, tôi biết ngài là Phật Đà."
Người ánh sáng đáp:
"Người đời đều không hiểu, mỗi người đều có sự khác biệt, chỉ khi hợp nhất với Đấng Tối Cao mới biết được rằng, Phật Thích Ca Mâu Ni, Allah, Thượng Đế, Chúa Jesus, Elijah đều là Đấng Tối Cao."
Người ánh sáng nói:
"Ta tiên đoán, tương lai ta sẽ xuất hiện lần nữa ở đầu giường ngươi, nói với ngươi rằng, con đường ngươi đi, và con đường ta đi, là như nhau. Lúc đó thân phận của ta chính là Chúa Jesus."

Tôi hoang mang quá!
Tôi hỏi:
"Vậy tôi cầu nguyện với ai, với đấng nào?"
Người ánh sáng đáp:
"Với chính mình."
Tôi hỏi: 
"Tôi là ai?"
Người ánh sáng đáp:
"Duy ngã độc tôn."


### 08. Cuộc đối thoại giữa tôi và người ánh sáng


Tôi và người ánh sáng đã trò chuyện một số điều trong hang động, tôi nghĩ đáng để ghi lại.
Tôi nói:
"Tương lai tôi phải đi con đường nào?"
Ý tôi là:
Cơ Đốc giáo - Chúa Jesus. (Tân Ước)
Phật giáo - Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
Thiên Chúa giáo - Thiên Chúa. (Chúa Trời)
Hồi giáo - Đấng Muhammad.
Ấn Độ giáo - Bhagavan. Kinh Vệ Đà.
Do Thái giáo - Thiên Chúa. (Cựu Ước)
Đạo giáo - Lão Tử.
................

Đây chỉ là phân chia sơ lược của tôi. Thực ra tôn giáo trên thế giới nhiều vô kể, mỗi vị tiên tri, hay đạo sư, hay hóa thân, hay những bậc hoằng pháp tiêu biểu, tôi phải chọn thế nào đây, tôi hoang mang quá, tương lai tôi sẽ theo đuổi điều gì?

Người ánh sáng mỉm cười, người ánh sáng hiểu ý tôi, người ánh sáng nói:
"Ngươi đang đi trên con đường ánh sáng?"
Tôi hỏi:
"Con đường ánh sáng là gì?"
Người ánh sáng đáp:
"Con người sống trên trái đất nhờ ánh mặt trời, không khí và nước, còn ngươi nhờ vào ánh sáng tối thượng, thế là đủ rồi."
Tôi hỏi:
"Ý tôi là, phải theo tôn giáo nào?"
Người ánh sáng đáp:
"Tối thượng."
Tôi hỏi:
"Tu như thế nào?"
Người ánh sáng đáp:
"Hợp nhất."

Tôi đã từng hoang mang về thế giới tôn giáo, trong đầu rất rối loạn, không thể sắp xếp được mạch suy nghĩ, thật là hỗn loạn vô cùng, tôi vẫn không hiểu được sự khai thị của người ánh sáng.
Rốt cuộc tôi phải theo đạo nào?
Tôi phải tu như thế nào?
Người ánh sáng chỉ muốn tôi tin vào Đấng Tối Thượng.
Hợp nhất với Đấng Tối Thượng.
Phóng quang.
Người ánh sáng nói:
"Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Chúa Jesus, Moses, Muhammad, John the Baptist, Lão Tử, Krishna... tất cả đều là hóa thân của ánh sáng tối thượng."

Điều này càng khiến tôi hoang mang hơn.
Bởi vì trong thế giới hiện đại, mỗi tôn giáo đều tự cho mình là đúng.
Ví dụ như Cơ Đốc giáo chỉ trích Phật giáo thờ tượng là ma quỷ.
Hồi giáo cho rằng chỉ có Allah mới là tất cả.
Phật giáo chia thành Hiển giáo và Mật giáo. Hiển giáo cho rằng không được tu khí, mạch, minh điểm.
Duy Thức tấn công Trung Quán.
Trung Quán tấn công Duy Thức.
Các tông phái Phật giáo không qua lại với nhau.
Phật giáo cho rằng Đạo giáo là ngoại đạo.
Diêu Trì Kim Mẫu lại được xếp vào Đạo giáo.
Lại còn có Nhất Quán Đạo.
Ngay cả Ngọc Hoàng Đại Đế cũng chia thành hai phái, Huyền Khung Cao Thượng Đế và Huyền Linh Cao Thượng Đế.
............

Trong tất cả những điều đó, người ánh sáng chỉ nói:
"Hãy tin vào Đấng Tối Thượng."
"Tu ánh sáng."
"Hợp nhất với Đấng Tối Thượng." (thiền định)


### 09. Thần ếch và những cái khác


Hồi nhỏ khi trốn nhà, tôi thường chạy đến nhà bạn học Hoàng Kim Hùng để ngủ. Những ngày đó, tôi và Hoàng Kim Hùng là bạn thân, tình bạn của chúng tôi kéo dài cho đến khi tôi 38 tuổi sang Mỹ.

Cha của Hoàng Kim Hùng kinh doanh phụ tùng xe hơi, gia đình khá giả.
Ở đại lộ Trung Chính số 4 tại Cao Hùng năm đó, ông mở hai cửa hiệu Vĩnh Mậu và Vĩnh Thái.
Hoàng Kim Hùng là con nhà giàu, biệt danh là Mặt Tròn vì cậu ấy mập mạp, nhưng người không cao.
Khuôn mặt đoan chính.
Còn tôi thì gầy gò nhỏ bé, thẳng thắn mà nói, gia đình thu nhập ít, chi tiêu nhiều, thuộc diện nghèo.
Tôi được Hoàng Kim Hùng giúp đỡ rất nhiều.
Ví như khi mang cơm hộp, trong hộp cơm của Hoàng Kim Hùng có đầy đủ gà vịt cá thịt trứng, bày biện gọn gàng.
Còn tôi, chỉ có hai củ khoai lang.
Cậu ấy mặc quần đùi hiệu Nicotine.
Tôi mặc quần bát quái.
(Ý nói cái quần may từ bao bột mì, rách rồi vá đi vá lại, khâu tới khâu lui, thành hình mạng nhện, chúng tôi đùa gọi là quần bát quái.)
Hoàng Kim Hùng về mặt kinh tế luôn giúp đỡ tôi.

🌟

Một lần nọ.
Tôi trốn nhà đến ở nhà Hoàng Kim Hùng. Đêm đó, đúng vào đêm rằm tháng Tám âm lịch.
Mấy bạn học chơi trò "xem thần bốn chân", "thần bốn chân" chính là thần ếch.

Đầu tiên, mỗi người cầm một nén hương.
Một bạn học giả làm con ếch, quỳ xuống, hai tay chống đất, đầu cúi sát đất, mắt nhắm lại.
Mọi người đi vòng quanh người bạn đó, đọc:
"Thần bốn chân, linh linh linh, xin mời rằm tháng Tám đến làm thần."
Vừa hát.
Vừa đi vòng quanh.
Chỉ trong chốc lát, bạn học đóng vai ếch đã bị nhập, toàn thân bắt đầu run rẩy, rồi nhảy nhót như ếch, nhảy khắp nơi, miệng kêu tiếng ếch:
"Cốp... cốp... cốp."
"Ộp... ộp... ộp."
Rất là vui.

🌟

Tất cả các bạn học mời tôi tham gia chơi "thần bốn chân".
Tôi cùng họ cầm hương và đọc:
"Thần bốn chân, linh linh linh, xin mời rằm tháng Tám đến làm thần."
Nhưng người bạn học đóng vai ếch lại không hề cử động. Mọi năm vừa đọc là đã động.
Năm nay lại không động.
Lạ thật!
Hoàng Kim Hùng nói:
"Năm nay rằm tháng Tám không thấy động, chắc chắn có lý do, nếu có người đang mang thai hoặc để tang phải tránh đi. Ngoài ra, người có mệnh số cao ở đây cũng sẽ khiến thần không nhập. Còn nữa, có đại thần ở đây cũng sẽ khiến thần không nhập."

Phụ nữ đang mang thai - không có.
Người đang để tang - không có.
Người có mệnh số cao - không có.
Có đại thần ở đây - không có.
Họ nhìn tôi, vì đây là lần đầu tiên tôi tham gia, họ bảo tôi tránh ra một chút.
Khi lại xem "thần bốn chân", lần này thì động.
Họ hỏi: "Tại sao khi Lư Thắng Ngạn có mặt ở đây thì không động?"
Thần ếch đáp:
"Người ấy là Phật! Ánh sáng của người đã trấn áp ta."
Các bạn học rất kinh ngạc! Lư Thắng Ngạn là Phật sao?


### 10. Câu chuyện của Bồ Tát đất


Có ba đứa trẻ.

Ở khoảng đất trống bên cạnh nhà tôi, chúng đắp ba bức tượng người bằng đất, không lớn lắm, chỉ nhỏ xíu thôi.
(Giống như những con rối trong múa rối.)
Bọn trẻ nghịch ngợm, bắt chước người lớn cầm hương lễ Phật, y như người lớn vậy, quỳ lạy trước tượng ba lạy chín khấu đầu, tay cầm nén hương, miệng lẩm bẩm những lời vô nghĩa.
Tất nhiên, bọn trẻ chỉ đang bắt chước động tác của người lớn mà thôi.

Nhưng, chuyện kỳ lạ đã xảy ra.
Sau một làn hương thoảng qua, ba đứa trẻ bỗng nhiên biến thành đồng cốt, dân gian gọi là kê đồng.
Thân thể run rẩy.
Miệng lẩm bẩm không ngừng.
Tay đập vào người.
Có người đi đường ngang qua, nhận thấy điều bất thường.

Người đi đường hỏi:
"Vị thần nào đang ở đây vậy?"
Một đứa trẻ đáp:
"Là Trung Đàn Nguyên Soái Na Tra Tam Thái Tử đang ở đây."
Người đi đường hỏi:
"Còn hai vị kia là ai?"
Đứa trẻ đáp:
"Một vị là Mộc Tra, một vị là Kim Tra, là anh cả và anh hai của ta."

Ba vị Thái tử đều có lai lịch:
Mộc Tra - đệ tử của Văn Thù Quảng Pháp Thiên Tôn.
Kim Tra - đệ tử của Phổ Hiền Tôn Giả.
Na Tra - đệ tử của Thái Ất Chân Nhân.
Người đi đường hỏi:
"Đến đây làm gì?"
Đứa trẻ đáp:
"Thao luyện binh pháp."

Lúc này, người đến xem càng lúc càng đông, ai cũng đến để xem náo nhiệt.
Ba đứa trẻ đắp ba bức tượng đất, bắt chước người lớn lễ Phật, không ngờ lại có ba vị thần là Mộc Tra, Kim Tra, Na Tra nhập vào người ba đứa trẻ.
Ba đứa trẻ trở thành đồng cốt (kê đồng), biểu diễn ngay tại khoảng đất trống.
Người nghe tin đến xem càng lúc càng đông, đứng chật kín không còn chỗ trống, nhưng không ai giải thích được chuyện gì đang xảy ra.

Người từ đền miếu cũng đến, họ cũng thấy rất kỳ lạ.
Ba pho tượng đất.
Ba đứa trẻ, chỉ lễ bái một lần.
Đã thành đồng cốt.
Cuối cùng ngay cả phóng viên tin tức cũng đến.

Tôi ở gần đó. (số 77 đường Lâm Sâm Hoành, thành phố Cao Hùng)
Tôi cũng chạy ra xem cảnh náo nhiệt, chen qua khe người để vào trong, thấy ba đứa trẻ nhảy nhót lung tung, như đồng cốt vậy.

Tôi vừa nhìn một cái.
Ba đứa trẻ liền im lặng, một đứa nằm xuống, chúng đã kiệt sức.
Có người hỏi:
"Vừa rồi là chuyện gì vậy?"
Bọn trẻ đáp:
"Không biết."
Có người hỏi:
"Sao lại nhảy lung tung vậy?"
Bọn trẻ đáp:
"Tự nhiên vậy thôi. Cũng không biết."
Tôi vừa nhìn thì mọi chuyện dừng lại, đám đông giải tán, lúc đó, tôi đã thấm thía sâu sắc một câu:
"Thần linh ở khắp mọi nơi! Ngay cả trong đất đá, keo sơn cũng có!"


### 11. Bói đĩa cũng thịnh hành


Vào thời cấp ba của tôi, trò bói đĩa rất thịnh hành. Gần như toàn bộ người dân Đài Loan đều mê mẩn trò này.

Thầy giáo của tôi cũng chơi, nhưng thầy nói: "Hai người kia không động đậy, tay tôi đẩy nó thì nó mới di chuyển."
Thầy giáo của tôi nói:
"Bói đĩa là giả!"
Có thật là giả không? Tôi sẽ giải thích dưới đây:
Khi trò bói đĩa đang thịnh hành, bạn đến cửa hàng tạp hóa mua đạo cụ bói đĩa, chỉ cần hai thứ:
Một cái đĩa sứ. (nhỏ như đĩa đựng nước tương)
Một tờ giấy trắng có viết Thiên Tự Văn.

Cách chơi là:
Đặt đĩa sứ vào giữa tờ Thiên Tự Văn (úp ngược xuống), vẽ một mũi tên.
Ba người dùng ngón trỏ, nhẹ nhàng đặt lên mép đáy đĩa sứ.
Ba người tập trung tinh thần.
Chỉ đọc:
"Kính mời thần đĩa giáng lâm!"
Khi thần đĩa giáng lâm, đĩa sẽ tự di chuyển, có lúc chậm, có lúc nhanh. Khi đĩa di chuyển, như thể đang trôi nhẹ trên tờ Thiên Tự Văn.
Một người hỏi việc.
Thần đĩa trả lời.
Khi nghỉ, mời thần đĩa uống trà, ăn trái cây, bánh ngọt.
Sau đó, có thể hỏi tiếp.
(Mũi tên của thần đĩa sẽ chỉ vào chữ hoặc thành ngữ.)

🌟

Mẹ tôi là Lư Ngọc Nữ, mời hàng xóm đến chơi trò bói đĩa, tôi đứng bên cạnh xem.
Một lúc lâu sau, đĩa không động đậy.
Tôi bước ra ngoài cửa, ngửi thấy một làn hương thoảng qua, linh tính tôi chợt động, tôi nói với mẹ: "Thần đĩa đến rồi!"
Quả nhiên đĩa liền chuyển động.

Vì tôi, mẹ hỏi vài việc, rất chuẩn xác.
Một, hỏi "Thắng Ngạn sau này sẽ đi học ở đâu? Sự nghiệp thế nào?"
Thần đĩa đáp: "Học ở Đài Trung, sự nghiệp cũng ở Đài Trung."
Kết quả:
"Tôi học trường Trắc Lượng Đài Trung (bậc đại học), phục vụ trong đơn vị Đo Đạc và Vẽ Bản Đồ quân đội. Đều ở Đài Trung."

Hai, hỏi "Thắng Ngạn bốc trúng lính hải quân tàu chiến, nó có phải đi lính không?"
Thần đĩa đáp: "Không cần! Nó sẽ đi học trường quân sự. Cần gì phải đi lính!"
Ồ! Thật chuẩn xác!
Mẹ bảo tôi, thần đĩa tự nói, vị đến là Bồ Tát Quan Thế Âm.

🌟

Tôi đã đọc một bài viết về thần đĩa do một nhà văn nổi tiếng viết, đại ý như sau:
Nhà văn hỏi:
"Ngài từ đâu đến?"
Thần đĩa đáp: "Từ hồ Nhật Nguyệt đến."
Hỏi:
"Vì sao ngài ở hồ Nhật Nguyệt?"
Thần đĩa đáp: "Vì tình duyên trắc trở nên nhảy xuống hồ tự vẫn."
Hỏi:
"Ngài học hành đến đâu?"
Thần đĩa đáp: "Khoa Văn Trung Quốc trường đại học X."
Hỏi:
"Ngài có biết làm thơ không?"
Thần đĩa lập tức viết ra từng chữ một bài thơ ai oán động lòng người, vô cùng tuyệt mỹ.

🌟

Sau khi đọc xong, tôi vô cùng xúc động. Thần đĩa là có thật hay không? Những ai đã từng chơi tự khắc hiểu rõ.
(Về sau quá thịnh hành nên thần đĩa bị cấm. Ở Mỹ, thần đĩa được gọi là "bàn cầu cơ".)
Tôi có một cảm nhận:
"Bánh xe thời gian nghiền nát sinh tử, nhưng linh hồn con người dường như vẫn tiếp tục tiến về phía trước."


### 12. Từ Đại Cảng đến vịnh Tây Tử


Khoảng thời cấp hai của tôi.
Chi nhánh Cao Hùng của Công ty Điện lực Đài Loan tổ chức một hoạt động tắm biển ở vịnh Tây Tử.
Cha mẹ tôi không tham gia.
Lúc đó tôi rất thích bơi lội.
Khi xe chở mọi người từ Đại Cảng khởi hành, tôi đứng bên đường vẫy tay chào tiễn họ.
Tôi không được tham gia, buồn lắm!
Sau đó, tôi nghĩ:
"Sao mình không chạy bộ từ Đại Cảng đến vịnh Tây Tử nhỉ, đợi hoạt động bơi lội kết thúc rồi đi xe về cùng mọi người."

Người Cao Hùng ai cũng biết:
Chạy từ quận Tân Hưng, phải đi qua quận Tiền Kim, từ quận Tiền Kim đến quận Diêm Trình, từ quận Diêm Trình đến quận Cổ Sơn, từ quận Cổ Sơn đến quận Kỳ Tân.
Sau đó vòng quanh núi Thọ Sơn, chạy quanh co đến vịnh Tây Tử.
Quãng đường này rất dài.
Chạy từ phía Đông sang phía Tây.
Rất nhiều, rất nhiều ngã tư đường.

Tôi nhớ lúc đó có xe buýt số "○" chạy từ khu Tân Hưng ở Đại Cảng đến vịnh Tây Tử.
Nhưng tôi không có tiền.
Chỉ còn cách chạy bộ.
Thế là tôi thật sự bắt đầu chạy, men theo biển báo xe buýt số "○", cứ thế tiến lên.
Trong lòng tôi có một ý nghĩ:
"Chỉ cần tiến lên, dù xa đến đâu, tôi nhất định sẽ đến được."

Tôi chạy rồi dừng, dừng rồi lại chạy, thở hổn hển thì dừng, hết thở dốc thì lại chạy.
Tôi bước từng bước một.
Không nghỉ không ngừng.
Khát cháy cổ.
Tôi cầu nguyện đấng tối cao của mình:
"Hỡi đấng quang minh của con, con khát đến chết mất. Người đã từng nói, chỉ cần tin vào Người, con sẽ không khát, Người nhất định sẽ cho con nước uống, để con được no đủ."

Một lúc sau.
Tôi thấy một nhà nọ, trước cửa có để thùng gỗ đựng nước, trên thùng viết hai chữ "Mời uống".
Tôi thật sự được uống nước rồi!
Đến một chỗ khác, tôi lại khát cực kỳ.
Ở khúc quanh thuộc quận Kỳ Tân.
Lại có người "Mời uống" cho khách qua đường.
Tôi lại được giải khát!

Thời đó, lòng người thuần phác, nhiều người làm việc thiện, họ thường đặt nước ở lối vào núi, ngã tư đường, thôn xóm hẻo lánh, đầu làng, để người đi đường có nước uống.
Thường viết hai chữ "Mời uống".
Từ đây, tôi ngộ ra:
"Tạo thuận tiện cho người, chính là tạo thuận tiện cho mình."
"Cho đi còn phúc hơn nhận lại."
"Chỉ cần con người bỏ được lòng tư lợi, tương lai mới có thể được như ý."

Tôi thật sự chạy đến được vịnh Tây Tử.
Tôi xuống nước bơi.
Hàng xóm thấy tôi thì giật mình kinh hãi.
Họ hỏi:
"Con đến đây bằng cách nào? Ca Tử (tên thời thơ ấu), con đến đây bằng cách nào?"
Tôi đáp:
"Con chạy bộ đến đây!"
Họ rất ngạc nhiên!
"Chạy được sao? Xa như vậy?"
Tôi nói:
"Con thật sự chạy đến đây!"
Tôi nói: "Con người có lòng kiên trì và nghị lực, không gì không đạt được!"


### 13. Đừng đánh đứa trẻ này


Khi tôi đi học là thời kỳ giáo dục bằng đòn roi thịnh hành nhất, thầy cô đánh học sinh là chuyện bình thường.
Thi được một trăm điểm thì không bị đánh.
Thiếu một điểm bị đánh một cái.
Thiếu bao nhiêu điểm thì bị đánh bấy nhiêu cái.
Công cụ thầy cô dùng để đánh học sinh là roi tre hoặc roi mây, đánh vào lòng bàn tay, mu bàn tay hoặc bắp chân sau.

Có thầy còn hung dữ hơn, đánh đòn vào mông, bắt học sinh nằm sấp xuống, lấy roi đánh "bốp bốp".
Tại sao lại có tiếng "bốp bốp"?
Bởi vì nhiều học sinh biết mình điểm kém sẽ bị đánh, nên đã nhét giẻ rách vào trong quần từ trước.
Nhưng, vẫn bị thầy lôi ra.
Rồi bị đánh một trận tơi bời.

Tôi có chiến thuật riêng của mình.
Khi thầy gọi tất cả học sinh bị đánh ra xếp hàng, tôi sẽ vội vàng xếp ngay sau lưng bạn Trần Đồng Nhân.
Tại sao phải xếp sau lưng Trần Đồng Nhân?
Bởi vì bố của Trần Đồng Nhân là chủ tịch Hội phụ huynh học sinh của trường.
Khi thầy đánh đến chỗ cậu ấy.
Đột nhiên dừng lại.
Thầy nói:
"Tay tôi mỏi rồi! Thôi đánh đến đây thôi, các em còn lại không phải đánh nữa, về chỗ đi!"
Hì hì!
Đây là kế hay của tôi đấy.
Thầy phải nể mặt con trai của chủ tịch Hội phụ huynh học sinh là Trần Đồng Nhân ba phần.
Nhờ cách này, tôi đã thoát được mấy lần tai họa roi mây, cũng như tránh được cảnh bị "măng xào thịt" (ý nói bị đòn).

🌟

Một lần nọ.
Trong giờ Công dân, có một thầy giáo to cao vạm vỡ mới đến, họ Tăng.
Thầy dùng "mắt đồng" nhìn quét vài vòng.
Tôi thấy run rẩy sợ hãi.
Thầy Tăng giơ bàn tay dày của mình lên, vung vẩy trong không khí và nói:
"Sau này học sinh nào không chú ý học sẽ bị tôi tát hai cái!"
Thầy Tăng nói:
"Tôi sẽ làm mẫu trước!"

Ánh mắt thầy quét một vòng rồi dừng lại ở tôi, lúc đó tôi vừa gầy vừa thấp vừa nhỏ, ngồi bàn đầu tiên hàng đầu tiên.
Thầy bước xuống bục giảng.
Đứng trước mặt tôi.
Không nói hai lời, thầy giơ tay phải định đánh tôi, tôi tự nhiên né mặt sang bên kia.
Nhưng, nhanh như chớp, bàn tay trái dày của thầy đã quạt mạnh vào mặt tôi, khiến tôi ngã lăn ra, trên mặt lập tức hằn năm vết ngón tay.
Tôi kêu lên một tiếng đau đớn! Rồi nén lại ngay, ngẩng đầu ưỡn ngực.
Cả lớp học sinh đều sững sờ, im lặng như tờ.

🌟

Vài ngày sau, lại là giờ Công dân. Thầy Tăng gọi tôi ra ngoài lớp.
Thầy nói với tôi:
"Hôm đó, sau khi đánh em, tối đó tôi nằm mơ thấy mình chạy trốn dưới sấm sét, sét đánh trúng người tôi, có tiếng nói rằng không được đánh đứa trẻ này. Nó là con của thần."
Thầy Tăng hỏi: "Em rốt cuộc là ai?"
Tôi đáp: "Em là Lư Thắng Ngạn!"
(Câu châm ngôn của tôi là: "Hãy sống thẳng lưng, sống cho thật đẹp và có ích!")


### 14. Xuyên thấu âm dương giới


Bạn cùng lớp thời tiểu học Lý Chân Chính.
Bạn học này có tính cách hướng nội, thuộc típ người xa lánh đám đông, theo thuật ngữ hiện đại gọi là "tự kỷ".
Mềm yếu.
Ít nói.
Không thích đông người, không tham gia hoạt động.
Lúc nào cũng trốn tránh.

Một ngày nọ, tôi thấy bạn ấy một mình, ở một góc lớp học, đang âm thầm nức nở.
Nước mắt chảy dài.
Vẻ mặt ủ rũ.
Khóc đến nỗi toàn thân run rẩy.

Tôi bước đến gần, định hỏi thăm bạn ấy:
"Bạn sao vậy?"
Từ trước đến nay, bạn ấy chỉ có mình tôi là bạn, vì cả hai chúng tôi đều là những kẻ yếu thế trong lớp.
Lý Chân Chính nói với tôi:
"Bà nội mất rồi! Mình buồn lắm!"

Tôi biết sơ về quá khứ của bạn ấy.
Bố mẹ ly hôn.
Bạn ấy được gửi đến ở với bà nội, do bà nội chăm sóc, một bà một cháu, hai người nương tựa vào nhau mà sống.
Bà không phải là người giàu có, bà nhặt ve chai, kiếm được không nhiều tiền.
Bà rất thương người cháu này, tất cả số tiền kiếm được đều dùng để nuôi Lý Chân Chính ăn học.

Một buổi tối nọ.
Bà nội mua một tô mì hoành thánh, dù bà đang rất đói, nhưng nhìn thấy Chân Chính gầy gò nhỏ bé, bà đã nhường hết tô mì cho cậu, còn mình chỉ uống nước.
Lý Chân Chính để lại một viên hoành thánh, đưa cho bà.
Hai bà cháu ôm nhau khóc.
Nhà của Lý Chân Chính là một công trình xây dựng trái phép, chỉ có một ngọn đèn, Lý Chân Chính đang làm bài.
Tôi cũng đến nhà bạn ấy làm bài.
Bà nội hỏi:
"Nhà Lư Thắng Ngạn không có đèn sao?"
Lý Chân Chính đáp:
"Bạn ấy ở ký túc xá công ty điện lực, có đến bảy ngọn đèn cơ!"
Bà nội chỉ "ồ" một tiếng, không nói gì thêm!

Giờ đây, người bà thân thương của cậu ấy đã qua đời, cậu không biết phải sống tiếp thế nào nữa?
Lý Chân Chính nói:
"Mình muốn biết bà đã đi đâu?"
Tôi nói:
"Để mình cùng bạn cầu nguyện nhé?"
"Liệu có hiệu quả không?"
Tôi nói:
"Miễn là bạn thành tâm cầu nguyện thì nhất định sẽ có hiệu quả."
Tôi nắm tay cậu ấy, cùng nhau cầu nguyện.
Lý Chân Chính bỗng nhiên nhìn thấy bà của mình, mặc áo mới, cưỡi mây, nhẹ nhàng bay lượn, dáng vẻ vô cùng uyển chuyển, gương mặt rạng ngời hào quang.

Bà nói:
"Người bạn Lư Thắng Ngạn của cháu không phải người thường đâu, nó có lai lịch lớn lắm, cháu hãy học theo nó."
Nói xong, bà liền biến mất.
Lý Chân Chính nhìn thấy bà thăng thiên, cũng yên tâm rồi. Sau đó, Lý Chân Chính chuyển trường.
Không biết đã đi đâu?
Việc Lý Chân Chính nhìn thấy được cũng là điều quý hiếm, liệu cậu ấy cũng có lai lịch gì chăng?
Tôi lĩnh ngộ được một câu:
"Chuyên tâm nhất niệm là vô cùng quan trọng!"


### 15. Cuộc đời đi học


Thời kỳ học sinh trong cuộc đời tôi được liệt kê như sau:
Tiểu học - Trường Tiểu học Đại Đồng (Cao Hùng).
Trung học cơ sở - Trường THCS Số 2 Thành phố Cao Hùng (Cao Hùng).
(Do học lớp 6 bị lưu ban hai lần, nên bị chuyển sang lớp dạy nghề.)
Trung học cơ sở - Trường THCS Số 3 Thành phố Cao Hùng (lớp dạy nghề).
(Tôi tốt nghiệp lớp dạy nghề với thành tích tốt.)
Trung học phổ thông - Trường Công nghiệp Cao Hùng (ngành đúc).
(Đứng đầu lớp)
Đại học - Trường Trắc Lượng (ngành Đo đạc). (Đài Trung)
(Kỹ sư)

🌟

Đó là quá trình học tập trong cuộc đời tôi. Khi học tiểu học và trung học cơ sở (năm thứ nhất), thành tích học tập của tôi không tốt do không thích học.
Vì vậy, tôi đã phải học lại lớp 6 hai lần.
Tôi được chuyển đến lớp dạy nghề dành cho học sinh lưu ban, khi đó được đặt tại Trường THCS Số 3 Thành phố Cao Hùng.
Do là lớp tập trung các học sinh lưu ban, tôi được xem là một trong những học sinh khá hơn, và vì thế thành tích học tập đã trở nên xuất sắc.
Khi lên Trường Công nghiệp Cao Hùng, tôi thể hiện còn tốt hơn nữa, được giáo viên chủ nhiệm đánh giá là "đạo đức và học tập đều xuất sắc".
Đứng đầu lớp.
(Được miễn học phí.)
Nhận được học bổng dành cho học sinh nghèo của Công ty Xi măng Gia Tân. Tổng cộng sáu lần.

Khi học đại học, tôi học trường quân đội, cụ thể là khoa Đo đạc của trường quân sự.
(Tại sao lại học trường quân đội? Vì học phí đại học thông thường rất cao, dù có thi đỗ cũng không có tiền theo học. Chỉ có học trường quân đội là được miễn toàn bộ học phí.)
Về sau, trường Đo đạc sáp nhập thành Học viện Kỹ thuật Trung Chính, sau đổi tên thành Đại học Quốc phòng.
Tôi tốt nghiệp khóa 32 của trường Trắc Lượng.
Tôi tốt nghiệp khóa 28 của Học viện Kỹ thuật Trung Chính.

🌟

Sau khi tốt nghiệp Đại học Quân sự, tôi phục vụ trong ngành đo đạc và bản đồ trong mười năm.
Khi giải ngũ, tôi 34 tuổi với cấp bậc thiếu tá.

Trong thời đi học, giáo viên thường cho chúng tôi đề văn là:
"Ước mơ của em."
Mỗi lần như vậy, trong bài văn của tôi, ước mơ của tôi luôn là muốn trở thành giáo viên.
Giáo viên!
Giáo viên!
Giáo viên!

🌟

Thời trẻ, tôi có khát vọng mãnh liệt muốn trở thành giáo viên, bởi trong thời học sinh, người vĩ đại nhất mà tôi từng thấy chính là thầy cô giáo.
Ý niệm đã quyết, thì cứ thế mà thực hiện.
Điều này cần ý chí và lòng can đảm.
Tôi không thể yếu đuối!
Tôi phải mạnh mẽ lên!
Tôi không ngừng tự nhủ với bản thân, phải khỏe mạnh, phải vững vàng, phải có một tâm hồn mạnh mẽ.
Là một người thầy, tôi không thể rơi vào rừng dục vọng, điều đó không xứng với tư cách một người thầy.
Tôi phải có sự tu dưỡng thực chất mới có thể cảm hóa được học trò.
Tôi muốn khởi lòng từ bi với tất cả chúng sinh hữu tình.
Tôi muốn nở hoa kết trái.
Tôi muốn tìm kiếm vị Guru (thầy) của mình, học hỏi từ thầy, và cuối cùng cũng trở thành một vị Guru (thầy).
Tìm kiếm vị Thượng sư của tôi.
Tôi muốn trở thành một vị Thượng sư thực sự có năng lực.
Tôi muốn dùng thiền định để thấy được ánh sáng trong tâm mình.
Thắp lên ngọn đèn tâm.
Để ngọn đèn tâm được truyền tiếp mãi mãi!


### 16. Bàn tay kỳ diệu


Thời học sinh của chúng tôi, có một thời gian, mọi người thịnh hành nuôi tằm, đó là những con sâu màu trắng, ăn lá dâu.
Nuôi từ tằm nhỏ thành tằm lớn.
Tằm lớn nhả tơ.
Kết thành kén tằm to bằng hạt lạc.
Màu trắng, long lanh trong suốt.
Hầu như học sinh nào cũng nuôi tằm.
Con tằm lớn nhất, khoảng bằng ngón út.
Con tằm nhỏ nhất, bằng con kiến.
Bên trong kén tằm là:
Con nhộng.
Nghe nói con nhộng sẽ biến thành bướm, nhưng tôi chưa từng thấy.
Tôi cũng tự nuôi tằm, dùng hộp giấy nhỏ để đựng, hộp giấy nhỏ có kích thước như hộp cơm ngày nay.
Mua lá dâu về, rửa sạch lau khô, trải ở đáy hộp cơm cho tằm ăn.
Nhìn tằm con ăn lá dâu, thật thú vị!

🌟

Lúc đó, tôi chú ý một điều:
Chỉ cần tôi đưa tay lên phía trên hộp cơm đựng tằm, những con tằm đang ăn lá dâu liền đứng yên bất động.
Tôi rút tay lại.
Tằm lại tiếp tục ăn lá dâu một cách ngon lành.
Tôi không tin.
Tôi lại đưa tay lên lần nữa.
Lần này cũng giống vậy, tằm lại như vào trạng thái thiền định, không hề cử động.
Tôi cảm thấy rất kinh ngạc!

Tôi đến trường.
Các bạn cùng lớp đều mang hộp tằm của mình ra, mọi người cùng xem.
Khi tôi đưa tay lên phía trên hộp tằm, tằm liền đứng yên bất động, hoàn toàn không cử động.
Điều này xảy ra với hộp tằm của bất kì bạn nào.
Các bạn đều cảm thấy rất kỳ lạ, không thể tin được!
Nhưng khi các bạn khác bắt chước tôi, đưa tay lên trên hộp tằm, những con tằm vẫn cứ nhúc nhích như bình thường.
Nghĩa là:
Tôi vừa đưa tay lên, tằm liền đứng yên!
Các bạn đưa tay lên, tằm không có phản ứng gì, vẫn cứ động đậy. Chuyện này là sao?
Mọi người đều cảm thấy khó hiểu.

🌟

Tôi nhớ lại một câu chuyện đã được nghe:
Có một người tu hành ở dãy Himalaya, công lực của vị này rất cao thâm, râu trắng dài, khuôn mặt từ bi trang nghiêm, thường du hành khắp nơi, không có chỗ ở cố định.
Ngài sống trong hang đá.
Ăn trái cây trên núi, uống nước suối trên núi.
Mặc áo vải rách.
Đi lại giữa các hang động.
Ngài thường gặp hổ, gấu, báo, voi... và các loài thú khác.
Ngài vẫn điềm nhiên, và khi gặp ngài, những con hổ cũng đứng yên bất động.
Khi ngài đi.
Hổ liền quay đi.
Rắn gặp ngài cũng quay đầu bò đi.
Vị tu sĩ này có thể biến những con hổ dữ thành mèo hiền.
Có người từng thấy ở cửa hang của vị tu sĩ này có hai con hổ canh giữ cho ngài.
Tôi lĩnh ngộ:
"Linh quang ẩn hiện, vạn vật trong thiên hạ đều bình đẳng."


### 17. Cú đánh home run


Hồi nhỏ, tôi rất thích chơi bóng chày.
Từ bé tôi đã có thị lực rất tốt, chưa từng đeo kính, đến tận bảy mươi tư tuổi vẫn không cần đeo kính.
Nhờ có thị lực tốt.
Tôi đánh bóng chày rất chuẩn xác, vung gậy một cái là thường:
Home run.
Safe hit.
Tệ lắm thì cũng là Ground ball.
Thỉnh thoảng cũng đánh ra Foul ball.
Hiếm khi nào pitcher ném bóng mà tôi vung gậy lại không đánh trúng.
Chuyện "three strikes out" không bao giờ xảy ra với tôi.
Vì có sức đánh mạnh.
Khả năng bắt bóng cũng khá tốt.
Vì thế, tôi rất say mê bóng chày.

🌟

Có một lần, tôi chơi bóng chày.
Các bạn trong lớp chia thành hai đội, một đội đội mũ trắng gọi là đội trắng, một đội đội mũ xanh gọi là đội xanh.
Tôi ở đội trắng.
Một người bạn thân của tôi ở đội xanh, cậu ấy tên là Trương Khang Chi.
Tôi và Trương Khang Chi thường hay ở cùng nhau, tính cách và tình bạn đều rất hòa hợp.
Trương Khang Chi là một tài năng ở vị trí bắt bóng.
Đến lượt tôi đánh bóng, quả đầu tiên, tôi đánh lệch, là một quả foul ball.
Quả thứ hai là bad ball, tôi không đánh.
Quả thứ ba, tôi vung gậy thật mạnh, đánh trúng ngay giữa, bóng bay qua đầu người chơi ngoài sân.
Bay vào khu khán giả.
Một cú home run hoàn hảo.

Tôi ném gậy bóng chày ra sau, chuẩn bị chạy qua các chốt một, hai, ba và cuối cùng về đích.
Đang lúc tôi phấn khởi và đồng đội đang reo hò cổ vũ, thì Trương Khang Chi ở vị trí bắt bóng bỗng nổi giận.
Tôi quay đầu nhìn lại.
Chết rồi!
Người bạn thân của tôi, trên trán đã sưng một cục to, một tay Trương Khang Chi đang ôm chỗ sưng, tay kia thì đuổi theo tôi để đánh.
Tôi chạy phía trước.
Cậu ấy đuổi theo phía sau.
Cậu ấy đã bị gậy bóng chày đập trúng.
Vừa khóc vừa la thảm thiết, vừa đuổi theo tôi để đánh.

Tôi vừa chạy vừa la:
"Trương Khang Chi, xin lỗi!" "Trương Khang Chi, xin lỗi!" "Trương Khang Chi, xin lỗi!"
"Tôi không cố ý đâu!"
Trương Khang Chi đang nổi trận lôi đình:
"Đau chết tôi rồi! Lư Thắng Ngạn chết tiệt, đau chết tôi rồi! Tôi phải đánh cho cậu một trận!"
Người bắt bóng Trương Khang Chi được đưa đến phòng y tế để cầm máu, bôi thuốc và dán băng keo.
Tôi lo lắng đến thăm cậu ấy.
Mắt cậu ấy vẫn còn hằn học, nhưng cơn giận đã nguôi bớt.
Tôi hỏi:
"Bác sĩ nói bao lâu thì khỏi? Xin lỗi nhé!"
Trương Khang Chi nói:
"Một tuần."

Tôi bỗng nói: "Cục sưng của cậu, ngày mai sẽ khỏi!" - Tôi đưa tay sờ lên miếng băng keo.
Trương Khang Chi tức giận nói: "Ma mới tin!"
Nhưng kết quả thật kỳ diệu, cục u đỏ to của Trương Khang Chi đã biến mất hoàn toàn chỉ sau một đêm. Thật không thể tin được!
Trương Khang Chi nói: "Lư Thắng Ngạn nói một ngày là một ngày, lạ thật!"


### 18. Một đời sáng tác


Có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Thầy bắt đầu viết từ khi nào?"
Tôi đáp:
"Từ tiểu học."
Người ta hỏi:
"Thật vậy sao?"
Tôi đáp:
"Thật."

Thời tiểu học, trường có hai loại ấn phẩm cho học sinh đọc, tên của hai ấn phẩm đó là:
Một, Nhật báo Quốc ngữ.
Hai, Tạp chí Bạn Học.

Hai ấn phẩm này rất đặc biệt, Nhật báo Quốc ngữ có ký hiệu phát âm bên cạnh mỗi chữ.
Tạp chí Bạn Học có nghĩa là "người bạn của học sinh", nội dung các bài viết phù hợp với lứa tuổi của chúng tôi.
Tại sao tôi lại nhắc đến hai ấn phẩm này, vì chính hai ấn phẩm này đã khơi dậy động lực "viết lách" trong tôi.
Tôi thấy trên báo chí tạp chí có đăng dòng chữ "Mở cửa đón nhận, hoan nghênh cộng tác", lúc đó, như có tia chớp lóe lên, hai chữ "cộng tác" in sâu vào tâm trí tôi, đặc biệt là dòng chữ "nhuận bút hậu hĩnh, nhất định nhận bài" càng thu hút tôi hơn nữa.

Tôi đọc được trong mục truyện cười có:
Bố nói: "Có được một người vợ tốt, cuộc đời đã thành công được một nửa."
Tiểu Minh nói: "Vậy con lớn lên, con sẽ cưới hai người vợ."
Đọc xong, tôi cười ha hả.
Tôi nghĩ, cái này mình cũng viết được. Tôi động não, nghĩ ra vài mẩu "truyện cười" để gửi đăng.
Bài của tôi thật sự được đăng.
Thầy giáo dùng bút đỏ khoanh tròn truyện cười của tôi, dán lên bảng tin, các bạn đều nói:
"Lư Thắng Ngạn là nhà văn!"
Đặc biệt là các bạn nữ đều muốn làm quen với tôi.
Trong lòng tôi thầm sung sướng.
Từ đó, khao khát sáng tác và đăng bài của tôi ngày càng mạnh mẽ, và điều này đã trở thành cả cuộc đời sáng tác của tôi.

🌟

Khi học trung học cơ sở và trung học phổ thông, tôi đã gửi bài cho Báo Tin tức Đài Loan ở Cao Hùng, Báo Tân Sinh Đài Loan ở Đài Nam, và Báo Chiến sĩ Trẻ ở miền Bắc....
Thời trung học phổ thông:
Tôi là tổng biên tập tạp chí Thanh niên Hùng Công.
Tổng biên tập tạp chí Văn Túy Thanh niên Cao Hùng.
Các bài viết của tôi được đăng trên chuyên mục phụ " Vịnh Tây Tử" và chuyên mục nghệ thuật "Mưa Tây Bắc" của Báo Tin tức Đài Loan.

Khi tôi đến nhận nhuận bút.
Tổng biên tập Lâm Hải Cầu, tổng biên tập Tiểu Ngư và nhà văn chuyên mục Doãn Tuyết Mạn nhìn thấy tôi, ai cũng giật mình.
"Lư Thắng Ngạn, nhỏ thế này!"
Trong thời trung học phổ thông, tôi gửi bài cho các tờ báo tạp chí lớn nhỏ khắp tỉnh, và nhận được nhiều lời khen ngợi.

🌟

Khi vào khoa Đo đạc của trường Đại học, một cách tự nhiên tôi trở thành tổng biên tập Văn Nghệ Trắc Lượng".
Tại Đài Trung, tôi có một chuyên mục trên Báo Dân Thanh: "Thư ngắn gửi người đẹp".
Trên Báo Đài Loan ở Đài Trung, tôi có một chuyên mục: "Thế giới tâm linh".
Tôi đã xuất bản bốn cuốn sách đầu tiên:
Tập thơ khói mỏng.
Lời thì thầm trong vườn mộng.
Giấc mộng xanh đã tan.
Lá bay trong gió.

Lúc đó có một tạp chí tên là Tạp chí Gió Hoang, mỗi kỳ đều đăng bài viết hoặc thơ của tôi. (Tại trường Trắc Lượng, tôi đã giành được Giải thưởng Văn nghệ Voi Vàng, bằng khen nhiều vô số kể.)

Sau này khi tôi học Phật, cuốn "Mạn đàm linh cơ thần toán" vừa xuất bản đã gây chấn động khắp nơi.
Tôi nói:
"Không có việc nhỏ thì sao có việc lớn? Làm tốt từng việc nhỏ, chính là làm việc lớn!"


### 19. Thêm một chương về cắm trại


Hồi nhỏ, cả lớp chúng tôi đi cắm trại.
Tôi nhớ mình đã viết về chuyện này rồi, nhưng vì rất quan trọng nên xin kể lại một lần nữa.
Ba người ngủ chung một lều.
Chúng tôi có đốt lửa trại, chơi rất vui, rồi cũng mệt, vừa vào lều, hai người bạn của tôi đã ngủ say như chết.
Chỉ có tôi đang trong trạng thái nửa tỉnh nửa mơ.
Tôi thấy:
Tấm vải che lều bị kéo ra.
Một bà lão trông rất quái dị bước vào.
Nhe răng vàng ra.
Cúi người xuống.
Đối diện với hai người bạn của tôi, hít vào, miệng bà ta đặt gần mũi các bạn.
Hít... hít... hít...
Bà ta còn cười quái dị khe khẽ... khe khẽ... khe khẽ... với vẻ thích thú không thể kìm nén được.
Mẹ ơi!
Tôi sợ đến toàn thân tê liệt.
Nhìn thấy bà lão quái dị sắp hút hơi thở của tôi, tôi căng thẳng đến không biết phải làm sao.
Đột nhiên.
Có tiếng nói vọng vào từ bên ngoài lều:
"Đứa trẻ này không thể hút được, nó có thiên mệnh, ngươi không được hút khí nó."
Chính câu nói bất ngờ này đã ngăn bà lão quái dị hút hơi thở của tôi.
Bà lão kêu chí chí, nhe răng trợn mắt một hồi rồi tức giận bỏ đi.
Sau đó, hai người bạn cùng lều với tôi, không lâu sau đều qua đời.
Tôi (Lư Thắng Ngạn) là người duy nhất còn sống sót.

🌟

Lúc đó, tôi không biết "thiên mệnh" là gì?
Sau này mới hiểu ra:
Tôi không phải là một người phàm tục bình thường, tôi là người từ trên trời xuống, tôi đến đây với một sứ mệnh.
Giống như Chúa Jesus.
Sinh ra trong "máng cỏ".
Còn tôi!
Sinh ra trong "chuồng gà".
(Năm 1945, năm kết thúc Thế chiến II, để tránh bom đạn, tôi được sinh ra trong một trang trại gà.)
Jesus được thụ thai bởi Thánh Linh.

Còn tôi?
Bố mẹ tôi mới cưới được bảy tháng thì tôi đã chào đời.
Mẹ tôi nói:
"Thắng Ngạn là đứa trẻ sinh non."
Bố tôi không tin.
Ông cho rằng tôi không phải con của mình. Chuyện này gây ồn ào lớn, bà ngoại tôi tức đến chết.
Từ nhỏ tôi được gửi cho dì nuôi. (Nuôi đến khi dì tôi kết hôn mới thôi.)
Tôi được sinh ra như thế nào?
Chẳng lẽ cũng là do Thánh Linh thụ thai?

🌟

Tôi hiểu "thiên mệnh", tôi phải học những điều mà nhân loại chưa từng biết đến, rồi truyền dạy lại cho chúng sinh.
Tôi phải giải quyết những vấn đề không thể tưởng tượng được, và đem đến cho chúng sinh những câu trả lời vượt ngoài sức tưởng tượng.
Phải có được sức mạnh vĩ đại, để khi nhập thế có thể cứu độ nỗi khổ của chúng sinh.
Tôi phải làm những việc mà người thường không thể làm được.
Tôi phải giải mã sinh tử, làm chủ sinh tử. Rồi truyền phương pháp cho những đệ tử có duyên.
Jesus là giáo chủ của một tôn giáo.
Tôi là tông chủ của một tông phái.


### 20. Gặp cô Chiyo


Sau khi tốt nghiệp trường Trắc Lượng (bậc Đại học), tôi đã nhận được bằng kỹ sư.
Sau đó tôi được phân công đến đơn vị công tác.
Tôi thực sự rất may mắn.
Tôi đến doanh trại Vệ Võ ở Phụng Sơn để báo cáo có mặt, chuẩn bị nhận phân công, vị sĩ quan phụ trách phân công hỏi tôi: "Anh từ đâu đến?"
Tôi trả lời:
"Đài Trung."
Vị sĩ quan nói:
"Vậy thì về Đài Trung đi!"
(Đại đội Đo đạc 5802 ở cầu Nam Môn, Đài Trung.)
Tôi nói:
"Cảm ơn!"

Trời ơi! Đó là đơn vị lý tưởng nhất, tôi học đo đạc, được phân về đơn vị đo đạc Đài Trung, hơn nữa, nhà tôi cũng ở Đài Trung, bố tôi được điều đến hồ chứa Đức Cơ, thật không gì thích hợp hơn.
Tại sao lại là lý tưởng nhất?
Mọi người có biết không? Hơn 40 bạn cùng lớp tôi được phân về:
Có người đến Thủy quân Lục chiến.
Có người đến Không quân.
Có người đến Hải quân.
Có người đến Lục quân.
Có người đến Hậu cần Liên quân.
Tất cả đều là học một đằng làm một nẻo, còn tôi thì được học đâu dùng đó, quả thật là đủ may mắn rồi.

Tại Đại đội Đo đạc ở cầu Nam Môn, chỉ có ba người may mắn.
Phó Tư Khiêm.
Từ Diệu Đường.
Lư Thắng Ngạn.
(Đơn vị này cần phải có "quan hệ" mới vào được, vậy mà tôi cũng chen vào được, dù tôi chẳng có chút quan hệ nào cả.)

🌟

Tôi đã gặp được cô Chiyo! (Chiyo là phiên âm từ tiếng Nhật, gần giống với Thiên Đại.)
Đó là ngôi miếu nhỏ Ngọc Hoàng Cung gần nhà tôi.
Cô Chiyo.
Cô A Nha.
Cô A Liên.
Lý Thiên Tứ.
(Bốn vị trưởng bối này làm "cầu vong" tại Ngọc Hoàng Cung, thường gọi là hội âm dương.)
Tôi và mẹ đến xem.
Không ngờ điểm chuyển ngoặt của cuộc đời lại xảy ra tại Ngọc Hoàng Cung.

Cô Chiyo đột nhiên kêu lên:
"Có ai tên là Ca Tử, có ai tên là Ca Tử, Diêu Trì Kim Mẫu đang tìm người ấy, Diêu Trì Kim Mẫu đang tìm người ấy!"
Ôi! Ca Tử là tên gọi hồi nhỏ của tôi, trong tiếng Nhật nghĩa là Thắng.
Tôi bị đẩy ra.
Tôi ngơ ngác không hiểu gì!
Cô Chiyo nói với tôi:
"Diêu Trì Kim Mẫu đã tìm anh rất lâu rồi, rất lâu rồi, Người muốn anh xuất hiện để độ chúng sinh!"
Tôi hết sức kinh ngạc:
"Tôi chẳng biết làm gì cả."

Cô Chiyo nói:
"Chỉ cần anh quỳ xuống là sẽ biết tất cả!"
Tôi thực sự quỳ xuống.
Những việc xảy ra sau đó được viết trong cuốn sách "Mạn đàm linh cơ thần toán", rất chân thực.

Tôi từ Cơ Đốc giáo, bước sang Đạo, rồi bước sang Phật.
Đây chính là điểm ngoặt của cuộc đời tôi.
Cô Chiyo, cô A Nha, cô A Liên, Lý Thiên Tứ đều đến từ phân đường Thạch Bích ở Hoa Liên.
Cô Chiyo nói:
"Việc Ca Tử được phân về đơn vị ở Đài Trung là do Diêu Trì Kim Mẫu sắp đặt, thậm chí cả cuộc đời của cậu ấy đều do Diêu Trì Kim Mẫu sắp đặt."
Trời ơi! Tất cả đều là sự thật.


### 21. Cô Chiyo nói như vầy


Cô Chiyo nói:
"Lư Thắng Ngạn là cốt Phật!"
Mẹ rất lo lắng:
"Vậy con trai tôi có thể kết hôn không?" (Đây là vấn đề quan trọng nhất với mẹ.)
Cô Chiyo đáp:
"Được. Trước tiên cậu ấy sẽ độ chúng sinh với thân phận người phàm, sau này sẽ độ chúng sinh với thân phận xuất thế."
Cô Chiyo lại hỏi:
"Khi Lư Thắng Ngạn (Ca Tử) sinh ra có điềm báo gì không?"
Mẹ sững người, cứ trầm ngâm suy nghĩ mãi.

Cô Chiyo nói:
"Ví dụ như, khi Giáo chủ Phật giáo ra đời, Hoàng hậu Maya mộng thấy voi trắng sáu ngà vào thai. Khi Chúa Jesus - Giáo chủ Cơ Đốc giáo ra đời, có ngôi sao lớn tỏa sáng chiếu rọi Người, và nhiều điềm lạ khác."
Mẹ nói:
"Khi sinh Ca Tử, tôi còn quá trẻ, mới 18 tuổi, không nhớ những chuyện đó nữa. Nhưng có một điều kỳ lạ. Ca Tử sinh ra được bọc trong lớp màng trắng, phải dùng dầu lau rất lâu mới sạch."
Cô Chiyo hỏi:
"Còn chuyện kỳ lạ nào khác không?"
Mẹ nói:
"Ca Tử vừa sinh ra khóc suốt ngày, muốn dỗ nó nín, chỉ có cách bế ra ngoài, hướng về trời, về trăng, về sao, nó mới thôi khóc và nhoẻn cười."
Cô Chiyo nói:
"Đó cũng là một điềm báo, dù sao cũng là từ trời sinh xuống. Còn gì nữa không?"
Mẹ đáp:
"Lúc Ca Tử còn nhỏ rất khó nuôi, từng thấy một vị thần bảo hộ nó, vị thần đó chính là Thành Hoàng ở Gia Nghĩa."
Cô Chiyo hỏi:
"Sau đó thì sao?"
Mẹ đáp:
"Thờ cúng Thành Hoàng Gia Nghĩa, cho Ca Tử làm con nuôi của ngài."
Cô Chiyo trầm ngâm suy nghĩ.

🌟

Từ sau khi tôi được Diêu Trì Kim Mẫu mở thiên nhãn:
Lên trời xuống đất:
(Tận mắt thấy cõi tịnh thổ Ma Ha Song Liên Trì, tận mắt thấy Liên Hoa Đồng Tử. Lên các cõi trời gặp chư Thánh. Lại xuống địa phủ, du hành khắp linh giới.)
Tam Sơn Cửu Hầu truyền pháp:
Hằng đêm đến dạy pháp.
Kết ấn.
Học các loại bộ pháp.
Chú.
Ấn.
Khẩu quyết.

Cổ Phật dạy:
Ngũ minh: Nhân minh. Thanh minh. Y phương minh. Công xảo minh. Nội minh.
Thể rắn. Thể lỏng. Thể khí. Pháp lực. Năng lực. Linh lực. Sinh mệnh. Chư Phật. Bồ Tát. Kim Cang. Hộ Pháp. Không Hành. Chư Thiên. Nhân loại. Động vật. Thực vật. Khoáng vật. Địa ngục. Ngạ quỷ. Súc sinh. Tinh linh. Quỷ.
Vật chất.
Tâm linh.
Tám loại nguyên tố: Đất, nước, lửa, gió, ất thái, hành vi, tâm linh, cá thể.

Diêu Trì Kim Mẫu bảo tôi đi tìm Guru.
Tôi đã bái rất nhiều sư phụ:
Đạo.
Hiển.
Mật.
Tôi nương dựa trong Mật giáo:
Liễu Minh Hòa thượng, Sakya Chứng Không Thượng sư, Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16, Thubten Dhargye Thượng sư.
(Tôi học tập vạn pháp.)


### 22. Yoga bí mật của tôi (1)


Trong cuốn sách này, tôi sẽ công bố yoga bí mật mà tôi tu luyện.

1. Yoga Vô ngã.
A. Điều hòa hơi thở. (mảnh, chậm, dài)
B. Tỳ Lô thất chi tọa. (Chân có thể ngồi kiết già thì ngồi kiết già, không thể ngồi kiết già thì ngồi bán già, hoặc ngồi tùy ý, hai gót chân chạm vào Mật luân. Vẫn không được nữa thì ngồi tự do, thu cằm dưới, thân vươn thẳng.)
C. Nhớ kĩ, hít thở phải đến rốn, hoặc đến gót chân.
D. Khi hít vào, niệm câu thứ nhất - Thử. (niệm thầm)
E. Khi thở ra, niệm câu thứ hai - Ngã. (niệm thầm)
F. Khi hít vào, niệm câu thứ ba - Phi. (niệm thầm)
G. Khi thở ra, niệm câu thứ tư - Ngã. (niệm thầm)
H. Tuần hoàn lặp lại như vậy.
I. Thử, Ngã, Phi, Ngã….
Trọng điểm như sau:
Đây là huấn luyện Yoga chuyên nhất, thứ nhất là tập trung vào hít thở, thứ hai là tập trung niệm "cái ta này không phải ta". 
Cái gọi là "cái ta này không phải ta" này cũng chính là "vô ngã". 
Xét về quan niệm thì nhục thể này đang hô hấp, không phải là ta. 

Cách tu luyện này tốt nhất mỗi lần thiền định cần làm 7 phút, phân thành 3 đoạn, tổng cộng là 21 phút. 
Cũng tức là một tọa là 21 phút. 
Người bình thường một ngày ngồi một tọa, hai tọa. (cư sĩ tại gia)
Người tu hành, một ngày ngồi ba tọa, bốn tọa. 
Sư phụ nói: 
"Nhân năng thủ nhất, vạn sự tất." (lời của Lão Tử) [Con người có thể tập trung vào một thứ thì mọi việc đều làm được.]
Phật Đà nói: 
"Chuyên tâm nhất trí, vô sự bất biện." [Chuyên tâm nhất trí, không có việc gì là không làm được.]
Tôi nói: 
"Đây là luyện tập Yoga chuyên nhất."
(Chú thích: về mặt thời gian, 7 phút là một tiết, 3 lần 7 tức 21 là một tọa, nhưng có thể điều chỉnh tùy theo mỗi người, thời gian càng dài càng tốt. Linh tính tâm linh sẽ tăng trưởng.)

2. Yoga vô niệm

A. Điều hòa hơi thở.
B. Tỳ Lô thất chi tọa. 
C. Nhớ kĩ, hít thở phải đến rốn, hoặc đến gót chân.
D. Khi hít vào, niệm câu thứ nhất - Thử. (niệm thầm)
E. Khi thở ra, niệm câu thứ hai - Niệm. (niệm thầm)
F. Khi hít vào, niệm câu thứ ba - Phi. (niệm thầm)
G. Khi thở ra, niệm câu thứ tư - Niệm. (niệm thầm)
H. Tuần hoàn lặp lại như vậy.
I. Thử, Niệm, Phi, Niệm.….
Trọng điểm như sau:
Pháp tu luyện kiểu này đương nhiên cũng là pháp Yoga chuyên nhất, quan niệm của nó là: chuyên nhất.
"Ý niệm này không phải ý niệm" này chính là "vô niệm". 
Nhục thể không phải của ta.
Ý nghĩ cũng không phải của ta.
Nếu "vô ngã", "vô niệm" đạt đến chuyên nhất, thân tâm đều sẽ khỏe mạnh.
Sức mạnh tâm linh nâng cao.
Tâm bình khí hòa.
Sinh mệnh được chuyển hóa.
Nhờ có tác dụng của hít thở, và tác dụng của "vô ngã", "vô niệm" sẽ đạt đến sự khai phát của linh tính. 
Nhục thể thô ráp sẽ biến thành nhục thể vi tế.
Trên nguyên tắc, trước tiên tu luyện Yoga vô ngã cực kì thuần thục, sau đó tu luyện Yoga vô niệm đến khi thuần thục.
Tọa pháp giống như trên.
Thời gian giống như trên.
Đương nhiên càng lâu càng tốt.
(Tu luyện ở giai đoạn này đều là Yoga chuyên nhất, thành tựu chuyên nhất trước ắt có kỳ tích.)
Tôi nói: "Đây là bí mật, bí mật của tôi."


### 23. Yoga bí mật của tôi (2)


3. Yoga âm "Ah":

A. Điều hòa hơi thở.
B. Ngồi tư thế Tỳ Lô thất chi tọa.
C. Quán tưởng:
(Một vùng màu lam trong hư không, trong màu lam có hoa sen trắng, trong hoa sen có chữ Ah màu đỏ.)
D. Quán tưởng:
(Tề luân của hành giả, vị trí dưới rốn bốn lóng tay, có hoa sen màu trắng, trong hoa sen có chữ Ah màu đỏ.)
E. Miệng hô âm thanh "Ah", âm thanh này phải chấn động toàn thân hành giả, tổng cộng làm bảy lần.
F. Khi hô chữ "Ah", phải phối hợp hơi thở.
G. Vào lần hô chữ "Ah" thứ bảy, thở chữ "Ah" trong hoa sen ở Tề luân ra.
H. Quán tưởng:
(Âm "Ah" ở Tề luân bay vào trong hư không, hợp làm một với chữ "Ah" trong hoa sen trắng trong hư không.)
I. Lặp lại pháp này bảy lần gọi là một tọa pháp.
J. Nếu cảm thấy quá mãnh liệt, có thể tĩnh lại, cách một khoảng thời gian mới lại làm pháp.

Trọng điểm như sau:
Chữ "Ah" trong hư không là Bổn tôn.
Chữ "Ah" trong thân hành giả là linh mệnh của chính mình.
Lấy chữ "Ah" hợp với chữ "Ah".
Tức là chính mình và Bổn tôn hợp nhất, không hai không khác.
Đây chính là yoga âm thanh chữ "Ah".
Dựa vào pháp này nhập Tam ma địa.
(Thời gian nhập Tam ma địa có thể từ bảy phút đến 21 phút, hoặc lâu hơn.)
Chú ý:
Chữ "Om" là vũ trụ tối thượng. (Om)
Chữ "Ah" là hóa hiện Bổn tôn. (Ah)
Chữ "Hum" là chúng sinh. (Hum)
Đây là pháp yoga tương ứng chữ "Ah" ấn chữ "Ah".
Sau khi tu luyện thành thục pháp này có thể thành thánh thành hiền, bay đến Phật quốc tịnh thổ không khó.
Hai người hợp làm một lâu ngày.
Sẽ có được tướng của Bổn tôn, thể của Bổn tôn, dụng của Bổn tôn, pháp lực tương đồng với pháp lực của Bổn tôn. (Nhất vị du già)


### 24. Pháp nghĩa của pháp Yoga


Yoga của Mật giáo và Yoga bí mật có những điểm tương đồng.
Phần Yoga chuyên nhất:
Cửu tiết Phật phong và Yoga vô ngã, vô niệm có điểm giống và khác nhau.
Kim cang tụng và Yoga âm Ah có điểm giống và khác nhau.
Kim cang tụng và Yoga âm Ah, tôi xếp cả hai vào pháp tu luyện Ly hý Yoga và Nhất vị Yoga.
Bảo bình khí và Yoga ngưng thần có điểm giống và khác nhau.
Tôi xếp vào pháp tu luyện Vô tu và Nhất vị.

Ở đây tôi đề cập đến pháp nghĩa của Yoga như sau:
Yoga chính là trời người hợp nhất, chính là Tiểu ngã nhập vào Đại ngã, chính là tương ứng.
Yoga là hoạt động tâm linh bên trong.
Khí động.
Mạch động.
Minh điểm động.
Linh động.

Hoạt động bên trong là một sự giải phóng, có thể giải thoát nghiệp lực bên ngoài, nghiệp lực là sự trói buộc, và tu luyện là cởi bỏ sự trói buộc, như chim bồ câu thoát khỏi lồng.

Yoga có thể kích hoạt năng lượng của bạn, năng lượng này có thể đạt đến vô hạn.
Trong quá trình tu luyện, có năng lượng của thần, có năng lượng của chư thiên, có năng lượng của Bồ Tát, có năng lượng của Kim Cang, có năng lượng của Phật, cho đến năng lượng tối thượng (năng lượng vô hạn).

Yoga là phương pháp tu hành.
Nghiêm khắc.
Thanh tịnh.
Tự chế.
Ổn định.
Tâm linh.
(Hoàn toàn không liên quan đến vật chất.)
Tiền tài, sắc dục, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ. Không liên quan đến yoga.

Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Hành giả tu yoga cần tránh rơi vào cạm bẫy của tham, sân, si.
Dục vọng phải diệt tận.
Niềm vui của giác quan phải diệt tận.
Cảnh giới của yoga không phải ngôn ngữ và văn tự có thể diễn tả được, pháp nghĩa này cũng chỉ là bề mặt.
Yoga chính là tuyệt đối.
Yoga không phải là nhị nguyên luận.
Yoga chính là khai ngộ.
(Phải tin vào ý thức tối thượng của vũ trụ, phải tin vào Guru yoga của bạn, phải tin vào Căn bản Thượng sư của bạn.)

Bởi vì chỉ có như vậy, pháp yoga của bạn mới có thể tu luyện một cách kiên định, cho đến khi đạt được thành tựu rốt ráo.

Tại sao có người phát điên?
Bởi vì:
Đi vào đường tà.
Tương ứng với quỷ.
Ma chướng.
Trong tâm còn dục vọng.
Không thể xả bỏ lạc thú của giác quan.
Thái độ hành giả không cung kính.
Tình cảm không đúng đắn.
Những điều này..., đều có thể gây tổn hại cho hành giả.
Sức tự chế, sức chuyên chú và sức bền lâu là vô cùng quan trọng, quá trình tu luyện này thường là một hành trình dài.
Khai ngộ.
Tự tại.
Giải thoát.
Hợp nhất.
Hành giả có thể đạt được tất cả trong tu luyện, chứ không phải bằng suy tưởng.
Tôi nói:
"Đây là những lời vàng!"


### 25. Ấn tượng về Ma Ha Song Liên Trì (1)


Tôi đến từ Ma Ha Song Liên Trì.
Tương lai tôi cũng sẽ trở về Ma Ha Song Liên Trì.
Thế giới Chân Phật của Liên Hoa Đồng Tử nằm trong Ma Ha Song Liên Trì.
Bạn còn nhớ bài kệ này không?
*Liên Hoa Đồng Tử gặp Kim Tiên
Khắp cả hư không hoa rơi xuống
Vượt mây nghe tiếng trời vi diệu
Lời nào tả xiết lạc cõi thiên.*

Tịnh thổ của Liên Hoa Đồng Tử nằm trong Tây phương Cực Lạc tịnh thổ của Phật A Di Đà.
Thuộc cảnh giới Bát Công Đức Thủy.
Tịnh thổ này có nhiều tên gọi:
Chân Phật tịnh thổ.
Hoa Quang tịnh thổ.
Công Đức tịnh thổ.
Bát Thủy tịnh thổ.
Thanh Lương tịnh thổ.
Thủy Nguyệt tịnh thổ.
Hương Quang tịnh thổ.
Gọi chung là Ma Ha Song Liên Trì.

Vốn là hóa sinh từ hai con mắt của Phật Nhãn Phật Mẫu, cũng là tịnh thổ nơi Phật A Di Đà hóa sinh Liên Hoa Đồng Tử.
Liên Hoa Đồng Tử ở Ma Ha Song Liên Trì là vị đồng tử hóa sinh bất thoái chuyển.
Trừ phi Ngài muốn đến thế giới Ta Bà để độ chúng sinh, việc Ngài đến nhân gian du hóa đều mang theo thiên mệnh.
Ngài cần phải tu luyện tâm linh, thanh tịnh tất cả nghiệp lực của thân, khẩu, ý.
1. Cứu độ chúng sinh.
2. Cứu chuộc chúng sinh.
3. Từ bi với chúng sinh.

Sự giáng sinh của tôi ở nhân gian chính là để giúp đỡ chúng sinh nơi đây.
Chỉ dạy chúng sinh thoát khỏi cái kén nghiệp lực bao bọc tâm linh, dạy chúng sinh thuận theo pháp tắc vũ trụ, thoát ly nhục thân, bay đến Ma Ha Song Liên Trì hóa sinh. (Đây là thiên mệnh của Liên Hoa Đồng Tử Lư Thắng Ngạn.)

Cảnh giới nơi đây giống như thế giới Tây phương Cực Lạc của Phật A Di Đà.
Không có khổ đau, chỉ hưởng vui sướng.

Bảy lớp lan can.
Bảy lớp lưới báu.
Bảy lớp hàng cây.
Toàn bằng bốn loại báu vật.
Ao bảy báu.
Nước tám công đức.
Bốn bên thềm đường (vàng, bạc, lưu ly, pha lê).
Lầu gác (vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não).
Hoa sen to như bánh xe.
Màu xanh ánh xanh, màu vàng ánh vàng, màu đỏ ánh đỏ, màu trắng ánh trắng.
Hương thơm vi diệu thanh khiết.
Nhạc trời.
Mưa hoa mandala từ trời rơi xuống.
Bạch hạc, khổng tước, anh vũ, xá lợi, ca lăng tần già và chim cộng mạng cùng cất tiếng hót du dương.
Gió nhẹ thổi qua, các hàng cây báu và lưới báu phát ra âm thanh vi diệu như trăm nghìn loại nhạc.
Hào quang vô lượng.
Thọ mạng vô lượng.
Trong đó còn có vô số cảnh tượng tịnh thổ cực lạc khác, tôi sẽ lần lượt giải thích.

Tôi nói:
"Đây là những điều trong kinh điển. Tôi biết rằng, Liên Hoa Đồng Tử ở Ma Ha Song Liên Trì dùng Phật tính phi hành như một luồng ánh sáng, qua lại các cõi Phật, còn nhanh hơn cả sóng điện từ."


### 26. Ấn tượng về Ma Ha Song Liên Trì (2)


Khi đến Ma Ha Song Liên Trì, hành giả sẽ nhận ra rằng nhục thân con người thuở xưa chỉ là "thân thể nhân quả" thô thiển.
Đặc tính của nhục thân con người là:
Mang nghiệp lực nhân quả.
Sẽ già.
Sẽ bệnh.
Thô thiển không có gì đáng kể.
Còn đặc tính của thân thể ở Ma Ha Song Liên Trì là:
Thân ánh sáng.
Thân ánh sáng vô cùng tinh tế.
Không còn nghiệp lực nhân quả.
Không già.
Không bệnh.
Không sinh không tử.
Hành giả có thể hiển hiện hình tướng báo thân Phật.
Trang nghiêm và đẹp đẽ.
Như thiên y, váy xếp, và các báu vật trang nghiêm.

 🌟

Thân ánh sáng muốn đến các cõi Phật tịnh thổ khác.
Bay bằng thân ánh sáng.
Cưỡi hoa sen muôn màu.
Qua lại các cõi Phật tịnh thổ, nhanh hơn điện, nhanh hơn ánh sáng, nhanh hơn tia phóng xạ.
Không thể tưởng tượng nổi.
Không thể diễn tả được.
Chỉ trong một niệm là đến nơi.
Tôi tự biết rằng:
Ma Ha Song Liên Trì là thân ánh sáng.
Cõi của thiên nhân là thân ý.
Cõi của người là nhục thân.

Thân ánh sáng là cao nhất, thân ý là thứ hai (vẫn còn nhân quả luân hồi), còn nhục thân là thấp nhất, là nơi linh tính (Phật tính) bị giam cầm, khi nhục thân già nua hư hoại, linh tính mang theo nghiệp chướng nhân quả, tùy theo nghiệp trôi lăn vào trời, người, atula, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Trong sáu nẻo này luân hồi không được nghỉ ngơi.

 🌟

Cảnh tượng của Ma Ha Song Liên Trì là:
Được tạo thành từ vô số dao động của những sắc quang vi tế.
Sắc quang vô lượng.
Phạm vi của Ma Ha Song Liên Trì gấp hàng triệu lần thế giới loài người.
Ánh sáng của Ma Ha Song Liên Trì như cực quang.
Rất rực rỡ.
Rất dịu dàng.
Rất an tường.
Rất thanh tịnh.
Rất an lạc.

Ma Ha Song Liên Trì tất cả đều xinh đẹp thanh tịnh, các vị Liên Hoa Đồng Tử đủ màu sắc, ngăn nắp trật tự.
Liên Hoa Đồng Tử đồng tâm.
Liên Hoa Đồng Tử đồng đức.
Liên Hoa Đồng Tử đồng thiện.
Liên Hoa Đồng Tử đồng lạc.
(Tuyệt đối không có ý muốn tách rời.)
Cảnh giới này không có cỏ dại, vi khuẩn, côn trùng, rắn, thú dữ.
Bốn mùa như mùa xuân, không thể diễn tả.
Hoa trời bay trong không trung.
Hương thơm khiến thân ánh sáng hoan hỷ.
Mưa ánh sáng bảy màu.
Cảnh sắc biến hóa vô cùng.
Có lầu vàng, có lầu bạc.
Nước ao như cầu vồng.
Đế võng minh châu sáng ngời.
Lư Sư Tôn nói:
"Đây là thế giới Chân Phật tuyệt mỹ!"


### 27. Ấn tượng về Ma Ha Song Liên Trì (3)


Tôi xin nói với mọi người, Ma Ha Song Liên Trì thật không thể nghĩ bàn, vô cùng khó tưởng tượng và khó hiểu.

Ở thế giới con người:
Cá phải ở dưới nước.
Chim phải ở trên trời.
Động vật ở trên mặt đất.
Con người phải ở trên đất.
Côn trùng ở trong đất.

Nhưng tại Ma Ha Song Liên Trì:
Thân ánh sáng có thể tự do biến hóa.
Tất cả hình tướng đều có thể tự do biến hóa.

Tôi xin giải thích như sau:
Hoa cỏ kỳ lạ có thể ở giữa không trung.
Chim có thể ở dưới nước.
Thân ánh sáng có thể tự do đi lại trong đất, nước, lửa, gió.
Lầu vàng, lầu bạc có thể biến hóa, cũng có thể di chuyển biến hóa trong đất, nước, lửa, gió, thân ánh sáng muốn ở đâu thì ở đó.
Biến hóa vô tận.
Tùy theo tâm muốn.

Lấy một ví dụ, khi thân ánh sáng bỗng muốn ăn na, một cây na liền mọc lên, kết ra rất nhiều quả na, bạn có thể hái xuống ăn ngay.
Ngon tuyệt.
Thơm ngọt.
Khi thân ánh sáng không muốn ăn nữa, liền tùy ý hóa đi, kể cả trái cây cũng hóa đi.
Bởi vì tất cả đều là "linh chất".
Thân ánh sáng muốn ăn gì, liền hóa hiện ra thứ đó.
Biến hóa đến.
Biến hóa đi.
Ví dụ:
Tuổi thơ, thiếu niên, thanh niên, trung niên, tuổi già, đều có thể hoán đổi cho nhau.
Nam giới, nữ giới, có thể hoán đổi cho nhau.

Tuy nhiên, 
Hòa thuận.
Bình đẳng.
Các vị Liên Hoa Đồng Tử ở Ma Ha Song Liên Trì chỉ là hình tướng thường có trong sự biến hóa.
Thân ánh sáng hóa sinh từ hoa sen.
Thường uống nước công đức của trời đất, vị ngọt ngào, tươi mát như rượu tiên, nước ngọc.
Liên Hoa Đồng Tử là đồng tử hóa sinh, giao tiếp với nhau không chướng ngại.
Ở nơi đây:
Không có xung đột của thế gian.
Không có chiến tranh của thế gian.
Thân ánh sáng ở đây, tất cả đều là những người thiện và hành giả, tu hành mà đến được tịnh thổ.

Ví dụ về nơi ở:
Có thể ở trong nụ hoa.
Cũng có thể ở trong lầu vàng.
Có thể ở trong lầu bạc.
Thậm chí có thể ở tại các tịnh độ khác.
Cổ thành.
Hoàng cung.
Lầu gác bằng vàng bạc bảy báu.
Cung rồng.
Cung trời.
Tất cả những điều này đều do biến hóa mà thành.
Không cố định.
Không giới hạn.
Vạn sự vạn vật sinh ra từ ánh sáng, theo sự biến hóa mà đến, theo sự biến hóa mà đi. Đây là tịnh độ Báo thân của Phật A Di Đà.
Thân ánh sáng không phải do phụ nữ sinh ra, mà là Phật tính của chính mình, từ trong công phu tu tập, theo đường kinh mạch trung tâm, từ đỉnh đầu, bay ra như chim bồ câu.
Tôi nói: "Đây là Phật tính thoát ly khỏi nhục thân, trở về ngôi nhà cõi linh giới."


### 28. Ấn tượng về Ma Ha Song Liên Trì (4)


Cực lạc của Ma Ha Song Liên Trì đến từ đâu?
Tôi xin nói trước:
Thân ánh sáng chỉ là ánh sáng của Phật tính.
Không chịu ảnh hưởng của nóng lạnh.
Không có phân, nước tiểu.
Thân ánh sáng chính là ánh sáng của hoa sen nghìn cánh, hấp thu năng lực và ánh sáng tối thượng.
Là lượng tử sự sống tinh tế.
Chúng ta có thể nói, đó là hoa sen nghìn cánh, hóa hiện thành Liên Hoa Đồng Tử, là thế giới Chân Phật. (Địa vị bất thoái chuyển.)

Trong thế giới này, không có năm tướng suy hoại của chư thiên:
1. Hoa trên đầu héo úa (mũ miện và tóc kết hoa khô héo).
2. Không còn thích chỗ ngồi của mình (chán ghét bảo tòa). 
3. Y phục cõi trời dơ bẩn (thiên y không còn thanh tịnh, sinh ra dơ bẩn).
4. Thân thể chư thiên hôi thối (thân thể chư thiên trở nên hôi).
5. Nách đổ mồ hôi (mồ hôi tiết ra).
Đây là hiện tượng luân hồi của cõi trời (dục giới, sắc giới, vô sắc giới).
Bởi vì linh thể của chư thiên vẫn là thể nhân quả.

Vậy hồn ma là gì?
Đó là thể linh thô thiển và dơ bẩn nhất, thể linh của Quỷ Bà chính là loại thể linh này, là thấp kém nhất.
Thân ánh sáng ở Ma Ha Song Liên Trì là vĩnh hằng, vì vậy là hạnh phúc nhất.
Không có ma chết. (Không sinh không tử)
Không có ma phiền não. (Không phiền não nào có thể sinh)
Không có ma bệnh. (Không sinh bệnh)
Không có thiên ma. (Thiên ma không thể đến)
Đó chính là cực lạc.

Tôi xin nói với mọi người.
Chư thiên cũng hạnh phúc, chúng ta có thể thấy được niềm vui trong trò chơi của chư thiên qua thiên nhãn của thân ánh sáng.
Vì vậy:
Niềm vui của con người.
Niềm vui của chư thiên.

Thân ánh sáng đều có thể thấy được, như thể thân ánh sáng đang xem một vở kịch, và việc xem kịch này chính là cực lạc.
Thân ánh sáng là trạng thái linh tính cao nhất.
Bề ngoài đẹp đẽ và tinh khiết, tuy không chú trọng hình tướng, nhưng khi gặp người thân hay bạn bè đến Ma Ha Liên Trì, cũng sẽ biến hóa thành xinh đẹp rạng ngời.
(Người thân và đệ tử tu hành thành tựu cũng đến được Ma Ha Song Liên Trì.)
Cũng có tiệc chào đón.
Các vị Liên Hoa Đồng Tử ở Ma Ha Song Liên Trì cũng có lễ hội, tập hội thân ánh sáng.
Tấu lên nhạc trời.
Loại nhạc trời này không thể nào diễn tả được.
Đây chính là cực lạc.
Đi.
Đứng.
Ngồi.
Nằm.
Ăn.
Mặc.
Tất cả đều là cực lạc.
Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, A La Hán, thân ánh sáng của bốn cõi thánh, cũng đến tịnh độ Ma Ha Song Liên Trì, đó thực sự là một cuộc hội tụ tối thượng.
Niềm hoan hỷ này thực sự là cực lạc.
(Các bậc thánh ở cõi người phải nhập Tam ma địa, tiến vào Tam ma địa mới thấy được Ma Ha Song Liên Trì, điều này cũng có, nhưng rất rất hiếm.)
Những cuộc hội tụ của các bậc thánh hiền này.
Ánh sáng chiếu rọi lẫn nhau. (tâm thông)
Thực sự là cực lạc.


### 29. Ấn tượng về Ma Ha Song Liên Trì (5)


Ở Ma Ha Song Liên Trì, thân ánh sáng rất dễ dàng nhận ra cha mẹ, anh chị em, bạn đời, bằng hữu từ kiếp trước....
Bởi vì có "tâm thông".
Ngoài ra,
Tình thân và tình yêu chính là tình bạn bất diệt.
Chúng ta rất dễ dàng gặp được Phật A Di Đà, bởi vì Ngài chính là Bổn tôn của Ma Ha Song Liên Trì.
Liên Hoa Đồng Tử chính là hóa thân của Bổn tôn.

Vì vậy có:
Ba mươi sáu vạn tỉ, mười một vạn, chín nghìn, năm trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật.
Bổn tôn có thể tùy ý biến hóa thân tướng, Liên Hoa Đồng Tử cũng vậy, các ngài có hình tượng tối thượng vô thượng, cũng có thể hiện ra đủ loại hình tướng, thậm chí vượt ngoài sức tưởng tượng.
Trực giác của thân ánh sáng có thể thấu suốt tất cả tịnh thổ.
Bởi vì các cõi tịnh thổ đều thông với nhau.

Ví dụ:
Thân ánh sáng có thể tinh vi quan sát cõi trần thế, cũng như quán sát các cõi trời.
Tuy nhiên, cõi người không thể biết được Ma Ha Song Liên Trì, trừ phi người đó có thể chứng nhập:
Hữu dư Tam ma địa.
Vô dư Tam ma địa.
Những bậc thánh này có thể quan sát được Ma Ha Song Liên Trì, hoặc đến Ma Ha Song Liên Trì như một vị khách hay lữ khách tạm thời.
Đợi khi bậc thánh từ bỏ nhục thân thô thiển, dùng thân ánh sáng để vào tịnh độ.
Ma Ha Song Liên Trì và cõi trời là khác nhau.
Ma Ha Song Liên Trì là thân không mê muội nhân quả, bất thoái chuyển.

Các cõi trời là thân nhân quả.
Cõi người là nhục thân luân hồi nhân quả.
Địa ngục.
Ngạ quỷ.
Súc sinh.
(Tất cả đều là thân ác quỷ.)
Thân trung ấm là linh hồn, là thân huyễn đang chờ đợi luân hồi nhân quả.
Cõi trời cũng giống vậy sẽ phiền não rối loạn, như cõi Dục giới thiên, họ cũng phạm sai lầm trong nhận thức và hành vi.
Cõi Sắc giới thiên có ít lỗi lầm hơn.
Cõi Vô sắc giới còn ít lỗi lầm hơn nữa.
Chỉ có từ cõi Vô sắc giới trở lên mới là thế giới vô tội nghiệp bất thoái chuyển.
Tịnh độ Ma Ha Song Liên Trì là tịnh thổ vô nghiệp.

🌟

Ma Ha Song Liên Trì hoàn toàn được tạo thành từ những hạt ánh sáng tinh vi, có thể tâm tâm tương thông, không cần văn tự.
Không cần ngôn ngữ.
Không cần hít thở.
Ở cõi người cần ăn, mặc, ở, đi lại; cần thể rắn, thể lỏng, thể khí.
Cõi người mới cần "năng lượng".

Còn năng lượng của Ma Ha Song Liên Trì đến từ ánh sáng tối thượng của vũ trụ (ánh sáng của Phật A Di Đà).
Nhưng để du hý.
Thể rắn.
Thể lỏng.
Thể khí.
Có thể chuyển hóa lẫn nhau.

Tu hành Mật giáo, trước tiên chuyển thể rắn thành thể lỏng, rồi chuyển thể lỏng thành thể khí, sau đó chuyển thể khí thành thần, chuyển thần thành ánh sáng, đó mới gọi là thành tựu.
Tôi nói: "Đây là bí quyết tu hành, tối quan trọng! Tối quan trọng!"


### 30. Ấn tượng về Ma Ha Song Liên Trì (6)


Tôi nói:
Thân ánh sáng ở Ma Ha Song Liên Trì, như tôi đã nói, chỉ dùng ánh sáng tối thượng làm thức ăn.
Thậm chí có thể không ăn không uống.
Nếu có hội tụ, có thể dùng những thứ hóa hiện như quả tiên, nước tiên, cam lộ, ngọc dịch... Tự nhiên xuất hiện, tự nhiên biến mất.
Năng lực của thân ánh sáng.
Hóa hiện vườn hoa ngát hương.
Hóa hiện cung điện cõi trời.
Hóa hiện trăm nghìn vạn triệu hoa sen đủ màu sắc.
Hóa hiện những nơi vui chơi.
Đại Liên Hoa Đồng Tử.
Trung Liên Hoa Đồng Tử.
Tiểu Liên Hoa Đồng Tử.
Thương yêu lẫn nhau, rạng rỡ phi thường, nơi đây không có sân hận, không có ganh ghét, không có đố kỵ.
Các bậc thiện nhân tụ hội một nơi.
Tịnh thổ thân ánh sáng ở Ma Ha Song Liên Trì, thọ mạng vô hạn, thân ánh sáng vô hạn.
(Chính là vô lượng quang, vô lượng thọ của Phật A Di Đà.)

Cõi trời thì khác!
Một nghìn tuổi.
Năm trăm tuổi.
Cao nhất là vài nghìn tuổi.
So với cõi người, tuổi thọ ở cõi trời dài hơn rất nhiều, dài gấp năm lần, mười lần, trăm lần, nhưng vẫn luôn có giới hạn. Chỉ có Ma Ha Song Liên Trì là vô hạn.
Thân ánh sáng thanh tịnh, không bị hoại diệt:
Không chết vì bệnh.
Không chết vì già.
Không chết đột ngột.
Không chết vì tai nạn.

Chỉ có một ngoại lệ:
Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử của Ma Ha Song Liên Trì, nhận sự ủy thác của chư Phật, quay ngược con thuyền từ bi, nhận được thiên mệnh, mới giáng sinh xuống cõi người, truyền dạy Mật pháp, rồi trở về Ma Ha Song Liên Trì.
Đây chính là:
Vô duyên đại từ.
Đồng thể đại bi.
Nhưng cũng giống như Phật có ba điều không thể:
1. Không thể độ người vô duyên.
2. Không thể độ ác quỷ. (không thể diệt định nghiệp)
3. Không thể độ hết thảy chúng sinh.

Tôi dạy chúng sinh:
Tiêu trừ dục vọng. (tham, sân, si.)
Tiêu trừ khoái lạc giác quan. (sắc thanh hương vị xúc)
Đây mới chính là điều kiện để trở về thế giới thân ánh sáng.

Tôi nói:
"Nói cụ thể, hai điều kiện này chính là yếu chỉ của việc tu hành!"
Tất nhiên, nhất định phải tu:
Pháp Tam ma địa. (chính định)
Khai ngộ. (chính tuệ)
Giải thoát. (thanh tịnh)
Bồ đề. (giải thoát chính trí)

Lúc này thân ánh sáng là:
Công đức thần thông.
Sức mạnh quang minh.
Vô úy.
Bổn tôn A Di Đà Phật hóa sinh ra Liên Hoa Đồng Tử, Ma Ha Song Liên Trì trang nghiêm thù thắng vi diệu, vượt trội mười phương. Có ao báu lớn, rộng lớn mênh mông, đáy ao cát vàng, trên ao có lầu vàng, lầu bạc, nghìn tầng vạn lớp, rộng lớn tuyệt đẹp, quang minh vô tận.
Tôi nói:
"Ma Ha Song Liên Trì, vĩ đại thay!"


### 31. Ấn tượng về Ma Ha Song Liên Trì (7)


Trong Thế giới Chân Phật:
Không có tam ác đạo, tức là địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.
Không có tham, sân, si.
Không có bát khổ.
Không có bát nạn.
Không có cửu não.
Không có thập triền.
Mà có:
Thiên y, thiên hương, thiên hoa, thiên hội, thiên nhạc.
Về thiên hội được đề cập ở đây:
Là những bức tranh cực kỳ tuyệt mỹ trong không gian, hiếm thấy ở nhân gian, khiến người không thể không thán phục.
Trang nghiêm phi thường.
Mỹ lệ phi thường.
Vi diệu phi thường.

Thiên nhạc được đề cập ở đây là:
Âm thanh hòa nhã.
Âm thanh trong trẻo.
Âm thanh vang vọng.
Âm thanh nhịp nhàng.
Tuôn ra vô lượng vô biên âm thanh vi diệu, âm thanh ấy tràn ngập khắp nơi.
Những âm thanh này phát ra từ bảy tầng hàng cây.
Phát ra từ chim anh vũ, khổng tước, cộng mạng, ca-lăng-tần-già.
(Những loài chim này do Phật A Di Đà hóa hiện, không phải là đạo súc sinh.)
Xem thiên họa, hiểu về hạnh thù thắng của ba thừa.
Nghe thiên âm, đạt giải thoát vô lượng.
Trong Thế giới Chân Phật chỉ có cực lạc.
Các loại thần thông, đều từ tâm niệm mà thành tựu.

Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử chính là chủ tôn của Ma Ha Song Liên Trì, là hóa thân của Bổn tôn A Di Đà Phật.
Công đức quang minh.
Uy thần tướng đẹp.
Trang nghiêm rực rỡ.
Giữa chân mày có hào quang trắng, công đức tăng thắng, như ánh mặt trời tỏa chiếu, không đâu không chiếu đến.
Trong ánh sáng.
Hóa Phật.
Hóa Bồ Tát.
Hóa A La Hán.
Mỗi vị đều phóng hào quang, chiếu đến trần gian, thu nhận chúng sinh.

Tịnh độ của Phật A Di Đà có bốn cõi:
Cao nhất là Thường Tịch Quang Thổ của Pháp thân Phật.
Bậc trên là Thực Báo Trang Nghiêm Thổ của Báo thân Phật.
Bậc trung là Phương Tiện Hữu Dư Thổ của Ứng thân Phật.
Bậc thấp là Phàm Thánh Đồng Cư Thổ - cõi Hoan Hỷ Địa.
Mà thân ánh sáng của Thế giới Chân Phật thì ở trong cõi Thường Tịch Quang và cõi Thực Báo Trang Nghiêm.
Thật là thù thắng vô cùng.

Vì vậy tôi nói:
"Pháp thân ở cõi trời bên ngoài cõi trời, còn hiện tại đang lưu luyến cõi trần."
Tôi dạy đại chúng:
Thân khẩu ý thanh tịnh.
Dùng thân ánh sáng trực tiếp vào Thế giới Chân Phật.
Viên mãn ba tâm.
Giữ giới.
Oai nghi.
Trực tâm.
Tiến lên trước.
Nương tựa Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử, trì tâm chú Liên Hoa Đồng Tử, quán Ma Ha Song Liên Trì, vô lượng trang nghiêm thù thắng vi diệu cảnh giới, hoặc quán tám vạn tướng đẹp công đức, thân quang minh thanh tịnh. (kim thân của Phật A Di Đà)
Một niệm, mười niệm, trăm nghìn vạn niệm.
Nhất tâm bất loạn, liền có thể đến tịnh độ của Phật A Di Đà và Liên Hoa Đồng Tử.
Tôi nói: "Tây phương Tam Thánh hiện toàn thân tiếp dẫn."


### 32. Chân Phật đại cảm ứng


Bài viết của Liên Hoa Quý Khiêm

Bác sĩ: "Trong tử cung của chị có một khối u 3,9cm, và 3 polyp có kích thước từ 1,1 đến 1,8cm. Với khối u lớn như vậy, nó sẽ không tự rụng ra được. Chúng ta cần phải phẫu thuật cắt bỏ, rồi đem đi xét nghiệm xem có tế bào ung thư hay không."

Nếu bạn là tôi, còn 1,5 tháng nữa mới đến ngày phẫu thuật, bạn sẽ làm gì?

🌟

Vào tháng 10 năm 2017, lần đầu tiên kinh nguyệt của tôi không đến đúng hẹn. Hai tuần sau, vào ngày 7 tháng 11, kinh nguyệt mới đến, nhưng lần này kéo dài liên tục 65 ngày không thể ngừng, trở thành rối loạn kinh nguyệt nghiêm trọng.

Ban đầu, tôi tưởng là kinh nguyệt tháng 10 và tháng 11 cùng đến một lúc, nhưng thời gian càng kéo dài, tôi càng cảm thấy có điều không ổn.

Vào ngày 16 tháng 12 năm 2017, tại Đại Pháp Hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang Hộ Quốc ở Kuala Lumpur, Malaysia, tôi đã đăng ký làm người chủ cầu cho việc siêu độ vong linh theo thân của mình. Khi xếp hàng chờ dâng khăn khata lên Sư Tôn, trong lòng tôi đắn đo không biết có nên mở lời thưa với Sư Tôn hay không, nhưng xung quanh Sư Tôn có nhiều người, hàng người xếp hàng cũng dài, và chuyện này nói ra cũng hơi khó mở lời...

Không sao, tôi thầm nguyện, Pháp thân của Sư Tôn hiện diện khắp mười phương pháp giới, chắc chắn Ngài sẽ nghe được, tôi tự an ủi mình như vậy.

Thế nên, trong lúc xếp hàng, tôi vừa nhìn Sư Tôn vừa lặp đi lặp lại lời cầu nguyện: Xin Sư Tôn gia trì cho kinh nguyệt của con ngừng lại và hoạt động bình thường trở lại.

Trong pháp hội, khi thần chú Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang vang lên, Sư Tôn đã dùng 5 phút để gia trì tiêu trừ nghiệp bệnh cho đại chúng. Tôi dùng tay xoa bụng dưới, vừa trì chú vừa quán tưởng Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang phóng quang gia trì cho bản thân.

🌟

Tôi lo lắng trong lòng, uống thuốc Đông y hai tuần mà kinh nguyệt vẫn không ngừng.

Ngày 7 tháng 1 năm 2018, tôi đến Bệnh viện Phụ sản KK Singapore khám bệnh, bác sĩ cho tôi uống thuốc nội tiết trong 3 tuần, cuối cùng cầm máu được.

Ngày 26 tháng 1, tôi lại đến bệnh viện siêu âm và soi, kỹ thuật viên X-quang với vẻ mặt nghiêm trọng nói rằng, trong nội mạc tử cung của tôi có u và polyp. Lòng tôi chùng xuống.
Ngày 27 tháng 1, kinh nguyệt của tôi lại bắt đầu ra.
Ngày 28 tháng 1, vừa đúng lúc hoàn thành đàn thứ 200 - đàn cuối cùng của tứ gia hành, hồi hướng cho vong linh theo thân.

Vào buổi chiều tối, tôi bị đau bụng kinh dữ dội... chưa từng có. Tôi co ro trong xe, không ngừng kêu đau, quán tưởng Sư Tôn phóng hào quang trắng gia trì vùng bụng dưới của tôi. Đột nhiên, cảm thấy từ phía dưới dần dần tống ra một khối lớn, đến nhà vệ sinh kiểm tra, ngạc nhiên phát hiện đó là một mảng mô máu lớn, dài đến 15cm, dày khoảng 1cm.

Ngày 29 tháng 1, tôi đến bệnh viện, bác sĩ phân tích kết quả siêu âm và soi, nói rằng trong tử cung của tôi có bốn khối u và polyp. Khối lớn nhất là 3,9cm, có lẽ đó là nguyên nhân khiến tôi chảy máu không ngừng, bác sĩ hỏi tôi khi nào muốn phẫu thuật. Tôi kể cho bác sĩ nghe về việc tống ra khối mô máu, bác sĩ nói đó là nội mạc tử cung, nhưng cũng nói với tôi rằng những khối u và polyp lớn như vậy không thể tự rụng ra được (vì chúng đã bám rễ bên trong).

Khi bác sĩ khám vùng kín của tôi, còn nói rằng ở cửa âm đạo dường như có một polyp kích thước 1,1cm, phù hợp với kết quả soi. Đúng lúc sắp đến Tết Âm lịch, lúc đó tôi chưa thể quyết định, trong lòng nghĩ nhất định phải viết thư cho Sư Tôn, trì tụng Cao Vương Kinh đủ 1000 biến rồi mới vào phòng mổ. Bác sĩ kê thêm cho tôi ba tuần thuốc nội tiết.

Về nhà, tôi bắt đầu trì tụng Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, và phát nguyện sám hối với Sư Tôn.

Ngày 5 tháng 2, dù tôi không dùng đợt thuốc nội tiết thứ hai, kinh nguyệt vẫn tự nhiên ngừng lại.

Tôi cũng đi hỏi ý kiến bác sĩ Đông y, bác sĩ Đông y cũng khuyến khích tôi phẫu thuật. Ông ấy nói không có thuốc nào có thể loại bỏ được u và polyp, để lâu trong người, e rằng sẽ bị viêm. Ông ấy khuyên sau khi phẫu thuật, hãy quay lại để dùng thuốc Đông y điều dưỡng cơ thể.

Ngày 5 tháng 3, kinh nguyệt lại đến, nhưng sau 7 ngày đã tự nhiên ngừng lại!

Tôi bắt đầu nghĩ, có phải vì đã tống ra phần nội mạc tử cung dư thừa nên u và polyp đã biến mất, khiến kinh nguyệt đã trở lại bình thường? Nhưng nhớ lại lời bác sĩ nói, khối u lớn như vậy không thể tự biến mất, và theo kinh nghiệm của bà ấy, may mắn lắm thì cũng chỉ dần dần nhỏ đi, chứ không thể đột nhiên "biến mất không dấu vết".

Nghĩ lại, với nhiều giới luật mà mình đã phạm phải trong quá khứ, lại không được xem là tinh tấn, làm sao phép màu có thể dễ dàng xảy đến với mình được?

Trong một tháng rưỡi chờ đợi phẫu thuật, tôi đã cố gắng hết sức tiêu trừ nghiệp chướng cho bản thân.

1. Thầy của tôi (cũng chính là vị thầy dẫn dắt tôi quy y Liên Sinh Hoạt Phật) đã đăng ký cho tôi làm người chủ cầu trong pháp hội Ái Nhiễm Minh Vương vào tháng 2.

2. Tôi đã ba lần làm livestream trên Facebook, giới thiệu bằng tiếng Anh các tuyển tập sách thiện của Sư Tôn, gồm "Tập Sống Từng Phút Giây", "Liễu Phàm Tứ Huấn", "Ngọc Lịch Bảo Sao", và... tự bỏ tiền túi mua khoảng 30 cuốn sách thiện, gửi cho những người bạn Facebook có quan tâm, không phân biệt quốc gia. Tôi chỉ có khoảng 396 người bạn, thuộc các chủng tộc ở Singapore, nhưng phần lớn không biết đến Sư Tôn.

3. Tụng Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh 1000 biến, hồi hướng mong không phải phẫu thuật, u và polyp sẽ biến mất, nếu bắt buộc phải phẫu thuật thì cầu nguyện bệnh nguyên được giải trừ, phẫu thuật thuận lợi, hồi phục nhanh chóng.

4. Viết thư sám hối với Sư Tôn và cầu xin gia trì. Trong thư hồi âm có hai lá phù "tiêu cơ u" và "tiêu bệnh phụ nữ". Tôi trì chú uống vào đêm trước khi phẫu thuật.

5. Thấy Chân Phật Bát Nhã Tạng đang tìm người đọc sách để thu âm tuyển tập văn của Sư Tôn, tôi đã kéo sư huynh nhà mình đi đăng ký. Sau khi được chọn, tôi mua thêm thiết bị mới để chuẩn bị thu âm, cũng tìm thầy giáo có kinh nghiệm để luyện đọc.

6. Đốt vài lần tiền giấy Chân Phật.

🌟

Người có thành tâm, Phật ắt cảm ứng! Cuối cùng, ngày phẫu thuật cũng đến...

Ngày 22 tháng 3 năm 2018, tôi nhập viện để phẫu thuật. Lúc đó trong lòng thấp thỏm bất an, chưa bao giờ tôi kết giới nhiều lần như vậy trong một ngày.
1. Trước khi ra khỏi nhà, cầu nguyện chư tôn nơi đàn thành, sau đó kết giới, rắc cát kim cang lên đỉnh đầu.
2. Trong phòng thay đồ, tụng "Om Ah Hum" cho áo phẫu thuật, quán tưởng hào quang trắng thanh tịnh, khoác áo giáp, thoa chút tro Hộ Ma vào bên trong áo.
3. Tụng "Om Ah Hum" cho giường bệnh, quán tưởng hào quang trắng thanh tịnh, làm thủ ấn kim cang tránh tà.
4. Khi bác sĩ đưa thuốc vào cơ thể, tụng "Om Ah Hum", quán tưởng hào quang trắng thanh tịnh hóa thuốc.
5. Tụng "Om Ah Hum" cho chăn và tất, mặc áo giáp.
6. Liên tục quán tưởng Sư Tôn trụ đỉnh.
7. Trì tụng tâm chú Hộ pháp, tâm chú Đại Lực Kim Cang và chú cấm quỷ.
8. Bốn tiếng sau, tôi được đẩy vào phòng phẫu thuật, phải đi qua một quãng đường dài, còn phải đi thang máy nữa. Trong lòng tôi thầm cầu nguyện với Sư Tôn, Bổn tôn và Hộ pháp: sau khi thuốc mê có tác dụng, xin tam căn bản gia trì bảo hộ. Nếu có bất trắc gì, xin tiếp dẫn. Vãng sinh Tịnh độ, siêu sinh thoát khổ, Nam Mô A Di Đà Phật, Nam Mô A Di Đà Phật, Nam Mô A Di Đà Phật.

Tôi cố nén nỗi sợ hãi trong lòng, tự nhủ không thể làm mất mặt đệ tử Chân Phật, dù thế nào cũng phải trang nghiêm đối mặt với ca phẫu thuật và những biến chứng có thể xảy ra.

Khi phẫu thuật, không được đeo bùa hộ mệnh, lúc vào phòng mổ, quang cảnh thật giống như trong phim truyền hình, tôi chợt cảm thấy vô cùng cô đơn, nhớ đến lời Sư Tôn dạy, con người thật sự chẳng có gì cả. Khi bác sĩ gây mê đặt mặt nạ thở lên mũi tôi, tôi lại một lần nữa cầu xin Sư Tôn, xin giao phó toàn bộ thân tâm cho Ngài làm chủ.

Sau khi tỉnh dậy sau ca phẫu thuật, bác sĩ điều trị không đến thăm tôi. Một mình trong phòng bệnh vào đêm khuya, tôi suy nghĩ rất nhiều, mơ màng xem lời khai thị của Sư Tôn, trong lòng vô cùng biết ơn Ngài đã dạy chúng con rất nhiều pháp môn để tự bảo vệ mình, tiêu nghiệp tăng phúc, từ phàm vào thánh.

Tôi tự biết nghiệp chướng không nhẹ, tuy rất muốn được như một số sư huynh sư tỷ khác - khối u tự biến mất không cần phẫu thuật, ung thư tự khỏi không cần thuốc... nhưng con người phải biết tự lượng sức mình, tôi không nghi ngờ pháp lực của Sư Tôn, chỉ trách bản thân mình không cố gắng.

Sáng hôm sau, một bác sĩ trẻ vào nói với tôi: "Bác sĩ phẫu thuật nói trong tử cung chị không có u hay polyp nào cả." Ông ấy còn đưa cho tôi một tấm ảnh chụp bên trong tử cung, chứng minh bên trong hoàn toàn sạch sẽ. Sau đó, một bác sĩ khác cũng vào nói điều tương tự.

Vài giờ sau, bác sĩ điều trị vào phòng bệnh: "Tin tốt đây! Trong tử cung chị không có u hay polyp nào cả! Chúng tôi đã kiểm tra đi kiểm tra lại nhưng không tìm thấy gì. Niêm mạc tử cung hơi dày nên tôi đã nạo một chút để xét nghiệm. Nhưng theo tôi thấy, bên trong không có dấu hiệu của tế bào ung thư hay khả năng ung thư hóa. Có thể những khối u và polyp đó đã theo kinh nguyệt ra ngoài rồi."

Nghe bác sĩ nói vậy, tôi không biết nên khóc hay cười. Không phải họ đã nói khối u to như vậy không thể tự rụng ra sao? Giờ thì ngay cả một polyp nhỏ bằng hạt gạo cũng không tìm thấy, chẳng phải tôi phẫu thuật vô ích sao! Trời ơi! Thật là tiêu nghiệp chướng!

Tôi đã bị kinh nguyệt 65 ngày mà cũng không thấy những thứ đó rớt ra, thuốc hormone cũng không có khả năng loại bỏ u và polyp, nếu không phải là pháp lực siêu phàm của Sư Tôn thì còn là gì nữa?

🌟

Năm 2006, tôi đã quy y với Sư Tôn dưới sự dẫn dắt của sư phụ tôi. Lúc đó, tôi chỉ mới đọc quyển "Sống Từng Phút Giây Rực Rỡ" nên chưa hiểu nhiều về Sư Tôn, trước đó cũng chưa từng nghe danh hiệu của Ngài. Có một người phụ nữ tặng tôi một quyển sách, khi về nhà đọc mới biết đó là một quyển sách viết toàn những điều xấu về Sư Tôn, nào là lừa đảo tiền bạc, ham mê sắc dục, rồi còn làm trò thần thông. Tôi hoảng hốt trong lòng, không lẽ mình đã quy y với một vị thầy giả mạo!

Nhưng sư phụ tôi là người rất chính trực, lại có huệ nhãn, làm sao có thể ngốc nghếch tin nhầm thầy được! Vì vậy, tôi đeo kính của Sherlock Holmes vào, đọc lại quyển sách một lần nữa và phát hiện ra logic của tác giả có rất nhiều điểm thiếu sót, những gì được viết đều không có bằng chứng xác thực, chỉ dựa vào cảm nhận và sự bất mãn của bản thân, cùng những suy đoán của người khác mà viết bừa một mớ.

Thật đáng ghét! Xúc phạm trí tuệ của tôi và còn phỉ báng Sư Tôn của tôi! Tôi đã chọn một ngày trực Trừ, dùng lửa đốt sạch cuốn sách tà đạo đầy chuyện thị phi đó.

Sau khi chồng tôi quy y cùng năm đó, trong một giấc mơ, vấn đề cong vẹo cột sống của anh ấy đột nhiên được cải thiện rất nhiều. Lời chứng của anh ấy được ghi lại trong bài "Cột sống bị cong vẹo" trong tập 253 của Văn tập Liên Sinh Hoạt Phật có tựa đề "Mơ thấy Lư Sư Tôn".

Bà ngoại tôi qua đời vào mùa thu năm 2006. Trong suốt bốn mươi chín ngày của thất thất, tất cả người nhà đều lần lượt mơ thấy bà, chỉ riêng tôi là không. Tôi thấy băn khoăn trong lòng, lúc đó đang ở New York, quyết định không làm pháp đạn kim cang tránh ma mà cứ thế đi ngủ.

Tối hôm đó, tôi liền mơ thấy bà ngoại, giấc mơ vô cùng rõ ràng. Bà ngoại gọi tôi, bảo tôi quy y cho ông ngoại (đã mất hơn mười năm), tôi biết bà ngoại ý nói quy y với Liên Sinh Hoạt Phật. Bản thân bà ngoại trước khi lâm chung cũng đã quy y với Sư Tôn. Tôi gật đầu đồng ý, rồi tỉnh dậy.

Khi trở về Singapore, tôi đến trước bài vị tổ tiên và xin xăm hỏi ông ngoại xem có nên quy y với Liên Sinh Hoạt Phật không, thật sự nhận được một chuỗi xăm thượng cát! Tôi không khuyến khích mọi người bắt chước tôi ngủ mà không kết giới, người vào mộng bạn chưa chắc đã là bà ngoại của bạn, nhưng điều này cũng cho thấy pháp đạn kim cang tránh ma có truyền thừa lực mạnh mẽ đến nhường nào, danh tiếng của Sư Tôn ở âm giới vang dội biết bao, ngay cả ông ngoại tôi cũng biết đến!

Mẹ tôi là người không thích thần Phật. Giữa tôi và mẹ, đã từng có rất nhiều bất đồng quan điểm. Sau này, khi tôi tụng đủ 100.000 biến thần chú Thượng sư để hồi hướng, mẹ tôi vốn nóng tính bỗng đồng ý quy y với Sư Tôn!

Tôi đã từng nhầm tin vào Quỷ Bà, cúng rất nhiều tiền cho miếu thờ tà thần của bà ta. Sau khi tham dự pháp hội Tết năm 2014 của Sư Tôn, tôi đã dẫn mẹ và chồng tôi đến nơi ở của Quỷ Bà ở Đài Loan, tham dự pháp hội của bà ta hai tiếng đồng hồ, và còn tham gia các hoạt động của bà ta ở Singapore.

Khi quy y với Sư Tôn, tôi không cầu xin Ngài ban phúc lành gì cả. Lúc đó, tôi chỉ muốn học hỏi thế nào là Phật pháp chân chính, và làm sao để dẫn dắt bản thân cùng song thân đến bờ giác ngộ. Cho đến bây giờ tôi vẫn có chút không dám tin, những phép màu đọc được trong sách thực sự đã xảy ra với mình.

Tôi muốn nói rằng, trên con đường tu hành, chúng ta đều sẽ gặp nhiều thử thách, chỉ cần chúng ta làm theo những gì Sư Tôn dạy bảo, ắt sẽ hóa giải được hết thảy.

Trong đời tôi đã làm sai rất nhiều điều, nhưng sau 12 năm phong sương, tôi vẫn cảm thấy, quy y với Pháp Vương đương đại Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật, tin tưởng Ngài, tuyệt đối là quyết định đúng đắn nhất trong đời tôi. Cảm ơn Sư Tôn đã không bỏ rơi con!


### 33. Khối u biến mất rồi


Có một quý bà Elizabeth đến từ Indonesia.
Bà ấy có một khối u trong não. (Kết quả khám từ bệnh viện.)
Cơn đau hành hạ không dứt.
Bà ấy bay đến chùa Lôi Tạng ở Seattle để cầu xin tôi.
Khi đến Seattle, bà ấy nằm mơ:
Mơ thấy mình được đưa vào phòng mổ của bệnh viện, và được bác sĩ phẫu thuật (người mặc áo choàng trắng) tiến hành phẫu thuật.
Sau khi phẫu thuật xong, vị bác sĩ mặc áo choàng trắng tháo khẩu trang ra, không ngờ đó chính là Lư Sư Tôn.
Lư Sư Tôn nói:
"Bây giờ khối u ung thư của bà đã được lấy ra rồi, nhưng còn sót lại một chút, phần còn sót lại này bà phải tự mình loại bỏ."
Nói xong thì tỉnh giấc.

Sau đó.
Bà Elizabeth đến gặp tôi.
Tôi nói:
"Khối u của bà đã khỏi rồi, cơn đau đầu cũng hết rồi! Còn sót lại một chút, chỉ là phần thịt ngoài thôi, không có gì đáng ngại."
Bà ấy thật sự không còn đau đầu nữa!
Khi về Indonesia, bà đi bệnh viện kiểm tra.
Bác sĩ kinh ngạc:
"Khối u đã biến mất rồi!"

Bà ấy cảm kích Lư Sư Tôn, và tặng:
Một bức tranh Kim Cang Du Già Mẫu.
Một bức tranh Thắng Lạc Kim Cang.
Một bức tranh Diêu Trì Kim Mẫu.
Bà Elizabeth biết vẽ tranh thangka, nét vẽ của bà rất tinh tế, nhân vật sống động, những bức thangka của bà đẹp như chính con người bà vậy. Ba bức thangka này hiện được treo trong phòng Chân Phật Mật Uyển của tôi.

Câu chuyện khối u của bà Elizabeth biến mất đã được nhiều người biết đến và lan truyền rộng rãi.

🌟

Có một sư tỷ tên Liên Hoa Nhất Lệ.
Cô ấy là bệnh nhân ung thư vú.
Bác sĩ yêu cầu cắt bỏ, sau khi cắt bỏ, phải hóa trị vì đã vào giai đoạn ba.
Cô ấy đã đến Seattle tìm tôi.
Cô ấy mơ thấy người mẹ đã khuất, mẹ nói với cô:
"Nếu thành tâm niệm danh hiệu Liên Hoa Đồng Tử, nhất định sẽ được cứu."

Thế là:
Cô ấy nhất tâm kính lễ Liên Hoa Đồng Tử.
Tụng thần chú Liên Hoa Đồng Tử:
"Om guru liansheng siddhi hum."
Cô vừa khóc vừa tụng niệm.
Sau khi đến Seattle, cô ấy cũng nằm mơ:
Thấy Lư Sư Tôn đến bên giường, đi tới đi lui, cô thấy Lư Sư Tôn hóa thành ánh sáng trắng rực rỡ, luồng ánh sáng trắng ấy quay cuồng khắp căn phòng.

Luồng ánh sáng trắng đi vào cơ thể cô ấy, chạy khắp toàn thân, cô ấy cảm thấy chóng mặt, ánh sáng phồng lên trong cơ thể, dần dần, cô ấy mất đi ý thức.
Khi tỉnh dậy, cô ấy cảm thấy tinh thần sảng khoái, khỏe khoắn.
Cô ấy đến gặp tôi.
Tôi nói:
"Luồng ánh sáng trắng đã đi vào cơ thể cô!"
Cô ấy kinh ngạc:
"Lư Sư Tôn! Sao thầy biết được?"
Tôi nói:
"Bệnh của cô đã khỏi rồi!"
Liên Hoa Nhất Lệ trở về nước, đi kiểm tra, bác sĩ vô cùng ngạc nhiên, ung thư vú đã biến mất, di căn cũng không còn, chỉ số ung thư bình thường.

Tôi nói: 
"Thành kính là quan trọng nhất!"
"Những lời vàng chính là thần chú Thượng sư."


### 34. Đại sư bắt ma


Tôi được Diêu Trì Kim Mẫu khai thiên nhãn.
Tôi còn được Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh truyền pháp, được Cổ Phật truyền pháp, và được các bậc Guru ở nhân gian truyền mật pháp.
Khi mới xuất đạo, tôi nổi tiếng với tài bấm ngón tay hỏi việc.
Tôi cũng thường xuyên bắt ma, tiếng tăm vang dội.
Nhiều người gọi tôi là:
"Đại sư bắt ma."
"Tổ tiên của ma quỷ."

🌟

Tôi đã đọc trong Kinh Thánh:
Có một người bị bệnh tâm thần được đưa đến trước mặt Chúa Jesus.
Chúa Jesus nói với người bệnh tâm thần đó:
"Nhân danh Đấng Tối Cao, ta ra lệnh cho ngươi rời khỏi thân xác người này."
Con quỷ liền rời đi.
Quỷ nhập vào thân xác lợn.
Nhiều con lợn lồng lên phát điên.
Chúng nhảy xuống vách đá, chết hết.
Còn người bệnh tâm thần trở lại bình thường.

🌟

Phương pháp của tôi hơi khác với Jesus.
Khi tôi hợp nhất với Diêu Trì Kim Mẫu, tôi dùng tay vỗ vào lưng bệnh nhân.
Vỗ liên tục như thế.
"Bốp... bốp... bốp..." vang lên.
Ma quỷ không thể ở trong thân xác người được nữa.
Phát ra tiếng nôn từ miệng.
Ma quỷ chạy ra ngoài.
Bệnh nhân tâm thần liền khỏi.
Tôi đã từng nói như thế này:
"Ngày xưa, số bệnh nhân tâm thần (những người bị ma nhập) mà tôi đã chữa khỏi, dùng tàu hỏa chở cũng không hết."
Nhưng Diêu Trì Kim Mẫu đã nói với tôi:
"Những bệnh nhân tâm thần bị bệnh trên 6 năm, ngài đừng chữa, vì khó lành được."
(Tôi biết đây là do tế bào não đã chết và tổn thương quá nhiều.)
Ngài còn nói:
"Những người sinh vào tháng hai âm lịch và tháng mười một âm lịch, có người cũng khó chữa, ngài phải chú ý."
(Tại sao sinh tháng hai và tháng mười một lại khó chữa, nguyên nhân vẫn chưa rõ)

Phương pháp vỗ lưng khi tôi hợp nhất với Bổn tôn rất nổi tiếng.
Ngay cả bác sĩ ở bệnh viện tâm thần cũng nói:
"Bệnh nhân tâm thần chữa không khỏi, sao không thử tìm đến Lư Thắng Ngạn!"
Tôi đã từng chữa cho:
Một người đàn ông lực lưỡng bị còng tay xiềng chân, và cả một cô gái yểu điệu bỗng nhiên thay đổi tính tình.
Nổi tiếng nhất là chuyện tôi chữa khỏi cho phu nhân của "Đại Vương Sữa Đậu Nành" ở Đài Trung, tin tức lan truyền khắp tỉnh.

🌟

Gần đây, có một Quỷ Bà nuôi rất nhiều loại ác quỷ, những con ác quỷ này đi khắp nơi tìm "vật chủ".
Người mất ngủ.
Người ảo giác.
Người rối loạn tâm thần.
Người tự tử.
Ảnh hưởng rất lớn.
Vì vậy, người đến xin tịnh hóa, xin chữa trị đông như cá vượt sông, tôi dùng pháp hợp nhất với Diêu Trì Kim Mẫu để tịnh hóa từng người một.
Rất nhiều người đã khỏi!
Tôi cũng không cần liệt kê từng người.
Tôi nói:
"Đây là sức mạnh của sự tương ứng giữa tôi và Bổn tôn!"


### 35. Phân thân ở khắp nơi


Cuối cùng tôi đã hiểu được thế nào là hiện diện khắp nơi.
Và thế nào là phân thân.
Một hành giả, chỉ cần tương ứng với Bổn tôn ở cõi linh giới, sẽ có được năng lực của Bổn tôn.
Bổn tôn có thể phân thân.
Hành giả cũng có thể phân thân.
Hơn nữa,
Một hành giả hợp nhất với ý thức tối cao của vũ trụ, năng lực của ý thức tối cao vũ trụ là hiện diện khắp nơi.
Hành giả cũng hiện diện khắp nơi như vậy.

Ví dụ:
Ánh mặt trời chiếu khắp nơi.
Ánh trăng chiếu khắp nơi.
Không khí có mặt khắp mọi nơi.
Xuyên tường vượt vách, lên non xuống biển.
Đến từ nước, về với nước.
Đến từ lửa, về với lửa.
Mười pháp giới của tứ thánh lục phàm, có thể đi lại khắp nơi.
(Tứ thánh là Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, A La Hán. Lục phàm là trời, người, atula, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.)

Tuy nhiên,
Sự tương ứng cũng có cấp độ cao thấp khác nhau.
Tương ứng với Phật, có thể đi lại trong mười pháp giới.
Tương ứng với Bồ Tát thì thấp hơn một chút.
Tương ứng với A La Hán lại thấp hơn nữa.
Tương ứng với chư thiên chỉ có thể đi lại trong lục đạo.
Cứ thế mà suy ra....
Có người tương ứng với ma trung ấm, chỉ có thể đi lại giữa người và ma, đây là cấp độ thấp nhất.

🌟

Liên Hoa Ngọc Liễu từng nhìn thấy:
Vào ngày giờ nào đó, Lư Sư Tôn sẽ đi đến ngã tư đường Trung Hoa và đường Công Viên ở thành phố Đài Trung.
Liên Hoa Ngọc Liễu đưa cho con gái một gói đồ để chuyển cho Lư Sư Tôn.
Đây là một phép màu.
Ngày hôm đó, tôi tình cờ đang ở đường Công Viên, mua vài tấm vải, sau khi mua xong, đi đến ngã tư đường Công Viên và đường Trung Hoa.
Đúng vào giờ đó.
Con gái của Liên Hoa Ngọc Liễu đi xe máy đợi ở ngã tư.
Tôi hỏi:
"Sao cô lại ở đây?"
Cô ấy đáp:
"Mẹ con dặn, ngày giờ này, thầy nhất định sẽ xuất hiện."
Liên Hoa Ngọc Liễu đã nhìn thấy phân thân của tôi xuất hiện ở ngã tư không sai một giây.

🌟

Sư huynh Cao Minh Lộc.
Ông ấy nhìn thấy phân thân của tôi ở nhà mình.
Cao đến hai tầng lầu (chiều cao).
Mặc y phục Lama, ngay cả túi hương cũng rất rõ ràng.
Phân thân xuất hiện rất lâu, đến nửa tiếng đồng hồ.
Ngoài ra,
Ông ấy đến lễ bái trước tượng Liên Hoa Đồng Tử khổng lồ cao bằng người thật. Ông ấy nhìn thấy Lư Sư Tôn bước ra từ trong tượng Liên Hoa Đồng Tử.
Đó là những gì ông ấy nhìn thấy.
Điều này đã chứng minh sự việc phân thân.
Còn có nhiều câu chuyện về phân thân và hiện diện khắp nơi khác nữa.
Tôi là một vị Guru chân chính.
Tôi là một Avatar. Avatar được dịch là "người bán thần".
Tôi nói:
"Tương ứng. Trời người hợp nhất là khẩu quyết quan trọng hàng đầu!"


### 36. Vấn đề tối hậu của kiếp người


Sứ mệnh của cuộc đời tôi vốn là để độ hóa chúng sinh hữu duyên, điều tôi cần giải quyết là:
"Vấn đề tối hậu của kiếp người."
Và sau đó:
"Tự giác giác tha, giác hành viên mãn."
Các bậc thánh nhân vượt trên tam giới là:
1. A La Hán - bậc tự giác.
2. Duyên Giác - bậc nương duyên mà giác ngộ.
3. Bồ Tát - bậc tự giác giác tha.
4. Phật - bậc giác hành viên mãn.

Còn tôi, là người tự mình giác ngộ, và sứ mệnh của tôi là phải giúp người khác giác ngộ.

Phật giáo chia ra:
Tiểu thừa - tự mình giác ngộ.
Đại thừa - tự mình giác ngộ rồi dạy người khác giác ngộ.
Kim cương thừa - dùng Mật pháp đặc biệt, có thể nhanh chóng thành Phật, sau khi giác ngộ đạt đến cứu cánh.

Hôm nay, cuối cùng tôi đã hiểu được "vấn đề tối hậu của kiếp người", tôi có thể giải quyết các vấn đề của cuộc đời.

Ví dụ:
Điều gì sẽ xảy ra sau khi chết?
Có thật sự tồn tại cõi vô sắc, cõi sắc, cõi dục, cõi người, cõi atula, cõi địa ngục, cõi ngạ quỷ, cõi súc sinh không?
Sau khi chết, con người sẽ đi đâu?
Có linh hồn không? Linh hồn là gì?
Linh hồn có nhận ra được nhau không?
Có thể gặp lại người thân không?
Người sống và người chết còn có liên hệ với nhau không?
Nếu muốn vào bốn cõi thánh thì phải làm sao?
Nếu muốn lên cõi trời thì phải làm sao?
Ai sẽ đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh?
.................
Và nhiều vấn đề tương tự như vậy,

Tôi đều có thể giải thích rõ ràng cho bạn.
Phân tích sơ lược như sau:
Giữ năm giới - sinh vào cõi người.
Tu mười pháp thiện - sinh lên cõi trời.
Tu bốn diệu đế (khổ, tập, diệt, đạo) - thành A La Hán.
Tu mười hai nhân duyên - thành Duyên Giác.
Tu sáu độ - thành Bồ Tát.
Tu tám chính đạo - thành Phật.
(Trên đây chỉ là phân tích sơ lược, còn nhiều chi tiết vi tế hơn.)
Đây mới chính là những pháp do Đức Phật giảng dạy.

Về thần thông:
Thiên nhãn.
Thiên nhĩ.
Tha tâm.
Túc mệnh.
Thần túc.
Lậu tận.
(Chỉ có lậu tận "diệt sạch phiền não" là Phật pháp, những cái khác chỉ là trò chơi mà thôi.)

Tôi hiểu rằng trò chơi chỉ là tạm thời.
Chỉ khi nào diệt sạch phiền não mới có thể đạt đến tột cùng. Sứ mệnh của tôi là đánh thức chúng sinh khỏi giấc mộng mê, thông qua Mật pháp mà tôi truyền dạy để đạt đến tột cùng.

Tôi truyền dạy:
Bình quán đảnh — Tứ gia hành, Thượng sư tương ứng, Bổn tôn tương ứng.
Hồng bạch hoa quán — vô lậu, chuyết hỏa, minh điểm. (khí, mạch, điểm)
Vô thượng mật — Kim cang pháp, khai ngũ luân pháp, quang minh pháp.
Đại viên mãn — pháp rốt ráo thành Phật.
Khẩu quyết học tập là:
Chuyên nhất, ly hý, nhất vị, vô tu.
Tôi nói: "Chuyên nhất rất quan trọng, tâm lâu dài rất quan trọng."


### 37. Làm cho hoa héo lại nở


Một lần nọ.
Tôi đi ngang qua vườn hoa hồng ở Chân Phật Mật Uyển, thấy hoa hồng đang nở rộ.
Tôi ghé mũi lại gần nhụy hoa, ngửi từng bông một, quả thật là hương thơm của hoa hồng, rất thanh khiết.
Ngoài ra,
Có vài cây hoa đã héo tàn.
Tôi không ngửi chúng.
Tôi dùng tay khẽ chạm vào cánh hoa, những cánh hoa ấy đã bạc màu, như tờ tiền phai màu, mất đi vẻ rực rỡ.
Tôi nói:
"Hãy phấn chấn lên, hãy nở lại đi!" - Tôi nói với từng bông hoa.

Điều khiến tôi ngạc nhiên là:
Sáng hôm sau.
Những bông hoa héo tàn mà tôi chạm vào hôm qua đã thực sự nở lại một lần nữa.
Trong khóm hồng không còn một bông hoa héo nào, tất cả đều nở rộ.
Tỏa ra hương thơm tươi mát của hoa hồng.
Tôi kinh ngạc nhìn xuống đất, xem có cánh hoa héo nào không, thật không ngờ là chẳng có cánh nào.
Thì ra là thật, thật sự đã làm cho những bông hoa héo nở lại.

Tôi hỏi Kim Mẫu:
"Tại sao lại như vậy?"
Kim Mẫu đáp:
"Đó là do vị yogi đã dẫn lượng tử sinh mệnh từ thân mình, sắp xếp lại lượng tử sinh mệnh của hoa, giúp cho những đóa hồng héo úa nở lại."
Thế là, nhiều đồng môn đến hỏi chuyện đều mang theo chậu hoa ở nhà đến nhờ tôi gia trì từng chậu một. Theo nguyên lý này, khi tay Lư Sư Tôn chạm vào thân thể người bệnh, nhiều đồng môn bị bệnh cũng được khỏi một cách kỳ diệu.

Tôi phát hiện ra:
Ý niệm của tôi có thể sắp xếp, tổ hợp lại, để tái tạo cơ thể của người bệnh.
Dùng quán tưởng. (Ý)
Dùng tay. (Thân)
Dùng thần chú. (Khẩu)
Thật không ngờ có thể giúp người bệnh hồi sinh.
Thì ra pháp hoàn tịnh của tôi là như vậy.
Pháp của tôi là chân thật, chỉ cần kích hoạt để sắp xếp lại lượng tử sinh mệnh của người bệnh, là có thể phục hồi sinh lực.

Tôi nghĩ đến XX.
Thì ra XX dùng thôi miên.
Đó là huyễn tướng, không phải sự thật.
Điều tôi dùng là sự thật.
XX dùng huyễn tướng.

Emerson đã viết một bài thơ "Huyễn tướng":
"Ảo giác bền chắc khôn phá,
Đan thành vô số lưới giăng,
Lời dối đẹp như đường phủ,
Chồng chất lớp lớp, hoa trong sương mù,
Tin vào phép mê hoặc ấy,
Là kẻ cam tâm bị lừa."

Tôi muốn nói với mọi người:
"Hành giả yogi theo đạo nghĩa khác xa với lòng tham và dã tâm, điều này có thể so sánh được."
"Hành giả yogi cần có hai loại năng lực, một đến từ Bổn tôn, một đến từ truyền thừa."
"Nâng cao tâm linh con người quan trọng hơn những phép màu và thần thông."


### 38. Qua lại cõi âm dương


Tại sao có thể "qua lại cõi âm dương"?
Câu trả lời là:
Linh thể của Lư Sư Tôn có thể tách rời khỏi thân xác, trở thành hai phần riêng biệt.
Linh thể là gì?
Người thường gọi là linh hồn, người tu hành gọi là hồn phách, nhà Phật gọi là Phật tính.
Có người gọi là tự tính.
Có người gọi là nguyên thần.
Có người gọi là khí.
Có người gọi là chân ngã.
Thân xác là gì?
Lư Sư Tôn trả lời:
Thân xác chính là vẻ bề ngoài của con người, là lớp vỏ biến đổi từ hài nhi mới sinh thành người già.
Thân xác là lớp vỏ của con người, là sự kết hợp của đất nước lửa gió diễn biến sinh già bệnh chết.
Đó chỉ là cái bình thủy tinh đựng "chân ngã".
Cũng chẳng qua chỉ là một bộ quần áo mà thôi!
Là thứ dùng xong rồi vứt bỏ.

Nói thì quan trọng, quả thật là rất quan trọng, bởi vì chúng ta phải mượn thân xác để tu hành, tu luyện để "chân ngã" hiển lộ, rồi "chân ngã" mới có thể trở về nguồn cội.
Nói một cách đơn giản:
Dùng thân giả để tu chân ngã, chân ngã tương ứng với Bổn tôn, hợp nhất với Bổn tôn, chân ngã trở thành Bổn tôn.
Chân ngã hợp nhất với đấng tối cao của vũ trụ, chân ngã chính là đấng tối cao.
Đó chính là thành tựu.
Còn thân xác (cái vỏ con người) thì vứt bỏ đi.
Đáng tiếc thay, phần lớn người đời đều cho rằng "thân xác" chính là bản thân mình.
Từ bỏ chân ngã, chấp trước vào cái ngã giả của thân xác.
Vì vậy chúng ta phải quay về từ mê muội để giác ngộ.

Lư Sư Tôn tu tập vô lậu, chuyết hỏa, minh điểm, khai mở trung mạch ngũ luân, vận dụng hơi thở để đẩy chân ngã ra khỏi thân xác.
Do đó,
Có thể đến tịnh thổ trên trời, cũng có thể đến ba cõi của linh giới: địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.
Tôi có thể vào địa ngục cận biên của phủ XX, đó chính là sự thâm nhập của chân ngã.
Tôi có thể hiểu rõ mọi điều về Ma Ha Song Liên Trì cũng là vì lẽ đó.
Tại sao quỷ của XX khiến người ta tự sát, khiến nhiều người nhảy lầu như vậy?
Bởi vì quỷ của XX trước tiên cho thấy ảo ảnh rằng sau khi tự sát, linh hồn sẽ bay lên trời.
Vì thế những người nhảy lầu tự tử không còn sợ hãi nữa.
Đó là đã mắc vào kế của quỷ.

🌟

Lư Sư Tôn đã hứa với người nhà của Liên Hoa Kính Hợp rằng sẽ lên thiên giới tìm cha của họ.
Cuối cùng đã tìm được. Người cha nói:
"Di chúc của tôi ở trong tủ quần áo, ngăn kéo giữa, bên trong có một ngăn bí mật, phải kéo hết ngăn kéo ra, ngăn bí mật nằm trong cùng, di chúc của tôi được viết bằng chữ đỏ."
Sau đó,
Di chúc thật sự nằm ở ngăn kéo giữa, kéo hết ra, quả thật có ngăn bí mật.
Mở di chúc ra, đúng là được viết bằng bút đỏ.
Lúc này cả nhà đều bái phục!
Tôi nói:
"Việc xuất thần của tôi có căn cứ rõ ràng!"


### 39. Linh thể ở thiên giới có hình tượng ra sao?


Có người hỏi tôi:
"Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, A La Hán, chư thiên, linh thể của các ngài có hình tượng như thế nào?"
Tôi đáp:
"Không phải là điều người thế gian có thể tưởng tượng được!"
Hỏi:
"Tại sao vậy?"
Đáp:
"Biến hóa vô cùng!"
Hỏi:
"Có thể giải thích thêm không?"
Đáp:
"Ở cõi người, sống càng lâu càng già, còn ở trên trời, linh thể càng lâu càng trẻ."
Hỏi:
"Trẻ trung có nghĩa là gì?"
Đáp:
"Hoàn mỹ."
Hỏi:
"Linh thể như thế nào mới được coi là hoàn mỹ?"
Đáp:
"Linh thể vốn dĩ không hình không tướng, hoặc hiển hiện thành thể ánh sáng, chỉ thuần có quang minh. Nhưng khi cần hiển hiện thực sự, sẽ xuất hiện hình tướng của thiếu niên, thiếu nữ, hoặc thanh niên."
Hỏi:
"Có giống người không?"
Đáp:
"Nói chung, vô cùng tuấn tú, vô cùng mỹ lệ, trang nghiêm, từ bi, toàn thân trang sức, hào quang rực rỡ, không thể diễn tả được."
Hỏi:
"Có phải giống như hình tượng các đấng được điêu khắc ở thế gian không?"
Đáp:
"Khác xa lắm!"
Hỏi:
"Có phải giống như hình tượng mà các nhà ngoại cảm nhìn thấy các đấng không?"
Đáp:
"Đó là chư Phật Bồ Tát hiển hiện theo hình tượng trong tâm trí của nhà ngoại cảm mà thôi."
Hỏi:
"Khi người tu hành lên tịnh thổ, muốn tìm cha mẹ người thân, thì cha mẹ người thân phải hiện ra hình dáng như lúc còn ở thế gian để con cái nhận ra đó là cha mẹ mình, có phải vậy không?"
Đáp:
"Ngươi thật thông minh, đúng là như vậy."
Hỏi:
"Cũng có những trường hợp không cần như vậy, có phải không?"
Đáp:
"Đúng vậy! Nhiều linh thể khi gặp nhau, tâm ý tự nhiên thông suốt, đều có cảm nhận và biết được đối phương là ai, đó là quy luật của cõi trời."
Hỏi:
"Diêu Trì Kim Mẫu rốt cuộc là già hay trẻ?"
Đáp:
"Diêu Trì Kim Mẫu mà tôi nhìn thấy ở thiên giới là một thiếu nữ mười sáu tuổi, vô cùng xinh đẹp và trang nghiêm. Như tôi đã nói, càng lâu càng trẻ."
Hỏi:
"Tại sao trong nhận thức của người đời, Ngài đều mang hình tượng trung niên, thậm chí là hình tượng của người già?"
Đáp:
"Vì các nghệ nhân điêu khắc không biết!"
Hỏi:
"Vậy có phải Diêu Trì Kim Mẫu mà Lư Sư Tôn thờ phụng đều là hình tượng trẻ trung?"
Đáp:
"Đúng vậy, đúng vậy. Người đời khó mà tưởng tượng được!"


### 40. Yêu em nghìn vạn năm


Có người hỏi:
"Trên thiên giới có chế độ hôn nhân không?"
Đáp:
"Chuyện này nói ra dài lắm, có nơi có, có nơi không, dựa theo những gì tôi biết thì như sau:"
Chân thân (không)
Pháp thân Phật (không)
Báo thân Phật (có)
Ứng thân Phật (có)
Bồ Tát (có)
Duyên Giác (có)
A La Hán (A La Hán tu Tiểu thừa thì không)
Vô Sắc giới thiên (có)
Sắc giới thiên (có)
Dục giới thiên (có)
Ma Ha Song Liên Trì tịnh thổ (có), ở giữa cõi Bồ Tát và Báo thân Phật.

🌟

Hỏi:
"Thật thú vị, ở thế gian, mọi người đều nói yêu em nghìn vạn năm, hóa ra là sự thật."
Đáp:
"Ở thế gian, yêu em nghìn vạn năm là điều không thể. Nhưng ở thiên giới thì có thể."
Hỏi:
"Hình thức hôn nhân là như thế nào?"
Đáp:
"Đây cũng là điều không thể nghĩ bàn, tôi chỉ có thể nói rằng, những linh thể tinh tế nhất không phân biệt nam nữ, nên không có hình thức hôn nhân. Chỉ khi nào có sự phân biệt nam nữ ở quả vị đó thì mới có hình thức hôn nhân."

Tôi nói thêm:
"Ở cõi Ma Ha Song Liên Trì, giữa các linh thể ánh sáng với nhau, có phân biệt nam nữ, linh thể có thể thật sự nhận ra người mình yêu thương nhất, từ đó ánh sáng chiếu rọi lẫn nhau, hòa hợp thành một, đó chính là yêu em nghìn vạn năm, gắn bó nghìn vạn năm, hoặc lâu hơn thế nữa."
"Không còn vướng bận không khí, thức ăn, giấc ngủ. Chỉ hòa hợp cùng tình yêu, trở thành một linh thể ánh sáng song nguyên."
"Bản thân linh thể ánh sáng đã là một niềm vui, niềm vui của âm thanh vi diệu, niềm vui của ánh sáng rực rỡ muôn màu, niềm vui của sự tiếp xúc và rung động, kết hợp bằng nhiều cách thức như hình thái ánh sáng, niềm vui của ý thức, niềm vui của giấc mộng."

Tôi nói:
"Ở cõi Dục giới thấp nhất, linh thể tuy tốt hơn nhục thể, nhưng vẫn còn cảm xúc, trí tuệ, ngã chấp, cảm giác, tâm thức, sắc thanh hương vị xúc. Vẫn còn sinh sản, bài tiết, nói chuyện, kỹ năng, ngôn ngữ, tăng trưởng, hình thành, hấp thụ, phân giải, trao đổi chất, tuần hoàn."
Tôi nói:
"Cõi Dục giới, niềm vui vượt xa cõi người, có thể sống từ năm trăm đến một nghìn tuổi, hoặc nghìn tuổi vạn tuổi, có tướng nam nữ, nên có thể có hôn nhân, đây là loại linh thể thô thiển nhất."

Tôi phân chia linh thể như sau:
Thô thiển. (Thiên giới)
Thanh tịnh. (A La Hán, Bồ Tát, Duyên Giác)
Tinh tế. (tịnh thổ)
Tinh tế nhất. (tối thượng, Pháp thân Phật)
(Chỉ có các cõi trời thô thiển còn bị thoái chuyển, các cõi khác đều không thoái chuyển.)
Hỏi:
"Vẫn chưa hiểu rõ lắm?"
Đáp:
"Thế giới linh giới là vô tận, trí óc con người không thể tưởng tượng được. Chư thiên thì nhiều vui ít khổ, nhưng dưới chư thiên còn có trung ấm (ma), và thấp hơn nữa là địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, đó là nhiều khổ không vui."
Tôi nói:
"Ma ở giữa chư thiên và địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, là cõi trung gian."


### 41. Lời thánh (1)


"Yoga chính là sự tương ứng, hợp nhất. Từ ngàn xưa đến nay, các bậc thánh hiền đều tu tập điều này."
"Phương pháp của hành giả Yoga là không để cho giác quan che mờ, tăng trưởng năng lượng tâm linh, kết nối với ý thức vũ trụ."
"Âm OM trong thần chú chính là năng lượng vô hạn, là tần số rung động của tâm linh.」
"Guru chính là chân ngã."
"Phạm Thiên chính là Đức Chúa Trời Jehovah, Thiên thần, Chúa Jesus."
"Khi nhập vào Tam ma địa thâm sâu, gần như tất cả đều trống không, nhưng có thể cảm nhận được cột sống, não bộ và cam lộ quán đảnh."
"Ý nghĩa của người xuất gia là từ bỏ tất cả vật chất, bước vào nhà của thánh hiền."
"Mi tâm luân mới chính là con mắt tâm linh, đó là nơi có hoa sen nghìn cánh, ý thức thường trụ tại luân xa này."
"Ngã chấp nhất định phải buông bỏ, đó là vô minh lớn nhất của hành giả."
"Huyễn tướng là ảo giác, con người vì huyễn tướng mà rời xa chính đạo, lầm tưởng huyễn là thật, như Quỷ Bà chính là như vậy."
"Avatar chính là tiên tri, còn gọi là bán thần, đến để cứu độ chúng sinh, như Lư Sư Tôn chính là như vậy."

"Có rất nhiều phương pháp tu hành lệch lạc, ví dụ như:
Tắm rửa hàng ngày để đạt được sự thanh tịnh
Vậy cá voi có được không?
Nếu ăn cỏ cây, trái cây mà giác ngộ được
Vậy dê cừu đã giác ngộ chưa?
Lần tràng hạt trì chú để đạt cõi Phật,
Đó chỉ là cầu nguyện mà thôi.
Nếu lễ bái tượng thần mà thấy được Phật,
Thì chỉ cần đi lễ núi đá.
Nếu chỉ uống sữa mà thấy được Thượng Đế,
Thì bò cái đã thấy từ lâu rồi.
Muốn thấy Phật, thấy thần, chỉ có:
Thiền định."

Bài thơ của Tagore:
*"Hãy tỉnh thức và vươn lên! Từ bỏ giấc mộng trần gian!
Những kẻ phàm tục kiêu ngạo,
Toàn là tranh cãi vô minh.
Hãy dạy những kẻ tự mãn
Vượt qua bề ngoài vật chất.
Tất cả các Guru tụ hội,
Làm đại hỏa cúng.
Tìm kiếm chân ngã.
Tu tập những gì?
Buông xả.
Tương ứng.
Hợp nhất.
An tịnh.
Vô dục.
Vô tranh.
Thanh tịnh.
Trở về cảnh giới tối thượng,
Trở thành Guru cứu độ chúng sinh."*

"Nguyên tử là một thái dương hệ thu nhỏ nhất; thân người cũng là thái dương hệ của thể xác; còn thái dương hệ biểu hiện chính là thái dương hệ; ý thức tối thượng của vũ trụ là thái dương hệ vô hạn."
"Phân chia đơn giản:
Linh thể cõi trời.
Linh thể cõi trung giới.
Linh thể cõi địa hạ."
"Linh thể cõi trời là thiên đường cao hơn chư thiên.
Linh thể cõi trung giới là quỷ thần chúng.
Linh thể cõi địa hạ là địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh."
Tôi nói với mọi người:
"Tu hành là quay về với Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, chư thiên; chứ không phải quỷ thần chúng hay tam đồ."


### 41. Lời thánh (2)


"Chúng ta ăn thực vật, thực vật có diệp lục tố, nghĩa là đang ăn năng lượng mặt trời. Chúng ta ăn động vật, động vật cũng ăn diệp lục tố, thế nên chúng ta vẫn đang ăn năng lượng mặt trời. Con người thực ra cũng đang ăn năng lượng mặt trời, điều này cho thấy thể xác phải nương tựa vào ánh sáng mặt trời, không khí và nước."
"Thể xác con người ăn năng lượng bức xạ; còn về linh thể, sự tăng trưởng tâm linh cũng là năng lượng bức xạ. Vì thế thể xác và linh thể là một. Xuất thế và nhập thế là một."
"Nếu có người có thể trực tiếp điều khiển năng lượng bức xạ, người đó chính là thánh hiền, cũng là Guru, mới thực sự là Hoạt Phật."
"Điều vinh quang nhất của con người là yêu thương tất cả đồng loại, tình yêu vĩ đại nhất là yêu thương đến tột cùng với vô duyên đại từ, đồng thể đại bi. Nhưng không thể yêu cái này mà lại khiến cái khác phải chịu khổ nạn."
(Ý tôi muốn nói là, yêu ác quỷ nhưng lại buông thả cho ác quỷ hại chúng sinh.)

"Tuân thủ quy luật tự nhiên của vũ trụ, tức là giới luật, pháp luật và công lý. Như vậy có thể tránh được đọa lạc và khổ đau, đây cũng là nền tảng của sự tương ứng trong tu hành."
"Giữa người với người, hay giữa người với muôn loài, điều quan trọng nhất là trạng thái hài hòa."
"Điều đáng sợ nhất của người hiện đại là phá vỡ sự hài hòa, lại còn khoe khoang vũ khí sát nhân, ngay cả các quốc gia cũng vậy, thật đáng buồn thay."
"Nhiều người biết người nổi tiếng, nhưng lại không biết chính mình, Lư Sư Tôn dạy người ta nhận biết chính mình."
"Trong văn tự và ngôn ngữ, vĩ đại nhất là thiên thể."
"Không sát sinh là đức hạnh căn bản."
"Người có năng lượng bức xạ chính là Guru, Hoạt Phật, Avatar, tiên tri, bán thần, thiên mệnh. Nhưng, người như vậy rất hiếm, còn kẻ giả mạo lại rất nhiều."
"Lư Sư Tôn chịu hết mọi phỉ báng của chúng sinh, nhưng ý thức tối thượng không phỉ báng ngài. Ngài cũng không vì phỉ báng mà dao động, bởi vì ngài chính là ý thức tối thượng."

"Những lời dạy của Lư Sư Tôn:
Không sát sinh.
Không trộm cắp.
Tiết dục.
Không nói dối.
Kiểm soát khẩu dục.
Vô úy.
Tôn trọng bình đẳng.
Vô sở đắc.
Tận lực độ chúng sinh."
"Vốn không có sinh tử, sự sống và sự chết của con người trên bề mặt đều là giả tướng. Xưa nay không có sinh tử, cũng không có sinh tử để buông bỏ."

"Tôi gánh chịu nghiệp của đệ tử, nên tôi có bệnh. Nhưng sinh lão bệnh tử, tất cả đều là giả tướng."
"Tôi đồng tọa với chân ngã, đồng tọa với ý thức tối thượng."
"Con người đọa lạc là vì dục, chính là dục vọng của giác quan."
"Tôi ở nhân gian, tu luyện để diệt trừ dục vọng của bản thân, đồng thời cũng dạy người khác diệt trừ dục vọng."
"Thể xác là vật chứa của linh thể."
"Từ nhỏ như nguyên tử đến lớn như vũ trụ, tất cả đều là đất, nước, lửa, gió, không."
"Tại sao phải tôn trọng bình đẳng? Bởi vì mọi người đều có liên hệ với nhau."
"Thiền định liên tục rất quan trọng, chỉ có như vậy mới có thể tương ứng và hợp nhất."
"Chỉ có trí tuệ mới có thể sinh ra năng lượng bức xạ."
"Tôi biết rằng:
Chúng sinh độ không hết.
Vô duyên không thể độ.
Nghiệp lực rất khó chuyển.
Ngã chấp rất khó dời.
Than ôi!"


### 43. Lời thánh (3)


"Nhiều bậc thành tựu đã thực hiện ba lời vàng:
Chân như.
Tình thương.
Thiện hạnh."
"Ba điều quan trọng nhất của người xuất gia là:
Thiện hạnh.
Trì chú niệm Phật.
Thiền định."
"Trong cõi nhân gian, muốn tu hành thành tựu cần trải qua bốn giai đoạn, mọi người nên ghi nhớ:
1. Kiểm soát ái dục.
2. Giúp đỡ chúng sinh.
3. Tu tập yoga chính pháp.
4. Giải thoát thành thánh."

"Trong tiền đề lớn của sự giải thoát, những thành tựu về kinh tế, chính trị, khoa học, văn học, nghệ thuật, xã hội, đều chỉ là những giá trị thứ yếu."
"Con người cần nhận ra rằng, chỉ có một điều vĩnh hằng duy nhất, đó là giải thoát thành thánh. Còn những giá trị thứ yếu kia đều không thể tồn tại mãi mãi."
(Lư Sư Tôn nói chân như là vĩnh hằng, những thứ khác đều chỉ tồn tại tạm thời.)
"Ví dụ:
Đế quốc Alexander.
Đế quốc Macedonia.
Đế quốc Mông Cổ.
………."

"Tất cả đều từng vang danh thiên hạ, nhưng giờ đây chẳng còn gì."
"Nhiều người không hiểu gì về chân như, dù có nghiên cứu đến đâu cũng chỉ như người mù sờ voi."
"Con người cần hiểu rằng, thân thể của các bạn chính là cung điện của chân như, minh tâm kiến tính chính là thấu hiểu chân như, nếu không hiểu được điều này, bạn mãi mãi chỉ là phàm phu."

"Lư Sư Tôn cho rằng:
Cá trong nước không bao giờ khát.
Chim bay trên trời không sợ rơi.
Chân như cũng vậy
Nó ở khắp mọi nơi, chỉ là người ta không để ý đến."
"Tu hành là tìm kiếm chân như trong thiền định, không phải trong kinh điển, không phải trong ngôn ngữ văn tự, không phải tìm trăng trong nước hồ, mà là quán chiếu nội tâm."
"Khi theo một vị Guru, điều quan trọng là phải hiểu được khả năng nâng cao tâm linh của vị ấy.
Chứ không phải:
Người nổi tiếng.
Người giàu có.
Người chú trọng bề ngoài.
Người phô trương thần thông.
Kẻ lừa đảo.
Phù thủy.
v.v..............."


### 44. Lời thánh (4)


"Đệ tử thân thương, xin hãy mãi ghi nhớ lời dạy của Lư Sư Tôn: Hãy yêu thương chính mình, cũng hãy yêu thương người khác; hãy giúp đỡ chính mình, cũng hãy giúp đỡ người khác."
"Đệ tử thân thương, xin hãy mãi ghi nhớ lời dạy của Lư Sư Tôn: Hãy quán tưởng Bổn tôn và Căn bản Thượng sư là một thể, mãi mãi an trụ trên đỉnh đầu bạn."
"Đệ tử thân thương, xin hãy mãi ghi nhớ lời dạy của Lư Sư Tôn: Tất cả thiện hạnh, nhất định phải tùy hỷ; tất cả ác hạnh, tuyệt đối không được làm, ngay cả ý niệm cũng không được khởi ác."
"Xin lưu ý, bạn có thể dễ dàng khám phá nhân quả và đạo lý trong trật tự tự nhiên."
"Nếu bạn nhận biết chân như:
Vô úy.
Không sợ hãi.
Tầm nhìn vô hạn.
Lời nói không lệch chân như.
Tự tại.
Không lạc lối.
Tư tưởng và hành vi hoàn hảo.
Bước vào đại quang.
Sẽ đi đánh thức chúng sinh!"

"Khi hành giả đạt đến trạng thái tịch tĩnh, họ sẽ hiện diện khắp mọi nơi, nhiều bậc thánh hiền đều như vậy."
"Hãy để ý chí dừng lại ở Mi tâm luân, đó là nơi của hoa sen nghìn cánh, khi phóng chiếu ra ngoài, giống như dòng điện tuôn chảy, khiến tâm lý người khác tiếp nhận được những làn sóng tư tưởng."
"Có bốn phương pháp vĩ đại nhất để chuyển di thần thức khi thân xác chết:
Chuyển di thần thức qua tướng.
Chuyển di thần thức qua ánh sáng.
Chuyển di thần thức qua chữ chú.
Pháp bảy ngày thành Phật.
Phải học điều này!"
"Hãy thiền định! Hãy thiền định! Hãy thiền định! Một ngày nào đó nhất định sẽ đạt được thiền định chân chính."
"Thiền định có nhiều biểu hiện:
1. Hợp nhất.
2. Hòa hợp.
3. Bình đẳng.
4. Tịch tĩnh.

"Hành giả trong quá trình tu hành, thường chia thành các giai đoạn:
Giai đoạn tại gia.
Giai đoạn xuất gia.
Giai đoạn phạm hạnh.
Giai đoạn ẩn cư.
Giai đoạn khổ hạnh.
Giai đoạn ngộ chân.
Giai đoạn độ chúng." (Cuộc đời của Đức Phật.)
"Hữu dư Tam ma địa là chỉ còn có phân biệt, chịu ảnh hưởng của thời gian, chịu ảnh hưởng của biến động. Vô dư Tam ma địa là không còn phân biệt, không chịu ảnh hưởng của thời gian và không gian, bất biến, hợp nhất với tối thượng. Đó là vô niệm."
"Bát chính đạo là báu vật của cuộc đời:
Chính kiến, Chính tư duy, Chính ngữ, Chính nghiệp, Chính mạng, Chính tinh tấn, Chính niệm, Chính định."

"Cảnh giới tối thượng:
Không tâm, không ngã, không giác,
Không trời, không đất, không vật.
Không có khởi đầu của sinh,
Không có kết thúc của mệnh,
Ta vô hình.
Thường hằng tự tại,
Hành trì vô tận,
Không có ràng buộc,
Hợp nhất với tối thượng, tối thượng! tối thượng! Ta là tối thượng!"


### 45. Lời thánh (5)


"Xin lưu ý, để tu tập Mật pháp, cần phải theo thứ tự:
Tứ gia hành.
Pháp tương ứng với Thượng sư.
Pháp Bổn tôn.
Nội pháp.
Vô thượng mật.
Đại viên mãn."
(Mỗi pháp đều có phần chi tiết.)

"Pháp Tứ gia hành bao gồm:
Pháp Đại lễ bái.
Pháp Đại cúng dường.
Pháp Tứ quy y.
Pháp Tứ vô lượng tâm."
(Pháp sám hối Bách tự minh Kim Cang Tâm, cần phải tu tập hàng ngày.)
"Pháp Gia hành là nền tảng của Mật giáo, không có nền tảng thì lấy đâu ra rường cột?"
"Tương ứng vô cùng quan trọng, bởi chỉ cần tương ứng với Thượng sư, tương ứng với Bổn tôn, việc vãng sinh sẽ có được sự bảo đảm."

"Nội pháp bao gồm:
Tu yoga khí. Cửu tiết Phật phong, Kim cang tụng, Bảo bình khí.
Vô lậu.
Chuyết hỏa.
Thông trung mạch.
Pháp minh điểm.
Khai ngũ luân.
Khai đỉnh.
Quang minh hiển hiện."
"Vô thượng mật chỉ sự song vận của từ bi và trí huệ, từ bi và phương tiện song vận, lý trí song vận, quang minh song vận, v.v..."

"Pháp Đại viên mãn là chỉ:
Tính Không.
Chuyển thức.
Hợp nhất.
Dung nhập.
Tự tại."
"Có người đưa pháp tương ứng Thượng sư và pháp sám hối vào gia hành, gọi là pháp Lục gia hành."
"Có người tu pháp Bổn tôn và Nội pháp cùng lúc, hoặc tu song song cả hai."
"Bất kể tu pháp nào, nhập Tam ma địa (thiền định) là điều quan trọng nhất."
"Liên Hoa Sinh Đại sĩ nói, Bảo bình khí là tất cả công đức."
"Bất kể là pháp gì, Thượng sư đều có tâm yếu khẩu quyết, đệ tử phải nương theo tâm yếu khẩu quyết mà tu."
"Tu cho toàn thân phóng quang minh, cốt yếu cốt yếu!"
"Quán Căn bản Thượng sư thành chư Bổn tôn, cũng là cốt yếu!"
"Phỉ báng Căn bản Thượng sư tức là phỉ báng Phật, pháp, tăng. Bởi vì Căn bản Thượng sư là nghĩa tổng trì."

"Ba pháp lìa khỏi thân xác:
Chuyển di thần thức qua tướng.
Chuyển di thần thức qua ánh sáng.
Chuyển di thần thức qua chữ chú."
"Phái Thắng Luận chú trọng:
Tự nhiên.
Linh thể.
Giải thoát."
"Lòng thành kính đối với Căn bản Thượng sư vô cùng quan trọng."
"Hãy xem khẩu quyết và tâm yếu do Căn bản Thượng sư truyền dạy như báu vật."
"Lưu ý: Khi tương ứng với một Bổn tôn, sẽ tương ứng với nhiều Bổn tôn."
"Từ vô lậu và khí tu thành chuyết hỏa, từ chuyết hỏa tu thành minh điểm, từ chuyết hỏa minh điểm khai ngũ luân, từ ngũ luân sinh ra quang minh, từ quang minh dung nhập tối thượng."
Lành thay! Lành thay! Hãy thực hành đi!


### 46. La Thiên Đại Tiếu (Nghi quỹ giản lược)


Tôi (Lư Sư Tôn) xin trình bày nghi quỹ La Thiên Đại Tiếu theo cách đơn giản, kính mong mọi người lưu ý.

1. Khởi thỉnh. Chú: "Ôm ah hùm sô-ha".

A. Khởi thỉnh mười phương, tất cả chư Phật, Bát Nhã Bồ Tát, Kim Cang Hộ Pháp, Không Hành chư Thiên, vô lượng Thánh Hiền.

Nay Liên Sinh dùng "Phật chỉ" đại từ bi lực:

B. Triệu thỉnh mười phương, tận hư không giới, tam đồ địa ngục, các nẻo ác thú, quỷ chúng hoang dã, tất cả ngạ quỷ, ngũ đại quỷ chúng, vong linh vô chủ.

C. Các ti Diêm La, Thiên tào Địa phủ, nghiệp đạo minh quan, chư đạo tiên nhân.
Duy nguyện chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, chư Thiên, Thánh Hiền, nguyện ban uy quang, gia trì hộ niệm.
Duy nguyện: (Diêu Trì Kim Mẫu, đại hiển pháp lực)

Pháp vị tối thượng. Cam lộ thanh tịnh. Ẩm thực no đủ. Tưới đẫm tâm điền. Phúc đức trí tuệ. Phát bồ đề tâm. Mãi lìa tà hành.

Quy y Tam Bảo. Hành đại từ bi. Lợi ích hữu tình. Cầu vô thượng đạo. Không thọ luân hồi. Lìa ác khổ quả. Vãng sinh Cực Lạc.

Xướng kệ:
Thập phương nhất thiết sát, Chư Phật Bồ Tát chúng, vô lượng chư Thánh Hiền, cùng chư nghiệp đạo quan, duy nguyện đại từ bi, giáng lâm nơi pháp hội, nhiếp thọ đại cúng dường. Nam mô Bảo Đàm Hoa Bồ Tát Ma Ha Tát.

🌟

Xướng kệ:

Cành liễu nước tịnh, rải khắp ba nghìn, tính Không tám đức lợi trời người. 
Ngạ quỷ miễn nuốt kim, diệt tội trừ lỗi, lửa cháy hóa sen đỏ.
Nam mô Thanh Lương Địa Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát.

🌟

Khởi thỉnh:
Hắc Linh Kỳ Chủ.
Tiêu Diện Quỷ Vương và chư vị Quỷ Vương trong Kinh Địa Tạng.
Triệu thỉnh thập phương tam thế vô chủ cô hồn đến đây.
Xướng kệ:
Bờ biển chiên đàn, lò thơm danh hương, mẹ con Da Du không tai ương, trong lửa được thanh lương, chí tâm hôm nay, một nén hương khắp mười phương.
Nam mô Tiêu Diện Quỷ Vương Đại Sĩ Ma Ha Tát.

🌟

Chú: "Ôm xi-tiên-tô man-tô-la pa-thô-yê sô-ha."
Thỉnh Cam Lộ Vương Như Lai.
Thỉnh Đa Bảo Như Lai.
Thỉnh Quảng Bác Thân Như Lai.
Thỉnh Diệu Sắc Thân Như Lai.
Duy thừa Tam Bảo lực, nương nhờ mật ngôn lực, giờ phút hiện tiền, quang lâm pháp hội.

Niệm:
Nam Kha một giấc tựa hoàng lương, tiếc thay đời người chẳng được trường.
Có sinh có tử đều do mệnh, không giàu không khó cũng vô thường.
Hồn bay phách tán về nơi đâu, tính sáng tâm không nhớ cố hương.
Hướng về hư không dần triệu thỉnh, thấm nhuần kinh chú hướng Tây phương.

Tụng:
Kinh Cao Vương.
Tâm Kinh.
Vãng sinh chú.
Niệm Phật.

Tụng Chân ngôn giải oan kết:
"Ôm san-thô-la cha-thô sô-ha."
Thí thực.
Hoa hương đèn trà quả.
Cam lộ. Núi gạo.
Pháp thí.

🌟

2. Điểm trọng yếu khai thị của Thượng sư chủ đàn:

A. Chân không tĩnh lặng, vốn không thế giới chúng sinh.
Tự tính thiên nhiên, nào có quả báo các pháp.
Các ngươi mê chấp có, mê chấp không.
Sinh tử vô cùng, tam đồ thống khổ.
Hãy giải thoát, cùng sinh Cực Lạc.

B. Thỉnh mời Tam Bảo, quang lâm đàn thành. Tam Bảo vô thượng, công đức rộng lớn.
Các ngươi quy y Tam Bảo. Quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng.

C. Sám hối, khi xưa đã tạo bao ác nghiệp, là vì vô thủy tham sân si, đều sinh ra từ thân ngữ ý, tất cả nghiệp chướng đều sám hối.

Khi tâm diệt rồi, gốc tội liền diệt.

D. Phát nguyện, cho người an vui, cứu người khổ não, hoan hỷ mãi mãi, buông xả tất cả.

E. Tất cả Bồ Tát trong quá khứ đã thọ, đã học, đã hiểu, đã hành, đã thành.
Tất cả Bồ Tát trong tương lai đã thọ, đã học, đã hiểu, đã hành, đã thành.
Tất cả Bồ Tát trong hiện tại đã thọ, đã học, đã hiểu, đã hành.

Các ngươi có thể thọ nhận không?

Đáp: Có thể thọ nhận.

F: Các ngươi quy y Tam Bảo, phải thọ năm giới:

Thứ nhất, bỏ không sát sinh. Thứ hai, bỏ không trộm cắp. Thứ ba, bỏ không tà dâm. Thứ tư, bỏ không nói dối. Thứ năm, bỏ không uống rượu.

G. Chân ngôn hồi hướng phổ khắp:

"Ôm sa-ma-la sa-ma-la mi-ma-la sa-ha-la-ma-ha cha-ha-la hùm."

🌟

3. Kết nguyện niệm Phật hồi hướng.

A Di Đà Phật thân sắc vàng. Tướng đẹp quang minh không gì sánh.
Bạch hào uyển chuyển năm Tu Di. Mắt biếc trong xanh bốn biển lớn.
Trong quang hóa Phật vô số ức. Hóa Bồ Tát chúng cũng vô biên.
Bốn tám nguyện độ chúng sinh. Chín phẩm đều khiến lên bờ giác.
Nam mô ba mươi sáu vạn tỷ một mười một vạn chín nghìn năm trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật.
(Nương nhờ Phật lực gia trì, pháp lực gia trì, tăng lực gia trì, kinh lực gia trì, chú lực gia trì, Căn bản Thượng sư gia trì. Cứu độ đại u linh chúng.)


### 47. Nghiên cứu về tháp Phật


【Hai nhà khảo cổ học hàng đầu Indonesia cùng đến thăm Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật】(Liên Hoa Huệ Quân biên tập)

Nhà khảo cổ học Đại học Indonesia: Giáo sư Danh dự Prof.Dr.Noerhadi Magetsari, hiện 80 tuổi. Ông là bậc nguyên lão được giới khảo cổ học Indonesia kính trọng.

Chuyên gia chính thức về Borobudur thuộc Cục Du lịch Indonesia, nhà khảo cổ học: Tiến sĩ Dr.Hari Untoro Drajat.M.A., hiện 62 tuổi.

Giáo sư Danh dự Noerhadi đã từng viết một tác phẩm về tháp Borobudur có tên: Gandavyuha Kawedhar. "Gandavyuha" (Hương Nghiêm) là tên một bộ kinh, thực chất là phẩm "Nhập Pháp Giới - Thiện Tài Đồng Tử 53 tham vấn" trong Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm, được xem như một bộ kinh độc lập (giống như Phẩm Phổ Môn trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa).

Ngày 19 tháng 2 năm 2018, Giáo sư Danh dự Noerhadi Magetsari và Tiến sĩ Hari Untoro Drajat, cùng với sự tháp tùng của Thượng sư Liên Nguyên và nhiều đệ tử Chân Phật tại Thánh Luân Lôi Tạng Tự Indonesia, đã đến Đài Loan chiêm bái và tham dự tiệc. Hai vị khảo cổ học gia đã tặng Thánh Tôn những món quà kỷ niệm như mô hình tháp Borobudur, và Sư Tôn cũng đặc biệt tặng hai vị tượng Phật bằng vàng và những món quà khác để lưu niệm.

Họ cũng muốn thỉnh vấn Sư Tôn: Vật nhọn ở trên đỉnh của Đại Phật Bảo Tháp Borobudur tượng trưng cho điều gì? Vì bảo tháp này đã có từ rất lâu đời, nếu vật ở đỉnh tháp bị rơi mất thì nên khắc phục như thế nào... và nhiều vấn đề khác.

Trong buổi tiệc, sư tỷ Miya đầu tiên giới thiệu khách quý với Sư Mẫu, và cũng đề cập rằng hai vị đại sư khảo cổ học đã nghiên cứu Phật pháp để tìm hiểu về Borobudur....

Về ý nghĩa tượng trưng của tháp Phật, Thánh Tôn đề cập: Ngày xưa tháp Phật Ấn Độ, trên đỉnh có bảo cái với nhật luân, nguyệt luân. Thậm chí sau này, nguyệt luân đã được Hồi giáo lấy làm biểu tượng của họ. Nguyên thủy tháp ở Ấn Độ dùng mặt trời mặt trăng làm biểu tượng. Tháp Phật này có 3 biểu tượng, đại diện cho Bản Sơ Phật, tượng trưng cho toàn thể vũ trụ.

Việc nối lại phần tháp bị đứt là có thể, nhưng không được dùng cái mới để nối, mà phải tìm phần nguyên bản đã rơi ra để nối lại.

Như tháp Borobudur, chia làm ba tầng: tầng dưới trong Mật giáo gọi là nền móng kim cang, tầng giữa là mandala (xem thử là mandala của vị nào), tầng trên cùng chính là vũ trụ. Stupa đại diện cho "Đạo".

Tất cả các mandala gần như đều như vậy.

Tiến sĩ Dr. Hari Untoro Drajat M.A., chuyên gia chính thức về Borobudur thuộc Cục Du lịch Indonesia và là nhà khảo cổ học, đã bày tỏ sự khâm phục sâu sắc với lời chỉ dạy của Sư Tôn và nói rằng: "Sau khi nghe Sư Tôn giải thích, chúng tôi không cần phải giải thích gì thêm. Những điều Sư Tôn vừa giảng giải đều có cơ sở khoa học."

Ông đã trình bày một bài thuyết trình chi tiết bằng slide:

Borobudur là di sản thế giới, được công nhận toàn cầu vào năm 1991. Công trình này được xây dựng với sự kết hợp của hình tròn và hình vuông.

Lần đầu tiên chúng tôi phát hiện ra ngôi tháp Phật này, nó đã bị vỡ nát và không còn nguyên vẹn. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn từng bước phục chế. Những điều Sư Tôn vừa giải thích, tinh túy đã nằm trong đó.

Borobudur được xây dựng vào năm 847 Công nguyên, cùng thời kỳ với các tháp ở Ấn Độ. Tháp Phật đã hòa nhập vào văn hóa Indonesia, có đến 160 ngôi tháp. Tuy nhiên, không phải tất cả đều có bảo cái. Ngoài ra ở Java có 4 di sản thế giới...

Indonesia có nhiều nền văn hóa. Phía dưới Borobudur có đền tháp Ấn Độ giáo. Bởi vì bản thân Indonesia có tính đa nguyên tôn giáo. Borobudur là một loại mandala, thể hiện hành trình từ phàm phu đến thành Phật.

Thân tháp Borobudur là mandala Kim Cang Mật Tập, ban đầu Phật A Súc ngồi ở giữa, nhưng sau này người xây dựng đặt Phật Tỳ Lô Giá Na ngồi ở giữa.

Tầng một đến tầng bốn thể hiện hình tượng Thiện Tài Đồng Tử trong Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Hoa Nghiêm đại diện cho Đại thừa, thủ ấn của tượng Phật đại diện cho Mật giáo, ba tầng đại diện cho tam giới. Tầng hai có Kinh Bổn Sanh của Đức Phật... Tầng ba là Vô Sắc giới. Do đó, Borobudur đại diện cho sự hợp nhất giữa Kim cương thừa và Đại thừa.

Indonesia cổ đại xây dựng mạn-đà-la như thế nào?

Xung quanh Borobudur có năm ngọn núi và hồ nước ở gần, nhưng hiện nay đã có rất nhiều người dân sinh sống ở khu vực lân cận. Bên trong Borobudur cũng có màu sắc của Ấn Độ giáo, Borobudur đại diện cho tam giới vũ trụ, tầng dưới cùng đại diện cho Dục giới, nơi chúng sinh bị ràng buộc bởi dục vọng. Bên trên là Sắc giới, đã giải thoát khỏi nhân quả nhưng vẫn còn chấp trước vào tướng, tầng trên cùng là Vô sắc giới. Tầng cao nhất là bất sinh bất diệt.

Borobudur tọa lạc tại điểm giao nhau của hai con sông.

Trong kinh điển Ấn Độ giáo có câu chuyện về Bạch Liên Hoa Vương, cũng xảy ra tại điểm giao nhau của hai con sông. Trong nghi thức tôn giáo, nước là yếu tố rất quan trọng.

Bảo cái của tháp Phật Borobudur trước đây đã từng bị sét đánh, vì vậy một phần bảo cái đã biến mất, do đó, tại đây chân thành cầu xin Sư Tôn gia trì và chỉ dạy những điều cần chú ý khi tu sửa...

Sau khi nghe báo cáo chi tiết như trên, Sư Tôn giải thích thêm: Như tháp Phật Borobudur to lớn đứng sừng sững trên mặt đất, ở giữa có đại mandala, nhất định có bốn phương, xa hơn nữa có tám mandala, vì Phật giáo nói: ở giữa là núi Tu Di, rồi chia thành bốn đại châu tám tiểu châu, có 7 biển nước. Ba vòng tròn vũ trụ (lần lượt to dần) đại diện cho "Đạo". Để biểu trưng cho thế giới tức là: một mặt trời và mặt trăng.

Phù điêu mandala có tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni hành Bồ Tát đạo, là câu chuyện bản sinh của Như Lai. Như Thiện Tài Đồng Tử cũng có trong kinh điển. Cuối cùng tìm thấy là Bồ Tát Di Lặc, Ngài đại diện cho vô hạn. Cõi tịnh thổ Di Lặc ở cung trời Đâu Suất là không có điểm tận cùng. Thiện Tài Đồng Tử cũng từng tham bái các vị thầy ở Dục giới thiên, Sắc giới thiên. Tham bái đến Bồ Tát Di Lặc đại diện cho sự bất tử vô hạn.

Nhật nguyệt trên tháp Phật đại diện cho ngày đêm, thuộc về âm dương, một âm một dương đại diện cho "Đạo".

Những lời chỉ dạy sâu sắc như vậy khiến các vị khách có mặt tại hiện trường phải thốt lên chưa từng được nghe. Cuối cùng, hai vị chuyên gia khảo cổ học cùng đại chúng đã dâng khăn khata lên Sư Tôn, cầu xin Sư Tôn gia trì xoa đảnh, và chụp ảnh lưu niệm, tất cả đều viên mãn cát tường.

Sau khi trở về Indonesia, Giáo sư Tiến sĩ Noerhadi Magetsari vẫn không ngừng tán thán về kiến thức Phật học phi thường và công lực tu trì cao thâm của Liên Sinh Hoạt Phật.

Vì vậy, Chân Phật Thánh Tôn quả thật là bậc học thức uyên bác, chứng lượng hùng hậu, ngay cả các bậc đại sư khảo cổ học cũng phải kính ngưỡng tán thán!


### 48. Chiều quá hóa hư


Bài viết của Trần Nhân Hòa

Sư Tôn thường nhắc đến trong các tác phẩm của Ngài về một số người hoằng pháp không như pháp, tham tiền, tham sắc, ham danh, mở rộng địa bàn, tự sáng tạo Mật pháp và xa rời truyền thừa. Trước đây chúng ta không rõ đó là những ai, nhưng giờ đây họ lần lượt lộ diện, để chúng ta thấy rõ tất cả. Tuy nhiên, chúng ta không khỏi phải hỏi, tại sao mọi việc phải đến lúc khó xử lý mới bùng nổ? Tại sao không ngăn chặn ngay từ khi nó mới manh nha phát triển? Đây là thắc mắc của nhiều người, bài viết này sẽ bàn luận về vấn đề đó.

Giáo pháp nhà Phật chủ trương vô tranh, tịch diệt. Trong quá trình thành lập Chân Phật Tông luôn bị Phật giáo truyền thống phỉ báng và tấn công, nhưng Sư Tổ Liên Sinh Hoạt Phật đã chọn cách nhẫn nhục không đáp trả, cũng không tố cáo ai. Các đệ tử cũng quen với điều đó, không chủ động bảo vệ danh dự và phẩm giá của Sư Tôn. Cho đến sự kiện "Con khỉ trên mạng" cách đây vài năm, Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên đã đánh cược với Sư Tôn rằng trong số 500 vị xuất gia của tông phái, không có ai sẽ viết một bài văn để hộ pháp, và kết quả là Sư Tôn đã thua. Từ sự việc này, Sư Tôn đã dạy mọi người rằng: Sư Tôn không màng đến tất cả, nhưng đệ tử không thể như Sư Tôn mà bất động như như, mà phải chủ động hộ pháp và bảo vệ Sư Tôn. Chỉ từ đó, môn đồ mới đoàn kết một lòng đối phó với bên ngoài.

Đối với bên ngoài, chúng ta đều đồng lòng nhất trí, nhưng đối với nội bộ thì sao? Chúng ta luôn bị giới hạn bởi giới luật "không nói lỗi của tứ chúng" và lời dạy của Sư Tôn rằng "chưa đại triệt đại ngộ thì đừng phê bình bất kì ai". Vì vậy, chúng ta đã im lặng nhẫn nhịn trước những vị hoằng pháp hay đồng môn nghiêm trọng phạm giới, và từ đó họ càng trở nên ngông cuồng, cuối cùng nuôi hổ để rồi gặp họa, gây tổn hại đến thân tâm và tuệ mạng của chúng sinh, cũng như gây rối loạn tông phái và thêm phiền não cho Sư Tôn. Do đó, bài viết này đưa ra cách tư duy đúng đắn giữa việc hộ pháp bảo vệ Sư Tôn và giữ gìn giới luật, để làm tham khảo cho đồng môn trong việc hộ pháp.

Giữa việc nói và không nói lỗi của tứ chúng, cần xem xét mức độ lỗi lầm của người đó. Nếu lỗi lầm thuộc về thiếu sót trong tu tập cá nhân và không xâm phạm đến người khác, thì chúng ta không nên nói ra.

Ngược lại, nếu những người hoằng pháp hoặc đồng môn có hành vi gây tổn hại cho chúng sinh, làm tổn hại danh dự tông phái, khiến Sư Tôn không thể hoằng pháp tốt, thì dù họ có lai lịch lớn thế nào (là Phật nào đó, Bồ Tát nào đó, Liên Hoa Đồng Tử màu sắc nào đó, A La Hán nào đó), có danh vị cao đến đâu (Thượng sư, Pháp Vương, bậc khai ngộ, pháp sư, giáo sư, giảng sư, trợ giảng...), miễn là có đủ bằng chứng phạm tội, bất kì ai cũng có lý do đứng ra ngăn chặn hành vi đó mà không cần nêu đích danh, để không để tổn hại lan rộng, đặc biệt là những người có lai lịch càng lớn, danh vị càng cao, dựa vào sự ngưỡng mộ và yêu mến của mọi người, thì tổn hại gây ra càng lớn.

Những trường hợp sau đây đã từng xảy ra hoặc có thể xảy ra trong tương lai, cần phải được ngăn chặn ngay lập tức (tuy nhiên, không cần nêu đích danh, và vẫn để chỗ cho đối phương cơ hội sửa đổi).

1. Truyền bá tà kiến: Hiện nay, mọi người đều có kiến thức Phật học cao, không ai phủ nhận nhân quả, nhưng vì một số mục đích nào đó (không ngoài tiền tài và sắc dục), họ sẽ dùng lời văn hoa mỹ để che đậy, ví dụ như: tài trợ cho một đạo tràng vài trăm triệu đồng, với công đức này bạn không cần tu tập vẫn có thể vãng sinh thiên đường hay Phật quốc; hoặc những kẻ háo sắc lừa gạt các cô gái xinh đẹp, nói rằng mình đã đắc được quán đảnh Tam quán Vô thượng mật, chỉ cần song tu với họ, không cần tu tập vẫn có thể tức thân thành Phật. Tất nhiên còn có một số tà kiến khác ẩn giấu trong những lời giảng của người có dụng ý, cần phải phân biệt cẩn thận mới có thể hiểu rõ.

2. Phá hòa hợp: Trong những năm gần đây, có những kẻ xấu bụng đã công khai hoặc lén lút lan truyền những lời đồn xấu về Tông Ủy Hội, khiến nhiều đồng môn thiếu hiểu biết mất lòng tin vào Tông Ủy, hoặc nói xấu về Sư Mẫu và thị giả của Sư Tôn, khiến mọi người hiểu lầm rằng Sư Tôn bị Sư Mẫu và thị giả kiểm soát, không được tự do. Những hành vi có chủ ý phá hoại sự đoàn kết của tông môn như vậy, người trí tuệ nghe qua đã biết là lời dối trá, nhưng cũng có nhiều người nhẹ dạ cả tin và còn giúp lan truyền. Khi chúng ta nghe được những lời đồn nhằm phá hoại sự hòa hợp như vậy, phải lập tức truy tìm nguồn gốc, tìm ra kẻ tạo ra tin đồn, vạch trần sự thật và luôn phải nâng cao cảnh giác, không để nó tiếp tục lan truyền, làm tổn hại đến không khí hòa thuận của tông môn.

3. Phóng đại thần thông để lừa tiền: Những người tự xưng có khả năng thông linh, do lòng tham tiền bạc, phương pháp kiếm tiền tốt nhất của họ đều giống nhau, đó là phóng đại thần thông, nói rằng nghiệp chướng của bạn rất nặng, đời trước đã làm bao nhiêu việc xấu, phải cúng dường họ bao nhiêu tiền mới tiêu được nghiệp chướng. Lừa một lần chưa đủ, họ còn bịa ra trường học ở âm phủ cho các vong linh thai nhi đi học, từ cấp một đến đại học, như vậy hàng năm phải đóng học phí, để có thể lừa được nhiều năm, dù sao tín đồ không có thần thông, họ muốn nói gì thì nói. Đối với kiểu lừa đảo biến tướng này, cách đơn giản nhất là viết thư hỏi Sư Tôn xác nhận, nếu câu trả lời là phủ định, chúng ta có thể vạch trần bộ mặt giả dối của họ.

4. Tạo sự sùng bái cá nhân: Đặt bản thân lên hàng đầu, Sư Tôn xuống hàng thứ hai, hoặc bề ngoài tôn kính Sư Tôn nhưng ngầm giới thiệu các vị Hoạt Phật và Thượng sư Mật giáo khác, cố ý dẫn dắt đồng môn ra khỏi Chân Phật Tông. Đối với những người hoằng pháp có những khuynh hướng này, không cần khách sáo mà hãy dũng cảm tố cáo họ.

5. Cố ý hoặc vô ý gây tổn hại đến Sư Tôn hoặc đại chúng: Đây là tội nghiêm trọng nhất, bất kì ai biết được việc này có thể xảy ra, dù phải hy sinh tính mạng cũng phải ngăn chặn nó.

Tuy đã liệt kê năm điều này, nhưng những kẻ lừa đảo đều rất thông minh, mọi trò lừa đảo đều xảy ra một cách âm thầm. Những người có hiểu biết khi thấy được không nên giả vờ thanh cao, mà phải đứng ra ngăn chặn hành vi xấu xa của họ. Nếu không, cứ tiếp tục dung túng thì kết quả là sẽ có thêm nhiều người bị hại.

Trong kiếp trước, Đức Phật vì cứu 500 thương nhân mà đã tiêu diệt một tên cướp. Khi Đức Phật quyết định tiêu diệt tên cướp này, Ngài không hề xem xét đến thân phận địa vị của hắn, lúc đó hắn chính là tên cướp có ý đồ cướp của giết người. Tương tự, nếu có người có ý đồ làm hại đại chúng hoặc Sư Tôn, bất kể người đó có chức vị gì trong tông môn, lúc đó mọi người đều phải bảo vệ Sư Tôn và giáo pháp, không cần khách sáo. Ai dám đứng ra, người đó sẽ được công đức hộ pháp, được đại chúng kính trọng, được chư thiên tán thán!

**(Hết.)**

---

---
# File: sach-tam-linh/268-dai-am-son.md
# Title: 268. Đại Âm Sơn
---

## Đại Âm Sơn


🪷 Cơn ác mộng của Quỷ Bà

Văn tập: 268
Xuất bản: 11/2018
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


Sự dụ dỗ

Năm đó.
Quỷ Bà đến nhà tôi ở Chân Phật Mật Uyển tại Seattle.
Trong phòng hỏi việc, sau khi Quỷ Bà hỏi xong chuyện, đột nhiên, bà ta hơi cúi đầu xuống, tỏ vẻ hơi ngượng ngùng, hai mắt trừng trừng nhìn xuống bàn hỏi việc.
Quỷ Bà nói một cách u ám:
"Tôi mới chính là Sư Mẫu thật sự!"
Tôi (Lư Sư Tôn) vừa nghe xong.
Kinh hãi!

Câu "Tôi mới chính là Sư Mẫu thật sự" này có nghĩa gì? Tôi không hiểu.
Bà ta không phải là Lư Lệ Hương, Lư Lệ Hương mới là Sư Mẫu. Vậy tại sao Quỷ Bà lại tự xưng là "Sư Mẫu thật sự"?

Quỷ Bà nói:
"Tôi hơi mệt! Tôi muốn vào phòng khách nghỉ ngơi một chút!"
Và rồi, khung cảnh thay đổi.

Quỷ Bà rẽ một góc, bước vào phòng khách, trước tiên kéo tất cả rèm cửa của cửa sổ sát đất xuống, khiến căn phòng khách vốn sáng sủa trở nên tối lại.
Bà ta nghiêng người, nằm nghiêng trên ghế sofa dài.
Ngày hôm đó, chỉ có mình tôi ở đó.
Bà ta nằm buông lơi.
Đôi mắt lim dim nhìn tôi như những ngôi sao trong bầu trời đêm lấp lánh.

Tôi vẫn có thể nhìn thấy khuôn mặt ửng đỏ của bà ta, gương mặt ấy dường như đang bắt đầu nóng bừng lên.
Bà ta có vẻ như ra hiệu rằng tôi cũng có thể nằm xuống!

Tôi bắt đầu suy nghĩ, dò xét trong lòng mình, trong tâm tôi hoàn toàn không có chỗ cho người phụ nữ Quỷ Bà này, tìm kiếm nghìn lần vạn lần, bà ta hoàn toàn không tồn tại trong lòng tôi.
Vì vậy, tôi thấy hơi buồn nôn.

Bà ta, với khuôn mặt như chiếc bánh hamburger.
Thân hình như con cóc, nghe nói khi hít vào, bụng phình ra trông giống hệt bụng cóc. Quan trọng nhất là, khí của bà ta quá ô trược.
Thân hình ngũ đoản. [mình và tứ chi đều ngắn]

Quỷ Bà từng nói với tôi:
"Khi bà ta hoằng pháp ở Đại Lục, có người đàn ông nói với bà ta rằng ông ta chỉ muốn ân ái với bà ta."
Quỷ Bà nói:
"Tôi không muốn đâu, tôi chỉ muốn…………."
Trời ơi! Đất ơi!
Bà ta không phải đang nhắm mắt ngủ, mà là đôi mắt lấp lánh, nhìn chằm chằm.

Tôi là một hòa thượng.
Cũng là một người đàn ông, trong căn phòng bốn bức tường, trong phòng khách tối tăm, một người phụ nữ thân hình như cái chum nước đang nằm ngang.

Tôi định lên lầu.
Đột nhiên Quỷ Bà bật dậy nhanh như tên bắn, hung hăng kéo rèm cửa ra.
Bên ngoài cửa sổ, Mai Tiên đang đứng trên ban công, nhìn qua khe hở, bị Quỷ Bà phát hiện.
Hai người nhìn nhau.

(Chú thích: Mai Tiên là phu nhân của Thượng sư Liên Thế - Trần Gia, bà tình cờ đang ở sân sau nhà tôi kiểm tra cây lê, thấy rèm cửa hạ xuống hết rất bất thường nên đến xem thử.)

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn**

**Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U. S. A.


### 01. Minh Phi và những chuyện khác


Tôi phải lặp lại một câu chuyện nhỏ ở đây. Câu chuyện như sau.
Nghe nói Quỷ Bà đã đến gặp Thượng sư của tôi là thầy Thubten Dhargye, tại Tịnh Âm Phật Các.
Thubten Dhargye nói:
"Cô hãy làm Minh Phi của tôi!"
Quỷ Bà đáp:
"Tôi cần hỏi ý kiến Thượng sư của tôi là Lư Sư Tôn!
Thế là:
Quỷ Bà tự nói rằng bà ta quay lại tìm tôi.
Quỷ Bà nói:
"Sư Công muốn tôi làm Minh Phi của ông ấy?"
Tôi trả lời:
"Cô đừng làm Minh Phi của Sư Công, hãy làm Minh Phi của tôi!"

Phân tích của tôi như sau:
Câu chuyện nhỏ này không phải là sự thật, bởi vì Quỷ Bà hoàn toàn không hề đến hỏi tôi, do đó, truyền thuyết này là giả.

Tôi là một người có nguyên tắc.
1. Tôi hoàn toàn tôn trọng ý chỉ của Thượng sư của tôi. Thầy có lệnh, không thể trái nghịch.
2. Nếu Sư Công muốn Quỷ Bà làm Minh Phi, tôi Lư Sư Tôn chỉ có hai chữ "tuân thủ".
3. Tôi không thể cướp Minh Phi của chính Thượng sư mình.
4. Đối với Quỷ Bà, tôi không có chút cảm giác nào, trong tình trạng hoàn toàn không có cảm giác, làm sao có thể được?
5. Tôi và Quỷ Bà hoàn toàn không liên quan gì đến nhau.
6. Quỷ Bà nói dối.

Hôm nay tôi thật lòng thật sự nói với mọi người rằng, lời nói của Quỷ Bà không thể tin được.
Tôi hỏi Diêu Trì Kim Mẫu:
"Lời nói của Quỷ Bà bao nhiêu phần là thật? Bao nhiêu phần là giả?"
Diêu Trì Kim Mẫu trả lời:
"Lời của bà ta, hai phần là thật, tám phần là giả."
Diêu Trì Kim Mẫu còn nói:
"Bà ta có tật nói dối!"

Câu nói "Bà ta có tật nói dối" này của Diêu Trì Kim Mẫu là một câu nói rất nặng nề.
Rõ ràng là hoàn toàn nói dối.
Thế mà chúng sinh lại tưởng là thật.
Đây là bi kịch lớn nhất của Chân Phật Tông, thật đáng thương thay! Tôi xin lạy!

Bà ta nói:
"Lư Sư Tôn yêu bà ta nhất!"
Lại nói:
"Sư Mẫu Liên Hương cản trở!"
Lại nói:
"Sư Mẫu đánh Sư Tôn!"
Lại nói:
"Bà ta mới chính là người kế thừa Chân Phật Tông!"
…………….

Trời ơi! Mọi người có biết không, tất cả những lời này đều là giả dối, toàn bộ đều do bà ta tự bịa đặt ra. Quỷ Bà này tâm cơ sâu độc, thật không ngờ tất cả đều là nói dối. Tôi, Lư Sư Tôn, đã 74 tuổi, có đôi mắt tinh tường, vậy mà chưa từng gặp một thiên tài nói dối nào giỏi đến thế.
Kỳ lạ thay! Kỳ lạ thay!

Những lời nói dối của bà ta như một ngọn Đại Âm Sơn, ngọn Đại Âm Sơn này được xây đắp bởi những lời nói dối của Quỷ Bà, ngọn núi này cao vượt trội, rộng lớn vượt trội.
Hiện nay, chỉ có Lư Sư Tôn mới có thể vạch trần những lời nói dối của bà ta.


### 02. Quỷ Bà dự đoán không chuẩn


Liên Hoa Xuân Phi nói:
"Quỷ Bà đã tiên đoán từ rất nhiều, rất nhiều năm trước rằng, Lư Sư Tôn sẽ qua đời khi 73 tuổi."
Tiểu Nguyệt nói:
"Tất cả đệ tử ở Thượng Hải đều biết Lư Sư Tôn sẽ qua đời lúc 73 tuổi."
Nghe xong, tôi cười ha hả.
Lý do tại sao?
Câu trả lời là:
"Mẹ ruột của bà ta sắp chết mà bà ta còn không biết!"

Chuyện kể rằng:
Quỷ Bà ra nước ngoài hoằng pháp.
Vừa đến Trung Quốc.
Chuẩn bị làm đại pháp hội.
Đột nhiên một tin tức truyền đến, mẹ của Quỷ Bà đã qua đời ở San Francisco.
Lúc này, bà ta mới đổi pháp hội thành đại pháp hội siêu độ cho mẹ mình.
Quỷ Bà có thần thông, biết chuyện sinh tử của người khác, vậy mà lại không biết mẹ ruột mình sắp chết.
Tôi mắng bà ta:
"Thần thông cái con khỉ!"

Mọi người có thể suy nghĩ:
1. Võ đoán cảnh giới của Căn bản Thượng sư là một trong những giới luật, là điều cấm kỵ lớn.
2. Quỷ Bà phạm mười bốn đại giới căn bản của Mật giáo, lại còn phạm "Sự sư  pháp ngũ thập tụng".
3. Vô cùng bất lịch sự.
4. Không biết tôn ti trật tự.
5. Đúng là lừa thầy diệt tổ.

Tôi (Lư Sư Tôn), năm nay đã 74 tuổi, ngày 30 tháng 6 năm 2018 là sinh nhật âm lịch của tôi, tôi đã 74 tuổi rồi, xin hỏi bà nói sao đây?
"Chết tiệt! Bà nói gì đây?"

Quỷ Bà tiên đoán:
"Đường chủ Viên Trì Đường ở Úc và phu nhân của ông ấy, trong vòng một năm, tất cả đều sẽ chết hết."
Kết quả đã qua ba năm, đường chủ và phu nhân vẫn còn sống.
Không chuẩn!

Bà ta lại tiên đoán:
"Giáo sư Vương Tiến Hiền, phu nhân của Giáo sư Vương Tiến Hiền, và pháp sư Liên Anh, trong vòng một năm, cả ba người đều sẽ chết hết."
Kết quả đã qua hai mươi năm.
Không chuẩn!

Bà ta lại tiên đoán:
"Gia đình bà La Hồng, trong vòng năm năm, tất cả mọi người trong gia đình lần lượt đều sẽ chết hết."
Đến nay chẳng có chuyện gì xảy ra cả.
Không chuẩn!

Bà ta lại tiên đoán:
"Trương Triết ở Thượng Hải, kiếp trước đã giết ba tiểu đội của Lâm Lương Tri, sẽ chết khi 25 tuổi, nếu không thì sẽ chết khi 29 tuổi."
Nói bậy, Quỷ Bà nói lung tung.
Kết quả:
Không chuẩn!

Bây giờ lại tiên đoán Lư Sư Tôn sẽ chết khi 73 tuổi, bây giờ tôi đã 74 tuổi rồi.
Không chuẩn!
Mẹ tôi ơi! Quỷ Bà có phải bị mất trí không? Thở dài! Nên uống thuốc rồi!


### 03. Tiểu Nguyệt và con rùa


Sư tỷ Tiểu Nguyệt ở Seattle, Hoa Kỳ kể cho tôi một câu chuyện nhỏ sau đây:
Có một vị pháp sư đi theo Quỷ Bà nuôi một con rùa.
Tiểu Nguyệt nhìn thấy con rùa này.
Con rùa gật đầu với Tiểu Nguyệt.
Quỷ Bà nói:
"Tiểu Nguyệt! Con rùa này nhận ra cô, con rùa này là anh trai cô ở kiếp trước!"
Tiểu Nguyệt hỏi:
"Nó nói gì vậy?"
Quỷ Bà đáp:
"Nó nói kiếp trước cô nợ nó bảy nghìn lượng bạc!"
Tiểu Nguyệt hỏi:
"Vậy có cần trả không?"
Quỷ Bà đáp:
"Đương nhiên."

Tiểu Nguyệt liền lấy tiền trả cho con rùa. Tiểu Nguyệt cho rằng nợ anh trai thì đương nhiên phải trả, bỏ tiền ra để tiêu tai giải nạn là việc đúng đắn.
Tiểu Nguyệt đã nói rất nhiều lời với con rùa ngay tại chỗ.
Ví dụ:
Tiểu Nguyệt nói:
"Anh trai! Sao anh lại biến thành hình dạng này vậy?"
Cô vừa nói vừa rưng rưng nước mắt.
(Anh trai kiếp trước của Tiểu Nguyệt biến thành rùa, bố kiếp trước của Từ Nhã Kỳ biến thành cua, bà nội kiếp trước của Thượng sư Liên Tử biến thành vẹt.………)
Câu chuyện đến đây là hết.

Tôi hỏi Tiểu Nguyệt:
"Kiếp trước cô nợ anh trai bảy nghìn lượng bạc, cô đã trả tiền rồi, tiền đưa cho con rùa phải không?"
Tiểu Nguyệt đáp:
"Không! Tất nhiên là đưa cho Quỷ Bà rồi."

Tôi hỏi tiếp:
"Quỷ Bà làm thế nào để chuyển tiền cho anh trai kiếp trước của cô?"
Tiểu Nguyệt đáp:
"………………???"

Trò lừa đảo này của Quỷ Bà, Lư Sư Tôn tôi đã thấy quá nhiều rồi. Giữa Tiểu Nguyệt, con rùa và Quỷ Bà, ai là kẻ lừa đảo? Ai là người ngốc nghếch? Mọi người không nhìn ra sao?
Tiểu Nguyệt nói:
"Lúc đó chúng tôi tin rằng Quỷ Bà có thể giao tiếp với động vật, nên đương nhiên là tin bà ấy."
Tôi nói:
"Đó hoàn toàn là một trong những trò lừa đảo!"
(Cổ đông của Liên Hoa Thuật Khâu nợ tiểu bạch xà năm trăm lượng vàng, còn có Liên Hoa Điềm Phúc nợ bạn gái kiếp trước bốn trăm vạn đô Mỹ, v.v...)

Tôi nói thật lòng với mọi người ở đây:
Quỷ Bà là kẻ lừa đảo!
Tập đoàn của bà ta là tập đoàn lừa đảo.
Thật là nói nhảm, trứng rùa, trứng thối, đồ khốn nạn, cút đi, cuốn xéo!

Phật dạy:
"Cho dù là Bồ Tát, vẫn còn mê muội giữa các kiếp!"
Chỉ riêng câu nói này đã đập tan ngay lập tức chuyện động vật nhận ra người thân kiếp trước (túc mệnh thông)!

Bạn có tin rằng tất cả động vật đều có túc mệnh thông không? Con người là linh trưởng của vạn vật còn chưa có túc mệnh thông. Nhện, đom đóm, rùa mà có túc mệnh thông, toàn là lừa đảo!


### 04. Tiết lộ bộ mặt thật của kẻ lừa đảo


Sư tỷ Từ Nhã Kỳ ban đầu tin vào Quỷ Bà lừa đảo, cô ấy thậm chí còn hiến tài sản sau khi chết cho Quỷ Bà.
(Hai người thậm chí đã đến ngân hàng ký giấy đồng ý.)

Sau đó, sư tỷ Từ nhận ra mình bị lừa và đã rời khỏi Quỷ Bà. Cô ấy kể cho tôi một câu chuyện:
Từ Nhã Kỳ dẫn một chương trình tên là "Cốc! Cốc! Cốc!...", hoàn toàn để quảng bá cho Quỷ Bà.
Một ngày nọ.
Từ Nhã Kỳ tập hợp các phóng viên văn bản truyền hình, phóng viên đài truyền hình, nhiếp ảnh gia, nhà sản xuất, v.v…
Một đoàn người đông đảo, đưa Quỷ Bà đến Ngôi Nhà Động Vật.
Chuẩn bị ghi hình chương trình "Quỷ Bà thông linh với động vật", loại chương trình này chắc chắn sẽ gây tiếng vang khắp thế giới.
Tại sao sẽ gây chấn động?
Lý do rất đơn giản, trên thế giới này, trong muôn loài chúng sinh, không có một người nào có thể giao tiếp với các loài động vật, giờ đây, xuất hiện một Quỷ Bà có thể giao tiếp được, há chẳng phải sẽ nổi danh thiên hạ sao.

Những người này nghĩ:
Khi đến Ngôi Nhà Động Vật, Quỷ Bà cũng không cần phải biểu diễn bất kỳ thần thông nào, ví dụ như:
Chó sủa bao nhiêu tiếng!
Mèo nhào lộn!
Hoặc quỳ xuống!
Hoặc lắc đầu, gật đầu!
Hoặc há miệng, ngậm miệng!
Hoặc nháy mắt!
Chỉ cần Quỷ Bà đến Ngôi Nhà Động Vật, nói ra tên của từng con vật, thế là được rồi!

Ví dụ:
Con này là Lai Phúc!
Con kia là Tiểu Ngoan!
Con này là Anh Hùng!
Con kia là Manh Kiếm Khách!
Nếu Quỷ Bà có thể thông linh từng con, gọi đúng tên mà người quản lý đặt cho động vật, thế là được rồi!
Đoàn người này đến Ngôi Nhà Động Vật, liền mời Quỷ Bà vào trò chuyện với tất cả các con vật.

Kết quả:
Quỷ Bà đã nhút nhát!
Bà ta không nói một lời nào.
Màn trình diễn của bà ta chỉ là lấy thức ăn từ người quản lý để cho các con vật ăn.
Chỉ có vậy thôi!
Phóng viên đài truyền hình, nhiếp ảnh gia, nhà sản xuất, ngay cả Từ Nhã Kỳ đều ngơ ngác.
Đến với niềm hân hoan!
Trở về với nỗi thất vọng!

Tôi thật lòng nói với mọi người:
"Trên thế giới có rất nhiều học giả hàng đầu bị những kẻ giả mạo thông linh lừa đến choáng váng, cuối cùng còn hô hào ủng hộ những kẻ giả mạo thông linh đó. Kẻ giả mạo thông linh sợ một người, người đó chính là Lư Sư Tôn, bởi vì Lư Sư Tôn thực sự khách quan, tôi đã nhìn thấu ngay trò ma mãnh của Quỷ Bà."
Quỷ Bà thật sự có thể giao tiếp với thú vật sao?
Khi bà ta đến Ngôi Nhà Động Vật, chỉ cần một lần giao tiếp, sơ hở sẽ lộ ngay ra.
Trong mắt tôi:
"Quỷ Bà còn không bằng phân chó."
Đừng lừa người nữa!


### 05. Thêm một trò dọa dẫm


Trương Triết thờ cúng năm đại quỷ của phủ XX:
Hoàng Kim Tuyền.
Lâm Lương Tri. 
Kobayashi. 
Watanabe Ichiro
Nakamura Kazumu.

Trương Triết kể cho tôi biết lý do và nhân duyên tại sao anh ta thờ cúng năm đại quỷ.
Bởi vì Quỷ Bà đã nói với anh ta:
"Kiếp trước anh đã giết ba tiểu đội thuộc hạ của tướng quân Lâm Lương Tri, vì vậy kiếp này, anh sẽ chết khi hai mươi lăm tuổi."
Ôi!
Lại thêm một trò dọa dẫm!
Quỷ Bà nói:
"Anh phải thờ cúng năm đại quỷ để họ bảo vệ anh. Năm đại quỷ sau khi được tôi thu phục đã trở thành năm đại thần, là hộ pháp rồi, anh có biết không?"

Vì thế Trương Triết mới thờ phụng năm đại quỷ.
Trương Triết kể với tôi:
"Suốt cả năm hai mươi lăm tuổi, tôi hoàn toàn tự giam mình trong nhà, không đi đâu cả! Vì sợ chết, nên năm hai mươi lăm tuổi, tôi hoàn toàn tự cô lập, tôi nghĩ làm vậy thì sẽ không chết!"
Anh ta còn nói:
"Tôi đặt năm đại quỷ dưới long bào của Lư Sư Tôn, không lâu sau, tên trên bài vị của năm đại quỷ đã phai màu hoàn toàn, ngày nay, chỉ còn là những tờ giấy trắng."
Trương Triết nói:
"Khi tôi thờ cúng năm đại quỷ, bản thân tôi không sao. Nhưng cha tôi, sức khỏe thay đổi, mắc nhiều bệnh. Điều không thể tin được là, trong một năm xảy ra ba vụ tai nạn xe cộ kỳ lạ, điều này chưa từng có trước đây."

Quỷ Bà có rất nhiều trò dọa dẫm, ví dụ:
Quỷ Bà dọa tôi:
"Lư Sư Tôn sẽ chết khi bảy mươi ba tuổi!"
Tôi (Lư Sư Tôn) tâm hồn rộng mở, hoàn toàn không quan tâm, nhưng tôi cũng rất cẩn thận.
Khi đi cầu thang, tôi chú ý từng bậc, sợ rằng nếu ngã xuống, cuộc đời sẽ kết thúc.
Đặc biệt khi tôi vào phòng tắm, không dám dùng xà phòng, vì xà phòng trơn, sàn trơn, rất dễ té ngã dẫn đến tử vong.
Mọi việc đều đặc biệt cẩn thận.
(Dù biết rõ tôi sẽ không chết, nhưng vẫn phải thận trọng!)

Quỷ Bà lại dọa dẫm một gia đình:
"Trong ba tháng tới, cả nhà các người sẽ cùng chết!"
Gia đình này gồm một cặp vợ chồng và một đứa trẻ.
Họ hỏi:
"Chết bằng cách nào?"
Quỷ Bà đáp:
"Tai nạn xe cộ!"
Khiến gia đình này không dám ngồi chung một xe. Kết quả chẳng có chuyện gì xảy ra.

Quỷ Bà cũng dọa dẫm sư tỷ Tiểu Lệ tương tự:
"Tiểu Lệ! Mẹ cô đã xuất hiện điềm báo tử!"
Tiểu Lệ không để ý đến bà ta.
Kết quả: Chẳng có chuyện gì xảy ra!

Chúng tôi nghiên cứu tâm lý của Quỷ Bà, phát hiện bà ta rất thích dọa người khác về thời điểm họ sẽ chết!
Lý do chính là để làm người ta sợ hãi.
Sau đó, Quỷ Bà nhân cơ hội lấy tiền! Đây là một trong những thủ đoạn lừa tiền của bà ta.


### 06. Mâu thuẫn trong mâu thuẫn


Quỷ Bà nói:
"Vào thời Phật Thích Ca Mâu Ni, tôi là đại đệ tử của Phật Tổ, tôi đã dẫn Đức Phật vào long cung."
Lại còn:
Tôi thấy trong "Tạp chí X Liên" số 62, trang 40 có một đoạn văn.
"Quỷ Bà xuyên không thời gian, đi vào tâm linh của Phật Tổ để tìm kiếm câu trả lời, Phật Tổ đã khai thị cho bà ta về 'hành thâm', buông bỏ cái 'tôi', 'nhập không tính', và ban phúc cho bà ta một chiếc khăn khata trắng tinh thuần khiết, bà ta từ bi, xin Phật Tổ ban cho mỗi người chúng ta một chiếc, chúc phúc cho mọi người sớm thành Phật. Sau đó vào ngày Phật đản, Phật Tổ lại khai thị về nhân duyên với Quỷ Bà từ 2500 năm trước, khi đó Phật Tổ đi khất thực từng nhà, Quỷ Bà luôn nấu một nồi cơm mới để cúng dường."
(Khi đọc đoạn văn này, tôi sửng sốt.)

Một, bà ta là đại đệ tử của Phật Tổ, dẫn Đức Phật vào long cung.
Hai, bà ta là người cúng dường cơm mới nấu khi Phật Tổ đi khất thực.
Tôi nhận ra:
"Mâu thuẫn trong mâu thuẫn".

Mười đại đệ tử:
Xá Lợi Phất.
Mục Kiền Liên.
Đại Ca Diếp.
A Nan.
A Na Luật.
Tu Bồ Đề.
La Hầu La.
Ưu Bà Ly.
Ca Chiên Diên.
Phú Lâu Na.
Xin hỏi Quỷ Bà, bà là ai trong số đó?

Lại nữa:
Vào thời đại Đức Phật, khi Ngài đi khất thực từng nhà, người nội trợ nào đã nấu cơm mới để cúng dường Đức Phật mỗi lần?
Lúc thì nói là đại đệ tử.
Lúc thì nói là người nội trợ nấu cơm mới?
Tôi thấy Quỷ Bà đã mất trí, điều này thật là mâu thuẫn. Mâu thuẫn trong mâu thuẫn.
Quỷ Bà có rất nhiều sự kiện mâu thuẫn.

Ví dụ:
Bà ta bảo một phụ nữ phá thai. Lý do là đứa trẻ đang mang thai là "kẻ thù lớn ba đời".
Người phụ nữ đã đi phá thai.
Vài năm sau.
Quỷ Bà quên mất, lại nói với người phụ nữ đó:
"Tại sao cô lại có thể phá thai chứ? Nếu đứa trẻ đó được sinh ra, gia đình cô sẽ vô cùng phúc lộc!"
Trời ơi!
Người phụ nữ đó muốn khóc mà không còn nước mắt, người nói phải phá thai là Quỷ Bà, người nói không nên phá thai cũng là Quỷ Bà."
Xin hỏi Quỷ Bà:
"Bà có thể suy nghĩ rõ ràng một chút được không?"

Tôi muốn nói với bà:
Thời Đức Phật có giới không nấu nướng, nghĩa là đệ tử xuất gia không nổi lửa. (không nấu cơm)
Bà là người đàn bà nấu cơm, là người nội trợ, thường xuyên "nấu cơm mới" cho Đức Phật dùng.
Xin hỏi:
Mâu thuẫn hay không mâu thuẫn? Mụ đàn bà này, nói nhăng nói cuội, chẳng phải tự tát vào mặt mình sao!


### 07. Ngọc bội của hoàng đế Thuận Trị


Kể rằng:
Quỷ Bà ở Chicago, Hoa Kỳ, tại Chicago Lôi Tạng Tự có một cô gái đeo ngọc cổ.
Cô gái này có một số vấn đề tâm linh.
Quỷ Bà nói:
"Đó là do viên ngọc cổ đó, viên ngọc đó là do Hoàng đế Thuận Trị tặng cho Đổng Tiểu Uyển."
Lại nói:
"Trên viên ngọc cổ đó có linh hồn của Đổng Tiểu Uyển và linh hồn của Hoàng đế Thuận Trị. Tôi cần phải lấy viên ngọc đi để làm phép thì chướng ngại tâm linh đó sẽ được loại bỏ."

Và thế là:
Quỷ Bà lấy đi viên ngọc cổ từ thời nhà Thanh đó. Tóm lại, nói chung, ngọc cổ đã rơi vào túi của Quỷ Bà, không hề nói gì về chuyện có trả lại hay không.
Sau khi cô gái về nhà, cha mẹ thấy ngọc cổ đã biến mất, vô cùng bất mãn, yêu cầu Quỷ Bà phải trả lại ngọc cổ.
Còn việc có trả lại hay không?
Chúng tôi không biết!
(Quỷ Bà này ngay cả một viên ngọc cổ cũng tham.)

🌟

Kể rằng:
Quỷ Bà đến Ngũ Đài Sơn ở tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc, tại nghĩa địa (bãi chôn người chết) của Ngũ Đài Sơn.
Bà ta khóc lóc thảm thiết:
"Hoàng đế Thuận Trị ơi! Sư phụ đến muộn rồi, để con phải chịu khổ ở đây, hãy theo ta về San Francisco!"
Khóc than!
Gào thét!
Vẻ mặt trông như thật, diễn rất xuất sắc.
Bên cạnh Quỷ Bà có một nữ đồng môn cũng lập tức khóc theo.
Quỷ Bà nói:
"Cô cứ khóc đi! Khóc đi! Vì kiếp trước cô là phi tần thứ 36 của Hoàng đế Thuận Trị."

🌟

Đọc đến đây, độc giả có thấy nghi vấn không?
Tôi (Lư Sư Tôn) đã nhìn thấy những điểm sơ hở:
Thứ nhất, lúc thì nói linh hồn của Hoàng đế Thuận Trị ở trên viên ngọc cổ, lúc lại nói linh hồn của Hoàng đế Thuận Trị ở tại bãi chôn người chết ở Ngũ Đài Sơn.
Thứ hai, theo khảo chứng, nơi an táng của Hoàng đế Thuận Trị là ở lăng tẩm hoàng gia tại tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc.
Thứ ba, Hoàng đế Thuận Trị có từng lên Ngũ Đài Sơn hay không, theo "Ngũ Đài Sơn Chí" không hề có ghi chép? Hơn nữa, một vị hoàng đế đường đường chính chính, làm sao có thể được chôn ở bãi tha ma?
Thứ tư, quốc sư của Hoàng đế Thuận Trị là Ngọc Lâm quốc sư, Ngọc Lâm quốc sư suốt đời là một vị cao tăng đạo đức, khi ngài muốn rời khỏi hoàng cung, Hoàng đế Thuận Trị đã tặng cho rất nhiều bảo vật, nhưng ngài không hề nhận một thứ gì. Ngọc Lâm quốc sư không thể nào là Quỷ Bà, bởi vì Quỷ Bà ngay cả một cây kim cũng muốn lấy.
Thứ năm, bất kì ai cũng biết, người thông linh cũng biết, cao tăng đạo đức đều biết, chỉ cần người thành tựu đốt ba nén hương, tụng chú triệu thỉnh, tất cả chư Phật Bồ Tát đều sẽ giáng xuống từ cõi trời. Chú triệu thỉnh của Mật giáo rất hữu dụng, dùng chú triệu thỉnh ở San Francisco để triệu thỉnh Hoàng đế Thuận Trị là được rồi, cần gì phải chạy xa xôi đến tận Ngũ Đài Sơn?
Quỷ Bà này thật sự rất giỏi diễn kịch.
Tôi đã nhìn thấu trò ma của bà ta.
Tôi rất muốn tặng cho bà ta một cái giỏ, để Quỷ Bà tiếp tục thêu dệt lung tung! Lừa gạt lung tung!


### 08. Kẻ siêu nói láo


Cổ Vân nói:
"Quỷ Bà toàn là lừa gạt người!"
Thượng sư Liên Tử nói:
"Quỷ Bà nói năng khéo léo, nói dối là sở trường của bà ta!"
Pháp sư Liên Ngôn nói:
"Kẻ lừa đảo vĩ đại của thế kỷ!"

Trong thế giới thực tế, tôi đưa ra ví dụ:
Trước đây, tôi đến Vancouver, thấy một nhà thờ đang được rao bán, tôi cảm thấy đồng môn ở Bồ Đề Đường chạy khắp nơi thuê mượn nhà, rất vất vả.
Vì vậy, tôi đã bỏ tiền ra trước, mua lại nhà thờ này, cải tạo thành Bồ Đề Lôi Tạng Tự.
Đồng môn của Bồ Đề Lôi Tạng Tự từ từ tích góp tiền, khi có tiền rồi sẽ trả lại cho Lư Sư Tôn.
Đến tận bây giờ, tôi vẫn còn giữ "Hợp đồng mua bán".
Tôi có thể nói như vậy, toàn bộ đệ tử ở Vancouver đều biết chuyện này.

Nhưng, trong các buổi hoằng pháp ở nước ngoài, Quỷ Bà đã trơ trẽn tuyên bố rằng:
Bà ta từ bi cúng dường ngôi nhà của mình cho Bồ Đề Đường.
Bồ Đề Lôi Tạng Tự hiện nay chính là do bà ta cúng dường.
Bồ Đề Lôi Tạng Tự là nhà cũ của Quỷ Bà.
Cuối cùng Quỷ Bà hét lớn:
"Tôi đã hiến nhà của mình cho Bồ Đề Lôi Tạng Tự, tôi từ bi như vậy, làm sao có thể lừa tiền được?"
Tôi, Lư Sư Tôn, hỏi bà:
"Bà có nói dối không?"
Có hay không, chỉ một câu thôi, bà quả thật rất giỏi nói láo, ngay cả chuyện này cũng dám lừa!

Thêm nữa, trong thế giới vô hình, bà ta còn dám nói dối nhiều hơn, ví dụ:
Quỷ Bà đến nhà của sư tỷ Lôi ở Calgary (thành phố Calgary), Canada.
Thổ Địa Công Công nói với Quỷ Bà:
"Ta đã đợi ngươi ở đây suốt 500 năm rồi!"
Tôi (Lư Sư Tôn) vừa nghe đã biết đó là lời nói dối, bởi vì tôi biết, Thổ Địa Công Công không có năng lực đó.
Thổ Địa Công là vị thần nhỏ nhất trong tất cả các thần vị, làm sao có thể có túc mệnh 500 năm?
Không thể nào!
(Ngay cả Bồ Tát cũng có sự mê mờ khi chuyển kiếp.)

Thêm nữa, sau khi tôi đưa ra câu chuyện về Thổ Địa Công Công đợi Quỷ Bà 500 năm.
Cùng một phiên bản, có bảy, tám người đã nói với tôi:
Quỷ Bà nói với họ:
"Thổ Địa Công ở nhà bạn đã đợi tôi ở đây 500 năm rồi!"
Nghĩa là cùng một câu nói, bà ta đã nói với rất nhiều người.
Không phải là trùng hợp ngẫu nhiên!
Mà là nhiều trường hợp giống nhau, không phải sự kiện đơn lẻ.
Chúng tôi, những người sáng suốt đều biết bà đang nói dối, và đó là cùng một kiểu mẫu.
Ngoài Thổ Địa Công đợi bà 500 năm, còn có nhiều thần thánh quỷ quái, chim muông thú vật... tất cả đều đợi bà 500 năm.
Đức Mẹ Maria ở Dominica cũng đợi bà 500 năm, xin hỏi đợi bà để làm gì?
Nói thẳng ra.
Xin Quỷ Bà hãy sờ vào lương tâm của mình, bà có đang nói khoác (bốc phét) không?


### 09. Nỗi ai oán của một người mẹ


Ngày 6 tháng 7 năm 2018.
Có một phụ nữ đến từ Indonesia, đến Chân Phật Mật Uyển của tôi để hỏi việc.
Bà ấy có một khuôn mặt đau khổ, nước mắt từ đôi mắt của bà tuôn chảy xuống. Bà rất đau lòng, dường như trong lòng luôn có một nút thắt không thể tháo gỡ.

Người phụ nữ này nói:
"Tôi có hai người con gái ngoan ngoãn thông minh, từ nhỏ đã là những báu vật vui vẻ trong nhà chúng tôi."
Sau đó, người phụ nữ này lại nói:
"Chúng tôi đã gửi hai con gái đến Đại học Berkeley ở California, Hoa Kỳ du học, cả hai đều đã lấy được bằng cấp."
Một người tìm được việc làm ở New York.
Người còn lại tìm được việc làm ở San Francisco.
Người phụ nữ này nói với Lư Sư Tôn rằng, bà đã quy y Lư Sư Tôn của Chân Phật Tông, học tập Phật pháp.
Bà hy vọng hai cô con gái cũng sẽ học tập Phật pháp.

Và thế là bà ấy đã ép hai cô con gái đi làm tình nguyện viên ở XX Đường. Do sống ở San Francisco rất gần XX Đường, nên thường xuyên đến XX Đường làm tình nguyện viên.
Cô con gái sống ở New York thì ít hơn, chỉ khi nào bay đến San Francisco mới đi làm tình nguyện viên. (vào kỳ nghỉ)

Giờ thì vấn đề xuất hiện!
Cô con gái sống ở San Francisco đó đã bị ma quỷ để ý, bị tạp âm, mất đi niềm vui, trở thành bệnh nhân trầm cảm, không thể làm việc, trở về nhà ở Indonesia, tự giam mình trong phòng, không bước chân ra ngoài.
Cô con gái ở New York, tình trạng không nghiêm trọng bằng, nhưng cũng bị tạp âm.
Trời ơi!
Bị ma quỷ ở XX Đường nhập rồi!

Người phụ nữ này đến giờ mới hiểu ra, bà đã đưa hai cô con gái của mình vào tổng sào huyệt của ma quỷ, giờ bà rất hối hận, hai cô con gái ngoan ngoãn đều đã bị ma nhập.
Tôi nghe nữ đệ tử Indonesia này trút bầu tâm sự, tôi cũng kêu lên với trời xanh:
Trời ơi! Trời ơi!
(Tôi đã tìm cách cứu giúp hai cô con gái của bà ấy.)
Chú thích: Tên của hai cô con gái đều có chữ "Duy".

Tôi nói thật lòng với mọi người, việc Quỷ Bà nuôi quỷ là hoàn toàn công khai.
Những con quỷ mà Quỷ Bà nuôi hầu như toàn là ác quỷ.
Nuôi quỷ hại người thực sự quá nhiều.
Tôi lấy Seattle làm ví dụ:
Từ Thụy Quang - Từ khi bái lạy ở XX Phủ, ngày nào cũng thấy ma, mất trí, tự tử.
Thẩm Vân - Từ khi bái lạy ở XX Phủ, bị nhiễm âm khí, mặt tái nhợt, nhờ tôi cứu, đã bình thường trở lại.
Thomas - Tham gia trại thanh niên XX, bị nhiễm âm khí, đêm bị ma quấn lấy, tôi đã cố gắng cứu chữa. (đã bình thường)
Đường Quân - Bị nhiễm âm khí, tôi đã cứu chữa vài lần.
Vu Tiên - Do gỡ bỏ bài vị quỷ của XX Phủ, bị nhiễm âm khí, tôi đã chữa trị, giờ đã bình thường.
Những người khác............

Tôi giận dữ quở trách Quỷ Bà:
"Cái bà này, thật đáng chết, sao không mau mau dẹp bỏ XX Phủ đi, ngươi muốn hại bao nhiêu người nữa hả!"


### 10. Khoác lác siêu cấp (chém gió)


Quỷ Bà nói:
"Tôi đã tu hành 30 triệu năm rồi!"
(Chúng tôi cười bà ta, không biết bà là con khủng long nào?)

Đây là ghi chép về chứng hoang tưởng của bà:
Thứ nhất, khi Lý Đăng Huy làm lãnh đạo, vì Trung Quốc bắn tên lửa.
Quỷ Bà nói, bà đã biến thân mình to lớn, to như Đài Loan vậy, sau đó bà dùng thân mình ôm trọn Đài Loan, bảo vệ đất đai và người dân Đài Loan.
Vì vậy, tên lửa rơi xuống biển.
(Tôi nghe xong, cười lớn.)

Thứ hai, Quỷ Bà đã đến tỉnh Aceh ở Indonesia, tỉnh Aceh bị sóng thần nhấn chìm rất nhiều người.
Quỷ Bà dùng pháp siêu độ để siêu độ cho những vong hồn bị chết đuối ở tỉnh Aceh, Indonesia.
Đây vốn là việc tốt.
Nhưng, Quỷ Bà nói, tất cả những người chết đuối đều là người Hồi giáo, không muốn nhận sự siêu độ của Phật pháp.
Vì vậy Quỷ Bà biến thân, bay lên không trung, biến thành đấng Allah của đạo Hồi, bà biến thành Allah thật sự.
Cho nên tất cả các vong hồn chết đuối đều được siêu độ.
(Tôi nghe xong, chỉ muốn hỏi bà một câu, Allah thật sự trông như thế nào?)

Thứ ba, mỗi khi bão xuất hiện, bão đổ bộ vào Đài Loan, gây ra thiệt hại rất lớn.
Quỷ Bà sẽ bay đến tâm bão, đưa bão rời khỏi Đài Loan.
Khiến bão đổi hướng.
Không được gây hại cho Đài Loan.
(Tôi nghe xong, không có cảm giác gì, vì bà ta chỉ biết nuôi quỷ, thực tế công lực rất nông cạn.)

Thứ tư, Quỷ Bà thường nói, bà thường xuyên bay đến Ma Ha Song Liên Trì để họp với Lư Sư Tôn.
Lư Sư Tôn hỏi:
"Sao chỉ có một mình bà đến?"
Bà ta trả lời:
"Những người khác đều không có công lực!"
(Tôi thành thật nói với mọi người, hoàn toàn không có chuyện này, có thể thấy bà ta toàn là hoang tưởng, tôi Lư Sư Tôn chưa bao giờ họp với Quỷ Bà.)

Quỷ Bà lại nói:
"Lư Sư Tôn đã trao truyền thừa cho tôi, tôi có bức thư bí mật viết tay của Lư Sư Tôn ủy thác truyền thừa."
(Tôi chỉ đáp lại bà ta hai từ: Thấy quỷ!)

Thứ năm, Quỷ Bà nói Hồng Tài Thần là bạn thân của bà.
Cúng dường sữa bò cho Quỷ Bà ăn.
Hát nhạc Ấn Độ cho Quỷ Bà nghe.
Nhảy múa kiểu Ấn Độ cho Quỷ Bà xem.
(Lư Sư Tôn chỉ đáp lại bà ta hai từ: Giả dối!)

Cá nhân tôi nhận thấy Quỷ Bà rất giỏi kể chuyện, thực sự là người ăn nói khéo léo. Như chuyện nhân quả ba đời, bà ta kể rành mạch, đâu ra đấy.
Mẹ của Quỷ Bà đã từng đứng ra nói:
"Nó là con tôi sinh ra, tất nhiên tôi hiểu nó, từ nhỏ nó đã rất giỏi nói dối."
Bà còn nói:
"Không có tu hành, làm sao có thần thông!"
Và nói thêm:
"Xin mọi người đừng tin nó!"
Lành thay! Vì đại nghĩa mà bỏ tình thân!


### 11. Câu chuyện của tắc kè hoa


Quỷ Bà có thể thông linh với động vật, ..........., XX Đường từng có một con tắc kè hoa tên là Nhân Quả, đó là một linh thú, biết rõ nhân quả ba đời. ........." (Đoạn văn này lấy từ tạp chí của Quỷ Bà.)
Bây giờ tôi xin nói với mọi người:
"Con tắc kè hoa này được mua từ chợ đồ cũ."
Từ con tắc kè hoa này, Quỷ Bà đã bịa ra vô số câu chuyện về đại gia đình XX Đường.
Có một kiếp:
Nó là một đại hòa thượng, là sư phụ của Liên Khải.
Có một kiếp:
Nó là mẹ của Liên Dũng.
Có một kiếp:
Nó là con gái của Liên Dĩnh. Lại có một kiếp, là em gái của Liên Dĩnh.
Có một kiếp:
Nó là thiếp của Thúy Vi.
Có một kiếp:
Nó là anh em của Liên Tự.
Có một kiếp:
Nó là người gì đó của Liên An.
Có một kiếp:
.........................

Sau khi tôi hiểu rõ mối quan hệ thân thuộc giữa tắc kè hoa và XX Đường, tôi đã phát hiện ra một sự thật.
Chứng hoang tưởng của Quỷ Bà này thật sự là quá nghiêm trọng. Có thể nói rằng, con tắc kè hoa này được xem như một thành viên quan trọng trong đại gia đình XX Đường.
Nó có quan hệ họ hàng với tất cả mọi người trong XX Đường.
Tôi là người sáng suốt, vừa nhìn đã thấy:
"Hóa ra tất cả đều là bịa đặt, giả dối."
Tôi nhận ra:
Tắc kè hoa chỉ là một con tắc kè hoa bình thường, nó không phải là linh thú.
Tắc kè hoa hiểu rõ nhân quả ba đời, lại càng là chuyện nhảm nhí.
(Trong kinh Phật: A Nan nói với Đức Phật, con cuối cùng đã hiểu rõ nhân quả. Đức Phật bảo A Nan, ông còn kém xa lắm!)
A Nan còn không hiểu rõ.
Vậy mà tắc kè hoa lại hiểu được? Vô lý!

Tôi thật lòng nói với mọi người, tắc kè hoa chỉ là một con vật nhỏ.
Quỷ Bà mượn đề tài để lừa gạt tắc kè hoa và lừa gạt tất cả các pháp sư ở XX Đường.
Tắc kè hoa thực chất chính là Quỷ Bà, Quỷ Bà chính là tắc kè hoa.
Tôi đã từng quan sát kĩ khuôn mặt của Liên Khải.
Anh ta có trí thông minh, đó là trí thông minh để tìm kiếm kiến thức, không phải là trí tuệ tâm linh.
(Anh ta từng là người giàu có, cưới nhiều vợ bé, sinh nhiều con trai con gái và cháu. Quỷ Bà nói vậy.)
Tôi nhìn khuôn mặt anh ta, tai mỏng, mũi không cao, không có tướng mạo phú quý trong bất kì kiếp nào.
Học giỏi, điều này là thật.
Người giàu có? Cưới nhiều vợ lẽ? Sinh nhiều con trai con gái và cháu? Tất cả đều là giả dối.
Từ đây chứng minh rằng:
Toàn bộ câu chuyện về tắc kè hoa đều do Quỷ Bà bịa đặt ra.
Quỷ Bà ơi! Quỷ Bà! Hãy sờ vào lương tâm của mình, bà có nói dối không? Bà tự biết!
Đừng lừa gạt người nữa!


### 12. Câu chuyện thang máy


Nghe nói, có một lần, Quỷ Bà cùng đồng môn đi thang máy. (ở Cao Hùng)
Bỗng nhiên, có tiếng "cạch" một cái, thang máy dừng lại! Không lên được, cũng không xuống được.
Quỷ Bà và đồng môn bị kẹt trong thang máy, cửa đóng chặt. (Bị nhốt trong thang máy một tiếng đồng hồ.)
Trong không gian nhỏ hẹp, không khí cũng trở nên ngột ngạt.
Lúc này, Quỷ Bà lẩm bẩm cái gì đó, không biết bà ta lại đang giở trò quỷ gì.
Quỷ Bà nói:
"Có một vị Thổ Địa Công dẫn theo một nữ quỷ, đặc biệt đến đây để khiếu nại!"
Quỷ Bà nói:
"Cái thang máy này dừng lại, có phải do ông Thổ Địa làm không?"
Thổ Địa Công đáp:
"Đúng vậy."
Quỷ Bà hỏi:
"Con quỷ này khiếu nại chuyện gì?"
Quỷ đáp:
"………………"

Theo mô tả của Quỷ Bà, con quỷ này đã khiếu nại với Quỷ Bà, và Quỷ Bà đích thân đi xử lý vụ việc.
Phát hiện ra rằng chính con quỷ này cũng có lỗi, vì vậy kết quả xử lý là:
Không giải quyết gì cả. (Thang máy mãi đến khi xe cứu hỏa đến cứu mới mở được.)
Câu chuyện trong thang máy này đã kết thúc!

Tôi (Lư Sư Tôn) sau khi nghe câu chuyện này, ngửa mặt lên trời thở dài, Quỷ Bà này thật giỏi bịa chuyện (lừa gạt), ngay cả sự cố thang máy cũng có câu chuyện của nó.

Tôi (Lư Sư Tôn) phân tích cho mọi người nghe:
Thổ Địa Công dẫn theo nữ quỷ, vội vã đến khiếu nại với Quỷ Bà, lúc này Quỷ Bà đang đi thang máy.
Theo suy nghĩ thông thường.
Thổ Địa Công dùng năng lực thần nhỏ nhất của mình ra lệnh cho thang máy hỏng và dừng lại.
Làm vậy có đúng không?
Tại sao Thổ Địa Công không đợi vài giây, thang máy lên cũng chỉ mất vài giây, thang máy xuống cũng chỉ mất vài giây, nhiều nhất là một phút thôi!
Thổ Địa Công nóng vội đến thế sao?
Thổ Địa Công dùng năng lực có thể làm cả thang máy dừng lại? Hỏng trong một giờ đồng hồ, tất cả những điều này đều đáng nghi ngờ.
Nếu Thổ Địa Công thực sự hành động thiếu suy nghĩ như vậy, tôi Lư Sư Tôn sẽ tố cáo Ngài tội "phá hoại tài sản công".

Tôi dùng thuật bấm ngón tay thần toán, câu chuyện này cũng chỉ là Quỷ Bà tự mèo khen mèo dài đuôi.
Quỷ Bà biến thành Bao Công.
Thổ Địa Công dẫn theo quỷ đến chặn đường kêu oan.
Quỷ Bà đích thân xử lý vụ án.
Quỷ Bà còn đích thân tuyên án.
Tất cả câu chuyện này làm cho các đệ tử ngơ ngác kinh ngạc.
Nhưng trong mắt tôi vẫn chỉ là một câu:
"Kẻ lừa đảo!"

Tôi triệu thỉnh Thổ Địa Công đến chỗ tôi.
Tôi hỏi Thổ Địa Công:
"Ngài có đi phá hoại thang máy không?"
Thổ Địa Công đáp:
"Làm gì có chuyện đó, đây chỉ là Quỷ Bà tự nâng giá trị bản thân, chỉ là một trong những trò lừa bịp mà thôi!"


### 13. Thư của sư tỷ Giai Tân


Sư tỷ Từ Giai Tân đã viết một lá thư vào ngày 9 tháng 7 năm 2018, đăng toàn văn lá thư như sau:

*Đảnh lễ Căn bản Truyền thừa Thượng sư! 
Om guru liansheng siddhi hum!*

*Đệ tử Liên Hoa Giai Tân tại đây viết bản báo cáo này, từng câu đều là sự thật. Căn bản Thượng sư và chư Phật Bồ Tát trong hư không có thể chứng minh.*

*Sau khi Thánh Tôn ẩn cư vào năm 2000, XX nhiều lần yêu cầu đệ tử ra làm Thượng sư, nhưng trong lòng đệ tử hoàn toàn không có ý này. Trước hết tự biết
Nghiệp chướng sâu nặng.
Đức hạnh không cao.
Tâm từ bi không đủ.
Độ kiên nhẫn không đủ.
Tất cả các pháp tu phúc huệ chưa đầy đủ.*

*Sau đó XX đã yêu cầu sư tỷ Lưu, tổng vụ của Tôn Bình Đường, bay một mình đến San Francisco để gặp bà ta, yêu cầu sư tỷ Lưu quay về thuyết phục Liên Hoa Giai Tân ra làm Thượng sư, đệ tử vẫn không dao động. Sau đó, trong lễ sám hối Lương Hoàng Bảo Sám tại hồ Toba, Medan, Indonesia, Liên Hoa Giai Tân được sắp xếp để mát-xa toàn thân cho XX. Khi hai người ở riêng trong phòng, XX lại một lần nữa thuyết phục Liên Hoa Giai Tân ra làm Thượng sư, đệ tử vẫn không dao động.*

*XX khi đó nói rằng Sư Tôn muốn bà ấy ra ngoài tìm Thượng sư, và cô không làm như vậy là vì cô không hiểu tâm ý của Sư Tôn.*

*Sau buổi sám hối, tại nơi nghỉ ngơi dưới núi, chính miệng XX đã nói về việc bà ta hối hận đã quy y Sư Tôn, một điều gây chấn động, đệ tử lập tức hiểu rằng XX có lẽ đã mất đi sức mạnh truyền thừa, biết rằng XX đã đi lệch đường.*

*Khoảng năm 2005, XX lại gọi điện từ Đài Loan nói rằng, bà ta đã nhận được huyết mạch Chân Phật, và đã nhận được quán đảnh cao nhất từ Sư Công ở Hồng Kông - quán đảnh Ngũ Phật ABC, đồng thời nói rằng Sư Tôn đã từng tiên đoán từ sớm rằng Chân Phật Tông trong tương lai sẽ có hai hệ phái lớn, một là phái Tím một là phái Đỏ. Bà ta có ý lôi kéo đệ tử.*

*Sau đó Sư Tôn xuất quan và dùng bữa với nhiều vị Thượng sư tại Vancouver, XX là một trong số đó, sau đó XX lại gọi điện nói rằng Sư Tôn muốn giao phó pháp cho bà ta, nhưng bà ta lập tức nói với Sư Tôn, đừng giao phó pháp cho bà ta. Còn Sư Tôn: Tôi nhất định phải giao phó pháp cho bà, nhấn mạnh lặp đi lặp lại câu này, ý nói bà ta lại một lần nữa nhận được chân truyền từ Thánh Tôn, nhưng đệ tử vẫn không lay chuyển. (Sư huynh Tạ Đức Nhân, nay đã vãng sinh Phật quốc, khi ấy biết chuyện này cũng đã nhiều lần dặn dò tuyệt đối không nên ra làm Thượng sư.) (Những người tự ý đến Hồng Kông bái kiến Sư Công cuối cùng đều sẽ có vấn đề.)*

*Vào năm 2006, sau khi Sư Tôn xuất quan và chủ trì pháp hội đầu tiên tại Đài Loan Lôi Tạng Tự, trên xe buýt đi đến Tân Trúc, XX lại nói: "Giai Tân, tôi bảo cô ra làm Thượng sư, cô không nghe, tôi đã đưa thư giới thiệu cho Sư Tôn, và Sư Tôn đã đọc thư đó trong cuộc họp Thượng sư!"
Cái gì? Thượng sư! Sao bà ấy không biết tôn trọng người khác, tôi chưa bao giờ đồng ý.
XX nói đã đưa thư cho Sư Tôn, và không ngờ Sư Tôn đã đọc to trước mọi người: "Ban phong cho Liên Hoa Giai Tân tại Malaysia làm Kim cương Thượng sư."*

*Lúc này có hai người phản đối (Thượng sư Liên Ninh, Thượng sư Liên Trí)
Sư Tôn hỏi hai người: "Tại sao các vị phản đối?"
Hai người đáp: "Vì cô ấy chưa xuất gia!"
Sư Tôn: "Được rồi! Vậy đợi khi cô ấy xuất gia!"*

*Sự việc này vào ngày 24 tháng 6 năm 2018 tại Đài Loan Lôi Tạng Tự đã được Sư Phật xác nhận là không có chuyện này, do đó những gì XX nói ở trên hoàn toàn là bịa đặt, lừa gạt.
Hành giả Chân Phật - Liên Hoa Giai Tân tự tay viết.*

🌟

Về thư tố giác của sư tỷ Giai Tân, tôi (Lư Sư Tôn) có bình luận như sau:
1. Quỷ Bà muốn Giai Tân ra làm Thượng sư (A Xà Lê), bản thân tôi hoàn toàn không biết gì về chuyện này.

2. Quỷ Bà có thể giới thiệu người làm A Xà Lê, ai đã ủy quyền cho bà ta? Tôi đã mất lòng tin với Quỷ Bà này từ lâu rồi.

3. Quỷ Bà nói hiểu rõ tâm tôi, đáng tiếc là, trong tâm tôi hoàn toàn không có người như Quỷ Bà. Kể từ khi bà ta muốn giết Sư Mẫu, Liên Phẩm, Liên Trí, Liên Diệu, tôi đã cực kì căm ghét người này, đã mặc kệ bà ta từ lâu rồi.

4. Quỷ Bà đã chính miệng nói với sư tỷ Giai Tân: "Hối hận đã quy y Lư Sư Tôn!"
Giai Tân hỏi:
"Tại sao?"
Quỷ Bà đáp:
"Đã có thần thông từ trước! Trước khi quy y."
Nhận xét của tôi như sau: 
Đừng cho rằng mình có thần thông là ghê gớm lắm, người học Phật, điều quan trọng là đạt được cảnh giới giác ngộ của Phật. Huống chi thần thông của Quỷ Bà toàn là vọng ngữ.

5. Việc huyết mạch truyền thừa Chân Phật Tông muốn truyền cho Quỷ Bà là sai lầm lớn!
Thứ nhất, phải là Thượng sư xuất gia.
Thứ hai, phải là tỳ kheo. (Đức hạnh và học vấn đều ưu tú.)
Quỷ Bà thật đáng xấu hổ, tự đề cao bản thân.

6. Trong cuộc họp Thượng sư, tôi đã đề xuất............... Tôi nói, đây toàn là lời nói bừa bãi vô căn cứ.
Tôi chưa từng tham gia cuộc họp Thượng sư. Bà ta lại nói dối!

7. Quỷ Bà muốn san bằng Lôi Tạng Tự? Quỷ Bà này có phải đang tu hành học Phật không? Nghe những lời như vậy thật cực kì ghê tởm!


### 14. Thủ đoạn lừa đảo


Chuyện kể rằng:
Một cổ đông của Liên Hoa Thuật Khưu đến hỏi việc Quỷ Bà.
Quỷ Bà nói:
"Có một con bạch xà lớn đang định cắn ông, tôi đã dùng phất trần tiên do Diêu Trì Kim Mẫu ban tặng để phủi nó đi."
Cổ đông hỏi:
"Tại sao nó muốn cắn tôi?"
Quỷ Bà đáp:
"Kiếp trước ông thiếu nó xx lượng vàng."
Quỷ Bà bảo pháp sư bên cạnh dùng máy tính để quy đổi, khoảng hai trăm nghìn đô Mỹ.
Ý của Quỷ Bà là vị cổ đông này phải lấy ra hai trăm nghìn đô Mỹ để giải quyết món nợ từ kiếp trước.
(Đây là câu chuyện giữa cổ đông và con đại bạch xà.)

🌟

Chuyện kể rằng:
Sư tỷ Tiểu Nguyệt thấy một con rùa.
Quỷ Bà nói:
"Con rùa này là anh trai kiếp trước của cô, cô nợ anh trai kiếp trước của mình bảy nghìn lượng bạc."
Bảy nghìn lượng bạc là bao nhiêu tiền?
Sư tỷ Tiểu Nguyệt nói:
"Thôi! Nợ tiền thì trả tiền, cũng coi như là bỏ tiền để giải tai ương vậy!"
(Đây là câu chuyện giữa sư tỷ Tiểu Nguyệt và con rùa.)

🌟

Chuyện kể rằng:
Liên Hoa Điềm Điềm hỏi Quỷ Bà:
"Nhà kho lúa của tôi thường xuyên có chim én đến mổ gạo và rơm rạ, vì nhân duyên gì vậy?"
Quỷ Bà đáp:
"Những con chim én này chính là tổ tiên kiếp trước của cô!"
Liên Hoa Điềm Điềm hỏi phải làm sao? Câu trả lời của Quỷ Bà, tất nhiên là: "Cần cầu siêu cho tổ tiên của cô, tổ chức đàn tràng làm Hộ Ma."
Liên Hoa Điềm Điềm liền trả tiền.
Sau đó:
Chim én vẫn bay đến nhà Liên Hoa Điềm Điềm, vẫn ăn gạo và ngậm rơm rạ như thường.
Liên Hoa Điềm Điềm lại hỏi:
"Tại sao vẫn còn nhiều chim én như vậy?"
Quỷ Bà đáp:
"Tổ tiên của cô rất nhiều, chim én đương nhiên cũng nhiều, cần phải làm thêm vài đàn tràng cầu siêu mới được."
Đàn tràng cũng là tiền.
(Đây là câu chuyện giữa Liên Hoa Điềm Điềm và những con chim én.)

Những trường hợp khác:
Tắc kè hoa, chó, mèo, chuột, nhện, đom đóm, vua cá, voi, cua ……………
Thủ đoạn đều giống nhau.

🌟

Tôi thật sự phân tích cho mọi người nghe, xin mọi người đặc biệt chú ý để tránh bị lừa.
Chúng ta là con người, vẫn đang ở trong thiện đạo.
Súc sinh là một trong ba đạo ác (địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh).
Theo logic nhân quả mà nói, đúng ra là súc sinh mắc nợ con người. Vì mắc nợ nên mới biến thành súc sinh.
Con người vì mắc nợ nên mới biến thành súc sinh, vì vậy nhiều súc sinh bị con người sử dụng làm thức ăn. Đúng là súc sinh mắc nợ con người mới đúng.
Cho nên:
Quỷ Bà ngược lại, nói con người mắc nợ súc sinh là đi ngược lại đạo lý, hoàn toàn là lừa đảo!


### 15. Giả tạo và ngụy trang


Thượng sư Liên Tử nói:
Có một lần Quỷ Bà ở Viên Trì Đường tại Perth, Úc.
Quỷ Bà nói:
"Gần Viên Trì Đường có một vị lão hòa thượng, lão hòa thượng đang đấu pháp với tôi!"
Sau đó Quỷ Bà thè lưỡi ra.
Điều khiến người ta kinh hãi là, lưỡi của Quỷ Bà chuyển sang màu đen, đen kịt một màu.
Sau đó, lưỡi của Quỷ Bà trở lại bình thường. Điều này cho thấy pháp lực của Quỷ Bà mạnh mẽ.
Thượng sư Liên Tử nói:
"Thực ra nói toạc ra thì chẳng đáng một xu, Quỷ Bà đã ăn sô-cô-la đen trước đó, lưỡi liền chuyển sang màu đen, nuốt nước bọt vài lần thì lưỡi trở lại bình thường."
(Thủ thuật này chúng tôi hồi nhỏ cũng từng chơi, lúc đó chúng tôi ăn mực bạch tuộc, lưỡi liền chuyển sang màu đen, dọa những đứa trẻ khác.)
Thủ đoạn lừa đảo kiểu này gọi là ngụy trang.

🌟

Ở Brazil, sư tỷ của tiệm thẩm mỹ Bích Chi Nghệ đã xăm má hồng cho Quỷ Bà. Việc xăm má hồng đã thành công tốt đẹp.
Quỷ Bà nói:
"Tôi xăm má hồng ở chỗ cô, cô đừng có nói cho ai biết nhé, làm ơn!"
Lôi Phong Bồi gặp Quỷ Bà, hỏi:
"Sao mặt bà hồng hào rạng rỡ vậy?"
Quỷ Bà đáp:
"Đó là do tôi tu luyện mà có được!"
Nhiều người hỏi:
Quỷ Bà đều trả lời như sau:
"Do tu luyện mà có!"
Về sau, sau khi chúng tôi vạch trần trò xăm má hồng của bà ta.
Quỷ Bà giải thích:
"Xăm má hồng không thành công, má hồng này là do tu luyện thực sự mà có."
Haha!
Càng giải thích càng tệ, Quỷ Bà càng giải thích má càng đỏ.
(Đây cũng là ngụy trang.)

🌟

Có một lần khác.
Quỷ Bà và đồng môn ngồi trên một chiếc xe.
Đột nhiên, túi hương của Quỷ Bà rung lên dữ dội.
Quỷ Bà nói:
"Có một vị Bồ Tát từ hư không giáng xuống, giáng vào túi hương của tôi, vì vậy túi hương rung lên dữ dội, nhìn này! Nhìn này, thật là kỳ diệu."
Các đồng môn tấm tắc khen ngợi!

Pháp sư Liên Hải, người từng trụ trì Bạch Liên Hoa Đường nói:
"Túi hương rung lên, phải chăng trong túi hương có điện thoại, điện thoại để chế độ rung, tôi xem thử."
Liên Hải định cầm lấy.
Quỷ Bà vội vàng thu hồi túi hương, ôm chặt không buông.
Pháp sư Liên Hải:
"Ngay cả chuyện này cũng lừa!"
(Đây cũng là ngụy trang.)

🌟

Bụng của Quỷ Bà rất to, bà ta nói: "Đó là do tu khí mà có!"
Tôi (Lư Sư Tôn) nói:
"Người khác ăn một tô mì là no rồi, còn bà ta phải ăn đến hai tô, đó mới chính là nguyên nhân thật sự của cái bụng to! Haha!"


### 16. Long Vương Hoàng Hà và Long Vương Thanh Hải


Theo lời sư phụ tôi:
Trong "Đại Tập Kinh" có năm loại Long Vương:
1. Thiện Trụ Long Vương — hình tượng voi.
2. Bà Nan Đà Long Vương — hình tượng rắn.
3. A Nậu Đạt Long Vương — hình tượng ngựa.
4. Bà Lâu Na Long Vương — hình tượng cá.
5. Ma Na Tô Bà Đế Long Vương — hình tượng tôm.
(Vì vậy Long Vương không chỉ có một hình tướng.)

Lại nữa:
Trong "Pháp Hoa Kinh" có tám Long Vương:
Nan Đà Long Vương, Bạt Nan Đà Long Vương, Sa Già La Long Vương, Hòa Tu Cát Long Vương, Đức Xoa Ca Long Vương, A Na Bà Đạt Đa Long Vương, Ma Na Tư Long Vương, Ưu Bát La Long Vương.

Lại có "Danh Nghĩa Đại Tập Kinh": 81 Long Vương.
Lại có "Đại Vân Thỉnh Vũ Kinh": 185 Long Vương.
Sư phụ tôi nói:
"Long vì có sức mạnh phi thường nên được gọi là thần. Thiên long bát bộ có nghĩa là chỉ thiên và long, là những vị thiên chúng và long chúng hộ trì Phật pháp."

Thời kỳ đầu, tôi đã đến đường cao tốc I-5 lối ra 212, có một hòn đảo tên là đảo Camano, ở bên bờ biển, tôi đã dâng cúng bảo bình Long Vương.
Trong khoảnh khắc!
Sóng biển dữ dội, mây đen kéo đến dày đặc.
Hóa ra là tám đại Long Vương dẫn đầu trăm nghìn vạn quyến thuộc rồng đến quy y.
(Vốn trời trong xanh vạn dặm, chỉ trong chớp mắt trời đất tối sầm, sóng biển ập đến từng đợt.)
Những người chứng kiến là:
Thượng sư Lưu Văn Khanh.
Pháp sư Liên Thể.
Thượng sư Liên Bảo.
Và nhiều người khác. ............

🌟

Sư phụ tôi nói:
"Long Vương to lớn nhất là Long Vương biển và Long Vương trời. Loại trung bình là Long Vương hồ, Long Vương sông. Long Vương nhỏ nhất là Long Vương suối, Long Vương ao. Còn nhỏ đến mức không thể nhỏ hơn là Long Vương giếng, Long Vương giếng giống như một vị thần nhỏ tương tự như Thổ Địa Công."

Tôi đã thấy trên các ấn phẩm quảng cáo của Quỷ Bà, có in:
Long Vương Hoàng Hà đến đón rước.
Long Vương Thanh Hải nguyện hộ trì.
Tôi (Lư Sư Tôn) bấm đốt ngón tay thần toán, kết quả là:
"Giả dối."
(Hóa ra Quỷ Bà đi du lịch Trung Quốc, mang theo một nhóm quỷ cùng đi, những cảm ứng đó hoàn toàn là cảm ứng của quỷ, chứ không phải Long Vương gì cả.)

🌟

Ngày 2 tháng 7 năm 2018, sau lễ La Thiên Đại Tiếu, chúng tôi đã đến cầu Cổng Vàng.
Có đệ tử ở San Francisco nói:
"Ở vùng biển vịnh cầu, Quỷ Bà và đồng môn đã ném xuống rất nhiều bảo bình Long Vương, nhưng chưa bao giờ có ai trúng thưởng cả."
Tôi nói:
"Vùng biển này có long cung, nhưng không phải ở bên cầu Cổng Vàng, mà là ở vịnh gần Đại học Berkeley, còn ở cầu Cổng Vàng là quỷ cung."
Cùng loại tụ họp với nhau. (Vật tụ theo loài.)
Quỷ Bà lại sai rồi, đã ném bảo bình Long Vương cho quỷ cung. Bà ta thật là mù quáng.


### 17. "Bà nói là xong" ngạo mạn nhất


Theo ghi chép trong kinh Phật, khi Đức Phật thiền định dưới cội bồ đề đắc thành tựu :
"Kinh Trang Nghiêm" ghi chép:
"Thân Đức Phật tỏa vô lượng hào quang, rung chuyển khắp nơi, lan tỏa đến vô biên cõi. Lại có vô lượng chư thiên tấu lên nhạc trời nhiệm mầu, mưa hoa trời rơi xuống, phủ kín mặt đất."
"Kinh Phổ Diệu" ghi chép:
"Đức Phật ngồi dưới cội bồ đề, ý đã thanh tịnh, thành tựu sơ thiền; tĩnh lặng nhất tâm, chuyên chú không xao động, thành tựu nhị thiền; đã thanh tịnh thấy chân thật, thành tựu tam thiền; tâm không nương vào thiện, cũng không vướng vào ác, không còn niệm khổ vui, chính ngay trong đó tĩnh lặng không biến đổi, thành tựu tứ thiền."

Khi Đức Phật đắc chính giác, có:
Bốn mươi mốt vị Pháp thân Đại Sĩ đồng thời vây quanh. Đức Phật thị hiện thân Lô Xá Na mà thuyết pháp. Giảng pháp Hoa Nghiêm. (Kinh Hoa Nghiêm)
Ai là người chứng minh Đức Phật đắc chính giác?
Kiên Lao Địa Thần.
Đa Bảo Như Lai.
Lục Độ Mẫu.

🌟

Chuyện kể rằng:
Quỷ Bà tự khoe khoang Địa Mẫu ở trên không trung phát ra một tiếng "hú"!
Dán câu "Bà nói là xong" lên mặt Quỷ Bà.
(Bà ta tự châm biếm mình, giống như việc đuổi thi thể ở Tương Tây, mỗi thi thể đều có một lá bùa dán trên đầu.)
Điều này chứng minh gì?
Chứng minh: Đã là tối thượng vô song, bà nói gì cũng đúng.

Quỷ Bà có dấu hiệu "đạo văn", Địa Thần trồi lên, chứng minh Đức Phật đã thành đạo. Quỷ Bà dùng Địa Mẫu, dán câu "Bà nói là xong" lên mặt để chứng minh bà ta cũng đắc đạo rồi.

Trong sự so sánh này, tôi phân tích lý lẽ cho mọi người nghe:
1. Danh xưng của Địa Mẫu là Pha Lê Đề Bì, Quỷ Bà hoàn toàn không biết điều này.
2. Địa Mẫu ở bên ngoài Mandala Thai Tạng Giới, ở phía Đông của viện Kim Cang Bộ. Có lầu gác, phía Bắc là Kiên Lao Địa Thần, hai vị ngồi cạnh nhau.
3. Có thuyết cho rằng Địa Mẫu là vợ của Kiên Lao Địa Thần.
4. Sự chứng ngộ của Đức Phật là Chính Đẳng Chính Giác.
5. Quỷ Bà là "Bà nói là xong".
6. Chính Đẳng Chính Giác là cảnh giới giác ngộ cao nhất, trong cảnh giới này là không được không mất.
7. "Bà nói là xong" là một kiểu giọng điệu kiêu ngạo độc chiếm giang hồ, giống như:
Hắc đạo.
Thiên ma.
Tà quỷ.
Ác bá.
Chỉ những đối tượng này mới dùng kiểu giọng điệu đó. Vô cùng tự phụ kiêu ngạo.
8. Đức Phật có nói "Ta nói là xong" không? Tất nhiên là không.
9. Thực tế, trên Quỷ Bà, còn có một vị Lư Sư Tôn, người đã sớm nhìn thấu tâm địa của Quỷ Bà.
10. Tôi đã từng triệu thỉnh Địa Mẫu Bồ Tát.
Tôi hỏi:
"Cái câu 'Bà nói là xong' của Quỷ Bà là do đâu?"
Địa Mẫu Bồ Tát đáp:
"Trong cõi Ta Bà này thực sự không có ai có thể nói là xong cả."
Tôi hỏi: "Cái câu 'Bà nói là xong' của Quỷ Bà, có phải do Ngài (Địa Thần) dán lên không?"
Địa Mẫu đáp: "Đó là do tâm tà của Quỷ Bà tự dán lên."
(Ma quỷ là do kiêu ngạo mà thành ma.)


### 18. Đạp bằng Lôi Tạng Tự 


Quỷ Bà nói: 
"Tôi sẽ đạp bằng Đại Quán Đường của Thượng sư Dương Trung Sỉ."
"Tôi sẽ đạp bằng Bát Nhã Lôi Tạng Tự."
"Tôi sẽ đạp bằng Lôi Tạng Tự."

Tôi nói với Quỷ Bà ở đây:
"Hai chữ Lôi Tạng là do Diêu Trì Kim Mẫu (Tiên Vương) ban tặng cho Lư Sư Tôn của Chân Phật Tông. Hai chữ này mang ý nghĩa rất lớn, bà có biết ý nghĩa của hai chữ này không?"
"Tôi nói cho bà biết! Lôi là địa lôi, được giấu dưới đất, chỉ cần bà dẫm lên, nó sẽ phát nổ, nổ đến mức hồn bay phách tán, biến thành một đống bụi."
"Dĩ nhiên! Hai chữ Lôi Tạng không chỉ có vậy, hai chữ này vừa sâu vừa rộng, là điều siêu việt vĩ đại nhất trong vũ trụ, ngay cả hai chữ này bà cũng không hiểu, làm sao có thể tự xưng là người giác ngộ?"

🌟

Kể về thời kỳ đầu.
Quỷ Bà đến Chân Phật Mật Uyển xin một tên chùa.
Lý do là bà ta muốn xây một linh cốt tháp kiêm một ngôi chùa ở Tịch Chỉ, Đài Bắc.
Tôi nói:
"Các ngôi chùa của Chân Phật Tông đều được gọi là Lôi Tạng Tự, ở Tịch Chỉ thì gọi là Tịch Chỉ Lôi Tạng Tự."
Quỷ Bà đáp:
"Tôi không muốn Lôi Tạng Tự!"
Tôi hỏi:
"Tại sao?"
Quỷ Bà đáp:
"Tên chùa của tôi phải khác với người khác!"
(Lư Sư Tôn lúc đó nghĩ trong lòng, người này đã có tư tâm sớm như vậy, đây là dấu hiệu sẽ rời khỏi Chân Phật Tông!)

Tuy nhiên, tôi chỉ mỉm cười.
Tôi nói:
"Vậy thì cho bà cái tên Lôi Môn Tự!"
Quỷ Bà nói:
"Tốt!"
(Tại sao tôi đặt tên Lôi Môn Tự cho Quỷ Bà? Vì tôi vừa đi du lịch Nhật Bản, đến chùa Quan Âm ở Asakusa, Tokyo, cổng chùa treo hai chiếc đèn lồng lớn, trên đó có hai chữ "Lôi Môn", hai chữ này là do cổng chùa thờ Thần Sấm.)
Còn nữa:
Nghe nói, chùa Lôi Môn là công trình xây dựng trái phép, nên đã bị đội phá dỡ của chính quyền thành phố phá bỏ. (Bị đạp bằng.)
Chùa Lôi Môn này cũng chỉ đến thế là kết thúc.

Tôi phân tích tâm lý của Quỷ Bà:
1. Người phụ nữ này rất ích kỷ, hoàn toàn không có tinh thần đồng đội.
2. Quỷ Bà muốn đạp bằng Lôi Tạng Tự, điều đó tương đương với việc đạp bằng Chân Phật Tông, đạp bằng Lư Sư Tôn, đạp bằng Diêu Trì Kim Mẫu, nếu ngay cả Diêu Trì Kim Mẫu mà bà ta cũng đạp bằng thì còn gì nữa?
3. Bà ta tự khoe đã tu hành 30 triệu năm.
4. Bà ta tự khoe đã tu hành 3000 năm tại hồ Thanh Hải.
(Từ đây có thể thấy, bà ta còn tự khoe mình vĩ đại hơn cả Diêu Trì Kim Mẫu, Thích Ca Mâu Ni Phật...)
5. Chúng ta là những người sáng suốt, đều nhìn ra người phụ nữ này mắc chứng hoang tưởng khoác lác.
6. Chém gió quá đáng!
7. Quả nhiên đã đòi tách ra, tự cho rằng thế lực đã thành, muốn tự làm chủ.
8. Quỷ Bà tự phong làm Thượng sư, phong những người đi theo làm Thượng sư, những quỷ nô đó đắc ý vui mừng. (Thật là một trò hề.)


### 19. Nói dối mọi lúc mọi nơi


Quỷ Bà có bản lĩnh nói dối cao cường, đã đạt đến mức thuần thục hoàn hảo, và có thể nói dối bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu.
Có rất nhiều ví dụ:
Quỷ Bà nói:
"Khi đường chủ Panama đến dâng khăn khata, chiếc khăn được trao qua, tôi nhắm mắt lại, khoác lên người. Ôi! Chiếc khăn khata trắng của đường chủ biến thành máu, đầu của đường chủ thậm chí đã đứt lìa! Tôi giật mình hoảng hốt! Phải làm sao đây? Tôi biết anh ta sắp gặp tai họa."
Sự thật là:
"Có kẻ cướp đến nhà đường chủ để cướp bóc, giết chết mẹ vợ của anh ta. Anh ta nghe thấy tiếng súng và đi ra khỏi phòng, kẻ cướp vừa nhìn thấy anh ta liền bắn ngay, may mắn là bên cạnh có một cái quạt đang quay, anh ta né tránh nên không trúng đạn, anh ta lập tức chạy trở lại phòng, khóa cửa và gọi cứu viện. Anh ta không bị trúng đạn, nhưng mẹ vợ đã bị bắn chết."

Tôi hỏi Thượng sư Liên Hỷ:
"Là Quỷ Bà nói trước rồi sự việc mới xảy ra? Hay là sự việc xảy ra rồi Quỷ Bà mới nói?"
Thượng sư Liên Hỷ đáp:
"Là sự việc xảy ra rồi Quỷ Bà mới nói."
Tôi cười ha hả:
"Đây là lời nói dối sau khi sự việc đã xảy ra."
Liên Hỷ nói:
"Quỷ Bà nói mẹ vợ đã chịu thay cho đường chủ."
Tôi nói:
"Chịu thay cái khỉ gì!" (Mẹ vợ là bậc đại tu hành sao?)

🌟

Một pháp sư đứng bên cạnh đài pháo cổ, đột nhiên cảm thấy đau thắt ngực, Quỷ Bà lập tức nói:
"Chính ông đã bị pháo cổ này bắn trúng tim."
Tôi nghe xong cười ha hả.
Nếu bị pháo cổ bắn trúng thì đã nát thành bụi, đâu chỉ có trái tim!
(Nói dối mọi lúc mọi nơi.)

🌟

Đi thăm một nhà thờ Thiên Chúa giáo, bên cạnh có đội hợp xướng đang hát thánh ca.
Quỷ Bà nói: "Giọng hát của Pháp sư Liên Ngôn hay như vậy là do kiếp trước đã từng hát thánh ca ở đây rồi."
Tôi nghe xong cười ha hả.
(Nói dối mọi lúc mọi nơi.)

🌟

Quỷ Bà nói:
"Bồ Đề Lôi Tạng Tự là nhà của tôi, tôi từ bi hiến tặng mới có Bồ Đề Lôi Tạng Tự ngày nay."
Tôi nghe xong cười chua chát.
Bồ Đề Lôi Tạng Tự ở Vancouver rõ ràng là nhà thờ cũ, tôi đã mua trước, rồi cải tạo thành Bồ Đề Lôi Tạng Tự.
Ngay cả loại dối trá này, bà ta cũng dám nói.
(Nói dối không còn lẽ trời.)

🌟

Pháp sư Mỹ Thi bị bệnh, được đưa vào bệnh viện.
Tin đồn nhầm rằng pháp sư Mỹ Thi đã chết!
Quỷ Bà vừa nghe vậy lập tức nói:
"Tôi đã đưa linh hồn của pháp sư Mỹ Thi về Phật quốc tịnh thổ rồi."
Kết quả, pháp sư Mỹ Thi xuất viện!
Mọi người cười thầm.
(Đây là nói dối bị lộ tẩy.)

🌟

Quỷ Bà đã đi đến tịnh thổ và họp với Lư Sư Tôn. (nói dối)
Xuất thần, xuyên qua không gian và thời gian. (nói dối đến mức cùng cực)
Nói dối... nói dối... nói dối... Không thể nào tóm hết được!


### 20. Câu chuyện ong bắp cày


Chuyện kể rằng:
Khi đội phá dỡ tháo dỡ Tịch Chỉ Lôi Môn Tự, họ phát hiện một tổ ong bắp cày lớn, cả đàn bay lượn khắp nơi.
Xe cứu hỏa chở theo nhân viên cứu hỏa vội vàng đến bắt đàn ong bắp cày, nhưng khi đi được nửa đường, xe cứu hỏa bỗng nhiên bị nổ lốp.
Quỷ Bà hỏi ong bắp cày:
"Xe cứu hỏa bị nổ lốp, có phải do các ngươi gây ra không?"
Ong bắp cày đáp:
"Đúng vậy."
Quỷ Bà hỏi ong bắp cày:
"Tại sao lại làm nổ lốp xe cứu hỏa?"
Ong bắp cày đáp:
"Bởi vì nếu những nhân viên cứu hỏa này bắt được ong bắp cày sẽ đem chúng tôi ngâm rượu để uống."

Sau đó:
Nghe nói ong bắp cày đã được Quỷ Bà và các đồng môn tụng chú, siêu độ chúng đi rồi.
Không còn một con nào nữa.
(Câu chuyện về ong bắp cày này đại ý là như vậy.)

Có một đồng môn, lén hỏi nhân viên cứu hỏa đã đến:
"Các anh bắt được ong bắp cày, thật sự sẽ đem ngâm rượu để uống sao?"
Nhân viên cứu hỏa đáp:
"Làm gì có chuyện đó!"

🌟

Tôi không dám tin lời về câu chuyện ong bắp cày nên đã hỏi Dao Trì Kim Mẫu:
"Ong bắp cày có thể đi đâm thủng lốp xe được sao?"
Kim Mẫu đáp:
"Nói bậy!"
Ôi!
Lại là Quỷ Bà nói dối!
"Quỷ Bà có thật sự có thể nói chuyện với ong bắp cày không?"
Kim Mẫu đáp:
"Dối trá."

🌟

Theo lời Quỷ Bà:
"Nhân viên chính phủ Tịch Chỉ vì không tôn trọng chùa chiền của Phật giáo, đã phá bỏ Lôi Môn Tự, nên Tịch Chỉ mới bị ngập lụt lớn."
Lại nữa:
"Một tòa nhà lớn ở Tịch Chỉ bị cháy cũng là do việc phá bỏ Lôi Môn Tự."
Quỷ Bà nói:
"Tất cả đều do Hộ pháp gây ra!"

Tôi nghe những lời này, cảm thấy thật đáng khinh.
Lôi Môn Tự do Quỷ Bà xây dựng vốn là công trình xây dựng trái phép, là vi phạm pháp luật.
Đội phá dỡ đến tháo dỡ công trình vi phạm, vốn là việc hoàn toàn chính đáng. Đây là pháp luật quốc gia, trước pháp luật, mọi người đều bình đẳng.
Phòng triển lãm ảnh của Tống Thất Lực cũng xây dựng trái phép, cũng bị phá dỡ như vậy.
Phá bỏ Lôi Môn Tự là không tôn trọng Phật pháp?
Nước ngập Tịch Chỉ.
Cháy tòa nhà lớn.
Là do Hộ pháp gây ra!

Tôi thật lòng nói với mọi người:
Tịch Chỉ ngập nước không phải do Hộ pháp gây ra! Cháy tòa nhà lớn càng không phải do Hộ pháp gây ra! Hộ pháp không thể tùy tiện hại mạng người!
Đó là thiên tai nhân họa!
Nếu thật sự là do Hộ pháp gây ra, hãy gọi Hộ pháp ra đây, Lư Sư Tôn tôi sẽ lột quần Ngài ra, đánh Ngài 500 gậy!


### 
21. Đại thần thông của con nhện


Lời mở đầu:
Có một vị đại thí chủ đưa Quỷ Bà đi nghỉ tại một khách sạn năm sao.
(Cái gọi là đại thí chủ chính là người cúng dường tiền cho Quỷ Bà ở khách sạn.)
Vừa mở cửa phòng ra.
Tình cờ có một con nhện nhỏ từ trên cửa rơi xuống, còn kéo theo một sợi tơ dài.
Vị đại thí chủ giơ tay định đập chết con nhện.
Quỷ Bà kêu lên:
"Khoan đã! Con nhện này là anh trai của ông (đại thí chủ) ở kiếp trước, nó đã đợi ông ở đây rất lâu rồi!"
Vị đại thí chủ nghe xong sửng sốt!

🌟

Hôm nay, tôi, Sư Tôn Lư Thắng Ngạn, sẽ vạch trần trò lừa đảo của Quỷ Bà.
Trước hết, nhện vốn là loài động vật nhỏ bậc thấp, nó chỉ biết nhả tơ, dệt mạng nhện, bắt côn trùng nhỏ để ăn.
Nhưng, con nhện nhỏ trước mắt Quỷ Bà lại sở hữu nhiều thần thông vĩ đại:
1. Túc mệnh thông - Nhện có thể nhận ra người em trai kiếp trước.
2. Thần túc thông - Nhện có thể ẩn nấp trong căn phòng này rất lâu, nó nhất định phải bò vào căn phòng này mới được.
3. Tha tâm thông - Nhện có thể dự đoán được nhân viên phân phối phòng, khiến nhân viên phân phối phòng chọn đúng phòng mà Quỷ Bà sẽ ở.
4. Thiên nhãn thông - Nhìn ra được người em trai.
5. Thiên nhĩ thông - Có thể trao đổi thông tin với Quỷ Bà.
6. Thần toán - Nhện biết trước rằng vào năm tháng ngày giờ nào đó, người em trai (đại thí chủ) sẽ đưa Quỷ Bà đến căn phòng này, và nó phải thả mình xuống theo chiều thẳng đứng.

Mẹ kiếp! Có thể nào?
Tôi thở dài:
"Chúng ta còn không bằng con nhện!"

Quỷ Bà có thể đối thoại với nhện (đối thoại tâm linh), còn chúng ta lại không có tâm linh.
Chỉ dựa vào những điều này:
Tôi khẳng định Quỷ Bà là đầu sỏ của một tổ chức lừa đảo.
Quỷ Bà vẫn luôn dùng phương pháp này để lừa người.
Tôi không tin.
Vị đại thí chủ kia cũng có trí tuệ, nghĩ kĩ lại thấy không đúng, nên vị ấy cũng không tin. (Nếu tin thì đã rơi vào bẫy của Quỷ Bà rồi.)

Tôi (Lư Sư Tôn) phân tích như vậy, mọi người vẫn chưa hiểu sao? Nếu vẫn không hiểu, tôi sẽ phải mắng:
"Không có trí tuệ!"
Tôi tin rằng đám đông thường mù quáng, có những người vẫn cứ đi tin những lời nói dối của Quỷ Bà.
Thật đáng thương! Đáng thương!

Ngoài ra:
Quỷ Bà ở khách sạn đó làm rơi chuỗi hạt của mình, tìm mất mấy ngày không thấy, cuối cùng thì tìm được.
Người ta hỏi:
"Sao tìm được chuỗi hạt vậy?"
Quỷ Bà đáp:
"Chuỗi hạt tự đi làm việc riêng."
Chết tiệt! Chuỗi hạt của Quỷ Bà có thể bay đi làm việc sao?
Tôi nói:
"Nếu một ngày nào đó chúng ta nhìn lên bầu trời, thấy một cái quần lót phụ nữ cỡ siêu to khổng lồ đang bay, chúng ta đừng hoảng sợ, bởi vì đó là quần lót của Quỷ Bà đang ra ngoài làm việc!"


### 22. Quán đảnh A Xà Lê (Thượng sư)


A Xà Lê trong Mật giáo được chia làm bốn bậc:
1. Đại Trì Minh Kim Cang A Xà Lê.
2. Đại Kim Cang A Xà Lê.
3. Kim Cang A Xà Lê.
4. A Xà Lê.
(Cách phân chia này dựa trên thành tựu.)

Tại sao lại có A Xà Lê (Thượng sư) tại gia?
Đó là vì ở Tây Tạng, trong thời đại vua Lãng Đạt Mã [Glang Darma], nhà vua chủ trương hủy bỏ Phật giáo Mật tông.
Phá chùa diệt Phật.
Giết tăng sĩ, hoặc ép tăng sĩ hoàn tục.
Đốt kinh Phật.
Trở thành thời kỳ đen tối của Mật tông Tây Tạng.
Lúc này, Mật tông Tây Tạng chuyển xuống hoạt động ngầm, do cư sĩ tại gia bảo tồn truyền thừa, do vậy thời đại đó đã có Thượng sư tại gia.

Vậy tại sao Chân Phật Tông lại có Thượng sư tại gia?

Đó là vì Chân Phật Tông khi mới thành lập, ban đầu có rất ít người xuất gia, tất cả đều là cư sĩ tại gia.
Vì vậy, một số cư sĩ tại gia đã được quán đảnh làm Thượng sư (A Xà Lê) để đại diện truyền pháp.

Về sau, Lư Sư Tôn thọ giới xuất gia với pháp sư Quả Hiền, rồi Lư Sư Tôn lại độ hàng trăm hàng nghìn người xuất gia, Chân Phật Tông đã thay đổi chế độ, chỉ người xuất gia mới có thể được quán đảnh thành A Xà Lê (Thượng sư).
Tứ chúng trong Phật giáo là:
Tỳ kheo.
Tỳ kheo ni.
Ưu bà tắc (nam cư sĩ tại gia).
Ưu bà di (nữ cư sĩ tại gia).

🌟

Thân phận của Quỷ Bà luôn là nữ cư sĩ tại gia.
Quỷ Bà đã tìm nhiều lý do để không xuất gia. Tuy nhiên, khi pháp sư ở XX đường xuất gia, Quỷ Bà nghĩ ra một ý tưởng, trước tiên do Quỷ Bà cắt một ít tóc, thọ ký xuất gia.
Sau đó do Lư Sư Tôn cạo tóc xuất gia.
Cách làm này của Quỷ Bà cũng là điên đảo. Có lẽ nào một cư sĩ tại gia cắt tóc cho người khác, thọ ký xuất gia.
Tôi nghe xong, cảm thấy điên đảo tột cùng.

🌟

Năm 2010, Liên Hoa Xuân Phi muốn đến Seattle.
Quỷ Bà nói:
"Tôi sẽ quán đảnh cho cô trở thành Thượng sư!"
Liên Hoa Xuân Phi từng là giám đốc hội XX, lại còn là thị giả của Quỷ Bà, quá hiểu tâm lý Quỷ Bà.
Quỷ Bà còn ban cho một chiếc áo khoác Thượng sư.

Cá nhân tôi cảm thấy:
Quỷ Bà đã sớm có ý đồ khác, vào năm 2010, đã muốn quán đảnh người khác làm Thượng sư rồi.
Tâm lý của Quỷ Bà là muốn lừa thầy diệt tổ, đã hoàn toàn bộc lộ!
Quỷ Bà và Liên Hoa Xuân Phi ngồi máy bay, từ lúc lên máy bay đến khi xuống máy bay, suốt đường chửi bới Căn bản Thượng sư. (Đã sớm phạm vào 14 giới cấm căn bản của Mật giáo.)
Nhận đồng môn làm đệ tử.
Lễ bái XX phủ không thuộc truyền thừa (quỷ chúng).
Những giới luật mà Quỷ Bà đã phạm, dù viết mấy cuốn sách cũng không nói hết, người này ác hình ác trạng, miệng nói không đi đôi với lòng, bề ngoài giả vờ từ bi nhưng trong bụng đầy chuyện tà dâm bất chính.

Đồ chết tiệt! May mà Quỷ Bà tự yêu cầu tách ra, mới lộ rõ bộ mặt thật.
Tôi khuyên bà: "Đừng tranh giành quyền lực và lợi ích, hãy lắng lòng xuống, tu tập pháp cho tốt!"


### 23. Phạm tội tham ô


Tôi (Lư Sư Tôn) đã từng nói:
"Vào năm 2000, tôi bế quan tổng cộng 6 năm rưỡi, sau khi xuất quan, cho đến năm 2018, Quỷ Bà chưa từng cúng dường Sư Tôn. Trong suốt 18 năm này, Quỷ Bà chưa bao giờ cúng dường."
(Chỉ có một ngoại lệ duy nhất, đó là khi Quỷ Bà đến yêu cầu tách ra, tự lập môn hộ, lúc đó bà ta có một gói cúng dường nhỏ.)

18 năm không cúng dường cũng không sao, bởi vì tôi chưa bao giờ mở miệng xin tiền ai.
Có thì có.
Không có thì không có.
Quỷ Bà 18 năm không cúng dường Lư Sư Tôn, thực ra tôi không để ý đến.
Nhưng, vấn đề là:
Có một đệ tử là bác sĩ, khi cúng dường bữa ăn ở Đài Loan, đã nói với tôi: "Lư Sư Tôn, thầy đã nhận được tiền cúng dường của con chưa?"
Tôi hỏi lại:
"Tiền cúng dường của anh đưa cho ai vậy?"
Bác sĩ nói:
"Quỷ Bà thường đến chỗ chúng con hoằng pháp, mỗi lần con đều cúng dường hai bao lì xì lớn, một phần cho Quỷ Bà, một phần nhờ chuyển cúng dường cho Lư Sư Tôn, Lư Sư Tôn đã nhận được chưa ạ?"
Tôi không nhịn được nữa, cười chua chát và nói:
"Giao cho Quỷ Bà chuyển giùm, ôi! ôi!"
Bác sĩ nói:
"Không nhận được sao?"
Cuối cùng tôi nói:
"Đã bị biển thủ rồi!"
Đây gọi là cướp giữa đường, vơ vét mà đi!

Lại nữa:
Sư tỷ Tiểu Lệ - người quản lý sổ sách cho Quỷ Bà tại Trung Quốc Đại Lục, đã giao nộp một cuốn sổ kế toán.
Sư tỷ Tiểu Lệ nói, trong đó có một khoản là tiền đệ tử Trung Quốc Đại Lục muốn cúng dường cho Lư Sư Tôn.
Tôi xem qua cuốn sổ.
Trời ơi!
"Cũng bị biển thủ rồi!"
Hoàn toàn chui hết vào túi Quỷ Bà, than ôi! Bị vơ vét sạch sành sanh.

Lại nữa:
Một vài vị giám đốc của XX đường ở San Francisco, đến Seattle hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Mỗi dịp lễ Tết, chúng con đều có một tấm thiệp chúc mừng lớn, có rất nhiều đồng môn ký tên lên đó, nhờ Quỷ Bà chuyển giùm, thầy đã nhận được chưa?"
Tôi đáp:
"Chưa!"
Vị giám đốc lại hỏi:
"Lư Sư Tôn! Ngoài thiệp chúc mừng, mỗi người chúng con cũng gửi một ít tiền cúng dường, cũng nhờ Quỷ Bà chuyển giùm, thầy đã nhận được chưa?" Tôi đáp:
"Chưa!"
Trời ơi! Lại bị biển thủ nữa!

Quỷ Bà có cúng dường hay không, tôi không bận tâm. Nhưng, cúng dường của đồng môn khác chuyển giao, bà ta ăn hết, thật quá đáng! Phải không?
Còn rất nhiều, rất nhiều tiền cúng dường nhờ chuyển giao, Quỷ Bà đều tham ô hết!
Nhắn nhủ Quỷ Bà, xin đừng tham ô được không? Tham ô là việc rất mất mặt, thật đáng xấu hổ!


### 24. Tâm là thứ gì?


Ngày 15 tháng 6 năm 1991.
Bài viết "Tâm là thứ gì" được đăng trên trang 34 của "Tạp chí X Liên".
Đây là bài khai thị của Quỷ Bà, đại ý như sau:
Quỷ Bà nói:
"Hôm qua Bồ Tát Quan Thế Âm hỏi tôi, Ngài nói, con ơi! Tâm là thứ gì?"
(Thì ra 27 năm trước, Quỷ Bà đã có thể đối thoại với Bồ Tát rồi.)
Quỷ Bà đáp:
"Vô hình, vô vật."
Bồ Tát Quán Thế Âm nói:
"Tâm là có hình, biết hô hấp, biết hoạt động, biết phân biệt đúng sai... Tại sao con lại nói vô hình?"
Lại nói:
"Con đã nói tâm vô hình, vậy con hãy nói xem, tại sao tâm lại vô hình, nó khác gì với hữu hình, hãy suy xét kĩ ý nghĩa của sự khác biệt đó."
Quỷ Bà đáp:
"Vô hình mà tôi muốn nói, chính là một loại cảm giác, cảm giác vô hình, không ở ngoài, không ở trong, nó bắt đầu từ tự tâm, và tự tâm cũng đáp ứng với thiên tâm, là hiện tượng hợp nhất của cả hai."

Vì vậy:
Bồ Tát Quán Thế Âm đã giải thích rất nhiều điều, như là:
Không một vật, chỉ có tâm mà thôi. ............
Như là: Ý thức tạo tác của tâm linh tồn tại thì có vật. Lại nói, cảm thấy nó không có, thì nó biến mất. ......
Lại nói: Không phân biệt, không so sánh, theo gió mà đến, cũng theo đó mà tan đi, không có tác dụng phân biệt, không để lại dấu vết. ......
Lại nói thẳng thắn, trong sáng, tự tại, tùy người mà đến, tùy người mà đi, do người mà khởi, tạo tác dụng của tâm. ............
Lại nói vô hình là đúng, hữu hình cũng đúng. ......
Lại nói tác dụng của không phân biệt chính là hòa hợp, hòa nhập, chỉ là một màn ánh sáng, tất cả đều là ánh sáng, khắp nơi đều là ánh sáng. ......

🌟

Tôi đã đọc bài viết này, ý kiến của tôi như sau:
1. Bồ Tát Quan Thế Âm hỏi "Tâm là thứ gì?"
Quỷ Bà đáp "Vô hình".
Bồ Tát lại nói: "Hữu hình".
Hai người bắt đầu thảo luận với nhau.
Cảm giác của tôi là bốn chữ "không hiểu nói gì".
Bởi vì khi thảo luận về tâm, Quỷ Bà không thực sự hiểu rõ, Bồ Tát cũng không thực sự hiểu rõ. Cuộc đối thoại giữa hai người rất dài dòng.
(Bồ Tát đương nhiên cũng là giả.)
Vì vậy bài viết này là một mớ hỗn độn lớn, khiến mọi người đọc xong đều nhức đầu.

Nếu là tôi trả lời, tôi sẽ đáp như sau:
"Tâm là gì?"
Tôi đáp:
"Trống rỗng."
"Tại sao lại có vật?"
Tôi đáp:
"Ví dụ về người họa sĩ." (Họa sĩ vẽ gì thì hình thành vật đó.)
"Cuối cùng thì sao?"
Tôi đáp:
"Không có việc, cũng chẳng có tâm."
"Nghĩa là gì?"
Tôi đáp:
"Nhập thiền định thâm sâu, năm uẩn đều trống rỗng, chứng quả Phật vậy."
(Nhận xét: Quỷ Bà và Quan Âm "giả", đều không biết nói gì.)


### 25. Không có gì, đừng theo đuổi


Ngày 27 tháng 3 năm 1997, trên Tạp chí X Liên.
Khai thị của Quỷ Bà:
*Có người nói làm sự nghiệp bồ đề cần tiền, cần chùa, cần mối quan hệ, nên khuyên người quyên góp, xây chùa, lập tổ chức.
Nếu theo đuổi mục đích vật chất để cống hiến và dẫn dắt người khác hướng thiện, đó nên là một việc tốt, nhưng, loại người này không nhiều.
Ai cũng nói mình phát tâm, vì đạo nghiệp mà cầu, muốn dùng thứ chưa có này để giúp sự nghiệp bồ đề, nhưng một khi bạn có được nó, bạn dễ bị cám dỗ, dễ thay đổi, hoàn toàn quên đi tâm nguyện ban đầu của mình.*

Tôi (Lư Sư Tôn) nhận xét như sau:
Đoạn văn này đáng để suy ngẫm sâu sắc.
Quỷ Bà nói rằng, khi có tiền, có chùa, nhiều người đã quên đi gốc rễ ban đầu.
Người có thể giữ được sự phát tâm ban đầu không nhiều.
Ví dụ:
Uy Quang — Giới.
Chân Như — Bàn.
Nghiêm Trì — Dung.
[Tên của một số người đến từ các chùa đường hội của Chân Phật Tông.]
Tôi không liệt kê từng người một, vì thực sự quá nhiều, rất khó nhớ hết.

Tôi chỉ nói điều cuối cùng, kể cả Quỷ Bà của X Liên cũng là một trong số đó.
Điều này gọi là gì?
Tự tát vào mặt mình.
Không chịu nổi cám dỗ.
Thay đổi thất thường.
Tâm nguyện ban đầu đã không còn.
Có được Lôi Tạng Tự rồi là quên mất gốc rễ ban đầu của tâm ban đầu, muốn tách ra, tự mình làm người đứng đầu.
Quỷ Bà nói hay hơn cả hát, không nên đi theo, biến đi!
Lại cầu danh.
Lại cầu lợi.
Lại cầu địa bàn.

Khi Quỷ Bà muốn tách ra khỏi Lư Sư Tôn, Quỷ Bà đã gọi điện lần lượt cho một số chùa, đường, hội thân cận hơn.
Thượng sư Liên Văn nói:
"Bà ta gọi điện nói chuyện với tôi hai tiếng đồng hồ."
Chủ ý là:
"Đi theo tôi, đừng theo Lư Sư Tôn!"

Quỷ Bà tự cho rằng cánh đã cứng, lông đã đầy đủ, tự làm việc của mình, tốt biết bao! Lôi kéo quan hệ của riêng mình.
Không chịu sự quản lý của Tông Ủy Hội.
Sau khi bắt đầu tách ra, mọi người đều bắt đầu tranh giành địa bàn, cướp danh lại cướp lợi.
Một bộ dạng tàn bạo cực độ!
Phương pháp vơ vét tiền bạc của Quỷ Bà rất nhiều, vừa đe dọa vừa tống tiền, vừa lừa đảo vừa nói dối, trắng trợn.
Vừa có âm, vừa có tà, vừa có quỷ .………

Tôi muốn hỏi bà:
Bà biết rõ Lư Sư Tôn là tổ sư bắt quỷ.
Tại sao bà còn phái năm con quỷ lớn từ phủ XX và đám quỷ con quỷ cháu đến giết vị Căn bản Thượng sư của chính mình?
Tại sao bà dám đe dọa tôi, nói rằng tôi sẽ chết ở tuổi 73?
Tôi là một vị tôn giả tự chủ, tôi có thể tự chủ cuộc sống của mình.
Bà muốn lừa thầy diệt tổ, bà còn "non" lắm!


### 26. Hoàng Tài Thần ca hát


Ngày 7 tháng 1 năm 1998.
Hoàng Tài Thần ca hát.
Quỷ Bà ghi lại, chuyển thành văn tự như sau:
"Mọi người đều muốn tiền, tiền đến để làm gì? Sinh ra không mang đến, chết rồi chẳng mang đi, cuối cùng cần tiền để làm gì?"
"Ta có tiền, có tiền chính là ta, nhưng có tiền giúp được ta điều gì? Mỗi người cầu xin ta, cầu xin để làm gì? Nói cho mọi người biết muốn cầu tài, trước tiên phải học từ ta bốn điều."
"Có tiền là để bố thí, dẫn dắt mọi người hướng về Phật là điều quan trọng nhất."
"Tiếp đến phải có tâm từ bi, không phân biệt giàu nghèo đều như nhau, độ người quan trọng nhất là không phân biệt, phiền não sinh ra đều giống nhau, có tiền có thể giải tỏa tâm, như vậy tài đến mới quý giá."
"Thứ ba là dùng tiền để gia tăng của cải, lãi suất vận chuyển tự có sức. Có tiền không thể không vận động, linh hoạt viên dung nguồn tiền đến."
"Nếu muốn học ta như Hộ pháp, toàn tâm bảo vệ Phật pháp hưng thịnh, nếu chỉ cầu tiền không bố thí, như vậy tiền đến sẽ thành tai họa, mọi người đều có thể dày dặn đạo học, quả vị nhanh chóng tăng, ánh sáng chiếu rọi."

Tôi (Lư Sư Tôn) có chút ý kiến về bài hát này của Hoàng Tài Thần.
Cũng có ý kiến về ghi chép của Quỷ Bà.

我首先要问：

「黄财神唱歌是真的吗？妳鬼婆的纪录又是真的吗？」

据我神算：

「仍然是假的！」

我现在就用「黄财神唱歌」来对质妳！

一、妳账册不公开，为什么？

（CEO关，就是要求公开账册，被踢了出去的。）

二、大笔捐款，均不见了！

（董事们的质疑）

三、建桃园观音区的道场是妳母亲的遗产，真的吗？

（众等的质疑）

四、妳有没有公款私用？

（摸摸自己良心）

五、妳用的取财方式不对劲？

（恐吓取财及诈骗取财）

六、妳真的不分贱富吗？

（大星星出大钱，中星星出中钱，小星星出小钱。出大钱的将来可去大星星，出中钱的去中星星，出小钱的去小星星。妳用金钱大中小来救众生，不分贱富吗？）

Đầu tiên tôi muốn hỏi:
"Hoàng Tài Thần ca hát có thật không? Bản ghi chép của bà Quỷ Bà có thật không?"
Theo sự thần toán của tôi:
"Vẫn là giả!"

Bây giờ tôi sẽ dùng bài hát của Hoàng Tài Thần để đối chất với bà!
1. Tại sao bà không công khai sổ sách?
(CEO Quan đã yêu cầu công khai sổ sách, và bị đá ra ngoài.)

2. Những khoản quyên góp lớn đều biến mất!
(Nghi vấn của các thành viên hội đồng quản trị.)

3. Đạo tràng ở khu Quan Âm ở Đào Viên thật sự là di sản của mẹ bà sao?
(Nghi vấn của mọi người.)

4. Bà có sử dụng công quỹ vào việc riêng không?
(Hãy chạm vào lương tâm mình.)

5. Phương thức lấy tiền của bà không đúng đắn?
(Dọa nạt để lấy tiền và lừa đảo để lấy tiền.)

6. Bà thật sự không phân biệt giàu nghèo sao?
(Ngôi sao lớn xuất tiền lớn, ngôi sao vừa xuất tiền vừa, ngôi sao nhỏ xuất tiền nhỏ. Người xuất tiền lớn tương lai có thể đến ngôi sao lớn, người xuất tiền vừa đến ngôi sao vừa, người xuất tiền nhỏ đến ngôi sao nhỏ. Bà dùng tiền lớn, vừa, nhỏ để cứu chúng sinh, không phân biệt giàu nghèo sao?)

7. Bà có dẫn dắt mọi người hướng về Phật không?
(Nhân quả ba đời là có thật, nhưng bà lợi dụng nhân quả ba đời để vơ vét tiền bạc, bản thân bà căn bản không tin vào nhân quả.)

8. Phương pháp dùng tiền để sinh tiền của bà để gia tăng của cải, điều đó là thật.

9. Bà đánh cắp tiền cúng dường mà người khác dâng cho Lư Sư Tôn, sao không liệt kê ra cho tôi xem?
(Người khác chuyển tiền cúng dường, bà nuốt hết!)

10. Bà có bảo vệ Phật pháp hưng thịnh không?
(Bà cúng dường năm con quỷ lớn từ Phủ XX, lại bảo người khác đi thờ năm con quỷ lớn, là chúng linh hiển hách, hay là Phật pháp hiển hách? Bà là kẻ bảo vệ quỷ.)

11. Bà đã gây ra tai họa quỷ, bà có biết không?
(Bà đã bí mật cài đặt quỷ vào các chùa, đường, hội của Chân Phật Tông trên thế giới. Lén lút cài đặt, đây là hành vi rất bất lịch sự, bà không biết sao?)

Tôi hỏi bà: Cầu tài để làm gì!


### 27. Cuộc đối thoại của Phật Thích Ca Mâu Ni


Ngày 21 tháng 3 năm 1990.
Tạp chí X Liên tập 1, số 4, trang 12.
Tiêu đề là:
"Phật ngữ trực tiếp" - Lời khai thị của Phật Thích Ca Mâu Ni.

Quỷ Bà nói:
Từ lâu, tôi thường chia sẻ với người khác những lời khai thị pháp mà Phật Đà đã ban cho tôi trong lúc nhập định tu pháp, đồng thời cũng để tự nhắc nhở bản thân.
(Từ đoạn này, mọi người cần hiểu rằng, 28 năm trước, Quỷ Bà đã thường xuyên đối thoại với Phật Thích Ca Mâu Ni. Khi nói "từ lâu", không chỉ là 28 năm, mà còn lâu hơn thế nữa.)
Quỷ Bà lại nói:
"Đây là ngày 31 tháng 5 năm 1988, đang lúc nhập định, trên không trung xuất hiện một vị Phật tỏa sáng rực rỡ, ánh kim quang chói lòa. Ngài nói: ........"
(Xin lưu ý năm 1988, tôi Lư Sư Tôn di cư đến Mỹ vào năm 1982. Khoảng 6 năm sau, khi Chân Phật Tông chưa bắt đầu, Quỷ Bà đã rất thân thiết với Phật Đà.)
(Cũng xin lưu ý, mẹ của Quỷ Bà đã nói với tôi rằng, Quỷ Bà không có thần thông, cũng không biết thiền định, bà ta chỉ biết nói dối.)

Chúng ta hãy xem tiếp.
Phật Tổ hỏi:
"XX, hiện nay ngươi cầu điều gì?"
Quỷ Bà đáp:
"Hiện nay không cầu gì cả."
Phật: "Hiện nay không cầu gì, vậy vì sao đến cõi đời này?"
XX: "Điều cầu hiện nay, chính là vì chúng sinh."
"Phật: "Hiện nay đến đây chính là vì chúng sinh, sao lại nói không cầu gì?"
XX: "Chúng sinh đến do một nhân duyên, đệ tử tùy duyên mà độ, vì vậy không cầu gì."
…………….

Lời bình của tôi về đoạn văn này như sau:
1. Quỷ Bà tự nói rằng vào năm 1988, Phật Thích Ca Mâu Ni đã có thể đối thoại trực tiếp với bà ta.
Tôi di cư đến Mỹ vào ngày 16 tháng 6 năm 1982.
Tôi đã nhập thất ba năm tại Linh Tiên Các ở Ballard.
Lúc đó tôi 41 tuổi.
Tôi xuất gia năm 43 tuổi.Tôi (Lư Sư Tôn) vẫn đang học Mật giáo. Mặc dù tôi là người có khả năng thông linh, nhưng cũng không thể đối thoại với Phật Đà trong nhiều năm.
Nếu Quỷ Bà thực sự thân thiết với Phật Đà như vậy thì quả thật tôi đã đánh giá thấp bà ta.
Sau đó.
Tôi thần toán một chút:
"Vẫn là Quỷ Bà đang nói dối!"

Mẹ của Quỷ Bà nói với tôi:
"Nó không có thần thông."
"Nó không biết thiền định."
"Nó là do tôi sinh ra, làm sao tôi không biết. Từ nhỏ nó đã nói dối, tôi thường xuyên đánh nó."
Mẹ của Quỷ Bà nói:
"Nó có tài ăn nói, đúng là một thiên tài nói dối. Sau khi tiếp quản phân đường Chân Phật Tông từ Lư Sư Tôn, nó thực sự phát triển thành một thiên tài nói dối."

Mẹ của Quỷ Bà rất hiếm khi xuất hiện trong các pháp hội của Quỷ Bà, chỉ thỉnh thoảng vào dịp lễ Tết mới ra mặt.
Mẹ của Quỷ Bà chỉ tụng "Kinh Cao Vương" bằng tiếng Đài Loan.
Những thứ khác bà không thèm đếm xỉa.

2. Quỷ Bà nói:
"Tu hành đã 30 triệu năm!"
Trời ơi!
Lại khoác lác rồi. (Khoác lác kiểu chém gió!)


### 28. Hối hận quy y Lư Sư Tôn


Quỷ Bà nói với sư tỷ Giai Tân:
"Tôi hối hận đã quy y Lư Sư Tôn!"
Sư tỷ Giai Tân hỏi:
"Tại sao vậy?"
Quỷ Bà đáp:
"Trước khi quy y, tôi đã có thần thông rồi."
(Đoạn đối thoại này là thật hay giả, mọi người có thể đi hỏi Từ Giai Tân. Cuộc đối thoại này diễn ra từ rất lâu, nhiều năm trước, khi đó, Quỷ Bà đang lởn vởn trong Chân Phật Tông.)

Vì câu nói này, tôi đã nghĩ, liệu Quỷ Bà trước khi quy y có thực sự huy hoàng không?
Có thực sự rực rỡ không?
Có thực sự giàu có không?
Có phải là tông sư đời thứ nhất không?

Sau một cuộc điều tra, câu trả lời là:
Quỷ Bà di cư từ Đài Loan đến Vancouver, Canada, nghề nghiệp của bà là: công nhân nhà máy tóc giả.
Sau đó là: một bà nội trợ giúp khách hàng gội đầu, cắt tóc tại nhà mình.
Ngoài ra:
Trong thời gian rảnh rỗi, bà thường chơi mạt chược. Bà chơi mạt chược với những người như Diêu, Tiết.
Khi Quỷ Bà quy y, danh phận của bà vẫn là một bà nội trợ giúp người khác gội đầu, cắt tóc.
Sau khi quy y.
Bà lại tự đứng lên tại Seattle Lôi Tạng Tự, mạo danh là X Liên Hoa Đồng Tử.
X Liên Hoa Đồng Tử thật sự là Xa Diệu Chi.
X Liên Hoa Đồng Tử giả mặc màu xanh nhạt, trong khi X Liên Hoa Đồng Tử thật mặc màu tím.

Ôi!
Thật là một thảm họa cho Chân Phật Tông, nếu là phúc sẽ không phải họa, còn nếu là họa thì không thể tránh được.
Quỷ Bà này xuất thân không cao, ở Vancouver, Canada, trước khi quy y Chân Phật Tông Lư Sư Tôn.
Bà ta là một bà nội trợ làm nghề gội đầu, cắt tóc tại nhà, kiếm chút tiền, phụ giúp chi tiêu gia đình là có.
Việc lừa gạt những phụ nữ lương thiện đến cắt tóc, gội đầu, điều này cũng có thể có.
Nhưng, sau khi quy y Chân Phật Tông, bà ta bắt đầu thể hiện tài năng hoa mỹ của mình. (nói dối)
Nuôi quỷ để tự nâng cao mình.
Thế lực dần lớn mạnh, lợi dụng các chùa, đường, hội của Chân Phật Tông để mở rộng địa bàn của mình.
Lại dựa vào tài nói dối, đe dọa để lấy tiền, giả thần thông để lừa người.
Sau khi vơ vét được một số tiền lớn từ Chân Phật Tông, bà ta bắt đầu kiêu ngạo tự đại. (lợi dụng Chân Phật Tông)
Có được địa bàn rồi.
Chùa lớn đã thành.
Tín đồ cũng có rồi.
Tiền bạc tính bằng hàng trăm triệu.
Được lợi rồi còn làm ra vẻ. Quỷ Bà nói: "Hối hận quy y Lư Sư Tôn!"
Loại tiểu nhân vong ân bội nghĩa này, cút đi!
Loại người lừa thầy diệt tổ này, cút đi!
Loại người không giữ giới luật này, cút đi!
(Anh hùng không phân biệt xuất thân thấp, nhưng, kẻ lừa đảo thì sao?)


### 29. Bàn thờ Phật và loài quỷ


Nguyên đăng trên Tạp chí X Liên tập 3, số 4.
Ngày phát hành là tháng 4 năm 1992. Trang 5.
Tiêu đề: "Bàn thờ Phật của X Liên Đường".

Báo cáo trải nghiệm của sư tỷ Liên Hoa Mỹ Quyên:
Ngày 25 tháng 1 năm nay (1992), X Liên Đường trong dịp chuyển trụ sở đã bán đấu giá từ thiện các bàn thờ Phật, tôi đã mua một trong số đó. Vào tối ngày chiếc bàn thờ được chuyển về nhà, tôi đã nằm mơ.
Tôi mơ thấy trước bàn thờ Phật đó có rất nhiều, rất nhiều quỷ.
Lúc đó tôi cũng không biết tại sao, trong mơ tôi cứ liên tục thực hiện nghi thức mặc giáp hộ thân.
Để thực hiện mặc giáp hộ thân cần tụng "Ôm bua-rưa lan chưa-li" bảy lần, nhưng tôi mới tụng đến lần thứ ba thì một con quỷ đã biến mất; sau đó lại xuất hiện một con quỷ khác, tôi lại tụng ba lần, con quỷ đó cũng rút lui.

Trong giấc mơ đó, tôi liên tục thực hiện nghi thức mặc giáp hộ thân, tụng rất nhiều, rất nhiều lần "Ôm bua-rưa lan chưa-li."

Sáng hôm sau khi thức dậy, tôi không cảm thấy sợ hãi, vì tôi nghĩ giấc mơ đó rất thú vị và thấy rằng nghi thức mặc giáp hộ thân thực sự rất hiệu quả.

Tuy nhiên, tôi cũng cảm thấy mình thật xui xẻo, vì tôi rất sợ ma quỷ, tại sao vừa mới chuyển bàn thờ Phật về nhà đã mơ thấy giấc mơ như vậy? Nhưng sau đó tôi lại nghĩ, mặc kệ nó! Giấc mơ này có lẽ chỉ là mơ bậy thôi. Và rồi tôi nhanh chóng quên nó đi.

Tôi (Lư Sư Tôn) nhận xét như sau:
Bàn thờ Phật vốn dùng để thờ Phật.
Tương đương với pháp tọa của Như Lai.
Ngày đầu tiên mua bàn thờ Phật về nhà, trong nhà đã xuất hiện rất nhiều, rất nhiều quỷ.
Tôi xin nói với mọi người:
Bàn thờ Phật của Quỷ Bà, kim thân đều là Phật Bồ Tát, nhưng những gì được thờ cúng, toàn là các loài quỷ.
Quỷ Bà nổi tiếng vì triệu quỷ, cúng quỷ, nuôi quỷ, cầu quỷ, dùng quỷ.
(Xem "Giới thiệu về XX Phủ" là có thể hiểu rõ.)
Mua bàn thờ Phật từ thiện, thực chất là mua bàn thờ quỷ, bên ngoài là Phật, nhưng bên trong là quỷ nhập, cũng có nghĩa là đã rước quỷ về nhà.

Liên Hoa Mỹ Quyên coi như rất may mắn, cô ấy biết tụng chân ngôn của Kim Cang Thủ Bồ Tát: "Ôm. Bua-rưa lan chưa-li" và từng con quỷ một đã rút lui.

Nếu không biết tụng thì lần này sẽ là:
Bóng đè.
Ma hút khí.
Mất ngủ.
Bị nhiễm âm khí.
Rối loạn tâm thần.
Tự tử.
Mọi người hãy nghĩ xem, bàn thờ Phật vô cùng thiêng liêng, làm sao lại có nhiều quỷ đến vậy theo vào nhà.

Thêm nữa:
Mẹ của Thượng sư Liên Ngạn, vì nghĩa mà mua chiếc giường Quỷ Bà đã từng nằm, mang về nhà ngủ.
Vừa nằm xuống, đã bị mất ngủ. Tính tình cáu bẳn.
Bị hút khí, bị quấy nhiễu, tinh thần đảo lộn, quỷ mị trùng trùng.
Vô cùng không cát tường. Nảy sinh ý định tự tử.
Cuối cùng đã vứt bỏ chiếc giường, không dám ngủ trên đó nữa.
Sau khi mẹ của Thượng sư Liên Ngạn đổi giường, mọi việc đã tốt đẹp trở lại!

Điều này có thể chứng minh, xung quanh Quỷ Bà toàn là loài quỷ, tu Phật đến mức này cũng coi như là đi vào con đường tẩu hỏa nhập ma rồi!


### 30. Đại thần thông của đom đóm


Tôi (Lư Sư Tôn) từng đi hoằng pháp khắp thế giới, đã đến đảo Bắc và đảo Nam của New Zealand.
Ở đảo Bắc và đảo Nam, có một số danh lam thắng cảnh, trong đó nổi tiếng là đom đóm trong hang tối.
Tôi đã từng hát một bài đồng dao:
*"Đom đóm nhỏ xíu,
Bay về phía Tây à! Bay về phía Đông!
Chỗ này sáng,
Chỗ kia sáng,
Giống như chiếc đèn lồng nhỏ trong nhà tôi."*

Trước khi đến hang tối để đi xem đom đóm, chúng tôi phải ngồi trên chiếc thuyền gỗ nhỏ, lặng lẽ chèo vào hang đá tối đen.
Chúng tôi không được la hét hay nói chuyện.
Trong chớp mắt!

Chúng tôi ngẩng đầu nhìn lên, trời ơi! Phía trên hang động, tụ tập hàng nghìn hàng vạn ánh sáng bạc trắng không thể đếm xuể.
Thật sự rất chấn động lòng người.
Tôi cảm nhận được một câu nói: "Đời người được mấy lần gặp!" Nhiều đom đóm như vậy, nhiều ánh sáng lấp lánh như vậy.

Theo trực giác:
Đó là bầu trời đen tối, với muôn vàn ngôi sao tụ họp.
Là mỏ kim cương lấp lánh.
Là những chiếc đèn lồng nhỏ trên màn bạc lớn.
Lại hơi giống như khi chúng ta ngồi trên máy bay, vào ban đêm, nhìn qua cửa sổ, thấy ánh đèn thành phố.
Nhưng, đó là đom đóm!
Thật không thể tưởng tượng được!

Chuyện kể rằng:
Quỷ Bà cũng đã đến đây tham quan.
Quỷ Bà nói với đồng môn: "Những con đom đóm này đã ở đây chờ đợi tôi 110.000 năm rồi!"

Tôi nghe câu nói này, cảm thấy như không biết nói gì, nhưng lại không thể không nói.
Đom đóm trong hang đá ở New Zealand, đã chờ Quỷ Bà 110.000 năm.
Điều này còn hơn cả:
Thổ Địa Công chờ bà ta 500 năm.
Voi chờ bà ta 500 năm.
Đức Mẹ Maria chờ bà ta 500 năm.
……………….
Còn xuất sắc hơn nhiều!

Tôi nhận xét như sau:
Thế giới này, 110.000 năm trước, là cái gì, rất ít người biết?
Nhưng đom đóm lại biết:
110.000 năm sau, vào một ngày, một tháng, một năm, một giờ nào đó, sẽ có một Quỷ Bà đi ngang qua đây.
Tất cả đom đóm yêu cầu bà ta siêu độ cho chúng.
110.000 năm trước, đom đóm đã biết hai chữ "siêu độ".
110.000 năm trước còn chưa có Phật giáo.
110.000 năm trước không ai biết hai chữ "siêu độ".
110.000 năm trước, không có lịch sử văn minh.
Vậy mà đom đóm lại biết tất cả mọi thứ, nếu không phải là đại thần thông của đom đóm, thì là gì?
Tôi muốn hỏi:
Đời sống của đom đóm chỉ có thể kéo dài 20 ngày. Tổ tiên từ 110.000 năm trước đã dặn dò con cháu nhiều đời sau 110.000 năm, phải đợi Quỷ Bà đến siêu độ cho chúng!
Ở đây, chúng tôi xin kính tặng Quỷ Bà hai chữ: 
"Chém gió"!


### 31. Hăm dọa của Quỷ Bà


Thời gian: ngày 22 tháng 5 năm 1993.
Đăng tải: Tạp chí X Liên số 44. Số tháng 7 năm 1994.
Tiêu đề: Thay thế phương pháp giải trừ bùa ngải.

Trọng điểm của bài viết:
Quỷ Bà giúp người hỏi việc, có một cô gái trẻ trông khá xinh đẹp đến gặp.
Tuy nhiên, thần sắc của cô rất kỳ lạ, cử chỉ lời nói rất quái dị, vô cùng hoảng hốt, vô cùng sợ hãi, vô cùng bối rối, sắc mặt tái nhợt xanh xám.
Cô gái này liên tục giải thích:
Thân thể đau đớn.
Nghe thấy tiếng nói. (ảo giác)
Tiếng nói bảo cô làm gì đó.
Muốn lấy mạng con trai cô.
Muốn giết cô.
(Đây là một trong những triệu chứng điển hình của bệnh tâm thần, hội chứng hoang tưởng bị hại.)

Cô gái này nói:
Nếu cô không nghe theo, cơ thể sẽ xuất hiện những cú đập lạ kỳ, có người siết cổ cô, có kim đâm vào tim cô, có người cắt tóc cô, lấy kiếm đâm vào đầu cô, toàn thân từ đầu đến chân đều rất đau đớn.
Quỷ Bà nói:
"Cô phải quy y ngay lập tức!"
Người phụ nữ dẫn cô đến nói:
"Cô ấy mới đến ngày đầu tiên, bà đã bảo cô ấy quy y, hãy để cô ấy hiểu rõ rồi mới quy y chứ!"
Quỷ Bà nói:
"Nếu cô quy y, tôi sẽ thử cứu mạng cô, nếu không, trong vòng hai tháng, có lẽ cô sẽ phải lên danh sách siêu độ vào thứ Ba của chúng tôi."
(Chú ý câu này, đây là hăm dọa, hai tháng sẽ chết.)
Người phụ nữ dẫn cô đến nói:
"Đừng vội thế! Đừng vội thế!"
Quỷ Bà quay sang nói với người phụ nữ:
"Bà cũng chẳng khá hơn là bao, mau quy y đi, nếu không bà cũng sẽ không dễ chịu đâu!"
(Câu này cũng là hăm dọa!)
…………….

Tôi, Lư Sư Tôn, xin bình luận như sau:
Trong bài khai thị này đã xuất hiện hai sự hăm dọa.
Một, đối với cô gái bị bệnh tâm thần, nói rằng hai tháng sẽ chết, được đưa vào danh sách siêu độ.
Hai, đối với người phụ nữ dẫn cô ấy đến, nói rằng bà cũng chẳng khá hơn là bao.

Cá nhân tôi nhận thấy Quỷ Bà có thói quen hăm dọa người khác, đây là phạm tội hăm dọa.
Tôi xin nêu một ví dụ:
Quỷ Bà nói với Thubten Siddhi:
"Tháng 6 năm 2016, anh sẽ có chuyện lớn xảy ra."
Tôi nói:
"Đây là hăm dọa! Đừng bận tâm."
Sau đó:
"Tháng 6 năm 2016 đã qua, chẳng có chuyện gì xảy ra, mọi thứ đều bình thường."
Quỷ Bà nói:
"Lư Sư Tôn chỉ sống đến 73 tuổi, năm đó nhất định sẽ chết!"
(Câu này, bà ta đã nói n lần.)
Kết quả là tôi đã qua sinh nhật 74 tuổi.
Bà ta còn nói với nhiều đồng môn khác rằng bao nhiêu tuổi sẽ chết, kết quả là chẳng ai chết cả!
Khuyên Quỷ Bà, những gì bà tính toán đều không chính xác! Đừng làm bậy nữa, đừng hăm dọa người khác nữa!


### 32. Nhìn thấu Quỷ Bà


Tạp chí X Liên số 43, tháng 6 năm 1994.
Quỷ Bà diễn thuyết tại Trường Trung học Thung lũng Silicon Nam Loan. Thời gian là ngày 16 tháng 4 năm 1993.
Quỷ Bà nói:
"Cá nhân tôi quy y Chân Phật Tông vào ngày 29 tháng 3 năm 1986."
(Chú ý, Quỷ Bà còn nói rằng, trước năm 1988, Đức Phật đã nói chuyện với bà ta hàng ngày.)
(Tôi cảm thấy điều này quá nhanh!)
Quỷ Bà nói đại ý về Phật pháp là:
"Tóm lại, những gì phù hợp với lẽ phải, giúp tâm người an định, giúp người thay đổi mọi hành vi, thói quen, giúp mọi thứ có thể trở nên tốt lành và đúng đắn, thì Phật pháp, không phân biệt tông phái nào, hệ phái nào, đều là tốt."
"Bất kì tôn giáo nào cũng vậy, không nhất thiết phải là Phật giáo, Hiển giáo, Cơ Đốc giáo, Hồi giáo, Đạo giáo, tất cả đều như nhau. Miễn là giúp tâm người an định, có thể thay đổi tầng lớp cuộc sống, giúp có được nhân sinh quan đúng đắn, thì đều có thể được người ta chấp nhận, hấp thụ và hoan hỷ."

Tôi (Lư Sư Tôn) bình luận đoạn này như sau:
Đoạn này không sai.
Các tôn giáo đều dạy con người làm điều thiện.
Nhưng bà ta đã bỏ qua điều thật sự là Phật pháp chứng minh chân lý của cuộc sống:
Chân đế của vô thường.
Chân đế của vô ngã.
Chân đế của Niết bàn tịch tĩnh.
Ba pháp ấn này mới là đại ý của Phật pháp, mọi sự đều được ấn chứng bằng ba pháp ấn.
Phù hợp với ba pháp ấn là chân Phật pháp.
Không phù hợp với ba pháp ấn thì không phải là Phật pháp.

Hơn nữa, trong bài viết đó, Quỷ Bà chỉ trích mẹ mình:
1. Trọng nam khinh nữ.
Mẹ đã sinh năm người con trai, chỉ có Quỷ Bà là con gái.
2. Mẹ cho rằng:
Bà ta là của nợ.
Thường xuyên quên bà ta.
Thường xuyên coi thường bà ta.
3. Mẹ gắp thức ăn cho năm người con trai, riêng bà ta bị bỏ quên, bà ta phải tự gắp.
4. Trong nhà chuẩn bị những cây gậy lớn, tất cả đều dùng để đánh Quỷ Bà.
5. Tài sản chia cho năm người con trai, không có phần của Quỷ Bà. Con gái là người phải gả đi, nên không chia cho Quỷ Bà.
(Nhưng khi mẹ bà qua đời, Quỷ Bà lại nói rằng hai tòa nhà lớn ở khu Quan Âm, Đào Viên, đều là di sản của mẹ, có thật vậy không?)
6. Khi các con trai lấy vợ, sinh con, mẹ đã đến giúp đỡ, còn mang theo rất nhiều tiền để chu cấp. Khi mẹ giúp Quỷ Bà trong thời kỳ ở cữ, Quỷ Bà lại phải đưa cho mẹ rất nhiều tiền.
7. Tính phản nghịch và tính khí xấu của Quỷ Bà đều từ đó mà ra.
8. Quỷ Bà nói dối từ nhỏ, điều này có nguyên do.

Cuối cùng Quỷ Bà thờ phụng mẹ mình, gọi là Bồ Tát Mẹ.
Quỷ Bà có thể dự đoán ngày chết của người khác, nhưng lại không thể dự đoán ngày chết của mẹ mình. (Hơn nữa, dự đoán ngày chết đều không chính xác.)
Thật kỳ lạ!

Mẹ của Quỷ Bà nói với tôi:
"Nó là con tôi sinh ra, nó không có thần thông, không có tu pháp, tất cả những gì nó nói đều là dối trá."
Cổ Vân nói: "Tất cả những gì bà ta nói đều là dối trá."


### 33. Căn bệnh ăn nói lung tung


Quỷ Bà có căn bệnh ăn nói lung tung.
Tôi (Lư Sư Tôn) xin nêu ví dụ như sau:
Quỷ Bà nói với người khác:
"Lư Sư Tôn sẽ chết lúc 73 tuổi, thì tôi (Quỷ Bà) muốn học theo Tôn giả Xá Lợi Phất thời Đức Phật, chết trước Lư Sư Tôn. Sau đó, tại Ma Ha Song Liên Trì chuẩn bị tất cả mọi thứ cho Lư Sư Tôn về vị trí của mình, chờ đợi thầy ấy trở về!"
Tôi Lư Sư Tôn bình luận:
"Xéo đi!"

Lại nữa:
Quỷ Bà nói với người khác:
"Tông Ủy Hội muốn đến cướp chùa của chúng ta, đã nhiều lần rồi, có một lần bị họ cướp mất, tôi lại cướp về, Tông Ủy Hội lại sắp đến cướp chùa của chúng ta nữa!"
Tôi Lư Sư Tôn bình luận:
"Nói nhảm!"

Lại nữa:
Quỷ Bà nói với người khác:
"Bếp trường học bị cháy là do Tông Ủy Hội cử người đến phóng hỏa, tôi đã hỏi Lư Sư Tôn rồi, là người của mình làm đấy, họ cử người đến phóng hỏa."
Tôi Lư Sư Tôn bình luận:
"Vớ vẩn!"

Lại nữa:
Quỷ Bà nói với người khác:
"Bây giờ mọi người đều có ngọc chỉ của Bà Ma Tổ trên tay, trên ngọc chỉ viết gì? Tôi không biết. Nhưng Bà Ma Tổ chắc chắn đã ban ngọc chỉ cho các bạn."
Tôi nói:
"Trên ngọc chỉ viết bốn chữ ‘Hải Thượng Tuần Thú’."
Tôi Lư Sư Tôn bình luận:
"Pháo xịt (vô nghĩa)!"

Lại nữa:
Quỷ Bà nói với người khác:
"Tương lai Bắc California có ba ngôi trường danh tiếng, thứ nhất là Stanford, thứ hai là Berkeley, thứ ba là X Liên.………"
Tôi Lư Sư Tôn bình luận:
"Trứng khủng long (nói khoác)!"

Lại nữa:
Sư tỷ Từ Nhã Kỳ rời khỏi Quỷ Bà.
Quỷ Bà nói với người khác:
"Cô ta ở nhà tôi, đã lấy trộm rất nhiều tiền của nhà tôi."
Người ta hỏi:
"Tại sao không tố cáo cô ta?"
Quỷ Bà nói:
"Kiếp trước cô ta là con gái tôi."
Tôi Lư Sư Tôn bình luận:
"Đồ trứng thối, đồ khốn nạn!"

Lại nữa:
Quỷ Bà nói với người khác:
"Tràng hạt bị mất, rồi lại tìm thấy, là do tràng hạt của tôi đi ra ngoài làm việc!"
Tôi Lư Sư Tôn bình luận:
"Đi ra ngoài mua trứng thối!"

Lại nữa:
Quỷ Bà nói với Cổ Vân:
"Tôi đã tu hành được 30 triệu năm rồi!"
Tôi Lư Sư Tôn bình luận:
"Lâu như vậy, đã thành thối thối thối, trứng gà thối!"

Những chuyện như vậy, không thể đếm xuể!


### 34. Nói từ chuyện bức tường Quan Âm


Tạp chí X Liên, số từ tháng 7 đến tháng 12 năm 1997. Trang 7.
Lời khai thị của Quỷ Bà vào ngày 13 tháng 5 năm 1997.
Tiêu đề: Nguồn gốc của "Đại học Hoa Quang X Liên".
Trong bài viết đề cập đến:
"Bảy tiếng sấm".
"Nghìn đóa sen". (Một đóa sen 1000 đô la Mỹ.)
"Bức tường Quan Âm".
................

Tôi (Lư Sư Tôn) sẽ nói từ "Bức tường Quan Âm" trước.
Quỷ Bà nói:
Vào tháng 4 năm 1996, khi đi thị sát trường học, tôi (Quỷ Bà) vừa bước vào trường.
Bồ Tát Quan Âm liền nói:
"Ta đã đến!"
Tôi nói:
"Ngài ở đâu?"
Ngài lại nói: "Ta đã đến!"
Tôi liền thấy Bồ Tát Quan Âm hiện ra ở "Bức tường Quan Âm", phía dưới còn có một vị Long Vương rất rõ ràng.
Ngài mỉm cười nói với tôi: "Từ hôm nay trở đi, Chân Phật Mật Pháp sẽ được hoằng dương rộng rãi, ngươi hãy làm tốt, dẫn dắt mọi người phát huy tốt, từ bi hỷ xả, phát huy Chân Phật."

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) có ý kiến về "Bức tường Quan Âm".
Nghe nói, nhiều người đến xem, nhìn thấy nhiều thứ khác nhau, và sự tuyên truyền rất lớn.
Cá nhân tôi cũng từng đến xem "Bức tường Quan Âm", dùng con mắt thứ ba để nhìn, chỉ là một bức tường đá lớn.
Có người hỏi tôi:
"Thấy gì không?"
Tôi đáp:
"Nhiều lắm!"
(Tôi không tiện nói là chẳng thấy gì cả, đành phải nói là nhiều lắm, nhiều cái gì? Ý là có nhiều vân đá thôi.)
Người hỏi rất hài lòng.
Bản thân tôi cũng rất hài lòng.
Bây giờ tôi nói cho mọi người biết, những hình ảnh hiện ra trên tường hoàn toàn chỉ là trò chơi dọa người.

Ví dụ:
Sàn nhà tôi làm bằng đá cẩm thạch, có nhiều vân đá, tôi chỉ cần ngồi trên bồn cầu và nhìn tùy hứng cũng có thể thấy nhiều hình dạng: nàng tiên cá, mặt quỷ, ngựa, bầu bí, mây, cầu vồng, đào tiên, kiếm .………
Nhưng, tôi hiểu rằng:
"Đó chỉ là những vân đá cẩm thạch!"

Nhà tôi có nhiều cây thông, tôi cố ý nhìn vào vân vỏ thông cũng có thể thấy nhiều hình dạng.
Thậm chí có cả hình Phật Đà ngồi dưới cây bồ đề.
Tôi có nên phóng đại tuyên truyền không?
Tôi hiểu rằng:
"Đó chỉ là vỏ thông, không phải Phật Đà!

Ở đây, tôi chỉ muốn nói với mọi người rằng, để vạch trần trò lừa bịp "Bức tường Quan Âm".
Chỉ cần một cái búa lớn là đủ.
Đập nó vỡ ra.
Tất cả ảo ảnh (những thứ được dệt nên trong tâm trí từ các vân đá) sẽ tan biến.
Quỷ Bà rất thích làm trò này. Bồ Tát Quan Âm cưỡi rồng trên bức tường Quan Âm.
Còn Đức Phật nhà tôi thì ở trên vỏ cây thông.
(Thuần túy nói bậy.)


### 35. Nói "tâm địa thiện lương"


Nguyên đăng trên Tạp chí X Liên số 59. Trang 50.
Tiêu đề: "Tâm địa thiện lương".
Ngày 1 tháng 4 năm 1998, Quỷ Bà khai thị tại X Liên Đường.
Quỷ Bà nói:
Lư Sư Tôn từng nói, điều kiện để làm Thượng sư có ba:
1. Tâm địa thiện lương.
2. Truyền pháp hoằng pháp.
3. Hộ trì tông phái, hộ trì Căn bản Thượng sư.

Quỷ Bà nói:
Tâm địa thiện lương, trẻ ba tuổi đều biết, nhưng cụ già tám mươi khó làm được! Hỏi mọi người, tâm bạn có thiện không? Có tâm đại bi mẫn không?
Không so đo với người khác? Không tranh đấu? Có bao dung không? Khi người khác làm sai, bạn có sẵn lòng cho họ cơ hội không? Có luôn quan tâm người khác không? Khó lắm!

Trong nhiều năm qua, tôi luôn ghi nhớ điểm này - tâm địa thiện lương, tôi muốn chuyển hóa tư tưởng của mình từ vô minh, chấp trước thành ánh sáng, thanh tịnh.

Thế nào mới được gọi là người tâm thiện? Tôi cho rằng người tâm thiện dễ dàng tha thứ cho người khác, bao dung người khác, quan tâm người khác, chú ý đến người khác. Hơn nữa, luôn luôn ôn hòa, mềm mỏng, linh hoạt, bất kể trong hoàn cảnh nào, họ tuyệt đối không có tâm hại người, không có ý nghĩ muốn bức hại người khác.

Cũng bởi vì họ luôn nghĩ đến mặt tốt đẹp, đúng đắn, tích cực, nên tư tưởng của họ thường thanh tịnh, không có những tạp niệm, vọng tưởng dư thừa.
……………….

Tôi (Lư Sư Tôn) đọc bài này, rất xúc động, bài khai thị này có ích cho cuộc sống.
Tôi đặt "tâm địa thiện lương" lên hàng đầu, Quỷ Bà cũng khai thị về "tâm địa thiện lương".
Bài viết này, không có gì để bình luận thêm.

Nhưng, tôi vẫn muốn hỏi Quỷ Bà vài câu hỏi:
1. Trong pháp hội Hiển Mật viên dung hai bờ hòa bình, tại sao bà nhờ La, Dương để giết hại:
A. Sư Mẫu.
B. Liên Phẩm.
C. Liên Trí.
D. Liên Diệu.
(Điều này chẳng phải đi ngược lại tâm thiện lương sao, bà muốn giết bốn vị Thượng sư nữ, đây không phải là tâm hại người sao?)

2. Bà muốn tách khỏi Chân Phật Tông, tự mình sáng lập tông phái, tôi thậm chí đã đồng ý, tại sao bà lại thỉnh năm con quỷ lớn của XX Phủ mà bà thờ cúng đến xâm phạm tôi?
(Đây là tâm địa thiện lương của bà? Hay là muốn giết Căn bản Thượng sư để trừ tận gốc?)

3. Từ năm 2000, suốt 18 năm bà không cúng dường Lư Sư Tôn cũng đành! Thậm chí tiền người khác nhờ chuyển cúng dường cũng ăn luôn, đây gọi là tâm địa thiện lương sao?

4. Bà thường mắng người, ngoại trừ không mắng bản thân và người thân, những người khác đều bị bà mắng, kể cả Căn bản Thượng sư, đây cũng là tâm địa thiện lương sao?

5. Bà là chuyên gia nói dối, nói dối hạng nhất, nói một đằng làm một nẻo, những ví dụ về việc bà đe dọa để lấy tiền nhiều không đếm xuể, đây là tâm địa thiện lương sao?

6. Thai nhi tám tháng, bà bảo người phá thai, rồi còn buôn bán người, những việc này bà cũng làm được, đây gọi là tâm địa thiện lương sao? Nói cho bà biết, tâm địa của bà cho chó ăn rồi!

Ví dụ, …………….


### 36. Hỏi Liên Sư - Ngộ không


Nguyên đăng tại Tạp chí X Liên số 47. Trang 2.
Ngày 29 tháng 5 năm 1993, khai thị của Quỷ Bà.
Tiêu đề: "Hỏi Liên Sư - Ngộ không".
Đại ý của bài như sau:
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ hiện ra trong hư không.
Ngài hỏi:
"Quỷ Bà, ngươi ở đâu?"
Có đồng môn trả lời thay:
"Ở đây, tại X Liên Đường."
Quỷ Bà cũng trả lời tương tự:
"Tôi ở đây mà!"
Vì thế Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói:
"Ngươi còn ngã chấp, đời này ngươi không thể thành tựu!"
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ hỏi lần thứ hai:
"Quỷ Bà, ngươi ở đâu?"
Nhiều đồng môn trả lời thay:
"Trong thân này."
"Đang tu pháp."
"Vô ngã."

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói:
"Ngươi còn ngã chấp, đời này ngươi không thể thành tựu!"
Quỷ Bà giữ im lặng.
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói:
"Ngươi còn ngã chấp, đời này ta sẽ không độ cho ngươi."
Quỷ Bà tự nói:
"Nguyên nhân của cảm ứng hôm nay là như thế này: Nó đến từ ý nghĩ khi tôi tu pháp, tôi đang quán tưởng Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Nói thật lòng, tôi có thể tương ứng giao tiếp với rất nhiều, rất nhiều vị Phật Bồ Tát, chỉ là không thể tương ứng với tần số từ trường của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.........."

Lần thứ ba, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ lại hỏi:
"Quỷ Bà, ngươi ở đâu?"
Quỷ Bà đáp:
"Tôi ở trong tâm của Ngài."
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói:
"Ngươi vẫn còn ngã chấp!"
Lần thứ tư hỏi, lần thứ năm hỏi.
Tôi không trả lời.
Kết quả Quỷ Bà tự nói:
"Ngài không tìm thấy tôi nữa, Ngài không gọi được tôi nữa, không thấy tôi nữa! Đây chính là sự lĩnh ngộ!"

Tôi, Lư Sư Tôn, sau khi đọc bài này, cười lớn ba tiếng ha ha ha.

Tôi bình luận như sau:
Sự lĩnh ngộ cuối cùng của Quỷ Bà, hóa ra là "Ngài không tìm thấy tôi nữa, Ngài không gọi được tôi nữa, không thấy tôi nữa!"
Tôi cười Quỷ Bà, đây là:
"Lĩnh ngộ kiểu đà điểu, chôn đầu vào cát, rồi tưởng rằng người khác không thấy mình! Đây là ngộ sai!"

Quỷ Bà tự nói, từ rất lâu, rất lâu về trước, đã tương ứng giao tiếp với tất cả chư Phật Bồ Tát.
(Đoạn này, chỉ có ma mới tin.)

Theo hiểu biết của tôi, có ba loại người như vậy: một là bậc đại thành tựu, hai là người mắc bệnh tâm thần, ba là kẻ nói dối.
Tôi xác định Quỷ Bà là kẻ nói dối.
(Điều này có thể thấy rõ từ hành vi, lừa đảo và xảo quyệt của Quỷ Bà!)

Tôi sẽ nói cho Quỷ Bà câu trả lời!
Nếu Liên Hoa Sinh Đại Sĩ hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Ngươi ở đâu?"
Tôi sẽ đáp: "Lư Sư Tôn là ai?"
Đó mới thực sự là chân ngộ!


### 37. Nói từ chuyện "tịnh tín"


Tạp chí X Liên số 48. Trang 36.
Khai thị của Quỷ Bà, tiêu đề là: "Năm khó khăn lớn của người tu hành."

Năm khó khăn lớn này, đề cập đến tịnh tín, xuất ly, nhẫn nại, thành tựu, v.v.
Chúng ta hãy bắt đầu bằng tịnh tín!
Quỷ Bà nói:
"Hôm nay quy y Phật môn, nếu muốn làm một người tu hành, một hành giả Chân Phật, thì có một vài cửa ải khá khó vượt qua."
"Đầu tiên là tịnh tín. Một người phải tin tưởng, phải dùng tâm rất thanh tịnh để tiếp nhận, phải hoàn toàn chấp nhận và tin tưởng Phật pháp, trừ khi người đó có Phật duyên rất mạnh, và Phật duyên này đến từ trợ duyên kiếp trước của họ, nếu không sẽ khá khó khăn."
…………….

Quỷ Bà chỉ ra:
Tịnh tín chính là tin tưởng.
Tâm thanh tịnh để tiếp nhận.
Hoàn toàn chấp nhận.
Tin tưởng Phật pháp.

Tôi (Lư Sư Tôn) có nhận xét như sau:
Quỷ Bà không có tịnh tín, không có tâm thanh tịnh, không có sự tiếp nhận hoàn toàn, không tin Phật pháp.
Theo hiểu biết của tôi:
Truyền thừa từ cõi trời cũng rất quan trọng, tôi xin chỉ ra:
Văn Thù và Kim Cang Tát Đỏa từ cõi trời truyền xuống cho Long Thụ ở cõi người, hình thành phái Trung Quán.
Đức Di Lặc từ cõi trời truyền xuống cho Vô Trước ở cõi người, hình thành phái Duy Thức.
Kim Cang Trì từ cõi trời truyền xuống cho Tilopa ở cõi người, hình thành phái Đại Thủ Ấn.
Atisa tập hợp tinh tủy thành giáo pháp hoàn chỉnh.
Tsongkhapa tập hợp tinh tủy thành giáo pháp hoàn chỉnh.

Cũng vậy:
Diêu Trì Kim Mẫu từ cõi trời truyền xuống cho Lư Thắng Ngạn ở cõi người, hình thành phái Chân Phật Tông.
Những truyền thừa này là tịnh tín có căn cứ.

Cũng vậy:
Năm đại quỷ từ cõi quỷ, từng thông qua (đồng cốt) truyền quỷ pháp cho Quỷ Bà, hình thành phái Ngũ Đại Quỷ.
Quỷ Bà này ban đầu tin vào Lư Sư Tôn có truyền thừa, nhưng sau đó lại tin vào Ngũ Đại Quỷ.
Quỷ Bà thường bảo người ta:
"Hãy đi cầu XX Phủ!" "Hãy đi cầu XX Phủ!" "Hãy đi cầu XX Phủ!"
"XX Phủ" chính là Ngũ Đại Quỷ.
Ngũ Đại Quỷ không phải là truyền thừa của Chân Phật Tông, mà do Quỷ Bà tự sáng tạo ra.
Quỷ Bà từ tin Phật biến thành tin Ngũ Đại Quỷ, đây chính là đánh mất tịnh tín.

Chúng ta học Phật là để giải quyết vấn đề sinh tử lớn của đời này, thoát khổ được vui.
Vãng sinh tịnh thổ, cõi Phật, thành tựu quả vị Phật, Bồ Tát, A La Hán.
Tôn sùng Ngũ Đại Quỷ, tương lai sẽ rơi vào cõi quỷ, là điều vô nghĩa.
Từ tịnh tín biến thành tin quỷ, thật đáng buồn, đáng tiếc.
Một số pháp sư và tín đồ mù quáng, đi theo Quỷ Bà thờ Ngũ Đại Quỷ, hình thành tập đoàn lừa đảo.
Nạn quỷ chồng chất.
Quỷ Bà hoàn toàn đánh mất tịnh tín, há chẳng đáng thương sao!


### 38. Không có tâm xuất ly


Quỷ Bà bàn về "Năm khó khăn lớn của người tu hành", khó khăn thứ hai chính là xuất ly.
Quỷ Bà nói:
Ngày nay, một hành giả nếu không có tâm xuất ly thì rất khó tiếp tục con đường tu hành.
Nếu bạn đã kết hôn, có chồng, có vợ, có con cái, có cha, có mẹ, có gia đình riêng của mình, việc vượt qua cửa ải này, thực sự rất khó khăn.
Bởi vì những người bạn tiếp xúc hàng ngày chính là những người thân và bạn bè xung quanh bạn, bạn có mối quan hệ mật thiết với họ, bạn rất khó từ bỏ tình cảm này.
Cũng rất khó buông bỏ danh tiếng, lợi ích, cũng như tất cả địa vị của bạn.
(Nhưng Quỷ Bà lại ca ngợi Phật Thích Ca Mâu Ni.)

Quỷ Bà nói:
Chúng ta nhìn thấy ở Phật Thích Ca Mâu Ni sự thể hiện trí tuệ siêu việt khác biệt hoàn toàn so với người thường.
Ngài từ bỏ địa vị thái tử.
Ngài từ bỏ vinh hoa phú quý.
Ngài từ bỏ danh lợi.
Ngài từ bỏ vợ con, cung phi.
Ngài nhìn thấu mọi hư ảo trên thế gian.
Đức Phật đã xuất gia tu hành, Ngài sáng lập Phật giáo.

Quỷ Bà nói:
Một lòng muốn tu hành, nhưng không có tâm xuất ly, thường xuyên rơi vào trạng thái đấu tranh với bản thân.
Ý nghĩa thực sự của xuất ly là:
Buông bỏ bản ngã.
Chấp trước.
Xuất ly khỏi sự chấp tướng.

Nhận xét của Lư Sư Tôn như sau:
Lời nói của Quỷ Bà là đúng, đúng vậy. Thường ngày miệng chó không thể nhả ngà voi, nhưng lần này, lời bà ta nói thật đúng trọng tâm.
Tuy nhiên, chúng ta cần xem hành vi của Quỷ Bà có đúng như những gì bà ta đã nói không.
Một nữ cư sĩ tại gia ngồi ở vị trí trung tâm.
Còn tất cả các pháp sư xuất gia lại ngồi bên cạnh bà ta, thật là khó coi.
Quỷ Bà không thấy ngượng.
(Nhưng tôi thì thấy xấu hổ thay cho bà ta.)
Điều sai lầm nghiêm trọng là:
Các pháp sư khi gặp nữ cư sĩ tại gia, cũng đảnh lễ Quỷ Bà.
Điều này không phù hợp với chế độ Phật giáo, cũng không phù hợp với giới luật Phật giáo.
(Thật là hoang đường đến cực điểm.)
Đức Phật dạy: Hiện tượng cư sĩ ở trên, pháp sư ở dưới đảnh lễ, là tướng ma trong thời mạt pháp.
Quỷ Bà tôn sùng năm đại quỷ, đã mất chính niệm.
Bây giờ lại phá giới luật của Đức Phật, những giới luật cần phạm thì bà ta đều phạm hết.
Mười bốn giới căn bản của Mật giáo đều bị phạm. Năm mươi bài kệ về Sự Sư Pháp cũng đều bị phạm.
Quỷ Bà còn tìm ra nhiều lý do, cái gọi là lý do không xuất gia.
Bà ta nói phải có 49 người xuất gia, bà ta mới xuất gia!
Đây là lừa gạt tín chúng của X Liên Đường.
Xấu hổ.
Thật tệ hại.
Tôi nói với bà: "Xuất gia vô điều kiện mới là xuất gia thật sự. Hiểu không?"


### 39. Tư tưởng về ngoại cảnh không


Tôi (Lư Sư Tôn) có tâm xuất ly, tôi tự biết rằng, tôi đã có tư tưởng về ngoại cảnh không.
Tôi xuất gia năm 43 tuổi.
Thầy truyền giới là đại hòa thượng Quả Hiền.
Địa điểm xuống tóc là Chân Phật Mật Uyển.
Vậy tư tưởng về ngoại cảnh không là gì?
Tôi xin nói với mọi người:
Khi tôi vừa sinh ra, ông nội tôi là Lư Xương đã qua đời. Bà nội tôi là Du Đoan Hương còn sống, nhưng khi tôi học tiểu học, bà cũng đã qua đời.
Cha tôi là Lư Nhĩ Thuận đã vãng sinh ở tuổi 86.
Mẹ tôi là Lư Ngọc Nữ đã vãng sinh ở tuổi 72.
(Tất cả bậc trưởng bối đều đã trở về cõi không.)

Khi tôi xuất gia, vợ tôi là Lư Lệ Hương đã trở thành thị giả, hiện nay bà ấy 70 tuổi, mang bệnh cũ. Như ngọn nến trước gió, tất nhiên không lâu nữa bà ấy cũng sẽ trở về cõi không.
Hiện nay, hậu duệ của tôi là Lư Phật Thanh (con gái), Lư Phật Kỳ (con trai), con rể (Andy), con dâu (Sunny), cháu trai (Lư Hoằng), cháu gái (Lư Quân).
Tất cả đều là người tôi yêu thương nhất, nhưng tôi cũng biết rằng, đây là do nhân duyên mà sinh ra, có duyên thì gặp nhau, duyên hết thì tan.

Ngay cả là vợ chồng, vợ chồng vốn như đôi chim cùng rừng, khi số phận đến sẽ mỗi người bay một ngả. (Duyên khởi tính Không.)
Nói thêm, bạn bè, tri kỷ đã có hai người về cõi không, một người là Hoàng Kim Hùng, một người là Trang Chính Hòa.
Những người khác duyên mỏng hơn một chút.

Nói về danh:
Thân còn không tồn tại, danh nương vào đâu? (Không)
Nói về lợi:
Nhà cửa sẽ cũ, sẽ hỏng, sẽ bán. (Không)
Xe cộ sẽ cũ, sẽ hỏng, sẽ hư. (Không)

Lại nói:
Tiền bạc, tôi dùng, bạn dùng, họ dùng. Một ngày nào đó, bạn cũng không dùng đến nữa. (Không)
Châu báu, cho bạn mượn để ngắm vài chục năm, tương lai rơi vào nhà ai, bạn chưa chắc đã biết? (Không)
Chúng ta ngẩng đầu nhìn:
Núi xanh vẫn còn đó, mấy độ hoàng hôn đỏ.
Ngoài núi còn núi, ngoài lầu còn lầu, phong cảnh Tây Hồ bao giờ mới dừng.
Quốc gia như huyễn.
Gia tộc như huyễn.
Cá nhân cũng là thân huyễn.
Tất cả và tất cả ngoại cảnh cũng chỉ là cảnh huyễn tạm thời.

Khi còn nhỏ, tôi sống ở Cao Hùng 19 năm, cho đến khi tốt nghiệp trung học.
Khi tôi trở lại Cao Hùng, tôi không còn nhận ra Cao Hùng nữa.
Khi tôi trở lại Đài Trung, tôi không còn nhận ra một số khu vực ở Đài Trung.
(Từ 19 tuổi đến 38 tuổi ở Đài Trung.)
Sau 38 tuổi, tôi sống lâu dài ở Seattle, Hoa Kỳ, năm nay tôi 74 tuổi.
Tự biết mình sắp trở về cõi không!
Nhìn lại quá khứ - không.
Nhìn lại hiện tại - không.
Nhìn lại tương lai - không.
Đây chính là tư tưởng về ngoại cảnh không của tôi. Từ tư tưởng về ngoại cảnh không này, đã phát sinh:
Tâm xuất ly.
Tâm bồ đề.
Trung quán chính kiến.
Điều duy nhất tôi sở hữu, chính là Phật tính.


### 40. Nói chuyện với Hoàng Tài Thần


Tạp chí X Liên, số 49, trang 49.
Ngày 26 tháng 2 năm 1995 tại nhà hàng chay Tiên Quả.
Tiêu đề: Món quà sinh nhật Phật Bồ Tát tặng tôi.
Quỷ Bà nói:
Tôi đã trò chuyện với Hoàng Tài Thần. ...............
Hoàng Tài Thần không nói một lời nào, chỉ tặng cho tôi con chuột nhả tài bảo!
Hoàng Tài Thần nói:
"Bà muốn gì thì tự mình làm lấy! Bà chính là chuột nhả tài bảo, bà chính là Hoàng Tài Thần."
Sau đó:
Mật đàn xuất hiện một 108 lá phù Trời ban tài phúc, Quỷ Bà nói, đây là do chuột nhả tài bảo đến tay tôi, và chuột nhả tài bảo sẽ chọn 108 người có nguyện vọng, người phát tâm.
Quỷ Bà nói:
Tôi nói cho mọi người biết, ai sở hữu một lá, người đó chắc chắn sẽ lập tức chuyển vận. Nhưng tôi không thể tùy tiện đưa cho các bạn, bởi vì điều này có điều kiện. ………….

Bình luận của tôi (Lư Sư Tôn) như sau:
Về việc "trò chuyện" với Hoàng Tài Thần, tôi nhấn mạnh hai từ "trò chuyện", nghe rất là tùy tiện.
Hoàng Tài Thần nói, tặng chuột nhả tài bảo cho bà, bà chính là Hoàng Tài Thần.
(Đoạn này là nói dối.)
108 lá phù Trời ban tài phúc. Lập tức chuyển vận.
(Đoạn này là lừa gạt.)
Quỷ Bà sử dụng phương pháp nói dối kết hợp lừa gạt này không biết đã lừa bao nhiêu người thiên hạ!

Lại nữa:
Trong séc của Hoàng Tài Thần:
Hoàng Tài Thần đưa cho đồng môn ba tờ séc, séc trắng, yêu cầu mọi người tự điền số tiền.
Cũng tương tự là có điều kiện.
Chín mươi phần trăm phải cúng cho Quỷ Bà.
Mười phần trăm phải bố thí.
Phải đem toàn bộ ra làm công đức. Đây là tích lũy tài phú trên trời.

Bình luận của tôi (Lư Sư Tôn) như sau:
Tôi nhấn mạnh từ "séc". Hoàng Tài Thần cũng dùng séc, đi chỗ khác chơi!
(Phần trước lại là nói dối.)
(Phần sau lại là lừa gạt.)

Lại nữa:
Trong "Ma Tổ thánh chỉ đến":
Lệnh bài của Ma Tổ lại bay ra, bay đến mỗi người có mặt, mỗi người trong các bạn, tất cả đều cầm lệnh bài của Ngài. Và mỗi người đều đội mũ phượng hoàng.
Tôi (Lư Sư Tôn) xin nói với mọi người:
Lệnh bài của Ma Tổ là ngọc chỉ (do Ngọc Hoàng Đại Đế ban) trên có viết bốn chữ "Hải Thượng Tuần Thú".
Lệnh bài này là ngọc chỉ do Ngọc Hoàng ban, trừ phi Ngọc Hoàng ban hành, không thể tùy tiện trao cho ai.
Ma Tổ cũng không thể tùy tiện lấy ngọc chỉ ra đùa giỡn, tùy tiện trao cho mỗi đồng môn một cái.

Lại nữa, trong đồng môn, có nam có nữ, lẽ nào nam giới cũng đội mũ phượng hoàng sao? Thật không hợp lý chút nào.
(Đây vẫn là nói dối.)
Những lời nói dối của Quỷ Bà nhiều vô kể, những đồng môn thông minh đã sớm nhìn ra!


### 41. Hợp nhất với quỷ


Tạp chí X Liên số 51, trang 39.
Ngày 18 tháng 3 năm 1995.
Tiêu đề: Phòng ma, phòng tâm

Đây là bài khai thị của Quỷ Bà, tôi nhận ra ý chính của nó:
1. Ma không. Nên không có ma.
2. Quỷ không. Nên không có quỷ.
Quỷ Bà nói:
"Không xem nó là ma, thì không có ma."
"Không xem nó là quỷ, thì không có quỷ."
(Đây là thuyết pháp thắng nghĩa đế.）

Nhưng,
Quỷ Bà lại nói:
"Không xem chúng là quỷ, thì không có quỷ. Giống như XX Phủ đến X Liên Đường của chúng ta.
(Chú thích: XX Phủ chính là đồng môn âm gian trong điện Địa Tạng của X Liên Đường.）
"Tôi (Quỷ Bà) mở rộng vòng tay đón nhận họ, đến thì không từ chối, càng nhiều càng tốt; vì vậy người khác sợ quỷ, tôi không sợ quỷ, bởi vì họ cũng là chúng sinh, ma cũng là chúng sinh, quỷ cũng là chúng sinh."
Quỷ Bà lại nói:
"Quỷ đến đè tôi, tôi liền hấp thụ quỷ, cảm hóa quỷ. Người khác sợ bị quỷ đè, hút khí, tôi thì hòa nhập với họ, họ hút tôi, tôi cũng hút họ, hợp làm một thể."
"Họ mạnh mẽ hút tôi, tôi cũng mạnh mẽ hút họ, họ độ tôi, tôi độ họ, mãi mãi đời đời kiếp kiếp không rời xa nhau."

Tôi (Lư Sư Tôn) bình luận như sau:
Cuối cùng tôi đã tìm thấy bằng chứng Quỷ Bà nuôi quỷ:
Hợp nhất với quỷ.
Cùng quỷ đời đời kiếp kiếp không rời xa nhau.

Tôi cười.
Quỷ Bà tương ứng với quỷ, phát nguyện cùng quỷ đời đời kiếp kiếp không rời xa nhau.
Quỷ Bà lại nói, đến thì không từ chối, càng nhiều càng tốt………….
Quỷ Bà ơi! Quỷ Bà! Phật Bồ Tát cao cấp, Kim Cang Hộ Pháp, Không Hành, chư Thiên, bà không hợp nhất với các Ngài.
Mà lại cứ phải hợp nhất với quỷ.
Và càng nhiều càng tốt.
(Nhiều đến nỗi không thể nuôi nổi nữa, gửi đến các chùa, đường, hội ở khắp các quốc gia trên thế giới, để cho đồng môn Chân Phật Tông nuôi.)
Nên Chân Phật Tông mắc bệnh quỷ ám.
Tôi đã sớm nhìn ra, cái gọi là Phật Đà, Bồ Tát giáng xuống trò chuyện với bà, tất cả đều là quỷ biến thành, hoặc là nói dối tùy tiện.

Quỷ Bà, bà đã lạc vào tà đạo mà không tự biết.
Trong lỗ chân lông của bà toàn là quỷ trú ngụ, nên toàn là lời quỷ, toàn là lời dối trá.

Đức Phật (Phật pháp) không dạy người ta hợp nhất với quỷ. Bốn thánh giới không có quỷ, các cõi trời cũng không có quỷ, cõi thần cũng không có quỷ, huống chi những gì bà nuôi toàn là ác quỷ.
Nuôi quỷ gây họa, những đệ tử thiện lành của Chân Phật Tông chúng tôi đều trở thành đồ ăn vặt cho quỷ.
Bà thật quá đáng ghét!
"Chúng u linh hiển hách", thế giới này đã trở thành thế giới quỷ rồi.

Tôi (Lư Sư Tôn) là tổ sư bắt quỷ, còn có một vị thần Chung Quỳ cũng là tổ sư bắt quỷ.
Bà tự cho rằng từ bi với quỷ chúng, bà chẳng lẽ không biết, đám ác quỷ bà nuôi là "một bầy sói đói" sao?
Đừng tự lừa mình dối người nữa!


### 42. Bóng ma ở Tây Thành


Bang Washington của Hoa Kỳ, thành phố Redmond ở Seattle nằm ở góc Tây Bắc của Hoa Kỳ.
Chân Phật Tông bắt đầu nảy mầm, phát triển và lan rộng tại đây. Có hai tòa Lôi Tạng Tự, đó là Seattle Lôi Tạng Tự và Cầu Vồng Lôi Tạng Tự.
Chúng tôi tôn xưng Seattle Lôi Tạng Tự là Chùa Tổ, vì đây là tòa Lôi Tạng Tự đầu tiên trên toàn thế giới.

Kể từ khi Quỷ Bà "hợp nhất với quỷ", "đời đời kiếp kiếp không rời xa quỷ."
Seattle Lôi Tạng Tự cũng bị phủ bóng ma, tôi thống kê sơ lược những nạn nhân.
1. Từ Thụy Quang - tham bái XX Phủ, sau khi trở về Tây Thành, hàng ngày thấy ma, bị quấy nhiễu, tâm thần phân liệt hoảng loạn, cuối cùng tự sát. Lúc đó tôi đang ở Đài Loan, không kịp cứu.
2. Sư tỷ Dung - đàn thành trong nhà được Quỷ Bà khai quang, đầy ắp quỷ, đột tử.
3. Sư tỷ Thanh - đàn thành trong nhà được Quỷ Bà khai quang, đầy ắp quỷ, từng nhảy lầu tự tử, không chết, đến nay vẫn tinh thần hoảng loạn.
4. Thomas - tham gia trại thanh niên của Quỷ Bà, sau khi trở về, tính tình thay đổi lớn, anh ta là giáo sư tiến sĩ, bị trường sa thải, tinh thần hoảng loạn. Nhờ tôi nỗ lực cứu giúp, nay đã bình phục và còn tìm được công việc mới.
5. Sư tỷ Trần - ca ngợi Quỷ Bà, dẫn đến hiện nay tinh thần thất thường, lời nói lộn xộn, hơi giống lời nói hành động của Quỷ Bà.
6. Mông Diện - Người phụ nữ này bình thường vẫn tốt, nhưng khi bị quỷ nhập, cô ta đã gào thét với cây cối, trong tiếng kêu có xen lẫn những tiếng gọi thảm thiết "Quỷ Bà cứu tôi", "Quỷ Bà cứu tôi".
7. Thẩm Vân - Đích thân đến San Francisco, tham bái XX Phủ, sau khi trở về, sắc mặt thay đổi lớn, trở nên xanh đen như mặt quỷ, từng muốn tự sát. Nhờ tôi nỗ lực cứu chữa, hiện đã bình phục.
8. Vu Tiên - Tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, lấy xuống bài vị quỷ (XX Phủ), rơi vào nhiều tai ương, mặt cũng biến dạng, nhờ tôi cứu chữa, hiện đã bình phục.
9. Đường Quân - Thể chất đặc biệt, dễ bị ma nhập, mọi người tụng chú đuổi ma, cô ấy vừa tụng thì liền bị ma nhập.
10. Bội Lương - Tham bái XX Phủ, tham gia pháp hội của Quỷ Bà, gặp nhiều tai ương, sau đó đã bình phục.

Theo thống kê của tôi:
Còn có pháp sư Bích Yến, pháp sư Liên Quân, pháp sư Liên Tự ………… 
Lại có Vương Phàm, tham bái XX Phủ, hiện đang ở bệnh viện tâm thần.
Vô số người bị ảnh hưởng bởi ma quỷ của Quỷ Bà, cho đến nay, vẫn mang bệnh cũ trong người.

Tôi thật lòng nói với mọi người:
Quỷ Bà "hợp nhất với quỷ", Quỷ Bà "cùng quỷ đời đời kiếp kiếp không rời xa nhau" đáng sợ đến mức nào.
Những người tin bà ta đã trở thành nô lệ của quỷ.
Những người được bà ta siêu độ đi vào cõi quỷ.
Những người mua tượng Phật Bồ Tát của bà ta đã dẫn quỷ vào nhà.
Những nơi bà ta khai quang trở thành nhà quỷ.
Phật Bồ Tát mà bà ta thuyết pháp khai thị, thực ra đều là quỷ biến hóa thành.
(Hoặc là nói dối.)

Vì vậy X Liên Đường là đường quỷ, lại còn có trường học âm gian (trường học của quỷ).
Ngôn ngữ tâm linh của bà ta là ngôn ngữ của quỷ.
Giao tiếp với động vật và chim muông, nếu không phải là giao tiếp với quỷ thì là nói dối.
Do đó có thể thấy, tai họa quỷ ám xảy ra ở các chùa, đường, hội trên toàn thế giới, không biết có bao nhiêu?
Quỷ độ chúng sinh ư? Lũ quỷ biến đi!


### 43. Pháp lép "nổ" mọi lúc


Tạp chí X Liên (Tháng 5 - 8 năm 1996), trang 13.
Tiêu đề: "Chuyến hoằng pháp tại Trung Nam Mỹ".

Tôi thấy Quỷ Bà trong chuyến hoằng pháp, lúc nào cũng "nổ".
Thứ nhất, sau khi Quỷ Bà làm xong pháp hội, định đi kiểm tra địa điểm Hộ Ma, không ngờ vừa bước ra cửa lớn, bên ngoài mưa như trút nước, hóa ra bạn thân của Quỷ Bà đã đến!
(Tôi nhận xét: Thấy mưa liền nói Long Vương đến. Thần thông kiểu này, ai cũng biết nói.)

Thứ hai, Quỷ Bà đến nhà thờ cổ nhất Trung Mỹ, nhìn thấy một vị đại giám mục đã qua đời.
Quỷ Bà nói: "Đó chính là tiền kiếp của tôi!"
(Tôi nhận xét: Quỷ gặp quỷ.)

Thứ ba, Quỷ Bà nhìn thấy một tượng nữ thần Thiên Chúa giáo.
Quỷ Bà nói chuyện với bà ấy, Quỷ Bà nói nữ thần này là phân linh của Thánh Mẫu Maria.
Thánh Mẫu nói:
"Cách đây 479 năm, XX đã truyền đạo ở đây."
(Tôi nhận xét: Tượng nữ thần này tôi đã từng thấy trong nhà thờ Thiên Chúa giáo, không phải là Thánh Mẫu Maria, Quỷ Bà đã nhầm lẫn!)

Thứ tư, ở quảng trường bên ngoài nhà thờ Thiên Chúa giáo có cây bồ đề cổ thụ, mọi người vui vẻ hái lá làm kỷ niệm.
Pháp sư Liên Quán đặc biệt vui mừng, tiện tay hái một cành lá. Thần cây đã xuất hiện, yêu cầu cô ấy tụng Tâm Kinh 200 biến trong hai ngày và hồi hướng cho thần cây.
Tất nhiên, người giao tiếp với thần cây cũng là Quỷ Bà.
(Tôi nhận xét: Ở Dominica, thần cây trước nhà thờ Thiên Chúa giáo cũng hiểu Tâm Kinh, quả là có quỷ!)

Thứ năm, khi pháp hội Hộ Ma hỏa cúng vừa bắt đầu, trời lại đổ mưa.
Quỷ Bà nói: "Tứ Hải Long Vương đã đến!"
(Tôi nhận xét: Quá cũ rích rồi. Hãy đổi sang trò mới đi! Ví dụ như: Ngọc Hoàng Đại Đế đi tiểu cũng được.)

Thứ sáu, trong pháp hội còn có một phép lạ khác mà mọi người đều không nhìn thấy, trong không trung liên tục rơi xuống một loại vật thể màu trắng, giống như thực phẩm có dạng bông gòn trắng.
Điều này biểu thị: Tiêu tai ban phúc, tăng trưởng trí tuệ.
(Tôi nhận xét: Quỷ Bà nhìn thấy được, Quỷ Bà nghe được. Chỉ là mọi người không thấy, không nghe. Vì vậy, lừa đảo là sinh ra như thế đấy.)

Thứ bảy, khi đến Puerto Rico, trời lại mưa và sấm chớp. Quỷ Bà nói:
"Từ bốn phương, mỗi phương có một Long Vương đến đảnh lễ tôi."
(Tôi nhận xét: Tôi không chịu nổi nữa rồi, có thể đổi thành vợ của Ngọc Hoàng Đại Đế cũng đi tiểu, một lúc không tìm được giấy vệ sinh nên nổi trận lôi đình.)

Thứ tám, trong pháp hội ở Puerto Rico, có ba nghìn vị Thổ Địa Công đến tham gia pháp hội.
Chính vì ba nghìn vị Thổ Địa Công phải tham gia, nên thời gian bị kéo dài đến tận nửa đêm mới bắt đầu.
(Tôi nhận xét: Quỷ Bà có hai thói quen chưa sửa. Một là đến trễ, hai là kéo dài. Ba nghìn vị Thổ Địa Công không biết thuộc giống gì, ngôn ngữ nào, tôi rất tò mò!)

Thứ chín, ở Panama có nhân duyên tiền kiếp của pháp sư Liên Quán. Ở Puerto Rico có nhân duyên tiền kiếp của pháp sư Liên Ngôn. Trời lại mưa, Quỷ Bà nói 300 Long Vương đến hộ trì.
(Tôi nhận xét: Lần này là 300 Liên Hoa Đồng Tử đến đi tiểu. Quỷ Bà nói đó là 333 vị Long Vương vâng mệnh Phật Đà đến hộ trì.)

Kết quả suy đoán thần kỳ của tôi là, tất cả đều là giả. Lúc nào cũng "nổ"!


### 44. Nhận xét những lời nói bậy của Quỷ Bà


Tôi (Lư Sư Tôn) đối với những lời ma quỷ mà Quỷ Bà nói, ước chừng sơ bộ, là như thế này.
Trời mưa! Liền nói "Long Vương đã đến!"
Thổ Địa Công của nhà cửa, Quỷ Bà liền nói "Thổ Địa Công đã đợi tôi 500 năm rồi!" (Tôi đã gặp đến bảy người kể lại như vậy.)
Quỷ Bà nhìn thấy mốc tường, những bức tường lồi lõm, liền nói: "Ở đây có nhiều quỷ lắm!"
Giáo chủ Phật giáo Thích Ca Mâu Ni Phật cũng trở thành một trong những nhân vật trong lời nói quỷ của Quỷ Bà.
Ví dụ:
"Nắm tay Quỷ Bà."
Phật Tổ nói:
"Hãy đi theo ta!"
(Tôi Lư Sư Tôn, vừa thấy điều này đã gấp sách thở dài, đường đường là Giáo chủ mà nắm tay nữ cư sĩ, đây là quấy rối tình dục, không phù hợp với giáo pháp của Phật Tổ.)
Sự trang nghiêm đã hoàn toàn bị phá hủy! Khi Đức Phật còn tại thế chưa từng nắm tay nữ cư sĩ.
Đức Phật cho các đồng môn ở X Liên Đường ăn xá lợi tử.
Quỷ Bà nói: "Ừm! Rất thơm, rất ngọt, rất ngon!"
(Tôi Lư Sư Tôn tức muốn chết, xá lợi tử của Đức Phật rất thơm, rất ngọt, rất ngon sao?)

Quỷ Bà thường nói:
"Đi du ngoạn cõi trời."
"Đi họp với Lư Sư Tôn ở Ma Ha Song Liên Trì."
"Không muốn quay về nữa!"
(Lư Sư Tôn nhận xét: Toàn là chuyện ma quỷ nói láo.)

Quỷ Bà gặp A Di Đà Phật, Dược Sư Phật, Diêu Trì Kim Mẫu ..........
Diêu Trì Kim Mẫu tháo những viên ngọc từ mũ phượng xuống cho Quỷ Bà và đồng môn ăn.
(Lư Sư Tôn nhận xét: Ngọc từ mũ phượng có thể ăn được sao?)
Diêu Trì Kim Mẫu lại tặng đào tiên cho mọi người ăn.
(Lư Sư Tôn nhận xét: Quỷ Bà tự mình tham ăn, ngày nào cũng chỉ là ăn, ăn, ăn.)
Hư Không Tạng Bồ Tát ban nước ánh trăng cho mọi người uống.
Ma Tổ ban ngọc chỉ cho mọi người, ai cũng có phần.
Cứu Thủy Tai Độ Mẫu ban cho đồng môn:
"79 quả lành."
"Mỗi quả lành có giá trị bằng công đức tu tập trong 30 năm."
"Một quả 30 năm, 79 quả...... tương đương với 2370 năm công đức lành."
(Lư Sư Tôn nhận xét: Đồng môn ở X Liên Đường thật may mắn. Tham gia một lần pháp hội Cứu Thủy Tai Độ Mẫu là đã gần đủ tư cách thành thần tiên.) Muốn làm thần tiên cần 3000 công đức lành.

Hoàng Tài Thần cho ba tấm séc trắng. (tự điền số tiền
Hoàng Tài Thần cho Quỷ Bà một con chuột nhả tài bảo.
(Lư Sư Tôn nhận xét: Chưa từng nghe nói có người nào ở X Liên Đường trúng thưởng?)
Hồng Tài Thần cúng dường sữa cho Quỷ Bà uống.
Hồng Tài Thần nhảy múa điệu Ấn Độ cho Quỷ Bà xem.
Hồng Tài Thần hát cho Quỷ Bà nghe.
(Lư Sư Tôn nhận xét: Ôi trời! Cười chết mất!)
.............

Nhìn chung, tổng kết lại, Quỷ Bà quả thật có tài năng nói dối, biện minh cho lời nói dối, rồi lại nói dối, rồi lại biện minh. Nhưng, thực tế hoàn toàn không có chuyện đó.

Còn về tài năng duy nhất của bà ta, đó chính là nuôi quỷ, hợp nhất với quỷ, và hại vô số người.


### 45. Câu chuyện của con ba ba


Một ngày nọ.
Tôi nói chuyện với một đồng môn nuôi ba ba.
Tôi đi thẳng vào vấn đề:
"Ba ba có tự tử không?"
Anh ta trả lời:
"Không. Tôi nuôi ba ba nhiều năm rồi, ba ba và rùa đều không tự tử. Nghe nói, chỉ có con người mới tự tử, các loài động vật thông thường đều không tự tử."
Tôi hỏi:
"Ba ba có túc mệnh thông (thần thông) không?"
Anh ta trả lời:
"Tôi không tin, ngay cả chúng ta là người bình thường cũng không biết quá khứ và tương lai của mình. Ba ba có túc mệnh thông, chỉ có ma mới tin."
Tôi hỏi:
"Nếu có một con ba ba, cổ của nó dài ra rất dài, điều đó tượng trưng cho điều gì?"
Anh ta trả lời:
"Thứ nhất, nó muốn trốn khỏi nơi sinh sống, thứ hai, nó đang đói quá, muốn ăn thứ gì đó."
Tôi hỏi:
"Cổ dài ra là chết thế nào?"
Anh ta trả lời:
"Là chết đói."
Tôi hỏi:
"Ba ba có tu hành không?"
Anh ta trả lời:
"Con người còn chưa biết tu, ba ba mà biết tu hành, ha ha ha! Tu hành chỉ có ở cõi người, chim muông thú vật đều không biết tu hành."
Tôi hỏi:
"Có một con ba ba là tiên nữ chuyển thế, đã chuyển kiếp 30 đời rồi, anh có nghe qua chưa?"
Anh ta sững lại một chút, trả lời:
"À! Tôi hiểu rồi, chắc chắn là Quỷ Bà lại bịa chuyện, khoác lác rồi."

🌟

Tạp chí X Liên số 56, trang 15.
Ngày 22 tháng 2 năm 1997.
Điểm chính Quỷ Bà nói như sau:
Có một con ba ba, tiền kiếp của nó là tiên nữ, vì phạm thiên điều, đã chuyển thế 30 lần, con ba ba này còn biết rằng, bản thân còn 300 năm nghiệp khổ phải trả.
(Tôi nhận xét: Ba ba có túc mệnh thông, còn mạnh hơn cả thần tiên, mạnh hơn Lư Sư Tôn nhiều!)
Con ba ba này còn nhận ra, sư tỷ X là cha của nó ở kiếp trước, lại nhận ra hai vị đồng môn, là gì gì đó!
(Tôi nhận xét, ba ba có thiên nhãn thông. Thật là làm tức chết tất cả loài người.)

Con ba ba lại dặn dò hậu sự, nấu cho mọi người ăn, cúng dường cho mọi người.
(Tôi nhận xét: Quỷ Bà chỉ biết ăn, ăn, ăn. Ăn cho đến khi thành cái vại nước vẫn cứ ăn.)
Ba ba tu hành bảy ngày thành Phật pháp.
(Tôi nhận xét: Nó còn biết kết ấn, quán tưởng, trì chú, con ba ba này quả thực không phải tầm thường.)
Ba ba sau bảy ngày tự tử, qua đời.
(Tôi nhận xét: Chết đói thì có.)

Tôi Lư Sư Tôn nói:
Điều này không có gì lạ! Quỷ Bà nói vào năm 1988, Đức Phật đã hàng ngày khai thị trên đầu bà ta, chú ý là năm 1988. Thật đúng là quá quắt, thực sự không hiểu Quỷ Bà quy y tôi để làm gì?


### 46. Quỷ Bà là đấng cứu thế?


Tạp chí X Liên số 61, trang 42.
Tiêu đề: Thiên quốc ở ngay trong trái tim bạn.
Thời gian: Ngày 31 tháng 3 năm 1999.
Quỷ Bà nói:
Vào tối ngày phát hiện Chúa Jesus hiển hiện trên bức tường Quan Âm, linh thể Chúa Jesus đã giáng xuống............
Quỷ Bà hỏi Ngài:
"Tại sao Ngài đến đây?"
Ngài trả lời:
"Tôi đến đây, vì bà đã nghe thấy tiếng gọi của tôi."
Quỷ Bà hỏi:
"Có thật là Ngài không? Chúa Jesus Christ?"
Chúa Jesus đáp:
"Đúng vậy, là tôi đây, bà đã nghe thấy tiếng lòng của tôi.............."
Chúa Jesus nói:
"Bà sẽ trở về thiên quốc, chúng tôi đều biết những đau khổ mà bà đã chịu đựng. Hãy đi nói với chúng sinh rằng bà là đấng cứu thế của họ. Sự hiển linh của Chúa Jesus Christ và Đức Mẹ Maria ở đây chính là một minh chứng lớn, hãy thức tỉnh họ! Ta sẽ trở lại, xin hãy nhớ lời dặn dò của ta."
Quỷ Bà nói:
"Con không dám, thưa Chúa Jesus Christ, con không dám nói với họ rằng con là đấng cứu thế, quá tự đại rồi, người ta sẽ không tin."
Chúa Jesus nói:
"Bởi vì bà đã nghe thấy tiếng nói của ta, và bà cũng đã thực hiện được."

🌟

Quỷ Bà nói:
"Lần đầu tiên nhìn thấy Chúa Jesus Christ là vào năm 1988."
"Còn một lần nữa là ngày 12 tháng 4 năm 1998, Chúa Jesus Christ xuất hiện trong pháp hội Hộ Ma, đã nói một số pháp ngữ khai thị."
Lần xuất hiện thứ ba, Chúa Jesus Christ bảo Quỷ Bà: "Ta đến đây là để giúp ngươi xây dựng trường học."

🌟

Lư Sư Tôn nhận xét:
Vì lời nói của Chúa Jesus Christ mà Quỷ Bà là "đấng cứu thế", tôi đặc biệt hết sức thận trọng thần toán tâm linh.
Kết quả là:
Lừa dối quá lớn!
Bịa đặt quá lớn!
Giả dối quá lớn!
Quỷ Bà là đấng cứu thế ư?
Người "hợp nhất với quỷ", "đời đời kiếp kiếp ở cùng quỷ" là đấng cứu thế sao?
Kẻ hại vô số người là đấng cứu thế sao?
Kẻ xúi người phá thai là đấng cứu thế sao?
Kẻ bán con người ta là đấng cứu thế sao?
Kẻ lừa thầy diệt tổ là đấng cứu thế sao?
Kẻ lừa gạt tiền của người khác là đấng cứu thế sao?
Kẻ nuôi quỷ là đấng cứu thế sao?
Dùng quỷ hại người tự sát, mất trí, bệnh tật, tai ương, hút khí, đè giường, đánh cắp khí lực ............
Người như vậy là đấng cứu thế sao?
Kẻ lợi dụng Chân Phật Tông làm bàn đạp, rồi nhảy ra tự lập sự nghiệp của mình, Quỷ Bà như vậy là đấng cứu thế sao?
Kẻ nói dối vô số lần là đấng cứu thế sao?
Cổ Vân nói: "Tất cả đều là lừa gạt!"
Liên Ngôn nói: "Kẻ lừa đảo của thế kỷ!"
Liên Tử nói: "Lừa gạt là sở trường của bà ta!"


### 47. Tham cứu


Kính gửi Sư Tôn Liên Sinh Phật, thỉnh Phật minh giám!
Sư Phật cát tường!

Đệ tử ngu muội gần đây đã nghiên cứu văn tập "Hư không không biến đổi" của Sư Phật, xin kính dâng lên vài trang cảm nhận sau khi đọc, kính mong Sư Phật từ bi chỉ dạy, sửa chữa những chỗ không đúng, để đệ tử sau này luôn giữ được chính lý để chấn chỉnh hành vi của mình!

Lần này theo sự hướng dẫn của sách mà tham ngộ, đệ tử như thể đang theo bước chân Sư Phật, dạo bước trong cảnh giới của hai đế Chân - Tục (thấu triệt chân đế để thấy tục, thấu triệt tục đế để thấy chân), có cảm giác rõ ràng về ranh giới! Và trong quá trình tham ngộ, mỗi khoảnh khắc đệ tử đều an trú trong chính niệm, cảm thọ về sự thanh bình tĩnh lặng và pháp hỷ tràn đầy trong tâm hồn, quả thực là khó có thể diễn tả bằng ngôn từ!

Theo sự chỉ dạy trong văn tập của Sư Phật mà tu tập Chân Phật Mật Pháp, đệ tử thường lấy giáo lý trong sách để đối chiếu với chúng sinh, từ đó thấu hiểu sự khác biệt giữa Phật và chúng sinh về sự giác ngộ và mê lầm! Tuy nhiên, Phật, bản thân ta và chúng sinh vốn không có sự khác biệt. Quả đúng như lời Sư Phật thường dạy: "Điều quý giá của thân người khó được chính là ở chỗ biết tu tập!" Gần đây, hình thức tu tập của đệ tử dần dần bắt đầu từ phức tạp trở nên đơn giản (lấy giáo lý Chân Phật mà bản thân đã lĩnh ngộ, hòa hợp với đạo tự nhiên), hy vọng nhờ đó có thể đi theo con đường chân chính, không còn bị danh tướng làm mê hoặc, không còn bị tranh giành quyền lợi và dục vọng làm mê lầm, giống như con thuyền thuận dòng nước, tùy duyên mà an, suốt đời an bần lạc đạo. Đã hiểu được chân đế của "xả" trong bốn tâm vô lượng: "Nguyện cho tất cả chúng sinh từ bỏ yêu ghét, an trú trong bình đẳng, đó là xả vô lượng (buông bỏ vạn duyên)." Cũng hiểu được ý nghĩa chân thật của câu "thấy tức giải thoát" trong kệ Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang: người thấy được đại huyễn mới biết giải thoát! Tất cả con đường thông đạt chân lý đều là ân ban từ lòng từ bi của Sư Phật đối với chúng sinh, đệ tử ngu muội xin chắp tay trăm lạy tại đây, cảm tạ sự chỉ dạy của ân sư!

Đệ tử vốn biết đại nguyện không bỏ một chúng sinh nào của Sư Phật, nhưng thấy lịch trình hoằng pháp ngày càng bận rộn, vẫn còn phải viết bài mỗi ngày để độ chúng! Nên đệ tử tha thiết thỉnh cầu Sư Phật và Sư Mẫu, dù vì chúng sinh thiên hạ, vẫn xin hãy ưu tiên chú trọng đến sức khỏe của Phật thể! Kính thư!
Kính chúc Phật an!
Đệ tử Liên Hoa Kính An cung kính chắp tay.

**Hư không không biến đổi**

(1) Lá rụng ai người quét
Lá rụng ai người quét, lá rụng ai quét biết, lá héo cần phải tỉa, dây leo ngăn sinh cành.
Thói xấu không thể nuôi, siêng chấn chỉnh gia phong, phủi bụi gương sáng tỏ, giác chiếu các tướng không.

(2) Theo dõi sự kiện
Tự do theo ý nghĩ, phiêu du vạn dặm không, phàm phu chấp ngã tướng, Phật dạy quên dấu ta.

(3) Khóc than
Khóc cười đều không được, giữ bỏ chẳng liên quan, chỉ ngay thẳng tận tình, trong trụ mà không trụ.

(4) Cháy rừng
Ba cõi như nhà lửa, giác ngộ nghĩ xuất ly, vì chúng sinh đồng thể, tự độ cũng độ người.

(7) Lá phong đã đỏ
Tháng mười se lạnh lá phong đỏ, bên rèm mưa gió trải buồn thương,
Lá rơi hóa bùn nuôi hoa nở, cảnh này đẹp hơn cả xuân qua.

Chú thích: Đệ tử ngu muội cho rằng, từ góc độ tu hành, nhận ra con đường trở về nơi xuất phát là cảnh đẹp nhất của lá rụng về cội.

(9) Định nghĩa về quỷ
Thần thông chấp mê lừa bản tính, đầu óc mê lũ chẳng cùng đạo,
Hối biết vạn duyên nên buông bỏ, rõ hết quỷ chướng vốn là không.

(11) Tầm quan trọng của truyền thừa
Một hoa nở năm cánh, truyền thừa quý nhất đời, phiền não tức bồ đề, trên cọng hóa liên hoa.

(12) Lang thang ơi! Lang thang
Mười phương không dừng trú, ba đời cũng không nhà, thấy thiên hạ vô sự, nắm chắc được vô tâm.

(13) Nhiều người hỏi tôi về việc xuất gia như thế nào
Một chiếc lá rụng biết vào thu, tâm không giữ bỏ tùy đi ở
Ruộng tốt nhà mình tự mình chăm, nóng lạnh đều nằm trong tâm ta.

(16) Có người hỏi tôi về việc Niết bàn
Trời đất bao la không ý ta, càn khôn vận chuyển chẳng lưu tâm,
Tự tại thuận theo dòng xuôi ngược, vạn duyên lắng dứt mới thấy chân,
Tĩnh lặng thường lạc không lay động, dưỡng ẩn tàng quang tâm thẳng hành,
Niết bàn tột cùng ta thường trú, ba cõi chín địa cũng chẳng phân.

Chú thích: Đệ tử cho rằng, chỉ cần có thể minh tâm giữ tĩnh, bất cứ nơi nào cũng đều không quan trọng (không liên quan).

(18) Tôi chưa viết một chữ nào
Ý thiền nói ra khó ví dụ, có nói đều sai cũng chẳng sai
Trong pháp hữu vi dùng vô vi, đạo pháp tự nhiên đoán uổng công,
Trong trí viên kính ẩn bát nhã, tín nguyện hành chứng giác bản chân,
Mặt trời ló ra mới biết sáng, không dầu vẫn thắp đèn trước Phật.

(19) Tuyết đầu mùa ở Seattle
Trăng sáng soi màn sương, lấp lánh như châu ngọc, hồ lạnh in bóng nhạn, gió thổi trúc hòa âm,
Làn sóng không rời nước, chim bay chẳng lưu thanh, vạn vật chứa bản tính, thể ngộ tự minh bạch.

(20) Một cái đầu trọc lớn
Trên ngọn núi vàng đi đục đá, bên bãi kim cương tìm đồi cát,
Rảnh rỗi làm những việc vô vi, trong tâm không tranh chẳng mong cầu,
Cỏ sâu một trượng thành một lối, tùy cơ ứng biến khéo vận dụng,
Dẹp sạch ba nghìn các phiền não, vui thấy đầu trọc láng bóng trơn.
(Chú thích: Không chẳng phải không, từ trong hữu mà chứng không.)

(21) Một chương khác của ngọn hải đăng
Sư Phật hỏi trong bài viết: "Phật không có hai lời, vậy một lời đó là gì?"
Theo kiến giải của đệ tử, câu trả lời là: "Một lời cũng không có."

(24) Một tăng nhân hỏi đạo
(1) Trước sân vẫn có trúc đông tươi, trong phòng không đèn nửa đêm sáng,

Khách trần trong mộng nay tỉnh thức, mây mù tan hết trời tự quang.
(2) Sư Phật hỏi: "Trăm mối nghi không nhọc thần" tại sao không nhọc thần?
Đệ tử đáp: "Vốn không liên quan, trăm mối nghi không nhọc thần."

(25) Tham cứu trong bài "Một người viết thơ tình" từ bài 1 đến bài 6
Trời đất già cỗi tình cũng già, lão tăng thất tuần đầu bạc trắng,
Lúc mê đều khổ toàn là khổ, Phật-ta-chúng sinh cùng một người,
Trong lưới ai người nói tự tại, thần nữ tự buộc rơi vọng trần,
Giải thoát hãy quên nghĩ về ta, dưới bốn thánh đế hãy tu hành.

Chú thích: Đệ tử ngu muội tham cứu được ở đây, làm đệ tử nên thường quán tưởng như sau: "Tam luân thể không, xả bỏ ngã tướng, không phụ Như Lai không phụ người!"

(35) Động đất ở núi A Lý

Ráng đỏ xuyên thiên giới, mặt trời nhiễu Tu Di, chốn hoa khách không ngừng, đạo cổ hiếm kẻ tu,
Hiểu rõ nghĩa sinh tử, ngày ngày niệm Di Đà, thường trụ trong tam muội, bản tính không đến đi.

(38) Mộng trong mộng
Tâm ngay là đạo tràng, trước người không phô trương, sương tan mặt trời hiện, nước trong gương hiện trăng,
Thần du ngoài nghìn dặm, nhậm vận vẫn thủ nhất, mây động núi chẳng động, người chết không tọa thiền.

(39) Chân Phật Tông vinh hay suy
Một sớm phong cảnh đẹp, đâu thấy vinh với suy, tùy duyên bỏ xả thọ, thánh giả lìa bụi trần,
Chân đạp dấu chân Phật, chân trần bước trên đường, trong định đã quên định, nửa cái mời người tìm.

(40) Bạn có hiểu về Mật giáo không?
"Nhất" quy thánh phàm một hợp tướng, "Trụ" được an ổn quên thân ta,
"Dung" nhập ánh sáng bình đẳng tính, "Không" hữu tự tại tâm vô ngại.

(42) Tại sao cần hồi hướng?

(1) Các thánh đệ tử, có thể tham cứu! Tại sao bài hồi hướng của Lư Sư Tôn là: "Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Tự Tại"?
Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Tự Tại, bi tâm khởi trong lòng vô vi,
Phật Vương vô úy ban nguyện lực, độ các chúng sinh lìa si mê.

(2) Lại nữa, nếu không trả lời như vậy, thì nên trả lời thế nào?
Đệ tử xin đáp: "Khắp thế gian nở rộ hoa sen trắng".

(44) Ma chướng là gì?
Gió lặng hồ phẳng như gương nước, thờ ơ đạo đời nổi tranh giành,
Đèn pháp sáng mãi xua bóng tối, vô ngã trăm điều chẳng vướng thân.

(45) Thường tự vấn bản thân
Muốn biết đạo giải thoát, trước hiểu rõ tâm mình, thấy không có đúng sai, hành động đúng tu thân,
Pháp tính vốn đồng thể, bồ đề nuôi thiện căn, chẳng nghĩ về công đức, mới cùng Chân Phật hành.

Chú thích: Đệ tử đáp: Câu "mới cùng Chân Phật hành" với "hai người đồng hành" trong Tám mươi tám linh trường, là cùng một công dụng nhưng khác cách diễn đạt.

(46) Tham cứu về "Tôi đọc mười vạn kinh Long", "Lay cọc trong bùn" là ý gì?

Đảo lộn ý Như Lai, lời dối gạt chúng sinh, tham sân si thường nghĩ, báng thầy quên sơ tâm,
Chấp mê vào đường quỷ, miệng khéo lừa được thần, đạo trời không chịu tu, đi gần kề địa ngục.

(47) Tôi thích Bất Động Minh Vương
Hiểu rõ nghĩa không-hữu, tâm không chút vướng bận, quán thân vốn không ta, chỉ có tính thường tại,
Nhậm vận không chỗ trụ, dựng suốt ba cõi không, bốn phương không vách ngăn, mười phương đều không cửa.

(48) Thập địa Bồ Tát
Sư Phật hỏi: "Bổ Xứ là gì?"
Đệ tử đáp: "Tất cả đều đầy đủ, chỉ đợi chư vị nhận lấy." Thế nào là Bổ Xứ, nhưng lại không phải là Bổ Xứ, nên gọi là Bổ Xứ (vạn sự không thiếu, bổ thêm cái gì)! Thầy nói "chữ 'đợi' này thật tuyệt vời", con muốn nói: chữ "nhận" hòa hợp thế nào, xin thầy từ bi chỉ dạy.

(49) Phàm phu là gì
Mật ý nói vô tận, thiền cơ một điểm thông, rồng rắn ở lẫn lộn, thánh phàm hợp tướng dụng,
Trước ba sau ba câu, chốn cũ thấy chân dung, lĩnh hội bốn đức nghĩa, trân quý pháp vị nồng.


### 48. Thư của Liên Ha


Sư Phật kính yêu nhất! Chào thầy!
Đệ tử Liên Ha xin một lòng đảnh lễ và dùng thân khẩu ý cúng dường Sư Phật!

Ba tháng không gặp, con rất nhớ Sư Phật! Mặc dù mỗi cuối tuần con đều xem những bài khai thị của Sư Phật trên mạng, nhưng cảm giác được ở bên cạnh Sư Phật, được tắm mình trong ánh sáng từ bi của thầy thật sự rất khác! Cảm giác đó làm tâm hồn con trở nên tĩnh lặng, thanh tịnh mọi phiền não, không lo không sợ thậm chí vô tâm vô niệm.

Sư Phật kính yêu, sau đại pháp hội mùa xuân năm nay, đệ tử cùng vài đạo hữu từ Brazil đã đi du lịch đến Tây An và Đôn Hoàng ở Trung Quốc. Ngay đêm đầu tiên đến Tây An, đệ tử đã có một giấc mơ kỳ lạ, con xin trình báo với Sư Phật:

Trong giấc mơ, đệ tử đang ngồi thiền trong phòng, bỗng nhiên có người đi ngang qua trước mắt, anh ta nhìn con, con nhìn anh ta. Đệ tử cảm thấy khuôn mặt này sao quen thuộc đến vậy? Anh ta đi qua, rồi quay trở lại, vẫn nhìn con, khuôn mặt quen thuộc đó trong khoảnh khắc làm con nhớ ra người bạn thân Trần Kiến Văn thời đại học ở Thanh Hoa. Trần Kiến Văn, Vương Thu Sơn và con được gọi là "tam giác sắt", ba chúng con như anh em ruột trải qua thời gian đại học tươi đẹp và đáng nhớ! Đáng tiếc là một người trong "tam giác sắt" - Trần Kiến Văn, đã qua đời khi còn trẻ, rời bỏ thế gian này cách đây vài năm, nhưng dù là âm dương cách biệt cũng không thể cắt đứt tình bạn của chúng con, và anh ấy bất ngờ xuất hiện trong giấc mơ của đệ tử! Vì vậy, trong mơ đệ tử nói với anh ấy rằng trì tụng thần chú Mật giáo có thể giúp vãng sinh tịnh thổ, con dạy anh ấy trì chú, mời anh ấy cùng con niệm "Om guru liansheng siddhi hum"! Anh ấy chỉ niệm một lần, điều kỳ diệu đã xuất hiện.

Dưới chân anh ấy bỗng nhiên xuất hiện một đóa hoa sen trắng, đóa sen to như một chiếc ô đang mở, đệ tử thấy rõ đường vân tinh tế và mạch lưới rõ ràng của hoa sen! Đóa hoa sen này nâng cơ thể của Kiến Văn dần dần bay lên, khi lên đến trần nhà có một chỗ giống như lỗ đèn, hoa sen mang theo Kiến Văn đã biến mất trong khoảnh khắc tại đó, đi vào cảnh giới khác. Đệ tử vui mừng nhìn anh ấy vãng sinh, cảnh tượng đó thật rõ ràng! Đệ tử tự nhủ phải nhớ kĩ giây phút này, rồi bỗng nhiên tỉnh giấc, nhìn đồng hồ đeo tay thì đã là 3 giờ 39 phút sáng. Lúc đó trong tâm trí đệ tử hiện lên một câu kệ: "Một chú liền sinh Song Liên Trì!" Quả thật như vậy! Quả thật như vậy!

Sau đó, khi đệ tử kể giấc mơ này cho các bạn đại học, họ mới nói cho con biết rằng Trần Kiến Văn đã qua đời vì nhồi máu cơ tim khi đi công tác ở Tây An! Thật quá kỳ diệu! Đệ tử cảm động vô cùng, Chân Phật Mật Pháp thật không thể nghĩ bàn! Chân ngôn Liên Hoa Đồng Tử thật không thể nghĩ bàn!

Sư Phật kính yêu, từ khi Sư Phật truyền dạy Kriya Yoga, đệ tử đã bắt đầu tu tập ngay lập tức. Ngay từ thời khóa đầu tiên, con đã cảm nhận rất tốt, cảm thấy pháp này thật kỳ diệu! Trong quá trình tu tập tiếp theo, đệ tử thường xuyên cảm nhận được ánh sáng lớn tại thiên tâm. Đã nhiều lần, dù đệ tử rõ ràng đang tu pháp trong phòng, nhưng lại cảm nhận được ánh sáng mạnh mẽ chiếu rọi lên mặt và toàn thân như thể đang ở ngoài trời, tắm mình trong ánh nắng chan hòa vậy. Nhưng khi đệ tử xuất định, mở mắt nhìn, vẫn thấy mình trong căn phòng có ánh sáng bình thường, thật là kỳ diệu! Mật pháp do Sư Phật truyền dạy thật quá thần kỳ!

Sau đó, khi điểm tập trung của đệ tử di chuyển từ thiên tâm lên không gian trống, đệ tử dần dần cảm nhận được cảm giác Mẫu quang đang hạ xuống, dòng pháp tràn đầy khắp toàn thân. Thậm chí còn cảm nhận được trải nghiệm về Đại Nhật Như Lai chiếu sáng đại địa, mặt trời chiếu sáng các hành tinh. Trong thiền định, đệ tử bỗng nhiên hiểu được ý nghĩa của biểu tượng Bản Sơ Phật và Đại Huyễn Hóa Võng mà Sư Phật đã vẽ trước đây: một vòng tròn với ba đường thẳng bên dưới, đây chính là biểu tượng của ánh sáng ý thức vũ trụ đang hạ xuống!

Sau đó, khi đệ tử ở trong núi ở Brazil, hàng ngày thực hành pháp này, dần dần cảm nhận được luân xa mi tâm xoay chuyển và tỏa ra ánh sáng. Trước đây đệ tử có thể cảm nhận được luân xa tim phát quang, bây giờ có thể đồng thời cảm nhận được cả hai luân xa phát quang. Vì vậy đệ tử hiểu được tại sao tượng Phật đều có hào quang thân và hào quang đầu, hóa ra đó chính là ánh sáng tỏa ra từ luân xa tim và luân xa mi tâm! Thật vô cùng cảm ơn Sư Phật đã truyền dạy Mật pháp thù thắng như vậy, cho phép đệ tử cảm nhận được sự hợp nhất của Tử quang và Mẫu quang, tắm mình trong ánh sáng vũ trụ, đồng thời có thể mở luân xa mi tâm, bước vào cảnh giới mới. Tất cả những tiến bộ và thành tựu này đều nhờ vào sự truyền pháp và gia trì của Căn bản Thượng sư! Đệ tử nhất tâm đảnh lễ cảm ơn Sư Phật!

Kính thưa Sư Phật, song song với việc tinh tấn tu pháp, đệ tử cũng đang nỗ lực hết mình cho sự nghiệp bồ đề Chân Phật. Về mặt giáo dục Chân Phật, hiện tại chúng con đã hoàn thành hai khóa nghiên cứu tu học giáo dục, một khóa dành cho nhân viên hoằng pháp các cấp và người phụ trách đạo tràng trước đại pháp hội mùa xuân ở Đài Loan, một khóa tổ chức tại Indonesia dành cho nhân viên hoằng pháp các cấp và người phụ trách đạo tràng địa phương, cả hai đều mang lại hiệu quả rất tốt! Những người tham dự đều cảm thấy thu hoạch được nhiều, hy vọng Tông Ủy Hội sẽ tổ chức nhiều hơn trong tương lai. Vào mùa thu năm nay và mùa xuân năm sau, chúng con sẽ tổ chức các khóa nghiên cứu tu học giáo dục và hội ái hữu sâu rộng hơn.

Về tài liệu giảng dạy của Chân Phật Tông, vì kế hoạch dài hạn trăm năm của tông phái, các đệ tử đã quyết định biên soạn một bộ tài liệu giảng dạy hoàn chỉnh thuộc về Chân Phật Tông. Tài liệu giảng dạy sẽ được phân thành 7 cấp, bao gồm tài liệu cho các đệ tử Chân Phật phổ thông, trợ giáo, giảng sư, pháp sư, giáo thọ sư, Thượng sư và thêm một bộ tài liệu khai tâm cho thanh thiếu niên. Hiện tại, đội ngũ giáo dục Chân Phật gồm hơn 20 người bao gồm Thượng sư, pháp sư, giảng sư, giáo thọ sư và đồng môn Chân Phật đang nỗ lực thúc đẩy việc biên tập tài liệu giảng dạy Chân Phật, đồng thời họ cũng đang giúp xây dựng trang web giáo dục Chân Phật, thật sự cảm ơn họ! Càng cảm ơn Sư Phật đã ban tặng những nhân tài quý báu này!

Trong những ngày vừa qua, đệ tử bất ngờ nhận được thông báo khi đang ở trong núi, yêu cầu đệ tử đảm nhận vai trò đạo diễn cho vở kịch sân khấu trong pháp hội La Thiên Đại Tiếu lần này. Mặc dù đệ tử biết công việc này cực kì khó khăn, nhưng cũng hiểu rõ ý nghĩa quan trọng của pháp hội lần này, nên đã không chối từ trách nhiệm này. Thông thường, để dàn dựng một vở kịch sân khấu, các diễn viên cần ở cùng nhau trong một thời gian khá dài, luyện tập nhiều lần để phối hợp ăn ý, nhưng lần này diễn viên của chúng ta đều sống rải rác khắp nơi trên thế giới, họ chỉ có thể đến địa điểm diễn ra trước pháp hội một hoặc hai ngày, thời gian tập luyện ngắn ngủi như vậy là vô cùng khó khăn. Vì vậy, đệ tử nhất tâm cầu xin Sư Phật gia trì cho vở kịch sân khấu và tất cả các phần của pháp hội đều được tập dượt suôn sẻ, chuẩn bị đầy đủ, để toàn bộ pháp hội La Thiên Đại Tiếu diễn ra thuận lợi và thành công viên mãn!

Kính thưa, đệ tử thành tâm cầu chúc Sư Phật Pháp thể an khang, trường trụ thế gian, vĩnh chuyển pháp luân. Sự nghiệp độ chúng viên mãn thành công! Đời đời kiếp kiếp đều có thể độ chúng viên mãn! Và cầu xin Sư Phật gia trì mạnh mẽ cho đệ tử sức khỏe dồi dào, thành tựu tu hành, thành tựu Kriya Yoga, Ngoại pháp, Nội pháp, Mật pháp đều có thể thành tựu, kiến tính thành Phật, quảng độ vô lượng chúng sinh!

Ngu đệ tử Liên Ha đảnh lễ kính thư.
16/08/2018 - São Paulo, Brazil.


**(Hết.)**

---

---
# File: sach-tam-linh/269-tro-choi-than-thong.md
# Title: 269. Trò chơi thần thông
---

![image](/img/img_4da132117b555bb9bc292aa39d7c2be0.jpg)



## Trò chơi thần thông


🪷 Nói chuyện kỳ quái

Văn tập: 269
Xuất bản: 01/2019
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu


**Vũ điệu nghê thường của Hằng Nga**

Tôi (Lư Sư Tôn) ở trong định thấy Quan Thế Âm Bồ Tát đến.      
Tư thế duyên dáng của ngài, thiên y váy xếp, thiên kiều bách mị [vô cùng xinh đẹp duyên dáng], quả thực là một vị Bồ Tát vô cùng trang nghiêm và xinh đẹp. 
Hai người hợp làm một.

Vị đại sư thành tựu bậc nhất Tây Tạng, ngài Tsongkhapa, có làm một bài thơ mỗi câu dài mười tám chữ để tán thán Quan Thế Âm Bồ Tát rất hợp với ý tôi. Ý thơ như sau:

*Vắt trên vai trái chú nai đốm ngoan ngoãn thuần phục, nhành hoa xinh rủ xuống nghiêng nghiêng.           
Phủ sương trắng bồng bềnh tương phản đá đen lông quạ, khuôn mặt sáng ngời tựa ánh trăng.   
Thon thả duyên dáng khẽ yểu điệu nghiêng mình qua trái, thục nữ khiến lòng người rung động.  
Ngự bên phải trên tòa sen dáng điệu càng yêu kiều, người quên mất cần đi hay ở.           
Tay phải ngọc ngà kết diệu ấn rải ban cam lộ, chúng ngạ quỷ hài lòng thỏa mãn. 
Tay trái ngọc ngà nhẹ nâng nhành sen trắng thanh tao, ngài tinh khiết chẳng vương bụi trần.       
Ý niệm ta được thoát ly khỏi thế gian ô trọc, dù chỉ một lần được gặp gỡ.  
Thỉnh Không Hành từ nay cùng ta tâm ý chẳng rời, sẽ vĩnh viễn kết thành một đôi.*

Quan Thế Âm Bồ Tát nói với tôi: 
"Đi theo ta!"          
Tôi cưỡi lên tòa sen trắng đi theo Quan Thế Âm Bồ Tát.
Không lâu sau. 
Tôi và Quan Thế Âm Bồ Tát đã đến bảo điện trên cung trăng. 

Theo tôi được biết: 
Mặt trời là đạo tràng của A Di Đà Phật.    
Mặt trăng là đạo tràng của Quan Thế Âm Bồ Tát.      
Các vì sao là đạo tràng của Hư Không Tạng Bồ Tát.  

Tôi nói với Bồ Tát: 
"Nghe nói Hằng Nga ở trên cung trăng đúng không?"         
Quan Thế Âm Bồ Tát khẽ cười, chẳng mảy may phật ý, nói:        
"Ngài muốn gặp Hằng Nga thì ta sẽ mời nàng tới!"

Chỉ trong nháy mắt đã thấy một vệt sáng trắng nhỏ xíu bay đến, kích thước khoảng một phân, sau đó vệt sáng biến to ra nhưng cũng chưa đầy một thước. Khi vào tới bên trong bảo điện huy hoàng lộng lẫy dát vàng ngọc bích thì vệt sáng biến thành kích thước lớn bằng con người.
Hằng Nga là một thiên nữ xinh đẹp, dáng người mảnh mai thon thả, duyên dáng trình diễn điệu múa nghê thường vũ y. [Điệu múa của những vũ nữ mặc váy áo kết bằng lông chim có màu sắc cầu vồng.]
Tôi nói:        
"Độc lạc lạc bất như chúng lạc lạc!" [Một câu nói của Mạnh Tử trong Lương Huệ Vương - quyển hạ, có nghĩa rằng vui một mình không bằng vui cùng nhiều người.] 
Bồ Tát vỗ tay.
Từ một nàng Hằng Nga hoá thành mười nàng Hằng Nga, rồi lại hóa thành trăm nàng Hằng Nga, cuối cùng hóa thành nghìn nàng Hằng Nga. 
Nghìn nàng Hằng Nga múa ca uyển chuyển, thứ tự đẹp mắt. 
Còn có cả thiên nhạc nữa.
*Tôi là thần tiên     
Dạo chơi vui vẻ    
Thiên thượng nhân gian         
Chốn nao Quảng Hàn.
*[Quảng Hàn cung, chính là cung trăng.]

Âm thanh trong sáng du dương còn vương vấn mãi, giống như âm thanh của tiếng tiêu, khiến cho tôi rung động tâm huyền. Ca múa xong xuôi, các nàng biến mất chẳng còn dấu vết.         
Bồ Tát nói với tôi:          
"Đây chẳng qua chỉ là chút trò chơi thần thông mà thôi!"    
Tôi nói:        
"Phi hữu phi vô." [chẳng phải có, chẳng phải không]  
Bồ Tát nói:
"Đúng vậy! Đúng vậy!"  
Tôi hỏi:        
"Bồ Tát đưa tôi đến cung trăng chỉ là để xem điệu múa vũ y nghê thường của Hằng Nga sao?"  
Bồ Tát nói: 
"Chẳng phải! Chẳng phải! Hồi sau sẽ rõ!"
(Những tình tiết trong cuốn sách này, tin hay không tin tùy bạn.)

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A

Tháng 01/2019


### 01. **Đọc thuộc Tâm Kinh**


Quan Thế Âm Bồ Tát nói:      
"Thế nhân ngày nay, người có thể đọc thuộc lòng Tâm Kinh cũng nhiều, nhưng người hiểu được ý nghĩa thù thắng của kinh thì lại ít. Ta mời ngài đến là để giải thích cho thế nhân nghe."         
Tôi nói:       
"Đây là việc đương nhiên rồi."
Bồ Tát nói:  
"Quán Tự Tại Bồ Tát, hành thâm bát nhã ba la mật đa thời. Câu này có ý nghĩa gì?"           
Tôi đáp:      
"Bồ Tát nhập thiền định mức độ sâu nhất." (Tam ma địa)
Bồ Tát hỏi:  
"Chiếu kiến ngũ uẩn giai không là ý gì?"  
Tôi đáp:      
"Chẳng có sắc, thọ, tưởng, hành, thức."
Bồ Tát hỏi:  
"Sắc bất dị sắc, không bất dị không, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng hành thức, diệc phục như thị, là ý gì?"     
Tôi đáp:      
"Sắc không chẳng khác, không sắc chẳng khác, thọ tưởng hành thức cũng vậy. Tôi nói, chẳng phải sắc cũng chẳng phải không, chẳng phải có cũng chẳng phải không có, mà cũng là có, mà cũng là không có, lại cũng là sắc, lại cũng là không."
Bồ Tát hỏi:  
"Cái gì là chư pháp không tướng?"          
Tôi đáp:      
"Tất cả mọi thứ hữu hình và vô hình đều là không."
Bồ Tát hỏi:  
"Cái gì là bất sinh bất diệt, bất hoại bất tịnh, bất tăng bất giảm?" 
Tôi đáp:      
"Hư không không biến đổi." (lấy hư không để tượng trưng)

Bồ Tát hỏi:  
"Thị cố không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức, vô nhãn nhĩ tị thiệt thân ý, vô sắc thanh hương vị xúc pháp, vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới, vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận, vô khổ tập diệt đạo, vô trí diệc vô đắc, đoạn này đại ý là gì?"   
Tôi đáp:      
"Tất cả hữu hình, tất cả vô hình, đều chết hết!"
Bồ Tát hỏi:  
"Dĩ vô sở đắc cố, Bồ Đề Tát Đỏa, là ý gì?"        
Tôi đáp:      
"Câu này quan trọng nhất, bởi vì ngộ ra được những thứ không thể nào đắc, mới thành tựu Bồ Tát."
Bồ Tát hỏi:  
"Tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh niết bàn, là ý gì?"   
Tôi đáp:       
"Ý là đại tự tại!"

Bồ Tát hỏi:  
”Từ tam thế chư Phật… đến Bồ Đề Ta Bà Ha, là có ý gì?"  
Tôi đáp:      
"Ý nghĩa về quả vị!" (chứng nhập cứu cánh)
Bồ Tát hỏi:  
"Đại thần chú, đại minh chú, vô thượng chú, vô đẳng đẳng chú, là ý gì?" 
Tôi đáp:      
"Chân đế!" (chân ngôn chân lý)

Bồ Tát nói:  
"Xin ngài hãy nói cho đại chúng biết, nói tóm lại thì Tâm Kinh chỉ ra điều gì?"
Tôi đáp:      
"Giác ngộ!"
Bồ Tát hỏi:  
"Giác ngộ cái gì?"        
Tôi đáp:      
"Vô sở đắc, vô sở trụ, vô sở vị."
Bồ Tát lại hỏi tiếp nữa.  
Tôi đáp:      
"Ai chà! Chỉ là vẽ chân cho rắn mà thôi, tốt hơn là để thế nhân tự lần tìm đi!"


### 02. **Kỳ tích của pháp Đoạt xá**


Có một người đến chỗ Lư Sư Tôn hỏi chuyện. Anh đau khổ nói:
"Tôi tên là Tư Tề, bạn của tôi là Tử Du. Tử Du muốn mở một doanh nghiệp lớn nên đã vay tiền tôi."
Tôi hỏi:
"Rồi sao nữa?"
Tư Tề nói:
"Tôi có bao nhiêu tiền đều đưa cho anh ta vay hết, đưa ra thời hạn phải trả lại. Nhưng thời hạn đã đến rồi mà anh ta không trả, năm lần bảy lượt trì hoãn rồi."
Tôi hỏi:
"Anh ta có tiền không?"
Tư Tề đáp:
"Doanh nghiệp của anh ta rất thành công, kiếm được rất nhiều tiền, nhưng đối với món tiền mà tôi cho vay thì vẫn không trả lại!"

Tôi thần toán một lúc. 
Đáp án là: "Không có ý định trả tiền."
Bởi vì Tư Tề muốn mua nhà nên cần tiền gấp, do vậy đã đến gặp Lư Sư Tôn cầu cứu. Anh vừa nói vừa khóc.
Tôi nói:
"Anh cứ trở về nhà chờ kỳ tích đi!"

🌟

Một hôm, vào lúc sáng sớm, Tử Du ngủ dậy, trong lúc mơ mơ hồ hồ đã ký tên vào một tờ chi phiếu rồi nói là muốn gửi cho Tư Tề.
Vợ của Tử Du biết được chuyện này đã cực kì sửng sốt, hỏi:
"Chẳng phải đã quyết định là không trả tiền anh ta sao? Bởi vì chúng ta vẫn còn muốn lập thêm công ty nữa!"
Tử Du không nói gì, chỉ bảo:
"Trả tiền lại cho Tư Tề!"
Vợ của Tử Du cảm thấy rất khó hiểu. Hôm nay hành động và khẩu khí của Tử Du đều rất kỳ quái. 
Chi phiếu cuối cùng đã gửi đến Tư Tề. 
(Anh cũng lập tức rút tiền về tài khoản.)

Tử Du cả ngày trời mơ mơ hồ hồ, tinh thần kỳ quái, vợ và những người xung quanh đều thấy rất lạ. 
Anh ta làm gì cũng run tay run chân, lại còn mộng du, toàn thân thì lúc nóng lúc lạnh, ăn rất ít, dù vậy vẫn chỉ làm một việc là trả hết sạch sẽ số tiền đã vay Tư Tề. 
Đêm đó Tử Du đi ngủ cũng vẫn trong trạng thái mơ mơ hồ hồ, vừa đặt đầu xuống gối là ngủ luôn!

Ngày hôm sau tỉnh lại, anh ta chẳng hề biết những sự việc đã xảy ra. Đợi đến sau khi có ý thức trở lại thì anh ta rất hối hận đã đem tiền trả cho Tư Tề. 
Chẳng ai biết chuyện này là thế nào.

🌟

Tôi thực lòng thực sự nói cho mọi người biết, đây chính là pháp Đoạt xá. 
Tôi xuất hồn ra khỏi thân, trong giấc mơ buổi đêm đã đi vào trong tâm trí của Tử Du.
Chiếm lấy thân thể của anh ta.
Điều khiển anh ta đem tiền trả lại cho Tư Tề. 
Đợi đến sau khi sự việc ổn thỏa rồi, tôi lại thoát ra khỏi thân thể anh ta, trả lại thân thể đó cho Tử Du.

Nhưng tôi cũng rất oải. 
Tinh thần không có cách nào phấn chấn được. 
Tự tôi cũng cảm thấy mình cả ngày mơ mơ hồ hồ… 
Không thể làm cho tâm trạng trở nên an định được.

Sau khi giải quyết xong xuôi sự việc này, tôi tự cảm thấy rằng làm được việc thiện này là rất tốt, thế nhưng nó cũng khiến cho tâm trạng tôi không thể định, tinh thần không thể hồi phục lập tức, đó là một cảm giác rất khổ sở.
Lần sau thôi không dám làm nữa!
Bởi vì chơi pháp Đoạt xá không vui!


### 03. **Trò chơi của hai con ma**


Trong chuyến đi hoằng pháp lần thứ hai tại Malaysia.
Tôi ở một khách sạn nghỉ dưỡng rộng tới mấy chục mẫu. Khách sạn nghỉ dưỡng này là một chuỗi các tòa nhà liền nhau bên cạnh sân golf. 
Xe đưa tôi đến ở một trong các tòa nhà đó.
Tôi một mình ở trong một gian phòng lớn. 
Nhận phòng xong thì tôi phát hiện ra:
Phòng tắm bị hỏng. 
(Chỉ có nước lạnh, nếu mở nước nóng thì nước sẽ nóng tới mức bỏng da.) 
(Khi xả nước thì lỗ thoát nước lại bị tắc, nước ngập cả phòng tắm, thậm chí chảy tràn ra cả phòng khách.)
Bồn rửa mặt cũng hỏng. 
(Pít-tông bị hỏng, không có cách nào giữ được nước.)
(Bồn rửa mặt bị nứt, nước tràn ra ngoài.) 
(Chẳng có cách nào để giặt đồ lót và tất.)
Tủ lạnh cũng hỏng. 
(Ngăn mát không lạnh.)
(Ngăn đông cũng không lạnh.)
Điện thoại cũng hỏng. 
(Gọi đi không được, gọi đến cũng không được.)
Két sắt cũng hỏng. 
(Chỉ mở được, không đóng được.)
Đèn điện cũng hỏng. 
(Chỉ có hai, ba bóng là sáng, các bóng còn lại đều hỏng.)
…

Tôi lập tức hiểu ngay gian phòng rộng rãi này đã lâu lắm rồi không có ai từng ở đây cả. 
Nếu không thì đã chẳng tệ hại như thế này!
Tôi muốn gọi người đến sửa, nhưng lúc đó cũng đã muộn rồi, thôi thì cứ ở tạm một buổi tối vậy!
Tôi kéo rèm cửa ra, vừa hay hôm nay có trăng lưỡi liềm đầu tháng, ánh trăng non vàng nhạt đủ để mơ hồ phân biệt được thảm cỏ. 
Sân golf thì sáng rực rỡ rất đẹp. Bỗng tôi ngửi thấy một vùng khí âm lạnh. Thêm nữa, tôi ngắm nhìn ánh trăng một lúc cũng thấy buồn ngủ rồi, bèn quay trở về giường thì lập tức cảm thấy có chút hoang mang.
Trong lúc mơ hồ, tôi nghe thấy có âm thanh, là tiếng của một nam một nữ.
Nữ nói:
"Chúng ta đến dọa ông ta đi."
Nam nói:
"Chờ chút! Người này là người tôn quý, anh phát hiện ra trên người ông ta tỏa ra ánh sáng trắng."
Nữ lại nói:
"Mặc nó là ánh sáng gì, chúng ta chơi trò dọa người này không biết đã dọa bao nhiêu người sợ chạy mất dép rồi. Em không tin có người lại không sợ ma!"
Nam nói:
"Được thôi!"
Ma nam ma nữ hiện ra bộ mặt ghê rợn, đứng ở đầu giường, ma nam bảy lỗ chảy máu, ma nữ còn thè dài cả lưỡi ra.

Tôi liếc nhìn chúng một cái. Tôi ngồi dậy, bên cạnh tôi đã xuất hiện ba vị Hộ pháp. Một là Đại Uy Đức Kim Cang, hai là Bất Động Minh Vương, ba là Đại Lực Kim Cang. Ba vị Hộ pháp của tôi trông còn hung mãnh đáng sợ hơn cả hai con ma.
Hai con ma muốn trốn chạy. Tôi thổi một hơi khiến hai con ma bất động. Hai con ma biết đã gặp phải người lợi hại rồi.
Tôi nói:
"Không phải chạy! Các người hiện nguyên hình kiếp trước cho ta xem xem!"

Người nam mặc đồ tây thẳng thớm, dáng người cao ráo ưa nhìn, khoảng hai mươi tuổi. 
Người nữ thì ăn mặc trang sức lộng lẫy, vẻ đẹp cũng thuộc loại tuyệt sắc, khoảng mười tám tuổi. 
Hai ma nam nữ này kể cho tôi nghe toàn bộ câu chuyện. Bởi vì những người lớn trong nhà phản đối tình yêu của họ nên họ đã uống thuốc độc ngay tại chính căn phòng này. Hai con ma liên tục cầu xin tôi tha tội, thậm chí còn khóc lóc.
Tôi nói:
"Gặp hai người các vị xem như cũng là có duyên từ kiếp trước, đừng chơi trò dọa người nữa nhé."
Trong lòng tôi thương cảm.
Đã dùng chú Văn Thù vãng sinh, Văn Thù lục tự minh… để siêu độ cho hai con ma. 
Hai con ma này trên thân đã có ánh sáng, đảnh lễ tôi ba lạy. 
Thế rồi tan vào hư không đi mất.


### 04. **Đại Uy Đức phẫn nộ**


Một buổi tối, tôi đang nằm trên giường, vẫn nằm chứ chưa ngủ, tôi bỗng nghe thấy bên ngoài cửa sổ có tiếng ồn ào rất to.
Giống như tiếng thở hùng hục của trâu vậy.
Có cái gì đó đẩy vào cửa sổ phòng tôi, cửa sổ rung lắc dữ dội, cảm giác cả căn phòng muốn lật nhào. 
Tôi kinh ngạc, vội vàng nhỏm dậy nhìn ra ngoài cửa sổ. 
Tôi trông thấy một vị Đại Uy Đức Kim Cang rất to trong hình tướng cực kì phẫn nộ.
Có hai sừng trâu.
Mặt đen như than.
Ba mắt xanh sáng lóe lên.
Nhe răng nanh.
Thân trên không mặc áo, dưới chân không đi giày.
Nhiều tay nhiều chân.
Thân cao xấp xỉ bằng mái nhà.
(Mục đích tới đây của vị Đại Uy Đức Kim Cang phẫn nộ này không phải tốt đẹp gì, tôi cảm thấy cần đề phòng.)
Tôi còn chẳng kịp nghĩ, lập tức kết thủ ấn Đại Uy Đức Kim Cang. 
Niệm:
"Ôm ya-ma-ta-ka hùm pây. Ôm chuy-li ka-la-lu-pa hùm khan sô-ha."
Từ sau lưng tôi bay ra năm vị Đại Uy Đức Kim Cang để đối phó với vị Đại Uy Đức Kim Cang phẫn nộ khổng lồ kia.
(Sư phụ Liễu Minh Hòa Thượng nói với tôi: nếu muốn phá bỏ ma chướng trong ngoài thì nên tu pháp Đại Uy Đức Kim Cang.)

Vì thế,
Tôi đã tu luyện pháp Đại Uy Đức Kim Cang Ngũ Tôn. 
Bây giờ thì năm vị của tôi đối đầu với một vị. Nhưng năm vị của tôi thì tương đối nhỏ.
Tôi trông thấy:
Vị khổng lồ kia cực kì tức giận, tung ra sức mạnh như gió vào năm vị nhỏ của tôi, cầm dao ra sức chém.
Năm vị nhỏ của tôi thì thoắt ẩn thoắt hiện. 
Tất cả đều không hề hấn gì. 
Năm vị nhỏ áp sát cào lên thân vị lớn, đánh bên đông một cái, đánh bên tây một cái.
Sáu vị Đại Uy Đức quấn lấy nhau. 
Vị to càng trở nên tức giận, tiếng gầm to như sấm. 
Những cánh tay muốn tóm lấy các vị nhỏ, muốn bóp chết.
Nhưng các vị nhỏ dùng phép độn nên dễ dàng thoát được.
Năm vị Đại Uy Đức Kim Cang nhỏ dùng phương pháp thiện xảo cứ nhảy ra nhảy vào khiến vị Đại Uy Đức Kim Cang khổng lồ không có cách nào đối phó được, trong một lúc không biết làm sao để thắng. 
Sừng trâu húc phải một tảng đá lớn, tảng đá nứt ra làm đôi. 
Đại Uy Đức Kim Cang khổng lồ cạn kiệt sức lực, bị năm vị Đại Uy Đức nhỏ trêu chọc. Sau đó tự nhiên ẩn đi mất. (Tự biết là đấu không lại năm vị nhỏ.)

Tôi dùng thiên nhãn quan sát, biết được nguyên nhân là thế này:
Có một người tu Mật giáo cực kì đố kỵ với tôi. 
Anh ta đã đến tu viện Drikung ở Tây Tạng, thăm một vị đại Lama, nói với vị này những việc không đúng về tôi. Đại Lama này nghe xong tin ngay, bèn dùng pháp lực ra lệnh cho Đại Uy Đức Kim Cang đến xử lý tôi. 
Thật may, tôi (Lư Sư Tôn) đã thực tu Đại Uy Đức Kim Cang Ngũ Tôn nên mới có thể thoát khỏi nạn này.

Liễu Minh Hòa Thượng nói:
Phá bỏ ma chướng trong ngoài - nên tu Đại Uy Đức Kim Cang.
Muốn tu trí huệ quảng đại - nên tu Văn Thù Ngũ Tự Minh.
Muốn thành tựu tất cả đều thuận duyên - nên tu Tài Bảo Thiên Vương.
Muốn thanh tịnh trường thọ - nên tu A Di Đà Như Lai.Muốn phá bỏ chướng ngại - nên tu Đại Hắc Thiên, Đại Lực Kim Cang.
(Muốn tu tập như pháp thì không được tu gián đoạn.)
Cá nhân tôi chẳng hề muốn đắc tội với người khác, chỉ mong kết thiện duyên nhiều nhất có thể, không muốn kết ác duyên. Nhưng khó tránh khỏi có người đố kỵ!


### 05. **Tôi thích vẽ tranh**


Khi tôi còn nhỏ.
Thầy giáo dạy vẽ tranh đã vẽ một bức tranh tuyệt đẹp về một vị thiên sứ, là tranh màu nước.
Sau đó tôi cũng học theo thầy mà vẽ tranh. 
Tôi vẽ một con thuyền.
Đưa cho bố tôi xem, hy vọng được bố khen ngợi, không ngờ bố tôi nói:
"Con thuyền này của con, đầu thuyền thấp, đuôi thuyền cao, thuyền sắp chìm rồi, ha ha ha!"
Tôi nghe xong trong lòng đầy chán nản.
Bố tôi lại nói:
"Thắng Ngạn chẳng có con mắt nghệ thuật gì cả!"
Thế là khát vọng vẽ tranh của tôi cũng kết thúc luôn rồi!

🌟

Năm đó, tôi 50 tuổi.
Có một họa sĩ tên là Chu Mộ Lan từ San Francisco đến Seattle để dạy vẽ. Chồng của họa sĩ Chu Mộ Lan (Chu Tiệm) là Âu Hào Niên cũng đồng thời là môn sinh của đại sư Triệu Thiếu Ngang của phái Lĩnh Nam. 
Tôi lại nhen lên khát vọng vẽ tranh lại từ đầu.
Trước tiên tôi học vẽ:
Mai lan cúc trúc. (Tứ quân tử)
Hoa, chim.
Hoa sen.
Rồi từ đó mở rộng ra vẽ những thứ khác……….
Chu Mộ Lan nói:
"Tranh của Lư Sư Tôn thật là thiên mã hành không [tự do khoáng đạt, đầy trí tưởng tượng, không bị gò bó], bước ra khỏi phái Lĩnh Nam, đã thành phái Lư Thắng Ngạn rất độc đáo rồi, hoàn toàn không bị gắn liền với trường phái nào khác cả."
Tôi cứ miệt mài vẽ tranh. 
Tranh lớn, tranh vừa, tranh nhỏ, tổng cộng đã lên tới cả nghìn bức. 
Hễ tôi ở Mỹ, tại phòng vẽ tranh của mình, mỗi ngày tôi đều hoàn thành xong một bức. 
Đến nay tôi đã vẽ tranh được 24 năm rồi.

🌟

Tranh tôi vẽ ra thường hay có kỳ tích.
Có một phân đường thỉnh được một bức tranh của tôi bèn treo tranh ở ngay tại phân đường. Phân đường có gắn camera theo dõi (camera an ninh). 
Buổi đêm đến thì phân đường không có một ai cả.
Trong bức tranh của tôi có một con chim, không ngờ nó từ trên giấy vẽ bay ra, cứ bay vòng vòng trước đàn thành một lúc. 
Sau cùng nó lại bay trở lại trong bức vẽ.
Oa! Ai nấy đều lấy làm kỳ lạ, bàn tán xôn xao!

🌟

Ở Australia có một nữ đồng môn thỉnh về bức tranh Đào Tiên của tôi. Khi đi qua cửa hải quan, chó hải quan ngửi thấy bên trong có mùi hoa quả.
Cô nói:
"Không có!"
Hải quan nói:
"Có hoa quả!"
Mở hành lý ra xem thì chẳng có quả gì cả.
Nhưng có một bức tranh, trong tranh có rất nhiều quả đào tiên. 
Cả hai bên (nhân viên hải quan và nữ đồng môn) đều sững người ra.

🌟

Một năm nọ, mẹ tôi khi ấy vẫn còn tại thế, mẹ rất nhớ tôi. Bà ở Đài Loan còn tôi ở Mỹ. 
Tôi đã vẽ một bức tranh tặng mẹ.
Mẹ tôi tuổi con thỏ. 
Tôi tuổi con gà. 
Tôi liền vẽ bức tranh một con thỏ và một con gà rồi gửi tặng mẹ tôi.
Khi mẹ tôi mở tranh ra xem, con gà trong đó tự nhiên há mỏ ra kêu lên một tiếng:
"Mẹ!"
Mẹ tôi giật nảy mình! Vừa sợ vừa vui!


### 06. **Truyền kỳ về xá lợi tóc**


Tôi và thượng sư Liên Cực (Hứa Đức Toàn), trong thời gian ẩn cư đã đến một tiệm cắt tóc. 
Trong lúc cắt tóc, tôi nói chuyện với cô thợ cắt tóc.
Tôi hỏi:
"Tóc cắt xuống rồi có thể dài ra nữa không?"
Cô thợ cắt tóc nói:
"Không thể."
Tôi nói:
"Tóc của tôi đã cắt xuống vẫn có thể dài ra!"
Cô thợ cắt tóc nói:
"Tôi không tin, ông đừng có dọa người ta."
Cô thợ cắt tóc lại nói:
"Mỗi ngày tôi cắt tóc cho người ta, sàn nhà toàn là tóc, cho đến lúc đóng cửa tiệm thì đều quét sạch tóc đi. Chưa từng có ai nói là tóc cắt rồi có thể dài ra cả."
Lúc này Thượng sư Liên Cực ở bên cạnh nghe được bèn nói:
"Tóc của Lư Sư Tôn thực sự có thể dài ra đó!"
"Tóc đã cắt xuống thực sự có thể mọc tiếp ra rất dài."

🌟

Có một đồng môn sau khi có được xá lợi tóc của tôi, bởi vì xá lợi tóc thực sự ngắn quá, chỉ cần thở một cái là xá lợi tóc bay hết sạch, nên anh ta bèn dùng keo siêu dính để dính xá lợi tóc này lên cái đầu trọc của một con búp bê. 
Sau đó thì anh ta cũng quên mất việc này.
Một thời gian sau, anh ta mở tủ quần áo ra thì sửng sốt. Bởi vì con búp bê đầu trọc đã mọc đầy tóc dài rồi.
Nhưng chuyện này cũng chưa phải là lạ. 
Nhà hàng xóm có một bà lão bị trúng tà, miệng sùi bọt trắng, toàn thân run rẩy. 
Đồng môn lập tức có linh cảm, liền đem con búp bê đầu mọc đầy tóc của Sư Tôn ra, chạm vào người bà lão bị trúng tà một cái. 
Chỉ chạm một cái.
Tà ma liền chạy mất luôn! Biến mất không còn một dấu vết.
Đồng môn này nói:
"Tóc cũng là pháp, con búp bê có tóc của Lư Sư Tôn này của tôi, chạm vào ai thì sẽ gia trì cho người đó, người có bệnh cũng có thể trị được, người bị tạp âm cũng có thể trị được, người bị bỏ bùa cũng có thể trị được…"

🌟

Thượng sư Trác thỉnh xá lợi tóc của tôi.
Đặt trong tháp xá lợi.
Ban đầu chỉ có một chấm tóc bé xíu, một chấm tóc nhỏ đặt vào đó không bao lâu.
Một hôm Thượng sư bất ngờ lấy ra xem.
Mẹ ơi!
Không chỉ có một đám tóc dài màu đen ở trong tháp xá lợi mà tóc còn mọc thò ra cả bên ngoài tháp xá lợi. 
Đồng môn không ngớt lời trầm trồ. 
Chính tôi cũng đã nhìn thấy tóc mọc dài ra nhiều tới nỗi nắp của tháp xá lợi cũng không đậy lại được nữa.

🌟

Còn có một chuyện nữa cũng rất kỳ lạ.
Có một đồng môn bị hói đầu.
Đã thỉnh của tôi một nhúm xá lợi tóc. 
Anh ta bỗng nảy ra suy nghĩ là nuốt xá lợi tóc này vào bụng. Thế là với một ngụm nước, anh ta đã uống hết xá lợi tóc.
Quái lạ là!
Đồng môn bị hói đầu này vốn dĩ nhiều năm rồi cái đầu hói chẳng hề mọc tóc. Từ sau khi uống xá lợi tóc, trên đầu bắt đầu có những đốm tóc đen mọc ra, sau đó thì mọc đều ra khắp đầu, sau đó thì dài đến tận vai, ai nhìn thấy cũng đều chậc chậc lưỡi vì ngạc nhiên.
Oa! Đại kỳ tích!


### 07. **Người trong mũi**


Có một người là Vương Nguyên tiên sinh, tổ tiên vốn là phú hào, nhưng về sau gia cảnh đi xuống, đến đời của Vương Nguyên thì chỉ còn lại duy nhất một gian nhà ọp ẹp.
Một hôm Vương Nguyên đi ra biển. 
Một cơn gió biển thổi tới. 
Đột nhiên anh bị ngạt mũi.
Trở về căn nhà cũ nát, buổi tối khi đi ngủ, bất ngờ từ trong mũi anh có người cất tiếng nói rằng:
"Ta là tổ tiên của anh, anh mau mau đi tìm Sư Tôn Lư Thắng Ngạn đi!"
Vương Nguyên rất ngạc nhiên. 
Cơ bản là anh chẳng biết Lư Sư Tôn. 
Người trong mũi nói với anh:
"Mau tìm Lư Sư Tôn!"
Liên tục nhắc đi nhắc lại:
"Nhất định cần tìm được Lư Sư Tôn!"
Sau đó cuối cùng anh cũng tìm được tôi. 
Tôi nhập Tam ma địa để quan sát người trong mũi, hóa ra người trong mũi đến là có ba mục đích:
1. Cầu xin tôi siêu độ cho ông đã bị chết ngoài biển.
2. Giúp Vương Nguyên khôi phục lại gia nghiệp.
3. Vương Nguyên phải quy y học Phật.

Việc đầu tiên, Vương Nguyên tra lại gia phả, lúc này mới biết có một vị tổ tiên đi tàu hơi nước ra biển, tàu bị lật nên đã chết đuối ngoài biển khơi. 
Tôi đồng ý siêu độ cho người này. 
(Người tổ tiên bị chết ngoài biển này tên là Vương Nghĩa.)
Tôi dùng ấn Đại hải siêu độ để siêu độ cho ông ta.

Việc thứ hai mới là kỳ lạ nhất. Người trong mũi nói Vương Nguyên đi mua cổ phiếu đó, điều quái lạ là, cổ phiếu đó liền tăng vọt.
Cổ phiếu thứ hai cũng như vậy.
Cổ phiếu thứ ba cũng như vậy.
Cổ phiếu thứ tư cũng thế.
Cứ thế, cứ thế, cứ như vậy, cứ như vậy, tổng cộng là 24 lần.

Vương Nguyên đã kiếm được rất nhiều tiền, mua nhà mua xe, ngoài ra cũng tiết kiệm được kha khá. 
Người trong mũi cảnh cáo Vương Nguyên:
"Dừng, dừng, dừng. Dừng việc mua cổ phiếu lại, đi làm kinh doanh đi."
Nhưng,
Vương Nguyên không muốn dừng lại. Anh dựa vào sự phán đoán của mình lại tiếp tục mua cổ phiếu, kết quả là thua mất ba lần. 
Vương Nguyên hối hận đã không nghe theo lời của người trong mũi. 
(Theo như tôi đã kiểm tra thấy, tổ tiên tên là Vương Nghĩa này của Vương Nguyên quả nhiên là một ông chủ chứng khoán lớn, sau khi chết cũng là một con ma giàu có.)

Chuyện thứ ba:
Vương Nguyên đến quy y tôi học Phật. 
Tôi nói với Vương Nguyên:
"Cái gốc của tu học thành tựu Hiển - Mật pháp chính là cung kính căn bản Thượng sư, tiếp nhận sự chỉ dạy của Thượng sư. Đây không chỉ là thực hiện việc cúng dường biểu hiện ra bên ngoài, mà quan trọng nhất vẫn là sự cung kính chân thực của nội tâm. Từ xưa đến nay tất cả các thành tựu giả không có một ai là ngoại lệ."
Tôi nói:
"Học Phật pháp trước tiên phải nghe pháp, là kỹ năng nghe hiểu."
Tôi nói:
"Tiếp theo là suy ngẫm, cần dung nhập vào trong Phật pháp, là kĩ năng suy tư."
Tôi nói:
"Thứ ba là tu, tu Tam ma địa, loại bỏ mọi nghi hoặc."
Tôi nói:
"Cuối cùng là chứng, chứng quả vị cứu cánh."
Sau này Vương Nguyên đã trở thành một trong những đệ tử của tôi.
Vương Nguyên cũng tham gia nghiên cứu:
Hiện quán trang nghiêm luận.
Thích lượng luận.
Nhập trung luận.
Câu xá luận.
Giới kinh.
(Đây là năm bộ đại luận.).


### 08. **Phẫu thuật trong mơ**


Chương sách này của tôi có phần tương tự như câu chuyện kể về phẫu thuật u não cho Elizabeth ở Indonesia.
Tôi thuật lại tóm tắt như sau:
Ở Indonesia có một người tên là Elizabeth, não có khối u, vô cùng đau đớn. 
Cô đến Seattle nước Mỹ tìm Lư Sư Tôn. 
Tôi gia trì và ban cho phù lệnh.
Đêm đó, trong mơ, người này đi vào phòng phẫu thuật để mổ não. 
Sau khi mổ xong, ngẩng đầu lên nhìn, không ngờ bác sĩ phẫu thuật là Sư Tôn Lư Thắng Ngạn.
Sư Tôn nói: "Khối u lớn đã được cắt bỏ rồi, chỉ còn lại một chút da mà thôi."
Mơ đến đây thì tỉnh lại.
Ngày hôm sau, chứng đau não cũng biến mất luôn. 
Đi kiểm tra lại thì:
"Khối u lớn biến mất rồi!"
"Quả nhiên chỉ còn lại một chút da!"

🌟

Có một người khác tên là Lâm Tùng. 
Tự cảm thấy đau ngực, vô cùng khó chịu, anh ta đến bệnh viện ở địa phương để kiểm tra. 
Báo cáo kiểm tra đưa ra không ngờ là bị sỏi mật. 
Ban đầu anh không muốn mổ.
Khám bác sĩ Đông y và uống thuốc. 
Anh cũng đi đến các miếu thần linh, cầu thần bốc quẻ, cũng uống cả bùa. 
Tất cả các miếu chùa lớn nhỏ trong tỉnh anh đều đến bái lạy hết rồi. 
Nhưng chứng đau tức ngực vẫn không khỏi.

Có người mách anh "đi tìm Sư Tôn Lư Thắng Ngạn", ngoài ra không nói gì thêm. Thế nhưng, đêm hôm đó anh đã nằm mơ, trong mơ xuất hiện một vị Phật sống mặc đồ Lama. 
Vị Hoạt Phật này chẳng nói gì, chỉ nhìn anh và cười với anh.
Sau khi tỉnh lại, anh đi tìm người đã nói với anh rằng "đi tìm Sư Tôn Lư Thắng Ngạn", người đó lấy ra một bức hình Lư Sư Tôn đưa cho Lâm Tùng xem. 
Vừa nhìn thấy bức hình.
Lâm Tùng kêu lên:
"Chính là ông ấy! Chính là ông ấy!"
Sau đó, Lâm Tùng đã đến tìm tôi. Tôi nói với anh:
"Tôi cho anh ba tấm phù chữa sỏi mật, anh uống xong, nếu như sau hai tuần không có hiệu quả thì anh hãy đi làm phẫu thuật!"
Lâm Tùng nói:
"Tôi không muốn mổ!"
Tôi lại gia trì cho anh, niệm chú:
"Nhất họa thành giang, nhị họa thành hà, tam họa tứ họa thành kim tỉnh, thử chỉ phi phàm chỉ, nãi thị Lư Sơn tú tài chỉ, chỉ thiên thiên thanh, chỉ địa địa linh, chỉ nhân trường sinh, chỉ bệnh tiêu vong. Ngô phụng Diêu Trì Kim Mẫu, cấp cấp như luật lệnh."

Đêm đó.
Lâm Tùng nằm mơ. 
Mơ thấy chính mình đi vào phòng phẫu thuật, rồi cũng được Lư Sư Tôn phẫu thuật cho như vậy. 
Toàn bộ sỏi được gắp ra, đương nhiên lúc này sỏi cũng biến mất rồi. 
Cuộc phẫu thuật trong mơ vô cùng thành công.

Lâm Tùng tỉnh lại, sợ đến mức toàn thân toát mồ hôi! 
Lâm Tùng vô cùng kinh ngạc. Lư Sư Tôn phẫu thuật cho anh ở trong mơ, anh biết rằng mơ chẳng phải là sự thật.
Thế nhưng,
Điều càng kỳ lạ hơn là: 
Vùng thượng vị không còn bị đau nghẽn nữa. 
Đi bệnh viện kiểm ra, mật vẫn còn, chỉ là sỏi mật thì đều không thấy đâu nữa!
Quái lạ! Quái lạ!
Lúc trước thì có chuyện của Elizabeth, sau này lại có Lâm Tùng, đều là phẫu thuật trong mơ.
Thần kỳ quá! Thần kỳ!


### 09. **Ba vị Bổn tôn thật hay giả**


Một hôm, tôi nhận được tin tức từ Thiên thượng giới rằng ba vị Bổn tôn của tôi sẽ cùng xuất hiện, các vị đến để thọ ký cho tôi.
Ba Bổn tôn là:
Diêu Trì Kim Mẫu.
A Di Đà Phật.
Địa Tạng Vương Bồ Tát.
Ngày hôm đó xảy ra một chuyện kỳ lạ bất bình thường. Hư không phía trên đàn thành của tôi xuất hiện:
Cầu vồng đẹp đẽ.
Ánh mặt trời chiếu soi, dường như có rất nhiều diệu hoa màu sắc rực rỡ.
Có cả âm nhạc của cõi trời.
Có cả tiếng trống trời rộn rã.
Tôi ngẩng đầu nhìn về phía chân trời, ở trong vùng mây có kim thân của A Di Đà Phật to cao như núi, sáng chói như mặt trời. Bên phải là Diêu Trì Kim Mẫu, bên trái là Địa Tạng Vương Bồ Tát. Xung quanh ba vị Bổn tôn có rất nhiều rất nhiều thiên tử, thiên nữ.

Tôi cảm thấy vui sướng lạ thường.
Không kìm nén được mà quỳ xuống đảnh lễ. Nhưng vừa ngẩng lên.
Không ngờ các vị đều biến mất rồi.

Tôi vô cùng kinh ngạc.
Tiếp đó.
Bỗng nhiên tôi trông thấy rất nhiều rất nhiều người xuất gia, cầm pháp khí và cúng phẩm khác nhau, từ từ tiến đến.
Tôi hỏi:
"Ba Bổn tôn ở đâu rồi?"
Một vị xuất gia nói:
"Đứng trên đỉnh núi cao, đi dưới đáy biển sâu, chẳng mấy chốc mà đến."
Sau đó tôi nhìn thấy có mười hai ngọn đèn dẫn đường, ba đóa hoa sen nâng ba vị Bổn tôn, vô cùng an yên, thanh tịnh.
Tôi tự nhiên cứ thế lại đảnh lễ. 
Ngẩng đầu lên.
Ba Bổn tôn vẫn ở đó.
Ba Bổn tôn diện mạo trang nghiêm, tướng tốt viên mãn, toàn thân tỏa ánh sáng lấp lánh. 
Tôi hỏi:
"Lúc trước có ba vị Bổn tôn đến, tôi vừa đảnh lễ xong thì không thấy các vị đâu nữa, đây là vì nguyên nhân gì?"
Diêu Trì Kim Mẫu cất giọng thanh nhã nói:
"Hôm nay đến thọ ký, chính là vì việc này, cần phải hiểu được cái thật trong huyễn."

Tôi hỏi:
"Ba vị Bổn tôn lúc trước là giả ư?"
Kim Mẫu đáp:
"Đúng vậy."
Ba Bổn tôn nói:
Hành giả tu hành đều sẽ gặp phải các chướng ngại khác nhau. Trong đó đáng sợ nhất là "ma hiện thân Phật", đưa ra các kiến giải không chính xác. Người học Phật gặp phải chuyện này thì gần như chẳng có cách nào nhận ra, ngu si mê lầm mà không biết, thế là cứ theo ma quỷ dẫn dắt, không nhìn nhận để phân biệt thật giả, rồi cứ thế cho là đúng rồi, thế là cũng thành ma thôi. Những người này không phân biệt được Phật và ma, không chỉ bản thân đi xuống làm quyến thuộc của ma, những người theo anh ta cũng thành con cháu của ma hết.

Tôi hỏi:
"Quả nhiên đáng sợ, làm sao để phân biệt đây?"
Kim Mẫu đáp:
"Dựa vào thánh ngôn để phân biệt. Dựa vào chính pháp để phân biệt. Dựa vào Tam ma địa để phân biệt. Dựa vào so sánh logic để phân biệt."
Tôi hỏi:
"Vì sao tôi vừa đảnh lễ một cái thì bọn họ đều biến mất?"
Kim Mẫu đáp:
"Bọn họ không chịu nổi một cái lạy của Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử!"
Tôi hỏi:
"Tông phái có người theo ma sao?"
Kim Mẫu đáp:
"Đích thị Quỷ Bà, theo ma, mà còn chẳng tự biết!"


### 10. **Bức thư của Hướng Hồng**


Sư tỷ Hướng Hồng ở Vancouver viết cho tôi một bức thư, giống như có được ngộ cảnh nên tôi kể cho mọi người cùng biết như sau:

*Sư Tôn yêu quý!
Kính chào Sư Tôn!
Hôm nay là ngày thánh đản của Kim Mẫu, sáng sớm ngủ dậy con đã có một cảm nhận rất tuyệt, cảm ơn sự gia trì của Sư Tôn và Kim Mẫu.
Tuy vậy thường ngày, về mặt lý luận thì con đã lĩnh ngộ được rằng:
Vạn vật không có tự tính, bởi vì chúng đều là do tứ đại hòa hợp mà thành. Nhưng phía sau hư không tuy vậy lại thực sự tồn tại cái Có.
Phật tính là vô tướng, là quang minh.
Tuy nhiên tất cả con người thế gian đều bị thế giới hư huyễn tóm chặt lại. Giống như bản thân vẫn mong ngóng một đáp án, việc này cũng chính là bị giữ chặt lại. Cần phải không có tâm mong cầu mới là đúng!
Bởi vì nội tâm vô sở cầu, vô sở đắc, mới có thể đạt được giải thoát.
Sự tiến bộ lần này nhanh hơn so với trước đây. Có thể nói là dù tu tập tiến bộ nhanh cũng sẽ không gặp cảm giác khó khăn khi các sự việc phát sinh mà có thể thản nhiên đối mặt với chúng dễ dàng.
Chính mình sẽ tự nói với mình rằng:
"Bản chất của sự vật này chính là Không! Ta vẫn còn bám chấp sao? Hãy thư giãn đi! Ta sẽ được tự tại."
Thực sự được như vậy thì tốt biết bao!
Thế là thoải mái ngay!
Tất cả tùy duyên đi!
Cảm tạ Sư Tôn, cảm tạ trời xanh, cảm tạ Kim Mẫu vì tất cả.
Xin các vị gia trì cho Hướng Hồng có thể không ngừng áp dụng lý thuyết này vào thực tiễn để có thể có được đại giải thoát chân chính.
Cuối cùng kính chúc Sư Tôn mạnh khỏe, trường thọ, cát tường.
Hướng Hồng cúi lạy trăm lần.
28/08/2018.*

Sư tỉ Hướng Hồng biết ca hát, hát bài "Thiên Lộ" được tôi rất ca ngợi, tôi rất thích nghe cô hát. 
Tôi để thư của Hướng Hồng trên đàn thành, bên dưới chỗ ngồi của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. Không ngờ, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát hiện thân nói chuyện Pháp với tôi cả một buổi tối.
Văn Thù Bồ Tát nói:
"Chúng sinh vô minh, bám chấp mê lầm vào danh lợi, tài phúc, thanh sắc, do vậy chuốc lấy vô số phiền não và đau khổ. Thậm chí sinh tử luân hồi, xoay chuyển như vậy không dừng dứt."
Văn Thù Bồ Tát nói:
"Muốn giải thoát chỉ có dựa vào duy nhất trí huệ tính Không vô ngã".
Văn Thù Bồ Tát nói:
"Nếu người tu hành vẫn chưa đạt được trí huệ tính Không vô ngã thì chắc chắn không thể có được thành tựu lớn."
Văn Thù Bồ Tát nói:
"Khi Phật Đà còn tại thế, thọ ký nguồn gốc sinh ra của Long Thụ Bồ Tát, hơn nữa Long Thụ Bồ Tát chính là con người đầu tiên có được trí huệ tính Không vô ngã."
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nói:
"Trí huệ tính Không vô ngã này rất khó thấu hiểu một cách sâu sắc, nếu như đi nhầm đường thì cũng rất đáng tiếc."
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nói:
"Ví dụ: 
Bát vô nhân quả.
Nhất thiết giai không. 
Vì thế làm việc sai cũng là không. Tội cũng là không.
………………
Đây chính là Đoạn kiến, vô cùng đáng sợ!”
[Rơi vào tà kiến chấp Không, cho là cái gì cũng không có cả. Chấp Không còn đáng sợ hơn là chấp Có.]
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nói:
"Lư Sư Tôn! Ngài đã biết "cái Có như huyễn" thế tục đế, "cái Không chân thực" thắng nghĩa đế, hai cái này là một, hai cái này không thể nào phá bỏ. Nếu phá bỏ "cái Có như huyễn" thì không có "cái Không chân thực". Đây mới thực sự là Trung quán chính kiến chân chính."
Thế mới nói là:
"Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc."
Sắc và Không đứng dựa vào nhau. Hãy ngẫm xem! Hãy ngẫm xem!


### 11. **Bé gái sáu ngón tay**


Một hôm, có một người là ông Cảnh đến chỗ tôi.
Ông nói:
"Tôi đã sinh được bốn đứa con gái, nhưng vẫn muốn cầu một đứa con trai, có thể được không?"
Tôi bấm ngón tay tính một lúc rồi nói:
"Ông sẽ có một đứa con trai."
Ông nói:
"Đã có bốn đứa con gái rồi, nếu lại sinh con gái thì thực sự là rất sợ đó."
Tôi nói:
"Đừng lo, tôi cho ông một lá phù."
Tôi lấy tấm phù "trời ban con cái", nhất thời hứng khởi, tôi vẽ lên trên phù một viên bảo châu bí mật.
(Bảo châu bí mật cũng chính là cái đầu con rùa.)
Nhưng tôi lại nhất thời không kiểm tra lại, nên đã vẽ sai vị trí.

🌟

Một năm sau, ông Cảnh lại đến chỗ tôi, sắc mặt đầy oán trách. 
Ông nói:
"Lư Sư Tôn! Ngài nói tôi sẽ sinh con trai, kết quả lại vẫn sinh con gái, ngài bảo tôi phải làm sao đây? Tôi có thể nói là ngài đoán việc chẳng đúng không?"
Tôi kinh ngạc:
"Tôi có vẽ bảo châu bí mật rồi mà!"
Ông Cảnh nói:
"Việc kỳ lạ là bé gái khi sinh ra, bàn tay trái lại có sáu ngón tay."
Tôi nói:
"Thôi rồi! Sáu ngón tay, ngón tay thừa này chính là bảo châu bí mật, tôi đã vẽ sai vị trí rồi!"
Ông Cảnh nói:
"Thế bây giờ đền cho tôi ra sao đây?"
Tôi nói:
"Để tôi bù cho ông một đứa con trai khác vậy!"
Ông Cảnh nói:
"Tôi biết Lư Sư Tôn rất linh nghiệm, luôn luôn chỉ có chuẩn, lần này nhất định phải sinh con trai, tôi tin ngài thêm một lần nữa."

Lần này tôi không dám bất cẩn nữa.
Tôi rất cẩn thận vẽ phù, niệm chú, áp ấn. 
Vẽ bảo châu bí mật ở vị trí chính xác, rồi kiểm tra lại từ đầu tới cuối. 
Tôi thỉnh cầu Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp ban lực gia trì.
Rồi mới đưa phù cho ông Cảnh.
Tôi nói:
"Lần này chắc chắn không có sai sót gì."
Tôi hỏi:
"Bé gái có sáu ngón tay đó thì sao rồi?"
Ông Cảnh đáp:
"Bác sĩ vừa thấy sáu ngón tay thì đã nói là có thể lập tức làm thủ thuật để cắt bỏ, bây giờ bé gái hoàn toàn bình thường rồi."
Tôi nói:
"Thật có lỗi! Thật có lỗi! Thật có lỗi!"
Ông Cảnh nói:
"Cả nhà tôi luôn luôn tin tưởng và tôn kính Lư Sư Tôn, ngài cũng đã từng giúp vợ tôi, cậu vợ tôi, mẹ vợ tôi, cha tôi, đều cực kì linh nghiệm rồi."

🌟

Lại một năm trôi qua.
Ông Cảnh nói với tôi:
"Đã sinh được bé trai, mặt vuông tai lớn, có phúc tướng rồi."
Tôi nói:
"Xin chúc mừng!"
Có lẽ họ không biết rằng đứa bé trai này là do tôi cầu xin Di Lặc Bồ Tát.
Về sau, ông Cảnh nói với tôi:
"Khi đứa bé sinh ra, tôi đã nhìn thấy một tăng nhân mặt vuông tai lớn đi vào cái thai trong bụng vợ tôi!"


### 12. **Dự đoán về trận ngập lụt**


Ngày 6 tháng 5 năm 2018, tôi rời Đài Loan trở về Seattle nước Mỹ. 
Vào ngày 5 tháng 5 tại Pháp Ký Lôi Tạng Tự ở Đào Viên, tôi có buổi khai quang và pháp hội quán đảnh Vishnu (Biến Tịnh Thiên).
Vishnu là một trong ba vị thần lớn của Ấn Độ giáo. 
Ba đại thần đó là:
Brahma — Đại Phạm Thiên (Thần Sáng Tạo).
Shiva — Đại Tự Tại Thiên (Thần Hủy Diệt).
Vishnu — Biến Tịnh Thiên (Thần Bảo Hộ).

Trong Mật giáo Tây Tạng có đưa chư Thiên dung nhập vào trong các pháp tu hành Mật giáo. Ngoài Phật, Bồ Tát ra thì Hộ pháp, Kim cang, Không hành, chư Thiên cũng đều có niệm tụng pháp.

Tôi ngồi trên pháp tọa thuyết pháp. 
Có người nhắc tôi cần cầu mưa giúp cho Đài Loan. 
(Bởi vì khi đó khắp đất nước Đài Loan đều khô hạn. Tất cả các hồ dự trữ nước của Đài Loan đều cạn sắp thấy đáy rồi.)
Tôi quan sát "vân long đồ" trên bầu trời.
Tôi giật mình kinh hãi.
Bởi vì có cả một bầy rồng đang nhào lộn khuấy đảo cả bầu trời Đài Loan.

Tôi ngồi trên pháp tọa nói:
"Cuối tháng 5, tháng 6, tháng 7, tháng 8, đều sẽ có mưa, mọi người yên tâm. Nhưng cũng có ngập lụt lớn!"
Ba chữ "ngập lụt lớn" này tôi vừa nói ra lập tức khiến mọi người im ắng.
Tôi lại hỏi:
"Có vị quan chức trung ương nào hiện đang có mặt tại pháp hội này không?"
Một vài người lên tiếng nói:
"Không có!"
Trong lòng tôi cũng chùng xuống:
"Ôi chao! Thật thảm thương!"
Pháp hội kết thúc, có đồng môn hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn nói có quan chức trung ương ở đây hay không là có ý gì vậy?"
Tôi đáp:
"Tôi có thể cảnh báo người đó là không thể xem nhẹ trận lụt này!"
Đồng môn hỏi:
"Làm sao để ngăn chặn lũ lụt?"
Tôi đáp:
1. Nạo vét khơi thông các đường dẫn nước, thoát nước.
2. Chuẩn bị máy bơm để hút nước.
3. Nhà nhà ngăn nước, phòng mất điện.
4. Dự trữ thực phẩm.
5. Chuyển đồ đạc có giá trị lên tầng trên.
6. Đỗ xe ở chỗ cao.
……..

Đồng môn hỏi:
"Liệu quan chức trung ương có tin lời dự đoán của Sư Tôn không?"
Tôi đáp:
"Không tin thì tôi cũng chẳng có cách nào cả, dù sao trong pháp hội tôi cũng đã tuyên bố là sẽ có lũ lụt lớn rồi!"

Kết quả là:
Trung Nam bộ Đài Loan đều ngập lụt lớn! (Không chỉ có Trung Nam bộ mà cả Bắc bộ, Đông bộ nữa.) 
Ngập lụt từ cuối tháng 8 đến tháng 9, là một trận lụt lớn, lớn nhất trong những năm gần đây.
[Ngày 23/8 lũ lụt tại Đài Loan đã khiến 7 người chết và 101 người bị thương.]
Tôi xem ti vi thấy:
Lãnh đạo Thái [Bà Thái Anh Văn, nguyên tổng thống Đài Loan] ngồi xe tăng lội nước [xe bọc thép] để đi khảo sát thiên tai, bị dân chúng la ó chửi "sập trời".
Viện trưởng viện hành chính Lại Thanh Đức năm lần bảy lượt đi khảo sát thiên tai, lắng nghe những khổ sở của người dân. 
Phó lãnh đạo Trần [Ông Trần Kiến Nhân, phó tổng thống Đài Loan], trong lúc Trung Nam bộ ngập lụt lớn thì ông đi du lịch Kim Môn.

Còn tôi, ngày 5 tháng 5, tôi sớm đã biết Đài Loan sẽ ngập lụt lớn. Tất cả các đồng môn tham dự pháp hội đều biết.
Bởi vì tôi đã nhìn thấy:
Cảnh tượng cả một bầy rồng nhào lộn khuấy đảo bầu trời, thanh thế kinh người!


### 13. **Nhớ lại kiếp trước**


Tôi (Lư Sư Tôn) trong lúc mơ mơ hồ hồ có thể phát sinh một dạng ký ức tiền kiếp. 
Tôi từng thấy Atisa tôn giả và Tsongkhapa tôn giả người trước người sau đi vào trong tâm tôi.
Tôi không dám nói tôi là Atisa tôn giả chuyển thế.
Tôi không dám nói tôi là Tsongkhapa tôn giả chuyển thế.
Nhưng, 
Khi tôi đến Jambi ở Indonesia, tại nơi xưa kia Atisa tôn giả đến cầu pháp thì chớp lóe, sấm rền, trời đổ mưa. 
Tôi trông thấy Atisa tôn giả và tôi hợp làm một, mỗi bước chân đi giống như Atisa quay trở về chốn xa xưa. 
Nước mắt, nước mưa lẫn vào nhau ướt đẫm.

Tôi còn nhớ khi tôi giảng “Mật tông đạo thứ đệ quảng luận”.
Tsongkhapa đã hiện thân trên hư không, phát ra kim quang liên tục đi vào thân tôi. 
Khi tôi giảng “Mật tông đạo thứ đệ quảng luận”, có cảm giác dường như tôi chính là Tsongkhapa đích thân thuyết pháp.

🌟

Đương nhiên dường như tôi cũng nhớ được những chuyên luận mà tôi đã từng học trước đây:
Di Lặc ngũ luận.
Trung quán ngũ luận. (Trung quán luận, Hồi tránh luận, Lục thập chính lý luận, Thất thập Không tính luận, Tinh nghiên luận.)
Tập lượng luận.
Câu xá luận.
Giới luận.
Thích lượng luận.
Nhập hành luận.
Nhập trung luận.
Tứ bách luận.
Mỗi khi tôi đọc một bộ luận đều thấy rất quen thuộc, hơn nữa đều cảm giác mình đã đọc qua từ lâu rồi.

Tôi thường nói:
Nhìn thấy Dược Sư Như Lai tại Daegu Hàn Quốc.
Nhìn thấy A Di Đà Phật trên chuyến bay từ Bắc Kinh đến Thái Nguyên.
Nhìn thấy Quan Thế Âm Bồ Tát tại Mật Uyển nhà tôi.
(Ba vị này là tôi thấy rõ ràng nhất, và cũng có ý nghĩa nhất.)

Tôi cũng thấy:
Di Lặc Bồ Tát hiện thân cao lớn, thân màu vàng kim, lưng đeo một túi vải lớn, bay ở hư không phía trên khu vực quận Ballard tại Seattle nước Mỹ, từ trên không trung thả xuống rất nhiều báu vật.
Phật Thích Ca Mâu Ni thọ ký tôi là "Hoa Quang Tự Tại Phật".

Tôi còn thấy:
Lục Độ Mẫu, Tôn Thắng Phật Mẫu, Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu, Bạch Độ Mẫu.
Long Thụ, Đề Bà, Phật Hộ, Long Trí, Nguyệt Xứng. (Các vị tổ sư của phái Trung Quán.)
Vô Trước, Thế Thân, Trần Na, Pháp Xứng, Công Đức Quang, Thích Ca Quang, Thiên Vương Huệ, Liên Hoa Giới. (Các vị tổ sư của phái Duy Thức.)
Vân vân và vân vân.

🌟

Mới đây, ngày 8 tháng 9 năm 2018, tôi truyền dạy Tsongkhapa tổ sư niệm tụng pháp.
Địa điểm tại trung tâm hội nghị Meydenbauer tại Seattle.
Tôi trông thấy tổ sư Tsongkhapa hạ giáng, mà không chỉ có mình ngài hạ giáng, mà trên đỉnh đầu của ngài còn có:
Di Lặc Bồ Tát.
Trên vai phải có Văn Thù Bồ Tát.
Trên vai trái có Diệu Âm Thiên Nữ.
Bốn xung quanh có Hộ pháp thần chúng.
Tổ sư Tsongkhapa hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn, ngài là ai?"
Tôi vẫn chưa trả lời, thì tổ sư Tsongkhapa đã nói:
"Ta chính là ngài đó!"


### 14. **Người ngồi trong mặt trời**


Có lần, Cống Đường Thương Hoạt Phật [Gung Thang Tshang Rinpoche] tại một thảo nguyên lớn ở tỉnh Cam Túc đã cử hành đại pháp hội Thời Luân Kim Cang. 
Vạn vạn người ùn ùn đổ về liên tiếp như sóng lớn.
Cống Đường Thương Hoạt Phật sờ đầu từng người từng người một. Bởi vì dòng người thực sự quá đông nên ngài sờ đầu tới mức ngất xỉu luôn. 
Thị giả mở ô ra.
Để cho Cống Đường Thương Hoạt Phật ngồi nghỉ một lát trên thảo nguyên nở đầy hoa cúc.
Ngài uống một chai nước suối.
Khi ngẩng đầu lên nhìn mặt trời thì trông thấy một người ngồi ở chính giữa mặt trời. 
Bởi vì hình ảnh quá rõ ràng nên Cống Đường Thương Hoạt Phật nhớ rõ được lông mày, đôi mắt, cái mũi, cái miệng, cái tai của người này. Đặc biệt là cái dái tai dài quá cả miệng. Còn thấy cả ánh mắt nữa.

🌟

Năm đó.
Cống Đường Thương Hoạt Phật nhận lời mời đến tham dự buổi lễ nhậm chức của tổng thống Bill Clinton. 
Một mình Cống Đường Thương Hoạt Phạt được tổng thống Bill Clinton đặc biệt quan tâm chú ý rất lâu. 
Cống Đường Thương Hoạt Phật nói:
"Tổng thống Clinton cũng là một vị Rinpoche Tây Tạng chuyển thế."
Sau đó.
Cống Đường Thương Hoạt Phật đến Los Angeles, nhân tiện đi khám nha sĩ, không ngờ vị nha sĩ này lại là đệ tử của Lư Sư Tôn. 
Khi nha sĩ lấy ảnh của Lư Sư Tôn ra đưa cho Cống Đường Thương Hoạt Phật xem, mắt ngài mở to sửng sốt:
"Đây chính là người ngồi trong mặt trời!"
Cống Đường Thương Hoạt Phật nói:
"Tôi muốn gặp ông ấy!"
Thế là, Cống Đường Thương Hoạt Phật viết cho tôi một bức thư, ngài ấy có thể viết bằng tiếng Trung, cuối thư còn ký tên và đóng dấu, con dấu đó chính là ấn chương của Cống Đường Thương Hoạt Phật.
(Có một năm nọ, Đức Oa Thương Hoạt Phật [Sde Ba Tshang Rinpoche] đã đến Đài Loan. Ngài trông thấy bức thư này đã nảy sinh rất nhiều cảm xúc, bởi vì Cống Đường Thương Hoạt Phật và Đức Oa Thương Hoạt Phật có mối giao tình rất thân mật.)

Tôi đã đưa nội dung bức thư này vào trong một cuốn sách của tôi.

🌟

Cống Đường Thương Hoạt Phật vì muốn gặp mặt tôi một lần, khi sắp trở về Trung Quốc, ngài đã đặc biệt đến Seattle trước rồi sau đó mới chuyển máy bay về Trung Quốc. 
Cống Đường Thương Hoạt Phật nói:
"Ngài (Lư Sư Tôn) là người ngồi trong mặt trời, lấy mặt trời làm pháp tọa, ánh mặt trời chiếu rọi khắp nơi, có thể độ rất nhiều chúng sinh, thực sự rất đáng chúc mừng."
Cống Đường Thương Hoạt Phật và tôi đàm luận đủ loại tâm yếu khẩu quyết của “Thời Luân Kim Cang Mật Tục”, “Mật Tập Kim Cang Mật Tục” và “Thắng Lạc Kim Cang Mật Tục”.
Cống Đường Thương Hoạt Phật nói:
"Lư Sư Tôn có lai lịch vĩ đại, thành tựu trong tương lai sẽ thuộc loại xuất sắc trong số những người Hán."
Cống Đường Thương Hoạt Phật hỏi:
"Ngài có thể xuất hiện trong mặt trời sao?"
Tôi đáp:
"Bởi duyên!"
Cống Đường Thương Hoạt Phật hỏi:
"Chẳng phải các ngài nói là duyên khởi tính không sao?"
Tôi đáp:
"Duyên khởi tính không là thắng nghĩa, nhưng tại nhân gian thì là duyên khởi lập thành."
Cống Đường Thương Hoạt Phật nói:
"Hữu duyên thiên lý lai tương hội."
Còn nói:
"Lư Sư Tôn, ngài đã là tổ sư của phái Trung Quán rồi!"


### 15. **Tên gọi "ba trong một"**


Có một đệ tử họ Vương sinh được một đứa con trai, đã viết thư gửi đến Seattle xin tôi đặt tên cho bé.
Tại phòng làm việc của trung tâm trả lời thư tín, tôi đã chọn một chữ.
"Khang."
Do vậy tên bé là: Vương Khang.

🌟

Đệ tử họ Vương này sinh được con trai thì rất vui mừng báo cho bố mình biết. 
Người bố vừa được lên chức ông nội này cũng tiện thể đặt tên cho cháu, cũng lấy một chữ:
"Khang."
Vương nói:
"Bố à, con đã xin Lư Sư Tôn đặt tên rồi, không cần phiền đến bố phải nhọc công đặt tên nữa."
Người bố nói:
"Ông nội đặt tên cho cháu trai sẽ có ý nghĩa đặc biệt hơn, hà tất phải khiến Sư Tôn của con nhọc công."
Vương nói:
"Nhưng con đã gửi thư đi rồi, làm thế thì ngại lắm!"
Người bố nói:
"Mặc kệ! Đặt tên là Khang. Ta muốn cháu nội của ta vĩnh viễn khỏe mạnh, khỏe mạnh là thứ mà tiền vàng cũng chẳng mua được đâu, chữ Khang này đặc biệt hay."
Vương nói:
"Cứ đợi Lư Sư Tôn trả lời thư rồi hẵng bàn tiếp vậy!"
Người bố nổi giận:
"Không được!"
Vương:
"………"

🌟

Buổi tối hôm đó, đệ tử họ Vương nằm mơ:
Mơ thấy Lư Sư Tôn đứng trên một bông hoa sen trắng, xung quanh thân tỏa ra ánh sáng cầu vồng. Còn có cả vầng hào quang, ngồi trong vòng hào quang đều là các hóa thân Phật.
Đệ tử họ Vương nói:
"Lư Sư Tôn! Xin lỗi, bố của con kiên quyết muốn lấy tên mà ông chọn cho cháu."
Lư Sư Tôn nói:
"Yên tâm! Không sao cả! Ta giúp cho con trai anh đặt tên cũng là một chữ Khang."
Đệ tử họ Vương nghe xong rất kinh ngạc:
"Thật sao?"
Lư Sư Tôn nói:
"Hoàn toàn thật, tuyệt đối không nói sai."

🌟

Ngày hôm sau khi anh tỉnh dậy sau giấc mơ, đệ tử họ Vương nhận được thư của trung tâm trả lời thư tín từ Seattle gửi đến, tên được chọn trong thư chính là: 
"Vương Khang".
Ông nội đặt tên — Vương Khang.
Báo mộng trong mơ — Vương Khang.
Tên mà tôi chọn — Vương Khang.
Đây đúng là tên gọi "ba trong một" rồi.
Trên thế gian này liệu có việc trùng hợp như vậy sao?

🌟

Tôi nói:
Rất nhiều người viết thư cho Lư Sư Tôn, Lư Sư Tôn luôn luôn gia trì hết toàn bộ thư tín. 
Nhưng khi còn chưa nhận được thư trả lời của Lư Sư Tôn.
Rất nhiều người đã nằm mơ mà biết được câu trả lời rồi, bởi vì Lư Sư Tôn sẽ báo mộng.
Câu trả lời trong giấc mơ và câu trả lời trong thư đều là một. 
Hơn nữa,
Hôm nay nằm mơ, hôm sau thư đã đến luôn.


### 16. T**ín đồ tôn giáo khác quy y**


Lãnh đạo của một đất nước nọ phái một vị đại sứ quan trọng đem thư của lãnh đạo đến gặp tôi. 
Vị đại sứ này thực tế chính là thư ký trưởng, vị thư ký trưởng này là một tín đồ theo tôn giáo khác, không phải là tín đồ Phật giáo.
Theo như anh nói thì: 
Đối với việc đến gặp tôi để đưa thư này, anh vốn dĩ khá thờ ơ. 
Không ngờ đến gặp một pháp sư Phật giáo mà sếp lại kêu thư ký trưởng đích thân đi gửi. 
Vị pháp sư này có cái gì phi thường lắm sao? 
Anh cảm thấy mình không đáng phải làm việc này.

Sau đó:
Đêm trước ngày lên đường đến gặp tôi, trong lúc nửa tỉnh nửa mơ, anh nhìn thấy một cảnh tượng rất kỳ dị. (Anh nhấn mạnh rằng không phải là mơ.)
Anh thấy mình bị lạc trong một khu rừng rất tăm tối, đi kiểu gì cũng không thể ra được. 
Trong lòng anh rất lo lắng, hoàn toàn không biết phải làm sao đây?
Bỗng nhiên anh nghe thấy một âm thanh:
"Grey! Anh muốn tìm tôi phải không?"
Anh ngẩng đầu lên nhìn thì giật mình sửng sốt:
Trong hư không xuất hiện những tia sáng chói lọi, ở giữa những tia sáng rực rỡ là một vị Phật rất cao lớn.
Mặc dù anh là tín đồ tôn giáo khác nhưng anh biết đây là Phật, vì anh cũng từng nhìn thấy tượng Phật của Phật giáo rồi. 
Trên thân của vị Phật này được trang điểm bởi vô số trân bảo đầy trang nghiêm, thiên y váy xếp, sự trang nghiêm không thể nào so sánh. 
Tay phải của ngài cầm một bông hoa sen.
Tay trái đưa xuống (ban nguyện ấn). 
Trên bông hoa ở tay phải lại có một người, nhìn kĩ người này thì không ngờ lại chính là vị pháp sư Phật giáo mà anh cần tìm gặp.
Tiếp đó, thân thể pháp sư biến thành rất lớn, Phật và pháp sư cùng dung hợp làm một, mặt của Phật biến thành mặt của pháp sư.
Phật nói:
"Grey! Anh muốn tìm tôi phải không?"
Anh lập tức hét lên:
"Đúng!"

Lúc này, xung quanh Phật xuất hiện hết đĩa hoa sen này đến đĩa hoa sen khác, tổng cộng là mười tám chiếc đĩa.
Mỗi đóa hoa sen lại phóng ra những tia sáng màu khác nhau.
Bạch quang màu trắng.
Hồng quang màu đỏ.
Tranh quang màu cam.
Hoàng quang màu vàng.
Lục quang màu xanh lá.
Lam quang màu xanh lam.
Hắc quang màu đen.
Tử quang màu tím.
……

Trong vùng ánh sáng có Liên Hoa Đồng Tử đang hát những thiên âm vi diệu. 
Vị thư ký trưởng trông thấy cảnh tượng này sợ đến sững cả người, lại tận tai nghe thấy Phật gọi tên anh:
"Grey!"
Bỗng nhiên ánh sáng chiếu lên khắp người anh. Thế là những suy nghĩ trong tâm trí anh đã thay đổi. Anh đến sân bay, lên máy bay đi tìm tôi.
Khi anh gặp tôi.
Bỗng nhiên hai chân không nghe theo sự điều khiển của anh nữa, một cách rất tự nhiên anh quỳ xuống trước mặt tôi.
Miệng thì tự nói:
"Tôi muốn quy y! Tôi muốn quy y! Tôi muốn quy y!"
Lại hỏi tiếp:
"Tôi có thể quy y không?"
Tôi nói:
"Grey! Anh có thể nhìn thấy Bổn tôn của Lư Sư Tôn, còn thấy tôi và Bổn tôn hợp nhất, như thế là có duyên rồi."
Tôi dùng đàn thành là chính thân mình để quán đảnh quy y cho anh, dạy anh tâm chú và pháp tu cơ bản.


### 17. **Sau pháp hội La Thiên Đại Tiếu**


Có một đệ tử sau khi pháp hội La Thiên Đại Tiếu tại Oakland Chinatown (Ốc Luân) California kết thúc đã hỏi tôi một vài câu hỏi.
Hỏi:
"La Thiên Đại Tiếu có công đức gì?"
Đáp:
"Kim quang của Phật pháp sáng chói, độ hóa vô số chúng sinh."
Hỏi:
"Năm con quỷ đầu mục của Quỷ Bà có đến không?"
Đáp:
"Bốn con quỷ thì đã chấp nhận quy y, còn một con thì đã bị hành hình."
Hỏi:
"Bốn con quỷ là ai? Còn một con quỷ kia là ai?"
Đáp:
"Quỷ Bà nuôi dưỡng năm con quỷ đầu mục. Bốn con quỷ là Kobayashi, Watanabe, Hayashi, Hoàng Kim Tuyền. Còn con quỷ kia là Nakamura."
Hỏi:
"Lư Sư Tôn đã gặp được hết các vị Phật Bồ Tát sao?"
Đáp:
"Chư Phật mười phương bao gồm ba mươi lăm vị Phật, Dược Sư Thất Phật, Vô Lượng Thọ Phật, Thích Ca Mâu Ni Phật, bảy vị Phật quá khứ. Bồ Tát bao gồm tám vị đại Bồ Tát, Lục Độ Mẫu, Bạch Độ Mẫu, Đại Bạch Tản Cái. Chư Thiên bao gồm Diệu Âm Thiên, Cát Tường Thiên, Trường Thọ Thiên, Tứ Vương Thiên. Ngoài ra còn có vô số Kim cang Hộ pháp..."

Hỏi:
"Trong số những gì Lư Sư Tôn đã từng nhìn thấy thì hiếm gặp nhất là gì?"
Đáp:
"Tám mươi tư vị Quỷ Vương."
Hỏi:
"Lư Sư Tôn gặp ở đâu?"
Đáp:
"Có vô số chúng sinh (u linh) đi ra khỏi địa ngục, được lên trời rồi!"
Hỏi:
"Bọn họ đi đâu?"
Đáp:

"Những người thuộc thượng phẩm thì đến Phật quốc tịnh thổ, người thuộc trung phẩm thì đến Phạm Thiên, người thuộc hạ phẩm thì chuyển thế luân hồi làm con người."
Hỏi:
"Lư Sư Tôn ngồi trên pháp tọa đã làm gì?"
Đáp:
"Dùng Tam ma địa đại định Lạc Không hòa hợp, trở thành một trượng phu điều phối trong hình tướng là một bậc Giác Giả."
Hỏi:
"La Thiên Đại Tiếu có pháp lực gì?"
Đáp:
"Lực của kinh Phật.
Lực của chú ngữ.
Lực của chư Phật, Bồ Tát, Kim cang, Hộ pháp, Không hành, chư Thiên.
Lực của Diêm La Pháp Vương, các đại Quỷ Vương, Tiêu Diện Quỷ Vương, Hắc Kỳ Lệnh Chủ.
Lực cúng dường.
Đại lực của Diêu Trì Kim Mẫu."

Hỏi:
"Có được thành công rực rỡ như hôm nay rồi, các thiện đệ tử nên làm thế nào tiếp theo?"
Đáp:
"Tướng tốt đã hiện, quỷ ma đã bị tiêu trừ, các thiện đệ tử nên tập trung vào tâm lực, tận lực tu hành."
Hỏi:
"Bây giờ Quỷ Bà thế nào?"
Đáp:
"Rắn chuột một hố mà thôi!"
[Câu tục ngữ “rắn chuột một hố” ý nói rằng những kẻ lòng dạ xấu xa giống nhau thì sẽ tự tìm đến nhau, tụ tập lại cùng một chỗ với nhau.]

Hỏi:
"Gần đây Lư Sư Tôn tu pháp gì?
Đáp:
"Hợp tu ngủ và chết, hợp tu giấc mơ và trung ấm, hợp tu tỉnh và sống."


### 18. **Trò chuyện với Tsongkhapa**


Buổi tối ngày 6 tháng 9 năm 2018.
Tôi đang ngồi thiền trong thư phòng của mình, nhập trong Thanh tịnh định. 
Đột nhiên có một tăng nhân mặc tăng bào màu vàng đi vào. 
Tướng mạo của ngài rất hoàn hảo, thần thái phấn khởi, trên người tỏa ra ánh sáng nhiều màu sắc, cầm hoa sen màu xanh lơ.
Tôi hỏi:
"Là ai?"
Tăng nhân đáp:
"Sư Tử Hống Như Lai!" (hiện thân tướng Như Lai)
Tôi hỏi:
"Từ đâu đến đây?"
Tăng nhân đáp:
"Đô Sử Thiên, Di Lặc nội viện!" (hóa thân vô số)
Tôi nói:
"Có vẻ như tôi biết ngài là ai, ngài là…"
Tăng nhân đáp:
"Tsongkhapa."
Tôi nói:
"Đúng lúc đang muốn tìm ngài!"
Tăng nhân đáp:
"Tự đến rồi đây!"
Tôi hỏi:
"Xin tự thuật lại lai lịch của ngài ra sao?"
Tsongkhapa nói:
"Tôi vốn là ứng hóa của Văn Thù Bồ Tát, làm những việc mà chư Phật cần làm."
Còn nói:
"Tại Đại Chiêu Tự [chùa Jokhang], Tiểu Chiêu Tự [chùa Ramoche], đã đạt được giác ngộ. Tôi cầm bông hoa sen xanh cũng bởi vì tôi là Thanh Liên Hoa Đồng Tử."
Tôi nói:
"Vậy là chúng ta có cùng một nguồn gốc. Xin tự thuật lại kinh nghiệm tu hành ra sao?"
Tsongkhapa nói:
"Từ năm ba tuổi đến năm mười sáu tuổi, tôi nương dựa duy nhất vào Choje Dondrub Rinchen Rinpoche, tu tập Mật thừa. Tôi đã tu pháp Văn Thù và Diệu Âm. Sau đó tôi học pháp Đại Uy Đức, Thắng Lạc, Hỷ, Kim Cang Thủ, v.v…"
Tsongkhapa nói:
"Atisa tôn giả thường xuyên hiện thân để chỉ dẫn, vì tôn giả biết rằng tương lai tôi sẽ hoằng dương pháp của phái Kadampa."
Tsongkhapa nói:
"Tôi là một tì kheo thanh tịnh, với mong muốn hoằng dương thánh giáo nên đã học Phật pháp sâu rộng."
Tsongkhapa nói:
"Ban đầu tôi học Trung quán và Duy thức, và Nhân minh, tôi nương dựa vào nhiều sư phụ, đọc và suy ngẫm các bộ luận:
Hiện quán trang nghiêm luận.
Câu xá luận.
Trung quán luận.
Nhập trung luận.
Tập lượng luận.
Thích lượng luận.
Giới luận.
Thượng sư Rendawa là vị thầy tôi tôn kính nhất trong cuộc đời mình."

Tsongkhapa nói:
"Tôi học tập Hiển giáo từ Long Thụ, Đề Bà, Vô Trước, Thế Thân, Trần Na, Pháp Xưng. Tôi lại học năm pháp Kim Cang lớn của Mật giáo, từ Đại Uy Đức Kim Cang đến Già Chỉ Thọ Nan. (Đại sư Tsongkhapa đã có những sáng tác như Đẳng Thân, Đề Bà Đạo, Mật Tông Đạo Thứ Đệ Quảng Luận, v.v.)

Tsongkhapa nói:
"Tất cả mọi khó khăn đều nhờ Lama Umapa và Văn Thù Sư Lợi đến nhận xét và chỉ dạy. Lama Umapa cũng là vị thầy chính của tôi."
Tsongkhapa nói:
"Nhờ tu học Hiển-Mật viên mãn, lại phát triển giới học, thành lập phái Gelugpa, gặp Văn Thù, gặp ba mươi lăm vị Phật mà tôi đã đạt được thành tựu cao nhất."
Tôi nói:
"Ngài đánh giá cao điều gì?"
Tsongkhapa đáp:
"Xuất ly tâm, Bồ đề tâm, Trung quán chính kiến." (Cộng thêm cả giới luật.)
Tôi hỏi:
"Điều ngài muốn nói với tôi nhất là gì?"
Tsongkhapa đáp:
"Giữ giới! Tinh tấn!"


### 19. **Cỏ gọi hồn**


Một ngày nọ.
Trong lúc tôi đang ngủ mơ, đột nhiên ở vị trí thóp trên đỉnh hộp sọ của tôi có một sự chấn động nhẹ. 
Thế rồi một nhân vật nhỏ bé bò ra ngoài.
Nhân vật nhỏ này chính là phiên bản thu nhỏ của Lư Sư Tôn, mặc long bào Lama, khuôn mặt chỉ dài cỡ ba thốn giống y hệt mặt của Lư Sư Tôn. 
Tiểu Lư Sư Tôn này phóng ra ánh sáng trắng mãnh liệt.
Sau khi bò ra thì vươn người một cái. 
"Viu" một tiếng, thế là bay vào hư không. 
Chỉ trong một sát-na.
Tiểu Lư Sư Tôn đã trở về Ma Ha Song Liên Trì rồi!
Tôi đến Ma Ha Song Liên Trì, đi hái một loại tiên thảo, tiên thảo này chính là cỏ gọi hồn. 
Các thần Hộ pháp ở đó không ngờ lại chẳng hề nhận ra tôi! (Tôi đã thu mình lại rất nhỏ rồi.)
Hỏi:
"Ngài là ai?"
Đáp:
"Lư Sư Tôn!"
Thần Hộ pháp nói:
"Lư Sư Tôn của chúng tôi hình dáng cao lớn, tướng mạo như Phật, tỏa sáng rực rỡ phi thường, chứ nào có bé tí bằng con ong giống như ngài, lại còn dám lấy trộm cỏ gọi hồn của chủ nhân chúng tôi nữa."
Trong một sát-na tôi liền biến thành to, toàn thân phóng quang, sáng rực rỡ như cầu vồng, hóa thành Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử thực sự. 
Thần Hộ pháp vừa trông thấy thì giật mình sợ hãi quỳ ngay xuống:
"Xin thứ lỗi! Không biết là chủ nhân đến."
Tôi nói:
"Không dám phiền mọi người nhọc công nên tôi cứ âm thầm mà đến đây, bây giờ tôi lấy cỏ gọi hồn xong rồi thì tôi cũng đi về thôi."

🌟

Tôi trở về cõi Ta Bà, nhưng vẫn chưa trở về cái thóp trên đỉnh đầu mình, mà tôi lại đi đến bệnh viện để gặp một đệ tử bị trọng thương do tai nạn xe. Chỉ số hôn mê của anh chỉ có 3 điểm thôi.
[Thang điểm hôn mê Glasgow, thấp nhất là 3 điểm tương đương với tình trạng hôn mê sâu hoặc chết, cao nhất là 15 điểm tương đương với trạng thái tỉnh táo hoàn toàn.]
"Ba hồn bảy vía, bay lạc nơi nao, có vào huyễn mộng, vẫn còn chưa chết, thì trở về đây." 
Tôi đem cỏ gọi hồn cấy vào trong não của anh.
Sau đó tôi lại trở về lỗ trên đỉnh đầu mình, từ thóp trên đỉnh đầu mà chui vào trong.
Nghe nói: 
Người đồng môn bị tai nạn xe này, chỉ số hôn mê từ lúc ở mức 3 điểm, đã dần dần hồi phục lại rồi. 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10…"
Tỉnh rồi!
Đồng môn này tên gọi là Hoành Long. Anh nói:
"Trong lúc ba hồn bất định, bảy vía mong manh, tôi chỉ thấy Lư Sư Tôn cầm một ngọn cỏ gọi hồn cấy vào trong não tôi, não lập tức trở nên bình thường, ba hồn bảy vía đã bị giữ lại."
Anh nói:
"Đợi đến khi hoàn toàn khỏe lại, tôi muốn đi cảm tạ Lư Sư Tôn!"

🌟

Có người hỏi tôi:
"Chân Phật Tông có rất nhiều người bị trúng phong, cũng có rất nhiều người bị tai nạn xe, Lư Sư Tôn vì sao lại chỉ cứu mỗi Hoành Long mà chẳng có cách nào cứu người khác?"
Tôi đáp:
"Hoành Long này có công đức lớn."
Hỏi:
"Lẽ nào các đệ tử khác thì không có công đức sao?"
Đáp:
"Đệ tử này từ lâu đã không còn tâm thù hận, hơn nữa chưa từng làm việc gì ác, luôn theo đuổi việc thiện, mỗi ngày đều tu, trên thân có ánh sáng đỏ, nhân duyên quả báo là chắc chắn được thần trợ giúp. Nguyên thần của tôi xuất ra khỏi lỗ đỉnh đầu, bản thân tôi cũng không biết. Nếu tôi không giúp anh ta, nói không chừng cũng sẽ có thánh thần khác đi bảo hộ cho anh, giúp anh khỏe lại."
Hỏi:
"Lư Sư Tôn đã dùng phương pháp này để cứu bao nhiêu người rồi?"
Đáp:
"Cũng không ít đâu."


### 20. **Quy y Lư Sư Tôn thật tốt**


Miền Đông Đài Loan có một đệ tử là người dân tộc bản địa, chúng tôi gọi anh là Lỗ Lạp, ý nghĩa tên gọi chính là dân tộc thiểu số Lạp A Lỗ.

Có lần anh bị bệnh nặng.
Được đưa tới một bệnh viện lớn ở miền Đông, nằm phòng chăm sóc đặc biệt. Tại phòng bệnh này mỗi ngày đều có người chết, bệnh nhân ở giường bệnh bên trái đã chết rồi, bệnh nhân ở giường bệnh bên phải cũng chết rồi. 
Giường bệnh của Lỗ Lạp bị kẹp ở giữa.
Một buổi tối nọ.
Có hai người đứng trước giường bệnh của anh, một người mặt trắng, một người mặt đen, người mặt trắng thì cao cao, người mặt đen thì thấp thấp, lưỡi đều thè ra rất dài. 
Hai người này chính là:
Bạch Vô Thường. (Thất Gia)
Hắc Vô Thường. (Bát Gia)
Gông cùm xiềng xích trên tay phát ra những tiếng lẻng xẻng. 
Cái móc này móc một cái, thế là lôi Lỗ Lạp xuống âm gian địa phủ, địa phủ giống như trạm tàu cao tốc vậy. 
Tất cả bọn họ phải xếp hàng đợi Diêm La Vương thẩm tra xong mới được phán cho đi luân hồi. 
Cuối cùng cũng đến lượt Lỗ Lạp.
Diêm Vương hỏi:
"Anh có lạy Phật không?"
Lỗ Lạp đáp:
"Có!"
Diêm Vương hỏi:
"Anh có học Phật không?"
Lỗ Lạp đáp:
"Có học!"
Diêm Vương hỏi:
"Anh có quy y không?"
Lỗ Lạp đáp:
"Có quy y!"
Diêm Vương hỏi:
"Quy y ai?"
Lỗ Lạp đáp:
"Quy y Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn!"
Diêm La Vương vô cùng kinh ngạc, mở to mắt ra hỏi:
"Anh có biết trì tâm chú của Lư Sư Tôn không?"
Lỗ Lạp đáp:
"Om guru liansheng siddhi hum."
Vừa niệm xong, địa phủ chấn động mất một lúc.

Diêm La Vương hỏi:
"Sư Tôn của anh là hóa thân của Đại Bồ Tát ở Tây phương A Di Đà Phật, đã chứng Hoa Quang Phật, huệ lực vĩ đại nhất. Chúng tôi gửi anh trở lại dương gian năm năm, trong năm năm này hãy tu hành cho tốt đi!"
Diêm La Vương ra mệnh lệnh cho cai ngục gửi Lỗ Lạp trở lại dương gian.
Lỗ Lạp tỉnh lại.
Bệnh trong người cũng từ từ khỏi. 
Lỗ Lạp đã xuất viện rồi. 
Việc đầu tiên anh làm sau khi xuất viện chính là vừa về đến cửa nhà, anh lập tức vào đàn thành. 
Vừa nhìn thấy pháp tướng của Lư Sư Tôn.
Anh quỳ xuống.
Chắp tay.
Niệm một câu: 
"Quy y Lư Sư Tôn thật tốt! Quy y Lư Sư Tôn thật tốt! Quy y Lư Sư Tôn thật tốt!"

Có người hỏi:
"Chuyện này có đúng thật không?"
Tôi đáp:
"Thật sự có chuyện này."
Lư Sư Tôn nói:
"Tôi mà bịa ra thì đó chính là nói láo. Nói láo là một trong ngũ giới, tôi chẳng dám làm bậy. Nhưng tôi cho rằng minh sư trong thiên hạ rất nhiều, tôi chỉ là một người trong số đó mà thôi. Người nào hứa hẹn nhiều năng lực, tham cứu, học hỏi nhiều là có thể làm được như tôi thôi!"


### 21. **Lư Sư Tôn biết xoa bóp trị liệu?**


Có một người là "đệ nhị đại phú hào", một quý công tử nho nhã [đệ nhị đại phú hào tức là con trai của đại gia giàu có, sinh ra đã là công tử nhà giàu], luôn được sống một cuộc sống giàu sang cao quý. 
Cha của anh là một doanh nhân lớn, có doanh nghiệp tầm cỡ thế giới. Cha anh đã giao một phần doanh nghiệp cho người con trai thông minh lanh lợi này. 
Ngoài ra còn lên kế hoạch bồi dưỡng kiến thức kinh doanh cho anh, anh rất nhanh chóng có thể học thông thạo. 
Anh lấy vợ, người vợ cũng là một cô gái xinh đẹp dễ thương, con nhà có quyền thế, có giáo dục.
Ngày kết hôn:
Có mười hai chiếc xe Ferrari xa hoa đi theo tháp tùng.
Có mười hai phù dâu ăn mặc trang điểm lộng lẫy.
Ban nhạc sống.
Khách quý nhiều như mây. (Hai giới chính trị và thương nhân, và cả những nhân vật của giới giải trí.)
Hôn lễ được cử hành trong cung điện.
Mỗi người đến tham dự đều đeo trên người rất nhiều trang sức vàng bạc châu báu. Cảnh tượng rực rỡ lấp lánh ở đây khiến con mắt và tinh thần người ta liên tục bị choáng ngợp. 
Bữa tiệc cưới cung đình này khiến người ta khó mà quên được.

🌟

Cũng chẳng biết vì sao.
Cậu chàng quý công tử này bỗng nhiên tìm đến tôi để hỏi việc. Anh nói:
"Tôi muốn xây dựng một khách sạn sáu tầng đa chức năng, phải làm sao?"
Khách sạn đa chức năng của anh bao gồm:
Phòng tập gym.
Nhà hàng ăn cao cấp.
Hồ bơi.
Khu mua sắm tổng hợp.
Sân golf.
Phòng tắm xông hơi.
v.v…

Tôi bèn nói:
"Theo ý tôi thì anh nên xây đạo tràng Phật giáo trước, sau đó mới xây khách sạn lớn, vậy được không?
Anh cười:
"Xây đạo tràng Phật giáo đối với tôi rất dễ, nhưng vợ tôi lại là tín đồ tôn giáo khác, cô ấy tuyệt đối không đồng ý đâu. Ngay cả việc theo tôi đến đây cô ấy cũng không chịu đi."
Tôi nói:
"Nếu anh nghe lời tôi, tôi bảo đảm đạo tràng Phật pháp của anh có thể thuận lợi hoằng pháp độ chúng sinh, khách sạn lớn của anh cũng có thể phát triển hưng thịnh không ngừng, anh thấy sao?" (Người đứng tên đạo tràng này cũng chính là quý công tử nhà anh.)
"Khó mà qua được cửa của vợ tôi!"
Tôi nói:
"Tôi nghĩ rằng không có vấn đề gì, anh thử xem sao!"
Kết quả là anh trở về nhà nói với vợ, quả nhiên vợ phản đối, hơn nữa thái độ vô cùng kịch liệt. Vợ anh cho rằng đó là mê tín, ma quỷ.

Một hôm.
Vợ anh bị sái lưng rất nghiêm trọng, nửa người dưới hoàn toàn không cử động được, Đông Tây y cũng đều không chữa khỏi được. 
Vợ anh tận mắt nhìn thấy Lư Sư Tôn từ cửa phòng đi vào, cửa thì vẫn đóng, toàn thân Sư Tôn tỏa sáng (đi xuyên qua tường). 
Lư Sư Tôn tự tay xoa bóp trị liệu cho phu nhân này. 
Cứ như vậy liên tiếp ba đêm.
Người vợ nhìn thấy rất thật, thực sự là Lư Sư Tôn. Sau ba lần được xoa bóp trị liệu thì cô hoàn toàn khỏi bệnh. 
Người vợ nói với chồng mình:
"Lư Sư Tôn đích thân đến xoa bóp cho em, em trông thấy rõ mồn một. Nếu bây giờ anh xây dựng đạo tràng Phật pháp, em sẽ không phản đối nữa!"
Cậu chàng công tử này hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Ngài biết xoa bóp trị liệu sao?"
Tôi đáp:
"Chưa từng học qua!"


### 22. **Khóc đêm**


Một đôi vợ chồng vội vã đến tìm tôi. Tôi hỏi:
"Có chuyện gì? Sao mà bối rối như vậy?"
Họ đáp:
"Bé con khóc đêm!"
Tôi cười:
"Đây là chuyện nhỏ thôi mà!"
Họ nói:
"Khóc đêm là chuyện lớn, không phải chuyện nhỏ, thằng bé khóc tới mức cả nhà không ai ngủ được, đêm nào cũng khóc khiến chúng tôi mệt muốn chết, liên tiếp ba tháng nay rồi!"
Tôi nói:
"Làm Thu kinh đi!"
[Thu kinh là một nghi thức của Đạo giáo, sau này Nho Giáo, Trai giáo, Phật giáo cũng có nghi thức gần tương tự, phổ biến ở các khu vực như Đài Loan, Hà Nam, Phúc Kiến, Giang Tây, Quảng Đông, Hồng Kông, đặc biệt là Đài Loan. Cũng lưu truyền cả kinh Thu kinh, chú Thu kinh.]
Họ nói:
"Đã làm rồi! Không có hiệu quả!"
Tôi nói:
"Làm pháp dùng gạo và quần áo để loại trừ âm linh đi!"
Họ nói:
"Không có hiệu quả! Hơn thế nữa, chúng tôi đã mời kê đồng làm pháp, thỉnh thần của chùa miếu trấn sát, tụng kinh, đốt vàng mã, đều chẳng có hiệu quả gì!"
Tôi nói:
"Khám bác sĩ đi!"
Họ nói:
"Khám rồi! Tất cả đều bình thường. Ban ngày bé hoàn toàn bình thường, cứ đến buổi đêm thì khóc không ngừng, khóc không còn ra tiếng nữa mới dừng, dừng không lâu sau lại khóc! Chúng tôi dùng hết tất cả mọi cách rồi đều không làm bé ngừng khóc được."

Lúc này.
Tôi mới nhận lời buổi đêm sẽ đến xem đứa bé này rốt cuộc là gặp chuyện gì. 
Tôi trông thấy…
Hễ đêm đến là có linh hồn của một con khỉ chạy đến tìm đứa bé sơ sinh này. 
Con khỉ vừa đấm, vừa cắn, vừa hét, vừa đánh, vừa nhảy trên người đứa bé. 
Đứa bé không chịu được sự quấy nhiễu của con khỉ, do vậy đêm đến mới khóc không ngừng. Hồn khỉ đêm lại tới, ngày lại đi.
Tốt! Đã tìm ra nguyên nhân rồi!
Tôi dùng pháp thế tục, bảo đôi vợ chồng này mua chuối về (một nải chuối), mỗi đêm cúng trước giường của đứa bé. 
Ấy!
Quả nhiên có hiệu quả! Đứa bé không khóc nữa rồi!
(Linh hồn con khỉ vừa trông thấy chuối liền chạy qua ăn chuối, ăn no rồi thì cũng lăn ra ngủ mất.)

Thế là, 
Đêm nào đôi vợ chồng cũng cúng một nải chuối, đứa bé suốt từ tối đến sáng hôm sau không khóc nữa, việc này kéo dài hai tháng.
Đôi vợ chồng lại đến tìm tôi:
"Lư Sư Tôn cao minh, đứa bé từ đó không khóc nữa rồi! Nhưng nhà tôi nhiều chuối quá, nhà tôi tự ăn không hết, phải đem cho nhà hàng xóm và bạn bè ăn, đây cũng là chuyện khá phiền phức, vậy phải làm sao đây?"
Tôi cười:
"Thế này đi! Lư Sư Tôn tôi vẽ cho một lá phù, hai người đem về dán trên giường của đứa bé đi."
Nội dung của lá phù này là:
*Linh hồn khỉ ăn chuối
Đừng phá em bé ngủ.
*Tôi còn vẽ cả một nải chuối.
Khi dán phù thì niệm chú: "Hồn bé khỉ, hồn bé khỉ, ta cúng chuối, bé ngủ ngon. Cấp cấp như Liên Sinh Hoạt Phật lệnh. Nhiếp."
Và thế là:
Bình an cát tường.
Em bé ngủ ngon.


### 23. **Bát công đức thủy**


Kinh Vô Lượng Thọ viết:
"Trong ngoài trái phải, mọi hồ nước tắm, rộng hoặc mười do tuần, hoặc hai mươi ba mươi thậm chí trăm nghìn do tuần, ngang dọc nông sâu đều giống như nhau, tất cả đều tràn đầy bát công đức thủy."
Bát công đức thủy này ở Tây phương Cực Lạc thế giới.
Nước của Ma Ha Song Liên Trì cũng chính là bát công đức thủy.
Người thân của Lư Sư Tôn bị bệnh.
Rất đau đớn.
Bác sĩ cũng bó tay. 
Chỉ là trong vùng bụng bị thủng bốn lỗ, dùng đèn soi trong để quan sát, bác sĩ nói:
"Muốn phẫu thuật cũng rất khó khăn!"
Thế nên chỉ uống thuốc giảm đau, nhưng ngay cả thuốc giảm đau cũng không dừng được cơn đau này.
Thời gian này tôi đang ở Đài Loan hoằng pháp. 
Người thân ở Mỹ bị bệnh.
Một đêm nọ, nguyên thần của tôi xuất ra khỏi đỉnh đầu, bay về Mỹ, đem nguyên thần của người thân cùng bay đi. 
Hai nguyên thần cùng bay về Ma Ha Song Liên Trì.
Song Liên Trì vẫn luôn là:
Vô cùng lấp lánh.
Vô cùng dịu êm.
Vô cùng an tường.
Vô cùng thanh tịnh.
Vô cùng hòa lạc.*
*Hoa trời trôi bồng bềnh trong không trung, hương thơm khiến người ta sảng khoái tâm hồn, mưa ánh sáng cầu vồng bảy sắc đẹp tuyệt vời, sắc màu biến hóa, lầu gác dát vàng dát bạc, tất cả các đình, đài, lầu đều biến hóa lấp lánh, còn có cả bát công đức thủy kiểu cầu vồng.

Tôi đem người thân đến tắm trong bát công đức thủy.
Gột sạch thế tục.
Gột sạch bụi trần.
Gột sạch phiền não.
Gột sạch bệnh khổ.
Gột sạch vết thương.
Gột sạch oan khí.
Gột sạch sinh tử.
Gột sạch nghiệp chướng.
Tôi (Lư Sư Tôn) trong một sát-na biến hóa thành:
Ánh sáng công đức.
Tướng đẹp oai thần.
Trang nghiêm lẫy lừng.

Sau khi cho người thân được tắm trong bát công đức thủy xong.
Tôi lại tiễn nguyên thần của người thân trở về nhân gian.
Lúc này, người thân của tôi nói qua điện thoại với tôi rằng:
"Ôi! Ngài đã đưa tôi đi đến một nơi này, một nơi đẹp tới mức không thể nào hình dung nổi, tắm ở trong hồ nước. Sau khi tôi trở về, thân tâm trở nên nhẹ nhõm an bình, bệnh hoàn toàn hết hẳn, từ đó không thấy đau nữa, xin cảm tạ!"
Bát công đức thủy đã rửa sạch cơn đau bệnh rồi. 
Bây giờ tất cả đều an lành tốt đẹp rồi!

Tôi viết một bài thơ:

*Thần hành khác chi gió
Cứ thế
Thong dong thong dong*

*Quê hương thần tiên của tôi chẳng ở phía Đông
Là ở Tây phương đó
Nắm tay cùng xuống nước*

*Chỉ chốc lát
Hoan hỷ và khoái lạc vô cùng.
Tất cả mệt nhọc và đau bệnh
Được gột rửa sạch sẽ tinh tươm.*


### 24. **Nhà tôi có ba con ma**


Tôi (Lư Sư Tôn) chẳng phải là người nuôi ma quỷ. Nhưng vẫn cứ có ba con ma sống ở trong nhà tôi. Nhà tôi chính là Nam Sơn Nhã Xá ở Redmond nước Mỹ.

Con ma thứ nhất tên là Từ Thụy Quang.
Là người Cát Lâm.
Vóc dáng yểu điệu.
Xinh đẹp. 
Bởi vì cô đã đi tới chỗ của Quỷ Bà XX ở San Francisco, bị nhiễm âm nên ngày nào cũng nhìn thấy ma quỷ. 
Có một lần, cô đột nhiên nói thẳng với tôi:
"Lư Sư Tôn! Ngài có thể cho tôi ở nhờ ba năm không?"
Tôi thấy cô đáng thương, đáp:
"Được!"

Sau đó, tôi đi Đài Loan hoằng pháp. 
Từ Thụy Quang lái chiếc xe Mercedes Benz màu đỏ, trên một con đường quê nhỏ, vào lúc phía trước và sau đều không có xe nào khác, đã tự mình đâm vào ống bê tông bên đường. 
Xe nát, người chết. 
Tôi liền cho linh hồn cô ở nhờ.

Con ma thứ hai tên là Bạch Thiến Thiến.
Là người Thẩm Dương.
Cũng là một tuyệt sắc giai nhân.
Rất thông minh, rất có trí huệ. 
Có một lần, vào một đêm sấm chớp bão bùng, tôi ở trong thư phòng khom người bên bàn viết sách. 
Bỗng nhiên tôi cảm thấy dưới gầm bàn có vật gì đó. Tôi nhìn xuống thì giật thót mình, hóa ra là một tiểu mỹ nhân xinh đẹp tuyệt vời (tất nhiên cũng là hồn ma thôi).
Tôi hỏi:
"Đến đây làm gì?"
Cô đáp:
"Trốn sấm sét! Cầu xin tiên sinh bảo vệ tôi!"
Tôi nói:
"Cứu cô thế nào?"
Cô đáp:
"Tiên sinh là đạo sĩ cao minh, trên đỉnh đầu có tam quang, chỉ cần để cho tôi bám chặt lấy chân ngài thì sấm sét không dám đánh tôi nữa."
Thế là tôi cứ kệ như thế mà viết sách như thường. 
Sau đó thì sấm sét cũng tự tan đi.

Thế rồi Bạch Thiến Thiến kể cho tôi nghe:
"Tôi rất hối hận! Tôi qua đời năm 20 tuổi, được chôn tại nơi có phong thủy rất tốt, có được khí tốt nhờ phong thủy nên không ngờ lại hóa thành một cô gái trẻ xinh đẹp, đêm đến là tôi đi hút tinh khí của đàn ông, mỗi đêm tìm đến một người, nên tôi đã trở thành một con ma rất mạnh."
Cô còn nói:
"Về sau nghiệp tội sâu nặng, thần sấm mẹ sét truy đuổi, may mắn được tiên sinh cứu giúp, xin nhận tôi ở lại, tôi nguyện gột rửa tâm hồn, lưu lại trong nhà tiên sinh tu hành cho tốt."
Do vậy, tôi đã cho cô ở lại.

Con ma thứ ba tên là Khâu Phù Dung.
Là người Giang Tô.
Xinh đẹp như thiên nữ hoa trời. 
Khi tôi đi xem chợ hoa, cô liền theo tôi về. 
Cô biết biến hóa, biến to thu nhỏ, trốn trong túi áo tôi mà vào được trong nhà. 
Khi cô xuất hiện thì xinh đẹp như thiên nữ, tóc buông dài, miệng ngậm bông hoa khẽ cười, môi đỏ như trái anh đào mấp máy như định nói điều gì đó. 
Ánh mắt cô lúng liếng vô cùng mê hoặc người khác, có thể khiến người ta lập tức sững sờ, hồn bay phách lạc.
Tôi hỏi:
"Vì sao đến đây?"
Cô đáp:
"Muốn quy y! Học Phật pháp."
Tôi hỏi:
"Sao cô lại biết biến hóa?"
Cô đáp:
"Khi còn sống tôi học Mật giáo, bây giờ gặp được minh sư, xin cho tôi ở lại!"
Ma cũng biết tu, thật sự hiếm có, thế là tôi đồng ý cho cô ở lại.


### 25. **Trò chơi của ma**


Tôi (Lư Sư Tôn) vốn có cảm tình tốt với ma, ví dụ như ba con ma sống ở trong nhà tôi đó. 
Ma vốn dĩ chính là dư khí của người sau khi chết mà thôi. 
Tôi và ba con ma trong nhà tôi cùng sống rất vui vẻ hòa thuận, họ cũng kết nghĩa chị em.

Thỉnh thoảng.
Chúng tôi cùng chơi trò: trốn tìm. 
Còn nữa:
Thỉnh thoảng, tôi ngủ dậy muộn một chút, bọn họ sẽ lấy bàn chải đánh răng của tôi, quẹt kem đánh răng lên, rồi còn đổ đầy nước vào cốc đánh răng của tôi, để cho tôi tiện đánh răng.
Khi tôi để đồ đạc lung tung, bọn họ sẽ giúp tôi sắp xếp lại rất gọn gàng ngăn nắp.
Khi tôi buồn phiền chuyện người, bọn họ sẽ bất ngờ lẻn vào, mặc những bộ y phục đẹp đẽ nhất, sau đó nhảy múa rất duyên dáng, khiến cho lòng tôi cảm thấy ấm áp vui vẻ, trong một sát-na, tất cả mọi phiền não đều tan biến hết.

Tôi về nhà.
Bọn họ sẽ nhón gót chân sen, cười rúc ra rúc rích, đồng thời dâng hoa để cúng tôi.
Thế rồi ba con ma nói chuyện.
Con ma thứ nhất đề nghị:
"Ba người chúng ta đều gả cho Lư Sư Tôn nhé!"
Con ma thứ hai nói:
"Em có bị ngốc không đó?"
Con ma thứ nhất nói:
"Lư Sư Tôn là người, chúng ta là ma, người sống mà nhiễm ma khí thì sẽ ảnh hưởng đến tu hành đó!"
Con ma thứ nhất nói:
"Tình yêu mà em có không phải là thứ tình yêu gắn kết, không phải là tình yêu vợ chồng, không phải là tình yêu đêm đêm chung chăn gối."
"Thế là tình yêu gì?"
"Trái tim em dành cho Lư Sư Tôn."
"Chúng ta đều như thế cả."

Thức ăn thức uống của ba con ma nữ này là:
Thức ăn mà tôi ban cho.
Cam lộ mà tôi ban cho.
Còn quần áo của ba con ma nữ:
Đều là quần áo mà họ tự có, tất cả áo quần trang sức đều tuyệt đẹp.
Tôi hỏi:
"Quần áo từ đâu mà có?"
Đáp:
"Từ khi còn sống đem theo, cũng có một số là tự hấp thụ mà có!"

Ba con ma sống ở đâu trong nhà tôi? 
Chính là trong tủ lạnh. Tôi hỏi:
"Tủ lạnh lạnh thế cơ mà?"
Ba con ma đáp:
"Chính thế lại thích hợp."
Phần lớn ba con ma đều di chuyển quanh quẩn trong nhà tôi.
Nếu muốn ra ngoài, họ sẽ trốn trong túi áo tôi mà đi ngắm cảnh.
Khi tôi tu hành, ba con ma cũng ngồi thiền cùng tôi. Tôi niệm Phật, ba con ma cũng cùng tôi niệm Phật. 
(Họ lương thiện, dịu dàng, ý tứ, hoàn toàn khác những con ma mà Quỷ Bà XX nuôi dưỡng. Bởi vì Quỷ Bà có tâm tà ác, cho nên những con ma quỷ mà Quỷ Bà XX nuôi cũng có tâm tà ác.)

Từ Thụy Quang, Bạch Thiến Thiến, Khâu Phù Dung là ba con ma trong ngôi nhà xoàng xĩnh của tôi. Vì sao tôi muốn viết chuyện này ra, bởi vì sau khi họ thành tựu thì họ cũng là tiên ma đó.


### 26. **Vợ chồng mười ba năm không có con**


Đôi vợ chồng nọ kết hôn đã mười ba năm rồi, nhưng người vợ bị vô sinh bẩm sinh, không thể sinh con được. 
Mẹ chồng nói:
"Nếu không thể sinh con thì lấy vợ bé đi."
Đôi vợ chồng này là đệ tử Chân Phật Tông, luôn đi tình nguyện tại các chùa và Phật đường.
Người chồng thật thà chất phác. 
Người vợ thì hiền thảo tự trọng. 
Hai người làm công việc tình nguyện rất chân thành. 
Hai người họ niệm kinh trì chú, chẳng lười biếng một ngày nào, tu pháp cũng thế, nhưng mãi cũng chưa có con cái gì.
Trên thực tế họ cũng đi khám bác sĩ.
Đông Tây y đều vô hiệu. 
Mọi phương pháp họ đều đã thử qua rồi.
Thậm chí có bác sĩ nói:
"Hai người sẽ không có con được, nếu có thì chắc chắn là kì tích trời ban!"
Họ chỉ còn biết khóc.
Và cầu nguyện trước Liên Hoa Đồng Tử tại đàn thành.

🌟

Một ngày nọ.
Tôi xuất nguyên thần đi chơi. Tôi đi tới Nam Hải Phổ Đà Lạc Già Sơn để gặp mẹ tôi. Mẹ tôi là Tống Tử Quan Âm. [vị Quan Âm ban tặng con cái]
Mẹ tôi nói:
"Lâu lắm không gặp con rồi!"
Tôi nói:
"Chẳng phải con đến rồi sao?"
Mẹ tôi nói:
"Con nên đi đến một nơi này mới đúng!"
Tôi hỏi:
"Có chuyện gì vậy mẹ?"
Mẹ tôi nói:
"Mẹ đã kiểm tra rất nhiều người rồi, có hai vợ chồng kia kết hôn mười ba năm mà vẫn chưa có con, là đệ tử của con. Hai vợ chồng kiền thành, đã tu pháp mười ba năm, hơn nữa lại làm nghĩa công phục vụ chúng sinh, chẳng nề hà việc gì. Vợ chồng này không sinh được con, mẹ của họ bắt phải lấy vợ lẽ."
Tôi hỏi:
"Con nên làm gì đây?”
Mẹ tôi nói:
"Mẹ có một cái túi da, bên trong có ba đứa bé, hai nam một nữ, đều là những đứa trẻ xinh xắn tài giỏi, con đem chúng đến cho họ đi."
Tôi hỏi:
"Phải làm thế nào?"
Mẹ tôi nói:
"Đến nhà họ mở túi da này ra là được."
"Thế túi da đâu?"
Mẹ tôi nói:
"Là một món đồ của mẹ, con cứ đi đi là tự động sẽ trở về trong lòng bàn tay con."

🌟

Sau đó không lâu.
Đôi vợ chồng nọ quả nhiên có thai. 
Lại còn là tam thai.  
Tín chúng của các hội đồng tu, Phật đường và các chùa đều cảm thấy cực kì sốc. 
Người không tin cũng phải tin. 
Ngay cả bác sĩ nọ cũng phải tin.
(Việc các đôi vợ chồng rất lâu chưa có thai, sau khi quy y Chân Phật Tông thì lại có thai cực kì nhiều. Hơn nữa những đứa trẻ sinh ra đứa nào cũng xinh xắn thông minh, bé gái cũng đều xinh xắn ưu tú. Thế nên tôi cũng bị gọi bằng "nickname" là Tống Tử Liên Hoa Đồng Tử.)


### 27. **Thăng chức làm thiên quan**


Mỗi tối trước khi ngủ, trước tiên tôi ngồi thiền nhập Tam ma địa, tôi cũng không tính giờ, có lúc thì năm phút, có lúc mười phút, có lúc nửa tiếng.
Có lần tôi ngồi thiền.
Bỗng ngửi thấy một mùi hương. 
Mùi hương này cũng chính là mùi hương đưa tin (tin nhắn).
Nội dung là:
"Tôi sẽ được thăng chức làm thiên quan, xin ngài đến gặp tôi một chút."
Thế là tôi đi gặp người này.
Người này nói với tôi:
"Ngọc Hoàng Đại Đế thấy tôi từ bi, liền thăng chức cho tôi làm Tứ Phẩm Thiên Cung. Hôm nay tôi sẽ lên đường đi xa, nên đặc biệt thỉnh ngài đến đây để chào tạm biệt thôi!"
Tôi trông thấy:
Có bốn thiên nữ lái một cỗ xe mây, xe mây tỏa ra ánh sáng. Người này lên xe mây rồi bay vút lên trời!

🌟

Câu chuyện tôi muốn kể với mọi người là thế này.
Người này có tên họ là Phương Chính. 
Phương Chính có lần đang bơi ở hồ nước bên dưới thác nước đã gặp phải dòng chảy ngầm.
Bị ma chết đuối nhấn chìm mà chết, lúc chết mới có 35 tuổi. Anh ta là bị bắt để thế thân. 
Do vậy Phương Chính cũng phải bắt ai đó để thế thân thì mới có thể chuyển thế luân hồi được. 
Nhưng Phương Chính không muốn làm như vậy.
Mỗi khi gặp ai đó đi bơi sắp bị chết đuối, Phương Chính đều trợ giúp họ, đẩy họ đến chỗ nước cạn. 
Trong suốt mười năm, thật không ngờ là không có ai bị chết đuối cả. 
(Trước đó, hồ nước dưới thác nước này hàng năm đều có người chết đuối, giống như là bị lời nguyền vậy.)

Khi tôi đi tham quan thác nước này thì đã quen biết Phương Chính. 
Trong lúc tôi đang té nước bên dưới thác nước.
Trông thấy một khuôn mặt. Mặt vuông tai lớn, đôi mắt sáng như chuông đồng. 
Anh nói:
"Từ lâu đã ngưỡng mộ đại danh của tiên sinh nên đặc biệt tới đây gặp mặt!"
Tôi hỏi:
"Anh là…?"
Anh đáp:
"Phương Chính. Tôi là ma chết đuối ở đây."
Tôi hỏi:
"Tìm tôi có việc gì?"
Anh đáp:
"Ma chết đuối thì tu hành thế nào?"
Tôi nói:
"Phát bồ đề tâm."
Anh hỏi:
"Phát bồ đề tâm thế nào?"
Tôi nói:
"Hãy thử nghĩ về pháp "hoán đổi giữa mình và người khác" xem. Ví như anh bị bắt để thế thân, trong lòng có oán hận, bây giờ phải chịu khổ trong hồ nước này. Người khác bị bắt để thế thân, anh được sống còn người ta chết, cứ tuần hoàn như vậy, tất cả đều khổ cả. Nếu anh là người ta, người ta cũng sẽ oán hận, oan oan tương báo đến khi nào dứt đây?"
Phương Chính nói:
"Tôi đã hiểu rồi! Tôi nguyện sẽ chịu khổ để cứu người khác!"
Tôi gia trì cho Phương Chính, nhận anh làm đệ tử.

Thế là suốt mười năm, Phương Chính chỉ biết cứu người, luôn luôn giúp người sắp chết đuối.
Đẩy họ đến chỗ nước cạn.
Cởi bỏ rong rêu quấn vào chân họ.
Đẩy họ trồi lên mặt nước.
Những việc làm thiện lành của Phương Chính, Ngọc Hoàng Thượng Đế đều biết cả! Bây giờ Phương Chính đã được thăng chức làm Tứ Phẩm Thiên Quan rồi.
Lành thay!
Ông trời đúng là có mắt.


### 28. **Kim Cang Thần Tướng**


Sống gần khu vực Seattle Lôi Tạng Tự có một sư tỉ Đới Lâm, cô có một người con gái tên là Bình Nhi. 
Bình Nhi năm đó hai tuổi.
Lần đầu tiên Bình Nhi đến Lôi Tạng Tự.
Nhìn thấy Lư Sư Tôn, liền bảo mẹ:
"Đừng đến gần Lư Sư Tôn, xung quanh ông có ánh sáng màu xanh lam."
Đới Lâm hỏi:
"Ánh sáng xanh thế nào?"
Bình Nhi nói:
"Giống như sợi dây, sợi dây màu xanh (sợi dây kim cương), đến gần quá sẽ không tốt, không tốt.”
Bình Nhi hai tuổi khi đó có thể nhìn thấy những thứ vô hình ở xung quanh bé, em bé này cũng có lai lịch.
Từ nhỏ bé đã có thể niệm một câu chú:
"Sa-ơ-wa pân-ta."
Tôi nói với Đới Lâm:
"Câu chú này là câu chú triệu thỉnh, ý nghĩa là bí mật tập hợp, là câu chú bí mật giữa Bình Nhi và tôi."

Khoảng thời gian đó, có bốn vị thần tướng bỏa hộ tôi, đó chính là: 
Thanh Long.
Bạch Hổ.
Chu Tước.
Câu Trần.

🌟

Ở Singapore cũng có một bé gái hai tuổi tên là Đặng Nghi. 
Lần đầu tiên đến Seattle Lôi Tạng Tự.
Mẹ của Đặng Nghi muốn con đến nắm tay Lư Sư Tôn. 
Bé sợ hãi nói:
"Xung quanh Lư Sư Tôn có bốn thần tướng, con không thể đến gần."
Bé Đặng Nghi hai tuổi cũng có thiên nhãn.
Đặng Nghi dám nắm tay Sư Mẫu Liên Hương Thượng sư, nhưng không dám nắm tay Lư Sư Tôn. 
Hơn nữa, chị của Đặng Nghi là Đặng Hựu lại dám nắm tay Lư Sư Tôn. Đặng Hựu 5 tuổi.
Những gì Đặng Nghi nhìn thấy cũng đúng. 
Xung quanh tôi có bốn vị thần tướng: 
Đại Lực Kim Cang.
Bất Động Kim Cang.
Đại Uy Đức Kim Cang.
Thời Luân Kim Cang.
Cô bé Đặng Nghi hai tuổi này không ngờ lại nhìn thấy bốn vị thần Kim cang bảo hộ của tôi, thật là không đơn giản.

🌟

Lại có một bé gái khác tên là Nhân Nhân, mẹ của bé là Lạc Lạc, sống tại Seattle. Cô bé Nhân Nhân này ngày nào cũng kêu:
"Con muốn gặp Lư Sư Tôn! Lư Sư Tôn!"
Thế nhưng,
Khi thực sự đến Seattle Lôi Tạng Tự, trông thấy tôi rồi>
Thì bé lại không dám nhìn tôi.
Nhìn trộm một cái.
Lập tức trốn trong lòng mẹ.
Nhân Nhân nói:
"Lư Sư Tôn đã biến thành khổng lồ rồi!"
Nhân Nhân nói cũng chẳng sai, khi đó tôi đang tu pháp Tăng Trưởng Thiên Vương, thân thể lớn lên đến mức sắp chạm đến trời rồi. 
Nhân Nhân có thể nhìn thấy, cũng chẳng hề đơn giản.
Việc tu pháp của tôi.
Người có thiên nhãn đều có thể nhìn thấy.
Tôi là một đạo sĩ yoga tu hành làm đến nơi đến chốn, tôi cũng không biết nói khoác.


### 29. **Ma ăn không khí**


Theo tôi được biết.
Cái mà chúng ta gọi là ma là dư khí sau khi người ta chết đi. 
Thế thì ma ăn cái gì? Đáp án là: không khí.
Ngày trước, 
Mẹ tôi nói với tôi:
"Tết Trung Nguyên [rằm tháng bảy Âm lịch], những thực phẩm đã cúng rồi rất dễ bị hỏng!"
Sau này tôi biết là vì có hai nguyên nhân:
1. Đồ ăn cúng cho ma xong thì dễ hỏng.
2. Tết Trung Nguyên là mùa hè, là tháng nóng nhất, các thứ cũng dễ bị hỏng hơn.

🌟

Một ngày nọ, có một đệ tử đến kể cho tôi nghe rằng:
Mấy năm gần đây, nhà anh không may mắn.
Đại gia tộc sống tại hai gian nhà cổ lớn, chú bác tổng cộng bảy người, mỗi người lại lấy vợ và sinh con cái. Tổng cộng nhân khẩu có tới 32 người.
Từ khi mẹ anh qua đời.
Khoảng ba năm sau.
Năm nào trong nhà cũng có người chết bất ngờ, có lúc một năm tới hai người chết. 
Nguyên nhân chết là:
Ốm chết.
Bị bệnh lao chết.
Đột tử.
Có mấy người chết không rõ nguyên nhân, gặp bạo bệnh chết yểu, khiến cho cả đại gia tộc cửa nhà lạnh lẽo.
Những người chuyển ra khỏi nhà thì đều không gặp chuyện gì cả!
Chỉ có những người ở tại gian nhà cổ này mới gặp phải chuyện xấu!
Điều quái lạ là những người già đều không chết, mà chỉ những người trẻ tuổi mới chết.
Tôi tính toán một lúc (bấm ngón tay tính toán), có được đáp án là, trong nhà có ma quỷ hút sinh khí.

Hỏi:
"Đó là ai?"
Đáp:
"Đó là bà nội."
Hỏi:
"Bà nội vì sao lại như vậy?"
Đáp:
"Bà nội hóa thành quỷ hút sinh khí, trong mắt chỉ biết có người nhà."
Hỏi:
"Phải làm sao để tránh?"
Đáp:
"Đất chôn bà là đất âm thi, thi thể không phân hủy, phải mở quan tài ra để kiểm tra, dùng đất thối bùn bẩn rắc vào trong, tự nhiên sẽ hóa giải được."

🌟

Sự việc này tôi đã nhờ Thượng sư Liên Trí đi lo liệu. 
Khi mở quan tài ra.
Quả nhiên thi thể không phân hủy, xác chết hoàn toàn không biến đổi gì cả. 
Người chết mặt hồng hào.
Tóc mọc dài.
Móng tay móng chân cũng mọc dài.
Giống như một người sống nằm bên trong áo quan vậy.

Thượng sư Liên Trí và đồng môn khẩn trương dùng bùn đất thối rắc khắp thi thể người chết.
Sau đó đóng nắp áo quan lại. 
Sau khi làm việc này xong, con quỷ hút sinh khí này cũng chẳng còn chút tác dụng nào nữa. 
Hai gian nhà cổ từ đó được an lành vô sự.

🌟

Cá nhân tôi từng gặp một bà lão 87 tuổi đến tìm tôi, bà lão này thoắt ẩn thoắt hiện, mơ hồ như sương khói. 
Tôi thổi một hơi khí.
Bà liền tan ra, không thể thành hình. 
Tôi nói:
"Đi chuyển thế đi thôi!"


### 30. **Chim hỷ thước đến hát ca**


Một lần nọ, tôi từ nhà ăn trở về Chân Phật Mật Uyển thì trông thấy hai con chim hỷ thước đậu trên mái nhà của Chân Phật Mật Uyển mà hót ca. 
Vừa hót.
Vừa nhảy.
Vô cùng vui vẻ.
Tôi lại nhìn thấy trên không trung có hai đám mây, một đám mây hóa hiện thành thần rồng, một đám mây hóa hiện thành phượng hoàng.
Tôi thấy vậy bèn nói:
"Như thế này thì Lư Sư Tôn sắp kết hôn rồi!"
Tôi nói:
"Vừa có chim hỷ thước, vừa có rồng phượng, chẳng phải là dấu hiệu của việc kết hôn thì là gì?"

Trên thực tế:
1. Tôi và Thượng sư Liên Hương là vợ chồng, bây giờ bà ấy có thân phận là thị giả của tôi.
2. Năm 43 tuổi, tôi đã xuất gia làm tăng, được pháp sư Quả Hiền xuống tóc.
(Tôi có giấy chứng nhận làm tăng nhân do Hội Phật Giáo cấp.)
Nhưng, ngày hôm đó thực sự rất đặc biệt. Chim hỷ thước hát ca, trên trời hiện rồng phượng, đây chính là điềm báo trước.

Buổi tối hôm đó.
Có một nữ đệ tử từ phương Bắc đến.
Vóc dáng vẻ ngoài thon thả.
*Hà phấn lộ thùy
Hạnh hoa yên nhuận
Yên nhiên hàm tiếu
*[Ba câu thơ miêu tả vẻ đẹp tuyệt sắc của Hồ Tứ Thư trong truyện Liêu Trai Chí Dị, có nghĩa rằng người con gái với vẻ đẹp e lệ thẹn thùng, e ấp giống như đóa sen hồng chớm nở còn rụt rè cúi mình như giọt sương uốn cong nhánh cỏ, giống như đóa hoa mơ nở hé nhưng sức sống tràn đầy tươi tắn, với nụ cười e ấp rất duyên dáng.]
Cô gái kéo theo hai cái vali hành lý to, nói với tôi và Sư Mẫu:
"Đêm qua Kim Mẫu đến thông báo, buổi tối hôm nay là đêm động phòng hoa chúc của tôi và Lư Sư Tôn, thế nên tôi mới đến đây."
Còn nói:
"Khi Kim Mẫu đến thông báo, Sư Mẫu cũng ở bên cạnh gật đầu đồng ý, thế nên tôi đã đến đây."
Tôi có biết nữ đệ tử này, cô làm kế toán, là người tài hoa. Tôi nghĩ:
"Hỷ thước hát ca, rồng phượng hiện hình, quả nhiên tương ứng!"

Nhưng,
Tôi cũng biết rằng:
"Lư Sư Mẫu trăm phần trăm là không đồng ý!"
Sư Mẫu nói:
"Cô bị ảo giác rồi!"
Cô gái nói:
"Kim Mẫu nói rất chân thực!"
Sư Mẫu nói:
"Cô bị huyễn thanh rồi!"
Cô gái nói:
"Tất cả đều là thật, Sư Mẫu khi đó cũng có mặt ở đó."
Sư Mẫu nói:
"Thế sao tôi lại không biết nhỉ?"
Chính trong lúc bế tắc, Thượng sư Liên Ninh nghe được chuyện này nên đặc biệt đến giải nguy:
"Tối qua tôi cũng mơ thấy Kim Mẫu, Kim Mẫu nói với tôi rằng cơ bản là không có chuyện này, có thể thấy là sư tỉ đã mơ lung tung rồi, mơ lung tung thì không tính."
Thế là tôi một lời, anh một lời, người khác một lời, các bên đối đầu với nhau.

Cuối cùng:
Nữ đệ tử này (sư tỉ) tức giận kéo hai vali to rời đi.
Mục đích của tôi khi viết ra câu chuyện này là:
Tôi nhìn thấy điềm báo
Quả nhiên tương ứng.
Ai chà! Thành hay không thành đều tại ông trời cả!


### 31. **Lời dặn dò của Diêu Trì Kim Mẫu**


Diêu Trì Kim Mẫu cưỡi xe phượng hoàng hạ giáng đầy nhẹ nhàng thanh thoát, như ẩn như hiện. 
Có bốn tiên nữ đi theo.
Một cô mặc áo lụa màu đỏ thẫm.
Một cô mặc áo váy màu xanh ngọc.
Một cô mặc áo màu tím.
Một cô mặc áo màu trắng mỏng.
Tôi chăm chú nhìn bốn vị tiên nữ, vị nào cũng duyên dáng thướt tha, sắc đẹp tuyệt thế, dung nhan lộng lẫy.

Diêu Trì Kim Mẫu nói:
"Hôm nay ta đặc biệt đến tìm Lư Sư Tôn."
Tôi hỏi Kim Mẫu:
"Có chuyện gì đặc biệt sao?"
Kim Mẫu nói:
"Chuyện này vô cùng khác thường, do vậy mới đặc biệt đến để dặn dò ngài."
Tôi nói:
"Xin cố gắng hết sức để hoàn thành việc này."
Kim Mẫu nói:
"Ta có một người con gái giáng xuống nhân gian, luân hồi đã nhiều kiếp, không biết quay về. Ta ở cõi ngân hà trên cao, còn con gái thì lại vương vấn cõi Ta Bà, ta không đành lòng, bởi vậy nhờ Lư Sư Tôn đem nó quay trở về."
Tôi nói:
"Biển người mênh mông, làm sao tìm?"
Kim Mẫu đáp:
"Ngài không cần tìm, nó sẽ tự đến tìm ngài."
Tôi hỏi:
"Dung mạo cô ấy thế nào?"
Kim Mẫu đáp:
"Xinh đẹp như tiên."
Tôi hỏi:
"Làm sao để nhận ra?"
Kim Mẫu đáp:
"Hoàn toàn giống hệt hai ký hiệu của Sư Tôn."
Tôi hỏi:
"Làm sao có thể giống hệt được?"
Kim Mẫu đáp:
"Ngài và con gái ta đều có cùng nguồn gốc."
Tôi hỏi:
"Tôi là nam, cô ấy là nữ, làm sao có thể cùng một nguồn gốc?"
Kim Mẫu ngâm một bài thơ:
*"Mái tóc búi cao xuống Ta Bà
Khung cửa hoa lan vẽ hoa sen
Uyên ương xa lìa bao nhiêu kiếp
Hôm nay mong tìm để cùng bay."
*Dường như tôi* *đã hiểu rồi.

Kim Mẫu nói:
"Năm đó tại Ngọc Hoàng Cung ta đã tìm thấy ngài. Việc này có hai mục đích: một là ngài phải phát tâm độ chúng sinh, hai là tìm con gái ta và đưa nó trở về Diêu Trì."
Tôi nói:
"Tuân chỉ."

Tôi cũng ngâm một bài thơ:
*"Trong mơ như thực ban thọ ký
Bàn tay sẵn có dấu hiệu này
Hóa ra đều là người cao quý
Như mộng như huyễn cùng cao bay."*

Kim Mẫu nghe tôi ngâm thơ, nét mặt tươi cười, hoan hỷ khác thường.
Tôi biết:
Làm sao tìm được con gái của Kim Mẫu! Đưa cô ấy trở về Thiên Thượng giới, hoàn thành nhiệm vụ.


### 32. **Tôi học Trung quán**


Nội hàm của Trung quán học vừa sâu vừa rộng, người thường khó có thể tưởng tượng được. 
Bản thân tôi vô cùng kính trọng và ngưỡng mộ Atisa tôn giả và đại sư Tsongkhapa.
Có tín tâm cực kì sâu đối với Trung Quán Ứng Thành phái.
Đối với "Hữu, Không".
Tôi và Dalai Lama đã có cuộc đối thoại thế này.
Tôi nói:
"Hữu - Không song vận."
Dalai Lama nói:
"Hữu - Không tự nhiên."
(Đây là nói đến vấn đề *sắc tức thị không, không tức thị sắc, sắc bất dị không, không bất dị sắc*.)
Tư tưởng Trung quán của tôi bắt nguồn từ đạo sư Ấn Thuận, đạo sư Ấn Thuận là học giả của tam luận, tam luận này là: Trung luận.
Thập nhị môn luận.
Bách luận.

🌟

Sau này, khi tôi học Trung quán, Atisa tôn giả và đại sư Tsongkhapa đều đi vào trong giấc mơ của tôi. 
Atisa tôn giả phân tích Bát bất trung quán: 
Bất sinh.
Bất diệt.
Bất thường.
Bất đoạn.
Bất lai.
Bất khứ.
Bất nhất.
Bất dị.
Atisa tôn giả nói: "Sinh diệt thường đoạn lai khứ nhất dị, đều là hý luận."
Đại sư Tsongkhapa nói với tôi:
Trung quán có ba phái:
Trung quán Ứng thành phái.
Trung quán Tự tục phái.
Trung quán Tự tục du già phái.
Ứng thành phái: 
Dựa vào thắng nghĩa không cho phép thành lập tự tính, dựa vào thế tục cũng không cho phép thành lập tự tính.
Tự tục phái:
Theo thế tục có ngoại cảnh.
Trung quán Tự tục du già phái: 
Không thể có thế tục có ngoại cảnh. 
Thực hành hạnh du già.
Thế nên:
Ứng thành phái cho rằng nhị đế đều không cho phép thành lập tự tính.
Còn hai phái kia thì cho rằng:
Theo thắng nghĩa đế, không cho phép thành lập tự tính. Theo thế tục đế thì cho phép thành lập tự tính.
Nguyệt Xứng luận sư — Trung quán ứng thành.
Thanh Biện luận sư — Trung quán tự tục.
Tĩnh Mệnh luận sư — Trung quán tự tục du già.

Tôi viết một bài thơ:

*Bát bất trung quán thực chẳng sai
Đi sâu vào trong
Đừng để lạc lối*

*Ai mới là người xuất chúng
Tự nhiên
Song vận
Khói bếp bay bay*

*Con đường Trung quán xa xôi lắm
Nhìn tôi là hiểu thôi.*


### 33. **Thậm thâm truyền thừa**


Khi tôi mới học tập Mật giáo, tôi vô cùng ngưỡng mộ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Tôi chuẩn bị cúng phẩm phong phú, cầu nguyện Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.
Ở trong định.
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ và Phật Mẫu Yeshe Tsogyal cùng xuất hiện. 
Liên Sư há miệng nuốt tôi vào trong bụng.
Rồi từ trong mật luân song vận, tôi lại được giải phóng ra.
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói:
"Ngài là con trai của ta."
Tôi nói:
"Nguyện đảm đương."
Thế rồi tôi được Liên Hoa Sinh Đại Sĩ và Phật Mẫu Yeshe Tsogyal phóng quang gia trì. Đây gọi là "thậm thâm truyền thừa".

🌟

Tôi học trung quán của Long Thụ Bồ Tát và thậm thâm kiến của Đề Bà Bồ Tát. 
Trong thiền định, Long Thụ Bồ Tát hỏi tôi:
"Ngài có học duy thức không?"
Tôi đáp:
"Học."
Lại hỏi:
"Ngài có học trung quán không?"
Tôi đáp:
"Học."
Long Thụ Bồ Tát hỏi:
"Vừa học duy thức, vừa học trung quán, chẳng phải là lẫn lộn sao?"
Tôi đáp:
"Học duy thức chẳng những không thể phá bỏ trung quán kiến, ngược lại, đối với trung quán còn sản sinh ra quyết định kiến."
Long Thụ Bồ Tát gia trì cho tôi. 
Tôi có được "vô vọng vô phân biệt định". 
Đây là "thậm thâm truyền thừa".

Tôi học sáu pháp của Niguma và sáu pháp của Naropa. Trong thiền định tôi gặp được Tilopa và Naropa. 
Tôi nói với Tilopa:
"Tôi muốn quy y ngài!"
Tilopa nói:
"Ngài và tôi không có duyên."
Tôi hỏi:
"Thế tôi có duyên với ai?"
Tilopa nói:
"Ngài và Naropa có duyên."
Thế là Naropa gia trì cho tôi, trong một sát-na, tôi đã chứng đắc pháp Chuyết hỏa và Phowa. 
Còn bốn pháp còn lại tôi cũng từ từ tu hành mà chứng được. 
Đây chính là:
"Thậm thâm truyền thừa.”

🌟

Tại Jambi, Indonesia, tôi đến thăm nơi ngày xưa Atisa tôn giả đi cầu pháp. 
Trong thiền định.
Atisa tôn giả hỏi tôi:
"Ngài hiểu bảy loại bồ đề tâm không? Có hiểu bồ đề tâm hoán đổi mình và người khác không?"
Tôi đáp:
"Nguyện bồ đề đã phát tâm, hành bồ đề ngày ngày thuần thục."
Atisa nói:
"Ngài chính là ta!"
Đây chính là:
"Thậm thâm truyền thừa.”

🌟

Tôi học tập Hữu-Không song vận, Không-Lạc song vận, Chỉ-Quán song vận……………………..
Đều được Tsongkhapa gia trì. tôi giảng “Mật Tông Đạo Thứ Đệ Quảng Luận”, Tsongkhapa đến phóng quang.
Đây là “thậm thâm truyền thừa”. 


### 34. **Di Lặc và tôi**


Tôi đã gặp Di Lặc Bồ Tát, vào thời kỳ đầu tôi có ghi chép lại:
Tôi đã đi đến cõi trời Đô Sử Thiên, đến Di Lặc Nội Viện để nghe Di Lặc Bồ Tát giảng kinh.
Tôi đến Seattle bang Washington nước Mỹ, sống tại quận Ballard, đóng cửa ẩn tu tại Linh Tiên Các ba năm.
Tôi đã trông thấy "Di Lặc đeo bao bố" bay trên không trung.
Tôi nói:
"Tôi đang nghèo túng thế này đây."
Di Lặc mở bao bố ra.
Thế là:
Từ trên không trung tung xuống nhà cửa, đất đai, xe cộ, vàng bạc, thất trân, bát bảo.
Pháp khí thì có:
Mũ Pháp Vương.
Long bào.
Pháp y.
Chuông chày.
Bình quán đảnh.
Đủ mọi thể loại, chẳng thiếu thứ gì.
Tôi nói:
"Viên mãn rồi!"

🌟

Di Lặc Bồ Tát truyền thụ pháp Duy thức cho Vô Trước Bồ Tát, Vô Trước Bồ Tát truyền thụ cho Thế Thân Bồ Tát……
Tôi biết:
Duy nghĩa là không có pháp nào nằm ngoài Thức.
[Nói cách khác là các pháp đều từ Thức mà sinh ra.]
Thức có ý nghĩa là hiểu được cách phân biệt.
Tám thức thường được nói đến là:
Nhãn thức. [mắt]
Nhĩ thức. [tai]
Tỵ thức. [mũi]
Thiệt thức. [lưỡi]
Thân thức. [thân thể]
Ý thức. [suy nghĩ]
Ý căn thức. (mạt-na thức)
A-lại-da thức.
Ba tính chất của Duy thức là:
1. Tâm ngoại chi pháp. [pháp ở ngoài tâm]
2. Y tha khởi tính. (tâm nội chi pháp) [pháp ở trong tâm]
3. Viên thành thực tính. (Phật tính) [thực tính toàn vẹn]
(Y tha khởi tính tức là dựa vào thực tướng của cái khác đóng vai trò là Không để mà xả ly, chứng đắc viên thành thực tướng.)

Pháp tướng tông [yogacara] viết:
Tất cả vạn pháp đều từ Duy thức biến ra, hơn nữa nằm giữa phi hữu phi không.
Lấy tình hữu làm phi không.
Lấy lý vô làm phi hữu.
Lấy chân không làm phi hữu.
Lấy diệu hữu làm phi không.
(Đây chính là trung đạo của phi hữu phi không.)

Tôi đã đọc:
Duy thức nghĩa chương, Duy thức nhị thập luận, Duy thức liễu nghĩa đăng, Duy thức tâm yếu, Duy thức luận...

Viết một bài thơ:

*Núi non xanh ngút mắt
Thu vừa sang
Tàn*

*Ngoại cảnh rất bất an
Nội cảnh mới là thuốc
Bảo vệ suốt chặng đường.*

*Thực tướng viên thành là gì
Cho bạn hay
Là viên thủy tinh thôi.*


### 35. **Ngài là nơi cúng dường**


Một hôm.
Tôi, Thượng sư Liên Hương, Phật Thanh, Phật Kỳ, Andy, Sunny, Lư Hoằng, Lư Quân, cả nhà cùng tập trung tại một nhà hàng ăn uống ở Seattle. 
(Cả nhà cùng liên hoan.)
Đột nhiên có một cụ già vội vã đến gần hỏi tôi:
"Ngài là Lư Sư Tôn?"
Tôi đáp:
"Đúng vậy."
Cụ già rất hưng phấn nói:
"Cuối cùng đã tìm thấy ngài rồi! Bữa ăn này của các vị để tôi trả tiền, hơn nữa tôi cũng muốn cúng dường ngài hồng bao này đây!"
Tôi hỏi:
"Cụ biết Chân Phật Tông sao?"
Cụ già đáp:
"Không biết!"
Tôi hỏi:
"Cụ biết Lư Sư Tôn không?"
Cụ già đáp:
"Không biết!"
Tôi hỏi:
"Cụ có hiểu việc cúng dường người xuất gia không?"
Cụ già đáp:
"Không hiểu!"
Tôi:
"…."

🌟

Lúc sau tôi mới biết sự tình là thế này:
Gia đình của cụ già thờ cúng Quan Thánh Đế Quân. 
Con gái của vợ chồng cụ già gặp rắc rối lớn, vợ chồng hai cụ sắp lễ cúng dường lớn, cúng phẩm, cầu lạy Quan Thánh Đế Quân giúp đỡ hóa giải. 
Sau đó thì hai cụ có được giấc mơ.
Trong mơ, Quan Thánh Đế Quân xuất hiện, nói với vợ chồng hai cụ:
"Cụ đến nhà hàng ăn đó đợi một người, người này tên là Lư Sư Tôn, vào khoảng trung tuần tháng tám. Lư Sư Tôn này mới là người mà cụ cần cúng dường. Cầu xin ngài ấy gia trì, rắc rối của con gái mới có thể hóa giải được."
Thế là:
Vào trung tuần tháng tám, cụ đã đến nhà hàng này. 
Hỏi ông chủ:
"Lư Sư Tôn có đến không?"
Ông chủ đáp:
"Không có."
Cách một ngày, cụ già lại hỏi:
"Lư Sư Tôn có đến không?"
Ông chủ đáp:
"Có một người đầu trọc, mặc long bào, đang ngồi ở bàn trong, cụ tự đi hỏi ông ấy xem có phải không!"
Thế là cụ già mau mắn tiến tới hỏi tôi. 
Tôi mới nói:
"Tôi chính là Lư Sư Tôn."
Tiếp đó tôi gia trì cho vợ chồng cụ già, cũng gia trì cho con gái của hai cụ. 
Sau khi gia trì xong, rắc rối của con gái thực sự đã được hóa giải rồi!
(Sự việc này rất mới mẻ, cũng khá thú vị, do vậy tôi kể chuyện này ra đây. Ở nhà hàng, tôi thường gặp phải chuyện tương tự như thế này, có khách ngồi ở bàn bên cạnh cũng trả tiền bữa ăn giúp tôi. Rồi cũng có cảnh người người đến trước bàn ăn của tôi cúng dường hồng bao. Những người này không nhất định là đồng môn, rất nhiều người trong số đó tôi không hề biết.)


### 36. **Người đại thiện xảo**


Trong sự nghiệp bấm ngón tay thần toán của tôi, có lần Quan Thế Âm Bồ Tát nói với tôi:
"Ngài phải trở thành một người đại thiện xảo!"
Tôi hỏi:
"Thiện xảo thế nào?"
Bồ Tát nói:
"Thiện là tâm từ bi, tâm bồ đề. Xảo là ứng đối khéo léo."
Tôi hỏi:
"Sẽ tận lực, nhưng khi gặp tình huống khó thì phải làm sao?"
Bồ Tát nói:
"Nói khéo!"

🌟

Một lần nọ.
Có người đến hỏi rằng, mẹ anh bị suy thận, bác sĩ nói phải phẫu thuật thay thận, giờ phải làm sao?
Tôi bấm ngón tay thần toán thì biết được rằng thời điểm chết của mẹ anh đã đến rồi.
Dù có mổ cũng chết.
Không mổ cũng chết.
Tôi là người biết cách khéo léo, không thể nào mở miệng nói thẳng tưng là sẽ chết được, bởi vậy tôi nói:
"Nghe theo bác sĩ đi!"
Có người hỏi tôi:
"Sao lại nói là nghe theo bác sĩ, vậy chẳng phải là nói lời thoái thác sao?"
Tôi đáp:
"Đây gọi là nói khéo, người hỏi chắc chắn hiểu."
Tôi nói:
"Nghe theo bác sĩ cũng tức là có điều khó xử!"
Chữa cũng chết!
Không chữa cũng chết!
Các thánh đệ tử còn có lời nào nói khéo hơn không?

🌟

Có một lần.
Lại có người đến hỏi chuyện, việc được hỏi là một việc kiện cáo.
Tôi bấm ngón tay thần toán. 
Sẽ thua kiện!
Tôi không dám nói là sẽ thua.
Bởi vì người này rất kỳ vọng vụ kiện của anh ta sẽ thắng, luật sư của anh ta cũng nói là sẽ thắng. 
Thế là tôi nói:
"Tôi sẽ báo mộng cho anh!"
Tôi không nói thẳng là sẽ thua. Tôi nói:
"Sẽ báo mộng!"
Đây cũng là một cách nói khéo. 
(Có rất nhiều người hỏi tôi về chuyện bầu cử, tôi luôn không trả lời trực tiếp bởi e là sẽ làm tổn thương đến tâm trạng của đối phương, báo mộng thì có phần tiện hơn.)

🌟

Lại có một bệnh nhân mắc ung thư đến hỏi:
"Có thể khỏi không?"
Tôi bấm ngón tay thần toán được là sẽ chết. 
Tôi cũng không trả lời thẳng, tôi nói:
"Đợi kỳ tích xuất hiện vậy!"
Đây cũng là một cách nói khéo.

🌟


Tôi thường nói:
"Nghe theo bác sĩ đi!"
"Sẽ báo mộng!"
"Đợi kỳ tích xuất hiện!"
Đây là những lời tôi thường nói khi ở vào tình thế lưỡng nan. Đây cũng không phải là tôi nói lời thoái thác, bởi vì bảo tôi nói lời khiến người ta nản lòng, tôi thực sự không nỡ!


### 37. **Tượng Bồ Tát bằng đất sét**


Tôi (Lư Sư Tôn) từng đến một chùa Phật, từ cổng chùa đến Đại Hùng Bảo Điện có nhiều bức tượng các vị Bồ Tát được nặn từ đất sét. 
Tôi chắp tay chào hỏi từng vị.
Lúc đó trong lòng tôi nghĩ:
"Thế nào mới có thể đạt chính đẳng chính giác?"
Một vị Bồ Tát trong số đó đứng dậy.
Nói với tôi: 
"Thất Bồ Đề Phần."
Tôi biết Thất Bồ Đề Phần như sau:
1. Chọn pháp bồ đề — dùng trí huệ để phân biệt tà - chính.
2. Tinh tấn bồ đề — dùng mãnh lực rời xa tà, tu chính.
3. Hỷ bồ đề — có được thiện pháp, tâm sinh hoan hỷ.
4. Khinh an bồ đề — đoạn trừ phiền não của thân tâm, có được sự nhẹ nhõm an bình.
5. Niệm bồ đề — luôn trong trạng thái thiền định và trí huệ.
6. Định bồ đề -- tập trung suy nghĩ, không tán loạn.
7. Xả bồ đề — xả bỏ vọng tưởng, lừa dối, xả bỏ danh lợi tiền tài, tâm an bình.

Tôi lại đi qua chỗ khác.
Lại có một vị Bồ Tát bằng đất sét đứng dậy nói với tôi: 
"Bát chính đạo."
Tôi biết Bát chính đạo như sau:
1. Chính kiến.
2. Chính tư duy.
3. Chính cần.
4. Chính niệm.
5. Chính ngữ.
6. Chính mệnh.
7. Chính định.
8. Chính nghiệp.

Tôi lại đi qua chỗ khác.
Lại có một vị Bồ Tát bằng đất sét đứng dậy. 
Nói với tôi:
"Không thể thiếu tâm từ bi."
Tôi biết tám loại bố thí như sau:
1. Tùy hỷ bố thí.
2. Bố úy bố thí.
3. Báo ân bố thí.
4. Cầu báo bố thí.
5. Tập tiên bố thí.
6. Hy thiên bố thí.
7. Yếu danh bố thí.
8. Trang nghiêm tâm bố thí.

Tôi lại đi qua chỗ khác. 
Một bức tượng Bồ Tát bằng đất sét đứng dậy. 
Tôi hỏi:
"Chính đẳng chính giác có thứ tự trước sau nữa chứ!"
Tượng Bồ Tát nói:
"Trước tiên cần tâm từ bi bồ đề, sau đó thực hành bát chính đạo."
Vị Bồ Tát này lại nói:

"Lư Sư Tôn, tôi nói cho ngài hay, trước tiên ngài tu Tứ vô lượng tâm, tiếp đó tu Tam tam muội, tiếp theo tu Tứ thiền định, đạt đến Vô sắc định rồi, cần biết rằng không thể từ bỏ bồ đề tâm, chính là nhập bát thắng xứ, cuối cùng đến được nhất thiết xứ."

Tôi nghe xong, cảm thấy vô cùng hoan hỷ. Việc này là nhờ vào đại ân của Bồ Tát, dựa vào sức mạnh công đức lớn lao đã hiển hiện để thuyết pháp cho tôi nghe. 
Tôi bái lạy ngũ thể đầu địa.

Tôi biết:
Học Phật tu hành, trước tiên cần phải rời xa được tâm phiền não của thế gian.
Tiếp theo có tâm từ bi bồ đề.
Cuối cùng mới là tu hành bát chính đạo.
Quan trọng là: 
Bồ đề tâm.
Đây cũng chính là chỉ thị của Atisa tôn giả và đại sư Tsongkhapa. Không có bồ đề tâm, không thể thành Phật.
Đây cũng là giáo huấn của các vị Bồ Tát bằng đất sét.


### 38. **Kẻ trộm tiền hương hỏa**


Có một ngôi chùa nọ tương đối hưng vượng, bởi vậy tiền hương hỏa thu nhận được cũng khá dồi dào. 
Việc này khiến một tên trộm chú ý.
Ban đầu:
Tên trộm dùng một que trúc, vót rất mỏng, trên một đầu của que trúc bôi lên một lớp keo ướt.
Tên trộm luồn que trúc này vào bên trong hòm công đức (hòm đựng tiền cúng để mua hương hỏa), lấy trộm được cả trăm đồng, nghìn đồng. 
Cách làm này của anh ta không gây ra sự chú ý của người coi chùa. Người coi chùa chỉ cảm thấy dường như tiền ít đi một chút, nhưng cũng không để ý thêm.

Sau đó:
Tên trộm to gan hơn. 
Hắn cảm thấy cách lấy trộm tiền thế này chậm quá, thế là bê luôn cả hòm công đức đi. 
(Dùng hết sức để bê cả hòm công đức lên xe của mình rồi chở đi mất.)
Hầy! Hòm công đức biến mất rồi!

Lần này thì người coi chùa đã phải chú ý rồi. Có trộm lấy hòm công đức đi mất rồi. 
Người coi chùa không ngờ lại đem chuyện này công bố ra ngoài. 
Sự việc được công bố ra làm ảnh hưởng không tốt đến danh dự của chùa, đến cả tiền của thần minh cũng bị lấy trộm mất.
Có thể thấy là thần minh ở đây không linh rồi!
Người coi chùa nghĩ ra một biện pháp mới: đặt hòm công đức bên cạnh một cột trụ, dùng dây xích sắt để buộc hòm công đức vào cột trụ.
Như vậy thì không thể bê hòm công đức đi đâu được nữa!

Tiếp theo là:
Tên trộm mua một cái kéo cắt sắt đại bự. 
"Cạch" một tiếng! 
Thế là lại bê hòm công đức đi mất.
Người coi chùa tức muốn chết! Ông chỉ còn cách mỗi ngày đều đem tiền trong hòm công đức ra tổng kết rồi nhập vào tài khoản.
Sau khi làm như vậy thì việc bị trộm tạm dừng được trong một khoảng thời gian.
Tiền công đức để mua hương mua dầu không bị lấy trộm nữa.

Một thời gian sau.
Sau khi một buổi lễ hội lớn của chùa kết thúc, người coi chùa nhất thời không cảnh giác, không lấy tiền công đức ra, thế là lại bị kẻ trộm viếng thăm, lại bị lấy trộm hết tiền. Người coi chùa cực kì không cam tâm.
Ông cầu nguyện Liên Hoa Đồng Tử. Hóa ra trong chùa này có tượng vàng của Lư Sư Tôn, là do một đệ tử của Chân Phật Tông tặng cho người coi chùa. Ở giữa đàn tràng chính là bức tượng Liên Hoa Đồng Tử.
Chủ thần của chùa này là Đại Tiên Vương.

Vào một buổi tối nọ.
Người coi chùa đang ngủ say. 
Đột nhiên có người lắc ông ta. 
Trong giấc mơ ông đột nhiên tỉnh dậy. 
Ông nhìn thấy đứng trước giường chẳng phải là ai khác, chính là Liên Hoa Đồng Tử hiển linh. 
Liên Hoa Đồng Tử nói với người coi chùa:
"Kẻ trộm đến rồi! Kẻ trộm đến rồi! Mau dậy báo cảnh sát, báo cảnh sát đến bắt trộm!"
Người coi chùa nghe lời Liên Hoa Đồng Tử.
Báo cảnh sát trước. 
Quả nhiên lần đó đã bắt được kẻ trộm. 
Cảnh sát còn tóm được cả năm hòm công đức trong nhà tên trộm, đều là do tên trộm này lấy về. 
Tên trộm đã bị đưa ra tòa xét xử.

Người coi chùa mỗi khi nhắc đến sự việc này đều bật ngón tay cái cảm thán Liên Hoa Đồng Tử. 
Người coi chùa cũng đích thân đến Đài Loan Lôi Tạng Tự để quy y tôi, rồi cũng tu theo Chân Phật Mật Pháp.
Người coi chùa nói:
"Liên Hoa Đồng Tử! *Like*!"
[Like - Thích, biểu tượng khen ngợi được dùng trên mạng xã hội Facebook.]


### 39. **Cuộc đấu pháp**


Lần đó là pháp hội tại Trung Chính Kỷ Niệm Đường ở Đài Bắc (quảng trường Dân Chủ). 
Người tham gia pháp hội đông đúc, chật kín cả hội trường. 
Đó là đại pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang.
Đàn thành Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang được dựng lên, đàn thành này vô cùng hy hữu, bên trong cúng trăm vị Văn Võ. 
Phía trên còn treo dòng chữ: 
"Kiến tức giải thoát." [thấy được là được giải thoát]

Trong lúc diễn ra pháp hội, tôi nhìn thấy trong hư không xuất hiện năm thanh kiếm ánh sáng, kiếm ánh sáng không mạnh.
Nhưng, lại chỉ hướng vào tôi!
Tôi biết sự xuất hiện này không tốt lành, tôi nhanh chóng nghĩ cách để hóa giải năm thanh kiếm ánh sáng này. 
Chính vào lúc này, trong hư không lại xuất hiện năm con đại bàng đen. Năm con đại bàng đen này dùng mỏ đại bàng ngậm năm thanh kiếm ánh sáng bay vút lên cao hơn rồi biến mất.

Năm con đại bàng đen này chính là:
Hỷ Kim Cang.
Thắng Lạc Kim Cang.
Mật Tập Kim Cang.
Đại Uy Đức Kim Cang.
Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang.
(Tín chúng tham gia pháp hội đều nhìn thấy năm con đại bàng đen.)

Trong lúc tiến hành pháp hội.
Tôi lại nhìn thấy bò cạp độc, có đến cả trăm, nghìn, vạn con, nhiều không thể đếm được từ bốn phương tám hướng ào lên phía pháp tọa mà bò tới. 
Bò cạp độc giương nanh giương vuốt, mũi nhọn trên chóp đuôi của chúng giơ cao lên.
"Sì… sì… sì…"
Lũ bò cạp nhào đến pháp tọa của tôi. 
Lúc này, 
Luân xa nhãn thần của tôi mở ra, phóng ra trăm nghìn vạn tia sáng, bắn về phía những con bò cạp bên dưới pháp tọa.
Những con bò cạp bị kim quang bắn trúng, con nào con nấy vỡ tung thành trăm mảnh, hóa thành khói tan biến đi.
Đám bò cạp con trước con sau đó, vừa nhìn thấy cảnh tượng này liền tự động dừng lại, rồi cứ thế rút lui, không dám tiến lên trước nữa. 
Chỉ trong một sát-na.
Đã bỏ chạy sạch sẽ.

Theo như tôi biết:
Bên trái pháp tọa của tôi, cũng chính là sau lưng của tòa nhà Kỷ Niệm Quán, ở trên lối hành lang.
Không biết từ khi nào đã có năm vị đạo sĩ tập trung ở đó. 
Năm vị đạo sĩ này cầm năm thanh kiếm. 
Họ nhất loạt cùng bước thất tinh bộ, khôi cương bộ, vũ bộ, v.v.
Trong miệng niệm chú.
Còn đốt bùa hóa lệnh.
Phun nước pháp.
Còn đốt bùa vẽ bò cạp độc.
Sau đó năm vị đạo sĩ này trông thấy tôi (Lư Sư Tôn) vẫn ngồi ngay ngắn trên pháp tọa, có vẻ như chẳng hề hấn gì.
Bèn thu lại pháp khí.
Xoa xoa mũi rồi đi mất!

Theo như những người nhận ra năm vị đạo sĩ này nói thì:
Họ đố kỵ với danh tiếng của Lư Sư Tôn nên đã đặc biệt chạy tới đây để thử thách. 
Làm pháp xong, kết quả là chẳng linh nghiệm. 
Sau khi năm vị đạo sĩ trở về, nghe nói đều trải qua một cơn bệnh nặng.

Tôi viết một bài kệ như sau:
*Đố kỵ khổ liên miên
Âm mưu luôn nung nấu
Tôi thấy tình cảnh này
Lắc đầu nước mắt rơi.*


### 40. **Hô mưa gọi gió**


Có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Ngài có biết hô mưa gọi gió không?"
Tôi đáp:
"Chút chút!"
Thực tế là như thế này:
Sau khi cơn bão Xangsane đi qua thì tôi trở về Đài Loan, ẩn cư tại Đài Loan tổng cộng ba năm rưỡi. 
Trong ba năm rưỡi này, không ngờ Đài Loan chẳng gặp phải cơn bão nào đổ bộ. 
Tất cả các cơn bão đều chuyển hướng sang Nhật Bản.
Gió bão sinh ra ở vùng đảo Guam.
Gió bão sinh ra ở quần đảo Philippines.
Đều chuyển hướng sang Nhật Bản, Hồng Kông hoặc Quảng Đông…

Tôi bí mật nói cho mọi người biết:
Nguyên thần của tôi có thể bay ra ngoài, hơn nữa có thể ngủ trong chính giữa mắt bão, giống như là tôi đang lái cơn bão vậy.
Tôi lái sang hướng Đông.
Tôi lái sang hướng Tây.
Tôi lái sang hướng Nam.
Tôi lái sang hướng Bắc.
Cơn bão theo sự điều khiển của tôi mà chạy tây chạy bắc.
Ha ha ha!
(Càng thú vị hơn là Quỷ Bà ở San Francisco, không ngờ cũng học theo tôi, nói rằng bà ta cũng có thể ngủ trong mắt bão, thực sự đúng là một con vẹt học nói.)
Tôi có biết gọi gió không?
Chút chút thôi!

🌟

Ngày 30 tháng 9 năm 2018.
Chập choạng tối.
Tôi đứng trước Chân Phật Mật Uyển (Seattle, Mỹ). 
Lúc đó trời mưa lất phất. 
Đồng môn mở ô đứng nghe tôi hát một bài hát.
Tôi hát:
*Tí tách tí tách lộp độp lộp độp, trời đổ mưa rồi!
Mẹ cầm ô tới đón em.
Tí tách tí tách lộp độp lộp độp
Là lá la.
*Tôi hát liền hai lần. 
Bài hát này của tôi, trời ạ! Không ngờ thực sự mưa lớn trút xuống, những hạt mưa to như hạt đậu rơi lộp độp trên những chiếc ô.
Tiếng kêu tạch tạch tạch tạch.
Điều càng lạ hơn là:
Tôi vừa hát xong.
Mưa cũng dừng luôn!
Đồng môn có mặt tại đó đều nói: 
"Tương ứng lập tức!"

🌟

Tôi còn nhớ lần tôi đi du lịch Cambodia. 
Tôi ngồi trong xe.
Mỗi lần đến một địa điểm du lịch.
Mưa lại tạnh. 
Chúng tôi tham quan xong.
Chân tôi vừa bước lên xe du lịch.
Mưa lại trút xuống!
Đi đến một địa điểm du lịch khác.
Mưa lại tạnh. 
Đợi đến khi tôi ngắm phong cảnh xong.
Vừa bước lên xe.
Mưa lại trút xuống.
Thế là suốt đường đi, cứ mưa rồi lại tạnh, mưa rồi lại tạnh, lặp đi lặp lại rất nhiều lần.
Lần đi du lịch đó, hướng dẫn viên du lịch Cambodia quá đỗi ngạc nhiên. Bởi vì mỗi lần đều xảy ra chuyện như vậy, cuối cùng, người hướng dẫn viên quỳ xuống trước mặt tôi xin được quy y!
(Việc này không phải là hô mưa, tôi cũng chẳng rõ là thế nào nữa!)


### 41. **Thánh cờ bạc**


Khi tôi có thời gian nhàn rỗi, tôi thích xem phim.
Có lần gặp một người bị mắc chứng trầm cảm.
Tôi bảo anh:
"Xem phim của Châu Tinh Trì, có lẽ có hiệu quả trị liệu. Chỉ là bởi vì phim hài của Châu Tinh Trì có thể khiến cho người bệnh vui vẻ sảng khoái hơn. Nếu vẫn không cười, thì là mắc bệnh nặng rồi đó!"
Có một khoảng thời gian rất thịnh hành mấy bộ phim:
Vua cờ bạc.
Thánh cờ bạc.
Thần cờ bạc.
Theo diễn xuất của các diễn viên như Châu Nhuận Phát, Lưu Đức Hoa, Châu Tinh Trì, trong các phim đó có "mắt nhìn xuyên thấu", có "phát công", có "hoán đổi ta và người khác", có "siêu năng lực", có "thuật thôi miên"……………
Xem rất đã.

🌟

Cả đời tôi tránh xa cờ bạc.
Một cách tự nhiên, tôi chẳng có duyên với các trò cờ bạc, bản thân tôi cũng không tham tiền, do vậy từ xưa tới nay chưa bao giờ tôi đến sòng bạc. 
Chỉ có một lần, chúng tôi đến thăm quan Las Vegas (thành phố sòng bạc).
Chúng tôi đợi xe du lịch.
Xe du lịch vẫn chưa tới.
Bốn bác gái liền đi vào một sòng bạc, tôi cũng bám đuôi đi theo vào. 
Bốn bác gái chơi trò poker. 
Tôi nhất thời cao hứng, ở sau lưng bốn bác gái đã niệm "Hùng Thiên chú".
Tôi trông thấy:
Các con ma nghiện cờ bạc trong sòng bạc vừa nghe thấy đại chú của Hùng Thiên Hộ Pháp liền bỏ chạy tán loạn. 
Bốn bác gái lần nào chơi cũng thắng, thắng đến mức:
Đổi hết bàn poker này đến bàn poker khác.
Đổi hết nhà cái này đến nhà cái khác.
Bốn bác gái sung sướng hét rung trời.
Lôi kéo sự chú ý của các bàn bài xung quanh. 
Quản lý sòng bài cũng tới.
Đổi nhà cái, lại đổi nữa, lại đổi lần nữa, đổi đi đổi lại… 
Bốn bác gái liên tiếp có được bài tốt. 
Cứ nói ra muốn có lá bài gì là lá bài đó liền xuất hiện. 
Xuất sắc!  
Quản lý sòng bài sững người ra! 
Những người xung quanh đứng vây lại thành vòng tròn cũng sững người ra! 
Nhà cái cũng sững người ra!
Bốn bác gái toàn thắng.
Đúng lúc này, xe du lịch tới. Chúng tôi ôm cả một núi "phỉnh" lên xe. 
Oa! Thật là một lần đại thắng hiếm có.

🌟

Có một đồng môn nam chứng kiến cảnh tượng này, anh ta cầu xin tôi:
"Lư Sư Tôn, con đã bị thua khá nhiều, liệu ngài có thể giúp con một tay để gỡ lại được không!"
Tôi nói:
"Cờ bạc vốn dĩ sẽ đều thua thôi, mười người đánh bạc thì chín người thua, thôi kệ nó đi!"
Anh ta vẫn cầu xin:
"Chỉ cứu con một lần thôi, sau này con không dám nữa!"
Tôi nói:
"Được! Chỉ một lần này thôi. Tôi sẽ vẽ cho anh một lá phù để đeo, khi thắng lại được tiền gốc về rồi thì sẽ thu phù lại, không thể tiếp tục đánh bài nữa."
Kết quả:
Thắng lại được tiền gốc, toàn bộ số tiền bị thua đã lấy về được hết. 
Anh ta cũng giữ lời hứa với tôi.
Từ đó không đánh bạc nữa!
(Sự việc này cũng vô cùng hiếm gặp.)


### 42. **Hồn ma ở Panama**


Từ ngày 5 đến 9 tháng 10 năm 2018, tôi đã đi hoằng pháp tại Panama ở miền Trung Nam nước Mỹ. 
Chân Phật Tông ở Panama có Thường Hoằng Lôi Tạng Tự và Bảo Hoa đồng tu hội.
Tôi được chiêu đãi ở tại khách sạn Riu.
Tầng 33.
Phòng số 3318.
(Những người ở tầng 33 đều là các Thượng sư và pháp sư, không có người khách nào khác.)
Vào khoảng thời gian lúc chập tối, tôi ở trong phòng nghe thấy có âm thanh bên ngoài hành lang lối đi.
1. Âm thanh của xe tăng. Ầm ầm, ầm ầm, ầm ầm, từ trái qua phải, đến cửa phòng tôi thì dừng lại.
2. Ngoài ra còn có âm thanh của tiếng bom nổ.
3. Âm thanh của nam nữ nói tiếng Tây Ban Nha.
Ban đầu tôi cho rằng âm thanh ầm ầm là tiếng máy hút bụi cỡ lớn của khách sạn đang hút bụi thảm sàn. 
Nhưng tiếng bom nổ.
Tiếng nam nữ nói chuyện, căn bản là không có cách nào để giải thích được. 
Tôi nghĩ tai của tôi khả năng là bị hỏng rồi!

🌟

Sáng sớm ngày hôm sau.
Trong lúc tôi tu pháp, ghế *sofa* của phòng khách phát ra tiếng vọng lạ, cửa sổ kiểu Pháp phát ra âm thanh lạ, tivi ở bên trái phát ra âm thanh lạ, tủ trưng bày bên phải phát ra âm thanh lạ, bức tranh vẽ phía sau phát ra âm thanh lạ. Giống như đang đánh trống rất vui vẻ vậy.
Tôi nói:
"Đừng làm ồn nữa, tìm tôi có việc gì?"
Bọn họ nói:
"Chúng tôi xem báo cáo tin tức biết ngài đến đây, nên đặc biệt đến để xin siêu độ!"
"Lúc trước có Quỷ Bà đến đây siêu độ, sao không xin?"
Bọn họ đáp:
"Người đàn bà này bản thân là hôn thân quỷ khí, chúng tôi đã đến gặp rồi, chẳng được tí lợi ích nào. Bản thân người đàn bà này xung quanh đều là ma quỷ, không phải là người có đạo."
Có một con ma người Hoa nói:
"Người đàn bà này còn gửi nuôi nhờ mấy con ma tại Thường Hoằng Lôi Tạng Tự và Bảo Hoa đồng tu hội nữa. Nghe nói, các chùa, đường, hội của Chân Phật Tông đều giúp người đàn bà này nuôi ma quỷ rồi đó!"
Tôi nói:
"Hóa ra các người đều biết!"
Bọn họ đáp:
"Quỷ thần đều biết."
Tôi nói:
"Người đàn bà này có biết siêu độ không?"
Bọn họ đáp:
"Làm điệu bộ mà thôi! Người đàn bà này mồm miệng toàn nói điều nhảm nhí!"
Tôi hỏi:
"Vì sao các người tìm tôi?"
Bọn họ đáp:
"Lư Sư Tôn là người tài cao, chẳng ai là không biết, chúng tôi không tìm ngài thì còn tìm ai?"
Tôi nói:
"Được rồi! Thế thì các người đến Thường Hoằng Lôi Tạng Tự tham gia pháp hội, chắc chắn tôi sẽ siêu độ cho các người!"
Tôi nói xong thì bọn họ cũng tản đi.

Chú thích 1:
Các đồng môn ở Panama đi tìm thông tin, hóa ra là vào năm 1989, Mỹ đánh Panama, muốn bắt tổng thống Panama. Máy bay Mỹ ném bom, xe tăng ra trận, tổng cộng Panama đã chết hơn ba nghìn người. Chiến tranh chỉ kéo dài ba tiếng là đã kết thúc rồi.

Chú thích 2:
Hóa ra không chỉ có mình tôi nghe thấy âm thanh tiếng xe tăng, tiếng nam nữ nói chuyện. Sư huynh họ Phạm, Thượng sư Liên Ấn, pháp sư Liên Anh, Thượng sư Liên Mãn, Thượng sư Liên Truyền đều nghe thấy. Người nghe thấy được cũng không ít đâu.


### 43. **Khai quang ở Panama**


Lần này tôi đi Panama, ngoài việc hoằng pháp ra thì tôi còn làm khai quang lại từ đầu cho:
Thường Hoằng Lôi Tạng Tự.
Bảo Hoa đồng tu hội.
Tôi muốn nói cho mọi người biết:
Khi tôi rời khỏi Seattle thì Seattle ngày nào cũng mưa. 
Khi tôi vừa trở về Seattle thì Seattle mới tạnh mưa. 
Trời trong vắt!
Tương tự.
Panama đang vào mùa mưa, mưa liên miên không ngớt. 
Hạt mưa to như hạt đậu trút xuống. 
Ngày tôi đến Panama, thời tiết lập tức sáng sủa. 
Tôi ở Panama tổng cộng năm ngày.
Cả năm ngày đều trời xanh mây trắng.
Nhưng khi tôi vừa đặt chân lên máy bay để trở về Seattle.
Panama lại bắt đầu đổ mưa lớn.
Tôi đến Bảo Hoa đồng tu hội cũng gặp chuyện tương tự. Trước khi tôi đến, liên tiếp mấy ngày đều mưa. 
Ngày mà tôi đến thì mưa lại tạnh.
(Khoảng cách từ Bảo Hoa đồng tu hội đến thành phố Panama là khoảng sáu tiếng chạy xe ô tô, đi máy bay thì mất một tiếng.)
Tóm lại là:
Cứ khi tôi ở đâu thì thời tiết lại trong xanh.
Tôi vừa rời đi thì trời lại đổ mưa lớn, hạt mưa to như hạt đậu. Sự việc này khiến cho đồng môn ở Panama vô cùng cảm thán!

🌟

Buổi sáng sớm một ngày nọ, phương Đông vẫn còn chưa sáng, nhưng những tia nắng ban mai đã tràn ngập căn phòng của tôi. Tôi thức dậy, kéo rèm cửa, không ngờ trên không trung có rất nhiều chim với màu sắc rực rỡ đang bay lượn. 
Trên đầu những con chim này đều có kim quang.
Khi chúng bay qua cửa sổ phòng tôi, tôi mới biết chúng không phải chim mà là rất nhiều Kim Tiên. 
Đồng thời, từ trong không trung đưa đến những khúc nhạc của cõi trời.
Thiên âm thiên nhạc.
Tôi còn ngửi thấy một mùi thơm diệu kỳ, mùi thơm này chỉ có ở thiên thượng giới mới có. 
Tôi vỗ tay khen ngợi một vị Kim Tiên với kim quang rực rỡ đang lượn vòng.
Tôi hỏi:
"Vì sao các vị lại vội vàng như vậy?"
Kim Tiên đáp:
"Chúng tôi muốn mau chóng đến một lễ hội đặc biệt!"
Tôi hỏi:
"Là lễ hội gì vậy?"
Kim Tiên đáp:
"Thường Hoằng Lôi Tạng Tự hôm nay khai quang, sẽ có cúng dường lớn. Liên Sinh Pháp Vương chủ trì, đây là một lễ hội lớn, hy hữu khó gặp."
Tôi nói:
"Tôi là Liên Sinh Pháp Vương đây!"
Kim Tiên nói:
"A! Thảo nào trên đầu ngài có tam quang!"
Tôi hỏi:
"Trước đây chẳng phải có một người phụ nữ cũng đã khai quang sao?"
Kim Tiên đáp:
"À, có, đó là người nuôi ma quỷ đúng không? Bà ta nào có khai quang, bà ta chỉ đem quỷ vào Thường Hoằng Lôi Tạng Tự, kết quả là ô nhiễm cả bầu không khí, chúng tôi có tham gia đâu."
Tôi nghe mà buồn lòng.
Tôi hướng về Kim Tiên chắp tay lại. 
Kim Tiên lướt bay đi!
Trước mắt tôi xuất hiện A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát.
A Di Đà Phật nói:
"Ngài đừng buồn, ngài đi khai quang, những con quỷ được ký gửi ở đó tự nhiên sẽ bỏ đi, tất cả sẽ hoàn toàn như mới."


### 44. **Thơ thần thông**


(1)
Thì ra lục đạo luân hồi khổ liên miên
Chẳng phải hẹn từ trước
Niềm vui mới đây thôi
Trước hoa dưới nguyệt lại cùng gặp mặt.

Mấy độ xuân thu
Nặng ý tình
Rồi lại cùng già đi
Ánh hoàng hôn đâu nhất định phải đỏ
Nói tới nói lui cũng vẫn vậy thôi.

Một dòng sông
Lại thêm một ngọn núi
Sông rộng núi càng cao
Ôi
Bạn bè người thân còn ai nữa
Chỉ còn nước mắt rơi
Thịnh vượng có nghĩa gì…

(2)

Hôm nay chơi Đông
Mai lại chơi Tây
Người ta giống như con thuyền không mái chèo nhẹ trôi
Dập dềnh nơi đây
Bồng bềnh nơi kia
Chỉ có nhành liễu trên mặt nước lướt nhẹ qua.

Cứ thế trôi đi
Xuân đến
Đông qua
Bất kể mỗi ngày trải qua thế nào
Mái đầu ta rồi vẫn cứ bạc trắng
Hát lên bài ca
Tỉnh thì sao đây
Mơ thì sao đây
Lời ca sao chẳng kéo dài mãi…

(3)

Vừa có thần thông
Vừa chẳng có thần thông
Đây có phải là cái thứ gì không?
Hay chỉ là trùng hợp
Hay chỉ là khéo may
Trùng hợp lại còn may
Hay hay hay.

Tôi chẳng hiểu logic
Chỉ là tinh thần hễ tập trung
Thư giãn
Biến hóa
Giống như một cơn gió
Chẳng có mong cầu
Nhưng
Chẳng uổng công.

(4)

Quán tưởng
Trì chú
Nhập Tam ma địa
Vô niệm
Chẳng nghĩ thiện
Chẳng nghĩ ác
Thần chính ở trong
Trên dưới xưa nay chẳng khác.


### 45. **Sống thêm một tháng**


Liên Hoa Thái An, đệ tử Chân Phật Tông, năm 79 tuổi thì qua đời. 
Người nhà bận rộn lo hậu sự.
Nhưng ba tiếng sau khi chết, Liên Hoa Thái An, đột nhiên hơi thở lại gấp gáp trở lại. 
Người nhà và bạn bè mau chóng đi vào nơi đặt linh cữu.
Hỏi:
"Có chuyện gì vậy?"
Người nhà đáp:
"Sống lại rồi!"
Có người nói:
"Thiên hạ này chỉ có Chúa Jesus là hồi sinh, người khác làm sao có thể sống lại được?"
Thế nhưng Liên Hoa Thái An thực sự là đã sống lại.

Người nhà hỏi:
"Sau khi chết thì thế nào?"
Thái An nói:
"Sau khi tôi chết, cả một màn đen, không biết Đông Tây Nam Bắc, sau đó thì dần dần sáng lên một chút. Tôi từ cửa lớn đi ra khỏi nhà, đi được mấy quãng đường, đường rất dài, không biết điểm kết thúc là nơi nào."
"Sau đó tôi có suy nghĩ khác, tôi là đệ tử Chân Phật Tông, nên nghĩ đến Lư Sư Tôn. Thế là tôi liền niệm Thượng sư tâm chú: Om guru liansheng siddhi hum."
Thế là Lư Sư Tôn cùng Liên Hoa Thái An đối thoại.
Lư hỏi:
"Bà đi đâu thế?"
Thái An đáp:
"Không biết!"
Lư hỏi:
"Tại sao không theo tôi đến Ma Ha Song Liên Trì đi!"
Thái An đáp:
"Muốn vãng sinh Ma Ha Song Liên Trì!"

Lư Sư Tôn dùng ánh sáng trắng bao bọc lấy toàn bộ Liên Hoa Thái An, rồi hai người cùng bay đi. Không ngờ Liên Hoa Thái An thân thể rất nặng, không bay lên được.
Lư hỏi:
"Vì sao không bay lên được? Trong lòng vẫn còn việc gì sao?"
Thái An đáp:
"Tôi có bí mật để dành một ít tiền riêng, muốn đưa cho con cháu dùng, nhưng hôm nay lại đột ngột chết. Không có ai biết chỗ tôi cất tiền, để tôi trở về nói cho mọi người biết, rồi tôi mới có thể yên lòng mà đi."
Tôi cười!
"Chuyện nhỏ, ha!"
Lư Sư Tôn nói:
"Thế này đi! Cho bà sống thêm một tháng nữa, đợi bà xử lý xong mọi việc, tôi mới đến tiếp dẫn bà."
Thế là:
Lư Sư Tôn biến mất.
Liên Hoa Thái An thực sự sống lại.
(Cả cuộc đời Liên Hoa Thái An dành dụm được một khoản tiền lớn, cất trong một cái hộp an toàn nhỏ, nhân lúc không có ai nhìn thấy đã chôn cái hộp dưới một gốc cây lớn bên cạnh mảnh ruộng của mình. Việc này trước nay không có ai biết cả.)

Liên Hoa Thái An rất mau chóng bàn giao rõ ràng chuyện này. 
Bà tranh thủ mọi thời gian.
Nỗ lực tu pháp.
Ra sức niệm chú. 
Niệm kinh Cao Vương Quan Thế Âm.
Sức khỏe của bà ngày càng tốt lên, bà còn làm đại lễ bái, đại cúng dường, tứ quy y, ra sức làm việc thiện…
Mọi người cho rằng bà sẽ chẳng chết nữa.
Nhưng khi một tháng hết, bà tự mặc quần áo dành cho người chết, nằm lên gường. 
Hai mắt nhắm lại, im lặng rất lâu, quả nhiên thực sự đã qua đời!


### 46. **Có người hỏi tôi chuyện thần thông**


Có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn, ngài có thần thông không?"
Tôi đáp:
"Không!"
Người kia nói:
"Đọc sách của ngài, nghe ngài thuyết pháp, Chân Phật Báo, Tạp chí Nhiên Đăng, đâu đâu cũng có thần thông mà?"
Tôi đáp:
"Trùng hợp thôi!"
Hỏi:
"U não của Elizabeth vì sao lại biến mất? Đây không phải thần thông thì là cái gì?"
Đáp:
"Elizabeth là một đệ tử người Indonesia, có thể vẽ tranh thangka. Não có u, rất đau đỡn. Cô đến Seattle tìm tôi, đêm về ngủ mơ thấy Lư Sư Tôn giúp cô mổ não, lấy ra khối u não. Sau đó bệnh liền khỏi. Kiểm tra để tìm tung tích của khối u thì không thấy đâu nữa."
Hỏi:
"Đây chính là thần thông, sao lại bảo là không?"
Đáp:
"Đó là cô ấy nằm mơ!"
Hỏi:
"Trên da của tôi cũng mọc lên hai cái u lớn, liệu có thể mượn giấc mơ và ngài cũng đến để mổ, rồi vì thế mà được tiêu trừ đi không?"
Đáp:
"Không thể!"
Hỏi:
"Elizabeth có thể! Vì sao tôi không thể?"
Đáp:
"Mỗi việc đều có nhân duyên."
Hỏi:
"Là nghiệp tội của tôi sâu nặng sao?"
Đáp:
"Tôi cũng không biết!"
Hỏi:
"Ngài làm sao để luyện được năng lực này?"
Đáp:
"Tôi không có luyện thần thông."
Hỏi:
"Là ngài tu pháp sao?"
Đáp:
"Đúng vậy. Tôi tu Tứ gia hành, Thượng sư tương ứng, Bổn tôn tương ứng, Nội pháp (khí-mạch-minh điểm), tu Kim cang pháp, tu Vô thượng mật, tu Đại viên mãn."
Hỏi:
"Nhưng chỉ tu pháp mà cũng tự nhiên sinh ra sức mạnh thần thông ư."
Đáp:
"Hẳn là vậy."
Hỏi:
"Tu pháp là tu thần thông sao?"
Đáp:
"Không đúng! Tôi tu thân, khẩu, ý thanh tịnh, khiến nghiệp chướng tiêu trừ. Dùng sự thanh tịnh và Bồ Tát hạnh để chứng quả chứng đạo, chẳng có liên quan gì đến thần thông."
Hỏi:
"Đối với việc tiêu trừ bệnh tật, khỏe mạnh sống lâu, cầu con cái, gia đình viên dung, tư lương đủ đầy, đạt thành danh vị, giải trừ các loại kiện tụng và tai ương, đều có thể bổ sung cho viên mãn được hết, phải không?"
Đáp:
"Đúng!"
Hỏi:
"Tôi làm sao để phát tài đây?"
Đáp:
"Làm nhiều việc thiện, tu pháp Tài Thần!"


### 47. **Nghèo hóa giàu**


Ngày xưa có một người tên là Tạ Minh.
Mời tôi xem phong thủy. 
Từ thế hệ cha chú của Tạ Minh, gia cảnh gặp nhiều điều bất hạnh. Khi còn nhỏ anh sinh ra trong một khu nhà ổ chuột. Trình độ học thức của anh chỉ hết tiểu học. Lớn lên đi nhặt rác kiếm sống, cũng chỉ đủ để sống qua ngày mà thôi.
Anh nghe người ta nói Lư Sư Tôn có năng lực siêu phàm, số một về xem phong thủy, thế là anh đến mời tôi về xem phong thủy. 
Tôi đã đến xem căn nhà đơn sơ nghèo nàn chất đầy báo cũ và các loại chai lọ phế liệu của anh. 
Tôi cũng xem cả khu mộ phần lộn xộn của thế hệ cha chú của anh.
Phong thủy bình thường.
Không có khả năng làm giàu.
Tôi hỏi anh:
"Anh có tin tôi hay không?"
Anh đáp:
"Tin." - Ngữ khí rất kiên định.
Tôi hỏi:
"Tôi có một bức tượng Liên Hoa Đồng tử, anh thỉnh về nhà để thờ cúng, niệm tâm chú Liên Hoa Đồng Tử, quán tưởng ngài trụ ở đỉnh đầu, có làm được không?"
Anh đáp:
"Được."
Tôi nói:
"Ngài có thể giúp anh từ nghèo hóa giàu!"
(Tôi không tùy ý nói bừa với anh, mà là tôi nhìn thấy mặt của Tạ Minh có cơ làm giàu. Còn Liên Hoa Đồng Tử là Đại Phúc Kim Cang, Tạ Minh có khả năng phát tài.)

Sau đó. 
Anh đến một gia đình quả phụ để thu mua phế liệu, quả phụ đối xử ưu ái với anh. Quả phụ này cũng khá ưa nhìn.
Quả phụ bí mật giúp đỡ anh tiền, anh dành dụm khoản tiền này, dần dần cũng có được một khoản tiết kiệm.
Một đêm nọ.
Tạ Minh mơ thấy Liên Hoa Đồng Tử xuất hiện, bảo anh mau đi tới thị trường cổ phiếu mua một loại cổ phiếu đang ở đáy. 
Cổ phiếu ngày người ta chẳng ai thèm mua.
Liên Hoa Đồng Tử nói:
"Sẽ phát tài!"
Sau đó, quả nhiên, cổ phiếu này lọt vào tay một đại gia tiếp quản, giá trị cổ phiếu liền tăng trưởng nhiều lần.
Từ tình trạng dưới đáy trở thành cổ phiếu "nóng".
Tạ Minh đã trở thành người có chút tiền, anh đã mua được nhà.

Lại có một đêm khác.
Liên Hoa Đồng Tử bảo anh đi mua một nhà máy sản xuất thép xập xệ, rồi quản lý nó cho tốt, sẽ phát tài. 
Kết quả đúng là như vậy. 
Đơn hàng đổ về như nước. 
Anh tuyển thêm công nhân ngày đêm làm việc.
Anh kinh doanh xưởng sản xuất thép có được danh tiếng tốt, càng ngày càng thịnh vượng. Tạ Minh bây giờ cũng trở nên giỏi giang rồi, không ngờ còn biết cả thiết kế cơ khí. Đơn hàng từ khắp nơi trên thế giới nườm nượp đổ về. Anh đã trở nên giàu có rồi.

Anh muốn bày tỏ lòng cảm tạ nên đã lấy quả phụ nọ làm vợ, người vợ cũng đem theo một khoản tài sản lớn nữa. Cứ mỗi dịp lễ Tết, anh lại gửi tôi một hồng bao lớn và rất nhiều lễ phẩm. 
Anh sắp đặt đàn thành cực kì trang nghiêm.
Tạ Minh nói:
"Hai lần chỉ thị của Liên Hoa Đồng Tử đều cực kì chuẩn. Lần đầu mua bán cổ phiếu. Lần sau mua xưởng sản xuất thép cũ. Đây đều là yếu tố giúp làm giàu."
Nhà của Tạ Minh có phong cách sang trọng. 
Con cái của Tạ Minh đều ưu tú. Đây là một ví dụ về nghèo hóa giàu.


### 48. **Hồn ma**


Một người phụ nữ đưa con gái đến gặp tôi. 
Người con gái này dáng dong dỏng cao, gương mặt xinh xắn, đáng yêu, thần khí có phần u ám, mặt lạnh người gầy, cực kì mệt mỏi. 
Không khác gì người giấy bị mắc chứng bệnh chán ăn.
Người phụ nữ nói:
"Con gái tôi sinh ra đã thông minh, xinh đẹp như tiên, duyên dáng khác thường, vẻ đẹp giống như tiên nữ vậy. Nhưng năm tháng nay không biết vì nguyên nhân gì mà ngày một gầy ốm, bây giờ giống như một bộ xương biết đi vậy."
Người phụ nữ nói:
Không ăn.
Không ngủ.
Không nói.
Không thưa.
Giống như hồn ma mắc chứng bệnh lao vậy.

Đã đi khám nhiều bác sĩ rồi, nhưng không tìm ra nguyên nhân là gì. Mời thầy thuốc Đông y khám, bác sĩ nói đường mạch mong manh tán loạn, nhưng châm cứu uống thuốc cũng không thấy khỏi.
Bác sĩ Đông y nói:
"Đi tìm Lư Sư Tôn xem sao!"
Thế là người phụ nữ đưa con gái đến tìm tôi.
Trước tiên tôi làm thần toán. 
Đáp án là: 
"Bị ma nhập."
Trước hết tôi mời tất cả mọi người ra ngoài, chỉ có người mẹ và cô con gái được ở lại. 
Đầu tiên tôi vỗ vào lưng (để làm thanh tịnh).
Tôi lại hỏi:
"Cô gặp ma như thế nào?"
Cô con gái không ngờ cũng có thể trả lời tôi rằng:
"Trong mơ!"
Tôi hỏi:
"Mơ thế nào?"
Cô lại không trả lời nữa.

Tôi nói:
"Ngoài tôi có thể cứu cô ra, thì thực sự chẳng ai có thể cứu cô đâu. Xin nói rõ sự tình ra xem!"
Cô gái ngập ngừng nói:
Năm tháng trước, vào lúc cô đang ngủ trưa, trong mơ cô gặp một thanh niên trẻ tuổi tướng mạo tuấn tú, cao ráo đẹp trai, đứng trước giường cô. Tuổi có lẽ khoảng ba mươi.
Người con trai này nói:
"Ngưỡng mộ em đã lâu rồi! Mong chờ có được hạnh phúc này."
Kết quả là lên giường.
Thực hiện việc tốt của anh ta.
Mặc dù là trong mơ nhưng cảm giác sung sướng khoái lạc không gì sánh bằng, kéo dài rất lâu. Cô chỉ có chút cảm thấy người con trai này tay chân hơi lạnh.
Từ đó về sau.
Người con trai này mỗi đêm đều đến, trời sáng lại đi! 
Trong lòng cô đã yêu say đắm, không muốn từ chối anh.
Nhưng thân thể thì ngày càng yếu ớt, ngày một gầy gò, cuối cùng chẳng thiết ăn uống, chỉ ngồi một mình.

Cô lại nói:
"Người con trai này nói với cô, thêm hai tháng nữa sẽ đến cưới cô, chúng ta là vợ chồng thần tiên!"
Tôi nghe xong mà kinh hãi, cô gái này hai tháng nữa chắc chắn sẽ chết, không còn nghi ngờ gì.
Tôi nói:
"Tôi có thể cứu cô!"
Tôi dùng pháp Thế thân:
Dùng 49 người giấy để thế thân, viết lên đó bát tự của cô gái, gia trì cho chúng trở nên có thần. (Đặt lên giường của cô gái.)
Cô gái sẽ ở tại căn phòng khác, trong phòng đặt Kim Cang Thần phù. Thần phù phát ra đại quang minh, từ đó cô gái không bị quấy rối nữa. 
Chỉ có những hình thế thân bị con ma nam đến quấy nhiễu. Sau đó tôi cũng dùng "áp phù" đối với con ma nam này, tống nó đến Quỷ Môn Quan, điện Diêm Vương.
Còn cô gái này kể từ đó thân tâm cũng dần dần khỏe mạnh trở lại rồi!


### 49. **Atisa tôn giả niệm tụng pháp**


1. Tiền hành:

Đại lễ bái.
Đại cúng dường.
Tứ quy y.
Tứ vô lượng tâm.
Mặc bia giáp hộ thân.
Pháp sám hối.
v.v….

2. Chính hành:

Kết thủ ấn: ấn Chuyển pháp luân (giống thủ ấn của Tsongkhapa tôn giả.)

Quán tưởng: Trong hư không vũ trụ hiện lên núi Tu Di cao sừng sững, trên đỉnh núi Tu Di hóa hiện tòa sư tử.
Tên tòa sư tử có nguyệt luân hoa sen. 
Trên nguyệt luân hiển hiện chủng tự chữ Ah. 


![image](/img/img_5b477c56cae69a3da238b00dda93ba1a.png)


Từ chữ Ah chuyển hóa thành Atisa tôn giả. Tôn giả tay kết ấn Chuyển pháp luân, mặc pháp y màu đỏ, đội mũ đỏ. 
Bên phải đặt tháp xá lợi (đầy các hạt xá lợi). 
Bên trái đặt bảo bình (đầy nước cam lộ).

Atisa tôn giả ngồi tư thế kiết già, an trụ trong ánh sáng trí huệ, xung quanh hiển hiện những sợi tơ ánh sáng cầu vồng.
Trên đỉnh đầu có Phật Thích Ca Mâu Ni.
Atisa tôn giả tướng mạo trang nghiêm, diễn hóa Phật pháp sâu rộng.
Chữ Om (tiếng Phạn) chiếu đến thiên tâm của hành giả. (ánh sáng trắng)
Chữ Ah (tiếng Phạn) chiếu đến cổ họng của hành giả. (ánh sáng đỏ)
Chữ Hum (tiếng Phạn) chiếu đến tâm luân của hành giả. (ánh sáng lam)
Khiến hành giả thân - khẩu - ý được thanh tịnh.

Quán tưởng Atisa tôn giả hóa thành điểm ánh sáng đi vào trung mạch của hành giả, hướng đến hoa sen tám cánh ở tâm luân. 
Atisa tôn giả và hành giả hợp làm một, không hai không khác. 
Hành giả hóa thành Atisa tôn giả.

Niệm chú:
"Ôm ben-za a-ti-sa ka-tang sô-ha." (108 biến hoặc nhiều hơn)
Nhập Tam ma địa: tinh thần chuyên nhất, thiền định, thậm thâm định.

Xuất định.

3. Tụng tán:

Kính lễ thiêu hủy mọi hý luận
Viên chứng sâu rộng hai loại thân
Ánh sáng sự nghiệp khắp mười phương
Mạt thế Pháp Vương Nhiên Đăng Trí.

4. Hồi hướng:

Nguyện tất cả chúng sinh hữu tình đều thành tựu Phật đạo.
Nguyện tăng phúc, tăng huệ, tăng thọ, lợi ích chúng sinh.
Nguyện hành giả và chúng đẳng đều đến được Phật quốc.
Nguyện đời đời kiếp kiếp chuyển vô thượng pháp luân.

🌟

Ghi chú:

Atisa tôn giả là Bạch Liên Hoa chuyển thế.
Sinh ra vào năm 982 tại miền Đông Ấn Độ, là con vua.
Các vị thầy mà ngài nương dựa học pháp tổng cộng có 12 vị.
Căn bản thượng sư của ngài là:
La Hầu La Cực Đa thượng sư.
A Phược Đô Đế thượng sư.
Kim Châu thượng sư.
Người xuống tóc cho ngài xuất gia là Giới Khải luật sư. (Xuất gia khi 29 tuổi.)
Pháp danh: Cát Tường Nhiên Đăng Trí.
Các tác phẩm đã viết: Bồ Đề Đạo Đăng, Chú thích Bát Nhã Tâm Kinh, Nhập Nhị Đế, Nhất Niệm Yếu Quyết, Trung Quán Yếu Quyết, Tập Nhiếp Tâm Yếu, Hỷ Kim Cang, Mật Tập, Thánh Độ Mẫu……
Đến Tây Tạng hoằng pháp. (Là cha đẻ của Mật giáo Tây Tạng.)

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/270-phat-da-ma-toi-biet.md
# Title: 270. Phật Đà mà tôi biết
---

![image](/img/img_c07b85b004de70f43f2c6047d8d66eb2.jpg)



## Phật Đà mà tôi biết


🪷 Tôi nghe như vầy

Văn tập: 270
Xuất bản: 03/2019
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu


**Phật Đà! Ngài ở nơi đâu?**

Rất nhiều năm trước tôi đã xem một bộ phim, trong phim có một cảnh khiến tôi rúng động. 
Cảnh phim đó là:
Một tăng nhân, cũng là một tu hành giả đã già.
Đã trải qua đủ cả tửu, sắc, tài, khí. 
Ông cũng đã tu hành niệm Phật, trì chú, thiền định, giới hạnh… các loại phạm hạnh. 
Cuối cùng, tăng nhân cao giọng gọi lớn, ở trước thánh tượng của Phật Đà, tăng nhân hét lên rất to:
Phật Đà! Ngài ở nơi đâu?
Phật Đà! Ngài ở nơi đâu?
Phật Đà! Ngài rốt cục là ở chỗ nào?
Phật Đà! Ngài ở trong lúc say rượu sao?
Phật Đà! Ngài ở trên cơ thể trần trụi của đàn bà sao?
Phật Đà! Ngài ở trong tiền vàng sao?
Phật Đà! Ngài ở trong tham, sân, si sao?
Phật…. Phật…. Phật…. Phật….

PHẬT ĐÀ RỐT CỤC NGÀI Ở ĐÂU?

Tiếng kêu gào đầy đau đớn này xé toạc màn đêm thăm thẳm. Mỗi một tiếng kêu lên khiến người ta cảm động nhức nhối.
Cuối cùng, tăng nhân ngã xuống! 
Tăng nhân cũng biến mất luôn! 
Cảnh phim khép lại.

Trong sách viết rất nhiều về những ứng hóa của Phật Đà. Ngay trên tay tôi đây cũng có hai cuốn, hai cuốn này là:

"Tuyển tập lịch sử ứng hóa của Thích Ca Như Lai" (Lão pháp sư Huệ Quang biên tập)

"Sự tích ứng hóa của Thích Ca Như Lai" (Thời Đường. Vương Bột soạn)

Những sự biến hóa này chẳng có gì khác ngoài:
*Dâng hoa búi tóc.
Cưỡi voi nhập thai.
Đản sinh tại gốc cây.
Học văn tập võ.
Dưới gốc cây xem cày ruộng.
Đấu võ cưới vợ.
Chu du khắp nơi.
Nửa đêm vượt thành.
6 năm nơi núi tuyết.
Dưới gốc cây bồ đề.
Tu đạo hàng ma.
Đắc đạo thành Phật.
*… v.v.

Những tích chuyện lịch sử về sự ứng hóa này rất nhiều người đều đã biết. Có một số người nghe nhiều tới mức thuộc làu làu, bàn tán sôi nổi.

🌟

Nay tôi viết cuốn sách "Phật Đà mà tôi biết" khác hẳn với sách của các tác giả trước đây.
Tôi nghe như vầy:
Là bởi tôi đích thân nghe thấy.
Là bởi tôi đích thân nhìn thấy.
Có người nói tôi là Xá Lợi Phất chuyển hóa. Tôi cũng chẳng biết là có phải hay không. Cũng có thể là phải, cũng có thể là không phải.
Nhưng, những gì tôi viết ra không giống với sách mọi người đã biết. 
Điều tôi muốn nói với mọi người là:
"Phật Đà! Rốt cục là ngài ở ngay đây."

Tôi chỉ ra:
"Phật Đà chân chính!”

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A

Tháng 03 năm 2019


### 01. **Tôi đến thăm Phật Đà**


Vì một vấn đề khó mà tôi đã du hành vượt thời gian, đích thân viếng thăm Phật Thích Ca Mâu Ni. 
Từ xa Phật Đà đã trông thấy tôi rồi.
Hỏi:
"Liên Sinh, đến có chuyện gì?"
Trước tiên tôi quỳ xuống, ngũ thể đầu địa, quỳ cao và chắp tay lại.
Đáp:
"Tôi có một chuyện khó quyết định, nên đặc biệt tới xin ngài dạy bảo."
Hỏi:
"Có chuyện gì khó quyết?"
Tôi đáp:
"Ngày xưa, Phổ Hiền Bồ Tát có mười đại nguyện, một trong số đó là "thỉnh Phật trụ thế". Nhưng ngày nay lại có một Quỷ Bà đề xuất rằng phải là "thỉnh Phật trụ tâm". Trụ thế với trụ tâm, chỉ khác nhau một chữ, bởi vì rất khó quyết định cái nào đúng cái nào sai, nên đặc biệt xin sự chỉ giáo của Thế Tôn Phật Đà."
Phật Đà cười nói:
"Liên Sinh, tôi đặc biệt nói cho ngài biết!"
Tôi nói:
"Nguyện xin nghe rõ."

Phật Đà nói:
“Năm xưa khi tôi mới đắc đạo thì đã muốn viên tịch, muốn nhập niết bàn rồi, không muốn trụ thế nữa. Sau đó có Đại Phạm Thiên, Đao Lợi Thiên khuyên thỉnh trụ thế, bởi vậy tôi mới lưu lại, ở lại thế giới Ta Bà này 80 năm. Bởi vậy mới có kinh, luật, luận truyền lại cho đời sau.”

Nếu như:
Đại Phạm Thiên, Đao Lợi Thiên không thỉnh Phật trụ thế, thì thế giới Ta Bà này cũng chẳng có chính pháp lưu truyền. Thế giới Ta Bà sẽ không biết đến Phật, chỉ là màn đêm.
Xin hỏi:
"Thỉnh Phật trụ tâm" bằng cách nào?
Bởi vì thế giới Ta Bà sẽ chẳng hề có chính pháp của Phật Đà mà!

Tôi lại hỏi:
"Nếu như Quỷ Bà cãi cố, cãi là vì đã có Phật Thích Ca Mâu Ni trụ thế, thế gian có Tam Bảo, nên Quỷ Bà mới đề xuất "thỉnh Phật trụ tâm", vậy ngài nói thế nào đây?"
Phật Đà đáp:
Thỉnh Phật trụ tâm chỉ là nói miệng sơ sơ vậy thôi, không phải thực tế, ai cũng nói được. Là đệ tử Phật chân chính cần tu trì tất cả phạm hạnh (hạnh thanh tịnh).
Quán đảnh thanh tịnh.
Tu pháp thanh tịnh.
Nghe hiểu thanh tịnh.
Giới hành thanh tịnh.
Thân khẩu ý thanh tịnh.
Nhập Tam ma địa thanh tịnh.
Không cần thỉnh thì Phật cũng đã ở trong tâm rồi. 
Nếu không như vậy thì thỉnh Phật trụ tâm chỉ là hô khẩu hiệu mà thôi!

Phật Đà lại nói:
"Thế gian có loại người xây dựng những ngôi chùa xa hoa rộng lớn, thu thập vô số tư lương, chùa chiền trở thành thắng cảnh tham quan, những con người tạp nham tới tới lui lui, chùa giống như trở thành nơi làm kinh doanh vậy. Đây chỉ là một kiểu bề ngoài. Giáo pháp của tôi là hành giả cần tu hành tất cả phạm hạnh, pháp nhập Tam ma địa, chứng đắc Phật quả mới là quan trọng nhất.
Tôi nghe những lời dạy của Phật Đà. 
Đã có thể phân biệt được:
"Thỉnh Phật trụ thế.”
"Thỉnh Phật trụ tâm.”
"Phật giáo bề ngoài.”
"Phật giáo chính pháp.”

Tôi đã nghe hiểu được thánh ngôn của Phật Đà, vô cùng hoan hỷ tán thán. Tôi đã hiểu rất rõ mục đích chân chính của Phật.
Quỷ Bà, xin đừng nuôi quỷ nữa!
Quỷ Bà, xin đừng nói những lời thoạt nghe tưởng đúng nhưng thực ra là sai bét nữa!
Quỷ Bà, xin đừng biểu hiện bên ngoài là từ bi nhưng lại đi lừa bịp tư lương của chúng sinh nữa!


### 02. **Lai lịch của Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm**


Có một đệ tử có phần nghi hoặc về lai lịch của Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát, xin tôi giải đáp nghi hoặc. Anh nói:
Anh đã từng nghe Lư Sư Tôn kể.
Ngày xưa. Quan Thế Âm Bồ Tát dùng sức mạnh đại từ bi để quảng độ chúng sinh. Bồ Tát muốn biết thành tích độ chúng sinh của mình như thế nào. Ngài dùng huệ nhãn để quan sát.
Kết quả là:
Chúng sinh chẳng tăng thêm một người.
Chúng sinh chẳng giảm đi một người.

Độ chúng sinh, chúng sinh chẳng bớt đi người nào, cũng chẳng tăng lên người nào. 
Thành tích như vậy tương đương quả trứng tròn trĩnh. 
Bồ Tát bởi thế nên bực mình, không độ chúng sinh nữa!
Chính Bồ Tát đã tự mình phát lời thề nguyện nhưng lại bỏ dở, do vậy mà đầu vỡ làm bảy phần, tứ chi và thân thể cũng tan nát.
Lúc này, A Di Đà Phật lập tức đến, gom tất cả những mảnh thân thể của Quan Thế Âm Bồ Tát sắp xếp lại, rồi thổi một hơi khí. 
Thế là Quan Thế Âm Bồ Tát sống lại.
Trở thành Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát.

🌟

Đệ tử này còn nói:
Anh cũng lại nghe kể chuyện về Diệu Trang Vương.
Công chúa thứ ba của Diệu Trang Vương là công chúa Diệu Thiện, công chúa thứ nhất là Diệu Thanh, công chúa thứ hai là Diệu Âm. Chỉ có công chúa Diệu Thiện là thích tu hành.
Nhưng Diệu Trang Vương không thích công chúa Diệu Thiện tu hành, tìm đủ cách ngăn cản, thậm chí còn gây áp lực. 
Cuối cùng, Phật Thích Ca Mâu Ni hướng dẫn công chúa đến Phổ Đà Lạc Gia Sơn để tu hành. 
Công chúa Diệu Thiện đã ở tại Phổ Đà Lạc Gia Sơn tu hành 9 năm, đạt được chứng quả, lấy danh hiệu là Quan Thế Âm Bồ Tát.
Sau này, Diệu Trang Vương ngã bệnh, bệnh tình rất nặng, đã sắp nhắm mắt buông tay rồi.
Có một hòa thượng thành tựu đạo đã chỉ dẫn :
Có hai vị thuốc có thể chữa được bệnh, đó là phải đem nấu chín con mắt và cánh tay của người thân ruột thịt của Quốc Vương lên rồi ăn thì mới có thể khỏi được. 
Diệu Thanh, Diệu Âm đều không dám. 
Chỉ có Diệu Thiện hiến dâng con mắt và tay của nàng. 
Kết quả là bệnh của Diệu Trang Vương đã khỏi. Sau đó ông cũng đã tin Phật. 
Còn công chúa Diệu Thiện (Quan Thế Âm Bồ Tát) liền mọc ra nghìn cánh tay, nghìn con mắt, trở thành Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát.

🌟

Đệ tử hỏi tôi:
"Chuyện nào là thật? Chuyện nào là giả?" (Hai câu chuyện này hoàn toàn khác nhau.)
Chính tôi cũng bị hoang mang rồi. 
Thế là, tôi lại "xuyên việt thời không", đến thỉnh Phật Thích Ca Mâu Ni giải đáp nghi hoặc.
Tôi hỏi Phật:
"Chuyện nào là thật?"
Phật không đáp.
"…"
Tôi hỏi lần hai:
"Chuyện nào mới là thật?"
Phật vẫn không đáp:
"…"
Tôi hỏi lần ba:
"Chuyện nào là đúng?"
Phật Đà nói:
"Mặt trăng soi bóng nghìn hồ, xin hỏi mặt trăng trong nghìn hồ nước này thì mặt trăng nào mới là thật?"
Tôi nghe xong câu này lập tức hiểu ra rồi!
(Vạn tượng thu về trong tấm gương.)


### 03. **Xá Lợi Phất hỏi Phật Đà**


Ngày xưa, Xá Lợi Phất hỏi Phật Đà:
"Thế Tôn! Năm xưa chứng đạo dưới gốc bồ đề, vì sao muốn lập tức nhập niết bàn, nguyên nhân là sao?"
Phật Đà đáp:
"Thế giới Ta Bà chỉ là huyễn nhân hành huyễn sự [con người huyễn làm điều huyễn], thế nên ta lập tức muốn nhập niết bàn, chỉ vì vậy mà thôi."
Xá Lợi Phất hỏi:
"Thế Tôn! Năm xưa Đại Phạm Thiên, Đao Lợi Thiên thỉnh Phật trụ thế, Phật Đà vì vậy mà trụ thế 80 năm, nguyên nhân là vì sao?"
Phật Đà đáp:
"Chỉ có hai chữ thôi: Từ Bi!"
Xá Lợi Phất hỏi:
"Từ bi, vì mục đích gì?"
Phật Đà đáp:
"Khuyên nhủ huyễn nhân rời xa huyễn."
Xá Lợi Phất hỏi:
"Thế Tôn ba lần chuyển pháp luân, làm lợi ích lớn cho thiên nhân, thuyết pháp 49 năm. Vậy vì sao lại nói chưa từng chuyển pháp luân? Vì sao lại nói chưa từng nói lấy một chữ?"
Phật Đà đáp:
"Ánh nến vốn vô tâm."
Xá Lợi Phất nghe xong liền hiểu ra rồi!
(Các thánh đệ tử có hiểu hay không?)

🌟

Ngày nay.
Tôi vì chuyện của Quỷ Bà mà đi hỏi Phật Đà.
Hỏi:
"Quỷ Bà lừa gạt tín chúng, hành vi này của bà ta là sao?"
Phật Đà đáp:
"Lấy huyễn lừa huyễn, người mù dắt người mù."
Hỏi:
"Vì sao nhiều người bị lừa như vậy, hơn nữa còn tin vào cái kẻ đáng chết này?"
Phật Đà đáp:
"Một đám người vô tri!"
Tôi hỏi:
"Viết sách để chữa cho họ thì sao?"
Phật Đà đáp:
"Những kẻ mà bệnh đã ăn vào ruột gan thì khó cứu độ lắm."
Tôi hỏi:
"Làm sao mới có thể cứu được?"
Phật Đà nói:
"Người có giới hành thanh tịnh mới có thể được cứu. Người có trí tuệ sáng suốt mới có thể được cứu."
Tôi hỏi:
"Vì sao khuyên rồi mà người ta không biết quay đầu?"
Phật Đà nói:
"Ngài không thể nào khi người ta mới quy y, khi mới cạo đầu, đã cho phép người ta dạy giới hạnh thanh tịnh được. Sai lầm này là tại ngài."
(Tôi rất xấu hổ.)
Tôi nói:
"Tôi đang sửa đây."
Phật Đà nói:
"Thế duyên dễ nhiễm, đạo nghiệp khó làm. Người có thể độ thì ngài có thể độ được, người không thể độ thì cũng không thể độ được."
Tôi hỏi Phật Đà:
"Trong tương lai tôi cần làm thế nào?"
Phật Đà đáp:
"Làm cái gì?"

Phật Đà cho tôi bốn câu:

*"Trói cởi chẳng khác.
Căn trần cùng nguồn.
Một chút chẳng đổi.
Dạo chơi thập phương."*


### 04. **Xá Lợi Phất hiểu phong thủy sao?**


Tôi hỏi Phật Đà:
"Lúc ban đầu Phật và đệ tử sống trong hang động tu  hành. Sau đó sống tại tinh xá Trúc Lâm và vườn Cấp Cô Độc. Hai nơi này khác nhau rất nhiều. Nơi ở trước thuộc về khổ hạnh, nơi ở sau thì lại thoải mái, việc này là vì sao?"
Phật Đà đáp:

"Nơi ở trước là khi đệ tử còn ít, do vậy nên ở trong hang động. Nơi ở sau là khi đệ tử đông, hang động không còn đủ chỗ dùng, do vậy mới sống trong tinh xá Trúc Lâm và vườn Cấp Cô Độc. Cũng vì thế mà đem đến rất nhiều sự phê bình."
Tôi hỏi Phật Đà:
"Địa lý của vườn Cấp Cô Độc nghe nói là do tôn giả Xá Lợi Phất tìm ra. Ngài ấy hiểu về phong thủy sao?"
Phật Đà nói:
“Việc này giải thích từ đầu thì rất dài. Tôi nói cho ngài nghe.

Ấn Độ cổ đại có vương quốc Kiêu Tát La, thủ đô là thành Xá Vệ, Quốc Vương là vua Ba Tư Nặc. 
Tể tướng chính là Tu Đạt, giàu có nhiều tiền. 
Tu Đạt thích bố thí, cứu tế người nghèo, nuôi dưỡng người già, người ta gọi ông là trưởng giả Cấp Cô Độc.
Trưởng giả Cấp Cô Độc nghe hiểu Phật pháp, khởi tâm cung kính to lớn, đặc biệt mời Phật Đà đến thành Xá Vệ hoằng pháp. 
Phật Đà đồng ý.
Nhưng Tu Đạt (Cấp Cô Độc) muốn xây tinh xá để làm nơi ở cho số lượng đệ tử đông đúc của Phật Đà. 
Phật Đà liền phái Xá Lợi Phất đi giúp đỡ việc xây tinh xá.

Do vậy Xá Lợi Phất bắt đầu chọn địa điểm.
Hoa viên ở thành phía Đông. 
Xá Lợi Phất nói: Không được! Nơi đây trồng hành tỏi quá nhiều, mùi xú uế ảnh hưởng tới con người, không thanh tịnh, do vậy không thể xây tinh xá.
Hoa viên ở thành phía Tây. 
Xá Lợi Phất nói: Không được! Đám đất này ngày trước là lò giết mổ, có mùi máu tanh.
Hoa viên ở thành phía Nam. 
Xá Lợi Phất nói: Đám đất này rất đẹp, có linh khí, có thể tập trung nhập định, có thể xây tinh xá được.
Cuối cùng, đây đã trở thành vườn Cấp Cô Độc của thời kỳ Phật Đà, tiếng tăm lừng lẫy.

Phật Đà nói:
"Xá Lợi Phất không hiểu về phong thủy, nhưng một bậc đại trí huệ như ngài ấy thì bẩm sinh đã hiểu cách chọn đất rồi. Việc này nhờ vào sự thông minh tài trí của Xá Lợi Phất, người ngoài hiểu nhầm là ngài ấy hiểu phong thủy."
Tôi hỏi:
"Vì sao Phật Đà nói là không thích phong thủy?"
Phật Đà nói:
"Ha ha ha! Pháp vẫn còn nên bỏ, huống hồ là không phải là pháp!"
Tôi hỏi:
"Cái là gì không phải là pháp?"
Phật Đà nói:
"Ngoài pháp cứu cánh thành Phật ra thì đều không phải là pháp!"
Phật nói tiếp:
"Bốc quẻ, chiêm tinh, phong thủy, thần toán, xem tướng mệnh… đều là phi pháp cả."
Tôi hỏi:
"Thần thông là phi pháp sao?
Phật Đà nói:
"Nói một cách nghiêm khắc thì đúng là phi pháp!" (Thần thông không phải là cứu cánh.)
Tôi hỏi:
"Thế nào là Như Lai cứu cánh nhất pháp?"
Phật Đà nói:
"Được mất thì rồi cũng chết, thập phương chư Phật hiện toàn thân."
Tôi nói:
"Không hiểu, xin nói rõ!"
Phật Đà nói:
"Nếu con người hiểu được thì trái đất này vốn chẳng có nắm đất nào. Nếu con người hiểu được thì vốn chẳng có nơi gọi là cứu cánh."
(Tôi đã hiểu rồi! Thánh đệ tử có hiểu không?)


### 05. **Mang nghiệp vãng sinh?**


Tôi hỏi Phật Đà:
"Thời Tịnh thổ tông thịnh hành, có hai phái, một phái chủ trương phải "tiêu nghiệp vãng sinh" [muốn được vãng sinh thì cần phải tiêu trừ hết nghiệp chướng], phái kia thì chủ trương có thể "mang nghiệp vãng sinh" [không cần phải tiêu trừ hết nghiệp chướng, có thể mang nghiệp cùng vãng sinh]. Không biết ý kiến của Phật Đà ra sao?"
Phật Đà hỏi ngược lại tôi:
"Liên Sinh, ngài nghĩ thế nào?"
Tôi đáp:
"Nghiệp chướng tiêu trừ hết thì đương nhiên có thể vãng sinh, đây là vấn đề chẳng có gì nghi ngờ. Còn đối với việc mang nghiệp vãng sinh thì tôi nghĩ cũng có thể được. Bởi vì trong kinh điển có nói, nếu có thiện nam tử thiện nữ nhân nghe A Di Đà Phật, nếu nhất tâm bất loạn trì tụng danh hiệu Phật một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu ngày, hoặc bảy ngày, thì người này vào lúc lâm chung, A Di Đà Phật và chư thánh chúng sẽ hiện lên trước mắt người đó. Người này vào lúc kết thúc đời người tâm không đảo điên thì lập tức được vãng sinh quốc thổ Cực Lạc của A Di Đà Phật."
Phật Đà đáp:
“Tiêu nghiệp vãng sinh, có thể!
Mang nghiệp vãng sinh, có thể!
Liên Sinh! Ngài nói đúng rồi!
Kì thực vãng sinh thế giới Cực Lạc cần hai điều kiện:
Không thể thiếu nhân duyên là thiện căn phúc đức.
Nhất tâm bất loạn, tâm không điên đảo.”
Phật Đà nói:
“Thiện căn!
Phúc đức!
Nhân duyên!
Đối với con người kiếp này để có được đã rất khó rồi!
Nhất tâm bất loạn, tâm không điên đảo, đây chính là Tam ma địa, cũng tức là điều tâm tập trung tại một chỗ.”
Phật Đà nói:
"Điều chỉnh tâm tập trung tại một chỗ, không việc gì là không làm được!
Muốn vãng sinh thế giới Cực Lạc cần có hai điều kiện này, nói khó thì cũng khó, mà nói dễ thì cũng dễ.”

Tôi hỏi Phật Đà:
"Nghiệp thì sao?"
Phật Đà đáp:
"Nghiệp đã nằm trong đó rồi!"

Trong một sát-na, tôi đã hiểu ra:
Thiện căn, cũng là nghiệp!
Phúc đức, cũng là nghiệp!
Nhân duyên, cũng là nghiệp!
Nhất tâm bất loạn, cũng là nghiệp!
Tâm không điên đảo, cũng là nghiệp!
Điều tâm một chỗ, cũng là nghiệp!
Vãng sinh Cực Lạc, cũng là nghiệp!
Tôi nói:
Thế giới Ta Bà không có gì là không phải nghiệp.
Thế giới Ta Bà chính là thế giới của nghiệp. 
Do vậy, khi A Nan tôn giả nói đã hiểu rõ nghiệp rồi, Phật Đà liền nói rằng ngài ấy vẫn chưa hiểu đâu.
Hóa ra là như vậy!
Hóa ra là như vậy!
Do vậy, tiêu nghiệp vãng sinh vẫn chưa hiểu nghiệp.
Do vậy, mang nghiệp vãng sinh, cũng không hiểu nghiệp.

Trong kinh A Di Đà, Phật Đà còn chưa nhắc đến chữ "nghiệp", nhưng, nghiệp đã nằm ngay trong đó rồi.
Tôi nói:
"Tất cả kinh mà chư Phật hộ niệm đều đắc chứng địa vị bất thối chuyển là A nậu đa la tam miểu tam bồ đề [quả vị Vô thượng chính đẳng chính giác, Vô thượng chính biến tri, Vô thượng bồ đề]."

Phật hỏi tôi:
"Dễ không?"
Tôi đáp:
"Dễ!"
Phật hỏi tôi:
"Khó không?"
Tôi đáp:
"Khó!"


### 06. Kinh **Cao Vương Quan Thế Âm là ngụy kinh?**


Đại sư Liên Trì nói:
"Kinh Cao Vương Quan Thế Âm là ngụy kinh!" [kinh giả]
Pháp sư Tịnh Không nói:
"Vì sao không niệm Quan Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm?"

Đây là lời bình phẩm của một vị đại sư và một vị pháp sư, những sự tranh cãi khác còn rất nhiều.

Nhân duyên của tôi với Cao Vương Kinh là như thế này. 
Tại Ngọc Hoàng Cung [tên một ngôi chùa tại thành phố Đài Trung], tôi được Diêu Trì Kim Mẫu mở thiên nhãn. Trụ trì của Ngọc Hoàng Cung là pháp sư Thích Huệ Linh, ngài đã đưa cho tôi một cuốn kinh điển rất mỏng bảo tôi đọc. Cuốn kinh điển này chính là: Cao Vương Quan Thế Âm Kinh.

Tôi bắt đầu trì tụng, từ năm 26 tuổi đến nay là 74 tuổi, trước giờ chưa từng gián đoạn.
Trên tàu xe tôi cũng niệm.
Trên máy bay tôi cũng niệm.
Trên đường đi du lịch tôi cũng niệm.
Niệm một cách thuần thục, tiếng tụng kinh không ngừng dứt.
Đương nhiên tôi biết rằng kinh điển này không phải là kinh do Phật tuyên thuyết, cũng biết rằng kinh này là thọ nhận từ giấc mơ. Nhưng tôi cảm thấy chẳng có gì là không tốt cả!

Theo như tôi biết, trong kinh bao gồm:
Tam quy y.
Đại thần chú, đại minh chú, vô thượng chú, vô đẳng đẳng chú.
Phật quốc hữu duyên, hữu duyên Phật pháp.
Các vị Phật phát quang. (Tịnh Quang Bí Mật Phật, Đăng Vương Phật, Lưu Ly Quang Phật, Phổ Quang, Định Quang, v.v…)
Quá khứ Thất Phật, vị lai Thiên Phật, hiện tại Phật.

Tôi bị hấp dẫn bởi câu kinh "năng diệt sinh tử khổ, tiêu trừ chư độc hại", lại còn niệm kinh đủ nghìn biến thì trọng tội đều tiêu diệt. Do vậy, tôi không những tự mình niệm mà thậm chí còn đề cao và phát triển rộng.

Cao Vương Kinh có nhiều kỳ tích linh nghiệm, điều này mọi người khắp nơi đều đã biết. Tự cổ chí kim đã có rất nhiều sự tích linh nghiệm không sao đếm xuể.
Pháp sư Thánh Nghiêm nói:
"Các đệ tử đều vẫn đang truyền tụng, không có hậu quả xấu nào."

Đích thân tôi tìm đến chỗ của Phật Đà, hỏi từng việc cho rõ ràng.
Tôi hỏi Phật Đà:
"Cao Vương Kinh là do chính Phật Đà tuyên thuyết phải không?"
Phật Đà đáp:
"Không phải!"
Tôi hỏi:
"Bởi vì không phải, nên nó chính là ngụy kinh phải không?"
Phật Đà đáp:
"Không phải!"
Tôi hỏi:
"Tôi rối lên cả rồi đây. Không phải Phật Đà nói, cũng không phải là ngụy kinh, vậy rốt cục xem nó là gì?"
Phật Đà đáp:
"Là do Tịnh Quang Bí Mật Phật truyền thụ trong giấc mơ."
Phật Đà lại nói:
"Rất nhiều kinh luận là chư Phật nói, chư Bồ Tát nói, chư Thánh Hiền nói, đều là vì lợi ích cho chúng sinh trong thiên hạ. Đây đều là chính pháp!"
Tôi hỏi:
"Làm sao để phân biệt thật giả?"
Phật Đà đáp:
"Dùng tam pháp ấn để kiểm chứng, nếu hợp thì là chính pháp, không hợp thì là phi pháp."


### 07. **Pháp song thân là chính hay là tà?**


Ngũ giới của Phật Đà là:

1. Không sát sinh.
2. Không trộm cắp.
3. Không tà dâm.
4. Không vọng ngữ.
5. Không uống rượu.

Tuy nhiên, trong kinh Viên Giác có nói: dâm, nộ, si, đều là Phật pháp.
Kinh Duy Ma Cật có nói: dâm, nộ, si, đều là Phật pháp.

Tôi xem trong Mật giáo Lý Thú Kinh cũng nhắc đến: tu đạo tham, tu đạo sân, tu đạo si. Do vậy mới nói: đạo tham gần Phật, đạo sân gần Kim Cang, đạo si gần Bồ Tát.

Pháp song thân từ xưa đến nay đều không ngừng bị phỉ báng. Tôi đặc biệt vì việc này mà đi thỉnh giáo Phật Đà.
Tôi hỏi Phật Đà:
"Tôi đến hỏi Phật Đà một sự việc mà từ xưa tới nay luôn đầy nghi ngờ."
Phật Đà nói:
"Hỏi về tham đạo phải không?"
Tôi rất kinh ngạc:
"Phật Đà đã biết mục đích tôi đến đây sao?"
Phật Đà nói:
"Trên trời dưới đất chẳng có gì bằng được Phật."
Tôi hỏi:
"Là sao?"
Phật Đà đáp:
"Ngày xưa có Duy Ma Cật Đại Sĩ và Tán Hoa Thiên Nữ."
Tôi hỏi:
"Mật giáo thì sao?"
Phật Đà đáp:
"Liên Hoa Sinh Đại Sĩ và công chúa Yeshe Tsogyal."
Tôi hỏi:
"Là chính? Hay là tà?"
Phật Đà đáp:
"Là chính." (Câu trả lời này khiến tôi kinh ngạc.)
Tôi hỏi:
"Vì sao như vậy?"
Phật Đà đáp:
"Chính niệm tu chính pháp." (Thực sự không có dâm niệm.)
Tôi xin Phật Đà nói rõ hơn.

Phật Đà nói:
“Chúng sinh trong thiên hạ đều từ "dâm" mà sinh ra. "Song thân" tức là dâm. Những người xuất gia phạm hạnh thanh tịnh cần nghiêm khắc giữ giới luật không được tà dâm, không được mảy may sơ xảy. Có như vậy mới đạt được thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh.
Tu đạo tham cần phải:
Thân cùng đẳng cấp. (Hai bên đều là thân Bổn tôn.)
Khẩu cùng đẳng cấp. (Hai bên đều là thần chú Bổn tôn.)
Ý cùng đẳng cấp. (Hai bên ý đều ở tại bồ đề.)
Nhờ vậy mà cả hai đều cùng hóa thành ánh sáng cầu vồng, chứng quả vị Bồ Tát.”
Phật Đà nói:
"Phương pháp này là pháp tu được nâng cấp lên từ dâm, từ dâm mà nâng cấp lên thành Phật pháp, từ đó mà cả hai đạt được hóa thân thành ánh sáng cầu vồng." (tóm tắt kỹ thuật)
Phật Đà nói:
"Pháp này rất khó, không phải là pháp dành cho chúng sinh, những người có căn tính thấp kém thì càng khó hơn. Tôi dùng huệ nhãn để quan sát thì trong vạn người cũng chẳng tìm thấy nổi một người."
Tôi hỏi:
"Vậy tôi cần phải nói thế nào?"
Phật đáp:
"Để người đời tự thấy!"


### 08. **Tiếng gào của nội tâm**


Tôi và Phật Đà ngồi đối diện với nhau trong im lặng, cả hai đều trầm mặc, thời gian cứ từ từ trôi qua.
Phật Đà nói:
"Hẳn là ngài đã biết rồi nhỉ!"
Tôi nói:
"Đã biết."
Phật Đà nói:
"Là Kim Mẫu nói với ngài nhỉ!"
Tôi nói:
"Đúng vậy. Diêu Trì Kim Mẫu đã nói rõ với tôi."
Phật Đà nói:
"Thời gian cũng không còn dài, cũng đã đến lúc nên trở về rồi! Là khi nào thì chính ngài đã biết rồi."
Tôi nói:
"Đúng vậy."
Phật Đà nói:
"Đối với cuộc đời này ngài vẫn còn chút gì không nỡ rời bỏ sao?"
Nội tâm tôi dậy sóng, Phật Đà đều biết cả.
Tôi nói:
"Phật Đà đã biết cả."
Phật Đà nói:
"Nguyện lực của ngài lớn quá, ngài không nỡ rời xa tín chúng của ngài. Ngài không nỡ rời xa những người có phẩm chất Không Hành Mẫu, ngài không nỡ rời xa những thứ xung quanh, ngài vẫn còn nguyện lực."
Tôi nói thẳng:
"Có một chút."
Phật Đà nói:
"Ngài phải giống như tôi đây, Thái Tử Thích Ca khi còn trẻ tuổi đã rời bỏ vương cung, phải có sự quyết tâm như vậy."
Tôi nói:
"Điều tôi không nỡ từ bỏ là, tôi đã tinh tấn tu hành thành tựu pháp vô lậu, pháp chuyết hỏa, pháp minh điểm, pháp quang minh, pháp nhập tam ma địa, công lực của tôi cao như vậy mà có thể ở lại thế giới Ta Bà này thì sẽ độ thêm được nhiều chúng sinh một chút!"
Phật Đà nói:

"Đây là ngài chấp vào pháp, nên từ bỏ đi. Nhưng, tôi nhìn ra sự mềm yếu của ngài là ngài khó từ bỏ được người có phẩm chất Không Hành Mẫu đó…"
Tôi nói:
"Chúng tôi có lời thề."
Phật Đà nói:
"Tôi thật sự không muốn trách cứ ngài!"
Tôi nói:
"Tôi nên làm sao đây?"
Phật Đà nói:
"Không có cách nào trọn vẹn cả hai, *không phụ Như Lai không phụ nàng*. Ngài xem Phật Đà tôi đây có thể *không phụ Như Lai không phụ nàng* không?"
Tôi nói:
"Tôi vẫn còn có thể tạo ra một ít thần tích!"
Phật Đà nói:
"Cố nhiên là ngài có năng lực của một vị Hoạt Phật chuyển hóa, ngài cũng có thể kiếp sau lại đến mà!"
Tôi nói:
"Để lỡ mất một kiếp sao?"
Phật Đà nói:
"Chúng tôi có cơ hội sẽ đánh thức ngài dậy! Giống như ở kiếp này vậy."
Tôi nói:
"Tôi thực sự không đi không được sao?"
Phật Đà nói:
"Ngài vẫn còn cho rằng ngài có bao nhiêu thời gian, cho dù tạm thời chưa đi, thì cũng còn bao nhiêu thời gian đây?"
Tôi không biết nói gì hơn.
Tôi:
"…"
Phật Đà nói:
"Ngài đã sai lầm khi bị gắn chặt vào tình cảm vọng tưởng rồi. Ngài đã thua Xá Lợi Phất rồi!"


### 09. **Trẻ con xây tháp**


Tôi nghe được câu chuyện về trẻ con xây tháp, câu chuyện như thế này:
Ngày xưa.
Có một đám trẻ con, chúng đều ngây thơ, thánh thiện, hoạt bát, đáng yêu. Chúng thường đến chơi ở các chùa chiền, nghe sa môn [thầy tu, tăng sĩ] giảng kinh thuyết pháp.
Thế là….
Chúng hoan hỷ hành thiện tích đức, trồng ruộng phúc rộng lớn.
Có một hôm. 
Chúng đi tới bờ biển chơi, liền chơi ngay trên bãi cát.
Một đứa trẻ nói:
"Chúng ta dùng cát này để xây tháp đi!"
Một đứa trẻ khác nói:
"Đó là một việc làm công cốc thôi, tháp cát chẳng phải là tháp thật, nước biển dâng lên một cái thì cũng chẳng còn gì nữa!"
Một đứa khác nói:
"Chúng ta dùng cát xây tháp, hoàn toàn dựa vào sự nhất tâm, kinh Phật đã nói rồi, chỉ cần nhất tâm thì sẽ có công đức."
(Trong kinh nói chỉ cần có tháp thì sẽ có Phật.)

Thế là tất cả đám trẻ con ở trên bờ biển chuyên tâm nhất trí cùng xây tháp cát. 
Những đứa trẻ này cho rằng xây tháp cát thì sẽ có công đức nên đứa nào đứa nấy đều nỗ lực làm. 
Trước tiên chúng xây:
Chân tháp. 
Thân tháp. 
Đỉnh tháp. 
Lần lượt từng tòa tháp trang nghiêm được xây nên.
Đột nhiên.
Biển đột ngột xuất hiện gió lớn, một con sóng lớn ập vào bờ cuốn trôi toàn bộ đám trẻ con và những ngọn tháp cát.
Tháp cát biến mất rồi!
Những đứa trẻ con xây tháp cũng biến mất rồi!
Nghe nói những đứa trẻ này sau khi chết đều được thăng lên cõi trời thứ 33, trở thành thiên nhân ở cõi trời thứ 33.

Tôi vì truyền thuyết này mà đi gặp Phật Đà.
Tôi hỏi:
"Phật Đà! Ngày nay có rất nhiều người xây chùa xây tháp, rồi lại cúng dường tăng nhân, sớm tối niệm kinh lạy Phật, mà vẫn chẳng biết khi nào được thăng thiên, vì sao những đứa trẻ này lại có thể thăng thiên?"
Tôi còn hỏi:
"Những đứa trẻ này xây tháp cát, còn chúng ta xây là tháp thật, người xây tháp thật thì vẫn chưa thăng thiên, ngược lại xây tháp cát thì lại có thể thăng thiên, vì sao lại như vậy?"
Phật Đà nói:
"Thế nhân ngày nay xây chùa tháp, có người xây là vì danh, có người xây là vì lợi, cho dù là tháp thật nhưng chẳng có được tí công đức nào. Ví dụ, Quỷ Bà dưới đủ mọi hình thức lừa tiền xây chùa, gọi là chùa nhưng kì thực lại là địa ngục!"
Tôi nghe mà sợ hãi!
Phật Đà lại nói:
"Đám trẻ kia tấm lòng ngay thẳng, dựa vào phương thức trực quan, bởi vì vô sở trụ mà sinh tâm này, đây mới là công đức. Bởi vì công đức thật sự này nên mới được thăng lên cõi trời thứ 33!"
Tôi nghe xong càng hiểu rõ hơn!

Phật Đà nói:
“Liên Sinh! Ngài thường nhắc đến một áng mộng thơ, đó là:
*Biết đời như mộng vô sở cầu
Vô sở cầu lòng tĩnh lặng không
Vẫn biết trong mơ tùy mộng cảnh
Công đức thành tựu tựa hà sa.”*

Tôi cười lớn ha ha.
Cát.
Cát.
Cát.
Cát.
Mộng công đức!


### 10. **Pháp uyên thâm nhất là gì?**


Năm đó tôi mới học Mật giáo được vài năm.
Tôi nói với Thượng sư Phổ Phương:
"Con muốn học Kim cang pháp."
Thượng sư Phổ Phương nói:
"Ồ! Đó là pháp uyên thâm nhất! Con muốn học pháp uyên thâm nhất nhanh vậy sao!"
Tôi nói:
"Đúng vậy."

Nhưng Thượng sư Phổ Phương chẳng dạy cho tôi pháp uyên thâm nhất, cũng chẳng cho tôi tài liệu học pháp nào. Tôi còn nhớ thứ tự tu pháp của Thượng sư Phổ Phương là:
Gia hành pháp.
Thượng sư tương ứng pháp.
Bổn tôn pháp.
Kim cang pháp.
Vô thượng mật.

Sau này tôi quy y mấy vị Căn bản Thượng sư, tôi đã học theo thứ tự quán đảnh là:
Bình quán.
Nội pháp quán.
Vô thượng mật quán.
Đại viên mãn quán.

Tôi cho rằng Tam ma địa là pháp uyên thâm nhất. Ví dụ, nhập ngã ngã nhập, phóng quang, nhập biển Tỳ Lô Giá Na, Tử quang và Mẫu quang gặp nhau [ánh sáng con và ánh sáng mẹ, Tạng mật gọi là rigpa con và rigpa mẹ] chính là những pháp uyên thâm nhất rồi.

Tôi đã học:
Đại uy đức pháp.
Đại viên mãn pháp.
Đại thủ ấn pháp.
Đại viên thắng huệ pháp. (Đạo Quả)

Tôi cho rằng mình đã hiểu rõ về vô lậu, chuyết hỏa, minh điểm, mở ngũ luân, quang minh rực cháy, quang quang tương chiếu, dung nhập quang hải….
Những cái này đều là pháp uyên thâm nhất!

Tôi cũng có thể thực hành một số thần tích có thể giải trừ được những nghi hoặc và khó khăn của người ta.
Mỗi ngày tôi đều:
Cho con người niềm vui (từ).
Loại trừ đau khổ của con người (bi.
Nỗ lực tùy khả năng mà bố thí (hỷ).
Bình đẳng bố thí (xả).

Tôi có thể:
"Thấy ánh sáng."
"Biết nhân quả."
"Gặp Phật Bồ Tát."
"Thiên nhãn, thiên nhĩ, túc mệnh, tha tâm, thần túc, lậu tận."
Tôi cho rằng lậu tận thông là đại pháp uyên thâm nhất rồi! Bởi vì "hữu lậu giai tận". [hữu lậu đều dừng dứt mà trở thành hoàn toàn vô lậu]

Tôi đi gặp Phật Thích Ca Mâu Ni (Phật Đà).
Tôi hỏi Phật Đà:
"Vậy cái nào là đại pháp uyên thâm nhất?"
Tôi còn nói:
"Đại thủ ấn nhắc đến:
Chuyên nhất du già.
Ly hý du già.
Nhất vị du già.
Vô tu du già.*
*Vậy [đại pháp uyên thâm nhất] có phải là vô tu du già không?"
Phật Đà nói:
“Thường mọi việc ta làm.
Không giết, trộm, tà dâm.
Không hai lưỡi ác khẩu.
Không vọng ngữ ỷ ngôn.
Tâm không tham tà dục.
Không ác độc oán ghen.
Xả bỏ mọi tà kiến.
Hạnh Bồ Tát mà làm.*
*Rất bình thường! Nhưng cũng chính là đại pháp uyên thâm nhất.
Hiểu không?”


### 11. **Ba ngọn cỏ**


Ngày xưa.
Phật Đà dẫn các đệ tử đi chu du. 
Đến một vùng đất phong cảnh xinh đẹp, có núi có nước, núi bao quang nước, nước vòng quanh núi, một màu xanh ngút mắt.
Phật Đà nói:
"Nơi này tuyệt đẹp, có thể xây chùa được!"
Lời vừa nói xong.
Đế Thích Thiên Chủ từ hư không hạ giáng. 
Đế Thích Thiên Chủ cầm ba ngọn cỏ trồng ngay lên mảnh đất quý tuyệt đẹp mà Phật Đà vừa nói đến. 
Đế Thích Thiên nói:
"Chùa đã xây xong rồi!"
Đế Thích Thiên nói xong bèn từ từ bay lên trời đi mất.
Chúng đệ tử kinh ngạc sửng sốt, chẳng hiểu sự việc ra làm sao.
Xá Lợi Phất hỏi Phật:
"Vì sao ba ngọn cỏ của Đế Thích Thiên lại chính là ngôi chùa được?"
Phật Đà đáp:
"Ta nói cho ngài hay."
Xá Lợi Phất xin Phật khai thị.
Phật Đà nói:
Một ngọn cỏ là thanh tịnh. (Phật)
Một ngọn cỏ là bình đẳng. (Pháp)
Một ngọn cỏ là không phân biệt. (Tăng)
Do vậy ba ngọn cỏ của Đế Thích Thiên chính là một "ngôi chùa".

🌟

Có một hôm, tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) đến cõi trời Sắc Cứu Cánh để gặp Phật Đà.
Phật Đà nói:
"Vì sao Liên Sinh tới đây?"
Tôi nói:
"Thế nhân ngày nay ngưỡng mộ Phật Đà, do vậy rất sùng bái xá lợi của Phật Đà. Xá Lợi của Phật Đà ở đâu đâu cũng có."
Tôi nói:
"Rất nhiều người đem xá lợi đến hỏi tôi xem có phải là xá lợi Phật Đà thật không."
Tôi nói:
"Lại còn có cả mấy vị Lama xác nhận là xá lợi Phật Đà. Tín đồ xõa tóc cung kính đón tiếp, rồi xây dựng nhà tưởng niệm Phật Đà. Lại có học giả phê bình việc đó không có văn bản chứng minh, không có kiểm chứng. Vậy những thứ đó rốt cục có phải là xá lợi của Phật Đà hay không?"
Tôi nói:
"Ngày nay xá lợi Phật Đà đầy ắp thiên hạ, vậy làm sao để phân biệt thật giả đây?"
Tôi nói:
"Còn có một đại sư nọ nói rằng, chỉ cần bạn có tín tâm sâu sắc, sớm tối cúng bái cầu nguyện thì cho dù là xá lợi giả cũng trở thành thật."
Tôi nói:
"Xin Phật Đà khai thị!"

Phật Đà khai thị như sau:
“Liên Sinh!
Xá lợi của Phật, đừng dạy người chỉ nhìn xét bằng con mắt.
Đánh giá "hoa hư không" thật hay giả thì chỉ làm rối lên thôi.
Dù có chứng nhận thì liền cũng có đủ lời lẽ bình phẩm không nhất trí.
Ví như:
Thời của Phật Uy Âm, ai công nhận?
Thời của Phật Nhiên Đăng, ai là tri âm?
Liên Sinh!
Vạn tượng khi hiểu thấu thì vốn đều chỉ là một màu sắc.
Nếu có chúng sinh dựa vào duy nhất:
Phật. Pháp. Tăng.
Thì chúng sinh đó chính là xá lợi Phật Đà.”


### 12. **Phúc Vương đại miếu**


Tôi còn nhớ một câu chuyện, kể cho mọi người cùng nghe nhé!
Có một người đi đến một ngôi miếu Thổ Địa Công nhỏ tại vùng quê, cầu xin một tờ vé số. Người này nói với Thổ Địa Công:
"Nếu như tôi trúng giải lớn thì tôi sẽ xây lại miếu Thổ Địa Công cho ông."
Khi quay người định rời đi, anh ta lại nghĩ:
"Chi bằng có thưởng có phạt thì mới có hy vọng."
Thế là anh ta lại nói với Thổ Địa Công:
"Nếu tôi không trúng giải thì, hây hây, tôi sẽ đốt trụi miếu Thổ Địa Công của ông đó!"
Người này nói xong thì lập tức bỏ đi.

Sau đó. 
Người này trắng tay (không trúng số). 
Anh ta càng nghĩ càng tức giận. 
Nửa đêm, anh ta đến miếu thổ địa công lôi tượng sứ Thổ Địa Công ra ngoài, sau đó ném xuống hào nước ở ngoài ruộng. 
Anh lấy một mồi lửa đốt cháy sạch cả miếu Thổ Địa Công.

Người này bỏ quê hương đi xa, đến phía Bắc chật vật sống qua ngày, cứ như vậy suốt mười năm. 
Mười năm sau, người này trở về quê hương của mình. 
Anh nhìn thấy một ngôi miếu Thổ Địa Công rất to huy hoàng lộng lẫy, đề tên "Phúc Vương Đại Miếu". Người đến cúng bái lũ lượt không dừng dứt.

Anh ta rất kinh ngạc. Bởi vì vị trí của ngôi Phúc Vương Đại Miếu này chính là miếu Thổ Địa Công nhỏ mà năm xưa anh đã phóng hỏa đốt trụi.
Anh hỏi người ta:
"Chuyện là thế nào vậy?"
Người ta nói với anh:
"Miếu Thổ Địa Công này cực kì linh, cầu gì được nấy. Năm xưa, miếu Thổ Địa Công nhỏ bị cháy, Thổ Địa Công đã tự mình đi ra khỏi miếu, nhảy xuống hào nước ngoài ruộng, thế là tránh được hỏa hoạn. Chưa từng có chuyện nào linh như vậy!"
Người này nghe xong, im bặt.

🌟

Tôi đi gặp Phật Đà.
Hỏi:
"Miếu Thổ Địa Công nhỏ không ngờ lại thành Phúc Vương Đại Miếu, rốt cục là nhân duyên gì?"
Phật Đà nói:
“Liên Sinh, ta vì ngài mà nói rõ.
Vị Thổ Địa Công nhỏ bé này là một Thổ Địa Công rất chăm chỉ. Ông ta bị đe dọa thì cũng vô cùng lo lắng.
Ông đã đi cầu cứu Thành Hoàng Cảnh Chủ.
Thành Hoàng nói:
"Chẳng có cách nào! Tôi không có được pháp lực mạnh như vậy."
Tiểu Thổ Địa Công lại đi tìm Tứ Thiên Vương cầu cứu. Vào ngày mà Tứ Thiên Vương đi tuần, ông đã đặc biệt đến xin gặp.
Tứ Thiên Vương nói:
"Người này không có vận may trúng số đâu!"
Tiểu Thổ Địa Công lại đi cầu cứu Đế Thích Thiên.
Đế Thích Thiên nói:
"Ông chỉ là một Thổ Địa Công rất bé nhỏ, không ngờ lại vì sự an nguy của miếu Thổ Địa Công mà tìm tới cả Đế Thích Thiên. Đây vốn là một việc rất nhỏ, nhưng thấy ông có tấm lòng trách nhiệm như vậy, ta gia trì ban phúc cho ông. Không phải là gia trì ban phúc cho người kia, mà là gia trì ban phúc cho ông đó."
Thổ Địa Công cầu xin Đế Thích Thiên:
"Xin ngài cũng ban phúc cho người kia đi!"
Thổ Địa Công có tấm lòng lương thiện.
Đế Thích Thiên nói:
"Người kia ta để cho yên phận làm ăn, còn ông thì làm Phúc Vương đi!"
Không ngờ Đế Thích Thiên cũng đồng tình với tiểu Thổ Địa Công này, nói với Thổ Địa Công rằng: 
Ban cho người kia công việc. 
Ban cho ông làm Phúc Vương. Pháp lực tăng trưởng. 
Đây chính là nhân duyên mà một Thổ Địa Công nhỏ bé đã trở thành Phúc Vương.”

Phật Đà nói:
"Tùng dài bách ngắn đều có nhân duyên cả!"
Tôi nói:
"Nếu là đại trượng phu, tất có chí cao tới trời!"


### 13. **Đốt ngón tay cúng Phật?**


Khi tôi ngoài 20 tuổi, tôi đã thọ giới Bồ Tát tại gia. 
Địa điểm là ở chùa Bích Sơn Nham tại Nam Đầu. 
Khi đó trụ trì là thiền sư Như Học.
Ba vị thầy dạy về giới là:
Lão pháp sư Huệ Tam.
Lão pháp sư Hiền Đốn.
Lão pháp sư Giác Quang.

Hồi đó tôi là cư sĩ tại gia, khi thọ giới cần phải điểm một vết sẹo, vết sẹo điểm giới này không phải là điểm ở trên đầu, mà là điểm trên cánh tay trái của tôi.
Buổi tối hôm đó.
Tôi lật mặt trong của cánh tay trái ra (khoảng giữa bàn tay và khuỷu tay). 
Tôi châm lên ba que hương ngắn. Que hương này được làm đặc biệt, có thể cháy rất lâu.

Nghi thức bắt đầu.
Đầu ngọn lửa chấm lên tay một cái, lửa sẽ cháy vào trong, cháy đến da thịt, da bị đốt cháy, thịt cũng bị đốt cháy, trở thành một vết sẹo điểm giới. Tổng cộng đốt ba que hương thì sẽ được ba vết sẹo điểm giới.
Trong lúc đó thì niệm Phật hiệu trang nghiêm: Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nghi thức điểm sẹo thọ giới đã hoàn thành rồi! Đau không? Đau!
Có một điều tôi phải nói cho mọi người biết, từ lúc bắt đầu đốt da để điểm sẹo cho đến khi vết sẹo hoàn toàn định hình thì bạn cần phải bảo vệ vết sẹo này.
Bởi vì đây là bạn đốt làm bỏng da thịt, cho nên:
Có một số người sẽ bị viêm, viêm cả một mảng da.
Có một số người thì uống thuốc, tiêm thuốc, bởi vì bị nhiễm trùng.
Có một số người thì ở nơi vết sẹo không ngờ lại sinh ra mấy con dòi màu trắng.
…

Thật may, mọi việc của tôi đều khá tốt, sau vài ngày vết sẹo đã trở nên lành lặn đẹp đẽ. 
Tôi còn nghe nói ở chùa Thiên Đồng tại Trung Quốc, có nghi thức "đốt ngón tay cúng Phật".
Nghe nói là như thế này:
Con người chúng ta có mười ngón tay.
Tín đồ Phật giáo để biểu thị tín tâm kiên cố không thay đổi của mình thì phải dũng cảm hy sinh ngón tay của mình.
Lấy một miếng vải quấn trên đầu ngón tay.
Đổ dầu lên. 
Châm lửa. 
Da và thịt trên đầu ngón tay bị đốt sạch sẽ, chỉ còn trơ lại xương.
Đau không? Đau cực kì!
Sau đó:
Dùng kéo cắt một cái. Ngón tay chẳng còn nữa!
(Biểu hiện ý chí vững chắc không lung lay, quyết tâm cầu pháp mong thành tựu.)

🌟

Tôi vì chuyện này mà đi hỏi Phật Đà.
"Đốt ngón tay cúng Phật ư? Là thánh hiền? Hay là phàm ngu?"
Phật Đà nói:
"Sáu năm tôi khổ hạnh trên núi Tuyết Sơn, những gì tôi trông thấy còn nhiều hơn thế. Người tự làm tổn hại mình rất nhiều. Có người treo ngược mình lên để tu hành, có người nhịn ăn, có người chặt tay, chặt chân, có người ngồi trong nước, có người ngồi trong lửa, có người ngồi trên cả đám cây gai, có người thì xẻo thân mình, có người thì móc mắt, có người thì nhảy xuống vực. Những người như vậy nhiều vô số."
Tôi nghe xong mà kinh hãi.
Tôi hỏi Phật Đà:
"Xin Phật Đà khai thị!"
Phật nói:
“Khổ hạnh là phi đạo.
Rốt cục cũng rơi xuống hang ngã xuống hố mà thôi.
Học Phật!
Giữ giới tự tại!
Tinh tấn vui sống!
Thế đó! Thế đó!”


### 14. **Nói chuyện khoa học cùng Phật Đà**


Tôi hỏi:
"Phật Đà! Ngài biết khoa học không?"
Phật Đà đáp:
"Vũ trụ xưa nay đều vô biên."
Tôi hỏi:
"Cái gì là khoa học?"
Phật Đà đáp:
"Vật kiến chủ."
Tôi hỏi:
"Là ý gì?"
Phật Đà đáp:
"Là môn học về tận cùng vấn đề của sự vật."
Tôi hỏi:
"Là vật lý học sao?"
Phật Đà đáp:
"Không phải là môn vật lý học nhỏ hẹp đâu. Nó bao gồm cả sinh vật học, hóa học, cơ khí học, y học, khoa học vũ trụ, điện tử học…"
Tôi rất kinh ngạc hỏi:
"Phật Đà! Ngài thấy cái gì?"
Phật Đà đáp:
"Sự phát triển của khoa học có hai dạng thức. Một dạng là
phát triển từ từ, một dạng là phát triển đột biến."
Tôi hỏi:
"Phật Đà! Xin nói rõ hơn?"
Phật Đà đáp:
"Từ lý thuyết chuyển thành ứng dụng, rồi lại tiếp tục nỗ lực, mỗi ngày lại tìm thêm được thứ mới, đây chính là dạng thức phát triển từ từ. Còn từ lý thuyết chuyển thành ứng dụng, tạo ra sự đột biến về mặt kỹ thuật, thì chính là dạng thức phát triển đột biến."
Phật Đà nói:
"Trên nguyên tắc, hai dạng thức này kì thực cũng có thể xem là một, chỉ là một cái thì thời gian dài, một cái thì thời gian ngắn."
Tôi hỏi:
"Phật Đà! Ngài có thể nói chuyện về khoa học vũ trụ không?"
Phật Đà đáp:
"Trên nguyên tắc, khoa học vũ trụ vẫn tốt ở chỗ nó tìm kiếm nền văn minh bên ngoài vũ trụ. Nhưng sự phát triển trên thực tế thì lại là việc giám sát lẫn nhau giữa các cường quốc."
Tôi vô cùng kinh ngạc:
"Phật Đà! Việc này là sao?"
Phật Đà đáp:
"Chiến lược."
Tôi hỏi:
"Phật Đà! Ngài biết vũ khí hạt nhân không?"
Phật Đà đáp:
"Sự xuất hiện của vũ khí hạt nhân chính là một dấu hiệu nguy hiểm lớn nhất, là biểu tượng cho sự kết thúc của thế giới."

Đoạn đối thoại tiếp theo này, tôi không muốn viết ra trong sách, bởi vì tôi và Phật Đà nói chuyện về tương lai của thế giới hạt nhân.
Do vậy:
Lược bỏ.
Lược bỏ.
Lược bỏ.

Tôi hỏi:
"Khoa học và tôn giáo có xung đột với nhau không?"
Phật Đà đáp:
"Là sự song song vận chuyển của phương tiện và cứu cánh."
Tôi hỏi:
"Khoa học cho đến tận cùng sẽ phát triển cái gì?"
Phật Đà đáp:
"Tính Không cuối cùng."
Tôi hỏi:
"Khoa học sẽ phát hiện ra Phật sao?"
Phật Đà trả lời rất bí ẩn:
"Thiên ngoại phi hồng tam lưỡng hành." [Đây là tên của một trong sáu bài kệ tụng, kể về sự tích của thiền sư ở miếu Quang Hiếu Kỷ ở thành phố Ôn Châu tỉnh Triết Giang.]

Tôi giải thích là: Có liên quan, mà cũng chẳng có liên quan.


### 15. **Sinh nhật của Phật Đà**


Phật Thích Ca Mâu Ni mang họ là Gautama, tên gọi là Siddhartha, là người của đất nước Ca Tỳ La thời Ấn Độ cổ đại.

Từ năm 566 - 486 TCN (khoảng cùng thời đại với Khổng Tử).
Cha là vua Tịnh Phạn.
Mẹ là phu nhân Maya.
Phật Đà là Vương tử.
Nơi Phật Đà được sinh ra là ở vườn Lâm Tỳ Ni. 
Sau khi sinh ngài thì phu nhân Maya đã qua đời. Do vậy chẳng ai biết sinh nhật của Phật Đà là ngày nào. Theo truyền thuyết tới ngày nay thì đó là ngày rằm tháng tư Âm lịch.
Ngày nay, theo như tôi biết, Phật giáo được truyền bá ở khu vực Đông Nam Á, Tây Tạng, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan và Sri Lanka thuộc Ấn Độ đều không thống nhất.
Vậy sinh nhật của Phật Đà là ngày nào? Đây là một câu hỏi lớn. 
Thế là tôi đích thân gặp Phật Đà, hỏi xem sinh nhật của ngài là ngày nào.
Những truyền kỳ về việc Phật Đà sinh ra cũng rất nhiều.
1. Sinh ra từ nách.
2. Sinh ra đã biết bước đi.
3. Bước bảy bước theo mỗi hướng Đông Tây Nam Bắc.
4. Mỗi bước đi lại nở một bông hoa sen dưới chân.
5. Một tay chỉ trời, một tay chỉ đất.
6. Hát lên rằng "Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn".
7. Chín con rồng phun nước.
8. Phóng quang.
9. Động đất.
Còn có cả chuyện "cưỡi voi nhập thai", v.v…

Tôi hỏi thẳng Phật Đà:
"Xin hỏi sinh nhật của Phật Đà là ngày nào?"
Phật Đà chẳng trực tiếp trả lời tôi, thay vào đó ngài còn hỏi ngược lại tôi:
"Thế ngài sinh ra như thế nào?"
Tôi đáp:
“Tôi họ Lư, tên Thắng Ngạn.
Cha tôi là Lư Nhĩ Thuận.
Mẹ tôi là Hoàng Ngọc Nữ.
Ra đời vào giờ Ngọ ngày 18 tháng 5 năm 1945 Âm lịch, tại một trại nuôi gà bên bờ suối Ngưu Trù ở tỉnh Gia Nghĩa.”
(Thời gian này, bởi vì máy bay Mỹ ném bom Đài Loan, do vậy gia đình tôi phải đi sơ tán, sống ở khu trại nuôi gà.)
Phật Đà hỏi:
"Có đặc trưng gì?"
Tôi đáp:
"Tôi là đứa trẻ sinh non, mới bảy tháng tôi đã ra đời rồi."
Lúc tôi sinh ra, toàn thân tôi được bao bọc bởi một lớp tơ dày màu trắng, phải dùng dầu để lau mới sạch được. Tôi nói, Na Tra Tam Thái Tử của Trung Quốc khi sinh ra là một khối thịt tròn, mở khối thịt này ra thì bên trong là một hài nhi. Còn toàn thân tôi là một lớp tơ bóng màu trắng, tẩy sạch lớp tơ này thì mới là một hài nhi.
Phật Đà hỏi:
"Ngài không thấy là ngài rất kỳ quái sao?"
Tôi đáp:
"Tôi không thấy vậy."
Phật Đà nói:
"Ngài sinh ra vào ngày trăng tròn Âm lịch."
Tôi đáp:
"Ngày 18 thì trăng cũng đã chẳng tròn nữa rồi!"
Phật Đà cười lớn ha ha ha:
"Ngày sinh có quan trọng không? Hay là Phật pháp mới quan trọng?"
Tôi đáp:
"Phật pháp quan trọng."
Phật Đà tự nói:
"Bởi vì ngài đã hỏi nên tôi cũng không nói dối. Một năm 365 ngày, thì ngày sinh của tôi là ở chính giữa."


### 16. **Minh tâm kiến tính**


Tôi nói với Phật Đà:
Trong khi hoằng pháp, tôi thường nhắc đến:
Giữ năm giới — con người.
Làm mười điều thiện — thiên giới.
Giết lục tặc — A La Hán.
Tu lục độ — Bồ Tát.
Giác hành viên mãn — Phật.
Tôi hỏi Phật Đà rằng tôi nói như vậy có chính xác không.
Phật Đà bảo tôi:
“Chính xác thì có chính xác. Nhưng con người thế nhân không biết g*iác hành viên mãn* là cái thứ gì.”
Tôi hỏi:
"Thế nào là giác hành viên mãn?"
Phật Đà đáp:
"Minh tâm kiến tính."
Tôi hỏi:
"Tôi cho rằng minh tâm là không, là vô, căn bản chẳng hề có tâm. Nói như vậy có đúng không?"
Phật Đà đáp:
"Minh là quang minh, có tác dụng của nó, do bởi có tâm quang minh nên chính là minh tâm."
Tôi hỏi:
"Tâm quang minh có tác dụng gì?"
Phật Đà đáp:
"Có tác dụng tự giác giác tha."
Tôi hỏi:
"Thế còn kiến tính thì sao?"
Phật Đà đáp:
"Tự mình chứng được Phật tính (trí huệ tự tính)."
Tôi hỏi:
"Phật tính là gì?"
Phật Đà đáp:
"Trí huệ tính Không."
Tôi thấy mơ hồ rồi đây, tôi hỏi:
"Phật rốt cục là gì?"
Phật Đà đáp:
"Tam thân viên mãn. Pháp thân viên mãn, Báo thân viên
mãn, Ứng thân viên mãn, mới được gọi là thành Phật."
Phật Đà còn nói:
"Minh tâm sẽ thành tựu được Ứng thân viên mãn, Báo thân viên mãn. Kiến tính sẽ thành tựu được Pháp thân viên mãn."

Tôi nói:
"Có người nói pháp thân của Phật Đà là Phật Tỳ Lô Giá Na. Báo thân là Phật Lô Xá Na. Ứng thân là Phật Thích Ca Mâu Ni. Có phải không?"
Phật Đà không phủ nhận.

Phật Đà nói:
"Giác hành viên mãn chính là Không-Hữu song vận. Minh tâm chính là cái có, kiến tính chính là cái Không."
Tôi hỏi:
"Con người thời nay học Phật có sự thiên lệch không?"
Phật Đà đáp:
"Thiên lệch về cái Không!" (Coi trọng cái Không, xem nhẹ cái Có.)
Tôi hỏi:
"Chẳng phải Có cũng là Không sao?"
Phật Đà đáp:
"Đó là người vừa uy mãnh vừa lợi hại thì mới có thể."
Phật Đà nói:
"Trong cuốn văn tập “Cảnh Giới Mới Của Phật Vương", ngài chủ trương kết hợp ba thứ Lạc, Minh, Không. Lạc, Minh cũng là minh tâm, Không cũng là kiến tính. Những gì ngài nói cũng là đạo lý này."
Tôi hỏi:
"Vậy thì chân đế của Phật là gì?"
Phật Đà đáp:
"Tam thân viên mãn."
Sau khi tôi nghe xong thì mới xem như hiểu rõ những đại ý.


### 17. **Đại thừa không phải là Phật nói**


Theo như tôi biết:

Giới Phật giáo có một bộ phận nhỏ những người vẫn chủ trương: Đại thừa không phải là Phật nói.
Họ cho rằng:
Phật Đà chỉ có giảng Tiểu thừa!
Thời đại của Phật Đà những người thành tựu A La Hán rất nhiều!
Phật giáo nguyên thủy hay Phật giáo bộ phái chỉ có Tiểu thừa!

Tôi nói:
Khi bước vào Đại thừa thì trọng tâm của chúng ta nằm ở Tứ vô lượng tâm.
Từ — làm cho người khác vui.
Bi — tiêu trừ đau khổ của con người.
Hỷ — hoan hỷ tùy hỷ.
Xả — bỏ hết các mối oan thân giữa ta và người khác, tất cả đều bình đẳng.
Tất cả những điều này đều cần phát tâm vô lượng vô biên.
Tôi cho rằng:
Không có bồ đề tâm thì cũng chẳng có pháp môn Đại thừa. Chúng ta tu thiền, tu huệ, tu mật, tu tịnh độ, tu giới luật… Nếu không có bồ đề tâm thì cũng giống như phàm phu, ngoại đạo thôi.
Do vậy mà có:
*Nguyện bồ đề.
Hạnh bồ đề.
Thắng nghĩa bồ đề.
*(Ở đây có tín nguyện, thực tiễn, trí huệ, là những tâm yếu của Đại thừa.)
Cá nhân tôi cho rằng đây mới gọi là "tu đạo".

Atisa tôn giả đã học bồ đề tâm ở chỗ đại sư Kim Châu là:
1. Tâm tri mẫu.
2. Tâm tri ân.
3. Tâm báo ân.
4. Tâm nhân từ.
5. Tâm bi mẫn.
6. Tâm trách nhiệm.
7. Phát tâm bồ đề.
(Đây là bảy loại tâm nhân quả.)

Đối với pháp hoán đổi mình và người khác để chịu nghiệp thay, thì chính là sự chuyển đổi tâm tư lợi cho bản thân thành tâm vô tư làm lợi cho người khác. 
Từ đó mới hoán đổi mình và người khác.
Dựa vào năng lực quan sát, phân tích rõ ràng mà hình thành nên đại bồ đề tâm. 
Cuối cùng là đi vào thực tiễn: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ.

Tôi cũng biết mục đích của Đại thừa là:
1. Phát tâm.
2. Phật tử.
3. Không làm Thanh Văn.
4. Thành tựu ruộng phúc tối thắng.
5. Tư lương viên mãn.
6. Mau chóng tiêu nghiệp chướng.
7. Thành tựu mọi ước nguyện.
8. Viên mãn độ chúng sinh.9.
9. Không gặp ma chướng.
10. Thành tựu An Lạc Bồ Tát.

Tôi hỏi Phật Đà:
"Tiểu thừa là do Phật thuyết giảng, Đại thừa không phải do Phật thuyết giảng, có đúng không?"
Phật Đà nói:
"Chỉ có một thừa. Không có thừa nào khác."
Tôi hỏi:
"Một thừa là gì?"
Phật Đà đáp:
"Cái thang đi lên!"
Tôi xin Phật Đà khai thị thang đi lên là cái gì.
Phật Đà nói:
"Một đường thần quang, không gì chặn được."
Tôi đã hiểu rồi. Xin hỏi, người khác có hiểu không?


### 18. **Tôi từng đọc một sáng tác của Ôn Phổ Lâm**


Gần đây, tôi đã đọc một sáng tác văn chương của Ôn Phổ Lâm có tiêu đề là: "Tìm kiếm một dấu hiệu chứng ngộ tiền duyên."
Đại ý của sáng tác này là:
Ông ta là một con người tình cảm có theo tôn giáo, tinh thần luôn ở trạng thái bay lượn trên không trung. 
Ông nói:
Rất nhiều người kiểu như ông đều sẽ suy ngẫm về vấn đề sinh mệnh như:
Đến nhân gian rốt cục có ý nghĩa gì?
Giả sử cuộc sống không tiếp tục luân hồi, thì sống có gì hay?
Ngoài sự tham đắm ra, có phải là vẫn có những nguyên nhân không thể biết khiến chúng ta đến với nhân gian này không?
Ông ta nhắc đến ba câu nói của Phật Đà:
1. Không có kẻ địch nào đáng sợ hơn vợ.
2. Không có người giám sát nào nghiêm khắc hơn người thân.
3. Không có địa ngục nào kiên cố hơn gia đình.
Cuối cùng, Ôn Phổ Lâm nói:
"Tôi không biết tôi nên biến thành một hòn sỏi rơi xuống mặt đất hay không đây? Hay là vẫn cứ tiếp tục hoang mang trên mây trên gió….?"

🌟

Đọc xong áng văn chương này, tôi (Lư Sư Tôn) có một cảm xúc rất sâu sắc.
Khi tôi còn chưa xuất gia:
Vợ — Lư Lệ Hương.
Con — Lư Phật Thanh, Lư Phật Kỳ.
Cháu — Lư Hoằng, Lư Quân.
Sau khi tôi xuất gia, vợ trở thành thị giả của tôi. Nhưng cuộc sống gia đình lúc trước và cuộc sống xuất gia hiện tại đã trở thành một tấm lưới chằng chịt quấn chặt lấy nhau thật khó hiểu.
Vợ.
Người thân.
Gia đình.
Cảm xúc của tôi rất sâu sắc.
Thậm chí tôi không biết tôi có duyên với những người phụ nữ nào trong thiên hạ này nữa?
Tôi cùng với những người phụ nữ nào duyên phận đã cạn?
Tôi cùng với những người phụ nữ nào có duyên nhưng không có phận?

Sau khi tôi xuất gia.
Trong số các đệ tử của tôi, có rất nhiều đệ tử nữ đã nảy sinh một dạng tình cảm khác đối với người thầy đáng kính của họ. 
Tôi chẳng biết phải làm sao, chỉ biết độ hóa chúng sinh hữu tình. 
Chỉ mong, tôi vẫn cứ mong mỏi, tôi và thị giả, các con, các cháu, các đệ tử nam nữ, đều cùng thành tựu Phật đạo. (Lời thề nguyện của tôi.)

🌟

Tôi hỏi Phật Đà:
"Vợ là gì?"
Phật Đà đáp:
"Người trợ duyên."
(Câu trả lời của Phật Đà khiến tôi có cái nhìn mới mẻ.)
Tôi hỏi Phật Đà:
"Người thân là gì?"
Phật Đà đáp:
"Bạn đạo."
(Câu nói này khiến tôi thấy thật nhẹ nhõm.)
Tôi hỏi Phật Đà:
"Gia đình là gì?"
Phật Đà đáp:
"Diệu minh."
(Gia đình diệu minh nghĩa là, thật sự diệu kỳ, thật sự thấu hiểu.)
Tôi đã hiểu rồi:
Nghĩ một cách ngược lại, là chuyển hóa, là đảo ngược lại cách suy nghĩ. Một thánh nhân siêu việt cần giống như Phật Đà, bất kì sự việc gì cũng đều là "vô thường".
Mặc dù vô thường.
Nhưng, "Thường. Lạc. Ngã. Tịnh."


### 19. **Thiện Huệ Đồng Tử cúng dường hoa sen**


Tôi còn nhớ:
Một kiếp trước của Phật Đà đã từng là Thiện Huệ Đồng Tử, ngài ở trong rừng sâu trên Tuyết Sơn tu hành, đã chứng đắc được tứ thiền bát định và năm thần thông.

Khi đó là thời đại Phật Nhiên Đăng trụ thế. Phật Nhiên Đăng đến thành Hỷ Lạc giảng kinh thuyết pháp. 
Thiện Huệ Đồng Tử biết được, trong lòng rất hoan hỷ, muốn đi gặp mặt Phật Nhiên Đăng, lại càng muốn cúng dâng hoa sen lên Phật. 
Nhưng đã tìm kiếm khắp nơi trong thành mà không ngờ chẳng thế tìm được bông hoa tươi nào. 
(Do Quốc Vương đã hạ lệnh không cho phép bán hoa, Quốc Vương muốn chỉ có mình cúng dường hoa tươi cho Phật Nhiên Đăng thôi.)
Thiện Huệ Đồng Tử tìm kiếm khắp nơi nhưng vẫn chẳng đạt được kết quả gì.
Bỗng nhiên.
Thiện Huệ Đồng Tử trông thấy một cô gái đang rửa bảy cành hoa sen. Cô gái tên là Hiền Giả. 
Thiện Huệ Đồng Tử lấy 500 đồng muốn mua lại bảy bông hoa sen này. 
Hiền Giả không chịu, nói:
"Những bông hoa này là do tôi lén giấu đi mới có được, tôi muốn tự mình cúng dường Phật Nhiên Đăng."
Thiện Huệ Đồng Tử nói:
"Thế này đi! Tôi mua năm bông, cô vẫn còn lại hai bông để cúng Phật, như vậy được không?"
Hiền Giả đáp:
"Không được!"
Thiện Huệ cứ bám riết lấy Hiền Giả, hai người thương lượng qua lại.
Nói đến cuối cùng, không ngờ Hiền Giả nảy sinh cảm tình tốt đối với Thiện Huệ Đồng Tử, biết được Thiện Huệ Đồng Tử là người tu hành, có tu có chứng, cô lại càng thêm ái mộ.
Sau đó Hiền Giả nói:
"Thiện Huệ! Tôi đưa năm bông hoa sen cho anh, anh cầm đi cúng Phật, còn lại hai bông, anh cũng thay tôi cúng Phật. Nhưng khi anh vẫn còn chưa thành Phật, tôi muốn đời đời kiếp kiếp làm vợ của anh. Nếu anh thành Phật, cũng nhất định phải độ cho tôi. Tôi ra điều kiện như vậy thì mới được, bằng không tôi sẽ không bán hoa cho anh hoa đâu."
Thiện Huệ Đồng Tử nghe xong lại càng thêm bối rối khó xử.
Cuối cùng Thiện Huệ nói:
"Tương lai tôi xuất gia, nếu cô không cản trở, thì tôi sẽ đồng ý điều kiện này của cô."
Thế là hai người phát lời nguyện: "Đời đời kiếp kiếp kiếp kết làm vợ chồng."

Sau đó. Thiện Huệ Đồng Tử cúng dường bảy bông hoa sen lên Phật, Phật Nhiên Đăng thọ ký cho anh là: 
"Tương lai thành Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni."
Thiện Huệ Đồng Tử chính là Phật Đà.
Hiền Giả chính là công chúa Yasodhara. [Da Du Đà La]

🌟

Có người hỏi tôi:
"Theo câu chuyện về Thiện Huệ Đồng Tử thì Phật tử chúng ta có phải là cũng cần cúng dường Phật Đà giống như vậy không?"
Thế là, tôi xin Phật Đà khai thị.
Phật Đà nói:
“Ngày xưa, việc cúng dường hoa sen tươi cho Phật Nhiên Đăng là phù hợp với thời kỳ đó.
Còn cúng phẩm tốt nhất của Phật tử là: Thân, khẩu, ý của bản thân hành giả. 
Nói cách khác là: 
Cúng dường tấm lòng là số một.
Đương nhiên trên khía cạnh Phật pháp thực tiễn thì đây cũng là cúng dường tốt nhất. (Cúng dường pháp là số một.)
Cúng dường tượng Phật — cúng thân.
Cúng dường kinh điển — cúng khẩu.
Cúng dường bảo tháp — cúng ý.
Đối với các cúng phẩm khác thì thứ tự là:
Bảo bình, cá vàng, ô quý, hoa sen, tràng phan, vỏ ốc, nút tết cát tường, kim luân…”
Cuối cùng, Phật Đà nói:
"Liên Sinh! Ngài hãy cúng dường ta không hoa thủy nguyệt." [hoa hư không, trăng dưới nước]


### 20. **Đội quân tàng hình**


Tôi gặp Phật Đà ở cõi trời Sắc Cứu Cánh. Tôi hỏi một vấn đề:
"Phật Đà! Kiếp này tôi thường có một cảm giác là tôi thường xuyên nghĩ gì được nấy, là vì nguyên nhân gì?"
Phật Đà đáp:
"Nghĩ gì được nấy tức là thần thông đó."
Tôi hỏi:
"Vì sao chỉ mới nghĩ đến mà đã thành công rồi?"
Phật Đà trả lời bằng bốn chữ khiến tôi sững sờ:
"Đội quân tàng hình."
Tôi hỏi:
"Cái gì là đội quân tàng hình?"
Phật Đà đáp:
"Liên Sinh! Đó là tự thân ngài sinh ra một sức mạnh triệu tập, ngài có thể triệu tập Hộ pháp Không hành chư Thiên."
Tôi hỏi:
"Những vị đó là?"
Phật Đà đáp:
"Phạm Thiên, Đế Thích Thiên, Tứ Thiên Vương Thiên, Tinh Tú Thiên, Long Tộc Thiên, A Tu La, Dạ Xoa, Lạc Xoa, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Ca, con người, loài không phải người. Ngoài ra còn có hai mươi vị Cát Tường Thiên, năm vị Trường Thọ Nữ Thiên, lục Đinh lục Giáp thiên, ba nghìn thiên chúng của Diêu Trì Kim Mẫu, thần chúng của cõi Ta Bà, địa thiên, thủy thiên, hỏa thiên, phong thiên, v.v…"
Tôi sửng sốt:
"Tôi đều có thể điều động được họ sao?"
Phật Đà nói:
"Đúng vậy. Một vị thành tựu giả xung quanh đều có chư Thiên, Hộ pháp hỗ trợ, do vậy mà hành giả nghĩ gì được nấy."
Tôi hỏi:
"Còn Quỷ Bà thì sao?"
Phật Đà nói:
"Quỷ Bà cũng có đội quân tàng hình."
Tôi kinh ngạc:
"Quỷ Bà cũng có ư?"
Phật Đà nói:
"Đúng thế! Chỉ có điều họ ở các cõi rất thấp."
Tôi hỏi:
"Đội quân tàng hình của Quỷ Bà là gì?"
Phật Đà đáp:
"Tinh mị quỷ [quỷ quyến rũ để đánh cắp tinh khí], điệu dịch quỷ [quỷ đau buồn sợ hãi], ma la quỷ [quỷ thu thập ma quỷ], la sát quỷ. Quỷ tự sát, quỷ giết người, quỷ biến hóa. Quỷ Bà vốn là một con quỷ ăn máu ở địa ngục chuyển hóa thành, do vậy có thể triệu tập quỷ."
Tôi hỏi:
"Những người theo Quỷ Bà thì sẽ như thế nào?"
Phật Đà đáp:
"Bị ma quỷ mê hoặc."


### 21. **Hóa thân thứ chín của Vishnu**


Một ngày nọ.
Tôi gặp một người phụ nữ Ấn Độ giáo tại trước cửa chùa Seattle Lôi Tạng Tự. Bà hỏi tôi một vấn đề.
Bà nói:
"Chúng tôi rất kinh ngạc là vì sao chùa Phật giáo mà lại thờ cúng ba vị thần lớn của Ấn Độ giáo?"
Tôi nói:
"Đúng vậy. Trong chùa của chúng tôi có Biến Tịnh Thiên (Vishnu), Đại Phạm Thiên (Brahma), Đại Tự Tại Thiên (Shiva). Chúng tôi không chỉ thờ cúng ba đại thần này, mà con có Cát Tường Thiên, Diệu Âm Thiên, Ca Lê Nữ Thần, còn có cả thần tài mũi voi nữa (Jambhala)…."
Người phụ nữ hỏi:
"Vì sao vậy?"
Tôi đáp:
"Phật Đà sinh ra tại Ấn Độ, Phật giáo là giáo pháp của Phật Đà, thường có liên quan đến cả Phạm Thiên chúng, do vậy chúng tôi cũng tôn thờ."

Người phụ nữ vô cùng thích thú. (Chùa Seattle Lôi Tạng Tự có rất nhiều người Ấn Độ đến thăm viếng, dòng người không dừng dứt.) 
Bà hỏi:
"Trong Ấn Độ giáo, Phật Thích Ca Mâu Ni là hóa thân thứ chín của Vishnu, ngài có biết không?"
Tôi đáp:
"Đương nhiên có biết. Tôi có biết về kiến thức này của Ấn Độ giáo."
Bà hỏi:
"Nhưng ở trong chùa, Phật Đà lại ở vị trí cao nhất, còn Vishnu thì lại đặt bên cạnh, chúng tôi không hiểu vì nguyên nhân gì?"
Tôi cười, nói:
"Bởi vì ở đây là chùa của Phật Đà mà."

🌟

Vì vấn đề hóa thân thứ chín của Vishnu mà tôi đặc biệt đi hỏi Phật Đà.
Tôi hỏi Phật Đà:
"Đức Phật tôn quý, ngài thực sự là hóa thân thứ chín của Vishnu (Biến Tịnh Thiên) sao?"
Phật Đà đáp:
"Câu hỏi của ngài là bí ẩn nghìn năm chưa được giải đáp đó!"
Tôi hỏi:
"Vậy là tôi hỏi đúng người rồi sao?"
Phật Đà đáp:
"Ấn Độ cổ đại có đất nước Baranasi (Ba La Nại), quốc vương là vua Tịnh Phạn, hoàng hậu là phu nhân Maya, được nhân dân bách tính rất ủng hộ. Nhưng những người con của vua Tịnh Phạn và các thê thiếp trong hậu cung sinh ra toàn là nữ nhi. Vua Tịnh Phạn không có con trai.

Một vị đại thần nói, bên bờ sông ở phía Nam vương thành có một miếu thần rất linh, chi bằng đến đó cầu xin vị thần này. Thế là vua Tịnh Phạn, phu nhân Maya đặc biệt chuẩn bị cúng phẩm, cung kính đi thăm viếng vị thần đó.

Quả nhiên sau đó phu nhân Maya đã mang thai, và thế là sinh ra thái tử Siddharta (Tất Đạt Đa). Chủ thần của ngôi miếu đó chính Vishnu Biến Tịnh Thiên. Bởi vì thế mà Phật Đà đã biến thành hóa thân thứ chín của Vishnu rồi."

Tôi nghe xong:
"Đã hiểu ra rồi!"
Phật Đà nói:
"Đương nhiên cũng có cách giải thích khác. Nhưng chuyện thần thoại thì nhiều lắm."


### 22. **Sinh ra từ nách phải**


Tôi (Lư Sư Tôn) nói chuyện cùng một bác sĩ.
Bác sĩ hỏi tôi:
"Phật Thích Ca Mâu Ni sinh ra tại vườn Lâm Tỳ Ni, là được sinh ra từ nách phải của phu nhân Maya có đúng không?"
Tôi nói:
"Đúng vậy."
Bác sĩ nghi ngờ:
"Dưới nách có tử cung sao?"
Tôi đáp:
"Có lẽ là không có đâu!"
Bác sĩ hỏi:
"Dưới nách của phu nhân Maya sinh ra thái tử, về điểm này, tôi là bác sĩ khoa sản phụ nên chẳng tin, điều này là phi khoa học, là mê tín."
Tôi hỏi ngược lại:
"Những chuyện phi khoa học của tôn giáo rất nhiều. Việc hoài thai chúa Jesus, ông có tin không? Thánh Mẫu là trinh nữ mà lại sinh được con?"
Bác sĩ không nói gì.
Tôi lại hỏi:
"Lão Tử của Trung Quốc vừa sinh ra thì đã già, ông có tin không?"
Bác sĩ không nói gì.
Tôi lại hỏi:
"Na Tra Thái Tử khi sinh ra thì chỉ là một khối thịt tròn, ông có tin không?"
Bác sĩ nói:
"Đó là tiểu thuyết!"
Tôi lại hỏi:
"Khi chính tôi sinh ra, toàn thân quấn đầy lụa mỏng màu trắng, ông có tin không?"
Bác sĩ lại không nói gì.
Tôi lại hỏi:
"Chúa Jesus rõ ràng là chết trên cây thập tự giá, nhưng lại sống lại, ông có tin không?"
Bác sĩ:
"…"
Tôi nói:
"Trên thế gian này có rất rất nhiều sự việc phi khoa học không thể đếm hết được. Ví dụ như Liên Hoa Sinh Đại Sĩ sinh ra từ hoa sen. Việc sinh ra có noãn sinh, thai sinh, thấp sinh, hóa sinh. Vậy vì sao chúng ta lại không thể cho rằng Phật Thích Ca Mâu Ni hóa sinh ra từ phu nhân Maya đây?"
Bác sĩ lại chẳng nói gì nữa!

Tôi biết việc sinh ra của Phật Đà là:
Sinh ra từ nách phải.
Sinh ra đã biết đi.
Sinh ra đã biết nói.
Mỗi bước chân đi là nở ra hoa sen.
Chín con rồng phun ra long diên hương để tắm cho ngài.
Các hiện tượng cát tường khi Đức Phật sinh ra là:
Đại địa chấn động, sông suối đều tràn đầy nước.
Xuất hiện thất bảo, phóng đại quang minh.
Mưa cam lộ trút xuống, nước ngập biến thành trong sạch.
Cây khô sinh lá, vườn cây sinh ra quả lạ.
Đường lớn đường nhỏ, chẳng quét mà sạch.
Những nơi hôi hám biến thành thơm tho, chẳng còn vết bẩn.
Cừu đẻ hai con, ngựa đẻ hai con.
Voi đẻ voi trắng, trâu đẻ hai con.
Xuất hiện cây thần, côn trùng độc lẩn trốn.

🌟

Tôi hỏi Phật Đà:
"Việc sinh hạ Tất Đạt Đa từ nách như thế nào?"
Phật Đà đáp:
"Như ngài đã nói đó."
Tôi hỏi:
"Những người làm nghề y chẳng tin thì phải làm sao?"
Phật Đà đáp:
"Nước sông còn có dòng Đông, dòng Tây, dòng Nam, dòng Bắc. Chẳng là một mà cũng chẳng khác!"


### 23. **Chuỗi thức ăn**


Tôi nhớ có một câu chuyện về Phật Đà lúc còn nhỏ thế này.
Vua Tịnh Phạn muốn để cho thái tử Tất Đạt Đa biết kiến thức về nghề nông, do vậy cho thái tử ra ngoài hoàng thành để xem nông dân canh tác. 
Thái tử Tất Đạt Đa quan sát rất chăm chút, ngài nhìn thấy:
Chỉ có hai con trâu thở hồng hộc, kéo theo một cái cày bằng sắt để cày đất.
Người nông dân còn cầm một cây roi dùng để quất trâu bò.
Trong thớ đất được cày xới lên có giun đất, côn trùng, con nào con nấy uốn éo ngọ nguậy.
Một bầy chim đang tranh nhau thức ăn.
Một con ếch vội vã nhảy tới, nuốt chửng đám côn trùng.
Đột nhiên, có một con rắn từ trong hang đất trườn ra, nuốt trọn lấy con ếch vừa mới ăn no xong.
Rồi lại thấy một con chim ưng từ trên trời sà xuống, dùng móng vuốt tóm chặt lấy đầu con rắn, rồi chim ưng ăn luôn con rắn.
Rồi lại có một con đại bàng túm chặt lấy con chim ưng, chim ưng đã trở thành món mồi ngon cho đại bàng.
…
Chuỗi thức ăn này chính là:
Côn trùng bị chim ăn, bị ếch ăn.
Ếch bị rắn ăn.
Rắn bị chim ưng ăn.
Chim ưng bị đại bàng ăn.
…

Thái tử Tất Đạt Đa nhìn thấy tình cảnh này, trong lòng vô cùng thương xót, nói với phụ vương:
"Phụ vương! Con cho rằng những thứ có sinh mệnh trên đời này đều nên vô lo vô nghĩ mà sinh tồn, vì sao lại phải tàn sát lẫn nhau như vậy?"
Vua Tịnh Phạn đáp:
"Tất cả mọi thứ trên thế gian này đều theo quy luật kẻ yếu thành con mồi cho kẻ mạnh. Cá lớn ăn cá nhỏ, cá nhỏ ăn tôm tép, tôm tép ăn bùn đất."

Vua Tịnh Phạn lại nói:
"Thế giới loài người cũng như vậy, nước lớn thôn tính nước nhỏ. Việc này nghìn năm chẳng đổi!"
Thế là, thái tử Tất Đạt Đa chìm sâu vào trong tư lự.

🌟

Cá nhân tôi cũng thường nghĩ đến vấn đề này.
Trong lịch sử nhân loại, lấy Trung Quốc làm ví dụ:
Các triều đại Đường Ngu Hạ Thương Chu, Tần Hán tứ quốc, Ngụy Tấn Nam Bắc Triều, Tùy Đường, Tống Nguyên Minh Thanh, Dân Quốc, 5000 năm nay toàn là lịch sử chiến tranh.
Trong lịch sử nhân loại cũng toàn là nước lớn ăn hiếp nước nhỏ, cũng là lịch sử chiến tranh.
Đại chiến thế giới lần thứ nhất.
Đại chiến thế giới lần thứ hai.
Chiến! Chiến! Chiến! Chiến! Chiến!
Các cuộc chiến tranh lớn, vừa, nhỏ dù có muốn đếm cũng không đếm hết được (và cũng chưa từng dừng lại). Giữa các nước lớn thì tranh giành quyền bá chủ!

🌟

Tôi hỏi Phật Đà:
"Vì sao lại như vậy?"
Phật Đà đáp:
"Tham, sân, si."
(Nhân loại vô minh.)
Tôi hỏi Phật Đà:
"Làm sao để đối trị?"
Phật Đà đáp:
"Giới, định, huệ."
Tôi hỏi Phật Đà:
"Con người sẽ chấm dứt chiến tranh được không? Sẽ hòa bình mãi mãi được không?"

Phật Đà đáp:
"Không."
(Chiến trường nhiều vô hạn anh hùng hảo hán, xương cốt chất chồng cao như núi.)


### 24. **Thê tử của Phật Đà là ai?**


Tôi hỏi các đệ tử:
"Thê tử của Phật Đà là ai?"
Đệ tử đáp:
"Da Du Đà La."
Tôi quay qua hỏi một đệ tử khác:
"Thê tử của Phật Đà là ai?"
Đệ tử đáp:
"Da Du Đà La."
Mọi người đều trả lời là: "Da Du Đà La."
Tôi thực lòng thực sự nói cho mọi người biết, vị chính cung thực sự của Phật Đà là: "Cừu Di." [Gopi] Còn Da Du Đà La chỉ là phi tử.

Tôi kể chuyện Phật Đà lấy vợ cho mọi người nghe.
Vua Tịnh Phạn thường thấy Tất Đạt Đa không vui.
Đại Ái Đạo [di mẫu của Phật Đà] đề nghị:
"Tìm cho Tất Đạt Đa một người vợ, thái tử sẽ vui vẻ hơn."
Thế là họ bèn tìm một công chúa môn đăng hộ đối để kết hôn với thái tử. 
Vừa hay, công chúa của nước Ca Tỳ La Vệ là công chúa Cừu Di 16 tuổi xinh đẹp như một đóa hoa tươi, duyên dáng như một tiên nữ, tính tình nhu mì, tấm lòng lương thiện.
Hai người rất môn đăng hộ đối.

Tuy nhiên có vấn đề xảy ra.
Công chúa Cừu Di đã có vương tử của tám nước lần lượt cầu hôn, nhưng Cừu Di đều không vừa ý ai cả. 
Nay thái tử Tất Đạt Đa cầu hôn, Cừu Di lại càng thêm khó xử. 
Cuối cùng, sự việc trở thành một cuộc thi võ thuật để cưới vợ giữa các vương tử của chín nước.

Cách thức thi võ thuật như sau:
1. Đấu kiếm.
2. Đấu vật.
3. Thi sức mạnh.
4. Bắn cung.

May mắn thay, thái tử Tất Đạt Đa có một vị sư phụ võ thuật cao cường tên gọi là Thiện Giác, từ nhỏ ông đã dạy thái tử công phu võ thuật. 
Thái tử Tất Đạt Đa thông minh lại rất nghiêm túc thực hành công phu, do vậy các pháp cưỡi ngựa, bắn cung, đấu kiếm đều rất thành thạo. 
Vì thế thái tử đã chiến thắng hết vương tử của tám nước kia.
Lấy được Cừu Di về làm vợ. 
Do vậy người vợ đầu tiên của thái tử Tất Đạt Đa chính là: 
Công chúa Cừu Di.

Còn đối với Da Du Đà La, trong số những phi tử thì cũng là một người tương đối nổi bật. Do vậy Phật Thích Ca Mâu Ni có:
Thê tử là Cừu Di.
Phi tử là Da Du Đà La.
Cùng các phi tử khác.
Tuy nhiên, Phật Đà vẫn không có được niềm vui thực sự. Vương vị, mỹ sắc, tài phúc đều không làm ngài động lòng.

🌟

Tôi hỏi Phật Đà:
"Sao mà lại không mê đắm vào thê tử phi tử vậy?"
Phật Đà đáp:
"Cho dù là hoa tươi thì rồi cũng khô héo." (vô thường)
Tôi hỏi Phật Đà:
"Thế còn ngai vàng thì sao?"
Phật Đà đáp:
"Cuối cùng cũng diệt vong thôi." (vô thường)
Tôi hỏi:
"Còn tài phúc?"
Phật Đà đáp:
"Vương quốc sụp đổ thì tiền còn sao?" (vô thường)
Lành thay! Lời này!


### 25. **Thần tích đầu tiên của Phật Đà**


Phật Đà từng chu du bốn phương, biết được cái khổ của sinh, lão, bệnh, tử. Rồi Phật lại gặp được một người xuất gia, bèn muốn tìm đạo giải thoát.

Vào chính đêm ngài vượt thành đã hiển lộ thần tích.
1. Phật Đà dùng roi ngựa chỉ vào bụng của Da Du Đà La, Da Du Đà La liền mang thai.
2.. Có xe ngựa kéo cho Phật Đà cưỡi để đi trốn, nhưng cửa thành đóng chặt, tường thành lại cao, khi đó Tứ Thiên Vương đã hạ giáng, mỗi vị nhấc một chân ngựa mà bay ra khỏi vương thành.
3. Da Du Đà La mang thai sáu năm mới sinh hạ một đứa con là La Hầu La, mang thai sáu năm cũng là một điều thần kỳ.
4. Chỉ vào bụng mà có thai, mang thai sáu năm, thực sự là chuyện kỳ lạ trong thiên hạ.
5. Quốc Vương đã dùng hố lửa để muốn thiêu cháy Da Du Đà La và đứa bé này. Phật Đà biết được, dùng tay chỉ một cái, hố lửa liền biến thành ao nước mát. Hơn nữa còn gửi đến một bức thư giải thích rõ rằng La Hầu La thực sự là con trai của ngài.

🌟

Những thần tích này là:
Roi ngựa chỉ vào bụng mà có thai.
Mang thai sáu năm.
Ngựa trắng bay qua tường cao.
Hố lửa biến thành ao nước mát.
Nếu không phải là thần tích thì những sự việc này không thể nào có được.

Tôi nghĩ đến chúa Jesus, thần tích của ngài cũng vô cùng nhiều:
Jesus dùng mấy con cá và mấy cái bánh mà có thể làm cho tín chúng ăn đến no bụng mà vẫn còn thừa. (5 cái bánh và 2 con cá.)
Nước biến thành rượu.
Người mù lại nhìn thấy được.
Người què đứng dậy được.
Người điên bình thường trở lại.
Mẹ của Jesus cũng là một trinh nữ mang thai.
Thánh linh nhập thai.
Jesus bước đi trên mặt biển.
Jesus hồi sinh.
Jesus cũng làm người chết sống lại.
…
Những việc này cũng đều là thần tích cả.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) cũng từng thể nghiệm thấy bản thân mình cũng có không ít thần tích mà con người hiện đại không thể nghĩ đến được. Ví dụ:
Bệnh ung thư biến mất.
Nhọt lớn biến mất.
Người bệnh nằm liệt giường đột nhiên đứng dậy.
Người ngồi xe lăn đứng dậy được.
Người mắc bệnh tâm thần hồi phục.
Người sống và người chết gặp nhau.
Không có thai biến thành có thai.
Làm cho vài trăm người trong một đêm đều nằm mơ thấy Lư Sư Tôn.
Hạn hán có mưa.
Vân vân và vân vân…

🌟

Tôi hỏi Phật Đà:
"Việc này là sao?"
Phật Đà đáp:
"Chế tâm nhất xứ, vô sự bất biện!" [điều khiển được tâm tập trung vào một chỗ, thì không có việc gì là không làm được]
Tôi hỏi Phật Đà:
"Là hoạt động của tinh thần sao?"
Phật Đà đáp:
"Chuyển hóa." (Niệm lực và bách linh tương trợ.)
Tôi hỏi Phật Đà:
"Làm sao có thể đoán biết trước được?"
Phật Đà đáp:
"Thiên thượng nhân gian có thanh âm." (Nghĩa là có thiên nhĩ thông.)


### 26. **Dưới gốc cây bồ đề**


Tôi và Phật Đà cùng nói chuyện về trải nghiệm thành Phật dưới gốc cây bồ đề. Tôi hỏi:
"Ngài có nhân duyên thành Phật không?"
Phật Đà đáp:
"Năm trăm kiếp thực hành hạnh Bồ Tát chính là nhân duyên đó."
Tôi hỏi:
"Thiền định dưới gốc cây bồ đề đã xảy ra những việc gì?"
Phật Đà đáp:
"Có ba mỹ nữ tuyệt sắc đến thử thách, nhưng tôi chẳng mảy may động lòng. Tám mươi vạn quân ma tới công kích, nhưng Hộ Thế Tứ Thiên Trụ bảo vệ nên chẳng mảy may bị tổn hại..."
Tôi hỏi:
"Muốn chứng Phật quả có cần có tư duy không?"
Phật Đà đáp:
"Cần quán."
Tôi hỏi:
"Muốn chứng Phật quả có cần vô niệm không?"
Phật Đà đáp:
"Cần chỉ."
Tôi hỏi:
"Muốn chứng Phật quả có cần nhịn ăn nhịn uống không?"
Phật Đà đáp:
"Khổ hạnh là phi đạo."
Tôi hỏi:
"Thế Phật Đà ăn gì?"
Phật Đà đáp:
"Sữa và hoa quả."
Tôi hỏi:
"Cảnh giới chứng quả là gì?"
Phật Đà đáp:
"Vô chấp, vô nhân ngã chấp, vô pháp chấp, tất cả mê hoặc biến mất. Vô ngã, dung nhập vào Phật hải."
Tôi hỏi:
"Có cảm giác gì?"
Phật Đà đáp:
"Một giọt nước tan vào biển lớn."
Tôi hỏi:
"Thấy sao sáng phương Đông là sao?"
Phật Đà đáp:
"Tâm quang phát lộ."
Tôi hỏi:
"Làm sao để chứng minh được là đã đắc Phật quả?"
Phật Đà đáp:
"Vô sở đắc, vô sở trụ, vô sở vị."
Tôi hỏi:
"Nói cụ thể hơn là sao?"
Phật Đà đáp:
"Giải thoát, bồ đề."
Tôi hỏi:
"Chứng Phật quả thì sẽ có được cái gì?"
Phật Đà đáp:
"Không ngôn ngữ hay văn tự nào có thể mô tả được."
Tôi hỏi:
"Sau khi Phật Đà chứng Phật quả thì ngài ở đâu?"
Phật Đà đáp:
"Thụ cùng tam tế, hoành biến thập phương." [theo chiều dọc thì ở cùng tận ba đời, theo chiều ngang thì ở trọn khắp mười phương]
Tôi hỏi:
"Thế nhân học Phật có thể học đến khi chứng Phật quả được không?"
Phật Đà đáp:
"Cần phải hỏi xem học đã chín hay chưa?"
Tôi hỏi:
"Thế nào gọi là chín?"
Phật Đà đáp:
"Nhân duyên đã có thừa."


### 27. **Chính tư duy**


Có một đệ tử ở tại một ngôi chùa nọ đã trông thấy một vị Bồ Tát. Hình tướng của vị Bồ Tát này rất kỳ lạ.
Một búi tóc cao.
Đội mũ miện.
Tóc rủ xuống vai.
Thiên y vắt chéo.
Ngồi trên tòa sen.
Tay trái đặt trên chân.
Ngón tay phải chạm nhẹ lên má phải.
Đầu hơi cúi.
Trầm tư mặc tưởng.
Đệ tử hỏi tôi:
"Là vị Bồ Tát nào?"
Tôi nghĩ một lúc rồi nói:
"Là Tư Duy Bồ Tát."
Đệ tử hỏi tôi:
"Vị Bồ Tát này rất ít nghe nói đến, xin hỏi lai lịch của Bồ Tát này là thế nào?"
Tôi nói:
“Vị Tư Duy Bồ Tát này là một trong tám đại Bồ Tát ở bên cạnh Phật A Di Đà, tên gọi là Hiếp Tôn Giả. Ngài là người nước Ca Nhị Sắc Ca [Kanishka] (Ấn Độ cổ đại). Bởi vì ngài bị con dâu đuổi ra khỏi nhà nên trở thành ăn mày. 
Ngài nghe tăng nhân giảng Phật pháp Tứ thánh đế khổ - tập - diệt - đạo, sau khi giác ngộ ra thì xuất gia tu hành. 
Khi xuất gia thì tuổi cũng đã cao, nên lại bị những người xuất gia trẻ tuổi trêu chọc nhạo báng là:
*Mắt mờ tai điếc.
Nhớ sao kinh văn?
Răng rụng hết sạch.
Nói năng chẳng rõ?
Lưng còng bụng ỏng
Hai chân trơ cứng
Ngồi thiền làm sao?
Trí nhớ suy giảm
Hiểu kinh làm sao?
*Lão tì kheo vẫn muôn phần đau khổ.

Sau đó, ngài gặp được một vị Phật hiển hiện hướng dẫn rằng:
"Trước Phật pháp thì ai nấy đều bình đẳng. Chỉ cần giữ giới luật, chính tư duy, luôn nghiền ngẫm nghĩ suy, đọc tụng kinh văn, suy ngẫm kinh văn, thì vẫn có thể đạt được chính quả."
Thế là lão tì kheo thực thi sáu pháp niệm: niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng, niệm thiên, niệm giới, niệm bố thí.
Nghĩ suy về đạo lý Tam Tạng.
Đoạn tam giới dục.
Chứng sáu loại thần thông.
Đạt được tám giải thoát.
Bởi vì ngài thực hành quên cả ngủ quên cả nghỉ ngơi, không một chút lười nhác, ăn cơm, ngồi thiền, đi đường, tản bộ… đều trong sự suy tư, nên sau này thành tựu, ngài liền trở thành Tư Duy Bồ Tát.

🌟

Tôi hỏi Phật Đà:
"Tư Duy Bồ Tát vì sao mà thành tựu?"
Phật Đà đáp:
"Chính tư duy."
Tôi hỏi Phật Đà:
"Tôi nghĩ tinh tấn cũng là một trong những nguyên nhân nhỉ?"
Phật Đà đáp:
"Tinh tấn trong sáu pháp lục độ bao trùm cả ngũ độ, bởi vậy tinh tấn là khẩu quyết lớn nhất."
Tôi hỏi Phật Đà:
"Trong sáu pháp niệm, vì sao cần niệm Thiên?"
Phật Đà đáp:
"Niệm Thiên là vì Thiên nhân hộ trì Phật pháp, do vậy mà niệm Thiên!"


### 28. **Cảnh báo sa vào địa ngục**


Trong tác phẩm "Truyện Cao Tăng", tôi đọc được một câu chuyện về cao tăng Lưu Tát Ha thời Đông Tấn ở Trung Quốc. 
Vị cao tăng ngày vốn không thích đọc sách, không biết chữ, nhưng tướng mạo to cao, cánh tay khỏe hơn người.
Ông thích võ thuật, do vậy ông đã luyện võ thành kỹ năng cho bản thân. Đao, thương, gươm, côn, cưỡi ngựa, bắn cung ông đều biết.
Sở thích lớn nhất của ông chính là lên núi đi săn, mũi tên không bao giờ sai đích, bách phát bách trúng. 
Chim bay trên trời, thú chạy dưới đất, rất nhiều động vật đã chết dưới bàn tay ông.
Ông thích:
Uống rượu đầy miệng.
Ăn thịt đầy mồm.
Một hôm, ông uống rượu không ngừng, uống tới mức quá đà rồi lăn ra ngủ say tít. 
Tổng cộng ông ngủ bảy ngày. 
Sau khi tỉnh lại, ông đột nhiên thay đổi cả con người.

Sự tình là như sau:
Lưu Tát Ha vừa mới say ngủ thì có hai quỷ sứ tới trói ông ta lại, đưa tới điện của Diêm La Vương ở địa ngục.
Diêm La Vương phán xét ông:
"Tội sát sinh quá nặng!"
Ông vẫn còn nói dối:
"Tôi không sát sinh."
Diêm La Vương hạ lệnh đối chất. Cùng lúc, tất cả hươu nai, ngựa, sư tử, voi, thỏ, ngỗng, chim,… đều xuất hiện. 
Chúng còn đưa ra cả mũi tên, trên mũi tên đều có khắc tên Lưu Tát Ha. 
Lưu Tát Ha chỉ còn cách cúi đầu nhận tội.
Thế là ông bị ném vào chảo dầu sôi, bị rán tới khi chết, rồi lại sống lại, lại bị rán tới chết, đau khổ tột cùng.

Rồi quỷ sứ lại đưa ông đi xem mười tám đại địa ngục với tất cả mọi hình phạt. Trong lòng ông kinh hãi khiếp đảm, lông tóc dựng đứng, máu dường như đông cứng lại.
Đúng lúc Lưu Tát Ha sợ hãi cực độ, Quan Thế Âm Bồ Tát xuất hiện, nói:
"Tội sát sinh là nặng nhất, ông cần sám hối, nếu có thể xuất gia tu hành thì có thể miễn được tội của ông."
Lưu Tát Ha gật đầu đồng ý.

Kết quả là, bảy ngày sau, Lưu Tát Ha hoàn dương. 
Sau khi hoàn dương thì ông mau chóng xuất gia để tu hành. 
Hơn nữa, sau này ông còn trở thành một vị cao tăng. (Đây chính là lời cảnh báo về việc sa vào địa ngục.)

🌟

Trong số các đệ tử của tôi cũng có người đã xuống địa ngục. 
Trong khi bị bệnh anh ta đã xuống địa ngục.
Diêm La Vương hỏi:
"Ông là đệ tử của ai?"
Người bệnh đáp:
"Lư Sư Tôn."
Diêm La Vương hỏi:
"Ông có biết niệm tâm chú của ngài ấy không?"
Người bệnh niệm:
"Om guru liansheng siddhi hum."
Câu chú này vừa được niệm lên thì cả điện Diêm Vương phát sáng rực rỡ.
Diêm La Vương nói:

"Số mệnh ông đã hết, nhưng vì là đệ tử của Lư Sư Tôn, nên ta để cho ông hoàn dương, hãy tu hành cho tốt, không phải xuống địa ngục nữa."
Cuối cùng đệ tử này đã hoàn dương. Khi xuất viện, vừa vào đến cửa nhà ông đã vội vã bước vào đàn tràng làm đại lễ bái trước Lư Sư Tôn.

🌟

Tôi hỏi Phật Đà:
"Lời cảnh báo xuống địa ngục để cảnh tỉnh thế nhân, việc này quan trọng như vậy, vì sao lại không thị hiện nhiều một chút?"
Phật Đà đáp:
"Phương pháp này dùng để cảnh báo thế nhân khá công hiệu. Nhưng để nhận được lời cảnh báo xuống địa ngục cũng cần phải có nhân duyên đó!”
Mong rằng những người đọc được câu chuyện này có thể khởi lên lòng tin.


### 29. **Quốc Vương và hòa thượng**


Có một lần.
Cống Đường Thương Hoạt Phật đến nước Mỹ tham gia buổi lễ nhậm chức của tổng thống Bill Clinton. 
Trên đường trở về, ngài đã đặc biệt đến Seattle thăm tôi.
Cống Đường Thương Hoạt Phật nói với tôi:
"Tổng thống Bill Clinton là một vị Hoạt Phật chuyển thế."
Tôi hỏi:
"Sao có thể như vậy?"
Cống Đường Thương Hoạt Phật nói:
“Atisa tôn giả nổi tiếng với tác phẩm “Bồ Đề Đạo Đăng Luận”, trong đó có liệt kê ra ba sĩ đạo:
Thượng sĩ — Thành tựu quả vị Phật Bồ Tát.
Trung sĩ — Thành tựu quả vị chư Thiên.
Hạ sĩ — Thành tựu quả vị Quốc Vương.”
Cống Đường Thương Hoạt Phật nói:
"Người tu hành thông thường căn khí khác nhau, có một số hành giả chỉ muốn kiếp sau lại có thể ở tại nhân gian hưởng thụ vinh hoa phú quý, thế nên tu hành có được sức mạnh rồi thì cũng chuyển thế tại nhân gian, trở thành vua ở nhân gian."
Tôi hỏi:
"Chuyển thế tại nhân gian, trở thành vua ở nhân gian có dễ không?"
Cống Đường Thương Hoạt Phật nói:
"Dễ, chỉ cần giữ được năm giới, thực hành mười điều thiện, đây chính là Phật giáo Nhân Thiên Thừa. Nếu như thực hành rộng rãi việc bố thí đồ ăn đến chúng sinh cõi u minh, lại thêm cúng dường trời người, thì có thể thành tựu trở thành vua!"
Cống Đường Thương Hoạt Phật nói:
"Ngài, một kiếp quá khứ của Lư Sư Tôn, cũng là một Quốc Vương."

Trong ký ức về tiền kiếp của tôi, tôi đã từng là:
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.
Long Thụ Bồ Tát.
Naropa tôn giả.
Atisa tôn giả.
Tsongkhapa tôn giả.
Gần như là rất nhất quán.
Tôi cũng hiểu được rằng:
Vua Trisong Detsen. (một thân hai biến hóa)
Vua đời thứ ba triều Tây Hạ. (Đại Bạch Cao Quốc)
Vua của đất nước Shambhala. (Bạch Liên Hoa Vương)
Vua Đường.
Vua đời thứ nhất triều Minh.
Họ đều có nhân duyên rất sâu với tôi!

🌟

Tôi hỏi Phật Đà:
"Vì nguyên nhân gì?"
Phật Đà đáp:
"Nhân duyên quả báo."
Tôi hỏi Phật Đà:
"Kiếp này thì thế nào?"
Phật Đà đáp:
"Kiếp này ngài vốn sẽ là một vị quan cao giàu có, nhưng ngài lại lãnh trách nhiệm quảng độ chúng sinh, do vậy bây giờ ngài mới đi trên con đường tu hành!"
Tôi hỏi:
"Kiếp sau làm vua được không?"
Phật Đà đáp:
"Dễ như trở bàn tay."
Tôi hỏi:
"Thời Ấn Độ cổ đại, tôi đã từng làm vua chưa?"
Phật Đà đáp:
"Ngài từng là Quốc Vương nước Ca Thấp Di La, Cù Tát Đán Na, Kiện Đà La,…"
Tôi hỏi:
"Vì sao lại làm vua?"
Phật Đà đáp:
"Là người tu Nhân Thừa đạt được thành tựu."


### 30. **Pháp hội trai tăng**


Ngày xưa, tôn giả Đại Ca Diếp khi đi khất thực hóa duyên (xin đồ ăn) thích tìm đến những nhà nghèo.
Tôn giả Đại Ca Diếp nói:
"Ban thêm phúc phần cho người nghèo đã cúng trai, để cho người nghèo được gia trì thêm phúc phần!"
Tôn giả A Nan nói:
"Tôi thì tìm đến người giàu để hóa duyên, bởi vì họ giàu có rồi nên có khả năng để cúng trai tăng!"
Cách nghĩ của hai vị rất khác nhau. Bạn nói xem ai đúng? Ai sai?
Đại Ca Diếp thì gầy gò.
A Nan thì mập mạp.
Ha ha ha!

Ngày nay.
Tổng hội Mật giáo Chân Phật Tông tại Malaysia cử hành đại hội cúng tăng, cho đến nay đã tổ chức được sáu lần.
Tăng chúng tham gia có 140 người xuất gia, bao gồm:
Tăng nhân của Phật giáo Nam truyền.
Tăng nhân của Phật giáo Bắc truyền.
Tăng nhân Tây Tạng.
Cư sĩ tại gia cúng trai có hơn 2000 tín chúng.

Trong nghi quỹ cúng tăng:
Chân Phật Tông niệm văn nguyện thỉnh Phật trụ thế.
Tăng chúng Bắc truyền niệm chú Đại Bi và Tâm Kinh.
Tăng chúng Nam truyền niệm văn cầu nguyện bằng tiếng Pali.
Chúng ta cũng cúng dường cả vị A La Hán trụ thế là ngài Tân Đầu Lư tôn giả.
Cúng phẩm gồm có:
Đồ ăn ngon đẹp mắt.
Vật dụng hàng ngày.
Tiền. (tư lương)
v.v…
Nghi quỹ cúng tăng mọi thứ đều viên mãn cát tường.
Thượng sư chủ trì pháp hội lần thứ sáu này là Thượng sư Thích Liên Ha.

🌟

Tôi hỏi Phật Đà:
"Đại hội cúng tăng có ý nghĩa gì?"
Phật Đà đáp:
"Tăng giống như đại địa, trưởng dưỡng tất cả mọi thiện công đức. Do vậy nên cúng dường."
Tôi hỏi:
"Cúng tăng có công đức gì?"
Phật Đà đáp:
"Kéo dài thọ mệnh.
Diện mạo viên mãn.
Tay chân khỏe mạnh.
Trí nhớ minh mẫn.
Trí tuệ sắc sảo.
Mọi người yêu mến.
Đầy đủ tăng bảo.
Nhân thiên tự tại.
Mệnh chung thăng thiên.
Sớm chứng viên tịch."
Phật Đà còn nói:
"Cúng tăng giống như gieo trồng một hạt công đức, nhưng vì một hạt công đức sẽ biến thành cây đại thụ vươn tới trời, sinh ra vạn vạn quả ngon, công đức cúng tăng chính là như vậy."

Tôi nghĩ đến câu chuyện Mục Kiền Liên cứu mẹ. 
Mục Kiền Liên bằng sức mạnh của chính mình thì không cứu nổi mẹ. (Mẹ ngài ở trong âm phủ ngạ quỷ.) 
Phật Đà liền dạy Mục Kiền Liên phải nhờ sức mạnh công đức của chúng tăng có thể cứu được mẹ ngài. Sau đó, ngài dùng sức mạnh cúng tăng mà đã cứu được mẹ.
Bởi vậy đệ tử Phật thông minh cần hiểu cúng trai tăng và cúng dường tăng nhân. Bởi vì tăng nhân là ruộng phúc, sức mạnh của tăng chúng là bất khả tư nghì.


### 31. **Nhân duyên phát khởi lòng tin**


Phật Đà và tôi cùng thảo luận đến vấn đề nhân duyên phát khởi lòng tin.
Tôi kể:
“Tôi tin theo Phật giáo là bởi vì trước đó tôi đã có được cảm ứng (tương ứng) như sau:
Địa điểm: chùa Ngọc Hoàng Cung tại Đài Trung.
Nhân vật: phu nhân mặc áo xanh Lâm Thiên Đại.
Thời gian: năm tôi 26 tuổi.
Sự việc đã trải qua: sư cô Thiên Đại bỗng nhiên gọi tôi bằng tên gọi thời con nít là Tạp Tử. Nói rằng Phật Bồ Tát tìm tôi, yêu cầu tôi hoằng pháp. Tôi quỳ trước đàn thành, nhắm mắt lại và nhìn thấy Diêu Trì Kim Mẫu, A Di Đà Phật, Địa Tạng Bồ Tát. Từ đó, tôi bắt đầu học Phật.”
Tôi nói:
"Sau khi phát khởi lòng tin, tôi đã chu du khắp thiên thượng giới, thấy được tiền kiếp của mình là Liên Hoa Đồng Tử với ánh sáng trắng rực rỡ, vô cùng chân thực, điều này càng làm tín tâm của tôi kiên định hơn. Tôi dựa vào trải nghiệm chân thực này mà đi tới tận bây giờ. Năm nay, tại nhân gian, tôi đã 75 tuổi rồi." (Bởi vì quá chân thực nên tôi đã gây dựng tông phái, mới có tên gọi là Chân Phật Tông.)

Phật Đà nói:
"Trong quá khứ, tôi cũng có nhân duyên phát khởi lòng tin."
Địa điểm: Ấn Độ.
Nhân vật:
Đại Quang Minh Vương — Thích Ca Mâu Ni Phật.
Người huấn luyện voi — Xá Lợi Phất.
Voi trắng — Nan Đà.
Thời gian: Ấn Độ cổ đại.
Sự việc: 
Quốc vương nước láng giềng tặng quà cho Đại Quang Minh Vương là một con voi trắng, toàn thân trắng như phủ tuyết, giống như được trạm trổ từ băng tuyết ngọc thạch vậy. 
Quốc vương ra lệnh cho người quản tượng huấn luyện con voi trắng này. 
Voi trắng được Đại Quang Minh Vương cưỡi thử.
Voi trắng vừa nhìn thấy voi mẹ thì đột nhiên tình cảm dâng trào, xém chút nước là làm Đại Quang Minh Vương ngã chết. 
Đại Quang Minh Vương ban cho voi trắng cái chết. 
Voi trắng rơi lệ. 
Voi trắng bị nấu chín tới rục xương mà chết, khi chết còn rống lên thê thảm làm Đại Quang Minh Vương nảy sinh tâm bi mẫn.
Người dắt voi nói:
"Tôi chỉ có thể rèn được thân của voi, không thể rèn được tâm của voi!"
Đại Quang Minh Vương hỏi:
"Ai có thể rèn được tâm của voi?"
Người dắt voi nói:
"Phật."
Thế là Đại Quang Minh Vương bởi vì sinh lòng thương xót mà đã khởi lên tín tâm đối với Phật.
Phật Đà kể lại:
"Đại Quang Minh Vương chính là kiếp trước của Thích Ca Mâu Ni Phật, người dắt voi chính là kiếp trước của Xá Lợi Phất. Voi trắng chính là kiếp trước của Nan Đà."

🌟

Phật Đà hỏi tôi:
"Ngài nhiều đệ tử như vậy, vì nguyên nhân gì mà họ lại khởi lòng tin?"
Tôi đáp:
"Đọc sách của tôi mà khởi lòng tin."
Phật Đà lại hỏi:
"Còn gì nữa không?"
Tôi đáp:
"Vì có cảm ứng mà khởi lòng tin."
Phật Đà hỏi:
"Cảm ứng gì?"
Tôi đáp:
"Tu pháp có cảm nhận, cầu gì được nấy, kỳ tích, thần tích, v.v…"
Phật Đà nói:
"Nếu có thể thuần phục được nhân tâm thì mới là tối thượng!"


### 32. **Thông minh tuyệt đỉnh**


Cá nhân tôi cho rằng:
Những người thông minh tuyệt đỉnh đều sẽ nghĩ đến mấy vấn đề sau:
Ta từ đâu tới?
Ta sẽ đi về đâu?
Ta sống vì điều gì?
Vì sao lại có sinh tử? Trước khi sinh ta ở đâu? Sau khi chết ta đi về đâu?
Có linh hồn không?
Tôi cho rằng:
Thái tử Tất Đạt Đa đương nhiên là một người thông minh tuyệt đỉnh.
Ngài chu du bên ngoài bốn cửa thành, nhìn thấy các hiện tượng sinh, lão, bệnh, tử, ngài đã nghĩ đến việc sau này làm Quốc Vương thì cũng vô ích.
Sinh tử là việc lớn!
Phải giải thoát!
Phải chứng ngộ!
Phải bồ đề!
Phải niết bàn!

🌟

Tôi hỏi Phật Đà:
"Thế nào gọi là thông minh tuyệt đỉnh?"
Phật Đà đáp:
"Người bình thường không nghĩ được, còn người này sớm đã nghĩ tới rồi."
Tôi hỏi:
"Tôi có được xem là thông minh không?"
Phật Đà đáp:
"Không! Ngài không được xem là thông minh, sự thông minh của ngài là dựa vào sự kiên trì từng chút từng chút một tích lũy lại."

Phật Đà kể cho tôi nghe:
“Vào thời Ấn Độ cổ đại, nước Xá Vệ có một người con gái thông minh tuyệt đỉnh, tên gọi là Tỳ Xá Ly.
Cô cùng các thiếu nữ qua sông, các thiếu nữ khác thì cởi giày, duy mình cô là vẫn đi giày lội qua sông. (Tỳ Xá Ly nghĩ rằng đi giày qua sông thì sẽ không làm chân bị thương, chân quan trọng hơn giày.)
Bên đường đi có một cái cây mọc ra rất nhiều quả. Các thiếu nữ trèo lên cây để hái quả, chỉ có cô là không hái. (Tỳ Xá Ly nghĩ rằng nếu quả này ngon thì từ lâu đã bị người ta hái sạch hết rồi, nhất định là không ngon, sau đó quả nhiên là như vậy.)
Cô đến một trạm dừng chân cho ngựa nghỉ, nhìn thấy một con voi bị buộc vào cây cột đang làm náo động, lại nhìn thấy ngựa bị buộc vào cây cột này cũng chồn chân cọ xát vào nhau. (Cô liền bảo mọi người mau chóng rời khỏi trạm dừng chân, quả nhiên trạm đổ sụp xuống, Tỳ Xá Ly đã sớm biết được nơi này nguy hiểm.)
Cô đến một dòng suối nhỏ trong thung lũng, trước tiên đã quan sát thời tiết, biết được sắp có một trận mưa lớn, liền khuyên mọi người rời đi. (Quả nhiên mưa lớn như trút nước, tạo ra một trận ngập lụt lớn.)
Đất nước láng giềng là Đặc Xoa Thi Lê muốn gây khó dễ cho nước Xá Vệ, bèn gửi tặng hai con ngựa, màu lông, hình thể, đầu đều giống nhau, nhưng là hai con ngựa mẹ con, xin nước Xá Vệ chỉ ra cách phân biệt con nào là mẹ, con nào là con. Tỳ Xá Ly lấy ít cỏ cho hai con ngựa ăn, ngựa mẹ vì yêu ngựa con nên nhất định để cho ngựa con ăn trước. Vì vậy mà phân biệt được ngựa mẹ, ngựa con.
Còn nữa: đất nước láng giếng lại gửi tặng hai con rắn, chiều dài tương đương nhau, màu sắc hoa văn cũng giống nhau, nhưng là một con đực một con cái, làm sao để phân biệt? Tỳ Xá Ly dùng một tấm chăn bằng lông đặt hai con rắn lên trên, con nào cựa quậy là con đực, con nào không động đậy là con cái. (Bởi vì con rắn cái thích những thứ mềm mại, do vậy nằm yên không động đậy.) Vì thế mà phân biệt được con đực và cái.
Còn nữa: đất nước láng giềng lại gửi đến một thân gỗ tròn, hai đầu gần như giống nhau, hỏi xem đầu nào là phần ngọn, đầu nào là phần gốc? Tỳ Xá Ly dùng nước để kiểm tra, đầu nào chìm xuống là gốc, đầu nào nhô lên là ngọn.”

Phật Đà nói với tôi:
"Cô gái Tỳ Xá Ly của đất nước Xá Vệ này cũng là một nhà tiên tri! Trong số con người hiện đại, người thông minh tuyệt đỉnh cũng rất nhiều!"
Phật Đà lại nói:
"Tiếc thay! Người hiện đại thông minh nhưng chỉ biết kiến thức hiện thực, không có kiến thức về trước khi sinh và sau khi chết!" (Hạnh phúc hiện thực không thể sánh bằng hạnh phúc nơi Phật quốc.)


### 33. **Nói chuyện về "xả thân"**


Tôi (Lư Sư Tôn) biết rằng:
Xả thân để cứu người yêu của mình, đây gọi là sự vĩ đại của tình yêu.
Xả thân để cứu người nhà của mình, đây gọi là sự vĩ đại của tình yêu gia đình.
Xả thân để cứu cộng đồng của mình, đây gọi là sự vĩ đại của tình yêu cộng đồng.
Xả thân vì xã hội.
Xả thân vì bộ tộc.
Xả thân vì đất nước.
Xả thân vì thế giới.
Ví dụ như: vì trọng trách mà chết, vì tôn giáo mà chết, vì đất nước mà chết, đây đều là những giá trị phẩm chất cao quý.
Ví dụ chúa Jesus vì thế giới mà chết, đương nhiên là một hành vi tối cao. Tình yêu mà có thể hy sinh cả cuộc sống của mình thì đây chính là tình yêu tối thượng.
Cá nhân tôi có cảm nhận rằng, thời điểm cần hy sinh thì có thể xả thân mà chết, đừng sống một cách hờ hững, như vậy là "tối thắng". Đặc biệt là có thể xả thân vì kẻ thù của mình thì chính là sự xả thân bình đẳng của Phật giáo.

🌟

Tôi nhớ Mã Cát Lạp tôn giả của Mật giáo có pháp xả thân, đại ý như sau:
Hành giả quán tưởng Mã Cát Lạp tôn giả.
Tay phải của ngài cầm dao cong.
Tai trái cầm chén kapala (chén sọ người).
Trẻ trung xinh đẹp.
Đang khiêu vũ tại hư không trung.
(Trì chú.)
Thế rồi thân hành giả hướng lên trên, nằm xuống.
Quán tưởng:
Phía dưới một cái kiềng ba chân cháy bùng lên một ngọn lửa. Chén sọ người đặt bên trên kiềng ba chân. Mã Cát Lạp tôn giả giống như người hành hình, trước hết ngài dùng dao cong chặt đầu hành giả, rồi dùng dao cong chặt đứt tứ chi, dùng dao cong rỉa sạch xương thịt trên toàn thân. Tất cả cho vào trong chén sọ người để nấu chín, cho ra cam lộ màu trắng màu đỏ.
Đem cam lộ màu trắng màu đỏ, trên cúng chư Phật Bồ Tát, khiến cho Phật Bồ Tát hoan hỷ.
Đem cam lộ màu trắng màu đỏ, giữa cúng chư Thiên thần minh.
Đem cam lộ màu trắng màu đỏ, dưới cúng lục đạo chúng sinh.
Đem cam lộ màu trắng màu đỏ cúng dường oan thân trái chủ.
Tất cả đều hoan hỷ thọ nhận.
Thân thể hành giả đã hoàn toàn tan biến thành hư không.
Nhập Tam ma địa.
(Việc này là hành giả hy sinh toàn bộ thân thể của mình để cúng dường tứ Thánh lục phàm thập pháp giới.)
Tu thành tựu pháp này có thể chứng đắc vô ngã, vô niệm, vô chấp.

🌟

Tôi bay lên cõi trời Sắc Cứu Cánh để nói chuyện với Phật.
Tôi hỏi Phật Đà:
"Xả thân vì nguyên nhân gì?"
Phật Đà đáp:
"Tình yêu và khoan dung."
Tôi hỏi:
"Tình yêu và khoan dung là cái gì?"
Phật Đà đáp:
"Đây là nền tảng của bậc thánh nhân. Cũng là cứu cánh của bậc thánh nhân."
Tôi hỏi:
"Thời xưa có ví dụ nào không?"
Phật Đà đáp:
"Ấn Độ cổ đại có vị quốc vương nhân từ tên là Thiết Đầu La Kiên Ninh. Cả nước hạn hán lớn, quốc vương biến thành một con cá siêu lớn làm thức ăn cho tất cả bách tính. Đây chính là tình yêu của quốc vương. Quốc vương sau đó cũng biến thành Ngư Thần."


### 34. **Cúng dường thanh tịnh**


Theo tôi được biết:
Cúng ma — đồ ăn hỏng cũng được.
Cúng thần — đồ mà thần yêu thích.
Cúng thiên — đồ mà chư Thiên yêu thích.
Cúng Hộ pháp — rượu và các loại thịt. (sức mạnh)
Cúng Phật Bồ Tát — đồ mà chính mình yêu thích.
(Nói đại khái là như vậy.)

Bản thân tôi cho rằng:
Đối với Phật Bồ Tát thì cúng "tâm" là cao nhất, quan trọng nhất là phải cúng dường thanh tịnh.
Có một kiểu cúng dường là cúng dường toàn nhiên, ví dụ như:
Người nghèo thì cúng một ngọn đèn.
Người nghèo thì cúng một chén nước.
Rất nhiều người biết câu chuyện về người nghèo thì cúng một ngọn đèn, đó là chuyện về một bà lão nghèo, chẳng có gì để cúng, chỉ cúng dường một ngọn đèn. Thế rồi khi gió thổi tới, duy chỉ có ngọn đèn này là không tắt.
Phật Đà còn nói:
"Người nghèo thì cúng một chén nước."

Một đôi vợ chồng theo Phật Đà xuất gia, người chồng tên gọi là Kim Thiên, người vợ tên gọi là Kim Minh. Kim Thiên trở thành tì kheo, Kim Minh trở thành tì kheo ni. 
Đôi vợ chồng xuất gia này chuyên tâm tu hành, đoạn trừ tất cả phiền não, viên mãn tất cả mọi công đức, rất mau chóng tu thành tựu A La Hán.
A Nan, một trong 10 đại đệ tử của Phật Đà, hỏi Phật Đà vì sao đôi vợ chồng này lại nhanh chóng chứng đắc A La Hán như vậy?
Phật Đà đáp:
“Vào thời kỳ Phật Tỳ Bà Thi trụ thế, Phật Tỳ Bà Thi cùng với các tì kheo đến một thôn làng để hóa duyên. Người trong thôn đều đem đồ vật tốt nhất để cúng dường cho Phật Tỳ Bà Thi và tăng chúng. Chỉ có một đôi vợ chồng nghèo chẳng tìm được thứ gì quý giá để cúng dường. Cuối cùng họ tìm được một đồng xu nhỏ, dùng đồng xu này để mua lấy một cái tịnh bình, trong tịnh bình đựng đầy nước sạch. Đôi vợ chồng cúng dường nước tịnh bình. Phật Tỳ Bà Thi vui vẻ tiếp nhận cúng dường của đôi vợ chồng. Phật Tỳ Bà Thi nói: Đây là cúng dường toàn nhiên, công đức là số một."
Phật Thích Ca Mâu Ni nói:
“Kim Thiên, Kim Minh chính là đôi vợ chồng này chuyển thế, bởi vì có hành động cúng dường toàn nhiên và cúng dường thanh tịnh, do vậy rất mau chóng chứng đắc quả vị A La Hán.”

🌟

Tôi hỏi Phật Đà:
"Thế nào là thanh tịnh?"
Phật Đà đáp:
"Toàn tâm."
Tôi hỏi:
"Toàn tâm là sao?"
Phật Đà đáp:
"Không có tham, sân, si, mạn."
(Tôi đã hiểu rồi.)
Tôi hỏi Phật Đà:
"Có thể cúng dường thân này không?"
Phật Đà đáp:
"Có thể."
Tôi hỏi:
"Cúng như thế nào?"
Phật Đà đáp:
"Cúng bản thân cho Phật sai khiến."
Tôi hỏi:
"Cái gì là cúng dường tốt nhất?"
Phật Đà đáp:
"Chứng Phật quả, độ chúng sinh." (tu hành thanh tịnh)


### 35. **Hòa thượng thật giả**


Tôi hỏi Phật Đà:
"Thế nào là hòa thượng?"
Phật Đà đáp:
"Là tăng nhân hòa hợp."
Tôi hỏi:
"Nếu là người không hòa hợp?"
Phật Đà đáp:
"Thì không phải là hòa thượng."
Tôi hỏi:
"Hòa thượng nhất định cần phải điểm giới sẹo, mặc tam y, thọ tam đàn đại giới, không ăn quá giờ Ngọ, ăn chay, không đảo đơn… phải không?" [không đảo đơn là một trong những hạnh đầu đà, còn có nghĩa là ban đêm không ngủ, cần ngồi kiết già niệm Phật hoặc tham thiền]
Phật Đà đáp:
"Đó là biểu hiện bên ngoài."
Tôi hỏi:
"Vậy biểu hiện thực sự bên trong là gì?"
Phật Đà đáp:
"Tâm như hư không." (Vô sở đắc, vô sở trụ, vô sở vị.)
Tôi hỏi:
"Tôi có chứng nhận tăng nhân của giáo hội Phật giáo Trung Quốc, tôi là tăng nhân có giấy phép thật sự, vậy có được không?"
Phật Đà đáp:
"Vẫn chỉ là biểu hiện bên ngoài."
Tôi hỏi:
"Có một số tăng nhân tham sắc, có một số tăng nhân tham tiền, có một số tăng nhân tham danh vị, những tăng nhân này phải nói làm sao?"
Phật Đà đáp:
"Tăng nhân cần loại bỏ ba thứ độc tham sân si, dùng giới định huệ để đối trị, như vậy mới gọi là phạm hạnh."
Tôi hỏi:
"Tăng nhân cần phải có đức tính gì?"
Phật Đà đáp:
"Từ bi và yêu thương."
Tôi hỏi:
"Có hạn lượng không?"
Phật Đà đáp:
"Vô hạn lượng."
Tôi hỏi:
"Tăng nhân có cần từ bi với kẻ thù của mình không?"
Phật Đà đáp:
"Xem mọi chúng sinh bình đẳng."
Tôi hỏi:
"Tăng nhân cần độ chúng sinh như thế nào?"
Phật Đà đáp:
"Đáp ứng mong cầu của con người và động vật."
Tôi hỏi:
"Làm như thế nào?"
Phật Đà đáp:
"Vẫn là bằng tứ vô lượng tâm."
Tôi hỏi:
"Phương pháp độ chúng sinh thế nào?"
Phật Đà đáp:
"Tứ nhiếp và thiện xảo." [Tứ nhiếp pháp là một pháp môn thực hành căn cứ vào lòng từ bi để khuyên răn cảm hóa chúng sinh bỏ tà theo chính, gồm bốn điều là bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự.]
Tôi hỏi:
"Tăng nhân thực sự là…?"
"Phạm hạnh thanh tịnh."
Tôi hỏi:
"Tăng nhân giả mạo là…?"
Phật Đà đáp:
"Như người thế tục." (Thậm chí còn tồi tệ hơn.)
Tôi hỏi:
"Tăng nhân hoàn tục thì sao?"
Phật Đà đáp:
"Vốn dĩ là tục, còn hoàn cái gì?"


### 36. **Phật nói về Atisa tôn giả**


Tôi biết rằng chiếc mũ trên đầu Atisa tôn giả có Phật Thích Ca Mâu Ni. Vì tôi đến Indonesia truyền thụ Atisa tôn giả niệm tụng pháp nên tôi đã đặc biệt xin chỉ dạy của Phật Đà.
Tôi hỏi Phật Đà:
"Xin mạn phép hỏi Phật Đà hai ba điều về Atisa tôn giả được không?"
Phật Đà đáp:
"Ngài sinh ra tại Bangladesh, thành Siêu Việt, cha là vua Thiện Thắng, mẹ là Cát Tường Quang. Ngài được đặt tên là Minh Tạng, là một vị vương tử."
Tôi hỏi:
"Ngài ấy bắt đầu có duyên với Phật pháp như thế nào?"
Phật Đà đáp:
"Vào năm 11 tuổi, ngài đã gặp một người bà-la-môn tên là Thắng Địch, bắt đầu phát tâm học Phật. Tại chùa Nalanda ngài đã bái kiến Bồ Đề Hiền luận sư."
Tôi hỏi:
"Ngài ấy học Phật như thế nào?"
Phật Đà đáp:
"Dựa vào duy nhất A Phược Đô Đế, học trung quán và tu tư duy."
Tôi hỏi:
"Ngài ấy học Mật pháp như thế nào?"
Phật Đà đáp:
"Dựa vào vị tôn giả là La Hầu La Cấp Đa [còn có tên gọi là Liên Hoa Khải] để học Mật giáo, thọ quán đảnh, pháp hiệu là Trí Mật Kim Cang."
Tôi hỏi:
"Ngài ấy xuất gia khi nào?"
Phật Đà đáp:
"Năm 29 tuổi, tại chùa Siêu Giới đã xuất gia theo Giới Hộ luận sư, pháp danh là Nhiên Đăng Cát Tường Trí."
Tôi hỏi:
"Khi nào thì ngài ấy theo Kim Châu đại sư học pháp?"
Phật Đà đáp:
"Năm 31 tuổi, theo học 12 năm."
Tôi hỏi:
"Khi nào thì ngài ấy đạt đại thành tựu?"
Phật Đà đáp:
"Năm 44 tuổi ngài lên làm trụ trì chùa Siêu Giới, trở thành một vị đại học giả Ấn Độ."
Tôi hỏi:
"Khi nào thì ngài ấy đi Tây Tạng hoằng pháp?"
Phật Đà đáp:
"Năm 59 tuổi, đến năm 73 tuổi thì viên tịch tại chùa Niếp Đường. [một ngôi chùa tại Lhasa]
Tôi hỏi:
"Thời kỳ rực rỡ nhất của ngài ấy là giai đoạn nào?"
Phật Đà đáp:
“Là lúc ngài ấy xuất gia.”
Phật hiển hiện và các vị đại La Hán cùng ngồi trên pháp tọa thọ nhận đồ cúng, Atisa tôn giả ngồi bên cạnh. Phật chỉ vào Atisa hỏi, người này sao còn chưa xuất gia? Vẫn còn tham luyến cái gì ở thế gian nữa?
(Lần thứ nhất ngài chấn động.)

Lại có một lần, một pháp tọa lớn hiện ra, ngài cảm thấy rất quen thuộc, muốn lên pháp tọa ngồi thử. Pháp sư đang ngồi trên pháp tọa nói:
"Đây là pháp tọa cho người xuất gia, không phải là chỗ mà người thế tục có thể ngồi được."
(Lần thứ hai ngài chấn động.)
Sau hai lần chấn động này, ngài mới xuất gia.

Còn nữa:
Ngài đến học pháp với Kim Châu đại sư, trải qua chuyến hành trình trên biển kéo dài 13 tháng mới đến được đảo Kim Châu. (Trong vòng một năm ngài chỉ có quan sát Thượng sư, Thượng sư cũng quan sát lại ngài.)

Kim Châu đại sư tặng cho ngài một tượng vàng Phật Thích Ca, ban cho làm Đồng Đẳng Giáo Chủ và là người kế tục truyền thừa.

Nội dung mười hai năm học pháp của ngài là:
Lấy pháp Bồ đề tâm làm trọng, tri mẫu tâm, tri ân tâm, báo ân tâm, từ bi tâm, bi mẫn tâm, nhân quả tâm, bồ đề phát tâm.
Bồ đề tâm hoán đổi mình và người khác để chịu thay.
Tất cả thánh giáo Độ Mẫu pháp. Hiện Quán Trang Nghiêm Luận, Tập Mật, Hỷ Kim Cang, Nhập Bồ Tát Thành Luận, Trước Tác Đẳng Thân, Bồ Đề Đạo Đăng Luận, v.v…
Còn nữa:
Đến Tây Tạng hoằng pháp là khi ngài 59 tuổi.
(Những biện luận của ngài không có điều gì là không thù thắng, ngài hiểu thấu kinh luận rõ như lòng bàn tay.)


### 37. **Một kiếp ở đạo súc sinh**


Tôi hỏi Phật Đà:
"Kinh Bản Sinh của Phật Đà đã ghi chép lại việc Phật Đà từng kinh qua đạo súc sinh, ví dụ như làm Lộc Vương [vua nai], Tượng Vương [vua voi], v.v… Xin hỏi Phật Đà, tôn giả Xá Lợi Phất cũng từng trải qua đạo súc sinh phải không?"
Phật Đà hỏi ngược lại tôi:
"Lư Sư Tôn, kiếp này của ngài, ngài sợ nhất là động vật gì?"
Tôi đáp:
"Rắn!" - Tôi nói: "Chỉ cần nhìn thấy con rắn uốn éo là tôi đã sợ rồi."
Phật Đà nói:
"Xá Lợi Phất có một kiếp chính là Xà Vương [vua rắn]."
Tôi hỏi:
"Xá Lợi Phất vì sao lại làm Xà Vương được?"
Phật Đà nói:
"Xá Lợi Phất có một kiếp làm nông dân đầu tắt mặt tối, làm việc quần quật từ sáng tinh mơ đến tối mịt, chẳng có ngày nào được ngơi nghỉ. Ông làm việc chăm chỉ hàng ngày, tiền kiếm được đều đem mua vàng."
Phật Đà nói:
"Ông ấy còn không dám ăn, không dám mặc, chỉ khư khư tích tiền mua vàng, cả đời tổng cộng tích lũy được bảy hũ tiền vàng."
Phật Đà lại nói:
"Ông đem tiền vàng chôn dưới một cái cây to, ngày đêm trông chừng bảy hũ tiền vàng. Đây là một con người keo kiệt, về sau kẻ keo kiệt này chết rồi thì biến thành Xà Vương, dẫn đầu bầy rắn lớn nhỏ để bảo vệ tiền vàng."
Tôi hỏi:
"Xà Vương đã được giải thoát bằng cách nào?"
Phật Đà nói:
"Xà Vương canh giữ tiền vàng đã lâu, cảm thấy việc này cũng vô ích. Nghĩ rằng việc xây chùa cúng tăng mới là việc có ý nghĩa.
Thế là:
Trải qua vô số lần thương lượng, cuối cùng Xà Vương đã giao toàn bộ bảy hũ vàng cúng cho tăng nhân xây chùa, cúng trai, cúng y. Tăng nhân đã niệm kinh, thuyết pháp cho Xà Vương nghe. Cuối cùng Xà Vương đã được thăng vào 33 thiên.”
Tôi hỏi:
"Vì sao nông dân lại biến thành Xà Vương? Là nhân quả gì?"
Phật Đà đáp:
"Nông dân vô thiện vô ác. Nhưng lại ích kỷ hẹp hòi, chính vì sự ích kỷ hẹp hòi này mà đọa làm thân Xà Vương."
Phật Đà còn nói:
"Chính bởi vì keo kiệt nên chỉ có thể chuyển thế giữ tiền, liền biến thành con mãng xà lớn sống trên cây để canh giữ bảy hũ vàng."
Tôi hỏi:
"Muốn giải thoát chính mình thì cần phải xả bỏ, đúng vậy không?"
Phật Đà đáp:
"Đúng vậy."
Tôi hỏi:
"Cần xả bỏ bao nhiêu?"
Phật Đà đáp:
"Toàn bộ."
Tôi hỏi:
"Vì sao phải là toàn bộ? Có thể giữ lại một chút không?"
Phật Đà đáp:
"Chẳng có gì đem đi được."
Tôi hỏi:
"Nếu muốn giữ lại một chút để cho con cháu, được không?"
Phật Đà cười nói:
"Con cháu tự có phúc của con cháu."
Tôi hỏi:
"Vậy cần để lại cho con cháu cái gì?"
Phật Đà đáp:
"Thiện công đức!"
(Thiện công đức gồm hai loại tư lương. Một loại là tư lương thế gian, một loại là tư lương xuất thế gian.)


### 38. **Phật Đà hàng phục sáu kẻ ngoại đạo như thế nào?**


Vào thời Ấn Độ cổ đại, vua Bình Sa của thành Vương Xá từng tổ chức cuộc đấu pháp giữa Phật Thích Ca Mâu Ni và sáu kẻ ngoại đạo kéo dài tổng cộng 15 ngày.
Tôi hỏi Phật Đà:
"Đấu pháp gì?"
Phật Đà đáp:
"Thần thông."
Tôi hỏi:
"Đôi bên cùng khai triển thần thông sao?"
Phật Đà đáp:
"Lấy nhu khắc cương."
Tôi hỏi:
"Cái gì là thần thông mềm?"
Phật Đà kể chuyện:
Ngày thứ nhất:
Phật Thích Ca lấy một cành cây cắm xuống đất, cành cây mọc mầm biến thành một cây to, sau đó đơm hoa kết trái. Hoa thơm nức mũi, quả thơm khắp nơi. Sáu kẻ ngoại đạo ngửi hương hoa, hương quả mà mất luôn cả ý chí muốn thi đấu. Mọi người đều ăn quả ngon.

Ngày thứ hai:
Phật Thích Ca hóa hiện nên hai ngọn núi lớn, một ngọn núi phủ đầy thất trân bát bảo, ngọn núi kia thì đầy các món ăn ngon thơm phức. Sáu kẻ ngoại đạo bận rộn khoác lên đủ loại châu ngọc. Sáu kẻ ngoại đạo ăn no nê đồ ăn ngon. Thế là quên luôn việc đấu pháp.

Ngày thứ ba:
Phật Thích Ca phun nước xuống đất, hóa thành một chiếc ao đầy châu báu, trong ao nở ra hoa sen ngọc, hương sen lan tỏa khắp nơi. Sáu kẻ ngoại đạo ngửi mùi thơm hoa sen như say như mê, khiến cho tâm ngu muội trở nên trong sáng, quên mất cả mọi thứ khác.

Ngày thứ tư:
Phật Thích Ca hướng về bốn phương Đông Tây Nam Bắc, mỗi phương hóa ra một dòng suối trong, âm thanh tiếng suối chảy trở thành thiên nhạc. Sáu kẻ ngoại đạo nghe thấy thiên nhạc du dương uyển chuyển quên mất cả việc đấu pháp.

Ngày thứ năm:
Phật Thích Ca từ miệng phát ra kim quang, sáu kẻ ngoại đạo bị bao trùm trong ánh sáng quang minh, ác niệm đều biến mất, quên cả ý chí muốn đấu pháp.

Ngày thứ sáu:
Phật Thích Ca dùng thần lực khiến cho mọi phiền não của sáu kẻ ngoại đạo đều lần lượt được tiêu trừ, hết sạch phiền não, tâm liền thay đổi!

Ngày thứ bảy:
Phật Thích Ca biến ra hình tướng Chuyển Luân Thánh Vương to lớn, đầu đội trời chân đạp đất để giảng kinh thuyết pháp, lần lượt mọi chân đế đều được nói ra. Sáu kẻ ngoại đạo nghe pháp mà được hoan hỷ.

Ngày thứ tám:
Phật Thích Ca thỉnh toàn bộ Thiên Long Bát Bộ xuất hiện, uy phong lẫy lừng. Sáu kẻ ngoại đạo liền hàng phục.

Ngày thứ chín đến ngày thứ mười lăm:
Phật Thích Ca thuyết giảng tỉ mỉ về chân đế. Khổ - Không - Vô thường - Vô ngã - Tứ thánh đế, lục độ, bát chính đạo… Ngài còn giải thích về tam minh, ngũ uẩn, lục thông, thất bồ đề phần, ba mươi bảy đạo phẩm…

Sáu kẻ ngoại đạo lần lượt bị thu phục, đã quy y Phật Đà.

Tôi hỏi Phật Đà:
"Việc này thực sự là vĩ đại, xin hỏi Phật Đà, pháp lực của sáu kẻ ngoại đạo này thế nào?"
Phật Đà đáp:
"Sáu kẻ ngoại đạo đều từ Ma Vương Ba Tuần mà trở thành ngoại đạo. Họ luyện tập những thứ như là cưỡi mây đạp sương, mắt phóng hung quang, miệng hét ra lửa, pháp thuật đao kiếm, thân cứng như thép, huyễn thuật mê hoặc…"

Tôi tán dương lòng từ bi và trí huệ của Phật Đà.


### 39. **Phật Đà và nghi ngờ của năm tì kheo**


Tôi hỏi Phật Đà:
"Sau khi Phật Đà thành đạo, trước tiên đã đến thăm vườn Lộc Dã, độ hóa cho năm tì kheo, gồm Kiều Trần Như, Thập Lực Ca Diếp, Át Bính, Bạt Đề, Ma Nam Câu Lợi."
Tôi hỏi:
"Trong kinh Kim Cang có ghi chép lại, tiền kiếp Phật Đà từng là một tiên nhân nhẫn nhục. Còn Ca Lợi Vương, bởi vì một phi tần của chính mình đã tiếp cận và làm ô nhục tiên nhân, mà trong lòng vị vua đã sục sôi ngọn lửa ghen tuông đố kỵ, khiến vua chặt đứt tứ chi của vị tiên nhân nhẫn nhục này. Khả năng nhẫn nhục của vị tiên nhân nhẫn nhục khiến ngài không vì thế mà phẫn nộ. Cuối cùng, Ca Lợi Vương sám hối việc làm của mình, do nhân duyên này mà vị tiên nhân đã độ hóa cho Ca Lợi Vương."

Tôi lại hỏi:
“Vị tiên nhân nhẫn nhục năm xưa là Phật Thích Ca Mâu Ni, Cao Lợi Vương chính là Kiều Trần Như. Còn nói, tiên nhân nhẫn nhục từng phát nguyện rằng nếu thành Phật thì sẽ độ hóa Kiều Trần Như trước tiên.”

Còn nữa:
Trong kinh Hiền Ngu, tôi còn đọc được một điển cố khác.
Tôi nhắc lại:
"A Nan hỏi Phật Đà, Phật Đà độ cho năm tì kheo trước, năm tì kheo đắc đạo trước, vì sao như vậy? Do nhân duyên gì?"
Phật Đà lại kể một câu chuyện:
Phật Đà trong một kiếp quá khứ là Từ Lực Vương, ông cai trị vương quốc rất tốt.
Người người đều tuân thủ pháp luật.
Người người đều có chính niệm.
Người người đều có Phật pháp.
Có năm ác quỷ dạ xoa đến vương quốc Từ Lực, nhưng không dám ăn thịt người dân của đất nước này. Chúng thực sự đói không chịu nổi. Chịu không nổi nữa, chúng liền đi cầu cứu Từ Lực Vương. Không ngờ Từ Lực Vương quả nhiên vô cùng từ bi, cắt từ thân mình ra năm miếng thịt cho năm con ác quỷ dạ xoa khát máu này ăn. Năm quỷ dạ xoa ăn đến no nê.
Từ Lực Vương nói với năm con quỷ dạ xoa:
"Ta dùng máu tươi để cứu sống các người, là hy vọng các người đổi ác thành thiện, tu thân dưỡng tính, tương lai thành Phật."
Từ Lực Vương còn nói:
"Nếu ta thành Phật trước, chắc chắn sẽ độ hóa cho năm ngươi trước."
Từ Lực Vương năm xưa chính là Phật Thích Ca Mâu Ni sau này, năm ác quỷ dạ xoa kia chính là năm tì kheo.

🌟

Tôi hỏi:
"Hai câu chuyện này chẳng phải có chỗ mâu thuẫn sao?"
Phật Đà đáp:
"Không có."
Tôi hỏi:
"Vì sao như vậy?"
Phật Đà đáp:
"Thời đại và bối cảnh đều khác nhau." (nhiều đời nhiều kiếp)
Tôi hỏi:
"Vị Kiều Trần Như được độ hóa đầu tiên, một người thì ở thời tiên nhân nhẫn nhục, một người thì ở thời Từ Lực Vương, hai nhân duyên này cũng thật trùng hợp."
Phật Đà nói:
"Chính do nhân quả và nhân duyên là như vậy."
Phật Đà còn nói:
"Lư Sư Tôn, nhân duyên của ngài cũng đã hội đủ, cũng là như vậy mà! Đệ tử ở kiếp quá khứ đều do nhân duyên mà quy y dưới pháp môn của ngài, việc này không chỉ một kiếp, hai kiếp, ba kiếp, thậm chí là rất nhiều kiếp."
Tôi nói:
"Tôi đã hiểu rồi!"

Tôi làm bài kệ:

*Nhiều đời nhiều kiếp là có thật
Nhân duyên nghiệp báo chớ xem thường
Tôi nay viết sách mong tường tận
Nói tới nói lui độ trời người.*


### 40. **Tầm quan trọng của sám hối**


Tôi hỏi Phật Đà:
"Pháp sám hối có quan trọng không?"
Phật Đà đáp:
"Tối quan trọng."
Tôi nói:
"Con người ngày nay, người chẳng hề biết sám hối rất nhiều, làm sai việc gì thì cũng nói xuề xòa cho xong là thôi."
Tôi còn nói:
"Con người cảm thấy sám hối là một việc rất mất mặt. Lại còn mồm năm miệng mười rằng chẳng có lỗi gì thì sám hối cái gì."
Phật Đà đáp:
"Nhất cử nhất động nhất niệm đều là tội chướng. Thế nhân cần thực sự học pháp sám hối đi."
Thế rồi Phật Đà kể một câu chuyện.
Ngày xưa.
Phật Đà thường dẫn các đệ tử đến nhà các thí chủ giàu có để nhận cúng dường. 
Khi đó có năm trăm kẻ ăn mày biết được, liền theo Phật Đà đi tiếp nhận cúng dường của các thí chủ. 
Việc này kéo dài khá lâu khiến các thí chủ mất hết kiên nhãn. Họ chỉ muốn cúng dường tăng nhân, không muốn cúng cho kẻ ăn mày. 
Năm trăm kẻ ăn mày này cuối cùng quyết định đến xin Phật Đà cho ăn mày cũng được xuất gia làm tăng. Phật Đà đồng ý, thế là năm trăm kẻ ăn mày trở thành năm trăm tăng ăn mày.
Trải qua sự giáo hóa tỉ mỉ của Phật Đà, năm trăm tăng ăn mày quả nhiên đã trở thành năm trăm La Hán. (Năm trăm vị La Hán chính là từ chuyện này mà có.)

Phật Đà kể chuyện:
Kiếp quá khứ của năm trăm kẻ ăn mày này như sau:
Họ vốn là những lao công cho một đại thí chủ tên là Tán Đàn Ninh. 
Thí chủ này đã cúng dường mấy vị Bích Chi Phật. 
Thí chủ muốn năm trăm lao công này nghe theo lời của Bích Chi Phật. 
Nhưng năm trăm lao công này không tuân theo, còn cố ý gây sự. 
Sau này mới thấy được những lời của Bích Chi Phật nói đều là đúng. 
Lúc này năm trăm lao công mới biết chính mình đã sai rồi, mới hướng về Bích Chi Phật mà hối cải (sám hối thật sự). Bích Chi Phật đã tha thứ cho họ.
Bích Chi Phật nói:
"Năm trăm lao công đã làm rất nhiều việc sai trái, vốn dĩ phải đọa địa ngục, nhưng vì biết sám hối nên không phải đọa địa ngục nữa, tương lai chuyển thế sẽ trở thành năm trăm kẻ ăn mày."
Bích Chi Phật nói:
"Do việc sám hối, lại nghe được Phật pháp, tương lai năm trăm kẻ ăn mày này sẽ gặp được vị Phật chân chính."
(Năm trăm kẻ ăn mày quả nhiên gặp được Phật Thích Ca Mâu Ni, trở thành năm trăm tăng ăn mày, rồi lại tu chứng thành tựu thành năm trăm La Hán.)

Tôi hỏi Phật Đà:
"Quỷ Bà ngày nay không biết sám hối thì sẽ ra sao?"
Phật Đà đáp:
"Đánh mất thân này, hoàn nguyên trở thành quỷ uống máu."
Tôi hỏi:
"Còn những kẻ đi theo bà ta?"
Phật Đà đáp:
"Thành dạ xoa uống máu."
Tôi thương xót, hỏi:
"Làm sao để cứu Quỷ Bà và những người theo bà ta?"
Phật Đà nói:
"Chỉ có cách sám hối."
Tôi hỏi:
"Sám hối xong thì sao?"
Phật Đà nói:
"Trở thành những kẻ hạ tiện, nhưng vẫn có thể gặp được Phật pháp."
Tôi hỏi có thể thành tựu không?
Phật Đà nói:
“Giống như năm trăm kẻ ăn mày thành tựu thành năm trăm La Hán.”


### 41. **Thảo luận về thần thông**


Tôi hỏi Phật Đà:
"Phật đều có thần thông phải không?"
Phật Đà đáp:
"Đúng."
Tôi hỏi Phật Đà:
"Những ai có thần thông đều là Phật phải không?"
Phật Đà đáp:
"Sai."
Tôi hỏi:
"Vì sao lại thế?"
Phật Đà đáp:
"Thần thông cũng có sự khác biệt lớn nhỏ, chính tà."
Tôi hỏi:
"Xin lấy ví dụ."
Phật Đà đáp:
"Đại Tự Tại Thiên có ma thông.
Chư Thiên đều có năng lực thần thông.
Thiên Long Bát Bộ đều có năng lực thần thông.
Ma Vương Ba Tuần thì có đại thần thông.
Thần cũng có năng lực thần thông.
Quỷ cũng có năng lực thần thông.
Ngay cả súc sinh trong đạo súc sinh cũng có năng lực thần thông. (trực giác nhạy bén của động vật)…”

Tôi hỏi:
"Con người thì sao?"
Phật Đà đáp:
"Người tu hành thành tựu cũng có sáu thần thông, thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, túc mệnh thông, thần túc thông, lậu tận thông."
Tôi hỏi:
"Thông linh cũng là thần thông sao?"
Phật Đà đáp:
"Tính chất gần giống nhau."
Tôi hỏi:
"Quỷ Bà có thần thông không?"
Phật Đà đáp:
"Quỷ thông."
Tôi hỏi:
"Các nhà thôi miên hiện đại cũng được xem là có thần thông sao?"
Phật Đà đáp:
"Chỉ là nhập vào huyễn giác."
Tôi hỏi:
"Quán lạc âm cũng là thần thông sao?"
Phật Đà đáp:
"Huyễn giác."
Tôi hỏi:
"Thần toán cũng là thần thông sao?"
Phật Đà đáp:
"Thần và quỷ giao tiếp, người và thần giao tiếp, người và yêu ma giao tiếp, người và trời giao tiếp… người và Bổn tôn giao tiếp. Cuốn sách này của ngài là người và Phật giao tiếp. Cũng là sự khác biệt lớn nhỏ chính tà mà thôi."
Tôi hỏi:
"Xá Lợi Phất có thần thông gì?"
Phật Đà đáp:
"Ngài ấy có sức mạnh của Thiên Đầu Sư Tử." [sư tử nghìn đầu]
Tôi hỏi:
"Kiều Trần Như có thần thông gì?"
Phật Đà đáp:
"Ngài ấy có Thiên Long Biến Hóa."
Tôi hỏi:
"Mục Kiền Liên có thần thông gì?"
Phật Đà đáp:
"Ngài ấy có thể đi lại khắp các Phật quốc, phân thân vô số."
(Mười đại đệ tử của Phật Đà đều có sức mạnh thần thông, A Nan có trí nhớ nghìn năm, Đại Ca Diếp có thể hóa hiện cõi tịnh thổ, v.v…)


### 42. **Thứ tự của Phật pháp**


Tôi hỏi Phật Đà:
"Phật Đà ơi! Đệ tử mới nhập môn cần học cái gì trước?"
Phật Đà đáp:
"Tứ thánh đế. Khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế."
(Khổ đế — những cái khổ của đời người.)
(Tập đế — nguyên nhân của cái khổ.)
(Diệt đế — thường lạc ngã tịnh.)
(Đạo đế — tu đạo chứng thực.)
Tôi hỏi Phật Đà:
"Tu thế nào?"
Phật Đà đáp:
"Ba mươi bảy đạo phẩm."
Tôi hỏi Phật Đà:
"Ba mươi bảy đạo phẩm bao gồm những gì?"
Phật Đà đáp:
"Tứ niệm xứ, tứ chính cần, tứ như ý, ngũ căn, ngũ lực, thất giác chi, bát chính đạo."
Tôi hỏi:
"Mật giáo thì sao?"
Phật Đà nói:
"Trước tiên là học Hiển giáo, tiếp đến học Mật giáo. Hoặc học đồng thời Hiển - Mật cũng được."
Tôi hỏi:
"Thứ tự của Mật giáo thế nào?"
Phật Đà đáp:
"Sự bộ, hành bộ, du già bộ, vô thượng bộ. Đây là bốn bộ
mật tục."
(Sự bộ — quán tưởng, trì chú, thủ ấn, nghi quỹ. Thanh tịnh thân mình.)
(Hành bộ — nghi quỹ ngoại tại, thiền định nội tại.)
(Du già bộ — thiền định nhập tam ma địa, tương ứng với Bổn tôn.)
(Vô thượng bộ — tức thân thành Phật.)

Tôi hỏi:
"Thứ tự dạy pháp của Phật Đà là như vậy sao?"
Phật Đà đáp:
"Tứ thánh đế là Tiểu thừa, ba mươi bảy đạo phẩm là Đại thừa, tứ bộ mật tục là Kim Cương thừa."
Tôi hỏi:
"Mỗi người đều giống nhau sao?"
Phật Đà đáp:
"Cần phải xem nhân duyên căn khí."
Tôi hỏi:
"Giống như Bồ Đề Đạo Đăng Luận của Atisa tôn giả đã nói đúng không?
Phật Đà đáp:
"Chính là Tam sĩ đạo đó."
Tôi hỏi:
"Tam sĩ đạo dựa theo cái gì?"
Phật Đà đáp:
"Nguyện lực."
Tôi hỏi:
"Bồ Đề Đạo Thứ Đệ Quảng Luận, Mật Tông Đạo Thứ Đệ Quảng Luận của tôn giả Tsongkhapa thì sao?"
Phật Đà đáp:
"Có thể tham khảo để học."
Tôi hỏi:
"Đây có phải là thứ tự của Phật pháp không?"
Phật Đà đáp:
"Không sai."
Tôi hỏi:
"Học tập Phật pháp có sở đắc gì không?"
Phật Đà đáp:
"Vô sở đắc."
(Phật Đà lấy cảnh giới tối cao vô thượng để nói với Lư Sư Tôn, vô sở đắc là chân đế của minh tâm kiến tính.)


### 43. **Lậu tận thông**


Tôi hỏi Phật Đà:
"Trong sáu loại thần thông thì thần thông nào là tối thượng?"
Phật Đà đáp:
"Lậu tận thông."
Tôi hỏi:
"Vì sao lại vậy?"
Phật Đà đáp:
"Lậu tận tức là thành Phật."
Tôi hỏi:
"Năm loại thần thông kia thì sao?" (thiên nhãn, thiên nhĩ, tha tâm, túc mệnh, thần túc)
Phật Đà đáp:
"Chỉ là biểu hiện bên ngoài."
Tôi hỏi:
"Còn lậu tận thông thì sao?"
Phật Đà đáp:
"Là bên trong. Mọi lậu đều tận."
Tôi hỏi:
"Như thế nào thì gọi là mọi lậu đều tận?"
Phật Đà đáp:
"Vô nhãn nhĩ tỵ thiệt thân ý, vô sắc thanh hương vị xúc pháp,… diệc vô vô minh tận."
Tôi hỏi:
"Đây là Tâm Kinh?"
Phật Đà đáp:
"Tâm Kinh chính là lậu tận."
Tôi hỏi:
"Phần lớn con người theo đạo Phật đều biết tụng Tâm Kinh mà?"
Phật Đà đáp:
"Nhưng vẫn chẳng hiểu ý nghĩa của kinh."
Tôi hỏi:
"Hiểu được nghĩa của Tâm Kinh thì sao?"
Phật Đà đáp:
"Người ngộ được thì là Phật."
Tôi hỏi:
"Người còn mê lầm thì là chúng sinh, người giác ngộ là Phật, phải vậy không?"
Phật Đà đáp:
"Đúng."
Tôi hỏi:
"Phật là gì?"
Đáp:
"Không."
Tôi hỏi:
"Pháp là gì?"
Đáp:
"Hiểu về cái Không."
Tôi hỏi:
"Tăng là gì?"
Đáp:
"Hành giả hiểu được cái Không."
Tôi hỏi:
"Nếu không phải là hành giả hiểu được cái Không thì sao?"
Đáp:
"Mê lầm."
Tôi hỏi:
"Còn hành giả hiểu được cái Không?"
Đáp:
"Giác ngộ."
Tôi hỏi:
"Giác ngộ cái gì?"
Phật Đà đáp:
"Ngũ uẩn giai không. Chư pháp không tướng."
Tôi hỏi:
"Không cái gì?"
Phật Đà đáp:
"Vô vô minh tận. Vô lão tử tận. Vô khổ tập diệt đạo. Vô trí. Vô đắc."


### 44. **Chia sẻ về mơ thấy Lư Sư Tôn**


**Mai Liên:**

Tôi từng chia sẻ về văn tập của Sư Tôn tại Phật đường, tôi mơ thấy Lư Sư Tôn bảo tôi ăn đồ ăn, còn hướng dẫn và cổ vũ tôi chia sẻ về văn tập. Cuối cùng Sư Tôn nói với tôi: nhiệm vụ chia sẻ văn tập giao cho cô!

Trên đường trở về sau khi tham dự pháp hội Lục Độ Mẫu tại Đại Loan, trên máy bay tôi ngồi đọc văn tập số 264 của Sư Tôn "Hư không không biến đổi", tôi nảy sinh một vài thắc mắc, ai ngờ sáng sớm hôm nay tôi liền mơ thấy Sư Tôn mặc long bào của Lục Độ Mẫu, từ trong đám đông đi tới bên cạnh tôi, bảo tôi lấy cuốn văn tập ở trong túi ra, Sư Tôn giở cuốn văn tập ra hỏi tôi có thắc mắc gì không? Tôi chỉ vào phần được đánh dấu bằng bút dạ màu vàng trong sách hỏi Sư Tôn rằng đây có phải là điểm quan trọng không. Sư Tôn nói đó không phải là điểm quan trọng nhất, chỉ là quan trọng thứ hai, vẫn còn có cái quan trọng hơn!

Sư Tôn lại bảo tôi lấy ra một cuốn văn tập khác trong túi, mở sách ra hỏi tôi chỗ nào tôi không hiểu. Tôi chỉ cho Sư Tôn xem. Sư Tôn nói, vấn đề liên quan đến đạo này tương đối thâm sâu ảo diệu và phức tạp. Thế là Sư Tôn lại chậm rãi giải thích cho tôi, sau đó Sư Tôn bảo tôi đi vào trong một gian phòng, những người khác nhìn tôi bằng ánh mắt ngưỡng mộ. Trong căn phòng chỉ có tôi và Sư Tôn, Sư Tôn liền giải thích những thắc mắc của tôi.

Lâu rồi không mơ thấy Sư Tôn, bởi vì tôi đọc văn tập trong lòng có thắc mắc, Sư Tôn liền nhập mộng giải thích, kì thực cuốn sách mới này tôi vẫn còn chưa đọc xong!

Cảm ơn Sư Tôn từ bi nhập mộng giải thích thắc mắc của tôi. Ngài thật siêu quá!

**Lương Mỹ San:**

Từng có lần ở trước đàn thành, tôi rất thành tâm nói với Sư Tôn về tâm sự và những khó khăn trên phương diện kinh tế của mình… Đêm đó đi ngủ, lúc gần sáng tôi mơ thấy tôi xếp hàng ở vị trí thứ ba trong hàng người chờ được Sư Tôn sờ đầu gia trì sau bữa ăn tối tại pháp hội... Đáp án trên thực tế là vào ngày thứ ba xuất hiện một vị đại quý nhân, không ngờ người này có ý giúp đỡ tôi một số tiền không nhỏ để giải quyết vấn đề kinh tế của tôi. (Đại quý nhân này chủ động gọi điện thoại đến đề nghị giúp đỡ tôi.)… Sư Tôn và Phật Bồ Tát tại hư không và đàn thành thực sự là sống thật…

**Wing Ho Wong:**

Mấy hôm trước, trong mơ tôi bị Sư Tôn dùng chân đạp mạnh lên chân trái của tôi, Sư Tôn cũng cảm thấy mình dùng lực mạnh quá, thế nên còn nói rằng thật ngại quá. Tôi nói không có gì, rồi tôi cũng muốn bảo Sư Tôn dậm thêm cho tôi một cái nữa vào chân phải. Sau đó Sư Tôn mở một cái hộp gỗ ra, đưa cho tôi xem một vài thứ bí mật…

**Raven Saw:**

Tôi còn nhớ hơn 10 năm trước, tôi được XX quán đảnh (XX đứng trên bục và dùng gạo để ném ra xung quanh). XX nhìn thấy tôi và sau đó trực tiếp lấy gạo ném lên người tôi. Buổi tối hôm đó trở về nhà, nhận được quán đảnh rồi tôi rất vui, không cảm thấy có gì bất bình thường cả… Tôi rất kiền thành ngồi trong phòng mình niệm Thượng sư tâm chú 1080 biến, sau đó đi ngủ. Đêm đó tôi mơ thấy Lư Sư Tôn mặc long bào màu vàng, đầu đội mũ Pháp Vương màu vàng, hiển hiện trong hư không. Vẻ mặt của Sư Tôn không có chút biểu cảm nào. Ngài dùng một nắm gạo vẩy lên người tôi. Mơ đến đây thì tôi tỉnh dậy.

**Chung Mật:**

Bởi vì tôi làm việc quét dọn Phật đường suốt ba năm, nên tôi thường mơ thấy Sư Tôn.

**Liên Hoa Gia Hương:**

Mấy ngày trước, hai lần (thứ ba và thứ tư) mơ thấy Sư Tôn nói chuyện với tôi và gia trì cho tôi, khiến tôi khỏi hết bệnh. Sư Tôn nói tôi sẽ bị trúng phong đó, nên trong giấc mơ đã gia trì cho tôi, sau đó còn bảo tôi hãy đi viết thư cho Sư Tôn.

**Chuah Wei:**

Giai đoạn đầu tôi mới quy tôi đã mơ thấy Sư Tôn, Sư Mẫu và hai đồng môn đến nhà tôi. Tôi mời Sư Tôn ăn một bữa cơm. Sau đó tôi mua xổ số, viết môn bài bốn người thì đặt bốn trúng ba giải. Ha ha ha! Thật là bái phục tài năng của tôi quá!

**Chanel Jiang:**

Mỗi lần mơ thấy Sư Tôn Sư Mẫu tôi đều rất vui, mơ thấy Sư Tôn gia trì cho con tì hưu của tôi, thế mà quên mất không mua xổ số.

**Yuki Chou:**

Tôi đã mấy lần mơ thấy Sư Tôn Sư Mẫu, mỗi lần nội dung giấc mơ đều khác nhau, nhưng đều tràn đầy pháp hỷ, vô cùng biết ơn.

**Trang Hưởng Ngọc:**

Sau khi quy y Sư Tôn, tôi thường mơ thấy mời Sư Tôn ăn cơm. Sau đó lại mơ thấy tôi ôm Sư Tôn. Sau đó tôi lại mơ thấy tôi và Sư Tôn giơ cao hai tay vỗ vào nhau nói "cố lên". Những điều tôi sẽ ghi nhớ mãi, cảm thấy rất vui.

**Lisa Chung:**

Tôi thường xuyên mơ thấy Sư Tôn và Sư Mẫu. Cũng có cả các Thượng sư pháp sư, có lúc còn mơ thấy đồng môn. Nói đến hội đọc sách tôi cũng từng mơ thấy Sư Tôn, Sư Mẫu và đồng môn, thực sự giống như lên lớp học vậy.

**Liang Saw Wah:**

Tôi mơ thấy Sư Tôn lấy từ trong túi áo ra cho tôi một tấm thẻ địa chủ và một con chim khổng tước.

**Hoàng Dĩ Tuyền:**

Tôi mơ thấy Sư Tôn dạy tôi thủ ấn Thời Luân Kim Cang.

**Wu Qi Lin:**

Tôi mơ thấy Sư Tôn gia trì toàn thân tôi được mát mẻ.

**Trần Thư Huy:**

Sư Tôn là Tịnh Quang Bí Mật Phật! Nam mô Hoa Quang Tự Tại Phật! Ngu đệ tử tận mắt nhìn thấy tịnh quang khắp xung quanh thân Sư Tôn, rồi Sư Tôn dùng tịnh quang gia trì cho ngu đệ tử. Vô cùng cảm ơn Sư Tôn đã gia trì! Nhất tâm đảnh lễ Sư Tôn! Om guru liansheng siddhi hum….

**Lisa Chung:**

Kể từ khi tham gia hội đọc sách văn tập của Liên Sinh Hoạt Phật online, tôi lại càng hay mơ thấy Sư Tôn, đây cũng là một thu hoạch nằm ngoài dự liệu của tôi.

**Trang Vu Đình:**

Mặc dù tôi chưa quy y, nhưng tôi đã mấy lần mơ thấy Sư Tôn rồi.

**Shingju Lin:**

Tôi đã mơ thấy Sư Tôn rất nhiều rất nhiều lần rồi, nhất định là Sư Tôn biết tôi muốn nhưng không có cách nào đến tham dự pháp hội được, do vậy Sư Tôn đã đến trong những mộng cảnh khác nhau để gia trì cho tôi.

**Suu Zhen:**

Đã rất rất nhiều lần, trong mơ tôi thấy mình nói chuyện với Sư Tôn, tham gia pháp hội của Sư Tôn trong mơ, trong mơ xin được chụp ảnh chung với Sư Tôn cũng có. Còn có rất nhiều rất nhiều chuyện khác nữa.

**Tang Tang Mok**

Không thể phủ nhận tôi là người vừa không nghe lời vừa thích lang thang chơi bời, nhưng tôi không quên những cúng phẩm cần phải có của pháp Hỏa cúng và Khói cúng. Có lần tôi gửi đến phân đường một ít thảo dược sấy khô, đêm đó Sư Tôn đã xuất hiện trong giấc mơ, ngài còn nhắc đến lá thư mà tôi viết cho Sư Tôn năm xưa, rồi còn nói thêm một câu: "Đừng quên thân phận của mình". Đệ tử không quên! Mặc dù đệ tử không tinh tấn, nhưng cho tới cuối cùng thì vẫn là môn đồ Chân Phật Tông.

**Hứa Uy Tông:**

Tôi có một giấc mơ rất phức tạp. Khi XX vẫn còn chưa bị bộc lộ chân tướng, Sư Tôn vẫn chưa truyền pháp Đại Lực Kim Cang, tôi mơ thấy Lư Sư Tôn cùng Thượng sư pháp sư cả nhóm người đi đến một ngôi làng truyền pháp, xung quanh có một vài tín đồ đứng thành vòng tròn để xem. Phía bên kia đột nhiên phóng ra một vị thần Kim cang tướng phẫn nộ tay cầm phất trần nhảy kim cang bộ bằng một chân. (Ở trong mơ tôi biết rằng đây cũng là Sư Tôn). Phất trần vừa hất lên một cái đã khiến Sư Tôn ngã xuống đất, tôi và những người khác đều cảm thấy rất ngạc nhiên, thế là tỉnh lại. Khi đó tôi cho rằng do chính mình đã đọc chương sách về Thượng sư thật giả trong văn tập của Sư Tôn, do vậy mới có giấc mơ này.

**Lisa Chung:**

Những ngày gần đây sau khi tôi nghe xong chương trình hội đọc sách online của Thượng sư Huệ Quân, tôi thường mơ thấy Sư Tôn. Hôm nay trong mơ tôi lại mơ thấy mình và một số người khác mặc trên mình những trang phục đặc biệt để biểu diễn cúng dường Sư Tôn.

**Cheeyang Chong:**

Tôi mơ thấy có một kiếp Sư Tôn xuất gia, sau lưng chỉ có mỗi mình tôi mà thôi. Là thật, hay là giả không quan trọng, tôi vẫn là người sai nhất, tôi nên nỗ lực tu, mơ thấy Sư Tôn là một sự cổ vũ, xin hãy tiếp tục cố gắng tu pháp nhiều nữa và đọc sách của Sư Tôn nhiều hơn nữa.


### 45. Diễn văn chào mừng của Hàn Quốc Du


[Ông Hàn Quốc Du là tại thời điểm này đang là Thị trưởng của thành phố Cao Hùng.]

Tại pháp hội Lục Độ Mẫu vào ngày 08 tháng 04 năm 2018.

Liên Sinh Hoạt Phật Sư Tôn, các vị Thượng sư đang ngồi đây cùng với tất cả sư huynh đệ, sư tỉ muội trong Phật môn chúng ta, và cả Bộ trưởng Du cùng tất cả các vị khách quý, A Di Đà Phật!

Bên tay trái tôi đây cũng là một đệ tử Phật môn, là Trần Nhược Thúy ở quận Linh Nhã [thành phố Cao Hùng] của chúng ta, bên tay phải tôi là nghị viên Hứa - Hứa Tuệ Ngọc của quận Đại Xã của chúng ta, tiếp theo ở bên phải đây là Chung Dịch Trọng của quận Phụng Tiên của chúng ta. Tại đây chúng tôi muốn chia sẻ cảm nhận của chúng tôi đối với Phật pháp.

Năm Dân Quốc 64 (tức năm 1975 Tây lịch), tôi 18 tuổi, đến Cao Hùng làm lính. 3 năm sau tức là năm 67, tôi đã đến đảo Matsu, đối diện với hai nghìn binh lính trên hòn đảo biệt lập này. 

Trên hòn đảo biệt lập này vô cùng cô quạnh. Tình cờ, tôi đã đọc được sách do Liên Sinh Hoạt Phật viết, đọc rồi thì nghiện luôn, đọc hết quyển này tới quyển khác. Kết quả là đã nhờ văn tự mà kết duyên như vậy. Không ngờ 40 năm sau, tại đây hôm nay, tôi thật sự tận mắt nhìn thấy Sư Tôn của chúng ta, tôi cảm giác đây đúng là duyên phận!

35 tuổi tôi làm ủy viên lập pháp, khi mới bắt đầu tôi làm việc rất chăm chỉ, dần dần làm tới khóa thứ ba, Bộ trưởng Du của chúng ta cũng là đồng nghiệp của tôi, đã chứng kiến tôi càng làm càng hoang đường, càng làm càng sa đọa, ngày nào cũng ăn chơi rượu chè, bù lu lộn xộn. Cuối cùng thì tôi không được chọn nữa. Rất nhiều ủy viên của chúng tôi nói anh có bị bệnh thần kinh không? Làm ủy viên lập pháp chẳng hề dễ dàng, khó khăn biết bao! Tôi nói không được, tôi không tìm được phương hướng của cuộc đời, không tìm được bộ mặt vốn có của mình. Tôi cũng xin lỗi cử tri, tôi không thể được chọn nữa rồi. Vì thế, sau 9 năm làm ủy viên lập pháp, điều không ai ngờ đến là: tôi không làm nữa. Tôi hoàn toàn mất phương hướng rồi, cái tâm này ngày nào cũng hỗn loạn. Tôi hoàn toàn cảm thấy có lỗi với nhân dân. 

Kết quả là tôi đã chạy lên núi Hoa Sơn ở Vân Lâm, mỗi ngày leo núi, mỗi ngày niệm kinh Phật, không có thầy dạy, không có bất kì ai dạy thì phải làm sao? Tôi liền đem Bát Nhã Ba-la-mật Đa Tâm Kinh của pháp sư Huyền Trang ra, đọc từng chữ từng chữ, cứ như thế, thời gian đã 10 năm trôi qua, 10 năm rồi, cái tâm này của tôi đã dần dần từ từ lắng xuống. Cứ như thế, 17 năm đã trôi qua.

Tôi hôm nay từ lúc đầu đầy tóc cho đến lúc cả đầu đã trọc hết, nhưng tại đây, ở trước Phật pháp, tôi đã liên tục nghiền ngẫm kinh này, sau này tôi đột nhiên phát hiện ra, lát nữa nếu tôi nói không đúng, xin Sư Tôn của chúng ta sửa chữa. Thì ra hai trăm sáu mươi chữ đã bao gồm rất nhiều bí mật vũ trụ không thể truyền đạt bằng lời. Tôi vẫn luôn nghĩ vì sao 1500 năm qua, Tâm Kinh này đã gắn bó chặt chẽ với mọi đệ tử của dân tộc Trung Hoa chúng ta? Tôi vẫn luôn nghĩ không ra, tôi cứ nghĩ mãi, nghĩ mãi, nghĩ mãi, nghĩ mãi, tôi nghĩ đại khái chắc là tôi có thể nhìn ra một chút chút, đã mở được cái chìa khóa này, tôi nên nói thế nào nhỉ?

Tôi sẵn lòng chia sẻ với mọi người, hôm nay đến đây không nói chuyện chính trị, là đến để chia sẻ:

“Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách. Xá Lợi Tử, sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng hành thức diệc phục như thị. Xá Lợi Tử, thị chư pháp không tướng, bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức. Vô nhãn nhĩ tỵ thiệt thân ý, vô sắc thanh hương vị xúc pháp, vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới. Vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận. Vô khổ, tập, diệt, đạo. Vô trí diệc vô đắc.” Những văn tự này nói về nhân đạo.

“Dĩ vô sở đắc cố. Bồ Đề Tát Đỏa y Bát nhã Ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết bàn.” Đây là Bồ Tát đạo. Tôi hơi căng thẳng, đoạn sau hơi quên một chút rồi.

“Tam thế chư Phật, y Bát nhã Ba la mật đa cố, đắc A nậu đa la tam miểu tam bồ đề.” Đây là Phật đạo. Đoạn sau trở thành chú văn: “Cố tri Bát nhã Ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư. Cố thuyết Bát nhã Ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết: Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.” Đây là chú ngữ.

Thì ra hai trăm sáu mươi chữ này là trái tim kinh văn của tất cả kinh Bát Nhã, là tinh hoa nhất. Tôi từ từ đọc, từ từ đọc, chỗ tôi cảm thấy thần kỳ nhất là, tôi xin chia sẻ với các sư huynh tỷ, sư huynh đệ: tôi cảm thấy cái tâm của tôi dần dần lắng xuống, cuối cùng tôi đã hiểu thấu đáo một số sự việc. Cứ như thế, 17 năm. Không ngờ đến Cao Hùng, làm chủ tịch ủy ban Đảng bộ thành phố, gần đây trong tâm lại bắt đầu rối loạn, vì thế phải nhanh chóng niệm kinh văn một chút. 

Và xin cảm ơn Liên Sinh Hoạt Phật mười mấy năm hoằng đạo truyền pháp, các vị sư huynh đệ, các vị thượng nhân, cũng đã dốc tinh thần và sức lực, thời gian của mình để cống hiến. Tôi cảm thấy có thể xuất gia, làm đệ tử Phật môn, không phải là việc mà các bậc vương tướng có thể làm được, thật ra làm hoàng đế, làm tướng quân, làm tể tướng đều không vĩ đại bằng xuất gia. Tôi cảm thấy việc này vô cùng quan trọng. Tại đây tôi cũng muốn chúc phúc các tín đồ Chân Phật Tông của chúng ta, chúc các bạn mọi sự bình an, mọi sự tốt đẹp, A Di Đà Phật!


### 46. Diễn văn chào mừng của Lâm Minh Trăn


Đài Loan Lôi Tạng Tự - Ngày 01 tháng 12 năm 2018.

Thánh Tôn, Sư Mẫu, các vị đại đức, xin chào. Hôm nay, Thánh Tôn của chúng ta tại đây cử hành đại pháp hội Diêu Trì Kim Mẫu, còn nhớ hồi đầu năm, tôi có đến tham gia, lời của Thánh Tôn có thể nói là một câu đáng giá nghìn vàng, ngài nói với tôi: “Huyện trưởng Lâm, cuối năm ông tranh cử  chức vụ này, ông nhất định sẽ trúng cử với số phiếu cao.” Vì thế, dưới sự bảo hộ của Thánh Tôn của chúng ta, lần tranh cử chức vụ huyện trưởng này, trong số 22 huyện thị, tỷ lệ ủng hộ chỉ thấp hơn huyện Hoa Liên, xếp thứ hai. Đồng thời Thánh Tôn cũng có lời dự đoán, ngài nói trong cuộc bầu cử năm thành phố năm 2018 năm nay, Quốc dân đảng Trung Quốc sẽ giành được ba trong số sáu thành phố, điều đó quả thực đã trở thành hiện thực, lời Thánh Tôn nói đều đã thành hiện thực.

Tại đây huyện trưởng cũng vô cùng cảm tạ Thánh Tôn đã cầu phúc bảo hộ cho nhân dân huyện Nam Đầu và Đài Loan, chúng tôi thật sự vô cùng cảm kích. Nhất là những điều mà trong tâm Thánh Tôn thỉnh cầu đều là điều mà mọi người chúng ta hy vọng, mong rằng thay đổi được không khí Đài Loan, tình hình ô nhiễm không khí hiện tại đã tương đối nghiêm trọng, mọi người đều mong pháp hội của Thánh Tôn có thể thay đổi được không khí của Đài Loan, có phải không? Ngoài ra là khiến cho kinh tế của chúng ta phục hồi, Đài Loan và Đại Lục hòa bình, Nam Đầu sẽ càng tốt hơn, đây là điều Thánh Tôn cầu nguyện, chúng ta vô cùng hy vọng điều mà Thánh Tôn cầu nguyện có thể tiếp tục thành hiện thực, để kinh tế Đài Loan của chúng ta càng tốt hơn, đúng thế không?

Trong cuộc bầu cử lần này, Hàn Lưu (tân thị trưởng Cao Hùng Hàn Quốc Du) đã đóng vai trò tương đối quan trọng, bây giờ điều mà tất cả nhân dân cả nước Đài Loan hy vọng chính là kinh tế có thể tốt hơn, mọi người đều kiếm được tiền, có công việc, đây là một lời cam kết để tranh cử huyện trưởng. Tôi tin rằng lần này với 19 vạn phiếu thuận lợi trúng cử, tiếp tục dưới sự ban phước của Thánh Tôn, tôi nhất định sẽ làm cho huyện Nam Đầu càng tốt hơn, trong 4 năm tới, sẽ khiến cho kinh tế của người dân huyện Nam Đầu có thu nhập cao hơn, người dân có thể sống những ngày tháng vui vẻ hơn. Vì thế, đại pháp hội ngày hôm nay, toàn quốc sẽ tốt hơn, kinh tế cả nước sẽ rực rỡ hơn, chúng ta hôm nay sẽ cố gắng để cho nhân dân kiếm được tiền, cũng hy vọng sau khi đại pháp hội của chúng ta kết thúc, không khí Đài Loan sẽ tốt hơn, đúng thế không? Đây là điều quan trọng nhất, không khí tốt hơn là điều mà mọi người cùng cầu nguyện.

Thật may thị trưởng Đài Trung Lư Tú Yến đã thuận lợi trúng cử, bà ấy có kế hoạch giảm một nửa lượng than đốt tại Nhà máy Nhiệt điện Đài Trung, nếu như vậy thì chất lượng không khí của chúng ta sẽ tốt hơn. Vì thế, hy vọng ngày 25/12, sau khi thị trưởng Lư Tú Yến nhậm chức sẽ có thể thực hiện lời hứa của bà ấy, tôi tin rằng sau khi thực hiện lời hứa này, chất lượng không khí mà Thánh Tôn thỉnh cầu nhất định sẽ cải thiện, chắc chắn sẽ cải thiện, đúng không Sư Tôn?

Vô cùng cảm ơn các vị, huyện trưởng tôi tại đây chúc phúc tất cả các đại đức, mọi người sức khỏe, vạn sự như ý, có thời gian hãy đến Nam Đầu lễ Phật nhiều hơn. Hai bờ biển hòa bình cũng có thể khiến cho khách du lịch đến Nam Đầu du lịch, để kinh tế của chúng ta cải thiện, để ngành du lịch tiếp tục hưng vượng, để những người làm nghề nhà hàng khách sạn, sản xuất nông phẩm thuận lợi tiêu thụ, mọi người đều kiếm được tiền. Tôi tin đây cũng là lời ước nguyện chung của mọi người, cảm ơn các vị, chúc phúc mọi người thân thể khỏe mạnh, cảm ơn.


### 47. Diễn văn chào mừng của Giản Cảnh Hiền


Đài Loan Lôi Tạng Tự ngày 22.12.2018.

Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật kính yêu nhất, cùng các vị trong đoàn Thượng sư, các đại đức, bạn hữu trên toàn thế giới của chúng ta, chúc mọi người bình an. Đầu tiên phải cảm ơn Sư Tôn của chúng ta đã chiếu cố và nghiệm chứng cho tôi, đây là thu hoạch lớn nhất mà tôi có được khi đến đây hôm nay. Đặc biệt phải cảm ơn Sư Tôn khi từ Seattle trở về đã đặc biệt gia trì cho Cảnh Hiền, ngài nói: “Thảo Đồn nhờ cậy vào anh, anh nhất định sẽ trúng cử.”

Còn nhớ 8 năm trước, tôi đã thua mất 19 phiếu. Lần này nhờ có Sư Tôn gia trì, bạn có biết đã thắng được bao nhiêu phiếu không? Tổng số phiếu của hai ứng cử viên còn lại ít hơn số phiếu của tôi. Vì thế, đặc biệt phải cảm tạ Sư Tôn, sự giúp đỡ và gia trì của ngài dành cho tôi là vinh hạnh của tôi, cũng là sự gia tăng trách nhiệm.

Ngoài tôi ra, huyện trưởng Lâm Minh Tră cũng nói với tôi, ông ấy đúng như lời dự đoán của Sư Tôn, đã thành công giữ được chức vụ. Lần tuyển cử đầu tiên ông ấy đã thắng sát sao chỉ với 5 nghìn phiếu, lần này, ông ấy đã thắng gần 10 nghìn phiếu! Đây cũng là điều mà chúng tôi phải cảm tạ Sư Tôn, cho nên chúng tôi đặc biệt tới để ấn chứng và cảm tạ.

Đặc biệt cảm ơn các đại đức trên toàn thế giới đã đến đây, bây giờ thị trấn Thảo Đồn là thị trấn lớn nhất toàn quốc rồi! Bởi vì có Sư Tôn ở đây hoằng phpá, khiến thị trấn Thảo Đồn của chung ta trở thành thị trấn lớn nhất, cũng trở thành nơi sầm uất nhất.

Thật ra mà nói, thị trưởng Hàn Quốc Du đúng là đồ đệ của Liên Sinh Hoạt Phật, Sư Tôn từng nói, người Thảo Đồn đã đến đây, hàng hóa đã bán đi rồi, vì thế nói các đại đức của Lôi Tạng Tự đều phát tài, đúng không? Dưới sự gia trì và bảo hộ của Sư Tôn, chúng ta cũng tha thiết hy vọng Thảo Đồn có thể phồn thịnh hơn, Lôi Tạng Tự có thể phát triển rực rỡ, đây là trách nhiệm của tôi. Nhớ một năm trước, tôi từng bày tỏ với Sư Tôn: chỉ cần Giản Cảnh Hiền này được bầu chọn, tôi tuyệt đối sẽ giống như các vị đây, làm tình nguyện viên cho Lôi Tạng Tự, được không?

Chúng tôi cũng hết sức hoan nghênh đại đức từ khắp nơi trên thế giới đến ở tại Thảo Đồn, mọi người đều đến giúp đỡ hỗ trợ, khiến cho Thảo Đồn có thể phồn thịnh. Tôi cũng đồng ý: phải quy hoặc và chỉnh đốn nghia trang ở Thảo Đồn, khu quy hoạch giai đoạn một đã khởi công, còn giai đoạn hai là khu nghĩa trang dưới chân núi Lôi Tạng Tự. Tôi nhất định sẽ nỗ lực giúp đỡ để nó biến thành công viên sinh thái, nghĩa trang biến thành vàng, đây là lý tưởng của tôi.

Chúng tôi hy vọng nhờ vào sức mạnh của mọi người, sau khi Thảo Đồn càng hưng thịnh hơn, có thể trở thành thành phố Thảo Đồn. Tại đây tôi cũng kiến nghị mỗi vị đại đức, giả sử mỗi vị có thời gian, xin hãy ở lại Thảo Đồn vài đêm, như thế là đã giúp ích rất lớn đối với Thảo Đồn rồi. Vì điều này, tôi đồng ý nhất định sẽ quy hoạch các lối đi và nơi nghỉ ngơi xung quanh Thảo Đồn, và phát triển những nhà hàng khách sạn để mọi người có thể nghỉ ngơi thoải mái, và các cửa hàng sẽ phối hợp nhịp nhàng với nhau, để mọi người khi đến Thảo Đồn, bất kể là đi du lịch hay nghỉ ngơi, đều có thể có được chất lượng tốt hơn.

Cuối cùng, tôi muốn cảm ơn Sư Tôn: cảm ơn hội công đức Hoa Quang đã liên tục giúp đỡ các gia đình và trẻ em nghèo khó tại Thảo Đồn này, tăng thêm chức năng phúc lợi xã hội của Thảo Đồn. Tôi tin rằng, sau này Sư Tôn và hội công đức Hoa Quang nhất định sẽ tiếp tục giúp đỡ các công sở ở thị trấn Thảo Đồn, cảm ơn Sư Tôn! Đây là một yêu cầu quá đáng, tôi tin rằng, nếu có được sự trợ giúp của mỗi vị đại đức ở đây, chắc chắn mỗi vị sẽ có thể lưu lại những hồi ức tốt đẹp về trấn Thảo Đồn núi sông đẹp đẽ. 

Tại đây xin chúc pháp hội hôm nay thành công viên mãn! Cũng cảm tạ Sư Tôn, cảm tạ các đại đức, cảm ơn, cảm ơn các vị!


### 48. Chân Phật Tông Đại Nghĩa Học Hội - Đại Nghĩa Lôi Tạng Tự 28.04.2019


Nghi quỹ đại pháp hội Cứu Thiên Tai Độ Mẫu hộ quốc cầu phúc

1. Cung kính nghênh đón Căn bản Truyền thừa Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật, Sư Mẫu Liên Hương Thượng sư, Rinpoche và đoàn Thượng sư.

2. Kính mời Căn bản Truyền thừa Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật dâng hương (quán tưởng đại lễ bái).

3. Giới thiệu khách quý.

4. Khách quý đọc diễn văn chào mừng.

5. Nghi thức tài trợ kinh phí và khí tài cho trung đoàn tìm kiếm và cứu hộ Trung Hoa Dân Quốc.

6. Dâng khăn khata.

7. Hát hương tán.

8. Cung kính niệm Căn bản Truyền thừa Thượng sư tâm chú  chú dài 7 biến, thỉnh cầu truyền thừa đại gia trì (làm quán tứ vô lượng).

9. Làm thủ ấn đánh thức (vỗ tay, búng ngón tay).

10. Kính mời Thánh Tôn dùng chuông chày kim cang kết giới, gia trì sớ văn, đơn báo danh, cúng phẩm và khai quang tượng Phật.

11. Niệm chú thanh tịnh.

12. Niệm chú triệu thỉnh.

13. Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)
Nhất tâm phụng thỉnh: Nam mô Chân Phật Tông Căn bản Truyền thừa Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật.
Nhất tâm phụng thỉnh: Chủ tôn pháp hội Nam mô Cứu Thiên Tai Độ Mẫu.
Phụng thỉnh:
Nam mô Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư.
Nam mô A Đạt Nhĩ Mã Phật. Nam mô Ngũ Phương Phật. Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn. Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát. Nam mô Chân Phật Tông Bát Đại Bổn Tôn.
Nam mô 21 vị Độ Mẫu.
Nam mô chư tôn tại đàn thành của Đài Loan Đại Nghĩa Học Hội, Đại Nghĩa Lôi Tạng Tự và các chùa đường hội.
Nam mô Chân Phật Hải Hội chư Phật Bồ Tát, Kim cang Hộ pháp, Không hành chư Thiên.
Nam mô Sơn Thần, Phong Thần, Thủy Thần, Địa Thần, Thành Hoàng Cảnh Chủ của khu vực.
Nam mô thập phương tam thế tất cả Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa.

14. Quán tưởng đại lễ bái.

15. Cúng dường mandala.

16. Tứ quy y.

17. Mặc giáp hộ thân.

18. Chuyển châu minh.

19. Cầu thỉnh chủ tôn Nam mô Cứu Thiên Tai Độ Mẫu giáng lâm đàn thành. 

Tụng tán:

Đóa sen vi diệu hiện yết ma Đại Kim Cang
Hào quang chiếu khắp diệt tận mọi thiên tai
Quốc thái dân an chúng sinh gặp ân huệ
Quy y tôn kính trước Cứu Độ Phật Mẫu.

20. Kết thủ ấn Cứu Thiên Tai Độ Mẫu (tay phải ấn vô úy, tay trái ấn cầm tịnh bình). 

21. Nhất tâm phụng thỉnh chủ tôn Nam mô Cứu Thiên Tai Độ Mẫu Bồ Tát. (3 lần)

Quán tưởng: Trên hoa sen và nguyệt luân có chữ “Tang”.


![image](/img/img_393bfc28755fd0eccd072d14132dfd08.png)


Từ chữ Tang biến hóa thành Cứu Thiên Tai Độ Mẫu. Cứu Thiên Tai Độ Mẫu thân màu xanh lục, tay phải kết ấn thí vô úy, tay trái nâng bông hoa upala, trên bông hoa có chày kim cang chữ thập, biểu thị hàng phục tất cả ma oán và chướng ngại. Tướng bề ngoài của ngài là chân phải duỗi ra dẫm lên bông hoa sen, chân trái cong lại, ý nghĩa là: chân phải duỗi ra biểu thị ngài có đủ tâm đại từ bi, không rời tam giới đi cứu hộ chúng sinh, còn chân trái cong lại biểu thị ngài trụ trong tính Không trí huệ, ngồi trên tòa hoa sen. Ngài mặc thiên y váy xếp và đeo đủ loại trang sức, sau lưng có ánh trăng, trên đầu trang sức bằng A Di Đà Phật.

Quán tưởng chày kim cang Yết ma chữ thập trên tay trái của Độ Mẫu phóng ra ánh sáng trắng lớn mãnh liệt, chiếu đến chính mình/nơi ở của mình/đất nước mình/một khu vực nào đó, phàm là nơi có tịnh quang chiếu đến thì đều hóa giải mọi tai nạn về đất nước lửa gió, khiến cho đại địa quốc thổ thanh tịnh quang minh.

22. Cung thỉnh Căn bản Truyền thừa Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật diễn hóa đại thủ ấn tiêu tai, cầu phúc, tăng ích, kính ái, siêu độ.

23. Trì tâm chú Cứu Thiên Tai Độ Mẫu: “Ôm ta-rê tu-ta-rê tu-rê ma-ma sa-ơ-wa ya-ya-ma-ha ha-na-pa-ya xin-tâng-mu gu-ru sô-ha.”

24. Nhập Tam ma địa.

25. Xuất định.

26. Trì thêm bát đại Bổn tôn tâm chú và niệm Phật.

27. Hồi hướng.

28. Trì thêm Bách tự minh chú. (3 biến)

29. Quán tưởng đại lễ bái.

30. Chú viên mãn.

Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hum. 
(Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay, búng ngón tay.)

31. Thỉnh Phật trụ thế.

Kính lễ Thánh Tôn Bí Mật Chủ phẩm đức diệu thiện
Chư Phật thập phương thế giới Phật quốc nhiều như vi trần
Hải hội chư Bồ Tát từ bi chúng sinh hữu tình
Hộ pháp Kim cang Không hành xin đảnh lễ.

Ba thứ độc thế gian đang cháy hừng hực suốt đêm dài
Hủy hoại thân tâm, đau khổ luân hồi không dừng dứt
Thánh Tôn thương xót giáng sinh độ chúng sinh mê lầm
Bởi vậy Tam Bảo tỏa uy quang bảo hộ quần sinh.

Ruộng phúc của trời người nương dựa vào thân kim cang
Thụ giới, truyền pháp, quán đảnh, ban thành tựu
Phật tử thỉnh cầu Thầy trụ thế chuyển pháp luân
Lợi lạc vô lượng vô tận chúng sinh giới.

32. Đơn vị tổ chức nói lời cảm ơn.

33. Cung thỉnh Căn bản Truyền thừa Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật truyền pháp khai thị.

34. Cung thỉnh Căn bản Truyền thừa Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật ban quán đảnh Cứu Thiên Tai Độ Mẫu bất cộng đại pháp cho đại chúng.

35. Cung kính tiễn Căn bản Truyền thừa Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật, Sư Mẫu Liên Hương Kim cương Thượng sư, Rinpoche và đoàn Thượng sư. 

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/272-su-vo-ve-cua-tinh-quang.md
# Title: 272. Sự vỗ về của Tịnh Quang
---

![image](/img/img_937469e4418907cd031a459b395640e6.jpg)



## Sự vỗ về của Tịnh Quang


🪷 Giữa lời hỏi đáp

Văn tập: 272
Xuất bản: 07/2019
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu


Giờ đây tôi muốn viết ra những cảm nhận về việc tu thiền của mình. Tôi tập hợp một vài cảm nhận này lại thì cũng thành cả một cuốn sách. 
Tôi lấy tên cho cuốn sách này là:
"Sự vỗ về của tịnh quang".
Việc tu thiền của tôi là như thế này: 
Thân thể và tâm linh của tôi hợp nhất. 
(Ta hợp nhất với chính ta.)
Đối với tôi mà nói, việc tu thiền là quan trọng nhất, bởi vì chỉ duy nhất có tu thiền thì mới được gọi là tu hành.

Tôi muốn nói với mọi người: 
Thế nào là tâm linh?
Tâm linh chính là ý niệm. Bạn có thể nhận thấy được rằng ta đang có vọng niệm, tạp niệm, bạn nhìn thấy rõ được những vọng niệm, tạp niệm này. Bạn cũng không cần phải chủ tâm chạy theo chúng.
Bạn chỉ là quan sát chúng. 
Chúng là tự nhiên, không ngừng tạo ra ảnh hưởng đến bạn, thế rồi tự nhiên chúng biến mất.

Lúc này:
Tâm của bạn không còn tán loạn nữa.
Bạn trụ vững trong "nhất tâm bất loạn".
Nhất tâm bất loạn còn được gọi là "thủ nhất". Người nào có thể giữ cho cả nghìn vạn sự việc hoàn toàn chấm dứt, tinh thần thống nhất, thì chẳng có gì phải bàn nữa. 
Ta và chính ta hợp nhất, đây là điểm mấu chốt quan trọng nhất.

Cho đến cuối cùng là:
Ta và người khác hợp nhất.
Ta và núi sông đại địa hợp nhất.
Ta và núi sông đại địa hợp nhất.
Ta và tự nhiên rộng lớn hợp nhất.
Ta và thần hợp nhất.
Ta và Bổn tôn hợp nhất.
Những việc này hiển nhiên như tự nhiên. Cái gọi là "pháp nhĩ bản nhiên" chính là đạo lý này.

Trong khi tôi ở trong trạng thái "thủ nhất", rất tự nhiên, tịnh quang liền xuất hiện. 
Tịnh quang phủ xuống. 
Bao trọn lấy tôi. 
Tôi và tịnh quang hợp làm một.
Tôi bèn gọi hiện tượng này là:
"Sự vỗ về của tịnh quang". 

Điều tôi muốn nói với mọi người là:
Tịnh quang ở đây là lần lượt từng vị Bổn tôn, có lúc là vị Phật Nguyên Thủy (Phật A Đạt Nhĩ Mã), có lúc là Phật Thích Ca Mâu Ni, có lúc là Ngũ Phương Phật, có lúc là Phật A Di Đà, có lúc là Diêu Trì Kim Mẫu, có lúc là Quan Thế Âm Bồ Tát.

Tôi có thể nói như thế này: Chư Phật, Bồ Tát, Kim cang, Hộ pháp, Không hành, chư Thiên, đều có thể hạ giáng để vỗ về bạn.
Có các Bổn tôn:
Tức tai.
Tăng ích.
Hàng phục.
Kính ái.
Sẽ nói cho bạn biết chân đế (chân lý).
Tôi nói cho mọi người biết, những sự việc này là sự thật, là những gì chính tôi đã trải nghiệm qua.

Rất nhiều Không Hành Mẫu hạ giáng. Không Hành Mẫu có khi là tuyệt thế mỹ nhân, có khi là tiên nữ trong thần thoại. Nhưng cũng có cả những Bổn tôn phẫn nộ, không phải các ngài tức giận với bạn, mà là các ngài vốn dĩ là có tướng mạo hiển hiện ra như vậy.

Chúc độc giả:
Mở sách ra được lợi ích.

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A

Tháng 07/2019


### 01. **Nói to hết mức**


Chúng tôi cùng đến nhà hàng phương Tây tên là KR dùng cơm. Sư tỉ họ Nhân người Indonesia, tạng người to béo, giọng nói cũng to nhất, nói chuyện cổ họng mở rộng, cô cười lớn mấy tiếng "khà khà khà".

Chúng tôi nghe nói chuyện cũng cười:
"Ha! Ha! Ha!"
"Ka! Ka! Ka!"
"Kha! Kha! Kha!"
Cười vang cả một tràng. Một tràng rồi lại một tràng cười nữa.

🌟

Không lâu sau, người bồi bàn khẽ nói với chúng tôi:
"Khách ngồi xung quanh có ý kiến, mong các vị nói nhỏ tiếng một chút, đừng làm ồn ào ảnh hưởng đến họ!"Chúng tôi lập tức "phanh lại", im re như thóc.
Nhân sư tỉ nói:
"Nếu theo bản tính tôi trước đây, tôi sẽ lập tức đi tìm đối phương để nói cho ra lẽ!"
Tố Nhân sư tỉ cũng nói:
"Tính khí của tôi cũng không tốt! Hôm nay do Sư Tôn ở đây, nên tôi mới nhịn!"
Nhân sư tỷ người to khỏe, hai cánh tay lực lưỡng, tay huơ huơ trong không trung giống như cánh tay võ sĩ quyền anh vậy.

Lại có một lần, cũng ở tại nhà hàng KR, một vài người đồng môn chúng tôi cùng ăn cơm. Chúng tôi ăn rất yên lặng.
Ngồi cạnh đó có một nhóm thanh niên nam nữ nói chuyện với âm điệu rất cao, cười nói rần rần, hết tràng này tới tràng khác.
Hi hi ha ha.
Mỗi thanh niên đều nói to hết mức.
Sự ồn ào hết đợt này tới đợt khác như sóng dội vào tai chúng tôi vậy. Chúng tôi nhìn nhau ngán ngẩm, nhưng cũng không dám nói gì với bồi bàn.
Nhịn.
Nhịn.
Nhịn.

🌟

Một tối nọ, tôi tu thiền.
1. Ngồi tĩnh lặng.
2. Luyện hơi thở.
3. Nhất niệm.
4. Tan vào hư không (tăng trưởng như không khí).
Có một đường ánh sáng thanh tịnh từ trên trời rọi xuống, bao trọn lấy toàn thân tôi. Tịnh quang này là luồng ánh sáng màu trắng rất lớn. 
Trong tịnh quang xuất hiện Diệu Âm Thiên Nữ, một đầu hai tay, tay trái nâng đàn tỳ bà, tay phải gảy lên những âm thanh vi diệu. 
Vị thiên nữ này đẹp tuyệt trần.
Thiên y váy xếp.
Trâm ngọc trang nghiêm.
Đàn tỳ bà gảy lên âm thanh "sa ra sa ti". Âm thanh tuyệt đẹp. 
Nàng có mái tóc dài màu lam buông xuống mềm mại như thác nước, tỏa hương thơm rung động lòng người. Tiếng cười cất lên như tiếng chuông bạc, đôi mắt khóe môi đều khẽ cười.
Nàng nói:
"Âm thanh của ta thế nào?"
Tôi vui vẻ nói:
"Diệu âm."

Tôi nhớ đến hai lần ở nhà hàng KR, tôi muốn kể với Diệu Âm Thiên Nữ. Nàng nói:
"Ta đã biết rồi!"
Tôi hỏi:
"Gặp phải đám ồn ào thì cần làm gì?"
Nàng nói:
"Chẳng phải ngài biết hợp nhất sao? Hợp nhất cùng tiếng ồn, dần dần, ngài sẽ chẳng nghe thấy tiếng ồn nữa!" 


### 02. **Chuyển hóa và đoạn diệt**


Tôi nhớ pháp sư Hải Đào trong lúc thuyết pháp có nhắc đến chuyện:
Có một nữ cư sĩ nọ sau khi đi ra ngoài trở về nhà, nhón chân nhón tay khe khẽ mở cửa phòng ngủ, bất ngờ trông thấy một cảnh tượng đầy bối rối. 
Chồng của cô cùng với một người phụ nữ khác đang làm "chuyện ấy", đúng lúc "cao trào", đúng lúc "sung sướng muốn chết".

Nữ cư sĩ này nhẹ nhàng khép cửa lại. Cô lập tức chuyển đổi suy nghĩ:
"À! Đây là mình đang nằm mơ."
"Đây là giả thôi."
"Đây là mắt tôi gặp nghiệp chướng."
Sau đó, nữ cư sĩ này đi vào Phật đường của mình, một mình ngồi tĩnh lặng, tu tập thiền định.
(Tôi nhớ nôm na câu chuyện là như vậy.)

Tôi nhận thấy:
"Đây là sự chuyển đổi suy nghĩ."

🌟

Trước đây, tôi học tập Mật pháp cùng với một vị Thượng sư Mật giáo.
Thượng sư hỏi tôi một vấn đề:
"Nếu con tình cờ nhìn thấy sư phụ mình cùng một người phụ nữ đang "hòa hợp", con sẽ nghĩ sao?"
Tôi "a" lên một tiếng, không biết phải trả lời thế nào.

Đúng lúc khó xử, ú a ú ớ, mơ mơ hồ hồ, vị thầy Mật giáo của tôi nói với tôi một cách chắc nịch:
Con cần phải biết rằng đây là:
"Sư phụ đang gieo trồng hạt giống Phật tử!"
"Sư phụ đang truyền pháp gia trì!"
"Sư phụ đang tu trì Phật pháp song thân!"
"Sư phụ đang tu pháp song song hóa quang!
Khí hợp với khí.
Mạch hợp với mạch.
Điểm hợp với điểm.
(Đây là pháp song thân của Mật giáo, khí của hai người cùng thông với nhau, mạch của hai người liên kết với nhau, minh điểm của hai người dung hợp với nhau.)

Dùng pháp song thân có thể đạt đến:
Thông mạch (khí đi vào trung mạch).
Nâng chuyết hỏa (ma sát).
Khai đỉnh (khí chạm đỉnh đầu).
Minh điểm hạ xuống, chuyết hỏa nâng lên (lửa tham nâng lên hạ xuống).
Mở luân xa kinh mạch (minh điểm trắng và đỏ gặp nhau).
Hóa thành ánh sáng (luân xa và kinh mạch vừa mở ra thì ánh sáng lập tức xuất hiện).
…

Vị thầy Mật giáo nói:
"Đây là tu pháp, không phải là tà dâm. Là tu hành như pháp, hoàn toàn không giống với việc hành dâm của thế tục."
Mặc dù tôi hiểu, nhưng, nhất định nếu tu pháp này cần phải hợp pháp, như pháp. 
Không thể làm bừa!

🌟

Trong lúc tôi thiền quán, có một bí mật lớn thế này.
Mã Cát Lạp Tôn và tôi cùng ở trong tịnh quang, đây là một cảm giác rất mới mẻ. 
Tôi được khơi dậy lên cảm nhận. 
Mã Cát Lạp Tôn rung lên đầy hoang dã, lửa của tôi cháy hừng hực. 
Tôi và Mã Cát Lạp Tôn hoàn toàn hợp nhất.
Sau đó:
Mã Cát Lạp Tôn hóa thân thành Kim Cang Mẫu màu đen tướng phẫn nộ, ngài chặt đầu, tay chân và thân thể tôi thành nhiều đoạn, ném vào trong lửa Hộ Ma.
Sau đó ngài nói:
"Đây là lấy dục trị dục!"
"Đây là đoạn diệt!"
"Đoạn diệt mới có thể chứng minh vô ngã!"


### 03. **Bà Tu Mật Đa Nữ nói như vầy**


Tôi được một vòng tịnh quang màu đỏ bao trùm. Tịnh quang này giống như một khối cầu tròn trịa từ từ mọc lên từ chân trời. 
Phía chân trời có một vườn hoa tuyệt đẹp, đây không phải là vườn hoa của chốn nhân gian, mà là vườn hoa của cõi trời.
Kỳ hoa.
Dị thảo.
Khiến cho tôi nghĩ đến nơi mà chúng ta vẫn gọi là thiên đường, có lẽ cũng gần giống như thế này.
Trong vườn hoa đó chỉ có một người con gái.
Nàng nói với tôi:
"Tôi là Bà Tu Mật Đa Nữ!"
Tôi ngạc nhiên:
"Nàng là Bà Tu Mật Đa Nữ, một trong 53 vị thiện tài đồng tử ư?"
Cô gái gật gật đầu. Tôi nhìn kĩ cô gái.

Cô gái này không giống như dâm nữ Bà Tu Mật Đa Nữ, một trong 53 vị thiện tri thức của Thiện Tài Đồng Tử được nói đến trong kinh Hoa Nghiêm. 
Nàng mới chỉ 16 tuổi. Nàng dịu dàng nhẹ nhàng, duyên dáng, mặc váy dài màu đỏ. 
Khuôn mặt nàng xinh đẹp như tiên nữ trên trời. 
Khuôn mặt sáng ngời như mặt trời, đôi chút ửng hồng.
Tôi kéo nàng lại gần, nàng cũng chẳng hề cự tuyệt. Mái tóc của nàng lướt nhẹ trên mặt tôi. Tôi đã hoàn toàn say mê nàng rồi.
Sau đó, Bà Tu Mật Đa Nữ dẫn tôi đi vào trong một khu rừng rậm, nơi đó hoàn toàn tách biệt với thế giới bên ngoài. 
Thế rồi cả người nàng dán chặt lên thân thể tôi, váy đỏ của nàng hóa thành màn sương đỏ, chúng tôi cùng ở trong màn sương. 
Hòa quện vào nhau. 
Khăng khít chặt chẽ.
"Hố đen" của "mặt trời" hết lần này tới lần khác "vỡ òa".
Một hồi lâu sau.
Nàng nhìn tôi với ánh mắt đầy trìu mến, nói với tôi rằng nàng đã cảm nhận được niềm vui sướng chẳng thể nào mô tả được bằng lời nói. 
Khuôn mặt của nàng áp lên ngực tôi, mái tóc thơm dày mượt buông xõa trên thân thôi.
Nàng nói:
"Ngài! Thực sự là một vị tôn giả vô lậu."
Tôi nói:
"Đúng vậy."
Nàng nói:
"Ta chính là Minh phi trí huệ của ngài."
Tôi nói:
"Đúng vậy."
Nàng nói:
"Ngài đã thể hội được đại lạc, quang minh, tính Không rồi đúng không?"
Tôi nói:
"Đúng vậy."
Nàng nói:
"Việc này hoàn toàn không phải là sự hợp nhất thế tục, mà là hợp nhất thắng nghĩa, có thể hóa thành ánh sáng nhập vào tính Không."
Tôi nói:
"Đúng vậy."
Tôi hỏi ngược lại nàng:
"Nàng vì sao lại đến tìm ta?"
Nàng cười:
"Ta thấy Mã Cát Lạp Tôn Không Hành Mẫu đã ở cùng với ngài, do vậy ta bèn tới!"
Nàng nói:
"Ta nói với Thiện Tài Đồng Tử rằng, đây là pháp yếu, là lạc hóa minh, minh hóa Không, hai người cùng nhập vào tính Không vĩnh cửu."
Tôi hỏi:
"Đây cũng là Phật pháp?"
Nàng đáp:
"Cái gì không phải là Phật pháp đây?"


### 04. **Vầng sáng nghìn tay nghìn mắt**


Vầng sáng đó dày và rực rỡ, giống như tịnh quang đủ mọi màu sắc cùng cuộn xoắn lại với nhau. Tịnh quang trùng điệp.

Tôi đã vẽ hơn ba nghìn bức tranh, tôi hiểu sự trùng điệp của màu sắc, tôi có thể tạo ra vầng sáng mới, thậm chí còn đặc sắc hơn.

Vầng sáng đó liên tiếp phủ xuống người tôi, giống như những chiếc lá phong đung đưa trong hư không rơi rụng xuống vậy. Một ngọn gió thổi đến là rơi xuống trên người tôi. 
Đó là Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát hiển hiện trước mặt tôi. Vị Bồ Tát này thuộc gia tộc Quan Thế Âm Bồ Tát, có lẽ là vị tôn quý nhất.

Ngài có mười một đầu. 
Tương đương với Bồ Tát ở địa thứ mười một. 
Địa thứ mười là Đẳng Giác. 
Địa thứ mười một là Diệu Giác. 
Diệu Giác là Chính Giác, tương đương với Phật. 
Nghìn cánh tay của Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát đều chuyển động. Nghìn con mắt cũng chuyển động.
Vầng sáng đó thực sự chẳng thể miêu tả thành lời. 
Bởi nó vừa mãnh liệt vừa dịu dàng duyên dáng.

Ngài nói:
"Hư không vô tận."
Tôi nói:
"Tôi đã độ được năm triệu đệ tử!"
Tôi nói tiếp:
"Tôi đã lập được sáu mươi, bảy mươi tòa Lôi Tạng Tự!"
Tôi còn nói:
"Tôi đã viết được hai trăm bảy mươi hai cuốn sách!"
Tôi còn nói:
"Tiếng tăm của tôi rất vang dội. Tôi đi trên đường, rất nhiều người dường như đều nhận ra tôi."

Tôi thấy nghìn con mắt của Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát đều bộc lộ ánh mắt khinh thường.
Tôi nói:
"Tôi có tam quang, là bạch quang, linh quang, Phật quang."

Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát dường như chẳng buồn nghe tôi nói mấy điều này. Ngài dùng nghìn cánh tay xoa đầu tôi.
Ngài vẫn chỉ nói:
"Hư không vô tận."

Nghìn con mắt của ngài từ trên nhìn xuống, giống như gương soi chiếu trọn lấy tôi. Tôi thấy sự nhỏ bé của mình, sự yếu đuối của mình, cái bóng nhỏ chỉ như một chấm bé xíu của mình, dường như bản thân tôi chỉ là một con sâu nhỏ.
Ngài nói:
"Hư không vô tận."
Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát nói với tôi:
"Con người nhân gian có được một tí xíu đã sinh tính ngạo mạn rồi. Ngài sắp bị sự ngạo mạn nuốt mất bản thân rồi, đồng thời ngài cũng nuốt luôn cả sự ngạo mạn. Kì thực, gần như tất cả mọi người tự cho rằng mình đã học được rất nhiều, thực ra chỉ hiểu được có chút xíu mà thôi."
Tôi hỏi:
"Vì sao vậy?"
Ngài đáp:
"Con người không biết rằng hư không vô tận!"
Tôi hỏi:
"Làm sao để hiểu được hư không vô tận?"
Ngài đáp:
"Chẳng cần phải đi tìm kiếm ở bên ngoài làm gì cho mất công, ngài hãy quán chiếu nội tại của chính mình."
Tôi hỏi:
"Quán chiếu cái gì?"
Ngài đáp:
"Ngài không thấy hư không chẳng có gì sao? Khi ngài tìm không được chính mình thì mới là hư không vô tận."


### 05. **Luồng tịnh quang màu vàng số một**


Tôi nhớ từ rất lâu trước đây, khi tôi giảng về "Mật tông đạo thứ đệ quảng luận", vừa mới bắt đầu giảng thì lập tức thấy ngài Tsongkhapa phóng xuống hàng trăm vòng ánh sáng liên tiếp, không ngừng chiếu tới gia trì cho tôi.

Trăm vòng ánh sáng đó như những sợi tơ dài liên tiếp rung lên, còn ngài Tsongkhapa thì ngồi ở giữa. Sau đó, luồng ánh sáng thấm vào toàn bộ thân tôi, khiến tôi tăng trưởng trí huệ, lại càng giúp tôi hiểu rõ hơn "Mật tông đạo thứ đệ quảng luận".

Đó là lần đầu tiên tôi nhìn thấy đại sư Tsongkhapa.
Ngũ quan của ngài thanh tú.
Con mắt trí huệ có sức mạnh xuyên thấu.
Tai ngài vừa rộng vừa dài.
Nét mặt khẽ cười ấm áp.
Đây là ấn tượng đầu tiên của tôi khi nhìn thấy ngài Tsongkhapa.

🌟

Đã bao nhiêu năm trôi qua rồi!
Tôi lại gặp lại đại sư Tsongkhapa. Ngài vẫn giống hệt như ấn tượng của tôi khi lần đầu tiên tôi gặp ngài. 
Ngài chiếu ánh sáng tịnh quang màu vàng xuống tôi, tôi tắm mình trong tịnh quang màu vàng. Đồng thời toàn thân cũng lập tức thư thái dễ chịu.
Đại sư Tsongkhapa nói:
"Liên Sinh, ngài có bệnh đúng không?"
Tôi đáp:
"Có."
Đại sư nói:
"Bệnh ở nhân gian của ngài chính là bệnh ở nhân gian của ta, là bệnh giống nhau."
Tôi "ồ" lên một tiếng, hiểu rồi!
Tôi hỏi:
"Đại sư! Thảo nào hoàng đế triệu kiến ngài, ngài nói bị bệnh nên không đi ứng triệu."
Đại sư đáp:
"Đúng vậy. Nhưng ta đã phái Thích Ca Dã Thất thay mặt ta, đi tiếp kiến hoàng đế."
Tôi hỏi:
"Ngài bệnh có nặng không?"
Đại sư đáp:
"Vẫn gượng được."
Tsongkhapa nói:
"Loại bệnh này chỉ có thể cùng hợp nhất với bệnh, không có cách chữa trị nào khác!"
Tôi nói:
"Tôi cũng làm đúng như vậy, tôi cùng bệnh hợp nhất, bệnh chính là bạn đạo của tôi, đã cùng nhau hợp nhất lâu rồi, bởi thế nên không có gì nghiêm trọng nữa rồi."
Tôi nói:
"Tôi dựa vào chế độ ăn uống và vận động để khống chế bệnh."
Đại sư nói:
"Ngài nói đúng."

Rồi đại sư Tsongkhapa nói tiếp:
"Vào thời đại đó của ta, ta và các đệ tử chỉ có thể tu Phật pháp trường thọ để trị lại bệnh nghiệp của ta."
Tôi hỏi:

"Đại sư Tsongkhapa, cuộc sống khi đó của ngài, có thể dùng câu từ gì để hình dung đây?"
Đại sư đáp:
"Ta chẳng hề phí thời gian vào những việc vô bổ."
Đây là một câu nói rất bình thường, nhưng nó thực sự cứ vang vọng mãi trong đầu tôi. Đúng vậy, con người hiện đại đều đang phí thời gian vào những việc vô bổ.

🌟

Tôi thực lòng thực sự nói với mọi người:
Thành tựu tiền bạc. (Chẳng đem đi được.)
Thành tựu địa vị. (Chẳng đem đi được.)
Thành tựu tiếng tăm. (Chẳng đem đi được.)
Thành tựu khoa học kỹ thuật. (Chẳng đem đi được.)
Thành tựu y học. (Chẳng đem đi được.)
...
(Bởi vì cuối cùng chúng đều chẳng phải là thứ ta có được.)

Đại sư Tsongkhapa nói:
"Theo đuổi những thứ này đều là phí thời gian vào những việc vô bổ."


### 06. **Đối thoại với Liên Hoa Sinh Đại Sĩ**


Có một quãng thời gian tôi rất nhớ Đức Phật A Di Đà, tôi luôn mong chờ ánh sáng tịnh quang của Đức Phật A Di Đà vỗ về tôi.
Tôi chờ! Chờ mãi!
Một luồng tịnh quang màu đỏ phủ trùm lấy tôi, trong lòng tôi mừng thầm, chắc chắn là Phật A Di Đà đến rồi.
Nhưng thật thất vọng!
Người đến không ngờ lại là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. 
Vóc dáng ngài cao lớn, cường tráng, ngài quấn quanh mình tấm áo cà sa, để lộ ra hai chân trần. Nét mặt ngài khá nghiêm túc, nhìn đúng chất một vị Tổ sư tông phái một thời, nhãn quang trí huệ, mũi cao, mặt rộng và sáng, da sẫm, để râu.

Liên Sư nói:
"Ngài thất vọng sao?"
Tôi nói:
"Tôi nhớ Bổn tôn A Di Đà Phật!"
Liên Sư nói:
"Ta chính là A Di Đà Phật đây, ngài là Liên Hoa Đồng Tử cũng chính là A Di Đà Phật."
Tôi nói:
"Sao lại đều là A Di Đà Phật?"
Liên Sư nói:
"A Di Đà Phật hóa hiện rất nhiều, như câu Namo ba mươi sáu vạn tỉ mười một vạn chín nghìn năm trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật đó. Ngài và ta đều là A Di Đà Phật."
Tôi cười:
"Thế là tự mình nhớ mình!"
Liên Sư nói:
"Tất cả Bổn tôn đều là tự tâm ta hóa hiện ra. Câu nói này là chân đế."
Tôi đột nhiên tỉnh ngộ. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói:
"Ngài muốn học Phật pháp không?"
Tôi nói:
"Đương nhiên."
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói:
"Phật pháp ở ngay trong não ngài đó!"
Tôi nói:
"Đừng nói đùa chứ!"

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói:
"Ta chẳng đùa chút nào. Năm xưa ta cũng đã đem những terma Phật pháp giấu trong não của vua Trisong Detsen. Ngài chỉ cần lấy terma trong não ra, Phật pháp sẽ liền hiển hiện trước mắt."
Tôi nói:
"A! Việc này có lẽ đúng, tôi chỉ cần nghĩ đến một cái thì tất cả mọi vấn đề đều được giải quyết xong!"
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ hỏi tôi:
"Ngài tu pháp thiền gì?"
Tôi đáp:
"Khí mạch minh điểm."
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ hỏi:
"Tu khí mạch minh điểm như thế nào?"
Tôi đáp:
"Khí đi vào trung mạch, mạch thông suốt, minh điểm ở trung mạch cũng thông suốt và dung hòa."
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói:
"Tâm yếu khẩu quyết là gì?"
Tôi đáp:
"Thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh."
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ hỏi:
"Còn gì nữa không?"
Tôi đáp:
"Khí thanh tịnh, mạch thanh tịnh, minh điểm thanh tịnh."
(Liên Sư nói: BINGO)


### 07. **Rất nhiều người đều không tu Tứ gia hành?**


Tôi, Lư Sư Tôn, nói thật lòng rằng, bản thân tôi trước khi tu thiền, thỉnh thoảng tôi có tu Tứ gia hành, thỉnh thoảng không tu Tứ gia hành. 
Việc này tùy thuộc vào:
Có nhiều thời gian thì tu.
Có ít thời gian thì không tu.
Hoặc là, không gian không đủ rộng.
(Ví dụ như trên máy bay, tôi trực tiếp tu vào phần Chính hành, không tu Tiền hành của nghi quỹ Tứ gia hành.)

Nhưng tôi dạy đệ tử thì là: Cần tu Tứ gia hành.
Tứ gia hành gồm có: đại lễ bái, đại cúng dường, tứ quy y, và pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát.
(Tứ gia hành ở đây bao gồm: niệm chú Phật, kệ hồi hướng, thanh tịnh đàn thành, ngồi tĩnh lặng, hít thở Cửu tiết Phật phong, phát tâm, quy y, cúng mandala, niệm Bách tự minh chú, v.v…)

🌟

Khi Liên Hoa Sinh Đại Sĩ phóng tịnh quang màu đỏ chiếu tới tôi, tôi dùng khẩu khí của người bình thường hỏi ngài rằng:
"Tứ gia hành có quan trọng không?"
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói:
"Quan trọng số một."
Hỏi:
"Đại lễ bái có gì quan trọng?"
Đại Sĩ đáp:
"Cung kính, sám hối, điều chuyển thân tâm."
Hỏi:
"Khi làm đại cúng dường, Bổn tôn có đến ăn đồ cúng không?"
Đáp:
"Không."
Hỏi:
"Các ngài không đến ăn thì vì sao vẫn cần phải cúng dường?"
Đáp:
"Ngài thỉnh cầu Bổn tôn gia trì, Bổn tôn hợp nhất, Bổn tôn làm tất cả mọi pháp, mà ngài chẳng có cúng phẩm gì, vậy có được không?"
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ  nói:
"Đây là vấn đề lễ nghĩa." (Quan trọng nằm ở sự kiền thành.)

Hỏi:
"Vì sao cần niệm chú Tứ quy y?"
Đáp:
"Dòng truyền thừa là quan trọng số một, do vậy cần phải ghi nhớ Phật, pháp, tăng, căn bản Thượng sư. Có như vậy dòng chảy pháp mới có thể đi vào trong thân ngài, ngài mới có thể thấm đẫm được dòng chảy pháp."
Hỏi:
"Vì sao cần tu pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát?"
Đáp:
"Sám hối không quan trọng ư?"
Tôi nói:
"Quan trọng."
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói:
"Pháp đó là nguồn gốc để có được thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh."
Hỏi:
"Theo góc nhìn của Liên Sư thì phần Tiền hành của Tứ gia hành là cái gì?"
Đáp:
"Vận động để làm nóng toàn thân."
Hỏi:
"Phần lớn người ta đều không làm Tứ gia hành thì sao?"
Đáp:
"Sẽ dễ bị thương!"
Hỏi:
"Có cần niệm văn thỉnh cầu không?"
Đáp:
"Đó là phần đẹp đẽ tuyệt diệu nhất, tôi rất thích."

🌟

Tôi nói:
Không có Tứ gia hành, lễ nghĩa không hoàn chỉnh, tu thiền sẽ có chướng ngại!


### 08. **Sở duyên cảnh**


Tôi rất khát khao được như:
Long Thụ Bồ Tát, tại tháp sắt ở Nam Thiên Trúc đã gặp được Kim Cang Tát Đỏa.
Thử nghĩ mà xem:
Kim Cang Tát Đỏa đã chuyển giao pháp Kim Cương Giới, Thai Tạng Giới cho Long Thụ Bồ Tát. Đây là một bối cảnh cực kì đẹp đẽ.
Đương nhiên tôi rất khát khao được trông thấy Kim Cang Tát Đỏa, để xem xem Kim Cang Tát Đỏa trao cho tôi món quà gì đây?

🌟

Điều tôi không ngờ đến đã xảy ra.
Tôi bị một luồng tịnh quang màu trắng bao trùm, tịnh quang màu trắng này biết nuốt vào và nhả ra.
Tịnh quang nuốt tôi vào, rồi lại nhả tôi ra.
Lại nuốt tôi vào, lại nhả tôi ra.
Tôi kêu to:
"Việc này là sao đây?"
Một âm thanh xa xăm vọng lại, tôi nhìn về phía nguồn phát ra âm thanh.
Một hình ảnh lóe lên trước mắt tôi, đó là Kim Cang Tát Đỏa.
Ngũ Phật trên đầu.
Anh tuấn tự tại.
Tay phải cầm chày, đặt trước ngực.
Tay trái cầm chuông, đặt trên đùi trái.
Thế ngồi hoa sen.
Tôi hỏi:
"Vì sao lại nuốt tôi vào, rồi lại nhả tôi ra?"
Kim Cang Tát Đỏa đáp:
"Sở duyên cảnh."
Tôi hỏi:
"Sở duyên cảnh là cái gì?"
Ngài đáp:
"Lư Sư Tôi chính là sở duyên cảnh của ta."
Ngài hỏi:
"Sở duyên cảnh tu quán của Lư Sư Tôn là gì?"
Tôi đáp:
"Là đếm hơi thở!" (trong tâm niệm thầm một hơi, hai hơi,…….)
Ngài nói:
"Ngài đếm hơi thở được mấy lượt rồi quên mất luôn con số, thế rồi ngủ gật mất. Ha ha ha!"
Ngài nói:
"Ta biết sở duyên cảnh của Lư Sư Tôn là gì."
"Là gì?" - Tôi hỏi.
Ngài nói:
"Mỹ nữ."
Tôi đỏ mặt.
Ngài lại nói tiếp:
"Có lần thì là Mã Cát Lạp Tôn, có lần thì là Kim Cang Hợi Mẫu, có lần là Bạch Độ Mẫu, có lần là Lục Độ Mẫu, đúng không?"
Tôi gật gật đầu.
Kim Cang Tát Đỏa nói:
"Tu quán đừng nhắm mắt, bởi vì vọng niệm sẽ bay mòng mòng trong đầu (trạo cử), hoặc không thì ngủ gật (hôn trầm). Hơi hé mắt, mắt nhìn cố định vào sở duyên cảnh, như vậy mới có thể nhất tâm bất loạn."
Tôi hỏi:
"Có khẩu quyết không?"
Ngài đáp:
"Quán chiếu sở duyên cảnh là quan trọng nhất. Trước đây ngài lễ kính Bổn tôn, bây giờ vẫn cần lễ kính Bổn tôn, cầu thỉnh Bổn tôn hạ giáng để chỉ dạy. Bây giờ ngài chưa nhìn thấy Bổn tôn, sau này nhất định sẽ nhìn thấy Bổn tôn, thậm chí chết rồi cũng có thể nhìn thấy Bổn tôn."

Tôi hỏi:
"Kim Cang Tát Đỏa, ngài tặng quà cho Long Thụ Bồ Tát, ngài sẽ tặng cho tôi món quà gì đây?"
Ngài cười lớn:
"Sung sướng, hạnh phúc, vui vẻ."


### 09. **Tìm kiếm tính Không**


Tôi nhớ Thiền tông có đoạn đối thoại giữa tổ sư Đạt Ma và nhị tổ - Thiền sư Huệ Khả.
Huệ Khả nói:
"Tâm con tán loạn, xin thầy an tâm cho con!"
Đạt Ma nói:
"Con lấy tâm ra đây, ta sẽ an nó giúp con."
Huệ Khả nói:
"Con tìm kiếm thế nào cũng chẳng tìm thấy tâm của con!"
Đạt Ma nói:
"Ta đã giúp con an tâm rồi đó!"

Theo như tôi hiểu:
Trên thế tục đế, mọi thứ đều có tâm.
Trên thắng nghĩa đế, tất cả đều là vô tâm.
Hai khẩu quyết lớn của thiền định là: vô sự, vô tâm.

🌟

Còn nữa:
Lúc tổ sư Đạt Ma mới gặp Lương Vũ Đế.
Vũ Đế nói:
"Ta đã xây vô số chùa, cúng dường vô số tăng, làm vô số pháp sự, thì có công đức gì?"
Đạt Ma đáp:
"Chẳng có công đức gì cả."
Vũ Đế hỏi:
"Ta là ai?"
Đạt Ma đáp:
"Là ai!" (không biết)

Theo như tôi hiểu:
Trên thế tục đế, Lương Vũ Đế có công đức.
Trên thắng nghĩa đế, thì không có công đức.
Trên thế tục đế, có một người là Lương Vũ Đế.
Trên thắng nghĩa đế, chẳng có Lương Vũ Đế nào.

Tôi thường dạy đệ tử:
Nếu trên mặt trăng chẳng có một người nào, tôi hỏi mọi người, thế thì:
Cái gì là Phật? Cái gì là ma?
Cái gì là thiện? Cái gì là ác?
Cái gì là công đức? Cái gì là không có công đức?
Cái gì là lành? Cái gì là dữ?
Cái gì là đúng? Cái gì là sai?
...
Nơi đó hoàn toàn cách xa cái "Có".
Là cái "Không" tuyệt đối.

🌟

Kim Cang Tát Đỏa hỏi tôi:
"Ngài tu thiền là vì cái gì?"
Tôi đáp:
"Tìm kiếm tính Không."
Kim Cang Tát Đỏa hỏi tôi:
"Đã tìm thấy chưa?"
Tôi đáp:
"Chưa tìm thấy!"
Kim Cang Tát Đỏa hỏi:
"Đã biết là không tìm thấy, hà tất phải tu thiền?"
Tôi đáp:
"Nếu không tu thiền, làm sao biết được tìm Không thấy?"
Ha ha ha!
Tôi và Kim Cang Tát Đỏa đều cười vang.

Kim Cang Tát Đỏa nói:
"Bất luận là Quảng hành phái hay Thâm kiến phái, ta dạy cho ngài một cách tu quán đơn nhất, sự đơn nhất này có thể tận hưởng mãi không hết."
Tôi nói:
"Tôi hiểu."
Kim Cang Tát Đỏa nói:
"Bất kể như thế nào, ngài chỉ cần hợp nhất với Bổn tôn, thì chính là đã tu thiền rất sâu rồi." (Nhất chính là thiền định.)


### 10. **Tôi thiền quán**


Mẹ tôi qua đời tại Seattle nước Mỹ.
Tôi thiền định quan sát, nay kể lại như sau:
Mẹ tôi cứ quanh quẩn ở trong những đám mây trên cao, miệng không ngừng la lớn:
"Tiền của tôi! Tiền của tôi! Tiền của tôi!"
Sau đó cứ thế nhìn xuống nhân gian.

Đúng lúc này. 
A Di Đà Phật ngồi trên ngai vàng, một pháp tọa dát kín bằng những viên kim cương lớn xuất hiện.
A Di Đà Phật hỏi:
"Bà đang tìm gì vậy?"
Mẹ tôi đáp:
"Tìm tiền của tôi!"
A Di Đà Phật hỏi:
"Bảo tọa của ta làm bằng vàng, kim cương viên nào viên nấy to như quả trứng gà, bảo tọa của ta có hơn tiền tài chốn nhân gian của bà không?"
Mẹ tôi đáp:
"Hơn nhiều chứ!"
A Di Đà Phật nói:
"Bà không cần tìm nữa, ta tặng cho bà bảo tọa này!"

Mẹ tôi sướng như điên. 
A Di Đà Phật lập tức biến mất. Mẹ tôi liền lên bảo tọa của A Di Đà Phật ngồi. 
Sau đó, mẹ tôi (Lư Ngọc Nữ) liền xuất hiện tại Nam Hải Phổ Đà Lạc Gia Sơn, trở thành quyến thuộc của Quan Thế Âm Bồ Tát. 
Mẹ tôi vốn là chim thái bình của Bồ Tát chuyển thế. 
Sau đó, mẹ tôi trở thành Tống Tử Quan Thế Âm Bồ Tát.
Tôi cảm thán:
A Di Đà Phật dùng phương tiện thiện xảo, đã độ hóa cho mẹ tôi rồi. 
Tôi lại cảm thán, sự bám chấp của con người thực sự rất đáng thương. Con người sống trong sự bám chấp sẽ quên mất việc tu trì hàng ngày.

🌟

Tôi thiền định rất có quy luật, sức mạnh tập trung rất ổn định và tăng trưởng, hơn nữa thời gian cũng rất dài. 
Bởi vì nghị lực của tôi ngày càng yên tịnh.
Pháp lưu thấm đẫm toàn thân.
Cơ thể vững chắc như núi.
Toàn thân như lửa bùng cháy.
Chân lý thực sự thấy ngay.
Tôi có thể giải quyết tất cả mọi hoàn cảnh khó khăn nhất. Tôi phát hiện ra, tôi có thể hợp nhất với tất cả.

Lại có một luồng tịnh quang bao vây lấy tôi. Trong ánh sáng xuất hiện Bạch Độ Mẫu. Bạch Độ Mẫu là một trong các vị Không Hành Mẫu rất thân thiết với tôi. 
Tôi và Bạch Độ Mẫu hợp nhất.
Bạch Độ Mẫu nói:
"Ngài hẳn là đã hợp nhất cùng tình yêu rồi!"
Tôi nói:
"Đúng vậy."
Bạch Độ Mẫu nói:
"Hợp nhất cùng với kẻ thù của ngài nữa!"
Tôi nói:
"Tôi có thể."
Bạch Độ Mẫu nói:
"Hợp nhất cùng người phỉ báng ngài, oán hận ngài nữa!"
Tôi nói:
"Tôi có thể."

Tôi phát hiện ra, khắp xung quanh tôi tràn ngập tình yêu, tình yêu tràn đầy đối với tất cả mọi người, không phân biệt bất kì ai, không phân biệt quốc gia. Tôi nhận ra ai nấy cũng đều là chính mình.
Bạch Độ Mẫu nói:
"Vậy là ngài đã thể hội được chân đế. Chân đế là không phân biệt!"


### 11. **Hỏi đáp về cái chết**


Tôi năm nay đã 75 tuổi.
Tôi đã biết trước thời điểm chết của mình, bởi vì Diêu Trì Kim Mẫu đã nói cho tôi biết vào năm bao nhiêu tuổi thì tôi sẽ chết. 
Do vậy, mỗi tối tôi đều luyện tập phương pháp vãng sinh. Tôi luyện tập hai thứ:

Thứ nhất, khi Bổn tôn hiện thân đến đón tiếp tôi, tôi sẽ dùng pháp "nhập ngã ngã nhập" để đi vào trong tâm của Bổn tôn, hoặc Bổn tôn đi vào trong tâm tôi, bằng cách này tôi sẽ đến được tịnh thổ của Bổn tôn.

Thứ hai, tôi dùng khí để thông trung mạch, đem ánh sáng Phật tính ở tâm luân theo trung mạch đến lỗ trên đỉnh đầu, phóng ra ánh sáng cầu vồng, lập tức thành Phật.

Mỗi ngày tôi đều luyện tập như vậy, để tránh cho khi thời điểm chết đến tay chân tôi lại cuống hết cả lên.

🌟

Đêm khuya thanh vắng, tôi đang luyện tập. 
Một mùi hương thơm đưa tới, đem theo một vùng ánh sáng, trong ánh sáng có một người ngồi ở giữa. 
Người này rất trang nghiêm, sự trang nghiêm được tạo nên bởi sự vững chắc và kiên định. Ánh mắt của người này màu nâu.
Người này tạo cho tôi ấn tượng:
Tuyệt đối nghiêm khắc.
Cẩn thận chỉn chu.
Uy lực mạnh mẽ.
Trí huệ vững chắc.
Người này chính là Diêm La Vương của Dạ Ma Thiên. Diêm La Vương nở nụ cười nhẹ đầy ấm áp lẫn bi thương.
Ngài hỏi:
"Muốn nói chuyện cùng ta không?"
Tôi nói:
"Thế nhân chỉ biết chuyện sinh, chẳng biết chuyện chết. Ngài có thể nói về những hiện tượng sau khi chết không?"
Ngài đáp:
"Được. Ngài hỏi tôi đáp."
Tôi hỏi:
"Người ta sau khi chết, thực sự có linh hồn không?"
Diêm La Vương đáp:
"Có."
Tôi hỏi:
"Linh hồn rốt cục là cái gì?"
Diêm La Vương nói:
"Khí trở về với khí, đất trở về với đất."
Tôi hỏi:
"Ý ngài là khí chính là linh hồn. Còn đất chính là da, máu, xương thịt, các cơ quan, lông tóc?"
Diêm La Vương đáp:
"Đúng vậy. Khi người ta chết, khí sẽ thoát ra, tùy theo nghiệp chướng mà lưu chuyển đi. Những linh hồn này đều tập trung trên tay tôi. Tôi sẽ tùy theo nghiệp chướng mà gửi linh hồn đi đến lục đạo." (nhân duyên quả báo)
Tôi hỏi:
"Ngài phán xét thế nào?"
Diêm La Vương đáp:
"Kì thực cũng chẳng cần phán đoán. Mỗi linh hồn có nghiệp riêng. Chúng ta chỉ cần xem nghiệp của linh hồn, tự nhiên dựa vào nghiệp lực mà mỗi linh hồn sẽ tự phân về các nhóm mà đi tới lục đạo."
Tôi hỏi:
"Có ai không bị ngài quản không?"
Diêm La Vương đáp:
"Là linh hồn tự mình hiển hiện được Bổn tôn. Linh hồn tự mình hóa thành ánh sáng chói lọi, nhập vào tứ Thánh giới."
Tôi hỏi:
"Người tự sát thì sẽ thế nào?"
Diêm La Vương đáp:
"Người đó sẽ phải chờ tại địa điểm tự sát đó chịu khổ, cho đến khi sinh mệnh gốc kết thúc thì mới luân hồi được."
Diêm La Vương nói:
"Bằng mọi giá đừng bao giờ tự sát, linh hồn tự sát bị tan vỡ thành nhiều mảnh, khi chuyển thế cũng tán loạn, không thể thành hình dạng gì được."


### 12. **Các loại nghiệp**


Tôi hỏi Diêm La Vương:
"Tôi muốn biết về nghiệp ra sao?"
Ngài đáp:
"Nghiệp được gọi là biển nghiệp, phạm vi cực kì rộng lớn, rất phức tạp, rất ít người có thể hiểu được."
Hỏi:
"Có thể nói một cách đơn giản không?"
Đáp:
"Mọi sự đều có nhân, mọi sự đều có quả."
Tôi hỏi:
"Làm sao để không phạm tới nhân quả?"
Ngài đáp:
"Hỏi Phật đi!" (Tôi nghĩ ngay cả ngài ấy cũng chẳng biết.)
Tôi hỏi:
"Nhân từ đâu đến?"
Ngài đáp:
"Đến từ quá khứ."
Tôi hỏi:
"Quả đến từ đâu?"
Ngài đáp:
"Quả đến từ nhân."

Tôi có chút "nóng mặt" rồi:
"Tôi hỏi cả nửa ngày trời, hỏi cũng bằng không, rốt cuộc là nhân nhân quả quả, nhân biến ra quả, quả biến ra nhân, cả một đám nhân quả, cả một đám nghiệp khiến tôi lú lẫn mất rồi!"
Ngài nói:
"Không cần phải tức giận, đây là số học, cộng trừ nhân chia, khai căn, vi tích phân, v.v… Kết quả sẽ cho ra đáp án.”
Tôi hỏi:
“Có thể thay đổi không?”
Ngài đáp:
“Đương nhiên.”
Tôi hỏi:
“Làm sao để thay đổi?”
Ngài đáp:
“Chạm vào, ấn, biến thành nhẹ, cắt bỏ, thêm vào các nhân tố khác...”
Tôi hỏi:
“Là ý nói về tâm sao?”
Ngài đáp:
“Đúng vậy. Tổng hợp từ suy nghĩ thứ nhất đến suy nghĩ cuối cùng, đây chính là cái gọi là biển nghiệp.”

Tôi hỏi:
“Suy nghĩ thứ nhất là gì?”
Ngài đáp:
“Suy nghĩ của người cha cộng thêm suy nghĩ của người mẹ, trở thành suy nghĩ đầu tiên của cuộc đời này.”
Cuối cùng tôi đã hiểu ra rồi. Tôi hỏi:
“Tôi có thể lựa chọn cha mẹ không?”
Ngài đáp:
“Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu.”
A, hình như tôi lại hiểu ra rồi, tất cả dường như có một số mệnh định sẵn. Tôi nói:
“Đây là định số sao?”
Ngài đáp:
“Nói là định số cũng không sai, nhưng có thể thay đổi, đại tu hành giả đều có thể thay đổi định số.”
Tôi hỏi:
“Nếu không phải là đại tu hành giả thì sao?”
Ngài đáp:
“Thì là định số.”
Tôi hỏi:
“Vậy sao cùng cha mẹ sinh ra mà vận mệnh mỗi nguời lại không giống nhau?”
Ngài đáp:
“Vẫn là câu nói cũ rích, có giống có khác, cần xem nhân duyên, sẽ biết được định số.”


### 13. **Diệu Âm Thiên Nữ ca hát**


Hôm đó, tôi ngồi trên ghế *sofa *lớn trong phòng khách, hai chân tôi bắt chéo trong tư thế hoa sen, hai tay đặt tự nhiên trên đùi, tôi ngồi tu thiền với tư thái tự nhiên nhất. 
Chỉ một sát-na.
Một màn tịnh quang đã phủ xuống toàn thân tôi. Có một chú âm vọng đến bên tai tôi.
“Om sarasati ye soha.”
Chú âm này rất du dương, rất đẹp đẽ vi diệu. Hóa ra là Diệu Âm Thiên Nữ đến. 
Trên đầu thiên nữ kết đầy hoa. 
Đôi mắt to. 
Mũi cao thẳng. 
Môi đỏ mọng như trái anh đào. 
Trên tay thiên nữ cầm đàn tỳ bà. 
Gương mặt xinh đẹp, dáng người duyên dáng. 
Hai chân vắt chéo, ngồi trên hoa sen màu đỏ.
Toàn thân được trang điểm bởi ngọc ngà châu báu lấp lánh. 
Thiên nữ rất thùy mị dịu dàng, hiền hậu.

Tôi hỏi:
“Nghe nói Đại Phạm Thiên Vương thích nhất là nghe nàng hát, khúc “Gió nhẹ thổi qua Nam Hải Phổ Đà Sơn”, đúng vậy không?”
Thiên nữ đáp:
“Đúng vậy.”
Tôi thỉnh cầu thiên nữ:
“Có thể hát cho ta nghe được không?”
Thiên nữ đáp:
“Ta chính là đặc biệt tới đây để hát cho ngài nghe đó.”
Thiên nữ vừa gảy đàn vừa hát.
Trước tiên nàng hát bài kệ tán thán về mình:
*"Thế là Như Lai tôn quý diễn thuyết diệu pháp.
Thanh âm cõi trời tuyệt diệu điều phục trời người.
Tùy duyên tùy hiện mà nên Biện Tài Thiên Nữ.
Viên mãn ý nguyện phủ khắp ba nghìn thế giới.
Nhất tâm chính niệm đạt được diệu trí đại nguyện.
Vang lên chú ngữ vô thượng tối thắng giữa trời người.
Thỉnh cầu gia hộ tùy tâm lễ kính chư Phật.
Thần thông trí huệ tất cả mau chứng Bồ Đề."
*Thiên nữ hỏi:
“Có hay không?”
Tôi nói:
“Rất hay! Nhưng không phải bài Gió thổi Phổ Đà!”
Thiên nữ lại đàn hát:
*"Mùa đã sang thu
Gió thổi ngọn trúc xanh
Lên cao
Rồi đến Phổ Đà.
Thổi qua núi
Thổi qua vòng nước.
Mơn man.
Phật Quan Thế Âm.
Ánh kim quang mỏng manh
Ánh mặt trời ấm áp
Chỉ ra
Tiếng pháp cồng vang vọng.
Như đàn chim bay
Như đàn cá lượn
Hạnh phúc
Chính phút giây ngân nga này."*

Tôi nghe xong, như say như mê. 
Khúc hát này chỉ có cõi trời mới có. 
Diệu Âm Thiên Nữ nói với tôi:
"Lư Sư Tôn! Nếu cùng Diệu Âm hợp nhất thì thanh tịnh thân tâm, cũng là thiền đó."


### 14. **Hai Phật hiện toàn thân** 


Có hai vòng tròn ánh sáng cùng bay trên không, hai vòng ánh sáng này là vô lượng quang màu đỏ. 
Có khi, hai vòng ánh sáng này hợp lại.
Có khi, hai vòng ánh sáng này tách rời.
Gần như chiếm cả một nửa bầu trời, thậm chí có lúc là cả bầu trời đều nhuộm một màu đỏ, màu đỏ thấm đẫm một vùng rộng lớn, vô cùng tráng lệ.

Khi hai vòng tròn ánh sáng đỏ hạ xuống trên người tôi, tôi không cảm thấy nóng, chỉ cảm thấy một cảm giác mát mẻ.
Trong một sát-na, tôi nhìn thấy chủ nhân của tịnh quang màu đỏ này, tôi giật mình sửng sốt, không ngờ là:
A Di Đà Phật.
Trường Thọ Phật.
Hai Phật hiện toàn thân.
Hai Phật hiện hình tượng Phật, tóc búi cao, gương mặt tỏa ánh sáng, vừa rực rỡ vừa ấm áp.
Hai vị đều không gầy gò, khuôn mặt tròn đầy, dáng người không gầy không béo, nhưng rất mảnh mai, mỗi vị đều đứng trên một bông hoa sen màu đỏ.
Vị đứng trước kết định ấn.
Vị đứng sau tay cầm bình cam lộ.
Đương nhiên tôi biết Trường Thọ Phật là hóa thân của Phật A Di Đà, hai vị chỉ là một, nhưng phân ra làm hai. (Phật A Di Đà là Bổn tôn của tôi.)

Tôi lập tức đảnh lễ. 
Hai vị đưa tay đỡ tôi đứng dậy. 
Sau đó, tôi nhìn thấy Trường Thọ Phật hòa nhập vào trong thân của Phật A Di Đà, hai vị trong tích tắc đã biến thành một vị.
Phật A Di Đà hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Hôm nay ngài tu thiền được bao lâu?"
Tôi đáp:
"Hai mươi phút."
Phật A Di Đà nói:
"Một ngày hai mươi tư giờ, mà chỉ thiền có hai mươi phút?"
Tôi đáp:
"Xin lỗi! Hôm nay thực sự bận quá, tôi đã tới Lôi Tạng Tự cùng tu Hộ Ma Trường Thọ Tam Tôn (hỏa cúng), buổi tối rất muộn mới trở về nhà."
Phật A Di Đà hỏi:
"Buổi sáng thì sao?"
Tôi đáp:
"Tôi dành khá nhiều thời gian để cạo tóc, đi vệ sinh, ăn sáng, luyện tập mắt, luyện tập răng, luyện tập tai. Buổi sáng còn viết sách, làm các việc buổi sáng. Thế là cũng hết sạch cả buổi sáng rồi."
Phật A Di Đà hỏi:
"Ngài có niệm Phật không?"
Tôi đáp:
"Tôi thường niệm Phật trong lúc làm việc."
Phật A Di Đà gật gật đầu, nói:
"Lư Sư Tôn! Ngài biết cái chết là thế nào không?"
Tôi đáp:
"Già mà chết ư?"
Phật A Di Đà nói:
"Không phải là chết vì già, mà là các kiểu chết, ví dụ:
Vừa ra khỏi thai mẹ là chết!
Nhiễm trùng rất nhẹ cũng chết!
Trượt chân xuống hồ băng cũng chết!
Bị ngã mà chết!
Bị cháy mà chết!
Bị lở đất mà chết!
Bị động đất chôn sống!
Bị sặc chết, bị đâm xe chết, bị chém chết, bị ngã từ trên cao xuống mà chết,… và nhiều kiểu chết khác."
Tôi đương nhiên biết.
Phật A Di Đà nói:
"Ngài cần chuẩn bị cho cái chết mọi lúc mọi nơi, ngài đã chuẩn bị tốt chưa? Cần nỗ lực chuẩn bị nhiều hơn, một ngày không thể nào chỉ tu có hai mươi phút, ngài hiểu không?"
Tôi gật gật đầu.


### 15. **Làm sao để sống lâu**


Hai vị Phật hợp làm một, là Phật A Di Đà và Phật Trường Thọ hợp lại làm một vị. 
Sau khi dạy bảo tôi xong, khuôn mặt của Phật A Di Đà đột nhiên lại biến thành Phật Trường Thọ. Trên tay của Phật Trường Thọ cầm bình nước cam lộ.
Phật Trường Thọ hỏi thẳng:
"Lư Sư Tôn, ngài có muốn sống lâu không?"
Tôi có chút do dự.
Thứ nhất, Diêu Trì Kim Mẫu đã nói với tôi về thời điểm tôi sẽ chết.
Thứ hai, tôi sống lâu hơn để làm gì?
Thứ ba, tôi đã 75 tuổi rồi, ở tuổi này, sống lâu thêm nữa có thể làm gì nữa đây?
Bởi vậy tôi trầm ngâm im lặng, không đáp lại.
Phật Trường Thọ nói:
"Lư Sư Tôn! Rất nhiều đệ tử của ngài đều thay ngài thỉnh cầu, hy vọng ngài có thể sống lâu khỏe mạnh!"
Tôi hỏi ngược lại:
"Sống lâu vẫn có thể khỏe mạnh sao?"
Phật Trường Thọ nói:
"Người sống lâu phần lớn đều không thể khỏe mạnh. Nhưng cũng có người được chăm sóc tốt thì có thể khỏe mạnh."
Tôi hỏi ngược lại:
"Làm sao để khỏe mạnh?"
Phật Trường Thọ đáp:
"Y học tiến bộ, Mật pháp cao sâu, thân tâm thanh tịnh, sự tái sinh của tế bào, chức năng cơ thể mạnh hơn, nhập vào thiền định thậm thâm, việc "ngủ đông" của con người, ân từ của cõi trên ban cho…."
Tôi nói:
"Những việc này tôi cũng có biết đôi chút, nhưng, ân từ của cõi trên là cái gì?"
Phật Trường Thọ đáp:
"Là Phật Bồ Tát gia trì cho ngài!"
Tôi hỏi:
"Gia trì sống lâu có điều kiện gì?"
Phật Trường Thọ đáp:
"Chẳng có con người nào tránh được cái chết, xưa nay chẳng có. Nhưng sống lâu thì có thể được.
Có ba điều kiện lớn:
1. Ngài vẫn còn trách nhiệm chưa hoàn thành.
2. Ngài muốn sống lâu.
3. Ngài có được sự gia trì từ ý thức tối cao.
Nói cách khác là có sự mong muốn, nỗ lực và ân điển."
Tôi hỏi:
"Cái gì gọi là nỗ lực?"
Phật Trường Thọ đáp:
"Sống lâu bằng tự sức mình. Coi trọng các phương pháp khỏe mạnh, nỗ lực tập luyện."
Tôi hỏi:
"Cái gì gọi là ân điển?"
Phật Trường Thọ đáp:
"Là sự yêu mến của tha lực."
Tôi hỏi:
"Tha lực?"
Phật Trường Thọ đáp:
"Khi ngài liên kết với ý thức tối cao sẽ thấy rằng hành giả có được sự giúp đỡ vô hạn. Sức mạnh lớn lao và trí huệ vĩ đại sẽ cùng lúc được mở bung ra."
Phật Trường Thọ nói:
"Sự hóa hiện ở khắp mọi nơi sẽ liên kết với bệnh lâu năm trên thân thể ta mà hóa thành khói tan biến đi. Ngài có thể biến bệnh ung thư của người khác thành không còn, lẽ tự nhiên cũng có thể khiến chính mình sống lâu khỏe mạnh."
Phật Trường Thọ lại nói:
"Hãy thanh tịnh thân tâm đi! Chỉ cần tu hành cho thân tâm thanh tịnh, tự nhiên có thể sống lâu!"
Tôi hỏi:
"Làm sao để liên kết với ý thức tối cao?"
Phật Trường Thọ đáp:
"Thanh tịnh ý thức của chính mình!"


### 16. **Khuynh hướng**


Trong thiền định.
Lần tu thiền này, tôi có thể bay, việc bay đi bay lại của tôi rất duyên dáng, đó là tôi đứng và lướt bay nhẹ nhàng. 
Dưới chân tôi không có hoa sen. 
Tôi từ cửa bước ra ngoài, bỗng nhiên tôi thấy mình đứng trôi trên hư không. Phía trên thành phố, tôi bước đi trong hư không. Rất nhiều người trong thành phố ngẩng đầu nhìn tôi.
Tôi khiêu vũ trên đỉnh núi cao.
Tôi khiêu vũ trên mặt biển rộng.
Tôi muốn đến đâu liền bay đến đó.
Đây chính là "khiêu vũ trên không".

Tôi gặp Địa Tạng Vương Bồ Tát. Ngài ngồi trong vòng tròn ánh sáng, vòng tròn ánh sáng màu vàng, rực rỡ và tráng lệ.
Địa Tạng Vương Bồ Tát đội mũ miện Ngũ Phật, tay phải cầm tích trượng, tay trái nâng bảo châu, ngồi trên tòa hoa sen quý. 
Ngũ quan ngài thanh tú. 
Mắt nhìn xuống, khuôn mặt từ bi.
Ngài trông thấy tôi liền gọi:
"Lư Sư Tôn! Chào!"
Tôi nói:
"Chào ngài!"
Tôi hỏi:
"Ngài đang đi đâu đấy?"
Ngài đáp:
"Ta đặc biệt tới tìm ngài đây."
Tôi hỏi:
"Tìm tôi có chuyện gì à?"
Ngài đáp:
"Chẳng có chuyện gì cả!"
Tôi chưng hửng:
"Chẳng có chuyện gì thì ngài đi kiếm chuyện à!"
Ngài nói:
"Chỉ là tán gẫu thôi."
Tôi hỏi:
"Tán gẫu chuyện gì?"
Ngài đáp:
"Nói về khuynh hướng đi!"
Ngài hỏi tôi:
"Ngài có nhận thấy rằng, khi ngài đến gần một con chim, chim liền bay mất, khi ngài đưa ngón tay chỉ vào con cá, cá liền lặn đi mất không?"
Tôi đáp:
"Chính là như vậy."
Ngài nói:
"Đây chính là khuynh hướng, bởi vì mọi động vật đều sống trong nỗi sợ hãi, sợ hãi chính là bản chất của động vật."
Tôi hỏi:
"Bao gồm cả con người đúng không?"
Ngài đáp:
"Con người là động vật, nhưng cũng không phải là động vật. Chí ít là tư tưởng của con người cũng vượt trội so với động vật khác. Động vật khác sợ hãi là bởi vì mọi lúc mọi nơi chúng đều sợ bị ăn thịt."
Tôi nói:
"Động vật thuộc về chuỗi thức ăn, lại còn bị con người ăn chúng, động vật ngày ngày đều chạy trốn để khỏi bị ăn thịt."
Địa Tạng Vương Bồ Tát nói:
"Vì sao lại có lục đạo luân hồi, ngài biết chứ?"
Tôi nói:
"Tôi đã biết rồi, đó chính là do khuynh hướng."

Tôi phân tích:
Người tham lam, khuynh hướng sẽ rơi vào pháp giới ngạ quỷ.
Người sân hận, khuynh hướng sẽ rơi vào pháp giới địa ngục.
Người ngu si, khuynh hướng sẽ rơi vào pháp giới súc sinh.
Địa Tạng Vương Bồ Tát đáp:
"Phân tích của ngài mặc dù vẫn chưa bao quát hết, nhưng cũng gần gần như vậy. Lư Sư Tôn! Hãy nói cho con người biết đừng nên có những khuynh hướng tạo nghiệp này thì mới có thể giải thoát được!"


### 17. **Sự rực rỡ của ngọc lục bảo**


Một sát-na nhập vào thiền định, tôi chẳng có một chút cảm nhận nào, chẳng nhìn thấy cái gì, cũng chẳng nghe thấy cái gì, ngay cả một suy nghĩ cũng dừng lại (vô niệm).

Căn bản là tôi chẳng còn là tôi nữa.
Thể rắn biến thành thể lỏng.
Thể lỏng biến thành thể khí.
Thể khí biến thành sương khói.
Khói bị gió thổi tan đi.
Bởi vậy, hoàn toàn không còn tồn tại!
Chính là như vậy. Thời gian chẳng còn, không gian chẳng còn.
Dường như chính là:
Không.
Hư không rộng lớn.
Hoàn toàn trống rỗng.
Tất cả đều không.
Sau đó, tôi lại từ trong trạng thái "tất cả đều không đó", từ từ tôi có một sự nhận biết, sự nhận biết về một hương thơm rất tinh tế thanh cao mà chẳng thể nào dùng bút và mực để mô tả hình dung được. Mùi hương bao trùm lấy toàn thân tôi.
Trong phút chốc, ánh sáng tịnh quang màu ngọc lục bảo rực rỡ bốn phía ôm ấp lấy tôi, rất mật thiết, rất sâu đậm, sự gắn kết giống như keo như sơn, chẳng có điểm nào phân tách.
Mặt áp với mặt.
Ngực áp với ngực.
"Mật" áp với "mật".
Nàng giống như con bạch tuộc quấn chặt lên thân thể tôi, thế là tôi thể hội được cảm giác:
Sướng.
Rất sướng.
Cực sướng.
Sướng tuyệt đỉnh.
(Sướng chính là cực lạc.)

Tôi vốn là một tôn giả vô lậu, có thể trải nghiệm được "tứ Hỷ tứ Không", điều này người thế tục bình thường không có được.

🌟

Tôi chú ý đến nàng:
Mái tóc nàng dài đen mượt, phủ xõa trên hai vai tôi.
Cơ thể nàng đẹp đẽ duyên dáng.
Đôi mắt thanh xuân đẹp mê hồn.
Trên đầu đội mũ miện Ngũ Phật nhỏ xinh.
Những dải ruy-băng màu xanh lục diễm lệ buông dài hai bên.
Toàn thân đều có trang sức châu ngọc.
(Hoa tai, vòng cổ, vòng tay, lắc chân, phần eo lưng là đủ loại đá quý.)
Nàng là nữ thần.
Một nữ thần viên mãn tràn đầy.
Từ chính giữa hai chân mày, ánh sáng lấp lánh của bảy loại đá quý phát ra tám vạn bốn nghìn tia sáng chiếu khắp bốn phía. 
Tôi niệm văn cầu thỉnh của nàng:
"Tôi cùng chúng hữu tình
Thành tâm xin cầu thỉnh
Thánh tôn Lục Độ Mẫu
Trừ chướng ngại lâu nay
Tài phúc và trí huệ
Cầu gì đều như ý."

Nàng chỉ cần khẽ lắc cái eo thon nhỏ quyến rũ là tôi đã lập tức trải nghiệm được tứ Hỷ và tứ Không rồi. Cả người tôi đã biến đổi rồi.
Nàng nói:
"Ta thật sự rất yêu ngài."
Tôi nói:
"Ta cũng vậy."
Nàng nói:
"Lư Sư Tôn, ngài hiểu được tình yêu không?"
Tôi nói:
"Ta hiểu."
Nàng nói:
"Nói cho ta nghe xem!"
Tôi nói:
"Ta yêu trẻ nhỏ, yêu vợ con, yêu anh em, yêu người đời, yêu người có duyên, yêu người vô duyên, yêu kẻ thù oán ghét, yêu tất cả…."
Nàng nói:
"Đó là tình yêu thật sự!" (tình yêu lớn)


### 18. **Lục Độ Mẫu và tôi trò chuyện**


Chủ đề cuộc trò chuyện giữa Lục Độ Mẫu và tôi, chẳng ngờ lại là "tình yêu".
Lục Độ Mẫu nói:
"Tình yêu lớn của ngài là thật không?"
Tôi nói:
"Thật."
Lục Độ Mẫu nói:
"Nếu có một người đàn ông, từ đầu đến chân bốc mùi hôi thối, mắt đỏ ngầu, mũi thò lò, miệng hôi rình, da lở loét, chân ghẻ ngứa... Ngài sẽ thực sự độ hóa cho anh ta không?"
Tôi nói:
"Ta sợ nhất là người hôi miệng!"
Lục Độ Mẫu hỏi:
"Ngài có thể chịu đựng được người mà nội tạng thối rữa, từ đầu đến chân bốc mùi hôi thối, cứ lẽo đẽo lẵng nhẵng bên ngài nói suốt hai tiếng đồng hồ không?"
Tôi nghĩ, tôi thực sự chịu không nổi.
Lục Độ Mẫu nói:
"Người ta, Thánh Teresa ấy, xem tất cả người bệnh như Thượng Đế, cẩn thận tỉ mỉ chăm sóc chữa trị. Người ta, bác sĩ pháp y Dương Nhật Tùng ấy (*), còn dùng miệng nếm thử nước chảy ra từ thi thể người chết để tìm ra nguyên nhân chết, việc này ngài có thể làm được không?"
Tôi nói thật lòng:
"Khó quá!" (Tôi nghĩ đến đã muốn nôn rồi.)
Lục Độ Mẫu nói:
"Có một người con gái yêu ngài sâu sắc, ngài cũng yêu cô ấy sâu sắc. Sau khi trải qua thời gian rất dài, dây đàn đã chùng, nhạc khí cũng cũ rồi, âm thanh đã thay đổi.
1. Từ yêu thành thích.
2. Từ thích thành không thích.
3. Từ không thích thành ghét.
Lư Sư Tôn! Ngài liệu có hiện tượng này không?"
Tôi nói:
"Việc này ta sai rồi!"
Lục Độ Mẫu nói:
"Ngài không sai, bởi vì hiện tại thế giới con người mà ngài đang tồn tại chẳng có gì là cố định không biến đổi cả, tất cả đều biến hóa vô thường. Người thế tục cũng vậy, chỉ có thần thánh là ngoại lệ."
Tôi nói:
"Ta chỉ là một avatar thôi!" (người bán thần)
Lục Độ Mẫu nói:
"Ta không chỉ trích ngài, ngài là người siêu việt. Nhưng trên phương diện tình yêu thì ngài đúng là có khuyết điểm."
Tôi nói:
"Ta cần phải sửa đổi khuyết điểm của mình."
Lục Độ Mẫu nói:
"Vậy mới là tình yêu lớn!"
Lục Độ Mẫu lại nói:
"Ngài thường nói, trên báo bốn ơn sâu, dưới cứu ba đường khổ. Ngài có biết ba đường khổ là thế nào không?"
Tôi nói:
"Một, đường địa ngục đều là người khổ vì bệnh tật. Hai, đường ngạ quỷ đều là những kẻ mong cầu mà không được. Ba, đường súc sinh đều là những kẻ luôn sợ hãi."
Lục Độ Mẫu nói:
"Ngài làm thế nào để yêu họ đây?"
Tôi nói:
"Nói đơn giản là việc này khó như lên trời!"
Lục Độ Mẫu nói:
"Lư Sư Tôn, ngài chỉ có thể dùng tịnh quang để chiếu tới con người ở tam ác đạo, tạm hoãn lại những bệnh khổ, cho họ thức ăn, loại bỏ sự sợ hãi." (trao cho họ ánh sáng ấm áp)
Tôi nói:
"Tịnh quang của tôi thì sao?"
Lục Độ Mẫu nói:
"Tấm lòng từ bi và tình yêu lớn được thực hành một cách đúng đắn mới có khả năng phóng ra ánh sáng tịnh quang."

(*) Dương Nhật Tùng (1927 - 2011): là bác sĩ pháp y nổi tiếng người Đài Loan, ông đã có những đóng góp rất lớn vào việc tìm ra nguyên nhân của rất nhiều vụ án mạng hình sự tại Đài Loan, được mệnh danh là Dương Thanh Thiên, bởi ông là người ngay thẳng chính trực, mong muốn góp sức để tìm ra sự thật và công lý.


### 19. **Ba triệu thần binh**


Có người nói với tôi:
"Lư Sư Tôn! Ngài viết cuốn "Phật Đà mà tôi biết" rất rõ ràng dễ hiểu, đọc rất hay."
Tôi nói:
"Cảm ơn!"
Người này nói:
"Tôi muốn hiểu được Phật Đà, nhưng tôi đọc kinh điển cả nửa ngày trời mà vẫn chẳng hiểu được. Tôi đọc kinh thì đều thấy buồn ngủ."
Tôi nói:
"Kinh văn tốt nhất là dùng lời nói để giải thích, nếu đọc những bản dịch cũ thì không dễ gì để hiểu được."
Người này nói:
"Xin Lư Sư Tôn viết thêm nhiều sách về phương diện này!"
Tôi nói:
"Được."

🌟

Phật Đà từng nói với tôi:
"Ngài công khai cả ngày tháng năm sinh của mình trong sách, thế thì người khác rất dễ lấy đồ của ngài."
Tôi nói:
"Tôi đã công khai ngày tháng năm sinh của tôi từ rất lâu rồi, đó là giờ Ngọ ngày 18 tháng 5 năm 1945 Âm lịch. Nhưng người khác lấy cái gì của tôi?"
Phật Đà nói:
"Ví dụ, tóc, móng tay, mũ miện, long bào, nội y, giày... Rất nhiều người "thỉnh" các món đồ của ngài, do vậy, rất nhiều người sẽ làm bùa phép giáng đầu ngài, làm pháp, dùng bùa chú lên ngài, ngài hoàn toàn không nghĩ như vậy sao?"
Tôi nói:
"Đúng vậy."
Tôi nói tiếp:
"Tôi tin tưởng các đệ tử của tôi sẽ không làm như vậy."
Phật Đà nói:
"Ngài không thể tin được hết, tôi cũng có rất nhiều đệ tử phản nghịch, ngài cũng có rất nhiều đệ tử phản nghịch đó!"
Tôi nói:
"Tôi không đề phòng tâm địa con người."
Phật Đà nói:
"Ngài nên cảm ơn ba triệu thần binh ở xung quanh ngài."
Tôi nói:
"À! Tôi biết rồi, hóa ra là cả ngày lẫn đêm tôi đều được ba triệu thần binh bảo vệ tôi."
Phật Đà nói:
"Ngài còn có cả Đại Uy Đức Kim Cang, Bất Động Minh Vương, Đại Lực Kim Cang nữa!"
Tôi nói:
"Các vị thần Hộ pháp, thần Kim cang, thần binh thần tướng, tôi đều muốn triệu thỉnh, cúng dường, cung kính các vị."
Tôi hỏi ngược lại Phật Đà.
"Phật Đà! Ngài muốn tôi truyền dạy điều gì cho thế nhân?"
Phật Đà đáp:
"Thế nhân có rất nhiều tà tri tà kiến, tôi muốn Lư Sư Tôn hãy phá bỏ chúng!"
Tôi hỏi:
"Có thể lấy ví dụ không?"
Phật Đà nói:
"Ví dụ: rất nhiều người cho rằng chết là hết, sau khi chết cũng chẳng có kiếp sau. Còn nữa, trước khi sinh ra cũng chẳng có kiếp trước. Bây giờ tạo nghiệp, sau khi chết cũng sẽ chẳng phải nhận quả báo. Hại người hại mình cũng vẫn có thể tu thành chính quả. Dùng bùa ngải không bị xem như tạo nghiệp… Những điều đó đều là tà tri tà kiến, cần mau mau thức tỉnh thế nhân!"


### 20. **Luôn ở cùng Bổn tôn**


Tôi nghe được một câu chuyện. Câu chuyện này có tính chất khai sáng.

Có một người nọ là thanh niên trẻ tuổi, sống tại vùng nông thôn. 
Cha đã qua đời vì bệnh tật.
Mẹ già không còn khả năng làm việc. 
Anh ta đưa ra một lời ước nguyện, ước rằng đến được thành phố, học trường y khoa, sau khi học hành thành tài sẽ trở về quê hương phục vụ người già và người bệnh ở nông thôn. Nguyên nhân là ở vùng nông thôn đó ngay đến một bác sĩ cũng không có, người trong thôn già bệnh đều chẳng có ai đến chăm sóc cả.

Cuối cùng anh đã thi đỗ ba trường y khoa, nhưng trường nào cũng đều yêu cầu phải vượt qua bài kiểm tra nói mới có thể được nhập học.
Trường thứ nhất, kì kiểm tra nói anh không vượt qua được. (Bởi vì anh trả lời có chút ấp úng.)
Trường thứ hai, kì kiểm tra nói anh cũng không vượt qua được. (Bởi vì anh vội vàng quá nên đã trả lời sai.)
Đến kì kiểm tra nói ở trường thứ ba, bản thân anh tự cảm thấy rằng đã thất bại ở hai ngôi trường kia rồi, đến trường cuối cùng này nếu không thi đỗ, ước nguyện của anh cũng coi như tiêu tan. Bởi vậy anh rất lo buồn.
Ngồi trên tàu hỏa, anh nghĩ đến Thượng Đế, anh chắp hai tay lại, rất kiền thành cầu nguyện, hy vọng Thượng Đế sẽ giúp anh vượt qua kì thi nói, anh vừa cầu nguyện vừa rơi nước mắt.
Một người trung niên ngồi đối diện với anh nhìn anh bằng ánh mắt rất tò mò khi thấy người thanh niên này vừa cầu nguyện vừa khóc. 
Người trung niên hỏi người thanh niên:
"Khi anh cầu nguyện, vì sao nước mắt lại đầm đìa vậy?"
Người thanh niên xấu hổ kể rõ tường tận tỉ mỉ cho người trung niên nghe chuyện, người trung niên nghe xong rất cảm động.
Người trung niên nói:
"Thượng Đế đã nghe được lời thỉnh cầu của anh rồi! Chúc anh thi nói thành công."

Người thanh niên đến trường đại học. 
Có ba vị giáo sư phỏng vấn anh. 
Người thanh niên ngẩng đầu nhìn lên, không ngờ vị giáo sư ngồi ở giữa chính là người trung niên ngồi đối diện với anh trên tàu hỏa.
"Thật trùng hợp!"

Cuối cùng, người thanh niên đã vào học tại ngôi trường y khoa đó, sau đó tốt nghiệp với thành tích cực kì xuất sắc. Anh trở về quê hương khởi nghiệp, giúp đỡ dân làng. Những người già bị bệnh trong làng nay đã có được sự chăm sóc chu đáo thực sự.

🌟

Phật Thích Ca Mâu Ni nói với tôi:
"Ngài độ chúng sinh cũng như vậy."
Phật Đà nói:
"Ước nguyện của ngài là người người thành Phật."
Phật Đà còn nói:
"Ngài tinh tấn hoằng pháp, nỗ lực cũng đủ rồi."
Phật Đà lại nói:
"Ngài cũng từng ngày từng giờ ở cùng Bổn tôn, do vậy ngài sẽ thành công."
Phật Đà nói:
"Rất nhiều người có ước nguyện, cũng rất nỗ lực, nhưng thiếu mất lực gia trì từ thiên thượng, do vậy mà thất bại.
Thành công thực sự là:
Ước nguyện.
Nỗ lực.
Bổn tôn ban phúc.
Đây là ba điều kiện lớn và quan trọng của sự thành công."

À! Tôi đã hiểu rồi!
Đây chẳng phải là trời giúp, người giúp, tự mình giúp sao?
Trong sự nghiệp 50 năm hoằng pháp của tôi, chẳng phải là có rất nhiều sự "trùng hợp" sao? 
Rất nhiều hiện tượng thần thông, rất nhiều sự trùng hợp tình cờ không thể giải thích được.
Bổn tôn lúc nào cũng ở bên tôi, tôi có được rất nhiều rất nhiều ân từ!
Ôi! Vạn tuế! Vạn tuế! Vạn vạn tuế!


### 21. **Yêu kẻ thù của bạn**


Bản ghi chép này là cuộc đối thoại giữa tôi và Chúa Jesus.
Jesus nói:
"Hãy yêu kẻ thù của bạn!"
Tôi nói:
"Làm được rất khó."
Jesus nói:
"Chính vì làm được rất khó, nên mới gọi là tu hành."
Tôi hỏi:
"Có rất nhiều phương pháp tu hành, yêu kẻ thù của bạn cũng xem là tu hành sao?"
Jesus đáp:
"Chính xác."
Tôi hỏi:
"Giải thích thế nào?"
Jesus nói:
"Người có lòng thù hận thì không thể lên thiên đường."

🌟

Tôi đã hiểu rồi.
Tôi ngộ ra rồi.
Tôi nói:
"Bởi vì, một khi có kẻ thù, chắc chắn trở thành nguyên nhân của luân hồi!"
Jesus nói:
"Yêu kẻ thù của bạn là điều vô cùng quan trọng."
Tôi nói:
"Không còn một chút tức giận, không còn một chút sân hận, thì mới có thể giữ cho tâm hoàn toàn an bình, đây mới gọi là thiền."
Jesus nói:
"Ngài hiểu nhanh thật!"
Jesus giải thích:
1. Nếu không như vậy, chắc chắn sẽ luân hồi trong sinh tử.
2. Nếu không như vậy, trong lòng chắc chắn sẽ có oán ghét.
3. Nếu không như vậy, chắc chắn có gánh nặng.
4. Nếu không như vậy, chắc chắn có xung đột.
5. Nếu không như vậy, quang minh sẽ chẳng bao giờ chiếu tới.

Tôi nói:
"Nếu không có cách nào để yêu được kẻ thù của bạn, bạn chắc chắn sẽ phải chịu đựng nỗi đau, trong lòng bạn chắc chắn sẽ oán ghét và tràn đầy tâm lý muốn báo thù, tâm trí chẳng có cách nào thanh tịnh được, bạn nhất định sẽ bị quấy nhiễu."
Tôi lại nói tiếp:
"Bạn chắc chắn muốn tránh xa kẻ thù, nhưng, cứ cho là bạn tránh xa kẻ thù rồi, nơi ở mới chắc chắn lại sẽ có kẻ thù mới. Trên thực tế, bạn sẽ càng ngày càng gặp nhiều kẻ thù."
Tôi hỏi Jesus:
"Làm sao để yêu được kẻ thù của mình?"
Jesus đáp:
"Tha thứ!" - Còn nói: "Hãy khoan dung với kẻ thù của bạn!"
Tôi nói:
"Người bình thường không làm được sao?"
Jesus nói:
"Nhưng với người có chí, việc sẽ thành."
Jesus lại nói:
"Nếu không như vậy, bạn sẽ vĩnh viễn bị kẻ thù làm cho mệt mỏi, chẳng có cách nào để giải phóng mình được."
Tôi nói:
"Giống như tôi và Quỷ Bà vậy."
Jesus nói:
"Tha thứ cho bà ta! Khoan dung với bà ta! Nếu ngài khoan dung tha thứ cho bà ấy, bà ấy từ nay về sau sẽ bị loại bỏ ra khỏi tâm trí ngài, ngài mới có thể an bình thanh tịnh."
Tôi ngẫm nghĩ:
"Đúng vậy. Thực sự là vậy."
Jesus nói:
"Ngài không từ bỏ một chúng sinh nào, chính là như vậy."
Tôi hỏi:
"Jesus! Ngài có yêu kẻ thù của ngài không?"
Jesus đáp:
"Có. Bởi vì những gì mà họ làm, họ không biết."


### 22. **Thiên nhãn thông**


Tôi nghĩ đến một vấn đề. Vấn đề này đã tồn tại trong tâm trí tôi rất lâu rồi, chẳng có một vị guru nào có thể giải đáp được thắc mắc của tôi.
Tôi hỏi một pháp sư có tiếng.
Pháp sư nói:
"Vấn đề này, ngài đi tra trong kinh điển một chút sẽ hiểu thôi."
Tôi nói:
"Chính vì tôi đã đọc kinh điển rồi, không tìm thấy lời giải đáp, nên mới hỏi sư phụ."
Pháp sư nói:
"Đi! Đi! Đi! Ta… Ta… Ta… không trả lời ngài đâu. Sau này ngài sẽ hiểu."
Tôi rời khỏi ngôi chùa đó, bất lực bỏ đi.

🌟

Nhiều năm trôi qua. Cuối cùng tôi đã gặp được Phật Đà. Tôi hỏi Phật Đà:
"Tôi có một điều thắc mắc muốn hỏi Phật Đà, không biết có làm ngài giận không?"
Phật Đà đáp:
"Có việc thì hỏi, không cần do dự!"
Tôi hỏi:
"Khi Phật xuất thế, trái đất chịu sáu lần chấn động lớn, được gọi là Đông trồi Tây sụt, Tây trồi Đông sụt. Sự chấn động này chẳng phải đã làm hại vô số chúng sinh sao, chúng sinh chẳng phải thật tội nghiệp sao?"
Phật Đà đáp:
"Ngài có thắc mắc, tôi giúp ngài giải thích."
Phật Đà nói:
"Kinh Phật nói rằng, khi Phật nhập bào thai, Phật ra khỏi bào thai, Phật xuất gia, Phật thành đạo, Phật chuyển pháp luân, Phật nhập niết bàn. Sáu lần này đều có động đất lớn. Sáu phương chấn động là:
Đông trồi Tây sụt, Tây trồi Đông sụt, Nam trồi Bắc sụt, Bắc trồi Nam sụt, ngoài trồi trong sụt, trong trồi ngoài sụt.
Chấn động lớn có sáu biểu hiện:
Chuyển động, tuôn trào, rung lắc, gãy vỡ, ầm ầm, nổ tung.
Tôi nói:
"Chính là như vậy, sáu cơn chấn động lớn này khiến dân chúng làm sao có thể tránh khỏi tai ương, không biết chết và bị thương bao nhiêu nữa?"
Tôi nghĩ trong số động đất, lũ lụt, hỏa hoạn, cuồng phong, thì tai nạn động đất là kinh khủng nhất, số người chết và bị thương là nghiêm trọng nhất.
Tôi hỏi:
"Vì sao lại tàn nhẫn như vậy?"
Tôi hỏi:
"Đây chẳng phải là lợi ích chúng sinh, mà là giết hại chúng sinh sao?"
Phật Đà cười, rồi Phật Đà nói:
"Trái đất sáu lần chấn động, đây không phải là nói tới chấn động nhân gian. Mà là sáu lần chấn động lớn ở trên thiên thượng giới. Chỉ có người có "thiên nhãn thông" mới có thể biết và nhìn thấy được. Sáu lần này đều là các dấu hiệu báo hiệu điềm lành, là dấu hiệu cát tường. Thiên thượng giới chấn động, lập tức thiên nhân biết có Phật, Kim Tiên xuất thế rồi.
Đông trồi Tây sụt, Tây trồi Đông sụt. Chuyển động, tuôn trào, rung lắc, gãy vỡ, ầm ầm, nổ tung.
Chấn động một cái, rồi lại bình thường ngay! Giống như mây biến đổi vậy. Còn thiên nhân ở thiên thượng giới thì giống như em bé ngủ trong nôi vậy, sự rung lắc như vậy thì khiến họ dễ chịu hơn thôi. Bởi vậy mới nói, sáu cơn chấn động lớn này không phải là chỉ nhân gian, mà là chỉ thiên nhân ở thiên thượng giới. Chấn động là điềm lành, không phải là điềm xấu. (Tiếng trống lớn, tiếng chuông lớn.)
Người có thiên nhãn thông là biết ngay thôi!”


### 23. **Đo lường tương đối**


Tôi lại phát hiện ra một vấn đề nữa.

Tôi ở trong cõi địa ngục đã trông thấy một ngôi làng nhỏ. Đám ma quỷ sống tại ngôi làng này không ngờ là một tập hợp những linh hồn ma quỷ đã giết cha giết mẹ.
Tôi rất ngạc nhiên, bởi vì kinh Phật đã nói với chúng ta rằng:
Ngũ nghịch tội tức là:
Giết cha.
Giết mẹ.
Giết A La Hán
Làm thân Phật chảy máu.
Phá hòa hợp tăng.
Năm trọng tội này là những hành vi tội ác tột cùng, chỉ cần phạm vào một tội là lập tức đọa vào địa ngục vô gián, bởi vậy còn được gọi là nghiệp vô gián.
Vấn đề ở đây là:
Ngôi làng nhỏ đó là nơi ma quỷ giết cha giết mẹ sống, mà không phải là địa ngục vô gián. 
Địa ngục vô gián nghĩa là:
Chịu đau khổ liên miên không gián đoạn.
Chịu khổ không có ngày thoát ra.
Là địa ngục cực kì cực kì đau khổ.
Tôi còn thấy rằng, nơi đây sẽ là nơi mà tương lai Quỷ Bà sẽ tới, bởi vì bà ta đã phạm phải hai tội nặng:
Một là, làm thân Phật chảy máu — Bà ta lợi dụng ma quỷ, giết thầy diệt tổ.
Hai là, phá hòa hợp tăng — Bà ta chia rẽ tăng lữ trong Chân Phật Tông.
(Còn những tội khác, ví dụ như dùng ma quỷ hại người ta, giết huệ mệnh của con người, đe dọa để đoạt tiền, phá thai giết trẻ sơ sinh, buôn bán người.)

🌟

Tôi bị một vùng tịnh quang màu vàng bao trùm lấy. Chủ nhân của tịnh quang này không ngờ là tổ sư Tsongkhapa.
Tôi nói:
"Sao lại là ngài?"
Tsongkhapa nhếch nhếch khóe miệng, cười nói:
"Là vì trong tâm ngài có ta."
Tôi nói:
"Ngài đến có chuyện gì đấy?"
Tsongkhapa đáp:
"Vì ngài có nghi vấn nên tôi mới đến!"
Tôi hỏi:
"Nghi vấn gì?" (Chính tôi cũng quên mất.)
Ngài đáp:
"Trong cõi địa ngục có ngôi làng toàn ma quỷ giết cha giết mẹ đó, chẳng lẽ ngài lại có vấn đề gì mới khác hay sao!"
Tôi nói:
"À phải rồi."
Tổ sư Tsongkhapa giải thích:
Đây là sự đo lường tương đối.
Bình thường người giết cha giết mẹ là vì căm hận cha mẹ của chính mình (ác niệm cực đoan), cho dù cha mẹ đã có công dưỡng dục. Việc giết người này đương nhiên sẽ phải xuống địa ngục vô gián.
Nhưng, cũng có người vì những nguyên nhân xuất phát từ lòng tốt mà đã giết cha giết mẹ. Ví dụ, cha mẹ vì mắc bệnh nặng mà phải nằm liệt giường, đau tới mức không muốn sống nữa, mỗi ngày đau tới mức kêu trời kêu đất, thực sự muốn được chết nhưng vẫn không chết được. Cứ như vậy kéo dài nhiều năm, bác sĩ cũng bó tay. Những lời rên rỉ vì đau bệnh liên miên không dừng, khiến con cái đau lòng, bệnh cũng sẽ chẳng tốt lên. Bởi vậy, con cái đã quyết định để cho cha mẹ chết.
Giết cha mẹ chính là trọng tội, nhưng nguyên nhân từ thiện tâm mà giết cha mẹ, nên trên sự đo lường tương đối, thì đây không phải là trọng tội. Bởi vậy mà trong cõi địa ngục mới có ngôi làng của người đã giết cha giết mẹ.

Tôi nghe Hiểu rồi!
Hiểu rồi!
Đo lường tương đối hóa ra là như vậy. Ở đây có một bài học rất sâu sắc. Khởi tâm động niệm đều tạo ra nghiệp, nghiệp cũng có sự đo lường tương đối. Ví dụ giết một bác sĩ cứu người và giết một con chó hoang, đo lường tương đối chính là hai nghiệp này không giống nhau!


### 24. **Diêu Trì Kim Mẫu dạy về Nhận thức luận**


Bổn tôn Diêu Trì Kim Mẫu của tôi là một vị Kim Tiên của Đạo gia, ngự ở phương Tây, phương Tây thuộc về yếu tố kim, bởi vậy mới gọi ngài là Kim Mẫu.
Đạo gia có Ngũ Lão, tức là Mộc Công, Kim Mẫu, Thủy Thanh, Hỏa Đức, Trung Thổ, tương đương với Ngũ Phương Phật.

Ngũ Phương Phật là:

Ở trung tâm là Tỳ Lô Giá Na Phật.
Ở phương Đông là A Súc Phật.
Ở phương Tây là A Di Đà Phật.
Ở phương Nam là Bảo Sinh Phật.
Ở phương Bắc là Bất Không Thành Tựu Phật.

Diêu Trì Kim Mẫu là Đại La Kim Tiên từ thời thượng cổ, có thể xem như là Tiên Vương. Cõi tịnh thổ của ngài chính là Diêu Trì Tiên Cảnh. Lư Sư Tôn tôi đã từng đến cõi tịnh độ của Diêu Trì Kim Mẫu, nơi đây đẹp đẽ sánh ngang với cõi tịnh thổ Tây phương.

Tôi được chính Diêu Trì Kim Mẫu mở thiên nhãn, Diêu Trì Kim Mẫu là Bổn tôn đầu tiên mà tôi tương ứng. 
Cái gọi là tương ứng, nói một cách đơn giản, chính là mọi lúc mọi nơi đều ở cùng với Bổn tôn.
Rất nhiều cung điện có thờ phụng Diêu Trì Kim Mẫu. Pháp tướng của ngài là hình tượng Lão Mẫu, hoặc hình tượng trung niên.
Diêu Trì Kim Mẫu của tôi thì khác, ngài ở hình tướng mỹ nữ mười sáu tuổi.
Có người hỏi:

"Vì sao lại như vậy?"
Tôi đáp:
"Đại La Kim Tiên vốn không có hình tướng, mà là thiên biến vạn hóa, thế nhân làm sao có thể biết được. Do vậy, Diêu Trì Kim Mẫu của tôi đẹp như tiên trời, vẻ đẹp chẳng thể mô tả được."
Còn nữa, rất nhiều người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Vì sao người tốt thường chẳng sống lâu?"
"Lư Sư Tôn! Vì sao người tốt thường mắc ác bệnh, phải chịu giày vò đau đớn?"
"Lư Sư Tôn! Vì sao người tốt thường phải chịu khổ?"
"Lư Sư Tôn! Vì sao người tốt lại bị chết một cách thảm thương?"
Tôi ấp a ấp úng, bởi rất khó đưa ra câu trả lời. Tôi biết, đây là vấn đề nhân duyên quả báo, nhưng trong một lúc chẳng thể nói rõ.

🌟

Diêu Trì Kim Mẫu giải thích:
Nhân duyên quả báo có rất nhiều nguyên tắc:
1. Thiện có thiện báo. (nhân thiện xuất hiện trước)
2. Ác có ác báo. (nhân ác xuất hiện trước)
3. Thiện nhỏ quả báo lớn. (nhân thiện trở thành cây to)
4. Ác nhỏ quả báo lớn. (nhân ác trở thành cây to)
5. Thiện không có quả báo. (nhân thiện không lớn lên)
6. Ác không có quả báo. (nhân ác không lớn lên)
7. Thiện có ác báo. (nhân ác xuất hiện trước)
8. Ác có thiện báo. (nhân thiện xuất hiện trước)

Diêu Trì Kim Mẫu nói:
"Những nguyên tắc này là bắt nguồn từ suy nghĩ hoặc hành vi là thiện hay là ác, giống như tám nguyên tắc gieo trồng hạt giống vậy."
Còn nữa:
"Thiện báo, ác báo có phân biệt trước sau, lại có nhân quả nhiều kiếp, lại có nhân quả ba kiếp."
Còn nữa:
"Người tốt phải khổ, là bởi vì nhân ác từ kiếp trước đến trước. Người xấu hưởng phúc là bởi vì nhân thiện từ kiếp trước đến trước."
Còn nữa:
"Thiện không có quả báo, ác không có quả báo, là vẫn chưa đến lúc. Nếu nhân duyên đã đủ thì chắc chắn sẽ có quả báo."
Còn nữa:
"Nhân duyên quả báo đan xen phức tạp, con người bình thường không thể hiểu được, chỉ có người có túc mệnh thông mới có thể hiểu được."
Còn nữa:
"Nhân nhân quả quả của mỗi người là sự tích tụ trăm kiếp nghìn kiếp vạn kiếp, chỉ có Phật mới có thể biết được thôi."
Tôi nói:
"Đây chính là Nhận thức luận." (một phần của Nhận thức luận)


### 25. **Hành khúc sau khi kết hôn**


Có một câu chuyện cười.
Tiểu Mỹ hỏi mẹ:
"Mẹ ơi! Sau này làm sao con tìm được người bạn đời?"
Mẹ đáp:
"Phải là người đầu duyên!" [nghĩa là người tâm đầu ý hợp]
Tiểu Mỹ hỏi:
"Người đầu bẹt thì không được sao?" [Ở đây có sự chơi chữ, đầu duyên âm có âm là* tou yuan*, đồng âm với từ đầu tròn.]
Ha ha ha.

🌟

Có đệ tử hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Làm sao để con tìm được người bạn đời?"
Tôi trả lời:
"Phải là người đầu duyên!"
Đệ tử hỏi:
"Vì sao duyên phận của con đã lâu như vậy rồi mà vẫn chưa tới?"
Tôi trả lời:
"Vấn đề duyên phận, có người thì đến sớm, có người thì đến muộn, có người thì cơ bản là chẳng có duyên phận, có người thì cơ bản lại quá nhiều duyên phận…."
(Quá là phức tạp.)

🌟

Tôi hỏi Diêu Trì Kim Mẫu:
"Liên quan đến việc tìm bạn đời?"
Diêu Trì Kim Mẫu nói:
"Duyên phận đến thì bạn đời tự đến. Nhưng khi sống cùng với bạn đời thì cũng có rất nhiều trạng thái xảy ra.
1. Hoàn mỹ, nhiệt tình, thân mật, hưng phấn.
2. Tình cảm nhạt dần, chẳng còn hứng thú.
3. Việc sống cùng nhau chỉ còn lại là thói quen.
4. Tình cảm đã nguội lạnh như băng rồi.
5. Chiến tranh lạnh bắt đầu.
6. Thù ghét đối phương.
7. Sống riêng.
8. Ly hôn.
Ây! Ây! Duyên phận đã hết rồi!"

Diêu Trì Kim Mẫu còn nói:
"Thời nay, "hành khúc" sau khi kết hôn phần lớn đều là như vậy. Có lúc duyên phận dài hơn một chút, có lúc duyên phận ngắn hơn một chút. Người có thể sống với nhau đến đầu bạc răng long thì cũng bởi vì có các "điều kiện".
Điều kiện là:
Về kinh tế.
Về xã hội.
Về địa vị.
Về con cái.
Về sở thích.
Về công việc.
..."

Diêu Trì Kim Mẫu lại nói:
"Yêu và hận là cùng chung một nguồn gốc.
Yêu thông thường bị hiểu lầm là chiếm hữu, ỷ lại.
Yêu thực sự phải là sự chúc phúc.
Hận là:
Mong cầu mà không có được.
Không có được thứ mình muốn có.
Không thỏa mãn.
Thất bại.”

Tôi hỏi Diêu Trì Kim Mẫu:
"Làm sao để sống hòa thuận cùng bạn đời?"
Kim Mẫu đáp:
"Trước tiên cần phải hiểu mình và người bạn đời đang ở vào giai đoạn nào."
Tôi hỏi:
"Rồi có thể làm gì?"
Kim Mẫu đáp:
"Nghĩ cho người đó, đặt mình vào vị trí người đó."
Tôi hỏi:
"Việc này là sao?"
Kim Mẫu đáp:
"Cùng thấu hiểu, cùng cảm thông, cùng yêu thương. Cứ như vậy mà điều chỉnh."


### 26. **Bài học về mặt trăng**


Có một chuyện cười thế này:
Một người nọ vào tiệm mì, gọi một bát mì thịt bò. Người này cứ thế ăn, bỗng phát hiện ra chỉ có mì, chẳng hề có thịt bò.
Người này nói:
"Ông chủ! Trong mì thịt bò mà lại chẳng có thịt bò?"
Ông chủ khẩu khí rất tự tin nói:
"Ông ăn bánh mặt trời, bên trong có mặt trời không?"
Rồi bảo:
"Ông ăn bánh trung thu, bên trong có mặt trăng không?"
Người khách á khẩu.
Ha ha ha!

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) thường hỏi mọi người:
"Mặt trăng có Phật pháp không?" (Trên mặt trăng chẳng có một người nào sống cả.)
Mọi người nói:
"Không có."
Tôi hỏi:
"Trên mặt trăng có cái gì là thiện, có cái gì là ác không?"
Mọi người đáp:
"Không có."
Tôi hỏi:
"Trên mặt trăng có chuyện thị phi không?"
Mọi người đáp:
"Không có."
Tôi hỏi:
"Trên mặt trăng có giới luật không?"
Mọi người đáp:
"Không có."

Sau khi tôi hỏi xong những điều này, tự tôi luôn cảm thấy chúng có tính khai ngộ rất cao, bởi vì mặt trăng là một thế giới "vô", thế giới "không". Tôi muốn mọi người hiểu được:
"Hư không."
"Hư vô."

🌟

Một hôm, một vệt sao rạch ngang chân trời, vệt sao càng ngày càng lớn, trở thành một vòng tròn lớn, bên trong vòng tròn có Hư Không Tạng Bồ Tát đang ngồi. (Tôi vừa nhìn là nhận ra ngay, trên đầu ngài là mũ Tỳ Lô, tay phải cầm kiếm, ngồi tư thế hoa sen.)
Tướng mạo ngài từ bi nhưng vẫn mang vẻ trang nghiêm.
Hư Không Tạng Bồ Tát hỏi tôi:
"Ngài có biết vì sao con người mắc bệnh ung thư không?"
Tôi đáp:
"Do sát sinh."
Hư Không Tạng Bồ Tát hỏi:
"Ngài có biết vì sao con người nghèo khổ không?"
Tôi đáp:
"Do trộm cắp."
Hư Không Tạng Bồ Tát hỏi:
"Ngài có biết vì sao con người phải rơi vào đạo súc sinh không?"
Tôi đáp:
"Do tà dâm."
Hư Không Tạng Bồ Tát hỏi:
"Con người vì sao luôn không có lối thoát, cả đời đau khổ?"
Tôi đáp:
"Do vọng ngữ."
Hư Không Tạng Bồ Tát hỏi:
"Vì sao các mối quan hệ của con người luôn đầy thị phi không dừng dứt?" 
Tôi đáp:
"Do say rượu."
Hư Không Tạng Bồ Tát nói:
"Lư Sư Tôn! Những điều tôi hỏi, ngài trả lời một cách chuẩn xác nhất. Trả lời như vậy dù không sai, nhưng trong đó liên quan rất nhiều đến nhân duyên quả báo. Ngài không thể chỉ nói về cái "không" của Thứ tự viên mãn, cũng cần phải nói về cái "có" của Thứ tự sinh khởi. Như vậy mới có thể hoàn hảo được."


### 27. **Thiện Quang Như Lai**


Rất hiếm người biết về Thiện Quang Như Lai. Tuy vậy, trong sách của tôi, tôi đã từng nhắc đến ngài đôi chút rồi.
Ngài tỏa ra ánh sáng của trăm loại trân bảo, dạy con người tu hành từ những bước đi đầu tiên.
Tôi biết:
Vua Prasenajit (Ba Tư Nặc) có một người công chúa tên là công chúa Thiện Quang.
Tất cả các vị Phật được nói đến trong kinh điển, có một vị Phật tên là Thiện Quang.
Trong 88 vị Phật có một vị Phật tên là Kim Thiện Quang Phật.
...

Nhưng, vị Thiện Quang Như Lai mà tôi nói đến ở đây là Văn Xương Đế Quân, người sau khi thành tựu Phật quả đã lấy Phật hiệu này. 
Tôi từng thỉnh giáo Thiện Quang Như Lai một số vấn đề liên quan đến việc tu hành "hành thiện" như thế nào. Tôi kể lại như sau:
Tôi hỏi:
"Tôi có rất nhiều đệ tử kinh doanh nhà hàng, họ chẳng có cách nào tách mình ra khỏi công việc kinh doanh này, xin hỏi, làm sao để không sát sinh?"
Ngài đáp:
"Họ cần trì chú vãng sinh, trì chú để thay thế cho nghiệp sát của chính mình. Việc này tương đương với siêu độ cho những sinh linh bị giết chết, niệm càng nhiều càng tốt."
(Thiện Quang Phật vốn hy vọng những người mang nghiệp sát này có thể từ bỏ công việc này, nhưng thực tế họ không thể từ bỏ được, do vậy mới phải trì chú vãng sinh.)
Ngoài ra, ngài nói:
"Cũng cần phải bảo vệ sinh mệnh." (phóng sinh và bảo vệ)
Tôi nói:
"Vừa giết vừa bảo vệ, chẳng phải mâu thuẫn sao?"
Ngài đáp:
"Đây là giải pháp trong hoàn cảnh không có giải pháp nào cả!"
Tôi hỏi:
"Làm sao để không trộm cắp?"
Ngài đáp:
"Đây là vấn đề về tu dưỡng, cần phải bắt đầu từ việc giáo dục, rằng cái gì của người khác thì cần phải tôn trọng, bằng mọi giá không được lấy đồ của người khác. Cần phải nghĩ rằng nếu người khác lấy tài sản của mình thì mình sẽ cảm thấy thế nào?"
(Ngài còn nói: cần bố thí.)
Tôi hỏi:
"Làm sao để không tà dâm?"
Ngài đáp:
"Hãy đặt mình vào vị trí của người khác, mình có muốn bạn đời của mình đi với người khác không? Cần tôn trọng bạn đời của người khác."
(Thiện Quang Phật còn nói, trừ phi chính mình có khả năng, có thể dùng pháp song thân để độ hóa người tham dục trở nên thành tựu, còn lại những hoàn cảnh khác đều không được phép.)
Tôi hỏi:
"Làm sao để không vọng ngữ?"
Ngài đáp:
"Chỉ được nói sự thật." (trung thực)
Tôi hỏi:
"Làm sao để không nói lời hai lưỡi?"
Ngài đáp:
"Không nói lời khiến cả hai bên đều bị tổn thương, chỉ nên niệm Phật thôi."
Tôi hỏi:
"Làm sao để không ác khẩu?"
Ngài đáp:
"Dùng lời nói yêu thương để khắc chế ác khẩu." (dùng lời lẽ mềm mỏng)
Tôi hỏi:
"Làm sao để không nói lời ong bướm?"
Ngài đáp:
"Đừng buôn chuyện phiếm, điều nói ra phải là những lời có ý nghĩa." (Hãy tu pháp đi!)
Tôi hỏi:
"Nghiện rượu hoặc nghiện thuốc thì sao?"
Ngài đáp:
"Dùng sức mạnh ý chí để khắc chế, những việc làm tổn hại đến thân tâm của chính mình thì không được làm."
Tôi hỏi:
"...?"
Ngài đáp:
"Lư Sư Tôn! Kì thực ngài đã biết rõ hết rồi, nhưng nói ra cũng là để dạy cho những người khác có thể hiểu được vậy."


### 28. **Liên quan đến việc "đầu tư" của tôi**


Một ngày nọ, có một chuyên gia quản lý tài chính của ngân hàng ngồi trên ghế *sofa *trong phòng khách của tôi, còn tôi ngồi đối diện với cô.
Cô nói:
"Lư Sư Tôn! Việc đầu tư này là hoàn hảo nhất, tuyệt đối sẽ không có mất mát gì."
Cô còn nói:
"Nó tương tự một dạng gửi tiết kiệm, mỗi tháng có được rất nhiều lợi tức."
Cô lại nói tiếp:
"Việc đầu tư này còn không phải trả thuế nữa."
Cuối cùng, cô nói:
"Một kì là sáu năm, sau đó có thể tiếp tục."
Trước mặt tôi bày một đống lớn giấy và bút, tôi chỉ cần đọc nội dung cẩn thận một chút, cần bút ký tên, thế là việc đầu tư này như vậy là xong xuôi rồi.
Tôi không đọc nội dung, cũng chẳng cầm bút ký tên. 
Tôi chỉ cười.

Tôi có một suy nghĩ, năm nay tôi đã 75 tuổi rồi, cả cuộc đời làm sự nghiệp hoằng pháp này cuối cũng sắp đến hồi kết thúc. 
Tôi đã tự biết được thời điểm chết của mình, Diêu Trì Kim Mẫu đã nói cho tôi hay. 
Trong cuộc đời chẳng có cách nào tránh được việc này, khi thời điểm đó gần kề thì sẽ: 
Sinh bệnh.
Lão hóa.
Chết.

Tôi nói thẳng với chuyên gia quản lý tài chính:
"Tôi không biết đầu tư, tôi từ trước tới nay chẳng đầu tư gì."
Cô hỏi:
"Vì sao lại không chứ? Một vốn bốn lời đó!"
Tôi đáp:
"Tôi không cần tiền, tôi cũng sắp chết một cách vui vẻ rồi!"
Cô nói:
"Lư Sư Tôn! Ngài sẽ trường thọ! Ngài sẽ không chết đâu!"
Tôi đáp:
"Tôi tự biết thời điểm chết của mình, sẽ không sống lâu đâu. Mà kể cả sống lâu thì tôi cũng chẳng dùng gì đến tiền."
Cô nói:
"Có thể để lại cho con cháu!"
Tôi đáp:
"Con cháu tự có phúc của con cháu."
Cô nói:
"Đầu tư đi mà! Chỉ có lời mà không có mất, cũng không ảnh hưởng gì đến ngài!"
Tôi nói:
"Nói như vậy thì cũng có ý nghĩa gì đâu."
Cô nói:
"Người khác đều đầu tư đấy."
Tôi nói:
"Tôi rồi cũng sẽ chết, tranh đấu bất kì việc gì đối với tôi cũng đều là việc vô ích."
Chuyên gia quản lý tài chính nói:
"Thế ngài còn làm gì nữa?"
Tôi nói:
"Tôi chỉ đợi đến lúc thân tâm tôi phóng quang, cùng làm bạn với tất cả Phật Như Lai, đi đến thế giới khác!"
Cô nói:
"Tôi không hiểu!"
Tôi nói:
"Để tôi dạy cô Phật pháp nhé!"
Thế là cô ấy tức giận đùng đùng bỏ đi!

🌟

Thiện Quang Như Lai nói:
Việc tu hành tốt nhất là "hành thiện" và "bố thí", giúp người khác vui vẻ, giải tỏa những đau khổ của người khác, có được tác dụng trực tiếp. Dùng cách nghĩ trực tiếp, ví dụ:
Tập trung.
Sáng tạo.
Đơn thuần và vui vẻ.
Để đón tiếp "niết bàn" đến!


### 29. **Tôi hoàn toàn không có nhu cầu**


Mấy năm nay.
Tôi đã tiến tới thời điểm hoàn toàn không còn nhu cầu gì.
Tôi chủ yếu sống tại hai nơi. Từ tháng 5 đến tháng 11, tôi sống ở Mỹ, thành phố Seattle tại bang Washington. Từ tháng 11 đến tháng 4, tôi sống tại Đài Loan, thành phố Đài Trung.
Ở Seattle:
Ăn — tại Seattle Lôi Tạng Tự.
Mặc — trang phục Lama.
Ở — tại Nam Sơn Nhã Xá.
Đi lại — xe Maserati. (Tôi tự lái xe.)
Ở Đài Trung Đài Loan:
Ăn — đệ tử cúng dường.
Mặc — trang phục Lama.
Ở — tại tòa nhà chung cư bảy tầng.
Đi lại — xe Mercedes - Benz. (Thị giả lái.)

Ăn, mặc, ở, đi lại, hầu như tôi chẳng có yêu cầu gì. 
Tôi không cần đồ ăn đặc biệt. 
Tôi không cần các loại quần áo khác. 
Tôi không cần một nơi ở tốt hơn.

Ở Đài Loan, tôi không dám tự lái xe bởi vì ở Đài Loan nhiều xe cộ quá, xe máy, xe đạp, người đi bộ đều đông đúc. (Họ tương đối không tuân thủ quy tắc giao thông.) 
Ở Mỹ tôi mới tự lái xe, bởi đường rộng mà lại toàn xe ô tô. (Xe máy, xe đạp, người đi bộ đều rất hiếm gặp.)

Vì sao tôi lại "chạy qua chạy lại" giữa hai nơi? Bởi vì tôi thích mùa đông của Đài Loan, không thích mùa hè của Đài Loan.
Tôi thích mùa hè của Seattle, nhưng lại không thích mùa đông của Seattle. (Mùa đông của Đài Loan cũng gần như mùa hè ở Seattle.)
Ngoài ra, tôi ở Đài Loan hoằng pháp thì sẽ tiện lợi cho các đệ tử ở Đông Nam Á, Đông Bắc Á… Đệ tử ở Đài Loan rất nhiều.
Đệ tử ở Seattle tương đối ít, bởi vì việc xin được visa nhập cảnh vào Mỹ bị kiểm soát.

Trên phương diện cuộc sống, tôi đã đến mức độ hoàn toàn chẳng còn nhu cầu gì cả.
Danh đã đủ hài lòng.
Lợi đã đủ hài lòng.
Địa vị thì là người sáng lập Chân Phật Tông (Căn bản Thượng sư).
Sắc đã đủ hài lòng. (Tôi đã 75 tuổi rồi.)
Ăn đã đủ hài lòng.
Ngủ đã đủ hài lòng.
...
Tôi cũng chẳng cần phải cầu xin Phật Bồ Tát cho tôi cái gì nữa, tôi đã thỏa mãn, thỏa mãn, thỏa mãn rồi.
Bây giờ tôi chỉ còn "chờ chết"!
Ha ha ha!

🌟

Tôi chỉ muốn viết một bài thơ. Bài thơ này cũng là do Tài Nghệ Thiên Nữ (Diệu Âm Thiên Nữ) gợi ý cho tôi.

Tên bài thơ: Chỉ còn lại một con đường.

*"Đi xa
Về nước
Hành lý của tôi chẳng hề thay đổi
Không thêm không bớt
Cân lên
Như nhau.
Hành trình trên con đường này
Mỗi người đều cần một lần đi đến cuối cùng
Tôi nên nhẹ nhàng thư thái
Bởi vì
Chẳng có nhu cầu đặc biệt gì
Khác chi làn khói kia
Nhẹ tan."*


### 30. B**ốn bài thơ hiện đại**


**Xuyên việt**

*Trong một buổi tiệc tối
Một cô gái nói với tôi
Hiện đại đang lưu hành
Xuyên việt 
Tôi hỏi xuyên việt là gì
Cô đáp 
Thời không
Ồ
tôi hiểu rồi.
Không gian hiện tại.
Không gian quá khứ.
Không gian tương lai.
Tùng tùng tùng.
Chiêng trống nổi lên
Lại
Tùng tùng tùng.*

🌟

**Tôi là ai**

*Tôi hỏi người ta
Tôi là ai
Người khác thấy tôi tuyệt vời chẳng thể mô tả
Tự tôi cũng thấy xấu hổ
Tôi tự hỏi lòng mình
Phần nào biết được
(tôi là)
Xá Lợi Phất
Liên Hoa Sinh
Long Thụ
Naropa
Tsongkhapa
Còn nữa...
Diệu kỳ!*

🌟

**Một phù hiệu**

*Tôi chỉ là một tấm phù hiệu
Lư Thắng Ngạn chẳng phải là gì hết
Liên Sinh Hoạt Phật là con khỉ sống
Hoa Quang Phật
Đứng đầu ba nghìn vị Phật nhảy tưng tưng
Ai biết được
Cuộc đời ngày này qua ngày khác
Năm này qua năm khác
Một thế kỷ trôi qua
Lại một thế kỷ nữa
Thế là
Quên sạch.*

🌟

**Ha ha ha**

*Rốt cục tôi đã khai ngộ rồi
Trước khi khai ngộ
Tôi tuyệt vời chẳng thể mô tả
Trong khi khai ngộ
Tôi là con khỉ lăng xăng
Sau khi khai ngộ
Tôi hoàn toàn tĩnh tịch an yên
Bạn hỏi tôi
Khai ngộ là gì
Tôi...
Tôi...
Tôi...
Ha ha ha
Rốt cục tôi chết quách mất rồi!*


### 31. **Mọi thứ đều là khí**


Trong lúc tôi thiền quán.
Một dòng chảy tâm linh rất lớn từ trên đỉnh đầu dội xuống, chảy lan khắp đỉnh đầu, họng, tim, rốn, lỗ bí mật, tứ chi.
Toàn thân tôi hóa thành một ngọn núi.
Bất động.
Vững chãi.
Xung quanh thân thể tôi có một khối cầu ánh sáng bảy sắc cầu vồng, chuyển động rung rinh, ánh sáng tỏa khắp. 
Đây là một cảnh tượng vô cùng đẹp đẽ, khiến người ta không ngừng xuýt xoa cảm thán.

Tôi nghe thấy tiếng chú âm:
"Om ah ra pa cha na dhi."
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát hiện thân.
Tôi tụng bài kệ tán thán:
"Vẻ đẹp thanh xuân đầy trong sáng
Vòng ngọc trang nghiêm đèn bát nhã
Soi sáng ba cõi tối u mê
Đại trí Văn Thù tôi đảnh lễ."

Lúc này, ánh sáng phủ chiếu khắp toàn thân tôi. 
Tôi nghe thấy một câu nói rất nhẹ: 
"Mọi thứ đều là khí!"
Văn Thù Bồ Tát nói với tôi bí quyết thành công sáu pháp của Naropa.
1. Phowa khai đỉnh — khí lấp đầy lỗ trên đỉnh đầu.
2. Chuyết hỏa — dùng khí để thắp lửa ở luân xa rốn.
3. Huyễn quán — vận chuyển khí đi vào não.
4. Tịnh quang — vận chuyển khí tới minh điểm trắng và đỏ.
5. Mộng quán — khí theo vào cùng giấc mơ.
6. Quang uẩn thiên thức (ánh sáng tập trung lại để vận chuyển ý thức) — mệnh khí thoát ra khỏi lỗ đỉnh đầu.

Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nói với tôi:
"Mọi thứ đều là khí, nhưng cần phải tiến hành từng bước một cách rõ ràng."
Ngài còn nói:
"Khí không chỉ ở trên thân thể mỗi người. Khi sức mạnh của khí đủ lớn, ngài có thể ra khỏi chính mình để đi giúp đỡ bất kì người nào khác."
Ngài nói:
"Khí đạt đến cực điểm thì sẽ có hiện tượng khí hợp nhất cùng linh hồn, có cảnh giới thần hóa, khi đó có thể đến được tất cả mọi nơi trong pháp giới.
Ví dụ:
Bay trên trời.
Đi dưới biển.
Vào bên trong con người.
Vào được hang của động vật.
Biển lớn, rừng cây, các hang động dưới lòng đất.
Thành phố, thôn quê.
Các hành tinh khác.
Các cõi tịnh thổ."
Ngài nói:
"Trên báo bốn ân sâu, dưới giúp ba đường khổ, đây cũng là tác dụng của khí. Việc tu hành của ngài có sức mạnh giải thoát đau khổ và ban phát niềm vui. Ví dụ, ngài sờ đầu cho mọi người, ngài tập hợp mọi người lại, sắp xếp mọi người, chính là đang điều chỉnh lại khí của mọi người."
Ngài nói:
"Ngài dùng khí để bố thí, cống hiến, việc này cũng tương đương với phát bồ đề tâm rồi."
Tôi hỏi:
"Tu khí như thế nào (tu nguyên tố gió)?"
Văn Thù Sư Lợi đáp:
"Cửu tiết Phật phong, Kim cang tụng, Bảo bình khí. Liên kết minh điểm trắng đỏ, mở năm luân xa, phong mạch tỏa sáng, toàn thân phóng quang, quang khí đi đến thập phương pháp giới."
Tôi hỏi:
"Hành giả chúng ta có thể dùng quang khí để độ hóa chúng sinh sao?"
Ngài đáp:
"Đúng vậy." - Ngài nói: "Dùng quang khí để chiếu rọi chúng sinh, đến trên thân thể họ, dùng quang khí để hướng dẫn, đưa họ ra khỏi tam đồ, tiến vào trong ánh sáng rộng lớn hơn."


### 32. **Giữa người với người**


Tôi nhập vào thiền quán.
Tôi nhận thấy một vùng biển ánh sáng, trong biển ánh sáng có trùng trùng điệp điệp núi non, trùng trùng điệp điệp rừng trúc, trùng trùng điệp điệp cung điện, trùng trùng điệp điệp mây sương, trùng trùng điệp điệp ánh sáng màu sắc.
Vẻ đẹp huy hoàng lúc mặt trời lặn cũng chẳng thể so sánh được với vẻ đẹp của nơi đây.
Ráng chiều đỏ rực bầu trời cũng chẳng là gì.
Trăm hoa đua nở cũng thua sắc.
Đại dương rộng lớn xinh đẹp cũng đứng ngoài rìa.
...
Tôi chẳng có cách nào miêu tả được hết cảnh giới này, chỉ có thể nói rằng cảnh giới này chỉ có ở cõi trời mới có, nhân gian rất khó gặp được.

Có một tuyệt thế mỹ nhân xuất hiện.
Mái tóc đen buông dài.
Đôi mắt to sâu thăm thẳm.
Hình thể khỏe đẹp.
Có quang khí của tiên nữ.
Trang sức kiều diễm.
Khi nàng cười dường như cả thế giới đều đang cười.
Nàng cất giọng nói rất đỗi dịu dàng:
"Nơi đây là Phổ Đà Lạc Gia Sơn."
Tôi "a" lên một tiếng.
"Nàng là Quan Thế Âm Bồ Tát."
Nàng nói:
"Đúng vậy."
Nàng còn nói:
"Ta ở nhân gian chính là mẹ của ngài."
Tôi kinh ngạc:
"Hoàng Ngọc Nữ?" (Tôi gọi thẳng tên của mẹ tôi.)
Nàng nói:
"Đó là tên gọi ở nhân gian."

Có một khoảng thời gian tôi không gặp được mẹ tôi. Dù tôi có nghĩ thế nào cũng chỉ có thể nghĩ được hình dáng ở nhân gian của mẹ tôi thôi, nhưng dù nghĩ thế nào thì cũng chẳng thể tưởng tượng được là bây giờ bà lại có diện mạo như thế này.
Tôi hỏi:
"Phổ Đà Lạc Gia Sơn có bao nhiêu Quan Thế Âm Bồ Tát?"
Mẹ tôi đáp:
"Vô số."
Tôi hỏi:
"Mẹ có gì dạy bảo không?"
Mẹ tôi kéo tay tôi đi, tôi cảm giác trỗi lên một cảm xúc thân tình. Chúng tôi đi vào một cung điện rất lạ thường, quang ảnh rực rỡ, nơi đây đã tách biệt khỏi thế giới nhân gian rồi.
Người mẹ Quan Thế Âm Bồ Tát nói với tôi:
"Ta muốn dạy con chuyện giữa người với người."
Tôi nói:
"Việc này có gì hay để dạy?"
Mẹ tôi nói:
"Đừng coi thường vấn đề này. Giữa người với người chẳng bao giờ tồn tại chuyện không có xung đột, tất cả đều hoàn mỹ đâu."
Tôi nói:
"Việc này con biết, con người với nhau rất khó hòa hợp."
Mẹ tôi nói:
"Người ta tranh chấp với con, mỉa mai, tức giận, phẫn nộ với con, con sẽ làm gì?"
Tôi đáp:
"Nhẫn nhục!" (một trong lục độ)
Mẹ tôi nói:
"Như vậy cũng được. Nhưng, ngược lại, con cũng cần xem người khác như chính mình."
Tôi hỏi:
"Vì sao vậy?"
Mẹ tôi nói:
"Nhân gian không có một quan điểm đồng nhất. Mỗi con người là do nhiều nhân tố tổng hợp lại mà thành, ví dụ như hoàn cảnh sinh ra, thời thơ ấu, khí hậu sinh sống, thức ăn, môi trường xung quanh… Mỗi người là một cá thể. Bởi vậy con cần phải học được trong sự tranh chấp, mỉa mai, tức giận và phẫn nộ, để tìm ra sợi dây liên kết giữa con và người khác. Cần từ tốn học tập như vậy mới có thể hoàn thiện được."
Tôi nghe xong, chẳng thể nói gì hơn.
Tôi cảm tạ lời dạy vĩ đại của mẹ.


### 33. **Người mẹ Quan Thế Âm Bồ Tát của tôi dạy**


Mẹ tôi (Hoàng Ngọc Nữ) bây giờ là Quan Thế Âm Bồ Tát.
Mẹ nói:
"Mỗi người, bởi các nguyên nhân như hoàn cảnh sinh ra, thời thơ ấu, trường học, thầy cô, bạn học, bạn bè, nghề nghiệp, gia đình, con cái... Khác nhau, do vậy hành vi, suy nghĩ đều khác nhau. Bởi vậy mà sinh ra đủ mọi vấn đề giữa người với người."
Tôi nói:
"Con hiểu."
Mẹ nói:
"Thế nên, lời dạy của ta, con nên hiểu rõ, không chỉ có mỗi nhẫn nhục là đủ đâu."
Tôi nói:
"Con đã hiểu rồi."
Mẹ nói:
"Người ta tranh chấp, mỉa mai con, con phải làm sao?"
Tôi nói:
"Coi như gió xuân thổi nhẹ qua."
Mẹ nói:
"Người ta tức giận, phẫn nộ với con, con phải làm sao?"
Tôi nói:
"Coi như nghe khúc nhạc giao hưởng."
Mẹ nói:
"Con thể hiện cảm xúc thế nào?"
Tôi đáp:
"Chăm chú lắng nghe!"
Mẹ nói:
"Người ta đánh con, con phải làm sao?"
Tôi đáp:
"Người ta đánh vào má bên trái, con sẽ đưa má phải cho họ đánh nốt."
(Điều này Chúa Jesus đã từng nói đến, tôi đã hiểu rõ.)
Mẹ nói:
"Những điều này con đều cần thực sự làm được."
Tôi nói:
"Con lúc nào cũng luôn nỗ lực."
Mẹ nói:
"Mẹ nói cho con một khẩu quyết quan trọng, khi con bị người ta lừa gạt và khinh thường con, con cần luôn nghĩ đến ưu điểm của người này. Hãy chú ý đến tài năng thiên bẩm chắc chắn có ích, con cần phải nghĩ đến ưu điểm của người đó."
Tôi nói:
"Cảm ơn mẹ chỉ dạy."
Mẹ nói:
"Cho dù chỉ có một tí xíu ưu điểm, con cũng cần phải nghĩ đến điều đó."
Tôi nói:
"Vâng ạ."
Mẹ nói:
"Hãy nhớ kĩ! Kết nối ưu điểm của mỗi người chính là độ chúng sinh."

Tôi nói:

"Con đã hiểu!"

Mẹ nói:

"Tấm lòng đại từ đại bi của Quan Thế Âm Bồ Tát là không từ bỏ một chúng sinh nào, bình đẳng cứu độ tất cả."
Tôi nói:
"Con thực sự hiểu rồi!"
Mẹ nói:
"Lời thề nguyện của con là không từ bỏ một chúng sinh nào, trên phương diện này con vẫn còn phải học nhiều hơn nữa."
Tôi nói:
"Đúng vậy." - Tôi nói tiếp: "Mẹ à! Quan Thế Âm Bồ Tát, con muốn trở về Ma Ha Song Liên Trì, mẹ nhất định phải đến đón con."
Mẹ nói:
"Mẹ luôn ở bên con. Đón nhận cả vô số thánh chúng của con!"
Mẹ nói:
"Mẹ phải đi rồi! Bảo trọng!"
Tôi cảm tạ sự chỉ dạy của mẹ!
Thực sự cảm động quá!


### 34. **Phật Đà dạy tôi nhận thức về "cái khổ"**


Phật Đà hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn, ngài có biết cái khổ của con người không?"
Tôi đáp:
"Tôi biết có ba khổ, tám khổ và vô số loại khổ khác."
Phật Đà hỏi:
"Thế nào ba loại khổ, tám loại khổ?"
Tôi đáp:
"Trước hết tôi nói về tám khổ, đó là sinh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, mong cầu mà không được là khổ, yêu mà phải xa cách là khổ, oán hận là khổ, bị ngũ uẩn thiêu đốt là khổ. Ba khổ là: khổ khổ [khổ vì những cái khổ của thế tục], hoại khổ [khổ vì sự thay đổi], hành khổ [cái khổ bao trùm tam giới sáu cõi].”
Phật Đà hỏi:
"Nguyên nhân của cái khổ là gì?"
Tôi nói:
"Xin ngài nói rõ."
Phật Đà đáp:
"Là vì chúng ta đem đến đau khổ cho người khác, nguyên nhân chính là như vậy. Sau đó, ngay chính mình cũng sẽ đau khổ."
Tôi hỏi:
"Đây là vòng tuần hoàn của khổ nhân khổ quả sao?"
Phật Đà nói:
"Đúng vậy."
Tôi nói:
"Thì ra căn nguyên thật sự của tất cả mọi đau khổ chính là việc chúng ta làm cho người khác đau khổ."
Phật Đà nói:
"Chính xác là như vậy." - Phật Đà còn nói: "Giờ đây ngài độ chúng sinh, ngài dùng tâm gì?"
Tôi đáp:
"Tâm từ bi! Tâm bồ đề!"
Phật Đà hỏi:
"Ngài là tự học không cần thầy dạy sao?"
Tôi đáp:
"Không phải. Điều này là Thượng sư của tôi dạy."
Phật Đà nói:
"Thượng sư của ngài là bậc thiện tri thức chân chính."
Tôi nói:
"Phật Đà, tôi nên cho chúng sinh cái gì?"
Phật Đà hỏi ngược lại:
"Ngài cho chúng sinh cái gì, ngài tự mình nói xem?"
Tôi nói:
"Phật pháp."
Phật Đà:
"Mới chỉ tạm được."
Tôi lại nói:
"Cho chúng sinh niềm vui, giải trừ bệnh khổ, làm cho con người mãi mãi hạnh phúc, bình đẳng cứu độ."
Phật Đà nói:
"Những việc này là biểu hiện bên ngoài."
Tôi lại nói:
"Cho chúng sinh tình yêu, yêu chúng sinh."
Phật Đà nói:
"Cho chúng sinh một ngọn đèn, chỉ dẫn họ đến nơi không còn đau khổ nữa."
Tôi nói:
"Tôi hiểu ra rồi!" - Tôi rất sung sướng.
Phật hỏi:
"Ngài có thể trở thành một Thượng sư chân chính như thế nào?"
Tôi đáp:
"Trước tiên tôi tu tam nghiệp thanh tịnh, để làm cho tôi thanh tịnh. Chúng ta còn cần yêu người khác hơn cả yêu chính bản thân mình."
Phật hỏi:
"Ngài làm sao để yêu chính mình và còn yêu người khác hơn thế nữa?"
Tôi đáp:
"Tôi tu pháp xả thân của Mã Cát Lạp Tôn đó!"


### 35. **Tịnh quang màu xanh lam của Dược Sư Như Lai**


Khi Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật đến gần tôi, tôi cảm nhận được tịnh quang màu xanh lam của ngài bao trùm lấy tôi.
Tôi nghĩ đến:
Mỗi ngày thứ bảy, sau pháp hội tại Đài Loan Lôi Tạng Tự, tôi lại sờ đầu cho từng đệ tử. Lúc sờ đầu, đệ tử xếp thành hai hàng, tay phải và tay trái tôi đều hoạt động, lần lượt sờ đầu gia trì từng người một. Nói chung, thời gian sờ đầu thường kéo dài một tiếng, có đôi lúc kéo dài tới hai tiếng. Cảnh tượng này cũng tương đối ấn tượng.

Tôi phát hiện ra một thực tế. Những đồng môn chờ được sờ đầu này có rất nhiều người phải chịu khổ vì tuổi già, chịu khổ vì bệnh. Trong lòng tôi cảm thấy xót xa!

🌟

Tôi kính lễ Dược Sư Như Lai, tôi nói:
"Chúng sinh có bệnh, tôi có bệnh."
Dược Sư Phật hỏi tôi:
"Ngài có niềm tin rằng có thể chữa khỏi bệnh của mỗi đồng môn không? Bằng việc sờ đầu của ngài?"
Tôi trả lời thật lòng:
"Không thể!"
(Cho dù là bác sĩ cũng chẳng thể chữa khỏi bệnh cho một trăm phần trăm bệnh nhân.)
Dược Sư Phật hỏi:
"Có đồng môn thì vừa được sờ đầu đã khỏi, có đồng môn thì vừa được sờ đầu đã có cải thiện, cũng có đồng môn phải sờ đầu nhiều lần mới đỡ. Rồi cũng có đồng môn dù có sờ đầu thế nào cũng chẳng khỏi được, ngài có biết vì sao không?"
Tôi đáp:
"Là bởi nghiệp lực!"
Dược Sư Phật nói:
"Đúng vậy. Nghiệp lực phân ra có nặng, vừa, nhẹ, ngoài ra còn rất nhiều các nhân tố khác nhau, khiến cho việc sờ đầu của ngài chẳng thể phát huy 100% công lực."
Tôi nghe xong, lòng đầy u buồn. Dược Sư Phật nói:
"Ngài cũng không cần phải tiêu cực. Ngài chỉ cần tận lực là được rồi. Phần lớn người ta chẳng quan tâm đến bệnh tật của người khác, hoặc nếu có quan tâm một chút thì cũng chỉ là một kiểu lịch sự mà thôi."
"Chăm chú lắng nghe người già nói chuyện về bệnh tình của họ, nhưng nghe xong rồi thì cũng thờ ơ coi như chẳng ảnh hưởng gì đến mình."
Tôi gật gật đầu.
Dược Sư Phật nói:
"Người già nói thao thao bất tuyệt về bệnh tình của họ, người khác chỉ là nghe và biết thế thôi. Nhưng người ta có nghĩ được rằng, đến khi chính họ già và ốm bệnh, họ cũng sẽ rơi vào tình cảnh giống như vậy thôi."
Tôi nói:
"Đúng vậy."
Dược Sư Phật nói:
"Lư Sư Tôn! Ngài cần phát tâm chân thành mà cầu nguyện ta!"
Tôi nói:
"Phải rồi."
Dược Sư Phật nói:
"Ngài muốn dùng sức mạnh sinh mệnh của chính mình để sờ đầu gia trì cho người bệnh sao?"
Tôi nói:
"Đúng vậy."
Dược Sư Phật nói:
"Tự lực cộng thêm tha lực, có như vậy việc sờ đầu gia trì này mới có đủ lực được!"
Tôi nói:
"Đúng vậy. Thực tế là tôi đã làm như vậy."
Dược Sư Phật nói:
"Không thể rút lại việc mà ngài đã phát tâm lúc buổi đầu. Việc phát tâm dài hạn sẽ giúp ngài trưởng thành. Hành động ban phát giúp đỡ chúng sinh của ngài sẽ có được sự gia trì của Phật Bồ Tát, sức mạnh sẽ càng tăng lên."
Tôi cảm tạ Dược Sư Phật.
Dược Sư Phật nói:
"Không được quên bệnh khổ của chúng sinh!"
Tôi cảm tạ Dược Sư Phật, ngài đã dạy tôi về cái tâm chân thành.


### 36. **Phật Đà dạy "tam luân thể không"**


Sáu ba-la-mật (lục độ) là:
Bố thí (dana).
Giữ giới (sila).
Nhẫn nhục (santi).
Tinh tấn (virya).
Thiền định (dhyana).
Trí huệ (prajna).

"Tam luân thể không" là:
Dựa trên việc bố thí mà nói, thì người bố thí, người nhận bố thí, bất kì vật gì dùng để bố thí, được gọi là tam luân.
Khi bố thí, nếu trong tâm có tam luân, thì là hữu tướng bố thí.
Khi bố thí, nếu trong tâm không có tam luân, thì là vô tướng bố thí.
Vô tướng bố thí là tam luân thể không, tức là bố thí ba-la-mật.
[Tam luân thể không là không thấy có người bố thí, không thấy có người nhận bố thí, không thấy có tài vật bố thí.]

🌟

Phật Đà hỏi:
"Lư Sư Tôn! Ngài có giữ giới không?"
Tôi đáp:
"Có giữ!"
Phật Đà hỏi:
"Ngài giữ giới như thế nào?"
Tôi đáp:
"Mắt không nhìn sắc đẹp, tai không nghe âm thanh, mũi không ngửi hương thơm, lưỡi không nếm mùi vị, thân không chạm tiếp xúc, ý không nghĩ lung tung."
Phật Đà nói:
"Ngài nói dối! Phạm giới vọng ngữ rồi đó!"
Tôi nói:
"Tôi cố gắng làm hết mức có thể, tôi cũng không phải là thánh nhân!"
Phật Đà nói:
"Mật giáo tu thân, khẩu, ý thanh tịnh, kì thực chính là tu giới thân, khẩu, ý. Ở đây đã bao gồm tất cả rồi."
Tôi nói:
"Tôi dạy Chân Phật Mật Pháp chính là dạy về thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh."
Phật Đà hỏi:
"Ngài biết gì về phương diện liên quan đến giới?"
Tôi đáp:
"Giới lực, giới hạnh, giới phẩm, giới tướng, giới kinh, giới học, giới thể, giới định huệ………"
Phật Đà nói:
"Những gì mà ngài vừa nói chỉ là phạm vi của giới thể mà thôi."
Phật Đà hỏi:
"Vì sao cần phải xem trọng giới luật?"
Tôi đáp:
"Phật giảng rằng hãy lấy giới luật làm thầy, điều này chính là đặc biệt coi trọng giới luật."
Phật Đà nói:
"Không sai. Bởi vì từ giới mà sinh ra định, bởi vì từ định mà sinh ra huệ, bởi vì từ huệ mà thể nghiệm được tính Không."
Tôi nói:
"Phật Đà chính là đang dạy tôi về Tam luân thể không của giới luật đó."
Phật hỏi:
"Cái gì là tam luân của giới?”
Tôi đáp:
"Giới thể, giới kinh, giới hạnh."
Phật Đà hỏi:
"Có công đức hay không?"
Tôi đáp:
"Chẳng có công đức gì!" (sáu ba-la-mật là công cụ)
Phật Đà nói:
"Nếu dựa theo Thứ tự sinh khởi thì là có công đức, còn nếu dựa theo Thứ tự viên mãn thì chẳng có công đức."
Tôi nói:
"Tôi đã hiểu rồi!" (giới mà cũng là không có giới)

🌟

Phật Đà căn dặn tôi:
Giới kinh, giới thể, giới hạnh là tam luân.
Khi việc giữ giới đạt đến mức độ nhất cử nhất động đều là giới hạnh, thì sẽ thể hội được giới cũng là không. Tức là tam luân thể không.
Tôi nói:
"Trên mặt trăng thì cái gì là giới?" (Câu hỏi này xin nghĩ kĩ.)
Phật Đà nói:
"Ngài đúng là đồ trẻ con!"
Thế rồi Phật cười.


### 37. **Khai thị tuyệt đỉnh**


Theo tôi được biết, Phật ở địa thứ mười sáu trong Phật giáo được gọi là:
Bản Sơ Phật.
A Đạt Nhĩ Mã Phật.
Phổ Hiền Vương Như Lai.
Tịnh Quang Bí Mật Phật.
Nguyên Thủy Phật.
...

Phật ở địa thứ mười ba chính là:
Tỳ Lô Giá Na Phật.
Đại Nhật Như Lai.
Kim Cang Đỉnh Phật.
Tiếp theo là:
A Súc Phật.
A Di Đà Phật.
Bảo Sinh Phật.
Bất Không Thành Tựu Phật.
(Ngũ phương ngũ Phật)

🌟

Lư Thắng Ngạn tôi trong lúc thiền định đã từng có được "mật ngữ" của Bản Sơ Phật. Tôi cho rằng đây là khai thị tuyệt đỉnh.
Tôi kể ra đây như sau.
Bản Sơ Phật hỏi:
"Cái gì là Thường?"
Tôi đáp:
"Trời xanh vạn dặm là Thường."
Bản Sơ Phật hỏi:
"Cái gì là Lạc?"
Tôi đáp:
"Trời xanh vạn dặm, gió trăng mỗi ngày mỗi khác." [Vạn lý thanh không, nhất triêu phong nguyệt, vế sau bắt nguồn từ câu thiền ngữ "vạn cổ trường không, nhất triêu phong nguyệt" xuất phát từ ngài Sùng Huệ.]
Bản Sơ Phật hỏi:
"Cái gì là Ngã?"
Tôi đáp:
"Một giọt nước rơi vào biển lớn."
Bản Sơ Phật hỏi:
"Cái gì là Tịnh?"
Tôi đáp:
"Quan niệm là Tịnh."
Bản Sơ Phật nói:
*"Like! Like! Like!"* [Nguyên văn Hán Việt là "tán", cũng là tiếng lóng chỉ nút "Like" được dùng trong mạng xã hội Facebook.]

Bản Sơ Phật hỏi tôi:
"Vì lẽ gì mà Phật Thích Ca Mâu Ni nói "vô ngã tướng"?"
Tôi đáp:
"Mọi thứ có hình tướng đều là huyễn."
Bản Sơ Phật hỏi:
"Cái gì là huyễn?"
Tôi đáp:
"Là hữu vi pháp."
Bản Sơ Phật hỏi:
"Vì sao Phật Thích Ca Mâu Ni nói "vô nhân tướng"?"
Tôi đáp:
"Như mộng huyễn ảo ảnh."
Bản Sơ Phật hỏi:
"Vì sao Phật Thích Ca Mâu Ni nói "vô chúng sinh tướng"?"
Tôi đáp:
"Như sương cũng như điện."
Bản Sơ Phật hỏi:
"Vì sao Phật Thích Ca Mâu Ni nói "vô thọ giả tướng"?"
Tôi đáp:
"Một giờ cũng là không."
Bản Sơ Phật nói:
*"Like! Like! Like!"*

🌟

"Mật ngữ" của Bản Sơ Phật là:
Hễ có suy nghĩ là tạo nhân.
Không phải thiện nhân.
Mà là ác nhân.
Lư Sư Tôn lấy "vô niệm" làm Chính giác Phật bảo.
Thiện tai! Thiện tai!
*Like! Like! Like!*


### 38. **Giác hạnh viên mãn?**


Theo phân tích chung thì:
Giữ năm giới — người.
Làm mười điều thiện — trời.
Tu tứ đế — A La Hán.
Sáu ba-la-mật — Bồ Tát.
Tự giác —   Độc giác.
Tự giác giác tha — Kim Tiên. (Bồ Tát)
Giác hạnh viên mãn — Phật.

Tôi hỏi Bản Sơ Phật:
"Thế nào là một vị Phật giác hạnh viên mãn?"
Bản Sơ Phật đáp:
"Đã giác ngộ, hơn nữa còn thực hành hạnh bồ đề, đạt đến cảnh giới viên mãn, là Phật."
Tôi hỏi:
"Bố thí có thể viên mãn được không?" (viên mãn chúng sinh)
Bản Sơ Phật đáp:
"Không thể."
Tôi hỏi:
"Giữ giới có thể viên mãn được không?"
Bản Sơ Phật đáp:
"Không thể."
Tôi hỏi:
"Nhẫn nhục có thể viên mãn được không?"
Bản Sơ Phật đáp:
"Không thể."
Tôi hỏi:
"Tinh tấn có thể viên mãn được không?"
Bản Sơ Phật đáp:
"Không thể."
Tôi hỏi:
"Thiền định có thể viên mãn được không?"
Bản Sơ Phật đáp:
"Không thể."
Tôi hỏi:
"Trí huệ có thể viên mãn được không?"
Bản Sơ Phật đáp:
"Không thể."
Tôi nói:
"Tôi cũng biết là không thể. Bởi vì cho dù bố thí thế nào thì thế gian cũng vẫn có người nghèo. Cho dù có giữ giới thế nào thì thế gian vẫn có người phạm tội sát sinh. Cho dù có nhẫn nhục thế nào thì thế gian vẫn có tranh đấu. Cho dù có tinh tấn thế nào thì thế gian vẫn có người bất tín. Cho dù có thiền định thế nào thì thế gian vẫn có người tán loạn. Cho dù có trí huệ thế nào thì thế gian vẫn có người ngu si."
Bản Sơ Phật nói:
"Giác hạnh viên mãn, chẳng phải bên ngoài."
Tôi hỏi:
"Vậy là chỉ điều gì?"
Bản Sơ Phật nói:
"Bên trong."
Tôi cười:
"Vậy thì thế nào là cứu độ chúng sinh, là sự viên mãn của
hạnh?"
Bản Sơ Phật đáp:
"Thực sự cũng đã bố thí hết tất cả mọi thứ của ta. Ví dụ pháp xả thân của Mã Cát Lạp Tôn chính là sự viên mãn của hạnh."
Tôi hỏi:
"Chúng sinh vẫn là chúng sinh thôi!"
Bản Sơ Phật đáp:
"Chúng sinh vẫn là chúng sinh, là bởi vì họ vẫn chưa đi qua quả báo của lục độ."
Tôi nói:
"Tôi hiểu rồi!"
Ví dụ:
Khi tôi tổ chức pháp hội độ chúng sinh, (mỗi lần có tới ba vạn người), các nhân vật chính trị đến tham gia. Tôi vừa mới bắt đầu thuyết pháp thì các nhân vật chính trị đã mau chóng rời đi rồi. (Bởi vì lịch trình làm việc của họ đã kín mít.)
Tôi chẳng thể độ họ được.
Nhưng, nội tại của tôi thì đã viên mãn rồi.
Phải thế không?


### 39. **Phật Đà cầm hoa**


Ngày xưa, lúc Phật Đà ở Linh Tiên Hội Thượng, Phật Đà đưa tay cầm một bông hoa cho mọi người thấy. 
Chẳng nói một lời. 
Tất cả con người và thiên nhân tại Linh Tiên Hội Thượng nhất thời đều bối rối hoang mang, không biết nên làm gì.
Lúc này chỉ có mỗi Ca Diếp tôn giả hiểu mà mỉm cười một cái.
Phật Đà nói:
"Pháp môn này giao phó cho Đại Ca Diếp!"
Phật Đà hỏi tôi:
"Việc cầm bông hoa này là có ý gì?"
Tôi đáp:
"Là một bông hoa." (thoại trung hữu thoại) [Trong lời nói còn có ý nghĩa khác.]
Phật Đà nói:
"Ngài lấy hoa để nêu lên bản chất."
Tôi nói:
"Hoa cũng có tính tượng trưng."
Phật Đà nói:
"Đây là tính biến kế sở chấp của ngài."
[Biến kế sở chấp là một trong ba tính (tam tự tính) của hiện hữu được Duy thức tông nêu ra. Theo Duy thức tông thì tất cả những ngoại cảnh, những vật bên ngoài đều là cái chính mình tưởng ra, là thức biến, không thật. Biến kế sở chấp là đối với những sự vật không có thực chất, lại khởi phân biệt, chấp trước, gán cho chúng những danh tự, so đo, tính toán, yêu ghét.]

Tôi hỏi:
"Hoa có sinh mệnh thứ ba không?"
Phật Đà nói:
"Sự biến hóa của hoa là vô cùng."
Tôi đáp:
"Hoa có thể chưa nở, nở hé, nở to, hơi héo, héo hẳn..."
Phật Đà nói:
"Bất kì người nào nhìn hoa, nghĩ gì thì sẽ thành như thế."
Tôi hỏi:
"Xin hỏi tôn giả Đại Ca Diếp đã nhìn thấy gì?"
Phật Đà đáp:
"Tính Không."
Tôi nói:
"Rõ ràng là một bông hoa mà!"
Phật Đà nói:
"Lẽ nào ngài không biết về sinh mệnh sao? Lẽ nào ngài không biết một bông hoa một thế giới sao?"
Phật Đà còn nói:
"Từ một bông hoa thấy được sự vĩnh hằng, thấy được toàn nhân loại, thấy được Phật, thấy được Bồ Tát."
Cuối cùng Phật Đà nói:
"Thấy được tính Không."
Tôi hỏi:
"Tôn giả Đại Ca Diếp nhìn thấy gì?"
Tôi đáp:
"Tính Không."
Phật Đà nói:
"*Bingo!*"
Tôi hỏi:
"Vì sao vậy?"
Phật Đà đáp:
"Quá khứ của hoa, hiện tại của hoa, tương lai của hoa."
Tôi nói:
"Quả, hoa nở, héo tàn."
Phật Đà nói:
"Đúng vậy. Đúng vậy. Đúng vậy."
Tôi nói:
"Cuối cùng tôi vứt hoa đi rồi!"
Phật Đà nói:
"Tính Không cũng vứt luôn!"
Tôi nói:
"Tất cả đều yên tịnh viên mãn rồi!"
Phật Đà nói:
"Đó chính là đạo niết bàn."
Tôi nói:
"Thật hay quá! Cảm tạ Phật Đà khai thị."


### 40. **Một cụ già gầy gò**


Ngày hôm đó.
Tinh thần của tôi cực kì yên bình. Tôi nhập vào trạng thái thiền định. 
Không còn nghi ngờ gì nữa, tôi đã đến một hang đá trong núi. 
Tôi ngồi yên lặng dưới một gốc cây khuynh diệp trước cửa hang đá. 
Phía trước hang đá có một con lạch nhỏ. 
Nước suối chảy vào con lạch tạo nên thanh âm róc rách thật dễ chịu.
Nơi đây là nơi nào vậy?
Tôi ngỡ ra rồi:
Nội tâm tôi đang dâng trào cảm xúc.
Dòng suy nghĩ trở về nơi xa xăm.
Những ký ức và mong ngóng vương vấn trong tâm tưởng.
Bởi vì nơi đây là hang động của ngài Xá Lợi Phất.

🌟

Năm đó.
Phật Đà ở núi Linh Thứu, chúng tôi đi theo Phật Đà, mỗi một hành giả đều có một hang động.
Hang động của ngài A Nan ở phía sau hang của tôi.
Hang động của ngài Tân Đầu Lư cách hang của tôi rất gần.
Hang động của ngài Đại Ca Diếp cách hang của tôi rất xa.
Chúng tôi đều ở trong hang động học tập tu thiền, và tiếp nhận những tư tưởng dạy dỗ của Phật Đà.
Nói một cách nghiêm túc thì:
Phật Đà không phải là nhà tôn giáo.
Phật Đà cũng không phải là nhà triết học.
Phật Đà không phải là nhà lý luận học.
Thân phận thực sự của Phật Đà chính là nhà tư tưởng, tiếp đó là đưa tư tưởng vào thực tiễn.

🌟

Tôi ngồi ở cửa hang động của ngài Xá Lợi Phất.
Đột nhiên.
Một cụ già gầy gò từ từ tiến lại gần. Lúc đầu tôi nghe tiếng bước chân.
Cụ già đi đến trước cửa hang động của tôi, cụ hoàn toàn kiệt sức rồi.
Cụ gầy gò khắc khổ.
Khuôn mặt đầy nếp nhăn.
Lòng bàn tay đen nhẻm.
Ngón chân giống như móng diều hâu.
Mái tóc lưa thưa, sợi trắng sợi xám lẫn lộn.
Đôi vai còng xuống.
Khóe miệng thô cứng.
Đôi mắt vô hồn.
Cụ nói:
"Xá Lợi Phất, xin cứu tôi!"
Tôi hỏi:
"Cụ là…?"
Cụ đáp:
"Người anh em! Ngài không nhận ra tôi sao, tôi là Mục Kiền Liên năm xưa đây."
Tôi thất kinh.
"Cụ là tôn giả Mục Kiền Liên ư?"
Cụ đáp:
"Đúng vậy. Tôi đã đi qua những năm tháng vô tình, kiếp này tôi chỉ là một lão già, bao nhiêu kiếp rồi, tôi càng ngày càng bại hoại….."
Cụ vươn tay ra bám vào tôi. Tôi nói:
"Cụ làm sao mà ra nông nỗi này?" (Mục Kiền Liên tôn giả đệ nhất thần thông.)
Cụ đáp:
"Lời nói chẳng thể kể hết. Tôi vẫn luôn ở gần núi Linh Thứu, tôi biết ngài sẽ trở về hang động của Xá Lợi Phất, ngài cho tôi về cõi trên với! Bây giờ ngài là thiên sứ, ngài dùng ánh sáng đưa tôi trở về đi!"
Tôi nói:
"Tâm quang của cụ thì sao? Thần thông của cụ thì sao?"
Cụ đáp:
"Tất cả đều bị nghiệp lực nuốt chửng rồi!"

Tôi dùng ánh sáng của tôi xoa dịu gương mặt của cụ, dùng ánh sáng chiếu phủ toàn thân cụ, tôi thắp lên ngọn đèn tâm cho cụ. Nguyên khí của cụ dường như có chút sức sống rồi.
Tôi nói:
"Mục Kiền Liên, ngài hãy ở lại trong hang động của tôi mà tu hành, chúc ngài mau chóng thành tựu, trở về bên cạnh Phật Đà."


### 41. **Phật tử giao lưu**


Trong cuốn sách "Phật Đà mà tôi biết", tôi đã viết về một Đức Phật chân chính. 
Ngài sáng chói không gì sánh bằng. 
Ngài tràn đầy sức mạnh. 
Ngài vô cùng từ bi. 
Ngài vô cùng trí huệ.

Tôi hiểu thế nào là một Phật tử, ở đây là tôi nói đến Phật tử chân chính. Phật tử chân chính là người hiểu được tư tưởng của Phật Đà, hơn nữa còn đem tư tưởng của Phật Đà vào thực tiễn cuộc sống.
Không phải là biểu hiện cúi lạy bên ngoài.
Không phải là xây chùa lớn.
Không phải là cầu tiền tài, cầu con cái, cầu sống lâu.
Không phải là xem mệnh bốc quẻ.
Không phải là phong thủy địa lý.
Không phải là "mua bán Như Lai". [Ý nói mua bán các vật phẩm, tranh tượng các vị Phật.]

🌟

Có một luồng ánh sáng chiếu rọi để tôi có thể đọc được mấy bài thơ, khiến tôi càng hiểu rõ hơn thế nào là một Phật tử chân chính.

Bài thơ thứ nhất:

*Khi tôi nói tôi là Phật tử
Chẳng phải nói rằng tôi lương thiện thuần khiết hơn người khác
Mà là tôi có quá nhiều phiền não vô minh cần phải loại trừ
Tôi cần có trí huệ của Đức Phật.*

Bài thơ thứ hai:

*Khi tôi nói tôi là Phật tử
Chẳng phải nói rằng tôi có trí huệ hơn người khác
Mà là tôi đã bị quá nhiều ngạo mạn bao vây
Tôi cần phải khiêm nhường cảm nhận thế giới rộng lớn.*

Bài thơ thứ ba:

*Khi tôi nói tôi là Phật tử
Càng chẳng phải vì tôi tốt hay xấu hơn người khác
Mà là muốn tôi hiểu được chúng sinh bình đẳng không khác biệt
Tôi càng phải đi độ hóa chúng sinh.*

Bài thơ thứ tư:

*Khi tôi nói tôi là Phật tử*

*Bởi vì tôi chỉ có thể yêu người mà mình yêu.*

*Còn Phật Đà có thể yêu người mà ngài hận.*

*Hơn thế nữa còn giúp họ có được trí huệ và từ bi.*

*Bởi vậy tôi chọn lựa học Phật.*

Bài thơ thứ năm:

*Khi tôi nói tôi là Phật tử
Không phải vì cầu tài được tài
Cầu cầu cầu
Mà là vì cắt bỏ sự bám chấp vào mọi dục vọng của bản thân.*

Bài thơ thứ sáu:

*Khi tôi nói tôi là Phật tử
Không phải vì một cuộc đời thuận buồm xuôi gió
Mà là vì thản nhiên tiếp nhận sự vô thường
Ở vào bất kì cảnh ngộ thảm khốc thế nào
Cũng vẫn ung ung như quân vương.*

Bài thơ thứ bảy:

*Khi tôi nói tôi là Phật tử
Không phải nói rằng là bởi vì yêu thương
Mà sinh lòng ép buộc người khác
Mà là dùng trí huệ thấu đáo
Trong lúc tùy thuận chúng sinh mà lợi mình lợi người.*

Bài thơ thứ tám:

*Khi tôi nói tôi là Phật tử
Chẳng phải vì tôi muốn trốn chạy khỏi nhân gian, tìm đến hư vô
Mà là tôi hiểu thấu đáo cuộc sống thường ngày đâu đâu cũng là đạo tràng
Sống ngay tại lúc này chính là tu hành.*

Bài thơ thứ chín:

*Khi tôi nói tôi là Phật tử
Cuộc sống của tôi chẳng phải là từ nay sẽ chẳng gặp phải bất trắc gì nữa
Nhưng có Phật pháp làm bạn rồi
Thì bất trắc lần lượt chuyển hóa thành nhân duyên giúp tôi trưởng thành.*

Bài thơ thứ mười:

*Khi tôi nói tôi là Phật tử
Trong lòng tôi tràn ngập sự biết ơn vô hạn
Chỉ nghĩ đến đời này có duyên sinh ra làm con người
Có được năng lực tu hành
Lại có cơ hội gặp được thiện tri thức
Để có thể được nghe Phật pháp
Thì sâu thẳm trong tim đã cảm động trước nhân duyên bất khả tư nghì này.*

Bài thơ thứ mười một:

*Khi tôi nói tôi là Phật tử
Chẳng phải là vì có thần linh ở bên ngoài
Mà là tôi phát hiện ra vốn dĩ đã luôn có
Phật tính.*

🌟

Tôi đọc xong mười một bài thơ, tôi cảm thấy chúng đã nói lên được nội nghĩa của một Phật tử chân chính. Tôi rất hoan hỷ.

Mấy ngày nay có một vị giáo sư lớn nghiên cứu về Phật giáo của trường đại học Oxford đã từ nước Anh bay tới Đài Loan. Ông ấy chính là học giả Richard.

[Ở đây Sư Tôn nói đến giáo sư Richard Francis Gombrich, sinh năm 1937, là một học giả chuyên nghiên cứu Phật giáo và tiếng Sankrit, tiếng Pali. Ông là giáo sư giảng dạy tiếng Sankrit tại đại học Oxford từ năm 1976 - 2004. Năm 2019 ông đã đến Đài Loan Lôi Tạng Tự tham gia một số buổi pháp hội của Sư Tôn.]

Có một luồng ánh sáng đã dẫn dắt tôi đọc được những câu thơ này, hóa ra chúng là những bài thơ của giáo sư Richard. Điều khiến người ta không ngớt thán phục là, Phật học phức tạp như vậy, mà mấy câu thơ này của ngài đã nói "trúng" rồi. Còn có cả tiến sĩ Trịnh Định Hà, thạc sĩ Trần Bỉnh Vĩ muốn tới phỏng vấn, cầu nguyện chính pháp sẽ tồn tại mãi mãi.


![image](/img/img_a19c16840b6637eed3331b4e466b7cdb.png)


*Giáo sư Richard tới thăm Sư Tôn*


### 42. **Thập phương tam thế**


Tôi tu thiền quán không giống như người bình thường tu thiền quán, bởi vì tôi quán "thập phương tam thế".
Có người hỏi tôi:
"Cái gì là thập phương?"
Tôi đáp:
"Chúng ta lấy mặt phẳng chia làm tám phương hướng, giống như la bàn Bát Quái, thêm phương ở trên và phương ở dưới, như vậy chính là đủ mười phương."
Có người hỏi tôi:
"Thế còn cái gì là tam thế?"
Tôi đáp:
"Tam thế chính là đời quá khứ, đời hiện tại và đời tương lai."
Hỏi:
"Phật giáo thường nói thập phương tam thế là vì sao?"
Đáp:
"Thập phương chính là không gian, tam thế chính là thời gian."
Hỏi:
"Tôi không hiểu cái gì là chư Phật tam thế?"
Đáp:
"Vào thời kỳ thành lập Phật giáo, Phật Thích Ca Mâu Ni được gọi là vị Phật hiện tại. Tất cả các vị Phật trước thời Phật Thích Ca Mâu Ni được gọi là Phật quá khứ, các vị thành Phật từ sau thời Phật Thích Ca Mâu Ni được gọi là Phật tương lai."
Hỏi:
"Cái gì là tam tế nhất như?"
Đáp:
"Tam tế chính là tam thế, tam thế có sự liên quan với nhau nên gọi là nhất như."
Hỏi:
"Cái gì là mười phương ngang?"
Đáp:
"Là nói về ý nghĩa thập phương thế giới dựa trên hệ tọa độ trục tung trục hoành, thập phương cũng tương đương với một không gian."
Hỏi:
"Kinh Kim Cang có nhắc đến tam thế bất khả đắc, là ý nghĩa gì?"
Đáp:
"Kinh Kim Cang nói: tâm quá khứ bất khả đắc, tâm hiện tại bất khả đắc, tâm tương lai bất khả đắc, là chỉ ra rằng những gì của quá khứ đã qua thì đã qua rồi, những gì của tương lai thì chưa tới, những gì của hiện tại cũng chẳng ở lại, trong một sát-na đã thành quá khứ rồi. Do vậy nên là tam thế bất khả đắc."
Hỏi:
"Vậy cái thực sự có được là gì?"
Đáp:
"Cái thực sự có được, chính là vô sở đắc!"
Hỏi:
"Hóa ra là vô sở đắc! Có ý nghĩa gì?"
Đáp:
"Anh đã đến gần với khai ngộ rồi. Chứng được vô sở đắc thì chấm dứt phiền não."
Hỏi:
"Lư Sư Tôn! Vậy thì học Phật có ý nghĩa gì?"
Đáp:
"Hết hẳn phiền não vô minh, từ bi cứu độ chúng sinh, đây chính là ý nghĩa của việc học Phật."
Hỏi:
"Xin giải thích đơn giản hơn!"
Đáp:
"Học trí huệ của Phật, học từ bi của Phật."
Hỏi:
"Loại người nào không thể học Phật?"
Đáp:
"Người người đều có thể học Phật. Nhưng có người phạm vào bảy nghịch tội thì không thể thọ Bồ Tát giới."
Hỏi:
"Cái gì là bảy nghịch tội?"
Đáp:
"Giết cha, giết mẹ, giết A La Hán, làm thân Phật chảy máu, phá hòa hợp tăng, giết hòa thượng, giết A-xà-lê. Bảy tội nặng này là những tội nặng nhất, không thể thọ Bồ Tát giới."

Tôi nhắc mọi người hay, Quỷ Bà chính là người đã phạm bảy nghịch tội, bởi vậy muốn quay đầu cũng khó đó! 


### 43. **Làm sao tương ứng cùng Bổn tôn?**


Tôi thực lòng thực sự nói cho mọi người biết, bất kể là học Hiển giáo, hay là học Mật giáo, sự tương ứng giữa người tu hành và Bổn tôn là điều quan trọng số một.

Muốn vãng sinh đến cõi tịnh thổ của Bổn tôn, nhất định cần tương ứng với Bổn tôn.
1. Thiền tông — tương ứng với ý thức cao nhất của bản thân hành giả.
2. Tịnh độ tông — tương ứng với Tây phương Tam Thánh.
3. Mật tông — hành giả và Bổn tôn tương ứng.
4. Luật tông — hành giả nghiêm khắc tuân thủ giới luật và tương ứng với Đại Ngã.

Trong chương sách này tôi sẽ nói cụ thể cho mọi người biết về "vấn đề tương quan của việc làm sao để tương ứng cùng Bổn tôn".

🌟

Hỏi:
"Thế nào là Bổn tôn?"
Đáp:
"Trên thực tế, Bổn tôn là một tên gọi chung, ngài có thể là chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, Chư Thiên. Cũng có thể gọi đó là ý thức vũ trụ, ý thức tối cao, đại năng, đại trí, đại ngã, là Thần, v.v….."
Hỏi:
"Bổn tôn sống ở đâu?"
Đáp:
"Tôi nghĩ rằng có hai nơi: một là cõi tịnh thổ của Bổn tôn, hai là nơi thâm sâu trong nội tâm hành giả. Câu trả lời này không hẳn là chuẩn. Bởi cũng có thể nói rằng Bổn tôn tồn tại ở khắp mọi nơi."
Hỏi:
"Thế nào gọi là Bổn tôn tương ứng?"
Đáp:
"Bổn tôn trong hư không, tự thân của hành giả, và Bổn tôn trong nội tại của hành giả, ba thứ này cùng liên kết với nhau, tương ứng, hợp nhất. Đó chính là Bổn tôn tương ứng."
Hỏi:
"Lư Sư Tôn đã tương ứng với Bổn tôn rồi sao?"
Đáp:
"Chắc chắn."
Hỏi:
"Hiện tượng tương ứng là gì?"
Đáp:
"Giống như tôi viết cuốn sách này thôi. Tôi có thể cùng trò chuyện với Bổn tôn. Mối quan hệ thân mật này giống như:
Vợ chồng.
Cha con.
Mẹ con.
Anh chị em.
Tri kỷ.
Thậm chí tôi hợp nhất cùng từng vị Bổn tôn một, mãi mãi ở cùng nhau, có người nói giống như đêm đêm cùng ngủ, sáng sáng cùng dậy. Nói cách khác là, tôi và Bổn tôn vốn dĩ không phân biệt, tôi chính là Bổn tôn, Bổn tôn chính là tôi, không hai không khác."
Hỏi:
"Làm sao để tương ứng cùng Bổn tôn?"
Đáp:
"Tôi trả lời đơn giản như sau:
Thiền tông — nhập vào thiền tam muội, cùng Bổn tôn tương ứng.
Tịnh độ tông — niệm Phật đến khi nhất tâm bất loạn, cùng Bổn tôn tương ứng.
Mật tông — thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh, cùng Bổn tôn tương ứng.
Luật tông — dựa vào việc giữ giới luật để tương ứng cùng Bổn tôn."
Hỏi:
"84 nghìn pháp môn như ta vẫn nói đều có thể cùng với Bổn tôn tương ứng sao?"
Đáp:
"84 nghìn pháp môn chỉ là công cụ, quan trọng nhất là cần phải tương ứng được cùng Bổn tôn."
Hỏi:
"Con người thế tục có hiểu được những điều này không?"
Đáp:
"Không hiểu được! Con người thế tục sống trong tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ, làm sao hiểu được những đạo lý này."
Hỏi:
"Ai có thể hiểu được?"
Đáp:
"Người phát tâm tu hành, cùng với sự giảng giải của thiện tri thức, mới hiểu đạo lý cùng Bổn tôn tương ứng."
Hỏi:
"Cùng Bổn tôn tương ứng có lợi ích gì?"
Đáp:
"Lợi ích lớn nhất là lúc lâm chung có thể đến được cõi tịnh thổ của Bổn tôn, có thể thành tựu Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, Chư Thiên. Chỉ cần tương ứng được thì chắc chắn có thể đi đến nơi đó!"
Hỏi:
"Còn gì nữa không?"
Đáp:
"Bổn tôn là một dạng sức mạnh, là một dạng ân điển vô hình, nếu như tương ứng cùng Bổn tôn, bạn sẽ thấy được kỳ tích, hoặc những sự trùng hợp kỳ dị, rất nhiều hiện tượng bất khả tư nghì sẽ phát sinh." (hiện tượng thần thông)
Hỏi:
"Có thể lấy ví dụ minh họa không?"
Đáp:
"Ví dụ: tôi tương ứng với Diêu Trì Kim Mẫu, Diêu Trì Kim Mẫu giống như người mẹ của tôi. Tôi tương ứng với Phật A Di Đà, Phật A Di Đà giống như người cha của tôi. Tôi tương ứng với Địa Tạng Vương Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát giống như người anh em của tôi. Tôi tương ứng với Không Hành Mẫu, Không Hành Mẫu giống như người vợ của tôi." (Các vị đều giúp đỡ hành giả.)
Hỏi:
"Lợi ích thì sao?"
Đáp:
"Tôi hướng về Bổn tôn cầu nguyện, trên phương diện thế tục thì cầu tiền tài có tiền tài, cầu con cái có con cái, cầu danh vị có danh vị, cầu tuổi thọ có tuổi thọ…. Trên phương diện tu hành thì ngoài việc đến được cõi tịnh thổ của Bổn tôn, thậm chí Bổn tôn còn có thể giúp bạn tu khí, tu mạch, tu minh điểm. Thân thể bạn cũng sẽ khỏe mạnh……"
Hỏi:
"Người tương ứng cùng Bổn tôn, ngoài giúp cho chính mình ra, có thể giúp người khác sao?"
Tôi đáp:
"Đúng vậy. Giống như Lư Sư Tôn."
(Chú ý: Bổn tôn đến từ Phật tính nội tại của hành giả.) 


### 44. **Tâm đắc với văn tập "Phật Đà mà tôi biết"**


*Pháp sư Liên Anh (tác giả)*

"Trên trời dưới đất, mình ta độc tôn", đây là cuốn sách đáng kinh ngạc số một trong thiên hạ!

Trong suy nghĩ của tôi, đây là một cuốn sách mà dù có được đặt bên dưới một vạn cuốn sách chất chồng thành đống cao thì vẫn thấy được sự tỏa sáng lấp lánh của nó. Nó tuyệt đối là một cuốn sách tỏa sáng trên hàng nghìn cuốn sách, thậm chí có thể sánh ngang với một cuốn kinh thư!

Trong cuốn sách có rất nhiều điều "Phật nói…, Phật nói…",  tôi nghĩ lời của Sư Tôn là những lời chú thích thực sự cho những điều "Phật nói" đó! Phật là người nói thật, nói điều "như nó là", là người không nói dối, là người không nói lời sai khác, hơn nữa Sư Tôn là một vị thành tựu giả, một vị Phật đương đại. Dựa theo tôn giáo thì cuốn sách này càng là một cuốn sách khiến cho bạn và tôi đều được tâm quang phát lộ.

Trong hai chương sách "Xá Lợi Phất có biết phong thủy không?" và "Thông minh tuyệt đỉnh" có nhắc đến hai vị tôn giả đại trí huệ là Xá Lợi Phất và Tì Xá Li (Vaisali), khiến cho tôi có những liên tưởng và cảm xúc sâu sắc. Thường xuyên có người hỏi tôi, thậm chí chính tôi cũng từng tò mò rằng, khi phục vụ bên cạnh Sư Tôn có phải là sẽ thường xuyên phát hiện thấy Sư Tôn thể hiện thần thông hoặc thần tích ở khắp nơi hay không, hoặc có phải là sẽ phát sinh ra rất nhiều sự việc kỳ quái huyễn hoặc hay không? Bây giờ thì chính người ở gần quan sát Sư Tôn là tôi đây có thể nói rằng, Sư Tôn không giờ khắc nào là không âm thầm tạo ảnh hưởng, âm thầm vận thần thông để độ chúng sinh, do vậy đương nhiên sẽ có những trò chơi thần thông của bản thân một vị Phật.

Bỏ qua việc bên cạnh Sư Tôn có Diêu Trì Kim Mẫu và tất cả các vị Bổn tôn, Hộ pháp, Không hành vô hình thường xuyên trợ giúp ra (như trong chương sách "Đội quân tàng hình" có đề cập đến), thì điều khiến tôi ngạc nhiên nhất chính là Sư Tôn đã bộc lộ khả năng ghi nhớ và trí huệ quan sát tuyệt diệu đối với các sự vật sự việc và thời gian với mức độ siêu cường khiến người ta phải nể sợ!

Cũng giống như Xá Lợi Phất và Tì Xá Li, những ai có thể đoán trước được việc như các vị đó đều thực sự đều có năng lực quan sát sắc bén và thấu đáo! Đối với mọi việc, Lư Sư Tôn trước tiên sẽ hiểu rõ toàn cảnh logic, nguyên tắc đạo lý, nguyên nhân hệ quả, rồi mới thêm vào thiên văn địa lý, y học khoa học, chính trị văn hóa, quan sát nhân vật, biến động thời sự, hơn nữa còn có cả những cơ sở và chứng lượng Phật học thâm hậu và rộng lớn. Điều này khiến cho Sư Tôn luôn luôn không cần dùng đến sức mạnh thần thông cũng đã có thể phân tích, quyết định rất nhiều sự việc lớn nhỏ, nói đâu trúng đó, nói một lời là trúng tâm sự, lý giải được bức tranh toàn cảnh của sự việc.

Tuy nhiên, điều hiếm có và đáng quý trọng nhất, khiến tôi cực kì ngưỡng mộ là Sư Tôn luôn chân thành "tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã" [Câu nói của Khổng Tử, nghĩa là hiểu biết mà biết là mình hiểu biết, thì gọi là hiểu biết, không biết mà tự biết là mình không biết, thì như vậy cũng chính là hiểu biết.]

Pháp Vương có thể không xấu hổ ngần ngại mà học hỏi từ đệ tử bởi vì Sư Tôn nói thầy không ngừng học tập. "Tri thức vô bờ, sự học cũng vô biên." Những việc chưa hoàn toàn hiểu rõ, Sư Tôn vẫn luôn luôn thỉnh giáo các chuyên gia, tôn trọng chuyên môn nghiệp vụ của họ, hơn nữa Sư Tôn không bao giờ biểu hiện là mình dường như là người biết hết mọi thứ. Ngược lại, việc này khiến cho việc giúp đỡ lẫn nhau giữa các đồng môn càng thêm sâu sắc. Bước vào quần chúng, quan tâm đến chúng sinh luôn là tinh thần bền bỉ của Pháp Vương.

Ở bên cạnh Sư Tôn, điều tôi thấy được là thầy luôn làm việc nghĩa một cách chân thực, hết lòng, vui vẻ và tự tại, hoàn toàn không phải là thị hiện những điều kỳ dị để lừa mị chúng sinh nhằm mưu cầu cuộc sống. Người sư phụ như vậy cũng là một vị đại trí huệ chân chính, chúng ta cần noi gương, ngưỡng mộ, tôn kính. Người sư phụ như vậy cũng mới có thể dẫn dắt chúng ta đi trên con đường giải thoát vô thượng.

Lại lấy ví dụ hai chương sách "Pháp uyên thâm nhất là gì?" và "Dưới gốc cây bồ đề" để nói một chút về những gì tôi tâm đắc. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ và các vị tổ sư đại đức các thế hệ trước đều nhấn mạnh rằng Mật pháp coi trọng "thứ tự".

Sư Tôn lại càng khẩn thiết khuyên răn, khai thị giảng giải những điều thiết yếu nhất, rằng Mật pháp nghiêm túc cần phải dựa theo nhân duyên cá nhân, căn khí và truyền thừa, cần chú ý đến những bước tiến và tâm yếu trong quá trình tu học của người đó, không được mơ hồ và lẫn lộn.

Quan niệm về thứ tự giúp chúng ta trên con đường học Phật có được những nguyên tắc có thể tuân thủ theo, và có được cảm ứng, ấn chứng mà chứng ta có thể dựa theo.

Ngoài ra, tôi thực sự học được rằng, thứ tự không phải là thứ được lấy ra để ganh đua với người khác hoặc để khoe mẽ. Phật Đà cho Sư Tôn tám câu chân ngôn, trong đó cũng có thứ tự, vẫn là cốt lõi chính xác của triết lý tu hành. Nếu tu pháp mà không tu tâm, không cải chính hành vi, thì đó cũng chỉ là luyện thép theo phương pháp truyền thống, xa rời chân đế. Có cao thì có thấp, có to thì có nhỏ, chúng ta học tập Phật pháp cần phải thực tế và nghiêm túc, trung thực thật thà, thì tự nhiên sẽ có công đức. Nếu vẫn có tâm ganh đua và khoe mẽ, tôi nghĩ thành quả của việc tu hành cũng sẽ chỉ rơi vào bên trong cái bẫy của thế giới nhị nguyên, tiếp tục tạo nghiệp, làm sao có thể thoát khỏi luân hồi?

Chương sách "Dưới gốc cây bồ đề" đã hé lộ những bí mật lớn nghìn năm về trải nghiệm thành Phật của Phật Đà, tuyệt diệu vô cùng! Trong bản văn có nói về nhân duyên thành Phật của Ngài, đặc biệt là 500 kiếp thực hiện hạnh Bồ Tát đã tích tập vô lượng phúc phần và công đức chính là duyên khởi quan trọng nhất để thành Phật. Quá trình thành đạo trải qua những khảo nghiệm quan trọng, ngài dựa vào sức mạnh thiền định to lớn để quan sát ngoại cảnh thối nát bên ngoài, đây là sự tu luyện nội tại cho đến khi hiển lộ chứng lượng.

Khi Ngài gặp ma quỷ vô hình đến để khảo nghiệm việc tu luyện của mình, Hộ pháp đã xuất hiện để bảo vệ, việc này chính là sự hiển lộ của sức mạnh ngoại tại tập trung lại cùng với sức mạnh công đức. Nội và ngoại kết hợp, thân người và vũ trụ tương ứng, trí huệ vượt trội và không còn sợ hãi, chính trí chính kiến hành đạo, cuối cùng Ngài đã chứng đắc được trí siêu việt của Pháp giới, rời bỏ tất cả bám chấp, tâm quang phát lộ, đạt thành tựu là bậc đạo sư vĩ đại của trời người, là đại viên mãn!

Tôi cho rằng cuộc đối thoại giữa Sư Tôn và Phật Thích Ca là một giáo thị và thiền cơ cực kì trân quý, là trực tâm nhất, là khúc ca không hề tâng bốc, là chính xác và toàn diện nhất, là chú ngữ kinh thiên động địa nhất, từng câu từng chữ đều là quang minh và trí huệ! Cuộc đối thoại này cũng dạy chúng ta thể ngộ được trí huệ tính không, thúc đẩy ta tinh tấn luyện tập.

Tôi nhận thấy ý chỉ tôn giáo của Phật Đà và tôn chỉ của Chân Phật Tông về căn bản là không sai không khác, đều là "minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử". Ngày nay Chân Phật Mật Pháp có truyền thừa thanh tịnh thực sự, có trình tự nghi quỹ hoàn chỉnh, cùng với việc thành Phật mà Phật Đà đã nói cần phải có nhân duyên chín muồi mới thành, tôi xin được hỏi không phải chúng ta cần kính sư, trọng pháp, thực tu ngay bây giờ thì còn chờ đến khi nào đây?

Đọc xong cuốn sách này, tôi có hai sự liên tưởng. Thứ nhất là tôi nghĩ đến bài khai kinh kệ được viết bởi Võ Hậu [Võ Tắc Thiên]:
*"Phật pháp rộng sâu rất nhiệm màu
Trăm nghìn vạn kiếp khó tìm cầu
Tôi nay nghe thấy xin trì tụng
Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm sâu."*

Thứ hai là tôi nghĩ đến chữ "Long" trong bài thơ Thanh Ngọc Án của Tân Khí Tật. [Nhà thơ nổi tiếng trong lịch sử văn học Trung Quốc thời Nam Tống.]

*"Đêm ấy gió xuân pháo hoa bay
Lên cao rơi xuống mưa sao sáng
Hương thơm khắp phố xe ngựa chạy
Phụng tiêu thánh thót vọng đâu đây
Bình ngọc xoay chuyển muôn tia sáng
Cá rồng múa lượn suốt đêm vui.
Mũ ngài lấp ló hàng tuyết liễu
Phảng phất hương thơm tiếng nói cười
Tìm người chốn đông còn chưa thấy
Bất chợt ngoảnh đầu mới biết hay
Người ấy vẫn còn ở nơi đó
Bình yên bên ánh lửa đèn tàn."*

Cuối cùng, cho phép tôi được dùng một câu nói để biểu đạt tâm đắc hoàn chỉnh của tôi:
"Tôi nguyện không tiếp tục tìm kiếm nữa, từ bình minh đến tối khuya, cho dù phải qua nghìn sông vạn thủy, bằng mọi giá tôi hướng tâm mong chứng không tịch. Bụi bám tăng y, nâng bình đỡ bát, đi đứng ngồi nằm đều sẽ chẳng rời xa Thầy!"


### 45. **"Ngôn ngữ đến từ Phật quốc" **


**Tâm đắc với "Chuyển hóa là khẩu quyết"**

*Pháp sư Liên Anh (tác giả)*

Trong cuốn sách này [cuốn "Ngôn ngữ đến từ Phật Quốc" - văn tập số 249 của Sư Tôn], Sư Tôn có nhắc rất nhiều đến những điều cốt yếu và khẩu quyết liên quan đến việc tu hành, câu nào cũng là kinh điển, chương sách nào cũng là bảo bối, bởi vì những điều đó chính là những kinh nghiệm thực tu mà một vị thành tựu giả đã trải qua, hơn nữa đó còn là quá trình nhập thánh siêu phàm.

Từ "tâm linh thô ráp" chuyển hóa thành "tâm linh nhạy bén", từ "ý thức hỗn loạn" đến "ý thức quang minh", từ phàm phu chuyển hóa thành Phật, minh tâm kiến tính, đây là con đường không có lối quay về, cũng là một pháp môn duy nhất để giải thoát.

Từ sau khi tôi có những suy nghĩ và ý niệm đầu tiên về Phật giáo, tôi thường suy ngẫm về: xã hội ngày nay tồn tại bao nhiêu người mắc chứng trầm cảm và chứng bệnh tâm thần. Bỏ qua nhân quả và các bệnh do quỷ thần gây ra chưa bàn tới, cá nhân tôi cho rằng đại đa số các trường hợp mắc phải chứng bệnh trầm cảm đều là bởi vì hoàn cảnh xã hội, cuộc sống, gia đình, công việc, mối quan hệ giữa con người khiến họ bị nhiều chỉ trích, chịu đựng nhiều đau đớn, sau khi đột ngột gặp nhiều thay đổi, gặp nhiều thất bại, trải qua một khoảng thời gian không có cách nào thoát khỏi trạng thái cảm xúc tiêu cực đó, cuối cùng tích tụ lại mà thành bệnh.

Bình thường khi nghe có người nói: "Nghiệp không nặng thì không sinh vào cõi Ta Bà", không sai. Phật nói chúng sinh đến với thế giới Ta Bà chính là phải đến để trả nghiệp. Đáng tiếc rằng, ngũ trọc ác thế chính là đầy rẫy những điều khiến người ta không thể chịu nổi, đau khổ nhiều vượt xa vui sướng. Cái xã hội rộng lớn nói không hết đi không cùng này, dưới sự bện xoắn của những hoàn cảnh đơn lẻ và nhân quả sẽ sinh ra áp lực, nên dung hòa như thế nào đây? Đáp án chính là như Sư Tôn nói: "Chuyển hóa."

Trong "Diêu Trì Kim Mẫu định huệ giải thoát chân kinh" có một đoạn kinh văn nhắc đến: "Thành Tiên thành Phật từ người làm nên". Thế nhưng, cần làm thế nào? Kì thực nên bắt đầu từ việc thay đổi chính mình, bắt đầu từ những việc nhỏ nhặt lặt vặt nhất, bắt đầu từ những quan niệm cụ thể chi tiết mà bản thân vốn dĩ khó ý thức thấy được, bắt đầu từ trạng thái vô minh, từ đó dung nhập trí huệ Phật chân chính vào cuộc sống, quán triệt những lời dạy vàng ngọc của Sư Tôn đối với thân tâm, đi vào thực tiễn, chính là một dạng chuyển hóa.

Người tu hành chân chính chắc chắn hiểu được sự chuyển hóa, nếu không thì tuyệt đối không được xem nhẹ việc tu hành của bản thân, bởi vì tu hành chính là tu tâm, tâm còn chưa tu tốt thì bằng mọi giá đừng xem nhẹ. Cũng không nên khua môi múa mép nói rằng mình đã tương ứng với chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, Chư Thiên trong hư không rồi.

Thay đổi quan niệm nói thì dễ, trên thực tế để làm được lại rất khó, và cũng có các mức độ của nó. Sau khi tôi lắng nghe và cung kính đọc những khai thị và văn tập của Sư Tôn trong suốt thời gian dài, tôi phát hiện ra: thay đổi quan niệm chính là một quá trình "nhận biết vô ngã", "hoán đổi mình với người khác", "hiểu rằng thậm chí thân thể này của chính mình cũng là Không".

Nói cách khác, bởi vì sâu sắc thể hội được vô thường, vô ngã, vô tự tính thì mới có thể bước ra khỏi thế giới nhị nguyên đối lập, loại bỏ được "chấp ngã". Bởi vì trầm cảm, bi thương, buồn bã, mệt mỏi thường thường đều bởi "chấp ngã" mà sinh ra, bởi vì "tham", "sân", "si", "nghi", "mạn" mà sinh ra.

Nói một cách đơn giản, chính là đem những quan niệm Phật pháp đúng đắn vào trong nhu cầu cơ bản ăn, mặc, sống, đi lại, để trở nên phóng khoáng hơn, khách quan hơn, dịu dàng hơn, ôn hòa và rộng lượng hơn, nhìn sự việc tích cực hơn, từ đó không bị cái tôi nhỏ bé bó chặt. Hơn nữa, ngẫm nghĩ xem Phật nghĩ thế nào về sự tình, Bổn tôn nghĩ thế nào về sự tình, bằng cách đó tâm linh tự nhiên sẽ được "nâng cấp" lên, hướng về cảnh giới cao hơn. Tôi nghĩ đây chính là chuyển hóa, hơn nữa đây cũng là một dạng tu hành trên thực tế.

Thực tế ai ai cũng đều hiểu về sự "chuyển hóa", ví dụ như: khi gặp lúc xung đột, tâm tính bất thường, vô minh, thường thường người ta hay nói do họ mê muội, người trong cuộc thì mù quáng, người ngoài cuộc thì tinh tường, chúng ta đều chẳng có cách nào tự kéo mình ra khỏi trạng thái đó. Nhưng đợi đến khi sự việc qua rồi, có người thì cần ba giờ, ba ngày, hoặc ba tháng, bỗng nhiên sẽ cảm thán và suy nghĩ rằng: "Kì thực khi đó không cần phải như vậy", "có lẽ nên có thái độ khác", "hối hận về việc đã làm", kiểu tâm lý thay đổi như vậy.

Có thể thấy mỗi người chúng ta vốn dĩ đều có khả năng tự vấn lương tâm mình, cũng như biết dùng những góc độ khác nhau để xem xét sự tình mà không cần phải đến mức độ rối tung lẫn lộn, thậm chí là bị mắc chứng trầm cảm như vậy. Tuy nhiên, những ví dụ tôi nói đến ở trên không có liên quan gì đến Phật pháp. Nếu có tiếp xúc với Phật pháp trân quý thì cần hiểu được sự chuyển hóa lập tức, hoặc nỗ lực hướng đến sự chuyển hóa ngay lúc này, đem toàn bộ thời gian dành cho những âu sầu, bi thương, nghi hoặc, mê lầm, buồn chán, trầm cảm để đi làm những việc có ý nghĩa hơn như bố thí, hành thiện và tu hành, giống như trong câu kinh đã nói: "Một ngày qua đi, mệnh cũng ngắn lại, như cá thiếu nước, vậy còn vui gì, tuổi già ập đến, bệnh liền tới thân, xuân sắc suy tàn."

Kết luận là: bất kể có phải là người tu hành hay không đều cần học cách chuyển đổi suy nghĩ, chuyển hóa. Những lợi ích mà chuyển hóa mang lại là rất nhiều, nó làm cho tâm linh ta phong phú, có được tầm nhìn rộng mở, là một triết học ứng xử trong xã hội khéo léo và viên dung, giúp chúng ta tránh xa được bệnh trầm cảm. Người tu hành càng cần học kỹ năng chuyển hóa, nó vừa là phương tiện nhập thế, vừa là trí huệ xuất thế. Phật pháp không tách rời thế gian, tu hành, bắt đầu từ "mới mẻ", bắt đầu từ "tâm".

Cảm tạ những áng văn chương của Sư Tôn đã giúp chúng ta hiểu được sự thù thắng của "chuyển hóa", mở mang những tầng tư tưởng ở sâu bên trong mỗi chúng ta. Hoan nghênh mọi người cùng đọc thật nhiều văn tập của Sư Tôn, chắc chắn "mở sách ra là có lợi ích", pháp hỷ vô hạn.


### 46. **Tâm đắc khi đọc văn tập số 269 "Trò chơi thần thông"**


**"Tiên dĩ dục câu khiên, hậu linh nhập Phật trí"**

*Pháp sư Liên Anh (tác giả) - 10.1.2019*

Trước tiên tôi mở đầu bằng một bài thơ của Sư Tôn:
*"Pháp thân vốn ở ngoài trời đất
Tháp xá lợi xưa vẫn nơi đây
Chỉ vì nhân gian sự nghiệp lớn
Lưu luyến hóa thân làm tăng nhân."*

Nếu muốn thử xem Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử hóa thân của A Di Đà Phật ở Tây phương Cực Lạc thế giới ở tại thế giới Ta Bà quảng độ trời người như thế nào, thì hãy đọc cuốn văn tập số 269 của Sư Tôn - cuốn "Trò chơi thần thông"!

Theo suy nghĩ kém cỏi của cá nhân tôi, hai chương đầu cuốn sách "Vũ điệu nghê thường của Hằng Nga" và "Đọc thuộc Tâm Kinh" chính là triết lý quan trọng nhất được truyền đạt trong cuốn sách này. Pháp vị vô tận trong đó khiến người ta không thể nào không suy ngẫm về những ý vị sâu sắc. Quá khứ có Chính Pháp Minh Như Lai, hiện tại có Quan Thế Âm Bồ Tát đã dùng phương pháp nhĩ căn viên thông, thông qua quá trình nghe, nghĩ, tu mà đạt đến giác ngộ cuối cùng. Đối với bên ngoài, Ngài không nương nhờ vào thanh sắc bụi trần, không chấp vào không-hữu, mọi suy nghĩ đều không xa rời việc nghe và nghĩ, dựa vào chính kiến viên mãn để nhập vào Tam ma địa chân thực, hơn nữa ở trong Tam ma địa, cởi bỏ nút thắt từ gốc, từ từ đi sâu vào nữa, nên gọi là chứng viên thông.

Thực chứng quả vị, sau khi lý giải được Sắc-Không không khác, Không-Hữu song vận thì mới dùng sức mạnh đại thần thông để làm các pháp với tất cả phương tiện thiện xảo để quảng độ chúng sinh. Cái này gọi là đại thần thông chân thực và vô lậu. Cũng bởi có lệnh cho Hằng Nga một hóa trăm, trăm hóa nghìn, trò chơi thần thông với điệu múa duyên dáng, việc này có thể thấy thần thông thanh tịnh không chút âu lo, vô lậu này hoàn toàn khác hẳn với quỷ thông của Quỷ Bà XX. Tôi nghĩ đây cũng là sự dạy bảo chân thành của Sư Tôn, cũng như chính tri chính kiến mà Sư Tôn truyền đạt cho đệ tử thông qua từng chữ từng lời bát nhã.

Ở đây, tôi hy vọng đồng môn ngoài việc nhúng mình trong từng câu chuyện kể dưới ngòi bút của Pháp Vương, những câu chuyện khiến người ta phải thốt lên kinh ngạc, mở to mắt sửng sốt, thì đừng quên mục đích chính và mong muốn gốc của Phật chính là giống như những lời khai thị và nhắc nhở của các vị Bồ Tát bằng đất sét nói đến trong sách, đó là dựa vào duy nhất thất bồ đề phần, thực hành bát chính đạo, tám loại bố thí, xuất ly tâm, bồ đề tâm, trung quán chính kiến, khi đó sẽ có thể đến được tám nơi thù thắng, thậm chí là tất cả mọi nơi, cho đến cuối cùng là nhập niết bàn mới là nơi quay về cuối cùng của các đệ tử Phật.

Các bài viết trong sách này rất nhiều, dưới đây tôi liệt kê ra một số phần đã để lại cho tôi ấn tượng sâu sắc nhất để chia sẻ với mọi người.

Mọi người có thể thấy rằng Sư Tôn đều ghi lại những nhân vật, sự kiện, thời gian, địa điểm, sự việc mà Sư Tôn đã gặp trong những bối cảnh không gian thời gian khác nhau, xem chúng như những kinh nghiệm độ chúng sinh vừa quý giá vừa thần kỳ. Tôi lĩnh hội được rằng những điều này thực sự là "trò chơi thần thông".

Sao lại nói vậy? Giống như chương thứ hai "Thần tích của pháp đoạt xá", nói thẳng ra là trong Mật giáo có trăm nghìn loại pháp Yết ma có thể giúp đệ tử lấy lại tiền, ví dụ: trì tụng Cao Vương Kinh hoặc Chân Phật Kinh một nghìn biến, tụng chú Ma Lợi Chi Thiên Phật Mẫu để bắt buộc đối phương nghe lệnh trả tiền, đem theo phù đòi tiền, v.v… đều là những phương pháp có thể dùng được. Tuy nhiên Sư Tôn lại lựa chọn "đoạt xá pháp" đã được sử dụng bởi đại đa số các Hoạt Phật chuyển thế trước đây để xử lý việc này. Hơn nữa, pháp này chính xác là nói là làm, người làm pháp cần có được thành tựu với pháp Phowa (thì mới có thể xuất được dương thần), mới có thể đi tới đi lui ở trạng thái trung ấm, đã thực chứng được mộng tam muội (yoga giấc mộng), tôi nghĩ đây cũng đã là một duyên phận và kinh nghiệm vô cùng thù thắng rồi. [Phowa còn gọi là pháp dịch chuyển thần thức.]

Ở đây tôi thêm vào một câu chuyện nhỏ có liên quan tới lão tổ sư Đại Bảo Pháp Vương thứ 16 đã khiến tôi ấn tượng sâu sắc. Bạch Ngọc Thu Trúc Rinpoche (Tarthang Choktrul Rinpoche) đã nói:
"Năm 1961, bà của tôi mắc bệnh và qua đời trong trạng thái hôn mê, ông tôi đã chạy đi tìm Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16 để tu pháp Phowa. Khi đó, Đại Bảo Pháp Vương trầm tư một lúc rồi nói: "Ông quay về đi! Có lẽ bà nhà vẫn chưa chết đâu, tôi không tìm thấy linh hồn bà ấy ở đâu cả." Ông tôi nói: "Chắc chắn đã chết rồi, chết đã hơn một tiếng rưỡi rồi."

Đại Bảo Pháp Vương lại dừng lại một lúc, vẫn dứt khoát nói: "Chưa chết, nếu không phải vậy thì tôi cũng không biết. Tôi không có năng lực tìm được linh hồn của bà nhà, nếu không thì hẳn là bà ấy đã tức thân thành Phật rồi. Có ba loại linh hồn sẽ tìm không thấy. Thứ nhất là tức thân thành Phật, không có linh hồn, linh hồn mà không có thì tất cả đều kết thúc không có gì cả. Thứ hai là trực tiếp đọa xuống ngay địa ngục Kim cang. Thứ ba là chưa vãng sinh, sẽ không có linh hồn." Linh hồn phải tách rời khỏi thân xác thì mới được gọi là linh hồn, đây cũng là một kiến thức, dù sao thì Đại Bảo Pháp Vương cũng không tìm thấy.

Ông tôi chẳng còn cách nào khác, sau khi trở về nhà thì bà tôi đã tỉnh lại, thực sự là chưa chết, chỉ là bị xỉu đi mà thôi. Do vậy, người thực sự tu pháp Phowa phải đạt đến được cảnh giới này."

Điều tôi muốn nói là, đây chính là minh họa thực tế về sự thị hiện trò chơi thần thông của bậc đại thành tựu giả là Căn bản Thượng sư và lão tổ sư Đại Bảo Pháp Vương. Đối với bậc đại thành tựu giả thì miệng không nói lời sáo rỗng, các ngài luôn phát tâm bồ đề tuyệt đối để giúp đỡ chúng sinh cho dù có phải lao vào nước sâu lửa cháy.

Chương thứ tư "Đại Uy Đức phẫn nộ", tôi thấy được "hai không" và "ba cần".

"Hai không" là không thể có tâm hại người và không thể ngây thơ mà không đề phòng người khác. "Ba cần" là cần coi trọng Tam Bảo Phật - pháp - tăng, cần kính sư - trọng pháp - thực tu, cần sức mạnh của hành giả Mật giáo. Tuy nhiên "ba cần" này có sự liên kết chặt chẽ với nhau, gần gũi không thể tách rời, đây là một sự mở rộng trên phương diện logic, hơn nữa chúng càng là sự liên kết trên phương diện truyền thừa của Mật pháp.

Nói đến đây, tôi lại kể ra một chuyện nhỏ xảy ra với chính tôi để chứng minh những lời nói của Sư Tôn không hề có gì giả dối, bởi vì những chuyện thiên kỳ bách quái trên thế gian này ngày càng xuất hiện nhiều không dừng dứt, người nào chưa từng gặp phải thì sẽ cho rằng chúng chỉ là truyện kể "nghìn lẻ một đêm" thôi, thế nhưng việc Hộ pháp đấu nhau với Hộ pháp thực sự là có. Cũng chính bởi vì tôi đã trải qua rồi, tôi mới càng trân trọng truyền thừa Chân Phật. Tôi cũng càng hiểu hơn về tầm quan trọng và phương pháp tu pháp hộ thân, giống như trong chương văn Sư Tôn đã nói, cần "tu tập như pháp, không thể gián đoạn".

Còn nhớ năm xưa khi tôi học năm thứ ba ở trường trung học Gia Nghĩa, ngày nào tôi cũng bù đầu vào bài vở để chuẩn bị cho kỳ thi vào trường Đại học khoa trắc lượng. Tuy nhiên, quãng thời gian đó cũng lại chính là thời kỳ gia đình tôi trải qua nhiều đau khổ nhất. Ngoài việc Căn bản Thượng sư nói gia đình tôi từng chịu ảnh hưởng bởi Quỷ Bà XX ra, kì thực chúng tôi còn phải đối diện với việc bị các nhân vật thối nát không ngừng dùng ác thuật bùa ngải tấn công, tình trạng thê thảm khi bị tấn công từ hai phía. (Sự việc này, vào năm 2014 tại Chân Phật Mật Uyển đã được Sư Tôn chứng thực, chi tiết thế nào tôi không nhắc lại.)

Tối đó tôi trở về nhà, sau khi dùng bữa tối xong thì chuẩn bị đọc sách, đột nhiên tôi thấy trời đất quay cuồng, đứng không vững, chỉ cảm thấy chóng mặt buồn nôn, một cảm giác vô cùng khủng khiếp và ghê tởm xộc lên đầu. Theo kinh nghiệm trong thời gian đó, tôi lập tức làm "bia giáp hộ thân" để kết giới và quán tưởng như bình thường tôi vẫn hay làm. Tôi cầu nguyện sự bảo vệ và ngăn chặn của vị Hộ pháp căn bản của tôi. Thật không ngờ là không hề có một chút cải thiện nào, khi tôi nín thở định thần thì trông thấy một vị Đại Hắc Thiên Mahakala màu đen với sáu cánh tay. Tuy nhiên, khi đó tôi vẫn chưa biết rằng có thể có Hộ pháp tà ác nên tôi còn chuẩn bị đảnh lễ vị đó. Nhanh như chớp không kịp trở tay, vị Đại Hắc Thiên hung mãnh đó nhổ một đám khói đen về phía tôi, lập tức đầu tôi đau như có một quả bom nổ tung trong đầu vậy. Hơn thế nữa, tôi còn mất đi toàn bộ niềm tin và sức mạnh.

Chính ngay lúc tôi cho rằng chẳng còn cứu vãn được gì và cũng chẳng thế phản ứng lại, tôi mơ hồ nhìn thấy một vị Quan Thế Âm Bồ Tát mặc đồ trắng, ngài nói: "Đối phương không có sức mạnh gia trì của dòng truyền thừa, con có sức mạnh gia trì của truyền thừa, con nên cầu nguyện Thượng sư trụ trên đỉnh đầu, niệm tụng Thượng sư tâm chú, chắc chắn hóa giải được." Lập tức tay tôi kết thủ ấn Liên Hoa Đồng Tử, niệm thầm tâm chú của Sư Tôn (khi đó toàn thân tôi không còn chút sức lực). Tôi trông thấy Quan Thế Âm Bồ Tát ngay lập tức biến hóa thành một vị Mahakala khác với sáu cánh tay, thân màu xanh đen còn to lớn và dũng mãnh hơn, miệng thét lên phẫn nộ, đột nhiên tôi cảm thấy sức mạnh toàn thân hồi phục. Hơn nữa, tôi còn cảm thấy từ đầu tới chân đều có cảm giác nóng rần rần. Thế là tay tôi kết thủ ấn Đại Hắc Thiên, có sức mạnh trì tụng Mahakala tâm chú vô số biến liên tục trong vài phút. Linh vật bất thiện kia cuối cùng đã tan đi như khói sương.

Sự việc này khiến tôi bị chấn động mạnh mẽ. Thứ nhất, tôi hiểu rằng hóa ra Hộ pháp chính hay tà phụ thuộc vào tâm niệm chính hay tà của người thực thi Phật pháp. (Tất nhiên hiện tượng này đáng kinh ngạc dị thường thậm chí vượt xa cả tưởng tượng của tôi, nhưng về sau khi được đọc trong sách Sư Tôn giải thích về khái niệm đó, thì cuối cùng tôi mới giải đáp được sự nghi hoặc của mình.)

Do vậy, nếu chỉ tu pháp thuật, không tu tâm tính thì sẽ rời xa chính đạo, mà e rằng còn rơi vào ma đạo. Ngoài ra, việc này càng chứng minh sự tồi tệ khi đánh mất dòng truyền thừa. Thứ hai, sức mạnh gia trì của truyền thừa vĩ đại và nhanh chóng như vậy, chỉ trong một sát-na khi tôi nghĩ đến việc niệm chú Căn bản Thượng sư, sự gia trì này đã phục hồi năng lượng tích cực cho tôi. Hơn thế nữa, trong một sát-na, có một vị Hộ pháp càng uy mãnh hơn hiển hiện, giải cứu tính mạng của tôi trong phút chốc. Điều càng hay hơn là tôi khi đó còn chưa có nhiều khái niệm sâu về Phật học. Sau sự việc này, tôi lên mạng tìm hiểu mới phát hiện ra hóa ra Mahakala chính là hóa thân phẫn nộ của Quan Thế Âm Bồ Tát. Việc này chứng minh việc tôi nhìn thấy Quan Thế Âm Bồ Tát hiển hiện là có cơ sở. Sau này tôi cũng gián tiếp nghe được rằng Hộ pháp mà các nhân vật bất chính kia đã dùng để đánh ông ngoại tôi cũng chính là Mahakala.

Tiếp sau đây, tôi muốn chia sẻ về bốn chương sách "Truyền kỳ về xá lợi tóc", "Phẫu thuật trong mơ", "Cỏ gọi hồn", và "Vợ chồng mười ba năm không có con". Sự thù thắng và hy hữu của xá lợi tóc không nằm ở việc tóc trên đầu mỗi người đều có thể được gọi là xá lợi tóc. Xá lợi tóc của Lư Sư Tôn nổi trội hẳn chính là vì Sư Tôn là một vị tức thân thành Phật, việc tu hành của ngài đã đạt đến được cảnh giới thực sự tương ứng không khác biệt về thân, khẩu, ý, khí, mạch, minh điểm với trí huệ Bổn tôn của hư không trung, ngài đã trở thành "thân đàn thành" [thân người chính là đàn thành] (Chương sách "Tín đồ tôn giáo khác quy y" có nhắc đến.) Linh quang của chư tôn có thể tự do đến đi, hoan hỷ tiếp nhận, an trụ phóng quang. Do vậy tôi xem xá lợi tóc của Căn bản Thượng sư là thứ hội tụ đầy đủ "linh lực", "sinh trưởng lực" và "gia trì lực". Nó tượng trưng cho mầm sống, bao hàm ý nghĩa về sự tái sinh của vạn vật trước ánh sáng bình minh. Do vậy khi nhân duyên chín muồi, nó sẽ tự sản sinh ra kỳ tích.

Trong bản văn có lấy ra ba ví dụ để chứng minh truyền kỳ về xá lợi tóc, tôi nhận thấy điểm quan trọng là: phương tiện thiện xảo của "pháp vô định pháp". Bởi vì, không có bất kì nghi quỹ nào hướng dẫn về việc sử dụng xá lợi tóc như thế nào, nhiều nhất thì cũng chỉ là hướng dẫn cho xá lợi tóc vào tháp xá lợi để thờ cúng hoặc dùng để cho vào bên trong tượng Phật. Thông thường, để được gọi là pháp thuật linh nghiệm cần có điều kiện: tâm thành tắc linh (người cầu nguyện), chư tôn phóng quang (sự gia trì), nghi thức chu toàn (làm nghi thức đúng như pháp). Chẳng ngờ rằng đồng môn tùy ý sử dụng, thế mà vẫn có thể đuổi ma, biến hóa (tái sinh), mọc tóc. Tôi nghĩ là bởi vì người trong câu chuyện đều là người thành tâm (hoàn toàn tin tưởng vào Lư Sư Tôn), bản thân xá lợi tóc đã là linh vật (vật có thể tỏa ra ánh sáng), nghi quỹ thì tùy theo thời gian, địa điểm mà tự sắp xếp. Tất cả đều dựa vào cái tâm, vạn pháp do tâm tạo nên, vô hình trung đã kết hợp lại thành những yếu tố tạo nên sự linh nghiệm của pháp thuật, bởi vậy đã tạo nên truyền kỳ về xá lợi tóc như vậy.

Chương "Phẫu thuật trong mơ" và "Cỏ gọi hồn" càng khiến người ta kinh ngạc. Sư Tôn từng nói "Một giấc mơ, một pháp giới". Tôi nhận thấy điểm quan trọng là "Mật giáo chú trọng nguồn gốc", "vật dĩ thiện tiểu nhi bất vi, vật dĩ ác tiểu nhi vi chi" [đừng vì việc thiện nhỏ mà không làm, đừng vì việc ác nhỏ mà vi phạm] (giữ giới, bố thí gieo trồng ruộng phúc), "chứng nghiệm yoga giấc mộng". Người cứu người là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, người được cứu là người có nhân duyên. Bởi vì Lư Sư Tôn đã tu trì thành tựu yoga giấc mộng, do vậy có thể xuất nguyên thần, đi vào trong mơ, biết được giấc mơ, chuyển đổi giấc mơ, điều chỉnh giấc mơ, còn người được cứu thì có nhiều phúc đức, công đức, và thiện nhân duyên (nguồn gốc thiện, nhân duyên tiền kiếp), cứ thế cứ thế mà xuất hiện những kỳ tích này, thiếu một yếu tố cũng không thành được. (Phúc đức, công đức, và thiện duyên có được từ việc giữ năm giới và làm mười điều thiện.)

Phải thừa nhận rằng thần tích khiến người ta mê hoặc, thán phục, nhưng phía sau cũng có những đạo lý và điểm mấu chốt của nó. Chúng ta không thể chắc chắn kỳ tích liệu có xảy ra trên chính chúng ta không, chỉ có thực tu mới có thể cải thiện được vận mệnh.

Trong chương "Vợ chồng mười ba năm không có con", không biết các bạn có hiểu được câu chuyện này hay không, đó chính là vì sao Sư Mẫu Quan Âm không trực tiếp đi tìm hai vợ chồng người đệ tử làm nghĩa công tốt bụng đó, mà lại muốn Sư Tôn cầm túi da đi tìm hai người họ?

Việc này lại khiến tôi liên tưởng đến một câu chuyện khác. Có đệ tử Chân Phật Tông luôn lo sợ gặp phải kẻ trộm, Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát biết được chuyện này (nguyên do là vì trong nhà của đệ tử này có thờ cúng Phật Mẫu Ma Lợi Chi Thiên). Thế là Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát bảo Lư Sư Tôn đi giúp đỡ đệ tử này tránh được nạn bị trộm. Một vị Quan Âm, một vị Phật Mẫu, tại sao hai vị đại Bồ Tát này lại không tự mình trực tiếp đi giúp đệ tử, mà lại nhất định muốn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn giúp một tay? Tôi cho rằng đây là nhân duyên gần nhất, bởi vì trong các pháp yoga Sư Tôn nhắc đến: "Căn bản Thượng sư là hóa thân của tất cả thập phương tam thế chư Phật, Bồ Tát, Kim cang, Hộ pháp, Không hành, chư Thiên." Thêm nữa, sự gia trì của Lư Sư Tôn cũng là nguyên nhân chính cho việc tiêu trừ phiền não và nghiệp chướng của đệ tử. Tất cả đệ tử Chân Phật Tông khi đã quy y và mọi duyên phận với chư tôn đều đến từ Căn bản Thượng sư, đây gọi là truyền thừa, cũng là pháp nghĩa chân thực.

Lấy một ví dụ nhỏ, trong vai trò là thị giả, việc đầu tiên khi gặp Sư Tôn mỗi ngày chính là chúng tôi cần đảnh lễ Căn bản Thượng sư. Trong lúc đợi Sư Tôn, chúng tôi sẽ trì tụng Thượng sư tâm chú bảy biến (hoặc nhiều hơn), tiếp đó là trì chú của Bổn tôn, sau đó là chú của Hộ pháp, tiếp nữa là phụng thỉnh Hộ pháp, Không hành, chư Thiên theo bên mình (nếu thời gian cho phép thì chúng tôi đều niệm chú).

Tiếp theo, khi Sư Tôn bước ra khỏi thang máy, tôi sẽ quán tưởng Sư Tôn và Bổn tôn Hộ pháp của tôi và tất cả chư tôn hữu duyên, toàn bộ đều dung hợp trên thân Sư Tôn, một vị cũng tức là nhiều, nhiều vị cũng tức là một.

Lúc này, khi tôi đảnh lễ Sư Tôn, tôi hiểu rằng chính là mình đang đảnh lễ thập phương tam thế tất cả chư Phật Bồ Tát Kim cang Hộ pháp Không hành chư Thiên (trong ý niệm thì sẽ giống như đảnh lễ tất cả các Bổn tôn trí huệ và Hộ pháp Không hành đi theo phục vụ bên Căn bản Thượng sư). Tôi cúi đầu đảnh lễ với tất cả lòng thành của mình. Kì thực, xem Thầy như Phật, như Bổn tôn, như Hộ pháp, Không hành, chư Thiên là điều ta cần ý thức ở mọi lúc mọi nơi. Chỉ là tôi mượn việc mỗi buổi sáng sớm đảnh lễ Căn bản Thượng sư để từng chút từng chút một củng cố vững chắc lòng tin và đạo tâm của bản thân.

Cuối cùng, tôi kết thúc bài viết này bằng chương sách "Có người hỏi tôi chuyện thần thông", cũng như lấy một bài thơ hiện đại xem như cảm tưởng tâm đắc của bản thân. Đối với "thần thông", có người thì tò mò, có người thì đoán, có người thì bình luận, thậm chí có người thì phỉ báng, như vậy cũng không có gì lạ, bởi vì xưa nay vẫn vậy. Tuy nhiên, suy xét cẩn thận từ tình bạn giữa Phật Thích Ca Mâu Ni trong quá khứ đến Lư Sư Tôn trong hiện tại thì sẽ phát hiện ra phía sau thần thông có chân đế của nó.

Tôi cho rằng thần thông cũng giống như một môn học rất rộng lớn và vô hạn, nó còn vượt trội cả khoa học. Nó vừa giống như điện, lại giống như ánh sáng, vừa giống lửa lại vừa giống không khí, người bình thường không nhìn thấy cũng không thể chạm vào, nhưng lại khó có thể phủ nhận được sự tồn tại của nó.

Phật giáo nhấn mạnh vào tính logic, ví dụ như "Nhân minh" trong giáo lý Ngũ Minh chính là môn học logic. [Ngũ minh là năm môn học xưa của Ấn Độ, bao gồm Thanh minh, Công xảo minh, Y phương minh, Nhân minh, Nội minh. Nhân minh là thuyết minh về lý lẽ chính, tà, thật, giả.] Ngoài ra, Thánh Tôn còn nhắc đến "Thánh ngôn lượng", "Bỉ lượng", và cả "Chứng lượng", những điều này có thể khảo nghiệm được. Thông qua việc tu học chính pháp mà nâng cao sức mạnh tâm linh, phá bỏ chướng ngại của sáu thức, thần thông sẽ "tự nhiên hiển hiện". Ở đây quan trọng là hai chữ "tự nhiên", thần thông không phải tìm kiếm mà sẽ tới.

Nếu như vận dụng thần thông đúng đắn thì sức mạnh tâm linh cộng với trí huệ sẽ trở thành đôi cánh để độ chúng sinh. "Tiên dĩ dục câu khiên, hậu linh nhập Phật trí" [trước tiên lôi kéo con người bằng những dục vọng của họ, sau đó dẫn nhập vào trí huệ Phật] mới là trò chơi thần thông vĩ đại nhất. Do vậy tôi cho rằng đệ tử Phật nên có nhãn quang và tâm cảnh đúng đắn để xem xét, ngẫm nghĩ về những đạo lý phía sau. "Pháp môn vô biên thề nguyện học, chúng sinh vô biên thề nguyện độ."

Tôi viết bài thơ ghi lại cảm tưởng như sau:

*"Thiên linh linh, địa linh linh
Kể bao chuyện kỳ quái khiến bạn và tôi cảm thán
Giống như bộ phim "thần quỷ truyền kỳ"
Biến hóa, phi không, nhập mộng, trị bệnh
Đều là phương tiện thiện xảo
Là trò chơi thần thông của Phật mà thôi.
Muôn thần tích như hoa đêm chợt nở
Phải chăng ánh sáng quang minh rực rỡ
Khiến bạn, khiến tôi cảm động đến rơi lệ
Hoa mắt sững sờ!
Nhưng Phật dạy rồi
Vẫn cần chăm chỉ tu hành thật sự
Bởi cuối cùng, vốn dĩ
Bên ngoài gió mưa thì ta vẫn là ta.
Đạo lý phi hữu phi không thâm sâu ảo diệu có ẩn ý
"Đọc thuộc Tâm Kinh" sớm đã chỉ ra
Thượng sư tương ứng, Tứ gia hành
Mật pháp thứ tự vẫn là điều cốt yếu.
Nhưng chỉ cần Bổn tôn hòa nhập với tâm ta
Đi đứng ngồi nằm đều có gia trì lực
Vậy bạn nói xem có phải thần kỳ chăng?
Không mong cầu phi thiên độn thổ
Giải thoát luân hồi mới chính là chân lý
Trân trọng thời gian khi còn được gặp Phật
Trên bồ đề đạo đừng nảy sinh thành kiến
Bảo nhậm thanh tịnh đồng tử tâm
Thiên hà thắng cảnh là thành tựu
Đợi bạn và tôi cùng nắm tay quay về."*


### 47. **Ô nhiễm không khí và huệ mệnh**


*Pháp sư Liên Anh (tác giả) - 18/3/2019*

Tôi tin rằng các đệ tử Phật giáo đều không còn xa lạ gì với điển cố kể về khi xưa, Phật Thích Ca Mâu Ni sau sáu năm khổ hạnh ở núi Tuyết đã ngộ ra rằng "khổ hạnh là phi đạo". Sự giáo thị của chính Đức Phật đã khiến cho các đệ tử hiểu được khổ hạnh chỉ chú trọng vào biểu hiện bên ngoài của cơ thể vật lý, sự thanh tịnh của tâm mới là điều quan trọng, vượt lên trên sự bám chấp vào thân thể xương thịt này, mở rộng tâm linh mới là con đường giải thoát. Cũng như trong Mật giáo lại càng chú trọng hơn đến "huệ mệnh song tu", đối với việc tu hành Nội pháp về khí, mạch, minh điểm của thân thể hành giả đều có môn đạo và thứ tự đặc thù. Đây là một pháp môn vô cùng thâm sâu ảo diệu, hành giả Mật giáo cũng xem khí, mạch, minh điểm như Tam Bảo Phật - pháp - tăng chân chính.

Pháp tu trì khí - mạch - minh điểm có thể khiến hành giả chứng đắc được mức độ thành tựu cao nhất là tức thân thành Phật, hóa thân cầu vồng (Sắc-Không điều hòa), sau đó là có thể tự mình gặp được Bổn tôn và quyết định được việc vãng sinh, thậm chí là chứng đắc Báo thân. Hơn nữa còn giúp cho tinh khí thần đầy ắp, thân thể kiện toàn, khí huyết lưu thông.

Hơn nữa, đệ tử Chân Phật Tông càng có may mắn là được chứng kiến Sư Tôn của chúng ta, mặc dù nay đã ở vào tuổi ngoài bảy mươi, nhưng mỗi ngày ngài đều chống đẩy 200 cái. Thứ bảy hàng tuần tại Đài Loan Lôi Tạng Tự, ngài vẫn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma với cả vạn người tham dự, đích thân quán đảnh cho chúng sinh. Sau bữa cơm tối ngài còn sờ đầu lần lượt từng người một (mỗi lần như vậy thông thường đều mất một tới hai giờ đồng hồ).

Đó là còn chưa kể Sư Tôn thường xuyên bận rộn và vất vả đi lại giữa các địa điểm hoằng pháp giúp lợi ích chúng sinh theo lời mời của các đạo tràng Chân Phật Tông trên khắp thế giới ở châu Á, châu Âu, châu Úc và châu Mỹ. Điều này thể hiện rằng, Sư Tôn của chúng ta không chỉ thực tu thực chứng, đã viên mãn Ngoại pháp, Nội pháp (Cửu tiết Phật phong, Bảo bình khí, Kim cang quyền pháp), Mật pháp, Mật mật pháp, là một bậc đại thành tựu giả huệ mệnh song tu, là bậc tôn giả vô lậu chân chính, mà hơn nữa ngài còn là bậc Đại Trì Minh Kim Cang Acharya chứng đắc ngũ thân cụ túc (đại lạc trí huệ, tự tính, pháp thân, báo thân, ứng thân).

Tuy nhiên, năm nay dự đoán là hòn đảo ngọc Đài Loan cũng gặp nhiều biến đổi. Bầu trời nửa phía Tây của Đài Loan cũng giống như tâm trạng lo lắng, sợ hãi và bất lực của chúng ta, đã nhuộm một lớp màn dày màu xám của khói bụi không thể loại bỏ được. Tôi còn nhớ ngày trước khi học về khoa học đời sống, thầy giáo luôn lặp đi lặp lại rằng ánh nắng, không khí, nước là ba nguyên tố chính không thể thiếu được của cuộc sống. Trước năm 25 tuổi, tôi còn chẳng hề tin lắm vào lý thuyết này…

Vùng đất Đài Loan nằm ở ranh giới giữa khu vực khí hậu cận nhiệt đới và nhiệt đới. Đường hạ chí tuyến chạy ngang qua quê tôi ở Gia Nghĩa, Cao Hùng và Hoa Liên ở phía Đông. Phía Nam của đường hạ chí tuyến thuộc về khí hậu nhiệt đới gió mùa, phía Bắc thì thuộc về khí hậu cận nhiệt đới gió mùa. Nhìn chung nhiệt độ toàn bộ Đài Loan khá cao, nhiều nắng, nền nhiệt độ trung bình cả năm là khoảng 22 độ C, điều kiện lợi thế vốn có này giúp cho nông nghiệp, công nghiệp cây ăn trái của Đài Loan phát triển rực rỡ, danh tiếng vang lừng thế giới.

Còn nữa, lượng mưa trung bình hàng năm của Đài Loan là khoảng 2500mm, so với lượng mưa trung bình toàn cầu thì nhiều hơn gấp 2,6 lần, tương đương với các quốc gia có lượng mưa phong phú. Nhưng bởi vì các nhân tố như đất hẹp người đông, núi cao vực sâu, cũng như có nhiều cơn bão lớn, nên không có cách nào lợi dụng được toàn bộ hiệu quả của lượng mưa lớn, do vậy đồng thời cũng có những lo lắng ngầm về nguy cơ thiếu nước tiềm ẩn.

Nhưng nói về chất lượng nước thì nước máy của Đài Loan nhìn chung đạt tiêu chuẩn, thực tế là không hề thua kém các nước tiên tiến như châu Âu, Mỹ, Nhật. Theo số liệu thống kê về nước sạch của Đài Loan, kết quả kiểm nghiệm nước sạch trong 5 năm trở lại đây đều đạt tiêu chuẩn trên 99,94% (chắc chắn xếp hạng top 5 thế giới). Do vậy người dân sống tại Đài Loan nên cảm thấy vui mừng và tự hào về điều này.

Cuối cùng, nhắc đến không khí thì không thể khiến người ta nén nổi tiếng thở dài. Khi còn nhỏ tôi sống ở ngoại ô Gia Nghĩa, mặc dù cuộc sống có đôi chút thiếu thốn, nhưng trong vùng có một vườn mít rất rộng lớn, nó chẳng khác gì tiên cảnh chốn nhân gian. Đối với tôi mà nói nó chính là đào hoa viên. Những buổi chiều cuối tuần tôi cùng cha mẹ chơi đánh cầu lông ở quảng trường công cộng. Quả cầu lông bay một đường parabol trên không trung rồi rơi xuống giống như sắp chạm vào mặt trời đỏ ối đang từ từ lặn xuống, trong không khí phảng phất mùi hương hoa nhài và hương thơm đặc biệt từ vườn cây mít. Nhưng tôi khi đó sống trong hạnh phúc mà chẳng biết mình may mắn, đến nay tôi mới biết trân trọng và hoài niệm về hương vị đẹp đẽ, tinh khiết và trong lành của quê hương, hương vị đến từ tự nhiên bao la, đó là hơi thở của trái đất rộng lớn này.

Sau khi tôi đảm nhận vai trò thị giả thì chuyển tới Đài Trung. Sư Tôn, Sư Mẫu và mấy người thị giả chúng tôi đều không dám há miệng để hít không khí, không dám ra ngoài vận động, đôi khi phải miễn cưỡng đeo khẩu trang dù chẳng dễ dàng hít thở chút nào. Mỗi ngày khi đón tiễn Sư Tôn, sau khi lên xe, việc đầu tiên Sư Tôn thường quan tâm hỏi là: "Hôm nay chất lượng không khí thế nào rồi?" Điều đáng buồn là chỉ số ô nhiễm không khí luôn luôn không là màu cam thì là màu vàng, thậm chí có lúc còn vượt quá giới hạn màu đỏ (tương đương với tình trạng khí độc). Càng bất thường hơn là có vài lần trên đường lái xe đến Đài Loan Lôi Tạng Tự, trên đường cao tốc số 74, chúng tôi đưa mắt nhìn ra phía xa nhưng còn chẳng thể trông thấy nổi tòa nhà phức hợp bảy tầng ở gần đó, không thể trông thấy trùng điệp những dải núi phủ cây xanh, khói bụi đã che phủ cả thành phố, tôi thậm chí còn khó phân biệt được biển chỉ đường, nhưng khi kiểm tra biểu đồ không khí thì không ngờ chỉ là màu cam. Tiêu chuẩn đo lường cảnh báo như vậy, bạn có an tâm không? Bạn có tin được không?

Hơn nữa, tin tức trên truyền hình, báo cáo trên báo chí truyền thông mỗi ngày đều là những tin gây sốc, không phải chuyện nam thanh niên chạy bộ nhiều năm ở trường học bỗng nhiên chết vì mắc bệnh ung thư phổi thì lại là chính sách "Nam điện Bắc tống" khiến dân cư ở Đài Trung nổi dậy phản đối, v.v… [Chính sách tập trung sản xuất điện ở khu vực phía Nam rồi truyền tải điện lên phía Bắc, chấp nhận người dân ở Nam bộ chịu ô nhiễm không khí để đổi lấy sự phát triển kinh tế ở Bắc bộ.]

Giáo sư kiêm viện trưởng học viện đại học Y Dược Lâm Hương Vấn - Trung Quốc còn báo cáo với Sư Tôn rằng, bởi vì ảnh hưởng của không khí ô nhiễm mà các chứng bệnh cần chữa trị bằng y học như bệnh ung thư phổi, hen suyễn, ung thư tuyến phổi đã tăng lên gấp đôi!

Những tin tức này đều cùng có sự liên quan to lớn đến các chính sách thúc đẩy quốc gia phi hạt nhân và khởi động nhiệt điện, tiêu chuẩn đời sống của người dân đã xuống mức rất thấp. An cư lạc nghiệp, an thân lập mệnh, tám chữ này thực sự đã trở thành nỗi khát khao mạnh mẽ, thậm chí trở thành một niềm hy vọng xa xỉ.

Tin tức thực sự không có gì đáng sợ, đáng sợ nhất là thói quen của người dân đối với trạng thái cuộc sống này, nhưng họ cũng chẳng có khả năng phản kháng. Tin tức trở thành những câu chuyện cũ trôi qua theo thời gian, cuối cùng cũng chẳng còn ai biết đến, cứ thế mà bị bỏ qua. Không chỉ tin tức chẳng phát huy được tác dụng gì, mà đây còn là một vấn đề nghiêm trọng và đau thương cực kì lớn. Chúng ta không nên sống giống như con ếch bị nấu chín (hy sinh thân mình) trong nước sôi (không khí ô nhiễm). Chúng ta cần có ý thức tự chủ và ý thức về nguy cơ, bởi vì không khí ô nhiễm trực tiếp ảnh hưởng đến cuộc sống và sinh mệnh của chúng ta.

Đối với vấn đề ô nhiễm không khí, tôi nghĩ các đồng môn Chân Phật đều rất đồng cảm, bởi vì Sư Tôn ở trên pháp tọa từng một lần tuyên bố rằng, nếu như trong vòng một tháng, tình trạng ô nhiễm không khí không cải thiện, Sư Tôn và Sư Mẫu sẽ quay trở về Seattle sớm hơn dự định. Quyết định này khiến cho các đệ tử trong lòng nhấp nhổm, mặt mày lo âu, nhưng cũng chẳng biết cần phải làm gì, tay chân xụi lơ.

Mặc dù cuối cùng Sư Tôn và Sư Mẫu vẫn ở lại thêm, nhưng đó là vì các ngài từ bi, thương xót không nỡ rời bỏ các đệ tử nhiệt tình và kiền thành ở Đài Loan và các nước Đông Nam Á, còn vấn đề ô nhiễm không khí thì vẫn chẳng có chút gì cải thiện. Do vậy những người là đệ tử chúng ta không nên lơ là cảnh giác, cũng không nên làm những việc vô nghĩa. Để hưởng ứng phần đã nói ở trên, Đài Loan xinh đẹp dù là đất nước nhỏ, nhưng một Đài Loan được thiên nhiên ưu đãi có thừa đủ ánh sáng mặt trời và nước sạch, vì sao có thể đánh mất một yếu tố là không khí trong sạch đây?

Tôi còn nhớ đã đọc một câu chuyện lịch sử mà ai nấy đều biết. Đường Thái Tông nói với thị thần: "Ngươi lấy đồng làm gương soi, có thể chỉnh sửa trang phục, lấy chuyện xưa làm gương soi, có thể nâng cao hiểu biết, lấy người khác làm gương soi, có thể thấy rõ được mất. Trẫm thường gìn giữ ba tấm gương này phòng khi cần tránh phạm sai lầm. Nay Ngụy Chinh đã qua đời, vậy là đã mất đi một tấm gương rồi!"

Đường Thái Tông tại vị 23 năm, những thành tựu xuất sắc của ông nhận được sự kính trọng của người đời nhiều thế hệ sau. Rốt cục, mặc dù có nhiều nguyên nhân, nhưng chắc chắn không thể tách rời ông với tư tưởng "gìn giữ ba tấm gương, phòng khi cần dùng đến". Việc "thường giữ ba tấm gương" này khiến ông có thể giữ được tư tưởng phóng khoáng rộng mở, có tầm nhìn chính trị rõ ràng, cái nhìn bao dung và các quyết sách cẩn mật mà vẫn chính xác, điều này mới tạo nên một thời kỳ hưng thịnh của "Trinh Quán chi trị" [tên gọi khác của triều đại Đường Thái Tông, Trinh Quán là niên hiệu của ông]. Hy vọng chính phủ của chúng ta có thể quan tâm lắng nghe nỗi lòng của người dân, nhân dân chính là một tấm tương soi trân quý và chân thực đó! 


### 48. **Liên Hoa Đại Bàng gửi thư cho Lư Sư Tôn**


Nhất tâm kiền thành đảnh lễ Căn bản truyền thừa Thượng sư Thánh tôn Liên Sinh Hoạt Phật!

Đệ tử và gia đình đã kết thúc chuyến hành hương kéo dài 10 ngày đến đến Đài Loan để thỉnh kinh, giờ đây chúng con đang ngồi trên chuyến bay trở về Thụy Điển. Nhìn ra bầu trời rộng lớn mênh mang toàn một màu mây trắng bên ngoài cửa sổ, con hồi tưởng lại giọng nói và nụ cười của Sư Phật khi thầy tận tâm giảng pháp, tấm lòng cảm kích vô hạn từ lâu đã dấy lên trong lòng con chẳng có cách nào an tịnh được. Bởi vậy con đặc biệt cầm bút viết thư cho Sư Phật để bày tỏ tâm tình của đệ tử lúc này cho thầy được hay.

Con ngồi an nhiên tại chỗ ngồi trong khoang máy bay, xung quanh vô cùng yên tĩnh. Máy bay dường như đứng im tại chỗ không chuyển động, thế nhưng tốc độ bay lúc này cũng đang là 900km/h. Tạm thời con chẳng còn bất kì can hệ gì với thế giới dưới mặt đất, giống như Sư Phật từng so sánh, trên mặt trăng có thiện ác không? Như con bây giờ đang ở trên không trung nơi độ cao trên 1.500m nhìn xuống chúng sinh dưới mặt đất, ai sẽ quan tâm lo lắng cho họ đây? Nếu như con cứ như vầy mà rời khỏi thế gian, vậy thì con vẫn sẽ lo lắng cho thế giới này được không? Vẫn sẽ phiền não vì lựa chọn được mất cá nhân được không?

Sinh mệnh thật nhỏ bé, nhưng vì cái tôi tự tính mà sinh mệnh trở nên to lớn không gì so sánh bằng, tâm có thể an trụ trên độ cao ngay tại lúc này không? Sư Phật dạy chúng con cuộc đời là vô thường, là khổ, là hư không, là vô ngã, làm sao để chứng ngộ.

Lần này đến Đài Loan tham gia đại pháp hội mùa xuân, đại pháp hội thủy cúng Long Thụ Bồ Tát, và đại pháp hội Hộ Ma Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu do Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật chủ trì, đồng thời con cũng tham gia lớp nghiên cứu và học tập do các nhân viên hoằng pháp của Tông Ủy Hội tổ chức, con đã học được rất nhiều.

Trong đại pháp hội mùa xuân, Sư Phật đã truyền thụ đại pháp Mã Cát Lạp Tôn, hướng dẫn các đệ tử tu pháp bố thí, tu pháp xả thân, dung nhập vào trong ánh sáng thanh tịnh căn bản. Vậy thì cái gì là bố thí chân chính đây? Đệ tử nghĩ rằng "buông bỏ" chính là bố thí từ bên trong, tất cả đều buông bỏ, xả bỏ tất cả những tạp niệm vọng tưởng trong tâm trí, đây là nguyên tắc lớn của tu pháp. Càng rộng hơn nữa là, tất cả mọi suy nghĩ đều dành để xem xét các sai lầm của chính mình, từ bỏ tất cả mọi tâm tính bất hảo, không còn khởi tâm động niệm dù chỉ một chút lỗi lầm, loại trừ hết mọi bám chấp vào cái tôi.

Trong khi tu pháp, quán tưởng thân thể bị xả ra làm nhiều mảnh và bị thiêu cháy hoàn toàn để bố thí, hóa thành cam lộ màu đỏ, màu trắng để cúng dường lục phàm tứ thánh của thập pháp giới và oan thân trái chủ nhiều kiếp, khiến họ được hoan hỷ. Sư Tôn truyền dạy pháp này là để cho các đệ tử chuyên tâm dùng pháp này vào việc hiểu về nhân sinh, cũng như các loại biến hóa về thân tâm. Mặc dù chúng ta học Phật pháp đã lâu như vậy rồi, nhưng khi tu pháp, khi ngồi thiền thì tinh thần chẳng có cách nào tập trung được, hơn nữa cũng không nỗ lực kết hợp đạo lý của Phật học vào việc tu pháp.

Trong pháp hội Long Thụ Bồ Tát và các hoạt động nghiên cứu học tập, Sư Tôn luôn lặp đi lặp lại lời cảnh báo đệ tử phương pháp tu tập "Trung quán", chỉ - quán song vận là chân lý tuyệt đối. Đối với pháp Duyên khởi, không những cần thấy được cái vô tự tính (tính Không), mà còn cần thấy được giả thiết (giả Hữu). Bởi vì vô tự tính mới là giả thiết, bởi vì giả thiết mới là không. Cần thấy được pháp Duyên khởi như vậy thì mới không chấp Hữu (cái thực có), cũng không chấp Không (cái Không hư vô). Phật hay ma là như nhau, thánh hay tục là như nhau, không hay có là như nhau, khổ hay vui là như nhau, sống hay chết là như nhau. Bởi vì con vẫn chưa ngộ ra được bản thể nên không có cách nào hiểu được lý luận của Trung quán.

Nếu như đệ tử có thể ngộ ra được bồ đề chính giác, cắt bỏ được những vô minh tự thân trên thân thể này đi, thì thứ còn lại chính là Phật tính. Trung quán chính kiến chính là không rơi vào lưỡng biên, không lạc lối, nhờ vào tất cả mọi pháp, tướng để đưa tâm tính lên đến điểm cao nhất để quan sát sự biến hóa của vạn sự vạn vật thế gian, không nghiêng về Không cũng không nghiêng về Hữu, tỉnh táo trong giấc mộng trò chơi cuộc sống này, đó là Trung quán.

Trong cuộc gặp gỡ kéo dài hai ngày của các pháp sư, giảng sư, trợ giảng, Tông Ủy Hội đặc biệt cảnh báo các nhân viên hoằng pháp cần chú trọng tư tưởng của truyền thừa, nhấn mạnh sự quan trọng của giới luật, cần đọc về giới.

Ta mỗi ngày tự xét bản thân mình về ba điều, bản thân đã phạm giới thì cần sám hối từng việc một, hy vọng không tái phạm nữa. Hành vi của hành giả đều phải hợp với pháp luật, mọi suy nghĩ đều ở đây. Nhìn rõ tư tưởng, suy nghĩ của bản thân, chỉ có thể nghĩ đến những điều thiện, không sinh ra những ác niệm, phát tứ vô lượng tâm.

Các đệ tử nếu như có bất kì tiến bộ nào đều là nhờ vào lực gia trì của Căn bản Thượng sư, truyền thừa là quan trọng nhất. Căn bản Thượng sư là chỗ dựa cho sự thành tựu của chúng ta, là duy nhất. Luôn nghĩ về Sư Phật, các đệ tử mới có thể tiếp nhận được dòng chảy pháp chân thực phủ xuống, có được sự gia trì của Căn bản Thượng sư để mà thành tựu.

Đệ tử nghĩ rằng, "kính sư" là luôn luôn tâm niệm cần ngưỡng mộ, đi theo, tin tưởng và noi theo những thành tựu của Sư Phật, dùng những lời dạy của Sư Phật để nhắc nhở bản thân mình.

"Trọng pháp" là hợp nhất, hợp nhất giữa giáo pháp mà Sư Phật truyền dạy với sự hành trì của đệ tử, ngoài ra kết hợp "vô thường, khổ, không, vô ngã, thập nhị nhân duyên, chư hành vô thường, là pháp sinh diệt, sinh diệt đã hết, tịch diệt là vui" để vận dụng vào cuộc sống, hiểu được, đưa vào thực tiễn, tu và chứng kết hợp lại. Khổng Tử đã nói "cùng lý, tận tính, dĩ chi mệnh" [xét đến cùng về lý, hiểu tường tận về tính, cho đến tận cùng là mệnh] chính là ứng dụng Phật học lên chính thân tâm, đây chính là trọng pháp.

"Thực tu" là việc tu trì chân chính cần có sự soi xét bản thân một cách trung thực, danh và lợi không dễ gì loại bỏ. Mặc dù chúng ta đang sống trong thời kỳ mạt pháp, nhưng thật may mắn lại sống cùng thời với đại thành tựu giả Liên Sinh Thánh Tôn, người đã trở thành vị đạo sư của chúng ta. Chân lý là vĩnh viễn không thay đổi, vậy thì cần xem chúng ta có phải là pháp khí đang tiếp nhận pháp nhũ hay không? [Pháp nhũ là dòng sữa pháp, ẩn dụ cho giáo lý của bậc đạo sư.]

Nếu là pháp khí đúng, thì tâm sẽ không đặt bên ngoài mà sẽ nhanh chóng tập trung tu trì pháp mà Sư Phật đã truyền dạy, bắt đầu tu trì từ cơ bản với Tứ gia hành, Bách tự minh chú, Thượng sư tương ứng pháp, tu pháp sám hối, kết hợp với điều khí để nhập thiền định. Đồng thời, nhất định cần phải đọc khối lượng văn tập khổng lồ của Sư Tôn, thâm nhập vào kinh tạng để hiểu rõ Như Lai thực tướng.

Phật nói:
"Tất cả chúng sinh, đều là ta cả. Chìm trong lạc thế, chẳng có huệ tâm. Tam giới không yên, khác gì nhà cháy." Phật yêu tất cả chúng sinh, cũng giống như yêu chính đứa con của mình vậy. Tất cả chúng sinh tham thú vào sự ngắn ngủi tạm thời của thế gian này mà không biết đến niềm hạnh phúc chân thực, vậy là không có trí huệ. Bởi con người sống trong tam giới, không khác gì bị đau khổ giày vò bên trong ngôi nhà bốc cháy, từng ngày, từng giờ, từng giây đều phải chịu đau khổ.

Tấm lòng yêu thương đệ tử của Sư Phật chưa bao giờ thay đổi, ngài dùng mọi loại phương pháp để đánh thức những đứa con đang chìm sâu trong giấc ngủ, nguyện cứu chúng sinh thoát khỏi ngôi nhà cháy. Các đệ tử của Sư Phật cần kiên tâm thỉnh Phật trụ thế, thỉnh Phật trụ thế, thỉnh Phật trụ thế. Tu tập để hiểu được phương pháp thoát khỏi sinh tử, quay về tịnh độ Ma Ha Song Liên Trì.

"Tinh chân diệu minh, bản giác viên tịnh", giác trong "bản giác" không phải là một thức gì đó khác được thêm vào, mà là thứ mà vốn dĩ ta đã có, thứ này vốn dĩ là thanh tịnh. "Trung quán" là không tách rời khỏi sinh tử, không phải là không có sinh tử, sinh là có, tử cũng là có, chỉ là sinh tử vô hại, không giữ lại ta cũng không cản trở ta, không bẩn không sạch, không có quan hệ gì.

Nhớ tú tài Trương Chuyết năm xưa đã ngộ ra rằng "Niết bàn sinh tử đẳng không hoa" (*) Không chỉ có sinh tử giống như hoa không khí, mà cả niết bàn cũng giống như hoa hư không [không tồn tại]. Nếu ta nhận thấy niết bàn là một thứ gì đó, thì niết bàn chính là sinh tử. Sinh tử vốn dĩ là hư huyễn, sinh tử chính là niết bàn. Hóa ra thân này của ta cũng tức là đạo tràng. Tất cả thực tướng chung mà thế giới này có đều nằm trong quá trình sinh diệt, biến hóa không ngừng. Trước khi biến đổi và sau khi biến đổi, thậm chí trong quá trình biến động, vốn dĩ chính là nằm trong niết bàn, vốn dĩ chính là tịch diệt, là thanh tịnh.

Lần này hành hương về Đài Loan được nghe Sư Phật bằng diệu âm khai thị, được quán đảnh đề hồ [“đề hồ” nghĩa gốc là kem phô-mai, một loại thực phẩm được tinh chế cao cấp, bổ dưỡng, câu này là một ẩn dụ nói về việc được nghe và quán đảnh những trí tuệ tinh hoa của Phật pháp], pháp hỷ tràn đầy. Buổi tối trong pháp hội ngày thứ bảy trước ngày con rời khỏi Đài Loan, đệ tử đã thỉnh cầu và may mắn được Sư Tôn từ bi gia trì quán đảnh trì chú Đại Luân Kim Cang, cho phép con ở đâu cũng có thể cùng nhập vào tất cả mandala. Lúc nhận quán đảnh, đệ tử cảm nhận được Thầy đã triệu thỉnh Đại Luân Kim Cang đến gia trì, dòng chảy pháp tràn ngập khắp toàn thân, cảm thấy từ đầu tới chân đều có khí lực mạnh mẽ, cảm nhận này từ trước tới nay con chưa từng có. Sự ưu ái và hy vọng của Sư Phật đối với đệ tử, đệ tử cảm tạ khôn xiết. Đệ tử đem theo sức mạnh này trở về nước, nhất định cần tu trì tinh tấn hơn nữa, để mọi sự được viên thông, có được đại pháp hỷ.

Một lần nữa cảm ơn Sư Phật, đệ tử nguyện chúc Sư Phật Phật thể an khang, trường thọ tự tại, thường trụ thế gian, pháp luân thường chuyển, quảng độ chúng sinh.
Kiền thành đảnh lễ Sư Phật.

Đệ tử Liên Hoa Đại Bàng từ Thụy Điển.

Ngày 3 tháng 5 năm 2019.

(*) Câu cuối cùng trong bài kệ cho chính Trương Chuyết làm nói về "thứ" mà anh đã ngộ ra sau khi gặp sư Thạch Sương (806-888). Mời quý vị xem thêm bài kệ đầy đủ, bản dịch của trang thuongchieu.net như sau:

*Quang minh lặng chiếu khắp hà sa
Phàm thánh hàm linh vốn chung nhà.
Một niệm chẳng sinh toàn thể hiện
Sáu căn vừa động bị che lòa.
Phá trừ phiền não càng thêm bệnh
Tìm đến chân như âu cũng tà.
Tùy thuận các duyên không chướng ngại.
Niết bàn sinh tử thảy không hoa.*


### 49. **Sự hồi sinh của thai nhi không có nhịp tim**


*Tường Tường (tác giả)*

Người bình thường chắc chắn không thể nghĩ rằng một thai nhi không còn nhịp tim, ngay cả đến bác sĩ cũng đã kết luận rằng cần bỏ thai nhi này, nếu không phải là được Sư Tôn gia trì, thì làm sao có được kỳ tích này?

Chị dâu tôi (Trầm Chi Quân) khi đó đang mang thai được 12 tuần mà thai nhi vẫn không đo được nhịp tim (bình thường khoảng 6-8 tuần là có thể đo được nhịp tim của em bé rồi). Do vậy, bác sĩ khoa phụ sản của một bệnh viên đông y ở Đài Trung đã kết luận là em bé không có nhịp tim, nên đã yêu cầu chị dâu tôi uống thuốc phá thai để đưa thai nhi ra ngoài cơ thể. Nhưng chị dâu tôi vô cùng yêu thương đứa con đó, không nỡ lòng nào dùng cách làm này, lại càng không muốn uống thuốc phá thai. Cách một ngày sau khi kiểm tra, chị dâu tôi tham gia pháp hội Địa Tạng Vương Bồ Tát do Sư Tôn chủ trì, chị cũng rất thành tâm cầu xin cho em bé có thể sống lại, có thể khỏe mạnh.

Sau khi tham gia pháp hội, buổi đêm hôm đó chị dâu mơ thấy một bạn nhỏ nói với chị: "Mẹ ơi, con rất khỏe mạnh đó!" Nhưng chị dâu cho rằng chị ban ngày nghĩ sao thì đêm mơ vậy, nên cũng không quan tâm lắm. Kết quả là ngày hôm sau, chị lại mơ thấy Sư Tôn nói với chị: "Em bé rất khỏe, khỏe mạnh như các người vậy!" Sau khi tỉnh giấc mơ, chị dâu bắt đầu có niềm tin.

Vốn dĩ cho dù chị kiểu gì cũng không đành lòng, nhưng đứa trẻ đã không có nhịp tim thì cuối cùng cũng vẫn phải đưa ra ngoài cơ thể thôi. Hơn nữa chị đã đi đến trung tâm y học, tiếp tục chờ thêm kết quả mấy tuần nữa đều như vậy, đúng lúc chị đang lưỡng lự suy nghĩ xem nên xử lý thế nào…

Thế nhưng sau khi có niềm tin, chị đi đến bệnh viện kiểm tra lại. Em bé thực sự đã có nhịp tim. Cuối cùng chị đã bình an sinh con. Cho đến nay em bé đã 1 tuổi rồi.

Chị cũng vốn dĩ lo lắng đã muộn như vậy mới có tim thai thì em bé có thể có khả năng bị mắc bệnh tim bẩm sinh. Nhưng sự thực đúng như Sư Tôn nói, em bé hoàn toàn khỏe mạnh!

Chị dâu vô cùng cảm tạ sự giúp đỡ của Sư Phật đã giúp cho em bé có nhịp tim, cũng giúp cho em bé bình an khỏe mạnh như vậy. Sức mạnh gia trì của Chân Phật thật sự là bất khả tư nghì!


### 50. **Thư của sư tỉ Trương Mẫn Trăn**


Lý do: bởi tôi đã tham gia vào câu lạc bộ trực tuyến đọc sách văn tập của Sư Tôn đã lâu, tôi đã thu nhận được những chỉ dẫn rất bổ ích. Bởi vậy tôi sâu sắc cảm thấy bản thân mình vẫn cần phải tăng cường sự thâm nhập vào Chân Phật Mật Pháp, như vậy mới có thể tiến bộ, hơn nữa tất cả mọi vấn đề gặp phải, trong khi thực tu thiền định sẽ có được linh cảm về mật án.

Thực tu Mật pháp không chỉ để làm tư lương cho việc vãng sinh, mà còn có thể bảo vệ cuộc sống của chúng ta nữa! Đặc biệt là trong những lúc nguy nan, chỉ cần thành tâm hướng về Sư Tôn thỉnh cầu, Sư Tôn sẽ lập tức đến giúp gia trì cho ta để giải nguy!

Tôi quy y Sư Tôn vào năm dân quốc thứ 84 (năm 1995), năm 85 thì tôi đến chùa tổ ở Seattle, sau khi trở về thì tôi đến tham gia đồng tu ngày thứ bảy tại Tam Nghĩa Chân Minh Đường.

Hễ Sư Tôn có pháp hội tại Đài Loan Lôi Tạng Tự, tôi trước nay đều chưa vắng mặt lần nào, dù có ốm bệnh cũng vẫn đến tham gia pháp hội. Ngày mừng đại thọ 80 tuổi của mẹ tôi, tôi cũng không có mặt ở buổi lễ mừng thọ, vì tôi vẫn đến tham gia hộ trì pháp hội của Sư Tôn. Em trai út của tôi kết hôn, tôi gửi tiền mừng, và cũng không tham gia hôn lễ để còn tham dự pháp hội của Sư Tôn. Những lần ấy tôi đều bị nói bị chửi, tôi chỉ có thể nuốt nước mắt ngược vào trong lòng. Với bất kì ai tôi đều nói, tôi đặt Sư Tôn lên thứ nhất, ai nói gì cũng đều thế thôi.

Từ trước đến nay, mỗi ngày thứ bảy, sau khi hộ trì pháp hội do Sư Tôn chủ trì xong, tôi đều cùng các sư huynh sư tỉ buổi tối trở về Chân Minh Đường, dùng cơm xong thì đồng tu!

Thế còn khi Sư Tôn trở về chùa tổ ở Mỹ, đường chủ của chúng tôi cứ 9 giờ tối thứ bảy là đồng tu. Các sư huynh sư tỉ trong Phật đường của chúng tôi đều rất đoàn kết, cũng rất nghiêm túc niệm kinh chú. Các sư huynh sư tỉ chúng tôi, mỗi ngày thứ bảy tại pháp hội ở Đài Loan Lôi Tạng Tự đều luôn chủ động đứng ở bên ngoài để nghênh đón Sư Phật, tiếng hô rất lớn! Trên hai cái cột lớn ở trước cửa Chân Minh Đường của chúng tôi có viết:

Kính sư trọng pháp cần thực tu!
Có linh có nghiệm là Chân Phật!

Do vậy lần này tôi mắc bệnh nặng, bởi vì thể chất của tôi rất mẫn cảm, rất nhiều loại thuốc tôi không uống được, đến bệnh viện kiểm tra cũng không tìm ra bệnh, nên tốt nhất chỉ có tu pháp xong thì bói chén để thỉnh cầu chỉ thị của Sư Tôn. Việc cầu xin Sư Tôn cho tôi có cảm ứng, không ngờ thường thường đều vô cùng linh nghiệm!

Có một lần tim của tôi rất yếu, toàn thân toát mồ hôi, hít thở khó khăn, hít một hơi gần như cũng không thể. Tôi lập tức hướng về Sư Tôn thỉnh cầu cứu mạng, thế là lập tức cảm thấy dễ chịu. Sau khi nhận được quán đảnh của Sư Tôn tại pháp hội vào thứ bảy tuần trước, tôi lại thỉnh cầu Sư Tôn gia trì, do vậy tôi mới khỏe lại nhanh như thế. Hàng xóm đều nói: thật bất khả tư nghì. Họ còn nói thẳng: Sư Tôn của các chị thật là linh nghiệm đó!

Tôi cảm thấy thân làm một hành giả Mật giáo, nhất định cần hiểu việc kính thầy, như vậy mới coi trọng pháp của Sư Tôn, mới có thể chăm chỉ thực tu. Sư Tôn cứ mỗi 500 năm mới đến thế giới Ta Bà, là một vị minh sư Phật pháp chân chính. Chúng ta duy nhất nương dựa vào Căn bản truyền thừa Thượng sư, càng cần chăm chỉ thực tu Chân Phật Mật Pháp, Sư Tôn sẽ rất vui mừng. Mọi người chúng ta càng cần trân trọng Sư Tôn và hộ trì Sư Tôn, thỉnh Phật trụ thế!

Cầu nguyện Sư Tôn Phật thể an khang! Trường thọ tự tại, thường trụ thế gian, thường trụ Đài Loan, đại chuyển pháp luân, quảng độ chúng sinh, mọi người chúng ta cùng thỉnh Phật trụ thế!

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/274-doi-loi-can-dan.md
# Title: 274. Đôi lời căn dặn
---

![image](/img/img_d9b31a02648614d57b68fec278ee6e95.jpg)



## Đôi lời căn dặn


🪷 Tập hợp tản văn và thơ

Văn tập số: 274
Xuất bản: 16/12/2019
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu


Đầu mùa hè năm 2019, tôi từ Đài Loan trở về Seattle nước Mỹ. Seattle là nơi tôi đã sống 37 năm. Đó cũng là lúc tôi đã hoàn thành sáng tác 273 cuốn sách.
Tôi đang nghĩ, cuốn sách thứ 274, mình muốn viết gì đây?
Tôi cứ nghĩ tới nghĩ lui, trong đầu trống rỗng, chỉ là một khoảng trắng.
Tôi vô thức mở ngăn kéo bàn làm việc của mình ra và thấy bốn cuốn sổ nhỏ.
Tôi giở trang đầu tiên.
Trên đó có mấy hàng chữ đập vào mắt tôi:
*"Những lời ta muốn nói
Luôn chẳng thể nói ra lời.
Phải làm sao đây?
À phải!
Có thể gửi lời vào bút mực
Để truyền đạt gửi gắm."*

🌟

Lúc này, tâm trí tôi chấn động một lúc, đây chẳng phải chính là linh cảm mà tôi đang tìm kiếm sao?
Tôi cần dùng bút và mực để viết ra những tiếng lòng của mình.
Rất nhiều điều, tôi thật sự không thể nói thành lời. Tôi chỉ có thể cắm cúi trên bàn viết của mình mà viết ra từng chữ, từng chữ.
Để tâm tôi bay lên,
Bay đến mọi nơi trên thế giới
Truyền đạt "Đôi lời căn dặn" của tôi.

🌟

Cuốn sách "Đôi lời căn dặn" này sẽ thể hiện một phong cách khác, nhưng chủ yếu là: tản văn và thơ.

Tôi có suy nghĩ rằng:
Sẽ không có bất kì ràng buộc nào, không có bất kì phong cách nào, cũng không cần phải có chủ đề, không có cái gọi là vai chính, không có cái gọi là vai phụ, cứ tự do tự tại mà thể hiện thôi.
Những gì tôi viết,
Chỉ là những giao tiếp vi diệu
Hoặc chỉ là một gợi ý
Hoặc cảm hoài
Hoặc là một bài thơ nhỏ.

Tôi viết một bài thơ vậy!
Tiêu đề là "Lời trong mộng".

*"Bầu trời Seattle
Khói mây vô vàn biến hóa
Cầu vồng kia
Lại càng huyễn hóa hơn.
Giống như
Một quẻ trải ra bói chuyện lành chuyện dữ.*

*Gió đã nổi lên
Bông hoa đầu cành cũng bị thổi bay mất
Từng cánh hoa bay bay
Khẽ chạm vào khuôn mặt
Thật mới mẻ
Tựa như một bức tranh.*

*Mặt trời chênh chếch
Ánh chiều buông lơi
Tôi lại hát bài "Giờ tan học mặt trời ngả về tây" (*)
Đêm nay
Sẽ lại có những lời trong mộng."*

(*): đây là câu hát đầu tiên trong một bài hát thiếu nhi có tên gọi là “Bài ca tan học”.

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A

Tháng 12/2019


### 01. Nói với nàng về "tâm"


Nàng nói:
*"Trái tim chàng vẫn luôn thật nhỏ
Chỉ vừa đủ một người bước vào
Người ấy trước đây, tên là "Ngày xưa"
Người ấy bây giờ, tên là "Vĩnh hằng"."*

Ta nói:
*"Trái tim ta rất lớn
Đủ cho năm trăm vạn đệ tử bước vào
Nhưng vì nàng đã bước vào,
Vậy ta sẽ để mình nàng
Ở trong "căn phòng tổng thống" của ta."*

🌟

Khi chúng ta nói đến "tâm", tôi sẽ nghĩ đến vấn đề các khái niệm của "tâm".
Tôi không muốn viết quá sâu. Tôi chỉ muốn nói rằng:
Thân thể xương thịt — là Ta giả.
Linh hồn — là Ta thật. (tâm)
Ý thức cao nhất của vũ trụ — là Bản ngã.
Nói một cách đơn giản, chúng ta tu hành là để đưa tâm đến với ý thức cao nhất của vũ trụ.
Hợp nhất.
Không hai không khác.

Tôi muốn nói rằng:
Cái Ta giả của thân thể này không có gì đáng kể, cũng không giữ mãi mãi được, đến lúc sẽ suy hoại. Luân hồi cũng như vậy, chỉ là một cuốn sách khô héo, nhiều chương nhiều tập dài lê thê phức tạp.

Sự ảo diệu và huyền bí của sinh mệnh là như sau:
Với thế tục: Sinh mệnh là luân hồi.
Với Thánh nghĩa: Sinh mệnh là hồi quy.
Tôi nói cho bạn hay:
Có đôi khi, tôi sống trong thế tục này, đi đứng hoàn toàn giống như một người bình thường.
Có đôi khi, linh hồn của tôi (tâm) đã dung nhập vào ý thức tối cao của vũ trụ. Lúc này tôi sẽ có một tên mới:
Avatar.
Cũng tức là "người bán thần".
Tôi bí mật nói cho bạn biết, đừng nói ra ngoài nhé, tôi chính là "người bán thần" một trăm phần trăm.

Khi đang sống kiếp này, có đôi khi tôi quên mất chính mình đang sống, bởi vì tôi đã hợp nhất với vũ trụ.
Khi không hợp nhất, thì tôi lại biến thành người thế tục, trước đây tôi thường xuyên đau đầu vì những chuyện thế nhân.
Bây giờ thì tôi chẳng bị thế nữa, bởi vì tôi đã đạt được:
"Ý thức giải thoát."

🌟

Ta viết cho nàng một bài thơ nhỏ, tiêu đề là "Nói chuyện tâm".

*"Ta thật lòng muốn
Đưa nàng bay lên tận trời xanh
Ở trên đó
Sáng trong
Diệu kỳ
Những tòa tháp lên xuống
Như xích đu đung đưa giữa trời không.*

*Nàng cũng đã thành tiên
Tựa như một làn khói nhẹ
Hóa thành không
Hóa thành trong suốt
Nhàn nhã bay lên.*

*Không còn cô đơn
Không còn tuyệt vọng
Như đôi bướm dập dìu thướt tha."*


### 02. Nhớ nhung lại nhớ nhung


Nàng nói:
*"Ở Seattle,
Mỗi cây hoa, mỗi chiếc lá,
Đều tượng trưng cho nỗi nhớ của em.
Sớm nay, phát hiện trên cây một mầm xanh mới nhú
Thì ra là...
Nỗi nhớ của em, vẫn tăng lên từng ngày."*

Ta nói:
*"Ba mươi tám năm xưa ta ở Đài Loan
Ba mươi bảy năm sau ta ở Seattle.
Khi ở Đài Loan, ta nhớ Seattle.
Khi ở Seattle, ta lại nhớ Đài Loan.
Và hẳn nhiên,
Ta cũng nhớ nàng như thế
Nỗi nhớ miên man đậm sâu chẳng đổi thay
Cũng như thể một nỗi nhớ nhà."*

🌟

Tôi muốn kể cho bạn biết rằng:
Thời tiểu học, tôi có một người bạn cùng lớp tên là Hoàng Kim Hùng, nhà cậu ấy giàu có, mỗi lần đi học cậu ấy đều mang theo hai hộp cơm, một hộp để cho Lư Thắng Ngạn nghèo khó.
Khi điều kiện kinh tế của tôi đã tốt lên, tôi trở về Đài Loan để gặp cậu.
Trời xanh bỗng vang rền một tiếng sấm.
Tôi sững người lại!
Cậu ấy đã chết rồi!
Thế nên tôi thường hay nghĩ về cậu ấy. Đương nhiên, tôi rất cảm ơn tấm lòng tốt mà cậu đã dành cho tôi.

Kì thực, cuộc đời này của tôi có rất nhiều người tôi muốn nhớ đến, nếu xâu chuỗi lại thì sẽ được một chuỗi rất dài...
Còn tôi,
Nhớ nhung lại nhớ nhung.
Về sau,
Tôi từ từ học cách chỉnh đốn lại những ý nghĩ của mình, luôn không thể để cho chúng hỗn loạn không có trật tự gì cả.
Tôi bắt đầu ngồi thiền.
Ý nghĩ giống như một dòng suối nhỏ, nước suối róc rách chảy qua trước mắt tôi.
Đầu tiên là nước cuồn cuộn.
Tiếp đến là ào ạt.
Sau đó là khoan thai.
Tôi hóa vạn niệm thành nhất niệm, tập trung vào hiện tại trở thành nhất niệm. Nhất niệm này sẽ trở thành "định".
Tôi biết, sau đó tôi cũng sẽ bỏ luôn nhất niệm này để đổi lấy một danh từ cuối cùng, danh từ này chính là:
"Sự giải thoát."

Có đôi khi, nghĩ mà xem, nhớ một người, cũng là một kiểu niềm vui, chẳng phải thế sao?
Nhưng,
Tôi cũng là một con người đã tuyệt đỉnh giác ngộ!

🌟

Thơ: "Nỗi nhớ"

*"Ta sẽ chẳng đóng băng nỗi nhớ thành sương giá
Nỗi nhớ vẫn ấm nóng nơi đây
Ta là ánh sáng
Nàng là ánh sáng*

*Chúng ta đều chẳng làm tổn thương nhau
Nỗi nhớ của nàng
Nhiều thêm
Nỗi nhớ của ta
Nhiều thêm*

*Tận sâu trong trái tim ta
Vẫn là mùi thơm tóc nàng ẩn giấu."*


### 03. Nghìn vạn sợi mưa


Nàng nói:
*"Đêm qua, mưa lất phất
Sớm nay hóa thành sương mai
Thấm đẫm vào em.
Em giống như bông hoa nhỏ bên đường
Vươn mình sảng khoái đón ánh mặt trời
Đi vào trong trái tim chàng..."*

Ta nói:
*"Dường như ta hiểu được những lời thì thầm của nàng
Ta thích,
Nghìn sợi mưa,
Vạn sợi mưa,
Rơi vào nước rồi tan biến mất.
Nhưng,
Trong lòng từ lâu đã đầy ắp những gợn nước lăn tăn lăn tăn
Vô số những vòng nước lăn tăn
Bởi trái tim ta đã có nàng chiếm trọn..."*

🌟

Ai cũng biết tôi thích ngắm trời, ngắm người họa sĩ vĩ đại vô hình vẽ nên những bức họa rộng lớn vô biên trên bầu trời.
Rất trừu tượng.
Rất tả thực.
Rất bay bổng.
Rất phá cách.
Oa!
Thượng đế thật là một họa sĩ siêu siêu siêu vĩ đại.
Rất nhiều người không biết cách thưởng thức, còn tôi thì du ngoạn khắp chân trời, thật khiến người ta kinh thán!

*Gió khe khẽ thổi qua
Mây thưa bỗng chốc dày
Mưa rào rào đổ xuống
Sấm như trống rền vang
Tiếng ì ầm ì ầm,
Chớp lóe lên loang loáng.*

Chúng ta có thể thấy được sự biến hóa của giới tự nhiên, chỉ là rất ít người chú ý đến những điều này mà thôi.

🌟

Tôi thích mưa!
Đây cũng là điều ai cũng biết. Trước đây tôi hát một bài hát, tên bài hát là "Ánh nắng và cơn mưa".
*"Nếu như có một ngày
Mưa không còn rơi xuống
Nước sông hồ ngừng trôi
Hoa cũng khô héo cả."*

Tôi thích mưa, tôi thích những cơn mưa lất phất tràn đầy ý thơ, tràn đầy mộng huyễn, tràn đầy tình yêu, tràn đầy hứng thú.
Biết hay không?

*"Tí tách tí tách, lộp độp lộp độp, trời đổ mưa rồi!
Mẹ em cầm ô tới đón em,
Tí tách tí tách, lộp độp lộp độp, la la la."
Biết hay không? Đó là bài hát: "Một chiếc ô nhỏ."*

Tôi viết một bài thơ vậy!
Tiêu đề: "Mưa nhỏ".

*"Bầu trời rung nhè nhẹ
Rồi tình ý mỗi lúc một nặng thêm
Thế là khuấy động*

*Chưa bao giờ có nhiều sợi mưa như thế
Tạm biệt rồi
Còn ai ở cùng ai...*

*Từng vòng từng vòng lăn tăn
Là những lời nói trong mơ của ta và nàng
Chẳng cần phải gửi đến nhau."*


### 04. Bức tường vô hình


Nàng nói:
*"Hôm nay, chàng làm em
Nhớ nhung, nhung nhớ...
Mà vẫn như đâm phải bức tường vô hình,
Khiến em hoang mang lạc hướng,
Lòng vẫn luôn rất gần
Ước gì...
Được lập tức ngã vào vòng tay của biển lớn."*

Ta nói:
*"Đúng rồi.
Trước mặt ta đây,
Cũng có rất nhiều rất nhiều bức tường vô hình như thế,
Chúng ta vẫn luôn chẳng thể làm theo điều trái tim ta muốn,
Thế nên,
Vẫn phải né tránh thật nhiều.
Tuyệt đối chẳng phải ta muốn làm tổn thương nàng,
Chăm sóc nàng cũng còn chẳng kịp nữa,
Ta sẽ chẳng làm tổn thương nàng đâu."*

🌟

Tôi muốn nói với bạn rằng:
Cuộc đời chính là những dấu chân.
Nói ra thì nghe rất nhẹ nhàng, nhưng mỗi dấu chân đều phải gian nan nhấc lên, rồi lại gian nan hạ xuống.
1 tuổi — khởi đầu một chương.
10 tuổi — học tập khẩn trương.
20 tuổi — tuổi trẻ đau thương.
30 tuổi — sự nghiệp tìm đường.
40 tuổi — bắt đầu phát tướng.
50 tuổi — tuy già vẫn gượng.
60 tuổi — huyết áp bất thường.
70 tuổi — trí nhớ ẩm ương.
80 tuổi — run rẩy chuyện thường.
90 tuổi — mất dần phương hướng.
100 tuổi — ảnh treo trên tường.
Đây chính là bức tường của cuộc đời.
Gần như 99% con người đều đi cùng một con đường giống nhau.

Nhưng chúng ta thì khác. Chúng ta cần có thêm tu hành.

1. Tư lương đạo.

2. Gia hành đạo.

3. Kiến đạo. (khai ngộ)

4. Tu đạo.

5. Cứu cánh đạo.

Chúng ta cần đi qua rất nhiều bức tường vô hình, mỗi lần đều lảo đảo loạng choạng.
Nếu không có sự phát tâm ban đầu, bạn sẽ không đi trên con đường này.
Nếu bạn không có lòng kiên trì, bạn cũng sẽ không thể đi hết được con đường này.
Tâm kiên trì này cũng là tâm dài hạn.

Tôi đi trên con đường tu hành này không thể nào không có các vị thần bảo vệ. Do vậy, Thượng sư, Bổn tôn, Kim cang Hộ pháp chính là biển lớn của bạn và tôi.

🌟

Thơ: "Bức tường vô hình"

*"Nàng va phải bức tường
Ta cũng va phải bức tường
Tránh sao khỏi lảo đảo loạng choạng
Bởi vì
Con đường còn rất dài.*

*Ta biết nàng bận rộn
Cũng biết rằng sự đời rất gian nan
Ta cảm thông cùng nàng
Nàng hãy trốn vào nơi bí mật trong trái tim ta."*


### 05. Sự hỗn độn mà tôi biết


Nàng nói:
*"Em như mây khói trập trùng nơi núi cao,
Đang chờ đợi,
Bỗng nhiên mặt trời xuất hiện,
Mây khói đã có thể tan vào
Cùng hòa làm một."*

Ta nói:
*"Ta ngạc nhiên và ngưỡng mộ sao
Với mấy lời mà nàng vừa nói
Phật dạy chính là như thế:
Trời người là một.
Phật người là một.
Tâm khí hợp nhất.
Ta hợp nhất với chính ta.
Ta hợp nhất với Phật tính.
Ta hợp nhất với Bổn tôn.
Đây là du già và tương ứng, là chân đế cùng nhau dung nhập hợp nhất.
Mấy lời này của nàng, đã nói lên một đạo lý lớn, thật chẳng phải dễ dàng."*

🌟

Tôi thật lòng thật sự nói cho bạn biết rằng:
Phật tính là vô hình.
Phật tính không có hình dạng.
Phật tính là tuyệt đối.
Giống như người Trung Quốc chúng ta có "Hỗn Độn".
Hỗn Độn là vô hình.
Hỗn Độn không có hình dạng.
Hỗn Độn là tuyệt đối.

🌟

Thần thoại Trung Quốc kể rằng:
"Hỗn Độn" là một gã khổng lồ của vũ trụ, gã không biết gì cả.
Một hôm, có bảy vị thần đến, dùng thần lực để mở ra bảy lỗ trên "Hỗn Độn", bảy lỗ này chính là:
Hai mắt.
Hai tai.
Hai lỗ mũi.
Một miệng.
Đây chính là bảy lỗ.
Thế là, Hỗn Độn đã nhận biết được về sắc, thanh, hương, vị, xúc.
Sự nhận biết này chính là ý thức, chính là phương pháp.
Về sau, Hỗn Độn vì bảy lỗ này mà chết.
Hỗn Độn đã chết rồi.

🌟

Tôi kể cho bạn nghe câu chuyện này là muốn nói rằng:
"Phật tính", "Hỗn độn" chính là bản nguyên của tất cả mọi vật.
Chúng ta vì có "tri thức" nên mới có "vô minh" và "sinh tử luân hồi". Có "ngã" và "sự bám chấp của cái tôi".
Tu hành chính là tu tâm, tâm quy về nhất niệm.
Nhất niệm lại quy về vô niệm.
Vô niệm chính là "Phật tính", chính là "Hỗn độn".

🌟

Tôi viết một bài thơ, đặt tên là: "Hòa tan".

*"Nếu như nàng là mây khói
Nếu như ta là mặt trời
Chúng ta hòa tan vào nhau*

*Nàng ở trong trái tim ta
Ta cũng ở trong trái tim nàng
Rồi một ngày
Chúng ta cũng trở thành một
Đó chính là không phụ lòng nhau
Đây có phải là giữ lời hay không."*

Đáp án chính là không giữ lời (hỗn độn).


### 06. Mưa ở Seattle


Nàng nói:
*"Mưa ở Seattle,
Luôn âm thầm lặng lẽ,
Nhẹ nhàng thấm đẫm mặt đất.
Giống như chàng,
Cũng luôn âm thầm lặng lẽ
Mà sao quá mau choán ngữ trái tim em,
Khiến em,
Chẳng kịp phòng bị.
Khiến em,
Bối rối ngẩn ngơ."*

Ta nói:
*"Khi ta đang ở Seattle,
Bất kể ta đang viết văn,
Hay đang ngồi lặng nơi cửa sổ,
Ta thường ngắm nhìn trời mưa
Seattle vốn dĩ là thành phố hay mưa.
Ta viết sách,
Sách có tên:
Nhớ mưa bụi ở Tây Thành."*

🌟

Ta muốn nói với nàng rằng:
*”Bất kể là nàng lao vào trước
Hay là ta lao vào trước,
Tóm lại là,
Chúng ta đang đi trong mưa,
Chúng ta đang cười trong mưa,
Chúng ta đang điều hòa tâm hồn trong mưa,
Chúng ta đang tìm lối thoát cho linh hồn trong mưa,
Chúng ta đã hòa tan vào nhau trong mưa rồi."*

🌟

Tôi là một tác giả viết văn hàng ngày, viết văn đã chiếm một nửa thời gian cuộc sống của tôi.
Bởi vậy, thời gian của tôi rất ít.
Có một đệ tử biết rất rõ vấn đề của tôi nằm ở đâu. Anh ta nói:
"Lư Sư Tôn, xin thầy cứ tiếp tục mỗi ngày cắm cúi bên bàn viết mà sáng tác, con biết thầy có rất ít thời gian.
Nhưng thầy biết không?
Những bài viết của thầy giống như mưa,
Đã tưới đẫm tâm hồn của rất nhiều người, rất nhiều người."

Thế nên,
Trong những năm tháng còn lại của đời người, tôi muốn dùng mưa của Seattle để tưới đến khắp mọi nơi trên toàn thế giới.
Để cho hoa nở,
Để cho hoa cười,
Để cho hoa tươi,
Để cho hoa thơm.
Những sáng tác của tôi, ước gì có thể khiến thế giới thêm xinh đẹp.

🌟

Tôi viết một bài thơ:
Tiêu đề: "Lất phất mưa bay".

*"Đôi lời căn dặn của ta
Chính là những cơn mưa bụi
Của Seattle*

*Trong không trung
Lất phất bay
Giống như gió thổi sợi bông nhẹ bẫng.*

*Nàng gửi đến ta những lời thì thầm
Khiến tâm trạng ta thêm phần vui vẻ
Từ nay
Sẽ chẳng thể thiếu được nữa."*


### 07. Đôi mắt của người yêu


Nàng nói:
*"Em chẳng dám nhìn thẳng vào mắt chàng,
Bởi vì em luôn nhìn thấy,
Rất rất sâu,
Rất rất sâu,
Rất rất sâu trong đôi mắt ấy
Một tình yêu
Vô hạn..."*

Ta nói:
*"Đúng là như thế,
Đối với đệ tử ta đều rất thân thiết,
Thậm chí đối với khách mới ghé thăm cũng đều rất ân cần,
Luôn mong rằng có thể độ hóa cho họ.
Ta thực sự,
Rất thiết tha,
Rất thiết tha,
Rất thiết tha,
Hy vọng vào họ...
Nhưng,
Vào lúc ta gặp nàng,
Đôi mắt ta đã bị ánh sáng lấp lánh từ đôi mắt nàng chiếu trúng,
Thế là,
Ta rơi vào trong chiếc lưới...
Và ta biết
Chiếc lưới đó, được gọi là lưới tình."*

🌟

Trước đây rất lâu, tôi đã nghe về một câu chuyện:
Một người tu hành bế quan trong một căn phòng kín.
Một cô gái nấu ăn cúng dường cho hành giả.
Cô gái chỉ có thể đứng từ cách xa năm trăm bước chân, để đồ ăn xuống rồi phải rời đi ngay.
Về sau, cô tiến gần lên một chút, để đồ ăn cách một trăm bước chân.
Rồi sau nữa, cô để đồ ăn ở cửa sổ.
Cuối cùng, hành giả mở cửa sổ ra.
Bốn mắt nhìn nhau.
Đến ngày bế quan cuối cùng, hành giả mở cửa chính ra, để cho cô gái bước vào trong phòng.
Khi đi ra khỏi cửa, hành giả đưa cô gái đi ra, trên tay cô gái còn bế theo một đứa bé sơ sinh.
...

🌟

Trong giới luật tu hành A La Hán, có một điều như sau.
A La Hán nói chuyện với phụ nữ phải giữ khoảng cách.
Nói chuyện không được quá lâu, chỉ có thể nói vài câu.
A La Hán chỉ có thể nhìn xuống đất.
Không được nhìn thẳng vào mắt người kia.
Bởi vì nếu mắt nhìn vào nhau sẽ bị gắn chặt, sẽ bị "điện giật".
Bây giờ,
Tôi phải làm sao đây?
Giữa tôi và đệ tử phải giữ một bầu không khí im lặng đến chết người.
Phải giữ khoảng cách.
Hay là rất gần gũi với nhau?
Không có khoảng cách?
Chỉ có dạy các thánh đệ tử thôi?

🌟

Thơ: "Đôi mắt của người yêu".

*"Đôi mắt nàng
Có điện
Mắt nàng và mắt ta
Ánh mắt gặp nhau nối một sợi thẳng tắp.*

*Thế là mọi thứ không còn như trước nữa
Mọi thứ đều đổi thay
Cuối cùng lại biến thành tương tư.*

*Ta và nàng bịn rịn
Nỗi trống trải này trở nên vô hạn."*


### 08. Gọi mãi tên em


Nàng nói:
*"Cứ mỗi lần,
Chàng gọi tên em,
Trái tim em, càng trở nên ngọt ngào,
Ngọt lìm lịm, ngọt lìm lịm...*

*Cứ mỗi lần,
Chàng đặt tay lên đầu em,
Trái tim em gần như muốn nổ tung,
Đập điên cuồng."*

Ta nói:
*"Đối với các đệ tử thân quen,
Ta đều luôn gọi tên họ.
Ta giống như thầy giáo,
Cần thuộc hết tên của các học trò.*

*Sờ đầu cho các đệ tử,
Là một cách để gia trì,
Ta đều luôn trì chú Bổn tôn,
Với hy vọng đệ tử được
Khỏe mạnh thân thể,
Tu hành thành tựu.*

*Khi sờ đầu và gọi tên nàng
Tay ta dường như tê đi
Có một lực hút trong lòng bàn tay,
Để chạm lâu thêm một chút, lâu thêm một chút,
Nàng có cảm thấy điều đó không?
Cảm thấy được cái lâu thêm một chút đó không?"*

🌟

Ta cảm nhận được khí trên người nàng, mùi hương của thân thể nàng không giống như người khác. Nàng có một mùi hương cơ thể rất đặc thù.
Rất hiền lành.
Rất mềm mại.
Rất chân thực.
Rất đáng yêu.
Rất tươi mới.
..

🌟

Tôi cũng từng biết được mùi cơ thể của một số người khác.
Có người thì bẩn, có người thì ô nhiễm, có người thì hỗn tạp, có người thì u ám, có người thì nóng rực, có người thì bất thiện, có người thì dơ dơ, có người có mùi phản trắc, có người có mùi tà niệm, có người thì thế tục, có người có mùi tham lam...

Nói thẳng ra là:
Tôi thích mùi hương trong lành, đó là không khí, là không khí trong sạch tinh khiết. Ví dụ như không khí ô nhiễm ở Đài Loan, chất lượng không khí kém thì tôi cũng không dám hít thở. Tôi cũng chẳng có lựa chọn nào khác mà phải nói rằng:
Vừa muốn nguồn năng lượng dư thừa
Vừa muốn chất lượng không khí tốt
Ai có thể cứu được người dân Đài Loan?

🌟

Ta viết một bài thơ tặng nàng.
Tiêu đề: "Gọi mãi tên em".

*"Tên nàng rất đặc biệt
Mùi thơm của nàng,
Như sương mỏng.*

*Đôi khi, nàng ở Đông, ta ở Tây
Ta cũng gọi tên nàng như thế
Rất gần mà cũng xa tận chân trời*

*Ta và nàng chỉ có một lớp vải lụa mỏng
Ta thực sự cảm nhận được, nàng đang ở đó.
Hít hà."*


### 09. Em bé ngoan


Nàng nói:
*"Em là em bé ngoan, em là em bé ngoan,
Em là em bé ngoan, em là em bé ngoan của chàng.
Chàng xoa đầu em, thật trìu mến,
Em thích nhất như vậy.
Chàng chạm vào mũi em, đó là thương.
Em thích nhất như vậy.
Chàng khẽ điểm lên miệng em, đó là yêu,
Em thích nhất như vậy."*

Ta nói:
*"Quán đảnh thứ ba trong Mật giáo.
Ta sờ đầu, là ý thanh tịnh.
Ta chạm mũi, là thân thanh tịnh.
Ta điểm miệng, là khẩu thanh tịnh.
Đây chính là thanh tịnh thân, khẩu, ý.
Đệ tử Mật giáo đều là những em bé ngoan.*

*Ta thực sự cũng là:
Tổ sư truyền thừa của những:
Em bé ngoan.
Em bé ngoan.
Em bé ngoan."*

🌟

Ngày xưa, tôi gặp Thubten Dhargye Thượng sư, lúc tạm biệt, Thubten Thượng sư sẽ ôm lấy tôi.
Tôi sẽ ôm lấy Thượng sư.
Thubten Thượng sư là cha.
Tôi là con.
Đó là cái ôm của người cha.
Mỗi lần, tôi viết thư gửi cho Thubten Dhargye Thượng sư, kết thúc tôi luôn ký tên:
"Đệ tử nhỏ Lư Thắng Ngạn."
Hoặc:
"Đệ tử ngoan Lư Thắng Ngạn."

Ở trước mặt Căn bản Thượng sư, cần hoàn toàn đem thân, khẩu, ý cúng dường, một chút xíu cũng không dám vi phạm.
Tôi cung kính Thượng sư một trăm phần trăm.
Tôi nghe lời Thượng sư một trăm phần trăm.
Căn bản Thượng sư dạy tôi cái gì, tôi sẽ làm cái đó, hoàn toàn theo đúng pháp chỉ mà làm.
Thubten Dhargye Thượng sư từng mắng tôi.
Tôi nhận lỗi.
Không bao giờ cãi lại.
Cơ bản tôi chính là đứa bé ngoan.
Do vậy, Căn bản Thượng sư Thubten Dhargye mới gọi tôi vào bên trong căn phòng nhỏ của thầy để truyền thụ cho tôi:
"Pháp minh điểm."

Giờ đây mỗi lần tôi lên pháp tọa thuyết pháp, tôi luôn luôn quán tưởng đặt bốn vị Căn bản truyền thừa Thượng sư của mình trên đỉnh đầu.
Đây là quy tắc của Mật giáo.

🌟

Thơ: "Em bé ngoan".

*"Mây đen
Hoa lê
Trái đào mật*

*Tôi nhẹ nhàng nâng niu
Lễ nghĩa của Mật giáo
Gọn gàng ngăn nắp*

*Ta là nam tử
Nàng là nữ tử
Chúng ta rượu đã uống
Thế là vui."*


### 10. Làm sao mà không biết ơn


Nàng nói:
*"Làm sao mà không biết ơn
Trong biển người mênh mông,
Chàng đã tìm thấy em,
Làm sao mà không biết ơn
Chàng đưa em đến bên cạnh chàng,
Bảo em làm sao mà không biết ơn.
Chàng còn giả vờ sơ ý,
Khẽ chạm vào tay em,
Em biết, là chàng cố ý đấy,
Chàng thật là!
Chỉ nhìn lướt qua biểu hiện của chàng,
Em liền muốn cười..."*

Ta nói:
*"Ngày xưa,
Diêu Trì Kim Mẫu bảo ta đến trước mặt Ngài,
Rồi đưa ta đến bên cạnh Ngài,
Còn bảo sáu vị thị nữ bên cạnh Ngài,
Bảo vệ ta,
Bảo ta làm sao mà không biết ơn.
Ta học pháp,
Ngài dạy ta,
Còn bảo Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh dạy ta,
Còn bảo Cổ Linh dạy ta,
Các vị linh sư vô hình dạy pháp,
Chao ôi!
Bảo ta làm sao mà không biết ơn.
Nghĩ đến cuộc đời này của ta,
Ta liền muốn cười..."*

🌟

Giờ đây.
Rất nhiều người mua hoa cúng dường Lư Sư Tôn, họ quỳ xuống thành hàng. Ta sẽ cầm bó hoa lên, chạm hoa vào trán mình, trước tiên ta cúng dường Diêu Trì Kim Mẫu và chư tôn.
Trong miệng niệm thầm:
"Ôm ah hùm!"
Khi tay ta đưa tay ra cầm hoa của đệ tử, không phải lúc nào cũng chỉ cầm vào hoa, có đôi khi ta sẽ chạm vào tay của đệ tử.
Nam đệ tử, cũng chạm vào tay.
Nữ đệ tử, cũng chạm vào tay.

Đó thực sự chỉ là tình cờ!
Ta thực sự không cố ý, không phải là giả vờ.
Bình thường thôi...
Bình thường thôi...

Khi ta nhìn thấy trên tay nàng cũng cầm hoa, ta nghĩ mình không nên để chạm vào tay nàng.
Khi ta cầm hoa, ta đặc biệt chú ý để không chạm vào tay nàng, nhưng, nàng khẽ nhấc tay lên.
Thế là ta chạm vào tay nàng mất rồi.
Ta nói:
"Đó là vô tình thôi!"

Thế là,
Nàng và ta đều cười! Cười đầy thần bí!
Ôi chao! Thật đúng là…

🌟

Thơ: "Dâng hoa".

*"Nhiều cánh tay dâng hoa như thế
Người già, trẻ nhỏ, thanh niên
Ta lần lượt cầm hoa
Đều luôn rất tự nhiên.*

*Nhưng, nàng thì khác
Nàng dâng hoa
Ta vẫn là
Hoàn toàn không cố ý để hoàn toàn không cố ý."*


### 11. Giữ giới nguyện samaya


Nàng nói:
*"Em biết,
Chàng vẫn luôn khéo léo thận trọng,
Bảo vệ cho em.
Giống như em,
Cũng sẽ khéo léo thận trọng,
Giữ chàng ở trong tim,
Yêu và trân trọng chàng."*

Nàng còn nói:
*"Em ở trong mặt trăng
Nhìn thấy ánh trăng có làn nước chảy qua,
Em ở trong nước,
Nhìn thấy ánh trăng tràn đầy,
Mặc dù:
Thủy nguyệt là huyễn hóa,
Em vẫn muốn ở trong thủy nguyệt,
Lang thang."*

Ta nói:
*"Trong Mật giáo,
Thật sự có bảo vệ giới nguyện samaya,
Chúng ta cần giữ:
Thân khẩu ý.
Khí mạch minh điểm.
Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp.
Minh phi thực thể. (hữu hình)
Minh phi trí huệ. (vô hình)
Quang minh, nhan sắc, thanh âm.
Đại lạc, trí huệ, tính Không.
...
Đương nhiên,
Ta cần phải bảo vệ nàng,
Cũng như những lời thề của hai ta."*

🌟

Ta nói:
*"Ta hiểu bản chất tự nhiên của ý thức vũ trụ,
Ta hiểu bản ngã của chính mình,
Ta hiểu huyễn ngã của chính mình,
Bản nhiên là tính Không.
Bản ngã là tự tính.
Huyễn ngã là nhục thể.
Chúng ta tu hành chính là để hồi quy về bản nhiên.
Tất cả thế gian vật chất đều là huyễn.
Thủy nguyệt,
Huyễn hóa,
Nàng, ta, tất cả đều là huyễn hóa,
Nàng lang thang,
Hai ta… Hai ta… Hai ta… Hai ta… Hai ta…
Hoàn toàn quên đi trò chơi trong cuộc đời này của ta,
Lang thang!"*

🌟

Thơ: "Giữ câu thề".

*"Cho dù khói bếp nghi ngút
Thì trong một sát-na
Tan biến.*

*Cho dù giống một đóa hoa xinh
Tháng năm trôi qua
Cũng già.*

*Cho dù khuấy lên những trò ong bướm
Thị thị phi phi
Thêm phiền.*

*Câu thề vĩnh hằng đó của hai ta
Như mặt trăng xoay quanh trái đất mặt trời
Chẳng thể thiếu.”*


### 12. To và nhỏ


Nàng nói:
*"Mặc dù,
Em nhận thấy bản thân rất bình thường,
Rất nhỏ bé.
Nhưng,
Chỉ nghĩ đến, chàng từng nói,
Người người đều có Phật tính,
Người người đều là trân bảo.
Em liền cảm thấy bản thân dường như to lớn hơn,
Thật kỳ diệu!"*

Ta nói:
*"Trước đây ta quán tưởng các mạch luân của mình,
Có trung mạch, tả mạch, hữu mạch.
Có mi tâm luân, hầu luân, tâm luân, tề luân, sinh thực luân. Cộng thêm đỉnh luân, hải để luân, là bảy luân xa.
Nhỏ hơn nữa là,
Bảy vạn hai nghìn mạch.
Ta nói với sư phụ:
Khó quán tưởng quá!
Sư phụ nói:
Sẽ có một ngày,
Con sẽ biết,
Toàn thân con chỉ là một đường mạch.
Sẽ có một ngày,
Cả vũ trụ chỉ là một đường mạch.
Đó chính là "đại"."*

🌟

Tôi muốn nói với bạn rằng:
Một hạt giống, trồng trên đất, nó sẽ nảy mầm, từ từ trở thành cây non.
Từ cây non lớn lên thành cây nhỏ.
Sau này,
Trở thành đại thụ vươn tới tận trời cao, cành lá sum suê, gần như che lấp cả trời.
Từ nhỏ thành lớn.
Khi tôi thiền định cũng sẽ sinh ra hiện tượng biến to thu nhỏ.
Nhỏ như hạt cải.
To như núi Tu Di.

Trong kinh Duy Ma Cật, chúng ta đọc thấy, căn phòng Duy Ma Cật nhỏ xíu mà vẫn có thể chứa được nghìn nghìn vạn vạn đại pháp tọa của chư Phật Bồ Tát.
Mục Kiền Liên thần thông đệ nhất.
Ngài ấy có thể một chân đặt tại cõi tịnh độ này.
Chân kia bước lên một cõi tịnh độ khác.
Bản thân ngài trở thành người khổng lồ vô địch vũ trụ.

🌟

Thơ: "Cỏ nhỏ".

”*Đừng cho rằng chỉ là một nhánh cỏ nhỏ
Đừng cho rằng mình sẽ già đi
Sẽ héo
Chỉ cần đến đúng thời điểm
Lập tức lớn lên
Đẹp đẽ.*

*Trong một vùng xanh biếc
Mỉm cười
Một đám lớn, một đám lớn
Cùng xoay.*

*Cỏ nhỏ
Cỏ xinh
Không khí và giọt sương
Và đến cả mặt trời cũng phải ngắm nhìn.”*


### 13. Say trong tình yêu


Nàng nói:
*"Tình yêu của chàng,
Vẫn luôn đến trực tiếp như thế,
Thẳng thắn như thế.
Có đôi khi,
Như cuồng phong vũ bão, mạnh mẽ như thế,
Có đôi khi,
Như gió nhẹ mơn man, mềm mại như thế,
Ôi...
Thật khiến em đắm say."*

Ta nói:
*"Ngày xưa,
Ta phát nguyện không từ bỏ một chúng sinh nào,
Ta yêu chúng sinh,
Ta sẽ,
Phân thân xả cốt độ chúng sinh.
Do vậy,
Ta say trong tình yêu.
Tình yêu chân chính,
Là hạnh phúc,
Là từ bi hỷ xả,
Ta quên đi tự ngã,
Do vậy,
Ta say trong tình yêu."*

🌟

Ngày trước, sư phụ dạy tôi, khởi đầu tu hành thì tứ vô lượng tâm là quan trọng số một.
Dựa vào "từ" để đối đãi với những người sung sướng được ở vào hoàn cảnh thuận lợi, có thể đối trị được cảm giác đố kỵ của bản thân mình.
Dựa vào "bi" để thông cảm mà đối đãi với những người phải chịu cảnh khổ, có thể đối trị được sự lạnh lùng của bản thân mình.
Dựa vào "hỷ" để đối đãi với những người có đức, có thể đối trị được ác tâm của bản thân mình.
Dựa vào "xả" để đối đãi với những người vô đạo đức, có thể đối trị được tâm bất bình đẳng của bản thân mình.

Nói một cách đơn giản:
Từ là khiến người khác vui.
Bi là giúp người thoát khổ.
Hỷ là vui vẻ làm mọi thứ.
Xả là bình đẳng san sẻ.
Tu hành từ, bi, hỷ, xả là phương pháp để gia tăng phúc đức cho bản thân. Là tu hành tư lương đạo. (tâm lượng bao dung vĩ đại)

Ngược lại, nếu như không làm tốt được từ, bi, hỷ, xả thì hành giả không thể đắc "định", đắc "chỉ", tuyệt đối sẽ không thể thành tựu. Có từ bi hỷ xả rồi mới là say trong "tình yêu".

🌟

Thơ: "Say".

*"Thế giới bên ngoài thật phiền
Còn nội tại của hai ta
Thật êm.*

*Lòng người
Đôi khi khiến người ta run sợ
Lập mưu tính kế
Bao phen chẳng ngừng
Mà rất nhiều khi
Chẳng hề có lý do.*

*Chúng ta tu hành tứ vô lượng
Quên đi tự ngã
Nhất tâm
Tức là thiền."*


### 14. Khoảng cách chẳng phải là vấn đề


Nàng nói:
*"Cái gọi là nỗi nhớ,
Khiến người ta khổ sở!
Nỗi nhớ, cái thứ này, luôn đến mau thật mau,
Bỗng chốc,
Giăng đầy cõi lòng em.
Đúng là,
Hai con người chia xa
Chỉ còn lại nhung nhớ,
Và rất tự nhiên,
Nỗi nhớ cứ thế dời núi lật biển ùa đến!"*

Ta nói:
*"Khoảng cách chẳng phải là vấn đề
Bởi vì,
Chúng ta cùng ở trên trái đất,
Chúng ta cùng ngắm một mặt trăng,
Tâm rất gần,
Chính xác là một vận mệnh chung.
Ta biết nàng nhớ ta,
Ta nhớ nàng,
Hai nỗi nhớ gặp nhau,
Đó là:
Nhất tâm."*

🌟

Kì thực, tôi muốn nói với bạn rằng, chúng ta thường niệm A Di Đà Phật. A Di Đà Phật chính là Bổn tôn.
Tịnh Độ tông chính là:
Hành giả nhớ đến Bổn tôn.
Bổn tôn nhớ đến hành giả.
Giống như mẹ con.
Con không quên ơn mẹ.
Mẹ lo lắng cho con.
Khoảng cách đương nhiên càng xa...
Nhưng, chỉ cần mọi suy nghĩ đều thành thục, cẩn mật kết hợp cùng nhau, đi, đứng, ngồi, nằm đều không xa rời Bổn tôn.
Nhất tâm bất loạn,
Bổn tôn sẽ xuất hiện trước mặt bạn.

🌟

Cá nhân tôi cảm thấy, mặc dù Phật giáo có phân làm 18 phái, 13 phái, 8 phái.
Nhưng,
Trọng điểm đều nằm ở Tam ma địa.
Tam ma địa chính là "nhất tâm".
Chính là có thể "định", có thể "chỉ".
"Thiền định" và "trí huệ" chính là giống như đôi cánh để thành Phật, bay đến bến bờ thành tựu.

🌟

Thơ: "Nỗi nhớ".
*"Mưa tạnh
Thấy ánh tà dương
Gió nhẹ hiu hiu
Làm ta thấy nhớ.*

*Quan sát nội tâm
Ta liền biết rằng
Nàng đang trốn trong trái tim ta.*

*Lớp điểm trang mờ mờ
Cách cả biển lớn
Cách cả sông dài
Bay tới nơi đây
Là mùi hương xa xăm của nàng."*


### 15. Giao tiếp bằng ánh mắt


Nàng nói:
*"Mặc dù,
Chỉ có thể giao tiếp bằng ánh mắt,
Nhưng, đối với em mà nói,
Cũng đã là quá đủ.
Tất cả,
Những điều chàng muốn nói,
Em đều biết...
Em đều biết...
Tình yêu trong trái tim này,
Vẫn luôn dạt dào."*

Ta nói:
*"Bất kể là,
Ta đang thiền định,
Hay ta đang lặng lẽ vẽ tranh,
Ta đều có thể nhìn thấy,
Nàng đang bước trong mây,
Nàng đang cười trong hoa,
Nàng đang dạo trong mưa,
Ta biết,
Ánh mắt của hai ta,
Chính là nơi tâm hồn cất tiếng."*

🌟

Ta hiểu rõ hoàn cảnh sống của mình, nơi ta sống, và cả Lôi Tạng Tự nữa.
Có một nơi, đó chính là nơi để ăn cơm, chúng ta gọi là "nhà hàng Lôi Tạng Tự".
Ta đi vào.
Ta đi ra.
Ta và nàng có thể nhìn thấy nhau.
Ta rất thoải mái vẫy tay chào đồng môn, đương nhiên, ta có thể thấy nàng.
Ta đều không cố ý, nhưng trong sự không cố ý, ta âm thầm kiếm tìm.
Kiếm tìm đôi mắt nàng.
Kiếm tìm bóng hình nàng.
Kiếm tìm dáng dấp thanh cao thuần khiết.
Để bốn mắt gặp nhau...

Mỗi khi ta ăn một miếng cơm, ta đều muốn cười.
Khi bốn mắt dính chặt vào nhau thì chẳng thể nhìn quá lâu, để tránh cái nhìn của người khác.
Nên chỉ có thể như vậy.
Chúng ta thậm chí luôn không thể nói chuyện một câu, bởi vì ta cần giấu nàng thật kĩ.
Bởi vì,
Xung quanh đều nhìn thấy, xung quanh đều nghe thấy.
Xung quanh đều ghi hình, xung quanh đều ghi âm.
Xung quanh đều đang truyền hình trực tiếp.
Mặc dù chỉ một sát-na giao tiếp bằng ánh mắt, cũng đã là vô cùng vô cùng trân quý.

🌟

Thơ: "Giao tiếp bằng ánh mắt".

*"Chúng ta đều biết đâu là nơi tâm hồn cất tiếng
Là đôi mắt
Không nhắm lại*

*Khi bốn mắt nhìn nhau
Vén rèm châu
Gió nhẹ thổi vòng quanh
Là trời trong không mây
Là yên vũ mông mông
Đều bất tận."*


### 16. Sự ấm áp trong cái lạnh thấu xương


Nàng nói:
*"Bầu trời hôm nay mờ mịt,
Tâm em cũng mờ mịt,
Đôi khi ánh lên một tia sáng,
Ấy!
Chính là khi chàng chậm chậm bước đến.*

*Thời tiết hôm nay lạnh thấu xương
Tâm em cũng lạnh cóng,
Khi nào mới có thể có một chút ấm áp
Ấy!
Chính là khi chúng ta bốn mắt gặp nhau."*

Ta nói:
*"Chúng ta là những yogi tu hành,
Đều đang tìm kiếm,
Tìm kiếm cái gì?
Tìm kiếm sự cân bằng tâm linh.
Tính động
Tính trơ
Tính vừa phải
Giữa ba thứ này,
Quan trọng chính là:
Cân bằng."*

🌟

Tôi muốn nói với bạn rằng:
Ấn Độ giáo có ba vị thần lớn:
Đại Phạm Thiên là thần Sáng tạo. (Brahma)
Đại Tự Tại Thiên là thần Hủy diệt. (Shiva)
Biến Tịnh Thiên là thần Bảo hộ. (Vishnu)
Một người là sáng tạo, một người là hủy diệt, một người là bảo hộ.
Đây là tư duy Ấn Độ đầy tính triết học, khiến người ta ngẫm nghĩ sâu, cũng có tác dụng khai sáng.

Trên phương diện nhân tâm, tôi phát hiện có ba loại đặc tính:

1. Tính động. (nôn nóng)

2. Tính trơ. (ù ì)

3. Tính vừa phải. (cân bằng)

Tính động là nhanh, kịch liệt, sinh sôi, sống động.
Tính trơ là chậm, chìm đắm, uể oải, bất động.
Tính vừa phải, cân bằng là ở giữa, vui vẻ, ổn định, trưởng thành.

Tôi nói:
Khi bạn có tâm trạng mờ mịt và tâm trạng lạnh lẽo, có lẽ chính là trạng thái trơ của tâm. Hành giả chúng ta cần giữ được tính cân bằng, cũng chính là sự trưởng thành ổn định, tránh quá đà hoặc trì trệ.
Đây chính là Trung quán.

🌟

Thơ: "Sự ấm áp trong cái lạnh thấu xương"

*"Nhìn thấy nàng lặng lẽ
Ở nơi đó ngồi quỳ
Trông thấy ta đi đến
Nàng liền giấu mặt đi*

*Nhìn thấy đôi mắt nàng
Cúi xuống nhìn mặt đất
Trên mặt đất này đây
Nào có tiền bạc gì.*

*Hãy ngẩng đầu lên đi
Ánh trăng ngập bầu trời
Nét xinh cần rạng rỡ
Chỉ cần khẽ mỉm cười
Ấm áp trái tim ta.”*


### 17. Trái tim ta đang sục sôi


Nàng nói:
*"Chàng nói
Mặt em đỏ,
Nhưng, chàng có biết chăng?
Trái tim em đang sục sôi.
Là chàng,
Cho em sự ấm áp,
Là chàng,
Cho em ngọn lửa này
Trong một sát-na
Cả đời này đều nhảy nhót trong lửa."*

Ta nói:
*"Chúng ta tu khí tu mạch tu minh điểm,
Khí là chiếc xe
Mạch là con đường
Minh điểm là hàng hóa
Như thế,
Thông suốt không trở ngại,
Cũng chính vào lúc thông suốt không trở ngại,
Sản sinh ra đại lạc,
Sản sinh ra quang minh,
Sản sinh ra Phật tính.
Ta muốn nói với nàng
Nàng cũng là lửa,
Đã đốt cháy,
Hai ta.*

*Trong pháp của Mật giáo
Trung mạch và trung mạch liên kết,
Khí và khí hòa lẫn vào nhau,
Minh điểm và minh điểm đã nhập vào nhau từ lâu,
Lúc này,
Ngọn lửa của ta sẽ đốt cháy ngọn lửa của nàng.
Hai ta đều là lửa,
Lửa hóa thành đại lạc,
Lửa hóa thành quang minh,
Cuối cùng hai ta đều chứng được
Phật tính.”*

🌟

Mật pháp này là loại pháp bí mật, từ lâu đã vượt qua cái "tiểu lạc" của con người thế tục.
Đương nhiên,
Mặt sẽ đỏ.
Tim sẽ nhảy.
Nhưng,
Hai người đều ở trong lửa, cháy rực mà trở thành ánh sáng, cuối cùng sẽ bay lên hư không.
Bạn có thể nắm bắt được không? Đây chính là thậm thâm mật nghĩa của Mật giáo.

🌟

Viết một bài thơ: "Tâm đang sôi sục".

*"Năm xưa
Gặp nhau ở trong vườn
Cùng nhau chơi giữa những vòm hoa
Cầm hoa
Ngửi hương
Tắm mình trong gió tây*

*Mặt nàng đỏ
Mặt ta đỏ
Đương nhiên
Nhịp tim cũng thình thịch lại thình thịch
Tung tung tung
Hai người chúng ta
Cuối cùng
Hóa thành Không."*


### 18. Yêu tha thiết


Nàng nói:
*"Em yêu chàng biết bao,
Bao nhiêu là tha thiết,
Tha thiết như nước chảy,
Chảy vào trong tim chàng, tim em,
Em thật sự yêu chàng,
Yêu lắm,
Yêu lắm,
Yêu đến run cả người!
A Di Đà Phật có biết chăng?
Quan Thế Âm Bồ Tát có biết chăng?"*

Ta nói:
*"Nhà cửa có gì giá trị?
Xe cộ có gì giá trị?
Tất cả những thứ đồ vật chất, đối với ta và nàng mà nói, căn bản đều chẳng có giá trị gì.
Chúng chẳng thể biết được trái tim của hai ta.
Chúng thiếu điều gì?
Chúng thiếu mất,
Một tình yêu chân chính."*

🌟

Tôi muốn nói với nàng rằng:
Trong kinh Đại Bát Nhã, Phật Đà nói với ta.
Trong kinh Kim Cang, Phật Đà nói với ta.
Trong kinh Tâm, Phật Đà nói với ta.
Nói với ta điều gì?
Đáp án là:
"Vô sở đắc!"
Sau lúc hoàng hôn thì sự phân biệt giữa mọi thứ đều bị xóa sạch.
Sau một trận bão quét
Đất đai
Nhà cửa
Xe hơi
Tất cả đều mất sạch còn đâu!
Đó là động đất còn chưa tới! Chỉ cần một trận động đất xảy ra, tất cả đều biến thành đống đổ nát. Tất cả đều không còn sinh khí.

🌟

Ta luôn cảm thấy cần phải biết cảm ơn khi ta còn sống.
Ta cảm ơn mình vẫn còn đang sống.
Cảm ơn nàng vẫn còn đang sống.
Cảm ơn tình yêu vẫn còn đang sống.
Những gì còn lại, chính là an yên, đẹp đẽ, ngọt ngào.
Có một ngày, ta cũng sẽ chết!
Có một ngày, nàng cũng sẽ chết!
Nhưng, tình yêu sẽ không chết.
Yêu nàng một vạn năm!
Yêu nàng vạn vạn năm!
Yêu nàng đời đời kiếp kiếp!

🌟

Thơ: "Yêu tha thiết".

*"Ta nâng niu
Thời gian của mỗi ngày
Ta nâng niu
Dáng vẻ nàng mỗi ngày*

*Tự nhiên ta cũng biết
Sẽ dần dần
Nàng già đi
Ngọc ngả màu*

*Thế nhưng đừng phiền muộn
Tình yêu sẽ mãi chẳng mất đi
Vẫn yêu những buổi hoàng hôn tha thiết."*


### 19. Trong giấc mơ


Nàng nói:
*"Ngày hôm đó, chàng nói:
Trong tâm trí chàng chỉ có em,
Em cũng có khi nào mà lại không như thế,
Chàng nói,
Nhớ em nhiều, nhớ em nhiều,
Thế rồi hát miên man...
Thế thì,
Hãy để chúng ta gặp nhau trong mơ vậy!
Trong giấc mơ,
Tự do tự tại
Thật đẹp đẽ biết bao."*

Ta nói:
*"Ta tuyệt đối không để mọi người biết nàng là ai.
Ta là tấm khiên che chắn cho nàng,
Ta cẩn mật kĩ càng gói nàng thật kín,
Gấp nàng lại,
Giống như một tờ giấy,
Rồi để vào trong túi áo của ta,
Ta đi đến đâu, nàng cũng đi đến đó,
Ta có biết bao nhiêu việc cần phải chú ý
Đến buổi tối,
Không còn quá nhiều ánh mắt,
Nàng liền hiện thân,
Nàng lại trở thành em bé ngoan của ta."*

🌟

Tôi muốn kể với bạn:
Tiền thân của tôi là Liên Hoa Đồng Tử.
Tôi ngưỡng mộ nhất là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, Ngài hóa sinh từ hoa sen, Ngài đương nhiên cũng là Liên Hoa Đồng Tử.
Tôi nói:
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là thân của Phật Thích Ca Mâu Ni, khẩu của A Di Đà Phật, ý của Quan Thế Âm Bồ Tát, là ứng hóa thân kim cang của tam mật tam thánh hợp thành một thể thống nhất.
Ngài là tổ sư sáng lập Tạng mật.
Đối với mọi pháp thế gian, xuất thế gian, không có pháp nào là Ngài không thông hiểu.
Tại Ấn Độ, Nepal, Tây Tạng, Ngài đã độ hóa vô số chúng sinh.
Ngài tức thân thành Phật Vô Lượng Thọ Như Lai Vô Thượng Bồ Đề.
Tâm yếu của ngài là:
"Thế gian tham trước, nhất đao lưỡng đoạn
Bát thập bát sử, đương thể giải thoát
Ngũ độc hiện tiền
Diệu dụng tự như
Kính sư, trọng pháp, thực tu giả đắc chi.”

[Chúng sinh điên đảo nên đối với sắc mà khởi lên tham trước. Sử dụng một nhát dao trí tuệ, chặt đứt kiến giải chấp Có chấp Không, chặt đứt sự dính chấp trước tham dục của thế gian thành hai đoạn.
Lúc đó thì, tám mươi tám tâm trạng phiền não của thế giới hữu vi sẽ tự nó giải thoát vào cõi giới tối hậu.
Lúc đó thì, toàn bộ ngũ độc (tham, sân, si, nghi, mạn) sẽ trở thành tùy ý diệu dụng, tùy ý hiển lộ và được vận dụng như “chính nó là” (mà hành giả không bị dính mắc vào).
Đó mới là hành giả thực sự đắc được cái gọi là kính sư, trọng pháp, thực tu vậy.]

Ta nói:
Lư Sư Tôn ta là Liên Hoa Đồng Tử tái sinh, ta cũng độ rất nhiều chúng sinh.
Đương nhiên ta cũng muốn độ nàng.
Giống như năm xưa, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ độ hóa Yeshe Tsogyal và Mandarava.

🌟

Thơ: "Trong giấc mơ".

*"Những gì ban ngày nghĩ
Sẽ đều tái hiện
Trong giấc mơ*

*Hoa sen nở hết
Tự nhiên nàng sẽ đứng trên hoa sen
Từ tốn
Chẳng ai có thể theo kịp*

*Ta muốn độ hóa nàng thanh tịnh
Tiến nhập
Khắp mọi tòa tháp ở Tây phương
Và hai ta
Đã ở trong cõi trời."*


### 20. Ngốc ngốc ngốc ngốc ngốc


Nàng nói:
*"Em bảo,
Em ngốc lắm,
Chàng nói,
Chàng cũng ngốc lắm.
Kì thực,
Chàng ngốc ở chỗ nào?
Chỉ mới nói vài câu quan tâm,
Đã khiến em vui,
Đã nắm trọn được em rồi,
Ha ha ha..."*

Ta nói:
*"Ta là một người học Phật,
Người học Phật nói lời thật lòng,
Người học Phật không nói lời giả dối,
Người học Phật không nói lời tán tỉnh,
Điều ta nói,
Là sự thật.
Ta thật sự, thật sự, thật sự, thật sự, thật sự rất ngốc.
Chính bởi vì ngốc,
Nên mới cắm cúi viết sách cả đời,
Đã viết tới 274 cuốn, sau này, vẫn còn viết nữa...
Ta tu pháp,
Tu cả một đời, đến bây giờ vẫn tu, tu, tu... không hề thay đổi.
Việc gian khó này,
Chỉ có người ngốc mới có thể làm được.
Nói đúng ra,
Ta đâu có nắm được nàng,
Mà là từ trường của nàng,
Và từ trường của ta,
Tương hợp."*

🌟

Tôi muốn kể với bạn:
50 tuổi tôi bắt đầu học vẽ tranh, chỉ cần tôi ở Seattle nước Mỹ, vào buổi chiều mỗi ngày, tôi sẽ vào phòng vẽ để vẽ một bức tranh.
Tôi thử tính,
Thực sự không sao tính được rốt cục tôi đã vẽ bao nhiêu bức tranh?
Những gì tôi vẽ,
Đương nhiên không giống những gì người khác vẽ, tranh của tôi đều rất tinh xảo, nhưng, tôi muốn vẽ chúng ra.
Có bức thì trừu tượng.
Có bức thì giàu tưởng tượng.
Có bức thì tả thực.
Tôi hy vọng là chúng đều có đầy "linh tính".
Viết sách, vẽ tranh, tu pháp, mỗi ngày đều giống nhau. Thế giới này có một người, người này là Lư Thắng Ngạn.
Bạn nói xem,
Người này có phải là rất ngốc không?
Thế kỷ E đang đến rồi! Còn người này vẫn không có điện thoại di động.

🌟

Thơ: "Ngốc ngốc ngốc".

*"Viết sách ư
Vẽ tranh ư
Tu pháp ư
Những việc này đều cần có cảm hứng
Cầu nguyện Phật Bồ Tát che chở*

*Bao nhiêu thời gian đã qua rồi
Tư lự xa xăm
Giống như nước Trường Giang
Chưa uống đã say rồi*

*Những lời ta nói với nàng là thật đó
Nàng đừng để ta rơi lệ trong âm thầm."*


### 21. Ngưu Lang và Chức Nữ


Nàng nói:
*"Bỗng nhiên nghĩ tới,
So với Ngưu Lang Chức Nữ,
Chúng ta vẫn còn may mắn hơn!
Chí ít, không phải một năm mới gặp mặt một lần,
Giờ đây, trong lòng em đã nhẹ nhõm đi nhiều...
Nếu như,
Lúc nào rất muốn rất muốn gặp chàng,
Em sẽ tự bảo mình,
Nhẫn nại, nhẫn nại, nhẫn nại...
Chờ đợi, chờ đợi, chờ đợi..."*

Ta nói:
*"Câu chuyện tình yêu Ngưu Lang và Chức Nữ, khiến người ta ngưỡng mộ,
Đây là truyện thần thoại Trung Quốc,
Ngày hôm đó cũng là ngày lễ Tình yêu.
Rất lãng mạn,
Rất mong chờ,
Rất hy vọng,
Nhưng, vẫn mang đôi chút buồn bã
Ta nhớ đến một bài ca,
Ca từ như thế này:
Ta chờ đợi dưới cây ô liu,
Càng chờ đợi,
Càng thêm yêu."*

🌟

Tôi từng đọc một cuốn sách.
Trong sách nói:
Dục vọng của con người giống như cây cỏ.
Bạn dùng tảng đá to đè nó xuống, nó tạm thời dừng lớn.
Nhưng chỉ cần tảng đá được nhấc ra.
Cây cỏ lại sống lại, mơn mởn xanh tươi.

Còn nói:
Dục vọng giống như nước sông Trường Giang, bạn xây đập chặn dòng nước, nhưng, khi mực nước từ từ dâng cao lên,
Cũng sẽ tràn lên đê,
Lúc đó càng ồ ạt không ngừng.
Còn nói:
Đàn ông khát vọng phụ nữ, giống như người đói gặp được thức ăn.
Phụ nữ khát vọng đàn ông, giống như người khát nhìn thấy nước.
Nhẫn nại,
Chờ đợi.
Có đúng hay không?

Theo Phật pháp mà nói, tì kheo, tì kheo ni đã xuất gia cần sống phạm hạnh thanh tịnh.
Ngoài giới luật ra.
Cần dùng pháp khai thông, để phân tán dục vọng vào những thứ khác, ví dụ: âm nhạc, mỹ thuật, nhân văn, đạo đức...
Vô thượng mật của Mật giáo cũng có thể hóa giải được những nhu cầu dục vọng.

🌟

Thơ: "Đợi chờ".

*"Đêm khuya đã vắng bóng người
Ngẩng đầu
Cùng ngắm vầng trăng.*

*Nàng ở trời Đông
Ta ở trời Tây
Thật sự là
Tình tha thiết*

*Chưa nói đã rơi lệ
Chính những lúc thế này
Chẳng ai có thể nói
Nước vong tình kia
Chẳng uống người đã say."*


### 22. Lời thề cùng bay


Nàng nói:
*"Chàng nhất định phải giữ mình khỏe mạnh,
Để chờ em,
Ta cùng nhau từ từ già đi...
Sau này,
Khi chàng muốn rời đi...
Nhất định phải đưa em đi,
Đừng để em lại một mình,
Chàng phải hứa với em đấy nhé!"*

Ta nói:
*"Ta đồng ý.
Có người nói, cuộc đời như gọi điện thoại,
Không phải bạn gác máy trước
Thì là tôi gác máy trước.
Nhưng,
Ta sẽ ghi nhớ cẩn thận lời dặn của nàng,
Ta sẽ đưa nàng theo,
Bởi vì,
Chúng ta có lời thề,
Tốt nhất là,
Cùng nhau chuyển hóa."*

🌟

Tôi muốn nói với bạn rằng, trong Mật giáo, có cái được gọi là ba lời thề lớn.

1. Lời thề giữa bạn và Căn bản Thượng sư.

2. Lời thề giữa bạn và Căn bản Bổn tôn.

3. Lời thề giữa bạn và Căn bản Hộ pháp.

Thượng sư gia trì cho bạn.
Bổn tôn tiếp nhận bạn.
Hộ pháp trợ giúp bạn.
Những lời thề này chính là samaya.

Một hành giả, bởi vì cung kính Thượng sư, pháp nhũ của Thượng sư sẽ đổ vào pháp thể thanh tịnh của hành giả.
Một hành giả tu thân, khẩu, ý thanh tịnh, nhớ về Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp mà hành trì. Bổn tôn hạ giáng, cùng hành giả hợp nhất, hành giả đến được cảnh giới của Bổn tôn.
Một hành giả trong quá trình tu pháp thường có khó khăn, chướng ngại. Hành giả nhớ đến Hộ pháp, Hộ pháp sẽ bảo vệ hành giả suốt cho đến cảnh giới viên mãn.

Những điều này:
Đều là lời thề samaya cùng bay!
Nếu như có chút sơ xuất nào.
Sẽ lập tức phá vỡ samaya!
Hành giả Mật giáo, nhớ kĩ! Nhớ kĩ!

🌟

Ta nói:
Giữa nàng và ta có lời thề samaya!

Tôi viết một bài thơ vậy! 

"Lời thề"

*"Nếu như ta đi trước
Sẽ là lần biệt ly vĩnh viễn
Ta biết
Nàng sẽ buồn lắm.*

*Nếu như nàng đi trước
Mất đi rồi nét dịu dàng đường eo thon
Ta biết
Ta sẽ thấy mất mát*

*Tốt nhất đừng nên có nếu như
Loạn rồi
Trước trước sau sau
Samaya không thể phá vỡ
Ta hy vọng
Cùng nhau đi
Bay đến liên hoa tọa."*


### 23. Bảo vệ sức khỏe của mình


Nàng nói:
*"Chàng yên tâm,
Em sẽ chăm sóc bản thân mình thật tốt,
Để mình sống thật tốt,
Nhất định sẽ không để chàng phải lo lắng cho em,
Em sẽ không làm bất kì việc gì khiến chàng phải lo lắng,*

*Ôi,
Em cần vui lên một chút,
Để chàng nhìn thấy lúm đồng tiền của em."*

Ta nói:
*"Sức khỏe là quan trọng nhất,
Sức khỏe là thứ tiền bạc cũng chẳng thể mua,
Ta muốn mỗi lần gặp nàng
Nàng vẫn luôn đứng ở nơi xa
Lộ ra lúm đồng tiền
Mà đặc biệt chỉ nàng mới có.”*

Bác sĩ gia đình nói với ta:
Huyết áp cần giữ ở mức 120,
Đường huyết cần giữ ở giá trị trung bình là 6,
Cholesterol ở mức độ 140,
Cholesterol tốt nên nhiều,
Cholesterol xấu nên ít,
Nhịp tim cần giữ mức 65,
Lục phủ ngũ tạng cần được bảo vệ
Ngoài ra,
Cần sống thật thoải mái vui vẻ.

🌟

Tôi muốn nói với bạn rằng:
Mật giáo có samaya về ăn uống!
Chúng ta không thể giống như cách người bình thường nói, rằng "tu hành phải mang theo ba loại bệnh".
Hãy nhớ:
Thân thể là pháp khí, là pháp thể của chúng ta.
Không được tự sát!
Tự sát tương đương với phá hoại pháp thể tu hành, giết chết Phật tính của chính mình, tương đương với giết Phật.
Không chỉ như vậy, chúng ta cần phải bảo vệ thân thể của mình.
Thân, khẩu, ý của chúng ta cần cúng dường cho Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp của mình. Không được có bệnh, có bệnh thì rất khó thành tựu.
Những gì tôi ăn bây giờ là ăn ít dầu, ít đường, ít muối, thực phẩm không có mì chính.
Ăn no tới bảy phần. Mỗi cơ quan trong cơ thể đều cần chăm sóc cẩn thận.
Tất cả thực phẩm đều phải cúng dường Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp, chư tôn trước, tất cả phải theo lễ nghĩa.
Chúng ta tu khí, tu mạch, tu minh điểm, tu chuyết hỏa, điểm quan trọng cũng nằm ở thực phẩm.
Chúng ta cần khỏe mạnh tu hành.
Chúng ta cần hoạt bát thành tựu.

🌟

Tôi viết một bài thơ: "Lúm đồng tiền".

*"Đứng ở phía xa xa
Một nụ cười ửng hồng đôi má
Mắt mong ngóng
Đó là tư thái của thiên nhiên.*

*Đôi lông mày khẽ nhíu
Để lộ ra đôi chút bất lực
Ta là cao thủ vẽ tranh
Mà cũng thấy khó vẽ sao cho giống
Đây cũng gọi là yêu.*

*Cho dù người đi xa rồi
Vẫn còn vương lại một làn hương."*


### 024. Không cần tiễn nhau


Nàng nói:
*"Khi rời đi,
Có lẽ chẳng gặp được chàng,
Chẳng cách nào cùng chàng nói đôi lời tạm biệt…*

*Nhưng thế này cũng tốt,
Bởi vì, chúng ta chưa từng từ biệt,
Cũng như chẳng có phân ly..."*

Ta nói:
*"Ta không thích cảm giác thê lương,*
*Không thích cảm giác hụt hẫng,
Không thích cảm giác cô đơn,
Không thích cảm giác ly biệt.”*

Những lời thơ của Hoằng Nhất đại sư, [Bài thơ "Tiễn biệt", sáng tác bởi Hoằng Nhất đại sư Lý Thúc Đồng.]
*"Bên ngoài mái đình dài,
Bên rìa những con đường xưa,
Cỏ thơm xanh biếc đến tận chân trời..."*

*Những lời thơ đó, những giai điệu ấy, những ca từ này,
Khiến ta thương cảm.*

*Ta còn nhớ bài ca tốt nghiệp tiểu học,
Thê lương lạnh lẽo một cái cây,
Chỉ mấy chữ này,
Mà nay,
Không ngờ tất cả đều héo rơi tứ tán.
Ngay một cái cây cũng chẳng còn.
..."*

Bạn có biết không? Những lời của Âu Dương Tu:
*"Lan phòng bấy lâu sao yên ắng
Phấn thơm còn vương trên cánh tay
Tiệc tan, rượu nồng đâu còn nữa
Đôi mắt thanh xuân lệ dâng đầy.*

*Lâu không gặp chàng, bờ mi rủ
Sông rộng núi xa bỗng chia ly
Tâm tình nơi đây ngập nỗi nhớ
Chút phấn điểm tô nhuốm hao gầy."*

(Những lời này sao mà thương cảm.)

Còn có bài thơ:
*"Gặp nhau chớp nhoáng,
Buồn rầu thời gian sao ngắn ngủi,
Thoắt cái gió mây người tản mát,
Khiến ta đứng ngồi ngẫm tương tư.*

*Hận rồi lại hận,
Mặt cứ ngoảnh đi,
Thêm mưa cứ rơi rào rào,
Đau lòng người ở chân trời.*

*Núi xa nước xa người ở xa,
Lời nhắn khó gửi,
Cảm giác này,
Khó chịu đựng làm sao."*

🌟

Tôi muốn kể với bạn rằng, ngày xưa, Milarepa đã đi một chuyến hành trình dài để tìm gặp Marpa Thượng sư.
Khi hai người chia tay, Marpa đã khóc, tiếng khóc sụt sùi!
Milarepa liên tục ngoảnh đầu lại, mấy lần muốn chạy trở lại chỗ Thượng sư, nhưng, vẫn vừa khóc vừa đi.
Cuối cùng, vĩnh biệt!
(Giữa họ là tình cảm cha con, vô cùng cảm động.)
Tôi luôn cảm thấy, nhân gian cõi Ta Bà, luôn rất khó có được một điều viên mãn.
Ly biệt đặc biệt nhiều.
Đoàn tụ đặc biệt ít.
Ôi! Khổ sao!


### 25. Sự liên hệ giữa tâm và tâm


Nàng nói:
*"Viết cuốn sổ nhỏ này,
Là muốn để lại cho chàng một mảnh hồi ức,
Khi chàng nhớ đến em,
Biết đâu có một chút an ủi.
Dù nói là viết cho chàng đôi chữ mấy lời,
Nhưng, thật sự, cũng là
Biểu đạt tình ý của em.
Mỗi một chữ, mỗi một câu trong cuốn sổ nhỏ này,
Đều là tấm lòng chân tình của em,
Khi chàng hiểu rõ,
Thì hãy để cuốn sổ nhỏ này liên hệ tâm của hai ta."*

Ta nói:
*"Viết cuốn sách này,
Ta cũng viết với tâm tình giống như nàng vậy,
Khi ta quay đầu nhìn lại cuộc đời,
Nhớ lại quãng thời gian đẹp đẽ đầy xúc động này.
Ta sẽ không kết thúc một cách như thế này,
Mà là,
Ta ước gì mọi thứ vẫn cứ tiếp tục mãi,
Vĩnh cửu,
Vĩnh hằng.
Cuốn sách này cũng là tấm chân tình của ta,
Đó là từng chữ, từng chữ.
Đó là từng chương, từng chương,
Là một sự hợp lại.
Đó là tâm của nàng.
Đó là tâm của ta.
Kì thực như thế này đã là rất đủ rồi,
Ngôn từ súc tích,
Mọi người đều đọc hiểu được,
Vậy là đã khiến lòng ta tràn đầy ấm áp rồi."*

🌟

Ta muốn nói với nàng rằng:
*”Ta cần có một sự cân bằng.
Tu hành cũng cần có một sự cân bằng.
Viết văn cũng cần một sự cân bằng.
Vẽ tranh càng cần một sự cân bằng.
Giống như nhân loại chúng ta sống qua ngày cần có thứ bảy, chủ nhật.
Cần có những ngày nghỉ, như vậy mới có thể cân bằng.
Tu hành, viết văn, vẽ tranh, cũng cần diễn tả tình cảm, mới có thể có cảm hứng.*

*Ta rất cảm ơn nàng!
Bởi vì nàng đã cho ta một dạng sức mạnh cân bằng.”*

Tôi muốn viết một bài thơ:
Tên bài thơ chính là: "Cân bằng".

*"Tôi hay cười trêu một vị Thượng sư
Bởi vì bà ấy béo quá
Bà cần phải giảm cân
Cho gầy bớt.*

*Tôi thích đánh quyền múa côn
Các tư thế cần liên kết khéo léo
Cần có lực
Giống như một đám mây mọc thêm tay áo.*

*Đời người
Bị trói chặt bởi những vòng xích
Nếu trong sự tinh tấn có cân bằng
Thì sẽ có thành tựu
Không cần phô trương
Không cần giả vờ
Đừng để cho cảm xúc lên mốc nhăn nheo."*


### 26. Cảm giác ngọt ngào


Nàng nói:
*"Điều này thật là kỳ lạ,
Có một cảm giác yêu thương,
Thật ngọt ngào, thật ngọt ngào, thật ngọt ngào,
Kì thực, chính là chàng đã khơi dậy lên tình cảm trong em,
Trong hồ tâm phẳng lặng của em,
Chàng đã khuấy lên những gợn sóng,
Em hy vọng,
Cảm giác của chàng,
Cũng thế,
Thật ngọt ngào, thật ngọt ngào, thật ngọt ngào,..."*

Ta nói:
*"Nói đến cảm giác của ta,
Nó thật sự mỹ miều, vi tiếu, tức thời,
Chẳng cách nào hình dung được,
Nàng có biết ảo thuật gia khi làm trò ảo thuật không?
Trong tích tắc đã biến hóa,
Những tràng vỗ tay,
Gương mặt đỏ ửng,
Nóng bừng,
Cùng lúc ào ra!
Đó là,
Niềm vui sướng nhất."*

🌟

Trên phương diện cảm giác, tôi muốn nói với bạn rằng:
Một hành giả Mật giáo, sau khi tu hành thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh, trong lúc nhất tâm nhập Tam ma địa, trong ý thức vi tế nhất.
Tự nó sẽ sản sinh ra Thập lạc:
Tín lạc.
Tam muội lạc.
Từ bi lạc.
Giải thoát lạc.
Thần thông lạc.
Tự tại lạc.
Pháp lực lạc.
Tịch tĩnh lạc.
Chính định lạc.
Bất biến lạc.

Đương nhiên, những loại hỷ lạc này không giống với cái vui sướng thế gian, mà là đại lạc, là cảm giác hạnh phúc do quang minh, Phật tính hợp thành.
Tôi cũng biết, sau khi học Phật pháp, ánh sáng do tự thân phát ra cùng với ánh sáng của Bổn tôn, khi cùng dung hợp hòa tan vào nhau sẽ sản sinh ra cảm giác. Bản chất của hiện tượng đó là:
Rất vi tế.
Vượt qua mọi quan niệm, tư tưởng, ngôn ngữ.
Mặc dù tu hành sẽ có được vinh dự và tài phúc của đại thiên thế giới.
Nhưng còn giá trị hơn thế là:
Thập lạc và tính Không (Phật tính).

🌟

Viết một bài thơ, gửi cho nàng.
Tiêu đề: "Cảm nhận".

*"Trong lòng Liên Tử
Có một tình ý sâu đậm
Giống như rượu ngon ngọt ngào
Khiến người ta say.*

*Nàng sẽ
Ta cũng sẽ
Có lúc rơi nước mắt vì hạnh phúc*

*Những gợn sóng trong lòng nàng
Chạm đến những gợn sóng trong lòng ta
Đó chính là
Những mảnh vụn của niềm vui."*


### 27. Trái tim đã tan chảy rồi


Nàng nói:
*"Tình yêu,
Giống như cây kem thơm ngon ngọt lịm
Ở trong miệng em cứ không ngừng,
Tan chảy, tan chảy...
Cuối cùng thì,
Khiến trái tim em cũng tan luôn rồi.
Không biết là
Em ăn kem?
Hay là
Kem ăn mất em rồi?"*

Ta nói:
*"Niềm vui tự tính đã xuất hiện rồi,
Niềm hạnh phúc đến từ bản nhiên bất diệt,
Hương vị giống như
Ánh sáng nghìn sợi vạn tia,
Đan xen vào nhau.*

*Lưỡi của chư Thần
Cũng nếm thấy được tiên tương
Giống như vậy.*

*Nàng tan chảy rồi!
Ta tan chảy rồi!
Thần cũng tan chảy rồi!
Những sự tan chảy này, rốt cục có giống nhau không?"*

🌟

Ý tôi muốn nói rằng:
Sự hợp nhất giữa người và người.
Sự hợp nhất giữa trời và người.
Sự hợp nhất giữa Bổn tôn và hành giả.
Sự hợp nhất giữa Phật và người.
...
Trong những sự hợp nhất này đều có những hỷ lạc bất khả tư nghì, cảm giác đó chính là tâm ý mãn nguyện.
Chúng ta không có cách nào hình dung được cái hỷ lạc này, chỉ có thể nói thế này:
Hưng phấn.
Sung sướng.
Say mê.
Cực lạc.
Tan chảy.

Theo tôi được biết, Tử quang và Mẫu quang của Mật giáo khi gặp nhau được mô tả là một giọt nước rơi vào trong biển lớn.
Một giọt nước rơi vào biển lớn, chẳng có niềm sung sướng nào hơn thế.
Hoặc có thể nói như,
Kem tan chảy trong miệng.

🌟

Ta có một thứ cảm giác, nàng có tài hoa của nàng, khi tiểu ngã nhập vào đại ngã. Đích thực là kem tan chảy trong miệng.

Thơ: "Sự tan chảy của tâm".

*"Cảnh giới tối cao của Mật giáo
Là hóa thân cầu vồng
Thân thể này cháy lên ngọn lửa
Cũng giống như sự tan chảy của tâm*

*Từ bảy xích biến thành một thốn,
Rồi lại biến thành không có gì
Không còn bị trói buộc trong hữu hình
Giải thoát
Vô cùng thù thắng*

*Hợp nhất rồi
Nàng chính là ta
Ta chính là nàng
Đó gọi là ấn chứng."*


### 28. Một chút tư tình


Nàng nói:
*"Ở trước mọi người,
Chàng giống như vị vua trên đỉnh cao sáng chói
Ở trước mặt em,
Chàng là người mà em ngày đêm nhớ mong.
Khi chúng ta ở bên nhau,
Em bất chợt quên mất, chàng là vị vua mà mọi người yêu kính nương dựa.
Có một chút xíu ích kỷ,
Lúc này,
Em chỉ coi chàng là vua của một mình em,
Chẳng chia sẻ cùng ai."*

Ta nói:
*"Trước mặt người lạ, ta chỉ là một người rất bình thường,
Ta giống như họ thôi.
Trong con mắt đệ tử,
Ta đã siêu phàm nhập Thánh,
Là người bán thần,
Một người rất có năng lực.
Sau cùng,
Ở trước mặt nàng,
Ta rốt cục biến thành tình nhân của nàng."*

🌟

Tôi nói:
Bất kể là người lạ, bất kể là sư phụ vô thượng, hoặc bất kể là tình nhân.
Tôi thường hỏi chính mình, tôi rốt cục là người thế nào?
Suy ngẫm tới lui, cuối cùng, tôi đương nhiên biết rằng tôi là "người lại đến", người lại đến để kế thừa lời thề nguyện.
Tôi nhìn thấy được những lần chuyển thế trong quá khứ của tôi, lời nguyện mà tôi đưa ra là độ hóa chúng sinh. Không từ bỏ một chúng sinh nào.
Tôi có túc mệnh thông.
Tôi có tha tâm thông.
Tôi có thần túc thông.
Tôi có thiên nhãn thông.
Tôi có thiên nhĩ thông.
Cuối cùng, tôi có thể tu thành lậu tận thông, cũng chính là "mọi lậu đều tận".
Vô minh lậu tận.
Phiền não lậu tận.
Chấp trước lậu tận.
Tôi thật lòng thật sự muốn nói với bạn rằng, tôi muốn đưa bạn đến Phật quốc tịnh thổ. Chính là Phật quốc tịnh thổ vĩnh hằng.

🌟

Ta là vị vua chân chính.
Nàng là minh phi chân chính.

🌟

Thơ: "Một chút tư tình".

*"Xin hãy nhìn cây quy y của Chân Phật Tông
Chư Phật nhiễu quanh
Bồ Tát nhiễu quanh
Kim Cang nhiễu quanh
Hộ Pháp nhiễu quanh
Không Hành nhiễu quanh
Chư Thiên nhiễu quanh
Xin hãy nhìn xem ta ở chỗ nào
Ta chính là ở giữa trung tâm.*

*Nàng bộc lộ tư tình
Ta cũng phó thác pháp bí mật
Đây là thành tựu bất cộng
Hãy nhớ
Hãy nhớ
Đừng sơ xuất."*


### 29. Nước mắt long lanh


Nàng nói:
*"Mỗi khi nhớ chàng,
Trong mắt em luôn dâng đầy nước mắt,
Đôi lúc, cảm xúc nhớ nhung
Như những con sóng biển cuồn cuộn,
Liên tục dâng trào,
Khi không thể chịu đựng được nữa,
Em chỉ có thể để nước mắt tuôn rơi,
Để những cảm xúc nhớ thương ngập đầy tâm phòng của em,
Những lúc này,
Làm cho em chẳng có cách nào kiên cường được nữa."*

Ta nói:
*"Ha!
Sao nàng cũng giống ta như vậy,
Ta thường ngồi trên pháp tọa cao cao
Đôi mắt đỏ mọng,
Khóe mắt long lanh.
Có đôi khi thực sự không thể chịu đựng được,
Bèn,
Khóc rưng rức như mưa, khóc bật thành tiếng,
Ta chẳng quan tâm có bao nhiêu người đang nhìn ta,
Ta chẳng quan tâm có phát sóng trực tiếp hay không,
Tóm lại,
Một biểu hiện xấu hổ."*

🌟

Khi tôi còn nhỏ, mẹ hay bảo tôi rất thích khóc. Tôi từ lúc còn sơ sinh, con nít, thiếu niên, thanh niên, tráng niên, đến bây giờ là người già, tôi là một chuỗi liên kết khóc và nước mắt.
Đồ mít ướt!
Đồ mít ướt!
Đồ mít ướt!
Tôi chính là, đồ mít ướt!

🌟

Suy xét xem vì sao tôi lại thích khóc như vậy?
Tôi tự thấy:
Một chữ "tình" xuất sắc!
Tôi là "Giác Hữu Tình" [Bồ Tát], là một người nặng tình trong số Giác Hữu Tình.
Tôi yêu sư phụ mình.
Tôi yêu cha mẹ mình.
Tôi yêu người thân mình.
Tôi yêu con cái mình
Tôi yêu bạn bè mình.
Tôi yêu đệ tử mình.

🌟

Ta yêu nàng của ta.
Rồi còn,...
Nặng tình bao nhiêu thì có bấy nhiêu nước mắt.
Không phải ta mắc chứng bệnh trầm cảm. Nhưng cũng có đôi chút giống bệnh trầm cảm.

🌟

Thơ: "Nước mắt long lanh".

*"Nước mắt nàng
Ta đã biết sẽ chẳng bao giờ ngừng tuôn
Chỉ vì
Nhớ thương quá nhiều*

*Nước mắt ta
Vì sự tĩnh của ta
Cũng vì sự định của ta
Nhất thời,
Tuôn rơi trong buồn nhớ
Giá như không phải là bệnh*

*Ta nghĩ về
Thân hình mong manh của nàng
Hữu tình tương xứng."*


### 30. Tiếng chuông điện thoại


Nàng nói:
*"Mỗi khi điện thoại đổ chuông,
Reng reng reng, reng reng reng, reng reng reng...
Trông thấy dãy số em đang mong chờ,
Em lập tức vui mừng khôn xiết,
Đôi chút căng thẳng,
Đôi chút hưng phấn,
Ôi thứ âm thanh quen thuộc đó,
Luôn an ủi vỗ về tâm hồn em."*

Ta nói:
*"Cả đời này ta chẳng có máy tính,
Chẳng có máy tính bảng,
Chẳng có điện thoại cầm tay.
Ta là một người nguyên thủy, sống qua những ngày tu hành an tịnh.
Nhưng, ta nghĩ, nhỡ xe hỏng giữa đường thì sao?
Thế là,
Cô Hanifa cho ta một chiếc điện thoại nhỏ chỉ có thể gọi điện,
Thượng sư Liên Ấn cũng cho ta một chiếc điện thoại nhỏ chỉ có thể gọi điện,
(Loại điện thoại này chỉ có chức năng gọi điện.)
Bình thường,
Điện thoại của ta cũng chẳng mở ra,
Chỉ khi nào cần gọi ta mới mở đến nó,
Mới gọi điện thoại,
Và thế là, nàng nhận được cuộc gọi của ta."*

🌟

Ta nói với nàng:
*”Ngoài nàng ra, ta chỉ liên lạc với chư tôn trên thiên thượng, đó là những người ta thân quen.
Trong cuộc sống thường ngày,
Khi ở trong Tam ma địa,
Trong lúc ngủ mà như không ngủ,
Trong giấc mơ,
Ta và chư tôn luôn có sự liên lạc.
Chúng ta không dùng điện thoại, mà dùng "cảm nhận".
Cảnh giới tu hành của ta khiến người bình thường khó mà tin được, Bổn tôn của ta luôn luôn bên cạnh ta.
Cả hai gắn bó,
Chẳng hề tách biệt,
Ăn cơm, đi ngủ cùng nhau,
Đi, đứng, ngồi, nằm cùng nhau,
Ta còn sống, Ngài theo ta.
Ta chết rồi, ta theo Ngài.
Đây chính là sự tương ứng của Mật giáo.
Ban ngày, Ngài trụ trên đỉnh đầu của ta.
Buổi tối, Ngài trụ trong tâm của ta.
Ta có rất nhiều cảm nhận, cùng Bổn tôn tương ứng, Bổn tôn chỉ dẫn ta trên con đường tu hành, sẽ chẳng sai sót.”*

🌟

Còn như nàng,
Nàng cần dựa vào ta mà tu hành,
Bởi vì con đường tu hành này, ta đã đi qua rồi!

🌟

Thơ: "Tiếng chuông điện thoại".

*"Nàng ở bờ bên nàng
Ta ở bờ bên ta
Khoảng cách xa nghìn dặm
Muốn gặp mặt nhau ư
Sẽ phải chờ lâu lắm*

*Thật may chỉ cần bấm
Hoặc quay đôi ba lần
Là âm thanh quen thuộc
Đã đến ngay bên mình*

*Ta dạy nàng tu hành
Giấc mơ nàng ta đến
Tiếc nuối nào có chi."*


### 31. Chúng ta đều là trẻ con


Nàng nói:
*"Trong tình yêu,
Chúng ta quên đi tuổi tác của mình,
Bởi vì chàng là trẻ con,
Em cũng là trẻ con,
Chúng ta đều:
Hồn nhiên,
Thiện lành,
Thật thà,
Cùng biết,
Cùng thương,
Cùng yêu,
Nụ cười của hai ta luôn tràn đầy ngây thơ.
Chàng từng nói:
Liên Hoa Đồng Tử vĩnh viễn không phải là đạo đức giả."*

Ta nói:
*"Nàng biết không?
Rằng ta mơ ước mình là đứa trẻ biết bao,
Ăn no rồi ngủ,
Ngủ đủ lại ăn,
Hấp háy đôi mắt ngây thơ,
Nhìn thế giới bao điều lạ lẫm.*

*Nàng biết không?
Đứa trẻ là ta đây,
Không muốn hiểu cái thế giới này,
Cũng chẳng muốn hiểu thế giới của người lớn,
Lại càng chẳng muốn lớn lên,
Bởi vì,
Khi lớn lên rồi,
Sẽ có rất nhiều rất nhiều nỗi khổ."*

🌟

Tôi muốn nói rằng:
Theo cách tính tuổi của Đài Loan, tôi nay đã 75 tuổi rồi.
Tôi thực lòng thực sự nói cho bạn biết rằng, tôi thường xuyên quên mất tuổi của mình.
Tôi cũng chẳng để tâm đến số tuổi của mình, tôi dường như quên hết mọi thứ xung quanh mình.
Tôi còn muốn chạy!
Tôi còn muốn thoát!
Tôi còn muốn hét lên một tiếng, còn muốn cười lên một tràng, còn muốn hét lớn cười vang.
Tôi học cách "sao cũng được".
Tôi học cách "không quan tâm".
Yêu những thứ tôi yêu,
Tôi không thích sự "lão làng" của người lớn, sự "giả vờ" của người lớn, sự "quy tắc" của người lớn, sự "gian trá" của người lớn, sự "tạo tác" của người lớn, sự "cả nghĩ" của người lớn,...
Tôi chán ngấy người lớn.
Tôi thích trẻ con.
Tôi nắm tay trẻ con cùng bước đi, cùng nhảy nhót.

🌟

Thơ: "Trẻ con".

*"Nàng mười sáu
Ta mười bảy
Tuổi đôi ta gần như nhau*

*Cuộc đời chúng ta chẳng có ưu phiền
Yên ả vô tư
Chúng ta đuổi gió bắt mưa thường hay đến
Vui vẻ ngày ngày
Thuần lãng mạn*

*Chúng ta chẳng như người lớn thường toan tính
Lải nhải những việc gì đó
Quên quên quên."*


### 32. Bầu trời Seattle


Nàng nói:
*"Em nhớ bầu trời Seattle,
Trong không khí trong lành của Tây Thành,
Mỗi lần hít vào,
Dường như đều có mùi vị của chàng.*

*Em nhớ những rặng núi Seattle,
Ở chân trời mỗi buổi sáng sớm,
Khói mây lửng lơ giăng mắc,
Giống như đang ngóng mặt trời lên.*

*Em nhớ chùa tổ,
Nhớ Seattle Lôi Tạng Tự,
Trong lòng bồi hồi,
Mong ngóng...
Được trông thấy bóng dáng của chàng."*

Ta nói:
*"Niềm nhớ của nàng cũng là nỗi nhớ của ta,
Nàng biết chăng?
Mỗi lần ta đi du lịch nước ngoài,
Ta đều nhớ bầu trời xanh nơi đó,
Không khí thơm mát tinh khôi nơi đó,
Tây Thành!
Quê nhà của ta.*

*Nàng biết chăng?
Mỗi buổi sáng ta ngủ dậy ở Tây Thành,
Vừa mở mắt,
Đã nhìn thấy mặt trời của nhà ta,
Mặt trời lớn ở ngay ngoài cửa sổ,
Từ từ lên cao.
Niềm mong ngóng của nàng,
Niềm mong ngóng của ta,
Đâu có khác gì nhau."*

🌟

Tôi muốn kể với bạn rằng, tôi sống ở Đài Loan 38 năm, tôi sống tại nước Mỹ 37 năm.
Đài Loan là quê hương đầu tiên của tôi.
Seattle nước Mỹ là quê hương thứ hai của tôi.
Tôi buồn về không khí của Đài Loan đã thực sự vô cùng ô nhiễm.
Tôi buồn về tất cả sự hỗn loạn của Đài Loan.
Đài Loan rất náo nhiệt.
Seattle rất yên tĩnh.
Đây là một sự trái ngược rất mạnh mẽ.
Có người hỏi tôi, Ngài thích Đài Loan? Hay là Seattle?
Tôi bất ngờ á khẩu không nói.

🌟

Thơ: "Bầu trời Seattle".

*"Đó là ánh mắt nàng
Xanh thẳm
Hơi khẽ cười*

*Đó là ánh mắt nàng
Ưu tư
Mà trẻ trung*

*Đó là ánh mắt nàng
Nét ngọc
Bao duyên dáng*

*Cả Tây Thành đang mong nhớ."*


### 33. Thường thường thường thường


Nàng nói:
*"Thường thường,
Em cảm thấy rất thương chàng,
Không chịu được việc chàng dốc toàn tâm toàn ý, lao tâm lao lực vào chúng sinh.
Các đệ tử thì thật đáng thất vọng.
Liên tục phạm lỗi, sa đọa.
Luôn khiến chàng thở dài.
Em từng nói với người:
Lư Sư Tôn là một vị Phật đáng thương,
Đây chính là điều em không đành lòng!"*

Ta nói:
*"Thường thường,
Trong lòng ta rất buồn, rất rất buồn,
Đệ tử bị thiêu cháy,
Đệ tử gặp tai nạn xe,
Đệ tử nhảy lầu,
Đệ tử bị Quỷ Bà phá hoại,
Đệ tử gia đình tan vỡ,
...*

*Ta rất đau lòng!
Ta cầu nguyện Bổn tôn:
Giúp cho các đệ tử, thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, gặp hung hóa cát, đạo tâm kiên cố.
Giúp cho đệ tử, giải trừ mọi đau khổ của họ."*

🌟

Tôi muốn nói với bạn rằng:
Đệ tử Chân Phật Tông có tới triệu triệu người.
Cái gọi là:
Cây lớn có cành khô,
Người đông có kẻ ngốc,
Có một số đệ tử đường chính không đi, lại đi đường tà. Những đệ tử đi vào tà đạo đã bị lửa nuốt chửng. (Sự kiện nhà sắt ở Miêu Lật.)

[Sự kiện này xảy ra vào ngày 27/12/2015, tại thành phố Miêu Lật phía bắc Đài Loan, trong một khu nhà cũ làm bằng sắt, khiến 7 người chết.]

Trong lòng ta đau đớn khôn xiết.
Chân Phật Tông xuất hiện một Quỷ Bà, chuyên môn làm trò ma quỷ, thờ cúng quỷ.
Do vậy,
Có người gặp tai nạn xe. (sự kiện cô Từ Nhuệ Quang)
Có người thần kinh thất thường. (sự kiện bà Chu)
Có người nhảy lầu. (sự kiện Dương phu nhân)
Có người đe dọa cướp tiền. (sự kiện La Hồng)
Có người gia đình tan vỡ...

Quỷ Bà phục vụ năm con quỷ là: Kobayashi, Nakamura Kazumu, Watanabe Chirou, Hoàng Kim Tuyền, Lâm Lương Tri. Ba con quỷ là người Nhật, hai con quỷ là người Trung Hoa.
Quỷ Bà bái quỷ, còn có cả một lũ quỷ con quỷ cháu vẫy cờ hò hét ủng hộ Quỷ Bà.
Những sự việc này sao không khiến người ta đau lòng!
Ám ảnh!

🌟

Thơ: "Thường thường thường thường".

*"Thường khuyên người
Tu chính pháp
Đừng nhập phe Quỷ Bà*

*Thường dạy dỗ
Cần giữ giới
Đừng lòng vòng trong những thói suy đồi*

*Thường thuyết pháp
Tu thanh tịnh
Tránh làm tay sai cho quỷ*

*Thường minh chứng
Chiếu sáng đến những góc tối thế gian
Cho người thêm hơi ấm."*


### 34. Lại một tiếng "hi hi"


Nàng nói:
*"Em đã đọc lại một lần nữa,
Hai cuốn sách "Nước chảy sông trăng" và "Trò chuyện cùng ánh trăng"
Em đang nghĩ, em của bây giờ
Có lẽ cũng là một tiếng "hi hi"
Kì thực,
Em cũng hy vọng chàng có thể tìm được thêm nhiều "hi hi" hơn nữa
Hy vọng,
Những tiếng "hi hi" có thể đem đến cho chàng thêm niềm vui,
Có thể khiến chàng khoan khoái,
Có thể làm dịu tâm hồn chàng.
Thêm một chút niềm vui,
Nói thật lòng, nhân gian này,
Thực sự đã quá vô vị rồi!"*

Ta nói:
*"Hi hi là ai?
Mà đến nay vẫn chưa dám lộ diện.
Hi hi là giả giả!
Có lẽ chính là thế.*

*Hi hi là rất nhiều người,
Nói không chừng cũng là rất nhiều chuyện cũ.*

*Hi hi cho ta rất nhiều cảm hứng?
Ta thật sự,
Đang theo đến những nơi có nó."*

🌟

Tại đây tôi muốn nói với bạn rằng:
Nói căn cứ theo truyền thuyết của Ấn Độ thì:
Đại Phạm Thiên Vương (thần Sáng tạo) sau khi sáng tạo ra trời đất, đã ở tại nhân gian nói ra mười vạn đoạn thơ ca. Tóm lại trong ba chữ là:

1. Pháp: những đoạn có liên quan đến tu hành.

2. Nghĩa: những đoạn có liên quan đến tư lương phúc đức.

3. Tình: những đoạn có liên quan đến giáo nghĩa tình yêu.

Giáo nghĩa tình yêu mà Đại Phạm Thiên Vương giảng, cho đến ngày nay, vẫn có rất nhiều người nghiên cứu.
Nandi thu thập 1000 đoạn.
Savita Kethu viết 500 đoạn.
Babaraya thu thập 150 đoạn. (tinh yếu)
Đây chính là Kamasutra nổi tiếng.

Lư Sư Tôn thừa nhận, giáo nghĩa tình yêu của Đại Phạm Thiên Vương đã cho tôi rất nhiều cảm hứng.
Nếu như nhân gian thiếu mất tình yêu, thì nó thật nhàm chán vô vị.

🌟

Thơ: "Vô vị".

*"Đời người như hoa rơi rụng
Gió mưa bầm dập
Chỉ còn lại một chữ
Tàn.*

*Đồng niên, thanh niên, tráng niên
Rồi thành người già
Một người tàn lại một người tàn
Vẫn là một chữ
Phiền.*

*Già đến lạnh
Chỉ còn lại một chữ tình bé nhỏ
Cho ta một làn hơi ấm."*


### 35. Đêm tĩnh mịch


Nàng nói:
*"Có một buổi đêm tĩnh mịch,
Em đem những ngôn từ nhớ chàng, yêu chàng, mong chàng,
Hóa thành chú ngữ,
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm (Om guru liansheng siddhi hum)
Vọng tới tận ánh trăng.*

*Nhìn trời đêm,
Nghĩ về chàng ở bến bờ xa lắm,*

*Em nói: Em mơ thấy đầu của em chạm vào đầu của chàng.
Chàng nói: Đó chính là lời thề đời đời kiếp kiếp của chúng ta.
Đến đây,
Em đã chẳng biết nói gì nữa."*

Ta nói:
*"Ta từng nghĩ thế này:
Đưa nàng đến mật đàn cá nhân của ta, ta và nàng mỗi người cầm ba nén hương, thuật lại bí mật lớn.
Ta từng nghĩ thế này:
Đưa nàng đến bờ cát nơi biển lớn, nói với những cơn sóng của đại dương, không ngừng kể về những điều vĩnh viễn.
Ta từng nghĩ thế này:
Đưa nàng đến trước Bổn tôn của ta, ta và nàng cùng phát lời thề trước Bổn tôn, nói rằng nguyện sẽ cùng ngồi trong một đóa hoa sen."*

🌟

Tôi muốn nói cho bạn biết rằng:
"Lời thề" trong Mật giáo là vô cùng quan trọng.
Ví dụ:
Tôi dựa vào Đại Uy Đức Kim Cang làm Bổn tôn bảo vệ tôi. Tôi bí mật tu trì pháp Đại Uy Đức Kim Cang.
Tôi thực hành các pháp gia hành.
Tôi thực hành các pháp cúng dường.
Đại lễ bái
Quy y cầu nguyện.
Trong phần chính hành thì tôi quán tưởng, kết ấn, trì chú, nhập Tam ma địa.
Đến cuối cùng thì...
Đại Uy Đức Kim Cang từ đáy biển trồi lên, khi trồi lên thì làm xáo động cả biển lớn. Sóng lớn tung lên cuồn cuồn, hung dữ thật khiến người khác khiếp sợ.
Cuối cùng tôi đã nhìn thấy Đại Uy Đức Kim Cang.
Lúc này, tôi hướng về Đại Uy Đức Kim Cang mà phát lời thề:
Nam mô Hàng Diêm Ma Tôn, vĩnh viễn cùng tôi không xa rời,
Tôi xin dùng tam nghiệp thanh tịnh, chí tâm suy mệnh đảnh lễ.
Cầu nguyện tôi và chúng sinh đều được tiêu diệt mọi ma chướng.

🌟

Thơ: "Lời thề".
*"Nếu như
Nàng là gió
Ta là mây
Gió thổi là mây tan tứ tán*

*Nếu như
Nàng là quạt
Ta là gió
Cánh quạt cũng dễ bị thổi bay*

*Cái gì có thể không đứt đoạn
Trăm thứ nghĩ suy, vạn vạn nghìn.*

*Chỉ hướng về chư Phật tam thế mà lễ bái và sám hối."*


### 36. Mùi của hoa thơm


Nàng nói:
*"Hôm nay, em thật vui,
Bởi vì nghe được giọng nói của chàng,
Giọng nói quen thuộc ấy,
Gọi tên em,
Thế là,
Giọng nói ấy cứ vang vọng mãi trong tâm trí em.*

*Chỉ cần đôi lời hỏi han dịu dàng,
Chỉ cần đôi lời quan tâm ấm áp,
Đã là đủ rồi!
Em vui sướng, hạnh phúc,
Tiếp tục đợi âm thanh ấy lại vọng đến lần sau."*

Ta nói:
*"Trong một vườn hoa,
Có trồng hoa tulip,
Cả một trảng hoa rộng,
Mùi hương tuyệt vời đó,
Thật sự rất thơm, rất thơm.
Ta muốn gửi mùi hương ngọt ngào tuyệt đẹp này
Đến cho nàng,
Cũng muốn nàng cảm nhận được mùi của hoa thơm.*

*Dường như,
Khoảng cách bỗng trở nên rất gần,
Hương thơm đã kết nối hai ta."*

🌟

Ở đây, tôi muốn nói với bạn rằng:
Danh từ "cảm giác" này vô cùng vô cùng quan trọng trong Mật giáo. Thượng sư Mật giáo cần hiểu rõ ràng cảm giác của đệ tử.
Ví dụ:
Cảm giác về "địa" — biến hóa thành núi, to cao vững chắc như núi.
Cảm giác về "thủy" — trong suốt sáng rõ, trí huệ như biển.
Cảm giác về "hỏa" — xuất hiện tướng ấm, bản nhiên thanh tịnh.
Cảm giác về "phong" — xóa bỏ tà uế, quét sạch mọi "ma".
Trong cảm nhận, lại có năm ham muốn cụ thể hơn:
Sắc.
Thanh.
Hương.
Vị.
Xúc.
Bạn nghe thấy giọng nói của tôi, đó là ham muốn âm thanh, bạn cúng dường hoa, đó là ham muốn về sắc và hương.
Tu hành cho đến khi có chứng lượng, sẽ có ba loại cảm giác thù thắng:
Đại lạc.
Quang minh.
Tính Không.

🌟

Viết một bài thơ tặng nàng: "Hương vị".

*"Dáng hình của nàng
Đã là
Phong cảnh đẹp nhất*

*Giọng nói của nàng
Đã như
Gió thổi chuông vàng*

*Hương vị
Của cái lạnh thê lương cô độc
Chỉ mong
Sớm đến ngày vu quy*

*Chẳng thể nói tháng ngày khó biết
Hai ta hãy cứ giữ lời thề."*


### 37. Mơ một giấc mơ


Nàng nói:
*"Em có một giấc mơ:
Em đứng trên một mảnh đất trống, đột nhiên, chân trời vang lên một tiếng sấm rất lớn, cả bầu trời sáng rực một vùng bởi tia chớp ánh vàng kim.
Đột nhiên, từ giữa không trung rơi xuống một tảng đá rất to, tảng đá to tròn đó rơi ngay về hướng em đang đứng với tốc độ rất nhanh.
Đúng vào lúc em sắp bị tảng đá lớn đè bẹp, tảng đá khổng lồ đột ngột vòng qua bên cạnh em.
Em bình yên vô sự.
Trong mơ,
Em hét lên:
"Cảm tạ Sư Tôn, Phật Bồ Tát."
"Cảm tạ Sư Tôn, Phật Bồ Tát."
Thế rồi em tỉnh dậy, lúc đó là 6h45 phút sáng.
Hôm nay, vừa đúng lại là Tết Đoan Ngọ,
Giấc mơ này không biết có phải là chỉ thị gì không?"*

Tái bút:
*”Em đã trở về được một tuần rồi,
Vì sao vẫn chưa mơ thấy chàng!
Chẳng phải chàng đã nói,
Chàng sẽ đến gặp em sao?"*

Ta nói:
*"Ta từng nói:
Cuộc đời là một cảnh giới,
Giấc mơ cũng là một cảnh giới,
Cả hai đều là hư huyễn không thật.
Nhưng, ta không thể nói rằng hư huyễn không thật thì đừng tìm hiểu nữa.
Từ trong cảnh mộng của nàng, có thể thấy rằng:
Nàng sẽ tránh được một kiếp nạn.
Kết quả là: bình an vô sự.
Nàng nói, nàng vẫn chưa mơ thấy ta,
Ta nói, đừng vội!
Nàng nhất định sẽ mơ thấy ta!
Hơn nữa,
Giấc mơ đó đảm bảo vô cùng ấm áp."*

🌟

Tôi nói để bạn được biết, trong sáu pháp của Naropa, có pháp Mộng quán.
Đó là một phương pháp tu hành giấc mộng, nói cách khác là có thể tu hành trong mơ.
Trước tiên cần:
Tri mộng. (biết rằng đây là mơ)
Hiểu mộng. (hiểu được rõ ý nghĩa của giấc mơ)
Chuyển mộng. (chuyển giấc mơ xấu thành giấc mơ tốt lành)
Tu mộng. (trong mơ niệm Phật, trì chú, nhập Tam ma địa)

Nếu ban ngày chúng ta có thể tu hành, và ban đêm cũng có thể tu hành, thì thiện tai! Công sức giảm một nửa, lợi ích được gấp đôi.
Quá viên mãn rồi!

Thơ: "Mộng".

*"Ta thường thả lỏng mình hoàn toàn
Dừng hết mọi suy nghĩ
Thế là
Ngủ say sưa*

*Bất kể đèn đường sáng trưng
Bất kể trời sập
Bất kể đất nứt
Vẫn mơ sâu*

*Chuyện trong mơ đều chẳng quản lo
Cho dù là ác mộng
Cũng chẳng bực
Tất cả đều là hư huyễn
Đâu có cơ sở để tin."*


### 38. Ta chẳng hề phù phép nàng


Nàng nói:
*"Kỳ lạ!
Chàng chẳng phải là cao phú soái,
Mà sao em vô vàn thương yêu,
Hẳn là chàng đã làm phù phép,
Khiến em chìm ngập trong mê say.*

*Đó là phép thuật nghìn năm,
Hay là,
Lời thề vĩnh hằng bất biến,
Khiến chúng ta càng kéo càng gần,
Càng buộc càng chặt,
Khiến chúng ta bị giữ chặt ở nơi sâu nhất trong tâm hồn nhau."*

Ta nói:
*"Ha!
Ta chẳng hề phù phép lên nàng,
Nàng nhất định phải tin ta,
Đời này ta ghét nhất hai chữ, chính là:
"Miễn cưỡng"
Ta tôn trọng tự nhiên,
Ta phản đối miễn cưỡng.*

*Có lẽ là số mệnh,
Có lẽ là nhân duyên,
Giống như Từ Chí Ma từng nói:
Ta là một đám mây trên trời,
Bỗng nhiên rơi trúng vào tim ai.
Ta là Từ Chí Ma,
Nàng là Lục Tiểu Mạn."*

🌟

Tôi muốn nói với bạn rằng:
Thần tình yêu trong Mật giáo chính là Phật Mẫu Kurukulle, trên tay Ngài cầm cung tên tình yêu tết bằng hoa.
Hành giả thật sự có pháp lực,
Chỉ cần tưởng tượng người mình yêu đến trước mặt mình,
Sau đó,
Thỉnh Kurukulle Phật Mẫu cầm cung tên hoa bắn trúng vào tim của người mình yêu, người này sẽ không thể rời xa bạn được!
Cần niệm tâm chú Kurukulle Phật Mẫu:
"Ôm ku-ru-ku-lê sê sô-ha." (Om kurukullle seh soha) (trăm, nghìn, vạn biến)
Muốn hồi hướng để được kính ái viên mãn thì cần dâng lên Phật Mẫu Kurukulle hoa màu đỏ, cúng dường đường, mật ong, si-rô.
Như thế người bạn yêu sẽ đến gần bạn.
Mỹ nữ tự động tìm đến!

Thơ: "Phù phép".

*"Chẳng phải phù phép
Chỉ là một mảnh tương tư
Đã khiến cho
Đất trời đảo lộn.*

*Chẳng phải phù phép
Chỉ là một ánh mắt nhìn
Trái tim kia
Đã hết lang thang*

*Chẳng phải phù phép
Chỉ là dáng dấp lướt qua
Thì đêm đó
Đã bao trằn trọc*

*Nàng không phụ ta
Ta cũng sẽ không phụ nàng.”*


### 39. Xem phim


Nàng nói:
*"Hôm nay, em đi xem phim một mình,
Em tưởng tượng chàng đang ngồi bên cạnh em,
Chúng ta hẹn nhau đi xem phim,
Cảm thấy thật mỹ mãn.
Nội dung phim vừa thương cảm vừa ấm áp.
Nhân vật nam chính: từ nhỏ bị cha mẹ bạo hành cho đến lớn, sau khi kết hôn thì vô cùng yêu vợ, yêu con. Con gái bị sát hại, anh ta đau đớn tột cùng.
Thượng đế đã hóa hiện ra thành ba nhân vật có hình dạng khác nhau, muốn đến để giúp đỡ anh, an ủi anh, muốn dẫn dắt anh ra khỏi hố sâu đau thương, học cách tha thứ (cho mình và người khác).
Thượng đế (hóa hiện thành một bà thím da đen) nói: bất kể ở quá khứ, hiện tại hay tương lai, ta vẫn chưa bao giờ rời xa anh, cho dù anh không nhìn thấy ta, ta vĩnh viễn vẫn ở bên cạnh anh.*

*Kết cục:
Mọi chuyện đã tốt đẹp.
Nhân vật nam chính đã bước ra khỏi đau thương,
Học cách bao dung và từ ái,
Trở nên yêu bản thân mình và người khác hơn."
*Tái bút:* "Bất kể ở quá khứ, hiện tại, hay tương lai, em vẫn chưa từng rời xa chàng... Chúng ta cũng sẽ như thế chăng?"*

Ta nói:
*"Bây giờ ta đã rất ít xem phim rồi,
Bởi vì chính ta đã là một bộ phim.
Từ nhỏ ta từ trong bạo hành gia đình mà trưởng thành.
Ta được Diêu Trì Kim Mẫu tìm thấy.
Ta được phó thác trách nhiệm độ chúng sinh.
Những lúc nản lòng nhiều vô hạn...
Diêu Trì Kim Mẫu chưa từng bao giờ rời xa ta.
Diêu Trì Kim Mẫu nói:
Đời này, những người mà con sẽ gặp đều là người có duyên với con từ kiếp trước, con cần học cách yêu và bao dung họ.
Diêu Trì Kim Mẫu nói:
Tâm lượng lớn vô hạn, bao dung lớn vô hạn."*
Tái bút: *"Bất kể ở quá khứ, hiện tại, hay tương lai, ta vẫn chưa từng rời xa nàng. Đây là điều ta nói."*

🌟

Tôi muốn nói với bạn rằng:
Hãy xem cuộc đời như một bộ phim.
Nhưng khi bạn xem phim.
Bạn chỉ là khán giả.

Bất kể tình tiết của bộ phim thế nào
Bạn đều là người đứng ngoài,
Như như bất động.
"Như như bất động" này mới chính là Phật tính chân chính.

🌟

Thơ: "Chúng ta cũng như thế".
*"Nói nàng nghe
Tình ý mông lung
Mồ hôi
Mùi hương
Hòa lẫn vào nhau*

*Những thứ này xưa nay chưa từng rời xa
Dương liễu
Khói bay
Vẫn luôn nồng đượm."*


### 40. Một mạng lưới lại một mạng lưới


Nàng nói:
*"Ôi chao!
Chàng biến em thành yêu tinh nhện rồi!
Hóa ra, suy nghĩ của em đã thành hiện thực
Một sợi tơ lại một sợi tơ,
Những sợi tinh khiết long lanh lấp lánh,
Bện thành lưới tình,
Đã trói em thật chặt,
Lưới tình này,
Đâu chỉ có giăng lưới lên chàng
Em cũng đã khiến chính mình,
Bị trói chặt trong lưới đó thôi."*

Ta nói:
*"Ta đọc thơ của Âu Dương Tu,
Xin trích ra đây:
Ngày này năm trước lúc hoa rơi
Y như lúc xưa lại gặp nàng.
Mơ hồ chạm mặt đôi mắt cúi.
Da ngọc lấp ló dưới áo xanh.
Vừa gặp mặt.
Đã tương tư.
Tương tư đến vô hạn.
Lần này gặp đây thì đã biết
Đã biết thì cũng đã muộn rồi.*

*Ta rất thích ngôn từ của Âu Dương Tu
Vừa gặp mặt, đã tương tư mà ông viết thật sống động,
Cổ nhân như vậy,
Người nay như vậy,
Hai ta đều bị rơi vào lưới
Bị mắc lưới, nhưng vẫn cam tâm tình nguyện."*

🌟

Tôi muốn nói với bạn rằng:
Đời người mắc kẹt vào một loạt những chiếc lưới, rất hiếm người có thể thoát khỏi được.
Sinh ra là một chiếc lưới, mắc kẹt dưới cha mẹ.
Đi học là một chiếc lưới, mắc kẹt vào học hành.
Sự nghiệp là một chiếc lưới, mắc kẹt vào kiếm tiền.
Kết hôn là một chiếc lưới, mắc kẹt vào vợ chồng.
Sinh con là một chiếc lưới, mắc kẹt vào con cái.
Về già là một chiếc lưới, mắc kẹt vào sức khỏe.
Chết đi cũng là một chiếc lưới, làm người khác mắc kẹt.
Đây là những chiếc lưới lớn, những lưới nhỏ thì lại càng nhiều hơn thế. Những chiếc lưới nhỏ đã trói chặt mỗi người.
Bạn muốn gì, chính là bị mắc lưới.
Bạn yêu gì, chính là bị trói.
...

Giờ đây, chỉ có người nào hiểu được "vô sở cầu", "vô sở đắc", "vô ngã", "vô sở trụ" thì mới có thể giải thoát được.

🌟

Thơ: "Lưới".

*"Thứ ta đang học
Chính là
Thân tâm an bình*

*Nếu nàng biết được
Về vô sở đắc
Thì cũng chẳng cần phải hỏi*

*Bị mắc lưới
Bị trói chặt
Bị quấn quanh
Khi nàng cảm thấy rất chật
Ta có thể dạy nàng
Hóa thành bé tí hon."*


### 41. Cùng nhau tắm mưa


Nàng nói:
*"Buổi hoàng hôn, khi em đi dạo,
Đột nhiên, trời đổ mưa.
Cơn mưa này khiến em nhớ đến chàng,
Chàng thích nhất là mưa.*

*Cơn mưa này quất lên người, lên mặt em,
Em chẳng có chỗ nào trú,
Em cũng không muốn trú,
Em đang tưởng tượng chúng ta cùng tắm mưa,
Cùng nhau tiếp nhận lễ rửa tội của tình yêu.*

*Mưa ơi mưa, ta cầu nguyện mưa,
Rửa sạch đi mọi nỗi buồn phiền!
Mang đi luôn những do dự của ta!"*

Ta nói:
*"Ngày xưa, ta viết bài thơ ngắn về mưa, ta viết như thế này:
Sân đình mưa hối hả,
Như đá ném lộp độp vào phiến trúc
Dẫm đạp tả tơi lên cánh hoa,
Mặt trời bị che lấp tối sầm.*

*Trong tiếng lộp bộp chút tương tư,
Ngón tay ấn đứt dây đàn,
Phải nhờ vào dây đàn,
Mới biết,
Lòng đã loạn.*

*Bài thơ này của ta chẳng giống thơ, cũng không giống cụm từ, lại càng không phải bài hát, chỉ là một chút cảm tưởng, ta muốn gửi nó đến cho nàng, cũng khá thích hợp."*

🌟

Tôi muốn kể với bạn rằng:
Khi còn thanh niên, tôi là hội viên của Hiệp hội Văn học nghệ thuật Trung Quốc, cũng là hội viên Hội nhà văn Đài Trung.
Tôi thích viết văn.
Tiểu thuyết, tản văn, thơ, tôi đều viết, thậm chí viết cả tạp văn.
Tôi cũng xuất bản rộng khắp trên báo, tạp chí, nhiều hình thức xuất bản đều có văn chương của tôi.
Tôi từng làm chủ biên cho những tờ tạp chí của trường học như: "Hùng Công Thanh Niên", "Cao Thanh Văn Túy", "Văn Nghệ Trắc Lượng" ...
Tôi từng làm phóng viên báo chí.
Tôi từng làm tác giả phụ trách chuyên mục.
Tôi xuất bản sách, đến nay đã có 274 cuốn.
Tôi đã đạt được rất nhiều giải.
Đương nhiên, tôi viết rất nhiều văn chương lãng mạn.

🌟

Cách viết của nàng rất hay, rất mới mẻ. Rất ấn tượng, hơn nữa còn có chất, lại còn rất chân thật, rất cảm động.
Khiến trong lòng ta vui thích.

Viết tặng nàng một bài thơ "Mưa".

*"Mưa vẫn luôn như thế
Thoắt cái
Một đám mây ùa tới
Là mưa*

*Ta vẫn luôn chẳng thích mở ô
Vì sợ
Còn chưa đủ ướt*

*Chẳng nheo mắt
Ngược lại còn phởn phơ
Hiếm khi có mưa tới bầu bạn*

*Viết bài thơ mưa gửi đến nàng
Xin đừng buồn phiền đừng do dự
Sau cơn mưa này."*


### 42. Tự do yêu một lần


Nàng nói:
*"Đương nhiên em hiểu rõ,
Nhân gian này,
Sinh ly tử biệt,
Khổ - Không vô thường,
Tất cả những điều này đều là bình thường.*

*Chỉ cần ta tri giác được,
An trụ trong Phật tính,
Thì những thứ kia có là gì đâu,
Bởi đã biết tình yêu rốt cục cũng chỉ là Không.*

*Vì thế...
Hãy để em trong nhân gian hư huyễn này,
Được tự do yêu một lần."*

🌟

Ta kể:
*"Phật Đà nói:
Nhân gian Ta Bà là khổ, Phật giáo lấy "khổ" làm xuất phát điểm. Thế nên có sinh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, cầu không được khổ, yêu phải xa cách khổ, oán ghét mà hay phải gặp khổ...*

*Tôi từng gặp một cụ già trong bệnh viện, kéo theo một cái giá treo bình truyền nước, đi vào nhà vệ sinh, rồi lại nhìn thấy cụ già kéo theo cái giá móc bình truyền nước trở về phòng bệnh.
Tuổi già và bệnh tật, chẳng tách rời.*

*Có người hỏi tôi:
Cái gì khổ nhất?
Tôi đáp:
Già bệnh là khổ nhất.*

*Cảnh tượng đó, bóng lưng cụ già kéo theo bình truyền nước cứ in mãi trong tâm trí tôi, vĩnh viễn không thể quên được.
Đừng quên trên đời người khổ nhiều,
Nhân gian quá khổ rồi!*

*Nàng muốn thoải mái yêu một lần
Ta sẽ hộ tống nàng."*

Ta muốn nói với nàng rằng:
Ta chính là kiểu người hãy thoải mái một lần, giống như nàng, ta cũng biết khổ, Không, vô thường, vô ngã. Do vậy, cần tỉnh ngộ, rời khổ để có được vui.
Khổ. (Cuộc đời khổ nhiều vui ít.)
Không. (Đến cuối cùng thì ai cũng ra đi với hai bàn tay trắng.)
Vô thường. (Con ma vô thường luôn ở xung quanh.)
Vô ngã. (Mỗi người đều cần đi về cái Không.)
Sơ sinh — con nít — nhi đồng — thanh niên — tráng niên — già — chết.
Nàng muốn thoải mái yêu một lần.
Vậy ta sẽ hộ tống nàng.

Thơ: "Tự do".

*"Ly biệt cũng chẳng hề gì
Bởi vì
Chúng ta rồi sẽ gặp lại*

*Cho dù tử biệt cũng chẳng hề gì
Bởi vì
Chẳng qua cũng chỉ là giấc mộng trong chớp mắt*

*Chúng ta hãy trân trọng thật nhiều
Nhân duyên gặp mặt nhỏ bé này
Cho đến khi râu tóc bạc phơ*

*Là thật
Là hư
Cũng đừng bận lòng
Chỉ cần sao cho đáng nhớ."*


### 43. Tôi thích


Nàng nói:
*"Em thích,
Nhìn ngắm khuôn mặt chàng,
Ngước nhìn đôi mắt chàng,
Từ trong mắt chàng, em có thể thấy được tâm của chàng,
Mắt của chàng,
Chứa chan vô hạn tình ý,
Tâm của chàng,
Có vô hạn từ bi.
Em biết, em biết, em đều biết cả,
Rằng chàng:
Quan tâm đến em."*

Ta nói:
*"Ta thích,
Ngắm trời, màu xanh bầu trời ấy,
Khiến lòng ta rộng lớn vô hạn.*

*Ta thích,
Ngắm biển, nước liền trời, trời liền nước,
Khiến lòng ta bất chợt khựng lại.*

*Ta thích,
Ngắm núi, cao ngút vào mây,
Khiến lòng ta niềm tin kiên định.*

*Ta thích,
Ngắm sông, dòng nước miên man chảy.
Khiến lòng ta càng thêm tinh tấn.*

*Ta thích,
Ngắm đôi mắt nàng, hồ nước sâu thăm thẳm ấy,
Khiến lòng ta trở nên thanh tịnh."*

🌟

Tôi muốn nói rằng:
Ba điều quan trọng của Mật giáo là:
Quán tưởng — Ý thanh tịnh.
Trì chú — Khẩu thanh tịnh.
Thủ ấn — Thân thanh tịnh.

Phật giáo coi trọng "quán tưởng" trước nhất, bởi vì chỉ cần ý niệm thanh tịnh thì thân, khẩu tự nhiên cũng sẽ thanh tịnh rồi.
Chúng ta đều tìm kiếm mục tiêu để quán tưởng, nghe nói mục tiêu cũng có nghìn vạn loại.
Ví dụ như:
Mặt của Bồ Tát.
Mắt của Phật.
Chú tự.
Một chữ O tròn.
Hít thở.
v.v………..
(Những điều trên đều là cách luyện tập khả năng tập trung.)
Từ việc luyện cho tập trung chuyên nhất mà tiến nhập Tam ma địa, từ Tam ma địa mà chứng được "bản sơ minh giác".

🌟

Viết một bài thơ tặng nàng: "Ta thích".

*"Ngồi thế hoa sen trước mật đàn
Ta tập chuyên nhất
Sáng sớm thường giá lạnh*

*Nhưng
Ta dùng Bảo bình khí
Làm cơ thể ấm lên*

*Đừng nghĩ đến hoa rơi
Đừng nghĩ đến nước chảy
Hãy chỉ nghĩ đến một điều quan trọng*

*Quán tưởng cái gì
Quán tưởng ra sao
Quán tưởng khuôn mặt nàng là tự nhiên nhất."*


### 44. Xa cách là khổ


Nàng nói:
*"Em biết, hôm đó chàng hát bài
"Ngày ngày trời xanh" là hát cho em nghe,
Bởi vì, em phát hiện ra nét buồn trong mắt chàng,
Em cảm nhận được sự lưỡng lự của chàng.
Ngẫm ra thì, em vẫn còn hạnh phúc hơn chàng,
Em còn có thể nhìn thấy chàng qua truyền phát trực tiếp trên mạng,
Còn chàng,
Thì chỉ có thể dựa vào trí nhớ.
Lúc trước, em vốn nghĩ sẽ gửi cho chàng tấm ảnh chụp chung của chúng ta. (Bức ảnh mọi người lần lượt chụp sau khi cúng dường.)
Nhưng, cuối cùng, em vẫn không dám...
Thật may!
Có một bài hát thật hay: "Niềm vui của em chính là nhớ đến chàng",
Biết đâu có thể an ủi chàng một chút.
Muah!"* [Mô tả hành động hôn, đây là từ dùng phổ biến trên mạng ngày nay.]

Ta nói:
*"Nhắc đến bài "Ngày ngày trời xanh",
Bởi vì ca từ rất ngắn, do vậy ta có thể thuộc được.
Ngoài ra giai điệu của nó,
Có chút giống ca khúc võ thuật, không giống những ca khúc nhạc nhẹ thịnh hành, do vậy ta rất thích.*

*Khi ta hát,
Ta đang nhìn nàng!
Tình thật sâu.
Ý thật nồng.
Xa là khổ.
Nhớ là không.
Tình sâu ý nồng này, xa khổ nhớ không này, từ xưa đến nay những con người hữu tình ở đâu đâu cũng đều như thế.
Thật may!
Ta là hành giả,
Có thể nhờ vào tu trì mà tạo ra định lực,
Để khích lệ bản thân."*

🌟

Tôi thực lòng thực sự nói để bạn biết rằng:
Pháp nhập Tam ma địa đề cao trước hết là "vô sự".
Lấy chính tôi bây giờ mà nói, tôi coi mình là một "hành giả vô sự", nói cách khác chính là chuyện thế tục lớn nhỏ tôi đều không để mình bận tâm.
Điều này không phải là chẳng hề làm việc gì cả.
Mà là hãy phản ứng lại một cách tự do không ràng buộc.
Rất nhiều việc thế tục, lần lượt phản ứng lại với từng việc, nỗ lực hoàn thành.
Nhưng,
Làm xong rồi thì hãy quên nó đi, trong lòng không lưu giữ lại việc gì.
(Không có việc gì còn giữ lại trong đầu.)

🌟

Bất kể là quá khứ, hiện tại, tương lai.
Thành công hay thất bại, thắng hay thua, yêu hay ghét, tất cả đều gột rửa sạch sẽ.
Nhưng, ta không thể không nói:
"Ta đang nghĩ đến nàng."

Thơ: "Ngày ngày trời xanh".

*"Bất kể nói thế nào,
Có một vài chuyện,
Ta vẫn luôn cân nhắc cẩn thận toàn bộ mọi thứ.*

*Nơi nàng đã đi qua
Vẫn còn lưu lại mùi thơm dịu dàng
Và nàng mặc
Bộ đồ màu vàng kim sáng.*

*Đôi chân nàng nhỏ, cặp lông mày dài
Và còn
Mặc trang phục màu sáng
Bảo sao ta lại hát bài
Ngày ngày trời xanh."*


### 45. Chuông đổ bất ngờ


Nàng nói:
*"Lời hỏi thăm buổi sáng sớm,
Đừng nói xin lỗi,
Vì chàng biết,
Em vẫn luôn chờ đợi điện thoại của chàng.
Bất kể là khi mới sáng tinh mơ,
Hay là đêm khuya trời cao không trăng,
Em vẫn luôn đợi,
Tiếng điện thoại đổ chuông,
Đó chính là sợi dây sinh mệnh khiến lòng em đau đớn."*

Ta nói:
*"Ôi! Bé ngoan,
Buổi tối hãy ngủ cho ngon giấc
Đừng thổn thức khóc thầm
Ta cũng vẫn luôn nhớ nàng thương nàng
Nhớ lắm những khi ở bên cạnh nàng.
Yêu tấm lòng sẽ không đổi thay của nàng.
Giống như "chuột yêu gạo"
Cho dù có một ngày bị buộc phải rời xa,
Ta cũng sẽ đem tấm chân tình này,
Chôn chặt tận đáy cùng trái tim."*

🌟

Ta muốn kể rằng:
Một hôm, ở trong phòng vẽ tranh của mình, ta vừa hoàn thành xong một bức tranh, bèn uống một ngụm trà.
Bất chợt nhớ ra, chỗ ta bây giờ đã là sáu giờ chiều, còn chỗ nàng vừa đúng sáu, bảy giờ sáng! (Tính theo thời gian mùa hè.)
Thế là,
Do ta quá hưng phấn, liền đóng cửa phòng vẽ tranh lại để không cho người khác đi vào.
Ta cầm điện thoại gọi cho nàng.
(011) mã số gọi quốc tế.
(886) mã số Đài Loan.
(XXXXXXXXX) Số điện thoại của nàng.

Kết quả là:
Nghe thấy giọng nói ngái ngủ của nàng!
Chà! Ta làm nàng tỉnh ngủ rồi, thật xin lỗi nàng! Ta thật sự không biết nàng vẫn còn đang ngủ.
Đương nhiên,
Ta biết nàng sẽ chẳng trách ta, nhưng, ta biết, gọi điện thoại đánh thức người khác vẫn luôn là điều không nên.
Nàng biết rằng...
Ta đã đem tấm chân tình của ta với nàng cất vào trong một chiếc hộp châu báu quý giá.
Còn gắn thêm một chiếc khóa vàng, khóa kín lại, không ai có thể mở ra được, rồi để trong két an toàn.
Hoàn toàn bí mật.
Nàng chôn sâu tận đáy trái tim nàng.
Ta cũng chôn sâu tận đáy trái tim ta.
Cùng nhau, cùng nhau.

🌟

Ta viết một bài thơ tặng nàng: "Có hẹn".

*"Mỗi lần gặp mặt
Nàng vẫn luôn
Trang điểm nhẹ nhàng.*

*Xung quanh đều không có ai
Nếu như có người
Thì sẽ khiến người ta nghi hoặc phỏng đoán.*

*Tháo chiếc dây buộc tóc
Mây đen tan đi
Hai con người thơ ngây
Cứ như vậy tựa vào nhau
Thật gần."*


### 46. Vực thẳm


Nàng nói:
*"Nỗi nhớ là một xoáy nước đáng sợ,
Khiến người ta nhớ nhớ mông lung,
Rồi rơi vào vực thẳm tăm tối.*

*Trong hố sâu tăm tối, em cầu nguyện một tia ánh sáng,
Một câu chú ngữ thân quen,
Từ trong tim tỏa ra tia sáng,
Khiến em không còn sợ hãi, không còn phân vân,
Đem đến cho em một sức mạnh ổn định, để thoát khỏi bóng đêm.*

*Từng câu chú ngữ,
Khiến em hiểu ra,
Nỗi nhớ có thể là một kiểu sức mạnh giúp tiến lên phía trước,
Chứ chẳng phải là vực thẳm sâu không đáy."*

🌟

Tôi nói:
*"Xoáy nước,
Hố đen,
Vực thẳm,
Là tiêu cực.
Nếu như có người rơi vào xoáy nước, hố đen, vực thẳm,
Thì đó là mắc chứng trầm cảm.*

*Ví dụ,
Có người mắc bệnh tương tư,
Ăn uống chẳng màng,
Đêm đêm mất ngủ,
Thế rồi, nhan sắc héo tàn,
Cuối cùng là chết.*

*Nếu như, tương tư đem đến cho họ sức mạnh tích cực,
Nhiệt tình,
Ánh sáng,
Hy vọng,
Thì đây là điều tích cực.
Sau này người đó sẽ vui vẻ, tràn đầy ánh dương, tràn đầy sức sống. Bất kể chuyện gì đều có thể được như ý nguyện."*

Tôi là một hành giả yogi, hiểu bản tính con người, kì thực trên thân thể mỗi người có ba loại tính:

1. Tính hòa nhã.

2. Tính trơ.

3. Tính động.

Chúng ta cần giữ được tính hòa nhã, không được để tính trơ lấn át, sau đó mỗi bước đi hãy tạo nên dấu ấn.
Tôi động viên bạn, cổ vũ bạn, gia trì cho bạn. Tôi là người tích cực, bạn cũng là người tích cực.

🌟

Thơ: "Nỗi nhớ sáng tỏ".

*"Cho dù màn đêm có đen
Thì
Bình minh tới sẽ xua tan tăm tối*

*Cho dù mùa đông có lạnh giá
Thời tiết chuyển mùa
Bên ngoài cửa sổ lại có tiếng chim kêu*

*Sẽ chẳng còn mệt mỏi
Mưa sẽ đến
Cỏ lại xanh mướt nơi nơi*

*Ta hứa với nàng
Cho dù chúng ta đều già đi
Ta vẫn sẽ chăm sóc cho nàng
Tất cả sẽ đều tốt đẹp."*


### 47. Nhật ký tu hành


Nàng nói:
*"Đối với việc tu hành,
Em không dám phụ sự kỳ vọng của chàng,
Mỗi ngày đều tu, ghi nhớ trong tâm,
Cửu tiết Phật phong, Kim cang tụng,
Mỗi ngày luyện tập, không dám bỏ quên,
Niệm kinh, trì chú, đọc sách,
Là việc em làm hàng ngày."*

🌟

Tôi nói:
"Chúng ta dựa vào thứ tự bốn quán đảnh để mà tu hành,
Thứ nhất là Quán đảnh bình.
Thứ hai là Quán đảnh hoa trắng đỏ.
Thứ ba là Quán đảnh chạm.
Thứ tư là Quán đảnh viên mãn.

Tóm gọn lại là, nội dung của quán đảnh bình là gia hành, tư lương, Bổn tôn. Quán đảnh hoa trắng đỏ là Nội pháp khí-mạch-minh điểm. Quán đảnh chạm tức là quán đảnh trí huệ, là quán đảnh Vô thượng mật bộ. Quán đảnh viên mãn là hóa thân ánh sáng, dung hợp, nhậm vận, tự tại.

Tu hành theo Mật giáo tứ quán, các giáo pháp của Tạng mật rất nhiều, sự khác biệt rất nhiều, nhưng đại thể là như vậy.
Cá nhân tôi cho rằng, Bổn tôn tương ứng là vô cùng quan trọng, bởi vì khi đã tương ứng được với Bổn tôn rồi thì dưới sự gia trì của Bổn tôn, việc tu pháp sẽ nhanh chóng đạt thành tựu.
Quán đảnh hoa trắng đỏ chủ yếu là tu khí, mạch, minh điểm, gồm:
Pháp vô lậu.
Pháp chuyết hỏa.
Pháp minh điểm.
Thông trung mạch, mở năm luân xa.
Quán đảnh chạm là vô thượng mật bộ.
Quán đảnh viên mãn, chúng ta nhấn mạnh tới pháp Tam ma địa, nhậm vận, tự tại, hóa thân cầu vồng, thành tựu."

🌟

Tôi muốn nói với bạn rằng:
Mục đích của Phật giáo là giải thoát khỏi sinh tử, lìa khổ được vui, minh tâm kiến tính, đây mới là việc đại sự của đời người.
Trước tiên cần quy y:
Quy y Thầy, là vị tổng trì, rời xa tà ác.
Quy y Phật, là bậc lưỡng túc [giác ngộ và phúc đức], rời xa Thiên ma.
Quy y Pháp, là rời bỏ dục vọng, rời xa ngoại đạo.
Quy y Tăng, là vị trong quần chúng, rời xa thế tục.

Mục đích của tu hành là:
Cần trí huệ.
Cần thiền định.
An trụ trong tam ma địa sâu nhất, chứng đắc cứu cánh niết bàn bất sinh bất diệt.
Trọng điểm của việc tu pháp là:
Nhất tâm. (Chuyên nhất du già)
Trừng tâm. (Ly hý du già)
Trụ tâm. (Nhất vị du già)
Vô tâm. (Vô tu du già)

Tôi làm một bài thơ!
Tiêu đề: "Nhật ký tu hành".

*"Bước vào Mật giáo
Luôn ghi nhớ tâm yếu mà Thượng sư truyền dạy
Tu theo thứ tự
Đừng vượt cấp.*

*Con đường này rất xa
Có rất nhiều ngoại giáo
Đừng học theo bàng môn ngoại đạo.*

*Trí huệ sáng tỏ
Thiền định vi diệu nhất
Tam thiên đại thiên thế giới đều phổ chiếu."*


### 48. Câu trả lời như không


Nàng nói:
*"Buổi tối hôm qua,
Nước mắt chẳng nghe lời em nói,
Em liên tục bảo nó, đừng khóc nữa! Đừng khóc nữa!
Nhưng nó vẫn cứ không nghe lời em,
Nước mắt cứ tuôn rơi không ngừng, em cứ lau mãi cũng không dừng được nước mắt,
Em không muốn như vậy,
Thật thế! Nhưng nước mắt vẫn cứ không nghe lời em.*

*Em chẳng khóc thành tiếng,
Chỉ là tiếng nấc nghẹn ngào,
Chỉ là nước mắt chứa chan,
Chỉ có thể để cho nước mắt cứ thế tuôn rơi,
Khóc đi! Thế thì khóc đi! Khóc cho mệt rồi thì sẽ ngủ thôi,*

*Đừng hỏi vì sao em khóc
Vì câu trả lời sẽ như không trả lời."*

Tái bút:* “Đừng lo lắng nhé! Em không sao cả!
Chỉ là kể một chút hiện thực về em bây giờ,
Bình thường, em đều kiểm soát được tâm trạng của mình rất tốt.”*

Ta nói:
*"Nàng khóc, khiến ta nhớ đến một bài thơ:
Xa rượu cả hai cùng buồn bã
Kê gối nằm ngủ cũng chẳng mơ
Tội nghiệp đêm nay người nào đó
Nhút nhát rụt rè chốn phòng không.*

*Nhành liễu xanh.
Cành mơ đỏ.
Mang gió xuân.*

*Nơi xa đừng giận
Chuyển thành yêu thương
Gửi theo ngỗng trời.*

*Đương nhiên, ta biết nàng sẽ nói không phải như vậy đâu, ta cũng biết rằng không phải như vậy.
Chỉ là, có một chút gần gần như thế.
Ta biết nàng nói đúng, đây là câu trả lời như không trả lời, không cần hỏi, cũng không cần trả lời.
Bởi vì,
Ta cũng giống như thế,
Khi ngủ dậy, thì gối cũng ướt đầm."*

🌟

Viết một bài thơ: "Câu trả lời như không".

*"Nàng xem
Trăng tròn rồi lại khuyết
Đã lấy đi bao nước mắt đa tình*

*Nàng xem
Thủy triều lên rồi lại rút
Cũng khiến người tan nát con tim*

*Nàng xem
Thời gian không gian đều biến huyễn
Cần đối mặt ra sao*

*Người đã đi
Thơ ở lại
Nỗi buồn thương ấy ai biết đây*

*Nàng xem
Câu trả lời như không
Mà làm ta say rồi."*


### 49. Việc quan trọng nhất trong đời


Nàng nói:
*"Chàng biết không?
Em chưa từng bao giờ viết những câu từ đầy tình ý miên man như thế này gửi cho bất kì ai, chưa từng bao giờ.
Cuộc đời em rất bình thường,
May sao em đọc được sách của chàng,
Thế là em quy y,
Ngoài tu pháp, đọc kinh, trì chú, phần lớn em đều chỉ đọc sách của Sư Tôn.
Sách của chàng đã bầu bạn cùng em qua suốt bao đêm dài vô tận, đã cho em sự an ủi vô tận.
Dần dần...
Em đã hiểu.
Cuộc đời chẳng qua chỉ là một trò chơi, một giấc mộng...
Thế là,
Em cũng không còn bám chấp nữa,
Hiện tại là:
Có cũng tốt.
Không cũng tốt,
Giờ em đã ở vào trạng thái thế nào cũng được rồi."*

*“Ta kể cho nàng một bài thơ của Vương An Thạch:
Biết đời như mộng vô sở cầu
Vô sở cầu lòng tĩnh lặng không.
Vẫn tưởng trong mơ tùy mộng cảnh
Thành tựu công đức tựa hà sa.*

*Khi đọc bài thơ này nàng sẽ có rất nhiều cảm xúc, cũng sẽ rất thích nó.
Nàng hãy chép lại bài thơ này nhiều lần, vô số lần, và ghi nhớ vào trong tâm trí.
Cũng vì bài thơ này đi theo con đường tu hành nên sẽ có nhiều lợi ích với nàng!"*

🌟

Tôi muốn nói với bạn rằng:
Khi Diêu Trì Kim Mẫu, A Di Đà Phật, Địa Tạng Bồ Tát tìm ra tôi, mỗi vị đã cho tôi một câu nói:

1. Nhất tâm hướng thiện.

2. Nhất tâm học Pháp.

3. Nhất tâm học Phật.

Ba câu nói này xem ra đơn giản dễ hiểu, nhưng làm được chúng thì thật sự chẳng hề dễ dàng.
Nhất tâm hướng thiện cũng chính là giữ gìn giới luật.
Nhất tâm học pháp, cũng chính là thiền định.
Nhất tâm học Phật, cũng chính là trí huệ.
Có thiền định tự nhiên sẽ sản sinh ra trí huệ, đây chính là giới-định-huệ tam vô lậu học.
Hóa ra, việc quan trọng nhất của đời người chính là:
"Giải thoát."

🌟

Về việc giải thoát, ta viết tặng nàng bài thơ:
Tiêu đề: "Giải thoát".

*"Cuộc đời luôn là khổ
Vì sao khổ
Chỉ vì con người ta hồ đồ lú lẫn.*

*Khi thức tỉnh
Mới biết
Vô sở cầu
Vô sở đắc
Vô sở trụ
Vô sở vị
Cái gì là tự do không chướng ngại.*

*Có cũng tốt
Không cũng tốt
Không không không không không."*

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/275-khau-quyet-dao-giai-thoat.md
# Title: 275. Khẩu quyết đạo giải thoát
---

![image](/img/img_876427c8dc0e5975feddfc185084f27f.png)



## Khẩu quyết đạo giải thoát


🪷 Tôi thấy, tôi nghĩ

Văn tập số: 275
Xuất bản: 02/2020
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu


**Tiêu đề phụ: Tôi thấy tôi nghĩ**

**Văn cầu thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật gia trì**

**Đại lễ bái
**Một lễ bái chư Phật mười phương.
Hai lễ bái chư Bồ Tát.
Ba lễ bái Hộ pháp Kim cang.
Bốn bái bình đẳng một cúi đầu.

**Tịnh khẩu nghiệp chân ngôn**
Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha. [Om suri suri mahasuri susuri soha]

**Tịnh thân nghiệp chân ngôn
**Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha. [Om sudori sudori sumoli sumoli soha]

**Tịnh ý nghiệp chân ngôn
**Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm. [Om vajradam ho ho hum]

**Chính văn**

Ôm A Hùm [Om Ah Hum]
Kính đem thân khẩu ý thanh tịnh.
Cúng dường Tỳ Lô Giá Na Tôn.

Pháp thân Phật Nhãn Phật Mẫu Thánh.
Báo thân Liên Hoa Đồng Tử thân.
Ứng Thân giáo chủ Liên Sinh Phật.
Ba thân không khác, đại Phật ân.

Cung kính Chân Phật đại truyền thừa.
Thần thông ban trải đầy thế giới.
Phóng quang chiếu rọi khắp ba thời.
Hóa hiện không ngừng chứng nhất như.
Đệ tử tha thiết thường cầu tới.
Soi chiếu quang minh, phúc huệ tăng.

Xưa đến thọ ký, Phật Thích Ca.
Phó thác ân cần, A Di Đà.
Di Lặc Bồ Tát ban hồng quán.
Liên Hoa Đại Sĩ mật pháp truyền.
Thánh Tôn xin thỉnh đừng quên nguyện.
Cứu độ chúng sinh chúng con đây.
Hộ niệm như thế xin nhiếp thọ.
Thành tựu nhanh nhanh thỉnh gia trì.

Nam mô Tỳ Lô Giá Na Phật.
Nam mô Phật Nhãn Phật Mẫu.
Nam mô Liên Hoa Đồng Tử.
Nam mô Liên Sinh Hoạt Phật.
Nam mô Chân Phật hải hội thập phương tam thế chư Phật Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Niệm thánh cáo (3 lần)**
Tây phương Liên Trì hải hội, Ma Ha Song Liên Trì, thập bát đại Liên Hoa Đồng Tử, Bạch Y Thánh Tôn, Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng sư, Chủ Kim Cương Chân Ngôn Giới Bí Mật Chủ, Đại Trì Minh Đệ Nhất Thế Linh Tiên Chân Phật Tông. Lư Thắng Ngạn mật hành tôn giả.

🌟

Ngày xưa.
Vào giờ Ngọ, ngày 18 tháng 5 năm Ất Dậu, Liên Sinh Hoạt Phật đã hạ sinh tại nhân gian. Năm 26 tuổi, ngài đã được Diêu Trì Kim Mẫu khai mở thiên nhãn. Ngài tận mắt nhìn thấy:
Diêu Trì Kim Mẫu.
A Di Đà Phật.
Địa Tạng Bồ Tát.

Mỗi vị nói một câu: "Nhất tâm học Phật. Nhất tâm học Pháp. Nhất tâm hướng thiện." Đế Thích Thiên Chủ ban cho hai chữ "trung nghĩa". Sau đó, ngài đã được chỉ dẫn để tận mắt thấy tiền thân của mình là Liên Hoa Đồng Tử.

Từ đó ngài đã bái nhiều vị cao tăng đại đức làm thầy, học tập Phật pháp, Hiển giáo Mật giáo đều đạt thành tựu lớn. Ngài sáng lập Chân Phật Tông, thiết lập pháp tràng. Sau khi thành tựu, ngài thị hiện thần thông, tự do tự tại, cải tử hoàn sinh, hô mưa gọi gió, trị bệnh trừ ma, phân thân vô số, trên trời dưới đất, làm thầy của trời người.

*Pháp tràng đã có,
Pháp vũ muôn nơi,
Chúng sinh được độ,
Năm trăm vạn người.*

Ngài đã xây dựng hơn 70 tòa Lôi Tạng Tự, để lại dấu chân khắp nơi trên thế giới, khắp năm châu. Ngài quán đảnh cho hàng vạn người, diễn thuyết Mật pháp, cứu độ chúng sinh vô số, tổ chức các sự kiện pháp hội lớn chưa từng có.

(Văn cầu thỉnh nói đến ở trên chỉ cần mỗi ngày tụng một lần thì sẽ có được cảm ứng liên miên, đây cũng là khẩu quyết trọng yếu.)

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A

Tháng 02/2020


### 01. Dòng truyền thừa


Học Phật trước tiên cần phải quy y, niệm Tứ quy y chú:

*Namo Guru beh (Thượng sư). *[Na-mô gu-ru pây]
*Namo Buddha ya (Phật). *[Na-mô pút-ta yê]
*Namo Dharma ya (pháp). *[Na-mô ta-mô yê]
*Namo Sangha ya (tăng).* [Na-mô sâng-kya yê]

Ý nghĩa thực sự của quy y chính là:

1. Dựa vào Thượng sư của mình, để khôi phục bản thể chân như của chính mình.

2. Dựa vào Phật, để khôi phục lại bản tính chân như của mình.

3. Dựa vào pháp, để khôi phục lại bản trí chân như của mình.

4. Dựa vào tăng, để khôi phục lại bản tịnh chân như của mình.

Phật thể, Phật tính, Phật trí, Phật tịnh này mới là tâm yếu quan trọng nhất, chứ không phải biểu hiện bên ngoài. Do vậy, cần phát huy diệu dụng của Phật tính, vận dụng tám vạn bốn nghìn pháp môn để độ hóa chúng sinh.

🌟

Trong bản văn này, tôi giải thích một cách đơn giản về dòng truyền thừa Chân Phật Tông của Liên Sinh Hoạt Phật.

- Phái Nyingma (Hồng giáo): từ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, đến Norla Rinpoche, đến Liễu Minh Hòa Thượng, đến Liên Sinh Hoạt Phật Lư Sư Tôn.

- Phái Sakya (Hoa giáo): từ Cống Khước Kiệt Bố (Khon Dkon Mchog Rgyal Po), đến Trisong Rinpoche, đến Liên Sinh Hoạt Phật Lư Sư Tôn. (Trisong Rinpoche chính là Sakya Chứng Không Thượng sư.)

- Phái Kagyu (Bạch giáo): từ Marpa, đến Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16, đến Liên Sinh Hoạt Phật Lư Sư Tôn.

- Phái Gelug (Hoàng giáo): từ Tsongkhapa, đến Cam Châu Hoạt Phật, đến Thubten Dhargye, đến Thubten Qimo (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Sư Tôn).

Ngoài ra, tôi có kết duyên với rất nhiều các Thượng sư mà tôi không kể tên từng vị ra đây.

🌟

Tôi có một dạng truyền thừa bí mật nhất khi “hành thâm ba la mật đa thời”, nghĩa là trong thiền định sâu nhất, tôi đã có được dòng chảy pháp truyền thừa mà Phật Bồ Tát quán đảnh gia trì cho tôi.

Ví dụ như:
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ dạy Mật pháp.
A Di Đà Phật đại gia trì.
Pháp chỉ của Diêu Trì Kim Mẫu.
Cứu độ trung ấm của Địa Tạng Vương Bồ Tát.
…
Đây đều là những truyền thừa bí mật mà tôi có được trong thiền định.

🌟

Truyền thừa sau khi xuất gia của tôi là như sau:

Ngày xưa.
Có đại hòa thượng Quả Hiền từ chùa Tuệ Tuyền ở Hồng Kông đến quy y tôi. Khi đó tôi đang ở Seattle Lôi Tạng Tự, thân phận tôi khi đó vẫn là cư sĩ tại gia. Đại hòa thượng Quả Hiền lưu lại ở Seattle rất lâu. Ông ấy khuyên tôi xuất gia. Thế là, vào năm tôi 43 tuổi, ngày 10 tháng 2 Âm lịch, tại Chân Phật Mật Uyển, tôi chính thức cạo đầu xuất gia. Do vậy hòa thượng Quả Hiền vừa là đệ tử của tôi, vừa là thầy cạo đầu xuất gia cho tôi. Đây cũng là một câu chuyện kỳ lạ về việc vừa làm thầy vừa làm trò.

Tôi đã quy y các vị cao tăng Hiển giáo như:
1. Đạo sư Ấn Thuận
2. Pháp sư Đạo An
3. Pháp sư Lạc Quả

Tôi đã thọ giới với ba vị thầy:
1. Pháp sư Hiền Đốn 
2. Pháp sư Huệ Tam 
3. Pháp sư Giác Quang 

Sư phụ dạy tôi các bài khóa tụng là: pháp sư Thiện Tứ.

Tôi thực lòng thực sự nói cho mọi người biết, tôi học từ rất nhiều vị thầy. Đối với các vị sư phụ của tôi, tôi chỉ có một lòng cung kính và tán thán. Khi tôi thuyết pháp, trước hết tôi luôn kính lễ sư phụ truyền thừa của tôi. Tôi hướng về các Thượng sư có ân có đức đối với tôi trong thập phương tam thế mà kính lễ.


### 02. Trước tiên tôi tu Tịnh thổ


Sau khi tôi tốt nghiệp đại học, tôi được phân về làm việc tại đơn vị trắc lượng số 5802, tôi là một cán bộ đo đạc.

Đơn vị trắc lượng khi đó ở tại Nam Môn Kiều, Đài Trung, chỉ đi bộ mấy quãng đường là đến Viện Y Học Bồ Đề. Hơn nữa, trong Viện Y Học Bồ Đề này có một tòa Thái Hư kỷ niệm quán. Có một vị đại cư sĩ tên là Lý Bỉnh Nam thường giảng kinh ở đó. Tôi đi nghe giảng kinh. Cư sĩ Lý giảng “Đại Thế Chí Bồ Tát niệm Phật viên thông chương”.

Khi đó tôi cũng khởi động việc niệm Phật. Tôi cũng ngộ được khẩu quyết của việc niệm Phật:

“*Phật hỏi viên thông.
Con không lựa chọn.
Kiểm soát sáu căn.
Tịnh niệm tiếp nối.
Đắc Tam ma địa.
Ấy là bậc nhất.”*

[Lời Đại Thế Chí Bồ Tát trả lời Đức Phật trong “Đại Thế Chí Bồ Tát niệm Phật viên thông chương”.]

Khẩu quyết quan trọng nhất ở đây là: “Kiểm soát sáu căn, Tịnh niệm tiếp nối, Tam ma địa’’. Đặc biệt là Tam ma địa. [Tam ma địa – samadhi – định]

Kinh A Di Đà cũng nhắc đến niệm Phật tam muội là:

*Nhất tâm bất loạn.
Nhớ luôn niệm Phật.
Tam Thánh hiện thân.
Vãng sinh tịnh thổ.*

(Nhất tâm bất loạn ở đây cũng chính là Tam ma địa.)

🌟

Tây phương Cực Lạc thế giới có bốn cõi tịnh thổ:

1. Phàm Thánh đồng cư.
2. Phương tiện hữu dư.
3. Thật báo trang nghiêm.
4. Thường tịch quang.

Cõi Phàm thánh đồng cư có thể vẫn đem theo nghiệp vãng sinh, còn ba cõi kia thì không thể. [Phải thanh tịnh nghiệp xong mới tới được.] Cõi Thường tịch quang chính là cứu cánh. [Cứu cánh là nơi tận cùng, nơi cuối cùng.]

Có một vị là thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ nói:

- "*Có Thiền có Tịnh độ*, tương tự như đội sừng hổ, bây giờ làm thầy ở cõi người, tương lai làm Phật Tổ.

- *Không Thiền có Tịnh độ*, tu vạn pháp ở cõi người, nhưng thấy được Di Đà thì có gì phải lo là không khai ngộ.

- *Có Thiền nhưng không có Tịnh độ*, mười người thì tới chín người đi sai đường, phía trước là nơi tối tăm nhưng trong chớp mắt đã đi theo.

- *Không Thiền không có Tịnh độ*, giường sắt và cột đồng, vạn kiếp nghìn sinh cũng chẳng thể dựa được vào ai."

Câu nói này có ảnh hưởng rất lớn đối với tôi. Những gì hiện tại tôi đang làm là: "Có Mật có Tịnh độ."

Tôi dạy người ta niệm: "Nam mô 36 vạn tỉ, 11 vạn, 9 nghìn, 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật."

Tôi dạy người ta hồi hướng:
“*Nguyện ai đang niệm Phật
Cùng sinh chốn Cực Lạc.
Trên báo bốn ân sâu.
Dưới giúp ba đường khổ.
Thấy Phật thoát sinh tử.
Như Phật độ tất cả.”*

Chủ lực tu hành của tôi là Mật giáo, nhưng tôi cũng không quên mục đích niệm Phật ban đầu. Bởi vì khẩu quyết của hai cái này đều là Tam ma địa.
Khẩu quyết của Tam ma địa là nhất tâm bất loạn.
Khẩu quyết cuối cùng nhất của Tam ma địa chính là:
Vô tâm.
Vô tướng.
Vô trụ.
Vô úy.
Vô niệm.


### 03. Tâm đắc của thiền


Theo tôi được biết:
Pháp sư Lạc Quả là thiền sư.
Pháp sư Quả Hiền là thiền sư.
Pháp sư Ngộ Minh là thiền sư.

Còn tôi (Lư Sư Tôn) đương nhiên là thiền sư. Thiền tông, Tịnh độ tông, Mật tông, Luật tông, tôi đều học hết. Tôi đọc "Ngũ Đăng Hội Nguyên", viết hơn mười cuốn sách có liên quan đến việc học thiền, có độc giả đọc xong tán dương tôi là: "Kỳ nhân!"

Tôi có khá nhiều tâm đắc đối với thiền, tôi lấy hai ví dụ:
Phật sắp nhập niết bàn, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát hạ giáng, hỏi Phật rằng:
"Xin Phật chuyển pháp luân!"
Phật trả lời:
"Ta có chuyển pháp luân sao?"
Văn Thù Bồ Tát chợt tỉnh ngộ.
(Phật trả lời, ta có chuyển pháp luân sao? Câu nói này cực kì mang tính chất "thiền". Tôi hiểu được, thánh đệ tử có thể hiểu được không?)

Còn nữa:
Có một vị Bồ Tát hỏi Văn Thù:
"Ngài độ được bao nhiêu chúng sinh?"
Văn Thù Bồ Tát đáp:
"Tiền tam tam, hậu tam tam." [Đây là một công án nổi tiếng – hội thoại giữa ngài Vô Trước và Văn Thù trên Ngũ Đài Sơn.]

(Câu nói "Tiền tam tam, hậu tam tam" này của Văn Thù Bồ Tát cũng cực kì mang tính chất "thiền". Tôi hiểu được, thánh đệ tử có thể hiểu được không?)

🌟

Có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Ngài đã ngộ được gì?"
Tôi đáp:
"Mở miệng là tội."
Hỏi:
"Cần phải dùng ngôn từ để trả lời tôi."
Tôi đáp:
“Ngộ vô sở đắc, đoạn trừ phiền não.
Ngộ vô ngã, đoạn trừ chấp ngã.
Ngộ vô sinh, đoạn trừ vô tử.
Ngộ vô sở trụ, đoạn trừ vô sở hữu.
Ngộ vô nhân, đoạn trừ vô thị phi.
Ngộ vô chúng sinh, đoạn trừ danh dự.
Ngộ vô thọ giả, đoạn trừ sinh tử.”
…

Tôi nói:
Thiền tông là "Phật Đà cầm hoa, Đại Ca Diếp mỉm cười", là pháp môn "trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật". Từ Phật Đà truyền cho Ca Diếp, Ca Diếp truyền cho A Nan, cứ như vậy truyền từ đời này qua đời khác. Đến đời thứ 28, Tổ sư Đạt Ma đến Trung Thổ, ngài trở thành Sơ tổ Thiền tông ở Trung Thổ. Thiền tông truyền đến Lục tổ Huệ Năng tổng cộng đã truyền qua 22 người, truyền đến Mã Tổ, tổng cộng 84 người thành tựu.

Cá nhân tôi nhận thấy:
Thiền tông cần siêu việt được "năng".
Thiền tông cần siêu việt được "sở".
Là "năng" tâm.
Là "sở" vật.
”Song song siêu việt, tự tính hiện tiền, tức năng thành Phật. Đây là khẩu quyết tối quan trọng của Thiền tông.”
Siêu việt tâm, chính là "vô tâm" trong Mật giáo.
Siêu việt vật, chính là "vô sự" của Mật giáo.
Đây chính là "vô tướng Tam ma địa".

Do vậy, tôi cho rằng, để tu hành thành tựu thì có nào là Câu Xá Tông, Thành Thật Tông, Thiện Tông, Mật Tông, Pháp Tướng Tông, Hoa Nghiêm Tông, Pháp Hoa Tông, Luật Tông, Tịnh Độ Tông, Tam Luận Tông, Thiên Thai Tông, Chân Phật Tông…
Dù bao nhiêu môn phái.
Rốt cục đều là một.


### 04. Khẩu quyết tư lương đạo


Cá nhân tôi tu hành, tôi nhận thấy trước tiên cần tu: tư lương đạo.

Tư lương đạo là gì? Nói một cách đơn giản chính là tư lương của một người khi muốn tu hành từ phàm phu đến cứu cánh thành Phật.

Mọi người cho rằng đây là tiền!
Thực sự không phải vậy, mà chính là:

1. Từ — cho người khác niềm vui.

2. Bi — giải trừ đau khổ của người khác.

3. Hỷ — làm việc gì cũng đều vui vẻ.

4. Xả — bình đẳng không phân biệt.

5. Thí — bố thí cho người khác.

6. Ngữ — nói lời hay, lời thiện, ôn hòa.

7. Ích — làm mọi điều có lợi ích cho người khác.

8. Đồng — yêu thương mọi người.

9. Định — tâm lâu bền.

10. Huệ — tâm trí tuệ.

Tôi và Sư Mẫu Liên Hương Thượng sư có một kế hoạch lâu dài.

Sau khi chúng tôi lâm chung, ngoài Tổ Chức Từ Thiện Lư Thắng Ngạn tiếp tục làm từ thiện ra thì còn lập nên Tổ Chức Cấp Cứu.

Tư lương mà tôi và Sư Mẫu để lại đều gửi vào ngân hàng. Lợi tức thu được mỗi tháng đều dùng để làm việc thiện. Các việc thiện này chỉ phục vụ cho một mục đích, đó là hễ ai mắc bệnh đều có thể đến bệnh viện khám bệnh, nếu không thể trả được tiền thuốc thì Tổ Chức Cấp Cứu này sẽ giúp đỡ.

Tâm đắc của cá nhân tôi là:

Tôi thấy trong những cái khổ của chúng sinh thì khổ về bệnh là khổ nhất, có bệnh thì nhất định cần đi khám bác sĩ. Nhưng người bệnh nghèo, không thể trả được tiền viện phí và thuốc thang. Lúc này mà cứu họ kịp thời thì sẽ có ý nghĩa nhất định.

Hiện tại chúng tôi đã bắt đầu làm, nhưng để có thể làm được lâu dài, cần phải có sự phối hợp nhiều bước tiến hành.
Đây là:
Cứu người cứu cấp.
Nhưng chỉ bằng sự hết lòng mà thôi!
Những gì chúng tôi đang làm chính là tư lương đạo.

🌟

Tôi có nghe qua một kiểu quan điểm xằng bậy sai lệch.
Có người nói:
Không cần hành thiện, hành thiện như mây trắng.
Không cần hành ác, hành ác như mây đen.
Mây trắng mây đen đều có thể che cả mặt trời.
Ý câu nói này là: nghiệp trắng (thiện nghiệp) không cần làm, nghiệp đen (ác nghiệp) không cần làm. Thiện hay ác nghiệp đều không cần làm. Khi đó Phật tính mới có thể hiển hiện.

Tôi cho rằng:
Làm thiện nghiệp là tư lương đạo, có công đức tư lương rồi mới có thể sản sinh ra nhân duyên học Phật. Có công đức tư lương rồi mới gặp được vị thầy có đạo đức, người sẽ dạy cho bạn Phật pháp chân chính.

Tôi chứng kiến người lương thiện trên người có ánh sáng, có thiện quang rồi mới có nhân duyên được thăng thiên, khi sinh mệnh này đã hết thì được ở trên trời hưởng phúc. Nếu còn làm người thì cũng là một người phúc lộc dồi dào, có nhiều quý nhân giúp đỡ. Người lương thiện sẽ không rơi vào tam ác đạo.

Tâm từ bi của chư Phật tam thế mới có thể trở thành nơi nương dựa cho chúng sinh thập phương.
Vị Thượng sư từ bi như người cha với ơn nặng như núi, chính là con thuyền từ bi quay ngược trở lại để giúp chúng sinh của Phật Bồ Tát. Tấm lòng bi mẫn của Bồ Tát chính là đại thiện.
Nhất định cần phải làm nhiều việc thiện!
Khi đó vận may sẽ đến, không có gì phải nghi ngờ!


### 05. Pháp Tứ quy y chân thực


Đứng đầu trong Tứ gia hành chính là pháp Tứ quy y. Vì sao tôi lại thêm vào chữ "chân thực"? Bởi vì sự chân thực này mới sinh ra sức mạnh. 
1. Vào đàn thành.
2. Ngồi thẳng.
3. Trước tiên quán tưởng khuôn mặt của Căn bản Thượng sư. Vị trí mi tâm phóng ra chữ “Om” màu trắng, vị trí họng phóng ra chữ “Ah” màu đỏ, vị trí tâm luân phóng ra chữ “Hum” màu xanh lam.


![image](/img/img_e2514d20db7840e4478d7898aeb247fd.png)



![image](/img/img_4b5c4c0efd97050acc2ae12ed6a22d58.png)



![image](/img/img_c522061019d6f4f715a60516adf83ae8.png)


4. Ba ánh sáng bao trùm lấy hành giả, đi vào vị trí mi tâm, họng và tim của hành giả.
5. Niệm: Nam mô Liên Sinh Hoạt Phật Lư Sư Tôn Căn bản Thượng sư. (3 lần)
6. Niệm: Nam mô thập phương thường trụ Phật pháp tăng tam bảo. (3 lần) 
7. Niệm: Tứ quy y chú.
Namo Guru beh (Thượng sư). [Na-mô gu-ru pây]
Namo Buddha ya (Phật). [Na-mô pút-ta yê]
Namo Dharma ya (pháp). [Na-mô ta-mô yê]
Namo Sangha ya (tăng). [Na-mô sâng-kya yê]
(Chú quy y này cần niệm 108 biến.)

Khẩu quyết:
Khi niệm chú tứ quy y, Thượng sư và Phật, pháp, tăng đồng thời phóng ra ánh sáng ngũ sắc, chiếu trọn lấy hành giả. Đồng thời Thượng sư và Phật, pháp, tăng vẩy nước cam lộ để quán đảnh cho hành giả. Tất cả nghiệp đen, khí đen từ lỗ chân lông thoát ra ngoài. 

Bệnh nghiệp hóa thành nước màu vàng chảy ra. Bùa chú giáng đầu hóa thành rết, bò cạp, sâu bọ nhỏ màu đen bò ra. Thế rồi toàn thân thả lỏng. Tâm linh thanh tịnh khinh an. Phúc huệ tăng trưởng.

8. Hồi hướng.
"Đệ tử phát nguyện
Mãi mãi nương theo
Thượng sư Tam Bảo
Thẳng tới bồ đề.
Việc thiện lớn nhỏ
Hướng về chúng sinh
Cùng thành Phật đạo."

Ghi chú: khi quán tưởng có thể kết thủ ấn của Căn bản Thượng sư. Tay phải là ấn thuyết pháp, tay trái là ấn cầm hoa sen. (Sau khi hồi hướng xong cũng có thể tập trung thiền định nhập Tam ma địa.)

9. Rời khỏi đàn thành.

🌟

Tại đây tôi giải thích một chút. Có người cho rằng Tứ gia hành là một pháp nhỏ của Mật giáo, kì thực đây là một sai lầm đặc biệt lớn. Tôi nhắc đến ở đây, mọi người chỉ cần đọc là đã thấy nó không hề tầm thường rồi. Hóa ra pháp Tứ quy y lại vĩ đại như vậy. 
Có thủ ấn.
Có quán tưởng.
Có chân ngôn.
Có căn bản Thượng sư.
Có thập phương tam thế Tam Bảo.
Là có thể tu trì [như một pháp riêng] độc lập được rồi.

Khi chúng ta đồng tu tại chùa, đường, hội, đó chỉ là một pháp được giản lược, đã bị lược bỏ tới mức không thể giản lược thêm được nữa. Niệm xong chú Tứ quy y thì các cái khác cũng liền sao nhãng luôn.

Tôi nói cho mọi người được biết, tu đến khi thành thục pháp Tứ quy y chân thực thì Căn bản Thượng sư sẽ hiện lên trước mặt, vậy là bạn đã tương ứng với Thượng sư rồi. Chỉ cần tương ứng với Thượng sư thì cũng có thể tương ứng với Phật pháp tăng của thập phương tam thế, có thể đến được Phật quốc tịnh độ rồi. 

Tôi thường nói:
Tứ gia hành là đại pháp.
Tứ quy y pháp chính là đại pháp.
Nếu như có người chỉ tu pháp Tứ quy y, cả đời này chỉ tu pháp này, đạo tâm vĩnh viễn không mất đi, nhất tâm nhập Tam ma địa này, thì cũng thành tựu y hệt.
Tuyệt đối không nói sai!


### 06. Pháp cúng dường Mandala chân thực


Tôi nói:
Tôi (Lư Sư Tôn) vì tu trì pháp cúng dường Mandala chân thực, cho nên:
Đời này.
Đời sau. 
Phúc đều có thừa.

Tôi có thể nói thế này, nếu tương lai tôi lại có duyên đến thế gian này, tôi sẽ là người giàu số một trên thế gian. Tôi nói rất tự tin rằng:
Tôi chắc chắn là người giàu số một thế giới. Không ai có thể giàu hơn. 

Tôi làm pháp cúng dường Mandala như sau:

1. Trước tiên kết thủ ấn.
Ấn này chính là ấn cúng dường. (Ngày xưa, Lâm Vân nói đây là ấn cầu phúc.) Cách kết thủ ấn cúng dường có thể làm theo cách Thượng sư đã dạy như sau. 
Hai ngón tay áp út dựng thẳng. (giơ thẳng lên)
Hai ngón tay giữa đan hình chữ X đặt nằm ngang. 
Hai ngón tay út đan hình chữ X đặt nằm ngang.
Hai ngón tay trỏ đè hai ngón tay giữa.
Hai ngón tay cái đè hai ngón tay út xuống. 

Giải thích ấn:
Ấn cúng dường này tượng trưng cho núi Tu Di và tứ đại bộ châu (Đông Thắng Thần Châu, Tây Ngưu Hạ Châu, Nam Chiêm Bộ Châu, Bắc Câu Lư Châu). Cũng chính là cả vũ trụ.

2. Quán tưởng món đồ muốn cúng dường đặt ở trong lòng bàn tay của thủ ấn. Có người thì để một ít gạo vào trong lòng bàn tay trái. Phương pháp của tôi quán tưởng món đồ mình muốn cúng dường đặt trong lòng bàn tay là được rồi. Cúng phẩm có thể là: đồ ăn, hoa, hương, đèn, trà, quả. Nước, nước thơm để tắm. Vỏ ốc như ý, thất trân bát bảo (kim cương, vàng, bạc), pháp khí, quần áo…

3. Quán tưởng cúng phẩm:
Quán tưởng thủ ấn hóa thành hư không vũ trụ. (khẩu quyết)
Quán cúng phẩm hóa thành nhiều và rộng như mây như biển. (khẩu quyết)
Lấp đầy cả hư không. (khẩu quyết)

4. Trì chú:
Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.
[Om sarva. Tathagata. Idam. Guru ratna. Mandala kham. Niriya. Tayami.]
Trì chú xong thì đặt thủ ấn chạm vào trán, giải ấn.

5. Niệm kệ:
Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt
Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật
Trân quý kỳ diệu bao công đức
Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.

Tôi nói cho mọi người biết: 
Cúng phẩm của thế giới Ta Bà này như đồ ăn, quần áo, nơi ở, phương tiện đi lại, chúng ta đều có thể cúng dường. Nhưng rốt cục thì, những vật thô tục thấp kém của thế tục này có cái gì được gọi là cúng phẩm cao quý đây? 
Tu pháp cúng dường (pháp cúng).
Thân khẩu ý (cúng dường thanh tịnh).
Khí mạch minh điểm (cúng phẩm tối thượng).
Đại lạc, quang minh, tính Không (cúng dường cảm nhận).
Đây là khẩu quyết quan trọng nhất.


### 07. Cúng dường đại lạc (bí mật)


Cúng dường đại lạc thuộc về "cúng dường cảm nhận", rất ít người biết. Cũng rất ít người có thể làm kiểu cúng dường này, do vậy, chỉ có "người có năng lực" mới có thể làm cúng dường này. 
Đây là cúng dường vô thượng mật, do vậy mới gọi là bí mật. 
Khi hành giả và minh phi song vận, do hành giả là "người có năng lực", đã kiến chứng chân đế, đã chứng vô lậu, khí thông trung mạch, chuyết hỏa nâng lên, minh điểm hạ xuống. Do sự cọ xát của khí, chuyết hỏa, minh điểm mà sản sinh ra đại lạc không lời nào mô tả được. 

🌟

Tôi nói cho mọi người được biết: 
Nam nữ bình thường "quan hệ" thì chỉ là "tiểu lạc". Chỉ có người tu hành vĩ đại và minh phi song vận thì mới có thể sản sinh ra đại lạc. Đại lạc này có thể kéo dài cả ngày, hoặc thậm chí dài hơn thế. Toàn thân sướng tê tê (chẳng có cách nào mô tả cho hết). Lúc này, hành giả sẽ cúng dường đại lạc. 
Cúng dường đến:
Tứ Thủ Phương Mẫu.
Bát Phương Không Hành Mẫu.
Thiên nữ của hai mươi cõi trời.
Cúng dường chư Tôn.
Về mặt ý niệm, đem đại lạc hóa thành song thân, trải rộng khắp cả hư không. Tất cả Không Hành Mẫu đều vui mừng hăng hái.
Đối với minh phi, bởi vì hành giả là "người có năng lực", cho nên khi:
Mạch tiếp xúc với mạch.
Khí thông với khí.
Điểm dung hòa với điểm. (minh điểm)
Thì minh phi cũng sản sinh ra trạng thái đại lạc không thể mô tả được bằng lời (lâu và nhiều). 
Đem đại lạc này cúng dường tới chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, chư Thiên. (Cũng với sự vui mừng hăng hái như vậy.)

🌟
	
Tôi (Lư Sư Tôn) thực lòng thực sự nói cho mọi người biết rằng:
Đây không phải là cái “sướng” nhỏ của phàm phu. Mà là đại lạc của tu hành. (Hành giả nam tuyệt đối phải là người vô lậu.)
Từ đó:
Minh điểm và chuyết hỏa tan vào nhau, mở thông mạch luân, giải phóng ra ánh sáng. Ánh sáng này vô cùng thù thắng hy hữu, nhờ ánh sáng này mà hiển lộ ra Phật tính. 
Chính tôi đã chứng kiến:
Bát Nhã Phật Mẫu hạ giáng.
Kim Cang Hợi Mẫu hạ giáng.
Sư Diện Không Hành Mẫu hạ giáng.
Diệu Âm Phật Mẫu hạ giáng.
Vô cùng nhiều, không thể nghĩ, không thể bàn. 
Vô số thiên nữ hạ giáng. 
Kỳ lạ thay!
Công đức này bí mật thù thắng.


### 08. Pháp đại lễ bái chân thực


Thực hành pháp Đại lễ bái là để thể hiện sự cung kính đảnh lễ đối với Phật Bồ Tát chư tôn. 
Pháp Đại lễ bái có thể tiêu trừ ngã mạn (tâm ngạo mạn).
Pháp Đại lễ bái là đạo tâm kiên cố.
Pháp Đại lễ bái có thể tiêu nghiệp.
Pháp Đại lễ bái là sám hối.
Pháp Đại lễ bái có thể đẩy lùi ma chướng.
Pháp Đại lễ bái đoạn trừ vọng niệm.
Pháp Đại lễ bái đoạn trừ phiền não.
Pháp Đại lễ bái chứng giải thoát bồ đề.
Pháp Đại lễ bái có thể giúp thân thể khỏe mạnh.
Pháp Đại lễ bái có thể rèn sự tập trung.
(Thực sự là công đức vô lượng.)

🌟

Nghi quỹ như sau:
1. Đứng trước đàn thành.
2. Trước tiên quán tưởng Thượng sư Tam Bảo trong hư không phóng quang chiếu tới hành giả. 
3. Mi tâm phóng ra ánh sáng trắng, cổ họng phóng ra ánh sáng đỏ, tâm luân phóng ra ánh sáng xanh lam, chiếu tới hành giả.
4. Chữ Om màu trắng, chữ Ah màu đỏ, chữ Hum màu xanh lam. (Om Ah Hum)
5. Hành giả không chỉ quán tưởng bản thân mình, mà quán tưởng cả cha mẹ và lục độ chúng sinh cùng đảnh lễ.
6. Đầu tiên, chắp tay Phật kham thủ ấn đặt trên trán (mi tâm), tiếp đó đặt vào vị trí họng, rồi vị trí tim. 
7. Đem ánh sáng nhập vào chính mình. 
8. Lập tức quăng mình nằm xuống đất lạy. (Lần lạy thứ nhất là chắp tay Phật kham thủ ấn.)
9. Lần lạy thứ hai là chắp tay hoa sen. 
10. Lần lạy thứ ba là chắp tay ấn kim cang.
(Đây là pháp Đại lễ bái ba lạy khi vào đàn thành.)
	
🌟

Thực hành pháp Đại lễ bái, ngoài ba lạy ra thì cũng có pháp tu hành chuyên làm Đại lễ bái 108 lần, 1080 lần, hoặc có thể nhiều hơn, càng nhiều càng tốt. (Có thể đếm số lượng.)
Nhưng nếu chỉ làm pháp Đại lễ bái thì có thể chỉ cần dùng thủ ấn Phật kham là được. Cách lạy là ngũ thể đầu địa (tay, trán, tim, đầu gối, chân) đều chạm mặt đất. Nằm xuống đất xong thì đứng lên. 
Khẩu quyết quan trọng:
Nhất tâm không nghĩ ngợi, thật chuyên chú.
Thân mình hóa thành nhiều thân, cùng với cha mẹ, quyến thuộc, ân nhân, sư trưởng, oan thân trái chủ, lục đạo chúng sinh cùng đảnh lễ. Thượng sư và chư tôn phóng quang chiếu tới mọi người và hành giả. Khi hai tay chạm đất, tay đẩy về phía trước, đẩy lùi tất cả ma chướng, đẩy lùi tất cả phiền não. (Ma ở đây chính là thiên ma, ma sinh ra bởi ngũ uẩn, ma sinh ra bởi ham muốn, ma chết.) 
Khi đảnh lễ, trong hư không có Thượng sư, chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ pháp, Không Hành, chư Thiên, nhiều vô số. Hơn nữa, bản thân hành giả cũng nhiều vô số, lại cộng thêm cả quyến thuộc đông đúc ken dày, nhiều vô số. (Dùng vô số chúng sinh để đảnh lễ vô số chư tôn.)
Làm cách này thì công đức là không thể tính đếm được.

Hồi hướng:
Nguyện đem công đức này
Độ chúng sinh hữu tình
Người người học Phật pháp
Cuối cùng đến bỉ ngạn.
(Ghi chú: có người thực hành pháp đại lễ bái nhiều năm đã nhìn thấy Bổn tôn hạ giáng, ánh sáng rọi chiếu, xuất hiện rất nhiều thần tích, tự thân cũng có thể nhập Tam ma địa.)


### 09. Pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát chân thực


Đây là một đại pháp tối quan trọng của Mật giáo, hành giả Mật giáo nào cũng phải tu. 
Đây là đại pháp để tịnh nghiệp.
Đây là đại pháp để bổ khuyết.
Đây là đại pháp để hoàn tịnh.
Hành giả Mật giáo nếu có bị vỡ giới nguyện samaya, phạm giới, có lỗi lầm, không thanh tịnh, nghi quỹ có sai sót… thì đều có thể dựa vào pháp này để hoàn tịnh.

Cái gọi là Tứ gia hành cũng chính là bao gồm:
Pháp Tứ quy y. 
Pháp Đại cúng dường.
Pháp Đại lễ bái.
Pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát.
Mỗi một pháp trong Tứ gia hành này đều cần tu đủ 100.000 biến.

Tôi (Lư Sư Tôn) thường hay nói: Tứ gia hành là đại pháp.
Người đã tu xong, người đã có tương ứng thì chắc chắn không thoái lui đạo tâm. Còn những người mà thoái lui đạo tâm thì về cơ bản là tu pháp Tứ gia hành chưa có tương ứng gì. Ngay cả sự tương ứng cơ bản nhất cũng không có. Khi tương ứng được với pháp Tứ gia hành thì nhất định sẽ có được quả vị.
Chỉ cần tu pháp Tứ gia hành đạt đến tương ứng thì pháp Bổn tôn, Nội pháp (khí mạch minh điểm), Kim cang pháp, Vô thượng mật, Đại viên mãn, đều rất dễ dàng tương ứng. Nói cách khác cũng chính là tương ứng một pháp thì mọi pháp đều tương ứng, vì vậy mà sẽ chứng đắc quả vị.

🌟

Nghi quỹ pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát pháp chân thực như sau:
1. Vào đàn thành.

2. Thực hành pháp đại lễ bái. (pháp giản lược)

3. Ngồi định. (Tỳ Lô thất chi tọa) 
[Cách ngồi thiền Tỳ Lô thất chi tọa gồm bảy điểm: (1) hai chân đan chéo vào nhau (thế kiết-già), ngồi xếp bằng gác một chân lên bắp vế chân kia (thế bán già); (2) sống lưng thẳng đứng, không được dựa vào vách tường; (3) tay kết định ấn, đặt ở dưới rốn; (4) hai bả vai ngang bằng, thả lỏng tự nhiên; (5) đầu mặt ngay ngắn, hàm dưới thu vào bên trong; (6) hai môi khép lại, lưỡi chạm nhẹ vào hàm trên; (7) hai mắt khép lại, quán chiếu thân tâm.]

4. Thực hành pháp tứ quy y. (pháp giản lược)

5. Thực hành pháp đại cúng dường. (pháp giản lược)

6. Mặc bia giáp hộ thân. (pháp này được ứng dụng trong mọi pháp)

7. Phát bồ đề tâm chân ngôn (3 biến).
Ôm bô-đi-chi-ta, ben-za, sa-ma-ya a hùm.
[Om bodhichita benza samaya ah hum]

8. Tụng kệ sám hối và chú:
Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều vì vô thủy tham sân si
Đều sinh ra từ thân ngữ ý
Nay con tất thảy xin sám hối.
Chú: Ôm ben-za, sa-ma-ya, su-tô, ah. (3 biến)
[Om benza samaya sudo ah]

9. Kết ấn:
Hai tay nắm lại, đan chéo, đặt trước ngực.

10. Quán tưởng:
Đầu tiên, niệm chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng.
[Om subawa, suda, saerwa, daerma, subawa sudohang]

Quán tưởng Kim Cang Tâm Bồ Tát ngồi trên hoa sen tám cánh. Thân màu trắng, đội mũ Ngũ Phật, thiên y váy xếp, tay phải cầm chày kim cang đặt tại vị trí tim, tay trái cầm chuông kim cang đặt trên đùi. 

Trong tâm hiện lên một chú tự. (Xung quanh là bách tự minh chú.)
Trong tâm tuôn chảy ra ánh sáng cam lộ màu trắng phủ xuống đỉnh đầu hành giả. Những nghiệp tội của hành giả hóa thành nước đen theo lỗ chân lông thoát ra ngoài. Sau khi hành giả đã thanh tịnh, Kim Cang Tâm Bồ Tát nhập vào trong thân hành giả (nhập ngã ngã nhập). Hai người hợp làm một không phân biệt.

11. Tụng chú:
Bách tự minh chú. (21 biến, 108 biến). 
Đệ tử Chân Phật ai nấy đều đã thuộc câu chú này.

12. Nhập Tam ma địa.

13. Xuất định hồi hướng. 
(Bách tự minh chú gia trì lực, nguyện tam nghiệp đều thanh tịnh...)

14. Đại lễ bái.

15. Rời khỏi đàn thành.

🌟
	
Tôi nói khẩu quyết:
Tương ứng được với pháp này nhất định sẽ xuất hiện hiện tượng sám hối (sám hối đã được loại trừ). Hiện tượng sám hối lớn nhất là Kim Cang Tâm Bồ Tát hiện thân mà nói với hành giả rằng:
"Lành thay người này, người đã hoàn tịnh rồi!"
"Người đã được thanh tịnh tam nghiệp rồi!"
"Người đã tương ứng rồi!"
"Người là Phật tử! Tương lai sẽ thành Phật!"


### 10. Pháp Mặc giáp hộ thân (khẩu quyết)


Pháp này, tôi (Lư Sư Tôn) học được từ Thượng sư Phổ Phương. Tôi từng quy y Thượng sư Phổ Phương, với pháp danh là Viên Trì. 
Bổn tôn của pháp mặc bia giáp hộ thân là Kim Cang Thủ Bồ Tát. Người Tây Tạng gọi là Thủ Kim Cang. Ngài cùng với Quan Thế Âm Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát hợp lại được gọi là Tam hỗ chủ. 
Quan Thế Âm Bồ Tát — từ bi.
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát — trí huệ.
Kim Cang Thủ Bồ Tát — pháp lực.
Thủ ấn của Kim Cang Thủ Bồ Tát: 
Trước tiên, hai tay chắp lại. Ngón áp út cong lại, uốn xuống dưới và đặt chéo nhau. Hai ngón trỏ trái phải tách nhau ra. Như vậy là xong ấn. 
Hoặc là có thể chắp tay kim cang cũng được. Thủ ấn chắp tay kim cang tức là, đầu tiên hai tay chắp lại, sau đó các ngón tay đan chéo với nhau, thế là thành. 
Trì chú: 
"Ôm bua-rưa lan chưa-li."
Khi niệm chú dùng thủ ấn, ấn vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải. Quán tưởng chính mình biến thành hình tướng của Kim Cang Thủ Bồ Tát, tướng phẫn nộ, tay phải giơ cao chày kim cang, tay trái cầm dây thừng kim cương, chân đứng ở tư thế "cung tiễn bộ" (cung và tên).
(Đây chính là bia giáp hộ thân cho thân ấn.)

🌟

Lư Sư Tôn cho rằng, pháp mặc giáp hộ thân này có thể ứng dụng rộng rãi trong cuộc sống.
Khi ăn:
Kết thủ ấn Kim Cang Thủ Bồ Tát, điểm ấn trong hư không vào thức ăn. Niệm: "Ôm bua-rưa lan chưa-li." Điểm ấn vào quần áo thì quần áo biến thành áo giáp, có tác dụng phòng ma. 
Nơi ở:
Kết thủ ấn Kim Cang Thủ Bồ Tát, ấn vào bốn bức tường trong nhà, điểm ấn trong hư không cũng được. Niệm: "Ôm bua-rưa lan chưa-li." Thì toàn bộ nhà hoặc phòng ở đều được kết giới, sống tại nhà được bình an.
Đi lại:
Kết thủ ấn Kim Cang Thủ Bồ Tát, điểm ấn vào xe, thuyền, máy bay, xe máy, xe đạp, điểm ấn trong hư không cũng được. Niệm: "Ôm bua-rưa lan chưa-li." Thì ra khỏi nhà luôn bình an, không gặp tai nạn. 

Lư Sư Tôn nói:
Nghìn pháp vạn pháp
Nằm ở nhất tâm. 
Người nào thành tâm
Bồ Tát cảm ứng. 
Chúng ta học tập Phật pháp cần học cả pháp lý luận và pháp thực tu, cần phải biết ứng dụng lý thuyết Phật giáo thì mới được.


### 11. Nghi quỹ tu pháp (Tiền hành)


Nghi quỹ tu pháp của Chân Phật Tông có những sự khác biệt so với các tông phái khác, nhưng phần lớn là giống, chỉ có một vài khác biệt. Phần Tiền hành trong tu pháp của chúng ta đại khái là gồm có:
1. Đại lễ bái.
2. Đại cúng dường.
3. Tứ quy y. 
4. Kim Cang Tâm. (kệ sám hối)
5. Mặc giáp hộ thân.
6. Tứ vô lượng tâm.
7. Phát bồ đề tâm.

Chúng ta gọi là Tiền hành bảy mục. Trong phần tu pháp Tiền hành, đại lễ bái, đại cúng dường, tứ quy y, Kim Cang Tâm, chúng ta dùng cách giản lược. Hơn nữa, khi thực hiện Kim Cang Tâm, chúng ta niệm kệ sám hối:
*Xưa con đã tạo bao ác nghiệp
Đều bởi vô thủy tham sân si
Nghiệp sinh ra từ thân ngữ ý
Đã phạm thập ác ngũ vô gián
Nghiệp tội như giới samaya
Vô biên vô lượng bao nhiêu tội
Nay con tất thảy xin sám hối.
Chư Phật thương xót vẫn dang tay
Không rời đến khi con thành Phật.*
Niệm chú sám hối: "Ôm ben-za, sa-ma-ya, su-tô, ah."

Tứ vô lượng tâm, chúng ta niệm:
Nguyện tất cả chúng sinh có niềm vui và có mọi nhân duyên của niềm vui (từ vô lượng).
Nguyện tất cả chúng sinh vĩnh viễn thoát khổ và mọi nhân duyên của đau khổ (bi vô lượng).
Nguyện tất cả chúng sinh thường được sống trong niềm vui vi diệu không chút khổ đau (hỷ vô lượng).
Nguyện tất cả chúng sinh đều có cảm giác bình đẳng dù là người thân hay kẻ thù (xả vô lượng). 

Để phát bồ đề tâm, chúng ta niệm:
Con và chúng sinh trong toàn pháp giới không chừa một ai.
Nhất loạt quy y Thượng sư, Phật, pháp, tăng.
Vì sự nghiệp độ chúng sinh mà phát tâm bồ đề hỷ xả. 
Nguyện thân khẩu ý thành tựu như Bổn tôn.
Niệm chú bồ đề tâm: "Ôm bô-đi-chi-ta, ben-za, sa-ma-ya a hùm.”

🌟

Ở tông phái khác thì đại bộ phận phần Tiền hành gồm có bốn mục: tứ quy y, tứ vô lượng tâm, phát bồ đề tâm, quán Không tịnh nghiệp. 
Chúng ta có thêm đại lễ bái là bởi vì khi đi vào đàn thành thì cần phải lễ lạy.
Chúng ta có thêm đại cúng dường bởi vì khi đi vào đàn thành cần sắp đặt ngũ cúng gồm hoa, hương, đền, trà, quả, hoặc bát cúng chính là ngũ cúng cộng thêm vỏ ốc như ý, nước thơm để tắm, phấn thơm.
Chúng ta có thêm Kim Cang Tâm là để thể hiện lòng sám hối. 
Chúng ta có thêm mặc giáp hộ thân là để kết giới thân này.

🌟
	
Tôi (Lư Sư Tôn) nói:
Ba yếu tố lớn của tu pháp đương nhiên là: kết thủ ấn (thân thanh tịnh), quán tưởng (ý thanh tịnh), trì chú (khẩu thanh tịnh) trong phần Chính hành. Từ đó nhập Tam ma địa (thiền định). 

Tôi nói:
Phần nhập Tam ma địa cuối cùng cũng là phần quan trọng bậc nhất, nhập Tam ma địa mới có thể hiển lộ Phật tính, chứng đắc thành tựu cuối cùng. Tất cả mọi pháp đều hướng tới nhập Tam ma địa. 
Khẩu quyết là: “vô sự, vô tâm, dung nhập không tịch, an định vô trụ, quang minh độc diệu”.


### 12. Pháp Bổn tôn chân thực


Chúng ta lấy Bổn tôn A Di Đà Phật để làm ví dụ minh họa cho pháp Bổn tôn này. 

1. Tiền hành: 
Đại lễ bái. 
Đại cúng dường. 
Tứ quy y. 
Kim Cang Tâm. 
Mặc giáp hộ thân. 
Tứ vô lượng tâm. 
Phát bồ đề tâm.
2. Quán Không tịnh nghiệp:
Chú quán không:
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng.
3. Kết thủ ấn. (Di Đà định ấn)
4. Quán tưởng:
Quán tưởng trong hư không có một chú tự chữ "Pang" hóa thành hoa sen.


![image](/img/img_8b1eec7c986eb9fc4b6a7fb4ed677afe.png)


Trên hoa sen có chú tự chữ "Ah" hóa thành nguyệt luân.


![image](/img/img_4b5c4c0efd97050acc2ae12ed6a22d58.png)


Trên nguyệt luân có chú tự chữ "Seh" (màu đỏ) hóa thành A Di Đà Phật một đầu hai tay, hai tay ngài kết định ấn, ngồi kiết già trên đài hoa sen.


![image](/img/img_7b56df2f0a41cb926bd762252ed01974.png)


Chữ Om phóng ánh sáng trắng chiếu vào mi tâm hành giả.
Chữ Ah phóng ánh sáng đỏ chiếu vào họng hành giả.
Chữ Hum phóng ánh sáng xanh lam chiếu vào tim hành giả.
(Ba ánh sáng bao trùm.)

Tiếp theo là quán tưởng pháp nhập ngã - ngã nhập. 
A Di Đà Phật tỏa ra ánh sáng rực rỡ, từ trong ánh sáng tuôn chảy ra cam lộ tưới đẫm hành giả, hành giả thanh tịnh và trở nên hoàn toàn tự tại.
A Di Đà Phật thu nhỏ lại, thành một điểm sáng nhỏ như hạt gạo, từ lỗ trên đỉnh đầu đi vào hoa hoa sen ở chính giữa tâm hành giả. 
A Di Đà Phật phóng to ra đến khi hoàn toàn lớn bằng đúng hành giả.
Trong một sát-na. 
Hành giả biến thành A Di Đà Phật. (không hai không khác)
Hành giả (A Di Đà Phật) phóng quang chiếu rọi khắp thập phương tam tế, thập pháp giới, phổ độ chúng đẳng.
5. Trì chú:
"Ôm a-mi-đê-wa sê." 108 biến, 1080 biến. 
Càng nhiều càng tốt.
6. Nhập Tam ma địa (thiền định).

Khẩu quyết:
Ngoại giác — không động tâm.
(Điều tâm tập trung duy nhất vào A Di Đà Phật, không động không loạn, cắt đứt toàn bộ ngoại cảnh.)
Nội giác — không khởi vọng niệm.
(Dựa vào vô sở đắc mà cắt đứt mọi vọng niệm, quán tưởng tất cả mọi pháp đều là hư không.)
Trực giác — vô sự, vô tâm. 
(Tránh rơi vào hai biên giữa không và có, cần chứng ngộ thực tướng của Trung đạo.)
Tự tính quang minh.
Pháp giới quang minh.
Hợp nhất.
7. Xuất định. (minh điểm trong không trung hóa thành A Di Đà Phật.)
8. Tụng tán:
Lời nguyện trang nghiêm đem lợi lạc
Trọc thế chúng sinh đều cứu giúp
Tiếp dẫn Tây phương chứng vô sinh
A Di Đà Phật con kính lễ. 
9. Bách tự minh chú. (3 biến)
Tụng bách tự minh chú là để bổ khuyết, những sai sót trong khi tu pháp đều được sửa chữa, như vậy là được viên mãn.
(Khi niệm chú này cũng có thể quán tưởng Kim Cang Tâm Bồ Tát, trong tâm có chữ  Hum, ánh sáng trắng và cam lộ tưới đẫm toàn thân hành giả, toàn thân hành giả được thanh tịnh, hành giả như hư không quang minh.)
10. Hồi hướng.
Nguyện ai đang niệm Phật
Cùng sinh chốn Cực Lạc.
Trên báo bốn ân sâu.
Dưới giúp ba đường khổ.
Thấy Phật thoát sinh tử.
Như Phật độ tất cả.


### 13. Bổn tôn pháp khẩu quyết (1)


Tôi (Lư Sư Tôn) cảm thấy: Bổn tôn pháp là một pháp cốt yếu. 
Rất nhiều người hỏi tôi: "Bổn tôn của chính mình là ai?"
Tôi luôn trả lời rằng:
"Chính là vị đầu duyên." [Là vị mà bạn có nhân duyên gặp đầu tiên, nghĩ tới đầu tiên.]
Lại hỏi:
"Con thích rất nhiều Bổn tôn thì sao?"
Tôi đáp:
"Chọn ra Bổn tôn nào thích nhất."
Lại hỏi:
"Con có thể tu nhiều Bổn tôn không?"	
Tôi đáp:
"Nếu có thời gian thì tu nhiều Bổn tôn cũng được."
Tôi thực sự nói cho mọi người hay:
Một cũng chính là nhiều. 
Nhiều cũng chỉ là một.
Một pháp tương ứng thì sẽ tương ứng được với mọi Bổn tôn. 
(Chữ "một" này là xuất sắc.)

🌟
	
Hỏi:
"Làm sao để triệu thỉnh Bổn tôn đến?"
Đáp:
"Kết ấn triệu thỉnh, niệm chú triệu thỉnh."
Hỏi:
"Ấn triệu thỉnh là ….?"
Đáp:
"Là ấn Kim Cương câu. Hai tay nắm lại thành nắm đấm, ngón trỏ thay phải đưa ra làm thành cái móc. Tay trái đặt ở dưới, đưa ngón trỏ ra nhét vào bên trong nắm đấm tay phải."
Hỏi:
"Chú triệu thỉnh là….?"
Đáp:
"Ôm ben-za sa-ma-ya cha, hoặc Ôm ah hùm sô-ha, hai câu chú này đều được."
Hỏi:
"Nếu triệu thỉnh rồi mà các ngài không tới thì sao?"
Đáp:
"Một là, dùng tâm lực để triệu thỉnh. Hai là, dùng ấn lực để triệu thỉnh. Ba là, dùng chú lực để triệu thỉnh. Nếu các ngài không đến: móc Kim Cang câu cử động ba lần. Chú lực đọc mạnh hơn, chính xác thì sẽ có lực hơn. Thêm nữa cần dùng tâm lực nghĩ đến A Di Đà Phật từ mi tâm tỏa ra hào quang màu trắng xoay chuyển từ phải qua trái. 
(Đây là khẩu quyết quan trọng.)

🌟

Hỏi:
"Tạp niệm không dừng được, làm sao để nhập Tam ma địa?"
Đáp:
"Tạp niệm không dừng dứt là cảnh giới của phàm phu, đương nhiên không thể nào nhập Tam ma địa được. Điểm quan trọng là ở chỗ phàm phu có sự phân biệt yêu, ghét, chiếm hữu, xả bỏ. Cần phải buộc chặt mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý lại, như vậy thì tự tính mới có thể hiện ra."
Hỏi:
"Là nhất tâm bất loạn sao?"
Đáp:
"Đúng vậy."
Hỏi:
"Làm sao để làm được nhất tâm bất loạn?"
Đáp:
"Trói lục tặc lại thành một tinh minh." [Kiểm soát mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý (6 tên giặc – lục tặc).]
Hỏi:
"Làm sao tu luyện được?"
Đáp:
"Chỉ quán song vận." [Vừa tu định (chỉ) và tu quán song song, cùng lúc.]
(Đây là khẩu quyết quan trọng.)


### 14. Bổn tôn pháp khẩu quyết (2)


Hành giả Mật giáo cần sắp đặt một đàn thành, đàn thành cần bố trí an vị:
Phật, Bồ Tát, Hộ pháp.
Kinh điển.
Tháp xá lợi.
Tranh, tượng của Thượng sư.
Đàn thành cần thanh tịnh và trang nghiêm.
Hành giả vui vẻ khi ngồi lâu trong đó.

🌟
	
Hành giả Mật giáo khi tu pháp, sau khi làm đại lễ bái xong, lập tức ngồi yên tĩnh, ngồi yên tĩnh cần dùng pháp thất chi tọa như sau:
1. Lưng hơi đưa cao, ngồi thẳng.
2. Hai chân vắt chéo kiết già (là đẹp nhất), nếu không làm được thì ngồi bán già, nhưng không thể ngồi thoải mái tùy tiện.
3. Tay kết định ấn.
4. Hai bả vai ngang bằng.
5. Hai mắt nhìn vào chóp mũi hoặc nhìn thẳng.
6. Điều hòa hơi thở cho đều đặn nhẹ nhàng.
7. Đầu lưỡi chạm vào hàm trên.
	
🌟
	
Lựa chọn đàn thành:
Phòng tách biệt và yên tĩnh.
Tàng phong tụ khí.
Hướng của đàn thành cần đón được thủy thần.
Hợp với từ trường của hành giả.
Hợp với hướng của hành giả.

🌟
	
Để hành giả có thể tương ứng với Bổn tôn, các khẩu quyết quan trọng là:
Bổn tôn có hình tướng nào thì hành giả mang hình tướng đó.
Bổn tôn có màu sắc nào thì hành giả cũng cần mặc quần áo có màu sắc đó.
Bổn tôn có pháp khí nào thì hành giả cũng cần có pháp khí đó.
Chủng tử chú tự của Bổn tôn là gì thì trong tâm hành giả cũng cần ghi nhớ rõ chủng tử chú tự này.
Hành giả cần tụng chú của Bổn tôn đủ 100.000 biến.
Hành giả luôn luôn cần nhớ về hình tướng của Bổn tôn.
Bổn tôn thực hành bồ đề, hành giả cũng phải thực hành bồ đề.
Hành giả cũng cần nhất trí với lời thề nguyện của Bổn tôn.
Thân khẩu ý của Bổn tôn và thân khẩu ý của hành giả cần nhất nhất tương hợp.
Tóm lại:
Tất cả mọi thứ của hành giả Mật giáo đều cần hợp với tất cả mọi thứ của Bổn tôn, từ ăn, mặc, ở, đi lại, nhất nhất tương đồng.
Ngoại tương đồng.
Nội tương đồng.
Mật tương đồng.
Mật mật tương đồng.

🌟
	
Hành giả mật giáo cần học nhập ngã - ngã nhập. 
Khẩu quyết như sau:
Quán tưởng Bổn tôn từ không trung phía trước mặt di chuyển đến trên đỉnh đầu hành giả. (Tụng chú Bổn tôn 108 biến.)
Quán tưởng Bổn tôn tưới cam lộ thấm đẫm toàn thân hành giả, hành giả trở nên thanh tịnh. (Tụng chú Bổn tôn 108 biến.)
Quán tưởng Bổn tôn hóa thành một điểm ánh sáng đi từ đỉnh đầu xuống tâm luân, an trụ tại hoa sen ở chính giữa tâm luân của hành giả. (Tụng chú Bổn tôn 108 biến.)
Quán tưởng Bổn tôn từ từ phóng to ra cho đến khi bằng đúng thân người của hành giả, hai người không hai không khác. (Tụng chú Bổn tôn 108 biến.)
Cuối cùng, hành giả quán tưởng chính mình biến hóa phóng to ra toàn bộ hư không, toàn bộ hư không đều là hành giả. (Tụng chú Bổn tôn 108 biến.)

Tất cả những việc trên đều làm tốt thì rất dễ tương ứng. Đây đều là những khẩu quyết quan trọng.


### 15. Bổn tôn pháp khẩu quyết (3)


Khẩu quyết quan trọng nhất về nhập Tam ma địa của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.
Căn cứ theo "Phật thuyết A Xà Thế Vương kinh" để chứng minh.
Vua A Xà Thế vì muốn loại bỏ nghiệp tội đã chuẩn bị một tấm vải vô cùng quý giá để cúng dường Văn Thù Bồ Tát. Nhưng Văn Thù Bồ Tát vẫn biệt tăm không dấu tích. 
Quốc vương nghe thấy Văn Thù Bồ Tát trong hư không nói:
"Nếu gặp ai thì cúng dường người đó."

Quốc vương nhìn thấy Trí Cát Tường Bồ Tát và A La Hán Đại Ca Diếp, thế là đem tấm vải quý cúng dường cho họ. 
Họ nói:
"Chúng ta không có công gì, không thể nhận cúng dường."
Thế rồi họ lập tức biến mất. 
Quốc vương cầm tấm vải muốn đem cúng dường 500 tì kheo. 500 tì kheo cũng biến mất không thấy đâu. Quốc vương vô cùng kinh ngạc. Ngài nhìn sang hoàng hậu ở bên cạnh mình liền đem tấm vải cúng dường cho hoàng hậu, không ngờ hoàng hậu cũng biến mất luôn. 
Lúc này chỉ còn lại một mình quốc vương vẫn cầm trên tay tấm vải vô giá. Ngoài ra chẳng còn thấy gì khác nữa. Vua A Xà Thế chỉ nghe thấy âm thanh vọng lại "Xin cúng dường người mà ngài nhìn thấy."

Thế là, quốc vương lấy tấm vải khoác lên người mình. Không ngờ chính thân thể của vua A Xà Thế cũng biến mất luôn. 
Văn Thù Bồ Tát trong hư không trung nói:
"Rời xa tất cả sắc tướng, vì mọi sắc đều không có cái nào có thể nhìn thấy được…" 
Thế là, trong một sát-na, vua A Xà Thế đã giác ngộ.

🌟

Đoạn kinh văn này chính là một khẩu quyết lớn. 
Vua A Xà Thế là người bố thí. Tấm vải là vật bố thí. Văn Thù Bồ Tát là người nhận. Thế nhưng, kết quả cuối cùng lại là: 
Chẳng có người nào nhận.
Chẳng có người nào cho.
Chẳng có vật nào được cho.
(Tam luân thể không.)
Rốt cục là: 
Vô sở đắc.
Văn Thù Bồ Tát nói:
"Phật Đà xuất hữu hoại, liễu tri chư pháp, vô sinh như hư không, vô pháp bị nhiễm ô." [Phật Đà vốn ra khỏi cái có và sự hoại diệt, thấu triệt mọi pháp, chưa từng sinh ra, như hư không, không có pháp nào bị nhiễm ô.]

Đây chính là khẩu quyết lớn về nhập Tam ma địa:
Không có người thiền định.
Không có thiền định.
Không có đối tượng thiền định.
Bởi vì điều này mà nhập Tam ma địa. 
(Dùng pháp Tam luân thể không này để nhập Tam ma địa, mới là vô thượng pháp môn bồ đề niết bàn.)

🌟
	
Tôi thấy thế giới Ta Bà này:
Người huyễn. [Huyễn tức là không thật có.]
Vật huyễn.
Ta huyễn. 
Vô sinh như hư không. 
Bởi vì đã hiểu: Vô thượng thập phương hoàn toàn đều từ Phật Đà niết bàn, chứng đắc vô thượng bồ đề đều từ đây.
Do vậy:
Bất khả tư nghì.
Không thể so sánh.
Không thể mô tả bằng lời.
(Vốn dĩ vô ngã, do vậy tùy ứng mà thành.)


### 16. Bổn tôn pháp khẩu quyết (4)


Khẩu quyết cần chú ý để đạt được sự tương ứng giữa hành giả Mật giáo và Bổn tôn là:
1. Được một vị Truyền thừa Thượng sư chân thực thanh tịnh ban quán đảnh.
2. Tự thân hợp với pháp tướng.
3. Pháp nhập thế và pháp xuất thế song vận.
4. Tam nghiệp chuyển hóa thành tam mật.
5. Từ bỏ ác khẩu.
6. Từ bỏ ân oán hận thù. (giữ sự bình đẳng)
7. Lấy việc làm lợi ích cho người khác là quan trọng.
8. Chúng sinh trong lục đạo đều là người thân trong nhiều kiếp.
9. Kiến giải thanh tịnh.
10. Dành thời gian để tập yoga.
11. Thường xuyên cầu nguyện Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp.
12. Đừng quên khẩu quyết Thượng sư dạy.
13. Cần giữ đạo tâm vững chắc.
14. Cần coi trọng tâm xuất ly.
15. Yêu bản thân mình, và yêu người khác hơn cả bản thân mình.
16. Chiến thắng phiền não.
17. Đảm nhiệm mọi việc của Thượng sư đều phải xuất phát từ chân tâm.
18. Những công việc không đem lại lợi ích cho mình và người khác thì đừng làm.
19. Đừng làm những việc nhàn tản vô vị.
20. Ác nghiệp dù một chút cũng không làm.
21. Thiện nghiệp nhất định cần tùy hỷ.
22. Có ác nghiệp nhất định cần sám hối.
23. Không hại mình không hại người.
24. Sau khi sám hối không được tái phạm.
25. Niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng, niệm Thượng sư.
26. Nhất tâm tinh tấn tu trì.
	
🌟
	
Các hiện tượng khi tương ứng là:
1. Nhìn thấy Bổn tôn. 
2. Nghe được lời chỉ dạy của Bổn tôn.
3. Kéo dài tuổi thọ.
4. Phúc đức tăng trưởng.
5. Không còn tà kiến.
6. Tâm nguyện viên mãn.
7. Không còn bệnh tật.
8. Không còn tai nạn.
9. Đại lạc.
10. Cuộc sống như pháp.
11. Sự nghiệp hoằng pháp thành tựu.
12. Gặp được Bổn tôn trong mơ, trong thiền định, trong hư không, trong tịnh độ, trong thế gian.
13. Không còn sai lầm.
14. Không còn chướng ngại.
15. Khuyên người khác tu hành.
16. Có được sự gia trì lớn.
17. Mãn nguyện.
18. Giải thoát.
19. Sống ở đâu cũng được an lạc.
20. Không bị bỏ bùa.
21. Không đọa luân hồi.
22. Đắc độ. 

🌟

Tôi nói để cho mọi người được biết:
Một khi đã tương ứng với Bổn tôn thì trong hư không sẽ xuất hiện Bổn tôn và quyến thuộc của Bổn tôn cùng tung hô:
"Tương ứng rồi!"
Từ đó về sau sẽ luôn trải nghiệm cảm giác "cùng Bổn tôn hợp nhất", "hành giả hóa thành Bổn tôn", "Bổn tôn thường ở bên cạnh". 
Mọi lúc. (thời gian)
Mọi nơi. (không gian)
Vĩnh viễn không tách rời.
Thẳng tiến tới bồ đề.


### 17. Bổn tôn pháp khẩu quyết (5)


Những cảm nhận sau khi tương ứng:
Trải nghiệm của tôi (Lư Sư Tôn) là như thế này:
1. Hễ tôi nhập thiền định là cảm thấy mình bất động như núi, cao lớn sừng sững như núi Tu Di. 
Trên không nhìn thấy đỉnh. 
Dưới sâu rộng vô cùng. 
Tôi chính là vùng đất vũ trụ, vũ trụ chính là thân này của tôi. Cảm nhận dường như tất cả sát thổ đều nằm trong tâm tôi. [Sát thổ chính là cõi Tịnh độ.]

2. Hễ tôi nhập thiền định thì dòng chảy pháp từ Bổn tôn sẽ đi vào thân tôi, toàn thân tôi tràn đầy cam lộ. Thân khẩu ý đều thanh tịnh. Những nghiệp đen tích tồn trong nhiều kiếp đều hóa thành khí đen, từ lỗ chân lông thoát hết ra ngoài rồi tiêu biến mất.

3. Hễ tôi nhập thiền định thì chuyết hỏa tự động dâng lên. 
Lửa ấm áp.
Lửa đỏ rực.
Lửa sáng rực thành ánh sáng.
Từ gót chân đến đỉnh đầu, rồi lại từ đỉnh đầu tới gót chân, tôi cảm nhận thấy một cảm giác vô cùng khoái lạc. Sự khoái lạc này không phải là khoái lạc thông thường, mà là: 
Đại lạc.
Quang minh. 
Vô niệm.
Tôi ngồi giữa ánh sáng quang minh, toàn thân tràn đầy khoái lạc, không chút phiền não, hoàn toàn tự tại nhậm vận.

4. Hễ tôi nhập thiền định, tôi có thể phi thân, tốc độ bay rất nhanh. 
Tôi đều có thể đi tới vô số Phật quốc sát thổ. Đương nhiên có thể đến được sát thổ của Bổn tôn. 
Tôi có thể đến tam giới thiên, đến Ma Ha Song Liên Trì. Dường như không gì là không thể làm được. 
Tôi có thể biến to, thu nhỏ, biến thành nam, biến thành nữ, biến thành mềm, biến thành cứng, biến thành thần, biến thành quỷ. 
Muốn biến thành cái gì thì sẽ thành cái đó. 
Biến thành cá trong nước.
Biến thành chim trên trời.
Biến thành ở trong rừng.
Biến tới biến lui, hóa tới hóa lui.

5. Hễ tôi nhập thiền định:
Tôi có thể nhìn thấy Bổn tôn.
Nghe Bổn tôn thuyết pháp.
Tôi biết được quá khứ, hiện tại, tương lai của tôi, thậm chí có thể biết được quá khứ, hiện tại, tương lai của người khác. Biết được trong lòng người khác muốn cái gì.

Tôi có một chút sức mạnh uy thần, năng lực uy thần này đến từ Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác hoặc một số Thiên Thần, tôi có thể đem đến cho người khác niềm vui, cũng có thể giải trừ đau khổ của người khác.
Bổn tôn thường ở bên cạnh tôi. 
Hoặc,
Bổn tôn là tôi.
Tôi là Bổn tôn.
Không hai không khác.

6. Hễ tôi nhập thiền định:
Kinh Phật vốn dĩ tôi không hiểu, thì nay đọc đều hiểu cả.
Chân đế vốn dĩ tôi không hiểu, giờ cũng hiểu hết luôn.
Hiểu tất cả thế gian.
Hiểu ra mọi thứ của thế gian.
Tất cả mọi pháp thấy được trên thế gian:
"Vô thường chơi vơi thường biến đổi
Luân hồi bao nghiệp ý nghĩa chi
Thay vì chăm cầu lợi trần thế
Tĩnh tu Phật pháp giải thoát môn.”


### 18. Pháp vô lậu chân thực (1)


Tôi (Lư Sư Tôn) thực lòng thực sự nói cho mọi người biết:
"Từ lâu tôi đã tu chứng pháp vô lậu rồi!"
Minh điểm của tôi (thể dịch) không rò rỉ mất đi.
Ban ngày vô lậu.
Ban đêm vô lậu.
Tôi là "vô lậu tôn giả".
Một năm ba trăm sáu mười lăm ngày vô lậu, mười năm vô lậu, hai mươi năm vô lậu, ba mươi năm vô lậu. 

Tôi lấy một ví dụ:
Luân xa bí mật của tôi đã biến thành hồ chứa nước Thạch Môn của Đài Loan rồi, cổng xả nước của hồ chứa nước đó đã khóa chặt, chưa từng xả nước ra. Cổng xả nước đã trở nên rỉ sét, cũng chẳng kéo cho mở ra được nữa. Do vậy, không mất đi dù chỉ một giọt một điểm. 
Giống như Đạo gia có nói:
Luyện tinh hóa khí
Luyện khí hóa thần
Luyện thần phản hư
Luyện hư hoàn đạo.
Từ lâu tôi đã tu chứng pháp vô lậu rồi, đây là sự thật hoàn toàn chính xác.

🌟

Tôi lại nói thêm:
Vị Panchen Lama đời thứ 10 khi còn ở Bắc Kinh đã lấy một cô gái Bắc Kinh làm vợ, rồi sinh được một người con gái. (Người con gái này từng đi học tại California.). 
Tôi biết được, kinh ngạc!
Còn nữa:
Trinley Thaye, một trong hai vị Đại Bảo Pháp Vương thứ 17 đã cưới một người con gái thanh mai trúc mã làm vợ, cũng sinh con gái. 
Tôi biết được, cũng kinh ngạc y như vậy!
…

🌟

Tôi thực lòng thực sự nói cho mọi người biết:
Nếu như hôm nay tôi là một vị hoàng đế thời cổ đại, tôi đã tu chứng pháp vô lậu rồi, thì hậu cung ba nghìn giai nhân mỹ nữ, tôi cũng chẳng ngán. 
Tôi chẳng sợ. 
Đêm đêm mỹ nữ thị tẩm. (Nam nữ đều sung sướng.)
Nhưng thân này không hư nhược.
Cũng chẳng chết yểu!

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) nhận thấy thế này:
Pháp vô lậu là trọng điểm của Nội pháp Mật giáo (Nhị quán), cũng là một pháp môn quan trọng. Nếu không có pháp vô lậu thì làm sao có thể tiến sâu vào Vô thượng mật được (Tam quán)?
Pháp vô lậu chỉ xuất khí, không xuất tinh. 
Khí có đủ.
Mạch sẽ thông.
Chuyết hỏa lên.
Minh điểm giữ. (giữ tinh)
Do vậy, tôi nói thế này, phải thành tựu được pháp vô lậu thì mới có tư cách để thực hành pháp song thân. 
Hai điều kiện lớn nhất để tu pháp song thân là: [phải đã thành tựu]
1. Vô lậu.
2. Tính Không.
Do vậy, hành giả yoga chân chính (yogi), về lý nên thành tựu pháp vô lậu.


### 19. Pháp vô lậu chân thực (2)


Có người hỏi tôi:
"Tu khí trước hay là tu vô lậu trước?"
Tôi đáp:
"Tu cả hai cùng lúc, bởi vì pháp vô lậu cũng phải dùng đến khí."

🌟

Khẩu quyết của pháp vô lậu như sau:
1. Hít mạnh để kéo luồng khí từ "trung chỉ". [Trung chỉ nghĩa là “ngón tay giữa”, ở đây chính là ám chỉ dương vật.] 
Khi sinh ra sơ lạc (mẫn cảm) thì phải nhận ra ngay lập tức, mau chóng hít mạnh tiếp tục dồn kéo luồng khí từ trung chỉ [đi lên]. 
Nhờ vào sự chú ý vào lực di chuyển từ trung chỉ mà cảm giác sơ lạc mẫn cảm tiêu biến, đây là cách giữ tinh thứ nhất.
2. Vỗ mạnh lên thân. 
Khi sản sinh ra sơ lạc (mẫn cảm) thì phải nhận ra ngay lập tức, mau chóng dùng bàn tay vỗ mạnh lên thân tới mức thấy đau. Nhờ việc chú ý đến lực di chuyển đến chỗ đau mà cảm giác sơ lạc mẫn cảm tiêu biến. Đây cũng là một pháp giữ tinh.
3. Nắm chặt thủ ấn.
Khi sản sinh ra sơ lạc (mẫn cảm), phải nhận ra lập tức, mau chóng thu ngón tay cái trái và phải vào bên trong lòng bàn tay, hai tay nắm chặt như nắm đấm, bóp chặt ngón tay cái cho đến khi cảm thấy đau. Đây là dùng lực nắm chặt tay lại, tập trung tinh thần vào ngón tay cái, cảm giác sơ lạc mẫn cảm sẽ tiêu biến, đây cũng là một pháp để giữ tinh. 
(Ba điều nói trên là pháp chuyển dời.)
4. Nhật nguyệt nhìn trời.
Khi sản sinh ra sơ lạc (mẫn cảm), phải nhận ra lập tức. Nhật nguyệt ở đây tức là mắt trái mắt phải, nhìn lên trời cao (trần nhà), một là để chuyển dịch, hai là đẩy khí lên, cảm giác sơ lạc mẫn cảm sẽ tiêu biến.
5. Đầu lưỡi chạm vào hàm trên (thế thứ hai trong sáu thế yoga). Lưỡi chạm vào hàm trên là bí quyết thiền định (tục gọi là bắc cầu trời), có hiện tượng khí thượng xung. [Khí phóng thẳng lên trên.]
6. Thượng hành khí xuất ra hết. (thế thứ ba trong sáu thế yoga)
Khí trên thân thể con người có năm loại:
Thượng hành khí — nâng đỡ nửa thân trên.
Hạ hành khí — nâng đỡ nửa thân dưới.
Biến hành khí — nâng đỡ xung quanh.
Hỏa bạn khí — chuyết hỏa đi theo trung mạch.
Mệnh khí — bất động tại tâm tế. 
Khi thở thượng hành khí ra từ mũi, hạ hành khí liền đi lên, đồng thời cũng nâng giữ minh điểm (tinh).
7. Áp hầu kết. (thế thứ tư trong sáu thế yoga)
Tôi thường dùng quy tắc của ống hút để so sánh. Khi chúng ta hút nước lên từ ống hút, rồi lập tức dùng ngón tay ấn giữ vào phần miệng ống phía trên thì nước sẽ không chảy ra. Đây cũng chính là khi thượng hành khí được hít lên xong thì ấn giữ hầu kết, giống như dùng ngón tay ấn giữ vào miệng ống phía trên của ống hút thì minh điểm cũng sẽ không chảy thoát ra ngoài.
8. Bụng dán vào lưng (thế thứ năm trong sáu thế yoga)
Đây cũng chính là bài tập thu nhỏ bụng lại mà ta tập trong quân đội để tạo thành một vòm cung ở phần bụng để nâng giữ minh điểm (tinh). [Hóp bụng lại hết cỡ để cho mặt da bụng phía trước càng gần với mặt da lưng phía sau càng tốt.]
9. Nâng hậu môn (thế thứ sáu trong sáu thế yoga)
Nâng hậu môn cũng là một cách nâng. 
Đưa hạ hành khí đi lên.
Ngăn chặn minh điểm xuất ra ngoài.
Khóa chặt minh điểm lại. 

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) nói để mọi người được biết:
Những pháp này cần luyện tập thường xuyên. Cần phải luôn luôn thông hiểu toàn bộ các vấn đề liên quan có thể tu được thuận lợi suôn sẻ. 
Điểm quan trọng nằm ở chữ "nâng" chứ không phải là "nhịn". Người biết "nâng” thì là bậc du già [yogi], còn người "nhịn" là phàm phu. 
Ở đây đã bao gồm phương pháp tập về khí trong đó rồi.
Luyện tập lâu dài thì sẽ thành thục và trở nên khéo léo. 
Chỉ cần nghĩ đến một cái là toàn bộ tự nhiên đã xong rồi. 
(Đây là khẩu quyết quan trọng nhất.)


### 20. Pháp vô lậu chân thực (3)


Có đệ tử hỏi tôi:
"Pháp vô lậu có phải là Phật pháp không?"
Tôi đáp:
"Cái gì không phải là Phật pháp?" (Tôi hỏi ngược lại.)
Tôi lại nói:
"Dâm, nộ, si đều là Phật pháp." (tham, sân, si)
Đệ tử hỏi:
"Dâm là tu cái gì?"
Tôi đáp:
"Tu Phật."
Đệ tử hỏi:
"Nộ là tu cái gì?"
Tôi đáp:
"Tu Kim Cang."
Đệ tử hỏi:
"Si là tu cái gì?"
Tôi đáp:
"Tu Bồ Tát."

Đệ tử hỏi:
"Pháp vô lậu đã từng được Sư Tôn nhắc đến trong sách rồi đúng không?"
Tôi đáp:
"Trong cuốn “Mật giáo áo nghĩa thư” [văn tập số 122] và cuốn “Tính Không trong đại lạc” [văn tập số 201] (Giảng về ý nghĩa của Hỷ Kim Cang), tôi có đề cập đến."

Đệ tử hỏi:
"Mục đích của pháp vô lậu là gì?"
Tôi đáp:
"Khống chế dâm niệm, chuyển hóa tính Không."
Đệ tử hỏi:
"Pháp vô lậu là tiền hành của pháp song thân phải không?"
Tôi đáp:
"Đúng vậy."
Đệ tử hỏi:
"Ngày nay, pháp song thân của Mật giáo bị phê bình một cách thậm tệ bầm dập, Lư Sư Tôn nhận thấy sao?"
Tôi đáp:
"Đó là do thế nhân không hiểu được nguyên nhân thắng nghĩa. Kì thực nguyên nhân rất đơn thuần. Pháp song thân chẳng qua là chuyển hóa việc giao hợp giữa nam nữ thế tục thành việc tu hành của thánh thần."
Đệ tử hỏi:
"Có thể như vậy sao?"
Tôi đáp:
"Hoàn toàn có thể. Pháp song thân có quán tưởng, có thủ ấn, có trì chú, có pháp tu khí, có pháp tu chuyết hỏa, có pháp tu mạch luân, có pháp tu minh điểm, có pháp tu tịnh quang, có pháp nhập Tam ma địa..."
Đệ tử hỏi:
"Thật khó tưởng tượng phải không?"
Tôi đáp:
"Thế nhân không biết rằng, nếu có thể tu chứng pháp song thân thì sẽ thành tựu đại lạc, quang minh, tính Không, thậm chí tức thân thành Phật."
Đệ tử hỏi:
"Khẩu quyết là gì?"
Tôi đáp:
"Từ thô tục, an trụ, chính định, tất cả đều không, vô niệm. Hai người cùng đạt tới trạng thái đại lạc, hóa quang, tiêu trừ mọi pháp, chứng ngộ tính Không."
Đệ tử hỏi:
"Có tà sư mượn pháp song thân để lừa các cô gái không?"
Tôi đáp:
"Việc này rất khó tránh khỏi. Nhưng để nhận ra có phải là lừa bịp hay không thì cũng rất dễ."
Đệ tử hỏi:
"Làm sao để nhận ra?"
Tôi đáp:
"Xem người đó đã có Tam quán chưa, có quán đảnh Vô thượng mật chưa? (Phải do căn bản Thượng sư quán đảnh mới được.) Có vô lậu chưa? Có chính niệm chưa?"


### 21. Vua của đại lạc


Một hôm, tôi an trụ trong tâm, nhập Tam ma địa. 
Kim Cang Tát Đỏa nói với tôi:
"Ngài là vua của đại lạc!"
Tôi hỏi:
"Vì sao vậy?"
Kim Cang Tát Đỏa đáp:
"Ngài đem đại lạc tự tính của mình cúng dường thập phương tam thế chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ pháp, Không hành, chư Thiên, do vậy là vua của đại lạc."

Tôi hỏi:
"Theo như tôi biết thì cúng dường chẳng phải là cần nhiễu tháp xá lợi ba vòng, hoặc làm tất cả mọi pháp cúng dường sao?"
Kim Cang Tát Đỏa đáp:
"Tháp xá lợi tượng trưng cho sự hiện diện của Phật, đương nhiên cần cúng dường. Làm tất cả mọi pháp cúng dường như đi nhiễu núi, nhiễu hồ, nhiễu chùa, đương nhiên cần cúng dường. Nhưng vẫn chưa phải là vô tướng."
Tôi hỏi:
"Vậy như tôi thì cần cúng dường như thế nào?"
Kim Cang Tát Đỏa nói:
"Như ngài thì cần cúng dường người trì giữ giới, người chính định, người có Phật huệ, người giải thoát, người giải thoát tri kiến."
Tôi nói:
"Đích thực là như vậy."

Kim Cang Tát Đỏa hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn, tôi lại hỏi ngài, cái gọi là tướng của giới, định, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến là gì?"
Tôi đáp:
"Vô tướng."
Kim Cang Tát Đỏa hỏi:
"Do là vô tướng, vậy ngài làm sao cúng dường?"
Tôi đáp:
"Lấy vô tướng để cúng dường vô tướng." (cúng dường bằng tâm)
Kim Cang Tát Đỏa hỏi:
"Đại lạc của ngài có tướng không?"
Tôi đáp:
"Vô tướng." (Chẳng thể nào lấy ra một thứ gọi là đại lạc được.)
Kim Cang Tát Đỏa hỏi:
"Chính vì là vô tướng, mới là cúng dường vô thượng, ngài hiểu chứ?"
Tôi dường như phần nào ngộ ra. 

Kim Cang Tát Đỏa nói với tôi:
"Thế Tôn nói, tất cả chúng sinh hữu tình đều là nơi cúng dường.
Cần cúng dường tự tính. 
Tự tính chính là Phật. 
Tương đương với cúng dường tất cả chư Phật.
Hãy nhớ kĩ:
Học tập tất cả những gì có thể học được từ tất cả các đấng Như Lai chính là cúng dường vô thượng. 
Là pháp cúng dường đệ nhất. 
Tu đến khi tự tính thành Phật chính là cúng dường.
Do vậy:
Không nên bám chấp.
Không nên chấp ngã.
Không nên chấp pháp.
Không nên chấp tướng."

Tôi nói:
"Những điều này, những người mới học có lẽ không thể hiểu được."
Kim Cang Tát Đỏa nói:
"Chính xác, người mới học sẽ không hiểu được thế nào là: Bất sinh.
Bất hành.
Bất nhị."
Tôi hỏi:
"Vậy làm sao để giáo hóa chúng sinh?"
Kim Cang Tát Đỏa nói:
"Bởi thế tôi mới xưng hô ngài là vua của đại lạc, ngài dùng đại lạc để cúng dường tự tính và cúng dường tất cả Như Lai. Đó là cúng dường vô lậu chân thực."


### 22. Cửu tiết Phật phong (giảng chi tiết)


Cửu tiết Phật phong cũng có thể gọi là "Cửu tiếp Phật phong".
Nghi quỹ như sau:
1. Tiền hành làm đủ 7 mục.
2. Quán tưởng toàn bộ thân mình trong suốt, tất cả đều trắng sạch như lưu ly. 
Trong thân có ba mạch thẳng đứng song song, ba đường mạch bắt đầu từ tề luân, là luân xa ở vị trí dưới rốn bốn lóng tay. 
Trung mạch giống như một cái ống thẳng, đầu phía trên não là miệng hình loa, trên to dưới nhỏ. 
Mạch trái mạch phải song song với trung mạch. Mạch trái nối với lỗ mũi bên trái, mạch phải nối với lỗ mũi bên phải. (Kết thúc việc quán tưởng ba mạch ở đây.)
3. Dùng ngón áp út tay trái ấn vào lỗ mũi trái, hít khí vào từ lỗ mũi phải. 
4. Lúc hít khí vào, quán tưởng ánh sáng của chư Phật Bồ Tát ở khắp nơi trong hư không, nên giống như ta đang hít ánh sáng vào trong người.
5. Khi đã hít đủ khí vào từ lỗ mũi phải, lại dùng ngón áp út tay phải ấn vào lỗ mũi phải.
6. Quán tưởng ánh sáng đi theo mạch phải xuống dưới, đến vị trí dưới rốn bốn lóng tay thì chuyển sang mạch trái đi lên cho đến tận lỗ mũi trái. 
7. Từ lỗ mũi trái thở khí ra. Lúc này quán tưởng tất cả mọi nghiệp chướng, bệnh tật, ma chướng, vô minh trong người hành giả đều hóa thành khí đen thoát ra từ lỗ mũi trái. (Như vậy là ba tiết.) Làm 3 lần.
8. Tiếp theo, dùng ngón áp út tay phải ấn vào lỗ mũi phải. Hít ánh sáng màu trắng vào từ lỗ mũi trái, rồi lại chuyển qua mạch phải, từ lỗ mũi phải lại thở khí đen ra ngoài. Cách làm giống như ba tiết trước, chỉ khác là đổi lại lỗ mũi trái phải khác nhau mà thôi. (Cũng làm như vậy ba tiết, ba lần.)
9. Cuối cùng:
Hai lỗ mũi cùng hít khí ánh sáng đi vào theo hai mạch trái phải, đến dưới rốn thì hợp lại thành một luồng khí đi vào trung mạch, đi lên đến đỉnh đầu, nhưng đỉnh đầu thì không có lỗ thoát khí nên khí lại quay trở lại trung mạch mà đi xuống, đến vị trí dưới rốn thì khí chia ra theo hai đường mạch trái phải mà thoát ra theo hai lỗ mũi thành khí đen.
(Làm ba tiết, ba lần.)
Như vậy tổng cộng là chín tiết. Đây chính là Cửu tiết Phật phong, hoặc Cửu tiếp Phật phong.
10. Trì chú: Ôm ben-za sat-tô a hùm pây. (108 biến hoặc nhiều hơn.)
11. Nhập Tam ma địa.
12. Xuất định.
13. Hồi hướng:
Nguyện công đức này mau thành tựu
Thanh tịnh nghiệp chướng của con đây
Tam nghiệp chuyển hóa thành tam mật
Lục đạo hữu tình giải thoát ngay.
14. Đại lễ bái.
15. Rời khỏi đàn thành.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) nói như sau:
Pháp Cửu tiết Phật phong này là một pháp rất lành, chẳng gây tai họa gì. 
Quán tưởng ánh sáng như hư không. 
Vì Như Lai ở khắp nơi nên vừa hít vào, tự thân hành giả đã thành tựu "lục đại vô ngại", "không-hữu dung hòa", "Phật-Ta hợp nhất". 
Tẩy sạch tội chướng.
Tinh thần thống nhất.
Khi tu pháp này cần phối hợp ngón tay với việc hít thở, do đó rất dễ để đạt tới sự tập trung, là phương pháp tốt nhất để luyện tập sự tập trung chuyên nhất.
Hít vào khí trắng, thở ra khí đen. 
Một thời gian sau, thân thể nhẹ nhàng, khí lực, tinh thần sảng khoái. 
Nếu luyện tập lâu, có thể chỉ cần dùng mũi để điều khiển việc hít thở từ lỗ mũi trái, lỗ mũi phải, không cần phải dùng tay nữa, thì lại càng tiện.


### 23. Văn Thù Bồ Tát và Xá Lợi Phất


Theo như ghi chép trong "Phật Thuyết Văn Thù Sư Lợi Hiện Bảo Tạng Kinh":
Xá Lợi Phất và Văn Thù Bồ Tát cùng du hành tới cõi Phật ở phương Nam. Hai người bay qua vài trăm nghìn koti [một con số trong hệ thống số học của Ấn Độ cổ đại, là con số lớn nhất] từ cõi tịnh thổ của họ đến Phật thổ trang nghiêm của Đức Phật Thế Giới Bảo Trụ Như Lai. 

Văn Thù Bồ Tát hỏi:
"Xá Lợi Phất tôn giả, ngài thấy những sát thổ mà chúng ta bay qua thế nào?"
Xá Lợi Phất đáp:
"Có nơi đầy lửa, có nơi đầy nước, có nơi là không huyễn, có nơi thì phì nhiêu, có nơi thì nghèo khó, có nơi vừa mới hình thành, có nơi thì đã thành tro tàn, có nơi có ác thú, có nơi có thiện quang…"
Văn Thù Bồ Tát hỏi:
"Xá Lợi Phất tôn giả, ngài có suy nghĩ gì?"
Xá Lợi Phất đáp:
"Nơi đầy lửa thì là đầy lửa, nơi đầy nước thì là đầy nước... Lẽ nào còn có cách nghĩ khác sao?"
Văn Thù Bồ Tát nói:
"Những sát thổ này đều là các cõi hư không cả."
Lửa.
Nước.
Giàu. 
Nghèo.
Thành.
Hoại. 
Ác.
Hỷ. 
Đều không phải là thật. 
Những cái này đều là ngoại duyên tạm thời, do nhân duyên mà sinh ra.
Xá Lợi Phất!
Tự nhiên có thể chứng minh!

Mỗi một hành giả chỉ là tạm thời bị vô minh phiền não làm ô nhiễm tâm. Còn tự tính (Phật tính) như hư không, vĩnh viễn tồn tại, không bị ô nhiễm. 
Xá Lợi Phất! 
Dù sát thổ biến hóa như thế, nhưng hư không thì chẳng hề bị ảnh hưởng mà thay đổi theo.
Hơn nữa:
Phật tính cũng thế.
Không bị ô nhiễm.
Cho nên:
Tôi (Văn Thù Bồ Tát) không bị ô nhiễm.
Tôi có thể an trụ trong tự tính thanh tịnh hoàn toàn.
Xá Lợi Phất nghe xong, ngộ ra được rất nhiều.

🌟

Lư Sư Tôn nói:
Những gì Văn Thù Bồ Tát nói chính là khẩu quyết không gì sánh bằng. 
Ô nhiễm chỉ là biểu hiện bên ngoài.
Phật tính vĩnh viễn không bị ô nhiễm.
Tôi từng lấy việc xem phim để so sánh. 
Tôi đi xem phim, trong phim có rất nhiều tình tiết, ân oán tình thù, biến hóa rắc rối lôi thôi. Tham sân si (tài, sắc, danh, ăn, ngủ).
Phim kết thúc!
Tôi vẫn là tôi. 
Ân oán tình thù chẳng có liên quan gì đến tôi. Tham sân si cũng chẳng có liên quan. 
Tôi dùng sự không liên quan để chứng minh tất cả.
Ngày nay, chúng ta học Phật, học Mật pháp, tu Cửu tiết Phật phong có bốn mục đích:
1. Chuyên nhất.
2. Dung hòa.
3. Thanh tịnh.
4. Tự tính. (tính Không, Phật tính)
Tôi đã nói khẩu quyết này, chân chỉ này rồi, mọi người nên ngộ ra.


### 24. Kim cang tụng


Lư Sư Tôn nói:
Kim cang tụng nếu phân ra một cách kĩ càng thì có:
Thượng tỵ khí kim cang tụng.
Hạ môn khí kim cang tụng.
Thượng hạ khí hòa hợp kim cang tụng.
Thượng hạ khí bộ xu kim cang tụng.
Biến hành khí kim cang tụng.
Hành khí kim cang tụng.
Khẩu quyết là:
1. Nhập.
2. Trụ.
3. Xuất.

Công đức của thực hành Kim cang tụng là:
1. Thông mạch.
2. Mở ra các nút mạch bị thắt trong mạch.
3. Mở ra nút mạch bị thắt ở tâm luân.
4. Khi tuổi thọ đã gần hết, có thể tiếp tục kéo dài tuổi thọ.
5. Thân nhẹ như chim yến.
(Ngày xưa, Milarepa tôn giả tu pháp Kim cang tụng, khi đi lại trong núi, người bình thường cần đi cả quãng đường dài suốt 21 ngày, còn Milarepa tôn giả thì chỉ cần 3 ngày.)
Chú tự:  
Om.


![image](/img/img_e2514d20db7840e4478d7898aeb247fd.png)


Ah.


![image](/img/img_4b5c4c0efd97050acc2ae12ed6a22d58.png)


Hum.


![image](/img/img_c522061019d6f4f715a60516adf83ae8.png)


Tu pháp (ví dụ để thị phạm):
Người tu theo thượng tỵ khí kim cang tụng thì trước tiên quán tưởng mình thành Kim Cang Tát Đỏa song thân, ba mạch năm luân xa đầy đủ. Tâm ở giữa mạch luân (hoa sen tám cánh). Có minh điểm trắng đỏ (giống như hạt đậu), trên dưới cùng úp lại, ở giữa có một nguyệt luân nhỏ. Ở giữa nguyệt luân có chữ "Hum" màu xanh lam (trong suốt). Khi khí đi vào thì chữ "Om" đi vào theo. Khi khí trụ ở trong thì chữ "Ah" ở tại đó. Khi khí đi ra thì chữ "Hum" đi ra. 

Khẩu quyết cần chú ý:
Khi khí đi vào, từ nơi cao nhất ở luân xa đỉnh đầu, rồi đi xuống luân xa họng, luân xa tim, luân xa dưới rốn, luân xa sinh thực. Sau đó lại quay trở lại luân xa tim và dừng ở đó. Khi khí trụ lại ở luân xa tim thì giữ thời gian càng lâu càng tốt. 
Khí đi vào dài.
Khí đi ra ngắn.
Khí đi vào mỏng, chậm, dài.
Khí đi ra mỏng, chậm, ngắn.
Khi khí trụ lại bên trong, quán tưởng chú tự phóng ra khí màu trắng, bên ngoài có đủ ánh sáng ngũ sắc, đặc như khói thuốc.
(Ngày xưa, Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16 nói, hãy xem việc duy trì "ánh sáng trong tâm" làm điều cốt yếu. Đây chính là ánh sáng trong tâm.)

🌟

Bởi vì pháp Kim cang tụng dựa vào phương tiện là giữ khí. 
Khí vào trung mạch.
Khí có thể thắp lên chuyết hỏa.
Dẫn đến toàn bộ thân thể sinh ra đại lạc.
Rồi do đại lạc này mà sinh ra ánh sáng. 
Quán chân Không.
Từ đó tu đạt đến Không - Lạc hòa hợp.
Đây là những tâm yếu khẩu quyết từ chính bản thân tôi tu tập pháp Kim cang tụng mà có được. Tối quan trọng! Tối quan trọng!


### 25. Bảo bình khí


Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói:
"Tất cả công đức đến từ pháp tu Bảo bình khí."
Lư Sư Tôn nói:
"Tất cả công đức như Liên Sư đã nói đến từ việc trụ khí trong pháp tu Bảo bình khí."

🌟

Bảo bình khí là gì?
Thượng hành khí ép xuống.
Hạ hành khí đi lên.
Giống như cái bình được đậy kín, khí được cất giữ ở bên trong, giống như một chiếc bình quý. Do vậy mới gọi là Bảo bình khí.

🌟


Công đức của pháp tu Bảo bình khí ra sao?
1. Khí vào trung mạch.
2. Trung mạch thông suốt.
3. Khi khí trụ, hơi thở dừng lại, vọng niệm không khởi lên. 
4. Chuyết hỏa sinh ra.
5. Đại lạc sinh ra.
6. Ánh sáng sinh ra.
7. Tính Không xuất hiện.

🌟
	
Khẩu quyết tu pháp Bảo bình khí:
1. Hít.
2. Đầy.
3. Tiêu.
4. Xạ.

🌟 


Những điều cần chú ý khi tu pháp Bảo bình khí:
Phụ nữ thông thường tu Bảo bình khí ở khu vực xung quanh tim.
Đàn ông thông thường tu Bảo bình khí ở khu vực dưới rốn.
Bởi vì nếu phụ nữ tu Bảo bình khí ở khu vực dưới rốn thì do việc giữ khí lại ở đây sẽ dẫn đến kinh nguyệt bị bất thường hoặc băng huyết.
Khi tu Bảo bình khí, tôi chủ trương dùng khí nhẹ nhàng, nói cách khác là khi hít vào, giữ đầy ắp, để khí tan dần, và xạ khí ra đều làm một cách nhẹ nhàng. Đừng tu khí mạnh và đột ngột (nhịp điệu hít thở), nếu không lợi ít hại nhiều.
(Ngày xưa, có Thượng sư Liên Huyên dạy người ta tu nhịp điệu hít thở mạnh và đột ngột, kết quả là chính mình đã chết yểu.)

🌟

Khẩu quyết hít thở:
Trong hư không, ánh sáng như cầu vồng, theo cách mảnh, chậm, dài mà hít toàn bộ khí vào, khí đi xuống đến vị trí dưới rốn bốn lóng tay. 
Sau đó do nâng hậu môn, tiếp nhận hạ hành khí đi lên, gặp nhau ở vị trí dưới rốn bốn lóng tay. 
Thượng khí ép xuống.
Hạ khí nâng lên.
Cùng úp lại tạo thành bảo bình.

🌟 


Khẩu quyết làm đầy khí:
Khí được giữ bên trong bảo bình. 
Nuốt một miếng nước bọt để giống như nén xuống. 
Giữ khí khoảng 36 lần búng ngón tay, rồi từ từ tăng dần lên cho tới 72 lần búng ngón tay, rồi lại tăng lên cho đến khi được 108 lần búng ngón tay. 
(Khoảng thời gian này nên căn cứ theo khả năng của bản thân, đừng miễn cưỡng, khi đã tốt rồi thì tự mình đánh giá để điều chỉnh cho phù hợp.)
Khi khí trụ, khí của mạch trái mạch phải sẽ nhanh chóng đi thẳng vào trung mạch. Thuận theo tự nhiên, quán tưởng với mục đích là khí nhập vào trung mạch.

🌟


Khẩu quyết tiêu khí:
Khí đi vào trung mạch, đến khu vực tim sẽ tan dần, đây là khí trí huệ. 
Khí vào trung mạch, đến năm luân xa, đến các mạch, lỗ chân lông của toàn thân. 

🌟


Khẩu quyết xạ khí ra:
Khi không thể giữ khí thêm được nữa, quán tưởng khí màu xanh lam phóng thẳng lên đỉnh (mở đỉnh đầu ra).
Phần khí còn lại theo mũi thở ra. 

Chú ý: 
Khí xung lên đỉnh đầu chỉ có thể ở tại vị trí cao nhất để xạ khí ra, vị trí khác không được, nếu không sẽ sinh bệnh, chết yểu.


### 26. Cảm nhận khi tu Bảo bình khí


Ở đây tôi sẽ nói rõ cảm nhận chân thực có được khi tu pháp Bảo bình khí. Việc này là sau khi tôi đã tương ứng với pháp Bổn tôn. 
(Cảm nhận này là do chính Lư Sư Tôn tự mình thể nghiệm.)

🌟

Cảm nhận khi hít vào:
Tôi phát hiện ra trong hư không có vô số đại Bồ Tát và đại Kim Cang Thần, còn có rất nhiều Hộ Pháp nữa. Ngoài ra có Đại Phạm Thiên Vương, Đế Thích Thiên Vương, Dạ Xoa Vương, Can Đạt Bà Vương, v.v…
Và tất nhiên là các vị sẽ theo luồng khí hít vào này, từng vị nối nhau như chuỗi hạt ngọc đi vào trong thân tôi. Hơn nữa xung quanh còn có:
Các vị thiên thần thuộc về thân.
Các vị thiên thần thuộc về chân. 
Các vị thiên thần thuộc về đất.
Bao gồm cả Thành Hoàng, Cảnh Chủ, Sơn Thần, Thủy Thần, Hồ Thần, Thụ Thận, Thổ Địa, v.v… đều xếp vòng tròn xung quanh. 

Cảm nhận khi đầy khí:
Tôi thấy mình dường như ở trong một cung điện thất bảo, tôi ngồi xếp chân trên bảo tọa. Tất cả mọi thứ trang nghiêm đều ở trên người tôi. 
Tướng tốt trang nghiêm.
Thân sức trang nghiêm.
Y sức trang nghiêm.
Lúc này, mọi thứ đều thanh tịnh. 
Người, trời đều bất khả tư nghì.
Trên đỉnh đầu tôi xuất hiện hào quang, tỏa tia sáng thuần tịnh. 
Sau lưng có ánh sáng. 
Xung quanh có ánh sáng viên mãn. 
Trên vầng hào quang của tôi có đại bảo tản cái. [cái ô, lọng báu lớn]
Dưới chân tôi có hoa sen bảy màu. 
Trên trời có mưa hoa.
Trên trời có diệu âm.
Trên trời thả xuống những đám mây cúng dường.
Trên trời có cầu vồng.
Trên trời có pháp muội.
Tôi thành tựu vô lượng công đức.

Cảm nhận khi tiêu khí:
Đây là một cảm giác đặc thù của nội tại. 
Tâm ý thanh tịnh.
Trong sáng.
Thoát khỏi tất cả hoạn nạn.
Tất cả chướng ngại đều hoàn toàn không còn tồn tại nữa.
Thành tựu tất cả thiện căn Bồ Tát. 
Tín tâm đại tăng trưởng.
Bi tâm đại tăng trưởng.
Nhập vào thậm thâm ba la mật đa.
Tất cả mọi lỗ chân lông trên người tôi phóng ra hàng loạt tia sáng, trong tia sáng đều có một vị Hóa Phật.

Cảm nhận khi xạ khí:
Tôi đã có đủ trang nghiêm, diệu âm, diệu tướng, thần biến. 
Thuyết pháp không ngừng.
Phát tâm không mệt mỏi.
Nội dung thuyết pháp là:
Thiện căn.
Chính pháp.
Tu hành Bồ Tát ba la mật đa.
Thanh tịnh.
Hàng phục tứ ma.
Bình đẳng.
Bất nhị.
Vô tâm.

Đối với những cảm nhận này của tôi, Kim Cang Tát Đỏa nói: 
"Nói thẳng ra là trước nay chưa từng có!"


### 27. Khẩu quyết tu chuyết hỏa


Vị trí dưới rốn bốn lóng tay (cung sinh pháp) nhờ vào việc tu Bảo bình khí mà sinh ra chuyết hỏa. 
Tôi thuật lại khẩu quyết như sau:

1. Tư thế ngồi — lục táo ấn. [Ấn sáu tam giác. Hai chân bắt chéo, hai tay bắt chéo ôm lấy hai đầu gối.]


![image](/img/img_3643fb944cfaf826f998147f8004a261.png)


2. Hít - đầy - tiêu - xạ là khẩu quyết của Bảo bình khí, kì thực cũng là khẩu quyết chuyết hỏa. 

3. Bảo bình khí tu đến khi khí tương đối lớn thì chính là pháp chuyết hỏa.

4. Trên nguyên lý, vị trí dưới rốn bốn lóng tay vốn có một mầm lửa. 

5. Dùng phương pháp giống lò phun lửa luyện kim loại để sinh ra ánh sáng rực rỡ và ấm nóng.
Màu đỏ.
Sáng chói.
Nóng chảy. 

6. Phương pháp này như sau:
Chà: chà sát vị trí dưới rốn bốn lóng tay. 
Vặn: vặn người, làm cung sinh pháp hoạt động. [cảm giác xoay]
Bức: dùng tay ấn vào cung sinh pháp.
Thúc - dùng đai thiền để buộc phần eo. 

7. Dùng hết tất cả mọi pháp lực để khiến cho chuyết hỏa đi lên.

8. Ban đầu chuyết hỏa mỏng và nhọn (như một chiếc kim đồng đỏ). 

9. Chuyết hỏa đi lên xong thì giống như cây tùng.

10. Thứ tự chuyết hỏa đốt:
Đầu tiên, chuyết hỏa đốt vùng xung quanh rốn (10 hơi thở). 
Thứ hai, đốt vùng luân xa sinh thực (10 hơi thở).
Thứ ba, đốt tâm luân (10 hơi thở).
Thứ tư, đốt hầu luân (10 hơi thở).
Thứ năm, đốt mi tâm luân (10 hơi thở).
Thứ sáu, đốt toàn thân.
Thứ bảy, hai chân và mỗi bàn chân.
Thứ tám, lửa đến khắp toàn thân đốt mọi lỗ chân lông.

11. Chuyết hỏa đi tới đâu, tất cả chướng ngại bất tịnh đều bị đốt sạch sẽ, khôi phục lại tự tính thanh tịnh. 

12. Chuyết hỏa như điện quang phủ khắp toàn thân, cảm giác trên từng lỗ chân lông toàn cơ thể đều có lửa điện tỏa ra ngoài. 

13. Chuyết hỏa phóng ra ngoài đến tận:
Đỉnh thiên.
Đại địa.
Tất cả chúng sinh hữu tình.
Tam ác đạo.
Toàn bộ đều tràn đầy quang minh rực rỡ sáng chói.

14. Lư Sư Tôn tôi nói:
Khí của hư không gặp khí của ta
Toàn bộ hư không là mạch của ta
Toàn bộ hư không là chuyết hỏa
Toàn bộ hư không là minh điểm.
(Tôi hỏi Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, khi Milarepa tôn giả tu thành tựu chuyết hỏa đã dựa vào sức mạnh nào để phi hành trong hư không? Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói với tôi, Milarepa tôn giả dùng chuyết hỏa để đốt cháy sạch sẽ tất cả chướng ngại bất tịnh, thân như hư không, rồi lại được Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp, quyến thuộc… lần lượt từng người từng người một đi vào trong thân của Milarepa, nhờ có sức mạnh của Thượng sư, sức mạnh của Bổn tôn, sức mạnh của Hộ pháp, sức mạnh của Không hành quyến thuộc mà có thể bay trên không.)

15. Trong Phật điển có ghi chép: Khi A La Hán đạt thành tựu, thân trên xuất hỏa, thân dưới xuất thủy, hoặc thân trên xuất thủy, thân dưới xuất hỏa, là vì sao?
Tôi đáp:
Hỏa tức là chuyết hỏa.
Thủy tức là minh điểm.
Mật giáo dùng khí, mạch, minh điểm làm phương tiện tu trì, nhờ phương tiện này mà chứng "chân không diệu hữu".

16. Phương tiện là nhân, Phật huệ là quả. 
Nhất tâm bất loạn tu chuyết hỏa
Niềm tin vững chắc mà tinh tấn
Khẩu quyết của thầy nhớ tu theo
Đắc định quang minh đang ẩn giấu.

17. Tu chuyết hỏa có rất nhiều khẩu quyết, đệ tử mới tu học hoặc vẫn chưa biết, nên ở gần Sư Tôn, có được khẩu quyết của Sư Tôn mới có thể tu như pháp, có một số người vẫn cần có kim cang quyền phụ trợ.


### 28. Khẩu quyết tu pháp minh điểm


1. Minh điểm là gì? Có rất nhiều cách giải thích, nhìn chung thì là:
Thể dịch.
Nước. 
Hormone.
Tinh hoa.
Bồ đề tâm nguyệt dịch.

2. Chuyết hỏa đốt cháy đến mi tâm luân, nơi đây có bồ đề tâm nguyệt dịch, là chữ "Khan" màu trắng. 

3. Minh điểm có bốn hình dạng:
Trắng trong suốt như thủy tinh.
Sáng như đèn.
Điểm to cỡ quả bóng bàn.
Minh điểm rơi xuống như thủy ngân.

4. Khi chuyết hỏa đốt cháy tới mi tâm luân, nói cách khác là đã đốt hết bồ đề tâm nguyệt dịch, thế là chữ "Khan" giống như thủy ngân rơi xuống thành giọt, minh điểm như dầu, lửa chuyết hỏa được thêm dầu.


![image](/img/img_5079448b32a84e87f7ac61a14335b56b.png)


5. Chuyết hỏa cộng thêm giọt minh điểm rơi xuống có thể mở thông các nút thắt trong các mạch và luân xa, có thể mở thông:
Mi tâm luân (sơ hỷ).
Hầu luân (thắng hỷ).
Tâm luân (siêu hỷ).
Tề luân (câu sinh hỷ).

6. Những cái "hỷ" này chính là cảm giác sướng, chúng ta gọi là đại lạc. Khí thông mạch cũng sẽ sản sinh ra đại lạc, chuyết hỏa thông mạch cũng sẽ sản sinh ra đại lạc, minh điểm hạ xuống lại càng sản sinh ra đại lạc, đây chính là tứ hỷ.

7. Đại lạc này là do sự ma sát. 
Khá giống với cảm giác sướng khi giao hợp, sướng tê tê.

8. Khi dùng khí và chuyết hỏa đẩy minh điểm hướng lên trên, đi qua tề luân, tâm luân, hầu luân, mi tâm luân, có thể gọi là tứ hỷ. Nhưng cũng có thể gọi là tứ Không.
Không.
Đại Không.
Thắng Không.
Tối thắng Không. (Bởi vì Không - Lạc không hai không khác.)

9. Lư Sư Tôn tôi nói thế này:
Theo như tôi thấy, chỉ cần khai mở mi tâm luân, hầu luân, tâm luân, tề luân, sinh thực luân, chắc chắn sẽ phát sinh thần thông.
Thần túc thông.
Thiên nhãn thông.
Thiên nhĩ thông.
Tha tâm thông.
Túc mệnh thông.
(Lậu tận thông là thần thông tối cao.) 
Ngũ nhãn lục thông đầy đủ.

10. Chuyết hỏa, minh điểm, khí, ba thứ hợp làm một đi đến toàn bộ các mạch trên thân, thậm chí tới từng lỗ chân lông.
Trong một sát-na, chỉ một sát-na, lập tức sản sinh ra ánh sáng quang minh chiếu rọi khắp nơi.

11. Trên đỉnh đầu có vòng hào quang.
Toàn thân và sau lưng có hào quang.
Duới chân có liên hoa quang.

12. Ở đây tôi bổ sung thêm về Lục táo ấn:
Ngoại lục táo ấn — hai cổ tay bắt chéo, hai chân bắt chéo, hai tay bắt chéo ôm lấy phần cẳng chân. 
Nội lục táo ấn — sinh pháp cung cũng có sáu hình tam giác. 
Khí lục táo ấn (dễ dẫn lửa).

13. Tu pháp chuyết hỏa, minh điểm, khẩu quyết đều nằm ở sự phối hợp lẫn nhau giữa khí, quán tưởng, ý niệm, kim cang quyền thì mới có thể tu thành tựu được. (Kim cang quyền là để phụ trợ.)


### 29. Đại thần biến bất khả tư nghì


Theo như tôi thấy: 
Khi ba mạch bảy luân xa, các mạnh toàn thân đều thông suốt thì sẽ sản sinh ra "đại thần biến". Đại thần biến rất khó có thể tưởng tượng được.
Ba mạch — mạch trái, mạch phải, trung mạch.
Bảy luân xa — đỉnh luân, mi tâm luân, hầu luân, tâm luân, tề luân, sinh thực luân, hải để luân.
Mạch toàn thân — 72 nghìn kinh mạch.

Đại thần biến như sau:
Có thể tận mắt nhìn thấy được hằng hà sa số các vì sao trong vũ trụ, không chỉ thấy được thế giới Ta Bà này mà còn biết được một cách rõ ràng chi tiết cả thiên giới không thể tưởng tượng được.
Có thể đến được các cõi tịnh độ như Ma Ha Song Liên Trì, Hoa Nghiêm, Tây Phương, Lưu Ly, Diệu Hỷ, Viên Thông, Thúy Vy, v.v… hằng hà sa số các cõi tịnh thổ đều có thể đến được, hơn nữa còn có thể đi lại tự do.
Có thể nghe được Bổn tôn thuyết pháp, thậm chí là tất cả chư Phật của thập phương tam thế thuyết pháp.
Có thể gặp quá khứ thất Phật, vị lai hiền kiếp thiên Phật, vô lượng chư Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật, Nhiên Đăng Phật, Di Lặc Phật. Có thể ngồi trên pháp tọa sư tử hiển hiện thân Phật.
Có thể xem tất cả mọi thứ của thế giới vật chất này là vô vật chất, đi qua đi lại thế giới này cũng chẳng mảy may tổn hại gì tới mình, ta cũng sẽ chẳng làm tổn hại đến mọi thứ.
Có thể đi vào trong núi.
Có thể đi vào trong biển.
Có thể đi vào trong hư không.
Có thể trút toàn bộ nước của bốn biển lớn vào trong một lỗ chân lông trên thân mình.
Có thể biến một ngọn núi lớn thành một hạt cải. Có thể biến một hạt cải thành một ngọn núi lớn.
Có thể đưa tay ra một cái là nắm được toàn bộ lục đạo chúng sinh trong lòng bàn tay, hơn nữa vẫn chẳng làm tổn hại ảnh hưởng gì đến sinh hoạt của chúng sinh. (Mà chúng sinh vẫn chẳng hay biết.)
Có thể di chuyển:
Mặt trời.
Mặt trăng.
Sao.
Có thể dùng ánh sáng của chính mình để che ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, các vì sao.
Có thể biến Ma Vương Ba Tuần thành Phật.
Có thể biến Phật thành Ma Vương Ba Tuần.
Có thể hiểu được thắng nghĩa đế.
Có thể đem toàn bộ ba nghìn đại thiên thế giới vào trong một hạt gạo.
Có thể đem một hạt gạo phóng vào không gian vũ trụ.
Những huyễn biến này được gọi là: vạn pháp huyễn biến Tam ma địa.

🌟

Theo như tôi thấy, người tôi bất động, người tôi vẫn ở tại Nam Sơn Nhã Xá, nhưng tôi lại đã đến Ma Ha Song Liên Trì, tất cả mọi cảnh tượng, nhân vật, từng thứ một đều vô cùng chân thực.
Thiên nhãn thông.
Thiên nhĩ thông.
Túc mệnh thông.
Tha tâm thông.
Thần túc thông.
Những cái này đều chỉ là thần thông nhỏ thôi.

Từ nay tôi đã hiểu được thắng nghĩa đế:
Tất cả mọi pháp đều là pháp giới tự tính.
Không bẩn không sạch.
Không trói không cởi.
Không sinh không diệt.
Không đến không đi.
Không một không khác.
Không được không mất.
Vô sở đắc.
Vô sở vị.
Vô sở trụ.
(Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng.)


### 30. Như huyễn Tam ma địa


Tôi dùng pháp Chú kính để tu như huyễn Tam ma địa.
Hành giả ngồi trước một bức tường. 
Trên tường có treo một tấm gương lớn. 
Phía trên tấm gương treo pháp tướng của Bổn tôn. 
Lúc này:
Bên ngoài tấm gương có bản thân hành giả.
Bên trong tấm gương có hình tướng của hành giả.
Bên trên tấm gương có Bổn tôn.
Cách tu luyện là:
Hành giả quán tưởng mình biến thành Bổn tôn, quán tưởng cực kì tỉ mỉ từ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, lần lượt quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn.
Lúc này:
Phía trên tấm gương có Bổn tôn.
Bên trong tấm gương có Bổn tôn.
Bên ngoài tấm gương có Bổn tôn. 
Ba Bổn tôn hợp nhất mà tiến nhập vào Tam ma địa, tức là nhập sâu vào suy tư thiền định.
Ba vị hợp lại làm một. 
Sau đó nghĩ:
Ta chẳng phải có thật.
Ta trong gương cũng chẳng có thật.
Bổn tôn trên tấm gương cũng chẳng có thật.

Từ đó chứng minh được: 
Lục căn, lục thức, lục trần đều chẳng phải là thật, mà chỉ là nhân duyên huyễn hóa ra mà thôi. 
Từ đó chứng minh được mọi pháp tu đều là:
Huyễn. 
Mộng.
Tiếng vọng trong hang.
Sương.
Bọt bong bóng.
Ánh lửa.
Cầu vồng.
Đều chẳng phải là có thật. (đều vô tự tính)
Thân như huyễn.
Lời như huyễn.
Tâm như huyễn.
Thế nên liền rời xa "tám pháp thế gian". [Còn được gọi là bát phong - tám ngọn gió thế gian tác động đến nhân tâm.]
(Ngày xưa, Milarepa tôn giả nhập vào như huyễn Tam ma địa, rời xa tám pháp thế gian, đạt được thành tựu lậu tận. Ngài từng có đạo ca rời bỏ tám pháp thế gian.)
Tám pháp thế gian này tức là:
Có. (tiền bạc, sắc đẹp, tên tuổi)
Không có. (cũng là tiền bạc, sắc đẹp, tên tuổi)
Dự. (danh dự)
Hủy. (phỉ báng)
Xưng. (tán dương)
Ky. (chỉ trích)
Khổ. (đau khổ)
Lạc. (vui vẻ)
Chỉ cần là một hành giả dám rời bỏ tám pháp thế gian thì đã là một người có đạo tâm vững chắc rồi. Không chỉ đạo tâm vững chắc mà còn có thể từ bỏ hết sạch toàn bộ sự bám chấp vào cái tôi, bám chấp vào pháp.
Khi lên tòa tu pháp hay xuống tòa đều cần quán tưởng như vậy. 
Rằng ta như hư huyễn.
Ta như trăng trong nước.
Như sắc, như ảnh.
Như mơ, như mây, như cầu vồng. Như điện, như quang. Như người trong gương. v.v...

Nếu như thành tựu được pháp như huyễn Tam ma địa thì cũng giống như bậc Kim Cang, rời xa khỏi mọi thứ hoại diệt rồi. Tự tính thanh tịnh, không hai không khác, tịnh trừ vô minh và tất cả những mê lầm bám chấp, chứng được báo thân.


### 31. Khẩu quyết tu mộng quán


Tôi thích nhất bài "Mộng thơ" của Vương An Thạch:
*Biết đời như mộng vô sở cầu,
Vô sở cầu lòng tĩnh lặng không.
Vẫn tưởng trong mơ tùy mộng cảnh, 
Thành tựu công đức tựa hà sa.*

Tôi cho rằng thế giới Ta Bà này là một giấc mộng trăm năm. Chúng ta có thể bắt đầu từ việc sinh tử mà nghĩ thử xem:
Sinh ra.
Đi học.
Đi làm.
Kết hôn.
Sinh con.
Già đi.
Sinh bệnh.
Chết.
Thậm chí dù có luân hồi niết bàn thì tất cả các pháp cũng đều chẳng phải là ý nghĩa thật sự. Chúng ta tỉ mỉ quan sát tới mức độ cực kì nhỏ để mong tìm ra được mục đích của nó, nhưng đều chẳng thể tìm được. Tất cả, tất cả đều như mộng huyễn, không thể nắm giữ.
(Tu mộng có thể chứng tính Không.)

🌟
	
Hành giả tu mộng trước tiên cần thanh tịnh nghiệp chướng của bản thân, nếu nghiệp chướng không được thanh tịnh thì sẽ phát sinh chướng ngại.
Hành giả tu mộng cần sám hối những giới mình đã phạm hoặc nếu có phạm giới nguyện samaya, bởi vì nếu không sám hối tội lỗi sẽ phát sinh chướng ngại.
Hành giả tu mộng cần phải có tín tâm lớn nhất và cung kính nhất đối với Căn bản Thượng sư và Mật pháp, bởi vì nếu không có tâm cung kính, sẽ không thể tu thành tựu.
Hành giả tu mộng nhất định cần phải làm kết giới:
Nơi nào bất tịnh, cần kết giới.
Đồ đạc ô uế, cần kết giới.
Quần áo đồ ăn không sạch, cần kết giới.
Bạn bè bất lương, cần kết giới.
Đánh mất tâm bồ đề, cần kết giới.
Hoàn cảnh bất tịnh, cần kết giới.
Người đến người đi, cần kết giới. 
Người tu mộng quán cần phải tu chuyết hỏa, dùng chuyết hỏa để đốt cháy phiền não và vọng niệm của bản thân. (Đây là khẩu quyết.)

Cách thức tu pháp của tôi như sau:
Thời gian: Tu trước khi ngủ, hoặc nửa đêm tỉnh dậy tu.
1. Quán tưởng Căn bản Thượng sư trụ tại luân xa họng của mình. 
2. Cầu nguyện Thượng sư gia trì để có thể tu trì trong mộng, có được thiện nghiệp trong mộng.
3. Tiếp theo, quán tưởng ở luân xa họng xuất hiện hoa sen bốn cánh, ở giữa hoa sen có chữ "Om" màu đỏ.
4. Hoặc quán tưởng trong hoa sen bốn cánh có chú tự: 
Ở giữa — Chữ “Om”. Màu trắng.


![image](/img/img_b7feee29770cd28ca70c1e076cafc6f0.png)


Cánh phía trước — Chữ “Ah”. Màu lam.


![image](/img/img_83b4a9746874583bbfc10debfdd6c1c8.png)


Cánh bên phải — Chữ “Nu”. Màu vàng.


![image](/img/img_06c8d1f7c3b9e015670317f804708b21.png)


Cánh phía sau — Chữ “Ta”. Màu đỏ.


![image](/img/img_0afe6fd8dd0ec31ffc48b4fdc6f9ec0a.png)


Cánh bên trái --- Chữ “Ra”. Màu lục.


![image](/img/img_bc647b3b3bdd998646c122a1dc604c50.png)


[Các chủng tự để quán tưởng ở đây có chữ “Nu” là khác biệt với chữ “Nu” trong chữ Tạng, mà trong Tạng mật vẫn dùng. Ở đây chúng ta không dùng chữ Tạng gốc mà sẽ dùng bản của Sư Tôn để quán tưởng. Vui lòng tham khảo ở dưới.]
Chữ Tạng gốc: ཨོཾ་ཨ་ནུ་ཏ་ར་། (Om Ah Nu Ta Ra)


![image](/img/img_dcbabf20023737a6d073016fb351e812.png)


5. Tu Kim cang tụng phần nhập, trụ, xuất, chuyên niệm chữ "Om" cũng được.
6. Tu trì sự tập trung.
7. Khí đi vào trung mạch.
8. Khẩu quyết:
Trước tiên cần phải hiểu về giấc mộng, ban ngày là mộng, ban đêm cũng là mộng. Tâm trong sáng thì mộng sáng, chuyển hóa ác mộng thành thiện mộng. Hoặc trong mộng có thể tu trì Phật pháp. 
Kết quả cuối cùng của việc này là có thể kiểm soát giấc mộng, trong mộng cũng có thể hành trì Phật pháp.


### 32. Cực tịnh quang độc diệu


Một ngày nọ.
Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn một mình yên tịnh ở tại Nam Sơn Nhã Xá, ngồi trên pháp tọa. Kì thực là ngài đang thiền định Tam ma địa, nhập định vào trong vô tâm tam muội. 
Lúc này, thân tôi bất ngờ biến mất.
Và thế là:
Cực tịnh quang độc diệu, quang trùng đẩu ngưu. 
[Nghĩa nôm na là, duy nhất ánh sáng tịnh quang rực rỡ, lấn át cả sao Đẩu sao Ngưu.]

Ánh sáng trắng cực thanh tịnh này khiến cho vô lượng sát thổ của thập phương đều xuất hiện sáu cơn chấn động lớn. Hơn nữa, cực tịnh bạch quang còn phát ra ánh sáng mềm mại vi diệu thanh sạch phủ rộng khắp thập pháp giới. Điều này làm kinh động tới thiên nhân của cõi trời Sắc Cứu Cánh Thiên. 
Lúc này, Phật Đà đang ở tại Sắc Cứu Cánh Thiên thuyết pháp. 
Thiên tử của chư Thiên hỏi Phật Đà:
"Những tia sáng rực rỡ mềm mại vi diệu này từ đâu mà tới?"
Phật Đà trầm mặc không đáp.
Chư thiên tử lại hỏi Phật ba lần. Phật Đà mới nói:
"Cực tịnh quang này đến từ thế giới Ta Bà."
Chư thiên tử hỏi:
"Thế giới Ta Bà là ngũ trọc ác thế, bị phiền não của chúng sinh khắp nơi làm ô nhiễm nặng. Căn cơ u tối ngu muội, chẳng biết xấu, chẳng biết thẹn, cũng chẳng có tín tâm cung kính, nghiệp lực khó thoát. Cực tịnh quang này làm sao có thể đến từ thế giới Ta Bà được?"
Phật Đà nói:
"Tại thế giới Ta Bà, có một vị Bồ Tát, tên là Liên Hoa Đồng Tử. Ngài đang hoằng dương pháp của ta."
Chư thiên tử hỏi:
"Ngài ấy có lai lịch thế nào?"
Phật Đà nói:
"Liên Hoa Đồng Tử này từ sinh ra từ Tỳ Lô Giá Na Phật và Phật Nhãn Phật Mẫu. Vốn sống tại Tây phương tịnh thổ của A Di Đà Phật."
Chư thiên tử hỏi:
"Bao nhiêu Như Lai sinh ra vẫn chẳng sánh bằng cực tịnh quang này, vì sao duy nhất Liên Hoa Đồng Tử có?"
Phật Đà nói:
"Liên Hoa Đồng Tử mỗi 500 năm xuất hiện một lần. Khi ta còn ở thế giới Ta Bà thuyết pháp, Liên Hoa Đồng Tử chính là tôn giả Xá Lợi Phất."
Chư thiên tử vô cùng kinh ngạc, thốt lên những tiếng trầm trồ.
Phật Đà nói:
"Tôn giả Xá Lợi Phất có thần lực uy mãnh, có sức mạnh đại trí huệ, có sức mạnh tinh tấn. Ngài là đệ tử số một của ta. Ta thọ ký Phật hiệu cho ngài là Hoa Quang Phật."
Chư thiên tử vỗ tay.
Phật Đà nói:
"Ngài ấy ở thế giới Ta Bà thuyết pháp, Đại Phạm Thiên Vương, Đế Thích Thiên thường đến đó nghe ngài thuyết pháp, còn có rất nhiều Bồ Tát, Thanh Văn cũng đi nghe ngài ấy thuyết pháp."
Phật Đà còn nói:
"Ngài ấy tinh thông Tiểu thừa, Đại thừa, Mật thừa, tinh thông Phật lý, hơn nữa còn thành tựu vô số Tam ma địa, có thừa Phật pháp vô ngại, chứng đắc đà-la-ni, có công đức bất khả tư nghì. Vì muốn tất cả chúng sinh hữu tình đều đạt thành tựu nên ngài thuyết pháp không ngừng."
Phật Đà còn nói:
"Ngài ấy phóng ra cực tịnh quang là để chiếu soi tất cả chúng sinh hữu tình được kết duyên cùng Liên Hoa Đồng Tử, do vậy mà mới phóng cực tịnh quang."
Chư thiên tử nói:
"Chúng tôi cũng đi hộ trì, liệu có thể được không?"
Phật Đà nói:
"Đã có rất nhiều đại Bồ Tát, đại Thanh Văn đủ đức đủ duyên đến hỗ trợ ngài ấy. Còn có rất nhiều thiện tín với nhân duyên nhiều kiếp đi theo ngài ấy, lại có vô số người có thiện căn đến nghe pháp, sự xuất hiện của Liên Hoa Đồng Tử chẳng hề bình thường."
Phật Đà nói:
"Đi hộ trì thôi!"
Thế là, tôi (Lư Sư Tôn) đã có được sự ủng hộ của thiên chúng!


### 33. Tịnh quang sinh ra như thế nào


Lư Sư Tôn nói:
Tu hành pháp chuyết hỏa, chuyết hỏa là một loại ánh sáng, khi tập trung nhiệt lại thì tự nhiên sẽ thành một dạng ánh sáng.
Tu hành pháp minh điểm, trong lúc mở năm luân xa, ví dụ, trong tâm luân có căn bản tịnh quang tự nhiên rực sáng.
Tu hành pháp miên quang là quán tưởng ánh sáng minh điểm trong năm luân xa mà ngủ, ngủ trong ánh sáng.
Ví dụ:
Tâm luân — minh điểm màu lam.
Hầu luân — minh điểm màu lam.
Mi tâm luân — minh điểm màu đỏ.
Mật luân — minh điểm màu đen.
…
Do ngủ trong ánh sáng nên sẽ không bị tỉnh dậy đột ngột lúc nửa đêm.
Sẽ không mê loạn.
Sẽ không đãng trí.
Sẽ không mất ngủ.
Sẽ không mệt mỏi.
Sẽ không gặp ác mộng.
(Khẩu quyết quan trọng nhất của pháp Miên quang là quán tưởng chú tự trong luân xa phóng ra ánh sáng tịnh quang, rồi ngủ trong ánh sáng tịnh quang đặc biệt đó.)

Trong pháp Miên quang:
Hành giả có thể biến hóa chính mình thành Bổn tôn.
Hành giả biến hóa chính mình ở trong cung điện của Bổn tôn.
Hành giả có thể biến hóa chính mình thành vô số Bổn tôn, cũng có thể thu nạp lại thành một.
Trong mộng hành giả có thể đến được bất kì cõi tịnh thổ nào.
Hành giả trong mộng có thể hóa thành tất cả mọi chúng sinh hữu tình, trở thành quyến thuộc của chính mình.
Hành giả trong mộng có thể tiến nhập Tam ma địa.
Tất cả những điều này đều nằm trong quang minh. Nói cách khác là công cụ tại thế giới này hóa quang thì tất cả chúng sinh hữu tình đều hóa quang, Bổn tôn hóa quang, lần lượt hóa quang, trụ trong quang minh. 

🌟

Lư Sư Tôn nói:
Căn bản tịnh quang: 
Đều là quang minh chân thực, đây là ánh sáng của pháp nhĩ bản nhiên (cực kì quan trọng).
Từ trong Miên quang pháp mà sinh ra.
Từ trong tro tàn mà sinh ra.

Căn bản đạo quang:
Đây chính là khi đã thông đạt mọi pháp, thì ánh sáng sinh ra là pháp nhĩ không phân biệt, còn gọi là ánh sáng tính Không.
Ban ngày tu pháp cũng sinh ra.
Ban đêm khi ngủ cũng sinh ra.
Khi chết cũng sinh ra.
(Khẩu quyết: tại cảnh giới Tứ Không mà xuất hiện ra.)

Căn bản quả quang:
Tự mình chứng ánh sáng cùng hòa tan vào nhau. 

Tôi nói khẩu quyết như sau:
Quán tưởng chính mình biến hóa thành Bổn tôn. Trong tâm của Bổn tôn xuất hiện hoa sen bốn cánh, mỗi cánh đều có chú tự phóng quang. 
Chính giữa hoa sen là chữ “Hum” phóng ánh sáng lam.
Cánh phía trước là chữ “Ah” phóng ánh sáng trắng. 
Cánh bên phải là chữ “Nu” phóng ánh sáng màu vàng.
Cánh phía sau là chữ “Ta” phóng ánh sáng màu đỏ.
Cánh bên trái là chữ “Ra” phóng ánh sáng màu lục.
(Thông đạt Tứ Không.)

Do năm chú tự này phóng quang mà phân biệt ra:
Pháp giới thể tính quang (Hum).
Đại viên kính trí quang (Ah).
Bình đẳng tính khí quang (Nu).
Diệu quan sát trí quang (Ta).
Thành sở tác trí quang (Ra).

Lư Sư Tôn nói như sau:
Trong pháp tịnh quang có rất nhiều khẩu quyết. Tôi liệt kê những khẩu quyết quan trọng nhất ra đây, còn chi tiết thì phải dạy trực tiếp bằng lời mới được.


### 34. Khẩu quyết về trung ấm


Lư Sư Tôn nói:
Trung ấm chính là trung hữu, tục gọi là "linh hồn". 
Mặc dù bản thân tôi hiện tại chưa chết, nhưng tôi thường luyện tập pháp Trung ấm thiên thức. Bởi vì mỗi con người đều sẽ phải chết. Do vậy luyện tập cho việc chết là vô cùng quan trọng.

Đầu tiên:
Vào lúc chết, trong sát-na đầu tiên mà có thể biết cách giữ quang minh thì có thể thành tựu pháp thân ánh sáng. 
Nếu không biết cách giữ quang minh thì dựa vào sức mạnh do chính mình đã tu Thứ tự sinh khởi mà có thể sinh ra thân "như huyễn Bổn tôn", đây chính là báo thân ánh sáng.
Nếu không thể chứng đắc pháp thân ánh sáng, cũng không thể chứng đắc được báo thân ánh sáng thì chỉ có vào lúc lựa chọn nơi để đầu thai cuối cùng mà tu huyễn hóa thân, đây chính là ứng thân ánh sáng. 
(Pháp thân, báo thân, ứng thân, ba thân này tách biệt.)

🌟

Tám biểu hiện khi sắp chết là:
1. Địa nhập thủy — thân không thể cử động, không thể gượng dậy, cảm giác cơ thể bị tách rời đứt gẫy mạnh mẽ.
2. Thủy nhập hỏa — mồ hôi, nước bọt đều khô cạn.
3. Hỏa nhập phong — thân thể lạnh dần, mất nhiệt.
4. Phong nhập thức — khi hít thở, khí mất nhiều, khí vào ít, hơi thở hoàn toàn ngừng lại.
5. Thức nhập hiện — trời trong không mây, xuất hiện nguyệt quang sáng vằng vặc.
6. Hiện nhập tăng — trời trong không mây, xuất hiện ánh sáng vàng, đỏ như mặt trời mọc.
7. Tăng nhập đắc — trời trong không mây, hoàng hôn bóng đêm.
8. Cảnh giới tan biến — bầu trời trong vắt lúc bình minh, không trăng, không mặt trời, không hoàng hôn, không bóng đêm. Ánh sáng xuất hiện. Lúc này chỉ có ánh sáng chân chính là điều quan trọng số một.

🌟

Tôi nói:
Người có thể chứng thân cầu vồng thì không phải trải qua trạng thái trung ấm.
Người có thể chứng Vô sắc giới thì cũng không phải trải qua trạng thái trung ấm.
Người vẫn còn ở trong Sắc giới và Dục giới thì chắc chắn phải trải qua trạng thái trung ấm.

🌟

Thân trung ấm có sáu biểu hiện:
1. Thân không còn chướng ngại, trong một sát-na là có thể đến được các nơi.
2. Thân trung ấm làm bất kì việc gì thì người bình thường cũng chẳng nhìn thấy hay biết được.
3. Người bình thường làm bất kì việc gì thì thân trung ấm đều có thể nhìn thấy được.
4. Không mặt trời, không mặt trăng, không vì sao.
5. Nhìn thấy quỷ thần đang tính toán thiện ác của thân trung ấm.
6. Thấy đồ ăn nhưng chỉ có thể ăn không khí mà thôi.

🌟

Hiện tượng thụ thai của thân trung ấm:
Nhìn thấy việc hành dâm của nam nữ.
Trong lòng khởi lên lòng ham thích.
Muốn chấm dứt sự buồn bực này.
Lập tức thụ thai. 
Hóa sinh, thấp sinh, thai sinh, noãn sinh, tam ác đạo sinh đều là như vậy cả.

🌟

Người sinh làm ác thú có ba kiểu:
Thân trung ấm nhìn thấy những thứ như rừng cây bụi cỏ trong hang động mà đi vào bên trong thì sẽ sinh vào đạo súc sinh.
Thân trung ấm nhìn thấy đêm mưa tối đen, có mái nhà che liền chạy vào trong để tránh mưa, thì sẽ sinh vào đạo ngạ quỷ.
Thân trung ấm nhìn thấy có nhà sắt mà trốn vào trong đó thì sẽ sinh vào đạo địa ngục.

🌟

Lư Sư Tôn nói: lúc ở trong thân trung ấm có rất nhiều hiện tượng xảy ra, cần hỏi thêm các đại thiện tri thức.


### 35. Kinh nghiệm trung ấm của tôi


Tôi (Lư Sư Tôn) trong khi luyện tập về cái chết đã dùng "pháp đốn" của Mã Cát Lạp Tôn (pháp xả thân). Tôi cũng sử dụng cả pháp "đại than thi". (Xin chú ý: tôi đã từng truyền pháp Mã Cát Lạp Tôn và Hắc Phẫn Nộ Mẫu.)
Pháp Mã Cát Lạp Tôn, Hắc Phẫn Nộ Không Hành Mẫu là pháp đem chính thân thể của hành giả cúng dường tứ Thánh lục phàm thập pháp giới. 

Cách tu pháp là:
Hắc Phẫn Nộ Không Hành Mẫu sinh ra từ chữ "Pây". 
Hành giả dựa vào chữ "Pây" này để hóa thành to lớn như núi Tu Di. 
Không Hành Mẫu màu đen chặt đứt đầu hành giả, thân thể hành giả cũng bị cắt thành nhiều phần.
Dùng xương chân tay để dựng thành một cái giá ba chân.
Bên trên treo một chiếc thiên linh cái. (kapala) [bát sọ người]
Đầu, tứ chi, thân thể của hành giả xếp vào trong thiên linh cái.
Bên dưới giá ba chân, dùng chữ "Ah" để nhóm lửa. 
Hành giả bị nấu chín cho tới khi tan thành canh, trở thành cam lộ. 
(Dùng chữ "Khan" màu trắng hóa thành cam lộ.)
Trên cúng tứ Thánh. (Phật, Bồ Tát, A La Hán, Duyên Giác.)
Dưới bố thí cho lục phàm. (Trời, người, atula, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.)

Nhờ vào việc cúng dường thân này quảng đại như vậy khiến cho:
Oan thân trái chủ.
Nợ mạng nợ tiền.
Nhân quả nghiệp báo.
Bệnh ma ác ma.
Tất cả đều chấp nhận đồ bố thí, sẽ không làm những việc khó dễ gây tổn hại đến ta nữa, từ đó mà ta được giải thoát.

Trên phương diện thắng nghĩa mà nói thì:
Ta đã chết rồi, không còn ta, không còn phiền não, không còn bám chấp. Tất cả những giới luật mà ta đã vi phạm, nhờ có sự sám hối thanh tịnh, lại còn cầu nguyện được Thượng sư, Bổn tôn đại đại gia trì, khiến cho thân này của ta trở thành thân huyễn hóa (trung ấm, trung hữu, linh hồn), tự tại mà được giải thoát. (Pháp đại than thi và pháp Mã Cát Lạp Tôn có ý nghĩa tương đồng với nhau.)

🌟


Ghi nhớ khẩu quyết.
Pháp thân quang minh.
Báo thân quang minh.
Ứng thân quang minh.
(Bất kể là lúc còn sống hay khi đã chết cũng phải vĩnh viễn ghi nhớ pháp quang minh, có như vậy thì việc vãng sinh mới đảm bảo được.)
Tôi cho rằng: 
Khả năng nhập Tam ma địa là vô cùng quan trọng, bởi vì trong tính chất Không-Lạc bình đẳng không phân biệt thì có thể khế hợp được với quang minh.

🌟

Trong trạng thái trung ấm buộc phải đoạn trừ tham niệm. 
Tham niệm bao gồm:
Vàng bạc châu báu tiền tài.
Nhà cửa xe hơi đất đai.
Người mình yêu nhất.
Người mình ghét nhất.
Người thân bằng hữu ân nhân và tất cả quyến thuộc.
Cái "lạc" khi tu pháp.
v.v…


🌟


Khi ở trạng thái trung ấm cần phải có định lực, bởi vì chỉ có ở trong Tam ma địa mới có thể gặp được ánh sáng. 
Gặp được pháp thân.
Gặp được báo thân.
Gặp được ứng thân.
Kinh nghiệm của cá nhân tôi là bất kể là khi còn sống hay đã chết, lúc còn tỉnh hay lúc chết rồi, nhất định cần luôn luôn ở trong Tam ma địa, như vậy mới có thể buông bỏ, tự tại, giải thoát.


### 36. Lấy một ví dụ để minh họa


Có một người phụ nữ cùng chồng đáp một chuyến hành trình dài bằng máy bay. 
Trên chuyến bay, người phụ nữ này đi vào nhà vệ sinh, còn chồng thì vẫn say giấc mộng. 
Khi người chồng tỉnh dậy, phát hiện ra vợ mình không ở cạnh, hơn nữa chờ đã lâu mà vẫn chưa thấy vợ quay trở về chỗ ngồi, người chồng bèn đi khắp mọi chỗ trên máy bay để tìm vợ mình. Kết quả là vẫn không tìm thấy.
Người chồng cho rằng có thể vợ đang ở trong nhà vệ sinh, thế là liền tìm trong các buồng vệ sinh. Chỉ có mỗi một buồng vệ sinh là cánh cửa cứ đóng mãi, không có người nào ra vào.
Người chồng nói với tiếp viên hàng không:
"Vợ tôi ở bên trong!"
Tiếp viên hàng không hỏi:
"Đúng thật không?"
Người chồng nói:
"Chắc chắn. Bởi vì tôi đã tìm khắp mọi nơi rồi!"
Tiếp viên hàng không chỉ còn cách tìm cách mở cửa buồng vệ sinh. Cửa vừa mở ra thì:
"Trời ạ! Quả nhiên người vợ đã chết ngất ở bên trong!"
Lúc này:
Cơ trưởng thông báo lớn: Trên máy bay có người nào là bác sĩ thì mau tới cứu giúp.
Còn nữa:
Máy bay hạ cánh khẩn cấp xuống Đài Loan. 
Còn thi thể người chết thì chuyển về quê hương của họ. 

🌟

Theo như tôi biết, người phụ nữ này sau khi vào nhà vệ sinh thì lập tức bị ngất xỉu hôn mê. 
Còn trung ấm (linh hồn) thì thoát ra ngoài. 
Linh hồn có một lúc muốn trở lại bên trong thân thể, nhưng từ đầu tới cuối không có cách nào để trở vào được.
Bà ấy rất hoảng hốt! 
Linh hồn của người phụ nữ có thể đi xuyên qua tường, trên máy bay nhìn thấy người chồng đang đi tìm mình. Bà đứng ngay bên cạnh chồng mình nhưng người chồng không nhìn thấy bà.
Thế là:
Trời người vĩnh viễn cách xa.
Vợ chết rồi!
Chồng tràn ngập tiếc nuối!

🌟

Cặp vợ chồng này đều là đệ tử của tôi (Lư Sư Tôn). Sau sự việc này họ đã cầu tôi siêu độ. 
Nhân việc này tôi đặc biệt dạy mọi người:
Khi linh hồn xuất ra, ý thức duy nhất cần nhớ kĩ là: 
Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp. [tam căn bản]

Lúc này cần biết bạn đã là trung ấm (linh hồn) rồi, hành giả Mật giáo chỉ có thể nhớ kĩ tam căn bản. 
Nhờ sức mạnh tu trì lúc bình thường của bạn, cộng thêm lực gia trì của Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp thì sẽ xuất hiện thân ánh sáng để trực tiếp dẫn dắt bạn đi tới Phật quốc tịnh độ. 
Hành giả cần tối kỵ việc nhớ đến chồng, con, người thân, nhớ đến tất cả mọi thứ trong nhà, tài sản trong nhà mình, hoặc những món đồ trang sức mà mình thích nhất (như kim cương, châu báu). Nếu vẫn còn lưu luyến mãi thế gian thì sẽ lại đọa vào làm chúng sinh hữu tình.
Nếu có thể nhớ được Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp, hãy niệm tâm chú của các vị, chuyên tâm nhất trí thì chắc chắn được tiếp dẫn đến giải thoát. 

Lư Sư Tôn cảnh tỉnh mọi người:
Đừng bám chấp vào tất cả hiện tướng huyễn ảo của thế gian, mà hãy nhất tâm nhất ý cầu nguyện được vãng sinh tịnh thổ, đây là khẩu quyết quan trọng.


### 37. Dạy về trung ấm


Con người vào lúc chết sẽ xuất hiện thân trung ấm (linh hồn), lúc này phải tự mình siêu độ cho mình. (Trung ấm nghe dạy mà đắc độ.)
Thân trung ấm không có vật chất, do vậy không còn chướng ngại. Đối với người bình thường thì trong một sát-na sẽ quên mất bản thân mình, giống như ngủ mơ cho nên trung ấm cứ tùy theo cảnh mà đi. 
Vì thế:
Hành giả Mật giáo cần tu mộng: Thức tỉnh trong mộng.
Hành giả Mật giáo cần tu huyễn: Trong huyễn biết được đây là huyễn.

Do vậy, khi thân trung ấm xuất hiện, có lúc sẽ nghe thấy rất nhiều âm thanh khủng khiếp như: 
Tiếng gào thê thảm.
Tiếng quát tháo.
Tiếng gọi u ám lạnh lẽo.
Tiếng mắng chửi điên cuồng.
(Hành giả cần biết những cái âm thanh này đều là mộng huyễn, không đáng sợ, không cần phải sợ hãi.)

Còn có:
Bị lửa thiêu đốt, chẳng thể chạy thoát.
Chết chìm trong nước, chẳng thể thở nổi.
Rơi xuống vực sâu, toàn thân tan nát.
Bị người đâm chết, đau đớn thống khổ.
Bị thú đuổi cắn, chẳng thể chạy thoát.
Ma quỷ đòi nợ, ép vào đường chết.
Đá núi rơi xuống, đè nát thịt xương.
Sa mạc một mình, cuồng phong gào thét.
…
Còn có:
Bị la-sát ăn thịt!
Bị dạ-xoa ăn thịt!
Bị Diêm La Vương phán xử!
v.v…

Nếu có gặp phải những cảnh tượng này xuất hiện, hành giả Mật giáo cần nhớ rõ trong đầu rằng những cảnh tượng này cũng chỉ là mộng huyễn. 
Vô tự tính.
Tất cả đều thuộc về hư huyễn vọng tưởng.
Không cần sợ hãi.

Giờ này phút này phải giữ vững định lực, nhớ đến Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp, hoặc niệm chú Thượng sư, chú Bổn tôn, chú Hộ pháp, hoặc niệm danh hiệu để phát sinh ra tịnh quang. Dựa vào tịnh quang do chính mình tạo ra để cùng gặp gỡ tại một nơi với tịnh quang căn bản. Đây chính là thành tựu giải thoát.

🌟

Hành giả chúng ta cần biết rằng:
Trung ấm (linh hồn) muốn thoát ra cũng cần phải tìm cửa thoát cho linh hồn. Hành giả Mật giáo chỉ có thể dùng pháp khai đỉnh (pháp phowa) để linh hồn có thể thoát ra từ lỗ trên đỉnh đầu. 
Nếu linh hồn:
Thoát ra từ mi tâm — sinh vào sắc giới thiên.
Thoát ra từ mắt — sinh vào cõi người.
Thoát ra từ tai — sinh vào cõi phi nhân (làm ma).
Thoát ra từ mũi — sinh vào cõi dược xoa.
Thoát ra từ miệng — sinh vào cõi ngạ quỷ.
Thoát ra từ rốn — sinh vào cõi dục giới.
Thoát ra từ lỗ bí mật — sinh vào cõi bàng sinh (súc sinh).
Thoát ra từ hậu môn — sinh vào địa ngục.

Lư Sư Tôn tôi kiến nghị rằng, tám cửa luân hồi này nên được chặn lại bằng chú tự và công lực của hành giả. Vốn dĩ mỗi một lỗ cửa đều có chú tự khác nhau dùng để chặn, không dễ quán tưởng. 
Do vậy, tôi nói:
Mỗi một lỗ thoát, đều dùng chữ "Hum" cũng có thể chặn lại được, hoặc dùng ánh sáng để che lại cũng được. Nhưng công lực nhất định cần có đủ.


### 38. Cách nhận biết khi cận kề cái chết


Lư Sư Tôn nói:
Không được tự sát, bởi vì tự sát tương đương với việc "giết Phật". Vì sao lại tương đương với giết Phật?
Bởi vì chúng sinh vốn có Phật tính, đều là Phật tương lai. Nếu như tự sát thì bởi vì phạm tội giết chết huệ mệnh của Phật nên sẽ đọa vào địa ngục. 
Còn nữa, thời điểm phải chết chưa đến nên không thể vãng sinh, trở thành ác quỷ.

🌟

Nếu có thể biết trước điềm báo về cái chết, có thể thử một trong các cách cứu chữa như: 
Phóng sinh.
Bố thí.
Cầu thỉnh Thượng sư, Bổn tôn che chở.
Tu pháp trường thọ.

Các phương pháp để cứu chữa rất nhiều, tôi lại lấy thêm ví dụ như:
Đọc tụng những kinh điển thậm thâm có thể kéo dài tuổi thọ.
Tụng mật chú có thể kéo dài tuổi thọ.
Quán tưởng lực của Thượng sư, lực của Bổn tôn.
Lễ bái tháp Phật, nhiễu chùa tháp, nhiễu thánh địa.
Tán tụng sức mạnh công đức của Phật Bồ Tát.
Tin và hiểu về chân Không.
Pháp ăn uống không khí để kéo dài sinh mệnh.
Sức mạnh giới định huệ.
Lực gia trì của Tam Bảo Phật, pháp, tăng.
Nhập Tam ma địa cũng có thể kéo dài tuổi thọ.
v.v…

🌟

Quan sát điềm báo về cái chết:
Khi trời xanh không mây, đứng thẳng, hai tay mở rộng sang ngang. Nhìn xuống bóng mình trên mặt đất. Nếu thiếu tay hoặc chân thì đây là điềm báo về cái chết. 
(Điều này rất thần bí.)
Nếu trong mơ thường mơ thấy người đã chết, là điềm sắp chết.
Mơ thấy người chết đi dạo chơi trong vườn hoa. (Hoa toàn là màu đỏ.)
Mơ thấy cảnh mà trong đời mình chưa từng đến. 
Mơ thấy duy nhất một mình ở nơi rộng lớn trống không.
Mơ thấy cưỡi lừa đi về hướng Nam.
Mơ thấy hái hoa màu đỏ.
Mơ thấy đánh nhau với ma quỷ.
Mơ thấy Diêm La Vương. v.v…
Tay ấn vào hai tai, không nghe thấy bất kì âm thanh gì. 
Mắt mở nhưng chỉ nhìn thấy một bức màn trắng xóa mênh mông.
Tính tình đột nhiên thay đổi hẳn.
Yêu thành ghét, ghét thành yêu, rất đột ngột.
Bệnh nặng đột nhiên chuyển hướng tốt lên, hồi quang phản chiếu. [Hiện tượng người sắp chết thường có một giai đoạn rất ngắn ý thức đột ngột trở nên tỉnh táo sáng rõ, hoặc có sự hưng phấn trong thời gian rất ngắn.]
Tai mất đi thính giác.
Lưỡi mất đi vị giác.
Mắt không còn thấy vật.
Thân không còn cảm giác.
Tinh huyết suy kiệt.
Lưỡi khô và đen.
Hai bên mũi lõm xuống.
Tứ đại suy giảm.
(Những việc trên đều có thể là điềm báo sắp chết.)

🌟

Hành giả Mật giáo cần tránh để bị chết yểu hoặc chết ngoài ý muốn. Điều quan trọng nằm ở việc sám hối và hoàn tịnh. 
Đối với Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp cần làm pháp cúng dường. Đem vật phẩm cúng dường Tam Bảo, đem đồ ăn cúng dường Hộ pháp.
Tu hội cúng luân.
Tinh tấn tu tương ứng pháp cho đến khi tương ứng được, chắc chắn có thể khỏe mạnh, kéo dài thêm tuổi thọ.
Hành giả cũng cần chú ý về: huyết áp, đường huyết, mỡ máu, cholesterol…


### 39. Khẩu quyết về pháp khai đỉnh (phowa)


Lư Sư Tôn nói:
Tôi viết cuốn "Giảng nghĩa Hỷ Kim Cang", phần "Tính Không trong đại lạc", có viết về khẩu quyết của pháp vô lậu. Đó là từ mật luân đưa khí lên đến đỉnh luân, cũng là một trong những phương pháp để khai đỉnh (phowa). 
[Phowa chính là pháp Chuyển dịch thần thức.]

Còn nữa: 
Chúng ta tu pháp Bảo bình khí, trong bước cuối cùng là "xạ khí", một hơi khí phóng thẳng lên đỉnh đầu, cũng là một trong những phương pháp để khai đỉnh (phowa). 

🌟

Khẩu quyết về pháp khai đỉnh (phowa) như sau:
Trước tiên quán tưởng ba mạch bảy luân xa của chính mình.
Tiếp theo quán tưởng tim có chữ "Hum" màu lam phóng quang. 
Tu Bảo bình khí.
Nâng hạ hành khí lên.
Niệm mạnh chữ "Seh", hoặc chữ "Hum", hoặc chữ "Khan", tổng cộng 21 lần.
(Khi xung đỉnh, hai tay theo chú tự và khí cũng từ dưới giơ thẳng lên.) 
Khí đi lên đâm vào phạm huyệt.
Có thể quán tưởng chữ "Hum" đi lên, đi thẳng vào trong tâm của Thượng sư.
Lại tu Bảo bình khí.
Niệm chữ "Ka" 21 lần để khiến cho thượng hành khí đè xuống dưới. Cũng đồng nghĩa với chữ "Hum" đi xuống đến tâm luân.

🌟


Đây tức là:
Chữ "Hum" theo khí đi lên.
Chữ "Hum" theo khí hạ xuống.
Một lên một xuống, chính là pháp khai đỉnh (phowa).
Chú âm niệm khi khí đi lên thì các Thượng sư của tôi nói khác nhau. 
Có thầy thì nói là chữ "Hum".
Có thầy thì nói là chữ "Hei".
Có thầy thì nói là chữ "Seh".
Có thầy thì nói là chữ "Khan".
Có thầy thì nói là chữ "Ah".
(Hai tay nắm lại, từ dưới giơ thẳng lên.)
Chú âm niệm khi khí hạ xuống là chữ "Ka". Thực sự là thống nhất với ở trên. Chữ "Ka" này chính là chữ "Ka" trong Karmapa, cũng chính là chữ "Ka" trong phái Kagyu. Tương tự: "Ka" hoặc "Ka Ah".


🌟


Trung ấm thoát ra từ lỗ đỉnh đầu phân làm ba cấp:
1. Ứng thân vãng sinh:
Hai lỗ mũi hít khí vào hết mức có thể, niệm chữ "Seh" 21 lần, đến lần cuối cùng thì niệm mạnh và dứt khoát chữ "Seh" một tiếng. Trung ấm bắn ra qua đỉnh đầu, đi đến tịnh thổ. Đây là vãng sinh ứng thân.

2. Báo thân vãng sinh:
Trước tiên quán tưởng lỗ đỉnh đầu có Thượng sư Kim Cương Trì, hai lỗ mũi hít khí vào nhiều nhất có thể, niệm chữ "Seh" 21 lần. Giống như phần trên, đến chữ "Seh" cuối cùng niệm mạnh một tiếng. Trung ấm bắn ra qua đỉnh đầu. Trung ấm trụ trong tâm của Thượng sư Kim Cang Trì. Đây là báo thân vãng sinh.

3. Pháp thân vãng sinh:
Pháp thân vãng sinh, giống như ở trên, hai lỗ mũi hít khí vào hết mức, niệm chữ "Seh" 21 lần, chữ "Seh" cuối cùng niệm mạnh một tiếng. Trung ấm bắn ra qua đỉnh đầu. Trung ấm hóa thành tính Không, cùng tính Không hợp nhất. Đây là pháp thân vãng sinh.

Ba cấp độ này không giống nhau, nguyên nhân là do tịnh thổ, Kim Cang Trì, tính Không cũng không giống nhau.


### 40. Chỉ và quán


Có người hỏi Lư Sư Tôn:
"Chỉ là cái gì? Thế nào là chỉ?"
Tôi đáp:
Thân chỉ — ngồi khoanh chân. 
Ngữ chỉ — an tịnh, trầm mặc.
Ý chỉ — quá khứ, không nghĩ nhớ. Tương lai, không nghĩ sẽ làm gì. Hiện tại, không tạo sự phân biệt, tâm giữ sự vô duyên bình đẳng.
Hành giả tu chỉ, khẩu quyết đứng đầu là: chuyên tâm nhất trí.
Nếu tạp niệm cứ đua nhau xuất hiện thì phải làm sao?
1. Chăm chú nhìn một vật, đây gọi là dừng lại nhờ dựa vào phương tiện. 
Ví dụ:
Thắp một que hương, nhìn chăm chú vào điểm lửa màu đỏ trên đầu que hương để tạp niệm dừng lại, nhìn liên tục không dứt. 
Hoặc quán tưởng Bổn tôn, pháp khí, chú tự ……………
Đây là phương pháp rèn luyện khả năng dừng lại. 

2. Dừng lại không dựa vào phương tiện:
Tự nhiên dừng lại.
Quán tự tính. 

Nhìn chung, khi luyện tập dừng lại, có hai loại hiện tượng có thể phát sinh.
Một loại là trạo cử, vọng niệm bay mòng mòng trong đầu, hoàn toàn không thể dừng lại được.
Lúc này cần thả lỏng thân tâm, mắt nhìn xuống, ở tư thế nghỉ ngơi để tiến nhập vào thân tâm một cách tự nhiên. 

Một loại là hôn trầm, rất nhiều người tu chỉ, không ngờ lại ngủ gật mất. Hơn nữa lại còn ngáy.
Lúc này, thân giữ thẳng, mắt nhìn lên trên, làm phấn chấn bản thân lên một chút. 

Khẩu quyết tu chỉ:
Khí bình, tâm cũng bình.
Khí loạn, tâm cũng loạn.
Do vậy, tu khí cho đến khi khí tự nhiên, tâm cũng sẽ an định, tâm không tán loạn chính là biểu hiện đã tu thành tựu.


🌟

	
Có người hỏi Lư Sư Tôn:
"Cái gì là quán? Tu thế nào?"
Tôi đáp:
Quán là một dạng trí huệ. Từ trong trí huệ mà hiểu được rằng mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý cho đến tất cả các pháp đều không có tự tính. 
Ta chẳng phải ta.
Suy nghĩ chẳng phải suy nghĩ.
Tất cả mọi pháp đều không có thực.
Như mộng như huyễn, ngay cả mộng huyễn cũng là một cái tên giả, thực sự là không thể có được. 
Hãy thử nghĩ xem một đời người với sinh lão bệnh tử cũng giống như giấc mộng trăm năm mà thôi. Tất cả đều không thể có được. 
Do vậy:
Không có thắng-bại.
Không có phân biệt.
Không có bám chấp.
Nhậm vận, thản nhiên mà sống.
Cần biết nhận định rằng thế giới Ta Bà này chỉ là một trò chơi, người huyễn, cảnh huyễn, sự vật sự việc huyễn. 
Quá khứ vô sở đắc.
Hiện tại bất khả đắc.
Vị lai bất khả đắc.
Do quan sát thấy như vậy nên hành giả Mật giáo không bám chấp vào mọi thứ, có thể khoan thai thản nhiên mà sống. 

Tôi cho rằng cần:
Quan sát về ý nghĩa của hư không.
Hiểu về ý nghĩa của hư không.

Ý nghĩa của tính Không:
Cũng chính là thân thể này là Không, ngôn ngữ này là Không, ý niệm này là Không, đây là hình tướng của đại hư không. Nếu khi nào vọng niệm trồi lên thì dùng chữ "Pây" để loại bỏ hết vọng niệm.


### 41. Pháp ngữ của Liên Sinh Hoạt Phật (1)


Hỏi:
"Lư Sư Tôn, Chân Phật Tông của ngài trong tương lai sẽ có xu thế gì?"
Đáp:
"Tôi chẳng nghĩ về hiện tại, tôi chẳng nghĩ về tương lai, chẳng có gì gọi là xu thế hay không xu thế cả."
Hỏi:
"Ngài viết khẩu quyết về đạo giải thoát, vậy khẩu quyết thực sự là gì?"
Đáp:
"Giải thoát chỉ là một cái tên giả, biết không cần giải thoát mới là giải thoát chân thực."
Hỏi:
"Chúng tôi không hiểu?"
Đáp:
"Bởi vì mọi pháp đều là huyễn."
Hỏi:
"Chúng tôi cảm thấy đâu đâu cũng bị ràng buộc, vậy sao ngài lại nói tất cả mọi pháp đều là huyễn?"
Đáp:
"Ràng buộc là do các bạn tự ràng buộc chính mình, bởi vì bạn có tham niệm nên bạn mới bị ràng buộc. Nếu không có tham niệm thì cái gì ràng buộc đây? Hiểu được về vô sở đắc tức là không còn ràng buộc đó."
Hỏi:
"Ai là đại thiện tri thức?"
Đáp:
"Lư Sư Tôn."
Hỏi:
"Đây chẳng phải là tự cao tự đại về bản thân sao?"
Đáp:
"Chẳng phải! Chỉ cần là người đạt tới mức độ chứng minh tất cả mọi cảnh giới thì đều có thể được gọi là Lư Sư Tôn. Lư Sư Tôn không phải là một con người. 
Ví dụ:
Tỳ Lô Giá Na Phật là Lư Sư Tôn.
Phật Nhãn Phật Mẫu là Lư Sư Tôn.
A Di Đà Phật là Lư Sư Tôn.
Liên Hoa Đồng Tử là Lư Sư Tôn.
…

Hỏi:
"Lý luận này là sao?"
Đáp:
"Là lý luận thắng nghĩa, bởi vì không có Lư Sư Tôn mới biến thành toàn bộ là Lư Sư Tôn."
Hỏi:
"Tin tưởng và cung kính đối với Lư Sư Tôn có quan trọng không?"
Đáp:
"Chúng ta có đạo tâm kiên cố đối với Lư Sư Tôn thì mới có thể tương ứng với pháp Thượng sư tương ứng. Bằng không thì không thể tương ứng được."
Hỏi:
"Nếu như dựa vào Thượng sư khác thì sao?"
Đáp:
"Đó là duyên phận. Nương dựa vào đại thiện tri thức khác cũng được, nhưng đừng dựa vào tà môn ngoại đạo."
Hỏi:
"Làm sao để biết được là tà môn ngoại đạo?"
Đáp:
"Quan sát là biết. Thượng sư chân chính thì bình đẳng, tâm không phân biệt, từ lâu đã rời bỏ tám pháp thế gian, loại bỏ hết tham sân si rồi."
Hỏi:
"Nếu có người quy y Lư Sư Tôn rồi lại đi quy y người khác, thì ngài nghĩ thế nào?"
Đáp:
"Bình thường thôi. Nhưng như vậy cũng là nhân duyên không đủ."
Hỏi:
"Lư Sư Tôn là Xá Lợi Phất thời đại Phật Đà chuyển thế, Lư Sư Tôn có nhớ được việc này không?"
Đáp:
"Nhớ được. Tôi khi đó rất tôn sùng Phật Đà và Văn Thù Bồ Tát. Phật Đà đương nhiên là không cần phải nói, còn Văn Thù Bồ Tát có công đức bất khả tư nghì."


### 42. Pháp ngữ của Liên Sinh Hoạt Phật (2)


Hỏi:
"Văn Thù Bồ Tát có công đức gì?"	
Đáp:
"Phật Đà từng bảo với Xá Lợi Phất rằng, công thức của Văn Thù Bồ Tát cho dù hết một kiếp cũng không nói hết được."
Hỏi:
"Ngài thử nói một chút xem?"
Đáp:
"Phật Đà nói, vô lượng mười vạn câu chi na do tha [1 câu chi = 10 triệu, 1 na do tha = 10 lũy thừa 28, đây là những con số trong kinh Phật.] các vị Phật nhập niết bàn đều là nhờ có Văn Thù Bồ Tát giúp cho họ chứng đắc vô thượng bồ đề."
Hỏi:
"Còn gì nữa?"
Đáp:
"Sức mạnh uy thần của Văn Thù Bồ Tát là không có giới hạn, ngài từng gia trì cho Ma Vương Ba Tuần, khiến Ma Vương biến thành Phật, ngồi trên pháp tọa sư tử mà thuyết giảng Phật pháp, đây là một việc vô cùng hiếm gặp. Ma Vương Ba Tuần bị ngài ấy biến thành Phật, bởi vậy sức mạnh uy thần của ngài đúng là trước nay chưa từng có."
Hỏi:
"Quả nhiên là đại uy thần lực, còn gì nữa không?"
Đáp:
"Vườn Cấp Cô Độc liên tiếp gặp bảy trận mưa lớn, gây ngập lụt nặng. Tất cả tì kheo đều chẳng còn thức ăn nào để ăn. Các tì kheo có thể nhập Tam ma địa thì đều nhập định. Tì kheo không thể nhập Tam ma địa thì đói đến mức không thể cử động được. May có Văn Thù Bồ Tát đem một chiếc bát tới phương xa khất thực, thức ăn trong bát này ăn mãi mà không hết, khiến cho năm trăm tì kheo đều được ăn no. Một bát nhỏ xíu thức ăn như vậy còn đủ cho người của cả một nước ăn mà vẫn còn thừa."
Hỏi:
"Đây đúng là đại thần thông, còn gì nữa không?"
Đáp:
"Trí tuệ của Văn Thù Bồ Tát là số một, không ai có thể sánh bằng. Xá Lợi Phất cũng là đệ nhất trí tuệ. Nhưng cũng vẫn chỉ bằng một lỗ chân lông của Văn Thù Bồ Tát mà thôi."
Hỏi:
"Có thể lấy một ví dụ được không?"
Đáp:
"Có người hỏi Văn Thù Bồ Tát là khi nào ngài thành Phật. Văn Thù Bồ Tát đáp, Bản thân Văn Thù chính là bồ đề, bồ đề cũng chính là Văn Thù, Văn Thù cũng chính là tính Không."
Hỏi:
"Vì sao Văn Thù Bồ Tát lại nói như vậy?"
Đáp:
"Văn Thù Bồ Tát là bất sinh, bất hành, bất nhị, nên mới có thể nói như vậy."
Ghi chú:
Bất sinh — do ngài ở khắp mọi nơi.
Bất hành — làm mọi việc lợi ích nhưng cũng như không làm gì.
Bất nhị — Văn Thù là Phật, Phật là Văn Thù. 
(Những điều trên là thắng nghĩa.)

Hỏi:
"Văn Thù Bồ Tát làm sao có thể ở khắp tất cả các pháp giới của thập phương tam thế?"
Đáp:
"Trong một lần kiết hạ an cư, Đại Ca Diếp hỏi Văn Thù, nơi nào có thể kiết hạ an cư? Văn Thù đáp là ở chỗ của vương hậu A Đồ Thế. Đại Ca Diếp rất tức giận, tập hợp tất cả các tì kheo lại tuyên bố rằng muốn đuổi Văn Thù ra khỏi tăng đoàn. Phật Đà bảo Đại Ca Diếp nhìn lên hư không, còn Văn Thù Bồ Tát thì hiện thân ở trong tất cả các pháp giới của thập phương tam thế, nơi đâu cũng đều có Văn Thù Bồ Tát. Phật Đà hỏi Đại Ca Diếp, ngài muốn đuổi Văn Thù ra khỏi tăng đoàn ra sao, vậy muốn đuổi vị Văn Thù nào ra khỏi tăng đoàn đây?"
Hỏi:
"Phật Đà giảng về ba giải thoát, vì sao Văn Thù Bồ Tát không nói về ba giải thoát?"
Đáp:
"Ba giải thoát của Phật Đà là phương tiện thiện xảo của Như Lai, nhằm tăng thêm lợi ích cho chúng sinh. Thắng nghĩa của Văn Thù Bồ Tát là người không hề biết sợ gì cả thì không cần giải thoát, người biết sợ thì mới cần giải thoát."
Hỏi:
"Cuốn sách Khẩu quyết đạo giải thoát cũng là phương tiện sao?"
Đáp:
"Đúng vậy. Đúng vậy."


### 43. Pháp ngữ của Liên Sinh Hoạt Phật (3)


Hỏi:
"Lư Sư Tôn buổi tối đi ngủ có mơ không?"
Đáp:
"Có mơ. Tôi có thể ra vào các cảnh giới giấc mơ, tôi ở trong mơ độ hóa chúng sinh, ở trong mơ tu hành trì chú, ở trong mơ làm tăng lợi ích cho chúng sinh."
Hỏi:
"Lư Sư Tôn có thể đi vào trong giấc mơ của đệ tử không?"
Đáp:
"Tôi có thể ở trong giấc mơ của đệ tử để truyền thụ pháp ngữ, cũng có thể ở trong mơ của đệ tử để giải đáp nghi vấn, càng có thể ở trong mơ của đệ tử thay đệ tử chữa bệnh. Đây đều là những việc rất hiếm có."
Hỏi:
"Làm sao có thể làm được việc này?"
Đáp:
"Mật tu mộng quán."
Chú thích:
Nhập mộng — đi vào giấc mơ của đệ tử.
Xuất mộng — ra khỏi giấc mơ của đệ tử.
Hiểu mộng — hiểu rõ ràng tất cả mọi thứ.
Chuyển mộng — thay đổi những giấc mơ nghiệp chướng thành những giấc mơ thanh tịnh.
Tu mộng — trong mơ có thể tu pháp.
Kiến mộng — trong mơ có thể hiểu đạo, trong mơ gặp Phật.
Hỏi:
"Làm sao để biết có phải là do ma huyễn hóa ra không?"
Đáp:
"Trong mơ gặp được Thượng sư, cần niệm ba câu chú của Thượng sư, nếu là do ma huyễn hóa ra thì tự nhiên mọi thứ sẽ biến mất. Tương tự, trong mơ gặp được Bổn tôn, niệm ba câu chú của Bổn tôn, nếu là do ma huyễn hóa ra thì tự nhiên sẽ biến mất."
Hỏi:
"Mật pháp của Lư Sư Tôn là do Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền cho đúng không?"
Đáp:
"Đúng vậy. Đúng vậy."
Hỏi:
"Truyền dạy bằng cách nào?"
Đáp:
"Ngày xưa, Lư Sư Tôn là vua Trisong Detsen, cùng với Liên Hoa Sinh Đại Sĩ và Tịch Hộ đại sư, ba người cùng xây dựng chùa Samye. Liên Sư dùng phương thức chôn giấu, đem tất cả mật pháp giấu vào trong não của vua Trisong Detsen."
Hỏi:
"Việc này là vô hình. Thế còn truyền thừa hữu hình thì sao?"
Đáp:
"Tôi quy y rất nhiều vị thầy, chủ yếu là Liễu Minh Hòa Thượng, Sakya Chứng Không Thượng sư, Đại Bảo Pháp Vương thứ 16 Karmapa, Thubten Dhargye Thượng sư, v.v…"
Chú thích:
Liễu Minh Hòa Thượng — tại núi Tập Tập, huyện Nam Đầu.
Sakya Chứng Không Thượng sư — tại Green Lake, Seattle, Mỹ.
Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16 — tại Upstate New York, Mỹ.
Thubten Dhargye Thượng sư — tại núi Phù Dung quận Thuyên Loan, Hồng Kông.
Ngoài ra có:
Phổ Phương Thượng sư — tại quận Xã Tử, Đài Bắc, Đài Loan.
Hỏi:
"Liên Hoa Sinh Đại Sĩ cũng là Liên Hoa Đồng Tử sao?"
Đáp:
"Đương nhiên rồi. Đại Sĩ xuất thế trên một bông hoa sen trên biển Đạt Lai Quách Khiếu, là sinh ra từ hoa sen, cũng tức là Liên Hoa Đồng Tử. Đồng thời, Đại Sĩ là thân của A Di Đà Phật, là khẩu của Quan Thế Âm Bồ Tát, là ý của Thích Ca Mâu Ni Phật, từ thân khẩu ý này hợp lại mà hóa hiện thành."
Hỏi:
"Lư Sư Tôn thì hóa hiện thế nào?"
Đáp:
"Là hóa hiện của Tỳ Lô Giá Na Phật, Phật Nhãn Phật Mẫu, A Di Đà Phật, Liên Hoa Đồng Tử."


### 44. Pháp ngữ của Liên Sinh Hoạt Phật (4)


Hỏi:
"Tu Thượng sư tương ứng pháp là có thể vãng sinh Tây phương tịnh thổ sao?"
Đáp:
"Đương nhiên sẽ vãng sinh Tây phương tịnh thổ. A Di Đà Phật hóa hiện ra Liên Hoa Đồng Tử, Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra Lư Sư Tôn. Do vậy Lư Sư Tôn cũng là do A Di Đà Phật hóa hiện ra."
Hỏi:
"Tu Mật giáo, thông thường có bốn quán đảnh lớn, tức là quán đảnh bình, quán đảnh mật, quán đảnh vô thượng mật, quán đảnh đại viên mãn, Lư Sư Tôn có đánh giá thế nào?"
Đáp:
"Tôi cho rằng nhận quán đảnh theo thứ tự để tu trì là bền vững nhất."
Chú thích:
Tôi nhận thấy:
Quán đảnh bình bao gồm tu hành tư lương đạo, tu hành gia hành đạo, tu hành Thượng sư Bổn tôn.
Quán đảnh mật là chỉ việc tu hành khí, mạch, minh điểm.
Quán đảnh huệ là chỉ việc tu hành vô thượng mật bộ.
Quán đảnh đại viên mãn là chỉ việc tu hành cứu cánh.

Hỏi:
"Trong cuốn sách Khẩu quyết đạo giải thoát này, vì sao ngài không thuật lại cách tu hành vô thượng mật bộ?"
Đáp:
"Vô thượng mật bộ phải là người có căn khí và có năng lực tu hành rất cao thì mới có thể tu trì. Ví dụ: phải là người đã kiến đạo (kiến tính Không), phải là người thành tựu pháp vô lậu. Đây là những hành giả tức thân thành Phật, tức sinh thành Phật, hóa thân cầu vồng thành Phật, không dễ mà có thể tu được. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói pháp tu này khó giống như lấy ngọc trong miệng rắn độc vậy."
Hỏi:
"Có thể kể một hai pháp trong đó không?"
Đáp:
"Trước tiên cần quan sát minh phi xem người đó có phải là tương ứng mẫu của mình không. Cần phân ra ngoại quán, nội quán, mạch quán. Tối kỵ dùng minh phi không phải là tương ứng mẫu."
Hỏi:
"Phương diện tu pháp thì sao?"
Đáp:
"Mức độ cao nhất là: ba loại quán tưởng, bốn loại thiện xảo, năm loại thân, mạch, khí, minh điểm, không lạc. Thành tựu phương pháp tu hành và công đức."
Chú thích:
Ba loại quán tưởng: quán Bổn tôn, quán chỗ mật, quán đại lạc.
Bốn loại thiện xảo: giáng, đề, trì, tán.
Năm pháp yoga: thân kim cang, mạch kim cang, khí kim cang, minh điểm kim cang, không lạc kim cang.
Phương pháp song tu: 64, 16, 4 (không truyền).
Công đức sinh khởi: đại lạc, quang minh, tính Không. 
Thành tựu hóa cầu vồng thành Phật, v.v…

Hỏi:
"Những phương pháp tu hành này quỷ thần có biết không?"
Đáp:
"Tôi nói, nếu hóa giường ngủ thành hoa sen, song thân ở trong nhị hoa, hoa sen khép lại, trở thành hoa sen nụ chưa nở, thì quỷ thần không thể biết. Phải kết giới khi tu pháp."
Hỏi:
"Minh phi cần tu như thế nào?"
Đáp:
"Phải quan sát hành giả nam có năng lực tu hành rất cao hay không. Tương tự có ba kiểu quan sát, bốn thiện xảo và công đức sinh khởi."
Hỏi:
"Nếu giả danh là song tu để mà hành dâm thì làm cách nào để vạch trần?"
Đáp:
"Thỉnh giáo Lư Sư Tôn là có thể vạch trần."


### 45. Pháp ngữ của Liên Sinh Hoạt Phật (5)


Hỏi:
"Lựa chọn Bổn tôn thì lấy gì làm tiêu chuẩn?"
Đáp:
"Hành giả Mật giáo cần tự minh nhận thấy vị nào là người có duyên sớm nhất với mình."
Hỏi:
"Có thể dựa theo cá tính của mình không?"
Đáp:
"Đương nhiên có thể được."
Chú thích:
Người từ bi — chọn Quan Thế Âm Bồ Tát.
Người trí tuệ — chọn Văn Thù Bồ Tát.
Người có pháp lực — chọn Kim Cang Thủ Bồ Tát.
(Đây chỉ là vài gợi ý nhỏ.)

Hỏi:
"Quan Thế Âm Bồ Tát có bao nhiêu hóa thân?"
Đáp:
"Hai tay, bốn tay, tám tay, mười tám tay, nghìn mắt nghìn tay, hóa thân của Bồ Tát là vô số không thể tính đếm, thậm chí Lục Độ Mẫu, Bạch Độ Mẫu đều là hóa thân của Bồ Tát, ngài quảng đại vô biên."
Hỏi:
"Nếu nhiều như vậy thì làm sao để chọn được Bổn tôn?"
Đáp:
"Nếu thực sự không chọn được thì đi thỉnh giáo Lư Sư Tôn vậy."
Hỏi:
"Thế nào gọi là tịch tĩnh tôn? Thế nào là phẫn nộ tôn? Thế nào là tịch nộ tôn?"
Đáp:
"Tịch tĩnh tôn tức là văn tôn, hiển thị tướng thiền định. Phẫn nộ tôn là võ tôn, hiển thị tướng phẫn nộ để hàng phục tứ ma. Tịch nộ tôn là nửa văn nửa võ, hiển thị tướng kiêm cả hai."
Hỏi:
"Vị nào quan trọng hơn?"
Đáp:
"Đều quan trọng cả."
Chú thích:
Ngũ Phật hóa thành ngũ đại Kim Cang.
Bát đại Bồ Tát hóa thành bát đại Kim Cang Minh Vương. 
Còn nữa:
Kurukulle Phật Mẫu vừa là tĩnh tịch vừa là phẫn nộ. 
Kim Cang Hợi Mẫu vừa là tĩnh tịch vừa là phẫn nộ.

Hỏi:
"Chư tôn đều có cá tính khác nhau để điều phục con người có cá tính khác nhau phải không?"
Đáp:
"Đúng vậy. Đúng vậy. Nhưng mọi người cần hiểu, hoàn toàn không phải là người có từ bi thì sẽ không có trí tuệ, có trí tuệ thì không có từ bi. Còn nữa, phẫn nộ tôn cũng có từ bi, cũng có trí huệ, do vậy mới nói là tương ứng một pháp thì tương ứng mọi pháp."
Hỏi:
"A Di Đà Phật và Vô Lượng Quang Phật, Vô Lượng Thọ Phật (Trường Thọ Phật) có sự khác biệt thế nào?"
Đáp:
"Không có khác biệt gì. Ba vị là một, một hóa thành ba, chỉ là vì theo lời mong cầu của thế nhân nên mới phân hóa ra thành ba vị. Các vị khác cũng đều là như vậy."
Hỏi:
"Trong các pháp Kim Cang mà Lư Sư Tôn truyền dạy thì hai vị nào là hoàn chỉnh nhất?"
Đáp:
"Hỷ Kim Cang và Thời Luân Kim Cang."
Hỏi:
"Vì sao lại như vậy?"	
Đáp:
"Tôi giảng "Đạo Quả" hoàn chỉnh nhất, thế nên Hỷ Kim Cang là hoàn chỉnh nhất. Thời Luân Kim Cang do Thubten Dhargye Thượng sư truyền thừa cho tôi, cộng thêm cả nguyên nhân có Cống Đường Thương Hoạt Phật giảng dạy nữa."


### 46. Pháp ngữ của Liên Sinh Hoạt Phật (6)


Hỏi:
"Chúng tôi tu pháp thì tu Bổn tôn trước hay là tu Hộ pháp Kim cang trước?"
Đáp:
"Tu Bổn tôn trước rồi mới tu Hộ pháp Kim cang."
Hỏi:
"Vì sao?"
Đáp:
"Hộ pháp Kim cang Minh vương đa phần đều là do Bổn tôn hóa hiện ra. Đã tương ứng với Bổn tôn rồi thì tự có thể tương ứng với Kim cang Minh vương."
Hỏi:
"Bản địa của Kim Cang Thủ Bồ Tát là…?"	
Đáp:
"Đại Thế Chí Bồ Tát."
Hỏi:
"Bản địa của Đại Uy Đức Kim Cang là…?"
Đáp:
"Văn Thù Bồ Tát."
Hỏi:
"Bản địa của Đại Luân Kim Cang là…?"
Đáp:
"Di Lặc Bồ Tát."
Hỏi:
"Bản địa của Mã Đầu Kim Cang là…?"
Đáp:
"Quan Thế Âm Bồ Tát."
Hỏi:
"Bản địa của Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang là…?"
Đáp:
"A Đạt Nhĩ Mã Phật (Bản Sơ Phật)."
Hỏi:
"Bản địa của Thời Luân Kim Cang là…?"
Đáp:
"Thích Ca Mâu Ni Phật." (Phật Đà hóa hiện tại tháp Cát Tường Mễ Tụ ở miền Nam Ấn Độ.)
Chú thích:
Ngũ Phương Phật có ngũ đại Kim Cang Minh Vương, bát đại Bồ Tát có bát đại Kim Cang Minh Vương, mỗi vị Bồ Tát đều có Minh Vương. Kim Cang Minh Vương vốn là do tâm các vị Phật Bồ Tát hóa hiện ra.
Hỏi:
"Uế Tích Kim Cang?"
Đáp:
"Thích Ca Mâu Ni Phật."
Hỏi:
"Bất Động Minh Vương?"
Đáp:
"Đại Nhật Như Lai hóa hiện ra."
Hỏi:
"Ý nghĩa chính của Hộ pháp Kim Cang Minh Vương là gì?"
Đáp:
"Có đại uy thần lực, có thể kiểm soát hàng phục mọi ma quỷ, có thể tiêu diệt tất cả các tai nạn do địa, thủy, hỏa, phong, bảo hộ sự an toàn cho hành giả tu hành, cũng có thể phá bỏ các bùa chú giáng đầu, diệt trừ ma quỷ tới xâm phạm, tất cả tà ma đều tiêu trừ…"
Hỏi:
"Chân Phật Tông có Hộ pháp không? Nghe nói có hai vị đại Hộ pháp?"
Đáp:
"Là Ma Lợi Chi Thiên và Đại Lực Kim Cang."
Hỏi:
"Ma Lợi Chi Thiên là do vị nào hóa hiện?"
Đáp:
"Đại Nhật Như Lai." (Ngài đi phía trước mặt trời.)
Hỏi:
"Đại Lực Kim Cang thì sao?"
Đáp:
"Liên Hoa Đồng Tử." (Gồm có các vị như Địa Tạng, Đại Lực, Kim Mẫu hợp nhất mà hóa hiện ra.)


### 47. Pháp ngữ của Liên Sinh Hoạt Phật (7)


Hỏi:
"Học Phật thì điều quan trọng trước tiên là phát bồ đề tâm, thế nào gọi là phát bồ đề tâm?"
Đáp:
"Bồ đề tâm chính là tấm lòng mong muốn làm lợi cho chúng sinh, đại bồ đề tâm là xem tất cả chúng sinh như chính bản thân mình."
Chú thích:
Từ — làm người khác vui.
Bi — diệt trừ mọi đau khổ của chúng sinh.
Hỷ — vui vẻ làm những việc tốt cho chúng sinh khắp thập phương.
Xả — tâm Phật và chúng sinh không có sự phân biệt, bình đẳng xả bỏ.
Hỏi:
"Vì sao trước tiên cần phát bồ đề tâm?"
Đáp:
"Cũng giống như nhân, cũng giống như quả. Phát tâm là nhân, thành Phật là quả."
Hỏi:
"Phát bồ đề tâm có sự phân biệt lớn nhỏ không?"
Đáp:
"Có."
Chú thích:
Thanh Văn — phát tâm sau khi mình thành tựu, mới độ cho người khác. (tự lợi)
Duyên Giác — bản thân thành tựu trước, do vậy còn được gọi là Độc Giác. (tự lợi)
Bồ Tát — phát tâm sau khi độ hết chúng sinh xong bản thân mới thành Phật. (lợi tha)
Phật — vô nhân ngã tướng, Phật và chúng sinh bình đẳng. (tự - tha bình đẳng)

Hỏi:
"Cái gọi là mọi việc ác không làm, mọi việc thiện đều làm, tự thanh tịnh ý, đây là chư Phật dạy hay là có ý nghĩa gì?"
Đáp:
"Mọi việc ác đừng làm là giữ giới. Mọi việc thiện đều làm là phát bồ đề tâm. Tự thanh tịnh ý là tu hành. Đây đều là giáo hóa của Phật."
Hỏi:
"Lư Sư Tôn có thuyết pháp thắng nghĩa không?"
Đáp:
"Tôi nói:
Niệm vô niệm.
Tu vô tu.
Chứng vô chứng.
Ngã vô ngã
Đây là thắng nghĩa của tôi."
(Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng.)

Hỏi:
"Chúng ta cúng dường Bổn tôn thì dùng cúng phẩm gì?"
Đáp:
"Hoa, hương, đèn, trà, quả là ngũ cúng. Bát cúng thì thêm vỏ ốc như ý, phấn thơm, nước tắm. Kì thực cúng phẩm rất nhiều, ví dụ có ba mươi bảy món cúng như: núi Tu Di, Đông Thắng Thần Châu, Nam Chiêm (Thiệm) Bộ Châu, Tây Ngưu Hạ Châu, Bắc Câu Lư Châu, nhật, nguyệt, bát tiểu châu, bánh xe, voi, ngựa, châu ngọc, tướng quân, ngọc nữ, chủ tạng, bảo tạng, bảo sơn, bảo ngưu, bảo thụ, gạo, đại bảo cái, tiểu bảo cái, hoa, hương, đèn, đất. Còn có thêm trò chơi, tóc hoa, lời hát, điệu múa."
Hỏi:
"Nhiều như vậy sao?"
Đáp:
"Không chỉ những thứ này, con người hiện đại còn cúng cả: xe hơi, nhà lầu, châu báu, bất động sản, vàng bạc, bạch kim, kim cương…."
Hỏi:
"Xin hỏi Lư Sư Tôn, cúng dường lớn nhất là cái gì?"
Đáp:
"Cúng tâm, cúng pháp."
Hỏi:
"Tâm, pháp là gì?"
Đáp:
"Thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh, đều là cúng dường lớn nhất. Còn có cúng dường đại lạc, cúng dường quang minh, cúng dường tính Không, đều được xem là số một." (Bồ đề tâm là đại cúng dường.)


### 48. Pháp ngữ của Liên Sinh Hoạt Phật (8)


Hỏi:
"Hành giả Mật giáo tu hành có cần phải chọn nơi địa linh không?"
Đáp:
"Cần. Ví dụ: hang động của các vị tu hành giả vĩ đại như hang động của ngài Liên Hoa Sinh, hang động của ngài Milarepa, đều là những nơi có lực gia trì rất mạnh."
Chú thích:
Còn có:
Tám thánh địa lớn của Phật Đà.
Hang động của Đại Ca Diếp.
Hang động của Xá Lợi Phất.
Hang động của Tân Đầu Lư.
Núi Phổ Đà của Quan Thế Âm Bồ Tát.
Núi Ngũ Đài của Văn Thù Bồ Tát.
Núi Nga Mi của Phổ Hiền Bồ Tát.
Núi Cửu Hoa của Địa Tạng Bồ Tát.
Còn có:
Lôi Tạng Tự tại Seattle, Mỹ. 
Lôi Tạng Tự Đài Loan.
Cầu Vồng Lôi Tạng Tự ở Mỹ, nơi có phong thủy thất tinh lạc địa v.v…
(Đây đều là những nơi có địa linh.)
Hỏi:
"Có đại tu hành giả nào không cần đến sự giúp đỡ của địa linh không?"
Đáp:
"Có. Nếu đại hành giả đã giác ngộ được ta chính là Phật, nơi ta sống là điện Phật, người thân là các vị Bồ Tát, quần áo ta mặc là thiên y thanh tịnh, nơi ta đến đều là Phật thổ, đại hành giả như vậy thì đã đạt tới tâm không còn phân biệt, thì ở nơi nào cũng đều được cả."
Chú thích:
Lò giết mổ.
Ca kỹ viện.
Nơi ở của quỷ la sát.
Nơi ở của dạ xoa.
Nghĩa trang.
Rừng sâu nhiều thú dữ.
Những khu vực nhiễm độc.
v.v.
Thì đại hành giả đều không được đến.
Hỏi:
"Có người tụng chú hoặc Phật hiệu thì có cấm kỵ gì không? Ví dụ không được làm ở những nơi như toilet, phòng tắm?"
Đáp:
"Tâm chúng sinh có sự phân biệt sạch bẩn, còn đối với tâm của Thánh giả thì không còn phân biệt sạch bẩn. Ngoài ra, có một số câu chú Hộ pháp, do lời thề nguyện khác nhau nên sẽ có cấm kỵ."
Hỏi:
"Người tụng chú có cần quy y Thượng sư không?"
Đáp:
"Quy y thì tốt hơn, bởi vì sẽ có lực gia trì của Thượng sư, công đức tương đối lớn. Còn người không quy y mà tụng chú thì công đức nhỏ."
Hỏi:
"Chú dài, chú ngắn, tâm chú, có sự khác biệt về công đức không?"
Đáp:
"Không có khác biệt. Nhiều thời gian thì trì chú dài, ít thời gian thì trì tâm chú."

Hỏi:
"Lư Sư Tôn, vì sao ngài lại tôn sùng Cao Vương Kinh như vậy?"
Đáp:
"Bởi vì nội dung của kinh này đều là danh hiệu của Phật Bồ Tát. Có Phật quá khứ, Phật hiện tại, Phật tương lai. Còn có các vị đại Bồ Tát. Trong kinh có lời, nhưng trì danh hiệu của Quan Thế Âm Bồ Tát thì công đức rất lớn. Nay ta còn trì tụng cả danh hiệu của thập phương tam thế tất cả chư Phật Bồ Tát thì công đức cũng to lớn như vậy."
Hỏi:
"Lư Sư Tôn thích chú nào nhất?"
Đáp:
"Chú lục tự đại minh, chú Đại Bi, chú Văn Thù, chú Tôn Thắng, chú Đại Bạch Tản Cái, Thất Phật diệt tội chân ngôn, ngoài ra còn có chú Liên Hoa Đồng Tử ...


### 49. Pháp ngữ của Liên Sinh Hoạt Phật (9)


Hỏi:
"Lư Sư Tôn! Quan điểm tôn giáo của ngài thế nào?"
Đáp:
"Bình đẳng! Bình đẳng! Ví dụ: tôi cũng xem chúa Jesus của đạo Cơ Đốc như guru của mình, vì trong giáo pháp của ngài có Phật pháp."
Chú thích:
Trong "Đăng Sơn Bảo Huấn", ngài đã lấy năm cái bánh và hai con cá biến hóa ra khiến cho mọi người đều được ăn no. Đại thần biến này trong Phật giáo cũng có. 
Jesus nói:
Tay trái làm việc tốt, đừng để cho tay phải biết. Điều này trong giáo pháp của Phật Đà cũng có, là "bất tư thiện". (tam luân thể không)
Jesus nói:
Có người ăn cắp quần áo của bạn, thế thì bạn cho hắn ta cả đồ lót luôn. Việc này chính là xem chúng sinh như chính mình. (vô duyên đại từ, đồng thể đại bi).
Jesus nói:
Có người tát bạn vào má phải, thế thì bạn đưa má trái cho họ tát luôn. Đây là pháp "vô ngã". 
Jesus cũng đã hiển hiện rất nhiều thần tích, ví dụ như đi trên mặt biển. Thần tích này là để dạy cho các đệ tử của ngài có niềm tin sâu đậm mà thành tâm cầu pháp, đừng phát sinh tâm ngờ vực đối với guru.

Hỏi:
"Ngoài chúa Jesus ra thì đối với các tôn giáo khác ngài nghĩ sao?"
Đáp:
"Bình đẳng tôn trọng. Tôi luôn tìm kiếm những điểm tương đồng trong những cái khác biệt. Đối với Đại Phạm Thiên, Biến Tịnh Thiên, Đại Tự Tại Thiên của Ấn Độ giáo, tôi đều tôn trọng.
Hỏi:
"Hồi giáo thì sao?"
Đáp:
"Tôn trọng."

Hỏi:
"Lư Sư Tôn! Vì sao ngài lại sùng bái Diêu Trì Kim Mẫu như vậy?"
Đáp:
"Diêu Trì Kim Mẫu là Đại Kim Tiên, ngài đã thay đổi cả cuộc đời này của tôi. Ngài mở thiên nhãn của tôi, hướng dẫn tôi đi trên con đường học Phật, ngài là người thầy vĩ đại của tôi, là trân bảo. Đời này của tôi đều là do ngài ban cho. Ngài là người mà tôi tôn sùng nhất."
Hỏi:
"Ngài có cách nhìn thế nào đối với Hiển giáo và Mật giáo?"
Đáp:
"Hoàn toàn hợp nhất. Giống như mu bàn tay và lòng bàn tay vậy."
Hỏi:
"Nếu cùng lúc tu Hiển và Mật thì sao?"
Đáp:
"Nếu cùng lúc tu Hiển Mật thì vạn người tu vạn người thành tựu!"
Hỏi:
"Lư Sư Tôn, Bổn tôn của ngài là Diêu Trì Kim Mẫu, A Di Đà Phật, Địa Tạng Bồ Tát, vì sao vậy?"
Đáp:
"Diêu Trì Kim Mẫu — tôn sùng số một, thay đổi cuộc đời tôi.
A Di Đà Phật — nguyện lực lớn nhất, có 48 nguyện độ chúng sinh.
Địa Tạng Bồ Tát — thề nguyện sâu sắc nhất. Địa ngục chưa trống thì chưa thành Phật."

Hỏi:
"Lư Sư Tôn, hiện tại ngài tu hành thế nào?"
Đáp:
"Tu trung quán để có tâm thanh tịnh, xem tất cả mọi pháp đều như mộng như huyễn, toàn nhiên, chẳng có được cũng chẳng mất. Không chấp vào tướng để tu lục độ vạn hành."
Hỏi:
"Ngài có nhập Tam muội địa không?"
Đáp:
"Nhất hành tam muội, nhất niệm tam muội, nhất tướng tam muội, vô niệm tam muội, vô tướng tam muội, vô trụ tam muội. Tôi học vô ngã, vô sinh, vô vô sinh, vô diệt, không, vô niệm." (chân đế của đạo giải thoát)

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/276-but-ky-nam-son-nha-xa.md
# Title: 276. Bút ký Nam Sơn Nhã Xá
---

![image](/img/img_e36340ea8c24d7b68af960de6b451e20.jpg)



## Bút ký Nam Sơn Nhã Xá


🪷 Cảm nhận của tâm

Văn tập số: 276
Xuất bản năm: 03/2020
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu


Tôi (Lư Thắng Ngạn), trong khoảng thời gian ở Seattle nước Mỹ, tổng cộng đã chuyển nhà năm lần.

1. Quận Ballard (Linh Tiên Các).
2. Redmond (Chân Phật Mật Uyển).
3. Bellevue (hồ U Linh). [Phantom lake]
4. Redmond (Gunshy Ridge).
5. Bellevue (Nam Sơn Nhã Xá). 

Năm 38 tuổi, tôi di cư đến Seattle bang Washington nước Mỹ. Năm nay tôi đã 75 tuổi, vậy là tôi đã ở nước Mỹ được 37 năm rồi.
Có thể nói thế này:
Một nửa cuộc đời tôi sống ở Đài Loan, một nửa cuộc đời sống tại Mỹ. Hai nơi này đều là nhà của tôi. Tôi rất yêu Đài Loan, cũng rất yêu nước Mỹ.

🌟

Có người hỏi tôi:
"Có phải ngài thích chuyển nhà không?"
Tôi đáp:
"Không phải. Tôi chỉ là phải thích ứng với hoàn cảnh, tùy theo nhân duyên của bản thân nên mới chuyển nhà thôi."

Lại có người hỏi:
"Ngài có định chuyển nhà nữa không?"
Tôi đáp:
"Tôi đã 75 tuổi rồi, tôi cực kì hài lòng với Nam Sơn Nhã Xá mà tôi đang ở hiện tại. Tôi thường nghĩ đây là lần chuyển nhà cuối cùng của tôi, tôi sẽ không chuyển nhà nữa."

Lại có người hỏi:
"Vì sao ngài thích Nam Sơn Nhã Xá?"
Tôi đáp:
"Nam Sơn Nhã Xá rộng khoảng 2.000m2, trước sau đều có sân vườn rộng rãi, cây cối tốt tươi, khắp nơi trồng thông tùng, vô cùng yên tĩnh, nhìn đâu cũng thấy màu xanh, có rừng trúc, có cây lá phong, đất có linh khí, là nơi đất quý cho tu hành, một ngôi nhà như vậy rất khó tìm được."
Hỏi:
"Ngài viết cuốn sách "Bút ký Nam Sơn Nhã Xá" này, nội dung là gì vậy?"
Tôi đáp:
"Nam Sơn Nhã Xá là nhà của tôi, bút ký chính là những gì tôi nhớ đến, tôi gặp được, tâm tôi cảm nhận thấy, thì tôi đều viết ra."
Hỏi:
"Nội dung không giới hạn sao?"
Đáp:
"Đúng vậy."
Hỏi:
"Vậy thì rất là rộng?"
Đáp:
"Đúng vậy."

🌟

Tôi lấy một ví dụ:
Có một hôm, tôi lái xe về Nam Sơn Nhã Xá. Bất ngờ tôi nghe được cuộc trò chuyện giữa ma với ma. Con ma sống ở gần khu nhà tôi nói chuyện với một bầy ma từ phương xa đến.

Con ma địa phương hỏi:
"Các người từ đâu đến?"
Con ma phương xa nói:
"California, muốn tìm Lư Sư Tôn, đưa ông ấy trở về California!"
Ma địa phương nói:
"Tôi khuyên mấy người đừng có đi vào thì tốt hơn!"
Bầy ma hỏi:
"Vì sao?"
Ma địa phương nói:
"Tôi thấy rất nhiều ma đi vào nhà này rồi, nhưng chưa từng thấy con ma nào đi ra cả."

Ha ha! Lư Sư Tôn tôi là lão tổ tông bắt ma mà! Vạn tuế!

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A

Tháng 03 năm 2020


### 01. Đi xem bắc cực quang


Lương Dũng (Liên Ha) sống tại Brazil đến Seattle. Anh nói với tôi:
"Lần này đến sẽ đi Alaska, đi xem bắc cực quang."
Tôi nói:
"Gần đây rất nhiều đồng môn đều đi Alaska xem bắc cực quang, ví dụ như sư tỉ Tiểu Nguyệt ở Thượng Hải và giáo sư Xuân Liên ở Đài Loan vừa mới đi về."
Anh hỏi:
"Lư Sư Tôn, thầy có đi không?"
Tôi hỏi ngược lại:
"Tôi có cần phải đi không?"
Lương Dũng sững ra một hồi.

Tôi nói:
"Từ trên giường của tôi ở Nam Sơn Nhã Xá, tôi đã nhìn thấy bắc cực quang rồi."
Lúc này anh mới hiểu ý, gật gật đầu. Anh nói:
"Lư Sư Tôn thì khác!"

🌟

Tôi từng kể:
"Tôi và Phật Thích Ca Mâu Ni đã cùng uống cà phê tại Tây Môn Đình ở Đài Bắc!"
Phật Đà cầm lên một cây bút và viết năm chữ "Đại Quang Tự Tại Phật".
Tôi nói:
"Chữ "đại" to quá, không hay lắm."
Phật Đà thuận theo ý của tôi, đổi lại chữ đầu tiên thành "Hoa Quang Tự Tại Phật".
Tôi cảm tạ Phật Thích Ca Mâu Ni đã thọ ký.

Sự việc này tôi đã kể lại trong sách rồi. Kết quả là nhận được phản ứng của các giới như sau:
"Phật Thích Ca Mâu Ni đã chết từ 2600 năm trước rồi!"
"Lư Sư Tôn là đồ lừa bịp!"
"Thánh bịp bợm!"
"Yêu ma quỷ quái!"
"Lư Sư Tôn nói láo!"
"Vớ vẩn!"
"Không thể nào!"
"Lư Sư Tôn tự đề cao giá trị bản thân quá!"
…

🌟

Nhưng tôi tự biết rằng:
Tôi là Xá Lợi Phất tôn giả trí huệ duy nhất không phân biệt vào thời đại Phật Thích Ca. Tôi cũng là Long Thụ Bồ Tát mở tháp sắt ở Nam Thiên Trúc. Tôi là Bí Mật Chủ của khắp hư không vô tận pháp giới. Tôi là Atisha tôn giả của Mật tạng thời kỳ sau. Tôi là Tsongkhapa tôn giả khai tông lập phái. Tôi là Liên Hoa Đồng Tử Lư Thắng Ngạn.

“Văn Thù Mật Tục” viết:
*"Tam thế tiền ngã sinh.
Chư Phật tiền ngã sinh.
Tam thế hậu ngã sinh.
Tam thế kim ngã sinh."*

Những tên gọi này cũng chỉ là nhất thời, bản thân tôi biết rằng đó chỉ là sự hóa hiện của tự tính mà thôi. Hóa hiện tự tính là gì?
Người bố thí.
Người trí huệ.
Người trang nghiêm.
Người biện tài.
Người thiền định.
Người pháp nhẫn.
Người tinh tấn.
Người huệ mẫn.

Do vậy, việc tôi ở trên chiếc giường của mình ở Nam Sơn Nhã Xá nhà tôi ở nhìn thấy bắc cực quang thực sự cũng chẳng phải là việc khó.
Do vậy, trong xã hội hiện đại này, tôi giao thiệp với Phật Thích Ca Mâu Ni cũng chẳng phải là việc gì khó.


### 02. Từ "có" thành "không"


Trước tiên tôi công bố một bức thư:
Đảnh lễ Sư Tôn kính yêu vô vàn tôn quý!
Đệ tử Liên Hoa Trần Lệ đến từ thành phố Surabaya, Indonesia, năm nay 45 tuổi. Hai tháng trước, đệ tử phát hiện bên dưới tai trái của mình có một khối u lớn khoảng 1cm, cứng giống như một quả bóng nhỏ. Trong lòng đệ tử rất sợ, vì thế đã đi khám bác sĩ.

Bác sĩ nói:
"Nhất định cần mổ lấy khối u ra để làm hóa nghiệm mới có thể xác định được khối u này là ác tính hay lành tính."
Nhưng bác sĩ cũng lại nói với đệ tử rằng:
"Cha mẹ của đệ tử đều có ung thư hạch bạch huyết, do vậy có khả năng rất lớn đây chính là ung thư."

Sau khi nghe xong lời giải thích của bác sĩ, đệ tử rất lo lắng, trong lòng cũng rất hoảng loạn, ngủ không yên.

🌟

Đệ tử đem chuyện này kể với bạn của đệ tử là giảng sư Nhất Long và trợ giảng Trần Nam. Hai người họ động viên đệ tử trước tiên hãy đến Seattle thỉnh cầu Sư Tôn gia trì và hỏi Sư Tôn xem có cần phải phẫu thuật không.

Đệ tử đi cùng giảng sư Nhất Long và trợ giảng Trần Nam đến Seattle, vừa hay đến kịp lúc Sư Tôn đang gia trì cho mọi người sau bữa trưa tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự. Lúc Sư Tôn sờ đầu có cảm giác một dòng chảy ấm áp đi qua, sau khi được sờ đầu, đệ tử lập tức nhờ giảng sư Nhất Long giúp đệ tử viết vào phiếu hỏi việc vào ngày mai, liên quan đến việc có cần phải phẫu thuật khối u không. Nhưng giảng sư Nhất Long nhìn khối u bên dưới tai của đệ tử thì ông rất kinh ngạc nói với đệ tử rằng:
"Khối u của cô biến mất rồi!"

Đệ tử lập tức đưa tay sờ thử, thực sự là không còn nữa. Vốn dĩ khối u này rất dễ nhìn thấy, bởi vì trong vòng hai tháng nay, nó đã lớn lên rất nhanh chóng. Đệ tử thật không thể ngờ rằng chỉ sau một lần sờ đầu gia trì của Sư Tôn mà khối u này đã biến mất như một kỳ tích rồi.

Ngoài cảm ơn ra thì đệ tử vẫn chỉ biết cảm ơn thôi.
Cảm tạ sức mạnh đại từ bi của Sư Tôn, sức mạnh gia trì vĩ đại của Sư Tôn, Phật lực gia trì bất khả tư nghì. Trong chốc lát Sư Tôn đã chữa khỏi bệnh cho đệ tử rồi.
Sư Tôn!
Cảm ơn vì có Thầy!
Có Thầy thật tốt!
Một lần nữa đệ tử cảm ơn Sư Tôn vô cùng.
Đệ tử kiền thành chúc phúc Sư Tôn Phật thể an khang, thường trụ thế gian, trường thọ tự tại, mãi chuyển pháp luân, hết thảy đều như ý cát tường!

(Thời gian xảy ra sự việc này là: Chủ Nhật ngày 20 tháng 10 năm 2019, trước pháp hội Thời Luân Kim Cang. Sau bữa ăn trưa.)

Đệ tử Liên Hoa Trần Lệ kiền thành khấu đầu đảnh lễ.
Ngày 23 tháng 10 năm 2019.

🌟

Ung thư biến mất!
Từ "có" thành "không"!

Ví dụ thực tế này cũng không phải là ít!
Cháu trai của thượng sư Liên Mãn có u trong não, chỉ trong một đêm đã hoàn toàn biến mất. Khối u trong não của cô Elizabeth cũng trong một buổi tối ngủ mơ thấy tôi đến làm phẫu thuật, qua đêm đó cũng biến mất. Ông Hồng Long lái xe qua nơi tổ chức pháp hội, nghe thấy chú âm, toàn thân nóng rực, khối u to ở cổ họng chỉ trong một chốc đã biến mất, buổi sáng vẫn còn thấy, buổi chiều đã không thấy nữa.

Liên Hoa Hương Giang trong pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang có khối u ở cánh tay cũng biến mất.
...

🌟

Liên Hoa Trần Lệ kể với tôi rằng cô thực tu ba việc:

1. Tu pháp do Căn bản Thượng sư Lư Sư Tôn giáo thị, một ngày ba thời.

2. Lợi ích hết thảy hữu tình, tự mình thể nghiệm, nỗ lực thực hành.

3. Bố thí trân bảo cúng dường Căn bản Thượng sư.

Đây là ba điều quan trọng khiến thầy vui lòng.

Tôi nói:
"Hoàn toàn nhanh chóng tiến vào pháp giới, có thể thực hiện được tất cả sức mạnh thần thông!"


### 03. Công khóa mỗi ngày tôi đều phải tu


Đệ tử hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Công khóa mà thầy nhất định phải tu mỗi ngày là gì?"
Tôi đáp:
"Hợp nhất cùng Bổn tôn, nhập vào Tam ma địa."

Tôi thực lòng thực sự nói để mọi người biết như sau:
Thời gian: 11 giờ tối.
Địa điểm: Nam Sơn Nhã Xá.
Bổn tôn xuất hiện ở trên cao phía trước mặt tôi, rồi ngài từ từ nhập vào bên trong thân thể tôi.
Thân của tôi là thân của Bổn tôn.
Khẩu của tôi là khẩu của Bổn tôn.
Ý của tôi là ý của Bổn tôn.
Bí mật hợp nhất.
Không hai không khác.
Từ đó tôi nhập vào trong Tam ma địa của Bổn tôn. (thiền định)
Đây chính là công khóa mà mỗi ngày tôi nhất định phải tu.

🌟

Đệ tử hỏi tôi:
"Trong Tam ma địa có cảm giác gì không?"
Tôi đáp:
"Vô cùng vi diệu!"
Tôi nói:
An lạc.
Thọ mệnh vô lượng.
Uy quang vô lượng.
Lấy pháp hỷ là thức ăn.
Không có đau khổ, phá giới, phạm tội.
Bảo vật trân quý, thứ gì cũng có.
Cung điện trang nghiêm, thù thắng không gì sánh bằng.
Không có phân biệt ngày đêm.
Không có dục vọng, ngũ trược đều bị loại bỏ ra ngoài.
Ánh sáng và hương thơm tinh tế bao phủ khắp nơi.
Thông đạt mọi Phật pháp, không bỏ sót điều gì.
Tôi muốn viết ra hết những cảm giác khi ở trong Tam ma địa thì thực sự là không thể, bởi vì ở trong Tam ma địa không có thời gian, không có không gian, nó là ý vô tận.

Tóm lại là có:
Pháp lạc.
Quang minh.
Tính Không.
Chính là ở trong đó.

🌟

Đệ tử hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Thầy cùng Bổn tôn hợp nhất, nhập vào Tam ma địa, có công đức gì?"
Tôi đáp:
"Vô lượng công đức."

Tôi nói:
Tôi hợp nhất cùng Diêu Trì Kim Mẫu, dựa vào pháp lực của Diêu Trì Kim Mẫu có thể chữa khỏi bệnh tật của chúng sinh.
Tôi hợp nhất cùng A Di Đà Phật, có thể tiếp dẫn những chúng sinh có duyên với tôi vãng sinh đến Tây phương tịnh thổ Cực Lạc thanh tịnh.
Tôi hợp nhất cùng Địa Tạng Bồ Tát, có thể độ hóa đạo địa ngục, đạo ngạ quỷ, đạo súc sinh, chúng sinh lục đạo được an lạc.

Đệ tử hỏi:
"Lúc này có bồ đề tâm không?"
Tôi đáp:
"Tôi chính là bồ đề.
Bồ đề chính là tôi.
Tôi chính là tính Không.
Tính Không chính là tôi."

(Tôi hy vọng các đệ tử hiểu được lời này của tôi.)


### 04. Luật lệnh của Thần Gió


Một ngày nọ.
Một trong bốn bà bác sống ở California nước Mỹ là sư tỉ Tôn Ái Trân đã gửi đến cho tôi một tin nhắn. Tin nhắn này để ở trên bàn làm việc của tôi ở Tông Ủy Hội.

Nội dung tin nhắn như sau:
"California rừng cháy lớn. Đã thiêu trụi rất nhiều khu vực. Hai mươi vạn người, lang thang không nhà. Ngọn lửa điên cuồng chỉ cần đốt cháy thêm hai ngôi nhà nữa là tới ngôi nhà mà người thân của Tôn Ái Trân sống. Cư dân ở khu vực lân cận đã nhận được thông báo từ sớm là cần mau chóng rời đi vì sự an toàn cho tính mạng và tài sản. Ở khu vực đó đều là các ngôi nhà lớn."

Tôn Ái Trân là một trong số bốn bà bác ở California, là một trong những đệ tử tu trì Phật pháp tinh tấn nhất. Bà thỉnh cầu Sư Tôn gia trì!
Tôi đọc xong tin nhắn thì lập tức nhắm mắt lại, tập trung tinh thần, ấn bàn tay lên tờ tin nhắn, niệm chân ngôn:
"Na-mô yê-fây sô-ha."
Giữa những đám mây xuất hiện Thần Gió, ngài mặc áo giáp, tay trái chống nạnh, tay phải cầm thanh kiếm một đầu, trên kiếm có một dải băng màu đỏ. Có hai thiên nữ theo bên cạnh phục vụ. Còn có cả dược xoa.
Tôi lại niệm:
"Thiên viên địa phương, luật lệnh cửu chương, tốc thỉnh phong thiên, chuyển nguy vi an."
Thần Gió nhận luật lệnh pháp chỉ của Lư Sư Tôn, nhanh chóng rời đi!

🌟

Khoảng hai ngày sau.
Trên bàn làm việc của tôi lại có tin nhắn của Tôn Ái Trân như sau:
"Sự gia trì của Lư Sư Tôn thật khiến người ta kinh ngạc.
Lúc đó rõ ràng là sức lửa đã không thể nào thay đổi được, căn nhà lớn của người thân sắp sửa bị thiêu rụi. Đột nhiên mặt đất nổi lên một cơn gió kỳ lạ, gió thổi theo chiều ngược lại, ngọn lửa nhanh chóng bị dập tắt. Ngôi nhà lớn của người thân đã được cứu rồi. Vô cùng cảm tạ!"

🌟

Tôi thật lòng thật sự nói cho mọi người biết, tôi có ba luật lệnh lớn:

1. Luật lệnh Diêu Trì Kim Mẫu.

2. Luật lệnh Như Lai.

3. Luật lệnh Địa Tạng Bồ Tát.

Trong luật lệnh của Diêu Trì Kim Mẫu, ở trong Bắc phương thế giới, ngài chịu trách nhiệm cai quản 12 vị Thiên. 12 vị Thiên này tức là:
Đại Tự Tại Thiên, Đế Thích Thiên, Hỏa Thiên, Phạm Thiên, Nhật Thiên, Bì Sa Môn Thiên, Tứ Tí Bất Động, Diễm Ma Thiên, Địa Thiên, Nguyệt Thiên, Phong Thiên, Thủy Thiên, La Sát Thiên.

Bởi vậy, tôi có thể điều động Thần Gió (Phong Thiên).

Nhưng tôi vẫn cần phải giải thích thêm rằng: có thể thỉnh cầu mà đồng thời có được tác động đều là do có nhân duyên quả báo.
Sư tỉ Tôn Ái Trân tinh tấn tu trì Mật pháp.
Bà ấy đã tương ứng với Quan Thế Âm Bồ Tát.
Tấm lòng lương thiện.
Trầm tĩnh ít lời.
Là một nữ sĩ tu Mật.

Có nhân duyên này nên điều bà ấy thỉnh cầu mới nhanh chóng được Thần Gió đáp ứng.
Gió có thể chuyển hướng!
Lành thay! Lành thay!


### 05. Những nghi ngờ về Long Nữ thành Phật


Vào giờ ăn cơm tại Seattle Lôi Tạng Tự, có đệ tử đặt vấn đề rằng phái nữ rốt cục có thể thành Phật được không?

Có đệ tử nói:
"Không thể! Thân nữ có năm loại rò rỉ, do vậy không thể thành Phật."
Có đệ tử nói:
"Thân nữ thậm chí còn không thể thành tựu Phạm Thiên Vương, Đế Thích, Tứ Đại Thiên Vương, Chuyển Luân Vương, Bất Thoái Chuyển Bồ Tát, huống hồ là thành Phật."

Chú thích:
Phạm Thiên Vương — thân nam.
Đế Thích — thân nam.
Tứ Đại Thiên Vương — thân nam.
Chuyển Luân Vương — thân nam.
Bất Thóai Chuyển Bồ Tát — thân nam.

Có đệ tử nói:
"Nhưng trong kinh Phật có nói Long Nữ thành Phật, rốt cục chuyện này là sao?"
Có đệ tử nói:
"Long Nữ là trực tiếp thành Phật đó. Phái nữ vẫn có thể thành Phật được."
Họ đồng loạt nhìn về phía tôi. Tôi nói:
"Theo cách nói của kinh Diệu Pháp Liên Hoa thì: Long Nữ lên 8 tuổi, bởi trí tuệ hơn người, căn cơ sáng suốt lanh lợi, có trí huệ đà-la-ni đẳng trì và nguyện lực quảng đại, nhan sắc đáng yêu, tâm từ bi tràn trề, lời nói êm đẹp, có thể thành Phật."

Có đệ tử hỏi:
"Thích Ca Như Lai vì vô thượng bồ đề đã thực hành hạnh Bồ Tát trong nhiều kiếp, nhiều kiếp tinh tấn, thậm chí hy sinh tính mạng, tích tập được rất nhiều phúc đức mới thành Phật được. Còn nàng Long Nữ này có phúc đức gì?"
Tôi nói:
"Việc Long Nữ thành Phật cũng có nguyên nhân:

1. Bồ Đề tâm không thoái chuyển.

2. Trí huệ vô lượng.

3. Trong nhiều kiếp đã tu trì sáu ba-la-mật.

4. Tích tập phúc đức tương đương với Thích Ca Như Lai.

🌟

Căn cứ theo những ghi chép trong kinh điển:
Long Nữ có một viên ngọc bảo châu có giá trị lớn như đại thiên thế giới. Nàng đã cúng dường nó cho Phật Đà. Phật Đà đã tiếp nhận viên ngọc bảo châu cúng dường này, dùng đại thần biến để gia trì cho Long Nữ.
Lúc này, Xá Lợi Phất trông thấy:
Nữ căn của Long Nữ biến mất.
Long Nữ xuất hiện nam căn.
Trở thành Bồ Tát.

Long Nữ đi về Nam phương thế giới, ở dưới cây Thất Bảo đã thành Phật, có đầy đủ mọi tướng tốt của đại trượng phu. Ánh sáng chiếu rọi khắp thập phương, rồi ngài vì chúng sinh mà giảng kinh thuyết pháp.

🌟

Đệ tử hỏi:
"Có thật là nữ căn của Long Nữ biến thành nam căn không?"
Tôi đáp:
"Đúng vậy."
Đệ tử hỏi:
"Vì sao Thích Ca Như Lai lại muốn gia trì cho Long Nữ thành Phật?"
Tôi đáp:
"Giới nữ cũng có Phật tính, chẳng phải thế sao! Do vậy ví dụ này để cho chúng sinh thấy vô thượng bồ đề bất thoái chuyển."
Đệ tử xuýt xoa:
"Thật là bất khả tư nghì."
Tôi nói:
"Thế giới Ta Bà này, các sự việc bất khả tư nghì quá nhiều rồi, đều là những việc nằm ngoài tưởng tượng của con người."

(Tôi cho rằng Long Nữ tám tuổi thành Phật, điểm quan trọng là ở trí huệ đà-la-ni, cần biết rằng, trí huệ đà-la-ni có đại uy thần lực vô thượng.)


### 06. Phật Đà nói với Xá Lợi Phất


Ngày xưa.
Phật Thích Ca Mâu Ni bảo Xá Lợi Phất vào trong hang đá, chỉ có hai người ngồi đối diện với nhau.

Phật Đà nói:
"Ông cần học tập theo Văn Thù Bồ Tát!"
Xá Lợi Phất nói:
"Vì sao? Phật Đà mới là người mà tôi nương dựa vào."
Thích Ca Như Lai nói:
"Vô lượng thập phương câu chi na do tha Phật Đà niết bàn, đều là do Văn Thù Bồ Tát khiến chúng ta chứng đắc vô thượng bồ đề."
Xá Lợi Phất cực kì kinh ngạc:
"Á! Thật sao?"
Thích Ca Như Lai gật gật đầu.

Xá Lợi Phất hỏi:
"Nhanh chóng nhập niết bàn rốt cục là như thế nào?"
Thích Ca Như Lai nói:
"Ông cần đi thỉnh giáo Văn Thù Bồ Tát, ngài sẽ trả lời ông!"

🌟

Xá Lợi Phất thỉnh giáo Văn Thù Bồ Tát, hỏi chuyện niết bàn ra sao. Văn Thù đáp:
"Nhanh chóng nhập niết bàn, nhưng niết bàn hoàn toàn không tồn tại. Tương tự, vạn pháp đều có sinh diệt, thực tế là không có sinh diệt, đây chính là tính bình đẳng.
…"

Xá Lợi Phất nghe xong thì lớn tiếng cảm thán:
"Đây mới là trí huệ đệ nhất!"
Xá Lợi Phất hỏi:
"Dùng cái gì để cúng dường Như Lai mới là thù thắng nhất?"
Văn Thù đáp:
"Một, tâm Bồ Tát. (bồ đề tâm)
Hai, độ cho tất cả chúng sinh đến cuối cùng đều được giải thoát.
Ba, không bỏ Tam Bảo truyền thừa.
Bốn, thanh tịnh mọi cõi Phật."

Chú thích:
Kinh Đại Thừa Tứ Pháp ghi chép:
Một, nhận lấy hết thảy tâm chúng sinh.
Hai, hiểu rõ hết thảy tâm chúng sinh.
Ba, thu thập hết thảy tâm thiện căn.
Bốn, giác ngộ hết thảy tâm Phật pháp.
(Đây cũng là cúng dường lớn nhất đến Như Lai.)

Xá Lợi Phất hỏi:
"Xin hỏi ngài từ đâu đến?"
Văn Thù đáp:
"Từ sát thổ ở phương Đông, vượt qua một vạn tám nghìn thế giới cõi Phật, từ chỗ của Bảo Đỉnh Như Lai mà đến."
Xá Lợi Phất hỏi:
"Thế giới này tôi cũng chẳng biết!"
Văn Thù đáp:
"Ngài chỉ cần dựa vào đại uy thần lực của tôi là có thể đến được!"
Thế là, trong một sát-na, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát đã đưa Xá Lợi Phất đi tham kiến Bảo Đỉnh Như Lai.

Chú thích:
Trong kinh Bất Thoái Chuyển ghi chép:
Xá Lợi Phất bước vào trong nhà của Văn Thù Bồ Tát, Văn Thù Bồ Tát đưa Xá Lợi Phất cùng cả ngôi nhà vượt qua Đông phương hằng hà sa số thế giới để đến được thế giới Bất Thoái Chuyển. Ở trước Quang Phục Liên Hoa Thân Như Lai đã nghe hiểu bất thoái chuyển pháp luân. Sau đó, khi trời còn chưa sáng thì đã về đến thế giới Ta Bà.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) nói:
Bất kể là quá khứ, hiện tại, vị lai, Văn Thù Bồ Tát vĩnh viễn là bậc trí huệ đệ nhất. Mặc dù Xá Lợi Phất cũng là bậc trí huệ số một, nhưng trí huệ số một này cũng không sánh bằng Văn Thù Bồ Tát. Trí huệ của Văn Thù Bồ Tát như nước của bốn đại dương, còn Xá Lợi Phất chỉ là một giọt nước.


### 07. Terma trong não tôi


Có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Ngài tự nói rằng trong não ngài có terma của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, điều này có thật không?"
Tôi đáp:
"Thật."
Người hỏi:
"Liên Hoa Sinh Đại Sĩ vào thời gian nào, địa điểm nào đã giấu terma vào trong não ngài?"
Tôi đáp:
"Đó là vào một kiếp trong quá khứ."
Người hỏi:
"Một kiếp trong quá khứ là kiếp nào?"

🌟

Tôi giải thích tỉ mỉ rõ ràng như sau:
Có một kiếp tôi là một vị vua Tây Tạng. (Hộ Pháp Vương)
Tôi tin tưởng Phật pháp sâu sắc. Nhưng các đại thần bình thường thì không tin, khi đó ở xứ Tây Tạng có đạo Bon thế lực hùng mạnh. Đối với Phật giáo, những đại thần này nói:
Đạo Bon là truyền thừa do các vị thần cõi Trời ban xuống, dân tộc Tây Tạng tin tưởng vào sự bảo hộ của chư thần.

Họ chỉ trích:
Liên Hoa Sinh là tên vô lại đến từ Ấn Độ. 
Là thầy phù thủy tà ác. 
Là tín ngưỡng ngoại tộc.

Họ cho rằng:
Tâm của Tạng Vương đã bị ma quỷ ăn mất rồi. 
Đầu não của dân chúng Tây Tạng đã bị phá hủy thì máu sẽ chảy tràn. 
Các đại thần Tây Tạng sẽ trở thành chó săn. 
Tây Tạng sẽ bị các tôn giáo ngoại lai hủy diệt.

Các vị đại thần liên kết lại với nhau, ngay cả Vương Phi Sách Bành phu nhân cũng gia nhập, yêu cầu Tạng Vương:
Bắt Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.
Giáng tội tà ma yêu thuật.
Giết chết Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.

Khi đó:
Mặc dù Tạng Vương tin Phật pháp, cũng cung kính Thượng sư của mình, nhưng để tránh cho Tây Tạng khỏi sự chia cắt, tránh các đại thần gây ồn ào xáo động, Tạng Vương đã đưa ra một quyết định. Nhà Vua đã cúng kim sa và vàng khối, mời Liên Hoa Sinh Đại Sĩ trở về Ấn Độ. Thậm chí Tạng Vương còn dâng tặng cho Liên Hoa Sinh Đại Sĩ công chúa Yeshe Tsogyal, sau đó đã lưu đày họ đến Lạc Trát [Lhozhag].

Thế là:
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ cùng Phật Mẫu Yeshe Tsogyal từ Nhã Mã Long xuống núi. Đến một nơi gọi là Nga Tạp, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ và Phật Mẫu đã đóng băng terma vào trong não của Tạng Vương.
Sau đó:
Hai người cưỡi trên một cỗ xe được tạo nên bằng ánh sáng trắng bay lên không trung, dần dần đi khuất. Đi tới Không Hành Hội Sở.

🌟

Tôi nói rằng:
"Tôi, Lư Sư Tôn, chính là Tạng Vương năm xưa, còn Liên Hoa Sinh Đại Sĩ tại một địa phương có tên là Nga Khả đã chôn giấu terma vào trong não của tôi."

Tôi nói:
"Tại kiếp này, tôi đã nhận được hai quán đảnh của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, một là quán đảnh đả khai thân đàn tràng, hai là quán đảnh nội ngoại mật hình thành nhất vị. Còn những thứ đã được giấu bên trong não thì lần lượt trồi hiện lên, tôi đã hiểu được chân đế, đọc hiểu hết kinh tục, lần lượt đều khai mở chúng ra hết, hơn nữa không bỏ sót cái gì. Tôi cảm tạ Thượng sư của tôi."


### 08. Ẩn ngữ của pháp song thân


Người hỏi:
"Lư Sư Tôn! Ngài có thực sự hiểu biết về Mật pháp song thân không?"
Tôi đáp:
"Biết!"

Người hỏi:
"Tại sao không viết rõ ràng tỉ mỉ thành một cuốn sách để cho mọi người chúng tôi đều biết hiểu về nó, để tránh chỉ biết một mà không biết mười?"
Tôi đáp:
"Không thể."

Người hỏi:
"Vì sao vậy?"
Tôi đáp:
"Căn khí của mỗi người khác nhau, trên thực tế nếu đem công bố Mật pháp song thân của thắng nghĩa đế ra sẽ khiến cho một số người thấy xấu hổ thẹn thùng, có người sẽ do dự, rồi có người cho rằng quá trần tục suồng sã, rất nhiều người sẽ phỉ báng, chắc chắn sẽ gây nên sự hỗn loạn lớn."

🌟

Người hỏi:
"Người nào có thể tu?"
Tôi đáp:
"Người có căn khí lớn."

Người hỏi:
"Điều kiện là gì?"
Tôi đáp:
"Chí ít phải là người đã khai ngộ, cũng đã hoàn toàn vô lậu. Phải được Căn bản Thượng sư truyền thụ quán đảnh rồi bí mật hướng dẫn."

Người hỏi:
"Lư Sư Tôn! Ngài có thể hé lộ một chút được không, bằng không người ta sẽ cho rằng ngài giả vờ biết nhưng thực ra lại chẳng biết?"
Tôi đáp:
"Vậy tôi sẽ dùng cách nói gián tiếp vậy."
Người hỏi:
"Đây cũng là bất đắc dĩ thôi."

🌟

Thế thì tôi nói vậy!
(Đây là những ẩn ngữ của pháp song thân.)

Vào lúc hoan hỷ và cung kính ở mức độ cực sâu, hai "người" sẽ cùng hiển lộ ra đàn thành bí mật.
Kết giới, cúng dường, tu trì.
Chày kim cang bí mật tiến nhập vào nơi sâu nhất của hoa sen.
Thông qua vũ điệu chuyển động nhịp nhàng đại lạc sẽ sản sinh ra sự rung động cộng hưởng.
Năm luân xa căn bản của Thượng Sư và Minh Phi, khí, mạch, minh điểm cùng được đánh thức.
Miệng đối miệng.
Mạch tiếp mạch.
Điểm hòa tan.
Chuyết hỏa, khí, minh điểm, khởi động năm đàn thành.

Đối với Bổn tôn hư không và Bổn tôn đàn thành, thì lấy hỷ, thắng hỷ, tối thắng hỷ, cụ sinh hỷ để cúng dường.
Tứ Hỷ chuyển hóa thành tứ Không.
Thượng sư ban cho quán đảnh Ngũ Phương Phật.
Ngũ uẩn là Ngũ Phương Phật, ngũ đại là Ngũ Phật Mẫu.
Thượng sư là Heruka.
Minh Phi là Kim Cang Hợi Mẫu.
Thân quán đảnh.
Ngữ quán đảnh.
Ý quán đảnh.

Những phiền não của sân căn được tịnh hóa.
Những phiền não của tham dục được tịnh hóa.
Những phiền não của ngu si được tịnh hóa.
Những tập khí của thân, ngữ, ý đều được tịnh hóa.
Vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, hữu, sinh, lão, tử, đều được tịnh hóa.
Đại lạc, quang minh, tính Không.
Cứ thế… cứ thế… cứ thế…


### 09. Pháp Nhất dương chỉ


Có một đệ tử được kiểm tra ra là bị mắc bệnh tắc nghẽn cơ tim, bình thường ngực hay đau tức. Một số đường tĩnh mạch ở tim bị nghẽn lại. Anh đến gặp tôi.

Tôi niệm:
”Nhất họa thành giang,
Nhị họa thành hà,
Tam họa tứ họa thành kim tỉnh,
Thử chỉ phi phàm chỉ,
Nãi thị Lư Sơn tú tài chỉ,
Chỉ thiên thiên thanh,
Chỉ địa địa ninh,
Chỉ nhân trường sinh,
Chỉ bệnh tiêu vong.”
[Vẽ một nét thành sông
Vẽ hai nét thành sông
Vẽ ba vẽ bốn nét thành giếng vàng.
Ngón tay này chẳng phải bình thường
Tương đương ngón tay tú tài Lư Sơn
Chỉ trời trời xanh
Chỉ đất đất yên
Chỉ người trường sinh
Chỉ bệnh tiêu vong.]

Tôi dùng "nhất dương chỉ" của tôi niệm và vẽ khắp xung quanh khu vực tim của đệ tử này. Đầu ngón tay tôi phóng ra một đường ánh sáng vàng kim. Vùng ngực của anh từ từ bắt đầu tràn đầy ánh sáng, tôi nhìn thấy ánh sáng tan vào bên trong anh.

Tôi dùng nước chú Đại Bi vẩy lên ngực anh. 
Rồi tôi lại dùng tay vỗ lên ngực anh. 
Rồi niệm: 
"Na-mô sa-man-tô mu-thua-nam wa-zư-la đa-mô sê."

🌟

Anh vào viện để kiểm tra trước khi làm phẫu thuật. 
Kết quả là:
Tất cả mọi mạch đều thông, không còn một mạch nào bị tắc nghẽn, vốn dĩ ban đầu cần phải mổ. 
Vốn dĩ phải đeo "dù" để hỗ trợ mở huyết quản bị tắc nghẽn, bây giờ đều không phải dùng nữa.
Bác sĩ nói với anh:
"Anh đi về được rồi! Không cần phải phẫu thuật nữa!"
Anh nghe xong thì vui sướng lắm!

Thế là, có một khoảng thời gian tôi thường dùng pháp Nhất dương chỉ để giúp các đệ tử chữa trị bệnh tật của họ.
Có linh.
Có nghiệm.

🌟

Một đêm nọ, Quan Thế Âm Bồ Tát hiện thân nói với tôi:
"Lư Sư Tôn! Đừng ham mê vào những thành tựu bình phàm nữa, bởi vì đó chỉ là thần thông nhỏ bé, không phải là muốn ngài ngày ngày đi cứu giúp người như vậy đâu."


### 10. Sư tử đá


Ngày 18 tháng 5 Âm lịch năm 2019 là sinh nhật lần thứ 75 của tôi.
Ngày hôm đó, gia đình họ Lư chúng tôi có Lư Thắng Ngạn, Lư Lệ Hương [Sư Mẫu], Lư Phật Thanh [con gái Sư Tôn], Lư Phật Kỳ [con trai Sư Tôn], Lư Andy [con rể Sư Tôn], Lư Sunny [con dâu Sư Tôn], Lư Quân [cháu gái Sư Tôn], Lư Hoằng [cháu trai Sư Tôn], tất cả cùng nhau ăn cơm, cùng cắt bánh sinh nhật. 
Mọi người đều tặng tôi quà sinh nhật. Nào là: 
Thiệp chúc mừng.
Lò cúng khói.
Quần áo mùa đông.
Mũ len.
…….

Chỉ có Lư Phật Kỳ và Lư Phật Thanh, hai đứa con tôi nói:
"Người giao hàng sắp đến bây giờ!"

Hàng đã được gửi đến, chúng tôi mở hộp ra xem, bên trong là hai con sư tử đá sống động như thật.

Sinh nhật của tôi, con trai con gái tặng cho tôi hai con sư tử đá, cũng không to lắm, nhưng cũng không phải là nhỏ. Để chúng ở chỗ nào thì tốt nhỉ?

Tôi nói:
"Đặt ở hai bên cửa chính của Nam Sơn Nhã Xá, để cho hai con sư tử này bảo vệ Nam Sơn Nhã Xá vậy!"

🌟

Khi an vị.
Con sư tử đực ở bên trái.
Con sư tử cái ở bên phải. 
Tôi còn rất cẩn thận khai quang điểm nhãn cho hai con sư tử này: "Thiên chi thần quang, địa chi thần quang, nhật nguyệt thần quang, khai quang khai quang chú."
Khai nhãn quang, quán thị thế giới.
Khai khẩu quang, khai khẩu độ chúng.
Khai nhĩ quang, văn thanh cứu khổ.
Khai tâm quang, từ bi chúng sinh.
Khai thần túc, phi hành vạn lý.
Khai kim thân, hách hách phóng quang.

Tôi vừa niệm chú vừa gia trì. Ánh sáng vàng kim chiếu rọi vào hai con sư tử đá, tôi đột nhiên nhìn thấy hai mắt của hai con sư tử đá phóng ra ánh sáng màu xanh lam.
Tôi bảo:
"Hai con sư tử này là Hộ pháp thần tướng của Nam Sơn Nhã Xá."
Tôi rất vui mừng, mọi người cũng đều vui mừng.

🌟

Còn nữa:
Có một hôm, từ Seattle Lôi Tạng Tự trở về Nam Sơn Nhã Xá, tôi nhìn bên ngoài hàng rào mà kinh hãi: 
Bởi vì bên ngoài hàng rào nằm la liệt ngang dọc rất nhiều quỷ.
Tay chân văng khắp nơi.
Máu chảy đẫm mặt đất.
Con thì không đầu.
Con thì không chân tay.
Con thì đứt cổ.
(Quỷ không có sắc thân, nhưng nhìn khí của chúng thì đã mất, từng đống từng đống, quỷ khí đã mất sạch.)

Thần sư tử bảo tôi:
"Đây là những con quỷ ác đến từ phương nam, tới đây với mục đích bất thiện, nên chúng đã bị cắn chết hết rồi!"
Tôi hỏi:
"Không chừa một con nào?"
Thần sư tử đáp:
"Không chừa một con nào!"
Tôi nói:
"Lần sau không cần phải cắn chết chúng, để cho chúng vào đi!"
Thần sư tử hỏi:
"Ngài không sợ sao?"

Tôi (Lư Sư Tôn) nói:
Tôi như hư không, chẳng ai bắt được!
Tôi như nước chảy, dao chém chẳng đứt!
Tôi như ngọn lửa, không ai dám vào!
Tôi như cơn gió, tự do đến đi!

Biết đâu những con quỷ này nghe tôi giảng Phật pháp lại có thể cải ác hướng thiện đó!


### 11. Dạy pháp trong mơ


Có một lần trên pháp tọa, tôi hỏi đệ tử:
"Các bạn đã từng mơ thấy Lư Sư Tôn chưa? Người nào từng mơ thấy xin mời giơ tay!"
Mọi người giơ tay. Tôi nhìn lướt qua thấy một loạt rất nhiều cánh tay giơ lên. Tôi rất vui mừng. Các đệ tử cũng rất vui mừng.
(Trong mơ, mơ thấy Căn bản Thượng sư dường như là một chuyện rất bình thường.)

Nhưng có một người tên là Liên Hoa Thiệu Bình nói với tôi:
"Từ trước đến giờ chưa từng mơ thấy Lư Sư Tôn! Một chút cũng không."
Tôi nói:
"Vậy tôi sẽ làm cho anh mơ thấy!"

Một tuần trôi qua, anh vẫn không mơ thấy gì. Tôi nói:
"Anh phải trì tâm chú của tôi."
Lại một tuần nữa trôi qua, anh vẫn không mơ thấy tôi. Tôi nói:
"Anh cần quán tưởng tôi trụ ở đỉnh đầu."
Lại một tuần nữa trôi qua, vẫn không mơ thấy gì.
Tôi gần như không còn cách nào nữa rồi, còn anh ta cũng rất chán nản, không mơ thấy vẫn hoàn không mơ thấy.

Tôi nói:
"Đây là cách cuối cùng. Anh đưa hai tay đây cho tôi, tôi sẽ nắm lấy hai tay anh, tượng trưng cho thân của Căn bản Thượng sư và thân của anh đã hợp nhất."
Liên Hoa Thiệu Bình đưa hai tay ra, tôi nắm lấy hai tay anh.
Oa!
Anh đã mơ thấy Lư Sư Tôn rồi!

🌟

Có một đệ tử tên là Liên Hoa Gia Hoa nói với tôi:
"Lư Sư Tôn trong mơ đã dạy cho con Mật pháp, vô cùng trân quý."
Tôi hỏi:
"Mật pháp gì?"
Anh đáp:
"Lư Sư Tôn trong mơ nói:
Không khí là thức ăn quý giá nhất.
Chuyết hỏa nâng lên là quần áo quý giá nhất.
Trì chú là ngôn ngữ quý giá nhất, cần phải bỏ hết những ngôn ngữ vô dụng khác.
Lễ bái tam căn bản, đi nhiễu quanh tam căn bản là hành vi quý giá nhất.
Làm lợi cho người, quên cả bản thân, là vô ngã quý giá nhất.
Đối đãi từ bi, bình đẳng với kẻ thù là tấm lòng quý giá nhất.
Nếu như nỗ lực thực hành thì chính là tu hành vô thượng.
Sẽ được thành tựu viên mãn."
Tôi nghe xong rất cảm động.

Tôi nói:
"Đây chính là tám loại giới cần giữ gìn, là ăn, mặc, thân, ngữ, ý, hộ giáo, từ, bi."

🌟

Có người hỏi tôi:
"Rất khó phân biệt Lư Sư Tôn ở trong mơ có phải là Sư Tôn thật hay không, vậy phải làm sao?"
Tôi đáp:
"Trong mơ thấy Lư Sư Tôn đến, hãy trì chú ba lần, nếu là Lư Sư Tôn thật thì sẽ không biến mất. Nếu là Lư Sư Tôn giả thì tự nhiên sẽ tan biến mất."
Tôi nói:
"Lư Sư Tôn ở trong mơ thuyết pháp cũng là hiếm gặp, thiện tai! Thiện tai!"


### 12. Nội dung của terma


Có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã cất giấu terma trong não ngài, xin hỏi, nội dung của terma này là gì?"
Tôi đáp:
"Nội dung quảng đại vô biên."
Hỏi:
"Tại sao không kể ra một đôi điều?"
Tôi đáp:
"Nội dung của terma có chân đế, mọi người chưa chắc đã hiểu được, nhưng tôi có thể tóm tắt nội dung của chúng."

Thế rồi, tôi nói:
Nghi quỹ cơ bản của Văn Thù Đại Uy Đức Kim Cang.
Pháp thành tựu của Bát đại Bổn tôn.
Những giảng dạy có liên quan đến các Bổn tôn huyễn hóa, an tịnh và phẫn nộ.
Những giảng dạy về thân đàn thành thực sự của Bổn tôn tịch tĩnh và phẫn nộ.
Những giảng dạy về ngữ đàn thành thực sự của Bổn tôn tịch tĩnh và phẫn nộ.
Những giảng dạy về ý đàn thành thực sự của Bổn tôn tịch tĩnh và phẫn nộ.
Những giảng dạy về 20 vị Hàng Ma Phổ Ba.
Điệu múa cực kì bí mật của Mã Đầu Minh Vương.
Mật pháp để hàng phục 8 đại quỷ linh.
Mật pháp để hàng phục 18 loại quỷ linh ngạo mạn.
(Tôi đã dùng pháp hàng phục quỷ linh mà thành tựu trở thành lão tổ tông bắt quỷ, bắt đám quỷ của Quỷ Bà kêu la oai oái.)
Pháp Đại viên mãn vô tử du già.
Mười vòng hoa phẫn nộ.
Pháp thành tựu Trì Minh Thượng Sư và pháp thành tựu Thượng sư gia trì.
Đại viên mãn tâm bộ.
Ma Ha du già. [Maha yoga]
A Nô du già. [Anu yoga]
A Để du già. [Ati yoga]
Ngoài ra còn có các pháp môn thành tựu cảnh giới ngoại, nội, mật, mật mật.
…

🌟

Hỏi:
"Nhiều terma như vậy, ngài (Lư Sư Tôn) tu trì thế nào?"
Tôi đáp:
"Tôi chủ yếu là tu trì chấm dứt sinh tử."
Hỏi:
"Tu thế nào?"
Tôi đáp:
"Đầu tiên là tu Tư lương đạo, tiếp đó là Gia hành đạo, Bổn tôn tương ứng, khí, mạch, minh điểm, tứ Hỷ tứ Không, Lạc-Không song vận, Bổn tôn phẫn nộ, Kiến đạo, Tu hành đạo, Cứu cánh đạo."
Hỏi:
"Đây chính là thứ tự tu hành sao?"
Tôi đáp:
"Đúng vậy."

Hỏi:
"Trọng điểm là gì?"
Tôi đáp:
Thế tục đế và Thắng nghĩa đế song vận. (Thứ tự sinh khởi và Thứ tự viên mãn)
Pháp Quang minh. (Tịnh quang pháp)
Pháp Huyễn thân.
Pháp Trung ấm.
Pháp Dịch chuyển thần thức.
Pháp Chuyết hỏa.
Thiền định Tính Không và Đại Lạc song vận, để dẫn phát tứ Hỷ và tứ Không.
Đại viên mãn lập đoạn.
Đại viên mãn đốn siêu.
Hóa thân cầu vồng.

(Đối với tôi mà nói, sự gia trì của Thượng sư là vô cùng quan trọng, tiếp nhận được sự tương ứng với Bổn tôn là vô cùng quan trọng, có được sự hộ trì của Hộ pháp là vô cùng quan trọng. Vì thế tôi thường xuyên cầu thỉnh.)


### 13. Luật lệnh của Địa Tạng Bồ Tát


Có một gia đình nọ toàn bộ các thành viên trong gia đình người lớn trẻ nhỏ đều đến thăm Seattle Lôi Tạng Tự, trên gương mặt họ đều lộ vẻ lo buồn.
Khi tôi sờ đầu gia trì, trong số họ có một cô gái tên là Khả Huệ hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Ngài có thể siêu độ cho cha con được không?"
Tôi đáp:
"Được!"
Cô gái nói:
"Sau khi cha con chết, cha đã báo mộng cho cả nhà, nói rằng ông ở trong địa ngục phải chịu rất nhiều cực khổ."
Tôi hỏi:
"Khi còn sống cha cô làm nghề gì?"
Cô gái đáp:
"Khi cha con còn sống đã làm nghề sát sinh, những sinh linh đã bị giết hại không thể đếm hết được………"
Tôi nói:
"Thế này đi! Cô đưa cho tôi ảnh của cha cô để tôi gia trì, tôi sẽ siêu độ cho ông ấy!"

Cô gái nhanh chóng lấy điện thoại ra tìm một tấm ảnh của cha cô, tôi đưa tay chạm vào điện thoại của cô. Trong một sát-na, tôi đã dễ dàng an trụ trong Tam ma địa của Địa Tạng Bồ Tát, tôi đã nhờ vào uy lực đẳng trì của Địa Tạng Bồ Tát để kéo người ở trong tấm ảnh ra khỏi bánh xe đau khổ chốn địa ngục, thoát khỏi những khổ hình trong địa ngục như lửa thiêu, chết đuối, dao chém, xe đâm, rừng kiếm, mãnh thú, rắn độc.
Tôi nói:
"Xong rồi!"
Cả gia đình đến Lôi Tạng Tự lễ Phật, lễ Phật xong thì họ trở về nhà.

🌟

Nhưng ngày hôm sau, cả nhà họ lại đến!
Khả Huệ hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Làm sao mà ngài làm được vậy?"
Tôi hỏi ngược lại:
"Có chuyện gì sao?"
Huệ Khả đáp:
"Đêm qua, cha con lại tới báo mộng rằng ông ấy đã thoát khỏi địa ngục khổ luân rồi, không còn buồn khổ, chán nản, mụ mị nữa, đã thoát khỏi bóng tối, đã được mặc quần áo sạch sẽ sáng sủa để đi đến một nơi tốt hơn rồi!"
Tôi nói:
"Vậy thì tốt rồi!"

Huệ Khả hỏi:
"Vì sao ngài chỉ dùng tay chạm một chút vào điện thoại là được?"
Tôi đáp:
"Biểu hiện bên ngoài thì tôi chỉ là chạm tay vào điện thoại một chút, nhưng trên thực tế thì đó chính là nhờ uy lực đẳng trì của Địa Tạng Bồ Tát, uy lực đẳng trì này là nguyện lực cực lớn, có thể khiến cho chúng sinh phát khởi tâm từ bi, có thể cứu thoát chúng sinh khỏi các loại khổ nạn, mọi điều ước nguyện đều được viên mãn."
Khả Huệ hỏi:
"Chúng con phải làm sao để tạ ơn Địa Tạng Bồ Tát?"
Tôi đáp:
"Thành tâm cúng dường Địa Tạng Bồ Tát, lễ lạy Địa Tạng Bồ Tát, cung kính niệm Thánh hiệu Địa Tạng, niệm Địa Tạng Thập Luân Kinh, hoặc tu Địa Tạng Bồ Tát Bổn tôn pháp."
Huệ Khả nói:
"Sẽ làm theo lời dạy của Sư Tôn."

Sự việc này xảy ra vào ngày 7 tháng 11 năm 2019. Tôi ghi chép lại câu chuyện này. Tôi (Lư Sư Tôn) cũng đang thực hiện đại từ bi, đại nguyện lực là cứu độ để lợi lạc chúng sinh.


### 14. Bốn tầng quán đảnh


Có đệ tử hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Giờ đây đệ tử Chân Phật Tông quá nhiều, đã đạt tới hơn 5 triệu người rồi. Các Thượng sư của Chân Phật Tông cũng hơn trăm vị, Căn bản Thượng sư và các vị Thượng sư khác đối với vấn đề quán đảnh đã cho thấy nhiều sự không thống nhất. Xin Lư Sư Tôn giải thích giúp chúng con?"
Tôi đáp:
"Anh nói rất đúng. Bởi vì trong 5 triệu đệ tử, đương nhiên người xấu người tốt lẫn lộn. Bởi vì có hơn trăm vị Thượng sư, do vậy cũng có hiện tượng hỗn loạn. Làm đệ tử, tốt nhất cần có minh nhãn, để có thể tìm được vị Thượng sư có đủ phẩm cách mới có thể có được quán đảnh chân thực."

Đệ tử hỏi:
"Lư Sư Tôn! Xin vì các đệ tử chúng con mà giải thích về nội hàm của bốn tầng quán đảnh để chúng con có thể hiểu rõ, được không?"
Tôi đáp:
"Kì thực, bốn tầng quán đảnh thỉnh thoảng đây đó trong những lần thuyết pháp và trong sách tôi đã có nhắc đến rồi."
Đệ tử hỏi:
"Lư Sư Tôn thuyết pháp nhiều, Lư Sư Tôn viết sách nhiều. Nhưng vẫn còn nhiều người chưa hiểu rõ ý nghĩa chân thực, do vậy xin Sư Tôn giải thích lại một lần nữa."

Thế là, tôi liệt kê ra như sau:
Quán đảnh thứ nhất — trao quyền cho đệ tử bắt đầu từ các yoga của Thứ tự sinh khởi. Mục đích là để lĩnh ngộ mọi pháp, tu pháp là nghi quỹ quán tưởng, thủ ấn và trì chú.

Quán đảnh thứ hai — trao quyền cho yoga Thứ tự viên mãn. Điều khiển khí, mạch, minh điểm tự thân.
(Sau khi tu trì thành công hai loại quán đảnh này thì đệ tử đã có được sức mạnh kham năng [năng lực tu hành rất lớn], từ đó mới có thể tiếp nhận quán đảnh thứ ba.)
Quán đảnh thứ ba — trao quyền có thể tu trì yoga song thân, đó là dùng minh phi để trợ duyên.
Quán đảnh thứ tư — trao quyền trực tiếp đưa đến tự tính.

Tôi đã dùng những ngôn từ đơn giản nhất để giải thích về bốn tầng quán đảnh này rồi đó.

🌟

Đệ tử hỏi:
"Quán đảnh thứ ba, rất nhiều người tò mò, liệu có thể xin Lư Sư Tôn nói rõ hơn không?"
Tôi đáp:
"Đây là pháp cực kì cao sâu, và cũng không được truyền rộng rãi, bởi vì người có thể tu được pháp này là rất hiếm. (Đây không phải là pháp mà đại đa số người đều có thể tu trì được.)"
Đệ tử hỏi:
"Cần có điều kiện gì?"
Tôi đáp:
"Điều kiện đối với thân thể này là người đó đã phải chứng được pháp vô lậu. Điều kiện tâm linh là người đó hoàn toàn không tham chấp, hơn nữa phải đã lĩnh ngộ được tính Không."
Đệ tử hỏi:
"Điều kiện của minh phi thì sao?"
Tôi đáp:
"Cũng như thế." (điều kiện tương đương)

Đệ tử hỏi:
"Quán đảnh thứ ba có nguy hiểm không?"
Tôi đáp:
"Rất ít người có đầy đủ những tư cách này, đối với số ít người thì tốt, đối với đại đa số người thì có hại."
Đệ tử nói:
"Con đã hiểu rồi!"
(Thế giới Ta Bà này, có ai là không tham chấp?)


### 15. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ và các minh phi


Đệ tử hỏi:
"Liên Hoa Sinh Đại sĩ rốt cục có bao nhiêu minh phi?"
Tôi đáp:
"Không thể đếm được."
Đệ tử hỏi:
"Không thể đếm được rốt cục là bao nhiêu?"
Tôi đáp:
"Trong Kinh Tục có ghi chép: số minh phi mà Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã thu nạp vượt quá cả số lượng hạt vừng chứa trong một nhà kho lớn."
Đệ tử hỏi:
"Không có một con số xác thực sao?"
Tôi đáp:
"Theo như tôi biết thì là bảy vạn." (Bao gồm hữu hình và vô hình.)
Đệ tử hỏi:
"Có căn cứ gì không?"
Tôi đáp:
"Là do Đại Hoạt Phật Jigme Rinpoche đã nói vậy."
(Tôi đã từng hỏi Jigme Rinpoche tại Biệt thự Cầu Vồng.)

🌟

Đệ tử hỏi:
"Nghe nói có mấy vị minh phi là nổi tiếng nhất, hơn nữa còn thành tựu viên mãn nhất?"
Tôi đáp:
"Tổng cộng có sáu vị. Là Yeshe Tsogyal, Mandarava, Sakya Deva, Kara Siddhi, Tashi Khyidren, Pulabadala."
Đệ tử hỏi:
"Trên bức thangka thường nhìn thấy hai vị là ai?"
Tôi đáp:
"Yeshe Tsogyal và Mandarava."

Đệ tử hỏi:
"Liên Hoa Sinh Đại Sĩ thị hiện ở nhân gian, sắc thân của ngài rốt cục sống bao lâu?"
Tôi đáp:
"Có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng khoảng trên dưới 1000 năm."
Đệ tử hỏi:
"Sao có thể sống lâu như vậy?"
Tôi đáp:
"Ngài là hóa thân từ hoa sen, không bị nhiễm ô do sinh ra như loài người."

Đệ tử hỏi:
"Các minh phi của ngài từ đâu tới?"
Tôi đáp:
"Từ thiên thượng giới đến nhân gian, nhân gian bao gồm Ấn Độ, Tây Tạng, Cấn, Khương, Lý, Hoắc Nhĩ, v.v…"
Đệ tử hỏi:
"Lư Sư Tôn! Ngài không cảm thấy Liên Hoa Sinh rất đa tình sao?"
Tôi đáp:
"Ngài đã giúp cho vô số nữ tử học tập Phật pháp." (Tiên dĩ dục câu chi, tái lệnh nhập Phật trí.)
Đệ tử hỏi:
"Phật pháp gì?"
Tôi đáp:
"Lấy tham trị tham, lấy dục trị dục, bằng cách này được gọi là dục lạc định."

🌟

Đệ tử hỏi:
"Lư Sư Tôn! Ngài định vị Liên Hoa Sinh Đại Sĩ và các vị minh phi ở đâu?"
Tôi đáp:
"Trò chơi huyễn thân."
Đệ tử hỏi:
"Dùng trò chơi huyễn thân để đạt đến "chỉ đoạn" và "đốn siêu" sao?"
Tôi đáp:
"Đúng vậy."
(Giáo pháp của Mật thừa và các Phật pháp thông thường không giống nhau, Mật thừa trực tiếp dùng dục vọng của nhân loại để tu hành, đến cuối cùng đạt đến sự dừng lại và dứt đoạn mọi dục vọng, Phật tính tự hiển lộ.)


### 16. Pháp thân biến chiếu


Có một đồng môn tên là Trương Thiện Hỷ, pháp hiệu là Liên Hoa Thiện Hỷ, anh gặp tôi liền gọi tôi là:
"Cảm ơn ân sư cứu mạng!"
Tôi hỏi:
"Có chuyện gì vậy?"

Anh kể:
Năm nay, ngày 21 tháng 9 năm 2019, trong khi ngủ mơ, Lư Sư Tôn đã hiện thân trong giấc mơ của con, dùng tay lắc người con. Bởi vì ban ngày con làm việc, thân tâm kiệt sức, hễ nằm xuống là ngủ say tít, có lay thế nào cũng không tỉnh. Chỉ biết là Lư Sư Tôn lay con, nhưng con chỉ muốn ngủ không muốn dậy, mặc kệ mọi thứ. Lúc này Lư Sư Tôn hét lớn:
"Cháy rồi! Còn không mau chạy!"

Con vừa nghe thấy cháy rồi, thì lập tức bừng tỉnh. Vừa xoay người ngồi dậy xem thì trời ạ! Bên ngoài cửa sổ của con đã là một biển lửa, xem chừng sắp đốt cháy vào trong phòng con rồi. Con lập tức thoát thân, lập tức mở cửa. Trong lúc vội vã, con chỉ tóm được một cái quần, rồi xông thẳng ra đường lớn.

Căn hộ nhỏ mà con sống đã hoàn toàn chìm trong ngọn lửa. Xe cứu hỏa kêu "u u" chạy tới. Nhân viên cứu hỏa bắt đầu dập lửa. Đám lửa này không hề nhỏ, đã đốt cháy mấy cửa hàng, có một người lớn và hai trẻ nhỏ bị kẹt trong đám lửa, không kịp thoát ra và đã chết, các nhân viên khác đều thoát ra ngoài được.

Con nhờ có Lư Sư Tôn vừa lay vừa hét gọi nên con mới tỉnh dậy, nếu không con sớm đã bị thiêu cháy trong đám lửa rồi.
Lư Sư Tôn là ân sư cứu mạng của con!

🌟

Còn có một chuyện cũng rất kỳ lạ, tôi đặc biệt thuật lại như sau:
Cũng là một đồng môn, tên là Triệu Cảnh Nhất. Anh kể lại thế này:
Anh cũng được Lư Sư Tôn vừa lay vừa gọi trong giấc mơ mà tỉnh dậy. Lư Sư Tôn cũng hét lên: "Cháy rồi!"
Tỉnh dậy nhìn, căn bản là chẳng có lửa, chẳng có cái gì cả, chỉ là một màn đêm, yên tĩnh vô cùng.
Anh chẳng hiểu chuyện gì cả! Thế rồi lại nằm xuống ngủ.
Kết quả là:
Buổi đêm ấy đi ngủ, anh liên tiếp bị gọi dậy nhiều lần. Nhưng một đốm lửa cũng chẳng có. Vừa vui vừa buồn cười.

Sau đó anh tự ngẫm nghĩ, có khả năng Lư Sư Tôn đến để cảnh tỉnh, là dự báo về điềm không may. Anh liền trả lại căn nhà này, rồi tìm căn nhà khác và dọn ra nhà mới.
Sau khi dọn đến căn nhà mới thì giấc mơ có cháy cũng biến mất luôn.

Một hôm, anh đi bộ qua nơi có căn nhà cũ từng thuê, vừa nhìn thì vô cùng choáng váng! Anh giật thót mình, cả một dãy nhà đều không còn nữa!
Hóa ra đúng là đã bị lửa thiêu cháy rồi!

Ví dụ này thật là khéo, là sự trùng hợp rất kỳ lạ. Hai đồng môn này đều có giấc mơ báo hỏa hoạn.

Người hỏi:
"Việc này là thế nào?"
Tôi đáp:
"Pháp thân biến chiếu!"
Thiện tai! Thiện tai!


### 17. Nhàn nhã xem tivi


Người hỏi:
"Lư Sư Tôn! Khi rảnh rỗi thì ngài làm gì?"
Tôi đáp:
"Xem tivi."
Người hỏi:
"Xem tiết mục gì?"
Tôi đáp:
"Tin tức."

Người hỏi:
"Hóa ra Lư Sư Tôn cũng quan tâm đến những chuyện lớn nhỏ của quốc gia, thế giới và những tin tức xã hội. Ngài có tâm đắc gì không?"
Tôi đáp:
"Cũng không có gì tâm đắc, tôi xem tin tức chủ yếu là để siêu độ cho những vong linh."
Người hỏi:
"Tin tức thì có gì liên quan đến chuyện siêu độ?"
Tôi đáp:
"Có."

Tôi lấy ví dụ một chuyện xảy ra vào ngày 11 tháng 10 năm 2019. Có 39 người Việt Nam vượt biên trái phép đến nước Anh. Tất cả họ trốn trong một thùng hàng đông lạnh để nhập cư trái phép vào nước Anh.
Cuối cùng đều chết hết!
Chết cóng.
Chết đói.
Chết vì ngạt thở.

Tôi tĩnh tâm lại, cẩn thận siêu độ cho nhóm 39 người Việt Nam này.

🌟

Tôi nói:
"Trong mục tin tức sẽ thường nghe thấy các tin về tai nạn xe cộ mà tử vong, sẽ nghe thấy tin về các vụ án giết người, sẽ nghe thấy tin về các vụ tự sát, sẽ nghe thấy tin về người chết do chiến tranh, sẽ nghe thấy tin về các người chết do hỏa hoạn, sẽ nghe thấy tin về người chết đuối do lũ lụt, sẽ nghe thấy tin về người chết do lở đất, sẽ nghe thấy tin về động đất, cuồng phong gây chết người. Rất nhiều sự vụ ngoài ý muốn xảy ra, rất nhiều tai nạn……"
Tôi (Lư Sư Tôn), lần lượt đều siêu độ hết.

Người hỏi:
"Vì sao ngài làm như vậy?"
Tôi đáp:
"Vô duyên đại bi, đồng thể đại bi."

[Vô duyên đại bi, đồng thể đại bi: từ bi đối với tất cả những người có duyên và cả không có duyên với ta, từ bi với tất cả một cách bình đẳng, không phân biệt.]

Người hỏi:
"Sự kiện chết chóc nào ngài có ấn tượng sâu sắc nhất?"
Tôi đáp:
"Đó là sự kiện cô bé Tiểu Đăng Phao bị một kẻ tâm thần bệnh hoạn cắt cổ, khiến tôi khóc mất mấy ngày."

[Tiểu Đăng Phao nghĩa là "bóng đèn nhỏ", là bé gái 4 tuổi sống tại thành phố Đài Bắc, Đài Loan. Vào một ngày tháng 3 năm 2016, khi đang đi trên đường cùng mẹ, cô bé đã trở thành nạn nhân trong một vụ cuồng sát của một người đàn ông tên là Vương Cảnh Ngọc.]

Người hỏi:
"Lư Sư Tôn! Làm thế nào để siêu độ cho những người đó?"
Tôi đáp:
Tôi phát khởi vô thượng bồ đề tâm, vô duyên đại bi, đồng thể đại bi. Tôi lấy mỹ vị tràn đầy sung mãn để cúng cho họ. Tôi dùng hóa thân ở khắp nơi của tôi, dùng phạm hạnh thanh tịnh, công đức của sự an lạc, hạnh phúc của tính Không để hóa thành quang minh. Dùng ánh sáng quang minh này để tiêu trừ nghiệp chướng của họ. Ở trong hư không thì tôi truyền đi nghìn vạn Phật hiệu và chú âm, ví dụ như: Ba La Mật Đa, Tam Bảo, Pháp âm, để dẫn dắt họ đến với tịnh thổ Ma Ha Song Liên Trì của Lư Sư Tôn. Ở nơi đó có cây như ý, có mandala, có hương thơm vi diệu khắp nơi, có công đức trang nghiêm, có cung điện,…

Tôi dạy họ niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng.
Tôi làm pháp siêu độ này rất lâu.
Đây chính là việc xem tivi siêu độ của tôi.


### 18. Thoát thoát thoát thoát thoát


Một hôm, nói về vấn đề "ý thức chuẩn bị trước khủng hoảng", mọi người đều bày tỏ ý kiến của bản thân. Nguyên nhân bắt nguồn từ vụ hỏa hoạn lớn tại California nước Mỹ, ngoài ra còn bởi có vụ hỏa hoạn lớn tại Sydney Australia.

Vụ hỏa hoạn ở California, bắt đầu từ tin nhắn cầu cứu của Tôn Ái Trân và Trần Truyền Phương.
Vụ cháy ở khu nhà Tôn Ái Trân thì gió chuyển hướng.
Vụ cháy ở khu nhà Trần Truyền Phương thì lửa tự lụi.

Ngoài ra, năm 2019 ở Hồng Kông còn xảy ra vụ bạo động lớn, tôi thấy là con người đã hoàn toàn mất lý trí rồi. Phóng hỏa, giết người, đánh nhau. Đình công, bãi chợ, bãi khóa. Những người dân thường ở Hồng Kông phải làm sao? Pháp luật đã chẳng còn nữa rồi!
Tôi nói:
"Hóa ra con người cũng là đám cháy hoang dã!"

Ngoài ra:
Động đất phải làm sao?
Lũ lụt phải làm sao?
Mưa bão phải làm sao?
Chiến tranh phải làm sao?
Bão tuyết phải làm sao?

🌟

A nói:
"Bình thường tôi luôn chuẩn bị sẵn một cái vali, bên trong đựng những vật phẩm thiết yếu hàng ngày, và những đồ vàng bạc quý giá, khi có sự vụ phát sinh thì lập tức tháo chạy!"
B nói:
"Trong nhà tôi có một tủ thuốc, bên trong đựng những thứ cấp cứu khi con người bị thương, những dụng cụ và thuốc cần dùng tạm thời."
C nói:
"Khi tuyết rơi nhiều, trong nhà cần chuẩn bị các loại đồ ăn đóng hộp và một bếp ga nhỏ."
D nói:
"Khi tuyết rơi nhiều, còn cần chuẩn bị nước suối đóng chai để phòng ngừa mất điện, mất nước."
E nói:
"Nếu có hỏa hoạn, động đất, cần nhanh chóng chạy ra khỏi nhà. Tôi khuyên mọi người hãy chuẩn bị một chiếc áo khoác rộng, bên trong áo khoác để những loại giấy tờ cá nhân quan trọng, và khâu vào áo một túi đựng kim cương, châu báu, vàng bạc, v.v… hễ có vấn đề gì xảy ra là vơ lấy chiếc áo khoác này và chạy."
F nói:
"Hãy nhớ để túi ngủ trong cốp xe hơi, bình thường cứ để sẵn một cái túi ngủ trong đó, vô cùng quan trọng."
G nói:
"Khi có lũ lụt, thực phẩm cần để ở chỗ cao, nhưng ngập đến tận mái nhà thì phải làm thế nào?"
H nói:
"Bình thường trong nhà cần có một cái thang dài, có thể trèo lên mái nhà để kêu cứu!"
I nói:
"Khi xảy ra bão vòi rồng, nhất định cần phải trốn dưới tầng hầm, chỉ có ở dưới tầng hầm mới bình an được."
J nói:
"Chiến tranh xảy ra phải làm sao?"
K nói:
"Thoát về vùng quê."

Sau đó, mọi người thảo luận rất rôm rả, đều là bàn chuyện làm sao để thoát, thoát, thoát, thoát, thoát.

🌟

Mọi người nhìn tôi hỏi:
"Lư Sư Tôn! Ngài làm cách nào để thoát nạn?"
Tôi đáp:
"Tôi chẳng chuẩn bị gì cả, cứ thế mà chạy thôi!"
Mọi người hỏi:
"Thế ngài không cần cái gì sao?"
Tôi đáp:
"Tôi đến nhân gian này vốn dĩ chẳng có gì cả. Tôi không sợ hãi, không có nỗi sợ gì, tư lương của tôi đều ở cõi trời, nhiều gấp hàng tỉ hàng vạn lần so với ở nhân gian."


### 19. Ca ngợi Văn Thù Bồ Tát


Tôi đã đọc "Phật thuyết Thủ Lăng Nghiêm tam muội kinh".
Tôi đã đọc "Bi hoa kinh".
Tôi đã đọc "Đại Thánh Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Phật sát công đức trang nghiêm kinh".
Tôi đã đọc "Phật thuyết A Xà Thế Vương kinh".
Tôi đã đọc "Phật thuyết hồng đạo quảng hiển tam muội kinh".
Tôi đã đọc "Đại thừa tứ pháp kinh".
Tôi đã đọc "Phật thuyết thế tục thắng nghĩa đế kinh".
…

Trong những kinh điển này đều nói rằng Văn Thù Bồ Tát là bậc trí huệ duy nhất không phân biệt của chư Phật ở cả ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai. Văn Thù Bồ Tát đã chỉ dạy cho vô số Phật thành Phật. (Vô lượng thập vạn câu chi na do tha Phật Đà niết bàn đều là nhờ có Văn Thù Bồ Tát giúp cho họ chứng đắc được vô thượng bồ đề.)

Văn Thù Bồ Tát đã hiểu thấu chân đế. Ngài hành trì sự nghiệp của các vị Phật đời trước. Ngài đã khai sáng chuyển pháp luân những giáo lý Phật còn ẩn giấu. Tôi (Lư Sư Tôn) ca ngợi Văn Thù Bồ Tát.

🌟

Tôi thường hay kể một câu chuyện, câu chuyện này như sau:
Vào thời đại Phật Thích Ca Mâu Ni.
Một năm nọ, vào kỳ kiết hạ an cư. Đại Ca Diếp tôn giả là người quản lý tu viện. Ngài nhìn thấy chỗ ở của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát có rất nhiều phụ nữ thường xuyên tới lui.

Đại Ca Diếp tôn giả vô cùng tức giận.
Đại Ca Diếp tôn giả hỏi Văn Thù:
"Ông kiết hạ an cư ở đâu đấy?"
Văn Thù đáp:
"Tôi kiết hạ an cư tại chỗ ở của Vương Phi A Xà Thế."
Đại Ca Diếp phẫn nộ:
"Sao có thể như vậy?"
Văn Thù đáp:
"Tôi không có sự phân biệt nào."
Đại Ca Diếp nói:
"Phạm giới!"
Văn Thù đáp:
"Giới là gì?"

Đại Ca Diếp tôn giả cho rằng Văn Thù Bồ Tát phạm giới, bèn giận cá chém thớt, triệu tập tăng chúng đòi đuổi Văn Thù Bồ Tát ra khỏi tăng đoàn.

🌟

Đại Ca Diếp báo cáo với Phật Đà. Phật Đà hỏi:
"Có chuyện gì?"
Đại Ca Diếp báo cáo tỉ mỉ về việc Văn Thù Bồ Tát trong thời gian kiết hạ an cư đã cùng với Vương Phi, phi tử, thái nữ,… bí mật qua lại với nhau.
Đại Ca Diếp nói:
"Đuổi Văn Thù ra khỏi tăng đoàn!"

Phật Đà không nói gì.
Phật Đà dùng sức mạnh bất khả tư nghì của đại thần thông để hiển hiện vô số cõi Phật của mười phương hư không giới. Ở cõi nào cũng đều có Như Lai.
Ở cõi nào cũng đều có Văn Thù.
Hết vị Như Lai này đến vị Như Lai khác.
Hết vị Văn Thù này đến vị Văn Thù khác.
Văn Thù Bồ Tát ở khắp các cõi tịnh độ của mười phương Phật.

Phật Đà nói:
"Ông muốn đuổi Văn Thù Bồ Tát đi, xin hỏi, ông muốn đuổi vị nào đây? Ở đâu đâu cũng có Văn Thù Bồ Tát đó!"
Đại Ca Diếp sửng sốt. Cuối cùng Đại Ca Diếp tôn giả cũng đã biết được công đức vô lượng bất khả tư nghì của Văn Thù Bồ Tát.

Xá Lợi Phất hỏi Văn Thù:
"Làm sao mà đạt được thành tựu như vậy?"
Văn Thù Bồ Tát đáp:
"Tôi như hư không, chẳng hề phân biệt, đã hiểu chân đế, việc khó còn đâu."


### 20. Hiểu biết của tôi về đạo Bon


Khi Phật giáo từ Ấn Độ được truyền vào Tây Tạng, thực sự là không hề thuận lợi, chủ yếu là do ở Tây Tạng vốn có đạo Bon với thế lực rất mạnh, do vậy mới có sự tranh chấp giữa đạo Phật và đạo Bon.

Lần đầu tiên tôi nghe đến tên đạo Bon là từ ông Lâm Vân, ông tự xưng là truyền nhân của Hắc giáo, Hắc giáo chính là đạo Bon. Đạo Bon là gì?

Kiến thức của tôi về đạo Bon như sau:
Người khởi xướng đạo Bon là Shenrab Miwo hoặc Shinrab Mipo, là người vùng A Lý. Người ta cho rằng ông là người sống cùng thời với Phật Thích Ca Mâu Ni, hoặc thậm chí còn trước thời Đức Phật.

Các thực hành của đạo Bon có hai dạng:

1. Cúng tế.

2. Ma thuật.

Thực tế đạo Bon cũng phân ra làm các phái, có Nội Bon và Giác Bon, ngoài ra còn có các phái nhỏ hơn khác. Nội Bon chủ trương cùng tồn tại với Phật giáo, còn Giác Bon thì phản đối Phật giáo.

Chủ trương của đạo Bon là:
Tịnh thổ của Phật giáo hoàn toàn không tồn tại.
Sùng bái bát bộ linh chúng.
Chủ yếu sùng bái: thần Gia Ba, thần Cống Ba.
(Chú thích: Do vậy đạo Bon còn được gọi là Bổn Ba giáo.)

Ngoài ra họ cũng thờ cúng các vị thần địa phương, thần sấm, thần sét, thần thổ địa, thần tài, thần núi, thần sông, v.v… Những vị thần này là những thần chưa được giải thoát, vẫn nằm trong luân hồi, thuộc thần linh thế gian.

Các tập tục của đạo Bon có một số không phù hợp với đạo lý thông thường. Ví dụ:
Nếu con trai lấy vợ thì phải đuổi con gái đi, không cho ở cùng nhà nữa.
Việc cúng tế của đạo Bon rất tàn nhẫn:
Cúng xuân — phải chặt chân của động vật để làm vật tế thần.
Cúng hạ — phải đốt hương cúng.
Cúng thu — phải cúng máu của nghìn con gia súc đực.
Cúng đông — cúng máu.

Trong khi thực hành nghi thức cúng, phải giết trâu yak, cừu, rạch họng chúng cho máu phun ra để cúng. 
Phải chặt đứt chân hươu nai để cúng. 
Lột da động vật sống làm cúng phẩm. 
Cúng máu.
Cúng thịt.
Cúng da.
Cúng chân. 
(Cần cúng 3000 con vật.)

🌟

Cảnh giới cao nhất của đạo Bon dường như giống với cõi trời Vô sắc giới, nhưng thứ tự thì đảo ngược.
Cảnh giới cao nhất — vô sở hữu xứ.
Cảnh giới cao nhì — vô cùng đại xứ.
Cảnh giới dưới nữa — phi hữu phi phi hữu xứ.
(Chú thích: thứ tự cảnh giới trong Phật giáo là không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng xứ.)

Trong bốn cõi Không của Phật giáo thì Phi tưởng phi phi tưởng xứ là cảnh giới cao nhất. Người tu thiền định mới có khả năng đạt đến được.
Nhưng Phật giáo cho rằng đây cũng vẫn chưa phải là tứ Thánh giới, cao hơn nữa còn có: Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn.

Các thầy phù thủy của đạo Bon bình thường sống bằng nghề xem bói, giúp người ta xem họa phúc và cách phòng tránh.

Tôi nói:
Đạo Bon sùng bái linh hồn và thần quỷ.
Phật giáo mới là chân đế.
Chỉ vậy mà thôi!


### 21. Cũng coi như "nhẫn nhục"


Có một khoảng thời gian dài suốt mấy năm, tôi (Lư Sư Tôn) bị "bắt nạt trên mạng".
Những người bắt nạt tôi là:
Ông Hầu ở Malaysia.
Ông Nghiêu ở Singapore.
Ông Thang ở Đài Loan.
Ông Nhiêu ở Đài Loan.
v.v…
Khoảng thời gian đó giống như động đất, lũ lụt, hỏa hoạn, cuồng phong cùng lúc ập đến, kèm theo đó là sấm chớp mưa đá. 
Muốn đánh bẹp Lư Sư Tôn. 
Muốn phá tan Chân Phật Tông. 
Trời rung đất chuyển. 
Sấm chớp liên hồi.

🌟

Khi đó tôi chẳng hề có cảm giác gì, nguyên nhân chủ yếu là vì:

1. Tôi chẳng có máy tính.

2. Tôi chẳng có máy tính bảng.

3. Tôi chẳng có điện thoại.

Bản thân tôi cũng chẳng lên mạng để xem để đọc. Do vậy, tôi vẫn viết sách, vẽ tranh, tu pháp. Ngay đến cả một lời phản bác cũng không có. (Tôi tu pháp yoga Nhất vị, thuận nghịch bình đẳng.)

Tôi vẫn:
Sống một ngày, cảm ơn một ngày.
Sống một ngày, tu pháp một ngày.
Sống một ngày, vui vẻ một ngày.

Đối với ông Hầu ở Malaysia, tôi hoàn toàn chẳng quen biết. Đối với ông Nhiêu ở Đài Loan, tôi cũng chẳng quen biết. Đối với ông Thang ở Đài Loan, tôi cũng chẳng thân thích lắm. Đối với ông Nghiêu ở Singapore, bởi vì ông đã từng đến Seattle ở lại một thời gian nên tôi có biết chút chút.

Có người hỏi ông Nghiêu:
"Vì sao ông lại thù ghét Lư Sư Tôn?"
Nghiêu đáp:
"Có một lần, mọi người cùng nhau ăn cơm, Lư Sư Tôn đều lần lượt đến hỏi thăm từng đồng môn, chỉ chừa lại mỗi mình tôi, tôi không vui, do vậy, tôi phải hủy diệt Lư Sư Tôn!"
Còn có người nói rằng:
"Ông Nghiêu có nghiên cứu về thiền, thiền trong nghệ thuật bắn cung, đã viết rất nhiều bài kiến giải về khai ngộ kiến đạo, nhưng Lư Sư Tôn vẫn không ấn chứng rằng Nghiêu đã khai ngộ, vì thế mà không vui!"

🌟

Nghe nói rằng:
Nghiêu đem những tấm ảnh của Lư Sư Tôn đi làm thành những tấm gạch sứ ốp tường, rồi đem ốp lên bồn tiểu để ngày ngày đi tiểu tiện vào bồn tiểu có in hình Lư Sư Tôn.

Ngoài ra:
Nghiêu còn đem những tấm gạch sứ ốp tường có hình Lư Sư Tôn ốp lên bệ xí của mình để hàng ngày đại tiện lên đó.

Tôi nghe xong mà không nhịn được cười:
"Ông ta đang tiêu nghiệp chướng giùm Lư Sư Tôn đó!"
Tôi nói:
"Nghiêu này nhiều ý tưởng đấy, thế mà ông ta cũng nghĩ ra được. Trong lòng tôi lại thấy rất bái phục tài học của ông ta đó."

Về sau ông Nghiêu bị bệnh tim phát tác, máu từ ngực phun ra mà chết!
Tôi cũng đã siêu độ cho ông ta. (oan thân bình đẳng)

🌟

Tôi phụng hành những lời dạy của Phật Đà:
Yêu kẻ thù của bạn. (người ghen ghét và gây chướng ngại cho ta)
Xem những người già như cha mẹ.
Xem người trẻ như anh chị em.
Xem những người cùng thế hệ như quyến thuộc.
Xem tất cả chúng sinh đều là Bồ Tát.
Tất cả đều đại viên mãn! Thiện tai!


### 22. Đệ tử quy y hoàn toàn


Tôi nhớ Thubten Dhargye Thượng sư từng nói với tôi:
"Ta đang tìm một đệ tử quy y hoàn toàn!"
Tôi đáp:
"Con là đệ tử quy y hoàn toàn đây."
Thầy Thubten Dhargye hỏi:
"Con quy y hoàn toàn như thế nào?"
Tôi đáp:
"Con đem thân, khẩu, ý của chính mình cúng dường cho Thầy."
Thầy Thubten Dhargye hỏi:
"Con cúng dường như thế nào?"
Tôi đáp:
"Con sẽ đặt Sư Phật trên đầu mình, cả ngày lẫn đêm đều cầu thỉnh Sư Phật gia trì, mãi mãi lễ phép cung kính."
Thầy Thubten Dhargye hỏi:
"Thế Biệt thự Cầu Vồng của con thì sao?"
Tôi đáp:
"Cũng cúng cho Thầy luôn!"
(Tôi đã viết một chứng thư cúng dường và đã ký tên.)

Thầy Thubten Dhargye nói:
"Ta nhận con làm đồ đệ."
Thế là:
Trong tất cả mọi lần tôi thuyết pháp, khi cầu thỉnh sự gia trì, tôi nhất định luôn cầu thỉnh hộ chủ của tôi là Thubten Dhargye Thượng sư.
Đây chính là giới nguyện samaya!
Một khắc cũng không được quên.

🌟

Vào thời đại công chúa Yeshe Tsogyal và Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, Yeshe Tsogyal cũng là một đệ tử quy y hoàn toàn.

Yeshe Tsogyal nói:
Từ khi bắt đầu, thân của con đã dâng cho Thượng sư, bất luận hạnh phúc hay đau khổ, chủ nhân, con đều sẽ giao phó bản thân cho Người!

Từ khi bắt đầu, tâm ý của con đã phấn khởi vì thiện đức, bất luận là thuận duyên hay nghịch cảnh, chủ nhân, con đều sẽ giao phó bản thân cho Người!

Từ khi bắt đầu, hình thể của con đã luôn là thánh cung của Bổn tôn, bất luận là khi nào Người giáng lâm đến ở nơi đây, chủ nhân, con đều sẽ giao phó bản thân cho Người!

Từ khi bắt đầu, khí, mạch của con đã chính là đường đạo của Không Hành Mẫu, bất luận các vị sử dụng khí, mạch như thế nào, chủ nhân, con đều sẽ giao phó bản thân cho Người!

Đoạn văn ở trên là do Yeshe Tsogyal tự thuật lại, tôi cho rằng:
Đây chính là quy y hoàn toàn.

Yeshe Tsogyal còn nói:
Từ khi bắt đầu, minh điểm này chính là tự tính của thiện thệ chư Phật, bất luận là an trú trong tĩnh tịch vượt lên trên hết mọi đau khổ, hay là lưu chuyển trong luân hồi.
Xin hãy chăm sóc cho tất cả chúng sinh hữu tình đang bải hoải lần lữa trong mê vọng như chăm sóc cho mẹ mình. 
Con đều sẽ giao phó bản thân cho Người!

🌟

Tôi nói:
Việc tu hành Chân Phật Mật Pháp nên như vậy.
Hành giả nên như vậy.
Truyền thừa nên như vậy.


### 23. Từ bệnh mất trí nhớ mà nói


Tôi còn nhớ năm xưa, cha tôi Lư Nhĩ Thuận vẫn còn sống tại nhân gian, khi đó ông đã 76 tuổi rồi. Cha tôi một mình đạp xe đạp, khi đi qua một đoạn đường cong ở thành phố Đài Trung đã ngã lăn ra đất. (hôn mê)

Người qua đường nhìn thấy, nhưng không có ai tiến đến để giúp đỡ một cụ già như ông. Thật may, còn có một người gọi xe cứu hộ, xe cứu hộ đã đến và đưa cha tôi vào bệnh viện.

Khi cha tôi tỉnh lại, người ta hỏi:
"Ông tên là gì?"
Cha tôi đáp:
"Quên rồi!"
Hỏi:
"Ông có con cái không?"
Cha tôi đáp:
"Có một con trai, và một con gái."
Hỏi:
"Con trai ông tên là gì?"
Cha tôi đáp:
"Quên rồi!"
Hỏi:
"Con trai ông làm nghề gì?"
Cha tôi đáp:
"Viết rất nhiều sách." (Cái này ông lại nhớ được.)
Hỏi:
"Viết sách gì?"
Cha tôi đáp:
"Viết sách Phật giáo."
Hỏi:
"Con trai ông có phải là Lư Thắng Ngạn không?"
Cha tôi đáp:
"Đúng, đúng, đúng, nó tên là Lư Thắng Ngạn."
Thế là, họ thông báo đến Đài Loan Lôi Tạng Tự, Đài Loan Lôi Tạng Tự thông báo cho nhà chúng tôi, chúng tôi mới đến đón cha về.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) nhận thấy rằng trong xã hội hiện đại, tốc độ lão hóa của con người rất nhanh, đây là vấn đề phổ biến. 
Thế là con người thịnh hành không kết hôn. 
Không sinh con cái. 
Tỷ lệ sinh giảm xuống. 
Rồi chắc chắn sẽ có một ngày, trên đường toàn người già, đây là một thực tế vô cùng tồi tệ.

Kì thực các chính phủ cũng đã sớm nhận ra điều này. 
Họ nên khuyến khích kết hôn, sinh con cái. 
Những người kết hôn và sinh con cái đều nên nhận được trợ cấp. 
Cũng đã có người đề xuất, trẻ em từ khi sinh ra đến 6 tuổi sẽ đều nằm trong kế hoạch nuôi dưỡng của chính phủ.

Còn đối với người già sẽ có kế hoạch chăm sóc lâu dài. 
Có người đề xuất rằng người già cũng cần được nhà nước chăm sóc, bắt đầu từ 70 tuổi, 80 tuổi trở đi, những người già ở độ tuổi ngoài 70 đều sẽ nằm trong chương trình chăm sóc lâu dài của nhà nước.

Tôi (Lư Sư Tôn) cho rằng:
Già! Đáng thương!
Bệnh! Đáng thương!
(Già và bệnh chẳng phân biệt một ai.)

Để những người già có thể vui vẻ và hạnh phúc là trách nhiệm của thế hệ chúng ta. Phương diện này cần đưa vào thực tiễn, để những người già của chúng ta khỏe mạnh vui vẻ là mục tiêu của chương trình chăm sóc dài hạn. (thân tâm đều khỏe mạnh)


### 24. Chuyện cười về đãng trí


Có một hôm tôi kể ba câu chuyện cười về việc đãng trí.

Chuyện thứ nhất:
Một ông già lái xe đưa cô bạn gái đến một *motel *(nhà trọ). Sau khi chọn xong một căn phòng rất phong cách và sang trọng, ông già đột nhiên đãng trí. Ông cứ nghĩ mãi không hiểu ông đến chỗ này để làm gì.
?
?
?
Thế là, ông già lại đưa bạn gái rời khỏi *motel*, trở về được nửa đường thì ông lại nhớ ra. Ông già thốt lên một tiếng:
"Ai dà! Thế là phí mất một lần!"

🌟

Chuyện thứ hai:
Có một đôi vợ chồng già ở trong phòng trên tầng xem tivi. Bà vợ già nói với chồng:
"Ông xuống nhà bếp ở tầng dưới lấy giúp tôi ít kem, tôi muốn ăn kem, nhớ là đặt hai quả dâu tây lên trên ly kem nhé."

Ông chồng già đồng ý rồi cất bước đi xuống tầng.
Bà vợ già nói với theo:
"Ông có cần lấy bút ghi lại không?"
Ông chồng già đáp:
"Đùa à! Chuyện nhỏ thế này, tôi đương nhiên là nhớ được."

Ông chồng đi xuống tầng. Sau một lúc vẫn chưa thấy ông trở lên. Bà vợ lẩm bẩm nói:
"Tên tiểu tử này đang làm cái trò gì không biết?"

Không lâu sau, ông chồng xuất hiện ở đầu cầu thang, trên tay cầm một bát mì nóng bốc hơi nghi ngút.
Bà vợ già trông thấy, gần như tức điên lên! Bà già hét:
"Bảo ông cho thêm hai quả trứng, thế mà ông lại quên nữa à!"

🌟

Bốn bà già ngồi đánh mạt chược với nhau. Một bà trong số đó mắc tiểu, nói:
"Tôi đi toilet một chút rồi quay lại ngay!"

Bà già cần đi toilet này, sau khi đi tiểu xong, liền quên luôn việc mình đang đánh mạt chược. Thế là sau khi ra khỏi toilet, bà cũng tự bỏ về nhà luôn!

Ba bà già còn lại ngồi ở bàn chờ đợi. Đợi một lúc lâu thì ba bà cùng hốt hoảng, nói:
"Sao lâu như vậy rồi mà người vẫn chưa quay lại nhỉ?"
Một bà nói:
"Thôi rồi! Tôi quên mất người đi toilet là ai rồi?"
Bà thứ hai nói:
"Rốt cục bà ấy là ai nhỉ? Không nhớ ra được!"

Cả ba bà già đã hoàn toàn quên mất người bạn già đánh mạt chược với họ là ai rồi!
Đương nhiên, hội chơi cũng giải tán luôn!

🌟

Khi tôi kể ba câu chuyện cười này, mọi người đều cười nghiêng ngả. Có một người nói:
"Tôi đau lòng quá! Cười không nổi!"
Hỏi:
"Ông đau lòng chuyện gì?"
Người kia đáp:
"Người mẹ mà tôi cả đời yêu thương nhất, khi bà gặp tôi, không ngờ lại hỏi: Anh là ai?"
(Bệnh mất trí nhớ, ai có thể cứu đây?)


### 25. Cũng là pháp thí thân


Theo tôi được biết:
Thần mũi voi là một vị thần rất hung ác.
Thần dùng vòi để quấn chặt con người lại rồi ném người ta vào núi đá, khiến người ta máu thịt be bét.
Thần phá hoại Phật giáo.
Thần dùng chân dẫm chết rất nhiều tín đồ Phật giáo.
Thần dùng pháp lực của mình, với tất cả sức mạnh, phá hoại cuộc sống bình yên của nhân loại.
Thần chỉ cần rống lên:
"Wo! Wo! Wo!"
Là mọi người chạy trối chết!

🌟

Mọi người cầu nguyện Quan Thế Âm Bồ Tát, Bồ Tát đã thấy thần mũi voi đang làm loạn ở nhân gian. Bồ Tát từ bi chúng sinh, bèn hóa thành một vị thần mũi voi nữ, trông rất trẻ trung xinh đẹp, dịu dàng ân cần. Thần mũi voi nam vừa nhìn thấy thần mũi voi nữ thì thần hồn điên đảo, mê mẩn tương tư.

Thần mũi voi nam chạy theo thần mũi voi nữ, nhưng vẫn không sao bắt kịp được. Rõ ràng là sắp đuổi kịp rồi, nhưng thần mũi voi nữ lại biến mất.
Mặc dù pháp lực của thần mũi voi rất cao cường, nhưng cũng không sao ôm được thần mũi voi nữ. Tới mức độ, ngọn lửa ham muốn trong thần mũi voi nam bùng lên, nhưng vẫn chẳng biết phải làm sao!
Thần mũi voi nữ nói:
"Ta sẽ lấy chàng, chỉ có một điều kiện, chàng phải cải tà quy chính, không được phá hoại loài người, cũng không được thù ghét tín đồ Phật giáo. Ngược lại, cần phải bảo hộ loài người, hộ trì Phật giáo."
Thần mũi voi nam vừa nghe xong lập tức gật đầu đồng ý.

Thế là, hai thần ôm lấy nhau. Thần mũi voi nam từ phản đối Phật giáo đã trở thành vị thần hộ pháp của Phật giáo. Đây chính là hình tượng song thân của Đại Thánh Hoan Hỷ Thiên.

🌟

Theo tôi được biết:
Yeshe Tsogyal cũng là một vị vĩ đại như vậy.
Trong quá trình đem lại lợi ích cho chúng sinh, đã có rất nhiều sự việc ngài vì người khác mà đã hy sinh chính bản thân mình.
Có một người bị bệnh hủi tìm đến ngài. Người bị bệnh hủi này bệnh tình rất nghiêm trọng, toàn thân trên dưới đều đầy máu mủ. Trên da không có một chỗ nào là không bị lở loét. Từ miệng các vết thương phát ra mùi tanh hôi thối rữa, toàn thân bốc mùi xa tới cả mét rưỡi.

Người bị bệnh hủi này nói với Yeshe Tsogyal:
"Xin hãy giúp tôi."
Yeshe Tsogyal nói:
"Ông cần học Phật pháp, ví dụ như quán tưởng Bổn tôn trụ tại đỉnh đầu, trì tâm chú của Bổn tôn, học những đạo hạnh của Bổn tôn."
Người bị bệnh hủi nói:
"Tôi muốn nàng làm vợ tôi thì tôi mới học Phật pháp!"

Yeshe Tsogyal vì muốn độ hóa cho người bị bệnh hủi này nên cũng hy sinh thân mình, trở thành vợ của người bị bệnh hủi, phục vụ và chăm sóc cho ông ta.

Trời ạ! Đây là việc mà một người bình thường không thể làm được!
Đây mới gọi là pháp thí thân.

Về sau, người bị bệnh hủi biến thành Long Vương Nan Đà, hóa ra chính là Long Vương Nan Đà đến để khảo nghiệm đạo tâm của Yeshe Tsogyal.
Những vị độ chúng sinh, thành tựu Bồ Tát, cũng đều như vậy.


### 26. Nói về văn triệu thỉnh


Có đệ tử hỏi:
"Văn triệu thỉnh quan trọng hay chú triệu thỉnh quan trọng?"
Tôi đáp:
"Cả hai đều quan trọng."
Đệ tử hỏi:
"Vì sao lại quan trọng?"
Tôi đáp:
"Đây là khởi đầu của tu pháp."
Đệ tử hỏi:
"Bổn tôn của con là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ thì văn triệu thỉnh như thế nào?"
Tôi đáp:
"Liên Hoa Sinh Đại Sĩ có bảy câu văn cầu thỉnh rất nổi tiếng, vốn là những lời Không Hành Mẫu trì tụng, tôi viết ra đây như sau:

*"Tịnh thổ Orgyen góc phía bắc
Giáng sinh trên nhụy một đóa sen
Thù thắng vi diệu thành tựu giả
Xưng dương thánh hiệu Liên Hoa Sinh
Không Hành nhiễu quanh đông như biển
Con nguyện phát tâm đi theo ngài
Thỉnh ngài mau đến ban gia trì."*

[Đây là phiên bản tiếng Trung của bản văn cầu nguyện nổi tiếng bảy dòng tiếng Tạng tới Guru Rinpoche - Padmashambhava.]

Đệ tử hỏi:
"Còn bài văn triệu thỉnh nào khác không?"
Tôi đáp:
*"Đương nhiên có. Tôi cũng thường niệm bài này:
Pháp thân Phổ Hiền Kim Cang Trì thứ sáu
Tát Đỏa Bà Già Thích Ca Đại Tôn Sư
Hỗ chủ Vô Lượng Thọ Phật Quán Tự Tại
Bởi không phân biệt xin thỉnh trước Liên Sư."*

Đệ tử hỏi:
"Con muốn bài nào đơn giản dễ nhớ, có thể dạy con không?"
Tôi đáp:
"Cũng có thể niệm:
Nam mô pháp thân thường trụ, tam thế nhất như, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.
Nam mô báo thân thanh tịnh, tướng tốt vượt trội, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.
Nam mô hóa thân biến hiện, yết ma vô lượng, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.
Cầu ngài mau đến ban gia trì."

Tôi nói:
Bài thứ nhất là bảy câu triệu thỉnh nổi tiếng của Tây Tạng. Bài thứ hai là bài triệu thỉnh nói về nguồn gốc của Liên Sư, rất có lực. Bài cuối cùng là triệu thỉnh ba thân: pháp thân, báo thân, hóa thân, dễ nhớ nhất!"

🌟

Đệ tử hỏi:
"Có thể tự mình viết văn triệu thỉnh không?"
Tôi đáp:
"Có thể. Có thể tự mình nghĩ ra. Quan trọng nhất là thực sự làm cảm động tới Liên Hoa Sinh Đại Sĩ để ngài đến gia trì cho bạn. Hơn nữa ngài còn ban cho bạn trân bảo, pháp bảo, như ý bảo."

Đệ tử hỏi:
"Văn triệu thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật gia trì là gì?"
Tôi đáp:
"Chính là đoạn đầu trong Chân Phật Kinh.

"Om. Ah. Hum. !
Kính đem thân khẩu ý thanh tịnh.
Cúng dường Tỳ Lô Giá Na Tôn.

Pháp thân Phật Nhãn Phật Mẫu Thánh.
Báo thân Liên Hoa Đồng Tử thân.
Ứng Thân giáo chủ Liên Sinh Phật.
Ba thân không khác, đại Phật ân.

Cung kính Chân Phật đại truyền thừa.
Thần thông ban trải đầy thế giới.
Phóng quang chiếu rọi khắp ba thời.
Hóa hiện không ngừng chứng nhất như
Đệ tử tha thiết thường cầu tới.
Soi chiếu Quang minh, phúc huệ tăng.

Xưa đến thọ ký, Phật Thích Ca
Phó thác ân cần, A Di Đà.
Di Lặc Bồ Tát ban hồng quán.
Liên Hoa Đại Sĩ mật pháp truyền.

Thánh tôn, xin thỉnh đừng quên nguyện.
Cứu độ chúng sinh, chúng con đây
Hộ niệm như thế xin nhiếp thọ.
Thành tựu nhanh nhanh, thỉnh gia trì."

Đệ tử hỏi:
"Cũng có thể tự nói theo cách của mình, tự mình soạn ra một bài văn cầu thỉnh riêng chứ?"
Tôi đáp:
"Đương nhiên. Nhưng nhất định cần phải làm cảm động tới Bổn tôn để ngài hạ giáng ban gia trì!"


### 27. Ghen tuông và đố kỵ


Tại cõi nhân gian này, giữa người với người khó tránh khỏi việc ghen tuông và đố kỵ, do vậy, điều này cũng xem như là chuyện bình thường.
Phật giáo chúng ta thường nói đến tám pháp thế gian: "Được, mất, vinh, nhục, khen, chê, vui, khổ."

Kì thực, trong 8 pháp này, nên thêm vào ghen tuông và đố kỵ nữa. Nhưng không thêm vào cũng được, bởi vì ghen tuông và đố kỵ cũng được ám chỉ trong 8 pháp đó rồi.

Phụ nữ hay ghen tuông, đố kỵ. Đương nhiên, đàn ông cũng ghen tuông và đố kỵ giống như vậy. Còn như người tu hành chúng ta thì cần phải hoàn toàn không để cho 8 pháp này, kiêm cả ghen tuông và đố kỵ, tác động đến tâm. Đó mới là biểu trưng cho việc tu hành chân chính.

🌟

Có người hỏi tôi:
"Liên Hoa Sinh Đại Sĩ có nhiều minh phi như vậy, lẽ nào họ không ghen tuông và đố kỵ lẫn nhau?"
Tôi nói:
"Anh xem "Chân Hoàn truyện", "Như Ý truyện" nhiều quá rồi đó."

Người hỏi:
"Trên bức thangka của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ có hai vị đại minh phi là Yeshe Tsogyal và Mandarava, hai vị này không ghen tuông và đố kỵ với nhau sao?"

Tôi đáp:
"Yeshe Tsogyal là người Tây Tạng, là công chúa của Tạp Thiên. Mandarava là người Ấn Độ, cũng là công chúa. Cơ hội để hai người gặp nhau rất ít, do vậy việc này không có gì phải thắc mắc."

Người hỏi:
"Ai trước ai sau?"
Tôi đáp:
"Hẳn là Mandarava trước, còn Yeshe Tsogyal là sau. Bởi vì Liên Hoa Sinh Đại Sĩ ở tại Ấn Độ trước."
Người hỏi:
"Hai vị đại minh phi này có gặp mặt nhau không?"
Tôi đáp:
"Theo như tôi biết thì họ có từng gặp mặt nhau. Mandarava của Ấn Độ đem theo sáu đệ tử đến vùng núi lớn ở Lhodrak Kharchhu, Tây Tạng và họ đã gặp nhau ở đây."
Tôi nói:
"Họ ở cùng nhau 39 ngày."
Người hỏi:
"Họ tương tác với nhau như thế nào?"
Tôi đáp:
"Mandarava là một vị Không Hành Mẫu trí tuệ, bà và Yeshe Tsogyal cùng ngưỡng mộ lẫn nhau, cùng nghiên cứu học tập Phật pháp, tình cảm giống như chị em."

Tôi nói:
"Yeshe Tsogyal đã dạy cho Mandarava 27 khẩu quyết tinh hoa trọng yếu, đây là những điều ở Ấn Độ không có. Còn Mandarava dạy cho Yeshe Tsogyal 7 khẩu quyết tinh hoa trọng yếu về trường thọ và 13 khẩu quyết tinh hoa trọng yếu của Mã Đầu Minh Vương và các Bổn tôn khác."
Người hỏi:
"Còn các vị minh phi khác thì sao?"
Tôi đáp:
"Trong số các vị đại minh phi thì có Yeshe Tsogyal, Tashi Khyidren, Kala Siddhi ở Nepal, ba vị này đều là những đại minh phi của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Yeshe Tsogyal là đạo sư của họ, họ cùng sống với nhau rất hòa hợp."

Người hỏi:
"Còn ai nữa không?"
Tôi đáp:
"Những người khác thì tôi không biết!"
Người hỏi:
"Đối với chuyện phụ nữ và phụ nữ, ghen tuông và đố kỵ, Lư Sư Tôn có cái nhìn thế nào?"
Tôi đáp:
"Tu hành vẫn chưa đến được điểm cuối cùng!"
Đến được điểm cuối cùng rồi thì tất cả đều là không. (không có gì đáng kể)


### 28. Biên niên sử Yeshe Tsogyal


Yeshe Tsogyal sinh ngày 10 tháng Thân năm Dậu theo lịch Tây Tạng, là công chúa của vua Tạp Thiên. (Khi được 1 tháng tuổi thì hài nhi đã lớn như một đứa trẻ 8 tuổi.)

Vẻ đẹp của ngài xuất chúng, ai nấy đều biết tiếng.
Tôi viết ra biên niên sử của ngài như sau:
13 tuổi — trở thành vương phi của vua Trisong Detsen.
16 tuổi — trở thành minh phi của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.
20 tuổi — đã có được rất nhiều quán đảnh mật pháp.
(Tu khổ hạnh và đã trải qua bao khó khăn ở khắp nơi.)
30 tuổi — đã chứng đắc rất nhiều thành tựu.
(Bắt đầu làm lợi ích chúng sinh.)
40 tuổi — chứng đắc tương ứng thân khẩu ý với Căn bản Thượng sư.
50 tuổi — hàng phục rất nhiều ma chướng.
60 tuổi — thành lập tăng đoàn và truyền dạy Phật học.
70 tuổi — kiến đạo (đã thấu hiểu tính Không).
80 tuổi — căn bản Thượng sư trở về tịnh độ Orgyen.
90 tuổi — chứng ngộ thực tướng tính Không.
100 tuổi — minh giác rộng lớn vô biên (trí huệ như biển).
120 tuổi — đảm nhận vai trò là quốc sư của Kiền Kính Vương.
130 tuổi — giảng dạy Phật pháp ở khắp Tây Tạng.
150 tuổi — chôn giấu các terma trong đất, nước, lửa, gió, không (terma chính là các khẩu quyết tinh yếu).
170 tuổi — truyền dạy cho các đệ tử lớn, vô cùng chăm chỉ.
180 tuổi — sống tại hang động lớn ở Lhodak.
190 tuổi — gặp mặt Phật Mẫu Mandarava (chứng siddhi bất tử).
211 tuổi — nhập niết bàn.

🌟

Có người hỏi tôi:
"Ngài nói rằng Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã sống cả nghìn tuổi, còn Yeshe Tsogyal sống 211 tuổi, điều này có đúng thật không?"
Tôi đáp:
"Người Tạng cổ đã sử dụng cách tính thời gian theo hệ thống của Ấn Độ, lấy 6 tháng là 1 năm. Căn cứ theo phương pháp tính này thì Yeshe Tsogyal sống tại nhân gian tổng cộng sống khoảng 106 tuổi."

Lại hỏi:
"Liên Hoa Sinh Đại Sĩ sống 1000 tuổi, giảm đi một nửa là còn 500 tuổi, có đúng như vậy không?"
Tôi đáp:
"Rất khó nói chính xác. Nếu tính theo thời gian của Tây Tạng thì chính là như vậy."

Hỏi:
"Vì sao Thánh giả không lưu lại thế gian thật lâu để chuyển pháp luân?"
Tôi đáp:
"Con người do ngũ đại tổng hợp, nhân duyên hội đủ mà tồn tại, đến khi duyên cạn duyên hết thì việc rời đi là điều tất nhiên thôi."
Hỏi:
"Vậy thì sống có lợi ích gì?"	
Đáp:
"Ý nghĩa của việc sống chính là chăm chỉ làm lợi ích chúng sinh mà thôi!"
Hỏi:
"Liên Hoa Sinh Đại Sĩ và Yeshe Tsogyal cuối cùng đã đi đâu?"
Đáp:
"Tịnh thổ Liên Hoa. Đó mới là nơi họ sống mãi."
Hỏi:
"Lư Sư Tôn! Bây giờ ngài cho rằng nhân gian là cái gì?"
Đáp:
"Hoàn toàn chẳng phải là vật gì cả!"
Hỏi:
"Ý ngài là gì?"
Đáp:
"Hoàn toàn là huyễn!"
(Bởi vì hoàn toàn là huyễn, vô sở đắc, thế nên Bồ Đề Tát Đỏa.)


### 29. Phật học tổng thuyết


Có người hỏi tôi:
"Nhiều năm trước, tại Biệt thự Cầu Vồng, ngài đã giảng bộ "Phật học tổng thuyết" liền mấy ngày, đến hôm nay bản thân ngài có cảm thấy hài lòng không?"
Tôi trả lời:
"Nếu như đặt tên là Phật học tổng thuyết thì tôi cảm thấy không hài lòng. Nếu đặt tên là Phật học đại cương thì vẫn chỉ hài lòng ở mức độ vừa phải thôi."
Người hỏi:
"Vì sao?"
Tôi đáp:
"Phật học có 8 vạn 4 nghìn pháp môn, tôi chỉ mới thuyết pháp có vài ngày, chỉ mới đề cập đến một vài thứ và bỏ qua rất nhiều thứ khác, làm sao gọi là tổng thuyết được đây?"

Người hỏi:
"Nếu bây giờ ngài giảng lại về Phật học tổng thuyết thì ngài sẽ đặt tên như thế nào?"
Tôi đáp:
"Vẫn không thể đặt tên là Phật học tổng thuyết được, tôi nghĩ chỉ có thể gọi là Trình tự học Phật."
Người hỏi:
"Trình tự học Phật của Lư Sư Tôn như thế nào?"
Tôi đáp:
Kiến — rời xa vọng tưởng, không bám chấp (kiến huyễn ly huyễn).
Tu — không tạo tác, rời xa hý luận (ly hý du già).
Hành — không tán loạn, tự tại tâm an (chuyên nhất du già).
Chứng — viên mãn sức mạnh tam thân (chứng minh quả địa).

Người hỏi:
"Đại Tạng Kinh, Kinh Luật Luận, ngài thấy thế nào?"
Tôi đáp:
Kinh — dựa vào kinh tạng để tu sửa hành vi nội tại, công đức và phát tâm.
Luật — dựa vào luật tạng để biểu đạt hành vi ngoại tại, thanh tịnh ít lỗi lầm.
Luận — dựa vào luận tạng để hiểu nghĩa lý Phật giáo, không còn nghi hoặc và hiểu lầm.

🌟

Người hỏi:
"Lư Sư Tôn! Thứ tự tu Mật giáo của ngài như thế nào?"
Tôi đáp:
Sự bộ tu pháp — tịnh hóa những ô nhiễm.
Hành bộ tu pháp — thiện xảo tự tâm, tinh thông thành thục Phật pháp.
Du già bộ tu pháp — kiến địa tăng trưởng, nhất vị viên mãn.
Đại du già bộ tu pháp — thấy việc tu hành đều viên mãn thành tựu, tất cả đều tự tại.
A Nô du già — tu khí, mạch, minh điểm, pháp lực hiển hiện.
A Để du già — minh điểm thanh tịnh, quang minh tính Không.

Người hỏi:
"Đối với Vô thượng mật bộ, ngài có khẩu quyết gì không?"
Tôi đáp:
Trước tiên thành tâm cầu Thượng sư đến quán đảnh.
Tu tập khí mạch minh điểm đều tinh thông thành thục.
Tu đến khi đại lạc và tứ Hỷ xuất hiện.

Khí của nam và nữ phải hòa lẫn vào nhau.
Mạch của nam và nữ phải kết nối với nhau.
Ở nơi bí mật, minh điểm không được rò rỉ.
Nếu không sẽ tự phạm vào giới luật giết Phật.

Khí tiếp xúc.
Mạch thông suốt.
Điểm hòa tan.
Ngũ luân mở ra là điểm mấu chốt.
Quang minh thoát ra để đến được đại thiên giới.
Từ đó viên mãn thân cầu vồng, chuyển hóa thành lợi ích cho chúng sinh.

Người hỏi:
"Lời thề quan trọng trong việc học Phật là gì?"
Tôi đáp:
"Tự độ độ tha, tự giác giác tha, giác hành viên mãn, lợi ích hữu tình."


### 30. Thế nào là "Mật hành tôn giả"?


Ngày xưa, Atisha tôn giả muốn xuất gia. Đầu tiên ngài tìm đến Thượng Tọa Bộ để xin xuất gia.

[Thượng tọa bộ, còn gọi là Theravada, Phật giáo Nam truyền, Nam tông, là nhánh lâu đời nhất của phật giáo, xếp trong Tiểu thừa, và nhiều khi còn được coi là chính phật giáo Tiểu thừa.]

Những trưởng lão ở Thượng Tọa Bộ hỏi:
"Sau khi xuất gia, còn mật hành không?"
Atisha tôn giả đáp:
"Không từ bỏ mật hành!"

Thế là, Thượng Tọa Bộ đã từ chối cho Atisha tôn giả xuất gia.
Sau đó, Atisha tôn giả chỉ có thể xuất gia tại Đại Chúng Bộ.

[Đại chúng bộ, còn gọi là Mahasanghika, một nhánh của Phật giáo Tiểu thừa, phát xuất sau Thượng tọa bộ, và là nền tảng khởi đầu cho Phật giáo Đại thừa sau này.]

Chú thích: Thượng Tọa Bộ cực kì chú trọng đến sự uy nghi bên ngoài, còn Đại Chúng Bộ thì tương đối tùy thuận nhằm tiện lợi cho mọi người. Do vậy mà Thượng Tọa Bộ không cho phép Atisha xuất gia.

Mật hành ở đây là nói đến:
Atisha là người tu luyện yoga, sống nhờ vào việc đi xin thức ăn. Người tu luyện yoga gọi là mật hành. Xin ăn cũng là mật hành.

🌟

Có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Trong Chân Phật Kinh, ngài có nhắc đến thánh cáo của ngài là: Tây phương Liên Trì Hải Hội, Ma Ha Song Liên Trì, Thập bát đại Liên Hoa Đồng Tử, Bạch Y Thánh Tôn, Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư, Chủ Kim Cương Chân Ngôn Giới Bí Mật Chủ, Đại Trì Minh Đệ Nhất Thế Linh Tiên Chân Phật Tông, Lư Thắng Ngạn Mật Hành Tôn Giả. Mật Hành Tôn Giả ở đây thì mật hành là gì?"
Tôi đáp:
"Mật hành ở đây có phạm vi rất rộng, không phải chỉ có một, hai ý nghĩa thôi đâu."
Hỏi:
"Rốt cục là như thế nào?"
Tôi đáp:
"Tôi là người tu luyện yoga, cũng là người ăn xin." (Chúng sinh bố thí cho tôi thức ăn và áo mặc.)
Hỏi:
"Ngoài ý nghĩa này ra thì mật hành còn bao hàm điều gì nữa?"
Tôi đáp:
"Bạn đạo, sự nghiệp thủ ấn, Không Hành Mẫu, đều là mật hành."
Hỏi:
"Vì sao gọi là mật hành? Hàm nghĩa của danh từ này là gì?"
Tôi đáp:
"Bí mật tu hành samaya nên gọi là mật hành."

🌟

Hỏi:
"Có còn bí mật gì nữa không? Có thể nói một chút không?"
Đáp:
"Việc giữ bí mật thực hành samaya kì thực vẫn có rất nhiều ý nghĩa. Ví dụ:
Chúng ta không được có dã tâm, cũng không được tự mãn, nếu có hai điều này thì là phi mật hành.

Chúng ta không thể cao ngạo và khoa trương, có được chứng nghiệm và pháp lực là đã ngạo mạn và khoe khoang thì đó chính là Ma Vương Ba Tuần. Chỉ được bí mật thực hành mà thôi, đây gọi là mật hành.

Người tu hành yoga bí mật đương nhiên không được có dục vọng và bất kì mong cầu nào, tất cả dục vọng và mong cầu đều không phải là mật hành.

Người thực hành yoga phải từ bỏ tất cả, chỉ có trời người hợp nhất mà thôi.
Chúng ta không được theo đuổi thanh danh. Tiếng xấu cũng phải tránh. Bởi vì là mật hành nên thanh danh hay ác danh đều phải xả bỏ.

Chúng ta phải thẳng thắn, không được có sự dối trá. Không được mánh khóe quỷ quyệt."

Lư Sư Tôn tôi nói cho mọi người biết:
Con mắt cần hướng nội mà tu.
Mật hành là không để lộ ra ngoài.
Ấm hay nóng cần phải giấu kín.
Thượng sư, Bổn tôn, hành giả tam hợp thể.
Mật. Mật. Mật.


### 31. Thực vô sinh tử


Khi Phật Thích Ca Mâu Ni tại thế, có hai sự việc mọi người đều biết.

Một là:
Phật Đà đạt chứng quả dưới gốc cây bồ đề.
Phật Đà liền nghĩ: Nhập niết bàn thôi!
Lúc này:
Đại Phạm Thiên, Đế Thích Thiên hạ giáng, thỉnh Phật trụ thế, chuyển pháp luân, quảng độ trời người. Phật Đà ngẫm nghĩ rồi cuối cùng đã ở lại nhân gian, chuyển pháp luân rộng rãi.

Hai là:
Khi Phật Đà sắp nhập niết bàn.
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát hạ giáng nói với Phật Đà rằng: "Thỉnh Phật trụ thế, tiếp tục chuyển pháp luân."
Phật Đà trả lời:
"Ta có chuyển pháp luân sao?"
Văn Thù Bồ Tát vừa nghe xong thì đã tỉnh ngộ.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) nói với các đệ tử rằng:
"Thêm mấy năm nữa, rồi tôi cũng đi thôi!"
Các đệ tử nói:
"Sư Tôn sẽ không đâu! Sư Tôn sẽ không đâu!"
Tôi cười:
"Thế thì chẳng phải tôi sẽ thành yêu quái già sao."

Tôi thực lòng thực sự nói với mọi người rằng:
Thân thể xương thịt này của con người là sự tổ hợp của đất, nước, lửa, gió, hữu duyên thì tụ, vô duyên thì tán. Đó chỉ là một sự việc trong một sát-na mà thôi.

Kinh Phật nói: mộng, huyễn, bào, ảnh. 
Như sương. Như điện.
Nếu bạn hiểu rõ về đời người, thì bạn sẽ nghĩ rằng đó chẳng qua chỉ là một bộ phim, phim hết thì con người cũng giải tán.
Bạn cũng có thể nghĩ rằng vở kịch đã diễn xong, kèn trống đã nghỉ thì tất cả cũng đều kết thúc rồi.
Như đến — hình như đã từng đến.
Như đi — hình như đã từng đi.
Tôi nói:
Sinh chính là tử, tử chính là sinh. (sinh tử là một)
Thắng nghĩa cao nhất là: 
"Thực không có sinh tử."

🌟

Người hỏi:
"Chân Phật Tông của ngài sẽ ra sao?"
Tôi đáp:
"Có Chân Phật Tông sao?"
Người hỏi:
"Sách ngài viết thì sao?"
Tôi đáp:
"Tôi có viết sách sao?"
Người hỏi:
"Chẳng phải là ngài có thuyết pháp đó sao?"
Tôi đáp:
"Ai nói tôi có thuyết pháp?"
Người hỏi:
"Ngài chẳng phải là Lư Thắng Ngạn sao?"
Tôi đáp:
"Ai là Lư Thắng Ngạn, Lư Thắng Ngạn là ai?"
Tôi nói:
"Thực vô sinh tử, đã gồm tính Không."


### 32. Tuyết mùa đông ở Seattle


Có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Mùa đông năm 2019 đã đến rồi, ngài có trở về Đài Loan không?"
Tôi đáp:
"Không về!"
Người hỏi:
"Vì sao không về? Chẳng phải ngài nửa năm ở Mỹ, nửa năm ở Đài Loan sao?"
Tôi đáp:
"Đúng vậy. Kể từ năm 2010 đến năm 2019 thì cứ mùa hè tôi ở Seattle, mùa đông ở Đài Loan, mỗi nơi ở nửa năm. Nhưng năm 2020 tôi sẽ không về Đài Loan nữa."
Người hỏi:
"Vì sao vậy?" (hỏi lặp)
Tôi đáp:
"Có ba lý do:
Một, ở Đài Loan, tôi sống tại Đài Trung, chất lượng không khí của Đài Trung không đủ tốt, phổi của tôi không chịu được.
Hai, sức khỏe của Thượng sư Liên Hương không được tốt nữa.
Ba, ở Đài Loan đặc biệt nhiều muỗi."

Người hỏi:
"Vậy từ năm 2010 đến 2019, tổng cộng là ngài ở Đài Loan 9 năm, với chất lượng không khí như vậy, ngài đã sống thế nào?"
Tôi đáp:
"Từ năm 2010 đến 2017, chất lượng không khí ở Đài Trung, Đài Loan vẫn còn tốt. Nhưng sau đó thì không còn tốt nữa, tôi miễn cưỡng hít thở không khí ô nhiễm được 2 năm thì không còn chịu được nữa."
Người hỏi:
"Không khí không tốt là vì sao?"
Tôi đáp:
"Do các nhà máy phát điện ở Đài Trung."
Người hỏi:
"Vậy những người sống ở miền Trung phải làm sao?"
Tôi đáp:
"Tôi cảm thấy thương xót cho họ!" (Đó chính là nỗi buồn phiền trong lòng tôi.)
Người hỏi:
"Thượng sư Liên Hương sức khỏe không tốt, muỗi lại đốt người, cũng là lý do sao?"
Tôi đáp:
"Thượng sư Liên Hương sức khỏe không phù hợp với những chuyến đi đường dài nữa rồi. Muỗi đốt người thì đương nhiên cũng không thể là lý do, nhưng trên thực tế, muỗi rất nhiều, đêm nào cũng phải chống muỗi."
Người hỏi:
"Lý do chủ yếu ngài không về Đài Loan vẫn là…"
Tôi đáp:
"Vẫn là do phẩm chất không khí ở Đài Trung Đài Loan không tốt."
Người hỏi:
"Ảnh hưởng của chất lượng không khí kém là rất lớn, ngài biết điều đó chứ?"
Tôi đáp:
"Đương nhiên biết. Con người sống nhờ vào ba nguyên tố chính yếu, là ánh sáng mặt trời, không khí, nước. Không khí và nước đều không tốt thì sống làm sao?"
Người hỏi:
"Ngài đã nói rằng ngài người thì ở Mỹ, tâm thì ở Đài Loan, bây giờ có còn như vậy không?"
Tôi đáp:
"Đương nhiên. Tôi sinh ra tại Đài Loan, trưởng thành tại Đài Loan. Tôi sống ở Cao Hùng 19 năm, sống ở Đài Trung 19 năm, tổng cộng là 38 năm sống tại Đài Loan, đây là quê hương của tôi. Quê hương của tôi, làm sao có thể không yêu?"
Người hỏi:
"Ngài sẽ còn trở về Đài Loan không?"
Tôi đáp:
"Sẽ còn!" (Tôi đang đợi cho đến khi chất lượng không khí và nước tốt hơn.)

Tôi thực lòng thực sự nói với mọi người:
Tôi nhớ nhà tôi ở Đài Trung.
Tôi nhớ Lôi Tạng Tự ở Nam Đầu, Đài Loan.
Tôi nhớ thân hữu, bạn bè cùng học ở Đài Loan.
Tôi nhớ các đệ tử ở Đài Loan và Đông Nam Á.
Tôi nhớ……


### 33. Tán thán Quan Thế Âm Bồ Tát


Có đệ tử hỏi:
"Lư Sư Tôn! Con thấy ngài tán thán Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, nhưng còn Quan Thế Âm Bồ Tát thì sao?"
Tôi đáp:
"Đương nhiên cũng tán thán." (Tất cả các vị Bồ Tát tôi đều tán thán.)
Đệ tử hỏi:
"Công đức của Quan Thế Âm Bồ Tát như thế nào?"
Tôi đáp:
"Công đức của Ngài thì ngay cả đến tất cả chư Phật cũng không thể kể hết."
Đệ tử hỏi:
"Có thể kể một, hai điều không?"

Tôi đáp:
Trong "Phật thuyết Đại thừa trang nghiêm bảo vương kinh" có ghi chép rằng:
Bồ Tát đến địa ngục. 
Địa ngục nóng rực ồn ào bỗng biến thành mát mẻ.
Bồ Tát đến cõi ngạ quỷ. 
Ngạ quỷ được ăn no.
Quan Thế Âm Bồ Tát mỗi ngày có thể thành tựu hàng nghìn hàng vạn câu chi na do tha số lượng chúng sinh hữu tình ở các sát thổ.

Quan Thế Âm Bồ Tát có thể:
Đôi mắt sáng như mặt trời mặt trăng.
Từ trán ngài xuất hiện Đại Tự Tại Thiên.
Trên vai ngài xuất hiện Phạm Thiên.
Tim ngài hóa xuất ra Đại Lực Kim Cang.
Răng ngài xuất hiện Diệu Âm Thiên Nữ.
Trong miệng ngài xuất hiện Phong thần.
Hai chân ngài xuất hiện Địa thần.
Bụng ngài xuất hiện Thủy thần.

Quan Thế Âm Bồ Tát có thể điều hóa chúng sinh hữu tình, có thể hiện thân tướng Như Lai, Thanh Văn, Duyên Giác, Phạm Thiên, con người, phi nhân, v.v… Công đức của ngài thậm chí Như Lai cũng chưa từng có.

🌟

Phật Thích Ca Mâu Ni nói với Trừ Cái Chướng Bồ Tát:
Phúc đức của Quan Thế Âm Bồ Tát, ta cũng không thể nói hết. Công đức của Bồ Tát nhiều như lỗ chân lông. Trong các lỗ chân lông vàng kim có những Gandharva, họ an trụ trong chính pháp.

[Gandharva là tên gọi của các chúng sinh cõi trời đặc trưng trong đạo Hindu, đạo Phật và đạo Giai-na, họ có những kỹ năng âm nhạc siêu việt, họ tạo ra âm nhạc đẹp đẽ cho các vị thần.]

Trong các lỗ chân lông đen có tám vạn tiên nhân, có đầy đủ từ nhất thông đến lục thông, có thể làm cho pháp âm tuôn chảy lan tràn.
Trong các lỗ chân lông ở tai có các tuần hương nữ, có thể hóa ra tất cả mọi vật phẩm cần thiết.
Lỗ chân lông cam lộ của ngài an trụ Thập địa Bồ Tát.
Lỗ chân lông kim cang của ngài an trụ các Kimnara.

[Trong truyền thuyết của đạo Hindu, Kimara là hình tượng người yêu kiểu mẫu, một nhạc sĩ cõi trời, có một phần là người, một phần là ngựa, một phần là chim. Trong truyền thuyết của đạo Phật thì Kimnara là một nhân vật nam nửa người nửa chim rất từ bi, được tin rằng đến từ vùng núi Himalaya và thường quan sát sự an ổn của chúng sinh trong những lúc nguy nan. Hình tượng nhân vật nữ gắn liền với Kimnara là Kimnari. Trong truyền thuyết của Đông Nam Á thì Kimnari được mô tả là nửa người là chim, nửa người là phụ nữ, có cánh tay người và có cánh, đuôi, chân của thiên nga. Họ nổi tiếng vì những điệu múa và thơ ca, họ là biểu tượng truyền thống của vẻ đẹp nữ tính, sự duyên dáng và thành tựu.]

Ngài sáng như mặt trời, có nguồn gốc là vua.
…

Chúng sinh an trụ trong những lỗ chân lông của Bồ Tát đều trì thánh hiệu của Bồ Tát và chú lục tự đại minh, không còn luân hồi, cho đến khi họ niết bàn.

Ngày xưa.
Phổ Hiền Bồ Tát đã bỏ ra quãng thời gian 12 năm để đi đến khắp các lỗ chân lông của Quan Thế Âm Bồ Tát, quả nhiên là không thể thấy nổi điểm kết thúc.

Phật Đà nói với Trừ Cái Chướng Bồ Tát:
"Chú lục tự đại minh có sức mạnh nằm ngoài tưởng tượng, không thể đo đếm." (Chú Đại Bi cũng vậy.)

Đó là:
Chú hy hữu.
Chú kim cang.
Chú kim cang bất hoại.
Chú vô thượng trí huệ.
Chú vô thượng.

Phật Thích Ca Mâu Ni khi hành Bồ Tát đạo, đã cùng với 500 thương nhân xuống biển, đi vào La Sát châu, bị La Sát nữ bắt giữ. Chính Quan Thế Âm Bồ Tát đã hóa thành Balaha Mã Vương cứu họ.

Trong Bi Hoa Kinh đã ghi chép về nguồn gốc tên gọi của Quan Thế Âm Bồ Tát.
Trong Như Huyễn Tam Muội Kinh đã ghi chép về nhân duyên của Tây phương Tam Thánh.

Tóm lại:
Không thể tán thán, ca ngợi hết sự đại từ đại bi của Quan Thế Âm Bồ Tát.


### 34. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ và tôi


Tôi thường nói:
"Liên Hoa Sinh Đại Sĩ hóa sinh từ hoa sen, đương nhiên là Liên Hoa Đồng Tử. Còn tôi là hóa sinh của Liên Hoa Đồng Tử, do vậy lẽ tự nhiên giữa hai người chúng tôi có nhân duyên rất sâu đậm."
Tôi còn nói:
"Đại Sĩ là do Phật Thích Ca Mâu Ni, Quan Thế Âm Bồ Tát, A Di Đà Phật ba thân hợp nhất hóa hiện ra."
Tôi lại nói:
"A Di Đà Phật chính là bản địa của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ."
"Đại Sĩ là đại tổ sư của Tạng mật."
"Ngài ở Tây Tạng hoằng pháp 50 năm."
"Lấy pháp Đại Viên Mãn là pháp tối cao."
"Ngài thực hành A Để yoga, có thể hóa thành thân cầu vồng."

Những điểm chung giữa tôi và Liên Hoa Sinh Đại Sĩ gồm có:

1. Ngài là hóa sinh từ hoa sen, tôi cũng là hóa sinh từ hoa sen.

2. Ngài là A Di Đà Phật chuyển hóa, còn A Di Đà Phật chính là Bổn tôn của tôi.

3. Tên của ngài là Liên Hoa Sinh, còn pháp danh của tôi là Liên Sinh, nói đơn giản chính là giống nhau.

4. Phật Mẫu của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là do Diệu Âm Thiên Nữ chuyển hóa, tên là Yeshe Tsogyal. Phật Mẫu của tôi là do Cát Tường Thiên chuyển hóa, tên là Lư Lệ Hương. Diệu Âm Thiên Nữ và Cát Tường Thiên Nữ là chị em.

5. Khi tôi vừa bắt đầu sự nghiệp hành đạo thì có người tặng tôi một bộ "Liên Hoa Sinh Đại Sĩ ứng hóa sử lược".

6. Khi tôi xuất nguyên thần, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã đưa tôi đến hang động của ngài để trao quán đảnh bí mật. (Đây là truyền thừa bí mật.)

7. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã chỉ dẫn cho tôi đi tìm Thượng sư ở nhân gian.

8. Tôi là đệ tử tái truyền của Norlha Rinpoche. Liễu Minh Hòa Thượng chính là người kế thừa pháp của Norlha Rinpoche (phái Hồng giáo).

9. Trong não của tôi có terma của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.

10. Trong ba người là Tạng Vương Trisong Detsen, Tịch Hộ đại sư, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, tôi là ứng hóa của một trong ba người.

11. Trác Di dịch sư là ứng hóa của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, còn tôi rộng giảng "Đạo Quả". (Trác Di dịch sư là người nắm giữ "Đạo Quả".)

12. Tôi 500 năm chuyển thế một lần. Đã tu thành tựu cầu vồng bất tử.

13. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ tu thành tựu cầu vồng vô tử.

14. Chú ngữ của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là:
Om — Phổ Hiền Vương Như Lai (Phật A Đạt Nhĩ Mã), pháp thân ban đầu.
Ah — Bản địa của A Di Đà Phật, báo thân.
Hum — Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, ứng thân.
Ben — Trí huệ của Như Lai.
Za — Đại Viên Mãn.
Gu — Truyền dạy.
Ru — Tâm yếu khẩu quyết của giải thoát.
Pe — Phật thổ thanh tịnh.
Ma — Đoạn trừ phiền não vọng niệm.
Sid — Sự nghiệp viên mãn.
Dhi — Thành tựu.
Hum — Sự nghiệp của tam thế chư Phật đều thành tựu viên mãn.

Còn tâm chú của tôi là:
Om — Ánh sáng bản sơ của vũ trụ.
Gu — Đại đạo sư.
Ru — Truyền dạy khẩu quyết giải thoát.
Lian — Thân khẩu ý thanh tịnh.
Sheng — Hóa sinh từ hoa sen.
Sid — Viên mãn.
Dhi — Thành tựu.
Hum — Sự nghiệp lợi ích chúng sinh, công đức đại viên mãn.

Tôi nói:
"Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là Hồng Liên Hoa Đồng Tử, tôi là Bạch Liên Hoa Đồng Tử."
Tôi còn nói:
"Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là đại Thượng sư trong truyền thừa bí mật của tôi, tôi kính sư, trọng pháp, thực tu."


### 35. Thần biến của Đại Văn Thù


Căn cứ theo "Phật thuyết ma nghịch kinh":
Đã có ghi chép lại rằng khi Phật Thích Ca Mâu Ni tại vườn Kỳ Thụ Cấp Cô Độc thành Vương Xá, Văn Thù Bồ Tát đã thể hiện đại thần biến để trói chặt Ma Vương Ba Tuần lại, khiến cho hắn ngã lăn trên mặt đất.

Văn Thù nói:
"Ba Tuần, người cần phải hành trì sự nghiệp lợi sinh của Phật Đà!"
Ma Vương đáp:
"Tôi vốn đã tạo nên nghịch duyên đối với Phật pháp, tôi làm sao hoằng pháp lợi sinh như Phật Đà được đây?"
Văn Thù nói:
"Ta sẽ gia trì cho ngươi, sẽ có thể khiến ngươi hành trì được sự nghiệp của Phật Đà!"

Những người đang ngồi đó nghe được thì rất kinh ngạc. Bởi vì ai nấy đều biết, Phật Đà hành trì hoằng pháp lợi sinh hoàn toàn không phải chuyện lạ, còn Ma Vương Ba Tuần hành trì hoằng pháp lợi sinh thì mới là chuyện lạ và hiếm.

Thế là, Văn Thù dùng đại thần biến để gia trì cho Ma Vương Ba Tuần. 
Trong một sát-na. 
Ma Vương Ba Tuần biến thành Phật Thích Ca Mâu Ni, ngồi trên ghế sư tử. 
Giống hệt như Phật Đà.

🌟

Đại Ca Diếp hỏi Ma Vương:
"Tì kheo hành trì yoga, vì sao lại bị trói chặt?"
Ma Vương đáp:
"Bởi chìm đắm trong sự khoan khoái của thiền định, tham chấp vào sự tĩnh tịch, thì cũng chính là bị trói chặt! Phải có tâm không nắm giữ!"
(Chà! 100 điểm.)

Tu Bồ Đề hỏi Ma Vương:
"Tì kheo như thế nào thì là ứng cúng xứ?"
Ma Vương đáp:
"Không nắm giữ không nhận vào thì là ứng cúng xứ."
(Chà! 100 điểm.)

Xá Lợi Phất hỏi Ma Vương:
"Vô tranh tam muội mà Thế Tôn nói đến là gì?"
Ma Vương đáp:
"Tính bình đẳng. Nhất vô sở kiến, dã vô bất kiến, kiến tức phi kiến."
(Chà! 100 điểm.)

Mục Kiền Liên hỏi Ma Vương:
"Tì kheo làm sao để tâm đắc tất cả tự tại?"
Ma Vương đáp:
"Hiểu rằng tâm vô sắc, vô chấp, vô trụ. Pháp cũng là vô sắc, vô chấp, vô trụ. Tâm có đầy đủ thắng giải thần biến, thì khi đó tâm sẽ đạt đến mức độ mọi thứ đều tự tại."
(Chà! 100 điểm.)

Phú Lâu Na hỏi Ma Vương:
"Tì kheo làm sao để khắp nơi đều thanh tịnh mà thuyết pháp?"
Ma Vương đáp:
"Hiểu rằng bản thân như trăng trong nước, chúng sinh đều là huyễn nhân, thuyết pháp giống như tiếng vọng trong hang trống.
Ngũ uẩn ma không.
Phiền não ma giả.
Tử ma vô sinh.
Thiên tử ma vô ngạo.
Chính là thanh tịnh thuyết pháp."
(Chà! 100 điểm.)

Ưu Ba Ly hỏi Ma Vương:
"Thế nào là trì giới tì kheo?"
Ma Vương đáp:
"Vốn hiểu rằng khách trần chỉ như trăng dưới nước, vấn đề không phải diệt trừ phiền não, cũng không phải tạo lập sự vô nhiễm, tất cả vốn chỉ là "tồn tại" trong sự tác ý từ tự tâm. Hiện tiền cần thấy chính là không Ta, không Chúng sinh, đó mới chính là trì giới chân thực."
(Chà! 100 điểm.)

[Khách trần: mọi thực thể từ bên ngoài, như bụi trần, ô nhiễm - khi so với tự tính.]

Tôi nói:
"Những gì Ma Vương nói đúng như Phật Đà đã nói, đây là Văn Thù đại thần biến cực kì hy hữu." (Văn Thù đã biến Ma Vương thành Phật Đà, là chuyện chưa từng có.)


### 36. Liên Hoa Lệ Điền nói như vầy


Ngày 1 tháng 12 năm 2019, hợp ca đoàn Thiên Âm Nhã Nhạc đã cúng dường cơm tại nhà hàng ở thành phố Bellevue.

Sư tỉ Liên Hoa Lệ Điền nói với tôi:
"Tại thành phố Pontianak thủ đô của vùng Kalimantan, Indonesia, có sư huynh họ Hoàng bị đột quỵ não mà hôn mê. Người nhà đã liên lạc với mẹ của Hạnh Ân và Xuân Lan ở Atlanta nước Mỹ. Bà mẹ này là người Indonesia. Bà mẹ này lại liên lạc với con (Liên Hoa Lệ Điền), nhờ con đem ảnh của Hoàng sư huynh mau đến cầu Lư Sư Tôn gia trì."

Thế là Liên Hoa Lệ Điền cầm ảnh của Hoàng sư huynh đưa cho tôi gia trì. Lần gia trì này đã xuất hiện kỳ tích.

Ở bên Indonesia:
Hoàng sư huynh đã hôn mê nhiều này, Hoàng phu nhân ở bên cạnh trông nom cho ông. 
Vào hôm mà tôi gia trì cho ảnh của Hoàng sư huynh, Hoàng phu nhân vì mệt quá mà ngồi trên ghế ngủ thiếp đi. Trong lúc nửa tỉnh nửa ngủ, miệng bà còn lầm rầm niệm Căn bản Thượng sư tâm chú.
Lúc này:
Bà trông thấy Căn bản Thượng sư (Lư Sư Tôn) bước đến gần giường bệnh, đưa tay vào trong não của Hoàng sư huynh.
Cứ thế lôi lôi kéo kéo. 
Cuối cùng lôi ra một cục máu đen vừa dài vừa to. Sư Tôn cầm cục máu này trên tay mình, sau đó gật gật đầu hài lòng.
Thoáng một cái, ngài đã tan biến vào không khí.
Lư Sư Tôn từ trong không khí mà đến. 
Rồi lại biến mất vào trong không khí. 
Hoàng phu nhân nhìn rõ mồn một.

Thế rồi ngay sau đó, Hoàng sư huynh đã tỉnh lại. 
Vốn là người hôn mê, giờ đã tỉnh rồi!

Lư Sư Tôn ở nước Mỹ gia trì vào ảnh của Hoàng sư huynh.
Cùng ngày hôm đó, tại thành phố Pontianak, Kilimantan, Indonesia, Hoàng sư huynh từ trong hôn mê đã tỉnh lại.
Hoàng phu nhân còn trông thấy cả Lư Sư Tôn nữa. 
Những người trong bệnh viện đều sửng sốt. Bác sĩ cũng kinh ngạc, vì họ nhận định rằng Hoàng sư huynh đã là người thực vật rồi.
(Khối máu trong não do bị trúng phong sao có thể biến mất rồi.)

Bây giờ:
Hoàng sư huynh đang trong quá trình hồi phục. Theo như Liên Hoa Lệ Điền nói thì Hoàng sư huynh cũng đã uống một lá "Phù trúng phong", sau khi uống xong thì:
Ban đầu là khuôn mặt bị bệnh.
Biến thành khuôn mặt khỏe mạnh.
Oa! 
Vạn tuế! Vạn tuế!

🌟

Những ví dụ kiểu này cực kì nhiều!
Là sự trùng hợp chăng? 
Ví dụ nhiều như vậy, sao có thể là sự trùng hợp hết được.
Ở những quốc gia khác nhau, ở những địa điểm khác nhau, ở những thời điểm khác nhau, ở những gia đình khác nhau, ở những nhân vật sự việc bối cảnh khác nhau, Lư Sư Tôn đều xuất hiện.
Hễ xuất hiện.
Kỳ tích liền xuất hiện.
Hễ gia trì.
Thần tích liền xuất hiện.

Quan Thế Âm Bồ Tát, nghìn nơi cầu thỉnh nghìn nơi xuất hiện, thường tạo nên những con thuyền chở người vượt qua biển khổ.
Chỉ mong như vậy, có cầu tất có ứng.


### 37. Bổn tôn hiện tiền


Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, vị tổ sư đời thứ nhất của Tạng mật, có một câu nói nổi tiếng:
"Ta không đến cũng không đi. 
Chỉ cần là người tin vào ta
Ta lập tức sẽ hiện ra trước mắt, vì người đó mà thuyết pháp.
Vào ngày mồng 10 hàng tháng
Ta sẽ tự đến gặp đệ tử."

Đây là những lời Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã nói trước khi thị tịch. Những lời này, tôi (Lư Sư Tôn) vẫn luôn không ngừng tin tưởng sâu sắc. 
Bản thân tôi cũng có chứng nghiệm.

Khi tôi tu "Thậm thâm bát nhã ba la mật đa". (thiền định)
Liên Sư đã hiện ra trước mắt, đưa tôi đến hang động của ngài, và ban cho tôi hai quán đảnh:

1. Toàn thân Liên Sư phóng quang, ánh sáng đi vào từ lỗ chân lông trên người tôi, lần lượt từng lỗ chân lông là một tia sáng.

2. Liên Sư nuốt tôi vào trong người từ miệng, rồi tôi từ luân xa bí mật của Liên Sư đi ra.
Hai quán đảnh lớn này tôi vĩnh viễn không thể quên.

🌟

Tôi ở Hàn Quốc nhiễu chùa nhiễu tháp để tiêu trừ bệnh nghiệp. 
Tôi đến trước bức tượng Phật Dược Sư cực kì cao lớn. 
Tôi đảnh lễ toàn thân mình chạm đất với tấm lòng chí thành nhất. 
Trên đường trở về. 
Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật đã hiện tiền. 
Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Nhật Quang Biến Chiếu Bồ Tát, Nguyệt Quang Biến Chiếu Bồ Tát cũng hiện tiền. 
12 Dược Xoa Thần Tướng hiện tiền.
Trong lòng tôi rất vui mừng. 
Bệnh của tôi cũng khỏi hẳn rồi!

🌟

Có một lần. Tôi từ Bắc Kinh bay tới Thái Nguyên (đi tham quan Ngũ Đài Sơn). 
Trên máy bay. 
A Di Đà Phật màu tím vàng kim hiện lên trước mắt. 
Đứng trước mặt A Di Đà Phật, tôi vô cùng nhỏ bé, thân tôi chỉ cao tới ngón chân cái của Ngài.
Tôi ngước lên nhìn ngài.
Oa!
Trang nghiêm long trọng, to lớn như trời vậy.
Ngài gia trì cho tôi trên đường đi được bình an.

🌟

Ở tiểu mật uyển tại Đài Trung. 
Quan Thế Âm Bồ Tát hiện lên trước mắt tôi. 
Ngài quay lưng về phía tôi. 
Thiên y váy xếp, toàn thân trang điểm trân bảo chỉnh tề. 
Tình cờ ngài quay đầu lại.
Bất ngờ cười một cái.

Tôi nhìn thấy khuôn mặt đại từ đại bi của Quan Thế Âm Bồ Tát, tôi gần như đứng sững cả lại. 
Đây là khuôn mặt xinh đẹp nhất mà tôi từng nhìn thấy trong cuộc đời này của tôi.
Lộng lẫy.
Duyên dáng.
Rạng ngời.
Nói đơn giản là không có cách nào hình dung nổi. Sự chấn động đó cả đời này tôi cũng không thể quên được!
Ngài đã giúp tôi giải quyết một sự việc rất phiền toái.

🌟

Tôi thực lòng thực sự nói cho mọi người biết:
Tôi (Lư Sư Tôn) cũng không đến không đi.
Bất kể là thân thể tôi ở đâu. 
Hoặc thân thể tôi đã chuyển hóa. 
Chỉ cần trì tâm chú của tôi, nhất tâm kiền thành cung kính.
Tôi nhất định sẽ hiện lên trước mắt bạn.
Giống như khi tôi còn tại thế, Thập phương tam thế nhất thiết Phật, nhất thiết Bồ Tát Ma Ha Tát và Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, Chư Thiên đã hiện lên trước mắt tôi vậy.


### 38. Thứ tự tu hành


Tôi thường nói:
"Tu hành cần tu theo thứ tự, không được một bước đến giời, hoặc nhảy cấp, vượt cấp."

Đương nhiên, có một kiểu người sẽ là ngoại lệ. Đó là người có trí huệ siêu việt, bởi vì người đó đã tu hành nhiều kiếp, hoặc là Bồ Tát theo lời nguyện mà lại đến nhân gian, hoặc là Phật sống chuyển thế…

Con người thông thường thì vẫn phải theo từng bước mà đi thì sẽ tốt hơn!
Thứ tự tu hành là:
Tư lương đạo — Tu công tích đức, hành thiện bố thí. (từ bi hỷ xả)
Gia hành đạo — Lễ bái, cúng dường, sám hối, quy y.
Kiến đạo — Nội quán minh tâm.
Tu đạo — Thực tiễn vô ngã, vô chấp, vô tâm, vô trú.
Cứu cánh đạo — Chứng quả.

Thứ tự của Mật giáo là:
Tứ gia hành pháp.
Thượng sư tương ứng pháp.
Bổn tôn pháp.
Nội pháp. (Pháp khai đỉnh, pháp chuyết hỏa, pháp tịnh quang, pháp mộng quán, pháp huyễn quán, pháp dịch chuyển thần thức.)
Kim cang pháp.
Vô thượng mật.
Đại viên mãn.

Thứ tự quán đảnh của Mật giáo là:
Bình quán. (thành tựu ứng thân)
Mật quán. (thành tựu báo thân)
Huệ quán. (thành tựu pháp thân)
Viên quán. (thành tựu chân thân, thân pháp tính)

🌟

Thượng sư của tôi từng nói với tôi rằng:
Thứ tự tu hành là:
Nhân quả nghiệp báo, cần tin tưởng rằng chúng là có thực.
Sinh tử là việc lớn, nhanh chóng và vô thường, do vậy nên tìm cầu pháp giải thoát.
Cần quy y Kim cương Thượng sư chân chính với đầy đủ đức hạnh.
Dựa vào duy nhất Căn bản Thượng sư, niệm Tứ quy y chú. (không thay đổi đạo tâm)
Phát bồ đề tâm, trên cầu Phật quả, dưới hóa chúng sinh.
Phải giữ giới luật.
Giữ gìn samaya, xây dựng nền móng vững chắc.
Quan sát 12 nhân duyên, có thể hiểu rõ cái gốc của sinh tử. (1. Vô minh. 2. Hành vi. 3. Nhận thức. 4. Sắc đẹp. 5. Ý thức. 6. Tiếp xúc. 7. Thọ nhận. 8. Yêu thương. 9. Thủ giữ. 10. Sở hữu. 11. Sinh ra. 12. Già chết.)
Thiền định. (Nội quán tự tại, bản lai thanh tịnh.)
Tu thậm thâm bát nhã ba la mật. (Sắc tức thị không, không tức thị sắc.)
Hiểu thấu mọi pháp đều là mộng huyễn.
Vô ngã.
Vô chấp. (Vọng niệm nếu khởi lên thì không chạy theo không kiểm soát chúng.)
Bất động trước "bát phong". (thuận duyên, nghịch duyên, không yêu, không ghét)
Chỉ thường giác minh, quên đi giác chiếu.
Phật tâm tức tự tâm, tự tâm tức Phật tâm. (Cũng chính là bản tự như như.)
Tất cả ngã kiến đều bỏ hết. (lậu tận thông)
Nhất cảnh. (nhất vị du già)
Vô cảnh. (vô tu du già)
Thành Phật tác tổ. [Tu thành Phật đạo, trở thành tổ sư, đạt thành tựu xuất chúng.]

🌟

Những gì tôi viết ở trên là Căn bản Thượng sư của tôi nói với tôi, tôi đặc biệt viết chúng ra để cho các đệ tử Chân Phật Tông chúng ta đọc thử.
Những điều này cũng chính là tâm yếu khẩu quyết.


### 39. Kim Cang Thủ Bồ Tát


Có đệ tử hỏi tôi:
"Trong nghi quỹ của Chân Phật Tông, chúng ta đều cần niệm tụng "Ôm bua-ru lan chưa-li." Đây là pháp mặc bia giáp hộ thân. Cần quán tưởng Kim Cang Thủ Bồ Tát bảo vệ việc tu pháp của hành giả, nguồn gốc của việc này là như thế nào?"
Tôi đáp:
"Pháp bia giáp hộ thân này là do Phổ Phương Thượng sư truyền dạy cho tôi, cần quán tưởng Kim Cang Thủ Bồ Tát, kết thủ ấn, chạm vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, quay trở về đỉnh đầu rồi giải ấn. Tụng chú: Ôm bua-ru lan chưa-li."

Đệ tử nói:
"Xin Lư Sư Tôn kể một đôi điều về Kim Cang Thủ Bồ Tát?"
Tôi trình bày như sau:
Kim Cang Thủ Bồ Tát còn được gọi là Mật Chủ Kim Cang Thủ Bồ Tát, là một vị chủ tôn bất khả tư nghì, là một trong tám vị đại Bồ Tát. 
Kim Cang Thủ Bồ Tát là anh em của nghìn vị Phật.

Phật Đà nói:
Vào thời Diệu quang kiếp có một thế giới tên gọi là Trang Nghiêm, có một vị Chuyển Luân Vương tên là Hộ Quốc, ông ta có một nghìn vương tử.
Vị quốc vương này chính là Phật Nhiên Đăng.
Một nghìn vị vương tử chính là Hiền kiếp Thiên Phật.
Pháp Ý Đồng Tử chính là Kim Cang Thủ Bồ Tát.
Pháp Huệ Đồng Tử chính là Cụ Kế Phạm Thiên.
(Pháp Ý Đồng Tử, Pháp Huệ Đồng Tử là do Quốc Vương cùng hai phi tử hóa sinh ra.)

🌟

Phật Đà nói với Xá Lợi Phất:
"Hãy nhìn xem sau lưng ta có Kim Cang Thủ Bồ Tát không?"
Xá Lợi Phất đáp:
"Trước đây tôi không nhìn thấy, hôm nay mới thấy. Việc này là nhờ vào sức mạnh uy đức của Phật Đà mà tôi mới nhìn thấy được."
Phật Đà nói:
"Phía sau lưng của tất cả Bồ Tát đều có Kim Cang Thủ Bồ Tát, phía sau lưng Di Lặc Bồ Tát cũng có. Xá Lợi Phất, ông có nhìn thấy không?"
Xá Lợi Phất đáp:
"Trước đây không thấy, hôm nay mới thấy!"
Phật Đà nói với Xá Lợi Phất:
"Kim Cang Thủ vẫn luôn thường theo sau lưng, chỉ là ông không nhìn thấy mà thôi. Hễ là một vị Bồ Tát thì sau lưng đều có Kim Cang Thủ Bồ Tát. Chúng sinh trên thế gian, nếu có người nào thực tu hành, thì sau lưng người đó chắc chắn sẽ có Kim Cang Thủ Bồ Tát bảo vệ."

Trong một sát-na tôi đã hiểu ra. 
Kim Cang Thủ Bồ Tát là Bí Mật Chủ bảo vệ chúng ta tu hành.

🌟

Phật Đà hỏi:
"Kim Cang Thủ Bồ Tát, tay phải cầm một chiếc chày kim cang là nặng hay nhẹ?"
Kim Cang Thủ Bồ Tát đáp:
"Vừa nặng vừa nhẹ, khi điều phục người ngã mạn ngạo khí thì sẽ nặng, người vô ngã mạn chính trực thì sẽ nhẹ."

Kim Cang Thủ Bồ Tát đặt chày kim cang trên mặt đất.
Đế Thích Thiên đi tới cầm lên, nhưng không thể cầm lên được. 
Mục Kiền Liên đi tới cầm lên, cũng không cầm lên được.

Phật Đà nói:
"Chày kim cang này còn nặng hơn cả núi Tu Di, nó đánh trúng núi Thiết Vi thì núi Thiết Vi cũng bị vỡ tan nát."
Kim Cang Thủ Bồ Tát có thể hàng phục Tứ ma. 
Ngài được Phật Đà trao quyền. 
Ngài là một bậc Đại Thế Chí chân chính.

🌟

Nghi quỹ mặc giáp hộ thân của Chân Phật Tông chúng ta:
Quán tưởng Kim Cang Thủ Bồ Tát.
Kết thủ ấn Kim Cang Thủ.
Niệm tâm chú Kim Cang Thủ.
Tác dụng thực sự là bảo vệ hành giả tu pháp.
Hành giả Chân Phật:
"Các bạn có nhìn thấy không?"
Kim Cang Thủ Bồ Tát ở sau lưng Lư Sư Tôn đó.


### 40. Cúng cô hồn vô chủ


Có một công xưởng nọ, bởi vì có người nhìn thấy ma nên đã mời một vị pháp sư tới để thỉnh giáo xem làm cách nào xử lý chuyện ma quỷ này.

Pháp sư đề nghị:
Chọn một góc trong công xưởng này lập lên một bài vị cô hồn vô chủ, mỗi ngày đều đặt cúng phẩm, thắp hương lễ lạy, ngoài ra thì đốt tiền giấy vàng. 
Ông chủ công xưởng làm theo như vậy. 
Nhưng sau khi lập xong góc thờ cô hồn vô chủ thì có người nhìn thấy "bóng ma lập lòe".

Ma đến càng nhiều hơn, cả một công xưởng, tất cả máy móc sản xuất đều phát sinh sự cố.
Người làm trong công xưởng thì lần lượt bị ốm.
Đơn đặt hàng của công xưởng ít đi.
Hàng hóa sản xuất ra có lỗi.
Tình hình kinh doanh rõ ràng đang đi xuống.
Người nhà của ông chủ xí nghiệp cũng vậy, ngay cả trong nhà cũng có ma, người lớn, trẻ nhỏ đều mắc bệnh, thay nhau vào viện.
Giấc ngủ xuất hiện vấn đề, cả nhà đều rất khó ngủ ngon.
Mặt của nữ chủ nhân càng ngày càng giống ma, bà không dám soi gương nữa.
Việc học hành của trẻ con trở nên lộn xộn.
Tính tình của ông chủ thì trở nên thô bạo.
Tóm lại, rất nhiều sự việc ngoài ý muốn không hiểu ra sao, và cũng xảy ra liên tiếp ngày càng nhiều. 
Ông chủ nghe nói đến tên tuổi của tôi, mau chóng đặc biệt tới thỉnh giáo tôi xem phải làm sao?

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) trả lời như sau:
Muốn lập bàn thờ cúng cô hồn vô chủ thì phải cực kì thận trọng, không thể để bên trong nhà máy và trong nhà ở, chỉ có thể đặt ở bên ngoài.
Không được để cho cô hồn vô chủ vào trong nhà máy hoặc nhà ở, bởi vì số lượng cô hồn vô chủ là rất nhiều, tốt xấu lẫn lộn, nếu tất cả đều triệu mời vào trong nhà thì rất dễ xảy ra sự vụ.
Cô hồn vô chủ giống như những người lang thang, cũng là một trong các loại chúng sinh, nếu thờ cúng không đúng ý họ thì họ cũng sẽ nổi giận, khi đó không dễ ngăn chặn được họ.

Cá nhân tôi cho rằng: muốn cúng cô hồn vô chủ thì chỉ có thể cúng ở bên ngoài nhà. Trong nhà chỉ có thể thờ cúng Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, Chư Thiên.

Nhưng giờ đã lỡ cúng trong nhà rồi, phải làm sao? Tôi cho rằng vẫn phải chuyển ra bên ngoài mới được. Nếu không có cách nào để cúng ở bên ngoài thì có thể mời họ đi tới các miếu quỷ để cúng ở đó.
Ví dụ:
Miếu Hữu Ứng Công.
Miếu Bách Tính Công.
Miếu Nghĩa Dân.
Miếu Thập Bát Vương Công.
Miếu Thất Tướng Quân.
Ngoài ra, trong nhà máy, nhà ở, phải mời cao tăng có đạo đức tới tẩy tịnh, an lập Bất Động Minh Vương, Đại Lực Kim Cang, Ma Lợi Chi Thiên……….
Chủ nhân phải thường xuyên niệm kinh Ma Lợi Chi Thiên, chú Ma Lợi Chi Thiên để tăng cường thêm sức mạnh phòng hộ.
Chủ nhân nên tu Chân Phật Mật Pháp.

Tôi cho rằng, việc cúng cô hồn vô chủ và đốt giấy tiền vàng cũng chỉ được làm ở bên ngoài, chỉ được thờ cúng ở bên ngoài, niệm kinh A Di Đà cho cô hồn vô chủ, niệm chú vãng sinh để làm lợi ích cho họ.
Đối với cô hồn dã quỷ cũng có thể bố thí, nhưng cần phân phát một cách bình đẳng đều nhau, quan trọng là có thể làm họ đều mãn nguyện hài lòng.
Đối với cô hồn vô chủ thì tuyệt đối không được gây tranh chấp, đây cũng là một dạng công đức.
Phải làm như vậy mới được!


### 41. Phật Thích Ca Mâu Ni có truyền dạy Mật pháp không?


Có đệ tử là Liên Hoa Học Lễ hỏi tôi:
"Phật Thích Ca Mâu Ni có truyền thụ Mật pháp không?"
Câu trả lời của tôi là:
"Có."
Học Lễ hỏi:
"Rất nhiều đệ tử Hiển tông đều nói là không có?"
Tôi nói:
"Ví dụ như Uế Tích Kim Cang chính là do tâm Phật Đà hóa hiện ra, Uế Tích Kim Cang có kim cang chú là:
Ôm chu-ru tô-lan hùm rưa.
Có thủ ấn.
Có quán tưởng.
Đây là một pháp môn tu trì Mật giáo đầy đủ. Đây đương nhiên là giáo hóa của Phật Thích Ca Mâu Ni."

Còn nữa. 
Tôi nói:
"Pháp Thời Luân Kim Cang là vào khi Phật Đà thuyết pháp tại núi Linh Sơn, ngài phân ra một thân đến Ấn Độ, đến tháp Cát Tường Mễ Tụ để giảng dạy pháp Thời Luân Kim Cang. Lúc này, Nguyệt Hiền Quốc Vương đến từ tịnh thổ Shambhala đã được Phật Đà dạy pháp, do vậy ở tịnh thổ Shambhala pháp Thời Luân Kim Cang được truyền bá rộng rãi. Điều này cũng có thể chứng minh.
Chú Thời Luân Kim Cang:
Ôm ha ka-ma-la wa-la-ya sô-ha.
Có thủ ấn.
Có quán tưởng.
Đây là một pháp môn tu trì Mật giáo đầy đủ. Đây đương nhiên là giáo hóa của Phật Thích Ca Mâu Ni."

🌟

Học Lễ hỏi:
"Có sự việc nào cụ thể hơn không?"
Tôi nói:
Có. 
Phật Đà nhận lời mời cúng cơm chay của quốc vương Baha.
Xá Lợi Phất và các đệ tử khác cùng đi theo. 
Phật Đà khuyên quốc vương học tập Phật pháp. 
Quốc vương trả lời:
"Học Phật pháp của ngài cần xuất gia, tôi không muốn. Hơn nữa cần phải khổ hạnh, tôi không làm được. Ngoài ra còn cần tu nhiều năm, thậm chí nhiều kiếp, tôi cũng không làm được. Bây giờ tôi còn phải quản lý chính trị quốc gia, tôi có rất nhiều hậu phi. Tôi có rất nhiều tài sản. Nếu có pháp nào mà có thể không cần từ bỏ vợ con tài lộc, hơn nữa trong một đời có thể thành tựu, thì tôi có thể tu."

Phật Đà nhập định quan sát, biết rằng vị quốc vương này có căn khí là một đại Mật tông. Thế là ngài liền truyền thụ Mật pháp, khiến quốc vương trong chốc lát đã có được chứng nghiệm.

Khi đó rất nhiều đệ tử đều cảm thấy thật không công bằng, bởi vì nhiều đệ tử của Phật Đà đều là người xuất gia, đã khổ tu nhiều năm, làm sao quốc vương vừa mới tu Mật pháp đã có chứng nghiệm luôn rồi. Đây nhất định là sự thiên vị!

Phật Đà nói với các đệ tử:
"Quốc vương là người có đại căn khí, nhiều kiếp trước đã tu hành rồi, kiếp này gặp được Phật Đà, tự nhiên sẽ nhanh chóng thành tựu."

Xá Lợi Phất cũng nói:
*Đại bi tùy duyên khắp pháp giới
Có hậu có phi cũng thành tựu
Giả mượn tứ đại mà tu trì
Tự tính hiển lộ tôi kính lễ.*

Đây là một sự tích có thật về việc Phật Đà truyền thụ Mật  pháp.
Tôi nói:
Rất nhiều mật tục cũng là do Phật Đà thuyết, do vậy Phật Đà cũng truyền thụ Mật pháp, điều này rất có cơ sở.
Chúng ta học Phật cần phải "Hiển - Mật viên dung".


### 42. Tập Mộng nói như vầy


Tập Mộng vốn sống tại Thụy Điển. 
Khi còn trẻ, cô đã đến nước Mỹ du học, là một nữ sinh duyên dáng thanh tú. 
Cô ấy ở tại Seattle Lôi Tạng Tự học tập Phật pháp. 
Cô nói:
"Con muốn được ở lại Seattle mãi mãi, cùng Lư Sư Tôn học tập các giáo pháp của Phật Đà."
Tôi nói:
"Tập Mộng! Tương lai con sẽ đi lấy chồng ở một nơi rất xa!"
Cô nói:
"Sẽ không như vậy đâu!"
Tôi nói:
"Tương lai sẽ biết."

Sau này. 
Tập Mộng đã lấy một người Indonesia tên là Nhật Nhạ, trở thành mẹ của mấy đứa con. 
Tập Mộng nói:
"Lư Sư Tôn thần toán rất chuẩn!"

🌟

Ngày 8 tháng 12 năm 2019.
Tập Mộng gửi đến một tin nhắn. 
Tập Mộng kể:
Có một người con gái của cô ở một phân đường tại Indonesia muốn kết hôn. Đối tượng là một người con trai theo đạo Thiên Chúa, gia đình của đối tượng này một giáo đồ Thiên Chúa kiền thành, cả nhà đều như vậy.
Chàng trai nói:
"Sau khi lấy anh, em phải cải đạo sang đạo Thiên Chúa."
Cô gái nói:
"Cả nhà em đều tín ngưỡng Phật Giáo Chân Phật Tông."
Chàng trai nói:
"Lấy chồng phải theo chồng."
Cô gái đáp:
"Em từ nhỏ đến lớn đều là đệ tử Chân Phật Tông, em đã quy y Lư Sư Tôn, làm sao có thể thay đổi được?"
Chàng trai nói:
"Trừ phi Lư Sư Tôn cho anh có cảm ứng thì anh mới tin phục."

Buổi tối hôm đó. Anh ta mơ thấy Lư Sư Tôn hiện thân, cùng uống trà với anh. 
Kết quả là:
…….…

🌟

Tôi muốn nói với các đệ tử rằng:
Tôi (Lư Sư Tôn) không phải là một người có quan điểm bảo thủ, tôi không phải là một người bám chấp, tôi là một người rất thoáng.

Đàn ông theo Chân Phật Tông lấy vợ cũng theo Chân Phật Tông thì đương nhiên là tốt nhất. Phụ nữ theo Chân Phật Tông cưới đàn ông theo Chân Phật Tông cũng rất hay.

Nhưng, đàn ông theo Chân Phật Tông lấy vợ là người theo tôn giáo khác thì cũng không tệ. Phụ nữ theo Chân Phật Tông lấy đàn ông theo tôn giáo khác thì cũng chẳng có gì là không tốt.
Tôi chúc phúc cho đôi bên kính ái viên mãn là vui rồi.

Nếu họ chuyển sang tín ngưỡng Chân Phật Tôn thì đương nhiên là tốt. Nếu họ đổi sang tôn giáo khác cũng rất tốt.

Vì sao tôi lại nói như vậy:
Bởi vì Phật giáo như hư không bao dung vạn vật.
Có Nhân thừa.
Có Thiên thừa.
Có Thanh Văn thừa.
Có Bồ Tát thừa.
Có Phật thừa.

Các tôn giáo thông thường, giống như Phật giáo thiên thừa, cũng kính trời đất, lễ thần minh. Trước tiên tu công đức, tích lũy tư lương.
Thượng đế, Jesus, đều là Guru.


### 43. Ngoại cúng, nội cúng, tâm cúng


Liên Hoa Tịnh Nhã hỏi:
"Con thường nghe nói cúng dường có ngoại cúng, nội cúng, tâm cúng. Xin hỏi Lư Sư Tôn, phân biệt như thế nào?"
Tôi trả lời như sau:
Ngoại cúng là:
Đất — những vật sinh trưởng trên mặt đất.
Nước — những vật sống trong nước.
Lửa — những vật bị cháy trong lửa.
Gió — những vật ở trong gió.
Không — những vật ở trong hư không.
Đây là phạm vi của ngoại cúng. Cũng có thể nói thế này, phàm là tất cả những sự vật của thế tục mà đem cúng dường thì đều là ngoại cúng dường.

Nội cúng dường là:
Thân thể của chính mình.
Sinh mệnh của chính mình.
Thân, khẩu, ý của chính mình.
Thậm chí là: vợ, con, quyến thuộc của chính mình.
Đây là phạm vi của nội cúng.

Tâm cúng là:
Hiếu thuận với cha mẹ, cung kính với sư trưởng.
Tu trì Mật pháp, không sinh nghi ngờ.
Tinh tấn nhẫn nhục, không quên lời thề.
Bình đẳng cứu độ, tâm không phân biệt.
Giữ giới Mật tông, lục độ vạn hành.
Bồ đề từ bi, phát nguyện độ chúng.
Những điều này chính là phạm vi của tâm cúng.

Tôi (Lư Sư Tôn) đã trình bày một cách đơn giản và tỉ mỉ về ba loại cúng dường, tôi tin rằng mọi người đều có thể hiểu được.

Có người hỏi:
"Vật ở trong gió? Cái gì là vật ở trong gió?"
Tôi đáp:
"Đó là những loài có thể bay như chim."
Có người hỏi:
"Thế còn cái gì là vật ở trong hư không?"
Tôi đáp:
"Mặt trăng, mặt trời, sao, mây, sương, mưa, cầu vồng…"
Có người hỏi:
"Thế còn cái gì là vật bị đốt trong lửa?"
Tôi đáp:
"Đó là những thứ dùng lửa để nấu chín, hoặc hỏa cúng, v.v…."

Trên phương diện nội cúng, có người hỏi:
"Có người cúng dường vợ mình sao?"
Tôi đáp:
"Đây là tình huống đặc biệt, thời cổ đại có, ví dụ như: vua Trisong Detsen đã cúng dường phi tử mà mình yêu thương là Yeshe Tsogyal cho Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Ở thời hiện đại thì rất hiếm có. Đối với con cái thì hoàn cảnh cũng như vậy, có người đem chính con của mình tặng vào chùa, cạo đầu xuất gia, đây cũng là một dạng nội cúng."

Hỏi:
"Trong các loại cúng dường, loại cúng dường nào tốt?"
Tôi đáp:
"Tâm cúng là tối thượng."
Hỏi:
"Tâm cúng tối thượng, thế còn vô thượng cúng dường là gì?"
Tôi đáp:
Phật là ta.
Ta là Phật.
Nhân pháp đều không.
Tâm cảnh tĩnh lặng.
Pháp ấy thường hằng.

Những thành tựu vô thượng này chính là cúng dường vô thượng. Không có gì to lớn hơn những cúng dường này.


### 44. Uống rượu và ăn thịt


Đệ tử hỏi:
"Chân Phật Tông không cấm rượu, không cấm thịt, có phải là trái với giới luật của Phật giáo không?"
Tôi đáp:
"Trong ngũ giới có giới không uống rượu. Đây là bởi vì rượu có thể làm loạn tâm tính. Hơn nữa sau khi say rượu thì nói năng lung tung, lộ ra hàng trăm biểu hiện xấu, mất đi sự trang nghiêm, nên tôi cũng cấm."
Tôi còn nói:
"Kì thực rượu cũng là một chất dẫn thuốc, nếu uống rượu thuốc, nhấp nhấp một chút thì cũng có thể được. Ở đây tôi đặc biệt tuyên bố, nếu uống rượu say thì tức là phạm giới. Say rồi tất sẽ mất đi sự khôn ngoan, thì tội càng nặng."
Tôi lại nói:
"Uống rượu nếu không say thì có thể tạm chấp nhận được. Trong việc này có lý do vi diệu, không được bất cẩn trong việc phân biệt rõ ràng."

Tôi nói:
Kim Cang Thần xem rượu là cam lộ.
Ngạ quỷ xem rượu là lửa cháy.
Atula xem rượu là tranh đấu.
Thiên nhân xem rượu là tiên phẩm.
Con người xem rượu chỉ là rượu.
Phật Bồ Tát xem rượu là cam lộ thủy.

Do vậy, chúng ta khi cúng dường chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, chư thiên.
Đều có thể cúng rượu.

🌟

Lại nói về việc ăn thịt. Phật môn Hiển giáo chủ trương ăn chay, không ăn thịt. 
Tôi (Lư Sư Tôn) cũng cho rằng điều này là đúng, tôi không phản đối ăn chay. 
Nhưng,
Tôi cũng không phản đối ăn mặn. 
Nguyên nhân vì sao?
Tôi nói:
Trong đại Mật tông, uống rượu ăn thịt nếu không gây chướng ngại đến "đạo" thì có thể được.
Uống rượu là cam lộ.
Ăn thịt là siêu độ. 
Vì sao lại là siêu độ?

Tôi muốn nói rằng, quán tưởng những thứ thịt ta ăn vào, những thứ bay trên không trung, bò dưới đất, bơi trong nước, lần lượt quán tưởng linh mệnh của những sinh vật này gửi đến Phật thổ thanh tịnh.
Thổi khí.
Trì chú.
Siêu độ.
Cùng thành Phật đạo.

Tôi lấy một ví dụ.
Có một vị đại tu hành giả Mật giáo đi câu cá bên hồ. 
Có một tiểu đồng đến gần hỏi:
"Sư phụ sát hại sinh mệnh, sao có thể làm như vậy?"
Lão tổ sư trả lời:
"Con chính là do ta câu lên đó."

Phật Đà từng nói:
*"Uống một ngụm nước sạch
Tám vạn bốn nghìn trùng.
Nếu như không trì chú
Cũng là giết chúng sinh."*

Mọi người cần biết rằng ăn thực vật cũng có tội. Một cây rau trưởng thành cần phải đào đất, tưới nước, rải phân bón, cũng cần giết hàng trăm hàng nghìn côn trùng, đây cũng là sát sinh.

Do vậy:
Không được do mình tự giết.
Không nghe tiếng giết mổ.
Không nhìn thấy cảnh giết mổ.
Thì đây là ba thứ thịt thanh tịnh.
Đạo lý nhỏ này, hành giả tự mình suy ngẫm cho kĩ!

["Ba thứ thịt thanh tịnh" ở trên chính là giới luật của Phật Đà đặt ra cách đây 2500 năm - là những giới luật của các vị sư khi nhận cúng dường đồ ăn.]


### 45. Lục đạo kim cang chú


Liên Hoa Bảo Minh hỏi:
"Trong câu chú dài của Lư Sư Tôn, có sáu chữ "A ha sa sa ma ha" là có ý nghĩa gì?"
Tôi đáp:
"Sáu chữ này là Lục đạo kim cang chú, ý nghĩa của nó là phổ hóa lục đạo."
Tôi giải thích như sau:
A — phổ hóa thiên đạo.
Ha — phổ hóa nhân đạo.
Sa — phổ hóa atula đạo.
Sa — phổ hóa địa ngục đạo.
Ma — phổ hóa ngạ quỷ đạo.
Ha — phổ hóa súc sinh đạo.

Liên Hoa Bảo Minh hỏi:
"Nguồn gốc của câu chú này là sao?"
Tôi đáp:
"Là Bản Sơ Phật, A Đạt Nhĩ Mã Phật truyền cho Tỳ Lô Giá Na Phật, Tỳ Lô Giá Na Phật truyền cho Phật Nhãn Phật Mẫu, Phật Nhãn Phật Mẫu truyền cho A Di Đà Phật, A Di Đà Phật truyền cho Liên Hoa Đồng Tử, Liên Hoa Đồng Tử truyền cho Liên Sinh Hoạt Phật Lư Sư Tôn."
Bảo Minh hỏi:
"Có công đức gì?"
Tôi đáp:
"Thành Phật. Câu chú này là chú thành Phật."

Bảo Minh hỏi:
"Sử dụng như thế nào?"
Tôi đáp:
"Niệm câu chú dài của Thượng sư, tai nghe được chú này, mắt nhìn thấy chú tự, hoặc đeo trên người câu chú này, hoặc thân, tay chạm vào câu chú này, tương lai đều có thể thành Phật."
Bảo Minh hỏi:
"Có thể đọc khi siêu độ không?"
Tôi đáp:
"Dùng để siêu độ chúng sinh tử vong thì công đức đặc biệt lớn."
Bảo Minh hỏi:
"Chúng ta khi siêu độ thì niệm chú vãng sinh, rồi niệm chú Văn Thù vãng sinh chú, rồi niệm chú Lục đạo kim cang thì sao?"
Tôi đáp:
"Càng tốt."

Tôi lấy một ví dụ:
Thời cổ đại.
Có một năm hạn hán nghiêm trọng, rất lâu không mưa, mực nước trong hồ hạ thấp, thậm chí là cạn khô. Cá trong hồ đều mau chóng chết sạch. Bên cạnh hồ có một con sông lớn, thượng du là sông băng, do vậy con sông lớn này vẫn có nước.

Có một người tu hành trông thấy tình hình này, trong lòng rất đau xót, liền dùng một quang gánh để đưa cá trong hồ phóng sinh sang dòng sông lớn, để cho những con cá còn sống có thể được cứu. Người tu hành cố gắng hết sức để cứu những con cá này, nhưng vẫn có rất nhiều cá bị mặt trời thiêu đốt đến chết khô! Người tu hành cũng lực bất tòng tâm.

Sau đó, Tỳ Lô Giá Na Phật hạ giáng, nói với người tu hành rằng cần trì Lục đạo kim cang chú. Người tu hành niệm Lục đạo kim cang chú: "A ha sa sa ma ha" 7 biến. 108 biến.

Kết quả là:
Toàn bộ cá đã chết đều được vãng sinh đến Tây phương tịnh thổ.
Cá chưa chết, tiêu trừ vô lượng tội chướng.


### 46. Trúng sổ xố Power


Vào ngày 10 tháng 11 năm 2019, tôi (Lư Sư Tôn) đã cử hành pháp hội Hoàng Tài Thần (hỏa cúng).

Tôi ngẩng đầu nhìn trời. Rồi tôi khai thị rằng:
"Tôi nhìn thấy Hoàng Tài Thần đến pháp hội của chúng ta, ngài đem theo một con chuột nhả tài bảo."
"Chuột nhả tài bảo vừa mở miệng ra thì bất ngờ tuôn ra rất nhiều tiền giấy lấp lánh sắc màu, trời ơi! Hết bao này đến bao khác, những bao tiền giấy lấp la lấp lánh này được thả xuống pháp hội của chúng ta."
Tôi nói:
"Nhất định sẽ có người trúng xổ số!"
Tôi lại nói:
"Trúng giải lớn rồi thì đừng nói cho người khác biết, bởi vì tiền không thể để lộ ra. Thế nhưng có thể nói cho Sư Tôn biết."

🌟

Ngày 20 tháng 11 năm 2019.
Điện thoại của Sư Mẫu Liên Hương Thượng sư nhận được một tin nhắn, tin nhắn rất đơn giản rằng:
Cả gia đình nọ đều báo danh là người chủ đứng tên thỉnh cầu.
Họ đều không đến Seattle tham gia pháp hội.
Họ chỉ xem phát trực tiếp trên mạng.
Người chủ của gia đình này đã mua xổ số Power.
Kết quả là: 
"Trúng giải lớn rồi!"
Điều này chứng minh rằng lời Lư Sư Tôn nói là đúng.
(Hóa ra xem phát trực tiếp trên mạng cũng nhận được sự gia trì y như vậy, cũng giống như ở tại chỗ.)

Biết được tin tức này, tôi rất vui. Sư Mẫu Liên Hương Thượng sư cũng rất vui. 
Tôi có một bí mật kể cho mọi người nghe:
"Lần này, ngoài người này đã trúng xổ số Power ra thì vẫn còn một người nữa cũng trúng số."
Oa! Lại càng chuẩn!

Tôi nói:
Phật học quảng đại vô biên, thậm chí "dâm-nộ-si", "tham-sân-si" đều là Phật pháp. 
Trong thế giới thế tục, không có ai là không yêu tiền.

Mật giáo có phép tài thần, chủ yếu là:
"Tiên dĩ dục câu chi, tái lệnh nhập Phật đạo."
[Trước tiên lôi kéo bằng sự say mê, sau đó từ từ đưa vào Phật đạo.]
Do vậy, đây chính là đạo lý "phương tiện" và "trí huệ" song vận.

Ngày nay, nếu Lư Sư Tôn không nói về chứng nghiệm mà chỉ nói về lý thuyết Phật giáo, nói rằng đạo hạnh của bản thân mình rất cao thì liệu có ai sẽ tin? 
Do vậy, 
Để cho các đồng môn chứng nghiệm là vô cùng quan trọng!

Ví dụ:
Sư huynh Toa Mạch trúng giải lớn xổ số lotto. [Liên Hoa Toa Mạch ở Mỹ trúng giải xổ số lotto trị giá 55 triệu USD.]
Sư huynh Cao Minh Lộc chứng nghiệm đại lạc.
Sư huynh Liêu Đông Châu nhìn thấy hào quang.
Sư tỉ Phùng Tố Khanh chứng nghiệm Không Hành Mẫu.
Kim Cang quyền của sư huynh Nghĩa Hòa.
Hợi Mẫu quyền của sư tỉ Song Liên.
Xá lợi toàn thân của Thượng sư Ích Dân.
Thượng sư Liên Đặng thành tựu Đại Bồ Tát.
Sự chuyển thế của Thượng sư Liên Tín.
Sự chuyển thế của Thượng sư Liên Hàn.
Sư huynh Cao Minh Phúc diện kiến Diêm La Vương.
Lư Ngọc Nữ thành tựu Quan Thế Âm Bồ Tát. [Lư Ngọc Nữ là mẫu thân của Sư Tôn.]
Vân vân và vân vân.

Do vậy người học Phật, bất luận là học Hiển hay học Mật, đều cần dứt bỏ được nghi ngờ, từ đó mới sinh ra lòng tin để mà nhập môn. Mật giáo lại càng cần phải có tín tâm lớn.
Không thể bán tín bán nghi, nửa tin nửa ngờ được.

Niềm tin sinh ra từ tâm, sự nghi ngờ cũng sinh ra từ tâm.
Những chứng nghiệm của Chân Phật Tông chúng ta có tới cả nghìn cả vạn trường hợp, sao có thể không tin được đây!


### 47. Từ Bát bất trung quán mà nói


Tôi thường nói:
"Tôi học tập trung quán."
Trung quán có Bát bất trung quán, cũng chính là:
Bất sinh bất diệt — bản tính chân không như gương sáng, nếu có phản chiếu vật thì cũng là huyễn.
Bất đoạn bất thường — nước sông chảy mãi không ngừng, nhưng lại cũng không phải là nước ban đầu nữa.
Bất nhất bất dị — giống như con người trưởng thành, từ hài nhi đến khi già, không phải là một, nhưng cũng không phải là ai khác.
Bất lai bất khứ — như cuộc sống, rất chân thực, nhưng huyễn sinh huyễn diệt.

Bài kệ về bát bất trung quán:
*Pháp sinh bởi nhân duyên
Bất sinh cũng bất diệt
Bất đoạn cũng bất thường
Bất lai cũng bất khứ
Bất nhất cũng bất dị
Dừng diệt mọi hý luận
Kính lễ lời Phật thuyết
Tịch tịnh vi diệu pháp.*

Còn nữa:
*Pháp sinh bởi nhân duyên
Tôi nói tức là không
Cũng gọi là tên giả
Cũng tức nghĩa trung đạo.*
Chúng ta phải hiểu rõ đạo lý về "không, giả, trung", cái gọi là tịch tịnh vi diệu cũng chính là trung quán.

Kinh Kim Cang có viết:
*"Nếu do sắc thấy ta
Do âm thanh cầu ta
Người ấy hành tà đạo
Không thể thấy Như Lai."*
Nhưng cần phải làm sao?

Đáp án là:
Nên quán pháp giới tính
Tức pháp thân chư Phật
Pháp tính không biên giới
Do đó không thể hết.

(Bởi Lư Sư Tôn tôi đã hiểu nghĩ lý cao nhất ở đây, do đó tất cả đều là vô sở sinh, vô sở vị, vô sở đắc. Chỉ có trong vô sở trụ mới có được tâm như vậy mà thôi.)

Bài kệ mà tôi thích là:
*Tất cả pháp hữu vi
Như mộng huyễn bào ảnh
Như sương cũng như điện
Nên quán thấy như vậy.*

Còn nữa:
*Tất cả pháp vô vi
Như hư cũng như không
Tâm như như bất động
Vạn pháp đã ở đó.*

Còn nữa:
*Chư hành vô thường
Quán thọ là khổ
Chư pháp vô ngã
Niết bàn tịch tĩnh.*

Từ ba bài kệ này, tôi đã thể hội được khổ, không, vô thường, vô ngã.
Và chứng được: 
"Trung quán nghĩa". (pháp nhĩ bản nhiên)

Do vậy:
Không có Lư Thắng Ngạn.
Không có viết sách.
Không có vẽ tranh.
Không có tu pháp.
Không có hoằng pháp.
Không có Chân Phật Tông.

Nếu các thánh đệ tử thể hội được những gì tôi nói, thì bạn đã viên mãn trung quán rồi đó.


### 48. Hiện tượng linh dị


Ngày 14 tháng 12 năm 2019, 8 giờ tối, tại Seattle Lôi Tạng Tự nước Mỹ có buổi đồng tu Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai.

Tôi ngồi trên pháp tọa nói:
Mấy ngày nay vào buổi tối, tôi ngồi thiền tại Nam Sơn Nhã Xá. 
Chuyện là vào lúc "nhập ngã - ngã nhập". 
("Nhập ngã" là Bổn tôn nhập vào tôi, "Ngã nhập" là tôi nhập vào Bổn tôn. Hai người hợp nhất, không hai không khác.)
Tôi nghe thấy tiếng giày đế bục nặng nề bước. 
"Cộp cộp cộp cộp." 
Đi đến bên cửa phòng tôi thì dừng lại.

Tôi vẫn không quan tâm, tiếp tục việc thiền định của mình.
Nhưng mấy buổi tối liền đều có tình huống tương tự xảy ra.
Tôi bèn quay đầu nhìn ra ngoài lối đi. 
Tôi vừa nhìn thì tóc tai xương cốt dựng đứng. 
Trong không trung thò xuống một sợi dây thừng, quấn thành một cái thòng lọng, thòng lọng đó treo lủng lẳng một cái đầu đàn ông.

Đó là một con ma treo cổ. (Hình dạng rất đáng sợ.)
Con ma này là một đệ tử quy y, do vậy có thể đi vào trong nhà tôi, trên tay còn cầm một chứng thư quy y. 
Tôi nghĩ: đàn ông mà đi giày đế bục, nếu không phải quân nhân thì là cảnh sát. Anh ta đến để cầu xin tôi siêu độ.

Tôi giảng pháp cho hồn ma này xong, không bao lâu thì điện thoại của Thượng sư Liên Hương nhận được một tin nhắn gửi đến từ Đài Loan.

Tin nhắn viết rằng:
Có một viên cảnh sát treo cổ tự sát. 
Cảnh sát này là một đệ tử Chân Phật Tông. 
(Đây là tin nhắn do sư tỉ Lucy gửi đến.)
Oa! Tương ứng rồi!

Tôi dùng chú vãng sinh, chú Văn Thù vãng sinh, chú Lục đạo kim cang, tôi tu pháp và siêu độ cho anh ta. Và cũng ghi tên anh trong lễ siêu độ hỏa cúng Địa Tạng Vương Bồ Tát.

Ngày 15 tháng 12 năm 2019, 3 giờ chiều.
Cầu Vồng Lôi Tạng Tự sẽ cử hành lễ siêu độ hỏa cúng Địa Tạng Vương Bồ Tát.

Một đêm trước đó.
Dì của tôi là Hoàng Tuyết Hoa (đã qua đời) đến tìm tôi. Bà kể:
Nhà ở hiện tại nhỏ quá.
Cậu của tôi là Hoàng Bỉnh Sinh cũng ở cùng nhà của dì. 
Cậu tôi là Hoàng Bình Sinh cũng đã qua đời rồi. 
Ngoài ra còn vài người nữa ở cùng.

Hoàng Tuyết Hoa nói:
"Tạp Tử! (tên gọi hồi bé của tôi) Bây giờ con lợi hại như vậy, giúp cho mấy người nhà dì đổi sang căn nhà mới to hơn đi."
Tôi nghe xong và làm theo mong muốn của dì.

Dì Hoàng Tuyết Hoa của tôi đã nuôi tôi từ nhỏ tới lớn, tôi mang ơn dì rất nhiều. 
Hồi tôi học cấp ba, cậu tôi Hoàng Bỉnh Sinh đã đưa tôi tới những vũ trường khiêu vũ. 
Tôi không chỉ giúp cho họ đổi một ngôi nhà mới mà còn đưa họ đến cõi tịnh thổ. 
Tôi dựa vào sức mạnh tu hành của tôi mà có thể giúp được họ đến ở một thế giới mới.

Tôi là tam tế nhất như.
Cũng là hoành biến thập phương.
Việc của âm gian tôi cũng lo được.


### 49. Tôi khuyên người thường niệm Phật


Đệ tử hỏi:
"Lư Sư Tôn! Con biết Mật giáo thù thắng, nhưng căn khí không đủ như chúng con đây, không có cách nào mỗi ngày bốn lần ngồi tu pháp, ba lần ngồi tu pháp, hai lần ngồi tu pháp, vậy phải làm sao?"
Tôi đáp:
"Căn khí không đủ, thời gian không đủ, vậy thì tu phần "chính hành" cũng có thể được, chỉ tu quán tưởng, trì chú, nhập Tam ma địa. Tối thiểu mỗi ngày tu một lần."
Đệ tử hỏi:
"Ngay cả một lần ngồi tu cũng không được, vậy phải làm sao?"
Tôi đáp:
"Vậy tôi khuyên mọi người niệm Phật nhiều."

Đệ tử hỏi:
"Niệm Phật ra sao?"
Tôi đáp:
"Kinh A Di Đà có ghi chép: Xá Lợi Phất, nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân, nghe nói đến A Di Đà Phật, trì danh hiệu ngài, nếu một ngày, nếu hai ngày, nếu ba ngày, nếu bốn ngày, nếu năm ngày, nếu sáu ngày, nếu bảy ngày, nhất tâm bất loạn, thì người đó vào lúc lâm chung, A Di Đà Phật và chư Thánh chúng sẽ hiện lên trước mặt, khi đời người kết thúc, tâm không điên đảo, thì lập tức được vãng sinh đến A Di Đà Phật Cực Lạc quốc thổ."

Đệ tử hỏi:
"Việc này dễ, mọi người đều có thể tu!"
Tôi đáp:
"Bảo dễ thì cũng dễ, bảo khó thì cũng khó."
Đệ tử hỏi:
"Vì sao khó?"
Tôi đáp:
"Thứ nhất, không thể thiếu nhân duyên là thiện căn công đức. Thứ hai, phải nhất tâm bất loạn. Thứ ba, tâm không điên đảo."

Đệ tử hỏi:
"Xin Lư Sư Tôn giải thích rõ hơn?"
Tôi đáp:
"Thứ nhất, không thể thiếu nhân duyên là thiện căn công đức là nói đến phát bồ đề tâm, thực hành hạnh Bồ Tát, thân thể lực hành, tích tập công đức."
"Thứ hai, nhất tâm bất loạn là một dạng định lực. Phàm phu thông thường rất khó làm được nhất tâm bất loạn. Đây là công phu thiền định, là cần phải niệm Phật với tinh thần chuyên nhất, một lòng ngóng về Cực Lạc Phật quốc, kiền thành và không dao động, điểm này là chí yếu, quan trọng nhất."
"Thứ ba, tâm không điên đảo, tâm không điên đảo ở đây cũng là quan trọng nhất. Con người vào lúc lâm chung, các vong linh thân cận nhất đều sẽ đến đón tiếp, tâm lúc này hễ có lo lắng thì lập tức sẽ bị điên đảo, phải chắc chắn chỉ có nhất tâm thì mới có thể vãng sinh."

Đệ tử hỏi:
"Niệm Phật cần niệm thế nào?"
Tôi đáp:
"Có trì danh niệm Phật, quán tưởng niệm Phật, thực tướng niệm Phật."
Đệ tử hỏi:
"Xin Lư Sư Tôn giải thích rõ?"

Tôi đáp:
"Trì danh niệm Phật — tức là miệng niệm và tâm thì nhớ về Phật. Chú ý: không chỉ là miệng niệm không thôi, mà đồng thời phải nhớ đến tự tính của A Di Đà Phật, lấy nguyện lực của A Di Đà Phật làm nguyện lực của chính mình."
"Quán tưởng niệm Phật — khi niệm Phật, quán tưởng A Di Đà Phật ở trên đài sen đến đón bạn. Quan Thế Âm Bồ Tát dùng tịnh bình vẩy lên bạn để tiêu nghiệp chướng. Đại Thế Chí Bồ Tát cầm hoa sen phóng quang, tăng trưởng trí huệ cho bạn. Đây gọi là quán tưởng niệm Phật."
"Thực tướng niệm Phật — khi miệng niệm Phật thì cần dùng toàn bộ lục căn [mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý] để tiếp nhận, liên tục xuất hiện các ý niệm thanh tịnh, đạt đến Tam ma địa. Trong Tam ma địa, tâm, Phật, chúng sinh, ba thứ này không khác biệt. Không phân biệt, không yêu ghét, không chọn hay bỏ, giữ được tự tính bình đẳng."

Đệ tử hỏi:
"Lư Sư Tôn! Ngài có niệm Phật không?"
Tôi đáp:
"Có niệm!"
"Vì sao vậy?"
Tôi đáp:
"Nam mô A Di Đà Phật. Liên Hoa Đồng Tử tức A Di Đà Phật."

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/277-mot-chut-cuoi-doi.md
# Title: 277. Một chút cười đời
---

![image](/img/img_8b74c2d04eaefdeb4760216d1c0f514a.jpg)



## Một chút cười đời


🪷 Cười người đáng cười trong thiên hạ

Văn tập số: 277
Xuất bản năm: 05/2020
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


Cá nhân tôi cảm thấy, đời người chính là một câu chuyện cười lớn. Có người hỏi:
Chớp mắt một cái đã lớn.
Chớp mắt hai cái đã già.
Chớp mắt ba cái thì sao?
Không thể chớp mắt lần nữa, vì chớp mắt lần nữa là chẳng còn trên đời nữa rồi!

Tôi nhớ có một câu chuyện cười thế này:
Một chiếc máy bay đang trên hành trình bay của mình. Cơ trưởng thông báo trên loa:
Các quý bà, quý ông, đây là thông báo của cơ trưởng, rất xin lỗi, tôi phải nói với các vị một tin xấu.
Động cơ của chúng ta đã bị cháy hoàn toàn, do vậy, chúng ta buộc phải hạ cánh trên mặt biển. Để sắp xếp cho việc thoát hiểm, bây giờ xin mời những hành khách biết bơi ngồi sang hàng ghế bên phải, những hành khách không biết bơi ngồi sang hàng ghế bên trái.
Sau khi hạ cánh trên mặt biển, xin các quý vị hành khách theo hướng dẫn của tiếp viên để thoát ra ngoài, sau đó hãy bơi ra xa khỏi máy bay. Đối với những hành khách không biết bơi, xin cảm ơn các vị đã bay với hãng hàng không XX, hy vọng sau này có cơ hội có thể lại phục vụ quý vị.
Mẩu chuyện cười này có tên gọi là "Có cơ hội".

Ha! Tôi lại nhớ ra một câu chuyện cười khác. Quân nhân nhảy dù mỗi người lĩnh một túi dù. Lính dù hỏi:
"Xin hỏi, túi dù này nếu không bung ra thì phải làm sao?"
Nhân viên phân phát đáp:
"Nếu dù không mở thì có thể cầm đến để đổi lấy cái khác."
Ha! Còn có cơ hội đó sao?

🌟

Hai câu chuyện cười này tình tiết khác nhau nhưng có cùng một kết luận. Trên khía cạnh Phật pháp thì đây chính là "vô thường". Tôi lấy một ví dụ nhé!
Có một giáo viên dạy Anh văn, đứng trên lề đường trước cửa tòa nhà Liên Hợp Báo Đài Bắc, Đài Loan, nói chuyện với một vị phụ huynh. Vừa hay nói đến chuyện tấm ngói khi nóng nở ra khi lạnh co lại thì một tấm ngói từ trên tầng cao rơi xuống, trọng lực gia tốc ngày càng nhanh. Trong tích tắc, không còn kịp nghĩ. Người nên chết thì chẳng chết, còn tấm ngói thì rơi trúng ngay giáo viên Anh văn.
Thế là: hồn bay về Ly Hận Thiên rồi.
[Trong kinh Phật có viết, ở chính giữa núi Tu Di có một cõi trời, bốn phương xung quanh mỗi phương có tám cõi trời, tổng cộng có 33 cõi trời. Ở phía trên của 33 cõi trời này chính là cõi trời Ly Hận Thiên. Ý câu này của Sư Tôn chỉ đơn giản rằng người thế là chết rồi, không phải là nói rằng hồn người này đã quy về Ly Hận Thiên.]

Tôi nghĩ:
"Giáo viên Anh văn kia nghĩ kiểu gì cũng nghĩ không kịp nữa rồi, ngay cả đến việc mình chết thế nào cũng chẳng biết!"
Tôi nói:
"Đúng là vô thường!"
Tôi thường nói với mọi người rằng:
"Cần nhanh nhanh tu hành, thời gian không có nhiều, một khi con ma "vô thường" đến rồi thì hối hận cũng không kịp nữa."
Phật nói:
"Chư hành vô thường."
Tôi nói:
"Vô thường rất nhanh."

Trong cuộc đời này, có rất nhiều người nực cười, cũng có rất nhiều chuyện nực cười, mọi người hãy cười chút đi. Bởi vì nếu không cười thì đến lúc muốn cười cũng chẳng kịp nữa đấy.
Chúc các bạn mở sách ra là có được lợi ích!

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A

Tháng 05/2022


### 01. Cười là đẹp nhất


Khi chụp ảnh, chúng ta thích nói nhất là câu:
"Dưa hấu có ngọt không?"
Mọi người sẽ hét lên:
"Ngọt."
Hỏi tiếp:
"Trong túi có cái gì?"
Mọi người hét lên:
"Tiền!"
Thế là mọi người đều cười ồ lên! Khi cười rồi thì trông ai cũng đẹp.
[Trong tiếng Trung, khi phát âm từ "ngọt" và từ "tiền" thì miệng sẽ đều nhoẻn ra như đang cười.]

Người chụp ảnh thường hay nói:
"Mọi người cười lên nào!"
"Chizzzz!" [Phát âm từ tiếng Anh "cheese".]
Bởi vì cười lên thì mới đẹp.

🌟

Tôi nhớ có một chuyện cười thế này.
Ông Vương ngủ lại một đêm tại một khách sạn cũ kĩ. Ngày hôm sau, ông nói với người phục vụ:
"Này anh phục vụ, đêm qua khi tôi đi ngủ, anh đoán xem tôi đã nhìn thấy cái gì? Tôi nhìn thấy hai con chuột đang đấu nhau ở chính giữa căn phòng, sao có thể có chuyện như thế được!"
Anh phục vụ trả lời:
"Thưa ông, ông cho rằng ông tiêu ít tiền như vậy để ở tại khách sạn của chúng tôi thì chúng tôi sẽ phục vụ ông xem đấu bò tót Tây Ban Nha sao?"
Ha! Hay!
Tôi thích sự hài hước và nhanh trí của anh chàng phục vụ này.
Trong đời này của tôi, tôi chưa từng trông thấy chuột đánh nhau.
Nếu nhìn thấy chuột đánh nhau thì đúng là rất may mắn đó!

🌟

Một câu chuyện tương tự. Trong một tiệm bánh bao. Khách hàng hỏi:
"Bánh bao ở đây sao mà nhỏ thế này?"
Chủ tiệm đáp:
"Khi mới lấy ra khỏi nồi thì cũng to lắm."
Khách hàng hỏi:
"Thế sao bây giờ lại nhỏ thế?"
Chủ tiệm đáp:
"Ông không hiểu nóng nở ra lạnh co lại sao?"
Ha! Câu trả lời của chủ tiệm cũng rất thông minh.

🌟

Có người hỏi tôi:
"Nghe nói có người đã cuỗm mất Lôi Tạng Tự đó đó rồi?"
Tôi nói:
"Đúng vậy."
Người hỏi:
"Chuyện này chẳng phải rất thảm sao?"
Tôi nói:
"Cũng không hẳn."
Người hỏi:
"Vì sao vậy?"
Tôi đáp:
"Chỉ cần nó vẫn an vị tại nơi đó, chỉ cần tu tập chính pháp của Phật giáo, chỉ cần trụ trì cải tà quy chính, nỗ lực tinh tấn hoằng dương Phật pháp thì vẫn là đại thiện."
Người hỏi:
"Người ta cũng đã đổi sang tin theo tông phái khác rồi đó?"
Tôi đáp:
"Chỉ cần vẫn hướng dẫn chúng sinh rời xa đau khổ đến với phúc lạc, vãng sinh tịnh thổ, siêu sinh thoát khổ, thì bất kì tông phái nào cũng như nhau cả!" (Tông tông phi tông, pháp pháp phi pháp.)
Người hỏi:
"Ngài thật sự lạc quan như vậy sao?"
“Tôi không thể ngày ngày ôm bộ mặt rầu rĩ thê lương được!"


### 02. Sinh mạng và tiền


Có người hỏi tôi:
"Trên thế giới này cái gì là quan trọng nhất?"
Tôi đáp:
"Đạo." (trí huệ của Như Lai)
Người hỏi:
"Vì sao Đạo quan trọng nhất?"
Tôi đáp:
"Trước đây hình như có một câu nói: sinh mạng thật đáng quý, ái tình còn quý hơn, nhưng để được tự do, cả hai đều đáng bỏ."
Người hỏi:
"Điều này thì có liên quan gì đến Đạo?"
Tôi đáp:
"Sinh mạng, ái tình, tự do, kì thực đều là Đạo!"
Người này nghe xong liền ngây người ra.
Tôi nói:
"Sinh mạng, ái tình, tự do, đều là thứ hữu hình. Còn Đạo là vô hình, là siêu hình."
"Cần hiểu Đạo, kiến Đạo thì mới biết đến vĩnh hằng. Muốn biết Đạo này thì chỉ có đi theo Lư Sư Tôn."
Ha!
Chuyện ra sao hồi sau sẽ rõ!

🌟

Có một mẩu chuyện cười:
Cháu hỏi ông:
"Ông ơi! Ông nói xem, tiền và sinh mạng thì cái nào quan trọng?"
Ông đáp:
"Đương nhiên là sinh mạng quan trọng hơn rồi."
Cháu hỏi:
"Vì sao sinh mạng lại quan trọng hơn ạ?"
Ông đáp:
"Bởi vì khi con người ta bị đe dọa hoặc gặp nguy hiểm thì sẽ kêu lên cứu mạng với, cứu mạng với! Chẳng có ai kêu lên cứu tiền với, cứu tiền với!"
Cháu:
"Ồ!"

🌟

Một tên cướp cầm súng xông vào ngân hàng, hét lớn:
"Tất cả không được cử động, giơ tay lên cho tao!"
Trong tích tắc, cả sảnh không một tiếng động. Một lúc sau, tên cướp hỏi:
"Đã giơ tay lên hết chưa? Tao quên đeo kính, nhìn không rõ."
Ha!
Trong lúc căng thẳng, không ngờ lỡ mồm, tôi cảm thấy việc này rất quen thuộc.

🌟

Tôi luôn cảm thấy:
Sinh mạng rất ngắn ngủi. (chỉ một đời)
Khi mà sinh mạng chẳng còn, thì tiền cũng chẳng đi theo được.
Mạng sống chỉ có một, tiền dù có nhiều cũng chẳng cứu nổi bạn. Bởi vì các bộ phận cơ thể chẳng dễ tìm, chẳng dễ hợp.

Tôi vẫn cho rằng Đạo quan trọng nhất, có giá trị nhất, trân quý nhất. Đạo có thể khiến bạn:
Đại lạc.
Quang minh.
Tính Không.
Không phải chịu luân hồi, vĩnh viễn bất thối chuyển, bạn sẽ đến được cảnh giới vô thượng tối cao.
"Lúc này, sinh mạng, tài sản, ái tình, danh dự, địa vị, đều là rác rưởi."


### 03. Người mù đích thực


Một chuyện cười:
Có một người mù ngồi bên vệ đường ăn xin. Một người đàn bà đi qua ném cho hắn một đồng xu. Đồng xu ném ra không chuẩn nên lăn đi. Người mù tinh mắt, nhanh chóng đưa tay ra tóm lấy đồng xu rồi bỏ vào trong bát của mình. Người đàn bà hỏi:
"Chẳng phải mày bị mù ư?"
Người ăn mày mù đáp:
"Tôi làm thay cho người ta thôi."
Người đàn bà hỏi:
"Thế tên mù thật đâu?"
Người ăn mày mù đáp:
"Nó đi xem phim rồi."
Ha!
Ai mới là người mù?

🌟

Lại một chuyện cười:
Một cặp vợ chồng đi bộ qua trước mặt một người ăn mày mù. Người vợ lấy ra một tờ tiền giấy 100 tệ đưa cho người ăn mày. Người chồng hỏi:
"Sao bà cho nó nhiều tiền thế?"
Bà vợ đáp:
"Bởi vì khi đi qua, nó còn gọi tôi là người đẹp."
Ông chồng nói:
"Thằng ăn mày này quả nhiên đúng là mắt mù thật rồi."
Ha!

🌟

Lại một câu chuyện khác tình tiết nhưng cùng kết luận.
Vợ nói:
"Chồng ơi! Nếu em đi trên đường, có người đụng phải em, nói em là một đại mỹ nữ thì sao?"
Chồng đáp:
"Lại còn phải hỏi, mau đến giúp hắn qua đường, chắc chắn hắn là một người mù."
Ha!

🌟

Nhân đây tôi lấy một ví dụ.
Vào thời đại Phật Đà, Phật Đà sống tại vườn Cấp Cô Độc. Có một tì kheo vừa mới xuất gia không lâu nói với Phật Đà rằng:
"Thưa Phật! Cha mẹ con kinh doanh thất bại, cha mẹ đã già rồi, bệnh tật đeo bám, đang rền rĩ vì ốm liệt giường, con muốn về nhà thăm cha mẹ một lát có được không?"
Phật Đà đáp:
"Được!"
Tì kheo nói:
"Đường trở về nhà con xa xôi, thiếu tư lương đi đường thì sao?"
Phật Đà nói:
"Ở đây ta có một túi bột vàng, con cầm lấy làm lộ phí."
Tì kheo này đi rồi. Một đi không trở lại.
Về sau có người phát hiện ra những gì tì kheo này nói đều là bịa đặt, anh ta đã lừa Phật Đà một túi bột vàng để đi uống rượu hưởng lạc rồi.

🌟

Tôi nói:
Tì kheo này đúng là bị đui mù! Phật Thích Ca Mâu Ni chính là một kho báu, hơn nữa còn là kho báu vô thượng, đệ tử theo học ngài có thể đạt được thành tựu vô thượng.
Phật. (quả vị)
Bồ Tát. (quả vị)
Thanh Văn. (quả vị)
Những kho báu vô thượng này mà anh ta không muốn. Cái anh ta muốn lại chỉ là một túi bột vàng.
Ha! Tì kheo kia đúng là bị đui mù.


### 04. Tiểu kê kê


Tôi thích mấy mẩu chuyện cười về gà.
Chuyện thứ nhất:
Có một con gà trống trở về nhà, nó tỏ ra vô cùng kiệt sức. Mấy con gà mái hỏi nó:
"Trông anh rất mệt đấy nhỉ?"
Con gà trống đáp:
"Đúng vậy. Ngày nào tôi cũng phải đi ra ngoài bán kê tinh."
Ha! Một lời hai nghĩa!
[Kê tinh vừa có nghĩa là hạt nêm vị gà, vừa có nghĩa là “tinh lực” của gà.]

Chuyện thứ hai:
Một buổi sáng. Gà trống đánh cho gà mái một trận đến mức chảy máu mũi, mặt mày sưng húp. Những con gà khác đều đến để can ngăn. Mỗi con góp một câu, ỏm tỏi inh ỏi cả lên:
"Động khẩu chứ không động thủ!"
"Thuận vợ thuận chồng tát biển đông cũng cạn!"
"Hòa khí sinh tài!"
...

Có một con gà hỏi gà trống:
"Sao mày có thể đánh gà mái thành tới mức như thế này chứ?"
Gà trống đáp:
"Bởi vì sáng sớm nay nó đẻ ra một quả trứng vịt!"
Ha!

Chuyện thứ ba:
Trong đám động vật, gấu, hươu, thỏ, gà là những người bạn thân. Để thể hiện sự thân thiết với nhau, bọn chúng đều thêm một chữ "tiểu" vào tên gọi của mình. Ví dụ:
Tiểu hùng hùng. (gấu nhỏ)
Tiểu lộc lộc. (hươu nhỏ)
Tiểu thố thố. (thỏ nhỏ)
Lúc này, chỉ có mỗi con gà nói:
"Chúng mày chơi đi, tao không chơi trò này!"
[Trong tiếng Trung, tiểu kê kê là tiếng lóng để gọi bộ phận sinh dục của trẻ em nam, giống người Việt thì gọi là "chim".]

🌟

Gần đây tôi vẽ một bức tranh. Bức tranh này vẽ cảnh lúc mặt trời mọc, có một con gà trống to hùng dũng lớn tiếng gáy:
"Ò! Ó! O!"
Bên cạnh bức tranh tôi đề thêm mấy chữ:
"Nhất minh thiên hạ vô nan sự!"
[Chỉ một tiếng gáy, trong thiên hạ chẳng còn việc gì khó.]

Đệ tử của tôi có ý kiến rằng:
"Không phải là nhất bì thiên hạ vô nan sự ư? Sao lại là nhất minh thiên hạ vô nan sự?"
Lại còn có người nói:
"Việc khó trong thiên hạ loạn như thế này, sao có thể chỉ kêu một tiếng là việc gì cũng có thể giải quyết được?"
Có một đệ tử hỏi:
"Vì sao lại dùng một tiếng kêu?"

Tôi đáp:
"Ý tôi muốn nói rằng, một con gà trống lớn, trách nhiệm của nó là đánh thức cả nhà cần phải dậy rồi."
"Một tiếng gáy của gà trống là trách nhiệm mỗi ngày của nó, cũng là một cách tinh tấn để khởi đầu mỗi ngày."
"Tinh tấn mỗi ngày! Nhất định sẽ thành công!"
"Mọi việc khó khăn, đều giải quyết được!"
Ví dụ:
Mỗi ngày tôi tu pháp, nhất định có thể thành tựu!
Mỗi ngày tôi viết sách, nay đã hoàn thành 277 cuốn sách!
Mỗi ngày tôi vẽ tranh, nay đã hoàn thành vô số tác phẩm!
Đây là tinh thần trách nhiệm của tôi, mỗi ngày tôi phải hoàn thành những công việc một cách có kỷ luật. Làm tốt những việc nhỏ mỗi ngày, cũng sẽ thành tựu được việc lớn.
"Nhất minh thiên hạ vô nan sự" chính là như vậy.


### 05. Voi và kiến


Tôi rất thích kể câu chuyện cười về voi và kiến, ai nấy nghe đều cười lớn ha ha.
Thực sự mấy câu chuyện này cực kì thú vị.

Chuyện thứ nhất:
Voi và kiến kết hôn. Một hôm, kiến bò suốt cả nửa ngày trời cuối cùng mới đến được tai voi, kiến nói với voi:
"Em có bầu rồi!"
Voi nghe xong, ngất xỉu lăn ra đất!
Ha!

🌟

Chuyện thứ hai:
Voi đang nghịch nước ở dưới ao, nó dùng mũi hút nước vào rồi lại phun nước ra, chơi cực kì vui thích. Kiến ở trên bờ gọi to:
"Voi ơi! Voi ơi! Anh quay lại đây cho em!"
Voi nghe thấy liền lê thân mình trở lên bờ. Kiến nói:
"Thôi anh quay lại chơi đi!"
Thế là voi lại lê mình xuống ao nghịch nước tiếp. Voi ngoảnh đầu lại hỏi kiến:
"Vừa nãy em gọi anh là có chuyện gì đấy?"
Kiến nói:
"Em muốn xem xem anh có lấy trộm quần bơi của em không!"
Ha!

🌟

Chuyện thứ ba:
Voi và kiến rốt cục cũng đồng ý ly hôn. Lý do ly hôn là:
Kiến nói:
"Mỗi lần tôi muốn hôn voi, tôi phải bò mất cả nửa ngày trời, đến khi bò đến miệng thì voi thở một cái, chẳng biết tôi đã bị thổi bay tới tận đâu nữa. Mười lần thì chín lần thất bại."
Voi nói:
"Mỗi khi đi ngủ, tôi luôn luôn cẩn thận kĩ càng tìm kiếm vợ tôi, nhưng không biết là vợ trốn đi đâu mất. Tìm mãi mệt quá, tôi lăn ra đánh một giấc, lấy vợ cũng như không."
Thế nên voi và kiến ly hôn rồi!
Ha!

🌟

Chuyện thứ tư:
Sau khi ly hôn, kiến rất hận voi. Nó luôn thò một chân ra khỏi cửa hang của mình. Những con kiến khác trông thấy thì thấy rất kỳ lạ, liền hỏi:
"Mày làm thế để làm gì?"
Kiến nói:
"Đợi một lát con voi đi qua đây, tôi muốn dùng chân ngáng cho nó ngã, để cho nó bốn vó chổng lên trời!"
Ha!

🌟

Qua bốn mẩu chuyện cười này, tôi hiểu thế nào là sự tương phản về sức mạnh. Trên đời này đâu đâu cũng có.
Thế tục đế và Thánh đế.
Hữu đế và Không đế.
Thanh tịnh và Ô nhiễm.
Hạnh phúc và Bi ai.
Thứ tự sinh khởi và Thứ tự viên mãn.
Thiện và Ác.
Tiền sắc danh và Phạm hạnh thanh tịnh.
...

Quan điểm của Phật Đà là:
"Nhập thế và xuất thế đều quan trọng như nhau. Nhập thế là quảng độ chúng sinh, xuất thế là không nhiễm bụi trần. Là một chẳng phải hai."
Tôi nói:
"Nhập thế là phương tiện thiện xảo. Xuất thế là trí huệ viên mãn."


### 06. Trước và sau khi kết hôn


Những chuyện cười liên quan đến việc trước khi kết hôn và sau khi kết hôn cực kì nhiều. Từ những chuyện cười này, bạn có thể rút ra được những bài học nào đó.

Chuyện thứ nhất:
Vợ nói:
"Trước khi kết hôn, khi chúng ta ước hẹn, anh luôn nói rằng trong lòng anh bồn chồn không yên như nai con ngơ ngác. Bây giờ có còn bồn chồn không yên không?"
Chồng đáp:
"Con nai nhỏ đã chết từ lâu rồi!"
Ha!
[Trong tiếng Trung có thành ngữ "tiểu lộc loạn tràng" mô tả tâm trạng lo lắng hơi sợ hãi, giống như con nai nhỏ bước đi loạng choạng nên đụng chạm lung tung.]

🌟

Chuyện thứ hai:
Trước khi kết hôn.
Chàng trai nói một cách tình cảm:
"Mỗi lần chúng ta gặp đèn đỏ, xe dừng lại, anh muốn hôn em ba cái."
Cô gái nói:
"Lãng mạn quá! Em thích đấy!"
Sau khi kết hôn.
Cô gái nói:
"Chồng ơi, bây giờ khi lái xe, sao anh không còn hôn em nữa?"
Chàng trai nói:
"Bây giờ anh thích lái xe trên đường cao tốc rồi!"
Ha!

🌟

Chuyện thứ ba:
Trước khi kết hôn. Bạn trai thường ở nán lại nhà tôi chơi, chưa tới nửa đêm thì chưa muốn về.
Sau khi kết hôn. Buổi tối chồng không ở nhà, tôi chờ đến nửa đêm vẫn chưa thấy chồng trở về.
Khác biệt rất lớn!

🌟

Chuyện thứ tư:
Vợ hỏi:
"Chồng ơi! Trước đây anh nói, em mãi mãi ở trong trái tim anh, bây giờ em có còn ở trong trái tim anh không?"

Chồng đáp:

“Còn chứ”

Vợ hỏi:
”Vì sao em không cảm thấy gì điều đó?”
Chồng đáp:
"Cửa vào trái tim anh rất nhỏ. Khi còn trẻ, em đã đi vào trong trái tim anh. Nhưng bây giờ em béo lên rồi, mà cửa thì rất nhỏ, nên em đã không đi ra được nữa rồi."
Ha!

🌟

Đối với chuyện trước và sau hôn nhân, tôi thể hội được sự: vô thường. (Thế sự chẳng ở mãi trạng thái như cũ.)
Có mới nới cũ. (Là tính cách phổ biến ở con người.)
Xa mặt cách lòng.
Người với người sống chung chẳng dễ dàng.
Tôi thường nói:
"Đệ tử như nước chảy, nước chảy qua, nước chảy lại. Người đến với pháp môn của tôi, người rời khỏi pháp môn của tôi, những việc như vậy vô cùng bình thường."

Mặc dù có:
Giới luật.
Giới nguyện samaya.
Lời thề.
Sự sư pháp ngũ thập tụng.
Căn bản Thượng sư Thubten Dhargye từng nói:
"Nhất quy y!" [quy y hoàn toàn]

Trên thực tế, "nhất quy y" là một việc rất khó. Nhưng nếu bạn có thể làm được thì đây là một việc rất đáng mừng.
Mật giáo nhấn mạnh:
Hành giả, Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp là hợp nhất.
Nhấn mạnh tâm dài hạn, tâm cung kính.
Chúng ta nhất định cần làm cho được!


### 07. Sống một ngày, vui vẻ một ngày


Chủ trương của tôi là: 
Sống một ngày, vui vẻ một ngày.
Rất nhiều người đều nói: 
"Lư Sư Tôn theo trường phái lạc quan."
Đúng vậy. 

Phật giáo nhắc đến "bát phong", còn gọi là "bát pháp", là những tình cảm yêu ghét của thế gian, có thể kích động tới nhân tâm.

1. Lợi.
2. Suy.
3. Hủy.
4. Dự.
5. Xưng.
6. Cơ.
7. Khổ.
8. Lạc.
[Bát phong là tám ngọn gió thế gian.]

"Trí Độ Luận" nói: "Lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ, lạc, bốn điều thuận lợi, bốn điều bất trắc, có thể tác động đến những sinh vật hữu tình, gọi là bát phong."
"Kinh Pháp Hoa" nói: "Phật không niệm tưởng, từ lâu đã xa rời bát phong, do vậy nên không phải chịu tổn hại."
"Chỉ Quán" nói: "Dừng lại là bức tường cố định, những cảm nhận xấu do bát phong không thể nào đi vào."
Thơ của Hàn Sơn Tử: "Bát phong thổi bất động."

Có được sự việc như ý là "lợi".
Việc không được như ý là "suy".
Tất cả mọi thành tựu đều bại hoại là "hủy".
Tất cả mọi lời khen ngợi là "dự".
Tán dương vinh quang là "xưng".
Lời lẽ sỉ nhục là "cơ".
Bị chèn ép, chịu áp lực là "khổ".
Tất cả đều như ý là "lạc".

Những người học Phật chúng ta vì có được ngộ cảnh, lại có thiền định, do vậy có thể không bị tác động, do vậy mới gọi là "bát phong thổi bất động". Việc này đối với người thế tục mà nói thì rất khó. Nhưng, sau khi trải qua quá trình tinh tấn nỗ lực, đã nhận rõ được tính Không, định lực đã thành tựu, thì sẽ có được sự tự tại, đã trở nên như như bất động rồi.
Do vậy tôi có thể giữ vững được tâm cảnh này, để mà "sống một ngày, vui vẻ một ngày".
(Vui vẻ mà tôi nói đến ở đây chính là hân hoan tự tại, không còn phiền não.)

🌟

Có một câu chuyện cười rằng:
Có một người tên gọi là anh Sướng. Một hôm, anh Sướng chết. Trong tang lễ của anh, người thân bạn bè xếp hàng đến đưa tiễn. Ai nấy đều gào khóc:
"Sướng ơi là Sướng!"
Người qua đường nghe thấy thì thấy rất kỳ quái, vì sao người chết rồi mà mọi người lại gào lên: "Sướng ơi là Sướng!"
Người qua đường hỏi:
"Mọi người tiễn người chết, vì sao lại kêu lên là sướng?"
Những người đi tiễn nói:
"Sướng chết mất rồi đấy! Các người không biết sao?"
Ha!
(Thành tựu giả tu hành thì ngay cả chết rồi cũng vui vẻ, bởi vì ai nấy đều có thể đến thế giới Cực Lạc.)

🌟

Lại có một câu chuyện cười khác:
Bố hỏi Tiểu Minh:
"Thành tích học tập của con lúc nào cũng đội sổ, vì sao không thể tiến lên trước vài bậc?"
Tiểu Minh đáp:
"Không được đâu bố! Bởi vì tất cả các bậc khác đều đã có người rồi!"
Ha!
Hãy hài lòng với những gì ta có!


### 08. Mục tiêu cuộc sống


Trước đây, tôi thường nói:
1 tuổi --- khởi đầu một chương.
10 tuổi --- học tập khẩn trương.
20 tuổi --- tuổi trẻ đau thương.
30 tuổi --- sự nghiệp tìm đường.
40 tuổi --- bắt đầu phát tướng.
50 tuổi --- tuy già vẫn gượng.
60 tuổi --- huyết áp bất thường.
70 tuổi --- trí nhớ ẩm ương.
80 tuổi --- run rẩy chuyện thường.
90 tuổi --- mất dần phương hướng.
100 tuổi --- ảnh treo trên tường.

Tôi còn nói:
Đi học, kết hôn, làm việc, sinh con dưỡng cái, già, chết.

Tôi nhắc lại hai điều này để muốn nói rằng cuộc đời chính là như vậy. Từ lúc sinh ra đến khi chết chính là trong khuôn khổ ấy. Rất ít người có thể thoát khỏi được cái khuôn khổ này.

Tôi thường hỏi người ta:
"Mục tiêu cuộc sống của anh là gì?"
Đáp:
"Kiếm tiền!"
Tôi lại hỏi người khác.
"Đạt địa vị cao."
Lại hỏi.
Lại đáp:
"Cưới một mỹ nữ làm vợ!"
...

Rất hiếm có người nào trả lời:
"Tôi muốn tinh tấn học Phật, không muốn luân hồi, muốn giải thoát khỏi khổ của đời người, thành tựu bồ đề đạo."

🌟

Có một phóng viên điều tra về nông thôn, gặp một nam thanh niên đang chăn cừu. Phóng viên hỏi:
"Người thanh niên, anh chăn cừu để làm gì?"
Người thanh niên đáp:
"Kiếm tiền!"
Phóng viên hỏi:
"Kiếm tiền để làm gì?"
Người thanh niên đáp:
"Cưới vợ."
Phóng viên hỏi:
"Cưới vợ để làm gì?"
Người thanh niên đáp:
"Để sinh con."
Phóng viên hỏi:
"Sinh con để làm gì?"
Người thanh niên đáp:
"Để chăn cừu!"
(Đây chính là một vòng tuần hoàn, vòng tuần hoàn của người.)

🌟

Lại có một chuyện khác.
Bạn học cùng lớp đại học với tôi có khoảng 40 người. Đến nay cũng có 7 người đã qua đời rồi. Một hôm, tôi gọi điện cho một người bạn học hỏi thăm:
"Tình hình bạn dạo này khỏe không?"
Bạn trả lời:
"Vẫn còn sống, bạn thì sao?"
Tôi đáp:
"Vẫn còn sống. Vẫn còn có thể cười."
Tôi nói:
"Chúng tôi chỉ còn lại một ngày tết nữa thôi, ngày tết này chính là Tết Thanh Minh."


### 09. Liên quan gì đến tôi


Tôi nhớ có một chuyện cười:
Có một thanh niên trẻ đi hỏi Thiền sư:
"Thiền sư ơi! Thiền sư ơi! Con và bạn gái đã chia tay rồi, con nên làm gì đây?"
Thiền sư không nói gì, đưa người thanh niên trẻ ra bên ngoài chùa, tay chỉ lên con chim đang bay trên trời, cũng không nói gì.
Người thanh niên nói:
"A! Con hiểu rồi! Thiền sư muốn chỉ thị cho con rằng, kể từ giờ trở đi, con lại càng có thể tự do tự tại bay lượn rồi."
Thiền sư nói:
"Sai. Ý ta muốn nói rằng chuyện chết tiệt này có liên quan gì đến ta!"
Ha!
[Trong tiếng Trung, "điểu sự" có nghĩa là chuyện chết tiệt, lại có nghĩa là “chuyện chim cò”.]

🌟

Lại một chuyện nữa.
Có một cô gái trang điểm xinh đẹp đến hỏi Thiền sư:
"Thiền sư ơi! Thiền sư ơi! Con đã trải qua rất nhiều cuộc tình, dường như người đàn ông nào cũng đều tìm cách quyến rũ con, yêu con!"
Thiền sư nhìn cô gái ăn mặc trang điểm thiếu nghiêm túc, cũng không nói gì, cầm lấy một cốc nước lạnh đổ hắt ra ngoài.
Cô gái nói:
"A! Con hiểu rồi, Thiền sư bảo con hãy thanh lọc tâm mình, lạnh lùng xử lý."
Thiền sư nói:
"Cô sai rồi! Ý tôi bảo cô hãy để mặt mộc, sau này đừng đong đưa ưỡn ẹo nữa, tự nhiên các cuộc tình ái cũng sẽ ít đi."
Ha!

🌟

Một chuyện khác.
Có một cô gái vừa béo vừa xấu vừa nghèo rách rưới đến hỏi Thiền sư:
"Thiền sư ơi! Thiền sư ơi! Nếu có người theo tà giáo đến lôi kéo con nhập hội, con xử lý làm sao mới là tốt đây?"
Thiền sư cũng không nói gì, đưa cô gái đi đến trước một tấm gương lớn. Cô gái đột ngột giác ngộ:
"Tâm như gương sáng, chỉ cần thấy rõ đó là tà giáo thì sẽ không dễ bị lừa gạt."
Thiền sư nói:
"Sai! Cô nhìn tướng mạo của mình trong gương đi, hơn nữa cô lại còn nghèo, một chỗ để ở cũng không, tà giáo lừa cô làm cái gì?"

🌟

Bản thân tôi thích nói đùa, nhưng trong những câu nói đùa có rất nhiều thiền cơ, cần phải hiểu một cách dí dỏm khéo léo.
Có người hỏi tôi:
"Người là gì?"
Tôi đáp:
"Da bọc thịt."
Hỏi:
"Thế nào là rời xa chốn hồng trần?"
Tôi đáp:
"Liên quan gì đến tôi?" (Vì sao cần rời xa chốn hồng trần?)
Hỏi:
"Lư Sư Tôn! Ngài đã đắc đạo chưa?"
Tôi đáp:
"Anh mới đắc đạo đó."

🌟

Lại có một đệ tử xuất gia đến nói:
"Lư Sư Tôn! Con muốn hoàn tục!"
Tôi đáp:
"Anh hoàn tục gì?"
Đệ tử hỏi:
"Con không thể hoàn tục sao?"
Tôi nói:
"Bản thân anh chính là tục rồi, còn cần phải hoàn tục nữa sao?"
Ha!


### 10. Vẹt học nói


Có người nói với con vẹt:
"Mày có biết hát không?"
Vẹt liền há mỏ ra hát:
"Anh tôi, bố tôi thật vĩ đại……………"	
Người kia lại hỏi:
"Mày có biết nhảy không?"
Con vẹt bất ngờ nhảy lên:
"Chình chình, chát chát chát."
Người kia lại hỏi:
"Mày có biết huýt sáo không?"
Con vẹt đột nhiên huýt lên:
"Em tôi cõng một con búp bê…."
Người kia vô cùng sửng sốt. 

Con vẹt hỏi lại người này:
"Anh biết bay không?"
Người kia không cam lòng lộ ra sự yếu kém của mình liền đáp:
"Biết!"
Con vẹt chẳng thèm hạ mình mà lại quăng cho một câu:
"Đồ bốc phét!"
Ha!

🌟

Một chuyện khác:
Có một kỹ viện phải đóng cửa, những đồ vật lớn nhỏ trong kỹ viện đều đem ra bán hết. Một chàng trai đã mua con vẹt của kỹ viện về nhà, treo lồng vẹt ở trong phòng khách. Bà mẹ đi ra, con vẹt nói:
"Ma ma cũng đổi rồi à!"
Em gái đi ra, con vẹt nói:
"Tiểu thư cũng đổi rồi à!"
Ông bố đi ra, con vẹt nói:
"Chỉ có ông khách này là không đổi!"
Ha!

🌟

Một chuyện khác:
Trong một cửa hàng bán vẹt có ba con vẹt xinh đẹp. Có người khách đến hỏi giá tiền:
"Con này bao nhiêu tiền?"
Ông chủ đáp:
"Đắt lắm, mười nghìn đô-la Mỹ."
Khách hàng kinh ngạc:
"Sao mà đắt đến thế?"
Ông chủ đáp:
"Bởi vì nó biết chơi đàn piano, cho nên mới đắt như vậy."
Khách hàng hỏi một con khác:
"Thế còn con này bao nhiêu tiền?"
Ông chủ đáp:
"Con này còn đắt hơn, hai mươi nghìn đô-la Mỹ."
Khách hàng há hốc mồm hỏi:
"Sao mà đắt cắt cổ vậy?"
Ông chủ đáp:
"Con này biết dùng máy tính, là một con vẹt khoa học công nghệ."
Khách hàng hỏi con cuối cùng. Ông chủ đáp:
"Con này đắt nhất. Nó đáng giá trăm nghìn đô-la Mỹ. Thậm chí là vô giá, không bán đâu."
Khách hàng trợn mắt lên hỏi:
"Nó biết làm gì?"
"Nó chẳng biết làm gì cả, nhưng cả hai con vẹt kia đều gọi nó là Sư Tôn."
Ha!

Tôi muốn nói với mọi người rằng, tôi (Lư Sư Tôn) cái gì cũng không biết. Nhưng thân tôi vẫn có giá trị vô giá. Giá trị vô giá này không bán. Nhưng chỉ cần bạn muốn theo tôi, tôi có thể đưa bạn bước vào cảnh giới vô thượng, thành tựu quả vị Tứ Thánh. (Tôi là kho báu trong hoa sen.)


### 11. Tư thái của người chiến thắng


Trước tiên hãy đọc một câu chuyện cười:
Tiểu Minh mới lấy vợ, sau đêm động phòng hoa chúc mới hỏi vợ:
"Vợ à! Đêm qua cảm giác thế nào?"
Vợ nói:
"Giống Bill Gates."
Tiểu Minh nghĩ ngợi:
"Bill Gates là triệu phú số một, vậy suy ra mình là số một."
Trong lòng rất vui, Tiểu Minh nói với bố:
"Bố ơi! Vợ con khen công phu trên giường của con giống như Bill Gates, là số một thế giới đó."
Ông bố nói:
"Con à! Mày có thể nghĩ kĩ hơn một chút không, Bill Gates thành lập công ty "Micro-soft" đó." [”Micro”: siêu nhỏ, “soft”: mềm]
Ông bố lại nói:
"Vợ mày nó cười mày vừa nhỏ vừa mềm đó!"
Tiểu Minh:
"..."
Ha!

Tôi thực lòng thực sự nói để mọi người biết, ở chỗ Lư Sư Tôn đây, tôi có "pháp bảo vô lậu". Pháp bảo vô lậu là cái gì? Bí mật nói cho bạn biết nhé, đó là: "Tư thái của người chiến thắng." Đây là công phu của Mật giáo vô thượng mật bộ. Tu luyện thế nào? Chỉ có Lư Sư Tôn biết. (Rất ít người biết.)

Pháp vô lậu này có thể nâng "minh điểm" (tinh dịch), hoàn toàn không rò rỉ xuất ra ngoài. Thổi một hơi khí, lập tức cứng chắc, mạnh mẽ và cương cường. Khi thực hành một thời gian đủ dài thì tự mình có thể khống chế được. Cứng bao lâu, tự mình có thể khống chế. Muốn dài ra, tự mình có thể khống chế. Không những có thể dừng, mà còn có thể hít vào. Hơn nữa, 24 giờ, mọi lúc mọi nơi đều có thể.

Một ngày có thể làm bao nhiêu lần? Hoàn toàn tùy ý muốn. (Đây có thể là điều khiến mọi người vô cùng kinh ngạc cảm thán.)
Lư Sư Tôn là Vô Lậu Pháp Vương.

🌟

Khẩu quyết là:
"Ngày ngày hướng nhìn lên trời."
"Lưỡi ấn lên hàm trên."
"Ấn vào yết hầu."
"Đẩy thượng hành khí ra ngoài hết."
"Bụng hóp lại cho dính vào lưng."
"Tứ chi co rút lại."
"Nâng hậu môn."
"Kết ác cố ấn." [Thủ ấn nắm chặt bàn tay.]
...

🌟

Trên thắng nghĩa của Mật giáo thì đây không phải là "dâm". Mà là:
Khí thông với khí.
Mạch nối với mạch.
Điểm và điểm hòa tan vào nhau.
Từ "đại lạc" dẫn tới phát triển thành "quang minh", từ "quang minh" dẫn tới phát triển thành "tính Không", từ "tính Không" mà chứng minh:
Tức sinh thành Phật.
Tức thân thành Phật.
Thân hóa thành ánh sáng cầu vồng.
(Đây là sự kết hợp của "phương tiện" và "trí huệ".)
Người có thể tu trì được pháp này không nhiều, và trong số đó Lư Sư Tôn là một người chiến thắng.


### 12. Núi mịt mờ sông mịt mờ


Chuyện rằng: 
Đường Tam Tạng cưỡi bạch mã, dẫn theo đồ nhi đến Thiên Trúc thỉnh kinh.
Đi qua một vùng đất, nhưng chỉ nhìn thấy mây khói mù mịt khắp mặt đất, mây cuồn cuộn, sương mịt mùng. Vùng đất này giống như tiên cảnh.
Núi mịt mờ.
Sông mịt mờ.
Chim mịt mờ.
Tôn Ngộ Không hỏi Đường Tăng:
"Sư phụ! Chắc sắp đến Tây Thiên rồi! Nơi đây tiên cảnh mới đẹp làm sao. Không biết đây là tiên phương nào?"
Đường Tăng trả lời:
"Nơi đây là Đài Trung!"
Đường Tam Tạng lại nói:
"Vì đồ nhi thích nơi này, vậy thì con hãy ở lại mà sống ở đây đi!"
Tôn Ngộ Không nói:
"Con muốn đi theo sư phụ đến Thiên Trúc thỉnh kinh, con sẽ không ở lại đây đâu."
Đường Tăng nói:
"Đồ nhi! Con không biết rằng, sống tại Đài Trung sẽ càng nhanh tới được Tây phương Cực Lạc thế giới sao." [Ý nói Đài Trung không khí bị ô nhiễm nên không gian mịt mờ]
Ha!

🌟

Điều tôi muốn nói với mọi người là:
Mỗi lần trở về Đài Loan, tôi đều ở tại nhà mình ở Đài Trung, quận phía Tây. Mỗi ngày, vào sáng sớm, tôi sẽ hướng về núi Đại Đô, nhưng hoàn toàn chẳng thể nhìn thấy núi Đại Đô được nữa. Bị mây mù che mất rồi.
Tôi nhìn về phía sông Hà, sông Hà cũng chỉ là mây mù.
Tôi nhìn về phía những tòa nhà cao tầng, những tòa nhà đều lấp ló mờ mịt, rất hiếm khi nhìn rõ. Nơi đây chẳng phải tiên cảnh. Mà là mây mù, không khí ô nhiễm, PM 2.5, PM 10, và những loại khí thải khác. Đương nhiên không chỉ có Đài Trung mà tất cả miền Trung đều như vậy. Trong nhà tôi lắp đặt bốn bộ máy lọc không khí, chạy suốt 24 giờ. Trên người chúng tôi còn đeo thêm máy lọc sạch không khí nữa. Có hiệu quả gì không? Rất khó nói.

Nghe nói:
Bệnh ung thư phổi gia tăng 20%.
Mỗi năm tăng thêm cả vạn người chết.
Tình hình ô nhiễm không khí càng ngày càng nghiêm trọng, đây là việc đã ba, bốn năm nay rồi. Tôi không có được tình cảm tốt như Tôn Ngộ Không.
Từ năm 2019 đến 2020, tôi không trở về Đài Loan, đây là một trong những nguyên nhân chính.

Tôi không phải chuyên gia về nguồn năng lượng.
Cũng không phải là chuyên gia về ô nhiễm không khí.
Tôi chỉ là một người dân thường nhỏ bé, mong mỏi một bầu không khí trong sạch mà thôi, chỉ là một niềm hy vọng nhỏ bé. (Tôi vì những người sống tại miền Trung mà xin cứu mạng.)

Ở nước Mỹ, tôi sống tại Seattle, Seattle có bốn mùa rõ rệt, sông núi non xanh, chất lượng không khí là số một. Seattle là một thành phố không có ống khói, không khí cực kì trong lành, sáng sủa, rực rỡ và trong vắt. Như người ta nói ở đây phát điện nhờ thủy lực.
Núi Rainier tuyệt đẹp.
Hồ Sammamish tuyệt đẹp.
Những hàng cây xanh mướt.
Đây là một thành phố vô cùng an bình.
Nơi đây vĩnh viễn chẳng có vấn đề về ô nhiễm không khí, hoan nghênh mọi người đến đây dạo quanh, đến làm khách tại Lôi Tạng Tự của chúng tôi.


### 13. Tinh tấn


Một mẩu chuyện cười:
Thầy giáo nói:
"Các em, nhà thơ mà các em yêu thích nhất là ai?"
Học trò đáp:
"Khuất Nguyên."
"Vì sao?"
Học trò đáp:
"Bởi vì Khuất Nguyên là người có lương tâm nhất, các nhà thơ khác sau khi chết đi chỉ để lại một đống thơ bắt chúng ta phải học thuộc. Khuất Nguyên chết đi thì lại cho chúng ta có một ngày nghỉ, đó là Tết Đoan Ngọ."
Ha!
"Con người vốn lười."

🌟

Còn nữa:
Một anh chàng nói:
"Kì thực, cách nghĩ của tôi rất đơn giản, chỉ cần lấy được một phụ nữ giàu có mắc căn bệnh không chữa được."
"Mày bị điên à?"
Anh chàng nói:
"Tôi chẳng điên, tôi chỉ muốn nhàn nhã sống hết đời này thôi!"
Ha!
"Ngay cả kiếm tiền cũng lười."

🌟

Còn nữa:
Chí nguyện khi còn nhỏ là muốn làm Lý Thế Dân.
Sau khi lớn lên, vấp ngã không ít. Sau khi đã đi hết hai phần ba cuộc đời, cuối cùng mới giác ngộ ra:
"Hóa ra mình là thị dân!"
Ha!
"Không đủ tinh tấn."
[Ở đây có sự chơi chữ. Thế Dân và thị dân là hai từ đồng âm, trong khi Thế Dân là một ông vua thì thị dân chỉ là một người dân bình thường.]

🌟

Còn nữa:
Hà Mã đang tiêm morphine, bị Thỏ trông thấy. Thỏ nói:
"Đại ca Hà Mã! Sao anh lại làm cái việc hại người hại mình như vậy? Hãy cùng em chạy một cách vui vẻ đi!"
Hà Mã cải tà quy chính, cùng Thỏ chạy nhảy. Bọn chúng cứ chạy mãi, trông thấy Đà Điểu đang hít cần sa."
"Tỉ tỉ Đà Điểu! Sao chị lại làm cái việc hại người hại mình như vậy? Hãy cùng chúng em chạy một cách vui vẻ đi!"
Thế là bọn chúng lại cùng nhau chạy, rồi lại trông thấy Sư Tử đang hút thuốc. Thỏ vừa định mở mồm thì bị Sư Tử tung cho một chưởng bay ra xa. Hà Mã, Đà Điểu rất bối rối hỏi:
"Sao anh lại đánh Thỏ vốn đang vui vẻ khỏe mạnh như vậy?"
Sư Tử nói:
"Tên tiểu tử chết tiệt này, mỗi lần nó uống thuốc lắc là lại lôi cả đám chúng ta chạy vòng vòng như điên vậy!"
Ha!
(Đây là một hội say sưa nghiện ngập, cũng là một chữ lười.)

🌟

Cá nhân tôi cho rằng:
Lười! Không tốt!
Phật pháp dạy chúng ta cần tinh tấn, tôi dạy mọi người mỗi ngày đều cần bốn lần ngồi tu pháp, ba lần ngồi tu pháp, tối thiểu cũng là một lần ngồi tu pháp.
Tôi nói:
Một ngày không tu, một ngày là ma.
Cá nhân tôi:
Mỗi ngày viết sách, đã hoàn thành 277 cuốn sách.
Mỗi ngày vẽ một bức tranh, đã hoàn thành 5 nghìn bức tranh.
Mỗi ngày tu pháp, đã chứng minh Phật đạo.
Thuyết pháp giảng kinh vô số, độ chúng sinh không chút lười biếng.
Mỗi ngày tôi đều làm như vậy, từ trước tới nay chưa từng ngơi nghỉ, bởi vì tôi biết đời người ngắn ngủi. Tôi muốn hoàn thành các việc nhỏ của mỗi ngày, đây là trách nhiệm.
Chỉ vậy mà thôi!


### 14. Cười lớn ba tiếng ha ha ha


Chuyện thứ nhất:
Trong đời, thứ đầu tiên ta cần là kính viễn vọng, chủ yếu là để nhìn xa. Sau đó là kính hiển vi, chủ yếu là để nhìn những thứ li ti. Tiếp đến nên là kính phóng đại, chủ yếu là để nhìn cho rõ. Cuối cùng là kính biến dạng, chủ yếu là để cười xòa một cái.
Tôi nói:
Sự thực cũng đúng là như vậy, thôi kệ đi!
Ha ha ha!

🌟

Chuyện thứ hai:
Vào một đêm khuya. Con gái khóc lóc gọi điện thoại cho mẹ:
"Mẹ! Anh ấy đến giờ vẫn chưa về nhà, nhất định là có người phụ nữ khác rồi!"
Bà mẹ nhẹ nhàng từ tốn an ủi:
"Con gái ngốc, chắc không phải đâu, sau này gặp phải chuyện gì, đừng có lúc nào cũng nghĩ đến điều xấu, có thể là tai nạn xe thì sao?"
Ha ha ha!
Chuyện này cũng là không còn lựa chọn nào khác, chồng không về nhà thì còn có thể như thế nào đây?
Thôi kệ đi!

🌟

Chuyện thứ ba:
Ở một trường tiểu học. Cô học trò nhỏ hỏi thầy:
"Bà con 80 tuổi, có thể có bầu được không?"
Thầy giáo đáp:
"Không thể."
"Thế chị của con 18 tuổi thì sao?"
Thầy giáo đáp:
"Có thể."
"Thế còn con 8 tuổi thì sao?"
Thầy giáo đáp:
"Không thể."
Một cậu bé ở bên cạnh nói:
"Đấy đấy! Tớ nói không sao là không sao mà lại!"
Ha ha ha!
Có bầu! Xin chúc mừng!
Không có bầu! Xin chúc mừng!
Đời người không có gì là quá nghiêm trọng cả! Tất cả đều là sự an bài đẹp đẽ cả rồi.

🌟

Chuyện thứ tư:
Có một người bạn, mỗi lần giặt quần áo, anh ta đều lớn tiếng gào lên rằng:
"Nhất định cần lấy một người vợ để giúp tôi giặt quần áo."
Không lâu sau, cuối cùng anh cũng kết hôn. Lại còn sinh con. Có một lần đến nhà thăm anh, phát hiện ra anh vẫn đang giặt quần áo. Quần áo của anh, quần áo của vợ anh, quần áo của con anh.
Ha! Ha! Ha!
Người tính không bằng trời tính, bây giờ anh ta không gào lên nữa, mà còn cảm thấy rất hạnh phúc đó!

🌟

Tôi muốn nói với mọi người rằng:
Tất cả mọi thứ trên đời, bao gồm vợ, tiền bạc, con cái, bổng lộc, chúng ta chỉ có thể tạm thời hưởng thụ, không thể có mãi được. Vậy thì hà tất phải nhất định chiếm hữu vĩnh viễn. Hãy nhớ, không có thứ nào là không thay đổi để mà bạn có thể sở hữu mãi mãi.

Tôi năm nay 76 tuổi, từ trước đến nay không mua thứ gì cả, chỉ có đem đồ đi tặng cho người khác. Cho dù tôi không tặng thì cũng là của người ta. Tôi chỉ là cảm ơn những người đã giúp đỡ tôi trong cuộc đời này.

Đối với cuộc đời của tôi, tôi cười lớn ba tiếng ha ha ha.
Không còn mong cầu nữa!
Không còn lo lắng nữa!
Không còn ân oán nữa!
Tất cả của tất cả, cười xòa một cái.


### 15. Tôi thích chuyện cười về bác sĩ


Có người hỏi bác sĩ:
"Sao ông lại chọn khoa da liễu làm chuyên môn nghề nghiệp của mình?"
Bác sĩ đáp:
"Bởi vì bệnh nhân của tôi sẽ không đánh thức tôi dậy lúc nửa đêm."
Còn nữa:
"Bệnh nhân của tôi sẽ không chết vì mắc bệnh da liễu."
Còn nữa:
"Dường như rất ít người có thể chữa khỏi hoàn toàn bệnh da liễu."
Ha ha ha!

🌟

Có một người bà đưa một cô cháu gái rất xinh đẹp đến gặp một bác sĩ Đông y. Bác sĩ nói:
"Cần phải cởi hết quần áo, kiểm tra toàn thân."
Người bà nói:
"Không phải cháu tôi có bệnh, mà là tôi có bệnh."
Bác sĩ nói:
"Thế thì bà thè lưỡi ra để khám là được rồi!"
Ha ha ha!

🌟

Bác sĩ nói:
"Hôm nay xem ra anh đã khá hơn lần trước nhiều rồi, hoàn toàn khỏi rồi."
Bệnh nhân nói:
"Đúng vậy, cảm ơn bác sĩ."
Bác sĩ nói:
"Thuốc tôi đưa cho anh là mới nhất đấy."
Bệnh nhân nói:
"Bởi vì bình thuốc rất khó mở, tôi vặn trái kéo phải đến toát cả mồ hôi mà vẫn không mở được. Bởi vì toàn thân toát mồ hôi nên bệnh tự nhiên khỏi luôn!"
Bác sĩ:
"..."
Ha ha ha!

🌟

Có một bệnh nhân lần đầu tiên đi khám bác sĩ. Bác sĩ hỏi:
"Trước khi đến đây khám anh có đi thỉnh giáo qua người nào không?"
Bệnh nhân đáp:
"Tôi đã đi thỉnh giáo ông chủ tiệm thuốc ở góc phố kia!"
Bác sĩ hỏi:
"Cái lão ngu ngốc đó, đúng là người mù dắt người mù, thế lão ta đã cho anh được cao kiến gì đấy?"
Bệnh nhân đáp:
"Ông ta chỉ bảo tôi hãy đến gặp ông."
Ha ha ha!

🌟

Bản thân tôi đã trải qua một sự việc khiến tôi có chút ngộ cảnh. Tôi hỏi bác sĩ:
"Bệnh của tôi có thể khỏi được không?"
Bác sĩ đáp:
"Có thể."
Tôi lại hỏi:
"Hoàn toàn có thể bình phục. Nhưng có thể tái phát không?"
Bác sĩ đáp:
"Có thể."
Tôi nói:
"Thế tôi tìm ông chữa bệnh để làm cái gì?"
Bác sĩ hỏi lại tôi:
"Ngài bị cúm thì có thể khỏi không?"
Tôi đáp:
"Có thể."
Bác sĩ lại hỏi:
"Có thể mắc cúm nữa không?"
Tôi đáp:
"Có thể."
Bác sĩ nói:
"Vậy ngài có chữa bệnh cúm không?"

🌟

Các thánh đệ tử thân mến, chúng ta đều là bệnh nhân, còn Phật Thích Ca Mâu Ni là Đại Y Vương, không từ bỏ chúng sinh, liên tục chữa bệnh cho chúng ta.


### 16. Nếu tôi mất trí


Tôi thường hay kể chuyện cười về mất trí, hàm ý trong đó rất sâu sắc, đáng để mọi người ngẫm nghĩ kĩ.
Có hai chuyện có nhiều ấn tượng với tôi:
Chuyện thứ nhất:
Có một cặp vợ chồng đang ở trên lầu xem ti vi. Bà vợ nói với ông chồng:
"Ông xuống tầng dưới, vào bếp lấy cho tôi một cốc kem, bỏ thêm hai quả dâu tây vào."
Ông chồng bảo được, thế rồi nhấc mình đi, tới đầu cầu thang nghe thấy bà vợ nói:
"Ông có cần ghi lại không?"
Ông chồng nói:
"Buồn cười, chuyện đơn giản thế này còn cần phải ghi lại sao?"
Ông chồng đi xuống tầng dưới. Một lúc sau, ông chồng bưng lên một bát mì tỏa hơi nghi ngút. Bà vợ tức điên, nói:
"Bảo ông cho thêm hai quả trứng, ông lại quên mất rồi!"
Ha ha ha!

🌟

Chuyện thứ hai:
Một ông già lái xe đưa cô bạn gái trẻ trung lanh lợi đến một *motel *(nhà trọ). Sau khi chọn xong một căn phòng rất phong cách và sang trọng, ông già đi tới đi lui, đột nhiên mất trí. Ông hoàn toàn quên mất ông đến chỗ này để làm gì. Trong đầu ông hoàn toàn trống rỗng, như người mất hồn. Thế là, ông già lại đưa bạn gái rời khỏi *motel*. Đi được nửa đường thì ông đột ngột nhớ ra. Ông già kêu lên:
"Trời ạ! Thế là phí mất một lần!"
Ha ha ha!

🌟

Tôi từng hay nghĩ đến một vấn đề: "Nếu như tôi mất trí", tôi làm sao để đối diện với điều này?
Về sau, tôi thoải mái hơn, bởi vì căn bản là tôi không cần phải đối diện với nó.
Có thể sống thì sống.
Không thể sống thì chết.
Chỉ thế mà thôi!

Tôi đối diện với các đệ tử, nhưng tôi cũng không nhận thức được về một người nào cả, bởi vì ký ức của tôi đã hoàn toàn mất sạch. (Trí nhớ hoàn toàn gột rửa sạch sẽ rồi.)
Ha ha! Bình đẳng tính trí.

Nói không chừng, Phật pháp mà tôi học tập cả đời vô số điều trân quý, tôi đều đánh mất sạch cả rồi.
Ha ha! Khác gì hư không.

Tôi sẽ không viết văn nữa, một chữ rất đơn giản cũng không nhớ ra phải viết thế nào.
Ha ha! Vô tự thiên thư.

Tôi sẽ không vẽ tranh nữa, bởi vì tất cả sông núi chim hoa đều trả về núi sông đại địa rồi.
Ha ha! Một tờ giấy trắng.

Việc tu hành hoàn toàn dừng lại! Tất cả nghi quỹ đều không thể nhớ nổi nữa! Tôi sẽ không tu pháp nữa.
Ha ha! Yoga vô tu.

Tôi sẽ không còn nhận ra Sư Mẫu Liên Hương Thượng Sư.
Ngay cả "minh phi" cũng không nhận ra.
Bản thân tôi soi gương, nhưng đối diện với người trong gương lại nói: "Rốt cục ông là ai?"
Ha ha! Tất cả đều không. (Đại viên mãn)

Không có ân nhân, không có oán thù, không có thị phi, không có đúng sai, không có cái gọi là nhị nguyên, không có nhất nguyên, tôi tiến nhập vào Đại Không.
Ha ha! Đây có phải niết bàn không?
Kì thực, vấn đề căn bản không còn là vấn đề, cuộc đời căn bản không phải là cuộc đời, cái gì cũng không phải, chẳng phải thế sao?


### 17. Tình yêu duy nhất?


Một cặp vợ chồng sống cùng nhau rất thắm thiết.
Cô vợ muốn làm phẫu thuật thẩm mỹ, thế là cô bèn đi đến một đất nước xa xôi tập trung vào việc chỉnh hình. Anh chồng vẫn sống bình thường.

Sau một thời gian, cô vợ đã hoàn tất việc thẩm mỹ chỉnh hình, trở nên xinh đẹp như một người khác hẳn. Vì muốn làm cho chồng ngạc nhiên, khi trở về nước, cô vợ không nói cho chồng biết. Cô gõ cửa nhà. Người mở cửa chính là chồng của cô.

Anh chồng nhìn vợ hồi lâu, nhưng vẫn không nhận ra, bởi vì người phụ nữ ở trước mặt quá xinh đẹp. Cô vợ cất lời:
"Anh không nhận ra em sao?"
Anh chồng nói:
"À! Vừa hay vợ anh không có nhà, em hãy mau vào đây!"
Ha ha ha! Thật là tức cười!

🌟

Có một anh chàng muốn tự sát. Anh đứng trên nóc của một tòa nhà cao tầng định nhảy xuống. Cảnh sát khuyên nhủ anh:
"Vì sao anh muốn tự sát?"
Anh chàng nói:
"Hai năm trước, vợ tôi đi theo người bạn thân của tôi, cô ấy đã bỏ tôi rồi."
Cảnh sát nói:
"Thế thì từ hai năm trước anh đã phải tự sát rồi chứ, vì sao cần đợi đến tận hai năm sau?"
Anh chàng đáp:
"Là vì thế này. Tôi mới nhận được điện thoại từ người bạn của tôi, anh ta nói, anh ta muốn trả lại vợ cho tôi."
Cảnh sát:
"..."
Ha ha ha! Đúng là nằm ngoài dự liệu của con người!

🌟

Có một đôi vợ chồng già cùng ngồi uống rượu trò chuyện ở khu vườn phía sau nhà. Bà vợ đột nhiên cúi đầu nói:
"Thật sự tôi rất yêu ông, tôi không thể sống thiếu ông được, ông thật ấm áp, ông thật nhiệt tình, ngày nào tôi cũng nhớ ông, tôi yêu ông muốn chết mất. Tôi đời đời kiếp kiếp không thể sống thiếu ông được."

Ông chồng nghe xong vô cùng cảm động. Thế là, những giọt nước mắt nóng hổi cứ đua nhau tuôn rơi, lấp la lấp lánh. Ông chồng từ trước đến nay chưa từng nghe những lời bộc bạch chân tình đến vậy. Vô cùng xúc động.

Bà vợ ngẩng đầu lên, nhìn thấy những giọt nước mắt của chồng, nói:
"Ô lạ nhỉ! Tôi đang nói chuyện với rượu, thế mà ông đã khóc rồi, vì sao thế?"
Ha ha ha!

🌟

Có người nói:
Những câu chuyện tình yêu làm người ta cảm động đều là bi kịch. Ví dụ như Lương Sơn Bá và Chúc Anh Đài, Romeo và Juliet… Những cuộc tình viên mãn thì chẳng cảm động lòng người như vậy, hoàng tử và công chúa sống hạnh phúc vui vẻ bên nhau mãi mãi. Đây chính là kết cục.

Có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Quan niệm của ngài về tình yêu như thế nào?"
Tôi đáp:
"Kính trọng nhau như khách
Kính trọng nhau như lính
Kính trọng nhau như băng."
Người hỏi:
"Thế ngài là dạng nào?"
Tôi đáp:
"Tôi là dạng khác."


### 18. Tu sửa hành vi của bản thân


Trong một tăng đoàn tu hành, chúng ta thường gặp một tình huống.
Một tì kheo nói với tôi:
"Tôi không ở lại được nữa!"
Tôi hỏi:
"Vì sao?"
Anh ta nói:
"Có người bắt nạt tôi, còn những gì tôi nói thì lại không được tiếp nhận. Tất cả mọi sự việc đều cho thấy tôi không thích hợp ở lại đây, tôi muốn đến một nơi khác tu hành."

Tôi biết cá tính của tì kheo này, do vậy tôi kể một câu chuyện cho anh ta nghe. Tôi nói:
Có một con quạ đen đang bay, đến nửa đường thì gặp một con chim bồ câu đang trở về nhà. Chim bồ câu hỏi:
"Anh bay đi đâu đấy?"
Quạ đáp:
"Kì thực tôi chẳng muốn rời xa cái cây này đâu, tôi không muốn đi. Nhưng mọi người đều nói tiếng kêu của tôi khó nghe!"
Chim bồ câu nói:
"Anh có thể thay đổi tiếng kêu của mình không?"
Quạ đáp:
"Không thể!"
Chim bồ câu nói:
"Thế thì đừng uổng phí sức lực nữa, nếu không tu sửa tiếng kêu của mình thì đến cái cây nào anh cũng không được hoan nghênh đâu."

Tôi khuyên anh ta:
Trong cái khác biệt, tìm cái tương đồng.
Hãy tu sửa những lỗi lầm và khuyết điểm của bản thân!
Cần học:
Tùy thuận.
Tùy duyên.
Tùy hỷ.
Có như vậy mọi thứ mới trở nên tốt đẹp hơn!
(Có rất nhiều người chạy qua bên này, chạy qua bên kia, chạy đi khắp nơi. Cuối cùng, chẳng có một nơi nào thích hợp với họ cả. Họ không biết rằng, chính mình phải tu sửa chính mình cho đúng mới là quan trọng nhất.)

🌟

Có một câu chuyện mà tôi thường cảnh tỉnh nhắc nhở bản thân.
Có một thiền sư trông thấy một con bọ cạp bị rơi xuống nước. Thiền sư có tấm lòng từ bi, quyết tâm cứu nó. Vừa đưa tay ra, ngón tay của thiền sư đã bị nó cắn cho một cái!

Thiền sư không sợ, lại đưa tay ra cứu nó, lại bị nó thô bạo cắn một lần nữa. Máu từ ngón tay thiền sư túa ra. Người bên cạnh trông thấy nói:
"Bởi sẽ luôn bị nó cắn, hà tất phải cứu nó?"
Thiền sư đáp:
"Cắn là thiên tính của bọ cạp, còn từ bi là thiên tính của thiền sư tôi."
Thiền sư nói thêm:
"Tôi không thể vì thiên tính của nó mà vứt bỏ đi thiên tính của mình."

Câu chuyện này! Khiến tôi rất cảm động!
Muốn trở thành một vị Bồ Tát, cần phải có được tinh thần như vị thiền sư này.

🌟

Tôi cảm thấy:
Tu hành chính là chuyển hóa. Từ phàm phu chuyển hóa thành Phật Bồ Tát.
Nếu không biết chuyển hóa thì không thể gọi là tu hành.
Chúng ta cần có tâm từ bi, tâm từ bi này chính là chìa khóa mở cánh cửa Bồ Tát.


### 19. Giới luật về rượu


Ông bố giáo huấn Tiểu Minh không được uống rượu, bởi vì uống rượu say sẽ làm hỏng việc lớn. Tiểu Minh hỏi:
"Thế nào gọi là uống rượu say?"
Ông bố nói:
"Con nhìn xem, bây giờ trên trời đúng lúc có một mặt trăng. Nếu con nhìn thấy có hai mặt trăng thì tức là đã say rồi đó!"
Tiểu Minh nói:
"Nhưng bố à! Tối nay trên trời làm gì có trăng!"
Bố:
"..."
Ha ha ha!

🌟

Trong một quán bar. A nói với B:
"Ấy! Sao anh lại đến uống rượu nữa rồi? Chẳng phải bác sĩ đã cảnh cáo anh tuyệt đối không được uống rượu sao?"
B nói:
"Đúng thế."
A nói:
"Bác sĩ đã cảnh cáo không được uống, thế mà vẫn uống à?"
B nói:
"Cái ông bác sĩ đã cảnh cáo tôi đó, cách đây không lâu vì uống rượu nên đã chết rồi!"
Ha ha ha!

🌟

Bà vợ rất căm ghét mỗi khi ông chồng say xỉn. Một hôm, bà đọc được trên báo một mẩu tin tức, nội dung tin tức là thế này: "Một thanh nhiên uống rượu trên thuyền, uống đến mức say mèm, vì đi không vững, loạng choạng liêu xiêu, đã rơi xuống biển chết đuối."
Bà vợ nói cho chồng biết, ông chồng cầm lấy tờ báo đọc rồi nói:
"Lúc nó uống rượu thì nó có chết đâu! Không phải bị chết đuối trong rượu, mà là chết đuối trong nước biển, việc này sao có thể trách rượu được!"

🌟

A nói với B:
"Muộn thế này rồi mà anh vẫn còn ngồi ở quán bar uống rượu sao?"
B đáp:
"Bởi vì vợ tôi cứ hay cãi nhau với tôi."
A hỏi:
"Sao vợ anh lại hay cãi nhau với anh?"
B đáp:
"Chính là bởi vì tôi uống rượu tới tận nửa đêm mới về nhà."
Ha ha ha!

🌟

Tôi nói:
Giới luật của Phật giáo, trong ngũ giới có giới không uống rượu. Tứ chúng học Phật đều không nên uống rượu. Tứ chúng là nói đến tì kheo, tì kheo ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ.

Còn tôi tương đối coi trọng việc: "Không được say rượu!"
Bởi vì say rượu sẽ trở nên loạn tính, lộ ra cả trăm biểu hiện xấu xa, sẽ xảy ra những việc ngoài ý muốn, rượu gây ra nhiều sai lầm, không thể đếm hết. Nhưng nhấp thử vài ngụm thì tôi cũng không muốn trách cứ! Thế nhưng, có mấy người có thể chỉ nhấp thử vài ngụm?


### 20. Lời nói con trẻ


Ông bố muốn ly hôn để lấy vợ mới, nhưng lại sợ sẽ làm tổn thương đứa con gái ba tuổi. Thế là ông nói dối con gái rằng:
"Mẹ con già rồi, không còn xinh đẹp nữa. Bố đổi cho con một người mẹ khác vừa trẻ trung vừa xinh đẹp được không?"
Cô con gái ngẫm nghĩ rồi nói:
"Con không cần! Mẹ của bố già như vậy, sao bố không đổi một mẹ khác trẻ hơn?"
Ha ha ha!

🌟

Trong giáo đường, đúng vào lúc đang cử hành nghi thức kết hôn.
Bên ngoài giáo đường có hai đứa trẻ tinh nghịch đang cảm thấy cực kì chán. A nói với B:
"Có trò gì hay không?"
B nói:
"Tao có một cách có thể tạo nên một sự náo động!"
A hỏi:
"Cách gì?"
B nói:
"Tao muốn trêu cô dâu mới một phát."
A hỏi:
"Trêu thế nào?"
B đáp:
"Chạy thật nhanh tới trước mặt cô dâu, gọi thật to một tiếng mẹ ơi."
Kết quả:
Cả giáo đường được một phen náo loạn.
Ha ha ha!

🌟

Giờ học môn sinh vật, thầy giáo hỏi Tiểu Minh:
"Con ếch và con cóc khác nhau ở điểm nào?"
Tiểu Minh đáp:
"Da của con ếch thì bình thường, còn da con cóc thì bị dị ứng."
Ha ha ha!
Cũng đúng.

Phụ họa thêm một mẩu chuyện cười:
Hai con ếch kết hôn với nhau. Không lâu sau chúng sinh ra một con cóc. Con ếch đực giận dữ:
"Có chuyện gì thế này?"
Con ếch cái cúi đầu nói:
"Xin anh bớt giận, trước khi kết hôn, em đã từng đi phẫu thuật thẩm mỹ, xin lỗi anh!"
Ha ha ha!

🌟

Mẹ nói với Tiểu Minh:
"Con xem phòng con có khác gì cái chuồng lợn không, còn không mau dọn dẹp sạch sẽ đi!"
Tiểu Minh đáp:
"Mẹ đã từng thấy lợn biết tự dọn dẹp phòng mình chưa? Chuồng lợn đương nhiên là do người nuôi nó dọn dẹp chứ."
Ha ha ha!

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) rất thích trẻ con. Những lời nói của chúng rất đáng yêu. Đôi mắt của trẻ con thì cứ chớp chớp. Tôi thích nắm tay trẻ con dắt đến Lôi Tạng Tự lạy Phật. Ví dụ: Bình Nhi, Viên Viên, Phương Phương, Y Đình, Lý Kỳ, Hạnh Ân, Xuân Lan, Phúc Âm... Chúng đều rất đáng yêu.
(Khi chúng rời Seattle.) Hạnh Ân nói với tôi:
"Sư Tôn! Ông có pháp lực, ông hãy làm máy bay dừng bay đi!"
Xuân Lan thì nước mắt đầm đìa. Chúng đối với tôi vô cùng chân thành, tôi cũng tràn đầy tình yêu vô cùng đối với chúng.


### 21. Nam và nữ


Đã sắp đến giờ phút chuyển giao sang năm mới. Tại bàn ăn, một anh chàng nói:
"Có tiền, hay không có tiền, thì cũng lấy một cô vợ để đón năm mới!"
Một cô gái béo tốt ngồi bên cạnh anh ta nói:
"Vậy tôi gả cho anh nhé!"
Anh chàng quay đầu, nhìn cô từ trên xuống dưới, rồi lại nhìn từ dưới lên trên, nhìn khắp một lượt từ đầu đến chân. Anh chàng nói:
"Năm nay không đón năm mới nữa!"
Ha ha ha!

🌟

Trong một bữa tiệc. Có một chàng trai trẻ tỏ ra rất rụt rè, vì ngồi bên cạnh anh ta là một cô gái rất xinh đẹp. Chàng trai vắt nát óc mong nghĩ ra vài câu nói ca ngợi cô, nhưng lại không thốt nên lời, lời muốn nói ra cứ bị tắc lại. Thế là cô gái hỏi:
"Sao anh lại ăn ít thế à?"
Chàng trai trẻ buột mồm:
"Ngồi bên cạnh em, bất kì chàng trai nào cũng đều sẽ không còn cảm giác muốn ăn."
Ha ha ha!

🌟

Kèm thêm một câu chuyện có thật.
Tôi tham gia một bữa tiệc. Địa điểm là ở một nhà hàng ẩm thực Nhật ở thị trấn Thảo Đồn, cùng đi ăn có mấy người như nghị viên và ủy viên lập pháp.

Tôi vào trước. Sau đó ủy viên lập pháp Hứa Thục Hoa đến, cô định ngồi xuống bên cạnh tôi. Tôi nói:
"Cô đừng ngồi bên cạnh tôi!"
Thế là cô đi tới một chỗ ngồi khác tại bàn tròn. Tôi nói:
"Bởi vì cô xinh đẹp quá, tôi sẽ không ăn nổi cơm mất!"
Hứa Thục Hoa tủm tỉm cười.

🌟

Có một chàng trai nghèo lái một chiếc xe thể thao lượn trên đường. Một vài người bạn chặn anh ta lại hỏi:
"Sao mày có được chiếc xe thể thao này vậy?"
Chàng trai nghèo kể:
Một hôm, có một cô gái trẻ xinh đẹp lái chiếc xe thể thao này dừng lại hỏi tôi có muốn lên xe không. Thế là tôi lên xe. Cô gái lái xe đến một khu rừng sâu trên núi rồi dừng xe lại. Chúng tôi đều xuống xe. Cô ta nói:
"Hôn tôi đi."
Tôi liền hôn cô ta.
Đó thật sự là một cô gái vô cùng xinh đẹp. Sau đó cô ta cởi quần áo, cô nói:
"Anh muốn gì, tôi đều có thể cho anh!"
Tôi nghĩ, quần áo của cô ta, đồ lót của cô ta, tôi cũng chẳng mặc được. Thế là tôi liền dứt khoát lấy xe của cô ta đi!

🌟

Tôi nhận thấy thế này:
Thời đại Phật Đà, Phật Đà dự đoán chính pháp sẽ tồn tại 1000 năm. Nhưng sau đó đã bị ít đi 500 năm, chỉ còn lại một nửa. Có người nói, nguyên nhân là do Phật Đà cho phép phụ nữ xuất gia.

Ban đầu, Phật Đà chỉ cho phép đàn ông xuất gia, không cho phép phụ nữ xuất gia. Nhưng Đại Ái Đạo [tức Kiều Đàm Di, là vị nữ đầu tiên xuất gia hành Thánh đạo] đã dẫn dắt 500 cung nữ đến xin xuất gia. (Bà là di mẫu kiêm dưỡng mẫu của Phật Đà.) Lại có A Nan tôn giả cũng nói giúp mấy lời. Sau đó mới có phụ nữ xuất gia.

Phụ nữ xuất gia có thể hại chính pháp chỉ còn tồn tại 500 năm sao?
Đáp án của tôi là: Có thể.


### 22. Tâm thần bệnh hoạn


Tôi phát hiện ra rằng, con người hoặc ít hoặc nhiều đều có triệu chứng bệnh trên phương diện tâm thần. Có người thì vẫn ở trong phạm vi bình thường, có người thì đã vượt qua mức độ bình thường. Có người có thể khống chế, có người thì đã mất luôn sự kiểm soát.

Tôi không dám nói toàn bộ nhân loại đều tâm thần bệnh hoạn. Nhưng bạn không cảm thấy sao? Tâm thần bệnh hoạn ở ngay xung quanh chúng ta.

Tôi quan sát những người lãnh đạo quốc gia trên thế giới:
Có người lãnh đạo nước lớn, nói chuyện khẩu khí điên cuồng, giống như tâm thần bệnh hoạn vậy. Ngay cả người lãnh đạo đất nước khác nhỏ hơn thì người nào người nấy khẩu khí cũng chẳng thua kém gì. Chúng ta thử nghĩ xem, thế giới này biến đổi rồi, biến thành "kẻ điên lãnh đạo".

Tôi thấy:
Khi con người ta nổi cơn tức giận thì trông họ cực kì giống tâm thần bệnh hoạn!
Khi con người ta say rượu, căn bản chính là tâm thần bệnh hoạn!
Khi con người ta lên cơn nghiện, thì cũng chính là tâm thần bệnh hoạn!
Khi con người ta yêu đến mê muội đầu óc, thì những hành động của họ chính là tâm thần bệnh hoạn!
Yêu như điên!
Bạo lực như điên!
Tức giận như điên!
Lộ liễu như điên!
Tôn sùng tôn giáo như điên!
Tranh giành danh vị như điên!
Ăn uống như điên!
Bình luận phát ngôn như điên!
Vọng tưởng như điên!
...
Rất khó phân chia giới định giữa mức độ bình thường hay không bình thường của bệnh tâm thần.
Cần duy trì tinh thần ổn định.
Cần trí huệ.
Cần thiền định.
Cần lạnh và tĩnh lại.

🌟

Tôi biết mấy câu chuyện cười về bệnh tâm thần.
Chuyện thứ nhất:
Trong một bệnh viện tâm thần. Viện trưởng muốn kiểm tra xem có người nào đã bình thường chưa. Ông vẽ trên tường một cái cửa. Sau đó nói:
"Ai đi qua được cánh cửa trượt này là có thể về nhà!"
Thế là, rất nhiều bệnh nhân tâm thần đều xông đến cánh cửa trượt này, mọi người tìm cách kéo tới kéo lui. Chỉ có một người thờ ơ, đứng một bên cười nhạt, chẳng hề hành động gì. Viện trưởng cho rằng: người này chắc là bình thường rồi!
Viện trưởng hỏi:
"Sao anh không đi mở cửa?"
Anh ta đáp:
"Chìa khóa đang nằm trong tay tôi đây mà."
Ha ha ha!

🌟

Chuyện thứ hai:
Cũng lại là ở một bệnh viện tâm thần. Đột nhiên, trời đổ mưa như trút nước! Rất nhiều bệnh nhân tâm thần đều lao ra ngoài quảng trường tắm mưa.
Ha! Đi tắm thôi!
Mọi người chơi vô cùng sung sướng.
Viện trưởng trông thấy một bệnh nhân tâm thần lạnh lùng đứng nhìn cả đám bạn bè đang tắm mưa, chẳng hề hành động gì. Viện trưởng cho rằng người này chắc là sắp bình thường rồi.
Viện trưởng hỏi:
"Sao anh không đi tắm đi?"
Anh ta đáp:
"Tôi đang đợi nước nóng!"
Ha ha ha!

Hai câu chuyện này nội dung khác nhau nhưng có cùng sự khéo léo, đều rất nực cười.
Còn bạn thấy sao?


### 23. Hai kiểu nhân cách


Trong một bệnh viện tâm thần, có một bệnh nhân tự gọi mình là tổng thống Tưởng. Anh ta tự xưng mình là tổng thống Tưởng - vị cứu tinh dân tộc . Bởi vậy anh ta bị nhốt lại.
Sau đó không lâu, lại có một người nữa tự xưng là tổng thống Tưởng. Đến giờ thì có hai tổng thống Tưởng rồi. Thế là viện trưởng quyết định nhốt hai tổng thống Tưởng này ở cùng nhau.

Một thời gian sau, hai tổng thống Tưởng này sống cùng nhau bình an vô sự, không hề có tiếng cãi vã.
Viện trưởng thấy rất kỳ lạ, cho rằng đã có dấu hiệu chuyển biến tốt. Viện trưởng cho gọi hai người đến hỏi. Một người vẫn tự xưng mình là tổng thống Tưởng. Viện trưởng hỏi người kia:
"Thế còn anh?"
Người kia liền nói:
"Tôi đã không còn là tổng thống Tưởng nữa rồi! Tôi là Tưởng phu nhân!"
Tưởng phu nhân kia còn thể hiện thái độ ngượng ngập xấu hổ.
Ha ha ha!
Tục ngữ nói:
"Một núi không thể có hai hổ, trừ phi là một con đực một con cái."

🌟

Chuyện kể rằng: 
Có một tổng thống đến thăm một bệnh viện tâm thần. Viện trưởng nói với tất cả các bệnh nhân, khi tổng thống đến thì tất cả bệnh nhân phải nhiệt liệt vỗ tay và nói to: "Chào tổng thống!"
Viện trưởng nhắc lại ba lần.

Tổng thống quả nhiên đã đến. Các bệnh nhân vỗ tay cật lực, cật lực hét lớn. Nhưng trong số đó có một người tỏ thái độ lạnh nhạt! Không hét lớn, cũng không vỗ tay, cứ lạnh lùng nhìn tổng thống đi qua. Tổng thống chú ý đến anh ta liền hỏi viện trưởng:
"Người này bị làm sao vậy?"
Viện trưởng đáp:
"Báo cáo tổng thống! Người này tâm thần đã có đôi chút ổn định, sắp bình thường rồi!"
Ha ha ha!

🌟

Tại một bệnh viện tâm thần. Viện trưởng hỏi một bệnh nhân:
"Ai phong cho anh làm Giáo Hoàng đấy?"
Bệnh nhân đáp:
"Thượng Đế phong."
Vừa hay có một bệnh nhân tâm thần khác đi qua, anh ta hét lên rằng:
"Tao đâu có phong cho mày!"
Ha ha ha!

🌟

Theo như Lư Sư Tôn biết: 
Bệnh tâm thần có hiện tượng tự cao tự đại, mỗi người đều có lai lịch rất khủng. Có người thì là:
Thái Thượng Lão Quân.
Phật Thích Ca Mâu Ni.
Diêu Trì Kim Mẫu.
Ngọc Hoàng Thượng Đế.
Còn có rất nhiều người là Ma Tổ.

Có người kể với tôi, có một ngôi chùa rất nổi tiếng, một tầng ở chùa này nhốt toàn những người bị bệnh tâm thần, người này "khủng" hơn người kia.
Nhìn lại những người tu hành thời nay, có người tự xưng là Phật A Đạt Nhĩ Mã chuyển thế. Có người tự xưng là Đại Nhật Như Lai chuyển thế. Có người tự xưng là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chuyển thế. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chuyển thế, coi như là "*casting*" chọn diễn viên vậy.


### 24. Cha xứ


Ở một ngôi làng nọ có một giáo đường Thiên Chúa, trong giáo đường có một vị cha xứ. Trong làng hễ có người phạm lỗi là liền tìm đến cha xứ để xưng tội. Cha xứ phát hiện ra rất nhiều phụ nữ đến xưng tội đều phạm tội "cướp tình". Bởi vì nhiều quá nên cha xứ liền nói: "Cướp tình" sau này sẽ chuyển thành gọi là "lăn quay". (Chỉ cần nói "lăn quay" là cha xứ sẽ hiểu ngay là chuyện gì.)

Đến một ngày nọ, cha xứ này được điều chuyển đến một nơi khác. Một vị cha xứ mới sẽ được cử đến. Cha xứ bị điều đi dặn dò trưởng làng rằng, bằng mọi cách phải đem chuyện đổi "cướp tình" thành gọi là "lăn quay" nói cho cha xứ mới đến biết. Khi cha xứ mới đến nhận chức, trưởng làng lại quên mất không dặn lại.

Không lâu sau. Cha xứ nói:
"Trưởng làng! Xin hãy nghĩ cách làm lại đường trong làng cho bằng phẳng, bởi vì quá nhiều người bị ngã lăn quay!"
Trưởng làng nghe xong che miệng cười lớn! Cha xứ nghiêm túc nói:
"Cười cái gì! Ông có biết là vợ của ông tuần này đã bị ngã tới ba lần chưa?"
Trưởng làng nghe xong, mặt mày xanh mét.
Ha ha ha!

🌟

Có ba vị cha xứ đến Hawaii chơi. Họ cởi bộ quần áo thầy tu ra, thay sang bộ quần áo của người bình thường, mặc quần bò, rồi đi ra bãi biển.

Một cô gái trẻ mặc bikini vẫy tay với ba vị cha xứ gọi:
"Này! Ba vị cha xứ, xin chào!"
Ba vị cha xứ rất lúng túng. Họ trở về khách sạn, đổi thành mặc quần soóc, mặc đồ đi biển, mặc áo khoác kiểu Hawaii, rồi họ lại đi ra bãi biển chơi.

Cô gái mặc bikini ban nãy lại đi đến trước mặt ba vị cha xứ.
"Này! Ba vị cha xứ, xin chào!"
Cha xứ kinh ngạc:
"Chúng tôi đã thay đổi trang phục rồi, sao cô vẫn nhận ra chúng tôi là cha xứ?"
Cô gái nói:
"Các cha không nhận ra tôi sao, tôi là sơ Lucy đây mà!"
Ha ha ha!

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) muốn nói với mọi người rằng:
Dục! Là đại họa của người tu đạo.
Mỗi người nam nữ đều có cái "dục" này tác oai tác quái, do vậy mới gọi là chúng sinh hữu tình. Rất nhiều người tu hành, ví dụ như người xuất gia và cha xứ, đều là những người theo chủ nghĩa cấm dục. Tôi gọi cấm dục là chặn.
Có người so sánh rằng, lấy một tảng đá lớn đè lên ngọn cỏ xanh, nhưng một khi nhấc tảng đá ra thì chỉ cần gió xuân thổi qua, cỏ xanh lại mọc lên. Có thể nhịn được dục không?

Tôi nói:
Tôi dùng đạo pháp khai thông. Chúng ta không thể cấm dục, mà là chuyển hóa dục thành tu pháp. Dục chuyển hóa thành Phật pháp chính là đạo pháp khai thông.
Mật giáo có:
Quán tưởng.
Trì chú.
Nhập Tam ma địa.
Khác với chủ nghĩa cấm dục, mà là tùy duyên chuyển hóa. Đạo pháp khai thông rất ảo diệu. Tôi có viết một cuốn sách tiêu đề "Đôi lời căn dặn" [văn tập số 274]. Nếu bạn mua về đọc sẽ biết ngay sự vi diệu của chuyển hóa!


### 25. Mâu và thuẫn


Có một người đi đến tiệm mì gọi một bát mì bò để ăn. Mì đưa lên, nhưng dùng đũa đảo đi đảo lại cũng chẳng thể tìm thấy một miếng thịt bò nào, cho dù chỉ một miếng cũng không. Khách hàng tức giận hỏi ông chủ:
"Mì thịt bò sao lại không có miếng thịt bò nào thế?"
Ông chủ thẳng thừng nói:
"Ông ăn bánh trung thu, bên trong có mặt trăng không?"
[Người Trung Quốc gọi bánh trung thu là bánh mặt trăng.]
"Ông ăn bánh mặt trời, bên trong có mặt trời không?"
[Bánh mặt trời là tên gọi một loại bánh nướng nổi tiếng có nguồn gốc từ thành phố Đài Trung, Đài Loan.]
"Ông ăn bánh bà vợ, có thể ăn thấy bà vợ nào không?"
[Bánh bà vợ còn có tên gọi là bánh tình nhân, bánh hôn nhân, là loại bánh nướng truyền thống của người Quảng Đông.]
Khách hàng:
"..."
Ha ha ha!

🌟

Có người gọi một bát mì mực để ăn. Mì đưa lên, bên trong bát mì cũng chẳng có một miếng mực nào. Khách hàng hỏi:
"Mì mực sao lại chẳng có miếng mực nào? Trên tấm biển rõ ràng viết là mì mực cơ mà?"
Bà chủ tiệm nói:
"Tên của tôi chính là Hoa Chi!"
Ha ha!
[Ở đây có sự chơi chữ. Trong tiếng Trung, Hoa Chi vừa có thể là dùng làm tên gọi với ý nghĩa là người phụ nữ đẹp, vừa có nghĩa là nhành hoa, nhưng khi dùng trong thực đơn món ăn thì lại có nghĩa là món mực.]

🌟

Chuyện kể rằng:
Trước đây, nếu có người đi ra nước ngoài làm nghề mại dâm mà bị bắt được thì hộ chiếu của người đó sẽ phải bị đóng thêm hai chữ "cuồng dâm". Đây là một giao dịch với mục đích chặn đứng hành vi này.

Có một người đi làm nghề mại dâm, thế rồi bị bắt. Quả nhiên hộ chiếu bị đóng thêm hai chữ "cuồng dâm". Người này rất phiền não, liền nghĩ cách để thoát rắc rối, nên yêu cầu thay đổi để không bị mất mặt.
Thế rồi, hộ chiếu của người này cũng được thu hồi lại để sửa. Trên hộ chiếu quả nhiên đã được sửa lại. Đơn vị xử lý đã thêm vào hai chữ nữa ở phía trước từ "cuồng dâm" thành: "Không phải cuồng dâm."
Ha ha ha!

🌟

Trương Tam gọi điện đến tòa soạn báo, tức giận hét ầm lên:
"Tôi vẫn chưa chết, sao các người lại công bố thông tin về cái chết của tôi?"
Tòa soạn báo đáp:
"Tư liệu có nhầm lẫn rồi."
Trương Tam nói:
"Hãy mau mau cải chính lại đi!"
Tòa soạn báo nói:
"Tờ báo của chúng tôi lấy uy tín và danh dự làm trọng, không thể sửa được, không thể tự mâu thuẫn với chính mình được."
Trương Tam nói:
"Tóm lại là phải nghĩ ra cách đi!"
Tòa soạn báo nói:
"À có rồi! Thế thì đăng tin là ông đã hồi sinh rồi!"
Ha ha ha!

🌟

Lư Sư Tôn tôi nói, trên thế giới này, những sự việc mâu thuẫn thì chỉ cần cúi xuống nhặt là có ngay. Mâu thuẫn kì thực cũng là một hiện tượng tự nhiên.
Chủ tịch của Đạo Đức Xã thì bị cảnh sát bắt ngay tại nhà chứa của chính mình.
Cảnh sát bắt trộm, thì tên trộm không ngờ cũng chính là cảnh sát.
Đại hội đường nhân dân thì những người ngồi trong đó lại chẳng phải là nhân dân.

Lư Sư Tôn tôi nói cho mọi người biết:
Hãy nhìn cho thấu.
Hãy buông bỏ.
Hãy tự tại.
Cho dù bạn không buông bỏ được thì vẫn cần buông bỏ, nếu không sẽ có một ngày bạn cũng đành buông bỏ thôi!
Ha!


### 26. Trọng điểm nằm ở câu cuối cùng


Chồng gọi điện thoại cho vợ:
"Vợ à! Hôm nay anh mời một đồng nghiệp đến nhà ăn cơm được không?"
Vợ trả lời:
"Không được đâu! Hôm nay trong nhà loạn lắm, các phòng chưa dọn dẹp, báo tạp chí vứt lung tung, hoa trong bình đã héo còn chưa thay, quần áo giặt còn chưa thu vào, con bị ốm khóc loạn cả lên, em cũng bị cúm rồi, còn chưa mua đồ gì để nấu bữa tối cả."
Chồng nói:
"Không sao đâu vợ ơi! Người đồng nghiệp này của anh muốn kết hôn, anh ta đang muốn lấy vợ, anh ta muốn xem xem cuộc sống gia đình là như thế nào!"
Ha ha ha!

🌟

Hai người bạn đang uống rượu trong quán bar. Một người hỏi:
"Ông Vương! Tôi thấy hôm nay hình như ông cứ buồn buồn không vui?"
Ông Vương đáp:
"Ông Lý! Tôi và vợ tôi đã cãi nhau một trận kịch liệt. Vợ tôi trong lúc tức giận đã uy hiếp tôi rằng cô ấy sẽ không thèm nói chuyện với tôi trong nửa năm."
Ông Lý nói:
"Nửa năm không nói chuyện, không nói thì không nói chứ sao, như thế chẳng phải càng hay sao?"
Ông Vương nói:
"Vấn đề chính là ở đây. Nửa năm đã trôi qua, hôm nay là ngày cuối cùng rồi."
Ha ha ha!

🌟

Phụ họa thêm một câu chuyện có thật.
Tôi (Lư Sư Tôn) thường giúp người ta làm chứng hạnh phúc cho những người mới kết hôn.
Tôi hỏi chú rể:
"Cô dâu có hay nói không?"
Chú rể đáp:
"Toàn là cô dâu nói cả."
Tôi thở dài một hơi:
"Sau này rồi anh sẽ phải chịu thôi!"
Tôi lại hỏi một chú rể khác:
"Cô dâu có hay nói không?"
Chú rể đáp:
"Cô dâu không thích nói."
Tôi nói:
"Đúng là động vật hiếm có."
Ha ha ha!

🌟

Để rút ngắn khoảng cách và tiện lợi giao thông, nước Anh và nước Pháp đã quyết định xây dựng một đường hầm dưới đáy biển nối liền Anh và Pháp. Thế là mỗi nước đều cử đến một kiến trúc sư để quyết định tiến hành xây đường hầm ra sao cho cả đôi bên đều thuận lợi.
Kiến trúc sư người Anh nói:
"Việc này rất đơn giản. Các anh đào từ phía nước Pháp sang, chúng tôi đào từ phía nước Anh tới, đến khi gặp nhau ở giữa thì công trình cũng đã hoàn thành xong."
Kiến trúc sư người Pháp nói:
"Nếu như không gặp nhau ở chính giữa gì sao?"
Kiến trúc sư người Pháp đáp:
"Thế thì lại càng tốt, chúng ta thành ra có hai đường hầm."
Ha ha ha!

Lư Sư Tôn nói:
Thời đại học, tôi học ngành kỹ sư trắc lượng, tôi là sinh viên khoa trắc lượng khóa 32, thuộc khóa 28 của Học viện Khoa học Công nghệ Trung Chính. Xây đường hầm cần chú ý đến phương vị và cao độ, việc đo đạc cần rất chuẩn. Nếu không sẽ trở thành: đi lệch nhau, hoặc thành cầu thang cao thấp.


### 27. Chuyện cười chính trị


Có một người đi đến quảng trường cao giọng hét lớn:
"Cái chính phủ này đã thối nát rồi!"
Thế là ngay lập tức bị cảnh sát đưa đi thẩm vấn.
Người đó giải thích:
"Tôi đâu có nói chính phủ nào thối nát đâu."
Cảnh sát nói:
"Tôi đã làm việc ở đây bao nhiêu năm rồi, anh cho rằng tôi không biết chính phủ nào thối nát sao."
Ha ha ha!

🌟

Trên máy bay không quân số một (chuyên cơ của tổng thống). Tổng thống nói với nhân viên hậu cần:
"Bây giờ tôi từ đây ném ra 10 tờ tiền mệnh giá 1.000 đô, để cho 10 người nhặt, nhất định họ sẽ rất vui."
Nhân viên hậu cần nói:
"Chi bằng ném ra 100 tờ thì sẽ có 100 người nhặt được, sẽ làm cho 100 người được vui."
Có người nói:
"1.000 tờ."
Có người nói:
"10.000 tờ."
Có một tiếng nói rất nhỏ vọng ra:
"Nếu như ném tổng thống ra ngoài thì nhân dân cả nước đều vỗ tay hoan hô đó!"
Ha ha ha!

🌟

Tết té nước năm đó.
Xe của tổng thống đi qua. Nhân viên hậu cần hỏi:
"Để gần gũi với người dân hơn, tổng thống nên xuống xe cùng với người dân chơi té nước một chút."
Tổng thống nghe xong cảm thấy rất có lý. Thế là tổng thống liền xuống xe. Nhưng chưa được ba phút thì tổng thống đã vội vội vàng vàng nhảy vào trong xe của mình. Nhân viên hậu cần nói:
"Sao ngài không chơi lâu thêm một chút?"
Tổng thống đáp:
"Bọn họ cùng nước sôi để té tôi!"
Ha ha ha!

🌟

Tổng thống nói với thư ký riêng:
"Ngày 15 tháng Giêng, tôi muốn có một cuộc hội kiến phỏng vấn với một đài truyền hình quốc gia, hãy chuẩn bị cho tôi."
Thư ký đáp:
"Hôm nay đã là ngày 20 tháng Giêng rồi, đó đã là việc của 5 ngày trước rồi."
Tổng thống nói:
"Không được rồi! Thế là tôi cho người ta leo cây rồi!"
Thư ký nói:
"Ngài đã tham gia buổi phỏng vấn đó rồi!"
Ha ha ha!

🌟

Tôi nói:
Ngày nay làm tổng thống chẳng dễ dàng, phải đối mặt với rất nhiều vấn đề. Phải tạo phúc cho nhân dân. Phải ngoại giao, nội chính, kinh tế, quốc phòng...

Chuyện kể rằng:
Có một bà lão tham quan phủ tổng thống, trong lúc đi cầu thang đã bị ngã. Vừa hay tổng thống nhìn thấy liền đỡ bà đứng dậy. Quý bà nói:
"Tôi phải làm sao để cảm ơn ngài đây?"
Tổng thống nói:
"Lần bầu cử tới bà bầu cho tôi một phiếu là được rồi!"
Bà lão nói:
"Đầu gối tôi đã hỏng rồi, nhưng não tôi thì vẫn chưa hỏng đâu!"


### 28. Sự lợi hại của châm biếm


Vợ nói:
"Hôm nay em ra ngoài, 100% những người em gặp đều già hơn em, xấu hơn em, chẳng ai xinh hơn em cả."
Chồng nói:
"Có đúng là như thế không?"
Vợ nói:
"Đúng thế!"
Chồng nói:
"Thế thì chắc chắn là em đi đến viện dưỡng lão rồi."
Ha ha ha!

🌟

Nam danh ca bước lên sân khấu liền phát hiện ra ở phía dưới sân khấu chẳng có một người nào cả, chỉ có một người phụ nữ trung niên trốn trong một góc tối. Nam danh ca giả vờ tỏ ra điềm tĩnh:
"Hôm nay tôi sẽ chỉ hát vì quý cô đây!"
Người phụ nữ trung niên kia rất cảm động. Bà nói:
"Thế thì anh hát nhanh lên một chút, bởi vì tôi là công nhân quét dọn hội trường này, tôi cần phải dọn dẹp chỗ này cho sạch."
Ha ha ha!

🌟

Thầy giáo hỏi Tiểu Minh:
"Tiểu Minh! Con có tin rằng linh hồn có thể hiển hiện không?"
Tiểu Minh đáp:
"Có ạ."
Thầy giáo nói:
"Thế thì đúng rồi! Hôm qua con xin nghỉ học để đi đám tang bà nội, sau khi con đi về thì bà nội con đến trường để thăm con đó!"
Ha ha ha!

🌟

Ông Vương là một tên cờ bạc khét tiếng. Hàng xóm hỏi vợ ông Vương:
"Tối qua thắng thua thế nào?"
Vợ ông Vương đáp:
"Ông ta lái chiếc xe một vạn đồng đi đánh bạc, sau đó đi chiếc xe mười vạn đồng về nhà."
Hàng xóm thốt lên:
"Thắng rồi!"
Bà Vương lạnh lùng trả lời:
"Khi đi, ông ta lái xe của mình, khi về ông ta ngồi xe buýt công cộng."
Ha ha ha!

🌟

Có một bác sĩ ngoại khoa đang chuẩn bị làm phẫu thuật cho bệnh nhân. Bệnh nhân kia nhìn mặt bác sĩ rất chăm chú. Đột nhiên bệnh nhân trở nên vô cùng sợ hãi, lăn xuống khỏi bàn phẫu thuật, hét lớn:
"Đổi bác sĩ khác ngay! Đổi bác sĩ khác ngay! Mau đổi bác sĩ khác đi!"
Mọi người không hiểu có chuyện gì. Bệnh nhân nói:
"Văn bằng của anh ta là do tôi cấp đó!"
Ha ha ha!

🌟

Cá nhân tôi luôn cảm thấy, trên đời này có rất nhiều, rất rất nhiều sự việc trùng hợp, gọi là "trùng hợp một cách kỳ lạ".
Tôi không cố ý đi tìm những chuyện cười này. Mà là khoảng thời gian này, có một đệ tử thường kể chuyện cười cho tôi nghe. Tôi chỉ là chẳng mất công gì mà dễ dàng biết được, rồi gom chúng lại thôi!


### 29. Đời người như mộng


Buổi sáng ngủ dậy, thấy sắc mặt của vợ rất khó coi. Cô vừa thở dốc, lại còn toát mồ hôi. Anh chồng hỏi:
"Em sao thế?"
Cô vợ đáp:
"Đêm qua em ngủ mơ thấy anh và một cô gái rất quyến rũ đang thân mật dưới gốc cây liễu ở trong sân vườn."
Chồng hỏi:
"Chà! Thế sao em lại thở dốc không ngừng và toàn thân ướt đẫm mồ hôi thế kia?"
Vợ đáp:
"Vừa nãy em đã chặt đổ cái cây dương liễu rồi!"
Ha ha ha!

🌟

Sáng sớm ngủ dậy, chồng nước mắt đầm đìa, thổn thức không ngừng. Vợ hỏi:
"Anh sao thế?"
Chồng đáp:
"Hôm qua anh mơ thấy anh đã kết hôn rồi."
Vợ hỏi:
"Kết hôn là chuyện vui, sao anh lại khóc lóc đầy đau khổ thế?
Chồng đáp:
"Ai dà! Khi anh kéo tấm khăn che mặt cô dâu lên thì thấy hóa ra vẫn là em!"
Vợ:
"..."
Ha ha ha!

🌟

Tôi có một câu chuyện có thật, thuật lại như sau:
Một buổi chiều tối, tôi nhìn thấy hai con chim hỷ thước ở trên mái nhà của Chân Phật Mật Uyển đang nhảy múa tưng tưng, rúc ra rúc rích. Hai con chim hỷ thước vô cùng vui vẻ, kêu lên những tiếng rất hay.

Nhìn cảnh tượng hai con chim hỷ thước vui vẻ như vậy, tôi nói: "A! Nhà ta có hỷ sự lâm môn rồi!"
Đồng môn hỏi:
"Hỷ sự gì?"
Tôi nói:
"Tôi phải kết hôn rồi!"
Đồng môn nghe xong cười lớn ha ha!
(Khi đó tôi đã 70 tuổi. Sư Mẫu Liên Hương Thượng Sư còn đứng ở bên cạnh, sao có thể kết hôn đây?)

Chiều tối ngày hôm sau, có một cô gái trẻ xinh đẹp, dáng người thon thả kéo theo hai chiếc vali to đến Chân Phật Mật Uyển. Cô nói:
"Diêu Trì Kim Mẫu trong mơ nói với tôi rằng buổi tối hôm nay tôi và Lư Sư Tôn kết hôn vào động phòng, do vậy tôi đặc biệt đến đây để kết hôn."
Sư Mẫu nghe xong thì đứng ngây ra! Cô gái lại nói:
"Diêu Trì Kim Mẫu nhập mộng, Sư Mẫu cũng đứng bên cạnh gật đầu đồng ý rồi!"

Tôi chết sững! Sư Mẫu cũng chết sững!
Lúc này, Thượng sư Liên Ninh cũng đang đứng đó, trong lúc nguy cấp đã nhanh trí nói:
"Đêm qua Diêu Trì Kim Mẫu nói với tôi, Lư Sư Tôn không thể kết hôn, đây mới là chỉ thị đúng."

Thế là, ở trước Chân Phật Mật Uyển, anh nói một câu, tôi nói một câu, mọi người tranh luận tới lui.
Kết quả là cô gái trẻ xinh đẹp kia kéo hai chiếc vali hành lý đi, mất hút vào trong màn đêm.

Giấc mơ của ai là thật?
Giấc mơ của ai là giả?
Tôi nói:
Hoa rơi trong mộng biết bao nhiêu.
Chà!


### 30. Tiểu Minh và thầy giáo


Tiểu Minh về nhà kể với bố:
"Thầy giáo khen bài văn của con có tiến bộ đấy!"
Bố hỏi:
"Thầy giáo nói sao?"
Tiểu Minh đáp:
"Lần trước, thầy giáo nói văn của con là "chó đánh rắm không nổi". Còn hôm nay, thầy giáo nói văn của con là "chó nó đánh rắm vào"."
Bố nói:
"Thế là khen ở chỗ nào?"
Tiểu Minh nói:
"Chẳng phải là đã đánh rắm được rồi đó sao!"
Ha ha ha!

🌟

Thầy giáo hỏi:
"Trên thế gian này, cái gì to nhất?"
Tiểu Minh đáp:
"Da mắt."
Thầy giáo hỏi:
"Vì sao?"
Tiểu Minh đáp:
"Chỉ cần nhắm mắt lại là cả thế giới đều bị che mất rồi!"
Ha ha ha!

🌟

Thầy giáo hỏi Tiểu Minh:
"Bài văn "tình huống khẩn cấp" của em, tại sao đến một dấu chấm dấu phẩy cũng không có?"
Tiểu Minh đáp:
"Bởi vì là tình huống khẩn cấp nên làm sao có thể dừng được để mà dùng dấu chấm dấu phẩy ạ?"
Thầy giáo:
"Ơ!..."
Ha ha ha!

🌟

Thầy giáo dạy mọi người viết văn, viết một bài văn tả thầy giáo.
Cần viết: "Thầy giáo có một khuôn mặt trái dưa."
Thế là, Tiểu Minh viết:
"Thầy giáo có một khuôn mặt chân chim!"
Chữ "trái dưa" và "chân chim" không giống nhau. Sai sót một chút đã khiến mặt thầy giáo biến sắc tức giận rồi!
Ha ha ha!
[Trong tiếng Trung, chữ "dưa 瓜" và "chân chim 爪" nhìn khá giống nhau]

🌟

Tiểu Minh thích một cô bạn cùng lớp. Thế là liền viết một mảnh giấy nói:
"Nếu bạn cũng thích tớ thì hãy viết lên mảnh giấy này một câu: "Tớ cũng thích bạn." Sau đó chuyển lại cho tớ. Nếu bạn không thích tớ, thì hãy mở cửa sổ ra và ném mảnh giấy này đi là xong!"

Mảnh giấy được chuyển đến tay cô bạn cùng lớp. Cô bạn cùng lớp viết lên mảnh giấy đó rồi chuyển trả lại. Trong lòng Tiểu Minh sướng như điên. Tiểu Minh mở giấy ra đọc, trên đó viết rằng:
"Cửa sổ đóng chặt quá, không mở được!"
Ha ha ha!

🌟

Có rất nhiều câu chuyện cười về Tiểu Minh và thầy giáo, chúng đều khiến tôi cười lớn ha ha ha. Câu chuyện mà tôi thấy buồn cười nhất là:
Năm học mới đã bắt đầu. Tiểu Minh quần áo xộc xệch đứng trước cửa lớp. Thầy giáo hỏi:
"Có chuyện gì đấy?"
Tiểu Minh trả lời:
"Em bị cướp!"
Thầy giáo hỏi:
"Bị cướp đồ gì?"
Tiểu Minh đáp:
"Bài tập kì nghỉ hè."
Ha ha ha!


### 31. Câu hỏi ngã xuống nước


Tôi có một đề nghị:
Nếu bạn có bạn gái, nếu không có gì hại thì hãy đưa cô ấy đi bơi ở hồ bơi, nếu biết bơi thì đương nhiên là tốt, nếu không biết bơi thì dạy cô ấy tập bơi, việc này có rất nhiều lợi ích.
Thứ nhất, bạn có thể nhìn thấy "mặt mộc" của cô ấy (gương mặt thật).
Thứ hai, bạn có thể nhìn thấy những đường cong của cô ấy. Ngực. Eo. Mông. Rất rõ ràng.
Thứ ba, kể từ hôm đó, cô ấy sẽ không còn hỏi bạn một câu hỏi rất ngu ngốc rằng: "Nếu em và mẹ anh cùng ngã xuống nước thì anh sẽ cứu ai trước?"
Ha ha ha!

🌟

Vợ hỏi:
"Nếu em với mẹ anh cùng ngã xuống nước, anh sẽ cứu ai trước?"
Chồng trả lời:
"Đương nhiên là cứu em trước rồi!"
Vợ hỏi:
"Đúng là chồng tốt, nhưng vì sao anh lại cứu em trước?"
Chồng đáp:
"Bởi vì mẹ anh từ bé đã biết bơi rồi!"
Ha ha ha!

🌟

Vợ hỏi:
"Nếu em với mẹ anh cùng ngã xuống nước, anh sẽ cứu ai trước?"
Chồng đáp:
"Mẹ anh từ nhỏ đến lớn sống ở cạnh sông, bơi rất giỏi, mẹ anh sẽ cứu em trước."
Vợ hỏi:
"Thế vì sao anh lại không nhảy xuống cứu em?"
Chồng đáp:
"Nếu như anh nhảy xuống thì coi như em xong rồi, anh không biết bơi, khẳng định mẹ anh sẽ cứu anh trước."
Ha ha ha!

🌟

Vợ hỏi:
"Nếu em với mẹ anh cùng ngã xuống nước, anh sẽ cứu ai trước?"
Chồng đáp:
"Anh có biết bơi đâu!"
Vợ hỏi:
"Giả sử anh biết bơi, anh sẽ cứu ai trước?"
Chồng đáp:
"Chẳng phải em biết bơi sao? Đương nhiên là anh sẽ cứu mẹ anh rồi."
Vợ hỏi:
"Giả sử em không biết bơi thì sao?"
Chồng đáp:
"Em không biết bơi, thế em đưa mẹ anh đến bên bờ nước làm cái gì?"
Vợ hỏi:
"Anh đúng là đồ đầu óc chậm chạp, những gì em nói toàn là giả sử cơ mà!"
Chồng đáp:
"Em toàn nói giả sử, thế sao toàn giả sử là mẹ anh, vì sao không giả sử là mẹ em?"
Vợ hỏi:
"Thế giả sử mẹ em và mẹ anh cùng ngã xuống nước, được chưa?"
Chồng đáp:
"Em rỗi hơi đem hai bà mẹ không biết bơi giả sử ngã xuống nước để làm gì? Em không thích mẹ anh thì thôi, mẹ em nuôi em lớn đến từng này, em nghĩ rằng dễ dàng lắm sao?"
Vợ tức điên.
Chồng tức điên.
Ha ha ha!

Tôi thấy rằng phụ nữ luôn luôn có một chút vấn đề, cứ hỏi mãi không thôi. Phương pháp của tôi là: "Chuồn là thượng sách!"


### 32. Những thứ bẩn


Trương Sinh và người bạn gái mà anh hâm mộ đến nhà hàng ăn cơm. Đột nhiên, bạn gái hét lên:
"Anh Trương! Anh Trương! Anh Trương!"
Thế rồi ngất xỉu luôn!
Trương Sinh rất cảm động ôm chầm lấy cô, nhưng bỗng nhiên ngoảnh đầu lại, anh nhìn thấy trong bát của cô bạn gái có một con gián chết.
Ha ha ha!

🌟

Tôi ở bên đường cái, trông thấy một đồng bạc 50 hào. Nhất thời cao hứng, tôi đưa tay ra để nhặt nó lên. Nhưng tôi thấy tay mình bị ướt. Nhìn kĩ lại: "Hóa ra là một bãi đờm, thật tức chết, không biết ai nhổ đờm mà lại nhổ đến mức tròn như vậy?"
Ha ha ha!

🌟

Người Đài Loan chúng tôi có một tập quán là khi gặp mặt luôn nói:
"Ăn no chưa?"
Có một lần. Tôi vừa mới đi toilet xong, khi bước ra ngoài, bạn tôi nói với tôi:
"Ăn no chưa?"
Tôi bực mình nói:
"Ăn no rồi! Đổi tới lượt ông đi ăn đó!"
Ha ha ha!

🌟

Nhặng mẹ nói với nhặng con, đúng vào lúc đang ăn cơm, nhặng con hỏi:
"Mẹ! Vì sao chúng ta đều phải ăn những thứ bẩn thỉu này?"
Nhặng mẹ liếc nhìn một bàn đầy món ăn ngon, nói một cách đầy trịnh trọng:
"Ăn cơm đừng nói những lời bẩn thỉu!"
Ha ha ha!

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) luôn cảm thấy rất kỳ lạ. Con người hiện đại đặc biệt có rất nhiều mẹo vặt.
Người Nhật Bản phát minh ra cách "uống nước tiểu chữa bệnh". Nghe nói, khi tiểu tiện, phần nước tiểu đầu và cuối không uống, lấy phần nước tiểu ở giữa để uống, có thể chữa được rất nhiều bệnh. Tự mình uống nước tiểu của chính mình.

Người Trung Quốc cũng có phương pháp uống nước tiểu của trẻ em, chủ yếu là nước tiểu của bé trai khỏe mạnh. Nước tiểu của trẻ em này còn có tên gọi riêng nữa, gọi là "hồi long thủy", có thể chữa bệnh.

Theo tôi được biết: có người phát hiện ra: "phân khỏe" do người đàn ông khỏe mạnh bài tiết ra có thể chữa được cho người bị bệnh dạ dày và đường ruột. Bởi vì nếu ăn "phân khỏe" này vào bụng thì người có dạ dày và đường ruột không tốt sẽ có được những vi khuẩn khỏe mạnh cho dạ dày và ruột của mình, do đó bệnh dạ dày và đường ruột sẽ từ từ khỏi. Nghe ra thì có vẻ đầy hợp lý.
Mật giáo có pháp cúng dường "ngũ nhục", "ngũ cam lộ", đáng tham khảo và nghiên cứu sâu.

Có một câu chuyện cười rằng:
Một bệnh nhân nói với bác sĩ:
"Tôi ăn dưa sẽ "đi" ra dưa, tôi ăn đậu sẽ "đi" ra đậu, tôi ăn thịt sẽ "đi" ra thịt, tóm lại là ăn cái gì sẽ "đi" ra cái đấy. Bác sĩ! Vậy tôi phải ăn thế nào?"
Bác sĩ nói:
"Thế thì ông ăn "đại tiện" đi vậy!"
Ha ha ha!


### 33. Năm Tý


Năm nay là năm Tý (2020). Câu chúc là:
"Đếm tiền đếm không xuể!"
"Vận may đếm không xuể!"
"Khỏe mạnh đếm không xuể!"
[Trong tiếng Trung, con chuột khá đồng âm với từ đếm.]

Điều này không ngăn được tôi nhớ lại hồi nhỏ, mẹ tôi thường nói với tôi những lời may mắn cho năm con chuột là: "Mẹ đếm đến ba!"
Ha ha ha!

🌟

Năm nay có dịch bệnh viêm phổi Vũ Hán hoành hành. Năm nay đón năm mới có điểm rất đặc sắc, đón một năm con chuột rất chuẩn mực. Mọi người đều trốn ở trong hang, chui trong tổ, vểnh hai tai lên, nhướn đôi mắt, yên lặng quan sát động tĩnh bên ngoài, chẳng có mấy ai đi lang thang ở ngoài cả.
Điều này cho thấy: chúng ta sẽ trải qua một năm con chuột với "gan bé như gan chuột".
Điều này cho thấy: chúng ta đeo khẩu trang, trải qua một năm con chuột "gian xảo như mắt chuột".

Chúc mọi người:
Thân thể khỏe mạnh như "chuột cống".
Thông minh lanh lợi như "chuột nhắt".
Hoạt bát đáng yêu như "chuột sóc".
Thu hoạch được nhiều như "chuột đồng".
Sự nghiệp bay lên như "chuột dơi".
Ngày ngày vui vẻ như "chuột sa chĩnh gạo".
Vạn sự như ý! Canh Tý an khang! Xuân mới hạnh phúc!

🌟

Loài dơi cũng là chuột sao? Loài dơi đã dùng hết sức lực của nó để sao cho không giống với cái loài gặm nhấm này, chúng dựa vào sức lực của mình để ngăn chặn virus từ mấy nghìn năm nay. Chúng cách xa cuộc sống loài người đông đúc, sống trong các hang động, ngày trốn đêm ra. Chúng nỗ lực để đóng giả như những yogi sống cô độc.
Hoàn toàn không ngờ rằng...
Vẫn bị những con người chán ngắt biến thành món ăn hoang dã. Những người muốn ăn thịt dơi không hiểu họ muốn được bổ cái gì?
Muốn buổi đêm đi toilet không cần phải bật đèn sao?
Tự dưng lại đi ăn thịt ta, để làm cái gì?

🌟

Năm Tý, tôi nhận được một tấm thiệp chúc mừng:
Đếm không xuể những vì sao.
Đếm không xuể những nhung nhớ.
Đếm không xuể những yêu thương.
Câu cuối cùng là:
"Yêu lắm cơ!"
Ha ha ha!
[Trong tất cả các câu chúc trên đều có chữ "chuột", dựa trên nguyên tắc dùng từ khá đồng âm để chơi chữ cho phù hợp với năm con chuột.]

🌟

Có một con chuột bị ngã từ trên vách núi đá xuống, mặt mũi sưng tím, nhưng nó vẫn rất cố gắng thử đi thử lại để bay. Dơi cái nói với dơi đực:
"Chúng ta có cần nói cho nó biết rằng nó không phải do chúng ta sinh ra không, mà chỉ là nhận nuôi nó thôi."
Ha ha ha!

🌟

Tôi muốn nói với mọi người rằng:
Năm 2020, Thần Tài ở phương Tây, do vậy dùng màu đỏ để làm bình tụ tài bảo. Năm 2020 là năm Tý, Tý ở phương Bắc, do vậy bình tụ tài bảo dùng vải màu đen để gói năm loại ngũ cốc.
Chuột thích ngũ cốc.
Phương Bắc thuộc về thủy, màu đen.
Đồ lót dùng màu đen thì sẽ phát đại tài.


### 34. Lợn


Có người chửi A:
"Mày là đồ con lợn!"
A đáp:
"Thế mới lạ đấy!"
Do vậy, anh ta bị đặt biệt hiệu là "lợn mới lạ", và từ đó anh ta luôn bị gọi như vậy!
A không thể chịu đựng được nữa, nhất định sẽ thanh minh anh ta không phải như vậy. Anh ta bước lên sân khấu nói:
"Hôm nay tôi muốn nghiêm túc thanh minh rằng: Tôi tuyệt đối không phải là lợn mới lạ đấy!"
Ha ha ha!

🌟

Ở một làng quê nọ, A lái một chiếc xe con vui vẻ lái khắp các đường nhỏ trong làng. Phía sau có một chiếc xe tải chạy tới, bám sát xe con, thế rồi tài xế kéo cửa sổ xuống, hét lớn lên với A:
"Lợn! Lợn! Lợn!"
A cho rằng người kia đang chửi anh ta, thế là cũng kéo cửa sổ xuống, chửi tới chửi tấp:
"Mày mới là lợn ấy!"
Còn chưa nói dứt lời thì "binh, binh, binh".
Hóa ra xe của A đâm trúng mấy con lợn quê đang đi qua đường.
Ha ha ha!

🌟

Đường Tam Tạng đi Tây Thiên lấy kinh. Một hôm, trong khi đang nghỉ ngơi, Đường Tăng cảm thấy rất buồn chán liền gọi Trư Bát Giới tới. Trư Bát Giới đến rồi, Đường Tăng bảo Bát Giới đi bộ tám bước về phía đông, đi bộ tám bước về phía tây, đi bộ tám bước về phía nam, đi bộ tám bước về phía bắc. Trư Bát Giới đi xong, Đường Tăng nói:
"Con đi được rồi!"
Trư Bát Giới hỏi:
"Sư phụ gọi con đến không biết là có chuyện gì vậy?"
Đường Tăng đáp:
"Bần tăng cả đời này chưa từng ăn thịt lợn, nhưng cũng muốn xem xem món “lợn đi bộ” nó thế nào!"
Ha ha ha!

[Đây là truyện cười chơi chữ, “lợn đi bộ” là một thương hiệu bánh mì rất ngon và rất nổi tiếng ở Gia Nghĩa – Đài Loan, không phải món thịt lợn nào.]

🌟

Cá nhân tôi cho rằng lợn có rất nhiều cống hiến cho loài người!
Thủ lợn có thể cúng thần.
Thịt lợn rất ngon.
Móng giò rất thơm.
Ăn gan lợn thì bổ gan.
Tai lợn thì rất giòn.
Bì lợn thì có nhiều collagen.
Lông lợn có thể làm bút.
Lợn...
Lợn còn có thể dùng để chửi người ta.
Ha ha ha!

Tôi cũng có một câu chuyện cười về lợn.
Một người nông dân ở trên núi có nuôi khá nhiều lợn cái. Một người nông dân ở dưới núi có một con lợn đực. Nông dân trên núi nói với nông dân dưới núi:
"Liệu có thể đưa con lợn đực của anh lên trên núi để giao phối không, sinh ra lợn con, tôi sẽ chia đều cho anh?"
Nông dân ở dưới núi đồng ý, mỗi ngày anh ta dùng xe đẩy để đẩy con lợn đực lên núi. Hết ngày cuối tuần, việc giao phối đã xong, không cần phải tiếp tục giao phối nữa.
Sáng sớm ngày thứ hai, người nông dân ở dưới núi mở cửa nhà ra thì thấy con lợn đực đã ngồi trên chiếc xe đẩy. Hơn nữa, con lợn đực này mặt còn lộ rõ sự vui sướng, chuẩn bị để được lên núi nữa!
Ha ha ha!


### 35. Phát âm tiếng Anh


Từ CHINA nên phát âm như thế nào, với mỗi người đều có cách phát âm khác nhau:
Người nghèo sẽ phát âm là --- Tiền đâu! [ chi-én nả ]
Bác sĩ sẽ phát âm là --- Dao đâu! [ chi-ê nả ]
Thương nhân sẽ phát âm là --- Lừa cái nào! [ chi na ]
Quan cao sẽ phát âm là --- Quyền đâu! [ chuy-én na ]
Người độc thân sẽ phát âm là --- Vợ đâu! [ chi nả ]
Đàn ông lăng nhăng sẽ phát âm là --- Bồ đâu! [ chi-ê nả ]
Người già sẽ phát âm là --- Người thân đâu! [ chin nả ]
Kẻ ăn mày sẽ phát âm là --- Đi đâu! [ chuy nả ]
Kẻ trộm sẽ phát âm là --- Trộm cái nào! [ tria nả ]
Kẻ cướp sẽ phát âm là --- Cướp cái nào! [ chi-eng nả ]
Kinh doanh bất động sản sẽ phát âm là --- Khóa nào! [ chu-en nả ]
Dân nghèo sẽ phát âm là --- Chuyển đi đâu! [ chien nả ]
Chính phủ sẽ phát âm là --- Dỡ bỏ chỗ nào! [ chai na ]

Rốt cuộc cách phát âm nào mới là chính xác, nghe nói cách nói của chính phủ là chính xác nhất.
Ha ha ha!

🌟

Gần đây tôi phát hiện ra một số người quan tâm đến phương pháp hay để học thuộc từ tiếng Anh. Tôi đặc biệt thuật lại như sau:

1. Quả chuối (banana): bởi bên trong quả chuối có màu trắng nên phát âm là pái-nải-nai. [Tiếng Trung có nghĩa là “bà nội trắng”.]

1. Quả dứa (pineapple): bởi bên ngoài quả dứa có nhiều gai nên phát âm là: pa-lảo-púa. [Tiếng Trung có nghĩa là “sợ vợ”.]

1. Đi ngủ (sleeping): bởi đi ngủ giống như chết bên trong cái bình, nên phát âm là xư-lỉ-píng. [Tiếng Trung có nghĩa là “chết trong bình”.]

1. Phi Thành (Philadelphia): đây là thành phố lớn ở Mỹ, phát âm rất khó nhớ, nên nói thành phây-li-ta-phây-ya [Tiếng Trung có nghĩa là “phí sức đánh vịt bay”.]

1. Thiên nga (swan): bởi vì điệu ba lê Hồ thiên nga, diễn viên múa đều phải mặc quần tất mỏng nên phát âm là sư-wa-thưa. [Tiếng Trung có nghĩa là “quần tất đặc biệt”.]

1. Nàng tiên cá (mermaid): bởi vì nàng tiên cá rất đẹp nên phát âm là mua-mây-thưa. [Tiếng Trung có nghĩa là “sờ người đẹp”.]

1. Kinh ngạc (amazing): nhìn thấy phong cảnh rất đẹp, phát âm là a-mây-chinh. [Tiếng Trung có nghĩa là “a cảnh đẹp”.]

Và nhiều từ khác nữa...
Nghe nói, có người tận dụng phương pháp ghi nhớ này, không ngờ đã nhớ được tới hai nghìn từ tiếng Anh.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) khi học cấp hai, cấp ba, đại học, tôi không thích nhất là môn tiếng Anh. Người ta hỏi tôi:
"Sao không học tiếng Anh cho giỏi một chút?"
Tôi đáp:
"Bởi tôi chẳng có khả năng sẽ di cư đến nước Mỹ, sao tôi phải lãng phí thời gian để học làm gì?"
Sau này không ngờ tôi lại di cư đến Mỹ, còn những bạn cũng lớp học rất giỏi môn tiếng Anh thì vẫn ở lại Đài Loan.
Ai chà! Tất cả đều là số! Con người chẳng thể làm chi.


### 36. Cũng là bơi


Có người hỏi giáo viên dạy bơi:
"Dạy con gái tập bơi thì dùng phương pháp nào là tốt nhất?"
Giáo viên nói:
"Đầu tiên dùng một tay đỡ lên má, tay kia thì giữ lấy eo, sau đó..."
Người kia nói:
"Đó là em gái tôi."
Giáo viên nói:
"Thế thì đơn giản quá, không cần suy nghĩ nhiều, lấy chân đạp cho một cái xuống nước là được rồi."
Ha ha ha!

🌟

Một người đi bơi nói với nhà sản xuất:
"Pháo cứu sinh của quý nhà máy sản xuất giúp tôi rất nhanh chóng biết bơi, thật là rất cảm ơn!"
Nhà sản xuất nói:
"Khen quá lời rồi!"
Nhà sản xuất cười tít mắt.
Người đi bơi nói:
"Không phải khiêm tốn, phao cứu sinh do quý xưởng sản xuất vừa bỏ xuống nước đã xì hơi, tôi chỉ còn cách bơi bạt mạng, kết quả là học được cách bơi."
Nhà sản xuất:
"..."
Ha ha ha!

🌟

Có một nhân viên cứu sinh đã cứu được một cô gái trẻ bị đuối nước. Thế là câu chuyện bắt đầu từ đó.
Hai người họ yêu nhau!
Hơn nữa còn đi đưa nhau vào lễ đường làm đám cưới.
Lại là một sự kết tinh của tình yêu.
Có người hỏi nhân viên cứu sinh:
"Câu chuyện rất cảm động, sau khi kết hôn xong hai người chắc chắn là hạnh phúc mỹ mãn nhỉ?"
Nhân viên cứu sinh buồn bã nói:
"Cô ấy thì nổi lên, nhưng tôi thì chìm xuống rồi!"
Ha ha ha!

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) nói:
Khi tôi học tiểu học (Tiểu học công lập Đại Đồng - Cao Hùng), trường học có hồ bơi, lần đầu tiên xuống nước là tôi đã biết bơi rồi.
Tôi rất thích bơi.
Bể bơi ở trường.
Bể bơi của thành phố.
Dòng sông tình yêu Ái Hà ở Cao Hùng và kênh Bảo Châu.
Vịnh Tây Tử ở Cao Hùng.
Tất cả đều có dấu chân tôi.
Thậm chí khi trời mưa to, có sấm chớp, tôi cũng xuống nước bơi.
Từ đó mà lớn lên thành người.
Tôi bơi ở biển Mexico.
Tôi đeo ống thở, giày chân ếch, thắt lưng chì, lặn xuống đáy biển sâu, nhìn ngắm những kỳ quan của đáy biển.
Có thể xem tôi là người có kỹ năng cao và to gan.

Nhưng có một lần, tôi không chịu tuân theo lời cảnh báo của vịnh biển: "Gió và sóng lớn, xin đừng xuống nước."
Tôi vẫn cứ xuống biển và bơi trong biển.
Khi muốn bơi về, tôi phát hiện ra đáy biển có những vùng nước xoáy, không bơi về bờ được, nước biển tìm cách để hút tôi vào chỗ sâu hơn. Đúng vào lúc tôi sắp sức tàn lực kiệt, rất nguy cấp, tôi phát hiện ra đáy biển có một đường dây cáp (dùng để neo tàu thuyền).
Thế là tôi nắm chặt lấy sợi dây, từng bước từng bước đi vào bờ. (Khi nước biển hút tôi vào, tôi nắm chặt dây cáp, khi nước biển không hút thì tôi tận lực bơi). Cuối cùng tôi cũng lên được bờ!
Suýt chút nữa là tôi đã chết đuối rồi!
Tôi lĩnh ngộ ra rằng:
"Người biết bơi cũng có khả năng chết đuối, hãy cẩn thận!"


### 37. Đến lúc đổi vận?


Có một người trung gian phân phối rau, hàng ngày đều phải lái xe đi giao rau cho các cửa hàng rau.
Một buổi sáng sớm khi lái xe đi giao hàng, nhất thời không cẩn thận, anh ta đã đâm phải một bà cụ già. Bà cụ già đã dùng mọi cách để kiện ra tòa và có được một món tiền bồi thường lớn.

Vài tuần sau, xe của người này lại đâm phải một quý ông. Quý ông này cũng kiện ra tòa và cũng lại nhận được một món tiền bồi thường lớn. Vụ tai nạn xe lần thứ hai gần như đã đẩy anh ta tới bờ vực của sự phá sản. Một ngày chủ nhật, người buôn rau đang ở nhà. Con của anh ta chạy về nhà hét lớn:
"Bố ơi! Không xong rồi! Không xong rồi! Mẹ bị một chiếc xe Bentley đâm chết rồi!"

Người buôn rau nước mắt đầm đìa. Anh ta vô cùng kích động gào lên:
"Ông trời có mắt, rốt cục đã đến lúc tôi đổi vận rồi!"
Ha ha ha!
Ai chà!

🌟

Câu chuyện cười trên không tính là một chuyện cười, ngược lại tôi lại cảm thấy có chút cảm thương.

Tôi (Lư Sư Tôn) có lời muốn nói rằng:
Tôi ở Seattle bang Washington nước Mỹ lái xe tổng cộng đã hơn 30 năm.
Người Mỹ vẫn được xem là khá tuân thủ luật, họ tuân thủ quy tắc giao thông và hài lòng với việc tuân thủ quy tắc.
Ở nơi không có đèn giao thông thì ai đến trước đi trước, họ cũng biết phép nhường.
Khi lái xe ít khi phải dùng đến còi, một năm lái xe gần như tôi chưa tới một lần dùng đến còi xe.
Hiện tượng vượt xe rất ít. Gặp người đi bộ hoặc đạp xe đạp, xe ô tô sẽ dừng lại, ưu tiên người đi bộ trước, rồi tới người đạp xe đạp.
Ở Washington không có nhiều xe máy, người ta rất ít khi lái xe máy như một phương tiện giao thông.
Đường xá rộng rãi, lộ tuyến phân minh. Xe rất dễ lái. Trên phương diện này, người Mỹ biểu hiện rất tốt.

Nhưng hễ tôi trở về Đài Loan thì tôi không dám lái xe nữa!
Đường xá ở Đài Loan nhỏ hẹp.
Người đi bộ.
Xe đạp.
Xe máy.
Xe ô tô.
Cùng nhau tranh đường, đặc biệt là xe máy đâm ngang xiên dọc, hàng xe dài như rắn.
(Tôi thường nói đùa là xe cộ như những con ong nhỏ, xe máy nhiều khiến tôi hoa hết cả mắt.)
Có người uống rượu vẫn lái xe. (Lái xe khi dùng chất kích thích.)
Có người không tuân thủ quy tắc giao thông.
Có người tâm thần (tinh thần hoảng loạn).
Có người vượt xe. (xe điên)
Có người vượt đèn đỏ.
Có người lái xe vượt quá tốc độ.
Hoàn toàn không biết đến phép nhường đường.
Giao thông hỗn loạn như vậy khiến tôi cảm thấy sợ hãi.
Tai nạn xe thường xuyên xảy ra, số người chết ngày càng tăng, mỗi ngày ra khỏi nhà đều thấy lo ngay ngáy.

Giao thông của Đài Loan còn có rất nhiều thứ cần cải thiện, tôi thực sự chẳng thể kể hết. Đặc biệt là tiếng còi xe, inh ỏi liên hồi. (Họ đã thành thói quen nhấn còi bừa phứa.)
Trời ạ! Tôi làm sao dám lái xe!


### 38. Điện thoại di động


[Đây là chuyện cười, “tôi” ở đây không phải là Lư Sư Tôn.]

Có một hôm.
Tôi phát hiện ra điện thoại di động của mình không thấy đâu nữa. Tôi bắt đầu tìm những chỗ mình để điện thoại, tôi tìm hết các ngóc ngách trong phòng, hết lượt này đến lượt khác.
Thật sự là mệt muốn chết!

Tôi mệt tới mức ngồi bệt xuống đất, rồi lấy điện thoại của mình từ trong trong túi áo ra, gửi tin nhắn cho vài người bạn rằng:
"Điện thoại của tôi mất rồi!"
Ha ha ha!

🌟

Tôi là một người có cuộc sống lộn xộn, không có lòng kiên trì, không có nghị lực, không có tính chịu đựng.
Ngủ dậy, lấy chân đạp chăn ra.
Quần áo chưa giặt.
Bát đũa chưa rửa.
Trong nhà chai lọ vứt ngổn ngang.
Bước đi trong nhà phải vòng qua mấy đống báo cũ.
Tôi là một người lười chảy thây.
Nhưng, duy nhất một việc tôi có nghị lực, đó là sạc điện thoại mỗi ngày!
Ha ha ha!

🌟

Con người hiện đại đều chết vì điện thoại.
Đâm trúng đường dây điện mà chết!
Rơi xuống hố mà chết!
Bị xe đâm trúng mà chết!
Đi theo hướng dẫn của điện thoại, rơi xuống hồ mà chết!
Khi sạc pin điện thoại bị điện giật chết!
Khi sạc pin, điện thoại bị cháy nổ mà chết!
...
Ông trời ơi!
Cổ nhân người ta chết vì tình, người hiện đại chết vì điện thoại!

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn), không có máy tính.
Không có máy tính bảng.
Không có điện thoại di động.
Tôi vẫn sống cuộc sống của "người nguyên thủy".
Việc này đương nhiên cũng có ích lợi:
Tôi sống một cuộc sống an bình không bị quấy nhiễu, không ai có thể ảnh hưởng đến tôi.
Bạn biết không?
Tôi đang được nếm trải "vẻ đẹp ngọt ngào của cô độc và an tịnh"!
Giống như ở chốn thiên đường.
Tâm cảnh này không có cách nào để mô tả được:
Không có lúc nào chìm đắm trong tình cảm thế tục.
Tôi đã vượt lên trên đám đông. (quần chúng)
Tôi đứng trên đỉnh núi.
Những gì tôi nhìn thấy là:
Bổn tôn trang nghiêm không gì sánh bằng.
Thượng sư của tôi.
Ánh sáng liên tục hiển hiện lấp la lấp lánh. (ánh sáng bát nhã.)
Những tinh linh bay tới bay lui.
Không Hành Mẫu (tiên nữ) tụ tập, vui đùa, nhảy múa, ca hát, bay lượn.
Các vị thần bảo vệ luôn đi theo bên cạnh phục vụ tôi, chẳng ai có thể làm gì được tôi.
Chẳng có ai biết được những điều ảo diệu mà tôi có được.
Trong khi,
Người ta dùng điện thoại để gửi tiền, rút tiền (vào ngân hàng).
Dùng điện thoại để mua đồ. (mua bán)
Dùng điện thoại để đi nước ngoài, về nước. (hộ chiếu)
Dùng điện thoại để làm thẻ tín dụng. (tín dụng)
Dùng điện thoại để làm tư liệu.
Dùng điện thoại để chứng minh thân phận ………………
Tôi phải làm sao?


### 39. Hai lòng


Có một bé trai sơ sinh, nhưng từ khi ra đời đã không mở miệng nói được tiếng nào.
Một thầy tướng mệnh được mời về để xem bói. Thầy tướng mệnh nói thẳng:
"Đứa bé này, nếu mở miệng ra gọi ai thì người đó sẽ chết!"
Một hôm, đứa bé gọi:
"Anh ơi!"
Người anh trai thật sự đã chết!
Đứa bé gọi:
"Chị ơi!"
Người chị gái cũng chết luôn!
Trong lòng mọi người đều sợ hãi, sợ đứa bé sẽ gọi mình. Đứa bé gọi:
"Bố ơi!"
Nhưng kỳ lạ là ông bố vẫn không chết, mà còn sống rất tốt.
Kết quả là:
Ông Vương hàng xóm lăn ra chết!
Ha ha ha!

🌟

Có ba người đàn ông đến trước mặt Thượng đế, ba người đàn ông này đều là linh hồn. Ba linh hồn này đều muốn lên thiên đường.
Thượng đế hỏi người đàn ông thứ nhất:
"Khi còn sống anh có trung thực với vợ không?"
Anh ta đáp:
"Mãi mãi trung thực!"
Thượng đế rất tán thưởng, ban cho anh ta một chiếc xe Mercedes-Benz để lái lên thiên đường.
Thượng đế hỏi người đàn ông thứ hai:
"Khi còn sống anh có trung thực với vợ không?"
Anh ta đáp:
"Tôi có hai lần "gặp gỡ" ở bên ngoài, nhưng chỉ có hai lần thôi."
Thượng đế cho người đàn ông thứ hai một chiếc xe máy để lái lên thiên đường.
Thượng đế lại hỏi người đàn ông thứ ba:
"Khi còn sống anh có trung thực với vợ không?"
Anh ta đáp:
"Xin lỗi! Xin hãy tha thứ, cuộc sống của tôi rất tùy tiện, tôi không nhớ được tổng cộng có bao nhiêu lần."
Thượng đế liền cho anh ta một chiếc xe đạp để đạp lên thiên đường.
Thế là họ đều đi cả. Hai người đàn ông đi phía sau nhìn thấy người đàn ông lái chiếc xe Mercedes-Benz dừng lại bên đường khóc. Hai người đàn ông này không hiểu gì, anh có xe Mercedes rồi, anh còn khóc cái gì nữa?
Người đàn ông này nói:
"Tôi đã trông thấy vợ tôi cũng đến đây rồi, cô ấy đi bộ lên thiên đường."
Ha ha ha!

🌟

Tại nhân gian hiện thực, những vấn đề "hai lòng" là những vấn đề vĩnh viễn không thể giải quyết được, đặc biệt là trong thời đại đạo đức lụi bại ngày nay.
Tôi (Lư Sư Tôn) đã thấy rất nhiều rồi, nhưng chỉ có thể để tất cả thuận tự nhiên thôi, tôi có thể nói gì?
Chỉ có Thánh nhân mới không như vậy thôi!
(Vấn đề là ai là Thánh nhân?)

Tôi có một chuyện cười như sau:
Một người đàn ông đi công tác ở một địa phương khác, rời khỏi nhà một lúc thì nhận ra là quên không cầm theo công văn, thế là lại phải quay trở lại nhà. Vì muốn để vợ ngạc nhiên và vui mừng, anh ta rón rén nhón chân vào nhà, lấy công văn đi. Nhìn thấy vợ ở trong bếp đang rửa bát đũa, anh ta lại gần khẽ vỗ vào mông vợ một cái. Vợ cũng không quay đầu lại, chỉ nói:
"Chồng em vừa mới đi khỏi nhà, anh vội vã như thế làm gì chứ?"
Ai chà! Làm sao đây?


### 40. Người anh em của SARS


Dịch viêm phổi Vũ Hán có vài cống hiến cho thế giới:

1. Những cuộc biểu tình thị uy ở Hồng Kông không địch lại được dịch viêm phổi Vũ Hán. Các cuộc biểu tình nhỏ đã trở nên ôn hòa.

2. Cuộc chiến tranh mỗi ngày một gia tăng ác liệt tại Trung Đông đột nhiên nguội lại, không có tin tức gì.

3. Học sinh nghỉ học, kỳ nghỉ đông kéo dài, học sinh rất sung sướng.

4. Những người vốn chẳng có gì kiểm soát nổi, trong lúc này đều như con rùa rụt vào trong nhà, an phận thủ thường.

5. Gia đình gắn kết, chồng ngày đêm bên vợ, vợ ngày đêm bên chồng, thế mà đến cuối ngày vẫn ở cùng nhau. Kỳ tích! Kỳ tích!

6. Kẻ trộm thất nghiệp. Ra đường, đường phố cũng chẳng có ai. Đến nhà người ta để ăn trộm thì trong nhà đều có người.

7. Vốn dĩ đang là hiện tượng giảm sinh con, thì đột nhiên tình hình trở nên tốt đẹp hơn, bởi vì vợ chồng ở nhà chẳng có việc gì làm!
Ha ha ha!

🌟

Không đi Hàn Quốc, tránh được chìm thuyền.
Không đi Indonesia, tránh được sóng thần.
Không đi Nhật Bản, tránh được động đất.
Không đi Syria, tránh được chiến tranh.
Không đi Malaysia, tránh được máy bay rơi.
Không đi Australia, tránh được cháy rừng.
Không đi Vũ Hán, tránh được bệnh virus viêm phổi.
...
Chung quy lại một câu: "Không có tiền thật tốt!"
Ha ha ha!

🌟

Dịp Tết ở Đại Lục, vì tình hình dịch bệnh mà đã hoãn ngày đi làm trở lại.
Dân tình trên mạng nói:
Ngày hôm kia ngủ dậy, kỳ nghỉ còn lại 5 ngày.
Ngày hôm qua ngủ dậy, kỳ nghỉ biến thành bảy ngày.
Ngày hôm nay ngủ dậy, kỳ nghỉ đã kéo dài đến 30 ngày.
Ôi!
Cứ như thế này mà ngủ tiếp.
Sau khi ngủ dậy, đã đến lúc nghỉ hưu rồi...
Ha ha ha!

🌟

Tiểu Minh nói với Tiểu Lệ:
"Anh đến nhà em chúc Tết nhé!"
Tiểu Lệ nói:
"Anh yêu em, em yêu anh, nhưng Tết năm nay ta không qua lại nhà nhau."
Tiểu Minh hỏi:
"Vì sao thế?"
Tiểu Lệ nói:
"Anh đến nhà em, em căng thẳng, em đến nhà anh, anh lo lắng."
Nguyên nhân là gì.
Nguyên nhân là khẩu trang y tế "cháy hàng" rồi!
Ha ha ha!

🌟

Tôi nói:
Diêu Trì Kim Mẫu là Đại La Kim Tiên. Tất cả các thần tạo ra bệnh dịch đều là do Ngài quản.
Trong Lục Độ Mẫu có Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu, hy vọng Ngài nhanh chóng phát ra thần uy, cứu độ chúng sinh.
Chuyên gia nói:
Liệu có giống như cúm mùa, mỗi năm sẽ lại xảy ra dịch cúm một lần?
Nếu thế thì thảm rồi! Đây cũng là điều tôi lo sợ nhất.


### 41. Béo


Vợ hỏi chồng:
"Anh còn yêu em không?"
Chồng đáp:
"Yêu!"
Vợ lại hỏi:
"Trong lòng anh chỉ có mỗi mình em chứ?"
Chồng đáp:
"Đúng vậy."
Vợ cao hứng hỏi thêm:
"Vì sao thế?"
Chồng đáp:
"Ngày xưa khi anh cưới em, em còn thon thả nên đã đi lọt vào trong trái tim anh. Sau này, em trở nên béo rồi, trái tim anh rất nhỏ, cửa vào lại càng nhỏ, do vậy em không đi ra được nữa!"
Ha ha ha!

🌟

Tiểu Minh nói:
"Cho dù có mười cô gái đẹp đứng trước mặt anh, nhưng chỉ cần em xuất hiện thì mười cô gái kia tự nhiên cũng "tắt đèn" hết!"
Hương Hương nói:
"Ghét ghê nè! Em đâu có xinh đẹp như thế, em có thể sáng rạng rỡ hơn họ sao?"
Tiểu Minh nói:
"À không phải thế, mà là tướng phúc của em đã che hết luôn cả ánh sáng của họ rồi!"
Ha ha ha!

🌟

Vợ đứng trước tủ quần áo để thay quần áo. Vừa mặc vừa soi gương. Chồng đang ngồi trên ghế đọc báo. Vợ thay quần áo, mặc một bộ vào, rồi lại đổi bộ khác, đổi tới đổi lui, cảm thấy mình như một cái bánh ú vậy. Vợ nói:
"Sao mà quần áo nào cũng nhỏ hết rồi, nhỏ đến nỗi không còn mặc vừa cái nào nữa!"
Chồng lúc này mới nói một câu:
"Không phải là vấn đề của quần áo, mà là vấn đề của cái nhân bánh ú."
Ha ha ha!

🌟

Một hôm, Tiểu Minh hỏi một cô gái béo:
"Có ai nói cậu đẹp không?"
Cô gái béo đáp:
"Có! Là bố và ông tớ."
Tiểu Minh hỏi:
"Có ai từng theo đuổi cậu không?"
Cô gái béo đáp:
"Có, chó hoang!"
Tiểu Minh hỏi:
"Có ai từng huýt sáo với cậu không?"
Cô gái béo đáp:
"Có! Cảnh sát giao thông."
Tiểu Minh không thể hỏi thêm gì được nữa.

🌟

Tôi hỏi Thượng sư Huệ Quân:
"Sao bà lại béo thế?"
Thượng sư Huệ Quân đáp:
"Gia đình con là gia đình béo, em gái con béo, anh trai con cũng béo..."
Tôi hỏi:
"Thế bà ăn uống thế nào?"
Bà đáp:
"Con ăn chế độ giảm béo!"

Đã ăn theo chế độ giảm béo lâu như vậy rồi mà vẫn không gầy đi chút nào. Tôi phát hiện ra là bà luôn mồm ăn đồ ăn vặt.
Phàm chuyện gì cũng đều có nguồn gốc, không phải là không có nguyên nhân.
[Thượng sư Huệ Quân: một vị Thượng sư luôn ở cạnh Sư Tôn, rất hay được Sư Tôn đem ra đùa giỡn, trêu chọc.]


### 42. Trên xe buýt


A và B nói chuyện về vấn đề chật chội trên xe buýt. A nói:
"Thực sự là chật chội quá, vợ tôi bị chèn ép đến mức không ngờ đã sảy thai rồi!"
B nói:
"Như thế thì đã là gì, vợ tôi mới phiền phức đây này! Cô ấy bị người ta chèn ép đến mức không ngờ đã có thai rồi."
Ha ha ha!

🌟

Trên một chiếc xe buýt đã quá đông người, một nam một nữ liên tục va chạm vào nhau. Nữ quay đầu lại nói:
"Bị bệnh à?"
Nam trả lời:
"Cô có thuốc không?"
Nữ nói:
"Đồ thần kinh!"
Nam đáp:
"Cô có chữa được không?"
Tất cả mọi người trên xe đều cười lớn ha ha!

🌟

Chồng bắt xe buýt về nhà. Bà vợ vừa nhìn thì thấy má trái má phải, mỗi bên đều có hằn vết năm ngón tay, vẫn còn đỏ đỏ. Vợ hỏi chồng chuyện này là sao.
Chồng kể:
Anh đi xe buýt về nhà. Xe chật quá, có một cô gái bị dồn ép đến trước mặt anh. Khóa kéo trước ngực cô ta bị tuột xuống thấp quá, ngực gần như xổ cả ra ngoài. Anh cảm thấy nên giúp cô ấy, anh có lòng tốt liền kéo cái khóa lên. "Bốp" một tiếng, má trái bị ngay một phát bạt tai. Anh nghĩ anh làm việc tốt mà cũng bị đánh, đúng là chẳng thể đoán được ý của phụ nữ. Thế là, anh liền đưa tay ra kéo cái khóa lại tình trạng ban đầu, kết quả là má phải bị ngay một phát bạt tai. Đây là do hai cái tát đó mà ra.
Ha ha ha!

🌟

Xe buýt vừa mới nhấn ga khởi hành thì đột nhiên phanh gấp một cái, vừa gấp vừa nhanh. Một người già ngồi ở phía sau cùng của xe văng ra, lăn tới tận chỗ của lái xe ở phía đầu xe. "Binh" một tiếng! Tất cả người trên xe đều nhìn thấy! Mọi người kêu la rối rít! Không ngờ, tài xế quay đầu lại nói với cụ già:
"Tìm tôi có việc gì?"
Ha ha ha!

🌟

Trên một chiếc xe buýt.
Một phụ nữ trẻ vác theo một cái bụng bầu to đứng trước mặt một chàng trai trẻ, chàng trai đang ngồi. Thiếu phụ chỉ chỉ vào cái bụng nói:
"Anh không biết tôi có thai sao?"
Không ngờ chàng trai trẻ này không những không nhường chỗ mà còn nói:
"Đó không phải con tôi."
Ha ha ha!

🌟

Khi tôi còn đi học, có một khoảng thời gian tôi phải đi xe buýt đến trường. Xe buýt giống như một thế giới thu nhỏ. Những chuyện trên xe buýt rất nhiều, đa dạng và phức tạp.
Nghĩ lại những chuyện cũ khi đi xe buýt, giờ đây chuyện cũ chỉ có thể hồi tưởng lại. Đó là một khoảng thời gian thật đẹp đẽ.


### 43. Chuyện cực ngắn


Một người tâm thần nói:
Đại danh của tôi là Thượng đế, tiểu danh là Jesus, tên tiếng Anh là God, pháp hiệu là Thích Ca.
Người bị bệnh tâm thần ai nấy đều rất vĩ đại.
Có người là Giáo hoàng.
Có người là Trump.
Có người là Mao Trạch Đông.
Có người là Tưởng Giới Thạch.

🌟

Bạn có thể sống như một con lợn.
Nhưng bạn không thể vui vẻ như một con lợn.
Toàn bộ con lợn đều có công dụng.
Bạn vô dụng.

🌟

Tôi là con trai của Jesus.
Con trai của Jesus tên là gì?
Đáp: "Quả dừa!"
[Ở đây có sự chơi chữ. Jesus phát âm là ye su, quả dừa phát âm là ye zi, trong đó chữ zi có nghĩa là con.]

🌟

Đừng nói não người khác có bệnh. Não có bệnh thì chắc chắn vẫn cần phải có não trước.
Do vậy, chỉ có thể chửi người ta là: "Đồ không có não!"

🌟

Có một câu rất thích hợp nói với người yêu.
Mỗi lần anh nhớ em một lần, Thượng đế liền làm rơi xuống một hạt cát. Thế nên mới có sa mạc Sahara.
Người yêu chắc chắn sẽ rất vui.

🌟

Vui vẻ mỗi một giây,
Hạnh phúc mỗi một ngày,
Phúc lạc mỗi một năm,
Khỏe mạnh đến vĩnh viễn.

🌟

Người con gái xinh đẹp quả nhiên chiếm được nhiều ưu thế.
Nhưng lại có một quyển sách tiêu đề là: "Cần sống sao cho đẹp!"

🌟

Chúng ta sống rất mệt mỏi, mệt là đúng rồi.
Bởi vì nếu không mệt.
Rất thoải mái.
Thì đây là một người đã chết.

🌟

Học đại học, có là gì ghê gớm đâu!
Chẳng qua chỉ là đại khái học một chút thôi mà!

🌟

Người nghèo ăn cơm có sấu nhục tinh. [Sấu nhuc tinh nghĩa là hạt nêm từ thịt, ý rằng người nghèo chỉ có thể đủ tiền mua hạt nêm từ thịt để ăn, không có tiền mua thịt.]
Người giàu ăn cơm có hồ ly tinh.
Người làm quan ăn cơm có mã thí tinh. [Mã thí tinh là kẻ liếm đít, bợ đỡ.]
Rất nhiều ông bố có thú cưng là hồ ly tinh.

🌟

Tiểu Minh nói với mẹ:
"Mẹ à! Con biết bí mật của mẹ rồi!"
Mẹ cho Tiểu Minh 500 đồng.
Tiểu Minh nói với bố:
"Bố à! Con biết bí mật của bố rồi!"
Bố cho Tiểu Minh 1000 đồng.
Tiểu Minh cảm thấy rất có tác dụng.
Tiểu Minh nói với người đưa thư:
"Chú đưa thư! Chú đưa thư! Cháu biết bí mật của chú rồi!"
Người đưa thư nước mắt giàn giụa, ôm lấy Tiểu Minh nói:
"Cuối cùng con đã biết ta là ai rồi!"
Ha ha ha!

Cả thiên hạ đều là một câu chuyện cười lớn!


### 44. Chương trí huệ


Nhớ lại trước đây mà bạn cảm thấy như hôm qua, cho thấy bạn vẫn đang "còn trẻ".
Nhớ lại trước đây mà bạn cười, cho thấy bạn "đã lớn".
Nhớ lại trước đây mà bạn khóc, cho thấy bạn đã "từng trải".
Nhớ lại trước đây mà bạn mặc nhiên, cho thấy bạn đã "sõi đời".
Nhớ lại trước đây mà bạn thở dài cảm khái, cho thấy bạn đã "tuyệt vọng".
Nhớ lại trước đây mà bạn cảm thấy nhạt nhẽo, cho thấy bạn đã "già rồi".
Nhớ lại trước đây mà bạn chẳng nhớ được, cho thấy bạn đã "đãng trí".
Để người khác nhớ về bạn, cho thấy bạn đã "chết rồi".

🌟

Đón Tết thế nào?
Ông chủ nói với vợ: Ăn! Ngủ!
Nói với gái đẹp: Ăn một chút! Ngủ một chút!
Nói với tình nhân: "Măm măm" nào! "Ngụ ngụ" nào.
Nói với tình nhân bí mật: "Ah ah" nào! "Khò khò" nào.
Nói với công nhân: “Ăn cái gì, ngủ cái gì, mau tăng ca!”
Khi ông chủ không nói gì hết: Sắp phá sản rồi!

🌟

Có một người câu cá bên sông. Anh ta câu được rất nhiều cá. Nhưng mỗi lần câu được một con cá lên thì đều lấy thước ra đo. Hễ con cá nào dài hơn cái thước thì đều ném xuống sông.
Những người đi câu khác không hiểu gì, liền hỏi:
"Người khác đều muốn câu được cá lớn, vì sao chỉ có anh lại ném cá lớn xuống sông?"
Người này thủng thẳng đáp:
"Bởi vì cái nồi ở nhà tôi chỉ to có chừng này thôi, cá to quá thì không bỏ vừa nồi."

🌟

Một số việc, chẳng có ai làm.
Một số người, chẳng có việc gì làm.
Người không có việc nhìn vào người làm việc, bình luận về việc mà người đang làm việc làm, khiến cho người làm việc không làm xong được việc, làm việc không tốt.
Thế là, ông chủ khen thưởng cho người không có việc gì làm, bởi vì anh ta phát hiện ra việc không thành. Và rồi ông chủ khiển trách người làm việc, bởi vì anh ta không làm được việc.

Những người không có việc gì làm thì luôn chẳng có việc gì làm.
Những người làm việc thì luôn có việc làm mãi không xong, khiến người làm việc không còn lựa chọn nào khác là càng làm nhiều việc hơn.

Kết quả là:
Việc tốt biến thành việc xấu.
Việc nhỏ biến thành việc lớn.
Việc đơn giản biến thành việc phức tạp.

🌟

Một hôm, ông bố đưa con trai đi thăm quan tòa án. Con trai nhìn quan tòa hỏi bố:
"Ông ta là ai?"
Ông bố đáp:
"Ông ta là pháp quan." [quan tòa]
Con trai hỏi:
"Vì sao gọi là pháp quan?"
Bố nghĩ một lúc rồi đáp:
"Bởi vì người đứng trước mặt ông ta, nếu không bị "phạt" thì cũng bị "giam". [Từ "pháp" và từ "phạt" đồng âm, từ "quan" và từ "giam" đồng âm.]

🌟

Một thầy bói xem tướng nói với người đàn ông đến xem tướng:
"Xem ra anh là người sợ vợ!"
Người đàn ông nói:
"Tôi còn chưa kết hôn cơ mà?"
Thầy xem tướng nói:
"Thế thì đúng rồi, nếu anh không sợ vợ thì vì sao đến giờ vẫn chưa kết hôn?"
Ai chà!

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) nói:
"Phụ nữ phiền phức lắm!"


### 45. Thư và kệ của Liên Hoa Kính An


Kính gửi Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật:
Sư Phật cát tường!

Đệ tử kém cỏi mới vừa đọc xong cuốn văn tập "Thiền cơ đối thiền cơ", xin tán thán những chỉ dạy thông qua văn chương ngòi bút sắc bén khéo léo của Sư Phật trong toàn bộ cuốn sách, xin tán thán sự cần mẫn như tằm nhả tơ làm kén để lần lượt nói rõ những huyền cơ trong những công án của thiền môn, khiến đệ tử có thể dễ dàng thấy được trong những đối đáp giữa thiền sư và tăng chúng, "tâm" và "vật", "chủ" và "khách", những hình thái tương tác, để từ đó mà quán chiếu sự tương phản với những người chấp mê vào sự vật thế gian. (Không phải nói rằng chúng sinh có lỗi, mà là chúng sinh quả thực bất khả tư nghì.)

Ngồi yên lặng tham thiền và lĩnh hội được sự thuần tịnh trong đại ý của Phật pháp, trong một sát-na nào đó lĩnh ngộ được cảm giác của những ý chỉ huyền bí, tuy rằng thuần nhiên chỉ là cảm giác (cười). Tuy nhiên, trong sách Sư Phật thường dạy đệ tử rằng sau khi hiểu được lý thuyết rồi thì phải đưa vào thực tiễn mới là bắt đầu "tu đạo", trên đại đạo thì an tịnh song tu định huệ, chỉ khi đó mới có thể đạt đến sự bổ trợ lẫn nhau thực sự (cảnh giới cân bằng).

Trong lời mở đầu của văn tập, câu kệ "quán chiếu thường minh, thông đạt vô ngại" mới thật là đại khẩu quyết chân chính của sự giải thoát mà thầy nói đến. Trong quãng đời còn lại đệ tử tu hành cần phải khắc ghi trong lòng.

Cảm ơn Sư Phật vẫn luôn một lòng từ bi, đối với những công án thiền môn thâm sâu ảo diệu khó hiểu trong sách, đã luôn thêm vào những phân tích tường tận, dạy cho con có thể theo lời chỉ dẫn mà ngộ nhập vào bờ bến của thiền cơ, lợi ích đối với tâm cảnh của tu hành là không hề nhỏ.

Nay đệ tử xin trình lên những tâm đắc sau khi đọc xong phần hỏi và đáp trong văn tập "Thiền cơ đối thiền cơ", mặc dù hiểu rằng ngôn ngữ văn tự không thể nào biểu đạt toàn bộ ý nghĩa (nói ra thì chắc chắn không còn là thế nữa), nhưng vẫn muốn mượn câu văn để trình bày những cảm ngộ của chính mình, hy vọng Sư Phật từ bi chỉ đạo và cho lời khuyên, để đệ tử sửa những chỗ chưa đúng.

Đệ tử tự giác siêng năng theo Pháp Vương tu tập Phật lý, đã hơn nửa đời sống trong Phật pháp, thực sự là phúc của trăm kiếp mới tu được. Cảm ơn lời nguyện vĩ đại không từ bỏ một chúng sinh nào của sư phụ. Nhân đây xin chúc Sư Phật, Sư Mẫu khỏe mạnh, trường thọ tự tại!

Kính thư!
Cung chúc Phật an!
Ngu đệ tử
Liên Hoa Kính An chắp tay.
Tâm đắc sau khi đọc văn tập "Thiền cơ đối thiền cơ".
Liên Hoa Kính An.


### 46. Khai thị quan trọng của Liên Sư dành cho Yeshe Tsogyal


Khai thị này được lấy ra từ trong terma.
Cũng là khẩu quyết khai thị vô cùng quan trọng, đối với đồng môn tu trì có rất nhiều lợi ích và sự khai sáng.

Khai thị thứ nhất:
"Ăn."
Lấy không khí làm thức ăn chủ yếu.
Những thứ khác, ví dụ như các loại thịt, rau hoa quả, thực phẩm từ sữa, đậu, trứng, cá… chỉ làm thức ăn phụ.
Lấy thực vật, khoáng vật, cam lộ làm thuốc.
Chú ý:
"Không khí" nhất định cần thanh sạch tươi mới.
"Không khí ô nhiễm" chỉ có hại, không có lợi.

🌟

Khai thị thứ hai:
"Mặc."
Hãy dùng chuyết hỏa làm quần áo.
Những quần áo khác cần mềm mỏng, rộng rãi thoải mái.
Thậm chí lõa thể.
Tu Kim Cang pháp, đeo trang sức bằng xương.
Chú ý:
Việc hít thở của pháp chuyết hỏa là quan trọng nhất.
Khi thành tựu rồi thì không sợ cái lạnh cái nóng.

🌟

Khai thị thứ ba:
"Sống."
Hãy coi trọng địa linh.
Sống ở nơi thánh địa có nhiều linh khí.
Đất có linh khí, khí tập trung, hoàn cảnh, thủy thần, phương hướng (hướng từ trường), hoặc hang đá, hoặc dưới gốc cây, hoặc bụi cỏ, hoặc lều nhỏ.
Chú ý:
Đừng sống ở nơi bại hoại.

🌟

Khai thị thứ tư:
"Hành động."
Lấy thông mạch làm chính.
Đại lễ bái chính là thông mạch. Kinh hành chính là thông mạch. Kim Cang quyền chính là thông mạch. Pháp song thân chính là thông mạch.
Chú ý:
Vận động là điều bắt buộc.
Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, đều có bài vận động.

🌟

Khai thị thứ năm:
"Thân."
Lấy Tỳ Lô thất chi tọa làm chính.
Chủ yếu là sự an tịnh.
An trụ.
Bất động.
Nhập Tam ma địa (thiền định).

🌟

Khai thị thứ sáu:
"Khẩu."
Niệm Phật là quan trọng.
Mật chú là quan trọng.
Thành tựu pháp là quan trọng.
Hãy từ bỏ ỷ ngữ vô bổ, trò chuyện, buôn chuyện thị phi.

🌟

Khai thị thứ bảy:
"Ý."
Sản sinh đại lạc.
Sản sinh quang minh.
Sản sinh tính Không.
Lấy Phật Đà thanh tịnh làm chủ.
Dựa vào trí huệ và thiện xảo để bảo vệ giữ gìn giới thề.
Có thể nói rằng dựa vào Tam ma địa là chí yếu.

🌟

Khai thị thứ tám:
"Từ bi."
Lấy lợi tha làm chính.
Tứ vô lượng tâm.
Yêu kẻ thù của ta.
Yêu người khác hơn chính mình.
Từ đó chứng đắc quả vị Bồ Tát và Phật. (thực hành điều này)


### 47. Yeshe Tsogyal tương ứng pháp


Pháp yoga tương ứng Yeshe Tsogyal này do Liên Sinh Hoạt Phật lấy ra từ terma trong đầu mình.

Nghi quỹ như sau:

Tiền hành 7 bước.
Điểm quan trọng là:
Quy y cần niệm: "Con và tất cả chúng sinh, từ phàm phu đến khi thành Phật. Quy y Phật viên mãn giác ngộ. Quy y Phật pháp viên mãn thần thánh. Quy y tăng chúng tu hành theo pháp."
Con quy y Thượng sư và Tam Bảo.
Xin ban gia trì lực.

Phát bồ đề tâm:
Nếu đến cuối cùng con thành tựu Phật quả, con sẽ độ hóa chúng sinh, để chúng sinh thoát khổ được vui, cùng thành Phật đạo.

Quán tưởng:
“Ôm su-pa-oa, su-ta, sa-óa, ta-ma, sư-pa-oa, su-tô hăng.”
Trong vùng hư không trước mặt mình, xuất hiện tám con sư tử tuyết nhiễu quanh bảo tọa. Hoa sen nhiều màu sắc. Trong nguyệt luân có Yeshe Tsogyal ngồi đó.
Thân màu đỏ.
Một mặt hai tay.
Tay phải lắc trống cầm tay.
Tay trái cầm bình đầu lâu đựng đầy cam lộ và nắm lấy kachangka.
Hai chân ngồi tư thế kim cang.
Toàn thân trang điểm trang nghiêm.
Trẻ trung xinh đẹp, tràn đầy sắc thái rạng rỡ.

Nhập ngã ngã nhập:
Yeshe Tsogyal hóa thành quả cầu ánh sáng màu đỏ, đi vào trong tâm của hành giả.
"Cha. Hum. Ban. Ho."
Ngồi trên hoa sen ở tâm hành giả.
(Trước tiên hành giả quán tưởng chữ "Bang", biến thành hoa sen màu đỏ. Trong tâm hoa sen có một chữ "Ah" màu trắng biến thành nguyệt luân. Trong nguyệt luân có hai hình tam giác màu đỏ.)

Chuyển hóa:
Yeshe Tsogyal từ chủng tử chữ "Hum" hoặc chữ "Seh" tỏa ra chùm tia sáng, tịnh hóa thân khẩu ý của hành giả được thanh tịnh. Hành giả chuyển hóa thành Yeshe Tsogyal.

Trì chú:
“Ôm ben-za, yê-sê, sô-gi-an, pê-ma, hùm.
Ôm ben-za, yê-sê, sô-gi-an, pê-ma, hùm – hùm – hùm pây.
Ôm ben-za, yê-sê, sô-gi-an, pê-ma, sê, sô-ha.”

[Om benza yeshe tsogyal pema hum. Om benza yeshe tsogyal pema hum hum pei. Om benza yeshe tsogyal pema seh soha.] 

Đọc một trong ba câu chú này đều được. Niệm tụng càng nhiều càng tốt.

An chú tự:
Yeshe Tsogyal - tề luân, an chữ "Bang" màu đỏ.
Yeshe Tsogyal - tâm luân, an chữ "Han" màu lam.
Yeshe Tsogyal - hầu luân, an chữ "Seh" màu trắng.
Yeshe Tsogyal - mi tâm luân, an chữ "Seh" màu vàng.
Yeshe Tsogyal - đỉnh luân, an chữ "Hum" màu lục.
Yeshe Tsogyal - tứ chi, an chữ "Pei" màu xám.

Nhập Tam ma địa.
Thiền định.

Hồi hướng:
Nguyện công đức tu pháp này mau chóng đạt thành tựu Không Hành.
Nguyện con sẽ dẫn dắt tất cả chúng sinh, không chừa một ai, đạt đến cảnh giới thành tựu.

Chú ý:

1. Nghi quỹ pháp tu này là pháp terma.

2. Khi triệu thỉnh, ngoài Yeshe Tsogyal ra, triệu thỉnh thêm Tứ Thủ Phương Mẫu, Bát Phương Không Hành Mẫu, 20 Thiên Thiên Nữ, 10 vạn Không Hành Mẫu, v.v..

3. Yeshe Tsogyal và Thường Đề Bồ Tát, Diệu Âm Thiên Nữ, Hằng Hà Nữ Thần, Bạch Độ Mẫu có quan hệ sâu đậm.
Sau này sẽ trình bày sau.

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/278-hen-gap-vao-mua-dong.md
# Title: 278. Hẹn gặp vào mùa đông
---

![image](/img/img_ee7a9bff115759b16aaac0181ca53642.jpg)



## Hẹn gặp vào mùa đông


🪷 Gột sạch tâm linh, bình yên tĩnh lặng

Văn tập số: 278
Xuất bản: 01/07/2020
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


Kể từ năm 66 tuổi, hàng năm tôi đều trải qua mùa đông ở tại Đài Loan. Cứ thế chớp mắt đã 10 năm trôi qua. Năm nay tôi đã 76 tuổi rồi!

Đương nhiên tôi cảm thán "thời gian thấm thoắt thoi đưa". Tôi chưa từng nghĩ đến sao mới chớp mắt đã già rồi!
Có người hỏi tôi: "Lư Sư Tôn! Sao năm nay không về Đài Loan cho đến hết mùa đông?"
"Có lý do gì vậy?"
"Khi nào thì ngài mới lại trở về Đài Loan đúng vào mùa đông?"

Tôi thường nói:
Người ở Seattle, lòng lại nhớ Đài Loan.
Người ở Đài Loan, lòng lại nhớ Seattle.
(Tôi có nhà ở Đài Loan, tôi cũng có nhà ở Seattle, cả hai nơi đều là quê hương của tôi.)

Tôi nói:
Ở Đài Loan, nhà tôi ở Đài Trung, miền Trung Đài Loan mấy năm gần đây ô nhiễm không khí nghiêm trọng. Khi nào không khí sẽ trong sạch trở lại? Ngẩng đầu nhìn bầu trời mà thở dài ngán ngẩm!

Còn nữa:
Thượng sư Liên Hương từ năm 70 tuổi đến nay trên người có bệnh, không thích hợp đi máy bay. Bà ấy là bạn đạo của tôi, bà ấy không thể đi máy bay được, tôi có thể để bà ở lại để trở về Đài Loan sao?

Ngoài ra, tôi sợ muỗi ở Đài Loan, muỗi lại rất thích đốt tôi, tôi cũng sợ!
Cuối cùng còn các nguyên nhân khác nữa.
(Không ngờ, dịch viêm phổi mới bùng phát, tôi lại càng chẳng dám trở về.)

🌟

Năm 2020, trong chương trình phỏng vấn đầu xuân mới, tôi đã đưa ra nhiều lời dự đoán.

1. Năm 2020 là một năm cực kì hỗn loạn.

2. Thiên tai và những tai họa do con người gây ra cùng ập đến.

3. Nạn đói, bệnh dịch, chiến tranh.

4. Nền kinh tế toàn cầu tôi tính chỉ được 20 điểm. (Sẽ là một năm kém nhất trong vài năm trở lại đây.)

Những dự đoán của tôi có được do "Trời báo", đó là những hé lộ của Diêu Trì Kim Mẫu, A Di Đà Phật, Địa Tạng Bồ Tát.
Khi tôi ở Đài Loan, mỗi năm tôi đều có một cuộc phỏng vấn, hơn nữa những dự đoán của tôi hàng năm đều cực kì chuẩn xác.
"Đã nói là trúng."

Vào trước năm 2020, tôi cùng với những chúng sinh có duyên, mỗi mùa đông đều hẹn gặp ở Đài Loan. Năm 2020 này thì tôi lại hẹn gặp những chúng sinh có duyên tại Seattle vậy. Hoan nghênh mọi người đến Seattle cùng gặp gỡ.

🌟

Cho dù không gian thời gian có biến đổi thế nào, nhưng bản chất làm người vẫn không có gì thay đổi. 
Con người có sinh lão bệnh tử. 
Con người có thất tình lục dục, con người vẫn bị ma quỷ quấy nhiễu. 
Con người vẫn có phiền não tuyệt vọng.

Tôi (Lư Sư Tôn) là một vị đại đạo sư tâm linh, tôi đã giải thoát rồi, và tôi cũng có thể giúp con người giải thoát.
Tôi dựa vào lòng từ bi của Quan Thế Âm.
Tôi dựa vào trí huệ của Văn Thù Bồ Tát.
Tôi dựa vào pháp lực của Kim Cang Thủ Bồ Tát.
Để cho chúng sinh được "gột sạch tâm linh, bình yên tĩnh lặng" vậy!

(Năm 2020 - Mùa đông, năm 2020)

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Dạo bước trong sân Nam Sơn Nhã Xá


Ở Mỹ, tôi tổng cộng đã chuyển nhà năm lần, tôi từng ở:

1. Quận Ballard. [vùng ven phía Tây Bắc thành phố Seattle]

2. Thành phố Redmond. [thuộc hạt King, Washington]

3. Hồ U Linh. [Phantom Lake]

4. Gunshy Ridge.

5. Nam Sơn Nhã Xá.

Tôi nghĩ rằng Nam Sơn Nhã Xá sẽ là ngôi nhà cuối cùng mà tôi sống trong cuộc đời này, bởi vì tôi không muốn phải chuyển nhà nữa. (Nếu như tôi có phải chuyển nhà thì nhất định sẽ là chuyển đến Phật quốc tịnh thổ Ma Ha Song Liên Trì.)

Tôi thấy là mình vẫn rất hài lòng với Nam Sơn Nhã Xá.
Sân vườn đặc biệt rộng, có sân trước, sân sau, ở giữa là nhà ở, toàn bộ khoảnh đất khoảng 2 mẫu. [7200 mét vuông]
Cây cối hoa cỏ đặc biệt nhiều.
Xung quanh đều là những cây tùng cao lớn, có trúc, có phong, có bách, có đằng…
Mặt đất phủ kín cỏ xanh.
Có đài phun nước.
Tôi có cảm giác rằng, chúng tôi dường như sống trong một ngôi biệt thự ở sâu trong núi vậy, có cảm giác tách biệt khỏi thế giới.
(Do vậy tôi mới đặt tên là Nam Sơn Nhã Xá.)

Trong sân vườn có "hoa đổi màu", có đám hoa ngũ sắc có thể biến đổi màu sắc, chủ yếu là màu lam tím, cũng có cả màu hồng nữa.
Lá phong thì chuyển màu vàng màu đỏ, khi lá phong đỏ rực thì rất lãng mạn, giống như những đốm lửa bung ra. Tôi có cảm giác giống như tiên cảnh.
Cho dù là mùa đông, nhà tôi cũng được bao bọc bởi màu xanh rì xung quanh. Mặc dù lá kim của cây thông có phủ nhiều trên mặt đất hơn, nhưng sự sống vẫn cứ trào lên sinh khí.

Tôi thích đi dạo trong sân vườn ở Nam Sơn Nhã Xá. Tôi đã thấm đẫm không khí tươi mới, thuần tịnh và thơm mát của nơi đây.

Trong sân vườn của nhà tôi, mùa đông cũng không sợ băng tuyết, không có những cơn gió lạnh cắt da cắt thịt hay những cơn mưa tê buốt.

Có một lần.
Sáng sớm, chúng tôi ngồi tại bàn ăn nhìn ra ngoài cửa sổ:
Chà!
Tuyết rơi rồi!
Đầu tiên là lác đác những bông tuyết bé xíu mong manh.
Tiếp đó thì bông tuyết lớn bằng hạt đậu.
Cuối cùng thì tuyết rơi từng đám to như nắm tay.
Tuyết mùa đông giống như những đóa hoa từ trên cây tùng rơi xuống, phủ trắng xóa lên từng tấc đất, từng tấc cỏ, từng phiến lá, từng đóa hoa.

Tôi bảo:
"Hoa bay trong gió!"

Cảnh đẹp ấy thật ngoài sức tưởng tượng, không có lời nào mô tả được. Những đóa hoa bay này cứ dập dờn trong tim tôi.
Chẳng mấy chốc, cả mặt đất đều là một màu trắng bạc.

Tôi dạo bước trong sân vườn. Tôi đã đi qua mùa xuân, mùa hạ, mùa thu, thế rồi bước vào mùa đông!

Tôi muốn nói với mọi người rằng:
Con người cần có con mắt biết tận hưởng, cũng cần có tâm trạng đẹp đẽ.
Nếu như được như vậy thì,
Mùa đông cũng chẳng thê lương,
Mùa đông cũng vẫn thấy hạnh phúc vô hạn.

Mọi người biết không?
Khi đài phun nước trong sân vườn nhà tôi hoàn toàn đóng băng, tôi vẫn nhìn thấy đàn thành.
Ở chính giữa là Quan Thế Âm Bồ Tát, toàn thân phủ đầy trang sức. Xung quanh có những tiểu Bồ Tát.
Có thiện tài, lương nữ chắp tay.
Còn có vầng trăng tròn vành vạnh nữa.


### 02. Tối đó tuyết rơi nhiều


Đó là một buổi tối chủ nhật, tôi cùng Thượng sư Liên Hương trở về Nam Sơn Nhã Xá. Tôi vội vàng tắm rửa rồi thay sang bộ quần áo thoải mái hơn.

Tôi có một cảm giác rằng: "Ngoài trời rất sáng."
Tôi nhìn kĩ hơn, thì ra bên ngoài đang có tuyết rơi lớn.
Tôi nghĩ, trận tuyết này đến thật nhanh, chỉ trong vòng thời gian tôi đi tắm mà không ngờ tuyết đã phủ kín mặt đất rồi.

Những cây tùng cũng đã đội mũ trắng.
Những đám cây bụi thấp không còn trông thấy đâu nữa.
Cỏ xanh phủ lên một lớp vải lụa trắng.
Mái nhà được che bởi những mảng trắng xóa mênh mông.
Tuyết vẫn không ngừng rơi.
…

Tôi viết mấy bài thơ.
Bài thứ nhất:
*Rung rung cổng trời mở một đêm,
Ào ào tuyết trắng liền trút xuống,
Tuyệt sắc hiện lên trong chớp mắt,
Khiến lão tăng tôi bao cảm hoài.*

Bài thứ hai:
*Mọi nỗi niềm riêng chẳng còn nữa
Đông tây lại thấy bạch long bay
Bảy mươi sáu năm ngắm đêm này
Bao ngày tuyết phủ nhớ sao đây.*

Bài thứ ba:
*Trời đất gặp gỡ vốn là một
Ngộ cảnh học Phật nay mới tròn
Mong cầu khai ngộ thực không khó,
Nhất tâm chuyên chú chỉ vậy thôi.*

Bài thứ tư:
*Mặt đất khoác lên y phục mới
Cho ta tận hưởng cảnh đêm này
Bướm trắng dập dìu như thường lệ
Chỉ là hoa đã trốn đêm nay.*

Bài thứ năm:
*Dạo bước trong vườn nơi xa nhất
Cảm thấy tâm cảnh thật ung dung
Một chút sự đời không vướng bận
Tịnh quang lấp lánh tự nhiên thành.*

Bài thứ sáu:
*Khắp trời khắp đất một mùa đông
Nhấn chìm nhân gian khổ với sầu
Nhưng uống một ly vong tình thủy
Gột sạch tâm ta nước quên tình.*

Tôi gọi một cuộc điện thoại đường dài cho một đệ tử ở phương xa, bảo rằng: "Đêm nay tuyết rơi nhiều rồi!"
Người ấy nói: "Đệ tử cũng muốn xem!"
Tôi nói: "Dùng tâm để xem vậy."
Người ấy nói: "Tâm của đệ tử đã bay đến bên đó rồi!"

Còn nữa, tôi gọi điện thoại cho Hân Nghĩa, hỏi:
"Ngày mai có lái xe được không?"
Hân Nghĩa đáp:
"Nếu tuyết rơi lớn quá thì không nên lái xe. Chúng ta cũng không đi làm, những công việc văn phòng có thể làm tại nhà được. Xe của thầy e rằng không nên lái, bởi vì gầm xe thấp quá."
Nhưng xe của tôi vẫn lái được.

Con trai tôi nói với tôi:
"Xe chuyển động bằng bốn bánh, hơn nữa lốp xe đã thay bằng loại lốp đi mùa đông rồi, mã lực lại đủ. Trừ phi tuyết dày cao quá thì mới không lái xe được!"
Chà! Thế là vui rồi!


### 03. Luyện tập chuyết hỏa


Hôm tuyết rơi.
Tôi ngồi trên pháp tọa ở Seattle Lôi Tạng Tự nói:
Hành giả Mật giáo chúng ta có thể làm một cuộc thử nghiệm lớn. Tất cả các vị Lama đều đồng loạt cởi áo, để ngực trần, cũng cởi luôn cả váy Lama, chỉ mặc độc một chiếc quần lót.
Ngồi tư thế kim cương (kiết già).
Bụng có thể buộc một mảnh vải trắng.
Rồi ngồi trên những bậc sàn đầy tuyết ở Lôi Tạng Tự.

Chúng ta cùng tu chuyết hỏa.
Cửu tiết Phật phong.
Kim cang tụng.
Bảo bình khí.
Để kích động chuyết hỏa.
Dùng nội hỏa để chống chọi lại cái lạnh thấu xương của tuyết.

Theo tôi được biết:
Trên những cánh đồng tuyết ở Tây Tạng, các hành giả yoga tu khí, mạch, minh điểm, người tu luyện chuyết hỏa có thể để ngực trần mà ngồi thiền định trên mặt đất phủ tuyết.
Nếu có đem quần áo nhúng nước đã đóng thành băng khoác lên người thì chỉ một chốc lát quần áo cũng khô và ấm lên. Đỉnh đầu họ bốc khói, có thể đun sôi cả nước.
Họ đi bộ trên tuyết để nhiễu chùa nhiễu tháp.
…

Tôi nghĩ, chúng ta mà luyện tập như vậy, nhất định có thể tạo nên một sự chấn động tại nước Mỹ, một sự chấn động trên toàn thế giới.

Mặc dù chuyết hỏa có vẻ rất thần bí, nhưng nó có lý thuyết riêng của nó:
Khí - là chiếc xe.
Mạch - là con đường.
Minh điểm - là hàng hóa.

Chuyết hỏa là nhiệt của nội hỏa, sau khi tu xuất ra được chuyết hỏa thì nhờ "xe" mà vận chuyển đến tất cả các nơi trên khắp cơ thể, tự nhiên có thể chống đỡ được cái lạnh bên ngoài.

Chuyết hỏa mang lại nhiều lợi ích như:
Đốt sạch phiền não.
Đốt sạch đau khổ.
Đốt sạch bản ngã.
Đốt sạch bám chấp.
Đốt sạch tập khí.
Đốt sạch vi khuẩn.
Đốt sạch nghiệp chướng.
Thông qua sự dung hòa của chuyết hỏa và minh điểm mới có thể khiến cho cuộc sống tràn đầy sắc màu đẹp đẽ.

Milarepa tu chuyết hỏa, có thể đi bộ trong không trung.
Yeshe Tsogyal tu chuyết hỏa, cuối cùng đã hóa thành cầu vồng mà đi mất, chỉ còn để lại lông, tóc, răng, móng tay.

Khi tôi đang nghĩ đến việc tĩnh tọa trên tuyết ở Lôi Tạng Tự thì dịch cúm bùng phát.

Bởi chúng ta có cuộc sống tăng đoàn, nếu như một người bị bệnh thì gần như tất cả sẽ bị lây, rất dễ bị nhiễm bệnh, chẳng mấy chốc thì tất cả giới xuất gia, tại gia sẽ đều trở thành "người ốm".

Tôi thấy.
Tốt nhất là tạm hoãn!
Đặc biệt là việc kêu gọi các vị Lama cởi trần, ngồi thiền trên tuyết xem có bị nhiễm cảm hay không thì lại càng nghiêm trọng, bệnh nhẹ biến thành nặng, chuyển thành viêm phổi, thế thì thảm lắm!

Tôi biết rằng:
Chuyết hỏa có thể tu được tâm lượng rộng lớn như hư không.
Chuyết hỏa có thể tu được những thứ rất nhỏ, vi tế nhất.
Chuyết hỏa có thể tu được nhiệt và ánh sáng.
Chuyết hỏa chuyển hóa người đau khổ, giày vò, uất hận, u ám, tập tính thành người mang năng lượng ánh sáng.

Trong lòng tôi có sự mong mỏi rằng:
Khi tuyết rơi nhiều.
Các vị Lama sẽ xếp hàng ngồi trên tuyết.
Cùng luyện tập tu chuyết hỏa!


### 04. Cảnh đẹp của Cầu Vồng Lôi Tạng Tự


Cầu Vồng Lôi Tạng Tự nằm ở phía đông của Seattle Lôi Tạng Tự, bởi vì ngày xưa tôi đã chạy xe để đuổi theo một chiếc cầu vồng rất lớn mà đến được đây, vì thế đặt tên là Cầu Vồng.
Là do tôi bỏ tiền xây dựng nên.
Địa điểm là lối ra số 14 đường cao tốc 90.

Tôi nhận định rằng nơi đây địa linh cực tốt, có bảy ngọn núi lớn xung quanh. Do vậy nơi đây còn được gọi là hang quý "thất tinh lạc địa".
Bảy ngọn núi này là:
Thiên Mã Sơn.
Kỳ Sơn.
Cổ Sơn.
Quý Nhân Sơn.
Bình Phong Sơn.
Sa Mạo Sơn.
Ấn Sơn.

Vào mùa đông năm nay, cứ mỗi chủ nhật, tôi lại làm Hộ Ma (hỏa cúng) tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự.

Khi xếp hàng tiến vào Hộ Ma Bảo Điện, trước mắt tôi chính là Thiên Mã Sơn.
Ngọn núi này cảnh sắc tráng lệ, đẹp không lời nào tả xiết, nó có thể được xem như là một ngọn núi cao hiểm trở. Chúng tôi biết rằng ở bên dưới có một con sông, có thác nước nhỏ, đỉnh núi nơi cao nhất thì có băng tuyết phủ trắng xóa.

Đẹp nhất là:
Mây trắng bay là là lưng chừng núi, giống như một dải khăn khata màu trắng vậy. Sương giá mịt mùng giăng khắp chân núi. Cảnh sắc này không phải lúc nào cũng y nguyên như thế, mà là luôn luôn biến đổi. Ban ngày, buổi trưa, buổi tối cảnh sắc luôn thay đổi như khoác lên một bức tranh khác. Đây chính là người họa sĩ vĩ đại của tự nhiên đã vẽ nên.

Có thể tưởng tượng, dưới núi là vùng đồng bằng màu trắng, rồi một thung lũng màu bạc chưa biết tên gọi. Ban ngày, trông cả vùng núi giống như ông già Noel đội mũ trắng vậy.
Buổi tối, những tia sáng lấp lánh cứ ánh lên không ngừng, gió cũng không ngừng thổi lên những âm thanh vi vu nhè nhẹ. Giống như một quý bà phong hoa tuyệt sắc đi tham dự bữa dạ tiệc của đất trời.

Tôi nói với Thượng sư Liên Ấn:
"Nơi đây rất giống vùng tuyết ở Tây Tạng."
Thượng sư Liên Ấn nói:
"Thật đẹp quá!"

Tôi nghĩ đến:
Cánh đồng tuyết mênh mông, cảnh quang đẹp đẽ, sắc cỏ xanh thắm, đâu đâu cũng là cánh đồng tâm linh.
Chuyện sinh tử mênh mông, đã quen cô độc, đêm tối rất dài, hoa sen tuyết nở trong trái tim ta.

Tôi rất muốn đề một bài kệ tặng cho Cầu Vồng Lôi Tạng Tự.
*"Trong núi không năm tháng
Tu hành suốt ngày dài
Chìm đắm trong thiền định
Ấm áp tràn nội tâm."*

Cầu Vồng Lôi Tạng Tự là vùng đất linh khí cho việc tu tập, không có sự can thiệp của con người thế tục. Người sống ở đây nhất định sẽ thành tựu.

Buổi trưa, tôi ở trong phòng của mình, có một lần cảm thấy rất buồn ngủ, nhưng tôi vẫn muốn tĩnh tọa một lúc. Chẳng được bao lâu thì tôi ngủ gật mất. Trong mơ, tôi nhìn thấy một vị Sơn Thần khổng lồ đứng trước mặt tôi, vị thần này mặc trang phục màu trắng.

Thần nói:
"Lư Sư Tôn! Cảm ơn ngài đã ca ngợi ta, ngài cũng tương đối có nhãn quang đó, còn những người thế tục khác thì đều chẳng để ý tới sự tồn tại của ta.

Ta đến đây để nói cho ngài biết rằng, thành tựu của ngài không chỉ cao như núi, cũng không chỉ nhiều như mây, mà là bao la như hư không!"
Tôi nói:
"Cảm ơn!"
Vị Sơn Thần khổng lồ đó sải những bước lớn rồi đi mất!


### 05. Pháp hội Yeshe Tsogyal


Chúng tôi quyết định làm pháp hội Yeshe Tsogyal tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự. Chúng tôi không đi thuê hội trường lớn ở bên ngoài, nguyên nhân chủ yếu là vì sự bùng phát của dịch cúm Corona virus. Cuối cùng có hai nghìn người tới tham dự. Thế này thì cũng xem như là "cùng sống cùng chết" rồi.

Ngày pháp hội đó, trời vẫn nhiều mây âm u, mọi người đều biết rằng Seattle còn có cái tên đẹp đẽ là "thành phố mưa".

Hai tháng trước ngày pháp hội, ngày nào cũng mưa.
Mưa nhiều tới nỗi người cũng lên mốc cả.
Tâm cũng ẩm ướt hết cả.
Đầu óc cũng ngập úng nước rồi.

Rất nhiều người đã mắc phải chứng bệnh trầm cảm, những ai không mắc trầm cảm thì cũng bị tính khí lên xuống thất thường.
Mưa mùa đông ở Seattle quả nhiên danh bất hư truyền!

Trong lúc tiến hành pháp hội.
Có một đồng môn nhìn thấy trong hư không có rất nhiều Không Hành Mẫu nổi tiếng đều đến. Đây chính là một cuộc hội tụ lớn của các Không Hành Mẫu.

Có:
Yeshe Tsogyal. (chủ tôn)
Bát Nhã Phật Mẫu.
Kim Cang Du Già Mẫu.
Kim Cang Hợi Mẫu.
Bạch Độ Mẫu.
Vô Ngã Mẫu.
Bạch Y Mẫu.
Hắc Phẫn Nộ Mẫu.
21 vị Độ Mẫu.
Sư Diện Không Hành Mẫu.
Ngoài ra còn có: Mandarava, Sakyadeva, Kala Siddhi, Tashi. Cũng có cả Diệu Âm Thiên, 12 Cát Tường Thiên, Uma, Kali, và mười vạn Không Hành Mẫu v.v…

Họ ở trong hư không nhảy múa, hát ca, chơi đùa. Trong không gian thấy đủ loại nào là "những bài hát kim cang", "những điệu múa kim cang", "những mũ hoa kim cang", "những trò chơi kim cang". Trong tay họ tung lên những viên kim cương, rơi xuống mặt đất thì chúng biến thành mưa đá.

Từng hạt từng hạt, trăm hạt, nghìn hạt, vạn hạt, tỉ hạt, rơi xuống lách ta lách tách.

Vào lúc pháp hội kết thúc, Tuyết Sơn Ngũ Trường Thọ Thiên Nữ ném xuống gia trì cho chúng tôi những hạt mưa đá - là vô số những hạt trân châu.
Hạt mưa đá to như hạt trân châu.
Hạt mưa đá nhỏ như hạt đậu xanh.
Lấp lánh, tròn trịa, đẹp đẽ.
Pháp hội quá thù thắng!

🌟

Một ngày sau pháp hội, mọi người tụ tập chuẩn bị đi chơi.
Suốt hai tháng trước pháp hội trời đều mưa âm u, chỉ có đúng ngày đi chơi đó là cả ngày trời đều nắng ráo.
Mới sáng sớm, mặt trời đã xuất hiện rồi!
Kỳ tích! Kỳ tích! Kỳ tích!

Chúng tôi có bảy trăm người, có người đi xe buýt, chia ra 12 chiếc xe, và còn có rất nhiều xe riêng nữa.

Chúng tôi đi thăm thành phố Tacoma, đi thăm vườn thú và thủy cung. Đó là một ngày trời xanh mây trắng, ngập ánh mặt trời, không khí trong lành. "Đậu Đậu" không ngờ đã trở thành người hướng dẫn du lịch của chúng tôi. Mọi người vui mừng hớn hở chơi suốt cả một ngày.

Sau ngày hôm đó.
Trời lại mưa âm u, lại mưa liên tục suốt một tháng.
Có người nói:
"Ông Trời cũng đều nghe theo Sư Tôn rồi!"


### 06. Thế giới của virus


Vào quãng mùa đông, mỗi năm từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau là nước Mỹ lại bùng phát dịch cảm cúm. Năm nay, dịch cúm ở Mỹ đã cướp đi tính mạng của 14.000 người. Tôi nghe con số mà giật nảy mình!

Hàng năm, bác sĩ gia đình của chúng tôi là Dr. Gall đều khuyên tôi tiêm thuốc miễn dịch (vaccine). Lần nào tôi cũng lắc đầu. (Bởi vì tôi sợ tiêm.)

Năm nay, bác sĩ Gall khuyên tôi tiêm, tôi bèn tự nhiên gật gật đầu, điều này cũng nằm ngoài dự liệu của chính tôi.

Vì sao tôi không chống lại ý muốn của bản thân, tôi thật sự cũng không biết. Tình hình về sau cho thấy:
"Tôi tiêm là đúng!"

Mùa đông năm nay, Seattle Lôi Tạng Tự, từ những người chủ trì ở trên, cho đến các đệ tử phương xa ở dưới, toàn quân đã bị đánh bại.
Thực sự đợt cúm này đủ lợi hại, quá ghê gớm rồi!
(Rinpoche, Thượng sư, pháp sư, đồng môn.)
Hết người này tới người khác mắc bệnh!
Thượng sư Huệ Quân mới tới ba ngày đã "trúng đạn" rồi, virus này thật là mạnh. Tôi và Sư Mẫu Thượng sư Liên Hương vì đã tiêm vaccine nên mặc dù có bị lây bệnh thì tình trạng cũng khá nhẹ.

Theo tôi được biết:
Vi khuẩn không phải tất cả đều xấu. Chỉ có một bộ phận vi khuẩn là có hại. Vi khuẩn cũng hình thành nên vi khuẩn tốt và vi khuẩn xấu.

Thế nào là thuốc miễn dịch (vaccine)?
Trước tiên các nhà y học sẽ suy đoán, hôm nay có thể xuất hiện vi khuẩn dạng A, hoặc vi khuẩn dạng B, rồi sẽ đưa ra hình thái của vi khuẩn, và làm suy yếu vi khuẩn, đây chính là vaccine.
Tiêm vacccine vào trong cơ thể. Hệ thống phòng bệnh của con người chúng ta lập tức nhận ra những vi khuẩn gây hại này và sẽ có hành động tiêu diệt chúng.

Tới khi vi khuẩn cúm đang hoành hành đi vào trong cơ thể người, hệ thống phòng dịch sẽ lập tức nhận ra đây là vi khuẩn xấu, và sẽ tương đối dễ để tiêu trừ chúng. Bởi vì người đã tiêm vaccine thì trong người đã có kháng thể. (Đây là kiến thức trên phương diện phòng bệnh cúm thông thường.)

Còn đối với virus cúm Corona thì vẫn chưa có vaccine. Con người chúng ta, đối với virus cúm Corona vẫn chưa thể hiểu hết nó. Chỉ có thể áp dụng phương pháp cách ly. Trước mắt, phương pháp duy nhất có thể dùng chính là cách ly. Giới y học đối với dịch cúm Corona cần nhanh chóng nghiên cứu ra vaccine thì mới có thể khống chế được bệnh dịch.

Tôi biết rằng:
Cơ thể người cũng có một thế giới vi khuẩn, kháng thể đương nhiên là vi khuẩn tốt. Vi khuẩn thiện và vi khuẩn ác đánh nhau!
Nếu đánh thắng, bạn sẽ được sống!
Nếu đánh thua, bạn sẽ mất mạng!

Nghe nói, có một số vi khuẩn kháng thể rất mạnh, cũng ăn luôn cả những vi khuẩn tốt khác, tự mình đánh mình, cũng có thể khiến chúng ta tiêu đời luôn.

Vi khuẩn có thế giới của vi khuẩn, kì thực là cũng thiên kỳ vạn quái, vô cùng phức tạp!
Hành giả tu hành chúng ta chỉ có thể cầu nguyện thần Hộ pháp.
"Mong thần Hộ pháp bảo vệ chúng tôi, mong chúng sinh không mắc bệnh dịch!"
"Mong chúng sinh ai nấy khỏe mạnh!"
"Mong người bệnh bình phục!"


### 07. Cuốn sách "Một chút cười đời"


Vào mùa đông năm nay, tôi đã hoàn thành xong cuốn sách "Một chút cười đời", đó là cuốn văn tập số 277 của mình.

Tôi cực kì thích cười, cười lớn sảng khoái, còn tại sao thích cười thì thật ra cũng có nguyên nhân.

1. Tuổi thơ sống trong bạo lực gia đình.

2. Trưởng thành trong quân đội trang nghiêm.

3. Vấp ngã hết lần này tới lần khác.

4. ……

Theo lý mà nói, tôi lẽ ra phải cười không nổi mới đúng. Nỗi khổ tâm phiền muộn của tôi vĩnh viễn khó giải tỏa được.

Nhưng,
Sức mạnh ý chí và khả năng chịu đựng của tôi vô cùng mạnh, điều này khiến tôi tràn đầy sức sống tinh tấn, phải liều mình mới có thể chiến thắng, tôi cần phải vượt lên lần nữa, vượt lên lần nữa. Tôi thường nghĩ, đời người khổ như vậy, làm sao có thể vui vẻ hạnh phúc được đây? Câu trả lời mà tôi có được là:

1. Tất cả đều là huyễn.

2. Tất cả đều là không.

3. Vốn dĩ là vô sở đắc.

Thế nên, tôi vứt bỏ hết phiền não. (Bởi vì phiền não đến từ những lo lắng về được mất, nếu hiểu được rằng chẳng có gì là thực sự có được thì sẽ cắt đứt được phiền não.)

Tôi cũng không hoàn toàn từ bỏ thế giới thực, bởi vì tôi biết, nếu không có thế giới hiện thực thì không thể ngộ ra được cái Không.
Tôi sống trong hiện tại.
Tận hưởng hiện tại.
Vui vẻ với hiện tại.
Trân trọng hiện tại.
Hài lòng với hiện tại.
Rồi từ từ mở rộng ý chí của mình, không để hoàn cảnh bên ngoài ảnh hưởng đến mình, sau đó thì cười thật lớn!

Quả nhiên:
Phật làm sự nghiệp như gió, như ánh dương, như nước, như không khí, như đại địa. Trong tự do mà bung nở, nở ra những bông hoa đẹp.
Tôi học tập hư không.
Yêu.
Từ bi.
Ấm áp.
Bao dung.

Tôi cùng chúng sinh hữu duyên tình cảm rất sâu đậm, là tình yêu và sự bảo hộ lẫn nhau, cùng hạnh phúc, cùng trân trọng. Những điều này khiến cho tôi trong cuộc sống hỗn loạn này cũng thấy được một vẻ đẹp giao thoa.

Tôi cảm ơn:
Cha tôi mẹ tôi.
Ân nhân thầy dạy.
Cảm ơn đệ tử.
Chúng sinh hữu duyên.
Chúng sinh vô duyên.

Tôi còn phải cảm ơn hai người thường cung cấp những chuyện cười cho tôi, một người là Trần Truyền Phương sống tại California, một người là Hân Nghĩa sống tại Washington.

Cuốn sách đó là tập hợp những mẩu chuyện cười hay nhất, người sáng tạo ra những chuyện cười rất vĩ đại, tôi chẳng qua chỉ là người chọn ra chúng và tập hợp lại mà thôi! Tôi cũng chân thành gửi lời cảm tạ đến những người anh hùng vô danh chí thượng tối cao ấy!

Tôi viết cuốn "Một chút cười đời" này:

1. Rất chắt lọc.

2. Rất giản dị.

3. Rất có hiệu quả.

Cũng là để đối trị với cái gốc gây ra bệnh khổ của con người, đương nhiên cũng muốn kết hợp chuyện cười với Phật pháp, để có thể khiến người đọc chuyện cười cũng được Phật pháp tưới đẫm.

Tôi kiên trì:
Sống một ngày, cảm ơn một ngày.
Sống một ngày, tu hành một ngày.
Sống một ngày, vui vẻ một ngày.


### 08. Tôi và Bổn tôn hợp nhất


Vào mùa đông năm nay, tôi và Bổn tôn hợp nhất gần như đã đạt đến mức độ "thủy nhũ giao dung" [nước và sữa hòa lẫn hoàn toàn vào nhau].
Nếu như nói theo kiểu "tình duyên" thì là:
Đêm đêm cùng ngủ.
Sớm sớm cùng dậy.

Tôi coi trọng việc tu pháp trước khi ngủ. Trước khi sắp ngủ, tôi ở trong phòng làm kết giới. (Tôi dùng pháp Cửu tự chân ngôn.)

Sau đó, tôi triệu thỉnh Bổn tôn:
Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật.
Và còn có cả thị giả của A Di Đà Phật là Quan Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát nữa.

Tôi nói thẳng thắn là có đôi khi chưa triệu thỉnh nhưng Bổn tôn đã giá lâm rồi, đang đợi ở bên cạnh. Tôi chẳng còn thời gian để nghĩ ngợi, một tay cầm đài sen, một tay kết ấn ban nguyện, nhưng vẫn còn chưa kịp làm xong thì đã hợp nhất rồi.

Trong một sát-na tôi đã nhanh chóng biến thành A Di Đà Phật. (tự tính)
Bên trái tôi là Quan Thế Âm Bồ Tát.
Bên phải tôi là Đại Thế Chí Bồ Tát.
Tất cả tự nhiên thành như thế.
Tôi ở trong Tam ma địa rất lâu.

Nếu như có người hỏi tôi:
"Hợp nhất có cảm giác thế nào?"
Thế này thì đúng là hỏi khó tôi rồi, bởi vì cảm giác của sự hợp nhất căn bản là không có cách nào hình dung được.

Tôi nghĩ đến sự hòa quện vào nhau giữa người và người:
Cùng thủ thỉ.
Nhìn đắm đuối.
Cùng nhớ nhung.
Nắm tay nhau.
Ôm ấp nhau.
Cơ thể giao nhau.
Những thứ này đều chẳng phải.

Sự hợp nhất giữa tôi và A Di Đà Phật là:
Thân hợp với thân.
Tâm hợp với tâm.
Linh hợp với linh.
Pháp lưu của A Di Đà Phật và pháp lưu của tôi cùng hòa trộn vào nhau, trở thành không khác biệt.
Tôi bay lên nhập vào hư không trung.
Toàn thân phóng ra hàng trăm ánh sáng trân quý.
Quan Thế Âm Bồ Tát cầm cành dương liễu rẩy nước, rắc cam lộ khắp nơi.
Đại Thế Chí Bồ Tát cầm bông hoa sen chưa nở khẽ phe phẩy, tịnh trừ nghiệp chướng của chúng sinh.
Tất cả đều vô cùng mỹ miều!

Cảm nhận của tôi là:
Tiên nhạc của cõi trời, nhĩ căn thanh tịnh. [nhĩ căn: tai]
Tiên hoa của cõi trời, tỵ căn thanh tịnh. [tỵ căn: mũi]
Hương thơm của cõi trời, thân tâm thanh tịnh.
Phi hành của cõi trời, tâm linh thanh tịnh.
Tôi chính xác là ở trong sự thanh tịnh và tịch diệt. Đây đều là những hình ảnh biểu tượng mà tôi dùng văn tự để viết ra.

Tôi nghĩ đến những hành giả tu Tịnh Độ tông, ai ai cũng đều hy vọng vào lúc lâm chung, Tây phương Tam Thánh sẽ tiếp dẫn đến Tây phương.

Còn tôi,
Khi tôi vẫn còn đang ở thế gian cõi người này, tôi đã có thể tự sinh "Di Đà, Quan Âm, Thế Chí".
Tôi chẳng phải là thù thắng hơn sao!

Nhưng tôi không thể vì thế mà kiêu ngạo, tôi vẫn tu hành pháp Bổn tôn không gián đoạn một ngày nào. Trên phương diện tu trì Mật giáo:
Quán tưởng. (kết ấn)
Trì chú.
Nhập Tam ma địa.
Tôi vẫn hành trì từng bước mà làm!


### 09. Tôi làm sự nghiệp của A Di Đà Phật


Có người hỏi tôi:
”Lư Sư Tôn! Ngài làm sự nghiệp gì?”
Tôi đáp:
”Sự nghiệp của A Di Đà Phật.”
Người hỏi:
”Sự nghiệp của A Di Đà Phật ư, chưa từng nghe nói đến, vậy là làm thế nào?”
Tôi đáp:
”Trước tiên phải biến chính mình thành A Di Đà Phật, sau đó đi làm lợi ích chúng sinh.”
Hỏi:
”Làm sao để biến hóa thành A Di Đà Phật?”
Tôi đáp:
”Tu A Di Đà Phật Bổn tôn pháp, thân khẩu ý thanh tịnh, nhập A Di Đà Phật Tam ma địa, hợp nhất cùng A Di Đà Phật, thế rồi sẽ có thể làm lợi ích chúng sinh.”

Hỏi:
”Sau khi hợp nhất thì làm sao để làm lợi ích chúng sinh?”
Tôi đáp:
”A Di Đà Phật phát bốn mươi tám nguyện lợi ích chúng sinh, tôi cần phát nguyện lợi ích chúng sinh.”
1. Nguyện cõi Cực Lạc không có ba đường ác.
2. Nguyện chúng sinh cõi Cực Lạc không vào ba ác thú.
3. Nguyện thân của chúng sinh cõi Cực Lạc đều có màu vàng kim.
4. Nguyện thân sắc của chúng sinh cõi Cực Lạc đều bình đẳng.
5. Nguyện chúng sinh cõi Cực Lạc đều có túc mệnh thông.
6. Nguyện chúng sinh cõi Cực Lạc đều có thiên nhãn thông.
7. Nguyện chúng sinh cõi Cực Lạc đều có thiên nhĩ thông.
8. Nguyện chúng sinh cõi Cực Lạc đều có tha tâm thông.
9. Nguyện chúng sinh cõi Cực Lạc đều có thần túc thông.
10. Nguyện chúng sinh cõi Cực Lạc không tham có thân sau.
11. Nguyện chúng sinh cõi Cực Lạc thường trụ trong chính định.
12. Nguyện ánh sáng của A Di Đà Phật sáng vô lượng.
13. Nguyện thọ mạng của A Di Đà Phật dài vô lượng.
14. Nguyện chúng Thanh Văn ở cõi Cực Lạc nhiều vô số.
15. Nguyện chúng sinh cõi Cực Lạc có thọ mạng tùy nguyện lực riêng.
16. Nguyện chúng sinh cõi Cực Lạc không nghe lời ác.
17. Nguyện chư Phật mười phương xưng tán A Di Đà Phật.
18. Nguyện chúng sinh niệm mười niệm A Di Đà Phật là được vãng sinh.
19. Nguyện chúng sinh phát nguyện sinh về Cực Lạc vào lúc lâm chung được tiếp dẫn.
20. Nguyện chúng sinh muốn vãng sinh Cực Lạc được toại nguyện.
21. Nguyện chúng sinh cõi Cực Lạc có đầy đủ ba mươi hai tướng.
22. Nguyện chư Bồ Tát ở cõi Cực Lạc đạt địa vị nhất sinh bổ xứ.
23. Nguyện chư Bồ Tát ở cõi Cực Lạc có thể cúng dường chư Phật.
24. Nguyện chư Bồ Tát ở cõi Cực Lạc có đầy đủ vật phẩm để cúng dường tùy ý.
25. Nguyện chư Bồ Tát ở cõi Cực Lạc đều có thể diễn thuyết trí huệ vi diệu.
26. Nguyện chư Bồ Tát ở cõi Cực Lạc đều có thân như thần Na La Diên.
27. Nguyện chúng sinh vạn vật ở cõi Cực Lạc đều nghiêm tịnh vi diệu.
28. Nguyện cây đạo tràng hiển hiện tại cõi Cực Lạc.
29. Nguyện chư Bồ Tát ở cõi Cực Lạc tụng kinh đều đắc trí huệ.
30. Nguyện chư Bồ Tát ở cõi Cực Lạc đều có trí huệ biện tài vô hạn.
31. Nguyện chư Bồ Tát ở cõi Cực Lạc có thể soi thấy mười phương.
32. Nguyện cõi Cực Lạc có hương thơm quý trang nghiêm.
33. Nguyện chúng sinh gặp được ánh sáng của Phật A Di Đà thì thân tâm mềm mại an lạc.
34. Nguyện chúng sinh nghe danh Phật A Di Đà đều đắc vô sinh pháp nhẫn.
35. Nguyện chúng sinh nghe danh Phật A Di Đà khi mạng chung thoát khỏi thân nữ.
36. Nguyện chư Bồ Tát nghe danh Phật A Di Đà sẽ thường tu phạm hạnh.
37. Nguyện chúng sinh nghe danh Phật A Di Đà sẽ được trời người kính trọng. 
38. Nguyện chúng sinh cõi Cực Lạc được y phục và đồ ăn như ý.
39. Nguyện chúng sinh cõi Cực Lạc được hưởng niềm vui như hoàn toàn dứt hết lậu hoặc.
40. Nguyện chư Bồ Tát ở cõi Cực Lạc nhìn vào cây báu thì sẽ hiện cõi Phật.
41. Nguyện chư Bồ Tát có đầy đủ các căn không khiếm khuyết.
42. Nguyện chư Bồ Tát nghe danh hiệu A Di Đà Phật được thanh tịnh giải thoát.
43. Nguyện chư Bồ Tát nghe danh hiệu A Di Đà Phật sẽ có được phúc.
44. Nguyện chư Bồ Tát nghe danh hiệu A Di Đà Phật sẽ tu hành có đủ công đức.
45. Nguyện chư Bồ Tát nghe danh hiệu A Di Đà Phật sẽ được an trú trong tam muội phổ đẳng.
46. Nguyện chư Bồ Tát ở cõi Cực Lạc được tùy nguyện nghe pháp.
47. Nguyện chư Bồ Tát nghe danh hiệu A Di Đà Phật thì không thối chuyển.
48. Nguyện chư Bồ Tát nghe danh hiệu A Di Đà Phật thì đắc tam pháp nhẫn.

Tôi nói:
”Cực Lạc thế giới thù thắng hơn các cõi trời, là bởi vì có bốn mươi tám nguyện này. A Di Đà Phật có thể độ hóa chúng sinh, quảng đại vô biên, cũng là vì có sức mạnh của bốn mươi tám nguyện này.”
Tôi nói:
”Khi tôi và A Di Đà Phật hợp nhất, bản thân tôi sống làm A Di Đà Phật. Tôi có thể hành trì bốn mươi tám nguyện, thành tựu bốn mươi tám nguyện lực của A Di Đà Phật.”

Ví dụ:
Thiên nhãn của tôi hoàn mỹ hơn, viên mãn hơn. Tôi có thể nhìn thấy các cõi trời, nhìn thấy tịnh thổ của thế giới Cực Lạc, và tất cả tịnh thổ một cách rõ ràng rành rọt, minh bạch phân minh.
Khiến tôi nhìn thấy các Bổn tôn, thấy Liên Hoa Sinh Đại Sĩ và các Phật Mẫu, ví dụ Yeshe Tsogyal, Mandarava, Sakyadeva, Kali Siddhi, Tashi, và vô tận các Không Hành Mẫu.

Còn nữa, Thượng sư Liên Ha muốn đi tàu thủy lưu trú đến Alaska để ngắm Bắc Cực quang. 
Tôi có thể ở trong thiền định (trong phòng ngủ ở nhà mình), nhìn thấy Bắc Cực quang, giống như tự mình đến đó vậy.

Thiên nhĩ của tôi hoàn mỹ hơn, viên mãn hơn. Tôi nghe thấy thiên nhạc của các cõi trời, nghe thấy âm thanh hòa nhã của cõi tịnh thổ.
Khẩu dụ của Bổn tôn.
Khẩu dụ của chư tôn.
Thần dụ của chư thiên.

Tôi tự tai nghe thấy những thiên âm phát ra từ Diệu Âm Thiên Nữ (Saravasti).
Ở nhân gian vĩnh viễn không nghe được âm thanh này, tôi miêu tả là:
Mềm mại mượt mà.
Thong thả tự nhiên.
Trong veo tuyệt diệu.
Hễ tôi nghe được thanh âm của Saravasti thì đúng là như say như mê. Cá nhân tôi tin rằng thiên âm của Saravasti có thể chữa bệnh.

Túc mệnh thông của tôi hoàn mỹ hơn, viên mãn hơn.
Tỳ Lô Giá Na Phật — Phật Nhãn Phật Mẫu — A Di Đà Phật —  Liên Hoa Đồng Tử — Liên Sinh Hoạt Phật. Đây là cội nguồn của tôi Lư Thắng Ngạn.
Tôi cũng hiểu nguồn gốc của chư tôn.
Hiểu rõ ràng minh bạch về lục đạo luân hồi.
Số phận vô biên vô ngại nằm trong bàn tay tôi, tôi có thể đoán được hết nhân quả ba đời hoặc nhiều đời của tất cả chúng sinh thiên hạ. 

Tha tâm thông của tôi hoàn mỹ hơn, viên mãn hơn.
Tâm tôi thông với tâm của mười pháp giới. 
Tôi chỉ cần quán chiếu một người, tâm tư của người này tất cả đều sẽ rõ ràng minh bạch.
Chỉ là tôi hiểu được:
Tùy duyên.
Tùy thuận.
Tùy phận.
Tùy hành.
Tùy cơ.

Thần túc thông của tôi hoàn mỹ hơn, càng viên mãn hơn.
Thần túc đi đến mười pháp giới.
Đệ tử và chúng sinh hữu duyên của tôi, thậm chí là chúng sinh vô duyên, chỉ cần trong lòng nhớ đến tôi, tôi lập tức hiện lên ở trước họ.
Tôi kéo dài tuổi thọ của họ.
Tôi gia trì cho họ khỏi bệnh hoàn toàn.
Tôi giải quyết đau khổ của họ.
Tôi tiêu trừ phiền não của họ.
Tôi thanh tịnh nghiệp chướng của họ.
(Đây chính là sự nghiệp của A Di Đà Phật.)


### 10. Núi tuyết mê huyễn


Khi vừa chuyển đến Seattle, tôi mới 38 tuổi. Tôi sống tại quận Ballard, mở cửa sổ của Linh Tiên Các nhìn về phía nam, tôi nhìn thấy được núi tuyết Rainier.
Trong chốc lát, tôi đã bị mê hoặc rồi!
Đỉnh núi hiện lên qua những tầng mây.
Đội mũ trắng.
(Quanh năm tuyết phủ.)
Lưng chừng núi thì tuyết xen lẫn vào đá. Ánh mặt trời chiếu bàng bạc. Đây chính là núi tuyết.
Tôi cứ ngắm nó mãi, sau đó, toàn bộ tâm hồn đều chìm đắm trong sự mê mẩn, giống như bị ma thuật thôi miên vậy.

🌟

Sau này, tôi đã có vài dịp được thật sự đi đến núi tuyết.
Xe chạy qua một đoạn đường rất dài, có tới bảy, tám khúc cua, cứ như thế chạy vòng quanh núi.
Tôi trông thấy vùng thảo nguyên rộng lớn.
Tôi trông thấy những thung lũng rộng lớn.
Tôi trông thấy những dòng suối chảy bắn tung bọt nước.
Những mảng rừng xanh rì sâu thẳm.
Lần đó chúng tôi đi là vào khoảng mùa đông. Tuyết rơi lất phất.
Cũng có cả mưa nữa, mưa rơi ướt đẫm cỏ cây. Chúng tôi nghỉ ăn trưa dưới một cái cây lớn.
Không mái che.
Không nhóm lửa.
Chỉ là để cho mình được tận hưởng sự che chở của những tán cây.

🌟

Tôi còn nhớ:
Mưa và tuyết đều đã ngừng!
Tôi bước trên tuyết, tuyết ngập tới khoảng mắt cá chân. Tôi rảo bước được một đoạn thì gặp một cửa núi.

Mây giăng tầng tầng lớp lớp mờ mịt. Dưới núi, mây che phủ kín cả thung lũng và vùng thảo nguyên. Nhưng phía trước chỗ tôi đứng thì hoàn toàn là tuyết phủ một màu trắng sáng, tạo thành một vạt đất sáng bừng đẹp đẽ.

Chỗ cửa núi đó, tôi trông thấy:
Các vị Bồ Tát đội mũ vàng.
Rất nhiều vị.
Nữ thần núi tuyết cũng đã đến!
Các vị hoan nghênh tôi đến núi tuyết Rainier chơi.
Đó là lần đầu tiên tôi đến núi tuyết này.

🌟

Sau này, tôi cũng có cơ duyên được ngắm núi tuyết từ trên trời. Đó là khi ngồi máy bay mà nhìn thấy được.

Tôi nhìn thấy đỉnh núi trắng xóa nhô trên tầng mây, tuyết quanh năm phủ kín, có chút giống với chiếc mũ của ông già Noel.
Tôi nhìn thấy:
Sự kiêu ngạo lạnh lùng của núi.
Sự vững chãi kiên trì của núi.
Ý chí của núi.
Vẻ đẹp làm xúc động lòng người của núi.
Sự hồn hậu của núi.

🌟

Mùa đông năm nay, những người khách đến thăm chúng tôi, khi có thời gian rảnh thì họ đều đi chơi núi tuyết.
Tôi hỏi:
"Cảm giác thế nào?"
Đáp:
"Quá nhiều tuyết!"
Tôi hỏi:
"Tâm trạng thế nào?"
Đáp:
"Rất hưng phấn."
Những người khách đến từ khu vực khí hậu nhiệt đới đều thích đi chơi núi tuyết.


### 11. Mùa đông 2020


Rất nhiều đệ tử của tôi đều biết rằng, năm 2020 tôi không trở về Đài Loan. Tôi không về Đài Loan cũng là vì có chỉ thị của Diêu Trì Kim Mẫu. Do vậy, tôi quyết định dứt khoát không trở về.
Chẳng ngờ:
Bùng phát dịch cúm Corona.

Tháng ba hàng năm tại thị trấn Đại Giáp [thành phố Đài Trung, Đài Loan] thường tổ chức cuộc tuần hành rước Ma Tổ của Lan Cung về nương gia, nhưng gặp trúng đại dịch, nên cuộc tuần hành đã bị hoãn lại hoặc không tổ chức nữa. Đó là lễ hội tôn giáo lớn nhất ở Đài Loan. (Có tới mấy vạn người tham gia.)

Còn nữa,
Lễ hội nhiễu Thiên Thượng Thánh Mẫu của làng Bạch Sa [huyện Bành Hồ, Đài Loan] cũng cùng chung số phận.
Hầy! Thật đáng tiếc!

Trung tâm phòng chống dịch bệnh Đài Loan tuyên bố:
"Hủy bỏ các hoạt động tụ tập quy mô lớn để tránh mất kiểm soát tình hình dịch bệnh."
Hàn Quốc có giáo hội Tân Thiên Địa.
Nhật Bản có tàu Diamond Princess.
Đều đã gây tổn thất nghiêm trọng cho Hàn Quốc và Nhật Bản.
Nếu tôi về Đài Loan: Đài Loan Lôi Tạng Tự mỗi thứ bảy hàng tuần có tổ chức pháp hội Hộ Ma, mỗi pháp hội đều có trên vạn người tham dự. (Pháp hội Hộ Ma của chúng ta cũng là một hoạt động tụ tập quy mô lớn.) Đương nhiên chắc chắn hoạt động này cũng sẽ bị hủy.
Do vậy, Diêu Trì Kim Mẫu không muốn tôi trở về Đài Loan.
Chuẩn! Quá chuẩn!

Bởi nếu tôi trở về Đài Loan thì thứ bảy hàng tuần cũng không thể nào tổ chức pháp hội Hộ Ma cả vạn người tham dự được, không thể giảng kinh thuyết pháp như trước. Mặc dù rất tiếc! Nhưng điều này càng chứng minh sự linh cảm lớn của Diêu Trì Kim Mẫu, dự đoán chuẩn, pháp lực lớn.

Năm 2020, tôi vốn dĩ dự định tổ chức một pháp hội quy mô lớn mang tính quốc tế tại Hồng Kông. Pháp hội này tôi dự định truyền pháp "Hóa thân cầu vồng" (thành tựu cao nhất của phái Nyingma). Đơn vị tổ chức là hội đồng tu Thập Phương. Đơn vị tổ chức đã gần như chuẩn bị xong tất cả mọi thứ, đã quyết định đặt trung tâm triển lãm. Mùa hè năm 2019 đã đặt địa điểm, phải giao tiền đặt cọc 20,000 đô la Mỹ (không được hoàn lại).

Ba ngày trước ngày phải giao tiền, họ thỉnh thị tôi rằng phải cần trả tiền trước! Diêu Trì Kim Mẫu chỉ thị rằng: "Không tổ chức được!" "Dừng tất cả lại." Khiến cho đệ tử của hội đồng tu Thập Phương thở dài nuối tiếc, buồn rớt nước mắt.
Sau này tình hình đã chứng minh rằng:

1. Phát sinh sự kiện phản đối luật dẫn độ đến Trung Quốc.

2. Dịch cúm lớn bùng phát.

Sự tiên tri của Diêu Trì Kim Mẫu không còn gì để nói.

Trong cuộc phỏng vấn năm 2019, Diêu Trì Kim Mẫu đã chỉ thị với tôi rằng, kinh tế toàn cầu năm 2020 chỉ được 20 điểm. Không tăng trưởng. Thất bại. Thậm chí rớt xuống chỉ còn 20 điểm.
Hãy xem! Dự đoán của Diêu Trì Kim Mẫu chuẩn không cần chỉnh!


### 12. Không Hành Mẫu hạ giáng


Mùa đông năm 2020.
Trong thế giới của tôi, trong tầm nhìn của tôi, thì đây là khoảng thời gian mà các Không Hành Mẫu hạ giáng nhiều nhất. 
Theo ấn tượng của tôi thì các Không Hành Mẫu hạ giáng gồm có: 
Hai đại thị giả của Diêu Trì Kim Mẫu:
Đổng Song Thành Tiên Cô.
Hứa Phi Quỳnh Tiên Cô.
Và có ba nghìn thị nữ đi theo hầu hạ.

Ngoài ra có:
Thập Nhị Khê Nữ.
Na Diên Thiên Ngũ Thiên Nữ.
Tôi còn thấy cả:
Bạch Độ Mẫu.
Vấn Sự Tam Thiên Nữ.
Mã Cát Lạp Tôn.
Kim Cang Hợi Mẫu.
Kim Cang Du Già Mẫu.

Những vị thường hạ giáng gồm có: 
Diệu Âm Thiên Nữ, 12 Cát Tường Thiên, Ô Mã, Tạp Lị Nữ Thần, Hắc Phẫn Nộ Mẫu. 
5 vị đại Phật Mẫu của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là Yeshe Tsogyal, Mandarava, Sakya Deva, Kala Siddhi, Tashi.
Ngoài ra có:
Tứ Thủ Phương Mẫu.
Bát Phương Không Hành Mẫu.
20 Thiên Thiên Nữ.
10 vạn Không Hành Mẫu.
Tứ Phương Mẫu của Phật Tỳ Lô Giá Na: 
Kim Cang Ca, Kim Cang Vũ, Kim Cang Phát Man, Kim Cang Hy Hý.

Các vị từ các cõi tịnh thổ Không Hành mà bay đến, tham gia vào pháp hội Hộ Ma của tôi. Họ tụ tập trên khoảng không gian bên trên pháp hội.
Hát ca.
Nhảy múa.
Vui chơi.
Hội cúng.
v.v…
Họ vô cùng vui thích, vô lo vô nghĩ, trên thân có bảy loại ánh sáng, mặc thiên y, thanh tịnh và vi diệu. Phần lớn các thiên nữ có thể tùy ý biến hóa thành đủ kiểu dung nhan tướng mạo vô cùng xinh đẹp duyên dáng, điều này chẳng thể có ở nhân gian.
Chỉ có số ít Không Hành Mẫu là mang hình tướng phẫn nộ.

Không Hành Mẫu cũng phân ra có:
Tĩnh tôn. (cực kì xinh đẹp)
Tĩnh phẫn tôn. (trong vẻ đẹp mang sự phẫn nộ)
Phẫn nộ tôn. (rất giận dữ)
Tôi và các vị Không Hành Mẫu đều có nhân duyên từ kiếp trước, tôi cũng không tìm hiểu xem là nhân duyên gì.

Có thể là như thế này!
Chúng tôi từng quen biết nhau.
Chúng tôi cùng cười với nhau.
Chúng tôi có ấn tượng về nhau.
Hoặc có lẽ là cùng từng hát thiên nhạc.
Hoặc có lẽ đã từng gặp nhau.
Hoặc có lẽ là hai ánh sáng gặp và giao nhau.

Tôi phát hiện ra trong một kiếp của tôi, tôi có tình cảm không nỡ rời xa với một Không Hành Mẫu, cứ thuần khiết, cứ nhẹ nhàng, cứ dịu dàng, cứ bình an, cứ nhớ nhung, cứ tha thiết. Tôi chẳng có cách nào hiểu được đó là gì. Có khi gặp. Có khi tan. Có khi thì xa cách nghìn dặm. Tóm lại là: sóng lớn dâng trào, thiên biến vạn hóa, rất khó nắm bắt.

Trong tu hành, tôi đã đạt được rất nhiều "Không Hành pháp giáo", đều là do các vị ban cho tôi. Cảm ơn các vị!


### 13. Tôi đọc "Du lịch Lhasa"


Mùa đông năm 2020, tôi đọc xong một cuốn sách. Đó là cuốn sách về du lịch Tây Tạng tên là "Chuyến du hành đến Lhasa của tôi" do tác giả Alexandra David-Neel viết. Đọc xong, tôi viết ra một vài cảm tưởng.

Alexandra David-Neel (1868 - 1969) sinh ra tại Paris nước Pháp, là con gái độc nhất trong gia đình, từng học tập tôn giáo Phương Đông tại Paris, từng rời xa nhà sống tại Ấn Độ, Sri Lanka, Trung Đông, Bắc Phi. Năm 1923, bà học tập tại Kumbum 3 năm, cùng với con trai nuôi là Lama Ung Điện, hai người đã đến sông Salween. 

Từ nơi này họ bắt đầu chuyến đi bộ tới Lhasa. Hai người đóng giả là những người hành hương. Tác giả đã giả làm người ăn mày. Còn Ung Điện thì mặc đồ Lama. Họ đã đi qua những con đường chưa từng có người đi qua. 
Vượt núi. 
Vượt sông. 
Rừng sâu. 
Thảo nguyên. 
Núi băng. 
Cánh đồng tuyết.

Cuốn sách này đã nhấn mạnh rằng Tây Tạng thời kỳ đó còn đang hoàn toàn đóng chặt, tuyệt đối không có người ngoại quốc ra vào. Hai người họ đã mất tới bốn tháng đi bộ vượt qua những rặng núi hiểm trở cao ba, bốn nghìn mét so với mực nước biển. Alexandra David-Neel là người đầu tiên xâm nhập được vào Tây Tạng, là người nữ đầu tiên, người ngoại quốc đầu tiên đến được Lhasa.

Cuốn sách ghi lại chuyện:
Xin ăn dọc đường.
Suýt mất mạng trên đỉnh núi tuyết.
Vượt sông với một sợi dây (chỉ dựa vào một sợi dây cáp).
Bị thổ phỉ cướp bóc đe dọa.
Dựng lều nghỉ ở khắp mọi nơi (thậm chí dưới gốc cây, bên sườn núi, trên đất tuyết, trong hang động).
Thân thể đầy đau đớn.
Hoàn cảnh khắc nghiệt.

Sau khi tôi đọc từng chữ từng từ, tôi cảm thấy những khổ sở mà bà đã trải qua được mô tả rất sống động, thật vô cùng cuốn hút và khiến người ta cảm động.

Trong sách thuật lại tỉ mỉ:
Những phong tục tập quán của người Tạng.
Những tập tục của người Tạng.
Những suy nghĩ về tôn giáo của người Tạng.
Tính địa phương của người Tạng. (Mỗi một vùng thì tập tục lại khác nhau.)
Từ cuốn sách này, người đọc có thể hiểu biết thêm về dãy núi Himalaya và đủ những thứ khác vào thời kỳ năm 1923.

Tôi chú ý đến chi tiết hai người đi đến một vùng gọi là Bomi, phát hiện ra thổ phỉ cướp bóc ở vùng này rất đông.
Thân phận của đàn ông rất kỳ lạ.
Vừa là dân làng.
Vừa là người chủ gia đình.
Vừa là người chăn gia súc.
Lại vừa làm kẻ cướp.

(Tôi nhớ đến trong "Truyền kỳ Yeshe Tsogyal", Yeshe Tsogyal cũng đã gặp phải một toán cướp trong rừng sâu, thực tế ở đây gặp cướp là một chuyện rất bình thường.) 
Ở Tây Tạng, người tốt rất nhiều. Nhưng người xấu cũng không ít. (Bà đã miêu tả rõ tâm lý của người Tạng.)

Alexandra David-Kneel mỗi lần đối mặt với nguy hiểm, thật may mắn là đều đã vượt qua, điều này cũng cho thấy bà là người thông minh tài trí. Tại Lhasa, bà đã đến Potala và Norbulingka. Bà đã đến Jokhang. Bà đã đón năm mới tại Lhasa. Bà cũng đã đến chùa Samye.

Cuốn sách này đã giúp tôi hiểu thêm về Tây Tạng vào thời kỳ năm 1923, đối với tôi là rất hữu ích.


### 14. Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu


Tôi tin rằng, đối với các đệ tử, tôi là một người thầy không giấu giếm điều gì. Tôi cùng đệ tử trở thành một, gần như không có sự phân biệt lẫn nhau. Mật pháp của tôi, pháp giáo của tôi, là cùng nhau tỏa sáng, tâm tâm tương ấn. Tôi vẫn luôn nghĩ rằng cần đem mật pháp tốt nhất truyền dạy cho đệ tử.

Có một hôm.
Lục Độ Mẫu hạ giáng. Tôi đang ở Lôi Tạng Tự lễ Phật trước đàn thành. Lục Độ Mẫu nói:
"Trong số 21 vị Độ Mẫu, có một vị là Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu, mọi người trì chú của vị này có thể cứu được chúng sinh."
Tôi nói:
"Vâng!"

Tôi lập tức tìm câu chú của Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu, chú âm là: "Ôm ta-ra tu-ta-ra tu-ra na-mô ha-ra hơ-ra hùm ha-ra sô-ha.” [Om tara tutara tura. Namo hara hera hum hara soha.]
Ngay lập tức, câu chú này được lan truyền nhanh chóng, đã truyền tới khắp mọi nơi trên thế giới.
Tôi cầu nguyện:
Nguyện chúng sinh thoát khổ được vui.
Nguyện dịch bệnh tiêu trừ.
Nguyện Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu cứu độ chúng sinh, bình đẳng ban ơn, không sót người nào.

Tôi viết:
Bồ Tát thương chúng sinh.
Đưa tay cứu sinh tử.
Tâm chú trừ dịch bệnh.
Vi-rút bị chặn ngay.

Còn nữa, có đệ tử nói:
Trong sách của Sư Tôn có nhắc đến Diêu Trì Kim Mẫu là chí tôn trong số các vị thần chuyên kiểm soát dịch bệnh. Hổ Đầu Kim Cang là hóa thân của Diêu Trì Kim Mẫu, hễ có Hổ Đầu Kim Cang đến thì ôn thần cũng biến mất tăm mất tích.

Ngoài ra, Hắc Diện Diêu Trì Kim Mẫu có sức mạnh đặc biệt là bắt "ác quỷ", "ác quỷ" là bao gồm cả "ôn thần". Đệ tử cho rằng, Hổ Đầu Kim Cang và Hắc Diện Diêu Trì Kim Mẫu đều là khắc tinh của ôn thần.
(Trong cuốn sách "Thượng cổ thần thoại diễn nghĩa" có ghi chép rằng ôn thần cũng phân làm năm màu sắc: trắng, đen, đỏ, vàng, xanh lục. Hơn nữa mỗi ôn thần cũng có danh hiệu riêng.)

Theo như sách này ghi chép thì:
Khi trời vui vẻ thì con người được an cư lạc nghiệp.
Khi trời không vui thì ôn thần bách hại nhân gian.
Vào thời cổ đại vẫn có các "miếu ôn thần", tên gọi cũng rất hay, là Ngũ Đại Phúc Miếu, để khiến cho ôn thần được hài lòng.

Còn nữa:
Các bạn còn nhớ trước đây dịch SARS hoành hành không? Diêu Trì Kim Mẫu đã cho Sư Tôn một cái túi giấy nhỏ màu trắng.

Túi giấy nhỏ đến nhân gian. Gặp gió mà mở ra, ở giữa không trung, miệng túi mở ra liền hút hết bệnh dịch SARS vào trong túi, khiến cho ngay cả một con vi-rút cũng không còn sót lại.

Tôi hỏi Diêu Trì Kim Mẫu:
"Sao lần này không cho một cái túi giấy nhỏ nữa?"
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Sinh tử hữu mệnh, phú quý tại thiên."
Tôi hỏi:
"Đã đến lúc kết thúc chưa?"
Đáp:
"Vẫn chưa!"
Trời ạ!
Thế thì bệnh còn hoành hành đến khi nào?


### 15. Pháp hội Hộ Ma Tôn Thắng Phật Mẫu


Chúng tôi làm hỏa cúng Hộ Ma Tôn Thắng Phật Mẫu tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự. Mục đích là:

1. Diệt trừ virus Corona.

2. Cầu phúc cho một "người nổi tiếng".

Bởi vì tên hiệu kim cương của Tôn Thắng Phật Mẫu là Trừ Ma Kim Cang.
Pháp hội này có một điềm báo vô cùng kỳ lạ.

Thứ nhất là:
Tôi đứng bên cạnh lò Hộ Ma chuẩn bị châm lửa. Ngọn nến ở cạnh lò lửa cứ bập bà bập bùng. Tôi vốn định dùng giấy vàng để châm lửa từ ngọn nến, sau đó mới đốt lửa trong lò.

Đúng lúc châm lửa. Trong không gian nổi lên một cơn gió kỳ lạ, gió từ sau lưng tôi thổi thốc thẳng vào ngọn nến. Ngay lập tức lửa nến tắt ngóm, tôi chẳng có cách nào để châm lửa. Tôi đứng sững tại đó. Đây chính là một điềm chẳng lành!

Pháp sư Liên Tự thấy lửa tắt bèn đem tới hai chiếc bật lửa để châm nến. Quái lạ là: bật lửa kêu "tách tách" mấy tiếng nhưng không có lửa, có khả năng là đã hết gas rồi. Lại dùng chiếc bật lửa thứ hai, "tách tách tách" mấy tiếng, cũng vẫn không thể bật được lửa, khả năng cũng lại do hết gas rồi.
Trùng hợp thế!
Kỳ lạ thế!
Cuối cùng, quá tam ba bận mới có thể châm lửa lại được.

Thứ hai là:
Trong khi diễn ra pháp hội, đèn điện trong điện Hộ Ma đột nhiên nhấp nháy. "Bụp" một tiếng, mất điện.
Tôi hỏi:
"Có chuyện gì vậy?"
Có người đáp:
"Bị đoản mạch."

Tôi muốn nói với mọi người rằng chúng tôi tu pháp Hộ Ma đã bao nhiêu năm rồi, chưa từng có một lần nào đốt lửa mà không cháy! Hơn nữa cơn gió kia đến cũng thật kỳ lạ, giống như biết là chúng tôi muốn nhóm lửa nên từ phía sau lưng thổi tới làm tắt nến. Mất điện cũng rất quái lạ.

Thứ ba là:
Sau khi pháp hội Hộ Ma kết thúc, tối hôm đó tôi có một giấc mơ: có một người phụ nữ lọt vào trong phòng tôi. 

Tôi rất kinh ngạc!

Người phụ nữ này chẳng hề có thông báo gì, lẳng lặng âm thầm đi vào trong. Cô ấy vẫy tay với tôi, giống như là muốn tôi đi theo cô ấy. Tôi không đừng được mà đi theo cô. Nét mặt cô chẳng có biểu hiện gì cả, không biết là vui hay buồn. Cô đi trước, tôi theo sau.

Đến một đỉnh núi. Cô ấy chỉ xuống bên dưới núi, dưới đó có không ít người đang nằm ở đó, những thân thể người lấp kín cả mặt đất.
Cô nói:
"Không sống được nữa!"
Tôi hỏi:
"Là ai không sống được nữa?"
Cô quay đầu lại nói với tôi một câu:
"Đây là cộng nghiệp của loài người, số trời đã định, cũng giống như thiên thể vận hành, vô hạn, vô hạn!"

Cô cũng đưa tôi đến gặp người nổi tiếng kia, cô nói:
"Chỉ còn lại chút ánh sáng le lói thôi!"
Cô ấy rất lạnh lùng. Tôi cảm thấy đứng bên cạnh cô ấy rất lạnh. Mặc dù cô rất đẹp, nhưng lại lạnh một cách bất thường!
Cô ấy chính là lời cảnh báo của Tôn Thắng Phật Mẫu!


### 16. Sự thăng hoa của tình yêu


Có người nói:
Tình yêu ở nhân gian là thực tế nhất.
Cùng với người mình yêu, có thể ôm, có thể hôn, có thể ân ái, đó chính là niềm sung sướng nhất. Kiểu hạnh phúc này chính là "mối thâm tình", ở chốn nhân gian là vô cùng đáng quý.

Còn trong kinh Phật thì có nhắc đến tình yêu của thiên thượng giới là tình yêu thăng hoa.
Thiên nhân ở cõi trời Đâu Suất chỉ cần nghĩ đến nhau một cái, thế là xong rồi.
Thiên nhân ở cõi trời Hóa Lạc thì chỉ cần nhìn nhau một cái, thế là kết thúc rồi.
Thiên nhân ở cõi trời Dạ Ma thì chỉ cần nắm tay nhau, thế là đã mãn nguyện rồi.
Thiên nhân ở cõi trời Tha Hóa Tự Tại thì chỉ cần nói nói vài lời, thế là đã thoải mái rồi.
Thiên nhân ở cõi trời Quang Âm thì chỉ cần cười cười một cái, thế là đã sung sướng rồi.
Nói cách khác là: 
"Nghĩ đến, nhìn nhau, nắm tay, nói chuyện, mỉm cười" chính là tình yêu của cõi trời Dục giới.

Tình yêu của cõi trời Sắc giới thì chỉ cần ánh sáng và ánh sáng cùng chiếu soi.
Tình yêu của cõi trời Vô sắc giới thì chỉ còn là "ý" mà thôi.

Có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Tình yêu của ngài là thế nào?"
Tôi đáp:
"Tôi là người bán thần!"
Hỏi:
"Ý là sao?"
Đáp:
"Nửa này nửa nọ!"
Hỏi:
"Nửa này nửa nọ là gì?"
Đáp:
"Xin hãy đọc một cuốn sách của tôi! Cuốn "Đôi lời căn dặn". Đọc xong cuốn này rồi thì sẽ hiểu được tình yêu của Lư Sư Tôn."

Tôi nhận được một bức thư có phần giống với tình yêu của tôi, xin trích ra như sau:

*Sư Phật kính yêu!
Cảm ơn thầy đời này đã thành tựu Phật quả viên mãn, để có thể ban cho con sự gia trì vô hạn.
Khiến con không còn đắm chìm trong thứ tình yêu nhỏ hẹp nữa.
Cho dù dung nhan kiếp này đã thay đổi, thì những rung động của tình yêu vẫn còn tồn tại mãi mãi cùng không gian và thời gian.
Mặc dù con đã hiểu tất cả đều là huyễn, nhưng con vẫn cảm thấy sung sướng khi kiếp này thầy viên mãn như vậy, để cho con có thể học tập tình yêu vĩ đại và sự từ bi vĩ đại của thầy, từ đó mà dần dần vơi đi những suy nghĩ chua xót và đau buồn.
Con biết rằng đến cuối cùng sẽ không còn đau nữa, không phải là không còn yêu nữa, mà là yêu một cách thuần túy, không tạp chất, tâm tâm tương ấn, chữ "Hum" cùng hòa tan vào nhau.
Xin hãy tha thứ cho con vì vô minh mà nhiễm bụi trần!
Xin tha thứ cho con vì ngu si mà đi vào đường rẽ!
Xin tha thứ cho con vì ham vui mà chậm trễ hành trình!*

*Cảm ơn thầy quá từ bi, đã cứu vớt trái tim tan nát của con!
Cảm ơn thầy quá ấm áp, đã xoa dịu tất cả những vết thương của con!
Cảm ơn thầy quá dịu dàng, đã trở thành sự giải thoát cho tương lai của con!*

*Nỗi đau ngày xưa đã xa rồi
Đừng khóc nữa
Hãy bước lên sân khấu
Hát lên một giai điệu vui tươi
Hãy đổi một vở kịch
Hãy diễn một vai diễn tự tại như như
Thời gian luân chuyển không ngừng nghỉ
Hãy không ngừng bước về phía bản ngã chí thượng
Nhân gian chỉ là tạm thời
Định trong Tam ma địa mới là vĩnh viễn
Đại lạc quang minh tỏa sáng
Mãi mãi trường thọ cát tường.*

(Đây là sự thăng hoa của tình yêu, chính là tình yêu của Lư Sư Tôn.)


### 17. Đối thoại giữa tôi và tự tâm tôi


Mùa đông năm 2020, tôi nói chuyện cùng tự tâm mình:
Buổi sáng một ngày nọ. Nhìn ra ánh sáng mặt trời rực rỡ bên ngoài cửa sổ, tôi bắt đầu nhẩn nha nói chuyện với tự tâm mình.

Tôi hỏi:
"Có biết, bây giờ thế giới đã biến thành ra thế nào không?"
Tâm đáp:
"Biết."
Tôi hỏi:
"Làm sao mà biết được?"
Tâm đáp:
"Seattle, Hokkaido, Daegu, Vũ Hán, Iran, Italy, Pháp… Các nước này đều ở vĩ tuyến bắc 40 độ, tất cả đều đại loạn cả rồi."
Tôi hỏi:
"Ngoài những nơi này ra, các nơi khác thì sao?"
Tâm đáp:
"Cũng chẳng kém gì mấy!"
Tôi hỏi:
"Nguồn gốc của loạn nằm ở đâu?"
Tâm đáp:
"Không biết!"
Tôi hỏi:
"Sẽ loạn đến mức nào?"
Tâm đáp:
"Chẳng có ai biết hết."
Tôi hỏi:
"Nhân loại sẽ thế nào?"
Tâm đáp:
"Không biết."
Tôi hỏi:
"Tin tức nói chúng ta phải phòng ngừa ra sao?"
Tâm đáp:
"Chăm rửa tay, đeo khẩu trang……………"
Tôi hỏi:
"Vi tích phân, hình học giải tích, máy tính của chúng ta, có thể tính ra được hậu quả của nó không?"
Tâm đáp:
"Vô tận vô tận, không có người nào tính ra được."
Tôi hỏi:
"Phật của ta, Bồ Tát của ta, Diêu Trì Kim Mẫu của chúng ta…. Có thể biết được hậu quả không?"
Tâm đáp:
"Cho dù là biết thì cũng không thể trả lời." (Thiên cơ bất khả lộ.)
Tôi hỏi:
"Trời, đất, người, đều không có câu trả lời sao?"
Tâm đáp:
"Đó là ba thể, trời là một thể, đất là một thể, nhân loại là một thể, có liên quan lẫn nhau. Cần biết rằng, ba thể này là không hình ảnh không dấu vết."
Tôi hỏi:
"Có ai có thể thay đổi tình hình? Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu, Diêu Trì Kim Mẫu, Tôn Thắng Phật Mẫu?"
Tâm đáp:
"Chỉ có vô hình mới có thể thay đổi được vô hình."
Tôi hỏi:
"Ta có thể hóa thành ánh sáng tiếp dẫn chúng sinh không?"
Tâm đáp:
"Được!" (Ánh sáng cũng là vô hình.)
Tôi hỏi:
"Ta có thể tiếp dẫn hết toàn bộ không?"
Tâm đáp:
"Chỉ giới hạn trong những người có duyên, còn những người khác thì kêu trời trời không đáp, gọi đất đất không thưa."
Tôi muốn hỏi tiếp:
Tâm dường như mất kiên nhẫn, tâm cũng đã đóng chặt lại rồi. (Chẳng có cách nào khác.)


### 18. Thư của Thượng sư Liên Hỷ


Đảnh lễ cảm ơn Vô thượng tôn quý Căn bản Thượng sư đại từ bi!

Đệ tử con xin cảm ơn Sư Phật từ bi đại gia trì, đã tiếp dẫn cha con là Liên Hoa Thủy Khôn vãng sinh Phật quốc tịnh độ. Sư Tôn, vào ngày mà cha con qua đời, đó là ngày 3 tháng 3, con từ Seattle trở về Panama, đang ở nhà vừa ăn trưa vừa nói chuyện cùng người nhà. Mẹ con kể rằng buổi sáng vừa mơ thấy cha con đưa mẹ con về Đại Lục chơi rất vui vẻ. Khi mọi người đang vừa ăn cơm vừa trò chuyện, chúng con cũng đã chuẩn bị để 4 giờ chiều hôm đó, vào thời gian bệnh viện mở cửa thì đi thăm cha. Thế nhưng bất ngờ nhận được điện thoại của bệnh viện nói người nhà lập tức vào viện ngay. Lúc chúng con đến bệnh viện thì cha con đã qua đời rồi! Khi đó con lập tức giải thích với người nhà hãy để con lo liệu mọi thứ, không được chạm vào cha con. Con lập tức thực hiện việc chăm sóc xoa dịu trong 8 giờ vàng lúc lâm chung. Dưới sự gia trì của Sư Phật, bệnh viện đã tạo điều kiện thuận lợi đáp ứng cho con làm chăm sóc lâm chung cho cha con.

Trong khoảng thời gian 8 giờ vàng, em gái lớn của con (em ba) đã nhìn thấy Sư Tôn xuất hiện phóng đại quang minh, sau đó cha con chào tạm biệt em gái con. Cha con liền cúi đầu đảnh lễ Sư Tôn, sau đó tan biến vào trong ánh sáng tịnh quang của Sư Tôn. Đồng thời khi sắp hết 8 giờ vàng, con thành tâm cầu nguyện Sư Tôn gia trì. Khi con làm động tác vẽ ấn tứ tung ngũ hoành ba lần cho cha con, em trai nhỏ của con (em năm) khi đó vẫn đang nhắm mắt liên tục hát Phật hiệu, nó đột ngột cảm giác có hai lần có lực phóng ra rất mạnh, sau đó vào lần thứ ba, nó lập tức mở mắt ra nhìn xem rốt cục là có chuyện gì. Hóa ra là thấy rằng con đang làm kết giới.

Dưới sự gia trì của Sư Phật, chúng con đã rất nhanh chóng sắp xếp được một ngày sau có thể hỏa thiêu. Vào ngày 5 tháng 3 tại nhà tang lễ làm nghi thức tiễn biệt cha con, khi các đồng môn tại Thường Hoằng Lôi Tạng Tự ở Panama đang cùng làm nghi thức tụng kinh, em trai lớn của con (em hai) nói vốn dĩ tâm trí nó rất tán loạn, khi niệm đến Cao Vương Kinh, đột nhiên có một sức mạnh vô cùng chắc nịch khiến nó lập tức nhắm mắt lại, nó cho rằng có tà linh bất hảo đến quấy nhiễu, tự bảo mình phải mở to mắt ra nhìn, nhưng không sao mở được mắt.

Nó bắt đầu hoảng, lập tức niệm tâm chú Sư Tôn. Khi nó niệm tâm chú Sư Tôn, nó liền nhìn thấy thiên tâm của cha có một vệt ánh sáng màu đỏ rất mỏng cùng một đường ánh sáng màu xanh lục rất mỏng, hai vệt ánh sáng kéo dài đến rất xa, hết tầm mắt có thể nhìn thấy thì thông thẳng đến trời. Đồng thời em gái nhỏ của con (em tư) nói khi đọc kinh A Di Đà Phật, nó đọc đến một ký tự tiếng Trung mà nó không hiểu, do vậy nó liền nhắm mắt lại để tập trung tinh thần quán tưởng Sư Tôn phóng quang gia trì. Trong một sát-na, bất ngờ Sư Tôn biến thành cha con đang cười với nó, em gái nhỏ của con nói vốn dĩ rất nhớ, rất nhớ, rất nhớ thương cha, khi cha xuất hiện cười với nó, tình cảm không nỡ rời xa của nó đối với cha hoàn toàn vỡ òa ra!

Sư Tôn, đệ tử con biết được Sư Tôn đã từ bi tiếp dẫn cha con vãng sinh đến Phật quốc tịnh thổ và khi nghe được những cảm ứng của các em trai em gái, trong lòng con xúc động không sao tả xiết. Nguyện lực không từ bỏ bất kì một chúng sinh nào của Sư Phật, sức mạnh đại từ bi từng giây từng phút cứu độ chúng sinh, thật sự con vô cùng biết ơn, vô cùng cảm động, vô cùng cảm kích! Đệ tử con ngoài việc cảm ơn vô hạn Sư Phật ra thì đệ tử con xin cầu nguyện lấy kính sư, trọng pháp, thực tu để tu trì thành tựu, tự lợi lợi tha, tự độ độ tha, để báo ân! Sư Tôn, hiện tại thế giới đâu đâu cũng có dịch bệnh, đệ tử con thỉnh cầu Sư Tôn gia trì, để ngày 13 tháng 3 con từ Panama đưa tro cốt của cha con về Seattle, việc thông quan tất cả đều được thuận lợi không chướng ngại.

Đệ tử con Liên Hỷ quỳ lạy đảnh lễ.

🌟

Có người hỏi tôi:
"Ngài viết cuốn "Hẹn gặp vào mùa đông" là có ý nghĩa gì?"
Tôi đáp:
"Năm 2020 tôi đã tập trung lớn vào việc tiếp dẫn, đã dùng đến tâm lực lớn nhất."
Người hỏi:
"Vì sao lại là năm 2020?"
Tôi đáp:
"Tôi đã nói năm 2020 là một năm đại loạn nhất, đây là lời dự đoán của tôi. Tôi nói sẽ có dịch bệnh lớn, sẽ giết chết rất nhiều người, do vậy ban ngày tôi rất bận, buổi tối tôi cũng rất bận."
Người hỏi:
"Tôi thấy ngài cuộc sống hàng ngày vẫn như thế mà?"
Tôi đáp:
"Nhất mặc nhất thanh lôi!" [Một thành ngữ trong Phật giáo, nghĩa rằng trong sự im lặng cũng có thể tạo nên những tiếng sấm kinh hoàng, trong âm thầm nhưng thực sự đã làm nên chuyện rất lớn.]
Người hỏi:
"Ý là sao?"
Tôi đáp:
"Sự trầm mặc âm thầm của tôi chính là lúc tôi đang tiếp dẫn chúng sinh đó!"
Người hỏi:
"Lư Sư Tôn có khả năng đặc biệt khác lạ ư?"
Tôi đáp:
"Tôi chỉ phóng tỏa quang minh, bất kể là chúng sinh hữu duyên hay vô duyên, chỉ cần đi vào trong ánh sáng của tôi, tương ấn được với ánh sáng, thì tôi đều tiếp dẫn họ đi đến Phật quốc tịnh độ. Tôi giữ vững tấm lòng yêu chúng sinh, chỉ vì tôi muốn chia sẻ niềm vui hạnh phúc của mình với chúng sinh."
Người hỏi:
"Cha của Thượng sư Liên Hỷ cũng là do ngài tiếp dẫn sao?"
Tôi đáp:
"Đúng là như vậy."
(Chuyện này đúng là "hẹn gặp vào mùa đông" rồi.)


### 19. Sự dung hợp của ánh sáng và ánh sáng


Mùa đông 2020.
Một cơn đại dịch mang tính toàn cầu đã trút giận lên toàn nhân loại.
Theo như tôi quan sát bằng con mắt thứ ba của mình thì là như thế này:
Nhìn về tương lai!
Con người dường như đang trôi là là trên mặt đất, đó là những đốm ánh sáng màu đen.
"Có chuyện gì sao?"

Tôi biết, những đốm sáng đó đều là người chết vì dịch bệnh mà phát ra ánh sáng.
Có một số điểm sáng thì bay lên trên!
Có một số điểm sáng thì rơi xuống dưới!
Họ đều trôi từ từ, có người nói: người đã chết rồi phần lớn đều yếu ớt, người còn sức khỏe như thanh niên tương đối hiếm.

Tôi nhìn thấy:
Những đốm sáng tách rời mặt đất này xếp hàng ngang trong không trung, tất cả những người này đều bị nghiêng với những góc độ khác nhau.
Giống như một đám người không biết bơi vậy, trong không khí, họ lập cập run run một cách vụng về.
Họ muốn giữ yên chính mình, nhưng không giữ yên được, họ còn va vào nhau.
Những người chết.
Từng đám, từng đám.
Hơn trăm, hơn nghìn, hơn vạn người.
(Tương lai sẽ lên tới cả vạn vạn người.)
Đây là một bức tranh về một cơn ác mộng.
Giống như một bầy kiến khổng lồ.

Thế là:
Ánh sáng nội tại của tôi (Lư Sư Tôn) thoát ra từ lỗ trên đỉnh đầu, là ánh sáng màu trắng.
Trong suốt lấp lánh tinh khiết.
Giống như một mặt trời bay về phía một mặt trời lớn khác.
Tôi là mặt trời.
Tôi bay về hướng một mặt trời khác là A Di Đà Phật, Ngài là Vô Lượng Quang.
Bởi vì có sự xuất hiện của tôi.
Ánh thái dương của A Di Đà Phật mới xuất hiện.
(Cùng hòa nhập vào lẫn nhau.)
Mặt trời nhỏ của tôi tiến nhập vào mặt trời lớn, hai ánh sáng hòa tan vào lẫn nhau.
Đây là sự tu luyện của tôi.
Lúc này, trên bầu trời xuất hiện một chùm tia sáng lấp lánh, trong sự tỏa sáng lấp lánh biến huyễn thành những hình dạng. Tất cả những hồn ma màu đen từ lâu đã chẳng còn chỗ nương dựa, lần lượt được dẫn dắt tiến nhập vào ánh sáng trắng khổng lồ.

Tất cả họ! Cuối cùng đã có được:
Ấm áp.
Sạch sẽ.
Hạnh phúc.
Ổn định.
Linh tính.

Những đốm sáng màu đen trước tiên được tắm rửa sạch sẽ, đến khi tất cả đều sạch rồi thì sẽ được dẫn vào trong cõi tịnh độ.
Tất cả những người đã chết sẽ hiểu được rằng:
*Tứ đại ta chẳng có
Ngũ uẩn vốn là không
Nay nghe giảng pháp ngữ
Giống như đón gió xuân.*

Còn nữa:
*Hãy trân trọng Phật bảo
Xuân thu mấy độ già
Cây bồ đề nở hoa
Chứng Cực Lạc là tốt.*

Vào mùa đông 2020, tôi thường hòa nhập vào ánh sáng của A Di Đà Phật.
Thực thi sự nghiệp của Phật.
Cứu độ những người đã chết vì dịch bệnh.


### 20. Cầu nguyện vì Lưu Chân


Mùa đông 2020.
Tin tức về Lưu Chân là do bốn người chuyển tin nhắn đến cho tôi.

1. Chồng của Lưu Chân. (Tân Long)

2. Pháp sư Liên Cận.

3. Sư tỉ Từ Nhã Kỳ.

4. Sư huynh Vương Tư Chủ.

Ôi! Đó là một sự việc chẳng ngờ tới. Một cuộc đời đầy sắc màu như vậy bỗng chốc biến thành đen trắng hoàn toàn.

Tôi vẫn còn nhớ:
Trong một con ngõ nhỏ trên đường Đại Đôn số 17 tại thành phố Đài Trung, có một quán ăn nhỏ, Tân Long đã đưa Lưu Chân tới. Hai người quỳ xuống thỉnh cầu tôi gia trì. Vẻ đẹp của Lưu Chân khi đó làm rung động lòng người.

Còn nữa:
Tại tầng sáu của Lôi Tạng Tự ở thị trấn Thảo Đồn huyện Nam Đầu.
Tôi làm chứng cho hạnh phúc của Tân Long và Lưu Chân.
Thỉnh cầu Nam Mô Bổn Tôn Thích Ca Mâu Ni Phật gia trì cho cuộc hôn nhân của hai người họ.
Viên mãn hạnh phúc!
Lưu Chân khi đó mang dáng dấp của một cô dâu mới.

Còn nữa:
Tại tầng sáu của Lôi Tạng Tự ở Thảo Đồn, Nam Đầu.
Tân Long và Lưu Chân thỉnh tôi gia trì để cho họ sinh được một đứa con. Kết quả là họ đã sinh ra một bé gái. Trong đời này tôi chỉ gặp Lưu Chân có ba lần này. Ấn tượng trong đầu tôi về cô là:
Kiều diễm.
Duyên dáng.
Thật thà.
Nhã nhặn.

🌟

Giờ đây, tôi thật sự thể hội được hai chữ:
"Vô thường".
Điều khiến tôi ngạc nhiên là, cô ấy nằm ở đó, vừa bị oxy hóa màng ngoài cơ thể, vừa bị bệnh tim, vừa bị bệnh não.
Vỏ não phải lấy ra.
Là vì để giảm bớt áp lực lên não.

Tôi hết sức kinh ngạc.
Bây giờ thì cô vừa phải cắm ống, vừa phải mở khí quản.
Tôi không phủ nhận là tôi đã vì Lưu Chân mà cầu nguyện:
"Xin Diêu Trì Kim Mẫu hãy cứu lấy Lưu Chân!"
"Năn nỉ đó!"
"Hãy làm cho cô ấy hồi phục đi! Diêu Trì Kim Mẫu, cầu xin ngài đấy!"

Tôi cũng xuất linh hồn đi thăm Lưu Chân. Tôi nhìn thấy "hồi quang" trên người của Lưu Chân.
Màu đen.
Màu nâu.
Đỏ nhạt.
Nhưng phần lớn là màu đen.

Lớp vỏ bên ngoài đã bị vỡ rồi.
Bác sĩ lại còn chọc thêm mấy cái lỗ nữa.
Để cho nước dịch nhỏ xuống.

Bác sĩ gia đình của chúng tôi, tiến sĩ y học Olivia nói:
"Cô ấy sẽ không còn sống được lâu nữa!"

Nhưng, tôi ngồi yên lặng trước đàn thành, vì cô ấy mà niệm Phật, trì chú, hồi hướng:
Tôi nói:
Cấu giả tịnh.
Tà giả chính.
Nhân cung kính.
Sinh tử xứ.
Tâm tịch tĩnh.
[Nhơ bẩn được thanh tịnh. Xấu xa được thuần chính. Người cung kính. Nơi sinh tử. Tâm tĩnh lặng.]
(Lưu Chân, tạm biệt nhé!)


### 21. Nhịp điệu mưa mùa đông


Mùa đông 2020.
Seattle.
Có ba tháng mưa.
Tôi viết chương "Nhịp điệu mưa mùa đông" này, nhìn ra bên ngoài cửa sổ, trời vẫn đang mưa phùn lất phất.
Hôm nay là ngày 13 tháng 3 năm 2020.

Bài thơ 1:
*Ban mai sắc trời vẫn trầm trầm
Gần sáng trời vẫn tối
Lại thêm mưa lất phất
Làm sao để tâm trạng được vui.*

*Bữa cơm nhạt có hề gì
Vẫn viết nên một bài thơ nhỏ
Gửi vào từng giọt cảm xúc kia
Kết thành khúc nhạc
Xướng âm.*

*Gửi cho nàng
Để trong mơ không còn phải mấy lần tìm kiếm
Cắt phăng đi thời tiết ảm đạm
Thay vào đó
Là tâm hồn thảnh thơi của ta.*

Bài thơ 2:
*Mưa mùa đông ở Seattle
Những sợi mưa mong manh
Chẳng dài
Chẳng ngắn
Vừa buồn
Vừa vui
Dường như nỗi thê lương tách biệt
Khiến người ta cảm thương.*

*Ôi cơn mưa
Giăng khắp nơi
Càng nhẹ nhàng
Càng thêm yêu.*

*Là lời nhắn
Của cõi trời gửi đến.*

Bài thơ 3:
*Tôi chẳng bao giờ che ô
Cũng chẳng có áo mưa
Tôi chỉ có nón lá
Và cứ như thế
Đi tới Lôi Tạng Tự*

*Mưa nhỏ
Mưa to
Mưa rất to
Tôi vẫn cứ thế
Chậm rãi rảo bước
Vẫn cứ là như thế
Đứng đó
Mà viết ra
Bao mảnh hồi ức về Seattle.*

Bài thơ 4:
*Lãng đãng như lông vũ
Hạt mưa bay bay
Mưa buổi sáng
Mưa buổi tối
Hỏi khi nào mây tan trời trong
Ôi trái tim người con gái
Ai hiểu được tâm tư?*


### 22. Sự cống hiến vô tư


Tôi xem ti vi, thấy tình hình dịch bệnh rất cam go. Các nhân viên chăm sóc y tế đã dạy cho dân chúng rất nhiều phương pháp phòng dịch:
Đeo khẩu trang.
Chăm rửa tay.
Tay không sờ vào mũi, miệng, mắt.
Không bắt tay.
Giữ khoảng cách với người khác.
...

Mỗi một phương pháp đều khiến người ta cảnh giác và sợ hãi.
Điều khiến người ta sợ nhất là những người chết vì nhiễm bệnh là cha, mẹ, con cái, bạn bè thân thiết.
Đầu tiên là lây nhiễm trong gia đình.
Sau đó là lây nhiễm trong cộng đồng.
Bệnh viện cũng bị lây nhiễm.

Tại bang Washington, dịch bệnh bắt đầu sớm nhất là những người già, người bị bệnh trong các viện dưỡng lão.
Một trường hợp nhiễm.
Cả viện đều nhiễm.
Chẳng bao lâu đã chết khá nhiều người.
Điều này khiến cho chúng ta thực sự sợ hãi.
Những viện dưỡng lão có người chết vì nhiễm bệnh là ở Kirkland, mà Tây Thành Lôi Tạng Tự thì ở Redmond. Kirkland và Redmond ở cạnh nhau.
Rất nhiều người trong lòng đã sợ hãi!

Nhưng,
Sau mỗi bữa ăn, tôi vẫn "sờ đầu" gia trì cho các đệ tử Chân Phật Tông.
Nhiều năm nay đều như vậy.
Mặc dù bệnh dịch đang bùng phát.
Tôi vẫn tiếp tục làm như trước đây.

Cách phòng ngừa của tôi là, trước khi sờ đầu, tôi nhất định phải rửa tay để khử trùng. Sau khi sờ đầu, tôi lại dùng cồn rửa tay để khử trùng. Sau đó, các đồng môn cùng đến Lôi Tạng Tự làm đại lễ bái.

Sờ đầu. (Là tay của tôi chạm vào đầu của đệ tử.)
Nếu như theo phương pháp phòng ngừa mà nói thì việc này rất nguy hiểm.
Nhưng, Mật giáo là phải có sờ đầu mà!
Chúng tôi nghĩ đến Daegu ở Hàn Quốc, giáo hội Tân Thiên Địa đã bị nhiễm bệnh tập thể.
Còn nữa,
Phật đường Hồng Kông cũng bị nhiễm bệnh tập thể.
Còn nữa,
……
Chà!
Tôi phải làm thế nào đây? Đồng môn phải làm thế nào đây?
Liệu chúng ta có lại trở thành một giáo hội Tân Thiên Địa khác không?
Thật may mắn là, số người ở cùng nhau của chúng ta hiện nay đã trở nên vô cùng ít rồi. Các đệ tử ở các vùng dịch không thể đến đây!

Đệ tử ở Châu Âu đã bị cấm đến!
Đệ tử ở Canada bị hạn chế số người có thể đến Mỹ.
Đệ tử sống tại Seattle không vượt quá 250 người.
(Chính phủ Mỹ quy định, những cuộc tụ tập quy mô 250 người trở lên cần phải hủy toàn bộ.)
Chúng ta vẫn chưa vượt quá 250 người.
Tôi vẫn duy trì việc sờ đầu.
Tôi thực hiện các biện pháp phòng ngừa hết mức có thể.
Mọi người cũng thực hiện các biện pháp phòng ngừa hết mức có thể.

Tôi đã nhận thấy được:
Sự kiền thành của đệ tử.
Những gì tôi làm là sự cống hiến, vô tư, đáp trả.
Liên Hoa Đồng Tử chính là như thế: thiên chân, thuần tịnh, tốt lành.
Tôi chẳng có gì sợ hãi!


### 23. Tôi không hề lo sợ


Mùa đông năm 2020.
Lời dự đoán lớn của tôi là:

1. Sẽ xuất hiện đại dịch bệnh.

2. Kinh tế toàn thế giới chỉ còn được 20 điểm.

Đài truyền hình Đài Loan điên cuồng đưa tin, chỉ có hai chữ:
"Quá chuẩn!"
Lời dự đoán của tôi đưa ra vào cuối năm 2019.
Trong chương trình do sư tỉ Vạn Bội Bội chủ trì.
Người phỏng vấn là sư tỉ Văn Bân.
Địa điểm là tại Seattle Lôi Tạng Tự.
Giờ đây, quả nhiên đã xuất hiện dịch cúm virus Corona, đã truyền nhiễm khắp thế giới.
Trên phương diện kinh tế, hàng trăm ngành nghề bị ảnh hưởng.
Điều tôi muốn nói với mọi người là:
Trong thế giới hiện thực, nỗi lo sợ của nhân loại cuối cùng đã đến rồi, bởi vì đại dịch sẽ làm chết rất nhiều người.

Tôi nhận thấy,
Con người chết thì có mấy dạng:
Tim ngừng đập.
Mỡ máu làm tắc nghẽn động mạch.
Ung thư phát tác.
Hỏng chức năng thận.
Mắc phải bệnh dịch.
Gặp thiên tai do đất, nước, lửa, gió.
Chiến tranh do con người gây ra.
Và những cái chết bất ngờ kiểu như tai nạn giao thông…..

Còn tai nạn lớn của năm 2020 chính là: dịch bệnh.
Phần lớn các chuyên gia y học hoặc các nhà khoa học, hoặc các chuyên gia nghiên cứu đã dồn toàn lực để đối phó với dịch bệnh, chẳng khác gì đối phó với mối nguy cơ chết chóc mà nhân loại đang phải đối mặt.
Nhưng tôi lại chẳng sợ hãi.
Tôi cũng chẳng đi mua khẩu trang.
Tôi cũng không chen chúc như người ta đi siêu thị để vơ vét những nhu yếu phẩm hàng ngày.
Tôi cũng chẳng ủ rũ.
Tôi cũng chẳng đeo khẩu trang hàng ngày.
Tôi cũng chẳng tự cách ly bản thân.
Tôi cũng chẳng đi mua sẵn các loại thuốc.
…………

Vì sao tôi (Lư Sư Tôn) vẫn cứ bình tĩnh như vậy? Bởi vì tôi nhìn thấy từ trên trời rót xuống những dòng chảy pháp rực rỡ, là những dòng pháp lưu ngũ sắc, giống như một chiếc lưới võng chụp lấy toàn bộ xung quanh thân thể tôi.

Trong không trung — có võng kim cang.
Bốn xung quanh — có tường kim cang.
Trên mặt đất — có nền móng kim cang.
Toàn thân — có lưới ánh sáng kim cang. (lửa)

Những danh từ mà tôi dùng là những danh từ nói về bốn lớp kết giới của Mật giáo. Thực tế là pháp lưu ánh sáng ngũ sắc lúc nào cũng ở xung quanh tôi, giống như một chiếc lưới ánh sáng bảo vệ lấy toàn thân tôi vậy.
(Đây không phải là quán tưởng, mà là tôi thật sự nhìn thấy được.)

Còn nữa,
Tôi đối diện với nguy cơ chết do tuổi già, vốn dĩ tôi đã chẳng hề sợ hãi.
Chết là điều mỗi người đều sẽ phải trải qua.
Nhân loại vẫn chưa phát minh ra được tiên đan trường sinh bất tử.
Cá nhân tôi cho rằng:
Chết là giải thoát.
Chết là biểu tượng của thành tựu, vứt bỏ lại cái vỏ để mà bay lên.
Một đường ánh sáng thẳng tiến.
Thành Phật.
Thành đạo.
(Tôi đã nắm chắc được việc bản thân mình có thể tự do vãng sinh đến cõi tịnh thổ cao nhất.)
A Di Đà Phật!
Thoát khỏi biển khổ của nhân gian, chẳng phải là rất tốt sao?


### 24. Tôi đã yêu hoa anh đào


Tôi cũng không biết hoa anh đào ở Seattle là từ đâu mà có? Nhưng, ở Seattle rất nhiều hoa anh đào. Mỗi năm đến tháng ba, tháng tư là hoa anh đào nở khắp cả Tây Thành. [Tây Thành là cách Sư Tôn thường gọi để chỉ thành phố Seattle, vì Seattle phiên âm theo tiếng Trung là Tây Nhã Đồ.]
Thật sự là "Tây Thành chẳng có chỗ nào là không có cánh hoa bay".
Có rất nhiều loại hoa anh đào khác nhau.
Anh đào đỏ.
Anh đào hồng.
Anh đào trắng.
...
Có loại hoa anh đào cỡ vừa.
Nhưng phần lớn là hoa anh đào nhỏ xinh, giống như loài hoa dại vậy, những bông hoa tụ lại thành cả cụm, giống như:
Mây hoa.
Biển hoa.
Ô hoa.
Đẹp không thể tả!

Khắp xung quanh khu vực tập đoàn Microsoft có rất nhiều hoa anh đào.
Trong khu vực Redmond cũng có rất nhiều hoa anh đào.
Bên ngoài bức tường khuôn viên Lôi Tạng Tự là cả một hàng hoa anh đào.
Hai bên con đường lớn dẫn vào Cầu Vồng Lôi Tạng Tự là hai hàng hoa anh đào.

Tôi cực kì yêu thích hoa anh đào, vì sao lại thích ư? Tôi cũng thường ngẫm nghĩ về điều này.
Tôi luôn cảm thấy lá phong và hoa anh đào là hai thứ mà tôi yêu nhất.
Lá phong — rất diễm lệ.
Anh đào — rất mộng mơ.

Và cứ thế, tôi đã bị vẻ đẹp đầy mộng mơ mê hoặc. Cái sắc hồng hồng, dáng vẻ mềm mại, xinh xinh, những bông hoa xinh đẹp ấy đã đánh cắp trái tim tôi rồi.

Đặc biệt là,
Những cụm hoa anh đào màu trắng giống như từng đám mây, từng đám mây rơi xuống nhân gian.
Đứng ở trên cao thưởng hoa có thể thấy cả một biển hoa màu trắng màu hồng.
Nếu như chỉ có một cây thì nó giống như một chiếc ô xinh đẹp duyên dáng.

Còn khi hoa anh đào rụng cánh, đó là:
"Mưa hoa".
Một ngọn gió thổi qua, đó là:
"Gió hoa".

Cánh hoa anh đào trắng ngần bay múa trong không trung, đó là: "Bạch tuyết".
Trong ký ức mơ mộng của tôi, tôi từng có một thời học trò đi dưới những hàng cây hoa anh đào, tung một cuốn sách lên để rồi những cánh hoa anh đào rụng xuống người, tôi đã trở thành:
"Người hoa".

Trong ký ức của tôi, có một cô gái nhỏ bé trong ánh chiều lảng bảng, đứng dưới gốc cây hoa anh đào mà hát bài "Giọt lệ lấp lánh". Còn khẽ đung đưa múa theo.
Hoa.
Nhạc.
Múa.
Khiến tôi say đắm!

Nói cho mọi người biết nhé, tình cảm giữa tôi và hoa anh đào là thứ tình cảm thân thiết, quyến luyến, ôm ấp, bịn rịn.

Tôi viết ra đây một bài thơ:
*Dạo bước dưới hoa đào
Như đi dưới màn sương
Từng đám mây màu trắng
Cho gió thỏa sức vờn.
Dưới hoa nhàn nhã ngủ.
Nào biết hoa rơi nhiều.
Chim rừng bỗng bay tới.
Xứ u tịch vỡ tan.*

Bài thơ này, trong ký ức của tôi, là do một vị cao tăng viết. Tôi có sửa lại một vài câu, đọc lên có vần có vị, và cũng có cái chất của tôi.


### 25. Khoảng cách giữa người với người


Mùa đông 2020.
Sự lan tràn của dịch bệnh khiến cho tất cả mọi thứ trở nên thực dụng.
Thống đốc bang Washington tuyên bố:
Hôm nay, các bữa tiệc tụ tập không được vượt quá 250 người.
Ngày mai, các bữa tiệc tụ tập không được vượt quá 50 người.
Ngày kia, các bữa tiệc tụ tập không được vượt quá 10 người.

Còn nữa:
Khoảng cách giữa người với người cần giữ trên 2 mét, không được đứng quá gần nhau.
(Khi tôi viết chương sách này, tất cả các nhà hàng trong toàn bang đều đã đóng cửa, dừng hết công việc kinh doanh. Nhưng, không hạn chế việc mua bán bên ngoài.)
Toàn bộ trường học đóng cửa.
Các công sở không mở cửa. (Làm việc tại nhà.)
Tốt nhất là mỗi người đều ở nhà, nếu không có việc thiết yếu thì không ra khỏi cửa.
Chỉ có các bệnh viện là mở cửa.
Chỉ có các hiệu thuốc là mở cửa.
Tóm lại, bệnh dịch nghiêm trọng, dường như tất cả hoạt động của cuộc sống đều dừng hết lại.
Cuối cùng chỉ còn lại một thành phố bị phong tỏa mà thôi!

Dịch bệnh càng ngày càng đáng sợ, cứ diễn biến này thì đến cuối cùng sẽ thành ra như thế nào đây? Chẳng ai biết được!
Toàn thế giới cho đến thời điểm này, đã có 144 quốc gia bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh.
Kinh tế toàn cầu coi như xong rồi. (sụp đổ)
Đã có rất nhiều quốc gia trên toàn thế giới đóng cửa biên giới.
Việc thăm nom giữa các nước, cũng đã dừng lại.
Việc thăm nom giữa con người, cũng đã dừng lại.

🌟

Cá nhân tôi thì sao?
Hoằng pháp thế nào?
Bây giờ đã chẳng có đồng môn từ các quốc gia khác đến để hỏi chuyện nữa.
Cái gọi là pháp hội thì:
Một mình tôi ngồi trên pháp tọa.
Phía dưới không có một ai.
Tôi thuyết pháp với những chiếc ghế trống.
Chúng tôi có truyền phát trực tiếp, tôi đã trở thành "nhân vật nổi tiếng trên mạng", thuyết pháp cho cả một hội trường chẳng có một ai.
Đây chính là pháp hội dưới thời kỳ dịch bệnh.

Nếu như có người từ phương xa đến thì cũng chỉ có một hoặc hai người.
Chúng ta sẽ hốt hoảng lo lắng mà hỏi:
"Anh chị từ đâu đến?"
"Anh chị sẽ đi đâu?"
"Anh chị có lịch sử du lịch không?"
"Anh chị đến đây làm gì?"
"Anh chị có bị sốt không?"
"Anh chị có bị ho không?"
"Anh chị có triệu chứng gì không?"
"Chẳng phải anh chị nên tự mình cách ly 14 ngày sao?"
…..

Vào thời kỳ dịch bệnh:
Tất cả mọi việc như cùng nói chuyện, nhìn nhau, ôm nhau, nắm tay, mỉm cười,… đều không có.

Bạn muốn đi du lịch ư, khuyên bạn hãy từ bỏ suy nghĩ đó đi.
Vì cảm tình giữa con người đã lạnh nhạt.
Người với người mặt lạnh tanh.
Đường phố vắng vẻ.
Ngay cả vợ chồng, anh em, chị em, tình nhân, người già, người trẻ cũng không ở cùng nhau nữa, tất cả đều không qua lại thăm hỏi nhau.
Đồng môn với đồng môn.
Lư Sư Tôn và các đệ tử.
Dưới sự đe dọa của "cái chết".
Khoảng cách lại càng xa!


### 26. Trầm tư với mưa đông


Mùa đông 2020.
Hôm nay trời lại mưa.
Thế là, tôi viết "trầm tư với mưa đông".
Thứ nhất:
Sau khi trải qua đại pháp hội "hẹn gặp vào mùa đông", hôm nay là ngày 18 tháng 3. Vừa hay cách pháp hội đó đúng 1 tháng 18 ngày. Các đệ tử sống tại Seattle đã rất ít rồi.
Pháp sư Liên Cẩn nói:
"Lư Sư Tôn! Con sắp về Nhật rồi!"
Thượng sư Liên Dục nói:
"Con sắp về Đài Loan rồi!"
Pháp sư Liên Cân nói:
"Con sắp trở về Đức rồi!"
………


Tôi nghĩ:
"Thế nào cũng sẽ đến một ngày, tôi sẽ nói với tất cả các đệ tử rằng, tôi sắp trở về Thiên quốc rồi! Trở về Ma Ha Song Liên Trì!"

Tôi lĩnh ngộ ra:
Đời người không phải là hợp, mà là tan.
Đến một ngày nào đó, thậm chí sẽ chẳng còn ai thấy được ta nữa, chỉ còn lại một chút niềm nhớ mà thôi.

Thứ hai:
Trước đây, các thị giả của tôi ở Đài Loan có:
Pháp sư Liên Anh ở Gia Nghĩa.
Thượng sư Liên Hoa Huệ Quân ở Đào Viên.
Thượng sư Liên Dư ở Nam Đầu.
Sau khi tôi trở về Mỹ, những ký ức về Đài Loan dường như có phần xa xôi hơn.
Khi mẹ tôi còn sống, bà thường nói:
"Con người giống như chim, thoáng chốc bay về tây, thoáng chốc bay về đông!"

Thỉnh thoảng, tôi cũng hoài niệm:
Những dòng xe cộ giao thông đông đúc trên đường phố Đài Loan.
Sự lộn xộn và nhem nhuốc của Đài Loan.
Không khí ô nhiễm của Đài Loan.
Chà!
Khi nào tôi mới có thể lại trở về Đài Loan đây?
Tôi vẫn còn rất nhớ Đài Loan.

Thứ ba:
Tôi nghe sư tỉ Giai Tân hát:
*Mùa hè đi qua, hoa cúc nở rồi
Gió thu gửi tới đôi chút ưu tư
Những giọt mưa thu gõ vào cửa kính
Bao nhiêu lá rơi bấy nhiêu âu sầu
Ngồi trước cửa sổ giở xem nhật ký
Từng chữ từng dòng đều thấy có anh
Lãng mạn ngày xưa đã thành ký ức
In đậm trong tâm bao điều khó quên
Hạnh phúc của em là nhớ về anh.*
………
[Một đoạn trong bài hát "Hạnh phúc của em là nhớ về anh" - ca sĩ Trần Nhã Sâm trình bày.]

Kì thực, tôi là một người tu hành. Ngoài niệm Phật, nhớ Phật, trì danh hiệu Phật, hợp nhất với Phật, thì nếu như còn có được một chút thời gian, bản thân tôi cũng sẽ "hạnh phúc của ta là nhớ về nàng"!

Thứ tư:
Gặp phải dịch bệnh lan tràn khắp thế giới.
Tôi chỉ có một sự lựa chọn:
Thuần tịnh. (thuần tĩnh)
Cô tịch.
Nhập Tam ma địa.
Bây giờ chỉ còn lại hai việc cần phải làm, cũng chỉ có thể làm như thế thôi, hai việc này chính là:
"Trầm tư và tìm kiếm trong mơ."


### 27. Thượng sư Liên Dục lang thang


Trước tiên, tôi cần giải thích rõ:
"Vì sao bang Washington của nước Mỹ lại được liệt vào danh sách vùng dịch cấp độ ba, nổi tiếng cùng với California và New York?"
Tôi nói:
Bởi vì bang Washington có một tổ chức lớn chuyên nghiên cứu về vi khuẩn và virus.
Họ xét nghiệm phát hiện ra virus rất nhanh với số lượng nhiều nhất. Do vậy mà số người chết ở đây nhiều nhất. Số người chết vì dịch bệnh là những người già sống tại các viện dưỡng lão và viện người cao tuổi, những người tám mươi, chín mươi tuổi.
Bởi vì dịch bệnh lan ra toàn viện đều nhiễm.
Chính vì hai điểm này mà Washington và Seattle đã trở thành cái tên tuổi lớn được nhắc đến trên toàn thế giới.

Do vậy:
Khi Thượng sư Liên Dục muốn từ Seattle trở về Đài Loan, bà ấy chuẩn bị trở về để trụ trì Quảng Hỷ Lôi Tạng Tự, thì cũng sẽ phải cách ly 14 ngày.
Quảng Hỷ Lôi Tạng Tự từ chối.
Bà ấy bị đuổi ra ngoài.
Thế là, bà nghĩ đến "đại bản doanh" của Chân Phật Tông tại Đài Loan là Đài Loan Lôi Tạng Tự. Đài Loan Lôi Tạng Tự thông báo:
"Bà cần cách ly ở bên ngoài 14 ngày, sau đó mới để cho bà vào chùa."
Thế là bà lại bị chùa từ chối cho ở.

Cuối cùng chỉ còn một nơi có thể đi. Bà muốn trở về tòa nhà Chân Phật ở Đài Trung mà bà đã phục vụ ở đó nhiều năm. Chủ nhân của tòa nhà Chân Phật là Thượng sư Liên Truyền đã đồng ý rồi.
Nhưng sự việc lại không được thuận lợi như thế. Tổng hội của Hội Công Đức Hoa Quang ở Đài Loan vốn ở tại tòa nhà Chân Phật, là chi nhánh ở miền trung của Hội Công Đức Hoa Quang. Tất cả đều phản đối.

Còn nữa:
Ở tầng một của tòa nhà, có một nhóm rủ nhau đi ăn, vừa nghe nói đến một Thượng sư đến từ Seattle, họ đều sợ đến tè cả ra quần! Thế nên họ cực lực phản đối. Họ làm to chuyện tới mức mà một vị trưởng quản lý ở đó cũng thường xuyên đến hỏi thăm. Có thể nói là: "Hỗn loạn cả đám!"

Thượng sư Liên Dục trở về Đài Loan:
Bị Quảng Hỷ Lôi Tạng Tự đuổi đi!
Bị Đài Loan Lôi Tạng Tự từ chối!
Bị Hội Công Đức Hoa Quang hắt hủi!
Kết quả thế nào?
Hồi sau sẽ rõ.

Sau khi tôi nghe được chuyện này, tôi có một vài cảm tưởng. Tôi không nói ai đúng ai sai, kì thực bên nào cũng đều có lỗi.

Vấn đề là:
Seattle đã xét nghiệm ra số ca nhiễm rất cao.
Số ca tử vong ở Seattle là cao nhất.
Nói đến Seattle giống như là có "độc".
Trở về từ Seattle thì ai dám giữ bạn ở lại?

Quảng Hỷ Lôi Tạng Tự là nơi mà hiện tại đang trụ trì cũng không về được.
Đài Loan Lôi Tạng Tự là nơi đã phục vụ nhiều năm cũng không về được.
Hội Công Đức Hoa Quang cũng là nơi đã phục vụ nhiều năm, thế mà ai nấy phản đối.

Chà! Trong tình cảnh dịch bệnh thì con người cũng đã biến thành thực dụng rồi. Dưới mối đe dọa chết người thì chẳng còn lựa chọn nào khác! Ai cũng sợ!
Nhân tình đương nhiên là chẳng còn tồn tại.
Cái sai nhất chính là bệnh dịch, lỗi nằm ở con virus Corona.
A Di Đà Phật!


### 28. Niềm vui chốc lát


Tôi thấy rằng, những thứ mà con người thế tục theo đuổi là:
Thân thể khỏe mạnh.
Vạn sự như ý.
Hạnh phúc vui vẻ.
Ba điều này sẽ khiến người ta vui vẻ và hài lòng.

Nhưng,
Càng đi sâu vào tìm hiểu, tôi ngạc nhiên khi hiểu ra rằng, những thứ mà người ta tìm kiếm này kì thực chỉ là:
Tạm thời.
Chốc lát.

Ví dụ:
Một người đi làm công ăn lương thì anh ta mong cầu được thăng chức và tăng lương, cuối cùng được như ý. Sau một khoảng thời gian, anh ta vẫn lại muốn thăng chức và tăng lương. Cứ muốn rồi lại muốn, cuối cùng đến một ngày, không thể được thăng chức và tăng lương nữa thì anh ta cảm thấy đau khổ và tức giận, còn nhiều hơn niềm vui và sự hài lòng lúc trước.

Còn nữa:
Có người thì theo đuổi sự khoái lạc trong tình dục.
(Chuyện sung sướng nhất của con người.)
Bạn phát hiện ra với người bạn đời "cũ kĩ" của mình, niềm vui không kéo dài lâu. Sống cùng với người bạn đời lâu ngày cảm thấy chán ngán.
Muốn được một lần nữa cảm nhận được sự sung sướng của tình dục. Chỉ có một cách duy nhất là:
Bạn chỉ có thể đi tìm nhiều "bồ" hơn.
Chán ngán.
Vẫn chán ngán.
Lại chán ngán.
Kết quả là, càng nhiều khoái lạc thì lại càng nhiều chán ngán.

Còn nữa:
Cho dù bạn có ở nhà to, lâu ngày cũng chẳng còn cảm giác thích thú gì nữa.
Lái một chiếc xe thể thao xịn nhất thì bạn hào hứng được bao lâu?
Tài sản của bạn càng ngày càng nhiều, cuối cùng cũng trở thành vô cảm.
Bạn đã cưới được người phụ nữ xinh đẹp nhất, mới vài năm, bạn đã lại cảm thấy chẳng còn gì đặc sắc nữa.
Một cô "bồ" khác xinh đẹp hơn, có thể xinh đẹp được bao lâu?

Còn nữa:
Mỗi ngày bạn đều ăn tôm hùm.
Ăn bào ngư.
Ăn vây cá mập.
Ngày ngày ăn, bữa bữa ăn.
Ngày tháng trôi qua!
Bạn sẽ đổi món ăn khác, bởi vì bạn nhìn thấy những món kia là đã buồn nôn rồi.

Còn nữa:
Người đứng trên đỉnh cao, sung sướng hạnh phúc chẳng qua cũng là tạm thời. Thực ra chính quá trình bạn trèo lên đỉnh cao mới khiến cho bạn vui sướng.
Bill Gates từ lâu đã bước xuống khỏi đỉnh cao.
Bởi vì đứng trên đỉnh cao chẳng có gì vui cả.
Bước xuống mới vui.
Làm từ thiện mới vui.
Niềm vui lớn nhất chính là giúp đỡ những người cần sự giúp đỡ, đây mới là điều quan trọng.

Lão Tử nói:
"Ngũ sắc làm cho người ta mờ mắt, ngũ âm làm cho người ta ù tai, ngũ vị làm cho người ta tê lưỡi, ruổi ngựa săn bắn làm cho lòng người ta mê loạn."

Do vậy:
Người tu hành cần phải làm được:
Biết đủ.
Không hưởng thụ.
Giản dị.
Bình lặng.
Thiền định.
Thăng hoa.


### 29. Cảm nhận về Lạc, Minh, Không


Cá nhân tôi trong khi tu trì Mật pháp, tôi đã chứng nghiệm được ba cảm nhận lớn là "Lạc, Minh, Không".
Lạc — tôi ở cõi trời Dục giới.
(Sự cọ xát giữa khí và mạch.)
(Sự cọ xát giữa chuyết hỏa và mạch.)
(Sự cọ xát giữa minh điểm và mạch.)
Đây là thứ cảm giác sung sướng "muốn chết".
Gần giống như cảm giác khi đạt đến cao trào cực khoái của nam nữ giao hợp, nam và nữ cũng giải phóng ra sự hưng phấn. Cái "sướng" này là ở cõi trời Dục giới.

Cá nhân tôi cảm thấy:
Khoái lạc mà người thế tục theo đuổi và khoái lạc của tự tính người tu hành là bình đẳng, không có sự khác biệt nào.

Chỉ là,
Người tu hành thì không xuất tinh.
Cái khoái lạc của tu hành Mật pháp và khoái lạc của thế tục, về cảm nhận thì giống nhau, nhưng mà cũng không giống.
Thứ nhất, cái lạc của hành giả kéo dài.
Thứ hai, vô lậu.
Thứ ba, thanh tịnh.

Minh — tôi ở cõi trời Sắc giới.
(Khí hóa thành ánh sáng.)
(Chuyết hỏa hóa thành ánh sáng.)
(Minh điểm hóa thành ánh sáng.)
Cảm nhận này đã thoát ra khỏi cái khoái lạc của thế tục, cảnh giới quang minh tăng trưởng.
Cảm giác về đại lạc luôn tồn tại, nhưng đã từ từ trở nên sáng rực rỡ.
Chúng ta gọi là:
"Quang minh phong mạch."

Tôi đã chứng đắc được mức độ trên đỉnh đầu có vòng tròn ánh sáng, xung quanh thân tỏa hào quang, dưới chân có hoa sen ánh sáng.
Xung quanh khu vực tim có tâm quang.
Pháp tu chủ yếu là khai mở mi tâm luân, hầu luân, tâm luân, tề luân, mật luân.
Quang minh sẽ hiển hiện.
Dạng ánh sáng này không thể nhìn thấy, là mở năm luân xa (ngũ đàn thành), thì ánh sáng tự nhiên sẽ tỏa ra.

Tôi phát hiện ra, khi xuất hiện quang minh thì cảm giác sung sướng không nhất định là từ từ giảm đi, mà luôn luôn là lạc và quang đồng thời tồn tại.
Ví dụ:
Quang Âm Thiên.
Đại Phạm Thiên.
Sắc Cứu Cánh Thiên.
(Kiểu tu hành này lợi dụng minh điểm và chuyết hỏa để kích hoạt các luân xa bên trong thân người, chúng ta cũng có cách nói khác là kích hoạt khai mở đàn thành.)

Tôi nói:
Cuối cùng, tôi đã chứng được KHÔNG KHÔNG KHÔNG KHÔNG - Tứ Không Thiên.
Thức vô biên.
Không vô biên.
Vô sở hữu.
Phi tưởng phi phi tưởng xứ thiên.
Cách tu hành của tôi là đưa quang minh hòa nhập với đại Không, giống như một giọt nước rơi vào biển lớn. (Tử quang và Mẫu quang)
Tôi phát hiện ra, Lạc, Minh, Không ba thứ cùng xuất hiện, từ đó sản sinh ra:
Hữu - Không song vận.
Lạc - Không song vận.
Ba thứ cùng hòa tan vào nhau, loại cảm nhận này là không gì có thể so sánh bằng.

Tôi nói, đây mới gọi là Phật. "Tịnh Lạc" cộng thêm "Tịnh Quang", cộng thêm "Tịnh Không", đó mới là Chân Phật. Khi tôi cảm thấy sự viên mãn, tôi sẽ hóa thành ánh sáng cầu vồng, nhập vào hư không bao la.


### 30. Lưới ánh sáng của Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu


Trong khi virus Corona đang hoành hành ngang ngược, tôi ở Seattle bang Washington nước Mỹ. Bang Washington, New York, California là ba vùng dịch nghiêm trọng.

Một hôm.
Khi tôi đang làm đại lễ bái trong Seattle Lôi Tạng Tự, Lục Độ Mẫu nói bên tai tôi:
"Sao không cầu cứu Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu?"

Thế là,
Tôi đặc biệt vì bệnh dịch này mà tiến hành hỏa cúng và truyền pháp Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu.

Trong quá trình tu pháp của tôi.
Đầu tiên, tôi nhìn thấy những điểm ánh sáng của chữ "Tang".
Chữ "Tang".
Có màu vàng đỏ.
Từng điểm từng điểm sáng tràn đầy khắp hư không.
Sau đó, từng điểm sáng màu vàng đỏ xoay vòng kết thành rất nhiều sợi dây mảnh, những sợi dây tỏa ra ánh sáng màu vàng đỏ.
Lần lượt từng sợi xoắn chuyển.
Tôi nhập vào trong trung tâm của lưới ánh sáng của thiền định Tam ma địa. (Giống như cả người tôi bị bao bọc kín hoàn toàn trong lưới ánh sáng màu vàng đỏ.)

Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu nói với tôi:
"Đây chính là lưới phòng dịch, bệnh dịch đến xung quanh ngài thì lưới ánh sáng này sẽ sinh ra tác dụng phòng bệnh, bệnh dịch sẽ không có cách nào xâm nhập vào bên trong thân thể ngài, ngài không sợ nhiễm virus đâu!"
Lưới ánh sáng phủ kín từ đầu đến chân, dù một sợi tơ cũng không lọt. Tôi giống như khoác trên người tấm áo bảo hộ bằng lưới ánh sáng vậy.

Có một hôm.
Bác sĩ Tiểu Kiều ở California bất ngờ vội đến Seattle. Cô ấy hỏi:
"Lư Sư Tôn! Con có thể mượn lưới ánh sáng bảo hộ của thầy để dùng tạm được không?"
Tôi nói:
"Không được!"
Cô nói:
"Thầy đừng có ki bo thế chứ!"
Tôi nói:
Lưới ánh sáng bảo hộ này là do tôi nhờ tu pháp Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu mới có được. Mắt thường nhìn không thấy. Tai nghe không rõ, cũng không cảm nhận được, sờ cũng chẳng thấy gì. Căn bản là nó vô hình. Vì thế chẳng có cách nào mà mượn được.

Cô đi về tự mình tu cho tốt đi, chỉ cần tương ứng được với Bổn tôn thì cô cũng sẽ có được tấm áo bảo hộ thôi.
Bác sĩ Tiểu Kiều gật gật đầu công nhận.

Tôi thường nói:
"Không buông lời bình luận."
"Đừng thay đổi lời nói."
"Lời nói là vô dụng."

Ý tôi muốn nói rằng, quan trọng là "thực tu".
Chỉ có một thứ ngôn ngữ hữu dụng, thứ ngôn ngữ này chính là "chân ngôn" của Mật giáo.
"Chân ngôn" chính xác sẽ có lực.
"Thủ ấn" chính xác sẽ có lực.
"Quán tưởng" chính xác sẽ có lực.
"Nhập Tam ma địa" chính xác sẽ có lực.

Khi có được những điều này, sự hợp nhất của thân, khẩu, ý sẽ có thể triệu thỉnh được Bổn tôn trong vũ trụ gia trì. Chỉ cần Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu gia trì cho bạn thì bạn sẽ có được lưới ánh sáng.

Tôi cảm thấy, dịch bệnh lớn đến mức này, chỉ cần bạn có thể tu Mật pháp Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu thì bạn có thể tự cứu mình và cứu người khác, trở thành vị cứu tinh cứu thế giới khỏi tai họa.


### 31. Pháp hội một người truyền trực tiếp qua mạng


Ngày 22 tháng 3 năm 2020.
Địa điểm tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, bang Washington, Mỹ.
Chúng tôi cử hành hỏa cúng Hộ Ma Kỵ Long Bạch Tài Thần.
Pháp hội tuyên bố:
"Không hoan nghênh đồng môn tham gia!"

Do vậy, buổi pháp hội này chỉ có vài người, chủ yếu là thành viên của nhóm ghi hình để phát trực tiếp trên mạng.
Lư Sư Tôn đã sống 76 năm, lần đầu tiên cử hành một buổi hỏa cúng không có người tham gia. Đây là lần đầu tiên tôi gặp chuyện này trong đời.

Tôi lên pháp tọa.
Đối diện với những hàng ghế trống.
Thuyết pháp.
Tôi vẫy vẫy tay với hư không, tôi cảm ơn những đồng môn xem truyền phát trực tiếp qua mạng.

Tôi nghĩ:
Họ nhìn thấy tôi.
Tôi không nhìn thấy họ.
Đây là pháp hội một người.
Cả đời này bây giờ mới gặp.
(Nếu như tình hình dịch bệnh không giảm nhẹ, chúng ta chỉ có thể làm pháp hội hỏa cúng theo cách này thôi.)

Tôi gọi đây là:
"Đại pháp hội từ xa."
"Đại pháp hội chỉ một người truyền phát trực tiếp qua mạng."
Hoặc:
"Đại pháp hội trống không."

Chúng ta thử nghĩ xem, đến đại pháp hội mùa thu 2020, nếu như dịch bệnh vẫn không bớt nghiêm trọng thì chúng ta có thể làm pháp hội tại đình Long Vương ở Seattle. Một mình tôi lên pháp tọa. Tôi sẽ thuyết pháp với "không khí"!

Tôi nói:
Bạch Tài Thần thích tắm.
Nước sau khi tắm cho ngài xong.
Có thể chấm vào trán.
Có thể chấm vào lưỡi.
Có thể vẩy xung quanh nhà.
Việc này không những có thể phát tài, chính tài, biện tài mà pháp tài cũng đều có thể có được.
Lại cũng có thể phòng dịch, chấm vào trán, vào lưỡi có thể bảo vệ bản thân không bị nhiễm bệnh. Vẩy xung quanh nhà ở không chỉ có được tài bảo từ trên trời rơi xuống mà cũng khiến cho dịch bệnh không thể xâm nhập vào trong nhà. Bởi vì nước tắm có thể có tác dụng phòng hộ (kết giới).

Theo tôi được biết:
Tro còn lại sau khi làm Hộ Ma cũng có thể dùng để rắc xung quanh nhà ở. Đây cũng là một pháp kết giới!

Tôi viết một bài thơ mới dành cho buổi Hộ Ma lần này.
*Tôi chẳng nhìn thấy ánh mắt của các bạn
Các bạn thì
Vẫn nhìn thấy
Mặt Sư Tôn
Duyên phận giữa chúng ta chẳng hề nhạt đi
Mặc dù xa cách
Chân trời góc bể
Giống như chân trời dù xa đến mấy
Vẫn nhìn thấy rõ.
Chúng ta chẳng vì dịch bệnh tiếp diễn
Vì để an toàn cho tất cả
Người người ở nhà tu hành tu quán pháp
Phúc huệ đều tăng.*


### 32. Washington phong tỏa


5.30 chiều, ngày 23 tháng 3 năm 2020.
Thống đốc bang hạ lệnh khẩn cấp:
"Phong tỏa toàn bang."
Nói cách khác là tất cả các hộ gia đình, tất cả mọi người đều bị cấm túc, ở trong nhà, không được phép ra ngoài.
Chỉ có bốn loại người có thể ra ngoài:
1. Đi bệnh viện.
2. Mua thực phẩm.
3. Đến ngân hàng.
4. Đi mua xăng.
Tóm lại, toàn dân bị cấm túc.

Tất nhiên, mục đích chủ yếu của việc này là ngăn virus Corona lây lan.
Đây đã là biện pháp cùng bất đắc dĩ rồi.
Chẳng mấy chốc, đường phố vắng bóng người và xe cộ.
Sự náo nhiệt biến thành yên ắng.
Tất cả hoàn toàn trống vắng.

Tôi có một cảm giác rằng đây cũng chính là một chữ "chỉ" của pháp Tam ma địa trong Mật giáo. Chỉ có "dừng lại" mới có thể nhập Tam ma địa.

Vốn dĩ, tôi (Lư Sư Tôn) vào mỗi ngày chủ nhật, tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự một mình làm pháp hội hỏa cúng. Giờ đây cũng dừng lại rồi!
(Đây cũng là chuyện bất đắc dĩ, mong mọi người thông cảm.)

Trong thời gian phong tỏa, ngoài bệnh viện, siêu thị, ngân hàng, trạm xăng có người làm việc ra thì tất cả mọi nơi khác đều ngừng làm việc.
Mọi người ở nhà làm việc qua mạng.
Học sinh học qua mạng.
Ngay cả chính phủ của thành phố Redmond cũng đóng cửa hết.
Microsoft đóng cửa.
Boeing đóng cửa.
Amazon đóng cửa.
Starbucks đóng cửa.
Các nhà hàng chỉ có thể phục vụ cho mua đem đi.
Nhà thờ.
Chùa miếu.
Toàn bộ đều đóng cửa.

Tôi nhận ra một điều mới mẻ:
"Nhân định thắng thiên" dường như là một lời châm biếm rất lớn. Có những cuộc chiến hữu hình và vô hình, hữu hình thì chỉ có biện pháp cách ly.

Nhân loại chúng ta cần có tư duy, cần có cảm nhận, cần có tình nghĩa.
Một số người thiếu mất sự đồng cảm.
Độc đoán, việc ta ta làm.
Không những không trân trọng bản thân mà còn làm hại đến những người khác.

Thống đốc của bang chúng tôi vốn dĩ không muốn phong tỏa thành phố, bởi vì ông ta cho rằng con người có quyền tự chủ.
Đáng tiếc,
Một số người thiếu mất sự đồng cảm, có người vẫn ở bãi biển tụ tập cả đám đông điên cuồng.
Thống đốc thấy vậy thở dài, giờ đang là thời kỳ đỉnh của dịch bệnh, làm như vậy sẽ thúc đẩy sự truyền nhiễm.
Vì quan tâm và lo lắng, không còn lựa chọn nào khác là cần phải phong tỏa.
Vì ngăn chặn dịch bệnh lan tràn, không còn lựa chọn nào khác là phải phong tỏa.
Vì giải thoát chúng sinh khỏi bệnh khổ, không còn lựa chọn nào khác là phải phong tỏa.
Vì đối xử bình đẳng, không còn lựa chọn nào khác là phải phong tỏa.
Vì an toàn mạng sống, không còn lựa chọn nào khác là phải phong tỏa.
Vì sức khỏe của đại chúng, không còn lựa chọn nào khác là phải phong tỏa.
Phong tỏa đương nhiên là chẳng thích thú gì, nhưng cũng cần phải chấp nhận thôi! Chí ít thì điều này cũng là bắt nguồn từ một dạng "tình yêu".

Có người hỏi tôi:
"Có cần phải phong tỏa không?"
Tôi đáp:
"Cần!"


### 33. Suy ngẫm dưới "lệnh cấm túc" (1)


Cuốn văn tập số 278 này của tôi có tiêu đề là "Hẹn gặp vào mùa đông".
Là cuộc hẹn gặp giữa tôi và các đệ tử ư?
Là cuộc hẹn gặp giữa tôi và Seattle ư?
Là cuộc hẹn gặp giữa tôi cùng mưa và tuyết ư?
Kết quả đều không phải thế.
Giờ đây, cuối cùng tôi đã hiểu rằng, đây là cuộc hẹn gặp giữa tôi và virus Corona.
Chà! Quá là thảm rồi.

Giờ đây tôi chỉ có một mình, dưới ánh đèn cô độc, tôi viết xuống những suy ngẫm dưới "lệnh cấm túc".

Thứ nhất:
Nguồn gốc của "nó" là gì?
Cho đến nay vẫn chưa có một kết luận chính xác cuối cùng.
Bộ mặt thật của "nó" là như thế nào? Chẳng ai biết, các nhà khoa học, động vật học, các nhà y học truyền nhiễm vẫn còn đang nghiên cứu.
Do vậy, chúng ta vẫn chưa biết về "nó".
"Nó" cũng chẳng biết chúng ta.
Không biết "nó".
Không biết "ta".
Do vậy, đây là một cuộc hỗn chiến toàn cầu. (đại hỗn loạn)

Thứ hai:
Có người nói, đại dịch này giống như đại chiến thế giới lần thứ ba. Kẻ địch là "virus".
Nhân loại chiến đấu với "virus".
Nói như vậy cũng đúng.
Nhưng, cũng có chỗ không giống:
Cho dù nhân loại có đầu hàng, giương cờ trắng, thì "virus" vẫn không biết là cần dừng chiến.
Do vậy, cuộc chiến tranh này là:
"Anh chết tôi sống, anh sống tôi chết."

Thứ ba:
Chiến dịch này khiến toàn nhân loại phải tự kiểm điểm bản thân.
Y học đã phát triển hay chưa? 
Khoa học đã tiến bộ hay chưa? 
Kinh tế phát triển hay chưa? 
Lý tưởng thế giới mà nhân loại tạo ra đã thành hiện thực hay chưa?
Cuộc đại chiến giữa người và virus này!
Nhân loại phát hiện ra:
Kì thực con người hoàn toàn không có khả năng làm gì, chỉ có cách trốn mà thôi.
Nó tấn công vào phổi.
Nó tấn công vào thần kinh não.
Nó tấn công vào chức năng thận.
Nó tấn công vào noãn bào.
Biến nhân loại trở thành vô dụng.
Còn nhân loại thì chỉ có cách tự trốn trong nhà mình, đóng cửa biên giới, phong tỏa, tự nhốt mình.
Lúc này mới biết, toàn nhân loại đều là những kẻ bất lực.

Thứ tư:
Virus không có mắt, do đó mỗi một người đều bình đẳng như nhau.
Tổng thống là cái gì?
Đại gia là cái gì?
Người đẹp là cái gì?
Người nổi tiếng là cái gì?
Tiến sĩ, thạc sĩ, cử nhân là cái gì, thậm chí, y sĩ, chuyên gia, học giả đều bình đẳng như nhau.
Hễ virus bám lên thân thì tất cả đều phải ngoan ngoãn mà nằm xuống.
Đây mới là sự bình đẳng chân thực.

Thứ năm:
Trong Phật giáo, con người được gọi là chúng sinh "hữu tình".
Nhưng giờ đây, bạn sẽ phát hiện ra, hóa ra con người là "vô tình".
Người với người phải giữ khoảng cách 2 mét, cho dù bạn có là ông, bà, cha, mẹ, anh em, chị em, bạn bè, thì cũng không được qua lại thăm nom nữa.
Người thân còn sợ hãi, huống hồ người lạ.
Nhìn thấy người là sợ, đây chẳng phải là "vô tình" thì là cái gì?


### 34. Suy ngẫm dưới "lệnh cấm túc" (2)


Điều 6:
Cuối cùng, tôi đã hiểu thế nào là cuộc sống của "heo".
Ăn no lại ngủ.
Ngủ đẫy lại ăn.
Mỗi ngày, mặc dù tôi đều viết văn và tu pháp, nhưng thời gian vẫn còn thừa ra.
Thế là:
Tôi trở nên chậm.
Tôi trở nên lười.
A! Hóa ra niềm vui của heo chính là ù ì và lười nhác. Đúng thật, quá là vui đi!

Điều 7:
Con virus này đúng thật là "Đại Trư Ca", hễ gặp được người nào là liền cùng người đó "nảy sinh quan hệ".
Người già, nó cũng thích!
Người trẻ, nó cũng thích!
Thiếu niên, nó cũng thích!
Nhi đồng, nó cũng thích!
Đây chẳng phải là "Đại Trư Ca" thì là cái gì?

Điều 8:
Người Mexico hét lớn vào Trump:
"Đến đây! Đến đây mà xây tường đi!"
Cười cợt Trump.
Người Mexico nói:
Cho dù ông có xây tường cao nhất, lớn nhất, rộng nhất thì đối với con virus mà nói cũng vô tác dụng.
Để bức tường và virus so bì với nhau.
Xây tường chẳng có chút ý nghĩa nào hết.
Con virus này đã đánh cho Trump đỏ mặt tía tai rồi!

Điều 9:
Mỹ và Trung Quốc còn tiếp tục cuộc chiến tranh thương mại không?
Tôi thấy thôi kệ nó đi!
Một con virus tràn qua thì mọi người đều không còn nhắc đến chiến tranh thương mại nữa.
Chiến tranh thương mại đã đánh thế nào thì cũng làm sao so bì được với cuộc chiến virus.
Giờ đây, toàn nhân loại là một thể thống nhất.
Cùng đối kháng lại với virus thôi!

Điều 10:
Virus dạy cho chúng ta rằng:
Đời người là vô thường. 
"Chư hành vô thường" là chân đế. (chân lý)
Có địa vị cũng vô dụng.
Có tiền cũng vô dụng.
Có danh cũng vô dụng.
Có Thượng đế cũng vô dụng.
Các chùa của chúng ta đều đã đóng cửa hết rồi, các nhà thờ cũng đóng cửa hết, bất kể là tôn giáo nào cũng đều đóng cửa hết rồi.
Quy định của Mỹ:
"Tụ tập tôn giáo thuộc về nhóm hoạt động không thiết yếu!"
Cuối cùng tôi đã hiểu:
"Virus chính là Thượng đế!"

Điều 11:
Tôi thấy mọi người đi siêu thị vơ vét sạch sẽ hàng hóa trong siêu thị, chỉ còn trơ lại những kệ sắt.
Việc này đã cảnh tỉnh chúng ta rằng:
"Thực dụng" rất quan trọng.
"Nhu yếu phẩm hàng ngày" rất quan trọng.
Giấy vệ sinh cũng tranh giành, xem mông của ai to thế nào?
Thức ăn.
Nước uống.
Dược phẩm.
Vơ vét sạch sẽ.
Giờ này thì sự tu dưỡng tâm linh cũng hoàn toàn biến mất.
Thực dụng vẫn là số một!


### 35. Suy ngẫm dưới "lệnh cấm túc" (3)


Điều 12:
Tôi phát hiện ra con người có thói quen dự đoán.
Ví dụ:
Mục đích chủ yếu của khoa học là dự đoán tương lai.
Các nhà khí tượng học thì dự đoán ngày mai trời nắng hay trời mưa.
Các nhà kinh tế học thì dự đoán kinh tế sẽ đi theo hướng nào, là suy thoái hay tăng trưởng.
Bác sĩ thì phải dự đoán xem người bệnh sống được bao lâu.
...

Nhưng có ai có thể dự đoán được bệnh dịch khi nào sẽ xảy tới?
Có ai có thể dự đoán được bệnh dịch khi nào thì sẽ hết?
Theo tôi thấy thì, chẳng có ai.

Chỉ có Lư Sư Tôn tôi, trong cuộc phỏng vấn vào cuối năm 2019 đã nói rằng:

1. Năm 2020 là một năm đại loạn.

2. Năm 2020 xuất hiện bệnh dịch, là đại vi khuẩn siêu cấp (khi đó vẵn chưa được gọi là virus).

3. Kinh tế toàn cầu chỉ được 20 điểm.

Những lời dự đoán của tôi đã được giới truyền thông Đài Loan tuyên bố là:
"Chuẩn như thần!"

Điều 13:
Có người hỏi:
"Lư Sư Tôn! Ngài có thể dự đoán được rằng năm 2020 sẽ xuất hiện dịch bệnh, thế ngài có thể dự đoán bệnh dịch khi nào thì sẽ hết không?"
Tôi nói:
"Tôi biết!"
Tôi đã nói cho đệ tử thân cận bên cạnh tôi biết đáp án, bọn họ đều biết rồi. Nhưng không thể nói cho toàn thế giới biết được, bởi rốt cục sẽ tạo nên một cơn chấn động khắp thế giới, e rằng sẽ chuốc lấy danh là kẻ đồn nhảm.

Đáp án của tôi là:
"Bổn tôn tu hành của tôi, Diêu Trì Kim Mẫu nói với tôi rằng, Diêu Trì Kim Mẫu là vị thần cai quản bệnh dịch." (Có thể đọc thêm cuốn "Truyện Thần Tiên", Diêu Trì Kim Mẫu cai quản bệnh dịch.)

Điều 14:
Gia đình là vô cùng quan trọng.
Trận đại dịch này đã khiến cho tất cả những người làm việc ở ngoài, đi học ở ngoài, lang thang ở ngoài, đều trở về nhà của mình.
Cho dù là người xuất gia thì cũng trở về với chùa miếu của mình.
Phương pháp để tránh khỏi sự lây lan của bệnh dịch chính là trở về nhà của chính mình, khóa chặt cửa lại.
Chân không bước ra khỏi cửa.
Bên ngoài là vô cùng nguy hiểm.
Bến xe.
Sân bay.
Bệnh viện.
Siêu thị.
...
Đều là những nơi dễ bị nhiễm bệnh nhất.
Mọi chính phủ đều tuyên bố:
"Không có việc cần, không ra khỏi cửa!"

Điều 15:
Tôi (Lư Sư Tôn) ở trong nhà đóng cửa không ra ngoài, tôi giống như đóng cửa tu hành vậy. Bình thường có thể một, hai lần ngồi tu hành, bây giờ thì có thể thực hành tu bốn lần.
Tôi vẫn tiếp tục viết văn.
Có một số việc bình thường muốn làm nhưng không có thời gian để làm, thì nhân cơ hội này lần lượt hoàn thành những việc đó.
Đây cũng là một điều tốt.
Việc đóng cửa đối với tôi mà nói thì chỉ có tốt, chẳng có gì xấu.

Điều 16:
Dưới tình hình virus, một sự việc tức cười nhất là, một số người tự nhận là những nhân vật lớn, những người tầm cỡ đỉnh cao, những nhân vật ở cấp lãnh đạo, tự nhận là vĩ nhân, là danh nhân lớn,… thì đều là những người đầu hàng trước tiên.
Ai vĩ đại nhất?
"Virus vĩ đại nhất!"
Bạn hay tôi đều chẳng thể ngờ được đâu!


### 36. Suy ngẫm dưới "lệnh cấm túc"(4)


Điều 17:
Khi virus vẫn chưa xuất hiện.
Có người đã viết sách nhằm đưa ra lý thuyết rằng:
Vào thời đại này, "chết đói" đã từ từ mất tích rồi!
Chiến tranh, dưới sự tự kiểm soát lẫn nhau, thì dường như việc phát sinh ra chiến tranh thế giới đã là điều không thể!
Dưới sự phát triển rực rỡ của y học và khoa học thì rất khó xảy ra sự bùng phát rộng rãi của bệnh dịch!
Kết quả là:
"Sai bét!"
Điều này chứng minh cho câu nói:
"Người tính không bằng trời tính!"

Điều 18:
Có người nói:
Thế kỉ 21, nhân loại sẽ đi về ba chủ đề lớn:

1. Trường sinh bất tử.

2. Đời sống hạnh phúc.

3. Trí tuệ như thần.

Thế nhưng, người đó không ngờ rằng:

1. Chết càng nhanh hơn.

2. Chẳng có chút hạnh phúc nào để mà nói, ngược lại nhân loại phải chịu bao bệnh khổ.

3. Nhân loại đang bị virus đe dọa, chỉ còn cách tìm cách tháo chạy thoát thân.

Chà!
Ngược lại, con virus này, một biến, hai biến, ba biến, đột biến, con virus này khiến con người trở tay không kịp, không có đủ thời gian mà đối trị với nó.

Điều 19:
Nhân loại và các động vật khác có những chỗ khác nhau, xem xét từ lịch sử lâu dài.
Nhân loại vượt trội so với động vật.
Dưới sự tiến bộ của chủ nghĩa nhân văn, nhân loại từ từ tiến hóa trở thành "siêu nhân loại", so với con người trước đây đã vượt trội hơn rất nhiều.
• Thiên nhãn thông — từ phương đông nhìn thấy phương tây. (video)
• Thiên nhĩ thông — điện thoại quốc tế.
• Tha tâm thông — sóng não.
• Túc mệnh thông — máy vi tính.
• Thần túc thông — các phương tiện bay.

Con người càng ngày càng giống "thần", nhân loại càng ngày càng phát triển "cái tôi", cho rằng chẳng có gì là không thể làm được.
Thậm chí cho rằng: "Thượng đế đã chết!"

Nhưng,
Virus cũng âm thầm tiến hóa.
Khi cái chất độc bé xíu không thể nhìn thấy này, miệng chúng ta còn đang nói về virus Corona thì nó đã dễ dàng đánh cho nhân loại loạn lanh tanh bành rồi.
Do vậy, tôi mới nói:
Đã mạnh còn có kẻ mạnh hơn.
Núi cao vẫn còn có núi cao hơn.

Điều 20:
Nhân loại luôn như thế này: "Khi vết thương lành thì cũng quên luôn cái đau!"
Còn nhớ năm xưa khi xảy ra đại dịch SARS, con người đã nhanh chóng phát minh ra vaccine.
Vaccine có thành công hay không, chẳng biết được.
Bởi vì SARS đột ngột biến mất!
Thế là con người thoải mái rồi!
Thế rồi khi virus Corona ập đến, con người vẫn cho rằng đó chỉ là bệnh cúm thông thường thôi.

Kết quả:
Con người bị chết nhanh tới mức không kịp trở tay!
Bây giờ hãy nên học lấy bài học, đừng cho rằng bệnh dịch sẽ không xảy ra nữa.
Nhân loại đang tiến hóa.
Virus cũng đang tiến hóa.
Chúng ta cần nhớ lấy bài học lần này, tiếp tục cuộc chiến, nhắm mục tiêu nghiên cứu ra vaccine, để nhanh chóng cứu được nhân loại!


### 37. Suy ngẫm dưới "lệnh cấm túc" (5)


Điều 21:
Động vật to lớn nhất trên trái đất là khủng long thì đã tuyệt chủng rồi.
Người Maya cũng đã bị diệt vong.
Quân thần bách tính của vương triều Guge thì cũng tuyệt chủng một cách đầy ly kỳ. [Guge là vương quốc cổ đại ở tây Tây Tạng, ngày nay là hạt Zanda, đặc khu Ngari, thuộc vùng tự trị Tây Tạng.]
Sự tuyệt chủng của dòng tộc tì kheo Mã Thắng.
...
Đã có vô số chủng tộc đột nhiên biến mất không còn dấu vết trên trái đất này.
Đương nhiên, có khả năng là:
Giống như Kinh Thánh đã kể lại:
Lửa trời đã đốt cháy tất cả. (lửa)
Con thuyền cứu nạn đại hồng thủy của Noah. (nước)

Trong kinh Phật thì có:
Đại tam tai.
Tiểu tam tai.
Trong giới tự nhiên vẫn có:
Sự vận động của lớp vỏ trái đất, những vận động kiến tạo.
Các tiểu hành tinh đâm vào trái đất.
Biến đổi khí hậu.
Đủ các tai họa thiên nhiên do đất, nước, lửa, gió gây nên.
Nhưng,
Đáng sợ nhất là các vi sinh vật bé xíu, những con virus bé tí cũng có thể tạo nên những tai họa khủng khiếp cho nhân loại.
Bởi virus Corona đã truyền nhiễm ra khắp thế giới, cuối cùng tôi đã hiểu rằng:
"Trái đất từ xưa đến nay đều không phải là hệ sinh thái của duy nhất con người."

Điều 22:
Kinh Phật có một bài kệ:
*Tất cả pháp hữu vi
Như mộng huyễn bào ảnh
Như sương lại như điện
Nên quán thấy như vậy.*
(Bài kệ này đã xác nhận rằng sinh mạng của con người chỉ nằm giữa nhịp hít vào thở ra mà thôi, cũng xác nhận rằng sự vô thường xảy đến rất nhanh.)
Bệnh viêm phổi, chẳng phải là mạng sống nằm trong nhịp hít vào thở ra đó sao?

Điều 23:
Trong kinh Phật nói:
*Vô ngã tướng.
Vô nhân tướng.
Vô chúng sinh tướng.
Vô thọ giả tướng.*
(Ngã tướng cũng tức là phi tướng. Nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng cũng tức là phi tướng. Vì thế mà, rời xa tất cả mọi tướng, tức là chư Phật.)

Tôi đã lý giải được:
Thế nào mới có thể minh tâm kiến tính.
Thế nào mới có thể định.
Nhờ những vi sinh vật nhỏ bé mà tôi đã ấn chứng được:
"Khai ngộ".

Điều 24:
Tôi thường nói:
Trên mặt trăng chẳng có con người.
Do vậy:
Cái gì là thiện?
Cái gì là ác?
Cái gì là Phật pháp?
Cái gì là phi Phật pháp?
Trên mặt trăng không có con người?
Cái gì là virus?
Cho dù là có virus thì cũng chẳng có vật chủ!
Thế thì virus sẽ phải hoạt động thế nào?
Tất cả đều là mộng huyễn bào ảnh.
Tôi nói: 
Ba sự kỳ vọng lớn của nhân loại là: "Trường sinh bất lão", "Vui vẻ hạnh phúc", "Đầy đủ thần thông".
Có phải là mộng huyễn bào ảnh không?


### 38. Suy ngẫm dưới "lệnh cấm túc" (6)


Trong thời kỳ tôi (Lư Sư Tôn) học đại học, tôi cũng có dành một chút thời gian để tâm đến chính trị và kinh tế. Do vậy, tôi cũng có một vài suy ngẫm về vấn đề chính trị và kinh tế dưới thời virus.

Điều 25:
Karl Marx đã đưa ra một kiến giải đặc biệt về kinh tế.
Karl Marx nhận định:
Mối xung đột giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản sẽ ngày càng gay gắt.
Và giai cấp vô sản sẽ giành thắng lợi.
Hình thành nên nền chuyên chính của giai cấp vô sản.
Các nhà tư bản trong cuốn Tư Bản Luận đối với chủ nghĩa Marx cũng có nhận thức chắc chắn.
Do vậy, các nhà tư bản cũng đã có chính sách để đối ứng.
Diễn biến về sau này là:
Các nhà tư bản đã cải thiện sự đãi ngộ đối với công nhân.
Còn để công nhân tham gia vào chính trị. Đảng lao động có được một phần quyền lực.
Thế là:
Lời dự đoán của Karl Marx đã không thành hiện thực.

Tôi nói những điều này chỉ là nhắc đến một cách sơ lược mà thôi. Bản thân tôi cho rằng, chính trị và kinh tế là hai mặt của một thể thống nhất.
Dưới sự tấn công của virus lần này:
"Kinh tế đã trở thành vật bồi táng."
Tôi cho rằng:
Sự sụp đổ của kinh tế.
Cũng sẽ dẫn đến sự chấn động mạnh mẽ của chính trị.
Chủ tịch Tập Cận Bình cần phải vận dụng trí tuệ cực lớn để đối phó dưới tình hình virus.
Tổng thống Trump cũng vậy.
...

Điều 26:
Trong một đất nước, chính trị và kinh tế có ổn định hay không, chiếm một tỉ lệ quan tâm rất lớn.
Mặc dù đại đa số con người không nhất định là tham dự trực tiếp vào chính trị và kinh tế.
Nhưng,
Vai trò thứ yếu là không thể tránh được.
Tôn Trung Sơn tiên sinh nói:
Sử dụng triệt để tài năng của con người.
Sử dụng triệt để lợi ích của đất.
Sử dụng triệt để công dụng của đồ vật.
Hàng hóa sẽ tự do mà chảy.

Còn dưới sự tàn phá của virus:
Người người đều ở nhà.
Chuỗi cung ứng cũng đứt.
Hàng hóa chẳng thể tự do mà lưu chuyển nữa.
Toàn bộ nền kinh tế thế giới đã bị đóng băng.
Bao nhiêu người phải đối diện với nguy cơ khủng hoảng tài chính, tương lai sẽ phải đối diện với hai chữ "nghèo đói".
Tiếp đó là "bệnh tật", tiếp theo nữa là "cái chết".
Tôi cho rằng:
Cuộc chiến tranh nhân loại chống virus phải nhanh chóng giải quyết được vấn đề này.
Bằng không, chính trị và kinh tế sẽ bị chôn cùng người chết.

Điều 27:
Sự bùng phát của virus Corona trong năm 2020 hoàn toàn nằm ngoài tưởng tượng của nhân loại.
Mặc dù cuối năm 2019, tôi đã nhắc đến điều này.
Tôi đã dự đoán rằng sẽ xuất hiện dịch bệnh.
Kinh tế toàn thế giới chỉ còn được 20 điểm.
Vốn dĩ cuộc phỏng vấn này sẽ được phát trên truyền hình Đài Loan.
Nhưng,
Người phụ trách chương trình, sư tỉ Vạn Bội Bội nói:
"Vì một số lý do nên sẽ không thể phát sóng!"
Như vậy cũng tốt.
Nếu như đã có dự đoán nhưng chẳng thể làm được gì để thay đổi thì cũng vô dụng.


### 39. Suy ngẫm dưới "lệnh cấm túc" (7)


Điều 28:
Mỗi tối khi đi ngủ, tôi sẽ luôn tự nói với bản thân:
"Tất cả những điều này rồi sẽ qua đi, bệnh dịch chắc chắn sẽ qua đi."
Nhưng,
Khi tôi tỉnh dậy.
Ánh mặt trời vẫn chiếu soi như thế, chiếu đến đầu giường tôi.
Chim vẫn hót như thế.
Hoa vẫn nở như thế.
Còn bệnh dịch vẫn càng ngày càng nghiêm trọng, số người được xét nghiệm nhiễm bệnh càng ngày càng nhiều, số người chết tăng cao.
Tôi hết lần này tới lần khác thất vọng.
Thất vọng + thất vọng + thất vọng + thất vọng + thất vọng + ………………..
Đáp án của tôi là:
"Vô tận!"
Ai chà! Quả nhiên là tương lai còn xa lắm.
Trước mắt vẫn là cả một màn đen.

Điều 29:
Cô Bội Nghê, nữ tiếp viên của hãng hàng không Eva Airlines đã xin nghỉ không lương.
Cô Tiểu Ngọc, nữ tiếp viên của hãng hàng không China Airlines đã xin nghỉ không lương.
Các tiếp viên của hãng hàng không Singapore Airlines đã đồng lòng xin nghỉ không lương.
Cô Lucy của hãng hàng không Delta Airlines đã xin nghỉ không lương.
...

Những cô gái tiếp viên hàng không này đều là đệ tử của tôi (Lư Sư Tôn).
Họ đều đã nghỉ ngơi rồi.
Và Lư Sư Tôn cũng nghỉ ngơi rồi.
Các đệ tử của tôi là các ông chủ bà chủ cũng không ít, các cửa hàng phải đóng cửa, các công xưởng phải đóng cửa.
Trường học cũng đã dừng lên lớp!
Những người đi làm cũng không phải đi làm nữa!
Công nhân cũng không phải đi làm nữa!
Tôi xem trên tivi thấy có người hét lớn rằng:
"Sếp ơi! Cố lên!"
Tôi thấy thế rất buồn cười, ha ha ha!
Chỉ có một người sếp này cố lên ư! Thế còn những người khác thì sao đây?

Điều 30:
Đối với bệnh dịch lần này, tôi thật sự không nảy sinh một chút sợ hãi nào. Vì sao vậy?
Bởi vì tất cả mọi người đều như nhau.
Bất kể là người da vàng, người da trắng, người da đen.
Bởi vì tất cả mọi người đều bình đẳng như nhau.
Thế nên cũng cảm thấy an tâm chẳng có gì băn khoăn, nếu "đi đời" thì mọi người cùng "đi đời".
Trong kinh Phật cũng thường nhắc đến: "Thành, trụ, hoại, không."
Đây là một dạng tuần hoàn.
Có người nói rằng mọi thứ đều có tính chu kỳ, chỉ cần chu kỳ này qua đi thì nhất định sẽ qua hết.
Đương nhiên, nhất định sẽ qua thôi!
Nhưng, sau khi qua hết rồi, thì sẽ là một bức màn trắng trống rỗng.

Điều 31:
Có chuyên gia về virus phát hiện, virus Corona này không phải là một chủng, mà rất phức tạp.
Họ đã thấy được:
Virus Corona chủng 229E.
Virus Corona chủng NL63.
Virus Corona chủng OC43.
Virus Corona chủng HKU1.
...

[Các chủng virus Corona phổ biến ở con người]

Trời ạ! Virus gì mà nhiều vậy, đừng dọa con người sợ nữa được không?
Trái lại, cá nhân tôi đây thì vẫn bình chân như vại.
Bởi vì, tôi có thể hợp nhất cùng với Phật.
(Tôi có thể bay thẳng tới Phật quốc.)


### 40. Suy ngẫm dưới "lệnh cấm túc" (8)


Điều 32:
Khởi nguồn của virus Corona, người lây truyền số 0 là ai?
Mỹ chỉ hướng sang Vũ Hán, Trung Quốc.
Trung Quốc chỉ hướng sang Mỹ.
(Chỉ ra rằng trong cuộc thi thể thao quân nhân thế giới, một người nữ sĩ quan quân đội Mỹ là người mang virus số 0.)
Mỹ đổ lỗi sang Trung Quốc.
Trung Quốc đổ lỗi sang Mỹ.
Hai bên cãi qua cãi lại.
Không sao chấm dứt được!
Tôi thì nghĩ:
Vào thời khắc này, cãi nhau chuyện này chẳng có ý nghĩa gì, bây giờ chỉ có quan trọng nhất là: "Phòng dịch là số một", "Cứu người là số một".
Cãi nhau về người truyền bệnh số 0 ư?
"Nhảm nhí!"

Điều 33:
Tôi là con cháu người Hoa từ Đài Loan di dân đến thành phố Seattle, bang Washington nước Mỹ.
Ngày 16 tháng 6 năm 1982 chúng tôi di cư.
Tôi nói: Người ở Mỹ, tâm ở Đài Loan.
Thế nên, tôi quan tâm đến tình hình dịch bệnh ở Đài Loan.
Ở huyện Nam Đầu, Đài Loan, có Đài Loan Lôi Tạng Tự mà tôi thành lập là "đại bản doanh" của Đài Loan.
Trên sườn núi có treo dải chữ: "Tất cả mọi lúc đều cát tường".
Tôi chú ý thấy là ông Trần Thời Trung, bộ trưởng phụ trách trung tâm phòng dịch trung ương, đã tận tâm tận lực, ai cũng thấy cả. Việc phòng dịch ở Đài Loan đã được làm rất tốt.
Những hành động đối phó với dịch bệnh cực kì phù hợp.
Cho đến thời điểm này, Đài Loan đã nhận được sự tán dương của các quốc gia trên thế giới, thật sự rất tốt!
Tôi cũng cực kì khen ngợi! Chậc lưỡi cảm thán!

Nhưng,
Tôi có một phát hiện nhỏ, nói ra cũng chẳng có hại gì cả!
Tổng thống Thái Anh Văn tiếp tục thắng cử.
Khách Đại Lục du lịch Đài Loan giảm sút.
Số lượng khách từ Đại Lục tới Đài Loan lao dốc.
Ngay cả việc tự do đi lại cũng bị cấm.
Du lịch tự túc cũng chẳng còn nữa.
Các đồng môn ở Đại Lục nói với tôi:
"Chúng con không thể đi Đài Loan nữa rồi!"
Khách du lịch ở Đại Lục chuyển qua đi du lịch ở đâu?
Đáp án là:
Hàn Quốc, Nhật Bản.
Thế nên, tình hình dịch bệnh ở Hàn Quốc rất nghiêm trọng, tình hình dịch bệnh ở Nhật Bản cũng rất thê thảm!
Đài Loan chỉ bị ảnh hưởng nhẹ.
Điều này ứng với một câu nói:
"Họa phúc đi liền, nhờ họa được phúc."

Điều 34:
Hiện tại, khi tình hình dịch bệnh ở một số nước đã thuyên giảm, các doanh nghiệp trong chuỗi sản xuất đã đua nhau yêu cầu trở lại làm việc. Bởi vì điều này có quan hệ tới kinh tế.
Kinh tế đình đốn một tháng, hai tháng, ba tháng, bốn tháng, tổn thất của nó đều lên tới con số "thiên văn" cả.
Đình đốn càng lâu, tổn thất càng lớn.
Nhưng,
Việc đi làm trở lại cũng không phải là nói đi làm lại thì là đi làm lại được.
Xin hỏi:
"Đơn hàng ở đâu ra?"
Không có đơn đặt hàng? Sao có chuyện đi làm trở lại?
Sự nghiêm trọng của vấn đề chính là ở đây!
Đi làm lại nhưng lại không có đơn hàng.
Có đơn hàng nhưng lại không được đi làm lại.
Tôi chỉ ra vấn đề nằm ở đâu:
Chuỗi sản xuất cung ứng đã đứt rồi.
Bây giờ là thời kỳ hồi phục lại chuỗi sản xuất, như vậy kinh tế mới có thể sống lại được.


### 41. Suy ngẫm dưới "lệnh cấm túc"(9)


Điều 35:
Dưới lệnh cấm túc, cảm giác của người khác như thế nào?
Tôi không biết.
Nhưng,
Tôi biết lệnh cấm túc đối với tôi rất có lợi.
Tôi đã biết thế nào gọi là "chỉ". ["chỉ" nghĩa là dừng lạ]
Tôi đã biết thế nào gọi là "đoạn". ["đoạn" nghĩa là gián đoạn, ngắt quãng]
Nhờ có "chỉ - đoạn" nên tôi chỉ ở Nam Sơn Nhã Xá, chân không bước ra khỏi nhà, tôi đã có được một cảm nhận khác.
Đến bây giờ, tôi đã viết những suy ngẫm dưới lệnh cấm túc, mô tả về tình hình dịch bệnh.

Ngoài việc này ra,
Việc tu hành của tôi cũng đã đạt được những tiến triển rất lớn. Tôi rất dễ dàng nhập vào thiền định (Tam ma địa).
Định một tiếng.
Định hai tiếng.
Định sáu tiếng.
Bởi vì chẳng có bất kì điều gì quấy rầy, không bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh bên ngoài.
Không có "sắc" đến từ bên ngoài, không có "thanh" đến từ bên ngoài, không có "hương" đến từ bên ngoài, không có "vị" đến từ bên ngoài, không có "xúc" đến từ bên ngoài, không có "pháp" đến từ bên ngoài.
Tôi tiến nhập vào tính Không của vô sở hữu.
Là "vô nhị".
Là "vô tưởng".
Sau khi xuất định, tôi chỉ muốn nói rằng:
"Hóa ra là thế!"

Điều 36:
Tôi phát hiện ra tôi là một thần tiên, cũng có thể "muốn gì làm nấy" rồi.
Tôi là thần tiên có đầy đủ sáu loại thần thông.
Thiên nhãn thông — mắt nhắm lại là tự do tự tại "nhìn". Quan tâm đến người khác.
Thiên nhĩ thông — tôi "nghe" thấy những tiếng kêu than đau khổ, để mà đi loại bỏ những bệnh khổ của người khác.
Thần túc thông — ánh sáng của tôi đến khắp nơi cứu người.
Tha tâm thông — tôi bình đẳng từ bi và yêu thương, nghĩ cho người khác.
Túc mệnh thông — có hiểu biết có cảm xúc, có tri giác có cảm nhận, làm hết sức trách nhiệm thần tiên cứu người của tôi.
Lậu tận thông — mọi phiền não của tôi đã cạn sạch, chỉ còn lại lòng từ bi.
Ánh sáng của tôi.
Chiếu rọi khắp nơi.
Đem niềm vui đến cho mọi người, loại trừ bệnh khổ của con người, tôi tận lực làm những việc này, bình đẳng cứu giúp không phân biệt.

Điều 37:
Tôi luyện tập Mật pháp.
Quán tưởng đến mức không cần phải quán tưởng nữa.
Trì chú đến mức chỉ cần phát ra âm thanh gì thì đó là chú.
Nhập Tam ma địa chỉ trong một sát-na.
Nói cách khác là, chỉ trong một khoảng thời gian rất ngắn đã hoàn thành xong rồi.
Tôi thể hội được:
Tôi chính là Bổn tôn.
Bổn tôn chính là tôi.
Tôi làm sự nghiệp lớn hoằng pháp lợi chúng sinh của Bổn tôn.
Trong giai đoạn này, tôi đã siêu độ được rất nhiều linh hồn không có ai giúp đỡ.
Tôi đã dạy được rất nhiều Mật pháp cho đồng môn.
Ánh sáng của tôi không phải là tỏa sáng một mình.
Mà là ánh sáng đi vào sâu trong tim của chúng sinh.

Điều 38:
Cho dù cuộc đời tôi đã đi tới tận cùng rồi, nhưng sự từ bi và tình yêu của tôi thì luôn vô tận.
Tôi hòa nhập vào trong ánh sáng từ bi của Phật Bồ Tát, đó là con đường vĩnh hằng.
Sự nghiệp cứu độ chúng sinh vĩ đại của tôi chỉ có hai chữ:
"Vĩnh hằng!"


### 42. Suy ngẫm dưới "lệnh cấm túc" (10)


Điều 39:
Tôi dạy mọi người tu hành Mật pháp Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu.
Dạy mọi người tu hành pháp Hổ Đầu Kim Cang.
Pháp đầu tiên là khi tôi ở Seattle Lôi Tạng Tự, đang đảnh lễ đàn thành, thì Lục Độ Mẫu nói bên tai tôi rằng:
"Mau mau trì tâm chú Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu."
Còn pháp sau thì là Diêu Trì Kim Mẫu hóa hiện thành Hổ Đầu Kim Cang, pháp này sẽ kiểm soát năm loại Ôn Thần.
Hai pháp này đều để đối trị với bệnh dịch.
Tôi đã ngộ ra rằng:

1. Chúng ta có thể cứu được toàn thế giới.

2. Chúng ta có thể hướng dẫn thế giới của chúng ta.

3. Chúng ta có thể khiến thế giới của chúng ta thức tỉnh.

Tâm chú Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu có công đức lớn:
Lục Độ Mẫu, 21 vị Độ Mẫu, Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu có thể bảo vệ được thế giới này.
Thường xuyên chăm chỉ niệm tụng có thể cắt đứt được cái gốc luân hồi, tránh được tất cả nghiệp chướng, tiêu diệt được bệnh dịch, có thể cứu được bệnh khổ. Tất cả các họa do nước, lửa, binh đao, cướp bóc, tai nạn đều có thể tránh được.
Tăng trưởng thọ mệnh.
Tăng trưởng phúc huệ.
Cầu gì đều có thể được như ý nguyện.
Cuối cùng sẽ được vãng sinh đến Phật quốc tịnh độ.

Chú Hổ Đầu Kim Cang có công đức lớn:
Thanh tịnh nghiệp lực của tam ác đạo, tránh bị rơi vào cảnh khổ của tam ác đạo.
Năm loại Ôn Thần không thể vào nhà.
Tránh bị nhiễm bệnh dịch.
Tránh được mười tám nạn chết người bất ngờ.
Diêu Trì Kim Mẫu, ba nghìn Thiên Nữ, Đế Thích Thiên, Tứ Đại Thiên Vương, tất cả thiện thần đều sẽ bảo vệ.
Thành tựu tất cả những điều thiện và nhân duyên tốt lành, từ từ thành tựu Phật quả.

Điều 40:
Muốn trì tụng tâm chú Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu và tu hành pháp Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu thì cần nhận quán đảnh.
Quán đảnh có quán đảnh trực tiếp và quán đảnh từ xa.
Còn nữa, việc quán đảnh cũng bao gồm cả quy y.
Vì sao cần phải làm như vậy?
Bởi vì Lư Sư Tôn có dòng chảy pháp rất quý giá, dòng chảy pháp này là:
"Bất tử cam lộ."
"Ngũ trí cam lộ."
"Truyền thừa cam lộ."

Tất cả những hành giả muốn quy y, nhận quán đảnh cũng cần phải có đủ may mắn mới có thể nhận được sự quy y và quán đảnh hy hữu này.

Ý nghĩa của nó là:

1. Dựa vào duy nhất bậc Chính Giác Kim Cương Thượng Sư.

2. Dựa vào duy nhất Phật Đà Đại Giác.

3. Dựa vào duy nhất chính pháp của Phật Đà.

4. Dựa vào duy nhất vào Thánh, hiền, tăng có chính pháp.

Đồng môn đã quy y và nhận quán đảnh không chỉ là một chính nhân, tu hành chính pháp, mà còn có thể cứu giúp người khác và tất cả lục đạo chúng sinh.
Mọi người càng cần hiểu rằng, Lư Sư Tôn đã tu hành hơn 40 năm, là một vị Kim Cương Thượng Sư Đại Trì Minh có dòng truyền thừa đích thực.
Hiển giáo:
Ấn Thuận đạo sư.
Đạo An pháp sư.
Lạc Quả pháp sư.

Mật giáo:
Liễu Minh Hòa Thượng.
Sakya Chứng Không Thượng sư.
Đại Bảo Pháp Vương thứ 16.
Thubten Dhargye Thượng sư.


### 43. Suy ngẫm dưới "lệnh cấm túc" (11)


Điều 41:
Khi tình hình bệnh dịch đang ngày càng nóng lên.
Quỹ từ thiện Lư Thắng Ngạn đã tích cực trợ giúp chúng sinh.
Tổ chức này đã ủng hộ như sau:
Ngày 27/3/2020: Chủ tịch quỹ từ thiện Lư Thắng Ngạn là Lư Phật Thanh đã phát lời kêu gọi ủng hộ khẩu trang. Seattle Lôi Tạng Tự và Cầu Vồng Lôi Tạng Tự đều cực kì tích cực hưởng ứng.
Biết được ICHS - Dịch vụ sức khỏe cộng đồng quốc tế, các nhân viên y tế ở tuyến đầu thiếu khẩu trang, thế là, ngay ngày hôm đó, chúng tôi đã lập tức ủng hộ 3,390 chiếc khẩu trang cho trung tâm dịch vụ sức khỏe cộng đồng quốc tế ICHS.
Khiến cho:
Toàn thể nhân viên y tế vô cùng cảm động.
Chúng tôi nỗ lực kêu gọi tiếp tục thu thập khẩu trang và các thiết bị bảo hộ để bất kì lúc nào cũng có thể ủng hộ cho các đơn vị y tế.
Nỗ lực không mệt mỏi!

Điều 42:
Ngày 4/4/2020.
Do rào cản về ngôn ngữ, văn hóa và tính hệ thống, dân nhập cư và dân tị nạn rất dễ chịu ảnh hưởng nhất thời và lâu dài của dịch virus Corona đang lan tràn rộng khắp.
Bởi vậy, quỹ từ thiện Lư Thắng Ngạn đã sử dụng ngân quỹ và quỹ cứu trợ tức thời, nhanh chóng chuyển đến cho tổ chức cứu trợ của tuyến đầu.

Dưới đây là những đơn vị cần được giúp đỡ nhất:

1. Cục vệ sinh Somalia.

2. Tổ chức y tế Kiện Khang Nhất Điểm Thông.

3. Tổ chức dân tị nạn Tây Bắc.

4. Tổ chức chăm sóc sức khỏe bạn và cộng đồng.

Giúp đỡ cho bốn tổ chức này, tuyên truyền cho mọi người kiến thức vệ sinh để phòng chống virus Corona.
Trợ giúp mua lều để có thể tiến hành xét nghiệm người nhiễm virus ở bên ngoài một cách an toàn.
Giúp đỡ các nhân viên công tác và bệnh nhân trong điều trị y học và thức ăn.
Giúp đỡ các nhu yếu phẩm cần thiết.
Và những việc khác nữa.

Ngoài ra, quỹ từ thiện Lư Thắng Ngạn cũng quan tâm mật thiết đến các đơn vị khác. Bất kì lúc nào cũng sẵn sàng trợ giúp.
Các đơn vị cần giúp đỡ quá nhiều.

Do vậy, tổ chức từ thiện Lư Thắng Ngạn cảm tạ các đệ tử Chân Phật chúng ta, các đối tác đã hợp tác lâu dài, đã vì đảm bảo an toàn và sức khỏe cho mọi người mà nỗ lực làm mọi việc.
Cảm tạ tất cả những người đã chung tay giúp đỡ.

Điều 43:
Những việc mà tổ chức từ thiện Lư Thắng Ngạn đã làm chính là những gì mà Phật Đà đã dạy:
*Mọi điều ác không làm.
Hãy làm mọi điều thiện.
Tự thanh tịnh ý thức.
Là điều chư Phật dạy.*
Tổ chức từ thiện Lư Thắng Ngạn đang làm công tác "hãy làm mọi điều thiện".

Phật Đà dạy chúng ta:
Mọi điều ác không làm chính là "giới".
Hãy làm mọi điều thiện chính là "huệ".
Tự thanh tịnh ý thức chính là "định".
Dùng "giới - định - huệ" để phá bỏ "tham - sân - si" chính là đối trị.
Từ đó chứng đắc trí huệ Như Lai của đệ nhất nghĩa đế.


### 44. Suy ngẫm dưới "lệnh cấm túc" (12)


Điều 44:
Dưới sự hoành hành của virus Corona lần này, tôi (Lư Sư Tôn) mỗi ngày đều làm siêu độ cho những người chết vì mắc nạn.
Tôi làm như thế này:
Mỗi buổi tối trước khi đi ngủ.
Tôi có thể nhìn thấy Tây phương Tam Thánh. A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát xuất hiện trước mặt tôi.
A Di Đà Phật phóng tỏa vệt ánh sáng màu trắng chiếu đến giữa trán tôi.
Quan Thế Âm Bồ Tát dùng cành dương liễu rắc cam lộ lên toàn thân tôi.
Đại Thế Chí Bồ Tát dùng nụ hoa sen phóng ánh sáng màu đỏ chiếu lên thân tôi.

🌟

Trong một sát-na!
Chính tôi đã biến thành A Di Đà Phật, bay lên nhập vào hư không.
Tay trái kết ấn ban nguyện.
Tay phải cầm đóa hoa sen.
[Ở đây cũng giống như tay phải kết ấn ban nguyện, tay trái cầm đóa hoa sen.]
Ở chính giữa hoa sen có mặt trăng mặt trời.
Trên vầng mặt trăng mặt trời có chữ Phạn "Pang".
Rồi từ chữ "Pang" biến hóa thành một chiếc thuyền pháp to lớn, chiếc thuyền pháp này đậu trên mây trắng. Thuyền pháp phóng quang, ánh sáng này trở thành vô số sợi dây ánh sáng, chiếu đến khắp toàn bộ thế giới Ta Bà.

Lúc này,
Những người tử vong vì bệnh dịch chỉ cần nắm lấy những sợi dây ánh sáng là có thể trèo lên thuyền pháp của A Di Đà Phật. Con thuyền chở đầy những người chết.

Sau đó, tôi trì:
Vãng sinh chú.
Văn Thù vãng sinh chú.
Thuyền pháp khởi động, bay về cõi tịnh thổ Tây phương Cực Lạc thế giới của A Di Đà Phật.
Ánh hào quang của chính A Di Đà Phật chiếu tới tôi vô cùng chân thực.
Quan Thế Âm Bồ Tát dùng cành dưỡng liễu rắc cam lộ lên người tôi vô cùng chân thực.
Đại Thế Chí Bồ Tát cầm nụ hoa sen chiếu ánh sáng lên tôi vô cùng chân thực.
Tôi biến hóa thành A Di Đà Phật vô cùng chân thực.
Thuyền pháp xuất hiện vô cùng chân thực.
Thuyền pháp phóng ra những sợi dây ánh sáng rất chân thực.
Thuyền pháp bay về hướng Tây phương tịnh độ vô cùng chân thực.
Đây chính là việc siêu độ trước mỗi lần đi ngủ của tôi. Tất cả những việc này đều cực kì cực kì chân thực.

🌟

Ngoài ra,
Ban ngày tôi xem tivi, thấy có người chết.
Tôi niệm:
Vãng sinh tịnh thổ, siêu sinh thoát khổ, nam mô A Di Đà Phật.
Nam mô 36 vạn tỉ, 11 vạn, 9 nghìn, 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật.
Ôm a-mi-đê-wa sê. (108 biến hoặc nhiều hơn)
Cầu thỉnh siêu độ cho người chết được vãng sinh tịnh độ.
Tôi niệm vô cùng kiền thành.

🌟

Còn nữa:
Có một lần, ngoài Tây phương Tam Thánh xuất hiện ra, tôi còn nhìn thấy Bổn tôn màu xanh lục.
Tôi cho rằng đó là Bảo Sinh Phật.
Nhưng nhìn kĩ lại, hóa ra tay trái của ngài cầm hoa sen, lúc này tôi mới nhận ra đó là:
Lục Độ Mẫu.
Sau khi Lục Độ Mẫu xuất hiện thì cả 21 vị Độ Mẫu đều xuất hiện. Khi 21 vị Độ Mẫu xuất hiện thì chắc chắn có cả Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu.

Thế là tôi niệm:
"Ôm ta-ra tu-ta-ra tu-ra na-mô ha-ra hơ-ra hùm ha-ra sô-ha."
Tôi toàn tâm mong cầu.
Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu.
Hổ Đầu Kim Cang.
Mau chóng tiêu diệt hết virus Corona.


### 45. Đạm Thực Kim Cang Không Hành Hộ Ma


Từ Đạo Quả của phái Sakya, tôi (Lư Sư Tôn) đã ngộ được Mật pháp của virus Corona chết người. Pháp này do Kim Cương Thượng Sư Đại Trì Minh Liên Sinh Hoạt Phật đặc biệt truyền thụ.
Phần chính hành của pháp này như sau:
Kết ấn: thủ ấn Uế Tích Kim Cang.
Quán tưởng: Trong vùng hư không phía trước mặt hành giả, chữ Hum màu xanh lam trong nguyệt luân xoay chuyển.
Từ đây hiện ra Uế Tích Kim Cang. Cũng tức là Đạm Thực Kim Cang.
Quán tưởng hình tượng của Uế Tích Kim Cang:
Thân màu xanh lam. Phía trên đỉnh tóc là Phật Thích Ca Mâu Ni. Tướng phẫn nộ. Tóc màu đỏ dựng hướng lên trên. Toàn bộ cơ thể rực lửa. Chân trái dẫm lên đám mây, chân phải giơ lên không. Có tám cánh tay.
Pháp khí là chuông kim cang, chày kim cang, sợi dây kim cang, bánh xe kim cang, kiếm kim cang, giáo mác kim cang. Hai cánh tay còn lại thì giữ nắm đấm và ấn không sợ hãi.

Trì chú:
Tâm chú là: “Ôm chu-ru tô-lan hùm rưa.” (108 biến)
Hành giả lấy:
"Hạt vừng đen."
Quán tưởng chữ Hum màu đen ở trên hạt vừng đen, sau đó ném hạt vừng vào trong lò lửa Hộ Ma để cho vừng cháy hết.
(Hạt vừng đen tượng trưng cho virus Corona.)
Hoặc dùng:
Chữ Phạn "Can" gắn vào hạt vừng đen cũng được.

Ý nghĩa của nó là:
Virus Corona đã bị đi vào miệng Uế Tích Kim Cang và bị ăn sạch sẽ rồi. Virus trên thân của hành giả đã hoàn toàn bị tiêu diệt.
(Uế Tích Kim Cang có thể ăn được virus này là điều thật, bởi vì Đạm Thực Kim Cang có thể ăn tất cả những vật ô uế nhơ bẩn, cho dù là vi khuẩn và virus thì Uế Tích Kim Cang cũng là khắc tinh của chúng.)

Nhập Tam ma địa:
Hành giả theo pháp Tam ma địa mà thực hành pháp Nhập ngã - Ngã nhập. Uế Tích Kim Cang biến thành một điểm ánh sáng. Điểm ánh sáng theo trung mạch đi vào trong hoa sen tám cánh ở tâm hành giả.
Uế Tích Kim Cang đứng trên hoa sen tám cánh.
Hành Giả và Uế Tích Kim Cang không hai không khác.
Hành giả chính là Uế Tích Kim Cang.
Uế Tích Kim Cang chính là hành giả.

Cuối cùng:
Xuất định, tụng kệ tán thán:
Tiệt diệt virus.
Ma loài quy y.
Nguyện tính từ bi.
Ở lại thân này.

Điểm cần lưu ý:
Muốn thỉnh Uế Tích Kim Cang phải triệu thỉnh, niệm:
"Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, nam mô báo thân Thích Ca Mâu Ni Phật, nam mô Uế Tích Kim Cang Đại Quyền Thần Vương Phật."

Ở chùa Bích Sơn Nham tại huyện Nam Đầu, Đài Loan, tôi đã thọ Bồ Tát Giới khi còn là thanh niên. Lão hòa thượng Huệ Tam đã đưa cho tôi những văn bản về pháp Uế Tích Kim Cang.

1. Uế Tích Kim Cang thuyết thần thông đại mạn-đà-la-ni pháp thuật linh yếu môn kinh.

2. Uế Tích Kim Cang pháp cấm bách biến pháp môn kinh.

3. Mật Tích Lực Sĩ Đại Quyền Thần Vương kinh kệ tụng.

Chú dài của Uế Tích Kim Cang là:
”Ôm fua-hai gu-ru mua-hưa-pô-la hân-na-tưa wân-sư-wân wây-chi-wây ma-na-chi u-sân-mu gu-ru hùm-hùm fat-fat-fat sô-ha.”
Xin lưu ý:
"Muốn trừ virus, phải thật nhất tâm."


### 46. Quán sát dịch bệnh có cảm tưởng


Thứ nhất:
*Thân người như cây đàn tỳ bà
Chẳng ngờ virus đến chơi
"Teng"
Nằm xuống
Cả thế giới bị dọa cho khiếp sợ*

*Khúc nhạc này chẳng như bình thường
Chẳng hết cũng chẳng kết thúc
Người già, trung niên hay người trẻ
Miệng há hốc
Chỉ còn lại một nỗi kinh hoàng.*

Thứ hai:
*Xinh đẹp đã giảm bớt
Thanh tú có thấy đâu
Khuôn mặt còn một nửa
Đẹp xấu chẳng nhìn ra
Chỉ còn lại
Hai con mắt
Chẳng cần thêm trang điểm
Phấn cũng chẳng cần thoa
Son chẳng cần tô nữa
Khẩu trang che hết rồi
Bao khuôn mặt khác nhau.*

Thứ ba:
*Tôi tuôn trào nước mắt
Bảy mươi sáu tuổi
Đời này chỉ có một lần này
Tận mắt thấy
Cảnh này tình này
Đến khi nào
Nhất thời niềm đau trong lòng
Khi nào mới được gặp lại
Các đồng môn.*

Thứ tư:
*Đóng biên giới
Phong tỏa
Cấm túc
Tôi dường như trở thành một tên ngốc*

*Trong phút chốc
Tất cả đều ngưng lại rồi
Tôi chỉ còn việc rửa bát đũa
Cứ thế
Sống qua ngày.*

Thứ năm:
*Mắt thấy người ta
Từng người từng người một chết
Tôi chỉ biết
Niệm Phật cho từng người từng người.*

*Tôi chẳng phải là người chôn nghiệp chướng
Tôi chỉ là cảm thấy thê lương
Hơn thế tôi còn biết
Người ta chính là mình.*

*Ngủ xong lại thức
Thức xong lại ngủ
Hỏi trời xanh
Ngày nào khi nào mới hết đây.*


### 47. Nghi quỹ Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu niệm tụng pháp


Đầu tiên, cầu nguyện Căn bản Truyền thừa gia trì:
Trước tiên quán không, tiếp theo quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật trụ tại đỉnh đầu phóng quang gia trì.
Trì Liên Hoa Đồng Tử tâm chú 7 lần, thỉnh cầu việc tu pháp được viên mãn.
Thực hiện Tứ vô lượng quán. Làm thủ ấn thức tỉnh (vỗ tay hai lần, sau đó bắt chéo tay và búng ngón tay.)

1. Niệm chú thanh tịnh và an Thổ Địa chân ngôn.

2. Niệm chú triệu thỉnh.

3. Đại lễ bái.

4. Đại cúng dường.

5. Tứ quy y.

6. Tứ vô lượng tâm.

7. Phát bồ đề tâm.

8. Niệm kệ và chú sám hối.

9. Mặc bia giáp hộ thân.

10. Đọc Cao Vương Quan Thế Âm chân kinh 1 lần, và chú vãng sinh 7 lần.

11. Đọc Liên Hoa Đồng Tử tâm chú (108 biến).
Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm.

12. Thủ ấn và quán tưởng:

Thủ ấn: tay trái kết ấn cầm hoa sen, tay phải kết ấn ban nguyện, lòng bàn tay phải hướng ra ngoài.

Chủng tử: chữ "Tang" màu đỏ và cam.

Quán tưởng:

A. Trước tiên quán không, niệm chú quán không.
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng.

B. Kết ấn, quán tưởng hư không có mặt trời lớn, ở giữa mặt trời xuất hiện chủng tử chữ "Tang" màu đỏ cam phóng quang và xoay tròn hóa thành Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu. (Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu hiển hiện lên từ trong ánh sáng mặt trời.) (Chú ý 1)

C. Tay trái kết ấn cầm hoa sen, tay phải kết ấn ban nguyện. (thủ ấn Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu)

D. Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu hiện thân màu đỏ và cam, một mặt hai tay, chân phải vươn ra, chân trái giữ tư thế cong, ngồi trên tòa hoa sen. Thân ngài mặc thiên y với các loại trang sức trân quý. Tay phải kết ấn ban nguyện, tay trái cầm hoa sen, trên bông hoa sen có bảo bình, trong bình có đầy cam lộ bất tử tiêu trừ bệnh dịch. Đôi mắt của ngài giống như mặt trăng mặt trời, tỏa ra vô lượng tia sáng.

E. Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu hiện thân trước mặt hành giả, tiếp đó lại quán tưởng ở trong bông hoa sen nở xòe trên tay Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu có một chiếc bảo bình, trong bình có cam lộ bất tử phóng ra vô lượng ánh sáng trắng, vô lượng tia sáng từ hư không gia trì chiếu tới bản thân hành giả. Ánh sáng cũng chiếu tới gia trì cho sáu vị thuốc bột hoặc năm vị thuốc bột (Chú ý 2).
(Hành giả cần phải thực sự cảm nhận được Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu đã phóng quang gia trì cho những thuốc bột này.)
Tiếp đó bản thân hành giả và Độ Mẫu hợp nhất để nhập định.

1. Trì Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu tâm chú. (Trước tiên cần quán tưởng chuỗi hạt.)
"Ôm ta-ra tu-ta-ra tu-ra na-mô ha-ra hơ-ra hùm ha-ra sô-ha." (108 biến)

2. Làm Cửu tiết Phật phong, nhập Tam ma địa.

3. Xuất định.

4. Kệ tán thán:
*Đảnh lễ Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu
Nhật nguyệt đôi mắt sáng hiển minh.
Tara tutara hai lần tụng
Bệnh dịch nguy nan được tiêu trừ.*

5. Niệm Bát đại bổn tôn tâm chú để gia trì thêm.

6. Niệm Phật:
Nam mô 36 vạn tỷ, 11 vạn, 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)

7. Hồi hướng.

8. Niệm Bách tự minh chú. (3 biến)

9. Đại lễ bái.

10. Rời khỏi đàn thành, niệm chú viên mãn.
Ôm bu-lin. (3 biến)
Ôm ma-ni pê-mi hùm. (1 biến)

Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai cái, rồi đặt chéo hay tay và búng ngón tay.
Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.

🌟

Chú ý 1: đây là khẩu quyết tu quán tưởng "Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu niệm tụng pháp", được trích từ khai thị trong buổi Liên Sinh Hoạt Phật truyền pháp này vào ngày 15/03/2020.
Chú ý 2: vào ngày 17/03/2020, Liên Sinh Hoạt Phật đã từ bi chỉ thị rằng: nếu không có hùng hoàng thì có thể dùng 5 vị thuốc bột cũng được. 6 vị thuốc hoặc 5 vị thuốc đều được. Gói thuốc Độ Mẫu phòng dịch nghiêm cấm uống. Chỉ được phép mang theo bên mình, và sử dụng khi làm kết giới phòng hộ.
6 vị thuốc gồm: xà sàng tử, chế phụ tử, viễn chí, cam thảo, quế tâm, hùng hoàng.
5 vị thuốc gồm: xà sàng tử, chế phụ tử, viễn chí, cam thảo, quế tâm.
Mỗi vị thuốc có lượng bằng nhau, xay thành bột.

🌟

Muốn tu trì Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu niệm tụng pháp, bắt buộc phải xin quán đảnh trước. Nếu vẫn chưa được quán đảnh, có thể viết thư đến Tông Ủy Hội xin quán đảnh từ xa.
Khi gửi thư cần ghi rõ tiêu đề: Xin quán đảnh từ xa Cứu Ôn Dịch Độ Mẫu niệm tụng pháp. Nội dung trong thư ghi rõ: tên, ngày sinh, địa chỉ, cúng dường (tùy tâm). 

Gửi thư đến địa chỉ:
Tông vụ ủy viên hội Chân Phật Tông thế giới:
True Buddha Foundation. 
Address：17110 NE 40th CT, Redmond, WA 98052, USA. 
Tel: (425) 885-7573. 
Fax：(425) 883-2173

Đây là địa chỉ thư điện tử để xin quán đảnh từ xa (thư sẽ không được hồi đáp): [tbsblessing@gmail.com](mailto:tbsblessing@gmail.com)
Đối với người gửi email trước, sau đó gửi thêm thư tay hoặc gửi cúng dường, xin ghi rõ trong thư ngày, giờ và địa chỉ email đã gửi thư xin quán đảnh để Tông Ủy tiện kiểm tra, tránh trùng lặp.


### 48. Phương pháp ngăn chặn tai ách xảy ra


Trước đây, các kinh luận Mật giáo và các vị đại sư đều nói về các phương pháp ngăn chặn tai ách xảy ra, tôi lấy ví dụ như sau:
• Man Luận — dùng cam lộ bình chú để bảo vệ.
• Đăng Hiền — dùng chú phá chướng ngại để bẻ gẫy và hàng phục.
• Long Trí — tu Vô ngã nghĩa để thanh tịnh.
• Tổng Tục — làm pháp Hộ Ma tiêu tai, đây là pháp lành nhất.
• Đáp Nhật Già Bạt — dùng Nhất thiết nghiệp chú để bẻ gẫy và hàng phục.

Trong Kinh Luận có viết:
"Khi mơ thấy điều lành hoặc dữ, sáng sớm dậy nói cho ta nghe, tất cả mọi nghiệp trị hung, nếu vị thầy Acharya thấy đây là giấc mơ dữ thì sẽ bố thí cúng thực cho Hộ Sát Không Hành, tụng Bách tự kiên cố, tu bảo hộ luân mọi lúc mọi nơi, tụng Nhất thiết dũng thức, những chú mà tự miệng niệm ra, mặc bia giáp để tự bảo vệ, Dũng Thức Du Già Mẫu, Bạch Trang Nghiêm Trụ Mạn, chăm chỉ làm hỏa cúng tiêu nghiệp, trừ tất cả ma chướng."

Trong Kinh Luận này có bảy pháp:

1. Thí thực.

2. Thủ hộ luân.

3. Tụng chú.

4. Tu Bia Giáp Tôn.

5. Thỉnh Bạch Hộ Tôn.

6. Liên kết với sáu Trang nghiêm tự trụ thiên mạn.

7. Hỏa cúng Hộ Ma.

Tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) cho rằng, muốn hiểu rõ về lý thuyết tiêu tai giải ách thì cần đọc:
• "Thỉnh Quan Thế Âm Bồ Tát tiêu phục độc hại đà-la-ni kinh"
• "Phật thuyết Đại Uy Đức rực sáng tiêu tai cát tường đà-la-ni kinh"
• "Đại Uy Đức Kim Luân Phật Đỉnh rực sáng Như Lai tiêu trừ mọi tai nạn đà-la-ni kinh"
• "Phật thuyết tiêu trừ mọi tai nạn nghiệp chướng bảo kế đà-la-ni kinh"
• "Tiêu trừ tất cả mọi tai nạn nghiệp chướng bất ngờ tùy cầu như ý đà-la-ni kinh"

Pháp tức tai trong Mật giáo là chỉ những phương pháp để ngăn chặn tai nạn xảy ra với thân mình. Tức tai là một trong số bốn loại đàn pháp chân ngôn. Mục đích chủ yếu là để tiêu diệt: thiên biến địa dị, binh đao thủy hỏa, bệnh tật nghèo đói, chết do bạo lực, dính líu đến pháp luật kiện tụng, v.v… Pháp này dựa Phật bộ chư tôn là tốt nhất.

🌟

Trong những sách tôi đã viết, tôi từng nhắc đến phương diện nguyên lý giải nạn: mối quan hệ nhân quả tuần hoàn, một nhân sẽ có một quả, thiện ác không thể diệt trừ lẫn nhau. Nhân quả tuy không thể tiêu diệt được, nhưng sẽ được thể hiện ra bằng phương thức khác.
• Thế thân.
• Chuyển dịch.

Tôi từng nói rằng, hành giả Chân Phật cần tiêu tai giải ách, để làm được thế thân và chuyển dịch thì có 8 cách:
• Tụng Cao Vương Quan Thế Âm chân kinh 1000 biến.
• Trì Căn bản Thượng sư tâm chú 1 triệu biến.
• Tu pháp sám hối đủ 200 đàn.
• Lễ bái, cúng dường, xây chùa, xây tháp, làm tượng Phật.
• Niệm danh hiệu Phật Bồ Tát cho đến khi tương ứng.
• Thiền định đạt được sức mạnh giới - định - huệ.
• Căn bản Thượng sư tu pháp gia trì thế thân và chuyển dịch.
• Chân không hóa vô.

Tôi từng nói thế này:
Bảy cách đầu là: sức mạnh của kinh, sức mạnh của chú, sức mạnh của pháp, sức mạnh của bố thí, sức mạnh của Phật, sức mạnh của thiền định, sức mạnh của thầy.
Tất cả những cách này đều là thế thân và chuyển dịch.
Chỉ có cách thứ tám "chân không hóa vô" mới là tiêu nghiệp thực sự. Sức mạnh của tính Không ở cách thứ tám này chính là do đại sư Mật giáo Long Trí đã nói: "Tu vô ngã nghĩa để thanh tịnh."

Vô ngã nghĩa là sao? Vô ngã cũng được gọi là tự tại vô ngại, giống như được nói đến trong "Ma ha bát nhã ba la mật đa tâm kinh", nhờ năm uẩn đều không mà đạt được tám đại tự tại, đây chính là cái công đức của vô ngã. Người thực sự đạt được vô ngã cũng chính là Niết bàn diệt đế, chính là lý tính của chân như, rời khỏi tất cả mọi hình tướng mà ta thấy do sự mê chấp vào cảm xúc tình cảm.
Lúc này:
Chân Phật vô hình.
Chân pháp vô tướng.

🌟

Tôi nói một cách đơn giản và trực tiếp như sau:
Tai ách vẫn còn.
Vô ngã vô nhiễm.
Mặc dù tai ách vẫn còn tồn tại, nhưng nếu hành giả đã đạt đến mức độ "vô ngã" thì cũng sẽ không phải chịu tai ách nữa, đây chính là chân pháp chí lý.
Đây là điều mà Tâm Kinh nói: nhờ dựa vào Bát nhã ba la mật đa mà tâm không vướng ngại, vì tâm không vướng ngại nên không vướng vào sợ hãi, xa rời những mộng tưởng điên đảo, đến cuối cùng sẽ nhập Niết bàn.

🌟

Kì thực, các phương pháp để ngăn chặn tai ách bên ngoài thì có vẻ bình thường, nhưng bên trong thì có chân lý Phật rất thâm sâu ảo diệu, người bình thường không thâm nhập để tìm hiểu thì không thể hiểu được đâu!

(Chương này được trích từ cuốn văn tập số 102 "Pháp vị của cam lộ", chương 34 "Phương pháp ngăn chặn tai ách".)

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/279-loi-boc-bach-duoi-ngon-den-don.md
# Title: 279. Lời bộc bạch dưới ngọn đèn đơn
---

![image](/img/img_39609b182e85595fcf7d3ae69e59627a.jpg)



## Lời bộc bạch dưới ngọn đèn đơn


🪷 Thổ lộ tiếng lòng

Văn tập số: 279
Xuất bản năm: 27/08/2020
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu


Lời bộc bạch dưới ngọn đèn đơn
Về cuốn sách này:
Thời điểm viết cuốn sách này là giữa tháng 4 và tháng 5 năm 2020.
Địa điểm là dưới ngọn đèn cô độc tại Nam Sơn Nhã Xá, thành phố Redmond, bang Washington, Hoa Kì.
Người viết sách là Lư Thắng Ngạn.
Hoàn cảnh sáng tác là:
Virus Corona lưu hành khắp thế giới, tàn phá nhân loại, người người đều cực kì sợ hãi.
Hàng triệu triệu người nhiễm bệnh.
Hàng triệu người chết.
Bang Washington Mĩ tuyên bố tất cả mọi người đều phải "cấm túc tại nhà", không có việc cần thì không ra khỏi cửa.
Do vậy,
Một mình tôi tịnh tâm lại, ngồi viết cuốn sách này.
Tôi đang cấm túc.
Tâm tôi cấm túc.
Thân tôi cấm túc.
Khẩu tôi cấm túc.

🌟

Ở vào hoàn cảnh như thế này, đối với người khác có thể buồn chán đến mức phát cuồng, nhưng đối với tôi mà nói thì tôi tự cảm thấy đây là một điều may mắn.
Việc tu thiền của tôi càng tinh tấn hơn.
Việc viết sách của tôi càng được tập trung hơn.
Tôi đọc được nhiều sách hơn.
Khi tất cả mọi thứ đều bị "cấm túc", chỉ có tâm tính của tôi (Phật tính) là tự do.
Tôi gần như đã hiểu và ngộ được những tâm yếu tột cùng nhất trong tám vạn bốn nghìn pháp môn sâu rộng.
Tôi là người đã chứng đắc bồ đề.
Giống như Tsongkhapa từng nói:
Xuất li tâm.
Bồ đề tâm.
Trung quán chính kiến.
Tôi đều có thể khắc ghi rõ vào tâm.

🌟

Tôi nói rất thẳng thắn:
Tôi đi trên con đường tu hành tất nhiên là có nguyên nhân, đó là một thời điểm then chốt.
Tôi nhờ có Diêu Trì Kim Mẫu mở thiên nhãn.
Tôi du hành khắp mười phương pháp giới.
Tôi là Liên Hoa Đồng Tử.
Đây chính là xuất thân thật sự của tôi, tôi đã dựa vào hoàn cảnh xuất thân này để làm thành điểm cốt lõi của mình.
Tôi thâm nhập vào số mệnh của mình, tôi đã tận mắt gặp Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, Vô Cấu Hữu [Vimalamitra], Tỳ Lô Giá Na,...
Trong đầu tôi có những bảo tạng [terma] về tâm yếu khẩu quyết. Vì thế mà tôi đã viết cuốn sách về tâm yếu khẩu quyết của con đường giải thoát.
Từng bảo tạng lần lượt xuất hiện.
Tôi là một vị Đại Trì Minh Kim Cương Thượng Sư chân chính.
Mặc dù vậy, tôi vẫn kính lễ bốn vị Thượng sư của tôi:
Liễu Minh Hòa Thượng.
Sakya Chứng Không Thượng Sư.
Đại Bảo Pháp Vương thứ 16 Karmapa.
Thubten Dhargye Thượng Sư.

🌟

Điều tôi muốn viết trong cuốn sách này là:
"Những phân tích về thơ thiền."
Những tinh yếu khẩu quyết của tôi đều nằm trong đó.
Chúc mọi người:
Mở sách ra có được lợi ích.

(Tháng 5 năm 2020)

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Bạn là ai?


Bát Chỉ Đầu Đà [Thích Kính An (1851 - 1912), một tăng nhân, thi sĩ yêu nước thời cận đại] đã viết một bài thơ, lời thơ rằng:

*"Đại thiên nhất khí chuyển hồng quân
Khô mộc khai hoa tượng ngoại xuân
Bạo trúc nhất thanh phiên tự tiếu
Kim niên nhân thị khứ niên nhân."*

Dịch thơ:
*"Đại thiên nhất khí chuyển hồng quân
Cây khô hoa nở tựa thêm xuân
Nghe tiếng pháo nổ cười một tiếng
Người của năm này chính người xưa."*

Bài thơ này đương nhiên là viết về "tức cảnh năm mới".
Hồng quân là chỉ sự bắt đầu của một năm mới. Cũng là nói về tạo hóa.
Có ý nghĩa về sự khởi đầu mới mẻ.
Giống như cây khô nở hoa, mùa xuân đã đến rất gần rồi.
Tôi nghĩ rằng câu quan trọng nhất trong bài thơ này là:
"Người của năm này chính người xưa."
Ở đây, tôi muốn nói với mọi người rằng, sao mọi người không thử nghĩ mà xem, bạn rốt cục là ai?

Tôi đã trải qua 76 năm cuộc đời rồi.
Cứ mỗi một năm qua đi, người của năm nay cũng chính là người của 76 năm về trước, chẳng sai một điểm nào.
Ai cũng biết về một Lư Thắng Ngạn từ lúc là đứa trẻ sơ sinh đến nay là một ông già.
Nhưng,
Bạn có biết bạn là người nào không?
Sống cả một đời,
Mà bạn vẫn không rõ sao, vẫn không biết rõ sao?
Thế thì bạn chính là một người hồ đồ đó!

🌟

Tôi là ai?
Tôi đáp:
"Bản thân người người đều là Phật, sao phải đặc biệt lễ bốn phương."
Tôi là:
Xá Lợi Phất. (Đại đệ tử số một của Phật Đà)
Vua Trisong Detsen. (Vua Tán Phổ của Tây Tạng)
Long Thụ Bồ Tát. (Tổ sư của phái Trung quán)
Naropa. (Tâm tử của Tilopa)
Tsongkhapa. (Người sáng lập phái Gelugpa Tây Tạng)
Lư Thắng Ngạn. (Người sáng lập Chân Phật Tông)
Còn có người bảo tôi là:
Atisa Tôn giả. (Người sáng lập phái Kadampa Tây Tạng)
...

Ôi! Ôi! Hic! Hic!

Có một bài thơ rằng:
*"Nhật nguyệt mọc lặn tựa chuyển luân
Chẳng có lí gì ta xuất thế
Từ nay lão tăng thôi nhiều lời
Hậu thế cần thì hỏi hậu nhân."*

Đối với câu hỏi Lư Thắng Ngạn là ai, bản thân tôi từ nay cũng thôi nhiều lời, tự hiểu là được rồi. Không cần phải nói với người khác, để người ta khỏi nói tôi là tự cao tự đại. Ha ha ha, tự lòng mình hiểu là được rồi.

Tỳ Lô Giá Na Phật - Phật Nhãn Phật Mẫu - A Di Đà Phật - Liên Hoa Đồng Tử - Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.
Chà!
Thật là một mối quan hệ truyền thừa pháp rất lớn.
Những điều này tôi không cần phải nhiều lời nữa!

🌟

Bây giờ tôi muốn hỏi chính là bạn.
"Bạn là ai?"
Mỗi người tu hành cần phải mở ra mạch luân của mình, sau khi đã mở được mạch luân của bản thân rồi thì bạn sẽ từ trong "túc mệnh thông" mà biết được về chính mình.
Mật giáo dựa vào "chuyết hỏa" và "bồ đề tâm nguyệt dịch" để mở năm luân xa. Bạn sẽ tự mình chứng nhận được về mình.
Lúc này, bạn sẽ biết được diện mạo thật sự của mình, thậm chí là cả diện mạo thật sự của tôi.

*Pháp này tôi gửi người tâm phúc
Trong tam ma địa chói linh quang
Đứng tại trung tâm nơi đàn thành
Ngồi ngó mười phương máu như bùn.*


### 02. Nhất ẩm nhất trác giai hữu định số


Tôi (Lư Sư Tôn) tin rằng:
"Nhất ẩm nhất trác giai hữu định số." [Một miếng ăn miếng uống cũng đều có định số.]
Vì sao nói như vậy?
Tôi lấy Thiệu Khang Tiết của triều Tống làm ví dụ.
Sách do Thiệu Khang Tiết viết có rất nhiều, gồm "Thiệu Tử dịch số", "Ngư tiều vấn đáp", "Quán vật", "Hoàng cực kinh thế", "Y xuyên kích nhưỡng tập", "Tiên thiên dịch", "Hậu thiên dịch", v.v…
"Tiên thiên dịch" do Phục Hy Thị làm chủ.
"Hậu thiên dịch" do Văn Vương làm chủ. (Chu Văn Vương)
Còn "Thiệu Tử dịch số" và "Hoàng cực kinh thế" được người đời sau này chuyển thành "Thiết bản thần số".

Tôi rất ngưỡng mộ Thiệu Khang Tiết.
Tôi tin rằng ông ấy đã hiểu được "số trời".
Theo "Thiết bản thần số" mà nói thì lấy phút, giờ, ngày, tháng, năm mà ta sinh ra, năm con số này sẽ được đưa vào một công thức, sau khi gia giảm cộng trừ thì sẽ có được mấy con số. Dựa vào những con số này để tra theo các điều văn trong sách "Thiết bản thần số" của Thiệu Khang Tiết thì có thể tìm ra được thông tin về cuộc đời của bạn.
Ví dụ:
Cha cầm tinh con gì, mẹ cầm tinh con gì.
Anh chị em có mấy người. (mấy người còn, mấy người mất)
Tương lai bạn sẽ làm nghề gì?
Hôn nhân ra sao, vợ chồng họ gì?
Khi bao nhiêu tuổi thì bạn sẽ kiếm được tiền và bao nhiêu tiền?
Có vướng phải kiện tụng gì không?
Bạn liệu có bị người khác quỵt nợ không, người quỵt nợ họ gì?
Sức khỏe bạn có tốt không?
Bao nhiêu tuổi thì bạn sẽ chết?

🌟

Tôi đã từng tính toán theo "Thiết bản thần số" và có được đáp án khiến tôi kinh ngạc. Điều văn đó viết rằng:
"Chân Phật giáng thế, vạn người quy y!"
Trời ạ! Chuẩn thế sao!
Cá nhân tôi nghĩ rằng chỉ cần có được phút, giờ, ngày, tháng, năm sinh của một người là có thể hiểu được số mệnh của người đó.
Giống như Thiệu Khang Tiết, Viên Thiên Cương, Lưu Bá Ôn, Đông Phương Sóc, v.v… những nhân vật này đều có thể xưng là "người bán thần".

Phục Hy, Văn Vương, Chu Công, Khổng Tử, Quỷ Cốc Tử của Trung Quốc, tôi cũng cho rằng họ đều là "người bán thần".
Họ đều hiểu về thiên số.
"Nhất ẩm nhất trác giai hữu định số."
Định số có thể thay đổi được không?
Tôi đáp:
Có thể!
Làm việc đại thiện có thể thay đổi định số!
Làm việc đại ác có thể thay đổi định số!
Tu hành nghiêm túc có thể thay đổi định số!
(Hãy đọc cuốn sách "Liễu Phàm tứ huấn" để càng thấy rằng có thể thay đổi định số.)

🌟

Mệnh số của tôi (Lư Sư Tôn) là:
"Chân Phật giáng thế, vạn người quy y."
"Ất Bính Đinh, địa tam kỳ."
"Mộc hỏa tương sinh tam thập niên."
"Càng già càng vượng."
Những điều này đều vô cùng chuẩn xác! Tự tôi hiểu rõ chính mình, tôi cũng là "người bán thần".

Thơ dự đoán của Thiệu Khang Tiết rất chuẩn:
*"Sương mây mênh mông một cõi trời
Tiếc thay tây bắc nổi khói báo
Bạo lực đằng đông cướp đằng tây
Bao kẻ hồ đồ còn trước mắt."*

Còn nữa:
*"Rốt cục anh hùng mang áo vải
Cửa đỏ chưa phải kinh đô cũ
Chim én bay tới vốn chuyện thường
Hoa mận mới nở xuân đã chê."*


### 03. Có thể đốt ngón tay cúng Phật không?


Bát Chỉ Đầu Đà từng viết một bài thơ:
*"Bởi cắt thịt đốt đèn cúng Phật
Hiểu ra thân này bọt nước thôi
Như nay mười ngón còn lại tám
Khác chi rồng trời trúng hai đao."*

Trong bài thơ này có một câu: “Như nay mười ngón còn lại tám.”
Câu này chỉ ra rằng Bát Chỉ Đầu Đà vốn có mười ngón tay, bây giờ chỉ còn lại tám ngón tay. Hai ngón tay còn lại thì sao?

Theo như tôi biết:
Vị tăng nhân này đã hạ quyết tâm học Phật, để thể hiện tín tâm vững chắc nên đã chặt ngón tay để biểu thị ý chí kiên định.
Ông đã đi đến Thiên Đồng Tự.
Dùng vải buộc chặt hai ngón tay lại.
Nhúng vải vào xăng.
Châm lửa đốt.
Đợi cho hai ngón tay hoàn toàn cháy hết.
Dùng một cái gắp sắt để bấm đầu xương của hai ngón tay đi.
"Cạch" một tiếng.
Thế là chỉ còn lại tám ngón tay.
Do vậy, ông mới tự lấy hiệu là Bát Chỉ Đầu Đà. [thầy tu hành khất tám ngón tay]

Quá trình thực hiện việc đốt ngón tay cúng Phật này đương nhiên là rất khốc liệt, đương nhiên là đau thấu tim gan, khiến người ta phải rúng động.

🌟

Có người hỏi tôi:
"Bát Chỉ Đầu Đà đốt ngón tay cúng Phật, Lư Sư Tôn nghĩ sao?"
Tôi trả lời như sau:
Tôi rất bái phục tinh thần này.
Khi Phật Đà làm Bồ Tát đạo cũng có một sự việc tương tự:
Xẻ thịt cho chim ăn.
Xả thân cho hổ ăn.
Đây đều là những nghị lực vô cùng dũng cảm.
Không hề dễ dàng.
Tôi nghe nói, trên đỉnh vàng của núi Nga Mi có Phật quang hiển hiện, rất nhiều người nhìn thấy chính mình trong Phật quang, thế là liền nhảy vào trong Phật quang.
Còn có "vực xả thân".
Ngoài ra,
Thời kỳ đầu học Phật, Không Hải Đại Sư cũng có một lần nhảy xuống vách núi để hiểu được cái chí của mình. Phật Đà trải qua sáu năm ở Tuyết Sơn, cũng dùng khổ hạnh để thể hiện ý chí của mình. Thần Quang cầu pháp từ Tổ sư Đạt Ma, không ngờ cũng tự chặt đứt cánh tay.

Các hình thức khổ hạnh rất nhiều:
Treo ngược.
Ngồi trong rừng gai.
Học theo cách đi lại của động vật.
Không ăn không uống.
Nuốt lửa.
Ngồi trong nước.
v.v...

Phật Đà thực hành khổ hạnh sáu năm tại Tuyết Sơn, cuối cùng đã kết luận một câu rằng: "Khổ hạnh là phi đạo."

Tôi (Lư Sư Tôn) sau khi học tập Trung quán, tôi cảm thấy khổ hạnh lệch theo hướng cực đoan là không tốt, điều đó là quá mức.

Tuy nhiên, ăn no, ngủ kĩ, chơi chán chê thì sẽ trở thành "Tam Bão hòa thượng" [bão trong từ bão hòa, nghĩa là no nê, đầy ứ]. Vậy thì lại quá buông lỏng bản thân, không tốt, điều này cũng không được.

Tóm lại, tu hành vừa khéo là tốt nhất!
Không căng!
Không lỏng!
Tinh tấn một cách ôn hòa chính là tinh thần của tôi.
Giống Hư Vân lão hòa thượng, đi ba bước thì lạy một lần, từ núi Potalaka cho đến Ngũ Đài Sơn, cứ đi và lạy như thế. Tôi rất ngưỡng mộ.

Tôi viết một bài thơ:
*"Lưỡi dài rộng tiếng suối
Sắc núi chẳng đổi thay
Tôi thuyết pháp tĩnh tịch
Còn lại tùy người nghe."*


### 04. Tâm hành xứ diệt


Chương trước có nhắc đến "khổ hạnh là phi đạo", nguyên nhân chủ yếu của điều này là rốt cục thì khổ hạnh cũng chỉ là hình tướng bên ngoài, không có can hệ gì đến chính đạo.
Điều quan trọng nhất là:
"Tâm hành xứ diệt."
[Câu nói đầy đủ là "ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt", đây là điển ngữ của ngài Long Thụ, nghĩa đen là con đường ngôn ngữ đã dứt, cái nơi tâm hoạt động đã mất, nói về cảnh giới vắng lặng, không còn suy tư phân biệt.]

Việc tu hành của tôi (Lư Sư Tôn) không có gì khác ngoài "tâm hành xứ diệt" mà thôi! Tôi nói để mọi người biết, cái tâm chân thực của tôi đã tịch diệt rồi.
Không phải là tâm bất động.
Mà là ngay cả việc động tâm cũng tịch diệt rồi.
Việc này là thật sự vô tâm.
Câu nói "động tâm cũng tịch diệt" của tôi cũng chẳng dễ dàng để hiểu được, chỉ có khi nào bạn đạt đến cảnh giới đó thì mới hiểu được.

Tôi thường nói:
"Khi có một con người trên mặt trăng."
Cái gì là thiện?
Cái gì là ác?
Cái gì là khổ?
Cái gì là lạc?
Cái gì là Phật?
Cái gì là ma?
Nếu như bạn có thể trả lời được, hơn nữa còn biến thành thực tiễn điều này, thì cũng đã tiến gần đến đạo rồi đó!

Tôi thường nói:
Đừng căng thẳng!
Không sao cả!
Không phải lo!
Không vấn đề!
Bạn có thể hiểu được không? Bạn hiểu được cũng tốt, không hiểu được cũng tốt, cứ thẳng trước mà đi!
Thế là tốt. (Ở đây cũng chính là thiền cơ.)

Tôi thích bài "Thơ vô sự" do tăng nhân Xiển Thừa viết:
*"Mộc ngư xao toái mộng
Thanh khánh phủ viên tâm
Nhất trụ hương liễu nhiễu
Linh cơ vô cổ kim."*

Dịch thơ: 
*"Cá gỗ phá cơn mơ
Tiếng chuông an ủi lòng
Cột khói hương cuộn xoắn
Linh cơ chẳng xưa nay."*

Bài thơ này đã đến gần với cảnh giới "tâm hành xứ diệt". Chẳng có sự vật gì cả, nếu nói là có sự vật thì cũng chỉ là:
Cá gỗ.
Đèn sáng.

Tăng nhân Hành Lạc viết:
*"Chùa cổ trên vách đá
Lặng lẽ vị Thế Tôn
Mưa tạnh mây nên hình
Gió lặng nước đứng yên
Đơn độc chim trắng bay
Huyên náo bầy ve hát
Khói bồi thêm tĩnh tọa
Vừa sáng đây đã chiều."*

Bài thơ này có trạng thái tĩnh, cũng có trạng thái động, bất kể là trạng thái động hay trạng thái tĩnh thì đều quy về việc ngồi thiền và niệm kinh.

Trạng thái động là:
Mây thành hình.
Ve huyên náo.

Trạng thái tĩnh là:
Nước đứng yên.
Đơn độc bay.

Tôi thật lòng thật sự nói cho mọi người biết, việc tu trì của tôi, ngay cả trong những động tác mãnh liệt nhất thì tôi cũng vẫn có thể định tâm tại một chỗ. (Kim cang ca, kim cang võ, kim cang hý, kim cang phát man.)

Cũng chính là như Phật Đà đã nói:
"Bất kì lúc nào cũng đều đang thiền định!"
Khi tôi bế quan, có thể thiền định.
Khi tôi xuống phố, cũng là thiền định.

Xin có lời khuyên thế nhân:
Đức hạnh tu vượt tám trăm
Phước lực tích đầy ba nghìn.
(Công đức bên ngoài.)

Nhất niệm nhập với vô niệm,
Diệt sạch vô lượng nhiễm ô.
(Công đức bên trong.)

Pháp "tâm hành xứ diệt" ở đây của tôi, nhà cháy chốn nhân gian cũng đã khó mà giam giữ nổi tôi. Mọi người, mọi việc, mọi nơi, mọi sự vật, tôi đều xem là vô sự. Vạn hiện tượng cũng đều không có hình tướng. Ở đây, chỉ có Phật là hiểu thôi.


### 05. Điển cố về am Chôn Sống


Trong đạo Phật mà nói, chùa, am, lan nhược [cách gọi chùa Phật giáo, phiên âm từ tiếng sankrit của từ aranyakah], tịnh xá đều là những đạo tràng tu hành.
Các chùa của Chân Phật Tông đều được gọi tên là Lôi Tạng Tự.
Hồi mới đầu, nhà tôi ở Đài Loan được tôi đặt tên là Linh Tiên tịnh xá.
Còn lan nhược, ở Gia Nghĩa Đài Loan có Diệu Vân lan nhược là nơi ở của Ấn Thuận đạo sư.
Gia Nghĩa cũng có am Địa Tạng, thờ cúng Địa Tạng Vương Bồ Tát.

Trong truyền thuyết:
Tại An Huy, Trung Quốc, có một am được lấy tên là am Chôn Sống.
Có tăng nhân tên là Tung Đình đề thơ ở am Chôn Sống như sau:
*"Ai đặt tên là am Chôn Sống?
Hoài công bao người đoán xưa nay
Ta nay nào phải muốn tự sát
Chỉ vì đã chết mà tới đây."*

Tôi cảm thấy cái tên gọi am Chôn Sống này khiến người ta rùng mình. Hơn nữa, tăng nhân Tung Đình đề thơ cũng rất hài hước. Bài thơ này mọi người đọc đều hiểu được vì nó nói rất thẳng:
Vì sao cái am này lại được đặt tên là Chôn Sống?
Khiến cho mọi người phải bàn tán xôn xao.
Ta là người muốn tự sát chăng?
Chỉ là vì trước đây ta cũng là một người đã từng chết mà thôi!
Điểm quan trọng nằm ở câu cuối cùng, thử hỏi, có người nào không phải là người đã từng chết?

Tôi tự biết:
Tôi sinh sinh tử tử, tử tử sinh sinh, không biết đã luân hồi bao nhiêu lần?
Tôi cũng là người đã từng chết.
Chúng ta đều là người đã từng chết.
Tôi thường nói:
"Người xưa chính là người nay, người nay chính là người xưa."
Bài thơ của tăng nhân Tung Đình đề rất hay. Nhưng tôi cho rằng hai chữ "Chôn Sống" vẫn còn có ý nghĩa sâu xa hơn!

Tôi nghĩ rằng ý nghĩa của hai chữ "Chôn Sống" là như sau:

1. Mặc dù con người đang sống, nhưng tâm đã trở về với Phật thì cũng như người sống nhưng tâm đã chết.

1. Thoát ly khỏi thế tục nhân gian, hoàn toàn không còn hý luận gì nữa. [hý luận nghĩa là ngôn luận phi lý vô nghĩa, nói chuyện vô bổ]

1. Có gì đáng thương hơn khi tâm đã chết. [một tư tưởng của Trang Tử]

1. Bước vào am tức là đã chôn vùi quá khứ.

1. Quá khứ đã chết, hôm nay sẽ được tái sinh.

1. Giết bỏ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.

1. Diệt sắc, thân, hương, vị, xúc, pháp.

1. Tất cả đều tịch diệt.
...

Cũng có cả một chút ẩn ý về việc đặt vào nơi chết rồi sau đó tái sinh.
Tóm lại, người đã lấy tên gọi là am Chôn Sống cũng nhất định là một nhân vật đã trải qua một cái chết vĩ đại.

Tôi bỗng nảy ra một suy nghĩ rằng tôi cũng muốn đặt một cái tên cho am, sẽ gọi là: am Tất Tử. Xem ra so với cái tên am Chôn Sống thì còn rùng mình hơn, bởi vì là chôn sống nên đương nhiên sẽ "chết chắc".

Tôi nói:
Từ xưa tới nay, ai ai cũng đều phải chết, chẳng có người nào là bất tử, phải chết là quy luật của trời đất rồi. Chỉ là thế nhân ham sống sợ chết, né tránh chữ "chết", chữ "chết" bị xem là rất xui xẻo. Nhưng tôi lại cho rằng chết có khi cũng là một điều may, duy có cái chết mới là thời khắc quan trọng của sự giải thoát.

Phật Đà đã dạy cần đối diện với cái chết, hiểu được ý nghĩa thực sự của cái chết, hơn nữa cần tu luyện trong cái chết. Như hành giả chúng ta bình thường chính là luyện tập pháp chuyển dịch thần thức trong trung ấm.
Làm cho ta quang minh.
Làm cho ta bay lên.
Làm cho ta hóa thành cầu vồng.
Làm cho ta giải thoát.
Thật đáng ca ngợi!
Am Chôn Sống! Am Tất Tử! Vạn tuế!


### 06. Sự giác ngộ của Trương Bá Đoan


Trương Bá Đoan trong Đạo gia được gọi là Tử Dương Chân Nhân.
Nhờ được một dị nhân truyền cho đan pháp nên trong Đạo gia có được địa vị rất cao.
Nhưng,
Tôi đọc những lời thơ của ông thì phát hiện ra ông cũng có những ngộ cảnh đặc sắc đối với Phật pháp, không thể xem thường.

Ngôn từ của ông như sau:
*"Vọng tưởng không cần cưỡng ép diệt
Chân như hà tất phải tìm cầu
Bản nguyên tự tính Phật chăm tu
Mê ngộ chỉ là chuyện sau trước.
Ngộ rồi phút chốc là thành Phật.
Mê thì vạn kiếp vẫn luân lưu.
Nếu như có thể tu chuyên chú
Vô lượng nghiệp tội diệt sạch ngay."*

(Tôi tán thưởng câu thơ số một và số hai của ông. Không cần phải tìm cách đối trị với những vọng tưởng, cũng không cần phải diệt sạch những vọng tưởng của bản thân. Chỉ cần thuận theo nó mà đến, thuận theo nó mà đi. Giống như xem phim vậy, xem phim xong, vọng tưởng vẫn là vọng tưởng, ta là ta, chẳng có chút can hệ nào, đây chính là cảnh giới rất cao của sự tu hành.)

(Chân như hà tất phải tìm cầu, câu thơ này lại càng khiến tâm tôi rung động. Chân như vốn dĩ đã tồn tại rồi, tìm cái gì đây? Chân như và thân, khẩu, ý của tôi cũng giống như trên, chẳng có một chút can hệ nào. Tu chỉ là tu thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh, khi thời điểm đến thì chân như đã ở đó rồi. Nói cách khác là, chân như vốn dĩ vẫn tồn tại, đây cũng chính là cảnh giới cao nhất. Nhưng với câu nói này thì đã cho thấy ông đã ngộ thấu rồi.)

Còn nữa:
*"Ta vốn chẳng sinh chẳng diệt,
Cứ cố phân biệt sinh diệt
Chỉ như tìm xem tội hay phúc từ gốc nào mà ra.
Bản thể vi diệu vốn chưa từng tăng giảm.
Ta có một tấm gương sáng
Trước nay chỉ để phân định những khi mờ mịt
Nay đem lau sạch chiếu khắp đất trời.
Vạn tượng siêu nhiên khó mà ẩn giấu."*

Tôi nói:
Câu thứ nhất "Ta vốn chẳng sinh chẳng diệt", câu này đã rất lợi hại rồi. Đây chính là tâm pháp khẩu quyết của vô sinh vô diệt.
Vô ngã.
Vô nhân.
Vô thọ giả.
Vô chúng sinh.
Chính là vô sinh vô diệt. Cũng không có cái gọi là tội hay phúc.
Còn nếu như "Cứ cố phân biệt sinh diệt", thì sẽ rời rất xa ra khỏi Phật rồi!
Hiểu không?

Còn nữa:
*"Nhân ngã chúng sinh thọ giả,
Nào có phân biệt thấp cao.
Pháp thân chiếu thông chẳng phân biệt ta - anh
Chăm chăm phân biệt giống hay khác
Thấy là thế có chắc đã là thế
Nghe là không chưa chắc đã là không.
Những thứ đến đi bởi thế cũng chẳng biết được.
Sinh tử ai có thể tránh đây."*
...

Ở đây, tôi chỉ ra rằng:
Ba bài thơ này đều thể hiện những ngộ cảnh cao siêu, không gì sánh bằng.
Ở bài thơ thứ ba có viết: "Pháp thân chiếu thông chẳng phân biệt ta - anh", đây là một câu có tính chất khai ngộ.
Còn đối với câu:
"Thấy là thế có chắc đã là thế
Nghe là không chưa chắc đã là không."
Đây thực sự là quang minh biện chiếu rồi.

Ôi Trương Bá Đoan! Trương Bá Đoan!
Ba bài thơ này của ông.
Khiến tôi tán thưởng!


### 07. Thân xuất gia? Tâm xuất gia?


Bài thơ của Hư Cốc hòa thượng:
*"Khi thân tại gia tâm xuất gia
Thị phi đúng sai chẳng phân biệt.
Cuộc đời đáng quý có thể hiểu
Một nhành hoa như một áng mây."*

Bài thơ này khiến tôi nghĩ đến chuyện:
Khi tôi ngồi trên pháp tọa, tôi hỏi những người muốn xuất gia ở bên dưới:
"Ai bảo các bạn xuất gia?"
Có người đáp:
"Chính mình!"
Tôi hỏi:
"Chính mình là ai?"
Người bị hỏi sững người lại.
Có người đáp:
"Là thầy bạn bảo tôi xuất gia!"
Tôi hỏi:
"Nếu thầy bạn không bảo anh xuất gia thì anh sẽ không xuất gia sao?"
Người kia:
"..."
Có người đáp:
"Vì nhân duyên đã đến nên tôi xuất gia thôi!"
Tôi nói:
"Tạm cho qua."

🌟

Đối với việc thân xuất gia, tâm vẫn chưa xuất gia thì anh vẫn là một tục khách.
Tâm xuất gia, thân vẫn chưa xuất gia, thì thiếu mất sự uy nghi.
Thân tâm đều xuất gia là đẹp nhất.
Trước đây, có một người thường chửi người xuất gia là:
"Vô công rồi nghề! Đồ mọt gạo!"
Tôi đáp:
"Dạy dỗ chúng sinh bỏ ác theo thiện. Dạy dỗ chúng sinh thoát khổ được vui. Dạy dỗ chúng sinh giải thoát luân hồi. Đây là sự nghiệp vĩ đại của Như Lai. Sự nghiệp này chí đại chí cao, không thể có sự so sánh với kẻ vô công rồi nghề được."

Hư Cốc hòa thượng nói:
"Có thể ngộ ra là điều đáng quý nhất!"

Còn nữa:
Hư Cốc hòa thượng viết:
*"Vạn hài cốt khô người chưa ngộ
Trung hồn nghĩa phách cũng hồ đồ
Che lòng nên ở ngoài tam giới
Ngơ ngơ ngẩn ngẩn đám dân thường."*

Tôi cho rằng đây là một bài thơ cảm hoài.

Tôi thường nhìn những khu nghĩa địa đầy ắp. Từng đám từng đám đất trồi lên.
*"Mắt thấy người ta chết,
Trong lòng nóng như lửa,
Chẳng phải lo người khác,
Lo sắp tới lượt mình."*

Người nằm trong những gò đất đó, bất kể là sự nghiệp có làm hoành tráng đến bao nhiêu thì vẫn chỉ giữ lại được ở thế gian. Vì sao không muốn thành Phật tác tổ, siêu phàm nhập thánh, đạt đến cảnh giới của chân đế?

Chúng ta tu hành cần phải vượt lên Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới. Đến được tứ Thánh giới. Đừng nên làm người thế tục ngẩn ngẩn ngơ ngơ.

Còn nữa:
Tôi (Lư Sư Tôn) bây giờ là:
*"Cười vào cuộc đời, ha ha ha!
Chuyện đời đều chẳng bận tâm nữa
Hưng vượng tử tuyệt mặc thăng trầm,
Tại thế gian tùy mặc,
Có duyên thì đến,
Vô duyên thì đi.
Đói thì ăn, khát thì uống.
Hoặc ngồi trước đàn hát ca.
Nước sâu vẫn luôn tĩnh lặng.
Thập phương pháp giới tùy ta đi."*


### 08. Chuyên nhất và ly hí


Thiền sư Văn Giác có hai bài kệ:
Bài một:
*"Rời bỏ cõi Ta Bà
Cùng mây làm bạn hữu
Ăn gió rồi ngủ sương,
Thoát cảnh trăm năm tù."*

Bài hai:
*"Nhà cao ngọn đèn sáng,
Canh năm lặng như tờ,
Ngồi thiền tâm chìm lắng,
Lạnh ấm chẳng bận tâm."*

Sau khi tôi (Lư Sư Tôn) đọc xong hai bài thơ này, tôi nhanh chóng liên tưởng đến "chuyên nhất" và "ly hí".

Mật giáo có nói:
Chuyên nhất du già cần lên núi.
Ly hí du già cần bế quan.

Hai bài thơ này, bài thứ nhất chính là lên núi, bài thứ hai chính là bế quan. Còn tôi, cả hai điều này tôi đều đã trải qua rồi.

Có người hỏi tôi:
"Vì sao tu hành lại cần lên núi?"
Tôi đáp:
"Thiền sư Văn Giác nói rất hay, "thoát cảnh trăm năm tù". Chúng ta có thể thử nghĩ xem:
Trăm năm ở cõi nhân gian,
Đầu tiên là bị cầm tù trong trường học.
Tiếp theo là bị cầm tù ở nơi làm việc.
Tiếp nữa là bị cầm tù trong hôn nhân gia đình.
Bị trói buộc vào con cái.
Bị trói buộc vào tiền bạc.
Bị trói buộc vào danh lợi địa vị.
Bị trói buộc vào sức khỏe.
Từ khi sinh ra cho đến khi chết, có lúc nào là không bị trói buộc, có khi nào bạn được là một cái thân tự do?

Nghĩ mà xem, lên núi rồi thì đâu còn bị tiền bạc, sắc đẹp, danh lợi, ăn ngủ trói buộc nữa. Một câu nói của thiền sư Văn Giác "thoát cảnh trăm năm tù" cũng giống như một tiếng gầm của sư tử, thức tỉnh những con người đang ngủ mê.

Lên núi rồi thì mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý mới có thể chuyên nhất và thanh tịnh.
Mắt không nhìn nên sạch.
Tai không nghe nên sạch.
Mũi không ngửi nên sạch.
Lưỡi không liếm nên sạch.
Thân không chạm nên sạch.
Ý không loạn nên sạch.
Vì như vậy nên có thể tu luyện thành công Chuyên nhất du già.

Còn nữa:
Có người hỏi tôi:
"Vì sao tu hành cần bế quan?"
Tôi đáp:
Điểm quan trọng nằm ở việc nhập tam ma địa.
Con người có thể chuyên nhất, chuyên nhất chính là tam ma địa.
Khẩu quyết của việc nhập tam ma địa chính là vô sự, vô tâm.

Khi bế quan thì:
Không có bất kì việc gì vướng bận trong đầu, cũng chính là vô sự.
Vô tâm rồi thì không để ý đến chuyện nóng lạnh hay tình cảm.
Quên hết bao nhiêu suy nghĩ hỗn tạp về nhân gian, trong đầu chỉ quy về con số không.
Đây chính là thiền định tam ma địa.
Thiền tam ma địa cũng chính là rời xa hết thảy hí luận. Ở thế giới Ta Bà toàn là những hí luận.

Tôi thật lòng thật sự nói cho mọi người biết:
*Thế gian là huyễn cảnh.
Từ tâm tục mà ra.
Nhập vào tam ma địa.
Chói sáng như Văn Thù.*
Đợi đến khi hành giả đã đạt được thiền định và trí huệ rồi, không bị thế tục mê hoặc nữa, có thể độ chúng sinh được rồi, thì lúc đó hãy xuất quan xuống núi đi!


### 09. Nhân duyên với Thiền tông của tôi


Nhân duyên sớm nhất với Thiền tông của tôi là:
Pháp sư Lạc Quả - vị sư phụ mà tôi quy y.
Pháp sư Lạc Quả nói với tôi:
"Dòng kế thừa pháp này là Tào Động tông, qua 27 đời đã phát triển đến thế hệ thứ năm, thuộc về phái Đại Tự."
Nhưng theo như tôi biết:
*"Tục gọi Lục Kim Cương.
Tăng hiệu Thích Lạc Quả.
Chỉ giảng dạy thiên thai.
Bộc lộ đại bát nhã.
Vẫn hướng về tịnh độ.
Thường niệm A Di Đà."*
Từ đây có thể thấy rằng, lão pháp sư Lạc Quả không chỉ là tu Thiền tông mà ngài cũng có cả giáo pháp của Thiên Thai tông, lại cũng truyền dạy cả đại bát nhã pháp, thậm chí là liên tông tịnh độ.

Theo tôi được biết:
Rất nhiều đệ tử của pháp sư Lạc Quả đã định vị pháp sư là Thiên Thai Chính Tông đời thứ 44. Cũng chính là: giáo diễn Thiên Thai, hành trì tịnh thổ, thâm toản lăng nghiêm, khắp nhập kim cang.

Quên mất cả việc ngài cũng là người thừa kế pháp của Tào Động tông của Thiền tông.

Lão pháp sư Lạc Quả nói với tôi:
"Thân này chẳng phải thân, tâm này chẳng phải tâm."
Đây cũng là một câu nói thiền.

Còn nữa:
Vị thầy cạo đầu xuống tóc cho tôi là đại hòa thượng Quả Hiền.
Đại hòa thượng Quả Hiền là người cạo đầu cho tôi.
Nhưng,
Ông ấy cũng quy y tôi.
Chúng tôi là "vừa thầy vừa trò, vừa trò vừa thầy".
Ha ha ha!

Mọi người hãy xem chữ Quả trong tên của đại hòa thượng Quả Hiền thì sẽ biết đó là một nhánh xuất phát từ Lâm Tế tông của Thiền tông.
Đại hòa thượng Quả Hiền thường nói với tôi:
"Không sao cả, đừng căng thẳng, không vấn đề."
Ba câu này cũng là ngôn ngữ thiền.
Tôi nghe những điều này rồi cũng trở thành:
"Chẳng can hệ!"
Bởi vậy, tôi cũng có nhân duyên của Lâm Tế yông (Lâm Thế Nghĩa Huyền).

Còn nữa:
Tôi viết hơn mười cuốn sách về "Ngũ đăng hội nguyên", tôi khá tâm đắc đối với những quan điểm của Thiền tông.
Có người hỏi tôi:
"Cái gì là thiền?"
Tôi đáp:
"Phân chó."
Lại hỏi:
"Phân chó là cái gì?"
Tôi đáp:
"Dẫm phải chính là cái đó."
Lại hỏi:
"Xin Lư Sư Tôn giải thích rõ đại ý?"
Tôi trả lời bằng một bài thơ:
*Huệ Khả chăm chỉ thích ở núi,* (Nhị Tổ Huệ Khả)
*Học tập Hi Thiên ghét đọc sách *(Hi Thiên là Thạch Đầu hòa thượng)
*Giác ngộ trở thành Phật đời này,
Lùm tre phiến đá là nhà ta.*

Hỏi:
"Câu nào trong bài này quan trọng?"
Tôi đáp:
"Giác ngộ trở thành Phật đời này."
Hỏi:
"Xin Lư Sư Tôn giải thích rõ hơn thế nào là ngộ?"
Tôi liền giơ tay, đứng trên một chân nói:
"Kim kê độc lập!" [Kim kê độc lập nghĩa là gà vàng đứng trên một chân, đây là một tư thế trong thái cực quyền.]
Tư thế gà đứng một chân này của tôi cũng như Phật Đà cầm hoa, là thiên long nhất chỉ, là Ca Diếp khẽ cười.
Là "tiền tam tam, hậu tam tam" của Văn Thù Bồ Tát.
Hiểu không?


### 10. Bận bận bận bận bận


Có đệ tử hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Tôi là người quản lý nhà hàng, ngày nào cũng cực kì bận rộn, từ sáng sớm đến tối mịt, xin hỏi, làm sao tu hành?"

Tôi hỏi:
"Bận cái gì?"
Anh ta đáp:
Bận mua hàng.
Bận bếp núc.
Bận khách khứa.
Bận tiền nong.
Bận dọn dẹp.
Bận trông coi.
Bận nhân viên.
...

(Rất nhiều việc lặt vặt khác liên quan đến trông coi nhà hàng.)
Cuối cùng tôi đã hiểu được, những người làm kinh doanh hóa ra thật sự là rất bận, muốn dành ra một chút thời gian để tu một đàn pháp quả thực nói dễ hơn làm. Mọi người thường đều bận tới tận đêm khuya, mở cửa hàng, đóng cửa hàng, ngày hôm sau lại bận rộn như thế.

Ngày thứ bảy lại càng bận hơn.
Ngày chủ nhật càng bận hơn nữa.

Tôi nhớ đến bài thơ của Thạch Liên hòa thượng:
*Chỉ nhìn mây vội nước cũng vội,
Chẳng phải bận làm lúa làm dâu,
Diệt trừ cỏ đã bao bận rộn,
Tranh bận lẫn nhau giấc mơ thôi.*

Người ta hỏi tôi tu thế nào?
Tôi dạy họ cách đưa tu hành vào trong công việc.

1. Ăn cơm thì tu cúng dường.

1. Mặc quần áo thì tu kết giới.

1. Biến nhà hàng thành cung điện.

1. Khách hàng hóa thành Bồ Tát.

1. Dùng đồ ăn ngon tu siêu độ.

1. Trong mọi hành động luôn có Bổn tôn.

1. Đi ngủ tu miên quang.

Lấy quán tưởng, trì chú dung nhập vào hoàn cảnh công việc, những việc này là có thể làm được, tôi nhắc lại bài “Mộng thơ” của Vương An Thạch:
*Biết đời như mộng chẳng mong cầu,
Tâm không mong cầu được thanh tịnh.
Khi ở trong mộng theo cảnh mộng,
Công đức thành tựu cũng huyễn thôi.*

Kì thực, người làm kinh doanh cho dù là bận rộn đến đâu thì cũng chỉ là một giấc mộng mà thôi, cần phải hiểu được cách dung nhập thì mới tốt.

Có người nói:
"Xin lấy nhà hàng làm ví dụ, Lư Sư Tôn dạy chúng tôi cách tu quán như thế nào?"
Tôi nói:
Hãy trì chú vãng sinh siêu độ cho những thịt cá mua về.
Quán tưởng nhà hàng thành đàn thành.
Quán tưởng khách hàng là Bồ Tát.
Bạn tự mình quán tưởng chính mình là A Di Đà Như Lai. (hoặc Bổn tôn)
Làm việc gì cũng trì chú Bổn tôn. (niệm thầm)
Thậm chí là rửa bát đĩa cũng trì chú đại bi, để thanh tịnh thân tâm chính mình. (Quán tưởng chính mình hóa thành bát đĩa.)
...

Hãy quán tưởng, hãy trì chú, nhập tam ma địa, tinh thần tập trung.

Tôi viết một bài thơ:
*"Bận rộn tới ngập đầu
Quán tưởng rồi trì chú.
Huyên náo hóa viên dung.
Trừ bỏ mọi ô nhiễm."*
(Cho dù là đầu bếp nấu ăn trong bếp thì cũng dựa vào quán tưởng và trì chú để hóa giải nghiệp sát của bản thân.)

Tôi nói:
*"Ở thế giới Ta Bà,
Người người đều bận rộn.
Vui vẻ mà chấp nhận,
Đàn tràng là mọi nơi."*
Tôi hết lòng hết lời dạy mọi người như vậy, không biết mọi người có thể làm được hay không đây?


### 11. Người "răng sắt"


Tôi từng gặp một người rất là "răng sắt". [Răng sắt là từ lóng, chỉ những người nghi ngờ và không tin vào những chuyện siêu nhiên, tâm linh hay quỷ thần.]

Ông ta nói:
"Tôi không tin những gì ông nói."
Tôi hỏi:
"Không tin cái gì?"
Ông ta đáp:
"Tôi không tin thiên đường, tôi không tin địa ngục, tôi không tin quỷ thần, tôi không tin nhân quả luân hồi..."

Tôi hỏi:
"Thế ông tin cái gì?"
Ông ta đáp:
"Người chết như đèn tắt, chẳng còn gì nữa."
Tôi hỏi:
"Thế ông tìm tôi để làm gì?"
Ông ta đáp:
"Ông đến độ tôi mà! Xem ông độ như thế nào."
Tôi cười một cái. Tôi nói:
"Ông về đi! Rảnh thì đến chơi!"
Ông ta bối rối ra về.

Tôi nhớ đến một bài thơ.
*"Ngộ rồi đừng cầu tịch diệt
Tùy duyên chỉ tiếp người mê
Những thứ tà kiến tầm thường
Dễ dàng quy về thực tế
Ngũ nhãn tam thân tứ trí
Lục độ vạn hành tu tề
Như ngọc mani tròn sáng
Lợi người thêm cả lợi ta."*

Cá nhân tôi (Lư Sư Tôn) chỉ là tùy duyên mà độ những người mê muội, lấy tâm bình thường mà độ chúng sinh.
Có duyên thì anh đến,
Không có duyên thì anh đi.
Tất cả, tất cả, tất cả đều chưa bao giờ miễn cưỡng.
Không tăng,
Không giảm.
Tôi đã độ bao nhiêu chúng sinh? Tôi không độ bao nhiêu chúng sinh? Hoàn toàn tôi không để ý đến.
Anh tin cũng được!
Không tin cũng được!
Cứ kệ đi!

Rốt cục tôi đã hiểu điều gì? Để tôi nói cho bạn biết! Đây là ngộ cảnh chân chính của tôi.
"Xem ra tất cả đều hư vọng,
Bồ Đề cũng là tên giả lập nên,
Bởi vì,
Sắc - không - sáng - tối vốn là một.
Tôi cũng chẳng phân biệt không hay giả
Đã ngộ thì sẽ mang tên tịnh thổ
Càng chẳng phải Thiên Trúc Tào Khê
Ai bảo Cực Lạc ở Tây Thiên
Hiểu rồi thì biết
Tôi là Phật chân chính
Chẳng phải nghi ngờ."

Tôi đã nói với rất nhiều người rằng:
"Tôi hoàn toàn không bỏ rơi người "răng sắt" đó, tôi có bảo ông ta có thời gian rảnh thì đến chơi, tất cả sẽ từ từ mà tới, tôi không vội, vội cũng chẳng làm được gì. Tôi nhập vào trong mộng của ông ta, chơi một chút trò chơi trong mộng."
Tôi cũng không thấy có gì phiền não.
Điều này rất quan trọng.

Bài thơ của Như Can hòa thượng:
*"Trà xanh một chén thấm ngọt họng
Lễ Phật lâu ngày tâm mắt sáng
Cần cù tinh tấn bỏ tham sân
Thực tu ấy là chẳng phiền não."*
(Chẳng còn phiền não cũng là điều cốt yếu.)


### 12. Từng muốn làm một du tăng


Sau khi tôi xuống tóc xuất gia, tôi từng muốn là một du tăng, nói cách khác là:
*Một bát cơm muôn nhà,
Một mình đi vạn dặm.*

Cũng tức là:
*Thôn này qua thôn khác
Bưng bát tới từng nhà
Chắp tay niệm tên Phật
Quảng truyền lòng từ bi.*

Mặc dù tôi có ý nghĩ quảng đại bao la như trời biển ấy, nhưng trong xã hội hiện đại này đã không còn thực hiện được.

Bài thơ của Đại Sán hòa thượng:
*"Viễn du có gì hay?
Bốn mùa đầy hứng thú
Xuân hạ cầm gậy lê
Thu đông khoác áo bông,
Theo núi tìm chùa cũ,
Gặp nước thấy con thuyền.
Chân trời đầy chướng khí
Lo lắng phải làm sao."*

Bài thơ này có thể xem như là bài thơ của du tăng, du tăng hoàn toàn không có sự tự tại như vẫn tưởng tượng.
Vẫn còn nhiều chướng khí.
Vẫn còn nhiều nỗi lo.
Nếu mắc bệnh rồi thì sẽ càng khó chịu đựng!

Chi bằng:
*"Ai bảo đỉnh Thứu khó gặp Phật,
Phật ở trong tâm nào thấy đâu?
Vượt núi băng sông cũng công cốc,
Chi bằng ngồi nghiêm tại nhà mình."*
(Bài thơ của hậu duệ Phật.)

Kì thực, vào lúc tôi còn thanh niên trai tráng, tôi đã đi đến khắp các phân đường ở Đài Loan, đi đến khắp các phân đường trên thế giới, dấu chân tôi có ở khắp năm châu. Vì truyền pháp Thời Luân Kim Cang mà tôi đã đi truyền pháp khắp nơi trên thế giới.

Giờ đây thì tôi sống cố định tại Nam Sơn Nhã Xá, không muốn lại nay đây mai đó nữa. Tuổi trẻ có cách nghĩ của tuổi trẻ, bây giờ có cách nghĩ của bây giờ.
Mặc dù, Tây Ban Nha mời tôi đến.
Mặc dù, Brazil mời tôi đến.
Mặc dù, New Zealand mời tôi đến. (Australia mời tôi đến.)
Mặc dù, Đài Loan mời tôi đến.
Mặc dù, Sri Lanka mời tôi đến.
Mặc dù, Campuchia mời tôi đến.
...

Tôi ngưỡng mộ hai bài thơ của Diệu Thanh hòa thượng:
*"Bước chân tham đi khắp,
Núi sông địa linh này.
Gió lay bờ lau trắng,
Mưa gột ngọn trúc xanh.
Cánh đồng rộng ngoài thành
Bãi chợ vắng người qua
Cảnh yên ắng thanh tịnh,
Đáng ở lại trăm năm."*
(Nam Sơn Nhã Xá của tôi cũng chính là nơi mà tôi muốn dừng và ở lại trăm năm.)

Còn nữa:
*"Cầm bát ngắm tà dương,
Nơi này ta dừng bước
Nghe vi vu gió thổi,
Mưa tạnh thấy hoa thơm.
Chọn một chốn tham thiền,
Đạo tràng Phật tìm đến.
Từ bi ngộ thế gian,
Thời gian đừng lãng phí."*

Khi sống tại Nam Sơn Nhã Xá, tôi đã biết tôi không cần chuyển nhà nữa. Tâm tôi đã định rồi. Cuộc đời này của tôi dừng lại ở nơi đây. Đây là điểm cuối của tôi.
Hai bài thơ của Diệu Thanh hòa thượng chính là mô tả bức chân dung của tôi.
Tôi sẽ ở tại đây mà quy mệnh về hư không.

Mỗi ngày, ban ngày tôi sẽ vì đệ tử mà tu pháp tiêu tai, tăng ích, kính ái, để cứu độ chúng sinh khỏi khổ ách. Mỗi ngày, ban đêm tôi sẽ vì đệ tử mà tu pháp hàng phục, kiêm tu siêu độ.

Tôi siêu độ cho những linh hồn chết vì dịch cúm Corona năm 2020, dùng thuyền pháp lần lượt đưa họ về cõi tịnh độ.
Tâm tôi đã dừng lại nơi này.
Thân tôi cũng dừng lại nơi này.
Om mani padme hum.


### 13. Thơ về sáu pháp Naropa


Bài 1:
"Xung đỉnh xạ pháp mạch phải thông
Khí tụ hòa hợp phải tương đồng
Như tên bắn ra,
Bay vào không trung."

Chú thích: sau khi lỗ trên đỉnh đầu mở rồi thì mỗi tháng chỉ tu pháp một lần, pháp này tu quá nhiều sẽ mắc bệnh. Đầu tiên cần thông trung mạch, sau đó khí xung lên đỉnh đầu. Pháp Bảo bình khí, lúc tán khí, đầu tiên cũng phải xung lên đỉnh đầu.

Bài 2:
"Đạo của chuyết hỏa là thần thánh,
Khẩu quyết quan trọng là điều chuyển
Nung đỏ kim sắt hoặc kim đồng
Ngọn lửa tự nhiên,
Qua chiếc cầu,
Con đường công phu này chẳng hề xa.
Sống trên núi cao.
Sống nơi thành thị.
Đều có thể tu pháp này."

Chú thích: Đạo lý của pháp Chuyết hỏa trong Mật tông và Đạo gia đều tương thông, một bên gọi là chuyết hỏa, một bên gọi là ôn dưỡng. Giống như chức năng của bễ lò rèn, dùng ý như lửa, dùng khí như gió, minh điểm trắng đỏ là củi đốt. Đầu tiên là từ một điểm, rồi thành một sợi, rồi thành một mặt phẳng, thế rồi tràn đầy khắp tam giới.

Bài 3:
"Thân này quý giá,
Nhưng vẫn là huyễn.
Lời như tiếng vọng,
Cũng là chẳng có.
Nhìn thấu nhân duyên hội hợp,
Ý niệm,
Vô sở cầu."

Chú thích: một con người cũng giống như một huyễn ảnh, như trăng trong nước, như ảnh màu, như ngọn lửa, như giấc mơ, như tiếng vọng nơi hang cốc, như ảo ảnh, như mây, như cầu vồng, như điện, như bong bóng, như ảnh trong gương. Pháp này tịnh trừ hết mọi bám chấp mê muội của phàm phu.

Bài 4:
"Mật giáo tu mộng là chí yếu,
Tri mộng,
Minh mộng,
Chuyển mộng,
Theo thứ tự,
Căn bản Thượng sư chỉ dạy bí quyết.
Nội ngoại biến chuyển chẳng bằng phương thuốc thông thường."

Chú thích: nếu vẫn chưa nhận biết được giấc mơ, chưa hiểu về giấc mơ, chưa chuyển đổi được giấc mơ, thì hãy hướng về Thượng sư, Bổn tôn mà phát tâm hối lỗi sám hối, thành khẩn xin gia trì. Tại nơi cổ họng, dùng bốn chữ a, lu, ta, la, di chuyển mạnh mẽ theo vòng tròn hướng từ phải qua, miệng cũng tụng chú, bốn chữ này đi vào trong chữ Om. Chữ Om biến thành ánh sáng đỏ vô lượng, tràn đầy toàn thân, cứ như vậy đi ngủ chắc chắn sẽ có hiệu quả kì diệu.

Bài 5:
"Đức hạnh tu đến tám trăm,
Âm công tích đủ ba nghìn,
Tự tính trụ vững trong tam ma địa,
Một sát-na,
Quang minh tự tại hiển hiện,
Lập tức giải thoát chẳng thoái lui khỏi cõi trời."

Chú thích: khi khoảnh khắc tịnh quang xuất hiện, như mặt trời và ánh sáng, tự tính tự hiển hiện, không phải do thứ khác đưa tới. Lúc này có thể lập tức giải thoát, chỉ trong một sát-na, có thể đạt đến địa trang nghiêm kiên cố, sau đó tiếp tục đi lên đến cảnh giới hư vô.

Bài 6:
Dịch chuyển thần thức thân trung ấm. (Chỉ truyền dạy trực tiếp.)


### 14. Bài ca khuyên đời của Liên Trì đại sư


Người trong giới Phật giáo đều biết đến đại sư Liên Trì của triều đại nhà Minh. Ông chính là hòa thượng Châu Hoằng.

Ông đã viết sáu bài thơ ca, đặt tên là "Đông gia phụ", là để độ cho người vợ của mình là Dương Thị. [Đông gia phụ nghĩa là người đàn bà của ta.]

Những gì ông viết đều nói về sự việc vô thường xảy đến nhanh chóng để cảnh tỉnh con người. Lời thơ súc tích, dễ hiểu, có pháp vị, có thể đọc tụng thành tiếng.

Thơ như sau:

*"Người đàn bà của ta, khỏe như hổ, bụng chửa vẫn đếm tháng ngày.
Đêm qua còn một mình đứng tựa cổng làng, sớm nay đã về với đất vàng.*

*Người bây giờ, vẫn thế chăng, nơi chốn xa xôi nào thể biết.
Hỏi thăm bạn bè thân thích, năm qua năm tới chết bao người?*

*Thư vừa đến, thơ Tử Dương, lời nói ra thật chẳng dám tin.
Qua còn cưỡi ngựa trên phố, sớm nay đã ngủ trong quan tài.*

*Người lanh lợi, đừng ngủ quên, nghĩ rằng người khác và ta cùng một loại.
Cô nhi nhìn nhau chẳng ai hơn ai kém, nhìn việc trước mắt mà làm ví dụ.*

*Chui bụng ngựa, nhập thai trâu, địa ngục buồn đau ôi thê thảm.
Nếu vẫn muốn có được thân người, từ biển Đông câu lên cái chũm chọe mà chơi.*

*Ta làm gái hát, thật khổ lắm thay, nước mắt rơi, máu tươi chảy.
Giao tình một đời mấy câu nói, theo hay không theo chàng tự quyết."*

Đọc "Đông gia phụ", tôi nhớ đến người thân của mình, họ cũng đều đã đi xa cả rồi, sao không khỏi cảm thấy thê lương!

Khi tôi học tiểu học, bà nội tôi ở Cao Hùng mắc bệnh thận, đau đớn vô cùng. Sau đó bà thấy có người muốn đưa bà đi. Bà liền đem búa tạ ra đánh. (Búa tạ thật sự.) Sau đó người nhà lấy lại cây búa tạ. Bà nội liền qua đời! (Bà nội tôi là người con gái bị bó chân, bà luôn đưa cơm hộp đến trường cho tôi.)

Mẹ tôi bị trúng phong, sau đó chữa khỏi. Bà sang Mỹ tìm tôi.
Một hôm, vào buổi trưa, bà tự mình đi tắm (việc này hoàn toàn không giống với thói quen của bà), rồi còn tự mình lau tóc, huýt sáo.
Đến khi mọi việc xong xuôi.
Bà bị trúng phong lần thứ hai, rồi đi luôn.
(Mẹ tôi là người tôi mong nhớ mãi mãi.)

Bố tôi cũng mắc bệnh thận, phải chạy thận rất lâu. Nhiều năm chạy thận.
Đột ngột một ngày, ông cũng đi luôn.
(Bố mẹ tôi đều quy y tôi.)

Dì của tôi, khi tôi còn nhỏ, dì đã chăm sóc cho tôi rất nhiều. Sau khi tôi lớn, tôi cũng thường sống ở nhà dì. Dì giống như người mẹ thứ hai của tôi. Khi tôi học cấp ba, mỗi dịp nghỉ hè nghỉ đông, dì đều trông nom chăm sóc tôi. Sau này, vì tôi qua Mỹ nên nhiều năm không gặp mặt dì.

Có một lần, tôi trở về Đài Loan, làm pháp hội tại nhà tưởng niệm Tưởng Giới Thạch, dì bất ngờ xuất hiện, đưa tay kéo lấy tay tôi. Bỗng chốc, tôi nhớ đến những ân tình mà dì dành cho tôi, thật sự cảm nhận rất sâu sắc.
Không lâu sau, dì cũng ra đi!

Cậu trẻ của tôi, chính là người hay đưa tôi đến các sàn nhảy.
Cậu rất chịu chơi. Mượn cớ tìm tôi đi chơi, kết quả là cậu đưa tôi đi đến sàn nhảy, tôi biết khiêu vũ cũng là từ cậu mà ra.
Cậu đưa bạn gái của cậu đến tham gia pháp hội của tôi.
Rồi có một năm, cậu cũng ra đi rồi!
(Tôi vẫn còn nhớ gương mặt tươi cười của cậu.)

Còn nữa, con gái của bác tôi, chị gái tôi, anh rể tôi, lúc tôi nhỏ họ cũng đều chăm sóc tôi rất nhiều. Họ đều ra đi cả rồi!
(Họ từng đỡ đần cho cuộc sống của bố mẹ tôi.)
(Tôi đã lần lượt siêu độ cho từng người.)


### 15. Vạn lự nhất khuông vong


Triều Minh, hòa thượng Bản Dĩ có một bài thơ:
*"Buổi sớm nơi tịnh xá
Gió mát và hoa thơm
Vững lòng tin thanh tịnh
Quên hết mọi nghĩ suy."*

Bài thơ "Vạn lự nhất khuông vong" của hòa thượng Bản Dĩ rất hợp với lòng tôi. Tôi của năm 76 tuổi này mới có thể hiểu được hết câu nói này. [Vạn lự nhất khuông vong nghĩa là vạn suy nghĩ đều quên hết.]

Người hỏi tôi:
"Chân Phật Tông tương lai ra sao?"
Tôi đáp:
"Không biết!"
Người hỏi:
"Đài Loan Lôi Tạng Tự tương lai ra sao?"
Tôi đáp:
"Không biết!"
Người hỏi:
"Tây Thành Lôi Tạng Tự tương lai ra sao?" (Seattle)
Tôi đáp:
"Không biết!"
Người hỏi:
"Cầu Vồng Lôi Tạng Tự tương lai ra sao?"
Tôi đáp:
"Không biết!"
Người hỏi:
"Lư Sư Tôn! Chẳng phải là ngài biết thần toán sao? Vì sao toàn trả lời là không biết?"
Tôi đáp:
"Cho dù là tôi có đoán, cát hung họa phúc, sinh vượng tử tuyệt, đoán rồi thì sao đây? Không đoán thì sao đây? Tất cả mọi thứ của thế giới Ta Bà chẳng có can hệ gì đến tôi cả."

Người hỏi:
"Con cái của ngài, cháu trai, cháu gái của ngài thì sao?"
Tôi đáp:
"Mặc kệ chúng thôi!"
Người hỏi:
"Toàn bộ các đồ đệ của ngài thì sao?"
Tôi đáp:
"Mặc kệ họ thôi!"
Người hỏi:
"Còn bản thân ngài thì sao?"
Tôi đáp:
"Cũng kệ thôi!"
Người hỏi rất ngạc nhiên:
"Lư Sư Tôn! Sao ngài có thể cũng mặc kệ bản thân được, đây gọi là kiểu thiền gì?"
Tôi đáp:
"Thiền quên hết!"

Bài thơ "Vạn lự nhất khuông vong" này chính là tâm trạng của Lư Sư Tôn đó!
Một câu "chẳng can hệ" là xong hết.

Hòa thượng Bản Dĩ còn viết:
*"Nước hồ mùa thu tĩnh lặng,
Mây thu trên núi nhàn tênh.
Thanh xuân trả về hư vô,
Đi hết một vòng tuần hoàn.
Mọi sự giờ đây đã ngộ,
Sao chẳng biết thế mà lo?
Ẩn cư bao điều lý thú
Giống như chặn hết ưu phiền."*

Tôi nói:
Ẩn cư.
Đóng cửa chặn hết ưu phiền.
Chính là vừa tĩnh vừa nhàn.
Điều chúng ta cần lĩnh ngộ được là, bất kì sự việc gì rồi cũng qua đi trở thành quá khứ, là bởi vì nhìn thấu được vạn sự rồi thì thấy là cũng chẳng có việc gì cả!

Người đọc lịch sử đều biết rằng:
Bao nhiêu việc ngày xưa,
Chỉ còn trong câu chuyện.
Bao nhiêu việc ngày nay,
Đều lại thành lịch sử.
Cười lớn ba tiếng ha ha ha!


### 16. Thật sự không khác biệt


Thơ của hòa thượng Đại Đồng:
*"Mênh mông khách thập phương,
Cần mẫn lễ hòa thượng,
Chẳng biết nhân ngã tướng,
Sao biết đại tiểu thừa."*

Thơ của Trương Bá Đoan:
*"Ngã tính nhập vào Phật tính,
Mọi phương Phật tính như nhau
Suối lạnh in bóng trăng mảnh
Một trăng nghìn ảnh khắp nơi.
Nhỏ thì một phân chẳng biết,
To thì đầy khắp ba nghìn.
Cao thấp chu vi chẳng giảm.
Nói gì dài ngắn nông sâu."*

Tôi nói:
Hai bài thơ này xem ra thì chẳng hề giống nhau. Bài đầu thì nói về không có nhân ngã tướng, không có đại tiểu thừa. Bài sau thì nói về trăng trong nước. Hai bài thơ này khác nhau. Nhưng triết lý trong đó thì là một.

Cá nhân tôi thích vạn thứ quy về một, một quy về 0, 0 quy về Phật tính.

Ví dụ:
Đầu tiên tôi theo đạo Cơ Đốc, sau đó lại học Đạo giáo và Ngũ thuật, sau đó học Phật môn Hiển giáo, cuối cùng mới học Mật giáo.
(Tôi cũng đọc kinh Koran.)

Trong những thứ tôi đã học qua, tôi chưa bao giờ vứt bỏ. Tôi nói Thượng đế, Jesus là Guru của tôi.

Mật giáo Đại viên mãn có chín thừa:
Thanh Văn thừa, Duyên Giác thừa, Bồ Tát thừa, Sự Bộ thừa, Hành Bộ thừa, Vô Thượng thừa, Ma Ha Du Già thừa, A Nô Du Già thừa, A Để Du Già thừa.
Đây là một kiểu thứ tự của con đường đạo. Từ cơ sở đi đến tột cùng.
Tiểu thừa, Đại thừa, Kim cương thừa cũng như vậy.

Dân gian thích nói rằng:
Nho giáo.
Đạo giáo.
Thích giáo.
Tôi thì cho rằng:
Nho giáo là Phật giáo Nhân thừa, Đạo giáo là Thiên thừa, là Phật giáo của Thần Tiên thừa, còn Thích giáo là Phật giáo viên mãn.

Thơ của Trương Bá Đoan:

*"Pháp pháp pháp vốn không pháp,
Không không không cũng chẳng không.
Yên tĩnh ồn ào, nói hay im lặng, vốn như nhau.
Trong mơ đã từng nói mơ.
Dụng trong hữu dụng cũng có vô dụng,
Công trong vô công cũng đã mang công.
Quả chín tự nhiên sẽ đỏ.
Đừng hỏi cần trồng ra sao."*

Tôi thích:
Quả chín tự nhiên đỏ.
Đừng hỏi trồng ra sao.

Tôi nhìn ra rằng:
Con đường tu hành này rối rắm phức tạp, học theo tông phái này lại công kích tông phái khác.
Phân biệt tông phái.
Phân biệt các thừa.
Phân biệt tôn giáo.
Mỗi "đỉnh núi" đều phân biệt lẫn nhau.

Nhưng tôi thì khác:
Tôi tôn trọng giới luật của Tiểu thừa.
Tôi tôn trọng trí huệ của Đại thừa.
Tôi tôn trọng sự viên mãn của Kim cương thừa.
Nếu như cứ công kích tới công kích lui, anh phá tôi, tôi phá anh, thì làm sao có cái gì là vĩnh viễn, sao đạt đến thiên trường địa cửu?
Thế nào là quả chín tự nhiên đỏ?


### 17. Một chương về bài thơ "Thềm nghe suối"


Hòa thượng Tông Lặc có một bài thơ “Thềm nghe suối” như sau:
*"Nếu có người tai chỉ nghe suối,
Tiếng róc rách cứ chảy qua tai,
Vui qua ngày từ rừng ra suối,
Tiếng đàn tơ chẳng dứt bao giờ.
Bên tai này âm thanh tìm đến,
Trong tĩnh lặng hướng vọng ra ngoài.
Đêm sâu thẳm đèn xanh hắt bóng
Tựa khung cửa ngắm ánh trăng lên."*

Tôi nói:
Đọc bài thơ này có thể tưởng tượng ra một vị hòa thượng ngồi yên lặng bên ngờ suối, tai chỉ nghe âm thanh tiếng suối chảy. Dòng âm thanh chảy róc rách này xuyên qua rừng chảy ra thiên nhiên rộng lớn, bay lên tận trời xanh. Âm thanh tiếng suối này vĩnh viễn không dừng dứt, giống như tiếng đàn dây tơ vậy.

Cuối cùng thì:
Hữu thanh biến thành vô thanh.
Vô thanh tuyệt hơn cả hữu thanh.
Tiến nhập vào cảnh giới:
Tất cả đều tiêu trừ hết.
Tính Không yên tĩnh.
Một mình tựa vào khung cửa
Đêm sâu thẳm.

Bài thơ này đã thật sự mô tả tâm cảnh của thiền, từ có thành không, từ hữu thanh nhập vào vô thanh.
Cuối cùng là thiền định. (tam ma địa)

🌟

Trong vườn hoa của Biệt thự Cầu Vồng, tôi đã xây dựng một mái hiên hình lục giác, tôi đặt tên là: Thềm nghe mưa.

Mỗi khi trời mưa có thể đứng ở trong mái hiên này để nghe tiếng mưa.
Tí ta tí tách,
Tí tách tí ta,
Lúc to lúc nhỏ,
Lúc nhỏ lúc to,
Bỗng nhiên mưa tạnh,
Âm thanh ngừng bặt.
Vọng nhìn trời xanh,
Một biển mây trắng.

Tôi từng nghe mưa ở thềm nghe mưa, nên tôi hiểu được tiếng lòng của hòa thượng Tông Lặc.
Tôi viết một bài thơ:
*"Tiếng mưa hóa thành vô tận,
Nghe mưa,
Vui hân hoan miên man,
Theo mưa mà đi,
Bất kể đông tây nam bắc.
Bỗng chốc mưa tạnh,
Trước mắt dường như thông suốt.
Nhập sâu vào tam ma địa,
Kiến chứng bản chất sự thật.
Có mưa lùng bùng,
Chẳng mưa trống không."*

🌟

Hòa thượng Tông Lặc còn có một bài thơ:
"Chẳng thể bảo ánh trăng, soi vào trong lễ đường
Chẳng thể hẹn mây trắng, đợi trên ngọn tùng kia.
Điều này giờ đây khó, sau này gặp dễ hơn.
Minh Triều ở Đông Quách, cách sông vẫn nghe chuông."
[Minh Triều là triều đại nhà Minh, Đông Quách vừa là tên gọi cũ của Trung Quốc, vừa có nghĩa là ngoài thành phía đông.]

Tôi nói:
Ánh trăng, mây trắng là đạo của tự nhiên.
Gặp mặt là chuyện khó,
Xa cách là lẽ thường.
Đây đều là những chuyện tự nhiên bình thường.

Chúng ta phải:
"Nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên đạo tự nhiên. Vô câu vô thúc!"
[Trích câu nói trong Đạo Đức Kinh của Lão Tử, câu đầy đủ là Nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp đạo, đạo pháp tự nhiên, dịch nghĩa đơn giản là người thuận theo đất, đất thuận theo trời, trời thuận theo đạo, đạo thuận theo tự nhiên. Chúng ta cần tự do tự tại.]


### 18. Một điểm linh khí


Vào triều đại nhà Nguyên, có một hậu duệ của Liêu Đông Đan Vương tên là Gia Luật Sở Tài, ông là một người đọc rộng nhiều loại sách.
Nguyên Thái Tổ cho gọi ông, rất trọng dụng. Ông làm quan đến chức:
Khai Châu Đồng Tri.
Trung Thư Lệnh.
Nguyên Tướng.
Giành được sự ân sủng của Hoàng Đế.

Vào những năm cuối đời, Gia Luật Sở Tài đến học hỏi hòa thượng Hành Tú, đạt được ngộ cảnh. Từ đó, ông rời xa mọi đám đông, từ bỏ tất cả những gì ông có, ban đêm tham thiền, cứ như thế ngót nghét ba năm tròn. Sau này, hòa thượng Hành Tú đã ấn chứng cho ông, truyền cho ông áo tổ, ban cho pháp danh là Tòng Nguyên.

Hòa thượng Tòng Nguyên có hai bài thơ:
Bài 1:
*"Hành trình vạn dặm đầy gió cát,
Nam bắc đông tây đều là nhà.
Trong lòng không chút niềm run sợ.
Trong tâm ngưng đọng bạch liên hoa."*

Bài 2:
*"Vừa nhập Không Môn lòng vui thay
Danh lợi phù vân đều quên hết
Vô tâm trước gương ai biết được
Trong lửa nở đóa upala."*

Tôi thích một điểm linh khí trong thơ của Gia Luật Sở Tài (hòa thượng Tòng Nguyên).
Linh khí nằm ở đâu?
Linh khí của bài thơ đầu tiên nằm ở tâm ngưng đọng.
Thế nào gọi là ngưng đọng?
Chuyên nhất chính là ngưng đọng.
Hòa tan chính là ngưng đọng.
Tam ma địa chính là ngưng đọng.
Thu lại thành một điểm.
Phóng ra tới hàng nghìn.
Chính là vì không còn run sợ mới có thể sản sinh ra tâm ngưng đọng. Đây chính là một điểm linh khí.

Thế còn, điểm linh khí của bài thơ thứ hai nằm ở đâu?
Chính là quên hết.
Chính là vô tâm.
Chính là hoa nở.

Chúng ta học Phật cần phải quên hết tài sắc, danh lợi, ăn ngủ. Tâm theo đuổi danh lợi vốn là theo đuổi những thứ vừa không vừa huyễn, đáng tiếc thay người thế tục lại cứ theo đuổi cho đến chết cũng không dừng. Đó vốn chính là những thứ chẳng thể có được, cũng có nghĩa là chẳng khi nào biết đủ.

Thế còn "vô tâm":
Tôi (Lư Sư Tôn) chính là một đạo nhân vô tâm.
Thiên tính mỗi người đều là Phật
Sao phải nhọc công lễ thập phương
Đối nhân xử thế cũng như vậy
Xưa nay cứ thế mà làm theo.

Đây chính là một điểm linh khí.
Còn nữa:
"Hoa nở."
Hoa nở chính là thấy Phật đó!

Tôi nói:
Muốn thấy được chân tâm, trước tiên cần phải vô tâm, vô tâm thì tự nhiên sẽ quên hết, vô tâm mới có thể nở hoa. Pháp thân thanh tịnh không nằm ở bên ngoài, không nằm ở bên trong, cũng không nằm ở giữa, cũng không cần phải tìm cầu. Loại bỏ trong ngoài, loại bỏ ở giữa, mới là hoa nở.
Có biết không?


### 19. Hiệp sĩ độc hành


Chính vào thời gian này, vì dịch cúm virus Corona hoành hành tại các quốc gia trên toàn thế giới, các bang của nước Mỹ cũng ban bố lệnh ở trong nhà.

Nhà tôi ở Nam Sơn Nhã Xá, thuộc quận Redmond bang Washington. Trong nhà chỉ có hai người.
Một người là tôi (Lư Sư Tôn).
Một người là Thượng sư Liên Hương.
Lệnh ở trong nhà cũng có nghĩa là lệnh cấm túc.
Công việc chủ yếu của Thượng sư Liên Hương là nấu cơm.
Công việc chủ yếu của tôi là rửa bát.
Ha ha ha!
Không ngờ Lư Sư Tôn tôi đã trở thành lao công rửa bát rồi.
Ngoài việc tu pháp, viết văn, thời gian còn lại thì tôi chỉ có ăn cơm và đi ngủ.

Bang Washington từ tháng 3 đã ban hành lệnh ở trong nhà, nghe nói lệnh này kéo dài đến tháng 6 mới dừng. (Ngày 31 tháng 5.)
Ngoài ra, thống đốc bang nói:
"Còn phải xem tình hình dịch bệnh như thế nào mới quyết định động thái tiếp theo!"
Quãng thời gian này, tôi cảm nhận thấy mình chính là một:
"Hiệp sĩ độc hành."

Tôi viết một bài thơ về Hiệp sĩ độc hành:
*"Ngày ngày tháng tháng
Ngày qua ngày
Mê đọc kinh thư
Quyển lại quyển
Tương lai sau này chẳng nghĩ suy
Thiền định
Bất kể nông sâu.*

*Tôi nhớ các đệ tử
Tình cảm vô hạn
Chỉ ở trong tim
Chẳng phải bày ra trước mắt
Một hồi ức lại một hồi ức
Giá như trong mơ
Lại được gặp nhau."*

Chú thích:
Bài thơ này là thơ tự do, cũng xem như là một bài thơ hài hước, tôi viết có phần thô sơ. Nhưng nó phản ánh sự bất lực không còn lựa chọn nào khác trước lệnh ở trong nhà và lệnh cấm túc. Lúc này, các quốc gia trên thế giới đa phần cũng đều đóng cửa biên giới rồi. Seattle Lôi Tạng Tự và Cầu Vồng Lôi Tạng Tự ở bang Washington đều khóa cửa kĩ càng rồi. Người bình thường không thể ra vào được.

Bởi vì một khi đã đóng cửa biên giới thì các đệ tử ở các nước cũng không thể nào đến Seattle được. Đã hình thành nên một thế giới không qua không lại.
Tôi không phải là hiệp sĩ độc hành thì là cái gì?

Tôi yêu thích bài thơ của hòa thượng Bản Thành:
*"Trường Giang nam bắc một mình ta,
Chẳng có rượu, thơ chẳng nhạc, cờ
Nếu hỏi cảnh sắc có gì đẹp,
Mây tụ mây tan một bậc thầy."*
Ý của bài thơ này nói về bản thân cũng giống như mây, một mình vân du khắp nơi.

Còn nữa:
Thơ của hòa thượng Tổ Bách:
"*Bảy năm vân du theo cánh bèo
Ngày đội nắng gắt đêm đội sao
Nghìn núi vạn sông đều đi khắp
Chỉ có công lao đạo chưa thành."*

Tôi nói:
Mọi người đều là hiệp sĩ độc hành. Điều khác biệt là ở chỗ, có người thì độc hành trong nghìn núi vạn sông, có người thì độc hành ở trong nhà. Thử nghĩ xem, bạn có độc hành hay không?


### 20. Ba bài thơ của hòa thượng Phổ Minh


Triều đại nhà Nguyên, hòa thượng Phổ Minh có ba bài thơ.
Bài 1:
*"Nói như gió lật sóng
Đá cũng phải gật đầu
Huyền công rồi diệu chỉ
Diễn thuyết gì cũng hay."*

Bài thơ này có tên là "Thuyết pháp". Ý tứ hàm súc là khi thuyết pháp, giống như gió thổi sóng nổi, nói đến chỗ tinh hoa vi diệu thì đến hòn đá cũng phải gật đầu.
Còn nói: giảng huyền công, nói diệu chỉ, mỗi thứ đều có cái hay riêng của nó! [Huyền công là công phu bí mật, huyền bí; diệu chỉ là bằng chứng, chứng cứ kì lạ.]

Tôi viết một bài thơ đối ứng như sau:
*"Lư Sư Tôn ngồi trên pháp tọa
Nhìn ra xa
Thấy người ta nhỏ xíu*

*Đến khi thuyết pháp
Từ tốn khoan thai
Ấy thế mà quét sạch bụi trần.*

*Tôi cũng chẳng trang nghiêm đạo mạo
Mà hay hài hước hóm hỉnh
Để mọi người cười ha ha ha.*

*Chẳng có huyền công
Chẳng có diệu chỉ
Chỉ là trong cuộc sống thường ngày
Thể hiện ra một chút khéo léo."*

Bài 2:
*”Sao sánh bằng Nam Sơn
Tuổi nay còn trẻ lắm
Râu tóc vẫn chưa bạc
Chí xử việc còn dài."*

Bài thơ này là do hòa thượng Phổ Minh viết, là thơ chúc thọ dành cho tăng nhân Pháp Thạch. Tôi đọc xong, có cảm hứng, cũng xem như là một sự đối ứng vậy!

Bài thơ tôi viết như sau:
*"Năm nay bao nhiêu tuổi
Tốt nhất là
Quên luôn.*

*Sợ nhất người chúc thọ
Thắp lên mấy cây nến
Miệng thì nói lầm rầm.*

*Thế rồi lại hát lên
Dù là chúc vui vẻ
Nhưng tối đó
Ngủ được sao*

*May mà có học Phật
Phải vãng sinh tịnh độ
Việc này thì
Tôi làm được."*

Bài 3:
*"Hình hài này ta chẳng có được
Tồn tại diệt vong vốn thường tình
Giải thoát quay về bản tính thực
Ưu tiên một mình ta vãng sinh."*

Tôi viết một bài thơ đối ứng như sau:
*"Vì vô sinh vô tử
Sao có tồn và diệt
Hư không chẳng biến hóa
Phật Quốc cũng quên luôn."*

Ha ha! Lư Sư Tôn tôi đây bắt chước theo Lục Tổ Lư hành giả mà viết bài thơ này.
Ai là người tài cao? (Đương nhiên, hòa thượng Phổ Minh tài cao.)


### 21. Thiền tăng hòa thượng Hữu Đường


Tôi (Lư Sư Tôn) có một phát hiện:
Con người ngày nay xây chùa, thích đặt tên cho ngôi chùa mình xây là "XX Thiền Tự" để biểu thị tăng nhân trong chùa đều là thiền tăng.
Tôi thấy thế! Cảm thấy rất buồn cười! Không hiểu ra làm sao cả. Ha ha ha!

Bởi vì bọn họ đều không biết cái gì là thiền.
Bây giờ tôi xin hỏi mọi người, cái gì là thiền?
Tôi thấy cũng có rất nhiều người trố mắt, duỗi chân, cứng họng, một câu cũng không dám nói.
Tôi "kim kê độc lập". Bạn có biết ý nghĩa sâu xa là gì không?
[kim kê độc lập là gà vàng đứng co một chân]

Thậm chí có người đặt tên cho chùa của mình là Bát Nhã Thiền Tự, cái này còn ghê gớm hơn!
Bát nhã là trí huệ vĩ đại. (Phật huệ)
Thiền tự là biết được chân đế của trí huệ.
Thế nhưng trụ trì ở đây lại là một người đàn bà tầm thường. Thật sự là quá châm biếm rồi!

Nói dông dài như vậy đủ rồi, trở lại vấn đề chính.
Triều đại nhà Nguyên có một tăng nhân tên là hòa thượng Hữu Đường, ông học pháp từ đại hòa thượng Tịnh Từ, là một thiền tăng có tiếng. Ông có hai bài thơ viết về chuyện vân du mà tôi vô cùng tán thưởng.

Bài 1:
*"Thu phong bồng đảo tiên hương viễn
Dạ tuyết lam quan khách lộ trường
Cổ Phật hữu ngôn như giảo nguyệt
Chiếu nhân phiền não tác thanh lương."*

Bài 2:
*"Ta tự an tâm với chính ta
Bao mơ mộng khác chẳng phiền hà
Nuôi cho ngựa gỗ đuổi theo gió
Thả trâu đất uống cạn biển sâu."*

Tôi nói:
Bài thơ đầu không phải là thơ thiền, nhưng lại có sự đối xứng một cách tuyệt đẹp.
Thu phong đối dạ tuyết. [gió thu đối tuyết đêm]
Bồng đảo đối lam quan. [núi Bồng Lai đối cổng Lam Điền]
Tiên hương viễn đối khách lộ trường. [chốn tiên xa đối khách đường dài]
Giảo nguyệt đối thanh lương [trăng sáng đối mát rượi]
Đây là một bài thơ hay, khiến người ta ngâm vịnh và có nhiều dư vị! Có thể tưởng tượng ra quang cảnh khi vân du đến những chốn xa xôi, vừa đẹp vừa thê lương.

Tôi cho rằng bài thơ thứ hai chính là một bài thơ thiền.
Ta tự an tâm với chính ta
Vì sao tự ta an tâm lại chính là thiền?
(Có thể đối chiếu với công án Nhị Tổ Thiền Tông Huệ Khả cầu Tổ Sư Đạt Ma an tâm giúp.)
Bao mơ mộng khác chẳng phiền hà
(Câu thơ này quá hay, tôi thích nhất là câu nói "không can hệ", rất hợp với câu "chẳng phiền hà".)
Nuôi cho ngựa gỗ đuổi theo gió.
(Ngựa gỗ làm sao có thể đuổi theo gió được? Ở đây có thiền cơ, mọi người có hiểu không? Ai không hiểu thì đến hỏi tôi.)
Thả trâu đất uống cạn biển sâu.
(Trâu đất làm sao uống nước biển? Ở đây đương nhiên có thiền cơ, mọi người có hiểu không? Ai không hiểu thì cũng có thể đến hỏi tôi, tôi sẽ nói cho bạn rõ ràng.)

Tôi cũng viết một bài thơ thiền:
"Không rượu cũng say.
Chẳng lạnh trùm chăn.
Trèo núi lội suối.
Nằm ngủ trong mây."
Xin hỏi các thiền sư, thiền hòa tử, thiền khách, lão Lư tôi rốt cục đang nói cái gì?


### 22. Ai đến hỏi về thiền?


Một hôm, có một thiền sư đến thăm tôi. Tôi hỏi:
"Ông từ nơi nào đến?"
Thiền sư đáp:
"Từ nơi đến mà đến!"
Tôi hỏi:
"Ông đi đến đâu?"
Thiền sư đáp:
"Từ nơi đi mà đi!"
Tôi hỏi:
"Ông đến thăm tôi, muốn hỏi việc gì?"
Thiền sư đáp:
"Không có việc gì!"
Tôi nói:
"Không có việc gì thì uống trà đi!"

Lúc này, thiền sư từ trong túi tăng lấy ra một tờ giấy, trên đó có viết một bài thơ. Tác giả bài thơ này là hòa thượng Tiết Tung.
*"Hỏi đạo an định ở nơi nào,
Ở sâu nơi con suối xa xôi
Tâm vượn phát tác trong thiền định
Chim nhỏ lặng lẽ đậu cạnh bên.
Sớm trưa mây trời đã khác biệt
Đỉnh núi xa gần đều như nhau.
Chẳng biết ai là người hỏi pháp,
Tuyết đêm làm nên cả Giang Tây."*

Tôi đọc xong không nói gì, tôi cũng đáp lại bằng một bài thơ của hòa thượng Tính Trừng:
*"Ngày gõ trống đánh chuông
Lúc cưỡi gió đạp tuyết
Thường truyền đạo giải hoặc
Mặc nhiên thấy uy nghi."*

Lúc này, bên tám lạng đằng nửa cân, thế là hòa rồi!
Vị thiền sư này không nhịn được bèn hỏi:
"Nghe người ta nói, ngài có chỗ khác thường, không biết là cái gì khác thường?"
Tôi nói:
"Tôi thật sự có chỗ khác thường!"
Thiền sư hỏi:
"Là gì?"
Tôi đáp:
"Đói thì ăn, buồn ngủ thì ngủ!"
Thiền sư nói:
"Cái này thì ai chả biết?"
Tôi nói:
"Có một thiền sư không biết!"
Thiền sư hỏi:
"Ai?"
Tôi nói:
Thiền sư Phổ Viên triều đại nhà Nguyên, ông có một bài thơ mất ngủ, nói đến những đêm mất ngủ:
*"Mây trắng bay từng cụm
Bạn cùng hạc bấy lâu.
Năm tháng trôi êm đềm,
Chuyện xưa tận trời trăng.
Giữa sắc đông nhiễu tháp,
Tiếng ri rích khắp rừng.
Đêm khuya viết mộng cảnh,
Ta với nến ung dung."*

Tôi lại nói:
"Là vị hòa thượng Phổ Viên này không biết!"
Thiền sư hỏi:
"Câu nào là nói về mất ngủ?"
Tôi đáp:
"Giữa đêm nói mộng cảnh."
Thiền sư "a" lên một tiếng, không nói gì nữa.
Lúc ra về, thiền sư nói với tôi:
"Ngài đúng là có chỗ khác thường!"
Tôi nói:
"Chuyện bình thường!"
(Chương sách này có thể có người đọc không hiểu, ai không hiểu xin đến hỏi tôi.)


### 23. Dưới lệnh "ở trong nhà"


Tháng 4, tháng 5 năm 2020, bang Washington nước Mỹ ban bố lệnh "ở trong nhà". Trước sự hoành hành của dịch cúm Corona, tôi chỉ có thể ngồi dưới ngọn đèn đơn để viết những chương sách của tôi.

Có người hỏi tôi:
"Ngoài viết văn ra thì ngài còn làm gì nữa?"
Tôi đáp:
"Những việc tôi muốn làm nhưng bình thường không có thời gian để làm thì vào thời gian này, tôi lần lượt hoàn thành."
Người hỏi:
"Việc gì là việc bình thường muốn làm?"
Tôi đáp:
"Những sách tôi muốn đọc thì tôi đọc hết."
Tôi sắp xếp phân loại lại từ đầu tủ sách đang lộn xộn của tôi.
Rất nhiều sách Mật giáo được tôi lần lượt lấy ra lau sạch sẽ và cất giữ.
Cái chăn cần phải giặt.
Cái giường cần phải lau.
Cái vỏ gối cần phải giặt.
Cái ghế sofa cần phải làm sạch.
Cửa kính cần phải lau.
Sàn nhà cần phải lau.
...
(Còn có cả những chiếc long bào cần phải đính lại cúc.)
Thì ra có nhiều việc như vậy đều cần tự mình làm cả.

Nam Sơn Nhã Xá không có người giúp việc. Chỉ có Sư Mẫu Liên Hương Thượng Sư. Hai người chúng tôi tuổi đều đã ngoài 70 rồi, chia nhau công việc ra làm.
Ví dụ:
Bà ấy nấu cơm.
Tôi rửa bát.

Tôi nhớ đến bài thơ của hòa thượng Hy Trú:
*"Tên thơ ở khắp bốn phương,
Mình ta ở nhà nhàn nhã,
Thành cũ mênh mang sóng lạnh,
Thành mới giấc mộng đêm dài.
Tiếng chim lẩn quất rừng xa,
Bóng hoa thấp thoáng lay động
Dường như ngóng chờ khách tới,
Giường đá chăm chỉ ta lau."*

Đọc bài thơ này, tôi cảm thấy rất buồn cười, bạn không cảm thấy thế sao? Tôi là khách bốn phương, nay sống thảnh thơi tại Nam Sơn Nhã Xá.
Thật đúng là:
Sóng lạnh mênh mang.
Mộng đêm dằng dặc.
Tôi (Lư Sư Tôn) ngày ngày lau chùi cái giường gỗ của tôi.

Còn nữa:
*"Nhớ đến con suối xa
Sự đời muốn bỏ hết
Cuộn áo thành tay nải,
Vượt biển núi tìm chùa.
Buồm hoang mang chim nhỏ
Hoàng hôn giấu tiếng kinh.
Cuộc đời còn bất định,
Tóc ta đã bạc rồi."*

Bài thơ này cũng làm xúc động trái tim tôi, bài thơ rất đẹp, có thể ngâm vịnh. Đặc biệt là câu: "Cuộc đời còn bất định, tóc ta đã bạc rồi."
Dịch bệnh này khi nào sẽ qua đi đây! Chẳng ai biết được.
Xem ra khi dịch bệnh qua đi thì ngay cả tóc mai của tôi cũng đều rơi rụng rồi. Việc nhân gian đều đã thay hình đổi dạng, chỉ còn biết tìm kiếm ngôi chùa ở nơi chân trời góc biển xa xôi.

Tôi viết cuốn "Lời bộc bạch dưới ngọn đèn đơn":
Ánh đèn đơn dịu dàng
Ý niệm như nước chảy,
Khi nào mới kết thúc?
Chỉ khắc khoải thế nhân.
Ôi!
Dịch bệnh sao chẳng nhanh chóng qua đi vậy nhỉ!


### 24. Thấy núi là núi


Hòa thượng Chính Tông có hai bài thơ "Ngắm núi", thơ như sau:
*"Thà rằng ở ẩn trong núi sâu
Sau mưa ếch cá kêu ồn ào,
Tâm như đầm cũ dù náo nhiệt,
Âm thanh sóng nước nào có đâu."*

Và:
*"Thưa thớt trùng điệp núi gần xa,
Ôm đàn bầu bạn với thông già,
Khó rời tiếng suối vang đẹp đẽ,
Buông đàn bỏ áo ngắm non cao."*

Hai bài thơ này khiến tôi nghĩ đến Biệt thự Cầu Vồng, là Cầu Vồng Lôi Tạng Tự hiện tại.
Phía trước là Thiên Mã Sơn.
Sau lưng là Sa Mạo Sơn.
Bên phải là Bình Phong Sơn.
Bên trái là Quý Nhân Sơn.
Còn có Kì Sơn.
Còn có Cổ Sơn.
Còn có Ấn Sơn.
Tôi gọi địa lý nơi đây là "thất tinh lạc địa". Tôi đề câu đối cho Biệt thự Cầu Vồng là:
"Trong núi chẳng ngày tháng,
Tu hành suốt ngày đêm."

Thiền tông có công án rằng:
"Thấy núi là núi, thấy núi chẳng phải núi, thấy núi vẫn là núi."
Có người hỏi tôi:
"Là ý gì?"
Tôi đáp:
"Đó là tâm cảnh!"
Người hỏi:
"Xin Sư Tôn giải thích?"
Tôi nói:
Thấy núi là núi — con người bình thường thấy núi đúng là núi.
Thấy núi chẳng phải núi — sau khi vào núi tu hành rồi thì cũng không cảm thấy sự tồn tại của núi nữa, tức là thân ở trong núi này, đâu còn biết bên ngoài. Có thể nói rằng người và núi hợp nhất.
Thấy núi vẫn là núi — khi người trong núi tu hành đến cảnh giới siêu nhiên rồi, trở về với ban sơ, lúc này thấy núi lại là núi.
(Bản thân tôi cho rằng cách giải thích này cũng tạm chấp nhận được.)

Tôi lấy tiền làm ví dụ:
Thấy tiền là tiền — người bình thường đều như vậy.
Thấy tiền chẳng phải tiền — người tu hành nhìn thấy tiền, cho rằng đó là chất độc, rắn độc. Tiền mê hoặc con người, lòng tham nổi lên, tiền là thứ cực kì làm hại con người ta, chớ xem tiền là quan trọng.
Thấy tiền lại là tiền — người tu hành, đến được cảnh giới sâu hơn rồi, dùng tiền để xây chùa, tạc tượng Phật.
Cứu tế cứu nạn bố thí.
Từ bi làm việc cứu đời.
Có nghĩa là mặc dù có tiền, nhưng sử dụng tiền mà không bị tiền điều khiển tâm ta.

Hòa thượng Chính Tông nói rằng:
"Chẳng âm thanh chẳng sóng nước" ý giống như "thấy núi chẳng phải núi, thấy nước chẳng phải nước", là tầng cảnh giới thứ hai.

Còn nữa:
"Khó rời tiếng suối vang đẹp đẽ,
Buông đàn bỏ áo ngắm non cao."
Hai câu thơ này lại là "thấy núi vẫn là núi" rồi đó!
Thiền sư dùng "tri" và "bất tri" để làm công án:
Trí tức bất tri!
Bất tri là tri!
Bất tri bất tri!
Trí và bất tri!
Ha ha ha! Làm cho mọi người loạn hết cả đầu rồi.

Tôi lấy việc Phật Thích Ca Mâu Ni cầm hoa để viết ra ba cảnh giới:
Cầm hoa.
Hoa chẳng phải hoa.
Hoa quy về hoa, tay quy về tay.
(Thử hỏi, cái nào là có?)


### 25. Cuộc đời thư thái


Tôi nhớ Trần Truyền Phương có kể một câu chuyện về cuộc đời thư thái:
Trong một hội bạn học, có mấy người bạn học giàu có và một người bạn học sống ở vùng núi cùng ngồi chung một bàn ăn. Người bạn học sống ở vùng núi rất ngưỡng mộ mấy người bạn học giàu có, mỗi người họ đều đã có được những thành tựu lớn.
Một người thì là ngôi sao trong giới chính trị.
Một người là đại gia trong thương trường.
Một người là ông chủ một xí nghiệp lớn.
Một người là hiệu trưởng trường đại học.
Một người là tổng giám đốc của mấy nhà hàng lớn.

Lúc ăn cơm, mọi người nói đến chuyện sau này về hưu thì sẽ sống những năm tháng tuổi già an nhàn như thế nào.
Một người nói: "Về quê, lên núi xây một ngôi nhà gỗ!"
Một người nói: "Trồng các loại cây ăn quả, khi rảnh rỗi thì câu cá."
Một người nói: "Hít thở không khí trong lành ở nông thôn, tập thái cực quyền."
Một người nói: "Ngắm núi, ngắm sông, ngắm nắng chiều, học cách hít thở ngồi thiền dưỡng sinh."
Một người nói: "Trồng các loại hoa, đọc các loại sách, đi leo núi."
Ngoài ra còn có: ngắm mặt trời mọc, ráng chiều, đếm sao, vẽ tranh, làm thơ, thưởng trà, đánh cờ...

Người bạn học sống ở vùng núi này nghe xong thì đầy ngạc nhiên, bạn học đó nói:
"Đó chẳng phải là cuộc sống hiện tại mà tôi đang sống đó sao?"

Câu chuyện này muốn nói lên rằng:
Không cần phải ước ao được như những đại gia ở thành phố, họ đều bận rộn bù đầu, vất vả cực nhọc, ngày ngày lao vào danh lợi, rốt cục là để làm gì? Họ sau khi nghỉ hưu rồi chẳng phải là chỉ muốn được sống những ngày thanh nhàn tự tại hay sao!

Tôi nói: Làm hòa thượng là tốt nhất!
Bài thơ của hòa thượng Thanh Củng:
*"Hoa núi mấy cây đỏ rực rỡ,
Một hồ nước xanh sóng lăn tăn,
Con mắt siêu phàm nếu có được,
Chẳng đợi vô tình lộ thiền cơ."*

Và:
*"Về nhà rửa chân lên giường ngủ,
Say sưa nào biết núi trăng rời
Rừng xa chim vắng đừng đánh thức
Mặt trời đỏ ối treo ngọn tùng."*

Tôi đọc xong hai bài thơ này cảm thấy đặc biệt sảng khoái. Làm hòa thượng thanh nhàn như thế này thì còn mong cầu gì nữa đây?

Ngoài điều này ra, chúng ta còn có gõ chuông. Có một bài kệ gõ chuông:
*"Nguyện tiếng chuông này vượt pháp giới,
Mọi chốn âm u đều thấy nghe,
Thanh tịnh bụi trần chứng viên thông,
Hết thảy chúng sinh thành chính giác.*

*Gõ chuông ba lần, bài kệ ngâm nga,
Trên thấu thiên đường, dưới xuyên địa phủ.
Nhờ ánh sáng Phật làm rạng rỡ, pháp luân thường chuyển.
Cung chúc dân quốc mãi vững bền, quốc đạo thịnh hưng.
Hết thảy chúng sinh trong tam giới, tránh được luân hồi.
Hết thảy mọi lo lắng nguyện ước, đều rời biển khổ."*
...

Còn có khóa lễ buổi sáng, khóa lễ buổi tối.
Tu Mật giáo có tứ tọa pháp, lục tọa pháp.

Còn những ngày tôi trải qua ở Nam Sơn Nhã Xá Seattle chính là:
*"Quãng thời gian này giống ẩn cư,
Chẳng biết trần thế tươi hay héo,
Đêm đến đốt củi xua cái lạnh,
Đói thì ăn cơm mệt thì ngủ.
Ngồi ngắm mây bay là cái thú,
Công phu tĩnh tọa thật chuyên tâm.
Thong thả ung dung ngồi viết sách,
Thâm nhập thiền định thấu thiên cơ."*


### 26. A Dục Vương một trai một gái xuất gia


Trong kinh điển ghi chép:
Phật Thích Ca Mâu Ni đang đi cùng với A Nan.
Có một tiểu đồng tử dùng đất để nặn thành một món đồ, giống như trò chơi nặn đất sét, để cúng dường lên Phật Đà. Phật Đà nói:
Phật Đà thọ kí cho đồng tử này là:
"Sau khi Phật niết bàn một trăm năm, cậu bé này họ Khổng Tước, tên là A Dục, xuất thế trở thành một vị vua chuyển bánh xe Phật pháp, tin tưởng chính pháp, xây dựng hơn tám vạn bốn nghìn tháp thờ cúng xá lợi."
Phật Đà nói:
"Sẽ có một con trai một con gái xuất gia."

Về sau, A Dục Vương có một con trai, tên là Ma Sẩn Đà. Có một con gái tên là Tăng Già Mật Đa.
Em trai vua là một tì kheo, đã xin vua cho con trai con gái xuất gia. A Dục Vương hỏi con trai con gái:
"Có muốn xuất gia không?"
Con trai con gái đáp:
"Chúng con thích xuất gia!"
Bởi vậy, A Dục Vương có một con trai một con gái xuất gia. Người con trai con gái này đều tổng trì hết thảy Phật pháp.

🌟

Trung Quốc xưa nay cũng có hoàng đế xuất gia. Ví dụ như Lương Vũ Đế xuất gia tại Đồng Thái Tự. Ví dụ như hoàng đế Thuận Trị xuất gia.

Tôi đọc về một vị hoàng đế xuất gia:
Từ bỏ địa vị hoàng đế.
Sống sâu trong rừng núi.
Nằm ngủ trên manh chiếu.
Lấy trời làm chăn, đất làm giường.
Trời mưa thì tắm.
Gió mát làm quạt.
Như sống ở chốn thiên đường với nhật nguyệt tinh tú.
Tự do tự tại quên hết mọi bộn bề.

Hoàng đế này hét lớn:
"Thật là vui quá!"
"Thật là thoải mái!"
Theo ngôn ngữ hiện đại thì là: "Thật là phê!"

Thơ của hòa thượng Thuận Trị:
*"Chơi trong rừng đã lâu,
Hiểu cái thú của rừng
Những hàng cây tỏa bóng
Chẳng cản gió mơn man.
Trên phiến đá nằm ngủ
Lá rụng nào biết đâu.
Bỗng chim rừng bay đến,
Chốn tĩnh mịch vỡ toang."*

Còn nữa:
Thơ của hòa thượng Thủ Thuyên:
*"Chiều tà ve sầu kêu
Mình ta trở về rừng,
Cánh cửa thông chẳng khép,
Tùy ý trăng theo vào.
Trong sắc cỏ nhạt mờ,
Thoang thoảng mùi hoa thơm
Nghe đâu tiếng chó sủa,
Chìm vào giấc mộng xanh."*

(Hai bài thơ này có giọng điệu nhẹ nhàng chậm rãi với sự tự do thong dong của người xuất gia.)
Từ hai bài thơ có thể ngầm thấy được:
"Thật là vui quá!"
"Thật là thoải mái!"
Tôi đọc xong hai bài thơ này, tôi đã hiểu được cái ô trọc của tục thế và cái thanh tịnh của xuất thế. Hai thế giới này khác xa nhau!

Tôi (Lư Sư Tôn) sớm đã trải qua:
Hỉ, thắng hỉ, siêu hỉ, cụ sinh hỉ.
Lạc, thắng lạc, siêu lạc, cụ sinh lạc.
(Xuất gia thật khoan khoái quá!)


### 27. Ẩn dụ về con ruồi


Vào triều Tống, thiền sư Bạch Vân, pháp hiệu là Thủ Đoan, có bài thơ "Con ruồi" rất nổi tiếng như sau:
*"Ruồi mong khoan giấy tìm ánh sáng,
Khó nhọc loanh quanh chẳng lọt qua.
Bất chợt va phải đường vào cũ,
Mới biết trước nay mắt đánh lừa."*

Tôi (Lư Sư Tôn) thích bài thơ này.
Tôi giải thích như sau:
Con ruồi thích ánh sáng, nên vẫn cứ đâm đầu vào kính cửa sổ, thỉnh thoảng còn bị lọt vào giữa hai lớp cửa kính. Ở bên trong, nó cứ tìm cách tiến về phía trước vô số lần, thật ra là nó đã bị nhốt lại rồi (đây là tai nạn thường xảy ra).

Còn nữa:
Con ruồi trong kinh điển.
Đã đến gần nhất với kinh điển rồi, nhưng con ruồi không có cách nào nhìn rõ kinh điển được, không có cách nào hiểu thấu được những nghĩa lý trong kinh, cũng không biết phải tu hành thế nào.
Con ruồi thích ánh sáng, nên cứ tìm cách đục xuyên qua giấy loạn cả lên!
Con ruồi khoan giấy, bởi vì nó không hiểu.

Cuối cùng:
Bỗng nhiên nó gặp phải con đường khi nó bay vào, vô tình chỉ cho nó thấy lối ra, nó mới hiểu không phải là tìm kiếm ở bên ngoài, mà là tìm ở bên trong. Lúc này, cuối cùng thì nó đã biết, những gì nó làm từ trước đến nay chỉ là những biểu hiện bên ngoài, đã bị lừa bởi chính mắt mình.
Không phải là nhìn biểu hiện bên ngoài, mà là cần phải tìm kiếm Phật tính ở bên trong chính mình.

Phái Sakya của Mật giáo có sự cách ly khỏi bốn loại bám chấp:
"Nếu bám chấp vào sự sinh ra này thì không phải là người tu hành.
Nếu bám chấp vào thế gian, thì không có tâm xuất ly.
Nếu bám chấp vào mục đích của bản thân thì không có tâm bồ đề.
Nếu bám chất vào tâm sinh khởi thì sẽ đánh mất nền tảng chính kiến."
Bốn loại bám chấp này đều chỉ là biểu hiện bên ngoài, điều quan trọng nhất của Mật giáo là xuất ly tâm, bồ đề tâm, chính kiến, phải tìm kiếm Phật huệ, trí huệ Như Lai của nội tại. Sau đó chuyển nhận thức thành trí huệ.

Bài thơ "Con ruồi" của thiền sư Bạch Vân là một dạng ẩn dụ. Không thể tu luyện một cách đui mù. Cần phải dựa vào sự quán đảnh, truyền pháp, khẩu quyết, sự chuyên nhất, li hí, du già, vô thượng mật, tứ quán đảnh của một vị Thượng sư có đầy đủ đức hạnh.
Thì mới có thể:
Khai ngộ. (hiểu thấu chân đế)
Quán tu. (thân khẩu ý thanh tịnh)
Bổn tôn và ta hợp nhất. (tương ứng du già)
Hàng phục tự tâm. (loại bỏ ngã chấp, pháp chấp, tất cả sự bám chấp)
Chứng tỏ Phật tính. (minh tâm kiến tính)

Còn nữa:
Thời Ngũ Đại, hòa thượng Bản Tịch có ba bài thơ như sau:
Bài 1:
*"Nếu tâm chỉ đặt vào danh lợi,
E rằng khó thoát nghiệp thế gian.
Như cát sông Hằng vô lượng số
Vô biên muôn kiếp vẫn long đong."*
(Tâm ham danh lợi của con người thế tục là nguồn gốc luân hồi của phàm phu.)

Bài 2:
*"Điều then chốt trong tim tắc nghẽn
Mong viên dung tắc nghẽn không còn
Dù sóng lớn nhưng biết bỉ ngạn
Một cành lau cũng vượt được qua."*
(Con người thế tục muốn từ bỏ tâm ham danh lợi, rất khó!)

Bài 3:
*"Mây ráng vốn là một,
Mưa sương vốn như nhau,
Vì không ngừng hun đốt,
Thân gia loạn đến giờ."*
(Người thế tục nếu không biết tu tâm thì vĩnh viễn tâm linh bị che mờ trong mê muội.)

Tôi nói:
Chúng ta cần hiểu được đạo lý sinh tử vô thường, hiểu được đạo lý về nhân quả luân hồi thì mới không giống như con ruồi mê muội đâm đầu loạn cào cào.
Chúng ta cần biết rằng, trong cuộc đời này, thời gian rất ít, sinh mệnh là tạm thời ngắn ngủi, do vậy cần phải nhanh chóng xuất li.
Chúng ta cần hướng vào bên trong, tìm kiếm bồ đề tâm.
Chúng ta cần tiếp thu những giáo huấn của Căn bản Thượng sư, mới có thể đi trên con đường đạo đúng đắn.


### 28. Tôi là mục đồng


Trong phòng vẽ tranh, tôi có không ít những bức tranh vẽ mục đồng. [mục đồng là chú bé chăn gia súc]
Tôi dùng mực nước.
Vẽ trời.
Vẽ đất.
Vẽ nước.
Giữa trời đất, trên những đỉnh núi gồ lên, tôi vẽ mấy con trâu, và trên lưng con trâu cuối cùng ngồi vắt vẻo một mục đồng đang hối hả lùa trâu về nhà.
Tôi đề tên tranh là: "Về chuồng".

Còn nữa:
Tôi có một bức tranh vẽ núi nhiều màu sắc, dưới chân núi tôi vẽ một đàn trâu, rất nhiều rất nhiều trâu, đang đi xuống chân núi.
Ai là mục đồng?
Là Lư Sư Tôn.
Tôi đề tên cho tranh là: "Đàn trâu của ta muốn về nhà".

Vì sao tôi muốn vẽ tranh đàn trâu và mục đồng, bởi vì tôi muốn dùng mục đồng để so sánh với bản thân là một vị Kim cương Thượng sư giữa trời đất, đội trời đạp đất, giáo hóa chúng sinh.

Chúng ta đều biết rằng, giáo hóa chúng sinh có mấy cách thức:
Phân thành ba bậc:
Cách thức Quốc vương - bản thân thành tựu trước, rồi mới giáo hóa cho người khác.
Cách thức con thuyền - bản thân và người khác cùng lên thuyền, cùng đi đến bờ bên kia.
Cách thức chăn cừu - chúng sinh thành tựu trước, bản thân mình sau đó mới thành tựu, gọi là cách thức chăn cừu.

Chúa Jesus nói:
"Ta là kẻ chăn cừu!"
Không phải là độc nhất vô song.
Khi còn trẻ, nhà tiên tri Mohammed cũng là mục đồng.
Tôi (Lư Sư Tôn) cũng là mục đồng.
Tôi thích chúng sinh thành tựu rồi cuối cùng tôi mới thành tựu, giống như lời thề nguyện của Địa Tạng Vương Bồ Tát vậy.

Hòa thượng Ẩn Loan của triều Đường có bài thơ về mục đồng:
*"Mục đồng gặp người chẳng hay biết,
Nón lá giày cỏ cứ ung dung,
Ban mai mặt trời còn sau núi,
Sương sớm thấm ướt cả áo tơi.
Tháng hai tháng ba, bình nguyên cỏ xanh rì
Dăm ba thằng nhỏ, thả trâu gầy dưới cây.
Tiếng sáo vừa vang, đám trẻ cùng ca múa
Bóng chiều chếch tây, lại cưỡi trâu trở về."*

Tôi nói:
Bài thơ này rất tả thực.
Mô tả những đứa trẻ chăn trâu như một bức tranh.
Rất khoan khoái.

Tôi cũng viết một bài thơ về mục đồng:
*"Sáng sớm mỗi ngày ngẩng nhìn trời,
Lo nhất nhiều mây trời đổ mưa
Như mùa xuân,
Như nhành liễu,
Thổi lên điệu sáo,
Sương trên cỏ
Tìm núi
Tìm sông
Tìm nguồn nước
Lúc ấy gặp nhau từ buổi sớm
Còn chưa thề nguyện
Ngày tàn tự bao giờ."*

Tôi nói:
Tôi thích là mục đồng, bởi vì mục đồng chẳng hề tạo tác, cứ tự nhiên vui vẻ tràn trề.
Hành giả không nên tạo tác là rất quan trọng. Giống như nước khi không còn khuấy động thì tự nhiên sẽ lắng sạch trong veo.
Tâm không bám trụ vào bất kì sự tạo tác nào.
Chính là "Đại Thủ Ấn".


### 29. Vẫn là mục đồng


Viết xong chương "Tôi là mục đồng", ý vẫn còn chưa nói hết, tôi lại viết thêm một chương với tiêu đề "Vẫn là mục đồng".

Hòa thượng Thê Thiềm thời Đường cũng có bài thơ mục đồng:
*"Trâu được tự do cưỡi
Gió xuân thổi mơn man,
Núi non cỏ xanh rì,
Khoác áo tơi thổi sáo.
Sớm mai lên đường hát
Trăng lên vỗ tay về
Ai được dường như thế,
Chẳng phải cũng chẳng sai."*

Tôi nói:
"Bài thơ này rất hay, học thuộc lòng, rồi ngâm vịnh, cũng rất có pháp vị!"
Mọi người nói xem, tôi có phải là mục đồng hay không?
Buổi đêm khi đi ngủ, tôi có thể bay trên trời (thần hành), nghìn dặm vạn dặm, và trong nháy mắt tôi có thể trở về.
Tôi truyền pháp trong mơ.
Chúng sinh được lợi ích.
Việc xuất ra khỏi thân này, chẳng phải cũng chẳng sai.

Còn nữa:
Tôi còn có một pháp, không chỉ là bay trên trời, mà cũng có thể đi xuyên vào đất (độn thổ).
Tôi đi vào trong đất, ẩn hiện trong đất.
Đi vào từ đông bán cầu, rồi đi ra từ tây bán cầu.
Đi vào từ nam bán cầu, rồi đi ra từ bắc bán cầu.
Nguyên thần của tôi thật sự là:
Biến hóa tài tình.
Tôi đến các nước trên thế giới, đi cứu giúp chúng sinh (cứu độ chúng sinh).
Tôi và chúng sinh,
Tôi là mục đồng.
Tôi đi vào trong đất, tôi đi ra khỏi đất, chẳng phải cũng chẳng sai.
Tôi chỉ muốn dính chặt vào trong đất, rồi từ từ hòa tan vào trong đất, vừa hiện thân thì đã ở một đất nước khác rồi.

Tôi viết rằng:
*"Tôi là bán thần nhân,
Cuối đời là mục đồng,
Hơn bốn chục năm nay
Cứ thong dong phi độn.
Ở đây làm bác sĩ,
Ở kia giảng pháp hay.
Chẳng phải cũng chẳng sai,
Vẫn cứ toàn thịnh vượng."*
[phi độn - bay trên trời, độn thổ]

Tôi nói:
Trên khắp thế giới, mỗi một quốc gia, mỗi một con người, chỉ cần nhớ đến Lư Sư Tôn thì Lư Sư Tôn sẽ lập tức xuất hiện trong mơ của người đó.
Có thể gặp trong mơ.
Có thể gặp trong thiền định.
Thậm chí có thể gặp vào ban ngày.
Vô cùng thần kì, tôi là mục đồng, điều khiển đệ tử Chân Phật Tông, chăn dắt họ đến Phật quốc tịnh thổ.
Tôi không phải chăn trâu.
Tôi không phải chăn cừu.
Có người nói, linh hồn của họ có thể xuất ra khỏi lỗ đỉnh đầu, đi du lịch khắp nơi.
Tôi nói, linh hồn của tôi có thể nhập vào đất, vào đông ra tây, vào nam ra bắc, vào tây ra đông, vào bắc ra nam.
Hiếm lạ thay! Hiếm lạ!

Tôi cứu người cứu thế, không vì danh, cũng không vì lợi, tôi không mong cầu gì cả.
Các đệ tử! Vào lúc nguy cấp, hoặc lúc lâm chung, xin hãy niệm:
Lư Sư Tôn, xin gia trì cho con!
Để con có thể được cứu giúp lúc nguy cấp!
Để vào lúc con lâm chung, Thượng sư, Bổn tôn, Không hành tiếp dẫn con đến Phật quốc tịnh thổ.

Tôi là mục đồng,
Tôi chắc chắn có thể bảo vệ bạn, cảm ứng với những điều bạn mong cầu.


### 30. Tỉ mỉ nghiên cứu về sự "không can thiệp"


Tôi (Lư Sư Tôn) nói:
"Học Phật chính là tỉ mỉ nghiên cứu."

Ví dụ một bài kệ:
*"Làm sao được trường thọ
Thân kim cương bất hoại
Nhờ vào nhân duyên gì,
Được sức mạnh kiên cố.
Làm sao nhờ kinh này
Cuối cùng đến bỉ ngạn.
Mong Phật khai mật pháp,
Quảng thuyết vì chúng sinh."*

Bài kệ này là lời mở đầu của kinh Kim Cang, trong đó "khai mật pháp" chính là tỉ mỉ nghiên cứu. (Để lộ những bí mật của chân lý), cả bộ kinh Kim Cang chính là tỉ mỉ nghiên cứu.
Bài kệ nổi tiếng trong kinh này là:
*"Nếu vì sắc thấy ta
Vì âm thanh cầu ta
Người đó hành tà đạo,
Không thể thấy Như Lai."*

Và:
*"Hết thảy pháp hữu vi
Như mộng huyễn bào ảnh
Như sương cũng như điện
Nên quán chiếu như vậy."*

Và:
*"Vô ngã tướng.
Vô nhân tướng.
Vô chúng sinh tướng.
Vô thọ giả tướng."*

Tôi (Lư Sư Tôn) đương nhiên có thể hiểu được chân lý thậm thâm vi diệu mà Phật Đà nói đến. Ở đây, muốn phân tích, tuyên thuyết rộng rãi, đương nhiên là không có vấn đề gì. Tuy nhiên, tôi tổng kết bằng ba chữ, ba chữ này chính là điều mà tôi thường tuyên thuyết:
"Không can hệ!"

Bài thơ của hòa thượng Quán Lâm:
"Trăm nghìn vạn tỉ lời
Cũng vẫn chẳng can thiệp
Thế nên người già ấy
Mật truyền cho Ca Diếp.
Thầy ta có pháp này,
Bất luận có bị cướp
Cũng mất chẳng thể giữ,
Chẳng dấu vết lần theo."

Xin chú ý:
Ba chữ "Không can hệ". (Phật Đà truyền cho Ca Diếp.)
Còn đối với "tỉ mỉ nghiên cứu", chỉ cần đến được cảnh giới rất sâu rất vi tế thì có thể kiến chứng "không can hệ".

Hòa thượng Tế Kỉ có bài thơ:
*"Cát sông dựng nhà cỏ,
Màn giấy che giường trống
Lặng yên là thư giãn,
Hơi thở thoát tục trần.
Trong vườn ngồi tĩnh lặng,
Mai hạnh khẽ tỏa hương.
Ai ở Nguyên Tây Tự?
Tiếng chuông tiễn tịch dương."*

Đây chính là "không can hệ". (Ẩn ý trong bài thơ đều là tùy mặc tự nhiên.)

*"Tạo hóa ổn định chăng?
Sông núi còn chuyển dời
Tinh hoa chôn vào đất
Châu ngọc vào nhà sang.
Ngỡ kiêu ngạo xa xỉ
Ai ngờ gốc họa tai
Nhà tan rồi nước mất
Còn nói được điều gì?"*

Tôi nói:
"Tạo hóa ổn định chăng?" chẳng phải đều là không can hệ sao? Nước mất, nhà tan, người chết, vậy thì còn cái gì nữa? Không có gì thực sự có được thì còn có cái gì mà can hệ?

*"Quá khứ thì đã qua
Hiện tại thành quá khứ
Tương lai còn chưa đến
Thử hỏi can hệ gì?"*

Tôi đọc kinh Kim Cang, từ phần thứ nhất là "Nhân duyên pháp hội", đến phần thứ tư là "Diệu hạnh vô trụ", đến phần thứ bảy là "Vô đắc vô thuyết", đến "Nhất tướng vô tướng", đến "Phúc vô vi là hơn hết", đến "Lìa tướng tịch diệt", đến "Vô ngã tột cùng", đến"Lìa sắc lìa tướng", đến "Không pháp nào có thể đắc", đến "Hóa vô sở hóa", đến "Ứng hóa không phải thật".
Tôi hiểu ra:
"Không can hệ!" (chân đế)


### 31. Chết ơi! Chết ơi! Chết ơi!


Quốc sư Ngộ Đạt có một bài "Vịnh hoa thi".
Tôi rất thích. Hơn nữa, tôi còn học thuộc lòng để làm thành lời răn cho bản thân.

Thơ rằng:
*"Hoa nở cây rực đỏ
Hoa rụng vạn cành trơ
Duy nhất còn một đóa
Tùy gió mai định đoạt."*

Điều tôi muốn nói với mọi người là:
"Bài thơ này chỉ ra cho tôi thấy tất cả đều sẽ chết thôi!"
Rất hay!
Chết rất hay! Chết rất cừ! Chết rất bá đạo!

Tôi thường nhớ lại, trên con đường tôi đã đi qua, những vị sư phụ nhân gian đã dạy dỗ tôi đều đã "hoa rụng vạn cành trơ" rồi.
Hiển giáo:
Liễu Minh Hòa Thượng — truyền thừa Hồng giáo.
Sakya Chứng Không Thượng Sư — truyền thừa Hoa giáo.
Đại Bảo Pháp Vương thứ 16 — truyền thừa Bạch giáo.
Thubten Dhargye - truyền thừa Hoàng giáo.
Phổ Phương Thượng Sư.
Và những vị khác.
Họ đều giống như hoa, nhưng hoa đều rụng cả rồi, bây giờ chỉ còn lại một đóa hoa là tôi, ngày mai ra sao tùy gió định đoạt.
Tôi nhất định sẽ chết một cách rất bá đạo.

Nhưng mà, lâu nay tôi cũng bá đạo rồi, nên thôi không chết bá đạo nữa. Tất cả quy về "không", quy về "tịch", quy về con số 0.

Bài thơ khóc Linh Nhất Thượng Nhân của hòa thượng Quán Lâm:
*"Nhất Công đâu còn nữa?
Đã xa tận trời cao.
Từng rủ nhau lên núi,
Nay chẳng thể cùng đi.
Nhà cũ thông thêm già,
Gò đất cỏ mọc xanh.
Kinh luận truyền tăng lữ,
Văn chương dành thi nhân.
Rừng thiền cành trơ gãy,
Pháp đường cột xà nghiêng.
Ai giỏi tu tăng sử?
Hẳn biết truyện đã thành."*

Bài thơ này cũng chính là bài thơ để hòa thượng Quán Lâm tiễn Linh Nhất Thượng Nhân lên đường được tốt đẹp.
Tôi có một cảm giác rằng:
Truyền tăng lữ. (sư sãi)
Để thi nhân. (văn nhân)
Tu tăng sử. (tăng truyện)
Đây đều là dây cà ra dây muống thôi!

Tôi cho rằng:
Vô thường đến nhanh là sự cảnh tỉnh lớn nhất. Các vị sư phụ đều đã đi rồi, tôi cũng chẳng còn bao lâu nữa, ngay lúc này, ngay tại đây, còn tham cái gì? Sân cái gì? Si cái gì?
Cuộc đời này của tôi chỉ vì:
"Lĩnh ngộ cứu cánh, trí huệ bản sơ, mà tinh tấn.
Tịnh hóa thân tâm, tích tập công đức, chỉ có con đường này."

1. Pháp tính hiện tiền minh ngộ.
2. Ngộ cảnh tăng trưởng mỗi ngày.
3. Tự tâm tiến vào trí huệ sáng suốt hài hòa.
4. Pháp tính vô tận.

Ngoài những điều này ra thì cuộc sống mỗi ngày của tôi cũng giống như người bình thường, tôi hiểu rất rõ ràng rằng:
Bây giờ tôi chính xác là đang "đợi chết".
Sắp rồi! Sắp rồi!
Chết ơi! Chết ơi! Chết ơi!
Sướng là! Sướng là! Sướng là!
Chết! (Đời này tất cả đều kết thúc.)


### 32. Đời người như cục phân


Có người nói:
"Đời người giống y như một cục phân!"
"Sao lại nói thế?"
Người đó đáp:

1. Có lúc mềm lúc cứng.
2. Có lúc thuận có lúc không thuận.
3. Có lúc đau có lúc không đau.
4. Có lúc thật có lúc không.
5. Có máu có nước mắt.
6. Có khi có tiếng có khi không.
7. Có lúc hoàng kim có lúc đen tối.
8. Có lúc chín có lúc sống.

Có viết tiếp nữa cũng chẳng viết hết. Có thể nói rằng, đời người muôn hình muôn vẻ thì cũng vẫn chỉ nằm trong một cục phân.
Ôi chà! Có lý!
Mọi người cười lớn ha ha ha.

Hòa thượng Đạm Giao triều Đường có bài thơ:
*"Vinh nhục ôi vinh nhục
Cứ tiếp nối luân phiên
Một đời người trăm tuổi
Có ai biết hài lòng.
Tóc huyền bỗng như tơ,
Từng đám nay bạc trắng.
Xưa nay tranh danh lợi
Ai hưởng lộc vàng kim?"*

Tôi giải thích bài thơ này như sau:

1. Đời người có vinh có nhục, có lúc vinh, có lúc nhục. Cũng giống như đống phân, có khi thuận, có khi không thuận. Thuận thì là vinh, không thuận thì là nhục.
2. Trồi lên lại sụp, trồi lên lại sụp. Trồi sụp là vô thường, lúc mềm, lúc cứng, lúc to, lúc nhỏ.
3. Con người thông thường, đến chết cũng không biết hài lòng. Ôi! Đời người có máu và nước mắt, có người nào có thể được an nhiên? Người biết hài lòng biết đủ, căn bản là không có.
4. Mái tóc từ khi dày đã thành mỏng như tơ. Có lúc khỏe, có lúc yếu.
5. Tóc từ đen thành bạc, cũng giống như cục phân đổi màu sắc.
6. Ai hưởng lộc vàng kim?

Câu nào là buồn cười nhất?
Vàng kim là cục phân!
Vàng kim như đống bụi!
Vàng kim như rác rưởi!

Giờ đây, hòa thượng Đạm Giao hỏi: Vàng kim là ai hưởng đây?
Tôi nói, tự cổ chí kim, vàng kim chưa bao giờ vĩnh viễn thuộc về người nào cả. Dịch sư Trác Di cúng dường pháp đài cho chùa Siêu Giới, dùng vàng để cúng dường, nay số vàng này lưu lạc nơi nào?

Marpa dùng vàng để cúng dường cho Naropa, số vàng này đã đi đâu rồi? Yeshe Tsogyal dùng vàng để cúng dường cho Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, số vàng này đã lưu lạc phương nào?
Tất cả đều như khói mây bay qua mắt thôi!
Không chỉ vàng mới vậy, mà vợ con, tiền bạc, phúc lộc, tuổi thọ, cũng đều như vậy cả. Kì thực ngay cả bản thân cũng thế.

Hòa thượng Đạm Giao còn có một bài thơ nữa:
*"Dáng hình bản thân mình,
Tự ngắm thấy thương tâm,
Đã là mộng trong mộng,
Lại gặp thân ngoài thân.
Rong rêu ngưng huyễn chất,
Màu mực nhuộm không trần.
Nực cười ta và anh,
Đều là người dang dở."*

Bài thơ này nói rằng, có người soi gương, càng soi càng đau lòng, có cái đẹp có cái không đẹp. Thật ra là mơ trong mơ, thân ngoài thân, như rong rêu, như màu mực, rất buồn cười!

Thế giới Ta Bà chính là thế giới mộng huyễn. Ai hiểu được đây?


### 33. Tăng nhân hoàn tục


Có một vị xuất gia đến tìm tôi, nói:
"Lư Sư Tôn, tôi muốn hoàn tục!"
Tôi đáp:
"Anh không cần hoàn tục."
Người xuất gia kinh ngạc hỏi:
"Vì sao không cần hoàn tục?"
Tôi đáp:
"Anh đã là tục rồi, còn cần hoàn tục gì nữa?"
Tăng nhân á khẩu.

Còn nữa:
Có một thanh niên muốn cạo đầu xuất gia. (Vừa tốt nghiệp đại học.)
Tôi nói:
"Anh không cần xuất gia!"
Người thanh niên nói:
"Tôi cần xuất gia gấp!"
Tôi nói:
"Không phải vội!"
Người thanh niên nói:
"Tôi muốn được cạo đầu!"
Tôi thấy tục duyên của anh ta vẫn chưa hết, nhưng vẫn miễn cưỡng giúp anh cạo đầu.
Sau đó.
Anh ta đã mặc áo Lama rồi đi kết hôn rồi.
Ha!

Còn nữa:
Tinh Vân đại sư nói:
"Người xuất gia hoàn tục cũng giống như kẻ làm thầy giáo thôi không dạy học nữa."
Tôi nói:
"Không giống!"
Tôi đưa ra lý do như sau:

1. Giáo viên có chế độ nghỉ hưu, người xuất gia không có chế độ nghỉ hưu.
2. Xuất gia không phải là nghề nghiệp, mà là một sự thề nguyện. (lời thề vĩnh viễn)
3. Xuất gia là xuất ly tâm, không có đường quay đầu.
4. Và những lý do khác nữa.

Mặc dù tôi nhấn mạnh như vậy, nhưng con người có tham vọng riêng. Tôi tán đồng, nếu anh muốn hoàn tục thì cứ hoàn tục đi!
Tôi không miễn cưỡng.

🌟

Hòa thượng Vô Bản thời Đường là một hòa thượng hoàn tục, yêu thích con đường làm quan, nhưng thơ của ông ấy lại rất hay, tôi thích những bài thơ của ông.

*"Dưới thông hỏi chú bé,
Thầy đi hái thuốc rồi,
Ở trong núi đấy thôi,
Bởi mây dày khó thấy."*

(Bài thơ này rất nổi tiếng, ai ai cũng có thể ngâm vịnh, trong thơ cũng có chút linh khí.)

Còn nữa:
*"Nhà sư đến chào tôi, ngồi tạm bên bờ suối,
Đường xa cầm bát rỗng, dẫm lên cánh hoa rơi.
Không thầy thiền tự ngộ, có mấy lời ngợi khen,
Chẳng duyên cớ mà đi, đơn độc và bất định."*

(Có linh khí.)

Và:
*"Ngồi nghỉ bên xóm vắng, lối cỏ vào vườn hoang,
Bờ ao chim tá túc, tăng lùa trăng vào nhà.
Ranh giới bên kia cầu, mây núi đều đổi khác,
Ta đi còn trở lại, hẹn riêng chẳng phụ lời."*

(Câu "tăng lùa trăng vào nhà" vang vọng trong tâm trí người ta.)

Tôi tìm hiểu xem vì sao hòa thượng Vô Bản muốn hoàn tục, chủ yếu là vì có liên quan đến Hàn Dũ.
Hàn Dũ tiếc cho tài hoa của ông nên đã khuyên ông đi theo con đường làm quan. Hàn Dũ còn dạy ông văn chương, đương nhiên sẽ khiến cho tâm trí và cảm xúc của ông thêm hưng phấn.
Tóm lại, rất nhiều sự việc phát sinh chẳng phải là vô duyên vô cớ, đây đều là nhân duyên quả báo thôi.


### 34. Vô sự vô tâm vô niệm vô ngã


Đệ tử hỏi:
Vô sự — ngoại cảnh.
Vô tâm — nội cảnh.
Vô niệm — giác cảnh.
Vô ngã — không cảnh.
Phân biệt như vậy có đúng không?
Tôi trả lời:
Đúng.
Tuy nhiên, vẫn cần thiết phải giải thích. Cá nhân tôi thấy rằng vô sự, vô tâm, vô niệm, vô ngã, bề mặt biểu hiện bên ngoài là bốn thứ, nhưng chúng lại liên kết chặt chẽ với nhau, gần như không hẳn là có sự phân biệt.

Tôi nói:
"Vô sự":
Nơi nào có con người thì nơi đó sẽ "hữu sự", nơi nào có con người thì sẽ có thị phi, không thể nào vô sự được. Chỉ là hành giả hãy xem tất cả mọi sự việc là huyễn, những sự việc này đều là huyễn ảo, không ảnh hưởng đến sự sáng tỏ bên trong của hành giả.
Như vậy thì sẽ "vô sự".

Nói tiếp đến "vô tâm":
Vì ưng theo vô sở trụ mà sinh ra tâm này, câu nói này, Lục Tổ Thiền tông vừa nghe đã hiểu ra.
Tâm quá khứ không thể đắc.
Tâm hiện tại không thể đắc.
Tâm vị lai không thể đắc.
Cũng chính là "tâm vô sở đắc", "tâm vô sở trụ", từ đó mà đạt đến trạng thái "không còn điều gì vướng bận trong tâm".
Đây chính là "vô tâm".

Lại nói về "vô niệm":
Chân Phật Kinh nói: "Lấy vô niệm làm chính giác Phật bảo."
Tôi thật lòng thật sự nói cho mọi người biết rằng: thực tế là, bảo mọi người "vô niệm" là điều rất khó.
Vọng niệm như thác nước.
Làm sao để vô niệm?
Ở đây có một quá trình tu luyện ý niệm theo thứ tự:
Như thác nước.
Như dòng sông.
Như nước ngầm.
Như mặt gương. (nước tĩnh)
Câu nói quan trọng nhất là: "Không can hệ!"

Tôi (Lư Sư Tôn) thường nhắc đến:
"Tạp niệm như thác nước!"
"Phật tính bền và lâu!"
Hai thứ này không có liên quan đến nhau. Có thể nào như vậy không? Hãy xem xét cẩn thận, đến khi lĩnh hội và hiểu được thì chính là "vô niệm".

Thứ tư là nói về "vô ngã":
Kinh Kim Cang nói:
Vô ngã tướng.
Vô nhân tướng.
Vô chúng sinh tướng.
Vô thọ giả tướng.
Ở đây đã chỉ ra đời người là mộng huyễn, nhân gian là thế giới huyễn, những sự việc trên đời là những chuyện huyễn ảo, thực vô sở hữu, thực vô sở đắc, thực vô sở trụ, ngã cũng là vô ngã.
Khi thực hành được điều này thì đã chứng được vô ngã. Tức Phật tính tự hiển hiện.

Một bài thơ của Trương Bá Đoan:
*"Sống mong tu hành bố thí,
Quả báo chẳng xa trời người.
Như tên bắn tới mây trôi,
Rơi xuống cũng vì lực cạn.
Tranh giành thực tướng vô vi,
Vẫn cần cải tà quy chính.
Trở về bản tính ngây thơ
Mà chứng vô sinh pháp nhẫn."*

Điểm quan trọng trong bài thơ này là:
Vô vi.
Bản tính ngây thơ.
Vô sinh pháp nhẫn.
Vô sự, vô tâm, vô niệm, vô ngã.
Chúng ta cùng nói về "vô sinh", được chứ?


### 35. Già và bệnh


Có hai hình ảnh cứ vương vất trong tâm trí tôi khiến tôi rất đau lòng:
Thứ nhất:
Ở trong một bệnh viện.
Tôi trông thấy một cụ già tóc bạc trắng, bước đi loạng choạng, tay phải vịn vào giá thép treo ống truyền nước biển. Dọc hành lang, với ống truyền nước biển nhỏ giọt, cụ đi lại đầy khó nhọc, rẽ vào một nhà vệ sinh. Cụ đi vệ sinh.

Tôi nghĩ đến cảnh tượng cụ già bị bệnh phải cắm ống truyền nước, đi vào nhà vệ sinh này mà trong lòng cảm thấy rất xót thương!
Người thân của cụ đâu?
Vì sao cụ lại một mình đi *toilet* như vậy?

Thứ hai:
Tôi trông thấy một chiếc xe SUV dừng ở bên đường. Cửa xe mở ra. Trước tiên một chiếc xe lăn được đẩy xuống. Sau đó, một cụ già xuống xe. Cụ già đó khả năng đã bị liệt nửa người. Nét mặt biểu lộ sự đau đớn. Động tác run rẩy.

Mấy người con cháu đỡ cụ bước từng bước xuống xe. Cuối cùng, cụ đã ngồi trên chiếc xe lăn. Quá trình này cũng tốn khá nhiều thời gian.
Tôi trông thấy vậy, trong lòng rất thương xót!

Tôi có cảm tưởng là:
Có một ngày, tôi cũng sẽ như vậy!
Tôi sẽ phải vịn vào giá treo bình truyền nước để đi vệ sinh. Khi tôi gặp khó khăn lúc lên xuống xe lăn, tôi phải làm sao?

Lúc này, tôi hiểu được: cái khổ vì già, cái khổ vì bệnh.

Giờ đây tôi đã 76 tuổi rồi.
Sư Mẫu Liên Hương Thượng sư có bệnh.
Phật Thanh, Phật Kì, mỗi người đều có gia đình riêng, cũng rất bận. (các con tôi)
Lư Hoằng, Lư Quân vẫn còn nhỏ. (các cháu tôi)

Còn ai có thể giúp đỡ chúng tôi?
Chẳng mấy chốc, tuổi già và bệnh tật sẽ giáng lên thân thể chúng tôi, chúng tôi có thể làm gì đây? Tôi và Sư Mẫu hy vọng ở nhân gian có thể tiêu dao mà đi, nhưng đến lúc đó có thể tiêu dao được không thì vẫn còn chưa biết được.

Tôi đã đọc:
Hai bài thơ của Hoài Hải (thiền sư Đại Trí) triều Đường.

Bài 1:
*"Chốn non nước thả rông trâu đực
Chẳng bị ai buộc thừng vào mũi
Hàng dương xanh gió xuân đưa hương
Kê cao gối tự do nằm ngủ."*

Tôi nói:
Bài thơ này tràn ngập ánh dương, rất vui!
Nhưng,
Trâu già rồi!
Khi bị đẩy đến lò mổ, thì phải làm sao đây?

Bài 2:
*"Mong trồng ruộng phúc mặc áo tăng,
Có được càn khôn đời nhàn nhã,
Còn duyên thì ở hết duyên đi,
Để mặc gió kia đưa mây trắng."*

Một vị tăng hạnh phúc mãn nguyện rất tiêu dao, có sự nhàn nhãn, tùy ý, tự tại.
Nhưng còn tuổi già? Còn bệnh tật?

Lúc này đây, tôi hướng tới Phật Bồ Tát cầu nguyện, xin đừng để chúng tôi chịu cái khổ của tuổi già và bệnh tật. Đến lúc phải đi thì cứ thế mà đi thôi. (tự chủ sinh tử)


### 36. Thơ của ba vị Thánh nhân


Ba vị Thánh nhân tôi nói đến này chính là Hàn Sơn, Thập Đắc, Phong Can.

Tôi ở một ngôi chùa Thiền tông ở Nhật Bản, nhìn thấy tượng điêu khắc của Hàn Sơn và Thập Đắc, là tượng điêu khắc gỗ.
Chẳng phải tướng từ bi.
Chẳng phải tướng phẫn nộ.
Chẳng phải tướng song hợp.
Mà là bộ dạng hoạt kê, nhìn thì cảm thấy cũng khá tương hợp và thú vị.
Tôi chọn một bài thơ của mỗi vị để so sánh với nhau.

Thơ của Hàn Sơn:
*"Nhà tôi vốn ở tại Thiên Thai,
Đường tuyết mịt mù chẳng ai đến,
Núi cao nghìn thước sâu dễ lạc,
Muôn tầng suối khe đá trập trùng.
Khăn hoa guốc mộc men dòng nước,
Áo vải gậy lê lách núi về.
Tự thấy sự đời đầy huyễn hóa,
Tiêu dao vui vẻ tuyệt làm sao!"*

Thơ của Thập Đắc:
*"Chốn non cao lạnh lẽo
Thập Đắc tìm đến ở
Phàm ngu sao thấy được
Phong Can cũng chẳng quen.
Có gặp cũng chẳng thấy,
Muốn tìm tìm nơi nao.
Xin hỏi vì cớ gì?
Chẳng ra tay hành đạo."*

Thơ của Phong Can:
*"Ta tự đến Thiên Thai,
Mấy vạn lần đi lại
Một mình như mây nước,
Ung dung tùy đến đi.
Tiêu dao chẳng ồn ào,
Bình thản cùng Phật đạo.
Đường đời rẽ đường tâm,
Chúng sinh nhiều phiền não.
Ngập chìm trong sóng biển,
Tam giới mãi nổi trôi.
Tiếc thay một linh hồn
Chưa khởi đầu đã chết.
Ánh chớp vừa lóe lên,
Sinh tử như bụi trần.
Hàn Sơn thường đến thăm
Thập Đắc năng qua lại.
Trăng sáng soi tâm sự,
Trời rộng lớn thênh thang.
Pháp giới thực vô biên,
Một pháp nên phổ biến."*

🌟

Đối với ba bài thơ này, cảm nhận của tôi là:
Thơ của Hàn Sơn luôn luôn nhìn thấu sự đời, tiêu dao vui vẻ, mang dáng vẻ linh tinh lang tang. Điên điên khùng khùng, nói xàm nói xiên, nhưng cũng có chân đế của nó.
Tôi thích thơ của Hàn Sơn, vừa rất tả thực, lại vừa rất phóng khoáng.
Cả quyển thơ Hàn Sơn tôi đều đã đọc rồi. Tôi tặng ông hai chữ: "Phát lộ".

Còn nữa:
Thơ của Thập Đắc cũng giống như con người ông, biểu hiện bên ngoài mộc mạc tầm thường, nhưng ẩn giấu bên trong lại là trân bảo chính phẩm, không tùy tiện để lộ ra bộ mặt thật để thị chúng.

Thế nhân nói rằng:
Hàn Sơn là Văn Thù hóa hiện.
Thập Đắc là Phổ Hiền hóa hiện.
Là cũng có cái lý của nó.

Hình tượng của Thập Đắc giống như phàm ngu, nhưng lại là bậc đại trí với vẻ ngoài đần độn. Tôi tặng ông hai chữ: "Thâm tạng".

Còn như:
Thơ của Phong Can, ông là một bậc đại trí huệ, có con mắt tinh đời, ông biết lai lịch của Hàn Sơn và Thập Đắc thì chẳng phải là càng cao siêu hơn sao?
Đời người giống như một giấc mộng huyễn.
Đi hay ở đều là khách.
Ông chẳng yêu ghét.
Cũng chẳng buồn giận.
Cư xử thường ngày độ lượng rộng rãi, đều luôn siêu nhiên. Huệ nhãn của ông nhìn thấu Hàn Sơn, Thập Đắc.
Tôi tặng ông hai chữ: "Độc diệu".

Núi Thiên Thai có ba vị Thánh nhân này đều là những nhân sĩ xuất chúng sinh ra từ núi thiêng.


### 37. Kí sự của chùa Cầu Vồng


Tôi đã đọc thơ của hòa thượng Đạo Tận thời Nam Bắc Triều, lòng có đôi chút gần gũi!
Bài thơ "Trung Hưng thi" của hòa thượng Đạo Tận:
*"Về núi Di Lặc cười,
Rời núi Vi Đà vui,
La Hán không biểu hiện,
Chắp tay kính từ bi."*

Tôi nói:
Mỗi lần tôi nhớ đến Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, tôi đều nhớ đến bức tượng Di Lặc Bồ Tát ở lưng chừng núi.

Tôi nhớ lúc khai quang, thiên môn của tôi mở ra, phóng đi một vệt ánh sáng, chiếu lên mặt của bức tượng Di Lặc Bồ Tát. Di Lặc khẽ cười mỉm. Bầy chim ở trong núi bỗng nhiên đều bay đến đậu trên những cái cây xung quanh, đồng thanh kêu ri ri chíp chíp.
Ôi trời!
Thù thắng quá rồi!

Bài thơ này của hòa thượng Đạo Tận khiến tôi nhớ đến lúc khai quang tượng Di Lặc Bồ Tát.

Còn nữa:
*"Núi tây mưa vừa tạnh,
Chùa vắng giữa mây mù,
Song mây vịn cây múa,
Đều thua gió bồng bềnh."*

Tôi nói:
Bài thơ này khiến tôi nghĩ đến gió núi ở Cầu Vồng Lôi Tạng Tự. Những cơn gió rất mạnh, mỗi khi vào mùa đông, từng cơn từng cơn thổi đến. Người bất động nhưng gió thổi khiến con người lay động. Gió thổi tung cát sỏi. Cây cối trên núi lay động ngả nghiêng giống như thiên long giương móng vuốt. Về sau, những cơn gió bồng bềnh này lại càng khiến người ta sửng sốt.

Sau đó, tôi đã dựng cờ "Thất tinh trấn phong" ở sau núi ở Cầu Vồng Lôi Tạng Tự. Khi cờ "Thất tinh trấn phong" vừa dựng xong thì:
Gió núi cũng ít đi!
Gió núi cũng yếu đi!
Hiện tượng cuồng phong gầm thét không còn nữa!
Đúng là Rồng và Trời đã che chở cho Cầu Vồng Lôi Tạng Tự.

Còn nữa:
*"Tăng nhân ngừng ca hát,
Tản đi các phòng thiền,
Đêm thực hành thời khóa
Tu trì theo cách riêng."*

Tôi nói:
Mỗi chủ nhật, ở Hộ Ma Bảo Điện tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, tôi đều thực hành một đàn pháp Hộ Ma (hỏa cúng). Sau khi đốt hết đồ hỏa cúng, có thời gian khoảng một tiếng đồng hồ là thời gian mỗi người biểu diễn tài nghệ.
Tăng nhân hát những bài hát ca ngợi Tam Bảo.
Tăng nhân biểu diễn võ thuật.
Hoặc yoga.
Hoặc thiếu lâm côn pháp.
Hoặc đánh trống.
Hoặc biểu diễn tài nghệ.

Cá nhân tôi có một cảm tưởng, hành giả Mật giáo chúng ta, về cơ bản có "lục tọa pháp", "tứ tọa pháp", "nhị tọa pháp".
Người tại gia ít nhất mỗi ngày làm một lần tọa pháp.
Mật giáo coi trọng:
Quán tưởng.
Trì chú.
Nhập tam ma địa. (Tinh thần tập trung để đạt đến định.)

Thơ của hòa thượng Đạo Tận cực kì hay, ở cái gọi là "đêm thực hành thời khóa, tu trì theo cách riêng". Tăng nhân theo sự chỉ dạy của Căn bản Thượng sư, Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp để quán tu, hoặc tu khí, mạch, minh điểm, hoặc tu lạc, minh, không, hoặc tu vô sự, vô tâm, vô niệm, vô ngã.
Cuối cùng, ấn chứng Phật tính!


### 38. Người già mất trí


Tôi từng nghe người ta nói:
Tổng thống Ronald Reagan về già mắc bệnh mất trí nhớ. Ngay cả vợ của mình là bà Nancy cũng không nhận ra. Tuy vậy, tổng thống Reagan lại nhận ra vợ của người khác.
Ha!

Còn nữa:
A nói với B:
"Tôi mắc chứng mất trí nhớ rồi!"
B nói:
"Vậy chẳng phải là rất tốt sao?"
A hỏi:
"Vì sao lại tốt?"
B nói:
"Mỗi sáng ngủ dậy thấy người nằm bên cạnh luôn là một người phụ nữ khác nhau."
Ha!

Còn nữa:
A nói với B:
"Tôi mắc chứng mất trí nhớ rồi!"
B nói:
"Tuyệt vời quá!"
A hỏi:
"Vì sao lại tuyệt?"
B nói:
"Tiền mà ông cho người khác vay cũng không cần phải nhớ nữa!"
Ha!

Tôi (Lư Sư Tôn) nếu có mắc bệnh mất trí nhớ, trở thành một người già mất trí, tôi tự ngẫm thấy cũng không tồi đâu!
Vì sao lại không tồi?
Vô sở trụ.
Vô sở đắc.
Vô sở vị.
Vô sự.
Vô tâm.
Vô niệm.
Vô ngã.
Dường như trong một sát-na đã chứng đắc được tất cả mọi thứ, ha ha ha!

Tôi sẽ từ vạn thứ quy về một thứ, từ một thứ quy về số 0, tất cả của tất cả đều nằm trong sự tịch diệt.
Không cần phải thuyết pháp, không cần tu pháp, không cần vẽ tranh, không cần viết sách, không cần làm gì cả, tất cả đều vô vi.
Ăn cơm.
Đi ngủ.
Chờ chết.
Không còn nhãn nhĩ tị thiệt thân ý, không còn sắc thanh hương vị xúc pháp, vô tri vô giác, không còn tham sân si nghi mạn, không còn sắc thọ tưởng hành thức, không còn tài sắc danh thực thụy. Không yêu không ghét, không giữ không bỏ.
(Khả năng là chỉ còn mỗi việc ngủ.)
Như vậy có tốt không?
Hay là không tốt?
Để cho mọi người phát biểu ý kiến vậy!

Tôi nhớ có một bài thơ:
*"Sống nơi chẳng có người,
Bàn thờ đã chờ sẵn,
Ta chín chục già khô
Chỉ còn quả tim sống.
Tóc trắng buông chẳng cạo,
Mắt xanh cười thâm sâu,
Trỏ trăng tít trên trời,
Vì ta cởi khuy áo."*

Tôi nói:
Vị tăng nhân 90 tuổi này vẫn còn có thể đưa tay chỉ trăng, còn có thể tạm cởi khuy áo, đã là không tồi rồi. Còn tôi thì sao? Không thể sinh tâm, không thể chỉ trăng, không thể cởi khuy áo, vậy tôi thì thế nào?
Chỉ có bộn bề mênh mênh mang mang!


### 39. Sống khổ chết vui


Nguồn gốc của kinh Pháp Cú là như thế này.
Trong tăng đoàn của Đức Phật, vì có sáu nhóm tì kheo trong lúc cùng chung sống thường chệch ra khỏi chính đạo, thế nên Phật Đà thường lấy mẩu giấy nhỏ, viết lên mấy chữ, để nhắc nhở những tì kheo và tì kheo ni đã chệch ra khỏi chính đạo.
Pháp ngữ nhắc nhở của Phật Đà đã tạo thành kinh Pháp Cú.

Kinh Pháp Cú có một câu: "Sống khổ chết vui".
Câu nói này không giống với cách nghĩ của con người thế tục, bởi vì con người trên thế gian này đại bộ phận đều "thích sống ghét chết".
Cầu sống thì nhiều, cầu chết thì ít.
Cho rằng: "Sống vui chết khổ".
Cho rằng khi còn sống là vui vẻ, còn khi chết là đau khổ.

Thật ra thì điều này không đúng.
Người học Phật chúng ta quan niệm rằng "sống khổ chết vui", không phải là "sống vui chết khổ".
Vì sao như vậy?
Bởi vì chúng ta biết rằng:
Chư hành vô thường.
Chư pháp vô ngã.
Niết bàn tịch tĩnh.
Sau khi chúng ta chết rồi sẽ đến thế giới Cực Lạc, có thể đến Ma Ha Song Liên Trì, có thể đến Phật quốc tịnh thổ.
Do vậy mà:
"Chết là vui!"

Còn vì sao sống lại khổ?
Bởi vì con người thế tục luôn mong cầu sống lâu, cầu thân thể khỏe mạnh, cầu giàu có, cầu gia đình viên mãn, cầu con cái giỏi giang, cầu hôn nhân tốt đẹp, cầu sự nghiệp có tiền, cầu danh lợi thành công…

Tuy nhiên, chúng ta biết rằng:
"Đó là những thứ không thể nào có, bởi vậy, cầu không được thì sẽ đau khổ, bởi vậy sống là khổ."

Trong kinh Niết Bàn có một bài kệ:
*"Mọi thứ trên cõi đời, người sống đều sẽ chết, thọ mệnh dù thênh thang, đến cuối cùng cũng cạn, người thịnh tất sẽ suy, gặp gỡ rồi ly biệt, tuổi trẻ chẳng được lâu, bệnh tật đang ập tới, biển khổ là vô bờ, lưu chuyển chẳng dừng lại, tam giới đều vô thường, chẳng thể có được vui."*
Đây là minh chứng cho việc "sống khổ".

Lư Sư Tôn tôi đã được rất nhiều vị cao tăng tặng cho các bài kệ, đều minh chứng cho việc "sống khổ chết vui".

Thơ của hòa thượng Tông Diễn triều Nguyên:
*"Mưa rơi trời nhỏ lệ,
Sấm rền tiếng khóc than,
Các đệ tử Tây phương
Vây quanh xe ngựa đến."*

(Phật đến tiếp dẫn đệ tử đi về thế giới Cực Lạc.)

Thơ của hòa thượng Liễu Cải triều Minh:
*"Tuổi đã tám mươi bảy,
Thời nay xem như hiếm,
Buông tay trước Uy Âm,
Trời xanh tiếng chim vàng."*

(Uy Âm Phật đến tiếp dẫn, quá siêu!)

Thơ của hòa thượng Nguyên Trường triều Nguyên:
*"Thường ngày hay nói,
Hôm nay chịu rồi
Một câu vang trời
Nhãn tàng chính pháp."*

(Nhãn tàng chính pháp, chứng đắc Phật tính rồi!)

Tôi nói:
"Không can hệ,
Tự do nhất,
Tự tại nhất,
Vui vui vui."
(Vạn vạn tuế, ai là người biết ta?)


### 40. Duy "Ngã" độc tôn


Phật Đà từng nói:
"Duy ngã độc tôn!"
Đó là khi Phật Đà vừa mới xuất thế tại vườn Lâm Tỳ Ni, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất. Nói một câu: "Duy ngã độc tôn!"

Rất nhiều người đã phê bình rằng câu nói "duy ngã độc tôn" này chẳng phải là quá kiêu căng ngạo mạn sao.

Cũng có người nói:
"Chẳng phải Phật Đà giảng về pháp "vô ngã" sao? Vậy thì sao lại nói là “duy ngã độc tôn”? Như vậy là có mâu thuẫn với nhau."

Có người hỏi tôi:
"Duy ngã độc tôn, thật kì lạ! Lư Sư Tôn, ngài giải thích thế nào đây?"
Tôi đáp:
Cái "Ngã" ở đây là nghĩa rộng, không phải là nghĩa hẹp.
Không phải là chỉ một cá nhân Phật Đà.
Cái "Ngã" được nói đến ở đây là chỉ:
Ý thức vũ trụ.
Phật tính.
Không tính.
Tâm tính.
Vô lượng chư Phật.
...

Bởi vậy, những vị đại đức Thiền tông, khi biểu hiện cái "Ngã" thì:
Có người chỉ duỗi một ngón tay.
Có người chỉ đưa ra nắm đấm.
Phật Đà thì nhón một cành hoa.
Có người thì uống một hớp nước.
Có người chỉ đứng thẳng như cây gậy.
Như tôi thì là "kim kê độc lập".
Đại sĩ Duy Ma Cật thì chỉ im lặng.

Đây đúng là:
Hoa phi hoa.
Sương phi sương.
Ngã phi ngã.
Thị phi thị.

Hòa thượng Viên Ngộ triều Minh có để lại ba bài kệ:
*"Du tăng lăn mình trong bốn biển,
Ngang nhiên hướng về núi Tu Di,
Trời cao vời vợi nheo mắt ngắm,
Trông xuống mười phương dõi sự đời."*

Và:
*"Bao người ngạo nghễ độc mình ta,
Độc tôn quản chi những lùm xùm
Bao nhiêu cái đầu đều chẳng khác
Đại địa càn khôn nuốt trọn luôn."*

Và:
*"Thập phương thế giới ta nằm ngủ,
Đông tây nam bắc có lo gì,
Duy ngã độc tôn luôn thể hiện,
Người đến hỏi ta chỉ giơ quyền."*

(Ba bài kệ này đều đã giải thích rõ ràng bốn chữ "duy ngã độc tôn" rồi.)

"Duy ngã độc tôn.
Nhìn xuống thập phương.
Duy ngã độc tôn.
Càn khôn nuốt trọn.
Duy ngã độc tôn.
Chỉ giơ nắm đấm.
Duy ngã độc tôn.
Hiện thân toàn bộ."

Có người hỏi tôi:
"Ngài nói là nghĩa rộng, chứ không phải là nghĩa hẹp. Nếu như là nghĩa hẹp thì ngài (Lư Sư Tôn) nói thế nào đây?"
Tôi đáp:
"Trâu đất vào biển."
Người hỏi:
"Nghĩa là gì?"
Tôi đáp:
"Ba cân vừng."
Người hỏi:
"Không hiểu?"
Tôi đáp:
"Trước đình một cây bách." (Xin mời các thánh đệ tử trả lời!)


### 41. Lời bình về di kệ


Khi gần kề lúc lâm chung, các hòa thượng sắp viên tịch thường để lại một vài lời kệ cuối cùng, trong đó có rất nhiều pháp vị. Tôi đặc biệt chọn ra một vài vị, kèm thêm vài lời bình nhỏ của tôi để mọi người đọc thử xem.

(1)

Hòa thượng Như Tịnh, triều Tống.
*"Sáu mươi sáu năm, tội trạng đầy rẫy,
Nhón chân nhảy xuống, sập hố hoàng tuyền.
Ấy! Trước nay sinh tử chẳng liên quan."*

Tôi bình luận:
Kinh viết: chỉ cần khởi lên một ý niệm thì không có gì là không tạo nghiệp, bởi vậy nghiệp chướng vô cùng nặng. Tuy nhiên, chỉ cần nhận thức được: mây là mây, mặt trời là mặt trời, vốn dĩ không có liên quan gì. Mật giáo thì cần nhận thức được về "ánh sáng". Cũng tức là "dung nhập".

(2)

Hòa thượng Hoành Trí, triều Tống.
*"Mộng huyễn không hoa, sáu mươi bảy năm,
Chim trắng mịt mờ, thu thủy miên man."*

Tôi bình luận: đời người vốn là một giấc mộng, đời người vốn là một sự huyễn ảo, 67 năm là một giấc mộng lớn mà thôi!
Mặt trời xuống núi tây.
Sông nước cũng nối liền với trời.
Ha! Trước nay sinh tử cũng là vô sự, vô tâm, vô niệm, vô ngã.

(3)

Hòa thượng Hạnh Đoan, triều Tống.
*"Vốn chẳng sinh diệt, đâu có đến đi,
Sông băng bốc cháy, vạn tuế nở hoa."*

Tôi bình luận:
Thật sự có thể hiểu thông suốt: không sinh, không tử, không đến, không đi.
Thế nào là như lai? Là hình như có đến.
Thế nào là như khứ? Là hình như có đi.
Chính vì như vậy mới có sông băng phát lửa, cây vạn tuế nở hoa.
Sinh cũng là không.
Tử cũng là không.
Sinh tử đều không.
Còn lại trống rỗng.

(4)

Hòa thượng Thanh Củng, triều Tống.
*"Núi xanh chẳng cần một xác chết,
Chết rồi khỏi cần đào hố chôn.
Ta cũng không đòi tam muội hỏa,
Một đống củi khô là đủ rồi."*

Tôi bình luận: bài thơ này, bề ngoài thì cũng chẳng có gì! Cũng giống như là chuyển giao một cái bánh nướng vậy. Nhưng, pháp vị trong bài thơ này chính là:
Cứ kệ ta đi.
Mặc kệ đi!

(5)

Hòa thượng Tòng Duyệt, triều Tống.
*"Bốn mươi lẻ tám, thánh phàm giết sạch,
Chẳng phải anh hùng, rồng trượt đường trơn."*

Tôi bình luận:
Câu "thánh phàm giết sạch" phải là người đã ngộ thấu mới có thể nói được như vậy.
Trên không còn Phật quả nào để thành tựu.
Dưới không còn chúng sinh nào để mà độ.
Đây chính là thánh phàm đều giết sạch!
Tôi chỉ có lời khen rằng: "Độc diệu"!

(6)

Hòa thượng Sở Thạch, triều Tống.
*"Chân tính viên minh, vốn chẳng sinh diệt,
Ngựa gỗ kêu đêm, bình minh đằng tây."*

Tôi bình luận: vốn dĩ không có sự vật nào, thì làm gì có bụi bặm.
Chỉ còn biết nói:
Ngựa gỗ kêu.
Mặt trời mọc ở núi tây.
Còn có mai rùa mọc lông, thỏ mọc sừng.
Ngay cả viết ra bài kệ này cũng là một việc thừa thãi!
Thầy tôi nói: thanh tịnh!
Tôi nói: không can hệ!
Xem ra cũng là vẽ rắn thêm chân, trên đầu chính là đầu, chẳng có cái gì cả!


### 42. Bài tụng Tứ niệm xứ mà tôi thích nhất


Chúng ta biết rằng Tứ niệm xứ là "quán thân bất tịnh", "quán thọ là khổ", "quán tâm vô thường", "quán pháp vô ngã". Bài tụng Tứ niệm xứ do cư sĩ Chu Mộng Nhan sống ở triều Thanh sáng tác ra. Thơ của ông tươi mới, hơn nữa còn dễ hiểu, đọc lên thuận miệng, khiến tâm tôi xúc động. 

Tôi đặc biệt trích dẫn như sau:

**Quán thân bất tịnh.**
*"Vừa sinh ý điên đảo,
Liền có huyễn duyên thân.
Máu mủ thường lẫn lộn,
Luôn đầy mùi tanh hôi.
Giấy dính vào da thịt,
Gai quấn chặt xương cốt,
Lông phủ như cỏ mọc,
Dòi bọ sống từng bầy.
Nội tạng đều hôi thối,
Quần áo cũng tầm thường.
Tứ đại vốn chẳng thật,
Ai có thực căn cơ.
Ngôn ngữ tự vang lên,
Cùng vận chuyển theo khí.
Cường hào vì nam nữ,
Hư danh lập chủ khách.
Ba thước đất trăm năm
Một đống cát vĩnh hằng.
Nghĩ lại sang hay hèn,
Hiền ngu đều hối hận.
Chờ sinh rồi lại chết,
Ai biết người trước đây."*

(Phật nói: thân người là ổ dòi bọ.)

**Quán thọ là khổ.**
*"Khổ đau từ đâu đến,
Vì thọ giả sinh tình.
Vừa bắt đầu yêu ghét,
Giữ bỏ đã rối ren.
Vừa thịnh đã lại suy,
Không vinh sao có nhục.
Vì thân mà có oán,
Buồn sinh ra từ vui.
Nhà Vương, Tạ đâu còn,
Nước Lưu, Tào đã tan.
Buồn vui mấy giấc mộng,
Thắng thua một ván cờ.
Sự đời chẳng như ý,
Nghèo với bệnh cặp kè.
Thần tài gọi chẳng đến,
Quỷ nghèo đuổi chẳng đi.
Gần gũi có ích gì,
Chuyện bất bình khó nói.
Chẳng cầu chi sang hèn,
Biết đủ thiếu vẫn thừa.
Nếu ngộ được chân lý,
Buồn vui dứt mầm sinh."*

(Phật nói: nhà cháy.)

**Quán tâm vô thường.**
*”Vọng tâm thường biến đổi,
Thể tướng không cố định.
Như ánh nến bập bùng,
Như sóng nước lăn tăn,
Mỗi gia đình mỗi khác,
Hơn sáu người anh em,
Người nào cũng hỗn loạn,
Luôn ồn ào bất hòa.
Thoắt cái đã đổi ý,
Chuyển biến bất thình lình.
Mới thơm tho đã thối,
Mới ngọt ngào đã nhạt.
Nóng lạnh dễ đổi dời,
Yêu ghét thường bất công.
Cảnh diệt thì tâm an,
Tình quên thì trí vững.
Chôn vùi năm thứ dục,
Đóng chặt hết lục căn.
Giặc lại về làm vua,
Chim thoát khỏi lồng lưới.
Khi giác ngộ thường trụ,
Vọng tưởng cũng tiêu tan."*

(Phật nói: tâm vô sở đắc.)

**Quán pháp vô ngã.**
*”Mọi pháp do duyên khởi
Ban đầu là vô ngã,
Nhân duyên có sinh diệt,
Ý niệm liền đổi thay.
Mong được lại thành mất,
Cầu nhàn lại thành bận.
Lo đông lạnh không dứt,
Lo hè nóng kéo dài.
Nghèo lại nhớ lúc vui,
Già cứ hoài tuổi trẻ,
Dù ghét vẫn phải theo,
...
Tự tại thêm tự chủ,
Rồi sẽ lại qua đi.
Rời gốc niệm không khởi,
Vô thức cảnh cũng quên.
Trong ngoài đều chẳng có,
Ở giữa có tiềm tàng.
...*

(Phật nói: vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng.)

Tôi nói:
Bài tụng Tứ niệm xứ này là:
Quán bất tịnh.
Quán nhà cháy. (xuất ly)
Quán vô thường.
Quán vô ngã.
Đây cũng chính là chân đế của đời người, người thế tục bám chấp vào "tài sắc danh thực thụy" huyễn ảo mà chẳng biết đến chân đế, do vậy mới luân hồi mãi trong sinh tử. Người có đạo nhắc nhở thế nhân chân đế của Tứ niệm xứ, do vậy có thể tự mình chứng ngộ như một vị vua đại giác.


### 43. Tìm hiểu sâu về công án


"Truyền Đăng Lục" có viết:
Tăng nhân hỏi thiền sư Triệu Châu:
"Con chó có Phật tính không?"
Thiền sư Triệu Châu đáp:
"Không."
Và:
Tăng nhân hỏi thiền sư Duy Khoan, đệ tử của thiền sư Mã Tổ:
"Con chó có Phật tính hay không?"
Duy Khoan đáp:
"Có."
Tăng nhân hỏi:
"Hòa thượng có không?"
Duy Khoan đáp:
"Ta không có."
Tăng nhân lại hỏi:
"Tất cả chúng sinh đều có Phật tính, vì sao hòa thượng lại không có?"
Duy Khoan đáp:
"Ta không phải là tất cả chúng sinh."
Tăng nhân lại hỏi:
"Không phải là tất cả chúng sinh thì là cái gì?"
Duy Khoan đáp:
"Cũng chẳng phải là cái gì."
Tăng nhân nói:
"Chỉ có ngẫm nghĩ mà đắc được giác ngộ sao?"
Duy Khoan đáp:
"Suy nghĩ nhưng không bì kịp, nhận biết nhưng không thể đắc, nên là bất khả tư nghì."

🌟

Triều Minh. Hòa thượng Vô Uấn viết một bài kệ:
*"Chó chẳng có Phật tính,
Sắc xuân ngập hoàng cung.
Triệu Châu ở Đông Viện,
Hồ lô treo trên tường."*

🌟

Có người vì công án này mà đến hỏi Lư Sư Tôn:
"Con chó có Phật tính hay không?"
Lư Sư Tôn đáp:
"Có."
Người hỏi:
"Vì sao lại có?"
Lư Sư Tôn đáp:
"Phật Đà nói chúng sinh đều có Phật tính."
Tôi nói với người này rằng, ngày mai anh hãy đến hỏi tiếp.

Ngày hôm sau, người này lại hỏi:
"Con chó có Phật tính hay không?"
Lư Sư Tôn đáp:
"Không."
Người này sửng sốt:
"Hôm qua nói có, hôm nay nói không, như thế là trong bình hồ lô bán thuốc gì?"
Lư Sư Tôn đáp:
"Con chó vốn có Phật tính, nhưng cả đời con chó đều không biết rằng nó có Phật tính, do vậy có cũng như không, hiểu chưa?"
Người này nói:
"Đã hiểu!"

Người này xoa xoa đầu nói:
"Vậy thì thiền sư Duy Khoan nói ông ấy không có Phật tính, lại nói ông ấy không phải là tất cả chúng sinh, cũng không phải là một cái gì cả, vậy việc này là thế nào?"
Lư Sư Tôn đáp:
"Đây chính là thiền!"
Người này nói:
"Không hiểu!"
Tôi nói:
"Anh đi hỏi thiền sư Duy Khoan đi!"
Người này nói:
"Thiền sư Duy Khoan đã thành người thiên cổ từ lâu rồi!"
Tôi hỏi:
"Thiền sư Duy Khoan bây giờ là gì?"
Người này đáp:
"Bây giờ ông ấy chẳng là cái gì cả."
Tôi nói:
"Nói đúng rồi đó!"


### 44. Một bài thơ thanh mát


Hòa thượng Chính Ấn triều Nguyên có một bài thơ "Tùng Nguyệt am tán", tôi đọc xong, trong lòng cảm thấy rất thanh mát.

Hòa thượng Chính Ấn thuộc pháp hệ của phái Lâm Tế tông Hổ Khưu, nếu như luận ra thì tôi (Lư Sư Tôn) cũng thuộc pháp hệ của phái Lâm Tế tông Hổ Khưu, chúng tôi có tình bằng hữu cùng tông cùng phái.

Ngoài ra:
Hòa thượng Chính Ấn là người Liên Giang, Phúc Kiến, ông nội tôi (Lư Sư Tôn) là người Phần Dương, Phúc Kiến, về sau di cư đến Liên Giang, Phúc Kiến, cũng có tình đồng hương.

Bài thơ "Tùng Nguyệt am tán" này tôi rất thích. [bài thơ ca ngợi về mái lều có tên Tùng Nguyệt.]

Thơ rằng:
*"Am nhỏ của ta gọi Tùng Nguyệt,
Là trăng sáng tỏ thông trường tồn.
Đông tây nam bắc chẳng ràng buộc,
Có trăng có tùng là nghỉ ngơi.
Ôm tùng hỏi tùng tùng không nói,
Ngẩng đầu hỏi trăng trăng điềm nhiên.
Nhóm củi đun nước mời trăng sáng,
Lòng ta với trăng cùng cô viên.
Trăng thường dạo quanh núi Tu Di,
Bàn tay Tu-la không giả dối,
Khi khuyết...
Khi tròn...
Vĩnh Gia chứng đạo từng miêu tả,
Trăng tỏ trên sông gió lay tùng.
Hàn Sơn lặng nghe tiếng càng hay,
Mã Sư thưởng ngoạn thêm huy hoàng.
Có ai biết được sống trong am,
Chẳng đi chẳng đến chẳng bám trụ,
Đến đi như thể trăng trên trời,
Dừng lại như thể gió qua cây.
Am này chẳng tồi cũng chẳng tốt,
Chỉ độc thân già sống qua ngày.
Hoa tùng ngắt xuống là ăn được,
Gió thổi ngọn tùng hoa quế bay.
Hiển nhiên đất nước có mát lành,
Tùng tự xanh tươi trăng thường tỏ.
Thơ này truyền lại lòng thanh bạch,
Quy tắc mẫu mực con cháu noi."*

Bài thơ này nhắc đến:
Thiền sư Vĩnh Gia.
Hàn Sơn Tử.
Thiền sư Mã Tổ Đạo Nhất.
Thiền sư Vĩnh Gia có bài "Chính đạo ca" truyền lại cho hậu thế.
Hàn Sơn Tử có "Thi tập".
Mã Tổ Đạo Nhất có "Công án chơi trăng".
Đọc bài thơ này có một cảm giác vô cùng thân thiết!

Tôi còn nhớ Âu Dương Tu có một bài thơ "Vọng Giang Nam".
*"Liễu Giang Nam,
Hoa lá bao mềm mỏng.
Cánh hoa rơi vương trên chén rượu,
Nhành liễu rủ phủ trên đầu người.
Mỗi cây đều thướt tha.
Trăng Giang Nam,
Như gương, như khuyên tròn
Như mặt gương sáng không chút bụi,
Như khuyên tròn chẳng treo rèm hoa.
Mãi soi sầu ly biệt."*

(Vị Âu Dương Tu này nói mặt trăng như tấm gương tròn, trăng như móc treo rèm, còn nhắc đến cả chữ "sầu".)
Đây là những tình cảm của thi nhân.

Ông còn có một bài thơ.
*"Trăng non uốn mình soi loan kính.
Tóc mây trâm phượng chẳng buồn cài.
Rèm châu lặng.
Trở về lầu.
Cảm thương hoa rơi gió chẳng ngừng.
Khói xanh mờ lối liễu.
Giếng nào vọng tiếng gàu kéo nước,
Đêm qua canh khuya tỉnh rượu.
Xuân sầu hơn cả bệnh sầu."*

Có người từng hỏi tôi:
"Cái gì là tục đế? Cái gì là Thánh đế?"
Tôi trả lời ở đây rằng:
"Bài thơ "Tùng Nguyệt am tán" của hòa thượng Chứng Ấn là Thánh đế, bài thơ "Vọng Giang Nam" của Âu Dương Tu chính là tục đế."
Có người hỏi:
"Hai đế Thánh - tục này hòa hợp với nhau ra sao?"
Tôi đáp:
"Song vận."
Hành giả chúng ta dựa vào thế tục đế để độ người khác tiến nhập vào Thánh nghĩa đế, đây chính là "trung quán".


### 45. Bài thơ tuôn chảy từ ý thức


Tôi từng muốn làm một thi nhân.
Trong những năm tháng thanh niên, tôi đã viết rất nhiều thơ, gửi bản thảo đến rất nhiều tờ báo và tạp chí.
Tập thơ đầu tiên của tôi là: "Tuyển tập khói mỏng."

Mấy ngày nay, tháng 5 năm 2020, tôi trăn trở với một tin tức được gửi đến. Chủ biên Hạ Lục Đế của tạp chí Dã Phong mà tôi thường gửi bản thảo đến thời tôi còn trẻ, có nhắn cho tôi một tin rằng:
"Sẽ trao cho tôi một giải thưởng Danh Dự."
Tôi nghe xong, thinh lặng!
Tạp chí Dã Phong, tạp chí của hơn 50 năm trước.
Lục Đế là chủ biên.
Tôi cảm thấy có một cảm giác xúc động ấm áp. Trời ơi! Hơn 50 năm trước, đã hơn 50 năm trôi qua rồi.
Vinh dự.
Kiệt xuất.
Thù thắng.
Đối với một lão tướng trên văn đàn là tôi đây, mọi thứ dường như vô cùng xa xôi rồi, nhưng cũng lại giống như ở ngay trước mắt.
Hiện tại, thế giới đang có dịch bệnh.
Tôi ở Mỹ.
Đợi đến khi dịch bệnh qua rồi sẽ bàn vậy!
Đối với tạp chí Dã Phong, đối với chủ biên Lục Đế, tôi có một thứ tình cảm như hư vô lúc có lúc không.

🌟

Có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Ngài viết thơ gì vậy?"
Tôi đáp:
"Thơ theo dòng chảy ý thức."
Người hỏi:
"Cái gì là dòng chảy ý thức?"
Tôi đáp:
"Tâm linh."
Người hỏi:
"Có thể giải thích rõ hơn không?"
Tôi nói:
"Được thôi! Tôi sẽ nói ngắn gọn!"

Dòng chảy ý thức chính là những cảm xúc tâm lý.
Tình cảm và tư tưởng bỗng nhiên lóe lên, thế rồi thi nhân sẽ biến những ý tưởng đột nhiên lóe lên này thành văn tự.
Tôi nói:
Nhân loại chúng ta có ý thức.
Người máy và máy tính thì không có ý thức.
Người máy có các chức năng, nhưng lại thiếu mất ý thức.
Nhà triết học người Pháp Descartes nói:
Chỉ có nhân loại mới có cảm giác và khát vọng, ví dụ như đau khổ, hạnh phúc, căm phẫn, yêu thương.
Tôi không dám nói các động vật khác thì không có, nhưng ý thức chủ thể trong bộ não con người, khi đem so sánh với động vật thì ưu việt hơn, chí ít là trên phương diện trí tuệ và năng lực thì có thể nói như vậy.
Tái hiện.
Tiêu biến.
Đều là dòng chảy ý thức!

Hòa thượng Trí Uy triều Tùy có bài thơ:
*"Đừng biến những nhớ nhung,
Thành dòng sông sinh tử,
Biển luân hồi lục thú,
Chẳng nhìn ra sóng dài."*

Và:
*"Bản tính ta hư vô,
Vì ngông sinh nhân ngã,
Làm sao dứt vọng tình?
Trở về chốn hư không."*

(Hai bài thơ này bàn về niệm và vô niệm, cũng là thơ về dòng chảy ý thức.)
Niệm là dòng chảy ý thức.
Chỉnh đốn ý niệm rồi, ý thức thành một thể, rồi ý thức thành hư không.


### 46. Tôi vẫn niệm A Di Đà Phật


Sư tỉ Hân Nghi gửi cho tôi một "truyện cười không phải truyện cười".
Nội dung như thế này:
Có một thầy giáo đã về hưu nhiều năm bị cháu gái phê bình là quá lạc hậu, mắc chứng bệnh mà theo ngôn ngữ hiện đại ngày nay là hội chứng diễn đạt khó khăn.
Thế là cháu gái liền đưa ra câu hỏi để người ông đã về hưu này trả lời.

Cháu gái hỏi:
"Tổ chức buổi họp ngày nay gọi là gì?"
Người ông nghĩ một lúc rồi đáp:
"Họp thì gọi là họp chứ gì."
Cháu gái nói:
"Sai! Phải gọi là diễn đàn."
Cháu gái hỏi:
"Gầy còm ngày nay gọi là gì?"
Người ông nói:
"Gầy còm thì là thân thể suy yếu chứ gì."
Cháu gái nói:
"Sai! Phải gọi là mình dây."
Cháu gái hỏi:
"Người đẹp già rồi thì bây giờ gọi là gì?"
Người ông đáp:
"Ngọc châu có tuổi."
Cháu gái nói:
"Sai! Là gái đẹp thâm niên."
Cháu gái hỏi:
"Phụ nữ có chồng ngoại tình bây giờ gọi là gì?"
Người ông đáp:
"Chẳng phải là hồng hạnh xuất tường sao?"
Cháu gái nói:
"Sai! Gọi là phụ tình."
Cháu gái hỏi:
"Ý kiến thống nhất gọi là gì?"
Người ông đáp:
"Ý kiến thống nhất thì vẫn là ý kiến thống nhất."
Cháu gái nói:
"Sai! Gọi là cùng chung nhận thức."
Cháu gái hỏi:
"Anh và tôi cùng có lợi thì nói thế nào?"
Người ông đáp:
"Lợi ích đôi bên."
Cháu gái nói:
"Sai! Gọi là *win-win*."
...

Ngôn từ của con người hiện đại ngày càng hiện đại, người thế hệ trước như chúng ta có nhiều điểm thật sự không hiểu được.
Ví dụ:
Muah: hôn.
Ya-pi: làm bộ dễ thương.
Tinh-tinh: có tiền rồi.
520: em yêu anh.
9420: chỉ có yêu anh. ()
Ha ha ha!
[(*) sử dụng hiện tượng đồng âm khác nghĩa trong tiếng Trung.]

🌟

Thế nhưng, bất kể là ngôn ngữ thay đổi thế nào, từ xưa tôi niệm A Di Đà Phật, đến nay vẫn niệm A Di Đà Phật, hoàn toàn không có gì thay đổi. Mặc dù ngày nay tôi tu Kim cương thừa (Mật tông), nhưng pháp mà tôi tu là A Di Đà Phật Bổn tôn pháp.
Niệm Phật vĩnh viễn không thay đổi.

Hòa thượng Hoài Thâm triều Tống có hai bài thơ:
*"Muôn người một lòng niệm Di Đà,
Cùng nhau hợp lực nguyện lực tăng,
Một đóa sen nở tự kiến Phật,
Mới hiểu tịnh độ vượt Ta Bà."*

🌟

*"Sơn lân thủy điểu cùng tán dương,
Bảo võng kim đài khắp đạo tràng.
Chuông lớn ngân vang cùng trống gõ,
Di Đà khắp chốn hiện hào quang."*

Tôi niệm:
"Vãng sinh tịnh thổ.
Vượt sinh thoát khổ.
Nam Mô A Di Đà Phật."


### 47. Kiểm nghiệm hạt xá lợi


Trước tiên, tôi công bố một bức thư:

Đảnh lễ Căn bản Truyền thừa Thượng sư Thánh tôn Liên Sinh Hoạt Phật.
Con xin chào Sư Tôn, Sư Mẫu!
Bố của con là Liên Hoa Thúc Tiêu, sinh ngày 15 tháng 12 năm 1924, vào lúc 2 giờ chiều ngày mồng 1 tháng 5, trong giấc ngủ đã an lành bình thản ra đi, hưởng thọ 97 tuổi.

Vào buổi sáng ngày 30 tháng 4, ông được chuyển từ viện dưỡng lão vào bệnh viện, và liên tục ở trong trạng thái hôn mê. Sau đó, bệnh viện chẩn đoán rằng các chức năng của cơ thể đã suy kiệt, trong vòng hai ngày sẽ qua đời, hãy thông báo cho người nhà đến gặp mặt lần cuối. Vì tình hình dịch bệnh nên chúng con chỉ có thể gặp mặt thông qua gọi video.

Buổi sáng ngày mồng 1 tháng 5, con vội vàng chạy vào bệnh viện thăm bố, thấy ông vẫn đang say ngủ, sắc mặt vẫn hồng hào. Thế là con ghé vào bên tai bố, không ngừng dặn dò ông rằng ông phải nhớ hãy theo ánh sáng trắng của Sư Tôn, Kim Mẫu và Phật Bồ Tát mà đi, không được đi cùng với những bạn bè thân thích đã qua đời. Một mặt con niệm tâm chú của Sư Tôn, một mặt con dùng điện thoại mở video Sư Tôn dùng tay gia trì, không ngừng gia trì cho ông, mãi cho đến 1 giờ rưỡi chiều con mới rời đi. Nhưng khi còn vừa bước vào cửa nhà mình thì đã nhận được thông báo của bệnh viện là ông đã bình thản ra đi lúc 2 giờ rồi.

Điều đầu tiên con làm là vào đàn thành trong nhà thắp hương báo cáo với Sư Tôn, cầu thỉnh Sư Tôn, Phật Bồ Tát từ bi tiếp dẫn bố con vãng sinh, và báo tin đến cho pháp sư ở Bạch Vân Lôi Tạng Tự nhờ chuyển fax đến Chân Phật Mật Uyển.

Sau đó, chúng con lập tức đến bệnh viện, rồi dặn dò bệnh viện trong vòng 8 giờ vàng không được dịch chuyển di hài của ông. Vì tình hình dịch bệnh nên mọi người không thể cùng lúc vào tiễn ông, chỉ có thể mỗi lần một người vào. Con là người vào cuối cùng, con vẫn luôn không ngừng trì niệm tâm chú Sư Tôn, Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, chú Vãng sinh, hồi hướng cho bố con, liên tục trì tụng suốt ba giờ. Trong lúc trì chú, con không ngừng cảm nhận thấy lực gia trì của Sư Tôn và Phật Bồ Tát, toàn thân con tràn đầy cảm giác ấm áp. Hơn nữa con còn nhận thấy sắc mặt của bố con bắt đầu trở nên hồng hào, giống như đang ngủ lúc bình thường vậy. Khi y tá vào để lau rửa làm sạch thân thể của bố con lần cuối cùng, phát hiện ra thân của ông vẫn còn mềm. Cuối cùng, con nhìn theo những nhân viên của nhà tang lễ đến đưa ông đi.

Bố con suốt một đời gặp nhiều khó khăn vất vả, khi còn trẻ bị lôi vào quân đội làm lính, trải qua chiến trường thập tử nhất sinh, khổ sở cùng cực. Cả đời ông là người ngay thẳng lương thiện, tràn ngập yêu thương quan tâm đến mọi người, có trách nhiệm và tận tụy.

Kể từ sau khi quy y Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật, hơn 20 năm nay ông luôn kiên trì bền bỉ tu trì. Mặc dù tuổi đã cao nhưng ông vẫn dành ra hai giờ mỗi ngày nghiêm túc thực hành công khóa, 6 rưỡi tối lên giường đi ngủ, 2 giờ sáng dậy trì niệm một biến Chân Phật Kinh, ba biến Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, và Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, Kim Mẫu tâm chú. Ngày nào cũng như vậy, rất kiên trì. Ông thường nói rằng ngày nào mà chưa làm công khóa thì ngày đó cảm thấy không thoải mái.

Ngày mồng 7 tháng 5, bố con được đưa đi mai táng. Mặc dù tình hình dịch bệnh nhưng vẫn cảm ơn Thượng sư Liên Minh và các pháp sư, trợ giảng, đồng môn ở Bạch Vân Lôi Tạng Tự đã nhiệt tình giúp đỡ tụng kinh hồi hướng, mọi nghi thức đều cát tường viên mãn.

Sau khi bố con được hỏa táng xong, Thượng sư Liên Minh đã đi kiểm tra, phát hiện ra trong tro của bố con có rất nhiều hạt xá lợi. Khi Thượng sư đưa hạt xá lợi đầu tiên cho con xem, trong lòng con cảm thấy dâng trào một sự xúc động, kinh ngạc xen lẫn vui mừng, đồng thời con cũng cảm thấy một sự an ủi lớn. Bố con chỉ là một đệ tử Chân Phật Tông rất bình thường, thường ngày chỉ có tụng kinh trì chú, vậy mà cũng có được hạt xá lợi, thật không thể tưởng tượng được! Điều này đã chứng minh sự chân thực và thù thắng của Chân Phật Mật Pháp, đã chứng tỏ rằng chỉ cần có thể kiên trì tin tưởng vào Căn bản Thượng sư và Phật Bồ Tát, có thể nhất tâm bất loạn, là đã có thể có được thành tựu như vậy rồi. Bố con có thể có hạt xá lợi lại càng làm cho lòng chúng con thêm kiên định với việc tu trì Chân Phật Mật Pháp.

Cảm ơn đại lực gia trì và tiếp dẫn từ bi của Sư Tôn cùng chư Phật Bồ Tát.
Cảm tạ Sư Tôn, cảm tạ Sư Mẫu.

Đệ tử Liên Hoa Ngọc Thuyền, Calgary, Canada, khấu an!
Ngày 20 tháng 5 năm 2020.

Lời bình:

Chứng nghiệm hạt xá lợi của các hành giả Chân Phật Tông rất nhiều, ở đây tôi chỉ đưa ra một bức thư để chứng minh mà thôi.
Ví dụ:
Canada, Montréal, Thượng sư Liên Hoa Ích Dân có xá lợi toàn thân, từng hạt từng hạt tròn xoe, rất sáng đẹp, gom lại được cả một túi, điều này chứng minh cho sự thành tựu của ông.
Mẹ tôi Lư Ngọc Nữ, sau khi hỏa thiêu, đồng môn đã nhặt ra được rất nhiều hạt xá lợi và hoa xá lợi, hiện nay đang được thờ tại Seattle Lôi Tạng Tự.
Trần Hiểu Phong, người phiên dịch tiếng Anh của tôi, có bố, mẹ chỉ đọc Cao Vương Kinh và trì Thượng sư tâm chú, nhưng cũng đều có xá lợi, đều là xá lợi kim cương, to bằng đầu ngón tay cái, vừa trắng vừa sáng.
Một tử tù ở nhà tù Changi, Singapore, khi sắp chết đã sám hối, quy y, trì Thượng sư tâm chú và Cao Vương Kinh, sau khi chịu hình phạt, cũng đã thu được rất nhiều hạt xá lợi. Điều này chứng minh "chỉ cần buông dao, lập địa thành Phật". Chân Phật Tông quả là thù thắng!
...


### 48. Chia sẻ của Liên Hoa Thiệu Mẫn


Bố tôi từng có lần bị nhồi máu não nguy kịch, lập tức nhìn thấy Sư Tôn phóng đại quang minh gia trì.

Chia sẻ của Liên Hoa Thiệu Mẫn. (Bản văn này trích từ Chân Phật Báo, số 1316, trang 10.)

Bố tôi (năm nay 86 tuổi), tên là Quách Hưng Chu, bình thường sức khỏe của ông khá tốt. Một ngày tháng 3 năm 2018, sau bữa trưa, ông cảm thấy hơi mệt liền đi ngủ. Ai ngờ một tiếng đồng hồ sau, người giúp việc gọi bố tôi dậy uống nước, không ngờ sắc mặt bố tôi đã sạm đen, không cử động được, miệng cũng không mở ra được. Người giúp việc sợ hãi liền gọi xe cứu thương đến đưa bố tôi vào viện cấp cứu.

Khi đó, không ngờ ông đã rơi vào trạng thái hôn mê, bệnh viện chẩn đoán là bị nhồi máu não, huyết quản bị tắc ở vùng não. Sau ba ngày dùng các loại thuốc đều không có cách nào chữa được cơn nhồi máu não của ông, bác sĩ liền thông báo tình trạng nguy kịch. Sau đó, người giúp việc mới gọi điện kêu tôi đến, kể rõ tình hình của bố tôi, tôi nghe xong vô cùng sốt ruột và không biết phải làm thế nào cả.

Thế là, tôi đã thỉnh cầu Thượng sư Liên Âu gửi thông tin và ảnh của bố tôi đến Sư Tôn cầu xin gia trì. Vốn dĩ con người bố tôi chẳng tin vào điều gì cả, cũng không tin Phật, con người vốn rất ngang ngạnh, chẳng bao giờ nghe lời khuyên của người khác. Thế nhưng vào lúc ông lâm bệnh thì tôi cũng chỉ còn cách cầu Sư Tôn cứu ông ấy thôi.

Không ngờ ông đã nhanh chóng được Sư Tôn gia trì rồi!
Vốn dĩ bố tôi không thể rời khỏi phòng chăm sóc tích cực, đột nhiên bố tôi tỉnh dậy, hơn nữa, câu đầu tiên mà ông nói là: "Tôi nhìn thấy vị đại sư của Thiệu Mẫn phóng ánh sáng rất mạnh!". Ngay cả người giúp việc chăm sóc cho ông cũng nhìn thấy trên giường bệnh của bố tôi tỏa ra rất nhiều tia sáng màu vàng kim mạnh mẽ. Lúc này, người giúp việc khẩn trương gọi điện thoại thông báo cho tôi tin tức quan trọng này.

Hai ngày sau, bố tôi đã có thể xuất viện, bác sĩ cũng không biết vì sao bố tôi đột ngột khỏe lại. Mặc dù nửa người bên trái của ông vẫn chưa thể cử động được nhưng đã có thể xuất viện rồi. Tôi nhanh chóng nhắn tin đến Thượng sư Liên Âu, nhờ chuyển lời tới Sư Tôn thông báo rằng bố tôi đã khỏe rồi, đã qua khỏi cơn nguy kịch rồi. Sau đó, Sư Tôn từ bi còn ban tặng cho một tấm phù "Kim Mẫu kim đơn" để bố tôi uống. Tôi nhận được tấm phù, lập tức bay đi Đại Lục, đích thân cho bố tôi uống phù. Thế còn bố tôi, lúc vừa trông thấy tôi thì cứ nước mắt tuôn trào, tự mình nói với tôi rằng: "Bố nhìn thấy đại sư của con đó!" Tôi nói với bố: "Con hy vọng bố sẽ niệm Thượng sư tâm chú để báo đáp ơn Phật."

Hai tuần nay, tôi đọc Chân Phật Kinh, Cao Vương Kinh, Địa Tạng Kinh cho bố tôi. Ai ngờ kì tích đã thật sự xảy ra rồi. Bố tôi đã có thể tự ngồi dậy và đi lại trong phòng được mấy bước, còn có thể tự mình ăn cơm nữa. Trước khi tôi rời đi, ông ấy còn có thể tự lên xuống ba tầng lầu, thật là kì tích...

Tôi biết rằng đây đều là nhờ sự gia trì từ xa của Sư Tôn và Kim Mẫu. Pháp lực của Sư Tôn vô biên, siêu vượt thời gian không gian, tồn tại khắp nơi, không đâu là không có. Kì tích bố tôi mắc bệnh nguy kịch nhưng đã hồi phục lần này khiến tôi vô cùng sửng sốt và xúc động. Thì ra sức mạnh gia trì vô hình thật sự là không thể tưởng tượng được, vượt rất xa phạm vi khoa học hiện đại có thể giải thích được.

Sau việc này, mùa thu năm ngoái tôi đã đi Seattle để cảm tạ Sư Tôn và cảm ơn sự gia trì của Ngài đối với bố tôi. Lần mắc bệnh nguy cấp này đều là nhờ sự gia trì của Sư Tôn mới có thể chuyển nguy thành an.

Sức mạnh gia trì của Sư Tôn đúng là bất khả tư nghì! Tôi có thể quy y Sư Tôn đúng thật là may mắn của tôi. Vào lúc tôi gặp khó khăn, bệnh tật, Sư Tôn chính là tiên đơn cứu mạng của chúng tôi, trăm lần đều linh nghiệm cả trăm. Tôi chân thành cảm ơn Sư Tôn, cũng hy vọng đồng môn chúng ta có thể tăng thêm lòng tin kiên định, kính sư, trọng pháp, thực tu, có thể bảo đảm giúp chúng ta vượt qua được những lúc nguy cấp. Thỉnh Phật trụ thế đối với chúng ta thật quan trọng làm sao.


### 49. Luật lệnh của Thần Gió


Bài viết của Liên Vy (Tôn Ái Trân).

Trung tuần tháng trước, tôi nhận được cuốn sách mới nhất của Lư Sư Tôn "Bút kí Nam Sơn Nhã Xá". Tôi rất phấn khởi, lập tức mở sách ra đọc. Đọc đến trang thứ 22 "Luật lệnh của Thần Gió", tôi lại nhớ đến trận cháy rừng lớn tại California ngày 21 tháng 10 năm ngoái. Em trai tôi là Liên Yếu, nhà ở tại Pacific Palisades, xém chút nữa đã bị ngọn lửa hoang dại thiêu trụi ngôi nhà. Bây giờ nghĩ lại tôi vẫn còn thấy rùng mình.

Tôi nhớ rất rõ ràng, ngày hôm đó sư tỉ Trần Truyền Phương và tôi đang ở trong phòng tiệc buffet Bốn Mùa để chúc mừng sinh nhật hai sư tỉ là bà Ngụy Tư Nhan và Tưởng Quan Dung. Chúng tôi bốn bà bác ở California vẫn thường cùng nhau hành hương đến Seattle lễ Phật, hoặc đi đến các nơi trên thế giới để tham gia các đại pháp hội mà Lư Sư Tôn làm chủ đàn, luôn luôn là bốn người cùng đi. Nhưng mỗi khi trở về nam California thì chúng tôi mỗi người lại bận rộn với những việc lặt vặt của gia đình, trừ phi trong bốn người có người có sinh nhật thì mọi người mới lại dành chút thì giờ để tụ tập vui vẻ một chút. Hơn nữa, mỗi lần sau khi đi ăn trưa xong, chúng tôi luôn kể với nhau nghe rất nhiều sự việc, và vẫn không nỡ chia tay, thế là chúng tôi lại cùng nhau ăn tiếp bữa tối sớm rồi mới người nào về nhà người nấy. Bởi lần này, sinh nhật của sư tỉ Ngụy và sư tỉ Tưởng chỉ cách nhau có ba ngày, do vậy năm nào hai bà cũng sẽ cùng chúc mừng sinh nhật vào một ngày.

Pacific Palisades là khu vực ven biển nằm về phía tây của trung tâm thành phố Los Angeles, phong cảnh xinh đẹp. Từ căn bếp của nhà em trai tôi nhìn ra là biển Thái Bình Dương. Phòng khách trong nhà rất rộng, em tôi không đặt bàn ghế sofa mà dùng để làm thành Phật đường.

10 giờ 40 phút buổi sáng ngày 21 tháng 10 đó, ngọn lửa lớn ban đầu thiêu rụi diện tích là một mẫu Anh. [1 mẫu Anh khoảng 4,046 m2] Trong vòng chưa đầy một tiếng, đám cháy đã lan ra đến 30 mẫu Anh. Sau khi đám cháy bùng lên, thế lửa cùng với địa hình đã tiến lên thiêu cháy những ngôi nhà trên núi. Những cư dân ở khu vực đó đều đã được yêu cầu phải đi sơ tán.

Lúc đó, em trai tôi lại không ở Mỹ, cháu gái tôi đã tận mắt nhìn thấy ngọn lửa hoang dại đã thiêu cháy đến chỉ còn cách nhà mình hai tòa nhà, liền vội vã đem theo các giấy tờ tùy thân quan trọng rồi hốt hoảng lái xe rời đi, lái thẳng đến phía nhà của tôi. Chỉ vì tôi bỏ quên điện thoại ở giữa lớp vải của ví da nên cháu tôi không thể liên lạc với tôi được. Sau đó con trai tôi nói với cháu tôi rằng tôi đã đi gặp mặt mấy người bạn thân rồi, chắc khoảng sau bữa tối mới về nhà. Thế là cháu gái tôi chỉ còn cách đến nhà bạn lánh nạn.

Cho đến khi tôi đọc được tin nhắn của cháu gái tôi cùng với tấm ảnh chụp ngọn lửa đã thiêu cháy đến rất gần nhà của em trai tôi thì lúc đó đã là 3 giờ chiều rồi. Lúc này, tâm trạng của tôi rối bời. Tôi cảm ơn sư tỉ Ngụy Tư Nhan đã nhắc tôi, để tôi có thể nhanh chóng về nhà, khẩn trương chuyển fax đến Lư Sư Tôn để báo cáo về sự việc cháy rừng, rập đầu thỉnh cầu Sư Tôn giúp đỡ mau chóng hết sức có thể. Sau khi gửi fax đi, trong lòng tôi đã yên tâm hơn rất nhiều, bởi vì Lư Sư Tôn xưa nay vẫn luôn từ bi chúng sinh, chỉ cần có khả năng thì Ngài nhất định sẽ giúp viên mãn mọi ý nguyện của chúng sinh.

Quả thực như vậy, 9 giờ tối cùng ngày, thế lửa đã được kiểm soát. Mặc dù ngọn lửa lớn vẫn chưa hoàn toàn được dập tắt, nhưng những cư dân buộc phải rời đi nay đã chuẩn bị trở về nhà. Cục phòng cháy chữa cháy Los Angeles khi đó báo cáo rằng, may mà gió đã chuyển hướng, do vậy công tác của nhân viên cứu hỏa mới có thể tiến hành thuận lợi được. Sau khi cháu gái tôi trở về nhà thì thấy trong nhà bình an vô sự. Chúng tôi đều vui mừng nghĩ rằng tất cả mọi việc này đều là nhờ có sự gia trì của Lư Sư Tôn, nếu không thì hậu quả nhất định sẽ không thể tưởng tượng được.

Đọc xong chương "Luật lệnh của Thần Gió", tôi mới hiểu rõ ràng rằng, ngày hôm đó sau khi Lư Sư Tôn biết được lời thỉnh cầu của tôi, Ngài đã chuyên tâm hết lòng niệm chân ngôn, triệu thỉnh Thần Gió hạ giáng, gió trời đã lĩnh luật lệnh pháp chỉ của Lư Sư Tôn mà mau chóng đi đến cứu viện cho vùng bị ngọn lửa lớn tàn sát, nhà của cậu em tôi mới được chuyển nguy thành nan và bảo tồn được.

Tôi vô cùng cảm động nghĩ: tôi quy y Sư Tôn đã hơn 35 năm rồi. Đi trên con đường này, trong cuộc đời tôi cũng đã gặp phải không ít những bấp bênh, khốn khó, và sự vô thường của cảnh người thân lần lượt qua đời. Nhưng nhờ được Lư Sư Tôn gia trì, cuối cùng tôi đã có thể bình thản, yên định, và ung dung mà bước đi. Tôi cảm ơn mình đã có nhân duyên phúc đức được làm đệ tử của Lư Sư Tôn, và trước sau tôi luôn trân quý pháp duyên của Chân Phật. Trên con đường cung kính tu trì, tôi vui mừng vì mình đã tìm được giá trị chính yếu của cuộc đời, hơn nữa ngày ngày đều cảm thấy pháp hỷ tràn đầy.

Mỗi ngày sau khi tu pháp, tôi đều ở trước pháp tướng của Lư Sư Tôn chí thành tha thiết khấu đầu cảm tạ Ngài rằng: "Cảm ơn Sư Tôn, ơn thầy bao la, khiến con muôn đời cảm niệm, muôn kiếp khó quên!"

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/280-thien-ngoai-chi-thien.md
# Title: 280. Thiên ngoại chi thiên
---

![image](/img/img_f73cbd422b7bcb854d5a547fc8d94dec.jpg)



## Thiên ngoại chi thiên


🪷 Ghi chép chuyện thần kỳ

Văn tập: 280
Xuất bản: 02/11/2020
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu


Sau khi cuốn văn tập số 279 của tôi "Lời bộc bạch dưới ngọn đèn đơn" hoàn thành thì tôi liền chuẩn bị cho cuốn văn tập số 280.
Trước tiên tôi nghĩ xem tên sách sẽ là gì?
Thôi thì lấy tên sách là "Vượt ngoài thiên nhãn" đi!
Tôi thông báo với mấy vị đồng môn trước, pháp sư Liên Kỳ nói:
"Trong các văn tập của Sư Tôn có liên quan đến thiên nhãn đã có cuốn “Thế giới của con mắt thứ ba”, có cuốn “Những điều nhìn thấy bên ngoài nghìn dặm”, có cuốn “Ma nhãn", v.v…"
Bởi vậy, tôi cũng vẫn đắn đo.

Vài ngày sau.
Một hôm, trong giấc mơ, tôi được một vị thần tướng cầm theo danh thiếp của tôi mời tôi lên trời. Tôi đã gặp Đế Thích Thiên (tục gọi là Ngọc Hoàng Đại Đế).
Đế Thích Thiên hỏi tôi:
"Ngài có điều do dự đúng không?"
Tôi đáp:
"Chính vì tên sách mà tôi vẫn do dự chưa quyết!"

Đế Thích Thiên đưa tôi đi xem kho sách của thiên thượng. Oa! Quả nhiên danh bất hư truyền, nói đơn giản là to như núi rộng như biển, không có cách nào hình dung nổi sự rộng lớn của nó.
Đế Thích Thiên mời tôi đến kho sách của tôi, hóa ra trên trời cũng có kho sách của chính tôi nữa. Từ cuốn số 1 là "Tuyển tập Khói mỏng" cho đến cuốn 279 "Lời bộc bạch dưới ngọn đèn đơn" đều có cả. Ngay cả cuốn thứ 280 cũng có.

Tôi nhìn tên sách, không ngờ tên sách lại là: "Thiên ngoại chi thiên".
Tôi kinh ngạc, hỏi:
"Cái gì? Tên sách đã có rồi sao?"
Đế Thích Thiên đáp:
"Đúng vậy."
Đế Thích Thiên nói:
"Không chỉ là tên sách cho cuốn 280 thôi đâu, ngay cả đến những cuốn sách mà ngài sẽ viết nhưng còn chưa viết, cuốn nào cũng đều có tên hết rồi."
Điều này khiến tôi cực kì tò mò.

Đế Thích Thiên nói:
"Trong cõi vô hình tự có định số!"
Tôi nói:
"Tôi cố tình không đặt tên sách là "Thiên ngoại chi thiên" thì sao?"
Đế Thích Thiên nói:
"Đừng lo! Ngoài cái tên này ra, ngài cũng sẽ chẳng nghĩ ra được tên nào khác đâu."
Tôi nói:
"Ai bảo thế?"
Đế Thích Thiên nói:
"Là Liên Hoa Đồng Tử bảo thế."
Tôi nói:
"Tôi càng không tin, Liên Hoa Đồng Tử chính là Lư Sư Tôn, chính tôi kiểm soát tôi, làm gì có cái lẽ ấy?"
Đế Thích Thiên nói:
"Thiên hạ rộng lớn, có gì là không có."

Tôi đột nhiên nghĩ đến tôi muốn xem trong đời này, cuốn sách cuối cùng mà tôi viết là cuốn số mấy? Tên sách là gì?
Đế Thích Thiên bảo tôi:
"Không cần xem!"
Tôi hỏi:
"Vì sao?"
Đế Thích Thiên đáp:
"Đừng hỏi tên sách cuối cùng, chỉ biết hôm nay cứ chăm chỉ mà làm thôi."
Tôi đã hiểu rồi.

(Tháng 8/2020)

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Tiếp dẫn Dương Liễu Chi


Ở Đài Nam, Đài Loan có một nữ đệ tử hiền hậu là cô Dương Liễu Chi, đã qua đời. Tiến sĩ Vương Lễ đã gửi thư cho tôi thông báo. Thế là, trong lúc nhập Tam ma địa tôi đã đi tiếp dẫn Dương Liễu Chi.

Lần thứ nhất:
Tôi nói với thân trung ấm (linh hồn) của Dương Liễu Chi:
"Thời gian đã hết, đời người vô nghĩa. Nay thân này của cô đã chết, sức lực cạn kiệt, hãy phát nguyện vãng sinh Phật quốc tịnh độ. Thân trung ấm tạm thời này cũng không có ý nghĩa gì cả. Mau mau vượt qua biển sinh tử, đi theo ta thôi."
Dương Liễu Chi nói:
"Lư Sư Tôn, đến Phật quốc tịnh độ để làm gì?"
Tôi đáp:
"Một, tu chứng Chân Phật Mật Pháp. Hai, để độ cho tất cả chúng sinh hữu tình được chứng viên mãn chính giác Phật Đà."
Dương Liễu Chi nói:
"Xin đợi chút."
Tôi nói:
"Thời gian từng phút từng giây trôi qua, thời gian đâu có chờ đợi."

Lần thứ hai:
Tôi lại gặp Dương Liễu Chi. Tôi nói:
"Tôi tiếp dẫn cô đến Phật quốc tịnh độ."
Dương Liễu Chi nói:
"Có lợi ích gì?" (Cô ấy có phần lúng túng.)
Tôi nói:
"Đến Phật quốc tịnh độ, vĩnh viễn không còn thối chuyển, không phải chịu khổ luân hồi, vĩnh viễn được hưởng cực lạc."
Dương Liễu Chi nói:
"Xin đợi chút."
Tôi vẫn nói lại một câu cũ rích:
"Thời gian từng phút từng giây trôi qua, thực sự là chẳng có chờ đợi. Hãy đi theo ta đi! Thiện đệ tử!"
Dương Liễu Chi nói:
"Lư Sư Tôn! Tôi thật không nỡ rời bỏ con trai con gái, xin thầy để cho tôi làm linh hồn bảo hộ cho con trai con gái tôi, có được không?"
Tôi nói:
"Chà! Cô là một người mẹ tốt, thương xót con cái, điều này khó tránh. Nhưng, duyên phận cũng là nhất thời. Muốn vĩnh viễn bảo hộ được con cái, cũng chỉ có cách đến Phật quốc tịnh độ, ấy mới là vĩnh hằng."
Tôi lại nói:
"Nhất thời, là ngắn ngủi. Phật quốc tịnh độ, mới là vĩnh cửu. Cô đi theo tôi đi."
Dương Liễu Chi nói:
"Xin đợi chút."

Lần thứ ba:
Tôi ngưỡng mộ thiện công đức của Dương Liễu Chi, cũng kính trọng tấm lòng thiện lương của một người mẹ tốt như cô. (Giáo sư Vương Lễ lại một lần nữa thỉnh cầu tôi tiếp dẫn.)

Tôi dùng pháp huyễn biến.
Ở thế giới Ta Bà, Dương Liễu Chi không tìm thấy con trai cô là Vũ Hủ, cũng không tìm thấy cô con gái đáng yêu của cô là Hoàng Quận. Dương Liễu Chi hỏi tôi:
"Con trai con gái tôi biến mất rồi! Lư Sư Tôn! Bọn chúng đi đâu rồi?"
Tôi đáp:
"Lúc này không thấy, sau này sẽ gặp lại ở thế giới Cực Lạc!"
Dương Liễu Chi vẻ mặt phấn khởi. Dương Liễu Chi nói:
"Tôi sẵn lòng đi theo thầy!"

Thế là:
Tôi đưa Dương Liễu Chi vượt qua biển sinh tử, đến được tịnh thổ cực lạc vĩnh hằng.
Tôi.
Cô Dương Liễu Chi.
Giáo sư Vương Lễ.
Hoàng Quận.
Vũ Hủ.
Đã làm nên một câu chuyện.
(Thư của giáo sư Vương Lễ ở phần phụ lục cuối sách.)


### 02. Bánh mai rùa


Phương Vĩnh Phương, tuổi đã 65, là một bà giáo về hưu, sống cùng với một đứa cháu nhỏ. Đứa cháu nhỏ bị sốt cao đã mấy ngày chưa khỏi.
Vĩnh Phương cầu nguyện Lư Sư Tôn, xin gia trì cho cháu bé hết sốt.
Vĩnh Phương cúng dường bánh mai rùa. (món ăn nhẹ làm từ gạo nếp và bột đậu xanh)
Vĩnh Phương hiểu cách tu pháp.
Vĩnh Phương nói:
"Nay tôi cúng dường Lư Sư Tôn, đặc biệt cầu thỉnh Lư Sư Tôn gia trì cho cháu tôi, tôi đã lo lắng đến mất ngủ mấy ngày nay."
Bà nói:
"Không cầu thầy tôi, biết cầu ai?
Chẳng nhờ thầy tôi, biết nhờ ai?
Giờ xin cầu nguyện, thỉnh gia hộ
Mong thầy gia trì, giải nỗi lo."

[Bánh mai rùa là một loại bánh truyền thống của người Hoa, thường xuất hiện vào dịp Tết, làm từ bột gạo nếp, thường có hình bầu dục hoặc hình tròn, và nhân ngọt bên trong (thường là vị đậu xanh hoặc đậu phộng), ép khuôn để tạo hình hoa văn mai rùa. Bánh thường có màu đỏ và được đặt trên một miếng lá chuối. Người Hoa quan niệm ăn thịt rùa sẽ được sống lâu, gặp nhiều may mắn, thịnh vượng.]

Bà quán tưởng bánh mai rùa biến thành nhiều như biển, đầy ắp cả núi Tu Di, bốn đại bộ châu, tám tiểu châu, Luân Vương Thất Chính Bảo Điện.
Quán tưởng bánh mai rùa tràn đầy khắp hư không để dâng cúng.
Bánh mai rùa hóa hiện ra vô số.
Cúng dường Căn bản Thượng sư Lư Sư Tôn.
Bà ấy cúng dường xuất phát từ chính tấm lòng mình, tạo nên một sức mạnh niềm tin cực kì to lớn.

Cháu trai đã sốt cao mấy ngày, bác sĩ cũng đã khám rồi, thuốc cũng đã uống rồi, tiêm cũng đã tiêm rồi. Cơn sốt hạ rồi lại tăng, liên tục nhiều ngày. Bác sĩ không tìm ra nguyên nhân của bệnh.

Bà nói:
"Tam ma địa Thầy Lư
Tính Không tức Như Lai,
Đại năng lực của thầy
Chỗ nào thầy cũng tới."

🌟

Có một buổi tối.
Vĩnh Phương ngồi trông cháu bên giường, thỉnh thoảng mệt quá nên ngủ gật. Đột nhiên bà cảm thấy có một mùi hương bay đến. Thế rồi Lư Sư Tôn tới.

Vĩnh Phương sung sướng:
"Lư Sư Tôn! Thầy đến gia trì cho cháu tôi rồi!"
Tôi nói:
"Tôi thích bánh mai rùa của bà!"
Tôi nói rồi bèn ăn rất nhiều. (Cả một đĩa bánh mai rùa to.)
Tôi ăn hết sạch cả bánh mai rùa! Càng ăn càng thấy ngon.

Tôi hỏi:
"Sao bà biết được ngày còn nhỏ, tôi thích nhất là ăn bánh mai rùa?"
Vĩnh Phương nói:
"Tôi đâu hề biết Sư Tôn thích bánh này. Tôi cúng là do tôi cũng thích bánh này thôi."
Tôi nói:
"Thì ra món bánh bà thích cũng chính là món bánh tôi thích!"

Vĩnh Phương hỏi:
"Cháu của tôi thì sao?"
Tôi nói:
"Chuyện nhỏ. Tôi đã ăn bánh mai rùa của bà rồi, nhất định tôi sẽ giúp bà chuyện này."
Vĩnh Phương nói:
"Lư Sư Tôn thực tế quá đi!"
Tôi nói:
"Không phải thực tế, cũng không phải là vì bánh mai rùa, mà là vì tấm lòng của bà."
Tôi lại nói:
“Gột tâm là bản trí
Cần tìm chi đâu xa
Tấm lòng này tuyệt nhất.”

Thế rồi, tôi rút từ trong túi Lama ra một chiếc bình nhỏ đựng nước cam lộ, nhỏ hai giọt cho cháu bé uống. Vĩnh Phương tỉnh khỏi giấc mơ, cảm giác dường như mơ mà chẳng phải mơ, vô cùng rõ ràng.

Kể từ tối hôm đó, cơn sốt của cháu bà đã hoàn toàn khỏi!
Cháu bé khỏi sốt, Vĩnh Phương gửi tin tức này đến văn phòng của Tông Ủy Hội.

Với sự việc này, tôi muốn nói với mọi người rằng:
Hướng về Căn bản Thượng sư kiền thành cầu nguyện, Căn bản Thượng sư sẽ phát khởi tâm đại từ bi đầy thương xót. Chẳng phải là vì bánh mai rùa.
Đó có thể chỉ là sự trùng hợp! Nhưng thực tế chính là cơn sốt đã khỏi rồi.


### 03. Tranh vẽ tiên nữ


Rất nhiều người đều biết những bức tranh của tôi khá là siêu nhiên.
Ví dụ:
Sư tỉ Lâm Hạnh Huệ đã thỉnh bức tranh "Đào tiên" của tôi về Australia. Khi đi qua hải quan, chó của hải quan ngửi thấy trong va li có mùi hoa quả. Hoa quả thông thường vốn là thực phẩm bị cấm. Khi mở va li ra kiểm tra thì kết quả lại chẳng có gì cả.

Hải quan mở bức tranh ra.
Sửng sốt!
Hóa ra trong bức tranh có "Đào tiên".

Còn nữa:
Tôi có một bức tranh vẽ chim và hoa. Bức tranh này được treo trên tường của một phân đường. Chú chim trong bức tranh đột nhiên bay ra, bay múa uốn lượn lên lên xuống xuống ở phía trước đàn thành, rồi lại bay xuống đất, bay lên trần nhà.
Cuối cùng, bay mệt rồi! Nó lại bay trở về bên trong bức tranh!
Những hình ảnh này đã được camera giám sát quay lại, các đồng môn xem được đã há hốc mồm, kinh ngạc không thốt nên lời. Tôi cũng đã xem rồi.
Chà! Ôi chà!
Tán thán!
Quá thần! Quá siêu!

Còn nữa:
Tôi có một bức tranh vẽ thác nước, một người tên là Chu Hiếu Từ đã thỉnh về.
Một buổi sáng sớm, ông ấy nghe thấy có tiếng nước chảy rầm rì.
Ông kiểm tra vòi nước, tất cả đều đã vặn chặt.
Ông kiểm tra bồn vệ sinh, cũng không có nước chảy ra.
Cả nhà trên trên dưới dưới, tất cả chỗ nào có ống nước, đường nước đều đã kiểm tra rồi, nhưng không có là không có.
Sau đó, ông nói:
"Là tiếng nước chảy trong bức tranh thác nước của Lư Sư Tôn!"
Oa!
Cũng quá thần kì!

Còn nữa:
Gần đây tôi đã vẽ bức tranh mấy nàng tiên nữ.
Đổng Song Thành Tiên Cô.
Hứa Phi Quỳnh Tiên Cô.
Tuyết Sơn Trường Thọ Ngũ Tiên Nữ.
Mỗi nàng tiên nữ đều có ánh nhìn hút hồn, miệng anh đào chúm chím, tóc mây búi cao, trâm phượng rủ xuống, thiên y bay bay. Cô nào cũng xinh đẹp tuyệt sắc.
Tôi còn đặc biệt vẽ thêm ánh sáng ở phía sau.
Điều càng đặc biệt hơn là:
Sau khi tôi vẽ xong bức tranh tiên nữ, tôi lại còn hà một hơi khí cho mỗi nàng tiên.
Một đồng môn nhìn thấy liền thỉnh bức tranh này về.
Chẳng ngờ có chuyện lạ xuất hiện!

Khi đồng môn này ngồi thiền, cảm nhận thấy có một làn gió thơm nhè nhẹ, một cô gái nhanh chóng xuất hiện bên cạnh dạy pháp cho anh. Tiên nữ nói:
"Cái gọi là tu, có thể nói là thiện hạnh và bản thể. An trú trong tự nhiên, điều quan trọng là không tạo tác, cứ tự nhiên thả lỏng thư giãn mà trụ ở trong đó. Thế rồi từ đây, nếu không còn sự phân biệt vọng niệm, an trụ không ngừng dứt, thì tức là bản giác."

Tiên nữ còn nói:
"Tự tính của tâm chính là quang minh, là trần trụi sáng trong rõ ràng, đây là ánh sáng trí huệ, cực vô trung quán, quang minh, đại thủ ấn, đại viên mãn, pháp thân."
Tiên nữ dạy anh:
"Không tạo tác, không phân tán, thả lỏng thật nhu nhuyễn mà vẫn trụ lại, chính là giải thoát."
Anh nói với tiên nữ:
"Tôi không hiểu!"
Tiên nữ nói:
"Hãy đi hỏi Lư Sư Tôn!"

Anh ta chạy đến hỏi tôi, tôi kinh ngạc! Đây thực sự là tâm pháp tối cao vô thượng rồi. Thiện tai! Đây chính là sự tu chứng Vô tu.


### 04. Bên ngoài ngọn lửa


Sáng sớm một ngày nọ.
Chủ tịch Vương ăn mặc chỉnh tề, chuẩn bị đến nhà máy gỗ làm việc.
Ông đến trước cửa nhà máy thì phát hiện ra cánh cổng sắt vẫn đóng, người bảo vệ không có ở trong phòng bảo vệ, xung quanh không một bóng người. Điều này khiến ông tức giận. Bởi vì bảo vệ nhà máy là trách nhiệm của người bảo vệ, tổng cộng có ba người, thế mà không thấy một ai.

Ông hằm hằm tức giận, tự đi vào phòng làm việc của mình, phát hiện ra trên mặt đất có một ít tro giấy.
Ông muốn tìm người để hỏi xem:
"Bảo vệ của nhà máy đi đâu hết rồi?"
"Tro giấy trên sàn nhiều thế này, người dọn dẹp sao không quét đi?"

Ông đến phòng thư kí, cô thư kí ăn mặc thời thượng, thân hình yểu điệu của ông cũng không thấy đâu.
Ông đến văn phòng, không ngờ cũng vắng tanh, ngay cả một người đến làm việc cũng không có.

Ông nói:
"Lẽ nào tất cả mọi người đều ốm hết rồi, cho dù có bị ốm thì cũng cần phải xin nghỉ chứ."

Ông cảm thấy có bầu không khí quái dị ở đây.
Ông đi làm đúng giờ.
Cả nhà máy gỗ đều chẳng có một bóng người.
Ông đi khắp nơi tìm người. Cảm thấy bản thân rất cô độc, bất lực. Văn phòng không có ai, trong nhà máy nhất định sẽ có người thôi!

Ông đi tới nhà máy, ngoài những đống gỗ ra, thành phẩm, bán thành phẩm và các khúc gỗ đều có. Nhưng công nhân thì chẳng có ai đi làm. Tất cả các máy móc trong nhà máy đều không hoạt động. Ông bước đến một góc trong nhà máy. Cuối cùng, ông nhìn thấy bốn người công nhân đang ngồi trên bốn cái ghế của một chiếc bàn vuông chơi bài Thiên Cửu. Bốn người đã nhập thần.

Chủ tịch tiến đến gần, bốn người họ đều không phát hiện ra.
"Các anh đang làm cái gì vậy?" - Chủ tịch hỏi.
Bốn người đều ngẩng đầu lên nhìn ông, ông cảm thấy bốn người này đều có ánh mắt quái dị thế nào đó. Bọn họ chỉ tập trung vào việc chơi bài Thiên Cửu, cũng chẳng trả lời.

Chủ tịch hỏi:
"Những người khác đâu?"
Bốn người đáp:
"Người khác cái gì chứ!"
Chủ tịch phát hiện ra bốn người công nhân này, trên tay cầm bài, nhưng những bàn tay đó đã bị đen và co quắp lại giống như móng chân gà.
Chủ tịch hỏi:
"Tay của các anh sao lại biến thành móng chân gà thế kia?"
Họ nói:
"Chủ tịch, sao ông không nhìn thử xem tay của chính ông cũng biến thành móng chân gà rồi."

Chủ tịch hét lớn một tiếng rồi lao vào nhà vệ sinh, nhìn vào trong gương. Ông phát hiện ra tay của chính mình đã biến thành móng chân gà, toàn thân màu đen, cơ thể méo mó biến dạng, da đen bọc lấy xương. Ông lao ra bên ngoài nhà máy.

Bên ngoài.
Lư Sư Tôn đang đứng tại hư không đợi ông, toàn thân phóng quang.
Chủ tịch Vương gọi to:
"Rốt cục là chuyện gì đây?"
Lư Sư Tôn đáp:
"Vô thường!"

Lư Sư Tôn chỉ về phía sau lưng ông, ông quay đầu lại nhìn, nhà máy đã hóa thành đống đổ nát, một đống tro lớn. Lư Sư Tôn lấy một tờ báo đưa cho chủ tịch Vương xem, dòng chữ rất to trên mặt báo: "Cháy nhà máy gỗ, chủ tịch Vương và bốn người công nhân không kịp tháo chạy, đã không còn dấu hiệu sống sót."

Chủ tịch Vương hỏi tôi:
"Tôi phải làm sao? Lư Sư Tôn cứu tôi."
Tôi nói:
"Chẳng phải tôi đã đến rồi sao? Tôi đến đưa anh đi đây!"


### 05. Nhà của Thần Tiên


Ở bang Washington nước Mỹ, nhà tôi sống ở thành phố Bellevue, tôi lấy tên là Nam Sơn Nhã Xá. Nam Sơn Nhã Xá có rất nhiều chuyện siêu nhiên.

Mọi người đều biết:
Xung quanh Nam Sơn Nhã Xá nơi tôi ở có những con ma địa phương, gặp một bầy ma đến từ bang khác. Những con ma địa phương hỏi:
"Các người từ đâu đến?"
Bầy ma đáp:
"San Francisco." (Là những con ma đến từ chỗ Quỷ Bà.)
Ma địa phương hỏi:
"Các người muốn đột nhập vào ngôi nhà Nam Sơn Nhã Xá của Lư Sư Tôn đúng không?"
Bầy ma đáp:
"Đúng vậy, đúng vậy."
Ma địa phương nói:
"Tôi khuyên các người đừng nên vào!"
Bầy ma hỏi:
"Vì sao?"
Ma địa phương nói:
"Từ trước đến giờ tôi chỉ nhìn thấy ma đi vào, chưa từng nhìn thấy con ma nào đi ra cả."

🌟

Cửa chính của Nam Sơn Nhã Xá có hai thần Sư Tử trấn giữ. Lư Sư Tôn đích thân khai quang. Phàm tất cả các hung thần ác ma quỷ dữ muốn vào thì sớm đã bị hai thần Sư Tử này nhai cho hồn bay phách tán rồi.

Trong nhà có Hỉ Kim Cang, Thắng Lạc Kim Cang, Đại Uy Đức Kim Cang, Mật Tập Kim Cang, Thời Luân Kim Cang, Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, Bất Động Minh Vương…

Còn có cả chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, chư Thiên. Đàn thành ở khắp nơi, nghiêm túc trang trọng.
Ngoài ra còn có các thiện linh khác.

Còn có:
Lục Binh Thần Binh.
Lục Giáp Thần Tướng.
Hỏa Quang Đại Tướng.
Phù Hải Đại Tướng.
Hống Phong Đại Tướng.
Mỗi thủ lĩnh thần binh trông nom hàng triệu ngôi nhà.
Nam Sơn Nhã Xá đã thành nhà của Thần Tiên rồi.

🌟

Sư Mẫu Liên Hương Thượng Sư dần dần đã trở thành người thông linh. Rất nhiều rất nhiều lần, không thể đếm nổi những hiện tượng linh dị xuất hiện. Mỗi ngày khi ngủ dậy, bà không cần đến đồng hồ báo thức.
Có Thần Tiên ở bên tai gọi bà thức dậy.
Hoặc giường rung lắc.
Hoặc ngón chân bị kéo.
Hoặc giường xoay chuyển.
Hoặc bà quay đầu.

Cuối cùng, cảm ứng của bà càng ngày càng rõ ràng. Đầu tiên, bà cho rằng đó là hiệu ứng tâm lý, hoặc não có vấn đề. Nhưng bà tận mắt nhìn thấy sự rung lắc của giường, có lúc rung bên đông một lát, có lúc rung bên tây một lát. Đôi khi cả chiếc ghế sofa cũng xoay chuyển.

Những kiểu chuyển động này không phải là tâm lý hay do não tạo ra. Mà là những sự chuyển động thật sự.

🌟

Còn đối với tôi thì càng không cần phải nói! Tôi đi đến chỗ nào thì đều có tiếng nói với tôi.
Những tiếng nói như:
"Hôm nay ra khỏi nhà, sẽ đem về nhà ba chai rượu!"
Quả nhiên, có người bất ngờ tặng tôi ba chai rượu. (Toàn là rượu đại bổ.)
Tiếng nói:
"Hôm nay thiền định, Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát sẽ đến gặp!"
Quả nhiên, khi tôi thiền định, có Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát đến ở bên trái. Rất rõ ràng.

Tiếng nói:
"Hôm nay, bình minh trời trong, có mặt trời, buổi chiều hai giờ sẽ có mưa."
Quả nhiên, hai giờ chiều trời thật sự đổ mưa!

Tôi bảo, tôi và Liên Hương Thượng sư đúng là đang ở nhà của Thần Tiên.


### 06. Hai con chim khổng tước


Tại phòng khách của Nam Sơn Nhã Xá, phía bên phải từ cửa vào, trên sàn nhà gần góc bên phải, chúng tôi đặt két sắt. Bên cạnh két sắt có hai con chim khổng tước làm bằng thép.

Có một hôm, tôi phát hiện ra thiếu mất một trong hai con chim khổng tước. Tôi quay đầu tìm kiếm con chim khổng tước biến mất thì giật nảy mình. Con chim khổng tước này đã chạy ra cửa sau, ở bên dưới cửa sổ kính. Cả tôi và Liên Hương Thượng sư đều nhìn thấy.

Nam Sơn Nhã Xá của chúng tôi chỉ có tôi và Liên Hương Thượng sư ở, không có người khách nào khác. Con chim khổng tước này sao lại chạy ra đứng bên dưới cửa sổ kính được? Không sao tưởng tượng nổi.

Không thể nào có ai dịch chuyển con chim khổng tước. Nhưng, chim khổng tước bằng thép làm sao có thể tự đi được?
Tôi nói với khổng tước:
"Sau này đừng có chạy lung tung!"
Còn nói:
"Ta sẽ đặt ngươi về lại chỗ cũ."

Sư Mẫu Liên Hương Thượng sư trông thấy tôi và chim khổng tước nói chuyện.
Bà ấy nói:
"Sao ông lại nói chuyện với khổng tước?"
Tôi nói:
"Con khổng tước này sống đó."
Sư Mẫu nói:
"Nói chuyện cùng khổng tước, người ta sẽ cho rằng ông bị bệnh thần kinh đó."
Tôi nói:
"Tôi là Pháp Vương điên."

Buổi tối hôm đó.
Tôi lại đến bên két sắt, hai con chim khổng tước, trong đó cái con khổng tước mà đã được di chuyển về chỗ cũ đột nhiên mở miệng gọi tôi:
"Lư Sư Tôn! Lư Sư Tôn! Lư Sư Tôn!"
Tôi quay đầu nhìn khổng tước:
"Có chuyện gì sao?"
Khổng tước nói:
"Tôi đi ra cửa sau là chuẩn bị từ cửa sau bay đi, không ngờ Lư Sư Tôn lại đưa tôi trở lại đây."

Tôi hỏi:
"Ngươi là ai? Muốn trở về nơi nào?"
Khổng tước nói:
"Tôi là tăng nhân ở một ngôi chùa nọ, pháp hiệu là Tâm A. Bình thường giữ giới luật, đạo hạnh cao quý. Có một hôm, tôi bị ngã không gượng dậy được, hồn bay đi. Tôi nhìn thấy một con chim khổng tước rất đẹp, sau đó cứ tự nhiên mà nhập vào nó."
Khổng tước nói:
"Sau đó thì tôi đã đến nhà của Lư Sư Tôn."
Tôi hỏi:
"Làm sao mà ngươi vào nhà của ta được?" (Nhà tôi vẫn luôn được kiết giới.)
Khổng tước nói:
"Tôi nhập vào con chim khổng tước mà vào được, Kim Giáp Thần chặn tôi, nhưng thật may Kim Giáp Thần nhìn thấy trên người tôi có ánh sáng rực rỡ nên mới để cho tôi đi vào nhà của ngài."
Tôi hỏi:
"Thế sao giờ ngươi lại muốn bay đi?"
Khổng tước đáp:
"Tôi rất nhớ chùa X, cũng nhớ những bạn đạo ngày xưa."
Khổng tước hỏi tôi:
"Người chết thì linh hồn phân tán, còn tôi thì không phân tán là sao?"
Tôi đáp:
"Vì ngươi đã có tính định." (Tăng nhân có tu thiền định.)
Tôi nói:
"Ta đồng ý truyền cho ngươi pháp Khổng Tước Minh Vương, ngươi tu hành cho tốt, tương lai chắc chắn có thể chứng quả."
Khổng tước vô cùng hoan hỉ.

Khi tôi đi hoằng pháp ở các nước trên thế giới, có một tăng nhân đến gặp, là từ chùa X đến.
Tôi hỏi:
"Tâm A của chùa X ra sao?"
Tăng nhân đáp:
"Đúng là có một tăng nhân là Tâm A, tu hành tinh tấn, nhưng, một hôm bị ngã đập đầu không dậy được, ông ấy thích nhất là niệm kinh Khổng Tước Minh Vương."


### 07. Trên mây cao


Một hôm, tôi ngồi trên ghế sofa, mở ti vi xem mục tin tức. Tôi ấn nhầm một nút.
Lúc này, trên màn hình ti vi xuất hiện những vạch và những điểm sáng lấp lánh. Một lúc sau, màn hình ti vi dần dần ổn định trở lại.
Tôi nhìn thấy:
Một bầu trời rộng bao la.
Những tòa nhà san sát.
Trong số đó có một cung điện.
Trong cung điện có bố trí một pháp tọa rất cao, rực sáng lấp lánh.
Một người ngồi trên pháp tọa đang thuyết pháp.

Lúc này, tôi ngửi thấy hương thơm của hoa lan, hương thơm này không thấy có ở nhân gian. Màn hình ti vi càng trở nên rõ ràng hơn, tôi nhìn thấy người đang ngồi trên pháp tọa thuyết pháp không ngờ chính là Phật Thích Ca Mâu Ni. Lúc này, có một tăng nhân bước ra thỉnh Phật Đà thuyết pháp.

Tôi chú ý đến chỗ ngồi bên dưới, quả nhiên có vô số tăng nhân, mỗi người đều ngồi trên thảm nghe pháp. Tôi sực nhớ ra mình đang xem tin tức trên ti vi, sao lại có thể thành xem Phật Đà thuyết pháp nhỉ?
Là tôi ở trên mây sao?
Đường truyền đã kết nối đến Sắc Cứu Cánh Thiên sao?
Tôi giật mình, làm sao mà lại nhìn thấy Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp đây.

Tôi bình tâm tịnh khí lại để nghe Ngài nói:
"Trong hư không, thế giới hình thành rồi cũng dễ hủy diệt
Bị thiêu cháy hàng loạt, bị cuồng phong quét sạch
Từ vô lượng kiếp thế gian đã chịu mọi thương tổn như thế
Còn hư không chẳng hề bị tổn hại, không biến đổi, cũng không tăng không giảm."
(Về điểm này tôi đã hiểu.)

Phật Đà nói:
"Hãy cứ an trụ pháp thân bất biến như nó chính là. Loại bỏ khỏi tâm mọi điều tác động từ bên ngoài. Chính tâm hóa hiện Luân hồi, Niết bàn, vạn tướng chẳng có gì thừa thiếu. Khi quan sát ta sẽ thấy tâm mình vốn điên đảo mê vọng. Do khuấy động cảm xúc, đau khổ, vui sướng mà từ đó xuất hiện Luân hồi. Nếu hiểu thấu ngộ ra vốn tự tâm chính là Niết bàn thì Trí huệ đại lạc vô lượng sẽ xuất hiện"

Tôi có thể hiểu được pháp mà Phật Đà đang nói đến:
Hữu và Vô.
Không và Bất không.
Có thể nghĩ bàn và Không thể nghĩ bàn.
Khổ và Lạc.
Dừng và Động.
Thanh tịnh và Bất thanh tịnh.
Nhậm vận và Bất nhậm vận.
Tất cả những cái này đều là pháp tướng danh xưng. Tôi đã hiểu về bản thể vô nhị này.

Lúc này, Phật Đà nói với tất cả tăng chúng:
"Mọi người xem, bây giờ có một vị Lư Sư Tôn ở thế giới Ta Bà đang nghe ta thuyết pháp!"
Tăng chúng quay đầu lại, nhìn về tôi, rất kinh ngạc!
Phật Đà nói:
"Không phải ngạc nhiên! Bởi vì Lư Sư Tôn đã ngộ được bản thể vô nhị."
Phật Đà nói:
"Bởi Sắc Cứu Cánh Thiên, chẳng phải Sắc Cứu Cánh Thiên. Nhân gian, chẳng phải nhân gian. Do vậy, bỏ đi tên gọi và hình tướng, hiểu và chứng được toàn bộ trí huệ của thế gian."

Lúc này,
Tôi biết tôi chẳng phải tôi
Ti vi cũng chẳng phải ti vi.
Trên mây chẳng phải trên mây.
Tôi nói với người ta, tôi có trải nghiệm về sự hòa nhập hợp nhất.
Người ta nói:
"Sao có thể như thế?"


### 08. Truyền dạy trong mơ


Có Liên Hoa Tương Quân gửi thư đến văn phòng, hỏi:
"Nghe Lư Sư Tôn giảng Đạo Quả, trong đó có đề cập đến Tam ma địa (thiền định) rất nhiều, lặp đi lặp lại, nói bên này một ít, nói bên kia một ít, con không nắm được ý chính, cần làm sao?"
Tôi bèn phê vào thư là:
"Để truyền dạy trong mơ vậy."

Liên Hoa Tương Quân nhận được thư trả lời, mở ra đọc, vừa đọc thấy "truyền dạy trong mơ" liền cho rằng tôi đang nói kiểu từ chối khéo, chỉ cười rồi thôi. Không ngờ một hôm, Liên Hoa Tương Quân nằm mơ, mơ thấy Lư Sư Tôn đến.

Lư Sư Tôn đưa tay phải kéo tay trái của cô và nói:
"Nhắm mắt lại, không được nhìn!"
Cô cảm thấy mình bay lên không, bên tai có tiếng gió thổi.
Một lát sau, Lư Sư Tôn nói:
"Đến rồi! Có thể mở mắt ra."

Liên Hoa Tương Quân vừa mở mắt ra thì kinh hãi:
"Đây chẳng phải là nhân gian?"
Tôi nói:
"Đây là Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ."

Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ có cung điện Quảng Hàn (gần với Cung Trăng).
Có dải ngân hà trắng bạc.
Có đế võng minh châu.
Có hoa tiên.
Có cỏ ngọc.
Có vô số thắng cảnh, xem mãi không hết.

Tôi nói với Liên Hoa Tương Quân:
"Cô có nhiều duyên phận với Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ, do vậy tôi đặc biệt đưa cô đến đây, không tin thì lát nữa sẽ biết."

Đến một cung điện, cổng vừa mở ra liền xuất hiện mấy tiên nữ, tuổi khoảng tầm 17, 18, phong thái kiều diễm, đội mũ phượng trâm ngọc, nhan sắc tuyệt thế.

Vừa thấy Liên Hoa Tương Quân, các tiên nữ xúm đến, tất cả đều nói:
"Cô đi tới nhân gian, hôm nay đã trở về rồi!"

Liên Hoa Tương Quân không biết trả lời sao. Liên Hoa Tương Quân chỉ hỏi:
"Lư Sư Tôn! Ở Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ thì xưng hô với thầy thế nào?"
Các tiên nữ đáp:
"Thiếu Chủ. Hoặc gọi là Đồng Tử Tôn!"
Còn nói:
"Chỉ biết tuy gọi ngài là Thiếu Chủ Đồng Tử Tôn, nhưng các thần tiên vẫn luôn cung kính đối với ngài, các thiên cung đều nhận sự sai bảo của ngài."

Lúc này, Lư Sư Tôn ngồi trên pháp tọa của cung điện, nói với Liên Hoa Tương Quân:
Câu hỏi của cô, bây giờ tôi sẽ trả lời:
Tu pháp Tam ma địa!
Tư duy: Mọi thứ là vô tướng, không tạo tác.
Tư duy: Không còn bám chấp, là thanh tịnh.
Tư duy: Không có gì sinh ra, không thể chiếm giữ.
Tư duy: Vô tự tính, xa rời hí luận.
Tư duy: Vô ngã tướng, là tính Không.
...
Những sự suy ngẫm này cho dù thâm sâu ảo diệu và tỉ mỉ, nhưng vẫn là sự bám chấp trên quan niệm. (Ngay cả việc suy ngẫm cũng cần phải bỏ.)

Tôi nói:
Thả lỏng, thư giãn nhưng cần không lơi lỏng.
Hoặc vô sở trụ.
Là Tam ma địa!
Những thứ như vô tướng, vô tạo tác, vô khả chấp, thanh tịnh, vô sinh, vô hí, vô ngã, vô niệm đều là danh từ.
Vượt lên trên cả những điều này, vượt lên trên ngay cả danh từ Tam ma địa.
Tôi đã nói với cô về tâm yếu khẩu quyết rồi.

Sau đó, tôi mau chóng đưa Liên Hoa Tương Quân trở về nhân gian. Sự việc này là mộng cảnh của cô.
Việc truyền dạy trong mơ này khiến Liên Hoa Tương Quân ấn tượng vô cùng sâu sắc. Mặc dù chỉ là một giấc mơ chớp nhoáng, nhưng, "tư duy" chỉ là danh tướng mà thôi! Chỉ riêng câu nói này đã có nhiều điều học được rồi.


### 09. Chọn ngày kết hôn


Có một đệ tử nữ tên là Tú Thường đến hỏi ngày lành giờ tốt để kết hôn.
Tôi giở sách "Thông Thư", chọn ngày "thành nhật", "định nhật", "mãn nhật" đều là những ngày cát tường. Sau đó, bấm ngón tay thần toán để chọn trong số những ngày lành này lấy một ngày để làm hôn lễ.

Tôi tĩnh tâm lại, các ngón tay gập lại duỗi ra một cách tự nhiên, vừa búng vừa nhảy, cứ như là mọi sự đã định thế. Đột nhiên, tôi nhận được ý chỉ từ các ngón tay là:
"Không có duyên kết hôn!"

Tôi kinh ngạc!
Tôi nghĩ Tú Thường và bạn trai của cô ấy tình cảm cực kì tốt, gia đình hai bên đều hài lòng. Hai người tâm đầu ý hợp đến chọn ngày kết hôn.
Bây giờ thì tôi lại tính ra là: "Không có duyên kết hôn!"
Hơn nữa, còn tính ra là Tú Thường còn có duyên hôn nhân khác, nhưng không phải là người bạn trai hiện tại. Lúc này, tôi e là mình tính sai, nên tính lại một lần nữa, đáp án vẫn là như thế.

Tôi nói:
"Tôi không tính ra được ngày kết hôn!"
Tú Thường nói:
"Chúng con vốn nghĩ là chọn ngày thứ bảy, hoặc ngày chủ nhật, chỉ cần là ngày lành hoàng đạo là được rồi. Nhưng vì cẩn thận nên mới hỏi Lư Sư Tôn, đặc biệt để thầy chọn cho, bạn trai con và người nhà đều ngưỡng mộ đại danh của thầy."
Tôi nói:
"Ra vậy. Ra vậy."
Mặt tôi đỏ lựng, miễn cưỡng nói:
"Cậu ấy không phải là đối tượng mà cô sẽ kết hôn!"
Tú Thường nói:
"Sao có thể thế? Thầy nói lung tung."
Tú Thường tức giận bỏ đi.

Chính tôi cũng cảm thấy khá kinh ngạc!
Tôi tự cảm thấy hối tiếc về thần toán lần này, bởi vì tôi vốn dĩ có thể chọn ra một ngày tốt, chọn lấy một giờ tốt trong ngày đó, thế là xong rồi.
Hà tất phải nói với người ta là:
"Anh ta không phải là đối tượng kết hôn của cô, mà là người khác."

Còn nữa, Tú Thường đã sống ở nhà của bạn trai, hai gia đình qua lại tốt đẹp, ngoài lễ thành hôn ra thì từ lâu đã giống như là kết hôn rồi.
Ai dà!
Tôi tự tát vào mặt mình, tôi đã làm cho người nhà của Tú Thường tức giận với Lư Sư Tôn, phía nhà bạn trai cũng không thông cảm.

Hai tháng sau sự việc này.
Tôi dường như cũng dần dần quên đi chuyện đó.
Không để sự việc vướng bận trong đầu nữa.
Sau đó, có tin truyền đến tôi, người bạn trai của cô Tú Thường đã bị nhiễm virus Corona.
Không chữa khỏi!
Đã có tên trong danh sách tử vong rồi!
Đã hỏa thiêu rồi!
Còn cô Tú Thường thì không sao cả.
Ai chà! Sao lại thành ra như vậy? Chính tôi cũng nghĩ không thông, sao sự tình lại trùng hợp như vậy!

Trong lòng tôi cũng rất buồn, đây cũng là chuyện không tránh được, tôi chỉ có thể vì Tú Thường mà siêu độ cho bạn trai cô.

Mẹ của Tú Thường viết thư cho tôi:
"Lư Sư Tôn! Thần toán của thầy cực kì chuẩn! Quá chuẩn! Chuẩn ghê gớm, chúng tôi không biết nói gì hơn. Xin thầy gia trì cho chúng tôi được khỏe mạnh, khiến dịch bệnh mau chóng qua đi."
Tôi dạy họ:
"Niệm Trừ Ôn Dịch Độ Mẫu tâm chú."


### 10. Chướng ngại nhỏ


Một hôm, có một đường chủ đến tìm tôi, ông nói:
"Tôi không còn lựa chọn nào khác là đành phải đóng cửa phân đường, xin Lư Sư Tôn lượng thứ, chúng tôi không có cách nào tu pháp được."
Tôi hỏi:
"Vì sao vậy?"
Đường chủ nói:
"Rất khó nói, nguyên nhân chủ yếu là vì bà xã tôi cực lực phản đối. Đồng môn đến, bà ấy đuổi đồng môn ra ngoài, luôn luôn gây chướng ngại, căn bản là bà ấy không tin Lư Sư Tôn."
Tôi bình thản nói:
"Chướng ngại nhỏ, chuyện nhỏ thôi."
Đường chủ nói:
"Tôi trở về phải làm sao?"
Tôi nói:
"Chẳng cần làm gì cả."
Đường chủ nói:
"Ý Sư Tôn là gì?"
Tôi nói:
"Sau này sẽ biết."
Đường chủ bối rối ra về!

Thế rồi ba tuần sau.
Đường chủ bất ngờ lại đến tìm tôi, lần này ông ta rất vui vẻ hào hứng, bộc lộ khuôn mặt tươi rói.
"Lư Sư Tôn! Phật đường của chúng tôi có thể tiếp tục hoạt động rồi, bà xã tôi đã hoàn toàn thay đổi thái độ. Bà ấy nói, bà ấy muốn hộ trì Lư Sư Tôn hoằng pháp lợi sinh, bà ấy còn đặc biệt lau dọn đàn thành."
Tôi hỏi:
"Ông có biết nguyên nhân không?"
Đường chủ đáp:
"Không biết."
Tôi nói:
"Sao không hỏi bà nhà xem?"
Đường chủ nói:
"Vâng! Tôi trở về sẽ hỏi xem."

Sau đó, đường chủ trả lời tôi:
Hóa ra vợ của đường chủ thường xuyên bị bệnh đau đầu. Một hôm, đầu của bà đau đến mức muốn nổ tung, bèn lên giường nằm nghỉ. Đột nhiên, bà nhìn thấy Lư Sư Tôn mở cửa, đi vào trong phòng, vô cùng rõ ràng. Lư Sư Tôn chẳng gây ra một âm thanh tiếng động nào, dường như đang trôi trong không trung.
Lư Sư Tôn nói:
"Tôi đến giúp bà chữa bệnh đau đầu!"

Lư Sư Tôn thổi một hơi khí vào đầu của bà vợ đường chủ. Sau đó, từ trong đầu bà lôi ra những con sâu màu đen nhỏ, hết con này đến con khác ném lên mặt đất. Vừa ném lên mặt đất thì những con sâu nhỏ cũng biến mất luôn.
Khá nhiều những con sâu nhỏ màu đen bị bắt ra.
Lư Sư Tôn nói:
"Từ nay về sau sẽ không còn đau đầu nữa!"

Bà vợ cứ giương mắt nhìn Lư Sư Tôn đi vào, rồi lại giương mắt nhìn Lư Sư Tôn đi ra. Bà cũng không hề cử động.
Đợi Lư Sư Tôn đi khỏi, bà mới trở mình ngồi dậy.
Đầu bà không còn đau nữa, tinh thần sảng khoái!
Kể từ hôm đó, chứng bệnh đau đầu phiền toái không còn nữa!
Có người hỏi bà:
"Lư Sư Tôn! Có thật không?"
Bà đáp:
"Thật."
Có người hỏi bà:
"Tin được không?"
Bà đáp:
"Được!"
Phân đường đó cuối cùng đã đứng vững và phát triển, độ vô số chúng sinh.


### 11. Là ai cầm dao mổ?


Đệ tử Hào Nhiên vì bị bệnh tim nên cần phải làm cuộc phẫu thuật lớn. Do vậy, anh đã gửi fax đến Tông Ủy Hội thỉnh Sư Tôn gia trì.
Tôi niệm chú Diêu Trì Kim Mẫu, ban gia trì cho anh:
"Om jinmu siddhi hum." [Ôm Chin Mủ Sít Đi Hùm.]
Rồi lại niệm Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, gia trì cho anh:
"Om guru liansheng siddhi hum."

Anh được đẩy vào trong phòng phẫu thuật. Bác sĩ phẫu thuật là người phương Tây. Anh đã được gây tê.
Sau khi mất cảm giác, toàn bộ suy nghĩ của anh đều lắng xuống, bất ngờ anh nhìn thấy Lư Sư Tôn từ cửa phòng phẫu thuật đi vào. Sau đó, Lư Sư Tôn liền bí mật nhập vào người của bác sĩ Tây.
Anh nhìn mặt của vị bác sĩ Tây, ngoài cái khẩu trang ra thì hai con mắt hở ra rõ ràng là mắt của Lư Sư Tôn.

Quái thật!
Là bác sĩ Tây cầm dao mổ?
Hay là Sư Tôn cầm dao mổ?
Anh thấy mình mơ hồ rồi!

Anh hỏi:
"Lư Sư Tôn, con phải mổ tim là do nghiệp chướng phải không?"
Lư Sư Tôn đáp:
"Mỗi cá nhân có định số khác nhau."
Anh hỏi:
"Tim của con có khỏi được không?"
Lư Sư Tôn đáp:
"Ta đã đến đây! Khẳng định sẽ khỏi."
Anh hỏi:
"Vì sao?"
Lư Sư Tôn đáp:
"Phật là Đại Y Vương!"

Cuộc phẫu thuật của đệ tử Hào Nhiên vô cùng thành công. Sau khi xuất viện, anh cứ nghĩ mãi vẫn không thể hiểu được. Là bác sĩ Tây mổ? Hay là Lư Sư Tôn mổ?
Đệ tử Hào Nhiên hỏi.
Tôi đáp:
"Người mơ thì cho rằng là thật, người thật thì vẫn cho rằng là mơ."
Ha ha!

Còn nữa:
Ngày trước, có một nữ đệ tử trong đầu có khối u, đã đến Seattle thỉnh cầu gia trì!
Đêm đó nằm mơ, thấy Lư Sư Tôn đích thân mổ cho cô. Sư Tôn nói với cô rằng:
"Đã gắp khối u ra, chỉ còn lại phần da mà thôi!"
Cô trở lại bệnh viện kiểm tra.
Đúng như Lư Sư Tôn đã nói, khối u hoàn toàn biến mất, chỉ còn lại một ít da.
(Người đệ tử này chính là người rất thích vẽ tranh thangka.)
Lư Sư Tôn có thể phẫu thuật trong mơ, rất thần kì!

Còn nữa:
Lại có một đệ tử nam bị trúng phong, phải nằm viện. Vợ của anh ở bên cạnh, niệm Căn bản Thượng sư tâm chú.
Người vợ mệt quá, ngủ thiếp đi.
Cô nhìn thấy Lư Sư Tôn bước đến chỗ người chồng bị trúng phong, đưa tay vào trong não của người chồng lấy ra một cục máu đen to như lòng bàn tay. Lư Sư Tôn nhìn cục máu đen nói:
"Xong rồi!"
Kết quả là, ngày hôm sau, bệnh nhân tỉnh dậy, khối máu chảy trong não đã biến mất, bác sĩ cũng không hiểu ra sao.

Còn nữa:
Có một nữ đệ tử được hai giảng sư hộ tống đến hỏi về khối u ở dưới tai đã lâu. Tôi mới chỉ sờ đầu gia trì! Khối u đã biến mất rồi.
Quái lạ! Quái lạ!
Thần kì quá!


### 12. Việc siêu độ của tôi


Tu pháp siêu độ vẫn luôn là một trong những công việc của tôi. Là sự nghiệp Phật pháp vĩ đại làm lợi cho cả âm cả dương của bản thân tôi. Thời gian tôi làm siêu độ thường vào khoảng 1 giờ đêm.

Tôi siêu độ cho một cảnh sát đã bắn súng tự sát.
Người cảnh sát đã đến!
Tôi nghe thấy tiếng bước chân của anh:
"Cộp… cộp… cộp… cộp…"
Âm thanh của đôi giày da đế dày của cảnh sát từ xa tới gần, đến trước mặt tôi thì dừng lại.

Tôi lại siêu độ cho một cô gái treo cổ tự sát. Cô gái trẻ trung đó đã đến rồi.
Tôi cũng lại nghe thấy tiếng bước chân rõ ràng như vậy, âm thanh cũng vang lên từ xa tới gần.
"Cạch… cạch… cạch… cạch…"
Là âm thanh của tiếng giày cao gót.
(Thật may đây là Lư Sư Tôn, nếu như là người khác thì nhất định sẽ sợ gần chết, nổi da gà, lông tóc dựng đứng.)

Tôi cũng từng siêu độ cho cả một gia đình uống thuốc độc tự sát.
Kết quả là miệng tôi bị sưng lên, miệng tôi bị biến dạng méo mó, trông cực kì khó coi.
Biến thành màu đen.
Trở thành "miệng quả chuối".
Khoảng một tuần tôi mới hồi phục lại như bình thường.

Tôi siêu độ cho hơn ba nghìn nhân viên văn phòng bị chôn sống, thiêu cháy trong vụ tòa tháp đôi ngày 11/9. Đôi mắt tôi rực lửa.
Mắt đỏ, mặt cũng đỏ.
Cũng phải mất cả một tuần lễ tôi mới hồi phục lại như bình thường.

Còn nữa:
Năm 2020, những đối tượng mà tôi siêu độ đương nhiên là những người chết vì dịch cúm virus Corona trên toàn thế giới.
Ngày ngày vào 1 giờ đêm tôi tu pháp.
Đầu tiên tôi ngồi trên pháp tọa, với tư thế Tỳ Lô thất chi tọa.
Tôi thỉnh cầu Diêu Trì Kim Mẫu gia trì cho tôi.
Tôi lại thỉnh A Di Đà Phật ở hư không hiện thân trước mặt, tôi nhìn thấy kim thân của A Di Đà Phật sáng chói rực rỡ.
Tay phải ngài kết ấn ban nguyện.
Tay trái ngài cầm đài sen.
Tôi thỉnh A Di Đà Phật chiếu ba ánh sáng bao trùm lấy Lư Sư Tôn: ánh sáng đỏ, ánh sáng trắng, ánh sáng lam.
Thân tôi biến hóa thành Bổn tôn.
Tiếp đó, tôi thỉnh A Di Đà Phật buông tay cầm đài sen ra, lúc này đài sen hóa thành thuyền pháp. Một chiếc thuyền pháp trôi trong hư không. Một hóa thành nhiều, nhiều hóa thành nghìn nghìn vạn vạn thuyền pháp.

A Di Đà Phật và tôi gọi toàn bộ những người chết vì virus Corona trên toàn thế giới, lần lượt dùng sợi dây kim tuyến để kéo họ lên thuyền pháp và ngồi vững trên đó.
Niệm: chú vãng sinh. (Kết ấn đại hải siêu độ.)
Niệm: chú Văn Thù vãng sinh.
Niệm: 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật.
Niệm: Om amidewa seh. [Ôm a-mi đê-wa sê]
Lần lượt từng chiếc thuyền pháp bay về hướng Tây phương cực lạc thế giới tịnh độ.

Tôi đặc biệt triệu thỉnh:
Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát đến giúp đỡ hộ trì cho việc tu pháp của tôi.
Tôi tự hóa thành Bổn tôn. (Biến thân thành A Di Đà Phật.)
Chính mắt tôi nhìn thấy thuyền pháp chiếc này tới chiếc khác bay về hướng Tây phương thắng cảnh, hòa tan vào trong tịnh độ quang minh.

Năm 2020, thời gian xảy ra dịch bệnh.
Ngày ngày vào buổi tối, ngày ngày tôi siêu độ, không có ngày nào gián đoạn.
Tôi thương xót chúng sinh. (Vô duyên đại từ, đồng thể đại bi.)
Khi tôi làm siêu độ xong, tôi ngồi thả lỏng thư giãn, thế rồi nhập vào Tam ma địa, vô niệm, vô tư, vô tạo, vô tác, vô tu, cứ ngồi như vậy cho đến 3, 4 giờ sáng mới xuất định.
Đây chính là đại sự nghiệp siêu độ mà tôi làm gần đây.


### 13. Mộng Thị Độ Mẫu


Cô Già Di tu pháp "Tam thiên nữ vấn sự", còn được gọi là pháp "Tam thiên nữ mộng thị", có được cảm ứng.
Cô kể:
Cô muốn biết mình tương lai có xuất gia không, có duyên xuất gia hay không. Sau khi tu pháp xong. Đêm đó, trong giấc mơ của cô đã hiện lên đáp án:
Trong một hình ảnh hiện lên, cô nhìn thấy chính mình biến thành già đi, nhưng vẫn có tóc. Thế là tự cô biết được đời này không có duyên xuất gia.

Còn nữa.
Cô kể:
Cô muốn mua một căn nhà ở khu nọ, căn nhà đó liệu có mua được hay không mua được? Sau khi cô tu pháp xong. Đêm đó, trong giấc mơ của cô lại hiện lên đáp án:
Cô không ở được trong căn nhà đó. Vẫn phải đi tìm nhà ở nơi khác.
Thế là cô tự biết rằng, cô và căn nhà đó không có duyên phận.
Và nhiều chuyện khác tương tự như thế.

Pháp Tam thiên nữ vấn sự (Tam thiên nữ mộng thị), đối với cô Già Di mà nói thì đơn giản là giống như một ngọn đèn sáng. Cần nhớ rằng, Tam Thiên Nữ thích sự sạch sẽ. (Hành giả cần tắm rửa tịnh thân.)
Cúng dường Bạch Y Thiên Nữ, Hồng Y Thiên Nữ, Hoàng Y Thiên Nữ.
Cúng phẩm thì dùng:
Ba thứ màu trắng: sữa tươi, sữa chua, váng sữa.
Ba món ngọt: đường trắng, đường đỏ, đường phèn.
Đèn.
Nước sạch.
Và những thực phẩm khác.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) từng gặp được ba vị thiên nữ này.
Bạch Y Thiên Nữ, quốc sắc thiên hương.
Hồng Y Thiên Nữ, kiều diễm hút hồn.
Hoàng Y Thiên Nữ, duyên dáng thướt tha.

Tôi hỏi:
"Làm sao để có được mộng thị rõ ràng?"
Bạch Y Thiên Nữ đáp:
"Tâm như đại hải, nhưng không có sóng."
Hồng Y Thiên Nữ đáp:
"Tâm như ánh nến, không chút lay động."
Hoàng Y Thiên Nữ nói:
"Tâm như trời cao, trong vắt không mây."
Tôi nghe xong, đã hiểu ra.

Tôi nói:
"Muốn có được mộng thị từ ba vị thiên nữ, giống như trăng hiện trong nước, như hoa hiện trong gương."
Ba thiên nữ đáp:
"Đúng vậy!"

Tôi hỏi:
"Điểm quan trọng của pháp tu hành là gì?"
Ba thiên nữ đáp:
"Nhận được đầy đủ quán đảnh từ Căn bản Thượng sư, hành giả cần chuẩn bị tín tâm, có tâm kiền thành, nghi quỹ phải cực kì hoàn hảo, tất cả việc tu pháp phải thanh tịnh, thông hiểu được trí huệ trong pháp này."

Tôi hỏi:
"Mộng thị đến cảnh giới nào?" (Nói cách khác là đến trình độ nào? Phạm vi nào?)
Ba thiên nữ đáp:
"Ví dụ như cha sinh ra ở cảnh giới nào? Mẹ sinh ra ở cảnh giới nào? Đều có thể biết được. Cảnh giới tu hành của chính mình cũng có thể biết được. Ngoài ra những việc thế gian lớn nhỏ đều có thể biết được, rất rõ ràng!"

Tôi hỏi:
"Trì chú gì, có dễ tương ứng không?"
Ba thiên nữ đáp:
"Om supatarua soha." (Càng nhiều càng tốt.) [Ôm su-pa-ta-rua sô-ha]


### 14. Nhật kí gặp ma


Ngày trước, khi tôi đi hoằng pháp ở các nước trên thế giới, tôi ở tại khách sạn, có rất nhiều sự việc linh dị. Tuy nhiên ở đây tôi chỉ ghi lại một vài sự việc mà tôi đã từng trải qua.

Thứ nhất: Tại Ấn Độ.
Một buổi tối, tôi vẫn chưa ngủ, có một con ma xõa tóc đi vào, mặt đen như than, giương đôi mắt to nhìn trừng trừng vào tôi, trong mắt có những vệt đỏ, trông khá đáng sợ.
Tôi đã gặp nhiều rồi nên không sợ.

Vì tôi vẽ phù nên trên bàn vẫn còn mực đen, tôi lấy mực đen và cũng tô đen lên mặt mình. Sau đó, tôi cũng há to miệng nhe răng về phía con ma đen đó.
Cả hai phừng phừng nhìn chằm chằm vào nhau.
Con ma muốn dọa tôi. Tôi không sợ.
Kết quả là con ma đen đó chỉ còn cách bỏ đi!
Còn tôi thì ngủ rất yên lành.

Thứ hai: Tại Malaysia.
Tại một khu *resort **[khu nghỉ dưỡng cao cấp]* của sân *golf **[sân gôn]**.*
Buổi tối hôm đó, có một đôi tình nhân ma xuất hiện, một nam một nữ, bảy lỗ trên mặt chảy máu, đứng ở đầu giường tôi. Hai người bọn họ đã tự sát trên chiếc giường mà tôi nằm ngủ.
Tôi thương cảm hai con ma tình nhân này.
Tôi triệu thỉnh Diệu Sắc Thân Như Lai, khôi phục lại hình tướng trai tài gái sắc như khi còn sống cho hai con ma. Sau đó, tôi đã siêu độ cho hai người họ. Thổi một hơi khí rồi đưa họ đi vãng sinh!

Thứ ba: Tại Đài Loan.
Tôi ở tại một khách sạn tại Đài Bắc.
Có một con ma nữ treo cổ tự sát đến tìm tôi. Nó thè lưỡi ra rất dài, dài tới tận ngang bụng.
Tôi cười, nói:
"Ta vẫn luôn thích ăn canh lưỡi heo, nó giòn giòn rất ngon, canh lưỡi ma vẫn chưa từng được nếm thử, không biết hương vị thế nào nhỉ?"
Tôi đưa tay ra tóm lấy lưỡi con ma. Con ma nữ này vội vàng thụt lưỡi lại, thế rồi bỏ chạy mất!

Thứ tư: Tại Penang Malaysia.
Tôi dùng ba chú tự là "Ram. Yam. Kham" để biến hóa chính mình thành chày kim cang.
Có một đạo sĩ ác đã sai ba con quỷ đến. Răng nanh của chúng nhe ra. Thấy tôi đang ngủ, không cần nói nhiều, chúng lập tức há to miệng định cắn.
"Rắc! Rắc! Rắc!"
Bao nhiêu răng nanh vỡ hết.
Chúng hoảng hốt tháo chạy.

Thứ năm: Tại Mỹ.
Khi tôi còn sống tại quận Ballard.
Vì tôi đã giúp trục xuất một con ma ra khỏi thân một người bị ma ám, nên con ma rất tức giận. Buổi tối khi tôi đi ngủ, con ma lén tấn công tôi, đánh vào tim tôi khiến tôi không sao ngủ được.

Tôi biến hóa thành bản thân đang ngủ trong hoa sen, bên ngoài hoa sen là ao nước. Con ma này cũng biết biến hóa, nó biến thành rắn nước bơi đến, cắn vào ngón chân tôi thò ra bên ngoài hoa sen. Sau đó, tôi làm kiết giới bốn tầng. Lúc này thì con ma mới bỏ cuộc.

Thứ sáu: Tại Panama.
Tôi vừa vào khách sạn thì đã có một bầy ma la hét, nói tiếng Tây Ban Nha, gào thét ỏm tỏi. Hóa ra khách sạn này trước đây là mặt trận.
Tôi dùng pháp siêu độ để siêu độ cho bọn họ, cuối cùng mới được yên ổn!
(Còn rất nhiều chuyện nữa, sau này sẽ kể thêm.)


### 15. Phật bài ở Thái Lan


Một cô gái người Singapore tên là Chu Lệ, cùng với mấy người bạn thân đi Thái Lan du lịch, chơi rất vui vẻ. Đi ngang qua một cửa hàng, thì ra là một nơi bán những miếng thẻ in khắc hình Phật, họ liền vào xem. Chu Lệ đã mua một miếng Phật bài.

Miếng Phật bài này không phải hình bốn cạnh, mà là hình tròn. Không phải màu trắng, mà là nhiều màu sắc. Rất nhiều đường vân.

Cô nhìn thì không hiểu, nhưng chỉ thấy là nó rất đẹp. Trong vô số những miếng Phật bài thì miếng thẻ này nổi bật lên xuất sắc nhất, thế là cô liền mua nó.

Trở về Singapore, cô để nó trong túi xách.
Cô nằm mơ thấy:
Cô đi một mình giữa đêm tối, cảnh vật xung quanh đều lạ lẫm và rất tối. Cô đi đến cuối cùng thì gặp một tòa nhà lớn.
Đèn đóm rất sáng sủa.
Cổng tòa nhà mở ra, rất nhiều người hầu xếp hàng nghênh đón Chu Lệ.
Người hầu hét:
"Hoan nghênh tân nương tử!"
Chu Lệ hoang mang mơ hồ bước vào trong. Trong nhà trang hoàng lộng lẫy xa xỉ, có một thanh niên cao to đẹp trai là chủ nhân của ngôi nhà lớn này.
Người thanh niên nói:
"Em và anh kiếp trước là vợ chồng, nay đêm lành giờ tốt, ta cùng hưởng hạnh phúc, phải bí mật, không được để lộ."

Thế rồi Chu Lệ và người thanh niên đã thân mật với nhau. Cảm giác mọi thứ đều tự nhiên như cần phải thế, hơn nữa còn sung sướng khác thường.
Ban ngày, Chu Lệ đi làm như bình thường.
Buổi tối, Chu Lệ lại cùng người thanh niên kia làm vợ chồng. (Đêm đêm ân ái.)

🌟

Về sau, Chu Lệ và bạn bè quy y Lư Sư Tôn, Chu Lệ cũng đến Seattle.
Lần đầu tiên tôi gặp Chu Lệ là khi cô đến để hỏi về sự nghiệp của mình. Tôi kinh hãi.
"Trời ạ! Thế gian có người bị ma khí nặng như thế này mà không tự biết sao?"
Tôi nói:
"Mặt cô có ma khí, toàn thân là khí hư, đã là cái vỏ rỗng rồi, cô không có cảm giác gì sao?"
Chu Lệ đáp:
"Chỉ cảm thấy thường lơ ngơ, có chút mơ hồ."
Tôi hỏi:
"Buổi đêm có chuyện gì?" - Tôi đã nhìn ra chắc chắn có ma quỷ làm trò tác quái.
Chu Lệ đáp:
"Lư Sư Tôn đã biết rồi sao?"
Tôi nhìn túi xách của Chu Lệ thấy tỏa ra khói trắng, rồi lại rút vào. Tôi hỏi:
"Trong túi của cô có vật gì thế?"
Chu Lệ lấy ra, hóa ra là tấm Phật bài nhiều màu sắc của Thái.
Nhưng, tôi thì nhìn thấy:
Một con quỷ đáng sợ.
Mặt nhiều màu.
Hàm răng nhọn hoắt như lưỡi cưa.

Tôi thổi một hơi khí mạnh lên tấm Phật bài. Tôi dùng tay phải đè lên nó. Con quỷ muốn vùng ra, tôi không để cho nó thoát. Nhưng tôi cũng không muốn giết nó, tôi thỉnh Diêu Trì Kim Mẫu thu nhận nó đi. Diêu Trì Kim Mẫu dùng cây phất trần phẩy một cái, con quỷ đã biến mất.
Tôi nói:
"Chu Lệ! Mạng sống của cô đã được bảo toàn rồi, hơn nữa, buổi đêm cũng sẽ không có những giấc mơ kì quái nữa!"
Chu Lệ nói:
"Từ khi mua tấm thẻ Phật Thái Lan này thì xảy ra những sự việc quái lạ như vậy, lại không dám nói với người khác. Bây giờ may có Lư Sư Tôn đã giải trừ hết rồi."

Sau khi Chu Lệ trở về Singapore.
Từ đó không còn mơ nữa.
Hoàn toàn bình thường.
Tôi nói:
Trên đời này, mặc dù âm dương cách biệt.
Nhưng ma quỷ cưỡng bức phụ nữ, hoặc ma nữ quyến rũ đàn ông, mọi người đều nghĩ rằng chỉ là những giấc "mộng xuân" mà thôi. Một lần, hai lần thì cũng chưa có vấn đề gì cả.
Nếu như đêm nào cũng gặp thì tức là đã bị ma quỷ quấy phá rồi. Có thể bị cạn khí mà chết.
Hãy cẩn thận!


### 16. Thổ Địa Công phàn nàn


Một buổi sáng sớm.
Vừa tỉnh dậy, tôi giật thót mình.
Bởi vì xung quanh giường ngủ của tôi bị vây kín bởi các Thổ Địa Công, nhìn lướt qua cũng phải có đến cả trăm vị. Vị thì đứng, vị thì ngồi, vị thì quỳ, chen chen chúc chúc.

Tôi hỏi:
"Địa Thần đến gặp, có chuyện gì?"
Thổ Địa Công đáp:
"Chúng tôi cùng đến đây để phàn nàn."
Tôi hỏi:
"Phàn nàn ai?"
Thổ Địa Công đáp:
"Pháp sư Liên Liên."
Tôi hỏi:
"Pháp sư Liên Liên đã phạm việc gì? Có lỗi lầm gì?"
Thổ Địa Công đáp:
"Bà ấy lười nhác."

Theo tôi được biết, pháp sư Liên Liên là người quản lý chính của Chân Phật Mật Uyển (là người lo hương đèn). Chân Phật Mật Uyển có rất nhiều đàn thành lớn nhỏ:
Đàn thành Diêu Trì Kim Mẫu.
Đàn thành hỏi việc.
Đàn thành gia trì.
Đàn thành Nhĩ Báo Đồng Tử.
Đàn thành Cao Vương Quan Thế Âm.
Đàn thành Tổ Sư.
Đàn thành Liên Sư Phẫn Nộ.
Đàn thành Thổ Địa Công.
Còn pháp sư Liên Liên thì phụ trách châm hương, châm nến, cúng nước, cúng quả, cúng hoa…

Vì tình hình dịch bệnh nên tôi và Thượng sư Liên Hương cũng ít đến Chân Phật Mật Uyển, còn Chân Phật Mật Uyển thì cũng có ít khách đến thăm, tất cả đều rơi vào trạng thái ngừng trệ.

Trong giai đoạn dịch bệnh này, cuộc sống thường ngày cũng có những biến đổi, chúng tôi đều trở nên lười. Pháp sư Liên Liên phụ trách hương đèn đương nhiên cũng lười. Đây cũng là chuyện khó tránh, có thể thông cảm được.
Người chăm nom chuyện hương đèn lâu lâu mới thay cúng phẩm một lần.

Tôi hỏi:
"Các Thổ Địa Công muốn xử lý thế nào?"
Thổ Địa Công đáp:
"Cần làm một lễ cúng thịnh soạn."
Tôi hỏi:
"Cúng thịnh soạn như thế nào?"
Thổ Địa Công đáp:
"Hoa, hương, đèn, trà, quả. Quả cần tám loại, tụng kinh, lễ bái, v.v…"
Tôi hỏi:
"Làm xong là được rồi chứ?"
Thổ Địa Công đáp:
"Không được! Còn phải cúng dường Căn bản Thượng sư."
Tôi hỏi:
"Cúng phẩm của lễ cúng lớn xong thì sẽ phân phát thế nào?"
Thổ Địa Công đáp:
"Phân phát cho tăng lữ và tín chúng, để cho tăng lữ và tín chúng tự quán tưởng là thực phẩm của Bổn tôn, như vậy có thể giữ được sự bình an."
Tôi hỏi:
"Bình an tức là sẽ không bị nhiễm bệnh, mắc bệnh nữa?"
Thổ Địa Công đáp:
"Đúng! Đúng! Đúng!"
Tôi nói:
"Vậy thì Thổ Địa Công các vị gửi chỉ thị đến cho pháp sư Liên Liên trong mơ về việc này đi!"
Thổ Địa Công đáp:
"Sẽ cho mộng thị!"

Ngày 15 tháng 6 năm 2020, pháp sư Liên Liên quả nhiên đã được Thổ Địa Công báo mộng.


### 17. Bốn yoga Đại Thủ Ấn


Có Thượng sư Liên Liêm vốn sống tại New York bất ngờ qua đời.
Khi tôi thiền định, anh ta đã đâm vào ánh sáng kết giới của tôi.
Tôi nhìn thấy người đệ tử từ những ngày đầu của mình, khi còn sống anh ta cũng khá thông minh, cũng rất tinh tấn, không ngờ mắc bệnh mà mất sớm.

Anh ta nói với tôi:
"Lư Sư Tôn! Đệ tử vội vàng liều lĩnh, xin đại tôn sư đừng trách con, con đặc biệt tới đây thăm thầy."
Tôi hỏi:
"Ta kết giới rất chặt, anh làm sao vào được?"
Anh ta đáp:
"Trên đỉnh đầu con là Căn bản Thượng sư, niệm tâm chú của Thượng sư, tự nhiên có thể vào được!"
Tôi cười:
"Thế là anh vẫn mượn danh của ta."
Anh đáp:
"Bất kể âm dương, tâm chú danh hiệu của Lư Sư Tôn ai nấy đều biết là có thể ứng dụng rất tốt."

Tôi hỏi:
"Gần đây anh đã đi đâu?"
Anh đáp:
"Con đi lại lại giữa âm ti và dương thế, cũng đã đến bốn ngọn núi nổi tiếng, ở lại núi Thanh Lương rất lâu."
Tôi hỏi:
"Gặp Văn Thù hay chưa?"
Anh đáp:
"Văn Thù Bồ Tát dặn dò rằng, nếu có đến thăm Lư Sư Tôn thì gửi lời thỉnh an!"
Tôi cười:
"Văn Thù Bồ Tát khách khí quá!"

Tôi lại hỏi:
"Anh đến thăm ta có việc gì không?"
Anh đáp:
"Khi còn sống, con thích Đại Thủ Ấn, có duyên đặc biệt với bốn yoga Đại Thủ Ấn, muốn cầu xin quán đảnh và truyền dạy, do vậy, con mới đặc biệt đến tham kiến Sư Tôn."
Tôi nói:
"Ở chỗ Văn Thù cũng có! Sao ngài ấy không dạy cho anh?"
Anh ta đáp:
"Văn Thù Bồ Tát nói, vẫn cần phải cầu pháp ở dòng truyền thừa thì mới có sức mạnh gia trì."
Tôi nghe xong, cảm thấy cũng đúng.

Tôi lấy pháp bản Đại Thủ Ấn 4 yoga ra, đặt lên đỉnh đầu của Thượng sư Liên Liêm, rồi mở lỗ trên đỉnh đầu của anh ra mà nhồi pháp bản 4 yoga Đại Thủ Ấn vào trong não anh.
Anh kinh ngạc:
"Đây là cái gì?"
Tôi nói:
"Đây chính là terma!"
Anh ta hỏi:
"Hộp sọ của con sẽ bị hỏng sao?"
Tôi đáp:
"Không! Ngược lại, các lỗ chân lông được mở ra hết, rõ ràng minh bạch."
Liên Liêm bỗng nhiên mở to mắt, cười lớn:
"Ha! Con đã hiểu hết rồi. Con chỉ cần đọc tâm của con thì sẽ lĩnh hội thông hiểu được toàn bộ."

Tôi hỏi:
"Bốn yoga là gì?"
Liên Liêm đáp:
"Chuyên nhất yoga - Hiểu hư không là vô diệt. Hư không thanh tịnh.
Li hí yoga - suy nghĩ cũng không còn. Không sinh diệt. Không nắm giữ.
Nhất vị yoga - pháp thân quang minh, đã không còn nhị nguyên.
Vô tu yoga - Phật tính vô y. Bản tự cụ túc."

Tôi nói:
"Liên Liêm hãy ghi nhớ:
Vạn pháp đều huyễn hóa.
Huyễn hóa là pháp thân.
Chính niệm là nhất vị.
Vô tu đại bi tâm."


### 18. Đứa bé trai lơ ngơ


Có một đệ tử họ Đổng, anh ta có một đứa con trai, lúc sơ sinh thì không thấy có dị dạng gì. Nhưng khi lớn lên một chút thì lại có sự bất thường:
Thị lực suy giảm.
Khả năng học tập, nói năng, đi đứng đều chậm hơn những đứa trẻ khác.
Lớn hơn chút nữa thì:
Đã thấy rõ là bị chứng lơ ngơ hoảng hốt.
Tinh thần không thể tập trung được.
Nói một quên hai, nói hai quên một.

Cậu bé sống trong thế giới của chính mình, đối với bất kì sự việc gì dường như cũng đều không quan tâm.
Thành tích học hành trong lớp thì xếp thứ nhất từ cuối lên.
Rất miễn cưỡng mới học xong được tiểu học.
Rồi học xong được cấp hai.
Bây giờ thì chuẩn bị thi đại học rồi.

Người đệ tử họ Đổng này bỗng nhiên nhớ đến Lư Sư Tôn, thế là bèn đến thỉnh cầu tôi gia trì cho con trai có thể đỗ được vào ngôi trường danh tiếng.

Sau khi gia trì, tôi nói:
"Đứa trẻ này tinh thần không thể tập trung, e rằng với thành tích luôn đứng cuối lớp, muốn thi được vào trường danh tiếng thì trừ phi có phép thần kì thôi."
Họ Đổng nói:
"Xin Lư Sư Tôn gia trì, vậy thì hy vọng vào kì tích."
Tôi cười:
"Ha ha ha!"

Họ Đổng cũng cười. Bởi vì anh ta biết làm gì có khả năng con trai của anh ta thi đỗ trường danh tiếng. Gia trì thì lại càng thêm buồn lòng thôi.

Nhưng, kì tích thật sự xảy ra rồi! Kì tích như thần khiến mọi người sửng sốt đã xảy ra rồi!

Buổi tối sau hôm được tôi gia trì xong.
Đứa con trai lơ ngơ liền nằm mơ:
Mơ thấy Lư Sư Tôn cầm theo một cái túi đến nhà của cậu, Lư Sư Tôn nói với cậu rằng:
"Ta giúp con thay não!"
Cậu bé hỏi:
"Thay não là thế nào?"
Tôi nói:
"Não của con thường lơ ngơ hoảng hốt, bây giờ ta đã tìm được một bộ não có IQ cao [IQ - chỉ số thông minh], có trí tuệ siêu việt, học thức rất cao rồi. Người này bị chết bất ngờ."
Tôi còn nói:
"Ta đã lấy não của người đó đến đây để thay não cho con."
Cậu bé nói:
"Thay não ư, nghe sợ quá đi!"
Tôi nói:
"Đừng sợ, chỉ là thay đổi mà thôi, không đau một chút nào."
Thế là,
Tôi lấy ra bộ não hoảng hốt của cậu.
Rồi đưa vào bộ não cao cấp.
Bởi vì ở trong mơ nên không đau một chút nào, loáng một cái đã thay xong rồi.

Cậu bé tỉnh dậy liền kể với bố rằng nửa đêm Lư Sư Tôn đã đến thay não.
Cậu bé nói:
"Lư Sư Tôn là bác sĩ ngoại khoa sao?"
Họ Đổng nói với con:
"Không phải! Nhưng Lư Sư Tôn là người có sức mạnh thần bí!"

Sau khi thay não:
Cậu bé từ một người có trí tuệ yếu kém đã trở thành có trí tuệ rất cao. Năng lực học tập trở nên rất tốt.
Trí nhớ siêu tốt, không quên điều gì.
Không những cậu thi đỗ vào trường danh tiếng mà còn xếp thứ nhất.
Đệ tử họ Đổng nói đầy sửng sốt:
"Trên đời này sao lại có chuyện như thế được?"

Thực lòng thực sự kể với mọi người rằng, Lư Sư Tôn tôi chính là một người học phổ thông đã bị lưu ban hai lần, học trung học thì luôn đứng nhất lớp. Đây cũng là một đại kì tích đấy nhỉ!


### 19. Cờ lệnh chữ "Oán"


Tại Seattle Lôi Tạng Tự, sau bữa tối, khi bước ra bên ngoài, tôi trông thấy một bé gái khoảng 13 tuổi đang gào khóc.
Là con gái của nhà họ La.
Tiếng khóc của cô bé rất kì dị, giống như là tiếng rít lên vậy.
Đầu lắc nguầy nguậy.
Chân dậm bình bịch.
Cả người vùng vằng.

Tôi hỏi:
"Có chuyện gì vậy?"
Họ La nói:
"Mấy ngày nay nó đều như vậy, cả ngày đều sợ hãi, liên tục hoảng hốt, khóc rất thảm thiết!"
Tôi nói:
"Để tôi xem xem!"
(Cá nhân tôi không phải là người thích xen vào những chuyện đời tư, nhưng lại là cao nhân to gan, giữa đường gặp chuyện bất bình là xông đến giúp.)

Tôi đứng ở sau lưng cô bé.
“Niệm một câu chân ngôn.
Triệu thỉnh:
Thượng Thanh Thượng Đế Đông Hoa Đại Đế Quân.
Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn.
Thiên Du Thập Nhị Khê Nữ.
Na Diên Ngũ Thiên Nữ.
Hỏa Quang Đại Tướng.
Phù Hải Đại Tướng.
Hống Phong Đại Tướng.
Thần Binh Thần Tướng cấp cấp như luật lệnh.”

Tôi đưa một tay vỗ vào lưng của cô bé.
"Bốp" một tiếng.
Một cái bóng màu đen từ trên người cô bé ngã ra, nằm lăn trên mặt đường.

Tôi trông thấy cái bóng đen giơ lên một cờ lệnh, trên đó viết một chữ "Oán".
Tôi vừa nhìn thì cũng rất kinh ngạc, bởi vì cờ lệnh chữ Oán là do âm ti phát ra, có ý nghĩa là "Có oán báo oán, có thù báo thù".
Trong việc này có liên quan đến nhân duyên quả báo.

Kết quả là:
Tôi nhìn thấy cờ lệnh màu đen biến thành một mũi tên bắn trúng vào vai trái của mình. Nhưng tôi cũng không bận tâm. Điều tôi quan tâm là con gái nhà họ La đã hoàn toàn hồi phục. Quả nhiên là cô bé đã bình thường, rất cả đều an lành.

Chẳng ngờ, đêm hôm đó về nhà, bên vai trái của tôi bắt đầu đau.
Tay không giơ cao lên được. (Giống như vai bị đóng băng lại.)
Không có cách nào đứng thẳng lưng được.
Không có cách nào lấy đồ vật.
Đau tới mức mặt mày nhăn nhúm.
Tôi đau mất cả một ngày.

Sau đó, tôi thỉnh Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn giúp đỡ, dùng lòng bàn tay phải của tôi vỗ vỗ lên vai trái của mình.
"Bộp… bộp… bộp… bộp… bộp…"
Vai trái của tôi bị vỗ tới mức đỏ cả lên.
Thế rồi cái mũi tên đó bay ra khỏi vai tôi, âm thầm biến mất.
Cái vai của tôi đã khỏi rồi!

Nhưng, tôi lại e cái bóng đen nhỏ thó và cờ lệnh đó sẽ lại đến quấy nhiễu cô bé kia.
Tôi nói:
"Giải oan giải oan giải oan kết, oan gia nên giải, không nên kết."
"Oan oan tương báo đến khi nào hết, không oan không nợ nhẹ cả người."
Tôi phải dạy cho cô bé cách làm sao để giải trừ oan kết, để tránh được oan nghiệp đeo bám theo người.


### 20. Nữ Thần Thanh Xuân (Nữ thần thời gian)


Một hôm, tôi rơi vào trong cảnh giới mơ mơ hồ hồ.
Là cõi trời bên ngoài cõi trời.
Là bên ngoài thời gian.
Là không có thời gian, không có biên giới. (Không có quá khứ, hiện tại, tương lai.)

Trong chớp mắt, tôi gặp một thiếu nữ 16 tuổi.
Ăn mặc rất diễm lệ, trong đời này tôi chưa từng gặp một người đẹp nào tuyệt sắc đến như vậy.
Tôi nhìn như bị mê hoặc, nhìn không rời mắt ra được.
Người đẹp cũng chẳng tức giận.

Nàng hỏi tôi:
"Liên Sinh! Ngài không biết tôi sao?"
Tôi hỏi:
"Nàng là ai? Nơi này là nơi nào?"
Nàng đáp:
"Tôi là Nữ Thần Thanh Xuân (Nữ Thần Thời Gian), nơi đây là thành Cát Tường Phù Dung."
Nữ Thần Thời Gian? Nữ Thần Thanh Xuân?
Tôi ngẫm nghĩ, cuối cùng tôi đã nhớ ra rồi.
Tôi nói:
"Nàng là Minh Phi của Thời Luân Kim Cang."
Nàng nói:
"Đúng vậy."

Tôi nghĩ đến chân đế của Thời Luân Kim Cang:
"Dùng bánh xe lớn của thời gian để phá hủy tất cả thế gian, để cho vạn sự vạn vật đều hóa thành không."
"Nội thời luân và ngoại thời luân hợp nhất, hình thành nên biệt thời luân."
"Tất cả vô sinh, đây là chân đế."
Nữ Thần Thanh Xuân nói:
"Liên Sinh! Ngài đã hiểu được sâu sắc pháp chỉ của Thời Luân rồi."
Tôi hỏi:
"Nữ Thần Thanh Xuân, nàng làm thế nào để giữ mãi tuổi xuân?"
Nữ Thần Thanh Xuân đáp:
"Tôi chẳng tồn tại thời gian, do vậy, vĩnh viễn như thế này."

Tôi hỏi:
"Không có thời gian là thế nào?"
Nữ Thần Thanh Xuân đáp:
"Tâm tính tựa như hư không
Bản sơ nhậm vận mà thành.
Đây là Phật bảo.

Còn nữa:
Tâm tính đã dừng tham ái
Chẳng giữ cũng như chẳng bỏ
Đây là Pháp bảo.
Còn nữa:
Vô sinh tức vô thoái chuyển
Tâm không trụ cũng không tạo tác.
Đây là Tăng bảo."

Tôi nghe xong cũng hiểu được, “không tồn tại thời gian” chính là ẩn trong những điều trên.

Tôi hỏi:
"Xin hỏi Nữ Thần Thanh Xuân, làm sao để chứng đắc được quả vị vĩnh cửu bất biến này?"
Nữ Thần Thanh Xuân đáp:
"Nếu có cái nhìn chính xác không lẫn lộn
Những khẩu quyết lĩnh thụ được phù hợp với căn khí của hành giả
Tu trì không mắc lỗi
Tinh tấn không ngừng
Hành trì không tham chấp cũng không thiếu sót
Không phạm giới luật
Bổn tôn và hành giả là một
Thì sẽ có thể chứng đắc quả vị vĩnh cửu bất biến."

Tôi hỏi:
"Giữ gìn tuổi thanh xuân như thế nào?"
Nữ Thần Thanh Xuân đáp:
"Tôi dạy ngài khẩu quyết, lại đây tôi nói thầm cho nghe!"
Tôi nghe rõ ràng rành mạch, sẽ khắc ghi mãi trong tâm tôi.
(Nếu đồng môn muốn biết, xin đích thân đến tìm Lư Sư Tôn!)


### 21. Sự thù thắng của Nữ Thần Thanh Xuân


Tôi hỏi:
"Nữ Thần Thanh Xuân, sao nàng biết nhiều như vậy?"
Nàng đáp:
"Vì tôi là Minh Phi của Thời Luân Kim Cang."
Tôi hỏi:
"Thật là bất khả tư nghì! Minh Phi thì sẽ có chứng lượng như vậy sao?"
Nàng đáp:
"Thời Luân Kim Cang chính là hóa thân của Phật Thích Ca Mâu Ni."
Tôi hỏi:
"Có thể nói cho tôi biết khẩu quyết vô thượng được không?"
Nàng đáp:
"Tôi là bậc Chính Biến Tri."

Tôi hỏi:
"Thế nào là kiến đạo (khai ngộ)?"
Nàng đáp:
"Vô nhị." (Kiến đạo là tuyệt đối, không có nhị nguyên.)
Tôi nghe xong, thán phục.
Tôi hỏi:
"Thế nào là tu đạo?"
Nàng đáp:
"Vô nhị không gián đoạn, tức là tu đạo."
(Trời ơi! Thật lợi hại!)
Tôi hỏi:
"Vậy thì thế nào là vô tu?"
Nàng đáp:
"Chỉ cần bảo nhậm, không cần tinh tấn cần cù, tức là vô tu."
Tôi hỏi:
"Không cần tinh tấn sao?"
Nàng đáp:
"Đến được cảnh giới này thì đã là điểm cuối cùng rồi, còn tinh tấn làm gì nữa?"
Tôi thật sự thán phục, bái phục sát đất.

Tôi lại nhớ đến vấn đề "tam thân". Nhất định cần phải đập nồi ra cát để hỏi cho đến cùng.
Tôi hỏi:
"Cái gì là pháp thân?"
Nàng đáp:
"Mọi sự đều là chẳng có."
(Câu trả lời khiến tôi kinh ngạc, nhưng nó rất sâu sắc sáng suốt.)
Tôi hỏi:
"Thế cái gì là ứng thân?"
Nàng đáp:
"Ứng đối."
(Câu trả lời lại khiến tôi sửng sốt, chỉ dùng hai chữ "ứng đối" mà đã gói trọn được tất cả mọi pháp hiển hiện rồi.)
Tôi hỏi:
"Cái gì là thụ dụng thân?"
Nàng đáp:
"Viên mãn được những lợi ích của tam thân, điểm này Liên Sinh không hiểu sao?"
Tôi hiểu.

Giờ đây tôi phát hiện ra, Nữ Thần Thanh Xuân là Minh Phi của Thích Ca Mâu Ni Phật, cũng là Minh Phi của Thời Luân Kim Cang, chả trách mà nàng ấy là một Chính Biến Tri.

Nàng bất ngờ nói:
Tư lương đạo.
Gia hành đạo.
Kiến đạo.
Tu đạo.
Cứu cánh đạo. (đạo vô tu)
Có kiến giải vô cùng thù thắng, loại kiến giải này khiến người khác phải sửng sốt, nhưng là nói một câu là trúng đích.

Cá nhân tôi hy vọng mỗi một cá nhân trong Chân Phật Tông, bất kể là căn cơ cùn hay căn cơ sắc, hay là căn cơ thường thường bậc trung, đều cần hiểu thật rõ ràng, hiểu được ý nghĩa sâu sắc của hai chữ "vô nhị" mà Nữ Thần Thanh Xuân đã chỉ dạy!
Tôi hiểu "vô nhị".
Những ai không hiểu hãy mau đến hỏi tôi.
Bởi vì thời gian ứng hóa của tôi đã có giới hạn rồi!


### 22. Chồng ma


Có một cô gái vô cùng xinh đẹp, nét mặt tươi tắn rất dễ thương, từ bang khác đến Seattle hỏi chuyện. Cô gái đem đến một cành hoa mai để cúng Phật.
Cô yêu cầu tôi cho thị giả lui ra ngoài.
Tôi cho thị giả lui.

Cô liền kể với tôi một bí mật. Cô nói:
Khi học đại học, một đêm cô nằm mơ, thoáng chốc cô dường như mê đi, cô thấy một người con trai ở trên giường đè chặt cô xuống. Cô hỏi là ai?
Đáp: Là chồng ma.
Sau đó, người chồng ma này, hoặc mỗi đêm đến một lần, hoặc hai đêm đến một lần, hoặc ba đêm đến một lần, khi lâu nhất thì là một tuần đến một lần.

Ban đầu, cô gái cũng cảm thấy thoải mái! Cô cũng không cự tuyệt!
Về sau, cô cảm thấy người chồng ma này có mùi tanh, có hơi cảm thấy khó chịu, rồi dần dần cô không chịu được nữa.
Cô hỏi:
"Vì sao có mùi tanh?"
Chồng ma đáp:
"Khó tránh!" - Ma nói: "Khi anh mới thành ma, vẫn chưa có mùi tanh. Nay đã 6 năm rồi, xương cốt đã mục rữa, do đó mùi tanh mạnh hơn!"

Cô gái nói với chồng ma:
"Sắp tới em sẽ kết hôn, anh không thể lại đến đây nữa!"
Chồng ma nổi cơn giận:
"Ai cướp vợ tao, tao sẽ cho nó biết tay, khiến cho nó gặp họa!"

Thế là cô tìm đến bác sĩ tâm lý, bác sĩ tâm lý cũng cứng họng, không biết phải trả lời thế nào. Tìm đến nhà ngoại cảm, không ngờ nhà ngoại cảm bị ma chửi cho một trận.
Chồng ma cưỡng ép cô.
Cô chống cự.
Nhưng cô luôn luôn bị thua người chồng ma này.

Ngày kết hôn của cô gái đã gần kề, cô gái càng lo sợ. Nghe nói Lư Sư Tôn ở Seattle, do đó cô đã đến để thỉnh giáo!
Tôi nghe xong, cũng ngớ người ra!

Mặc dù tôi đã thấy nhiều và biết nhiều, chuyện bị bóng đè, chuyện giao hợp với ma, chuyện ma đánh ma tôi đã thấy nhiều rồi. Nhưng rõ ràng và cụ thể như thế này, lại còn xuất hiện ở thế giới hiện thực thì tôi cũng không gặp nhiều lắm. Đặc biệt là cô gái này xinh đẹp như thế, tôi cảm thấy nên giúp đỡ để cuộc đời cô đỡ hối tiếc. (Cũng không hẳn chỉ là vì cô xinh đẹp nên mới giúp, mà là vì chuyện mà cô gái này gặp phải vô cùng kì lạ đặc biệt.)

Đầu tiên, tôi cho cô bốn lá phù áp sát. [Phù trấn áp sát khí.]
Người chồng ma đi vào phòng, xé bốn lá phù này và cười nói:
"Chỉ là trò trẻ ranh, dám làm gì ta! Ta là ma địa lý, ai có thể làm rung chuyển ta được."
(Ma địa lý là ma đã đắc địa linh, có được địa khí.)

Tôi thấy phù áp sát không thành công. Phải làm sao đây?
Thật khiến tôi tức chết, tôi hỏi Diêu Trì Kim Mẫu:
"Phải làm sao để trị hắn?"
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Dùng pháp Bọ cạp của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ để trị, dùng chiêu gậy ông đập lưng ông."

Tôi cho cô gái mặc áo bọ cạp.
Tôi còn gia trì cho cô gái Đại Lực Kim Cang quyền.
Đêm đó chồng ma đến, vẫn muốn làm chuyện tà dâm như trước đây, nhưng lần này thì khác. Vùng kín của cô gái có răng nhọn, vừa mở ra cắn một cái thì “cái đó” đã gãy "rắc", chồng ma kêu la oai oái. Chồng ma nhìn kĩ lại thì thấy hóa ra là một con bọ cạp rất to.
Còn cô gái thì dùng nắm đấm đánh chồng ma, chồng ma không đánh lại được, xém chút nữa là bị đánh chết.
Kể từ đó, hắn không dám quay trở lại nữa!
Còn cô gái này cuối cùng đã kết hôn như ý nguyện!
Trong thiên hạ đầy những sự việc kì lạ, đây là một trong những chuyện như thế.


### 23. Thượng sư Lý Hạnh Chi


Thượng sư Lý Hạnh Chi 86 tuổi thì viên tịch.
Một đêm trước khi viên tịch, khi tôi lái xe trở về Nam Sơn Nhã Xá, con gái của bà là Quý Dung hỏi tôi:
"Đã đến lúc chưa?"
Tôi đáp:
"Tối nay!"
Quý Dung hỏi:
"Chúng con phải làm sao?"
Tôi đáp:
"Hãy làm theo phương pháp nhờ vào thân trung ấm nghe những lời chỉ dạy mà được độ."
Quý Dung gật gật đầu.

Đêm đó, Thượng sư Lý Hạnh Chi trong lúc ngủ đã đi rồi.
Bảy ngày sau.
Ngày 3 tháng 7 năm 2020, 5h30 chiều, tôi đang ở trong phòng vẽ tranh.
Tôi ngáp liên tục. (Âm thanh của tiếng ngáp làm rung cả căn phòng.)
Tôi cảm thấy buồn ngủ.
Trong nháy mắt, tôi nhìn thấy Thượng sư Lý Hạnh Chi mặc đồ màu trắng, đầu đội mũ miện, toàn thân tỏa ánh sáng trắng, ngồi trên hoa sen trắng.
Tôi hỏi:
"Tôi mới siêu độ cho bà vãng sinh Phật quốc, sao lại quay lại thế?"
Bà đáp:
"Chỉ một ý nghĩ!"

Tôi đã biết rồi. Với tâm chí viên chí đốn, thực sự là muốn đến nơi nào thì chỉ cần khởi lên một ý nghĩ mà thôi, một ý nghĩ là có thể đi khắp thế giới, khắp mọi nơi trong lục đạo. [chí viên chí đốn - viên là viên mãn, không còn một chút khiếm khuyết nào, đốn là đốn siêu, là không cần phải theo thứ tự]

Tôi hỏi:
"Vì lý do gì mà bà đến đây?"
Bà đáp:
"Hôm nay là tôi chết được bảy ngày, do vậy mà đến."
Tôi hỏi:
"Chỉ vì là bảy ngày mà đến ư?"
Bà đáp:
"Đương nhiên không phải, tôi muốn tâm sự với Lư Sư Tôn."

Tôi hỏi:
"Tâm sự gì?"
Bà đáp:
"Tôi chết rồi, thân không còn nữa, chỉ còn lại tâm, tôi đã mở tâm ra, nhìn thấy được chân tâm của tôi."
Tôi nói:
"Nói rất hay!"

Bà nói:
"Đệ tử Chân Phật trong thời kì mạt thế hiện nay, người có thể điều phục được tự tâm không nhiều, người có thể nhìn thấy chân tâm lại cực kì hiếm có."
Tôi nói:
"Bà nói đúng rồi!"

Bà nói:
"Khi còn sống, tôi cũng thế. Khi còn sống, tôi cũng thao thao bất tuyệt, nói những lời khiến sắt thép cũng phải mềm, nhưng ngôn từ trống rỗng. Thật may, tôi vẫn luôn tôn kính bậc chí tôn Căn bản Thượng sư, cũng có thực tu, có được sự gia trì của Lư Sư Tôn, tôi mới có thể nhìn thấy được chân tâm. Vì việc này mà tôi đặc biệt tới để cảm tạ."
Tôi nói:
"Đừng khách sáo!"

Bà nói:
"Hóa ra là chân tâm viên mãn cụ túc."
Bà nói tiếp:
"Bên trong chân tâm đã có sức mạnh đại bi của Quan Thế Âm Bồ Tát, có đại trí huệ của Văn Thù Bồ Tát, có đại pháp lực của Kim Cang Thủ Bồ Tát. Trí tuệ rộng lớn vĩ đại, sức mạnh chứng ngộ, sức mạnh uy mãnh. Giờ đây tôi đã mất đi thân thể, tôi mới hiểu sự vô ích của cái thân này."

Tôi nói:
"Vậy là tốt rồi! Bà muốn tôi làm gì?"
Bà nói:
"Viết lại những lời này để cảnh tỉnh mọi người!"
Tôi nói:
"Tôi biết rồi!"


### 24. Thân khẩu ý thanh tịnh


Chân Phật Kinh có viết:
"Lấy thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh làm pháp bảo."
Có đệ tử Chân Phật hỏi tôi:
"Thực tu như thế nào?"
Trước đây tôi thường trả lời:
"Thân không động.
Khẩu không nói.
Ý không chạy.
Đây chính là thân, khẩu, ý thanh tịnh."

Một hôm, khi tôi đang ở cõi giới bên ngoài các cõi trời, tôi đã gặp Kim Cang Tát Đỏa.
Kim Cang Tát Đỏa bảo tôi:
"Lư Sư Tôn, ngài trả lời đệ tử về thân khẩu ý thanh tịnh quá giản lược. Mặc dù là đúng, nhưng cần dạy họ về phương pháp mới phải."
Tôi nói:
"Tôi cho rằng họ đều hiểu!"
Kim Cang Tát Đỏa nói:
"Vẫn có rất nhiều người không biết, Lư Sư Tôn! Ngài hãy dạy cho họ biết đi!"

Do vậy, tôi viết chương sách này là vì Kim Cang Tát Đỏa bảo tôi viết ra.
Tôi nói: thực tu thân không động, khẩu không nói, ý không chạy. Phương pháp như sau:

Thân không động:

1. Ngồi với hai chân vắt ở thế hoa sen kim cương.

1. Hai tay giữ định ấn, đặt ở dưới rốn.

1. Giữ thẳng lưng.

1. Mở rộng hai vai.

1. Cằm hơi ấn vào phía trong.

1. Đầu lưỡi chạm vào hàm trên.

1. Nhắm mắt.

(Cách này làm cho người không lắc lư, cũng chính là cách ngồi Tỳ Lô thất chi tọa.)

Khẩu không nói:

1. Thở khí bẩn ra ngoài.

1. Hít khí sạch vào trong.

1. Yên lặng không nói.
(Cách này làm cho lời nói không dao động.)

Ý không chạy:

1. Không nghĩ về quá khứ.

1. Không nghĩ về tương lai.

1. Không nghĩ về hiện tại.
Thậm chí:
Không suy nghĩ.
Không tạo tác.
Không nghĩ về tính Không.
Không có đúng sai thị phi.
Tâm vô trụ.
Tâm tự nhiên.
Tâm thả lỏng.
(Bỏ hết tất cả những suy nghĩ và tư duy có thể có.)
Nói cách khác là: không nghĩ, không nhớ, không tiến hành phân tích, không tu chứng, không ngẫm nghĩ, mà cứ an trụ tự nhiên.

Tôi nói:
Dựa vào phương pháp của thân khẩu ý thanh tịnh, cứ trực tiếp liên tục như vậy, có thể mở ra được tâm ở trong tâm, chứng đắc vượt lên trên các cõi giới. Sản sinh ra chứng ngộ vô thượng của sự tu hành.

1. Giác thọ.

1. Quang minh.

1. Chứng lượng.
Đây là tất cả những sự thấu triệt của các bậc thượng sư chí tôn, còn có cả lời dạy quý giá mà Lư Sư Tôn tôi có được trong quá trình học tập trải nghiệm Phật pháp.

Có người hỏi:
"Thế những mật pháp mà Mật giáo có thì sao?"
Tôi đáp:
"Đây chỉ là phần tiền hành chuẩn bị cho nhập Tam ma địa, còn có cả chính hành và hậu hành nữa!"
(Tập hợp đủ các Nhân thì mới có thể chứng Quả.)


### 25. Sở duyên và y chỉ


Tôi từng nói:
"Chính hành bao gồm: quán tưởng, trì chú, nhập Tam ma địa."
Quán tưởng kết ấn - thân thanh tịnh.
Trì chú -  khẩu thanh tịnh.
Nhập Tam ma địa - ý thanh tịnh.

Để quán tưởng thì cần phải xuất hiện "Sở duyên và Y chỉ", đây là để tu "Chuyên nhất" và "Li hí". Theo kinh nghiệm tu hành của tôi thì Sở duyên và Y chỉ có:

1. Mùi hương.

1. Gỗ đá.

1. Bổn tôn hoặc Thượng sư.

1. Chú tự.

1. Minh điểm.

1. Đếm hơi thở.

1. Tâm khí hợp nhất.

1. Nhập - trụ - tan.

1. Khí đi vào màu trắng, khí giữ ở bên trong màu đỏ, khí đi ra ngoài màu đen.

1. Bảo bình khí.

1. Chỉ quán.

1. Pháp tính bản nhiên.

1. An trụ tự tâm.

1. Vô tạo tác.

1. Pháp căng - lỏng.
...

Cá nhân tôi khi tu kết ấn và quán tưởng, có rất nhiều phương pháp để tu chứng. Những pháp tôi liệt kê ra ở trên chỉ là một phần nhỏ. Nhưng, một phần nhỏ này đều là những gì tôi đã kinh nghiệm qua, tôi cho rằng có hai pháp mà tôi khá chuyên chú.

Pháp Bổn tôn:
Quán tưởng hình tượng trang nghiêm của Bổn tôn, Bổn tôn tỏa ánh sáng rực rỡ lấp lánh vàng kim, cụ túc Báo thân Phật, phóng tỏa ánh sáng, thân mặc tam y, an trụ ở phía trước hành giả. Có thể quán tới khi tự mình trở thành Bổn tôn.

Pháp đếm hơi thở:
Khi thân tâm thả lỏng an trụ, tâm chú ý vào hơi thở hít vào, không làm việc gì khác.
Đếm hơi thở từ 1 đến 21600 hơi thở.
Nhẹ, chậm và dài.
Sở duyên và Y chỉ nằm ở hơi thở.
Cho đến khi dừng mọi suy nghĩ.

Tôi nói:
Pháp Bổn tôn có thể kết hợp trì chú, trì chú xong, lại kết hợp với nhập Tam ma địa.
Pháp đếm hơi thở, sở duyên y chỉ tại hơi thở cho đến khi dừng suy nghĩ thì cũng là nhập vào Tam ma địa rồi.

Kinh Lăng Nghiêm viết:
"Cứ y theo những khẩu quyết hướng dẫn về an định thân tâm như vậy, thành thạo thông đạt thiền định, sẽ sinh ra chính giác."

Đại sư Saraha nói:
"Tâm không còn tạo tác thì sẽ vui vẻ và sáng suốt, nước nếu không khuấy động thì nước sẽ trong và sạch.
Giác thọ từ đó mà sinh ra.
Quang minh cũng như thế.
Chứng lượng cũng sẽ đủ đầy.

Long Thụ Bồ Tát nói:
“Niệm tưởng mà là chính niệm thì giúp thành tựu Như Lai tự tại. Nhưng niệm tưởng cũng chính là con đường ngắn nhất ném ta vào thẳng sáu cõi luân hồi. Chỉ cần tinh tấn tập trung liên tục không dừng dứt, vào hiện tại, ngay lúc này. Cứ như thế xả bỏ niệm tưởng, vạn pháp cũng sẽ tự diệt vào chính nó.”

Hãy cẩn thận!
Câu Xá Luận viết:
“Chính niệm có thể giúp cho mọi sự luyện tập đã thông thuộc không bị quên bỏ.”

Tôi (Lư Sư Tôn) dặn mọi người:
Quán tưởng là Chuyên nhất.
Trì chú là Li hí.
Nhập Tam ma địa là Nhất vị.
Khi đã đến lúc chứng quả là Vô tu.
(Đây là điều mà khi tôi ở cõi giới vượt ngoài các cõi, đã gặp Kim Cang Tát Đỏa và được ngài dạy cho tôi.)


### 26. Mưa thuận gió hòa


Tôi từng nói:
"Vào năm 2000, khoảng thời gian tôi ẩn cư tại Đài Loan ba năm rưỡi, không có cơn bão nào đổ bộ vào Đài Loan."
Có chứng cứ không?
Tôi có một đệ tử làm ở cục Quản lý xuất nhập cảnh, ngày tháng tôi nhập cảnh và xuất cảnh đều có thể kiểm tra. Điều này chứng minh rằng trong ba năm rưỡi tôi ở Đài Loan đó, bão đã không vào Đài Loan.

Khi tôi nhập cảnh thì cơn bão Xangsane vừa mới đi qua.
Khi tôi xuất cảnh thì lập tức có bão đổ bộ vào Đài Loan.
Nhân chứng:
Thượng sư Liên Cực.
Điều này chứng minh rằng: "Gió hòa."

🌟

Tôi từng kể:
"Khi tôi đi du lịch Cambodia đã xảy ra kì tích."
Tôi vừa xuống xe du lịch thì trời tạnh mưa.
Tôi vừa lên xe thì trời đổ mưa.
Nói cách khác là:
Xe đến địa điểm tham quan thì mưa liền tạnh.
Tôi vừa bước chân lên xe du lịch, chân trước chân sau vừa bước lên xe thì mưa to trút xuống.
Thời gian du lịch khoảng 20 ngày.
Ngày nào cũng như thế.
Người hướng dẫn du lịch trên xe thấy cảnh tượng này đã xuýt xoa kinh ngạc, lập tức quỳ xuống xin quy y tôi.
Những đồng môn người Cambodia cùng đi du lịch đều là nhân chứng.
Điều này chứng minh rằng: "Mưa thuận."

🌟

Tôi có pháp cầu mưa, như sau:
Lấy sữa, sữa chua, váng sữa và bột mì trộn với nhau, cùng với 1080 hạt hoặc 108 hạt. Mỗi hạt cần tụng chú 108 biến.
Chú rằng:
"Om naga galagala baruyisaye soha." (Ôm Na-ga Ga-la Ga-la Ba-ru-y-sa-ê Sô ha)
Ném vào hồ nước.
Ném ra biển.
Không có hồ hay biển thì ném xuống sông.
Nếu tất cả đều không có thì ném xuống giếng.
(Nếu muốn linh nghiệm thì khi tụng chú, lấy một bộ quần áo của người đã mất đặt lên đất, rồi hành giả ngồi lên trên quần áo của người đã mất, tụng chú sẽ có linh nghiệm.)

🌟

Tháng 7 năm 2020, tôi thấy ở Trung Quốc gặp nạn bão lũ, thành phố Kumamoto của đảo Kyushu cũng gặp lũ lụt.
Mưa kéo dài suốt cả tháng.
Hơn nữa còn là những cơn mưa rất lớn. Lượng mưa nhiều như vậy cả trăm năm mới gặp.

Tôi có pháp dừng mưa.
Cũng tương tự, lấy sữa tươi, sữa chua, váng sữa và đất sét trộn với nhau. Lấy 108 hạt. Mỗi hạt tụng chú 108 biến.
Chú rằng:
"Naga galagala baruyisaye phat." (Na-ga Ga-la Ga-la Ba-ru-y-sa-ê Phạt)
Cầm mỗi hạt ném ra:
Hướng đông.
Hướng tây.
Hướng nam.
Hướng bắc.
Ở giữa.
Ném lên không trung.
Khi tụng chú, cũng ngồi lên trên quần áo của người đã mất, sẽ có được linh nghiệm.
Vì sao lại dùng đất sét?
Tôi trả lời:
"Thổ khắc thủy."

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người rằng, tôi từng gặp bốn vị thần Đất, Nước, Lửa, Gió. Địa Thần, Thủy Thần, Hỏa Thần, Phong Thần đều sẵn lòng hộ trì tôi độ chúng sinh tu hành.


### 27. Một điểm sáng nhỏ


Gần đây tôi có một giấc mơ, rất rõ ràng và chân thực.
Trong mơ:
Tôi phát hiện ra mình đi qua một ngôi làng, ngôi làng nhỏ đó bốn bề yên ắng, không hề có ánh đèn nào.
Thế nên xung quanh cũng là một màn đêm đen kịt, đưa đến một thứ mùi bất thường và quái quỷ.

Trên ngọn núi ở đằng xa có một điểm sáng rất nhỏ. Tôi đi tìm kiếm điểm sáng đó. Tới gần thì thấy đó là một ngôi nhà nhỏ, điểm sáng đó phát ra từ một cây nến màu trắng.
Tôi đi tới gõ cửa. Người bên trong nói:
"Lư Sư Tôn! Ngài đã đến rồi, có chuyện cùng bàn. Mời vào! Mời vào!"

Tôi đi vào bên trong, trong nhà có hai người.
Một người ngồi trên cao, mặc quan phục.
Một người ngồi dưới thấp, có vẻ như là quan lại ở âm ty.

Tôi dự liệu chẳng sai, ngồi trên cao là Thành Hoàng Bồ Tát, ngồi bên dưới là phán quan âm phủ.
Thành Hoàng nói:
"Ngôi làng mà ngài vừa mới đi qua sẽ gặp vụ lở đất, toàn bộ sẽ bị chôn sống."
Tôi nghe xong, thất kinh.
Tôi nói:
"Tôi có thể cứu được không?"
Thành Hoàng đáp:
"Không thể."
Tôi nghe xong rất buồn lòng.

Phán quan âm phủ kia nói:
"Trong ngôi làng đó có hai nhà là đệ tử của ngài, thờ cúng đàn thành của ngài và trì tâm chú của ngài, chúng tôi nghĩ sau khi cùng bị chôn sống thì xin ngài siêu độ cho linh hồn của hai nhà đó, được không?"

Lần này tới lượt tôi nói:
"Không được."
Thành Hoàng nói:
"Vậy ngài bảo chúng tôi phải làm sao?"
Tôi nói:
"Tôi muốn hai nhà này phải được sống!"
Thành Hoàng nói:
"Vì hoạn lở đất, toàn bộ ngôi làng đều nằm trong phạm vi bị chôn sống, không ai được miễn, ngài bảo tôi phải làm thế nào?"
Tôi nói:
"Có cách. Cho lở đất làm hai đợt, đợt một cho đất đá đổ xuống hai nhà này, để cho đất đá ủn hai ngôi nhà đó ra xa xa, cách xa phạm vi bị chôn sống."
"Đợt lở đất thứ hai thì mới chôn sống cả ngôi làng. Ngài thấy sao?"
Thành Hoàng nói:
"Thế mà Lư Sư Tôn cũng nghĩ ra được!"
Phán quan âm phủ nói:
"Thế thì sẽ theo lời của Lư Sư Tôn."

Thành Hoàng nói:
"Chính vì hai nhà này thờ cúng đàn thành của Lư Sư Tôn, niệm tâm chú của Lư Sư Tôn, do đó tôi mới mời ngài đến đây để thương lượng."
Tôi nói:
"Xin cảm tạ Thành Hoàng!"
Mơ đến đây thì tỉnh.

Sau khi tỉnh dậy, tôi đã đưa ra một nguyện vọng rằng, tôi sẽ dùng Chân Phật Mật Pháp làm siêu độ, để độ cho tất cả những người bị vụ lở đất chôn sống ở ngôi làng đó đến được cảnh giới tốt đẹp hơn!
Sau đó:
Một vụ lở đất đã thực sự chôn sống một ngôi làng.
Chỉ có hai hộ gia đình bị đất đá đẩy ra một nơi rất xa, hai ngôi nhà này giống như con thuyền nổi trên đám đất đá lở.
Việc này là:
Giấc mơ và vụ lở đất tương ứng, cũng xem như là quá kì lạ!
Do đó, việc thờ cúng đàn thành là vô cùng quan trọng, niệm Thượng sư tâm chú là vô cùng quan trọng.


### 28. Thượng sư Lý Mỹ Lỵ


Thượng sư Lý Mỹ Lỵ là một trong những vị Thượng sư từ thời kì đầu. Tôi cùng thời với Thượng sư Lý Mỹ Lỵ.

Thượng sư Lý Mỹ Lỵ nằm trong một buồng bệnh yên tĩnh trong bệnh viện.
Trong trạng thái mơ hồ, bà nhìn thấy Lư Sư Tôn đi xuyên qua tường, đến bên giường bệnh. (Đương nhiên, đó là pháp thân của Lư Sư Tôn.)
Lư Sư Tôn dùng "Quang uẩn thiên thức pháp". [tập hợp ánh sáng để vận chuyển thần thức]

1. Mở thiên môn.

1. Đóng địa hộ.

1. Bịt nhân đạo.

1. Chặn quỷ lộ.

Nói rõ ràng hơn là, mở lỗ trên đỉnh đầu của Thượng sư Lý Mỹ Lỵ để cho nguyên thần của luân xa tim (bản thể) từ lỗ trên đỉnh đầu thoát ra. Rồi lại đóng địa hộ, tức là phong kín lại cửa tử của tam ác đạo để không bị đọa vào đạo địa ngục, đạo ngạ quỷ, đạo súc sinh. Cũng che kín luôn cả nhân đạo (nhân gian).

Thế nào là chặn quỷ lộ?
Chính là đóng hết tất cả các đường thông với ma quỷ, không để cho thân trung ấm của Thượng sư Lý Mỹ Lỵ nhập vào quỷ đạo (đạo atula).

Mở lỗ đỉnh đầu của con người, cho nguyên thần từ đó thoát ra, có thể đến được:
Tam giới thiên.
Thanh Văn.
Duyên Giác.
Bồ Tát.
Phật.

Sau khi tôi làm xong Quang uẩn thiên thức, tôi nói với Thượng sư Lý Mỹ Lỵ:
"Tôi dạy cho bà cách dựa vào thân trung ấm nghe lời dạy mà được siêu độ!"
Thượng sư Lý hỏi:
"Làm như thế nào?"
Tôi nói:
"Thường xuyên quán tưởng Bổn tôn và Căn bản Thượng sư (Lư Sư Tôn) hợp nhất, trụ ở lỗ đỉnh đầu."
Tôi còn nói:
"Trong tâm trì Căn bản Thượng sư tâm chú. Om guru liansheng siddhi hum." (Chính là trì một câu này.)
Hãy nhớ, Bổn tôn cũng tức là Căn bản Thượng sư, Thượng sư cũng tức là Bổn tôn, không hai không khác.
Tôi lại nói:
"Lúc lâm chung, nguyên thần sẽ theo trung mạch đi lên đến lỗ trên đỉnh đầu, mà ở trên đỉnh đầu thì có Bổn tôn và Căn bản Thượng sư cùng hợp làm một trụ ở đó, nguyên thần của bà sẽ tiến nhập vào trong tâm của Bổn tôn và Căn bản Thượng sư, hợp làm một, không tách biệt."
Ba người hợp làm một.
Cùng vãng sinh tịnh độ.
Tôi hỏi:
"Làm được như vậy chứ?"
Thượng sư Lý Mỹ Lỵ nói:
"Được!"

Sau khi tôi dặn dò xong thì cũng lập tức biến mất.
Lúc này, con gái của Thượng sư Lý Mỹ Lỵ là Tô San bước vào. Thượng sư Lý Mỹ Lỵ nói với con gái:
"Lư Sư Tôn vừa mới đến thăm mẹ, mẹ nhìn thấy pháp thân của Lư Sư Tôn."
Lúc này, các bác sĩ cũng đã từ bỏ các phương pháp chữa trị đối với bệnh của Thượng sư Lý Mỹ Lỵ rồi. Chỉ nói rằng Thượng sư Lý Mỹ Lỵ hãy về nhà nghỉ ngơi.

Thượng sư Lý Mỹ Lỵ không sợ chết. Bởi vì bà hiểu rằng thân thể này đã già, giống như căn nhà đã có trăm lỗ nghìn sẹo, có thể đổ có thể sụp.

Tổ sư Saraha nói:
Bản chất của sinh mệnh giống như hư không.
Nghĩa là về căn bản cũng là chẳng có sự sinh ra.
Nương dựa vào những lời dạy bảo của Căn bản Thượng sư.
Để hư không trở về với hư không.
Đừng rơi vào luân hồi nữa.


### 29. Có thứ gì đó đi theo cô


Có một cô gái 30 tuổi tên là Thái Ninh đến hỏi việc.
Tôi mới gặp đã thấy quả nhiên cô rất xinh đẹp.
Cô gái này tư dung kiều diễm, khí sắc sáng ngời lấp lánh, cánh tay thon dài trắng trẻo, má ửng hồng khẽ cười, khiến người khác nhìn phải thất thần.

Cô hỏi về chuyện hôn nhân. Tôi đếm ngón tay tính toán một hồi rồi đáp:
"Sóng lớn dữ dội!"
Cô hỏi:
"Ý là sao?"
Tôi đáp:
"Cơn sóng này chưa qua, cơn sóng khác đã xô đến."
Cô nói:
"Quả thực là như vậy. Từ khi còn là học sinh, tôi đã có rất nhiều người theo đuổi, những người bạn trai từng hẹn hò cũng không ít, nhưng cuối cùng cũng đều kết cục thất bại chẳng vì lý do gì cả, rất là kì lạ. Xin Lư Sư Tôn xem xét kĩ xem nguyên nhân là ở đâu?"

Tôi tĩnh tâm lại, hai mắt nhắm.
Tôi nhìn thấy sau lưng của cô gái có một vật kì dị.
Là một người đàn ông, mặt màu xanh, hai con mắt đầy những vệt đỏ, trên người và trên mặt đều bị thứ gì đó quấn chằng chịt như dây sắn, từ đầu tới chân có nước nhỏ tong tỏng, dáng người cao lớn.
Tôi nói:
"Có thứ gì đó đi theo cô!"
Thái Ninh thất kinh. Cô nói:
"Tôi cũng có cảm giác đó!"

Lúc này, cô mới thật lòng nói với tôi, khi còn là học sinh, có một nam sinh si tình theo đuổi cô, về sau không ngờ đã nhảy xuống sông tự sát.
Thái Ninh kể:
Cô từng nửa đêm tỉnh dậy.
Bên cạnh giường có một nam sinh đang ngủ, cô hét lên thì nam sinh cũng biến mất.
Trong phòng ngủ phát ra âm thanh kì quái, rõ ràng là có tiếng người đi lại, nhưng không nhìn thấy gì.
Trong mơ thì thấy nam sinh kia hiện thân, giống hệt với những lời mô tả của Lư Sư Tôn.
Còn nữa, khi cô đi ra ngoài một mình, cô thường nhìn thấy có một cái bóng hắt lên ở bên cạnh mình. Có rất nhiều những chuyện kì quái xảy ra. Cô cho rằng chính mình bị thần hồn nát thần tính, hóa ra lại là thật.

Tôi nói với Thái Ninh:
"Mặc dù cô có rất nhiều bạn trai, nhưng ai mà có mối quan hệ sâu với cô một chút thì sẽ bị cái thứ kia phá hoại, do vậy hôn nhân bất thành!"
Tôi nói:
"Cái thứ đó đã dùng sức mạnh để phá hoại."
Thái Ninh hỏi:
"Việc này phải làm sao?"
Tôi nói:
"Tôi có một pháp rất thần kì, nếu cô có thể dùng được pháp này thì có thể cứu được!"
Cô hỏi:
"Pháp gì?"
Tôi nói:
"Là một trong các pháp thế thân. Lấy một tấm ảnh của cô làm đầu, tết một hình nhân bằng cỏ. Mỗi ngày vào buổi sáng sớm, cô hà vào hình nhân đó ba hơi, liên tục trong bảy ngày. Rồi vào ngày Thành nhật, buổi chiều, cô ném nó xuống chỗ nước nơi bạn trai cô đã nhảy xuống."

Tôi nói rõ các chi tiết……
Tôi cần gia trì cho người cỏ này.
Niệm chú.
Người cỏ mặc quần áo của Thái Ninh.
Chọn ngày Thành nhật.
Ném xuống nước.

Nói ra cũng lạ, khi làm xong pháp này thì người con trai kia kể từ đó cũng không còn xuất hiện nữa.
Tất cả mọi chướng ngại đều không còn.
Hơn nữa, Thái Ninh thì nửa năm sau đó đã kết hôn rồi.
Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người rằng, pháp này vô cùng chân thực.
Nay Thái Ninh đã sinh được một trai một gái rồi.


### 30. Mau dậy dập lửa


Tôi đang chìm trong giấc mộng, ngủ rất say. Đột nhiên tôi nghe thấy một tiếng thét lớn:
"Mau dậy dập lửa!"
Tôi choàng tỉnh giấc, nhưng cơn buồn ngủ vẫn khiến tôi trong trạng thái mơ hồ.
Rồi lại một âm thanh kinh thiên động địa:
"Đùng!"
Trời ạ! Có ai đó cho pháo nổ ngay bên tai tôi.
"Đùng! Đùng đùng! Đùng! Đùng đùng!"
Tôi lại tỉnh dậy, không biết mình đang ở đâu. Nhưng, con sâu buồn ngủ lại bò lên mũi tôi. Thế là tôi lại ngủ ngất luôn!

Lần thứ ba.
Tôi bị một vật vô hình, tôi giống như trẻ con, còn vật đó là người khổng lồ, kéo tôi ra khỏi giường. Lúc này, tôi không còn cách nào khác là phải bò dậy. Mũi tôi đột nhiên ngửi thấy một mùi khét.

Chà! Hỏng rồi! Canh đậu đang nấu ở trong bếp đã quên không tắt lửa rồi. Tôi luống cuống xỏ dép, vội vội vàng vàng lao nhanh vào bếp.
Trời ạ! Nồi canh đã cháy cạn rồi! Những hạt đậu cũng bị cháy! Cái nồi đã cháy đen sì đang bốc khói.

Tôi tắt bếp gas trước. Rồi tôi nhấc cái nồi ra khỏi bếp, cái nồi đã bị cháy thủng một lỗ, thế là đi tong cái nồi rồi. Canh đậu cũng đi tong.
Tối qua nấu canh đậu, khi đi ngủ quên không tắt bếp, do vậy có thứ "vô hình" cật lực gọi tôi "mau dậy dập lửa". Tôi cảm ơn Vô Hình đã gọi tôi.
Nhưng tôi cũng càu nhàu với Vô Hình:
"Vì sao lại cật lực kêu tôi dậy dập lửa? Lẽ nào ngươi không biết tự tắt bếp sao?"
Tôi cảm thấy bọn họ nên giúp tôi tắt lửa mới phải.

Còn nữa!
Thỉnh thoảng, tôi đem cất những món đồ của mình đi, nhưng cất lâu rồi thì quên mất đã cất ở đâu. Tôi không nhớ ra nổi. Những nơi cần tìm thì đã tìm cả rồi, cũng không tìm thấy.
Lúc này, tôi liền hỏi Vô Hình:
"Món đồ ấy đang ở đâu?"
Vô Hình liền giúp tôi tìm.
Vô Hình nói:
"Ngài đem nó đến phòng hỏi việc, rồi tiện tay bỏ luôn vào trong cái giỏ bên cạnh cái ghế ngồi, rồi lại nhớ ra là món đồ này quá quý giá, nên đã để xuống tận bên dưới, phía trên thì dùng tấm vải để che đi món đồ này."
Thế rồi tôi đã thật sự tìm được món đồ đó ở dưới cùng của cái giỏ trong phòng hỏi việc, quả nhiên là nó nằm ở đó.

Vô Hình ở nhà tôi thật là quan trọng!
Họ đánh thức tôi dậy.
Họ sẽ gợi ý cho tôi viết sách trong mơ.
Khi tôi không có cảm hứng, họ sẽ đưa cảm hứng đến nhồi vào trong não tôi.
Họ sẽ nói với tôi rằng:
"Đệ tử này có duyên với ngài."
"Đệ tử này có duyên rất nông với ngài."
"Đệ tử này đối với ngài thật sự cung kính."
"Đệ tử này chỉ là biểu hiện bên ngoài thôi."
Sau đó, mọi việc đều lần lượt ứng nghiệm.

Vô Hình này là ai?
Chính là Bổn tôn mà tôi đã tương ứng.
Cùng biết!
Cùng thương!
Cùng yêu!


### 31. Ba giấc mơ như một


Có ba người nhà họ Trần gồm chồng, vợ và con gái. Người chồng tên là Trần Huy, người vợ tên là Trương Nhược Lan, con gái tên là Trần Diệc Khiết.
Họ dành dụm được một khoản tiền muốn mua nhà để ở. Trước khi mua nhà, họ đã gửi một bức thư xin Sư Tôn gia trì cho họ tìm được căn nhà vừa thích hợp vừa cát tường. Thư mới gửi đi thì ba người đều nằm mơ.

Giấc mơ của Trần Huy như sau:
Lư Sư Tôn đến, đưa Trần Huy đi xem một căn nhà nhỏ, nhà hai tầng, tầng trên là phòng thể dục. (Căn nhà sơn sọc màu trắng và vàng.)
Bước vào trong nhà thì cầu thang thẳng với cửa lớn.
Lư Sư Tôn nói:
"Sau này, do cửa lớn thẳng với cầu thang, ở giữa vẫn khá rộng, có thể bố trí thêm một tấm gương đặt ở giữa cầu thang và cửa lớn để chặn sát khí."
Lư Sư Tôn nói:
"Căn nhà này hợp với tuổi con giáp của ba người, sống ở đây sẽ được bình an."

Giấc mơ của Trương Nhược Lan như sau:
Lư Sư Tôn chỉ vào cái bàn ở giữa phòng bếp, nói:
"Cạnh cái bàn này có ba chiếc ghế cao kiểu ghế quầy bar. Phòng bếp và phòng khách có không gian thông thoáng, thủy hỏa không xung."
Lư Sư Tôn đưa Trương Nhược Lan đi xem phòng ngủ chính, là căn phòng ngủ lớn có phòng tắm và phòng vệ sinh đầy đủ, nhiều ánh sáng, trên đầu không có xà nhà, rèm cửa buông xuống, rèm cửa có màu hồng.

Giấc mơ của Trần Diệc Khiết:
Lư Sư Tôn đưa cô đi xem phòng của con gái.
Trên đầu có xà nhà, nhưng may là không nằm trong phạm vi đặt giường ngủ mà nằm về cuối chân giường. Lư Sư Tôn mở cửa sổ ra cho Trần Diệc Khiết xem. Cách không xa có một cái hồ nhỏ, cảnh hồ và núi đều rất đẹp. Có hai con ngỗng trắng đang bơi trên mặt hồ. Phòng vệ sinh trong phòng của con gái thì chỉ bé bằng một nửa, bởi vì chỉ có vòi hoa sen chứ không có bồn tắm. Nhưng Trần Diệc Khiết cũng cảm thấy hài lòng rồi.

Điều lạ là, thư mới vừa gửi đi thì ba người đều nằm mơ thấy đi xem nhà, giấc mơ rất rõ ràng. Ai nấy chậc lưỡi ngạc nhiên.
Bây giờ thì sự việc càng kì lạ hơn đã xảy ra!
Ba ngày sau khi họ nằm mơ, người môi giới nhà đã đưa họ đi xem một ngôi nhà nhỏ ở cạnh hồ. Ngôi nhà đúng thực là có màu vàng và có những sọc màu trắng.

Cửa chính vừa mở ra, Trần Huy hét to:
"Cửa lớn đúng là xung với cầu thang."
Trần Huy thử xem la bàn, quả nhiên là tam hợp. (Hướng nhà và tuổi đều hợp.)
Trương Nhược Lan cũng kêu lên:
"Bên cạnh cái bàn trong bếp đúng là có ba chiếc ghế cao kiểu ghế quầy bar, sao lại trùng hợp thế!"
Còn nữa:
"Rèm cửa của phòng ngủ chính quả nhiên là màu hồng!"
Điều kì lạ nhất là:
Trần Diệc Khiết mở cửa sổ ra xem:
"Trời ạ! Thật sự là nhìn thấy một cái hồ nhỏ, hơn nữa trên mặt hồ còn có hai con ngỗng trắng đang bơi! Quá siêu!"

Ba người thấy ngôi nhà này hoàn toàn giống với ngôi nhà mà Lư Sư Tôn đã dẫn họ đi xem. Họ có hơi cảm thấy sốc.
Đương nhiên họ đã mua căn nhà đó rồi.
Ngôi nhà đã gặp trong mơ và ngôi nhà mà người môi giới dẫn họ đi xem giống nhau như đúc.
Nói tóm lại là bất khả tư nghì!

Từ ngôi nhà này đáp máy bay đến Seattle thì mất khoảng 6 tiếng.
Làm sao mà Lư Sư Tôn biết được ngôi nhà này?
Làm sao mà Lư Sư Tôn lại cho ba người có cùng một giấc mơ?
Làm sao mà Lư Sư Tôn biết người môi giới sẽ dẫn họ đi xem ngôi nhà này?
Còn hai con ngỗng trắng nữa? Biết nói gì nữa đây?


### 32. Thêm một chương về siêu độ


Từ tháng 2 đến tháng 7 năm 2020.
Số người chết vì virus Corona dần tăng cao, tình hình dịch bệnh vẫn rất nghiêm trọng, chưa thấy có hồi kết. Cá nhân tôi mỗi ngày đều niệm Phật hồi hướng.
Tôi cũng đã làm hỏa cúng pháp Trừ Ôn Dịch Độ Mẫu vô số lần. (Pháp Hộ Ma trong Mật giáo.)
Điểm quan trọng nhất trong việc hồi hướng là:
"Cầu mong bệnh dịch dừng lại, virus Corona bị tiêu diệt!"
Đồng thời, mỗi buổi tối, tôi tự mình lặng lẽ làm siêu độ cho những chúng sinh đã chết vì nhiễm virus Corona.

Nghi quỹ tóm tắt như sau:
Trước tiên, tôi phụng thỉnh Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật đến ở hư không phía trước mặt tôi.
A Di Đà Phật phóng ánh sáng trắng gia trì chiếu đến mi tâm luân của tôi.
A Di Đà Phật phóng ánh sáng đỏ gia trì chiếu đến hầu luân của tôi.
A Di Đà Phật phóng ánh sáng xanh lam gia trì chiếu đến tâm luân của tôi.
Trong một sát-na.
Chính tôi biến thành A Di Đà Phật. (Tự hóa thành Bổn tôn.)
Tôi thỉnh cầu A Di Đà Phật dùng đại uy thần lực gia trì cho tôi và gia trì cho những vong linh làm pháp siêu độ. (Kết ấn Đại hải siêu độ.)
Từ trong tay tôi phóng ra một chiếc thuyền pháp.
Thuyền pháp từ một biến thành mười, từ mười biến thành trăm, từ trăm biến thành nghìn nghìn vạn vạn.
Thuyền hướng về hư không. Trên thuyền có viết "Vãng sinh tịnh độ".

Lúc này, A Di Đà Phật dùng đại uy thần lực để thu nhận những u linh (thân trung ấm), tất cả đều lên thuyền pháp lấp đầy thuyền. Sau đó, thuyền pháp hướng về Tây phương Cực Lạc thế giới quang minh mà tiến nhập vào trong cõi tịnh độ.
……

Một ngày, hai ngày, ba ngày, liên tục cho đến ngày hôm nay, ngày nào vào buổi tối tôi cũng làm pháp siêu độ, đã thành thói quen.
Tôi niệm Phật:
"Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật."
Trì chú:
"Chú vãng sinh."
"Chú Văn Thù vãng sinh."
Trong việc siêu độ này cũng phát sinh một vài sự việc mà bản thân tôi cảm thấy nên viết ra đây.

Chuyện thứ nhất:
Có u linh nói với tôi:
"Lư Sư Tôn! Tôi đi thuyền bị say, tôi không dám lên thuyền đâu!"
Tôi nói:
"Thế thì cho anh một bông hoa sen."
U linh nói:
"Không được! Tôi bị chứng sợ độ cao!"

Chuyện thứ hai:
Cứ khoảng 1 giờ đêm thì tôi tu pháp siêu độ.
Có một lần muộn hơn một chút.
Các u linh vì quá sốt ruột, thế là người thì gõ vào tường, người thì gõ vào bàn, người thì gõ vào kính cửa sổ, người thì gõ vào ghế sofa……

Ngay cả sàn nhà cũng gõ.
Biến thành một cảnh rất hỗn loạn.
Đàn thành siêu độ của tôi biến thành một đại nhạc hội.
Bọn họ hét lớn:
"Xin nhanh lên chút! Xin nhanh lên chút! Xin nhanh lên chút!"

Chuyện thứ ba:
Cũng có những u linh theo tôn giáo khác, bọn họ bị gọi mà tới.
Bọn họ nói:
"Tôi muốn lên thiên đường, không muốn đi đến Phật quốc tịnh độ."
Tôi nói:
"Ở Phật quốc tịnh độ cũng có thiên đường."
Họ nói:
"Thật sao?"
Tôi nói:
"Đều là do tâm ta hóa hiện ra. Giờ không hiểu cũng không sao, sau này mọi người sẽ hiểu!"


### 33. Mượn tiền và tặng tiền


Có một người đàn ông xuất hiện tại Seattle Lôi Tạng Tự, ở trong Chân Phật Mật Uyển có những hành động lén lút mờ ám.
Chúng tôi hỏi anh ta:
"Anh đến đây có việc gì?"
Anh ta đáp:
"Đến tìm sư phụ già."
Hỏi:
"Sư phụ già là ai?"
Anh ta đáp:
"Là sư phụ của cha tôi, là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Sư Tôn!"

Anh ta rất thần bí, vào trong phòng hỏi việc ở nhà tôi rồi, sau đó, yêu cầu cho tất cả mọi người lui. Anh ta nói:
"Cha tôi là Dịch XX."
Tôi nói:
"À! Đó là một trong những người đệ tử mà tôi đã thu nhận khi tôi khoảng 30 tuổi, hồi đó tôi còn sống tại chung cư Nghi Hân tại Đài Loan."
Anh ta nói:
"Cha tôi đã qua đời rồi, nhưng liên tiếp ba lần báo mộng cho tôi dặn dò rằng phải đi tìm Lư Sư Tôn thì mới có thể cứu được ông ấy."

Rồi anh ta kể giấc mơ:
Trong mơ, cha anh ta khóc lóc rằng bị nhốt trong nhà lao của âm phủ, bụng rất đói, đồ ăn uống toàn là nước sắt và bi sắt đã bị nung đỏ.
Chẳng biết ngày nào được ra.
Người cha kể:
Khi còn sống, ông là đệ từ thời kì đầu của Lư Sư Tôn. Vì việc kinh doanh gặp vấn đề về tài chính nên ông đã tìm đến Lư Sư Tôn ở chung cư Nghi Hân để mượn tạm chút tiền. Vì mượn tiền mà vẫn chưa trả nên mới phải chịu ác báo này.

Kể đến đây.
Tôi đã nhớ ra hoàn cảnh họ Dịch đến mượn tiền tôi khi đó.
Tôi đặt toàn bộ số tiền lên bàn, cả một chồng tiền, họ Dịch lấy ra một cái túi to rồi bỏ toàn bộ tiền vào đó. Anh ta khoác túi lên vai rồi bỏ đi, đầu cũng không ngoảnh lại.
Tôi nhìn anh ta từ sau lưng, nhớ đến bộ dạng của anh ta khi bỏ đi lúc đó.
Kể từ đó:
Không hề xuất hiện!
Không hề gặp lại!
Không chút tin tức!
Giống như là người này đã hoàn toàn biến mất trên trái đất.
(Đây là sự việc của hơn 40 năm trước.)

Con trai của Dịch XX tìm được Lư Sư Tôn, muốn tôi cứu cha anh ta, còn tôi thì nghĩ phải làm sao? Làm sao cứu?
Con trai họ Dịch nói:
"Tôi cũng chẳng có nhiều tiền như thế, không thể nào hoàn trả cho sư phụ già được. Nhưng xin làm ơn cứu cha tôi."
Tôi hỏi:
"Cha anh thật sự là ở trong nhà lao âm phủ chịu khổ sao?"
Anh ta nói:
"Ba lần mơ thấy, rất không bình thường, lời của cha tôi rất rõ ràng, do vậy tôi mới đến tìm ngài xin giải cứu cho cha tôi khỏi cảnh lao khổ."
Tôi nói:
"Năm xưa, cha anh nói là mượn tiền. Lẽ nào tôi học theo Mục Kiền Liên cứu mẹ, cũng đi đến âm phủ để cứu cha anh sao?"
Anh nói:
"Chúng tôi không dám làm sư phụ già phải nhọc công đến thế!"

Lúc này, tôi đột nhiên lóe lên một ý tưởng. Có cách rồi! Tôi chỉ cần viết một mảnh giấy rồi áp ấn.
Trên mảnh giấy viết:
"Số tiền là tôi tặng cho ông ta."
Đốt giấy gửi đến âm phủ, chắc chắn có thể cứu được ông ta.
Tôi thật sự đã làm như thế!
Mượn tiền là nợ tiền, còn tặng thì không phải là nợ tiền nữa.
Đây thật là một sự việc kì diệu!
Quả nhiên con trai của họ Dịch thông báo với tôi:
"Cha tôi đã được thả ra rồi, cười tươi roi rói."


### 34. Nhĩ Báo Đồng Tử


Còn nhớ cuốn sách "Nước Hoàng Hà chảy mãi" mà tôi viết chứ? [văn tập số 116 của Sư Tôn]
Đó là lần đầu tiên tôi đi du lịch Trung Quốc Đại Lục, tôi đã ghi chép lại những trải nghiệm trong chuyến du lịch này. Trong cuốn sách có một chương tôi viết về chuyến thăm Cung Ung Hòa.

Buổi tối trước hôm tôi đi thăm Cung Ung Hòa, có Nhĩ Báo Đồng Tử nói với tôi:
"Lư Sư Tôn! Ngài sẽ gặp hai nhân vật mà ngài ngưỡng mộ!"
Tôi chỉ cười!
Bởi vì ở Trung Quốc Đại Lục, tôi chẳng có người thân, bạn bè hay anh em gì. Mặc dù có đệ tử, nhưng cũng chưa từng gặp mặt các đệ tử lần nào, cho dù có gặp thì cũng vẫn lạ lẫm thôi! Người mà tôi ngưỡng mộ à, không thể nào!
Do vậy, tôi cũng không mấy để tâm.

Tôi đi thăm Cung Ung Hòa, đương nhiên tôi rất hào hứng, bởi vì tôi hâm mộ nơi này đã lâu.
Bức tượng Cường Ba Phật đứng sừng sững. (Di Lặc Bồ Tát)
Giáo chủ Hoàng giáo Tsongkhapa, khuôn mặt tươi cười sống động như thật, khiến tôi có ấn tượng sâu sắc.
Tăng lữ trong Cung Ung Hòa mặc áo choàng dài, màu vàng hoặc màu nâu đất, không phải là những y phục kiểu Lama Tây Tạng.
Có người nói:
"Là người Mông Cổ, không phải là người Tạng!"

Khi tôi đi ngang qua họ, những tăng lữ cũng gật gù chỉ trỏ về phía tôi, bởi vì tôi mặc y phục Lama.
Long bào màu trắng.
Váy Lama.
Áo ba mảnh.
Nhìn là biết là một hành giả Mật giáo.

Khi tôi tham quan xong Cung Ung Hòa, lúc đi ra, thấy bên ngoài cũng có rất đông du khách. Tôi nghe thấy một tiếng phụ nữ cao giọng hét:
"Tôi muốn cùng chụp ảnh với Hoạt Phật của Cung Ung Hòa."

Tôi không quan tâm. Bởi vì tôi không phải là Rinpoche Tây Tạng của Cung Ung Hòa, do vậy tôi không để ý đến bọn họ. Thế nhưng, cô gái kia đi đến trước mặt tôi, muốn được chụp ảnh với tôi.
Cô nói:
"Hoạt Phật, xin chụp ảnh với tôi được không?"
Tôi cũng thuận theo.

Hai người đứng cạnh nhau chụp một tấm ảnh. Chụp xong, cô gái gọi:
"Nghệ Mưu! Anh cũng cùng chụp với Hoạt Phật một tấm đi!"
Lúc này!
Tôi mới nhìn cô gái kia, dáng người cao cao xinh đẹp, khuôn mặt rất quen. Nhưng vẫn chưa nhớ ra là ai.
Những du khách xung quanh thì đã nhận ra rồi, có người nói:
"Là Củng Lợi và Trương Nghệ Mưu."

Phim do Củng Lợi đóng tôi đã từng xem, quả nhiên trong lòng tôi ngưỡng mộ. Trương Nghệ Mưu là một đạo diễn lớn, những bộ phim lớn mà ông ấy đạo diễn rất bá đạo, cực kì khiến người xem rung động sửng sốt, tạo ấn tượng sâu sắc, là một đạo diễn lớn rất có tài năng.
Đương nhiên là tôi ngưỡng mộ.

Đây cũng thật là một sự trùng hợp!
Tôi từ Mỹ đến Trung Quốc, đến Cung Ung Hòa ở Bắc Kinh.
Giờ, ngày, tháng, năm ấy.
Đã gặp Trương Nghệ Mưu và Củng Lợi ở bên ngoài Cung Ung Hòa, gặp mặt thì cũng không có gì, nhưng lại còn cùng chụp ảnh chung nữa.
Có duyên thì nghìn dặm cũng có thể gặp.
Vô duyên thì ngay trước mặt cũng chẳng nhận ra nhau.

Nhĩ Báo Đồng Tử nói:
"Hai nhân vật mà tôi ngưỡng mộ!"
Tôi nói:
"Quả nhiên là vậy!"
Còn hai người họ về cơ bản là cũng không biết tôi là ai!


### 35. Sổ sinh tử


Có một đệ tử là Liên Hoa Thượng Minh tham gia vào một đoàn đi du lịch Ấn Độ, đã đi đến khắp các địa điểm tham quan ở Ấn Độ. (Đoàn du lịch của người Trung Quốc.)

Một hôm.
Xe du lịch 1 giờ đêm mới chạy tới một con đường nhỏ ở nông thôn, phải khoảng 1 rưỡi mới đến được khách sạn ở thành phố. Chiếc xe rung lắc vì đường không bằng phẳng. Ngồi trên xe mà giống như đang ngồi trên thuyền.
Cũng không biết xảy ra chuyện gì, xe đột ngột đâm vào một cái cây to. "Rầm" một tiếng rất lớn, rồi xe liền lật nhào hai vòng.
Tất cả mọi người trên xe vốn đều đang mơ màng ngủ, đùng một cái thì tất cả đều kêu cha kêu mẹ.

Kêu cha kêu mẹ được vẫn còn là tốt. Xe lật nhào hai vòng. Một vài người ngay cả một tiếng kêu cũng chưa kịp thốt lên thì đã bị đè bẹp mà chết, hồn xuống suối vàng. Ngay cả chết thế nào cũng không biết.
Con đường nhỏ ở nông thôn không có đèn đường.
Cả một vùng tối đen.
Chỉ có những tiếng rên rỉ.
Ai đã chết?
Ai chưa chết?
Chẳng ai biết được.

Liên Hoa Thượng Minh bị một thanh sắt đập trúng vào đầu, người thì bị ghế đè chặt, chân rất đau. Không cử động được, anh bị ngất đi.
Trong cơn hôn mê, bất ngờ anh nhìn thấy một người trông giống quan viên được khênh trên kiệu đi đến.
Còn có mấy chục người cầm cờ trên tay, giống như một nghi thức nhỏ, bao quanh hiện trường vụ tai nạn xe.

Quan viên kia nói:
"Lấy sổ sinh tử ra đây!"
Một người trong số đó, có lẽ là phán quan, lấy ra một cuốn sổ đưa cho quan viên kia.
Quan viên mở sổ ra, kêu tên:
"Trần A!"
Có một bóng đen liền bị bắt đi.
"Lý B!"
Lại xuất hiện một bóng đen, cũng bị bắt đi!
Lại hét lên:
"Lâm C!"
Lại bị bắt đi.
Lại hét:
"Hoàng D!"
Lại bị bắt đi.
......
Cứ như thế, tổng cộng đã bắt hơn chục người.

Quan viên kia cũng kêu:
"Lại Thượng Minh!"
Liên Hoa Thượng Minh nằm đó, nghe thấy rõ ràng là gọi tên mình, có một cơn xung động giống như linh hồn muốn lao ra khỏi đỉnh đầu.
Phán quan ở bên cạnh nói với quan viên:
"Lại Thượng Minh này là đệ tử của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, trên người anh ta có phù hộ thân, do vậy chỉ bị đè gẫy xương, vẫn chưa tới mức chết, có thể để cho anh ta hoàn dương."
Quan viên nói:
"Thế sao trong sổ sinh tử này lại có tên?"
Phán quan đáp:
"Vốn dĩ là phải chết, nhưng vì quy y một Thượng sư đầy đủ đức hạnh là có được phần công đức, anh ta cũng lễ chư Phật lại thêm phần công đức nữa, tu thanh tịnh đại cúng dường lại là phần công đức nữa. Trong sổ sinh tử chưa kịp xóa tên, nay xem như là xóa."
Quan viên nói:
"Thế thì ta cũng nhân nhượng một lần, lần sau không được sai sót nữa!"
Phán quan nói:
"Dạ! Dạ! Dạ!"

Sau khi trải qua sự việc này, Liên Hoa Thượng Minh đã đến kể cho tôi nghe. Tôi nghe xong thốt lên:
"Sợ thật!"


### 36. Ba chị em


1 giờ đêm ngày 17 tháng 7 năm 2020. Khi tôi đang ngồi trên pháp tọa, thiền định nhập Tam ma địa.
Tôi làm theo nghi quỹ:
Mời Bổn tôn trong hư không tiến nhập vào trong tâm của tôi, cùng với giới định của tôi hợp nhất.
Tôi tức là Bổn tôn, Bổn tôn tức là tôi, không hai không khác.
Nếu tinh thần của tôi hưng phấn (trạo cử), thì hai mắt tôi nhìn hướng xuống dưới, thư giãn.
Nếu tôi hơi thả lỏng quá (hôn trầm), thì hai mắt tôi nhìn hướng lên trên để xốc lại tinh thần.
Khi đã có sự cân bằng giữa lỏng và căng, tức là đã nhập vào Tam ma địa.

Đột nhiên, ở hướng 11 giờ bên phía mắt trái của tôi xuất hiện một đĩa hoa quả tươi lớn, khiến tôi kinh ngạc. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi, trong khi thiền định lại xuất hiện một đĩa hoa quả tươi to như vậy.
Thật thần kì quá!
Thật bất khả tư nghì!
Bởi vì trong khi tôi thiền định, thông thường sẽ xuất hiện những tia sáng lấp lánh, rồi từ trong những tia sáng đó xuất hiện chư Tôn. Còn lần này thì không như thế, là vì sao?
Không ngờ lại là một đĩa hoa quả to.
Thế là, tôi biến hóa đĩa hoa quả to thành vô số, rồi cúng dường tất cả chư Phật của thập phương tam thế trong hư không.

Sau khi tôi ra khỏi thiền định, trong lúc thuyết pháp, tôi đã kể chuyện này cho các đồng môn nghe. Sau đó, tôi trở về Nam Sơn Nhã Xá.

Ba chị em gái trước đây sống tại Nam Sơn Nhã Xá đã xuất hiện.
Ba chị em nói:
"Lư Sư Tôn! Đĩa hoa quả tươi đó không phải là vô duyên vô cớ mà xuất hiện đâu, là ba chị em chúng tôi chuẩn bị đó!"
Ồ! Ra vậy.
Tôi hỏi:
"Vì sao các cô lại dâng cúng hoa quả tươi?"
Ba chị em đáp:
"Bởi vì chúng tôi thấy Lư Sư Tôn khi nghênh thỉnh Bổn tôn đều không cúng dường, do vậy mới nảy ra ý này."
Tôi cười.
Tôi cảm ơn ba chị em. (vô hình)

Ba chị em này chính là những cô gái mà trước đây tôi đã từng kể trong sách của tôi. Đó là ba cô gái xinh đẹp vô hình cùng học Phật pháp với tôi. Ba cô đó đều là những mỹ nữ xinh đẹp như tiên vậy.
*Như đóa sen ngậm sương
Như ngân hạnh mơn mởn
Cười chúm chím ngọt ngào
Vẻ yêu kiều say đắm
Sống động và duyên dáng
Như hồng dược bích đào.*
Ngòi bút của tôi chẳng có cách nào mô tả được hết vẻ đẹp của ba chị em, tóm lại, nếu là người bình thường nhìn thấy ba chị em này thì sẽ đều công nhận rằng đúng là vẻ đẹp chim sa cá lặn không gì so sánh bằng.

Tôi nói với ba chị em:
Mật giáo chia làm bốn bộ pháp:
Sự bộ.
Hành bộ.
Du già bộ.
Vô thượng bộ.
Trong Sự bộ, nghi quỹ nhiều, việc nghênh thỉnh Bổn tôn phức tạp, thì với mỗi vị đều phải dâng cúng.
Trong Hành bộ, nghi quỹ vẫn nhiều, nhưng so với Sự bộ thì đã tinh giản rồi, nhưng vẫn cần phải cúng dường.
Trong Du già bộ, tự mình hóa thành Bổn tôn, nghi quỹ đã ít đi, đã là "nhất vị" thì không cần phải dâng cúng nữa.
Trong Vô thượng bộ, nghi quỹ lại càng ít, tất cả cứ tự nhiên mà thành.

Tôi nói với ba chị em:
"Ta thực hành Du già bộ, chỉ một suy nghĩ là mọi sự đã thành rồi."
Ba chị em gật gật đầu:
"Đã hiểu rồi!"


### 37. Ngạo mạn và thiên kiến


Ngày 20 tháng 7 năm 2020, buổi đêm 1 giờ 34 phút.
Tôi đang ngồi trên pháp tọa thiền định nhập Tam ma địa.
Tôi nhìn thấy ánh sáng cầu vồng. Ánh sáng cầu vồng này có hình dạng như quả thông, tỏa sáng ra bốn phía.
Lúc mới nhìn thấy thì như quả thông nhỏ. Nhìn thêm lúc nữa thì ánh sáng của quả thông đã tràn đầy khắp hư không.
Trong hư không xuất hiện ánh sáng trắng.
Trong ánh sáng trắng có một người đang ngồi, hơn nữa, người này là tổ sư truyền thừa của phái Mật giáo Mũ Trắng Tilopa.

Tôi chắp tay kính lễ ngài Tilopa.
Tôi hỏi:
"Tổ sư đến từ phương nào?"
Tilopa nói:
"Lư Sư Tôn! Ta đến từ cõi giới vượt lên mọi cõi!"
Tôi nói:
"Tổ sư hiển hiện, nhất định là có điều dạy bảo, xin lão tổ sư chỉ thị cho tôi tường tận rõ ràng."
Tilopa nói:
"Lư Sư Tôn, ngài đã hiểu về đạo lý của Lạc, Minh, Không, cũng đã hiểu sự chân thực của Kiến, Tu, Hành, Quả. Nhưng hôm nay ta đến đây là muốn bàn luận chi tiết hơn về những thiên kiến của nó."
Tôi nói:
"Xin nghe chỉ giáo."

Tilopa đáp:
Tu hành Đại Lạc có thiên kiến lớn nhất là "tham ái bám chấp".
Vì tham lam và yêu thích có được đại lạc nên sẽ đắm chìm vào nó, không sao tự kéo mình ra được.
Tu hành Minh Quang có thiên kiến lớn nhất là "tăng cao bản ngã". Bởi đã nhìn thấy quang minh rồi thì tự cho rằng bản thân đã xuất sắc, sinh ra sự ngạo mạn, coi thường những người trong thiên hạ, tự cho rằng mình đã đạt thành tựu.
Tu hành tính Không, biết tất cả những hình tướng hiển hiện đều là không là huyễn, tất cả những gì cảm nhận tiếp nhận được đều là không.
Chính vì như vậy, cho nên trên thì chẳng tu được thành Phật, dưới thì chẳng độ được chúng sinh, và thế là gán cho rằng không có nhân quả. Bài trừ nhân quả chính là thiên kiến.

Tilopa nói:
Bám chấp vào Không, phủ định nhân quả.
Bám chấp vào Bi, từ bỏ những quan niệm thù thắng. (coi trọng hiện thực)
Những điều này cũng là thiên kiến.

Tilopa nói:
Xa rời sự ngạo mạn và thiên kiến thì mới chính là chân đế của Kiến.
Rất tinh tấn tu hành Lạc, Minh, Không thì chính là chân đế của Tu.
Vô tạo tác, hơn nữa có thể giữ chính niệm thì chính là chân đế của Hành.
Vô sở trụ mà vẫn bản nhiên, thì chính là chân đế của Quả.

Tilopa nói:
Nếu như quan điểm không ngạo mạn và thiên kiến,
Tu, Hành và quan điểm tương hợp với nhau thì sẽ rất nhanh chóng chứng đắc được quả vị Bồ Đề.

Tilopa nói:
Có ba sự khai ngộ:
Khai ngộ trên phương diện lý - niệm. [lý thuyết, quan niệm]
Khai ngộ trên phương diện giác - thọ. [cảm giác, thọ nhận]
Khai ngộ trên phương diện chứng lượng. (Lấy chứng lượng khai ngộ làm thực chất.)

Tôi nói:
"Xin kính lễ Tilopa."
Namo Guru beh.
Namo Buddha ye.
Namo Dharma ye.
Namo Sangha ye.
Thượng sư Bổn tôn đàn thành Tứ Thánh Chúng.
Thập phương tam thế chư Phật và Bồ Tát.
Với lòng thương xót tôi xin nguyện
Thỉnh gia trì cho mọi nguyện ước đều như ý thành tựu.
Tôi kiền thành hướng về tổ sư Tilopa làm đại lễ bái ngũ thể đầu địa. (Để cảm ơn ngài đã chỉ dạy khẩu quyết.)
Tôi dâng cúng dường.
Cung kính tụng chú Tứ quy y.
Thỉnh cầu tổ sư Tilopa gia trì cho sự nghiệp Như Lai của tôi mau mau thành tựu.


### 38. Thổ địa công của sơn trang


Ngày Chủ Nhật, tôi vội vã đến Cầu Vồng sơn trang (Cầu Vồng Lôi Tạng Tự).
Trong lúc lái xe, Thổ Địa Công của sơn trang đến gặp tôi.
Thổ Địa Công nói:
"Lư Sư Tôn! Nhiệm kì của tôi ở sơn trang đã hết, tôi sẽ trở về Đài Loan, và cũng có một Địa Thần khác sẽ đến tiếp nhận."
Tôi nói:
"Cảm ơn ông! Cảm ơn ông!"

Thổ Địa Công nói:
"Tôi muốn thỉnh Lư Sư Tôn giúp tôi một việc, xin hãy cứu tôi!"
Tôi rất kinh ngạc hỏi:
"Cứu ông? Có chuyện gì vậy?"
Thổ Địa Công đáp:
"Con Bắc Sư của sơn trang sẽ ăn thịt tôi, tôi sẽ mất mạng!" [Bắc Sư là con sư tử trấn giữ ở phía bắc.]
Tôi hỏi:
"Đây rốt cục là chuyện gì? Xin ông hãy nói rõ."

Thổ Địa Công kể:
Một lần nọ.
Có một đồng môn, vì đã thỉnh cầu Nam Sư và Bắc Sư, kết quả là việc đã thành. (Đã đạt được ước nguyện.)
Đồng môn này vì muốn cảm ơn sự giúp đỡ của Nam Sư và Bắc Sư nên đã chuẩn bị một phần cúng dường lớn, đem đến để cúng Nam Sư, Bắc Sư. (Nam Sư thì hiền hòa, Bắc Sư thì hung mãnh.)

Đồng môn này chuẩn bị hai phần cúng phẩm, một phần cúng cho Nam Sư, một phần cúng cho Bắc Sư.
Khi anh ta đem cúng phẩm đi qua miếu Thổ Địa Công, tôi (Thổ Địa Công) nhất thời khởi lên suy nghĩ nếu đồng môn này mà đem cúng phẩm này cúng dường mình thì tốt quá, cúng phẩm này tôi rất thích.
Thế là tôi liền đi tác động đến suy nghĩ của người đó, để anh ta đem cúng phẩm của mình cúng dường cho Thổ Địa Công trước.
Và người đồng môn thật sự đã đem cúng dường cho tôi trước. Tôi liền thưởng thức hết sạch đồ cúng phẩm.

Sau đó, đồng môn cầm chiếc đĩa không, toan đi cúng cho Nam Sư, Bắc Sư.
Nam Sư thì không nói gì.
Bắc Sư thì nổi giận:
"Thổ Địa Công dám cướp cúng phẩm của ta, đã ăn hết sạch "khí" của cúng phẩm rồi. Chỉ còn lại cúng phẩm với cái vỏ rỗng để cúng cho ta."
Bắc Sư nói:
"Ta nhất định sẽ báo thù, đợi cho ông ta hết kì hạn, khi rời đi, ta nhất định sẽ ăn thịt ông ta."
Đây chính là nguyên nhân khiến Thổ Địa Công cầu cứu tôi (Lư Sư Tôn).

Thổ Địa Công khẩn thiết van xin.
Tôi nghe xong thì cảm thấy rất buồn cười.
Tôi hỏi:
"Bắc Sư thật sự sẽ ăn thịt ông sao?"
Thổ Địa Công nói:
"Thật đó! Hôm trước nó lại nói một lần nữa là muốn ăn thịt tôi!"
Tôi hỏi:
"Làm thế nào mới có thể cứu được ông?"
Thổ Địa Công nói:
"Chỉ có cách xin Lư Sư Tôn đi cầu Thần Rồng hộ tống tôi trên đường đi!"
Tôi hỏi:
"Vì sao Thần Rồng có thể cứu ông?"
Thổ Địa Công nói:
"Bắc Sư thích bay lượn, nhưng vẫn còn thua xa Thần Rồng. Cầu xin Lư Sư Tôn hãy mở lời vàng ngọc."
Tôi nói:
"Được rồi!"

Tôi đặc biệt đi cầu Thần Rồng.
Thần Rồng đã đồng ý!
Thổ Địa Công cảm tạ tôi.
Sau đó, trong pháp hội, tôi đã đặc biệt đem một phần cúng phẩm đến cúng dường cho Bắc Sư trấn thủ ở bên ngoài cổng lớn để xoa dịu cơn tức giận của nó.
Sự việc này cuối cùng đã khép lại trong hòa bình!
Tôi nói:
"Đây đúng là chuyện của các Địa Thần!" (Ha ha ha)


### 39. Lư Sư Tôn trong nước


Có một đồng môn tên là Liên Hoa Kiều Mộc đặc biệt nhờ người chuyển đến cho tôi một bức thư, nói là thư cảm ơn. Nội dung của bức thư này như sau:

"Lư Sư Tôn.
Xin cảm ơn!
Lại cảm ơn!
Cảm ơn lần nữa!
Con viết lá thư này, có lẽ thầy cũng sẽ không hiểu chuyện gì, con chỉ là một trong những tín đồ của thầy. Hẳn là thầy sẽ thấy rất xa lạ với con, bởi vì con cũng chưa từng có lần nào được dự một bữa ăn cùng thầy. Trong pháp hội ở Đài Loan Lôi Tạng Tự, con chỉ là một tín chúng âm thầm đứng từ xa nhìn thầy mà không có cách nào đến gần được. (khoảng cách rất xa)

Nguyên nhân mà con cảm ơn là:
Con thích bơi lội, cũng giống như Lư Sư Tôn, con đặc biệt yêu thích bơi lội.
Mùa hè năm nay, thời tiết cực kì nóng, nghe nói đã đạt kỉ lục nóng nhất trong vòng 100 năm nay. Rất nhiều người đều thích bơi lội chơi đùa dưới nước. Nhưng những tai vụ tai nạn khi bơi cũng đã khiến không ít người chết đuối.

Có một hôm.
Mấy người bạn hữu rủ con đến một cái hồ sâu trong núi để bơi. Ở nơi đó ít người biết đến, phong cảnh rất đẹp, nhưng cần phải đi bộ một đoạn đường núi. Đó thật sự là một nơi rất đẹp để nghỉ ngơi.
Chúng con tổng cộng có năm người cùng đi bơi.

Lư Sư Tôn! Nói thật lòng, đến bây giờ con vẫn chưa tu pháp của thầy, ngay cả một lần cũng chưa. Nhưng con có trì tâm chú của thầy.
"Om guru liansheng siddhi hum."
Mỗi ngày 108 biến.
Về điều này con cần phải xin lỗi thầy!
Trước khi xuống bơi, con có niệm tâm chú của thầy, 108 biến, sau đó mới xuống nước.

Theo lời đồn đại của những người ở đây thì cái hồ nhỏ sâu trong núi này có dòng chảy ngầm, từng có người bị chết đuối ở đây, nhưng chúng con không sợ, bởi vì nước ở đây quá trong mát, có sức hấp dẫn lôi cuốn mạnh mẽ!
Vốn dĩ chúng con sẽ chẳng xảy ra chuyện gì cả, bởi vì năm người chúng con đều biết bơi.
Nhưng trong lúc bơi, có một người chân bị chuột rút, anh ta không sao bơi được nữa, thế là con vội vã đến cứu anh ta.
Không ngờ con vừa mới bơi tới, anh ta bất ngờ đưa hai tay ôm chặt lấy cổ con, con không sao gỡ tay anh ta ra được.

Kiến thức khi bơi là:
Con nên đấm cho anh ta một cái.
Sau đó, đưa tay vòng qua cổ anh ta, kéo anh ta lên bờ.
Bây giờ lại thành ra là hai tay của anh ta ôm lấy cổ của con rất chặt, khiến con hết nổi lại chìm. Cuối cùng thì cả hai cùng chìm xuống nước.
Anh ta đã uống rất nhiều nước.
Con cũng đã uống mất mấy ngụm nước.

Cuối cùng, hai người chúng con chìm sâu xuống hồ nước, con bắt đầu khó thở. Nhưng, con đột nhiên nhìn thấy một khuôn mặt rất quen thuộc, không ngờ khuôn mặt này lại là Lư Sư Tôn. Lư Sư Tôn ở trong nước đã ngắt mạch nước ngầm.
Hai tay Sư Tôn kéo hai người chúng con đẩy lên trên, hai người chúng con đột nhiên bị kéo lên trên mặt nước. Rồi lại được đẩy về phía bờ.
Cả hai người chúng con đều được cứu rồi!

Khi năm người chúng con xuống núi, con đã kể lại rằng Lư Sư Tôn của con đã ở trong hồ nước cứu chúng con.
Bọn họ đều cười!
Nói rằng con bị ảo giác.
Nói rằng con bịa chuyện.
Nói rằng con nói đùa.
Con viết bức thư này cho thầy, con chỉ muốn nói một câu, thật sự Lư Sư Tôn có mặt ở mọi lúc mọi nơi. Cảm tạ thầy! Cảm ơn!


### 40. Đồng hành đồng mệnh


Có một ông lão họ Từ qua đời vì bệnh.
Tất cả người nhà của ông đều là đệ tử quy y Lư Sư Tôn. Do vậy, họ đã thỉnh tôi tiếp dẫn cho ông Từ. Những người cầu xin tôi tiếp dẫn siêu độ như vậy cũng khá nhiều. Nhưng điều đặc biệt là, trong trường hợp này có một câu chuyện.

Khi ông Từ vừa chết, ông từ phòng ngủ đi xuyên qua căn phòng khách nhỏ, đi ra khỏi cửa nhà. Dưới bầu trời đầy sao lấp lánh, ông nhìn thấy Lư Sư Tôn đang đứng ở phía trước.
Tôi nói:
"Ta đến tiếp dẫn ông, đưa ông đến một nơi tốt đẹp hơn!"
Ông gật gật đầu, nhưng ông vẫn đứng một chỗ không bước đi.
Tôi hỏi:
"Vì sao ông cứ đứng yên vậy?"
Ông đáp:
"Bà nhà tôi tuổi cũng đã cao rồi, vợ chồng con cái tôi thì đều công tác ở nước ngoài. Sau khi tôi đi rồi, bà nhà tôi già bệnh lại sống đơn độc một mình, khiến tôi không nỡ, làm sao tôi có thể bỏ đi được?"
Tôi hỏi:
"Tình cảm vợ chồng ông thế nào?"
Ông đáp:
"Từ lâu chúng tôi đã ước hẹn, dù không sinh cùng ngày cùng tháng cùng năm, nhưng nguyện chết cùng ngày cùng tháng cùng năm. Chúng tôi thường phát nguyện trước mặt Bồ Tát, nguyện đồng hành đồng mệnh."
Tôi nói:
"Vợ chồng vốn như chim cùng một khu rừng, khi hết một đời thì mỗi người sẽ bay đi, làm gì có chuyện đồng hành đồng mệnh."
Ông nói:
"Tôi không đi đâu, tôi muốn bảo vệ cho bà ấy!"

Lần này, tôi thật sự đã bị làm khó rồi!
Tôi đặc biệt đến tiếp dẫn ông lão, ông lại không đi, làm sao đây!
Sau đó, không ngờ tình huống này đã làm cảm động Quan Thế Âm Bồ Tát. Quan Thế Âm Bồ Tát xuất hiện nói:
"Lư Sư Tôn! Ngài cũng đưa bà lão đi cùng đi!"
Tôi nói:
"Sao có thể thế được, mệnh của bà lão vẫn chưa đến lúc chết, bà ấy vẫn có thể sống thêm ba năm nữa!"
Bồ Tát nói:
"Sống ba năm, khổ ba năm, khóc ba năm. Chẳng bằng bây giờ đưa họ cùng đi!"

Bồ Tát đưa tôi đi gặp bà lão. Bà lão ở trước bàn thờ nói:
"Hãy đưa tôi cùng đi, đưa tôi cùng đi, đưa tôi cùng đi…."
Nước mắt đầm đìa.
Bồ Tát nói:
"Việc bà lão sống thêm ba năm nữa thì cứ để ta giải quyết. Lư Sư Tôn! Ngài hãy cứ tiếp dẫn hai người họ cùng đi."
Tôi nói:
"Đưa bà lão đi thế nào?"
Bồ Tát nói:
"Khi bà lão khóc đến mức ngất lịm đi, Lư Sư Tôn hãy đưa linh hồn của bà ấy xuất ra khỏi thân là được!"
Thế là, tôi y lời của Quan Thế Âm Bồ Tát mà làm theo.

Giờ đây, ông lão và bà lão cả hai đồng hành đồng mệnh, cùng qua đời vào một ngày, đều do tôi tiếp dẫn. Con cái của hai ông bà đều kinh ngạc.
Cha đã đi rồi, mẹ cũng đi cùng luôn, hai người qua đời chỉ cách nhau 4 tiếng đồng hồ.
Con cái cũng biết rằng tình cảm của cha mẹ rất sâu đậm, cũng biết hai người cùng thề nguyện sẽ cùng đi!
Nay thì quả nhiên họ đã được như ý nguyện!


### 41. Ánh sáng vạn trượng


Tôi từng đến nhà của đệ tử xem phong thủy. Chủ nhân họ Mạnh.
Nhà của anh ta mang phong cách sang trọng hào hoa, là một ngôi nhà lớn.
Tôi vừa đến.
Điều kì lạ là, hễ tôi đi đến nơi nào thì nơi đó liền phát ra tiếng vọng "binh binh bang bang".
Tôi cười lớn ha ha:
"Ta không làm hại các người đâu, các người chạy nhanh thế để làm gì!"

Mọi người trông thấy thế, nghe thấy thế, đều rất kinh ngạc!
Đi đến phòng khách cũng vậy, đến nhà bếp cũng vậy, đến phòng ngủ cũng vậy, đến phòng tập thể dục cũng vậy, đến phòng học cũng vậy, chỉ có bước vào Phật đường thì mới yên tĩnh một chút.

Tôi hỏi:
"Trong nhà có ba mươi bảy con ma, anh có biết không?"
Chủ nhân đáp:
"Cũng biết chút chút!"
Tôi hỏi:
"Vì sao lại như vậy?"
Chủ nhân đáp:
"Vì tôi tín Phật nên đã để cho một pháp sư nọ dùng Phật đường của nhà mình để làm đạo tràng, tín chúng cũng đến để nghe pháp. Pháp sư cũng có làm tụng kinh cho đám tang. Do đó cũng không biết là vì nguyên nhân gì, nhưng bởi vậy mới có 37 con ma ở lại trong nhà này."
Tôi hỏi:
"Còn pháp sư kia?"
Chủ nhân đáp:
"Bây giờ đã chuyển đạo tràng tới chỗ của ông ấy rồi!"

Chủ nhân hỏi tôi:
"Vì sao chỗ nào Lư Sư Tôn đi tới là lại có tiếng vọng binh binh bang bang?"
Tôi nói:
"Chẳng phải gì khác, ánh sáng vạn trượng mà thôi!"
(37 hồn ma này, tôi đã đặc biệt dùng pháp để đưa họ đến cõi tịnh độ rồi.)

🌟

Mọi người có còn nhớ không?
Khi tôi đến Triều Thiên Cung ở Bắc Cảng [một thị trấn ở huyện Vân Lâm, Đài Loan] tham gia lễ Thiên Thượng Thánh Mẫu.
Khi buổi lễ kết thúc, tôi vừa đi ra quảng trường ở bên ngoài ngôi chùa, mặt đất đột nhiên nổi lên hai cơn cuồng phong (vòi rồng).
Thổi tung cát, cuốn bay sỏi đá.
Tới mức tôi không mở nổi mắt.
Chỉ nghe thấy tiếng Thiên Thượng Thánh Mẫu ở bên trong chùa quát lên:
"Thiên Lý Nhãn, Thuận Phong Nhĩ, đi vào cho ta, vị đó là Lư Sư Tôn, không được vô lễ!"
Thiên Lý Nhãn, Thuận Phong Nhĩ nghe tiếng hét gọi của Thánh Mẫu mới trở vào trong chùa!
Là chuyện gì vậy?
Tôi trả lời:
"Cũng chỉ vì tôi tỏa ra tam quang mà thôi!"

🌟

Lại có một lần.
Tôi đến miếu Ân Chủ Công ở Đài Bắc.
Ở tại miếu Ân Chủ Công, tôi đi một vòng rộng, nhìn thấy những đạo cô đang giúp đỡ tín chúng làm những việc thu kinh thu sát. Thật là ồn ào.
Tôi rời khỏi miếu Ân Chủ Công.
Vừa mới ra khỏi cổng.
Ân Chủ Công (Quan Thánh Đế Quân) cầm đao to, vội vã chạy đến, hét lớn:
"Kẻ nào đến đây?"
Tôi cũng mặc kệ ông ấy, tôi đi đường tôi.
Quan Thánh Đế Quân nói:
"Nếu vẫn không nói tên, thì hãy thử đao của ta đây."

Tôi chỉ còn cách phóng ra tam quang, ánh sáng vạn trượng.
Quan Thánh Đế Quân lúc này mới nói:
"Hóa ra là ngài, hóa ra là ngài."
(Những sự việc giống như thế này vô cùng nhiều, hễ những nơi nào tôi đi qua cũng đều có những vết tích.)


### 42. Vết răng cắn


Ngày xưa.
Tôi đến nhà một đệ tử để xem phong thủy, chủ nhân họ Ôn.
Tôi vừa đi xem vừa giải thích:
Cửa chính không được nhìn thấy lửa. (nóng tính)
Giường ngủ không bị đè bởi xà nhà. (mắc bệnh)
Nhà bếp thủy hỏa xung. (đào hoa)
Vị trí để két sắt trong phòng khách. (khí tụ)
Tránh để những vật cao. (ung thư)
Đàn thành phải tàng phong. (an Thần)
……

Khi tôi đang đi vòng quanh, đột nhiên trước mắt tôi lóe lên một vật màu đen, hình dạng gần giống một con chó, vọt qua trước mắt tôi.
Tôi nói:
"Trong nhà anh có một vật!" (vô hình)
Chủ nhân hỏi:
"Lư Sư Tôn! Thầy đã nhìn thấy cái gì?"
Tôi đáp:
"Trông như một con chó!"
Chủ nhân nói:
"Lư Sư Tôn nói đúng rồi!"

Chủ nhân kể:
Nhà chúng tôi có nuôi một con chó đen trắng, là thú cưng trong nhà chúng tôi. Chúng tôi gọi nó là Kẹo Ngọt.
Cả nhà chúng tôi đều yêu thích nó, nó cũng rất hiểu ý người, chúng tôi dạy nó làm gì thì nó làm như thế. Nó ngoan ngoãn nghe lời, chúng tôi đều vô cùng cưng nó. Cứ như vậy vài năm, tình cảm giữa chúng tôi và con chó cưng rất sâu đậm.

Nhưng có một ngày, cũng không rõ là xảy ra chuyện gì, con chó cứ hướng ra ngoài cửa sủa loạn lên, dường như là nó nhìn thấy cái gì đó. Nó há to miệng nhe ra những chiếc răng sắc nhọn trắng bóng.
Kể từ đó, mọi sự việc đã thay đổi.

Hễ gặp cái gì là nó nhai!
Ghế sofa trong phòng khách bị nó nhai thủng một lỗ.
Trụ cổng cũng bị nó nhai.
Chân giường trong phòng ngủ cũng bị nó nhai.
Cửa phòng, rèm cửa sổ, bát đĩa trong nhà bếp, thùng rác, chổi, bàn ăn, ghế, tủ quần áo, quần áo, giày dép, tủ rượu…
Tất cả đều bị nó nhai hỏng!

Sau đó, trẻ con trong nhà chơi với nó, hai mắt nó trở nên quái dị, phát ra ánh sáng màu xanh. (đe dọa)
Rồi nó sủa điên cuồng!
Lại còn cắn vào chân của đứa trẻ!

Chúng tôi thấy tình hình không ổn, chỉ còn cách thả nó đi, nhưng thả đi nó lại trở về, trở về lại thả đi.

Về sau, chúng tôi nghe người ta mách là nếu đem nó thả ở phía bên kia của đường ray tàu hỏa thì nó sẽ không trở về nữa. Thế là, chúng tôi liền đưa nó đến một nơi xa hơn nữa, thậm chí còn qua cả cầu lớn, sông lớn, qua cả đường tàu. Cuối cùng, lần này nó đã không trở về nữa!

Chủ nhân nói:
"Việc lạ là, con chó Kẹo Ngọt này dường như đã biến thành ma chó, thường xuyên ở trong nhà chúng tôi."
Tôi hỏi:
"Có hiện tượng gì không?"
Chủ nhân kể:
"Mọi người trong nhà khi ngủ dậy, trên da đều xuất hiện những vết răng cắn, giống như là chúng tôi đều bị nó cắn vậy."
Chủ nhân vén ống quần lên, tôi nhìn thấy thật sự là có vết răng cắn.
Tôi kinh hãi.
Chủ nhân hỏi tôi:
"Phải làm sao?"

Sau đó, tôi đã dùng pháp kết giới của Mật giáo, trước tiên là nhốt hồn ma của con chó ở bên ngoài cổng. Rồi tôi lại dùng pháp siêu độ để gửi nó đến chỗ của Nhị Lang Thần Thánh Vương. (Nhị Lang Thần có Phệ Thiên Khuyển.) [Phệ Thiên Khuyển trong truyền thuyết thần thoại của Trung Quốc là thú thần ở bên cạnh Nhị Lang Thần, hỗ trợ Thần trong việc săn bắn.]
Những vết răng cắn của người trong nhà này từ đó mới không còn nữa.


### 43. Chỉ quán song vận


Tôi ở cõi giới vượt lên ngoài mọi cõi gặp Naropa tôn giả. Tôn giả đã đàm luận rất nhiều về "tịch chỉ" và "thắng quán", đặc biệt chỉnh lý những tâm yếu khẩu quyết như sau:
Naropa tôn giả nói:

1. Đối với việc quá khứ, tâm phải hoàn toàn không được nghĩ ngợi. (Quá khứ đã qua rồi.)

1. Đối với hiện tại, tâm cần biết rằng rồi nó cũng sẽ là quá khứ, đừng nghĩ ngợi. (Hiện tại cũng sẽ biến thành quá khứ.)

1. Đối với tương lai, tâm cũng không được có sự mong cầu, không lo nghĩ. (Tương lai vẫn còn chưa đến.)
Cái thứ nhất gọi là "Vô tướng".
Cái thứ hai gọi là "Không".
Cái thứ ba gọi là "Vô nguyện".
Đây chính làm pháp môn Tam giải thoát.

Kinh Kim Cang viết:
"Tâm quá khứ bất khả đắc, tâm hiện tại bất khả đắc, tâm vị lai bất khả đắc.”
Đây chính là khẩu quyết của sự "tịch chỉ". [dừng dứt lại]
Cũng tức là vô tán, vô tu, vô tác.
Vô tán --- cắt đứt ngoại duyên, cắt đứt nội duyên, không có sự phân tán.
Vô tu --- không tạo tác, buông lỏng tự nhiên.
Vô tác --- không phân biệt vọng niệm và những suy nghĩ cảm giác.

Naropa nói:
"Tịch chỉ chính là sự an trụ tự nhiên không phải cố tạo ra, không phải cố chỉnh sửa."
Naropa nói với tôi:
"Tâm an trụ trong Lạc, Minh, Không, đây chính là tịch chỉ."
Còn nói:
"Tất cả vọng niệm đều dừng dứt." (không chấp, không tham, không cầu)

🌟

Còn thế nào là "thắng quán"?
Naropa nói:
"Hiểu rõ bản thể của tâm là sự trong vắt sáng rõ, là thắng quán."
Còn nói:
"Hiểu rõ bản chất thật sự của những sự biến đổi của tâm là thắng quán."
Naropa nói:
Không còn có sự bám chấp vào tham ái là tịch chỉ.
Tất cả đều không còn chướng ngại và sáng rõ là thắng quán.
(Chỉ - Quán song vận)
Có thể hiểu được bản chất thực sự là tịch chỉ.
Có thể hiểu thấu sự sáng trong của Không là thắng quán.
(Chỉ - Quán song vận)

Naropa nói:
Rất nhiều người tu hành đều đang tu tịch chỉ, trong đó bao gồm cả ngoại đạo, thiên đạo (dục giới, sắc giới, vô sắc giới), Duyên Giác, Thanh Văn….
Nhưng,
Thắng quán mới là "chính hành". [Chính hành - phần chính yếu, nghĩa khác là con đường chính đúng đắn.]

Naropa nói:
Đại thủ ấn.
Đại viên mãn.
Đạo quả.
Đoạn pháp.
Những thứ này chẳng phải gì khác mà là cần tu tịch chỉ và thắng quán, hơn nữa phải tu đạt đến mức độ tự tâm vô tạo an trụ. Hoặc vô sở trụ.

🌟

Tôi hỏi tôn giả:
"Cái gì là sai lầm?"
Tôn giả đáp:
"Không tin vào nhân quả."
Tôi hỏi:
"Cái gì là mê muội?"
Tôn giả đáp:
"Chạy theo vọng niệm."
Tôi hỏi:
"Cái gì là lầm đường?"
Tôn giả đáp:
"Không xác lập tính bình đẳng."
Tôi hỏi:
"Cái gì là thất thoát?"
Tôn giả đáp:
"Không có chính niệm."


### 44. Đệ tử hỏi về khai ngộ


Có một đệ tử mỗi lần gặp tôi liền đưa cho tôi một mảnh giấy, trên đó viết những tâm đắc về khai ngộ của anh ta.
Sau đó, anh hỏi tôi:
"Như thế là đã ngộ chưa?"
Tôi đáp:
"Rất gần rồi."
Cách mấy hôm sau, anh lại viết một tờ ghi chú. Hỏi tôi:
"Đã ngộ chưa?"
Tôi vẫn trả lời:
"Rất gần rồi."
Lại cách mấy hôm sau, anh lại viết một mảnh giấy. Hỏi tôi:
"Đã ngộ chưa?"
Tôi lại đáp:
"Rất gần rồi."

Anh rất thật thà kể rằng, ngày ngày anh đều mở xem các công án Thiền tông, nghiên cứu về "tiệm ngộ" của Bắc Thiền, về "đốn ngộ" của Nam Thiền, tham khảo những quan điểm của các bậc đại thiện tri thức.
Thế rồi, sau khi nghiên cứu xong, anh đem những tâm đắc của họ đến gặp tôi, hỏi tôi vì sao đáp án đều là "rất gần rồi"?
Tôi nói:
"Bởi vì đó không phải là những tâm đắc của anh."

Tôi thật lòng thật sự bảo anh ta:
"Anh chỉ là tham đọc các công án Thiền tông, nghe những lời giảng của các đại thiện tri thức (Thượng sư), sau đó nhặt nhạnh gom góp, giống như là sắp xếp một bức tranh, trở thành một thứ có hình có tướng, rồi đưa cho Lư Sư Tôn đánh giá xem là đã khai ngộ hay chưa? Kiểu khai ngộ này chỉ là khai ngộ về mặt lý luận mà thôi, trên thực tế thì vẫn chưa kiến đạo."
Anh ta gật gật đầu.

Anh hỏi:
"Ngoài khai ngộ về mặt lý luận thì còn có khai ngộ gì?"
Tôi đáp:
"Vẫn còn có khai ngộ trên phương diện giác thọ và khai ngộ trên phương diện chứng lượng."
Anh hỏi:
"Khai ngộ trên phương diện lý luận thì đã rõ, còn thế nào là khai ngộ trên phương diện giác thọ?"
Tôi đáp:
"Anh đã nhìn thấy Phật tính từ xa xa rồi, sắp sửa hiểu được Phật tính là cái gì. Cũng cảm giác được về Phật tính, cũng sản sinh ra nhận thức, ví dụ: giác thọ về lạc, giác thọ về quang minh, giác thọ về tính Không, giác thọ về bồ đề, đây chính là khai ngộ trên phương diện giác thọ."
Anh ta nói:
"Đã hiểu."

Lại hỏi:
"Vậy thì thế nào là khai ngộ trên phương diện chứng lượng?"
Tôi đáp:
"Đã có lý luận, đã có giác thọ, hơn nữa đã tự mình chứng được Phật tính. Có thể sử dụng được Phật tính, cũng có nghĩa là Phật tính và ta cùng hòa tan vào nhau. Bằng cách đó, ứng dụng được Phật tính trong cuộc sống, chính là sự khai ngộ trên phương diện chứng lượng."
Anh nói:
"Cuối cùng đã hiểu rồi!"

Anh nói:
"Lý luận, giác thọ, chứng lượng. Chứng lượng mới là khai ngộ chân chính."
Tôi nói:
"Có một số Thượng sư sau khi tôi đã xác nhận thì cũng vẫn thoái chuyển, vậy thì đó căn bản chỉ là khai ngộ trên lý thuyết mà thôi!"
Anh hỏi:
"Khai ngộ chân chính là gì?"
Tôi đáp:
"Cuộc sống của anh luôn đầy ắp sự bất động, chuyên chú, thanh minh…………"
Tôi nói:
Tự minh bản trí.
Vạn tượng huyễn hóa.
Bất động nhậm vận.


### 45. Áo phông của Lư Sư Tôn


Có con trai của một đồng môn tên là Tử Hiên, mỗi lần đến kì thi cậu đều mặc áo phông của Lư Sư Tôn, cũng mang theo thẻ bài hộ mệnh của Lư Sư Tôn.
Hỏi cậu là vì sao. Cậu đáp:
"Rất có cảm ứng."
Khi không nghĩ được đáp án, đưa tay lên xoa xoa vào chiếc áo phông, đưa tay xoa xoa vào thẻ bài hộ mệnh là nghĩ ra ngay. Khi thật sự không nghĩ ra được gì, chỉ cần nhắm mắt lại là nhìn thấy một màn hình đen ở trước mắt, trên đó xuất hiện chữ, và những dòng chữ đó chính là đáp án.
"Thật sao?"
"Đương nhiên là thật." - Tử Hiên đáp.

Có một lần đặc biệt nhất là:
Tử Hiên tham dự một kì thi đặc biệt. Giấy thi vừa được phát ra.
Thảm rồi!
Vì đề thi nằm ngoài phạm vi chuẩn bị của Tử Hiên nên căn bản là ngay cả một câu cậu ta cũng không trả lời được.
Mồ hôi cậu chảy ròng ròng.
Mặt đỏ, cổ họng khô rang.
Phải làm sao?
Cậu cũng lại đưa tay xoa xoa lên cái áo phông của Lư Sư Tôn, đưa tay xoa xoa thẻ bài hộ thân của Lư Sư Tôn. Nhắm mắt lại.
Trước mắt là một bức màn đen, không xuất hiện chữ gì cả.
Không linh sao?

Trong lúc căng thẳng, cậu đã niệm tâm chú của Lư Sư Tôn (Liên Hoa Đồng Tử tâm chú).
Đột nhiên, bức màn đen trước mắt xuất hiện một tấm bảng đen, hơn nữa còn có một vị giáo sư đang viết chữ lên tấm bảng. Cậu chăm chú nhìn.
Trời ạ!
Những dòng chữ mà vị giáo sư đang viết trên tấm bảng đen không ngờ lại là đáp án của bài thi lần này. Từ câu đầu tiên cho đến câu cuối cùng, tất cả đều có. Cậu ta lập tức trả lời câu hỏi lên tờ giấy thi. Một lúc sau thì đã viết xong rồi.

Cậu lại nhìn vị giáo sư kia, giáo sư kia quay đầu lại nhìn cậu cười một cái.
Cậu sửng sốt.
Không ngờ là Lư Sư Tôn.
Là thật?
Hay là ảo giác?
Tử Hiên cũng lú lẫn rồi sao?

Là ảo giác trong sự thật, hay là sự thật trong ảo giác, thật là bất khả tư nghì một cách không thể tưởng tượng được, thực sự là không hiểu ra làm sao. Đây là một lần duy nhất. Kì thi đó cậu đứng thứ nhất.

Còn có một lần cậu vào phòng thi, ngồi ở phía trước cậu trong phòng thi là một bạn học không quen. Không ngờ người bạn học này cũng mặc áo phông của Lư Sư Tôn, cũng mang theo tấm thẻ bài hộ mệnh của Lư Sư Tôn. Người bạn học này quay đầu lại gọi Tử Hiên là sư huynh.
Tử Hiên sững người lại!
Hóa ra là cũng có đồng môn đi thi và cũng mặc áo phông của Lư Sư Tôn, cũng đeo thẻ bài hộ mệnh của Lư Sư Tôn.

Tôi bình luận rằng:
Buổi tối trước ngày diễn ra kì thi, khi nằm mơ, mơ thấy Lư Sư Tôn trở thành giáo sư dạy phụ đạo cho các đệ tử Chân Phật, sự việc kiểu này thì tôi đã nghe nói đến nhiều rồi. Nhưng trong phòng thi, ngay tại đó đưa ra đáp án, thì thật hi hữu!
Kì thay!
Còn nữa, có người mơ thấy Lư Sư Tôn mổ cho đồng môn để lấy khối u ra, Lư Sư Tôn đã biến thành bác sĩ ngoại khoa, thật sự là đã tự tay cầm dao làm phẫu thuật.
Lạ thay!
Thật là tốt quá! Mơ và thực tế không ngờ lại có thể giống nhau.


### 46. Mua tôi đi


Liên Hoa Văn Kiến đến siêu thị, thong thả dạo bước bên trong trung tâm thương mại. Đi đến trước một hiệu sách, bên trong hiệu sách phát ra một âm thanh:
"Mua tôi đi!"
Anh nghe được âm thanh đó nên rất hiếu kì mà bước vào. Anh tìm đến nơi phát ra âm thanh.
Anh hỏi người bán hàng:
"Có phải trong hiệu sách này có đặt máy thu âm không, thu âm tiếng nói phát ra liên tục là mua tôi đi! Mua tôi đi!"
Người bán hàng cười:
"Làm gì có chuyện đó! Có mà thần kinh à."
Anh hỏi những người khác trong tiệm cũng đang xem sách, họ nói:
"Chẳng nghe thấy gì!"

Anh đứng lại ở trong hiệu sách, vẫn nghe thấy âm thanh "Mua tôi đi! Mua tôi đi!"
Hóa ra là từ giá sách ở sát bức tường phát ra, anh đi đến giá sách đó. Những cuốn sách trên giá sách đều phát ra âm thanh "Mua tôi đi". Anh đưa tay ra lấy một cuốn sách, vừa nhìn thì chính là "Lư Thắng Ngạn văn tập". Là cuốn 145 "Sống từng phút giây trong sáng".
Anh lật lật sách, không ngờ anh đọc tới mức xuất thần.
Anh rất thích!

Thế là anh mua hết sạch những cuốn văn tập Lư Thắng Ngạn có trên giá sách, khoảng hơn 10 cuốn.
Mua về nhà, anh từ tốn đọc, kết quả là anh đã phát khởi tín tâm và viết thư xin quy y. Anh ta chính là Liên Hoa Văn Kiến.

Anh hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Sách mà thầy viết vì sao lại phát ra âm thanh mua tôi! Mua tôi đi!"
Tôi cũng cười! Tôi cũng không biết là những cuốn sách có thể phát ra âm thanh, tôi thật sự không biết!

Điều lạ là, Liên Hoa Văn Kiến có thói quen mua vé xổ số, mỗi tuần đều mua một chút chút. Trước đây đều không trúng. Từ sau khi quy y, anh chỉ cần đem theo sách của tôi đi vào cửa hàng xổ số là có khả năng trúng số cao hơn rồi. Thật đó! Liên Hoa Văn Kiến nói anh không lừa dối tôi.

Ngoài ra, có một đồng môn tên là Liên Hoa Bỉnh Tân, anh ta cũng đi vào hiệu sách, nhìn thấy sách trên giá phát quang. Những cuốn sách khác thì không phát quang. Chỉ có một cuốn sách nọ phát quang, bởi vì cuốn sách phát quang đặt ở trên giá cao. Anh liền bảo người bán hàng lấy thang để trèo lên lấy cuốn sách kia xuống.
Anh vừa nhìn:
Đó là cuốn "Thông linh bí pháp thư".

Đầu tiên là anh quy y. (Là viết thư xin quy y, nhận quán đảnh từ xa.)
Rồi anh thỉnh giáo tôi rất nhiều khẩu quyết của "Thông linh bí pháp thư".
Anh lần lượt tu tập:
Pháp quán nguyên thần.
Pháp nạp - xả khí.
Pháp thỉnh thần.
Pháp hợp nhất với thần.
Pháp đan đỉnh.
……

Không ngờ, Liên Hoa Bỉnh Tân đã tu đến mức tự mình có thể nhìn thấy ánh sáng nguyên thần của chính mình, cũng có thể nhìn thấy ánh sáng nguyên thần của người khác.
Thậm chí anh ta có thể nhìn thấy ánh sáng của các thần. (Có con mắt thứ ba.)
Tôi nói:
Kể từ khi anh ta nhìn thấy cuốn sách phóng quang, anh ta tin tưởng sâu sắc cuốn sách này rất tuyệt vời, nếu chuyên tu pháp này, sau này chắc chắn sẽ đắc "quả vị thần tiên".
Đây cũng chính là nhân duyên của anh.


### 47. Đổng Cảnh Thu đến từ Tứ Xuyên


Ở tại Seattle có Đổng Cảnh Thu người tỉnh Tứ Xuyên.
Một hôm, cô đến hỏi việc.
Khi mới gặp mặt, tôi nhìn thấy cô có tỏa ra ánh sáng trắng mờ mờ (có lúc có, có lúc không). Tôi rất kinh ngạc, bởi vì tôi cũng có kiểu ánh sáng này. Còn Đổng Cảnh Thu vì sao lại có?

Tôi gia trì cho cô. Mục đích của tôi chính là để cho cô có thể được "đánh thức".
Tôi nói thẳng:
"Nguồn gốc của cô là Liên Hoa Đồng Tử!"
Đổng Cảnh Thu sửng sốt, cô nói:
"Bà ngoại tôi là tín đồ Phật giáo, cả đời ăn chay, có linh ứng. Khi tôi ra đời thì bà đã nói với mẹ tôi rằng đứa bé này là Liên Hoa Đồng Tử đến đây."
Tôi nghe xong, cũng sửng sốt.
Tôi nói cô là Liên Hoa Đồng Tử.
Bà ngoại cô cũng nói cô là Liên Hoa Đồng Tử.
Tương ứng rồi!

Tôi nhìn đường chỉ tay của cô, trời ạ! Trời ạ! Ấn kí của Liên Hoa Đồng tử chính ở trên lòng bàn tay.
Tôi chỉ cho cô thấy ấn kí trên chính bàn tay của tôi.
Không ngờ lại hoàn toàn giống với ấn kí của cô.
Đây không phải là sự trùng hợp.
Mà là hoàn toàn tương ứng rồi.

Cô hỏi tôi:
"Tôi là Liên Hoa Đồng Tử màu gì?"
Tôi đáp:
"Màu trắng!"

Hai tuần sau, cô có một giấc mơ.
Đại ý là chiếc xe của cô bị mất, rồi Lư Sư Tôn giúp cô tìm lại xe. Lời giải thích trong giấc mơ là:
Đổng Cảnh Thu ở thế giới Ta Bà từ lâu đã lạc khỏi con đường tu hành dẫn trở về Ma Ha Song Liên Trì, còn Lư Sư Tôn cần dạy cho cô đi trên con đường tu hành, trở về ngôi nhà gốc của chính cô.
Cô lại có một giấc mơ khác.
Giấc mơ này vẫn chưa có được lời giải.
Tôi nghĩ:
Hóa ra có rất nhiều Liên Hoa Đồng Tử đang lưu lạc tại cõi Ta Bà. Tôi có trách nhiệm đưa họ trở về Ma Ha Song Liên Trì, về cảnh giới liên hoa thanh tịnh.

🌟

Tôi biết thập địa Bồ Tát là:
Hoan Hỉ Địa, Ly Cấu Địa, Phát Quang Địa, Diễm Tuệ Địa, Nan Thắng Địa, Hiện Tiền Địa, Viễn Hành Địa, Bất Động Địa, Thiện Tuệ Địa, Pháp Vân Địa.
Lư Sư Tôn cũng là người đã chứng được địa Bồ Tát.
Do vậy, tôi có thể:
Thần hành trong thập phương Phật quốc tịnh độ.
Có thể gặp chư Phật nghe pháp.
Đồng thời hiển hiện độ hóa chúng sinh hữu tình.
Nhìn thấy ánh sáng.
Phóng quang.
Tri nhân túc mệnh.
Có thể thuyết giảng mọi pháp môn.
Có thể nhập vào trong mọi loại thiền định.
Thân ngoại hóa thân.
Đến được cõi trời bên ngoài cõi trời, việc xuất - nhập hoàn toàn không gặp chướng ngại.
To hóa nhỏ.
Nhỏ hóa to.
Phúc phận vô lượng.
Lậu tận tất cả phiền não, bám chấp, đạt đến được sự nhậm vận tự tại. Có các loại thần thông biến hóa bất khả tư nghì.

Tôi nói:
Tôi không chỉ độ hóa Liên Hoa Đồng Tử, tôi cũng độ hóa tất cả chúng sinh hữu tình. Những người có duyên, hãy mau mau quy y.


### 48. Cảm ứng chân thực của Câu Tài Thiên Nữ


Viết bởi Hanifa.

Liên Hoa (Bàng) Phượng Mỹ sư tỉ vào năm 2012 đã quy y Chân Phật Tông. Người bạn thân của bà là đệ tử Chân Phật Tông sống tại Vancouver - sư tỉ Liên Hoa (Trần) Gia Văn.

Sư tỉ Phượng Mỹ và sư tỉ Gia Văn khi còn nhỏ đã cùng với gia đình vào năm 1979 lên thuyền rời Việt Nam đến Vancouver. Khi còn ở Việt Nam thì gia cảnh của họ cũng giàu có, nhưng khi đến Canada thì lại trở thành vô cùng nghèo khổ khó khăn.

Tự bản thân Liên Hoa Gia Văn sư tỉ vào năm 2004 sau khi quy y Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật thì cuộc sống đã có những sự cải thiện rất lớn, của cải dư thừa, gia đình viên mãn, lại còn có rất nhiều hiện tượng cảm ứng, đặc biệt là tính cách của bản thân bà cũng đã thay đổi rất nhiều. Bà tham gia các pháp hội Hộ Ma của Sư Tôn. Bà cũng rất nhiệt tình giúp đỡ hội công đức Hoa Quang, là một tình nguyện viên lâu năm. Bà có niềm tin và tấm lòng cung kính tuyệt đối đối với Sư Tôn, ngày ngày tu pháp trì chú, quán tưởng cũng rất tập trung. Bà đã giới thiệu người bạn thân thiết nhất của mình là Liên Hoa Phượng Mỹ sư tỉ, vào năm 2012 giúp đỡ cho người bạn thân quy y Sư Tôn.

Sư tỉ Phượng Mỹ vốn cũng đã từng đến Cầu Vồng Lôi Tạng Tự tham gia pháp hội Hộ Ma của Thánh Tôn, cũng đã từng được Thánh Tôn đặc biệt sờ đầu gia trì.

Chồng của Liên Hoa Phượng Mỹ sư tỉ là ông Lukas Lundin, sinh ngày 3 tháng 7 năm 1958 tại Stockholm, thủ đô Thụy Điển, cũng có quốc tịch Canada. Ông là người khởi nghiệp tập đoàn nổi tiếng Lundin Group, có giá trị đến hơn 2 tỉ đô Mỹ.

Tập đoàn Lundin Group là do cha của ông thành lập vào năm 1971, tham gia vào việc khai thác dầu mỏ và khoáng sản ở khắp nơi trên thế giới, trong đó bao gồm 14 công ty lớn có tiếng về các loại tài nguyên thiên nhiên: Lundin Energy, Lundin Mining, Lundin Gold, International Petroleum, Filo Mining, Josemaria Resources, NGEx Minerals, Lucara Diamond, ShaMaran Petroleum, Denison Mines, Africa Oil, Africa Energy, Bluestone Resources, và Etrion. Hơn nữa, trong số đó công ty Lucara Diamond tại đất nước Botswana ở Châu Phi là công ty chuyên khai thác kim cương. Công ty này từ sau khi thành lập vào năm 2012, hiệu quả khai thác khoáng sản không tốt.

Sư tỉ Liên Hoa Phượng Mỹ do thường xuyên sống tại nước ngoài nên thường nhờ bạn thân của mình là Liên Hoa Gia Văn sư tỉ báo danh tại các pháp hội Hộ Ma. Chính vào ngày 17 tháng 7 năm 2015, tại pháp hội Hộ Ma Câu Tài Thiên Nữ ở Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, sư tỉ Giai Văn đã giúp cho bạn mình báo danh là người chủ cầu, hơn nữa, trong lúc diễn ra lễ Hộ Ma còn đặc biệt tập trung quán tưởng cẩn thận rõ ràng rằng có rất nhiều kim cương to ở trong hư không, nhiều như sao kín cả bầu trời.

Cũng vào cuối năm đó, công ty Lucara Diamond đã bắt đầu khai thác được rất nhiều kim cương lớn, bất luận là 100 carat, 300 carat, hoặc 800 carat đều có cả… trong đó viên kim cương lớn nhất được khai thác là viên lớn thứ hai trên thế giới khoảng hơn 1000 carat. Giá trị cổ phiếu của công ty cũng vì vậy mà tăng lên 5 tỷ đô la Mỹ. Cho đến nay, công ty này vẫn tiếp tục đào được rất nhiều những viên kim cương lớn.
(Viên kim cương lớn nhất thế giới có tên gọi là Cullinan 3106.75 carat, được khai thác vào năm 1905 tại khu khoáng sản Cullinan Nam Phi. Khi đó chính phủ Nam Phi đã tặng cho quốc vương Edward Đệ Thất của nước Anh như một món quà mừng sinh nhật 66 tuổi của ngài. Viên kim cương này còn được gọi là ngôi sao của Đại Phi Châu.)

Pháp lực của Thánh Tôn và Phật pháp thật bất khả tư nghì. Cảm ơn Thánh Tôn từ bi cứu độ.


### 49. Phẫn Nộ Liên Sư tương ứng pháp


Tôi (Lư Sư Tôn) truyền thụ pháp Phẫn Nộ Liên Sư, nghi quỹ như sau:
Tiền hành:
Đại lễ bái.
Đại cúng dường.
Tứ quy y.
Kim Cang Tâm Bồ Tát.
Tứ vô lượng tâm.
Mặc giáp hộ thân.
Và những mục khác.

Chính hành:
Đầu tiên quán Không, trì chú quán Không. (Tay kết ấn Phẫn Nộ Liên Sư.)
Quán tưởng.
Trong hư không có một chữ Hum màu đỏ.
Chữ Hum biến hóa thành Phẫn Nộ Liên Sư. (Dorje Drolo)
Một đầu, hai tay, ba mắt.
Thân màu đỏ tía. Trên mặc áo gấm thêu, dưới mặc váy múa.
Tay phải cầm chày kim cang bằng sắt trời.
Tay trái cầm chày phổ ba. (Tay trái trỏ mũi nhọn của chày vào con bọ cạp chín đầu.)
Chân đạp lên lưng của người mẹ mang thai.
Lấy liên hoa nhật luân làm thiên ma tọa.
An trụ trong ngọn lửa cháy phừng phừng.
Hành trì:
"Nhập ngã ngã nhập". Tự thân hành giả biến hóa thành Phẫn Nộ Liên Sư Dorje Drolo.
Trì chú:
"Hum hum hum om ah hum vajra guru drollo loka sarva siddhi hum hum."
Hoặc tâm chú:
"Om ah hum artsik nirtsik namo bhagawate hum hum phat."
Hoặc:
"Hum hum hum hum hum hum hum hum..."
Nhập Tam ma địa.
Hành giả và Bổn tôn tiến nhập vào trong ánh sáng quang minh.
Phat phat phat.
Rồi trong một sát-na, hiện lên tướng uy mãnh của Phẫn Nộ Liên Sư.
Hồi hướng:
"Nhờ vào sự tu hành tốt đẹp này mà khiến ta mau chóng thành tựu tướng Liên Sư Phẫn Nộ.
Tất cả chúng sinh không còn nghi hoặc, chỉ duy nhất nguyện được an trú trong cõi Phật."
Niệm Bách tự minh chú 3 biến.
Đại lễ bái.
Rời khỏi đàn thành.

🌟

Dorje Drolo (Phẫn Nộ Liên Sư) có công đức thù thắng như sau:

1. Trong đời này sẽ không bị tà thần, ác quỷ và oan thân trái chủ làm hại.

1. Không bị bùa chú ác độc của ngoại đạo làm hại.

1. Không mơ thấy ác mộng, không mắc bệnh hiểm nghèo không rõ nguyên nhân.

1. Bảo vệ cho cả gia đình lớn nhỏ đều không mắc bệnh, không gặp vận ác.

1. Không gặp tai nạn hỏa hoạn, sự nghiệp thuận lợi, của cải dồi dào.

1. Phụ nữ sinh đẻ thuận lợi, trẻ sơ sinh không chết yểu.

1. Thân thể khỏe mạnh, không bệnh tật, không gặp tai nạn.

1. Không gặp người xấu làm hại hoặc tiểu nhân hãm hại.

1. Đời này sống lâu, tài phúc, uy thế.

🌟

Theo như tôi biết:
Phổ Ba Kim Cang.
Hắc Phẫn Nộ Mẫu.
Dorje Drolo.
Đều là ba pháp đại bí mật. Trong thời kỳ ngũ trọc ác thế, các vị xuất hiện tướng uy mãnh, cũng là ba vị Hộ pháp lớn.

Dorje Drolo có thể hàng phục:
Thiên tử ma.
Ngũ uẩn ma.
Tử ma.
Phiền não ma.

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/281-thien-ha-de-nhat-linh.md
# Title: 281. Thiên hạ đệ nhất linh
---

![image](/img/img_b055f7b652d577e67d85badd27b77db2.jpg)



## Thiên hạ đệ nhất linh


🪷 Thật sự quá chuẩn xác

Văn tập: 281
Xuất bản: 31/12/2020
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu


Năm xưa.
Tại Ngọc Hoàng Cung ở Đài Trung, tôi đã được Diêu Trì Kim Mẫu mở thiên nhãn và mở thiên nhĩ, tôi đã trở thành "người thông linh". (50 năm trước)

Có một lần, tôi đi tàu hỏa.
Ngồi cạnh là một nam thanh niên trẻ tuổi tôi không quen biết. Tôi đột nhiên nảy ra một ý nghĩ kì lạ, sao không thử xem mình thông linh có chuẩn hay không. Thời gian đó tôi cảm thấy rất hiếu kì.

Tôi nhắm mắt lại.
Tập trung tinh thần.
Đối tượng chính là nam thanh niên xa lạ ngồi bên cạnh tôi trên chuyến tàu hỏa. Tôi đã lấy anh ra làm trò thực nghiệm của mình.
Sau khi thông linh xong, tôi lấy ra một tờ giấy và một cây bút, viết xuống mấy hàng chữ.

1. Họ Hồng.
2. Là con thứ ba trong nhà.
3. Tốt nghiệp Đại học Chính Trị.

Tôi nghĩ như thế là đủ rồi. Tôi quay qua anh ta và khách khí đưa tờ giấy cho anh xem. Anh thanh niên xem tờ giấy thì ngây người ra.
Anh nhìn tôi đầy ngạc nhiên, hỏi:
"Anh là ai? Sao anh lại biết tôi?"
Tôi không trả lời câu hỏi của anh, chỉ hỏi ngược lại:
"Chuẩn không? Đây là tôi thần toán đó."
Anh đáp:
"Cực chuẩn!"

Tôi nói với anh rằng mình là người thông linh. Thật ra tôi đang kiểm tra trình độ thông linh của mình. Người thanh niên không quen biết này chẳng hề tức giận. Anh nói anh thật sự mang họ Hồng, là con thứ ba trong gia đình, đồng thời cũng đã tốt nghiệp Đại học Chính Trị. Ba điều này đều cực chuẩn không sai tí nào.

Anh ta còn hiếu kì hơn, anh hỏi:
"Nhà tôi có gì đặc biệt?"
Tôi nhắm mắt tập trung tinh thần.
Tôi trả lời:
"Nhà anh có nuôi một con vẹt."
Anh sửng sốt đến mức đứng bật dậy khỏi ghế ngồi. Anh lại hỏi:
"Nhà tôi còn có gì nữa?"
Tôi đáp:
"Trong nhà có bàn thờ thần, vị ở giữa là Pháp Chủ Công."
Anh kinh hãi.

Anh kể với tôi, bản thân anh không quá tin vào thần, nhưng ngược lại, vợ anh lại khá tin, bàn thờ thần trong nhà là do vợ anh thờ cúng. Sau cuộc trò chuyện với tôi lần này, quan niệm của anh đã thay đổi rồi. Anh cho rằng thật sự không thể tưởng tượng được. Anh tự nói với chính mình:
Trên tàu cứ theo số ghế trên vé mà ngồi.
Hai người trước nay chưa hề quen biết, chỉ là ngồi cạnh nhau.
Lư Thắng Ngạn ngồi cạnh lại có thể biết được rất nhiều chuyện về anh, sao có thể như vậy được?

Anh bảo tôi:
"Sau này có việc gì khó khăn, chắc chắn sẽ đến thăm anh!"
Tôi nói:
"Vị cao linh số một của tôi chính là Diêu Trì Kim Mẫu. Diêu Trì Kim Mẫu đã giúp tôi luôn linh linh linh. Chuẩn chuẩn chuẩn."
*Bingo*!
Vạn tuế!
Thắng lợi!

Cuộc đời này tôi tôn sùng nhất là Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn, ngài là "thiên hạ đệ nhất linh".

(Tháng 10/2020)

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Vài chuyện nhỏ trong cuộc đời tôi


Nay tôi đã 76 tuổi rồi. Hồi tưởng lại những khai sáng của Diêu Trì Kim Mẫu trong cuộc đời này của tôi, đại loại có mấy việc cũng tương đối thù thắng.

26 tuổi, Diêu Trì Kim Mẫu hỏi tôi:
"Bây giờ con có nguyện vọng gì, ta sẽ giúp con đạt được!"
Tôi nhất thời chẳng nghĩ ra, buột miệng nói:
"Con chỉ hy vọng công việc của con đều ở Đài Trung."
(Bởi vì nhà tôi ở Đài Trung.)
Diêu Trì Kim Mẫu bảo được.

Kết quả là đơn vị công tác của tôi đều ở Đài Trung.

1. Đơn vị trắc lượng Đài Trung Nam Môn Kiều số 5802.
2. Xưởng bản đồ Đài Trung.

(Tôi tốt nghiệp khóa 32 trường Trắc Lượng, tương đương với tốt nghiệp Học viện Công nghệ và Khoa học Trung Chính khóa 28. Tôi thuộc bộ Đại học Quân Đội, sau khi tốt nghiệp phục vụ trong quân đội 10 năm, đều ở Đài Trung.)
Lời Diêu Trì Kim Mẫu đã nói đúng là:
Thần chuẩn!

Năm 38 tuổi, tôi di cư sang Mỹ. Diêu Trì Kim Mẫu nói với tôi:
"Đi Mỹ, hoằng pháp toàn thế giới!"
Tôi, Sư Mẫu, Phật Thanh, Phật Kì, nghe theo lời của Diêu Trì Kim Mẫu, bốn người bốn tay nải (ngay cả va ly hành lý cũng không có). Cứ thế đặt chân lên Mỹ Quốc đại lục.
Quả nhiên tôi hoằng pháp khắp thế giới.
Lời Diêu Trì Kim Mẫu đã nói đúng là:
Thần chuẩn!

Năm 56 tuổi, Diêu Trì Kim Mẫu nói với tôi:
"Con có một kiếp nạn trong pháp, cần bế quan bảy năm."

1. Tạm thời đi một chuyến đến Tahiti.
2. Trở về Đài Loan tìm Hứa Đức Toàn. (Thượng sư Liên Cực)
3. Mau chóng chuyển nhà (nhà ở Mỹ).

Ba điểm chính mà Diêu Trì Kim Mẫu bảo tôi cực kì quan trọng.

1. Dương đông kích tây. Khiến đối phương không tìm được tôi.
2. Hứa Đức Toàn khi đó không nghề không nghiệp, là người tự do, có thể chăm lo cho tôi.
3. Chuyển nhà ở Mỹ, đối phương không tìm được tôi.

Sau này đã chứng minh rằng:
Đối phương không tìm được nhà của tôi ở Mỹ.
Đối phương đến Tahiti tìm tôi, cũng không tìm thấy. (Tôi chỉ tạo ra một sự đánh lừa.)
Tìm Hứa Đức Toàn cũng đúng luôn, ông ấy đã chăm lo cho tôi ba năm rưỡi. Ông là người tự do nhàn rỗi chẳng bận việc gì.
Lời Diêu Trì Kim Mẫu đã nói đúng là:
Thần chuẩn!

Năm 66 tuổi, Diêu Trì Kim Mẫu nói với tôi:
"66 tuổi thì con có thể trở về rồi!"
Câu nói này như sét đánh ngang tai. Trên pháp tọa tôi đã kể nhiều lần rồi.
Trời ạ!
Năm tôi 66 tuổi, vì một lý do nhỏ mà tôi quyết định trở về Đài Loan hoằng pháp. Mùa đông, tôi ở Đài Loan. Mùa hè, tôi trở về Seattle nước Mỹ. Cuộc sống như vậy tổng cộng kéo dài 7 năm.
Vì sao tôi phải làm như vậy?
Hóa ra là Diêu Trì Kim Mẫu muốn tôi xây dựng hoàn chỉnh Đài Loan Lôi Tạng Tự. (Nếu như tôi không trở về Đài Loan thì Đài Loan Lôi Tạng Tự sẽ trở thành đống đổ nát.)
Lời Diêu Trì Kim Mẫu đã nói đúng là:
Thần chuẩn!

Năm 76 tuổi, vào năm 2019, Diêu Trì Kim Mẫu nói:
Năm 2020 là một năm đại loạn.

1. Bệnh dịch lớn ập đến. (Virus siêu cấp)
2. Nạn đói. (Châu chấu di cư và những việc khác)
3. Chiến tranh.
4. Kinh tế chỉ đạt 20 điểm.

Kết quả, virus Corona lan ra khắp thế giới, những đàn châu chấu di cư che phủ kín cả trời đất, hàng trăm doanh nghiệp phá sản, tôi nói kinh tế được 20 điểm vẫn còn là rộng rãi. Số người thất nghiệp tăng đột ngột, còn chiến tranh thì vẫn tiếp diễn………..
Lời Diêu Trì Kim Mẫu đã nói đúng là:
Thần chuẩn!
Ngài là thiên hạ đệ nhất linh.


### 02. Diêu Trì Kim Mẫu nói tôi là Liên Hoa Đồng Tử


Diêu Trì Kim Mẫu nói:
"Tạp Tử! Con mang cốt Phật!"
"Tạp Tử! Con là Liên Hoa Đồng Tử!"
Hai chữ Tạp Tử này là tên gọi hồi nhỏ của tôi. Cha mẹ tôi đều gọi tôi như vậy. Tạp Tử là âm tiếng Nhật, cũng có ý nghĩa là "thắng".
Diêu Trì Kim Mẫu gọi tôi là Tạp Tử, vô cùng thân thiết.
Đặc biệt là Ngài nói tôi là:
"Cốt Phật."
"Liên Hoa Đồng Tử."
Tôi vĩnh viễn nhớ như in.

Diêu Trì Kim Mẫu nói tôi là Liên Hoa Đồng Tử, khi đó tôi đang bay trong hư không. Tôi muốn đi đến Diêu Trì Tiên Cảnh, đôi mắt tôi nhìn hướng về đỉnh núi Côn Luân, ở trên những ngọn gió Cương Phong. [Trong Đạo giáo, Cương Phong là những cơn gió thiên thể rất mạnh, chỉ có những bậc Thần Tiên mới có thể cưỡi được.] Đó không phải là nơi con người có thể đến, bởi vì Cương Phong rất mạnh, sắt thép sỏi đá đều sẽ bị đập nát, không người nào có thể đến được. Ngoài ra còn có sông dài rộng hiểm trở, ngay cả lông ngỗng cũng chẳng nổi được thì thế giới thế tục chẳng người nào có thể qua được. [Theo truyền thuyết, ở phía Bắc của núi Côn Luân có một dòng sông hiểm trở tên là sông Nhược Thủy, vì vậy thành ngữ “nhược thủy tam thiên” từ xưa đã được dùng rộng rãi để chỉ những dòng sông hiểm trở.]

Diêu Trì Kim Mẫu để cho tôi cưỡi:
"Chim phượng hoàng xanh."
Chim phượng hoàng xanh là cỗ xe của Diêu Trì Kim Mẫu.
Nhờ có chim phượng hoàng nhỏ làm bạn, tôi đã vượt qua được dòng sông Nhược Thủy, vượt qua được Cương Phong.
Bởi thế, tôi đã nhớ rõ được:
"Tôi chính là Liên Hoa Đồng Tử!"

Tôi hỏi Kim Mẫu:
"Liên Hoa Đồng Tử là sao?"
Kim Mẫu đáp:
"Sau này sẽ biết."
Tôi hỏi:
"Làm sao để tìm được nguồn gốc của Liên Hoa Đồng Tử?"
Kim Mẫu đáp:
"Nhân gian đã có."
(Về sau, thật sự là có, trong hang Đôn Hoàng đã có rất nhiều Liên Hoa Đồng Tử.)
Xá Lợi Phất là Liên Hoa Đồng Tử.
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là Liên Hoa Đồng Tử.
Long Thụ Bồ Tát là Liên Hoa Đồng Tử.
Tsongkhapa là Liên Hoa Đồng Tử.
Lư Sư Tôn là Liên Hoa Đồng Tử.
...

Ngoài ra, vào thời Tùy - Đường ở Trung Quốc, có bài dân ca Đồng Tử:

*Liên Hoa Đồng Tử gặp Kim Tiên.
Khắp cả hư không hoa rơi xuống.
Vượt mây nghe tiếng trời vi diệu.
Lời nào tả xiết lạc cõi thiên.*

Thì ra Liên Hoa Đồng Tử và A Di Đà Phật có nhân duyên to lớn, Liên Hoa Đồng Tử là hóa thân của A Di Đà Phật.
Đông Vương Công.
Tây Vương Mẫu.
Liên Hoa Đồng Tử.
Ba vị đứng cạnh nhau.

Cuối cùng tôi đã đến Diêu Trì Tiên Cảnh. Đó là một toà thành lớn rộng hàng nghìn dặm, có 12 lầu ngọc. Diêu Trì Kim Mẫu sống tại cung điện chín tầng được chạm khắc bởi những loại châu ngọc đẹp đẽ nhất, trong suốt lung linh.
Bên ngoài cung điện có tường bao bằng vàng. (Kéo dài cả nghìn dặm.)
Nam thần sống ở cánh phải.
Nữ thần sống ở cánh trái.
Các vị thần tiên thấy tôi (Lư Sư Tôn) đều vô cùng vui mừng. Nhưng tôi chẳng quen biết một ai cả, nguyên nhân là vì khi đó trí huệ của tôi vẫn chưa được khai mở.

Các vị gọi tôi là:
"Tiểu giáo chủ."
Hoặc:
"Thiếu chủ."
Tôi không hiểu vì sao tất cả thần tiên đều gọi tôi là Tiểu giáo chủ hoặc Thiếu chủ.
(Nhưng sau khi tôi tu hành thì giờ đây tôi đã hiểu rồi.)


### 03. Cung điện Liên Hoa Đồng Tử


Theo như tôi biết:
Diêu Trì Tiên Cảnh của Diêu Trì Kim Mẫu nằm ở trên những ngọn gió Cương Phong của đỉnh núi Côn Luân, bên trái có hồ Diêu Trì, bên phải có hồ nước xanh.

Diêu Trì Kim Mẫu là hóa thân từ khí diệu kì nhất của phương tây.
Đông Vương Công là hóa thân từ khí diệu kì nhất của phương đông. (Đông Hoa Đế Quân)
Hai loại nguyên khí này đã tạo nên và nuôi dưỡng trời đất, bồi dưỡng vạn vật.
Nếu như muốn biết sâu hơn nữa, tôi nghĩ chỉ có ba chữ:
"Không thể nói."
"Không thể nói" ở đây cũng có nghĩa là không có cách nào mà nói cho hết.
Vì sao vậy?
Bởi vì tôi chỉ có thể gọi Diêu Trì Kim Mẫu là: "Thiên hạ đệ nhất linh khí".

Ở Diêu Trì Tiên Cảnh, Diêu Trì Kim Mẫu đưa tôi đến một cung điện khổng lồ, đứng sừng sững như một ngọn núi cao lớn. Kim Mẫu nói:
"Đây là cung điện của con!"
Tôi sửng sốt!
"Con có cung điện ở Diêu Trì ư?"
Kim Mẫu nói:
"Đúng vậy."
Tôi hỏi:
"Tịnh thổ của con chẳng phải là ở Tây phương Cực Lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì sao? Vì sao lại ở Diêu Trì Tiên Cảnh?"
Kim Mẫu nói:
"Ta cười chê con chỉ biết một mà không biết hai. Liên Hoa Đồng Tử có cung điện ở Ma Ha Song Liên Trì, có cung điện ở Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ, có cung điện ở Diêu Trì Tiên Cảnh."
Kim Mẫu nói tiếp:
"Giống như ở nhân gian, con có nhà ở Nam Sơn Nhã Xá, có Chân Phật Mật Uyển, có Biệt Thự Cầu Vồng, có Bồ Tát Đỉnh, có Tiểu Mật Uyển."
Tôi ngẫm nghĩ, đã hiểu ra rồi!

Tôi đi vào trong cung điện khổng lồ của mình. Cung điện hoa lệ khiến tôi phải há hốc miệng trầm trồ. Nếu nói về sự hào hoa sang trọng thì nhân gian tuyệt đối chẳng có. Ở bên trong cung điện, tôi tự cảm thấy mình rất bé nhỏ, cung điện rộng lớn quá. Tôi hỏi Kim Mẫu:
"Con nhỏ bé, cung điện lại rộng lớn thế này, không được thích hợp lắm chăng?"
Kim Mẫu nói:
"Ta sẽ khiến con xuất hiện nguyên thần, biến!"

Trong nháy mắt, tôi đã biến thành kim thân cao một trượng sáu, trở thành hình tướng một đại trượng phu môi hồng răng trắng.
Tôi thấy mình thật ngốc!
Hóa ra tôi có thể:
Nhỏ biến thành to.
To biến thành nhỏ.

Tôi lại trông thấy ở chính giữa cung điện có một bảo tọa lớn, trên bảo tọa có một người mặc thiên y màu trắng, tỏa sáng rực rỡ. Tôi hỏi:
"Người kia là ai?"
Kim Mẫu đáp:
"Lư Sư Tôn!"
Tôi lại sửng sốt.
Tôi hỏi:
"Con là Lư Sư Tôn, người kia cũng là Lư Sư Tôn, sao lại có hai Lư Sư Tôn?"
Kim Mẫu cười lớn:
"Con có pháp thân Lư Sư Tôn, có báo thân Lư Sư Tôn, có ứng thân Lư Sư Tôn. Người ngồi trên bảo tọa là báo thân, người ở nhân gian là ứng thân, ta sẽ để cho hai người nhập làm một vậy!"

Tôi từ từ bay lên!
Rất nhanh chóng, Lư Sư Tôn này nhập vào Lư Sư Tôn kia.
Trời ạ!
Hóa ra tôi có thể:
Hai người thành một người.
Một người thành hai người.
Một người hóa thành nghìn nghìn vạn vạn người.
Bất chợt tôi hiểu ra vì sao chúng ta lại niệm Phật là:
"Nam mô 36 nghìn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật."


### 04. Tam thân và Tứ thân


Theo như tôi biết:
Chúng ta gọi pháp thân tức là thân tự tính (Chân như Phật).
Báo thân tức là thân tha thụ dụng (Trí huệ Phật, Công đức Phật).
Ứng thân tức là thân biến hóa.
Sự phân biệt giữa pháp thân và ứng thân là:
Tám tướng thành đạo của Phật là ứng thân.
Phật nhất thời hóa hiện là pháp thân.
Công đức Phật, Trí huệ Phật là báo thân.

Norlha Rinpoche còn có một so sánh như sau:

1. Trần trùi trụi --- Pháp thân.
2. Bán khỏa thân --- Báo thân.
3. Mặc quần áo --- Ứng thân.
(Sự so sánh này rất hài hước.)

Còn Tứ thân thì phân chia báo thân thành hai loại: tự thụ dụng và tha thụ dụng.
Cá nhân tôi cảm thấy những danh từ này chỉ là sự phân biệt trên phương diện con chữ và tên gọi mà thôi, rất dễ khiến người ta cảm thấy rối, khó hiểu.

Bản thân tôi phân biệt như sau:

1. Pháp thân tức là Phật tính. (Hư không)
2. Báo thân tức là Trí huệ hiển hiện ra. (Tịnh thổ)
3. Ứng thân tức là Ứng hóa xuất hiện. (Hữu tình vạn tượng)

Khi ứng hóa thân Lư Sư Tôn tiến nhập vào báo thân Lư Sư Tôn thì trí huệ mở mang. Tôi hiểu rõ ràng tường tận rất nhiều sự việc.
Diêu Trì Kim Mẫu là thiên hạ đệ nhất linh khí, xưng hiệu của Ngài nhiều đến mức không thể đếm hết. Ví dụ:
"Thượng Thánh Bạch Ngọc Quy Thai Cửu Linh Thái Chân Vô Cực Thánh Mẫu Diêu Trì Đại Thánh Tây Vương Kim Mẫu Vô Thượng Thanh Linh Nguyên Quân Thống Ngự Quần Tiên Đại Thiên Tôn."

Tôi nói cho mọi người biết:
Vô Thượng Thanh Linh --- là không có ai cao hơn Ngài.
Thống Ngự Quần Tiên --- tất cả Kim Tiên đều do Ngài thống lĩnh.
Các xưng hiệu thông thường thì không đếm xuể:
"Tây Vương Mẫu."
"Vương Mẫu Nương Nương."
"Tây Vương Kim Mẫu."
"Kim Mẫu Nguyên Quân."
"Tây Linh Vương Mẫu."
"Cửu Linh Thái Diệu Quy Sơn Kim Mẫu."
"Tây Trì Cực Lạc Kim Từ Thánh Mẫu."
"Bạch Ngọc Quy Đài Cửu Linh Thái Chân Kim Mẫu Nguyên Quân."
"Vô Cực Diêu Trì Đại Thánh Tây Vương Kim Mẫu Đại Thiên Tôn."
"Thiên Thượng Vương Mẫu Nương Nương Đại Thiên Tôn."
...

Tôi cũng hiểu vì sao Diêu Trì Kim Mẫu lại tìm Lư Thắng Ngạn để quảng độ chúng sinh hữu tình. Bởi vì:
"Lư Thắng Ngạn chính là Liên Hoa Đồng Tử."
Liên Hoa Đồng Tử ở thế giới Ta Bà đã chuyển thế vô số lần, tôi và những người con gái của Diêu Trì Kim Mẫu có liên quan đến nhau:
Hoa Lâm.
Mị Lan.
Thanh Nga.
Diêu Cơ.
Ngọc Chi.
Trong đó, Diêu Cơ chính là Vân Hoa phu nhân, cũng chính là người con gái thứ 23 của Diêu Trì Kim Mẫu. (Phu nhân của tôi.)
Dựa vào mối quan hệ này, Diêu Trì Kim Mẫu tìm tôi.
Tôi và Đổng Song Thành, Hứa Phi Quỳnh, Quách Mật Hương, Uyển Lăng Hoa, Đoạn An Hương ………….
Cũng đã kết duyên rất sâu nặng.

Còn đối với 12 Thiên nữ Cát Tường Thiên, 5 Thiên nữ Trường Thọ Thiên thì duyên phận giữa tôi và họ cũng rất sâu nặng.
Tôi nói để mọi người biết, những Thiên nữ này dung nhan xinh đẹp, thần thái tuyệt vời, thế gian tuyệt đối chẳng có. Có rất nhiều câu chuyện ở đây.


### 05. Yến tiệc Diêu Trì


Thần Tiên Hàn Tương Tử có một bài thơ, tôi xin cung kính ghi lại dưới đây: [Hàn Tương Tử là một trong số 8 vị Tiên (Bát Tiên) của Đạo giáo.]
Nơi núi non mây nước
Hang này là nhà ta.
Nước ngon đêm khuya uống
Ráng đỏ sớm mai ăn.
Đàn vang điệu bích ngọc
Lư hương tuyền chu sa.
Vạc quý giữ hổ vàng
Ruộng đen nuôi quạ trắng.
Một muôi gom tạo hóa
Ba thước trảm yêu tà.
Rượu ngon trong phút chốc
Khoảnh khắc ấy nở hoa.
Người nào học theo ta
Tiên hoa ta cùng ngắm.

Tôi rất tán thưởng bài thơ này.
Theo tôi được biết, Thần Tiên phân ra làm chín phẩm:

1. Cửu Thiên Chân Hoàng.
2. Tam Thiên Chân Hoàng.
3. Thái Thượng Chân Nhân.
4. Phi Thiên Chân Nhân.
5. Linh Tiên.
6. Chân Nhân.
7. Linh Nhân.
8. Phi Tiên.
9. Tiên Nhân.

Như Lão Tử, Đông Hoa Đế Quân, Diêu Trì Kim Mẫu đều thuộc về Cửu Thiên Chân Hoàng, là thần tiên nhất phẩm. Tôi thích bài thơ của Hàn Tương Tử, trong đó có hai câu thơ "Nước ngon đêm khuya uống, Ráng đỏ sớm mai ăn", đây là thức ăn của thần tiên.
Thật khiến tôi say mê.

Ở Diêu Trì Tiên Cảnh, Diêu Trì Kim Mẫu đã vì tôi mà mở tiệc thiết đãi, dùng cờ vàng để triệu thỉnh các thần tiên đến tham dự. Nghe nói:
Vẫy cờ vàng cũng tương đương với việc minh chủ triệu thỉnh các thần tiên từ mọi nẻo đường, thần tiên sống ở núi, ở phủ tụ hội về. Một mùi hương thơm lạ đưa đến là họ liền biết ngay lý do được gọi, từng vị tiến về Diêu Trì Tiên Cảnh.

Yến tiệc Diêu Trì này là Diêu Trì Kim Mẫu đặc biệt tổ chức vì tôi, đương nhiên là để giới thiệu tôi là: "Tây phương Liên Trì Hải Hội, Ma Ha Song Liên Trì, thập bát đại Liên Hoa Đồng Tử, Bạch Y Thánh Tôn, Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư, Chủ Kim Cương Giới Bí Mật Chủ, Đại Trì Minh Đệ Nhất Thế Linh Tiên Chân Phật Tông, Lư Thắng Ngạn Mật Hành Tôn Giả."

Đến tham dự yến tiệc có cả hai Phật tám Bồ Tát.
Tỳ Lô Giá Na Phật.
A Di Đà Phật.
Quan Thế Âm Bồ Tát.
Di Lặc Bồ Tát.
Hư Không Tạng Bồ Tát.
Phổ Hiền Bồ Tát.
Kim Cang Thủ Bồ Tát.
Diệu Cát Tường Bồ Tát.
Trừ Cái Chướng Bồ Tát.
Địa Tạng Vương Bồ Tát.
...

Giới thần tiên có:
Hồng Quân Lão Tổ, Thái Thượng Lão Quân, Nguyên Thủy Thiên Tôn, Linh Bảo Thiên Tôn, Lão Tử, Đông Vương Công, Xích Tùng Tử, Lữ Thượng, Vương Tử Kiều, Nghiêm Quân Bình, Thái Huyền Nữ, Cửu Thiên Huyền Nữ, Quỷ Cốc Tử, An Kì Sinh, Hứa Tốn...

Yến tiệc Diêu Trì đã mở ra một sự khởi đầu mới, tôi trầm trồ khen ngợi. Ngòi bút này của tôi không sao mô tả hết.
*Khai tiệc cầu vồng hiện.
Sáng đế võng minh châu.
Nước ngon từ trên xuống.
Ráng đỏ kín chân trời.*

Tôi thấy trên bàn tiệc toàn là quang, khí, bay tới bay lui, không dùng đũa, không dùng bát đĩa, chỉ là hít vào và thở ra những ráng quang, vô cùng đẹp đẽ.
(Thì ra thức ăn của thần tiên toàn là quang và khí.)
Đó là yến tiệc Diêu Trì biến huyễn vô biên.
Vân Hoa phu nhân nói:
"Lư Sư Tôn! Chúng tôi chuẩn bị cho ngài món dồi non và bánh mai rùa."
(Bởi vì tôi là người thế tục.)


### 06. Ân từ của Diêu Trì Kim Mẫu


Có một bài kệ ca ngợi Diêu Trì Kim Mẫu:
*Bạch ngọc lưu dấu, ngai rùa tu luyện.
Nguyên thủy đẹp đẽ, muôn kiếp là Tiên.
Người mẹ vũ trụ, là bậc chí tôn
Nuôi dưỡng trời đất, hóa sinh vạn vật.
Chúa tể càn khôn, ngụ cung Diêu Trì.
Bồi dưỡng đạo đức, thái bình an vui.
Con thuyền từ bi, phổ độ tiếp dẫn.
Long hoa thánh hội, ban thưởng đào tiên.
Đại đức chí nhân, độ về nguồn gốc.
Thống nhất bốn biển, đạo hiệu Thiên Tôn.*

Bài kệ tán thán này đã gói trọn sự chí tôn chí cao chí thánh của Diêu Trì Kim Mẫu, thật sự là "thiên hạ đệ nhất linh". Bổn tôn đầu tiên mà tôi nương dựa vào vĩ đại như vậy khiến cho nội tâm tôi tràn ngập sự thành kính.

Diêu Trì Kim Mẫu lấy ra ba viên kim đan, đặt trong lòng bàn tay, sau đó hỏi tôi:
"Ở đây có ba viên kim đan, một trắng, một đỏ, một đen. Trong ba viên này, con hãy chọn lấy một viên rồi uống!"
Tôi chọn viên kim đan màu đỏ rồi nuốt nó.

Diêu Trì Kim Mẫu nói:
"Viên màu trắng là nhập tiên tu pháp thanh tịnh, trở thành Đại La Kim Tiên. Viên màu đỏ là phát bồ đề tâm, quảng độ chúng sinh, từ lúc nhập thế cho đến khi xuất thế, thành tựu Đại La Kim Tiên. Viên màu đen là nhập vào âm giới, chuyên độ cõi âm, công đức viên mãn, thành tựu Đại La Kim Tiên."
Diêu Trì Kim Mẫu nói:
"Con chọn màu đỏ, vậy thì hãy ở nhân gian độ chúng sinh đi!"

Tôi hỏi:
"Con sẽ phải làm gì?"
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Ta sẽ giúp con xem việc cho người ta đều luôn chuẩn xác, nhờ vào khả năng xem việc chuẩn xác này mà dẫn dắt con người đi vào cánh cửa tín ngưỡng."
"Con cần học thế nào?" - Tôi hỏi.
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Ta sẽ ban cho con pháp thiên hạ đệ nhất thần toán, tự con có thể quảng độ chúng sinh."

Tôi hỏi:
"Ngoài pháp này ra thì còn pháp nào có thể độ chúng sinh?"
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Phật pháp của Ấn Độ, Phật pháp của Nepal, Phật pháp của Trung Thổ, Phật pháp của Vu Điền,..."
Tôi hỏi:
"Con lấy đâu ra năng lực mà học nhiều như vậy?"
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Từ lâu con đã trồng thiện căn rồi."
Tôi hỏi:
"Con không thể lĩnh ngộ được tất cả."
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Ta sẽ khiến con mau chóng ngộ ra."

Tôi hỏi:
"Làm sao có thể phát tâm?"
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Thương xót con người lâu nay mê lầm, phát triển những mục đích ảo diệu của Tam Thừa."
Tôi hỏi:
"Làm thế nào?"
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Xa rời có và không, giữ tư tưởng trung quán. Cắt bỏ sự phân biệt lưỡng biên, chẳng mất mà cũng chẳng còn."

Tôi hỏi:
"Sẽ độ những loại người nào?"
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Từ thế tục đế, nhập thắng nghĩa đế, mở rộng căn cơ."
Tôi hỏi:
"Khi gặp phần tử phản nghịch thì cần làm gì?"
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Âm thầm loại bỏ." (Giống với cách của Phật Đà.)
Diêu Trì Kim Mẫu nói:
"Ta sẽ dùng linh khí chí tôn của ta để trợ giúp con."


### 07. Truyền thuyết dân gian


Vào thời đại Chu Mục Vương, Chu Mục Vương cưỡi tám con tuấn mã tuần hành về phía tây. Bỗng nhiên, dưới chân tuấn mã xuất hiện đám mây ngũ sắc.
Bay lướt trên dòng sông Nhược Thủy hiểm trở.
Rồi lại được đôi cánh của chim xanh nâng đỡ bay xuyên qua những ngọn gió Cương Phong.

Chu Mục Vương gặp Diêu Trì Kim Mẫu.
Chu Mục Vương đem bạch ngọc bích ngọc cúng dường Diêu Trì Kim Mẫu.
Diêu Trì Kim Mẫu hóa thân thành thiên tiên mỹ nữ xinh đẹp rạng ngời, đài các trang nghiêm, lại vừa giống như một quý phu nhân, khiến Chu Mục Vương khó mà quên được.

Diêu Trì Kim Mẫu bày yến tiệc.
Thậm chí Diêu Trì Kim Mẫu còn hát một bài hát, ca từ rằng:

*Mây trắng vẫn mãi ở trên trời
Tự mình vẫn vượt được núi cao
Đường đạo muôn dặm bao cách trở
Xa xăm giữa chốn núi với sông.
Nếu như chàng đây là bất tử
Sẽ có một ngày trở lại đây.*

Khúc thi ca này ý nói rằng: trên trời có mây trắng, dưới mặt đất có sông núi đại địa, con đường vô cùng xa xôi, rất nhiều chướng ngại ngăn cách, nhưng mong chàng (Chu Mục Vương) vĩnh viễn bất tử thì có thể lại ghé thăm Diêu Trì Tiên Cảnh.

Vì chuyện này mà tôi hỏi Diêu Trì Kim Mẫu:
"Truyền thuyết này có thật hay không?"
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Con cho rằng Chu Mục Vương là ai?"

Chu Mục Vương là ai?
Tôi không biết?

Còn nữa:
Vào năm Nguyên Phong thứ nhất thời Tây Hán.
Diêu Trì Kim Mẫu cưỡi cỗ xe mây chim xanh đến cung điện của Hán Vũ Đế. Lúc ấy xuất hiện vạn tia sáng sắc màu rực rỡ, nghìn tia khí cát tường.
Diêu Trì Kim Mẫu đưa cho Hán Vũ Đế bảy trái bàn đào, bản thân cũng ăn hai trái, còn lại năm trái đưa cho Hán Vũ Đế. [Bàn đào là loại đào dẹt, trong truyền thuyết đây là loại đào dành cho thần tiên, được gìn giữ bởi Tây Vương Mẫu tức Diêu Trì Kim Mẫu.]

Lúc này:
Đổng Song Thành thổi sáo.
Vương Tử gảy đàn dây.
Hứa Phi Quỳnh thổi cổ hoàng.
An Pháp Hưng cất cao giọng hát.
Lời hát rằng:
*Phía tây Nhược Thủy, có Tây Vương Mẫu, trẻ mãi không già, cõi trời gìn giữ.
Vương Mẫu nhiều phúc, hưởng bao lộc trời, ai cũng mến yêu, quân tử ca ngợi.
Giải trừ hoạn nạn, Vương Mẫu xót thương, mang niềm vui đến, người được an cư.*

Tôi hỏi Diêu Trì Kim Mẫu:
"Câu chuyện này có thật không?"
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Hán Vũ Đế là Chu Mục Vương chuyển thế."
Tôi giật thót đầy kinh ngạc:
"Việc này con hoàn toàn chẳng thể nghĩ ra. Dưới bầu trời này, có lẽ chỉ có Lư Sư Tôn biết thôi."

Còn nữa:
Vào năm Dân Quốc thứ 38, Tây Vương Kim Mẫu đã hạ giáng ở Hoa Liên, Đài Loan.
Thánh hiệu của Tây Vương Kim Mẫu được tách làm hai:
Diêu Trì Kim Mẫu là thánh hiệu được phát triển gắn với Từ Huệ Đường.
Vương Mẫu Nương Nương là thánh hiệu được phát triển gắn Thánh An Cung.
[Từ Huệ Đường và Thánh An Cung là hai hệ thống miếu chùa ở Đài Loan.]

Diêu Trì Kim Mẫu cũng hiển hiện trước mặt tôi, địa điểm là ở Ngọc Hoàng Cung tại Đài Trung. (Khi đó trụ trì chùa là sư Thích Huệ Linh.) Người đã dẫn dắt tôi đến với Diêu Trì Kim Mẫu là phân đường Thạch Bích của Từ Huệ Đường ở Hoa Liên, năm đó là có:
Ni cô Cơ Nga.
Ni cô A Nha.
Ni cô A Liên.
Sau này, tôi (Lư Sư Tôn) do ông Liệu Hạc Quần ở hội đồng tu Hoa Liên đưa đến tổng đường của Từ Huệ Đường để Diêu Trì Kim Mẫu gia trì lại từ đầu.
Đây chính là tình thân như cá với nước.


### 08. Diêu Trì Kim Mẫu trong điển tích cổ


"Sơn Hải Kinh" ghi chép:
Tây Vương Mẫu là thần tiên quản lý bệnh dịch, có thể giáng tai họa xuống nhân gian.
Hình tượng của Ngài là đuôi báo, răng hổ, tiếng thét uy mãnh.
Tôi nói:
Khi Tây Vương Mẫu vui thì trời ban cát tường.
Khi Tây Vương Mẫu giận thì trời giáng tai ương.

Ngoài ra, các đại thần thời cổ đại đều được mô tả với hình tướng là đuôi báo, răng hổ, tiếng thét uy mãnh.
Ví dụ:
Phục Hi Thị --- nửa người nửa thú.
Nữ Oa Thị --- nửa người nửa thú.

"Mục Thiên Tử Truyện" ghi chép:
Từ hình tướng nửa người nửa thú, Tây Vương Mẫu biến hóa thành thiên tiên mỹ nữ tuyệt sắc, giỏi múa hát.
Câu chuyện Chu Mục Vương tận mắt trông thấy Diêu Trì Kim Mẫu (được đồn đại từ lâu), trong một cuốn "Sử Kí" cũng đã có ghi chép.

"Nội Truyện Hán Vũ Đế" ghi chép:
Tây Vương Mẫu hạ giáng xuống cung điện của Hán Vũ Đế, nàng có dung nhan tuyệt sắc. Tây Vương Mẫu ban tặng bàn đào cho Hán Vũ Đế.
Bàn đào của Tây Vương Mẫu rất nổi tiếng, đào tiên này ba nghìn năm mới một lần ra quả, ăn vào thì trường sinh bất lão. Vương Mẫu còn nói: ăn một quả đào tiên có thể sống thọ ba nghìn năm.

"Thái Bình Quảng Kí" ghi chép:
Tây Vương Mẫu khoảng 20 tuổi, thiên tư rạng rỡ, thông minh hoạt bát, cực kì cực kì xinh đẹp. Thậm chí những thị nữ kề cạnh bên Tây Vương Mẫu cũng ở tuổi tầm 16, mặc váy lụa mỏng màu xanh nhạt, dung nhan diễm lệ, tư thái thanh cao, đều là thiên tiên mỹ nữ.

"Hoài Nam Tử" ghi chép:
"Hậu Nghệ xin thuốc bất từ Tây Vương Mẫu, Hằng Nga đã lén lấy rồi bay lên mặt trăng."
Đây chính là nguồn gốc của tích Hậu Nghệ và Hằng Nga.

Còn một cuốn kinh điển tên là "Tiêu Dao Hư Kinh" ghi chép:
Rằng là: tóc rối cài hoa, răng hổ, tiếng gầm lớn, đây chính là sứ giả của Tây Vương Mẫu, là vị thần Bạch Hổ ở phương tây, không phải là hình tướng thật sự của Tây Vương Mẫu.
(Đây là để giải thích thay cho Tây Vương Mẫu.)

"Vân Cấp Thất Thiêm" ghi chép:
Diêu Trì Kim Mẫu tức Tây Vương Mẫu.
Diêu Trì Kim Mẫu là vị tiên nữ đầu tiên, Cửu Thiên Huyền Mẫu là đệ tử dưới cấp Diêu Trì Kim Mẫu.
Diêu Trì Kim Mẫu từng sai Cửu Thiên Huyền Nữ mặc áo lông cáo đen, dùng phù dạy cho Hoàng Đế.
Nói rằng: "Tinh tư cáo thiên, tất hữu thái thượng chi ứng."
Cửu Thiên Huyền Mẫu dạy cho Hoàng Đế cách dùng chỉ nam xa [một loại la bàn], đánh bại Xi Vưu.

"Thần Tiên Truyện" ghi chép:
Diêu Trì Kim Mẫu có 24 người con gái. Trong đó có năm người đã được xác nhận là:
Con gái thứ 4, tên Hoa Lâm, hiệu là Nam Cực Phu Nhân.
Con gái thứ 13, tên Mị Lan, hiệu là Anh Vương Phu Nhân.
Con gái thứ 20, tên là Thanh Nga, hiệu là Tử Vi Phu Nhân.
Con gái thứ 23, tên là Diêu Cơ, hiệu là Vân Hoa Phu Nhân.
Con gái thứ 24, tên là Uyển La, hiệu là Thái Chân Phu Nhân.
(Trong số năm người này, người con gái thứ 23, Vân Hoa Phu Nhân Diêu Cơ cũng là phu nhân của tôi.)

Diêu Trì Kim Mẫu nói với tôi:
"Lư Sư Tôn! Ta có người con gái lưu lạc ở nhân gian, con giúp ta tìm nó trở về, đưa nó về Diêu Trì Tiên Cảnh."

Từ những ghi chép trong sách cổ, có thể đặt ra một hình tượng:
Diêu Trì Kim Mẫu tức Tây Vương Mẫu.
Là vị nữ tiên đứng đầu.
Cai quản bệnh dịch, trừng phạt cái ác.
Cai quản thuốc bất tử.
Cai quản bàn đào trường thọ.
Gốc là tinh luyện khí.
Sinh ra và nuôi dưỡng vạn vật.
Nắm trong tay khả năng dự đoán thần toán bát quái.
Cai quản phong thủy.
Tôi gọi Ngài là: "Thiên hạ đệ nhất linh."


### 09. Lời vàng của Diêu Trì Kim Mẫu


Con người tôi bản tính thích đọc sách, từ lâu đã nuôi dưỡng thói quen đọc sách mỗi ngày, không có ngày nào là tôi không đọc sách.

Ví dụ:
Để truyền dạy rộng rãi pháp thực tu của Mật tông Tây Tạng, tôi sẽ đọc "Lịch sử Phật giáo Tây Tạng". Tài liệu lịch sử có liên quan đến Phật giáo lưu truyền ở Tây Tạng như sau:
"Thiện Thệ Phật Giáo Sử" của tác giả Bố Đôn Nhân Khâm Châu (năm 1322). [Bu-ston Rin-chen-grub (1290 - 1364)]
"Thổ Phiền Vương Thống Thế Hệ Minh Giám" của tác giả phái Sakya Tác Nam Kiên Gia (năm 1388).
"Hồng Sử" (năm 1346).
"Hiền Giả Hỉ Yến" (năm 1564).
"Tây Tạng Vương Thần Sử" (năm 1642).
"Thổ Quán Tông Phái Nguyên Lưu" (năm 1801).
"Thanh Sử" (năm 1476).

Trong số các sách vở tài liệu này, chí ít tôi cũng đã tham khảo cuốn "Hồng Sử" và"Thổ Quán Tông Phái Nguyên Lưu". Tôi cũng đã tham khảo cả cuốn "Tây Tạng Phật Giáo Sử" của thượng sư Hán Đồng. (Thượng sư Hán Đồng và tôi có thư từ qua lại.)

Những tác phẩm thuộc triều Thanh, triều Minh viết về Diêu Trì Kim Mẫu gồm có:
"Diêu Trì Kim Mẫu phổ độ thu viên định huệ giải thoát chân kinh"
"Vô Cực Diêu Trì Kim Mẫu dưỡng chính chân kinh"
"Diêu Trì Kim Mẫu hồng từ phổ độ cứu kiếp kinh"
"Diêu Trì Kim Mẫu thu viên bảo sám"
"Diêu Trì Kim Mẫu cứu thế kí"
"Diêu Trì Kim Mẫu độ chúng tu viên thi tập"
"Diêu Trì Kim Mẫu phổ cứu khôn đạo huyết bồn chân kinh"
"Diêu Trì Kim Mẫu hiển linh"
"Diêu Trì Kim Mẫu dưỡng chính khí chân kinh"
...

Tôi (Lư Sư Tôn) hâm mộ nhất là cuốn "Vô Cực Diêu Trì Kim Mẫu dưỡng chính chân kinh". Tôi coi cuốn sách này là "Châm ngôn của Diêu Trì Kim Mẫu". Trong quá khứ, tôi hay ngâm nga đọc tụng thành tiếng. Tôi luôn ghi nhớ trong tâm, một giây cũng không quên.
Trong cuốn sách này bao gồm:
Hiểu về mối quan hệ con người để tu thân. (đạo làm người)
Học hỏi những điều huyền bí để ngộ đạo. (giải thoát khỏi luân hồi)
Siêu phàm nhập Thánh. (nhất tâm thanh tịnh)
Trở về với cái gốc vốn có ban đầu. (kiến đạo tu đạo)
Từ mê lầm đến giác ngộ. (giác ngộ rồi thực sự thành Phật)
(Cuốn sách này cũng là con đường từ phàm phu đến thành Phật.)
Tôi đặc biệt say mê cuốn sách này.

Còn nữa:
Trong Chân Phật Tông, cuốn "Diêu Trì Kim Mẫu phổ độ thu viên định huệ giải thoát chân kinh" được ngày ngày đọc tụng. Tôi cho rằng điểm cốt lõi là:
"Tinh khí tản mát từ nơi nào thì thu về từ nơi đó!"
Câu nói này là quan trọng số một.

Ngoài ra:
Thiền định và trí huệ là đôi cánh của Phật pháp, muốn thành tựu Phật quả thì số một là thiền định và trí huệ.
Cần có thiền định và trí huệ mới có thể thành tựu giải thoát.

Trong sách còn có:
Bài tán tụng của Quan Thế Âm Bồ Tát.
Bài tán tụng của Khổng Phu Tử.
Bài tán tụng của Thái Thượng Lão Quân.
Bài tán tụng của Thích Ca Mâu Ni.

Cá nhân tôi cho rằng:
Những kinh điển này của Diêu Trì Kim Mẫu nhờ "phi loan" mà có. Nói cách khác là ba con chim xanh dùng mỏ vẽ lên cát những ý chỉ mà Kim Mẫu muốn truyền đạt.
Chúng ta gọi là "phù loan", nguồn gốc của phù loan chính là đến từ những con chim xanh viết chữ trên cát.
Các loan đường hiện đại rất nhiều. Họ dùng gậy đinh ba bằng gỗ giống như mỏ chim để viết chữ lên bàn cát.
Đương nhiên cũng có người giả mạo ý của thần.
Nhưng thật sự là có ý chỉ của thần.
Hành giả chúng ta cần dùng trí huệ để phân biệt, tránh bị những thầy bói lừa bịp.


### 10. Châm ngôn tu dưỡng


Tôi cho rằng cuốn "Vô Cực Diêu Trì Kim Mẫu dưỡng chính chân kinh" mà tôi say mê nhất là cuốn sách quý về việc xử thế, tu hành, giữ giới. Cuốn sách này tổng cộng có năm chương.
1. Hiểu về mối quan hệ con người để tu thân, xây dựng cái gốc.
2. Học hỏi những điều huyền bí để ngộ đạo thực tu.
3. Đạo quả siêu phàm nhập Thánh.
4. Thể nghiệm đạo để "hoàn nguyên", trở về với nguồn gốc vốn có.
5. Tỉnh giác để thoát khỏi sự mê lầm, từ đó giác ngộ.
(Cá nhân tôi thường đọc to thành tiếng, nghiền ngẫm về những ý chỉ này, tôi cho rằng chúng chính là những chiếc bè quý để từ phàm nhập Thánh.)

Phật Đà dạy chúng ta về bát chính đạo:
1. Chính kiến.
2. Chính tư duy.
3. Chính ngữ.
4. Chính nghiệp.
5. Chính mệnh.
6. Chính tinh tấn.
7. Chính niệm.
8. Chính định.

Tôi nói, dưỡng chính chân kinh này chẳng phải là bát chính đạo đó sao. Đây chính là nguyên nhân khiến tôi cực kì trân quý, tôn sùng và say mê cuốn sách này. Tôi đặc biệt trích dẫn chương số một như sau:

Dưỡng tính tu thân, là điều căn bản của con người. 
Chính tâm thành ý, là cái gốc sâu xa của ta.
Mọi động tĩnh cần thường xuyên kiểm điểm, tu trì hành vi mỗi ngày.
Công ơn cha mẹ lớn như trời đất, cần hiếu thuận không được thiếu sót. 
Tổ tiên ban lộc cho con cháu, cần tôn kính không được thất lễ.
Biết nghĩ về nguồn cội, bản thân chịu trách nhiệm báo đáp.
Có thể sửa chữa lỗi sai, cần tu công đức.
Rời khỏi con đường mê lầm, đi vào con đường giác ngộ.
Lên được bến bờ bên kia, tiến vào cánh cửa tính Không.
Khóa chặt tâm ngựa ý vượn, như như bất động.
Luyện cho chân linh chính khí, luôn luôn thường tồn.
Ba thứ quý giá tinh, khí, thần cần giữ lâu dài.
Thất tình lục dục yêu ghét ham muốn cần diệt trừ vĩnh viễn.
Bồi dưỡng bát đức, tôn trọng Thánh hiền.
Gìn giữ tam cương, trị quốc trị gia.
Trên hiểu đạo trời có đức hiếu sinh, dưới xót thương sinh mệnh vạn vật mà đừng sát hại.
Học sự khiêm tốn của quân tử, luôn thận trọng cần cù. 
Pháp của Thánh nhân cần cung kính cẩn thận, kiến tính minh tâm.
Thấy sắc đẹp như thấy hổ dữ, có được đức hạnh tài năng cũng như có được kho báu quý giá.
Không ham phú quý, cần phải biết Sắc là Không, Không là Sắc,.
Trong cảnh nghèo khó cũng nên vui vẻ, cần biết không thể thật sự có được cái gì, Có cũng là Không.
Nhà giàu cần giúp đỡ người thân, có tài đức cần giáo hóa những người ngu muội.
Tích lũy đạo đức vô hình, tu luyện tinh thần bất lão.
Rời xa con đường mê lầm, tự đắc tai tiêu họa diệt.
Tâm gần chính đạo, sẽ được quỷ thần nể phục ngưỡng mộ.
Phát đại từ bi, cứu người cứu ta, tạo lập thiện nguyện lớn, cứu giúp người nghèo khổ.
Luyện đạo thành chân, trên báo bốn ơn sâu.
Siêu phàm nhập Thánh, dưới giúp khổ tam đồ.
Lấy nhân đức làm điều quý giá nhất của bản thân, lấy từ bi làm đại cương của Phật.
Tâm trong veo như trăng dưới nước, tỏa sáng phá tan u tối. Tính sáng sủa như những vì sao mới có thể uyên bác thông thiên đạt địa.
Tu nhiều âm đức, để lại phúc ấm cho cháu con.
Tích lũy thiện nhân, công đức hồi hướng siêu độ tổ tông.
Giúp tăng nhân quảng truyền đạo pháp, tự nhiên kết duyên cửa Phật.
Lễ Phật tham thiền, xứng đáng chứng ngộ bảo địa.
(Kết thúc chương một.)

Tôi hỏi Diêu Trì Kim Mẫu:
"Trong bản văn này có Thánh, có Đạo, có Phật, vì sao như vậy?"
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Đây là sự dung hòa văn hóa."
Tôi hỏi:
"Trong bản văn nói con người cần giữ tam cương ngũ thường, cần giữ đạo đức?"
"Đạo không hề xa cách với con người."
Tôi hỏi:
"Trong bản văn có đề cập đến giúp tăng và cửa Phật?"
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Lư Sư Tôn mang cốt Phật, học Phật pháp, làm tăng nhân, đã giác ngộ tính Không, do vậy mới đề cập đến."
Diêu Trì Kim Mẫu nói với tôi:
"Dùng tâm xuất thế để làm việc nhập thế."


### 11. Hỏi chuyện cõi trời


Hỏi chuyện cõi trời tức là tôi hỏi.
Cũng có nghĩa là chỗ nào tôi còn nghi hoặc thì tôi sẽ hỏi "thiên hạ đệ nhất linh" Diêu Trì Kim Mẫu.

Tôi hỏi:
"Nguồn gốc của Kim Mẫu thế nào?"
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Ta chính là Kim Mẫu hóa sinh từ diệu khí của Tây Hoa. Còn Mộc Công là Mộc Công hóa sinh từ chân khí của Đông Hoa."

Tôi hỏi:
"Cái gọi là một âm một dương là nuôi dưỡng trời đất, bồi dưỡng vạn vật đúng không?"
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Đúng vậy."

Tôi hỏi:
"Gọi Đông Hoa Đế Quân là cha, Diêu Trì Kim Mẫu là mẹ, cách gọi này có chính xác không?"
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Chính xác."

Tôi hỏi:
"Ngày xưa, Trương Lương (Tử Phòng) có gặp một cậu bé hát rằng: mặc váy xanh, vào cổng trời, chào Kim Mẫu, lạy Mộc Công…"
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Cậu bé này là tiên đồng ở trên trời. Ta và Mộc Công là nguồn gốc của trời đất. Người nam thành tiên thì coi Mộc Công là chủ nhân, người nữ thành tiên thì coi Kim Mẫu là chủ nhân."

Tôi hỏi:
"Ngày xưa, người Trung Quốc được gọi là con cháu Viêm Hoàng, ý nói rằng Thần Nông Thị và Viên Hiên Thị, Viên Hiên Thị là hoàng đế, xin hỏi, hoàng đế đã từng gặp Diêu Trì Kim Mẫu chưa?"
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Trong sách cổ có ghi chép lại "Hải nội tứ kinh" rằng: Diêu Trì Kim Mẫu đã từng thết đãi hoàng đế ở núi Tung Sơn, lấy mây xanh làm canh, khí đỏ làm quả. Ngoài ra còn dạy hoàng đế bảy thuật huyền bí. Vì ở núi Tung Sơn, hoàng đế từng cúng tế ta, việc ta đến là thật, những thứ khác chỉ là phụ họa thêm."

Tôi hỏi:
"Hoàng đế đại chiến Xi Vưu, Cửu Thiên Huyền Nữ phụng mệnh Kim Mẫu đến ban cho hoàng đế chỉ nam xa, nhờ vậy mà hoàng đế đã đại thắng Xi Vưu, việc này có đúng không?"
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Đúng là có việc này."

Tôi hỏi:
"Chu Mục Vương và Hán Vũ Đế đều đã từng gặp Diêu Trì Kim Mẫu, đây là truyền thuyết hay là sự thật?"
Tôi lại nói:
"Trong "Mục Thiên Tử truyện" và "Hán Vũ Đế nội truyện" đều có ghi chép lại, vậy là thật hay giả?"
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Nay Lư Sư Tôn gặp ta là thật? Hay là giả?"

Tôi hỏi:
"Hán Vũ Đế nội truyện có hai bài thơ có liên quan đến Diêu Trì Kim Mẫu, lời thơ như sau:
*Thanh Tước về tây chưa trở lại
Quân Vương ở đây chờ đã lâu.
Thị thần Tương Như đang khát nước
Kim kinh một chén vẫn chưa ban.*

Còn nữa:

*Ta thông linh suốt từ đêm đến sáng
Sau rèm kia đĩa sương đã cạn khô.
Vương Mẫu không đến, Phương Sóc đi cầu thỉnh.
Buồn lòng càng mong gặp Lý phu nhân.”*

Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Hán Vũ Đế xin ta ban cho thuốc bất tử, nhưng ta không ban cho, ông ta vẫn nỗ lực muốn có cho được. Do vậy mới có hai bài thơ này, kim kinh cũng chính là thuốc bất tử. Phương Sóc chính là Đông Phương Sóc, là thần tử thành tựu tu Tiên."

Tôi nói:
"Con hiểu rồi. Hán Vũ Đế khát khao trường sinh bất tử, do vậy mới có chuyện đạo sĩ Từ Phúc nói cần ba nghìn đồng nam, ba nghìn đồng nữ đi ra biển kiếm về thuốc trường sinh bất tử."
Kim Mẫu nói:
"Những thứ ảo tưởng ngu ngốc sẽ chẳng thể có được, chỉ có thực tu Phật pháp mới có thể đạt được điều ấy."


### 12. Con gái của Diêu Trì Kim Mẫu trong kí ức


Trong "Thần tiên truyện": Long Cát công chúa.
Trong "Tiên Phật kì tung": Thanh Nga tiên nữ. Uyển La tiên nữ.
Trong "Đổng Vĩnh phụng thân": Thất tiên nữ.
Trong "Chân cáo": Mị Lan.
Trong "Thiếu thất san phòng bút tùng chính tập": Dung Chân.
Trong "Sơn hải kinh": Diêu Cơ.
Trong "Vu sơn thập nhị thần nữ": Đăng Long. Thánh Tuyền. Triêu Vân. Vọng Hà. Tùng Loang. Tập Tiên. Phi Phụng. Thúy Bình. Tụ Hạc. Tịnh Đàn. Khởi Vân. Thượng Thăng.
Trong "Quy đài uyển diễm": Ngọc Chi.
Trong "Ngưu Lang Chức Nữ": Chức Nữ.
...

Rốt cục, Diêu Trì Kim Mẫu có bao nhiêu người con gái, trên thực tế cũng chẳng có ai biết được con số thật sự. Những người con gái này được nói đến trong các ghi chép trong sách cổ và trong truyền thuyết cũng có.
Ví dụ:
Chức Nữ --- truyền thuyết.
Long Cát công chúa --- xuất hiện trong "Đối thần bảng".
Thất tiên nữ --- xuất hiện trong truyền thuyết.

Diêu Trì Kim Mẫu nói với tôi:
"Ở nhân gian, ta vẫn còn một người con gái lưu lạc trong luân hồi, nó đã quên mất thân phận của mình, không trở về được Diêu Trì Tiên Cảnh. Lư Sư Tôn! Xin hãy tìm ra người con gái đã bị lạc mất của ta."
Tôi nghe xong thì cũng đầy hoang mang.
Tôi hỏi:
"Biển người mênh mông, làm sao tìm?"
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Sẽ tự tìm đến!"
Tôi hỏi:
"Làm sao để nhận ra?"
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Có kí hiệu."
Diêu Trì Kim Mẫu chỉ cho tôi thấy kí hiệu.
Đây cũng là một trong những nhiệm vụ đến nhân gian của tôi (Liên Hoa Đồng Tử).
Cũng là nhiệm vụ mà Diêu Trì Kim Mẫu đã hiển hiện trước mặt để căn dặn tôi.

Còn với việc Diêu Trì Kim Mẫu có con trai không?
Trong "Lịch đại thần tiên thông giám" thời Minh có ghi chép: có 9 người con trai. Trong số đó, người con trai thứ 9 đã xuất hiện ở Giang Tây.
Có bài thơ rằng:
*"Chuyện rằng Tây Vương Mẫu
Có người con cưỡi hạc
Ẩn mình chốn non cao
Rừng sâu rêu phủ kín.
Bùn đắp làm bếp lửa
Nguyên một kiếp tro tàn.
Bao vết tích thần tiên
Chốn bồng lai gần lắm."*

Cá nhân tôi rất thích một bài thơ về Đông Vương Công, bài thơ này là do Ngô Thừa Ân sáng tác:
*Ráng quang tỏa khắp miền trời rộng
Xuyên qua từng đám sương bay bay
Đan phụng ngậm hoa càng tươi mới
Thanh loan bay múa dáng diễm kiều.
Phúc như đông hải thọ như sơn
Thân thể khỏe mạnh như trai tráng
Tiên đơn bất lão trong thiên động
Ấn triện trường sinh cùng tháng năm
Nhân gian bao lần giáng cát tường
Thế thượng mấy phen trừ tai ách.
Vũ Đế từng muốn thêm tuổi thọ
Tham dự Diêu Trì tiệc bàn đào
Giáo hóa chúng tăng thoát tục duyên
Mở ra đường đạo sáng như điện
Cũng từng nghìn năm vượt biển rộng
Năng đến gặp Phật ở linh sơn
Đông Hoa Đại Đế là thánh hiệu
Đệ nhất thần tiên chốn yên hà.*

Mộc Công Thượng Thánh có một bài thơ ca ngợi hay như vậy. Tôi phải viết một bài thơ hay hơn để ca ngợi Diêu Trì Kim Mẫu mới được, để cả hai vị cùng tỏa sáng.


### 13. Tiên đan bất tử


Hán Vũ Đế vì muốn tìm tiên đan bất tử nên đã làm hai việc:

1. Trên đỉnh núi Tung Sơn, lập đàn cầu cúng, thỉnh Diêu Trì Kim Mẫu ban cho "tiên đan bất tử".
(Kết quả là chẳng cầu xin được.)

2. Phái đạo sĩ Từ Phúc đưa ba nghìn đồng nam, ba nghìn đồng nữ ra biển tìm kiếm "tiên đan bất tử".
(Dân gian truyền rằng mộ của Từ Phúc được tìm thấy ở Nhật Bản. Còn ba nghìn đồng nam, ba nghìn đồng nữ trở thành tổ tiên của người Nhật.)

Tôi từng đọc "Liệt tiên truyện", trong đó có một thần tiên chuyên luyện kim đan (Hoài Nam Vương).
Sau khi luyện được kim đan thì ngài đã ăn nó, thế rồi bay lên trời trở thành tiên! Ngoài ra, kim đan còn thừa lại, gà và chó trong nhà vị thần tiên này cũng ăn luôn, kết quả là gà chó kêu ầm ĩ trên mây.
Đây chính là chuyện "Gà chó thăng thiên".
Bởi thế có câu nói rằng:
"Một người đắc đạo, gà chó thăng thiên."

Còn nữa:
Trong "Thần tiên truyện", có một vị là Vương Lão. Ông là người trồng lúa mì. Bình sinh ông cũng thích nhất là việc tu đạo.
Một hôm, có một lão đạo trưởng đến thăm ông, lão đạo trưởng khắp người mọc u nhọt, hôi thối vô cùng. Nhưng Vương Lão vẫn tận tâm hết lòng chăm sóc cho lão đạo trưởng.
Lão đạo trưởng nói:
"Hãy chuẩn bị một vại rượu trắng, ta muốn ngâm mình trong đó."
Vương Lão liền chuẩn bị rượu để cho lão đạo trưởng nhúng mình vào. Lão đạo trưởng ngâm mình ba ngày ba đêm mới thôi. Vừa đứng lên thì lạ thay, những u nhọt trên thân thể lão đạo trưởng đã khỏi. Tóc biến thành màu đen, vẻ mặt trẻ trung như đồng tử, thần thái khác thường.

Lão đạo trưởng nói:
"Ông hãy uống hết vại rượu này thì ông cũng có thể thành tiên!"
Vương Lão thật sự đã uống hết sạch vại rượu. Kết quả là ông cũng thăng thiên.
Rất nhiều hàng xóm xung quanh đã trông thấy Vương Lão bay lên trời. Từ trên mây cao vẫn còn vọng xuống tiếng nói của Vương Lão.
Đây là câu chuyện lão đạo trưởng độ cho Vương Lão.

Tôi đọc xong hai câu chuyện này, trong lòng cũng khát khao.
Tôi tự nghĩ: tôi đã gặp "thiên hạ đệ nhất linh", đã gặp Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn.
Ngài là Tiên Vương.
Ngài đứng đầu trong số các Thần Tiên.
Tôi cũng có một vài mong ước.
Tôi nói:
"Diêu Trì Kim Mẫu, xin ban cho con tiên đan bất tử!"
Diêu Trì Kim Mẫu không đáp.
Tôi nói:
"Diêu Trì Kim Mẫu, xin ban cho con tiên đan phi hành!"
Diêu Trì Kim Mẫu không đáp.
Tôi nói:
"Diêu Trì Kim Mẫu, xin ban cho con tiên đan ẩn thân!"
Diêu Trì Kim Mẫu không đáp.
Tôi nói:
"Diêu Trì Kim Mẫu, xin ban cho con tiên đan thần thông!"
Diêu Trì Kim Mẫu không đáp.
Tôi nói:
"Diêu Trì Kim Mẫu, xin ban cho con tiên đan biến hóa!"
Diêu Trì Kim Mẫu không đáp.
Tôi nói:
"Diêu Trì Kim Mẫu, xin ban cho con tiên đan trí huệ Như Lai, để con chứng đắc bát nhã bản trí."
Diêu Trì Kim Mẫu không đáp.
Cuối cùng, Diêu Trì Kim Mẫu nói:
"Hãy tự mình tu tập đi!"
Bởi thế, tôi "kính sư, trọng pháp, thực tu" cho đến giờ.


### 14. Tôi có được xem là "dị nhân" không?


"Dị nhân", tôi giải thích "dị" so với "thường nhân". Cũng có nghĩa là không phải người bình thường.
Tôi vốn dĩ là Liên Hoa Đồng Tử, chỉ vì hạ sinh tại nhân gian nên trở thành một phàm phu tục tử. Một sáng tỉnh ngộ, hóa ra mình là Liên Hoa Đồng Tử.

Tôi thật sự không giống một con người bình thường.
Thứ nhất:
Khi tôi ngồi thiền, ngón tay sẽ tự động kết thủ ấn.
Ngón tay có thể chuyển động cong gập, tôi có thể đếm chuyển động của ngón tay mà thần toán.
Bàn tay tôi có thể gia trì.
Bàn tay tôi sinh ra sức mạnh kì lạ. (xếp hàng tổ hợp)

Thứ hai:
Trong vũ trụ có tồn tại dòng chảy pháp, có thể thông qua đầu và thân thể tôi.
Thân thể này sẽ biến thành núi.
Thân thể tràn đầy dòng chảy pháp, như sông suối rì rầm. (trôi chảy khắp toàn thân)
Thân thể có thể ấm áp như có lửa đang cháy, đây là ngọn lửa hiền hòa.
Thân thể có pháp lực, tốc độ nhanh như gió.
Thân thể này khi biến hóa lớn lên thì như đầy ắp vũ trụ, khi thu nhỏ lại thì bé như hạt vừng.

Thứ ba:
Con mắt tôi có thể nhìn được ánh sáng.
Mắt có thể nhìn thấy tất cả dị hình (trên là tứ Thánh, dưới là lục đạo), có thể nhìn xa nhìn gần, nhìn được cõi trời bên ngoài cõi trời, nhìn được những gì người bình thường không nhìn thấy.
Tai tôi cũng như vậy.

Thứ tư:
Tư tưởng của tôi đã hoàn toàn khác người bình thường.
Con người tôi là giả. (nhân duyên giả hợp)
Sơn hà đại địa là giả. (thành trụ hoại không)
Thọ mạng là giả. (có sinh có diệt)
Nhân gian là giả. (mọi thứ đều có nguyên nhân)
Thế giới Ta Bà là giả. (tâm hóa hiện nên mọi thứ)
Tất cả mọi thứ đều được huyễn hóa ra.
Chỉ có một sự việc là thật, đó chính là, tôi vốn dĩ là một vị thần tiên Liên Hoa Đồng Tử.
Nhà ở là giả, xe cộ là giả, tiền bạc châu báu là giả. (đều là mượn tạm để sống qua mấy mươi năm)

Thứ năm:
Việc tôi thành lập Chân Phật Tông cũng là hư huyễn.
Năm triệu đệ tử cũng là huyễn.
Viết 281 cuốn sách cũng là huyễn.
Vẽ 5000 bức tranh cũng là huyễn.
Ngay cả tu hành cũng là huyễn.
Hóa ra chỉ là "mượn huyễn tu chân" mà thôi. (mượn cái giả để tu thành cái thật)

Thứ sáu:
Ơn của cha mẹ, ơn của sư trưởng, ơn của bạn bè, ơn của ân nhân, mong cho họ sớm có ngày đến được Phật quốc thanh tịnh.
Còn đối với những oán, thù, tình cảm, thì cũng có thể tỉnh ngộ, hiểu được rõ ràng rằng chẳng qua cũng chỉ là nhất thời mà thôi.

Thứ bảy:
Tôi có phải là dị nhân không?
Tôi không phải là người bình thường đúng không?
Nhân.
Dị nhân.
Nhân phi nhân.
Cho dù nó là cái gì đi nữa.
Thì đều là nhất thời.


### 15. Hàn Tương Tử và Hàn Dũ


Tôi thích câu chuyện về Hàn Tương Tử.
Hàn Dũ là người đứng đầu trong số tám đại tác gia của nhà Đường - Tống, học vấn uyên bác, là một thi nhân vĩ đại, cũng vừa là một người làm quan cao nhiều bổng lộc.
Hàn Tương Tử là cháu của Hàn Dũ.

Hàn Dũ và Hàn Tương Tử nỗ lực học hành, trở thành trụ cột quốc gia. Nhưng rồi Hàn Tương Tử đã gặp Lã Động Tân và chuyển qua học tu Tiên. Chí hướng của họ đã khác nhau, một người theo sự nghiệp làm quan, một người theo Tiên đạo. Hai người nảy sinh sự bất hòa.

Hàn Dũ hỏi Hàn Tương Tử:
"Cháu có biết biến hóa không?"
Hàn Tương Tử đã tu được một chút thần thông nhỏ, lập tức biến hóa ra rượu ngon, từ trong chén rượu ngon nở ra một bông hoa mẫu đơn màu xanh lục. Trên cánh hoa còn có mấy câu thơ:
*Mây che Tần Lĩnh nhà đâu thấy
Tuyết phủ Lam Quan ngựa thấy đâu.*
Hàn Tương Tử nói:
"Một ngày nào đó, chú sẽ hiểu được câu này!"

Mấy năm sau, Hàn Dũ dâng biểu khuyên Hoàng Đế đừng làm nghi thức "Nghênh Phật cốt", bị giáng chức xuống Triều Châu. Trên đường cưỡi ngựa đi nhậm chức, đến một địa phương nọ thì gặp trận tuyết lớn, ngựa không đi tiếp được nữa. Hàn Tương Tử bỗng xuất hiện, nói với Hàn Dũ rằng:
Ngọn núi phía xa kia là Tần Lĩnh.
Địa danh này chính là Lam Quan.
Mọi việc hoàn toàn ứng nghiệm!

Hàn Tương Tử nói học Tiên mới tốt.
Hàn Dũ nói sự nghiệp làm quan mới tốt.
Lúc chia tay, Hàn Dũ hỏi Hàn Tương Tử:
"Chúng ta còn gặp lại nhau không?"
Hàn Tương Tử nói:
"E rằng không gặp nữa!"

Cá nhân tôi khi đọc câu chuyện này, trong lòng cảm thấy muôn phần nuối tiếc. Hàn Tương Tử muốn độ cho Hàn Dũ. Hàn Dũ lại chỉ muốn bám lấy tiền đồ làm quan. Hàn Dũ lại còn muốn Hàn Tương Tử đi theo con đường quan chức. Hàn Tương Tử lại có chí hướng theo Tiên đạo.
Tiên - phàm khác nhau!
Sau này làm sao gặp lại?

Tôi (Lư Sư Tôn) là người đã từng gặp Diêu Trì Kim Mẫu, tôi tin tưởng Diêu Trì Kim Mẫu sâu sắc.
Liên Hoa Đồng Tử là cốt Phật.
Từ Hiển giáo bước vào Mật giáo.
Tôi thấy toàn bộ vũ trụ trên trên dưới dưới vô số chúng sinh, trong lòng tôi đầy bi ai đau đớn!

Có rất nhiều người từng đến tìm tôi.
Có rất nhiều người biết Lư Sư Tôn.
Họ cũng có rất nhiều cảm ứng, những sự việc "chuẩn không cần chỉnh" lần lượt xuất hiện.
Nhưng có mấy người học Phật một cách chân chính?
Có mấy người đạo tâm kiên cố?
Có mấy người thành tựu?
Rất nhiều người thật sự đang có chứng nghiệm xác thực, nhưng chỉ là đi lướt qua ta mà tôi, sau đó thì cũng quên hết cả. Tiếc thay! Thương thay!

Tôi rất thích một bài thơ:
*Ngộ rồi đừng cầu tịch diệt,
Tùy duyên gần gũi người mê
Tìm đến người còn tà kiến
Chỉ cho họ thấy sự thực
Ngũ nhãn tam thân tứ trí
Lục độ vạn hành tu tề.
Mani một viên ngọc sáng
Lợi người kiêm cả lợi ta.*


### 16. Gỉ mắt làm nên kì tích


Một hôm.
Có người nhìn thấy trong mắt tôi có gỉ mắt, màu vàng vàng, nằm ở khóe đuôi mắt. Cô nói với tôi:
"Lư Sư Tôn! Mắt ngài có gỉ mắt."
Lập tức, cô lấy khăn giấy đưa cho tôi lau gỉ mắt.
Tôi nhanh chóng lau sạch, rồi đưa mắt nhìn xung quanh định bỏ tờ khăn giấy vào thùng rác. Nhưng không ngờ chẳng thấy cái thùng rác nào.

Người này thấy tôi không tìm được thùng rác bèn nhanh chóng đưa tay ra cầm lấy tờ khăn giấy của tôi. Tôi cũng tiện tay đưa nó cho cô. Tôi cũng không mấy để ý.

Không ngờ việc này đã dẫn đến một sự việc kì lạ.
Người đệ tử cầm tờ khăn giấy mà tôi lau gỉ mắt đem về nhà. Mẹ của cô có bệnh mắt. Là bệnh mắt có đốm vàng. (lão hóa)
Thị lực rất kém, đã sắp mù rồi!
Cô lấy ra tờ khăn giấy tôi lau gỉ mắt, nói với mẹ mình:
"Mẹ à! Đây là tờ khăn giấy Lư Sư Tôn đã dùng để lau mắt, ngài ấy là người tu hành, mẹ hãy cầm lấy lau lau lên mắt mình đi!"

Mẹ của cô cũng là đệ tử của tôi.
Bà cũng chẳng nghĩ ngợi gì cả.
Cầm lấy tờ giấy và lau lau lên mắt mình.
Trời ạ!
Ngày hôm sau, buổi sáng tỉnh dậy.
Đôi mắt đã sáng rõ.
Hoàn toàn không còn chút nào mờ mịt.
Tất cả mọi thứ bà đều nhìn được rõ ràng, những thứ vốn dĩ trước đây không nhìn rõ nay đều nhìn rõ cả. Những đốm đen trước mắt (như muỗi bay) đều không còn.
Thị lực đã hồi phục rồi!
Đây chính là sự kiện gỉ mắt.

Ghi chú: đây là một sự việc xảy ra ngẫu nhiên, thật sự là có sự việc này. Tuy vậy, tôi hoàn toàn không hy vọng rằng người người đến tìm tôi để xin khăn giấy. Bởi vì trên quan điểm y học thì điều này không chấp nhận được, có vấn đề về vệ sinh. Có bệnh thì vẫn cần mời bác sĩ chữa bệnh.

Còn nữa:
Đây không phải là sự việc duy nhất.
Trong "Thần Tiên truyện" có một người là Lí Tị Thế. Ông cũng là người có đạo hạnh. Có người cầu xin ông chữa bệnh. Ông bèn lấy gỉ mũi và ghét bẩn trên người mình vo lại thành viên, đưa cho người cầu chữa bệnh ăn. Ăn xong! Thật sự là khỏi bệnh rồi! Một đồn mười, mười đồn trăm. Tạo nên một sự chấn động!

Về sau, có một quan viên địa phương tên là Lưu Diên Trọng mời Lí Tị Thế về nhà.
Lưu nói:
"Ở đây tôi không có rượu ngon để chiêu đãi ngài!"
Lí nói:
"Không sao, lấy một cái bình rỗng đưa cho ta là được rồi!"

Lí Tị Thế cầm chiếc bình rỗng, quay người một cái liền biến ra một bình đầy rượu ngon! Rượu ngon này càng uống càng nhiều thêm, uống mãi chẳng hết! Mọi người uống vô cùng thỏa thuê!

Kì thực, trong nhà của Lưu Diên Trọng có cất giữ rượu trân châu rất ngon, ông ta muốn để dành đến một ngày khác đem ra chiêu đãi người khác. Lúc này, ông mới phát hiện ra: rượu ngon mà ông cất giữ đã hết sạch. Tất cả đã bị Lí Tị Thế uống hết sạch rồi.

Tôi nói:
Người đạo sĩ này chơi đùa chốn nhân gian.
Không biến thành có, có biến thành không.
Một cục gỉ mắt, một cục gỉ mũi. Thật thú vị!

[Tị Thế trong tiếng Hán Việt có nghĩa là gỉ mũi.]


### 17. Tiểu đồng tử ở cung Nê Hoàn


Có người hỏi Lư Sư Tôn:
"Ngài có mấy người con?"
Tôi đáp:
"Vô số!"
Người kia sửng sốt:
"Lư Sư Tôn! Chẳng phải ngài chỉ có hai người con thôi sao? Một người là Phật Thanh, một người là Phật Kì."
Tôi cười:
"Vô số các con của tôi ở bên trong người tôi."
Anh kia hỏi:
"Thật không? Hay là giả?"
Tôi đáp:
"Thật."
Anh hỏi:
"Sống ở đâu?"
Tôi đáp:
"Cung Nê Hoàn."

Anh này cảm thấy rất kì lạ, bèn hỏi tôi:
"Họ làm những gì?"
Tôi đáp:
"Những tiểu đồng tử ở trong cung Nê Hoàn này đều là hóa thân của Lư Sư Tôn. Chúng giúp tôi độ hóa chúng sinh đó!"
Tôi nói:
"Đi cứu người. Đi chữa bệnh. Đi truyền pháp. Đi ban mộng thị. Đi giải tai ách. Đi trừ tai nạn. v.v…"
Anh hỏi:
"Họ mang hình tượng gì?"
Tôi đáp:
"Lư Sư Tôn!"
Người kia nói:
"Tôi biết rồi! Đây chính là hóa thân bên ngoài thân!"
Tôi nói:
"Cuối cùng anh cũng nói đúng rồi đó!"

Còn nữa:
Vào thời Đường có một người là Tư Mã Thừa Trinh bái sư học đạo, là người tương đối có đạo hạnh. Bạn thân của Tư Mã Thừa Trinh là: Vương Duy, Lí Bạch, Mạnh Hạo Nhiên, Hạ Tri Chương, Lư Tàng Dụng, Tốn Chi Vấn, Vương Thích, Tất Cấu…

Đường Duệ Tông hỏi đạo:
"Như thế nào là đạo?"
Tư Mã Thừa Trinh đáp:
"Đạm bạc vô vi."
Hoàng đế hỏi:
"Đạm bạc vô vi thì làm sao trị quốc?"
Tư Mã Thừa Trinh đáp:
"Trị thân chính là trị quốc, vì tâm này mà đơn thuần thì sẽ vô tư mà trị thiên hạ!"
Hoàng đế rất tán thưởng.

Có một lần.
Tư Mã Thừa Trinh đang ngủ.
Văn Tịnh Thiên Sư nghe thấy tiếng rất nhiều đồng tử đang đọc kinh. Ông vội đến xem. Ông trông thấy trên trán của Tư Mã Thừa Trinh phóng ra một vệt ánh sáng lớn, âm thanh từ đó phát ra. Văn Tịnh Thiên Sư nhìn kĩ hơn:
"Bên trong có rất nhiều tiểu đồng tử đang đọc kinh."

Văn Tịnh Thiên Sư biết Tư Mã Thừa Trinh có đạo hạnh.
Bỏi vì trong Hoàng Đình Kinh có ghi chép rằng:
Cung Nê Hoàn có đồng tử. Đồng tử chính là hóa thân của bậc chân nhân. Cũng chính là hóa thân bên ngoài thân.
Lư Sư Tôn tôi cũng có, do vậy tôi có thể phân thân đi cứu các đệ tử Chân Phật Tông.

[Nê Hoàn là cung thứ ba trong Cửu Cung, Nội Cảnh giải: Từ giữa hai chân mày đi vào ba thốn là Đan Điền Cung, cũng gọi Nê Hoàn Cung. Trong Phật giáo, Nê Hoàn được dùng để phiên âm từ Nirvana trong tiếng Phạn. Nê hoàn là chỉ giai đoạn luyện công của một số môn phái, chuyển tiếp sau giai đoạn vận đan điền.]


### 18. Tu hành nên giữ giới luật


Khi Phật Đà nhập Niết bàn.
A Nan hỏi Phật:
"Thế Tôn rời trần thế, Phật đệ tử lấy ai làm thầy?"
Phật Đà đáp:
"Lấy giới làm thầy!"
Câu nói này thật là "một tiếng sấm trên trời", đã thức tỉnh rất nhiều đệ tử còn mơ hồ.

Lục độ vạn hành của Bồ Tát hạnh có: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ, thì trong đó cũng có trì giới.
Tôi thường niệm:
"Cúi đầu quy y tô tất địa!" [tô tất địa - susiddhi]
Tên gọi "tô tất địa" cũng tức là "tô tất địa kinh", chính là kinh về giới luật. Cá nhân tôi rất tôn sùng giới luật, do vậy tôi đã viết cuốn sách "Bảo kiếm của yogi" là để nhấn mạnh vào tầm quan trọng của giới luật.

Ngoài ra, tôi dạy đệ tử cần tuân thủ theo "Sự sư pháp ngũ thập tụng" và "14 đại giới căn bản của Mật giáo". Tôi hy vọng các đệ tử đừng xem nhẹ giới luật.

Tôi kể:
Vào thời đại Hán Vũ Đế, Hán Vũ Đế là một vị quân vương tôn sùng Đạo giáo. Bản thân ông cũng muốn trường sinh bất lão, lại muốn thành Tiên, và lại càng muốn học tập đạo thuật.
Truyền thuyết kể rằng:
Tây Vương Mẫu từng xuống cung.
Còn có cả Thượng Nguyên Phu Nhân đến gặp mặt Hán Vũ Đế. Thượng Nguyên Phu Nhân tức là mẹ của Tam Thiên Chân Hoàng, trong Đạo giáo thì đây là một thân phận rất cao quý.
Khi Thượng Nguyên Phu Nhân hạ giáng thì ngài cưỡi kì lân, mặc áo choàng màu xanh nhạt, trên đầu kết ba búi tóc, phần tóc còn lại thì buông dài xuống tận eo, xinh đẹp như tiên nữ.
Thượng Nguyên Phu Nhân nói với Hán Vũ Đế:
"Nếu ngài muốn cầu đạo thì phải giữ giới luật, không thì một việc cũng chẳng thành!"
Ngoài ra, Thượng Nguyên Phu Nhân còn chỉ ra khuyết điểm của Hán Vũ Đế là:
Giết người vô số. (mở rộng lãnh thổ, chiến tranh liên miên)
Cướp đất đai. (thích thú làm những việc hoành tráng)
Tham dâm. (quá nhiều phi tử)
Vọng niệm. (nham hiểm xảo trá)
Tham ăn uống. (quá xa xỉ)

Ngoài ra:
Đối với thuộc hạ của mình, Hán Vũ Đế vô cùng tàn nhẫn, sinh sát cướp đoạt, v.v…
Thượng Nguyên Phu Nhân chỉ ra những tội lỗi của Hán Vũ Đế chính là đã phạm vào ngũ giới của Phật giáo: giết người, trộm cướp, tà dâm, vọng ngữ, nghiện rượu. Loại người này căn bản là không thể thành đạo được, lại còn vọng tưởng muốn trường sinh bất lão, đắc đạo thành tiên. Đúng là trèo cây bắt cá.

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người rằng:
Rất nhiều đệ tử, thậm chí là pháp sư, thượng sư đến quy y tôi, trong số đó cũng có nhân vật kiểu này. Tôi hy vọng các thánh đệ tử hãy mau chóng rời xa tài, sắc, danh vọng, ham ăn ham ngủ.
Đạm bạc vô vi là tốt nhất!


### 19. Thật sự cực chuẩn


Có một người tên là Lâm Ngọc Liễu tin tưởng sâu sắc vào Diêu Trì Kim Mẫu.
Vào những năm cuối đời, bà nằm liệt giường. (đã không thể cử động được thân thể)
Đột nhiên có một ngày, bà gọi con gái đến, nói với con gái rằng:
"9 giờ 30 phút tối nay, tại con ngõ nhỏ giữa đường Công Viên và đường Trung Hoa, Lư Sư Tôn sẽ xuất hiện ở đầu ngõ."

Bà nói với con gái:
"Con đi đến đầu ngõ đợi ngài ấy, đưa cho ngài ấy bức thư này."
Con gái hỏi:
"Đầu ngõ nào?"
Bà nói:
"Đầu ngõ có một nhà thờ."
Con gái của Lâm Ngọc Liễu hỏi:
"Sao mẹ biết là Lư Sư Tôn chắc chắn xuất hiện?"
Lâm Ngọc Liễu đáp:
"Là Diêu Trì Kim Mẫu bảo với mẹ thế."

Về phần tôi thì: năm đó tôi đang ẩn cư ở Đài Loan, nhờ Hứa Đức Toàn đi theo chăm sóc.
Hôm đó, tôi muốn đến điểm giao giữa đường Công Viên và đường Trung Hoa để mua một chiếc quần bò. Mua xong quần bò, tôi từ đầu ngõ nơi có một nhà thờ bước ra. Có một cô gái chạy xe máy hỏi tôi:
"Là Lư Sư Tôn phải không?"
Tôi nói:
"Phải."
"Mẹ tôi là Lâm Ngọc Liễu có nhờ tôi giao cho ngài bức thư này." - Cô gái nói.
Tôi rất ngạc nhiên.
Trong đời này, con ngõ này, tôi chỉ đi qua một lần. Thời gian, địa điểm, con người đều chuẩn xác.

Cô gái nói:
"Mẹ tôi nói: tối nay, 9 giờ 30 phút, ngài nhất định sẽ xuất hiện ở đầu ngõ này, tôi đã chờ ngài ở đây lâu rồi."
Tôi hỏi nguyên do. Cô gái kể lại chi tiết tường tận cho tôi nghe.
Tôi sửng sốt.
Nhưng tôi cũng tin tưởng sâu sắc rằng, chỉ cần là Diêu Trì Kim Mẫu nói thì nhất định là cực chuẩn.

Tôi trở về nhà mở thư ra. Có hai tấm ảnh. Vài con chữ.
Một tấm ảnh là "sinh", ảnh một đứa bé sơ sinh. (Lâm Ngọc Liễu)
Một tấm ảnh là "tử", là Lâm Ngọc Liễu nằm liệt giường.
Mấy chữ là:
"Xin Lư Sư Tôn tiễn tôi một quãng đường."
Lúc đó tôi đã hiểu ngay ý của bà rồi. Tôi đã tiếp dẫn bà đến Diêu Trì Tiên Cảnh.

Còn nữa:
Vào thời Minh, có một người tên là Chu Điên Tiên.
Có người thi đỗ công danh. Trước mỗi lần xướng tên người thi đỗ, Chu Điên Tiên sẽ đi chúc mừng trước.
"Tôi đến để chúc mừng người thi đỗ."
Lần nào cũng chuẩn.
Những người biết ông đều vô cùng kinh ngạc trước tài tiên tri của ông.

Khi Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương vẫn còn chưa lên ngôi hoàng đế, Chu Điên Tiên sớm đã đến lễ bái rồi, và nói rằng Chu Nguyên Chương sẽ làm hoàng đế. Khi Trương Sĩ Thành xưng đế, Chu Nguyên Chương hỏi Chu Điên Tiên:
"Sao ông không vào triều bái Trương Sĩ Thành?"
Chu Điên Tiên nhìn trời nói:
"Trên trời không có tên của ông ta."
Chu Điên Tiên thật sự nói quá chuẩn.

Trong chương sách "Thật sự cực chuẩn" này, những gì Diêu Trì Kim Mẫu nói chuẩn tới mức làm người ta kinh ngạc!
(Trong cõi vô hình đã có định số.)


### 20. Nước của Ma Ha Song Liên Trì


Diêu Trì Kim Mẫu nói với tôi:
"Lư Sư Tôn! Ở tịnh thổ của con, nước của Ma Ha Song Liên Trì có rất nhiều điều siêu nhiên."
Tôi không hiểu là điều siêu nhiên gì. Diêu Trì Kim Mẫu nói:
"Sau này con sẽ hiểu."

Sau này, khi tôi đã tu hành, tôi đã hiểu ra:
"Nước của Ma Ha Song Liên Trì quả nhiên thần kì: có thể kéo dài tuổi thọ, có thể chữa bệnh, có thể thanh tịnh, có thể thành Tiên."

Tôi từng đưa một đệ tử đến Ma Ha Song Liên Trì, để cho anh ngâm mình trong nước. Trời ạ! Quả nhiên anh đã trẻ lại. Khối u ung thư của anh cũng biến mất. Còn anh trở thành một người đạm bạc vô vi.

Anh tinh tấn tu trì Mật pháp. Mọi thứ anh đều hiểu cả.
Tôi hỏi anh:
"Anh hiểu cái gì?"
Lời anh nói khiến tôi kinh ngạc:
"Sinh mạng là hình phạt của ta. Thân thể khiến ta bị trói buộc. Những hiểu biết nhân gian là tai họa của ta. Hoàn cảnh là gánh nặng của ta."
Bốn câu nói của anh nếu ngẫm nghĩ một cách sâu sắc thì cũng thật sự có pháp vị.

Phật nói:
"Đời người chính là sự trả nghiệp. Cũng tức là hình phạt!"
Lão Tử nói:
"Cái hoạn lớn nhất của ta là có một thân người. Nghĩa là thân thể này bị giam cầm."
Khổng Tử nói:
"Đã có Thánh nhân thì cũng có kẻ trộm cướp."
"Xuất hiện tri thức thì cũng đồng thời xuất hiện mầm họa."

Diêu Trì Kim Mẫu nói:
"Cảnh giết tâm, tâm giết cảnh. Con người thế tục sẽ đều bị hoàn cảnh giết chết."
Những lời này đều là những điều chí lí.

Khi tôi hành đạo, có người cho rằng Lư Sư Tôn dùng tà thuật, muốn bắt giữ tôi lại, nói với người ta rằng:
"Bắt Lư Sư Tôn lại!"
Vị quan chức này đích thân đến chỗ tôi chất vấn:
"Tôi hỏi ông mấy câu hỏi, ông trả lời đúng thì tôi sẽ tha cho ông, ông trả lời sai thì tôi sẽ bắt ông lại."
Ông ta hỏi:
"Trên người tôi có thứ gì?"
Tôi đáp:
"Tôi chẳng biết trên người ông có cái thá gì. Nhưng tối qua ông đi tắm, bị trượt chân, nên chân có một vết trầy xước."
Quan chức này sững người ra! Kéo ống quần lên, quả nhiên có một vết thương.

Ông ta hỏi:
"Cha mẹ đã khuất của tôi bây giờ đang ở đâu?"
Tôi đáp:
"Nói suông chẳng có tác dụng, ông tự mình nhìn đi."
Tôi bảo ông ta nhìn vào trong ống tay áo tôi, không ngờ ông ta nhìn thấy cha mẹ của mình đang ở trong địa ngục chịu khổ.
Ông hỏi tôi:
"Làm sao để siêu độ?"
Tôi đáp:
"Tôi sẽ đưa họ đến Ma Ha Song Liên Trì, gột rửa sạch nghiệp chướng của họ."
Từ sau lần đó, quan chức này đã đến quy y tôi!


### 21. Do thám


Có một năm, tôi trở về Đài Loan.
Bác sĩ Dương Di Quyến ở Đài Trung mời tôi ăn cơm. Bác sĩ Dương Di Quyến nói:
"Lư Sư Tôn! Ngài xem bói cho người ta thật sự quá chuẩn, tôi thật sự nằm bò ra đất bái phục ngưỡng mộ."
Tôi hỏi:
"Ông đang nói đến chuyện gì vậy?"
Bác sĩ Dương nói:
"Có một hôm, tôi đến chỗ ngài hỏi chuyện, hôm đó người đến rất đông, cỡ khoảng 300 người đứng xếp hàng. Ngài lần lượt xem cho từng người, ai nấy đều hài lòng trở về."

Tôi hỏi:
"Sau đó thì sao?"
Bác sĩ Dương nói:
"Cuối cùng chỉ còn lại bốn người. Ngài liền đứng dậy, không xem nữa, ngài chuẩn bị đi ra ngoài."
Bốn người kia nhìn nhau. Một người trong số đó nói:
"Chỉ còn lại bốn người chúng tôi, sao không xem nốt?"
Tôi im lặng không nói gì. Sau cùng, tôi bảo:
"Không có việc thì không cần hỏi."

Thế rồi tôi bỏ đi. Sau khi tôi bỏ đi, Bác sĩ Dương Di Quyến cũng vẫn chưa bỏ đi, ông vội tiến lên nói chuyện cùng bốn người kia.
Bác sĩ Dương nói:
"Vì sao Lư Sư Tôn không xem cho bốn người các vị?"
Họ đáp:
"Lư Sư Tôn lợi hại thật!"
Bác sĩ Dương hỏi:
"Lợi hại thế nào?"
Lúc này, bốn người mới nói cho bác sĩ Dương rằng, trong bốn người họ, một người là nhân viên giỏi của Bộ Cảnh Sát, một người là nhân viên giỏi của Cục Điều Tra, một người là công tố viên của tòa án, một người là quan tòa của tòa án.
Bác sĩ Dương Di Quyến nghe xong thì xuýt xoa thán phục!
Dương Di Quyến hỏi:
"Các vị đến đây là để…?"
Họ đáp:
"Do thám!"
Kết quả là:
Lư Sư Tôn chừa lại đúng bốn người này không xem. Hơn nữa còn bỏ đi không thèm đếm xỉa gì họ. Trước khi bỏ đi còn nói:
"Không có việc thì không cần hỏi."
Trong bữa cơm mời tôi, bác sĩ Dương cứ nói mãi:
"Chuẩn! Chuẩn! Chuẩn! Chuẩn chết người!"

Còn nữa:
Từng có một lần khác tôi cũng không xem. Người kia hỏi:
"Sao không xem?"
Tôi đáp:
"Không xem là không xem."
Người kia hỏi:
"Có lý do không?"
Tôi đáp:
"Có muốn tôi nói không?"
Người kia nói:
"Muốn! Xem xem tôi có phục hay không!"
Tôi trả lời:
"Họ tên trên giấy hỏi việc mà anh viết lên căn bản là tên giả, không có người này. Ngày giờ sinh cũng là giả. Anh tự bịa chuyện ra thì hỏi làm gì?"
Người kia đứng phắt dậy, nói:
"Chuẩn! Lư Sư Tôn quả là chuẩn!"


### 22. Lời dạy của Diêu Trì Kim Mẫu


Tôi hỏi Diêu Trì Kim Mẫu:
"Như thế nào mới là tu hành thành tựu?"
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Quên hết."
Câu trả lời này khiến tôi giật mình kinh ngạc. Làm sao tôi có thể "quên hết".

Tôi hỏi:
"Lẽ nào mất trí nhớ là thành tựu?"
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Quên hết không đồng nghĩa với mất trí!"
Tôi hỏi:
"Sự khác nhau thế nào?"
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Milarepa có một bài đạo ca, con đi tìm ra đây là có thể hiểu được ngay."

Đệ tử của tôi, tiến sĩ Trương Trừng Cơ đã dịch cuốn "Đạo ca của Milarepa."
Tôi tìm ra bài ca đó:
*"Người chứng đắc vô tri vô giác,
Sẽ trải nghiệm cảm giác quên đi,
Quên ngay cả ý niệm tăng giảm.
Người chứng đắc bản tính tam thân,
Sẽ quên cả thứ tự Bổn tôn,
Quên ngay cả các pháp suy tưởng.
Người chứng đắc Phật quả nguyên bản,
Sẽ quên cả quả vị tinh tấn
Quên ngay cả các pháp thế tục.
Người tu trì tai nghe Mật pháp,
Sẽ quên cả khái niệm ngôn từ,
Quên ngay cả mọi sự kiêu ngạo.
Người chứng đắc tính không vạn vật,
Sẽ quên cả sách vở kinh tập
Quên ngay cả mọi sự thừa thãi."*

Tôi đọc xong bài ca này cũng vô cùng tán thán. Tôi hỏi Diêu Trì Kim Mẫu:
"Có phải bài đạo ca này không?"
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Chính nó."
Tôi hỏi:
"Vô tri vô giác là cảnh giới nào?"
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Là cảnh giới quên hết."
Tôi hỏi:
"Cảnh giới quên hết là thế nào?"
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Không tăng không giảm!"
Tôi hỏi:
"Chứng đắc tam thân bản tính là cảnh giới nào?"
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Tam thân mà cũng chẳng có tam thân."
Tôi hỏi:
"Nghĩa là sao?"
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Là thân trải khắp mọi nơi."
Tôi hỏi:
"Thế còn chứng đắc Phật quả?"
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Tất cả là một."
Tôi hỏi:
"Tất cả là một là sao?"
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Pháp nhĩ bản nhiên."
...

Trời ạ! Bây giờ tôi đã hiểu rõ ràng rành mạch rồi. Tôi có thể ngủ ngon, tôi có thể ăn ngon, tôi có thể sống vui vẻ, tôi có thể giống như "có đến", tôi có thể giống như "có đi", tôi có thể chứng đắc, tất cả đều nhờ vào lời chỉ dạy của Diêu Trì Kim Mẫu:
"Quên hết."


### 23. Lão Tử và Trang Tử


Tôi hỏi Diêu Trì Kim Mẫu:
"Ở nhân gian, con nên học theo ai?"
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Lão Tử và Trang Tử."
(Câu trả lời này nằm ngoài dự liệu của tôi.)
Tôi hỏi:
"Không phải là học Phật sao?"
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Không có gì khác!"

Tôi đã hiểu ý của Diêu Trì Kim Mẫu rồi. Khác mà cũng là không khác, đều là đối tượng của học tập.
Khổng Tử từng nói:
"Chim, ta biết nó có thể bay. Cá, ta biết nó có thể bơi. Thú, ta biết nó có thể chạy. Còn rồng chợt đến chợt đi trong gió mây, thật khó đoán biết. Lão Tử, ông ấy chẳng phải là một con rồng sao?"

Tôi đọc sách của Lão Tử, kính phục bội phần.
Có rất nhiều hóa thân của Lão Tử:
Vào thời Sơ Tam Hoàng, ngài là Vạn Pháp Thiên Sư.
Vào thời Trung Tam Hoàng, ngài là Bàn Cổ Công.
Vào thời Phục Hi, ngài là Tước Hoa Tử (Tước Mật Tử).
Vào thời Thần Nông, ngài là Thái Thành Tử.
Vào thời Hiên Viên, ngài là Hoàng Thành Tử.
………………………
Vào triều đại Chu Chiêu Vương, Lão Tử đã cưỡi trâu xanh rời khỏi Hàm Cốc Quan. Đó là một cảnh tượng tôi rất ngưỡng mộ:
"Lão Tử cưỡi trâu rời Hàm Cốc Quan!"
Đúng là tiêu dao tự tại.
(Tôi học theo "Đạo Đức Kinh" của Lão Tử.)
Tôi ngợi ca Lão Tử là: "Thoát tục."

Còn nữa:
Học vấn của Trang Tử rất rộng, bao trùm mọi thứ.
Cuốn sách "Trang Tử" gói trọn đủ mọi thứ.
Tư tưởng của Trang Tử cũng giống như Lão Tử, cũng là rong chơi khắp chốn, thỏa chí tang bồng, khiến tôi không ngớt hâm mộ! Trang Tử nói:
"Con người đừng làm nô lệ cho vật chất!"
Còn nói:
"Đừng dính mắc vào vật."
Đối với tài sản, danh vị, sắc dục, hãy cười vào mũi.
Tư tưởng của Trang Tử là:
"Nếu làm chủ được cái chính đạo của trời đất, chế ngự được lục khí thì cũng là người có thể ngao du trong vũ trụ vô biên."
Đây chính là sự tự do viên mãn.

Tôi đọc Trang Tử, đã hiểu được về sự:
An yên.
Nhàn tản.
Hài hòa.
Tĩnh lặng vô ưu.
Trời ơi! Đó chẳng phải là sự tự tại của Phật sao?

Cuối cùng tôi đã hiểu:
Tài sản là cạm bẫy.
Gia đình là cạm bẫy.
Sự nghiệp là cạm bẫy.
Danh vị là cạm bẫy.
Sắc dục là cạm bẫy.
...

Bởi vậy, tôi nói:
Tôi và Chân Phật Tông chẳng có dây dưa gì với nhau.
Tôi và 281 cuốn sách mà tôi viết có thể cho một mồi lửa đốt hết sạch sẽ.
Tôi và gia đình người thân, chẳng cần phải bận tâm lo lắng, cứ để tự nhiên.
Chẳng cần nghĩ chuyện tiền bạc.
Các đệ tử ra sao thế nào cũng chẳng có can hệ gì!
Khi tôi rời khỏi cõi đời này, cũng chẳng có gì lo lắng!
Tôi khát khao sự tự do lớn!


### 24. Tôi hỏi về thiền định


Tôi hỏi Diêu Trì Kim Mẫu:
"Thế nào là tu trì thiền định?"
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Trí huệ."
Tôi hỏi:
"Thế nào là tu trì trí huệ?"
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Thiền định."
Hình như tôi hỏi ngốc rồi. Hỏi mà cũng như không.

Tôi hỏi:
"Hai điều này tu trì thế nào?"
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Lư Sư Tôn! Đạo quả mà con hiện đang giảng đều là nói về trí huệ và thiền định."
Tôi khẩn thiết cầu xin Diêu Trì Kim Mẫu ban cho khẩu quyết.

Diêu Trì Kim Mẫu nói:
Tập trung ngồi cho đến khi đạt đến trạng thái thả lỏng.
Rời xa sự đời ngồi cho đến khi đạt đến trạng thái thanh tịnh.
Tuyệt đối ngồi yên cho đến khi đạt đến trạng thái quang minh.
Ngồi trong sự "vô tu" cho đến khi đạt đến trạng thái trong vắt.
Diêu Trì Kim Mẫu nói:
"Thả lỏng, thanh tịnh, quang minh, trong vắt là bốn khẩu quyết lớn."

Sự thể nghiệm thiền định của tôi chính là như vậy, tâm không chướng ngại, khoan thai an nhiên, tỏ tường thấu suốt, tự nhiên rực rỡ trong vắt, từ đó trí huệ tự sinh ra.
Diêu Trì Kim Mẫu dạy tôi:
"Để cho thân này giải thoát khỏi thế giới thế tục, thân tâm dung nhập vào tự nhiên mà tiêu biến luôn. Cá thể này biến mất thì sẽ sản sinh ra niềm hân hoan rực rỡ trong suốt."

Diêu Trì Kim Mẫu nói:
"Mật giáo và Bổn tôn hợp nhất, chính là sự hòa tan vào nhau, không phải là hai, mà là một. Con biến mất, Bổn tôn biến mất, chỉ còn lại một sự hòa trộn làm một, hoặc hợp nhất thành số không."
Diêu Trì Kim Mẫu nói:
"Đây chính là quên luôn cả ta và vật."
Tôi hỏi:
"Là quên hết sao?"
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
"Đúng vậy."

Tôi nhớ có một bài thơ kệ như sau:
*"Tâm ở một chỗ khi thiền định,
Ý niệm phân biệt đã tiêu trừ
Lúc này dừng lại trong tĩnh lặng
Nhờ suy nghĩ này thiền định sâu.
Rộng mở sáng rõ như đèn chiếu
Trong trẻo thanh khiết như hoa tươi.
Giống hệt như bầu trời xanh ngắt
Giác ngộ tính Không sáng và trong.
Sáng trong thấu suốt không phân biệt,
Tĩnh tịch mênh mang thể nghiệm sâu."*

Đọc xong bài thơ kệ này, tôi nói tôi đã hiểu được:
"Thế nào là hữu ngã. Thế nào là vô ngã."
Khổ.
Không.
Vô thường.
Vô ngã.
"Vô ngã là khẩu quyết lớn nhất của thiền định. Vô ngã chính là có thể dung nhập, vô ngã tức là hợp nhất, vô ngã là số không, vô ngã là quên hết, vô ngã là đại trí huệ."
Diêu Trì Kim Mẫu nói:
"Lư Sư Tôn! Chuẩn rồi!"

Trời đất và ta cùng sinh, vạn vật và ta hợp nhất.
Tiến thêm một bước nữa.
Kéo dài mãi mãi, không ngừng sinh sôi.
Con đường mà Lư Sư Tôn đã đi trong cuộc đời này đều dựa vào sự chỉ dạy của Diêu Trì Kim Mẫu.


### 25. Không chuẩn! Không chuẩn!


Năm đó, sư tỉ Liên Hoa Tế Muội đến Seattle. Trong phòng hỏi việc của tôi, cô hỏi:
"Ngài bảo sẽ trúng cử, vì sao lại không chuẩn?"
Tôi nghe xong thì sững người ra. Mặt tôi đỏ lựng lên, đến một câu nói cũng không thốt ra được.

Sau đó, tôi định thần lại, nói với Liên Hoa Tế Muội:
"Bây giờ cô hãy gọi một cú điện thoại, hỏi ứng cử viên xem trước khi bầu cử có phải tôi đã báo mộng rằng sẽ không trúng cử hay không."
Liên Hoa Tế Muội gọi cuộc điện thoại quốc tế. Đối phương trả lời:
"Đúng là có giấc mơ đó."

Sự tình là thế này.
Trước dịp bầu cử, tôi đã đến một đất nước nọ, đất nước này phái một vị bộ trưởng đến đón tôi ở sân bay. Vị bộ trưởng này cũng đại diện cho đơn vị cao nhất.
Trong phòng chiêu đãi khách quý, bộ trưởng hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Chúng tôi sẽ thắng cử chứ?"
Tôi đáp:
"Sẽ thắng!"
Sau đó, tôi trở về Mỹ. Một hôm, Diêu Trì Kim Mẫu nói với tôi:
"Họ sẽ không trúng cử!"
Tôi nghĩ, thảm rồi. Tôi đã nói với người ta là sẽ trúng cử, kết quả bây giờ lại không thắng, như thế chẳng phải là mất mặt Diêu Trì Kim Mẫu quá hay sao, mất mặt cả tôi nữa.
Phải làm sao đây? Không chuẩn rồi!

Sau đó, tôi chỉ có cách xuất thần, nhập vào giấc mơ của vị bộ trưởng, tôi xuất hiện trong giấc mơ của ông.
Tôi cầm cờ của "đối phương", hét to:
"Chúng tôi trúng cử rồi!"
Điều này cũng có nghĩa là bộ trưởng kia và cấp trên của ông sẽ đều không trúng cử. Lần báo mộng này rất chân thực.
Sau cuộc bầu cử, bộ trưởng và đơn vị cấp trên quả nhiên đã không trúng cử. Bởi vì có sự báo mộng này mà không chuẩn cũng thành chuẩn rồi.
Chà! Chính là như vậy đó!

Còn nữa:
Có một lần, có hai vị ủy viên hội đồng thành phố đến hỏi tôi về chuyện bầu cử, một trong hai người là phụ nữ. Tôi nói:
"Sẽ trúng cử."
Người kia là đàn ông. Tôi nói:
"Không vấn đề."
Kết quả bầu cử, người phụ nữ đã trúng cử. Xin chúc mừng! Rất chuẩn!
Nhưng người đàn ông thì thảm rồi, số phiếu bầu xếp sau ba người. Gay rồi! Không chuẩn!
Tôi thật sự cảm thấy lo lắng bối rối, làm sao đối diện với ứng cử viên nam đây.

Sau đó:
Người trúng cử vì vướng kiện tụng mà phải rút lui, kết quả bầu cử vô hiệu! Cho người về thứ hai thay thế. Nhưng người xếp thứ hai bị điều tra ra là mua phiếu bầu, do vậy kết quả không có hiệu lực! Lại đổi qua lấy người về thứ ba để thay thế. Nhưng người xếp thứ ba cũng lại vi phạm quy định, kết quả cũng vô hiệu! Lại đổi qua lấy người thứ tư để bổ sung vào.

Cứ đẩy xuống đẩy lên, đẩy xuống đẩy lên, đẩy xuống đẩy lên như vậy, cuối cùng người xếp sau ba người đã trở thành ủy viên hội đồng thành phố. Cho đến khi trở thành ủy viên hội đồng thành phố thì nhiệm kì của ủy viên được chọn này chỉ còn lại đúng một tháng.
Chà! Không chuẩn cũng lại chuẩn rồi!


### 26. Ba điều không đoán


**Không đoán thọ mệnh**
Từng có một người phụ nữ đến hỏi tôi:
"Tôi sống được đến bao nhiêu tuổi?"
Tôi nói:
"Không đoán!"
Cô nói:
"Cá nhân tôi không sợ chết, tôi cũng sẽ không tiết lộ cho người khác biết, chỉ có một mình tôi biết thôi."
Tôi hỏi:
"Xem năm bao nhiêu tuổi cô sẽ chết thì có lợi ích gì chứ?"
Cô đáp:
"Để tôi có thể thong thả chuẩn bị một số việc, không bị gấp rút."
Thế là tôi xem giúp người phụ nữ đó! Đáp án là 43 tuổi thì hết số mạng.

Sau khi trở về, người phụ nữ đó lòng đầy buồn bã, cơm không thiết ăn, nước chẳng buồn uống, cả ngày chỉ có khóc lóc, vô cùng suy sụp, đêm cũng không ngủ được.
Người nhà hốt hoảng, tìm cách hỏi han, cô nói với người nhà  rằng:
"Lư Sư Tôn đã đoán như vậy!"
Thế là, cả nhà họ lớn lớn nhỏ nhỏ, lớn tuổi nhất là ông bà cho đến nhỏ tuổi nhất là con trai con gái của cô hùng hùng hổ hổ đến chỗ tôi gây ồn ào suốt mấy tuần, khiến tôi cảm thấy bị quấy rầy rất nhiều.

Tôi thật sự không chịu thêm được nữa. Cứ như thế cho đến khi người phụ nữ kia đúng vào năm 43 tuổi thật sự đã chết. Sau đó người nhà cô mới để yên.
Nhưng bản thân tôi cũng vô cùng mệt mỏi rồi!
Tôi nói:
"Đoán tuổi thọ cho người ta, thật sự cần phải thận trọng đó!"

**Lựa chọn đối tượng**
Một nữ tiếp viên của hãng hàng không Trung Quốc cầm đến hai tấm ảnh của hai người đàn ông. Cô xin Lư Sư Tôn giúp cô chọn đối tượng xem người nào mới là "hoàng tử định mệnh" của cô. Cô hỏi:
"Người nào là tốt nhất?"
Tôi nói:
"Tôi có thể xem giúp cô, nhưng xin đừng nói với người khác rằng là Lư Sư Tôn đoán đó."
Cô đáp:
"Đương nhiên."
Tôi lựa chọn một người trong số đó. Cô gật gật đầu.

Sau khi trở về, cô tiếp viên hàng không nói với người kia rằng:
"Lư Sư Tôn cho anh điểm số rất thấp!"
Thế là tôi thảm rồi!
Người bạn trai từ trước đến giờ của cô gái mỗi lần uống rượu say đều gọi điện thoại đến quấy rầy tôi, trong điện thoại chửi "Tam tự kinh".
Tôi đã phải trải qua một khoảng thời gian đầy mệt mỏi.
Tôi nói:
"Giúp người ta chọn đối tượng, cũng phải thận trọng!"

**Không đoán cờ bạc**
Ở đây tôi muốn nói đến việc mua bán cổ phiếu và các hợp đồng tương lai, hoặc mua bán vàng.
Bởi vì:
Kiếm được lời thì anh chẳng có phần!
Thua thì anh bị chửi cho thê thảm!
Cổ phiếu biến đổi liên tục. (Mỗi lúc điểm số đều thay đổi.)
Đầu cơ hợp đồng tương lai.
Giá vàng thì thiên biến vạn hóa.
Việc kiểm soát thời gian không dễ dàng.
Tình hình quốc tế, thắng thua, hành vi con người, khủng hoảng kinh tế, những cơn sóng tài chính tiền tệ…….
Tôi cho rằng đây là: chủ nghĩa vị lợi, quá thế tục!
Chà! Toàn là những thứ trần tục!
Căn bản là tôi chẳng muốn xem!


### 27. Kim thần tìm người


Con rể của sư tỉ Teresa mất tích.
Sự tình là như thế này:
Anh con rể này là người da trắng, nổi tiếng trong giới âm nhạc ở Mỹ, những ca khúc mà anh sáng tác nổi tiếng toàn thế giới.
Khi cần tìm cảm hứng, anh ta thường một mình mang đồ cắm trại đi đến bờ sông sâu trong rừng để tận hưởng thiên nhiên rộng lớn.
Ngắm núi.
Ngắm sông.
Ngắm trời xanh mây trắng.
Ngắm trăng sáng sao xa.
Cứ như thế, những khúc nhạc dưới ngòi bút sáng tác của anh đã trở thành những nốt diễn tấu trong thế giới âm nhạc.

Lần này, anh ta cũng lại lên đường.
Nhưng điều khác biệt duy nhất là sau khi anh xuất phát thì cũng mất luôn tin tức, như bốc hơi khỏi mặt đất.
Vợ anh tìm anh.
Bố mẹ vợ anh tìm anh.
Bạn bè tìm anh.
Nhưng anh ta giống như con diều đứt dây, không biết đã bay lạc đến nơi nào rồi.

Có khách leo núi trông thấy anh.
Có cả nơi cắm trại.
Vợ anh, bố mẹ vợ tìm kiếm dấu vết để đi tìm.
Cảnh sát cũng đã phái đội tìm kiếm đi vào rừng sâu, leo lên cả ngọn núi, lần theo sông suối, lên thượng nguồn, hạ nguồn, tìm kiếm theo phương thức cuốn chiếu.
Nhưng không thấy là không thấy.

Núi xanh thẳm.
Sông rì rầm.
Bị thú dữ bắt mất rồi sao?
Hay là bị rơi xuống từ vách núi?
Hay là sảy chân rơi xuống nước?
Hay là xảy ra tai nạn gì?
...

Thời gian từng ngày trôi qua, từng tuần từng tuần trôi qua, thời gian càng kéo dài thì việc tìm kiếm càng bất lợi. Bình thường khi ra khỏi nhà, anh chàng nhạc sĩ này luôn dùng điện thoại để liên lạc với vợ, nhưng lần này chẳng có liên lạc gì.

Teresa nhớ đến Lư Sư Tôn liền đáp máy bay đến tìm tôi.
Tôi đứng trước Diêu Trì Kim Mẫu ở Seattle Lôi Tạng Tự, tôi nói:
"Sẽ tìm thấy!"
Còn nói thêm:
"Mấy ngày nữa!"
"Còn sống? Hay đã chết?" - Teresa hỏi.
Tôi trầm ngâm, không đáp. (Chỉ có thể ngầm hiểu ý.)
"Địa điểm ở đâu?"
Teresa lấy ra tấm bản đồ.
Tôi dùng một sợi chỉ rồi xỏ vào một chiếc kim, dùng một cây bút chì, đầu bút chì hướng về bản đồ. Thế là cây bút chì tự chuyển động, quay rộng, quay hẹp, quay trái, quay phải, di chuyển….
Đầu bút chì dừng lại ở bên cạnh một cái cây ở thung lũng sông. Tôi nói:
"Chính là ở đây!"
Teresa nói:
"Thung lũng sông này đã tìm kiếm mấy lần rồi, sao có thể là ở đây được?"

Kết quả là: hai ngày sau, đã tìm thấy!
Địa điểm là phía trước một cái cây ở thung lũng, chính xác là địa điểm tôi đã chỉ ra.
Người thì đã chết! Người vợ rất đau đớn!
"Kim thần tìm người" thật quá chuẩn.
Truyền hình toàn nước Mỹ phát đi những ca khúc mà anh sáng tác để tưởng nhớ người nhạc sĩ vĩ đại này.


### 28. Linh khí đặc biệt


Có một đệ tử tên là Liên Hoa Văn Nhân đưa một người bạn họ Vương đến gặp tôi. Tôi vừa trông thấy người bạn họ Vương này liền nói:
"Trên người anh có một thứ linh khí rất đặc biệt."
Anh ta hỏi:
"Là linh khí gì?"
Tôi đáp:
"Là khí phát ra từ vị thần mà anh thờ phụng."
Anh ta hỏi:
"Vì sao lại đặc biệt?"
Tôi đáp:
"Vị thần mà anh thờ phụng chẳng có ai biết, duy có Lư Sư Tôn biết thôi."
Anh ta hỏi:
"Hình dạng thế nào?"
Tôi đáp:
"Hình tướng một đứa bé trai, trên đầu có hai búi tóc, toàn thân phóng tỏa ánh sáng màu đỏ!"
Lúc này, người bạn họ Vương thốt lên kinh ngạc vô cùng, nói:
"Chuẩn!"

Người bạn họ Vương lại hỏi:
"Vị thần này tên gọi là gì?"
Tôi đáp:
"Cũng họ Vương giống anh, là thần cây."
Người bạn họ Vương lập tức quỳ xuống trước tôi:
"Ngài đúng là chuẩn như thần!"

Người bạn họ Vương này tên thật là Vương Khang. Anh kể cho tôi nghe một câu chuyện:
Vương Khang là người trồng cây ăn quả. Hoa quả trồng được chất lượng kém, làm ăn không tốt, việc kinh doanh rất ảm đạm.
Một hôm, anh đến một ngôi chùa Đạo giáo, gặp một đạo nhân già, vị đạo nhân già bảo anh rằng anh cần thợ phụng một vị thần, vị thần này có thể giúp cho chất lượng hoa quả anh trồng tốt hơn.
Anh hỏi đạo nhân già:
"Là vị thần nào?"
Đạo nhân già nói:
"Vị thần này tên là Vương Phạn Chí."
Vương Khang nói:
"Chưa từng nghe nói đến, thần gì mà lại có tên là Vương Phạn Chí?"
Đạo nhân già nói:
"Là thần cây!"

Nguồn gốc của thần cây là như sau:
Ở vùng Lê Dương có một người tên là Vương Đức Tổ, ông ta trồng rất nhiều cây, có một cây trên cành mọc ra một cái bướu lớn, khi cái bướu này mềm ra thì có một đứa trẻ từ bên trong bướu nhảy vọt ra. Vương Đức Tổ nuôi đứa bé lớn lên, đến năm bảy buổi thì đứa bé mới biết nói. Câu đầu tiên mà đứa bé nói là:
"Ai sinh ra con?"
Vương Đức Tổ nói:
"Là cây sinh ra con."
Câu nói thứ hai là:
"Cây làm sao có thể sinh ra trẻ con được?"
Vương Đức Tổ đáp:
"Bởi vì con là thần cây!"

Vương Đức Tổ đặt tên cho đứa bé là: Vương Phạn Chí.
Ở nơi mà Vương Phạn Chí sống thì cây, hoa, quả đều phát triển sum xuê.
Vương Phạn Chí tu đạo. Có một bài thơ còn lưu lại như sau:
*"Ngoài thành có bánh bao
Trong thành làm nhân bánh
Mỗi người ăn một cái
Ai nấy đều khen ngon."*

Kể từ khi Vương Khang thờ phụng Vương Phạn Chí, quả nhiên tất cả mọi việc đều thuận lợi, vô cùng hưng thịnh.
Vương Khang hỏi Lư Sư Tôn:
"Vì sao mà ngài lại linh vậy? Việc tôi thờ phụng Vương Phạn Chí mà ngài cũng biết?"
Tôi cười cười không đáp.
Sau cùng, tôi nói:
"Chỉ là ăn may mà thôi!"


### 29. Người bán thần


Chiếc xe Maserati của tôi (Lư Sư Tôn) mang biển số là AVT9951. AVT là cách viết tắt của từ Avatar, nghĩa là người bán thần.
Ngoài ra, chiếc xe Rolls-Royce của tôi mang biển số là BUC6428. BUC nghĩa là: "Phật đến rồi!" [BUC mà Sư Tôn nói đến là cách viết theo tiếng Anh là Buddha Coming, nghĩa là Phật đến rồi!]
Hai chiếc xe này đều do cục kiểm tra và quản lý cấp biển số, tôi không đặc biệt lựa chọn.
Thật là tình cờ!
Tôi tự cảm thấy đúng là tên gọi và thực tế thật là tương hợp với nhau.

Đối với con số trên biển số xe, tôi diễn giải ra là:
9951 là: Mãi mãi tôi đều là số một.
6428 là: Chỗ này phát, chỗ kia phát.
Ha ha ha!
[Ở đây Sư Tôn đều sử dụng hiện tượng đồng âm khác nghĩa.]

Còn nữa:
Tôi thường nhớ đến câu chuyện xưa:
Vào những năm cuối đời nhà Hán, Lưu Thần và Nguyễn Triệu người huyện Diệm, đi vào núi Thiên Thai hái thuốc. Kết quả là bị lạc trong núi, không tìm được đường ra. Họ đi lang thang trong rừng 13 ngày, bụng đói vô cùng. Sau đó họ phát hiện ra một cây đào sai trĩu quả, hai người hái xuống ăn thì sức khỏe lại hồi phục. Họ cảm thấy loại đào này không phải loại đào bình thường, ăn xong thì toàn thân tỏa sáng.

Bên bờ suối, họ lại phát hiện ra: có hai chiếc cốc vàng trôi trên mặt nước, trong cốc vàng đựng đầy cơm vừng, họ vô cùng mừng rỡ lấy ăn. Ăn xong, họ cảm thấy chân đã khỏe lại, thân thể nhẹ nhàng nhanh nhẹn như chim yến. Cuối cùng, Lưu Thần và Nguyễn Triệu gặp hai tiên nữ bên bờ suối. Tiên nữ nói:
"Đợi hai người đã lâu rồi!"
Thế rồi hai tiên nữ đưa Lưu Thần và Nguyễn Triệu về nhà họ.

Khi về đến nhà, hai người mới biết đây là tiên cảnh.
Cung điện hào hoa.
Tiên hoa tiên thảo.
Thất trân bát bảo.
Trên trời là đế võng minh châu, dưới đất là ngọc mani.
Đồ ăn thức uống của thần tiên.
Còn có rất nhiều thị nữ phục vụ Lưu Thần và Nguyễn Triệu. Và thế là, chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi Lưu Thần và Nguyễn Triệu cùng với hai tiên nữ đã trở thành vợ chồng thần tiên, hơn nữa còn say trong lạc thú quên hết cả mọi sự.

Thị nữ ca hát.
Thị nữ nhảy múa.
Thị nữ vui chơi.
...

Hai người họ ở cung điện trên trời sống những ngày tháng hạnh phúc mĩ mãn.
Nhưng nửa năm sau, hai người rất nhớ những người thân ở quê cũ, bèn quyết định trở về nhà. Tiên nữ không giữ được họ, cuối cùng chỉ còn cách tiễn hai người này về nhà.

Lưu Thần và Nguyễn Triệu trở về quê cũ mới phát hiện ra mọi thứ trên đường đã thay đổi, con người cũng thay đổi, những người thân của họ đã không còn tồn tại nữa. Hỏi ra mới biết đã trải qua bảy đời rồi. Cuối cùng, họ lại đi vào núi Thiên Thai, nhưng cũng không tìm được con đường ngày xưa. Không trở về được nữa!

Tôi (Lư Sư Tôn) thường nhớ đến câu chuyện này. Tôi phát hiện ra tôi vốn ở Ma Ha Song Liên Trì, tôi sống cùng với Vân Hoa phu nhân. Nhưng vì một suy nghĩ ngu muội mà không ngờ tôi đã đến chốn nhân gian, ở nhân gian luân hồi nhiều kiếp. Thật may mà Diêu Trì Kim Mẫu đã tìm được tôi.
Cõi trời tốt?
Hay nhân gian tốt?
Bảo người bán thần như tôi đây thế nào mới là tốt?


### 30. Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu


Ngày 12 tháng 9 năm 2020.
Có một đồng môn từ bang Oregon xa xôi đến tham gia đại pháp hội siêu độ A Di Đà Phật tại Seattle Lôi Tạng Tự ở bang Washington nước Mỹ.
Anh chuyển cho tôi một lá thư. Nội dung trong thư như sau:

Sư Phật tôn kính!
Mấy ngày nay, bờ Tây nước Mỹ có hỏa hoạn lớn, lửa đã cháy đến California, Oregon, Washington. Rừng cháy lớn lan rộng ra cả ba bang.
Con sống tại bang Oregon, tổng cộng đã có 50 vạn người được cảnh báo cần sơ tán, chiếm tới 1/4 dân số toàn bang.
Con nghe nói:
California tình hình rất nghiêm trọng.
Tiếp đó là bang Oregon.
Tiếp nữa là bang Washington.

Rừng cháy lớn, gió lại tiếp thêm sức cho lửa, những khu rừng như biển lửa, bầu trời ngùn ngụt lửa cháy, cả trời đất rực đỏ. Nhân viên chữa cháy thì làm việc liên tục không ngơi nghỉ.
Tài sản, nhân lực, thương vong không thể ước tính hết.
Chất lượng không khí suy giảm bất thường, chỉ số là PM2. Cả năm chỉ số đều màu đỏ và màu tím, mức độ ô nhiễm đã vượt qua cả Đài Trung Đài Loan, ở cấp độ nguy hiểm rồi.

Ở đây con muốn kể cho Lư Sư Tôn nghe một kì tích:
Đệ tử sống tại một thị trấn nhỏ ở bang Oregon. Trước khi những vụ cháy rừng xảy ra, cuộc sống tất cả đều yên ổn an bình.
Con thờ phụng Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu là Bổn tôn.
Có một buổi tối, trong mơ con thấy Lư Sư Tôn, Diêu Trì Kim Mẫu, Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu hạ giáng xuống nhà con. Con dâng trà tiếp đãi. Lư Sư Tôn nói:
"Rừng cháy lớn quá, phải làm sao đây? Thị trấn nhỏ này sẽ bị cháy rụi chẳng còn một viên ngói."
Diêu Trì Kim Mẫu nói:
"Trên thực tế, chỉ có cách thu dọn mọi thứ rồi sơ tán đến khu vực an toàn thôi."
Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu quay qua dặn dò đệ tử:
"Cần phải sơ tán đi, thiện đệ tử đã nghe rõ chưa?"
Con quỳ xuống nói:
"Vâng con biết rồi!"
Con còn nói:
"Con mới trang hoàng lại nhà cửa, lần này thế là tiêu hết rồi." - Con đau đớn thổn thức.
Mơ đến đây thì tỉnh giấc.

Đệ tử con ghi nhớ lời dặn, lập tức thu dọn đồ đạc, chuẩn bị rời đi bất kì lúc nào. Kết quả là, rừng thật sự đã cháy lớn. Lần này còn kèm theo gió bắc từ California thổi tới. Thị trấn con ở đã bị thiêu trụi như chưa từng tồn tại, chỉ trong một ngày mà tất cả đã trở thành những đống đổ nát.

Ngôi nhà của con nằm ở phía đông của thị trấn, nhưng chỉ bị cháy cái gara ô tô nhỏ phía sau nhà và một chiếc xe ô tô, còn tất cả những thứ khác đều nguyên vẹn. Người của toàn thị trấn trở về xem xét thì thấy chỉ có căn nhà của con là không bị thiêu cháy. Những căn nhà khác hoàn toàn chỉ còn là đống tro tàn.
Mọi người hét lên:
"Kì tích! Kì lạ! Kì tích!
Con cũng cho rằng đây là một kì tích!
Ở đây con đặc biệt báo cáo với Sư Phật rằng, pháp mà Sư Phật truyền dạy thật là linh nghiệm.
Đệ tử … chắp tay.

Nhận được lá thư này, tôi vội vàng đưa vào sách, vẫn chưa có thời gian để liên lạc với đệ tử này, do vậy tôi tạm thời giấu tên họ thật của đệ tử đó.


### 31. Tôi hỏi Diêu Trì Kim Mẫu


Tôi hỏi:
"Xin hỏi Diêu Trì Kim Mẫu có biết Phật pháp không?"
Kim Mẫu cười:
"Con biết, lẽ nào ta không biết!"
Tôi hỏi:
"Cuộc đời của Phật Thích Ca Mâu Ni có ý nghĩa ra sao?"
Kim Mẫu đáp:
"Hai từ: truyền dạy và chứng ngộ."

Tôi hỏi:
"Xin giải thích cụ thể?"
Kim Mẫu đáp:
"Truyền dạy tức là hoằng dương giáo pháp đúng đắn. Chứng ngộ chính là thực tu thành Phật."
Tôi hỏi:
"Hoằng dương lấy cái gì là chính, thực tu lấy cái gì là chính?"
Kim Mẫu đáp:
"Hoằng dương chính pháp dựa vào kinh, luật, luận là chính. Thực tu dựa vào giới, định, huệ là chính."

Trong lòng tôi thầm thán phục. Tôi hỏi:
"Đối với kinh, luật, luận thì cần làm sao?"
Kim Mẫu đáp:
"Nghe, nghĩ."
Tôi hỏi:
"Đối với giới, định, huệ thì cần làm sao?"
Kim Mẫu đáp:
"Tu!"

Tôi hỏi:
"Chúng ta làm sao để chứng đắc chân trí huệ? Kinh, luật, luận phức tạp quá chăng?"
Kim Mẫu đáp:
"Thiền định."
Tôi hỏi:
"Thiền định làm sao đắc được chân trí huệ?"
Kim Mẫu đáp:
"Trải nghiệm trực tiếp."
Tôi hỏi:
"Trải nghiệm trực tiếp của con là hợp nhất, Kim Mẫu nghĩ sao?"
Kim Mẫu đáp:
"Hợp nhất chính là tan ra và hòa quện làm một."
Tôi hỏi:
"Là tan hoàn toàn sao?"
Kim Mẫu đáp:
"Đúng."
Tôi hỏi:
"Là tự thân tan hoàn toàn, hòa vào với hư không."
Kim Mẫu đáp:
"Chính là như thế."
Tôi hướng về Diêu Trì Kim Mẫu đảnh lễ ba lạy!

Tôi nhớ đến một bài đạo ca của Milarepa, chính là bài "Hiểu về ý nghĩa của sự hòa tan".

*Xướng lên lời ca mong khuyên thỉnh,
Nay ta vì người thử hát lên,
Khúc ca về thực tướng pháp tính.*

*Sấm rung, chớp giật và mây mù,
Đều từ hư không mà sinh ra,
Cũng từ hư không mà tan biến.*

*Cầu vồng, hơi nước và sương mù
Đều từ trời kia mà sinh ra,
Cũng lại hòa tan vào bầu trời.*

*Mật ngọt, quả ngon và thóc lúa,
Đều từ đại địa mà sinh ra,
Cuối cùng cũng lại tan vào đất.*

*Cây cao, cành lá và hoa nhỏ
Đều từ núi đồi mà sinh ra,
Cuối cùng cũng lại tan vào núi.*

*Xoáy nước, dòng sông và cơn sóng
Đều từ biển lớn mà sinh ra
Cuối cùng cũng tan vào biển lớn.*

*Tập khí, tham dục và bám chấp,
Từ A-lại-da thức sinh ra
Từ A-lại-da thức tan biến.*

*Tự chứng, tự minh tự giải thoát,
Từ pháp nhĩ tâm tính sinh ra
Cuối cùng tiêu tan vào tâm tính.*

*Vô sinh, vô diệt và vô ngôn,
Đều sinh từ pháp tính bản nhiên,
Cuối cùng tiêu tan vào pháp tính.
...*

*Nếu đạt đến rời xa thiên kiến,
Vạn pháp rốt cục chẳng rời tâm,
Tâm như hư không chẳng thể có.*

*Pháp tính tận cùng là như vậy,
Người nên nhất tâm chăm quan sát,
Chính kiến phân biệt cần rời xa.
An trụ cảnh giới không tán loạn,
Đi đứng ngồi nằm trong mọi lúc,
Bình thản an nhiên không bám chấp,
Hành trì như vậy sẽ thành công.*

Tôi kính lễ Diêu Trì Kim Mẫu.
Tôi kính lễ Phật Thích Ca Mâu Ni.
Tôi kính lễ Milarepa.


### 32. Tôi lại hỏi Diêu Trì Kim Mẫu


Tôi lại hỏi Diêu Trì Kim Mẫu:
"Phật pháp và Đạo pháp có khác biệt không?"
Kim Mẫu đáp:
"Không giống không khác."
Tôi hỏi:
"Phật A Di Đà thì sao?"
Kim Mẫu đáp:
"Là Vô Lượng Thọ Phật."
Tôi hỏi:
"Quan Thế Âm Bồ Tát thì sao?"
Kim Mẫu đáp:
"Là Từ Hàng Đại Sĩ."
Tôi hỏi:
"Văn Thù Bồ Tát thì sao?"
Kim Mẫu đáp:
"Là Quảng Pháp Thiên Tôn."
……………

Tôi hỏi:
"Pháp có sự khác biệt không?"
Kim Mẫu đáp:
"Vạn pháp là một."
Tôi hỏi:
"Pháp vô lậu thì sao?"
Kim Mẫu đáp:
"Chính là pháp đan đỉnh." (nội đan công)
Tôi hỏi:
"Pháp chuyết hỏa thì sao?"
Kim Mẫu đáp:
"Chính là pháp ôn dưỡng." (đại ôn dưỡng)
Tôi hỏi:
"Thế còn thông trung mạch?"
Kim Mẫu đáp:
"Chính là pháp thông tam tiêu." [Tam tiêu là một bộ phận của lục phủ, gồm thượng tiêu, trung tiêu, hạ tiêu, tức là miệng trên của dạ dày, phần giữa của dạ dày, và miệng trên của bàng quang.]
Tôi hỏi:
"Cửu tiết Phật phong, kim cang tụng, bảo bình khí thì sao?"
Kim Mẫu đáp:
"Chính là các pháp thổ nạp, đại chu thiên, tiểu chu thiên."
Tôi hỏi:
"Thế còn chúng thiện phụng hành?"
Kim Mẫu đáp:
"Chính là tam thiên đại công."
Tôi hỏi:
"Pháp khai đỉnh thì sao?"
Kim Mẫu đáp:
"Là nguyên thần xuất khiếu."
Tôi hỏi:
"Còn pháp tịnh quang?"
Kim Mẫu đáp:
"Là tam hoa tụ đỉnh."
Tôi hỏi:
"Còn pháp khí, mạch, minh điểm?"
Kim Mẫu đáp:
"Là ngũ khí triều nguyên." (tinh, khí, thần)
Tôi hỏi:
"Còn pháp Bổn tôn, Thượng sư tương ứng?"
Kim Mẫu đáp:
"Súc thần hợp nhất."
Tôi hỏi:
"Còn sự quán tưởng?"
Kim Mẫu đáp:
"Là giữ thần."

Tôi phát hiện ra, tôi hỏi thế nào thì Kim Mẫu đều có đáp án. Ngay cả đến pháp Song thân của Mật giáo vô thượng mật pháp thì trong Đạo gia cũng có thuật Tài tiếp. Tôi thật sự ồ lên cảm thán, thật bất khả tư nghì.
Phật pháp có chú âm, có thủ ấn, có quán tưởng, có thiền định thì trong Đạo pháp cũng có. Phật pháp và Đạo pháp có thể cùng bổ trợ cho nhau.


### 33. Thình lình một tiếng sấm


Theo tôi được biết:
Ở một địa phương nọ có đám quỷ tụ tập bàn bạc một việc đại sự, việc đại sự mà chúng bàn luận chính là:
"Làm sao để tiêu diệt Lư Sư Tôn!"

Cuộc thảo luận diễn ra tưng bừng sôi nổi, loài quỷ nào cũng phát biểu ý kiến. Bọn chúng nói:
"Lư Sư Tôn sỉ nhục quỷ chúng, trên pháp tọa công khai khiêu chiến với loài quỷ. Nói rằng đừng có tìm đến các thiện đệ tử của lão, muốn tìm thì hãy tìm đến Lư Sư Tôn, nói thẳng ra là coi thường loài quỷ chúng ta."
Đám quỷ hét lớn:
"Bắt lấy lão!"
"Giết chết lão!"
"Cho lão đi đời!"

Một đám quỷ khác nói:
"Lần trước, Ngũ Đại Quỷ đã dẫn dắt thiên quân vạn mã xông thẳng đến Nam Sơn Nhã Xá, nhưng đã bị Hộ pháp của lão là Bất Động Minh Vương, Đại Lực Kim Cang giết sạch chẳng còn chừa lại một mảnh áo giáp, máu chảy thành sông, toàn quân thảm bại!"
Lại có một con quỷ nói:
"Ngoài cửa có hai thần Sư Tử đã nhai gọn không ít anh em ta rồi!"
Còn nói thêm:
"Phòng ở của lão đều có Diêu Trì Kim Mẫu kiết giới, lục đinh lục giáp thần binh thần tướng đều ở đó!"
Lại nói:
"Bất Động Minh Vương rất khó đối phó."
Còn nữa:
"Bầy quỷ nào cũng một đi không trở lại!"

Đúng vào lúc chúng chẳng thể tìm ra giải pháp nào thì có một con quỷ lớn hét lên một tiếng:
"Đừng có đề cao khí thế của người ta nữa, chỉ tổ làm suy giảm uy phong của bản thân. Ta, Thôn Phệ Đại Vương Ẩn Thân Quỷ sẽ đi tìm Lư Sư Tôn!"
Chúng quỷ hoan hô.
Bởi Thôn Phệ Đại Vương Ẩn Thân Quỷ tiếng tăm lẫy lừng ở địa phương đó, nó biết ẩn thân, quỷ thần thông thường đều không nhìn thấy. Răng nó sắc như răng cá mập, trắng ơn ởn chìa ra ngoài, đã ăn tươi nuốt gọn không ít chúng sinh.

Đám quỷ nói:
"Thôn Phệ Đại Vương Ẩn Thân Quỷ một khi đã xuất chinh thì sẽ khải hoàn trở về. Hắn có thể hóa thân thành không khí, nhân lúc Lư Sư Tôn không chú ý sẽ ngoạm một phát mất đầu lão, nuốt gọn bộ não của Lư Sư Tôn."
Một con quỷ nói:
"Ẩn thân như không khí, lẻn vào trong thư phòng của lão, thư phòng của lão không có kiết giới, lại không có đàn thành, lợi dụng lúc lão đang viết sách ngoạm một phát vào phía sau đầu lão!"
"Quá hay!"
"Ăn sạch não thì lão cũng mất trí luôn!"
"Lư Sư Tôn chết chắc rồi!"
"Sỉ nhục loài quỷ chúng ta thì sẽ chẳng có kết cục tốt đẹp đâu!"
"Nghĩ đã thấy sướng!"
"Xem xem Lư Sư Tôn còn dám bắt nạt chúng ta nữa không!"

Thế rồi...
Một hôm, có người tặng tôi bức tượng một vị Hắc Phẫn Nộ Mẫu, tôi nghĩ tới nghĩ lui liền tiện tay đặt lên giá sách ở trong thư phòng.
(Diêu Trì Kim Mẫu cho tôi có một linh cảm.)
Hắc Phẫn Nộ Mẫu: toàn thân màu đen, ba mắt, hai cánh tay, tay trái cầm quyền trượng, tay phải giơ cao cầm đao sắt, hung ác vô cùng.

Nhanh như chớp mắt, con mắt thứ ba của Hắc Phẫn Nộ Mẫu vừa lóe lên là nhìn ngay ra Thôn Phệ Đại Vương Ẩn Thân Quỷ.  Đao sắt vung lên, một vệt ánh sáng trắng phóng ra.
Thình lình một tiếng sấm, âm thanh dữ dội đinh tai nhức óc.
Thôn Phệ Đại Vương Ẩn Thân Quỷ kia sớm đã hóa thành khí đen, thôi chết ta rồi! Ta xin nộp mạng đây!

Tôi nghe thấy tiếng sấm, cảm thấy kinh ngạc, quay ra nhìn sau lưng thì hóa ra là một con quỷ lớn. (đã bị tan thành trăm mảnh)
Cảm tạ Diêu Trì Kim Mẫu, cảm tạ Hắc Phẫn Nộ Mẫu!


### 34. Xem phong thủy trong mơ


Có đệ tử tên là Tố Tố gửi đến một phong bì thư, trong thư mô tả rõ mọi thứ trong nhà của cô. Tố Tố yêu cầu: Xin Lư Sư Tôn xem xét phong thủy của ngôi nhà mới của cô.
Tìm ra vị trí tài bảo.
Địa điểm an vị đàn thành.
Nơi để giường.
Thủy hỏa trong phòng bếp.
Trong ngoài cửa chính.
Vị trí của ngôi nhà mới có khiếm khuyết gì không.
Hàng xóm có ổn không.
Cửa sau có ổn không.
Hoàn cảnh xung quanh có ảnh hưởng gì không.
...

Tôi đọc thư xong lại xem bản vẽ nhà ở, cùng mấy tấm ảnh chụp, đầu óc tôi cũng mụ mị cả! Việc này chẳng khác gì bày binh bố trận trên giấy, gãi ngứa qua giày!
(Xem phong thủy tốt nhất là xem ngay tại hiện trường, xem phong thủy qua bản vẽ thì chỉ một sự sơ xuất là sẽ có sai sót.)
Thế nên, tôi nói với đệ tử Tố Tố:
"Tôi sẽ đích thân đến nhà cô xem phong thủy!"
Tố Tố nói:
"Sao có thể đến được chứ?" (Nhà của Tố Tố ở đất nước khác.)
Lư Sư Tôn tôi nói, có thể là có thể, chỉ cần cô đồng ý thì tôi sẽ làm được.
Tôi hẹn một tuần sau, trong giấc mơ của Tố Tố, tôi sẽ đến tận nhà cô, cô vô cùng vui mừng.

Lư Sư Tôn đích thân đến ngôi nhà mới của cô để xem phong thủy:
Vị trí đặt ngôi nhà rất đẹp.
Phía sau có điểm tựa.
Trước mặt có ao nhỏ. (hồ)
Bên trái phải có đường bao.
Trong ao có hình phản chiếu. (hòn non bộ)
Tôi còn nói:
Vị trí sinh tài bảo ở phòng khách, là nơi tàng phong tụ khí.
Vị trí đặt đàn thành có hướng tiếp đón thủy thần.
Phòng bếp thì phạm vào đường tình duyên, tôi sẽ thay đổi lại.  (thủy hỏa cùng giúp)
Khí ở nơi đặt giường ngủ không nhanh không chậm, không thẳng với cửa.
Ngoài cổng có cây to, trên đó viết chữ "cho tôi phát tài".
Hàng xóm rất tốt.
Cửa sau có núi lớn ở rất gần, có thể đặt sơn hải trấn, giữ cho núi sông bình an, sẽ không bị người khác làm ảnh hưởng gì đến ta.
Hướng nhà không xung phạm với nhà khác.
Trong giấc mơ, tôi lần lượt giải thích với Tố Tố rất cụ thể rõ ràng.

Tố Tố tỉnh giấc, kinh ngạc và vui sướng bội phần. Cô ghi nhớ rất rõ ràng Lư Sư Tôn đã đích thân đến nhà cô trong giấc mơ như thế nào. Sư Tôn chỉ ra tường tận mọi thứ, hoàn toàn không bỏ sót điều gì.
Tố Tố cũng nhớ rất rõ ràng. Cuối cùng cô đã thấy rõ Lư Sư Tôn cũng có thể xem phong thủy trong giấc mơ.
Thật bất khả tư nghì!

Tôi có thể xuất linh hồn ra khỏi lỗ trên đỉnh đầu.
Tôi có thể hóa thân bên ngoài thân! Hóa thành mười người, trăm người, nghìn người….
Tôi có thể đến trong một suy nghĩ.
Tôi có thể duy thức "duy tâm cảnh vô".
Tôi có thể "minh không vô biệt".
Tôi có thể hợp nhất tự tâm và hư không (tính Không). Trung quán.

Diêu Trì Kim Mẫu đã dạy tôi những pháp này: Duy thức, trung quán, quảng hành, thâm kiến.
Diêu Trì Kim Mẫu đã dạy tôi những phương pháp thuận lợi cho việc cứu độ chúng sinh.
Thần toán và phong thủy.
Thật sự là rất vĩ đại!


### 35. Phát công gia trì lực


Ngày 13 tháng 9 năm 2020.
Tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự diễn ra pháp hội Hộ Ma Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang.
Dưới sự gia trì của chú lực:
"Ôm pê-cha chua-ta ma-ha sê xi-li ha-ru-ka hùm pây."
Hai tay tôi hướng lên trên, hướng xuống dưới, hướng sang trái, hướng sang phải, hướng ra bốn xung quanh, vẽ ra một vòng tròn dòng chảy pháp.

Đối với tín chúng có mặt tại pháp hội và tín chúng xem qua mạng, tín chúng ở khắp các đất nước trên thế giới, tôi đều phóng ra những dòng chảy pháp và dòng chảy tâm. Tôi hy vọng rằng khi làm như vậy, lực gia trì do tôi phát công có thể hợp nhất cùng với đệ tử của tôi, để có thể tạo nên tổ hợp hoán vị trên thân thể và tâm linh của các đệ tử.
Có bệnh trừ bệnh.
Không bệnh khỏe thân.
Tâm linh đoan chính.
Không gặp phiền nhiễu.

Những pháp hội của tôi khi phát huy công lực thì sức mạnh gia trì luôn luôn tạo ra kỳ tích.
Tôi có mấy chuyện để chứng minh như sau:
Pháp hội tại sân vận động Đại Túc ở Hồng Kông làm lễ Hộ Ma Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Bầu trời đêm hiện lên hai vệt ánh sáng đỏ. Chư tôn xuất hiện trong ánh sáng đỏ.
Cháu trai của Thượng sư Liên Mãn trên đầu có mọc một khối u to, sau khi được gia trì thì ngày hôm sau khối u đã biến mất.
Còn có một đệ tử nhỏ tuổi suốt ba năm phải ngồi xe lăn, sau khi được gia trì thì bất ngờ đã đứng dậy khỏi xe lăn và chạy khắp nơi.
...

Còn nữa:
Pháp hội Thời Luân Kim Cang tại Jakarta ở Indonesia.
Thời Luân Kim Cang hiển hiện, mặt đối mặt với Lư Sư Tôn. (vô cùng rõ ràng)
Lúc quán đảnh, có một gia đình cũng đưa một bệnh nhân đang cắm ống tiêm, đặt ống thở và nằm trên giường truyền nước của bệnh viện đến pháp hội. Bệnh nhân nằm liệt trên giường bệnh đã nhiều tháng, không thể ngồi dậy được. Khi đi qua tràng phan quán đảnh, không ngờ bệnh nhân đã ngồi dậy được, hơn nữa còn bước xuống giường đi lại. Tất cả những người có mặt ở hội trường đều trông thấy. Đúng là chuyện chưa từng có.
...

Còn nữa:
Pháp hội Bạch Liên Hoa Vương ở Hồng Kông.
Bạch Liên Hoa Vương là vị quốc vương đời thứ hai của vương quốc Shambhala, vị quốc vương đầu tiên là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. Khi quán đảnh đã xuất hiện kỳ tích:
Người bị câm nhiều năm bỗng mở miệng nói được.
Người bị mù nhiều năm bỗng lại nhìn thấy được.
Đúng là chuyện chưa từng có.
...

Còn nữa:
Đại pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang tại quảng trường Trung Chính Kỷ Niệm Đường ở Đài Loan. [Đài tưởng niệm quốc gia Tưởng Giới Thạch]
Tôi niệm chú âm để phát công lực.
Có đệ tử bị dị tật các ngón tay dính vào nhau, không thể xòe ngón tay ra được, lực gia trì vừa phát ra thì các ngón tay đã tách ra khỏi nhau.
Người có khối u ung thư thì biến mất.
Còn có cả người bị bệnh mãn tính nhiều năm, đột ngột khỏi bệnh.
...

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người rằng:
Tôi và Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn tương ứng. Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn pháp lực vô biên.
Tương ứng với một vị thì sẽ tương ứng với mọi vị.
Trong các pháp hội của tôi, chư Tôn đều hạ giáng, xuất hiện những kỳ tích như thế này cũng là điều bình thường.


### 36. Kim Mẫu cũng nói về thiền cơ


Có một hôm, Diêu Trì Kim Mẫu hạ giáng, bất ngờ nói thiền cơ.
Kim Mẫu nói:
"Xin hỏi Lư Sư Tôn, cái gì là bồ đề? Cái gì là phiền não?"
Tôi nghe xong thì biết Kim Mẫu đang nói thiền ngữ.
Tôi đáp:
"Vốn là sự tĩnh lặng."
Kim Mẫu hỏi:
"Cái gì là sinh tử? Cái gì là niết bàn?"
Tôi đáp:
"Chẳng qua chỉ là giấc mơ ngày hôm qua."

Kim Mẫu hỏi:
"Lư Sư Tôn còn có mong cầu gì không?"
Tôi đáp:
"Chỉ là chim kêu thôi!"
Kim Mẫu hỏi:
"Lư Sư Tôn độ chúng sinh như thế nào?"
Tôi đáp:
"Sư Tử cao tiếng gầm!"

Kim Mẫu hỏi:
"Tại thế gian, Lư Sư Tôn tiến thoái ra sao?"
Tôi đáp:
"Hai chân ở dưới bụng."
Kim Mẫu hỏi:
"Thế nào gọi là một vị bất động?"
Tôi đáp:
"Nhìn Tây, ngó Đông, đi, ngồi, nằm, đứng.

Kim Mẫu hỏi:
"Lư Sư Tôn lên pháp tọa giảng pháp gì?"
Tôi đáp:
"Huyễn hoặc."
Kim Mẫu hỏi:
"Vì sao là huyễn hoặc?"
Tôi đáp:
"Chẳng thể nói được."

Kim Mẫu hỏi:
"Con được mà cũng chẳng được?"
Tôi đáp:
"Con mất mà cũng chẳng mất."
Kim Mẫu hỏi:
"Đó là gì?"
Tôi đáp:
"Nam bắc đông tây."
Kim Mẫu hỏi:
"Nam bắc đông tây có tác dụng gì?"
Tôi đáp:
"Dùng kim cương cứng chắc để đóng vào không khí."

Kim Mẫu hỏi:
"Tổ sư thiền tông có nói, tâm ấn chẳng dài chẳng ngắn, chẳng vuông chẳng tròn, chẳng trong chẳng ngoài, cũng chẳng ở giữa. Giờ ta hỏi Lư Sư Tôn, tâm ấn là hình dạng gì?"
Tôi đáp:
"Chẳng liên quan!"
Kim Mẫu hỏi:
"Tổ sư Thiền Tông nói: ta vốn đến Trung Thổ, truyền pháp cứu những chúng sinh mê lầm. Khi hoa nở năm cánh, kết quả tự nhiên thành. Lư Sư Tôn nghĩ sao?"
Tôi đáp:
"Vỗ tay cười ha ha!"
Kim Mẫu hỏi:
"Cười cái gì?"
Tôi đáp:
"Làm thừa quá mức cần thiết!"
Kim Mẫu và tôi nói chuyện thiền cơ, vô cùng vui vẻ!


### 37. Milarepa và vô thượng mật


Khi tiến sĩ Trương Trừng Cơ dịch cuốn "Milarepa đại sư toàn tập", tôi đọc thấy Milarepa cũng tu vô thượng mật. Đó là:

Ngày mồng 8 tháng Gà Lửa, vào lúc nửa đêm, trong cái am cỏ của Milarepa bỗng xuất hiện một vùng ánh sáng thù thắng rất lớn, hơn nữa còn tỏa ra một hương thơm đặc biệt.
Đó chính là sự xuất hiện của Tuyết Sơn Trường Thọ Ngũ Tiên Nữ, năm vị tiên nữ trang điểm lộng lẫy với ngọc ngà châu báu vô cùng diễm lệ.
Một tiên nữ cầm hương trầm.
Một tiên nữ cầm đồ ăn ngon.
Một tiên nữ cầm nhạc cụ.
Một tiên nữ cầm thiên y.
Một tiên nữa cầm hoa tiên.

Năm vị tiên nữ Trường Thọ Cát Tường dâng những cúng phẩm này để cúng dường Milarepa tôn giả. Thêm nữa, họ còn hát lên một khúc kệ thơ, tôi trích lại như sau:
*"Hỡi chí tôn mang đầy đủ các tướng quý của bậc Thượng sư
Ngài sinh ra với căn gốc đầy đủ sự an nhàn viên mãn.
...*

*Chuyên tâm nhất trí tu tập thiền quán.
Bỏ đi hết thảy tám ham muốn thế gian.
Giải thoát khỏi những ràng buộc cản trở của tam hữu.
Trở thành vị tu sĩ thật kì lạ hiếm có.*
[Tam hữu là ba cảnh có, nghĩa là ba cõi có chúng sinh, cảnh vật, nghiệp quả, nghiệp duyên, sinh tử, đồng nghĩa với tam giới: dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Chúng sinh luân hồi trong tam giới, cho rằng có tam giới, cho nên gọi là Tam hữu .]
...

*Chúng con năm chị em
Cùng nhau dâng lên khúc hát cúng dường ngài.
Hoa sen, vỏ ốc và dấu ấn
Cùng hình voi là bốn tướng Mẫu
Chị em chúng con mỗi người đều có đủ.
Xin ngài hãy ban gia trì ấn Karma.*
...

(Bài thơ này rất dài, tôi chỉ trích ra một đoạn, vì Milarepa tu khí-mạch-minh điểm rất thù thắng, khiến cho Ngũ Tiên Nữ Cát Tường Trường Thọ đặc biệt đến để cầu Milarepa song vận gia trì vô thượng mật.)

Hơn nữa, năm vị tiên nữ này đều mang đầy đủ các tướng của vị "minh phi".

1. Hoa sen.
2. Vỏ ốc.
3. Dấu ấn.
4. Hình voi.

Milarepa biết được thỉnh cầu của Ngũ Tiên Nữ Cát Tường Trường Thọ, ngài cũng hát lên một bài đạo ca, tôi xin trích như sau:
*Với truyền thừa Naropa thù thắng
Ta nhờ khí mạch đắc tự tại
Trong tất cả nghìn vạn cúng dường
Ấn Karma là thù thắng nhất.
...*

*Khi phương tiện và trí huệ giao hòa kết hợp
Cả hai tan chảy cống hiến cho đại lạc.
Bốn cực lạc cũng như bốn khoảnh khắc
Cũng tức là thể tính của bốn thân.
...*

*Nắm chắc lấy con đường thành đạo nhanh chóng
Theo đó mà chăm chỉ hành trì
Chắc chắn các nàng sẽ đắc được giải thoát
Ta cũng ở lại trong cõi vô sinh.*
...

Tôi (Lư Sư Tôn) nhân đây cũng giải thích rằng:

1. Milarepa là một thành tựu giả tu trì khí-mạch-minh điểm, đã chuẩn bị đầy đủ "kham năng”.
2. Ngũ Tiên Nữ Cát Tường Trường Thọ có đầy đủ bốn tướng tốt đẹp là "hoa sen, vỏ ốc, dấu ấn, hình voi", cũng tức là những biểu tượng của một vị minh phi.
3. Đôi bên kết hợp, có thể thông trung mạch, nâng lên hạ xuống, mở năm luân xa, phóng quang, đạt được thành tựu tối cao của Mật giáo.
4. Đây là một pháp tu hành, không phải là tà dâm.
5. Tiếc thay! Người thế tục chỉ toàn phỉ báng, tuy nhiên, thực tế chắc chắn sẽ có rất nhiều người mắc bệnh và ô nhiễm, bởi vì trong vạn người cũng chẳng thể tìm được một người đủ phẩm chất để tu hành pháp này.
Tôi nói: "Mọi pháp là tự nhiên."


### 38. Bài kiểm tra trong mơ


Diêu Trì Kim Mẫu biết tôi là "kham năng giả", [kham năng giả: người có khả năng chịu được, gánh vác được các sự khổ của cõi thế gian mà không thực sự bị dính mắc] cũng biết tôi đã là "người thông đạt", nên gần đây có cho tôi một bài kiểm tra như sau:

Thứ nhất:
Trong mơ, tôi trở về nhà cũ ở thành phố Cao Hùng: "Căn nhà số 77 đường Lâm Sâm quận Tân Hưng thành phố Cao Hùng."
(Căn nhà này hiện tại không còn tồn tại, đã bị gỡ bỏ. Tên đường cũng đã thay đổi, nó là con đường ở phía trước chợ cảng Đại Cảng.)
Tôi bước vào trong nhà.
Cha mẹ, anh chị em tôi không ngờ đã qua đời hết rồi. Cả nhà chỉ còn lại mỗi mình tôi. Tôi nghĩ:
"Sống chết có số, giàu sang tại trời."
Tôi không đau lòng. (Bởi vì chẳng có ai là sẽ không chết.)
Tôi dùng Mật pháp của mình để siêu độ cho họ.
Thế rồi tôi tỉnh dậy.

Thứ hai:
Trong mơ, tôi rơi xuống một hang động, bên trong có trăm nghìn con rắn, bọn chúng quấn lấy toàn thân tôi.
Bình sinh tôi sợ nhất là rắn. Những con rắn này bắt đầu cắn tôi.
Lúc này, tôi bất ngờ không sợ nữa. Tôi thấy da thịt chính mình bị cắn dứt ra từng mảng từng mảng. Tôi cũng không oán hận chúng.
Tôi nghĩ:
"Lũ rắn đói, đương nhiên sẽ ăn thịt tôi."
Thế rồi tôi tỉnh dậy.

Thứ ba:
Trong mơ, tôi về đến nhà tôi ở Mỹ.
Vừa vào nhà thì… ôi thảm rồi! Trong nhà bị lật tung mọi thứ như một đống rác. (Tất cả mọi thứ đều bị lục tung.)
Két sắt cũng bị mở tung! Bên trong trống rỗng!
Tôi trở thành người trắng tay. Vàng bạc, hồng ngọc bích ngọc, đồng hồ đắt tiền… Tất cả đều bị trộm sạch.
Tôi nghĩ: khi tôi đến nhân gian là hoàn toàn tay trắng, khi rời khỏi nhân gian cũng tay trắng ra đi, vốn dĩ chẳng thể đem theo một vật gì, chẳng phải thế sao?
Thế nên tôi cũng thản nhiên!
Cuối cùng thì tỉnh giấc.

Thứ tư:
Trong mơ, tôi nằm ngủ trên giường.
Đột nhiên tỉnh dậy, nhìn thấy ở cửa phòng mình có một cô gái khoảng 18 tuổi, là một mĩ nhân xinh đẹp rạng ngời.
Cô mặc bộ quần áo bằng vải lưới màu trắng xuyên thấu, tôi nhìn thấy rõ cơ thể cô, bộ ngực nhô cao, eo thon nhỏ, cái mông cong, cặp đùi trắng, đôi mắt quyến rũ khẽ cười, khiến người ta chẳng thể kháng cự. Cô ta tìm mọi cách để mê hoặc tôi.
Đương nhiên tôi biết tôi là "kham năng giả".
Cô gái xinh đẹp này lai lịch không rõ ràng, tôi cũng chẳng bị tác động bởi cô ta. Với tôi thì sự có mặt của cô ta ở đây cũng thế mà không ở đây cũng thế.
Thế rồi tôi tỉnh giấc.

Thứ năm:
Trong mơ, tôi đi gặp một vị Hoàng Đế.
Hoàng Đế ban cho tôi làm Quốc sư, ngoài ra còn giao cho tôi quản lý việc Phật giáo trong thiên hạ.
Ban cho tôi y phục đẹp đẽ.
Ban cho tôi thức ăn ngon.
Ban cho tôi cung điện, thất trân bát bảo.
Ban cho tôi 108 thị nữ, cô nào cũng xinh đẹp như tiên trên trời.
Giường ngủ của tôi được nạm ngọc lục bảo, ấm áp và thơm tho.
Tôi được hưởng thụ những điều vinh hoa phú quý nhất của nhân gian.
Nhưng ngày qua ngày, cuộc sống trở nên nhàm chán, lâu ngày chẳng còn chút hứng thú nào.
Tôi từ chức, muốn trở về núi rừng, Hoàng Đế nổi cơn phẫn nộ, muốn chặt đầu tôi để thị uy dân chúng.
Trong mơ, tôi thở dài nói:
"Vinh hoa phú quý chỉ như một giấc mộng mà thôi!"
Thế rồi tôi tỉnh dậy.

Diêu Trì Kim Mẫu nói với tôi:
"Đây là bài kiểm tra con trong mơ, vừa đủ qua bài, cho con 80 điểm, thi đỗ."


### 39. Biết đời như mộng vô sở cầu


Tu hành đến một giai đoạn, tôi có một câu nói trở thành châm ngôn của mình, câu nói đó là:
"Biết đời như mộng vô sở cầu."
(Bài "Mộng thơ" của Vương An Thạch.)

Tôi thể nghiệm được rằng:
Mỗi người đều sẽ chết.
Chết rồi thì tất cả mọi sự đời đều chẳng còn, hoàn cảnh cũng chẳng còn. Tám ham muốn thế gian cũng chẳng còn.
Nhà cửa.
Xe cộ.
Tiền bạc.
Vàng bạc châu báu.
Tất cả đều chẳng còn gì!
Ha ha ha! Thật sảng khoái!

Hơn nữa:
Có người chửi tôi, phỉ báng tôi, tôi xem như gió thổi qua tai, chẳng hề bị tác động. Giờ đây, người chửi tôi, người lăng mạ tôi đã quy tiên trước cả tôi rồi!
Tôi cười cười nói:
Ai chà! Sao lại đi sớm thế? Phải là tôi đi trước mới đúng chứ!

Còn nữa:
Đệ tử của tôi đã chạy xa rồi! Mang theo cả chùa, đường, hội cao chạy xa bay rồi.
Mang theo mọi thứ cao chạy xa bay thì cũng chẳng sao.
Còn những ác ngôn ném thẳng vào mặt tôi thì tôi cũng chẳng bồn chồn.
Đó chẳng qua chỉ là những vở kịch thường diễn trong cuộc đời: "Lừa thầy diệt tổ."
Ai chà! Thật sảng khoái!

Còn nữa:
Bất kể là Lôi Tạng Tự có to thế nào.
Bất kể là đệ tử có nhiều bao nhiêu.
Bất kể là Chân Phật Tông đứng vững ra sao.
Thành, trụ, hoại, không.
Sau này, quá khứ, hiện tại.
Tu thành, tu bất thành, có tu, không tu, mấy người thành tựu, mấy người sa đọa.
...

Những thứ này đều là chuyện vặt vãnh!

Còn nữa:
Nghe nói, trái đất ấm lên, ấm lên thì ấm lên thôi!
Nghe nói, bệnh dịch đến rồi, đến rồi thì đến thôi!
Nghe nói, cường quốc đối địch nhau, đối địch thì đối địch thôi!
Nghe nói, nạn đói xảy ra, đói thì đói thôi!
Có sợ không? Sợ cái cóc khô!

Còn nữa:
Muốn thành tiên cần xây dựng ba nghìn công lao. Muốn thành tiên cần xây dựng tám trăm công đức.
Điều này ấy à? Tôi chẳng cần miễn cưỡng bản thân bám chấp vào việc thành tựu, bán mạng mà tìm cách thành tựu.
Tôi chỉ là cứ tự nhiên mà làm.
Thành tiên? Thành người? Thành quỷ?
Ha ha! Tôi giữ bổn phận, còn lại mặc kệ nó đến đâu thì đến!

Còn nữa:
Tôi rất kinh ngạc khi suy nghĩ của tôi đã trở thành như thế này, tôi không có một chút áp lực nào.
Chẳng có việc lớn gì, chẳng có việc nhỏ gì, tất cả đều vô sự.
Biết đời như mộng!
Tất cả đều mặc xác nó đi!


### 40. Tôi thích Trương Bá Đoan


Tôi đọc thơ Tống, đọc đến những bài thơ của Trương Bá Đoan, cảm thấy ý cảnh thật sâu xa. Tôi càng đọc càng thích. Ông không chỉ có tư tưởng của Đạo gia mà còn có cả tư tưởng của Phật giáo.

Ông phê bình những đạo sĩ giả:
*"Chẳng phân biệt được ngũ hành tứ gia,
Chỉ nhận ra thủy ngân, chì, bạc.
Tu đan hỏa được hay không vẫn chẳng hề hay biết,
Từ lâu đã tự xưng ẩn cư,
Mà chẳng biết bản thân đã sai lầm.
Lại còn dạy người khác đi sai đường,
Hại người ta vĩnh viễn lạc trong mê cung.
Tựa như tự lừa tâm mình rằng ta an bình và kiên nhẫn."*

Trương Bá Đoan cũng biết về pháp Song thân:
*Ngưu Lang Chức Nữ tình duyên hợp đạo.
Phục Hy - Nữ Oa gắn bó, lẽ tự nhiên.
Nhật với nguyệt thuyền quyên quấn quýt.
Hai khí ấy luôn cùng nhau vận chuyển.
Đó vốn chính là vũ trụ diệu kì.
Nào ai hiểu được sự uyên thâm ấy.
Nếu âm và dương đặt thành tách biệt.
Làm sao thành tựu được vị thần tiên.*

(Trương Bá Đoan nói, đây vốn là pháp môn hai khí cùng nhau vận chuyển, nhưng có ai có thể đạt tới cảnh giới như vậy đây? Ông khuyên thế nhân đừng tạo nên tội lỗi.)

Bài thơ đầu phê phán những kẻ giả vờ làm đạo nhân để truyền đạo, trên thực tế là hại người hại mình.
Bài thơ sau là những kẻ chưa đạt đến “kham năng” [năng lực tu hành rất cao] nhưng vẫn dùng cách này để lợi dụng người thì nghiệp chướng gây nên sẽ rất nặng.

Còn nữa:
Tôi thích những trải nghiệm của Trương Bá Đoan. Ở Tứ Xuyên ông đã gặp gỡ Lưu Hải Thiềm, nhận được chân truyền.
Có thiền sư tu định, có thể xuất thần đi đó đây. Thế là, hai người cùng thiền định, hẹn cùng đến Dương Châu thưởng hoa.

Lần thiền định này, nguyên thần thoát ra từ lỗ đỉnh đầu. Thiền sư đến trước. Trương Bá Đoan đến sau.
(Quả nhiên thiền sư có công lực thiền định thâm hậu.)
Trương Bá Đoan nói:
"Sao không hái một bông hoa về làm kỉ niệm nhỉ?"
Thế là mỗi người đều hái một bông hoa rồi đi.

Hai người ở trong căn phòng yên tĩnh đồng thời mở mắt. Trương Bá Đoan hỏi thiền sư:
"Hoa của ông đâu?"
Hai tay thiền sư trống không, chẳng có hoa.
Còn Trương Bá Đoan lấy ra từ ống tay áo hai đóa hoa quỳnh. Một đóa đưa cho thiền sư. Vì sao lại như vậy chứ?

Về sau, có người hỏi Trương Bá Đoan:
"Vì sao trong tay thiền sư chẳng có hoa?"
Trương Bá Đoan đáp:
"Tôi là người tu tính cũng tu mệnh, bởi vì tụ thì thành hình, tan thì thành khí, do vậy, tôi có thể xuất thần đi hái hoa. Nhưng thiền sư thì chỉ tu tính mà không tu mệnh, do vậy ông ấy có thể xuất thần, nhưng không thể thành hình, bởi thế nên không thể hái hoa."

Trong bữa yến tiệc Diêu Trì thần tiên, tôi đã gặp Trương Bá Đoan.
Tôi hỏi Bá Đoan:
"Hiện giờ ở nơi nào?"
Bá Đoan đáp:
"Thoắt ẩn thoắt hiện."
Tôi hỏi:
"Tu Phật hay tu Đạo?"
Bá Đoan đáp:
"Phật hay Đạo cũng chẳng có gì khác."
Câu trả lời của Trương Bá Đoan khiến tôi được khai sáng rất nhiều, hóa ra là cả hai con đường đều quy về một mối.


### 41. Tư tưởng Phật học của Trương Bá Đoan


Kinh Kim Cang có ba bài kệ:
*Tất cả pháp hữu vi,
Như mộng huyễn bào ảnh,
Như sương cũng như điện,
Nên quán chiếu như vậy.*

Còn nữa:
*Vô ngã tướng.
Vô nhân tướng.
Vô chúng sinh tướng.
Vô thọ giả tướng.*

Còn nữa:
*Như Lai nói mọi Tâm đều cũng chẳng phải là tâm, chỉ mượn danh từ mà gọi là Tâm, do vậy, hỡi Tu Bồ Đề, tâm quá khứ không thể nắm bắt, tâm hiện tại không thể nắm bắt, tâm vị lai không thể nắm bắt*.

Chúng ta lại đọc những lời của Trương Bá Đoan:
*“Bắt được cá thỏ trong tay
Có thể bỏ nơm và lưới.
Đã chở được người tới bến
Bè kia cũng chẳng còn cần.*

Chưa ngộ thì vẫn cần dựa vào lời nói, ngộ rồi thì lời nói cũng chẳng còn cần.
Mặc dù những câu trên đều đã là vô vi, hà cớ gì lại cần phải bỏ phương tiện đi [sau khi đạt được mục đích]?

Bài thơ này nói về: Hữu vi. Vô vi.
Tuy nhiên, Trương Bá Đoan chủ trương "hữu vô dung hợp", tương tự như tư tưởng Trung quán của Long Thụ Bồ Tát.

Trương Bá Đoan còn có những lời thơ:

[Tâm như] con trâu sắt, hình dạng xấu xí, tính ương ngạnh thích tranh giành. Mọi người đều có [con trâu này], vật vã cưỡi nó mà đi.

Gieo mầm vàng khắp vườn, đợi tới khi vừa có thể dùng được, dùng thần thủy tưới nước. Trong cung nếu không có thú vật, sẽ an bình như trẻ sơ sinh.

Sự động tĩnh của càn khôn trời đất, sinh ra lớn lên, cuộc sống gia đình, toàn bộ đều là nhờ chỗ đó. Đói ăn tủy hổ, khát uống nước thủy ngân, nửa đêm đánh xe đi vào trong lửa, [lúc đó] ánh sáng rực rỡ sắc màu sẽ tỏa ra, đáy biển dậy sóng huy hoàng.
Thằng bé cười.
Yến tiệc bên hồ hoa kết thúc.
Trở về theo ánh trăng sáng."

Tôi nói: những câu từ này khá khó hiểu.
Nhưng tôi hiểu được chúng. Cái nói đến trong những câu từ này là "tâm".
Trương Bá Đoan gọi "tâm" là "thú vật".
Rồi lại điều phục tâm thành "trẻ sơ sinh".
Tiếp theo đó là những hương vị của Mật giáo.
Thủy thần.
Chuyết hỏa.
Ánh sáng rực rỡ sắc màu tỏa ra, đáy biển dậy sóng huy hoàng.
Còn đối với vấn đề tâm quá khứ không thể nắm bắt, tâm hiện tại không thể nắm bắt, tâm vị lai không thể nắm bắt, thì cũng chính là thằng bé cười, yến tiệc bên hồ hoa, trở về theo ánh trăng.

Tôi nói:
"Hay! Hay! Hay!"
Tôi hỏi Trương Bá Đoan:
"Chứng quả khi nào?"
Trương Bá Đoan đáp:
"Không dính mắc chút nghiệp chướng."
Tôi hỏi:
"Phật tính là gì?"
Trương Bá Đoan đáp:
"Quên hết!"
Tôi hỏi:
"Tu hành là gì?"
Trương Bá Đoan đáp:
"Là cái bè!"
(Mọi pháp vốn dĩ là chẳng có pháp nào.)
Tôi hỏi:
"Chân đế của chúng thiện phụng hành là gì?"
Trương Bá Đoan đáp:
"Vô sinh pháp nhẫn."
Câu trả lời của Trương Bá Đoan chính là những lời của một bậc Như Lai Chính Trí, được gọi là Vô thượng thượng chú, chính đẳng chính giác.


### 42. Mã Ngọc và Tôn Bất Nhị


Lúc tôi ở Bắc Kinh, tôi đã đến Bạch Vân Quán, đó là đạo quán của Toàn Chân Giáo.
Tôi đọc tiểu thuyết võ hiệp, biết được danh hiệu của Toàn Chân Thất Tử.
Ở đạo quán tại Hồng Kông, tôi đã trông thấy tượng kim thân của Vương Trọng Dương và Khâu Trường Xuân. (Toàn Chân Giáo là do Vương Trọng Dương sáng lập.)

Tôi kể cho mọi người biết:
"Trong bữa yến tiệc tại Diêu Trì tiên cảnh, tôi thật sự đã gặp Mã Ngọc và Tôn Bất Nhị. Đó là hai trong số bảy nhân vật của Toàn Chân Thất Tử, giờ đây họ đã thành Tiên rồi."
Mã Ngọc và Tôn Bất Nhị đều sống vào thời đại Kim Triều, cùng là người Ninh Hải.

Vương Trọng Dương đã độ hóa Mã Ngọc như thế nào?
Vương Trọng Dương từ núi Chung Nam đến độ hóa Mã Ngọc. Mã Ngọc hỏi:
"Tiên sinh từ đâu đến?"
Trọng Dương đáp:
"Ta không quản đường xa nghìn dặm mà đặc biệt đến đây để giúp những người trong cơn say trở về."
Mã Ngọc lúc này mới nhớ ra, ngày xưa ông từng làm thơ, có một câu rằng:
"Trong cơn say vẫn có người trợ giúp."
Vương Trọng Dương nói một câu đã trúng đích. Mã Ngọc rất tin tưởng và nể phục, bái Vương Trọng Dương làm thầy.
Trọng Dương tiên sinh sống tại nhà Mã Ngọc, dạy cho Mã Ngọc rất nhiều đạo pháp, cuối cùng đã đưa Mã Ngọc trở về hang động trên núi Côn Lôn mù sương để tu hành.

Mã Ngọc và Tôn Bất Nhị là vợ chồng. Hai người xa cách nhau 20 năm. Khi Trọng Dương tiên sinh sống tại nhà Mã Ngọc đã xảy ra một sự việc vô cùng thú vị. Tôn Bất Nhị đang ngủ trong phòng mình, bỗng nhiên thấy Trọng Dương tiên sinh nằm ngủ bên cạnh. Tôn Bất Nhị tức giận, bèn khóa chặt cửa phòng lại, sau đó bỏ sang thư phòng kể với Mã Ngọc, nhưng lại thấy Mã Ngọc và Vương Trọng Dương đang ở thư phòng luận đạo.
Mã Ngọc nói:
"Trọng Dương tiên sinh chẳng rời khỏi đây dù chỉ một phút."
Ba người vội vàng đến phòng của Tôn Bất Nhị, mở cửa ra, trong phòng chẳng hề có Vương Trọng Dương tiên sinh nào.
Bởi thế, Mã Ngọc và Tôn Bất Nhị tôn kính Vương Trọng Dương như thần linh.

Cuối cùng:
Mã Ngọc đã đi tu hành trong hang động trên đỉnh núi Côn Lôn mù sương.
Tôn Bất Nhị ở lại am Toàn Chân tu hành.
Cuối cùng hai người đều đắc đạo.

Mã Ngọc để lại một bài kệ:
*"Sáu mươi mốt tuổi đời.
Tại thế chẳng ai biết.
Một tiếng thét như sấm.
Mênh mang theo gió bay."*

Tôn Bất Nhị để lại một bài kệ:
*"Đủ ba nghìn công lực vượt khỏi tam giới.
Nhảy thoát ra khỏi cái vỏ bọc âm dương.
Tung hoành ngang dọc tự do ẩn hiện.
Hồn say chẳng về Ninh Hải quê xưa."*
(Trước khi đi, Tôn Bất Nhị nói với những người ở nhà rằng, bà muốn đến Diêu Trì Tiên Cảnh.)

Chính vì thế mà ở yến tiệc Diêu Trì, tôi đã gặp Mã Ngọc và Tôn Bất Nhị.
Theo như tôi biết:
Mã Ngọc đã tu pháp đan đỉnh.
Tôn Bất Nhị tu pháp nữ đan.
Tôi hỏi Mã Ngọc và Tôn Bất Nhị:
"Pháp đan đỉnh có phải là pháp chuyết hỏa không? Pháp nữ đan có phải là pháp thủy thần không?"
Mã Ngọc đáp:
"Hai pháp khác nhau, nhưng kết quả đều là một."
Tôn Bất Nhị đáp:
"Thiên nhất thần thủy, kết đan, thấu quang."
Tôi phần nào hiểu được, có thể cùng tu Phật và Đạo để bổ trợ cho nhau!


### 43. Bài tụng Vô tướng


Cuốn sách "Thiên hạ đệ nhất linh" là cuốn văn tập thứ 281 mà tôi viết. Trong sách, những phần liên quan đến Diêu Trì Kim Mẫu rất nhiều. Bởi vậy, luật sư Châu Huệ Phương ở ban xuất bản Chân Phật Bát Nhã Tạng đã có một kiến nghị:
"Xin Lư Sư Tôn vẽ một bức pháp tướng Diêu Trì Kim Mẫu để cho lên bìa sách."
Tôi nghe xong, cười lớn ha ha ha!
Là vì tôi cho rằng kiến nghị của luật sư Châu Huệ Phương có nhãn quang độc đáo.
Tuy nhiên, tôi cũng hiểu rõ ràng rằng:
"Tất cả những gì có hình tướng đều thuộc về sự hư vọng."

Trên đời này có rất nhiều pháp tướng của Diêu Trì Kim Mẫu, hơn nữa trong những lời truyền miệng về Ngài thì Ngài có rất nhiều hình tướng. Có tướng Hổ thần phẫn nộ, có tướng Lão Mẫu, có tướng trung niên uy nghiêm, có tướng từ bi, có tướng tiên nữ...

Diêu Trì Kim Mẫu cũng có hình tướng vô cùng xinh đẹp, vẻ đẹp ấy không có câu từ nào mô tả được, cũng chẳng thể vẽ được ra, có thể nói là vẻ đẹp tuyệt thế.
Nghiêm túc mà nói: "Thiên hạ đệ nhất linh" như Ngài chỉ là kim quang vô lượng, về căn bản là không có hình tướng.
Tôi còn nói, năm xưa, tôi đã đến thiên thượng giới, đã gặp Liên Hoa Đồng Tử, Ngài cũng chỉ là một vầng ánh sáng trắng chói lọi mà thôi. Cũng là không có hình tướng.

Chúng ta đọc kinh Kim Cang, phẩm thứ 20 "Lìa sắc lìa tướng":

*Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Có thể dựa vào sắc thân đầy đủ mà thấy Phật không?"
"Không được, thưa Thế Tôn! Không nên dựa vào sắc thân đầy đủ mà thấy Như Lai. Là vì sao? Như Lai nói: mọi tướng đầy đủ tức chẳng đầy đủ, thì gọi là mọi tướng đầy đủ.*

Còn nữa:
Phẩm thứ 26 "Pháp thân phi tướng".

*Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Có thể dựa vào ba mươi hai tướng mà quán đó là Như Lai không?"
Tu Bồ Đề nói:
"Đúng thế! Đúng thế! Dựa vào ba mươi hai tướng mà quán Như Lai."
Phật nói:
"Tu Bồ Đề! Nếu dùng ba mươi hai tướng mà quán Như Lai thì Chuyển Luân Thánh Vương tức là Như Lai."
Tu Bồ Đề bạch Phật rằng:
"Thưa Thế Tôn! Theo con hiểu nghĩa Phật nói, không nên dựa vào ba mươi hai tướng mà quán Như Lai."
Khi ấy, Thế Tôn bèn nói bài kệ:
Nếu do sắc thấy ta
Do âm thanh cầu ta
Người ấy hành tà đạo
Không thể thấy Như Lai.*

Cá nhân tôi cho rằng hai phẩm này chủ yếu nói về sự vô tướng. Đây là bài tụng Vô tướng đệ nhất nghĩa.
Còn về thiên hạ đệ nhất linh Diêu Trì Kim Mẫu, đương nhiên Ngài cũng là vô tướng, không có hình tướng.
Liên Hoa Đồng Tử cũng là vô hình vô tướng, huống chi là Diêu Trì Kim Mẫu.

Còn vì sao nói Như Lai có 32 tướng? Quan Thế Âm có vô số biến hóa thân? Diêu Trì Kim Mẫu có bao nhiêu hình tướng? Liên Hoa Đồng Tử cũng như thế?
Câu trả lời rất đơn giản:
"Đó là vì chúng sinh trong thiên hạ mà hóa hiện ra như vậy."
Tất cả những hình tướng này vốn là hư huyễn.

Mật giáo có pháp tu tập "thiên sắc thân", đương nhiên, thiên sắc thân này cũng là biến huyễn mà ra.
Cá nhân tôi cho rằng:
Tu tính --- vô hình.
Tu mệnh --- hữu tướng.
Nhưng tướng này cũng là hư vọng.
Hiểu được đạo lý này mới không thấy mâu thuẫn tới mâu thuẫn lui, không khiến ta bị bối rối lẫn lộn.


### 44. Tuôn chảy từ tâm (1)


Một:
"Cảm ơn chàng đã gửi tặng lá phong, em thật lòng cảm thấy chiếc lá phong này thật đẹp.
Lá phân thành năm cánh! Những đường vân như đan!
Em cũng thật sự rất vui mừng, vui mừng đến nỗi ánh mắt sáng bừng lên.
Mặc dù lá còn chưa đỏ hết, nhưng thật sự là rất đẹp đó!
Em vui sướng tới mức muốn bay lên!
Em sẽ kẹp chiếc lá vào trong sách, gìn giữ nó! Gìn giữ nó!
Mỗi khi nhớ chàng sẽ lại lấy ra ngắm.
Em thật sự vô cùng hạnh phúc!"

Ta nói:
"Có giấc mơ thật đẹp! Sẽ có một ngày lá phong đỏ hết, hơn nữa còn đỏ thắm đỏ đượm.
Đặt lá phong ở trong tim nàng. Đặt lá phong ở trong tim ta.
Chờ đợi! Chờ đợi!
Không biết ai từng nói, càng chờ đợi càng yêu!"

Hai:
"Em thấy là em thường hỏi chàng "có thể nào đừng chia ly không", chàng luôn an ủi em rằng ta sắp gặp nhau rồi.
Thế là, em bất chợt nghĩ đến: liệu có thể nào em nói chuyện với bức pháp tướng thì chàng sẽ có thể nghe được pháp bảo chăng?
(Em nói chuyện với Liên Hoa Đồng Tử thì chàng sẽ nghe thấy.)
Nếu vậy thì thật tốt! Chúng ta mãi mãi ở bên nhau! Từ trước tới nay chưa từng chia ly! Dòng chảy từ tâm chàng đi vào tim em! Dòng chảy từ tâm em đi vào tim chàng!"

Ta nói:
*"Người có buồn vui tan hợp,
Trăng có tỏ mờ tròn khuyết,
Xưa nay vẫn khó vẹn toàn, (*)
*Dịp Tết Trung Thu năm nay,
Đành cùng ánh trăng trò chuyện.
Ta nói để nàng hay biết
Tu hành chính là nghĩ suy
Nghĩ suy mà chẳng suy nghĩ
Chẳng nghĩ mà là nghĩ suy.
Ý nghĩ gặp nhau,
Chính là vĩnh hằng!
Bấy lâu nay chúng ta chưa từng chia ly."*
[(*) ba câu đầu trích từ bài thơ Thủy điệu ca đầu - Trung Thu của Tô Thức.]

Ba:
"Em nói chàng nghe, em cảm thấy mình đã may mắn lắm rồi, em có thể bay đến Seattle gặp chàng, em thật sự là người may mắn nhất trên đời. Gặp được chàng thật vui! Mỗi ngày đều mong ngóng có thể nhìn thấy chàng.
Bên ngoài bức tường bao, phía trước cửa chùa, trong xe ô tô, cứ như thế đó, giấc mơ của em đều rất ngọt ngào.
Sau đó, ngày hôm sau, chúng ta gặp mặt lại cùng vẫy tay, đây chính là những mong ngóng của em!"

Ta nói:
"Chúng ta tu hành Mật giáo, cần đặt Căn bản Thượng sư trên đỉnh đầu, mỗi ngày cần nhớ về Căn bản Thượng sư ba lần: sáng sớm, giữa trưa, chiều tối. Đây là pháp môn tu hành Thượng sư tương ứng tốt nhất. Pháp Bổn tôn cũng vậy.
Ta nói:
Ta hòa nhập vào nàng,
Nàng hòa nhập vào ta,
Ta ở nơi nào thì nàng ở nơi đó!"


### 45. Tuôn chảy từ tâm (2)


Bốn:
"Chàng có biết vì sao có một lần em hỏi chàng, liệu chàng có giống như Tổ sư Đạt Ma, đổi lấy một thân phận khác rồi đi đến Tây Tạng? Kì thực đó là một ý nghĩ bất chợt của em! Nếu chàng làm như vậy thì em có thể đến bên đó trước để đợi chàng.
Chàng còn nhớ chàng từng khai thị về cửa núi dẫn đến vùng Tuyết Sơn đó không? Khi đó em nghĩ trong lòng: có người con gái đang đợi người con trai mà cô yêu thương trở về. Em biết nơi đó từng là nhà của chúng ta."

Ta nói:
"Tổ sư Đạt Ma sau khi viên tịch ở Trung Thổ, đã đổi sang một thân phận khác, trở về Ấn Độ, rồi lại đến Tây Tạng. Ở Tây Tạng, tên gọi của Ngài là Dampa Sangye. Ngài đã truyền dạy pháp Xả thân cho Mã Cát Lạp Tôn, sáng lập ra phái Giác Vũ.
Ta cũng nói để nàng biết: ta đã ở Tây Tạng rất nhiều kiếp……….
Trong đó có một kiếp ta là Mipham Rinpoche, ta là khenpo của Dung Giới Tự. Khi ta còn trẻ, ta đã từng quen nàng rồi.
Nàng chính là Trác Mã của ta. [Trác Mã - Dolma, là cách xưng hô của người Tây Tạng, ý nghĩa là Độ Mẫu.]
Sau đó, chúng ta đã thề nguyện rằng "Mãi mãi bên nhau!".
Ta đã làm được rồi!
Nàng hóa thân thành Kachangka của ta.
Ta vĩnh viễn giữ chặt Kachangka của ta, độ hóa tín chúng của ta.
Đây là một câu chuyện thật buồn thương!

Bản tình ca của Dalai Lama thứ 6: [Tsangyang Gyatso, vị Đạt Lai Lạt Ma thứ 6, người nổi tiếng với những bài thơ về Phật giáo, về tình yêu lãng mạng, không tuân thủ theo sắc giới của nhà Phật.]

*Trầm tư nghĩ về nét mặt tôn kính của Thượng sư,
Vì sao chẳng thể nào xuất hiện,
Nào ngờ khuôn mặt người yêu dấu,
Rõ ràng sống động trong tâm ta.*

Còn nữa:
*Gió ơi! Từ nơi nào thổi tới?
Gió à! Từ quê hương đến đây!
Hỡi người ta yêu thời tuổi trẻ
Gió hãy đưa nàng mau tới đây!*

Còn nữa:
*Ban ngày xinh đẹp vô song
Ban đêm thịt da thơm ngát
Người yêu suốt đời của ta
Phù dung thua vẻ diễm kiều.*
...

Ta mượn ngòi bút của Dalai Lama thứ 6 để nói với nàng rằng:
Nàng là Trác Mã của ta!
Nàng là Trác Mã ta ngày nhớ đêm mong!
Nàng là Trác Mã xinh đẹp của ta."

Năm:
"Hôm nay chàng cùng em đã hẹn ước đời đời kiếp kiếp ở bên nhau. Bất kể chân trời góc biển, bất kể chuyện gì phát sinh, bất kể chia ly ngay tức thì, bất kể người ở xa thiên lý vạn lý,...
Cho dù chỉ một giây thương nhớ.
Cho dù chỉ một phút thương nhớ.
Cho dù chỉ một giờ thương nhớ.
...

Đó là những lời chàng nói, đó là vĩnh hằng.
Một lần nhớ chàng, trời sẽ rơi xuống những giọt nước mắt nhớ thương, bởi vậy mới có hồ Sammamish.
Một lần nhớ chàng, cây sẽ rơi đầy một thảm lá, bởi vậy mùa thu Seattle cây chỉ còn lại những cành khô.
Em nói em nhớ chàng một lần, tuyết của đỉnh Tuyết Sơn Tây Tạng quanh năm chẳng tan."

Ta nói:
"Nếu có thể đưa những nỗi khổ tâm này,
Dùng trên phương diện thiền định,
Ta sẽ ôm nàng thật chặt,
Hai ta cùng thành Phật chẳng khó gì."


### 46. Tuôn chảy từ tâm (3)


Sáu:
"Em từng nghĩ, nếu như có một ngày, chàng không còn ở bên cạnh em, em sẽ từ bỏ dung nhan của mình. Bởi vì em từng nói với chàng rằng, em trang điểm cũng chỉ vì mỗi mình chàng thôi.
Vẻ xinh đẹp của em đều là vì chàng.
Chàng có biết chăng?
Tất cả những gì em làm đều chỉ vì mình chàng.
Bởi vậy,
Không có chàng, dung nhan xinh đẹp này, đối với em mà nói, cũng chẳng còn ý nghĩa gì nữa, căn bản chỉ là một gánh nặng.
Nhưng chàng bảo:
Muốn em mãi mãi xinh đẹp!
Bất kể thế nào chàng cũng sẽ quay lại tìm em. Em muốn biết điều chàng nói có phải là thật hay không?"

Ta nói:
"Là thật.
Ta từng nói với nàng rằng, ta có một bức Diêu Trì Kim Mẫu trong hình dạng thiên nữ, dung nhan của Ngài cũng xinh đẹp tựa như nàng. Mỗi lần ta nhìn ngắm vị Diêu Trì Kim Mẫu ấy, ta đều gọi tên nàng.
Vị Diêu Trì Kim Mẫu ấy đẹp tuyệt trần!
Ta nói:
Con người cần trang điểm bằng y phục.
Phật cần trang điểm bằng vàng ngọc.
Nàng đã thấy Quan Thế Âm Bồ Tát với bộ dạng đầu bù tóc rối bao giờ chưa?
Khi Tsongkhapa ca ngợi Bồ Tát, Ngài ấy viết như thế này:

*Om! Cát tường như ý!
Hiện lên trong vầng mây trắng sáng rực rỡ như điện
Dáng Ngài tuyệt trần, được trang sức bởi hư không
Tỏa hương thơm ngát trắng trong của người con gái trẻ
Vị Thiên nữ với sự bi mẫn vô song khoan thai bước tới.
Nét mặt Ngài tựa hoa sen, đôi mắt đen lay láy.
Lọn tóc tết, rủ dài cùng búi tóc xanh lấp lánh.
Tha thướt duyên dáng Ngài cất giọng diệu kì,
Một lần nữa cầu thỉnh Ngài ban ân phước tới cùng con.*
...

Và nhiều lời miêu tả đẹp đẽ khác.

Phật giáo khi miêu tả Bồ Tát thì đều là được trang điểm bởi bảy loại ngọc ngà châu báu, mặc thiên y váy xếp.
Hơn nữa, mặc dù ta coi trọng hành vi nội tại, nhưng cái bên ngoài cũng cần thể hiện sự rực rỡ rạng ngời.
Ta muốn nói với nàng rằng:
Sau này ta hóa thành vô hình thì cũng vẫn ở bên cạnh nàng."

Bảy:
"Dù chẳng mong muốn, nhưng đã là ngày cuối cùng ở lại Seattle rồi. Em thật sự chẳng muốn rời đi! Quãng thời gian vui vẻ này là quãng thời gian hạnh phúc nhất cuộc đời này.
Mắt nhìn nhau.
Miệng mỉm cười.
Tâm liền tâm.
Ý liền ý.
Thật sự là một niềm hạnh phúc xa xỉ.
Em sẽ mãi khắc ghi, bởi vì tất cả mọi thứ đều chân thực nhường ấy. Em sẽ trân trọng! Hẹn gặp lại chàng!"

Ta nói:
"Ta chỉ có thể nói với nàng rằng, lời cam kết của ta đối với nàng sau này sẽ chẳng hề thay đổi.
Trong giấc mơ đã có ấn kí.
Trong không trung đã có dòng chảy từ tâm.
Đất, nước, lửa, gió đều khắc cốt ghi tâm!
Ta có một đóa hoa sen, nàng cũng có một đóa hoa sen."


### 47. Tuôn chảy từ tâm (4)


Tôi từng kể rằng từ lúc còn trẻ tuổi, tâm trí tôi lúc nào cũng bay bổng nhảy nhót như khỉ như ngựa, tôi chẳng thể tự mình kiểm soát được những dòng chảy nội tâm.
Sau khi học Phật thì sự sục sôi của tuổi trẻ có giảm bớt chút ít.
Không còn cuồng dại như lúc trước!
Có người nói tôi đã trút bỏ mọi ràng buộc.
Có người nói tôi chơi trò tam muội.
Có người nói tôi "gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn".
Rốt cục tôi là gì?
Ngay đến tôi cũng chẳng biết.
(Trong chuyện tình cảm, tôi rất vụng về.)

🌟

Xem ra có vẻ như rất mâu thuẫn.
Tôi tự thừa nhận rằng tôi xử lý bất kì việc gì đều rất quyết đoán. Nhưng trong chuyện tình cảm thì tôi lại rất yếu mềm.
Xuất gia, là rời khỏi ngôi nhà thế tục.
Là bước vào ngôi nhà của Như Lai.
Nhưng,
Lý trí vẫn luôn không ngăn được những tình cảm thế tục.
Cỏ dại đã khô héo rồi, vàng úa cả một vạt.
Nào hay biết?
Một ngọn gió xuân mơn man, mưa trút xuống!
Cỏ lại mọc lên mơn mởn xanh rì.
Như lời sư phụ từng nói, lấy tảng đá to đè bẹp cỏ dại, sau khi nhấc tảng đá lên, cỏ lại hồi sinh.

🌟

Tôi học Mật giáo.
Tôi biết cái gì cũng đều là Phật pháp.
Dâm là Phật pháp.
Nộ là Phật pháp.
Si là Phật pháp.
Cần phải chuyển hóa dâm, nộ, si.

Tôi đã thành tựu trở thành "kham năng giả".
Tôi thật sự đã tu pháp vô lậu, pháp minh điểm, pháp chuyết hỏa đến mức độ hoàn mĩ.
Tôi đưa sự quán tưởng, trì chú, nhập tam ma địa hòa nhập vào đó, thành tựu này của tôi làm con người thế tục chấn động.

Từ trong mâu thuẫn, tôi đã giải thoát bản thân!
Thân thanh tịnh.
Khẩu thanh tịnh.
Ý thanh tịnh.
Tôi trưởng thành từ trong khói hương mê man, giải thoát khỏi những sự ràng buộc, tôi tuyệt đối chẳng như những kiểu người thế tục.

🌟

Dòng chảy tâm của tôi thăng hoa.
Trong tất cả mọi việc tôi luôn ở trong sự thiền định, đã đạt được trí huệ siêu việt.
Có người nào có thể từ trong tình ý miên man mà tu xuất được đóa hoa sen thanh tịnh tinh khiết?
Tôi đã vượt lên khỏi những đau thương, những lãng mạn!
Tôi đã trưởng thành trong tình cảm nam nữ!

Thì ra, tâm linh và thể xác có thể kết hợp được, không phải là đối lập nhau.
Phật, Bồ Tát và ẩm thực nam nữ có thể dung hợp, không phải là giết lẫn nhau.

Tôi viết ra những lời tuôn chảy từ tâm là để:
"Nhờ tình cảm nam nữ, viết nên chuyện thành Phật."
Tứ Hỉ chuyển hóa thành Tứ Không.
Lạc và Không song vận.
Lan tỏa ra ánh sáng cầu vồng.

Đương nhiên tôi biết rằng:
Rất ít người có thể đạt đến thành tựu như vậy!
Trong vạn người cũng chẳng tìm ra nổi một người.
Tôi trân trọng tình cảm.
Tôi trân trọng Phật pháp trân quý.
Tôi thấy Tứ Thủ Phương Mẫu, Bát Phương Không Hành Mẫu, Nhị Thập Thiên Thiên Nữ khen ngợi tôi!
Hoan hô ngưỡng mộ!
Thành tựu vạn tuế!
Mêng mông những đóa sen!

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/282-gap-go-to-su-dat-ma.md
# Title: 282. Gặp gỡ Tổ sư Đạt Ma
---

![image](/img/img_6ee4a2f4d2f875c8de687a151b242318.jpg)



## Gặp gỡ Tổ sư Đạt Ma


🪷 Vô ngã vô tâm

Văn tập: 282
Xuất bản: 4/3/2021
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu


Đầu tháng 10 năm 2020.
Tôi (Lư Thắng Ngạn) đang ở trong phòng vẽ tranh của tôi ở khu làm việc trên tầng hai của Tông Ủy Hội tại Seattle nước Mỹ. Tổng cộng tôi đã vẽ được mười bức tranh về Tổ sư Đạt Ma.

Vốn dĩ tôi chỉ vẽ một bức. Nhưng Thượng sư Liên Tổ ở Indonesia biết được đã lập tức thỉnh bức tranh đó rồi.
Tiếp đó:
Bức thứ hai, Thượng sư Liên Tăng thỉnh đi.
Bức thứ ba, Thượng sư Liên Mãn thỉnh đi.
Bức thứ tư, Thượng sư Liên Truyền thỉnh đi.
...
Bức thứ chín, pháp sư Liên Quân thỉnh đi.
Bức thứ mười, pháp sư Lị Lị thỉnh đi.

Vẫn có người tiếp tục muốn thỉnh bức họa tướng của Tổ sư Đạt Ma. Tôi nói:
"Tạm dừng!"
Tôi còn nói:
"Đương nhiên là tôi rất vui sướng khi vẽ tranh Tổ sư Đạt Ma. Nhưng mà ngày nào cũng vẽ, thử hỏi có oải không. Hơn nữa, hãy để cho tôi vẽ tranh khác đi mà! Nếu không thì trong đầu tôi chỉ còn lại mỗi Tổ sư Đạt Ma thôi!"
Thế là những người thỉnh tranh mới dừng lại.

Tuy nhiên, Tổ sư Đạt Ma đã in hằn trong tâm trí tôi từ lâu rồi, chẳng thể nào gạt ra khỏi đầu được! Cặp lông mày rậm, đôi mắt to, vầng trán rộng đầy, bộ râu, tóc dài. Đặc biệt là cái nhãn thần đó.
"Con mắt nhìn thấy vạn tướng của thế gian!"
Khiến tôi say mê.

Cuối cùng, tôi đã gặp Tổ sư Đạt Ma, đó là ở cõi trời bên ngoài cõi trời, ở một thế giới khác. Vừa gặp tôi đã biết rõ, vị này chính là tổ sư đầu tiên của Thiền Tông - Bồ Đề Đạt Ma, vị tổ thứ nhất của phương Đông và vị tổ thứ 28 của phương Tây.
Ngài bay ở phía trước! (Như chim én lao vút vào rừng.)
Tôi bay ở phía sau ngài! (Như sao băng đuổi theo trăng.)
Ngài ấy nói:
"Hãy theo ta!"
Tôi nói:
"Đương nhiên rồi!"

Tổ sư Đạt Ma vô cùng thanh cao thoát tục. Ngài ấy không mang phong thái của lau sậy qua sông, cũng không phải tư thế ngồi trên tòa hoa sen cưỡi mây, lại càng không giống như chim đại bàng bay, mà lại là tự nhiên như không.

Ngài ấy đưa tôi vào một hang động. Tôi vừa nhìn thì thấy rất quen thuộc.
Đạt Ma nói:
"Đây chính là hang động trên đỉnh núi Linh Thứu của tôn giả Xá Lợi Phất!"
Tôi nói:
"Đúng vậy."
Đạt Ma nói:
"Vốn dĩ ta định đưa ngài đến hang động ở trên núi Thiếu Thất nơi ta quay mặt vào tường thiền định chín năm. Sau đó ta cảm thấy đưa ngài đến hang động của Xá Lợi Phất thì sẽ có ý nghĩa hơn."
Tôi  hỏi:
"Có gì khác biệt?"
Đạt Ma đáp:
"Cũng không có gì khác. Chỉ là ta muốn ngài được trở về với chính mình, để cho ngài biết, tất cả mọi điều này đều là mộng, để ngài biết về mộng huyễn bóng ảnh, để ngài biết mà đừng bám chấp, đừng mê lầm."
Tôi nói:
"Cảm tạ Tổ sư Đạt Ma!"

(Nội dung của cuốn sách này đều là những cuộc đối thoại giữa tôi và Tổ sư Đạt Ma, trong đó cũng có những thiền cơ. Chúc bạn mở sách ra có được lợi ích.)

(Tháng 12 năm 2020)

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Lư Sư Tôn là cái thứ gì?


Tôi hỏi Tổ sư Đạt Ma:
Ông nội của tôi là Lư Xương. Ông là người ở phủ Phần Dương, Tuyền Châu, Phúc Kiến, đầu tiên ông di cư đến Kim Môn, sau đó lại từ Kim Môn di cư đến Bành Hồ, cuối cùng từ Bành Hồ di cư đến Gia Nghĩa, Đài Loan. Ở Gia Nghĩa, ông làm kinh doanh cửa hàng gạo và dầu, vào thời đó ông có thể coi là người giàu có.

Ông nội tôi có ba người vợ và bốn người thiếp.
Cha của tôi là Lư Nhĩ Thuận, là do người vợ ba sinh ra. Người vợ ba của ông tôi tên là Lư Du Đoan Hương, cũng chính là bà nội của tôi. Cha tôi sinh ra ở Gia Nghĩa, lấy vợ tên là Lư Hoàng Ngọc Nữ, tiếp theo là có tôi (Lư Thắng Ngạn). Tôi sinh ra ở một trại nuôi gà ở Hậu Hồ, Gia Nghĩa (bên dòng suối Ngưu Trù).

Bởi thời gian đó là chiến tranh thế giới thứ hai, quân đội Mỹ ném bom xuống sân bay Thủy Thượng ở Gia Nghĩa. Cha mẹ tôi chạy nạn, do vậy tôi đã sinh ra ở bên bờ suối Ngưu Trù ở Hậu Hồ.
Sinh vào giờ Ngọ ngày 27 tháng 6 năm 1945 (Dương lịch).
Sinh vào giờ Ngọ ngày 18 tháng 5 năm 1945 (Âm lịch).

Dựa theo những điều trên mà nói thì ông nội tôi là người Trung Quốc. Cha tôi từng sống dưới sự thống trị của Nhật Bản và Trung Hoa Dân Quốc.

Tôi (Lư Sư Tôn).
Sinh ra ở Đài Loan.
Được nuôi nấng trưởng thành tại Đài Loan.
Đến khi tôi 38 tuổi, tôi di cư đến Seattle nước Mỹ. Đến năm nay tôi 76 tuổi, vừa hay, tôi đã sống ở Mỹ được đúng 38 năm rồi.

Nói như vậy thì:
Ông nội tôi Lư Xương là người Trung Quốc.
Cha tôi Lư Nhĩ Thuận là người Đài Loan (nửa Nhật nửa Đài).
Tôi Lư Thắng Ngạn là người Đài Loan (nửa Đài nửa Mỹ).
Tôi còn có hộ chiếu Trung Hoa Dân Quốc nữa, cũng có cả hộ chiếu Mỹ.
Tôi có đôi chút mơ hồ rồi.
Tổ quốc của tôi là gì?
Người Trung Quốc sao?
Người Đài Loan sao?
Người Mỹ sao?

Tổ sư Đạt Ma trả lời tôi, chỉ có hai chữ:
"Là người."
Tổ sư Đạt Ma hỏi lại tôi:
"Kiếp trước của ngài, ngài tự biết mình là Liên Hoa Đồng Tử đúng không?"
Tôi đáp:
"Đúng vậy."
Tổ sư Đạt Ma hỏi tôi:
"Liên Hoa Đồng Tử đến từ Tây phương Cực Lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì đúng không?"
Tôi đáp:
"Tỳ Lô Giá Na Phật - Phật Nhãn Phật Mẫu - A Di Đà Phật - Liên Hoa Đồng Tử - Lư Sư Tôn."
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Phật quốc. Tổ quốc của ngài chính là Phật quốc!"
Tôi nói:
"Tôi là người Phật quốc!"
Tổ sư Đạt Ma hỏi:
"Người Phật quốc là gì?"
Tôi đáp:
"Là Phật!"
Tổ sư Đạt Ma nói chắc nịch như chém sắt:
"Ngài chính là Phật."

Tôi thật sự bị bốn tiếng "Ngài chính là Phật" mà Tổ sư Đạt Ma nói làm cho cảm động.
Tôi là Phật!
Bạn là Phật!
Mọi người chúng ta đều là Phật!


### 02. Vị Thượng sư quý giá


Tổ sư Đạt Ma hỏi tôi:
"Nếu như bây giờ ta muốn ngài cúng dường ta, ngài sẽ cúng cái gì?"
Nghĩ một lúc, tôi đáp:
"Thân khẩu ý thanh tịnh."
Tổ sư Đạt Ma hỏi:
"Thân khẩu ý thanh tịnh ư? Cái gì là thân khẩu ý thanh tịnh?"
Tôi đáp:
"Thân là Tăng.
Khẩu là Pháp.
Ý là Phật.
Tôi lấy Tam Bảo cúng dường!"
Đạt Ma nói:
"Lư Sư Tôn! Ngài rất có trí huệ. Câu trả lời của ngài chính là điều ta muốn. Ngài quả nhiên là một vị Thượng sư quý giá."

Đạt Ma lại hỏi:
"Nếu như ta muốn ngài cúng dường những thứ thế tục của ngài, ngài sẽ cúng dường cái gì?"
Tôi ngẩn người ra!
Tôi lại nghĩ ngợi một lúc.
Những thứ thế tục hiện tại của tôi có:
Nhà cửa - Nam Sơn Nhã Xá.
Xe cộ - Rolls-Royce
Vàng bạc - có một ít.
Kim cương - có một ít.
Đồng hồ xịn - đồng hồ vàng Rolex.
Tiền gửi ngân hàng - có một ít.
...

Trí não của tôi hoạt động rất nhanh, tất cả mọi thứ đều đã nghĩ đến. Mật giáo có hương, hoa, đèn, trà, quả (ngũ cúng). Có bát cúng, là ngũ cúng cộng thêm vỏ ốc như ý, nước tắm thơm, mộc hương. Có cả lễ cúng 37 món. Nhưng những thứ này thì lại mang màu sắc thế tục quá.
Tôi đem chính bản thân mình (người) cúng dường cho Tổ sư Đạt Ma, chẳng phải là rất tốt rồi sao?
Tôi nghĩ một lúc vẫn chưa có được quyết định.

Đột nhiên trong đầu tôi lóe lên một tia sáng.
Có rồi!
Tôi đáp:
"Tôi sẽ cúng dường Tổ sư Đạt Ma 282 cuốn sách mà chính tôi đã viết."
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Ta cần sách của ngài làm gì?"
Tôi đáp:
"Trong sách đã có sẵn những thứ đẹp đẽ như ngọc, đã có nhà cửa vàng bạc."
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Không sai, trong sách lại còn có cả trí huệ! Lư Sư Tôn ngài đúng là bậc trí huệ vô thượng."

Tổ sư Đạt Ma hỏi:
"Lư Sư Tôn! Ngài có biết những ẩn ý của ta không?"
Tôi đáp:
"Những sách tôi đã viết, sau này cũng sẽ đốt hết chúng!"
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Bất lập văn tự."
Tôi lại trả lời:
"Tôi thuyết pháp, cũng như chưa từng thuyết pháp!"
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Lấy tâm truyền tâm."
Tôi lại đáp:
"Vô ngã vô tâm."
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Kiến tính thành Phật."
Tổ sư Đạt Ma cười ha ha với tôi, liên tục nói:
"Thượng sư quý giá! Thượng sư quý giá!"


### 03. Thượng sư Dương Trung Sỉ


Tôi kể với Tổ sư Đạt Ma:
Ở Malaysia, có một đệ tử là Thượng sư Dương Trung Sỉ, ông ấy trụ trì Đại Quán Đường.
Khi còn trẻ, lúc vẫn còn đang đi học, Thượng sư Dương đã đến Đài Nam Đài Loan hoàn thành xong bậc đại học, là một du học sinh.

Khi đó, ông ấy nghe nói ở Đài Trung có một người thần toán rất chuẩn, liền vội vã đến Đài Trung, xin tôi thần toán. Kết quả rất chuẩn!

Thượng sư Dương luôn mang theo người bài thơ thần toán của tôi, để ở trong ví da. Về sau, ông ấy và tôi lại gắn bó, trở thành một trong những Thượng sư của Chân Phật Tông.

Tháng 10 năm 2020, Thượng sư Dương Trung Sỉ đã viên tịch. Tôi đã đặc biệt siêu độ cho ông ấy. Vào buổi tối ngày siêu độ, trước hết tôi tắm gội, đánh răng. Khi tôi dùng chỉ nha khoa để làm sạch răng thì xuất hiện một hiện tượng kì lạ.

Chiếc ghế sofa trong phòng ngủ của tôi đột nhiên rung lên. Nói cụ thể là chỗ ngồi tự nhiên bật nảy một cách rất có quy luật. Tôi nói với cái ghế sofa:
"Thượng sư Dương Trung Sỉ, ông không cần phải nóng vội, đợi tôi đánh răng xong tôi nhất định sẽ tiếp dẫn cho ông đến Phật quốc."
Tôi vừa nói dứt lời, ghế sofa liền dừng lại, không bật nảy nữa.
Đúng là quái dị!

Buổi tối đó, tôi (tự hóa thành Bổn tôn), từ trên tay của tôi trượt ra một con thuyền pháp. Tôi mời Thượng sư Dương lên thuyền. Tôi thỉnh Diêu Trì Kim Mẫu dùng đại uy thần lực gia trì cho ông ấy. Tôi thỉnh thập lực Như Lai của A Di Đà Phật làm thanh tịnh cho Thượng sư Dương, thỉnh thuyền pháp đưa Thượng sư Dương đi đến Phật quốc tịnh thổ. Thuyền pháp từ từ bay lên. Thượng sư Dương đã bay đến Phật quốc tịnh thổ rồi, đến Tây phương Cực Lạc thế giới, đến nơi gọi là Thực Báo Trang Nghiêm Thổ.

Tôi hỏi Tổ sư Đạt Ma:
"Tôi siêu độ cho Thượng sư Dương Trung Sỉ. Và hàng ngày cũng đều siêu độ cho những người chết trong dịch cúm Corona, làm như vậy được chứ?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Có cái quái gì đâu!"
Tôi nói:
"Tôi làm rất chăm chỉ đó!"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Chỉ là nằm mơ mà thôi!"
Tôi nói:
"Là thần kì đó!"
Tổ sư Đạt Ma vẫn bảo:
"Là mơ."

Tôi thỉnh Tổ sư Đạt Ma giải thích cho tôi, vì sao lại chỉ là nằm mơ?
Tổ sư Đạt Ma hỏi tôi:
"Dịch cúm Corona có giống như một giấc mơ không?"
Tôi đáp:
"Giống!"
Tổ sư Đạt Ma hỏi tôi:
"Ta đến Chấn Đán [tên cũ mà Ấn Độ gọi Trung Quốc], ở Trung Nguyên độ chúng sinh. Nay ta và Lư Sư Tôn gặp mặt, trò chuyện, thì là cái gì?"
Tôi đáp:
"Đúng là một giấc mơ!" (biết đời như mộng)


### 04. Thần toán trống rỗng


Tôi nói với Tổ sư Đạt Ma:
Gần đây, Tông vụ ủy viên hội Chân Phật Tông (Tông Uỷ Hội), muốn mua một ngôi nhà ở Redmond. Trưởng ban là Thượng sư Liên Tăng nói có một ngôi nhà rất thích hợp, định giá là 800.000 đô la Mỹ. Liên Tăng hỏi tôi:
"Thỉnh Lư Sư Tôn xem thử, ra giá bao nhiêu tiền thì có thể mua được không?"
Tôi đáp:
"970.000 đô Mỹ là có thể mua được!"
Liên Tăng nói:
"Đưa ra giá là 800.000 đô Mỹ, mua tận với giá 970.000 đô Mỹ, thật không thể hiểu được?"
Tôi nói:
"Bất động sản gần đây rất quái lạ. Phần lớn những người cạnh tranh mua đều tăng giá để cạnh tranh."
Liên Tăng nghĩ sẽ đưa ra giá khoảng 900.000 đô để mua.
Sau đó, ngôi nhà đó bị người khác tranh mua mất, mua với giá 940.000 đô.

Còn nữa:
Sư tỉ Cảnh Thu muốn mua một ngôi nhà. Ngôi nhà được định giá là 600.000 đô Mỹ. Sư tỉ Cảnh Thu hỏi:
"Xin Lư Sư Tôn đoán xem đưa ra giá bao nhiêu thì có thể mua được?"
Tôi thỉnh Diêu Trì Kim Mẫu thần toán một lúc.
Tôi đáp:
"670.000 đô Mỹ!"
Lần này thì lại càng chuẩn!
Có người ra giá, 660.000 đô Mỹ. Thế nhưng sư tỉ Cảnh Thu đưa ra giá là 670.000 đô Mỹ nên đã thắng. Ai cũng bảo là:
"Thật quá chuẩn!"

Tôi hỏi Tổ sư Đạt Ma:
"Thấy thần toán của tôi thế nào?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Không.”
Tôi hỏi:
"Là nghĩa làm sao?"
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Lư Sư Tôn! Thần toán của ngài, nguyên nhân trước hết là vì ngài đã đạt đến cảnh giới Không rồi."
Tôi hỏi:
"Xin Tổ sư giải thích rõ?"

Tổ sư Đạt Ma nói:
"Lư Sư Tôn! Khi ngài thần toán, trước tiên tâm cần tĩnh lại, tiến nhập vào tâm Không, tiến nhập vào sự tịch tĩnh. Trong không gian trắng và trống rỗng, Phật Bồ Tát và các vị thần tiên, vào lúc ngài tâm Không và tĩnh lặng, sẽ ban cho ngài đáp án. Đáp án này là chuẩn xác nhất."

Tôi hỏi:
"Thế nào thì sẽ không chuẩn?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Tâm chưa Không, vẫn còn có ý thức khác về tự ngã, thì sẽ không còn chuẩn nữa!"
Tổ sư Đạt Ma còn nói:
"Tâm Không là quan trọng nhất đó!"
Tôi hỏi:
"Tâm Không có thể sinh ra trí huệ sao?"
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Đúng thế."

Tổ sư Đạt Ma kể với tôi:
Ngài ấy ở trong hang động nhỏ trên núi, quay mặt vào tường thiền định chín năm, đã đạt đến cảnh giới Không.
Một khi đạt đến Không rồi.
Thì sẽ đạt được trí huệ viên mãn!
Bởi thế, Tổ sư Đạt Ma nói:
"Thuyết pháp chân chính là Pháp bất khả thuyết [không thể dùng lời, văn tự để mô tả]." (thiền cơ)


### 05. Trò chơi Tam muội


Tôi kể với Tổ sư Đạt Ma:
Cuối năm 2019, tại đại điện của Seattle Lôi Tạng Tự có hoạt động phỏng vấn dịp xuân mới. Tôi đưa ra ba dự đoán lớn:
Năm 2020 là một năm vô cùng hỗn loạn.

1. Bệnh dịch lớn.

1. Chiến tranh.

1. Nạn đói.

Kinh tế toàn cầu chỉ được 20 điểm.
(Vốn dĩ Diêu Trì Kim Mẫu bảo với tôi rằng chỉ được 0 điểm. Tôi tự nghĩ làm sao có thể như vậy, thế là tôi tăng lên thành 20 điểm.)

Kết quả là:
Năm 2020, trời ơi! Quá chuẩn rồi! Chuẩn tới mức khiến tôi cũng phải giật nảy mình sửng sốt. Người đã sống hơn lục thập hoa giáp là tôi đây, dịch bệnh lớn nhất trong cuộc đời này đã gặp trúng tôi rồi. Dịch cúm Corona đã hủy hoại nhân loại toàn thế giới, hiện tại vẫn còn rất nghiêm trọng.

Vùng Caucasus đã xảy ra cuộc chiến tranh giữa hai nước.
Còn ...
Về nạn đói, có nạn châu chấu lớn, có đợt lũ lụt lớn khiến trời rung đất chuyển, người chết đói lên tới nghìn nghìn vạn vạn người. Vào năm 2020 khiến người người bất an này, nhân loại chúng ta phải làm sao để đối mặt với một năm thế này đây?

Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Vui chơi."
Tôi hỏi Tổ sư Đạt Ma:
"Vừa đóng cửa biên giới, vừa có lệnh ở trong nhà, lại có cả lệnh cấm đi lại, rồi cả đeo khẩu trang, giữa người với người phải giãn cách xã hội,... Thế này là vui chơi sao?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Đích thực là trò chơi nhân gian."
Tôi nói:
"Đã chết cả triệu người rồi đấy!"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Sống chết vốn là một trò chơi thôi!"

Tôi hỏi Tổ sư Đạt Ma:
"Tổ sư! Ngài quay mặt vào tường thiền định chín năm, cuối cùng đã ngộ được cái gì?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Vô sở đắc!"
Tôi nói:
"Xin Tổ sư Đạt Ma giải thích rõ hơn!"
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Không tịch.
Vô vi.
Li hí.
Quang minh."

Tổ sư Đạt Ma hỏi lại tôi:
"Ngài thành lập Chân Phật Tông là vì điều gì?"
Tôi đáp:
"Độ chúng sinh."
Tổ sư Đạt Ma hỏi:
"Chân Phật Tông có phải trải qua Thành, Trụ, Hoại, Không không?"
Tôi đáp:
"Phải, phải rồi."
Tôi nói thêm:
"Trái đất cũng thế, quốc gia cũng thế, gia tộc cũng thế, con người cũng thế ..."
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Nhân gian đều là trò chơi mà thôi!"
Tôi nói:
"Tôi hiểu rồi, trò chơi học tập, trò chơi yêu đương, trò chơi sự nghiệp, trò chơi sinh tồn, không có một thứ gì không phải là trò chơi. Đau khổ và vui vẻ đều là trò chơi."
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Lư Sư Tôn! Ngài có hiểu không? Mọi việc lớn, việc nhỏ ở nhân gian này chẳng qua cũng là trò chơi mà thôi."


### 06. Bà nội của Cathy


Tôi kể với Tổ sư Đạt Ma:
Tôi có một đệ tử, là sư tỉ Cathy. Bà nội của cô ấy sống tại bang Texas nước Mỹ, tuổi tác đã cao rồi. Từ khi cô Cathy còn nhỏ, bà nội đã luôn yêu quý đứa cháu gái nhỏ này.

Nhưng rồi, bà nội bị bệnh nặng.
Cathy đến hỏi tôi:
"Có nên trở về tiễn bà nội không?"
Tôi đáp:
"Bà nội đã yêu thương cô từ lúc còn nhỏ, cô nên trở về tiễn bà nội đi!"

Thế là, Cathy từ Seattle đi Texas, ngày ngày chăm sóc cho bà nội bị bệnh nặng. Bà nội đã bị bệnh nặng đến mức không còn nói được nữa, chỉ có thể dùng ánh mắt để biểu thị "có" và "không".
Cathy muốn bà nội niệm Phật, bà nội đáp lại rằng "được".
Cathy muốn bà nội niệm Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, bà nội đáp rằng "được".
Cathy mỗi ngày đều cùng bà nội niệm Phật trì chú.

Bà nội niệm trong lòng.
Khoảng bảy ngày.
Cathy thấy đôi mắt của bà nội tỏa ra ánh sáng lạ kì, bà nội biểu thị rằng Tây phương Tam Thánh và Liên Hoa Đồng Tử đã đến đón bà rồi! Thế là bà nội qua đời.
Người đã nhìn thấy Tây phương Tam Thánh, A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát và Liên Hoa Đồng Tử Lư Sư Tôn là mẹ của Cathy.
Cảm ứng liên miên. (Dì của cô thì nghe thấy danh hiệu Phật.)

Sau khi hỏa thiêu bà nội thì có được:
Hạt xá lợi.
Hoa xá lợi.
Những người trông thấy đều vô cùng kinh ngạc. Hơn thế nữa còn lại là xá lợi bảy màu sắc.

Vốn dĩ bà nội, cha mẹ và người nhà của cô Cathy không phải là những người có duyên sâu nặng với Phật. Từ sau khi bà nội qua đời, họ mới bắt đầu có lòng tin, cũng bắt đầu niệm Phật trì chú.
Tôi hỏi Tổ sư Đạt Ma:
"Chuyện của bà nội Cathy là thế nào?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"An tâm mà thôi."
Tôi hỏi:
"Như thế nào là an tâm?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Vì không còn tâm nào khác, do vậy mới gọi là an tâm."
Tổ sư Đạt Ma còn nói tiếp:
"Đây chính là pháp ấn của chư Phật!"

Tôi hỏi:
"Bà nội và mẹ của cô ấy vì sao có thể nhìn thấy Lư Sư Tôn hiện thân tiếp dẫn vậy?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Lư Sư Tôn! Chỉ cần ngài hòa tan vào ánh sáng, cứ thế mà vô vi, người trên thế giới này, ai mà có duyên thì cũng đều thế thôi."
Tôi hỏi:
"Vì sao Tây phương Tam Thánh lại hiện thân?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Vô tâm, nhưng có pháp ấn."
Tôi hỏi:
"Bà nội của Cathy sao lại có nhân duyên thù thắng như vậy?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
*"Tuy nằm trên giường bệnh
Vẫn niệm Phật chẳng lo
Bất chợt có pháp ấn,
Thoát khỏi biển luân hồi."*

Tổ sư Đạt Ma hỏi tôi:
"Đã hiểu chưa?"
Tôi đáp:
"Đã rõ!"


### 07. Lặng lẽ không cần quan tâm


Tôi hỏi Tổ sư Đạt Ma:
"Lư Sư Tôn tôi một đời tu pháp, đây là điều quá rõ ràng. Viết 282 cuốn sách, cũng có giá trị sâu sắc. Chứng nghiệm vô cùng cao, có linh có nghiệm. Tuy nhiên, vì sao vẫn có đệ tử không tin vào giáo pháp, mất đi lòng tin vào Căn bản Thượng sư mà rời bỏ đi?"
Tổ sư Đạt Ma nghe xong, cười lớn ha ha.
Tôi thì ngược lại, có chút ngại ngùng.

Tổ sư Đạt Ma hỏi lại tôi:
"Phật Thích Ca Mâu Ni thì sao?"
Tôi đáp:
"Là bậc Chí Thánh trong lòng người."
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Thị giả của Phật Thích Ca Mâu ni là Đề Bà Đạt Đa, phụng dưỡng Phật Đà tổng cộng tới 25 năm, xin hỏi, vì sao lại bỏ Phật Đà mà đi?"
Tôi đáp:
"Lòng tin của con người có thể được bồi dưỡng, nhưng bản tính thì rất khó thay đổi."
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Đúng vậy."
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Phật Thích Ca Mâu Ni là Đức Phật Đại Thánh, nhưng vẫn có Đề Bà Đạt Đa từ bỏ ngài."
"Dùng voi lớn để dẫm đạp Phật, dùng cung tên để bắn Phật, dùng đá ném vào Phật, muốn đẩy Phật vào chỗ chết."
"Cô thiếu nữ Chiến Già phỉ báng Phật."
"Tôn Đà Lợi làm tổn thương Phật."
"Một nửa số đệ tử của Phật đã rời bỏ ngài! Đi theo Đề Bà Đạt Đa!"
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Lư Sư Tôn so với Phật Đà thì thế nào?"
Tôi cúi đầu hổ thẹn.

Đạt Ma lại nói:
"Ta ở Trung Nguyên hoằng dương Thánh giáo, bị Lưu Chi Tam Tạng ba lần bảy lượt dùng thuốc độc hãm hại ta. Cuối cùng ta cũng bị hại, chỉ còn cách độn thổ chạy về Thiên Trúc [là tên ngày xưa Trung Quốc gọi Ấn Độ]. Như ta thì sao đây?"
Tôi đáp:
"Thật xấu hổ!"
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Milarepa của Mật giáo cũng bị hạ độc, vậy ngài thấy thế nào?"
Tôi đáp:
"Thật xấu hổ!"

Tổ sư Đạt Ma nói:
"Đối với những đệ tử như vậy, Phật Thích Ca Mâu Ni đã dùng cách âm thầm từ bỏ, âm thầm từ bỏ nghĩa là lặng lẽ không cần quan tâm nữa."
Tôi đáp:
"Tôi đã hiểu rồi!"
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Ta thực hành bốn việc:

1. Báo oán. (lấy đức báo oán)

1. Tùy duyên. (mặc kệ)

1. Vô sở cầu. (không miễn cưỡng không gò ép)

1. Xưng pháp. (làm việc hợp với giáo pháp)"

Tôi nói:
"Cảm tạ giáo pháp!"
Tổ sư Đạt Ma còn nói:
"Vô tâm.
Vô sự.
Vô ngã.
Vô hảo.
Vô ác.
Vô chấp.
Vô mê."
Tôi nói:
"Cảm tạ Tổ sư Đạt Ma."


### 08. Tâm an chính là bình an


Tôi nói với Tổ sư Đạt Ma:
Vài năm nay, tôi thường ra nước ngoài hoằng pháp. Trên tường trong phòng VIP của hãng hàng không EVA, tôi nhìn thấy một dòng chữ: "Tâm an chính là bình an."
Là do pháp sư Thánh Nghiêm viết.
Tôi nghĩ:
Mấy chữ "tâm an chính là bình an" này, tôi thấy rất hay.
Chỉ là tôi cứ nghĩ mãi:
"Làm sao để tâm an? Đây mới là câu hỏi lớn!"

Tổ sư Đạt Ma trả lời tôi rằng:
Nói tâm an chính là bình an, thì mới chỉ có được cái "vỏ" của ta thôi. Cái vỏ thì chỉ là biểu hiện bên ngoài.
Giống như hô to khẩu hiệu vậy.
Tổ sư Đạt Ma nói:
Cái điều cốt tủy thật sự chính là như ngài nói, làm sao để an tâm được đây?

Trong xã hội hỗn loạn bất an ngày nay, có mấy người có thể thật sự đạt đến được tâm an?
Học sinh vì việc học hành mà sợ hãi!
Vì sự nghiệp thịnh suy mà lo lắng!
Vì tình cảm thay đổi mà đau buồn!
Vì danh lợi chính trị mà tranh đấu!
Vì muốn sức khỏe mà phải chấp nhận đau đớn không thể chịu nổi!
Vì thắng thua trong kiện cáo mà mệt mỏi!
...

Thử hỏi: có mấy người có được tâm an? Mấy người có thể nhìn thấu? Mấy người có thể giải thoát khỏi những ràng buộc này?

Tôi nói với Tổ sư Đạt Ma:
Lư Sư Tôn tôi có thể hài lòng với mọi hoàn cảnh.
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Đây mới là an tâm và tâm an!"
Tổ sư Đạt Ma hỏi:
"Sao ngài có thể làm được điều này?"
Tôi đáp:
"Tôi dùng một số cách để loại bỏ hết toàn bộ những mặt tiêu cực đi!"
Tổ sư Đạt Ma hỏi:
"Là cách gì?"
Tôi đáp:
"Mặc kệ nó!"
Mọi thứ đều sẽ qua đi!
Chẳng hề gì, dù sao mọi người đều như nhau!
Cười một cái đi!
Tùy duyên!
Tùy phận!
Thực hành Phật pháp chân thực!
Những thứ tiêu cực vốn dĩ sẽ phải xảy ra, hôm nay xảy ra rồi thì cũng là bình thường!
Đây chính là sự hài lòng với mọi hoàn cảnh của tôi.

Tổ sư Đạt Ma nói:
"Ngài nói đại khái như vậy thì ta cũng có thể chấp nhận được, những điều này chính xác là pháp môn tâm an. Nhưng phải làm được thì mới được tính. Đây không phải là lý luận, mà là thực tiễn."
Tổ sư Đạt Ma còn nói:
"Đầu tiên cần phải quan sát suy nghĩ của bản thân, chuyển hóa là việc rất quan trọng, bất kể là Thiền tông, Tịnh độ tông, Mật tông, Luật tông đều nằm ở sự chuyển hóa, chuyển hóa mới có thể thoát ra khỏi ràng buộc."
Tổ sư Đạt Ma lại nói:
"Chuyển hóa là quan trọng nhất!"
Tôi hỏi:
"Vì sao thế nhân không biết chuyển hóa?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Con người thế tục đương nhiên không thể, do vậy người thế tục cần tìm đến thiện tri thức như ngài đây!"


### 09. Nghìn sông có nước nghìn sông trăng


Tôi kể với Tổ sư Đạt Ma:
Mấy ngày nay xảy ra một số việc.
Liên Hoa Đình Châu ở Malaysia mắc bệnh nặng, đã cận kề cái chết. Nhưng vợ của Liên Hoa Đình Châu là Liên Hoa Mỹ Linh luôn ở túc trực bên cạnh, thế rồi mệt lả đi! Bỗng cô ngủ gật, rồi trông thấy A Di Đà Phật xuất hiện!
Đúng vào lúc này.
Liên Hoa Đình Châu kêu lớn một tiếng rồi qua đời!
A Di Đà Phật đã đưa Liên Hoa Đình Châu đi rồi.

Nhưng Liên Hoa Mỹ Linh trông thấy mặt của A Di Đà Phật cũng chính là mặt của Lư Sư Tôn, hoàn toàn là một. Liên Hoa Mỹ Linh kể với Thượng sư La Dĩ Nhân, Thượng sư La Dĩ Nhân nói:
"Lư Sư Tôn vốn dĩ chính là A Di Đà Phật mà!"
Tôi hỏi Tổ sư Đạt Ma:
"Chuyện này là thế nào?"
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Đây là hình ảnh phản chiếu [trong nước]!"

Tôi lại kể với Tổ sư Đạt Ma:
Tại Ấn Độ.
Có một đồng môn nam, vì bị đột quỵ não nên được đưa vào phòng cấp cứu của bệnh viện. Vợ của anh ở cạnh bên chăm sóc, vì mệt quá nên cũng ngủ gật. Thế rồi cô cũng lại thấy Lư Sư Tôn bước vào phòng bệnh, đưa tay vào trong não của đồng môn nam, từ trong não lấy ra một cục máu lớn màu đen.
Lư Sư Tôn xem xét cục máu lớn trong tay rồi nói:
"Lần này có thể khỏi được!"
Thế rồi, Lư Sư Tôn biến mất.

Đệ tử nam đó có được trải nghiệm này, bệnh tình chuyển biến tốt, như người chưa hề có bệnh.
Nhanh chóng được xuất viện.
Đã khỏi bệnh hoàn toàn!
Bác sĩ trong bệnh viện cũng không hiểu ra sao cả!
Sự việc này do vợ của bệnh nhân đột quỵ kể lại cho Liên Hoa Lệ Điền sống ở Seattle nước Mỹ.

Tôi hỏi Tổ sư Đạt Ma:
"Sự việc này là thế nào?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Cũng là hình ảnh phản chiếu!"

Tôi lại kể với Tổ sư Đạt Ma:
Thượng sư Lý Mỹ Lị bị mắc bệnh ung thư ống mật, đã lan rộng, nằm ở một bệnh viện hướng đông đường quốc lộ số 90. Vào lúc nửa tỉnh nửa ngủ, bà ấy nhìn thấy Lư Sư Tôn bước vào, làm pháp Chuyển di thần thức cho bà ấy.
Mở thiên môn, đóng địa hộ, bịt nhân đạo, chặn đường quỷ.

Sau khi tỉnh lại, Thượng sư Lý Mỹ Lị nói với con gái rằng:
"Lư Sư Tôn đã đến rồi!"
Tôi hỏi Tổ sư Đạt Ma:
"Sự việc này là thế nào?"
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Đều là hình ảnh phản chiếu!"

Tổ sư Đạt Ma nói với tôi:
Đây là hiện tượng nghìn sông có nước sẽ có nghìn sông trăng, một mặt trăng đã đủ để hiện lên trên biển, hồ, sông, suối, ao ...
Hóa thân bên ngoài thân.
Là Lư Sư Tôn đã dùng "bồ đề tâm quang" để soi sáng chúng sinh, đây là vì ngài đã phát bồ đề tâm.
Do vậy mà cứu độ.
Do vậy mà tiện lợi.
Đây chính là pháp môn của Đại thừa đó!


### 10. Đổi tế bào não mới


Tôi kể với Tổ sư Đạt Ma:
Sư tỉ Alice ở California nước Mỹ, cô ấy chính là sư tỉ bị mắc bệnh viêm tủy xám từ nhỏ, chân đi lại khó khăn. Cô ấy có ba chị em gái, đều là những đệ tử tu pháp chăm chỉ.

Vào ngày 20 tháng 10 năm 2020, lúc sáng sớm 6 giờ, sư tỉ Alice đã rời khỏi nhân gian. 

Vào lúc sắp qua đời.
Chị em của Alice nhìn thấy Lư Sư Tôn đến, trong hư không đưa Alice đi. Vào lúc 2 giờ chiều ngày 20, sư tỉ Thục Nhất kể với tôi sự việc này. Tôi nói:
"Tôi đã biết rồi!"
Tôi kể với Tổ sư Đạt Ma. Tổ sư Đạt Ma nói:
"Hóa thân bên ngoài thân của ngài càng ngày càng hoàn hảo. Trên thế gian này rất hiếm có đó."

Còn nữa:
Tôi kể với Tổ sư Đạt Ma, hình ảnh phản chiếu của hóa thân của tôi mặc dù càng ngày càng nhiều, nhưng tôi cũng không thể giúp đỡ cho sư huynh Thuận Cát, đây là điều khiến tôi lấy làm tiếc!
Sư huynh Thuận Cát là người ở Vancouver, Canada.
Bạn thân của ông ấy là sư tỉ Hùng Mạn.
Vì sư huynh Thuận Cát và tôi tuổi tác xấp xỉ nhau, ấn tượng của tôi đối với ông ấy rất sâu sắc.

Sư huynh Thuận Cát đã bị đột quỵ.
Bác sĩ nói:
Ông ấy khi tỉnh khi mơ, có khi nhận ra người khác, có khi không nhận ra người khác.
Đây là bởi vì khi bị đột quỵ, tế bào não trong não của ông ấy đã chết rồi.
Bác sĩ nói:
"Tế bào não đã chết thì không thể sống lại được."
Do vậy, sư huynh Thuận Cát đã được đưa vào khu bệnh viện cho người sắp chết.

Sư tỉ Hùng Mạn sốt ruột muốn cứu ông ấy, nói rằng:
"Lư Sư Tôn có sức mạnh đại thần thông, tế bào não đã chết rồi, xin Lư Sư Tôn đổi tế bào não mới cho sư huynh Thuận Cát."
"Thậm chí đổi toàn bộ thành tế bào não mới."

Tôi hỏi Tổ sư Đạt Ma:
"Có thể được không?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Có người được, có người không."
Tôi hỏi:
"Như thế nào thì được?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Nếu không suy tính vọng tưởng thì được."
Tôi hỏi:
"Nếu có suy tính vọng tưởng thì sao?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Thì không được."
Tôi hỏi:
"Cái gì là suy tính vọng tưởng?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Tấm lòng bao dung và suy tính vọng tưởng vừa khéo lại tương phản với nhau. Lúc này [lúc thực hiện một hành động và kết quả của nó] chính là [quyết định dựa vào] thời khắc then chốt giữa tâm bao dung và suy tính vọng tưởng."
Tôi nói:
"Tôi đã hiểu rồi!"

[Nội dung đoạn hội thoại này ý nói rằng nếu thực hiện một hành động đơn thuần vì lòng bao dung, vì tâm từ bi, không mong cầu vọng tưởng vào kết quả của hành động đó, thì sẽ đem tới kết quả thành công, đó chính là điểm mấu chốt.]

Cá nhân tôi thì hiểu rằng, cái gọi là thiền cũng vốn từ vọng ngôn, vọng niệm.
Tâm bao dung là tâm của thánh hiền.
Tâm bao dung lại cũng là vọng ngôn, là vọng niệm.

[Tất cả đều Không, cùng tự tính]

Người tu hành chúng ta nhất định cần có tâm bao dung. Có được tâm bao dung rồi thì tự có thể thay đổi vận mệnh.
Tế bào não đã chết rồi thì không thể sống lại được nữa.
Có thể đổi tế bào mới được không chính là thời khắc then chốt.


### 11. Vì tâm là Phật


Tôi nói với Tổ sư Đạt Ma:
Tôi có hai đệ tử, một người là Liên Hoa Diệu Doãn, một người là Liên Hoa Văn Xuyên. Họ là đệ tử nhận quán đảnh từ xa. Hai người họ là vợ chồng, sống ở một đất nước khác.

Nhận thức của Liên Hoa Diệu Doãn rất cao, từ lâu cô ấy đã có thể hiểu được về Khổ, Không, Vô thường, Vô ngã. Cô ấy đã hiểu về Khổ - Tập - Diệt - Đạo.
Cô ấy là người thực tu.
Dần dần, tâm cảnh của cô ấy trở nên hòa nhã, đi trên con đường trung đạo trong việc đối nhân xử thế.
Cô ấy đã thông suốt rồi!
Đã buông bỏ rồi!

Đúng như Long Thụ Bồ Tát nói:
Phiêu diêu trong sự hỗn loạn đầy đau khổ của cuộc đời vạn biến.
Còn mong manh hơn cả những bong bóng trong dòng suối chảy.
Trong giấc ngủ say, mỗi hơi thở hít vào lại thở ra,
Có thể sống rồi tỉnh dậy thật biết bao diệu kì!

Liên Hoa Diệu Doãn nói:
Tôi đã có được thân người rất khó có được này.
Tôi nhờ có Lư Sư Tôn mà biết được những tinh yếu của Phật pháp.
Bây giờ bước vào cửa Phật thực tu.
Những việc thường ngày không còn quan trọng nữa.
Nguyện chúng sinh có thể thức tỉnh
Nguyện chúng sinh và tôi có thể cùng chứng ngộ.

Liên Hoa Diệu Doãn và Liên Hoa Văn Xuyên đã từng có lần hành hương đến Đài Loan. Khi đó, tôi đang ở Đài Loan Lôi Tạng Tự ở Thảo Đồn, Đài Loan làm pháp hội Hộ Ma.
Trong lúc tiến hành pháp hội.
Liên Hoa Văn Xuyên đột nhiên nhìn thấy Chư Phật Bồ Tát từ trong hư không hạ giáng. Đầy khắp bầu trời là Chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, Chư Thiên. Tín tâm của Liên Hoa Diệu Doãn và Liên Hoa Văn Xuyên càng tăng.

Tôi hỏi Tổ sư Đạt Ma:
"Liên Hoa Văn Xuyên nhìn thấy chư Tôn hạ giáng là cảnh giới ra sao?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Là do tâm ngài hóa hiện ra!"
Tôi nói:
"Tôi không có tâm [cố tình tạo ra các sự hóa hiện] này!"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Vì vô sở trụ mà sinh ra tâm này."
Tôi thỉnh Tổ sư Đạt Ma giải thích rõ hơn.

Tổ sư Đạt Ma nói:
"Tất cả chư Tôn hiện ra tùy theo sự chiêu cảm, hóa hiện của tâm mà có, nhưng "cái có" này vốn không có tự tính, chỉ là tự tâm tạo ra mà thôi."
Tôi nói:
"Mặc dù là như vậy, thì sự hóa hiện đó cũng là một sự khích lệ!"
"Đúng thế."

Tôi nói với Tổ sư Đạt Ma:
"Thế tâm của tôi đang như thế nào?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Như mặt trời lên, như nước chảy xuống,
Tròn như hạt đậu, sắc như bụi gai
Cái đuôi khổng tước, con mắt rực đỏ
Chẳng ai tạo ra, tự nhiên mà thế."
Tôi nói:
"Tôi đã hiểu rồi! Tự nhiên an tâm là được."

Nhân đây:
Tôi chúc phúc cho Liên Hoa Diệu Doãn và Liên Hoa Văn Xuyên đã thực hành lục độ Bồ Tát đạo. Mặc dù thực hành lục độ Bồ Tát đạo, nhưng vô sở cầu, bởi vì vô sở cầu nên tự nhiên sẽ có phúc đức.
Chúc thành tựu!


### 12. Ánh sáng xua tan bóng tối


Tôi kể với Tổ sư Đạt Ma:
Tôi có một đệ tử người phương Tây tên là Luke. Anh ấy lấy vợ, sinh được một trai một gái.

Rồi một ngày, tôi ăn tối xong từ nhà ăn bước ra ngoài, đi đến cổng lớn thì nghe thấy con gái của Luke khóc rất to! Tiếng khóc rất thảm thiết!
Tôi hỏi Luke:
"Có chuyện gì vậy?"
Luke đáp:
"Gần đây, buổi tối nó không ngủ được, tinh thần rất dễ hoảng loạn, hơi một tí là khóc..."
Tôi nói:
"Chứng hốt hoảng và sợ hãi."

Tôi bảo con gái của Luke đứng ở yên đó, quay người lại, lưng hướng về tôi. Hai tay của tôi ấn lên lưng của cô bé.
(Con gái của Luke khoảng 14 tuổi.)
Tôi niệm chú:
"Thượng Thanh Thượng Đế Đông Hoa Đại Tướng Quân, Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn, lệnh cho Liên Sinh tôi nhận lục giáp thiên thư, để tiện sai khiến thần lục giáp lục binh, 12 vị Khê Nữ dạo chơi trên trời, năm vị thiên nữ Na Diên, ba vị đại tướng tổng quản thần binh là Hỏa Quang Đại Tướng, Phù Hải Đại Tướng, Hống Phong Đại Tướng, trăm vạn thần binh, trợ giúp cho pháp lực thần thông của tôi hợp với chính đạo."

Hai bàn tay tôi vận công. Tôi đập vào lưng con gái của Luke:
"Bộp! Bộp! Bộp! Bộp! Bộp! Bộp!"
Tôi trông thấy một khối ma quái màu xanh đen từ trên người con gái của Luke ngã ra, hấp tấp cuống cuồng tẩu thoát.
Kể từ ngày hôm đó.
Con gái của Luke buổi đêm ngủ rất ngon lành.
Không còn bị tinh thần hốt hoảng nữa!
Cũng không gào khóc nữa!
Tất cả đều bình thường rồi!
(Ví dụ này tôi đã viết trong cuốn sách "Thiên ngoại chi thiên".)

Tôi hỏi Tổ sư Đạt Ma:
"Sự việc này là thế nào?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Đó là ánh sáng của tâm đã xua tan bóng tối của tâm."
Tổ sư Đạt Ma còn nói:
"Phật pháp có giáo pháp, là lý luận. Còn có chứng pháp, là thực tu. Lư Sư Tôn thâm nhập cả vào lý luận và cả thực tu."
Còn nói:
"Lư Sư Tôn nhờ vào chứng lượng quý giá mà ánh sáng phổ chiếu, đã đẩy lùi bóng tối trong tâm của con gái Luke, xua tan sạch đi bóng tối, một khi đã đẩy lùi sạch sẽ bóng tối thì bệnh sẽ khỏi thôi!"
Chứng bệnh hoảng loạn
Chứng bệnh tâm thần
Chứng bệnh lo lắng
Chứng bệnh nóng nảy
...
Đều có thể xua đuổi sạch!

Tổ sư Đạt Ma còn kể như sau:
Thiền tông mà ngài ấy thành lập cũng chính là Duy tâm tông, vạn pháp duy tâm, do vậy gọi là:
"Bất lập văn tự,
Giáo ngoại biệt truyền,
Dĩ tâm truyền tâm,
Trực chỉ nhân tâm
Kiến tính thành Phật."

Đây chính là tâm pháp trực tiếp nhất.
Tôi (Lư Sư Tôn) nghĩ thế này, muốn thành tựu Phật quả, tu theo Mật giáo thì theo tứ tự sinh khởi mà tu, rồi tiếp đó tu theo thứ tự viên mãn, lần lượt hoàn thành từng bước một.
Sau cùng thì mới là "duy tâm"!


### 13. Đoán tuổi thọ


Tôi kể với Tổ sư Đạt Ma:
Ngày trước có một người là Quỷ Bà sống tại San Francisco.
Quỷ Bà nói: Lư Sư Tôn sống được đến 73 tuổi.
Quỷ Bà đã nói câu này từ 10 năm trước rồi, rất nhiều người đã nghe được điều này.

Quỷ Bà tôn sùng năm con quỷ lớn:
Hoàng Kim Tuyền - quỷ người Hoa.
Lâm Lương Tri - quỷ người Hoa.
Kobayashi - quỷ người Nhật.
Watanabe - quỷ người Nhật.
Nakamura - quỷ người Nhật.
Kết quả là, nói láo liên miên, bảo rằng 73 tuổi tôi sẽ hết đời, đương nhiên là không chuẩn rồi. (Tôi năm nay đã 76 tuổi rồi - theo cách tính tuổi Đài Loan.)

Ngoài ra:
Xứng Cốt Toán Mệnh pháp của Viên Thiên Cương (một nhân sĩ học đạo) cực kì nổi tiếng. Căn cứ theo pháp này thì tôi được bốn lượng tám chỉ, tính dựa trên hai con số của giờ, ngày, tháng, năm sinh.
Tôi sẽ sống đến 77 tuổi.
Còn nữa:
Diêu Trì Kim Mẫu nói với tôi rằng:
"Lư Sư Tôn! Ngài sẽ sống đến xx tuổi."
"Thời gian không còn nhiều nữa!"
Đương nhiên tôi tin vào lời của Diêu Trì Kim Mẫu, bởi vì Diêu Trì Kim Mẫu là Bổn tôn mà tôi tương ứng. Những gì mà Diêu Trì Kim Mẫu đã nói thì:
Luôn chỉ có chuẩn!
Nhất ngôn cửu đỉnh.
Trong lòng tôi đã tính trước.

Hơn nữa:
A Di Đà Phật nói với tôi:
"Ta sẽ kéo dài thọ mệnh của ngài thêm từ ba đến sáu năm nữa."
Tôi đã nghe thấy rồi!
A Di Đà Phật là bản địa của tôi, Liên Hoa Đồng Tử là do A Di Đà Phật hóa sinh. A Di Đà Phật là Phật Trường Thọ, lời mà ngài nói đương nhiên là chuẩn.

A Di Đà Phật đã hóa sinh ra:
Hạng Quang Đồng Tử.
Hóa Sinh Đồng Tử.
Liên Hoa Đồng Tử.
Lư Sư Tôn tôi vốn là A Di Đà Phật, không hai không khác, A Di Đà Phật biết rõ tuổi thọ của tôi.

Tôi hỏi Tổ sư Đạt Ma:
"Vậy thì, phải làm sao đây?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Tự tâm ngài làm chủ, tự chủ sinh tử!"
Tổ sư Đạt Ma nói:
Hết thảy mọi thứ sống đều vô thường, chắc chắn sẽ diệt vong.
Hết thảy mọi tích lũy đều vô thường, chắc chắn sẽ kiệt quệ.
Hết thảy mọi tích tụ đều vô thường, chắc chắn sẽ phân tán.
Hết thảy mọi kiến tạo đều vô thường, chắc chắn sẽ hủy hoại.
Hết thảy mọi thứ đi lên đều vô thường, chắc chắn sẽ rơi xuống.
...

Tổ sư Đạt Ma nói:
"Lư Sư Tôn! Chẳng phải ngài đã nói thực vô sinh tử đó sao. Chẳng qua chỉ là chuyển nhà mà thôi!"
Tôi nói:
"Đúng vậy. Đã hiểu rồi!"
Tổ sư Đạt Ma hỏi tôi:
"Ngài muốn sống bao lâu?"
Tôi đáp:
"Chẳng muốn!"
Tổ sư Đạt Ma cười lớn ha ha.


### 14. Chuyện về nhân quả luân hồi


Tôi kể với Tổ sư Đạt Ma:
Tôi có một đệ tử tên là Liên Hoa Sĩ Chính (tên giả), được cử đến Saudi Arabia làm việc. Kết thúc ngày làm việc, Liên Hoa Sĩ Chính lái xe trên một con đường lớn giữa sa mạc ban đêm, vô tình đâm chết một đứa trẻ nhỏ.
Liên Hoa Sĩ Chính hoảng sợ!
Anh bỏ chạy khỏi hiện trường, trong lòng vô cùng lo lắng.

Sau đó, anh trở về đất nước của mình. Nhưng anh không sao rũ bỏ được những hình ảnh u ám về việc anh đã đâm chết một đứa trẻ trên đoạn đường tối tăm đó.
Không lâu sau.
Vợ anh mang thai, sinh ra một đứa bé. Đứa bé này có kiểu tóc và cái mũi rất giống với đứa bé ở Saudi Arabia. Hơn nữa, đứa bé bị chứng mềm xương, bẩm sinh đã bị tàn tật.

Liên Hoa Sĩ Chính đến kể cho tôi nghe chuyện này. Sự việc kiểu này phải làm sao giải quyết mới tốt đây?
Tôi hỏi Tổ sư Đạt Ma:
"Chuyện này giải quyết thế nào?"
Tổ sư Đạt Ma không trả lời tôi ngay, ngược lại còn kể cho tôi nghe một câu chuyện về nhân quả:
A La Hán Ca Chiên Diên ra ngoài ăn cơm, trông thấy một người ôm đứa con trai cho ngồi trên đầu gối. Người này vừa say sưa ăn một con cá, vừa ném đá vào một con chó mẹ định đến để kiếm xương ăn.
Con chó mẹ ngửi thấy mùi thơm thì đến gần. Người kia vừa ném đá thì con chó chạy mất.

Ca Chiên Diên dùng thiên nhãn để quan sát thì thấy:
Con cá là cha đẻ của người này chuyển thế.
Con chó mẹ là mẹ đẻ của người này chuyển thế.
Đứa bé là kẻ thù kiếp trước của người này chuyển thế. Là kẻ thù đến để đòi báo ứng.
Bởi thế, Ca Chiên Diên mới thở dài rằng:
Gặm nhấm thịt cha ta
Ném đá đuổi mẹ ta
Đứa bé ôm trên đùi
Là kẻ thù kiếp trước.
Ôi trò đùa luân hồi
Nên khóc hay nên cười.

Tổ sư Đạt Ma hỏi tôi:
"Tình huống này phải làm sao?"
Tôi đáp:
"Tôi là người thấu hiểu rõ luân hồi, do vậy tôi đã phát khởi tâm xuất li."
Tôi nói:
Liên Hoa Sĩ Chính cần sám hối sự việc quá khứ, nghiêm khắc kiểm điểm bản thân, cần phải tranh thủ thời gian này mà học Phật pháp, nhằm đạt đến giải thoát.
Không ngừng tu quan sát vô thường, chính là cúng dường chư Phật.
Không ngừng tu quan sát vô thường, chính là được chư Phật cứu ra khỏi đau khổ.
Không ngừng tu quan sát vô thường, chính là sẽ được chư Phật chỉ dẫn.
Không ngừng tu quan sát vô thường, chính là được chư Phật gia trì.

Còn nữa:
Luân hồi đâu đâu cũng thấy
Vạn vật nằm trong luân hồi
Cầu thỉnh Thượng sư Bổn tôn chỉ dạy
Gia trì hết thảy chúng sinh lạc đường.
Mong cho chúng ta thật sự lĩnh ngộ luân hồi.
Phát khởi tâm tu trì Phật pháp.

Tổ sư Đạt Ma nói:
Loại bỏ hết vọng niệm
Thì phàm thánh đều như nhau.
Tịch nhiên vô vi đạt đến tột cùng
Gạt bỏ quan kiến, buông bỏ, tự tại.
Cùng tiến vào miền đại lạc.


### 15. Tranh vẽ tiên nữ


Gần đây, ở trong phòng vẽ tranh, tôi đã vẽ mấy bức tranh tiên nữ, chủ yếu là vẽ:
Tiên cô Đổng Song Thành.
Tiên cô Hứa Phi Quỳnh.
(Là hai đại thị giả của Diêu Trì Kim Mẫu.)
Tôi còn vẽ con gái của Diêu Trì Kim Mẫu, gồm có:
Công chúa Long Cát, tiên nữ Thanh Nga, tiên nữ Uyển La, tiên nữ Mị Lan, tiên nữ Dung Chân, tiên nữ Diêu Cơ, tiên nữ Ngọc Chi ...

Ngoài ra còn có:
Năm thiên nữ Cát Tường Tuyết Sơn Trường Thọ.
Tôi còn muốn vẽ:
12 tiên nữ Cát Tường Thiên.
Những tiên nữ mà tôi muốn vẽ nhiều quá!
Ví dụ như: Bạch Độ Mẫu, Bạch Y Thiên Nữ, Hồng Y Thiên Nữ, Hoàng Y Thiên Nữ, Mã Cát Lạp Tôn, Hắc Phẫn Nộ Mẫu, Đa Kiệt Phách Mẫu, Kim Cang Du Già Mẫu, Kurukulle Phật Mẫu, Yeshe Tsogyal, Mandarava, Sakya Dewa, Kala Siddhi, Tashi, Saraswati (Diệu Âm Thiên Nữ), Ô Mã Thiên Nữ, Ca Lị Thiên Nữ, Tứ Thủ Phương Thiên Nữ, Bát Phương Thiên Nữ, 20 Thiên Thiên Nữ.

Trong kí ức của tôi, vị tiên nữ có ấn tượng sâu đậm nhất là con gái của Diêu Trì Kim Mẫu - tiên nữ Diêu Cơ, nàng ấy chính là Vân Hoa phu nhân.
(Vào kiếp trước, tôi đã lấy Vân Hoa phu nhân làm vợ.)
Còn nữa:
Kí ức sâu sắc nhất là 12 vị Thiên Nữ Cát Tường, mỗi người đều có duyên với tôi. Ngoài ra còn có năm vị Thiên Nữ Trường Thọ.

Tôi vẽ tranh tiên nữ, mỗi bức tranh tôi đều thổi vào một hơi khí.
Từng có một đồng môn đã thỉnh một bức tranh tiên nữ của tôi về. Đây là bức tiên nữ thổi sáo. Có một đêm, đồng môn nghe thấy âm thanh tiếng sáo, tỉnh dậy, chẳng ngờ lại nhìn thấy tiên nữ từ trong tranh bước ra ngoài, đang thổi sáo trong không trung.
Dung nhan tiên nữ lộng lẫy ấy.
Dáng vẻ tiên nữ uyển chuyển ấy.
Xiêm y thiên nữ bay bay ấy.
Sắc thái màu sắc tươi sáng ấy.
Trời ơi! Đúng là thiên tiên mỹ nữ, thổi nên tiếng sáo khiến người ta ngất ngây. Âm thanh tiếng sáo này chỉ trên trời mới có, nhân gian hiếm khi nào nghe thấy.

Tôi hỏi Tổ sư Đạt Ma:
"Việc này là thế nào?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Lư Sư Tôn, ngài từng vẽ chim, chim bay ra ngoài bức tranh. Ngài từng vẽ hoa quả, hoa quả tỏa ra mùi thơm. Ngài vẽ tiên nữ, tiên nữ tự nhiên bay ra thôi."
Tôi hỏi:
"Vì nguyên nhân gì?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Là vì cái hà hơi đó!"

Tôi hỏi:
"Chân khí vì sao lại như vậy?"
Tổ sư Đạt Ma cười:
"Thiên hạ vạn vật, nhờ khí mà sống, không có khí thì cũng không có mệnh, có khí thì mới có sinh mệnh, đó là tự nhiên."
Tôi hỏi:
"Gặp chuyện này phải làm sao?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Tâm bình thường!"
Tôi hỏi:
"Thế nào là tâm bình thường?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Pháp nhĩ bản nhiên."


### 16. Mỹ nữ tự tìm đến


Tôi nói với Tổ sư Đạt Ma:
"Lư Sư Tôn có điều khó xử, xin Tổ sư giải thích được không?"
Tổ sư Đạt Ma hỏi:
"Chuyện gì?"
Tôi đáp:
"Mỹ nữ tự tìm đến, phải làm sao?"
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Chẳng phải ngài dạy người ta tu Bạch cốt quán và Bất tịnh quán đó sao?"
Tôi nói:
"Đúng thế. Đúng thế. Nhưng quán bạch cốt một lúc sau đã biến thành da trắng nõn nà rồi, quán bất tịnh thì biến thành xinh đẹp đáng yêu."

Tổ sư Đạt Ma nói:
"Chẳng phải ngài dạy người ta, người hơn tuổi thì quán tưởng là mẹ mình, người ngang hàng thì quán tưởng là chị em mình, người ít tuổi hơn thì quán tưởng là con gái mình. Như vậy thì tà niệm sẽ tự nhiên tiêu tan sao?"
Tôi nói:
"Đúng thế. Đúng thế. Nhưng một lúc sau thì cảm thấy đây là đang tự lừa mình. Đâu phải là như vậy đâu."

Tổ sư Đạt Ma nói:
"Chẳng phải ngài dạy người ta dùng sự quan sát vô thường để quan sát mỹ nữ sao?"
Có nghĩa là:
*"Mỹ nữ già đi
Già thì sẽ xấu
Châu ngọc già cũ
Cũng chẳng còn yêu
Tâm cũng vô thường
Hết yêu lại hận
Hoạn nạn vô tận."*

Tôi nói:
"Đúng vậy, đúng vậy. Quán vô thường là như vậy!"
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Quán vô thường là pháp bảo, bất kể là có địa vị cao, có quyền lực, có của cải, hoặc có sắc đẹp, đều chẳng kéo dài mãi, sẽ thay đổi liên tục. Thường tu quán vô thường thì sẽ không phát sinh bất kì ham muốn gì. Từ xưa đến nay, hết thảy Thánh hiền đều dựa vào việc quán vô thường để kiềm chế trước những cám dỗ mê hoặc."
Tôi nói:
"Đúng vậy. Đúng vậy."

Tôi lại hỏi:
"Nhưng nhất thời bị mê hoặc thì phải làm sao?"
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Mật giáo chẳng phải là có pháp tiếp nhận rồi chuyển hóa thành phương pháp tu hành sao?"
Tôi nói:
"Lư Sư Tôn là Kham nhẫn giả, tự có thể chuyển hóa. Nhưng đệ tử thông thường thì không thể chuyển hóa, phải làm sao?"

[Kham nhẫn giả: Hành giả đã thành tựu, có thể gánh chịu bát phong và mọi độc tố của cõi Ta Bà nhưng vốn không hề thực bị ô nhiễm.]

Tổ sư Đạt Ma nói:
"Ngài có thể chuyển hóa, ta thật sự ngưỡng mộ ngài.
Ngài dùng lòng từ bi quảng đại, nỗ lực vì lợi ích của chúng sinh.
Không bám chấp vào luân hồi niết bàn, ngài là hành giả vô lậu thực hành Đại thừa.
Một vị thượng sư không thể so sánh, chúng sinh đảnh lễ dưới chân ngài."

Tổ sư Đạt Ma còn nói:
"Đối với việc phàm phu thế tục không thể chuyển hóa được thì có một bài thơ thế này:
*Mỹ nữ eo thon đeo bảo kiếm
Không trảm Thánh hiền trảm phàm phu,
Mặc dù chẳng thấy đầu rơi xuống,
Xương cốt đã khô tự bao giờ.*"

Tôi nói:
"Thiện tai! Thiện tai! Chúng ta y theo lời dạy bảo của Tổ sư Đạt Ma mà làm theo."
Tôi nói:
"Nếu có người tu hành vẫn chưa thể đạt đến khả năng chịu đựng, nhưng lại nói xằng bậy là có khả năng chịu đựng, lừa mình dối người, phải làm sao?"
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Sau khi chết thì đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Không có lối thoát nào khác."


### 17. Điều chí lí liên quan đến "vô thường"


Tôi hỏi Tổ sư Đạt Ma:
"Pháp quan trọng nhất của Phật pháp là gì?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Pháp vô thường."
Tôi hỏi:
"Vì sao lại là pháp vô thường? Pháp vô thường rất bình thường mà!"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Đúng là bình thường, nhưng chúng sinh luôn coi thường!"

Tôi hỏi:
"Cá nhân tôi biết rằng chư hành vô thường là pháp số một! Nhưng chúng sinh không hiểu, không biết phải làm sao đây?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Bởi vậy cần phải thường xuyên nhắc nhở chúng sinh!"
Tôi hỏi:
"Nhắc nhở như thế nào?"
Tổ sư Đạt Ma nói:
Tam pháp ấn của Phật Đà, pháp ấn thứ nhất là "Chư hành vô thường", pháp ấn thứ hai là "Chư pháp vô ngã", pháp ấn thứ ba là "Niết bàn tịch tĩnh".
Do vậy, Chư hành vô thường là pháp số một.
Là chân đế, là chân lý.

Tổ sư Đạt Ma nói:
*Đại tiên có đủ năm thần thông,
Bay cao bay xa ở không trung
Thế nhưng rốt cục chẳng đến được
Nơi chốn bất diệt sống vĩnh hằng.*

Còn nói:
Trực chỉ nhân tâm là gì? Đáp: tâm vô thường, tâm vô ngã, chẳng có tâm.
Kiến tính thành Phật là gì? Đáp: Niết bàn tịch tĩnh.
Chính là thiền.
Thiền chính là tam pháp ấn của Phật Đà.

Còn nói: có hợp thì sẽ có tan.
Ví dụ như:
Quốc gia. (có mạnh có yếu)
Chủng tộc. (có hưng có suy)
Gia đình. (có hợp có tan)
Tình nhân. (có yêu có hận)
Cá nhân. (có sinh có tử)
Tất cả những thứ này đều biến hóa vô thường, từ to lớn như một đất nước, đến nhỏ bé như một cá nhân đều mang hình thái vô thường.

Sinh mệnh rất nhỏ bé.
Cái chết đến rất nhanh.
Một đế quốc lớn vừa xuất hiện thì đã diệt vong, huống hồ là một con người nhỏ bé.
(Đế quốc Macedonia, đế quốc Caesar, đế quốc Mongolia)

Phật Đà từng nói:
"Trong một sát-na nhớ đến hết thảy mọi hiện tượng hòa hợp đều vô thường thì pháp vô thường này còn hơn việc cúng dường tất cả A La Hán."

Dampa Sangye nói: [Chính là tên tiếng Tạng của Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma]
"Khi mới bắt đầu có niềm tin vững chắc vào sự vô thường thì bạn đã bước vào Phật pháp rồi. Tiến thêm một bước nữa, bạn sẽ có được đạo tâm tinh tấn, cuối cùng, bạn sẽ đạt được pháp thân ánh sáng."
Cũng có nghĩa là:
Bước thứ nhất --- quán tu vô thường. (Chư hành vô thường)
Bước thứ hai --- quán tu bồ đề tâm. (Chư pháp vô ngã)
Bước thứ ba --- quán tu không tính. (Niết bàn tịch tĩnh)

Chúng ta cần thường xuyên nghĩ:
Thế giới ngoại tại là vô thường.
Thân tâm của thế giới nội tại đều vô thường.
Sinh ra là đã vô thường rồi.
Tiền, sắc, danh, ăn, ngủ, đều vô thường.
Chết cũng vô thường.
Hãy luôn luôn nhớ rõ khổ, không, vô thường, vô ngã.


### 18. Người mù và người điếc


Tôi hỏi Tổ sư Đạt Ma:
"Tôi có một đệ tử, kết hôn rồi sinh con, nhưng đứa bé sinh ra không ngờ lại bị mù. Xin hỏi, là vì nhân duyên gì?"
Tổ sư Đạt Ma dùng thiên nhãn quan sát. Ngài nói:
"Đứa bé mù này kiếp trước là đệ tử của ngài!"
Tôi hỏi:
"Đệ tử của tôi ư, sao có thể như vậy?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Khi đó ngài cũng đang hoằng dương Thánh giáo, nó đến quy y, nhưng vì nhân tố khác, nó lại phỉ báng ngài, khinh thường ngài, còn kêu gọi những người khác rời bỏ ngài."
Tôi hỏi:
"Việc này là phản bội ư?"
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Trong lòng nó phẫn nộ, rời bỏ sư phụ, phát nguyện vĩnh viễn không gặp sư phụ nữa, do vậy nó sẽ làm người mù trong một trăm kiếp."
Tôi hỏi:
"Nghiêm trọng đến thế à?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Đúng thế."
Trong lòng tôi vô cùng buồn rầu.

Còn nữa:
Tôi hỏi Tổ sư Đạt Ma:
"Tôi lại có một đệ tử, kết hôn rồi sinh con, nhưng đứa bé sinh ra lại bị điếc bẩm sinh, lẽ nào cũng là vì kiểu nhân duyên này?"
Tổ sư Đạt Ma dùng thiên nhãn quan sát. Ngài nói:
"Đứa bé bị điếc này cũng thật sự là đệ tử của ngài!"
Tôi hỏi:
"Vậy nó có khuyết điểm gì?"
Tổ sư đáp:
"Mỗi lần ngài thuyết pháp, nó đều ngủ gật!"
Tôi hỏi:
"Ngủ gật thì sẽ có báo ứng như vậy hay sao?"
Tổ sư đáp:
"Cơ bản là nó không có nghe!"
Tôi hỏi:
"Không nghe pháp thì kiếp sau sẽ bị điếc, nghiêm trọng như vậy sao?"

Tổ sư Đạt Ma kể:
Vào thời Phật Đà.
Có một đệ tử khi nghe pháp thường ngủ gật, căn bản là không hề nghe pháp. Phật Đà nói:
"Đến kiếp sau, con sẽ chuyển thế thành một con ốc, xung quanh vỏ ốc bao kín, hãy ngủ ở bên trong đó vậy! Một giấc ngủ là một nghìn năm, đời đời kiếp kiếp đều là con ốc."
Tôi nói:
"Như thế này thì càng thảm hơn nữa!"
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Đúng thế, đúng thế."

Tôi nghĩ đến có một đệ tử là Alice, từ khi còn nhỏ đã là một đứa bé đã bị tàn tật, là vì nhân duyên gì?
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Cô ấy từng là đệ tử của Phật Đà!"
Tôi rất kinh ngạc!
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Cô ấy phụ trách việc chuẩn bị pháp tọa cho Phật Đà, mời Phật lên pháp tọa thuyết pháp."
Tôi nói:
"Việc này rất tốt mà!"
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Alice cảm thấy rất mệt nên làm không đến nơi đến chốn, cuối cùng không làm nữa! Rời bỏ Phật Đà, vì nhân duyên này, nên từ nhỏ cô ấy đã bị tàn tật, chỉ có thể ngồi trên xe lăn. Đây chính là nhân quả của Alice."
Tôi cảm thấy:
"Nhân quả thật đáng sợ!"


### 19. Bàn luận về "không" và "có"


Tôi nói:
Bài kệ của đại sư Thần Tú.
*Thân là cây bồ đề
Tâm là tấm gương sáng
Thường xuyên chăm lau phủi
Chẳng để bụi bám lên.*

Bài kệ của đại sư Huệ Năng:
*Bồ đề chẳng phải cây
Gương sáng cũng đâu có
Vốn dĩ chẳng có gì
Lấy đâu mà bám bụi.*

Hai bài kệ này được lưu truyền từ xưa đến nay, mọi người đều hiểu, bài kệ trước là nói đến cái "có", bài kệ sau là nói đến cái "không".
Tôi hỏi Tổ sư Đạt Ma:
"Vậy người nào nói đúng hơn?"
Tổ sư Đạt Ma im lặng không nói gì, một lúc lâu sau, ngài ấy hỏi ngược lại tôi:
"Người nào nói đúng hơn?"
Lúc này thì đến lượt tôi im lặng không nói gì.
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Im lặng không nói gì là đúng hơn cả!"
Tôi và Tổ sư Đạt Ma nhìn nhau rồi cười.

Theo như tôi biết:
Bài kệ trước là nói về phương tiện. (cái có)
Bài kệ trước là "nhất triêu phong nguyệt". [cảnh sắc của một ngày] 
Bài kệ trước là "pháp tiệm". [pháp ngấm từ từ]
Bài kệ trước là "pháp".
Bài kệ sau là trí huệ. (cái không)
Bài kệ sau là "vạn cổ trường không". [bầu trời muôn thuở]
Bài kệ sau là "pháp đốn". [pháp giác ngộ lập tức]
Bài kệ sau là "phi pháp".

Tổ sư Đạt Ma dường như biết được trong lòng tôi đang nghĩ gì, ngài lập tức nói:
"Bài trước là thứ tự, bài sau là trực chỉ."
Còn nói:
"Hai bài đều quy về một chỗ!"
Tôi nói:
"Sắc tức thị không, không tức thị sắc."
Tôi nói với Tổ sư Đạt Ma:
"Tôi thích đường lối trung quán của Long Thụ Bồ Tát.
Không - hữu song vận.
Phương tiện và trí huệ song vận.
Lạc - không song vận.
Sinh khởi và viên mãn song vận.
Tiệm - đốn song vận.
...."

Tôi nói:
"Phật Đà thuyết pháp, có cả kinh liễu nghĩa, cũng có cả kinh không liễu nghĩa. [liễu nghĩa là ý nghĩa đã được giải thích đầy đủ trọn vẹn, ở đây là kinh giảng về Giác ngộ Tính không. Không liễu nghĩa là kinh giảng về các pháp vô thường, hiện hữu] Đương nhiên liễu nghĩa là viên mãn, không liễu nghĩa là phương tiện. Đương nhiên, liễu nghĩa là trí huệ vô thượng, nhưng không liễu nghĩa cũng là vì hỗ trợ cho liễu nghĩa, nên mới sinh ra các pháp."

Tôi nói:
"Không liễu nghĩa là sắc, liễu nghĩa là không. Tôi đương nhiên biết rằng, sắc tức thị không, không tức thị sắc."
Tổ sư Đạt Ma hỏi tôi:
"Mật pháp là cái gì?" (ý nói sự bộ, hành bộ, du già bộ)
Tôi đáp:
"Không liễu nghĩa!"
Tổ sư Đạt Ma hỏi tôi:
"Vô thượng mật là gì?"
Tôi đáp:
"Liễu nghĩa!"
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Ví von như cái bè vậy."


### 20. Virus Corona


Tôi nói với Tổ sư Đạt Ma:
Có một đệ tử là sư tỉ Phi Phi từ Jakarta Indonesia đến Mỹ học tập và làm việc. Cô kể với tôi rằng:
Có một đệ tử sống tại Sujian Mawati ở đảo Sumatra bị nhiễm virus Corona rất nghiêm trọng, phải nằm trong bệnh viện. Chỉ còn cách hết sức niệm thầm tâm chú của Căn bản Thượng sư (Liên Hoa Đồng Tử): Om guru liansheng siddhi hum.

Cô cảm ứng thấy:
Có rất nhiều con sâu nhỏ màu đen bò ra từ các lỗ chân lông trên người cô, hết con này đến con khác bò ra. Rất nhiều rất nhiều những con sâu nhỏ màu đen, sau khi chúng bò ra thì rơi khắp xung quanh giường bệnh. Cô tiếp tục niệm Căn bản Thượng sư tâm chú.
Thế là, Căn bản Thượng sư Lư Sư Tôn hiện thân tại không trung, hơn nữa còn phóng ánh sáng vàng chiếu đến cô. Cô cảm thấy ấm áp và dễ chịu.
Chỉ một ngày sau, virus Corona trong người cô đã biến mất!
Sau khi kiểm tra, quả nhiên cô đã khỏi bệnh rồi!
Cô rất sung sướng được xuất viện.

Còn nữa:
Có một đệ tử là Liên Hoa Thiên Nam, anh bị chứng bệnh đau đầu, cực kì đau. Hơn nữa, bệnh này đã kéo dài hơn 10 năm rồi. Cũng tương tự, mỗi lần đau đầu, anh lại niệm Liên Hoa Đồng Tử tâm chú: Om guru liansheng siddhi hum.

Một thời gian sau. Một đêm anh nằm mơ, mơ thấy chính mình đang chải đầu, kết quả là từ trong tóc rơi ra rất nhiều con sâu nhỏ màu đen.
Càng chải càng rơi!
Càng rơi càng nhiều!
Trên mặt đất đầy những xác sâu nhỏ màu đen.
Đầu anh cũng không còn đau nữa.

Sau khi có được giấc mơ này, đến nay cũng đã tròn nửa năm rồi, anh không còn bị đau đầu nữa! Trước đây cứ hai, ba ngày lại có một cơn đau, bây giờ đã nửa năm rồi, đầu hoàn toàn không đau nữa!

Tôi hỏi:
"Những con sâu nhỏ màu đen này là gì?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Là nghiệp sinh ra bởi nhân duyên."
Tôi hỏi:
"Thế còn những con sâu nhỏ màu đen bò ra thì sao?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Biểu hiện rằng đã trừ bỏ nghiệp chướng."

Tôi hỏi:
"Đây gọi là gì?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Gọi là thực hành pháp."
Tổ sư Đạt Ma còn nói:
"Mật giáo yêu cầu ta trì chú, chú chính là ánh sáng, Mật giáo yêu cầu ta kết thủ ấn, thủ ấn chính là ánh sáng. Mật giáo yêu cầu ta quán tưởng, quán tưởng chính là ánh sáng. Lấy ánh sáng để đẩy lùi bóng tối."

Tổ sư Đạt Ma lại nói:
"Thiền tông cũng như vậy, đệ tử có thể lập tức lĩnh hội được ánh sáng của tổ sư thì chính là sự thực hành của thiền."
Thiền là gì?
Ngộ chính là Huệ.
Tu chính là Định.


### 21. Quay mặt vào tường thiền định chín năm


Tổ sư Đạt Ma ở trong hang động phía sau núi của chùa Tung Sơn Thiếu Lâm Tự, đã quay mặt vào tường thiền định chín năm.

Tôi (Lư Sư Tôn) hỏi ngài ấy:
"Có được tâm đắc gì?"
Tổ sư đáp:
"Chẳng được chẳng mất!"
Tôi hỏi:
"Thế vì sao lại quay mặt vào tường?"
Tổ sư đáp:
"Chẳng còn thị phi."

Tôi hỏi:
"Quay mặt vào tường có công phu hữu ích chăng?"
Tổ sư đáp:
"Cũng có mà cũng không!"
Tôi hỏi:
"Là ở giữa có và không sao?"
Tổ sư đáp:
"Trống rỗng!"
Tôi hỏi:
"Ý là sao?"
Tổ sư đáp:
"Không Không Không."
Tôi hỏi:
"Ngoài Không Không Không ra, còn ý nghĩa nào sâu xa hơn không?"
Tổ sư đáp:
"Ý thức đạt đến trạng thái bản nhiên!"

Cuối cùng tôi đã hiểu rồi, Tổ sư Đạt Ma quay mặt vào tường chín năm, việc bế quan ẩn tu này không phải là chuyện thường, thật sự khiến trời đất kinh động, thần quỷ khóc than.
Tôi nghe nói, khi Tổ sư Đạt Ma quay mặt vào tường thì nghe thấy kiến đánh nhau ồn ào như sấm sét.
Tôi hỏi:
"Nghe thấy kiến đánh nhau mà như sấm sét ư?"
Tổ sư đáp:
"Người ngoài đồn thổi thôi."
Tôi hỏi:
"Sự thực là sao?"
Tổ sư đáp:
"Không còn ý thức từ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, không còn sắc, thanh, hương, vị, xúc giác."

Tôi nói với Tổ sư Đạt Ma:
Lư Sư Tôn tôi, khi tâm khí hợp nhất tại lỗ trên đỉnh đầu, có thể thấy được:

1. Thiên cung.

1. Thiên thần ở thiên cung.

1. Hoàng tử và công chúa của thiên thần.
Phong thái hào hoa của thiên cung, quyền hành và uy nghiêm của thiên thần, những búi tóc đẹp đẽ của hoàng tử công chúa, những đồ trang sức bằng thất trân bát bảo.
Bài hát.
Điệu múa.
Mũ hoa.
Trò chơi.
Cảm giác thấy một niềm vui vô hạn tuôn chảy ở trong lòng.

Tổ sư Đạt Ma nói:
"Những gì ngài thấy không sai. Đó là năng lực thiền định của ngài đã đến được lạc xứ của chư Thiên. Nhưng đó chưa phải là cứu cánh. Khi tự hiểu rằng niềm vui của thiên nhân trên cõi chư Thiên là có hạn, khi hết cái nhân của niềm vui thì cái nhân của đau khổ sẽ sinh ra, vẫn còn ở trong luân hồi."
Tôi hỏi:
"Vậy phải làm sao?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Chẳng khổ chẳng vui."
"Thế nào mới là chẳng khổ chẳng vui?" - Tôi hỏi.
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Ý thức đạt đến trạng thái bản nhiên."


### 22. Kì tích của Liên Hoa Khả Lệ


Tôi kể với Tổ sư Đạt Ma:
Ở Malaysia, tôi có một sư tỉ tên là Liên Hoa Khả Lệ. Khi cô ấy ở Seattle, tôi gọi cô ấy là "bánh crêpe". [Người Đài Loan gọi bánh crêpe là bánh Khả Lệ, trùng tên với sư tỉ này.]
Bánh crepe là một món ăn ngon.

Chuyện rằng:
Sau khi trở về Malaysia, có một hôm, cô lái xe trên đường cao tốc. Khi đó, có rất nhiều xe chạy nối đuôi nhau thành hàng, tốc độ rất nhanh. Khoảng cách giữa các xe tương đối gần, không giữ khoảng cách an toàn, chẳng khác gì đua xe.
Đột nhiên, phía trước sư tỉ Khả Lệ có hai chiếc xe va vào nhau. Xe hỏng, dừng ngay giữa đường.
Sư tỉ Khả Lệ trông thấy hai chiếc xe va vào nhau ở phía trước thì lập tức rất hoảng sợ!
Linh quang của cô lóe lên, lập tức cô niệm:
"Om guru liansheng siddhi hum."
Lập tức phanh xe lại.

Nhưng cô biết rằng, mấy chiếc xe chạy phía sau, tốc độ chạy của xe nào cũng nhanh và sát nhau, chắc chắn sẽ đâm vào nhau. Cô bèn bẻ tay lái, định dừng lại ở bên đường.
Nhưng tốc độ của xe quá nhanh.
Lại phanh gấp.
Bẻ lái nhanh.
Thế là cả xe và người cùng lật nhào, xe lật mấy vòng, nằm trên bãi cỏ dốc xuống bên lề đường. Lúc này thì đã muộn rồi. Những tiếng phanh xe liên tục rít lên.
"Binh!" "Binh!" "Binh!" "Binh!" "Binh!" "Binh!" Xe đâm vào nhau thành một chuỗi âm thanh. Một vụ đụng xe liên tiếp, gây nên một vụ tai nạn xe liên hoàn khủng khiếp. Xe ô tô cũng trở thành bánh crêpe, còn người lái xe cũng thành bánh crêpe luôn. Người chết đã chết, người bị thương thì bị thương. Thật tang thương!

Xe của Liên Hoa Khả Lệ lật nằm trên bãi cỏ mé đường dốc, cô ấy không thể bò ra ngoài xe được. Sau đó có người đến giúp cô. Cô ra khỏi xe, xe không bị cháy.
Cô tự kiểm tra thân thể, may mắn sao chẳng bị thương dù chỉ một sợi tóc, ngay cả vết trầy da cũng không có, người cũng không va phải cái gì. Cũng chẳng khác gì hoàn hảo.

Sư tỉ Tiểu Phân, một người thông linh nói:
"Liên Hoa Khả Lệ niệm Thượng sư tâm chú, Lư Sư Tôn xuất hiện đúng lúc, bàn tay của Lư Sư Tôn đã phóng ra ánh sáng màu vàng, bao trùm lấy toàn thân của Liên Hoa Khả Lệ, che chở cho thân thể của Liên Hoa Khả Lệ!"
Liên Hoa Khả Lệ nói:
"Đúng vậy! Xe lật mấy vòng, cô cảm thấy toàn thân mình như được quấn chăn bông xung quanh, rất êm ái, rất ấm áp."

Tôi hỏi Tổ sư Đạt Ma:
"Làm sao tôi có thể xuất hiện đúng lúc?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Một giọt nước rơi vào biển lớn!"
Tôi hỏi:
"Là một? Hay là hai?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Là một."
"Biển và nước thì có khác nhau không?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Không thể nói!"


### 23. Tùy duyên mà làm


Ngày xưa.
Diêu Trì Kim Mẫu nói:
"Hãy đi quảng độ chúng sinh đi!"
Tôi rất nghe lời, đã xem sự nghiệp hoằng pháp là trách nhiệm và nghĩa vụ của cả cuộc đời tôi. (Khi đó tôi 26 tuổi.)

Diêu Trì Kim Mẫu nói:
"Hãy đi Mỹ đi!"
Tôi rất nghe lời, đưa Sư Mẫu, Phật Thanh, Phật Kì, bốn người, bốn túi vải đựng đồ, liền đến nước Mỹ. (Khi đó tôi 38 tuổi.)

Diêu Trì Kim Mẫu nói:
"66 tuổi, hãy trở về Đài Loan độ chúng sinh đi!"
Tôi rất nghe lời, nửa năm tôi ở Đài Loan, nửa năm tôi ở Mỹ, cứ như thế chạy đi chạy lại suốt mười năm.

Diêu Trì Kim Mẫu nói:
"xx tuổi, ngài hãy trở về với cõi Thiên ngoại chi thiên đi!"
Tôi rất nghe lời, không buồn không vui, cứ như vậy mà đợi thôi.

A Di Đà Phật nói:
"Ta muốn kéo dài thêm từ ba đến sáu năm tuổi thọ cho Lư Sư Tôn!"
Tôi nghĩ:
"Tùy duyên mà làm vậy!"

Bây giờ, tôi là một người tùy duyên mà làm, bởi vì tất cả mọi thứ đều tùy duyên.
Bế quan ba năm, là tùy duyên.
Bế quan sáu năm, là tùy duyên.
Khi những sự việc đau khổ kéo đến, tôi cũng không lo buồn, bởi vì đó là nhân duyên.
Khi những sự việc vui vẻ kéo đến, tôi cũng không vui thích, bởi vì đó là nhân duyên.
Bất kể là thuận hay nghịch, đều là nguyên nhân do duyên sinh ra.

Bởi vậy,
Tâm của tôi luôn rất an bình, phỉ báng hay vinh dự đều là những nhân từ kiếp trước mà!
Những gì có được cũng sẽ mất.
Những gì mất đi cũng sẽ được.
Duyên sinh duyên diệt.
Hết thảy đều là huyễn.

Ví dụ như:
Phật Thanh là con gái yêu của tôi, Phật Kì là con trai yêu của tôi.
Lư Quân là cháu gái cưng của tôi. Lư Hoằng là cháu trai cưng của tôi.
Khi duyên còn, tôi vui.
Khi duyên không còn, tôi cũng không buồn.
Khi tôi đi rồi! Vẫy vẫy tay, tạm biệt! Tôi chẳng đem theo một thứ gì.
Trân trọng! Tạm biệt!

Những gì tôi có thể làm được là:
Với mỗi một người thân, một người một chuỗi hạt. Còn có niệm Phật hay không niệm Phật? Niệm chú hay không niệm chú? Cũng tùy theo duyên của mọi người thôi!

Tôi hỏi Tổ sư Đạt Ma:
"Tôi làm như vậy có đúng không?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Đúng."
Tôi hỏi Tổ sư Đạt Ma:
"Đây gọi là hành gì?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Tùy duyên hành!"
Tổ sư Đạt Ma nói với tôi:
"Tùy duyên hành chính là không bám chấp vào cái gì cả."
Tôi nói:
"Vốn dĩ chính là một giấc mộng huyễn, bám chấp cái gì chứ?"
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Ngài đã tỉnh ngộ rồi!"


### 24. Phật pháp chân chính


Tôi hỏi Tổ sư Đạt Ma:
"Cái gì là Phật pháp chân chính?"
Tổ sư Đạt Ma:
"..."
Ngài ấy không nói một câu nào. Rất bí mật.

Tôi nói:
"Mỗi ngày tôi đều viết sách, cho đến nay đã hoàn thành 282 cuốn sách, cũng xem như là hoằng pháp nhỉ?" (hoằng pháp bằng văn tự)
Tổ sư nói:
"Viết sách cũng được, nhưng không phải là chân chính."
Tôi nói:
"Mỗi ngày tôi đều vẽ tranh, đã hoàn thành hàng nghìn bức tranh rồi."
Tổ sư nói:
"Vẽ tranh cũng được, nhưng không phải là chân chính."

Tôi nói:
"Mỗi ngày thứ bảy, chủ nhật, tôi đều lên pháp tọa, khai thị thuyết pháp, gia trì quán đảnh, không gián đoạn."
Tổ sư nói:
"Cũng được, nhưng, vẫn không phải là chân chính."
Tôi nói:
"Tôi không ngừng niệm Phật trì chú."
Tổ sư nói:
"Đúng! Nhưng, không phải là chân chính."
Tôi nói:
"Mỗi ngày tôi tu Tiền hành, Chính hành, Hậu hành, mỗi một đàn pháp đều có thể viên mãn."
Tổ sư nói:
"Đúng! Nhưng cũng không phải là chân chính."
Tôi nói:
"Trì chú, tụng kinh, tu pháp, ngồi thiền, quán tu, thân tâm hợp nhất, tu khí, tu mạch, tu điểm..."
Tổ sư nói:
"Đều được! Nhưng, vẫn không phải là chân chính."

Tôi nói:
"Tôi hiểu rồi! Buông bỏ những bám chấp sinh ra này mới là Phật pháp chân chính, đúng không? (linh quang của tôi lóe lên)
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Điều này cũng gần gần đúng rồi! Vứt bỏ đi những hưởng thụ vật chất, vứt bỏ danh vọng địa vị, vứt bỏ quần là áo lượt, vứt bỏ ăn uống ngọt lành, vứt bỏ mê đắm tiền bạc, vứt bỏ vàng bạc châu báu..."
Tôi nói:
"Còn người nhà, người thân, bạn hữu, người yêu?"
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Buông bỏ không bám chấp, là Phật pháp chân chính."
Tôi nói:
"Ngay cả chính mình cũng phải buông bỏ sao?"
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Đúng vậy!"
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Xuất ly khỏi cuộc đời này! Xuất ly khỏi cuộc đời này! Xuất ly khỏi cuộc đời này!"

Tôi nói:
"Chân Phật Tông, năm triệu đệ tử, viết 282 cuốn sách, vẽ vô số bức tranh, thuyết pháp, quán đảnh, gia trì, những thứ này thì sao?"
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Chẳng phải chủ thì là khách."
Tôi nói:
"Tôi đã hiểu rồi!"

Tổ sư Đạt Ma hỏi tôi:
"Ai là Lư Sư Tôn?"
Tôi đáp:
"Không biết!"
Tôi hỏi Tổ sư Đạt Ma:
"Ai là Tổ sư Đạt Ma?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Không biết!"


### 25. Chết yểu


Có một đệ tử họ Phan đến kể với tôi:
"Người trong gia tộc bị chết yểu rất nhiều! Không biết là vì nguyên nhân gì?"
Tôi hỏi:
"Tình huống như thế nào?"
Anh đáp:
"Có người đi ngủ rồi chết luôn, có người bị ung thư chết, có người bị đau tim đột ngột rồi chết, có người làm việc lao lực mà chết, có người thì chết bất thình lình, có người thì sinh con mà chết..."
Anh kể:
"Những người chết tuổi đều còn trẻ, mới ngoài 30 tuổi, gần như nhà nào trong gia tộc cũng đều có người chết." (Nhà ở đây là ý nói đến mỗi một người anh em.)
Anh hỏi:
"Đây là vì nguyên nhân gì?
Là do đức của tổ tiên?
Là do phong thủy?
Là số mệnh?
Là vận hạn?
Là lời nguyền?
Hay là yếu tố khác...?"

Tôi đem sự việc này thuật lại với Tổ sư Đạt Ma. Tôi nói, gia tộc này mỗi năm đều xảy ra việc có người chết na ná như nhau, hơn nữa đều là người trẻ. Thậm chí, người trẻ cũng bị đột quỵ, đột quỵ thế là chết. Người chết yểu thật sự là nhiều quá rồi! Mỗi nhà đều có người bị mắc bệnh ung thư!

Đệ tử của tôi họ Phan, bản thân thường cảm thấy khổ sở không biết phải làm sao mới tốt.
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Sát sinh! Nguyên nhân là do sát sinh."
Tổ sư Đạt Ma nói:
Sát sinh là chỉ bất kì hành vi nào mang tính chất cố gắng kết liễu cuộc đời của một chúng sinh khác, bất luận đối tượng là người, súc sinh hay sinh mạng khác.
Vì sân hận mà giết.
Vì tham dục mà giết.
Vì ngu si mà giết.

Tôi hỏi:
Làm sao để phân biệt được ba loại sát sinh?
Tổ sư Đạt Ma đáp:
Những ví dụ về sân hận thì quá nhiều rồi, sân hận kẻ thù thì giết người.
Tham dục thì ví dụ như thích ăn thịt, muốn mặc đồ bằng da thú nên giết.
Ngu si mà giết thì ví dụ như Hắc giáo của Tây Tạng, giết súc sinh để cúng tế cho đại thần, lấy lòng quỷ thần mà sát sinh.

Tôi hỏi:
Gia tộc của đệ tử họ Phan kia sát sinh thuộc vào loại nào?
Tổ sư Đạt Ma đáp:
Là sát sinh do ngu si.
Tôi giật mình sửng sốt.
Hóa ra là như thế này:
Tổ tiên của đệ tử họ Phan vốn là trụ trì của một chùa nọ, người trụ trì đã khởi xướng: Cuộc thi lợn.
Thi xem lợn của ai nuôi được to nhất, nặng nhất, béo nhất thì đem cúng cho đại thần, đã làm thành luật cúng súc sinh. Do vậy, mỗi năm đều giết lợn mổ dê. Đã trồng nên nhân sát sinh, do vậy gia tộc đã gặt phải quả chết yểu.

Bởi vậy, Tổ sư Đạt Ma nói:
*"Thế nhân ngu lâu,
Đâu đâu cũng có,
Tiếng là cầu phúc
Kì thực mắc họa."*

Nhân đây tôi khuyên thế nhân, nghiệp sát sinh là nghiệp chướng lớn nhất.
Hãy thận trọng! Hãy thận trọng!


### 26. Một con ong bầu


Tôi kể với Tổ sư Đạt Ma:
Tôi có một đệ tử là Liên Hoa Lễ An được bác sĩ kiểm tra phát hiện ra có khối u lớn ba phân ở bên cạnh lá gan. Khối u này bám vào lá gan.
Là u lành tính?
Hay là u ác tính?
Trong lòng Liên Hoa Lễ An rất bất an.

Có bác sĩ của khoa ung bướu chủ trương phải phẫu thuật cắt bỏ, tránh cho hậu hoạn vô cùng. Liên Hoa Lễ An gửi một bức thư đến văn phòng Tông Ủy Hội ở Mỹ thỉnh Lư Sư Tôn gia trì.

Mấy ngày sau.
Liên Hoa Lễ An đang ngủ trên giường, trông thấy Lư Sư Tôn mặc toàn đồ trắng.
Một tay cầm bình tịnh thủy.
Một tay cầm cành dương liễu.
Sư Tôn dùng cành dương liễu phẩy qua phẩy lại ở vùng gan của Liên Hoa Lễ An. Đột nhiên, anh nhìn thấy vùng gan của mình xuất hiện một cái lỗ. Bằng trực giác anh tự nhận thấy từ da cho đến gan xuất hiện một cái lỗ. Lư Sư Tôn vẫn phẩy qua phẩy lại.
Không ngờ, từ bên trong cái lỗ đó bay ra một con ong bầu cực to, con ong bầu đó kêu vù vù vù bay ba vòng, rồi bay ra ngoài cửa sổ biến mất. (Giấc mơ này rất kì lạ.)

Sau đó, Liên Hoa Lễ An lại đến bệnh viện để chụp MRI nhằm chuẩn bị làm phẫu thuật. Kết quả đã xuất hiện kì tích. Khối u rộng ba phân của Liên Hoa Lễ An chẳng ngờ đã biến mất rồi!
Không cần phải phẫu thuật nữa!
Bác sĩ chậc lưỡi kinh ngạc.

Tổ sư Đạt Ma nghe xong nói một bài kệ:
*"Có thân là khổ,
Ai được an yên?
Nhất tâm quy mệnh,
Oan nghiệt tự giải."*

Còn nữa:
Có Liên Hoa Nguyệt Linh cũng xuất hiện tình huống tương tự, nhưng cô ấy không phải là thấy có con ong bầu bay ra.
Sự tình là như sau:
Liên Hoa Nguyệt Linh gặp tai nạn xe. Cô nằm trên giường bệnh, chân không thể cử động, dường như xương cũng bị tổn thương rồi. Trong trạng thái mơ màng, cô nhìn thấy một người mặc áo trắng ngồi bên giường. Người này một tay cầm chén có đầy nước, tay kia cầm ngọn cỏ. (Liên Hoa Nguyệt Linh có hình dung như vậy.)

Người mặc áo trắng không phải ai khác, cũng chính là Lư Sư Tôn!
Tương tự, Lư Sư Tôn dùng ngọn cỏ, phe phẩy ở khu vực chân cô. Đó là nơi khi gặp tai nạn xe, kính đã vỡ thành rất nhiều mảnh thủy tinh nhỏ găm vào trong chân của Liên Hoa Nguyệt Linh. Bác sĩ đã gắp ra một số, nhưng không sao gắp hết được những mảnh thủy tinh đó ra.

Lần này sau khi được Sư Tôn phe phẩy ngọn cỏ. Tất cả những mảnh vụn thủy tinh đã hóa thành những con sâu nhỏ, từng con từng con bò ra ngoài. Trời ơi! Cả một đống sâu nhỏ bò ra. Liên Hoa Nguyệt Linh nói:
"Thế là chân cũng không đau nữa! Cứ thế rồi chân có thể đi lại được!"
Liên Hoa Nguyệt Linh rất cảm tạ Lư Sư Tôn!

Tổ sư Đạt Ma nói:
*"Nghìn nơi cầu nguyện nghìn nơi hiện,
Biển khổ lái thuyền chở người qua."*


### 27. Không có công đức


Khi Tổ sư Đạt Ma mới đến Trung Thổ, Lương Vũ Đế hỏi ngài rằng:
"Ta đã xây rất nhiều chùa, thu xếp nơi ở cho rất nhiều tăng ni, làm tượng Phật, chép kinh Phật, những việc làm kiểu như vậy nhiều vô số kể, vậy ta có công đức gì?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Không có công đức gì."

Vũ Đế không hiểu, hỏi lại:
"Trẫm vì Phật tâm mà hết lòng hết dạ, làm vô số việc, sao lại bảo là không có công đức gì?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Đây chỉ là những thành quả nhỏ bé của trời người, vì vẫn là hữu lậu, nên như bóng ảnh mà thôi."
Vũ Đế hỏi:
"Thế cái gì là công đức thật sự?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Không tịch."
Lương Vũ Đế không hiểu ý chỉ của Tổ sư Đạt Ma, do vậy, không có nhân duyên, đôi bên rời xa nhau.
(Đây là câu chuyện ngày xưa.)

Ngày nay.
Lư Sư Tôn gặp Tổ sư Đạt Ma, tôi và Tổ sư Đạt Ma trò chuyện với nhau như sau:
Tổ sư Đạt Ma hỏi:
"Lư Sư Tôn, cuộc đời này, ngài tự xưng là độ chúng sinh, xin hỏi, đã độ được mấy chúng sinh rồi?"
Tôi đáp:
"Một nửa chúng sinh."
Tổ sư Đạt Ma hỏi:
"Một nửa là sao?"
Tôi đáp:
"Nghĩa là một người cũng không có."
Tổ sư Đạt Ma hỏi:
"Vì sao một người cũng không có?"
Tôi đáp:
"Tiền thất thất, hậu thất thất."
Tổ sư Đạt Ma hỏi:
"Có công đức không?"
Tôi đáp:
"Không ai được độ thì sao có công đức?"
Tổ sư Đạt Ma cười lớn ha ha:
"Rất thú vị!"

Tổ sư Đạt Ma nói:
"Ngài nói cho ta hay, ngài đã chữa được bệnh cho rất nhiều người, hóa giải rất nhiều oan nghiệp, thì đó là cái gì?"
Tôi đáp:
"Tùy duyên mà làm!"
Tổ sư Đạt Ma hỏi:
"Có mong cầu gì không?"
Tôi đáp:
"Không có!"
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Nếu đã đạt được đến vô sở cầu thì đã là chân đạo hạnh rồi."
Tổ sư Đạt Ma hỏi:
"Như bây giờ thì là khổ, hay vui?"
Tôi đáp:
"Chẳng khổ chẳng vui."
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Đó là rời bỏ cái ngã, vô ngã hành."

Tổ sư Đạt Ma nói:
"Lương Vũ Đế vẫn còn suy nghĩ có công đức, Lương Vũ Đế vẫn còn có suy nghĩ mong cầu, Lương Vũ Đế vẫn còn có suy nghĩ về sướng khổ. Do vậy, Lương Vũ Đế vẫn không thể lĩnh ngộ được pháp thiền!"
Tôi nói:
"Tôi không quen Lương Vũ Đế!"
Tổ sư Đạt Ma hỏi:
"Sao lại không quen?"
Tôi nói:
"Lương Vũ Đế ở đâu chứ?"


### 28. Tâm khí tập trung tại một điểm


Tôi kể với Tổ sư Đạt Ma:
Ngày xưa, khi tâm khí của tôi tập trung tại một điểm, hoặc tập trung tại một chú tự.
Tôi ở thiên thượng giới, tham quan thiên cung của chư Thiên, sự thù thắng của thiên cung, cây Như ý thất bảo, Đế võng minh châu...
Thăm Thiên Vương.
Thăm vương tử và công chúa.
Nhìn ngắm ánh sáng của thiên nhân và đủ mọi thú vui.

Còn nữa:
Khi tâm khí tập trung tại một điểm, hoặc tập trung tại một chú tự.
Trong cõi người.
Tôi có thể du hành đến các nước trên thế giới.
Tôi hiện ra ở trước mặt đệ tử, tùy theo sự ứng hóa mà hiện lên, giải trừ những khổ ách của các đệ tử.
Giống như Quan Âm Bồ Tát tìm theo tiếng gọi mà đến cứu khổ.

Còn nữa:
Khi tâm khí tập trung tại một điểm, hoặc tập trung tại một chú tự.
Tôi có thể đi vào trong biển.
Gặp cá voi khổng lồ.
Nhìn ngắm những con cá bé xíu.
Bơi tới bơi lui trong người tôi, những kì quan của đáy biển, tôi đều có thể nhìn thấy hết.
Có một lần, cá nhỏ bơi vào trong người tôi, tôi liền xuất định, thế là trong người tôi cảm thấy không được thoải mái. Tôi lại phải nhập định và đi đến đáy biển, để cho cá nhỏ bơi ra, sau đó lại xuất định, thế là tôi vô sự.

Còn nữa:
Khi tâm khí tập trung tại một điểm, hoặc tập trung tại một chú tự.
Tôi có thể đi vào cõi địa ngục.
Tôi từng ở địa ngục cử hành pháp hội, trong địa ngục khai thị thuyết pháp. Tôi còn từng cứu một số người trở về cõi Ta Bà. Những người hoàn dương còn thay tôi chứng minh tôi từng ở địa ngục làm pháp hội, khai thị và thuyết pháp nữa chứ! Đương nhiên, tôi đã hiểu mười tám đại địa ngục bát hàn bát nhiệt, cận biên, cô độc.

Còn nữa:
Khi tâm khí tập trung, tôi cũng từng đến cõi A La Hán, cõi ngạ quỷ, thậm chí đi lại trong lửa. Tôi kể với Tổ sư Đạt Ma rằng, những trải nghiệm này đã được lão tổ sư Virupa viết ra trong cuốn sách "Đạo quả", đây là những điều chân thực không hề giả dối.
Tổ sư Đạt Ma nói với tôi:
"Đây chính là những nguyên nhân của lục đạo luân hồi."
Tôi hỏi:
"Là những nút thắt của tâm sao?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Những nút thắt của tâm chính là sự trói buộc."
Tôi hỏi:
"Nếu không bị trói buộc thì sao?"
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Thân thể, sinh mạng, tài sản,
Không được hà tiện
Cần phải bố thí.
Cần phải hiểu rằng hết thảy đều là khổ,
Hết thảy đều là không huyễn.
Không được bám chấp vào tiền, sắc, danh
Hiểu được tam không,
Tu hành lục đạo
Như vậy mới có thể thoát khỏi lục đạo luân hồi."

Tôi nói:
"Đã hiểu!"
Thiện tai! Thiện tai!


### 29. Chuyến du hành cuối cùng


Tôi nói với Tổ sư Đạt Ma:

"Chuyến du hành cuối cùng của tôi đã sắp đến rồi!"
Tổ sư Đạt Ma hỏi:
"Ngài đem theo cái gì?"
Tôi đáp:
"Chẳng đem theo cái gì cả."
Đạt Ma hỏi:
"Không đem theo Sư Mẫu?"
Tôi đáp:
"Không đem."
Đạt Ma hỏi:
"Không đem theo Phật Thanh, Phật Kì, Lư Quân, Lư Hoằng?"
Tôi đáp:
"Không đem."
Đạt Ma hỏi:
"Thế còn thân thể của ngài?"
Tôi đáp:
"Không đem."
Đạt Ma hỏi:
"Thế có cái gì không?"
Tôi đáp:
"Tâm."

Tổ sư Đạt Ma nói:
"Ngay cả tâm của ngài, ngài cũng có tìm được đâu, bởi vì tâm cũng là một cái tên gọi sinh ra do vọng tưởng."
Tôi hỏi:
"Thế tôi đem theo cái gì đây?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Chẳng gì cả, thế mới là tự do tự tại." (Một chút bám chấp cũng không có.)

Phật nói:
"Duy có nghiệp theo thân!" (Tôi nghĩ đến câu nói này.)
Tôi hỏi Tổ sư Đạt Ma:
"Ác nghiệp thì sao?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Mọi điều ác đừng làm."
Tôi hỏi Tổ sư Đạt Ma:
"Thiện nghiệp thì sao?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Hãy làm mọi điều thiện. Cộng thêm cả Tam luận thể không, không vì những gì trụ lại mà sinh ra tâm đó."
Đạt Ma hỏi:
"Làm được không?"
Tôi nói:
"Được."
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Rất tốt! Rất tốt!"

Tổ sư Đạt Ma nói:
Chuyến du hành cuối cùng của mỗi người, ai ai cũng giống nhau, thân thể đều chẳng còn. Không mang theo được cái kim sợi chỉ nào cả.
Có người nói:
"Người chết để lại tên, hổ chết để lại da." Kì thực, bất kể là để lại tên hay da thì cũng đều cực kì hư huyễn.

Liên quan đến nghiệp theo thân, đó chỉ là một kim chỉ nam.
Phật quốc không xa.
Tịnh thổ không xa.
Chư Thiên không xa.
Tam ác đạo cũng không xa.
Nhắm mắt một cái là đến rồi.
Hễ tiếng chiêng trống ngừng lại.
Là đến lúc đôi mắt mở to.
(Chuyến du hành cuối cùng.)


### 30. Nhân duyên ngắn ngủi


Tôi nói với Tổ sư Đạt Ma:
Tôi có một đệ tử cao-phú-soái [cao-phú-soái là cách người Trung Quốc nói về những người đàn ông cao to, giàu có, đẹp trai]. Anh đến hỏi tôi vì sao hôn nhân trong cuộc đời này của anh luôn rất không thuận lợi.
Ba cuộc hôn nhân đều thất bại!
Kết hôn ly hôn.
Rồi lại kết hôn ly hôn.
Lại kết hôn ly hôn lần nữa.
Anh hỏi tôi vì nguyên nhân gì.

Tôi trả lời anh:
Việc này là vì lý do kiếp trước anh ta thích "hai lưỡi", bởi vì "hai lưỡi" nên tạo nên quả báo tương tự. Tôi nói:
Muốn biết kiếp quá khứ, xem kiếp này được gì.
Muốn biết kiếp tương lai, xem kiếp này làm gì.

Kiếp trước anh là người thích thọc gậy bánh xe, thường gây ra những mối bất hòa trong đoàn thể. Trong đám bạn bè thì anh thường gây chia rẽ. Miệng lưỡi của anh quá lợi hại, trong tăng đoàn anh cũng gây nên xung đột giữa đôi bên. Anh còn gây nên sự bất tín nhiệm giữa Thượng sư và các đệ tử.
Họ Trương đoạn tuyệt.
Họ Lý đoạn tuyệt.
Sư phụ đoạn tuyệt.
Đệ tử đoạn tuyệt.
Sau lưng người ta, miệng lưỡi anh không nói được câu nào tốt lành, cứ như thế nói tới nói lui. Đây là nghiệp báo của việc "hai lưỡi".

Tổ sư Đạt Ma nói:
Phật Đà từng nói rằng:
“*Đều bởi nghiệp lực gây ra hết,
Đa dạng đủ loại nghiệp khác nhau,
Tạo nên đủ loại kiểu chúng sinh,
Gây nên đủ loại chuyện lưu truyền.”*
Mạng lưới nghiệp lực rộng lớn lắm!

Tôi nói:
Đừng cho rằng thiện ác không báo ứng.
Phật nói:
*“Cho dù trăm kiếp sau
Nghiệp lực cũng chẳng hết,
Đến hồi nhân duyên đủ
Quả báo cũng chín rồi.”*

Nhân đây tôi xin có lời khuyên thế nhân:
Nên từ bỏ sát sinh, sẽ được sống lâu ít bệnh tật.
Nên từ bỏ trộm cắp, sẽ giàu có, tránh khỏi kẻ ác xâm phạm.
Nên từ bỏ tà dâm, sẽ sống lâu cùng bạn đời, ít kẻ khác xen vào.
Nên từ bỏ vọng ngữ, sẽ được người đời kính yêu.
Nên từ bỏ thói hai lưỡi, sẽ được vợ con, bạn bè cùng yêu mến.
Nên từ bỏ ác khẩu, sẽ được nghe toàn những điều tốt lành.
Nên từ bỏ những lời ong bướm, thì những lời nói ra sẽ thuận lợi, được người khác xem trọng.
Nên từ bỏ tham dục, những mong ước sẽ thành hiện thực.
Nên từ bỏ sân hận, sẽ không bị làm hại tổn thương.
Nên từ bỏ tà kiến, sẽ không lầm đường lạc lối.

Tôi hỏi Tổ sư Đạt Ma:
"Quả báo như vậy đấy, làm sao để khiến con người tin đây?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Điều ngài nói rất đúng, nhưng người tin theo rất ít!"
Tôi hỏi:
"Làm sao để nhiều người tin theo?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Thế nhân ngày nay, người cố chấp nhiều, chỉ có cách buông bỏ sự cố chấp thì người tin theo mới nhiều."
Tôi hỏi:
"Làm sao để loại bỏ hết tất cả nghiệp? Làm sao để không còn sinh ra?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Niết bàn tịch tĩnh." (Pháp nhĩ bản nhiên)


### 31. Bàn về tâm động


Theo "Lục Tổ Đàn Kinh”:
Sau khi Lục Tổ có được tâm ấn, đã đi đến một nơi.
Ở đó có một pháp hội rất long trọng. Cờ phướn treo trên cột bay phấp phới.
Một hành giả nói:
"Cờ bay."
Một hành giả khác nói:
"Không đúng! Là do gió thổi."
Hai người tranh cãi nhau.
Lục Tổ Huệ Năng chỉ nói:
"Là người, tâm động."

Còn nữa:
Tôi kể với Tổ sư Đạt Ma:
Vào ngày 3 tháng 11 năm 2020 diễn ra cuộc tổng tuyển cử tổng thống Mỹ.
Đảng Cộng Hòa là Trump.
Đảng Dân Chủ là Biden.
Những thảo luận hậu bầu cử rất nhiều.
Tôi lấy một ví dụ.
Có người nói:
"Có người chết rồi mà vẫn ra bỏ phiếu được ư?" (linh hồn bỏ phiếu)
Có người nói:
"Hội đồng kiểm phiếu có tệ nạn, thiên vị cho ứng cử viên chăng?" (Hội đồng kiểm phiếu không trung lập.)
Có người nói:
"Kiểm phiếu có vấn đề chăng?" (có sự can thiệp tay chân)
Có người nói:
"Cử tri toàn bang chỉ có 500 nghìn người, thế mà có đến 800 nghìn người bỏ phiếu, dư ra đến 300 nghìn phiếu là sao?" (có gian lận)
Có người nói:
"Căn bản là không có người giám sát bỏ phiếu?" (Người giám sát bỏ phiếu ngồi cách rất xa, không nhìn thấy!)
Có người nói:
"Có một số phiếu bầu không được kiểm, một số phiếu bầu vẫn chưa được bưu điện gửi tới, một số phiếu thì bị loại bỏ, xử lý không thỏa đáng?" (sai sót trong kiểm phiếu)
Có người nói:
"Gian lận, mua phiếu?" (làm giả)
...
Những sự việc như thế này không phải là ít, những lời bàn tán khắp nơi. Có người nói có nhân chứng vật chứng. Có người nói cơ bản là chẳng có căn cứ gì.

Tôi hỏi:
"Tổ sư Đạt Ma! Ngài nói xem cuộc bầu cử tổng thống Mỹ, ai đúng ai sai?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Là người, tâm động."
Tôi hỏi:
"Ý là sao?"
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Về mặt Phật pháp, hai người ứng cử, nếu như Biden có tâm gian lận thì Biden sai."
"Về mặt Phật pháp, nếu Trump có tâm gian lận thì Trump sai."
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Đây chính là giải thích cho việc con người tâm động."

A! Tôi đã hiểu rồi.
*Thiện ác của hành vi
Không phải ở biểu hiện,
Chẳng phải thắng hay thua
Mà là ở sau lưng,
Tâm có động cơ gì.*
(Tâm có động cơ gì là quan trọng nhất.)


### 32. Tứ thiền thiên


Tôi kể với Tổ sư Đạt Ma:
Tôi tu thiền định, đã đạt đến Tứ thiền, Tứ thiền thiên.
Sơ thiền --- không còn nhận thức từ mũi, lưỡi. Đến được ba cõi trời là Phạm Chúng, Phạm Phụ, Đại Phạm. (có lạc thụ)
Nhị thiền --- không còn nhận thức từ mắt, tai, thân. Đến được ba cõi trời là Thiếu Quang, Vô Lượng Quang, Quang Âm. (có hỉ thụ)
Tam thiền --- chỉ còn ý thức. Đến được ba cõi trời là Thiếu Tịnh, Vô Lượng Tịnh, Biến Tịnh. (có lạc thụ và hỉ thụ)
Tứ thiền --- chỉ còn ý thức. Đến được tám cõi trời là Vô Vân, Phúc Sinh, Quảng Quả, Vô Phiền, Vô Chấp, Hỉ Kiến, Hỉ Hiện, Sắc Cứu Cánh. (có xả thụ)

Còn nữa:
Sơ thiền --- đạt quả vị Tu Đà Hoàn.
Nhị thiền --- đạt quả vị Tư Đà Hàm.
Tam thiền --- đạt quả vị A Na Hàm.
Tứ thiền ---- đạt quả vị A La Hán.

Tổ sư Đạt Ma bảo tôi:
Mặc dù đã đạt đến Tứ thiền, nhưng ngài cũng biết rằng đó vẫn chưa phải là cứu cánh thật sự, vẫn còn chưa đạt đến niết bàn. Nếu kiêu ngạo rằng đã thấy được Tứ thiền trung ấm thì vẫn đọa vào trong địa ngục thôi.
Việc này là cực kì đáng sợ.

Tôi hỏi Tổ sư Đạt Ma:
"Nếu không thiền định thì sao?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Tâm khó mà đạt đến cứu cánh."
Tôi hỏi:
"Vì sao nhất định cần phải tu thiền định?"
Đạt Ma đáp:
"Chư hành vô thường, là pháp sinh diệt. Đây là cõi thế gian, muốn xuất thế gian thì chỉ có thiền định."
Tôi hỏi:
"Hiện nay có rất nhiều người tu yoga, có thể biến to, biến nhỏ, biến nhẹ, thần hành, thiên nhãn, thiên nhĩ, tha tâm, túc mệnh, thần túc, v.v… những điều này hữu dụng không?"
Đạt Ma đáp:
"Những thứ này là tác dụng phụ!"

Tôi hỏi:
"Chúng sinh bình đẳng sao?"
Đạt Ma đáp:
"Bình đẳng."
Tôi hỏi:
"Khác nhau ở điểm nào?"
Đạt Ma đáp:
"Mê ngộ mà thôi."
Tôi hỏi:
"Có liên quan đến trí huệ ngu dốt không?"
Đạt Ma đáp:
"Có liên quan đến trí huệ thiền định."
Tôi hỏi:
"Như chúng ta thì cần có trí huệ gì?"
Đạt Ma đáp:
"Mọi thứ tồn tại, kì thực chỉ là mộng huyễn điên đảo.
Những gì tồn tại bây giờ, căn bản chỉ là điện quang đá lửa.
Những gì tồn tại sau này, cũng sẽ biến thành những gì tồn tại bây giờ.
Cuối cùng là:
Cho ta biết sự thật."

Tôi hỏi:
"Sự thật là cái gì?"
Đạt Ma đáp:
"Tất cả nhân duyên sinh ra, khi sinh chỉ có cái Không sinh ra, khi diệt chỉ có cái Không hủy diệt."
Tôi hỏi:
"Đã hiểu được như thế rồi thì sao nữa?"
Đạt Ma đáp:
"Phật Đà nói: Tất cả những thứ tồn tại đều là vô thường, sinh diệt chỉ là hiện tượng, bồ đề tâm mới là an lạc."


### 33. Hoa anh đào ở Biệt thự Cầu Vồng


Hoa anh đào ở Biệt thự Cầu Vồng bình thường đều nở vào tháng tư.
Bởi vậy, trong giai đoạn từ năm tôi 66 tuổi đến 76 tuổi, thời gian tổng cộng đã được 10 năm.
Hàng năm từ tháng 11 đến tháng 5, tôi về Đài Loan hoằng pháp.
Từ tháng 5 đến tháng 10, tôi từ Đài Loan trở về Mỹ.
Mùa hè, tôi ở Seattle nước Mỹ.
Mùa thu, tôi ở Đài Trung Đài Loan.
Cũng có nghĩa là:
Tôi muốn ngắm hoa anh đào ở Biệt thự Cầu Vồng gần như là điều không thể, bởi vì hoa anh đào ở Biệt thự Cầu Vồng (Cầu Vồng Lôi Tạng Tự) vào tháng năm đã héo tàn rồi!

Năm 2020, dịch cúm virus Corona gay gắt, do vậy, năm 2020 tôi không trở về Đài Loan. Cuối cùng, tôi đã được ngắm hoa anh đào ở Biệt thự Cầu Vồng rồi.
Hoa như phấn.
Như bướm.
Như bay phất phơ.
Như đôi môi đỏ.
Hoa anh đào thật sự đẹp và đáng yêu vô cùng.

Nhưng đã có một kì tích xảy ra! Hoa anh đào ở Biệt thự Cầu Vồng (Cầu Vồng Lôi Tạng Tự) bất ngờ nở hoa từ tháng 4 đến tháng 11, tháng 11 mà vẫn còn nụ hoa chờ nở!
Còn có cả cành mới, cả nụ hoa mọc dầy lên, còn có cả những bông anh đào đã nở, hoa nở đã sắp dài cả một năm rồi.
Hoa không bao giờ tàn sao?

Tôi đem việc này hỏi Tổ sư Đạt Ma:
"Hoa anh đào nở gần một năm là điều chưa từng có, về mặt thời tiết là không đúng, chuyện này là thế nào?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Vì ngài mà thay đổi!"
Tôi hỏi:
"Không thể nào! Tôi có đức có năng gì?"
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Hỏa cúng ở Biệt thự Cầu Vồng đã mở đầu cho việc mời thỉnh, hội cúng dường Sơn Thần, Thổ Địa, Phong Thần, Thủy Thần, Hỏa Thiên Thần, thậm chí là Địa Chủ Thành Hoàng, còn có cả Miêu Giá Thần, v.v…"
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Miêu Giá Thần bao gồm cả Thần Hoa." [Miêu Giá Thần là thần trồng trọt.]

Tôi hỏi:
"Còn gì nữa?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Thần Hoa biết năm 2020, ngài (Lư Sư Tôn) không trở về Đài Loan, do vậy, Thần Hoa đã hạ lệnh cho hoa anh đào nở hoa cả năm để cho ngài ngắm."
Tôi hỏi:
"Tôi rất thích ngắm hoa anh đào, không sai, nhưng cũng không thể nào thời tiết lại rối loạn được chứ?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Chỉ vì Thần Hoa ngưỡng mộ ngài!"
Tôi hỏi:
"Tôi có gì đâu!"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Bởi vì ngài là một vị Căn bản Thượng sư, vị Thượng sư chân chính."

Tổ sư Đạt Ma nói:
Căn bản Thượng sư là:
Có dòng truyền thừa liên tục không đứt đoạn.
Tuân thủ lời thề nguyện samaya.
Hiểu rõ ý nghĩa trọn vẹn của Phật pháp.
Thật sự thực tu, hơn nữa còn có chứng lượng, đạt đến sự giải thoát tự ngã.
Đích thân chứng được Bổn tôn.
Buông bỏ phiền não, bám chấp, không còn bận lòng.
Quảng độ chúng sinh.
Tràn đầy bồ đề tâm, thực hành tâm từ bi thông qua phương tiện thiện xảo.


### 34. Tứ không thiên


Theo như tôi biết:

1. Không vô biên xứ.
Hành giả đã chán ghét "sắc", cảm thấy như lao tù.
Đã từ bỏ sắc tướng, là nhờ có hư không tâm.

1. Thức vô biên xứ.
Hành giả đã chán ghét "không", từ bỏ luôn cả không.
Nhưng do thức, tâm và thức tương ứng vô biên.
Do vậy gọi là thức vô biên xứ.

1. Vô sở hữu xứ.
Hành giả chán ghét "thức", tâm và thức đều vô sở hữu.
Do vậy tiến nhập vào vô sở hữu xứ.

1. Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Thức vô biên và vẫn còn có tưởng.
Vô sở hữu là vô tưởng, gọi là phi tưởng.
Lại bỏ luôn cả phi tưởng.
Do vậy trở thành phi phi tưởng (cũng gọi là vô tế tưởng).
Nơi này như say như mê, như ngủ như mơ.
Vô sở ái.
Vô sở lạc.
Mẫn nhiên tịch tuyệt, thanh tịnh vô vi.

Tôi hỏi Tổ sư Đạt Ma:
"Những học giả thông thường đến được "Không", "Thức", "Vô", "Phi phi tưởng", e rằng sẽ bị mê hoặc! Phải làm sao?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Dùng phương tiện!"
Tôi hỏi:
"Dùng ra sao?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Quán hoặc." [quan sát sự mê hoặc]
Tôi hỏi:
"Thứ tự ra sao?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Biết mê hoặc là không,
Nhờ vào phương tiện này,
Cắt bỏ sự mê hoặc,
Để thấy được trí huệ."

Tôi nói:
"Tôi đã hiểu rồi!"
Tổ sư Đạt Ma nói:
Tham tức là không.
Sân tức là thức.
Si tức là vô.
Nghi tức là tưởng.
Mạn tức là tâm.
Nếu có thể cắt đứt, chứng được vô sinh, tâm vô sinh tức là tâm Phật.

Còn nữa,
Tôi hỏi Đạt Ma một vài vấn đề hiện thực.
Tôi hỏi:
"Virus Corona là sao?"
Đạt Ma đáp:
"Tự tác nghiệt!" (Con người tự làm tự chịu.)
Tôi hỏi:
"Trump thì sao?"
Đạt Ma đáp:
"Loại bỏ!" (Là một con người duy ngã độc tôn.)
Tôi hỏi:
"Chạy đua vũ trụ thì sao?"
Đạt Ma đáp:
"Trò chơi!" (Những kẻ khổng lồ đang chơi trên trời.)
Tôi hỏi:
"Đạn hạt nhân thì sao?"
Đạt Ma đáp:
"Hoại không!" (Tự nhân loại tiêu diệt nhân loại.)
v.v...


### 35. Rồng lửa nhả ngọc


12 giờ đêm ngày 17 tháng 11 năm 2020.
Tôi thiền định nhập Tam ma địa. Tôi ngồi thiền tại nhà (Nam Sơn Nhã Xá), bỗng nhiên tôi quên cả chính mình. Tôi nhìn thấy trong ánh sáng bảy sắc xuất hiện một con rồng.
Xung quanh con rồng có lửa cháy.
Con rồng nhả ra một viên ngọc màu đỏ.
Đúng vào lúc nó nhả ngọc ra.
Trông giống như nó đang chơi đùa với viên ngọc, viên ngọc cách tôi rất gần. Khi viên ngọc đến gần miệng tôi, tôi há miệng ra rồi nuốt luôn viên ngọc vào bụng.
Trong tích tắc!
Con rồng biến mất!

Tôi nói:
Chính là vào khoảng thời gian tháng 11 này, tôi có cảm giác rằng trên bả vai trái của mình có chỗ đau. Tôi vận khí đến vai trái, lặp lại mấy lần, đều không khỏi. Tôi đưa chuyết hỏa đến để đốt mấy lần, cũng không có hiệu quả.
Tôi đập.
Tôi kéo.
Tôi bôi thuốc mỡ giảm đau.
Chỉ còn mỗi uống thuốc giảm đau là tôi chưa uống.
Đều vô hiệu!

Nhưng kể từ khi rồng lửa nhả ngọc thì chỗ đau trên bả vai đã tiêu tan rồi! Thật sự không biết chỗ đau trên vai đó làm sao mà có? Cũng không biết chỗ đau trên vai đó làm sao mà hết? Là chứng bệnh khớp vai đông lạnh sao?
Tôi hỏi Tổ sư Đạt Ma:
"Nuốt viên ngọc do rồng lửa nhả ra là nhân duyên gì vậy?"
Tổ sư Đạt Ma trả lời:
"Mọi hiện tượng đều là do nhân duyên mà sinh ra, do nhân duyên mà hủy diệt."

Tổ sư Đạt Ma nói:
Khi đau là do cái không sinh ra
Khi hết đau là do cái không đã diệt trừ.
Rồng lửa nhả ngọc cũng là như vậy.
Nuốt ngọc là tình cờ.
Hết bệnh là tất nhiên.

Tôi hỏi:
"Nếu như không phải là nhờ vào ngọc rồng thì làm sao tôi giải trừ được bệnh đau vai?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Ngài có thể dùng pháp đại than thi, phân tách thân thể của mình ra thành từng phần từng phần."
"Sau đó, hóa chúng thành không."
"Cuối cùng lại tập hợp chúng lại về một chỗ từ đầu."
"Ngài không thể tìm thấy cảm giác đau để tập hợp lại từ đầu được."

Tôi hỏi:
"Nguyên nhân cái đau của tôi là gì? Từ đâu tới?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Vì ngài đã chữa khỏi bệnh đau vai của người khác, do vậy ngài đã bị đau vai."
Tôi nói:
"Là chịu thay sao?"
Tôi hỏi:
"Làm sao để không phải chịu thay?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Phân tách thân mình ra, trả về hư không, rồi lại tập hợp lại từ đầu, thì sẽ không phải chịu thay nữa."
Tôi nói:
"Đã hiểu rồi!"
Đây chính là: như huyễn, như bào, như ảnh, như sương, như điện.
Không bị tổn thương!


### 36. Tôn chân nhân hiện thân


Tôi có một đệ tử, tên cô ấy là Lucy Dương, sống tại California nước Mỹ. Cô nói với tôi:
"Lư Sư Tôn! Ngài có thể vẽ giúp con một bức tranh được không, con muốn thỉnh về nhà để thờ."
Tôi hỏi:
"Tranh gì?"
Cô đáp:
"Đó là một vị tu đạo thành tựu, hơn nữa võ công cao cường, có thể bảo vệ cho con."
(Việc này là cô bất chợt nghĩ đến.)
Tôi buột miệng nói:
"Vậy đó là chân nhân Tôn Bất Nhị của Toàn Chân Thất Tử rồi, đạo hiệu là Thanh Tịnh Tản Nhân. Bà đã đắc đạo trước cả chồng mình là Mã Ngọc (Mã Đơn Dương), hơn nữa còn là một trong số bảy đạo sĩ của Toàn Chân Thất Tử, người nào người nấy võ công cao cường. Họ đều là đệ tử của tổ sư Vương Trùng Dương của Toàn Chân Giáo."
(Võ công cao cường là do chịu ảnh hưởng của tiểu thuyết Kim Dung.)
Cô nói:
"Đúng! Vậy con xin thỉnh bức Tôn Bất Nhị chân nhân!"

Sau chuyện này.
Vào ngày 18 tháng 11 năm 2020, tôi đã vẽ xong bức tranh một nữ hiệp mặc áo đạo sĩ, tay cầm phất trần, sinh động như là hiện ra trước mắt vậy.
Tướng mạo xinh đẹp.
Có khí chất anh hùng.
Mọi người nhìn thấy đều rất thích.
Buổi tối ngày 18 đó, tôi đã giao bức tranh Tôn Bất Nhị chân nhân cho cô Lucy Dương. Trước khi giao cho cô, tôi đã thổi ba hơi khí lên bức tranh.

Cách một ngày sau.
Lucy Dương cực kì sung sướng chạy tới kể với chúng tôi:
Buổi tối hôm đó, đúng vào lúc sắp ngủ, bỗng nhiên cô nhìn thấy Tôn Bất Nhị chân nhân hiện thân trước đầu giường cô, tay cầm phất trần phe phẩy ở nơi hai chân cô. Cô chắp tay cảm kích.
Cô nói:
"Tôn chân nhân, đầu óc con rất ngốc nghếch, xin hãy phẩy phất trần lên đầu con đi!"
Tôn chân nhân cầm phất trần phe phẩy một lúc trên đầu cô.
Tiếp đó lại phe phẩy ở chân.
Lại vẫn là phe phẩy ở chân.
Cứ như thế phe phẩy suốt bốn phút.
Thế rồi Tôn chân nhân tan biến đi!

Lucy Dương nghĩ:
"Tranh vẽ của Lư Sư Tôn thật chân thực, ngài thổi vào ba hơi khí thì ngay đêm đầu tiên khi thỉnh bức tranh về, Tôn chân nhân đã hiện lên hình ảnh thật rồi, về nhà phải thờ cúng, cúng dường cho tốt."
Lucy Dương kể:
Cô đã nghĩ ra rồi, Tôn chân nhân dùng phất trần phe phẩy ở hai chân của cô, cô đã biết nguyên nhân vì sao. Khi còn trẻ, cô học thái quyền đạo, hai chân cô đã bị thương.
Khi cô kể những điều này, những người có mặt ở Seattle Lôi Tạng Tự nghe xong đều cảm động.
Mọi người nói:
"Tranh của Lư Sư Tôn thật linh!"
Vạn tuế!

Tổ sư Đạt Ma nói với tôi:
"Muốn linh nghiệm thì cần có ba điều:

1. Tâm của Lư Sư Tôn.

1. Tâm của Lucy Dương.

1. Tâm của Tôn chân nhân.

Ba tâm cùng nhất tâm."
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Việc Tôn chân nhân hiện thân này là vượt ra khỏi hiện thực, đây là cảnh giới của thiền đó!"


### 37. Quán tưởng Lư Sư Tôn trụ đỉnh đầu


Có một đệ tử ở Đài Bắc Đài Loan tên gọi là Liên Hoa Ngọc Thuần. Cô thường quán tưởng Lư Sư Tôn trụ ở đỉnh đầu.
Đầu tiên cần quán tưởng khuôn mặt của Lư Sư Tôn.
(Thật ra muốn quán tưởng khuôn mặt của một người không phải là dễ lắm, do vậy tôi thường bảo mọi người mang theo ảnh pháp tướng, nhìn ảnh pháp tướng một lúc rồi quán tưởng.)
Tiếp đó:
Quán tưởng cả thân người.
Hai chân ngồi khoanh trên tòa hoa sen.
Hoa sen có màu trắng.
Do Lư Sư Tôn là Bạch Liên Hoa Đồng Tử chuyển hóa, hoa sen màu trắng trên đỉnh đầu của Liên Hoa Ngọc Thuần bên trên có Lư Sư Tôn đang ngồi.

Còn nữa:
Cũng có thể quán tưởng trên đỉnh đầu mình có một chữ "Bang" trước. Chữ "Bang" hóa thành hoa sen. Trên hoa sen có một chữ "Hum", từ chữ "Hum" hóa thành Lư Sư Tôn.
Như vậy là, việc quán tưởng Lư Sư Tôn trụ ở đỉnh đầu đã hoàn thành rồi.

Bởi đã quán tưởng thành thục, Liên Hoa Ngọc Thuần từ từ hòa tan vào trong ánh sáng của Căn bản Thượng sư. Từ từ, chính thân mình cũng biến mất luôn!
Liên Hoa Ngọc Thuần chính là Lư Sư Tôn.
Lư Sư Tôn chính là Liên Hoa Ngọc Thuần.
Liên Hoa Ngọc Thuần hỏi:
"Đây có phải là tương ứng rồi không?"
Tôi đáp:
"Đúng vậy."
(Đương nhiên, đây không phải là việc một, hai ngày. Cũng không phải là việc một, hai năm, mà là việc cần rất rất lâu thời gian, cả một đời, hai đời, đời đời kiếp kiếp.)
Thật ra, đây mới chỉ là quán tưởng nhưng đã thành tựu vô lượng công đức rồi.

Tôi thường dạy mọi người ba pháp thù thắng:

1. Phát bồ đề tâm.

1. Quán tu chính hành.

1. Hồi hướng Đại thừa.

Việc quán tưởng Lư Sư Tôn trụ đỉnh đầu của Liên Hoa Ngọc Thuần liên quan đến một trong các mục của phần Chính hành. Cộng thêm việc trì chú: Om guru liansheng siddhi hum.
Nhập tam ma địa. (thiền định)
Thế là sẽ hoàn thành phần Quán tu chính hành.

Tương lai, Liên Hoa Ngọc Thuần sẽ được lên Ma Ha Song Liên Trì, ở cùng nơi với Liên Hoa Đồng Tử. Tu hành cần có tâm bền bỉ lâu dài.

Giống như Tổ sư Đạt Ma nói với tôi:
"Ngọc không mài không sáng, ở thế giới Ta Bà này, có viên ngọc nào không phải trải qua sự mài dũa mới có thể trở nên sáng bóng đây? Có ai khi vừa mới phát tâm là đã có thành tựu ngay? Nhất định cần phải có tâm lâu dài, cần phải liên tục luyện tập cho đến khi hoàn toàn thành thục. Cần phải tăng trưởng, rồi lại tăng trưởng tiếp, tăng trưởng nữa...

Cuối cùng là:
Bảo nhậm.
Cũng có nghĩa là pháp nhĩ bản nhiên.
Tự nhiên mà thế."

Tôi nói với Liên Hoa Ngọc Thuần:
"Kì thực, tu hành chủ yếu nhất là sự giải thoát, không rơi vào lục đạo luân hồi nữa."
"Từ thứ tự sinh khởi đến thứ tự viên mãn."
"Từ nhập thế đến xuất thế."
Viên mãn quả vị Phật.


### 38. Một người hỏi, một người đáp


Tôi và Tổ sư Đạt Ma có cuộc hỏi đáp như sau, mỗi một câu hỏi đáp đều có thiền ý, xin hãy nghĩ thật kĩ.
Tôi hỏi:
"Cần xem việc sinh và tử thế nào?"
Đạt Ma đáp:
"Sinh tức là tử, tử tức là sinh."
Tôi hỏi:
"Hiền và ngu, phàm và thánh, có khác nhau không?"
Đạt Ma đáp:
"Tính chất bình đẳng, không có gì khác biệt."
Tôi hỏi:
"Thế nào là khai ngộ?"
Đạt Ma đáp:
"Bắt chước câu nói của Lục Tổ, vốn dĩ chẳng hề có một vật."
Tôi hỏi:
"Vốn dĩ chẳng hề có một vật, còn gì nữa không?"
Đạt Ma đáp:
"..." (không nói gì)

Tôi hỏi:
"Rất nhiều thiền sư chủ trương sống ngay trong thời điểm hiện tại, ngài nghĩ thế nào?"
Đạt Ma đáp:
"Ngay cả đến hiện tại cũng không có thì mới là thầy của trời người."
Tôi hỏi:
"Thế nào là độ chúng sinh?"
Đạt Ma đáp:
"Lư Sư Tôn, chỉ là một ngọn đèn thôi."
Tôi hỏi:
"Truyền thừa của tôi cần truyền cho đệ tử nào?"
Đạt Ma đáp:
"Người vô tâm."
Tôi hỏi:
"Nhập tam ma địa là có ý nghĩa gì?"
Đạt Ma đáp:
"Trâu đất đi vào biển."

Tôi hỏi:
"Bổn tôn từ đâu đến? Bổn tôn đi về đâu?"
Đạt Ma đáp:
"Chẳng đến cũng chẳng đi."
Tôi hỏi:
"Chân đế của việc tu hành Mật giáo là gì?"
Đạt Ma đáp:
"Chuyển hóa."
Tôi hỏi:
"Có xả thế gian không?"
Đạt Ma đáp:
"Không có. Bát tà cũng tức là bát giải thoát."
Tôi hỏi:
"Thiền định và trí huệ có khác biệt không?"
Đạt Ma đáp:
"Tên gọi khác nhau, thực chất là giống nhau."

Tôi hỏi:
"Trực tâm là đạo tràng, là ý nghĩa gì?"
Đạt Ma đáp:
"Chính là cái này."
Tôi hỏi:
"Ứng đối với mọi sự, phải ra sao?"
Đạt Ma đáp:
"Bất động."
Tôi hỏi:
"Tôi cần xem việc người như thế nào?"
Đạt Ma đáp:
"Ngài, Lư Sư Tôn chẳng phải đã từng nói, tất cả mọi thứ đều đã được an bài tốt đẹp hết rồi sao?"
Ôi chao! Biết bao lợi ích! Thiện tai!


### 39. Điềm mộng cát tường


Tôi có một đệ tử ở Đài Trung Đài Loan, pháp danh là Liên Hoa Thanh Thanh. Anh nói với tôi:
Anh có một giấc mơ.
Anh đến chỗ của Lư Sư Tôn.
Có rất nhiều người xếp hàng muốn được Lư Sư Tôn gia trì. Lư Sư Tôn lần lượt gia trì trên đầu họ (sờ đầu). Cuối cùng cũng đến lượt Liên Hoa Thanh Thanh. Nhưng Lư Sư Tôn lại bảo, đối diện ta có một tiệm cắt tóc, anh đi đến đó cắt tóc cho gọn gàng rồi hãy quay lại.

Lúc này, anh nhìn lại chính mình thì giật mình đánh thót.
Anh nhìn thấy chính mình toàn thân mọc đầy lông, đầu, tay, thân người, chân, ngay cả mặt cũng mọc đầy lông đen bờm xờm. Thật giống như một con hắc tinh tinh.

Anh đi đến tiệm cắt tóc đối diện. Bên trong tiệm cắt tóc có rất nhiều thợ cắt tóc nữ. Các cô thợ cắt tóc nữ đều đứng cả dậy. Mọi người đều rất bận rộn.
Người thì bưng nước nóng.
Người thì lấy xà bông.
Người thì phết keo.
Người thì dùng dao cạo.
Từ đầu đến chân cắt tỉa gọn gàng sạch sẽ, ngay cả lông trên mặt cũng đã được cạo sạch. Lúc này anh mới đi nhận cái sờ đầu gia trì của Lư Sư Tôn!

Liên Hoa Thanh Thanh nói:
"Đó là một cơn ác mộng!"
Tôi nói:
"Đây là một điềm mộng cát tường đó!"
Liên Hoa Thanh Thanh nói:
"Toàn thân đầy lông đen, như vậy mà cát tường sao?"
Tôi nói:
"Đây mới là điều cát tường, thợ cắt tóc nữ là các Không Hành Mẫu, lông đen được cạo hết sạch, đây là tiêu trừ mọi nghiệp đen, bản thân trở nên thanh tịnh!"

Còn nữa:
Có một đệ tử tên là Liên Hoa Á Đông, có một giấc mơ. Mơ thấy:
Anh đi vào một khu rừng sâu, không ngờ cây trong rừng có đầy rắn. Giống như là anh đi vào một khu rừng rắn vậy. Mỗi con rắn đều phun ra xà tín, đối mặt với anh.
Anh sợ muốn chết!
Lưỡi rắn rất đáng sợ!
Mắt rắn rất đáng sợ!
Rắn thân trắng ơn ởn rất đáng sợ!
Đầu rắn ngóc lên rất đáng sợ.
Rắn bò uốn éo rất đáng sợ.
Anh sợ tới mức chạy khắp nơi, nhưng chạy thế nào cũng không ra khỏi được khu rừng rắn. (kì môn độn giáp)

Bất ngờ, Liên Hoa Á Đông trông thấy Lư Sư Tôn đến, còn đưa cả Long Thụ Bồ Tát đến. Long Thụ Bồ Tát là lão tổ tông của tộc rắn, lũ rắn vừa trông thấy Long Thụ Bồ Tát liền chạy trốn khắp nơi. Một loáng chúng đã chạy sạch hết cả.
Lư Sư Tôn bảo Liên Hoa Á Đông:
"Nơi có kẻ ác tụ tập thì đừng có đến!"

Về sau, giấc mơ này đã có ứng nghiệm. Liên Hoa Á Đông chấp nhận vào làm việc ở một công ty, công ty này là một tập đoàn lừa đảo, sau khi biết được thì anh liền rời khỏi công ty. Sau đó, tập đoàn lừa đảo này bị bắt, Liên Hoa Á Đông không bị liên lụy gì.
Tôi nói:
"Tưởng là ác mộng, nhưng thật ra lại là điềm mộng cát tường."
Tổ sư Đạt Ma cũng nói:
"Điềm mộng cát tường!"


### 40. Yêu cuồng si


Tôi có một đệ tử ở Malaysia, cô viết một bức thư "Yêu cuồng si", xin trích ra như sau:

1. Lư Sư Tôn!
Con có siêu năng lực!
Đó là năng lực yêu Sư Tôn siêu cấp.
Trong lòng con chỉ mong thầy vui vẻ.
Hy vọng thầy ở mãi trong tim con
Vĩnh viễn mãi mãi.

1. Lư Sư Tôn!
Gần đây con có thêm một nguyện vọng:
Mở mắt có thể nhìn thấy thầy.
Nhắm mắt có thể nhìn thấy thầy.
Trong tim đều là thầy.
Giọng nói của thầy.
Mặc dù chỉ nói một chút xíu
Con có thể nghe suốt cả đời.

1. Lư Sư Tôn!
Thầy có mệt không?
Bởi vì mỗi ngày hai mươi tư giờ thầy đều chạy trong đầu con.
Thầy có biết có ba người yêu thầy không?
Ba người này chính là:
Con.
Con đây.
Chính là con.

1. Lư Sư Tôn thân yêu:
Xin đừng quên con!
Thầy có biết sự khác biệt giữa thầy và mặt trăng không?
Để con nói cho thầy biết:
Mặt trăng ở trên trời.
Thầy ở trong tim con.

1. Lư Sư Tôn!
Con rất muốn thầy biết được
Không biết đời người còn dài bao lâu?
Con muốn thầy hiểu con
Thầy hiểu con,
Hiểu con.
Hiểu được trái tim của người nữ đệ tử này.

1. Lư Sư Tôn!
Ở trước mặt thầy, tim con đập nhanh, không mở miệng nói được nghìn vạn lời muốn nói, mặt đỏ vì thẹn thùng. Nhưng, trái tim con đã nói lên nghìn vạn lời nói, ngọt ngào trong tim.
Con vừa tôn kính thầy.
Con vừa đánh mất lý trí rồi.

1. Lư Sư Tôn!
Thầy vui vẻ, con sẽ vui vẻ.
Thầy lo buồn, con sẽ lo buồn.
Trái tim con gắn với trái tim thầy.
Trái tim thầy gắn với trái tim con.
Đây chính là sự hòa hợp gắn bó.
Trái tim của con, hơi thở của con, tên gọi của con, thân thể của con, bóng hình của con, tất cả đều là của thầy. Đầy ắp tràn trề...

Tôi hỏi Tổ sư Đạt Ma:
"Đệ tử nữ này thế nào đây?" (Đệ tử nữ này tên gọi là Tân Tân.)
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Si mê có thể thành Phật!" (Câu nói này có ý nghĩa sâu sắc.)


### 41. Tám triệu biến Thượng sư tâm chú


Ở Malaysia tôi có một đệ tử tên là Liên Hoa Cẩm Nguyên.
Bởi tuổi tác đã cao, ông nghe người ta nói niệm đủ tám triệu biến Thượng sư tâm chú thì chắc chắn sẽ có cảm ứng. Ông tin theo. Thế là, ông bắt đầu ngồi thẳng trước đàn thành và niệm tụng:
"Om guru liansheng siddhi hum."
Ngày ngày, tháng tháng, năm năm, cứ thế mà làm.
Cuối cùng cũng niệm đủ tám triệu biến.

Liên Hoa Cẩm Nguyên thật sự đã nhìn thấy Lư Sư Tôn hiển hiện trên không trung phía trước mặt ông, đưa tay ra sờ đầu ông, đồng thời cầm tay kéo ông bay đi. Bay đến tịnh thổ Ma Ha Song Liên Trì, ở trong hồ sen, ông nhìn thấy một đồng tử đứng trong một bông hoa sen, hình dáng gần giống chính mình.

Lư Sư Tôn chỉ vào đồng tử nói:
"Đây chính là ông đó!"
Liên Hoa Cẩm Nguyên hỏi:
"Liên Hoa Đồng Tử này là con của tương lai sao?"
Tôi nói:
"Đúng vậy."

Liên Hoa Cẩm Nguyên chỉ vào một bông hoa sen khác hỏi:
"Vì sao bông hoa kia lại héo úa? Chỉ còn lại cành khô lá héo, bông hoa này vì sao lại như vậy?"
Tôi nói:
"Bông hoa này là một Thượng sư Chân Phật Tông."
Liên Hoa Cẩm Nguyên hỏi:
"Là một Thượng sư mà sao lại cành khô lá héo?"
Tôi nói:
"Thượng sư này đã không còn đạo tâm, đã rời bỏ đi như nước chảy bèo trôi rồi!"
Liên Hoa Cẩm Nguyên thấy vậy nói:
"Đáng tiếc! Đáng tiếc!"
(Đây là những điều mà Liên Hoa Cẩm Nguyên ở Malaysia thật sự đã nhìn thấy ở Ma Ha Song Liên Trì.)

Có một hôm, thọ mạng của Liên Hoa Cẩm Nguyên đã đến. Ông hét lớn lên một tiếng:
"Lư Sư Tôn đã đến đón tôi rồi! Lư Sư Tôn đã đến đón tôi rồi! Lư Sư Tôn đã đến đón tôi rồi!"
Hét lên xong rồi cũng qua đời.
(Người nhà của ông kể lại với tôi chuyện này.)

Tôi hỏi Tổ sư Đạt Ma:
"Đối với những chuyện như thế này, ngài có cảm tưởng gì?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Đây là cảnh giới chuyên nhất."
Tôi hỏi Tổ sư Đạt Ma:
"Có phải người người đều nên tu không?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Nên tu."
Tôi hỏi:
"Tổ sư có điều gì dạy bảo cao hơn không?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Đến được Ma Ha Song Liên Trì, hóa thân thành Liên Hoa Đồng Tử, cảnh giới bất thối chuyển, rất đáng chúc mừng. Nhưng vẫn chưa đạt đến được Phật quả!"
Tôi hỏi:
"Vì sao nói như vậy?"
Tổ sư Đạt Ma dạy tôi:
"Sắc tức vô sắc, gọi là đạt sắc.
Hữu tức vô hữu, gọi là đạt hữu.
Sinh tức vô sinh, gọi là đạt sinh.
Pháp tức vô pháp, gọi là đạt pháp."
Tổ sư Đạt Ma lại nói:
"Muốn đạt đến Phật quả thì phải vô chấp!" (Quả sinh tử không biến đổi.)
Tôi nói:
"Đã hiểu." (Chuyên nhất cần quy về)


### 42. Xem một bộ phim


Ngày 26 tháng 11 năm 2020, 6 giờ sáng.
Diêu Trì Kim Mẫu mời tôi xem một bộ phim. Thật ra là Diêu Trì Kim Mẫu mời tôi xem phim không chỉ một lần này, mà là đã có rất nhiều lần rồi. Những bộ phim này là miễn phí. Chỉ có tôi là người xem duy nhất.
Sau khi xem phim xong thì:
Tất cả đều hiểu rõ!

Những bộ phim này không phải là phim văn nghệ, không phải là phim kiếm hiệp, không phải là phim trinh thám, không phải là phim chiến tranh, không phải là...
Mà là:
"Phim tả thực nhân vật."

Tôi lấy bộ phim tôi xem vào 6 giờ sáng ngày 26 tháng 11 năm 2020 làm ví dụ.
Nhân vật: nhân viên hoằng pháp.
Nội dung: mô tả một nhân viên hoằng pháp vốn dĩ ban đầu khi mới phát bồ đề tâm thì rất tốt, sau đó đã bị tiền bạc mê hoặc, bị sắc đẹp quyến rũ. Trong quá trình hoằng pháp, thái độ đã dần dần thay đổi, lần lượt các sự việc đều được thể hiện đầy đủ trong phim.

Cuối cùng thì:
Ông ta đã lừa gạt chúng sinh một cách có chủ ý.
Lừa dối đệ tử.
Trên thì lừa dối Căn bản Thượng sư Lư Sư Tôn.
Dưới thì lừa dối đệ tử Chân Phật Tông.
Đã mất đi tâm cung kính đối với Lư Sư Tôn.
(Đây là một con đường sa đọa rất cơ bản.)

Rất nhiều đồng môn vẫn còn cho rằng ông ta là một pháp sư đã chứng ngộ, một pháp sư có đạo hạnh... và những điều tương tự như thế.

Sau khi tôi xem xong bộ phim này, đương nhiên tôi đã hiểu rõ về nhân viên hoằng pháp này.
Mặt ngoài là một kiểu.
Bên trong lại là một kiểu khác.
Tôi cũng biết, người tu hành phải trung thực đôn hậu, bản tính thiện lương. (Điểm này là quan trọng nhất.)
Tối kị:
Tính cách nham hiểm.
Thủ đoạn độc ác.
Lừa tiền lừa sắc.
Làm xằng làm bậy.
Biểu hiện ngoài mặt là một chính nhân quân tử, nhưng bên trong lại ẩn giấu đầy sự xảo trá.

Sau khi xem xong bộ phim, tôi đầm đìa nước mắt.
"Trời ơi! Trời ơi! Tôi phải làm sao đây?"
Tôi hỏi Tổ sư Đạt Ma:
"Loại người này có thể thay đổi không?"
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Thói quen lâu ngày đã ngấm sâu rồi."
Tôi hỏi:
"Có thể cứu không?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Ông ta lấy điều này làm thú vui rồi."
Tôi hỏi:
"Không sợ nhân quả sao?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Nhân quả sớm đã bị ông ta vứt ra khỏi đầu rồi."
Tôi hỏi:
"Phải làm sao để đối diện với nhân viên hoằng pháp này?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Giả ngu!"
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Ngài không cần phải đối địch với ông ta, ngài cần xem ông ta như không, ngài có trí huệ nhãn, trí huệ quang. Nhân quả của ông ta thì tự làm tự chịu. Thế giới Ta Bà này vốn dĩ là như vậy đó!"


### 43. Có đệ tử hỏi chính tà


Có đệ tử đến hỏi Lư Sư Tôn:
"Cái gì là chính tà?"
Tôi đáp:
"Thánh giả là chính, còn đạo gì chệch đi thì là tà, do vậy mới gọi là chính. Phật pháp có bát chính đạo:

1. Chính kiến --- nhận thức được chân lý (chân đế), có trí huệ vô lậu.

1. Chính tư duy --- tâm trí huệ vô lậu.

1. Chính ngữ --- không nói những điều phi lý tính.

1. Chính nghiệp --- làm nghề thanh tịnh, rời xa cái tà.

1. Chính mệnh --- thanh tịnh tam nghiệp của thân khẩu ý, thuận với chính pháp.

1. Chính tinh tấn --- chăm chỉ tăng trưởng trí huệ vô lậu.

1. Chính niệm --- suy nghĩ chính kiến, không có tà niệm.

1. Chính định --- có thể đạt đến thiền định niết bàn.
Cái gọi là tà:
Những thứ tương phản với bát chính đạo, thì là tà!"

Đệ tử hỏi:
"Tôi đọc truyện "Anh hùng xạ điêu", trong đó có năm người võ công cao nhất là:
Đông Tà.
Tây Độc.
Nam Đế.
Bắc Cái.
Chu Bá Thông.
Trong đó, Đông Tà là chỉ Hoàng Dược Sư. Vì sao lại gọi ông ta là tà?"

Tôi cười, nói:
"Đó là tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung, đâu phải là người thật."
Đông Tà là chỉ một người hành sự không theo đạo lý chính thường.

Kì thực, tôi cũng đã đọc truyện "Anh hùng xạ điêu" rồi. Ba nhân vật chính trong đó có thể phân biệt như sau:
Quách Tĩnh (chính).
Hoàng Dung (huệ).
Dương Khang (tà).
Bạn nghĩ thế nào?

Tôi (Lư Sư Tôn) nói:
"Tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung tuy rằng nhân vật đều là do ông tự tạo ra, nhưng nhân vật tiểu tuyết vốn dĩ trong thế gian cũng có, hơn nữa còn có rất nhiều nữa."

Tôi còn nói:
"Người tu hành chúng ta cần đôn hậu thiện lương, cần có trí huệ nhạy bén. Điều đáng sợ nhất là tâm thuật bất chính, tâm thuật bất chính tức là tà đó. Còn như Hoàng Lão Tà, tôi không nghĩ ông ta là tà! Chỉ là hành sự của ông ta không theo những lý lẽ đã được lập sẵn."
Đệ tử nói:
"Lư Sư Tôn phân tích rất phải."

Tôi đem chuyện này hỏi Tổ sư Đạt Ma xem Tổ sư Đạt Ma có kiến giải gì cao hơn không.
Tôi hỏi:
"Cái gì là chính? Cái gì là tà?"
Đạt Ma đáp:
"Chính cũng là không. Tà cũng là không."
Tôi hỏi:
"Đó là chính tà không phân biệt sao?"
Đạt Ma đáp:
"Không phải! Có tức là không có, không tức là không phải không."
Tôi nói:
"Không hiểu lắm."
Đạt Ma nói:
"Thiền định tức là bất động, chính và tà đều không phân biệt, thế mới là bất động."
Tôi hỏi:
"Điều này giống với không nghĩ thiện, không nghĩ ác."
Đạt Ma đáp:
"Vốn không thiện ác, là tâm không."
Không biết mọi người có hiểu không?


### 44. Đưa tay sờ đầu


Chuyện kể rằng:
Ngày xưa, lúc Phật Đà ở đỉnh núi Linh Thứu, chúng đệ tử đều ở trong các hang động tu thiền định.
Phật Đà có hang động của riêng mình.
A Nan có hang động của riêng mình.
Xá Lợi Phất có hang động của riêng Xá Lợi Phất.
Tân Đầu Lư có hang động của riêng mình.
...

Có một lần.
A Nan tôn giả đang ở trong hang động tu định thì có một con chim kền kền lớn ở bên ngoài hang động kêu gu gu chu chu, tiếng kêu rất thê lương!
A Nan nghe thấy thì vô cùng sợ hãi.
Ông bắt đầu lo sợ, tim gan rụng rời. (chứng hoảng hốt)
Lúc này, Phật Đà biết được, bèn từ trong hang động của mình vươn dài cánh tay ra, tay xuyên qua đá núi, vươn thẳng đến hang động của A Nan tôn giả, xoa vào đầu A Nan tôn giả.
Có cái xoa đầu làm yên lòng của Phật Đà, A Nan tôn giả không thấy sợ hãi nữa!
(Đây là Phật Đà vươn dài cánh tay, xuyên qua đá núi, trực tiếp chạm vào đầu A Nan tôn giả.)

Còn nữa:
Có lần tôi ở Đài Trung Đài Loan, chân tôi bị sưng viêm kiểu tổ chức mô tế bào, một chân bị sưng to như chân voi, vừa đau vừa sưng. Đây là một bệnh do bị nhiễm khuẩn. Cần phải dùng thuốc tiêu viêm. Nếu không có cách nào để giảm sưng thì cần phải cắt bỏ chân, đó là để bảo toàn tính mạng.

Trong lúc tôi rất đau đớn, trong hư không xuất hiện một vị cao tăng đắc đạo. Ông ấy chính là lão hòa thượng Hư Vân. Từ trong không trung, trên những đám mây, ông vươn cánh tay dài ra. Cánh tay càng vươn càng dài, xuyên vào trong phòng ngủ của tôi, cánh tay của ông xoa vào đầu tôi.
Lão hòa thượng Hư Vân là người triều Thanh.
Tôi sinh ra khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc (năm 1945).
Thời đại khác nhau.
Tôi với ông vốn không quen biết.
Hai bên hoàn toàn không quen biết nhau.
Tôi chỉ mới từng đọc qua cuốn truyện kí về ông "Mây của hư không".
Tuy nhiên, ông lại từ trong hư không vươn dài cánh tay ra để gia trì cho tiểu tử hậu bối là tôi đây, tôi thật sự vô cùng cảm động.

Còn nữa:
Đệ tử của tôi là Quan sư tỉ sống tại San Francisco, cô bị mắc chứng tắc nghẽn động mạch tim, nghĩa là chứng đột quỵ tim. Có lần trong tình huống nguy cấp, pháp sư Liên Dương đã đốt hai que hương, báo cáo với tôi. Tôi vào phòng ngồi thiền. Cánh tay tôi vươn dài ra, cánh tay từ Seattle vươn đến tận San Francisco để xoa đầu gia trì cho Quan sư tỉ. Mọi người đều biết.

Cánh tay của tôi có năng lực sắp đặt tổ chức. Thế là, bác sĩ và bàn tay của tôi đã lấy lại được tính mạng cho Quan sư tỉ. Tôi nói:
"Thiện tai! Thiện tai!"
Tổ sư Đạt Ma nói:
"Bồ đề tâm vô cùng quan trọng! Thiện duyên tiếp nối nhau."


### 45. Tôi thật sự hiểu thấu rồi


Ngày 3 tháng 12 năm 2020.
Khoảng 1h30 sáng (nghĩa là đã sang ngày 4 tháng 12 rồi.)
Tôi vừa mới lên giường, còn nửa tỉnh nửa ngủ.
Tổ sư Đạt Ma xách đèn lồng đến tìm tôi, muốn tôi đi cùng ngài ấy. Chúng tôi đi qua một con đường tối đen rất dài. Đến một thành phố. Trên cổng thành có viết "Nguyệt Quang Thành".

Tổ sư Đạt Ma nói với tôi:
"Nơi đây là thiên ngoại chi thiên."
Tôi nói:
"Tôi đã từng viết một cuốn sách đặt tên là Thiên ngoại chi thiên."
Đạt Ma hỏi:
"Thiên ngoại chi thiên, là ý gì?"
Tôi đáp:
"Là chỉ cảnh giới cao hơn đó mà!"
Đạt Ma nói:
"Nên là không có cảnh giới thì mới là thiên ngoại chi thiên."
Tôi nói:
"Tổ sư nói đúng rồi."

Đạt Ma nói:
"Nguyệt Quang Thành của thiên ngoại chi thiên có một vị là Longchenpa tôn giả, ông ấy muốn gặp ngài!"
Tôi nói:
"A! Tôi có biết ông ấy! Tiểu sử về ông ấy tôi đã từng đọc rồi."
Tôi, Tổ sư Đạt Ma và Longchenpa tôn giả, ba người chúng tôi cuối cùng đã gặp mặt nhau rồi.
Longchenpa tôn giả gọi tôi là:
"Thiếu niên anh hùng!" (Chatral Rinpoche cũng từng gọi tôi như thế.)
Tôi cười!
"Tôi đã ngoài bảy chục tuổi rồi, còn thiếu niên anh hùng sao?"
Longchenpa nói:
"Lư Sư Tôn! Trong mắt ta, ngài vẫn là thiếu niên anh hùng!"

Longchenpa Pháp Vương tặng cho tôi một bài kệ.
Bài kệ này rất quan trọng.
Khiến tôi hiểu thấu đáo.
Tôi đặc biệt ghi lại dưới đây:

*Vì đau khổ dày vò, tôi đến gần Phật pháp
Tìm thấy đạo giải thoát, cảm tạ giới tà ác!
Đau thương tìm đến tôi, tôi đến gần Phật pháp,
Tìm thấy được niềm vui, cảm tạ những đau thương!
Ác linh gây tổn hại, tôi đến gần Phật pháp,
Tìm được tâm vô úy, cảm tạ quỷ và ma!
Vì người khác ghét bỏ, tôi đến gần Phật pháp,
Được lợi được vui vẻ, cảm tạ người oán hận!
Vì nghịch cảnh tàn khốc, tôi đến gần Phật pháp,
Có được đạo bất dịch, xin cảm ơn nghịch cảnh!
Vì người ta bức bách, tôi đến gần Phật pháp,
Tìm được cứu cánh nghĩa, cảm ơn người bức bách!
Phúc đức hồi hướng anh, hồi báo anh nhân từ.*

Tôi đọc xong bài kệ này, lập tức hiểu thấu đáo!
A!
Những người tôi cần phải cảm ơn thật nhiều quá...
Tâm cảnh của tôi đã được khai thông.
Hết thảy đều thông suốt!
Thì ra tất cả đều là sự an bài đẹp đẽ nhất rồi!
Tôi cảm tạ! Người đã viết sách hại tôi.
Tôi cảm tạ! Người đã phản bội tôi.
Tôi cảm tạ! Người đã chửi sư phụ [đệ tử chửi tôi].
Tôi cảm tạ! Ác quỷ và ác linh.
Tôi cảm tạ! Ma bệnh.
Tôi cảm tạ! Người phỉ báng danh dự của tôi.
Những lời cảm tạ không thể đếm hết! Thật sự là vô cùng cảm kích!


### 46. Chân đế của quy y thật sự


Tổ sư Đạt Ma hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Ngài biết chân đế của quy y thật sự chứ?"
Tôi đáp:
"Đương nhiên."
Đạt Ma hỏi:
"Ngài nói thử xem?"
Tôi đáp:
"Hiển giáo thông thường là quy y Phật, pháp, tăng." (Tam Bảo)
Quy y Phật --- nhận định Phật là sư trưởng.
Quy y pháp --- nhận định pháp là pháp do sư trưởng truyền dạy, là con đường đạo.
Quy y tăng --- nhận định rằng tăng là bạn đạo hướng dẫn ta.
Quy y Mật giáo thông thường là cộng thêm quy y Kim cương Thượng sư. Là bởi vì Kim cương Thượng sư cai quản chung Tam Bảo. Do vậy Kim cương Thượng sư là tổng trì của Tam Bảo.

Đạt Ma hỏi:
"Ngài biết Mật giáo quy y lấy khí, mạch, minh điểm là Tam Bảo không?"
Tôi đáp:
"Tôi biết điều này:
Pháp thân --- tịnh hóa minh điểm.
Báo thân --- vận chuyển khí.
Ứng thân --- mạch là đường đạo."

Đạt Ma hỏi:
"Ngài biết Tam căn bản của Mật giáo cũng là Tam quy y không?"
Tôi đáp:
"Điều này tôi cũng biết:
Quy y Thượng sư --- cúng dường toàn bộ thân, khẩu, ý.
Quy y Bổn tôn --- nương dựa vào Bổn tôn.
Quy y Hộ pháp --- coi Hộ pháp là bạn đạo.
Tôi trả lời như vậy có được không?"
Đạt Ma nói:
"Cũng tạm chấp nhận được!"

Đạt Ma hỏi:
"Lư Sư Tôn! Ngài hiểu thế nào gọi là tự quy y không?"
Tôi đáp:
"Tôi biết!"
Đạt Ma hỏi:
"Nói thử xem?"
Tôi đáp:
"Tự quy y Phật --- chính là quy y Phật tính của chính mình. (ý)
Tự quy y pháp --- chính là quy y trí huệ bản sơ. (khẩu)
Tự quy tăng --- chính là quy y thanh tịnh bản nhiên. (thân)"
Đạt Ma nói:
"Cũng khá thú vị!"

Tổ sư Đạt Ma nói với tôi:
"Rất nhiều người quy y là vì có động lực quy y.

1. Biết rằng cuộc đời rất khổ, muốn sau khi quy y, có thể đến được nơi chốn hạnh phúc. Ví dụ như thiên đường, thiên quốc.

1. Biết có thể thành tựu Phật, Bồ Tát. Được giải thoát vĩnh viễn, không phải luân hồi nữa, thậm chí có thể niết bàn.

1. Biết bản thân sau khi tu hành có thể không phải chịu luân hồi nữa, còn muốn phát bồ đề tâm, muốn độ được nhiều người hơn nữa hết khổ được vui, đây là điều tối thượng thừa.

Lư Sư Tôn! Ngài cho rằng động lực nào là tốt nhất?"
Tôi đáp:
"Cả ba đều tốt!"
Đạt Ma nói:
"Chỉ có thể chọn một thôi!"
Tôi đáp:
"Vậy thì chỉ có thể chọn điều thứ ba."
Đạt Ma nói:
"Rất tốt!"
Tôi nói:
"Nhận định và hiểu rõ được chân đế của quy y, đây là mục tiêu."


### 47. Cảm ơn nhân gian


Tôi hỏi:
"Đối với nhân gian, hành giả chúng ta nên có tình cảm ra sao?"
Đạt Ma đáp:
"Cảm ơn!"
Tôi hỏi:
"Không phải là cần chán ghét và muốn rời bỏ thế gian sao?"
Đạt Ma đáp:
"Đúng là cần chán ghét và muốn rời bỏ, nhưng cũng cần cảm ơn."
Tôi hỏi:
"Vì sao vậy?"
Đạt Ma đáp:
"Lư Sư Tôn! Là vì nhân gian đã hoàn thiện ngài!"

Tổ sư Đạt Ma nói:
"Ngài sinh ra tại nhân gian, cần phải cảm ơn cha mẹ của ngài trước tiên.
Còn có hoàn cảnh mà ngài trưởng thành, cần cảm ơn đất nước.
Cần cảm ơn những người thầy đã dạy dỗ ngài.
Mẫu giáo, tiểu học, sơ trung, cao trung, đại học. Tất cả các trường học, thầy cô giáo, bạn học, đều cảm ơn hết. Đến khi bước ra ngoài xã hội thì càng cần cảm ơn nhiều hơn.
Đồng nghiệp của ngài.
Cấp trên của ngài.
Cảm ơn tất cả!
Đồ ăn, quần áo, nơi ở, đi lại của ngài, đều cần cảm ơn!
Ngoài ra:
Người khai sáng cho ngài đi trên con đường tu hành, người hướng dẫn, những người mà ngài đã bái làm sư phụ đều cần cảm ơn.
Bốn vị Thượng sư quy y của ngài là:
Liễu Minh Hòa Thượng.
Sakya Chứng Không Thượng sư.
Đại Bảo Pháp Vương thứ 16.
Thubten Dhargye Thượng sư.
Ngoài ra còn có:
Các thượng sư mà ngài kết duyên.
Đều cần cảm ơn!
Trên phương diện vô hình thì:
Chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, Chư Thiên, đều cần cảm ơn.
Còn nữa:
Cảm ơn 19 năm sống ở Cao Hùng.
Cảm ơn 19 năm sống ở Đài Trung.
Cảm ơn 38 năm sống ở Seattle nước Mỹ."

Tôi hỏi:
"Cần cảm ơn những chướng ngại nghịch duyên không?"
Đạt Ma đáp:
"Càng cần."
Tôi hỏi:
"Vì sao?"
Đạt Ma đáp:
"Bởi vì đối với các chướng ngại của ngài, chúng là động lực thúc đẩy ngài càng tinh tấn hơn."

Tổ sư Đạt Ma nói:
"Ngài từng nói, nếu có người phỉ báng ngài, nếu có người hãm hại ngài, nếu có người chỉ trích ngài… thì sẽ càng khích lệ ngài viết thêm năm cuốn sách hoặc mười cuốn sách. Tu pháp càng tinh tấn, không thành tựu không được. Càng nên cảm ơn sự thúc đẩy này!"
Tôi hỏi:
"Có nghĩa là tất cả mọi thứ của nhân gian đều cần cảm ơn, đúng không?"
Đạt Ma đáp:
"Đúng!"
Tôi hỏi:
"Còn tình cảm của tôi?"
Đạt Ma đáp:
"Cảm ơn!" (Trong lòng không được có một chút oán hận nào.)


### 48. Tôi gặp Tổ sư Đạt Ma như thế nào


Có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Ngài gặp Tổ sư Đạt Ma như thế nào?"
Tôi đáp:
"Lòng tin."
Hỏi:
"Đây là lòng tin gì?"
Tôi đáp:
"Là lòng tin hoàn toàn tin tưởng
Có thể gia trì mà có được
Chốc lát trong lòng chẳng hoài nghi
Tất thảy đều được như ý nguyện."

Hỏi:
"Ngài tin, nhưng gặp như thế nào?"
Tôi đáp:
"Vị đại thành tựu giả xứ Orgyen vĩ đại - Liên Hoa Sinh Đại Sĩ từng nói:
Đối với những thiện nam nữ có lòng tin vào ta,
Ta sẽ chẳng bao giờ rời xa họ
Ta sẽ ngủ bên cạnh nhà họ
Cái chết đối với ta chẳng tồn tại.
Trước mặt mỗi người có lòng tin vào ta,
Thì sẽ có một Liên Hoa Sinh."

Tôi nói:
"Tôi đã viết sách Thiền tông, khoảng hơn chục cuốn. Tôi đã vẽ vô số bức họa tướng của Tổ sư Đạt Ma. Tôi hướng đến pháp môn an tâm của ngài, và những hành chỉ của ngài.
Báo oán hành.
Tùy duyên hành.
Vô sở cầu hành.
Như pháp hành.
Vô trụ hành.
Thiền hành.
Bất chấp trước hành."

Hỏi:
"Lư Sư Tôn học Mật, còn Tổ sư Đạt Ma là Thiền, hai người gặp nhau, việc này là theo đạo lý gì?"
Tôi đáp:
"Trong Mật có Thiền, trong Thiền có Mật, chính là đạo lý này."
Hỏi:
"Cuối cùng thì sao?"
Tôi đáp:
"Thù đồ đồng quy." [cùng quy về một mối dù rằng đường đi khác nhau]

Hỏi:
"Lư Sư Tôn ngưỡng mộ Tổ sư Đạt Ma điều gì?"
Tôi đáp:
"Khi mới vào Trung Thổ, Tổ sư đối thoại với Lương Vũ Đế.
Chín năm quay mặt vào tường thiền định ở Thiếu Thất Sơn.
Huệ Khả đến cầu pháp.
Những lời dạy của Đạt Ma.
Ở Ấn Độ, Tây Tạng thì:
Dùng pháp đoạt xá cứu người trong cả một làng.
Đem pháp thí thân truyền dạy cho Mã Cát Lạp Tôn.
Cuộc hội ngộ với Milarepa.
v.v..."

Hỏi:
"Lư Sư Tôn! Ngài viết cuốn sách này thì Tổ sư Đạt Ma hiện tướng gì?"
Tôi đáp:
"Đâu đâu cũng là Đạt Ma!"
Hỏi:
"Không có hình tướng cụ thể sao?"
Tôi đáp:
"Người Nhật miêu tả Đạt Ma dưới hình tướng ông lão lật đật, chỗ nào cũng có. Tổ sư Đạt Ma đã biến thành hình tướng ông lật đật."


### 49. Đời người vô thường như thế


Phật Đà nói:
"Chư hành vô thường."
Tôi nói:
"Đây là chân lý!" (chân đế)

Tôi đã đọc một bài viết, có liên quan đến Biden. Tôi trực nhận thấy đời người đúng là vô thường như thế. Tôi đặc biệt trích đăng bài viết đó như sau:

Biden sinh năm 1942. Không giống như Trump sinh ra đã là thế hệ thứ hai giàu có, Biden không chỉ không giàu mà còn rất long đong. Cha của Biden vốn là một thương nhân, nhưng sau đó kinh doanh thất bại, thảm đến mức cơm cũng không có mà ăn, chỉ còn cách đưa vợ con về nhà mẹ vợ để ăn nhờ ở đậu. Nhưng cũng không thể ăn nhờ cả đời được, thế nên vào năm Biden 10 tuổi, bố Biden đã rời khỏi bang Pennsylvania, đưa cả gia đình chuyển đến bang Delaware, sống qua ngày bằng nghề bán xe cũ.

Hồi nhỏ, Biden bị chứng nói lắp, do vậy thường xuyên bị bạn bè chế giễu. Ngay cả cái tên Biden cũng không thể nói rõ ràng, chỉ nói được "bi" "bi" "bi", mãi không nói ra được âm "den". Bạn bè liền đặt biệt danh cho ông là "bai bai". Để sửa chứng nói lắp, mỗi ngày Biden đều đứng trước gương tập nói, đọc vè nói nhịu, đọc diễn cảm thơ ca. Cuối cùng, đến khi học trung học ông đã hoàn toàn hết thói nói lắp. Trong hồi kí của mình, Biden nói: "Kể ra thì cũng buồn cười, quãng thời gian quá khứ nói lắp đầy khó khăn đó, mặc dù có thể né tránh không nói đến, nhưng tôi cũng không né. Bởi vì chính chứng bệnh này đã khiến tôi trở nên mạnh mẽ quyết đoán hơn, khiến tôi trở thành một người giỏi diễn thuyết."

Sau khi tốt nghiệp trung học, Biden đã thi đỗ đại học Delaware. Ông ra sức học chính trị và lịch sử. Năm thứ ba, ông đã quen bạn học cùng trường là Neilia, hai người vừa gặp đã yêu nhau, sau khi vừa tốt nghiệp cả hai đã kết hôn. Khi Neilia đưa ông đi gặp bố mẹ cô, bố vợ hỏi Biden:
"Sau này con định làm gì?"
Biden trả lời rằng:
"Con muốn trở thành nghị viên trước, sau đó sẽ tranh cử chức Tổng thống Mỹ."
Bố vợ nghe xong chỉ cười.

Bố vợ ông cảm thấy rất buồn cười. Nhưng Biden thì thật sự rất nghiêm túc. Bởi gia đình nghèo khổ và bị chứng nói lắp, từ nhỏ Biden đã phải chịu đựng rất nhiều ánh mắt lạnh lùng và sự lăng mạ. Do vậy ông đã hạ quyết tâm sẽ phải vượt trội hơn người khác, trở thành chính trị gia.

Làm sao có thể leo lên võ đài chính trị đây? Biden phát hiện ra pháp luật là một con đường tắt. Thế là, từ sau khi tốt nghiệp đại học Delaware, ông lại vào học Đại học Syracuse New York. Ông ra sức học thạc sĩ và tiến sĩ ngành luật. Năm 1969, sau khi tốt nghiệp tiến sĩ, Biden gia nhập một công ty luật do Đảng Dân Chủ lãnh đạo. Ông tranh cử Ủy viên Hội đồng quận Newcastle và bắt đầu sự nghiệp chính trị của mình.

Năm 1972, Biden 29 tuổi quyết định tranh cử Thượng nghị sĩ của Delaware. Vào thời điểm đó, không ai lạc quan về ông, bởi vì ông không chỉ trẻ tuổi mà còn không có danh tiếng và tài trợ. Nhưng Biden không lùi bước. Không có tiền để quảng cáo trên ti vi và báo chí, ông liền xuống đường phát tờ rơi. Không có đủ khả năng để thuê một địa điểm cho các bài phát biểu chiến dịch tranh cử, ông bèn gõ cửa từng nhà để thăm hỏi. Không ngờ ông đã trúng cử, trở thành thượng nghị sĩ trẻ nhất vào thời điểm đó.

Nhưng chỉ ba tuần sau khi Biden được bầu làm thành viên Quốc hội, điều không may đã xảy ra. Vào ngày 18 tháng 12 năm 1972, vợ của Biden đưa ba con đi mua cây thông Noel, trên đường về nhà đã bị một chiếc xe tải lớn đâm phải. Vợ và con gái ông đã chết ngay tại chỗ, con trai lớn thì bị gãy xương nhiều chỗ, con trai nhỏ thì đầu bị tổn thương nghiêm trọng. Ngày hôm đó Biden đã ngã quỵ. Sau này ông nhớ lại, kể rằng:
"Đó là lần đầu tiên trong đời tôi hiểu được rằng vì sao có người muốn tự sát."

Biden đau đớn suy sụp, quyết định từ bỏ vị trí Thượng viện mà ông vừa có được và về nhà làm một người cha toàn thời gian. Nhưng lãnh đạo Đảng Dân Chủ Mansfield đã nói với ông rằng: "Nếu anh từ bỏ chính mình như thế này thì anh có lỗi với vợ anh ở trên trời đó."

Thế là vào tháng 1 năm 1973, ở trong phòng bệnh của con trai, Biden đã tuyên thệ nhậm chức. Bạn có phải từ bỏ gia đình khi trở thành ủy viên hội đồng không? Biden thì không.

Mỗi ngày, sáng sớm ông lên xe lửa đi làm việc ở Washington, buổi tối lại lên xe lửa trở về Delaware. Một chiều đi là 167km, cả đi cả về bằng xe lửa mất bốn tiếng đồng hồ. Nhưng Biden vẫn kiên trì như vậy suốt 37 năm. Mãi cho đến năm 2008, ông đã trở thành phó tổng thống.

Về sau, trong sách Biden nói:
"Tôi bắt đầu đi đi về về giữa hai nơi, muốn được ở cùng bên các con trai của mình, cho dù là chỉ trong một khoảng thời gian ngắn. Từ Washington đến Wilmington, mỗi ngày bốn tiếng đồng hồ trên đường, tôi đã đi đi lại lại như thế suốt 37 năm. Tôi làm như vậy là vì tôi muốn nói lời chúc ngủ ngon với chúng, và sáng sớm hôm sau tôi lại có thể trao cho chúng một cái hôn."

Bốn năm sau khi Biden độc thân, có một hôm đi trên xe buýt, ông nhìn thấy một tờ quảng cáo, trên đó có một người mẫu tóc vàng, Biden đã lại có thể cảm thấy rung động. Kể ra cũng trùng hợp là cô người mẫu tóc vàng tên Jill này hóa ra lại là học sinh cũ của em trai Biden. Em trai ông dễ dàng kiếm được số điện thoại của Jill nên Biden đã chủ động tấn công.

Ban đầu Jill không thèm để mắt tới Biden, bởi rốt cục thì Biden cũng có tới hai đứa con, ai muốn tự mình chuốc khổ mà làm mẹ kế đây? Bởi vậy khi Biden cầu hôn, Jill đã lập tức từ chối. Nhưng Biden thật sự là một người rất kiên trì, một lần không thành thì hai lần, hai lần không thành thì ba lần. Cuối cùng, sau năm lần cầu hôn, Jill đã đồng ý.

Trên cương vị là Thượng nghị sĩ, Biden đã làm việc hơn 10 năm. Năm 1988, ở tuổi 46, cuối cùng Biden đã không kìm được và tuyên bố tham gia tranh cử Tổng thống. Cho dù bây giờ Biden nói không lưu loát, nhưng hồi đó ông ấy thật sự nói rất giỏi, thậm chí còn được gọi là "diễn thuyết gia vĩ đại".

Bởi vậy, khi ông tranh cử chức tổng thống vào năm 1988, màn trình diễn của ông ngay từ đầu đã vô cùng bắt mắt, giành được sự ủng hộ và công nhận của nhiều người. Nhưng điều không may là ông đã bị Thời báo New York bắt bài: "Bài phát biểu đã đạo văn lời gốc của lãnh đạo Đảng Lao Động Anh Kinnock." Nhiều phương tiện truyền thông nhân cơ hội đã tìm bới nguồn gốc, lôi cả luận án tốt nghiệp đại học của Biden ra nghi ngờ là đạo văn.

Bởi thế, dư luận đã sôi sùng sục:
"Ngay cả bài diễn giảng cũng là sao chép thì bài luận văn tốt nghiệp cũng là sao chép thôi. Chúng ta làm sao còn dám tin vào lời ông ta nói nữa?"
Biden đành chịu rút ra khỏi cuộc tranh cử.

Điều không may vẫn chưa kết thúc. Ngay sau khi ông rút lui khỏi cuộc bầu cử, khi đến Đại học Rochester để diễn giảng, ông đột ngột đau nhói ở đầu, ngã ra đất bất tỉnh nhân sự. Ông được đưa vào bệnh viện kiểm tra thì đã xảy ra sự việc đáng sợ. Qua máy chụp cắt lớp, bác sĩ đã phát hiện Biden có hai khối u trong động mạch. Phẫu thuật là cơ hội sống sót duy nhất, nhưng tỉ lệ thành công chỉ có 50%.

Mọi người nghĩ rằng Biden sẽ chết, nhưng Biden thật sự đã gượng dậy được. Sau khi làm phẫu thuật não, Biden đã phải mang một bộ mặt như cương thi. Ông bị sụp mí mắt phải, không cử động được má.
Bác sĩ nói:
"Có thể gương mặt ông sẽ bị cứng vĩnh viễn."

Nhưng nhờ luyện tập hàng ngày, cuối cùng sau hai tháng, Biden đã hồi phục thành công phần cơ thịt của trán và hai má.

Sau 20 năm không mấy hoạt động, vào tháng 1 năm 2007, Biden lại tuyên bố: "Tôi muốn tranh cử tổng thống."

Thật không may, lần này ông đã gặp Obama. Ngọn gió Obama quá mạnh, cơn lốc Obama đã thổi bùng ở Mỹ, Biden lại thở dài và rút khỏi chiến dịch tranh cử. Nhưng Biden hoàn toàn không ngờ rằng, sau khi Obama thắng cử trong cuộc bầu cử đảng, ông đã tự đề cử mình vào vị trí phó tổng thống.

Obama trẻ tuổi nói:
"Tôi cần Biden bù đắp cho sự thiếu kinh nghiệm của mình."
Vì vậy, Biden đã hợp tác với Obama và giữ chức phó tổng thống trong 8 năm.

Khi được bầu làm phó tổng thống lần thứ hai, con trai của Biden là Beau Biden đã xảy ra chuyện, anh bị phát hiện mắc bệnh ung thư não. Biden có hai người con trai, con trai nhỏ tên là Hunter Biden. Hunter vô cùng đáng thất vọng, chỉ có ăn uống gái gú cờ bạc hút chích, ngũ độc đủ cả. Năm 2013, vì hút ma túy, Hunter đã bị khai trừ ra khỏi hải quân Mỹ. Con trai lớn là Beau Biden, Beau và Hunter lại hoàn toàn trái ngược nhau. Anh là một người rất tiến bộ, đã hai lần giữ chức kiểm sát trưởng của bang Delaware. Đúng lúc chuẩn bị tranh cử chức thống đốc bang Delaware, được người ngoài xem là người sẽ kế tục Biden, do vậy Biden gửi gắm rất nhiều hy vọng vào người con trai này, thì điều không thể ngờ tới là Beau đã mắc bệnh ung thư não. Để chữa bệnh cho Beau, Biden quyết định bán căn nhà duy nhất.

Obama biết được chuyện này liền nói với Biden:
"Đừng bán căn nhà đó! Tôi cho ông mượn tiền. Bất kể ông cần bao nhiêu, tôi đều có thể cho ông mượn."

Vì sao tôi cần nói đến chuyện bán nhà này? Chính là vì muốn nói về tính thanh liêm của Biden. Nước Mỹ có một hệ thống công khai tài sản của công chức, mục đích của việc này là cho phép toàn xã hội giám sát thu nhập của công chức.

Theo hệ thống thông báo công khai, gia đình Biden đã mở năm tài khoản ngân hàng, trong đó một tài khoản có số dư dưới 1000 USD, bốn tài khoản có số dư từ 1.000 - 15.000 USD.

Vợ chồng Biden còn có năm khoản nợ chưa trả. Hai khoản nợ từ 15.000 đến 50.000 USD, hai khoản nợ từ 25.000 - 500.000 USD, và một khoản nợ từ 500.000 đến 1 triệu USD.

Trong năm 2014, gia đình Biden không tiêu một khoản nào vượt quá 5.000 USD. Ngoài ra, ông không có bất kì cổ phiếu hay trái phiếu nào.

Ông ấy cần bán căn nhà đó, là tài sản duy nhất của ông và vợ. Giá trị căn nhà từ 100.000 đến 250.000 USD. Năm 2014, Biden được xếp vào danh sách những quan chức kém giàu có nhất ở Mỹ, đứng thứ 577 trong số 581 quan chức chính phủ.

Bây giờ thì rất nhiều người đưa ra chất vấn rằng:
"Biden không có tiền cho con trai chữa bệnh, vì sao năm 2017 lại có tiền để mua biệt thự?"

Tiền để mua biệt thự của Biden là từ đâu ra? Số tiền này thực tế là do Biden kiếm được sau khi ông từ chức phó tổng thống, viết sách và thực hiện các bài diễn giảng. Năm 2017, Biden kiếm được 11 triệu USD thông qua việc xuất bản sách và diễn thuyết.

Sau khi đồng hành cùng Obama làm Tổng thống hai nhiệm kì, năm 2015, Biden đưa ra quyết định: "Tôi sẽ tranh cử tổng thống vào năm sau." Bởi trong thời gian làm phó tổng thống, Biden đã tích lũy được mạng lưới quan hệ rất rộng.

Nhưng điều không may đã xảy ra. Tháng 6 năm 2015, Beau Biden qua đời vì ung thư não. Biden đã chạy đi chạy lại giữa Washington và Delaware trong 37 năm, có thể thấy ông ấy yêu các con mình nhiều như thế nào. Có thể thấy người con trai mà ông yêu thương nhất không ngờ đã buông tay mà ra đi rồi. Biden không có cách nào chịu đựng được cú đánh này nữa, toàn bộ con người ông suy sụp.

Trong cuốn hồi kí của mình, ông viết:
"Sau khi Beau chết, tôi cảm thấy mình không thể cười nổi nữa."
Biden, với ý chí sa sút, đã rút khỏi cuộc bầu cử năm 2016.

Tháng 1 năm 2017, khi nhiệm kì của Obama sắp hết, Biden được mời vào Nhà Trắng và ông được trao danh hiệu quốc gia cao quý nhất - Huân chương Tự do của Tổng thống. Obama làm điều này vì hai lý do: một là để cảm ơn Biden vì mối quan hệ hợp tác tám năm của ông, và hai là để tiễn Biden.

Trong tâm trí của Obama, bao gồm cả trái tim của tất cả người dân Mỹ, Biden, người đã 75 tuổi, đã đi đến giai đoạn cuối cùng của sự nghiệp chính trị.
"Ông có thể yên tâm dưỡng già rồi."
Biden, với gương mặt đầy vết đồi mồi, liệu có thật sự cam tâm không?

Ông ấy đã không cam lòng.
Năm 2020, Biden lại trở lại.
"Tôi muốn tranh cử Tổng thống một lần nữa."
Biden trong cuốn sách "Bố ơi, hãy đồng ý với con" đã viết:
"Đau khổ… Lúc đầu nó có vẻ không thể chịu đựng được. Tôi phải mất một thời gian dài để hồi phục, nhưng cuối cùng tôi đã sống sót qua sự hành hạ đó."

Người con trai lớn trước khi chết đã nói với Biden:
"Bố ơi, hãy đồng ý với con, tiếp tục tiến lên phía trước, đừng dừng lại."
Để hoàn thành ý nguyện của người con trai, Biden 78 tuổi, cuối cùng lại một lần nữa đứng lên. Lần này, ông đã thành công rồi.

Ngày 3 tháng 11 năm 2020.
Vào ngày cuối cùng của cuộc bầu cử, Trump vẫn phát biểu ở nhiều nơi, nói rằng, ông ấy sẽ đứng lên chống lại những người khác. Còn Biden thì trở về quê hương của mình. Ông tham dự thánh lễ tại một nhà thờ gần nhà. Vì sao Biden lại đến đây vào ngày cuối cùng? Bởi nơi đây có ý nghĩa đặc biệt với Biden. Người vợ đầu, con gái út và con trai cả Beau của ông đều được chôn cất tại đây. Biden trở về nơi này là muốn nói với người vợ và các con đã mất rằng: "Vợ ơi, con trai con gái ơi, bố đã cố gắng hết sức rồi, mọi người có thể yên nghỉ rồi."

Trong cuộc đời này, Biden đã trải qua ba bi kịch lớn: mất vợ trong những năm còn trẻ, trung niên thì mắc bệnh nặng, những năm cuối đời thì mất con trai.
Đúng như Hoàng Sinh, blogger nổi tiếng về xem tài chính đã nói:
"Nếu không nói đến chính trị và bầu cử thì chỉ riêng cuộc đời của Biden đã rất đáng ngưỡng mộ rồi.

Ông đã đạt được những thành tích đáng kinh ngạc gì đây? Khẳng định đó không phải là những thành tích bên ngoài, mà là những lần ở vào thời điểm chói sáng nhất, thì chỉ một giây sau ông đã lại rơi vào địa ngục rồi. 30 tuổi đã góa vợ, phát lời thề nhậm chức nghị viên trong bệnh viện, chạy đi chạy lại đi làm quãng đường hơn 160km, cứ như thế suốt chín, mười năm ...

78 tuổi là cái tuổi vui thú của người già, mặc dù ăn nói đã không còn được linh hoạt và bị lấy ra làm trò cười, nhưng ông vẫn kiên trì chịu đựng cho đến hiện tại. So với người ta, chúng ta có một chút thành tựu nhỏ thất bại nhỏ, thế thì có gì gọi là tài giỏi."

Vì vậy, đừng nghĩ rằng Biden bất kham và ngu ngốc. Bạn cảm thấy ông ấy bất kham bao nhiêu thì ông ấy  lại càng đáng ngưỡng mộ bấy nhiêu. Bạn cảm thấy ông ấy ngu ngốc bao nhiêu thì ông ấy lại càng làm nên nhiều chuyện kì lạ bấy nhiêu.

Tôi rất thích câu nói của Biden:
"Khi bạn bị đánh gục, nhất định cần phải hết lần này đến lần khác đứng dậy."
"Đứng dậy" là khẩu hiệu của Biden. Mỗi lần ông ấy gục xuống là ông liền không ngừng tự hét lên với chính mình rằng:
"Biden, hãy đứng dậy! Biden, hãy đứng dậy!"
Trong cuốn sách "Giữ lời hứa của bạn", Biden đã viết:
"Báo chí gọi anh là đồ ăn cắp, Joe, hãy đứng dậy!"
"Vợ và con gái của anh, chúng ta không thể làm gì để cứu họ, Joe, hãy đứng dậy!"
"Sau cuộc phẫu thuật, thượng nghị sĩ, ông có thể mất khả năng nói, Joe, hãy đứng dậy!"

Biden ngã xuống hết lần này đến lần khác, rồi lại đứng lên như thế. Biden 78 tuổi, thực sự là một anh hùng suốt đời chiến đấu với số phận. Bất kể chúng ta có thích hay không thích ông ấy đều không thể xem thường ông. Ông là một tấm gương vĩnh viễn đáng học tập. Và cũng là một người bạn hoặc một đối thủ vĩnh viễn đáng kính trọng.

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/283-nghin-chiec-thuyen-phap-phap-vi-mien-man.md
# Title: 283. Nghìn chiếc thuyền pháp (Pháp vị miên man)
---

![image](/img/img_a4a6ddce1161741cf29df2881f4d9296.jpg)



## Nghìn chiếc thuyền pháp (Pháp vị miên man)


🪷Pháp vị miên man

Văn tập số: 283
Xuất bản: 13/05/2021
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


Năm 2020 đến năm 2021 đến năm.
Khoảng thời gian này.
Lần đầu tiên tôi gặp phải một quãng thời gian động loạn nhất trong cuộc đời này.
Tất cả các quốc gia trên toàn thế giới.
Dịch cúm Corona tàn khốc gây nên một sự rối loạn trong cuộc sống thường ngày của tất cả con người trên thế gian. Tôi (Lư Sư Tôn), từ lúc dịch bệnh bắt đầu, hàng ngày tôi ở nhà mình là Nam Sơn Nhã Xá tại thành phố Redmond, bang Washington nước Mỹ, mỗi tối đều tu một đàn pháp.
Chủ yếu là siêu độ những người chết vì Covid-19.

Việc quán tu của tôi là như thế này:
Ngồi trên pháp tọa.
Tâm khí hợp nhất.
Bổn tôn của tôi xuất hiện, tam quang bao trùm lấy tôi.
Tôi tự hóa thành Bổn tôn, A Di Đà Như Lai là tôi, tôi là A Di Đà Như Lai. Không hai không khác.
Tay phải kết ấn thuyết pháp.
Tay trái kết ấn ban nguyện.
Khi kết ấn ban nguyện, bàn tay xòe ra, có một chiếc thuyền pháp từ trong lòng bàn tay trượt xuống.
Thuyền pháp có màu vàng kim, giương buồm chờ khởi hành.
Gặp gió thì biến to ra.
Từ một chiếc biến thành mười chiếc, từ mười chiếc biến thành trăm chiếc, từ trăm chiếc biến thành nghìn chiếc.
Trên mặt biển lớn, nghìn chiếc thuyền pháp lần lượt sắp hàng, thật sự vô cùng ngoạn mục.

Lúc này, ba vị Bổn tôn của tôi xuất hiện trên không trung.
Dùng đại uy thần lực. (Tiên Vương)
Dùng Như Lai thập lực. (Phật Vương)
Dùng đại nguyện pháp lực. (Địa Vương)
Triệu hồi những thân trung ấm đã chết vì dịch cúm Covid-19 lên ngồi trên thuyền pháp. (Các thân trung ấm hóa thành các điểm sáng.)
Nhờ tịnh quang chiếu sáng các thân trung ấm mà sắc lệnh cho thân tâm thanh tịnh.
Nhờ thần thông mà điều khiển thuyền pháp từ mặt biển bay lên, bay lên đến hư không.
Lúc này, nhờ ba Bổn tôn chỉ dẫn mà nghìn chiếc thuyền pháp hướng về Tây phương Cực Lạc thế giới, bay đến tịnh thổ của A Di Đà Phật.

Tôi niệm:
"Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật."
Chú:
"Om amidewa seh." [Ôm a-mi-đê-wa sê]
Hồi hướng:
"Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả."
Tôi tu pháp xong thì nhập Tam Ma Địa.

Khi tôi xuất định rời khỏi pháp tọa, có một âm thanh nói với tôi:
"Cuốn sách tiếp theo của ngài, tên sách chính là "Nghìn chiếc thuyền pháp", là những con thuyền thường làm việc độ người qua biển khổ."
Thế là:
Tôi đã có được một linh cảm, cuốn văn tập số 283 của tôi, tên sách là "Nghìn chiếc thuyền pháp". Cuốn sách này mang đầy những pháp cú độ người.
Lành thay! Lành thay!

Chúc bạn mở sách ra có được lợi ích!

(Tháng 2 năm 2021)

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Trao tặng huân chương


Có một cảnh tượng như thế này:
Bản Sơ Phật ở địa thứ 16 là A Đạt Nhĩ Mã Phật ngồi trên pháp tọa cao cao, Ngài nhìn ra phía xa toàn bộ hư không.
Năm vị Như Lai của năm phương, tám vị Đại Bồ Tát, năm vị Đại Kim Cang, tám vị Đại Minh Vương, chư Thiên Hộ Pháp, tất cả Không Hành, chư Thiên chúng.
Từng tốp đi nhiễu quanh pháp tọa của A Đạt Nhĩ Mã Phật.
Bỗng nhiên…
Vạn vệt sáng cát tường.
Nghìn tia khí thiện lành.
Trên dưới mười phương đều đầy kín mưa hoa.
Thất trân bát bảo ào ào xuất hiện.
Đại địa dậy lên một cơn chấn động.
Thiên nhạc ngân vang khắp nơi.

A Đạt Nhĩ Mã Phật nói:
"Tại thế giới Ta Bà có một Phật tử, một lát nữa đây, ta sẽ đặc biệt trao tặng huân chương cho Phật tử này."
Thế là Chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, chư Thiên lui lại nhường ra một lối đi ở giữa.
Lối đi này trải thảm đỏ.
Trong âm thanh tuyệt diệu của thiên nhạc vang vọng khắp mười phương, từ phía đằng xa của lối đi trải thảm đỏ có một điểm ánh sáng chậm rãi đi tới. Trong các vị Thánh, có tiếng nói:
"Là Lư Sư Tôn!"
"Đúng là ông ấy!"
"Sao lại là ông ấy nhỉ?"
"Ông ấy thì có gì nổi bật đâu?"
A Đạt Nhĩ Mã Phật nói:
"Huân chương này là giải thưởng đại thần kỳ, là giải thưởng sáng chói vĩ đại, là giải thưởng vô thượng, là giải thưởng vô đẳng cấp."

A Đạt Nhĩ Mã Phật đích thân xuống khỏi pháp tọa, đem huân chương đeo lên trước ngực tôi. Huân chương này có hình tròn. Nó tỏa ánh hào quang. Ở chính giữa huân chương nhô lên giống như núi Tu Di. Ánh hào quang chiếu rọi khắp mười phương.
A Đạt Nhĩ Mã Phật nói:
"Xin Lư Sư Tôn phát biểu cảm nghĩ."

Thế là,
Tôi nói:
Tấm huân chương này không phải của tôi, là dâng tặng cho tất cả các vị Thượng sư của quá khứ, hiện tại, vị lai.
Là của Liễu Minh Hòa Thượng.
Là của Sakya Chứng Không Thượng sư.
Là của Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16.
Là của Thubten Dhargye Thượng sư.
Là của tất cả các vị thầy đã từng chỉ dạy Phật pháp cho tôi. (truyền thừa)

Dâng tặng cho:
Phật.
Pháp.
Tăng. (Tam Bảo)
Tôi nói:
Tôi vô sở cầu.
Tôi không có bất kì một thứ gì cả.
Tôi cầm lấy tấm huân chương ấy, tung nó vào hư không. Kết quả là toàn bộ hư không ngập tràn ánh hào quang phát ra từ tấm huân chương, chiếu sáng đến tâm linh của vô lượng chúng sinh.

Cuối cùng, tôi nói:
Huân chương này dành cho người chống lại tôi!
Huân chương này dành cho người thù ghét tôi!
Huân chương này dành cho người hãm hại tôi!
Huân chương này dành cho ma quỷ! (bình đẳng xả)
A Đạt Nhĩ Mã Phật nói:
"Lành thay! Lành thay! Đại viên mãn."


### 02. Khai ngộ vô thượng (1)


Lúc tôi còn nhỏ, bố thường hay đánh đòn tôi.
Ba ngày một trận đòn lớn.
Hai ngày một trận đòn nhỏ.
Thầy giáo tiểu học bảo tôi:
"Hôm nay là sinh nhật của trò, trò về nhà nói cho bố mẹ biết."
Tôi trở về nhà nói với bố tôi, mẹ tôi.

Bố tôi nói:
"Hôm nay tạm dừng không đánh, ngày mai sẽ đánh tăng lên!"
Tôi nghe xong thì trong lòng nghĩ, sau này lớn lên nhất định mình sẽ "báo thù".

Bố tôi đánh tôi đến mức ngay cả thanh kiếm gỗ của Nhật cũng gãy luôn!
Thậm chí có một lần, tôi bị bố ném như một quả bóng rổ, đập xuống sàn xi măng, xém chút nữa là chết.
(Ghi chú: tôi bị đánh không phải là vô cớ, mà bởi vì bố tôi cho rằng tôi không phải là con do ông sinh ra.)

Hôm nay.
Tôi đã khai ngộ rồi!
Nghị lực vững chắc của tôi là do bố tôi ban cho!
Sự dũng cảm chịu đựng của tôi là do bố tôi ban cho!
Xin cảm ơn!

🌟

Lúc tôi mới học Phật.
Có một vị là Dã Thảo Sơn Nhân viết hai cuốn sách để chửi tôi, một cuốn tên là "Yêu ngôn hoặc chúng" [Dùng lời lẽ yêu ma để mê hoặc chúng sinh], cuốn kia tên là "Yêu ma quỷ quái".
Ngoài ra còn có những người như Ngô Nhất Chính cũng viết sách phê bình tôi. Còn có cả báo chí tuần san truy quét tôi. Người đời thì phỉ báng.

Trong lòng tôi nghĩ:
"Tôi muốn "báo thù"!"
Cách thức báo thù của tôi là, hễ có người viết một cuốn sách chửi tôi thì tôi sẽ viết mười cuốn sách [thiện] để đáp lễ.
Và thế là, tôi vừa học Phật, vừa viết sách.
Bởi vậy, tôi đã viết được 283 cuốn sách. (Tính cả cuốn sách này.)
Là người ta khích lệ tôi.
Là người ta ban tặng cho tôi.
Tôi nên cảm ơn!

🌟

Có một tác giả Phật học tên là Trần Huệ Kiếm thường xuyên chỉ trích tôi là "tà".
Trong "Từ Tế đạo lữ".
Trong "Tạp chí Thiên Hoa".
...

Tôi đã trở thành Lư Lão Tà.
Những gì ông ấy viết cũng có một số điều có đạo lý, có một số chẳng có đạo lý gì, có một số thì là vừa có đạo lý vừa chẳng có đạo lý.
Ban đầu tôi rất "oán" ông ta!
Tôi cũng nghĩ đến việc "báo thù"!
Về sau, tôi cũng cảm ơn ông ta!
Bởi vì ông ta đã chỉ dẫn con đường đạo mà tôi học tập, uốn nắn những tư duy của tôi.

🌟

Kể từ khi tôi học Mật, có một bạn đạo tên là Thổ Đăng Kì Ha. Đôi bên coi nhau là thầy bạn. Có một lần, anh ta bái tôi làm thầy, dẫn theo một nhóm người đến quy y tôi. Về sau, anh ta lại dẫn theo một nhóm nhiều người rời xa Chân Phật Tông.
Lập ra một "Thổ Địa Đường" quái lạ!
Đối với tôi là một sự kích động rất lớn.
Tôi cũng nghĩ đến việc "báo thù".

Về sau, tôi cũng cảm ơn sự kích động của anh ta!
Anh ta đã khiến tôi quyết tâm mạnh mẽ phấn đấu, tôi nhất định phải trở thành người học Phật số một. Mất đi một đệ tử, phải tìm lại mười đệ tử.
Vì thế, tôi cảm ơn anh ta. Cảm ơn!


### 03. Khai ngộ vô thượng (2)


Ngày xưa.
Vào thời Phật Đà.
Có hai người phụ nữ đến quấy nhiễu tăng đoàn của Phật Đà.
Một người là Chiến Già, cô ta giả mang thai, vu cáo cho Phật Thích Ca Mâu Ni. (Giả mang thai để phỉ báng Phật.)
Một người là Tôn Đà Lợi, cô ta tự xưng là có quan hệ tình cảm với năm trăm vị La Hán.

Ngày nay.
Tôi bị hai người phụ nữ phỉ báng.
Một người là Trương Nữ.
Một người là ngôi sao ca nhạc Phương Thanh.
Khi tôi bị phỉ báng, tôi đau khổ không chịu nổi, báo chí tuần san (thậm chí cả truyền hình) tới tấp gây hỗn loạn.
Tôi nghĩ đến chuyện "báo thù".

Sau này, tôi đã khai ngộ rồi!
Hai người phụ nữ này nhất định là những người có duyên nhất trong kiếp trước, không có duyên thì không thể nào có chuyện kiếp này lại có dính líu đến nhau. Hai người phụ nữ này đến để dạy cho tôi về "nhẫn nhục".
Dạy cho tôi biết việc dù khó chịu đựng nhưng vẫn phải chịu đựng.
Dạy cho tôi về "vô sinh pháp nhẫn".
Tôi nên biết ơn, cảm ơn.

🌟

Tăng đoàn của tôi mới thành lập. Do vậy, cần phải xây dựng Lôi Tạng Tự để dung nạp tăng nhân. (tì kheo và tì kheo ni)
Xây dựng Lôi Tạng Tự thì có:
Tự lực.
Tha lực.
Ngã lực.

Chùa, đường, hội của Chân Phật Tông đều được xây dựng như vậy.
Tuy nhiên, chùa, đường, hội vất vả xây dựng như vậy nhưng luôn bị những người có tâm ích kỷ chiếm làm của riêng. Nói cách khác là bị nuốt gọn! Ví dụ như một ngôi chùa nọ ở một tiểu bang nước Mỹ. Giới sư phụ đã lấy mất nó!

Trong lòng tôi cực kì đau đớn! Tôi đã đau khổ rất nhiều năm. Đau đớn dày vò, trong lòng tôi không sao chịu đựng được. (Tôi đã nghĩ đến "báo thù".)
Nhưng, sau khi giác ngộ, tâm cảnh khai thông rộng mở!

Giới sư phụ đã dạy cho tôi biết:
Duyên phận của chúng tôi rất sâu.
Ông ấy là cha mẹ kiếp trước của tôi.
Ông ta giáo dục tôi rằng chùa, đường, hội đều không quan trọng. Quan trọng là "tâm". Tâm chuyển hóa thành Phật là quan trọng nhất.
Chùa chỉ là tạm thời.
Phật tính mới là vĩnh hằng.
Giới sư phụ vì từ bi với tôi nên mới dạy tôi như vậy.
Tôi cảm ơn vô tận.
(Những sự việc kiểu này rất nhiều, tôi chỉ lấy đơn cử một ví dụ mà thôi.)

🌟

Ngoài ra còn có:
Sự cố pháp hội hắc đạo.
Người đó đã dạy tôi về: không được tham, không được sân, không được si.
Sự cố Quỷ Bà.
Bà ta đã dạy tôi về: thế nào là chính niệm.
Sự cố Nghiêu Trung.
Ông ta đã dạy tôi: cần coi chúng sinh bình đẳng. Không được khinh thường người khác.
Sự cố Con Khỉ.
Ông ta đã dạy tôi: không được có tâm oán hận.
Sự cố Nhiêu.
Ông ta đã dạy tôi: không được khinh thường bất kì chúng sinh nào. Đối với người ta cần tôn trọng.
...

Tôi sâu sắc thể nghiệm được rằng họ đều là những người có duyên phận nhất với tôi, kiếp trước là cha mẹ, anh em, chị em, thân bằng hảo hữu, vợ chồng. Kiếp này họ đến để chỉ dạy cho tôi, sao lại không cảm ơn! Cảm tạ!


### 04. Khai ngộ vô thượng (3)


Năm nay tôi 76 tuổi. (năm 2020)
Sang năm tôi 77 tuổi. (năm 2021)

Theo cách tính tuổi của Đài Loan thì tôi cũng được coi là người già rồi, đời người thất thập cổ lai hy mà.
Tô Đông Pha 60 tuổi đã từ bỏ hết thê thiếp, ai nên lấy chồng thì đi lấy chồng.
Khổng Phu Tử thì 73 tuổi rời khỏi trần thế.

Tôi tự thấy, cho đến nay, tình trạng sức khỏe thân tâm tôi cũng khá tốt, tất cả vẫn tốt đẹp. Thế là đủ hạnh phúc rồi!
Trong tâm vô sự thì chính là "hạnh".
Thân thể khỏe mạnh thì chính là "phúc".
Ngoài ra, một điều khiến tôi thấy "yên tâm" hơn cả là nhờ "sự khai ngộ vô thượng".
Khiến cho cuộc đời này của tôi:
"Đại viên mãn."

🌟

Bây giờ, những ngày tháng còn lại của tôi chỉ là lòng cảm ơn vô hạn.
Tôi là:
"Không oán!"
"Không thù!"
"Không hối tiếc!"
"Không nổi bật!"

Tôi yêu tất cả mọi chúng sinh! Đó là tình yêu chân chính, là tình yêu bình đẳng, là đại viên mãn. Tất cả đều là sự an bài hoàn mỹ nhất.
Điều này chủ yếu đến từ "tứ vô lượng tâm".
Từ vô lượng.
Bi vô lượng.
Hỷ vô lượng.
Xả vô lượng.
Đặc biệt là xả vô lượng, chữ “xả” này chính là "oan thân bình đẳng xả". Ha ha! Tôi đã hiểu rõ rồi!

🌟

Bố tôi dạy tôi:
Cần chịu đựng sự đau khổ lớn nhất, ăn những thứ đắng nhất, để có thể trở thành người hơn người khác.
Kiên nhẫn không từ bỏ.
Nghị lực tràn đầy.
Mình đồng da sắt.
Trăm thứ độc không thể làm hại.

Mẹ tôi dạy tôi:
Làm sao để tồn tại trong hoàn cảnh khó khăn.
Đối xử tử tế với mọi người.
Tấm lòng lương thiện.
Không so đo được mất.
Nơi phòng tối cũng không làm điều khuất tất.

🌟

Tôi học Phật, tôi khai ngộ.
Tôi đã hiểu được chữ "tâm".
Tất cả những điều gặp phải trong cuộc đời, đều là lời dạy của Phật Đà, và sự sắp đặt của Đức Phật.
Phỉ báng.
Chèn ép.
Đả kích.
Núi đao.
Cây kiếm.

Hóa ra đều là để rèn luyện tôi, khảo nghiệm tôi, giáo dục tôi, tôi luyện tôi.
Những người ấy đều không phải là kẻ xấu, đều là những người có duyên từ kiếp quá khứ.
Họ mới là đại từ bi!
Tôi đã hiểu rồi! (Người hại tôi, đều là cố nhân.)
Tôi cần báo ơn, cần báo đáp người oán hận tôi, báo đáp người quý trọng tôi.
Chỉ có như vậy mới có thể thành Phật!


### 05. Ôm mặt khóc to (1)


Tôi đọc được một đoạn ngắn trong sáng tác của Long Anh Đài, cuốn "Đại giang đại hải", đọc thấy:
Ngày trước.
Trong thời kỳ nội chiến giữa Quốc Dân Đảng và Cộng Sản, có một chuyến tàu hỏa dừng lại ở một nhà ga nhỏ vô danh, và đoàn tàu đầy ắp những người già người trẻ chạy trốn.
Trên tàu chật chội như nêm.
Tàu dừng lại rất lâu!
Trong một toa tàu, có một người phụ nữ đang ôm một đứa bé trai khoảng vài tuổi, người phụ nữ gọi đứa bé là Tiểu Hổ.

Người phụ nữ nói với Tiểu Hổ:
"Con đợi ở đây, mẹ cần đi nhà vệ sinh gấp, sẽ trở lại nhanh thôi!"
Người phụ nữ trèo qua cửa sổ, để Tiểu Hổ ngồi tại chỗ ngồi.

Thế nhưng, tàu hỏa bất ngờ khởi động.
"Xình xịch, xình xịch, xình xịch."
Tàu hỏa càng chạy càng nhanh!

Chỉ còn thấy:
Tiểu Hổ khóc! Gọi mẹ ơi!
Trên đường ray tàu hỏa có một người phụ nữ đầu bù tóc rối đang chạy băng băng, miệng hét gọi Tiểu Hổ! Tiểu Hổ!
Người trên đường ray dần trở thành một chấm nhỏ, cuối cùng cũng biến mất.

Tôi đọc đến đây, nước mắt tuôn rơi!
Đây là một cuộc "sinh ly" rành rành ngay trước mắt!
Tiểu Hổ phải làm sao đây? Người mẹ phải làm sao đây? Tôi vì đoạn văn này mà rớt những giọt lệ cay đắng…
Lòng tôi đau mãi không nguôi!

🌟

Trên kênh truyền hình Đài Loan, tôi xem thấy một tin tức:
Có một người phụ nữ đang đẩy xe nôi em bé, trong xe đẩy có một bé gái, em bé này chính là "Bóng Đèn Nhỏ".
Bỗng nhiên có một nam sinh cầm dao, từ phía sau chạy tới, dùng dao cắt một nhát lìa đầu em bé Bóng Đèn Nhỏ.

Nghe nói:
Nam sinh ấy tâm thần bất ổn.
Người mẹ ấy ở trước máy thu hình kể về con gái nhỏ lúc còn sống.

Tôi xem xong! Nước mắt đầm đìa.
Người mẹ ấy kể một lần, tôi khóc một lần. Kể hai lần, tôi khóc hai lần.
Tóm lại, những ngày ấy tôi khóc rưng rức nức nở!
Lòng tôi đau mãi không nguôi!

🌟

Trong thời kỳ virus Corona hoành hành.
Tôi đã xem một đoạn video.
Bạn gái mắc bệnh, nằm trên giường bệnh thở dốc.
Bạn trai mặc quần áo bảo hộ đi thăm cô. Anh đứng bên ngoài qua tấm vách ngăn bằng nhựa nhìn người bạn gái đang cắm ống thở. Người bạn trai đột nhiên cởi quần áo bảo hộ, đi vào bên trong vách ngăn nhựa. Người bạn trai ôm hôn người bạn gái.

Tôi xem xong!
Nước mắt lại trào ra!
Trời ơi!
Tình yêu vĩ đại nhường ấy!
Nghe nói, đôi trai gái ấy đều chết cả rồi!
Tôi khóc rất nhiều!
Động tác cởi bỏ quần áo bảo hộ của người con trai kia khiến tôi quá cảm động.
Tôi ôm mặt khóc to!


### 06. Ôm mặt khóc to (2)


Từng xảy ra một sự việc như thế này:
Một chiếc xe tải *container*, khi thùng hàng được mở ra, bên trong là một kho lạnh lớn. Mở kho lạnh ra.
Ai ngờ! Bên trong đều là xác chết.
Hóa ra những xác chết này là dân tị nạn.
Tôi tưởng tượng:
Những người dân tị nạn này tháo chạy từ quốc gia này đến quốc gia khác. Trong lòng họ chan chứa hy vọng.
Nhưng tất cả mọi hy vọng đã tan thành mây khói!
Đương nhiên tôi biết rằng:
Trước khi chết, họ đã khóc lóc, gào thét và vùng vẫy một cách tuyệt vọng, họ muốn thoát ra khỏi kho lạnh. Nhưng kho lạnh đã bị khóa.
Thảm cảnh này!
Khiến tôi run rẩy!
Khiến tôi đau lòng rơi lệ!

🌟

Tôi từng ở Hy Lạp ngắm nhìn biển Aegean [biển Ái Cầm] xanh ngắt như da trời. Tôi nghĩ xa xăm:
Rất nhiều con thuyền tị nạn xuất phát từ Thổ Nhĩ Kỳ.
Rất nhiều người tị nạn đã chết trên biển Aegean.
Linh hồn của họ!
Bài ca cuộc đời của họ!
Tiếng gào thét của họ!
Biển Aegean đã chôn vùi hy vọng của bao nhiêu con người? Tình yêu của bao nhiêu con người? Tài sản của bao nhiêu con người? Gia đình của bao nhiêu con người?
Cả tình thân?
Tất cả toàn bộ mọi thứ.
Hãy khóc đi!
Cõi nhân thế gian đầy tuyệt vọng này.
Đây chính là….
Những giọt nước mắt của tôi đối với biển Aegean.

🌟

Tôi đã xem một bộ phim.
Một con thuyền hướng ra biển khơi. Có một người bị trói bằng dây thừng. Hai chân của người này bị đặt vào trong một cái thùng, bên trong thùng trống rỗng.
Có người khác đi tới, đổ vữa xi măng vào trong cái thùng.
Khi vữa xi măng dần dần đông lại thì chân và xi măng sẽ dính liền một khối.
Đến giữa biển, xi măng đã khô, chân đã bị đông cứng cùng xi măng!
Người này bị nhấc lên và quăng xuống biển.
Chúng ta có thể tưởng tượng:
Người này đứng ở đáy biển sâu.
Cho dù hai tay có tìm cách bơi thế nào đi nữa thì toàn thân vẫn không thể dịch chuyển được một phân.
Cuối cùng vùng vẫy mà chết.

🌟

Bạn biết không?
Khi tình hình dịch bệnh nghiêm trọng, tại New York nước Mỹ:
Nhà tang lễ chật kín.
Những xe tải *container* xếp hàng dài, mở khoang hàng hóa ra, bên trong toàn là những quan tài.
*Lòng tôi đau đớn không kể xiết
Thường xuyên rơi lệ mắt đỏ hoe
Mong ngóng từ bi chư Bồ Tát
Mau mau giải trừ khổ nhân gian.*


### 07. Ôm mặt khóc to (3)


Một thời.
Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp tại Sắc Cứu Cánh Thiên.
Có Tôn giả Nan Đà dâng lên một bó hoa Upala để cúng dường Phật Thích Ca Mâu Ni.
Đại chúng vỗ tay.

Phật Đà hỏi Nan Đà:
"Lư Sư Tôn bây giờ ở thế giới Ta Bà đang làm việc gì vậy?"
Nan Đà đáp:
"Thứ bảy, chủ nhật hàng tuần có truyền phát trực tiếp qua mạng để khai thị, thuyết pháp cho năm triệu đệ tử của ngài ấy."
Phật Đà hỏi:
"Lành thay! Còn gì nữa?"
Nan Đà nói:
"Mỗi buổi sáng ngài ấy đều viết sách, viết đến 11 giờ, bây giờ tổng cộng đã viết được 283 cuốn sách, truyền bá chính pháp."
Phật Đà hỏi:
"Lành thay! Còn gì nữa?"
Nan Đà đáp:
"Hàng đêm, khoảng 1 giờ sáng, ngài ấy lại lên pháp tọa, làm pháp siêu độ cho những chúng sinh chết vì dịch bệnh. Kể từ lúc dịch bệnh bắt đầu cho tới nay không hề nghỉ ngơi ngày nào."
Phật Đà hỏi:
"Lành thay! Còn gì nữa?"
Nan Đà đáp:
"Hàng ngày 5 giờ chiều, trong phòng làm việc, ngài ấy gia trì cho tất cả những người gửi thư đến, giải quyết những chứng bệnh khó chữa của chúng sinh, và giải đáp những thắc mắc của chúng sinh."
Phật Đà hỏi:
"Lành thay! Còn gì nữa?"
Nan Đà đáp:
"Hàng ngày vào lúc 2 giờ chiều, có những người từ khắp nơi trên thế giới đến thăm, ngài ấy lần lượt gia trì cho họ, quán đảnh, thuyết pháp, giải quyết tất cả sự tình của họ."
Phật Đà hỏi:
"Lành thay! Còn gì nữa?"
Nan Đà đáp:
"Gần đây khi tu pháp, ngài ấy thường ôm mặt khóc to."
Phật Đà hỏi:
"Vì sao vậy? Ta thật tò mò."
Nan Đà đáp:
"Ôm mặt khóc to là bởi tất cả chúng sinh đều đang phải chịu đủ mọi đau khổ, sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, chết khổ. Yêu phải xa cách, oán ghét mà vẫn phải gặp, cầu mà không được, vô thường,..."
Phật Đà hỏi:
"Ngài ấy khóc vì đau khổ, thương xót những chúng sinh trong đạo súc sinh, đạo ngạ quỷ, đạo địa ngục nữa sao?"
Nan Đà đáp:
"Đúng vậy. Thỉnh thoảng vẫn thấy trong những sáng tác của ngài ấy."

Phật Đà tán thán:
"Hãy đem bó hoa Upala này chuyển đến tặng cho Lư Sư Tôn ở thế giới Ta Bà đi!"
Nan Đà hỏi Phật Đà:
"Vì sao lại làm vậy? Vì ngài ấy ôm mặt khóc to sao?"
Phật Đà nói:
"Không phải là vì ôm mặt khóc to, mà là tấm lòng từ bi của Lư Sư Tôn đã chín muồi rồi!"
Nan Đà hỏi Phật Đà:
"Xin Phật Đà giải thích về tâm từ bi?"
Phật Đà nói:
"Tâm từ bi cũng là cái nhân chính để thành Phật. Con người ở thế giới Ta Bà, từng người một phải tự nhìn nhận lại tâm từ bi của mình. Tâm từ bi đã chu toàn thì mới có thể thành Phật."
Khi Phật Đà thuyết pháp, Ngài đã đặc biệt giảng giải về tâm từ bi. Từ bi là cái nhân chính để thành bậc Như Lai.
(Nếu không từ bi, tất cả mọi pháp đều không có ý nghĩa gì cả.)


### 08. Quán tu hỷ vô lượng (1)


Người ta nói.
Có một người đàn ông giàu có tầm cỡ thế giới, anh ta đi đến một tiểu bang khác, một đêm, anh ta đến một hộp đêm.
Anh ta bị người ta nhận ra.
Một người trong số họ, tay cầm hộp bánh ụp vào mặt anh ta, làm bẩn khắp đầu khắp mặt.
Tình huống này khiến người đàn ông giàu có rất xấu hổ.
Người đó nói:
"Tôi không thích người giàu!"

Lư Sư Tôn bình luận:
Đây là vấn đề tâm lý học.
Mặc dù không quen biết nhau.
Chỉ là ghen tỵ với người có tiền, đố kỵ với người có tiền nhưng trong suy nghĩ của người này đã có ý tứ bỡn cợt.
Hứ! Có tiền thì có gì ghê gớm chứ!

Tôi nói:
Hành giả chúng ta không được như vậy.
Chúng ta cần vui vẻ khen ngợi:
"Kiếp trước của họ nhất định đã tích lũy được một vài phúc phần, kiếp này nỗ lực thì trở thành người giàu có tầm cỡ thế giới. Hy vọng họ tiếp tục hành thiện bố thí, để đời đời kiếp kiếp đều là người giàu."
Đừng đố kỵ!
Đừng ghen ghét!
Đó gọi là hỷ vô lượng - vui vẻ ngợi khen.

🌟

Tương tự như vậy.
Có những người giàu lái những chiếc xe sang rất đẳng cấp. Họ đỗ xe trong bãi đỗ xe. Những người khác đi qua. Một người trong số đó cầm viên đá vạch lung tung lên trên chiếc xe sang đó. Rồi còn cầm hòn đá to đập vỡ cửa kính xe.
Không những thế, còn vặt luôn cả logo của chiếc xe sang nữa!
Hơn nữa, có người còn tháo cả bốn bánh xe ra, để cho chiếc xe sang đó không thể chạy được nữa.
Chà!
Điều này không phù hợp với hỷ vô lượng đâu.

🌟

Theo tôi được biết:
Có một bạn học, luôn luôn đứng nhất lớp.
Có một bạn học khác, luôn luôn đứng thứ hai.
Trong lòng người bạn đứng thứ hai nghĩ:
"Sao nó không đi chết đi!"
"Cầu cho nó bị đau bụng!"
"Cầu cho nó gặp tai nạn, lúc thi cử sẽ bị gãy tay!"
...

Người bạn học thứ hai luôn nghĩ cách làm hại người bạn học thứ nhất, cực kì ghét người bạn học đứng nhất lớp.
Lư Sư Tôn bình luận:
Kiểu suy nghĩ này là không tốt.
Mặc dù tâm ghen tuông, đố kỵ này chỉ là việc rất nhỏ, nhưng cũng vẫn là những tâm niệm xấu xa. Những suy nghĩ bất hảo sẽ trở thành nhân quả, rất nhiều suy nghĩ ác ý sẽ cản trở việc tu hành của chúng ta.

Hỷ vô lượng là:
Ca ngợi người giỏi nhất.
Họ luôn ưu tú hơn ta.
Họ luôn thông minh hơn ta.
Họ luôn tinh tấn hơn ta.
Họ có tư cách là người số một.
Ta nên học tập họ.
Họ là tấm gương để ta học tập.


### 09. Quán tu hỷ vô lượng (2)


Tôi (Lư Sư Tôn) nhận thấy, quán tu hỷ vô lượng cần phải tránh "tà niệm", cần xem xét suy nghĩ của bản thân.

Ví dụ:
Trong thời kỳ dịch bệnh, mỗi người đều có người mình thích, và cũng có người mà mình không thích.
Và thế là liền khởi lên suy nghĩ.
Vì sao cái con người đáng ghét đó không bị nhiễm virus Corona đi?
Để cho cái người đó mắc bệnh rồi chết luôn! Cho mà kêu cha kêu mẹ!
Virus xâm nhập vào phổi, thế là "tèo téo teo"!
Đây chính là ác niệm, thật đáng sợ!

🌟

Tin tức đưa tin:
Vùng biên giới Trung Quốc và Ấn Độ xảy ra tranh chấp. Hai bên đều không nhường nhau nên đã đánh nhau tàn nhẫn. Nhưng đều không dám chính thức khai chiến!
Nếu như suy nghĩ của bạn là:
Đánh đi! Đánh đi!
Chiến tranh đi! Đại chiến đi!
Chết càng nhiều người càng tốt!
Đây chính là ác niệm, thật đáng sợ!

Còn nữa:
Pakistan và Ấn Độ.
Iran và Mỹ.
Vùng Nam Hải.
Eo biển Đài Loan, hai bên bờ eo biển.
Trung Quốc và Nhật Bản.
Nam Bắc Triều.
Israel và Trung Đông.
...

Có người suy nghĩ là "Chiến tranh đi!", "Chết càng nhiều người càng tốt!", "Tốt nhất là nổ ra chiến tranh thế giới thứ ba!"
Đó đều là ác niệm! Thật đáng sợ!

🌟

Một chiếc máy bay dân dụng cất cánh. Kết quả là động cơ của máy bay bốc cháy. Cơ trưởng nhanh chóng đưa máy bay trở về điểm xuất phát, tất cả các hành khách ai nấy bình an, vui mừng vì không có người nào thương vong.

Bạn có suy nghĩ là:
"Vì sao không nổ tung nhỉ?"
"Vì sao tất cả mọi người trên máy bay không chết hết?"
"Nổ đi! Thế mới là tin tức sốt dẻo!"
Đó đều là ác niệm! Thật đáng sợ!

🌟

Cháy rồi! Rừng cháy lớn rồi!
Cháy hết khu vực này đến khu vực khác, thiêu rụi hết vùng này đến vùng khác.
Những ngôi nhà to cao sang trọng đều cháy hết!
Vô số người phải sống lang thang khắp nơi!
Thế còn bạn lại cười trên nỗi đau của người khác:
"Chỉ cần không cháy tới tôi thôi, những cái khác đều cháy hết sạch đi!"
"Thiêu rụi càng nhiều càng hay!"
"Tốt nhất là ngay cả con người cũng bị thiêu chết luôn!"
"Hãy đốt cháy sạch sẽ những ngôi nhà to đẹp của những người giàu có đi!"
"Hay nhất là xem cảnh nhà cháy!"
Đó là ác niệm! Thật đáng sợ.

🌟

Động đất cũng như vậy.
Những suy nghĩ rất độc ác! Thật đáng sợ.
Tốt nhất là xảy ra động đất cấp sáu, cấp bảy, cấp tám...
Hủy hoại toàn bộ nhà cửa, con người cũng chết, núi lở đất nứt, thế giới diệt vong, tất cả các thành phố đều trở thành đống hoang tàn.
Những suy nghĩ này đều cần phải xem xét! Phải cải chính.


### 10. Quán tu hỷ vô lượng (3)


Tôi nói:
Xem xét kiểm điểm suy nghĩ, là nhân của hỷ vô lượng.
Có một sự việc đại ác mà thế nhân không hề nhận thấy, hơn nữa lại còn cho rằng đó là điều rất bình thường.

Các nước trên thế giới.
Vào ngày quốc khánh của họ, họ vui mừng cử hành nghi lễ duyệt binh, người lãnh đạo của các nước đứng trên bục duyệt binh, hướng về đội ngũ ba quân diễu hành, quan sát nghi lễ.
Tiếp đó:
Là "show" máy bay chiến đấu. [show - nghĩa là buổi trình diễn]
Là "show" bắn súng.
Là "show" chiến xa.
Là "show" tên lửa đạn đạo.
Đặc biệt là các loại tên lửa đạn đạo, có thể giết toàn bộ người của một thành phố, có thể giết toàn bộ người của một đất nước. Đạn bay qua nghìn dặm vạn dặm, bay qua ranh giới các vùng, mang theo tên lửa đầu đạn hạt nhân, từng thứ một đều được trình diễn.

Có người nói: "Đây là phô diễn cơ bắp."
Tôi nói: "Đây là phô diễn vũ khí giết người."
Đây là một suy nghĩ đại ác vô cùng đáng sợ.

Những loại tên lửa hạt nhân này, nếu một lúc nào đó được sử dụng thì ngày tận thế diệt vong của nhân loại thật sự đã đến rồi!
Đó là nhân quả của ai?
Nhân quả này phải tính thế nào?
Giết một người vẫn phải đền mạng. Giết mấy vạn mấy tỉ người thì phải tính thế nào đây?
Tôi hỏi:
"Vì sao không tổ chức diễu hành xe hoa?"

🌟

Lúc còn nhỏ, tôi không biết nhân quả.
Tôi thấy lũ kiến xếp thành hàng bò đi, tôi sẽ dùng giấy lộn úp lên trên đàn kiến. Sau đó, tôi châm lửa. Rồi tôi lại cời tro giấy cháy đen ra, bên dưới là hàng hàng xác kiến chết.
Tôi rất vui mừng đắc chí!
Giờ đây, tôi sám hối!

Còn nữa, tôi dùng thuốc diệt côn trùng để giết gián, giết muỗi, giết ruồi nhặng, giết chuột, giết thạch sùng, giết ong, giết sâu bọ...
Tôi dùng giun đất sống để làm mồi câu cá.
Giết rắn.
Giết các động vật nhỏ, vô số!
Chuồn chuồn, châu chấu, rùa nhỏ, bươm bướm…
Giết ếch nhái, giết chim chóc, giết ve, giết tằm.
Những con bay trên trời, những con bò dưới đất, những con bơi trong nước, tôi đều đã từng giết, đặc biệt là nhện thì tôi giết vô số.
Giờ đây, tôi lần lượt sám hối!

Trong Mật giáo, tôi đã học được pháp siêu độ, mỗi ngày tôi tu pháp siêu độ để đưa tất cả những chúng sinh đã bị giết đến Phật quốc tịnh thổ ở Tây phương Cực Lạc thế giới.
Những ác nghiệp đã tạo trước đây.
Đều vì tham sân si từ vô thủy.

Tôi biết:
*Chớ coi thường một việc ác nhỏ,
Cho rằng nó chẳng có hại gì.
Cần phải biết một tia lửa nhỏ,
Cũng đủ gây một đám cháy rừng.*

Và:
*Chớ coi thường một việc thiện nhỏ,
Cho rằng nó chẳng tác dụng gì.
Cần phải biết vài giọt nước nhỏ,
Cũng thỏa được cơn khát thế gian.*

Tôi dùng pháp siêu độ để siêu độ cho tất cả sinh vật mà tôi đã giết hại trong cuộc đời này, để chúng tránh khỏi luân hồi, mau chóng đến được cõi Cực Lạc.
Phật Đà nói:
"Cứu độ sinh mạng của chúng sinh là lợi ích công đức lớn nhất."


### 11. Quán tu hỷ vô lượng (4)


Tôi từng nghe các tiền bối nói:
"Nếu muốn Phật pháp hưng thịnh, chỉ có tăng nhân trợ giúp tăng nhân."

Bây giờ tôi nhận thấy:
"Điều này rất có lý."

Tôi đã từng đến Bệnh viện Từ Tế của Hội công đức Từ Tế ở Đàm Tử, chủ yếu là để thăm chị gái của Sư Mẫu. Chị gái của Thượng sư Liên Hương nằm viện.
Vừa mới xuống xe đã có những tình nguyện viên đến hỏi thăm chúng tôi bằng những lời lẽ rất ân cần. Họ chỉ đường cho chúng tôi. Họ phục vụ chúng tôi. Họ phục vụ từ lúc chúng tôi đến cho đến khi chúng tôi rời đi!

Đó chính là:
Vui vẻ tiếp đãi.
Vui vẻ hướng dẫn.
Vui vẻ phục vụ.
Vui vẻ quan tâm.
Vui vẻ giới thiệu.
...

Thật sự đúng là "khách đến như quý nhân".
Tôi lấy làm ngạc nhiên và tán thán!
"Những gì mà bệnh viện Từ Tế làm được thật sự khiến người ta kính phục!"

🌟

Tôi đã từng đến Phật Quang Sơn.
Tôi đã xem hang động Tây phương Cực Lạc thế giới.
Tôi tới xem nhà kỷ niệm Phật Thích Ca Mâu Ni.

Nói một cách nghiêm túc là:
"Vàng ngọc tráng lệ."

Tôi chỉ cảm thấy để xây dựng một đại đạo tràng quy mô như vậy thật không phải là một việc đơn giản.
Một tu viện to lớn nhường ấy.
Như Lai tiếp dẫn đứng cao lớn sừng sững.
Bát tông cũng đều hoành tráng.
Nơi đây đã trở thành một thắng cảnh du lịch cho mọi người đến du lịch miền Nam.
Chỉ căn cứ vào một điểm. Trong việc hoằng dương chính pháp của Phật Đà, Phật Quang Sơn từ lâu đã thay con người trồng xuống những chủng tử tu hành.

Chúng ta không thể không ngợi khen:
"Tinh Vân đại sư vĩ đại!"
(Về mặt sưu tập tài liệu kinh điển, quy mô mà Phật Quang Sơn đã làm được là to lớn nhất, với những công trình văn tự vĩ đại không hề thua kém công trình kiến trúc của Phật Quang Sơn.)
Tóm lại là:
"Tiếng tăm lừng lẫy thế giới."

🌟

Tại Pháp Cổ Sơn. [Một quần thể chùa Phật và trung tâm tu học Phật giáo ở Đài Bắc, Đài Loan, do đại sư Thánh Nghiêm thành lập.]
Tôi thường thấy vào dịp Tết, các nhân vật chính trị đều tụ tập bên chiếc chuông khổng lồ ở núi Pháp Cổ Sơn. Người người đều nắm tay vào một đoạn của sợi dây thừng dài.
Rung chuông.
Bài kệ gõ chuông:
*Nguyện tiếng chuông siêu vượt pháp giới.
Thiết Vy u ám đều thấy nghe.
Cõi trần thanh tịnh chứng viên thông.
Hết thảy chúng sinh thành Chính Giác.*

Chuông lớn khi mới gõ, tiếng tụng kệ ngân vang, trên thông suốt tới tận thiên đường, dưới thông suốt tới cõi địa phủ.
Trên chúc Tam Bảo hưng long rộng khắp.
Dưới mong nhân loại bình an, thế giới hòa bình.
Mỗi người trong ba cõi và bốn kiếp đều tránh được luân hồi.
Mười loại trong chín cõi u minh đều rời xa biển khổ.
Cầu mong năm nay tránh được gió bão mưa giông, tránh được nạn đói...
Tôi nghe tiếng chuông, thấy:
"Phiền não nhẹ bẫng!"
(Tôi thường cảm tạ kế sách giới luật của pháp sư Thánh Nghiêm, tôi có được rất nhiều lợi ích.)

🌟

Ở Trung Đài Sơn.
Ấn tượng sâu sắc nhất đối với tôi là trại hè do lão hòa thượng Duy Giác tổ chức, thu hút được rất nhiều các đoàn thể sinh viên xuất gia.
Tôi nhận thấy:
Xuất gia là rời khỏi ngôi nhà thế tục, bước vào ngôi nhà của Phật pháp. Đó là một việc vô cùng thần thánh.
Học Phật, độ chúng sinh là sự nghiệp vĩ đại tột cùng nhất đó!
Rất đáng ngợi ca!


### 12. Quán tu hỷ vô lượng (5)


Rốt cục tôi nhận thấy, hỷ vô lượng cũng chính là bao hàm cả tinh thần tinh tấn.
"Từ" cần tinh tấn.
"Bi" cần tinh tấn.
"Xả" cần tinh tấn.
Hỷ vô lượng tức là tinh tấn vô lượng.

Chúng ta thử xem:
Sự tinh tấn của Phật Thích Ca Mâu Ni: sáu năm khổ hạnh, ngày ăn một hạt lúa mạch, gầy tới mức chỉ còn da bọc xương, vậy mà vẫn hoan hỷ tinh tấn.
Milarepa sống trong hang động trong núi, quần áo rách tả tơi, mỗi ngày ăn dây gai đến nỗi toàn thân mọc đầy lông xanh, trở thành bộ xương di động, vậy mà vẫn hoan hỷ tinh tấn.
Kính Kim Cang chỉ ăn vỏ cây hương phụ tử.
Longchenpa chỉ sống nhờ vào 21 viên chulen. [một loại thuốc pháp đặc trưng của Tây Tạng, giúp duy trì sinh lực và tăng năng lực thiền định]
Những vị thành tựu giả vĩ đại này đều tinh tấn không ngừng nghỉ.

🌟

Trong Bồ Tát lục độ:
Bố thí cần phải tinh tấn.
Nhẫn nhục cần phải tinh tấn.
Trì giới cần phải tinh tấn.
Thiền định cần phải tinh tấn.
Trí huệ cần phải tinh tấn.
Tinh tấn càng tinh tấn.

Mỗi đơn nguyên đều bao hàm hỷ vô lượng trong đó, có sự tinh tấn của hỷ vô lượng rồi thì mới đạt đến thành tựu.
Sự tinh tấn của cá nhân tôi thì tất cả những ai có mắt đều thấy rõ:
Mỗi ngày viết một chương sách.
Mỗi ngày tu hành. (tu pháp)
Mỗi ngày vẽ một bức tranh.
Mỗi ngày đều tinh tấn. (giải đáp thắc mắc)
Bảy ngày tinh tấn không ngơi nghỉ. (gồm cả thứ bảy, chủ nhật)

Đương nhiên tôi biết rằng:
*Đời người tựa như cá thiếu nước.
Cái chết đến gần từng phút giây.
Nếu bạn tiếp tục còn trì hoãn.
Cuối cùng trong lòng hối tiếc thay.*

Tôi cực lực nói để chúng sinh biết rằng:
Mau chóng dừng làm điều ác.
Tinh tấn làm điều thiện.
(Suy nghĩ không được ghen tuông đố kị với người khác, thấy người khác thành tựu cần hoan hỉ khen ngợi.)
Đó là vô lượng hỷ.
Đó là hỷ vô lượng.

Tôi (Lư Sư Tôn) là một người tinh tấn kiên nhẫn bền bỉ, tinh tấn thực hành bồ đề, chưa bao giờ ngừng tinh tấn.
Tôi đã hiểu rằng:
Làm cho người khác vui vẻ. (từ)
Giải quyết đau khổ của người khác. (bi)
Không bao giờ ngừng hoan hỉ tinh tấn. (hỉ)
Oan thân bình đẳng cứu độ tất cả. (xả)

Tôn giả Jigme Lingpa nói:
*Bố thí nằm trong sự biết đủ.
Buông bỏ mới là đúng bản chất.
Giữ giới chẳng phiền đến Tam Bảo.
Nhẫn nhục chính niệm đều nhận biết.
Ngũ độ đều cần đến tinh tấn.
Thiền định giác thọ là Bổn tôn.
Trí huệ nằm trong sự giải thoát.*

Vô lượng hỷ, hỷ vô lượng này, trong lục độ đều cần phải có. Tôi phát hiện ra điều này, dạy lại cho mọi người, mọi người hãy tin nghe và làm theo đi.
Om mani padme hum.


### 13. Tôi coi trọng pháp gia hành


Có người bảo tôi:
"Tôi đã được quán đảnh pháp Đại viên mãn rồi!"
Tôi nghe xong, không nói gì.
Bởi vì:
Tôi (Lư Sư Tôn) cho rằng một người tu hành cần theo thứ tự. Từng bước từng bước chân đạp thực địa. Chứ không phải là trong chốc lát có được quán đảnh Đại viên mãn là dương dương tự đắc.
Tôi khá coi trọng:
"Quán đảnh pháp gia hành." [pháp gia hành là các pháp Ngondro - pháp chuẩn bị]
Quán đảnh này bao gồm:
Pháp tứ quy y.
Pháp đại lễ bái.
Pháp mandala. [đại cúng dường]
Pháp tứ vô lượng tâm.
Kim Cang Tát Đỏa sám hối tịnh hóa.
Pháp Căn bản Thượng sư du già.

Chúng ta cứ y theo mà niệm chú tứ quy y để có được tín tâm kiên cố.
Y theo pháp đại lễ bái mà có được sự gia trì của chư Tôn.
Y theo pháp cúng dường mandala mà có được sự tích lũy tư lương phúc đức.
Y theo pháp Kim Cang Tát Đỏa mà đạt được thân tâm thanh tịnh, thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh.
Y theo pháp Căn bản Thượng sư tương ứng mà có được lực gia trì của Căn bản Thượng sư.
Đừng cho rằng pháp gia hành là không quan trọng.
Đó chính là nền tảng của thành tựu Mật giáo.
Mỗi một pháp đều rất quan trọng.

Cá nhân tôi cho rằng, nếu căn bản chưa tu pháp gia hành mà bản thân chỉ tu những pháp lớn thì mười người sẽ có chín người đi sai đường.
Nền móng mà chưa xây tốt đã xây thêm tầng cao thì rất dễ sụp đổ.

🌟

Có người hỏi tôi:
"Thường nghe người ta nói đến "thứ tự sinh khởi", vậy "thứ tự sinh khởi" là gì? Nội hàm của nó là gì?"
Tôi nói:
Thứ tự sinh khởi nghĩa là nghi quỹ. Đó là những nghi thức "chính tu" mà ban đầu các vị tổ sư đã lập ra dựa trên quá trình trải nghiệm của mình.
Tôi thì nhận định đây là việc tu quán Bổn tôn.

Ví dụ:
Quán tưởng bản thân biến thành Bổn tôn.
Quán tưởng môi trường sống của bản thân là cung điện của Bổn tôn.
Quán tưởng người xung quanh bản thân là Bồ Tát quyến thuộc của Bổn tôn.
Sau đó từ việc niệm tụng chú ngữ mà gia tăng sự kiên cố.

Mặc dù ở đây là hành giả cố ý "sinh khởi", nghĩa là con người chủ động tạo ra, nhưng sự quán tưởng và niệm chú này dưới sự tu tập thường xuyên, ý niệm tập trung thì sẽ sản sinh ra định lực.
Sản sinh chứng ngộ.
Sản sinh tương ứng.
Sản sinh sức mạnh.

Hành giả sẽ nhờ có chứng ngộ, tương ứng, sức mạnh mà những thứ của phàm phu như:
Vô minh.
Phiền não.
Tập khí.
Sẽ dần dần tiêu trừ. Khiến cho sự tu hành "thứ tự sinh khởi" của bản thân từ thô ráp trở thành tinh tế, đạt được những kinh nghiệm vi tế.

Thế còn "thứ tự viên mãn" là gì?
Khi "thứ tự sinh khởi" đã tiến đến mức độ vi tế, mượn khí, mạch, điểm để sản sinh ra năng lượng, hơn nữa còn khai phá được mạch và luân xa ở trong cơ thể, từ đó đạt được trạng thái quang minh, nội tu thành tựu. Đó là "thứ tự viên mãn"!


### 14. Thế nào là Đại viên mãn?


Khi tu pháp gia hành, thứ tự sinh khởi, thứ tự viên mãn, lần lượt có được kinh nghiệm. Đồng thời, dựa vào những kinh nghiệm này làm công cụ pháp, chứng nghiệm được "cứu cánh của tâm" thì tức là Đại viên mãn.
Đại viên mãn là gì?
Là trí huệ cuối cùng.
Là đạt đến con đường chứng ngộ hoàn chỉnh.
Là hết thảy đều viên mãn.
Là Phật A Đạt Nhĩ Mã.
Là Phật tính.
Là vô thượng.
Là bản chất thuần tịnh bất biến của tâm.
...

Từng có một người đến chỗ tôi, nói với Lư Sư Tôn rằng:
"Tôi đã chứng ngộ Đại viên mãn rồi!"
Ông ta nói:
"Tôi có thể lập đoạn, cũng có thể đốn siêu rồi."
Tôi nói:
"Rất tốt! Rất tốt. Đó là Ati yoga."
Ông ta nói:
"Sau này, nếu ông có gì không hiểu, có thể đến gặp tôi!"
Tôi nói:
"Đúng! Đúng!"
Trước khi ông ta đi, tôi đưa cho ông mấy lời thơ của Milarepa:
*Viên mãn vô ngã niệm.
Viên mãn vô thiện ác.
Viên mãn chân thực nghĩa.
Viên mãn tu vô tu.
Viên mãn trụ bản nhiên.
Viên mãn pháp nhĩ cảnh.
Viên mãn vô Phật Ma.
Viên mãn tự dữ tha.
Viên mãn tự tha nhất.*

Ông ta đọc xong bài thơ mà tôi đưa, ông ta hỏi:
"Nghĩa là gì?"
Tôi đáp:
"Chẳng phải trí huệ gì khác! Đây là trí huệ cơ bản thôi."
Ông ta hỏi tôi:
"Làm sao có thể đạt được như vậy?"
Tôi nói:
Đại viên mãn chỉ là một danh từ mà thôi, hoàn toàn không tồn tại ý nghĩa nào khác.
Thuần phục được tâm là điều cốt yếu. (bởi vì không có tâm)
Đã không còn bản thân rồi thì ngược lại, "lợi tha" chính là đại nguyện.
Tất cả mọi sự trụ lại đều là trụ trong pháp nhĩ bản nhiên.
Không có pháp thế gian.
Lại càng chẳng có pháp xuất thế gian.
Tất cả đều là mơ, tất cả đều là huyễn.
Phiền não là cái gì? Chẳng biết.
Vô cầu.
Vô đắc.
Căn bản là chẳng có cái gì có thể bám chấp vào cả.
Tất cả đều đứng im. (bất động)
Không có lớn hay nhỏ, không có cao hay thấp, anh không phải là anh, tôi không phải là tôi, chẳng có nơi nào để tìm kiếm.
Ông ta nghe xong nói:
"Đây là cảnh giới cao nhất mà!"
Tôi nói:
"Cũng chẳng phải là cảnh giới."
Ông ta nói:
"Cảm ơn Lư Sư Tôn!"
Tôi nói:
"Không cần cảm ơn! Vốn dĩ chính là như vậy, tương lai tất cả chúng sinh đều là Phật!"


### 15. Người già và mộng huyễn


Tôi già rồi, bởi vậy tôi đã hiểu tất cả mọi thứ trên đời.
Ha!
Để tôi nói cho mọi người biết nhé!
Tôi già rồi, do vậy tôi biết tôi và cha mẹ tôi chỉ là một giấc mộng huyễn.
Tôi già rồi, do vậy tôi biết tôi và con cái chỉ là một giấc mộng huyễn.
Anh chị em, thân bằng hảo hữu cũng đều là như vậy.
Tôi già rồi, nhà cửa và tôi như một giấc mộng huyễn.
Tôi già rồi, xe cộ và tôi như một giấc mộng huyễn.
Tôi già rồi, thất trân bát bảo và tôi như một giấc mộng huyễn.
Tôi già rồi, tài sản và tôi như một giấc mộng huyễn.
Tôi già rồi, tiếng tăm địa vị và tôi như một giấc mộng huyễn.
Tôi già rồi, cuối cùng tôi đã hoàn toàn hiểu ra, thân thể và bản thân cũng là một giấc mộng huyễn.
Tôi già rồi, ha! Tôi và các đệ tử cũng là một tổ hợp các giấc mộng huyễn.

Sách tôi viết.
Tranh tôi vẽ.
Pháp tôi tu.
Tông phái tôi sáng lập.
Mộng huyễn, mộng huyễn, mộng huyễn, mộng huyễn, mộng huyễn.
Còn cả tình yêu khắc cốt ghi tâm của tôi nữa! 
Vẫn là một câu nói cũ rích: "Thiên hạ chẳng có bữa tiệc nào mà không tàn."
Lúc này, điều duy nhất tôi có là:
Tính Không.
Quang minh.
Bồ đề.

🌟

Tôi đã đọc "Tám ví dụ về huyễn tướng".
Cảm thấy rất xúc động:

1. Giấc mơ — Mỗi người chúng ta đều nằm mơ, trong giấc mơ tất cả các giác quan đều rất chân thực. Thế nhưng trên thực tế chỉ là mơ.

2. Ảo thuật — Chúng ta đi xem biểu diễn ảo thuật, rõ ràng là rất chân thực, nhưng thật ra là giả tạo hoàn toàn!
Tôi thường nghĩ:
Thật đến thế!
Sao có thể giả như vậy được!

3. Thị giác — Vào những lúc thị giác trở nên mơ hồ, nhìn các thứ rõ ràng là thật. Nhưng thực tế cũng lại trở thành không thật.
Trăng trong nước.
Hoa trong gương.

4. Ảo ảnh bên bờ biển — Trên bờ biển, do nhân tố khí hậu mà trông thấy thành phố, người và vật xuất hiện trên mặt biển.
Rõ ràng là có thấy.
Sự thật là không có.

5. Tiếng vọng — Ở trong phòng dội âm, bạn tự hô một tiếng, một lúc sau, bạn nghe thấy tiếng vọng của chính mình.
Rõ ràng là nghe thấy.
Nhưng chỉ là tiếng vọng.

6. Tìm về thành phố cũ — Trong cuộc đời, tôi đã sống trong nhiều căn nhà, đều rất chân thực, nhưng bây giờ chúng đều không còn nữa.
Số nhà 77 giao lộ Lâm Sâm, thành phố Cao Hùng, đều không còn nữa!
Số nhà 39 đường Lực Hành, thành phố Đài Trung, đều không còn nữa!

7. Cái bóng — Dưới ánh mặt trời, cái bóng mà ta nhìn thấy căn bản là huyễn tướng.
Bạn có thể lục lại thời thơ ấu, thời thiếu nhi, thời thanh niên, thời trưởng thành… Có cái nào không phải là cái bóng không?

8. Thành phố — Tôi trở về Cao Hùng, Cao Hùng trước đây đã biến mất, tôi không còn nhận ra nữa. (Tôi đã sống ở đó 19 năm.)
Tôi trở về Đài Trung, hình ảnh Đài Trung trước đây đã không còn nữa, tôi chẳng nhận ra. (Tôi đã sống ở đó 19 năm.)
Tương lai! Bạn cũng sẽ chẳng nhận ra Seattle nữa. (Hiện tại, tôi đã sống ở đây 38 năm.)

Xin hỏi:
"Cái gì là chân thực? Bạn bám chấp vào cái gì đây? Ha ha ha ha ha!"


### 16. Chứng đắc của người thực tu


Có một câu danh ngôn của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ:
"Người kính sư, trọng pháp, thực tu sẽ chứng đắc."
Tôi lấy ví dụ:
Khi Atisa tôn giả đến Tây Tạng, ngài đã nhận lời mời gặp mặt của đại dịch giả Rinchen Sangpo. Lúc họ gặp nhau, cuộc đối thoại đầy pháp vị.
Atisa tôn giả đã nói ra tất cả các giáo pháp. Rinchen Sangpo đều hiểu. Atisa nói:
"Ôi! Ta đến Tây Tạng xem ra cũng uổng phí rồi. Hóa ra Tây Tạng đã có người am hiểu như vậy. Ta đến Tây Tạng là việc thừa thãi rồi."

Atisa hỏi:
"Vậy thì xin hỏi đại dịch giả, ngài thực tu theo giáo pháp ra sao?"
Rinchen Sangpo trả lời:
"Tôi dựa vào giáo pháp, tu trì từng cái từng cái một!"
Atisa nói:
"Đời người ngắn ngủi, tu từng cái một thì cũng không kịp được."
Rinchen Sangpo hỏi:
"Vậy phải làm sao mới được?"
Atisa đáp:
"Tu pháp tinh hoa!"
Sau cùng, Atisa tôn giả nói:
"Rốt cục ta đến Tây Tạng cũng vẫn có tác dụng."

🌟

Đoạn văn này, tôi nghĩ rằng như thế này, tâm yếu khẩu quyết là vô cùng quan trọng, cần chọn lọc tinh hoa, loại bỏ những thứ rườm rà, giữ lại những tinh túy.
Cá nhân tôi cho rằng:
Rất nhiều đại sư Phật học uyên bác và hiểu biết sâu rộng, có thể làm giáo sư, nhưng tu trì thực tế thì lại không biết.

Ví dụ:
Một người đói bụng.
Anh ta biết rất nhiều món ăn.
Nhưng lại không biết cách ăn.
Đương nhiên sẽ chết đói.
Bởi vậy, chỉ hiểu biết về Phật pháp không thì chẳng có tác dụng gì, anh cần phải biết làm sao để "ăn" Phật pháp.

Tôi nói:
"Thực tu Phật pháp, quan trọng nhất là tiêu trừ phiền não và ngã chấp. Đó mới là tinh hoa."
Không còn ngã chấp!
Không còn phiền não!
Phật pháp mới là pháp bảo có ích nhất.

Tôi thấy rất nhiều hành giả đã tu hành rất nhiều năm, nhưng phiền não càng ngày càng nhiều, cắt không đứt, lý lẽ còn rối loạn nữa!
Ngã chấp càng ngày càng nặng, càng khai ngộ thì càng cố chấp không thông suốt.

Atisa nói:
"Khai ngộ kiểu đó, chỉ là miệng nói khơi khơi mà thôi!"
Người khai ngộ,
Càng phiền não.
Người khai ngộ,
Càng thế tục.
Người khai ngộ,
Không giữ giới luật.
Người khai ngộ,
Cố chấp khư khư.
Người khai ngộ,
Trong đầu toàn những suy nghĩ tiêu cực.
Thế thì còn thua cả một lão già là tôi đây, lão già tôi đây còn biết rằng:
"Tất cả đều là sự an bài hoàn hảo nhất!"


### 17. Tâm tôi đã chết


Hôm nay là ngày 1 tháng 1 năm 2021. (Tết Nguyên Đán)
Sáng sớm, tôi ngồi vào bàn để viết chương sách đầu tiên của năm nay, tôi đã nghĩ rất lâu.
Năm mới, hy vọng mới, viết một bài viết mang đầy sắc thái "hạnh phúc mênh mông", "sức sống tràn đầy", "bình minh tươi mới", "thanh xuân sôi nổi", "sáng tạo rực rỡ" đi vậy!
Nhưng tôi vừa cầm bút lên thì lại viết:
"Tâm tôi đã chết!"
Vì sao vậy? Tâm tôi đã chết ư?
Bởi vì tôi tu hành pháp "hoán đổi ta và người khác".

Năm 2020, dịch cúm virus Corona đã tàn phá toàn thế giới, dịch bệnh nghiêm trọng. Năm 2021 lại có virus biến chủng Anh, virus biến chủng Nam Phi, người chết đã nhiều lần đạt mức cao kỷ lục.
Pháp hoán đổi ta và người khác của tôi như sau:
Tôi quán tu, tôi chính là Lư Sư Tôn đã qua đời vì virus Corona, tôi quán tu bản thân tôi nhiễm virus và đã chết rồi!
Và như vậy là:
"Tâm tôi đã chết!"

🌟

Chết rồi thì sao?
Tiền cũng chẳng có.
Sắc cũng chẳng có.
Danh cũng chẳng có.
Ăn cũng chẳng có.
Ngủ cũng chẳng có.
Trong sát-na, tôi hoàn toàn tịnh hóa rồi.
Mọi ác nghiệp đã tạo từ ngày xưa đều hòa tan vào hư không, bị thanh trừ sạch sẽ hoàn toàn.
Sau khi chết đi:
Không sát sinh, đã làm được rồi!
Không trộm cắp, đã làm được rồi!
Không tà dâm, đã làm được rồi!
Không vọng ngữ, đã làm được rồi!
Không uống rượu, đã làm được rồi!
Không tham, đã làm được rồi!
Không sân, đã làm được rồi!
Không si, đã làm được rồi!
...

Đương nhiên, tôi biết tu hành Mật pháp quán tu và niệm tụng Kim Cang Tát Đỏa có thể thanh tịnh tất cả nghiệp chướng.
Sám hối có bốn loại lực:

1. Lực quy y.
2. Lực sám hối.
3. Lực quyết tâm
4. Lực đối trị.

Như vậy có thể dừng làm việc ác, hành thiện, phát bồ đề tâm.
Thật sự sám hối, giống như hai câu chuyện có thật xảy ra vào thời Phật Thích Ca Mâu Ni như sau:

1. Chỉ Man — Đã giết 999 người, sau đó sám hối, cuối cùng đã chứng A La Hán.
2. Vua A Xà Thế — Đã giết cha mẹ mình, sau đó sám hối, cũng có được thành tựu.
Đó là cảm ứng chân thực của việc thật sự sám hối.

Còn tôi, tôi đã mượn pháp hoán đổi ta và người khác, thường xuyên quán tu bản thân đã là người chết do nhiễm dịch bệnh.
Đột ngột!
Tâm đã chết rồi!
Tất cả mọi suy nghĩ đều không còn! Ngay cả một suy nghĩ cũng không còn!
"Sức mạnh của cái chết tâm là vô cùng to lớn."
Người ta gọi là "không gì đau đớn hơn một trái tim đã chết".
Tôi dùng cái chết của tâm để cắt đứt tất cả ác niệm!
Khi thân thể tôi vẫn còn sống nhưng tâm thì đã chết, tôi lúc này đã tịnh hóa rồi!


### 18. Tôi tích lũy phúc đức như thế nào?


Hành giả chúng ta biết rằng muốn tích tập phúc đức thì nhất định phải:

1. Dừng ác.
2. Làm thiện.

Có nghĩa là, dừng ác, làm thiện là phương pháp tốt nhất để tích tập phúc đức.
Có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn, ngài dùng phương pháp gì để tích tập phúc đức?"
Trước tiên, tôi xin hé lộ một bức thư:

*Lư Sư Tôn! Phật thể an khang, năm mới vui vẻ.
Liên quan đến sự việc Sư Tôn đã từ bi tiếp dẫn bố của đệ tử, đệ tử đích thân chứng kiến và cứ nghĩ mãi về việc báo cáo toàn bộ với Sư Tôn.*

*Bố của đệ tử vãng sinh vào ngày 11 tháng 5 năm 2017.
Trên chuyến bay đệ tử trở lại Seattle vào tháng 5 năm 2018, Sư Tôn đã thần toán tại chỗ, xác nhận rằng bố của đệ tử đã được vãng sinh đến Phật quốc tịnh thổ rồi.*

*Đệ tử đêm đó có một giấc mơ, trong mơ có bố xuất hiện, dáng người rất cao lớn, gần bằng chiều cao của một tòa nhà hai tầng. Đệ tử phải ngẩng đầu lên, hơn nữa dung mạo của bố rất trẻ trung. Đệ tử chưa từng bao giờ nhìn thấy thần thái trẻ trung có thần của bố mình như vậy. Ông để tóc kiểu tây, toàn thân tỏa sáng. Trông bố cao ráo, trẻ trung, trong khi đệ tử thì vừa thấp bé vừa già dặn. Khi đệ tử quỳ xuống, đệ tử nhận thấy bàn chân của bố, các ngón chân tròn, nhẵn và sáng, giống như tượng của A Di Đà Phật.
Đệ tử quỳ xuống nói với bố:*
*"Bố à! Sư Tôn đã xác nhận bố đang ở Phật quốc tịnh thổ rồi. Bố bây giờ ở đó tu hành, nhất định sẽ rất thù thắng. Nhưng bố có biết không, khi bố mới đi, để có thể có Chân Phật Mật Pháp làm pháp sự cho bố, con đã phải chịu biết bao nhiêu sự sỉ nhục và thiếu thông cảm không?"
Bố trả lời:
"Hai bố con ta đã cùng nhau diễn cảnh cuối cùng trong nhân gian để chứng minh sự phi thường của giáo lý Chân Phật Mật Pháp."*

*Điều đệ tử muốn nói ở đây là: Sư Tôn thực sự là một hành giả từ bi không bỏ rơi một chúng sinh nào.*
*Bố của đệ tử cả đời không tin vào Phật pháp nhân quả, hơn nữa còn rất thù địch với Sư Tôn và Chân Phật Mật Pháp. Lại còn phỉ báng Thầy phỉ báng Phật, phỉ báng Chân Phật Mật Pháp. Thế nhưng, Sư Tôn vẫn từ bi tiếp dẫn và độ hóa!*

*Đệ tử luôn nghĩ muốn dùng hết mọi cách để độ hóa cho bố tiếp nhận Chân Phật Mật Pháp, nhưng luôn thất bại. Cho đến khi bố hiện lên và nói với đệ tử rằng: "Hai bố con ta đã cùng nhau diễn cảnh cuối cùng trong nhân gian để chứng minh sự phi thường của giáo lý Chân Phật Mật Pháp." thì đệ tử mới hiểu là Sư Tôn và bố đang độ hóa cho đệ tử, khiến đệ tử hiểu lời thề nguyện "không bỏ rơi một chúng sinh nào" của Sư Tôn thật sự không phải là hư giả.
Đệ tử Liên Hoa Văn Trung trăm lạy đảnh lễ.
Ngày 29 tháng 12 năm 2020.*

🌟

Tôi thật lòng thật sự nói để mọi người biết rằng:
Phương pháp tích tập công đức của tôi chính là siêu độ không bỏ rơi một chúng sinh nào.
Tôi siêu độ chúng sinh đã chết vì virus Corona đã ngót nghét một năm rồi. (Và vẫn liên tục làm tiếp.)
Tôi dùng nghìn chiếc thuyền pháp để siêu độ.
Ngay khi tôi xem ti vi và tin tức báo cáo rằng "có người đã chết", tôi lập tức làm pháp siêu độ cho họ.
Tôi quán tưởng, trì chú, dùng tâm lực, thủ ấn, thiền định, để người chết được bước vào Phật quốc tịnh thổ.
Trong sát-na tôi kiến Phật tính.
Tôi trụ trong pháp nhĩ bản nhiên.
Dùng tâm lực vô thượng, tâm lực bồ đề để độ hóa tất cả chúng sinh, tôi hoan hỷ sẵn lòng.


### 19. Tu Kim Cang Tát Đỏa để tịnh hóa


Có người hỏi tôi:
"Tôi muốn sám hối, tịnh hóa nghiệp chướng của bản thân, thì làm gì là tốt nhất?"
Tôi thường trả lời:
"Niệm bách tự minh chú của Kim Cang Tát Đỏa là tốt nhất."
Hỏi:
"Nghi quỹ ra sao?"
Đáp:
Tôi không muốn quá rườm rà, do vậy tôi giới thiệu tóm lược cách tu chính như sau:

(1)

Quán tưởng.

Hư không trước mặt hành giả có một tòa sen nghìn cánh màu trắng.
Trên tòa sen có mặt trăng.
Chính giữa mặt trăng có chữ "Hum" màu trắng.
Chữ "Hum" hóa thành Căn bản Thượng sư. Rồi Căn bản Thượng sư lại hóa thành Kim Cang Tát Đỏa. (Căn bản Thượng sư và Kim Cang Tát Đỏa không hai không khác.)
Kim Cang Tát Đỏa một mặt hai tay, ngồi kiết già. (tỏa ánh sáng trắng)
Tay phải cầm chày kim cang đặt trước ngực.
Tay trái cầm chuông kim cang đặt ở phần eo.
Hình tướng của Kim Cang Tát Đỏa trang nghiêm với đầy đủ tướng của báo thân Phật. (Trên người đeo 13 món đồ trang nghiêm gồm năm loại y phục bằng tơ và tám loại báu vật.)
Kim Cang Tát Đỏa ôm lấy Phật Mẫu. (tỏa ánh sáng trắng)

Lại quán tưởng:
Kim Cang Tát Đỏa và Phật Mẫu trụ trên đỉnh đầu hành giả. Cuống của hoa sen nghìn cánh xuyên qua lỗ trên đỉnh đầu của hành giả. Nhờ vào sự song vận của Kim Cang Tát Đỏa và Phật Mẫu mà chảy ra cam lộ màu trắng và tỏa sáng, chữ "Hum", trút vào thân thể của hành giả.
Nghiệp chướng màu đen trong thân thể hành giả hóa thành những con sâu nhỏ màu đen, từ lỗ chân lông bò ra. Còn có cả chất dịch màu đen từ lỗ bên dưới chảy ra.
Lúc này mặt đất nứt ra. Dưới mặt đất có Thần Chết và oan thân trái chủ há to miệng để uống lấy chất dịch màu đen này. Khi ấy, vì hành giả đã được tịnh hóa, toàn thân tỏa ra ánh sáng trắng, chiếu khắp nơi.

Quán tưởng tiếp: Kim Cang Tát Đỏa tan vào trong thân của chính mình. Căn bản Thượng sư, Kim Cang Tát Đỏa và hành giả hoàn toàn không khác biệt. (nhập ngã - ngã nhập)

(2)

Trì chú.

Tụng bách tự minh chú. (chú dài)
Tụng chú ngắn. (Om benza satto ah hum pei) [Ôm pê-cha sa-tô-ah hùm pây]
Tụng tâm chú. (Om benza satto hum) [Ôm pê-cha sa-tô hùm]

Om (ánh sáng trắng).
Benza (ánh sáng vàng).
Sat (ánh sáng đỏ).
To (ánh sáng lục).
Hum (ánh sáng lam).

Năm vệt ánh sáng chiếu lên trên, thiên nữ cúng dường trân bảo.
Năm vệt ánh sáng chiếu xuống dưới, cứu giúp lục đạo chúng sinh.

(3)

Nhập Tam ma địa.

Tâm - khí hợp nhất.
Tinh - thần hợp nhất.
Lạc - không hợp nhất.
Nhập vào thiền định, lâu lâu.

(4)

Niệm văn cầu thỉnh và hồi hướng.

Kim Cang Tát Đỏa vĩ đại, người mà con nương dựa, xin tịnh hóa cho con, để cho con:
Thân thanh tịnh.
Khẩu thanh tịnh.
Ý thanh tịnh.
Nghiệp chướng, phiền não, tập khí, bám chấp, đều tiêu trừ biến mất.
Để con có được bốn quán đảnh.

Sau đó:
Đại lễ bái.
Rời khỏi đàn thành.


### 20. Ba bài thơ do Liên Hoa Vu Vu gửi tới


Bài 1: 

**Thời không vô chướng ngại**

*"Thân nơi sơn ngoại sơn
Tâm ẩn trong ý niệm
Tâm tương hợp cùng tâm
Chân trời gần ngay cạnh
Thường trụ trong tâm điền
Thời không đâu chướng ngại
Sớm sớm lại chiều chiều
Bên thầy chẳng phân ly."*

Bài 2: 

**Nếu hỏi việc tu hành**

*"Nếu hỏi việc tu hành
Đệ tử cười ngây ngô
Mỗi bước chân in dấu
Ngày ngày vẫn bước đi
Dường như chẳng tiến bộ
Rõ ràng trong tâm tư
Hằng mong quang minh hiện
Khỏi phụ công ơn thầy."*

Bài 3: 

**Thỉnh Phật trụ thế**

*"Các Không Hành Mẫu cầu tha thiết
Đệ tử thập phương nước mắt rơi
Cầu nguyện thầy Lư thường trụ thế
Tục chuyển pháp luân độ quần sinh."*

🌟

Nhận được ba bài thơ của Liên Hoa Vu Vu từ nước ngoài gửi tới, tôi nhất thời ngứa tay cũng viết mấy câu thơ, xin được đăng như sau:

Bài 1: 

**Biển núi vô tình**

*"Biển xanh biếc
Núi đứng yên
Bờ bên ấy
Có ai thổi sáo ngọc
Tiễn khách hữu duyên trên chiếc phi cơ màu bạc xa xăm
Mong đợi có ngày bạn lại đến
Trước khi rời đi đã buồn đau
Nay lại càng đau
Trùng trùng quan sơn cách trở."*

Bài 2: 

**Học làm Tiên**

*"Trên trời có Kim Tiên
Nhân gian
Có người muốn học làm Tiên
Trời cao
Mắt thấp
Chỉ thấy một vùng mây khói mênh mang
Ai có thể hay biết
Đi hỏi thầy
Thầy bảo
Bỏ quên hoa đôi bướm dập dìu bay."*

Bài 3: 

**Đoán tuổi thọ**

*"Đời người bảy mươi xưa nay hiếm
Trông xa
Mặt trời hôm nay
Đã ngả về tây
Hoa chìm vào sương
Chiều tà sụp xuống
Lên giường lại muốn tháo tấm màn
Muốn bước
Muốn đi
Nào biết ai người hiểu được
Ngày mai
Vẫn còn tiếng chim hót sớm mai."*

(Tôi trụ trong pháp nhĩ bản nhiên, cái gì phải tới sẽ tới, cái gì phải đi sẽ đi, chỉ như vậy mà thôi.)


### 21. Ý tưởng về Điện Tịnh Hóa


Có đệ tử ca ngợi tôi:
*"Thầy đã tịnh trừ hết thảy ô nhiễm,
Nhưng vẫn luôn nói còn đang tịnh hóa.
Đã đạt cứu cánh pháp nhĩ bản nhiên
Nhưng vẫn luôn bảo thầy đang học tập.
Đã đạt thành tựu hết thảy viên mãn
Nhưng vẫn cam lòng sống tại nhân gian.
Vị thầy vĩ đại không gì so sánh
Dưới chân thầy đây con xin đảnh lễ."*

Bài thơ này khiến tôi nảy ra ý tưởng về một Điện Tịnh Hóa.

🌟

Trên con đường tu tập Chân Phật Mật Pháp, các đệ tử Chân Phật đều đang nỗ lực tinh tấn thực tu. Đáng tiếc là chướng ngại vô cùng nhiều!
Vì chướng ngại mà các đệ tử đọa lạc cũng không ít.
Bởi vậy tôi mới nghĩ đến ý tưởng về một Điện Tịnh Hóa.
Nếu như hành giả phạm phải:
Ác hạnh.
Phá hủy biệt giải thoát giới.
Vi phạm giới luật bồ đề tâm.
Phá hủy giới samaya.
Ngũ giới.
Bồ Tát giới.
Tì kheo, tì kheo ni giới.
...

Tất cả những thứ này phải được tịnh hóa thông qua sự sám hối, vì vậy cần tạo ra một Điện Tịnh Hóa.

🌟

Có người hỏi tôi: 
"Muốn sám hối tịnh hóa thì dựa vào Bổn tôn nào là tốt nhất?"
Tôi đáp: 
"Kim Cang Tát Đỏa."
Hỏi: 
"Trì chú gì?"
Tôi đáp: 
"Bách tự minh chú."
Tôi muốn nói cho mọi người biết rằng:
Bách tự minh chú cũng là tâm của chư Phật. (tinh hoa)
Câu chú này tuyệt đối có thể tịnh hóa tất cả mọi sự mất giới, phá bỏ tất cả mọi chướng ngại được biết đến. Kim Cang Tát Đỏa là Pháp Vương Tử của Ngũ Phật. Tất cả Mật pháp đều từ Kim Cang Tát Đỏa mà khai triển.

Trì tụng đúng đắn 21 biến Bách tự minh chú có lợi ích như sau:
*Kim Cang Tát Đỏa bách tự minh
Quán tưởng rõ rệt Bổn tôn tướng
Ngồi trên nguyệt luân bạch liên hoa
Sẽ được gia trì rũ sạch tội
Tránh tăng trưởng thêm tội đọa lạc
Đại thành tựu giả đã dạy rồi
Bởi vậy luôn nên tu như thế
Trăm nghìn biến chú trì tụng đủ
Hóa hiện tuyệt đối thuần tịnh thân.*

🌟

Ý tưởng của tôi về Điện Tịnh Hóa là:
Ở chùa, đường, hội có thêm một gian gọi là Điện Tịnh Hóa, có chủ tôn, tức là Kim Cang Tát Đỏa (thiền thân, song thân đều được).
Trong Điện Tịnh Hóa, hai bên trái phải đều cúng chổi quét. Chổi quét tượng trưng cho công cụ tịnh hóa.
Mỗi một chiếc chổi quét đều cần giữ cho sạch sẽ.
Mỗi một chiếc chổi quét đều cần niệm đủ 100.000 biến Bách tự minh chú để gia trì!
Trong Điện Tịnh Hóa sẽ do tăng nhân đã niệm đủ 100.000 biến Bách tự minh chú chủ trì nghi thức tịnh hóa.

Có nghĩa là:
Chủ tôn: Kim Cang Tát Đỏa.
Chú ngữ: Bách tự minh chú.
Công cụ tịnh hóa: chổi quét. (đã được gia trì)
Cách tịnh hóa như thế nào, xin đọc chương sách tiếp theo sẽ có thể hiểu được.


### 22. Tôi nghĩ xa


Tôi nghĩ xa…
Năm hết Tết đến.
Có một dòng người xếp hàng dài vòng vèo tới vài dặm, ai nấy đều đang chờ đợi để được tịnh hóa ở Điện Tịnh Hóa.
Bên trong Điện Tịnh Hóa, mặc dù dòng người chật ních nhưng người đi vào điện vẫn giữ im lặng.
Một tăng nhân trang nghiêm mặc trang phục Lama Chân Phật Tông đang làm nghi thức tịnh hóa cho chúng sinh.
Kim Cang Tát Đỏa trên đàn thành mỉm cười.
Cúng phẩm chất cao như núi.
Khói hương tỏa nghi ngút.

Giai điệu của Bách tự minh chú không ngừng được xướng lên trong điện. Tăng nhân tay cầm chổi quét thực hiện nghi thức tịnh hóa cho những người đang đến trước mặt.
Chổi quét lên người lớn trẻ nhỏ, người nam người nữ.
Chổi quét phẩy nhẹ nhàng trên lưng họ. (ba lần)

Tăng nhân niệm:
Một quét - sạch phiền não.
Hai quét - sạch vận rủi.
Ba quét - trừ nghiệp chướng.

Lại niệm:
"Cát tường như ý, khỏe mạnh sống lâu, phúc đức kéo đến!"
Và niệm:
"Om benza satto hum." (ba tiếng) [Ôm pê-cha sát-tô hùm]

Khi tiến hành nghi thức tịnh hóa, tốt nhất là người nhận tịnh hóa cũng cần chắp tay, niệm thầm trong miệng: "Om benza satto hum."
Nghi thức này rất đơn giản. Tiến hành cũng rất nhanh.
Tất cả chúng sinh cũng nhanh chóng trồng được hạt giống Phật duyên.

Nhờ có:
Lực gia trì của Kim Cang Tát Đỏa.
Lực gia trì của Bách tự minh chú.
Lực gia trì của chổi quét.
Mà vận rủi của chúng sinh được tiêu trừ, loại bỏ cái cũ, bổ sung cái mới, tiêu tai giải ách.
Sự nghiệp, tình yêu, gia đình, tài vận, con cái, sức khỏe, danh lợi...
Từ suy thành hưng.
Từ hung thành cát.
Từ ác thành thiện.
Từ xấu thành tốt.
Đây là phương pháp tốt nhất để kết duyên với Phật pháp. Cũng là học lập mệnh, từ đó thay đổi vận mệnh.

Trọng điểm nằm ở chỗ:
Kim Cang Tát Đỏa là Pháp Vương Tử của Ngũ Phật, là giáo chủ của Mật giáo, Ngài ấy là tinh hoa của tâm chư Phật.
Bách tự minh chú là bất khả tư nghì, đệ tử Mật giáo có người niệm mười triệu biến, có người niệm hai mươi triệu biến, ba mươi triệu biến, nhiều hơn cũng có.
Ít nhất cũng niệm một trăm nghìn biến.
Nhờ tăng nhân niệm một trăm nghìn biến mà chổi quét được gia trì một trăm nghìn biến, tự nhiên sẽ sản sinh ra pháp lực bất khả tư nghì, điều này là chắc chắn, có thể cứu nguy cứu khó.

Mọi người biết Bách tự minh chú có thể khiến cho người đọa địa ngục không phải đọa địa ngục nữa.
Không đi vào tam ác đạo.
Vừa là cứu cánh.
Vừa thâm sâu ảo diệu.
Vừa thù thắng.
Vừa thần kỳ.
Không chỉ có thể rộng rãi cứu giúp chúng sinh mà cũng có thể sám hối tịnh hóa ác hạnh, phạm giới, tập khí, chướng ngại.
Tôi hy vọng điều mà tôi nghĩ xa có thể thành hiện thực, chúng sinh tương lai ai ai cũng đều được tịnh hóa.


### 23. Cảnh giới của Đại viên mãn


Có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Cảnh giới Đại viên mãn của ngài như thế nào?"
Tôi đáp:
"Phật tính."
Hỏi:
"Phật tính thì mơ hồ quá, dựa vào cái gì để thành tựu Phật tính?"
Tôi đáp:
"Giải thoát."
Hỏi:
"Giải thoát cái gì?"
Tôi đáp:
"Có thể đắc được mọi pháp, không bị giới hạn bởi sinh tử."
Hỏi:
"Chẳng phải là không còn sinh tử sao?"
Tôi đáp:
"Vốn dĩ không sinh không tử, vì có vô minh nên mới có sinh tử hư huyễn."

Hỏi:
"Lại quay về câu hỏi ban đầu, cảnh giới Đại viên mãn là gì?"
Tôi đáp:
"Đại Tự Tại Vương Như Lai."
Hỏi:
"Ở chỗ nào?"
Tôi đáp:
"Áo Minh Tịnh Thổ — A Đạt Nhĩ Mã Phật.
Đồng Sắc Sơn Tịnh Thổ — Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.
Hiện Hỷ Tịnh Thổ — Kim Cang Tát Đỏa.
Cực Lạc Tịnh Thổ — A Di Đà Phật.
Diêu Trì Tịnh Thổ — Diêu Trì Kim Mẫu."
Hỏi:
"Lư Sư Tôn, vì sao ngài lại đặc biệt liệt kê ra năm cõi tịnh thổ lớn này?"
Tôi đáp:
"Đời này tôi đặc biệt có duyên với những cảnh giới này."

Hỏi:
"Đời này ngài có phải là đại thượng sư không? Ngài dựa vào cái gì mà làm đại thượng sư?"
Đáp:
"Thân của tôi là "tăng", ngữ của tôi là "pháp", ý của tôi là "Phật". Tôi là thượng sư tổng trì của Tam Bảo."
Hỏi:
"Rất nhiều các thượng sư hiện nay có khả năng không hiểu được những điều này, Lư Sư Tôn muốn dạy họ cái gì?"
Đáp:
"Thượng sư là Phật.
Thượng sư là Pháp.
Thượng sư là Tăng.
Thượng sư thành tựu tất cả.
Thượng sư cũng tức là Kim Cang Tổng Trì tôn quý."
Hỏi:
"Lư Sư Tôn! Kiếp này ngài ở trong ngũ trọc ác thế, những tinh hoa dạy bảo chúng sinh tóm gọn giải thích trong một câu nói thì sẽ là gì?"
Đáp:
*"Chúng sinh đều là Phật
Nhưng vì bị ô nhiễm
Ô nhiễm được tịnh hóa
Phật quả sẽ hiện tiền."*

Hỏi:
"Lư Sư Tôn! Ngài còn có nguyện vọng gì không?"
Đáp:
"Không có."
Hỏi:
"Vì sao không có?"
Đáp:
"Tất cả đều là huyễn hóa."
Bây giờ, cuối cùng tôi đã hiểu, cảnh giới Đại viên mãn chính là "không có". Bởi vì "không có" mới là đại viên mãn.
(Xin hãy suy ngẫm!)


### 24. Tôi là "người trừ ma"


Tôi thừa nhận, tôi tự nhận mình là "người trừ ma".
Cả ngày từ sáng tới tối, tôi đều đánh đuổi những ác linh. Đó là những ác linh nhập vào người ta, họ được người nhà đưa đến gặp tôi. Những ác linh này đã nói chuyện với tôi.
Nam thì nói giọng nữ.
Nữ thì nói giọng nam.
Có một số ác linh thì toàn thân run rẩy.
Có một số ác linh thì giận dữ gào thét.
Có một số ác linh thì khua tay múa chân, dường như muốn đấu pháp cùng tôi.
Tôi là người có kỹ nghệ cao lại to gan, đã gặp nhiều biết rộng, nên tôi chẳng có gì lo ngại, đánh bật ác linh ra khỏi thân người ta.
Sau khi đánh bật chúng ra.
Người ta lại trở lại bình thường!

Tôi dùng cách vỗ vào lưng!
Hoặc dùng thủ ấn!
Hoặc thần Kim Cang nhập vào người tôi, khiến bản thân tôi hiện ra tướng phẫn nộ dữ tợn, trừng mắt nhìn chằm chằm, nắm đấm chắc nịch, mím chặt môi dưới và đánh vỗ vào người bị nhập.
Sau đó, người bị ác linh nhập vào nằm rũ trên mặt đất, sau khi tỉnh lại thì họ đã trở lại bình thường. Tôi lại cho họ những tấm phù để giúp họ ngủ ngon. Ác linh sẽ không dám lại đến ám họ nữa. 
Tôi dùng phương pháp này đã chữa khỏi không ít những người mắc chứng bệnh tâm thần hoảng loạn. (Tôi từng nói rằng số người nhiều tới nỗi có thể dùng cả tàu hỏa để chở.)

Còn đối với những ác linh được Quỷ Bà nuôi dưỡng ở San Francisco thì cả một bầy đông đảo đã kéo đến xâm phạm Nam Sơn Nhã Xá. Tôi đã thỉnh thanh kiếm của Bất Động Minh Vương, cặp sừng của Đại Uy Đức Kim Cang và cây côn của Đại Lực Kim Cang...
Chỉ trong một sát-na!
Những ác linh của Quỷ Bà đã phải kêu cha kêu mẹ! Máu thịt be bét! Mặt đất đầy những khúc tay khúc chân! Đám thì chết, đám thì tháo chạy. 
Sau một thời gian rất dài, đám ác linh của Quỷ Bà không dám trở lại nữa! Có đến thì cũng một đi không trở lại. Thỉnh thoảng có vài con đến thì cũng bị thần Sư Tử canh cổng nuốt gọn rồi!

Sau này.
Cảnh giới của tôi càng cao hơn, tôi hỏi ngược lại bản thân, khi chính tôi trừ ma thì tôi có tâm từ bi hay không, có bồ đề tâm hay không?
Hồi xưa tôi chỉ muốn đánh chết lũ ma quỷ!
Khi tôi suy nghĩ rất sâu, tôi mới biết rằng, tôi làm như vậy là sai rồi. (Bởi vì tôi đã thiếu mất sự từ bi.)
Tôi phải cứu vớt Quỷ Bà. Bởi vì những ác linh của Quỷ Bà là:
Ác linh "thực thể" vốn là ác linh "huyễn thể".
Có một số ác linh có thần thông nhỏ, là những ác linh sinh ra do huyễn giác tự ngã. Nói cách khác là ác linh của Quỷ Bà có nguồn gốc từ ác linh huyễn giác tự ngã.

Cách tiêu diệt chúng là:
"Nếu coi ma quỷ là ma quỷ thì chúng sẽ lập tức làm hại bạn.
Biết ma quỷ là do tâm sinh ra, tâm mà diệt thì tự sẽ được giải thoát.
Hiểu được rằng ma quỷ là Không, lập tức sẽ khiến cho ma quỷ bị tiêu diệt."

Do vậy:
Giết hại, đập nát, trục xuất, là pháp tu hạ đẳng.
Hành giả chỉ cần hiểu ra rằng:
Quỷ là Không.
Bản thân ta cũng là Không.
Thì tất cả liền biến mất!


### 25. Một lá thư thần bí (1)


Ngày hôm đó, tôi vừa lễ Phật xong ở Seattle Lôi Tạng Tự nước Mỹ. Khi tôi bước xuống bậc thang, có một khách hành hương không quen biết chuyển cho tôi một lá thư và nói một câu:
"Đây là thư do một vị cao nhân viết cho Lư Sư Tôn."
Người ấy nói xong cũng vội vội vàng vàng lái xe đi mất.

Tôi trở về thư phòng. Mở thư ra, trong thư viết như sau:
Lư Sư Tôn, ngài là Hoa Quang Tự Tại Phật, hay gọi là Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử, hay gọi là Lư Sư Tôn, hay gọi là Liên Sinh Hoạt Phật... đều không quan trọng!
Nhưng, tôi xin được gọi Ngài là:
"Bậc chí đạo!"
Ngài luôn là gốc rễ tận cùng. Là sự hóa hiện của bảo tướng chung từ xưa tới nay.
Tất cả "thể".
Tất cả "tướng".
Tất cả "dụng".
Ngài là người có căn khí tối thượng, tôi cũng là người có căn khí tối thượng. Do vậy, chỉ giữa Phật với nhau mới biết.
Là điều không thể nói ra, không thể nói với con người ngu muội.
Con người ngu muội nhìn biểu hiện bên ngoài. Còn cái mà người có trí huệ vô thượng nhìn là nội tại, nội tại này chính là "đạo".
Ngài là vô sở đắc!
Tôi cũng là vô sở đắc!
Mặc dù con người trên toàn thế giới đều là vô sở đắc, nhưng chúng ta là người thật sự xác nhận được. Đã thấy được bản lai diện mục.
Không ai bằng được!
Bởi vậy, Ngài tự tại, Ngài tiêu dao.
Tôi cũng vậy.
Giáo chủ của Hoàng giáo Tây Tạng Ganden Tripa đại diện thứ 100 của Tsongkhapa đã đến thăm Ngài. Ông ấy đã thừa nhận Ngài rồi. Khi ấy, Ganden Tripa nói với tôi:
"Lư Sư Tôn này là một vị đạo sư tầm cỡ thế giới, có vô số hóa thân!"
Ganden Tripa nói:
"Lư Sư Tôn từ lâu đã thành đạo rồi."
Con người đến từ những tầng lớp khác nhau trên toàn thế giới đều đã từng đọc qua sách mà Lư Sư Tôn viết. Bởi vậy, Lư Sư Tôn đã trở thành người vượt thời gian, quá khứ, hiện tại, vị lai.
Tam tế nhất như.
Hoành biến thập phương.

Tôi biết, Ngài thường dạy bảo về tầm quan trọng của bồ đề tâm, Ngài dùng bồ đề tâm để xử thế.
Pháp giới thể tính trí.
Đại viên kính trí.
Bình đẳng tính trí.
Diệu quan sát trí.
Thành sở tác trí.
Ngài đã đạt tới sự ninh tịnh và an tường chân chính, chẳng khác gì niềm vui ở yến tiệc bàn đào nơi cung Diêu Trì.
Ngài là vị đại sư chí đạo, Ngài đã dùng hết mọi khả năng để cứu độ quần sinh.
Ngài đã dạy tôi:
Cái gì là chính đạo.
Cái gì là chệch đạo.
Cái gì là tam ác đạo.
Cái gì là tà môn.
Cái gì là ngoại đạo.
Và tôi còn biết, vị thượng sư vô thượng là Ngài đây đã thành tựu vô tu du già rồi, bởi vì Ngài là "biến tri".


### 26. Một lá thư thần bí (2)


Lư Sư Tôn!
Ngài thường nhắc đến câu danh ngôn của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát:
"Tiền tam tam.
Hậu tam tam."

Câu nói này rất ít người hiểu được. Nhưng, tôi hiểu.
Bây giờ tôi xin nói với Ngài:
Tôi nói Ngài là bậc chí đạo, nơi mà Ngài đứng chính là chí đạo.
Ngài đi bước đầu tiên.
Cũng là bước cuối cùng.

Cũng chính là:
Bước đầu tiên của Ngài cũng chính là bước cuối cùng.
Cũng chính là:
Chẳng có bắt đầu, cũng chẳng có kết thúc.
Cũng chính là:
Vô tiền vô hậu.
Cũng chính là:
Ngoài Ngài ra, thì cũng chẳng có thứ gì cả, tất cả đều không tồn tại nữa.
Câu nói này đã chứng minh "duy ngã độc tôn" mà Phật Đà nói, và Ngài cũng là "duy ngã độc tôn".

Từ xưa tới nay, có rất nhiều người tu hành có con đường riêng của họ.

Bởi vậy:
Chúa Jesus có con đường của Chúa.
Krishna có con đường của Krishna.
Milarepa có con đường của Milarepa.
Nhưng, Ngài không như thế.
Ngài căn bản là chẳng có con đường, bởi vì Ngài là "tiền tam tam, hậu tam tam".
Ngài hiểu "tiền tam tam, hậu tam tam".
Tôi cũng hiểu "tiền tam tam, hậu tam tam".
Trí huệ lớn nhất chính là sự thuần túy tuyệt đối.

Lư Sư Tôn!
Trong thần thoại thời thượng cổ Trung Quốc có một vị là Ông Hỗn Mang. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý đều chẳng có. Kết quả là được các đại thần mở ra các lỗ: mở ra mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.
Kết quả là Ông Hỗn Mang chết luôn rồi!
Truyện cổ này có ý nghĩa gì?

Tôi xin nói với Ngài:
Đây chính là phá hoại sự thuần túy tuyệt đối, phá hoại "tiền tam tam, hậu tam tam".
Người mù hỏi:
"Ánh sáng là cái gì?"
Người điếc hỏi:
"Âm nhạc là cái gì?"
Đây chính là câu hỏi vô nghĩa!

Lư Sư Tôn!
Có lẽ khi Ngài đọc xong lá thư này, Ngài sẽ muốn biết tôi rốt cục là ai? Hoặc là Ngài sẽ chú ý những người xung quanh, nhưng những người này đều là đệ tử của Ngài. Họ là những người tu hành theo Ngài học tập Mật pháp. Trên đời này Ngài có nhiều đệ tử như vậy.
Nhưng,
Vì sao Ngài không nói với họ về:
"Tiền tam tam, hậu tam tam."
Vì sao Ngài không nói với họ về:
Sự thuần túy tuyệt đối!

Ngài không cần tìm tôi, tôi đã ở trong tâm Ngài rồi, Ngài chính là tôi, tôi chính là Ngài.
Như một câu nói hay dùng trong Mật giáo là:
"Không hai không khác!"


### 27. Sau khi đọc lá thư thần bí (3)


Sau khi đọc xong "lá thư thần bí", tôi (Lư Sư Tôn) liền viết một bài về cảm xúc sau khi đọc thư. Điều mà vị cao nhân này muốn truyền đạt là:
"Không."
"Vô."
Thật ra, Phật Đà từ lâu đã nói đến: Khổ - Không - Vô thường - Vô ngã.
Ẩn dụ của vị cao tăng này là, chỉ có người đã trải nghiệm qua, phải có cái tâm có tính cảm thụ thì mới có thể tiếp nhận được. Nếu không thì, như những người khác chẳng có cách nào có thể suy đoán được.
"Khổ" là một dạng trải nghiệm.
"Không" là chân lý.
"Vô thường" là chân tướng.
"Vô ngã" là tổng kết.

Tôi nói:
"Sinh" là một sự khởi đầu, tử là một sự kết thúc. Đồng thời, sinh cũng là tử, tử cũng là sinh. Cuối cùng là "sinh tử là một".
Đã đến được "chí đạo" là: "Vô sinh cũng vô tử."
Tôi (Lư Sư Tôn) thật lòng thật sự nói với mọi người rằng:
Cái gọi là "nhân gian" thật ra là "chẳng có nhân gian", bởi vì chẳng có nhân gian, do vậy mới là nhân gian. Câu nói này trong kinh Kim Cang đã nhắc lại rất nhiều lần, chỉ là người bình thường đọc sẽ không hiểu.

Tôi lấy tôn giáo làm ví dụ để so sánh:
Thượng đế của Thiên Chúa giáo.
Thượng đế của Đông Chính giáo. [một phái của đạo Cơ Đốc]
Thượng đế của Hồi giáo.
Thượng đế của Cơ Đốc giáo.
Thượng đế của Do Thái giáo.
Đều là cùng một Thượng đế.
Nhưng, đối với những người theo tín ngưỡng mà nói thì các Thượng đế này lại khác nhau. Bởi vì những người theo tín ngưỡng đã áp dụng những hình thức khác nhau.
Chỉ có một Thượng đế.
Nhưng lại có rất nhiều cách giải thích.
Tuy nhiên, tất cả đều không hoàn mỹ.

Tôi nói để mọi người biết rằng:
Những điều hoàn mỹ hay không hoàn mỹ này đều không phải là vấn đề một khi bạn đo lường chúng bằng tính Không.
Không có cái gọi là hoàn mỹ.
Cũng không có cái gọi là không hoàn mỹ.
Tôi từng nhiều lần hỏi các tín chúng rằng, trên mặt trăng đến một con người cũng không có. Vậy thì:
Cái gì là thiện, ác?
Cái gì là mặn, chay?
Cái gì là Phật?
Cái gì là Ma?
Cái gì là nhân quả?
Cái gì là luân hồi?
Trong kiểu cảnh giới đó, nhân quả luân hồi đều không tồn tại, Phật pháp là cái gì? Công đức là cái gì?
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nói:
"Tiền tam tam.
Hậu tam tam."
Chính là nói đến điều này.
Tư tưởng của Lư Sư Tôn tôi chính là tôi hoán đổi bề ngoài của trái đất và bề ngoài của mặt trăng với nhau. Thế là:
Tôi tự tại.
Tôi tiêu dao.
Duy ngã độc tôn.


### 28. Tâm của chúng sinh


Tôi từng nói một câu:
"Một loại gạo nuôi trăm người."
Ý nghĩa của câu này rất đơn giản, gạo là cùng một loại gạo, nhưng người mà nó nuôi sống thì đều khác nhau.
Lòng người khác nhau, cũng như mỗi người đều có bộ mặt riêng.
Mỗi người chúng ta trên mặt chỉ có lông mày, mắt, mũi, miệng, tai, khuôn mặt, nhưng nghìn vạn tỉ người chẳng có ai giống hệt nhau cả.
Cho dù là song sinh thì sinh ra cũng có những chỗ khác biệt. Kiểu sắp xếp tổ hợp này khiến tôi cảm thấy thật không thể tin được!
Còn tâm của con người, bản thân tôi cũng cảm thấy thật không thể tin được!
Tôi chỉ nói:
"Thiên biến vạn hóa!"

Có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Ngài cho rằng tâm như thế nào mới là tâm bất hảo nhất?"
Tôi đáp:
"Ở nước ngoài thì có thể hỏi Alexander, Napoleon, Hitler. Ở Trung Quốc thì có thể hỏi Thành Cát Tư Hãn, Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế. Thời hiện đại thì có thể đi hỏi Trump..."
Hỏi:
"Họ có tâm gì?"
Tôi đáp:
"Ngạo mạn."
Hỏi:
"Cái xấu của ngạo mạn là gì?"
Tôi đáp:
"Một người ngạo mạn là người tự cao tự đại, về mặt học tập Phật pháp thì anh ta không nhìn ra ưu điểm của người khác, anh ta tự nhận là còn cao minh hơn cả Phật Thích Ca Mâu Ni, cao minh hơn cả Thượng đế, so với thầy giáo, thượng sư của mình thì lại càng cao minh hơn nữa."
Hỏi:
"Người ngạo mạn có thể học Phật không?"
Đáp:
"Khó!"
Hỏi:
"Vì sao?"
Đáp:
"Anh ta vĩ đại nhất rồi thì còn học theo ai?"

Tôi nhớ có một câu chuyện cười.
Có một hôm.
Thượng đế gọi ba vị Tổng thống của Mỹ đến trước mặt mình. Ba vị Tổng thống này là Clinton, Obama và Trump.
Thượng đế hỏi Clinton trước:
"Clinton, ông đã làm gì cho nước Mỹ?"
Clinton đáp:
"Tôi đã biến kinh tế Mỹ từ lỗ thành lãi."
Thượng đế nói:
"Rất tốt! Ông ngồi bên phải ta đây."
Thượng đế hỏi Obama:
"Obama, ông đã làm gì cho nước Mỹ?"
Obama đáp:
"Tôi đã thực thi bảo hiểm y tế Obama, khiến cho người Mỹ được khỏe mạnh."
Thượng đế nói:
"Rất tốt! Ông ngồi bên trái ta đây."
Thượng đế hỏi Trump:
"Trump! Ông đã làm gì cho nước Mỹ?"
Trump đáp:
"Thượng đế ạ! Tôi nghĩ là ông đã ngồi lên vị trí của tôi rồi, tôi mới là Thượng đế."

Bởi vậy, tôi (Lư Sư Tôn) nói rằng, người ngạo mạn sẽ chẳng tin vào Phật Thích Ca Mâu Ni, sẽ không tin vào thầy của mình, bởi vì anh ta ngạo mạn và đố kỵ, số mệnh đã định là sẽ thất bại!


### 29. Không tín nhiệm Thượng sư


Từ năm 26 tuổi, tôi bắt đầu học Phật.
Năm nay tôi 77 tuổi.
Tôi học Phật đã 51 năm rồi!
Tôi biết bản thân ngu dốt, nhưng chí ít tôi hiểu được "tinh tấn", do vậy tôi đã tích tập được chút ít phúc đức và một chút kinh nghiệm.
Tôi đã viết 283 cuốn sách.
Đã vẽ mấy nghìn bức tranh.
Tu pháp vô số lần.
Đọc kinh học kinh không biết số lượng bao nhiêu. (Bao gồm cả Kinh Koran, Kinh Thánh, Kinh Hoa Hồng.)
Tôi sáng lập phái Chân Phật Tông.
Những vị sư phụ Hiển giáo, Mật giáo, Đạo giáo… mà tôi đã bái làm thầy tổng cộng có hơn 20 vị.
Tôi đã thọ quán đảnh làm Acharya. (Thượng sư)
Tôi được pháp sư Quả Hiền cạo đầu.
Và rồi tôi cũng đã cạo đầu cho các đệ tử gần cả nghìn người.
Độ năm triệu đệ tử.
Tôi học tập tứ vô lượng tâm.
Do vậy,
Tôi có được xem là "thiện tri thức" không?

🌟

Mặc dù tôi có năm triệu đệ tử, nhưng vẫn có người không tín nhiệm Thượng sư (thiện tri thức) của mình.
Tôi muốn nói với những đệ tử này mấy câu:
Thiện nam tử! Thiện nữ nhân!
Bạn nên tưởng tượng bản thân là người bệnh, và xem Phật pháp là phương thuốc cứu chữa, xem Thượng sư Acharya là một vị lương y, cần tín nhiệm thầy thuốc thì bệnh của bạn mới khỏi được.
Bạn đừng trở thành một người có niềm tin nông cạn, coi Thượng sư như một người bình thường.
Không phục.
Không tin.
Coi thường.
Bởi như thế là đã vứt bỏ giới samaya rồi!
Các bạn không tu trì giáo pháp của Thượng sư.
Đối với Thượng sư chẳng có tâm cung kính.
Các bạn lợi dụng Phật pháp để tích lũy một số nghiệp xấu, sau này sẽ đọa vào tam ác đạo đó.
Tôi cảm thấy những người này:
Thật đáng thương!
Thật đáng tiếc!

Lẽ nào bạn không biết rằng Lư Sư Tôn đã đem tâm huyết cả cuộc đời để tinh tấn tu hành Phật pháp sao?
Từ:
Tư lương đạo.
Gia hành đạo.
Kiến đạo.
Tu đạo.
Cứu cánh đạo.
Tôi là một người thực sự đã đi qua.
Tôi là một người không bao giờ yêu cầu cúng dường bất kì thứ gì, và cũng không bao giờ yêu cầu bạn phải cúng dường bao nhiêu tiền.
Tôi không bao giờ mở mồm ra đòi tiền người khác.
Tôi không có bất kì yêu cầu nào.
Không cần danh dự.
Không cần uy tín.
Không cần địa vị.
Tôi chỉ có phát bồ đề tâm, nỗ lực đi cứu độ chúng sinh, đó là trách nhiệm của tôi trong cuộc đời này.
Tôi dùng phương tiện thiện xảo để đi độ hóa chúng sinh, và luôn giữ thái độ khiêm tốn.
Mọi người nên có tín tâm vĩnh viễn không thối chuyển để mà học tập!
Hãy ghi nhớ! Hãy ghi nhớ! Đừng đi lướt qua rồi thôi!


### 30. Phật pháp cần dung nhập vào cuộc sống thường ngày


Phật Đà nói:
"Ta chưa từng một khắc nào rời xa thiền định."
Tôi nói:
"Tôi chưa từng một khắc nào rời xa Phật pháp."
Ý nghĩa chính tôi muốn nói là: Phật pháp cần dung nhập vào cuộc sống thường ngày, chúng ta cần sử dụng Phật pháp, thực tiễn Phật pháp vào đời sống.

Tôi nói:
Ăn - cúng dường.
Mặc - bia giáp hộ thân. [làm kết giới cho thân thể]
Sống - thiền định.
Đi - trì chú.
Ngủ - pháp Miên quang. [ngủ trong ánh sáng]
Đây chính là đời sống trong Phật pháp, Phật pháp trong đời sống, hoàn toàn kết thành một khối.

Tôi thấy rất nhiều học giả Phật giáo, họ là những người hiểu Phật pháp, nhưng về cơ bản, thật sự là Phật pháp vẫn quy về Phật pháp, đời sống quy về đời sống.
Những người như vậy cũng không hề ít!
Hơn nữa, không có thực tiễn thì Phật pháp cũng chỉ là một món đồ bỏ đi.

Tôi cho rằng Bồ Tát lục độ đều có thể lần lượt ứng dụng được trong cuộc sống.
Tôi lập ra hội Công Đức Hoa Quang, hội Từ Thiện Lư Thắng Ngạn, chính là bố thí.
Tôi muốn các thánh đệ tử không phạm sát sinh, không phạm trộm cắp, không phạm tà dâm, không phạm vọng ngữ, không phạm nghiện rượu. Không phạm tham, không phạm sân, không phạm si, không phạm nghi, không phạm mạn, đây chính là giữ giới.

Chúng ta:
Tùy duyên.
Tùy hỷ.
Tùy thuận.
Đây chính là: Nhẫn nhục.
Học thức về sự nhẫn nhục rất rộng lớn, oan thân bình đẳng xả, không ghen tuông, không đố kỵ... Đó đều là nhẫn nhục.
Những thứ xảy đến với ta như đả kích, chèn ép, phỉ báng, bắt nạt, lăng mạ, ức hiếp... đều là một sự huấn luyện. Những thứ này xảy đến để giúp chúng ta thành tựu, đối phương gây ra chúng đều là ân nhân của ta.

Ngoài ra:
Tinh tấn là chìa khóa của thành công.
Thập phương tam thế nhất thiết Phật, nhất thiết Bồ Tát Ma Ha Tát, đều là nhờ có tinh tấn mà đạt thành tựu.

Có một bài kệ:
*Hãy chọn chỗ ngồi thấp nhất. (nhẫn nhục)
Triệt để tu giới thành trang nghiêm. (trì giới)
Vui thích làm mười thiện nghiệp. (bố thí)
Hoàn toàn chuyên chú làm mỗi ngày. (tinh tấn)
Lời ra tiếng vào không ảnh hưởng. (thiền định)
Độ mình độ người đến bến bờ. (trí huệ)*

Phật pháp coi trọng nhất là thành tựu Tam ma địa, có nghĩa là Tam ma địa là nhân tố quyết định trọng yếu.
Khi nhập Tam ma địa, có rất nhiều sự truyền thụ, sau khi tu thành tựu thì thân tâm thanh tịnh, thân khẩu ý thanh tịnh, như vậy thì thân tâm đã đạt được giải thoát rồi.
Bất kể là Hiển hay Mật, đều coi trọng "nhất tâm bất loạn".
Và, nhất tâm bất loạn thì cần dựa vào trí huệ.
Trí huệ dựa vào thiền định mà sinh ra.
Trí huệ sinh thiền định, thiền định sinh trí huệ. Hai điều này không tách rời.
Tôi nói: "Đời sống tức là tu hành!"


### 31. Tam quang bao trùm trong tu pháp


Lư Sư Tôn nói:
Trong khi chúng ta đồng tu. Người chủ trì sẽ nói lớn: "Tam quang bao trùm".
Trán của Bổn tôn phóng ra ánh sáng trắng chữ Om đến trán của hành giả.
Họng của Bổn tôn phóng ra ánh sáng đỏ chữ Ah đến họng của hành giả.
Tim của Bổn tôn phóng ra ánh sáng lam chữ Hum đến tim của hành giả.

Tuy vậy, tôi luôn cảm thấy tam quang bao trùm có ý nghĩa rất lớn, không thể xem thường, không thể coi nhẹ. Không thể làm qua loa quýt luýt là xong!
Ý nghĩa của nó như sau:

Thứ nhất - chữ Om màu trắng.
Giữa hai lông mày của Bổn tôn xuất hiện chữ Om, như trăng sáng, như thủy tinh, màu trắng, khi xuất hiện thì lấp lánh ánh sáng. Ánh sáng này xuyên vào giữa vùng hai lông mày của hành giả. Điều này có ý nghĩa rất lớn, cũng chính là tịnh hóa ba loại thân tam ác của thân bạn.
Sát sinh.
Trộm cắp.
Tà dâm.
Thân thể của ta là do mạch tạo thành, việc này cũng là để tịnh hóa sự tắc nghẽn của mạch.

Thứ hai - chữ Ah màu đỏ.
Vị trí họng của Bổn tôn xuất hiện chữ Ah tỏa ánh hào quang giống như hồng ngọc, chiếu xuyên vào vùng họng của hành giả.
Ý nghĩa của điều này là:
Tịnh hóa bốn loại ác hành về khẩu của hành giả:
Vọng ngữ.
Hai lưỡi.
Ác khẩu.
Ỷ ngữ.
Bởi vì khẩu là tác dụng của khí, do vậy tịnh hóa được sự tắc nghẽn của khí.

Thứ ba - chữ Hum màu xanh lam.
Vùng tim của Bổn tôn xuất hiện chữ Hum màu lam, tỏa hào quang như ngọc bích. Ánh sáng phóng xuyên vào vùng tim của hành giả.
Ý nghĩa của điều này là:
Tịnh hóa ba loại ác hành về ý của hành giả.
Tham.
Sân.
Si.
Bởi vì ý là do minh điểm phát triển mà thành. Do vậy cũng tịnh hóa được sự tắc nghẽn của minh điểm.

Còn nữa:
Thân là ứng thân.
Khẩu là báo thân.
Ý là pháp thân.
Như vậy thì có thể hiển hiện được tam thân rồi!
Đây cũng chính là:
Kim cang thân.
Kim cang ngữ.
Kim cang ý.

Khi làm tam quang bao trùm, hành giả cần niệm thầm: “Thỉnh kim cang thân gia trì cho tôi, kim cang ngữ gia trì cho tôi, kim cang ý gia trì cho tôi.” Làm như vậy thì càng có ý nghĩa hơn.
Phương pháp này cũng là pháp sám hối. Chỉ ra rất rõ ràng, sám hối giết, trộm, dâm, vọng, rượu, tham, sân, si, nghi, mạn.
Do vậy, chướng ngại, sám hối, gia trì, đều đã dùng tới.
Một nghi thức tam quang bao trùm rất nhỏ nhưng lại có thành tựu lớn.

Thâm nhập vào trong Mật pháp càng dễ dàng ngộ ra một đạo lý lớn. Bạn nói xem có đúng hay không?


### 32. Ngoại không và Nội không


Có rất nhiều người kể với tôi:
"Khi tu pháp, tạp niệm không dứt, phải làm sao mới được?"
Và:
"Tạp niệm khiến tôi nhập định khó khăn trùng trùng, rất tệ hại."
Và:
"Càng không nghĩ thì tạp niệm càng tuôn ra."
Và:
"Cắt không đứt, chỉ loạn thêm."

Trong khúc tình ca của Dalai Lama thứ sáu có viết:
*"Quán tưởng mặt của Thượng sư,
Thượng sư lại chẳng xuất hiện.
Chẳng ngờ lại thấy hiện lên
Khuôn mặt của người ta thương."*

Mọi người đều hỏi tôi:
"Phải làm sao?"
Tôi đáp:
"Trứng xào rau trộn!"
Người hỏi:
"Lư Sư Tôn nói gì cơ?"
Tôi đáp:
"Đây là chuyện bình thường!"
Tôi muốn nói:
"Có tạp niệm là chuyện bình thường, ngay cả tôi (Lư Sư Tôn) cũng như vậy."

🌟

Đương nhiên tôi biết:
Những suy nghĩ của con người chúng ta đều là do những ảnh hưởng của ngoại cảnh sở duyên bên ngoài là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Tập tính này là gốc rễ của huyễn tướng luân hồi. Tất cả đau khổ đều do điều này mà sinh ra.

Tổ sư trước đây từng nói:
Thiêu thân lao vào lửa, là do mắt bị ánh lửa thu hút.
Hươu đực bị giết, là do tai bị âm thanh của hươu cái thu hút.
Ong mật bị côn trùng ăn thịt, là do mũi bị cám dỗ của mùi thơm.
Cá bị câu lên bờ, là do lưỡi thích mồi ngon.
Voi chết trong đầm lầy, là do thân thích tiếp xúc với bùn.
Con người không có cách nào nhập định được, là do ý đặt ở chỗ khác.

🌟

Chúng ta muốn nhập định, phương pháp duy nhất là Ngoại không.
Ngoại không thành một số 0 thì Nội không mới có thể thành số 0 được.
Kinh Kim Cang nói:
Tâm quá khứ không thể đắc.
Tâm hiện tại không thể đắc.
Tâm vị lai không thể đắc.
Hãy ngẫm nghĩ về tâm vô sở đắc, như vậy có thể đạt được Ngoại không.

Cái gì là quá khứ đều đã qua rồi!
Cái của hiện tại cũng sẽ trở thành quá khứ!
Cái của tương lai thì vẫn còn chưa đến!

Tôi thường nghĩ, bản thân tôi tuổi tác đã cao, cái thứ gì là của ta đây?
Cái mà ta đối mặt với tương lai là:
Người không.
Pháp không.
Ngoại không.
Thân của chính mình không tồn tại thì còn có những chuyện vụn vặt khác sao? Bao chuyện rối ren hỗn loạn của thế gian chẳng hề can hệ đến ta, vô sở đắc, vô sở hữu, vô sở vị, như vậy mới có thể buông bỏ tất cả!

Tư duy của tôi thường xuyên nói với tôi rằng:
Không.
Không.
Không.
(Có thứ nào không phải là không.)
Bởi vậy, tôi ở trong thiền định, vô sự và vô tâm, da chẳng còn thì lông làm sao bám vào được?
Chúng ta cần học tập không bám chấp vào tất cả mọi thứ, thì tất cả mọi phiền não điều thành không rồi!


### 33. Người khó độ


Có người hỏi tôi:
"Ngài độ chúng sinh, có người khó độ không?"
Tôi đáp:
"Thật sự là có người khó độ!"
Người hỏi:
"Loại người nào khó độ? Có thể nói rõ không?"
Tôi xin kể như sau:
Rất nhiều người, mỗi ngày đều bận tối tăm mặt mũi, làm mọi ngành nghề, cứ thế lao đi, ngày này qua tháng khác, năm này qua năm khác.
Bận tới mức không còn thấy chút niềm vui nào nữa.
Bao nhiêu người như vậy, bận từ sáng tới tối, căn bản là họ chẳng có thời gian mà thấy, nghe, cảm nhận, nhận biết.
Tôi nói:
"Đến nghe Phật pháp!"
Đáp:
"Không có thời gian!"
Tôi chỉ cười khổ. Ha ha!
(Loại người này, có thể dạy họ Phật pháp đời sống.)

Còn nữa:
Tôi gặp phải những người cực kì hung ác.
Tôi nói:
"Mọi điều ác đừng làm, hãy làm mọi điều thiện."
Họ nói:
"Tôi thích những thứ tàn ác. Đánh, giết, cướp, gian. Đó mới là niềm vui."
Tôi hỏi:
"Có thể thay đổi không?"
Họ đáp:
"Bản tính khó dời, tôi chính là như thế đó."
Tôi thở dài một hơi, ôi chao! Lưu manh bẩm sinh.

Còn nữa:
Tôi nói với một người:
"Anh cần học Phật đi!"
Anh ta đáp:
"Học Phật thành Phật có gì hay? Tôi đây không dám!"
Tôi nói:
"Anh có thể lên trời!"
Anh ta đáp:
"Lên trời có gì hay? Tôi chỉ muốn ở nhân gian, chỉ ước làm uyên ương chẳng ước thành Tiên."
Tôi chẳng còn gì để nói.

Còn nữa:
"Đối với Phật pháp, căn bản là tôi chẳng có lòng tin, những Thượng sư đó cũng đều là kiếm miếng ăn cả, đó chỉ là một nghề, tôi căn bản chẳng tin."
"Chẳng tin có địa ngục!"
"Chẳng tin có ngạ quỷ!"
"Chẳng tin con người sẽ biến thành súc sinh!"
"Toàn là nói láo!"
"Muốn tôi tin, Phật hiện thân lên đây cho tôi xem! Chí ít thì cũng cần phải trông thấy ma!"
Tôi chỉ biết lắc đầu.

Còn nữa:
"Tôi có từng nghe Phật pháp rồi, cũng có tu pháp, có điều tu một khoảng thời gian cũng chẳng có cái gì cả. Chà! Thế thì thôi đi! Lãng phí thời gian vào việc này, chẳng có tí ý nghĩa nào."
"Tôi muốn làm pháp sư, làm Thượng sư, biến Phật pháp trở thành công cụ kiếm tiền. Học Phật thành Phật khó quá, khổ sở quá, chi bằng làm pháp sư, Thượng sư, kiếm tiền có vẻ dễ hơn."
Trong lòng tôi cảm thấy buồn vô cùng.

Còn nữa:
Học phong thủy.
Học xem bói.
Học tử vi.
Những cái khác, dẹp hết đi! Phật pháp bánh oản gì chứ, cũng chẳng làm thành thức ăn được. Hiện thực mới quan trọng!


### 34. Ôi! Vô thường


Tôi thường nhắc đến một ví dụ về vô thường.
Có một hôm.
Một nữ giáo viên Anh văn đang đứng bên dưới tòa nhà Liên Hợp Báo Đài Loan, nói chuyện với một phụ huynh học sinh.
Bỗng nhiên, có một viên gạch men từ tòa nhà rơi xuống.
Trọng lực gia tăng tốc độ, thế nào lại rơi trúng đầu cô giáo Anh văn.
Một tiếng "bộp"!
Cô giáo Anh văn ngã lăn ra đất, tắt thở, chết luôn!
Cơ bản là cô ấy còn chẳng kịp nghĩ gì.
Một giây trước!
Một giây sau!
Không ngờ đã trời - người vĩnh viễn xa cách!
(Vì sao tôi thường nhắc đến ví dụ này, bởi vì gia đình của cô giáo Anh văn này đều là đệ tử Chân Phật Tông, duy chỉ có cô ấy không quy y.)
Ôi chao! Vô thường!

🌟

Tôi biết:
Tôi có một đệ tử sắp kết hôn. Vào ngày đại hỷ đó, bầu không khí tràn ngập niềm vui. Bố của chú rể vui mừng lái xe máy đi lên phố mua một ít đồ.
Một tiếng "binh"!
Tai nạn xe rồi.
Bố của chú rể chết lập tức!
Ngày hôm đó!
Chú rể cưới cô dâu.
Ngày hôm đó!
Ông bố chết rồi!
Tôi không biết, hỷ sự và tang sự này phải làm sao đây?
Khi tôi nghe được tin tức này, tôi chỉ cảm thấy buồn!

🌟

Tổng thống Trần Thủy Biển.
Ngày xưa là một người có quyền lực rất cao, làm tới chức Tổng thống. Sau cùng lại thành tù nhân. Hiện nay được bảo lãnh ra ngoài để chữa bệnh.
Tôi có nghĩ thế nào cũng chẳng thể nghĩ được, từ cao nhất rơi xuống thấp nhất, làm sao để thích ứng đây? Ở Hàn Quốc thấy rất nhiều ví dụ như vậy.
Tổng thống bị bắn chết.
Tổng thống tự sát.
Tổng thống bị bỏ tù.
...
Đây chính là sự vô thường của những kẻ toàn quyền.

Tôi thích nhất bài kệ của Long Thụ Bồ Tát:
*"Đời người lao đao tán loạn trong muôn vàn đau khổ,
Còn mong manh hơn cả những bọt nước trên sông.
Ngủ mê man, thở ra một hơi lại hít vào một hơi,
Có thể sống mà tỉnh dậy thật diệu kỳ làm sao!"*

🌟

Trước kia tôi thường xem phong thủy cho người ta, lên núi xuống núi, tôi đã đi hết tất cả các mộ địa khắp các tỉnh thành Đài Loan. Cũng có những khi nửa đêm kiếm được cả mớ tiền.

*Mắt thấy người ta chết,
Trong lòng nóng như lửa,
Chẳng phải lo người khác,
Lo sắp tới lượt mình.*

Tôi nói:
Chân thành tư duy, tu quán Vô thường, bắt đầu từ giờ khắc này, đừng lười biếng lơi lỏng, đừng trốn tránh, đừng coi thường, cần nắm chắc ánh sáng quang minh của Phật, khi giờ khắc của cái chết đến, bạn nhất định cần biết chắc được rằng mình có thể vãng sinh.
Điều này là quan trọng nhất!


### 35. Hồi hướng công đức


Tôi có một đệ tử người Tây (người da trắng), anh ta lâu lâu lại cúng dường tôi một lần. Cúng dường của anh ta là một tờ séc đô la Mỹ. Trên đó viết: 50.000 đô la Mỹ.
Anh quỳ xuống đảnh lễ tôi, dâng lên cúng dường 50.000 đô la Mỹ.
Khi đem séc đổi tiền trong ngân hàng, điều không may mắn là, tài khoản [để bảo lãnh séc] của đệ tử người Tây này lại trống rỗng.
Tờ séc 50.000 đô la Mỹ này bị trả lại.

Chuyện này lặp lại nhiều lần.
Tôi thì phải nộp phí thủ tục mất 20 đô la Mỹ.

Nói cách khác là:
"Cúng dường của anh ta, tôi chẳng những không lĩnh được, mà còn bị thâm hụt mất 20 đô la Mỹ."
Sự việc này không chỉ một lần. Liên tiếp bốn, năm lần rồi. Thế nên, hễ anh ta cúng dường tờ séc là tôi đều sợ.
Tôi xua xua tay với anh ta, nói:
"*No*!" [Không cần.]

Sau đó không lâu, buổi đêm tôi nằm mơ, có một vị thần Kim Cang nói với tôi:
"Lư Sư Tôn! Ngài quên hồi hướng công đức cho anh ta rồi."
Tôi nói:
"Nói gì hài hước vậy! Mỗi lần anh ta cúng dường, tôi đều phải bù lỗ 20 đô la. Tôi vẫn phải hồi hướng công đức cho anh ta sao?"
Thần Kim Cang nói:
"Đúng vậy. Ngài nên hồi hướng công đức, anh ta cúng dường Ngài 50.000 đô la Mỹ, là thật sự phát tâm, chỉ cần là thật sự phát tâm thì Ngài hãy hồi hướng công đức cho anh ta."
Trong lòng tôi nghĩ:
"Lần này tôi nhận thua rồi!"

Hành giả phát bồ đề tâm và từ bi tâm là tôi đây nên hồi hướng công đức cho đệ tử phát tâm.
Tôi sẽ đem công đức tu pháp ngày hôm nay hồi hướng cho đệ tử người Tây.
Cầu nguyện cho anh ta: "Thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, gặp dữ hóa lành, đạo tâm kiên cố, tư lương đủ đầy."

Sự việc này khiến tôi nghĩ đến một bài kệ:
*"Thí chủ một hạt gạo
Nặng như núi Tu Di
Nếu như chẳng tu hành
Khoác lông đội sừng trả."*

Còn nữa:
Thượng sư Lưu Văn Khanh ở Đài Loan. Khi còn sống, ông ấy cúng dường tôi một chiếc xe Rolls-Royce và một chiếc xe Lexus. Khi ông ấy vãng sinh, tôi đã hồi hướng:
"Thượng sư Lưu, chứng thần túc thông, vãng sinh Phật quốc tịnh thổ." 
Bà xã của ông ấy đã đến Cát Tường Thiên. Còn Thượng sư Lưu thì vãng sinh tịnh thổ rồi.

Còn nữa: Sư tỉ Hanifa.
Xe ô tô mà cô ấy cúng dường tôi có một chiếc Bentley, một chiếc Rolls-Royce, một chiếc Maserati.
Cô nói:
"Hễ Sư Tôn muốn xe gì thì con sẽ đều cúng dường hết."

Tôi tu pháp hồi hướng:
Nguyện đem công đức cúng dường này,
Xin hồi hướng đến công đức thiên.
Sinh thời cơm áo đầy đủ còn dư thừa,
Vĩnh viễn có duyên bầu bạn cùng thiện tri thức,
Chứng đắc quả vị vô lậu.


### 36. Thời khắc then chốt (Thiên thức pháp)


Lư Sư Tôn tôi là một hành giả hiểu rõ pháp Thiên thức. [chuyển dời thần thức]
Không chỉ hiểu rõ, mà tôi còn là một hành giả đêm nào cũng tu tập thực tiễn.
Không chỉ như vậy, tôi còn giúp người ta tu pháp Thiên thức.

Pháp Thiên thức phân làm 5 cấp:
Cấp 1:
Lúc lâm chung, "lập đoạn" tất cả. [lập tức cắt đứt]
Tiếp đó, "đốn siêu" bản tịnh. [đốn ngộ chứng bản tâm lập tức]
Trong một sát-na, đưa ý thức dung nhập vào pháp nhĩ bản nhiên. [Để hiểu rõ về ý nghĩa của pháp nhĩ bản nhiên, tham khảo chương 38, văn tập 216 “Đương đại Pháp Vương trả lời khách hỏi”.]
Chứng pháp thân.
(Đây là hành giả cấp 1, chứng đắc được đại trí huệ.)

Cấp 2:
Nhờ tu trì "thứ tự sinh khởi" và "thứ tự viên mãn" mà đạt được sự tương ứng.
Bổn tôn trụ đỉnh đầu, đưa ý thức của bản thân xuyên qua tâm của Bổn tôn, hai vị không hai không khác, chứng đắc báo thân.

Cấp 3:
Biết không thể tiến nhập vào thai mẹ bất tịnh, biết quay đầu.
Tất cả mọi sự đầu thai không tốt đều phải quay trở về.
Nhất tâm quán tu tịnh thổ.
Chứng đắc hóa thân.

Cấp 4:
Tu khí tu mạch tu minh điểm.
Mạch chính là đạo lộ.
Minh điểm chính là ý thức.
Khí chính là cánh quạt đẩy.
Từ đó đẩy minh điểm đến tịnh thổ.

Cấp 5:
Đại thiện tri thức sẽ làm pháp Thiên thức cho người lâm chung.
Mở thiên môn.
Đóng địa hộ.
Bịt nhân đạo.
Chặn quỷ lộ.
Đây cũng chính là việc mà Lư Sư Tôn giúp người lâm chung mở ra thiên khiếu [lỗ đỉnh đầu], đóng lại chín lỗ khác, chỉ dẫn cho ý thức cần đi ra từ thiên khiếu.
Chín lỗ khác là: thai sinh, thấp sinh, noãn sinh, hóa sinh, người, atula, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.
Nếu như linh hồn thoát ra từ lỗ đỉnh đầu thì có thể nhờ đại thiện tri thức chỉ dẫn cho họ đến tịnh thổ, hoặc đến chư Thiên.

🌟

5 dạng Thiên thức pháp này, duy có những vị tu hành vĩ đại mới làm được, người khác chưa tu hành, hoặc chỉ tu một nửa thì không làm được.

Có một bài kệ nói như thế này:
*"Ta còn chưa đến bờ giải thoát
Đã muốn làm thầy dẫn người ta
Bản thân còn đang bị nước cuốn,
Còn muốn đưa tay vớt người trôi."*
(Điều này có thể khiến người ta cười rơi cả hàm răng mất.)

Tôi thấy có ba thời điểm, là ba thời khắc then chốt:

1. Thời khắc hấp hối.
2. Thời khắc trung ấm.
3. Thời khắc đầu thai.

Vào thời khắc hấp hối, mở thiên khiếu, đóng kín lại chín lỗ khác là việc làm rất quan trọng.
Vào thời khắc trung ấm, hướng dẫn người ta về phương hướng tịnh độ và nhớ đến Bổn tôn, là điều cốt yếu.
Vào thời khắc đầu thai, khuyên người ta quay đầu, đừng đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Chuyển hướng đến tam thiện đạo, hoặc quả vị tịnh thổ cao hơn, là điều cần thiết.


### 37. Hỏi đáp về Thiên thức pháp


Hỏi:
Có một bài kệ:
*"Hành giả bất kì tu Thiên thức
Tập trung chín lỗ, huyệt đỉnh đầu
Có thể miễn nhiễm khỏi ác hạnh
Sẽ được đầu thai tịnh độ Phật."*
Xin hỏi Lư Sư Tôn, huyệt đỉnh đầu nằm ở đâu? Chín lỗ là gì?

Đáp:
Huyệt đỉnh đầu chính là lỗ thủng trên đỉnh đầu, từ mép tóc mà đo lên thì ở chỗ khoảng tám đốt ngón tay. Đây cũng chính là chỗ làm pháp khai đỉnh (pháp Phowa). Còn chín lỗ là: hai con mắt, hai lỗ mũi, hai lỗ tai, miệng, cộng thêm đường tiểu tiện, đại tiện. Cộng vào sẽ là chín lỗ."

Hỏi:
Trên huyệt đỉnh đầu đó, nên quán tu vị nào?
Đáp:
Trên huyệt đỉnh đầu, có thể quán tưởng Căn bản thượng sư, Kim Cang Tát Đỏa, hoặc Bổn tôn ngồi trên đó.
Ngồi trên tòa sen của vầng nhật nguyệt, cuống hoa sen xuyên vào trung mạch của hành giả. Khi hành giả lâm chung, nhờ vào khí mà đưa mệnh khí ở bên trong tâm luân đi vào trung mạch, lên tới lỗ đỉnh đầu, tiến nhập vào tâm của Căn bản Thượng sư, Kim Cang Tát Đỏa, hoặc Bổn tôn, như vậy cũng có thể đạt được giải thoát.

Hỏi:
Chúng sinh có nghiệp chướng nặng, có thể nhờ vào pháp này mà đạt được giải thoát không?
Đáp:
Phật A Đạt Nhĩ Mã (Kim Cang Tổng Trì) có một bài kệ rằng:
*"Dù người giết hại Bà La Môn
Hoặc phạm hiện báo ngũ vô gián
Nếu đã một khi gặp pháp này,
Chắc chắn sẽ có được giải thoát."*

Tôi nói:
Điều này có thể xảy ra, nhưng tôi luôn cảm thấy: đối với giới luật, chúng ta nhất định cần phải giữ, dù có "mang nghiệp vãng sinh" như người ta vẫn nói, nhưng không có nghiệp thì chẳng tốt hơn sao.

Hỏi:
Đóng lại chín lỗ, mở ra lỗ đỉnh đầu, thật sự là có thể di chuyển thần thức đến Phật quốc được sao?
Đáp:
Xin mời bạn đọc bài kệ của tôn giả Naropa nhé!
Bài kệ của tôn giả Naropa như sau:
*"Chín lỗ đều hướng tới luân hồi,
Một lỗ mở hướng đại thủ ấn,
Chín lỗ đóng lại, lỗ này mở,
Dẫn đến giải thoát chẳng nghi ngờ."*

Ngoài ra, tôn giả Marpa cũng nói một bài kệ như sau:
*"Ta tu Thiên thức pháp tới nay,
Luyện tập, luyện tập, lại luyện tập,
Chẳng sợ khả năng chết bình phàm,
Hiểu rõ pháp này đầy lòng tin."*

Lư Sư Tôn tôi nói:
Tôn giả Naropa, tôn giả Marpa đều là những đại thành tựu giả, cũng đều là lão tổ sư của pháp Đại Thủ Ấn của Bạch giáo.
Cá nhân tôi cũng tu trì Thiên thức pháp, tương đối có tâm đắc, và cũng có lòng tin vào lúc lâm chung dựa vào sự chuyển dịch thần thức này mà thấy được đại bạch quang minh, đưa ý thức của bản thân dung nhập vào trong đại bạch quang minh (ánh sáng bản tịnh), hơn nữa còn trụ được trong tịnh quang mà đạt được giải thoát.

Hỏi:
Thực tu Thiên thức pháp như thế nào?
Đáp:
Bình thường cần có hiểu biết về Thiên thức pháp, trước tiên phải mở được lỗ trên đỉnh đầu (pháp Khai đỉnh - Phowa). Khi mở được lỗ này rồi, một tháng tu một lần là được, để giữ cho lỗ đỉnh đầu này mở. 
Chúng ta cần đợi tới khi: ngũ căn phân rã, tứ đại phân rã, lúc đó thực tiễn tu trì. 
Còn thì thực tu ra sao? Có thể đến chỗ của Lư Sư Tôn, phải truyền dạy qua miệng nói tai nghe mới được.


### 38. Quan sát chính mình


Tôi từng viết một câu rằng:
"Tất cả đều là sự sắp xếp hoàn hảo."
Và cũng lại viết một câu rằng:
"Tất cả mọi lúc đều cát tường."
Hai câu nói này chẳng có ý nghĩa gì khác ngoài việc khích lệ bản thân, bất kể là thuận cảnh hay nghịch cảnh đều cần giữ tâm bình đẳng.
Bởi vì:
Phúc họa là anh em.
Thuận nghịch là anh em.

Có một người đến chùa rút quẻ.
Quẻ thứ nhất nói:
"Đại hung!"
Anh ta bỏ lại quẻ đó, rồi xóc lại.
Quẻ thứ hai nói:
"Đại cát!"
Anh ta thở dài một hơi:
"Thì ra vận mệnh nằm trong lòng bàn tay mình."
Anh ta đã tỉnh ngộ rồi, bất kể là đại cát, bất kể là đại hung, thì hãy cứ tu tập chăm chỉ!

Trong sự quan sát chính mình, tôi cũng hiểu ra được một sự tâm đắc, nên đặc biệt viết ra đây: thuận cảnh hiển hiện, nghịch cảnh hiển hiện, bất kể là thuận nghịch, đều là trải nghiệm, đều có ích với ta.
Mắt thấy người ta chịu cảnh vô thường, cần luôn nghĩ, ta thật sự đã quá đủ may mắn rồi.
Còn khi bản thân gặp phải vô thường, cảm thấy đây là nghiệp báo của chính mình, hãy yên tâm thoải mái.
Nghĩ mà xem, con cháu đời sau thông minh hay ngu đần, cần biết rằng thông minh có cái tốt của thông minh, ngu đần cũng có cái tốt của ngu đần.

Quan sát chính mình:
Bạn có đang sống một cách tự nhiên không?
Bạn có đang sống một cách giả tạo không?
Cười lớn ha ha!
Hóa ra đều là do tâm tạo ra cả!

Tôi luôn luôn nghĩ:
Nhà tôi ở quê cũ Cao Hùng chẳng còn nữa rồi, đã bị san bằng. Tất cả cảnh vật đều đều đã thay đổi hết rồi! Ngay từ đầu đã là huyễn.
Nhà tôi ở quê cũ Đài Trung cũng chẳng còn nữa rồi, đã xây dựng lại rồi. Không còn trông thấy nữa. Ôi! Ôi! Ôi! Ngay từ đầu đã biết là mơ.
Người ở nhà cũ quê cũ, người chết đã chết, người ly tán đã ly tán. Ngay từ đầu đã là trò chơi.
Điều này đã dẫn dắt cá nhân tôi đến với tu hành, ngoài tu hành ra, cái gì là của ta đây?

Tôi quan sát bản thân:
Ta cất giấu thất trân bát bảo, ví dụ:
Kim cương bao nhiêu carat?
Hồng ngọc bao nhiêu carat?
Bao nhiêu cây vàng?
Bao nhiêu đồng hồ hiệu?
...

Món nào có thể đeo trên người mà mang đi được?
Tôi chợt nhận ra, thì ra cái gì của trời lại quy về trời, cái gì của đất lại quy về đất, rốt cục vẫn chẳng phải thứ mà bản thân ta có.
Thế là tâm trở nên thản nhiên.

Tôi quan sát:
Người giàu có nhất thiên hạ, tất cả mọi thứ trong cuộc đời, với ta giống như miếng cơm giường ngủ, hoàn toàn như nhau.
Còn tôi vẫn có tu hành, người giàu nhất trong thiên hạ thật đáng thương, hoàn toàn là một người đáng thương!
Thế rồi bạn hãy quan sát các hiện tượng.
Hiểu được tất cả pháp tính.
Tất cả bám chấp,
Triệt để trừ bỏ hết sạch!


### 39. Vẫn là tránh xa mười điều ác


Chúng ta, bất kể là có học Phật hay không, kì thực đều cần phải tránh xa mười điều ác. Tôi thường nói, trong cõi vô hình đã có định số, định số này cũng chính là nhân quả báo ứng.

Câu nói nổi tiếng của Tiến sĩ Hồ Thích:
"Muốn gặt hái điều gì, cần trồng điều đó trước!"

Tục ngữ nói:
"Trồng đậu được đậu, trồng dưa được dưa."
Có câu nói vô cùng đúng đắn và thực tế:
Muốn biết đời quá khứ,
Thì nhìn vào hiện tại.
Muốn biết đời tương lai,
Hãy xem việc đang làm.

Lư Sư Tôn tôi thường xuyên nói:
Tâm tham — làm ngạ quỷ.
Sân hận — vào địa ngục.
Vô minh — làm súc sinh.

Trong lúc tôi giúp người ta hỏi chuyện (giải quyết những căn bệnh khó chữa), tôi đã thấy đủ mọi đau khổ của nhân gian. Nỗi buồn trong lòng tôi không gì so sánh được, tôi vẫn luôn không ngớt thở dài!

Ác hành có đại lực và tiểu lực:
Người đại ác — đọa địa ngục.
Người ác vừa — đọa ngạ quỷ.
Người ác ít — đọa súc sinh.

Những điều này nói ra thì rất dài, nhưng sự rắc rối và phức tạp của nó không phải là điều người bình thường chúng ta có thể nhìn thấu được. Thậm chí có một loại quả báo là quả báo giống hệt nhau.
Có nghĩa là:
Vì hành vi giống nhau.
Nên quả báo tương tự sinh ra.

Tôi lấy một ví dụ để nói cho rõ:
Đây là vấn đề về tập tính của mỗi người.
Có người đặc biệt thích sát sinh.
Có người đặc biệt thích trộm cắp.
Có người đặc biệt thích tà dâm.
Có người đặc biệt thích nói khoác.
Có người đặc biệt thích uống rượu.
Đây là những tập tính bẩm sinh, là những thói quen sinh ra đã có rồi, đó là vì sao?
Bởi vì đó là những quả báo tương tự.
Cũng có nghĩa là, những hành vi đã làm trong đời quá khứ đã tạo thành đời hiện tại, quả báo tương tự. Tham, sân, si, nghi, mạn, cũng chính là quả báo tương tự bẩm sinh.

Tôi từng gặp một người, tôi rất khâm phục người đó, anh ta chưa bao giờ phạm vào mười điều ác. Rõ ràng anh ta có thể nhận tiền hoa hồng, sẽ phát tài, nhưng anh ta một xu cũng không lấy. Rõ ràng có phụ nữ tìm đến tận cửa, anh ta vẫn thanh tịnh tự chủ, không phạm tà dâm, thật sự là một quân tử (Liễu Hạ Huệ). [Liễu Hạ Huệ: tên một chính nhân quân tử đời Xuân Thu, người nước Lỗ, nổi tiếng giữ được đức hạnh về sắc dục.]
Anh ta không vọng ngữ.
Lại càng không sát sinh.
Không trộm cắp.
Chỉ có thỉnh thoảng uống một chút rượu mà thôi.
Tôi cười anh là "loài động vật" hiếm có, trên nhân thế gian này, đúng là thật hiếm gặp.

Tôi suy ra anh ta:
Kiếp trước đích thị là một vị Thần.
Tương lai cũng là một vị Thần chân chính.

Người tu hành chúng ta, đối với mười điều ác cần nên tránh, nếu phạm vào thì nên sám hối. Nếu không sám hối, chúng ta sẽ mãi là người nhận quả báo, ở trong luân hồi, không thoát ra được.
Tu hành là phải:
Mọi sự tích lũy đều là nghiệp.
Bất luận nặng nhẹ đều sám hối.


### 40. So sánh trong kinh Hoa Nghiêm


Có người nói:
"Lư Sư Tôn là một người giống như tôi và anh, chúng ta hà tất phải tôn kính ông ta?"
Còn nói:
"Chúng ta hà tất phải cúng dường ông ta? Có tiền lẽ nào không tiêu cho bản thân?"
Lại nói:
"Xem ra ông ta cũng rất bình bình, tầm thường, không có gì đặc biệt."
Rồi nói tiếp:
"Người thế tục sinh sống cũng như thế, ông ta sinh sống cũng như thế, hoàn toàn chẳng chỗ nào khác lạ cả."
"Vóc dáng thì thấp lùn."
"Diện mạo cũng bình thường."
Tôi nghe xong, không nói gì.
Tuy nhiên, tôi biết:
"Nếu như người này, khi thân ở trong trạng thái trung ấm (linh hồn), tôi sẽ không hiện thân để tiếp dẫn anh ta."
Không phải là vì tôi không từ bi.
Mà là vì giữa chúng tôi đã mất duyên phận rồi, không còn tùy duyên hay duyên phận nữa.

Tôi thật lòng thật sự nói để mọi người biết rằng:
Trong kinh Hoa Nghiêm có rất nhiều so sánh:
Người có bệnh cần phải dựa vào cái gì?
Đáp án là bác sĩ.
Bác sĩ hiểu cách chữa bệnh, chỉ có bác sĩ mới có thể cứu bạn. Tám vạn bốn nghìn loại bệnh thì dùng tám vạn bốn nghìn loại thuốc.

Người rời nhà đi du lịch, cần dựa vào cái gì?
Đáp án là người dẫn đường.
Bởi vì người dẫn đường quen thuộc với con đường đó.
Chỗ nào có thể dùng cơm, chỗ nào có thể ngủ, chỗ nào có nguy hiểm, chỗ nào đường thông thoáng, người dẫn đường có thể đáp ứng những nhu cầu của bạn, và chỉ dẫn cho bạn du lịch bình an và vui vẻ.
Vào thời cổ đại.
Trên đường đi có những kẻ cướp, kẻ trộm, thú dữ.
Do vậy người dẫn đường cũng là một vệ sĩ!

Người qua sông cần nhờ vào thuyền, cần dựa vào người lái đò.
Đi thuyền cũng phải dựa vào thuyền trưởng.
Khi chúng ta đi học, chúng ta cần phải dựa vào thầy giáo.
Thầy giáo dạy chúng ta học, học tập các loại tri thức, tương lai mới có thể dựa vào các tri thức đã học để có được chỗ đứng trong xã hội. Thầy giáo vô cùng quan trọng. Không có thầy giáo, sự trưởng thành và sự nghiệp của bạn đều sẽ gặp vấn đề.
Những ví dụ kiểu này có lấy bao nhiêu cũng không hết.
...

Còn tôi, bạn đừng nhìn vẻ ngoài của tôi, tôi là một người đã trải qua 50 năm tu hành rồi.
*Có đủ lòng tin và sáng suốt
Kiêm cả tri thức và từ bi
Giới samaya luôn tuân thủ
Uyển chuyển tịnh hóa thân ngữ ý.
Hoài bão mênh mông và thiện xảo
Mong độ chúng sinh khỏi luân hồi.*

Tôi là một vị Căn bản Thượng sư không hề giả mạo, không phải là “nửa bình nước”. [”Nửa bình nước” là một câu thành ngữ chỉ những người tri thức còn nông cạn nhưng lại thích kêu to, giống như nước trong bình chỉ đầy một nửa thì mới tạo ra tiếng kêu. Còn một bình nước đầy cũng giống như người có tri thức đầy ắp thì sẽ yên lặng, khiêm nhường không thường lên tiếng.]
Tôi có thể độ người sống.
Tôi có thể độ người chết.
Tôi có thể độ phiền não.
Tôi có thể độ bạn đạt đến giải thoát.
Tôi có thể độ bạn xuất khỏi luân hồi.

Nói thẳng ra là:
Tôi đã hiểu thế gian và xuất thế gian, biết tất cả chân đế của Như Lai, thân này ôm trọn tám vạn bốn nghìn pháp môn, quang minh biến chiếu đại thiên thế giới. Một vị Kim cương Thượng sư như vậy chẳng hề có nhiều.
Tôi là một ruộng tài nguyên.
Đã thành tựu cửu thừa du già, chứng đắc mọi tinh yếu.
Tôi nguyện làm một hộ chủ để chúng sinh nương dựa vào.


### 41. Tôi tu Trường Thọ Phật


Gần đây tôi tu pháp Trường Thọ Phật.
Đối với tôi mà nói, pháp này vốn dĩ tôi không muốn tu, bởi vì đối với việc sống tại nhân gian, tôi thấy:
Chẳng cần thiết.
Ham muốn hưởng thụ vật chất đã nhạt.
Không còn mong cầu gì cả.
Đương nhiên tôi cũng biết, nhân gian này vốn dĩ chính là một giấc mộng huyễn lớn, biết là huyễn nên rời xa cái huyễn. Bởi vậy, thọ mệnh dài ngắn căn bản là tôi chẳng bận tâm, dài cũng tốt, ngắn cũng tốt, chết yểu cũng tốt, chết bất ngờ cũng tốt. Đối với tôi mà nói thì căn bản là chẳng thành vấn đề.
Chẳng có gì lăn tăn! Căn bản là chẳng nghĩ đến nó.
Ha ha ha!

Thế nhưng, khi tôi thấy đồng môn lúc đồng tu thường tụng thêm chú của Trường Thọ Phật và văn cầu thỉnh Căn bản Thượng sư, trong lòng tôi có cảm giác buồn buồn!
Tôi muốn đi, các đệ tử giữ tôi lại, hơn nữa lại vô cùng khẩn thiết, tôi cũng tùy duyên vậy, nên tôi tu pháp Trường Thọ Phật.

Tôi giới thiệu ngắn gọn cách tu pháp của mình như sau:
Tôi ngồi thẳng ngay ngắn. Phía trên đỉnh đầu tôi là tất cả các vị tổ sư của dòng truyền thừa. Ví dụ:
Liễu Minh Hòa Thượng.
Sakya Chứng Không Thượng sư.
Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16.
Thubten Dhargye Thượng sư.
...

Tôi lần lượt dung nhập vào trong ba Bổn tôn, ba Bổn tôn của tôi chính là:
Diêu Trì Kim Mẫu.
A Di Đà Phật.
Địa Tạng Vương Bồ Tát.
Sau đó, Diêu Trì Kim Mẫu, Địa Tạng Vương Bồ Tát lại dung nhập vào A Đi Đà Phật. A Di Đà Phật lại dung nhập vào trong đại quang minh.
Cuối cùng, đại quang minh dung nhập vào tôi.
Trong một sát-na.
Tôi biến hóa thành Trường Thọ Phật.
Thân sắc màu đỏ.
Một đầu một mặt.
Hai tay hai chân.
Thế ngồi kim cương.
Hai tay kết ấn thiền định, trên ấn đặt bảo bình sinh mệnh, trong bình đựng đầy cam lộ trí huệ bất tử, trong bình còn có một cây mãn nguyện.
Trường Thọ Phật mang đầy đủ 13 tướng trang nghiêm của Báo thân. (phần trên đây là quán tưởng)

Tiếp theo trì chú:
"Om ama ruani chu wantiye soha." [Ôm a-ma rưa-ni chu-uân ti-yê sô-ha] Tổng cộng 108 biến. 
Sau đó nhập Tam ma địa.
Sau khi xuất định, có thể niệm tụng Trường Thọ đà-la-ni và các chú trường thọ khác có liên quan.

Niệm hồi hướng:
Con đã không còn có thể chăm sóc sức khỏe bản thân được nữa.
Con tự biết Trường Thọ Phật đã đến.
Xin thỉnh Thượng sư và hộ chủ.
Dùng ánh sáng chiếu rọi đến con.
Nếu như con vẫn còn có chút ích lợi.
Đối với sự nghiệp độ sinh vẫn còn thiếu sót.
Thì xin giúp con quét sạch những trở ngại của thọ mệnh!
Con xin cầu thỉnh ngài như vậy!
(Tu pháp kết thúc.)
Gần đây tôi tu pháp này, bởi vì mọi người đều muốn tôi ở lại mà!


### 42. Hai bài thơ của Giai Giai


Bài thứ nhất:
*"Tham thiền tu Mật thật là hay
Lòng tôi hoan hỷ ngồi ngay ngắn
Dù biết chúng sinh đều hư huyễn
Đầy đủ Phật tính tướng tốt lành
Diệu kỳ chân không khởi nhân duyên
Không chấp không mê mới là thật
Chân tâm bất động tự thanh tịnh
Pháp nhĩ bản nhiên báo Phật ân."*

Bài thứ hai:
(Thỉnh Phật trụ thế)
*"Biết rõ Ta Bà là hư huyễn
Chỉ vì chúng sinh chẳng hiểu nghiệp
Trên trời dưới đất đều như thế
Hạ giáng truyền pháp chẳng lơ là.*

*Quy y Sư Tôn là tuyệt nhất
Có tình có nghĩa đầy từ bi
Bài ca điệu múa xin dâng cúng
Quán đảnh tu pháp vẫn kiên trì.*

*Tình nghĩa thầy trò thật sâu đậm
Đệ tử thập phương chẳng nỡ xa
Tâm con ngu ngốc vẫn chưa hiểu
Thỉnh Phật trụ thế giải u mê.*

*Đời người bảy mươi mới bắt đầu
Mong thầy ở mãi để đảm đương
Thương xót chúng sinh ban bồ đề
Dẫn dắt người mê khỏi khổ ải."*

(Thơ của Giai Giai viết, tôi có thay đổi một vài chữ, nhưng không làm mất đi ý nghĩa ban đầu.)

🌟

Tôi có bài thơ đáp lại như sau:
*"Tôi trụ thế gian dù đã lâu
Nghĩ trước đây
Nghĩ sau này
Phiền muộn vẫn như cũ
Lúc nhàn nhã cũng uống một chút rượu.*

*Tự nhìn chính mình ở trong gương
Nhận ra
Tuổi già, sức yếu.*

*Bước đến hồ Sammamish
Mấy gốc dương liễu bên hồ
Lặng lẽ
Trong tâm lại hiện lên một chút chút
Khắc khoải lo âu.*

*Năm nay lại đã qua
Lão tăng bảy chục tuổi
Một mình đứng ngắm hồ, gió thổi căng tay áo
Bộ đồ Lama của tôi
Đã hơi nhăn."*

(Bài thơ này nói rằng, những gian nan vất vả của tôi đã đủ rồi, pháp tôi đã truyền, cái gì cần quán đảnh đã quán đảnh rồi, lưu lại thế gian còn có ý nghĩa sao?)

Nói với Giai Giai:
*"Bất kể mây bay đến nơi nào
Đừng bảo rằng mặt trời đã tắt
Đi về phía trước vẫn là ngày
Chỉ cần
Vẫn còn có đường đi."*


### 43. Những lời vàng (1)


Tôi muốn viết cái gì? 

Viết ra những tinh hoa trong tâm tôi, tôi tập hợp chúng lại và đặt cho một cái tên, chính là: "Những lời vàng".

Quy y là gì?
Quy y Kim cương Thượng sư.
Quy y Phật.
Quy y Pháp.
Quy y Tăng.
Trọng điểm nằm ở đâu? Chính là tìm kiếm trí huệ vô thượng. Đạt được trí huệ này rồi thì có thể thoát ra khỏi lục đạo luân hồi.
Tự tại hoàn toàn.

🌟

Vì sao cần có tín tâm?
Chúng ta tham khảo và nghiên cứu ngược lại những đại thành tựu giả thời cổ đại.
Đối với những người truyền thừa của các đại thành tựu giả.
Đối với những lý thuyết và thực tiễn tu hành.
Chúng ta đã sinh ra tín tâm cực lớn.
Tín tâm này khiến ta sinh ra sức mạnh, khối sức mạnh này giúp bản thân trở thành người truyền thừa, kế thừa lý thuyết và thực tu, những điều này đều dựa vào tín tâm.

🌟

"Tự lực" và "tha lực" có gì khác nhau?
Tự lực — sức mạnh của bản thân.
Tha lực — sức mạnh của người khác.
Khi tôi tu pháp Kim cương thừa, tôi đã để cho Phật Thích Ca Mâu Ni, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ tiến vào trong tâm tôi. (Ba vị Bổn tôn tiến vào trong tâm tôi.)
Tâm tôi là sức mạnh của tôi. (tự lực)
Sức mạnh của Phật Đà, sức mạnh của Liên Sư là tha lực.
Cả hai hợp nhất.
Thì trở thành càng có sức mạnh hơn.

🌟

Pháp Tư lương là gì?
Mọi điều ác đừng làm.
Hãy làm mọi điều thiện.
Đây chính là pháp Tư lương, pháp này có thể đem lại phúc báo của trời người.
Mặc dù đây là pháp ở mức độ thấp, nhưng lại vô cùng quan trọng, đó là cơ sở của mọi tu hành. Bởi vì có phúc đức thì mới có thể gặp được thiện tri thức chân chính dẫn dắt bạn tu hành.

🌟

Pháp Gia hành là gì?
Đại lễ bái.
Đại cúng dường.
Tứ quy y.
Tứ vô lượng tâm.
Sám hối.
Thượng sư tương ứng.
Hộ pháp tương ứng.
Thật ra đây cũng là các phương pháp để tăng trưởng tư lương, đôi khi tư lương và gia hành có sự tương thông với nhau.

Cá nhân tôi nhận thấy:
Tư lương và gia hành là nền tảng rất quan trọng, không thể xem thường. Có thể sản sinh thiền định. (tâm khí hợp nhất)
Cho dù bạn tu đến cảnh giới rất cao thì tư lương và gia hành này vẫn cần phải tùy duyên, tùy hỷ, tùy phận, tùy thuận mà làm, rất cần thiết.
Pháp tư lương và pháp gia hành, trong luân hồi, sẽ không khiến bạn đọa vào tam ác đạo nữa. Đây là nền móng của thoát khổ.


### 44. Những lời vàng (2)


Hộ pháp là gì?
Thật ra, Hộ pháp có vài cách phân biệt:

(1)

Là hóa hiện của chính Phật Bồ Tát, ví dụ:
Uế Tích Kim Cang chính là hóa hiện của Phật Thích Ca Mâu Ni. 
Đại Uy Đức Kim Cang là hóa hiện của Văn Thù Bồ Tát.
Ngũ phương Phật hóa hiện Ngũ đại Kim Cang.
Bát đại Bồ Tát hóa hiện Bát đại Minh Vương.
Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện Đại Lực Kim Cang.

(2)

Khi Liên Hoa Sinh Đại Sĩ tới Tây Tạng, trên đường hàng yêu phục ma.
Thiên nhân.
Linh hồn.
Ma quỷ.
Đều trở thành Hộ pháp.
Ví dụ như Vajra Kilaya Phổ Ba Kim Cang, họ tuyên thệ làm Hộ pháp.

(3)

Rất nhiều Hộ pháp là do nghiệp duyên mà trở thành Hộ pháp tuyên thệ.
Ví dụ:
Đại Lực Kim Cang là Hộ pháp tuyên thệ của Chân Phật Tông.
Ma Lợi Chi Thiên là Hộ pháp tuyên thệ của Chân Phật Tông.

🌟

Có người nói đến cứu cánh quy y hoặc nhất quy y, rốt cục đó là cái gì?
Cứu cánh quy y thật ra là quy y Phật quả.
Quy y Thượng sư, Phật pháp, Thánh hiền tăng chỉ là mang tính chất tạm thời. (Nhưng cũng cần phải vĩnh viễn tôn kính.)
Hành giả chỉ cần chứng ngộ Phật quả tối thượng cuối cùng thì pháp, tăng, thượng sư không còn cần thiết nữa.
Giống như ví dụ về chiếc bè. (Nhất quy y cũng có ý nghĩa như vậy.)

🌟

Trong Đạo gia, Lư Sư Tôn cho rằng cái gì là "tối thượng"?
Tôi đáp:
Hợp với trời đất là "đức".
Hợp với nhật nguyệt là "minh".
Hợp với bốn mùa là "thứ tự".
Hợp với đạo là "chân".
Tu hành Đạo gia có nội đan, lò lửa, v.v… Cái "chân" của Đạo gia là tối thượng. Tinh hóa khí, khí hóa thần, thần hóa chân, chân hóa đạo.

🌟

"Cộng" là gì?
"Bất cộng" là gì?
Cộng pháp là mang tính phổ thông.
Lấy ví dụ như sức mạnh thần thông, thiên nhãn, thiên nhĩ, tha tâm, thần túc, túc mệnh, đây là những sức mạnh thần thông mà các tu sĩ yoga đều có. Đây gọi là cộng pháp.
Tương đối thù thắng hơn một chút là "bất cộng pháp".
Ví dụ:
Lậu tận thông — tất cả mọi sự rò rỉ đều hết, là trí huệ viên mãn Biến Tri.
Siêu vượt khỏi luân hồi, chứng ngộ vô thượng.

🌟

Có người hỏi tôi, làm sao để tu pháp nhằm giúp đỡ người khác?
Tôi nói:
Hành giả muốn tu pháp để giúp đỡ người khác thì cần có điều kiện:
Bản thân anh ta đã tịnh hóa chính mình.
Bản thân anh ta đã có thể tự độ chính mình.
Anh ta đã là một thành tựu giả.
Pháp đó nghi quỹ tu pháp hoàn chỉnh.
Cần niệm chú 100.000 biến.
Quán tưởng, nhập tam ma địa, tu pháp... 100.000 biến.
Tự thân có ánh sáng, có thể chiếu tới để phá tan bóng đen của người khác. Như vậy thì có thể giúp người khác được rồi. Bằng không, bản thân mình còn đuối nước thì làm sao có thể cứu được người đuối nước?


### 45. Những lời vàng (3)


Có người hỏi:
Sân hận sinh ra như thế nào?
Tôi trả lời:
Một vị hành giả tối cao không nên có sân hận. Có sân hận là vì tu hành còn chưa đạt đến tận cùng.
Vì sao có sân hận?
Là bởi vì còn có sự phân biệt anh, tôi, người khác, từ đó sinh ra đủ loại phiền não.
Ví dụ:
Tôi ghét anh!
Tôi ghét người ta!
Tôi thấy nhất cử nhất động của cái người đó tất cả đều không vừa mắt.
Do vậy mới sinh ra sự sân hận.

Hành giả cần tu:
"Vô ngã."
"Anh, tôi, người khác bình đẳng không phân biệt."
"Pháp hoán đổi mình và người khác."
Điểm quan trọng là:
"Người mà bạn ghét này chính là đến để giúp đỡ bạn (hành giả) tu tập nhẫn nhục ba-la-mật, bạn không những không được nảy sinh sân hận mà còn phải cảm ơn họ đã đến để giúp bạn thành tựu."
Do vậy, đối với người mà bạn cảm thấy sân hận, bạn đều cần cảm ơn.

🌟

Đàn thành đại diện cho cái gì?
Trong Mật giáo, đàn thành đại diện cho thân, ngữ, ý của Bổn tôn.
Tượng Phật — thân.
Kinh điển — ngữ.
Tháp Phật — ý.
(Hạt xá lợi cũng đại diện cho ý.)
Chúng ta nghênh thỉnh Bổn tôn trong hư không nhập vào đàn thành, đàn thành trở thành Thánh địa thanh tịnh của "vạn đức giao quy". Hành giả chúng ta giống như đang ở Thánh địa thanh tịnh để tu hành trí huệ.

Nói chung, những nghi thức pháp sự thô tục thì không nên tiến hành ở đây.
Đàn thành tịnh hóa.
Hành giả tịnh hóa.

🌟

Trong quá trình tu pháp, có được những cảm nhận tốt là điều đáng mừng. Xuất hiện những biểu tướng thanh tịnh là rất tốt.
Ví dụ:
Phi hành.
Phát quang.
Đứng trên hoa sen.
Bổn tôn chạm vào đầu.
...

Đó đều tượng trưng cho sự tiến bộ.

Tuy nhiên, tôi nói thế này:
Tâm kiền thành cung kính tăng trưởng.
Tâm từ bi tăng trưởng.
Phiền não trong tâm càng ngày càng ít.
Tư tưởng đúng đắn tăng trưởng.
Đó là thước đo của sự tu hành tiến bộ, chúng vô cùng quan trọng.
Hai thứ tượng trưng và thước đo cần phối hợp với nhau.

🌟

Ý nghĩa trọng yếu của thập địa Bồ Tát là gì?
Thập địa Bồ Tát là Hoan hỷ địa, Ly cấu địa, Phát quang địa, Diễm huệ địa, Nan thắng địa, Hiện tiền địa, Viễn hành địa, Bất động địa, Hỷ huệ địa, Pháp vân địa.
Hoan hỷ địa là Kiến đạo.
Ly cấu địa đến Pháp vân địa là Tu đạo.
Siêu xuất ra khỏi Pháp vân địa chính là Phật quả giải thoát, cũng tức là Cứu cánh đạo.
Cứu cánh đạo tức là:
"Vô học đạo."
"Phật tính", "tính Không", "bồ đề tâm"...


### 46. Những lời vàng (4)


Người hỏi:
"Xin Lư Sư Tôn giảng giải về khái niệm tính Không?"
Tôi nói:
Trăng trong nước hiện lên rất sáng rõ.
Nhưng, chúng ta biết rằng, nó không thật sự tồn tại.
Là Tử Hư Ô Hữu. [Đây là một thành ngữ có nguồn gốc từ hai nhân vật hư cấu là Tử Hư và Ô Hữu trong Tử Hư Phú, tác giả là Tư Mã Tương Như thời Hán Triều, là hai nhân vật chuyên bịa chuyện, nói khoác, nói những điều không có thật.]
Chỉ là một cái bóng.

Do vậy, cảm quan của chúng ta cảm ứng thấy rằng giới hiện tượng đều thật sự tồn tại, thực ra cũng không phải là tự tính độc lập.
Tuy nhiên, chúng ta cho rằng là tồn tại thật, do vậy chúng ta bị dẫn vào trong con đường mê lầm, từ đó sinh ra đủ loại vô minh và mê vọng. Phiền não sinh ra. Cuối cùng là khiến chúng ta lưu chuyển trong lục đạo luân hồi.
Nói một cách nghiêm túc là:
Toàn bộ giới hiện tượng cũng là trăng trong nước.

🌟

"Tỳ Lô thất chi tọa" là gì?
Đây là điểm quan trọng của thiền định.

1. Hai chân ngồi tư thế kim cương.
2. Lưng vươn thẳng.
3. Tay kết ấn thiền định.
4. Nhìn xuống dưới theo chóp mũi.
5. Đè cuống họng.
6. Ưỡn ngực, bẻ vai.
7. Chóp lưỡi chạm vào hàm trên.
(Người cao tuổi khó khoanh chân thì có thể ngồi thoải mái, nhưng cố gắng hết sức để giữ sự trang nghiêm.)

🌟

Tôi từng nói:
Phần lớn mọi người đều sẽ bám chấp vào những cảm giác của thiền định.

1. Lạc.
2. Minh.
3. Không.

Nếu hành giả càng ngày càng bám chấp vào những cảm giác của thiền định, thì đó cũng là một dạng chướng ngại. Sẽ hình thành nên cảm giác về bản ngã, hoặc sản sinh ra sự "tham".
Dường như chúng ta đã làm được việc "dừng lại" của thiền định, nhưng về phương diện "đốn siêu" thì lại chưa làm được.

🌟

Có người nói lục độ, cũng có người nói thập độ, vì sao vậy?
Chúng ta nói lục độ là nói đến: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ.
Còn thập độ thì có thêm: phương tiện, sức mạnh, thề nguyện, bản trí.

🌟

Xin nói cho chúng tôi biết ý nghĩa chân thực của thiền định?
Tôi đáp:
Ý nghĩa chân thực của thiền định là:
Tinh thần thống nhất.
Chuyên nhất.
Không tán loạn.
Chính là "dừng lại".
Tâm khí hợp nhất.
(Chướng ngại lớn nhất chính là coi những thứ hiển hiện ra là thật.)
Trí huệ thuần tịnh, nhưng không tồn tại thật.
Hai chướng ngại, hai bám chấp là chỉ:
Chướng ngại phiền não. Chướng ngại biết mọi thứ.
Chấp ngã. Chấp pháp.
(Tu hành đều phải phá bỏ những cái này.)


### 47. Những lời vàng (5)


Có một lần.
Tôi đi tới Đào Viên Cộng Tu Viện.
Trong đó có một người trẻ tuổi xếp hàng chờ nhận gia trì của tôi. Trong khi gia trì cho cậu, tôi đã đặc biệt dùng lực.
Cậu thanh niên này có chứng bệnh nói lắp. Nói lắp nghĩa là chứng bệnh nói: "Tôi... tôi... tôi... " "Bạn... bạn... bạn..."
Đêm hôm đó, cậu thanh niên có một giấc mơ.

Trong mơ.
Lư Sư Tôn xuất hiện tướng mạo Kim Cang Nộ Mục, vô cùng uy nghiêm và dữ tợn, đi tới trước mặt cậu thanh niên, dùng nắm đấm đầy uy lực giáng một cái bạt tai vào cậu thanh niên, một tiếng "bốp" rất lớn. Rồi lại một cái bạt tai "bốp" rất mạnh nữa. Sau đó, bàn tay to lớn ấy cứ liên tiếp giáng bạt tai vào cậu thanh niên. Con mắt phẫn nộ nhìn trừng trừng vào cậu.
Cậu ta rất sợ hãi, vô cùng đau đớn liền tỉnh dậy.
Sau đó thì, chứng bệnh nói lắp của cậu thanh niên cũng hoàn toàn hết hẳn, nói chuyện không còn bị nói lắp nữa.

Cậu thanh niên hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Có phải thầy dùng cách đánh để tiêu trừ nghiệp chướng của con không?"
Tôi trả lời:
"Kiếp trước con thường bắt nạt người khác, do vậy đã mắc phải chứng bệnh nói lắp, chữa thế nào cũng không khỏi. Kiếp này gặp được Lư Sư Tôn, nhờ vào hai cái bạt tai trời giáng đó, con lại còn bị "bắt nạt", do vậy mà tiêu trừ được tội chướng của con, nhờ bị bắt nạt mà hoàn trả lại việc bắt nạt xưa kia, chứng bệnh nói lắp mới có thể khỏi được!"
Bạt tai là tịnh hóa.
Tám vạn bốn nghìn Phật pháp có thể chữa khỏi tám vạn bốn nghìn loại bệnh.
Thiện tai! Thiện tai!


### 48. Thư của pháp sư Liên Nghi gửi tới


Thưa pháp sư, đây là cuộc hỏi thăm của tôi với bà Srisuda về vụ cháy, thật sự là rất hay, nên kể lại cho Sư Tôn nghe, hơn nữa, sự việc này sẽ càng củng cố địa vị của Sư Tôn trong lòng các đệ tử Thái Lan.

*"Đó là ngày 2 tháng 12, khoảng hơn 11 giờ sáng, bà Srisuda đang tắm, đột nhiên nghe thấy những tiếng la hét ồn ào rằng có cháy rồi, ngọn lửa đã lan tới chỉ còn cách nhà bà ấy 100 mét thôi! Bà ấy sợ tới mức hoảng loạn như gà bay chó chạy. Bà gọi con trai, lục tìm một số giấy tờ và vật phẩm quan trọng rồi chuẩn bị lái xe tháo chạy, nhưng đường đã bị ngọn lửa chặn hết, không còn chỗ nào để chạy được nữa. Hơn nữa, bà cảm giác được thế của ngọn lửa đang hướng tới ngôi nhà của mình chỉ còn cách mấy ngôi nhà ở giữa. Ở ngay ranh giới tuyệt vọng, Srisuda đã niệm tâm chú Sư Tôn để cầu Sư Tôn cứu mạng! (Xin Sư Tôn cứu mạng.)*

*Trong lúc tuyệt vọng, cậu con trai chạy lên tầng hai xem thế lửa, đột nhiên phát hiện ra lửa đã đổi hướng cháy sang nơi khác rồi. Cậu con trai cứ nói mãi là thật sự không thể tin được! Sư tỉ Srisuda người Thái Lan này vẫn luôn có tín tâm kiên định không đổi đối với Sư Tôn, khi ra khỏi nhà, bất kể là đi làm ăn hay là đi chợ đều niệm tâm chú Sư Tôn! Vụ cháy này càng khiến cho đệ tử Thái Lan thêm kiên định, đệ tử của Đại Phúc Kim Cang thì hỏa hoạn hay lũ lụt đều không sợ!"*

Tên: Srisuda Juntraphan
Tuổi: 61
Srisuda hiện giữ chức vụ thủ quỹ của hội đồng tu Đức Tụ Bangkok, là đệ tử lâu năm (người Thái Lan, không biết nói tiếng Trung) của Sư Tôn. Mới đây tôi cũng thỉnh Sư Tôn ban cho cháu trai của bà một cái tên tiếng Trung là Tạ Minh Sâm. Srisuda là một đệ tử rất phát tâm, luôn luôn tin tưởng tuyệt đối và rất cung kính Sư Tôn. Cảm tạ Sư Tôn đã bảo vệ cho các đệ tử Chân Phật ở Thái Lan!


### 49. Thư của Thượng sư Liên Ha


Sư Phật, Sư Mẫu muôn vàn kính yêu!
Phật an!
Ngu đệ tử Liên Ha nhất tâm đảnh lễ và xin đem thân khẩu ý cúng dường Sư Phật Sư Mẫu!

Năm 2021 đến rồi, trước tiên đệ tử kính chúc Sư Phật Sư Mẫu năm mới vui vẻ! Ngày ngày vui vẻ! Sáu thời cát tường! Lìa xa bệnh tật, khỏe mạnh trường thọ, hằng chuyển pháp luân! Nguyện chúc Chân Phật Tông dòng chảy dài lâu, nhân tài lớp lớp xuất hiện, pháp mạch hưng thịnh, bay cao vạn dặm!

Năm 2020, mặc dù khắp thế giới gặp khó khăn, nhưng sự nghiệp giáo dục của Chân Phật dù ngược gió vẫn bay cao, Đại học Online của Chân Phật Tông đầu tiên đã thúc đẩy các khóa học trực tuyến cho toàn thể nhân viên hoằng pháp, sử dụng hệ thống Zoom có kết hợp phiên dịch song ngữ (tiếng Indonesia và tiếng Anh), hiệu quả tuyệt vời, mọi người đều cùng ca ngợi và thu hoạch được rất nhiều lợi ích. Các học trình của năm tới cũng đã sắp xếp được rất nhiều.

Bước thứ hai là thúc đẩy khóa học online cho toàn thể đệ tử Chân Phật, sử dụng kênh Youtube, hoàn toàn không giới hạn, nhân sĩ ngoài tông phái đều có thể học tập. Môn đầu tiên do Thượng sư Liên Mãn giảng dạy là môn "Giới luật uy nghi của đệ tử Chân Phật", môn thứ hai là do giáo sư Chu Thời Nghi giảng dạy là môn "Phật pháp khoa học vượt xa tưởng tượng của bạn". Tiếp theo là môn "Chăm sóc lúc lâm chung" do Thượng sư Liên Duyệt giảng. Thời gian tới sẽ mời những danh nhân trên thế giới tọa giảng, trăm hoa đua nở, để sự nghiệp giáo dục Chân Phật có cơ hội phát triển tưng bừng.

Bước thứ ba, khóa học đại học chính thức đầu tiên của Đại học Chân Phật Online "Phật học bao la vạn tượng" đã hoàn thành, chính thức trực tuyến từ ngày 3 tháng 1 năm 2021. Đây là một sự khởi đầu không hề đơn giản, khóa học này được biên soạn hoàn toàn dựa trên giáo trình tiêu chuẩn của đại học quốc tế.

Do tổng cộng 18 vị Thượng sư, pháp sư, giảng sư, trợ giảng, giáo sư, đồng môn ngày đêm vất vả, trải qua mười mấy khâu làm việc, bao gồm viết sách, chỉnh sửa, xét duyệt, chau chuốt, tìm lỗi, làm định dạng... để biên tập mà thành. Chương trình học phong phú đặc sắc này "bao la vạn tượng" đúng như tên gọi của nó, bao gồm nội dung rất rộng, không chỉ bao gồm khái niệm cơ bản, lý luận cơ bản, chính tri chính giác của Phật học, mà còn liên kết và phân tích Phật giáo với khoa học, triết học, y học, tâm lý học, nghệ thuật, âm nhạc... Đồng thời, Phật pháp không xa rời cuộc sống, môn học này còn giải thích rất nhiều những câu hỏi mà rất nhiều người trong cuộc sống đều muốn biết: "Học Phật có nhất định cần ăn chay không?", "Phật pháp xem tiền bạc như thế nào?", "Học Phật có nhất định cần xuất gia không?", "Phật pháp xem con cái như thế nào?", "Học Phật có nhất định cần quyên góp tiền không?",v.v... Đây là một giáo trình đại học rất sâu và rộng, dành cho tất cả những ai muốn hiểu thông suốt ở mức độ sâu về Phật pháp, cung cấp cho họ một con thuyền Phật pháp vươn ra biển cả. Đệ tử nhất tâm thỉnh cầu Sư Phật gia trì và ban phúc cho tất cả nhân viên trong đội ngũ biên tập, nguyện cho họ thân thể khỏe mạnh, phúc huệ tăng trưởng, đời sống viên mãn, tu hành thành tựu! Cũng cầu thỉnh Sư Phật vào ngày 3 tháng 1 tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự sau khi làm lễ Hộ Ma Liên Hoa Đồng Tử, nhờ kim khẩu của Phật tuyên bố chương trình học đại học đầu tiên chính thức lên mạng! Nguyện có thể thu hút nhiều đệ tử Chân Phật và cả những người ngoài tông phái mà có duyên cùng học tập, thâm nhập và thể ngộ tâm túy của Chân Phật.

Sư Phật kính yêu, sau khi trải qua sự thể nghiệm về truyền hình trực tuyến liên tục trong năm 2020, các đệ tử đã tìm được thứ phù hợp với hiện đại để dẫn dắt chúng sinh thực tu phương pháp hay của Mật pháp, chính là thông qua các chương trình phát sóng trực tiếp hàng ngày để cùng mọi người trong quá trình tu pháp thực tiễn những tâm yếu khẩu quyết của Sư Phật.

Chúng con đã đưa rất nhiều các khẩu quyết quan trọng mà Sư Phật đã nói trong cuốn "Khẩu quyết đạo giải thoát" và "Ngôn ngữ đến từ Phật quốc" ứng dụng trong các buổi đồng tu trực tuyến, đặc biệt là khẩu quyết về thiền định, khẩu quyết nhập ngã - ngã nhập, các đệ tử đều luyện tập thực tiễn từng phần từng phần một, nhờ vậy đạt được cảm giác và tiến bộ vô cùng to lớn, có đồng môn gọi là "sự tiến bộ bùng nổ".

Do vậy, năm tới, đệ tử sẽ nâng cấp hơn nữa việc giảng dạy trực tuyến và dùng thử hình thức "giảng đường đám mây, giao lưu tương tác", sử dụng phần mềm Zoom để xây dựng giảng đường trên đám mây, để các đoàn đội hoằng pháp và các đồng môn gặp mặt trên đám mây, để mỗi một nhân viên hoằng pháp đều phát huy được sức mạnh, để mỗi đồng môn đều được quan tâm tới. Mọi người chúng ta sẽ cùng tu pháp, cùng học tập, đồng thời giúp đỡ mỗi một đồng môn sửa chữa thủ ấn, sửa cho đúng tư thế ngồi thiền, v.v... Như vậy mọi người có thể giao lưu lẫn nhau, cùng tiến bộ.

Triết lý cao nhất của giáo dục là mỗi học viên đều nhận được sự quan tâm đặc biệt. Thỉnh cầu Sư Phật đại lực gia trì, để cho phương thức giáo dục kiểu mới này có thể đạt được thành công, sự nghiệp giáo dục Chân Phật có thể không ngừng bay cao.

Sư Phật kính yêu, cảm ơn Sư Phật đặc biệt truyền dạy cho đệ tử tâm yếu khẩu quyết, sau khi quán tưởng Miên quang pháp kèm thêm chú ngữ, ánh sáng lập tức trở nên mãnh liệt hơn, như vậy mà đi vào giấc ngủ, có được mộng cảnh mang cực kì nhiều hàm nghĩa. Việc luyện tập Kim cang tụng cũng càng trôi chảy hơn, tác dụng khai mở mạch và luân xa cũng có lực hơn. Tu luyện Bảo bình khí và Chuyết hỏa gắn liền với nhau, cảm nhận về Chuyết hỏa bởi vì hít thở vi tế hơn và thuần chất hơn nên nóng rực hơn. Cảm nhận về yoga hành động là vòng ánh sáng trong hư không chiếu khắp nơi như mặt trời, đầu óc say đắm trong ánh sáng. "Lấy thiền định tu quán làm chính hành", câu nói này đã mang lại một bước nhảy vọt cần thiết cho sự tu thiền của đệ tử.

Việc sản sinh những cảm nhận này đều đến từ khẩu quyết và sự gia trì của Sư Phật, đệ tử cảm ơn sâu sắc! Cũng cảm ơn Sư Phật Sư Mẫu vào ngày chủ nhật tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự dùng uy lực của nghi lễ Hộ Ma mà gia trì cho các đệ tử, Sư Phật trong lúc hồi hướng luôn tha thiết vì đệ tử mà cầu nguyện tu hành tinh tấn thành tựu, công lực thiền định sâu, trí huệ viên mãn, tâm của đệ tử có thể cảm nhận được những mong mỏi trong tâm của Sư Phật.

Trong cuốn sách mới của Sư Phật "Thiên ngoại chi thiên” có một chương viết về Sư Phật gặp mặt Nữ Thần Thanh Xuân, vị Minh Phi của Thời Luân Kim Cang, cuộc đối thoại của Sư Phật và Nữ Thần Thanh Xuân tràn đầy pháp vị, "khai ngộ chính là vô nhị", "tu đạo chính là vô nhị không gián đoạn", điều này khiến tâm đệ tử xúc động sâu sắc! Dường như có một cảm giác vui mừng khôn xiết! Đệ tử nguyện thực hành tỉ mỉ cẩn thận pháp môn vô nhị này, nguyện có thể luôn luôn an trụ trong chân như vô nhị.

Trong thời điểm năm mới đang đến gần, đệ tử lại một lần nữa nguyện chúc Phật thể an khang! Trường thọ tự tại! Trường trụ thế gian! Hằng chuyển pháp luân! Cũng thỉnh cầu gia trì cho đệ tử tu hành tinh tấn thành tựu, nhất vị du già thành tựu, khí mạch điểm thành tựu, chỉ quán song vận và Kriya yoga thiền định thành tựu, thân thể khỏe mạnh, sớm có ngày đạt được chứng lượng, bồ đề viên mãn!

Ngu đệ tử Liên Ha kính thư.
Ngày 31 tháng 12 năm 2020.
Núi Sao Paulo, Brazil.


### 50. Tiết mục phỏng vấn Tân Xuân 2021


Thời gian: 8 giờ tối ngày 18 tháng 12 năm 2020.
Địa điểm: Đại điện Seattle Lôi Tạng Tự.
Nhân vật: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, Đới Lâm, khán giả.

Người chủ trì Đới Lâm nói:
Xin chào các quý khán giả! Hoan nghênh đón xem chương trình đặc biệt dịp Xuân mới "Tiết xuân báo hỷ, Sửu niên nạp phúc".
Các bạn bè hàng năm đón xem chương trình đặc biệt nhân dịp xuân mới của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đều biết rằng, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn mà chúng ta nói đến là một bậc trí giả trong số các bậc trí giả!

Ngài đã có mặt ở đây để đàm luận về những dự báo hàng năm về vận mệnh quốc gia, nền kinh tế và cách chiêu tài. Kể từ năm Trung Hoa Dân Quốc thứ 100 tới nay [năm 2011], đã 10 năm liên tiếp, năm nào dự đoán của ngài cũng vô cùng chuẩn xác, khiến người ta không ngừng ca ngợi!

Đặc biệt là năm ngoái, Liên Sinh Hoạt Phật đã dự đoán có vi khuẩn gây bệnh siêu cấp, có nghĩa là virus sẽ lây lan khắp thế giới. Khi ấy, trong lòng mọi người vẫn còn nhiều dấu chấm hỏi. Không biết rằng hóa ra sự nguy hại của virus Corona lại lớn đến như vậy.

Tuy vậy, tôi tin rằng các bạn đón xem được lời dự đoán của Liên Sinh Hoạt Phật vào dịp đầu năm mới có thể chuẩn bị tốt hơn và sớm hơn một chút bởi sự khảo nghiệm và biến hóa của các hoàn cảnh bên ngoài khác nhau.

Còn bây giờ, ngay lập tức sẽ là nội dung của chương trình đặc sắc năm Sửu, năm Dân Quốc thứ 110 của chúng tôi. Xin mời Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn có lời chào năm mới đến khán giả đang theo dõi trước màn hình tivi!

(1)

Sang năm mới, mọi người hoan hỷ đến chùa để lễ an sao Thái Tuế và thắp đèn quang minh, xin hỏi Liên Sinh Hoạt Phật việc này có lợi ích gì?
Lư Sư Tôn trả lời:
An sao Thái Tuế — tránh xung phạm với thần Thái Tuế. (tránh khỏi tai họa)
Thắp đèn quang minh — Phật quang chiếu rọi, một năm được cát lợi bình an. (gặp dữ hóa lành)

(2)

Năm nay, người tuổi gì thì cần phải an sao Thái Tuế và thắp đèn quang minh? Hay là bất kì ai làm cũng được?
Lư Sư Tôn trả lời:
Tuổi Sửu là chính xung.
Tuổi Mùi là đối xung.
Tuổi Thìn, tuổi Tuất là thiên xung.
Những người mang tuổi trên đều cần an sao Thái Tuế và thắp đèn quang minh. Thật ra, bất kì người nào muốn an sao đều có thể làm, vì nhìn chung, mỗi người đều muốn bình an, cát tường, như ý, tất cả đều thuận lợi.

(3)

Vào năm mới 2021, xin hỏi Liên Sinh Hoạt Phật có cách nào đơn giản có thể gia tăng vận sự nghiệp của chúng tôi không? Hoặc như vận quý nhân?
Lư Sư Tôn trả lời:
Mật giáo chúng tôi có phương pháp trì chú.
Vận sự nghiệp — trì chú Hoàng Tài Thần: "Om zambala zalendhraye soha." [Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha.] Mỗi ngày niệm 108 biến. (mặc quần áo màu vàng)
Vận quý nhân — trì chú kính ái: "Om kurukulle juli soha." [Ôm ku-ru-ku-lê chu-li sô-ha.] Mỗi ngày niệm 108 biến. (mặc quần áo màu đỏ)

(4)

Chữ gì có thể đại diện để dự đoán về vận mệnh thế giới?
Lư Sư Tôn trả lời:
Đó là chữ "diên". [chữ Diên có nghĩa là kéo dài, trì hoãn]
Năm 2021 là nối tiếp của năm 2020.
Cá nhân tôi kỳ vọng là đại loạn qua đi, mọi thứ dần dần lắng xuống.
(Năm ngoái là đổ xuống như thác, năm nay là dòng nước xiết, cầu mong cho sóng yên biển lặng.)

(5)

Gần đây có nhiều bệnh tật, dịch bệnh, thiên tai... Lư Sư Tôn có thể dạy chúng tôi cách giải trừ tai họa không?
Lư Sư Tôn trả lời:
Tôi dạy mọi người mỗi ngày, sớm tối niệm kinh Cao Vương Quan Thế Âm một biến, Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát sẽ bảo vệ chúng ta.
Hoặc niệm Cao Vương Quan Thế Âm bảy biến. (chỉ niệm tên kinh)
Đây là cách làm đơn giản nhất rồi!

(6)

Báo danh pháp hội Hộ Ma hoặc buổi đồng tu mà ngài chủ trì có thể tiêu trừ nghiệp chướng, tăng phúc huệ, gặp được duyên quý nhân không?
Lư Sư Tôn trả lời:
Pháp hội của tôi có Phật Bồ Tát giáng lâm, đương nhiên có lợi ích. Các buổi đồng tu cũng vậy. Bởi vì Phật Bồ Tát giáng lâm thì sẽ mang theo vô lượng quang minh, chính là nguyên nhân của sự tăng trưởng năng lượng tích cực!
Tham gia pháp hội và đồng tu cũng giống như được gia trì và quán đảnh.
Đích thân đến đạo tràng là tốt nhất. Xem phát trên mạng cũng được. Chỉ cần dùng "tâm", tâm thành tắc linh. Tất cả là do tâm tạo.

(7)

Xin hỏi Liên Sinh Hoạt Phật, năm Canh Tý 2020, ngài dạy mọi người dùng bình tụ tài để đón Thần Tài. Năm 2021 là năm Tân Sửu, năm con trâu, vậy thì vật cát tường của năm nay là cái gì? Chúng tôi cần sử dụng vật cát tường ra sao để tiếp đón Thần Tài của năm nay?
Lư Sư Tôn trả lời:
Năm nay Thần Tài ở phương nam. Phương nam thuộc về hỏa, do vậy, dùng bình tụ tài bảo màu đỏ. Năm nay là năm con trâu, trâu thích ăn cỏ, do vậy dùng cỏ, cỏ cát tường chính là vật cát tường. Cắm ba cây cỏ cát tường vào trong bình tụ tài bảo. Chọn giờ Ngọ ngày mồng 9 âm lịch hoặc mồng 10 âm lịch 9-11 giờ sáng.
Cầm bình tụ tài bảo có cắm cỏ cát tường bước một bước ra khỏi cửa nhà. Quay về hướng nam bước đi tám bước.
Niệm: "Mời Thần Tài đến nhà tôi" 3 lần.
Sau khi đón Thần Tài, lại đem bình tài bảo đặt vào nơi để két sắt trong nhà bạn là được. Nếu nhà quay lưng vào hướng Nam và hướng mặt vào hướng Bắc, có thể cầm bình tài bảo đi ra khỏi nhà, quay đằng sau, vào bước tại chỗ tám bước.
(Không cần phải bước đi tám bước, có thể đứng một chỗ dậm chân tám bước, nhưng nhất định cần quay mặt về hướng Nam.)

(8)

Xin hỏi Liên Sinh Hoạt Phật, ngài từng viết trong sách của ngài như thế này: "Khi một người vận khí kém, phần lớn nguyên nhân là vì "nghiệp chướng hiện tiền, phúc báo hưởng tận". Muốn tiêu tai cải vận cách trực tiếp nhất là tiêu nghiệp chướng, tăng phúc huệ." Bây giờ xin hỏi Hoạt Phật, phải làm sao để có thể tiêu nghiệp chướng, tăng phúc huệ đây?
Lư Sư Tôn trả lời:
Phật Đà dạy chúng ta:
Mọi việc ác đừng làm.
Hãy làm mọi việc thiện.
Chính là phương pháp để tăng phúc huệ.
Muốn tiêu nghiệp chướng, nhất định trước tiên cần sám hối những sai lầm mà mình đã phạm phải.
Ví dụ:
Sát sinh.
Trộm cắp.
Tà dâm.
Vọng ngữ.
Nghiện rượu.
Những việc này cần phải ngày ngày tự kiểm điểm bản thân ba lần, biết lỗi rồi thì phải thật lòng sám hối, quyết không tái phạm. Còn muốn tăng trưởng phúc huệ thì cần làm mười thiện nghiệp:
Không phạm mười điều ác gọi là mười điều thiện.
Một là dừng, là dừng mọi việc ác trước đây.
Hai là thực hành, là tu hành mười điều thiện.
Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngữ, không hai lưỡi, không ác khẩu, không ỷ ngữ, không tham dục, không sân hận, không tà kiến.
Ngoài mười điều thiện ra, chúng ta cần quán tu:
Nguyện bồ đề.
Hạnh bồ đề.
Cứu cánh bồ đề.
Đây là phương pháp tiến nhập vào cảnh giới cao hơn, ví dụ:
Quán tu — ta và người khác bình đẳng.
Quán tu — hoán đổi ta và người khác.
Quán tu — lục độ vạn hành.
(Bố thí, nhẫn nhục, trì giới, tinh tấn, thiền định, trí huệ.)
Khi tôi quán tu "ta và người khác bình đẳng", bây giờ đã hiểu về oan thân bình đẳng xả.
Người mà ta thích thì ta sẽ bố thí.
Người mà ta không thích thì ta sẽ không bố thí.
Điều này là không đúng.
Bởi vì Phật Đà giáo hóa chúng ta rằng, chúng sinh trên thế gian ai ai cũng đều là người có duyên với ta, nói nghiêm túc là chúng sinh cũng không khác gì cha mẹ trong các đời quá khứ của ta, sau khi trải qua đời đời kiếp kiếp thì ai mà không từng là cha mẹ của chúng ta đây?
Bởi vậy, ta và người khác bình đẳng, oan thân bình đẳng xả.
Nay chúng ta bắt nạt người khác, nếu như ta trở thành người đó thì cảm giác của ta sẽ như thế nào?
Chúng ta ăn thịt động vật, cảm nhận của những loài động vật này thế nào?
Chúng ta xỏ mũi trâu, xỏ mũi ngựa, dùng roi để quất chúng. Bản thân ta nếu là trâu ngựa thì sẽ cảm thấy thế nào?
Bởi vì quán tu hoán đổi ta và người khác nên tâm từ bi tự nhiên sẽ tuôn trào ra.
Do vậy, làm một vị Bồ Tát, điểm quan trọng là:
Hy sinh bản thân vì người.
Nghĩ vì người khác.
Độ hóa người khác.
Đây chính là lục độ vạn hành.
Người khác đau khổ, ta đau khổ.
Người khác hạnh phúc, ta hạnh phúc.
Trước vì thiên hạ u sầu mà sầu.
Sau vì thiên hạ hạnh phúc mà vui.

(**Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/284-lao-tang-that-tuan-thuat-tam-hoai.md
# Title: 284. Lão tăng thất tuần thuật tâm hoài
---

![image](/img/img_c54ef14fa8a6b9e73fc89579537abc79.jpg)



## Lão tăng thất tuần thuật tâm hoài


🪷 Chân ngôn kiến đạo

Văn tập số: 284
Xuất bản: 8/7/2021
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu


Tôi.
Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.
Bảy mươi bảy tuổi.
Sống tại Nam Sơn Nhã Xá, bang Washington, Hoa Kỳ.
Trong lòng vẫn luôn có một ước vọng muốn viết một cuốn sách gói trọn những tâm đắc tu tập Phật pháp cả đời này của tôi.
Nhưng ước vọng này lớn quá, dường như đây là một việc bất khả thi!
Tuy nhiên,
Tôi bất chấp tất cả, động bút viết.
Tên sách là: "Lão tăng thất tuần thuật tâm hoài".
Thật ra tên sách đúng ra nên là "Lão tăng thất tuần thuật tâm đắc".

🌟

Đương nhiên tôi biết:
Cái gọi là "đắc" tức là "vô sở đắc". Mà "vô sở đắc" thì cũng tức là "đắc".
Bởi vì trải qua "nghe", "nghĩ", "tu".
Dựa vào thân người quý giá của tôi.
Đủ mọi giáo pháp của các vị thầy.
Từ tín tâm đến bồ đề tâm.
Từ đạo đến quả.
Đối với tất cả mọi sự vật đều tuyệt đối tĩnh lặng quan sát một cách thuần tịnh.
Cuối cùng, tôi đã ngộ ra:
"Vô sở đắc."
Vô sở đắc này.
Vô sở đắc này là vô cùng, vô cùng, vô cùng quan trọng.
Ở đây tôi viết ba từ “vô cùng”, chính là một sự tâm đắc chính xác tuyệt đối.

🌟

Trước kia.
Câu đầu tiên khi khai thị thuyết pháp của Phật Thích Ca Mâu Ni là:
"Các đệ tử! Hãy nghe cho kĩ, đời người là khổ."
"Khổ" này chính là chân đế.
Tiếp theo:
"Không" là chân đế.
"Vô thường" là chân đế.
"Vô ngã" là chân đế.
"Vô sở đắc" là chân đế.
Tôi lấy sự trải nghiệm của chính bản thân mình để chứng thực rằng những điều mà Phật Thích Ca Mâu Ni nói là chân lý.

🌟

Có thể những người học Phật đều cho rằng khổ, không, vô thường, vô ngã, vô sở đắc chúng tôi đã nghe mãi đến thuộc lòng cả rồi. Nhưng, tôi nói để mọi người biết:
Người người đều biết.
Người người đều không làm được.
Những điều này chúng ta cần phải đưa vào thực tiễn. Những đạo lý mà Phật Đà đã nói, chúng ta đều hiểu rõ. Vấn đề là cần phải thực tiễn những điều đó.
Sau khi thực hành chúng rồi thì mới là đại thủ ấn, đại viên mãn, vô sở đắc.
Tôi mong cuốn sách này, với giáo pháp tâm đắc vô thượng, có thể chiếu sáng tâm linh của vô lượng chúng sinh.

🌟

Tôi nguyện rằng:
Nguyện tất cả chúng sinh có thể tránh được mọi mê hoặc.
Nguyện tất cả chúng sinh có thể đi trên chính đạo.
Nguyện tất cả chúng sinh vượt qua mọi khó khăn gian khổ.
Nguyện tất cả chúng sinh kiến đạo khai ngộ.
*Chúng sinh đều là Phật.
Bị ô nhiễm che phủ.
Nếu ô nhiễm tịnh hóa.
Phật quả sẽ hiện tiền.*

(Tháng 7 năm 2021)

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**
17102 NE 40th Ct.,
Redmond, WA 98052
U.S.A


### 01. Bất phân giáo phái


Phật giáo Tây Tạng hiện nay phân chia thành bốn giáo phái lớn:
Nyingmapa (Hồng giáo).
Gelugpa (Hoàng giáo).
Kagyupa (Bạch giáo).
Sakya (Hoa giáo).
Còn có vô số các phái rẽ nhánh nhỏ khác, rất rất nhiều, có đếm cũng không thể đếm rõ được.
Tuy nhiên, cũng có đại sư chủ trương: "Bất phân giáo phái".
Đầu thế kỉ 19 có:
Jamyang Khyentse Wangpo (1820 - 1892).
Kongtrul Lodro Taye (1813 - 1899).
Chokgyur Dechen Lingpa (1829 - 1870).
Ba vị đại sư này đều chủ trương không phân biệt giáo phái.
Phong trào này được gọi là cuộc vận động Ris Med.
Chủ trương rằng, bởi giữa các tông phái Phật giáo Tây Tạng thường xuyên không chung sống hòa hợp với nhau, thường xuyên công kích, tranh luận, bức hại nhau, do vậy, cần nỗ lực hết sức để bảo tồn giáo pháp truyền thừa của mỗi phái, đừng có thiên kiến bè phái.

🌟

Phật giáo Đài Loan cũng như vậy:
Phật Quang Sơn.
Từ Tế.
Pháp Cổ Sơn.
Trung Đài Sơn.
Đây là bốn giáo phái lớn của Đài Loan.
Nói cụ thể hơn là, ở Phật Quang Sơn, bạn không thể khen Từ Tế là hay. Ở Từ Tế, bạn không thể khen Phật Quang Sơn là tốt.
Tôi thấy hiện tượng như thế thì cười lớn ha ha!
Cá nhân tôi chủ trương:
"Bất phân giáo phái."

🌟

Khi học tập Mật giáo, tôi đã quy y sư phụ của bốn phái:
Liễu Minh Hòa Thượng (Hồng giáo).
Sakya Chứng Không Thượng Sư (Hoa giáo).
Đại Bảo Pháp Vương thứ 16 (Bạch giáo).
Thubten Dhargye Thượng sư (Hoàng giáo).
Điều này chứng tỏ:
Tôi vốn không phân biệt giáo phái.
Khi tôi thuyết pháp, tôi cũng thường nhắc đến:
Khổng Tử.
Lão Tử.
Chúa Jesus.
Thượng Đế.
Phật Đà.
Vì sao tôi lại thuyết pháp như vậy? Bởi vì tôi đã kiến đạo, kiến đạo rồi thì bình đẳng.

🌟

Hơn 100 năm sau khi Phật tịch diệt, tăng đoàn Phật giáo chia rẽ ra thành Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ, lịch sử gọi đây là sự chia rẽ căn bản.
Sau đó lại phân ra thành Thượng tọa thập bộ, Đại chúng bát bộ, lịch sử gọi đây là sự chia rẽ nhánh cuối.
Thượng tọa thập bộ gồm:
Thuyết hết thảy Hữu bộ, Độc tử bộ, Pháp thượng bộ, Hiền trụ bộ, Chính lượng bộ, Mật lâm sơn bộ, Hóa tha bộ, Pháp tạng bộ, Ẩm quang bộ, Kinh lượng bộ.
Đại chúng bát bộ gồm:
Nhất thuyết bộ, Thuyết xuất thế bộ, Kê dận bộ, Đa văn bộ, Thuyết giả bộ, Chế đa sơn bộ, Tây sơn trú bộ, Bắc sơn trú bộ.

🌟

Tôi nói với mọi người thế này:
Cái gọi là Chân Phật Tông không phải là Chân Phật Tông, căn bản là chẳng có Chân Phật Tông.
Trong mắt tôi, cũng chẳng có Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.
Những thứ này chỉ là danh từ mà thôi.
Là biểu tượng tạm thời. (Kì thực là chẳng có.)


### 02. Tôi đã chết từ lâu


Lúc tôi học trường tiểu học Đại Đồng.
Tôi có một người bạn học rất tốt. Cậu ấy tên Hoàng Kim Hùng. Cả nhà chúng tôi đặt biệt danh cho cậu ấy là Mặt Tròn. Cậu ấy vì mắc bệnh mà chết.
Khi trở về Đài Loan, lần đầu tiên tôi nghe được tin tức cậu bạn đã chết là khi tôi thuyết pháp tại hội trường của trường trung học Cao Hùng.
Tôi không biết nói gì.
Chỉ mặc niệm rất lâu.

Khi tôi học Trường trung học Công Nghiệp Cao Hùng, tôi cũng có một người bạn tốt vô cùng. Cậu ấy tên là Trang Chính Hòa. Cậu ấy là một chuyên gia leo núi, cuối cùng cũng chết ở trên núi, chết trong lúc leo núi.
Cậu ấy và tôi là chủ biên của tờ Thanh Niên Trung học Công Nghiệp Cao Hùng.
Tôi nhớ cậu ấy.

Khi tôi học trường Trắc Lượng (cử nhân khóa 32), tôi lại có một người bạn học rất tốt. Tên của cậu ấy là Hồng Tích Cường. Vào ngày nghỉ, cậu ấy chạy xe máy đi đi về về giữa Vân Lâm và Chương Hóa ở vùng Viên Lâm.
Gặp tai nạn xe máy.
Khi ấy, tôi hãy còn ở trường học.
Nhận được tin, tôi đã khóc nức nở!

🌟

Tôi của trước đây chỉ biết khi con người không thể thở, nằm thẳng cẳng, mắt trợn lên, thân thể không còn cử động, như thế chính là chết.
Tôi của bây giờ đã hiểu rõ hơn chết là thế nào.
Tôi nói với mọi người:
"Tôi đã chết từ lâu rồi!"
Tôi là một "người chết sống" kéo theo cái xác chết.
Nói như vậy là sao?
Bởi vì tôi hiểu:
Tôi không phải tôi.
Pháp không phải pháp.
Việc không phải việc.
Tôi là thân huyễn, pháp là pháp huyễn, việc là việc huyễn, chúng ta ở nhân gian đều là người huyễn làm việc huyễn.
Sau khi tôi kiến đạo thì bắt đầu biết:
Huyễn hóa nhân gian.

🌟

Khi tôi đã đến được cảnh giới này thì mới hiểu lúc Phật Thích Ca Mâu Ni chứng đạo dưới gốc cây bồ đề, Phật Đà liền muốn:
"Niết bàn tịch tĩnh."
Bởi vì:
Vô sở hữu.
Không vô biên.
Thức vô biên.
Phi phi tưởng.
Đây là tên gọi của Tứ không thiên.
Phật Đà vừa chứng đạo liền muốn rời khỏi nhân gian, đây cũng chính là biết huyễn mà rời bỏ huyễn.

🌟

Tôi nói với mọi người:
"Lư Thắng Ngạn đã chết từ lâu rồi!"
Đối với thế gian này, tôi vô sở cầu.
Tôi cũng vô sở đắc.
Dù sắc thân vẫn còn ở thế gian, nhưng tâm đã không còn ở thế gian nữa. Đã vô sở trụ rồi. [không còn bám trụ vào điều gì]
Tất cả mọi thứ đều vô sở vị. [không còn là vấn đề gì nữa]
Không có bất kì cái gì cả chính là sự khắc họa về tôi hiện tại.


### 03. Sự tu hành của tôi là 0 điểm


30 tuổi, tôi kết hôn.
Vợ tôi tên là Lư Lệ Hương.
Sau đó, vào năm 43 tuổi, tôi xuất gia, được đại hòa thượng Quả Hiền cạo đầu, vợ tôi đã trở thành thị giả.
Có một câu ngạn ngữ:
"Vợ chồng vốn là chim một rừng, đại hạn ập đến thì tách nhau ra bay."
Đúng thế.
Lư Thắng Ngạn bay đường của ông ấy.
Lư Lệ Hương bay đường của bà ấy.
Trên phương diện này:
Là 0 điểm.

🌟

Tôi có con trai, tên là Lư Phật Kì.
Tôi có con gái, tên là Lư Phật Thanh.
Vì tôi tin Phật nên đặt tên đệm có chữ Phật.
Phật Kì sinh ra hai đứa cháu trai cháu gái, cháu trai lấy tên là Lư Hoằng, cháu gái lấy tên là Lư Quân.
Phật Kì lấy vợ là Sunny.
Phật Thanh lấy chồng là Andy.
Một hôm, tôi lấy ra sáu chuỗi hạt, phân chia cho sáu người họ mỗi người một chuỗi. Tôi nói:
"Niệm Phật, mỗi ngày!"
Tôi nhìn thấy ánh mắt của sáu người họ đều lộ vẻ mơ mơ màng màng.
Không tỏ rõ ý kiến.
Tôi biết:
Trên phương diện này, tôi cũng được 0 điểm.

Các cháu của tôi đều nói tiếng Anh, chúng nghe tôi nói tiếng Trung thì không hiểu lắm.
Tôi biết:
"Con cháu tự có phúc của con cháu, không vì con cháu mà làm trâu ngựa."

🌟

Trước đây tôi là một quân nhân chuyên nghiệp và nghèo. (Giải ngũ hàm Thiếu tá.)
Sau khi học Phật thì thu nhận đệ tử.
Đệ tử càng ngày càng đông, cúng dường cũng nhiều. (Năm triệu đệ tử.)
Tuy vậy, tôi sống giản dị.
Tôi nói:
Ở Mĩ tôi chỉ mua xăng, lái xe ô tô thì cần xăng.
Ở Đài Loan tôi chỉ mua nước, tôi uống nước suối.
Tôi gần như không tiêu tiền. Tất cả đều có đệ tử cúng dường.
Đối với tiền của.
Đối với vàng bạc châu báu.
Tôi tin rằng:
"Chúng cho bạn mượn mấy mươi năm."
Thân thể của ta vẫn chẳng phải là thứ ta có được. Huống hồ những vật ở ngoài thân, ha ha ha.
0 điểm.

🌟

Tôi là Liên Hoa Đồng Tử chuyển thế.
Tôi là người sáng lập Chân Phật Tông.
Tôi là Căn bản truyền thừa Thượng sư.
...

Tôi tu hành đến cuối cùng thì bắt đầu biết rằng, những thứ này cũng vô giá trị. Liên Hoa Đồng Tử, Liên Sinh Hoạt Phật, Chân Phật Tông, Đại Trì Minh Thượng Sư, năm triệu đệ tử...
Chẳng quan tâm!
0 điểm.

🌟

Tôi nói:
Chỉ có hành giả chứng ngộ mới biết tất cả những thứ hữu tướng đều là hư vọng.
Rời xa tất cả khái niệm.
Hoàn toàn không còn sự bám chấp nào!
Tôi biết tôi là điểm 0.


### 04. Một giọt nước rơi vào biển lớn


Có người hỏi tôi:
"Thành tựu cuối cùng là như thế nào?"
Tôi đáp:
"Giống như một giọt nước rơi vào biển lớn, giống như một tia sáng hòa tan vào biển ánh sáng."
Biển ở đây không phải là biển bình thường.
Mà là:
"Biển biến tri."
Nói một cách đơn giản chính là trí huệ, chính là Phật huệ, chính là Bát nhã, chính là tính Không.
Có người nói là giải thoát, lại có người nói là niết bàn.

Tôi thì có một cảm nhận:
Sung sướng.
Quang minh.
Tính Không.
Một sự tổng hợp của ba thứ này.

Tuy nhiên,
Bạn nói phải thì là phải.
Bạn nói không phải thì cũng là không phải.
Đó thật sự là cảnh giới bất khả thuyết.
(Mọi người có thể nghiên cứu kĩ càng những danh hiệu của Như Lai.)

🌟

Có người hỏi tôi:
"Thế Đại Không Tính là cái gì?"
Tôi đáp:
"Là sự trống rỗng cuối cùng."

Tôi lấy một ví dụ:
Khi pháp thân của tôi tiến nhập vào Đại Không Tính, tôi biến thành "đại ngã". Có vô số vô số tôi. Như thế là hóa thân bên ngoài thân rồi, tôi có thể xuất hiện ở bất kì pháp giới nào (hoặc bất kì đất nước nào).
Trong một đêm, tôi có thể xuất hiện trong mơ của trăm, nghìn, vạn đệ tử, làm được những việc bất khả tư nghì.
Đó là thắng nghĩa đế.
Có khi rõ rệt.
Có khi mơ hồ.
Những công đức không thể biết đến là vô tận không dừng.
Tất cả công đức cũng chẳng khác nào không có công đức.
Chúng ta biết rằng, tính Không cuối cùng là rời khỏi "bát biên kiến".
Đó là:
Vượt qua huyễn tướng.
Kiến lập tứ thân và trí huệ.

🌟

Tôi có một ví dụ nhỏ:
Có một đệ tử mắc chứng bệnh nói lắp. Anh ta mơ thấy Lư Sư Tôn xuất hiện, giống như Kim Cang Thần với con mắt trừng trừng phẫn nộ. Sau đó dùng bàn tay linh ảnh to lớn đánh cho đệ tử mấy cái bạt tai. Đệ tử đau tới mức la hét kêu gào.
Sau khi tỉnh lại.
Chứng bệnh nói lắp đã biến mất.
Ví dụ này chẳng phải rất thần kì hay sao?
Tôi nói:
"Nghiệp chướng hết rồi, tất cả sẽ trở nên bình thường!"

🌟

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người rằng:
Tu hành chính là biến huyễn thân thế tục (thân phàm phu) thành ánh sáng (thân thắng nghĩa).
Sự tu hành thân phàm phu là thứ tự sinh khởi.
Sự tu hành thân thắng nghĩa là thứ tự viên mãn.
Thân phàm phu là thân thô.
Thân thắng nghĩa là thân vi tế.
Quả vị cao nhất của tu hành Mật giáo chính là quả vị Kim Cương Tổng Trì.


### 05. Tôi tu thành công "đạm định"


Tôi thừa nhận tôi từng nói:
"Tôi thích mĩ nữ!"
(Sắc không mê người mà người tự mê.)
Tôi nghiêm túc tu hành pháp vô lậu, sử dụng "Tát già lục thức biến":
Lưỡi chạm lên hàm trên.
Hai mắt nhìn lên trời.
Ép xuống cổ họng.
Bụng hóp về phía lưng.
Thượng hành khí dồn hết ra ngoài.
Nhíu hậu môn.
Đưa bạch bồ đề của bản thân lên, sau đó, cũng không biết bằng cách nào mà bỗng nhiên thật sự là vô lậu.
Chỉ cần bạn thành tựu vô lậu thì bạn chính là một nam tử hán đại trượng phu chân chính, là một chiến hạm vũ trụ vô địch thiên hạ.

🌟

Tu hành pháp vô lậu không chỉ có Tát già lục thức biến. Có rất nhiều phương pháp, tôi kể ra như sau:
Chuyển dời ý thức.
Niệm chú ngữ "Pei".
Bịt ngón tay giữa vào lỗ mũi?
Hai tay giữ vững thủ ấn.
Tứ chi thu lại.
Niệm hai tiếng dài âm "Hum", niệm mười tiếng ngắn âm "Hum".
Kim cương quyền.
(Nâng minh điểm bay đến núi Tu Di.)
Kích thích làm đau một bộ phận nào đó trên thân thể chính mình.
...
Trong chớp nhoáng, rất nhanh, đưa bạch bồ đề lên.
Thật sự.
Tôi đã tu thành công rồi.

🌟

Sau khi tôi tu thành tựu pháp vô lậu, tôi phát hiện ra bản thân mình có thể vững chãi không dao động trong hoàn cảnh "ý loạn tình mê".
Đây là điều mà người bình thường không làm được, phàm phu không làm được, và cũng là điều mà tăng nhân bình thường không làm được.
Nhưng tôi đã làm được rồi!
Trong quá trình tu pháp, tôi có thể:
Niệm một bộ kinh.
Quán tưởng.
Trì chú.
Nhập tam ma địa.
Thiền định.
Khí và khí tan vào nhau, mạch và mạch cùng tiếp xúc, minh điểm và minh điểm cùng kết hợp.
Chuyết hỏa vận chuyển chuyết hỏa.
Chấn động ngũ luân, khai mở ngũ luân.
Trời ơi!
Quang minh nhàn nhã xuất hiện.
Tôi đã trở thành một đại Lama cao cấp vượt lên trên "sắc", việc này là lấy ngọc từ trong miệng rắn độc, trong vạn người cũng khó tìm được một người có thể làm được.
Ở đây, tôi nói với mọi người một bí mật, Không Hành Mẫu Úc Minh Thiên, minh phi trí huệ tiến nhập vào trong thân thể của minh phi thực thể, và như thế cùng tôi tu pháp.
Tỏa hào quang vạn trượng!

🌟

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người:
Những tình tiết trong việc này cũng giống như một người câm nếm thử món ăn nhưng không có cách nào thuật lại được mùi vị mà họ đã nếm được ra sao.
Không khác gì.
Mùi vị mà tôi có được trong thiền định song vận là vượt ra ngoài ngôn ngữ, vượt qua cả những sự suy xét khái niệm.
Không có ai làm được.
Tôi thật sự đã làm được!


### 06. Tu hành nhẫn nhục không dễ


Cuộc đời này của tôi đã chịu hết mọi sự phỉ báng, trải qua vô số phong ba bão táp.
Bản thân tôi cảm thấy chính mình đã tu nhẫn nhục rất tốt.
Ví dụ:
Bút danh "Con Khỉ" ở Malaysia phỉ báng.
Trịnh Nghiêu Trung ở Singapore phỉ báng.
Thang và Nhiêu ở Đài Loan phỉ báng.
...

Có thể xem là bắt nạt.
"Bắt nạt trên mạng."
(Nếu như không tu nhẫn nhục đủ tốt thì tôi có tự sát cả trăm lần cũng không đủ.)

Phương pháp mà tôi sử dụng là tâm niệm:
Ta và người khác bình đẳng.
Hoán đổi ta và người khác.
Và quan trọng nhất là:
Nhân gian này chỉ là một giấc mộng huyễn, hà tất phải bám chấp vào những tình tiết trong mộng huyễn này.
Thế nên:
Họ chửi thì mặc họ chửi.
Tôi sống cuộc sống của tôi.
Cứ thế đã sống qua rất nhiều năm rồi.
Bởi thế nên tôi mới cảm thấy tôi tu hành nhẫn nhục thật sự cũng không tệ, đáng khen ngợi.
Tôi chẳng đọc.
Tôi chẳng nghe.
Tôi chẳng nói.

🌟

Tuy vậy, tháng 2 năm 2021.
Sư Mẫu Thượng sư Liên Hương nói tôi, cằn nhằn tôi.
Theo những kinh nghiệm quá khứ của tôi thì là:
Giả điếc.
Không nói gì.
Lập tức tránh xa.
Dùng ba chiêu này để ứng đối thì tự nhiên sẽ chung sống hòa hợp.

Thế nhưng hôm đó, tôi cũng không hiểu vì sao mà đột nhiên tôi lại nói bà ấy mấy câu, kết quả có thể thấy rõ là bà nói một câu, ông nói một câu, tôi không thể nhịn được nữa, thế là trong chốc lát, tôi đã phá vỡ tất cả rồi! (Đốt cháy cả rừng công đức.)
Bà ấy không để tôi làm kiết giới giúp bà ấy nữa.
Tôi cũng không giúp bà ấy làm kiết giới nữa.

Sau sự việc ấy, bà ấy bảo tôi, ba buổi tối không làm kiết giới, bà ấy đều nhìn thấy ma.
Ma màu trắng.
Ma màu đen.
Đến buổi tối ngày thứ tư thì tôi mới giúp bà ấy làm kiết giới, ma cũng biến mất, khi ấy thì cũng không còn tức giận nữa.
Tôi cảm thấy tôi 77 tuổi rồi, Sư Mẫu cũng đã 73 tuổi rồi, thân thể bà ấy có khuyết tật, tôi nên nhường bà ấy nhiều hơn.
Ấy thế mà cũng có một ngày không nhịn được, hầy! Nhẫn nhục thật sự là không dễ mà! (Thật ra, bà ấy vì Chân Phật Tông, cũng rất nhẫn nhục chịu khó mà làm rất nhiều việc rồi.)

🌟

Tôi nghĩ đến:
Thề nguyện của tôi là "không bỏ rơi một chúng sinh nào".
Trên phương diện tu trì Mật giáo:
Tất cả mọi chúng sinh, bất luận là đã chứng ngộ hay chưa, thì đều có Phật tính.
Nam là Dũng Phụ.
Nữ là Không Hành Mẫu.
Nơi tôi sống là Úc Minh tịnh thổ, hoặc là các cõi tịnh thổ khác.
Là thanh tịnh.
Tôi cần xem chúng sinh đều là Phật.
Như thế thì sẽ thành tựu nhẫn nhục rồi!


### 07. Tâm xuất li


Đôi khi tôi ngẫm nghĩ, tôi từng nghĩ về cuộc đời của con người hiện đại:
Sinh ra.
Đi học.
Đi làm.
Kết hôn.
Con cái.
Già.
Chết.
Hầu hết con người trên thế gian đều đang sống theo một khuôn mẫu này.
Cơ bản là giống nhau.

Tôi thường nói:
1 tuổi --- khởi đầu một chương.
10 tuổi --- học tập khẩn trương.
20 tuổi --- tuổi trẻ đau thương.
30 tuổi --- sự nghiệp tìm đường.
40 tuổi --- bắt đầu phát tướng.
50 tuổi --- tuy già vẫn gượng.
60 tuổi --- huyết áp bất thường.
70 tuổi --- trí nhớ ẩm ương.
80 tuổi --- run rẩy chuyện thường.
90 tuổi --- mất dần phương hướng.
100 tuổi --- ảnh treo trên tường.
Đây chính là đời người, đời người nhìn chung là như vậy.

Bạn nói xem, ở đây ý nói gì? Điều này có ý nghĩa gì? Từ sinh ra cho đến chết đi, vô vị hết sức.
Bạn muốn thoát ra khỏi cái khuôn khổ này, rất khó, trên có cha mẹ, dưới có vợ con còn đang trông vào bạn đó!
Tôi đã nghĩ rất lâu, rất lâu về đời người này, kết quả là đúng như những gì Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói.
Khổ --- là chân thực.
Không --- là chân thực.
Vô thường --- là chân thực.
Vô ngã --- là chân thực. (vô tự tính)
Vô sở đắc --- là chân thực. (Khi đến chẳng có gì, khi đi chẳng có gì.)

Bài thơ của Vương An Thạch đã ảnh hưởng đến cả cuộc đời tôi:
*”Biết đời như mộng vô sở cầu,
Vô sở cầu lòng tĩnh lặng không.
Vẫn tưởng trong mơ tùy mộng cảnh,
Thành tựu công đức tựa hà sa.”*
Tôi muốn rời khỏi nhân thế gian này, xuất li khỏi lục đạo luân hồi. Trời, người, atula, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.
Tâm xuất li của tôi rất lớn.
Đương nhiên tôi biết, đời này, có được thân người rất khó, cũng biết rằng sinh mệnh rất vô thường, nếu đời đời kiếp kiếp luân hồi thì vĩnh viễn không có ngày thoát ra.
Tôi đã hiểu nhân quả.
Tôi muốn có được lợi ích của sự giải thoát.

*Pháp thân tan biến vào hư không,
Trí huệ pháp tính cần chứng ngộ,
Quang minh biện chiếu khắp vũ trụ,
Phật quốc tịnh thổ tự chứng minh,
Không bỏ chúng sinh bồ đề nguyện,
Tôi nhờ hóa thân độ hữu tình.*

🌟

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người:
Tôi muốn rời khỏi thế gian này, biết huyễn rời bỏ huyễn, theo đuổi bản tính chân thực. Sau đó, tôi muốn dùng hào quang đại từ bi để giúp đỡ tất cả chúng sinh hữu tình thoát khổ được vui.
Tôi phát nguyện không từ bỏ một chúng sinh nào.
Tôi phát hiện ra cam lộ là đến từ thiền định, xa rời những trò vui, vô vi, quang minh.
Tôi sẽ thuyết pháp cho mọi người.
Bởi vì:
Ai ai cũng có Phật tính.


### 08. Tự do và giới luật


Cả đời tôi coi trọng sự tự do, tôi hình dung bản thân tôi căn bản giống như con ngựa hoang, hướng về biển rộng trời cao.
Đáng tiếc là:
Khi còn nhỏ, bố tôi chính là bá vương, bố tôi chính là pháp luật, không tuân theo luật lệnh của bố tôi thì sẽ gặp cuồng phong bão táp.
Tội nghiệp!
Tôi đã bị chèn ép 19 năm.

Còn nữa, nhà có gia pháp, trường có nội quy. Thời tiểu học, tôi thích bỏ nhà đi và trốn học.
Thầy giáo chính là pháp luật. Tôi từng bị thầy Tăng Mai Tinh bắt phải đi ba bước lạy một lần ở hành lang của lớp học các bạn nữ, khiến tôi rất mất mặt.

Khi học trường quân đội, quân pháp càng nghiêm hơn.
Tôi lén uống rượu.
Lúc thi cử thì gian lận.

Sau này tôi kết hôn, những lời Thượng sư Liên Hương nói chính là pháp luật.

Khi học Phật pháp rồi, Phật Thích Ca Mâu Ni nói: "Lấy giới làm thầy."
Trời ơi!
Sự tự do của tôi, sự tự do của tôi ở đâu rồi? Tôi cho rằng tôi là một đấu sĩ tự do, thế mà nay, tự do chỉ là trong mơ mới có thể thực hiện được.
Tự do?
Là chỉ sự tự do trong khuôn khổ của giới luật!

🌟

Phật giáo có bao nhiêu giới luật? Kinh Phật được phân thành kinh, luật, luận, một phần ba là giới luật.
Trời ơi! Tôi thảm rồi!
Có người nói:
"Giới luật của Mật giáo nhẹ hơn giới luật của Hiển giáo một chút chăng?"
Tôi nói:
"Căn bản là nói xằng bậy, giới luật của Mật giáo nhiều như sao trên trời, không những phải giữ giới luật Hiển giáo mà giới luật Mật tông lại càng phải giữ, nhiều hơn chứ không ít đâu."
Tôi lấy ví dụ:

1. 14 giới đọa căn bản của Mật giáo.

1. Các giới đọa căn bản của Mật tông nói chung.

1. 50 điều về cách hành xử đối với sư phụ.

1. Giới luật về song vận.

1. Bốn tầng giới luật.

1. Tám tầng giới đọa căn bản thứ cấp.

1. 19 giới điều của Ngũ Phương Phật.

1. Giới thề nguyện Mật tông.

1. 25 điều về giới luật hành vi.

Mỗi một tựa đề những giới luật này đều có thể viết thành một cuốn sách được.
Ngoài ra còn có: ngũ giới, bát giới, sa di giới, Bồ Tát giới, xuất gia giới, biệt giải thoát giới, giới thề...
Đại thành tựu giả Atisa tôn giả nói:
"Giới luật mà ta phạm phải nhiều như số giọt mưa rơi xuống vậy!"
Nhiều như giọt mưa!
Ôi mẹ ơi!
Tôi sắp bị giới luật đè chết rồi!

🌟

Phạm giới rồi thì nhất định cần phải hoàn tịnh. (Thề không tái phạm.)
Tôi nói cho mọi người ba pháp:
Thứ nhất, đến chỗ của Căn bản Thượng sư thỉnh cầu quán đảnh pháp hoàn tịnh.
Thứ hai, bế quan, sám hối, hoàn thành hỏa cúng. (Để tự mình nhận quán đảnh hoàn tịnh.)
Thứ ba, niệm tụng mười nghìn biến bách tự minh chú Kim Cang Tâm, đó cũng là pháp hoàn tịnh.
Sau khi hoàn tịnh, có tướng thanh tịnh xuất hiện mới là hoàn tịnh chân thực. Điểm này rất quan trọng.


### 09. Giới luật nghiêm khắc hơn


Tôi nghe sư phụ nói:
"Hành giả hiện đại có thể xem là khá thoải mái. Giới luật thời cổ đại nghiêm hơn nhiều."
Sư phụ nói:
Trên phương diện ăn:
Hóa duyên, khất thực. Thí chủ cúng dường cái gì thì ăn cái đó. (Giới không nấu nướng.)
Quán tưởng thức ăn là phân, là đất cát, là gạch ngói, sau đó mới ăn. (Ngăn sự thèm muốn khẩu vị.)
Uống nước phải niệm chú.
*Uống một ngụm nước sạch
Tám vạn bốn nghìn trùng
Nếu như không trì chú
Khác gì giết chúng sinh.*

Trên phương diện mặc:
Áo vá chằng vá đụp — những miếng vải vụn đem khâu lại mà mặc. (Giống Tế Công Hoạt Phật)
Áo rách nát nhặt từ rác — vải thô.
Áo quấn người chết — vải để bọc người chết ở Ấn Độ đem làm thành quần áo.

Trên phương diện sống:
Trong hang động.
Ở dưới cây.
Giữa nghĩa địa. (Ở giữa những ngôi mộ.)

Về phương diện đi lại:
Đi bộ.
Đi dép cỏ. (Một chén cơm muôn nhà, cô tăng đi vạn dặm.)

🌟

Trên phương diện tiền bạc:
Tay không đụng vào tiền.
Không tích trữ tiền bạc.
Dù một sợi tơ, một cây kim, một sợi chỉ cũng không ăn trộm.

Trên phương diện sắc:
Nam nữ cần giữ khoảng cách, cần đứng cách xa nhau. (Cự li an toàn)
Mắt không được nhìn nhau. Chỉ nhìn xuống đất.
Nói chuyện không quá vài câu.

Trên phương diện danh vị:
Lên núi. (Rời xa đám đông)
Bế quan.
Không nhìn. Không nghe. Không nói. Tránh xa tất cả thị phi.
Rời xa cái danh.

Trên phương diện ngủ:
Không được ngả người.
Không được nằm xuống để ngủ, không có giường, chỉ có thể ngủ ngồi.

Ngoài ra:
Không ăn khi quá trưa. (Một ngày chỉ ăn một bữa)

🌟

Vào thời cổ đại hay cận đại cũng có rất nhiều ví dụ về khổ hạnh.
Ví dụ:
Treo ngược trên cành cây để tu hành.
Ngồi thiền trong nước.
Ngồi thiền trong lửa.
Ngồi thiền trong thực vật có gai.
Tự làm đau mình, học cách đi đứng kiểu động vật.

🌟

Đối với các loại khổ hạnh, cá nhân tôi cảm thấy đó là để dạy dỗ bản thân, có thể hỗ trợ kiểm tra hành vi của bản thân.
Những điều này có thể giúp tìm ra sai lầm của bản thân, có lợi ích đối với việc chỉnh đốn bản thân.
Trong tất cả các giới, tôi coi trọng "ý", cũng chính là "tâm".
Tâm của chúng ta an vị trên con đường đúng đắn.
Mọi việc ác không làm.
Hãy làm mọi việc thiện.
Chỉ cần tâm không buông thả, không đọa vào lục đạo luân hồi, thì tất cả mọi cực nhọc đều xứng đáng.


### 10. Bốn nghiệp trắng và bốn nghiệp đen


Tôi biết trong tu khí - mạch - minh điểm của Mật giáo có pháp song thân (song vận). Đây là pháp của người "kham năng" [người có năng lực tu hành rất cao]. Người bình thường không tu được.
Người kham năng tối thiểu cần có hai điều kiện:

1. Vô lậu.

1. Tính Không.

Cái trước là không còn rò rỉ bạch bồ đề, bởi vì khi còn rò rỉ bạch bồ đề thì căn bản là đọa. Cái sau là kiến đạo, hiểu chân đế của Không.
Giới luật của pháp song thân rất hà khắc.
(Cuốn "Minh cấm hành biểu" của Thượng sư Trần Kiến Dân đã liệt kê ra những điều có thể làm và không thể làm, vô cùng tỉ mỉ, hành giả nên tham khảo, xem xong là hiểu ngay.)

Ngoài ra, đọc cuốn "Đề cương giới luật học" của pháp sư Thánh Nghiêm cũng có thể hiểu rõ rất nhiều giới luật. Có thể so sánh với "Bồ đề giới luận" của Tsongkhapa và "Bồ Tát giới" trong kinh Phạm Võng. Cuốn "Mật giáo trí huệ kiếm" của Lư Sư Tôn cũng là viết về giới luật, có thể tham khảo.

🌟

Cá nhân tôi cảm thấy bốn nghiệp trắng rất quan trọng:

1. Tránh nói dối.
Ở phương diện này rất dễ phạm lỗi, muốn con người hiện đại không nói dối dường như là điều không thể. Vì thế, nói dối bị xếp hạng số một. Tâm chính trực là rất quan trọng.

1. Phát đại tâm bồ đề.
Đối với người tu hành mà nói, độ người ta đi trên con đường tu hành là việc đại thiện, nhưng cũng cần dạy người ta phát đại tâm bồ đề. Dạy người ta đi con đường Đại thừa, không dạy người ta đi con đường Tiểu thừa.
Lợi mình nhưng cũng cần lợi người khác, không chỉ như thế, lợi người khác lại càng quan trọng hơn. Chỉ cần có thể "lợi tha" đã là đại tâm bồ đề rồi.
Trong kinh Bản Sinh, Phật Thích Ca Mâu Ni có rất nhiều rất nhiều những câu chuyện về lợi tha, vô cùng cảm động lòng người. Nói nghiêm túc thì lợi tha là tinh thần của Phật giáo.

1. Xem tất cả chúng sinh hữu tình là thầy giáo.
Tôi cảm thấy chúng ta đến nhân gian này là để trả nghiệp, bất kể người ta đối với ta tốt hay đối với ta xấu, họ đều là đến để dạy bảo ta. Nghĩ được như thế thì tâm bình khí hòa, chúng sinh hữu tình đều là thầy giáo của ta. Và như vậy tất sẽ không phạm giới!

1. Đối đãi với chúng sinh bằng tâm khiêm tốn nhất. Điểm này gần như tương tự với điểm thứ ba, đó chính là một dạng tâm chính trực đối đãi chúng sinh.
Một dạng từ bi.
Một dạng chân thành.
Một dạng nhân nghĩa.

🌟

Thế nào là bốn nghiệp đen?

1. Nói dối, lừa gạt thầy mình.

1. Đánh mất lòng tin của người khác.

1. Nhục mạ, phẫn nộ, phá hủy những thứ tượng trưng cho Tam Bảo Phật - pháp - tăng.

1. Lừa gạt tất cả chúng sinh hữu tình.

Chà! Bốn nghiệp đen vừa hay là tương phản của bốn nghiệp trắng.
Nếu chúng ta muốn tu hành thành tựu, quả vị tăng cao, giải thoát luân hồi thì nhất định phải làm bốn nghiệp trắng. Tuyệt đối không được làm bốn nghiệp đen.
Làm sao để phân biệt hành vi thiện ác? Chẳng phải là ở sự lớn nhỏ hoặc biểu hiện bên ngoài của chúng, mà là ở sự phát tâm thiện hay ác.
Tất cả do tâm tạo!


### 11. Đại thiện và đại tu hành


Đệ tử của tôi từng hỏi:
"Lư Sư Tôn, con từng phát hiện ra hai chữ rất tuyệt vời, vô cùng tuyệt vời, hai chữ này là nhân duyên."
Tôi đáp:
"Không sai. Tất cả vì duyên sinh, tất cả vì duyên diệt."
Đệ tử hỏi:
"Thế đệ tử như chúng con còn tinh tấn cái gì đây?"
Tôi đáp:
"Siêu việt."

Đệ tử hỏi:
"Pháp sinh bởi nhân duyên, ta nói tức là không. Vậy làm sao có thể siêu việt?"
Tôi giải thích như sau:
Tôi ở trong thiền định từng tiến nhập vào thế giới không có sự nhận biết, có nghĩa là cảm nhận không được bất kì thứ gì. Giống như trong giấc ngủ sâu không mơ mộng vậy. Tất cả đều là màu trắng trống không.
Tôi biết:
Đây là Vô Tưởng Thiên, Vô Tưởng thiên nhân ở trung tâm của cõi này đã tạo ra một trạng thái hoàn toàn trống không.
Tôi cảm thấy:
Đây không phải là chính đẳng chính giác. Mà là cái Không cưỡng ép. Tôi liền muốn ra khỏi cảnh giới này!

🌟

Tôi nói:
Nếu như tin sâu sắc vào nhân duyên, cho rằng tất cả đều là do nhân duyên tạo thành, thì cũng giống như thuyết số mệnh.
Sống chết có số.
Giàu nghèo tại trời.
Tất cả tại số mệnh.
Chẳng phải tại người.
Thế thì sẽ trở thành một vũng nước đọng, không thể gợn lên một chút sóng nước nào, trở thành một người sống theo số mệnh đã định rồi.
Phật pháp chân chính cho rằng điều này cũng không đúng.

Phật Đà nói:
Cho dù là côn trùng cũng có Phật tính, cũng có một ngày sẽ đắc chính đẳng chính giác. Câu nói này đã phá bỏ quan niệm về số mệnh.
Nhân duyên là thứ có thể vượt qua được.

Có một cuốn sách là "Liễu Phàm tứ huấn", tác giả là Viên Liễu Phàm. Ông ấy ban đầu là một người theo thuyết số mệnh, cho rằng định số là không thể thay đổi và vượt lên được. Tất cả đều là nhân duyên. Tâm như nước đứng yên.
Về sau, Viên Liễu Phàm được thiền sư chỉ bảo, nỗ lực thay đổi vận mệnh, và học theo thuyết lập mệnh, cuối cùng đã thay đổi được mệnh vận của mình.
Vì thế, mệnh vận có thể thay đổi được. Chứ không phải là không thể thay đổi.
Đại thiện có thể cải biến vận mệnh.
Đại tu hành có thể cải biến vận mệnh.
"Trong mệnh mà có thì cuối cùng ắt sẽ có, trong mệnh mà không có thì đừng cưỡng cầu." Câu nói này khuyên người ta đừng có tham niệm.
Cách nghĩ của tôi là:
"Tôi chỉ cần nỗ lực làm, tôi tinh tấn mà làm, tôi tận lực mà làm, còn có thành hay không thì không cần nghĩ ngợi!"
Tôi thì:
Tin vào vận mệnh.
Nỗ lực cải vận.
Hai thứ song vận.
Tinh tấn và không lười biếng!
Cái tôi học là "trung quán chính kiến".


### 12. Sưng đau ngón tay


Một hôm.
Tôi chợt phát hiện ra ngón tay phải của tôi có một vết nhỏ màu đỏ bị sưng đau. Đau tới mức ghê gớm, không có cách nào mô tả được.
Là chuyện gì đây?
Liệu có phải là có một cái lỗ rồi vi khuẩn xâm nhập vào không?
Là bệnh thần kinh ngoại biên?
Là hội chứng thấp khớp?
Là bệnh gút?
Là...?

🌟

Đầu ngón tay này sưng đau xem ra chỉ là một chuyện nhỏ, nhưng đột ngột ảnh hưởng đến toàn bộ cuộc sống của tôi.
Việc viết văn của tôi gặp vấn đề rồi, tay tôi không cầm được bút.
Tôi đánh răng cũng gặp vấn đề, tôi không thể cầm chỉ nha khoa.
Tôi đi vệ sinh cũng gặp vấn đề, tôi không thể cầm được giấy vệ sinh.
Rửa bát.
Mặc quần áo.
Ăn cơm.
Ngoài ra, buổi tối đi ngủ, sau khi ngủ say rồi thì cảm giác đau cũng biến mất, thế cũng còn tốt, nhưng hễ tỉnh dậy thì lại đau vô cùng, ngay cả lên giường kéo chăn đắp cũng không dễ dàng.
Tôi làm sao vẽ tranh?
Tôi làm sao viết sách?
Tôi làm sao tu pháp? Làm sao kết thủ ấn?
Bởi vì ngón tay này, một phần nhỏ của nó sưng đau đã khiến cho cuộc sống của tôi hoàn toàn biến động.
Thật sự là đau ghê gớm!
Uống thuốc giảm đau thì hiệu lực của thuốc có chạy đến đầu ngón tay không? Dùng thuốc mỡ chống viêm thì cũng chỉ đỡ một chút xíu, ôi!
Nhưng mà nó thật sự đau tới mức muốn lấy mạng người ta mà!

Tôi vì một vết rất nhỏ trên đầu ngón tay sưng đau mà liên tưởng đến vấn đề giới luật của Phật giáo.
Đừng cho rằng chỉ là một việc xấu bé xíu nên cứ làm.
Chúng ta thường cho rằng đây chỉ là việc vô cùng nhỏ, lỗi lầm vô cùng nhỏ mà không chú ý đến nó.
Ví dụ:
Giết một con kiến.
Ăn trộm một cây kim.
Chạm vào tay một cô gái.
Vung ra một lời nói khoác nho nhỏ.
Uống một li rượu ngon.
Chính vì cách nghĩ như vậy mà không còn nghiêm khắc giữ lời thề giới nữa, ảnh hưởng đến việc tu hành lớn.
Cần biết rằng:
"Rút dây động rừng."
"Một khớp ngón tay nhỏ của tôi sưng đau đã khiến cho cuộc sống của tôi biến động, toàn thân đều không dễ chịu được."

🌟

Phật nói:
Một hạt giống nhỏ xíu rơi vào trong đất. Đó chỉ là một nhân nghiệp bé nhỏ.
Thế nhưng,
Hạt giống nhỏ bé nảy mầm!
Nó lớn lên thành một cái cây nhỏ.
Cây nhỏ lớn lên thành cây lớn.
Cuối cùng trở thành một cây đại thụ cao ngút trời.
Cuối cùng không ngờ lại trở thành thần cây.
Nhân duyên quả báo là bất khả tư nghì đúng như vậy đó!

Vì thế:
Tôi xúc động sâu sắc!
Đừng cho rằng chỉ là một việc xấu nhỏ nên cứ làm.
Người tu hành phải giữ lời thề giới là điều vô cùng quan trọng!


### 13. Tùy bệnh bốc thuốc


Đầu ngón tay tôi bị sưng đau đã bị hai đệ tử là bác sĩ để ý thấy!
Một người là bác sĩ Eliana ở Canada.
Một người là bác sĩ Hồng Hạnh Khoan ở Seattle.
Đây là chứng bệnh viêm móng tay.
Bác sĩ Hồng nói:
"Kẽ móng tay có khe hở, hoặc có lỗ hổng, vi khuẩn dễ dàng tấn công vào. Vì vi khuẩn sinh sôi nảy nở ở bên trong nên mưng mủ, dẫn đến sưng viêm, vì thế mà sinh ra sưng đau."

🌟

Thế là con trai của sư tỉ Từ Nhã Kì là bác sĩ Hồng Hạnh Khoan đã đến Chân Phật Mật Uyển đích thân giúp Sư Tôn khám và chữa bệnh.
Thượng sư Liên Truyền thì đem hết những dụng cụ khám chữa bệnh ở nhà riêng đến.
Băng gạc.
Kim.
Cồn.
Thuốc mỡ gây tê.
Thuốc mỡ kháng sinh.
v.v...

Hồng Hạnh Khoan tự tay làm. Phương pháp của bác sĩ Hồng như sau:
Tay của tôi ngâm trong một chậu đầy nước ấm. Bác sĩ Hồng dùng kim để nậy kẽ móng tay lên. (Hoặc châm một lỗ ở chỗ bị mưng mủ.)
Bác sĩ Hồng dùng ngón tay mình ấn nhẹ, ấn đi ấn lại, chủ yếu là để đẩy máu mủ ra ngoài.
Bác sĩ Hồng nói:
"Cần phải đẩy hết mủ trắng bên trong ra ngoài, tương đương với việc đẩy vi khuẩn ra ngoài."
Cần phải đẩy ra hết.
Đẩy hết mủ ra rồi, sạch sẽ rồi, thì lại phải bôi thuốc kháng sinh. Bác sĩ Hồng nói:
"Người bệnh thông thường chỉ cần bóp hết mủ trắng ra thì sẽ khỏi rất nhanh. Nếu như vẫn chưa khỏi thì cần uống thuốc kháng sinh, khoảng năm ngày sẽ khỏi."
Tôi cảm ơn bác sĩ Hồng. Bởi vì ngày hôm sau tay tôi đã khỏi rồi.

🌟

Sư tỉ Từ dạy con có phương pháp:
Người con trai thứ nhất Hồng Hạnh Đức là luật sư.
Người con trai thứ hai Hồng Hạnh Khoan là bác sĩ.
Người con gái thứ ba Hồng Quế Thanh là bác sĩ nha khoa.

🌟

Từ sự việc này, tôi liên tưởng đến tám vạn bốn nghìn pháp môn của Phật Đà, hóa ra là để đối trị với tám vạn bốn nghìn loại bệnh.
Chúng sinh có bệnh, nhất định cần phải tùy bệnh bốc thuốc.
Đương nhiên, không chỉ là thân thể có bệnh, phàm phu bình thường chúng ta đều có đủ loại bệnh do những thói xấu. Những thứ này phải cần đến tám vạn bốn nghìn Phật pháp để đối trị.
Ví dụ:
Chúng ta có bệnh tham thì phải dùng giới luật để đối trị.
Chúng ta có bệnh sân thì phải dùng thiền định để đối trị.
Chúng ta có bệnh si thì cần dùng trí huệ để đối trị.
Lại ví dụ:
Người keo kiệt thì phải dùng bố thí để đối trị.
Người lười nhác thì cần dùng tinh tấn để đối trị.

Trước khi Milarepa tiếp cận được giáo pháp của Marpa đã phải trải qua đủ bài kiểm tra.
Là để đối trị với nghiệp chướng của chính ngài.
Là để tịnh hóa ác hành của chính ngài.
Cuối cùng mới là tích lũy công đức.
Bởi vậy, trong Phật pháp, đúng bệnh bốc thuốc là vô cùng quan trọng!


### 14. Càn khôn đại chuyển dịch


Tôi thừa nhận rằng về mặt thiền định, tôi đã hạ công phu rất lớn. Tôi chiếu theo phương pháp của sư phụ mà quán tu theo thứ tự.

1. Quán cung điện.

1. Quán Bổn tôn. (Mandala Phật cùng Bổn tôn hợp nhất.)

1. Quán quyến thuộc.

1. Quán tịnh thổ.

Trong quá trình này có năm kiểu sai sót và tám cách đối trị, tôi đều lần lượt ứng đối.
Sai sót là:

1. Lười.

1. Quên mất bản thân là Bổn tôn.

1. Hôn trầm (lỏng), trạo cử (căng).

1. Đối trị. (Chỉ việc đối trị quá đà.)

1. Không đối trị.

Còn các cách đối trị là: tín tâm, hi vọng, tinh tấn, làm mềm mại, chuyên nhất, cảnh giác, đối trị, không đối trị.

Nói thẳng thắn:
Trong khi quán tu, có khi phải tốn rất nhiều thời gian và tinh thần, có thể nói là hết lần này đến lần khác, lặp đi lặp lại...

Cho đến tận lúc đạt đến:
Ổn định.
Chuyên nhất.
Li hí.
Nhất vị.
Bản nhiên.

Có thể nói như thế này, từ thiền định thô nhất chạm đến thiền định vi tế nhất. Nếu như có hành giả nào không trải qua giai đoạn này thì đó là thành tựu không thể nào có được.

Trên ba cấp độ chứng ngộ thì:

1. Sinh khởi bồ đề tâm thì thực hành phần Tiền hành.

1. Trong tu thiền thì an trụ trong Tam ma địa. (Trạng thái bản nhiên)

1. Hồi hướng và cầu thỉnh.

Khi quán tu, bản thân tôi cũng có khẩu quyết của riêng mình:
Tôi không có tự ngã.
Không còn các khái niệm.
Nhị nguyên biến mất!
Không còn mong cầu, không kinh không sợ.
Thượng sư.
Bổn tôn.
Hành giả.
Đều hóa thành bản nhiên.

🌟

Cuối cùng, điều tôi muốn nói với mọi người là:
Càn khôn đại chuyển dịch, không ngờ thiền định trong trăm nghìn triệu tịnh thổ:
Một lúc lại biến mất.
Một lúc lại xuất hiện.
Một lúc, một lúc, trăm nghìn triệu tịnh thổ lần lượt xuất hiện, lần lượt biến mất.
Thấy được khuôn mặt Phật.
Nghe chư Phật thuyết pháp.
Tỏa trăm nghìn triệu ánh hào quang.
Điều đó thật sự là không có cách nào dùng văn tự để mô tả được, cũng không có cách nào hình dung ra được. Vì thế, tôi chỉ có thể lấy một câu từ võ công vô thượng trong tiểu thuyết võ hiệp: "Càn khôn đại chuyển dịch."

🌟

Tương lai tôi phải rời xa thế giới Ta Bà.
Một càn khôn đại chuyển dịch là được. Như thế thì chẳng tốn công phu. Trong sát-na, trong chớp mắt là đã xong rồi!
Bởi vậy, nhập Tam ma địa trong phần Chính hành là thành tựu chân chính, cũng là pháp nhĩ bản nhiên!


### 15. Bàn tay linh thiêng khổng lồ


Ở miền nam Malaysia có đệ tử Liên Hoa Kim Hoa (tên giả) ở một phân đường Chân Phật Tông. Anh ta bị trúng phong (đứt mạch máu não), được đưa đến phòng điều trị tích cực trong bệnh viện.
Anh ta hôn mê. Trong lúc hôn mê đã trải qua một việc rất kì dị.

🌟

Liên Hoa Kim Hoa bị bốn, năm lính canh ngục bắt giữ, tay anh ta bị trói lại. Anh bị dẫn đến địa ngục dầu sôi.
Anh mô tả cái vạc dầu:
To như cái bể bơi.
Dầu trong đó đầy khoảng tám phần, đều nóng sôi ùng ục và nổi cả bong bóng. Bên trong vạc dầu có rất nhiều người đang bị rán thành quẩy, đảo lên đảo xuống. Bên dưới vạc dầu ngọn lửa cháy bừng bừng, ánh lửa tỏa khắp bốn phía.

🌟

Chỉ trông thấy một quan coi ngục tay cầm sổ ghi chép điểm danh người phải xuống vạc dầu. Quan coi ngục hét lên:
"Vương Kim Hoa."
Thế là những lính canh ngục đưa anh ta đến liền dùng hết sức để đẩy anh vào trong vạc dầu.
Đúng vào lúc này, Liên Hoa Kim Hoa nhớ đến tâm chú Liên Hoa Đồng Tử: "Om guru liansheng siddhi hum."
Anh ta niệm một câu, kết quả là, người treo lơ lửng ở không trung.
Không bay lên.
Không rơi xuống.
Lúc này, cả quan coi ngục và lính ngục trông thấy đều rất kinh sợ, sao lại có hiện tượng như vậy chứ.
Quan coi ngục hỏi:
"Anh vừa đọc cái gì đấy?"
Liên Hoa Kim Hoa nói:
"Tâm chú Liên Hoa Đồng Tử!"
Liên Hoa Kim Hoa lại niệm:
"Om guru liansheng siddhi hum."
Chỉ thấy từ trong hư không có một bàn tay khổng lồ với xuống, tóm chặt lấy Liên Hoa Kim Hoa.
Bàn tay linh thiêng khổng lồ đỡ Liên Hoa Kim Hoa trở về bệnh viện anh ta đang nằm, trả lại linh hồn của Liên Hoa Kim Hoa về với thể xác của Liên Hoa Kim Hoa.

🌟

Nói ra thì cũng kì quái!
Bệnh trúng phong của Liên Hoa Kim Hoa ấy, máu tụ trong não đã biến mất. Anh ta tỉnh khỏi hôn mê, rồi dần dần trở lại như người bình thường, cuối cùng là được xuất viện.
Khi xuất viện, anh đặc biệt căn dặn:
"Phải đến phân đường trước, lễ bái Liên Hoa Đồng Tử!"

Chuyện này là:
*Khi chẳng ai cứu khỏi vạc dầu
Trong lòng đau đớn mãi không nguôi
Khi ấy duy nhất nơi nương dựa
Tam thế chư Phật, Thượng sư tôi.*

🌟

Bởi vì thành tựu cuối cùng của Thượng sư của bạn là có thể hóa thân tại trăm nghìn vạn tỉ Phật quốc, đương nhiên mười phương pháp giới ngài đều có thể đến được.
Hễ bạn nhớ đến
Là được cứu độ!


### 16. Luyện tập tu thiền


Tôi nhớ lần giảng về "Cửu thứ đệ định" tại Singapore, tôi thật lòng thật sự nói với mọi người rằng bản thân tôi dựa vào "Cửu thứ đệ định" để mà tu thiền quán.
Quá trình này như sau:
Sơ trụ, tục trụ, hồi trụ, cận trụ, phục trụ, tịch trụ, tối tịch trụ, chuyên trụ, đẳng trụ.
Những bước trên là sự luyện tập "tâm".
Quan trọng nhất là quen tay hay việc.
"Cửu thứ đệ định" này đòi hỏi thời gian.
(Chú thích: Muốn nghe giải thích tường tận về "Cửu thứ đệ định", xin mời tham khảo bài thuyết pháp khi đó.)

Thiền quán này phù hợp với Hiển giáo, cũng phù hợp với Mật giáo.
Trọng điểm của "Cửu thứ đệ định" nằm ở sự chuyên nhất của tâm. Tâm chạy lung tung thì cần tóm nó lại. Tập trung vào việc quán tưởng.
Sự tỉnh thức và chuyên chú ổn định, dần dần kéo dài thời gian.
Quá căng không tốt.
Quá lỏng cũng không tốt.
Tóm lại, trạo cử thì phải thả lỏng một chút. Hôn trầm thì cần căng hơn một chút. Mục tiêu cuối cùng là cần "đẳng trụ" hoàn toàn vào pháp nhĩ bản nhiên.

Lư Sư Tôn nói:
"Hành giả quán tưởng Bổn tôn của bản thân cho đến khi cực kì thuần thục thì cũng giống như đã loại bỏ được thân phàm phu."
"Hành giả niệm tụng tâm chú Bổn tôn, đến cuối cùng có thể đạt được sự thanh tịnh của khẩu."
"Hành giả mượn ý niệm đạt đến cảnh giới Không-Bi song vận thì sẽ đạt được sự thanh tịnh của ý."
Tôi nói với mọi người:
Nhờ sự thanh tịnh của thân, khẩu, ý mà:
Tương ứng Bổn tôn.
Tương ứng Thượng sư.
Nhờ sự tương ứng Bổn tôn, Thượng sư này mà tiếp theo tu khí, mạch, minh điểm sẽ rất dễ thành tựu.

Tôi còn nhớ:
Khi Phật Ca Diếp trụ thế. Xá Lợi Phất là đệ tử của Phật Ca Diếp. Xá Lợi Phất rất nghiêm túc tu thiền quán, nhưng vẫn không đạt đến cứu cánh. Sau đó, Phật Thích Ca Mâu Ni trụ thế. Xá Lợi Phất lại cùng Phật Đà tu hành. Bởi vì có ấn kí tu thiền từ kiếp trước nên Xá Lợi Phất đã chứng đắc quả vị A La Hán.
Những việc này đều là:
Tích lũy phúc phần.
Tích lũy đức tính.
Tích lũy trí huệ.
Tích lũy thiền định.
Mới có thể thành công.
"Cửu thứ đệ định" được nhắc đến trong chương sách này có thể được tìm thấy trong luận tác của Bồ Tát Vô Trước: Thanh Văn Địa Phẩm, Bồ Tát Địa Phẩm. Trong Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận cũng có.

Muốn thành tựu, thoát khỏi luân hồi thì nhất định cần phải tu những thứ này, tu hành không phải là thành công chỉ sau một đêm. Mọi người đều phải từng ngày từng ngày tăng trưởng thì mới có thể đạt được thành tựu.

(Ghi chú của người biên tập: Toàn văn pháp ngữ khai thị của Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật về Thời Luân Kim Cang thiền định cửu thứ đệ vào ngày 13 tháng 12 năm 2008 được đính kèm ở cuối sách này.)


### 17. Giãi bày tâm tư


Tôi (Lư Sư Tôn) thường nghĩ đến cuộc đời của con người:
Trẻ sơ sinh. (ra đời)
Nhi đồng.
Thiếu niên.
Thanh niên.
Trung niên.
Lão niên. (chết)
Ha ha ha! Xong đời rồi! Đời người gạch một nét bút thế là xong.
Cho dù bạn là Đế Vương, tướng quân hay phàm phu tục tử thì cũng đều quy về con số không.
Không không không.
Sống vô vị.
Chết đáng tiếc.
Ôi! Ôi! Ôi!
Cho nên, tôi nghĩ đến "xuất li", thoát khỏi nhân sinh, thoát khỏi luân hồi. Nhân sinh! Đồ chết tiệt!

🌟

Tôi nghe Phật pháp, biết rằng tất cả do tâm tạo. Tâm là thứ quan trọng nhất, thành Phật tác Tổ, phàm phu, tam ác đạo, đều là do tâm.
Vì thế, tâm bồ đề là quan trọng nhất.
Cả cuộc đời của Atisha tôn giả tổng cộng có 155 vị thầy, đối với tất cả các vị thầy ngài ấy đều vô cùng tôn kính, thế nhưng cung kính nhất là đối với Kim Châu Đại Sư.
Vì sao vậy?
Bởi vì Kim Châu Đại Sư truyền thụ khẩu truyền pháp quyết cho Atisha tôn giả, pháp mà ngài ấy truyền chính là: "Bồ đề tâm."
Vì thế Atisha tôn giả mỗi khi nghe nhắc đến tên của Kim Châu Đại Sư là ngài ấy lại chắp tay lại, chạm lên đầu và chảy nước mắt. Từ đó có thể thấy tầm quan trọng của bồ đề tâm.
Không có bồ đề tâm mà tu mọi pháp, trên thực tế chẳng có chút ý nghĩa nào.

🌟

Bản thân tôi cho rằng, thứ tự tu hành nên là:
Xuất li tâm.
Bồ đề tâm.
Trung quán chính kiến.
Thứ tự sinh khởi.
Thứ tự viên mãn.
Trong việc này, bạn buộc phải có sự yêu thích tu hành, cũng có nghĩa là sự ham mê tu hành.
Muốn rời khỏi nhân gian, cũng như độ người khác rời khỏi nhân gian, đòi hỏi phải có sự nhiệt tâm, bởi vì thiếu đi sự nhiệt tâm thì sẽ không thể bền lâu. Sẽ lười biếng, nửa đường bỏ dở.

🌟

Cái tâm xuất phát ai ai cũng có.
Cái tâm lâu bền thì chưa chắc!
Tôi (Lư Sư Tôn) vì có cái tâm lâu bền, có tâm bồ đề, nên mới có thể làm được:

1. Viết sách không ngừng nghỉ.

1. Vẽ tranh không ngừng nghỉ.

1. Tu pháp không ngừng nghỉ.

1. Thuyết pháp không ngừng nghỉ.

(Tôi dựa vào xuất li tâm, bồ đề tâm, trung quán chính kiến để làm cơ sở tu hành của mình.)
Hãy nhìn thấu đời người đi!
Biết tất cả là "vô sở đắc".
Thì sẽ chẳng "chấp ngã" và "chấp pháp" nữa.


### 18. Đại Vũ trị thủy


Ngày xưa, Trung Quốc có đại hồng thủy.
Phụ thân của Đại Vũ trước kia trị thủy là dùng pháp ngăn chặn.
Sau này, Đại Vũ trị thủy là dùng pháp khơi thông.

Pháp ngăn chặn của phụ thân Đại Vũ thất bại. Còn pháp khơi thông của Đại Vũ lại thành công. Vì thế, vua Thuấn nhường ngôi cho Đại Vũ, Đại Vũ đã trở thành hoàng đế.
Vua Nghiêu nhường ngôi cho vua Thuấn.
Vua Thuấn nhường ngôi cho vua Vũ.
Để lại tiếng thơm muôn đời.

🌟

Cá nhân tôi cho rằng:
Phật giáo hiện đại cũng có hai loại pháp ngăn chặn và pháp khơi thông.
Pháp ngăn chặn:
Người học Phật, đối với giết, cướp, dâm, vọng, tửu, hết thảy đều cấm tuyệt đối. Đối với tham, sân, si, nghi, mạn, hết thảy đều cấm tuyệt đối. Đối với tài, sắc, danh, ăn, ngủ, hết thảy đều cấm tuyệt đối.
Đó là giới luật.
Không được phạm vào!

Pháp khơi thông:
Tài --- tu pháp Tài Thần.
Sắc --- tu pháp Song thân.
Danh --- tu pháp Kurukulle Phật Mẫu.
Ăn --- tu pháp Hội cúng.
Ngủ --- tu pháp Miên quang.
(Đó là tu hành thuận theo dục vọng.)

Ngoài ra:
Giết --- pháp Siêu độ.
Cướp --- pháp Tịnh hóa.
Dâm --- pháp Song thân.
Vọng --- pháp Trì minh.
Tửu --- pháp Cam lộ.

Và:
Tham --- pháp Thành Phật.
Sân --- pháp Kim Cang.
Si --- pháp Bồ Tát.
(Đây là pháp tịnh hóa và chuyển hóa.)

Và:
Ăn --- pháp Cúng dường.
Mặc --- pháp Kiết giới.
Ở --- pháp Thân đàn thành (pháp Cung điện).
Đi --- pháp Thần túc.

Và:...

Trong Mật giáo còn có "xuất sinh tịnh hóa", "tử vong tịnh hóa", "trung ấm tịnh hóa".

🌟

Tôi viết ra như vậy, mọi người hẳn là có thể ngầm hiểu rằng Phật pháp hoàn toàn không phải là một mực cấm tiệt (pháp ngăn chặn). Phật pháp cũng có thể dùng cách thức thuận theo, phương tiện, tịnh hóa (pháp khơi thông).

Ví dụ:
Một chữ "sắc" ấy rất cực kì, trên đời có mấy người có thể nhảy qua khỏi cửa "sắc"?

Có người nói:
Sắc như cỏ, lấy tảng đá đè nó xuống, cỏ chẳng mọc được nữa. Nhưng chỉ cần dịch chuyển tảng đá đi, một làn gió xuân thổi qua là cỏ lại sinh sôi, không thể trừ tận gốc được.
Phải làm sao?
Pháp Song thân của Mật giáo chính là pháp khơi thông, cũng tức là pháp Tịnh hóa.
Chỉ đáng tiếc là, người có thể tu pháp này trong vạn người chẳng thể tìm được một người, phải là người "kham năng" mới làm được.
Nếu như không như pháp thì rơi xuống vực sâu vạn trượng, thật đáng thương! Đi đời nhà ma thôi!


### 19. Cảm nhận khi đồng tu


Ngày 6 tháng 3 năm 2021 (thứ bảy).
8 giờ tối cử hành buổi đồng tu Liên Hoa Đồng Tử.
Địa điểm tại Đại Hùng Bảo Điện ở Seattle Lôi Tạng Tự.
Tôi lên pháp tọa.
Trong lúc tiến hành nghi quỹ, tôi phát hiện ra tôi rất buồn ngủ, rất muốn ngủ, hai mắt không mở ra được.
Xảy ra một chuyện rất kì quái.
Mỗi lần đồng tu ở Seattle Lôi Tạng Tự, tôi vừa lên pháp tọa thì cứ ngáp liên tục.
Buồn ngủ.
Ngủ lơ mơ.
Ngủ gật luôn.
Gà gật.
Đây cũng là chuyện thường xảy ra.

Và buổi tối hôm đó cũng không phải là ngoại lệ, lúc tôi vừa mới gà gật thì tôi nhìn thấy:
Từ đàn thành chìa ra một đôi tay trắng ngần nắm một sợi dây an toàn, chính là sợi dây an toàn của ghế ngồi ô tô, giúp tôi cài dây an toàn.
Tôi nhìn thấy rất rõ ràng.
Thì ra là Phật Bồ Tát từ bi, sợ tôi ngủ gật lại ngã ra khỏi pháp tọa.
Ha!
Cảm tạ Phật Bồ Tát!

🌟

Lại có một lần đồng tu.
Tôi ngồi trên pháp tọa, mắt lơ mơ.
Tôi lại nhìn thấy bên dưới pháp tọa có một cô gái đang ngồi xổm, tuổi chừng 16, mặc áo màu xanh lục, vẻ ngoài thanh tú với mái tóc rất đẹp.
Tôi hỏi:
"Cô làm gì ở đây?"
Cô ấy đáp:
"Chị con là tình nguyện viên ở Seattle Lôi Tạng Tự, chị ấy muốn con đến đây, đợi đến khi Sư Tôn hồi hướng, Phật Bồ Tát đến tiếp dẫn thì đi theo Phật Bồ Tát vãng sinh tịnh thổ."
Tôi hỏi:
"Thì ra cô là thân trung ấm?"
Cô ấy đáp:
"Đúng vậy."
(Trong lúc hồi hướng, tôi vẫn luôn nói rằng, cầu thỉnh Bổn tôn phóng quang tiếp dẫn u linh chúng vãng sinh đến tịnh thổ của Bổn tôn.)

Sau buổi đồng tu, tôi hỏi nữ tình nguyện viên:
"Có phải cô có một em gái đã mất không?"
Nữ tình nguyện viên nói:
"Dạ đúng. Năm 16 tuổi nó mắc bệnh rồi nhanh chóng qua đời. Con có gọi nó đến để đồng tu."
Tôi nói:
"Cô ấy đã vãng sinh tịnh thổ rồi!"
Nữ tình nguyện viên mừng chảy nước mắt.

🌟

Câu chuyện đầu:
*Bồ Tát dịu dàng ở nhân gian
Giúp tôi cài chặt dây an toàn
Để tôi ngủ gật không quá mức
Tránh bị ngã ra khỏi chỗ ngồi.*

Câu chuyện sau:
*Đến nay tôi tu Thiên thức pháp
Nhất tâm đảnh lễ chư Bổn tôn
Bổn tôn phóng quang mau tiếp dẫn
Chỉ trong sát-na đến Phật địa.*


### 20. Cân lạng của Viên Thiên Cương


Trên lịch của nông dân thường in cân lạng của Viên Thiên Cương.
Viên Thiên Cương là một người có Đạo.

Cân lạng là lấy giờ, ngày, tháng, năm sinh đại diện cho bao nhiêu lạng, cộng lại với nhau thì ra bấy nhiêu lạng. Và một người ứng với bao nhiêu lạng thì đó sẽ là vận mệnh cả đời của người đó.

Tôi sinh vào giờ Ngọ, ngày 18 tháng 5 năm 34 Dân Quốc [năm 1945], theo cân lạng của Viên Thiên Cương thì tôi được bốn lạng tám.
Nhìn chung mà nói thì cân lạng:
Càng nặng càng tôn quý.
Càng nhẹ càng nghèo hèn.
Bốn lạng tám được xem là nặng.

Luận rằng:
Chẳng nhờ cậy người thân, tay trắng dựng cơ đồ.
Phúc lộc hậu trọng, cuối đời phát tài.
Tuổi thọ sau cùng là: 77 tuổi.

Chính vì con số 77 tuổi này đã khiến tâm tôi xúc động, bởi vì năm nay lão tăng này vừa đúng 77 tuổi.
Theo cách nói của Viên Thiên Cương thì tôi (Lư Thắng Ngạn) sẽ sống thọ và chết tại nhà. Nhưng tôi cho rằng: vận mệnh của con người có thể thay đổi, bởi vì tôi không phải là người theo quan niệm về số kiếp.
Vận mệnh có thể thay đổi!
Đại thiện!
Đại tu hành!
Có thể cải biến vận mệnh.
(Xin đọc thêm cuốn sách "Liễu Phàm tứ huấn", phần "Học lập mệnh" trong đó chính là phương pháp cải biến vận mệnh.)

Theo tôi được biết:
Diêu Trì Kim Mẫu từng trực tiếp chỉ thị cho tôi rằng thọ mệnh của tôi đã được kéo dài ra một chút!
Còn bản thân tôi thì:
Đời người từ xưa tới nay có ai mà không chết?
Có sinh tất có tử.
Tôi chẳng hề sợ cái chết. Cái chết của tôi chẳng qua chỉ là một sự chuyển đổi biến hóa, dịch chuyển đến tịnh thổ.
Hoặc trực tiếp hóa thành ánh sáng, tức thân thành Phật.
Hoặc thành tựu Bồ Tát.
Hoặc tịnh hóa trung ấm, tái chuyển thế thiên thức, lại thừa nguyện mà đến để độ hóa chúng sinh.

🌟

Còn các đệ tử của tôi vừa nghe nói đến 77 tuổi là lập tức cầu phúc cho tôi.
Thỉnh Phật trụ thế.
Tái chuyển pháp luân.

Có một đệ tử là Liên Hoa Số Y viết một bài kệ, kệ rằng:
*Đời người tinh hoa lúc bảy mươi
Thân thể khỏe mạnh như mười bảy
Bao nhiêu thanh niên chẳng thể sánh
Vô lậu tôn giả bậc đệ nhất
Từng giờ từng phút tùy nhậm vận
Trường thọ tự tại chẳng do mệnh.*

Và:
*Pháp báo ứng thân đại Phật ân
Ngày tháng năm qua đại hoằng pháp
Tinh tấn thực tu con hổ thẹn
Cầu thỉnh đừng buông lời thề nguyện
Cứu độ chúng con chúng mê lầm
Vì vậy khẩn cầu thầy ưng thuận.*

Tôi (Lư Thắng Ngạn) nói với mọi người rằng, hành Bồ đề tâm, tu trì lục độ là quyết tâm của tôi.
Tôi không chỉ tự độ mình, cũng cần độ chúng sinh, là tâm nguyện của tôi.


### 21. Người cực ác


Người hỏi:
"Lư Sư Tôn! Ngài nói không bỏ rơi một chúng sinh nào, là thật chứ?"
Tôi đáp:
"Là thật."
Người hỏi:
"Người cực ác thì sao?"
Tôi đáp:
"Vẫn độ."
Người hỏi:
"Có ví dụ nào không?"
Tôi đáp:
"Có tử tù ở Singapore, trước khi bị tử hình đã phát lộ sám hối, ăn năn lỗi lầm trước đây mà thay đổi, chỉ trì tâm chú Liên Hoa Đồng Tử và Cao Vương Kinh mà sau khi bị tử hình, hỏa táng ra hạt xá lợi, điều này là thật."
Người hỏi:
"..."

🌟

Người hỏi:
"Phật Đà cũng độ người cực ác chứ?"
Tôi đáp:
"Đương nhiên."
Người hỏi:
"Là ai?"
Tôi đáp:
"Ương Quật Ma La. Ông ta đã tiếp nhận giáo pháp sai lầm của ngoại đạo yêu cầu ông ta giết một nghìn người, rồi gom lại một nghìn ngón tay thì có thể chứng đắc giải thoát."
Người nói:
"Quả nhiên là cực ác, Phật Đà độ ông ta như thế nào?"
Tôi đáp:
"Sau khi ông ta giết được 999 người, chuẩn bị giết mẹ đẻ của ông ta thì Phật Đà đến, bèn độ hóa cho ông ta."
Người hỏi:
"Phật Đà độ hóa người cực ác như thế nào?"
Tôi đáp:
"Phật Đà dùng sức mạnh thần thông để cảm hóa, rồi nói pháp cho ông ta, ông ta liền quy y Phật Đà."
Người hỏi:
"Phật Đà độ hóa người cực ác, còn có người nào khác không?"
Tôi đáp:
"Nan Đà — ông ta đại diện cho người cực kì tham ái.
Ương Quật — ông ta đại diện cho người vô minh nhất. Giết gần nghìn người, có thể thấy là cực kì tàn ác.
A Xà Thế — ông ta đại diện cho người cực kì sân hận. Giết người thân nhất, giết người vô số.
Thương Kiệt La — vừa tham ái vừa sân hận.
Vân vân..."

Người hỏi:
"Sau này họ thế nào?"
Tôi đáp:
"Nan Đà và Ương Quật Ma La đều thành tựu A La Hán.
A Xà Thế thành Bồ Tát.
Thương Kiệt La sinh về cõi trời, sau này tu hành chứng đạo."

🌟

Người hỏi:
"Ác quả của ác hành là cái gì?"
Tôi đáp:
"Đoản thọ, nhiều bệnh, bần cùng, chướng ngại. Lưu chuyển trong tam ác đạo, không có ngày thoát ra."
Người hỏi:
"Phạm vào ác hành rồi phải làm sao?"
Tôi đáp:
"Sám hối, cải ác hướng thiện, thề không tái phạm."
Tôi nói:
"Có một việc thiện cực kì tốt, đó là in kinh điển, sách thiện cho người khác đọc, có thể tích tập phúc đức."


### 22. Lời nhắn viết cho Hoa


Có một người là Liên Hoa Tiểu Hoa viết cho tôi một lá thư dài, trong thư có kẹp một lọn tóc.
Cô ấy là một người thông linh. (Có kí ức về kiếp trước đời này.)
Tôi muốn trả lời thư cho cô ấy.
Dưới đây là những tiếng lòng của tôi viết cho Liên Hoa Tiểu Hoa.

🌟

Cô ấy nói:
Có một lần, chúng ta cùng chụp ảnh.
Sư Tôn ở trong ảnh không ngờ lại có thể nói chuyện, nói rằng: "Cô là vợ ta, cô là con ta."
Tôi nói:
"Đã là quyến thuộc, vậy thì càng phải trân trọng hơn nhân duyên đời này, trong đời này hãy tu hành đạt thành tựu."

🌟

Cô ấy nói:
Cô ấy chưa từng nhớ nhung ai, nhưng chỉ nhớ về Phật. Vẫn biết mình là người vô tâm.
Vẫn luôn kiếm tìm "ai là người kiếp trước của kiếp trước".
Rất nhiều hiện tượng thông linh, bởi chẳng giống với người bình thường, nên đã từng vào bệnh viện tâm thần.
Sau đó, được xác định là không phải mắc bệnh tâm thần.
Tham gia pháp hội của Sư Tôn, có mấy lần đã được đưa đi.
Tôi nói:
"Trước kia tôi cũng bị đồng nghiệp, cấp trên cho là mắc bệnh tâm thần. Nhưng bây giờ bản thân đã biết là không phải vậy, cô chỉ cần tự lòng mình hiểu rõ là được. Tôi cũng biết cô không mắc bệnh tâm thần."

🌟

Cô ấy nói:
Trong biển người mênh mông, cô ấy đã lạc đường rồi. Cô ấy đang tìm kiếm người mẹ của mình (Diêu Trì Kim Mẫu), đang tìm Lư Sư Tôn. Bây giờ tâm đang ở hồ Ngọc, buộc chặt với tâm Sư Tôn.
Tôi nói:
"Cô có thể tu pháp Bổn tôn, Bổn tôn chính là Diêu Trì Kim Mẫu, Lư Sư Tôn chính là Căn bản Thượng sư. Có thể hợp nhất bản thân cô với Căn bản Thượng sư, rồi dung nhập vào trong tâm của Diêu Trì Kim Mẫu. Cô tu pháp như vậy không có gì sai. Bổn tôn của tôi cũng là Diêu Trì Kim Mẫu.
Vì thế, ba Diêu Trì Kim Mẫu hợp nhất, thế là có thể trở về nguồn gốc."

🌟

Cô ấy nói:
Việc thế tục cứ phiền hà khiến cô ấy không thể tiến lên phía trước. Phải làm sao?
Tôi nói:
"Bởi chúng ta ở nhân gian, nên cũng phải làm việc thế tục. Và cũng phải làm những việc Thánh tách khỏi thế tục. Cô phải học cách song vận.
Hữu - Không song vận.
Tục - Thánh song vận.
Lạc - Không song vận.
Ở đây không có xung đột. Mà là có thể điều hợp vô cùng tốt, tâm tại thế tục, tâm tại hư không.
Đây là điều có thể làm được!"

🌟

Cô ấy nói:
"Thỉnh cầu Lư Sư Tôn, vào những lúc đệ tử không biết quyết định ra sao, nhất thiết phải chỉ thị cho đệ tử trong mơ."
Tôi đáp:
"Đương nhiên rồi.
Tôi nhận ra cô!
Tôi, cô, Diêu Trì Kim Mẫu, đều là người một nhà.
Ở cõi trời bên ngoài cõi trời.
Tương lai sẽ là những ngày tháng vĩnh viễn vui vẻ."


### 23. Rụng một chiếc răng


Tháng 3 vào năm tôi 77 tuổi.
Khi tôi đang dùng chỉ nha khoa để làm sạch kẽ răng thì chiếc răng số ba hàm trên bên trái bị rụng ra.
"Ồ!"
Tôi có chút ngạc nhiên!
Sau đó, tôi rất bình thản. Bởi vì tôi từng nói:
"Đời người bảy chục tuổi mới bắt đầu, cũng có nghĩa là bắt đầu rụng răng!"
Ha ha ha!

🌟

Trong đời tôi.
Tôi là người rất chú trọng hàm răng.
Trước khi di cư sang Mĩ, năm ấy tôi 35 tuổi, ở Đài Trung Đài Loan, tôi đã tìm đến phòng khám nha khoa Cát Xương để chỉnh lại hàm răng.
(Nghĩa là cái nào phải trám thì trám, phải bọc thì bọc, phải sửa thì sửa, phải chỉnh thì chỉnh, phải nhổ thì nhổ, phải thay thì thay.)
Sau đó, tôi đến nước Mĩ. (Năm ấy tôi 38 tuổi.)
Tôi đến phòng khám nha khoa CV ở Seattle để chỉnh và làm bóng răng.
Sau đó, khi tôi trở về Đài Loan Lôi Tạng Tự để hoằng pháp, ở Đài Trung Đài Loan tôi lại làm trắng răng tại nha khoa Bối Nhĩ.

🌟

Bản thân tôi chăm sóc hàm răng rất cẩn thận, theo bốn trình tự:

1. Súc miệng bằng nước.

1. Chải kẽ răng.

1. Dùng chỉ nha khoa.

1. Đánh răng bằng bàn chải điện.

Sau mỗi bữa ăn là tôi lập tức đi đánh răng, đó là thói quen của tôi. Làm xong bốn trình tự này mất 20 đến 30 phút.
Vì thế, tôi chưa từng bị sâu răng, không mắc bệnh viêm lợi, hàm răng luôn trắng khỏe thơm tho.

🌟

Rụng một chiếc răng.
Tôi nhận ra, tôi đã cố gắng hết sức để giữ gìn hàm răng của mình rồi, thế mà nay, rụng mất một chiếc răng.
Tôi nói:
Tôi già rồi!
Răng cũng lão hóa rồi!
Năm tháng chẳng bỏ qua người nào, vô thường, tôi chỉ có thể cảm thán như vậy mà thôi!

🌟

Tôi tìm đến nha sĩ Hồng Quế Thanh, cô ấy là đệ tử Chân Phật Tông. Cô ấy đưa tôi đến phòng khám của cô ấy ở London.
Cô ấy nói:
"Răng không bị sâu, cũng không bị hỏng, chỉ là rụng ra, gắn nó lại thế là xong!"
Thế là, chiếc răng được gắn lại!
Rồi cô ấy lại giúp tôi chỉnh và làm trắng bóng lại hàm răng. Tôi thật sự rất biết ơn cô ấy.

🌟

Trong chương sách này, điều tôi muốn nói là:
Một chiếc răng rụng ra, lại gắn trở lại, đây là chuyện thế tục.
Việc tu hành khí, mạch, minh điểm, chuyết hỏa, bồ đề dịch của tôi... là việc vượt ra ngoài nghĩa đế.
Hai việc này xem ra chẳng có mối tương quan nào.
Tuy nhiên, bạn có biết không?
Thế tục và thắng nghĩa chẳng phải hai thứ.
Thế tục và thắng nghĩa có thể song vận.
Tôi hết sức giữ gìn hàm răng toàn vẹn cũng là một nghĩa đế thù thắng.
Bạn có hiểu không?


### 24. Tâm khai ý giải


Đối với kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa (kinh Tâm), rất nhiều người thế gian có thể đọc thuộc lòng, rất tôn sùng Tâm Kinh. Nhưng không có nhiều người có thể hiểu được chân đế của nó.
Vì thế, lão tăng giải thích rõ như dưới đây.

🌟

Tôi nói:
Tâm Kinh này là tinh hoa của trí huệ Phật giáo.
Là tâm khai ý giải của Quan Thế Âm Bồ Tát khi Bồ Tát ở trong thậm thâm tam ma địa.
"Ngũ uẩn giai không" là gì?
Đáp: không còn sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Nếu không còn ngũ uẩn thì khổ cũng không tồn tại.
Thế nào là sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc?
Đáp: thế giới nhất nguyên, không còn nhị nguyên.
Tuyệt đối.
Song vận.
Bản nhiên.
Ngũ uẩn cũng là như thế.

🌟

Chư pháp không tướng. Bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm.
Ha!
Vốn dĩ chính là như vậy!
Đó là "trí huệ chân thực".
Những thứ khác đều là mộng huyễn.

🌟

Tiếp theo:
Vô nhãn nhĩ tị thiệt thân ý.
Vô sắc thanh hương vị xúc pháp.
Vô nhãn pháp.
Vô ý thức giới.
Vô vô minh, vô vô minh tận.
Vô lão tử, vô lão tử tận.
Vô khổ tập diệt đạo.
Vô trí diệc vô đắc.
Vô sở đắc.

Tôi bảo mọi người, tôi lấy một ví dụ, ví dụ ở trên mặt trăng, trên mặt trăng đến một con người cũng không có.
Thử hỏi: những cái "không có" này đúng thật là thế.
Tôi lại nói rằng quay trở về, trên trái đất có con người, nhưng những con người này cũng chỉ tồn tại tạm thời, cuối cùng cũng là "không có".
Trong con mắt tôi, trên trái đất căn bản là cũng không có người.
"Thành, trụ, hoại, không."
Cái gì cũng chẳng có!

🌟

Vì thế chứng minh rằng:
Vô quái ngại.
Vô hữu khủng bố.
Vô điên đảo mộng tưởng.
Cứu cánh niết bàn.

Là một hành giả khi đi đến được cảnh giới này thì đã biết nhân của vô sinh, quả của vô tử, đây chính là trí huệ chân thực tối cao vô thượng.
Đó chính là niết bàn.
Vì thế:
"Phật - Ma như nhau."
"Sinh - Tử như nhau."
"Luân hồi - Niết bàn như nhau."
"Lạc - Không như nhau."
"Được - Mất như nhau."
Chỉ có "nhất như", không có "nhị như". Thế tục - Thắng nghĩa cũng là như nhau.


### 25. Chuyện cười mà tôi thích kể


Có một câu chuyện cười mà tôi rất thích kể. Chuyện cười như sau:
Một người đi vào quán mì bò, ông ta gọi một bát mì thịt bò. Mì thịt bò được bưng ra. Người này cầm đũa đảo đảo.
Chỉ thấy mì.
Không thấy thịt bò.
Ông ta nói:
"Ông chủ! Ông chủ! Trong mì thịt bò sao lại chẳng có thịt bò thế?"
Ông chủ trả lời thẳng thừng dứt khoát:
"Ông ăn bánh mặt trời, bên trong có mặt trời không?
Ông ăn bánh mặt trăng, bên trong có mặt trăng không?
Ông ăn bánh bà vợ, bên trong có bà vợ không?"
[Bánh mặt trời, bánh bà vợ là loại bánh truyền thống của Đài Loan. Bánh mặt trăng là bánh trung thu.]
"..." - Người khách này nhất thời á khẩu.
Ha ha ha!

🌟

Kể xong câu chuyện cười này rồi, quay trở lại việc chính.
Trên trái đất có sinh vật.
Nhưng trên mặt trăng có không?
Sao Thủy, Sao Hỏa, Sao Mộc, Sao Kim, Sao Thổ có sinh vật không?
Sao Thiên Vương có sinh vật không?
Sao Diêm Vương có sinh vật không?
Sao Hải Vương có sinh vật không?
Cửu diệu có sinh vật không?
[Cửu diệu là gồm mặt trời, mặt trăng và bảy hành tinh.]
Hai mười tám vì tinh tú có sinh vật không?
(Khoa học công nghệ hàng không vũ trụ hiện đại đang nghiên cứu vấn đề về phương diện này.)

🌟

Còn tôi, Lư Sư Tôn dùng một câu chuyện cười và các vì sao để giải thích rõ về "kiến đạo".
Phật giáo có ba cuốn kinh điển mà trong đó có "kiến đạo".
Kinh Đại Bát Nhã.
Kinh Kim Cang.
Kinh Tâm.
Bản thân tôi cho rằng:
"Tinh hoa của kinh Đại Bát Nhã chính là kinh Kim Cang, tinh hoa của kinh Kim Cang chính là kinh Tâm."
Kinh Tâm chính là kiến đạo.

🌟

Con người sống chỉ là tạm thời.
"Thành, trụ, hoại, không."
"Sinh ra, chết đi, trung ấm."
Không.
Trái đất đang quay tròn, chỉ là tạm thời.
"Thành, trụ, hoại, không."
Không.
Cuối cùng là:
Không, không, không, không.
Cái gọi là Tứ không thiên, Thức vô biên, Không vô biên, Vô sở hữu, Phi tưởng phi phi tưởng xứ thiên.
Là tiến gần đến đạo.

🌟

Cảnh giới của tôi bây giờ là:
Lạc. (khoái lạc)
Minh. (quang minh)
Không. (tính Không)
Nhậm vận. (lậu tận thông)
Tự tại.
Bồ đề tâm là một nguyên tố tối quan trọng trong giáo hóa của Phật Đà. Bồ đề tâm này độ hóa tâm của chúng sinh hữu tình, khiến hành giả có thể trụ thế trường cửu dài lâu.
Đây chính là "Luân hồi - Niết bàn nhất như."


### 26. Quan điểm đối với "Ma"


Căn cứ theo kinh điển, "Ma" có bốn loại:

1. Ma ngũ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Vì có ngũ uẩn nên mới có cái khổ của luân hồi, đây là nhân khổ, sẽ khiến con người chịu khổ cho đến chết.

1. Ma phiền não.
Con người lấy bản ngã làm trung tâm, có bản ngã thì sẽ sinh ra phiền não, gây nên các hành vi xấu, hành vi xấu trở thành nghiệp, vì nghiệp mà trở thành nhân của sinh lão bệnh tử. Đau khổ muôn phần.

1. Ma tử.
Có sinh tất có tử.
Chúng ta biết rằng, từng giờ từng khắc, từng phút từng giây đều có con ma vô thường ở đó. Nghĩa là con ma tử luôn ở bên cạnh chúng ta, bản chất của nó cũng tức là khổ.

1. Ma thiên tử.
Ma quấy nhiễu việc tu hành của hành giả.
Khiến họ đi trên con đường sai lầm.
Tạo ra chướng ngại.
Ma này là chỉ thói lười biếng, tán loạn, mê hoặc, sẽ khiến tu hành không có thành tựu.
Lạc trong sự đau khổ cao muôn trượng.

🌟

Trong Mật thừa, bốn Ma của chúng ta là:

1. Ma hữu hình.
Có thể làm hại thân tâm của chúng ta.
Làm hại sự vật.
Làm hại chúng sinh.
Khiến con người khổ và chết.
Loại ma này chính là ma hữu hình.

1. Ma vô hình.
Tham, sân, si, nghi, mạn.
Khiến sinh khởi tám vạn bốn nghìn loại phiền não của cái khổ luân hồi. Loại phiền não này do tâm sinh ra, vì thế được gọi là "tâm ma".
Tâm ma khó trị. Trọng điểm nằm ở việc luyện tâm.

1. Ma kiêu ngạo.
Ma này do "tự - tha bất bình đẳng" mà sinh ra.
Cho rằng bản thân mình là to nhất.
Bản thân mình là cao nhất.
Bản thân mình là vô thượng thượng.
Hơn nữa lại không ngớt mê đắm vào chính mình.
Tất cả mọi kiêu căng ngạo mạn từ đây mà sinh ra, đem đến cho bản thân những đau khổ, cũng đem đến đau khổ cho người khác.

1. Ma huyễn giác.
Đời người vốn huyễn.
Nhập vào huyễn mà không biết là huyễn là điều đáng thương nhất.
Sống trong huyễn giác, không có một thứ nào là chân thực, lại không có cách nào tự kéo mình đi ra khỏi cảnh huyễn. Người vào bệnh viện tâm thần nhiều nhất là bị loại ma này.
Tự thấy mình là Phật.
Tự thấy mình là Thượng đế.
Tự thấy mình là Thánh Allah.
...

Tự mình đau khổ, người khác cũng đau khổ.

🌟

Những loại ma này đều do bản ngã sinh ra.
Chỉ cần một pháp "Vô ngã" là có thể đối trị được nó rồi!
Chỉ cần vô ngã.
Tất cả đều không tồn tại.
Bởi vì ma đều là do cái ngã sinh ra.


### 27. Tôi và Thượng sư của tôi


Cuộc đời tôi không có hai món đồ. Thứ nhất là máy ảnh. Thứ hai là điện thoại di động.
Tôi và sư phụ Hiển giáo của tôi, lão pháp sư Lạc Quả đã chụp một tấm ảnh, đó là do ông Lâm chụp giúp tôi.
Tôi và sư phụ Mật giáo, Thượng sư Thubten Dhargye đã chụp rất nhiều ảnh, là do Thubten Jigong chụp giúp tôi.
Bởi vì tôi không có máy ảnh nên hầu như tôi không có ảnh chụp chung với các Thượng sư của tôi.

Có người hoài nghi rằng rốt cục tôi có quy y các Thượng sư của tôi không?
Ví dụ:
Ấn Thuận đạo sư. (Sư Mẫu Liên Hương Thượng Sư có ảnh chụp chung.)
Đạo An pháp sư. (Quy y tại chùa Huyền Trang ở Hồ Nhật Nguyệt.)
Liễu Minh Hòa Thượng. (Núi Tập Tập)
Sakya Chứng Không Thượng sư. (Chùa Sakya ở Seattle)
Đại Bảo Pháp Vương thứ 16. (Ở Upstate New York)
V.v…
Bởi vì không có ảnh chụp để làm bằng chứng.
Cho nên...

🌟

Thế nhưng tôi mặc kệ những chuyện này.
Có quy y hay không? Ai thừa nhận ai?
Mặc xác ai hỏi!
Tôi vẫn hướng về Thượng sư của mình, xem các vị là pháp thân Phật trụ trên đỉnh đầu của tôi, thỉnh cầu sự gia trì của các vị!

🌟

Căn cứ theo quy tắc của Mật giáo:
Đệ tử xem thầy là Thánh giả.
Đệ tử xem thầy là Bích Chi Phật.
Đệ tử xem thầy là phàm phu có đầy đủ công đức đặc thù.
Đệ tử xem thầy là chúng sinh đắc quả vị thù thắng.
Đệ tử xem thầy là Bồ Tát tư lương đạo.
Hoặc là:
Bậc trí giả có học vấn.
A La Hán.
Bồ Tát có chứng lượng cao.
...

Tất cả những điều trên đều không đúng, không thích đáng.

🌟

Mật Tục dạy chúng ta rằng:
Cần phải xem thầy của mình là pháp thân Phật. Luôn luôn niệm văn cầu thỉnh của thầy, thỉnh cầu gia trì, thì có thể sinh khởi trí huệ nội chứng.
Mật Tục nói:
"Nếu một người có thể xem thượng sư của mình là pháp thân Phật với cái tâm cung kính, thì cho dù không tu trì thứ tự sinh khởi và thứ tự viên mãn, cũng vẫn có thể sinh khởi trí huệ chứng ngộ."
Oa!
Trời ạ!
Cái này thật lợi hại.

🌟

Tôi có chụp ảnh chung với Thượng sư của tôi không, điều này căn bản không quan trọng.
Đối với tôi quan trọng nhất là:
"Thượng sư của tôi đều là pháp thân Phật."*
*Tôi thường niệm bảy câu văn cầu thỉnh Liên Sư:*
”Tịnh thổ Orgyen góc phía bắc
Giáng sinh trên nhụy một đóa sen
Thù thắng vi diệu thành tựu giả
Xưng dương thánh hiệu Liên Hoa Sinh
Không Hành nhiễu quanh đông như biển
Con nguyện phát tâm đi theo ngài
Thỉnh ngài thị hiện ban gia trì."*
A!
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã hiển hiện trước mặt tôi rồi.


### 28. Người không có điện thoại di động


Một lần, có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Vì sao thầy không có điện thoại di động?"
Tôi đáp:
"Điện thoại di động có lợi ích gì?" - Tôi hỏi ngược lại.
Anh ta nói:
"Điện thoại di động có thể xem được rất nhiều thứ!"
Tôi nói:
"Tôi không thích xem rất nhiều thứ, tôi chỉ thích xem được tâm của mình thôi, vì thế tôi không cần có điện thoại di động."

🌟

Một lần, có một nữ đệ tử nói với tôi:
"Lư Sư Tôn! Con muốn "tám" chuyện dông dài với thầy!"
Tôi nói:
"Thế gian này có cái gì hay để mà "tám" chứ?"
Cô ấy nói:
"Có chứ! Triết học, nghệ thuật, âm nhạc, tôn giáo... Những chủ đề này đều có thể buôn chuyện mà!"
Tôi nói:
"Tôi chẳng bao giờ buôn chuyện."
Cô ấy nói:
"Thế thầy sống thế nào?"
Tôi nói:
"Tôi sống chỉ vì cái chết của tôi thôi!"
Cô ấy nói:
"Cái này..."

🌟

Sư Mẫu (Thượng sư Liên Hương) có điện thoại di động.
Lư Phật Thanh (con gái tôi) có điện thoại di động.
Lư Phật Kì (con trai tôi) có điện thoại di động.
Lư Hoằng (cháu trai tôi) có điện thoại di động.
Lư Quân (cháu gái tôi) có điện thoại di động.
...
Chỉ có tôi là không có, nhưng tôi có một thứ mà người khác không có. Đó chính là:
"Chân lí!" (Thực tướng bát nhã)

🌟

Tôi tin rằng:
Với chiếc điện thoại, cái gì cũng có, bạn muốn tìm cái gì cũng có, điện thoại di động chính là món đồ tất yếu của con người.
Rất nhiều tin tức.
Rất nhiều tư liệu.
Thời gian rất dài.
Không gian vô giới hạn.
Các trò chơi câu đố đều có thể tìm được đáp án.
Một người từ khi mở mắt ra đến khi nhắm mắt lại đi ngủ đều chẳng rời cái điện thoại.
Nhưng lại chẳng có kiến đạo.
Bởi vì kiến đạo không phải là tin tức.
Kiến đạo không phải là thông tin.
Kiến đạo không phải là ngôn ngữ văn tự.
Kiến đạo là gì?
Tôi chỉ có thể nói:
"Kiến đạo là trải nghiệm nội tại."

🌟

Mỗi người muốn tồn tại trong cuộc đời này đều cần có điện thoại di động.
Nghe nói, đi ngân hàng, đi mua sắm, đi máy bay, dùng thẻ tín dụng, hàng trăm nghìn việc đi lại đều phải cần có cái điện thoại trên tay.
Cặp mắt của mỗi người đều có cùng một góc độ, đó là nhìn vào cái màn hình dài rộng đó.
Chỉ độc mình tôi là khác.
Tôi nhắm chặt mắt lại.


### 29. Tâm như nước lặng


Tôi từng nói rất nhiều lần rồi!
Đối với tương lai của mình, tôi hoàn toàn không ôm ấp kì vọng gì cả, một chút cũng không có.
Kì vọng là gì? (Những mong mỏi đối với tương lai.)
Cũng có nghĩa là:
Tôi chẳng còn ham muốn gì!
Kế hoạch viết bao nhiêu cuốn sách, chẳng có!
Kế hoạch vẽ bao nhiêu bức tranh, chẳng có!
Triển vọng tương lai của Chân Phật Tông, chẳng có!
Kì vọng trở thành triệu phú, chẳng có!
Sắc, chẳng có!
Muốn trở thành danh nhân thế giới, chẳng có!
Muốn ăn cao lương mĩ vị, chẳng có!
Nói cách khác là, chẳng có gì, chẳng có gì, chẳng có gì, chẳng có gì, chẳng có gì.

Tôi hướng về hư không.
Tất cả đều không.
Tôi luôn ngủ rất ngon, trong đầu là một miền trống rỗng.
Thậm chí khi dịch cúm virus Corona nghiêm trọng, tôi nghĩ, mắc bệnh cũng tốt, không mắc bệnh cũng tốt (chẳng hề sợ hãi).
Có người nói:
"Lư Sư Tôn tâm như nước lặng."
Tôi nói:
"Ao tù nước đọng!"
Nếu có người ném vào trong ao tù nước đọng này một viên sỏi thì ngay cả một tiếng "tõm" cũng không có.
Ngay cả những gợn nước cũng không có.
Tôi tu hành như vậy, cái này giống như là Vô tưởng thiên.
Hỏi tôi có hay không?
Tôi đáp:
"Cái gì cũng hay!"

🌟

Trong tu hành nội pháp, tôi đã dùng không ít công phu:

1. Tâm khí hợp nhất.

1. Nhập thiền định. (tọa vong)

1. Khí nhập trung mạch.

1. Chuyết hỏa đi lên, minh điểm hạ xuống, tụ tập tại tâm luân.

1. Không - Lạc, trí huệ nhất quán. (Lạc - Không song vận)

Đương nhiên, tôi thường nói:
Nhập — khí đi vào trung mạch.
Trụ — giữ khí.
Dung — khí tan trong trung mạch.

🌟

Chính nhờ tu hành như vậy.
Mà tôi đã đi đến cảnh giới không còn dục vọng, tôi không còn nghĩ tới công đức mà vẫn tự nhiên sản sinh ra "thượng thiện".
Thượng thiện nhược thủy. (Không còn lòng tham chính là thượng thiện.)
Không còn kì vọng.
Không còn kết quả.
Không còn mong cầu.
Cứ như thế, cánh cửa luôn mở ra! Bạn có thể nhìn thấy "con đường", không cần phải dùng chìa khóa nào cả.
Nếu có quá nhiều mong cầu, nếu có quá nhiều kì vọng, nếu có quá nhiều ham muốn, thì cửa sẽ đóng lại.

Tôi cảm thấy tôi rất ngu đần, chính bởi vì tôi ngu đần, nên tôi mới có thể kiến đạo.
Bạn có muốn kiến đạo không?
Kì thực chỉ cần "tâm như nước lặng", hoặc là vô tưởng, thì rất dễ thấy được nó!


### 30. Ý nghĩa của quán đảnh


Có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn, có pháp sư Hiển giáo nọ bây giờ cũng tổ chức pháp hội quán đảnh à?"
Tôi cười cười trả lời:
"Ừ!"
Người đó hỏi:
"Hiển giáo cũng có quán đảnh sao?"
Tôi đáp:
"Nói một cách công bằng, nếu biết ý nghĩa thực sự của quán đảnh thì không có gì đáng trách. Nếu không biết ý nghĩa thực sự của quán đảnh thì chỉ là làm theo một cách máy móc, là bắt chước người khác thôi."
Người đó hỏi:
"Có thật có giả sao?"
Tôi đáp:
"Đương nhiên."

🌟

Nguồn gốc của quán đảnh:
Tôi nghe sư phụ nói: "Là vì khi quốc vương Ấn Độ lên ngôi, cần lấy nước từ bốn biển lớn để dội lên đầu của quốc vương. Đây là một nghi thức đăng cơ. Sau đó nghi thức này diễn biến thành quán đảnh của Mật giáo."
Chân Phật Tông có rất nhiều quán đảnh, cơ bản có bốn loại:

1. Quán đảnh bình.

1. Quán đảnh Nội pháp. (Mật quán)

1. Quán đảnh Vô thượng mật. (Huệ quán)

1. Quán đảnh Đại viên mãn. (Mật mật quán)
(Ngoài ra còn có rất nhiều tên gọi khác không kể lần lượt ra ở đây.)

🌟

Tôi chủ yếu muốn mọi người biết ý nghĩa của quán đảnh, đây mới là điều quan trọng:

1. Trao quyền.
Đã nhận quán đảnh thì có thể nương dựa vào con đường Kim cương thừa.
Hành giả được một Thượng sư chân chính hướng dẫn đến trước đàn thành Bổn tôn để truyền pháp quán đảnh. Có được quán đảnh hoàn chỉnh thì sẽ có điều kiện thuận lợi nhất.
Chuyên nhất.
Quang minh.
Lạc thụ.
Vô niệm.
Có thể thể nghiệm được thân khẩu ý, tức là tam kim cương.
Đây là quán đảnh tốt đẹp nhất.

1. Tịnh hóa.
Quán đảnh có tác dụng tịnh hóa, lại có tác dụng tu bổ, cũng tương đương với ý nghĩa sám hối.
Quán đảnh là đã chết vào hôm qua.
Quán đảnh là sinh ra vào hôm nay.
Quán đảnh trong Kim cương thừa là quán đảnh theo thứ tự. Ví dụ:
Quán đảnh tư lương đạo.
Quán đảnh gia hành đạo.
Quán đảnh kiến đạo.
Quán đảnh Bổn tôn.
Quán đảnh thứ tự sinh khởi, thứ tự viên mãn.

1. Phá hủy.
Quán đảnh có ý nghĩa phá hủy.
Phá hủy những tập tính của phàm phu.
Phá hủy phiền não.
Phá hủy chấp ngã, chấp pháp.
Đạt đến vô ngã.
Đạt đến đại quang minh.
Đạt đến đại viên mãn.

🌟

Mục thứ nhất là quán đảnh nhân (quán đảnh gốc).
Mục thứ hai là quán đảnh đạo.
Mục thứ ba là quán đảnh quả.


### 31. Tiêu tan


Tôi còn nhớ tôi từng đọc tiểu sử của lão hòa thượng Hư Vân, trong đó có nhắc đến một chuyện đã lôi kéo sự chú ý của tôi.
Một hôm, lão hòa thượng Hư Vân biết tăng nhân trông nom vườn rau đã qua đời. Hư Vân đi thăm người đó.
Tăng nhân này đã tọa hóa, ngồi bên dưới một cái cây già, ngồi thẳng thắn ngay ngắn.
Đệ tử của Hư Vân đưa tay định chạm vào người tăng nhân. Hư Vân nói:
"Đừng chạm!"
Lão hòa thượng Hư Vân cung kính chắp tay lại, cúi lạy trước tăng nhân. Trong một sát-na, toàn thân tăng nhân giống như tiêu tan đi, hóa thành một đụn cát.
Lão hòa thượng Hư Vân niệm một câu:
"A Di Đà Phật! Thành rồi!"

🌟

Sau này, tôi tu Mật giáo, khi ấy mới biết rằng thì ra hành động ấy là dẫn động nội hỏa (chuyết hỏa), đốt cháy tiêu tan hoàn toàn thân phàm phu của chính mình.
Thân thể của chúng ta vốn là một cái họa lớn. Lão Tử cũng nói:
"Cái họa của ta cũng chính là cái thân của ta."
Nhục thân là: "Nguồn gốc của đau khổ!"
Vì thế, Mật giáo có:
Tức sinh thành Phật.
Tức thân thành Phật.
Hóa thân cầu vồng.
Một dải lụa trắng cứ thế bay đi.
(Thân hóa cầu vồng, hóa thành cầu vồng đã trở thành biểu tượng của đại thành tựu.)

🌟

Vô Cấu Hữu.
Sư Lợi Tinh Ha.
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.
...
(Đều là thân hóa cầu vồng.)

🌟

Thì ra:
Pháp vô lậu vô cùng quan trọng.
Bạch bồ đề đi xuống từ luân xa trán, đến luân xa họng, luân xa tim, luân xa rốn, luân xa sinh thực (mật luân).
Bạch bồ đề ở tại đỉnh bảo châu, khi giữ ở đó thì sẽ trải nghiệm được "câu sinh hỉ". "Câu sinh hỉ" chính là đại lạc vĩnh hằng bất biến.
Sư phụ tôi nói:
"Đại lạc này có thể làm tiêu tan hơn hai vạn thành phần vật chất."

Tôi lại chú ý đến:
Tan biến một luân xa, đến một luân xa khác, đến khi năm luân xa hoàn toàn tiêu tan thì sẽ đạt đến Bồ Tát ở địa thứ mười. Cứ một luân xa tiêu tan thì tiến thêm được hai địa.
Sự tiêu tan này là vận dụng:
Chuyết hỏa (hồng bồ đề).
Minh điểm (bạch bồ đề).
Đất, nước, lửa, gió, đại lạc, không.
Để mà hoàn thành.
Và,
Phật tính của chúng ta vốn là sự tổng hợp của tâm và khí.

🌟

Đây chính là tu hành thứ tự viên mãn.
Muốn tiêu tan một luân xa, cần dựa vào nước (bạch bồ đề), lửa (hồng bồ đề), gió (khí).
Năm khí chính, năm khí phụ phải đi vào trong luân xa.
Pháp vô lậu rất quan trọng.
Đại lạc vĩnh hằng bất biến rất quan trọng.
Tiêu tan là tối quan trọng.


### 32. Lời của Bồ Tát Tịch Thiên


Tác giả của "Nhập Bồ Tát Hạnh Luận" là Bồ Tát Tịch Thiên.
Ngài nói:
"Khi Phật Đà thuyết pháp thường nói rằng, Phật là người nói lời thật, người không nói sai khác, người không nói khoác." (Hoàn toàn chân thật.)

Ngài nói:
"Phật Đà nói, ngay cả một con sâu nhỏ cũng có Phật tính, đều có thể thành Phật. Huống hồ là con người, con người có linh tính, có thể phân biệt thiện ác, biết việc gì có thể làm, việc gì không thể làm. Con người lại càng dễ thành Phật." (So với đạo súc sinh thì con người dễ thành Phật hơn.)

Ngài nói:
"Chính vì như thế, trong quá trình cả cuộc đời mình, ngoài làm lợi ích cho chính mình bằng nỗ lực làm việc ra, con người cũng nên dành ra một chút thời gian để học Phật pháp cho tốt." (Đời này không tu thì lúc nào tu?)

Ngài nói:
"Phật pháp mặc dù không dễ dàng, ví dụ như thứ tự viên mãn không hề dễ tu. Nhưng thứ tự sinh khởi ở mức độ tối thiểu thì vẫn cần tu. Chúng ta nên tu thành tựu thứ tự sinh khởi trước. Thứ tự viên mãn mặc dù khó, một kiếp chưa thành thì kiếp sau sẽ dễ dàng hơn, một lần bỡ ngỡ, hai lần quen thuộc, cuối cùng có thể thành Phật." (Thứ tự sinh khởi tương ứng trước, thứ tự viên mãn sẽ có được sự gia trì của Thượng sư, Bổn tôn.)

Những lời Bồ Tát Tịch Thiên nói, câu nào câu nấy đều là chân lí.

🌟

Tôi cảm thấy:
Một đời thành tựu Phật quả đúng là không dễ.
Tôi thấy thế gian này:
Con người từ nhỏ đi học. Dựa vào tri thức để mưu cầu công việc. Dựa vào công việc để kiếm tiền, mong được no ấm, rồi phải nuôi gia đình, quả thật không dễ dàng.
Con người rất nhanh già. Sau đó là tuổi già và bệnh tật cùng lúc. Cuối cùng là chết.
(Một đời người trôi qua rất nhanh. Làm việc vất vả, ai cũng đều thấy rằng muốn dành ra được thời gian để tu hành mới khó làm sao!)

🌟

Chỉ có một số ít người nghe được Phật pháp, số người thiểu số này muốn học Phật liên tục bền lâu cũng không dễ.
Bị phiền não quật đổ!
Bị công việc quật đổ!
Bị ngã chấp quật đổ!
Bị pháp chấp quật đổ!
Bị hoàn cảnh quật đổ!
(Muốn trí huệ minh quang tự tại viên mãn thật chẳng dễ dàng.)
Rất nhiều chướng ngại, tập khí, tầng tầng lớp lớp chắn trước mặt, đại bộ phận đều tử trận.
Bị sắc lôi kéo đi.
Bị tiền lôi kéo đi.
Bị danh vị lôi kéo đi.
Những người còn lại thì đã thành "tiền tam tam, hậu tam tam" rồi.

🌟

Khi học tập Phật pháp, nếu không có đại thiện tri thức chỉ dẫn, không có người có kinh nghiệm chỉ dẫn, chỉ dựa vào bản thân chiến đấu một mình, điều này nói dễ hơn làm. Trừ phi là kì tích!
Rất nhiều người mặc dù nỗ lực tinh tấn nhưng cũng sẽ đi sai đường, lạc vào trong mê võng thiên kì bách quái.
Do đó:
Không nỗ lực nữa.
Không tìm tòi nữa.
Lại không ít người chết yểu!
Ôi! Đọc "Nhập Bồ Tát Hạnh Luận" của Bồ Tát Tịch Thiên thật cảm thán làm sao!


### 33. Người hỏi tôi đáp: Thành Phật có mấy kiểu?


Người hỏi:
"Thành Phật có mấy kiểu?"
Tôi đáp:
"Mọi con đường đều dẫn đến thành Rome."
Người hỏi:
"Có dễ có khó sao?"
Tôi đáp:
"Đúng vậy. Giống như người leo núi, có con đường núi dễ đi, có con đường thì khó khăn trùng trùng!"
Người hỏi:
"Xin Lư Sư Tôn khai thị các kiểu thành Phật?"
Tôi đáp:
Theo như tôi biết:
Pháp môn niệm Phật là dễ nhất, trọng điểm nằm ở nhất tâm bất loạn, chỉ cần tập trung trì danh hiệu Phật (niệm lực). Lúc lâm chung, Tây phương Tam Thánh sẽ hiện tiền, A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát sẽ hiện thân tiếp dẫn. Hành giả sẽ đến được Tây phương Cực Lạc tịnh thổ. Vĩnh viễn không thoái chuyển.

Ngoài ra, trung ấm của chúng ta vào lúc lâm chung, do thoát khỏi cái thân thô này, lúc thoát ra nếu gặp được Bổn tôn gia trì thanh tịnh thì điều này cũng vô cùng tốt.
Chỉ cần tương ứng với Bổn tôn rồi thì:
Sinh ra.
Chết đi.
Trung ấm.
Đều sẽ được Thượng sư, Bổn tôn gia trì thanh tịnh, đều có thể đạt được thành tựu. (Trung ấm thành Phật.)

Ngoài ra, tu hành Mật giáo có hai ví dụ trực tiếp thành Phật:
Thứ nhất, bạn tu pháp huyễn thân. Huyễn thân chính là sự tương hợp tâm và khí, lại cộng thêm ánh sáng mà tu xuất ra được huyễn thân. Huyễn thân có thể bay đến các cõi tịnh thổ của Phật, gặp được Bổn tôn, nghe Bổn tôn thuyết pháp. Vào lúc lâm chung, vứt bỏ cái thân thô của con người nhân gian, huyễn thân ánh sáng có thể trực tiếp thành Phật!

Thứ hai, pháp thành Phật tối cao của Mật giáo là: dùng phương pháp chuyết hỏa, bạch bồ đề, hồng bồ đề và khí. Khí đi vào trung mạch, có được đại lạc vĩnh hằng bất biến (câu sinh hỉ). Tan biến thân thô. Khi các thành phần vật chất của thân thô từ từ tiêu tan, và tâm, khí cộng thêm ánh sáng, thì vào lúc lâm chung, thân thô (thân phàm phu) sẽ biến thành cát bụi, hoặc hóa thành xá lợi, hoặc chỉ còn để lại lông tóc móng tay, hóa thành một dải cầu vồng, bay vào hư không.
Thành Phật rồi!
(Kiểu tu hành này phải mở năm luân xa, khiến năm luân xa hóa thành ánh sáng, đốt cháy thân thô, mệnh khí hóa thành cầu vồng.)
Đây là đại thành tựu cầu vồng!
Sau khi thành Phật thì lại phân thân vô số, đến thế giới Ta Bà để làm lợi ích cho chúng sinh hữu tình.

Cá nhân tôi cảm thấy:
Mặc dù pháp có một chút khác biệt, nhưng về cơ bản là giống nhau. Chúc mọi người, người người thành Phật.


### 34. Kiến đạo và giải thoát


Hỏi: Thế nào là kiến đạo?
Đáp: Kiến đạo nghĩa là nhìn thấy được thực tướng sau cùng.
Hỏi: Thực tướng sau cùng là cái gì?
Đáp: Pháp nhĩ bản nhiên. Hoặc như nó là.
Hỏi: Vẫn không hiểu, không rõ, có thể nói rõ ràng hơn một chút không?
Đáp: Đó là bản tính bất biến.
Hỏi: Bản tính bất biến cũng vẫn không rõ ràng lắm.
Đáp: Tâm và khí.
Hỏi: Khí thì đương nhiên biết rồi, còn tâm thì không rõ.
Đáp: Tâm chính là thức.
Hỏi: Tu như thế nào?
Đáp: Tôi căn cứ theo pháp "lập đoạn" và "đốn siêu" của A Để Du Già (Ati yoga) để tu trì.
Hỏi: Lập đoạn thế nào? Đốn siêu thế nào?
Đáp: Lập tức bỏ thân này, dịch chuyển thức đến tịnh thổ. Đốn siêu là tiến nhập vào quang minh.
Hỏi: Pháp tu trì là như thế nào?
Đáp: Đó là tâm khí tịnh hóa tiến nhập vào pháp nhĩ bản nhiên. Có nghĩa là Tử quang, Mẫu quang, hai thứ ánh sáng gặp nhau. Tiến nhập vào sự thanh tịnh bản sơ, đó cũng là giải thoát.
Hỏi: Bản thân của việc tu trì này là cái gì?
Đáp: Để sự cảm nhận và sự hiển hiện của việc tu trì tăng trưởng.
Hỏi: Cần tăng trưởng, như thế nào mới có thể tăng trưởng?
Đáp: Tịnh hóa.
Hỏi: Tịnh hóa đến mức độ nào?
Đáp: Tịnh hóa đến khi ánh sáng xuất hiện, khi ánh sáng sinh ra, nhận thức được nó, hợp nhất với nó, và trong sự nhậm vận có thể giải thoát.
Hỏi: Giải thoát có phân đẳng cấp không?
Đáp: Giải thoát cao cấp là hóa cầu vồng. Giải thoát trung cấp là tịnh hóa trung ấm. Giải thoát hạ cấp là đến tịnh thổ rồi tịnh hóa.
Hỏi: Pháp tu trì chính là thứ tự sinh khởi và thứ tự viên mãn phải không?
Đáp: Đúng vậy.
Hỏi: Sau khi kiến đạo, Lư Sư Tôn thấy nhân gian là gì?
Đáp: Là thế giới huyễn hóa không chân thực, đầy rẫy vô minh. Do đó cần có đại thiện tri thức cứu độ.


### 35. Điều kiện quan trọng của tu hành


Có người hỏi tôi: Lư Sư Tôn! Điều kiện quan trọng của tu hành là cái gì?
Tôi nói:
Cần tiếp nhận quán đảnh.
Tuân thủ nghiêm ngặt giới luật samaya.
Đối với kiến địa phải có lí giải chính xác.
(Đây là những điều căn bản nhất.)

🌟

Tu tư lương đạo.
Tu gia hành đạo.
Nắm chắc khẩu quyết trọng yếu của thứ tự sinh khởi.
Tu pháp Thượng sư tương ứng.
Tu pháp Bổn tôn.
Dưới sự gia trì của Thượng sư, dưới sự gia trì của Bổn tôn mà cảm nhận được sự hợp nhất.

🌟

Khi đã viên mãn được thứ tự sinh khởi rồi thì mới tiếp tục tu trì thứ tự viên mãn.
Tu khí: cửu tiết Phật phong, kim cang tụng, bảo bình khí.
Tu mạch: khí đi vào trung mạch, khí đi vào ngũ luân.
Tu minh điểm: chuyết hỏa đi lên, minh điểm hạ xuống, chuyết hỏa, minh điểm, năm khí chính, năm khí phụ đi vào trung mạch trước, rồi đi vào ngũ luân, mở ra năm luân xa và luân xa đỉnh đầu. Ánh sáng xuất hiện. Nhờ ánh sáng để tịnh hóa mệnh khí của bản thân.
Mệnh khí, Phật tính, trung ấm, tâm khí, thức, linh hồn... Đây đều là những danh từ đồng nhất.
Điểm quan trọng là dùng ánh sáng để tịnh hóa mệnh khí.

🌟

Đốt cháy thành phần vật chất, hóa thành cầu vồng đắc giải thoát.
Trung ấm dưới sự tịnh hóa của ánh sáng đắc giải thoát.
Trung ấm dịch chuyển thần thức đến tịnh thổ đắc giải thoát.
(Vào lúc lâm chung, phải đóng kín các cửa đầu thai vào ác đạo. Mở ra lỗ đỉnh đầu, lựa chọn cõi Thiên và Tứ thánh đạo.)
Đầu thai về tịnh thổ, hoặc thừa nguyện mà lại đến, đầu thai vào hoàn cảnh hoằng pháp lợi ích chúng sinh, trở thành Rinpoche hoặc Hoạt Phật chuyển thế.

🌟

Sự tu hành này xem ra có vẻ rất đơn giản, trên thực tế cần có tín tâm. Cũng cần phải có tâm bền lâu. Phải ổn định và tăng trưởng.
Ví dụ:
Nhãn thức, nhĩ thức, tị thức, thiệt thức, thân thức phải dung nhập vào ý thức.
Ý thức phải dung nhập vào Mạt na thức.
Mạt na thức phải dung nhập vào A lại da thức.
A lại da thức dung nhập vào ánh sáng.

🌟

Tín tâm kiên định không thay đổi.
Ổn định.
Tăng trưởng.
Đây đều là những điều cần thiết.

🌟

Thế tâm khí là gì?
Cái mà di động là khí.
Cái mà nhận biết là tâm.
Thật ra, hai cái này không phải hai, không khác biệt.
Tôi viết ra như vậy là đã cố gắng hết khả năng của mình rồi. Đây là tôi nói theo kinh nghiệm của tôi.


### 36. Sự giác ngộ của Thượng sư Liên Lai


Thượng sư Liên Lai gửi thư đến, trong thư nói:

Sư Tôn, đệ tử có một chút giác ngộ khi đọc cuốn văn tập "Thiên hạ đệ nhất linh" của Thầy, chương thứ hai mươi hai "Lời dạy của Diêu Trì Kim Mẫu" dạy chúng sinh mật ý chân chính về sự "quên hết". Hi vọng điều này có thể khiến Sư Tôn vui vẻ yên lòng.

Chú thích: Tôi (Lư Sư Tôn) đương nhiên rất vui vẻ yên lòng. Bởi vì giác ngộ có nghĩa là có sự tăng trưởng.

🌟

Đệ tử biết, rất nhiều khi, nói vòng vo cũng là một kiểu nói thẳng, hỏi ngược lại cũng là một kiểu trả lời thẳng. Nhưng có thể vận dụng cách nói thẳng hay vòng, nói chính hay nói ngược này mà vẫn chỉ nói về một thứ thì chỉ có thể nhận thấy điều đó ở Sư Tôn. Nếu người bình thường không có đức tin thuần túy vào thành tựu viên mãn của Căn bản Thượng sư thì rất dễ bỏ sót những diễn dịch và tâm ý của Sư Tôn.

Chú thích: Phật Đà thường nói, Phật là người không nói lời sai khác, Phật là người không nói khoác, Phật là người nói lời ngay thẳng. Tôi (Lư Sư Tôn) cũng nói như vậy, nói thẳng, nói ngược, nói chính, nói vòng, đều là nói về một thứ. Điều này cũng giống như Đức Phật vậy.

🌟

Chúng sinh học Phật bình thường, dựa vào đoạn mở đầu của chương sách sẽ rất dễ bị cái gọi là sự đóng vai các nhân vật mà lẫn lộn mất tiêu điểm của mình. Bên hỏi là "không hiểu", còn bên đáp là "hiểu". Hơn nữa lại còn là Căn bản Thượng sư đối thoại với "thiên hạ đệ nhất linh". Mọi người nếu không thật sự hiểu sâu rằng Căn bản Thượng sư và Bổn tôn "thiên hạ đệ nhất linh" vốn là một thể thì sao lại có sự khác biệt giữa "hiểu" và "không hiểu" chứ?

Phật Đà cũng là cùng với Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát trí huệ đệ nhất, thầy của Thất Phật đối thoại với nhau mà gợi ra bao nhiêu Phật pháp tuyệt vời đó sao! Sư Tôn chẳng phải cũng đang diễn hóa trò chơi như vậy sao, tự mình hỏi tự mình trả lời. Nếu như ngay cả sự khác biệt này cũng không thể nhận thấy thì còn nói gì đến sự khác biệt vi tế giữa "quên hết" và "quên mất". Các đệ tử làm sao có thể thâm nhập đây?

Chú thích: Trong sách mà tôi đã viết, có rất nhiều cuộc đối thoại giữa bản thân và bản thân, đây là một phương thức thể hiện. Phật Đà từng không hỏi mà tự nói, cũng là phương thức này. Có điều, chỉ cần chúng sinh hiểu được thì bất kì phương thức nào cũng được, chẳng phải thế sao?

🌟

Khi Sư Tôn bắt đầu nói đến một hỏi một đáp, cái mà đệ tử thấy được là trí huệ của Thầy, cũng thấy được dưới sự tương tác của Kim Mẫu và Thầy, Thầy đã thể hiện thái độ ham học hỏi, đây chính là sự giáo dục bằng hành động gương mẫu mà Sư Tôn dành cho chúng con, rằng đừng có đặt quan điểm cá nhân lên cao quá. Cho dù đã hiểu cũng cần học cách tùy duyên mà bày tỏ, học cách ẩn giấu.

Chú thích: Cái gọi là học vấn chính là đến từ việc học sinh hỏi thầy giáo. Tôi là học sinh, Kim Mẫu là thầy giáo. Cho nên việc tôi ham học cũng có sự giáo dục bằng hành động gương mẫu của sư phụ và đồ đệ. Và những gì tôi thể hiện trong sách đương nhiên không thể biểu hiện rằng học sinh cái gì cũng biết.

Từ câu hỏi thứ nhất, Sư Tôn cũng đã lo lắng cho chúng sinh, bởi vì văn tự hạn chế nên hỏi: "Lẽ nào mất trí chính là thành tựu?", thật ra Sư Tôn thật sự đã suy ngẫm rất kĩ lưỡng, câu hỏi ngược lại này thật ra chính là nói với chúng sinh rằng quên hết và mất trí không có liên quan gì với trí nhớ. Câu trả lời của Kim Mẫu tự nhiên đã là một sự chứng minh tốt nhất rồi, cũng là Sư Tôn lưu lại một câu tự mình trả lời.

Chú thích: "Quên hết" là một học vấn rất lớn, rất sâu rất rộng, hàm nghĩa của nó vô cùng siêu việt. Không phải là sự mất trí nhớ của người thế tục, mất kí ức. Phật giáo có một danh từ là "Tam luân thể không", phải suy nghĩ từ "Tam luân thể không" mới có thể biết được ý nghĩa chân thực của "Quên hết".

🌟

Trong cuốn "Đạo ca Milarepa" có đề cập đến "Quên hết", đệ tử đã đọc thấy một nhân minh rất thú vị.

*"Người chứng đắc vô tri vô giác,
Sẽ trải nghiệm cảm giác quên đi,
Quên ngay cả ý niệm tăng giảm.”*

Chú thích: Bất động. Vô sinh. Không tăng. Không giảm.

*“Người chứng đắc bản tính tam thân,
Sẽ quên cả thứ tự Bổn tôn,
Quên ngay cả các pháp suy tưởng.”*

Chú thích: Đã đến bỉ ngạn, thành tựu pháp thân, báo thân, hóa thân, thì cái bè đã trở thành vô dụng, pháp cũng vô dụng, đương nhiên là vô học, ý tưởng và Bổn tôn có thể quên hết.

*“Người chứng đắc Phật quả nguyên bản,
Sẽ quên cả quả vị tinh tấn
Quên ngay cả các pháp thế tục.”*

Chú thích: Đã là Phật. Tất cả là pháp nhĩ bản nhiên. Tự tại nhậm vận, học vô học, làm vô vi. Quên hết là tự nhiên.

*“Người tu trì tai nghe Mật pháp,
Sẽ quên cả khái niệm ngôn từ,
Quên ngay cả mọi sự kiêu ngạo.”*

Chú thích: Không có ngôn ngữ, văn tự nào có thể biểu thị. Không có khái niệm, đương nhiên cũng không có ý niệm của ngạo mạn.

*“Người chứng đắc tính không vạn vật,
Sẽ quên cả sách vở kinh tập
Quên ngay cả mọi sự thừa thãi."*

Chú thích: Tổ Sư Đạt Ma nói: bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật. Tổ Sư Đạt Ma nói: mọi học thuyết đều không có. Chính là như thế.

🌟

Đổi một phương trình sẽ là: "bởi vì...", "thực tướng hiển hiện", "cho nên... có thể quên rồi."
"Quên hết" không phải là một loại hành vi, "quên rồi" là một loại hành vi.
"Quên hết" là sự hiển thị bên trong, "quên rồi" là sự hiển thị bên ngoài.
"Quên hết" là thắng nghĩa đế, "quên rồi" là quên cái thế tục đế, bởi vì từ thế tục đế chứng minh được thắng nghĩa đế, sự tồn tại của thế tục đế là không cần thiết.
"Quên hết" là song vận, "quên rồi" là mây tan khói tản, tự nhiên rơi rụng.

Chú thích: Đây là cách nghĩ và lời giải thích của Thượng sư Liên Lai. Với tôi mà nói, để cho người sơ cơ đọc cũng được. Còn tôi, ngay cả phương trình cũng quên hết rồi.

🌟

Đã biết rồi, nghĩa là nên như thế (pháp nhĩ bản nhiên), ghi nhớ cũng là nên như thế, không nhớ cũng nên như thế, chuyện bình thường, chuyện thường, ai có thể nhớ được (vô tâm), đây chính là hiện tượng của "quên hết". Cảm giác có đến thì biết, cảm giác có đi thì cũng chẳng nghĩ, trong hình dạng hòa thành một khối, pháp vị nồng đượm.

Chú thích: Tôi (Lư Sư Tôn) luôn cảm thấy đời người vô cùng hư huyễn. Những gì đã qua thì không thể thấy lại, những gì hiện tại cũng không thể nắm chắc. Những gì của tương lai thì hư vô như có như không. Ghi nhớ làm cái gì? Hơn nữa, như đến như đi, dường như có đến, dường như có đi, cũng là hư huyễn. Đây chính là pháp vị của kinh Kim Cang.

🌟

Làm sao để từ tam giới chứng vô tam giới, làm sao để từ tam thân chứng vô tam thân, xem ra không bình thường, nhưng trong chốc lát thực tướng hiển hiện, có lẽ chúng sinh có thể lí giải được, Phật Đà, các lão tổ sư có nói, chúng sinh là loài điên đảo, việc mà chúng sinh cho là bình thường thì vốn dĩ không bình thường, ngược lại, việc bình thường trong con mắt chúng sinh lại là không bình thường. Biết cái gì gọi là bình thường thì có thể quên luôn việc không bình thường. Đó chính là "quên ngay cả" đằng sau mỗi đoạn thơ của lão tổ sư Milarepa.

Chú thích: Thượng sư Liên Lai viết ra đoạn này, tôi có thể hiểu ngầm được. Ông ấy nhắc đến bình thường và không bình thường. Vốn dĩ nhận thức của mỗi cá nhân là khác nhau, nhận thức của thế tục và Thánh đạo là khác nhau. Không có một cá nhân nào có thể dựa vào lập trường không thiên vị để mà phân định bình thường và không bình thường. Ý kiến cá nhân của tôi là bình thường hay không bình thường thì đều đáng quên.

🌟

Tổng kết lại tâm đắc của Thượng sư Liên Lai là:
Nếu là việc vô thường, hà tất phải nghĩ chuyện quên hết.
Nếu là việc bình thường thì trong đó có quên hết.

Chú thích: Lư Sư Tôn tôi thì nói:
*”Dưới thông hỏi chú bé,
Thầy đi hái thuốc rồi,
Ở trong núi đấy thôi,
Bởi mây dày khó thấy.”*


### 37. Phác họa Phật lực


Chúng ta biết rằng Như Lai có thập lực, thập lực này là:

1. Biết nơi giác ngộ.

1. Biết nghiệp báo ba đời.

1. Biết mọi phép tu thiền định giải thoát.

1. Biết tám phép thiền định giải thoát.

1. Biết mọi kiến giải.

1. Biết rõ các cõi giới.

1. Biết tất cả các đạo.

1. Biết thiên nhãn vô ngại.

1. Biết túc mệnh vô lậu.

1. Biết đoạn trừ tập khí vĩnh viễn.

(Đây là Thập lực được nói đến trong "Trí Độ Luận" và "Câu Xá Luận", còn có cả "Thập Lực Kinh".)

🌟

Lư Sư Tôn tôi dùng ngôn ngữ nói để mà chú giải cho Thập lực, để mọi người dễ hiểu thêm một chút:

1. Hiểu được điều cực kì khó biết, biết thông suốt mọi thứ. (Trí lực tự tại)

1. Hiểu cách tự đánh giá thanh tịnh. (Thâm nghĩa tự tại)

1. Hiểu đạo giải thoát. (Giải thoát tự tại)

1. Hiểu đạo bồ đề. (Bồ đề tự tại)

1. Hiểu tám vạn pháp. (Pháp lực tự tại)

1. Hiểu thập địa của Phật. (Thập địa tự tại)

1. Hiểu thanh tịnh vô cấu tất cả thông đạt. (Thanh tịnh tự tại)

1. Hiểu phổ giác khắp nơi. (Vô ngại tự tại)

1. Hiểu các pháp sâu rộng thù thắng tất cả các mối nhân duyên tiền định. (Vô lậu tự tại)

1. Hiểu có thể loại bỏ tất cả tập tính. (Phương tiện tự tại)

(Tôi tự thấy giảng giải về thập lực của Như Lai như thế này vẫn còn rất mơ hồ, không đủ rõ ràng. Khi tất cả đến được đích đến thì cũng bắt đầu có thể biết được.)

🌟

Có người hỏi:
"Phật có thập lực, thế Bồ Tát có không?"
Tôi đáp:
"Thập lực của Phật là dựa theo quả đức của Phật mà phân ra. Còn như Bồ Tát có hay không, có vị có, có vị không, nhưng không dựa vào điều này để mà phân tốt xấu."
Người hỏi:
"Quả đức là phân như thế nào?"
Tôi đáp:
"Nói chung, đức mà chư Phật đã viên mãn được thì không có Bồ Tát nhị thừa nào có thể làm được."
(Điều này có trong "Tham Yếu Kí".)

🌟

Hỏi:
"Thần biến của Phật ra sao?"
Đáp:
"Vô ngại."
Hỏi:
"Vô ngại đến phạm vi nào?"
Đáp:
"Tự tại nhậm vận."
Hỏi:
"Thế nhậm vận là gì?"
Đáp:
"Nhỏ mà không ở trong, to mà không ở ngoài."
Hỏi:
"Có phải là tám loại thần biến không?"
Đáp:
"Không phải tám loại thần biến, mà là thần biến vô cùng."
Hỏi:
"Biến nhỏ biến to, biến dài biến ngắn, có thể lúc xa lúc gần, có thể lúc nặng lúc nhẹ, có thể từ một thân biến thành nhiều thân, có thể biến đá thành vàng, có thể có hoặc không, tùy tâm muốn gì được nấy."
Đáp:
"Chỉ là chuyện nhỏ."
Hỏi:
"Còn có thể làm gì nữa?"
Đáp:
"Không gì là không thể."


### 38. Thần biến của Báo thân Phật


Có người hỏi tôi:
"Thế nào là Báo thân Phật?"
Tôi đáp:
"Pháp thân Phật vô hình vô tướng, vì để tiện lợi độ chúng sinh nên Phật mới hiển hiện Báo thân Phật."
Hỏi:
"Báo thân Phật có hình tướng gì?"
Đáp:
"32 tướng, 80 vẻ đẹp."
Hỏi:
"Báo thân Phật thì ai có thể thấy được?"
Đáp:
"Người phàm không thể thấy được, duy có người tu Bồ Tát thập địa mới có thể thấy được."
Hỏi:
"Lư Sư Tôn có thấy không?"
Đáp:
"Thấy."
Hỏi:
"Dùng cách nào để thấy được Báo thân Phật?"
Đáp:
"Tư tưởng thuần tịnh trong sáng." (Chuyên nhất du già)
Hỏi:
"Sư Tôn có biết thần biến của Báo thân Phật không?"
Đáp:
"Biết."
Hỏi:
"Thần biến gì?"
Đáp:
"Báo thân Phật, trong cái có mà như không, trong cái không mà sinh ra có, có thân bên ngoài thân."
Hỏi:
"Đây chính là một thân hóa nhiều thân, nhiều thân hóa một thân sao?"
Đáp:
"Chính xác."
Hỏi:
"Báo thân Phật ăn, mặc, ở, đi lại ra sao?"
Đáp:
"Đây là suy nghĩ của phàm phu, nhưng ngại gì mà không trả lời."
"Ăn khí." (hoặc ánh sáng)
"Mặc thiên y." (sạch sẽ)
"Sống trong cung điện." (thất bảo)
"Tùy niệm." (trong sát-na)

Chú thích: Phương diện ăn uống, muốn cái gì thì biến hóa ra cái đó. Thiên y mặc trên người vĩnh viễn không nhiễm bẩn, rực rỡ sáng chói, màu sắc biến hóa. Nơi ở là cung điện thất bảo, còn đi lại thì chỉ trong một suy nghĩ là đến, tất cả pháp giới đều có thể đến.

Hỏi:
"Báo thân Phật sống ở nơi nào?"
Đáp:
"Tịnh thổ."

Chú thích: Báo thân Phật của A Di Đà Phật thì ở tại cõi tịnh thổ Tây phương Cực Lạc thế giới của A Di Đà Phật. Vô lượng chư Phật đều có tịnh thổ của riêng mình.

Hỏi:
"Có người nói, Phật không ở trong thân, cũng không ở ngoài thân, núi sông đại địa, nơi mặt trăng mặt trời chiếu đến, không đâu không là Phật. Tất cả pháp giới, trời đất, ánh sáng phủ khắp đại ngàn, nói như vậy có đúng không?"
Đáp:
"Pháp thân Phật bất khả tư nghì, đúng là như vậy."
Hỏi:
"Vì độ chúng sinh mà hiển hiện, cũng tức là một hóa thành hai, hai hóa thành ba, ba hóa thành vạn vật. Một là pháp thân, hai là báo thân, ba là hóa thân, đó là cơ chế của tạo hóa."


### 39. Tiếng lòng của lão tăng (1)


Trong cuộc đời tôi, tôi tôn kính nhất là Diêu Trì Kim Mẫu.
Diêu Trì Kim Mẫu, Diêu Trì Kim Mẫu, Diêu Trì Kim Mẫu, Diêu Trì Kim Mẫu, Diêu Trì Kim Mẫu, Diêu Trì Kim Mẫu, Diêu Trì Kim Mẫu,...
Vì sao vậy?
Bởi vì vào năm tôi 26 tuổi, tại Ngọc Hoàng Cung ở Đài Trung, tôi đã gặp được Ngài.
Ngài đã khai sáng cho tôi.
Ngài đã ở bên tôi, đi suốt cả cuộc đời này.
Ngài nói tôi là Liên Hoa Đồng Tử.
Ngài nói tôi có cốt Phật.
Ngài nói tôi phải độ chúng sinh.

🌟

Trong con mắt của thế nhân, Diêu Trì Kim Mẫu từng hạ giáng tại hoa sen, rồi sau đó con người phân thành:

1. Vương Mẫu Nương Nương của Thánh An Cung.

1. Diêu Trì Kim Mẫu của Từ Huệ Đường.

Ngài là vị thần linh tối cao của tín ngưỡng dân gian Đài Loan.

Tôi (Lư Thắng Ngạn) vốn là sinh viên tốt nghiệp khóa 32 trường Trắc Lượng (bộ Đại Học), học vị cử nhân.
(Sau này trường Trắc Lượng, học viện Công trình Hải quân, học viện Công nghiệp Quốc phòng, ba trường hợp nhất, đổi tên thành Học viện Khoa học Công nghệ Trung Chính. Tôi trở thành sinh viên tốt nghiệp khóa 28.)
Tôi tốt nghiệp khoa đo đạc mặt đất. Tôi làm việc trong quân đội 10 năm, phục vụ các đơn vị:
Liên đội đo đạc số 5802 (3 năm).
Xưởng vẽ bản đồ (7 năm).
Tôi giải ngũ với quân hàm Thiếu tá, là sĩ quan đo đạc công trình.
Vốn dĩ tôi là một kĩ sư, nhưng tôi lại đi trên con đường tôn giáo. Đời người có sự thay đổi lớn như vậy, thật sự khiến người ta tặc lưỡi kinh ngạc. Ngay cả chính tôi cũng không thể ngờ.

🌟

Chính là Diêu Trì Kim Mẫu đã thay đổi tôi.
Thay đổi tôi học Đạo.
Thay đổi tôi học Phật.
Ngài bảo tôi đi thọ Bồ Tát giới.
Ngài bảo tôi xuất gia.
Ngài bảo tôi sáng lập Chân Phật Tông.
Ngài bảo tôi di cư đến nước Mĩ.
Ngài bảo tôi xây dựng Lôi Tạng Tự.
Mặc dù tôi học Phật rồi, quy y Kim cương Thượng sư, quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, nhưng tôi vẫn tôn kính Diêu Trì Kim Mẫu nhất.
Bất kể Ngài là Đại Thần.
Bất kể Ngài là Kim Tiên.
Bất kể Ngài là Ngũ Lão. (Đông Hoa Đế Quân, Diêu Trì Kim Mẫu, Hỏa Đức, Thủy Đức, Hoàng Lão.)
Bất kể Ngài là Đạo gia.
Bất kể Ngài là tín ngưỡng dân gian.
Ngài theo tôi.
Tôi theo Ngài.
Liên tục cho đến già….
(Chùa, đường, hội Chân Phật Tông của tôi đều có tượng kim thân của Diêu Trì Kim Mẫu.)

🌟

Tôi biết rõ rằng người học Phật, đặc biệt là người xuất gia, chỉ có thể tín ngưỡng Phật, Bồ Tát. Mật giáo thì có thêm Kim Cang, Hộ Pháp.
Nhưng tôi không thể bỏ qua Diêu Trì Kim Mẫu. Bởi vì Ngài là nguồn gốc của tôi. Ngài là người mẹ cõi trời của tôi. Chính Ngài đã chỉ dẫn tôi học Phật, Ngài âm thầm giúp đỡ tôi rất nhiều, nhiều đến mức không thể tưởng tượng được.
Vì thế, Ngài là nguồn gốc, là Bổn tôn căn bản của tôi.


### 40. Tiếng lòng của lão tăng (2)


Tôi cực kì tin vào cõi vô hình. (linh giới)
Vào buổi tối cùng ngày tôi được Diêu Trì Kim Mẫu khai sáng, tôi đã du lịch khắp trên trời dưới đất.
Diêu Trì Kim Mẫu nói bên tai tôi rằng: "Anh là Liên Hoa Đồng Tử!"
Hoàn toàn là sự thật. Vô cùng rõ ràng.
Không phải là huyễn thính, không phải là huyễn giác.
Bởi vì trong cuộc đời tôi, chưa bao giờ có người nào từng nói với tôi về cái tên Thánh này. Đó không phải là ý thức ở tầng sâu hơn.

Trước năm tôi 26 tuổi, giới Phật giáo không hề có Liên Hoa Đồng Tử, giới Đạo giáo cũng không có Liên Hoa Đồng Tử.
Trong khi tôi du lịch [ở đây là du lịch thần hành, nguyên thần của Sư Tôn được Diêu Trì Kim Mẫu đưa đi khắp các cõi giới], tôi tận mắt trông thấy Liên Hoa Đồng Tử.
Ánh sáng trắng chói lọi.
Ánh sáng tỏa khắp xung quanh.
Đó chính là Liên Hoa Đồng Tử!

🌟

Vì sao tôi tin có tồn tại "Vô hình"? Bởi vì tôi đã được chỉ định cần học pháp. Khi ấy, tôi đang sống tại kí túc xá sĩ quan của liên đội trắc lượng số 5802, tôi ở một mình một phòng. Sau 12 giờ đêm.
"Vô hình" đến.
"Vô hình" dạy pháp cho tôi.
Ngón tay của tôi có thể tự động kết thành thủ ấn đẹp đẽ.
Ngoài ra, chân của tôi có thể tự động nhấc lên đặt xuống.
Đi thất tinh bộ.
Đi khôi cương bộ.
Đi tham tinh bộ.
Khởi bái đẩu bộ.
Đi vũ bộ.
Có một lần tôi nhấc chân hơi lâu một chút, chân bị tê, muốn hạ chân xuống để nghỉ một lát nhưng không thể hạ xuống được! Bởi vì "Vô hình" đã giữ chắc chân của tôi rồi.
Trong sát-na, tôi tỉnh ngộ:
"Quả nhiên đúng là có vô hình!"
Tôi thật sự không lừa bạn đâu!
Thế giới hiện thực này không chỉ là những gì mắt nhìn thấy được, mà còn có cả Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, Chư Thiên, thậm chí ma quỷ linh hồn... Rất là nhiều!

Lão tăng tôi đây đã đích thân trải nghiệm qua. Một chút cũng không giả dối.
Trong thế giới hiện thực này, có rất nhiều chuyện linh dị, cũng không ít con người thế nhân tin vào chúng, nhưng người không tin thực tế cũng rất nhiều.
Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người rằng:
"Có!"
Bởi vì:
"Tôi thật sự đã gặp rồi!"
Tôi không nằm mơ!
Tôi không huyễn giác!
Tôi không huyễn thính, huyễn thị!
Tôi không mắc bệnh thần kinh!

Năm xưa, liên đội trưởng liên đội trắc lượng số 5802 Trang Minh Thạch đã mời bố mẹ tôi đến, hỏi rằng:
"Con trai của bác có phải thần kinh có vấn đề không?"
Bố mẹ tôi nói:
"Cực kì bình thường!"
Tôi bảo mọi người, lão tăng Lư Thắng Ngạn tôi đến nay đã già rồi, vẫn rất bình thường đó.


### 41. Tiếng lòng của lão tăng (3)


Tôi tin vào nhân duyên quả báo. Tôi tin vào lục đạo luân hồi. Tôi tin rằng:
Sống chết có số.
Phú quý tại trời.
Tôi tin vào "thiên mệnh".
Diêu Trì Kim Mẫu cần tìm tôi chính vì tôi và Ngài có nhân duyên lớn. Tôi là con rể của Diêu Trì Kim Mẫu, tôi đã lấy con gái của Ngài là Vân Hoa phu nhân.
Đó là nhân quả.
Đó là luân hồi.
Lão tăng tôi trước tiên là theo đạo Cơ Đốc, sau đó là theo Đạo giáo, cuối cùng là Phật giáo.
Do nhân duyên quả báo giải quyết hết.

🌟

Phật Thích Ca Mâu Ni có kinh Bản Sinh.
Trải qua bao đời tu hành, Phật Đà thành Phật cũng là nhân duyên quả báo đó!
Vào thời ngài là vua Đại Uy Đức, Bảo Ý Đồng Tử, Bảo Thượng Đồng Tử đã tiếp dẫn ngài đi gặp Phật Kim Quang.
Vào thời ngài là Thiện Huệ Đồng Tử, một cô gái là kiếp trước của Da Du Đà La đã trao cho ngài bảy bông hoa sen để cúng dường Phật Nhiên Đăng, mới được Phật Nhiên Đăng thọ kí là: "Sau này ngươi sẽ thành Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni!"
Đây đều là nhân duyên quả báo.

🌟

Về lục đạo luân hồi.
Tôi du lịch trên trời dưới đất, sớm đã đi khắp nơi, tôi chứng nhận rằng đích xác có lục đạo luân hồi.
Kinh Bản Sinh của Phật Đà có ghi chép:
Tiền kiếp của Phật có rất nhiều kiếp ở trong đạo súc sinh làm Vua Voi, Vua Hươu, Vua Khỉ, v.v…
Còn nữa, trong Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện Kinh có ghi chép các loại đạo địa ngục. Chuyện Mục Kiền Liên cứu mẹ ghi lại rằng mẹ của Mục Kiền Liên ở trong đạo ngạ quỷ.

Mười pháp giới của Phật giáo là:
Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn. (Tứ Thánh giới)
Trời, người, atula, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. (Lục đạo)
Tôi không chỉ biết có mười pháp giới trong kinh Phật mà tôi cũng đã đích thân trải nghiệm mười pháp giới, đặc biệt là trong âm giới (giới ma).
Năm tên đại ác quỷ của Quỷ Bà là Watanabe Chirou, Nakamura Kazumu, Kobayashi, Lâm Lương Tri, Hoàng Kim Tuyền, tôi đều đã gặp.
Có một vài con ma tốt sống ở nhà tôi, họ sống ở trong tủ lạnh, cho rằng nhiệt độ trong đó là thích hợp. Họ sống trong cây trúc cảnh, bởi vì trúc có nhiều đốt, lại rỗng ruột, nên giống như sống trong nhà lầu.
Lục đạo luân hồi là hoàn toàn có thật.

🌟

Ở đây, lão tăng tôi muốn nói với mọi người:
Mọi việc ác đừng làm.
Hãy làm mọi việc thiện.
Tự thanh tịnh ý niệm.
Đó là điều Phật dạy.
Đây là tâm yếu khẩu quyết quan trọng. Hãy nhớ! Hãy nhớ!


### 42. Tiếng lòng của lão tăng (4)


Tôi thường nghĩ đến giá trị của đời người.
Ý nghĩa của đời người là gì?
Là kiếm tiền sao?
Là sinh con đẻ cái, nuôi dạy con cái sao?
Là tiếng tăm?
Là địa vị?
Là sắc đẹp?
Sau đó lại nghĩ, những điều này chỉ là thứ yếu.
Tiền có nhiều cũng chẳng đổi được sức khỏe.
Sinh con, nuôi dạy con, con cái đều là những ẩn số chưa biết.
Tiếng tăm, quá hư huyễn.
Địa vị, chẳng giữ được.
Sắc đẹp, thời gian cũng sẽ già.
Những điều này đều chẳng phải là vĩnh hằng. Điều tôi cần là giá trị vĩnh hằng, ý nghĩa chân chính của cuộc đời.

🌟

Sau này, tôi đi trên con đường tu hành. Lão tăng khẳng định dứt khoát:
"Ý nghĩa của đời người là giải thoát!"
Hai chữ "giải thoát", hai chữ này có ý nghĩa vô thượng.
Thoát khổ được vui.
Từ bến bờ này đến bến bờ kia.
Thoát li khỏi lục đạo luân hồi.
Vĩnh viễn không thoái chuyển.
Tự tại.
Nhậm vận.
Vĩnh hằng.

🌟

Thì ra, con người trên đời đều sống trong sự vô minh, không nhìn thấu nhân thế gian.
Sinh mạng con người có hạn.
Dốc sức cả một đời cũng chạy không thoát khỏi sinh, lão, bệnh, tử.
Cho dù cả đời rất hạnh phúc. Vợ, con, tài, lộc, thọ, chẳng thiếu thứ gì.
Nhưng, cuối cùng vẫn là chẳng giữ được gì!
Nhà cửa vẫn còn đó, người đâu?
Xe sang vẫn còn đó, người đâu?
Thất trân bát bảo vẫn còn đó, người đâu?
Nghĩ mà xem, nguyên thủ quốc gia trên toàn thế giới có bao nhiêu người, bạn biết được mấy người?
Nghĩ mà xem, địa vị cao nhất, có giữ được không?
Người giàu có nhất thế giới, có thể giàu nhất được bao lâu?
Có thể đời đời kiếp kiếp không?
Quá hư huyễn!
Quá hư giả!
Đều là bong bóng!
Huống hồ thế giới này có quá nhiều điều vô thường. Trong một sát-na, bong bóng đã vỡ hết rồi!
Thành, trụ, hoại, không.
Sinh, vượng, tử, tuyệt.

🌟

Lão tăng đã không sống uổng cuộc đời này.
Tôi biết giá trị cuộc đời và ý nghĩa cuộc đời.
Tu hành.
Giải thoát.
Thành Phật.
Điều quan trọng nhất là, bạn không còn luân hồi trong biển lớn sinh tử nữa, bạn không sinh không diệt.
Việc có ý nghĩa nhất của cuộc đời đương nhiên là đại thành tựu giải thoát.
Sau đó, bạn phát nguyện lại đến để độ hóa chúng sinh hữu tình gàn dở và yếu kém.


### 43. Tiếng lòng của lão tăng (5)


Vì tôi thông linh nên tôi đã tiến nhập được vào trong mạng lưới khổng lồ của linh giới.
Tôi nhận thức được:
Thiên kì bách quái.
Bất khả tư nghì.
Ví dụ:
Thấy tượng Quan Thế Âm Bồ Tát bằng sứ trắng mà nhà hàng xóm thờ cúng vô cùng linh cảm, trong lòng tôi cũng rất khao khát có được, nên cũng đi tìm một bức tượng sứ trắng Quan Thế Âm Bồ Tát giống như thế thỉnh về nhà, khai quang và thờ cúng. Nhưng tôi phát hiện ra: hai vị không giống nhau.
Tôi nhận thấy, cùng là Quan Thế Âm Bồ Tát, nhưng mà các vị lại khác nhau.

🌟

Ở Đài Trung:
Phật Thích Ca Mâu Ni ở chùa Từ Thiện.
Phật Thích Ca Mâu Ni ở chùa Từ Minh.
Phật Thích Ca Mâu Ni ở chùa Từ Âm.
Lão tăng phát hiện ra, mặc dù cùng mang danh hiệu giống nhau, nhưng hành động và tác phong của mỗi vị mỗi khác.
Cho dù trên thế giới có sáu mươi ngôi chùa Lôi Tạng Tự của Chân Phật Tông, trong mỗi ngôi chùa đều có Phật Thích Ca Mâu Ni, nhưng Phật Đà trong mỗi ngôi chùa đều không giống nhau.
Không giống ở chỗ nào?
Hành động không giống.
Tác phong không giống.
Tướng mạo không giống.
Thanh âm không giống.
Linh lực không giống.
...

Đương nhiên cũng có sự tương đồng, bởi vì các vị đều là Phật Thích Ca Mâu Ni.

🌟

Cuối cùng tôi đã hiểu ra từ phẩm "Phân thân tập hội" trong Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện Kinh.
Cuối cùng tôi đã hiểu:
Pháp thân Phật.
Báo thân Phật.
Hóa thân Phật.
Tôi đã hiểu:
Tì Lô Giá Na Phật, Lô Xá Na Phật, Thích Ca Mâu Ni Phật.
Càng hiểu rằng:
Tì Lô Giá Na Phật --- Phật Nhãn Phật Mẫu --- A Di Đà Phật --- Liên Hoa Đồng Tử --- Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.

🌟

Có một gia đình mời một pháp sư theo Quỷ Bà đến nhà họ để khai quang đàn thành. Kết quả là:
Bao chuyện ồn ào không thuận.
Đêm ngủ không ngon.
Tôi mới đến xem. Quả nhiên trông thấy năm vị Phật Bồ Tát đẹp đẽ lại chính là năm con quỷ đang ngồi ở đó.
Tôi khai quang lại từ đầu.
Tất cả mọi thứ đã được giải trừ hoàn toàn rồi!

🌟

Linh giới thật sự bất khả tư nghì, giống như một câu nói của chúng ta là:
"Lòng người khác nhau cũng như diện mạo khác nhau."
Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người rằng:
Tâm của bạn thế nào?
Phật Bồ Tát mà bạn chiêu cảm đến chính là tâm của bạn.
Người khai quang cũng khác nhau!
Linh giới là vô cùng khó tưởng tượng một cách bất khả tư nghì.


### 44. Tiếng lòng của lão tăng (6)


Rất nhiều người hiếu kì không hiểu Lư Sư Tôn nhìn thấy Phật Bồ Tát là nhìn thấy như thế nào?
Tôi đáp:
"Tự nhiên nhìn thấy thôi!"
Ví dụ:
Khi tôi giảng Mật Tông Đạo Thứ Đệ Quảng Luận, vào ngày đầu tiên, tổ sư Tsongkhapa đã xuất hiện trong vầng ánh sáng hình tròn, gia trì cho việc giảng kinh của tôi.
Còn nữa:
Khi tôi giảng Đạo Quả, Virupa hiện thân gia trì cho tôi.

🌟

Kí ức sâu sắc nhất là:
Ở Trung Quốc, khi tôi bay máy bay từ Bắc Kinh đến Thái Nguyên, tôi đã nhìn thấy kim thân cao trượng sáu của A Di Đà Phật, vô cùng lộng lẫy trang nghiêm.
Con người tôi đứng trước A Di Đà Phật cao lớn, tôi chỉ cao tới ngón chân của Ngài, Ngài cao đến như vậy đó.
Chà! Thế thì A Di Đà Phật không chỉ cao trượng sáu đâu.

Còn nữa:
Khi tôi đi du lịch Hàn Quốc, tôi đã đến Gyeongju để bái lạy Phật Dược Sư cao lớn. Trên đường trở về, tôi đã nhìn thấy Phật Dược Sư, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Nhật Quang Biến Chiếu Bồ Tát, Nguyệt Quang Biến Chiếu Bồ Tát, Thập Nhị Dược Xoa Thần Tướng. Trước mắt tôi xuất hiện những vòng ánh sáng, tôi nhìn thấy hết vòng ánh sáng này đến vòng ánh sáng khác. Phật, chư Bồ Tát, mười hai Thần Tướng đều ở trong các vòng ánh sáng. Khi ấy thân tôi có bệnh, tôi lập tức biết rằng bệnh của tôi nhất định sẽ khỏi.

Còn nữa:
Tại một mật viện nhỏ ở Đài Trung, tôi đã nhìn thấy Quan Thế Âm Bồ Tát. Chà, cách trang điểm của Ngài thật khiến người ta nức lòng.
Đầu đội mũ hoa.
Tóc dài bay bay.
Thiên y váy xếp.
Sáng chói rực rỡ.
Lúc đầu Ngài quay lưng vào tôi, rồi từ từ quay người lại, để tôi nhìn thấy khuôn mặt của Ngài. Trời ơi! Tuyệt sắc!
Toàn thân trang điểm bằng thất trân bát bảo.
Trong đời này, tôi chưa từng nhìn thấy một vị Quan Thế Âm Bồ Tát trang nghiêm diễm lệ như thế.
Làm sao có thể so sánh?
Ngôi sao ca nhạc Hồng Kông Mai Diễm Phương hát bài "Người yêu mến thương", trang điểm toàn thân cũng chỉ bằng một phần vẻ đẹp của Ngài.
Quan Thế Âm Bồ Tát nói với tôi rằng, Ngài đã giúp tôi giải quyết một việc khó khăn của tôi rồi.

🌟

Tôi nhìn thấy Phật Bồ Tát rất nhiều lần! Phần lớn là khi tôi tập trung tinh thần. Không phải huyễn thị. Hơn phân nửa số lần là các Ngài cho tôi những gợi ý.
Vậy đó là ảo giác sao? Không phải!
Giống như nhìn thấy Quan Thế Âm Bồ Tát, vẻ đẹp ấy, nét tươi cười ấy, sự tế nhị ấy, trên đời khó có thể gặp được mấy lần!
Một đêm trước khi tôi viết chương sách này, tôi còn nhìn thấy Kim Cang Hợi Mẫu nữa! Vô cùng chân thực.


### 45. Tiếng lòng của lão tăng (7)


Có người hỏi tôi về chuyện giữ giới. Tôi chỉ trả lời người đó rằng:
Đối với luật tông, giới luật học, giới điều, các loại giới luật, tôi thật sự không nghiên cứu sâu. Nhưng tôi tuân thủ ba nguyên tắc:
1. Không làm điều ác.
2. Nỗ lực làm điều thiện.
3. Chỉ mong lợi ích cho người khác.
Lão tăng tôi đây đương nhiên phải giữ ngũ giới, thập thiện, Bồ Tát giới, tì kheo giới,…
Thế nhưng không làm việc ác, làm việc thiện, lợi ích chúng sinh là ba nguyên tắc lớn trong cuộc đời này của tôi.

🌟


Sức chịu đựng của tôi càng ngày càng mạnh.
Bị vu oan, không hề gì!
Bị trách oan, chỉ cười xòa!
Càng khó khăn, càng nỗ lực!
Đối với cuộc đời mình, những gì tôi làm sai, tôi chỉ trách bản thân, không trách người khác.
Tôi cần tôn kính người khác giống như Phật Bồ Tát, bởi vì có họ thì tôi tu hành mới có thể thành tựu, thế nhân đều là thầy của tôi.
Đó là tâm đắc quan trọng nhất của lão tăng tôi đây.
Người công kích tôi là thầy tôi.
Người cướp đoạt tôi là thầy tôi.
Người đánh bại tôi là thầy tôi.
Người nhục mạ tôi là thầy tôi.
Người phỉ báng tôi là thầy tôi.
...
Đều là thầy tôi.
(Tất cả đều là sự an bài hoàn mĩ.)

Tôi không được nổi giận, tôi ghi nhớ hai bài kệ:
*”Tích lũy trong nghìn kiếp
Làm đủ mọi điều thiện
Bao công đức có được
Một cơn giận tiêu tan.”*

Và:
*”Tội ác chớ tức giận
Việc khó chi bằng nhịn
Nên hàng phục bản thân
Nỗ lực tu nhẫn nhục.”*
(Bây giờ tôi đã coi tất cả con người trên đời đều là thầy của mình rồi.)
Đạo lí này rất đơn giản:
Chính vì có nhiều người nhục mạ bạn như vậy, bạn mới có thể tu hành đạt thành tựu đó.

🌟

Lão tăng chẳng còn sợ hãi điên đảo gì nữa.
Bị ốm cũng tốt, để tôi tĩnh lại.
Yểu thọ cũng tốt, khi ấy tất cả thật sự đã dừng lại rồi. (tịch tĩnh)
Cô quạnh cũng tốt, không có đòi hỏi gì.
Phỉ báng cũng tốt, được dịp nhẫn nhục.
Hiểu nhầm cũng tốt, được dịp gánh nghiệp của chúng sinh.
Niết bàn cũng tốt, không còn nhân sinh, không còn quả tử.
Luân hồi cũng tốt, đời đời kiếp kiếp độ chúng sinh...

Bây giờ tôi hiểu:
Không sợ hãi.
Không điên đảo.
Không vọng tưởng.


### 46. Tiếng lòng của lão tăng (8)


Cuộc đời này của tôi, tôi muốn nói nhất là hai chữ: "Cảm ơn!"
Bậc cha chú thân thích của tôi, bố tôi Lư Nhĩ Thuận, mẹ tôi Lư Ngọc Nữ. Họ đối với tôi có ơn dưỡng dục.
Nhà tôi có sáu người con, tôi là con trưởng. Thứ tự là: Lư Thắng Ngạn, Lư Thắng Mĩ, Lư Ngọc Ý, Lư Quắc Anh, Lư Nghê Anh, Lư Chiêu Dung.
Đó là tình cảm anh chị em (giúp đỡ lẫn nhau), tôi cũng cảm ơn.
Tôi cũng cảm ơn chị họ của tôi Lư Ái Tử. (Hồi nhỏ chị chăm sóc tôi rất nhiều.)
Tôi cảm ơn dì Hoàng Tuyết Hoa của tôi. (Hồi nhỏ dì chăm sóc tôi rất nhiều.)
...

🌟

Tôi cảm ơn những người thầy của tôi:
Tiểu học --- Trường tiểu học Đại Đồng ở Cao Hùng. (Hiệu trưởng Lí Tồn Kính.)
Cấp hai --- Trường Cao Thị Nhị Trung. (Hiệu trưởng Lâm Thủ Bàn.)
Cấp ba --- Trường cấp ba Công Nghiệp Cao Hùng. (Hiệu trưởng Đường Trí.)
Đại học --- Trường Trắc Lượng. (Hiệu trưởng Doãn Chung Kì.)
Các giáo viên chủ nhiệm lớp của tôi rất nhiều, tôi không liệt kê tên từng người, họ đối với đứa học sinh kém cỏi ương ngạnh là tôi đây rất ân cần dìu dắt. Tôi cảm ơn lại cảm ơn.
Còn có rất nhiều bạn cùng lớp, bạn lớp trên, bạn lớp dưới, trong lòng tôi thường xuyên nhớ đến họ...
Hoàng Kim Hùng.
Trang Chính Hòa.
Tuyết Hồng.
(Mọi người đang ở đâu? Những người tri kỉ của tôi.)
Bạn thân một nửa đã rơi rụng rồi! Đúng thế! Bạn thân một nửa đã rơi rụng rồi!

🌟

Những người thầy Phật pháp của tôi, trong lòng tôi chất chứa lòng cảm kích!
Ba vị thầy Hiển giáo:
Đạo sư Ấn Thuận. (Thầy Tam Luận Tông)
Pháp sư Đạo An. (Trung Phật hội)
Pháp sư Lạc Quả. (Lục kim cang)
Ba vị thầy thọ Bồ Tát giới:
Pháp sư Huệ Tam.
Pháp sư Hiền Đốn.
Pháp sư Giác Quang.
Bốn vị thầy Mật giáo:
Liễu Minh Hòa Thượng.
Sakya Chứng Không Thượng sư.
Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16.
Thubten Dhargye Thượng sư.
Và: trưởng lão Ngộ Minh, pháp sư Chấn Quang, pháp sư Thánh Ấn, thiền sư Như Học, pháp sư Thiện Tứ, thượng sư Phổ Phương, cư sĩ Lí Bỉnh Nam...
Thượng sư Liên Hương.
Họ đã giúp tôi rất nhiều.

🌟

Tôi còn muốn cảm ơn năm triệu đệ tử của tôi, họ cúng dường tôi, giúp tôi không còn nỗi lo những ngày sau này.
Cuộc sống không thiếu thốn.
Tôi đương nhiên cần báo đáp:
Ơn Phật.
Ơn pháp.
Ơn tăng.
Ơn thầy.
Ơn trời đất.
Ơn chúng sinh.
Những điều này làm sao báo đáp? Có thể báo đáp được hết không? Chỉ có thành tựu Phật quả, đời đời kiếp kiếp độ chúng sinh!


### 47. Tôi không đến cuộc đời này uổng phí - Trần Truyền Phương


Năm 1989, tôi quy y.
Tôi là một đệ tử sinh ra tại Tứ Xuyên, Trung Quốc, nhưng lớn lên tại một làng quê do quân đội quản lí ở miền nam Đài Loan. Sau khi tốt nghiệp ngành y tá, tôi làm việc trong phòng phẫu thuật tại bệnh viện Hoành Ân ở Đài Bắc khoảng hai năm.

Tháng 5 năm 1972 tôi đến miền đông nước Mĩ, sống tại bang Maryland. Bởi có thân phận y tá nên tôi rất nhanh chóng có được thẻ xanh.

Năm 1976 tôi chuyển đến miền nam California, làm việc tại bệnh viện Pioneer hạt Los Angeles. Tôi nỗ lực làm việc chăm chỉ, biểu hiện xuất sắc khiến tôi nhanh chóng được thăng chức y tá trưởng của phòng phẫu thuật. Tôi có một đứa con gái, chồng tôi là chuyên gia kế toán, thu nhập của hai vợ chồng tôi rất tốt cho một gia đình ba người sinh sống tại Mĩ. Tính cách của tôi thoải mái, thích đem niềm vui đến cho người khác, cũng vì thế, tôi có những nhân duyên rất tốt. Trong bệnh viện này, tôi rất được đồng nghiệp yêu mến, bệnh nhân cũng thích tôi, bởi sự chăm sóc chu đáo của tôi khiến họ cảm thấy ấm áp. Các bác sĩ lại càng coi trọng tôi, họ khen ngợi tôi phối hợp hoàn hảo với họ về chuyên môn, khiến họ trong quá trình tiến hành phẫu thuật mọi việc đều luôn như ý. Công việc như ý, gia đình vui vẻ, tôi luôn cho rằng mình là một người có phúc, từ trước tới nay chưa từng nghĩ mình cần theo bất kì tín ngưỡng tôn giáo nào.

Tôi tuyệt đối không thể ngờ, tháng 7 năm 1988, người chị của tôi sống tại Maryland bất ngờ bị người ta mưu sát. Đối diện với tin dữ về tai họa đột ngột này, thế giới của tôi bỗng chốc hoàn toàn đổi sắc, sự đau buồn gần như nhấn chìm tôi. Nhưng dù vô vàn đau đớn, tôi vẫn phải kiềm chế nỗi thống khổ trong lòng, một mình bay đến Maryland để thu xếp hậu sự. Ngoài an ủi người mẹ già đang sợ hãi, tôi còn phải gánh vác trách nhiệm chăm sóc hai cháu ngoại trong gia đình đơn thân. Sau khi trở về California, tôi đã đăng kí trường học cho các cháu, sau khi thu xếp mọi thứ ổn thỏa, tôi lại bay về miền đông nhiều lần để chuẩn bị cho các thủ tục ra tòa sau vụ án mạng.

Năm 1989, được người bạn thân là sư tỉ Mã Phụng Lan giới thiệu, tôi đã đến chào Liên Sinh Hoạt Phật từ Seattle đến Los Angeles hoằng pháp, rồi quy y ngay sau đó. Khi tôi mới gặp Sư Tôn, sự ân cần của Sư Tôn khiến tôi cảm động đến mức nước mắt đầm đìa, Sư Tôn vô cùng từ bi. Sau khi chăm chú nghe điều thỉnh cầu của tôi, Sư Tôn đã gia trì cho tôi rất nhiều. Khi ấy tôi cầu xin vụ kiện thắng lợi, thuận lợi bán được ngôi nhà không may mắn, tôi còn rập đầu thỉnh Sư Tôn siêu độ cho chị tôi. Kết quả là nghi phạm vẫn bị kết án giết người cấp độ một dù không tìm thấy hung khí giết người và xác chết. Hung trạch sau khi dán phù chú mà Sư Tôn ban cho, chỉ trong vòng một tuần thì thủ tục mua bán đã xong xuôi như một kì tích. Còn chị tôi cũng nhờ Phật quang che chở mà được siêu thăng đến cảnh giới tốt đẹp.

Cuộc đời tất cả thật sự như mộng như huyễn, giống như người chị xinh đẹp của tôi. Chị ấy có hai đứa con gái thông minh, cũng có nhà cao cửa rộng, xe sang, tiền bạc châu báu, nhưng khi vô thường xảy đến, khi còn ở những năm tháng đẹp đẽ nhất của tuổi 42, chị tôi đột ngột biến mất khỏi nhân gian, những thứ vốn có chẳng thể đem theo được cái gì.

Công việc bận rộn, trong nhà lại tăng thêm nhân khẩu, nếu như dừng bước và quay đầu nhìn lại con đường mà tôi đã đi qua, sự vất vả cực nhọc ấy một lời khó mà nói cho hết. Sau khi quy y Sư Tôn, tôi ngày ngày đọc kinh niệm chú, ngoài việc chuyên tâm tu pháp, tôi cũng cố gắng hết sức dành thời gian đọc những cuốn sách của Sư Tôn. Trong sách của Sư Tôn có những ẩn chứa về sinh mệnh, những điều ấy làm phong phú thêm cuộc sống của tôi, cũng khiến tôi có nhiều hiểu biết và nắm bắt trí huệ. Sư Tôn từng nói, mỗi ngày tu pháp, khi nhập thiền định sẽ có dòng chảy pháp từ vũ trụ gia trì cho bạn, sẽ có lực gia trì của Phật Bồ Tát, Căn bản Thượng sư và các tổ sư bao đời gia trì cho bạn. Chỉ cần mỗi ngày thực tu Chân Phật Mật Pháp thì pháp lưu quán đảnh và lực gia trì của Căn bản Thượng sư sẽ vĩnh viễn không hết. Tôi rất biết ơn, lúc nào tôi cũng cảm nhận thấy lực gia trì của Sư Tôn! Những năm nay, tôi từng mắc bệnh mắt đỏ và bệnh đau buốt đầu gối, cũng nhờ có sự gia trì của Sư Tôn mà đã chữa khỏi rồi.

Tám năm trước, mẹ tôi tuổi tác khi ấy đã 96 tuổi, đã được Sư Tôn tiếp dẫn mà vãng sinh tịnh thổ. Hai đứa con gái của chị tôi bây giờ đều đã được giáo dục trở thành kiến trúc sư và luật sư đầy triển vọng, mỗi đứa cũng đều có gia đình mĩ mãn. Sau khi quy y Sư Tôn, tôi thật sự cảm thấy tất cả đều suôn sẻ, mọi sự đều viên mãn.

26 năm qua, hễ có cơ hội là tôi lại bay đến chùa tổ Seattle để nhận sự gia trì của Căn bản Thượng sư. Mỗi lần nhìn thấy hàng dài tín chúng hỏi chuyện, và Sư Tôn từ bi viên mãn ước nguyện của chúng sinh, trong lòng tôi không ngớt cảm động, thế là tôi thường cúng dường Sư Tôn truyện tiếu lâm để làm giảm nhẹ những vất vả của chúng sinh. Mỗi lần thấy Sư Tôn thoải mái cười vang chính là thời khắc tôi vui nhất. Tôi cho rằng Sư Tôn nghe xong truyện cười, nghe xong, cười xong là thôi, không ngờ không bao lâu sau, Sư Tôn đã vận dụng truyện cười vào việc khai thị. Những mẩu truyện cười đó qua sự giải thích của Sư Tôn, không ngờ đã trở thành những thiền cơ đâu đâu cũng tràn đầy pháp vị. Điều này trong quan điểm của tôi thật sự là quá mức tưởng tượng.

Kể từ năm 1995, tôi đã có nhiều lần được duyên may có thể cùng Sư Tôn, Sư Mẫu đi du lịch nước ngoài. Trong mỗi chuyến du lịch, những gặt hái khiến chúng tôi cảm thấy vui vẻ nhất là Sư Tôn mọi lúc mọi nơi đều khai thị. Và trên đường đi, Sư Tôn cũng tự nhiên thể hiện sự giáo dục bằng hành động gương mẫu của mình để mọi người được hưởng thụ bất tận những bài học. Ví dụ: bất kể là lịch trình du lịch ngày hôm đó kín đến đâu, Sư Tôn vẫn nhất định dậy sớm để làm xong công khóa tu trì mà mỗi ngày Sư Tôn nhất định phải làm. Khi đến giờ hẹn tập hợp của hướng dẫn viên du lịch, Sư Tôn tuyệt đối không đến muộn, hơn nữa luôn luôn là người đến sớm nhất. Mỗi khi lên xe du lịch, luôn có đệ tử mời Sư Tôn ngả ghế ngồi về phía sau để thân thể được thoải mái hơn một chút, nhưng vì lo ngại người ngồi sau không được dễ chịu, nên bất kể là chuyến đi bao xa, Sư Tôn vẫn luôn giữ ghế ngồi thẳng.

Tháng 5 năm 2006, tôi cùng Sư Tôn, Sư Mẫu đi du lịch châu Âu. Vào hôm chúng tôi đi đến đấu trường La Mã ở Italy, lúc đầu bên ngoài trời rõ ràng đang nắng ráo xanh trong, ai ngờ vừa xuống xe thì có một đợt gió lạnh cuốn bay cát mù mịt thổi táp vào mặt. Lúc này chỉ thấy Sư Tôn lầm rầm niệm mấy từ, sau đó chúng tôi mới biết rằng lúc nãy có một đám vong hồn đến để cầu xin siêu độ. Nghĩ đến những âm hồn đã chờ đợi suốt cả nghìn năm mới chờ được một Thánh giả khai ngộ đến, Thánh giả dùng đại pháp lực thì họ mới được siêu độ lên cõi trời. Tôi cảm thấy phúc phận của họ thật lớn.

Tôi từng nghe Sư Tôn hát bài "Ánh dương và mưa nhỏ" không chỉ một lần, lời ca và tiếng hát đẹp đẽ lúc nào cũng khiến lòng tôi xúc động sâu sắc, khiến tôi cảm động rớt nước mắt. Bởi vì bài hát này luôn khiến tôi liên tưởng đến sự từ bi chúng sinh và sự cống hiến dốc hết ruột gan của Sư Tôn. Tình yêu dành cho chúng sinh của Sư Tôn cũng giống như ánh mặt trời, có thể tỏa ra vô lượng ánh sáng, hiển hóa thần thông, hóa giải tai ách kiếp nạn của nhân gian. Tình yêu dành cho chúng sinh của Sư Tôn cũng giống như mưa nhỏ, bởi vì Sư Tôn viết sách truyền pháp chưa từng ngơi nghỉ, giống như trong nhân gian hỗn độn mờ mịt này, mưa pháp cam lộ trân quý không ngừng rơi rắc khắp nơi.

Từ khi tôi quy y đến nay đã 26 năm rồi, thời gian trôi qua vùn vụt, trong lòng tôi vẫn luôn cảm ơn vì tôi đã có duyên làm đệ tử của Sư Tôn. Vô hình trung tôi đã học được quá nhiều, quá nhiều. Sư Tôn nói, mỗi người đều có Phật tính, hành giả chúng ta cần phải thu về cái tâm mong cầu hướng ra bên ngoài, tương ứng với tâm của Như Lai, chỉ cần tu đến khi tâm quang hiển lộ ra ngoài thì có thể đánh thức Chân Phật vốn có của chính mình. Người Chân Phật là nói đến vị Phật chân chính của bản thân mỗi người, đây chính là ý nghĩa gốc của Chân Phật Tông.

Sư Tôn dạy chúng sinh thanh tịnh nội tại, chuyển hóa dục vọng, giảm bớt ngu si, loại bỏ chấp ngã. Sư Tôn cũng dạy chúng sinh làm sao để nhờ tu hành mà giải trừ nghiệp lực, cắt đứt phiền não. Sư Tôn hi vọng tất cả chúng sinh đều có thể đắc giải thoát chân chính, đó chính là tâm nguyện từ bi vô thượng của Sư Tôn! Tôi rất thích kể về tấm lòng từ bi và những câu chuyện thần thông của Sư Tôn với bạn bè thân thiết của mình, mỗi lần tôi ca ngợi Thầy, tôi luôn không thể quên nói một câu nói xuất phát từ đáy lòng mình rằng: "Một người thầy như vậy có thể tìm được ở đâu?"

Giờ đây, Sư Tôn đã được hơn năm triệu đệ tử toàn cầu tôn sùng và đi theo. Thân người khó có được nay đã có, minh sư khó gặp nay đã gặp, trong sự biết ơn vô tận, tôi sâu sắc cảm thấy trong đời này, tôi có thể có duyên được nương dựa vào một sư phụ có chứng lượng như Liên Sinh Hoạt Phật, thế là tôi đã đến cuộc đời này không hề uổng phí rồi.


### 48. Thư của Liên Ha


Sư Tôn, Sư Mẫu muôn vàn kính yêu!

Phật an! Ngu đệ tử Liên Ha nhất tâm đảnh lễ và xin lấy thân khẩu ý thanh tịnh cúng dường Sư Phật Sư Mẫu! Kính chúc Sư Mẫu sinh nhật vui vẻ, khỏe mạnh trường thọ, mãi mãi xinh đẹp, cát tường an khang!

Chủ nhật tuần trước là ngày mà các đệ tử Chân Phật Tông trên toàn thế giới mừng vui rớt nước mắt, cũng là ngày mà tất cả trời người của thập phương pháp giới đều chào mừng, bởi vì Sư Phật từ bi đã đồng ý ở lại!
Khi âm thanh xúc động lòng người của người dẫn chương trình vang lên, khi nghi thức thỉnh Phật trụ thế bắt đầu, vô số đệ tử Chân Phật Tông đã rơi nước mắt khi ngồi trước màn hình ti vi. Chúng con đã cùng nghẹn ngào hát vang:
*"Xin hãy ở lại, hãy ở lại
Con tin rằng có nhân duyên, thay đổi số mệnh này
Xin hãy ở lại, hãy ở lại
Trăm đắng nghìn cay tương phùng, gặp rồi sao mà vội vã
Xin hãy ở lại, hãy ở lại
Kéo dài truyền kì, tạo nên kì tích."*

Và khi Sư Phật tiếp nhận lời thỉnh cầu của các đệ tử, ưng thuận tiếp tục ở lại để thuyết pháp độ chúng sinh, chúng con đều không kìm nén nổi sự mừng rỡ đến rớt nước mắt. Tin rằng Sư Phật chắc chắn có thể nghe được những tiếng reo hò của các đệ tử Chân Phật được truyền đi từ khắp các ngóc ngách trên toàn thế giới.

Một tuần trước, trong lúc khai thị Sư Phật có nhắc đến thọ mệnh, trong lòng đệ tử nặng trĩu nỗi đau buồn, bởi vì Sư Phật...
Thầy là núi Tu Di của thế giới Ta Bà.
Thầy là nơi nương náu của tất cả chúng sinh chúng con.
Hình bóng của thầy là sự quyến luyến trong chốn hồng trần của chúng con.
Nụ cười rạng rỡ của thầy là niềm an ủi trong cuộc đời mệt mỏi của chúng con.
Các bài thuyết pháp hàng tuần của thầy tưới đẫm nội tâm khô cạn của chúng con.
Dòng chảy pháp gia trì của thầy là cội nguồn của sự tiến bộ của tất cả hành giả Chân Phật.
Thầy trụ thế quan trọng giống như ánh mặt trời đối với nhân loại.
Và mỗi lần gặp mặt thầy chính là niềm mong mỏi đẹp đẽ nhất trong cuộc đời chúng con.

Vì thế, Sư Phật kính yêu nhất, cảm ơn thầy đã vì chúng sinh mà ở lại, các đệ tử nhất định sẽ càng nỗ lực hơn, không chỉ nỗ lực tinh tấn tu trì mà càng phải nỗ lực làm sự nghiệp bồ đề của Chân Phật Tông. Trước mắt, Đại Học Chân Phật Online đã phát triển mạnh mẽ. Sau khi ra mắt chương trình môn học đầu tiên, mọi người đã hưởng ứng nồng nhiệt, mỗi phòng học đều có hơn năm trăm người cùng học tại phòng học đám mây, hơn hai nghìn người đã nhấn vào để học sau giờ học, hơn nữa mọi người còn vô cùng vui vẻ giao lưu tương tác, bầu không khí rất sôi nổi. Đồng thời, chúng con được các pháp sư, giảng sư, trợ giảng tổ chức thành các nhóm hướng dẫn để làm công tác phụ đạo cho các học viên. Mỗi khi các học viên có thắc mắc, các phụ đạo viên lại kiểm tra từ khai thị và sách của Sư Phật, hoàn toàn căn cứ theo lời dạy của Sư Phật để giải đáp cho mọi người. Đồng thời, mười vị thượng sư đã thành lập một nhóm hướng dẫn để xem xét bài tập của học viên và bình luận các bài làm xuất sắc.

Cứ thế đến nay, lớp học đám mây của Đại học Chân Phật Online đã trở thành nơi để mọi người cùng trưởng thành, bất luận là thượng sư, pháp sư, giảng sư, trợ giảng hay là đồng môn Chân Phật đều không ngừng trưởng thành tại đây. Mọi người đều nói thật sự nhìn thấy sự tiến bộ của bản thân! Có đồng môn nói, thông qua lớp học đám mây, họ cảm thấy càng gần Sư Phật hơn. Đệ tử thấy vậy thì vô cùng hoan hỉ, bởi vì tất cả những gì chúng ta làm chính là vì mọi người mà xây nên cầu nối giữa chúng sinh và Căn bản Thượng sư.

Rất nhiều đồng môn mỗi tiết học đều chăm chỉ cầm bút ghi chép lại. Vào thời đại máy tính và ipad thịnh hành này, không ngờ mọi người vẫn còn nghiêm túc dùng bút và giấy để viết lại những ghi chép của mỗi buổi học, điều này thật khiến người ta cảm động. Còn có rất nhiều đồng môn tương đối lớn tuổi nói, trong đời này chúng tôi đều chưa từng học đại học, thật sự là một điều rất nuối tiếc, bây giờ thì tốt rồi, Chân Phật Tông chúng ta đã có trường đại học của riêng mình, chúng tôi nhất định sẽ đi học trường đại học này để hoàn thành nguyện vọng cả đời. Trong trường Đại học Online này, học viên trẻ tuổi nhất mới chỉ có mười mấy tuổi (các cháu đặc biệt thỉnh cầu cho phép được học Đại học Chân Phật), người cao tuổi thì có người tám mươi mấy tuổi, mọi người cổ vũ lẫn nhau, khích lệ lẫn nhau, cùng dắt tay nhau tiến bộ trưởng thành, thật sự khiến người ta cảm thán! Họ đều là các thánh đệ tử của Chân Phật, cũng là bạn cùng học Đại học Chân Phật! Đệ tử rất hân hạnh trở thành bạn học của họ, cùng học tập và tiến bộ. Đệ tử thường nói với mọi người rằng chúng ta đều là bạn học, người thầy duy nhất của Đại học Chân Phật chúng ta chính là Căn bản Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.

Sư Phật kính yêu nhất, đệ tử mặc dù vì việc lên lớp mà vô cùng bận rộn vất vả, nhưng đệ tử vẫn có thể kiên trì mỗi ngày viết một bài nhật kí tâm đắc, hiện tại đang viết những tâm đắc của đệ tử khi đọc cuốn sách mới nhất "Thiên hạ đệ nhất linh" của Sư Phật và chia sẻ cùng mọi người. Như vậy bản thân đệ tử không chỉ dụng tâm đọc kĩ lưỡng, thâm nhập để lĩnh ngộ, mà đồng thời cũng lôi kéo được đồng môn cùng đọc sách quý của Sư Phật, cùng thảo luận, cùng thâm nhập.

Đương nhiên đệ tử vẫn tinh tấn nhất là thực tu mỗi ngày như thường lệ, từ việc sáng sớm nhổ và nạp dịch họng, kim cang tụng, bảo bình khí, đến pháp khói cúng, mỗi ngày ba, bốn lần tọa pháp, rồi cả miên quang pháp, ngày ngày đều tu không gián đoạn. Hiện tại đệ tử đang dẫn dắt đồng môn chuyên tu Căn bản Thượng sư tương ứng pháp, hoàn thành tám triệu biến tâm chú của Sư Tôn. Về phương diện Nội pháp, bảo bình khí cảm giác khí đi vào trung mạch càng ngày càng mạnh, pháp chuyết hỏa dựa vào quán tưởng và hợp nhất với Không Hành Mẫu, khí hỏa tuần hoàn và tăng cường. Sau đó minh điểm hạ xuống và tiến nhập vào chuyết hỏa định tinh tế. Về phương diện thiền định, đệ tử y theo lời dạy của Sư Phật tu Kriya yoga, cuối cùng dựa vào chỉ-quán song vận mà nhập định, vẫn thường xuyên cảm nhận được đại nhật quang minh ở hư không trên đỉnh đầu chiếu khắp thập phương chúng sinh.

Sư Phật kính yêu, đệ tử một lần nữa cảm ơn Sư Phật đã không bỏ rơi chúng sinh, bằng lòng ở lại hoằng pháp độ chúng sinh, núi Tu Di của thế giới Ta Bà lại một lần nữa đứng sừng sững vững vàng rồi, mặt trời lại một lần nữa an trụ chiếu khắp muôn nơi rồi, thật sự là may mắn của chúng sinh. Đệ tử chân thành cầu chúc Phật thể an khang, trường thọ tự tại, trường cửu trụ thế, hằng chuyển pháp luân! Cũng cầu thỉnh Sư Phật gia trì cho đệ tử tu hành tiến bộ thành tựu, nhất vị du già thành tựu, khí mạch điểm thành tựu, chỉ-quán song vận thành tựu, và Kriya yoga thiền định thành tựu, thân thể khỏe mạnh, sớm đến ngày đắc chứng lượng, sự nghiệp bồ đề viên mãn thành tựu!

Kính thư,
Ngu đệ tử Liên Ha kính lễ.
Sao Paulo, Brazil, ngày 10 tháng 3 năm 2021.


### 49. Cảm ứng về Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang


A Di Đà Phật! Sư Tôn Sư Mẫu kính yêu nhất, Phật an!

Đệ tử là Liên Hoa Lị Trấn và Liên Hoa Tử Minh (con trai) đến từ Malaysia. Đệ tử nhất tâm đảnh lễ Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật, đệ tử xin lấy thân khẩu ý thanh tịnh cúng dường Sư Tôn Sư Mẫu.

1. Đầu tiên, đệ tử Liên Hoa Lị Trấn muôn phần cảm ơn sức mạnh đại gia trì của Sư Tôn vào ngày 14 tháng 3 năm 2021, trong pháp hội Hộ Ma Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, Sư Tôn đã từ bi đại gia trì cho đại chúng trong năm phút. Khi ấy đệ tử và con trai (Liên Hoa Tử Minh) cũng ở trong phòng đám mây ZOOM tham gia pháp hội. Dưới sức mạnh đại gia trì của Sư Tôn, đệ tử (Liên Hoa Lị Trấn) dùng tay đặt vào chỗ ở trên đầu nơi đã bị bệnh đau nửa đầu mấy năm nay, và cả chỗ xương chậu vùng hông thường xuyên bị đau nhức, thậm chí nơi mắt và bả vai bị đau nhức, đệ tử đều quán tưởng khí đen từ các lỗ chân lông thoát ra bên ngoài cơ thể, khi ấy đệ tử (Liên Hoa Lị Trấn) cảm giác thấy có một dòng chảy năng lượng ấm áp đi vào trong cơ thể. Dưới sức mạnh đại gia trì của Sư Tôn trong pháp hội Hộ Ma Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang hôm đó, bệnh tật mấy năm nay của đệ tử đã hoàn toàn biến mất.

1. Ngoài ra, đệ tử cũng chia sẻ cùng Sư Tôn, vào ngày 20 tháng 3 năm 2021, đệ tử và con trai hôm ấy đã đến Tổng hội Bát Nhã Lôi Tạng Tự Malaysia để cúng bái tổ tiên và người thân, sau đó trên đường cao tốc trở về nhà, lúc ấy rất nhiều xe đang nối dài trên đường, khoảng cách giữa các xe tương đối gần, không khác gì tắc đường. Đột ngột phía sau có chiếc xe tăng tốc độ muốn vượt qua xe của đệ tử. Chỉ trong tích tắc khi chiếc xe vượt qua xe của đệ tử đã hơi quẹt vào xe của đệ tử và trong nháy mắt đã xảy ra tai nạn rồi. Binh! Binh! Binh! Trước mắt chúng con là hai chiếc xe đâm vào nhau, một chiếc xe trong đó đã xoay 180 độ, cuối cùng chiếc xe hỏng đã dừng ở giữa đường. Khi ấy hai chúng con nhìn thấy cảnh tượng này đã vô cùng sợ hãi, trong lúc nguy cấp con lập tức niệm: A Di Đà Phật! A Di Đà Phật! A Di Đà Phật! Ba tiếng, con trai lập tức đạp phanh xe, xe của đệ tử vẫn còn kịp dừng lại không đâm về phía trước, các xe phía sau cũng không đâm vào xe chúng con. Sau đó, hai đệ tử chúng con xuống xe kiểm tra xe thấy vẫn tốt, không đâm vào đâu. Lúc ấy, hai đệ tử chúng con vô cùng cảm ơn sức mạnh gia trì của Sư Tôn và chư Phật, Bồ Tát, Hộ Pháp, Kim Cang Thần chúng đã giúp hai đệ tử chúng con giữ được tính mạng, nếu không hậu quả thật không thể tưởng tượng được. Sau sự việc đó, đệ tử nói với con trai rằng Phật pháp là bất khả tư nghì, Phật có mặt ở khắp nơi, chúng ta có thể quy y Sư Tôn là phúc báo lớn nhất của các đệ tử. Nhân đây, hai đệ tử chúng con xin thề trước Sư Tôn, thề theo lời nguyện mà Căn bản Truyền thừa Thượng sư đã thề, nguyện đi theo con đường mà Căn bản Truyền thừa Thượng sư đã đi, yêu thương những chúng sinh mà Căn bản Truyền thừa Thượng sư yêu thương.

Thỉnh cầu Thượng sư gia trì, Bổn tôn che chở, Hộ pháp ủng hộ, gia trì cho các đệ tử tu pháp sớm được tương ứng với Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tu hành thành tựu, có thể độ mình độ người.
Thỉnh cầu Thượng sư gia trì cho đệ tử, để đệ tử lúc nguy cấp được cứu trợ, để đệ tử lúc lâm chung có Thượng sư, Bổn tôn, Không hành tiếp dẫn đến Phật quốc tịnh thổ.

Nhân đây, đệ tử cầu mong Sư Tôn Sư Mẫu Phật thể an khang, trường thọ tự tại, trường trụ thế gian, vĩnh chuyển pháp luân, quảng độ chúng sinh.
Om guru liansheng siddhi hum.

Đệ tử Liên Hoa Lị Trấn và Liên Hoa Tử Minh (chắp tay đảnh lễ).
Ngày 23 tháng 3 năm 2021.

🌟

Đảnh lễ Sư Tôn. Cầu chúc Sư Tôn Phật an.
Báo cáo Sư Tôn, đệ tử bị mắc chứng bệnh phụ khoa u nang nhiễm khuẩn suốt mười mấy năm nay không chữa khỏi, khám tây y đông y đều vô hiệu. Vào ngày pháp hội, khi Sư Tôn bắt đầu gia trì cho các đệ tử có mặt tại hội trường và các đệ tử xem qua mạng, đệ tử cảm thấy mạch trái của mình và phần bụng bên trái có cảm giác hơi tê, sau đó có cảm giác chỗ bị tắc ở bụng bên trái có hơi thông một chút. Sau đó đệ tử đi kiểm tra, phát hiện thấy u nang đã thu nhỏ lại một chút rồi. Hi vọng u nang có thể hoàn toàn biến mất.
Cảm ơn Sư Tôn từ bi chữa bệnh cho chúng sinh.

Đệ tử Liên Hoa Mĩ Trân ở Brunei cúi lạy.

🌟

Đảnh lễ Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật!

Ngày 14 tháng 3, đệ tử Liên Hoa Ngọc Quốc đã đăng kí vào ZOOM, bởi vì lần đầu tiên không biết thao tác thế nào nên khi đăng nhập vào được thì đã muộn rồi, chỉ đăng nhập một lúc thì đã *offline* rồi. Sau đó nghe được chú ngữ Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, gần đây đệ tử luôn phải uống thuốc chữa bệnh đau dạ dày, đã uống thuốc nhiều nhưng không có hiệu quả gì, sau khi nghe chú âm chữa bệnh thì bệnh đau dạ dày ngày hôm sau đã khỏi rồi.

Ngày 14 tháng 3, mặc dù chưa đăng nhập thuận lợi, buổi đêm có giấc mơ khích lệ, nhưng ngày 21 tháng 3 có pháp hội Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử kỉ niệm 35 năm Sư Tôn xuất gia, đệ tử đã đăng nhập vào ZOOM thuận lợi và ở trên mạng toàn bộ quá trình diễn ra pháp hội.
Cảm ơn Căn bản Truyền thừa Thượng sư đã chữa bệnh, gia trì và cổ vũ!
Đệ tử Liên Hoa Ngọc Quốc ở Thụy Điển đảnh lễ!
Ngày 25 tháng 3 năm 2021.

🌟

Trung tuần tháng 2 năm 2021, vào đêm Giao Thừa âm lịch, vì mắt trái của đệ tử nhìn không rõ nên có kích thích phản xạ tiết ra nước mắt, vì thế thường xuyên bị chảy nước mắt. Tình trạng bị chảy nước mắt đã kéo dài hơn một tháng rồi, sau đó mắt phải cũng dần dần có tình trạng tương tự như mắt trái, thời gian qua cũng bị bạn bè và đồng môn hỏi là có phải vừa mới khóc không.

Trong pháp hội Hộ Ma lần trước, Sư Tôn đã khai thị đề cập rằng: bất kể là đồng môn có mặt tại hội trường, hoặc đang ở trên ZOOM, hoặc người đang theo dõi qua mạng đều có thể nhận được sự gia trì của Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang và kì tích cũng sẽ hiển hiện. Thế nên, đệ tử rất mong đợi ngày pháp hội phát trực tiếp trên mạng. Khi chú âm của Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang vang lên, mắt nhìn thấy Sư Tôn ngồi trên pháp tọa cầm phất trần ban gia trì, đệ tử đặt tay phải vào hai mắt, tay trái đặt trước ngực, không quán tưởng đặc biệt gì, chỉ là tĩnh tâm lại niệm thầm theo chú âm uy mãnh của tâm chú Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang.

Kì tích là dù không đi khám bệnh ở khoa mắt, đệ tử phát hiện ra rằng một tuần sau khi diễn ra pháp hội, hai mắt dần dần bình thường lại, tình trạng chảy nước mắt cứ thế là hết hẳn! Thần kì, thật là thần kì! Sự gia trì của Sư Tôn ở khắp nơi, đại uy thần lực của Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang ở khắp nơi. Mặc dù chỉ là cảm ứng nhỏ bé, nhưng đệ tử rất cảm ơn Căn bản Thượng sư và chủ tôn Hộ Ma Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang đã gia trì. Nhân đây cũng không quên cầu thỉnh Sư Tôn trường trụ thế gian, thỉnh Phật trụ thế, hằng chuyển pháp luân.

Đệ tử Liên Hoa Hàn Hồng ở Brunei đảnh lễ.

🌟

A Di Đà Phật. Đảnh lễ Sư Tôn Sư Mẫu tôn kính nhất!
Đệ tử là Liên Hoa Khải Quân (nữ), người Đài Loan, đã sống tại Brazil hơn 30 năm, quy y Sư Tôn từ năm 1996 đến nay đã 25 năm rồi. Bình thường đệ tử luôn nghe theo lời dạy bảo của Sư Tôn, tôn sư trọng pháp thực tu. Mấy năm nay, vì làm việc cực nhọc, lại cộng thêm sử dụng máy vi tính nhiều, khiến cho vai và cánh tay thường xuyên bị đau rất khó chịu, những lúc nghiêm trọng thì thậm chí uống thuốc giảm đau cũng không có hiệu quả. Thế nhưng Sư Phật từ bi, chư Bồ Tát từ bi, Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang từ bi, vào ngày 14 tháng 3 năm 2021, đệ tử lên mạng vào ZOOM tham gia pháp hội Hộ Ma Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang do đích thân Sư Tôn từ bi làm chủ đàn, toàn bộ pháp hội thù thắng viên mãn, qua màn hình máy tính mà cũng có thể cảm nhận được dòng chảy pháp cực lớn và lực gia trì tuôn chảy không ngừng. Đặc biệt là sau khi pháp hội kết thúc, chú âm của tâm chú Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang được phát lên, Sư Tôn gia trì tới tận năm phút, đã khiến cho cổ tay phải bị đau nhiều tháng nay, và hai chân bị đau rất khó chịu, lập tức đều thấy hiệu quả giảm đau, triệu chứng dần dần giảm nhẹ, ngày hôm sau đã tốt hơn một nửa, rồi thêm hai ngày nữa, dù không uống thuốc gì nhưng bệnh đau đã khỏi được chín mươi phần trăm rồi, chỉ còn mười phần trăm thì nằm trong phạm vi đệ tử có thể chịu đựng được... Vô cùng thần kì, thật không thể tưởng tượng được! Đệ tử chuẩn bị ba ngày sau sẽ bay về Đài Loan, vốn dĩ vì đau ốm nên vẫn cứ lo lắng mãi, bây giờ hoàn toàn không còn lo lắng gì nữa!

Đây hoàn toàn không phải là lần đầu tiên Sư Tôn cứu giúp đệ tử lúc nguy nan. Nhớ lại ngày 13 tháng 9 năm 2020, Sư Tôn cũng làm chủ đàn pháp hội Hộ Ma Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, cũng như thế, sau khi pháp hội kết thúc là năm phút Sư Tôn gia trì, vai trái của đệ tử đau buốt lập tức bớt đau, mấy ngày sau thì về cơ bản là hồi phục, cho đến hôm nay cũng không phát tác.

Sư Tôn đã hai lần giải trừ đau khổ vì bệnh tật của đệ tử, đệ tử cảm ơn Sư Tôn sâu sắc. Đệ tử một lần nữa đảnh lễ Căn bản Thượng sư, cảm ơn đại lực gia trì của Sư Tôn, cảm ơn đại lực gia trì của Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, cảm ơn đại lực gia trì của chư Phật Bồ Tát! Chính pháp lực gia trì mạnh mẽ vô song của Sư Tôn đã giải trừ được cả những đau bệnh mà ngay cả bác sĩ và thuốc giảm đau cũng phải bó tay, khiến đệ tử có thể tự do tận hưởng không khí trong lành, cuộc sống xinh đẹp, có thể tự tại tu pháp thiền định, cách xa bệnh tật, không còn lo lắng bị những cơn đau buốt làm khổ sở nữa!

Đệ tử và gia đình cảm ơn Sư Tôn sâu sắc! Và thành tâm chúc nguyện Sư Tôn trường trụ thế gian, vĩnh chuyển pháp luân, Phật thể an khang, trường thọ tự tại! Thầy chính là đại hộ chủ của tất cả đệ tử Chân Phật chúng con.
Om guru liansheng siddhi hum.

Đệ tử Liên Hoa Khải Quân đảnh lễ.

🌟

Chào Sư Tôn! Đệ tử là Liên Hoa Mĩ Lan (Canada). Vào ngày 14 tháng 3 trên ZOOM đã tham dự lễ Hộ Ma chữa bệnh Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang do Sư Phật chủ trì, đã có được lực gia trì rất lớn. Trước đó mắt đệ tử có triệu chứng sợ ánh sáng và nổi bóng nước, nay tất cả đều khỏi rồi! Hôm đó đệ tử cảm thấy hai mắt nặng trĩu, cứ luôn phải nhắm mắt lắng nghe Sư Tôn khai thị. Như Sư Tôn đã nói, năng lượng ngày hôm đó rất mạnh, ngay cả chậu cây bonsai bên cạnh ti vi cũng dịch chuyển 180 độ, thật kì lạ thay!
Đệ tử Liên Hoa Mĩ Lan đảnh lễ.
Ngày 17 tháng 3 năm 2021.

🌟

Đảnh lễ Sư Tôn tôn quý nhất! A Di Đà Phật!
Chủ nhật tuần trước, Cầu Vồng Lôi Tạng Tự phát chú âm Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang trong năm phút để chữa bệnh, cảm ơn Sư Tôn gia trì, ngay lập tức lưng đau của đệ tử đã thoải mái hơn rất nhiều.
Hai bên hông của đệ tử đã nhiều năm bị vẹo, cảm ơn Sư Tôn nhiều lần gia trì, hai năm nay có ba, bốn lần trong lúc tu pháp, hoặc lúc tập vận động thì nghe tiếng "khậc", xương hông bị vẹo sau mỗi lần đó đã được điều chỉnh thẳng lại.
Lần này nhờ chú âm chữa bệnh, khi ấy đệ tử lập tức cảm nhận phần hông lỏng ra, thêm nữa hai bên đã thẳng lại.
Lần trước đệ tử đi khám bác sĩ trị liệu, ông ấy nói không có cách chữa. Phật là Đại Y Vương, bà lão bảy mươi ba tuổi này vẫn còn có thể điều chỉnh được gân cốt, cảm ơn Sư Tôn và Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang đã gia trì chữa bệnh.
Xin báo cáo với Sư Tôn như vậy, đệ tử cảm ơn khấu đầu cảm tạ.
Liên Đẳng chắp tay đảnh lễ.

🌟

Câu chuyện cảm ứng và cảm nhận sau năm lần tham gia pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang.

Sư Tôn, Sư Mẫu kính yêu nhất. A Di Đà Phật! Phật an!
Đệ tử Liên Hoa Tuyết Mai nhất tâm đảnh lễ, và hướng về Sư Tôn Sư Mẫu toàn tâm toàn ý sám hối bản thân: bởi vì bản thân đệ tử vẫn chưa phải là người dũng cảm không sợ hãi, nên xin sám hối sâu sắc. Nay đệ tử thu hết dũng khí, dũng cảm chia sẻ những sự việc cảm ứng và cảm nhận của bản thân nhiều năm nay, dùng hành động để thực tiễn lời thề của bản thân, thật sự những gì viết ra không hề giả dối.

Từ ngày 1 tháng 1 năm 2014 quy y Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật trong buổi đại pháp hội mùa xuân tại Đài Loan, dưới đây là những cảm ứng và cảm nhận của bản thân tôi sau năm lần tham gia pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang.

1. Ngày 8 tháng 3 năm 2015, tại buổi pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang lần đầu tiên, tai tôi nghe thấy tiếng lắc chuông (nhưng khi đó Sư Tôn vẫn chưa lắc chuông), và tôi cũng có thể nhìn thấy từ trong miệng mình tuôn ra ánh sáng vàng kim, lấp la lấp lánh, lúc trì chú vô tình nhắm mắt lại, tôi có thể nhìn thấy trong ánh sáng có một luồng khí đến rất nhanh. Tôi theo chú âm rất tập trung lắc rung toàn thân. Sau pháp hội đó, bệnh khớp vai đông lạnh nhiều năm của tôi đã khỏi. Tôi nhanh chóng đến hải quan ở bến cảng Thâm Quyến, trong lòng lo lắng khi đi qua hải quan sẽ bị tịch thu sách do Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật viết (19 cuốn). Đúng lúc tôi đang lo lắng, vô tình nhắm mắt lại, một vị Bồ Tát hiện ra phía bên phải tôi, dường như nói với tôi rằng: hãy yên tâm, sẽ không bị tịch thu đâu. Kết quả là tôi đi qua hải quan rất thuận lợi, không có người nào kiểm tra hành lí của tôi, tất cả đều thuận lợi, bình an. Ngoài ra còn chuyện đáng kinh ngạc hơn là: tôi đã thắng vụ kiện tụng kéo dài 11 năm. (Tôi có kèm theo bức thư tôi cầu cứu Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật tôi gửi vào năm 2014 để làm bằng chứng cho sự âm thầm thi triển thần thông của Sư Tôn. Còn có rất nhiều chuyện cảm ứng nữa tôi không viết ra, sau này có thể viết thêm.)

1. Ngày 28 tháng 2 năm 2016, trong pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang lần thứ hai, khi tôi trì chú vô tình nhắm mắt lại, tôi nhìn thấy rất nhiều đốm tròn ánh sáng trắng tạo thành một chiếc chày kim cang hình chữ thập hiện ra ở vùng hư không phía trên ngay trước mắt tôi, tỏa sáng lấp lánh, khiến tôi tràn đầy pháp hỉ.

1. Ngày 12 tháng 2 năm 2017, trong pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang lần thứ ba, chứng bệnh thiếu máu nhiều năm của tôi đã được chữa khỏi, khiến cho vấn đề kinh nguyệt của tôi cũng được giải quyết ổn thỏa luôn, rất triệt để, cũng không có những hiện tượng rối loạn sau mãn kinh nữa (ví dụ hiện tượng đổ mồ hôi, bực bội, mất ngủ,…)

1. Ngày 17 tháng 11 năm 2019, tôi đến Cầu Vồng Lôi Tạng Tự ở Seattle tham gia pháp hội Hộ Ma Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang lần thứ tư. Ngày 19 tháng 11 tôi ở trên chuyến bay nội địa Hoa Kì, máy bay đã rời khỏi mặt đất và đạt đến độ cao ở trên không, tôi trì tụng tâm chú Sư Tôn và nhìn ra ngoài cửa sổ máy bay, cũng vô tình nhắm mắt lại, cảnh sắc núi sông đại địa hiện lên rõ ràng trước mắt tôi, mức độ sắc nét của ánh sáng so với ngày trước thì mãnh liệt hơn rất nhiều.

1. Ngày 14 tháng 3 năm 2021, tôi tham gia pháp hội Hộ Ma Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang lần thứ năm trên mạng đám mây ZOOM cũng được ánh sáng rất mạnh gia trì. Biểu hiện là vào ngày hôm sau (15 tháng 3), tôi tham gia vào lớp học đám mây của trường Đại học Online, lúc đồng tu trì chú vô tình nhắm mắt lại, tôi nhìn thấy thân trên của Thượng sư Liên Ha hiện ra trong ánh sáng vàng kim (như một bản vẽ phẳng có đầu có vai), hoa văn của thương hiệu Đại học Online ở phía sau hiện lên rất rõ ràng: trong ánh sáng màu vàng kim, hai bên của bức vẽ có ánh sáng xanh lam, ánh sáng xanh và ánh sáng đỏ hiển hiện và nâng quả cầu ánh sáng lam, nhưng phần tên gọi Giáo Dục Chân Phật được viết ra thì không hiện lên được rõ ràng. (Trước kia ánh sáng của hình vẽ thương hiệu hiện ra không rõ ràng như vào ngày 15 tháng 3, ánh sáng lam, ánh sáng xanh và ánh sáng đỏ hiện ra cùng lúc, trước kia thông thường chỉ có một loại ánh sáng hiện ra, phần lớn là ánh sáng lam.)

Ngoài ra, chú âm của Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang có thể khiến tôi không kìm được việc rung lắc toàn thân theo nhịp điệu của chú âm, dường như là lực gia trì của Phật Bồ Tát trong hư không khiến toàn thân tâm tôi tự nhiên xuất thần vào trong đó. Nhân tiện xin hỏi Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật, hiện tượng này liệu có giúp cho sự lưu động khí mạch minh điểm trong thân thể tôi không, đối với sự hiển hiện ánh sáng bên trong thân thể tôi liệu có sự trợ giúp lớn không?

Tóm lại, từ năm 2015 đến nay, mỗi lần tôi tham gia đại pháp hội của Sư Tôn đều là như thế, ánh sáng của tôi đều có sự tăng trưởng, bảy năm nay tổng cộng tôi đã tham gia ba mươi buổi đại pháp hội do Sư Tôn chủ trì, Bạch Liên Hoa Vương ở Hồng Kông, Đại Lực Kim Cang lần đầu ở Đài Loan, Địa Tạng Vương ở Đài Loan, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu, Mã Cát Lạp Tôn xả thân pháp, Lục Độ Mẫu ở Cao Hùng, Atisha tôn giả ở Cầu Vồng Lôi Tạng Tự ở Mĩ, pháp hội Cao Vương Quan Thế Âm và Phật Mẫu Yeshe Tsogyal.
(Đặc biệt là từ đầu tới cuối pháp hội có cảm ứng liên tiếp, tựa như kiếp trước tái hiện, cảm ứng quá vi diệu, càng khiến tôi pháp hỉ tràn đầy. Sau này tôi sẽ viết ra những cảm ứng này để chứng minh có sức mạnh gia trì thần kì của Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật.)

Những lời trần thuật ở trên của tôi tuyệt đối không giả dối. Vào tháng 12 năm 2019, khi tôi hỏi việc Sư Tôn, tôi cũng đã báo cáo với Sư Tôn về việc sau pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang ngày 17 tháng 11 năm 2019, quang minh của tôi đã được tăng cường. Và vào ngày 22 tháng 12 năm 2019 trong pháp hội Atisha tôn giả, tôi cũng có thể nhìn thấy Atisha tôn giả hiện lên trong ngọn lửa Hộ Ma, cũng nhìn thấy Atisha tôn giả hiển hiện ánh sáng lam và ánh sáng trắng. Cảm ơn Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật trong hư không vẫn luôn âm thầm liên tục không ngừng gia trì cho tôi và không ngừng thúc giục, còn dùng phương thức ban khai thị trong mơ để ngăn chặn tôi phát triển theo hướng sai lầm, khiến tôi có thể không ngừng tiến hành nghe hiểu suy ngẫm về Phật pháp ở mức độ sâu để tu và suy ngẫm về bản thân.

Chúc Sư Tôn Phật thể an khang! Tự tại nhậm vận!
Sư Mẫu thân thể an khang! Cát tường như ý!
Ngu đệ tử Liên Hoa Tuyết Mai (Lương Tuyết Mai) chắp tay quỳ xuống đảnh lễ.
Hội đồng tu Thiền Diệu ở Canada.
Ngày 26 tháng 3 năm 2021.

🌟

Sư Tôn kính yêu!
Con chào thầy! Đảnh lễ Sư Tôn, Phật an, cát tường!
Đệ tử Liên Hoa Tứ Muội vào ngày chủ nhật 14 tháng 3 năm 2021, tại Biệt thự Cầu Vồng, Sư Tôn đã cử hành pháp hội Hộ Ma Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang. Đệ tử rất vui mừng thông báo với người nhà, hết lần này tới lần khác liên lạc với người nhà, rằng bất luận thế nào nhất định phải lên mạng để xem pháp hội trực tiếp, pháp hội lần này rất thù thắng, Sư Tôn từ bi đệ tử sẽ dùng chú lực trong năm phút, để cho các đệ tử đặt tay lên thân thể, chỗ nào có bệnh thì sẽ chữa bệnh đó. Cuối cùng đệ tử đã có thể khiến người nhà tin tưởng, ai nấy đều lên mạng tham gia pháp hội trực tuyến. Pháp hội thù thắng, đêm đó, em gái thứ tám nhỏ nhất trong nhà đệ tử đã nằm mơ thấy Sư Tôn, rất rõ ràng. Tuần trước, đứa con gái nhỏ nhất trong nhà em Tám năm nay 21 tuổi, tên là Cung Vinh Phân bỗng nhiên vào một buổi tối cảm thấy khó chịu, vừa nôn mửa vừa đau bụng, vội vàng đưa đến bệnh viện, kết quả kiểm tra là cháu gái đệ tử bị tắc nghẽn tim, phải chuyển đến bệnh viện lớn để làm phẫu thuật, phải đặt ống cao su vào tim để thay thế. Bác sĩ còn nói 30 năm sau sẽ lại phải phẫu thuật để thay ống cao su. Em Tám vô cùng lo lắng bồn chồn. Cô ấy đã tham gia pháp hội trực tuyến và rất chuyên tâm cầu nguyện Sư Tôn gia trì cho con gái, đêm đó liền nằm mơ thấy Sư Tôn. Em Tám cầu nguyện Sư Tôn che chở cho con gái mình đêm đó có thể hít thở và ngủ ngon, bởi vì mấy ngày nay buổi tối đi ngủ đến nửa đêm thì rất khó thở không thể ngủ ngon được. Sáng sớm hôm sau, em Tám hỏi con gái đêm qua ngủ thế nào, cháu gái trả lời: đêm qua rất kì lạ, hít thở bình thường và có thể ngủ yên. Em Tám lập tức tin rằng đó là lực gia trì của Sư Tôn. Buổi chiều hôm đó, em Tám phải đưa con gái đến bệnh viện lớn để kiểm tra lần nữa, thật không thể tưởng tượng được, bác sĩ nói 85% là cháu gái không cần phải làm đại phẫu thuật nữa, chỉ cần làm phẫu thuật nhỏ để tạo ra ba lỗ thủng nhỏ để đặt thiết bị trị liệu vào trong tim là được rồi. Em Tám nghe xong, cả nhà vô cùng vui mừng. Khi đệ tử gọi điện cho em Tám biết được mọi chuyện thì vạn phần vui mừng. Em Tám còn muốn đệ tử giúp cả nhà cô ấy quy y Sư Tôn và Phật Bồ Tát, và thỉnh cầu Sư Tôn đại từ đại bi gia trì cho cháu gái. Nếu làm thủ thuật nhỏ để chữa bệnh tim ở bệnh viện UPENN, phẫu thuật thành công, mọi thứ cát tường như ý viên mãn, con gái của em Tám mau chóng bình phục khỏe mạnh, đệ tử và cả nhà em Tám cảm ơn Sư Tôn, cảm tạ Sư Tôn. Xin được gửi kèm theo tấm chi phiếu một trăm đô Mĩ cúng dường Sư Tôn và quy y, mong Sư Tôn vui lòng nhận cho!
Liên Hoa Tứ Muội, Bát Muội ở Quán Chiếu Lôi Tạng Tự chắp tay.
Ngày 15 tháng 3 năm 2021.

🌟

Đảnh lễ Căn bản Truyền thừa Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật vô thượng tôn quý nhất.
Con chào Sư Tôn, Sư Mẫu! Đệ tử là Liên Hoa Lạc Hiền là đệ tử ở Trung Quốc Đại Lục của thầy, hiện đang sống tại Quảng Châu. Bản thân đệ tử đã thật sự kiến chứng pháp lực gia trì của Căn bản Truyền thừa Thượng Sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật là bất khả tư nghì, có tác dụng sâu rộng. Đại uy thần lực của Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang đã giúp chúng sinh chữa trị bệnh tật, giải trừ bệnh khổ.

Buổi sáng ngày 15 tháng 3 năm 2021 theo giờ ở Trung Quốc Đại Lục, đệ tử và đệ tử Chân Phật trên toàn thế giới vào ZOOM cùng xem và tham gia pháp hội Hộ Ma Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang do Sư Tôn làm chủ đàn. Khi Sư Tôn tuyên bố dùng tâm chú của Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang để một lần nữa gia trì cho đại chúng tham dự pháp hội (bao gồm cả đồng môn xem qua mạng), để cầu phúc chữa bệnh cho mọi người, đệ tử cũng im lặng hướng về Sư Tôn và Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang cầu nguyện để cho khối u trong ngực của đệ tử tiêu biến, đây là điều thỉnh cầu thứ nhất. Thứ nhì là hi vọng lục phủ ngũ tạng của đệ tử cũng được gia trì. Sau đó, đệ tử liền đặt hai tay lên ngực, vừa nghĩ đến Sư Tôn và Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, vừa niệm chú. Rất nhanh chóng, đệ tử đã có cảm ứng. Hai tay đệ tử đặt lên ngực bắt đầu tự động rung lên, tiếp đó từ sự rung động này mà chuyển tiếp đến hai cánh tay cũng vận động vừa mở vừa khép, rất có quy luật. Đệ tử biết đó là do Sư Tôn và Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang đã đến gia trì cho mình rồi, đệ tử rất vui. Không lâu sau, vùng ngực có cảm giác đã gia trì xong rồi, hai tay đệ tử tự động từ từ di chuyển xuống vùng bụng, từ vùng bụng lại di chuyển xuống vùng hông, quá trình này liên tiếp liền mạch. Xong rồi, gia trì xong, hai tay đệ tử tự động kết thành thủ ấn của Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang. Lúc này, chú âm vẫn chưa dừng lại, đột nhiên đệ tử nhớ đến một người, thế là đệ tử lại hướng về Sư Tôn cầu nguyện, hi vọng có thể gia trì cho cô ấy. Vừa nghĩ như vậy, hai tay của đệ tử lại bắt đầu tự động giơ lên không trung, cảm giác đó là một thủ ấn nào đó, nhưng đệ tử không hiểu, dù sao thế nào cũng được, đệ tử liền quán tưởng mỗi lần hai tay rung động đều là đang gia trì cho cô ấy, rất nhanh chóng việc gia trì đã xong, hai tay đệ tử lại tự động kết thành thủ ấn Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, theo sau đó chú âm cũng dừng lại rồi, kết thúc rồi. Thật quá thần kì, tất cả đều đúng lúc. Lúc này quay trở lại bản thân, đệ tử lập tức cảm nhận thấy phần hông khi nãy được gia trì có một cảm giác mát mẻ, rất thoải mái. Sư phụ của đệ tử quá thần kì, mặc dù lần này đệ tử không hề thỉnh cầu Sư Tôn gia trì cho hông của đệ tử, thật ra phần hông bên phải của đệ tử cũng không khỏe, khi ngồi thiền còn chưa tu xong một đàn pháp thì đã rất đau buốt rồi. Bây giờ thấy ngay cả vấn đề này mà Sư Tôn cũng biết, lần này cũng đã gia trì cho đệ tử luôn, Phật đúng là bậc Chính Biến Tri.

Nói cách khác là, chú âm Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang chữa bệnh lần này, Sư Tôn và Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang không chỉ khiến đệ tử cầu gì được nấy, bắt đầu từ gia trì phần ngực đến lục phủ ngũ tạng, còn chữa thêm cho đệ tử cả phần hông nữa, thật sự là quá ngạc nhiên, quá từ bi rồi. Sau khoảng thời gian này, đệ tử đặc biệt quan sát những bộ phận mà mình đã được gia trì qua. Chỗ đầu tiên mà đệ tử hi vọng được gia trì là khối u ở ngực bên phải, thật sự đã tiêu biến rồi, khối u này trước đây đệ tử có thể tự sờ thấy đã mấy năm nay rồi, sau khi được Sư Tôn và Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang gia trì lần này, thật sự khối u đã tiêu biến rồi. Trời ơi, thật là vui mừng quá. Không chỉ như vậy, còn phần hông của đệ tử sau lần gia trì này, lúc ngồi thiền tu xong một đàn pháp cũng không đau nữa, trước kia chưa tu xong một đàn pháp đã đau rồi. Sự thật chứng minh sự gia trì mà Sư Tôn ban cho đệ tử chúng con thật bất khả tư nghì, thật sự không giả dối, không hề có khoảng cách không gian thời gian. Và Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang thật quá thù thắng.

Sau cùng, đệ tử Liên Hoa Lạc Hiền cảm ơn Căn bản Thượng sư đã không bỏ rơi một chúng sinh nào, đã ban cho đệ tử huệ mệnh, khiến đệ tử từ lúc chẳng biết tí gì về sinh mệnh và vũ trụ chân như thì bây giờ dần dần từng bước có những hiểu biết sơ bộ rồi, tự cảm thấy cuộc đời mình kể từ sau khi quy y sư Tôn mới thật sự bắt đầu và mới có được phương hướng. Sư Tôn từng nói tâm của Sư Tôn thông với tâm của năm triệu đệ tử, đệ tử Liên Hoa Lạc Hiền cũng hi vọng sẽ có một ngày tâm tâm tương ấn cùng với Căn bản Thượng sư. Chúc Sư Tôn Phật thể an khang, trường thọ tự tại, thường trụ thế gian, quảng độ chúng sinh, thỉnh Phật trụ thế! Sư Mẫu thân thể khỏe mạnh, trường thọ tự tại, cát tường hạnh phúc!

Đệ tử Liên Hoa Lạc Hiền đảnh lễ.
Ngày 22 tháng 4 năm 2021.

🌟

Sư Phật kính yêu nhất của chúng con.
Đệ tử Liên Hoa Ngọc Linh đến từ Malaysia nhân đây xin được cảm ơn đại gia trì của Sư Phật. Đầu năm 2020 dịch bệnh virus Corona đã lan ra khắp toàn cầu, Malaysia cũng không may mắn thoát khỏi, ngày 18 tháng 3 đã bắt đầu phong tỏa toàn quốc. Ngành nghề công việc của đệ tử (bảo hiểm) chịu tác động, rất nhiều cuộc nói chuyện vốn dĩ phải gặp mặt thì nay phải chuyển thành trực tuyến, họp online, giao dịch online, ngay cả pháp hội do Sư Tôn tôn quý chủ trì cũng phải làm online. Đệ tử cũng vì vậy mà vô cùng biết ơn vào mỗi ngày thứ bảy và chủ nhật, dù ở tại nhà vẫn có thể vượt không gian thời gian cùng Phật đồng tu, lắng nghe khai thị pháp ngữ của Sư Phật. Càng may mắn hơn là có thể mỗi buổi sáng ngày thứ hai, trên "đám mây", có thể cùng chào hỏi Sư Phật và nhận gia trì. Đệ tử cảm ơn có cơ duyên này, cảm thấy hạnh phúc mĩ mãn.

Đều là vì cả năm làm việc ở nhà, đệ tử và những thiết bị điện tử cả ngày lẫn đêm dính với nhau, khiến cho các đầu ngón tay làm việc quá độ, trở thành cong như cung tên, ngón cái tay trái không cử động tự nhiên được, vô cùng đau khổ, đặc biệt là vào ban đêm khi đi ngủ, ngón tay thường bị đau buốt vô cớ, bởi vì ngón tay cái bị cong lại, tạm thời không có cách nào tự duỗi ra được, vì thế phải ngồi dậy từ từ xoa bóp để nắn lại ngón tay, như vậy mới có thể đi ngủ lại. Tình trạng này đã kéo dài khoảng hai, ba tháng rồi. Đã đi khám bác sĩ, bác sĩ đều nói phải làm phẫu thuật nhỏ mới có thể hồi phục lại như bình thường, trong lòng đệ tử nghĩ bây giờ là thời kì đặc biệt, bệnh dịch ở khắp nơi, có cần phải đi bệnh viện không? Nhỡ đâu...

Rồi vào ngày 14 tháng 3, Sư Phật đã làm chủ đàn pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng, Sư Phật từ bi chỉ thị cho các đệ tử trên "đám mây" và đệ tử trực tuyến đều có thể nhận được gia trì, đệ tử như thường lệ báo danh tham gia hàng tuần. Trong năm phút Sư Phật gia trì, đệ tử ngoài việc dặn dò người nhà đặt tay vào những chỗ khó chịu trên người để thỉnh cầu ra, đệ tử cũng chỉ nắm lấy ngón tay cái quán tưởng thỉnh cầu cho ngón tay (ngón tay bị cong) khỏe lại, sau đó cảm giác hình như đã tốt hơn rất nhiều, nhưng cũng không nhất thời quá háo hức, mà sau quan sát mấy ngày, thật sự đã hồi phục hoàn toàn rồi, cũng không còn bị tỉnh dậy lúc nửa đêm vì đau nữa, cũng không còn phải dè chừng lo sợ lúc nào đó ngón tay cái sẽ lại bị cong và cần được xoa bóp từ từ nữa. Đệ tử vui sướng như điên thông báo với đồng môn trong nhóm trì chú trên Whatsapp của Phật đường, pháp lực của Sư Phật không ai sánh bằng, chỉ cần bạn tin tưởng vào Căn bản Thượng sư một trăm phần trăm thì cho dù là gia trì cho đệ tử vượt qua thời gian và không gian thì cũng có thể viên mãn thỉnh cầu của đệ tử. Sự từ bi của Sư Phật là hạnh phúc của các đệ tử. Kể từ ngày pháp hội đến nay đã một tháng rồi, đệ tử đã không còn bị tái phát bệnh nữa.

Với tấm lòng biết ơn, xin Phật trụ thế thật lâu thật lâu.
Yêu Sư Tôn.
Chân thành cầu nguyện Diêu Trì Kim Mẫu tôn quý và chư Phật Bồ Tát gia trì cho Sư Phật Phật thể an khang, vui vẻ tự tại, pháp luân trường chuyển, trường trụ thế gian lâu thật lâu.
Đệ tử Liên Hoa Ngọc Linh quỳ lạy đảnh lễ.

(Ghi chú: có rất nhiều thư gửi đến, cảm ứng liên miên, ở đây chỉ đăng một số bức thư trong số đó.)


### 50. Phụ lục: Thời Luân Kim Cang thiền định cửu thứ đệ


(Toàn văn khai thị pháp ngữ của Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật)

Ngày 13 tháng 12 năm 2008, tại trung tâm triển lãm Singapore.

Trước tiên, chúng ta đảnh lễ Liễu Minh Hòa Thượng, Sakya Chứng Không Thượng sư, Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16, Thubten Dhargye Thượng sư. Kính lễ Tam Bảo của đàn thành.

Đầu tiên, tôi cũng muốn kính chào tì kheo Chiếu Sơn, cảm ơn ông ấy đã đến tham gia pháp hội Thời Luân Kim Cang của chúng ta. Cũng cảm ơn Cống Xảo Rinpoche đã tham gia pháp hội Thời Luân Kim Cang của chúng ta. Còn có rất nhiều khách quý, chúng ta vô cùng cảm ơn. Quan trọng nhất là, chúng ta cần kính chào đơn vị chuẩn bị cho pháp hội Thời Luân Kim Cang lần này, cả Thượng sư Liên Giản ở Viên Chứng Đường, và tất cả các đồng môn tình nguyện viên. Chúng ta kính chào các vị khách quý đã dành thời gian đến tham gia pháp hội của chúng ta lần này.

Sư Mẫu, các vị Thượng sư, giáo sư, các vị pháp sư, giảng sư, trợ giảng, các đồng môn, và cả các đồng môn trên mạng, chúc mọi người cát tường.

Hôm nay tôi sẽ giảng Thời Luân Kim Cang thiền định cửu thứ đệ. Ý nghĩa của "cửu thứ đệ" chính là chín bước. Nhưng mọi người cần biết "pháp vô định pháp", không phải là khi hành giả chúng ta muốn thiền định thì nhất định sẽ trải qua chín bước này. Người công phu sâu thì một bước là có thể nhập định rồi. Người công phu nông thì một bước, rồi lại một bước, từ từ mà làm. Vì thế, Phật Đà mới nói "pháp vô định pháp". Thế nào là "pháp vô định pháp"? Nghĩa là giảng cho bạn nghe một pháp, nhưng không phải là bạn phải tuyệt đối dựa theo pháp đó, mà ở đây chỉ là các đại đức Thánh hiền từ xưa tới nay, dựa theo bản thân pháp này mà phân thành từng bước, từng bước, thế là trở thành chín trình tự.

Như tôi mà nói, muốn thiền định, tôi chỉ cần buộc chặt tâm mình lại, chú ý vào hai chìa khóa thành công: không được hôn trầm, không được trạo cử. Khi bạn đang ngủ sâu, khi ở trong thiền định rất sâu, bạn vẫn còn giữ được cái tâm trong suốt, thì chỉ cần trong một sát-na là bạn đã có thể nhập vào thiền định rồi. Đương nhiên, người bình thường khi mới bắt đầu học Thời Luân Kim Cang thiền định cửu thứ đệ thì không có cách nào chỉ trong một sát-na đã nhập vào thiền định như thế được. Vì thế, cần làm từng bước, từng bước một.

Thế nào là "pháp vô định pháp"? "Pháp vô định pháp" nghĩa là không có cái gì là tuyệt đối đúng, không có cái gì là tuyệt đối sai. Tôi lấy một ví dụ, ở Hồng Kông có một ngôi sao điện ảnh tên là Tăng Chí Vĩ, dáng vóc cũng gần giống như tôi, nhưng tôi chưa béo tới mức như ông ấy. Ông ta nói: "Những thợ săn ảnh ở Hồng Kông rất lợi hại!" Thợ săn ảnh ở Hồng Kông và Đài Loan đều rất lợi hại. Có người chụp một bức ảnh Tăng Chí Vĩ đi với một mĩ nữ, mắt của Tăng Chí Vĩ nhìn vào khuôn mặt của mĩ nữ, phóng viên tuần san liền viết: "Kẻ đồi bại." Tăng Chí Vĩ nói: "Thế thì không nhìn mặt nữa, mắt tôi sẽ nhìn xuống dưới." Tuần san liền viết: "Nhìn vào bộ phận nhạy cảm." Nhìn xuống dưới là nhìn vào bộ phận nhạy cảm. Tăng Chí Vĩ liền quay đầu lại, không nhìn nữa, căn bản là không nhìn, tuần san lại viết: "Có âm mưu đen tối." Tôi nghĩ là viết thế nào thì cũng đúng, viết thế nào thì cũng là sai. Không có gì là đúng sai tuyệt đối.

Hôm nay các bạn học Phật pháp, "pháp vô định pháp", dựa theo phương pháp tu mà các bạn quen thuộc nhất, có thể nhập vào thiền định nhanh nhất thì chính là phương pháp tốt nhất. Nhưng tu thiền định, điều rất quan trọng là bạn không được sản sinh ra ảo giác, cũng không được có huyễn giác. Thế nào gọi là sinh ra ảo giác và huyễn giác? Chủ yếu là do bản thân trong tâm bạn có suy nghĩ bất hảo. Vì thế, chúng ta tu thiền định cần phải rất có lí trí, cần có lí trí, bạn phải duy trì được sự trong sáng của bạn, biết được cái gì là huyễn giác, cái gì là ảo giác, cái gì là huyễn thính, thì mới không nhập vào ma giới.

Người tu thiền định, thường thường có lúc cũng có "ma thiền", điều này rất nguy hiểm. Trước kia tôi từng kể một chuyện cười về bệnh tâm thần. Có một viện trưởng bệnh viện tâm thần đi thăm phòng một bệnh nhân tâm thần, ông ấy nhìn thấy một nữ bệnh nhân tâm thần đang nằm ngửa ra hát. Chà! Giọng hát của cô ấy rất hay, giống như một ngôi sao ca nhạc vậy, hát bài này đến bài khác, không thiếu một chữ nào, nhịp lại rất chính xác, hát cực kì hay. Viện trưởng liền cho rằng nữ bệnh nhân tâm thần này chắc là sắp bình thường rồi, khả năng là đã bình thường rồi. Đột nhiên, bệnh nhân tâm thần liền nhỏm dậy, rồi nằm sấp ra đất, cô ấy vẫn hát, cũng vẫn hát rất hay. Viện trưởng liền hỏi: "Vừa nãy cô nằm ngửa ra hát, bây giờ lại nằm sấp hát, nằm bò ra đất hát, thế là vì sao?" Bệnh nhân tâm thần nói: "Vừa rồi tôi hát là mặt A, bây giờ tôi hát đến mặt B." Vẫn còn tâm thần lắm, hơn nữa bệnh lại còn rất nặng nữa. Tôi bảo mọi người, tuyệt đối đừng để mắc bệnh tâm thần phân liệt, nhân cách phân li, bạn tu thiền định cần có lí trí, cần giữ được sự trong sáng, nhưng bạn lại cần phải ở vào giữa sự tỉnh táo và ngủ. Đây là một bí quyết thành công.

Tôi bảo mọi người, Thời Luân Kim Cang tu thiền định, cái gọi là thiền định chính là phải hợp nhất với Thời Luân Kim Cang, có nghĩa là "hợp thể". Pháp tương ứng mà Mật giáo nói đến đều là hợp thể. Một khẩu quyết quan trọng nhất của Mật giáo chính là hợp thể. Hợp thể là gì? Là ý thức Thời Luân Kim Cang trong vũ trụ từ từ hạ giáng, tiến nhập vào trung mạch của bạn, ngồi trên cánh hoa sen trong tim bạn. Sau đó, ngài có hai mươi tư cánh tay, bốn khuôn mặt, có bàn chân màu đỏ, bàn chân màu trắng, đạp lên Đại Tự Tại Thiên và Đại Tự Tại Thiên Hậu. Thời Luân Kim Cang giáng xuống, từ trung mạch đến cánh hoa sen trong tim bạn, sau đó, ngài từ từ phóng to lên, biến thành chính bạn. Pháp Thời Luân Kim Cang không phải là đối thân, không phải là xuất hiện ở trước mặt bạn, mà là chính bạn biến thành "tự thân kim cang", nghĩa là chính mình biến thành Thời Luân Kim Cang. Phương pháp tự mình biến thành Thời Luân Kim Cang này chính là Thời Luân Kim Cang thiền định cửu thứ đệ.

Vậy bạn làm thế nào để có thể biến thành Thời Luân Kim Cang đây? Chính là cần phải trì chú Thời Luân Kim Cang, kết thủ ấn Thời Luân Kim Cang, quán tưởng Thời Luân Kim Cang. Bởi vì bạn kết thủ ấn Thời Luân Kim Cang chính là đại diện cho thân thể của Thời Luân Kim Cang, quán tưởng Thời Luân Kim Cang chính là đại diện cho ý niệm của Thời Luân Kim Cang, trì chú của Thời Luân Kim Cang chính là đại diện cho việc nắm giữ tâm của Thời Luân Kim Cang. Nghĩa là, khi thân, khẩu, ý của bạn hoàn toàn giống với Thời Luân Kim Cang thì ngài ấy nhanh chóng có thể dung nhập vào trong thân thể bạn, chính bạn biến hóa thành Thời Luân Kim Cang.

Cái gọi là thần thông của Mật giáo đều là "hợp thể". Tu hành Mật giáo chính là hợp thể. Tôi hợp thể với A Di Đà Phật, bản thân tôi biến thân thành A Di Đà Phật. Tôi hợp thể với Địa Tạng Vương Bồ Tát, tôi biến hóa thành Địa Tạng Vương Bồ Tát. Tôi và Tiên Vương Diêu Trì Kim Mẫu hợp thể, tôi liền biến hóa thành Diêu Trì Kim Mẫu. Chính nhờ sự biến thân của chính bạn mà bạn có được pháp lực cực lớn của Bổn tôn trên người bạn. Đây chính là pháp thần thông của bản thân Mật giáo, cái mà ta gọi là biến thân.

Biến thân có thể biến được mấy lần? Có thể biến rất nhiều lần. Bạn có thể giống như cây quy y của Mật giáo, các vị tổ sư nhiều đời ở chính giữa bạn, toàn bộ đều tiến nhập vào trong tâm của bạn, bạn liền biến thành sự tổng hợp của các vị tổ sư nhiều đời. Tất cả Chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang Thần, Hộ Pháp Thần, Chư Thiên trong vũ trụ đều tiến nhập vào trong tâm bạn, bạn sẽ có được một dạng pháp lực của Chư Phật Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, Chư Thiên. Ở đây không chỉ là nói đến pháp lực thôi đâu, còn nói đến minh tâm kiến tính, viên mãn chứng ngộ. Do bạn tu hành pháp Mật giáo, Mật giáo là hợp thể và biến thân, thân thể hợp nhất, biến thành Bổn tôn. Nhờ Bổn tôn mà đạt được trí huệ của Như Lai, đạt được chứng ngộ viên mãn.

Biến thân có rất nhiều loại, Đại Uy Đức Kim Cang là do Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát tiến nhập vào trong thân của Diễm Ma Pháp Vương, biến thân thành Đại Uy Đức Kim Cang. Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát là do A Di Đà Phật từ bi Quan Thế Âm Bồ Tát, tiến nhập vào trong thân của Quan Thế Âm Bồ Tát, biến hóa thành Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát. Bản thân Thời Luân Kim Cang là Thích Ca Mâu Ni Phật tiến nhập vào tam muội địa thời luân, biến hóa thành Thời Luân Kim Cang. Đều là những sự biến hóa.

Bạn làm thế nào để tiến nhập vào tam muội địa? Chính là thiền định. Rất nhiều người nói với tôi rằng họ không có cách nào thiền định được, không có cách nào nhập tam muội địa được, bởi vì hễ họ ngồi thiền là rất nhiều tạp niệm liền xuất hiện. Trong thiền định Sơ trụ, tâm là trạng thái không ổn định. Vì thế, rất nhiều người nói với tôi rằng họ không có cách nào nhập định được, bởi vì có rất nhiều tạp niệm. Tôi bảo mọi người nhé, điều này là bình thường thôi. Không có tạp niệm mới là bất thường, là không bình thường đó. Tất cả mọi người bình thường đều có tạp niệm, chỉ có thật sự tiến nhập vào trong thiền định rất sâu, có thể giữ chặt được tâm thì mới không còn tạp niệm nữa. Thế nhưng điều này là rất thù thắng, rất hiếm người đạt được.

Trước tiên chúng ta nói đến bước thứ nhất của thiền định Thời Luân Kim Cang - Sơ trụ. Tâm của bạn chỉ hơi ổn định một chút, thông thường tâm sẽ chạy lung tung, không thấy đâu nữa, rõ ràng là bạn đang niệm kinh, đột nhiên có suy nghĩ khác xen vào, đó là hiện tượng của Sơ trụ. Vừa ngồi xuống là tâm đã không ổn định rồi. Thế còn, bạn quán tưởng con mắt thứ ba của Thời Luân Kim Cang, khuôn mặt chính diện màu xanh lam của Thời Luân Kim Cang có ba con mắt, bạn quan sát một con mắt ở chính giữa, chỉ nhìn vào con mắt ở chính giữa thôi, định tâm lại. Bạn giống như thế này, tôi đang nhìn vào ngọn đèn ở trước mặt, đúng như thế này nhìn cố định vào ngọn đèn trước mặt, không có suy nghĩ nào khác. Các bạn làm quán tưởng thì hãy nhìn vào con mắt thứ ba của Thời Luân Kim Cang, đừng để suy nghĩ khác xen vào.

Thế rồi đột nhiên, nếu như tâm của bạn chạy đi, ví dụ như bạn chơi cổ phiếu, trong đầu đều nghĩ tới cổ phiếu, nhìn vào con mắt thứ ba của Thời Luân Kim Cang thì lại nhìn thành cổ phiếu, thì đó là suy nghĩ khác đã xen vào rồi. Đây chính là Sơ trụ, suy nghĩ của bạn không có cách nào rất tập trung được. Bạn đang quán tưởng con mắt thứ ba, cũng không được biến con mắt thứ ba thành cổ phiếu. Có một người hỏi người chơi cổ phiếu: "Tình hình anh chơi cổ phiếu thế nào rồi?" "Không tốt! Bây giờ cổ phiếu đều rớt giá." "Thế buổi tối đi ngủ có ngon không?" "Tôi ngủ giống trẻ sơ sinh vậy, ngủ giống như *baby* vậy đó." "Chà! Anh có thể ngủ giống như *baby*, thế thì quá tốt rồi." Anh ta nói: "Giống *baby* đó! Nghĩa là tỉnh dậy rồi khóc đó." Người xuất gia chúng ta không chơi cổ phiếu, thế nên chúng ta ngủ rất ngon.

Cũng có một câu chuyện cười tương tự. Có một người có trí nhớ rất tốt, trí nhớ của anh ta là *ichiban* [Tiếng Nhật: nghĩa là số một], bộ não rất tốt. Anh ta nói: "Cái gì đi vào trong não tôi thì tôi đều ghi nhớ hết. Sư Tôn nói pháp gì, giảng cái gì, tôi đều nhớ rõ hết, toàn bộ đều đi vào trong bộ não của tôi rồi, trí nhớ của tôi rất tốt." Người bên cạnh liền nói: "Trí nhớ của anh tốt như vậy, thế thì tiền anh vay tôi sao vẫn chưa trả tôi?" Anh ta nói: "Tiền của anh không đi vào trong não tôi mà đi vào trong túi áo tôi."

Hôm nay chúng ta học thiền định chính là Sơ trụ, tâm đột nhiên sẽ biến mất. Vào thời đại này, tâm của mỗi người đều bồng bềnh bất định, chúng ta thường xuyên phải tóm tâm trở lại, tóm cái tâm trở về cố định ở đó, mới có thể thiền định được. Bạn có thể quán tưởng được rất kĩ, toàn bộ Thời Luân Kim Cang đều quán tưởng được ra, như thế đương nhiên là tốt nhất, còn không thể quán tưởng được ra thì bạn phải học cách quán tưởng con mắt thứ ba của Thời Luân Kim Cang. Bạn hãy quán tưởng con mắt thứ ba của Thời Luân Kim Cang, hãy nhìn vào con mắt thứ ba của ngài, những thứ khác bạn không cần phải nghĩ đến. Tâm của mỗi người đều trôi nổi, thế nhưng, khi mà tâm của bạn trôi đi mất, bạn chú ý thấy điều đó, bạn lại tìm tâm trở về, tâm chạy đi mất lại tìm nó về, khi làm như vậy nhiều lần thì gọi là Sơ trụ.

Bước thứ hai chính là Tục trụ. Bạn đã nhiều lần chú ý đến tâm niệm của mình rồi, có thể kéo được cái tâm phân tán trở về, liên tục nhìn vào con mắt thứ ba của Thời Luân Kim Cang, khi có thể đạt đến thời gian bảy phút thì đây gọi là Tục trụ. Bước thứ nhất là Sơ trụ, bước thứ hai là Tục trụ, nghĩa là liên tục có thể dừng tâm lại, quán tưởng con mắt thứ ba của Thời Luân Kim Cang, đạt được bảy phút như thế, thì gọi là Tục trụ. Đây chính là sự luyện tập.

Tôi thường nghĩ, chúng ta làm một con người hiện đại, rất khó để quán tưởng, cũng rất khó chú ý vào một chuyện, thông thường tâm đều bất định. Có người chơi cổ phiếu, có người muốn kiếm tiền. Tôi cũng nói rất thẳng thắn, có tiền không thể mua được sức khỏe, có tiền cũng không chắc đã mua được tuổi thọ, có tiền cũng không thể mua được tu hành, có tiền cũng không chắc đã được vãng sinh tịnh thổ. Trong Kinh Thánh nói, người giàu mà muốn lên thiên đường, cũng giống như lạc đà xâu kim vậy, vô cùng khó, bởi vì cái mà họ nghĩ đến đều là tiền.

Có một phú ông, hàng ngày ông ta chỉ nghĩ đến tiền, di chúc mà ông ta viết, ngay cả sau khi chết mà cũng chỉ muốn tiền. Di chúc của ông ta viết như thế này: "Sau khi tôi chết, phải đem tất cả tiền đặt trong quan tài của tôi." Ông ấy là một phú ông đó, muốn bỏ tất cả tiền vào trong quan tài để chôn cùng ông ấy, thế thì quan tài nhất định là cần làm rất to. Vợ của ông ta cũng tuân theo di chúc này, bà ấy đã chuyển tất cả tiền thành tiền của bà ấy, gửi trong ngân hàng với sổ tiết kiệm đứng tên bà ấy, sau đó, bà ấy kí một tấm chi phiếu, đặt lên người phú ông, nói rằng: "Tôi đã đưa tiền cho ông rồi nhé! Nếu ông có thể tỉnh lại, thì số tiền này chính là của ông đó." Tôi kể câu chuyện cười này là ý nói rằng, chết rồi thì cái gì cũng chẳng có. Tiếng Indonesia nói là *selamat*. [có thể hiểu nôm na là: chết rồi, tạm biệt nhé, chào nhé]

Trước kia, Seattle Lôi Tạng Tự có một con chó tên là Bagi, mỗi buổi sáng chúng tôi nhìn thấy nó là lại nói "*selamat* Bagi" (tiếng Indonesia có nghĩa là xin chào Bagi), "chết rồi hả Bagi" [khi nói selamat thì nghe gần giống như si le ma trong tiếng Trung, nghĩa là chết rồi à], buổi tối cũng thế, *selamat* *malam* (tiếng Indonesia là chúc ngủ ngon). Con người mà "chết rồi hả" thì cái gì cũng chẳng còn. Bạn có tiền, bạn phải đi làm từ thiện, đi xây chùa, xây đạo tràng, đi làm sự nghiệp công ích, đi giúp đỡ người khác, đó mới là ý nghĩa của đời người đó! Vì thế, khi chúng ta thiền ở bước Tục trụ, đừng nghĩ đến tiền, cũng đừng nghĩ đến mĩ nữ, không chỉ là người bình thường mà người tu hành cũng phải thế.

Có một thầy giáo lịch sử hỏi học sinh: "Triều Hán và Triều Đường có gì khác nhau?" "Triều Hán có một mĩ nữ tên là Triệu Phi Yến, triều Đường có một mĩ nữ tên là Dương Quý Phi." Học sinh nói, vẻ đẹp của Triệu Phi Yến nằm ở lúc nàng lên ngựa - "mã thượng bất tri", thân thể của nàng rất nhẹ, ngồi trên lưng ngựa mà ngựa cũng không biết rằng nàng đã lên ngựa rồi. Mĩ nữ Dương Quý Phi triều Đường khi lên ngựa, "mã thượng bất chi", bất chi nghĩa là ngựa không có cách nào chống đỡ nổi. Tôi bảo mọi người, mỗi một hành giả khi quán tưởng, chú ý vào con mắt thứ ba của Thời Luân Kim Cang, không được nghĩ đến Triệu Phi Yến, bởi vì Triệu Phi Yến là "bất tri", "mã thượng bất tri"; không được quán tưởng Dương Quý Phi, Dương Quý Phi là "mã thượng bất chi", con ngựa này ngã sụp xuống, "mã thượng bất chi".

Chúng ta nói đến bước thứ ba, chính là Hồi trụ. Có thể chú ý vào tâm của bạn, thời gian tập trung kéo dài được mười bốn phút, mức độ thiền định ổn định của bạn đã tăng trưởng rồi, nhưng sau mười bốn phút thì tâm vẫn bất ngờ chạy đi mất, rất nhanh chóng có thể kéo tâm về lại, thì đây gọi là Hồi trụ, đây là bước thứ ba.

Bước thứ tư là Cận trụ. Mục tiêu mà bạn tập trung vào đã không còn tản mát nữa, khả năng giác chiếu đã hoàn toàn lộ ra rồi. Bạn chuyên tâm vào con mắt thứ ba của Thời Luân Kim Cang, con mắt ấy vĩnh viễn ở tại đó, bạn có thể chuyên chú mà không tản mát, những suy nghĩ khác không kéo đến, tâm của bạn cũng không chạy đi mất, lúc này, năng lực quán chiếu của bạn đã bắt đầu tăng cường, bạn quán chiếu con mắt thứ ba của Thời Luân Kim Cang, năng lực đã vô cùng mạnh rồi, đây gọi là Cận trụ.

Bước thứ năm chính là Phục trụ. Bạn đã có sự ổn định cao độ, nhưng bạn phải rất cẩn thận, bởi vì bạn sẽ rơi vào hôn trầm, gần giống như ngủ vậy, cần phải có sự nhạy bén tự kiểm điểm mình. Tôi bảo mọi người nhé, sự luyện tập thiền định này, bảy phút, mười bốn phút, cái này cũng chẳng được coi là gì hết, bởi vì tâm bạn vẫn sẽ tản mát. Khi tâm bạn không còn một chút tản mát nào, giống như con ruồi vậy, đang bay bay bay bay bay, oa! Bị một tờ giấy dính ruồi dính chặt lại, nó chẳng thể bay đi đâu được nữa, đây gọi là Phục trụ. Tâm của bạn bị dừng lại ngay tại đó không thể di động được, gọi là Phục trụ. Còn có một so sánh nữa, chính là tâm giống như con ngựa chạy, chạy rất nhanh, nhưng nó bị một sợi dây thừng buộc chặt vào một cái cọc gỗ, không đi được nữa, đây gọi là Phục trụ.

Phục trụ có một hiện tượng là bạn nhập tam muội địa, tinh thần của bạn rất tập trung, không có suy nghĩ khác xen vào, tâm bạn cũng không chạy lung tung, nhưng bạn lại ngủ mất, bạn nhập vào "tứ muội địa" rồi, nghĩa là đi vào giấc ngủ rồi. Rất nhiều người cho rằng đây là cảnh giới rất cao. Sư Tôn trước kia cũng bị như thế, ngồi trên ghế *sofa*, nhắm mắt lại chẳng nghĩ ngợi gì cả, mặt trời còn đang chói chang, còn đang ở giữa ban ngày, sau đó mở mắt ra thì đã thành tối muộn rồi. Oa! Tôi ngồi mấy tiếng đồng hồ, tôi cho rằng thật là siêu, hóa ra là tôi đã ngủ năm tiếng đồng hồ, tiến vào trạng thái ngủ sâu, hoàn toàn không mơ gì cả, một giấc mơ cũng không có, một lúc sau mở mắt ra, úi, tôi còn chưa ăn bữa tối nữa! Sao mà trời đã tối rồi. Ngồi thiền có thể xuất hiện hiện tượng này, đây gọi là Phục trụ. Khi bạn ở giai đoạn Phục trụ rồi, mặc dù có độ ổn định cao, nhưng không được rơi vào hôn trầm, ngủ mất, phải có sự nhạy bén tự kiểm điểm bản thân.

Tôi biết trong số các Thượng sư Chân Phật Tông, Thượng sư Thường Trí bị rơi vào "tứ ma địa" - ngủ rất say. Khi tôi nhìn thấy ông ấy ngủ sâu, rất tốt! Ông ấy không nói mơ, ông ấy ngủ say tít. Tôi nhìn thấy ông ta đang ở trạng thái Phục trụ, không nói mơ. Có một câu chuyện cười về nói mơ. Có một người khi thiền định luôn nói mơ, vợ ông ta mới bảo: "Tôi đưa ông đi khám bác sĩ, bởi vì mỗi lần ông chỉ cần ngồi thiền là ông liền ngủ, đã thế còn nói mơ nữa." Ông chồng nói với bà vợ rằng: "Bà đừng bảo tôi đi gặp bác sĩ, bởi vì đó là lúc duy nhất tôi có quyền phát ngôn trong cái gia đình này." Nói mơ là quyền phát ngôn duy nhất của ông ta, có thể thấy bà vợ này rất lợi hại.

Vừa nãy tôi chủ trì làm chứng hôn lễ cho mọi người, tối nay sẽ có đêm tân hôn, đưa vào động phòng. Có một câu chuyện cười về đêm tân hôn thế này, vợ nói với chồng: "Bây giờ anh là chồng em rồi, thế anh nhớ em nhất là lúc nào?" Chồng nói: "Anh nhớ nhất chính là lúc chưa quen biết em." Đôi khi kết hôn là việc rất thảm. Vì thế, đến được bước thứ năm là Phục trụ rồi, cần nhớ rõ, cần tự kiểm điểm bản thân, cần trong sáng, mặc dù bạn đã Phục trụ rồi, tâm có thể ổn định rồi, nhưng chú ý đừng để rơi vào hôn trầm.

Khi đến bước thứ sáu là Tịch trụ thì sẽ sản sinh ra sức mạnh. Thời Luân Kim Cang tiến nhập vào bên trong bạn, bạn cũng tiến nhập vào bên trong Thời Luân Kim Cang, hai người không phân tách, không khác biệt. Bạn đã biến thành Thời Luân Kim Cang, hai người hợp nhất. Khi Thời Luân Kim Cang và bạn hợp nhất, bạn liền sản sinh ra pháp lực. Ví dụ, khi suy nghĩ của bạn nghĩ tới việc làm cho nhiệt độ của toàn trái đất không nóng như vậy, thế thì băng tuyết sẽ không tan ra nữa, cái này sẽ sản sinh ra *power* [sức mạnh]. Giống như khi tôi ở Đài Loan ba năm rưỡi, tôi liền nghĩ, làm cho tất cả các cơn bão đổ bộ vào Đài Loan đều chuyển hướng, thế là các cơn bão đều chuyển hướng.

Khi đã biến thành Thời Luân Kim Cang, nếu ta muốn kẻ địch không thể làm hại ta thì họ sẽ không có cách nào làm hại ta được. Khi bạn biến thành Thời Luân Kim Cang, tay của bạn đặt lên thân của người khác, vỗ lên vai họ, bệnh tật của họ sẽ thay đổi. Khi đến được Tịch trụ rồi sẽ sản sinh ra năng lượng của tâm. Nhưng cần chú ý không được quá phấn khích. Có rất nhiều người khi có pháp lực, họ liền vô cùng hưng phấn. Khi sản sinh ra pháp lực cần thận trọng tự kiểm điểm bản thân để không sinh ra sự hưng phấn. Bạn có thể duy trì sự ổn định của tâm thì sẽ tương đối có lí trí.

Khi đến được bước thiền định thứ bảy là Tối tịch trụ, năng lượng của tâm càng ngày càng mạnh, mức độ ổn định cũng càng ngày càng cao, không có hôn trầm cũng không có kích động, tâm rất mảnh rất vi tế, giống như cây kim vậy. Khi ở vào trạng thái Tối tịch trụ rồi, thời gian thiền định có thể đạt đến hai tiếng đồng hồ. Giấc ngủ sâu cũng rất giống với thiền định, nhưng ngủ sâu không phải là thiền định. Giống như hợp thể và biến thân, hợp thể chính là thiền định, bởi vì tâm của bạn đã cố định rồi, rất mảnh. Như vậy, khi Thời Luân Kim Cang cũng biến thành rất mảnh, khi Thời Luân Kim Cang đã mảnh nhất thì hợp nhất với bạn, giống như một cây kim vậy, khi mà ngài biến thành to lớn thì tràn đầy cả vũ trụ, lúc này bạn sẽ phát ra mệnh lệnh, bạn ban ra sắc lệnh, bạn mong muốn đạt được sự nghiệp gì thì theo lời nguyện của ngài đều có thể hoàn thành được.

Có người hỏi tôi: "Sư Tôn! Vì sao ngài có thể đến địa ngục được?" Là bởi vì tôi đạt đến bước thiền định thứ bảy. "Vì sao có thể đến được các cõi trời? Làm sao có thể viết được cuốn sách "Nấc thang lên cõi Trời", và cả "Địa ngục biến hiện kí" chứ? Bởi vì tôi đạt đến bước thiền định thứ bảy - Tối tịch trụ. Khi ở trong Tối tịch trụ này, tâm bạn biến hóa thành Bổn tôn, và Bổn tôn có thể thần hành, có thể xuất thần, có thể thuần túy tồn tại trong cả hư không, du hành trong tất cả pháp giới. Có thể đến cõi địa ngục và các cõi trời, hoàn toàn ở trong bước thiền định thứ bảy, bởi vì tâm đã sinh ra năng lượng rất lớn, hơn nữa, năng lượng này giống với Thời Luân Kim Cang.

Thời Luân Kim Cang có 24 cánh tay, đại diện cho 24 giờ, Thời Luân Kim Cang có bàn chân màu đỏ và bàn chân màu trắng, đại diện cho bồ đề đỏ và bồ đề trắng, thân màu xanh lam đại diện cho khí, thân màu đỏ đại diện cho mạch, thân màu trắng đại diện cho bồ đề trắng. 24 cánh tay của ngài đều có pháp lực, 4 khuôn mặt đều có thể sản sinh ra sức mạnh. Bởi vì sau khi sinh ra năng lượng của tâm, ngài có thể thần hành đến thập pháp giới, đây gọi là Tối tịch trụ.

Bước thứ nhất là Sơ trụ, bước thứ hai là Tục trụ, bước thứ ba là Hồi trụ, bước thứ tư là Cận trụ, bước thứ năm là Phục trụ, bước thứ sáu là Tịch trụ, bước thứ bảy là Tối tịch trụ, bước thứ tám chính là Chuyên trụ. Tôi có thể đạt đến bước Chuyên trụ. Vừa nãy khi chúng ta làm pháp hội có nói đến nhập tam muội địa, vừa mới nói xong là nhập tam muội địa, "cheng" một tiếng thế là nhập định. Có người nào nhập tam muội địa như vậy không? Bên kia có người bảo "Sư Tôn". Chuẩn rồi! Vừa nãy khi Sư Tôn đang nhập tam muội địa, Thời Luân Kim Cang rất nhanh chóng đã dung nhập rồi, bản thân tôi biến thành Thời Luân Kim Cang. Đây chính là Chuyên trụ.

Điều này nói rằng, năng lực của hành giả đạt đến mức chỉ cần nỗ lực rất nhỏ đã có thể nhanh chóng từ Sơ trụ đạt đến Tối tịch trụ rồi, hơn nữa lại có thể ngồi lâu hơn mà không bị hôn trầm, cũng không bị phấn khích, trạo cử. Bởi vì bạn có tâm trong sáng thì sẽ không hôn trầm, bạn không có phấn khích thì sẽ có thể quán chiếu tâm mình một cách vô cùng trong suốt mát rượi. Đây chính là Chuyên trụ. Một người muốn Chuyên trụ là điều không dễ dàng. Chúng ta luyện tập thiền định đến bước thứ tám chính là hiện tượng Chuyên trụ.

Nhìn chung mà nói, muốn làm được Chuyên trụ thì không hề dễ dàng. Người bình thường trúng xổ số độc đắc thì trong lòng rất phấn khích, cũng không thể ngủ được, hay như những sự việc rất quan trọng, họ cũng sẽ không ngủ được, khi có điều khiến họ rất lo lắng, khi có áp lực rất lớn, họ cũng không ngủ được. Vì sao Sư Tôn có thể ngủ rất ngon? Hơn nữa khi ngủ còn có thể ngủ rất ổn định, khi ăn cơm cũng ăn rất tập trung, làm việc gì cũng đều rất ổn định tập trung, hơn nữa bản thân Sư Tôn cũng không có phiền não hay áp lực gì. Vì sao vậy? Đó là vì khi bạn đã nhận thức được tâm mình rồi, hiểu được Phật tính rồi, bạn nhận thức được tâm mình thì là gì, thì đó là minh tâm. Bạn nhận thức được Phật tính thì là gì, đó chính là kiến tính, nghĩa là bạn đã hiểu được chân lí của vũ trụ.

Vì thế, Sư Tôn nói Sư Tôn không có danh dự. Mỗi người đều có thân thể, đều có tư tưởng, đều có danh dự, thậm chí danh dự còn quan trọng như sinh mạng thứ hai của con người. Vì sao Sư Tôn không có danh dự? Bởi vì thân thể của Sư Tôn không tồn tại, danh dự và thân thể của Sư Tôn đều không tồn tại. Bạn có thể làm như vậy, bạn có thể tu từ Sơ thiền đến Tứ thiền thì đó là gì? Là vô sự, vô tâm. Khẩu quyết quan trọng nhất của Mật giáo là chẳng có việc gì cả, việc rất lớn trong thiên hạ đối với tôi mà nói cũng chẳng có chuyện gì cả. Việc gì quan trọng nhất trong thiên hạ đều sẽ chẳng đi vào trong tâm tôi, tôi có thể thiền định đạt đến mức độ Chuyên trụ.

Tiếp theo tôi sẽ nói đến bước thứ chín, chính là Đẳng trụ, không phải tiêu tốn một chút sức mạnh nào, thiền quán không tốn chút sức lực nào, tự do tự tại nhậm vận. Mọi người xem Sư Tôn, bạn tu hành phải có thể tự do tự tại nhậm vận, không căng thẳng chuyện gì cả, chuyện gì cũng không có gì đáng kể, cái gì cũng vô sở trụ.

Lần này tôi đến Singapore, chúng ta chúc phúc cho mảnh đất Singapore này được mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an. Nói đến việc ở, Thượng sư Liên Giản ở Singapore và đơn vị chuẩn bị đã thu xếp cho tôi ở phòng Tổng thống, là phòng mà Tổng thống Mĩ Bill Clinton đã từng ở, phòng rất nhiều Tổng thống đã từng ở. Tôi ở tại phòng Tổng thống, tôi muốn đi tắm cũng phải đi qua nhiều lối, không tìm thấy phòng tắm ở đâu cả, tôi buồn đi tiểu, muốn đi vào phòng vệ sinh, cũng không tìm được phòng vệ sinh của mình, nhiều phòng vệ sinh quá, phòng quá rộng. Mọi người thết đãi tôi chỗ ở thật sự quá tốt.

Nhưng mọi người có biết nơi ở của tôi ở Đài Loan là ở đâu không? Tôi nghe nói phòng giam ở Đài Bắc có diện tích là hai bình rưỡi nhỉ! [1 bình = 3.3m2] Nơi tôi ở nhỏ cỡ một tấm chiếu *tatami* vậy, rộng cỡ khoảng nửa bình. Nơi tôi ở không có nhà vệ sinh, không có phòng khách, bước ra một cái là Phật đường. Ở Đài Loan, tôi ở như vậy, bạn không tin thì hãy hỏi Thượng sư Liên Cực, hỏi Sư Mẫu, Sư Mẫu cũng biết đó. Sư Mẫu nói: "Ông có thể ngủ ở chỗ rộng một chút mà! Giường rộng như vậy mà." Nhưng tôi sợ tôi nói mơ sẽ ảnh hưởng đến bà ấy, tốt nhất là tôi ngủ ở phòng nhỏ. Phòng tổng thống hiện nay rộng tới một trăm bình đó.

Nói đến Đẳng trụ, tôi bảo mọi người, một trăm bình không đủ rộng, một bình không đủ nhỏ, tôi ở đâu thì đều là như thế, bởi vì tâm của tôi rộng lớn vô biên mà! Người thế nào cũng có thể dung nạp. Với tôi người nào cũng được, tôi có thể tiếp nhận sự phê phán của thế nhân, nhưng tâm tôi vĩnh viễn giống như hư không, đây chính là Đẳng trụ. Không tiêu tốn một chút sức lực nào. Tôi không có phiền não! Vì sao có thể cắt đứt phiền não? Bởi vì bạn Đẳng trụ rồi, bạn chẳng có việc gì nữa, không có việc gì nữa thì không có phiền não nữa. Vì sao có thể không có chuyện gì? Bởi vì bạn khai ngộ rồi, cho nên không có chuyện gì nữa.

Tôi từng kể, ngày đầu tiên tôi đến Đài Loan, sư tỉ Từ Nhã Kì trông thấy tôi liền nói với tôi rằng cô ấy sợ có người sẽ làm hại tôi. Tôi bảo cô ấy: "Không ai có thể làm hại Sư Tôn." Khi tôi đến Malaysia, trong lòng tôi vô cùng vui vẻ khi đến Malaysia, trong lòng vô cùng vui vẻ trở về Mĩ, một chút lo lắng cũng không có. Bởi vì chúng sinh bình đẳng, chúng sinh đều ở trong một giấc mơ - bình đẳng. Tôi chẳng có việc gì, bạn kể chuyện của bạn, *watashi wakanai, I don’t care.* [Tôi không quan tâm.] Bạn nói thì đó là quyền của bạn. Tôi dựa vào "bình đẳng tâm trụ", tính bình đẳng của tôi sinh ra, tôi chúc chúng sinh cũng được bình đẳng như thế, cũng thành Phật, cũng vãng sinh Phật quốc tịnh thổ. Tôi không có sự phân biệt môn phái, cái gì cũng không có, tôi hi vọng mọi người có thể giác ngộ, chứng ngộ viên mãn.

Đợi đến khi bạn tu đến Đẳng giác thì thiền định ở cấp độ thứ chín sẽ sản sinh ra, thiền định này gọi là Đẳng trụ. Lúc này, bạn có thể từ Sơ thiền đến Tứ thiền, từ Tứ thiền lại trở về Sơ thiền, lộn lại như vậy, đó là thiền định. Từ đây, bạn sẽ có thể giác ngộ được minh tâm kiến tính. Vì sao Phật Thích Ca Mâu Ni nói "Phật không có ba lần chuyển pháp luân", "Phật không có thuyết pháp". Vì sao nói: "Nếu có người nói Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp thì đó là phỉ báng Phật." Chân đế của Phật pháp, đệ nhất nghĩa đế chính là ở đây. Trụ trong bình đẳng thì sẽ chứng minh được bình đẳng tính trí, sau đó tiến nhập vào pháp giới, bản tướng của pháp giới (bản tính của pháp giới) sẽ hiển hiện ra.

Bạn dựa vào sự quan sát của mình mà đạt được Diệu quan sát trí, khi bạn có được pháp lực rồi thì sẽ là Thành sở tác trí. Khi bạn đã chứng minh được tất cả mọi thứ thì sẽ là Đại viên kính trí. Diệu quan sát, Thành sở tác, Bình đẳng tính, Đại viên kính, Pháp giới thể tính, năm loại trí huệ này sẽ sản sinh ra từ trong thiền định. Bạn đã chứng minh được năm tính này thì bạn sẽ thấy được Phật tính, lúc này ai có thể làm hại bạn? Tôi bảo bạn nhé, thân tâm đều vô sự, vô tâm, không có chuyện gì đặt trong tâm bạn. Chúng ta dùng hình tượng của tâm mà cho rằng cái này chính là tâm, thật ra tâm là không thể tìm được. Chúng ta dùng con mắt thứ ba của Thời Luân Kim Cang để quán tưởng, cuối cùng chứng minh được vô sở trụ, vô sở vị, vô sở đắc cũng chính là từ đây mà sản sinh ra.

Tôi đã nói với mọi người bước thứ nhất là Sơ trụ, chỉ có sự ổn định một chút chút, thường tâm sẽ chạy lung tung. Tục trụ, luyện tập nhiều lần, tóm giữ tâm lại, tập trung trong bảy phút. Hồi trụ là có thể chú ý vào tâm của bạn trong mười bốn phút, mức độ ổn định tăng trưởng. Cận trụ là mục tiêu chuyên chú đã không còn tản mát nữa rồi. Phục trụ chính là mức độ ổn định cao, Tịch trụ sẽ sản sinh ra năng lượng của tâm, Tối tịch trụ là có thể thần hành, Chuyên trụ là khi bạn từ Sơ trụ thiền một mạch đến cấp độ thứ bảy là Tối tịch trụ chỉ trong một sát-na, búng tay một cái là xong rồi. Đẳng trụ là bạn đã hiểu rõ tâm rồi, đã kiến chứng Phật tính rồi, năm loại trí huệ của Phật đề có thể sản sinh ra. Lúc này bạn đã có thể có được thành tựu rồi, bạn có thể hợp thể, cũng có thể biến thân.

Giống như Sư Tôn hợp thể với Liên Hoa Đồng Tử thì sẽ biến thành Liên Hoa Đồng Tử. Liên Hoa Đồng Tử hợp thể với A Di Đà Phật thì sẽ biến thành A Di Đà Phật. A Di Đà Phật hợp thể với Phật Nhãn Phật Mẫu thì sẽ biến thành Phật Nhãn Phật Mẫu. Phật Nhãn Phật Mẫu hợp thể với Đại Nhật Như Lai thì sẽ biến thành Đại Nhật Như Lai. Đại Nhật Như Lai hợp thể với vị Phật ở địa thứ 16 là A Đạt Nhĩ Mã Phật thì sẽ biến thành A Đạt Nhĩ Mã Phật. Đó chính là hợp thể. Mật giáo chính là hợp thể.

Cái gọi là "tương ứng pháp", bạn tương ứng với Sư Tôn rồi thì sẽ hợp thể với bản thân Sư Tôn. Sư Tôn dung nhập vào trong thân bạn thì là tương ứng. Tiếp đó, bạn sẽ tương ứng với Bổn tôn, Bổn tôn của bạn là A Di Đà Phật thì A Di Đà Phật sẽ đi vào thân thể bạn và hợp nhất hoàn toàn cùng bạn, bạn sẽ biến thành A Di Đà Phật, tức thân thành Phật, Bổn tôn có thể tức thân thành Phật. Sau đó, chúng ta tu xuất ra huyễn thân, là thân thể hư huyễn, đi thần hành, đến toàn bộ vũ trụ, tất cả hai mươi tám cõi trời đều có thể đến, đến được Tứ thánh giới, chính là Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật, bạn đều có thể chứng đắc, chính là nhờ tu thiền định như vậy. Tôi bảo mọi người nhé, trong một sát-na bạn liền có thể chứng đắc, bạn chỉ cần thành thạo "thiền định cửu thứ đệ pháp" thì trong sát-na là bạn có thể thành tựu rồi.

"Pháp vô định pháp", như tôi nói với mọi người, trong sát-na là có thể thành tựu. Bạn hãy y theo thứ tự này mà tu cũng có thể thành tựu rồi. Pháp vô định pháp, thậm chí là cuối cùng cũng biến thành vô pháp, không còn pháp nữa, búng tay một cái là bạn nhập định rồi. Búng tay một cái là bao lâu, chỉ cần một sát-na thôi là bạn có thể thành tựu rồi, tu đến cuối cùng thì thành tựu này của bạn là pháp vô định pháp. Nhưng pháp này thì nói ra thì giống như là một thứ tự, nhưng trên thực tế, bạn chỉ cần tập quen rồi, bạn lập tức tiến nhập vào trong ba la mật thậm thâm ở mức độ rất sâu, trong thiền định rất sâu, chính là bát nhã ba la mật. "Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm bát nhã ba la mật đa thời", khi tiến nhập vào ba la mật đa thậm thâm, thứ mà thiền định thấy được, nhận biết được, chính là cảnh giới minh tâm kiến tính.

Ở đây, những câu chuyện cười mà tôi vừa mới kể phần lớn đều là do bà Trần Truyền Phương kể, phần nhỏ là chuyện của tôi, và một phần nhỏ nữa là do người khác kể cho tôi nghe. Trần Truyền Phương còn có một chuyện cười nữa, có một ông vua chỉ có một con mắt, con mắt kia bị mù, vua mời một họa sĩ đến để vẽ nhà vua. Họa sĩ kia vẽ rất thật, chỉ vẽ vua có một con mắt. Nhà vua nhìn tranh thì rất tức giận: "Ngươi vẽ ta xấu xí như vậy, chỉ có một con mắt." Thế là lôi ông ta ra ngoài giết. Vua lại gọi họa sĩ thứ hai đến. Họa sĩ thứ hai rất sợ hãi, ông ấy nhìn vua để vẽ, vẽ hai con mắt, ông ấy sợ vẽ một con mắt thì sẽ bị giết, nên ông ấy vẽ hai con mắt, vẽ tướng mạo rất đẹp đẽ, rất trang nghiêm, hai con mắt sáng rất có thần. Nhà vua nói: "Chẳng giống ta một chút nào, ta chỉ có một con mắt, ông vẽ ta có hai con mắt, lôi ra ngoài giết." Người họa sĩ thứ hai cũng bị giết. Nhà vua lại tìm một họa sĩ khác đến, họa sĩ này tương đối có trí tuệ, ông ta vẽ xong, nhà vua vô cùng hài lòng, thưởng cho ông ta rất nhiều tiền, còn gọi ông ta là họa sĩ số một của đất nước. Bởi vì họa sĩ này đã vẽ mặt nghiêng của nhà vua, mặt nghiêng thì chỉ có một con mắt thôi.

Tôi kể câu chuyện cười này là có ý như thế này, chúng ta không nhất định phải tuân theo "thiền định cửu thứ đệ pháp" để mà tu, nếu bạn là người mới học thì cần theo thiền định cửu thứ đệ pháp mà tu, đặc biệt là người mới bắt đầu ở mức Sơ trụ. Nếu bạn luyện tập rất lâu rồi, sau một lúc bạn đã có thể đến được cấp độ thứ năm là Phục trụ, trong sát-na bạn đã có thể chú ý vào mục tiêu không tản mát, bắt đầu từ cấp độ thứ năm bạn có thể Chuyên trụ được. Càng cao siêu hơn nữa là sau một lúc bạn đã đến được Đẳng trụ, bạn có thể kết thúc sinh tử, đoạn tận phiền não rồi.

Vì sao có thể đoạn tận phiền não? Vì sao có thể kết thúc sinh tử? Vì sao có thể vô sự? Vì sao có thể vô tâm? Đây chính là sự chứng ngộ của Phật Thích Ca Mâu Ni dưới gốc cây bồ đề. Đây chính là điều mà tôi thường nói với mọi người, bạn muốn hiểu được ở dưới gốc cây bồ đề, Phật Thích Ca Mâu Ni đã minh tưởng như thế nào, đệ nhất nghĩa đế của Phật nằm ở đâu, vì sao có thể cắt đứt hết phiền não, vì sao có thể kết thúc sinh tử, cái này chính là yếu nghĩa quan trọng nhất của Phật pháp. Nếu bạn có thể ngộ ra được, hơn nữa còn có thể thực tiễn, thì chính là Đẳng trụ.
Om mani padme hum.

(**Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/285-tu-duy-thuan-tuy.md
# Title: 285. Tư duy thuần túy
---

![image](/img/img_1818058c56f43c7563855a8fa88b5ca9.png)



## Tư duy thuần túy


🪷 Tư duy trong suốt

Văn tập số: 285
Xuất bản: 09/06/2021
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu


Một hôm.
Diêu Trì Kim Mẫu nói với tôi:
"Ngài có Phật cốt!" (Kim Mẫu khích lệ tôi.)
Tôi nghe như vậy thì vô cùng vui mừng, khi ấy tôi cho rằng, tôi có Phật cốt, thế thì người khác chắc chắn không có.
Tôi thật sự rất nỗ lực tinh tấn:
Sáng lập Chân Phật Tông.
Thành lập tăng đoàn Chân Phật Tông.
Xây dựng các ngôi chùa Lôi Tạng Tự.
Viết sách tới nay là 285 cuốn.
Độ hơn năm triệu chúng sinh.
Vân vân và vân vân.

🌟

Trong quá trình ấy, tôi đã đọc tiểu sử của Phật Đà. Khi Phật Đà giác ngộ và thành đạo đã nói:
"Lạ thay! Tất cả chúng sinh đều có đức tướng trí huệ của Như Lai, chỉ vì họ vọng tưởng bám chấp nên không thể chứng đắc."
Giờ đây, cuối cùng tôi đã hiểu:
Tôi có Phật cốt.
Chúng sinh cũng đều có Phật cốt.
Thậm chí loài sâu bọ nhỏ bé.
Thậm chí loài bươm bướm.
Từ tư duy nhị nguyên luận, tôi tiến nhập vào tư duy nhất nguyên luận, tôi gọi cách tư duy này là: Tư duy thuần túy.

🌟

Tôi nghĩ đến năm loại trí huệ của Như Lai:
Pháp giới bản tính trí.
Đại viên kính trí.
Bình đẳng tính trí.
Diệu quan sát trí.
Thành sở tác trí.
Từ năm trí huệ của Như Lai, tôi lĩnh hội được nhất như, nhất như chính là chân lý, nhất như chính là nhất nguyên, nhất như chính là tuyệt đối, tôi đã tiến nhập vào sự dung hợp.
Tôi thường nghĩ:
Nếu trên trái đất này căn bản không có nhân loại, thử hỏi:
Cái gì là Phật pháp?
Cái gì là thiện ác?
Cái gì là Phật tính?
Cái gì là Phật cốt?
Tất cả chỉ là:
Không. Không. Không. Không. Không.
Đó chính là thực tướng!

🌟

Trong kinh Tam Ma Địa, sự thành tựu cuối cùng không ngờ lại là hai chữ "độc diệu".
Độc diệu là tỏa sáng một mình.
Bất chợt, tôi đã có tư duy thuần túy rồi!
Là cảm tính đang lấp lánh.
Là trí tính đang lấp lánh.
Là Phật tính đang lấp lánh.
Tôi mong tư duy của tôi, trong khoảnh khắc suy tưởng ấy, tỏa ra ánh hào quang tư tưởng.
Cầu mong.
Lợi ích chúng sinh.

(Tháng 6 năm 2021)

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**
17102 NE 40th Ct.,
Redmond, WA 98052
U.S.A


### 01. Nhân duyên đại sự


Có người hỏi tôi:
"Chúng ta sống trên thế giới này là vì cái gì?"
Tôi đáp:
"Nhân duyên đại sự."
Người hỏi:
"Cái gì là nhân duyên đại sự?"
Tôi đáp:
"Kết thúc sinh tử."

Dưới gốc cây bồ đề, Phật Thích Ca Mâu Ni sau khi ngộ đạo đã từng nghĩ thế này:
"Thực tướng mà ta đã ngộ ra thì chúng sinh khác không thể hiểu được, ta cũng chẳng có cách nào truyền thụ kinh nghiệm chứng ngộ của ta cho người khác."
Phật Đà nghĩ như thế thì lập tức muốn nhập Niết bàn.
Thật may, Đại Phạm Thiên và Đao Lợi Thiên Chủ đã hết sức can ngăn, thỉnh Phật trụ thế. Vì thế, Phật Đà mới lưu lại thế gian, ba lần chuyển pháp luân.

🌟

Kết thúc sinh tử có khó không?
Tôi nói:
"Khó!"
Giống như có so sánh như thế này:
Người tu hành nhiều không đếm xuể. Nhưng người chứng thực được trí huệ bát nhã thì giống như chim nhạn dẫm lên cát sông Hằng vậy, khi chim nhạn bay trên trời thì chân sao chạm được vào cát.
Ha! Quả nhiên khó lắm thay!

🌟

Hơn nữa, chúng sinh nhiều như mây, lại có bao nhiêu người biết được nhân duyên đại sự này? 
Thế thì lại càng ít.
Giống như Bill Gates?
Giống như Quách Đài Minh?
Giống như Trump?
Giống như Biden?
Giống như Jack Ma?
Giống như Abe Shinzo?
Họ có biết nhân duyên đại sự này không? 
Họ biết kết thúc sinh tử không?

🌟

Những người chí thân với tôi, Sư Mẫu Thượng sư Liên Hương không cần nhắc đến.
Con trai Lư Phật Kỳ thì sao?
Con gái Lư Phật Thanh thì sao?
Cháu trai Lư Hoằng thì sao?
Cháu gái Lư Quân thì sao?
Bọn chúng có biết nhân duyên đại sự không? 
Bọn chúng có biết kết thúc sinh tử không?

Khi tôi vọng nhìn bầu trời đêm, những vì sao đầy khắp bầu trời đang hấp háy mắt, chúng nói:
"Ngài hỏi thật thú vị!"
Tôi cười khanh khách.
Tất cả để xem nhân duyên vậy!

🌟

Tôi thật lòng thật sự bảo mọi người, tại thế giới Ta Bà này, tôi có thể xem như là một người đã hiểu nhân duyên đại sự rồi, tôi cũng là người biết được cách kết thúc sinh tử.
Tôi biết:
"Độ chúng sinh rất khó!"
Bởi vì:
Con người không hiểu chính mình.
Con người không hiểu thế gian.
Từ đâu mà sinh ra?
Chết rồi đi về đâu?
Con người ở tại thế gian rốt cục cần làm cái gì?
Xin hãy ngẫm nghĩ đi.
Sau đó, hãy đến quy y tôi nhé! (Namo guru bei.)


### 02. Vô sở đắc


Tôi đọc Tâm Kinh. Đọc đến ba chữ "vô sở đắc" thì tôi nhảy dựng lên. Trời ơi!
Ba chữ này, là chân lý!
(Jie-ti jie-ti, ba-la jie-ti, ba-la seng-jie-ti bu-thi so-ha.)
[Yết-đế yết-đế, ba-la yết-đế, ba-la-tăng-yết-đế bồ-đề tát-bà-ha.]
Vô sở đắc, chính là đạt đến bỉ ngạn rồi!

🌟

Tôi gợi ý mọi người thử nghĩ xem:
Thành Cát Tư Hãn - Đại đế quốc Mông Cổ.
Alexander - Đế quốc Alexander.
Tần Thủy Hoàng, Hán Võ Đế trong lịch sử Trung Quốc… Còn cả Đại Đường.
Assyria - Đại đế quốc Macedonia.
La Mã. (Caesar, đại đế quốc La Mã, đại đế quốc Ba Tư.)
Vua Pharaoh.
Bất kể là các quốc gia hoặc quốc vương trong và ngoài lịch sử Trung Quốc, đến cuối cùng cũng chỉ còn lại ba chữ: 
"Vô sở đắc".

Và, trong lịch sử cận đại:
Adolf Hitler, Benito Mussolini, Hideki Tojo.
Càng gần hơn nữa là:
Park Chung Hee của Hàn Quốc.
Trần Thủy Biển của Đài Loan.
Nguyễn Văn Thiệu của Việt Nam.
Ferdinand Marcos của Philippines.
...
Họ đã có được cái gì?
Nghĩ mà xem, nghĩ mà xem, ngờ đâu lại khốn đốn như vậy, ngáp một cái, thế là nhập vào chiêm bao rồi.
Lúc tỉnh lại, chẳng có một thứ gì.

🌟

Chuyện kể rằng Tống Tử Văn có ba thiên kim tiểu thư, họ là những nhân vật có thể hô mưa gọi gió.
Một người đi theo Bộ trưởng Tài chính.
Một người đi theo Tôn Trung Sơn.
Một người đi theo Tưởng Giới Thạch.
Người đời sau đã vì họ mà viết một bộ "Vương Triều họ Tống".

Nghe đâu, Tống Mỹ Linh những năm cuối đời sống tại New York, mỗi buổi tối, bà ấy trang điểm cho mình một chút, vệ sĩ lái xe chở bà đi một vòng quanh ngắm thành phố New York ban đêm, loanh quanh một hồi lại về nhà ngủ. Trong cuộc đời bà, đây là việc có ý nghĩa nhất trong những năm tháng cuối đời.
Ba vị thiên kim của Tống Tử Văn đều là những người con gái xinh đẹp, Sau này, già rồi, chẳng dám nghĩ đến họ nữa.

🌟

Tôi lại nghĩ đến một ủy viên lập pháp nói với tôi:
"Người ở thiên đường. Tiền ở ngân hàng. Vợ ở trong vòng tay của người khác. Anh em thì tranh giành tài sản."
Một đại gia giàu có thì nói với tôi:
"Tôi kiếm nhiều tiền như vậy để làm cái gì chứ?"

Ông nội tôi Lư Xương mở doanh nghiệp bán gạo, bán dầu ở Gia Nghĩa. Ông đã mua hết nhà cửa trên một con phố. (Gặp chiến tranh thế giới thứ hai, nhà cửa đều bị đốt cháy sạch.)
Tất cả tiền bạc của cải đều bị các bà vợ chia nhau đem đi hết. Cuối cùng, bố tôi Lư Nhĩ Thuận chỉ có hai bàn tay trắng.
Lư Thắng Ngạn tôi ngẫm nghĩ:
Vẫn là ba chữ: "Vô sở đắc".


### 03. Thành trụ hoại không


Sư phụ Phật giáo nói với tôi:
Thiên nhân của cõi Đại Phạm Thiên thọ mạng rất dài. Dài đến một trăm kiếp. 
Thế nào là một kiếp?
Một kiếp chính là trái đất trải qua thành, trụ, hoại, không, như vậy gọi là một kiếp.
Sau khi trái đất trải qua những cuộc long trời lở đất:
Biển cả đã biến thành ruộng dâu.
Ruộng dâu đã biến thành biển cả.
Đáy biển biến thành núi cao.
Núi cao biến thành đáy biển.
Sau mỗi một lần biến động lớn, sau khi tất cả bắt đầu lại từ đầu, một trăm lần như vậy, thọ mạng của Đại Phạm Thiên nhân mới xem là kết thúc.
Chà!
Thọ mạng là con số thiên văn, không dám nghĩ nữa!
Thọ mạng của Đại Phạm Thiên nhân dài như vậy đó.
Còn thọ mạng của A Di Đà Phật lại càng khiến con người cảm thấy không thể tưởng tượng được: vô lượng thọ đó!

🌟

Tôi lại nói về nhân loại.
Một khi đem ra so sánh thì con người thật sự là vô cùng nhỏ bé.
Con người sống nhiều nhất là trăm tuổi.
Từ lúc sinh ra đến lúc chết, một tuổi bắt đầu xuất hiện trên đời, đến khi trăm tuổi thì ảnh treo trên tường, thế là hết một trăm năm.
Kinh Phật nói đến tuổi thọ con người:
Như ánh chớp.
Như lửa đá.
Như mộng.
Như huyễn.
Như sương.
Đến lúc này tôi mới hiểu bài thơ của Vương An Thạch:
*”Biết đời như mộng vô sở cầu,
Vô sở cầu lòng tĩnh lặng không.
Vẫn tưởng trong mơ tùy mộng cảnh,
Thành tựu công đức tựa hà sa.”*

Đời người như mộng huyễn. Điều này là sự thật.

🌟

Mỗi người chúng ta, từ khi sinh ra đến khi chết, chỉ có vỏn vẹn chín chục năm ngắn ngủi.
Cũng là thành, trụ, hoại, không.
Cũng là hưng, vượng, tử, tuyệt.
Năm xưa:
Khi tôi ngoài ba mươi tuổi, tôi mang theo la canh [dụng cụ xem phong thủy], trèo đèo lội suối giúp người ta xem phong thủy địa lý. Nhờ la canh và nhìn các mỏm núi (long, huyệt, sa, thủy, hướng) mà tôi chỉ ra được:
"Đây là đất hưng."
"Đây là đất vượng."
"Đây là đất tử."
"Đây là đất tuyệt."

Tôi thấu hiểu được sự vô thường của hưng - vượng - tử - tuyệt, sự vô thường của thành - trụ - hoại - không.
Tôi từ vô sở đắc đi tới vô sở cầu.
Tiền, không mong cầu.
Sắc, không mong cầu.
Danh, không mong cầu.
Ăn, không mong cầu.
Ngủ, không mong cầu.
Thử hỏi: ngay cả thân thể khỏe mạnh cũng cầu không được, thì bạn còn có thể cầu cái gì đây?
Ha ha!
Tôi đã là:
"Không ham muốn!"
"Không mong cầu!"


### 04. Suy nghĩ như ánh trăng mát rượi


Tôi thấy rất rõ ràng:
Tiền cũng sẽ biến thành không.
Danh cũng sẽ biến thành chẳng có gì.
Sắc cũng sẽ suy hoại.
Bởi vậy, trong rất nhiều bài phỏng vấn, câu trả lời của tôi càng ngày càng đơn giản.
Phóng viên hỏi:
"Lư Sư Tôn! Ngài có kỳ vọng gì về tương lai của Chân Phật Tông?"
Tôi đáp:
"Chẳng có kỳ vọng gì."
Người phỏng vấn đều ngớ người ra! Không hỏi tiếp được nữa.

Phóng viên hỏi:
"Lư Sư Tôn! Ngài đã viết 285 cuốn sách, ngài hy vọng bản thân mình trong đời này sẽ viết bao nhiêu cuốn?"
Tôi đáp:
"Tôi chẳng tính."
"Thế nào là không tính?" - Phóng viên hỏi.
Tôi đáp:
"Tùy duyên thôi!"

Phỏng vấn hỏi:
"Ngài học Phật là vì muốn thành Phật, đúng không?"
Tôi đáp:
"Không đúng!" (Tôi muốn tất cả mọi người thành Phật rồi cuối cùng tôi mới thành Phật.)
Phóng viên kinh ngạc:
"Đây là điều ngài nói trước đây, bây giờ lại đã không giữ lời rồi, vì sao vậy?"
Tôi đáp:
"Bây giờ tôi đã không còn chấp vào việc thành Phật nữa."
Phóng viên hỏi:
"Không chấp vào việc thành Phật, thế thì chấp vào cái gì?"
Tôi đáp:
"Không bám chấp nghĩa là không bám chấp."
Phóng viên hỏi:
"Không có mục tiêu ư?"
Tôi đáp:
"Nước mát lạnh, gió mát lạnh, ánh trăng mát lạnh. Tùy duyên, tùy thuận, tùy phận."
Phóng viên hỏi:
"Tư tưởng của ngài thay đổi rồi ư?"
Tôi đáp:
"Tư tưởng của tôi đã thay đổi giống như Lão Tử, Lão Tử cưỡi trâu xanh đi khỏi Hàm Cốc Quan."
"Tư tưởng của tôi đã thay đổi giống Trang Tử, Trang Tử ngừng gõ cổ bồn [cổ bồn là cái chậu - vui lòng xem "Trang Tử cổ bồn ca"] mà thành đạo."
Hỏi:
"Ý nghĩa chính của tư tưởng Lão-Trang là gì?"
Tôi đáp:
"Hư vô, phiêu diêu, tiêu dao."

🌟

Lư Sư Tôn! Rốt cục là ngài bị sao vậy?
Chẳng sao cả, tất cả đều bình thường.
Lư Sư Tôn! Ngài luôn hài lòng với mọi thứ sao?
Tất cả đều là sự sắp đặt hoàn hảo.
Lư Sư Tôn! Ngài sống không có mục tiêu sao?
Sống một ngày, vui vẻ một ngày.
Sống một ngày, tu hành một ngày.
Sống một ngày, cảm ơn một ngày.
Cái này có xem là mục tiêu không? Tôi cũng không biết.
Lư Sư Tôn! Bản thân ngài không kỳ vọng, nhưng đối với người khác thì có kỳ vọng không?
Tôi cũng vẫn chẳng hề có kỳ vọng.
Vì sao không có kỳ vọng? Đó chỉ là một giấc mộng nhất thời, kỳ vọng cái gì chứ?
Tôi, không ham muốn, không kỳ vọng!


### 05. Một đời người


Con người khi vừa sinh ra đã giống như ký kết một hiệp ước với nhân gian, hiệp ước này là từ lúc sinh đến lúc chết.
Trước hết là ký hiệp ước với cha mẹ, ký hiệp ước với gia đình.
Bạn ăn gì?
Làm gì?
Nghĩ gì?
Chơi gì?
Hoàn toàn nằm trong hiệp ước, rất ít người có thể thoát khỏi.

Tiếp theo:
Bạn ký hiệp ước với trường học.
Cấp một.
Cấp hai.
Cấp ba.
Đại học. (Cử nhân.)
Thạc sĩ, Tiến sĩ.
Đây là hiệp ước học hành, dựa theo thành tích bài vở của bạn mà ký kết, có người học nhiều, có người học ít, nhưng chắc chắn phải đi học.

Tiếp theo:
Bạn ký hiệp ước với công việc.
Làm việc trong xã hội, kiếm tiền.
Bao gồm danh, lợi, địa vị.
Dựa theo công việc của bạn mà đi mưu cầu tiền tài, danh vị.

Tiếp theo:
Bạn phải ký hiệp ước cùng một người đàn ông nào đó, hoặc cùng một người phụ nữ nào đó để tổ chức gia đình của bạn. Họ đều ký vào một chứng thư đồng ý. Đương nhiên cũng có người là ngoại lệ, nhưng những người ngoại lệ chỉ là thiểu số.
Chứng thư đồng ý này vô cùng phức tạp. Có người vĩnh viễn duy trì hiệp ước này. Có người thì phá bỏ hiệp ước này.
Bất kể như thế nào thì bạn đều bị khống chế bởi pháp luật quốc gia. Cần phải tuân theo pháp luật quốc gia.
Sau khi có con thì lại phải bổ sung thêm hiệp ước với con cái.
Cũng tương tự:
Con ăn cái gì?
Con làm cái gì?
Con nghĩ cái gì?
Con chơi cái gì?
Đều phải nằm trong hiệp ước.

Tiếp theo:
Bạn già rồi, phải ký hiệp ước với bệnh viện.
Tuổi già và bệnh tật gắn liền với nhau. Giữa bạn và bác sĩ có tồn tại hiệp ước vô hình.
Uống thuốc gì.
Tiêm cái gì.
Mổ cái gì.
Rồi đến một năm, não bạn không còn hoạt động nữa, tim bạn không hoạt động nữa, ngũ tạng không hoạt động nữa.
Không còn một hơi thở.
Chết rồi!
Hiệp ước cuộc đời này của bạn kết thúc rồi, đây chính là một đời người.

Đương nhiên, chúng ta có khả năng sẽ gặp phải chiến tranh, bệnh dịch, hạn hán, lũ lụt, động đất, tai nạn. Nhưng những điều này đều cần ký hiệp ước riêng.

Người hỏi:
"Lư Sư Tôn, ngài cũng đi theo khuôn mẫu này ư?"
Tôi đáp:
"Đúng vậy."
Tôi giải thích thêm:
"Tôi còn ký thêm một hiệp ước nữa, đó chính là tu hành."


### 06. Ổ trùng


Có người hỏi Phật Đà:
"Con người là cái gì?"
Phật Đà đáp:
"Ổ trùng."
Hai chữ này thật sự quá chuẩn rồi, quá xuất sắc, nói một lời trúng đích rồi. Đây chính là: "Đại trí huệ!"

🌟

Có một mẩu chuyện cười (giải đố).
Có một con sâu róm bò đến bờ sông. Nó muốn qua sông. Đương nhiên đó là điều không thể. Nhưng lúc nào thì nó có thể qua sông được đây?
Đáp án là: Đến khi nó biến thành con bướm!
(Ghi chú: con người cũng là từ trùng biến ra.)

🌟

Phật Đà từng nói một bài kệ:
*"Uống một ngụm nước sạch
Tám vạn bốn nghìn trùng.
Nếu như không trì chú
Cũng là giết chúng sinh."*
(2600 năm trước, Phật Đà đã biết như vậy, một cốc nước sạch có nhiều vi khuẩn như vậy.)

🌟

Nha sĩ Hồng Quế Thanh nói với tôi:
"Trong miệng con người chúng ta có hàng tỉ tỉ các loại vi khuẩn."
Tôi nghe xong mà giật nảy mình!
Nhưng nghĩ thấy cũng đúng, toàn thân chúng ta đều là vi khuẩn.
Vi khuẩn có loại tốt.
Vi khuẩn có loại xấu.
Vi khuẩn tốt thì giúp ích cho thân thể con người chúng ta, khiến chúng ta sống khỏe mạnh.

🌟

Con người cho rằng bản thân rất cao quý, là linh hồn của vạn vật, thật ra cũng chưa chắc đã là như thế. Con người ra đời là từ trùng biến thành.
Tinh trùng của người cha, tinh trùng có cái đuôi dài.
Trứng của người mẹ, trứng có hình cầu.
Một con tinh trùng có hình đuôi dài đi vào một cái trứng có hình cầu, hai con kết hợp lại, rồi từ từ lớn lên, trở thành hình dạng người.
Phật Đà nói con người là ổ sâu bọ, quả thật là quá chuẩn rồi, chuẩn "không cần chỉnh".

🌟

Người hỏi tôi:
"Con người là gì?"
Tôi đáp:
"Đất nước lửa gió!"
Đất — là xương thịt, trong đất có trùng.
Nước — là huyết dịch, trong máu có trùng.
Lửa — là nhiệt độ, điều kiện để trùng quấy phá.
(Sưng viêm là tác hại của vi khuẩn, phát sốt là tác hại của vi khuẩn.)
Gió — là hít thở, trong hơi thở có trùng. (Gió có thể phát tán vi khuẩn.)
Thân thể con người chúng ta đều chịu ảnh hưởng bởi trùng.
Tu hành Mật giáo là vận dụng đất, nước, lửa, gió để vận hành. Ý nghĩa sâu xa trong đó không có cách nào tưởng tượng được.
Điều Phật nói.
Điều tôi nói.
Đều đúng! 


### 07. Bí mật của nghiệp


Có người hỏi Phật:
"Vì sao con người đến thế gian này?"
Phật đáp:
"Trả nghiệp."
Chính là hai chữ này, đơn giản một cách cực kì, đã bao hàm tất cả.
Trả nghiệp tương đương với hoàn nghiệp.
Trả nghiệp tương đương với hành nghiệp.
Trả nghiệp tương đương với nhân quả.

🌟

A Nan đã nghe rất nhiều bài thuyết pháp có liên quan đến nghiệp.
Một hôm ngài nói với Phật:
"Con đã hiểu về nghiệp rồi!"
Phật đáp:
"Vẫn còn hơi sớm đó!"
(A Nan vẫn chỉ là trẻ mầm non thôi, đã quá không biết lượng sức mình rồi.)
Phật nói:
"Nghiệp bất khả tư nghì."

🌟

Ở đây, tôi nói sơ sơ một chút về bí mật của nghiệp, mới chỉ là:
Khẽ chạm vào rìa của vấn đề.
Một góc của tảng băng trôi.
Nghiệp là cả một đại dương. Tôi chỉ đang ở trên một bãi cát nhỏ trên biển lớn, nhặt lấy vài cái vỏ sò mà thôi!
Nghiệp là núi lớn. Tôi chỉ là ở một chỗ nào đó trong biển mây dày, bứt ra vài nhánh dược thảo mà thôi!

🌟

Tôi nói:
Tôi chỉ nói về nghiệp báo của một nhân vật nhỏ bé là tôi đây.
Sinh ra ở Đài Loan, là nghiệp.
Sinh ra vào giờ Ngọ, ngày 27 tháng 6 năm 1945, là nghiệp. (tuổi Dậu)
Bố tôi tuổi Dần, là nghiệp.
Mẹ tôi tuổi Mão, là nghiệp.
Tôi là con trưởng, nhà có sáu đứa con, con út qua đời từ sớm, là nghiệp. (các anh chị em)
Vào năm 26 tuổi, tôi đã gặp một người phụ nữ mặc áo xanh ở Ngọc Hoàng Cung, là nghiệp.
Tôi được mở thiên nhãn, là nghiệp.
...
Đây đều là nghiệp, không có chút xíu nào là do con người.

🌟

Tôi nói để mọi người biết, rất hiếm có người nào có thể vượt qua được nghiệp.
Nghiệp lực đã định, chúng ta ăn cái gì, mặc quần áo gì, sống ở nhà nào, chuyển nhà đến đất nước nào, sống tại địa điểm nào, lái xe gì, không có cái nào không phải là nghiệp đâu.
Bạn yêu người nào, cũng là nghiệp.
Bạn lĩnh bao nhiêu lương, cũng là nghiệp.
Bạn sẽ bị người ta lừa bao nhiêu tiền, cũng là nghiệp.
Bạn mắc bệnh gì, cũng là nghiệp.
Thậm chí:
Bạn rơi mấy giọt nước mắt!
Bạn làm động tác gì!
Thân thể bạn bị tổn thương!
Không có cái gì không là nghiệp.

🌟

Nghiệp chính là kịch bản gốc của bạn, kịch bản này do bạn diễn, không thể thay đổi các quy tắc.
Thay đổi được nghiệp, chỉ có Phật pháp.
Có người nói, bạn sẽ học tập Phật pháp, cũng là do nghiệp lực thúc đẩy, cũng nằm trong nghiệp.
Đúng ư! Sai ư! Có ai biết được?


### 08. Tôi và phàm phu


Tôi thừa nhận, tôi là phàm phu.
Nhưng, thật sự là có một chút không giống với phàm phu.
Tôi là Thánh hiền ư? Cũng không hoàn toàn là thế. (còn kém xa)
Tôi vẫn chưa tịnh hóa được bản thân một cách hoàn toàn tuyệt đối.
Tôi chỉ là đến gần với: vô dục, vô cầu.

🌟

Nhìn thế giới này một cách vĩ mô:
Tổng thống Mỹ Trumph là một người theo chủ nghĩa chủng tộc, ông ấy muốn kinh tế Mỹ tăng trưởng. (Gây ra chiến tranh thương mại lớn.)
Đặng Tiểu Bình của Trung Quốc từ lâu đã nhìn ra điểm này, kinh tế tư bản bất kể mèo trắng, mèo đen, mèo có thể bắt được chuột là mèo tốt. Ông ấy đã làm cho kinh tế Trung Quốc lớn mạnh.
Abe Shinzo của Nhật Bản, ông ấy có một bộ Kinh tế học Abe của chính mình.
Thủ tướng Modi của Ấn Độ, vì đã làm cho kinh tế của quê hương mình là tỉnh Gujarat phát triển, nên mới được chọn làm thủ tướng.
Lý Quang Diệu của Singapore, kinh tế phát triển, dựa vào số liệu GDP để tăng lương cho các quan chức chính phủ.
...

Quốc gia như thế.
Chủng tộc như thế.
Gia đình như thế.
Cá nhân như thế.
Xã hội hiện đại lấy phát triển kinh tế đứng hàng đầu.
Kinh tế thúc đẩy tăng trưởng, quân sự dựa vào kinh tế, không có kinh tế thì không thể thành một nước lớn trên thế giới.
Nhỏ bé như một gia đình, nhỏ bé như một cá nhân, thì kinh tế phát triển chính là chỉ số hạnh phúc.

Mặc dù tôi nhìn ra được điểm này, nhưng, tôi chỉ cười, bởi vì đây không phải thế giới của tôi.

🌟

Tôi là một hành giả.
Điều tôi chú trọng đến là sự thanh tịnh của tôi tăng trưởng.
Tôi nhìn nhân gian:
Cá lớn nuốt cá bé.
Sự đào thải tự nhiên.
Ỷ mạnh hiếp yếu.
Tranh chấp không ngừng.
Từ xưa đã thế.
Nay cũng là điều tất nhiên.
Những vở kịch lớn quốc gia hết vở này đến vở khác, rồi cả những vở kịch nhỏ gia đình hết vở này đến vở khác.
Đều là kịch!
Còn điểm khác biệt của tôi là:
Nhìn ra vô sở đắc.
Nhìn ra vô sở cầu.
Vì tôi vô sở đắc, nên vô sở cầu, vì vô sở cầu nên vô tâm, vô ngã.
Đương nhiên tôi hiểu điều Phật Thích Ca Mâu Ni nói:
Vô ngã tướng.
Vô nhân tướng.
Vô chúng sinh tướng.
Vô thọ giả tướng.

🌟

Tôi là không sinh không tử.
Tôi tiến nhập vào không tam muội, "không không" tam muội.
Tiến nhập không môn.
Không tịch.
Không vô.
Không huệ.
Chỗ tôi không giống với phàm phu cũng là ở đây, tôi đã tu thành "không không". [Trong tiếng Đài Loan, "không không" cũng là một từ có ý nghĩa là kẻ ngốc nghếch.] 


### 09. Tình cảm đến đi


Có người hỏi tôi chuyện tình cảm. Tôi đáp:
"Tôi là hòa thượng."
Người hỏi:
"Hòa thượng thì không có chuyện tình cảm sao?"
Tôi đáp:
"Cũng không phải thế."
Người hỏi:
"Thế là cái gì?"
Tôi lấy một ví dụ để giải thích rõ:
Một con chim nhạn.
Bay qua một cái đầm bình lặng.
Dưới mặt nước sâu xuất hiện cái bóng của con chim nhạn.
Chim nhạn bay qua rồi.
Cái bóng của con chim nhạn dưới mặt nước cũng biến mất.
Người hỏi:
"Cái này là tự nhiên đến, tự nhiên đi, đúng không?"
Tôi đáp:
"Đến chẳng mong cầu, đi chẳng liên quan."
Tôi bổ sung:
"Cái này là hữu duyên thì ở lại, vô duyên thì đi, mặc cho gió mát tiễn chim bay." (Tôi hướng đến tự nhiên.)

🌟

Có người nói:
"Chuyện tình cảm, không hề nhẹ nhàng như ngài nói, rất nhiều người không thể buông được."
Tôi đáp:
"Không sai!"
Người hỏi:
"Vậy phải làm sao?"
Tôi đáp:
"Cá nhân tôi là một người tự nhiên, tất cả tùy thuận, phàm chuyện gì cũng không miễn cưỡng."
Người hỏi:
"Vì sao nói vậy?"
Tôi đáp:
"Khi đến thì trân trọng, khi đi thì chúc phúc." (Tự nhiên mà thế thôi.)
Người hỏi:
"Ngài có thể làm được, nhưng người khác không làm được, vì thế trong xã hội có rất nhiều chuyện tự sát vì tình, ngài thấy sao?"
Tôi đáp:
"Đó là tội lỗi! Đó là nghiệp! Tình cảm không phải là chiếm hữu, mà là sự giao hòa dung hợp."
Người hỏi:
"Vậy ngài phải làm sao?"
Tôi đáp:
"Chỉ biết thở dài thôi!" (Đành chịu, không làm gì được.)

🌟

Người hỏi:
"Lư Sư Tôn! Nghe lời ngài nói thì ngài không bám chấp vào tình cảm, nhưng, đó có phải là yêu không?"
Người lại hỏi:
"Yêu không bám chấp, làm sao là yêu được?"
Tôi đáp:
"Tình yêu của người bình thường giống như là rơi vào mê võng. Từ đó sẽ vùng vẫy không thoát ra được. Còn tình yêu của tôi thì không như thế, tôi mang theo sự tỉnh thức và giác ngộ, tình yêu của tôi đơn thuần, trong sáng."
Người nói:
"Không hiểu."
Tôi đáp:
"Vì con người không hiểu nên đây mới là nhân gian. Nhân gian là một cái nồi bí bích, mọi người đều ở trong cái nồi bí bích đó."
Người hỏi:
"Làm sao để ý thức và thức tỉnh?"
Tôi đáp:
"Thắp lên một ngọn đèn sáng vậy!"


### 10. Tự nhiên mà vậy


"Tự nhiên mà vậy" là tư tưởng của tôi.
Người ta nói tôi ngu.
Thì tôi là ngu.
Người ta nói tôi khôn.
Thì tôi là khôn.
Rốt cục tôi là kẻ ngốc? Hay tôi là người khôn?
Tôi không biết!

🌟

Người ta nói tôi (Lư Sư Tôn) trí huệ và hiểu biết, đã giải thoát rồi, đã khai ngộ rồi, đã đắc đạo rồi.
Tôi chỉ cười ngốc.
Người ta nói tôi đã không còn bị sinh tử trói buộc rồi, tất cả mọi pháp đều "chính biến tri", là Hoa Quang Tự Tại Phật.
Tôi nói:
Tôi chỉ là một phàm phu thôi!
Người ta nói tôi tự tại nhậm vận, vô câu vô thúc, tiêu dao vui vẻ.
Tôi nói chỉ là tự nhiên mà vậy thôi!

🌟

Người ta thờ cúng pháp tướng của tôi. Ừ thì để họ cúng đi!
Người ta nghiên cứu tâm lý học, triết học, văn học, tôn giáo học, thảo luận về kết cục của đời người.
Họ thẳng thừng phân tích mổ xẻ Lư Thắng Ngạn, bộ mặt thật của sự tồn tại của tôi.
Họ muốn hiểu điều bí ẩn về sự tồn tại của tôi.
Còn tôi thì,
Mặc kệ họ đi!

🌟

Tôi vốn là tín đồ đạo Cơ Đốc.
Sau đó tôi thâm nhập vào Đạo gia.
Rồi tôi lại học Phật môn Hiển giáo.
Cuối cùng tôi học Mật giáo.
Sau cùng tôi đã biết được rồi!
"Không có con đường" chính là con đường của tôi.

🌟

Có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Sau này ngài nhất định sẽ đến Tây phương Cực Lạc thế giới, Ma Ha Song Liên Trì, bởi vì ngài là Liên Hoa Đồng Tử, ngài nhất định ở Song Liên Trì phải không?"
Tôi nói:
"Không nhất định!"
Có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Sau này ngài nhất định sẽ đến Diêu Trì Tiên Cảnh, ngài nhất định sẽ thỉnh cầu Diêu Trì Kim Mẫu làm chủ, đồng thời lại làm con rể của Diêu Trì Kim Mẫu, nhất định sẽ ở Diêu Trì, đúng không?"
Tôi nói:
"Không nhất định!"
Có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Sau này ngài nhất định sẽ đến âm giới, bởi vì ngài phát nguyện giống như Địa Tạng Vương Bồ Tát, địa ngục chưa sạch thề không thành Phật, không bỏ rơi một chúng sinh nào, ngài ở âm giới phải không?"
Tôi nói:
"Không nhất định!"
Có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Ngài nhất định ở nhân gian mới phải, bởi vì ngài thường nói, đời đời kiếp kiếp độ chúng sinh, phân thân xả cốt độ chúng sinh, Lư Sư Tôn nhất định sẽ ở nhân gian, đúng không?"
Tôi nói:
"Không nhất định!"
"Vậy ngài sẽ đi đâu?"
Tôi đáp:
"Tôi ở đâu thì sẽ ở đó. Căn bản là tôi không có con đường nào cả. Cái này là tự nhiên mà thế thôi!"


### 11. Đây có phải bồ đề tâm không?


Khi dịch cúm virus Corona hoành hành.
Rất nhiều người đã chết.
Một cách rất tự nhiên, hàng ngày vào buổi tối, tôi đều làm pháp siêu độ. Tôi tự nghĩ ra pháp siêu độ.
Đầu tiên hóa ra nghìn chiếc thuyền pháp.
Sau đó cung kính mời các vong linh lần lượt lên thuyền pháp.
Thỉnh chư Phật thanh tịnh thân khẩu khí của người chết.
Thuyền pháp bay lên hư không.
Để cho người chết ở trên thuyền pháp niệm Phật trì chú.
Thuyền pháp hướng về Tây phương Cực Lạc thế giới, tịnh thổ của A Di Đà Phật.
Đến được bờ bên kia.
Chính là như thế.
Tôi đã làm pháp siêu độ này suốt hơn một năm rồi, đã sắp hai năm rồi. Còn phải làm bao lâu nữa?
Tôi không biết!

Ngoài những người chết vì dịch cúm virus Corona ra, còn có những người khác không?
Có.
Những người chết trong vụ lật tàu ở Taroko ở Đài Loan.
Những người chết trong vụ tàu ngầm ở Indonesia.
Những người chết ở Cambodia.
Những người chết do nhân dân biểu tình ở Myanmar.
Và những người khác.
Chỉ cần ở trên trái đất này xảy ra tai họa lớn, thì những người bị chết đều nằm trong phạm vi siêu độ của tôi.
Mà cũng không nhất định chỉ có tai họa lớn, các vụ tai nạn nhỏ tôi cũng siêu độ.
Ví dụ: hỏa hoạn, lũ lụt, động đất, gió bão, xe cộ….
Thật ra gọi là phạm vi nhưng cũng là chẳng có phạm vi nào.

Tôi bắt đầu từ khi nào?
Kỳ thực tôi đã bắt đầu từ rất lâu rồi! (Chỉ cần tôi biết là tôi sẽ độ.)
Khi nào sẽ kết thúc?
Không có kết thúc.

🌟

Người hỏi:
Đây có phải bồ đề tâm không?
Tôi đáp:
Tôi chỉ muốn làm người khác vui vẻ! Giải quyết những đau khổ của con người.
Cứ tự nhiên, hoan hỷ, vui vẻ mà làm thôi!
Chẳng có tâm phân biệt!
Oan thân bình đẳng.
Còn như có phải là bồ đề tâm không? Trước nay tôi cũng chưa từng nghĩ đến. Pháp siêu độ của tôi là thuần tự nhiên, cũng không cần tiền của người ta!

Người hỏi:
Pháp siêu độ của ngài có thể siêu độ đến cảnh giới nào?
Tôi đáp:
Tôi thật sự không biết, tôi nghĩ, đại khái là đến tịnh thổ rồi, chẳng phải sao?
Chí ít thì cũng có cải thiện rồi!
Ví dụ như những người tự sát, hoặc bị sát hại thì sẽ được tốt đẹp hơn.

Người hỏi:
Lư Sư Tôn! Sau này ngài chết rồi, có cần người đời sau siêu độ cho ngài không?
Ha ha, câu hỏi hay!
Câu hỏi này từ đầu tới cuối tôi cũng chưa từng nghĩ đến.
Siêu độ tôi cũng được!
Không siêu độ tôi cũng được!
Thế nào cũng được.
Tôi có một cảm giác rằng, tôi tồn tại trong một thế giới không có phạm trù, cũng chính là một chữ O tròn.


### 12. Phật Đà cầm hoa


Tại Linh Sơn Hội Thượng, Phật Thích Ca Mâu Ni đột nhiên cầm lên một bông hoa.
Trời người đều lúng túng không hiểu.
Chỉ có tôn giả Đại Ca Diếp là khẽ cười.
Thế nên, Đại Ca Diếp là vị tổ thứ nhất của Thiền tông.
Cầm hoa là có ý gì?
Có người hỏi tôi, tôi không nói gì.
Tôi chỉ nhấc một chân lên, triển khai tư thế "kim kê độc lập". [con gà vàng đứng một chân]
Phật Đà là cầm hoa.
Lư Sư Tôn là kim kê độc lập.
Ha ha!
Bạn nói xem là ý nghĩa gì?

🌟

Tôi nói:
Lão Tử cưỡi trâu xanh rời khỏi Hàm Cốc Quan.
Việc này có ý nghĩa gì?
Trang Tử ngừng gõ cổ bàn.
Việc này có ý nghĩa gì?
Thiền sư Thiên Long bật ngón tay cái.
Có ý nghĩa gì không?
Tôi nói:
Điều này chẳng có cách nào nói ra được, nếu như miễn cưỡng phải nói thì tôi có thể bảo bạn thế này:
Tinh khiết.
Tuyệt đối.
Thuần túy.
Là một.
Là không.
Đây chính là "thoáng thấy".
Cũng chính là "khai ngộ" mà người bình thường nói đến.

🌟

Tôi có một đệ tử tên là Trịnh Nghiêu Trung. Anh ta gửi đến rất nhiều bức thư kể chuyện kiến giải, biểu thị rằng anh ta đã khai ngộ rồi.
Tôi đọc xong thì cũng không buồn bàn luận về anh ta.
Không bao lâu sau, anh ta tức giận, bắt đầu lên mạng chửi tôi.
Xỉa cái nọ.
Xói cái kia.
Chửi tôi đến mức tối tăm mặt mũi.

Anh ta lấy ảnh của tôi dán lên trên bệ xí của anh ta, hàng ngày anh ta quay mặt vào bệ xí đó mà đại tiện, tiểu tiện, để trút hết mọi sự phẫn nộ của anh ta.
Sau đó anh ta đột tử! Tôi đã siêu độ cho anh ta.
Tôi rất muốn nói với anh ta rằng:
Hãy đọc Đạo Đức Kinh của Lão Tử, câu nói đầu tiên trong Đạo Đức Kinh của Lão Tử là:
"Đạo khả đạo, phi thường Đạo." [Câu này có ý nghĩa rằng: Đạo mà có thể thuyết nói rõ ràng minh bạch ra hết thì không phải là Đạo thường hằng bất biến.]
Anh có thể ngộ được câu này thì anh đã khai ngộ rồi đó!

🌟

Có người hỏi tôi:
"Khai ngộ là cái gì?"
Tôi đáp:
"Khai ngộ!"
Người hỏi:
"Tôi hỏi nó có ý nghĩa gì?"
Tôi đáp:
"Chẳng có ý nghĩa gì."
Người đó không hiểu "chẳng có ý nghĩa gì", lại hỏi lần thứ ba. Tôi chỉ còn cách lại triển khai thế "kim kê độc lập".


### 13. Cái gì cũng đều "chẳng quan trọng"


Có người căng thẳng hấp tấp nói với tôi:
"Tôi sắp rời khỏi Chân Phật Tông rồi!"
Tôi nói:
"Chẳng quan trọng! Rời đi thì cứ rời đi thôi!"
Người hỏi:
"Lư Sư Tôn! Vì sao ngài không căng thẳng?"
Tôi đáp:
"Đệ tử như dòng nước, hữu duyên thì ở, vô duyên thì đi."

🌟

Có người nói với tôi:
"Lư Sư Tôn! Có phân đường kia đã đóng cửa rồi, cả phân đường đều bị lấy đi cả rồi!"
Tôi nói:
"Lôi Tạng Tự bị người ta lấy đi tôi còn chẳng hề chi, một phân đường nhỏ bé hà tất phải kinh ngạc sửng sốt chứ."
Người hỏi:
"Chùa bị lấy đi mất, phân đường bị lấy đi mất, các hội bị lấy đi mất, vì sao ngài đều chẳng kinh ngạc sửng sốt?"
Tôi đáp:
"Thế giới này vốn dĩ là như vậy, nhân gian vốn dĩ chính là như vậy, bởi vì đã là như thế, cho nên căng thẳng cái gì chứ!"

🌟

Có người nói với tôi:
"Lư Sư Tôn! Có người bắt chước ngài, cũng đội mũ Ngũ Phật, mặc long bào, cũng thu nhận đệ tử, sáng lập tông phái mới, họ lại thuyết giảng Chân Phật Mật Pháp, phải làm sao?"
Tôi đáp:
"Mặc kệ họ đi!"
Người hỏi:
"Họ hoàn toàn bắt chước ngài đó!"
Tôi đáp:
"Hy vọng họ bắt chước được giống y hệt, như thế thì tốt!"
Người hỏi:
"Ngài không hề gì sao?"
Tôi đáp:
"Đương nhiên! Nếu có người có thể thay thế tôi thì tôi có thể nghỉ ngơi rồi, nghỉ hưu thôi!"
Người hỏi:
"Người ta cũng tự xưng là Tông chủ đó!"
Tôi đáp:
"Nên chúc mừng họ!"

🌟

Có người nói với tôi:
"Lư Sư Tôn! Có nhân viên hoằng pháp đã chiếm đoạt riêng những khoản tiền cúng dường Sư Tôn đó!"
Tôi nói:
"Cũng tốt!"
Người hỏi:
"Ngài không lấy lại à?"
Tôi đáp:
"Người ta cần tiền thì cứ để họ lấy đi! Có lẽ họ còn cần số tiền đó hơn!"
Người hỏi:
"Ngài không căng thẳng sao?"
Tôi đáp:
"Tiền vốn dĩ là để dùng mà, có người dùng thì là đúng rồi!"

🌟

Tôi nói với mọi người:
Cái gì tôi cũng đều chẳng quan trọng!
Tôi là người ở thiên thượng.
Tương lai, tất cả mọi thứ ở thế gian phàm trần thì vẫn trả về thế gian phàm trần, chẳng có người nào có thể đem đi được một cây kim sợi chỉ nào.
Ngay cả thể xác của bản thân cũng không mang đi được!
Nói cho tôi biết cái gì mới là quan trọng đây?


### 14. Tôi biến ảo khôn lường


Tôi đi tham quan triển lãm tranh, đó là cuộc triển lãm của một họa sĩ rất nổi tiếng.
Hơn một trăm bức họa gần đây, xem xong, tôi bèn đi ra. Có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Ngài cũng là họa sĩ, ngài có cảm xúc hay cảm nhận gì đặc biệt không?"
Tôi đáp:
"Vẻ đẹp của sự biến ảo khôn lường."
Người nói:
"Không hiểu?"
Tôi nói:
"Đó là điều không thể nói ra được."
Người hỏi:
"Vì sao không thể nói ra được?"
Tôi đáp:
"Ví dụ: họa sĩ vẽ một hình người, nhưng người xem tranh thì nhìn thấy xương của hình người đó. Làm sao để nói ra được cái xương này đây?"
"Còn nữa, ví dụ họa sĩ vẽ một chiếc bánh sinh nhật, nhưng người xem tranh đã ăn cái bánh rồi, vậy làm sao để giải thích đây?"
Người hỏi:
"Đó là kinh nghiệm sao?"
Tôi nói:
"Chỉ có từng trải nghiệm qua mới có thể hiểu được. Giống như Chân Như, chỉ có người trải nghiệm qua Chân Như rồi thì mới hiểu được Chân Như."
Tôi nói:
Phật và Phật với nhau mới biết.
Chính là đạo lý đó.

🌟

Tôi thường nói:
"Tôi biến ảo khôn lường."
Có người hỏi tôi:
"Biến ảo khôn lường là cái gì?"
Tôi đáp:
"Biến ảo khôn lường chính là biến ảo khôn lường."
Người hỏi:
"Xin Lư Sư Tôn lấy một ví dụ đi!"
Tôi nói:
"Thực tướng."
"Chân như."
"Không gian tâm linh."
"Chân thiện mỹ."
"Không lạc."
"Phật huệ."
Người hỏi:
"Cái này thật sự khó hiểu quá?"
Tôi đáp:
"Vẫn một câu nói thôi: Phật và Phật với nhau mới biết."

🌟

Vì thế:
Tôi có thể hiểu được Chúa Jesus.
Tôi có thể hiểu được Lão Tử.
Tôi có thể hiểu được Krishna.
Tôi có thể hiểu được Thích Ca Mâu Ni Phật.
Cái tôi hiểu không phải là biểu hiện bề ngoài, cũng không phải là hiểu một góc độ, mà là hiểu được toàn diện nội tại.
Vì sao cần yêu kẻ thù của bạn?
Tôi hiểu.
Có người đánh bạn vào mặt bên phải, thế thì mặt bên trái cũng đưa ra cho người ta đánh luôn.
Tôi hiểu.
Bởi vì tôi hiểu được những điều này nên tôi mới có thể tự xưng:
"Tôi biến ảo khôn lường!"


### 15. Có một ngày tôi sẽ chết


Có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Ngài từng nói, sống một ngày tu hành một ngày, sống một ngày vui vẻ một ngày, sống một ngày cảm ơn một ngày, sống một ngày viết một chương sách, sống một ngày vẽ một bức tranh."
Tôi cười:
"Hai câu sau là do anh tự thêm vào đấy chứ."
Người hỏi:
"Cái này có liên quan gì đến cái chết?"
Tôi đáp:
"Tôi muốn sống phong phú một chút." (Đặc sắc một chút.)
Người hỏi:
"Phong phú đối với ngài có ý nghĩa gì?"
Tôi đáp:
"Tôi không thể sống uổng phí."

🌟

Phật Đà từng nói:
*”Thí chủ một hạt gạo
Nhiều như núi Tu Di
Nếu như chẳng tu hành
Khoác lông đội sừng trả.”*

Tôi nói với mọi người:
Tôi sống, đương nhiên không chỉ là ăn cơm, đi ngủ, tôi còn có những tư tưởng thuần túy nữa.
Tôi luôn nghĩ:
Tôi không thể là người vô tích sự!
Tôi không thể mặc y phục Lama một cách vô ích.
Tôi không thể chỉ biết tiếp nhận cúng dường của người ta.
Tôi không thể cứ thế nhận không xe hơi người ta cúng dường.
Tôi không thể chỉ biết hưởng thụ mà chẳng làm gì cả. (biệt thự, xe sang)

Thế nên:
Trước khi tôi sắp chết, tôi chỉ muốn để lại một số thứ, để lại một vài món quà, để lại một chút những gì nên để lại.
Để đền đáp cho chúng sinh khắp nơi.
Phật Đà để lại Phật giáo.
Lão Tử để lại Đạo giáo.
Krishna để lại Ấn Độ giáo.
Muhammad để lại Hồi giáo.
...
Tôi muốn để lại Chân Phật Tông.

Người hỏi:
"Chẳng phải ngài không bận lòng đến Chân Phật Tông sao?"
Tôi đáp:
"Đúng thế. Tôi không bận lòng, bởi vì, mọi thứ là tự nhiên mà thế, bận lòng thì cũng chẳng có tác dụng gì. Chỉ là, tôi luôn hy vọng thế giới trở nên tốt đẹp hơn, phong phú hơn."

Tôi nói:
Mỗi tôn giáo đều chỉ là một bộ phận.
Chân Phật Tông cũng là một bộ phận.
Nhưng, từng bộ phận liên kết lại sẽ trở thành toàn bộ. Tôi không muốn bỏ lỡ việc có ý nghĩa này.
Trọng điểm là:
Tôi không tự phụ.
Tôi không kể công.
Tôi chỉ là không muốn sống uổng phí, cũng chỉ là không muốn chết uổng phí. Có một ngày tôi sẽ chết, tôi muốn mình chết có thể nhắm mắt.
Tôi không muốn trở thành nhân vật quan trọng.
Nhưng,
Luôn muốn để lại chút gì đó cho mọi người thôi! (một chút cảm ơn)


### 16. Thế nào là thành công?


Tôi luôn cảm thấy: hai chữ "thành công" không phải là tuyệt đối.
Tôi nhớ mấy mẩu chuyện cười:

Trong rạp chiếu phim, có một phụ nữ bò ra đất tìm kiếm một thứ gì đó khắp nơi, khiến những người ngồi ghế bên cạnh rất khó chịu.

Người ngồi kế bên hỏi:
"Này! Rốt cục cô làm mất cái gì đấy?"
Người phụ nữ đáp:
"Không có gì, chỉ là một mẩu kẹo cao su thôi."
Người ngồi kế bên nói:
"Cô hà tất phải chuyện bé xé ra to, kẹo cao su rơi rồi thì thôi, mua cái khác là được."
Người phụ nữ đáp:
"Nhưng ở trên cái kẹo vẫn còn dính cái răng giả của tôi!"
Câu hỏi của tôi là:
Nếu răng thật là thành công, thì răng giả chính là thất bại.
Con người chúng ta bao nhiêu tuổi mới có thể đeo răng giả?

🌟

Người hỏi:
"Cô ơi, cô đội tóc giả phải không?"
Cô gái đáp:
"Đúng vậy. Thế mà người ở cửa hàng nói với tôi sẽ không ai nhìn ra cả."
Người nói:
"Tôi có lẽ cũng không nhìn ra đâu, nhưng cô đã quên không gỡ bỏ nhãn hiệu trên bộ tóc giả xuống!"
Câu hỏi của tôi là:
Tóc thật là thành công, tóc giả là thất bại.
Con người chúng ta bao nhiêu tuổi mới có thể hói đầu?

🌟

Tổng giám đốc một công ty điện tử gọi người quản lý quan hệ công chúng đến nói:
"Có người âm mưu thu mua công ty của tôi, tôi muốn anh nghĩ cách nâng giá cổ phiếu, để bọn họ không mua được."
Người quản lý quan hệ công chúng bèn đi làm việc.
Ngày thứ hai cổ phiếu công ty đã tăng khủng.
Ngày thứ ba lại càng tăng.
Tổng giám đốc rất hài lòng, cho gọi người quản lý quan hệ công chúng đến hỏi:
"Anh đã làm thế nào vậy?"
Người quản lý quan hệ công chúng đáp:
"Tôi tung ra một tin tức giả."
"Tin tức giả thế nào?"
"Tôi nói tổng giám đốc sắp từ chức rồi!"
Câu hỏi của tôi là:
Tổng giám đốc là thành công?
Tổng giám đốc là thất bại?
Thế nào là thành công? Thế nào là thất bại?

🌟

Có người nói: một người sống đến 90 tuổi, buổi tối đi ngủ không cần phải mặc bỉm thì xem là thành công!
Có người nói: Microsoft của Bill Gates là thành công. Nhưng cuộc hôn nhân của Bill Gates thì đổ vỡ rồi, đó lại là thất bại.

Tôi nói:
Luận theo chân như:
Căn bản là không có thành công, căn bản là không có thất bại.
Luận theo nhân quả:
Nếu không theo đuổi thành công thì sẽ không có thất bại.
Luận theo lịch sử:
Alexander, Napoleon, Adolf Hitler… đều kết thúc thất bại.
Luận theo Lư Thắng Ngạn:
Trong đầu tôi không có hai chữ thành công, cũng không có hai chữ thất bại.


### 17. Chức danh của tôi


Mấy ngày trước tôi nhận được một bức thư.

*Sư Tôn Sư Mẫu kính yêu:
Thật là ngại quá, đệ tử không thể không làm phiền hai vị, thỉnh cầu hai vị từ bi chỉ bảo cho đệ tử.
Sự tình là vì hội công đức Hoa Quang thế giới vì chúc mừng Phật đản của Sư Tôn, nên đối với chức danh đối ngoại của Sư Tôn trên áp phích quảng cáo bằng tiếng Anh, quan điểm của người phiên dịch của Tông Ủy Hội và nhân viên của bộ phận có liên quan không thống nhất, vì thế trong hoàn cảnh không có cách nào thống nhất được, đệ tử khẩn thiết xin Sư Tôn Sư Mẫu chỉ thị:*

1. *His Holiness The Living Buddha Sheng Yen Lu.
2. Living Buddha Sheng Yen Lu.
3. His Holiness Grand Master Sheng Yen Lu.
4. His Holiness the Root Guru, Grand Master Living Buddha Lian Sheng Sheng Yen Lu.*

🌟

Tôi đọc xong bức thư này thì cảm thấy rất buồn cười.
Hầy! Lão phu vẫn còn tính toán những chuyện này sao?
Bức thư này đã gợi ra những suy nghĩ thuần túy của tôi.

Cách nghĩ của tôi như sau:
Họ của tôi, tên của tôi, là do bố mẹ tôi đã đi thỉnh giáo một vị hiệu trưởng người Nhật Bản, hiệu trưởng người Nhật đã đặt tên cho tôi.
Vì thế, tên tôi là Lư Thắng Ngạn (Lu Sheng Yen).
Bố tôi nói:
"Năm 1945 là thời kỳ chiến tranh thế giới thứ hai, người Nhật Bản chỉ muốn thắng lợi."
Thế là:
Cái tên này đã đại diện cho tôi.
Đây là tên giả, đại diện cho cái tôi giả.

🌟

Đệ tử thích gọi tôi là: Sư Tôn! Sư Tôn!
Nhưng có người của giáo phái khác nói: sư phụ của tôi cũng gọi là Sư Tôn, sư phụ của anh cũng gọi là Sư Tôn.
Sư Tôn! Sư Tôn!
Thế là Sư Tôn nào?
Bởi vậy, tôi mới thêm vào tên gọi Sư Tôn một chữ Lư, mọi người hãy gọi tôi là Lư Sư Tôn đi!

🌟

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người:
Tôi thực sự không quan tâm đến chức danh.
Lư Thắng Ngạn nhỏ bé này chẳng qua chỉ là từ cõi trời xuống đây, đến cõi nhân gian mộng huyễn này để thực hiện một giấc mộng mấy chục năm mà thôi.
Rất nhanh thôi! Là tôi sẽ nói "bái bai" với mọi người!
Từ đây, sẽ không có người trông thấy tôi nữa, không bao lâu sau thì sẽ quên hết tất cả!
Danh dự, thanh danh, danh phận, thành công, dã tâm…. Căn bản đều chẳng để làm gì.
Tên tôi chẳng còn nữa!
Tôi cần cái chức danh này làm cái gì chứ!
Tùy mọi người đi!


### 18. Thư của một cô gái


Có một cô gái xách theo hành lý bay đến Seattle. Cô ấy đưa cho tôi một bức thư, nội dung thư là:

*Sư Tôn!
Vũ Vũ nhớ Sư Tôn,
Thế là con liền chạy đến Seattle.*

*Nhớ lại năm xưa
Những năm Sư Tôn ở Đài Loan hoằng pháp
Mỗi buổi tối
Vũ Vũ lại một mình, xách theo hành lý
Đi khắp nơi tìm đến nhà hàng mà Sư Tôn dùng cơm
Cứ thế đợi
Đợi không được
Đợi suốt mấy tiếng đồng hồ, rồi mới về nhà.*

*Nếu thầy hỏi con, vì sao đến?
Câu trả lời chỉ có một mà thôi
Là vì nhớ thầy
Muốn đảnh lễ trước thầy
Nhìn thầy thêm một chút.*

*Chỉ bởi vì
Thầy ở trong tim Vũ Vũ muôn vàn trân quý,
Nên Vũ Vũ đến thôi
Thầy cũng đừng kinh ngạc.*

*Pháp sư ở bên cạnh bảo:
Đừng có ngốc như vậy.
Vũ Vũ nghĩ,
Họ hiểu được cái gì?*

*Con nói với pháp sư
Con đã cố hết sức
Cuộc đời này chẳng có gì hối hận!*

*Trong mắt người ngoài, Vũ Vũ có lẽ vừa ngu vừa ngốc
Nhưng, con mặc kệ
Con trân trọng duyên phận
Nguyện theo Sư Tôn đời đời kiếp kiếp.*

🌟

Lư Sư Tôn đã đọc bức thư này, tôi cũng viết một chút chút hồi đáp thư của Vũ Vũ, nội dung như sau:

*Vũ Vũ!
Nếu như có một lúc nào đó
Có người đến trước mặt ta
Ta sẽ bảo họ
Hãy đi thanh tịnh tâm mình.*

*Ta nói:
Chúng ta đừng đi tìm cầu kết quả
Bởi vì không đi tìm cầu kết quả
Đó mới là
Sự lãng mạn vĩnh viễn không có kết quả
Đó mới là
Đời đời kiếp kiếp!*

*Vũ Vũ!
Ta tin vào duyên phận
Cô không yêu cầu điều gì
Thì ta sẽ cho cô điều đó.
Cô không gõ cửa
Thì cửa sẽ tự động mở ra.
Con mắt của người ngoài là con mắt của người ngoài
Con mắt của chúng ta là con mắt của chúng ta.*


### 19. Không mưu cầu "quả"


Chúng ta nói chuyện nhân quả.
Có nhân thì có quả.
Quả lại biến thành nhân.
Cứ thế, cứ thế,
Nhân quả chẳng bao giờ tách rời! 
(Nhân quả, nhân quả, ràng buộc lẫn nhau.)

🌟

Giờ đây tôi chẳng cầu thành Phật.
Nhưng, tôi chỉ chú trọng phát bồ đề tâm. (Nhấn mạnh thêm vào hai chữ "chú trọng" này.)
Ví dụ: Tôi không nhất định phải làm Bồ Tát gì đó, tôi nguyện là một phàm phu nhỏ bé, chỉ làm hết bổn phận làm người của tôi.

🌟

Không mưu cầu công đức
Chỉ đem công đức hồi hướng cho người khác
Phiền não của tôi là
Lo lắng về những phiền não của chúng sinh.

🌟

Tôi rất ngốc
Tôi rất ngu
Tôi rất tầm thường
Tôi rất ô uế
Tôi là rác rưởi
Trái tim tôi chỉ là một khung cửa sổ nho nhỏ
Tôi không muốn người người nhìn vào tôi. Tôi hạ bản thân mình đến mức thấp nhất.

🌟

Chút suy nghĩ nhỏ này
Bản thân tôi không biết là mình đang muốn viết cái gì
Chỉ là hạ bút, cũng chẳng cần người khác phải hiểu
Tùy ý! Tùy mọi người nghĩ.
Vẫn là tùy ý! Tùy ý của người đọc!

🌟

Bây giờ tôi đã là một lão già mục nát, già rồi cái gì cũng mục.
Không khôn ngoan
Dưới sự khôn ngoan,
Lộ ra sự ngu ngốc của tôi,
Không muốn thành đạo,
Không thành đạo, không thành đạo, không thành đạo, không thành đạo.
Tôi biến thành đạo không thành đạo. Không muốn thành đạo cũng là đạo.

🌟

Chẳng hiểu thế nào là thông minh
Chẳng hiểu đời người
Chẳng hiểu trí huệ,
Chẳng hiểu những vụn vặt của cuộc đời,
Giờ đây càng mơ hồ, mơ hồ, mơ hồ, tôi đã trở nên hỗn độn.
Một mớ hỗn độn lớn.

🌟

Chẳng còn đôi mắt, (không thấy)
Chẳng còn đôi tai, (không nghe)
Chẳng còn cái mũi, (không ngửi)
Chẳng còn đầu lưỡi, (không vị)
Chẳng còn đầu lưỡi, (không nói)
Chẳng còn thân thể, (không tiếp xúc)
Cũng chẳng nghĩ ngợi, cũng bất chấp, cũng mơ mơ hồ hồ, cũng chẳng biết nói gì.
Trên nguyên tắc, tôi đã chết rồi. (Chữ chết này có ý nghĩa khác.)
Nhưng, tôi chẳng phải là phân rã,
Tôi chỉ là sự hoàn chỉnh trong hỗn độn.
Không có nhân
Cũng chẳng cầu quả.


### 20. Vô câu vô thúc


Dần dần, dần dần, cảnh giới của tôi biến đổi, biến đổi, biến thành cảnh giới không phải cảnh giới.
Ví dụ:
Một vườn hoa nhân tạo.
Cỏ được cắt rất sạch sẽ gọn gàng.
Hoa được phân loại.
Lối đi được quy hoạch, những viên gạch đỏ được cắt gọn ghẽ tinh tươm.
Không chút bụi bặm.
Những cây thông được những công nhân chăm bón và cắt tỉa thành đủ kiểu hình dáng.
Chỉnh tề.
Cân đối.
Nhân tạo hóa.
(Đây là một kiểu cảnh giới.)

Còn cảnh giới của tôi là:
Ví dụ:
Một rừng cây um tùm mọc hoang.
Khu rừng rậm mọc hoang này căn bản không có người làm vườn.
Không có người tưới hoa.
Không có người nhổ cỏ.
Không có người vun xới.
Không bị ràng buộc vào một kiểu cách nào.
Nó không phải là vườn hoa Nhật Bản (tùng với trúc), cũng không phải là vườn hoa Trung Quốc (đình và gác).
Không có quy tắc.
Không có kiểu cách.
Không có logic.
Không có cái gì là đẹp hay không đẹp.
Không có cái gì là xấu hay không xấu.
Nó chỉ là một vùng tự nhiên, không bị ràng buộc theo một hệ thống nào, không bị trói buộc vào một quy hoạch nào, không câu nệ hoàn mỹ hay không hoàn mỹ, nó không có cách nào lý giải được.

🌟

Tôi.
Lư Thắng Ngạn đã thay đổi rồi,
Đã biến thành một khu rừng rậm hoang dại, nếu đó cũng là một cảnh giới thì đó chính là cảnh giới không phải là cảnh giới.
Nó không bị ô nhiễm.
Nó là thuần túy.
Nó cũng không phải thỏa hiệp.
Là dã nhân?
Là người điên?
Là ngu xuẩn?
Không người nào có thể nhận ra ông ta là ai? Ông ấy không thể định hình được?
Hoặc bảo ông ta là mây, mây vốn dĩ là vô câu vô thúc, thiên biến vạn hóa.
Hoặc bảo ông ta là gió, để người ta đoán sự bất định, gió cũng là điên mà. [chơi chữ, phong (gió) đồng âm khác nghĩa với phong (điên)]
Hoặc bảo ông ta là rồng, con người hiện đại không có người nào từng nhìn thấy rồng, thế thì hình tướng gì cũng đều có, bằng không thì, căn bản là không có hình tướng.
Hoặc bảo ông ta là nước. Lão Tử nói:
"Thượng thiện nhược thủy."
"Ông ta!"
Làm người cũng chẳng biết!
"Ông ta" cứ mãi vô dụng. (Chẳng có năng lực làm việc gì.)
Nhưng,
Thỉnh thoảng lại hữu dụng đó!
"Ông ta"
Cứ tồn tại một cách siêu nhiên!
Ở trong bình phàm mà không phải bình phàm.
Độc nhất vô nhị.


### 21. Không muốn làm số một


Tôi, Lư Sư Tôn là độc nhất vô nhị.
Độc nhất vô nhị, nhưng hoàn toàn không phải là số một.
Độc nhất vô nhị là độc nhất vô nhị mà không đứng đầu.
Là độc nhất vô nhị không ai hiểu được.
Là một câu đố lớn.
Là người ngu ngốc vĩ đại nhất.

🌟

Tứ đại danh sơn:
Từ Tế là hành thiện đệ nhất.
Pháp Cổ là thiền giới đệ nhất.
Phật Quang là bát tông đệ nhất.
Trung Đài là thực dụng đệ nhất.
Thế còn Chân Phật là thứ mấy?
Đáp án rất đơn giản: Chân Phật không nằm trong danh sách xếp hạng, ngay cả vị trí thứ hai cũng không phải.
Nhưng cũng không phải là không hề nghe nói đến.
Tóm lại là có một chút chút.
Gắng gượng miễn cưỡng mà sống.
Như có như không. (Cái gì cũng không phải.)

🌟

Lư Sư Tôn không phải là một nhân vật số một, bởi vì là nhân vật số một rất nguy hiểm.
Ví dụ:
Chúa Jesus bị đóng đinh vào thập tự giá.
Muhammad bị truy sát. (Trốn chạy từ Mecca đến Medina.)
Tổ Sư Đạt Ma bị hạ độc.
Phật Thích Ca Mâu Ni thì suýt bị tảng đá lớn đè chết. (Đề Bà Đạt Đa đẩy tảng đá.)
Milarepa cũng bị hạ độc.
Ngay cả José Sócrates cũng bị hạ độc.
Làm nhân vật số một, sợ lắm.
Thế nào thì không sợ?
Độc nhất vô nhị không ai nghe nói đến thì không sợ!
Nghiêm túc phân tích bản thân:
Vi diệu.
Thuần túy.
Bí mật.
Nhưng, tuyệt đối không phải là nhân vật nổi bật đứng số một.

🌟

Tôi là một người như thế nào?
Ví dụ: tôi leo núi, cuối cùng tôi đã leo lên được đỉnh núi cao nhất. Sau đó, trước khi có người nào phát hiện ra, tôi đã vội vàng khẩn trương leo xuống rồi.
Tôi không ở trên đỉnh núi mà giương ngọn cờ. (Người số một.)
Tôi không chiếm giữ đỉnh núi.
Tôi không tranh cường đấu thắng.
Tôi thì:
Mau chạy!
Nếu không chạy!
Sẽ mất mạng!
Tôi chạy vào trong đám đông người, trà trộn vào trong đám đông người, người ta trồng hoa thì tôi trồng hoa, người ta trồng cỏ thì tôi trồng cỏ.
Nếu có người đến tìm tôi.
Thì mặt tôi và mặt người khác cũng đen như nhau!

🌟

Nhường bạn!
Nhường họ!
Nhường người khác!
Tôi không cần quá vất vả, tôi cũng không cần quá lười nhác, tôi chỉ cần ở giữa giữa.
Cứ sống một cách chẳng chết chẳng sống!
Tôi là một kẻ hồ đồ như vậy đó!


### 22. Trốn trốn trốn trốn trốn


Bỗng dưng hồi tưởng lại, tôi ngạc nhiên sửng sốt, khiến tôi giật thót mình!
Cuộc đời này của tôi chỉ còn lại một chữ, không ngờ chữ này lại là:
"Trốn!"
Có lẽ chữ "trốn" này sẽ khiến mọi người không hiểu ra làm sao, nhưng nghe tôi nói tiếp, bạn sẽ biết thôi.

🌟

Khi tôi còn đi học, tôi trốn học, trốn môn.
Hồi đầu tôi rất ghét đi học, cái kiểu "sách vở thì khô khan", "người học thì máy móc", "càng học càng chết".
Tôi thích những cuốn sách sinh động không cứng nhắc.
Không thích những sách vở công thức hóa. (môn học)
Vì thế, bài kiểm tra của tôi toàn xơi trứng ngỗng. Cấp hai tôi lưu ban hai lần. Đó là niềm tự hào nhất của tôi, là lịch sử đi học vẻ vang nhất của tôi.

🌟

Lúc nhỏ, tôi trốn nhà, bỏ nhà ra đi. (Tôi thường ở nhà của người bạn học Hoàng Kim Hùng.)
Trốn xong lại bị tóm về!
Tôi lại trốn, lại bị tóm về!
Tôi không thích gia đình của tôi, bởi vì bố tôi hơi bạo lực, cho nên tôi đã mở đường sang ngôi nhà thứ hai là "hào trú ẩn".
Trong những năm tháng đó, nhờ có hào trú ẩn mà tôi đã tránh được những trận oanh tạc của máy bay địch.
Vì thế,
Tôi là đại vương trốn nhà.
Tôi muốn trốn để người nhà không tìm thấy.

🌟

Bước ngoặt trong cuộc đời tôi là trốn khỏi đất nước. Đó là cuộc lánh nạn lớn nhất của tôi.
Từ Đài Loan trốn đến Mỹ. (Là Diêu Trì Kim Mẫu chỉ thị cho tôi.)
Đương nhiên, đầu tiên tôi đã tháo chạy ra khỏi đại gia đình, bỏ ra ngoài cùng vợ tổ chức gia đình nhỏ của tôi. Chuyển nhà bao lần, đến khi không thể chuyển được nữa thì mới chuyển đến Mỹ. (Diêu Trì Kim Mẫu nói, Chân Phật Mật Pháp hoằng dương đến toàn thế giới.)
Chuyển nhà cũng là trốn.
Trốn thì lại chuyển nhà.
Vì sao phải trốn khỏi đất nước?
Mỗi người nói một kiểu, tôi bất chấp người ta nói thế nào, tôi muốn trốn thì trốn thôi.
Chẳng cần lý do gì!

🌟

Hơn nữa, có một người phụ nữ vì muốn tiền, cho nên, tôi lại trốn.
Trốn đến Tahiti.
Trốn về Đài Loan.
Trốn sang Hàn Quốc.
Đợi sau khi sự thật được phơi bày thì tôi lại trở về Mỹ!
Ha ha!

🌟

Lần trốn chạy cuối cùng của tôi là từ nhân gian tháo chạy đến bản vị (bản nhiên) của tôi.
Nhân gian thật sự chẳng vui gì.
Tôi từ thiên thượng chạy đến nhân gian sao?
Rồi lại từ nhân gian tháo chạy đến pháp nhĩ bản nhiên ở thiên thượng.
Người hỏi:
"Ngài có trở về không?"
Tôi đáp:
"Đương nhiên, tôi thích nhất là trốn chạy, bản lĩnh của tôi chính là trốn!"


### 23. Chẳng là gì cả


Có người hỏi tôi:
"Ngài học Phật, tương lai nhất định thành Phật, đúng không?"
Tôi đáp:
"Không phải."
Người đó hỏi:
"Vì sao lại thế?"
Tôi đáp:
"Tôi không nhớ được Tam Tạng." 
(Kinh, luật, luận, đọc xong rồi quên luôn.)

🌟

Có người hỏi tôi:
"Ngài thích Lão Tử, ngài có biến thành Lão Tử không?"
Tôi đáp:
"Không."
Người đó hỏi:
"Vì sao lại thế?"
Tôi đáp:
"Tôi không có trâu xanh." 
(Tôi không biết viết Đạo Đức Kinh năm nghìn chữ.)

🌟

Có người hỏi tôi:
"Ngài thích sự rong chơi tiêu dao của Trang Tử phải không?"
Tôi đáp:
"Không."
Người đó hỏi:
"Vì sao vậy?"
Tôi đáp:
"Tôi không có đôi cánh!" 
(Tôi không thể biến thành bươm bướm.)

🌟

Người hỏi:
"Ngài có phải là Jesus không? Muốn làm đấng cứu thế sao?"
Tôi đáp:
"Không phải."
Người hỏi:
"Vì sao?"
Tôi đáp:
"Jesus có thể để bị đóng đinh trên thập tự giá, tôi sao có thể, tôi sẽ kêu la om sòm thảm thiết đó." 
(Tôi không có bản lĩnh phục sinh.)

🌟

Người hỏi:
"Ngài là Friedrich Hegel sao?"
Tôi đáp:
"Không phải."
Người hỏi:
"Ngài là Immanual Kant sao?"
Tôi đáp:
"Không phải."
Người hỏi:
"Ngài là Socrates sao? Hay là Aristotle? Hay là Plato?"
Tôi đáp:
"Không phải! Không phải! Không phải!"
"Vì sao vậy?"
Tôi đáp:
"Tôi vĩnh viễn không thể hiểu được họ, họ là các đại triết học gia, triết học của họ đòi hỏi bộ óc cao siêu. Còn tôi làm gì có não."
(Tôi không có cách nào tiến nhập vào trong hệ thống tư tưởng và lý luận của họ, căn bản là tôi không có tư duy logic.)

🌟

"Thế ngài là gì?"
"Chẳng là gì cả!"
"Chí ít ngài cũng là Lư Thắng Ngạn mà!"
"Tên giả thôi!"
"Ngài là Liên Sinh Hoạt Phật mà?"
"Đó là được người ta đặt cho một chức danh thôi."
"Vậy tự ngài nói xem ngài là gì?"
"Là người. Cũng không phải là người."


### 24. Quy phạm


Đệ tử hỏi:
"Lư Sư Tôn! Ngài có thể phạm giới luật không?"
Tôi đáp:
"Có thể."
Đệ tử lại hỏi:
"Lư Sư Tôn! Ngài có thể giữ giới luật không?"
Tôi đáp:
"Có thể."
Hai câu trả lời này rất mâu thuẫn. Vừa có thể phạm giới luật, lại vừa có thể giữ giới luật. Thế là thế nào?

Ví dụ:
Có một con kiến đậu trên cánh tay của tôi, nó sắp sửa đốt tôi. Tôi rung rung tay, nó cũng không bay đi. Tôi dùng miệng thổi nó, nó cũng không đi. Tôi đếm đến ba, nó vẫn không đi.
Tôi chỉ còn cách:
"Bộp" một tiếng!
Con muỗi chết luôn! (Rồi tôi niệm chú Vãng sinh cho nó.)
Tôi nói:
Ví dụ này có việc giữ giới luật, tôi không sát sinh. Nhưng cuối cùng tôi đã giết con muỗi, lại là phạm giới sát sinh.
Bạn không giết nó, bạn sẽ mắc bệnh sốt xuất huyết, phải làm sao đây?

🌟

Ngoài ra, tôi đã mắc bệnh cúm mùa. Rốt cục tôi có cần uống thuốc đặc trị không?
Uống, thì sẽ giết vi khuẩn. (Vi khuẩn cũng là sinh mạng.)
Không uống, có khả năng sẽ tự giết mình.

Còn nữa:
Có một bà lão ăn chay, giữ giới ăn chay! Một hôm bà bị ốm, phải đưa vào bệnh viện. Bác sĩ nói:
"Lập tức truyền máu." (Máu là đồ mặn.)
Bà lão kiên quyết không truyền máu. Bác sĩ gây mê cho bà, rồi truyền máu cho bà, vậy bà lão này có được tính là phạm giới không?

Còn nữa:
Hai nước xảy ra chiến tranh. (Đều nói là vì chính nghĩa nên chiến tranh.)
Bạn giết chết quân địch, là phạm giới sát sinh!
Nếu bạn không giết chết quân địch thì quân địch sẽ giết chết bạn, quân địch sẽ phạm giới sát sinh!
Giết cũng không đúng, mà không giết cũng không đúng.
Vậy bạn làm thế nào?

🌟

Bạn có muốn bị giết không?
Không!
Cho nên bạn không thể giết người khác.
Bạn có muốn bị cướp không?
Không!
Cho nên bạn không thể đi cướp đồ của người khác.
Bạn có muốn bị đàn áp không?
Không!
Cho nên bạn không thể đàn áp người khác.
Bạn có muốn bị người khác lừa gạt không?
Không!
Cho nên bạn không thể lừa gạt người khác.
...

Thế nên, đời người có quy phạm, đời người có giới luật, đời người có pháp luật, chính là vì thế mà có!


### 25. Tu hành


Tôi thích bài văn trăm chữ của Lữ Động Tân. Tôi cảm thấy đó là lời răn cho việc tu hành:

*"Muốn dưỡng chân khí cần im lặng quan sát
Để hàng phục tâm cần làm mà như không
Động tĩnh cần biết mục đích tôn chỉ
Vô sự rồi thì chẳng cần tìm kiếm điều chi
Bản chất và thường hằng phải ứng với sự vật
Ứng với sự vật phải không được u mê
Không u mê thì bản chất sẽ tự chủ
Bản chất tự chủ thì khí tự về
Khí trở về thì tiên đan tự kết tinh
Trong chiếc bình Khảm - Ly tự phối hợp
Âm dương sinh ra lặp đi lặp lại
Mọi sự biến hóa đến như một tiếng sấm
Mây trắng tụ lại trên đỉnh núi
Cam lộ tưới khắp núi Tu Di
Rượu trường sinh mình ta tự uống
Tiêu dao nào ai biết là đâu
Ngồi nghe khúc nhạc vô huyền cầm
Hiểu rõ huyền cơ của tạo hóa
Đều đến từ hai mươi câu văn này
Đích thực là bậc thang lên cõi trời."*

Tôi nói với mọi người:
Muốn tu hành, trước tiên cần dưỡng khí.
Muốn dưỡng khí thì trước tiên phải loại bỏ vọng niệm. (Có nghĩa là không nói, nên giữ im lặng mà quan sát mọi thứ.)
Muốn hàng phục tâm mình thì cần làm không vì điều gì cả. Vì vô sở trụ thì mới sinh ra được tâm đó.
Vừa động vừa tĩnh, tâm sáng tỏ, biết được mục đích, ta tự làm chủ.
Biết tất cả đều là không thì không cần tìm kiếm cái gì khác.
Bản chất và thường hằng phải ứng với sự vật.
Không mê lầm thì sẽ không xa Phật tính.
Chỉ cần suy nghĩ không còn thì tâm khí tự nhiên sẽ trở về và trụ lại. (Cái này là công phu thiền định.)
Trong sát-na! Sát-na!
Tiên đan.
Khảm - Ly.
Âm - Dương.
(Cái này là công phu của Đạo gia.)

Bỗng nhiên kiến đạo rồi, đột nhiên đại triệt đại ngộ rồi, đột nhiên mạch mở ra, đột nhiên luân xa mở ra.
Kiến chứng Phật tính rồi.
Mây trắng tụ đỉnh núi.
Hóa thành ánh sáng.
Hóa thành cầu vồng.
Cam lộ tưới khắp núi Tu Di.
Dòng chảy pháp
Ánh sáng
Tưới đẫm lên thân ta.
Thế nào là khúc nhạc không dây?
Đó là vô nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân, ý mà chứng đắc được Đạo (Chân Như).
Đó là tạo hóa chân chính.
Rượu trường sinh (tịnh hóa).
Tự do rong chơi (nhậm vận).
Chính tinh hoa của bài văn trăm chữ này là bậc thang lên chín tầng trời. (cõi giới bên ngoài cõi trời)

🌟

Tôi hiểu bài văn trăm chữ này của tổ sư Lữ Động Tân.
Nhưng, tôi nhận thấy rằng làm được thì thật không dễ!
Cần loại bỏ vọng niệm, ai có thể làm được đây?
Cần hàng phục sự ích kỷ, bám chấp, tham lam, sân hận, vô minh, ngu si, dục vọng của bản thân… Ai có thể làm được đây.
Biết rõ là không, nhưng lại đi khắp nơi để tìm cầu. Ai có thể làm được "vô cầu"? Ai có thể làm được?
Ai có thể không u mê?
Nhân gian hồng trần này, đông đảo chúng sinh, ai có thể làm chủ nhân của chính mình đây?


### 26. Viết mấy bài thơ tự do


Năm 2020, 2021, dịch cúm virus Corona nghiêm trọng, cuộc sống của con người hoàn toàn thay đổi.
Thế là, tôi viết một bài thơ:
*Khi nào là đỉnh điểm?
Khi nào là cực độ?
Hỡi những con virus trong không khí
Quê hương của mi ở nơi nào?
Lan truyền khắp nơi
Bao nhiêu biến chủng
Xảy đến chẳng kịp phản ứng, rốt cục là chuyện gì đây?
Chỉ trong một sát-na
Khiến cho rất nhiều người, rất nhiều người, rất nhiều người…
Đã chết.
Tôi,
Lư Sư Tôn chỉ có thể gắng hết sức tu pháp Trừ Ôn Dịch Độ Mẫu
Hết sức thỉnh cầu Diêu Trì Kim Mẫu
Hết sức thỉnh cầu đến Phật
Mau mau tiếp dẫn
Mau mau siêu độ.
Ôi!
Cộng nghiệp này của nhân loại
Hãy mau chóng qua đi!
Tất cả mọi người đều đang kỳ vọng
Ông trời ơi
Xin hãy trả lời.*

🌟

Tháng 5 năm 2021, Israel và Palestine lại dấy lên xung đột, và thế là chiến tranh lại bắt đầu.
Bệnh dịch còn chưa kết thúc… chiến tranh đã lại khởi lên rồi!
Tôi viết một bài thơ:
*Một ngày đẹp trời như thế
Vì sao lại phóng đầy khói lửa?
Vào thời khắc ánh dương bắt đầu dịu dàng chiếu sáng
Khói lửa kia
Hiện lên cao ngất dị thường.
Lặng nghe tiếng sấm phương xa
Ầm ầm ầm
Rầm rầm rầm
Ùm ùm ùm
Bao nhiêu sinh mạng đang lắng nghe…
Và rồi
Bao nhiêu sương mù bay dày đặc!
Người sống
Mang theo sự ngậm ngùi
Người chết
Mang theo sự bình yên.
Khi nào
Mới có một hoàn cảnh lý tưởng để bình an mà sống?*

🌟

Gần đây tôi đọc được một bài thơ, nghĩ đến cảnh tượng của xã hội hiện đại, tôi cảm thấy bài thơ này khiến lòng tôi nhen lên một sự đồng cảm.
*Tâm an thì nhà lá cũng vững
Tính định thì rau cải cũng thơm*

Thế gian rối ren, chỉ có trong tịch tĩnh yên lặng mới thấu được hết sự chân thực.
Con người chơi với nhau phải trong sáng như nước thì mới bền lâu.

*Tâm an ở nhà lá cũng vững
Tính định ăn rễ cải cũng thơm
Thế sự yên bình, đời hiểu rõ
Tình người thoang thoảng mới bền lâu.*

Đối với thời thế loạn lạc này, tôi cũng không biết nói gì, tôi chỉ nghĩ đến:
Thắp lên ngọn nến nhỏ
Tỏa ánh sáng yêu thương.


### 27. Vui buồn


Nghĩ đến Liên Hàn
Tín Pháp Đường bé nhỏ ở quận Mong Kok (Hongkong)
Đến bây giờ đã là Hồng Kông Lôi Tạng Tự to lớn
Ở Đài Loan, ông ấy làm cho tạp chí Nhiên Đăng
...

Cái người tự xưng là "Tiểu Lão Tăng" đó
Là vui
Là buồn
Mà khiến lòng tôi
Thẫn thờ.

🌟

Từ Liên Hàn lại nhớ đến Trung Tam
Trung Tam đi thăm Liên Hàn
Nhưng rồi ông ấy cũng đã hôn mê
Thế giới này đã biến thành điều bí ẩn lớn
Giống như đảo Hoa Đào trong tiểu thuyết Kim Dung
Hễ bước vào trận đồ Hoa Đào
Rẽ lối này
Ngoặt lối kia
Đến hôm nay vẫn chưa thoát ra được
Suy nghĩ trong đầu của Trung Tam nói
Lư Sư Tôn cứu tôi
Tôi bị mắc kẹt rồi
Thật khiến trong lòng tôi
Buồn thương.

🌟

Nhớ đến Hoàng Thời Phân
Cô ấy phát tâm in ấn văn tập của tôi
Giúp đỡ việc xuất bản sách của Chân Phật Bát Nhã
Thế rồi cô ấy đổ bệnh
Một con người tốt như vậy
Ngước nhìn lên bầu trời xanh
Tôi còn có thể nói điều gì đây
Một Lư Thắng Ngạn nhỏ bé như tôi
Chỉ có thể chắp tay
Và
Chắp tay.

🌟

Bác sĩ Chu đã đi rồi
Liên Tiếp cũng đi rồi
Nghe được tin tức này
Tôi nhắm mắt lại
Lập tức nhìn thấy khuôn mặt của người thầy thuốc lương thiện này
Tôi từng đến phòng khám của ông
Ông từng đến Seattle
Tôi thích chuyên mục mà ông ấy viết trên tạp chí Nhiên Đăng
Liên Tiếp ơi Liên Tiếp
Tôi gọi hai lần pháp hiệu của ông
Trong tiếng cầu chúc của tôi
Nói rì rầm
Mong ngóng ông
Thanh thản ra đi.

🌟

Liên Hỏa ẩn cư rồi
Ông ấy bảo tôi
Già rồi
Mỗi ngày cuộc sống cứ đều đều như thế
Mỗi ngày tu pháp cứ đều đều như thế
Gặp ông ấy đến Chân Phật Mật Uyển
Ông ấy chỉ nói già rồi
Tôi bảo ông
Chúng ta cùng chúc phúc nhau
Để đem đến cho nhân gian sục sôi này một chút mát mẻ.


### 28. Mũi tên xuyên qua mây


Trước kia, tôi đã kể cho các đệ tử nghe về ngộ cảnh của mình. Sau đó, tôi lại bình luận nhận xét xem họ đã khai ngộ hay chưa.
Đệ tử kéo đến ào ào như tên bắn
Có người bắn trúng hồng tâm
Có người đã bắn rất sát đích rồi
Có người bắn xong thì biệt tăm biệt tích, ngay cả mũi tên cũng chẳng thấy đâu.
Có một người nói:
"Không có hồng tâm, không có mũi tên, bắn cái gì chứ?"
Tôi nghe thấy câu nói này vô cùng kinh ngạc, đệ tử này rất thú vị.
Giống bài thơ của Lục Tổ:
*"Bồ đề chẳng phải cây
Gương sáng cũng chẳng có
Vốn dĩ chẳng có gì
Lấy đâu mà bám bụi."*
Đó là "cổ, kim" soi sáng lẫn nhau.

🌟

Có một người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Không đến cực độ thì là cái gì?"
Tôi đáp:
"Hữu."
Người đó ngớ ra. Anh ta lại hỏi:
"Vì sao đáp án lại là hữu?"
Tôi đáp:
"Ăn cơm, đi ngủ."
Anh ta lại hỏi:
"Vì sao lại là ăn cơm, đi ngủ?"
Tôi đáp:
"Tâm bình thường là đạo."
Anh ta hấp tấp hỏi:
"Tâm bình thường là cái gì?"
Tôi đáp:
"Chờ chết!" (Câu này sẽ khiến người ta kinh ngạc.)
Người đệ tử này không hỏi thêm được nữa.

🌟

Có một đệ tử lâu năm cứ quỳ sau lưng tôi không đứng dậy. Tôi hỏi:
"Anh làm sao vậy?"
Anh ta đáp:
"Xin một chỉ thị rõ ràng hơn."
Tôi nói:
"Hôm khác tôi sẽ nói với anh."
Anh ta nói:
"Hôm nay chưa hiểu thì sẽ không đứng dậy!"
Tôi nói:
"Anh phải biết rằng "đạo khả đạo, phi thường đạo". Bước đi những bước chân vững chắc thì có thể ngộ được chân tính."
Tôi lại nói:
"Đều là nhưng cái tên giả mà thôi! Nhất siêu trực nhập, bất nhị pháp môn, hay còn gọi là hư trung, còn gọi là Phật tính, còn gọi là bản nhiên, còn gọi là diệu đế…."
Anh ta hỏi:
"Bí quyết vi diệu trong những điều này là sao?"
Tôi đáp:
"Không phải người cực trí huệ thì không làm được, không phải người cực tịch tĩnh thì không đắc được."
Anh ta hỏi:
"Chữ đó là gì?"
Tôi đáp:
"Tâm!"
Anh ta đứng dậy, loạng choạng bỏ đi. Tôi quên mất không nói với anh ta: "Tâm là sống đó."


### 29. Tâm ở chỗ nào?


Tôi nói: Trực chỉ nhân tâm.
Nhưng mà, thế tâm ở chỗ nào? 
(Không phải là nói đến quả tim bằng thịt.)
Tâm là sống đó, câu nói này khiến người nghe không hiểu ra làm sao. Chẳng hiểu là thế nào?

Nhị Tổ nói: Chẳng thể tìm được tâm.
Câu nói này cũng là chân lý. Bởi vì câu nói này mà Tổ Sư Đạt Ma mới nói: "An tâm cánh."

Tôi nói để mọi người biết:
Tâm không ở trong
Tâm không ở ngoài
Tâm không ở giữa.

Kinh Kim Cang nói:
Tâm quá khứ không thể đắc
Tâm hiện tại không thể đắc
Tâm vị lai không thể đắc
Vậy bạn có được cái tâm gì?
Đáp án là:
"Tâm vô sở đắc." [có được cái tâm không thể đắc]

Viết ra nhiều "tâm" như vậy, rốt cục Lư Sư Tôn muốn nói với chúng tôi điều gì đây?
Tôi nói:
Tâm nằm ở diện mục vốn có, tâm nằm ở pháp nhĩ bản nhiên, ngoài tâm có tâm, biến hóa khôn lường.
Tay tôi chỉ ra, chính là nó đó!
Cái gọi là:
Thấy kinh thì sợ
Thấy lỗi thì bực
Thấy chết thì buồn
Thấy đẹp thì mê.
...

Đây đều là những tác dụng của tâm.
Tôi thật lòng thật sự nói để mọi người biết, bí mật thiên cổ bất truyền của tôi là:
Vô tâm là đạo.
Hữu tâm là phàm.

🌟

Tôi nói:
Người ta chết có hai dạng:
Nếu tôi chết thì là đại hỷ. Vì sao là đại hỷ? Vì pháp thân không đâu là không có.
Nếu phàm phu chết thì là đại bi thương. Vì sao là đại bi thương? Bởi vì họ sẽ đi lục đạo luân hồi.
Người trước thì muốn gì tùy tâm!
Người sau thì tùy tâm xô đẩy!

Lại nói, luân hồi và niết bàn không hai không khác, thế này là thế nào?
Tôi đáp:
Tức là đối với pháp thân thì luân hồi hay niết bàn chẳng hề khác nhau.

Ví dụ:
Lư Sư Tôn hiện tại là đang ứng hóa ở nhân gian.
Lư Sư Tôn ở Ma Ha Song Liên Trì là báo thân tịnh thổ.
Lư Sư Tôn Vô Lượng Quang Vô Lượng Thọ là pháp thân.
Vậy tâm ở chỗ nào?

Sinh động và linh hoạt! Trí huệ xứ, tịch tĩnh xứ, vô sở hữu xứ, không vô biên xứ, thức vô biên xứ, phi tưởng phi phi tưởng xứ.

Cái gọi là:
Hữu tức thị không
Không tức chân không
Thiên địa cộng chủ
Tứ hải bát phương.
Nếu có người thật sự hiểu được chương sách mà tôi viết này thì đã không sống uổng đời này rồi!


### 30. Quán tâm


Kinh Lăng Nghiêm có một câu rằng: "Thuần tưởng tức phi." [Nghĩa là có suy nghĩ thuần tịnh thì sẽ bay lên sinh vào cõi trời.]
Câu này rất hợp với tiêu đề cuốn sách số 285 mà tôi đang viết: "Tư tưởng thuần túy", thật là diệu kỳ.
"Thuần tưởng" này là cái gì?
Tôi đáp:
"Quán tâm."

🌟

Tôi thấy phàm phu trên thế gian này, từ trong thai mẹ kêu "oa" lên một tiếng rồi đến với nhân gian.
Trải qua thời thơ ấu, thời niên thiếu, thời thanh niên, thời trung niên, tuổi già.
Chỉ một câu: "Tùy cảnh mà sinh."
Vẫn là câu châm ngôn cũ rích:
1 tuổi — khởi đầu một chương.
10 tuổi — học tập khẩn trương.
20 tuổi — tuổi trẻ đau thương.
30 tuổi — sự nghiệp tìm đường.
40 tuổi — bắt đầu phát tướng.
50 tuổi — tuy già vẫn gượng.
60 tuổi — huyết áp bất thường.
70 tuổi — trí nhớ ẩm ương.
80 tuổi — run rẩy chuyện thường.
90 tuổi — mất dần phương hướng.
100 tuổi — ảnh treo trên tường.
Rất ít người nghĩ đến: "Quán tâm".

🌟

Thì ra, tùy cảnh mà sinh tức là phàm phu đó!
Còn ai có thể quán tâm thì:
Trường sinh bất lão.
Siêu thăng thiên giới.
Quán tâm là một loại công phu, cũng tức là tu hành, trong định sinh huệ, trong huệ sinh định.
Vì sao lại như vậy?
Đáp:
"Thuần tưởng tức phi."

🌟

Ở chương sách trước nói đến tâm không ở trong thân, tâm cũng không ở ngoài thân, tâm không ở giữa.
Tôi nói:
*Sơn hà đại địa
Nhật nguyệt quang hoa
Đại thiên thế giới
Man thiên cái địa.*

Hành giả chỉ cần khiến cho vọng niệm càng ngày càng ít, vọng niệm trở thành nhất niệm, nhất niệm hóa thành vô niệm.
Đến được vô niệm rồi thì:
Vạn kiếp nghìn sinh, từ nay thấu triệt.
Vạn pháp quy về tịch tĩnh.
Đây chính là Chính Giác.

🌟

Tôi nhớ Diêu Trì Kim Mẫu từng nói:
Cái gọi là:
Tinh khí rò rỉ mất, tức là đọa lạc vào chín cõi u mê.
Tinh khí rò rỉ từ nơi nào thì phải thu hồi lại từ chính nơi đó.
Câu nói này đã ảnh hưởng rất lớn đến tôi.

Công phu của tôi là:
Dừng dứt rò rỉ.
Khuynh đảo pháp giới.
Đây là một điều rất khó hiểu không thể tưởng tượng nổi, là diệu đế đó.

Mật giáo nói:
Thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh.

Tôi nói:
Thân vô lậu, khẩu vô lậu, ý vô lậu.

Còn "quán tâm" là:
Trời cao biển rộng.
Vạn pháp như như.
Từ phàm phu mà quy về Chân Phật chính là cái này, cái này nghĩa là vọng niệm quy về nhất niệm, nhất niệm quy về vô niệm, vô niệm quy về Chân Phật.
Chỉ vậy mà thôi!


### 31. Tâm và khí


Xin hãy ngẫm nghĩ cẩn thận những lời văn này, chúng cũng là khẩu quyết chân thực.
Thực hành "tư tưởng thuần túy".
Không cần cầu tương ứng.
Tương ứng cũng tự đến.

🌟

Gửi tâm vào khí,
Tâm khí hợp nhất. 
Bởi vì tâm mà động thì khí sẽ động. Tâm mà dừng thì khí sẽ dừng.
Tâm và khí giống như tiếng vang.
Một ngày, khí có bao nhiêu vạn hơi thở thì có bấy nhiêu vạn vọng niệm.
Nếu vọng niệm không dừng thì thần quang sẽ rò rỉ hết sạch, trở thành cây khô, tro tàn, đó là cái chết của phàm phu.

🌟

Chân Phật Kinh viết:
"Lấy vô niệm làm chính giác Phật bảo."
Đó là chân đế.
Muốn học vô niệm nhưng không thể nào vô niệm được! (Rất ít người có thể vô niệm.)
Vậy phải làm sao?
Hành giả thông minh thì hễ linh quang động, trong thiền định sẽ gửi tâm vào khí.
Tâm đặt vào việc nghe hơi thở. (Tức là đếm và quan sát hơi thở.)
Nghe khí ra vào.
Đây là phương pháp chuyển vạn niệm thành nhất niệm.

🌟

Cần phải kiên trì! Cần phải bền lòng!
Khí từ thô thành mịn.
Từ trôi nổi thành ổn định.
Trước là nhè nhẹ nho nhỏ,
Sau là càng nhỏ càng tĩnh,
Từ tĩnh cho đến vô thanh
Từ vô thanh cho đến dừng dứt.
Tức là nhất niệm đã thành vô niệm rồi! (Đây chính là cảnh giới của Tam ma địa.)

🌟

Phật Đà nói: 
"Chế tâm một chỗ, không việc gì là không làm được!"
Ở đây nói đến nhất niệm.
Chuyên nhất và không còn phân biệt.

Ví dụ: gà mái ấp trứng, nó chỉ chuyên tâm vào việc đó mà thôi! Chỉ có một suy nghĩ đó mà thôi! Chỉ làm một mạch như thế mà thôi!
Trứng có được hơi ấm mà nở ra!
Là thần đã đến!
Là khí đã làm nên!
Là hơi ấm đã phủ xuống!
Thế là sống rồi!

🌟

Cái thần của con người có thể sống cũng là như thế.
Tâm dễ chạy, khí cũng chạy.
Tâm chuyên nhất, khí chuyên nhất.
Tâm khí hợp nhất, khí càng định, khí càng nhỏ mịn, ngày ngày cứ liên tục như thế.
Thì cái thần sẽ sống thôi!
Hôn trầm và tán loạn là hai căn bệnh lớn.
Khi hôn trầm, cần thêm một chút phấn chấn.
Khi tán loạn, cần thêm một chút điều chỉnh.

🌟

Lư Sư Tôn có thể thấy được Bổn tôn.
Có thể đến được tịnh thổ của Bổn tôn.
Có thể hóa thành Bổn tôn.
Không có gì khác!
Chính là dựa vào "tâm khí hợp nhất" để tu mà thôi!


### 32. Tà môn


Tôi nói:
Con người hiện đại coi trọng khoa học kỹ thuật, khoa học kỹ thuật có tà môn không?
Có!
Dùng các phát minh khoa học kỹ thuật để làm bom nguyên tử, bom khinh khí, đạn hạt nhân để giết hại chúng sinh, chẳng phải là tà sao? (Đạn bay, đạn đạo…)
Dùng khoa học công nghệ hóa sinh để tiến hành các cuộc chiến tranh sinh học, lẽ nào không điên đảo, đây cũng là tà!
Dùng hoa học kỹ thuật để chế tạo những bộ óc, những bộ óc còn vượt trội bộ não con người. Những người máy trong tương lai sẽ vượt trội nhân loại, giá trị của nhân loại không còn nữa, đây chẳng phải tà môn sao?
Những thành tựu khoa học kỹ thuật cũng làm ô nhiễm hoàn cảnh sinh tồn của nhân loại, khoa học kỹ thuật như thế cũng là tà!

Hơn nữa:
Con người hiện đại coi trọng kinh tế. Tương tự, kinh tế cũng có tà môn!
Để đánh vào kinh tế của người khác mà gây ra các cuộc chiến tranh thương mại lớn, đây chính là tà môn!
Người giàu càng giàu,
Người nghèo càng nghèo,
Người giàu đàn áp người nghèo.
Tà!
Trên thế giới xuất hiện rất nhiều tội phạm kinh tế, những cái này cũng là tà!
Đấu tranh vì kinh tế một cách mơ hồ mà bóp nghẹt giá trị của con người thì cũng là vô minh!
Đấu tranh vì kinh tế một cách mơ hồ mà coi thường tu dưỡng tâm linh thì cũng là tà!

🌟

Tôi nói:
Phật Thích Ca Mâu Ni cũng từng nói thế này, trong quá trình tu hành cũng có rất nhiều tà môn giống như vậy.
Ví dụ:
Chiêm tinh.
Phong thủy.
Đoán mệnh.
Bốc quẻ.
Nuốt lửa.
Thuật số.
Thần thông.
(Trong con mắt của Phật Đà, những thứ này đều là tà môn.)
Nhưng tôi cho rằng, dùng những thứ bàng môn này để mà "dựa vào ham muốn của người ta để lôi kéo họ trước, sau đó dẫn nhập họ vào trí huệ Phật" thì không tính là tà!

Những việc kia cần phải xem người ta phát tâm chính hay bất chính. Có một số người lợi dụng những bàng môn này để lừa tiền gạt sắc thì đương nhiên là tà! Chính tà chỉ nằm trong một niệm mà thôi!

🌟

Nhập tam ma địa cũng có sai sót.
Cảnh giới ở đây cần phải đích thân đến được thì khi đó mới biết. Từng bước từng bước đều có những nguy hiểm, không phải là người đã từng trải qua thì không thể biết được.
Ngũ âm ma chi phối, là tà!
Huyễn thính, là tà!
Huyễn thị, là tà!
Thờ ơ dửng dưng, là tà!
Đọa vào sắc dục giới, là tà! (Cao thì sẽ sinh vào cõi trời, thấp thì sẽ xuống địa ngục.)
Mê đắm quỷ thông, là tà!

Tất cả những hiện tượng như thế này đều là sai đường.
Tam ma địa chân chính nằm ở giữa sự hoặc tồn hoặc vong, ở giữa sự hữu ý và vô ý, ở giữa sự tỉnh táo không mờ mịt, ở giữa sự buông bỏ và cầm lên.
Khi đã nắm bắt được điểm mấu chốt thì sẽ không uổng công vô ích.
Vô cùng linh động! (Rất khó hình dung.)


### 33. Chứng nghiệm


Khi tôi nhập vào Tam ma địa, thật sự có rất nhiều chứng nghiệm. Trong Mật giáo, tôi nói:
Khí đủ.
Mạch thông.
Minh điểm lên xuống.
Điều đó sẽ sản sinh ra sự khinh an, khoan khoái, quang minh, không linh.
Nói một cách đơn giản là:
Lạc.
Minh.
Không.
Ba chữ này tượng trưng cho ba giới thiên, chính là Dục giới thiên, Sắc giới thiên, Vô sắc giới thiên.
Chứng nghiệm của tôi là:
Tiến nhập tam ma địa, ở trong tịch diệt liên tục không gián đoạn.
Khinh an vui sướng.
Như say như mê.
Sướng như muốn chết.
Tiến thêm một bước nữa thì:
Không còn nghe thấy tiếng động gì nữa, như trăng sáng giữa trời không.
Quang hoa chiếu khắp nơi.
Mặt đất đầy hoa vàng.

Lúc này, trời đất và con người đều tỏa ánh sáng.
Tiếp đó:
Mặt đất hóa thành lưu ly bảo địa.
Nước bồ đề trong suốt không tì vết.
Chuyết hỏa dồi dào khắp cơ thể.
Từ bảy lỗ trên khuôn mặt, ánh sáng tỏa ra chan chứa khắp thập phương.
Như gió thổi nhè nhẹ.
Phật tính bí mật dâng lên đầy ắp.
Bản thân tôi đã thành bậc Đại Giác Kim Tiên, ngồi ngay ngắn trên hoa sen màu vàng tím, tám ngọn gió thế gian thổi vẫn bất động. Đây đều là những chứng nghiệm của tu định!

🌟

Ngoài ra, các chứng nghiệm khác cũng rất nhiều.
Tôi chỉ cần ngồi định rồi thì một thân hóa thành nhiều thân, hóa thân bên ngoài thân, đệ tử trên khắp thế giới đều có thể thấp thoáng thấy được tôi.
Tôi mở miệng thuyết pháp, ai nấy đều hiểu rõ!

Đương nhiên, nghìn dặm vạn dặm cũng chỉ trong một giây.
Lên cao tới tận cùng không gian, xuống thấp dưới tận hoàng tuyền.
Cái dư vị này, giống như người uống nước, lạnh hay ấm chỉ tự mình biết được.
(Có đệ tử trên người có bệnh, chỉ biết cầu đến tôi, thế là thấy tôi giúp anh ta chữa bệnh.)

Tôi chỉ cần ngồi định rồi, ánh mặt trời bừng bừng, kim quang khắp mặt đất, sóng kim cương dạt dào, bản thân trong ngoài đều sáng rực.
Đôi khi tôi bay vọt lên không, di chuyển đến khắp các cõi tịnh thổ của mười phương pháp giới.
*Tai nghe Bổn tôn thuyết pháp.
Mắt nhìn cây ngọc cỏ ngà.
Mũi ngửi hương trời vi diệu.
Lưỡi nếm diệu thực tiên tương.
Thân mặc thiên y váy xếp.
Ý đang cứu khổ cứu nạn.*

Thế nhưng, những chứng nghiệm này cũng không thể nói hết, mỗi cái đều có những sự trải nghiệm thù thắng.
Trong sự Chỉ-Quán này có thể nói rằng:
"Thiện căn sinh ra tướng."

Cá nhân tôi cảm thấy muốn học tập chính pháp, không thể không dựa vào Căn bản Thượng sư.
Dựa theo thứ tự mà tu, một bước lại một bước nữa, bước từng bước chắc chắn. Còn cứ nhắm mắt tu luyện như đui mù thì không thể được.


### 34. Nhập thế xuất thế


Gần đây tôi thường ngửa mặt nhìn trời. Tôi nói:
"Tôi muốn trở về nơi trước kia của mình rồi!"
Ở đây, tôi muốn trở về vị trí vốn có của mình là ý rằng, pháp luân ở nhân gian đã chuyển rồi, trách nhiệm ở nhân gian đã xong rồi, thân tôi nhỏ bé ở nhân gian này thọ mệnh cũng tương đối đủ rồi, cũng gần đến lúc tiến nhập vào tịch diệt rồi.
Các đệ tử nghe xong nói:
"Đừng!"
Tôi nói:
"Nên đi thì đi, không chút bận lòng."
Đệ tử nói:
"Tất cả các đệ tử đều cần thầy!"
Tôi nói:
"Thôi để nói sau vậy!" (Lần tới này hẳn là cũng nên "tinh tinh" rồi.)

🌟

Tôi giải thích cái chữ "chết" này.
Tôi nói:
"Chết" có hai ý nghĩa:

1. Tôi tu hành có thành tựu, một vệt ánh sáng sẽ phát ra từ lỗ đỉnh đầu, trở về tứ Thánh giới. (Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn)

2. Tôi tiếp tục lời thề nguyện mà lại đến, đời đời kiếp kiếp độ hóa chúng sinh, lục đạo luân hồi, tùy duyên cứu độ. (Trời, người, a tu la, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.)

Với tôi, luân hồi hay niết bàn là như nhau. Tôi tự chủ sinh tử.

🌟

Mặc dù hiện tại tôi vẫn còn sống, nhưng chết là điều tất nhiên.
Có sinh tất có tử.
Chết là bắt đầu của sinh ra.
Sinh ra cũng là bắt đầu của cái chết.
Sinh tử là như nhau.
Hành giả cần có quan niệm rằng tất cả đều là nhất thời mà thôi, chứng ngộ chân chính là:
Vô sinh.
Vô tử.
Không đến.
Không đi.
Lão hòa thượng Quảng Khâm nói: 
"Không đến, không đi, không hề gì."

🌟

Có người hỏi:
"Quan niệm về xuất thế của ngài, chúng tôi đã biết. Nhưng quan niệm về nhập thế thì sao?"
Tôi đáp:
Lấy chính niệm để ứng đối với sự vật.
Lấy từ bi để ứng đối với con người.
Tôi tuân theo tự nhiên mà làm.
Không ham muốn.
Không mong cầu.
Cần phải hiểu thấu về tất cả vật chất, hoàn cảnh không thể ảnh hưởng đến tôi, thần quang của tôi không vì hoàn cảnh mà xoay chuyển.

Một ngày của tôi đều là tu hành.
Ăn - tu pháp cúng dường.
Mặc - tu pháp kết giới.
Ở - tu pháp miên quang.
Làm - tu pháp tinh tấn.
Dạy - truyền chính pháp.
Lạc - tu pháp song vận.

Thần quang của tôi tự trở về, mọi lúc mọi nơi đều có hồi quang diệu dụng, tự do tự tại nhậm vận. Con người tôi không thể vứt bỏ chính nghiệp.
Hễ đối mặt với sự việc gì thì hồi quang của tôi tự chiếu, rồi cứ thế mà làm, chính là tu hành.


### 35. Không - Giả - Trung (tam quán)


Tôi dùng một phương pháp rất đơn giản để nói về "tam quán".

1. Không — Xem tất cả mọi vật đều là không.
2. Giả — Biết rõ rất cả đều không, nhưng, không phá hủy vạn vật. Kiến lập tất cả mọi sự trong cái không.
3. Trung — Cho dù không phá hủy vạn vật, nhưng cũng không chấp vào vạn vật.

Tu quán Không:
Không rõ ràng là không, giả cũng là không, trung cũng là không.

Tu quán Giả:
Giả rõ ràng là giả, không cũng là giả, trung cũng là giả.

Tu quán Trung:
Trung cũng là không, trung cũng là giả, cái trung không - giả. (Ở đây có ý nghĩa tiêu dao.)

Ha!
Nhất quán chính là tam quán. (Thật ra quán cũng là không.)

🌟

Các nhà khoa học nghiên cứu bộ não con người, các tế bào não của con người, thấy có ba thứ:

1. Gene. [nhân tố di truyền]
2. Hormone. [nhân tố kích thích]
3. Neuron. [tế bào thần kinh]

Cá nhân tôi nhận thấy thế này:
Gene tức là nhân quả.
Hormone tức là thủy hỏa.
Neuron tức là động tĩnh. (sinh hóa điện cực)

Cách phân biệt này của tôi là cách nghĩ của cá nhân tôi, thật ra ba thứ này không chỉ hàm chứa những cái này thôi đâu.
Ba nhân tố này tác động lẫn nhau, từ đó mà sinh ra "động tĩnh".

Tôi có một câu nói:
*"Tâm phàm chẳng thể tĩnh
Vì tâm người luôn động
Luôn động vì ham muốn
Ham muốn lại càng động."*

Tôi còn nói:
*"Vì gene là biến động
Biến động thì kích thích
Tác động đến thần kinh
Thế là lại càng động."*

Và:
*"Nếu không động vì vật
Cũng là động do trời
Là cái động vô ý
Tự nhiên thành hữu ý."*

🌟

Các nhà khoa học cho rằng:
Khoa học di truyền vô cùng quan trọng, có ưu có nhược. (Sự kế thừa của sinh vật.)
Các kích thích tố cũng thế, hoặc nhiều hoặc ít.
Các tế bào thần kinh lại càng kéo theo sự hoặc động hoặc tĩnh của cả con người.
Hành giả tu định thì là:
Điều dưỡng thân tâm.
Tự tại ôn hòa.
Buông bỏ vạn duyên.
Không chút vương vấn. (quên luôn cái ngã)

Và:
Một niệm không khởi.
Chính niệm mới sinh.
Vô trụ sinh tâm.
Dừng là chí thiện. (Phật tính)

Hôm nay tôi viết chương sách này, có thể một số đệ tử sẽ không hiểu lắm. Nhưng hãy suy nghĩ kĩ càng một chút thì có thể nắm được một vài tâm đắc. Nếu có người hiểu được thì y theo như thế mà tu hành. Sớm muộn sẽ hiểu câu nói của Phật Đà: "Nên vô sở trụ mà sinh tâm ấy!


### 36. Truy tìm "chân ngã"


Nhân loại chúng ta nhìn chung đều nhận thức được, con người có thể xác và linh hồn. (Đương nhiên cũng có người cho rằng căn bản không có linh hồn.)
Linh hồn là tên mà thế nhân thường gọi. Các danh từ khác là:
Chân ngã.
Chân như.
Thức.
Phật tính.
...

Cái gọi là "bất tử" không phải là chỉ thể xác, mà là chỉ linh hồn.
Khí quy về khí.
Đất quy về đất.
Người học Phật cho rằng con người được cấu thành do đất, nước, lửa, gió, không khí, và ý thức.

🌟

Các nhà khoa học nói: "Cơ thể con người do khoảng 37 nghìn tỉ tế bào tạo thành."
Tôi cho rằng:
Tế bào não và tế bào ở các bộ phận khác có điểm khác nhau. Ví dụ: tế bào não mà chết rồi thì không có cách nào tự chữa được. Tế bào các bộ phận khác mà chết thì có thể tự chữa được.
Nhưng,
"Chân ngã nằm ở đâu?"
Có người nói:
"Ở tim!"
Có người nói:
"Ở não!"

🌟

Rất nhiều người mượn việc thiền định, tập trung tinh thần, nỗ lực tìm kiếm "chân ngã". Mọi người tin rằng nhất định có thể tìm thấy "chân ngã" thật sự ở bên trong thể xác.
"Chân ngã" này là tất cả ý nghĩa chân thực của vũ trụ, cũng là ngọn nguồn của sinh mệnh.
Là duy nhất.

🌟

Những người nghiên cứu khoa học sự sống đã dùng hết mọi phương pháp để chứng minh sự tồn tại của linh hồn.
Linh hồn vĩnh hằng ở chỗ nào?
Từ giải phẫu học.
Từ khoa học di truyền.
Từ thần kinh.
Từ não trái.
Từ não phải.
(Não trái điều khiển tay phải, chân phải và nửa thân bên phải. Não phải điều khiển tay trái, chân trái và nửa thân bên trái.)
Từ sinh hóa hormone bài tiết.
Đây đều là những phân tích khoa học vô cùng phức tạp và vi tế.
Nhưng vẫn không tìm được linh hồn.

🌟

Cá nhân tôi cho rằng:
Mật giáo là phương pháp có khả năng nhất để tìm kiếm "chân ngã".
Dùng khí đả thông trung mạch.
Dùng hormone nước và hormone lửa để mở ra luân xa của thân thể, mi tâm, họng, tim, rốn, sinh thực.
Từ đó sản sinh ra: lạc, minh, không.
Tôi cho rằng:
Khoái lạc, quang minh, tính không là bản chất của "chân ngã". Còn linh hồn chính là mệnh khí.
Vào lúc con người chết đi, mệnh khí sẽ đi lên trên, mệnh khí từ trung mạch trực tiếp thông đến lỗ đỉnh đầu, từ lỗ đỉnh đầu mà thoát ra ngoài. Đây là phương pháp có tu có chứng.


### 37. Giáng - Đề - Trì - Tán


Tôi nói với mọi người:
Sự hít thở của hành giả và sự hít thở của phàm phu tuyệt đối khác nhau. Sự hít thở của phàm phu chỉ đến được họng. Sự hít thở của hành giả thì cần phải đến được hạ đan điền. (Tức là khu vực dưới rốn bốn đốt ngón tay.) Vùng này gọi là "cung sinh pháp".

Vào lúc luyện tập công phu, hít vào một hơi khí, dẫn khí này đến hạ đan điền.
Lúc này, lập tức nhíu hậu môn, có nghĩa là nâng hậu môn lên, khiến cho thượng hành khí và hạ hành khí kết hợp với nhau tại khu vực hạ đan điền, tạo nên một "bảo bình". (Do vậy mà gọi là bảo bình khí.)
Sau đó là duy trì khí, pháp giữ khí này có nghĩa là không hít không thở, giữ khí nguyên tại chỗ. Cho nên mới gọi là "trụ khí".

Nhìn chung mà nói:
Khi giữ yên khí, có một ít khí sẽ đi vào trung mạch. Và thế là, trung mạch sẽ từ từ thông suốt. Đến cuối cùng thì trung mạch sẽ thông hoàn toàn.

Hành giả bình thường khi giữ khí thì đương nhiên là càng lâu càng tốt, có người chỉ có thể giữ được nửa phút. Sau cùng, có người có thể giữ được đến một phút, hoặc hai phút, thậm chí lâu hơn. 
Vì sao cần giữ khí lâu? Bởi vì giữ càng lâu thì khí càng có thể đi vào trung mạch.

Cuối cùng, cứ giữ như thế cho đến khi không thể giữ khí yên được nữa thì bắt đầu tán khí ra. Tán khí cũng có phương pháp tán khí.
Có người nói:
Trước tiên cho khí xung lên đỉnh trước, sau đó cho khí tán đi khắp toàn thân.
Có người nói:
Hít vào một hơi khí trước rồi mới tán khí đi.
Có người nói:
Phân tán khí đến các kinh mạch của toàn thân.
Có người nói:
Đến khi không giữ khí được nữa thì thở hắt ra.
Những điều trên là công phu thông trung mạch cơ bản, trong Đạo gia mà nói thì là "nạp khí".

Pháp Bảo bình khí có rất nhiều chi tiết, "giáng - đề - trì -  tán" cũng rất phức tạp. Cần có một vị thầy có đủ phẩm cách hướng dẫn thì mới không mắc lỗi. Nhờ tu khí thông trung mạch, lại từ "cung sinh pháp" mà sinh ra chuyết hỏa, chuyết hỏa có pháp Chuyết hỏa.

Chuyết hỏa rất quan trọng. Từ chuyết hỏa lại tu pháp Minh điểm.
Chuyết hỏa dâng lên, minh điểm hạ xuống.
Từ minh điểm, chuyết hỏa mở ra ngũ luân, thất luân. (Mi tâm, họng, tim, rốn, sinh thực, cộng thêm đỉnh luân và hải để luân thì thành bảy luân xa.)

Ở đây có bài kệ:
*Hồi phong hỗn hợp.
Trung mạch nhất thông.
Thủy giáng chuyết hỏa.
Trong hỏa có thủy.
Duy trì như thế.
Mạch luân đều mở.
Giáng đề trì tán.
Đều khởi từ tâm.
Nếu có được lực.
Quang minh tự hiển.*


### 38. Nói chi tiết về Lạc - Minh - Không


Tôi nói:
Lạc từ đâu đến?
Đáp: Tự sẵn có!
Khí nhập trung mạch, đi lại trong trung mạch, đi đến các mạch nhánh, do sự ma sát mà sinh ra lạc.
Và:
Chuyết hỏa sản sinh ra, chuyết hỏa dâng lên, kinh mạch do sự ma sát mà cũng sinh ra lạc.
Và:
Minh điểm (bồ đề tâm nguyệt dịch) hạ xuống, minh điểm và kinh mạch do ma sát với nhau mà sinh ra lạc.

Ví dụ:
Nam nữ giao hợp, khi xuất tinh (vào lúc cao trào), tinh và mạch ma sát, sinh ra cảm giác khoái lạc.
Do vậy:
Ma sát với mạch thì sinh ra khoái lạc.
Cái khoái lạc của một yogi thì vừa dài vừa lâu, toàn thân sung sướng không chịu nổi, sướng đến mức muốn chết, sướng như tiên. (Mật giáo gọi lạc là hỷ.)

🌟

Tôi nói:
Quang minh từ đâu đến?
Đáp: Tự sẵn có!
Chuyết hỏa, lửa là ánh sáng.
Minh điểm, nước là ánh sáng.
Chuyết hỏa cộng thêm minh điểm và khí thì là quang minh.

Có người nói:
Bất kể có ánh sáng hay không có ánh sáng.
Chỉ cần vô niệm thì sẽ sinh niệm.
Thế nào là vô niệm?
Ngừng lại mọi niệm thì sẽ đến được mọi xứ. (hư không vô tận)
Thế nào là sinh niệm?
Duy trì một niệm sinh ra. (một cảnh sắc)
Sinh niệm ở đây không phải là ý niệm thông thường, mà là chính niệm.
Chính niệm tức là tâm.
Thì tâm sẽ quang minh.
Nếu không phân biệt được quang minh thì không có tâm nào mà chiếu, không có tâm nào mà soi, đây chính là "tính quang".
Ánh sáng có tính quang.
Ánh sáng có thức quang.
Ánh sáng có trí quang.
A Di Đà Phật đứng nghiêm trên hoa sen, trên đầu có ánh sáng, toàn thân có ánh sáng sau lưng, chân có ánh sáng hoa sen. Thật ra không cần phân biệt, A Di Đà Phật tức là Vô Lượng Quang Phật.)
Tôi nói:
Ánh sáng do chuyết hỏa sinh ra.
Ánh sáng do minh điểm sinh ra.
Ánh sáng do phong mạch sinh ra.
Ánh sáng do Phật tính sinh ra.

🌟

Tôi nói:
Tính Không (Phật tính) từ đâu đến?
Đáp: Tự sẵn có!
Dùng tâm xem như thức.
Chuyển thức thành trí.
Nếu buông bỏ tất cả thì tâm sẽ trống rỗng, vô ngã, vô tâm, không chấp vào một vật nào.
Thấy cái không là không.
Quên đi cái không đó.
Thì gọi là "chân không".
Chân không cũng tức là Phật tính.

Do vậy:
Lạc cũng không. (tứ hỷ tứ không)
Minh cũng không. (quang minh không kiến)
Không cũng không. (chân không Phật tính)
Nếu biết đạo lý này thì là minh tâm kiến tính.


### 39. Vấn đề liên quan đến "lậu"


Tôi nói:
"Tinh" mất đi, đó chính xác là "lậu".
"Huyết" mất đi, đó chính xác là "lậu".
"Thần" mất đi, đó chính xác là "lậu".
"Khí" mất đi, đó chính xác là "lậu".

Phật nói:
"Có lậu thì đều đọa!"
Rò rỉ ít thì mất đi sinh mạng. Rò rỉ nhiều thì đọa vào tam ác đạo. Chúng sinh phàm phu đều là thân có lậu.
Vì sao lại như vậy?
Nguyên nhân rất đơn giản:
Theo đuổi thanh sắc
Cảnh duyên lưu chuyển
Vọng niệm không dừng
Thất thần lạc tinh.

Kinh Giải Thoát nói:
"Tinh thần mất đi từ chỗ nào thì thu về từ chỗ đó!"
Đạo gia nói:
Âm dương là sinh mạng
Tính mạng là thân tâm
Thân tâm là thần khí
Bất ly là vô lậu.

🌟

Trong pháp song thân của Mật giáo, một người "kham năng" [người có năng lực tu hành rất cao] phải có hai điều kiện lớn:

1. Vô lậu.
2. Tính Không.

Tôi (Lư Sư Tôn) là một người kham năng chân chính, bởi vì tôi đã tu chứng vô lậu.
Tôi hiểu chân đế của tính Không.
Vô lậu có hai loại:
Tâm vô lậu.
Thân vô lậu.

Tâm vô lậu là:
Tự bản thân gom hơi thở — nạp khí.
Trầm mặc tĩnh tọa — thủ tĩnh. (Thủ tĩnh tức là thủ tâm, để tâm niệm không còn vọng tưởng, tinh khí thần đồng quy về một.)

Thân vô lậu là:
Lưỡi chạm hàm trên. 
Yết hầu ép xuống.
Thượng hành khí đẩy ra hết. 
Bụng ép về phía lưng.
Hai mắt ngước lên trời. 
Nhíu hậu môn.
(Sakya lục thế biến.)

Tiếp theo phối hợp:
Thu gọn tứ chi, ngón tay giữa bịt mũi, tâm niệm chuyển dịch, niệm hai âm "Hum" kéo dài, niệm tám âm "Hum" ngắn và đanh, giữ khí.

Những cái khác:
Nhất thiết phải nâng và giữ "tinh". Nếu tinh bất động thì thần cũng sẽ không mất.
Bảy lỗ cũng không dễ chạy ra bên ngoài, tinh thần đều không bị mất đi.

Trong sáu đại thần thông thì có một cái gọi là "lậu tận thông" là chỉ thân vô lậu và tâm vô lậu.
Tôi cho rằng lậu tận thông này là thần thông lớn nhất, có thể khiến bản thân trở thành đại thành tựu giả. (thành tựu cứu cánh)
Thân vô lậu, tức thân thanh tịnh.
Tâm vô lậu, tức tâm thanh tịnh.

Trong cuốn sách Đạo Quả đã nói, thanh tịnh được mấy phần thì gọi là "tịnh phần".
Đến được cảnh giới cứu cánh tối cao thì gọi là "viên tịnh".
Viên mãn thanh tịnh đã là hành giả ở địa thứ mười hai rưỡi rồi. Có thể nói là đã rất gần với thành Phật rồi. Đó là thành tựu tột cùng.


### 40. Thanh tịnh viên mãn


Cuốn sách Đạo Quả nhắc đến hai danh từ:

1. Tịnh phần — thanh tịnh được mấy phần?
2. Viên tịnh — hoàn toàn thanh tịnh.

Trên phương diện Nội pháp thì cần mở năm luân xa. Dùng khí, mạch, minh điểm để khai mở luân xa sinh thực, luân xa rốn, luân xa tim, luân xa họng, luân xa mi tâm.

Theo như tôi biết:
Bồ Tát có mười địa.
Mật giáo phân ra mười hai địa rưỡi.

Ví dụ:
Chỉ cần mở được một luân xa thì sẽ tiến được hai địa. Mở được năm luân xa sẽ tiến được mười địa.
Hiển giáo cho rằng từ địa thứ mười một trở lên chính là Phật rồi. Nhưng Mật giáo thì cho rằng phải từ mười hai địa rưỡi trở lên mới là Phật.

Mười hai địa rưỡi là bao gồm:
"Đỉnh luân."
"Nhục kế."
Có đỉnh luân thì là địa thứ mười hai.
Có nhục kế thì thêm nửa địa nữa.
Cộng tất cả lại thì vừa đúng là mười hai địa rưỡi, cái này chính là thanh tịnh viên mãn.

🌟

Một hành giả, tu đến khi năm luân xa đã mở, tiếp đó lại mở được đỉnh luân, rồi mở được nhục kế, cá nhân tôi cho rằng như thế này đã là thành Phật rồi.

Chúng ta biết rằng:
Ngũ Phương Phật — là Phật ở địa thứ mười ba.
(Tỳ Lô Giá Na Phật, A Súc Phật, A Di Đà Phật, Bảo Sinh Phật, Bất Không Thành Tựu Phật)
A Đạt Nhĩ Mã Phật — là Phật ở địa thứ mười sáu. (Tức là Bản Sơ Phật.) Cũng chính là Phật Nguyên Thủy.
Cảnh giới của Phật là vượt ra ngoài sức tưởng tượng.
Ví dụ, cá nhân tôi có trải nghiệm một thân hóa thành nhiều thân:
Vào sáng sớm một ngày nọ, tôi phát hiện ra tối hôm qua một thân tôi đã hóa thành nhiều thân, khi trở về thì thiếu mất một thân. Qua sự điều tra của tôi, tôi mới biết rằng thân này đã nhập vào thân của một đệ tử nọ. Đệ tử này ở xa tận Đông Nam Á.

Anh ta nói: Lư Sư Tôn có một thân ở trên thân anh ta.
Đêm đêm cùng đi ngủ.
Sáng sáng cùng thức dậy.
Đi đứng ngồi nằm đều là cả hai người cùng làm.
Tôi thiếu mất một thân.
Anh ta nhiều hơn một thân.
Lạ ghê!

Cảnh giới của Phật không chỉ như vậy, không phải là điều mà thế nhân có thể tưởng tượng ra được. Chỉ Phật với Phật với nhau mới biết.
Vô ngại.
Nhậm vận.
Toàn trí.
Thường tịch.
Căn bản là không có cách nào hình dung được.

Tôi có một bài kệ khuyên thế nhân:
*"Nhân tâm hợp thiên tâm
Thiên tâm hợp đạo tâm
Buông bỏ vạn duyên cớ
Vô thủy phiền não không
Nhập thái hư uy nghiêm
Tĩnh tọa thấy chân tướng
Vô niệm tự thanh tịnh
Cuối cùng đắc vô sinh."*


### 41. Bạn là diễn viên


Tôi thích nhất là hai từ ngắn gọn của Phật Thích Ca Mâu Ni. Có người hỏi Phật:
"Đời người là gì?"
Phật đáp:
"Trả nghiệp."
Hai chữ "trả nghiệp" này đã bao hàm tất cả mọi thứ của chúng sinh rồi. (Tất cả của tất cả.)
Ôi! Bậc trí giả như Phật khiến tôi không ngớt tán thán.

🌟

Nhục thân của mỗi người chúng ta đều là một hệ thống phức tạp, không phải đơn nhất, mà là phức tạp đan xen.
Tư tưởng của mỗi người chúng ta cũng là một hệ thống phức tạp, cũng không phải là đơn nhất.
Gene khác nhau.
Hormone khác nhau.
Neuron thần kinh khác nhau.
Não trái khác nhau.
Não phải khác nhau.
Mỗi người chúng ta đều có những câu chuyện của riêng mình, bởi vì mỗi người đều có những thể nghiệm khác nhau.
Trên phương diện hoàn cảnh cũng khác nhau.


Ví dụ:
Quốc gia khác nhau.
Chủng tộc khác nhau.
Gia đình khác nhau.
Đi học khác nhau.
Chơi với bạn bè khác nhau.
Ngay cả nằm mơ cũng chẳng bao giờ giống nhau.

Vì thế, tôi nhận thấy thế này:
Bạn là ai? Đến từ đâu? Cần đi đâu? Tôi tin rằng mỗi cá nhân đều khác nhau.
Có người thì sống trong bi kịch.
Có người thì sống trong hỷ kịch.
Có người thì lúc bi lúc hỷ.
Câu chuyện này tiếp nối câu chuyện khác, một hạt gạo nuôi ra trăm dạng người làm trăm việc khác nhau.

🌟

Cá nhân tôi, trọng điểm trong cuộc đời này của tôi là diễn một vai diễn nặng kí của tôn giáo, câu chuyện này tiếp nối câu chuyện khác.
Tôi thậm chí còn nghĩ rằng:
Đến lúc cần thiết, tôi sẽ hy sinh cả mạng sống của mình.
Lời thề nguyện của tôi là:
Phân thân xả cốt độ chúng sinh.
Địa ngục chưa sạch thề không thành Phật.
Đời đời kiếp kiếp độ chúng sinh.
Tôi là diễn viên, diễn giấc mơ độ chúng sinh. (vở kịch độ chúng sinh)
Tôi phát hiện ra, không chỉ tôi là diễn viên, bạn cũng là diễn viên, người khác cũng là diễn viên, mọi người đều là diễn viên, các vai diễn khác nhau, khắp nơi đều là những câu chuyện.

🌟

Và cứ như thế, ý nghĩa cuộc sống của mỗi người chúng ta đều không giống nhau.
Giá trị quan cũng khác nhau.
Người tin vào chính trị thì giá trị của họ nằm ở chính trị.
Người tin vào kinh tế thì giá trị của họ nằm ở kinh tế.
Người tin vào xã hội thì giá trị của họ nằm ở xã hội.
...

Với tôi mà nói thì:
Hai chữ "trả nghiệp" mà Phật Thích Ca Mâu Ni nói, tôi trả được hết nghiệp chướng của bản thân thì đó chính là giá trị cuộc đời này của tôi.
Mọi người nghĩ thế nào?
Nghiệp chướng này thanh tịnh hết thì chính là giá trị đó.


### 42. Xem xét kĩ tư tưởng


Còn nhớ vào ngày 16 tháng 6 năm 1982, tôi đưa cả nhà gồm Lệ Hương, Phật Thanh, Phật Kỳ đặt chân lên đất Mỹ. Năm đó, tôi 38 tuổi.
Khoảng bảy năm sau, tại Seattle nước Mỹ, tôi có cuộc phỏng vấn công dân tại cục nhập cư Mỹ. Phó cục trưởng hỏi tôi:
"Vì sao ông muốn làm công dân Mỹ?"
Tôi đáp:
"Tự do."
Phó cục trưởng nghe xong hiểu ý và cười. Ông ấy không hỏi thêm nữa. Cho qua!

🌟

Đúng vậy.
Cá nhân tôi thích tự do tự tại sống qua ngày. Đài Loan khi đó vẫn ở trong thời kỳ giới nghiêm.
Tôi là nhà văn. Tôi viết văn, xuất bản sách cũng phải chịu những hạn chế nhất định. (Những người như Bá Dương, Lý Ngạo đều đã bị bắt.)
Tôi tín ngưỡng Phật giáo. Trong quân đội tôi cũng bị người quản phòng quản chế. Tôi có đôi chút cảm thấy không được tự do.
Vì thế, tôi ngầm tôn sùng:
Tự do.
Dân chủ.
Nhân quyền.
(Đương nhiên, tôi hiểu sự tự do của cá nhân không thể gây ảnh hưởng đến sự tự do của người khác.)

🌟

Tôi sáng lập Chân Phật Tông. Ban đầu là, tôi là sư phụ, người khác là đồ đệ, chỉ như thế mà thôi. 

Về sau, các đệ tử quy y càng ngày càng nhiều, nhiều đến năm triệu người, vì thế không lập ra quy định thì không được. Do đó mới có sự phân biệt Rinpoche, Thượng sư, giáo thọ sư, pháp sư, giảng sư, trợ giảng, đường chủ, đồng môn.
Có những thứ này rồi thì lại phải có giới luật. Phật giáo có giới luật Hiển giáo, giới luật Mật giáo, giới luật xuất gia, giới luật tại gia...

🌟

Tôi nghĩ, những quy định và giới luật này chẳng phải là gây trở ngại đến sự tự do của tín chúng sao?
Nhưng nghĩ đi thì cũng phải nghĩ lại:
Giới luật cũng giống như đèn đỏ, nếu không có đèn đỏ để quản chế hành vi của tín chúng thì nhất định sẽ xảy ra tai nạn. Đại loạn. (Cho dù là tự do, dân chủ, nhân quyền thì cũng cần có pháp luật, chế độ, hệ thống để kiểm soát.)
Đó là điều tất yếu của xã hội.

🌟

Tôi phóng tầm mắt ra nhìn:
Thế giới hiện tại có hai kiểu tư tưởng:

1. Chủ nghĩa tự do.
2. Chủ nghĩa xã hội.

(Đương nhiên cũng có các trường phái nhánh nhỏ.)

Tư tưởng của cá nhân tôi cố nhiên vẫn tôn sùng tự do, dân chủ, nhân quyền. Nhưng tôi cũng vẫn nghĩ rằng hệ thống, chế độ, pháp luật là điều tất nhiên. Tôi muốn lấy cái tốt đẹp của chủ nghĩa tự do, cái tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội hợp lại thành một. Không thể thiên lệch bên nào.


### 43. Tôi không phải thiền sư (1)


Tôi thọ Bồ Tát giới tại chùa Bích Sơn Nham ở Nam Đầu (Đài Loan).
Khi báo danh, tôi đã gặp thiền sư Như Học (người sáng lập chùa).
Sư hỏi:
"Anh quy y ai?"
Tôi đáp:
"Ấn Thuận đạo sư."
Sư nói:
"Cho phép anh thọ Bồ Tát giới."
Tôi hỏi:
"Nếu tôi không quy y Ấn Thuận đạo sư thì sao?"
Sư nói:
"Thì không cho phép!"
Tôi nói:
"Một mình tôi đến chùa Bích Sơn Nham, cũng là một mình tôi rời khỏi Bích Sơn Nham. Bản thân tôi nói là được, tôi tự cho phép mình nhận hay không nhận Bồ Tát giới."
Sư nghe xong, không nói gì, chỉ trừng mắt nhìn tôi. Tôi chắp tay trước thiền sư Như Học rồi cáo lui.

🌟

Tôi gặp pháp sư Thiền Hải. Đó là một lưu học sinh người Nhật Bản, ông ấy có mặt vuông tai lớn. Tôi hỏi:
"Thế nào là thiền?"
Ông ấy đáp:
"Cái gì cũng là thiền."
Tôi nghe xong, cảm thấy rất thú vị.
Tôi biết, người Nhật Bản đã đem thiền phát huy vào trong văn học, tu pháp, trà đạo, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, làm vườn, vườn hoa, kiếm đạo,...

Tôi hỏi:
"Thực tiễn việc thiền ra sao?"
Ông ấy đáp:
"Ăn cơm, đi ngủ."
Tôi nói:
"Tôi không phải thiền sư."
Ông ấy nói:
"Không phải thiền sư thì là thiền sư!"
Ha! Rất thú vị!

🌟

Tôi gặp pháp sư Thiền Mục.
Ông ấy mời tôi ăn cơm tại núi Hổ Sơn Nham ở Viên Lâm (huyện Chương Hóa, Đài Loan). Ông ấy giới thiệu hai đại thí chủ cho tôi làm quen.
Tôi hỏi:
"Ông có hiểu công án không?"
Ông ấy đáp:
"Không hiểu."
Tôi hỏi:
"Ông có biết ăn cơm không?"
Ông ấy đáp:
"Biết."
Tôi nói:
"Công án chính là ăn cơm đó!"
Ông ấy cười.

🌟

Tôi gặp pháp sư Thiền Minh. Trên mặt ông ấy có một cái bớt màu đen. Tôi nói:
"Ông mới là đại thiền sư đó!"
Ông ấy hỏi:
"Vì sao?"
Tôi đáp:
"Ông đã phát huy thiền lên mặt ông rồi.”


### 44. Tôi không phải thiền sư (2)


Tôi từng ngồi học khóa tụng ở lớp của pháp sư Thiện Tứ ở chùa Từ Âm. Mẹ tôi cũng học ở đó. Thầy A Bảo (là em rể tôi) cũng học ở đó.
Ngoài giờ học, tôi hát bài "Lư hương tán" mà pháp sư Thượng Lâm ở chùa Từ Minh dạy cho tôi. Đúng vào lúc tôi đang tự đắc thì pháp sư Thiện Tứ xông vào. Ông ấy hỏi:
"Ai hát đấy?"
Tôi đáp:
"Là tôi."
Ông ấy nói:
"Khó nghe quá!"
Tôi nói:
"Tôi đâu có hát cho ông nghe."
Ông ấy hỏi:
"Thế anh hát cho ai nghe?"
Tôi đáp:
"Tự mình hát cho mình nghe."
Ông ấy nói:
"Sau này không cho phép anh hát cho người khác nghe!"
Tôi hỏi:
"Ai là người khác?" 
(Ai có thể trả lời, ai là người khác?)

🌟

Ở chùa Từ Minh, tôi gặp pháp sư Thánh Ấn (trụ trì).
Tôi hỏi:
"Cái gì là thần thông?"
Ông ấy đáp:
"Tôi không hiểu những cái này."
Tôi hỏi:
"Thế ông hiểu những cái gì?"
Ông ấy có chút không muốn trả lời câu hỏi của tôi. Ông ấy nói:
"Anh còn chưa ăn cơm mà! Đi ăn cơm đi!"
Tôi nói:
"Ăn cơm cũng là thần thông đó!"
Ông ấy xua xua tay nói:
"Đi!"
Ông ấy không buồn để ý đến tôi.
(Chú thích: Pháp sư Thánh Ấn khi ấy thường đến tinh xá Hoa Vũ tìm gặp Ấn Thuận đạo sư. Tôi sống ở sát vách tinh xá Hoa Vũ nên tôi thường hay gặp ông ấy. Ông ấy thường nhìn thấy tôi, chúng tôi vẫy tay chào nhau.)
Pháp sư Thánh Ấn nói "Đi!" cũng rất thú vị!
Ông ấy đi rồi!
Tôi thì đi Mỹ rồi!
Tất cả con người trên đời cũng là "đi, đi, đi".

🌟

Một hôm, tôi từ nước ngoài trở về liền đi thăm Ấn Thuận đạo sư. Ấn Thuận đạo sư không có ở nhà, chỉ có thầy Minh Thánh ở đó. Tôi hỏi:
"Đạo sư đâu?"
Ông ấy đáp:
"Ở bệnh viện."

Tôi trở về viết một chương sách tiêu đề là "Đến thăm thầy mà không gặp", trong chương sách đó có hai câu:
*"Ngọn trúc xanh xanh hoàn toàn là pháp thân.
Cúc vàng ngào ngạt hoàn toàn là bát nhã."*
Đạo sư đọc xong bài văn này có vẻ không được vui. Đạo sư nói:
"Ai là Liên Sinh? Liên Sinh là ai?"
Tôi rất cẩn thận nghĩ về lời của đạo sư, ai là Liên Sinh? Liên Sinh là ai?
Cuối cùng tôi đã hiểu ai là Liên Sinh? Liên Sinh là ai? Muốn biết đáp án, hồi sau phân giải.


### 45. Tôi không phải thiền sư (3)


Tôi quy y pháp sư Lạc Quả tại Sa Lộc (Đài Trung, Đài Loan).
Có một lần, tôi đến chùa Phật Quang tại Phố Lý. Pháp sư Lạc Quả giảng kinh thuyết pháp tại chùa Phật Quang. Tôi ngồi xuống nghe pháp. Pháp danh của tôi là Đạo Ngạn, pháp danh của Sư Mẫu là Đạo Hoa.
Tôi biết pháp sư Lạc Quả là người kế thừa pháp hai bảy đời sau của Tào Động tông, là diễn phái thứ năm, thuộc phái Đại Tự.

Tôi kín đáo hỏi sư phụ:
"Thiền tông - một hoa nở năm cánh, tức là Lâm Tế tông, Tào Động tông, Pháp Nhãn tông, Vân Môn tông, Ngưỡng Vy  tông. Vì sao Tào Động tông lại đặt tên là Tào Động?"
Sư đáp:
"Khế hợp mà thôi!"
Tôi hỏi:
"Khế cái gì hợp?"
Sư không đáp, hỏi ngược lại tôi:
"Vì sao anh quy y tôi?"
Tôi đáp:
"Khế hợp mà thôi!"
Sư nói:
"Nếu anh hiểu hai chữ khế hợp thì thiên hạ vạn sự tốt đẹp!"
Tôi đã ngộ rồi.

🌟

Ở chùa Phật Quang, tôi đã quen biết pháp sư Đạo Tĩnh. Ông ấy gặp tôi thì nói thao thao bất tuyệt, ở chùa Phật Quang ông ấy có một số chuyện bị oan ức. Ông ấy nói, nói mãi, nước mắt rơi lã chã không ngừng. Tôi nói:
"Đừng khóc! Đừng khóc!"
Ông ấy lại càng khóc ghê hơn. Tôi nói:
"Pháp hiệu của ông là Đạo Tĩnh, sao lại chẳng hề tĩnh tí nào vậy?"
Ông ấy nói:
"Thì tĩnh không được đó!"
Tôi nói:
"Sau cơn mưa trời lại sáng, ông hiểu không?"
Ông ấy nghe xong, gật gật đầu.

🌟

Có một lần, Dương Thiên Phát, Dương Thiên Sinh mời tôi ăn cơm ở nhà hàng chay Tử Trúc Lâm. Cách một bàn có một pháp sư đang cắm cúi ăn cơm. Khi ông ấy ngẩng đầu lên thì tôi nhận ra ông ấy. Ông ấy chính là pháp sư Đạo Tông ở chùa Phật Quang.

Ông ấy liếc nhìn tôi một cái, ông ấy cũng nhận ra tôi là Đạo Ngạn. Cả hai gật đầu với nhau. Bốn mắt nhìn nhau.
Trong lòng tôi muốn hỏi ông ấy xem Đạo Khả, Đạo Trung có khỏe không. Nhưng ông ấy không ngẩng đầu lên nữa. Người nào ăn của người ấy. Ăn xong thì chia tay!
Tôi nghĩ đến:
Như là tướng.
Như là tính.
Như là nhân.
Như là quả.
Như là duyên.
Như là báo.


### 46. Tôi không phải thiền sư (4)


Pháp sư Tẩy Trần ở Hồng Kông đến Đài Loan, pháp sư Chấn Tẩy ở chùa Từ Thiện ở Đài Trung đưa ông ấy đến nhà tôi.
Chúng tôi ngồi trong phòng khách. Pháp sư Tẩy Trần hỏi:
"Bệnh của tôi có thể khỏi được không?" (Ông ấy mắc bệnh mãn tính.)
Tôi đáp:
"Có thể kiểm soát được khỏi!"
Ông ấy hỏi:
"Có thể kiểm soát được không khỏi sao?"
Tôi đáp:
"Đúng."
Ông ấy hỏi:
"Vì sao có thể kiểm soát được khỏi, lại có thể kiểm soát được không khỏi?"
Tôi đáp:
"Nhất thời."

Pháp sư Tẩy Trần học Phật đã nhiều năm, ông ấy hiểu "nhất thời" nghĩa là gì. Vì thế, ông ấy không hỏi lại nữa.
Tôi cũng không trả lời thêm nữa.
Tôi muốn nói với ông ấy rằng:
"Một ngày hai mươi tư giờ, nhiệt độ không khí mỗi giờ đều không hoàn toàn như nhau."

🌟

Pháp sư Giác Quang ở Hồng Kông đến nhà tôi. Khi ấy tôi đã chuyển nhà từ Đài Loan đến Seattle ở Mỹ rồi, ông ấy đến nhà tôi ở Mỹ.
Pháp sư Giác Quang là một trong số các giới sư của tôi. Khi tôi thọ Bồ Tát giới, ông ấy là hòa thượng giảng dạy.
Ông ấy đi vào trong nhà. Mẹ vợ tôi đang rán một con cá. Ông ấy ngửi thấy mùi cá rán liền nói:
"Tôi ăn chay từ trong bụng mẹ!"
(Khi ông ấy còn ở trong bào thai, mẹ của ông đã ăn chay rồi, vì thế mới nói là ăn chay từ trong bụng mẹ.)

Tôi hỏi:
"Sư phụ có độ cho cá không?"
Ông ấy không đáp. Ông ấy hỏi ngược lại tôi:
"Đệ tử Lư có độ cho cá không?"
Tôi đáp:
"Độ!"

🌟

Pháp sư Quả Hiền ở chùa Huệ Tuyền ở Hồng Kông đến nhà tôi. Ông ấy đã giúp đỡ việc quyên góp để xây dựng Seattle Lôi Tạng Tự. Bản thân ông đã quyên góp tượng Quan Âm. Ông ấy đã tặng tôi bức họa tướng A Di Đà Phật ở cửa chính nhà tôi, bức họa tướng vô cùng hiếm có. Sau cùng, ông ấy lại là một trong số những đệ tử xuất gia quy y tôi.

Còn nữa, ông ấy cạo tóc đi tu cho tôi.
Ông ấy là đệ tử của tôi!
Lại cũng là thầy cạo đầu cho tôi!
Nhờ có việc cạo đầu của pháp sư Quả Hiền này, tôi mới có thể cạo đầu cho trăm nghìn vị pháp sư khác. Đó là truyền thừa.
Ông ấy thường nói:
"Đừng căng thẳng, không hề gì."
Pháp sư Quả Hiền có truyền thừa Lâm Tế tông, ông ấy là một đại hòa thượng, đại thiền sư.
Sau này, trên phương diện thiền, tôi tâm ấn ba chữ:
"Không can hệ."


### 47. Tôi không phải thiền sư (5)


Tại nhà của cư sĩ Hạ ở Vancouver, Canada, tôi đã gặp pháp sư Diễn Bồi. Theo tôi được biết, pháp sư Diễn Bồi thời gian qua luôn ở Singapore, cho nên việc tôi gặp ông là cực kì hy hữu.

Pháp sư Diễn Bồi hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Ngài đoán xem tôi bao nhiêu tuổi?"
Tôi chăm chú nhìn ông ấy. Ông ấy ngũ quan đoan chính, khuôn mặt hồng hào giống như mặt trời mới mọc vậy, thần thái rất phấn chấn.
Đương nhiên ông ấy cũng không còn trẻ.
Đương nhiên ông ấy cũng chưa già.
Vậy chắc chắn là tuổi trung niên.
Tôi lấy số tuổi nhỏ nhất của một người trung niên để trả lời ông. Tôi nói:
"49 tuổi!"
Ông ấy cười lớn ha ha.
Những vết hằn tuổi tác không nhìn thấy được trên khuôn mặt của ông ấy, điều này cho thấy ông có thuật dưỡng sinh.

Tôi hỏi ông:
"Ông học Phật có cảm tưởng gì không?"
Ông ấy đáp:
"Càng học càng sống."
Tôi hỏi:
"Cái gì sống?"
Ông ấy đáp:
"Tôi nói đến sinh khí tràn trề, chứ không phải là tử khí nặng nề."
Ông ấy kể với tôi:
"Rất nhiều người cho rằng học Phật phải trang nghiêm đạo mạo, mặt đanh như thép, nhất cử nhất động đều phải chững chạc thâm trầm. Động tác phải chậm rãi, nói năng thận trọng, như thế là hiểu sai về Phật pháp."
Tôi nghe xong, cảm thấy pháp sư Diễn Bồi rất có cảm tính.

🌟

Pháp sư Ngộ Minh là hội trưởng của hội Trung Phật. Ông ấy đã đến Los Angeles nước Mỹ, tỏ ý muốn đến Seattle tìm tôi. Có người can ngăn ông đừng đến.
Nhưng, ông ấy vẫn đến!
Tôi, Thường Nhân, Thường Trí đã đưa trưởng lão Ngộ Minh đi ăn sáng. Nhưng không cẩn thận, một bát sữa đậu nành đã đổ lên người trưởng lão Ngộ Minh. Cả bộ quần áo đều ướt hết rồi!
Trưởng lão Ngộ Minh nói:
"Choa! Tôi trúng giải rồi!"
Tôi hỏi:
"Cần đi giặt không?"
Ông ấy đáp:
"Tôi chỉ mặc một bộ đồ đến đây, không có bộ khác. Không có cách nào thay giặt được."
Thế nên chỉ có cách lau khô thôi.
Tôi hỏi:
"Có nghiêm trọng không?"
Ông ấy đáp:
"Không sao cả!"

Trưởng lão Ngộ Minh nói với tôi:
"Trên thế giới này, không có việc gì phải căng cả, mỗi sự việc đều không cần căng thẳng. Có người cảnh cáo tôi kiểu gì cũng không được đi Seattle, nhưng tôi đã đến rồi, tôi cho rằng đi Seattle cũng không cần phải căng, căng thẳng cái gì chứ?"
Tôi nghe xong, tôi cho rằng điều mà trưởng lão Ngộ Minh nói rất đúng. Tôi cũng chẳng phải là hổ, sợ cái gì chứ? Tôi chỉ là một con mèo nhỏ bé thôi.


### 48. Tôi không phải thiền sư (6)


Pháp sư Đại Hùng ở Singapore bất ngờ đến thăm, vừa bước vào cửa đã nói:
"Thiện Tài Đồng Tử thứ năm mươi ba yết kiến, hôm nay đến thăm Lư Sư Tôn."
Pháp sư Đại Hùng nói ra toàn lời sắc bén.
Là Thiền Hòa Tử.
Pháp sư Đại Hùng hỏi:
"Thế nào là thiền?"
Tôi đáp:
"Thanh sơn bất cải, lục thủy trường lưu." [Núi non không biến đổi, nước xanh còn chảy mãi.]
Pháp sư Đại Hùng hỏi:
"Câu trả lời của ngài là lời nói giang hồ, là ý gì?"
Tôi đáp:
"Ấn nguyệt ấn thiên." (Giang hồ chính là in dấu tại trời đất.)

Pháp sư Đại Hùng lại hỏi:
"Thế nào là đạo?"
Tôi đáp:
"Hồng trần cuồn cuộn." (Cái gì cũng đều là đạo.)
Pháp sư Đại Hùng hỏi:
"Là ý gì?"
Tôi đáp:
"Sau này có ngày gặp lại." (Hợp nhất với đạo.)
Pháp sư Đại Hùng hỏi:
"Nếu không gặp thì sao?"
Tôi đáp:
"Vốn chẳng có nợ nần."

Tôi và pháp sư Đại Hùng nhìn nhau cười lớn. Pháp sư Đại Hùng hỏi tôi:
"Ngài dựa vào cái gì để độ chúng sinh?"
Hai tay tôi kết ấn, thế là liền xuất hiện sự rung động của khí. Pháp sư Đại Hùng buột miệng nói:
"Khí công!"
Sau đó, pháp sư Đại Hùng quy y tôi, lập tức quỳ xuống xin quán đảnh.

Mỗi khi ông ấy đến nơi nào liền gửi thư cho tôi. Mãi cho đến một ngày, ông ấy không gửi thư cho tôi nữa, ông ấy đã quy vị rồi. Sau khi hỏa thiêu, nghe nói lưỡi ông ấy còn chưa hóa hết. Có pháp sư nói:
"Pháp sư Đại Hùng tâm nguyện còn dang dở!"
Tôi nói:
"Mây trắng vẫn bao phủ núi xanh y như cũ."

🌟

Tôi từng đến chùa Tây Lai để thăm Tinh Vân đại sư. Pháp sư Huệ Long thấy tôi đến liền gọi lớn:
"Lư hành giả đến rồi!"
Lư hành giả chính là Lục Tổ của Thiền tông, chính là Huệ Năng tiếng tăm lẫy lừng. (Lục Tổ xưng là Lư hành giả.)
Tôi nói:
"Tôi không phải thiền sư!"
Người hỏi:
"Không phải thiền sư thì là gì?"
Tôi đáp:
"Tôi chỉ là sống đêm này qua đêm khác thôi!"
Người hỏi:
"Làm pháp chỉ gì?"
Tôi đáp:
"Sớm nhìn đông nam, chiều ngắm tây bắc."
Người hỏi:
"Nhìn thấy cái gì?"
Tôi đáp:
"Bản tự viên thành."
Ha! Ha! Ha!


### 49. Tôi không phải thiền sư (7)


Pháp sư Chấn Quang ở chùa Từ Thiện ở Đài Trung có thể xem là biết tôi rất sâu.
Duyên khởi của chúng tôi là:
Tiến sĩ Tang Quảng Ân ở Nhật Bản bế quan tại chùa Từ Thiện, Tang Quảng Ân là đệ tử của tôi. Do đó, chúng tôi có qua lại với nhau.
Cửa chùa Từ Thiện khi đó là do tôi xác định vị trí đặt cửa. (Dùng la canh để định vị.)
Tôi rất khâm phục ông ấy việc "chích máu viết kinh". Ông ấy cứa đứt đầu ngón tay, dùng máu của mình để viết một bộ Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện Kinh. Ông ấy tặng tôi một bộ.
Tôi cả đời sợ đau, với máu thì tôi càng sợ hãi.
Đối với việc chích máu viết kinh của pháp sư Chấn Quang, tôi cảm thấy tinh thần của ông ấy khiến tôi kính phục.

Ông ấy đưa tôi đi quy y pháp sư Đạo An ở hội Trung Phật. (Tại chùa Huyền Trang ở hồ Nhật Nguyệt.)
Tôi đặc biệt được ông Vương Nhất Chi giới thiệu tôi gặp riêng pháp sư Đạo An.
Pháp sư Chấn Quang chăm sóc tôi từng li từng tí.

Chúng tôi từng nói về thiền. Pháp sư Chấn Quang hỏi tôi:
"Khi nhục thân tán loạn thì đó là tại bản thân mình phải không?"
Tôi đáp:
"Chẳng có liên quan gì đến sự sung sướng cả!"
Pháp sư Chấn Quang nói:
"Quá may! Chẳng có liên quan gì đúng là một lời nói lên tất cả."
Tôi nói:
"Mỗi người một mình xưng tôn."

Đến lượt tôi hỏi pháp sư Chấn Quang:
"Khi nhục thân tán loạn thì đó là tại bản thân mình phải không?"
Pháp sư Chấn Quang đáp:
"Một đi một đến."
Tôi hỏi:
"Như có đến, như có đi, phải không?"
Pháp sư Chấn Quang đáp:
"Người đi tự đi, người đến tự đến. Nhưng phải ghi nhớ rõ ràng."
Tôi khen ngợi!
Pháp sư Chấn Quang đáp:
"Chẳng qua là tùy duyên vô tác, động tịch là lẽ thường tình mà thôi!"

🌟

Pháp sư Đạo An khi đi tắm bị trượt chân ngã nên đã viên tịch rồi!
Pháp sư Chấn Quang vội vã báo cho tôi biết. Pháp sư Chấn Quang nói:
"Thầy đi rồi!"
Tôi nói:
"Vừa hay trăng khuyết."
Pháp sư Chấn Quang nói:
"Nếu là trăng tròn thì sao?"
Tôi nói:
"Vừa buồn vừa vui."
Pháp sư Chấn Quang nói:
"Ông coi chuyện sinh tử thế nào?"
Tôi nói:
"Như nhau."
Pháp sư Chấn Quang nói:
"Như nhau là thế nào?"
Tôi nói:
"Quần áo làm nên con người, nước làm nên ruộng đồng."
Pháp sư Chấn Quang nói:
"Thế thì rất tốt!"
(Sau khi tôi đã hiểu về tự nhiên, đối với việc thế gian, tôi đã thông suốt hơn rất nhiều. Tóm lại, tôi không phải là thiền sư, thiền sư chỉ là bong bóng khí cầu mà thôi.)


### 50. Tôi không phải thiền sư (8)


Sau khi tôi tốt nghiệp trường Trắc Lượng, trong lần phân công công việc đầu tiên, tôi được phân đến liên đoàn trắc lượng số 5802 ở bên cạnh cầu Nam Môn ở Đài Trung.
Các bạn cùng lớp tôi có:
Phó Tư Kiềm.
Từ Diệu Đường.
Được phân công ở cùng đơn vị.

Lần đầu tiên tôi được mở thiên nhãn là trong thời kỳ tôi phục vụ tại liên đoàn trắc lượng số 5802. Ở liên đoàn trắc lượng này, tôi đã độ hóa phó liên trưởng Ngụy Thanh Bình, lính đo đạc Hoàng Xuân Phong.

Láng giềng của liên đoàn trắc lượng này chính là bệnh viện Bồ Đề, bên trong bệnh viện có một nhà tưởng niệm Thái Hư.
Có một đại cư sĩ rất nổi tiếng trong giới Phật giáo là thầy Lý Bỉnh Nam giảng kinh tại nhà tưởng niệm Thái Hư.
Tôi đến nhà tưởng niệm Thái Hư để nghe kinh. Thế là, tôi đã kết nhân duyên với cư sĩ Lý Bỉnh Nam.

Lần đầu tiên tôi gặp riêng cư sĩ Lý Bỉnh Nam. Cư sĩ Lý hỏi tôi:
"Anh học Phật làm gì?"
Tôi đáp:
"Để thành Phật!"
Bản thân tôi cho rằng tôi trả lời như vậy, ngay cả chính tôi cũng hài lòng. Cư sĩ Lý nghe xong cũng không nói gì.
Ông ấy hỏi tôi:
"Anh bắt đầu học Phật như thế nào?"
Tôi nhắc đến Diêu Trì Kim Mẫu. Cư sĩ Lý nói:
"Toàn nói điều ngoại đạo!"
Con người tôi không thích người khác phê bình Diêu Trì Kim Mẫu. Tôi nói:
"Đó chỉ là một vị Tiên cổ xưa."
Ông ấy nói:
"Tiên cổ cũng là ngoại đạo." (Thánh, Thần, Tiên, ông ấy cho rằng đều là ngoại đạo.)
Tôi hỏi:
"Nước ta đối với Phật, có tên gọi khác không?"
Ông ấy đáp:
"Nói chuyện cùng anh thật không thể chịu được."

Cư sĩ Lý Bỉnh Nam chuyên nhất vào việc "trì danh niệm Phật", độc tôn tịnh thổ, ở nhà tưởng niệm Thái Hư, ông ấy giảng Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông Chương. Khi giảng kinh, ông ấy đã phê bình Cửu Thiên Huyền Nữ. Ông ấy hỏi:
"Thế nào là Cửu Thiên? Cửu Thiên nào?"
Ông ấy phê bình Thiền tông là:
"Dị giáo."
Lý Bỉnh Nam gặp tôi ở liên xã Phật Giáo, liền hét lớn:
"Tà ma ngoại đạo."
Tôi cũng mặc cho ông ấy nói.

Dưới sự chỉ dẫn của cư sĩ Lý Bỉnh Nam, ba người gồm tôi, mẹ tôi, Hoàng Xuân Phong đã quy y Ấn Thuận đạo sư, đây là lần đầu tiên tôi quy y. Pháp hiệu của tôi là Huệ Ngạn.
Pháp hiệu của mẹ tôi là Huệ Uẩn.

Trải qua rất nhiều năm sau, cư sĩ Lý Bỉnh Nam viên tịch, khi ấy tôi đã di cư đến Seattle nước Mỹ rồi.
Tôi mơ thấy cư sĩ Lý Bỉnh Nam. Cư sĩ Lý nói với tôi:
"Anh và tôi đồng hành!"
Tôi hỏi:
"Không phải là không thể cùng nói chuyện sao?"
Cư sĩ Lý đáp:
"Sơn hà đại địa là một.”


### 51. Thư của Liên Hoa Trung Chính (tóm lược)


Nói thẳng ra, dịch bệnh là vô thường.
Covid-19 là biểu tượng lớn cho sự vô thường của năm 2020, 2021.
Quy mô lớn nằm ngoài dự liệu. Rất nhiều người mô tả rằng nó chỉ đứng sau chiến tranh hạt nhân hoặc sao Chổi đâm vào trái đất.
Ảnh hưởng của nó khiến cho trăm ngành công nghiệp điêu đứng, chỉ có sản phẩm phòng chống dịch bệnh là một mình phát triển.
Lư Sư Tôn cũng không tiện trở về Đài Loan, rất nhiều đồng môn tạm thời không có phúc phận tham gia pháp hội để lắng nghe khai thị.

🌟

Lư Sư Tôn từng trực tiếp chỉ ra rằng: 
"Nhiệm vụ lớn nhất của con người là khai ngộ!" 
Một lời khai thị sắc bén làm sao, không hề né tránh đùn đẩy cho hoàn cảnh!
Nhìn lại lịch sử, cái gọi là thành tựu của mỗi cá nhân đều bị thời gian mài mòn sạch sẽ. Chỉ còn lại nghiệp. Không hề có trường hợp ngoại lệ.

🌟

Đầu năm ngoái, đệ tử tình cờ nhận được một cuốn sách dịch về Liên Hoa Sinh Đại Sĩ do một đôi vợ chồng mới quen biết tặng cho. Đệ tử có được ba lợi ích:

1. Khi chim sắt bay trên không là thời kì Mật giáo đại hưng thịnh. (Tượng trưng cho lời chúc phúc khế hợp với tu pháp.)

2. Nhờ thấy được giác tính trần trụi mà đắc tự giải thoát. Và, từ trong mật ý của Bổn tôn tĩnh tịch và phẫn nộ mà đắc được sự chỉ dạy rất sâu về tự giải thoát. Những điều này cũng tương đương với Lư Sư Tôn đích thân gia trì.

3. Căn cứ theo lời giải thích rõ của đại đức, truyền thụ trực chỉ nên xếp vào công khóa "vô tu đạo" cuối cùng trong năm đạo tu hành.
Hoặc, chí ít biến "đăng địa Bồ Tát" (Hoan hỷ địa) làm sự tham chiếu bản vị tu trì.

Đệ tử nhờ có cuộc đối thoại giữa Lư Sư Tôn và Hoàng Bách đại sư vào tám năm trước, đại sư nói: "Ta không rời tâm anh.", từ đó tín thọ tất cả đều là tác dụng của tâm,... nỗ lực nghiên cứu bản giác của trực chỉ mà Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền dạy, thấm thoắt cũng đã được hơn một năm rồi.

🌟

Trong một năm này, đệ tử đã thỉnh những cuốn sách của Lư Sư Tôn hồi còn trẻ (phần lớn là sách bìa cứng do nhà xuất bản Học Hải xuất bản). Đọc đi đọc lại nhiều lần, mới biết Lư Sư Tôn khi ấy đã khai thị rất rõ ràng rành mạch rồi. Chỉ là đệ tử khi ấy học vấn và tư duy nông cạn chật hẹp, không biết nắm chắc lấy những báu vật ấy, thật đáng tiếc!

Đồng thời, đệ tử cũng thu thập toàn diện tiểu sử của các tổ sư Mật giáo để đọc. Trong đó từ Bạch giáo các vị tôn giả như Tilopa, Naropa, Marpa, Milarepa, Rechungpa, Gampopa, v.v… đến tôn giả Longchenpa đều đầy đủ cả. Ngoài ra, "Tam yếu đạo luận" của tôn giả Tsongkhapa, sự giới thiệu Quan Thế Âm Bồ Tát vào Tây Tạng của tôn giả Atisa, và "Kinh Tây Tạng độ vong" của Đại Sĩ, đều vô cùng thù thắng.

Sách tâm linh của Lư Sư Tôn đã chỉnh lý phân loại những điểm trọng yếu trong tu pháp của Tạng mật, để người mộ đạo tham khảo đặc biệt tiện lợi và có hệ thống.

🌟

Đại Sĩ nói:
"Tâm chính là tâm mình", do vậy không có cách nào so sánh, đánh giá, lý giải. 
Hòa thượng Hoài Nhượng còn trả lời Lục Tổ hỏi tâm, trả lời rằng: "Nói bất kì điều gì cũng là không đúng." 
Hòa thượng Nam Tuyền trả lời hòa thượng Triệu Châu rằng: "Nghĩ bàn về nó tức là sai." 
(Đại Sĩ cũng nhấn mạnh cần giữ tâm như nó chính là nó.)

🌟

Đại Sĩ trực chỉ "bản giác", vậy thì làm sao có ngoại cảnh đây? Xử lý như thế nào?
Thì ra bản giác có tính bản giác, có thể hiển hiện không gián đoạn, vô ngại. Tất cả ngoại cảnh đều dựa theo sự hiển hiện và giải thích nghiệp của chúng sinh.

Đại Sĩ dùng hình ảnh con quạ xuống giếng để giải thích:
Con quạ bay đến, giếng phản chiếu hình ảnh của quạ.
Quạ bay đi rồi, giếng phản chiếu bầu trời.
Nếu đuổi theo việc con quạ đến và đi thì bóng của con quạ lúc có lúc không, chính là mộng tưởng điên đảo, bám chấp như vậy thì sẽ là sai lầm.
(Trong cuốn sách số 123 "Sao đổi ngôi và cây phong đỏ", Lư Sư Tôn đã lấy cuộc đối thoại của thiền sư Vô Trụ và tể tướng Đỗ Hồng Tiềm, lấy tiếng quạ kêu để giải thích "bí mật của tâm". Ma Tổ bẻ cái mũi của thầy Hoài Hải, hay "cái giếng nhìn con lừa" của thiền sư Tào Sơn đều có thể làm bằng chứng.)

🌟

Trong phần kết, Đại Sĩ đã nhắc nhở rằng, giống như quả ô liu, không ép nó thì không thể lấy được dầu. Ngài tha thiết dặn dò rằng để biết đến sự ảo diệu trong đó thì vẫn phải dựa vào sự tinh tấn thì mới chứng minh được.

Đối với "kính sư, trọng pháp, thực tu" mà Đại Sĩ nhấn mạnh, đệ tử tông phái chúng ta đã nghe đến thuộc lòng rồi.

🌟

Sư Tôn khai thị, muốn các đệ tử đọc lại lần nữa cuốn "Độ qua biển sinh tử", cuốn sách này mười mấy năm trước đệ tử đã từng đọc rồi. Sau này lại đọc nghiên cứu "Kinh Tây Tạng độ vong" của Đại Sĩ. Do đọc cách nhau nhiều năm nên không liên kết chúng lại với nhau. Lần này, sau khi đọc lại đệ tử đã phát hiện thấy từ lâu Sư Tôn đã đem những điểm quan trọng và trình độ của "Kinh độ vong" của Đại Sĩ, dùng những đoạn văn ngắn để phân biệt, giải thích rõ và nhắc nhở.
Lần này đọc lại càng cảm thấy đệ tử của tông phái chúng ta thật sự may mắn. Đáng tiếc là dù tư liệu phong phú nhưng trái lại, lại bị xem thường.

Điều này cũng giống như vào năm 1976 khi còn ở trong quân đội, đệ tử đọc cuốn "Khởi linh học", những cảm ứng khi đọc Tâm Kinh được nhắc đến trong cuốn sách đó khiến đệ tử bắt đầu trì niệm câu chú đó trong lúc hành quân, kết quả là đã thay đổi cả hành trình cuộc đời.
Cho đến ngày hôm nay, dù đã đọc rất nhiều kinh luận, nhưng vẫn không tách rời được khỏi phạm trù của Tâm Kinh.

Đời này có thể làm đệ tử Chân Phật Tông, thật sự là vô cùng may mắn! Xin cảm ơn vô tận!


### 52. Chương chia sẻ cảm ứng


Con kính chào Sư Tôn yêu quý!

Đây là một lá thư liên quan đến việc đệ tử cảm ứng với Sư Tôn. Dưới Phật lực gia trì của Sư Tôn, trong khoảng thời gian ước chừng mười tháng, bệnh ung thư cổ tử cung, lymphoma, tế bào ung thư của con đã hoàn toàn biến mất một cách thần kỳ, hoàn toàn không còn thấy tế bào ung thư nữa, thân thể đệ tử đã hoàn toàn khỏe mạnh, căn cứ theo báo cáo của máy quét lazer vào ngày 1 tháng 4 năm 2021. Nhờ Phật lực đại gia trì của Sư Tôn mới có được kết quả này, con vạn phần cảm tạ Sư Tôn đã cứu giúp, kéo con ra khỏi cơn bệnh thập tử nhất sinh trong đời này, đúng là kỳ tích của cuộc sống.

Đệ tử là Liên Hoa AA tại Australia, tại đây, trước tiên con xin sám hối trước Sư Tôn về những tham sân si của con từ trước đến nay cũng như những tội lỗi mà con đã từng làm ngày xưa, con đã sai rồi, bây giờ đây, con xin sám hối tất cả, mong Sư Tôn gia trì cho đệ tử tội lỗi tiêu trừ, thân thể khỏe mạnh, thật sự đắc thanh tịnh.

Ngày 23 tháng 5 năm 2020, con được kiểm tra ra là mắc ung thư cổ tử cung, lymphoma (ở vùng bẹn có một cái hạch nhỏ). Vào thời khắc nguy hiểm chết người này, điều đầu tiên là con đã thông báo với các sư huynh sư tỉ đồng môn mà con có quan hệ cá nhân thân thiết nhất, nửa đêm có sư huynh đã gửi bưu kiện thỉnh cầu Sư Tôn đại gia trì, đồng thời, con còn thỉnh xin phù chữa bệnh ung thư của Sư Tôn. Sư huynh đã dạy con những tâm yếu về thanh tịnh, nhất tâm trì tâm chú Sư Tôn, cầu Sư Tôn đại gia trì. Ở Trung Quốc, Sư Tôn cũng có rất nhiều đệ tử, trong đó có một sư tỉ đã gác qua một bên mọi việc thế tục, mỗi ngày niệm tụng rất nhiều tâm chú Sư Tôn để thỉnh cầu Sư Tôn gia trì cho đệ tử vượt qua được quỷ môn quan.

Trong quá trình trải qua trị liệu tầm 3-4 tháng trăm đắng nghìn cay này, con đã có hai lần xuất hiện điều thần kỳ. Buổi sáng ngày 26 tháng 6 năm 2020, con ngồi trên ghế ở khu vực chờ trong bệnh viện, trong lòng niệm thầm tâm chú Sư Tôn, từ khi con mắc bệnh đến nay con vẫn luôn thỉnh cầu Sư Tôn ban cho con kỳ tích để con được khỏe mạnh sống tiếp. Đối diện chỗ con ngồi là vách ngăn bằng thủy tinh lớn theo kiểu buông rủ xuống, nhìn thấy được trời xanh mây trắng, hoa cỏ cây cối. Bỗng nhiên, con nhìn thấy Sư Tôn to lớn xuất hiện trên bầu trời, tiếp theo là Đại Uy Đức Kim Cang xuất hiện, ngài ấy gật đầu đầy uy mãnh. Ngài ra sức dậm chân, con cảm thấy mặt đất đều chấn động, con cũng chấn động! Con há hốc miệng, quên hết mọi thứ, đờ người ra! Thật đúng là người có thành tâm thì Phật có cảm ứng! Cảnh tượng này chỉ lóe lên trong chớp mắt.

Ba giờ chiều ngày 8 tháng 7 năm 2020, trong phòng xạ trị mỗi ngày làm xạ trị mười lăm phút, bệnh nhân nằm yên trên giường, cánh tay lớn của máy từ từ chuyển động một vòng quanh bệnh nhân và dừng lại khoảng một phút, đó là trình tự. Trong tâm con vẫn niệm thầm tâm chú Sư Tôn, khi máy móc chuyển động một vòng rồi dừng lại, con nhìn thấy từ trong bức tường trắng đối diện bước ra một vị Bạch Y Quan Thế Âm Bồ Tát đứng trang nghiêm, ngài tiến đến gần con, tay ngài cầm tịnh bình có cành dương liễu, lúc này bên tai con truyền đến một âm thanh rằng: "Mạng của cô chưa hết, nên hoằng dương Chân Phật Mật Pháp." Đồng thời, Bồ Tát vẩy xuống những giọt cam lộ lấp lánh, khi những hạt cam lộ rơi lên người con, con lập tức cảm thấy mát mẻ dễ chịu không gì sánh bằng, khiến con bật khóc… Biết rằng Bồ Tát đến để cứu mạng con, tiếp đó Bồ Tát bỗng ẩn đi, máy móc lại chuyển động.

Buổi tối, con trở về nhà, nhìn thấy điện thoại mới biết hôm nay là sinh nhật của Sư Tôn, con ngồi trên giường đọc bảy biến Chân Phật Kinh hồi hướng cho Sư Tôn sinh nhật vui vẻ! Thường trụ thế gian! Vào ngày sinh nhật của Sư Tôn, Quan Thế Âm Bồ Tát hiện thân trong phòng trị liệu của con, đó chính là Phật lực đại gia trì của Sư Tôn. Có thể được Sư Tôn và Phật Bồ Tát cứu độ và che chở, con muôn phần cảm tạ Sư Tôn, tại đây con khấu tạ đại gia trì của Sư Tôn và Phật Bồ Tát, và cảm tạ Phật Bồ Tát đã ưu ái con như vậy. Đệ tử biết cách tốt nhất để cảm ơn Sư Tôn chính là thực tu Chân Phật Mật Pháp, từ sau ngày 8 tháng 7, đệ tử lại càng hiểu hơn về pháp thân đầy ắp hư không của Sư Tôn, Quan Thế Âm Bồ Tát và Đại Uy Đức Kim Cang, chỉ cần người có thành tâm, một mực thành tâm, thì Phật Bồ Tát và thầy chỉ cách một bước chân thôi...

Nam Mô A Di Đà Phật.
Đảnh lễ Căn bản Thượng sư Sư Tôn.
Đệ tử Liên Hoa AA.

🌟

Đệ tử là Liên Hoa Thái Tường, hiện đang sống tại bang New Jersey. Vào ngày 14 tháng 3 năm 2021, đệ tử cùng tham gia tu pháp thông qua phát sóng trực tiếp trên mạng buổi pháp hội Hộ Ma Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, đã cảm ứng thấy một sức mạnh rất an lành và ấm áp bao phủ khắp toàn thân. Đây là lần đầu tiên xem phát sóng trực tiếp mà xuất hiện cảm ứng, hơn nữa còn khiến cho tình trạng thân thể đau yếu của đệ tử dễ chịu hơn rất nhiều. Vô cùng cảm ơn Sư Tôn từ bi, cũng đã để cho đệ tử kiến chứng được pháp lực vô biên, thần thông quảng đại của Sư Tôn.

Nếu có vấn đề gì xin liên lạc với con bất kì khi nào. Cảm ơn, A Di Đà Phật.
Om guru liansheng siddhi hum.

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/286-nhung-chuyen-than-bi.md
# Title: 286. Những chuyện thần bí
---

![image](/img/img_e80a788c74b23613d839d9f971fa1ff5.jpg)



## Những chuyện thần bí


🪷 Kiến chứng chân thực

Văn tập số: 286
Xuất bản: 15/11/2021
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu


Khoảng tháng 6 năm 2021, tôi đột nhiên cảm thấy toàn thân mệt mỏi, khi vận động sơ sơ thì có đôi chút thở gấp.
Đi bộ một quãng đường, leo cầu thang, thở gấp!
Đánh thiếu lâm côn, hơi thở dồn dập!
Đánh thái cực quyền, cũng thở gấp!
...

Có đệ tử là bác sĩ nói:
"Vaccine Covid-19 có tác dụng phụ, dẫn đến chứng viêm cơ tim, nên sẽ sinh ra hiện tượng như vậy."
Tôi khá kinh ngạc!

Một hôm. Tôi tĩnh tọa, mắt nửa nhắm nửa mở, nhìn thấy đằng trước mặt phía bên trái xuất hiện một quả tim.
Đó đúng là một quả tim.
Giống hệt như hình vẽ quả tim treo ở trong các phòng khám bệnh viện vậy, có:
Chủ thể, giống như quả xoài.
Có các múi.
Có động mạch, tĩnh mạch.
Kích cỡ bằng nắm đấm.
Tôi nhìn thấy quả tim đó đang đập, rung động, máu đỏ tươi chảy ra, máu đỏ thẫm lại chảy vào.
Tôi đếm nhịp tim.
Quả tim ở bên ngoài và quả tim bên trong người tôi có số lần đập hoàn toàn ăn khớp với nhau.
Tim tôi thót lại!
Quả tim tôi nhìn thấy cũng thót lại!
Ôi! Trời ơi!
Rõ ràng tôi đang ngồi tĩnh tọa, lại nhìn thấy quả tim của chính mình, trong đời tôi lần đầu tiên có chuyện này, khiến tôi vô cùng kinh ngạc!
Tôi nghĩ:
Sau này tôi có thể nhìn thấy lục phủ ngũ tạng của chính mình, chỉ cần tôi tĩnh tọa thì các bộ phận bên trong thân thể tôi sẽ lần lượt hiển lộ ra. (Đó là một sự việc thần bí.)

🌟

Người hỏi:
"Lư Sư Tôn! Ngài có phải là người thông linh không?"
Tôi đáp:
"Đúng vậy. Đúng vậy."
Người hỏi:
"Ngài có nhìn thấy Phật không?"
Tôi đáp:
"Nhìn thấy!"
Người hỏi:
"Ngài có nhìn thấy ma không?"
Tôi đáp:
"Có thấy."
Người hỏi:
"Những sự việc thần bí mà ngài viết có thật không?"
Tôi đáp:
"Sự thật một trăm phần trăm!"

Nhưng ở đây tôi cần nói rõ, tôi không phải là "huyễn thị" cũng không phải "huyễn thính", tất cả như thế nào thì là như thế.

Ấy vậy tôi vẫn sẽ nói:
Người tin thì tự khắc sẽ tin.
Người không tin thì sẽ không tin.
Tin hay không tin tùy bạn.

(Tháng 8 năm 2021)

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**
17102 NE 40th Ct.,
Redmond WA 98052
U.S.A


### 01. Kỳ thi lấy chứng chỉ thầy thuốc


Chương sách này tôi sẽ giấu đi tên đất nước và tên người.
Đệ tử của tôi đi thi lấy chứng chỉ thầy thuốc, anh đã thi nhiều lần rồi, nhưng lần nào cũng bị thiếu vài điểm nên không đỗ, do đó anh vô cùng lo lắng. Tôi cũng lo lắng thay cho anh. (Bởi vì nếu lại không thi đỗ thì cơ hội tương lai sẽ vẫn mù mịt!)

Bức thư anh gửi đến đặt trên bàn làm việc của tôi ở Tông Ủy Hội, mỗi ngày vào lúc năm rưỡi chiều tôi sẽ đến đó để gia trì. Trong thư anh nói:
"Nhất thiết phải gia trì cho con thi đỗ!"
Tôi nói:
"Tôi đã dốc toàn lực rồi!"
Tôi niệm chú:
"Thiên thanh thanh, địa linh linh, quỷ thần kinh, ngô kiếm chỉ giá nhất hoạch, tốc thỉnh Thiên Y Thượng Nhân giáng lai lâm."
Rồi niệm:
"Thần chỉ dương dương, vạn cổ lưu phương, ngô kim kì thỉnh, trợ ngã đệ tử, kim bảng đề danh."
(Tôi đã dốc hết sức mình.)

🌟

Buổi tối trước ngày diễn ra kỳ thi, anh có một giấc mơ. Anh bước vào một lớp học, trong lớp học chỉ có một người, sau đó lại có một cô gái khác bước vào. Cô gái này họ Trương tên Huệ Hạnh.

Có một thầy giáo bước vào lớp học, ông ấy vừa bước vào đã cầm lấy viên phấn rồi viết đề thi lên bảng đen. Viết kín cả tấm bảng đen. Viết xong, ông chẳng nói một lời nào, liền đi ra khỏi phòng học. Hai học sinh bọn họ chỉ nhìn thấy thầy giáo mặc áo trắng, bay lướt vào rồi lại bay lướt ra, cũng không quay mặt lại nhìn họ lấy một cái. Chỉ thấy trên tấm bảng đen toàn là đề thi.

Thế là hai người họ học thuộc đề thi ở trên bảng. Rồi lần lượt tìm tư liệu để trả lời câu hỏi. Hai người cùng nghiên cứu với nhau, cho đến khi hiểu rồi mới dừng.
Đệ tử nói: gần như cả buổi đêm anh ấy đều mơ thấy đề thi!

🌟

Ngày hôm sau là kỳ thi chính thức.
Đề thi vừa phát ra, đệ tử giật nảy mình sửng sốt, bởi vì các câu hỏi trên quyển bài thi hoàn toàn là những câu hỏi trên tấm bảng đen trong giấc mơ tối qua, ngay cả một chữ cũng không sai khác, giống như y như đúc.

Lúc này, anh vui mừng khôn xiết, bởi vì anh đã ôn tập toàn bộ rồi, bây giờ chỉ điền đáp án chính xác vào nữa là xong.
Bảng vàng đề tên: anh đứng thứ nhất.
(Có hai người đứng thứ nhất, người kia tên là Trương Huệ Hạnh.)
Trời ơi!
Chuẩn đến mức ấy!
Thầy giáo mặc áo trắng đó là ai?
Trương Huệ Hạnh là ai?
Giấc mơ này là chuyện gì vậy?
Xin hỏi các chúng sinh trong thiên hạ, sự việc này có phải là chuyện thần bí hay không?


### 02. Điều tôi thấy trên máy bay


Có một lần tôi trở về Đài Loan, từ Seattle bay đến sân bay Đào Viên. Tôi đi hãng hàng không EVA Airlines, thời gian bay khoảng mười ba tiếng.
Ngồi trên máy bay, tôi cũng vẫn tu một đàn pháp (chỉ làm phần Chính hành).

1. Quán tưởng. (kết ấn)

1. Trì chú.

1. Nhập Tam ma địa. (tĩnh tọa)

Đúng vào lúc tôi nhập Tam ma địa, trong lúc còn mơ mơ hồ hồ, tôi chợt nhìn thấy:
Ở đằng sau hàng ghế phía trước, nghĩa là trước ghế ngồi của tôi, có một người ngồi chồm hỗm. Đây là chỗ để chân của tôi, chỗ này rất hẹp, có một người đang lom khom ở đó, có vẻ hơi gò bó.

Tôi giật thót mình, nhưng không thấy sợ hãi.
Đó là một phụ nữ trung niên mặc áo khoác màu đỏ, đảnh lễ chào tôi. Tôi hỏi:
"Có chuyện gì?"
Cô ấy đáp:
"Thỉnh cầu Lư Sư Tôn gia trì!"
Tôi hỏi:
"Gia trì cái gì?"
Cô ấy đáp:
"Thận suy. Cầu thỉnh đại lực gia trì."
Tôi hỏi:
"Bây giờ người cô đang ở đâu?"
(Hiện tại người phụ nữ ở trên hàng ghế trước ở trong khoang máy bay chỉ là một cái "thức".)
Cô ấy đáp:
"Tôi sẽ đi đón máy bay, người rất đông, tôi mặc áo khoác màu đỏ, trước ngực có cài một chiếc lông chim công."
Tôi nói:
"Tôi biết rồi, cô đi đi!"

Cô ấy xuất hiện trong lúc tôi lờ mờ thiền định, tôi trông thấy rất rõ ràng, không phải là nằm mơ, nhưng cũng không hoàn toàn là tỉnh táo minh mẫn.
Sau khi xuất định, tôi ghi nhớ sự việc này.

Máy bay xuống đến sân bay quốc tế Đào Viên, dòng người đi đón máy bay rất đông, có đến mấy nghìn người. (Cũng gần cả vạn người!) Chỉ mỗi sờ đầu gia trì cũng đã mất một tiếng đồng hồ. Còn có nhà báo phỏng vấn nữa. Có tới bốn kênh truyền hình.

Khi tôi sờ đầu, tôi đặc biệt chú ý tìm người phụ nữ mặc áo khoác đỏ trước ngực có cài lông chim công.
Dòng người chen chúc dồn lên phía trước mặt tôi. Có đồng môn ngăn chặn tình trạng này, kêu mọi người xếp hàng ngay ngắn để chờ đến lượt. Tôi lần lượt sờ đầu, không bỏ sót một ai cả.

Nhưng tôi đã bị thất vọng rồi! Tôi không nhìn thấy người phụ nữ kia, rốt cục là cô ấy ở đâu.
Tôi ra khỏi sân bay, chuyển sang đi tàu cao tốc để trở về Đài Trung. Tôi rời khỏi đường tàu cao tốc ở trạm Ô Nhật, ở đây cũng có rất đông người đón tôi. Họ xếp thành hai hàng, tôi lần lượt sờ đầu gia trì!

Cuối cùng, tôi đã nhìn thấy một người phụ nữ trung niên mặc áo khoác đỏ, trước ngực có cài một chiếc lông chim công.
Tôi đặc biệt gia trì cho cô ấy! Cầu chúc cho thận của cô mau bình phục.

Tôi hỏi:
"Làm sao mà cô vào được trong khoang máy bay của tôi vậy?"
Cô ấy đáp:
"Không biết! Căn bản tôi không hề biết chuyện này, tôi chỉ niệm tâm chú Sư Tôn thôi!"
Tôi hỏi:
"Thận của cô không khỏe, đúng không?"
Cô ấy đáp:
"Đúng vậy."


### 03. Tôi không chỉ có một con người


Tu hành đến ngày hôm nay, tôi phát hiện một điều vô cùng chân thực:
"Tôi không chỉ có một thân người!"

Mọi người sẽ cảm thấy câu nói này rất không bình thường!
Tôi giải thích rõ như sau:
Tôi càng nghiên cứu sâu vào nội tâm của mình, tôi phát hiện thân tâm nội tại của tôi có vô số Lư Thắng Ngạn.
Lư Thắng Ngạn có nhục thể thì chỉ có một người.
Nhưng, Lư Thắng Ngạn không có nhục thể thì có vô số. Họ đều sống. Họ đều sống bên trong thân thể của tôi. Ra ra vào vào.
Mọi người cho rằng con người chỉ có một, linh hồn cũng chỉ có một, con người chết rồi thì linh hồn sẽ thoát ra.
Đất trở về với đất.
Khí trở về với khí.
Nhưng tôi không như thế!

Tôi có một con người, nhưng linh hồn của tôi thì rất nhiều. Tôi chỉ cần tĩnh tọa thì Lư Thắng Ngạn này đến Lư Thắng Ngạn khác đều chạy ra ngoài, họ đi ra ngoài làm cái gì? Đáp án là: "Làm việc!" (cứu độ chúng sinh)
Có vị đi đến Ma Ha Song Liên Trì.
Có vị đi đến Diêu Trì Tiên Cảnh.
Có vị đi đến Đông Nam Á.
Có vị đi đến Đông Bắc Á.
Có vị trở về Đài Loan.
Có vị đi đến châu Mỹ, Bắc Mỹ, Nam Mỹ, châu Phi, châu Âu, châu Úc….
Khắp thế giới.
Điều tôi nói là sự thật.

Tôi không phải là người nói khoác, có một nói một, có hai nói hai, chính xác tuyệt đối là như thế.
Có nhiều Lư Thắng Ngạn đi ra ngoài như vậy.
Có người tận mắt nhìn thấy — sư huynh Cao Minh Lộc.
Có người nhìn thấy khi ngủ gật — sư tỉ Lý Mỹ Lỵ.
Có người nhìn thấy trong mơ --- sư tỉ Phùng Tố Khanh.
Có người nhìn thấy khi tĩnh tọa --- sư tỉ Lâm Ngọc Liễu.
Có người nhìn thấy trong địa ngục --- sư huynh Cao Minh Phúc.
Có người nhìn thấy ở Phật quốc --- sư tỉ Lư Thiến.
Có người nhìn thấy trong bệnh viện --- sư tỉ Elizabeth.
...

Vô số đệ tử nhìn thấy tôi, cũng có những người không phải là đệ tử nhìn thấy tôi, tóm lại, người có duyên thì đều có thể nhìn thấy.
Tôi có thể nói thế này:
"Đệ tử của tôi muốn gặp Lư Sư Tôn thì chỉ cần nghĩ đến tôi trụ đỉnh đầu, niệm tâm chú của tôi, là có thể nhìn thấy."

Cuối cùng, bây giờ tôi đã hiểu thế nào là:
"Nam mô ba mươi sáu vạn tỉ mười một vạn chín nghìn năm trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật."
"Quan Thế Âm Bồ Tát trăm nghìn triệu thân."
"Hóa thân bên ngoài thân."
"Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát."

Cái gọi là:
Ba mươi hai ứng biến trần sát, 
Trăm nghìn vạn kiếp hóa diêm phù.
Nghìn nơi cầu nguyện nghìn nơi hiện, 
Thuyền chở người qua biển khổ này.

Cái gọi là:
Quang trung hóa Phật vô số ức, 
Hóa thành Bồ Tát cũng vô biên.

Lư Sư Tôn tôi đã tu được:
Vô số linh hồn thoát ra từ đỉnh đầu.
Hóa thân bên ngoài thân đi cứu độ đệ tử.
Những chuyện thần bí này so với A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát thì đúng là phù thủy nhỏ gặp phù thủy lớn thôi.
Đây cũng là: những chuyện thần bí tương ứng thôi!


### 04. Một nàng tiên ở danh sơn động phủ


Theo tôi được biết:
Có một chuyện rất thần bí mà lâu nay tôi giấu trong lòng, tôi muốn nói nhưng không dám nói, muốn không nói thì lại không nói ra không được. (Nếu không thì sẽ bị táo bón mất!)
Tôi chỉ nói đúng theo sự thật thôi!

Có một người mới kết hôn không lâu.
Lúc mới kết hôn hoàn toàn không có gì bất thường. Về sau, anh kể với tôi một chuyện vô cùng kỳ lạ.
Khoảng ba tháng sau khi kết hôn, chuyện phòng the của anh và vợ anh bất ngờ thay đổi rất nhiều. Anh kể với tôi:
Mặt của vợ anh thay đổi. (Biến thành gần giống như tiên nữ trên trời.)
Giọng nói thay đổi. (Giọng nói của vợ biến thành âm thanh du dương như tiên nữ, biết nói "tứ câu liên".)
Thân thể thay đổi. (Biết kết ấn, biết gia trì cho chồng.)
Thân thể uyển chuyển. (Hoàn toàn không giống với động tác của vợ.)
Ánh mắt thay đổi. (Anh rất quen thuộc với ánh mắt của vợ, ánh mắt ấy nay đã biến thành mơ hồ xa lạ.)
Rõ ràng là vợ anh. Làm sao lại biến thành một người khác được. Tính tình hoàn toàn khác.

Anh hỏi:
"Rốt cục cô là ai?"
Vợ đáp:
"Anh đừng hỏi, em là một nàng tiên ở danh sơn động phủ."
Anh hỏi:
"Thế vợ tôi đâu?"
Cô ấy đáp:
"Em tạm thời mượn thân thể của cô ấy, em chỉ làm ý thức của cô ấy mơ hồ một chút mà thôi!"
Anh hỏi:
"Cô tìm tôi làm gì?"
Cô ấy đáp:
"Chúng ta có duyên!"
Anh hỏi:
"Cô có định làm hại chúng tôi không?"
Cô ấy đáp:
"Vì em yêu anh, em cũng yêu vợ anh, nên sẽ không làm hại hai người đâu. Ba người chúng ta chung phòng, giống như anh có hai vợ đi."
Anh hỏi:
"Cô không phải là ma đó chứ?" (Anh ta có phần sợ hãi.)
Cô ấy đáp:
"Không phải, em là tiên nữ ở danh sơn động phủ."
Anh hỏi:
"Vợ tôi là nữ kê đồng sao?"
Cô ấy đáp:
"Không phải, cô ấy chưa từng đến ngôi chùa nào, không phải là kê đồng. Em chỉ mượn thân thể của cô ấy để vuốt ve gần gũi anh thôi."
Anh hỏi:
"Tôi có thể kể với sư phụ của tôi Lư Sư Tôn không?"
Cô ấy đáp:
"Cảnh giới của Lư Sư Tôn rất cao, ngài ấy có rất nhiều minh phi trí huệ vô hình, ngài ấy thấu tình đạt lý, có thể kể với ngài ấy."

🌟

Tôi nói với mọi người:
"Trong những chuyện thần bí thì chuyện này là vô cùng đặc biệt khác thường."
Đừng ngạc nhiên nghi ngờ!
Chuyện này rất thật đó. (Mối liên kết giữa người và tiên.)


### 05. Trung ấm thiên thức pháp


Ở Malaysia tôi có một đệ tử là Liên Hoa Dục Thừa. Mẹ của anh là Liên Hoa Mỹ Thành sắp qua đời.
Dục Thừa là người hiếu thuận, rất mong mẹ có thể được Lư Sư Tôn tiếp dẫn để vãng sinh Phật quốc tịnh thổ. Anh đã làm rất nhiều việc:
Trên đầu giường mẹ, anh dán pháp tướng của Lư Sư Tôn.
Anh hướng đến Lư Sư Tôn làm lễ bái.
Niệm chú tứ quy y.
Anh cúng dường ngũ cúng đến Lư Sư Tôn.
(Biết Lư Sư Tôn thích ăn thứ gì anh liền cúng dường thứ đó.)
Anh niệm Thượng sư tâm chú.
Anh niệm chú Vãng sinh.
Anh niệm kinh Địa Tạng.
...

Anh biết, Lư Sư Tôn ở nước Mỹ xa xôi, nhưng anh tin rằng chỉ cần một lòng một ý kính cẩn khởi thỉnh thì Lư Sư Tôn nhất định sẽ đến, anh coi thầy như Phật.

Một hôm, Liên Hoa Dục Thừa ngồi cạnh giường bệnh của mẹ niệm Thượng sư tâm chú. Anh hơi mệt, buồn ngủ, cuối cùng đã ngủ gật!
Anh lập tức nhìn thấy Lư Sư Tôn bước vào, mặc thiên y màu trắng, khuôn mặt bừng sáng.
Lư Sư Tôn đã giúp mẹ anh làm pháp "chuyển dịch thần thức của thân trung ấm".
Mở thiên môn.
Đóng địa hộ.
Bịt nhân đạo.
Chặn quỷ lộ.
Có nghĩa là chỉ mở ra thiên môn, còn tất cả các lỗ khác đều bịt kín lại.

Tôi làm pháp xong thì bước đến trước mặt Liên Hoa Dục Thừa. Tôi nói:
"Vẫn còn ngủ à! Vẫn còn ngủ à! Mẹ anh ngày mai giờ Ngọ sẽ chuyển dời thần thức!"

Anh tỉnh lại, thông báo với tất cả mọi người trong nhà, rằng giờ Ngọ ngày mai mẹ sẽ chuyển dời thần thức. Đồng thời cũng thông báo rằng Lư Sư Tôn đã đến làm pháp trung ấm thiên thức rồi. 
Người nhà cũng không ừ hử gì cả, đến giờ Ngọ ngày hôm sau thì quả nhiên người mẹ đã "chuyển thức" rồi. (Đây là một việc rất thần bí.)
Rất lạ và hiếm!

Ngoài ra:
Thượng sư Lý Mỹ Lỵ cũng như vậy. Bà ấy ở trong một bệnh viện nọ ở phía đông bang Washington.
Ngủ giấc buổi trưa (lúc còn đang nửa tỉnh nửa ngủ), bà đã nhìn thấy Lư Sư Tôn từ trong bức tường bước ra, làm pháp trung ấm thiên thức cho Thượng sư Lý Mỹ Lỵ, xong rồi lại ẩn vào trong bức tường (giống như thể khí vậy).

Sau đó, con gái của Thượng sư Lý Mỹ Lỵ đã đến bệnh viện thăm mẹ, Lý Mỹ Lỵ thông báo:
"Lư Sư Tôn vừa đến!"
Con gái hỏi:
"Thầy đích thân đến ư?"
Lý Mỹ Lỵ đáp:
"Không phải! Cửa không mở, thầy đi xuyên tường đến đây!"
"Ồ! Thật à."
"Đương nhiên là thật rồi."

Thượng sư Lý Mỹ Lỵ nói:
"Phật quốc tịnh thổ đã có quả vị của mẹ rồi!"

Khi Thượng sư Lý Mỹ Lỵ viên tịch, bà đã ra đi vô cùng an lành!

Chú thích: Liên Hoa Mỹ Thành ở xa tận Malaysia. Thượng sư Lý Mỹ Lỵ thì sống ở gần ngay bang Washington. Họ đều nhìn thấy pháp thân của tôi, thật là một chuyện thần bí!


### 06. Tiếng người nói trong tai


Một hôm, sư tỉ Thiêm Vũ đưa con trai của cô là Trịnh Đạt đến gặp tôi. Sư tỉ Thiêm Vũ nói:
"Con trai tôi bị ù tai, mong thầy cứu giúp!"
Tôi nói:
"Sao không đi gặp bác sĩ?"
Sư tỉ Thiêm Vũ đáp:
"Đã khám rất nhiều bác sĩ rồi, nhưng trăm thuốc đều vô hiệu."
Tôi hỏi:
"Đã bao lâu rồi?"
Sư tỉ Thiêm Vũ đáp:
"Nhiều năm rồi."
Tôi nói:
"Bệnh ù tai là khó chữa nhất, sao không làm bạn với tiếng ù của tai, lâu rồi sẽ không nghe thấy âm thanh của tiếng ù nữa."
Thiêm Vũ đáp:
"Đã nặng lắm rồi!"

Tôi bảo con trai Trịnh Đạt của Thiêm Vũ đến trước mặt tôi, Trịnh Đạt là một đứa bé lanh lợi. Hai tay tôi ấn chặt vào hai tai của cậu bé. Tôi niệm chú:

"Dĩ nhật quang tẩy nhĩ,
Dĩ nguyệt quang chiếu lương,
Tiên nhân ngọc nữ tùy hình,
Nhị thập bát tú dữ ngô hợp hình,
Nhất thiết tà uế xuất thử nham động,
Cấp cấp như luật lệnh!"

Tôi niệm chú tổng cộng ba lần. Rồi tôi mời sư tỉ Thiêm Vũ đến lò hóa vàng đầu tiên để đốt tiền vàng. (Cái lò đầu tiên quản các vấn đề về tai, mũi, họng, mắt.)
Tôi vẽ phù thông tai đưa cho Trịnh Đạt uống.

Buổi tối hôm đó, lúc tôi sắp ngủ, có một tiếng nói nhỏ như tiếng ruồi vọng lên trong tai tôi:
"Lư Sư Tôn! Vì sao ông lại đuổi tôi? Vì sao lại đuổi tôi?"
Tôi hỏi:
"Ngươi là người nào đấy?"
Anh ta đáp:
"Người ở trong tai của Trịnh Đạt."
Tôi hỏi:
"Là người ở trong tai à, vì sao lại ở trong tai của Trịnh Đạt?"
Anh ta đáp:
"Nhân duyên trùng hợp, bên trong đó tối đen, rất hợp cho tôi ở."
Tôi hỏi:
"Hay là ở trong tai tôi đi?"
Anh ta đáp:
"Tai ông thường có Thần Tiên ra vào, không người nào có thể ở được."
Tôi hỏi:
"Vậy làm sao mới được đây?"
Anh ta đáp:
"Tôi tạm thời sống trong tai ông, ông có thể đưa tôi đến chỗ tổ ong, tôi sẽ tự có cách để sống trong tai của ong mật, chúng nó kêu vù vù vù cũng giống tiếng kêu vù vù vù của tôi, đôi bên không làm phiền nhau, được chứ?"
Tôi nói:
"Được!"

Vừa hay, mảnh đất trống phía sau Chân Phật Mật Uyển có trồng cây lê, trên cây có một cái tổ ong. Tôi đi đến đó dạo một lúc. Tôi nhìn thấy con người tí hon đó từ tai tôi thoát ra, to cỡ hạt vừng, dáo dác bay vào trong tổ ong. Sau đó biến mất luôn!

Nói ra kể cũng kỳ lạ, chứng bệnh ù tai nhiều năm của con trai Trịnh Đạt của sư tỉ Thiêm Vũ từ đó đã khỏi rồi.
Việc này quá kỳ bí, tin hay không tùy bạn!


### 07. Bức tranh sống (1)


50 tuổi, tôi tập vẽ. Là do giáo viên Chu Mục Lan dạy tôi vẽ tranh. (Chu Mục Lan là đệ tử của Triệu Thiếu Ngang theo phái Lĩnh Nam.)
Đầu tiên tôi học kỹ xảo và phương pháp. Về sau, phong cách vẽ của tôi thay đổi, nghĩ đến cái gì thì vẽ cái đó, không hạn chế vào một kiểu!
Hơn 20 năm đã trôi qua, tôi có thói quen mỗi ngày vẽ một bức tranh, cho nên thật sự đã vẽ rất nhiều tranh.

Tranh của tôi cũng truyền tải những sự việc thần bí, có lẽ từ lâu mọi người đã nghe nhiều nên quen rồi, tôi cũng đã từng viết rồi, nhưng vẫn có rất nhiều người chưa biết. Cho nên tôi lại kể thêm một lần nữa.

Tôi vẽ tranh có một đặc tính là: tôi thích hà một hơi khí lên bức tranh đã vẽ xong. Tôi luôn luôn tập trung tinh thần, hà một hơi khí lên trên bức tranh. Điều này tượng trưng rằng tinh thần của tôi đã đặt vào bức tranh rồi. Chính là cái tinh, khí, thần này khiến cho tranh của tôi đã sống dậy!

Chuyện thứ nhất:
Có một người là sư tỉ Lý thỉnh một bức tranh của tôi về treo ở trong cửa hàng. Trong cửa hàng có lắp camera quan sát. Không ngờ rằng, giữa đêm không người, có một con chim trong tranh của tôi liền bay ra ngoài, bay khắp nơi bên trong cửa hàng. (Chim ở trong tranh bay ra ngoài đã được camera ghi hình lại.)

Chim bay mệt rồi thì lại bay vào trong bức tranh. Camera ghi hình đã ghi lại được vô cùng rõ ràng có con chim bay từ trong tranh ra, bay vòng vòng một lúc rồi lại bay vào trong tranh. Tất cả những người đã xem bức tranh ấy không ai là không chặc lưỡi kinh ngạc!

Chuyện thứ hai:
Bà Lâm Hạnh Huệ ở Australia thỉnh một bức tranh của tôi. Khi trở về Úc, lúc bà Lâm đi qua cửa hải quan, những con chó với khứu giác rất thính đã nằm phục lên hành lý của bà Lâm. Chó hải quan phát hiện thấy có hoa quả. Bà Lâm nhất quyết nói rằng không có. 

Hải quan mở hết hành lý của bà Lâm ra để kiểm tra, kết quả là không có hoa quả. Chỉ có một bức tranh mà Lư Sư Tôn vẽ. Trên bức tranh đó là: "Đào tiên". Nhân viên hải quan giương mắt ra nhìn. Đào tiên ở trong bức tranh cũng là hoa quả sao? Chuyện này đã gây chấn động một thời.

Chuyện thứ ba:
Ngải Lệ Tư, Bé Xíu Xiu và Lucy là ba chị em ở California nước Mỹ. Lucy ít tuổi nhất đã thỉnh một bức tranh của tôi. Nhân vật ở trong tranh là Tôn Bất Nhị. (Một trong số bảy vị của Toàn Chân Thất Tử của Toàn Chân Giáo, là người vợ kết tóc của Mã Ngọc, đệ tử của Vương Trùng Dương. Sau này, Tôn Bất Nhị ở trong am Toàn Chân tại nhà mình tu hành chứng đạo.) Lucy đã thỉnh bức tranh Tôn Bất Nhị đem về thờ cúng. Tôn Bất Nhị đã hiện thân, dùng cây phất trần của Tiên phe phẩy trên chân của Lucy.
Cô ấy hỏi:
"Sao không phe phẩy trên đầu? Vì sao lại phe phẩy ở chân?"
Tôn Bất Nhị đáp:
"Rất nhiều năm trước, chân của cô đã bị thương."
Lucy lúc này mới nhớ đến chuyện chân của cô nhiều năm trước bị thương, bản thân cũng quên mất, thế mà Tôn Bất Nhị lại biết. Ai nghe chuyện này cũng đều nói quá kỳ lạ!


### 08. Bức tranh sống (2)


Thời gian qua, Lư Sư Tôn cúng dường Không Hành Mẫu. Cúng dường phân làm ba nhóm:
Tứ Thủ Phương Mẫu.
Bát Phương Không Hành Mẫu.
Nhị Thập Thiên Thiên Nữ. (Thiên nữ của hai mươi cõi trời đều là Không Hành Mẫu.)

(Tôi tự mình biến hóa thành Bổn tôn Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.)
Yeshe Tsogyal.
Mandarawa.
Sakya Dewa.
Kala Siddhi.
Tashi.
(Những vị này là năm vị đại Phật Mẫu chủ yếu nhất của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.)

Sarasvati (Diệu Âm Thiên).
Maha deviye (Cát Tường Thiên).
Wuma.
Kali.
Trường Thọ Ngũ Thiên Nữ.
...

Sau này tôi vẽ tranh thiên nữ, trước tiên tôi vẽ Trường Thọ Ngũ Thiên Nữ, rồi sau đó vẽ mười hai vị Cát Tường Thiên.
Cuối cùng, tôi vẽ con gái của Diêu Trì Kim Mẫu và hai người hầu hạ nàng là Đổng Song Thành và Hứa Phi Quỳnh.
Ba nghìn thị nữ.

🌟

Tôi có một bức tranh đặt ở đầu giường tại Chân Phật Mật Uyển, là bức Phật Mẫu Kurukulle.
Khỏa thân.
Thân màu đỏ.
Mang hình dáng thiếu nữ mười sáu tuổi.
Vóc dáng uyển chuyển.
Khoác cung tên.
(Vị Phật Mẫu kính ái vô cùng xinh đẹp của Mật giáo.)

Có một hôm, tôi (Lư Sư Tôn) chăm chú nhìn ngắm dung mạo của ngài. Tóc buông khẽ cười, cái miệng anh đào chúm chím, ánh mắt đung đưa. Tôi nhìn chăm chú rất lâu, bất giác, thần trí của tôi chạy băng băng. Bất chợt suy nghĩ của tôi ngưng lại, thân thể bay bay một cách kỳ lạ như cưỡi trên mây, trong sát-na, tôi đã đi vào trong bức tranh.

Kurukulle hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Sao lại đến chỗ tôi?"
Tôi đáp:
"Mải miết nghĩ nên đến!"
Kurukulle nói:
"Tâm ngài động rồi đó!"
Tôi nói:
"Tôi thấy Phật Mẫu xinh đẹp tuyệt vời, cho nên kích động!"
Phật Mẫu Kurukulle nói:
"Người mà tâm động thì sẽ sinh huyễn, nhập vào cái huyễn trong cái huyễn rồi thì muốn ra ngoài khó lắm thay! Thế nhân đều như thế."
Tôi kinh hãi hỏi:
"Tôi làm sao để đi ra đây?"
Phật Mẫu Kurukulle đáp:
"Biết huyễn rời xa huyễn. Ngài có định lực, chuyên chú hít thở đi."

Tôi nghĩ đến: "Huyễn là do tâm sinh ra, con người có tâm dâm nên sẽ phát sinh những tình huống phóng túng, con người có tâm phóng túng thì sẽ phát sinh tình huống đáng sợ. Nhân gian làm muôn nghìn trò huyễn đều do lòng người kích động mà thôi!"

Tôi chắp tay kính lễ Phật Mẫu Kurukulle rồi thối lui một bước.
Đi ra bên ngoài bức tranh, tôi ngồi phịch xuống giường.


### 09. Nước quán đảnh không bao giờ cạn


Tôi (Lư Sư Tôn) thường giảng ý nghĩa của quán đảnh:

1. Quán đảnh bình.

1. Quán đảnh hoa trắng đỏ.

1. Quán đảnh Vô thượng mật.

1. Quán đảnh Đại viên mãn.

Tôi còn nói:
Mỗi loại quán đảnh này còn có nhiều hàm nghĩa ở trong đó:

1. Thanh tịnh. (Ứng thân)

1. Nội pháp. (Báo thân)

1. Song vận. (Pháp thân)

1. Cứu cánh. (Bản tính thân)

(Nói theo Tạng mật thì bốn quán đảnh này có rất nhiều danh từ, phân làm thủy quán, mật quán, mật mật quán, cứu cánh quán.)

Về tổng thể thì phân ra thành:
Bình quán.
Mật quán.
Trí quán.
Danh quán. (Quán đảnh danh từ)
Trong quán đảnh Mật giáo thì bình quán để thành tựu Hóa thân, mật quán để thành tựu Báo thân, trí quán để thành tựu Pháp thân, danh quán để thành tựu Bản tính thân.
(Quán đảnh nhỏ hơn nữa thì vô số.)

Còn nữa:
Năm xưa Pháp Vương Ganden Tripa của Hoàng giáo từng đến Seattle Lôi Tạng Tự và tặng cho tôi:

1. Chày kim cang. (thân)

1. Chuông kim cang. (khẩu)

1. Áo bào Pháp Vương. (ý)

1. Bình quán đảnh. (Thượng sư)

Cá nhân tôi đương nhiên biết rõ các loại quán đảnh, đừng chỉ thấy biểu hiện bên ngoài của quán đảnh, thực chất ý nghĩa nội tại của nó là phi phàm.
Ví dụ: bình quán.

1. Đầu tiên đón Bổn tôn từ hư không nhập vào đàn thành.

1. Tiếp theo từ đàn thành nghênh đón Bổn tôn đi vào trong bình quán đảnh.

1. Các lỗ chân lông của Bổn tôn mở ra, chảy ra cam lộ của Bổn tôn.

1. Dùng cam lộ của Bổn tôn để quán đảnh quy y cho đệ tử.

Quán đảnh đúng như vậy mới gọi là như pháp.

Một hôm, có một đệ tử nhìn nước trong bình quán đảnh của tôi đã cạn tới đáy rồi! Nhưng người này muốn thử sức mạnh thần thông của Lư Sư Tôn. Ngày hôm đó, vừa đúng lúc có hơn bốn trăm người muốn quán đảnh Bổn tôn Quan Âm Tứ Thủ.

Tôi cầm bình quán đảnh. Người xin quán đảnh đưa tay ra để nhận lấy nước. Đầu tiên là vẩy lên đầu, tiếp theo là uống cam lộ. Đệ tử đó ước tính rằng quán đảnh được khoảng mười người thì sẽ không còn nước nữa!
Đợi mười người quán đảnh xong thì nước trong bình quán đảnh cũng đã cạn hết rồi.

Nhưng, điều quái lạ là:
Mười người đến thì quán đảnh mười người.
Trăm người đến thì quán đảnh trăm người.
Bốn trăm người đến thì quán đảnh bốn trăm người.
Nước quán đảnh cho mười người kia đã xong rồi mà vẫn còn nước, trăm người quán đảnh xong vẫn có nước, bốn trăm người quán đảnh xong vẫn có nước.

Đệ tử đó không tin, mở bình quán đảnh ra xem, vừa nhìn vào thì giật nảy mình, nước trong bình quán đảnh còn nhiều hơn lúc đầu.
Anh ta không tin. Nhưng đã tận mắt nhìn thấy, không tin không được.
Nước quán đảnh không bao giờ cạn!

Những kỳ tích thần diệu này của tôi thật sự là quá nhiều rồi, cho dù cả một nhà thể thao người đều tham gia quán đảnh thì nước quán đảnh cũng luôn luôn đầy. 
(Thử hỏi, nước từ đâu ra?)


### 10. Trần nhà nhỏ máu


Từ năm 2020 đến 2021, giai đoạn này là thời kỳ dịch cúm virus Corona hoành hành.
Tôi tràn đầy thương xót đối với những người đã chết vì bị nhiễm bệnh. Tôi không còn lời nào để hỏi ông trời.
Tôi đưa ra một lời thề:
Tôi nguyện lấy sức lực của mình, mỗi ngày tu hành pháp siêu độ, để siêu thoát cho những chúng sinh chết vì dịch bệnh.
Địa điểm: Nam Sơn Nhã Xá.
Thời gian: 1h đêm. (hàng ngày)
Nhân vật: không hạn chế. (không giới hạn)
Phương pháp: nghìn chiếc thuyền pháp siêu độ.

Tôi viết chương sách này vào ngày 12 tháng 7 năm 2021, suốt hơn một năm nay, tôi chưa bỏ qua một ngày nào mà không làm siêu độ. (Sau này cũng sẽ không dừng lại.)

Trong thời gian hơn một năm này, tôi bị một trận ốm nặng, nhưng tôi vẫn chịu đựng đau đớn mà làm pháp như bình thường.
Bởi vì tiến hành pháp siêu độ tại Nam Sơn Nhã Xá, hàn xá của tôi trở thành pháp đàn, Sư Mẫu Liên Hương Thượng Sư cũng thỉnh thoảng nhìn thấy:

(1) Buổi tối bà ấy đi ngủ, mở mắt ra thì thấy trần nhà đang nhỏ máu. 
Máu màu đỏ.
Từng vệt từng vệt.
Từng giọt từng giọt.
Thấm ra cả một mảng lớn.
Cực kì khủng khiếp.

(2) Buổi tối bà ấy đi ngủ, nhìn thấy có người đứng ở cửa phòng ngủ, ở trong tủ quần áo, ở trước ghế *sofa*.
Hết người này đến người khác.
Bóng ma đung đưa.
Khi nhiều khi ít.

(3) Có lúc bà ấy ngủ trưa. Nằm trên ghế *sofa*, ghế *sofa* tự nhiên lồi lên một cục, ra sức rung lắc làm cho bà tỉnh ngủ.
Hoặc cái gối cũng sẽ lồi lên một cục để làm bà tỉnh giấc.
Cho dù bà ấy đã tỉnh rồi, bà ấy nhìn thấy cái cục lồi lên đó vẫn tiếp tục rung lắc. (Chứng tỏ đó không phải là mơ.)

Còn nữa:
Thỉnh thoảng "chúng" còn kéo ngón chân bà ấy, để cho bà ấy tỉnh ngủ.
(Đây đều là những hiện tượng linh dị mà bà ấy nhìn thấy.)

🌟

Còn với tôi, những chuyện linh dị rất nhiều:
Tôi chỉ cần đến gần tủ lạnh là tủ lạnh sẽ phát ra tiếng "cạch". (Tôi biết rằng chúng ở trong đó.)
Tôi chỉ cần đi vào nhà vệ sinh là cái nắp bồn vệ sinh lại rung rung, phát ra âm thanh "binh binh".
(Tôi biết rằng trong nhà vệ sinh cũng có vài con ma trốn ở đó.)
Tôi đi qua bức tường, trên tường sẽ phát ra tiếng "binh binh binh binh".
(Tôi biết bên trong tường cũng có vài con ma trốn ở đó.)
Đặc biệt là khi đi qua chậu cây trúc cảnh.
Trên lá trúc có người.
Trong thân trúc có người.
Chậu cây phát ra tiếng gào thét rất to.

Đúng là đâu đâu cũng có ma!
Ngay cả đi trên đường cũng có không ít ma!

Thậm chí có một bà lão còn nói với tôi:
"Tôi không quen ngồi chung thuyền với người lạ!"
Bà lão nói:
"Tôi muốn ngồi một mình một thuyền!"
Tôi chỉ còn cách gắng gượng mà làm theo thôi!


### 11. Hoa rơi trong mơ


Có một khoảng thời gian.
Giữa ngón cái và ngón trỏ bàn chân trái của tôi bỗng dưng mọc lên một cái mụn, ban đầu nó chỉ lồi lên một chút.
Tôi cũng không để ý.
Nhưng chỉ sau một tuần, không ngờ nó đã to lên bằng quả bóng bàn, lúc này thì tôi cũng không thể đi giày được nữa.
Các đồng môn đều nhìn thấy!
Tôi nói:
"Không biết là do oan nghiệt nào tạo thành đây?"
Tôi ấn vào cái khối u lồi ra, niệm A Di Đà Phật, niệm chú vãng sinh, hu vọng nó sẽ tiêu biến!
Kết quả là, vô ích!

Tôi thỉnh Thái Bạch Tiên Ông:
"Liên Sinh kiền thành cầu thỉnh ba lần, thỉnh hoa thơm, hoa thơm nghênh đón Hương Sơn Thái Bạch Tiên Sư giáng lâm, cảm phiền Tiên Đồng thông đạt ý nguyện mà phủi đi oan khí của cái khối u này."

Tôi nằm mơ thấy:
Tôi đi đến Bồng Lai Tiên Sơn.
Tôi trông thấy một vị Tiên Ông tóc trắng râu trắng cầm phất trần trắng mặc y phục trắng. Thái Bạch Tiên Ông nói:
"Liên Sinh, ta đến cứu ông!"
Ngài ấy dùng cây phất trần màu trắng phẩy lên khối u ở chân tôi, niệm:
"Giải kết, giải kết, giải oan kết, mau đi siêu sinh!"
Phẩy ba cái, khối u lập tức biến mất!

Tiên Ông nói:
"Xong rồi!"
Tôi nói với Tiên Ông:
"Không được! Đây chỉ là cảnh trong mơ thôi, trong mơ không có, nhưng tỉnh lại thế giới thực thì lại có, vậy tôi phải làm sao?"
Tiên Ông nói:
"Yên tâm! Đời người như mộng, mộng như đời người, lần này mơ và tỉnh liên kết, tỉnh lại sẽ biết!"
Tôi tỉnh dậy!
Quái lạ chưa! Khối u thật sự đã biến mất! Một chút vết tích cũng không còn!
Mơ!
Tỉnh!
Ăn khớp với nhau như một!

Còn nữa:
Cô Elizabeth là con dâu của Maree bị đau đầu dữ dội. Chụp X-quang thì thấy trong đầu có một khối u. Cô ấy đến Seattle Lôi Tạng Tự tìm tôi để cầu chữa bệnh.
Tôi dùng pháp chữa bệnh trong mơ.
Cô ấy mơ thấy:
Trong mơ, cô bị đẩy vào phòng phẫu thuật để tiến hành mổ não.
Bác sĩ ngoại khoa lấy từ não ra một khối u. Bác sĩ ngoại khoa nói:
"Ca phẫu thuật tương đối thành công, khối u đã được lấy ra, chỉ còn lại một tẹo da."
Bác sĩ ngoại khoa tháo khẩu trang ra. Elizabeth nhìn thấy:
"A! Là Lư Sư Tôn!"
Ngày hôm sau cô Elizabeth tỉnh dậy, phát hiện ra đầu không còn đau nữa, trở về để chụp X-quang.
Khối u thật sự đã biến mất rồi! Hơn nữa, đúng là chỉ còn lại ít da.
Trời ơi! Phẫu thuật trong mơ là có thật!
(Hoa rơi trong mơ.)

Chú thích:
Chúng ta đều tin rằng cuộc sống hiện thực là thật, nằm mơ là giả, trong mơ vừa vui vừa mừng, tỉnh giấc mơ thì chẳng có gì.
Tỉnh là thật.
Mơ là giả.
Nhưng hai ví dụ trên đây, mơ là thật, tỉnh cũng là thật, bảo sao người ta không thấy kỳ lạ!


### 12. Pháp thuật hà hơi


Tôi (Lư Sư Tôn) và cô Elizabeth là nhờ mơ mà khối u tiêu biến không thấy nữa, có thể nói đó là chữa bệnh trong mơ.
(Elizabeth sau khi khỏi bệnh gửi đến tôi rất nhiều bức thangka do cô tự vẽ, vô cùng tinh xảo và quý giá, xin cảm ơn!)
Nhưng cô Trần Lệ ở Indonesia thì lại khác.
Phía dưới tai của cô mọc lên một khối u, có thể nhìn thấy bằng mắt thường, cô ấy được một vị giảng sư và một vị trợ giảng đi cùng từ Indonesia bay đến Seattle Mỹ.

Vừa đến Mỹ là họ đi thẳng đến Biệt thự Cầu Vồng (Cầu Vồng Lôi Tạng Tự).
Vừa hay tôi đang ở đó sờ đầu gia trì cho mọi người. Trần Lệ liền đứng vào hàng để Lư Sư Tôn sờ đầu. Sờ đầu xong, khối u ở dưới tai đã biến mất rồi!
Thật đó!
Tín chúng và đồng môn có mặt tại đó đều chứng kiến, ai nấy mắt chữ O mồm chữ A. Hai vị giảng sư và trợ giảng đi cùng giật mình sửng sốt, rõ ràng là có khối u, sao sờ đầu xong một cái là không thấy nữa?
Chuyện này là thế nào đây?
Bạn hỏi tôi?
Tôi hỏi ai?
Không ai hiểu là chuyện gì nữa.

🌟

Theo như tôi biết, Đạo gia có một pháp thuật gọi là "pháp thuật hà hơi trị bệnh". Người học phải chính tâm thành ý.
Uống lá phù "Thiên Y Thượng Nhân" có ký tự bí mật. (108 lá)
Niệm chú "Thiên Y Thượng Nhân". (niệm chú uống phù)
Sau khi học thành công, dùng cách hà hơi là có thể giúp người ta chữa bệnh. Ở đây là pháp thuật hà hơi, phải thở khí ra. (Phù và chú Thiên Y Thượng Nhân này phải chọn lựa người để truyền thụ, phải là chính nhân quân tử mới có thể truyền, truyền bừa e rằng sẽ bị trời phạt.)

Còn nữa:
Tôi có một thuật gọi là pháp Giếng Vàng.
Chú rằng:
Nhất họa thành giang.
Nhị họa thành hà.
Tam họa, tứ họa thành kim tỉnh.
(Viết một chữ 井 tại hư không.)
Bút này không phải bút thường.
Mà phải là bút của Lư Sơn Tú Tài.
Chỉ trời trời xanh.
Chỉ đất đất linh.
Chỉ người trường sinh.
Chỉ ma diệt vong.
(Sau đó dùng bút chấm một cái vào khối u bệnh, hoặc chỗ có bệnh, bệnh hoặc khối u sẽ tiêu biến.)

Chú ý:
Chữ 井 phải viết vào chỗ có bệnh, viết ở phía trên chỗ đau. Pháp này vẫn phải là chính nhân quân tử mới có thể truyền thụ.
Bút phải chấm vào trung tâm 丼 của chữ 井 mới được.)
Trọng điểm cũng là: Khí.

🌟

Người có đạo nói:
Sau khi Trần Lệ được sờ đầu, khối u tiêu biến, đó là khí.
Cháu trai của Thượng sư Liên Mãn có khối u trên đầu cũng tiêu biến, cũng là khí do Lư Sư Tôn sờ đầu.
Thuật hà hơi trị bệnh cũng là khí.
Pháp Giếng Vàng cũng là khí.
Thật hay giả, xin để cho người đời sau bình luận!


### 13. Chết rồi sống lại


Tôi viết chương sách này kể về một người và sự việc xảy ra với người đó, nhưng vì e rằng những người có liên quan bị làm phiền, cho nên tôi đã giấu tên của họ đi.
Tôi ở trong thiền định. (Một chiều không gian cảnh giới khác.)
Thấy một người trẻ tuổi đi đến, tôi hỏi:
"Ai đến gặp tôi thế này?"
Người trẻ tuổi đáp:
"Tôi họ Kỷ."
Tôi hỏi:
"Gặp tôi có chuyện gì?"
Người trẻ tuổi đáp:
"Tôi là một hồn ma, ban đầu tôi không biết là mình đã chết, hồn bay đi. Trở về nhà, thấy bố mẹ tôi khóc tôi, trong lòng tôi không chịu đựng nổi, nhưng cũng chẳng thể làm gì được. Nhìn thấy pháp tướng của thầy Lư ở tại đàn thành, vì thế mà tôi bay đến đây."
Tôi hỏi:
"Anh có kế hoạch gì không?"
Người trẻ tuổi đáp:
"Mấy ngày nữa bố mẹ tôi sẽ đến để hỏi xem tôi đã vãng sinh về đâu."
Tôi hỏi:
"Anh muốn vãng sinh về đâu?"
Người trẻ tuổi đáp:
"Người nhà của tôi đều là đệ tử của thầy. Nhưng tôi không biết tu hành, chưa từng tu một pháp nào, tự biết rằng chẳng thể đi đến nơi nào được, chi bằng quay trở về nhà tôi."
Tôi tính toán một lúc rồi nói:
"Cũng được!"

Mấy ngày sau.
Bố mẹ của người trẻ tuổi này quả nhiên đã đến chỗ tôi, hai người họ khóc sướt mướt, hỏi: 
"Đã vãng sinh về đâu?"
Tôi đáp:
"Vãng sinh về nhà các vị rồi!"
Họ sửng sốt:
"Chưa từng nghe nói đến chuyện trở về nhà chúng tôi!"
Tôi đáp:
"Hai người chết đi một đứa con, lại sinh ra một đứa, như vậy là cân bằng rồi!"
Cha mẹ họ Kỷ nói:
"Chúng tôi tuổi tác đã cao rồi, không thể nào sinh đẻ được. Nó chỉ có một người chị gái, vẫn có khả năng sinh đẻ, chỉ có hy vọng này thôi!"

Một năm sau, chị gái của người họ Kỷ kia thật sự đã có thai. Người chị mơ thấy em trai nói với mình rằng:
"Em sẽ sinh về nhà chị!"
Người bố cũng mơ thấy!
Người mẹ cũng mơ thấy!
Người chú mơ thấy:
"Cháu sẽ tái sinh!"
Người cậu mơ thấy:
"Cháu sẽ lại đến!"
Tất cả những bạn bè thân thiết đều mơ thấy người họ Kỷ này nói với họ rằng:
"Tôi sẽ hồi sinh!"
Khi hỏi ra thì tất cả đều mơ thấy, mọi người đều cùng ngạc nhiên mừng rỡ cho rằng người trẻ tuổi họ Kỷ này đã trở về nhà họ Kỷ rồi.
Người chị gái còn nghe thấy rất rõ ràng rằng:
"Chị ơi! Cái thai của chị chính là em đây, em trai của chị đây!"
Khi em trai mình còn sống, người chị này cũng yêu thương người em trai này nhất. Người nhà họ hỏi tôi:
"Là thằng bé lại đến ư?"
Tôi đáp:
"Đúng."

Sau khi người chị sinh xong, đó là một đứa bé trai khôi ngô tuấn tú, anh rể đặc biệt tán thành cho lấy họ mẹ. Đứa bé này khi lớn lên cực kì giống với người trẻ tuổi họ Kỷ kia, có thể nói ra đầy đủ những gì mình đã từng làm trong kiếp trước.
Chết rồi sống lại!
Đây có thể coi là một sự việc thần kỳ!


### 14. Lá thư vô hình


Thói quen sinh hoạt của tôi ở Mỹ rất có quy luật.
Từ thứ hai đến thứ bảy, tôi đều ở Seattle Lôi Tạng Tự.
Chủ nhật tôi ở Cầu Vồng Lôi Tạng Tự.
Từ thứ hai đến thứ bảy, mỗi buổi chiều vào khoảng 5 giờ 5 rưỡi, tôi sẽ đến phòng làm việc ở Tông Ủy Hội.

1. Gia trì thư gửi đến.

1. Gia trì phù lục. (Pháp ký tự bí mật.)

1. Gia trì siêu độ.

1. Gia trì những thỉnh cầu.

1. Gia trì bệnh nan y.

1. Trả lời những câu hỏi gửi đến.

1. Ở trong phòng vẽ tranh vẽ một bức tranh.

🌟

Khi tôi gia trì, tôi cầu nguyện Bổn tôn của tôi và tôi hợp nhất để gia trì cho tất cả thư từ gửi đến. Vì thế, rất nhiều sự việc thần bí sẽ sản sinh vào lúc này, khiến người ta thốt lên kinh ngạc.

Ví dụ:
Chị gái của Thượng sư Liên Từ là Liên Hoa Mỹ Huệ sống tại Tân Đài Bắc, Đài Loan. Bà ấy gửi thư đến xin gia trì. Nhưng trong thư lại quên xin hai lá phù (quên viết trong thư).
Thư vừa gửi đi, đêm đó liền mơ thấy có thư hồi đáp kèm theo hai lá phù. (Đều thấy rõ cả phù thức.)
Hai tuần sau thì nhận được thư trả lời, nội dung thư và hai lá phù hoàn toàn như những gì đã thấy trong mơ.
Liên Hoa Mỹ Huệ gửi thư để cảm tạ! Và cũng cảm thán rằng:
"Bất khả tư nghì!"

Ví dụ:
Có một đôi vợ chồng mới cưới sinh được một đứa con, gửi thư đến để xin tôi đặt tên. Tôi đặt tên là: "Khang Sinh."
Còn chưa nhận được thư trả lời thì đôi vợ chồng ấy trong mơ đã thấy được thư trả lời, trong thư viết hai chữ Khang Sinh rất to.
Sau đó, hai vợ chồng này cũng xin bố mẹ chồng đặt tên, bố mẹ chồng không biết tôi đã lấy hai chữ Khang Sinh, bèn nói:
"Đặt tên là Khang Sinh đi!"
(Bố mẹ chồng là người Tây Khang.)
Cuối cùng lúc nhận được thư, quả nhiên là Khang Sinh.
Tôi đặt tên Khang Sinh.
Lá thư vô hình cũng là Khang Sinh.
Bố mẹ chồng cũng đặt tên là Khang Sinh.
Nói thẳng ra là quá ư bất khả tư nghì! Bất khả tư nghì một cách không thể tưởng tượng nổi! Quá thần kỳ rồi!

🌟

Lại có thư gửi đến muốn hỏi về việc tìm người.
Tôi trả lời rằng:
"Ở giữa khe đá."
Người gửi thư đến nằm mơ nhìn thấy "ở giữa khe đá". Kết quả là đã tìm được rồi.
Đã tìm được người ở giữa khe đá.
Đến khi người này nhận được thư trả lời, mở ra thì cũng là:
"Ở giữa khe đá."
Những lá thư có ứng nghiệm kiểu này nhiều không kể xiết!

🌟

Các đệ tử đồn nhau:
Thư mới vừa gửi đi
Trong mơ đã đọc được
Đây chẳng phải chuyện thần bí thì là cái gì?


### 15. Người đuổi ma


Khi tôi 38 tuổi thì di cư đến Seattle nước Mỹ.
Trước đó, tôi sinh ra tại Gia Nghĩa. Thời tiểu học, trung học thì tôi sống tại Cao Hùng.
Thời đại học và làm việc ngoài xã hội thì tôi sống ở Đài Trung.
Tại Ngọc Hoàng Cung ở thành phố Đài Trung, tôi đã được mở thiên nhãn.

Có một khoảng thời gian ở Đài Trung, tôi sống ở tiểu khu XX.
Lúc ấy, tôi đã có danh tiếng lẫy lừng!
Mỗi ngày vừa mở cửa nhà là có tới ba trăm người đổ dồn vào hàn xá của tôi ở tiểu khu XX. Họ mắc phải những căn bệnh khó chữa, tôi dùng phương thức thông linh để giúp đỡ chúng sinh.
Trong số đó có một bộ phận những người bị tâm thần bệnh hoạn. Nhưng tôi không phải bác sĩ. Cái tôi dùng là liệu pháp chữa trị dân gian.

1. Vỗ vào lưng của người bệnh.
Niệm chú gia trì!
Niệm Phật gia trì!

1. Cho phù lục với ký tự bí mật.
"Thượng yểm."

1. Uống nước chú Đại Bi.
Niệm chú Đại Bi.
Gia trì tịnh thủy.
...

Chỉ là dùng phương pháp đơn giản này, thế mà không ngờ rất rất nhiều người bị bệnh tâm thần đã hồi phục lại như bình thường.
Bởi vì có quá nhiều người bình thường trở lại cho nên mới khiến người ta xôn xao. Kết quả là, buổi sáng vừa mở cửa, đã có ba trăm người ồn ào ùn ùn kéo vào nhà tôi, điều này chưa từng có.
Khi ấy, có bác sĩ ở bệnh viện Tịnh Hòa [một bệnh viện tâm thần] ở Đài Trung còn giới thiệu:
"Đi tìm Lư Thắng Ngạn thử xem!"
Những người bệnh tâm thần này bị đeo xích tay. Chân cũng đeo xích. Rồi họ được đưa tới hàn xá của tôi ở tiểu khu XX.

Ở Đài Trung, tổng cộng tôi đã bốn lần chuyển nhà:

1. Từ đường Tiến Hóa chuyển đến đường Tinh Võ.

1. Từ đường Tinh Võ chuyển đến tiểu khu XX.

1. Từ tiểu khu XX chuyển đến cao ốc Lạc Quần.

1. Từ cao ốc Lạc Quần chuyển đến biệt thự Tinh Võ. (Hàng xóm của Ấn Thuận đạo sư.)

Sau cùng, từ biệt thự Tinh Võ di cư đến Seattle, Mỹ.

🌟

Mấy năm nay.
Tôi trở về Đài Trung Đài Loan, nhớ lại sự rầm rộ ở tiểu khu XX ngày trước, tôi bất chợt có ý nghĩ muốn đi thăm lại nhà cũ ngày xưa.
Chỉ thấy:
Tiểu khu XX đã hoàn toàn thay đổi rồi.
Phía trước xây lên tòa cao ốc.
Bên trái bên phải đều xây nhà cao tầng.
Chỉ có ngôi nhà trệt ngày xưa tôi ở là không xây nhà lầu, tôi đứng bên ngoài ngôi nhà.
Bên ngoài nhà vắng vẻ.
Bên trong nhà im ắng không một âm thanh.
Ngôi nhà trệt đã cũ lắm rồi. (Hình như không có người ở.)
Tôi hỏi hàng xóm:
"Có ai sống ở đó không?"
Đáp:
"Không ai ở."
Tôi ngạc nhiên:
"Vì sao vậy?"
Hàng xóm nói:
"Trước kia có một người đuổi ma sống ở đây, giúp người ta đuổi ma quỷ, nhưng người đuổi ma đó đi rồi mà ma quỷ không đi, nên không ai dám ở!"


### 16. Chim tự sát


Ở bang Washington nước Mỹ, thật ra tôi cũng đã chuyển nhà bốn lần:

1. Linh Tiên Các. (ở Ballard)

1. Chân Phật Mật Uyển. (ở Redmond)

1. Hồ U Linh. (Phantom Lake ở Bellevue)

1. Nam Sơn Nhã Xá đầu tiên. (ở Gunshy Ridge, Redmond)

1. Nam Sơn Nhã Xá thứ hai. (ở Bellevue) (Tôi gọi vui nơi này là: “Không đến độ tụi bay”.) [Bridle Trails]

Tôi nghĩ, đây là lần chuyển nhà cuối cùng, sẽ không chuyển nhà nữa, nếu có chuyển thì sẽ là chuyển tới Ma Ha Song Liên Trì.
Thật ra, cả năm ngôi nhà này đều có những sự việc thần bí.

Trong số đó có một ngôi nhà đặc biệt kỳ lạ:
Thành phố Seattle nhiều núi nhiều hồ, núi xanh nước trong, bốn mùa rõ rệt, rừng cây rậm rạp, cảnh sắc nho nhã.
Không khí rất trong lành.
Đây là một môi trường rất tốt lành để sống.
Bởi vì nhiều cây cối, cho nên cũng rất nhiều loài chim.
Căn nhà cuối cùng của tôi, Nam Sơn Nhã Xá thứ hai, đặc biệt có một cái hồ nhỏ xinh để cho các loài chim nghỉ lại, uống nước.
Rất nhiều chim kêu!
Bên hồ nhỏ, lũ chim chơi đùa.
Bởi vì có quá nhiều chim khiến tôi liên tưởng đến việc tôi biết siêu độ, sao không làm siêu độ cho lũ chim nhiều một chút.

Thế là chuyện thần bí đã xảy ra rồi.
Trong căn phòng nhỏ có sắp đặt đàn thành của tôi, hướng đông có một cái cửa sổ. Mỗi ngày đều có tiếng chim đâm vào cửa sổ:
"Bộp! Bộp! Bộp!"

Ban đầu chúng tôi không để ý. Bởi vì, cửa sổ làm bằng thủy tinh trong suốt, lũ chim tưởng rằng không có vật cản nên muốn bay vào, cho nên mới đâm sầm vào cửa kính.
"Bộp! Bộp! Bộp!"
Về sau, tôi phát hiện ra điều bất thường. Trên cửa kính đã dính rất nhiều lông chim và máu chim. Hơn nữa bên dưới cửa sổ còn có xác chim chết ở đó.
Mới đầu là một con.
Tiếp theo là hai con.
Cuối cùng trở thành cả một đống.
Cả tấm cửa sổ kính đều dính đầy lông chim, và máu của chim, bên dưới cửa sổ thì cả đống chim chết.
Tôi kêu lên:
"Không phải thế đâu."
"Ta chỉ siêu độ cho trung ấm của chim thôi."
"Đâu có kêu tụi bay tự sát."

Thế nhưng, chuyện thần bí đã xảy ra rồi!
Chúng tôi trông thấy lũ chim xếp hàng, con này đến con khác, đâm vào cửa sổ kính của căn phòng có đàn thành.
Trời ơi! Lũ chim xếp hàng tự sát!
Chúng đâm đầu vào cửa kính, đâm tới khi đầu vỡ ra chảy máu, lông dính vào cửa kính, cho đến khi tắt thở mà chết.
Con này lại đến con khác, chục con rồi lại chục con, trăm con rồi lại trăm con, chúng liên tiếp tự sát không dừng.
"Bộp! Bộp! Bộp! Bộp! Bộp! Bộp! Bộp!"
Tôi bảo chúng nó:
"Đừng làm thế!" 
"Đừng tự sát nữa!" 
"Tàn nhẫn quá!"
Nhưng bọn chúng không nghe.
Tôi nghĩ:
Chúng biết rằng tôi sẽ làm siêu độ di chuyển thần thức, chúng muốn được đến cảnh giới tốt đẹp hơn!


### 17. Chuyện thần bí của siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp (1)


Trong thời kỳ dịch cúm virus Corona.
Tôi đưa ra một lời nguyện lớn, tôi nguyện siêu độ cho những người bệnh đã chết vì nhiễm virus, mỗi buổi tối tôi đều siêu độ.
Đây chính là siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp.

Nghi quỹ như sau:
Trước tiên, tôi ngồi tư thế Tỳ Lô thất chi tọa.
Thỉnh cầu ba Bổn tôn là Diêu Trì Kim Mẫu, A Di Đà Phật, Địa Tạng Bồ Tát phóng quang gia trì cho tôi.
Tôi tự hóa thành Bổn tôn (A Di Đà Phật).
Tay phải kết ấn thuyết pháp.
Tay trái kết ấn ban nguyện.
Từ ấn ban nguyện trượt ra một chiếc thuyền pháp ở trên biển lớn. Một hóa thành mười, mười hóa thành trăm, trăm hóa thành nghìn. (nghìn chiếc thuyền pháp)
Diêu Trì Kim Mẫu tuyên bố:
"Xin mời các trung ấm (linh hồn) hữu duyên mau mau lên thuyền."
Các trung ấm lên thuyền ngồi yên vị.
Trên nghìn chiếc thuyền pháp đều hiển hiện A Di Đà Phật ở bốn phía. A Di Đà Phật ở bốn phía đều hóa ra vô lượng ánh sáng chiếu đến những trung ấm hữu duyên trên nghìn chiếc thuyền pháp. (Cũng có nghĩa là tắm đẫm trong Phật quang, tất cả trung ấm hữu duyên đều được thanh tịnh thân tâm.)

Lúc này, nghìn chiếc thuyền pháp bay ra biển lớn, bay tới cõi trời bên ngoài cõi trời.
Tất cả trung ấm (linh hồn) đều đồng thanh niệm Phật:
Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật.
Rồi trì chú: "Om amidewa seh." [Ôm a-mi-đê-wa sê]
Chú vãng sinh.
Diêu Trì Kim Mẫu tuyên bố:
"Nghìn chiếc thuyền pháp bay đến Tây phương Cực Lạc thế giới, tịnh thổ của A Di Đà Phật."
Rồi lại tuyên bố:
"Lập tức lên đường!"

Thuyền pháp bay trong hư không, vừa bay vừa niệm Phật trì chú.
Cuối cùng:
Thuyền pháp đã đến được bến bờ bên kia.
Trung ấm hữu duyên đã đến được tịnh thổ của A Di Đà Phật, được A Di Đà Phật đích thân giáo hóa.
Hồi hướng:
"Nguyện người cùng niệm Phật
Cùng sinh cõi Cực Lạc
Trên báo bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Thấy Phật thoát sinh tử
Như Phật độ tất cả."

Tôi nói:
"Chỉ cần đến được Cực Lạc Phật thổ, thề không thối chuyển, Phật Bồ Tát đích thân giáo hóa, tương lai ai nấy đều thành Phật."
Tôi nhập tam ma địa.
Xuất định, rời khỏi pháp tọa.
(Tôi tu pháp như vậy từ đầu năm 2020 cho đến tháng 7 năm 2021, nhưng dịch bệnh vẫn còn, tôi vẫn tu pháp không ngừng nghỉ.)

Rất nhiều hiện tượng thần bí đã xảy ra.
Tôi tận tai nghe thấy:
Những âm thanh "lẹt xẹt… lẹt xẹt… lẹt xẹt… lẹt xẹt".
Những âm thanh này chính là khi trung ấm hữu duyên lên thuyền pháp, khi chưa ổn định chỗ ngồi, chân của các thân trung ấm cọ vào sàn tàu nên phát ra tiếng động.
Tôi tận mắt nhìn thấy:
Cảnh tượng thuyền pháp màu vàng kim lần lượt đón gió giương buồm, từ từ bay đến cõi trời bên ngoài cõi trời.
Đẹp đẽ vô cùng!
Trang nghiêm vô cùng!
Khi Phật quang tắm đẫm các linh hồn, cả một vùng sáng bừng lên như buổi sớm bình minh.


### 18. Chuyện thần bí của siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp (2)


Một hôm.
Vào lúc 12 giờ đêm, tôi và một đồng môn sống tại đất nước khác nói chuyện qua điện thoại.
Đồng môn kể cho tôi nghe một câu chuyện, vì thế mà thời gian nói chuyện tương đối lâu.
Đã quá giờ tôi làm pháp siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp rồi mà người bên kia vẫn tiếp tục nói chưa hết.
Những trung ấm hữu duyên đang chờ siêu độ nghìn chiếc thuyền pháp đợi đến sốt hết cả ruột!
Sau lưng ghế *sofa* mà tôi ngồi bỗng dưng lồi lên một cục ra sức chọc vào lưng tôi:
"Bộp! Bộp! Bộp!"
Tất nhiên tôi biết đã đến giờ siêu độ rồi, hơn nữa còn muộn giờ rồi, tôi nói:
"Biết rồi! Xin chờ một chút!"

Lúc này, các trung ấm hữu duyên đều khua chiêng gõ trống, cùng làm náo loạn cả lên.
Tiếng gõ "beng, beng, beng, beng" vào cửa sổ.
Giường.
Ghế.
Bếp lò. (Lò sưởi mùa đông.)
Tủ đầu giường.
Rèm cửa sổ.
Đều phát ra những tiếng động kỳ quái.
"Binh binh binh binh, beng, bộp, chát."
Tất cả nhao nhao lên.
Một cơn gió kỳ quái thổi vào trong phòng ngủ của tôi, kêu lên những tiếng "vù, vù, vù, vù, vù" kỳ dị.
...

Đồng môn đang gọi điện thoại hỏi:
"Lư Sư Tôn! Có tiếng gì lạ vậy, trong phòng của thầy có rất nhiều âm thanh."
Tôi thản nhiên đáp:
"Không sao đâu! Đến giờ tôi làm siêu độ rồi, họ chờ sốt ruột quá nên cùng nhau kiến nghị tôi đó!"
Đồng môn nghe xong, vội vội vàng vàng gác điện thoại.

Còn nữa:
Có một lần, tôi bị bệnh, đau đớn tới mức tôi rên rỉ ôi, ôi, ôi!
Đã đến lúc làm siêu độ, tôi nói vào hư không:
"Xin lỗi nhé! Hôm nay chính tôi cũng ốm rồi, bây giờ đau đớn lắm, buổi siêu độ tối nay tôi dùng phương pháp giản lược, tôi không muốn tốn nhiều thời gian!"
Có một linh hồn nói:
"Tôi là bác sĩ!"
Lại có linh hồn nói:
"Tôi đến từ bệnh viện chuyên khoa!"
Lại có linh hồn nói:
"Tôi là y tá trưởng!"
"Chúng tôi cùng khám bệnh cho ngài!"
Tôi nói:
"Âm dương khác biệt, cảm ơn ý tốt của mọi người. Hãy cứ để tôi siêu độ cho mọi người đến Phật quốc tịnh thổ đã!"
Thế rồi tôi thực hiện xong nghi quỹ siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp, không làm qua loa một chút nào.

Còn nữa:
Có một linh hồn nói:
"Tôi bị say sóng! Phải làm sao?"
Tôi sững người ra một lúc!
Linh hồn nói:
"Lư Sư Tôn yên tâm, tôi có thuốc chống say, uống xong sẽ không bị say nữa."
Tôi thở phào nhẹ nhõm!


### 19. Chuyện thần bí của siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp (3)


Có một đại hòa thượng vì mắc virus Corona nên đã viên tịch. Đại hòa thượng ấy ghi tên trong danh sách. Linh hồn của ông ấy vẫn được xem là chưa tản mát, là bởi vì người này có tu định.
Ông ấy nói:
"Lư Sư Tôn! Tôi biết ngài, đây là siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp, âm dương đều có lợi, rất nổi tiếng."
Tôi chắp tay:
"Cảm ơn!"
Ông ấy nói:
"Tôi là một đại hòa thượng, không thể lẫn lộn cùng phàm phu thế tục, có thể cho tôi một mình một thuyền không, để không bị nhiễm tục khí?"
Tôi nói:
"Ở chỗ của Lư Sư Tôn tất cả đều bình đẳng, tôn ti ngang bằng, không thể có ngoại lệ."
Ông ấy nói:
"Có thể phá lệ không?"
Tôi nói:
"Không thể!"

Đại hòa thượng cũng bất chấp tất cả, lập tức làm kết giới. Kết giới nghĩa là tạo ra một lớp khí vô hình bao trùm, linh hồn chúng sinh bình thường không thể tiến vào. Rất nhiều trung ấm hữu duyên không có cách nào ngồi trên con thuyền đó được, đại hòa thượng này dương dương tự đắc.
Phải làm sao?
Thế là, tôi niệm một câu chú:
*"Thiên thanh hách hách,
Lôi quang chiêu chiêu.
Kết giới ngưng khí.
Nhất bút câu tiêu."*

Tôi đã phá được kiết giới của đại hòa thượng kia. Trung ấm hữu duyên cùng kéo nhau lên ngồi yên vị. Đại hòa thượng kia tức đến đỏ mặt tía tai, mặt mày tối sầm.
Tôi nói:
"Tứ nhiếp pháp của Phật giáo có một pháp là "đồng sự". Tức là đại Thánh hiền độ chúng sinh phải cùng làm với người thế tục, như vậy mới dễ dàng cứu độ chúng sinh."
Tôi lại nói:
"Tây phương tịnh thổ có một cõi gọi là Phàm-Thánh đồng cư, ở Phật quốc tịnh thổ cũng có "đồng sự". Đại hòa thượng mặc dù to, nhưng cũng không thể trong mắt không có người khác."

Còn nữa:
Có một người thuộc tầng lớp trung lưu giàu có cũng đến chỗ tôi, muốn lên thuyền pháp, nhưng anh ta mang theo một cái gói lớn. Tôi nói:
"Để cái gói đó lại!"
Anh ta nói:
"Không được! Đây là những món đồ quý giá nhiều đời mà tổ tiên của tôi để lại, tôi coi chúng còn quan trọng hơn cả mạng sống của mình."
Là cái gì?
Anh ta mở ra, bên trong là:
Tranh của Phổ Nghi.
Bát của triều nhà Thương.
Cái mâu thời Chiến Quốc.
Chén rượu Kim Tước.
Vô số ngọc ngà châu báu.
...

Những linh hồn vây xung quanh ai cũng sáng hết cả mắt!
Tôi nói:
"Cái này không thể đem lên thuyền được!"
Anh ta nói:
"Vậy tôi đem theo cái gì?"
Tôi nói:
"Chưa nghe câu tất cả đều không đem theo được, chỉ có nghiệp theo thân sao? Còn thất trân bát bảo thì thế giới Cực Lạc có đủ hết!"
Người giàu có này chỉ còn cách để gói đồ ở lại.


### 20. Sư tỉ Toàn Tâm nói như vậy


Ở Hồng Kông Lôi Tạng Tự có hai vị đại thí chủ. Một vị là Lâm Toàn Tâm, một vị là Lôi Kim Minh.
Chúng tôi đều nói họ là trụ cột của Hồng Kông Lôi Tạng Tự.
Sư tỉ Toàn Tâm kể:
Chồng tôi mắc bệnh, lần này rất nghiêm trọng. Đã bị hôn mê rồi! Đưa vào bệnh viện, bệnh viện quyết định sẽ từ bỏ việc chữa trị. Sư tỉ Toàn Tâm lập tức báo cáo với Sư Mẫu Liên Hương Thượng sư, thỉnh cầu Lư Sư Tôn siêu độ tiếp dẫn.
Tôi không nói gì khác ngoài:
Niệm chú Vãng sinh.
Chú Văn Thù Bồ Tát vãng sinh.
(Diêu Trì Kim Mẫu Phổ Độ Thu Viên Định Huệ Giải Thoát Chân Kinh.)
Tôi ghi tên ông ấy vào danh sách siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp. Đặc biệt gia trì tiếp dẫn.
...

Tất cả đã chuẩn bị ổn thỏa. Trong lúc tôi đang siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp, tôi liên tục lưu ý đến chồng của sư tỉ Toàn Tâm, nhưng đợi mấy ngày vẫn chưa thấy chồng của sư tỉ Toàn Tâm đâu.

Sau đó, chúng tôi đã nhận được tin tức từ sư tỉ Toàn Tâm:
Chồng của bà ấy đã tỉnh khỏi cơn hôn mê. Trong cơn hôn mê, chồng bà ấy đã nhìn thấy:
Bên phải xuất hiện đại hòa thượng Giác Quang.
Bên trái xuất hiện thượng sư Liên Huy của Hồng Kông Lôi Tạng Tự.
Ở giữa xuất hiện Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.
Liên Sinh Hoạt Phật tỏa ra một luồng ánh sáng trắng chiếu đến ông ấy. Thế là, người chồng từ trong hôn mê đã tỉnh lại.
Hiện tại, ngoài một bên chân tay không có lực ra thì vẫn có thể xuống giường đi lại được.

Theo tôi được biết:
Đại hòa thượng Giác Quang là sư phụ quy y của chồng sư tỉ Toàn Tâm. Đại hòa thượng Giác Quang cũng là một trong số giới sư của tôi. Khi đại hòa thượng Giác Quang còn sống từng lưu trú tại đảo Mercer ở Seattle, ngài ấy đã từng đến Seattle Lôi Tạng Tự, tặng cho tôi hai chiếc bình gốm. (Hiện đặt ở Nam Sơn Nhã Xá.)
Thượng sư Liên Huy hiện đang làm sư trụ trì của Hồng Kông Lôi Tạng Tự. Và cả nhà sư tỉ Toàn Tâm cũng là đệ tử của tôi.

Theo như phía bệnh viện nói, chồng của sư tỉ Toàn Tâm có chỉ số hôn mê rất thấp, cho dù có thể cứu thì cũng thành người thực vật. Nhưng kết quả là: ông ấy đã sống lại!
Ha! Sự việc này cũng xem như là chuyện thần bí nhỉ!

Ngoài ra:
Sư huynh Cao Minh Phúc sống tại Đài Đông, Đài Loan cũng gặp tình huống khá giống với chồng của sư tỉ Toàn Tâm. Cao Minh Phúc còn nghiêm trọng hơn. Ông ấy đã xuống đến địa ngục rồi. (Nhìn thấy Diêm La Vương.)
Quan viên hỏi:
"Ông quy y ai?"
Đáp:
"Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn!"
Quan viên nói:
"Là đệ tử của Hoạt Phật, vậy cho ông hoàn dương làm một nhân chứng. Quay trở về chăm chỉ tu hành, đừng phụ lòng!" 
(Thế là Cao Minh Phúc đã hoàn dương.)


### 21. Chuyện bóng đè


Tôi nhớ khi tôi còn trẻ (lúc còn là nhân viên đo đạc ở liên đội trắc lượng số 5802), tôi đến Tiểu Cảng ở Cao Hùng để đo đạc vùng Đại Bình Định. (Đo đạc sân bay Tiểu Cảng ở Cao Hùng.)
Tôi trú tại nhà tang lễ công cộng ở một thôn nhỏ trên núi. Nhà tang lễ công cộng chính là nơi thờ cúng bài vị của tổ tiên, hai bên có hai chái nhà, tôi nhớ đó là nơi để quan tài tạm thời. Nơi tôi trú lại chính là nơi để quan tài gỗ.

Tôi nhớ có hai chuyện kỳ bí:

Mỗi đêm trước khi tôi đi ngủ, tôi đến phòng khách lớn (phòng khách chung) thắp hương thắp nến, tụng kinh A Di Đà và niệm Phật, niệm xong thì mới đi ngủ.
Có một đêm, tôi niệm tụng chưa được bao lâu thì có một trận gió lớn thổi tung cửa sổ nhỏ. Lúc này, những thanh cuộn treo trên tường, cũng chính là những thanh cuộn treo giấy tuyên viết chữ kêu lên những tiếng lạch cạch. 
Ánh đèn lúc sáng lúc tối. 
Nến bị thổi tắt. 
Que hương cũng lay động. 
Tôi thấy xung quanh dường như có rất nhiều bóng đen đang đứng (linh hồn tổ tiên).
Tôi giật thót mình!
(Khi ấy tôi còn trẻ nên không mấy hiểu chuyện, chỉ là tôi cảm thấy họ cũng không có ác ý nên không sợ lắm.)
Tai tôi vang lên tiếng nói của một người già:
"Người này là quý nhân họ Lư, đừng quấy nhiễu!"
Lời vừa dứt thì:
Gió ngừng!
Đèn sáng!
Tất cả mọi sự xáo động đều dừng lại!
Que hương không lay động nữa!

🌟

Chiếc giường xếp của tôi đặt ở chái nhà bên trái, dùng bốn que trúc cắm vào bốn xung quanh của chiếc gường xếp để mắc màn lên đó.
Tôi chui vào trong giường.
Kéo chăn lên.
Nằm xuống đánh một giấc. (Ban ngày đi đo đạc rất mệt.)

Đêm hôm đó vô cùng yên tĩnh, rồi tôi bị bóng đè.
Cái gọi là bóng đè nghĩa là trong lúc đang ngủ, toàn thân bị một bóng đen to lớn đè chặt.
Tứ chi không thể cử động.
Miệng cũng không thể nói.
Hít thở có phần khó khăn hơn, không biết phải làm sao.
(Rất nhiều người đã có trải nghiệm này.)
Người bình thường gọi là bị bóng đè.
Sau đó, tôi lại nghe thấy tiếng nói của một người già:
"Con Kiều! Không được, đó là quý nhân họ Lư đó!"
Kiều nói:
"Lư quý nhân gì chứ, cháu không biết, ông ấy chạy đến chỗ của cháu, cháu phải đuổi ông ấy đi."
Người già nói:
"Ngài ấy là tiểu giáo chủ đó, sau này sẽ độ chúng sinh. Người này có thiên mệnh, không được đắc tội."
Kiều đáp:
"Vậy ạ? Được thôi, nghe lời ông!"
Một lúc sau, cơ thể của tôi có thể cử động được, hít thở cũng bình thường, mắt cũng mở to ra.

Tôi rất tò mò về chuyện này. Tôi hỏi trưởng thôn:
"Kiều là ai?"
Sắc mặt của trưởng thôn rất khó coi. Lâu sau mới trả lời:
"Kiều là con gái tôi, nhưng đã sớm qua đời!"
Tôi không muốn hỏi tiếp nữa, trưởng thôn có một vài nỗi niềm khó nói, nhưng tôi biết, điều tôi nghe được là sự thật.


### 22. Linh hồn và động vật nhỏ


Gần đây, vào tháng 7 năm 2021, tôi nhận được thư của đệ tử. Đại ý trong thư là:
Cụ thân sinh qua đời.
Trong quá trình cử hành tang lễ, bất ngờ có một con vật nhỏ (con châu chấu) bò lên bàn thờ. (Ở Đài Loan, châu chấu gọi là "con bụng trắng".)
Con châu chấu này không bay đi, cứ đậu ở chính giữa bàn thờ, nhìn ngó xung quanh rất tự nhiên.
Tất cả mọi người đều nhìn thấy. Có người nói:
"Đập chết nó đi!"
Có người nói:
"Đừng sát sinh, ném nó vào bãi cỏ thôi!"
Đệ tử nói:
"Không được! Đây là cụ ông biến hóa ra đó, đừng làm kinh động đến nó."
Con châu chấu này hai ngày sau thì biến mất!

Đệ tử hỏi:
"Có phải ông cụ thân sinh đã chuyển thế thành châu chấu không?"
Tôi trả lời đệ tử:
"Không phải! Đây chỉ là linh hồn của cụ thân sinh nhập vào một động vật nhỏ, vội vã đến tham dự lễ cúng thôi." (chuyện thần bí)

Còn nữa:
Bức thư này đã gợi lại ký ức của tôi. Anh trai của Sư Mẫu Liên Hương Thượng sư đã qua đời vì mắc bệnh tim. Tôi và Sư Mẫu đã cử hành lễ siêu độ tại Nam Sơn Nhã Xá.
Một con châu chấu.
Chính là cái đồ "bụng trắng" đó.
Hay chưa! Vui chưa! Từ ngoài cửa, nó bay thẳng đến chính giữa bàn thờ, mặt đối mặt nhìn chằm chằm vào chúng tôi.
Sư Mẫu nói:
"Đánh chết nó đi!"
Tôi nói:
"Không được! Đây là linh hồn anh trai của bà đó, đã bám trên thân của con vật nhỏ này, chứng tỏ rằng anh ấy có đến tham gia lễ cúng siêu độ."

Tôi nhìn vào nơi sâu nhất trong mắt con châu chấu!
Ha ha, anh là đại ca của chú đây!
Anh đặc biệt từ Đài Loan đến Mỹ tham gia lễ cúng của hai người. Anh là đại ca của chú đây! Không phải là châu chấu đâu! Anh sẽ chuyển thế đến cảnh giới cao! Cảm ơn siêu độ của Thắng Ngạn! Vì anh có thẻ tu hành nên mới có thể từ nơi xa đến chỗ này, ở đây đúng là không tệ!
Ha ha!
Anh không sao!
Mọi người không cần buồn rầu vì anh! (chuyện thần bí)

Còn nữa:
Bố của Sunny qua đời! (Sunny là vợ của Phật Kỳ.) Sunny vội vã trở về Indonesia để chịu tang. Khi đưa tang lại đúng lúc mưa lớn, quan tài đặt lên xe tang, ngồi quanh có mẹ của Sunny, người thân thích và Sunny. Không biết từ đâu bay đến một con bướm rất to, đậu đúng trên vai Sunny. Không hề động đậy. Mọi người xua nó đi, nó cũng không bay đi, cứ đậu trên vai của Sunny. (Lúc còn sống, bố của Sunny yêu thương nhất là đứa con gái này.)
Tôi biết:
Linh hồn của bố Sunny đã bám lên thân của con bướm.

Những chuyện này… đều là những chuyện thần bí.


### 23. Chuyện về đêm ở Nam Sơn Nhã Xá (1)


Buổi tối ngày 28 tháng 7 năm 2021. Tôi ngồi lên pháp tọa tại Nam Sơn Nhã Xá. Tôi chuẩn bị làm pháp, dùng siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp để siêu thoát cho những trung ấm hữu duyên của người chết.
Tôi vừa mới tự hóa thành Bổn tôn (thân thể chuyển hóa thành A Di Đà Như Lai).
Kết quả là:
Hết sức xin lỗi!
Thật sự rất xin lỗi!

Thế nào mà tôi lại ngủ gật trên pháp tọa, trời ạ! Giấc ngủ này cực kì sâu. Khoảng hai giờ rưỡi sáng ngày 29 tháng 7 năm 2021 tôi mới tỉnh dậy!

Tôi có hai cách nghĩ:

1. Tiếp tục pháp sự của tôi, siêu độ xong thì đi ngủ tiếp.

1. Rời khỏi pháp tọa đi ngủ trước, thật sự cũng quá mệt rồi, e rằng pháp sự không làm tốt, ngày mai bù đắp vậy!

Sau đó, tôi chọn cách thứ hai, xuống khỏi ghế rồi đi ngủ. Tôi nói với các trung ấm hữu duyên:
"Xin lỗi nhé! Ngày mai lại bù!"
(Buổi tối ngày mai, tôi sẽ làm siêu độ "hai nghìn chiếc thuyền pháp".)

Còn nữa:
Về phía Sư Mẫu Liên Hương Thượng sư, phòng của chúng tôi cách nhau rất xa, bà ấy ngủ ở phía tây, tôi ngủ ở phía đông.
Vào lúc sáu giờ sáng ngày 29 tháng 7 năm 2021, trên ghế *sofa* trong phòng khách nhỏ (pháp sư Liên Ân đang dựa vào), lúc này Sư Mẫu Liên Hương Thượng sư nhìn thấy: cả phòng khách nhỏ đã biến thành kiểu trang hoàng cổ điển Châu Âu, vô cùng lộng lẫy và cao quý. Trên sàn nhảy trong phòng khách lớn có rất nhiều rất nhiều người đang mở tiệc. Có hai quý ông và quý cô phục sức theo kiểu Âu cổ đại đang nói chuyện trước mặt Thượng sư Liên Hương.
Liên Hương không nghe rõ họ nói cái gì. Thượng sư Liên Hương nói với họ:
"Không nghe rõ hai người nói cái gì."
"Nói rõ hơn một chút đi."
"Để tôi cũng được biết!"
Hai người quý ông quý cô ăn mặc kiểu Âu cổ điển kia quay đầu lại nhìn Thượng sư Liên Hương.
Chẳng nói gì cả.
Chỉ nghe họ nói với nhau:
"Trời sắp sáng rồi! Mặt trời mọc rồi!"
"Chúng ta đợi đến mai nhé!"
Những người này từng người từng người một thu vào trong ô tủ này đến ô tủ khác trong phòng khách nhỏ, cái tủ dường như lồi ra. Thượng sư Liên Hương chắp hai tay lại, nói với họ:
"A Di Đà Phật! A Di Đà Phật! A Di Đà Phật! A………."
(Thị giả pháp sư Liên Ân nhìn thấy Sư Mẫu Liên Hương Thượng sư nói chuyện với căn phòng khách không một bóng người thì sợ hãi thối lui mấy bước, bà ấy biết Sư Mẫu đã nhìn thấy vô hình.)

Còn nữa:
Tôi thì biết Sư Mẫu Liên Hương Thượng sư nhìn thấy nhiều vô hình như vậy chính là những linh hồn (trung ấm hữu duyên) mà tôi chưa siêu độ buổi tối hôm qua. Họ nói:
"Hoạt Phật ngủ mất rồi!"
"Ấy! Ngài ấy thật sự mệt quá rồi!"
"Mọi người chúng ta đợi đến tối mai đi!"
Tôi vẫn nói với họ:
"Xin lỗi nhé! Thật sự rất xin lỗi!"
Đây là lần đầu tiên tôi ngủ gật trong suốt hơn một năm qua. Đó là câu chuyện về đêm ở Nam Sơn Nhã Xá.


### 24. Chuyện về đêm ở Nam Sơn Nhã Xá (2)


Ngày 29 tháng 7 năm 2021, 6 giờ sáng.
Sư Mẫu và ma (trung ấm) gặp nhau khoảng mười lăm phút.
Thị giả pháp sư Liên Ân giúp đỡ cho Sư Mẫu Liên Hương Thượng sư đã nhìn thấy từ đầu đến cuối, trong lòng rất sợ hãi.

🌟

Là ảo giác sao?
Thượng Sư Liên Hương nói:
"Chắc không phải là ảo giác, bởi vì bản thân tôi cũng tự hỏi mình đây có phải là huyễn giác không?"
Thượng sư Liên Hương nói:
"Chính tôi cũng nhận ra điểm này, nên quay đầu lại hỏi pháp sư Liên Ân xem bà ấy có thấy gì không."
Pháp sư Liên Ân đáp:
"Chẳng có cái gì cả!"
Thượng sư Liên Hương nói:
"Họ đứng ngay bên cạnh bà đó."

Thượng sư Liên Hương chú ý một chút đến ý thức của mình, chứng tỏ đây hoàn toàn là mình đang tỉnh táo, Thượng sư Liên Hương nhìn thấy, nhưng pháp sư Liên Ân không nhìn thấy.
Thượng sư Liên Hương trông thấy:
Hình dáng của ma, có bộ râu cá trê, ăn mặc kiểu Âu. 
Một con ma trong số đó còn hóa trang tay chân giả. 
Bầy ma đang mở tiệc
Ma nam và ma nữ đang nói chuyện riêng. 
Mắt của Thượng Sư Liên Hương và ma từng nhìn thẳng vào nhau, biểu cảm rất rõ ràng. 
Sự trang hoàng theo phong cách châu Âu cổ đại và quần áo theo phong cách châu Âu cổ đại không phải do Thượng sư Liên Hương tưởng tượng ra.

🌟

Thượng sư Liên Hương niệm Phật hiệu với ma:
"Nam Mô A Di Đà Phật… A Di Đà Phật…" 
Còn nói: 
"Mọi người đi gặp A Di Đà Phật đi!"

Khi mặt trời ló rạng!
Thượng sư Liên Hương trông thấy:
Hết con ma này đến con ma khác trốn vào tủ ở phòng khách nhỏ trong phòng khách nhà tôi. Bà ấy còn nhìn thấy: cái mũ của con ma cuối cùng bị mắc vào cửa tủ, rồi còn một cái chân cũng bị kẹt ở cửa tủ.
Cuối cùng, tất cả đều trốn vào trong tủ. Trong tủ người đông nên còn lồi ra một chút!

Những hiện tượng này, theo như tôi biết, tôi (Lư Sư Tôn) biết rằng:
Tôi thường làm siêu độ.
Ma lẩn trốn trong nhà tôi là điều tất nhiên.
Tủ lạnh.
Chậu cảnh.
Thân cây trúc.
Nhà vệ sinh.
Tường.
Bây giờ lại có thêm cái tủ nữa.
Ngoài ra còn có phòng chiếu phim nhỏ nữa.

🌟

Nhìn chung mà nói:
Ma chỉ cần nhìn thấy tôi (Lư Sư Tôn), họ đều nhanh chóng trốn đi. Bởi vì họ rất căng thẳng cho nên chỗ nào cũng vang lên những tiếng binh binh beng beng. Họ thường trốn trong tủ lạnh tối và lạnh. Hễ tôi đi đến gần thì tủ lạnh sẽ rung mạnh.
"Binh!" - Một tiếng rất to.
Họ thì không sợ Thượng sư Liên Hương lắm. Bà ấy kể với tôi:
"Những con ma tôi thường nhìn thấy thì người sắp chết tương đối nhiều, hoặc là người bị bệnh nặng. Lẽ nào tôi nhìn thấy những con ma này nghĩa là tôi sắp rời xa nhân gian sao?"
Tôi nói:
"Không đâu, bà sẽ sống thọ đó!"


### 25. Không rõ tôi là loại người gì? (1)


Hoa Quang Tự Tại Phật?
Xá Lợi Phất?
Long Thụ?
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ?
Vua Trisong Detsen? (Vua Tây Tạng)
Naropa?
Atisa?
Tsongkhapa?
Không Hải?

Tôi nói: "Tôi là Lư Thắng Ngạn! Tôi không có vĩ đại như vậy."
Tôi chẳng phải là cái gì cả. (Quá khứ, hiện tại, vị lai. Vô sở đắc.)
Tôi hình như cũng là tất cả. (Quá khứ, hiện tại, vị lai. Nhân duyên tụ hội.)
Rốt cục chuyện này là thế nào? Bản thân tôi cũng mơ hồ rồi, rốt cục tôi là ai?.............
Tôi là:
"Ánh sáng." (thành tựu vô thượng)

🌟

Tôi là Lư Huệ Năng sao?
Lư Hành Giả?
Lục Tổ?
Ngày đầu tiên tôi giảng Lục Tổ Đàn Kinh. Trên bầu trời của Đài Loan Lôi Tạng Tự đã xuất hiện sáu dấu chân. Trời xanh vạn dặm không mây, thế mà xuất hiện sáu cụm mây đen, mây đen biến hóa thành dấu chân.
Sáu dấu chân.
Lục Tổ Đàn Kinh của Lục Tổ Huệ Năng biến thành Lục Túc Đàn Kinh.
Túc và Tổ.
Vui ghê!
Sáu dấu chân bằng mây đen.
Thật khéo!

Tôi giảng Hồng Quang Đại Thành Tựu. Tại Seattle Lôi Tạng Tự ở Mỹ, bầu trời phía trước Lôi Tạng Tự xuất hiện một dải cầu vồng, một dải cầu vồng thì cũng không có gì là ghê gớm cả.
Hai dải cầu vồng cùng xuất hiện!
Dải cầu vồng thứ ba cũng xuất hiện!
Cái này không có gì ư?
Ngoài ra còn có ba quầng sáng xung quanh mặt trời.
Lư Thắng Ngạn là cái thứ gì?
Giảng Đại Thành Tựu Cầu Vồng thì xuất hiện ba dải cầu vồng, ba quầng ánh sáng.
Đúng là vận hên!

🌟

Giảng Mật Tông Đạo Thứ Đệ Quảng Luận thì:
Tsongkhapa phóng trăm ánh sáng trân quý gia trì, những đợt sóng ánh sáng kim cương rực rỡ ấy.
Ha! Ha! Ha!
A! A! A!
Bạn nói bạn không nhìn thấy?
Tôi nói tôi nhìn thấy.
Rốt cục có hay không có?
Bạn nói không có.
Tôi nói:
"Có."

Bạn muốn nhìn thấy, được thôi! Tôi sẽ cho bạn thấy.
Khi tôi ở Indonesia làm pháp hội Thời Luân Kim Cang. Tôi cầm hương, khói hương vấn vít, tụ lại thành mặt, mắt, tai, mũi, lưỡi… của Thời Luân Kim Cang.
Tôi và Thời Luân Kim Cang mặt đối mặt.
Có người chụp ảnh:
Tôi và Thời Luân Kim Cang mặt đối mặt.
Đủ chân thực rồi nhỉ! 
(Là sự thật, cũng là nhân duyên tụ hội.)


### 26. Không rõ tôi là loại người gì? (2)


Không rõ tôi là loại người gì?
Điều này khiến người ta nghĩ không thông, chắc là cảnh giới vô thượng rồi!
Người vô ngã!
Pháp vô ngã!
Từng cử động của cơ thể chính là "ấn".
Từng lời nói ra từ miệng chính là "chú".
Mỗi suy nghĩ chính là "pháp".
Kết quả là:
Tất cả thế là xong!
Bạn tin hay không?
Không tin?
Không tin thì hãy xem chứng cứ.

🌟

Hạn hán ở Indonesia, tôi nhận lời mời đến Indonesia làm pháp hội. (1)
Địa điểm tại hội trường lớn của Sử Na Diên.
Ngày hôm đó, mặt trời xinh đẹp chiếu sáng từ trên cao, trời xanh vạn dặm, trên đường đi đến hội trường, bên ngoài cửa sổ xe, khí nóng hừng hực, khắp nơi là một vùng khô vàng. (Bốn tháng khô cạn.)
Tôi ngồi trên pháp tọa.
Nói một câu:
"Sau pháp hội trời sẽ mưa!"
Mọi người đưa mắt nhìn nhau, sao có thể chứ?
Kết quả là:
Sau pháp hội, thật sự trời đổ mưa như trút. (gây ngập lụt)
(Sư huynh Diệu Toàn gọi điện thoại hỏi thăm các phân đường ở khắp các đảo trên Indonesia, đáp án là cả nước đều mưa lớn.)
Sự việc này đã được đăng trên Tạp chí Asean.

🌟

Sự việc này xảy ra cách đây rất lâu rồi. Có lẽ mọi người cho rằng chuyện cũ nhắc lại thì chẳng có gì hay ho cả! Hãy kể chuyện gì gần nhất đi!
Tôi nói, được! Tôi kể một chuyện gần nhất vậy!
Khoảng tầm tháng 4 năm 2021, Đài Loan hạn hán nghiêm trọng. Tất cả hồ chứa nước trên toàn quốc đều cạn thấy đáy, ai nấy kêu khổ thấu trời.
Hết nước rồi!
Mỗi tuần cắt nước hai ngày. (Các đoàn thể tôn giáo đều cầu mưa.)
Trên pháp tọa, tôi nói:
"Sắp có mưa lớn rồi, nhưng mà nước trong các hồ chứa nước đều đầy hết cả, nên sẽ có lũ lụt nữa…" 
(Trong pháp hội Đa Văn Thiên Vương tôi đã khai thị như vậy, tôi sẽ thỉnh Tứ Đại Thiên Vương thúc giục Tứ Hải Long Vương chuyển mây làm mưa.)
Kết quả:
Tháng 6.
Tháng 7.
Tháng 8.
Các hồ chứa nước đầy tràn, mưa lớn vẫn không dừng, ngập lụt lớn rồi, ngay cả chuyện ngập lụt lớn cũng ứng nghiệm rồi.
(Sư huynh Lư Bì Phúc ở Đài Loan Lôi Tạng Tự từng đăng lời khai thị của tôi trên mạng.)

🌟

Cuối năm 2019 âm lịch. 
Sư tỉ Liên Hoa Văn Bân phỏng vấn tôi.
Tôi nói:
"Năm 2020 sẽ có dịch bệnh, là vi khuẩn siêu cấp (virus)."
"Năm 2020, kinh tế thế giới chỉ được 20 điểm."
Đến cuối năm 2020 âm lịch. (4)
Sư tỉ Đới Lâm phỏng vấn tôi.
Tôi cho một chữ:
"Diên!" [kéo dài]
(Ý nghĩa rằng sẽ kéo dài tiếp từ năm 2020 đến năm 2021.)
Kết quả:
"Ứng nghiệm rồi!"

Chú thích của người biên tập:
(1) Tháng 10/1994 tại trung tâm pháp hội Sử Na Diên ở Indonesia.
(2) Khai thị trong buổi đồng tu Bổn tôn pháp Hoàng Tài Thần tại Seattle Lôi Tạng Tự ngày 17/4/2021, được ghi chép và đăng trên Chân Phật Báo số 1366 trang 2.
(3) Ngày 9/1/2020 phỏng vấn với đài truyền hình dịp xuân mới, ghi chép nội dung phỏng vấn được đăng tại Chân Phật Báo số 1309 trang 9 "Năm 2020 điều tôi e sợ là dịch bệnh…"
(4) Năm 2021 phỏng vấn với đài truyền hình dịp xuân mới, ghi chép nội dung phỏng vấn được đăng tại Chân Phật Báo số 1357 trang 6 "Chữ đại diện cho năm 2021 là… chữ "diên"… Năm 2021 vẫn có cái bóng tối của năm 2020… tiếp tục kéo dài đến cuối năm…”


### 27. Không rõ tôi là loại người gì? (3)


Năm ấy. [Ngày 27/2/2010 đại pháp hội Hộ Ma Phật Mẫu Khổng Tước Minh Vương, tạp chí Nhiên Đăng số 215 có đăng bài báo cáo.]
Đài Loan Lôi Tạng Tự trên núi Hổ tại trấn Thảo Đồn cử hành pháp hội quy mô siêu lớn.
Pháp tọa được sắp đặt tại chính giữa quảng trường.
Toàn bộ bên trong, bên ngoài chùa (quảng trường) đều là biển người. Pháp hội của Đài Loan Lôi Tạng Tự đều có trên vạn người. (Chỉ có càng ngày càng đông.)

Tôi lên pháp tọa.
Ngày hôm ấy.
Mặt trời rất gay gắt. (Tia hồng ngoại, tia tử ngoại siêu cao.)
Quảng trường nóng hừng hực.
Tôi không rõ nhiệt độ là bao nhiêu độ, tóm lại, nóng đến mức muốn nổ tung.
Tôi vã mồ hôi như tắm.
Có thể tưởng tượng tín chúng ở dưới pháp tọa thì còn nóng đến mức nào.

Mặt trời mặt trời mặt trời.
Nóng nóng nóng.
Trời xanh vạn dặm.
Ôi! Lần này tôi sắp bị nóng đến chết rồi! Da đầu túa mồ hôi, ướt đẫm như ngập lụt vậy! (Trên pháp tọa vốn không có mái che, không có trần nhà.)
Tôi thầm nghĩ:
"Nếu chim công của Khổng Tước Minh Vương dang rộng đôi cánh của nó ra, che kín cả Lôi Tạng Tự này thì tốt biết mấy!"

Vừa mới nghĩ xong.
Một sát-na!
Cũng không biết từ đâu bay tới một vùng mây đen lớn, đã che kín phía trên Lôi Tạng Tự.
Lúc này.
Cơn nóng nực lập tức tiêu tan.
Liên tiếp những cơn gió mát.
Chà! Chà! Chà! Chà!
Mọi người đều cảm thấy rất mát mẻ, rất dễ chịu!
(Có đệ tử lái ô tô trên đường cao tốc, nhìn về phía Lôi Tạng Tự trên núi Hổ, chỉ trông thấy trời xanh vạn dặm, duy có phía trên Lôi Tạng Tự là có hai đám mây đen lớn che phủ, trông rất kỳ lạ.)
Đó là:
"Thuật gọi mây."

🌟

Còn nữa:
Chính vào cái năm đó ấy. [Ngày 18/5/2014 tổ chức dạ tiệc cảm ơn công ích từ thiện mừng thọ 70 tuổi của Thánh Tôn. Chân Phật Báo ra ngày 26/5/2014 đã đăng tải báo cáo trong số 1006.]
Tôi sắp trở về Mỹ, Đài Loan Lôi Tạng Tự tổ chức một bữa tiệc thịnh soạn nhất, đặc biệt mời sư phụ Tổng Biện Trác đến nấu những món ăn ngon.
Trong chùa, ngoài chùa.
Bày đầy những chiếc bàn tròn, có tới mấy trăm bàn. Bàn của tôi bố trí ở chính giữa quảng trường. Thời gian khai tiệc là lúc 6 giờ tối.

Điều đặc biệt nhất là:
Họ chế tạo ra chiếc kiệu có hai đỉnh, được tám thanh niên khỏe mạnh khiêng, trên kiệu là Lư Sư Tôn và Lư Sư Mẫu ngồi.
Trên đường được khiêng tới chính giữa quảng trường. Các đệ tử reo hò như sấm rền.
(Tôi và Sư Mẫu đều không biết những kế hoạch này.)

Đến ngày có đại tiệc đó.
Thảm rồi!
Ngày hôm đó, mây đen dày đặc, mưa lớn không ngớt từ sáng đến tối, lúc nào cũng mưa, không lúc nào dừng.
Buổi chiều, mưa càng lớn.
Không có dấu hiệu tạnh mưa.
Phải làm sao? Phải làm sao? Phải làm sao? Phải làm sao? Phải làm sao? Phải làm sao? Phải làm sao?
Trên quảng trường có hơn năm chục bàn. (Bên trong chùa không tính.)
Mưa càng to, cuồng phong càng thổi mạnh, có thể thấy là buổi yến tiệc này không thể tổ chức được rồi.
(Lẽ nào muốn chúng tôi mặc áo mưa để ăn cơm.)

5 giờ rưỡi chiều, tôi và Thượng sư Liên Hương đến Lôi Tạng Tự. Trời vẫn đang mưa, gió mạnh vẫn đang thổi. Mọi người nhìn tôi đầy hoang mang. Hai mắt tôi ngước nhìn trời. Một sát-na!
Gió ngừng mưa tạnh, mây tản đi, trời xanh, ánh tà dương ló ra, tiếng hoan hô vang rền.
Đó là:
"Thuật dừng mưa."


### 28. Không rõ tôi là loại người gì? (4)


Có thể mọi người vẫn còn nhớ? Có thể mọi người đã quên rồi?
Đại pháp hội ở Hồng Kông, cái lần pháp hội tổ chức tại sân bóng ở Hồng Kông đó. (1)
(Sân bóng đó hiện đã không còn, đã được chuyển sang mục đích sử dụng khác.)
Ngày hôm đó là ngày lạnh nhất ở Hồng Kông! (đạt kỷ lục)
Chỉ 4 độ C.
Mưa gió thê lương.
Tôi bước đi rất khó khăn, đi lên pháp tọa trên sân khấu, tôi vừa ngồi xuống thì mới biết miếng đệm đặt trên ghế đã sũng đầy nước mưa, vừa ngồi xuống thì váy Lama đã ướt hết, ướt hết cả mông.
Bốn phái của Tạng mật là Hồng - Hoàng - Bạch - Hoa đều cử Rinpoche đến để hộ trì cho pháp hội này.

🌟

Ba ngày trước pháp hội.
Tôi bỗng dưng không thể ăn được gì, ăn thứ gì vào là nôn ra, ngay cả cơm trắng cũng không ăn được. (Ăn cơm trắng cũng thấy có vị tanh.)
Tôi bỗng dưng ba ngày mất ngủ, căn bản là ngủ không được, hễ nhắm mắt là sẽ nhìn thấy:
Tôi rơi xuống vách núi cao, chết!
Tôi bị xe đâm, chết!
Tôi bị người ta truy sát, chết!
Tôi bị đuối nước, chết!
Tôi bị lửa thiêu cháy, chết!
Tôi bị tàu hỏa cán qua, chết!
Tôi bị treo cổ, chết!
...

Chết vô số lần, đều là những cái chết do tai nạn bất ngờ, đột tử, chết thảm...
Ba ngày đó.
Tôi chỉ dựa vào nước ép dưa hấu mà sống qua ngày. (Toàn thân hư thoát.)
Nửa đêm thì nhìn thấy cái chết của mình.
Đây là:
"Thuật thế thân!"

🌟

Lúc pháp hội, bầu trời xám xịt bỗng ánh lên ba dải cầu vồng. Ngày hôm đó là pháp hội Hộ Ma Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.
Pháp hội kết thúc:
Tôi (Lư Sư Tôn) và con gái Lư Phật Thanh, đứng bên một chiếc xe, tôi dùng phất trần để phe phẩy, quán đảnh.
Lúc này, kỳ tích đã xảy ra rồi!
Có một đứa bé ngồi xe lăn ba năm đã đứng dậy khỏi xe lăn và bước đến.
"A! Đây là kỳ tích thần kỳ!" - Phóng viên hét lên.
Người mù nhìn thấy!
Người điếc nghe thấy!
Một người bệnh phải cắm ống hỗ trợ trong phòng chăm sóc đặc biệt, đã bước xuống khỏi giường bệnh và đi lại được!
Người bị thọt chân, chân đã duỗi thẳng ra được!
Một người bị gù lưng, lưng đã thẳng lại!
Một người bị gãy xương, xương đã liền lại!
Một người bị câm, đã mở miệng nói chuyện được!
...

Người của chính chúng ta cũng có kiến chứng. Cháu trai của Thượng sư Liên Mãn có một khối u lớn trên đỉnh đầu, nhưng nó đã biến mất một cách vô căn cứ!
Đây chẳng phải là kỳ tích thì là cái gì?
Đây không phải là thần bí thì là cái gì?
Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người, tôi là một người thành thật, tôi sẽ không lừa bạn.
Đây thật sự là:
"Thuật thế thân!"

Chú thích của người biên tập:
(1) Ngày 28/12/1991, tại sân vận động chính phủ Tảo Can Phố ở thung lũng Hạnh Phúc, Hồng Kông, tổ chức pháp hội Hộ Ma cầu phúc tiêu tai chữa bệnh, trưởng lão của bốn phái Mật tông đã hộ trì Liên Sinh Hoạt Phật làm chủ đàn pháp hội Hộ Ma.


### 29. Giải thích liên quan đến thuật thế thân


Tại lần pháp hội ở sân bóng tại Hồng Kông, tôi ba ngày ba đêm không ăn không ngủ.
Vì sao lại như vậy?
Nói thật lòng, ba ngày không ăn này không phải do tôi tự nguyện nhịn ăn, mà là hễ ngửi thấy mùi cơm canh là tôi thấy buồn nôn.
Căn bản là không thể ăn được!
Không ăn là để thế thân cho cái gì?
Đến hôm nay, khi hồi tưởng lại, tôi vẫn không hiểu được, lẽ nào là trai giới sao? (Tôi chỉ uống nước ép dưa hấu sống qua ngày.)
Và, khi pháp hội vừa kết thúc, tôi liền có thể ăn một bát mì to, không còn bị nôn ra nữa.
Quái lạ! Quái lạ!

Còn nữa:
Tôi ba đêm không ngủ, nhưng hễ nhắm mắt lại là tôi nhìn thấy chính mình bị xe chẹt qua, bị chết đuối trong nước, bị thiêu cháy trong lửa, bị chôn sống trong đất...
Chuyện này đâu thể nói đùa!
Tôi đã trải qua tất cả "đau khổ trước khi chết", cái khổ này không phải là thứ mà người bình thường có thể chịu được.
Cái khổ sinh, lão, bệnh, tử, cái tôi đã trải qua là sự đau khổ trước khi chết.

Tôi phần nào hiểu rằng:
Dùng cái khổ này để thế thân cho nghiệp của những chúng sinh mà tôi sẽ cứu độ. Tôi đã chịu thay nghiệp.
Để cho người bị bệnh khổ được thanh tịnh, được giải thoát.
Về điểm này thì có thể hiểu được.
Vì sự chịu thay của tôi, bệnh mãn tính của những bệnh nhân đó sẽ được chữa khỏi!

Điều này khiến tôi nghĩ đến:
Chúa Jesus của đạo Cơ Đốc bị đóng đinh trên thập tự giá, tuôn chảy dòng máu tôn quý. Đó là để thế thân cho nguồn gốc tội lỗi của chúng sinh.
Nghĩ mà xem:
Một vị rành rành là chúa Jesus Christ, hai tay bị đóng đinh sắt, hai chân cũng bị đóng đinh sắt, máu rỉ ra từ từ.
Trời ơi!
Cái chết đau đớn này thật sự là cái đau của trời đất, là cái cực khổ trong thiên hạ, rất khó tưởng tượng được!
Thật kinh hoàng, thật kinh hoàng làm sao!

🌟

Trong đời này của tôi, sự thế thân lần này tại pháp hội tổ chức tại sân bóng ở Hồng Kông là lớn nhất.
Thật sự rất khổ!
Sau này, Bổn tôn của tôi dạy tôi:
Hễ là cứu bệnh nghiệp của con người, thế thân cho bệnh nghiệp của người bệnh, thì sẽ phải chuyển dịch bệnh nghiệp của người bệnh lên chính thân mình.
Bay hướng về hư không.
Hòa tan bệnh khổ chịu thay vào trong hư không.
(Nói một cách đơn giản, do hành giả chịu thay bệnh nghiệp của người bệnh, rồi sau đó hoàn trả bệnh nghiệp về hư không.)
Hư không vô tận.
Bệnh nghiệp tiêu tan.
Đây là một loại pháp, đây là một thuật thế thân.
Có người hỏi:
"Ai ai cũng đều có thể làm được sao?"
Tôi đáp:
"Không thể!"
Rất nhiều việc đều phải là người có công lực thì mới làm được. (Nửa thần nửa ngườ -, Avatar.)


### 30. Tự thuật của Liên Hoa Chí Ưu


Năm 2006.
Chân Độ Lôi Tạng Tự ở Anh.
Tôi cùng bố tôi và tất cả Thượng sư, pháp sư và các đồng môn được biết Lư Sư Tôn sẽ giá lâm Chân Độ Lôi Tạng Tự để khai quang an tọa.
Đệ tử khi ấy cũng cùng với bố và đồng môn gấp rút chỉnh trang lại Lôi Tạng Tự.

Có một buổi tối nọ. 
Tôi mơ thấy Lư Sư Tôn. Trong mơ Lư Sư Tôn rất từ bi hiền lành gọi tôi lại, bảo tôi nhìn xem cái đám đen thùi lùi trong bể cá cảnh là cái gì. Tôi vừa nhìn thì giật nảy mình kinh sợ. Trong bể cá cảnh có tới mấy nghìn con bọ cạp.
(Bọ cạp đen có thể dùng cái kẹp để kẹp người, dùng cái đuôi để chọc chất độc bọ cạp vào người ta.)

Lúc này, Lư Sư Tôn dùng tay trái gạt đám bọ cạp đen trong bể cá cảnh, khi Lư Sư Tôn rút tay lên, tay trái đã bám đầy bọ cạp.
Lư Sư Tôn nhìn tôi đầy hiền lành từ bi, sau đó rút ra hai con bọ cạp. Cái đuôi nhọn của con bọ cạp đó đâm vào hai ngón tay giữa bàn tay trái của Sư Tôn. Lư Sư Tôn nói với tôi:
"Cẩn thận! Ngón tay của bàn tay trái!"
"Cẩn thận! Ngón tay của bàn tay trái!"
"Cẩn thận! Ngón tay của bàn tay trái!"
Lặp lại ba lần.
Mơ đến đây thì tỉnh!

🌟

Tôi cũng không lưu tâm đến giấc mơ này.
Buổi chiều hôm ấy, khi tôi đang cưa tấm gỗ, ban đầu tôi nghĩ là dùng cưa điện, nhưng trong đầu có một âm thanh nói với tôi là đừng dùng cưa điện, hãy dùng cưa tay. Tôi liền bỏ cưa điện đi, dùng cưa tay.
Thế nhưng, tôi vẫn cưa trúng ngón tay.
Ngón tay của bàn tay trái bị đứt sâu tới nỗi có thể nhìn thấy xương, nhưng chưa đứt. Đi khám bác sĩ, bác sĩ nói:
"Vẫn chữa được, băng bó lại, không cần phải khâu."
(Điều không thể tưởng tượng được là, vết thương ba ngày sau đã liền lại rồi.)

🌟

Còn nữa, mấy ngày sau, lại là ngón tay thứ hai của bàn tay trái bị một hòn đá lớn ở bãi đậu xe chèn vào. Thật may, đó chỉ là một vết thương ngoài da.
Tôi bỗng sực tỉnh:
Lư Sư Tôn trong mơ đã chỉ thị:
"Cẩn thận! Ngón tay của bàn tay trái!"
Nếu tôi dùng cưa điện thì hai ngón tay đã không còn rồi. Đổi sang dùng cưa tay, vết thương sau ba ngày đã khỏi.
Còn miếng gạch lát sàn to như hòn đá, kích thước 1x1 xích, đè lên ngón tay chỉ làm bị thương ngoài da, cũng là chuyện bất khả tư nghì!
Đây là chuyện mà đích thân tôi trải qua, suốt đời không quên.

Lư Sư Tôn là vị Pháp Vương cứu độ vô thượng. Chân Phật Mật Pháp vô cùng thù thắng! Cảm tạ Lư Sư Tôn đã cứu độ trong mơ.
Om guru liansheng siddhi hum!
Liên Hoa Chí Ưu.
(Hiện Liên Hoa Chí Ưu sống tại Hồng Kông, đây là bức thư do chính tay anh ấy viết.)


### 31. Viện sĩ Chu Thời Nghi chuyển hóa


Viện sĩ Chu Thời Nghi.
Nhà vật lý và nhà khoa học Hoa Kỳ.
Giáo sư danh dự của khoa Hóa Học, Đại Học Kansas.
Giáo sư danh dự của khoa Vật Lý, Đại Học Quốc Gia Đài Loan.
Viện sĩ của Viện Nghiên Cứu Trung Ương Academia Sinica.
Thành viên của Hiệp hội Vật Lý Hoa Kỳ, vào năm 2012, hội này đã trở thành Viện Khoa Học Phát Triển Trung Thế Giới, nên năm 2012 ông đã trở thành viện sĩ của khoa mới.

Chu Thời Nghi quy y Chân Phật Tông Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.
Tác giả của:
"Những gì bạn chưa biết về sư phụ của tôi - Liên Sinh Hoạt Phật" (Ghi chú: chi tiết xem phụ lục.)
Và những bài diễn giảng:
"Nói đơn giản về bản chất của Chân Không."
"Điểm chung giữa khoa học và tôn giáo."
"Cơ học lượng tử và Phật pháp."
"Đa chiều về cơ học lượng tử."

Quá trình học tập của Chu Thời Nghi:
1965, nhận bằng cử nhân Hóa học, Đại học Quốc gia Đài Loan.
1968, nhận bằng thạc sĩ khoa Hóa học, Đại học Quốc gia Đài Loan.
1971, nhận bằng Tiến sĩ vật lý lý thuyết tại Đại học Thanh Hoa.
1974, nhận bằng Tiến sĩ vật lý hóa học tại Đại học Harvard.
(Vô số giải thưởng học thuật.)

Nghiên cứu và cống hiến của Chu Thời Nghi:
Ông là một chuyên gia có thẩm quyền trong lĩnh vực khoa học lượng tử và khoa học tính toán. Đặc biệt, ông đã có những đóng góp lịch sử cho sự phát triển của ngành vật lý nguyên tử và phân tử trường mạnh.
Năm 1977, ông đề xuất lý thuyết và định lý "Non-Hermitian Floquet".
Phương thức tính toán chính xác động lực học được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu đa photon và các phản ứng vật lý khác nhau và các hiện tượng quang học phi tuyến mới.
Khác:
Vật lý phân tử nguyên tử trường mạnh.
Tính toán trạng thái ngưng tụ của lượng tử.
Khoa học siêu nhanh về tia laser giây (attosecond).
Điều khiển lượng tử, v.v.

🌟

Buổi tối ngày 6/8/2021.
Trong lúc làm siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp, tôi (Lư Sư Tôn) đặc biệt gọi họ tên của viện sĩ Chu Thời Nghi.
Ông ấy hiện thân.
Tôi mời ông ấy ngồi ở ghế số một trên thuyền pháp màu vàng kim. Ông ấy ngồi yên đâu đấy thì xuất hiện hiện tượng kỳ lạ.

Thuyền pháp màu vàng kim có tổng cộng một nghìn ghế số một, viện sĩ Chu Thời Nghi đã phân thân thành nghìn người. Mỗi người đều ngồi trên ghế đầu tiên.
Tôi trông thấy thế thốt lên:
"Chà! Thân ngoài hóa thân!"
Rất nhiều trung ấm (linh hồn) hữu duyên đều hét lớn:
"Là Bồ Tát đến làm hoa tiêu! Là Bồ Tát đến làm hoa tiêu! Là Bồ Tát đến làm hoa tiêu!"

Trên người viện sĩ Chu Thời Nghi tỏa hào quang hết sức rực rỡ.
Trung ấm hữu duyên nhìn thấy thế thì lần lượt đứng dậy, vỗ tay!
"Là vô lượng quang!"
"Là bách bảo quang!"
"Là thanh tịnh quang!"
"Là pháp lưu quang!"

Thuyền pháp đã đến Tây phương Cực Lạc thế giới, tịnh thổ của A Di Đà Phật. A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát đến nghênh tiếp.
Ông ấy hòa tan vào trong thân của A Di Đà Phật.
Rồi biến mất hoàn toàn.
Ông ấy đúng là người hoa tiêu!


### 32. Bức ảnh biết nói chuyện


Có một đệ tử từ một đất nước xa xôi bay đến Seattle, đã đến Chân Phật Mật Uyển chụp cùng Lư Sư Tôn một tấm ảnh.
Trở về đất nước của mình.
Trở về nhà của mình.
Để tấm ảnh này thờ ở đầu giường mình.
(Bởi vì trong ảnh có Lư Sư Tôn, cho nên chỉ là chắp tay lại, hướng về Sư Tôn thỉnh an.)
Một ngày.
Hai ngày.
Một tuần.
Chuyện kỳ diệu đã xảy ra rồi!

Lúc đệ tử đó vừa mới ngủ, nghe thấy một tiếng nói, là tiếng gọi:
"Nít!"
Đệ tử này rất ngạc nhiên, đây là tên mụ của đệ tử ấy, đã rất ít người gọi cái tên này rồi, rốt cục là ai đang gọi mình nhỉ?
Đệ tử mặc kệ, cứ ngủ tiếp.

Trong giấc mơ, đệ tử này mơ thấy:
Đệ tử gặp Diêu Trì Kim Mẫu và hai tiên cô Hứa Phi Quỳnh, Đổng Song Thành.
Nhìn thấy ba con chim xanh (Thiếu Loan, Thanh Loan, Ấu Loan).
Nhìn thấy con gái của Diêu Trì Kim Mẫu.
Cuối cùng, nhìn thấy Lư Sư Tôn.
Lư Sư Tôn hỏi:
"Sao lại đến đây?"
Đệ tử đáp:
"Con không biết."
Lư Sư Tôn hỏi:
"Ta gọi con, con có biết không?"
Đệ tử vẫn trả lời:
"Con không biết."
Lư Sư Tôn nói:
"Sau này con sẽ biết."
Mơ đến đây thì tỉnh dậy.
Cơ bản là đệ tử này không biết ý nghĩa của giấc mơ là gì. Rồi cũng quên luôn giấc mơ này.

Có một buổi tối đi ngủ, lại nghe thấy tiếng gọi:
"Nít!"
Ngủ tiếp, lại một tiếng gọi "Nít!".
Lần thứ ba, lại một tiếng gọi "Nít!".
Đệ tử này không thể không ngồi dậy tìm nơi phát ra âm thanh, tìm kiếm kĩ càng. Cuối cùng, ghé sát vào bức ảnh để nghe. Không sai một chút nào, âm thanh xuất phát từ bức ảnh, là Lư Sư Tôn gọi tên mụ của đệ tử.
"Nít!"

Sau đó, Lư Sư Tôn ở trong bức ảnh mỗi ngày đều nói cho đệ tử biết ngày mai sẽ có chuyện gì.
Lần nào cũng ứng nghiệm.
Đệ tử này cảm nhận được khí của Lư Sư Tôn, giống như quần áo mặc sát người, bao bọc lấy chính mình.
Vừa thân thiết,
Vừa ấm áp,
Vừa quan tâm.
Vận khí của anh trở nên cực kì tốt.

Đệ tử nghĩ:
"Mình đã tương ứng với Liên Hoa Đồng Tử rồi, tương ứng là như vậy sao?"
Bây giờ cuộc sống của đệ tử này rất vui vẻ.
Rất đơn thuần.
Rất kỳ diệu.
Đệ tử này có thể nghe được âm thanh trong bức ảnh.
Đệ tử hỏi Sư Tôn:
"Sao thầy có thể ngày ngày ở cùng với con?"
Đêm đêm cùng ngủ.
Sớm sớm cùng dậy.
(Đệ tử này giấu tên.)


### 33. Điều thấy trong mơ


Kuala Lumpur có sư tỉ Caro.
Cô ấy nhận nuôi một con chó, con chó đã sống cùng cô 5 năm. Người và chó tình cảm thân thiết.
Một ngày con chó chết. Sự ra đi của con chó khiến cô ấy không có cách nào vượt qua được, hơn một tháng rồi mà tâm trạng vô cùng suy sụp.
Cô ấy không ngừng tu pháp và niệm kinh đều không có cảm ứng. Hoặc để cô có thể mơ thấy con chó cũng tốt.
Con chó đã thăng thiên chưa?
Con chó đã chuyển thế chưa?
Con chó đã đến nơi nào?
Có người nói với cô:
"Viết thư đến Seattle, cầu Lư Sư Tôn siêu độ!"

Thư của cô vừa gửi đi.
Đêm đó, cô đã mơ thấy Lư Sư Tôn.
Bế con chó.
Nói với cô:
"Con chó đã đến Tây phương tịnh thổ rồi!"
Thế là,
Cô nhẹ nhõm cả người!
Có người nói:
"Trên đầu chúng ta có Lư Sư Tôn, là vị Pháp Vương vô thượng, bất kì việc gì cũng không sợ!"
Lư Sư Tôn có ở khắp mọi nơi.

🌟

Có một người là Liên Hoa Quốc Tiêu đã thỉnh một vị Thời Luân Kim Cang về thờ phụng. Anh ấy phát hiện ra mình càng ngày càng thích Thời Luân Kim Cang, anh hy vọng mình có thể tu pháp Thời Luân Kim Cang.
Sáng cũng nghĩ.
Chiều cũng nghĩ.
Nhưng rốt cục chẳng thể làm gì.

1. Pháp Thời Luân Kim Cang cần quán đảnh trực tiếp.

1. Thời kỳ dịch bệnh, đất nước của anh đóng cửa biên giới.

1. Tài chính của anh không đủ, không thể đến Seattle.

1. Điều kiện không đủ.

Thế là:
Liên Hoa Quốc Tiêu cầu nguyện Thời Luân Kim Cang, cầu nguyện Lư Sư Tôn. Một ngày sáu thời đều cầu nguyện.
Qua một khoảng thời gian rất dài.
Có một hôm.
Anh thật sự mơ thấy Lư Sư Tôn quán đảnh cho anh cực kì rõ ràng. Rồi còn dắt anh đi qua tràng phan quán đảnh, đi qua bên dưới tràng phan. Lư Sư Tôn nói với anh:
"Đã quán đảnh xong!"

Liên Hoa Quốc Tiêu không dám tin, quán đảnh này có thật hay không, anh viết thư đến Seattle hỏi:
"Có thật không?"
Hay là ngày nghĩ gì thì đêm mơ vậy?
Tôi hồi đáp thư anh rằng:
"Là thật."

🌟

Một cô gái trông rất xinh đẹp, rất nhiều người theo đuổi. Nhưng hôn nhân đều không thành. Cô ấy cầu nguyện Lư Sư Tôn nói cho cô biết nguyên nhân.
Cô mơ thấy Lư Sư Tôn, Lư Sư Tôn nói:
"Ngày xưa, có một người bạn trai đã vì cô mà tự vẫn, hồn ma của người bạn trai ở bên cạnh cô, vì thế những người theo đuổi cô đều không thành."
"Nay làm siêu độ cho người bạn trai này, siêu độ xong, tất sẽ thành!"
Cô ấy tin lời chỉ thị của tôi.
Bây giờ cô ấy đã kết hôn rồi! Thật là tuyệt vời


### 34. Giấc mơ cảnh báo


Chúng tôi nhận lời mời đến New York hoằng pháp.
Trước khi đi, Thượng sư Liên Hương (Lư Sư Mẫu) có một giấc mơ:
Bà ấy mơ thấy đi đến một nhà hàng. Không ngờ ở nhà hàng đó lại gặp bọn du côn đến cướp, bọn du côn mang súng bắn phá, đã giết chết không ít người. Tôi vội vàng né đạn bắn. Thượng sư Liên Hương cũng vội vàng đi trốn đạn. Đạn bắn ra như mưa.
"Bùm bùm bùm bùm bùm!"
May mắn là không chết.
Bên tai còn nghe thấy:
"Trốn mau!"
"Chạy mau!"
Sau khi Thượng sư Liên Hương tỉnh lại, bà ấy kể đầu đuôi ngọn ngành về giấc mơ cho tôi nghe.

🌟

Cuối cùng chúng tôi đã đến New York.
Chúng tôi ở tại khách sạn lớn mà Kim Cang Lôi Tạng Tự ở New York đã sắp xếp. Người chủ chùa ở New York là sư tỉ Liên Vi đã sắp xếp buổi tối chúng tôi đến một nhà hàng Trung Hoa để ăn bữa ăn khuya. Thứ mà nhà hàng đó nổi tiếng là chuyên môn bán các món điểm tâm Đài Loan.
Bánh chưng thịt.
Thịt hầm.
Bánh bột gạo hấp.
Đậu hũ thối.
Bánh ngọt từ gạo.
Canh tiết heo.
v.v…
Nghe thôi là chúng tôi cũng đều chảy nước miếng rồi, món nào cũng muốn ăn, đó đều là những món ăn ngon của Đài Loan.

Chúng tôi đến nhà hàng vào lúc 10 rưỡi tối. Chúng tôi ngồi kín mấy bàn. (Tôi có cảm giác nhà hàng hơi tối tăm.)
Bỗng dưng tôi nhớ đến giấc mơ kỳ lạ của Lư Sư Mẫu:
"Trốn mau!"
"Chạy mau!"
Tôi nói:
"Thế này đi! Tất cả chúng ta hãy gọi giống nhau, ăn xong, chúng ta đi ngay! Xin mọi người nhanh nhẹn một chút."

Thế là chúng tôi gọi mỗi người một phần canh thịt hầm. Những viên thịt rất ngon, nước canh hầm cũng rất ngon, một lát sau, chúng tôi đã ăn hết sạch sẽ như gió thu thổi bay hết lá rụng.
Sư tỉ Liên Vi đi trả tiền.
Tôi nói một tiếng:
"Đi!"
Mọi người đều đi hết sạch!
Lúc rời đi là đúng 11 giờ.
(Lúc chúng tôi rời nhà hàng, vừa hay gặp mấy người Tây tiến vào nhà hàng, chúng tôi đi lướt qua họ.)

🌟

Sáng sớm ngày hôm sau.
Sư tỉ Liên Vi tay cầm tờ báo, nói mà tay vẫn còn run rẩy:
Tối qua, nhà hàng mà chúng tôi ăn bữa khuya đã gặp phải bọn cướp, còn xảy ra xả súng nữa. Ông chủ nhà hàng, vợ của ông chủ, người phục vụ, khách khứa đều bị súng bắn chết!
Thời gian là 11 giờ 3 phút tối.
Chỉ sai lệch có 3 phút thôi!
Chúng tôi không ngừng kêu lên thảng thốt.
Trời ơi! Chúng tôi là đám người xém chút nước là toi mạng rồi.
Bọn chúng cầm súng carbine bắn "bùm bùm bùm bùm bùm".
Đây là một giấc mơ cảnh báo.


### 35. Dịch chuyển trong tích tắc


Tôi từng kể:
Tôi ngồi trên pháp tọa.
Bỗng dưng cảm thấy rất buồn ngủ.
Vừa mới chợp mắt.
Thì nhìn thấy từ sau lưng tôi có hai cánh tay với đến pháp tọa của tôi, dùng dây an toàn khóa tôi cố định tại pháp tọa. (Giống như dây an toàn trên xe hơi.)
Để cho đầu của tôi không ngả xuống.
Cơ thể bất động.
Không nghiêng trái nghiêng phải.
Bởi vì bên dưới có rất nhiều đồng môn Chân Phật Tông đang ngồi, mọi người đều nhìn chăm chú vào Lư Sư Tôn.
Họ cho rằng tôi đang "tọa vong". (thiền định)
Trên thực tế,
Tôi đã ngủ mất rồi.
Phật Bồ Tát ở đàn thành phía sau tôi không để cho tôi bị mất mặt, mới dùng dây an toàn để khóa tôi lại.
Ha!
Phật Bồ Tát thật chu đáo.

🌟

Lại có một lần.
Tôi lên pháp tọa vừa mới ngồi yên vào chỗ thì lập tức đã nhập định (tọa vong) rồi.
Mới vài phút vài giây, tôi đã đến một nơi vô cùng xinh đẹp. Căn bản là nơi này tôi chưa từng đến nên không nhận ra được chút nào, cũng không biết vì sao lại đến nơi này.
Nơi này nước trong.
Hoa lặng.
Đình đài lầu gác.
Những con chim mà tôi trông thấy đều khác hoàn toàn với nhân gian. (chim tiên)
Trong rừng có những con thú rất kỳ lạ và độc đáo, nhưng chúng rất hiền lành và điềm đạm.
Trời xanh.
Đất linh.
Ánh sáng rực rỡ khắp nơi.

Tôi nhìn thấy một đồng tử ở phía trước, tôi bước nhanh đến chắp tay hỏi đồng tử:
"Chỗ này là đâu?"
Đồng tử đáp:
"Chỗ của Trừ Cái Chướng Bồ Tát."
Tôi hỏi:
"Vì sao tôi lại đến nơi này?"
Đồng tử đáp:
"Trừ Cái Chướng Bồ Tát muốn tôi đến đây đón ngài!"
Tôi ngạc nhiên:
"Trừ Cái Chướng Bồ Tát một trong tám vị đại Bồ Tát muốn gặp tôi, có chuyện quan trọng gì sao?"
Đồng tử đáp:
"Gặp chủ nhân của tôi rồi nói."

Trừ Cái Chướng Bồ Tát vừa thấy tôi liền nói:
"Mấy vạn năm chưa gặp, tôi tưởng rằng ngài đã trở về pháp nhĩ bản xứ, thì ra ngài vẫn vui chơi ở nhân gian."
Tôi đáp:
"Lạ ghê! Dường như tôi quên mất là đã nhiều năm như vậy rồi."
Trừ Cái Chướng Bồ Tát nói:
"Tám vị đại Bồ Tát, ngài chỉ nhớ mỗi niệm bảy vị đại Bồ Tát thôi, còn Trừ Cái Chướng tôi, ngài ít niệm lắm."
Tôi nói:
"Đúng thật là như vậy."
Trừ Cái Chướng Bồ Tát chỉ một ván cờ còn dang dở nói:
"Đây là nơi mà tôi và ngài đánh cờ, sẽ đợi ngài đến lại tiếp tục ván này."
Tôi hỏi:
"Khi nào?"
Trừ Cái Chướng đáp:
"Có lẽ lúc nào đó không xa."

Lúc này, tôi nghe tiếng người điều khiển chương trình nói:
"Thỉnh Sư Tôn làm hồi hướng!"
Tai tôi nghe thấy lời này thì mở to mắt, rất kinh ngạc! Tôi đang ngồi trên pháp tọa.


### 36. Tôi nói về Tu Bồ Đề


Nhân vật nam chính thứ nhất của kinh Kim Cang là Phật Thích Ca Mâu Ni.
Nhân vật nam chính thứ hai của kinh Kim Cang là tôn giả Tu Bồ Đề.
Tôi giảng kinh Kim Cang, một nhân vật rất quan trọng đó chính là Tu Bồ Đề.
Sự khai thị trong kinh Kim Cang là một hỏi một đáp.
Người hỏi là Tu Bồ Đề.
Người đáp là Phật Thích Ca Mâu Ni.

🌟

Mở Bách Duyên Kinh ra, bạn sẽ đọc thấy tất cả đều là nói về đời quá khứ. Tôi nói để mọi người biết:
Đời quá khứ, đều là những chuyện linh dị.
Không phải sao?

Theo như tôi biết:
Đời quá khứ của Tu Bồ Đề từng là một người tu hành, đã dẫn dắt rất nhiều người theo ông ấy tu hành.
Có một lần, những người đi theo ông đã rời bỏ ông. Tu Bồ Đề sinh lòng căm ghét. Nhục mạ những người đi theo đó.
Do vậy, ngài ấy đã trồng xuống hạt giống phẫn nộ.
Vì nhân duyên này mà Tu Bồ Đề đã phải chuyển năm trăm kiếp làm "độc long".
Ấn Độ (Thiên Trúc) không phân biệt rồng và rắn, nên độc long này cũng có thể là rắn độc.

Tiếp đó, đại bàng Kim Sí Điểu phát hiện ra Tu Bồ Đề chỉ là một con độc long nên nó bổ nhào xuống, dùng móng vuốt tóm gọn con độc long. Rồi nó lao vút lên trời, chuẩn bị ăn một bữa no nê.
Phật Đà lúc mới thành Phật đã hóa thành một vị tì kheo, sống ở lưng chừng núi.
Lúc đại bàng Kim Sí Điểu dùng móng vuốt túm chặt con độc long bay qua lưng chừng núi, độc long nhìn thấy tì kheo liền hướng về tì kheo rập đầu cầu cứu!
Tì kheo mặc dù không cứu được độc long, nhưng, chỉ một cái rập đầu như vậy đã kết được duyên với Phật Thích Ca Mâu Ni.

🌟

Sau đó, Tu Bồ Đề đã được sinh ra trong một gia đình Bà La Môn giàu có.
Vừa ra đời thì đã có chuyện lạ xảy ra:
Những kho của cải đều biến mất.
Thất trân bát bảo đều biến mất.
Tất cả gia sản đều biến mất.
Do vậy mới được đặt tên là: Không Sinh.

Về sau, người xem bói chỉ thị rằng:
"Tất cả những thứ này biến mất có ý nghĩa là tất cả đều là không, đứa bé này sinh ra là đại cát tường, sẽ làm vẻ vang tổ tiên."
Vì thế lại đặt tên là Thiện Cát.
Đến ngày thứ bảy, tất cả nhà kho lại biến hiện ra.
Thất trân bát bảo lại xuất hiện rồi.
Tất cả gia sản cũng xuất hiện.
Nên lại đặt cái tên thứ ba là Thiện Hiện.

🌟

Về sau, Tu Bồ Đề đã quy y Phật Thích Ca Mâu Ni. Phật Đà theo duyên mà giáo hóa ngài ấy rằng:
Tu nhẫn nhục ba la mật.
Tu vô sinh pháp nhẫn.
Chứng vô tranh tam muội.
Lại theo duyên mà dạy rằng:
Thiền định Không tam muội địa.
Tu Bồ Đề thường trụ "Không tam muội địa".
Vì thế, ngài ấy trở thành bậc liễu giải Không nghĩa đệ nhất, sau cùng đã thành tựu đại A La Hán. Đây chính là tôn giả Tu Bồ Đề.


### 37. Một cơn gió thổi qua


Đêm ngày 13 tháng 8 năm 2021.
Tôi tu pháp siêu độ như thường lệ.
Đêm khuya thanh vắng, tôi ngồi trên pháp tọa ở Nam Sơn Nhã Xá, lần lượt diễn pháp.
Cũng không biết có phải là tôi đã quá mệt hay không?
Mà bỗng dưng tu pháp được một nửa thì:
Ngủ gật mất!
Thế là:
Thuyền pháp trôi lang thang ở cõi trời bên ngoài cõi trời.
Nhất thời mất đi người hoa tiêu
Lênh đênh!
Lênh đênh!
Hình như đã tiến vào Vô Hạn Thành!
Tiến vào nơi tối tăm!
...

Còn bản thân tôi thì sao?
Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đang ở đâu?
Ngay cả chính tôi cũng không biết, tôi đã đi vào giấc ngủ, căn bản là không có bất kì ký ức nào.
Trống rỗng.
Thân không.
Pháp không.
Niệm không.
Tất cả đều không.
Không biết thân ở nơi nào?

Đúng vào lúc này, một cơn gió từ hành lang thổi vào phòng ngủ của tôi, cả căn phòng ngủ của tôi chấn động mạnh một hồi.
Rèm cửa sổ vang lên những tiếng sột soạt sột soạt.
Quạt điện tự quay.
Ghế *sofa* phát ra âm thanh "ọp ẹp ọp ẹp".
Cái đèn treo đung đưa.
Ngay cả pháp tọa của tôi cũng lay động, vang lên tiếng "cạch, cạch, cạch, cạch".
Tiếng gió!
"Vù! Vù! Vù! Vù! Vù!"
Thổi rất mạnh!
Tôi bị giật mình tỉnh giấc.
Động đất!
Không phải!
Cuồng phong!
Không phải!
(Nam Sơn Nhã Xá của tôi được xây theo dạng kín, gió bên ngoài không thổi vào được, chỉ có nhờ vào điều hòa không khí thôi.)

A!
Là "vô hình" đang đánh thức tôi.
Tôi bị đánh thức dậy, lúc này mới biết, tôi mới tu pháp được một nửa, thuyền pháp đang trôi nổi ở cõi trời bên ngoài cõi trời.
Tôi nhìn thời gian thì đã là 2 giờ 21 phút.
Thế là tôi lập tức phấn chấn lại tinh thần, tu cho xong nửa còn lại của pháp. (hoàn chỉnh)

Ở đây bao gồm:
Hướng dẫn cho nghìn chiếc thuyền pháp đến tịnh thổ A Di Đà Phật Tây phương Cực Lạc thế giới.
Thuyền pháp đến được bờ bên kia.
Trung ấm hữu duyên ngồi trên thuyền lần lượt lên bờ, lắng nghe Tây phương Tam Thánh thuyết pháp.
Tôi còn phải cảm tạ Chư Phật Bồ Tát gia trì, lần lượt phóng quang bày tỏ lòng cảm kích!
Sau đó hồi hướng. Xuống khỏi ghế. Lên giường đi ngủ.

Đây là lần đầu tiên tôi tu pháp tu được một nửa thì không biết làm sao mà lại ngủ mất. (Nhập tam ma địa thì có, nhưng tu pháp một nửa thì là lần đầu tiên.)
Tôi được "vô hình" đánh thức.
Quả thật là rất hổ thẹn!


### 38. Liên Hoa Thu Hoành


Sự việc này không lan truyền rộng, nhưng đích thực là có chuyện này.
Liên Hoa Thu Hoành là một thầy giáo.
Quy y Lư Sư Tôn.
Sau khi quy y, đầu tiên anh tu Tứ gia hành, sau đó vì hoàn cảnh ảnh hưởng mà tạm dừng một khoảng thời gian.
Một hôm, anh ấy chạy xe máy đã va chạm với một chiếc xe tải lớn, bị đưa vào bệnh viện, bị chấn động não bộ, hôn mê. Chỉ số hôn mê chỉ còn có 3. [Theo thang điểm chỉ số hôn mê từ 0-15 thì 15 là bình thường, chỉ số dưới 8 là nặng.]

Trong lúc hôn mê, anh ấy đã nhìn thấy A Di Đà Phật. A Di Đà Phật hỏi:
"Anh là đệ tử của Lư Sư Tôn?"
Đáp:
"Vâng."
A Di Đà Phật hỏi:
"Ta đưa anh đi Tây phương Cực Lạc thế giới, hay là anh muốn lưu lại nhân gian?"
Liên Hoa Thu Hoành nghĩ đến mẹ già đang đau ốm, lại còn vợ con, anh liền trả lời:
"Việc thế tục chưa xong, đợi đến khi việc thế tục xong xuôi rồi, lại đến Tây phương."
A Di Đà Phật nói:
"Anh vẫn còn 40 năm thọ mạng nữa, vậy để anh sống thêm 40 năm vậy! Hãy chăm chỉ tu pháp theo Lư Sư Tôn."

A Di Đà Phật xoa xoa đầu Liên Hoa Thu Hoành, rồi đưa Liên Hoa Thu Hoành trở về bệnh viện.
Anh vừa được thả xuống thì lập tức sống lại. Bác sĩ kiểm tra não của anh, phát hiện ra máu tụ đã không còn nữa.

Sau khi Liên Hoa Thu Hoành trở về nhà đã viết một bức thư cảm tạ Lư Sư Tôn. Anh ấy kể chuyện này cho một vài đồng nghiệp, họ đều tặc lưỡi xuýt xoa khen là thần kỳ.
(Bởi vì trong hôn mê gặp được A Di Đà Phật cũng là chuyện thần bí.)

Cứ thế ba năm sau.
Liên Hoa Thu Hoành lại gặp một vụ tai nạn xe lớn, chiếc xe tải chở cát đá lớn đã chèn thẳng vao đầu anh.
Thế là anh ấy chết!
Vợ của Liên Hoa Thu Hoành rất tức giận gửi thư đến chất vấn tôi:
Không phải là 40 năm sao?
Sao lại chỉ có 3 năm?
A Di Đà Phật cũng không chuẩn ư?
Lư Sư Tôn nói làm sao đây?
Lư Sư Tôn nói thế nào đây? Không nói được gì sao?
Nói thế nào đây?
Nói làm sao đây?

Sau khi tôi nhận được thư, bản thân cũng cảm thấy không hiểu ra làm sao cả. Tôi chỉ còn cách hỏi Phật Bồ Tát.
A Di Đà Phật đáp:
"Anh ta đã đánh mất truyền thừa!"
Tôi hỏi:
"Làm sao mà mất?"
A Di Đà Phật nói:
"Anh ta đi Nepal quy y một vị Hoạt Phật, Hoạt Phật này không có hàm tước gì cả, thật sự không phải là một người thực tu."
A Di Đà Phật nói:
"Lư Sư Tôn có đạo có quả, còn Hoạt Phật kia là một kẻ lừa bịp thế tục thôi."
Tôi nghe xong thì lặng lẽ trầm ngâm, cũng không muốn nói thêm một câu nào.

Tôi cũng không trả lời thư của vợ Liên Hoa Thu Hoành.
Chỉ là, nghe nói vợ anh ấy đã tìm được chứng thư quy y Hoạt Phật khác của anh ở trên bàn làm việc, còn có cả pháp danh mà Hoạt Phật kia ban cho nữa. (Pháp danh theo tên tiếng Tạng.)
Đúng là có một khoảng thời gian anh ấy đã đi Nepal. (Bạn bè thân của anh cũng bị anh lôi đi quy y.)
Chỉ là như vậy mà thôi!


### 39. Mấu chốt là duyên phận


Có một đệ tử là Liên Hoa Nhất Tinh bị bệnh đau đớn cùng cực, đã uống đủ loại thuốc giảm đau đều vô hiệu.
Bác sĩ đã kê cho nha phiến, heroin.. (thuốc y học), nhưng vẫn đau.
Cô ấy đến cầu tôi.

Bỗng nhiên có một hôm, cô ấy mơ thấy Lư Sư Tôn đến, cầm tay cô bay lên không trung. Cô tự cảm thấy mình đang cưỡi mây đạp gió, thân thể nhẹ bẫng bay bay, tự do bay lượn, không thể diễn tả bằng lời.
Đến cõi trời bên ngoài cõi trời, không ngờ đó lại là hai hồ sen, trong hồ có nước, hương thơm thoang thoảng phả vào mặt.
Liên Hoa Nhất Tinh nghe theo lời của Lư Sư Tôn xuống nước tắm, ngâm trong hồ sen. Nước này có tám loại công đức.
Trong vắt. 
Mát lạnh. 
Ngon ngọt. 
Mềm mại. 
Mượt mà. 
Yên bình. 
Trừ đói khát. 
Trừ bệnh tật.
(Có thể thường dưỡng chư căn, tứ đại tăng ích.)
Ngoài ra còn có khả năng thanh tịnh mọi thứ.

Sau khi Liên Hoa Nhất Tinh tắm gội xong, cô lại được Lư Sư Tôn dẫn đi, bay trở về nhân gian. Giấc mơ này rất rõ ràng. Sau khi tỉnh lại, cơn đau đớn đã hoàn toàn biến mất.

Tôi đem sự việc này đăng trong sách của tôi.
Thế là, rất nhiều người đau ốm lũ lượt tìm đến tôi, yêu cầu tôi đưa họ đến Ma Ha Song Liên Trì để đi tắm gội.
Có người toàn thân đau nhức.
Có người mọc nhọt mọc u.
Có người phải chạy thận.
Có người bị bệnh ngoài da.
Có người ngũ tạng suy kiệt.
Vân vân và vân vân.

Tôi thấy thế này thì quá mức rồi. Tôi không thể không giải thích tỉ mỉ rằng:
"Mấu chốt là duyên phận."
Tôi muốn nói rằng:
"Phát sinh ra các kiểu sự kiện thần bí, hoặc cảm ứng, xuất hiện kỳ tích, đều phải có duyên phận."
Liên Hoa Nhất Tinh và tôi có duyên cha con.
Elizabeth và tôi có duyên từ quá khứ.
Trần Lệ và tôi có duyên nhiều kiếp.
Long Đức và tôi có duyên thầy trò nhiều kiếp.
...

Nên sẽ phát sinh chuyện linh dị, chuyện cảm ứng, chuyện thần kỳ.
Không phải là "vô duyên" đâu.
Mặc dù Lư Sư Tôn tôi biết rõ vạn vạn pháp, nhưng đối với một số người thì cũng vô hiệu.
Có dùng hết mọi phương pháp cũng không có cách nào chữa khỏi được một chứng bệnh nhỏ xíu.

Tôi hỏi:
"Vì sao vậy?"
Phật đáp:
"Không thể độ được người vô duyên!"
Bây giờ cuối cùng tôi đã hiểu, đây đều là duyên phận.
Người có duyên đến,
Người vô duyên đi,
Mặc cho gió mát đưa chim bay.
Nhưng vì tôi có duyên nhiều kiếp, vì thế rất nhiều người đã "kết duyên" cùng tôi.
Do đó, những thần tích phát sinh ra ở chỗ tôi đặc biệt nhiều. Nguyện lực của tôi lớn, vì vậy:
"Chuyện thần bí đặc biệt nhiều!"
Nhưng,
"Tôi cũng không phải là toàn năng!"


### 40. Thiên thượng nhân gian


Tôi sẽ nhớ mãi quãng thời gian 7 năm tôi ẩn cư.
Chính tôi đã trải qua một trận ốm nặng.
Lần này là chứng rạn nứt não.
Tôi tự mình nói:
Não phân tám mảnh.
Đau đớn dị thường.
Đêm đêm mất ngủ.
Lòng đầy hoang mang.

Tôi chịu đựng đau đớn đi đến thành phố Gyeongju Hàn Quốc để nhiễu chùa nhiễu tháp, tôi đã gặp vị Phật Dược Sư khổng lồ. Tôi bò cả người xuống đất để làm đại lễ bái.

Khi trở về, ngồi trên xe, tôi đã nhìn thấy Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Nhật Quang Biến Chiếu Bồ Tát, Nguyệt Quang Biến Chiếu Bồ Tát, 12 Dược Xoa Thần Tướng...
(Tôi nhìn thấy các vị khi tôi nhắm mắt lại, trước mắt tôi có những vòng ánh sáng, trăm ánh sáng quý tỏa ra xung quanh, các vị hiển hiện trong ánh sáng.)
Thế là tôi biết:
"Bệnh của tôi sẽ khỏi!"
Sau đó,
Thật sự đã khỏi rồi!

🌟

Thời gian tôi hoằng pháp ở Đài Loan.
Tôi lại mắc phải căn bệnh viêm mô tế bào ở chân. Chứng bệnh này cũng hết sức nghiêm trọng.
Chân sưng. (to gấp đôi)
Chân đau. (sưng phù hễ đụng vào là đau)
Chân cứng. (như gỗ đá)
Nghe nói là chữa không được, kết cục cuối cùng sẽ phải cưa chân.
(Nếu không cưa thì sẽ viêm đến tâm thất, thế thì tôi sẽ "tinh tinh", đi vào đường chết.)

Sau đó.
Trên giường bệnh, lúc tôi đang ngủ mê man:
Hư Vân Hòa Thượng xuất hiện trên mây.
Ngài vươn tay ra. Cánh tay càng vươn càng dài, xuyên qua những tầng mây, cứ vươn đến tận giường bệnh của tôi. Tay của Hư Vân dịu dàng xoa đầu tôi, giống như gia trì vậy.
Trời ơi!
Lão Hòa Thượng Hư Vân đích thân đến gia trì!
Chứng viêm mô tế bào của tôi nhất định sẽ khỏi!
Sau đó,
Thật sự đã khỏi rồi!
Tôi vô cùng cảm tạ lão Hòa Thượng Hư Vân, cảm ơn!

🌟

Có người hỏi tôi:
"Vì ngài đã có thể đưa người ta đến Ma Ha Song Liên Trì để tắm gội, sao không tự mình đến đó?"
Tôi đáp:
"Người nào có nhân duyên của người đó."
Người hỏi:
"Vì sao nói như vậy?"
Tôi đáp:
"Chứng rạn nứt não cần Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, đây là nhân duyên."
Và:
"Chứng viêm mô tế bào cần lão Hòa Thượng Hư Vân, đây cũng là nhân duyên."
Người hỏi:
"Ngài là Liên Hoa Đồng Tử, Ma Ha Song Liên Trì là nhân duyên đẹp nhất rồi. Hà tất cần nhân duyên khác?"
Tôi đáp:
"Là để thị hiện Dược Sư Phật, là để thị hiện lão Hòa Thượng Hư Vân, hai nhân duyên này. Là thế. Đã hiểu chưa?"


### 41. Thiên thượng nhân gian của Tu Bồ Đề


Tôi giảng kinh Kim Cang, nhắc đến Tu Bồ Đề tôn giả, tôi giảng rất tỉ mỉ. Bởi vì kinh Kim Cang là Tu Bồ Đề hỏi, Phật Thích Ca Mâu Ni trả lời.
Tu Bồ Đề là nhân vật chính thứ hai.
Vì thế cần giải thích rõ ràng.
Phật Đà theo nhân duyên nên mới truyền thụ cho Tu Bồ Đề tu Nhẫn nhục ba la mật.
Chứng Vô tranh tam muội.
Vì duyên cớ "vô sinh".
Chứng Vô sinh pháp nhẫn.
Lại vì duyên cớ "vô sinh".
Chứng tính Không.
Đắc Không samaya.

🌟

Có một lần Tu Bồ Đề ở trong hang động, nhập định vào trong thiền định của Không tam muội.
Ánh sáng chiếu tới Đẩu Ngưu.
Thế là chư Thiên nhìn thấy được ánh sáng thù thắng như thế thì rất nhiều thiên nhân sôi nổi tán tụng, cho rằng là vô cùng hy hữu.
Họ tung hoa.
Họ khen ngợi.
Từng đóa từng đóa hoa trời bay xuống. Những hoa trời này phủ kín cả nửa thân người Tu Bồ Đề.
Thiên nhân ngợi ca tôn giả Tu Bồ Đề:

1. Giải thoát khỏi tình cảm thế gian.

1. Giải thoát dục vọng.

1. Giải thoát chấp ngã.

1. Giải thoát chấp pháp.

Tu Bồ Đề hỏi thiên nhân:
"Các người là ai?"
Thủ lĩnh của thiên nhân đáp:
"Tôi là Đế Thích Thiên, chúng tôi là thiên nhân đến tung hoa ca ngợi."
Tu Bồ Đề hỏi:
"Vì sao phải tung hoa ca ngợi?"
Đế Thích Thiên đáp:
"Chúng tôi kính trọng tôn giả đã nhập vào Không tam muội, hơn nữa còn giỏi thuyết bát nhã ba la mật."
Tôn giả Tu Bồ Đề hỏi:
"Tôi chẳng hề nói một chữ nào?"
Đế Thích Thiên đáp:
"Tôn giả không nói, chúng tôi không nghe, không nói không nghe mới là bát nhã thật."
Chà!
Đế Thích Thiên cũng là một nhân vật rất lợi hại!
Tu Bồ Đề cũng biết, ngay từ đầu Đế Thích Thiên đã lĩnh ngộ Không tam muội rồi.

🌟

Lại có một lần.
Tôn giả Tu Bồ Đề sống tại núi Kì Đồ Quật đã bị ốm.
(Con người ăn ngũ cốc hoa màu, làm sao có thể không sinh bệnh.)
Tinh thần đã giải thoát, nhưng thân thể tại thế gian nhất định sẽ có bệnh.
Tu Bồ Đề lại tu Không samaya.
Đế Thích Thiên lại dẫn theo năm trăm thiên nhân đến thăm bệnh của Tu Bồ Đề, Nhạc Thần tấu lên khúc thiên nhạc:
*"Đức như trời cao.
Hạnh như sông dài.
Hơi thở đầy lửa.
Vượt biển sinh tử.
Nghiệp đã thanh tịnh.
Phiền đã diệt tận."*

Tu Bồ Đề nghe xong liền khỏi ốm.
Thiên nhạc ở đây cũng có thể trị bệnh, còn chưa phải dùng đến thiên dược đó!
Mọi pháp do duyên sinh.
Mọi pháp do duyên diệt.
(Đây là thiên thượng nhân gian. Câu chuyện của Tu Bồ Đề.)


### 42. Chết rồi hồi sinh


Các đệ tử Chân Phật Tông có rất nhiều ví dụ về việc đã chết rồi lại hồi sinh. 
Bác sĩ chẩn đoán:
"Đã chết!"
Mấy phút sau lại sống trở lại. (phục sinh)
Bác sĩ chẩn đoán:
"Thông báo tình trạng nguy kịch khẩn cấp!"
Nhưng rồi lại sống!
Bác sĩ chẩn đoán:
"Không sống được nữa!"
Nhưng lại sống lại. (Hơn nữa còn sống rất lâu.)
Bác sĩ chẩn đoán:
"Chỉ số hôn mê chỉ còn dưới 3, không thể sống được."
Nhưng lại sống lại!
Tình trạng như vậy nhiều vô số kể.
Những người sống lại đều nói:
"Nhìn thấy Lư Sư Tôn trắng sáng chói lọi, cho nên mới sống lại."
Người nhà hỏi:
"Đã nhìn thấy Sư Tôn, vậy sao không đi theo Sư Tôn đến Ma Ha Song Liên Trì?"
Người sống lại nói:
"Vì muốn chứng minh Lư Sư Tôn là thầy của trời người, muốn mọi người có được tín tâm kiên định, đừng nghi hoặc, sự cứu độ của Chân Phật Mật Pháp là có thật."
Người nhà hỏi:
"Vậy khi nào thì sẽ phải đi?"
Đáp:
"Ba ngày sau."
Kết quả là ba ngày sau, thật sự người đó đã đi rồi!

🌟

Lại có một người sống lại nói:
"Lư Sư Tôn nói với tôi, tôi còn nợ người ta chưa trả, chưa trả hết nợ thì không thể đi!"
Tôi nói với Lư Sư Tôn:
"Để kiếp sau trả đi!"
Lư Sư Tôn nói:
"Thế thì anh vẫn phải chuyển thế, tôi sẽ không thể đưa anh đến miền Cực Lạc được!"
Đệ tử nói:
"Vậy tôi sẽ dặn dò người nhà trả tiền! Cho nên tôi mới sống lại, nói với mọi người, mau mau trả hết nợ đi!"
Đợi người nhà trả hết nợ xong, đệ tử này mới ra đi thật!

🌟

Lại có một người sống lại nói như thế này:
"Nhìn thấy Lư Sư Tôn, Lư Sư Tôn nói tu xong Mật pháp mới có thể đi!"
"Bao lâu?"
Lư Sư Tôn nói ba năm.
Người đó sống lại.
Thật sự rất nghiêm túc tu pháp trong ba năm.
Lúc lâm chung, người đó mỉm cười nói:
"Đã ba năm, Lư Sư Tôn đến tiếp dẫn tôi rồi, lần này thật sự tôi phải đi rồi!"
Cuối cùng, người đó đã đi rồi!

🌟

Còn nữa:
"Nhìn thấy Lư Sư Tôn, Lư Sư Tôn muốn tôi trở về dặn dò việc hậu sự thật rõ ràng rồi mới đi, tránh khỏi mối hận suốt đời!"
Do đó mới sống lại!
Người đó cẩn thận dặn dò thật rõ ràng.
Dặn dò xong.
Mắt nhắm lại, lần này thì đi thật!
Ha ha ha!
Những chuyện này đều là thật!


### 43. Ghi chép chuyện gặp ma


12 giờ đêm ngày 21 tháng 8 năm 2021.
Tôi (Lư Sư Tôn) ở trong phòng của Sư Mẫu Liên Hương Thượng sư để giúp Sư Mẫu nhỏ thuốc mắt và thoa thuốc mỡ đau mắt.
Rồi còn:
Kéo rèm cửa.
Làm kết giới.
Lúc chưa làm kết giới, Sư Mẫu Liên Hương Thượng sư đi đánh răng rửa mặt trước.
Lúc này, bỗng dưng Sư Mẫu vừa đánh răng vừa nói:
"Có mấy người chìa tay ra chạm vào tôi, lại còn đứng bên cạnh tôi nói chuyện nữa, ồn ào chết mất." (Có đủ mọi chủng người.)
Tôi nói:
"Bà không biết trì chú Hộ pháp sao?"
Sư Mẫu không nói gì. Bà ấy quay đầu lại nhìn tôi nói:
"Ông không biết đuổi họ đi sao?"
Tôi đáp:
"Tủ lạnh tủ đông trong nhà chúng ta từ lâu đã chật ních người rồi, họ ra ngoài đi đi lại lại cũng là chuyện bình thường, không cần phải đuổi họ đi."
Sư Mẫu quay đầu nhìn tôi, ánh mắt nhìn lom lom. Bà ấy nói:
"Ông biết không? Xung quanh ông đứng đầy Lư Thắng Ngạn, bốn người, mười người cũng có."
Tôi nói:
"Tôi biết mà! Đó là phân thân của tôi."
Bà ấy nói:
"Ông và những Lư Thắng Ngạn khác, người nào dáng vóc cũng to lớn uy lực lắm."
Tôi nói:
"Đó là pháp thân của tôi, pháp thân của tôi vốn dĩ chính là rất cao to."

Sư Mẫu đánh răng xong, rửa mặt xong, thay quần áo ngủ rồi lên giường, đắp chăn.
Tôi giúp bà ấy nhỏ thuốc mắt.
Bôi thuốc mỡ đau mắt.
Rồi bà ấy ngủ thiếp đi!

🌟

Đối với chuyện xảy ra vào lúc 12 giờ đêm ngày 21 tháng 8 năm 2021, điều tôi muốn nói với mọi người là:
Sư Mẫu Liên Hương Thượng sư có thể nhìn thấy ma là chuyện của năm 2021, trước kia hầu như không nhìn thấy.
Các loại thuốc mà bà ấy uống, bác sĩ nói với bà ấy rằng: "Không có tác dụng gây ảo giác."
Hơn nữa, nhà tôi (Nam Sơn Nhã Xá) vốn dĩ có rất nhiều ma sống ở đó, họ sống trong:
Tủ lạnh.
Toilet.
Chậu cây cảnh.
Tủ bếp.
Họ chờ đợi mỗi lần tôi tiến hành làm siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp. Họ là khách của Lư Sư Tôn tôi. Việc họ đến là một đồn mười, mười đồn trăm, trăm đồn nghìn vạn….

Đó là nguyện lực của tôi. Tôi sẵn lòng siêu độ họ vãng sinh đến Tây phương Cực Lạc thế giới Phật quốc tịnh thổ.
Nhưng đã bị Thượng sư Liên Hương hai lần nhìn thấy. Tôi chỉ còn cách viết bài văn nhỏ này để nói với mọi người:
Đừng sợ ma!
Họ là ma thiện, sẽ không hại người đâu!


### 44. Em trai tôi Lư Chiêu Dung


Năm ấy, em trai tôi ra đời.
Năm ấy, em trai tôi qua đời.
Mẹ tôi đến Seattle, em trai tôi cũng theo mẹ tôi đến Seattle.
(Đương nhiên đó là linh hồn em trai tôi.)
Em trai tôi Lư Chiêu Dung đã hiển linh rồi.

🌟

Seattle đêm khuya thanh vắng.
Em trai tôi bị thần Hộ pháp chặn ở bên ngoài cửa Chân Phật Mật Uyển. Không thể vào.
Cậu ấy ra sức ấn chuông cửa.
"Kính coong, kính coong, kính coong, kính coong…"
Mẹ tôi đi ra mở cửa.
Bên ngoài không có một bóng người, mẹ tôi nhìn đông nhìn tây, không trông thấy ai, liền đóng cửa lại.

"Kính coong, kính coong, kính coong, kính coong…"
Chuông cửa lại vang lên!
Rõ ràng không có người.
Mẹ tôi bảo tôi, chuông cửa bị hỏng rồi sao?
Tôi nói, không phải! Là em trai theo mẹ tới, để con đi dặn thần Hộ pháp cho cậu ấy vào.
Thế là, chuông cửa không kêu nữa!

🌟

Buổi tối đầu tiên.
Em trai tôi đứng ở đầu giường Thượng sư Liên Hương.
Vẫn là cái thói như trước kia.
"Chị dâu! Cho em tiền!" (ra ký hiệu)
Cái bộ dạng mặt mày cười hớn hở chìa tay ra xin tiền.
Sư Mẫu Liên Hương Thượng sư vội vàng đến lư vàng ở Lôi Tạng Tự đốt cho cậu ấy một ít tiền vàng mã.
Đốt xong tiền giấy thì cậu ấy không làm ồn ào nữa!

🌟

Buổi tối thứ hai.
Em trai tôi Lư Chiêu Dung đứng ở đầu giường tôi. Cậu ấy trỏ vào cổ họng của mình.
Họng ư?
Có chuyện gì?
A! Tôi biết rồi! Lúc em trai tôi chết, cậu ấy uống thuốc, thuốc làm cho cổ họng bị bỏng, cháy họng rồi!
Nghe nói cả miệng, họng đều bị nóng bỏng hết cả, vô cùng nghiêm trọng. Em trai Lư Chiêu Dung của tôi muốn tôi giúp cậu ấy chữa cổ họng.

Tôi kết ấn Kiếm chỉ.
Niệm chú:
Tôi niệm chú Khai hầu.
Kiếm chỉ vẽ ra một lá phù Khai hầu.
Tôi thỉnh Đệ Nhất Khê Nữ, thân cao mét sáu, đội mũ vàng, mặc y phục xanh lục, tay cầm tịnh bình, rót ra một ít rượu ngon cam lộ đưa cho em tôi uống.
(Đệ Nhất Khê Nữ tên gọi là Hàn Nhân Cơ.)
Thế là, em trai tôi Lư Chiêu Dung cũng đã khỏi họng rồi.

Tôi hỏi:
"Sau này cậu muốn vãng sinh về đâu?"
Em trai đáp:
"Không biết!"
Tôi nói:
"Vậy cậu đến Biệt thự Cầu Vồng đi, đi phụ trách tất cả thủy tử linh đi!"
Em trai nói:
"Vâng!"
Thế là, em trai tôi đã trở thành tổng quản của thủy tử linh ở Biệt thự Cầu Vồng.


### 45. Bố vợ của Lư Phật Kỳ


Lư Phật Kỳ là con trai tôi.
Nó kết hôn với cô Sunny.
Bố của Sunny qua đời, đã hỏa thiêu, đem về một ít tro xương để đặt vào trong tháp xá lợi. Còn lại để ở trong tủ làm vật kỷ niệm.
(Thỉnh thoảng cúng chút nước, thắp chút hương.)
Bố của Sunny từ nhỏ đã rất yêu thương con gái, Sunny là con gái duy nhất của nhà họ. (con một)

Một đêm.
Phật Kỳ nửa đêm tỉnh giấc, phát hiện ra có một người nằm giữa nó và Sunny. Nó nhìn người này.
Trời ơi!
Không ngờ lại lại bố của Sunny!
Phật Kỳ sợ hãi tột độ, phải làm sao? Làm sao? 
Nhạc phụ đại nhân không ngờ lại nằm ngủ ở giữa nó và Sunny.
Phật Kỳ nhắm mắt lại, niệm:
"Om guru liansheng siddhi hum."
Cứ thế niệm, cứ thế niệm, cứ thế niệm...
Lại mở to mắt ra,
Nhạc phụ đại nhân đã biến mất rồi!

Sau khi sự việc này xảy ra, bố của Sunny càng ngày càng xuất hiện nhiều. Phật Kỳ nhìn thấy nhạc phụ đại nhân bay trong không trung, rồi lại chen vào giữa Phật Kỳ và Sunny để ngủ.
Phật Kỳ vội vàng kết thủ ấn Liên Hoa Đồng Tử.
Trong miệng niệm thầm:
"Om guru liansheng siddhi hum. Hum! Hum! Hum!"
Sau đó tung thủ ấn ra.
Niệm:
"Seh. Seh. Seh."
Bố của Sunny liền bị trúng đạn, bay đến nơi rất xa.
Cứ đến rồi lại đi như thế, không biết bao nhiêu lần!

Hình như nhạc phụ đại nhân không có ác ý đối với Phật Kỳ và Sunny, nhưng lúc nào cũng nằm ngủ giữa hai người thì cũng không hay cho lắm.
Thế là Phật Kỳ mời tôi đến nhà chúng.
Sau khi nghe xong, tôi cũng cảm thấy khá bất ngờ.

Tôi đến nhà Phật Kỳ, rồi tôi thi hành pháp:
Chỉ là tôi lấy tháp xá lợi của bố Sunny, niệm chú Nhiếp triệu: "Cha. Hum. Ban. Ho."
Rồi hút bố của Sunny vào trong tháp xá lợi.
Sau đó, niêm phong lại, để bố của Sunny không ra ngoài được.

Tôi nói:
"Phụng thỉnh Diêu Trì Kim Mẫu an ổn cho thân hình của phụ thân Sunny, linh thể huyền minh, an cư trong tháp xá lợi, tất cả đều huyền minh. Bên ngoài có thanh long bạch hổ thủ hộ, chu tước huyền vũ thị vệ. Xin tạm ở trong tháp. Cấp cấp như luật lệnh."
"Seh. Seh. Seh."

Tự nhiên sau khi tôi làm pháp xong, tất cả mọi sự hiển hiện đều chấm dứt. (Trong nhà ngoài nhà đều sái tịnh.)
Bố của Sunny, bố vợ của Phật Kỳ, không còn tái xuất hiện nữa.
Từ đó im hơi lặng tiếng.
Tôi nói:
Tôi tìm ngày lành để siêu độ cho bố của Sunny đến cảnh giới tốt đẹp hơn!
Om guru liansheng siddhi hum.
Seh. Seh. Seh.


### 46. Một chút cảm tưởng


Viết cuốn sách "Những chuyện thần bí" này, cá nhân tôi có một chút cảm tưởng muốn nói rõ cùng mọi người.
Trước tiên, tôi muốn nói rằng:
"Thật sự rất xin lỗi! Rất xin lỗi!
Bởi vì khoảng thời gian viết cuốn sách này lại đúng vào lúc dịch cúm Corona nghiêm trọng.
Tôi liên tục quan tâm đến thân tâm các đệ tử trên thế giới có được khỏe mạnh không, tôi vẫn luôn muốn bảo vệ đệ tử.
Lại muốn siêu độ trung ấm hữu duyên.
Vì thế, luôn rất thiếu thời gian. (yếu tố cá nhân)
Tôi rất khó chuyên tâm tập trung vào viết sách, đã không có cách nào đúng hẹn với lịch xuất bản, tôi đã trì hoãn một khoảng thời gian.
Đây là hiện tượng trước nay chưa từng có, cho nên tôi muốn nói với mọi người rằng:
"Xin thứ lỗi!"

🌟

Cuốn sách này, mọi người đọc xong, sẽ có cảm giác hình như rất quen thuộc. Bởi vì tôi đã trích dẫn quá nhiều câu chuyện cũ.
Rất có khả năng trong quá khứ tôi đã từng viết trong sách rồi, nay tôi lại nhắc lại. Cũng có khả năng trong lúc tôi thuyết pháp, tôi đã tiết lộ mấy lần rồi, mọi người đọc rồi, sẽ không cảm thấy mới mẻ nữa.
Thế nên tôi muốn nói với mọi người một tiếng:
"Thật có lỗi!"

Ban đầu cuốn sách "Những chuyện thần bí" cần phải viết chuyện mới xảy ra, như thế mới có ý nghĩa. Cũng sẽ không làm mọi người có cảm giác trùng lặp.
Một sự việc, nói đi rồi lại nói lại, đã mất đi độ mới mẻ của nó rồi. Nhưng cuốn sách này lại nhiều lần trùng lặp.
Tôi vẫn nói:
"Thật có lỗi!"
Bởi vì, những chuyện linh dị cũ cứ quẩn quanh trong đầu tôi.
Điều này, tôi thật không có cách nào loại bỏ.

Để cho mọi người có một cảm giác nói rồi lại nói nữa, lẽ nào không có đề tài mới sao?
Thật ra,
Đề tài mới thì có.
Chỉ là cái mới, cái cũ, cực kì giống nhau.
Cho nên mới trùng lặp!
Đây là điều trước kia tôi viết sách chưa từng xảy ra, nhưng bây giờ lại xảy ra rồi!
"Thật lòng! Rất xin lỗi!"

🌟

Ban đầu tôi nói, những gì tôi viết đều là sự thật.
Trên thực tế cũng là sự thật.
Tôi không muốn bịa ra tình tiết câu chuyện hay tiểu thuyết. Trên thực tế, tôi không hề bịa ra.
Nhưng, vẫn có mấy chương phải ẩn danh, hoặc dùng tên giả. Bởi vì người trong cuộc không muốn bị người khác làm phiền, hoặc suy đoán này nọ.
Có một số chuyện, tôi không xin sự đồng ý của người ta trước, vì thế mới phải giấu họ tên thật của họ đi.
Tôi cần nói rõ với mọi người điều này. Về mặt này, tôi cũng phải giải thích với mọi người là:
"Thật sự không còn cách nào khác!"
Tôi nghĩ:
Cả đời tôi đều rất nỗ lực, tương lai cũng sẽ rất nỗ lực!
Trong thời gian dịch bệnh vẫn còn tiếp diễn, chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, đừng để cho ma bệnh quật ngã!
Chúng ta cần vượt qua cửa ải khó khăn này.


### 47. Tin ngắn từ đệ tử


Sức mạnh gia trì bất khả tư nghì! 

Vạn phần may mắn, mẹ chồng tôi đã qua đời vì bệnh bốn năm trước, vì bà ấy đã quy y, nên ngày đầu tiên sau khi qua đời, tôi đã vì bà mà tụng kinh Địa Tạng 49 cuốn, 49 ngày. 5 giờ sáng ngày thứ 50, cực kì rõ ràng, cũng cực kì tỉnh táo, tôi đã nhìn thấy ở vùng trời phía trước cao khoảng hai mươi mấy mét, cao cỡ tòa nhà tám tầng, nhìn thấy Lư Sư Tôn thân mặc pháp y và để lộ mặt, bên cạnh ngài, thấp phía dưới một chút là mẹ chồng tôi mặc đồ đen đi theo sau. Khoảnh khắc ấy, tôi cảm nhận sâu sắc pháp lực vô biên của thầy tôi! Từ bi vô hạn! Cảm ơn!

Liên Hoa Yến Muội.

🌟

Tôi lập tức gửi fax cho pháp sư Liên Văn, Thượng sư Liên Hỷ, rồi họ rất nhanh chóng truyền tin đến chỗ hỏi chuyện ở Mật Uyển. Đêm đó tôi đã có không ít những cảm nhận sâu sắc thần kỳ. 

Ngày thứ hai, sau khi được Sư Tôn gia trì, tôi tự mình cảm thấy đầu, mắt đều không còn cảm giác đau nữa. Trải qua hơn hai tháng điều trị, bệnh đau mắt của tôi đã khỏi tới 95%, bác sĩ nói bệnh nhiễm trùng mắt nghiêm trọng như vậy mà khỏi rất nhanh. Bác sĩ nói rất có khả năng sẽ bị mù. Cả nhà chúng tôi nói tất cả những điều này đều là nhờ đại lực gia trì của Sư Tôn và Phật Bồ Tát, sự bảo hộ của Hộ Pháp Thần. 

Đúng là vạn vạn lời cảm ơn cũng không đủ. Nhất tâm cầu nguyện Sư Tôn khỏe mạnh sống lâu, trường trụ thế gian lâu lâu lâu lâu lâu, quảng độ chúng sinh hữu tình, cung kính dâng lên cúng dường.

La Hồng.

🌟

Cảm tạ Sư Tôn gia trì cho đệ tử Liên Hoa Thi Vỹ Văn (sinh tại Hồng Kông). Vì trước kia thường xuyên đi công tác, đã luôn gặp vấn đề là bị bóng đè khi ở trong phòng khách sạn, sau khi đệ tử nhận được phù bảo hộ Kim Đào Tôn Giả và phù Hồng bạch nhị sự mà Sư Tôn ban cho, và cũng tuân theo chỉ thị của Sư Tôn là niệm tụng một nghìn biến Cao Vương Kinh và Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát Kinh một nghìn biến xong thì tình hình đã có cải thiện. Hết sức cảm tạ Sư Tôn gia trì.

Sau khi đệ tử làm xong công khóa niệm tụng, có buổi tối mơ thấy Sư Tôn xuất hiện, toàn thân mặc y phục màu trắng, đệ tử nhớ rất rõ rằng đệ tử tiến lên phía trước thỉnh cầu Sư Tôn gia trì cho đệ tử công tác thuận lợi, khi ấy công việc của đệ tử thật sự gặp rất nhiều khó khăn và cũng nhanh chóng được giải quyết, nhân duyên cũng có cải thiện. Thật sự vô cùng cảm tạ Sư Tôn.

Ngoài ra, trong hội nhóm "Chân Phật Kim Cang Bát Nhã Trí" đệ tử đọc thấy có pháp "đạn kim cương tránh ma" có thể bảo vệ giấc ngủ vào buổi đêm, thỉnh cầu Sư Tôn ban quán đảnh pháp này cho đệ tử.

Tại đây cũng thỉnh cầu Sư Tôn tiếp tục gia trì cho đệ tử nhân duyên hòa hợp, tất cả thuận lợi.

Liên Hoa Vỹ Văn.


### 48. Thư của Liên Lai


Kính lễ Căn bản Thượng sư tôn quý, vô thượng Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật.

Đây là một bức thư cảm ơn sự giáo huấn của Sư Tôn. Đệ tử có đôi chút cảm thấy thấp thỏm và lưỡng lự, không biết có nên làm phiền thời gian quý báu của Căn bản Thượng sư không. Nhưng đệ tử cảm thấy, bất luận đệ tử có lo nghĩ một cách ngây thơ đến thế nào thì cũng không nên lờ đi bổn phận làm một đệ tử. Đối với những giáo huấn mà Căn bản Thượng sư của mình ban cho, đệ tử phải hồi đáp với tấm lòng biết ơn sâu sắc. Sư Tôn vì đã chỉ ra sự ngu muội của đệ tử, khiến bản thân đệ tử có một tầm suy nghĩ sâu sắc hơn đối với ý nghĩa chân thực của trải nghiệm "quên hết" bất tận.

Khi đệ tử biết rằng bức thư "Quên hết" của mình được đưa vào trong cuốn sách "Lão tăng thất tuần thuật tâm hoài" của Căn bản Thượng sư, ban đầu đệ tử thấy âm ỉ sung sướng muôn phần. Khi đệ tử đọc xong toàn bộ lời phê bình của Sư Tôn, lại không nén nổi hổ thẹn muôn phần. Thì ra cái gọi là giác ngộ, trong con mắt của Căn bản Thượng sư, vẫn đầy rẫy những thiếu sót. Cảm ơn Sư Tôn đại gia trì, đã quét sạch những sai lầm của đệ tử.

Nguyên nhân đệ tử viết những tâm đắc về "quên hết" của mình vốn là đến từ một sự hiểu lầm đẹp đẽ. Không ngờ cũng là vì cái nhân duyên này khiến đệ tử có thể ngó thấy được tầng ý nghĩa sâu hơn của việc "quên hết", cũng khiến đệ tử hiểu rõ chỗ thiếu sót của mình, trong sự lĩnh ngộ thắng nghĩa đế của Phật pháp không hẳn là dùng ý thanh tịnh để quan sát ý nghĩa của nó.

Trong văn chương văn tập của Sư Tôn, Sư Tôn đề cập đến "ngay cả phương trình tôi cũng quên hết", câu nói dí dỏm này khiến đệ tử chợt nhận thấy và phát hiện, mình vẫn rơi vào trong "hý luận". Đệ tử hiểu Sư Tôn muốn đệ tử "rời xa tất cả hý luận", bởi vì mặc dù trong hý luận có đạo lý, nhưng tâm vẫn lại trụ trong cái mê, ngược lại đã rơi vào trong sự thấp kém. Nếu như đệ tử vẫn tự vui mừng với sự lĩnh ngộ về thắng nghĩa đế thì đó cũng là ô nhiễm.

Sư Tôn cũng nhắc đến "bình thường và bất bình thường đều có thể quên", lời này thật sự khiến đệ tử hổ thẹn, trong cái kiến thật sự thanh tịnh thì làm gì có Thánh - phàm? Thánh cũng là vì có sự tồn tại của phàm nên mới tồn tại, sự tồn tại này nếu là thanh tịnh thì căn bản không tồn tại cái kiến về Thánh - phàm, đây là trí huệ "bình đẳng tính trí", "không can hệ" chân chính mà Sư Tôn diễn dịch cho đệ tử. Nếu như đệ tử thật sự có cái kiến thanh tịnh thì sẽ không thấy cái gọi là "điên đảo".

Cuối cùng, Sư Tôn để lại một bài thơ:
”*Dưới thông hỏi chú bé, 
Thầy đi hái thuốc rồi, 
Ở trong núi đấy thôi, 
Bởi mây nhiều khó thấy."* 

Đệ tử cũng ngẫm nghĩ cẩn thận, thưởng thức ý cảnh của bài thơ này. Đệ tử ngu muội, không làm sao xác định được là mình đã ngộ được lời giáo huấn cuối cùng trong bài văn đó của Sư Tôn hay chưa. Nhưng đệ tử có thể cảm nhận được những cảm giác hình tượng mà bài thơ này mang đến, tùy duyên bất biến, tùy duyên bất động. Dường như là không có cách nào để tìm thì lại tìm được ở nơi mà không có nơi nào để trụ, tìm mà không trụ; dường như không có cách nào để biết thì lại biết cái đắc vô khả đắc, đắc mà không biết là đắc.

Tổng kết tâm đắc của bức thư trước là, "nếu là chuyện vô thường, hà tất phải nghĩ là quên hết? Nếu là chuyện bình thường, quên hết đã nằm trong đó rồi."

Bây giờ xem ra, tâm đắc này của đệ tử có khuyết điểm rồi, bất luận là chuyện vô thường, hay là chuyện bình thường, quên hết đã nằm trong đó rồi. Một cái là huyễn sinh, một cái là vô sinh, hai cái đều không hề có tự tính, không hề can hệ.

Sư Phật vô cấu trí, đệ tử tịnh tín thọ, tận hiển thắng nghĩa huệ, vô thượng cam lộ vị.
Chúc thầy hạnh phúc, quang minh vô tận.

Ngu đệ tử Liên Lai cảm ơn đảnh lễ sự giáo huấn của Căn bản Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.


### 49. Gia trì của Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang


Đảnh lễ Căn bản Truyền thừa Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật. Sư Tôn Phật an!

Đệ tử Liên Từ cảm ơn Sư Phật từ bi chủ đàn đại pháp hội Hộ Ma Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang vào ngày 11 tháng 7 năm 2021, hôm đó đệ tử là người chủ cầu, có được cảm ứng thù thắng, xin báo cáo với Sư Phật như sau.

Hộ Ma Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang lần này, đệ tử báo danh làm chủ cầu. Pháp hội vừa bắt đầu chưa được bao lâu, đệ tử theo nghi quỹ cũng nhập Tam ma địa, cả người cũng không biết đang ở đâu, không ngờ liên tiếp xuất hiện cảm ứng, cảm ứng sau lại chân thực hơn cảm ứng trước, cảm ứng sau thù thắng hơn cảm ứng trước.

Cảm ứng 1: có một đôi tay cầm đôi giày mềm màu đen chấm bi trắng đưa đến trước mặt đệ tử.
Cảm ứng 2: đưa đến trước mặt đệ tử một sợi dây chuyền tinh xảo gồm những viên kim cương nhỏ.
Cảm ứng 3: từ trên đỉnh đầu đệ tử lôi ra một cái thùng sắt tròn màu đen, to, trên mép có những vết mờ, đáy thùng bị rò hết không còn gì, lúc rút ra đệ tử còn có thể cảm giác thấy một khối khói tro nóng rò rỉ ra từ cái thùng đen ở trên đầu.

Đệ tử hiểu ba cảm ứng này. Đôi giày mềm màu đen là giày mà người tu hành đi, bây giờ đệ tử được tặng đôi giày này, cho thấy đệ tử đang đi trên con đường đạo tu hành, đôi giày sẽ giúp đệ tử đi được tốt hơn! Sợi dây chuyền kim cương đại diện cho sự kính ái, bởi vì đệ tử chủ trì đạo tràng có trách nhiệm độ chúng sinh, nên sợi dây chuyền này sẽ giúp gia tăng duyên với chúng sinh để càng độ được chúng sinh. Cảm ứng thứ ba là khó có được nhất, một biểu tượng may mắn tiêu nghiệp chướng thường gặp nhất, chẳng qua là từ một bộ phận nào đó trên thân thể lấy ra hoặc bò ra một vài con sâu nhỏ, hoặc là từ trên người rơi ra mấy cái đinh ốc, hoặc từ trong miệng lôi ra miếng giẻ rách, hoặc là lấy ra thứ gì đó nhỏ nhỏ, như thế đã là vô cùng may mắn rồi! Nhưng ở đây trong cái thùng đen này, vừa dày vừa đen, phía trên còn có dấu vết của thùng sắt to, biểu thị rằng cái túc nghiệp lớn nghìn năm bị chụp ở trên đầu, nghiệp nặng như vậy thì phải dựa vào bản thân để mà loại bỏ, căn bản là không thể nào tiêu biến, thì giờ đây, nhờ lễ Hộ Ma Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang này, không ngờ đã được lôi ra rồi, đại pháp lực siêu cấp của Sư Tôn, sự siêu đẳng của Chân Phật Mật Pháp thật sự thù thắng, đúng là bất khả tư nghì khó tưởng tượng.

Ngoài ca ngợi ra thì đệ tử cũng vẫn chỉ biết ca ngợi, cảm ơn Sư Tôn! Cảm ơn Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang! Cảm ơn tất cả Chư Phật Bồ Tát Kim Cang chư Thiên Thần chúng! Cảm ơn!

Một lần nữa cảm ơn Sư Phật từ bi đại gia trì, khiến đệ tử tiêu trừ nghiệp chướng lớn, trên chính đạo tu hành giải thoát tự độ độ tha, cầu thỉnh Sư Phật gia trì cho đệ tử bồ đề viên mãn, thanh tịnh giải thoát. Cảm ơn Sư Tôn!
Kính chúc Sư Tôn Phật thể an khang, pháp hỷ tự tại.

Đệ tử Liên Từ ở Vancouver, Canada cúi lạy từ xa.
20/7/2021


### 50. Thần bí về khối u tiêu biến


Đảnh lễ Căn bản Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật.
Đệ tử là Ngũ Quỳnh Hương, là một Hoa Kiều người Indonesia theo sư huynh nhà con di cư đến Sydney Australia. Anh ấy là một kiểm toán viên có văn phòng riêng của mình, và ở nội thành Sydney cũng có một công ty đại diện di dân.

Vào dịp cuối năm 2013 thì con phát hiện thấy thân thể có vấn đề, thường xuyên chảy máu. Sau khi bác sĩ kiểm tra thì phát hiện ra trong tử cung của con có một khối u kích thước khoảng 5cm, là nguyên nhân dẫn đến chảy máu không ngừng. Lúc đó đã gần cuối năm, bác sĩ hẹn qua năm mới 2014 thì quay lại bệnh viện kiểm tra rồi sắp xếp tiến hành phẫu thuật cắt bỏ khối u.

Vì thân thể yếu ớt nên con nghỉ ở nhà dưỡng bệnh… Lúc này bỗng nhiên nghĩ đến mấy cuốn sách của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Sư Tôn do một người khách đến từ Medan Indonesia tên là Henry Chandra (con trai của sư huynh Diệu Toàn) ở văn phòng công ty của chồng con tặng. Biết chúng con không đọc được tiếng Trung, những cuốn mà cậu ấy tặng đều là bản dịch tiếng Indonesia. Sau khi đọc xong mấy cuốn thì con biết Liên Sinh Hoạt Phật là vị Hoạt Phật có thể ban phúc cho chúng sinh, đồng thời cũng có thể giúp rất nhiều người giải trừ các loại khổ nạn. Thế nhưng trong lòng con vẫn chưa tin tưởng Lư Sư Tôn người được tôn xưng là Hoạt Phật, trong lòng còn hoài nghi trên thế gian thật sự có Phật sống sao?

Khi ấy tại đàn thành trong nhà con cũng có thờ phụng A Di Đà Phật, Thích Ca Mâu Ni Phật, Dược Sư Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát và Di Lặc Phật. Con rất tin tưởng vào Phật Bồ Tát mà mình kiền thành thờ phụng ở trong nhà, thế là con hướng đến A Di Đà Phật và Quan Thế Âm Bồ Tát cầu xin ý kiến: "Nếu Lư Thắng Ngạn thật sự là Hoạt Phật, cũng có thể dạy con học tập Phật pháp, xin hãy để con có cơ hội được gặp ngài ấy."

Vừa hay, ngày hôm đó con nhận được điện thoại hỏi thăm của Henry Chandra, con cũng nói với cậu ấy là muốn gặp Liên Sinh Hoạt Phật. Sau đó, mỗi người chúng con tự đặt vé máy bay hẹn cùng gặp cậu ấy và sư huynh Diệu Toàn tại Đài Loan vào ngày 2/1/2014, sau đó mọi người cùng đi Đài Trung.

Ngày 4/1/2014, hai vợ chồng con cùng với Henry và sư huynh Diệu Toàn cùng nhau tham gia pháp hội. Lúc đến nơi tổ chức pháp hội thì rất ngạc nhiên khi phát hiện ra chủ tôn của pháp hội hôm đó không ngờ lại là Quan Thế Âm Bồ Tát… Khi ấy con rất cảm động, trong lòng cũng xúc động ghê gớm, trong quá trình tiến hành pháp hội con cứ không ngừng chảy nước mắt cho đến tận khi pháp hội kết thúc… Hôm đó ngày 6/1, nhờ phúc của sư huynh Diệu Toàn, dưới sự giúp đỡ sắp xếp của Thượng sư Liên Tổ, chúng con rất vinh hạnh có thể ngồi cùng bàn ăn cơm với Lư Sư Tôn Hoạt Phật.

Bởi vì chúng con không biết viết tiếng Trung nên đã được Thượng sư Liên Phi giúp viết thư, con thỉnh cầu Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật gia trì, trong thư cũng hỏi xem phẫu thuật cắt bỏ khối u liệu có thuận lợi không. Sư Tôn đọc thư xong thì nói: "Ồ… cái này không thành vấn đề." Sau đó, Sư Tôn dùng tay đặt lên đỉnh đầu con đại lực gia trì! Sau khi được Sư Tôn gia trì thì con không còn bị chảy máu nữa… Ngày 8/1 chúng con đã rời Đài Loan bay trở về Sydney.

Ngày 10/1, buổi sáng vừa ngủ dậy, con cảm giác tử cung rất đau, nhưng cũng chỉ kéo dài hai phút. Sau đó thì con lái xe đến bệnh viện làm kiểm tra siêu âm để làm thủ tục cắt bỏ khối u. Sau khi làm siêu âm xong, bác sĩ không tìm thấy khối u ở trong tử cung, mà phát hiện ra có một vết sẹo, hỏi ngược lại con là có phải trước đó đã làm phẫu thuật rồi không. Con nói: "Không có, hôm nay tôi đến đây cũng là muốn hẹn ngày làm phẫu thuật mà." Thế rồi bác sĩ nhìn kĩ tấm phim, rồi nói: "Bây giờ cô khỏe rồi. Không sao, có thể về nhà rồi."

Nghe bác sĩ nói như vậy, con cảm thấy kinh ngạc không biết nói gì! Sau khi trở về nhà, con kể lại tình huống mình đã trải qua cho người dì nghe, cảm thấy tất cả đều không thật, hình như đã trải qua một giấc mơ!

Sau đó, con không dám lười biếng, ngày ngày tiếp tục niệm kinh trì chú, đọc sách của Sư Tôn, cũng bắt đầu vào chủ nhật hàng tuần đến Nghiêm Sơn Lôi Tạng Tự để học tập tu pháp. Lúc mới bắt đầu, mặc dù đã chứng kiến khối u biến mất mà không cần phải mổ, nhưng sư huynh trong nhà con vẫn không hẳn là tin tưởng vào sự thần kỳ của Sư Tôn. Nhưng cũng không phản đối theo con cùng đến Nghiêm Sơn Lôi Tạng Tự học Phật pháp. Thế rồi, sau mấy lần chúng con đến Đài Loan và Seattle để tham gia pháp hội, lòng tin của anh ấy vào Sư Tôn đã tăng trưởng vùn vụt, đối với việc học Phật pháp và nghiên cứu văn tập của Sư Tôn còn tinh tấn hơn cả con. Năm 2019, anh ấy báo danh tham gia thi tuyển "Chân Phật Tông giảng sư tuyển chọn trợ giảng kì thứ 6 năm 2019". Trên bảng đã có tên được lựa chọn làm trợ giảng rồi!

Bây giờ anh ấy tích cực giúp Nghiêm Sơn Lôi Tạng Tự thúc đẩy các hoạt động của chùa và việc pháp. Cả nhà chúng con đều quy y Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật. Vô cùng cảm tạ sự gia trì của Sư Tôn khiến khối u trong tử cung của con biến mất không tăm tích, tránh được nạn dao kéo! Chân thành cảm ơn Sư Tôn từ bi cứu độ, chiếu cố cho chúng con được học Phật huệ mệnh!

Đệ tử Liên Hoa Quỳnh Hương đảnh lễ.


### 51. Thần bí về gia trì cách không


Kính gửi Sư Phật kính yêu nhất của con.

Đệ tử Liên Hoa Ngọc Linh đến từ Malaysia nhân đây xin được cảm ơn đại gia trì của Sư Phật. Đầu năm 2020 dịch bệnh virus Corona đã lan ra khắp toàn cầu, Malaysia cũng không may mắn thoát khỏi, ngày 18 tháng 3 đã bắt đầu phong tỏa toàn quốc. Ngành nghề công việc của đệ tử (bảo hiểm) chịu tác động, rất nhiều cuộc nói chuyện vốn dĩ phải gặp mặt thì nay phải chuyển thành trực tuyến, họp online, giao dịch online, ngay cả pháp hội do Sư Tôn tôn quý chủ trì cũng phải làm online. Đệ tử cũng vì vậy mà vô cùng biết ơn vào mỗi ngày thứ bảy và chủ nhật, dù ở tại nhà vẫn có thể vượt không gian thời gian cùng Phật đồng tu, lắng nghe khai thị pháp ngữ của Sư Phật. Càng may mắn hơn là có thể mỗi buổi sáng ngày thứ hai, trên "đám mây", có thể cùng chào hỏi Sư Phật và nhận gia trì. Đệ tử cảm ơn có cơ duyên này, cảm thấy hạnh phúc mỹ mãn.

Đều là vì cả năm làm việc ở nhà, đệ tử và những thiết bị điện tử cả ngày lẫn đêm dính với nhau, khiến cho các đầu ngón tay làm việc quá độ, trở thành cong như cung tên, ngón cái tay trái không cử động tự nhiên được, vô cùng đau khổ, đặc biệt là vào ban đêm khi đi ngủ, ngón tay thường bị đau buốt vô cớ, bởi vì ngón tay cái bị cong lại, tạm thời không có cách nào tự duỗi ra được, vì thế phải ngồi dậy từ từ xoa bóp để nắn lại ngón tay, như vậy mới có thể đi ngủ lại. Tình trạng này đã kéo dài khoảng hai, ba tháng rồi. Đã đi khám bác sĩ, bác sĩ đều nói phải làm phẫu thuật nhỏ mới có thể hồi phục lại như bình thường, trong lòng đệ tử nghĩ bây giờ là thời kỳ đặc biệt, bệnh dịch ở khắp nơi, có cần phải đi bệnh viện không? Nhỡ đâu…

Rồi vào ngày 14 tháng 3, Sư Phật đã làm chủ đàn pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng, Sư Phật từ bi chỉ thị cho các đệ tử trên "đám mây" và đệ tử trực tuyến đều có thể nhận được gia trì, đệ tử như thường lệ báo danh tham gia hàng tuần. Trong năm phút Sư Phật gia trì, đệ tử ngoài việc dặn dò người nhà đặt tay vào những chỗ khó chịu trên người để thỉnh cầu ra, đệ tử cũng chỉ nắm lấy ngón tay cái quán tưởng thỉnh cầu cho ngón tay (ngón tay bị cong) khỏe lại, sau đó cảm giác hình như đã tốt hơn rất nhiều, nhưng cũng không nhất thời quá háo hức, mà quan sát mấy ngày, thật sự đã hồi phục hoàn toàn rồi, cũng không còn bị tỉnh dậy lúc nửa đêm vì đau nữa, cũng không còn phải dè chừng lo sợ lúc nào đó ngón tay cái sẽ lại bị cong và cần được xoa bóp từ từ. Đệ tử vui sướng như điên thông báo với đồng môn trong nhóm trì chú trên Whatsapp của Phật đường, pháp lực của Sư Phật không ai sánh bằng, chỉ cần bạn tin tưởng vào Căn bản Thượng sư một trăm phần trăm thì cho dù là gia trì cho đệ tử vượt qua thời gian và không gian thì cũng có thể viên mãn thỉnh cầu của đệ tử. Sự từ bi của Sư Phật là hạnh phúc của các đệ tử. Kể từ ngày pháp hội đến nay đã một tháng rồi, đệ tử đã không còn bị tái phát bệnh nữa.

Với tấm lòng biết ơn, xin Phật trụ thế thật lâu thật lâu.
Yêu Sư Tôn.
Chân thành cầu nguyện Diêu Trì Kim Mẫu tôn quý và chư Phật Bồ Tát gia trì cho Sư Phật Phật thể an khang, vui vẻ tự tại, pháp luân trường chuyển, trường trụ thế gian lâu thật lâu.
Đệ tử Liên Hoa Ngọc Linh quỳ lạy đảnh lễ.

Còn nữa:

Đệ tử Trần Vận Sương ở thành phố Ipoh Malaysia, hai ngày trước đệ tử đi bộ rất nhiều, hẳn là đã làm bị thương gân cốt, cả cái chân phải từ bắp đùi đến đầu gối đều đau, đi lại rất khó khăn, nửa đêm hôm qua thì đau buốt, trong bụng nghĩ buổi sáng phải đi mua thuốc giảm đau để uống.

Không ngờ, tham gia pháp hội của Sư Tôn xong, khi Sư Tôn dùng chú âm Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang để gia trì cho đại chúng, đệ tử vội vàng làm quán tưởng. Pháp hội kết thúc thì chân đã khỏi được 80%, bây giờ không phải đi mua thuốc giảm đau để uống nữa rồi, cũng có thể lên xuống cầu thang như bình thường.
Thần kỳ! Cảm ơn Sư Tôn gia trì.

🌟

Bác sĩ Chu Trung Huân (Liên Tiếp) duy trì tu Chân Phật Mật Pháp.

Tôi sinh ra trong một gia đình Phật giáo. Khi tôi bắt đầu có ký ức, lúc nhỏ, vào cuối tuần tôi thường theo cha mẹ từ Vancouver lái xe đến Seattle Lôi Tạng Tự cùng Sư Tôn đồng tu. Bố tôi là một đệ tử Chân Phật Tông vô cùng kiền thành, ông ấy thường ngồi thiền trong Phật đường ở nhà. Câu nói khiến tôi ấn tượng sâu sắc nhất là: niệm kinh là làm một việc không có ý nghĩa để thay thế cho những việc càng không có ý nghĩa khác của đời người. Ý nghĩa của câu nói này là, bởi nếu không niệm kinh, đời người sẽ lãng phí rất nhiều thời gian vào những việc càng không có ý nghĩa. 

Tôi vẫn còn nhớ bố tôi từng nói khi ông ấy ngồi thiền, có mấy lần linh hồn thoát ra khỏi đỉnh đầu, linh hồn có thể bay thẳng lên trên, từ phía trên nhìn xuống thân thể mình đang ngồi thiền, cũng có thể nhìn thấy bệnh viện Thất Hiền của mình nhỏ xíu giống như hộp diêm vậy. Thậm chí, ông ấy còn từng nói rằng, nhiều lần đến bái lạy Tam Thái Tử ở Tam Phượng Cung ở gần nhà tôi, sau đó về nhà ngủ trưa, trong đầu thường xuyên nhìn thấy Tam Thái Tử chạy đến chào hỏi ông ấy.

Tôi rất vui mừng vì trong cuộc đời này có một tấm gương để tôi học tập. Bố tôi trong khi tu hành lấy thân mình làm quy tắc, ông chưa bao giờ phê bình người khác, bình luận về người khác, chưa bao giờ nói những từ bất nhã, tạo nên thị phi, tạo khẩu nghiệp, cũng chưa bao giờ có tâm so sánh. Khi gặp phải chuyện thiệt thòi, bố tôi cũng nói bỏ qua, thấy người ta thành công cũng ca ngợi họ, thấy người khác khó khăn cũng sẽ giúp đỡ họ. Lúc tôi còn nhỏ, phòng khám tại nhà của chúng tôi, tầng trên thường xuyên có bạn bè thân xung quanh gặp khó khăn đến ở nhờ mà không phải trả tiền. Bố tôi từ khi mở bệnh viện cũng không bao giờ thu tiền đặt cọc, thường có bệnh nhân khi làm phẫu thuật sinh con không trả được tiền thuốc, ông ấy cũng nói là thôi không cần. Lúc còn sống, mẹ tôi dọn dẹp đồ linh tinh, thấy cả một hòm toàn là biên lai thiếu nợ của những gia đình có bệnh tật, nói với bố tôi thì ông ấy chỉ đáp rằng "thôi đem đốt hết đi". Bố tôi thường nhấn mạnh, cho đi có phúc hơn là thu về.

Năm 2015, bố tôi bị chẩn đoán là mắc hội chứng xơ cứng teo cơ một bên [bệnh ALS - Amyotrophic Lateral Sclerosis], từ nay về sau tứ chi sẽ dần dần thoái hóa đến khi sẽ phải nằm trên giường suốt, cho đến lúc ấy thời gian chỉ có bốn năm. Người bình thường khi mắc bệnh nằm liệt giường, trong lòng khó tránh khỏi sự buồn bực rối loạn, và cho dù bố tôi bị giam cầm trong cái thể xác không thể nào động đậy được ấy, tôi cũng hiếm khi nghe thấy bố tôi oán thán nửa câu. Ngược lại, bố tôi càng chuyên tâm vào niệm kinh, và mỗi ngày niệm kinh thường luôn duy trì lâu tới mấy tiếng đồng hồ, cho đến nửa đêm vẫn còn tiếp tục niệm kinh. Nét mặt khi niệm kinh thả lỏng, hài lòng và hân hoan, không hề có vẻ mặt mệt mỏi vì mắc bệnh.

Chịu ảnh hưởng của Chân Phật Mật Pháp từ bố tôi, lúc rảnh tôi cũng đi đến Trung Quán Đường ở Đài Bắc để tu pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát. Ngày 5/5 năm nay, lúc tôi tu pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát sắp xong, trong đầu tôi đột nhiên nhìn thấy bố tôi ngồi trên đài hoa sen, sau lưng đầy tia sáng màu vàng kim chiếu rọi cả hư không, nét mặt bố tôi rất trang nghiêm. Khi ấy tôi hoàn toàn không hiểu được, hóa ra, mười ngày sau ngày bố tôi xuất hiện vào lúc tôi tu pháp, bố tôi đã rời khỏi nhân gian.

Ngày 15/5 dương lịch (ngày 4/4 âm lịch) năm nay, lúc 10 giờ 43 phút sáng, bố tôi đã chọn đúng ngày Phật đản Văn Thù Bồ Tát để rời khỏi thế giới Ta Bà. Bố tôi hạ mình trước người khác, lúc còn sống đã bàn giao việc hậu sự không cần làm một cách khoa trương, tất cả hãy khiêm nhường, khước từ những vòng hoa vì không muốn bạn bè tốn kém, vì thế mà bố tôi đã chọn ra đi vào thời gian Đài Loan bước vào mức cảnh báo đại dịch virus Corona cấp độ 3. 

Ngày 25/5 dương lịch năm nay bố tôi đã được hỏa thiêu, ngày hôm đó lúc công ty tang lễ sắp xếp di thể bố tôi, phát hiện ra lúc bố tôi được đưa ra khỏi nhà lạnh thì các khớp chân tay đã linh hoạt lại như xưa, khỏe mạnh như lúc còn sống, da dẻ cũng hồng hào và đàn hồi như trước đây. Buổi chiều ngày hôm đó hỏa thiêu bố tôi xong, chúng tôi phát hiện ra ở chỗ xương sọ có nhiều xá lợi giống như ngọc bích, xương cốt cũng khá trắng và đẹp. Trong cuộc đời một con người từ lúc chào đời khóc oe oe cho đến khi vãng sinh đầu thai, đầu thai rồi là quên hết, cho rằng thế giới vật chất chính là tất cả, thì cũng giống như "vì thế diệt độ vô lượng vô số vô biên chúng sinh, thật không có chúng sinh nào được diệt độ" mà kinh Kim Cang nhắc đến. Nhìn thấy xá lợi của bố tôi càng thêm khẳng định, Chân Phật Mật Pháp mà Sư Tôn - ân sư của bố tôi, truyền thụ là cực kì thù thắng, thật sự không giả dối, bởi vì bố tôi luôn giữ vững chuyên tâm tu trì Chân Phật Mật Pháp, đã giải thoát được bản thân, và cũng cho tôi tín tâm toàn diện, nhờ đó tôi vô cùng hoan hỉ chia sẻ tín tâm này đến tất cả các đệ tử Chân Phật Tông.

Con trai thứ ba của bác sĩ Chu Trung Huân.
Bác sĩ Chu Kiệt Lân.
Đài Bắc, 27/6/2021.


### 52. Một lá thư gửi tới Lư Sư Tôn kính yêu - Bạn hữu họ Khổng


[Bài chia sẻ những lời ông luôn tự nói với bản thân và tự nhắc nhở mình.]

(1) Sinh mạng là của chính bạn.

Khi thân thể bạn không khỏe, mọi người liền cung cấp đủ mọi số liệu và ý kiến, đủ mọi thứ để ăn để dùng…
Bạn yêu quý! Bất luận là có hợp hay không, xin hãy nhận lấy đừng băn khoăn.
Người nhà thân yêu cho bạn ý kiến, bạn thân mến, nếu có thể hãy làm theo.
Đối với cuộc đời, bạn đã không còn một chút nào quyến luyến, có cũng được mà không có cũng được.
Đối với cái chết, không có áp lực, cũng không đáng sợ, chết đi lại càng tốt. Đối diện với cuộc đời, lại chỉ thấy đau khổ, việc người, có lẽ có thể dửng dưng, nhưng sự khó chịu của ngôi nhà thân thể này cứ giày vò, không dễ dàng vượt qua. Vì thế muốn lìa thế, lìa thân. Tôi hiểu!
Sinh mạng là của chính bạn, bạn có quyền lựa chọn! Mặc kệ những thiện ý ồn ào của những người bên cạnh!

(2) Về việc sắp xếp, chỉ định phương pháp, ai chữa bệnh, cứu mình.

Tôi sẽ không bài xích bất kì phương pháp và y học có thể cứu người nào. Cũng như thế, tôi không bài xích bất kì phương pháp và tôn giáo nào có thể cứu độ con người. Cho dù bản thân không phải là chuyên gia, tôi cũng hy vọng bản thân tự suy xét, chứ không mù quáng.

(3) Xin lỗi, cảm ơn, tôi yêu bạn.

Hãy lắng nghe thân thể mình, nó biết nói chuyện.
Hãy lắng nghe tâm hồn mình, nó biết nói chuyện.
Hãy cảm ơn và yêu quý thân thể mình, cũng hãy trân trọng nó, cảm ơn và yêu quý tâm hồn mình.
Cái mà bồi dưỡng tâm linh thành tựu là thân thể, là cái "có" này, xin đừng ghét bỏ nó!
(Hãy nói với nó: xin lỗi, cảm ơn, tôi yêu bạn.)

(4) Tự nhiên, là đạo! Là đáp án! Là trí huệ!

Thân thể, là ảnh thu nhỏ của đại tự nhiên, nó là một tổng thể. Phải coi trọng và đối đãi toàn vẹn.
(Tôi nói, đó là nghệ thuật cân bằng.)
Mỗi một nguyên tố, như đất nước lửa gió không khí hay kim mộc thủy hỏa thổ, chúng đều tương sinh, hợp với nhau mà tồn tại, và cũng tương khắc, khắc chế lẫn nhau. Chúng không tồn tại đơn độc, không tác dụng lực một mình. Nếu chọn điều dưỡng chỉ một yếu tố thì sẽ được cái này mất cái kia, gây nên bệnh tật đầy rẫy.
Điều dưỡng tổng thể cân bằng, sẽ khiến thân thể vận chuyển tự nhiên, khiến tất cả đều an ổn, không phí khí lực, nhẹ nhàng thoải mái.

(5) Già yếu ốm đau, dường như mỗi người đều phải trải qua. 

Một người đạo sư hoặc thầy thuốc giác ngộ trước độ người ta, thị phạm mình đã đạt đến sự bình tâm tĩnh khí, sẽ khiến vô số người học tập cách đạt đến sự bình tâm tĩnh khí (không phiền không muộn).

(6) Yêu thương… chưa bao giờ rời xa!


### 53. Thư của Liên Ha


Sư Phật Sư Mẫu muôn vàn kính yêu nhất!
Phật an! 
Ngu đệ tử Liên Ha nhất tâm đảnh lễ và đem thân khẩu ý cúng dường Sư Phật Sư Mẫu!

Sinh nhật đặc biệt nhất của Sư Phật sắp đến rồi, tại đây đệ tử chân thành kính chúc Sư Phật sinh nhật vui vẻ! Ngày ngày vui vẻ! Ngày ngày cát tường! Phật thể an khang! Trường thọ tự tại! Thỉnh Phật trụ thế, xin chuyển pháp luân, xin hãy để ngọn đèn sáng của thế giới Ta Bà tiếp tục sáng mãi, chiếu sáng những con đường của hành giả, và mong thầy dắt tay của các đệ tử, dẫn dắt chúng con cho đến khi bồ đề viên mãn! Đồng thời đệ tử cũng kính chúc Sư Mẫu khỏe mạnh sống lâu, cát tường an khang, nghĩ gì được nấy, vui vẻ tự tại, mãi mãi xinh đẹp!

Sư Phật kính yêu, mỗi ngày chủ nhật đệ tử đều nhất định phải tham gia pháp hội Hộ Ma tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, lúc nhìn thấy Sư Phật trên màn hình, trong lòng đệ tử tràn đầy niềm kính ngưỡng vô hạn, giống như hoàn cảnh 2500 năm trước các đệ tử Phật ngưỡng mộ dung mạo viên mãn trang nghiêm của Phật Đà, không dám rời mắt. Tướng mạo trang nghiêm không gì sánh bằng của Sư Phật, phong thái đầy khí thế hào hùng, khiến trong lòng đệ tử sinh ra niềm vui sướng và niềm tin thanh tịnh không gì sánh bằng. Và mỗi khi Sư Phật làm hồi hướng, cầu nguyện cho các đệ tử được tiêu trừ bệnh tật, khỏe mạnh bình an, tu hành thành tựu, thậm chí là mỗi một luân xa mở ra thì thành tựu mười địa quả vị, thậm chí mở cả đỉnh luân, thành tựu Phật quả. Lời cầu nguyện tha thiết của Sư Phật lần nào cũng khiến đệ tử trong lòng cảm động không thể mô tả được, đã khích lệ và gia trì cho đệ tử dũng mãnh tinh tấn, mong đời này có thể đạt được mục tiêu mà Sư Phật đã cầu nguyện.

Sư Tôn Sư Mẫu kính yêu, giáo dục Chân Phật hiện tại đang từng bước trở nên tốt đẹp hơn. Mỗi một tiết học thực tu Chân Phật Mật Pháp, mọi người chúng con cùng học tập theo tâm yếu khẩu quyết nói đến trong sách của Sư Phật, sau đó tu pháp cùng thực hành khẩu quyết đó. Mỗi một tâm yếu khẩu quyết Mật pháp của Sư Phật chúng con đều thâm nhập vào từng cái một, khi tu pháp thiền định lĩnh hội được sự ảo diệu trong phẩm vị, để mỗi một khẩu quyết đều phát huy được sức mạnh thù thắng của nó. Dần dần, mọi người tu hành đều có tiến bộ vượt bậc, rất nhiều đồng môn nói, tu pháp bây giờ so với trước đây thật khác nhau như một trời một vực. Đệ tử đảnh lễ cảm ơn Sư Phật đã đem tất cả tâm yếu khẩu quyết của Mật pháp viết hết trong sách không hề giữ lại điều gì.

Môn học đầu tiên của Đại Học Chân Phật Online là “Phật học bao la vạn tượng” cũng tiến triển thuận lợi, cảm ơn sự gia trì của Sư Phật! Các học viên đều cảm thấy thu hoạch được rất nhiều, pháp hỷ tràn đầy. Đệ tử cũng hy vọng mỗi một tiết học đều có thể mang đến cho mọi người những tiến bộ, có thể xúc động đến tâm của mọi người, trợ giúp mọi người tu hành, ngay cả trong hành trình cuộc đời có thể có được lợi ích và cải thiện.

Hai môn học nói đến ở trên là lý luận và thực tu, lý thuyết và thực hành viên dung, bổ trợ cho nhau. Khiến đồng môn Chân Phật không chỉ thực tu tiến bộ, đồng thời cũng có thể thâm nhập vào Phật lý, đọc nhiều sách của Sư Phật, gia tăng trí huệ, tiêu trừ phiền não, nhận thức thực tướng.

Điều có ý nghĩa hơn là, trong khóa học nói đến ở trên, có hơn chục vị Thượng sư lập thành nhóm Thượng sư hướng dẫn, để tiến hành bình luận về bài làm của các học viên, các vị ấy đồng thời cũng là giám khảo cho bài thi tốt nghiệp cuối cùng của các học viên. Đồng thời còn có 18 vị pháp sư, giảng sư, trợ giảng hợp thành nhóm phụ đạo viên, họ giúp đỡ đồng môn đăng kíýghi tên, phát đi thông báo, trả lời thắc mắc, và tất cả các nhân viên hoằng pháp đều sẽ lần lượt xuất hiện ở trước máy quay để giải thích và khai thị cho mọi người. Như vậy, Đại Học Chân Phật Online đã trở thành một nền tảng để mỗi một nhân viên hoằng pháp đều có thể vui mừng nhìn thấy sự trưởng thành của mình.

Tiếp sau đây chúng con sẽ tiến thêm một bước, phân phối tất cả học viên đến mỗi phụ đạo viên, để các phụ đạo viên quan tâm thân thiết hơn đến từng học viên, sẽ quan tâm đến sự tiến bộ của mỗi học viên về lâu dài, trưởng thành cùng với mỗi học viên. Như vậy sẽ đạt được triết lý cao nhất của giáo dục: "Để mỗi học sinh đều có được sự quan tâm đặc biệt."

Hiện tại Giáo dục Chân Phật còn mở lớp học thứ hai là "Luận sơ lược về thứ tự bồ đề đạo" do Thượng sư Liên Mãn và Thượng sư Liên Truyền giảng dạy, hai vị truyền thụ những tâm yếu kinh nghiệm suốt mấy chục năm ở bên cạnh Sư Phật, mọi người đều thu hoạch được đầy ắp, pháp hỷ tràn đầy!

Ngoài ra, Kinh Pháp Hoa do đại sứ Liêu giảng dạy cũng vô cùng xuất sắc, lợi ích rất nhiều. Nội dung của "Học đường Chân Phật pháp" của người chịu trách nhiệm các pháp vụ cũng vô cùng phong phú, nhân viên tham gia hoằng pháp cực đông, dùng những kỹ thuật mới nhất, thật sự khiến người ta ca ngợi!

"Đồng tu online toàn cầu" do Thượng sư Liên Già điều khiển gần đây đã bắt đầu 200 đàn pháp Tứ gia hành Kim Cang Tâm Bồ Tát, và "Chân Phật bảo sám" trên mạng vào ngày 18 âm lịch hàng tháng, có số đồng môn Chân Phật tham gia đều phá kỷ lục.

Cảm ơn Sư Tôn gia trì và ban phước, sự nghiệp giáo dục Chân Phật đang trăm hoa đua nở, không ngừng bay cao, đó cũng chính là mục tiêu của giáo dục Chân Phật, dang cánh bay cao. Đệ tử một lòng cầu nguyện, dưới sự đại gia trì của Sư Phật, để pháp mạch truyền thừa Chân Phật mà giáo dục Chân Phật gánh vác được kéo dài vô tận.

Sư Phật kính yêu, mặc dù sự nghiệp bồ đề nặng nhọc, nhưng đệ tử vẫn duy trì sự tinh tấn, hàng ngày vào sáng sớm sau khi đệ tử quay mặt về phía mặt trời mọc hướng đến Sư Phật để cầu nguyện gia trì, đệ tử luyện khí, hít thở, làm pháp Thần thủy, Kim cang tụng và Bảo bình khí, mỗi ngày bốn lần tọa pháp (tối thiểu cũng là ba lần). Mỗi lần tọa pháp đều nghiêm túc thực hành khẩu quyết mà Sư Phật đã truyền thụ. Khi nhập định, cảm nhận ánh sáng ở tâm luân tiêu tan ngã pháp, và cảm nhận của Kriya yoga là một giọt nước tan vào đại dương. Đồng thời, trong thiền định và sinh hoạt thường ngày, đệ tử luôn luôn nhận thức được về "vô niệm", khi cảm nhận được vô niệm thì tự nhiên ánh sáng chiếu khắp nơi, linh giác khi vô niệm chính là diệu giác, đẳng giác, vô niệm đúng thật là "chính giác Phật bảo".

Ngoài duy trì sự tinh tấn thực tu ra, đệ tử gần đây còn cảm thấy sự ứng dụng Phật lý vô cùng quan trọng. Đúng như cuộc đối thoại giữa Sư Phật và Tổ sư Đạt Ma: "Pháp vô thường là quan trọng số một", "Nhận thức đời người như mộng huyễn là rất quan trọng", "Nhận thức tất cả hiện tượng đều là huyễn hóa". Những điều này đều là chân lý cực kì quan trọng, không những cần giải thoát, lại càng cần ứng dụng trong cuộc sống hàng ngày và trong sự nghiệp bồ đề, chỉ có như thế, chúng ta mới không cảm thấy cuộc sống và sự nghiệp bồ đề nặng trĩu áp lực, mới có thể thật sự vượt qua và đoạn trừ tất cả phiền não, tự do tự tại, không buồn không lo, gánh vác trọng trách của Như Lai, trong lòng cũng vô tưởng vô niệm.

Mặc dù mỗi tuần đều có cuộc gặp gỡ với Sư Phật thông qua "đám mây", nhưng đệ tử vẫn cực kì nhớ Sư Phật Sư Mẫu như trước kia, mong đợi sớm có ngày có thể gặp mặt! Giờ khắc lại được tương phùng nhất định là đẹp đẽ và cảm động không gì sánh bằng. 

Một lần nữa chúc nguyện Sư Phật sinh nhật vui vẻ! Phật thể an khang! Trường thọ tự tại! Trường trụ thế gian! Hằng chuyển pháp luân! Cầu chúc Sư Mẫu khỏe mạnh sống lâu! Mãi mãi xinh đẹp! Thường nở nụ cười! Cũng cầu thỉnh Sư Phật gia trì cho đệ tử thân thể khỏe mạnh, tu hành thành tựu, tương ứng thành tựu, khí mạch điểm thành tựu, thiền định thành tựu, kiến tính thành Phật, và dùng tâm đại bồ đề để dẫn dắt chúng sinh tất cả đều thành Phật!

Kính thư!
Ngu đệ tử Liên Ha cúi lạy.
25/6/2021. 
São Paulo, Brazil.


### 54. Thư cảm ứng (1)


Đảnh lễ Sư Tôn Phật an cát tường!

Đệ tử Tạ Mỹ Hương tài trợ in ấn văn tập Chân Phật Bát Nhã Tạng của Sư Phật đã có được cảm ứng chân thật thần kỳ, xin được trình bày tỉ mỉ những gì đã trải qua như sau:

Mẹ của đệ tử là Tạ Hoàng Ngọc Mai vì mắc bệnh ung thư đại tràng nặng, sau phẫu thuật thì ốm mệt nằm liệt giường, sau đó từng nhiều lần nguy kịch phải ra vào bệnh viện nhiều lần, bị bệnh tật giày vò đã kéo dài suốt 15 năm nay, bởi vì không thể nói và biểu đạt ý muốn nên bà sống giống như người thực vật. Thời gian qua bà đều do bố và anh trai ở cùng nhà với đệ tử chăm sóc, nhưng bố của đệ tử tuổi tác đã gần 90, rồi vì bệnh mất trí mà nằm liệt giường không dậy, rồi vào tháng 10 năm 2018 thì ông qua đời. Còn anh trai cũng vì bị ung thư biểu mô giai đoạn cuối, phát hiện quá muộn, cũng đã ra đi vào tháng 1 năm nay (2021), chỉ còn có mẹ vẫn đang bị bệnh khổ hành hạ, bất đắc dĩ người nhà chỉ còn cách gửi bà vào viện dưỡng lão mới có người trông nom, nhưng cũng nhiều lần phải ra vào bệnh viện.

Đệ tử và chồng là Lưu Toàn Đức đã quy y Sư Phật hơn 20 năm, chúng con từng tài trợ in ấn Chân Phật Kinh cũng có nhiều cảm ứng, mấy năm nay từng bàn bạc với Lôi Tạng Tự về việc tài trợ in ấn Chân Phật Kinh, thế nhưng vì kinh văn tồn kho quá nhiều, không thể tiếp nhận thêm việc tài trợ in ấn nên chúng con đã bị khéo léo từ chối. Để cứu mẹ có thể thoát khỏi bệnh khổ, đệ tử và chồng vào ngày 12 tháng 5 năm nay đã đến chùa Cao Ân ở Bình Đông, hướng về tượng Liên Hoa Đồng Tử bói chén để cầu Thánh thị, sau đó được Thượng sư Liên Tử giải thích có thể in sách của Chân Phật Bát Nhã Tạng, và cho đệ tử biết phương thức liên lạc. Thế là ngày hôm sau (ngày 13) đệ tử đã liên lạc được với Chân Phật Bát Nhã Tạng, ban đầu vẫn theo quan niệm truyền thống là lên kế hoạch in ấn kinh Địa Tạng.

Ngày hôm đó trong quá trình liên lạc đã được nhân viên của Bát Nhã Tạng giải thích, đệ tử hiểu được rằng trước kia có những kinh thư được tài trợ in ấn, vì tính lưu thông không cao, dẫn đến việc rất nhiều kinh thư được in ra tồn đọng tại những nơi kết duyên. Trước tình hình ấy, có Kim Cang Lôi Tạng Tự ở New York từng thu nhận các khoản đóng góp in ấn của đồng môn đã tặng cho Bát Nhã Tạng, để trợ giúp cho phương thức làm sách điện tử. Bởi vì sách điện tử không bị hạn chế bởi không gian, chỉ cần có điện thoại di động hoặc máy vi tính thì đều có thể xem được, cũng phù hợp với thời đại coi trọng việc bảo vệ môi trường. Vì thế, họ kiến nghị đệ tử có thể chọn phương thức tài trợ cho phương thức sách điện tử của Liên Sinh Hoạt Phật, hoặc tiến hành tài trợ cho những cuốn văn tập của Liên Sinh Hoạt Phật mà hiện nay Bát Nhã Tạng đã in ấn để thay cho việc tài trợ in ấn kinh văn, đồng thời họ cũng cung cấp mục lục các văn tập đã xuất bản để đệ tử suy nghĩ.

Sau khi được Bát Nhã Tạng giải thích tỉ mỉ, đệ tử và người nhà bàn bạc, rồi một lần nữa lại đến chùa Cao Ân bói chén để xin Thánh thị có thể trợ giúp in ấn văn tập Sư Tôn được không. Và rồi thứ sáu ngày 14 lại liên lạc với Bát Nhã Tạng, xác nhận số lượng và số văn tập của Sư Tôn, lấy tên mẹ là Tạ Hoàng Ngọc Mai để tài trợ in ấn, và mong sách được phát đi để kết duyên, ước nguyện rằng mẹ sẽ thoát khỏi bệnh khổ, sớm được giải thoát. Vì ngày hôm đó là thứ sáu, liên hệ xong thì đã là buổi tối, không thể chuyển tiền được, cho đến buổi trưa thứ hai ngày 17 mới gửi tiền tài trợ in ấn vào tài khoản của Bát Nhã Tạng. Vào lúc 1 giờ 50 phút buổi chiều cùng ngày thì nhận được tin tức số tiền tài trợ in ấn dưới tên mẹ đệ tử đã nhận được. Khoảng 12 giờ đêm hôm đó thì nhận được thông báo từ bệnh viện về tình hình nguy kịch của mẹ, đệ tử trên đường đi đến bệnh viện thì vào lúc 1 giờ 8 phút sáng sớm ngày 18 tháng 5, mẹ đệ tử đã vãng sinh rồi, giải thoát 15 năm bị bệnh khổ đày đọa, thoát khổ được vui.

Đúng lúc đệ tử và người nhà đưa thi thể của mẹ đến nhà tang lễ, con gái út của đệ tử là Lưu Huệ Tâm cũng là đệ tử quy y, sáng sớm đã nhìn thấy Sư Tôn hiển hiện trong không trung, cảm ơn Sư Phật gia trì, cảm ơn công đức vô lượng và cảm ứng cấp tốc của việc tài trợ in ấn văn tập của Sư Tôn kết duyên, cảm ơn Sư Tôn đã viết sách cứu độ chúng sinh. Cảm ứng tài trợ in ấn văn tập Sư Tôn thật bất khả tư nghì.

Đệ tử Liên Hoa Toàn Đức, Liên Hoa Mỹ Hương đảnh lễ.
18/5/2021.


### 55. Thư cảm ứng (2)


Đảnh lễ Sư Phật cát tường.
Đệ tử Lương Triết Nguyên cảm ơn Sư Phật gia trì, gần đây có một cảm ứng chân thực muốn báo cáo với Sư Phật, cũng hy vọng chia sẻ với nhiều người hơn. 

Đệ tử quy y Sư Phật đã hơn 20 năm, luôn cẩn thận tuân theo những giáo huấn của Sư Phật, khi có khả năng dư thừa đều tận lượng bố thí, đặc biệt là đệ tử chưa kết hôn, không có gánh nặng gia đình, vì thế, ngoại trừ việc chăm sóc cha mẹ ra thì đều đem các khoản tích cóp được hoặc là báo danh làm chủ cầu pháp hội, hoặc trợ giúp in kinh thư, hoặc tài trợ đạo tràng, cũng có tài trợ việc phiên dịch pháp bản sang tiếng Thái. Những công đức trong suốt thời gian dài này đều hồi hướng cho cha mẹ khỏe mạnh, và công việc của đệ tử được thuận lợi và đệ tử được bình an khỏe mạnh. Trên thực tế cũng thật sự có được sự bảo hộ cho cha mẹ, và sự nghiệp của đệ tử rất thuận lợi, khiến đệ tử có được càng nhiều khả năng để bố thí hơn.

Hiện tại, vì ngực thường xuyên cảm thấy đau tức nặng nề đã kéo dài ba tuần, chữa trị chưa thấy hiệu quả, lại vì bệnh gan nhiễm mỡ, thêm nữa, nửa năm nay chịu áp lực công việc nặng khiến vai của đệ tử đau nhức không thể chịu được. Bị kẹt trong đau đớn bệnh tật, khoảng thời gian này đệ tử đã được giới thiệu mà biết đến Thượng sư Liên Tử ở chùa Cao Ân tại Bình Đông, thế là vào ngày 27 tháng 5 năm nay (2021) đệ tử đã đến chùa, ngoài lễ Phật ra thì cũng được nghe Thượng sư chia sẻ mấy hôm trước có sư tỉ họ Tạ tài trợ in ấn văn tập Chân Phật Bát Nhã Tạng của Sư Tôn mà có được cảm ứng chân thực, thế nên vào ngày 30 tháng 5, đệ tử quyết định tài trợ in ấn văn tập của Sư Tôn, rồi lại một lần nữa đến chùa Cao Ân để lễ Phật, đồng thời thỉnh cầu Liên Hoa Đồng Tử trong chùa làm chủ. Và sau khi khẳng định số tiền tài trợ in ấn và đối tượng hồi hướng, Thượng sư Liên Tử ngay tại đó đã lập tức liên lạc với luật sư của Chân Phật Bát Nhã Tạng để trình bày nguyện vọng tài trợ in ấn văn tập, chờ xác định phương án tài trợ in ấn.

Ngày hôm sau (ngày 31), sáng sớm đệ tử lập tức đi chuyển tiền, lúc 1 giờ 30 phút chiều thì nhận được thông báo số tiền tài trợ in ấn đã nhận được. Buổi tối hôm đó đệ tử lại đến chùa Cao Ân để thưa bẩm đầy đủ tất cả với Liên Hoa Đồng Tử và Chư Phật Bồ Tát ở trong chùa, và mang giấy biên nhận về số tiền đã gửi, hồi hướng. Sau khi hóa bức thư với nội dung cầu nguyện, không ngờ tối hôm đó, trên đường lái xe từ chùa Cao Ân ở Bình Đông trở về nhà ở Cao Hùng, cơn đau ngực hành hạ đệ tử không ngờ trong chớp nhoáng đã thoải mái và dễ chịu tới 90% rồi, khá là thần kỳ.

Đệ tử cảm thấy oan thân trái chủ của đệ tử và những linh đeo bám, thật sự sau khi họ nhận được công đức đến từ việc tài trợ in ấn văn tập Sư Tôn xong, đã lập tức để cho thân thể đệ tử dễ chịu hơn, nên có cảm ứng như vậy. Đến nay, những bệnh tật khác của đệ tử cũng đã từ từ chuyển biến tốt, không ngờ cảm ứng từ việc tài trợ in ấn văn tập của Sư Tôn lại thần kỳ đến như vậy, thần tốc đến như vậy, khiến đệ tử khắc sâu trong ngũ tạng, khấu đầu cảm tạ lực gia trì mà văn tập của Sư Tôn đã ban cho.

Đệ tử Liên Hoa Triết Nguyên đảnh lễ.
2/6/2021.


### 56. Phụ lục: Những gì bạn chưa biết về sư phụ của tôi - Liên Sinh Hoạt Phật


Chu Thời Nghi, ngày 25 tháng 4 năm 2008.

Liên Sinh Hoạt Phật, vị Pháp Vương từ bi, hơn 40 năm nay, với sự bền bỉ và nghị lực, mỗi ngày viết một chương sách, viết sách hoằng pháp, quảng độ chúng sinh thế giới Ta Bà, đã hoàn thành sáng tác 238 cuốn văn tập, khiến trời người ca ngợi ngưỡng mộ.

238 cuốn văn tập Lư Thắng Ngạn, nội dung rộng lớn mênh mông, ngoài tiểu thuyết, tản văn, tạp văn và những tập thơ ra, còn có một loạt cuốn sách về triết lý, khai thị, bát nhã, thần biến, phong thủy, du lịch. Trong sách có Đạo, Hiển, Mật, diệu pháp vô thượng, là toàn bộ quá trình trải nghiệm mà Liên Sinh Hoạt Phật từ phàm phu tu hành đến khi khai ngộ thành Phật. Những tác phẩm của ngài được dịch sang nhiều ngôn ngữ, được lưu truyền rộng rãi trên khắp thế giới, được Quốc hội Mỹ và rất nhiều thư viện của trường đại học sưu tầm lưu trữ, thật sự trở thành người số một hiện nay trong việc dùng văn tự để truyền pháp. Giờ đây, đệ tử trong và ngoài nước đã hơn sáu triệu người, tuyệt đại đa số đệ tử Chân Phật đều là đọc sách mà quy y. Có thể thấy được sức hấp dẫn và sự ảnh hưởng sâu xa của văn tập Sư Phật.

Liên Sinh Hoạt Phật là một vị Pháp Vương - tác giả trí huệ thông đạt, viên mãn vô ngại, sớm đã chứng vô thượng bồ đề. Khai thị Phật pháp của ngài không giống với việc thuyết giảng văn tự truyền thống, mà là dung hợp với cảnh giới thực chứng của bản thân, chọn những ý nghĩa quan trọng, nội dung sâu sắc mà lời lẽ dễ hiểu, tràn đầy lý thú để lôi cuốn người ta vào cảnh giới ngoạn mục. Ngài đã đem những thành quả trí huệ vô thượng mà đích thân chứng ngộ được, với tấm lòng rộng lớn vô tận, thông qua việc viết sách, giống như dòng sữa pháp tưới đẫm cõi lòng của độc giả, từ bi chỉ dạy chúng sinh, hy vọng lay động được tâm trí của chúng sinh, để chúng sinh đều được lợi ích đốn ngộ, tiến tới con đường giải thoát.

Nghiên cứu khoa học tự nhiên là một trong những chuyên môn mà tôi dấn thân vào, đối với những quy luật vũ trụ của đại tự nhiên, tôi đã đọc vô số những ước mơ và luận chứng. Lần đầu tiên tôi tiếp xúc với sách của Liên Sinh Hoạt Phật là vào mùa thu năm 1987 trong một hiệu sách ở khu Chinatown thành phố San Francisco nước Mỹ. Tôi tình cờ bắt gặp cuốn sách "Thế giới của con mắt thứ ba", khi ấy đã thu hút sự tò mò của tôi, nên tôi đã mua về. Vừa mới mở ra trang đầu tiên, tôi đã bị cuốn hút ghê gớm. Từng câu chuyện chân thực bất khả tư nghì trong sách nêu ra tính hiện thực của nghiệp lực và nhân quả, nhìn rõ cảnh tượng đa chiều và sự ảo diệu thần bí của thế giới vô hình, những điều đó tôi đều chưa bao giờ nghe thấy.

Đối với một người nhiều năm nghiên cứu sự vật, lý hóa học và thiên văn như tôi, cuốn sách này gợi ra cho tôi những điều to lớn không gì sánh bằng. Sau khi tôi quy y Sư Phật, mỗi cuốn văn tập tôi đều không thể chờ đợi mà phải đọc một hơi xong hết. Trong tất cả những văn vập về linh học, Liên Sinh Hoạt Phật đều có lối hành văn trôi chảy, rủ rỉ tâm sự những gì mà ngài đã thực sự nhìn thấy được về thế giới tâm linh, tiết lộ những ảo diệu thần bí nghìn vạn năm của linh hồn và thế giới vô hình, từng áng văn chương đều xúc động và lôi cuốn.

Ví dụ trong lời tựa cuốn "Siêu giác của linh hồn", ngài ấy nói: "Không gian là một thế giới vô hạn, sau khi linh hồn của ta tiến nhập vào huyễn cảnh của vũ trụ, bên ngoài thế giới bốn chiều lại còn xuất hiện năm chiều, sáu chiều, thậm chí là bảy chiều. Cảnh giới này giống như cái vỏ nhiều lớp, từng lớp lần lượt mở ra trước mắt tôi, khiến tôi thốt lên sửng sốt…" Hoặc ví dụ như trong cuốn sách "Pháp tọa thiền thông minh", Liên Sinh Hoạt Phật viết rằng: "Giờ đây, tam thiên đại thiên thế giới trong mắt tôi nhỏ như một hạt ngô, nguyên thần của tôi muốn bay đi khắp vũ trụ, muốn thu hết vào và giấu trong một hạt cát. Những chứng đắc của tu hành thành tựu…, nguyên thần có thể đi vào nước vào lửa mà không bị chìm không bị cháy. Phá cửa địa ngục, phá nhân quả nghiệp chướng, không bị trói buộc trong ngũ hành…" Khiến người ta say mê vô hạn, đạo tâm hứng khởi.

Những hiện tượng huyền diệu của thế giới tâm linh đa chiều này, cùng với thần thông nhậm vận của một vị hành giả đắc chứng, mặc dù không phải là điều mà khoa học hiện đại có thể giải thích được, nhưng trong những năm gần đây, giới lý luận vật lý sớm đã có học thuyết và nghiên cứu tương tự. Ví dụ, học thuyết Lý Luận Siêu Huyền (Superstring Theory) nổi tiếng, đề xướng rằng vũ trụ có thể mô tả với không gian mười chiều hoặc trên mười chiều. Tri thức khoa học truyền thống vẫn luôn nhận định rằng vũ trụ là không gian ba chiều (tức là dài, rộng, cao), mãi cho đến khi Albert Einstein trong thuyết tương đối đã nói đến học thuyết bốn chiều, chỉ khi đó, con người mới nhận ra rằng chúng ta đang sống trong một vũ trụ thống nhất không-thời gian bao gồm không gian ba chiều và thời gian bốn chiều. Tuy nhiên, không-thời gian bốn chiều không thể giải thích một cách thống nhất bốn lực tồn tại đã biết trong vũ trụ. Các lực này (lực tác dụng) bao gồm lực vạn vật hấp dẫn (tức là trọng lực) giữa các vật chất, lực điện từ giữa các điện tích dương và âm, lực tác dụng hạt nhân mạnh tập hợp các proton và neutron trong hạt nhân, và lực hạt nhân yếu trong hiện tượng phóng xạ, để giải thích làm thế nào những lực này có thể cùng tồn tại. Những nhà vật lý năng lượng cao gần đây đưa ra Lý Luận Siêu Huyền của vũ trụ nhiều chiều, căn cứ theo lý luận này, không-thời gian mười chiều này bao gồm không-thời gian bốn chiều mà chúng ta đã biết, và một hình cầu sáu độ không gian cực kì cực kì nhỏ. Nhưng cho đến bây giờ, Lý Luận Siêu Huyền này vẫn không có cách nào dùng thực nghiệm để chứng minh được.

Tháng 6 năm 2008, tại trung tâm nghiên cứu hạt nhân Châu Âu (CERN) ở ngoại ô Geneva Thụy Sĩ, máy va chạm Hadron cỡ lớn (Large Hadron Collider: des (LHC)) tiêu tốn mười bốn năm và tám tỉ đô la để chế tạo đã chính thức hoàn thành. Máy gia tốc hạt lớn nhất từng được chế tạo trên trái đất này cho phép các proton va chạm với tốc độ cực cao, sẽ tái tạo lại các hiện tượng vũ trụ tương tự như những gì đã thấy trong một phần nghìn tỉ giây sau Vụ nổ lớn. Các nhà nghiên cứu đã sàng lọc phần còn lại của những sáng tạo ban sơ này để tìm manh mối về bản chất của khối lượng và các lực lượng mới của tự nhiên và "tính siêu đối xứng". Ngoài ra, thí nghiệm va chạm năng lượng cực cao này cũng có thể tạo ra một "hố đen" (black hole) nhỏ. Những dữ liệu này có thể được sử dụng để khám phá sự tồn tại của không-thời gian chiều cao. Dự kiến trong vòng mười năm tới, "máy va chạm hadron" này sẽ mang đến một bước đột phá lớn trong việc nghiên cứu cấu trúc không-thời gian đa chiều của vũ trụ.

Những thể nghiệm du hành xuyên thời gian và không gian mà các nhà khoa học đang mong muốn chứng minh này từ sớm đã được miêu tả rõ ràng trong những sáng tác của Liên Sinh Hoạt Phật. Bao gồm những cuốn sách tâm linh thời kỳ đầu như: "Mạn đàm linh cơ thần toán", "Giữa linh và tôi", "Siêu giác của linh hồn", "Khởi linh học" và "Lời tự thú của linh". Mấy năm nay, Liên Sinh Hoạt Phật còn viết không ít những cuốn liên quan đến bí mật ảo diệu của thế giới vô hình, ví dụ như "Linh dị bất khả tư nghì", "Du lịch thần biến", "Diện mạo thật của linh dị", "Bước vào thế giới âm dương bí mật", "Bay qua thế giới quỷ thần", "Tiết lộ đại luân hồi", "Xuyên suốt hư không", "Độ qua biển sinh tử", "Thần hành ký", "Địa ngục biến hiện ký", "Nấc thang của chư Thiên", v.v… Trong mỗi cuốn sách, ngài đều dùng bút pháp bình dị tả thực, ghi lại đủ kiểu du hành xuyên thời gian và không gian, những kinh nghiệm tự mình bay qua thế giới âm dương, từng chương sách đều vô cùng hấp dẫn, khiến người ta bị lôi cuốn và xúc động, đã đi hết những thực tướng bất khả tư nghì của thế giới vô hình đa chiều. Chúng đều là những cuốn sách tâm linh vô cùng quý giá dành cho những nghiên cứu về khoa học thời gian không gian của thế giới tâm linh vô hình trong đời tương lai, chúng cung cấp những manh mối và phương hướng rõ ràng.

Tương lai khoa học sẽ từng bước phát triển, sẽ có một ngày có thể lần lượt chứng thực và tiến hành sử dụng những hiện tượng chân thực của thế giới tâm linh và thế giới vô hình, mở mang những năng lực tiềm ẩn trong cơ thể con người, tạo phúc cho nhân loại. Những người đời này có duyên đọc được sách tâm linh của Liên Sinh Hoạt Phật là người có may mắn lớn, không những có thể biết được những bí mật lớn của trời người tự cổ chí kim, mà còn quy y Liên Sinh Hoạt Phật, có được lực gia trì của truyền thừa, từ đó có thể tu hành Chân Phật Mật Pháp vô thượng là con đường tắt để thành Phật.

Đại đạo ở trước mặt, không thể bỏ lỡ, mong chúng sinh có duyên hãy kính sư, trọng pháp, thực tu, người người thành Phật. A Di Đà Phật!

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/287-thi-tham-mot-chut-tho.md
# Title: 287. Thì thầm một chút thơ
---

![image](/img/img_95896ec089cf0c66b4df88d2a1030e8c.png)



## Thì thầm một chút thơ


🪷 Mỗi ngày một bài thơ nhỏ

Văn tập số: 287
Xuất bản năm: 10/01/2022
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu


Sau khi viết xong cuốn văn tập số 286 "Những chuyện thần bí", tôi lên kế hoạch viết cuốn 287.
Lấy tên sách là gì đây?
Tôi nhớ đến thuở niên thiếu non trẻ, tôi viết cuốn "Thì thầm trong vườn mộng".
A!
"Thì thầm.”
Tôi lại nhớ đến thời thanh xuân ngọt ngào, tôi đã viết rất nhiều bài thơ nhỏ.
A!
"Thơ nhỏ."
Thế là tôi kết hợp "thì thầm" và "thơ nhỏ" lại!
Đặt tên sách là:
"Thì thầm một chút thơ."

Nhưng, vấn đề là:
Cái con người Lư Thắng Ngạn chậm hiểu chậm tiêu này đã không còn non trẻ nữa, cũng không còn ngọt ngào nữa, lại càng không phải lúc tráng niên. Mà đã là một lão già ở quãng tuổi xế chiều rồi.
Trời ơi!
Ráng chiều mặc dù đẹp thật, nhưng trong tích tắc đã hoàn toàn tối mù mù, yên lặng như tờ.
Tôi có thể viết cái gì đây?
Vào lúc này, não tôi hoàn toàn trống rỗng.
Nhưng,
Tôi chăm chú quan sát tâm mình, tôi giật thót, thì ra nhiệt huyết thời thiếu niên vẫn tràn đầy nơi lồng ngực.
Thế là,
Bất chấp tất cả,
Tên sách chính là:
"Thì thầm một chút thơ"

🌟

Tôi thường nghĩ:
Lư Thắng Ngạn ngốc nghếch kia rốt cục là ai?
Tôi là ai?
Cái người viết 287 cuốn sách đó là ai?
Cái người vẽ hàng nghìn hàng vạn bức tranh đó là ai?
Cái người lên ghế thuyết pháp đó là ai?
Sư phụ của năm triệu người đó là ai?
Lão tăng đánh thiếu lâm côn đó là ai?
Cái người đã đánh trống đại pháp ấy?
Là ai?
Là ai?
Đêm khuya tĩnh lặng, tôi thật lòng thật sự nói với bạn:
"Không có ai."

🌟

Viết một bài thơ vậy!

Tiêu đề: Tôi là ai?
*Chẳng biết có thể viết bao lâu nữa
Thật lòng đây tôi chia sẻ tâm mình
Có những đôi khi
Nhấp ít men say
Tôi lại thầm tự hỏi
Chính mình là ai
Dù nhiệt huyết trong tim còn y như cũ
Khuôn mặt kia chẳng béo gầy thay đổi
Nhưng ai là ai vẫn chẳng rõ ràng hay biết
Để thì thầm chút thơ
Và cả
Gió đầy tay áo.*

[Hình ảnh gió đầy tay áo là một hình ảnh ẩn dụ để nói về một con người phẩm đức cao thượng, thanh liêm. Ống tay áo của người xưa rất rộng, cất được nhiều đồ trong đó, trong ống tay áo chẳng có gì, chỉ đầy gió, cho thấy đó là một con người thanh liêm.]

(Tháng 10 năm 2021)

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn**
**Sheng-yen Lu**
17102 NE 40th Ct.,
Redmond, WA 98052
U.S.A


### 01. Nói nhỏ về uống rượu


Năm ấy, tôi ở Đài Loan Lôi Tạng Tự.
Có một vị khách không mời mà đến, ông ấy tên là Trang Minh Thạch.

Tôi rất vui mừng.
Bởi vì ông ấy là liên đội trưởng của liên đội trắc lượng số 5802, liên đội phó là Ngụy Thanh Bình, phụ đạo trưởng là Bì Chí Thanh.
Còn tôi, một nhân viên đo đạc Lư Thắng Ngạn của liên đội trắc lượng 5802.
Các vị cấp trên ngày xưa đến thăm, đương nhiên tôi rất vui mừng, tôi mời ông ấy ở lại cùng dùng cơm tối.
Ăn tối xong, ông ấy bí mật hỏi nhỏ tôi:
"Lư Thắng Ngạn! Ông còn uống rượu không?"
Ô!
Tôi đáp:
"Từ lâu đã không uống nữa rồi!"
Ha ha ha!
Liên đội trưởng cười!
Tôi cũng cười!
Bởi vì liên đội trưởng Trang Minh Thạch hỏi câu này khiến tôi nhớ đến Lư Thắng Ngạn ngày xưa.

Ngày xưa.
Tôi đo đạc sân bay Tiểu Cảng, buổi tối trở về ngọn Đại Bình, mấy binh sĩ trắc lượng (sĩ quan già) có thói quen uống rượu.
Một bình rượu gạo.
Lạc và tép. (hoặc cá cơm khô)
Thế là họ ngồi nhậu với nhau.
Thấy tôi đi qua, họ gọi:
"Anh trắc lượng, lại đây uống vài ngụm."
Tôi liền uống luôn!
Từ đó…
Tôi đã thay đổi rồi, thay đổi rồi.

Khi không có nhiệm vụ đo đạc, buổi tối tôi thường xuyên mặt mày đỏ gay trở về liên đội lên giường đi ngủ. (Trở về nơi đóng quân.)
Khi có nhiệm vụ đo đạc, bình nước của người ta thì đựng nước, bình nước của tôi thì đựng rượu.
Có người đến thăm, hỏi:
"Xin hỏi, cái anh trắc lượng mặt đỏ gay có ở nhà không?"
Ha!
Nhiệm vụ đo đạc hoàn thành, tôi thu dọn giường xếp, những chai rượu từ trên giường lăn xuống.
"Thoáng chốc… thoáng chốc… thoáng chốc…"
Gian phòng toàn là những chai rượu.

Sau khi học Phật:

1. Không sát sinh.

1. Không trộm cắp.

1. Không tà dâm.

1. Không vọng ngữ.

1. Không uống rượu.

Ấy! Tôi thật sự đã bỏ uống rượu rồi! Tôi, chỉ là, chỉ là, trước khi ngủ thì uống một chén nhỏ mà thôi!
Thật đó, chỉ là một chén nhỏ! Một chút xíu, không dám uống nhiều.

Viết một bài thơ:

**Rượu**

*Hồi tưởng lại con đường đã qua
Đi đến nơi nào
Rượu
Là bạn đồng hành
Cùng ở với tôi*

*Hôm nay
Không ngờ xuân sắp hết
Chỉ có trước lúc ngủ
Nhấp một hớp
Bông liễu như mơ
(Cấp trên hôm nay đến hỏi
Tôi nói không sao, không sao, thật sự không sao.)*


### 02. Muốn học tập nước


Căn cứ theo kinh điển Nguyên Nhân Luận: [Luận về nguồn gốc con người]
Xa xưa thủa hồng hoang.
Khi thế gian hữu tình mới được hình thành, trải qua rất nhiều kiếp.

Sơ kiếp.
Cụ hiền kiếp.
Kiến hỷ kiếp.
Cụ lạc kiếp.

Tiếp theo là không có gì cả, trống rỗng, một thời đại dài đằng đẵng. Cuối cùng mới đến thời Hiền kiếp. [Hiền kiếp là thời đại chúng ta đang sống.]
Tất cả mọi thứ hiện tại của nhân loại chúng ta đang ở trong thời Hiền kiếp.

Phật điển ghi lại:
Sự hình thành Hiền kiếp là như thế này.
Trong vũ trụ mênh mông, đầu tiên có "phong luân" kiên cố không gì phá vỡ nổi.
Vì bánh xe gió quay tròn, hình thành nên "thủy luân" khổng lồ.
Gió thổi nước, hình thành nên "thổ luân" màu vàng.
Từ bánh xe đất sinh ra "hỏa luân".
Chính vì đất nước lửa gió lần lượt xuất hiện nên mới hình thành núi Tu Di, thất trùng Kim Sơn [núi vàng bảy tầng], thất du hý hải [bảy biển ngao du], núi Thiết Vy, bốn đại châu, tám tiểu châu. Tiếp theo là Quang Âm thiên nhân giáng xuống, hình thành nên tổ tiên ban sơ của nhân loại.

Những điều trên đều là nói loanh quanh, chúng ta trở lại câu chuyện chính, cái chúng ta muốn nói đến là nước.
Nước có năm phẩm chất:

1. Thanh tịnh tất cả.

1. Sức nước vô cùng.

1. Biến hóa vô cùng. (biển, mây, mưa, sương, giá, băng, khí)

1. Tự chảy đến nơi thấp.

1. Tìm tòi phương hướng.

Lão Tử mà tôi rất tôn kính là người rất tôn sùng nước, cho nên Lão Tử tự xưng là Nhược Thủy.
Tôi tôn kính Lão Tử, tôi học tập nước.
Khi mạnh, phá vỡ tất cả nghiệp.
Khi yếu, tự chảy đến nơi thấp.
Mềm mại dịu dàng như nước.
Động như nước.
Tĩnh như nước.
Tôi có thể thích ứng với bất kì hoàn cảnh nào (nhược thủy).
Tôi thanh tịnh như nước.
Tự do cầm lên.
Tự do buông bỏ.
Tư tưởng của tôi là triết học vô ngại. Đến được cảnh giới nhược thủy rồi, tự nhiên có thể:
"Dung nạp được cả trong và đục."
Có người hỏi tôi:
"Ngày nay nước lũ tràn bờ thành họa lớn, ngài nói thế nào đây?"
Tôi đáp:
"Nhân loại tự tạo nghiệp chướng."

Tôi viết một bài thơ:

**Nhược thủy**

*Trăng trong nước
Ấy là khi thiền định
Nhập tịch tĩnh
Thấy được chính mình
Muốn học tập thanh tịnh
Pháp chẳng phải là pháp
Căn bản không có con đường xác thực*

*Giếng
Sông
Hồ biển
Trừ bỏ mọi bệnh.*
(Bài thơ này phải ngẫm nghĩ sâu.)


### 03. Trời xanh mãi xanh


Trong kinh Kim Cang, Phật hỏi Tu Bồ Đề:
"Hư không phương đông có thể đoán chừng được không?"
Tu Bồ Đề đáp:
"Không thể, thưa Thế Tôn."
Phật lại hỏi Tu Bồ Đề:
"Hư không phương nam, tây, bắc, bốn phương phụ, phương trên phương dưới có thể đoán chừng được không?"
Tu Bồ Đề đáp:
"Không thể, thưa Thế Tôn."
Phật nói:
"Hư không là bất khả tư lượng!"
Tôi nói:
Vào thời đại của Phật Đà, khoa học kỹ thuật còn chưa phát triển, nhưng Phật Đà đã sớm biết được hư không là vô hạn.
Hiện nay khoa học kỹ thuật phát triển,
Nhưng,
Hư không vẫn là vô hạn.
Có ai có thể tìm được đường biên của hư không?

Trong Tây Du Ký:
Tôn Ngộ Không thần thông quảng đại, lộn một vòng Cân Đẩu Vân là bay xa tới tám vạn bốn nghìn dặm. Bay đến Ngũ Chỉ Sơn, Tôn Ngộ Không cho rằng mình đã bay đến rìa của trời rồi, bèn viết một câu:
"Tôn Ngộ Không đã đến đây!"
Thế rồi còn tè một bãi.
Không ngờ vẫn chỉ nằm trong năm ngón tay của Như Lai, không thoát khỏi thần chưởng của Như Lai.
Thấy không!
Hư không vẫn là vô hạn.
Con người tôi thích nhìn trời, trời biến hóa vô cùng.

Có một ngày nọ ở Seattle nước Mỹ, tôi nhìn thấy:
Trời trong.
Mây đen dày đặc.
Mưa.
Tuyết.
Mưa đá.
Sấm sét.
Cuồng phong.
Sương mù.
Cuối cùng là cầu vồng.
Rồi trời lại xanh! Trời xanh mãi xanh.
Đây chỉ là những cảnh tướng trong một ngày, đúng là phong phú rực rỡ, mở rộng tầm mắt!
Có người hỏi tôi:
"Vì sao ngài thích ngắm trời?"
Tôi đáp:
"Tôi hợp nhất cùng hư không." (Đó là việc học tập của tôi.)

Bạn biết không? Nước vì có trăng mới nhận ra là tĩnh, trời vì không mây mới thấy là cao.

Tôi viết một bài thơ nhỏ:

**Nhìn trời**

*Tôi lúc nào cũng nghĩ
Làm sao thấy được chân trời
Tôi trông thấy
Bay về phương bắc
Bầy chim nhạn xếp thành hình chữ "nhân"*

*Nước
Núi cao
Trời càng xa
Tôi chính là Lư Thắng Ngạn thích nhìn trời*

*Tôi yêu cái vô hạn của trời
Đó cũng chính là tâm tôi
Một vùng rộng lớn.*


### 04. Lưu luyến Ta Bà


Căn cứ theo kinh Phật, A La Hán có bốn quả:

1. Trụ thế.

1. Nhất lai.

1. Bất hoàn.

1. A La Hán.

Quả thứ nhất là A La Hán trụ thế, thuộc về sơ quả.
Quả thứ hai là Nhất lai, cũng có nghĩa là vẫn phải trở lại thế giới Ta Bà một lần, thuộc về A La Hán nhị quả.
Quả thứ ba là sống tại Bất Hoàn Thiên ở thiên giới, đã có thể không cần đến thế giới Ta Bà nữa.
Quả thứ tư là A La Hán của tứ Thánh giới. (A La Hán cao nhất)

Có người hỏi tôi:
"Sau này ngài trở về Ma Ha Song Liên Trì, ngài có còn đến nhân gian thế giới Ta Bà nữa không?"
Tôi đáp:
"Ồ!..."
Câu hỏi này khiến tôi hơi choáng váng, bởi vì tôi thường nghĩ:
Vãng sinh tịnh thổ
Siêu sinh xuất khổ
Nam mô A Di Đà Phật!
Ba câu nói này vô cùng rõ ràng, tôi kỳ vọng bản thân mình sẽ trở về tịnh thổ ở Cực Lạc thế giới, rời xa biển khổ (nhà cháy) của thế giới Ta Bà, nương dựa vào A Di Đà Phật hộ chủ của tôi.

Nhưng,
Nghĩ đến,
Nguyện lực của Địa Tạng Vương Bồ Tát: “Địa ngục chưa trống, thề không thành Phật!”
Nghĩ đến hòa thượng Triệu Châu: “Ta Bà chưa trống, không đi Cực Lạc!”
Còn tôi?
Tôi rất hổ thẹn…
Ân nhân sư trưởng của tôi.
Cha mẹ nhiều kiếp của tôi.
Oan thân trái chủ của tôi.
Đệ tử hữu duyên của tôi.
Những lưu luyến của tôi…
Tôi nỡ lòng nhìn họ không ngừng lưu lạc tại thế giới Ta Bà, còn mình thì một mình trở về cõi Cực Lạc sao?
Cõi lòng tôi chấn động.
Một thời gian dài không thể là chính mình.

Mặc dù tôi tu hành, khi nhập tam ma địa có thể tự mình tỏa sáng.
Ánh sáng mãnh liệt.
Thụ cùng tam tế. (thời gian)
Hoành biến thập phương. (không gian)
Thần thông nhậm vận.
Nhưng tôi vẫn nghĩ mãi:
"Tôi không đến thế giới Ta Bà nữa sao?"

Thơ:

**Lưu luyến Ta Bà**

*Ngắm
Núi như hòn than
Ngắm
Trăng như lưỡi liềm
Nhìn gió thu thổi qua
Lá rơi chẳng ai dọn*

*Khói hơi lạnh
Mưa mới dừng
Tiếng hát nhân gian đã tan biến
Người dưng buông câu nói
Rơi trong cõi lòng tôi.*


### 05. Vì sao


Lúc nhỏ, tôi thường tự hỏi:
"Vì sao phải đi học?"
Tôi chạy theo cái gọi là: "sách vở thì khô khan", "người học thì máy móc", "càng học càng chết".
Thành tích của tôi không tốt, bị lưu ban hai lần. Cho nên, tôi thường hỏi: "Không đi học có được không?"
Đến khi ngoài 20 tuổi.
Tôi thường tự hỏi:
"Vì sao phải kết hôn?"
Kết hôn là sai lầm.
Ly hôn là khai ngộ.
Ly hôn rồi lại kết hôn là u mê không biết tỉnh ngộ.

Đến khi ngoài 40 tuổi.
Tôi thường tự hỏi:
"Vì sao phải có con cái?"
Không muốn có con cái không được sao?
Vì sao phải có sự nghiệp?
Vì sao phải kiếm tiền?
Bây giờ tôi thường tự hỏi:
Vì sao mà tôi có thể đến nhân gian? (Từ đâu sinh ra?)
Vì sao mà đến nhân gian? Để làm cái gì?
Có ý nghĩa gì?
Vì sao con người sẽ già?
Vì sao con người sẽ chết? (Chết rồi sẽ đi về đâu?)

Tôi luôn không thể người ta như thế này còn tôi thì thế khác, là do ai quy định?
Tôi bị người ta đặt ra những khuôn khổ, phải đi theo những khuôn khổ đó, vì sao chúng ta không thể đột phá? Siêu việt?
Nửa cuộc đời trước, tôi bị người ta dắt mũi đi.
Bây giờ, tôi bắt đầu đấu tranh!
Tôi muốn đột phá! Siêu việt!

Phật Đà nói:
"Đời người chính là trả nghiệp!"
Cuối cùng tôi đã tỉnh ngộ rồi, tất cả đều là nghiệp.
Đến nhân gian là nghiệp.
Tất cả mọi hành vi cử chỉ ở nhân gian này đều là nghiệp.
Ngay cả khi chết rồi:
"Chỉ có nghiệp theo thân!"
Học Phật chính là để tiêu nghiệp chướng, tiêu trừ hết nghiệp chướng tức là thành tựu.
Cũng giống như thanh tịnh một chút.
Từng phần từng phần thanh tịnh, đến khi thanh tịnh được mười phần thì là hoàn toàn thanh tịnh rồi.
Chính là thành tựu!

Tôi viết một bài thơ:

**Đường đời**

*Cuộc đời làm sao tính đếm
Sâu bao nhiêu
Cao bao nhiêu
Nhìn ra xa con đường trước mắt
Thế nào là hoàn hảo?
Cuồng phong
Mưa sương
Dương liễu
Khói bếp
Thế nào là sống?*

*Có nói là khổ
Có nói là tập
Có nói là diệt
Có nói là đạo
Chỉ mong tôi không phụ lòng.*


### 06. Nước mắt người già


Năm ấy.
Tôi và mẹ tôi leo ngọn núi phía sau Biệt thự Cầu Vồng (núi Sa Mạo).
Tôi leo đến nửa chừng núi, nhìn xuống phía dưới, thấy mẹ tôi vẫn còn đang ở chân núi.
Đợi đến khi mẹ tôi trèo đến nửa chừng núi, tôi hỏi:
"Mẹ! Sao mà mẹ chậm thế?"
Mẹ đưa mắt liếc tôi, nói:
"Anh già rồi sẽ biết."
Câu nói này đã in hằn trong tim tôi.
Năm nay tôi 77 tuổi.
Đến ngày hôm nay, cuối cùng tôi đã hiểu câu nói này của mẹ tôi: "Anh già rồi sẽ biết."
Phật Đà nói:
"Già cũng là khổ."

Tôi hiểu.
Có một lần.
Tôi ở trong bệnh viện, trông thấy một người già, một thân một mình đi vào nhà vệ sinh, cụ kéo theo cái giá treo bình truyền dịch.
Chầm chậm từng bước, loạng choạng lảo đảo đi về hướng nhà vệ sinh. (Không có ai đi cùng.)
Tôi thật sự rất khó tưởng tượng:
Cụ làm thế nào để cởi quần áo?
Cụ làm thế nào để đi vệ sinh?
Cụ làm thế nào để mặc quần áo?
Cụ bước đi từng bước khó nhọc, rồi còn kéo theo cái giá treo bình truyền dịch, làm sao mà cụ thực hiện được việc đi vệ sinh chứ?
Nhìn theo bóng lưng của cụ.
Tôi không kìm nổi những giọt nước mắt già nua.

Lại có một lần.
Tôi nhìn thấy một chiếc xe du lịch, đầu tiên có mấy người thanh niên bước xuống, kéo theo một chiếc xe lăn.
Sau đó, một người già bước từng bước khó nhọc xuống xe.
Người già vừa thở dốc, chốc chốc lại đau vai, chốc chốc lại đau hông, chốc chống lại đau chân, tê chân.
Mấy người thanh niên bế cụ già quay người xuống xe, cuối cùng đặt cụ vào trong chiếc xe lăn.
Vừa hay tôi chứng kiến toàn bộ quá trình xuống xe.
Cụ già nước mắt giàn giụa. (Khuôn mặt đau khổ.)
Trong thoáng chốc, mắt tôi cũng ầng ậng nước mắt.
Chao ôi! Già rồi!

Các đệ tử thân mến! Mọi người cũng từng nhìn thấy Lư Sư Tôn ngồi trên pháp tọa với bộ dạng già nua nước mắt đầm đìa rồi nhỉ!
Chứng bệnh nứt não.
Chân sưng viêm mô tế bào.
Răng đau. (Điều trị tủy răng)
Dịch bệnh.
Vết thương.
Nghĩ đến người thân.
Tôi khóc đến mức trời đất tối tăm, nhật nguyệt không còn ánh sáng, đau đớn bi ai, nước mắt như mưa……….
Chao ôi! Chẳng biết làm thế nào!

Một bài thơ nhỏ:

**Nước mắt người già**

*Mùa đông lạnh lại đến
Trăm hoa đã héo tàn
Năm nay cảm thấy già thêm*

*Lúc dịch bệnh
Muốn nhìn thấy các đệ tử hữu tình
Lặng như tờ
Chỉ có giấc mơ bịn rịn
Tỉnh giấc sớm nước mắt chan hòa.*


### 07. Vô duyên


Trong thời kỳ dịch bệnh. (Virus Corona lan tràn khắp thế giới.)
Mỗi buổi tối, tôi làm pháp siêu độ nghìn chiếc thuyền pháp.
Trong lúc làm pháp, tôi niệm:
"Trung ấm hữu duyên, xin mời lên thuyền."

Có một hôm, Hiền Thủ Bồ Tát đến, ngài hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Ngài siêu độ gì?"
Tôi đáp:
"Độ những trung ấm chết do dịch bệnh."
Hiền Thủ Bồ Tát hỏi:
"Đồng môn Chân Phật Tông thì sao?"
Tôi đáp:
"Độ!"
Hiền Thủ Bồ Tát hỏi:
"Bạn bè thân thích thì sao?"
Tôi đáp:
"Độ!"
Hiền Thủ Bồ Tát hỏi:
"Tất cả những linh hồn vãng lai thì sao?"
Tôi quanh co nửa buổi vẫn chưa trả lời được.

Hiền Thủ Bồ Tát nói:
"Ở đây là ngài đang siêu độ hữu tướng, ngài chỉ độ hữu duyên, không độ vô duyên, chẳng phải là đi ngược với "vô duyên đại từ, đồng thể đại bi" sao?"
Tôi gật gật đầu.
Hiền Thủ Bồ Tát nói:
"Ngài độ chúng sinh (trung ấm) hữu duyên, thế là đã có tâm phân biệt rồi, đây không phải là điều mà Bồ Tát Đại thừa làm!"
Tôi đáp:
"Phải."
Tôi thỉnh Hiền Thủ Bồ Tát dạy tôi nên khởi thỉnh như thế nào.
Hiền Thủ Bồ Tát đáp:
"Tất cả hữu duyên, vô duyên, xin mời lên thuyền pháp."
Tôi hỏi:
"E rằng nghìn chiếc thuyền pháp không chứa đủ?"
Hiền Thủ Bồ Tát đáp:
"Lư Sư Tôn! Lẽ nào ngài quên rồi, ngôi nhà nhỏ của cư sĩ Duy Ma Cật chứa hết pháp tọa của thập phương tam thế nhất thiết Phật đó sao?"
Tôi đáp:
"Có nhớ!"
Hiền Thủ Bồ Tát nói:
"Nhỏ có thể chứa được lớn! Ít có thể biến thành nhiều!"

Hiền Thủ Bồ Tát bồng bềnh lướt đi, tôi vẫn còn nghe thấy tiếng ngài:
Không thiện không ác.
Không nam không nữ.
Không đẹp không xấu.
Không trắng không đen.
Không trên không dưới.
Không duyên có duyên.
Không sắc thanh hương vị xúc pháp.
Phổ đồng siêu độ không phân biệt. (vô tướng siêu độ)
Tôi đã hiểu rồi! Cảm tạ Hiền Thủ Bồ Tát.

Viết bài thơ:

**Vô duyên**

*Siêu độ cũng có
Một chấm
Một đường
Một mặt
Còn tôi là vô hạn vô biên*

*Hễ có mang một chút linh
Tức là duyên
Đây chính là chính kiến
Đại La Kim Tiên đều hiện khắp nơi.*


### 08. Tấm lòng son


Theo như tôi biết:
Bản địa của tôi là Liên Hoa Đồng Tử của A Di Đà Phật.
Bố tôi là chú bé canh bếp lò cho các nhà tu hành.
Mẹ tôi là hóa thân từ chim Thái Bình của Quan Thế Âm Bồ Tát.
Vợ tôi là Cát Tường Thiên.
Con trai tôi là hoàng tử của Đao Lợi Thiên.
Con gái tôi là công chúa của Đao Lợi Thiên.
Cháu trai tôi là trưởng lão ở Phật Sơn.
Cháu gái tôi là Bồ Tát thất địa.
Ông nội Lư Xương của tôi là sứ giả thắp đèn.
....

Nếu dựa theo quan sát này, quyến thuộc nhà họ Lư của tôi là gia đình Thần Tiên rồi.
Trên thực tế, chúng tôi từ ông nội cho đến con cháu, trong con mắt người ngoài, chỉ là những con người bình phàm như bao người khác.
Đúng vậy! Có một chút lai lịch thì sao chứ?
Phật Đà nói:
*Thí chủ một hạt gạo.
Lớn như núi Tu Di.
Nếu như không tu hành.
Khoác lông đội sừng trả.*
Cho dù bạn có là Đại La Kim Tiên chuyển thế, bạn là Phật chuyển thế, bạn là Bồ Tát chuyển thế, bạn là Duyên Giác chuyển thế, bạn là A La Hán chuyển thế…
Vẫn sẽ phải vào "tam đồ": địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh như thường.
(Đều là nghiệp lực đưa đẩy.)

Theo Nguyên Nhân Luận:
Tổ tiên của nhân loại chúng ta đều là thiên nhân đến từ Quang Âm Thiên, mỗi một người đều có lai lịch.
Lư gia chúng tôi có một chút lai lịch nhỏ, thật sự cũng không đáng kể gì!
Lịch sử Tây Tạng: (căn cứ theo ghi chép của Trụ Gián Sử) [Trụ Gián Sử là bộ danh tác lịch sử của Tây Tạng.]
Tán Phổ Songtsen Gampo là hóa thân của Quan Thế Âm Bồ Tát. [Tán Phổ là danh hiệu của quân chủ đế quốc Thổ Phồn của người Tây Tạng, tương đương với địa vị vua. Ví dụ Songtsen Gampo (569-649) là vị vua thứ 33 của vương triều Thổ Phồn.]
Công chúa Xích Tôn là hóa thân của Bạch Độ Mẫu.
Công chúa Văn Thành là hóa thân của Lục Độ Mẫu.
Chúng ta biết rằng:
Vua Trisong Detsen là hóa thân của Văn Thù Bồ Tát.
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là hóa thân của A Di Đà Phật.
...

Cá nhân tôi tu hành đến nay, có một chút cảm tưởng:
Hóa thân gì cũng không quan trọng!
Quan trọng là:
Bạn có còn "tấm lòng son" hay không?
Tịnh quang một mình tỏa sáng.
Sáng chói lòa.
Tròn vành vạnh.
Tập khí của bạn!
Phiền não của bạn!
Bám chấp của bạn!
Đều đã thanh tịnh hết chưa?

Viết bài thơ:

**Cảnh giác**

*Nhân gian này
Vẫn còn mờ mịt
Khiến con người lúc nào cũng xoay quanh
Bận bịu sống qua ngày nay
Bận bịu sống qua ngày mai
Bận từ sáng đến xế chiều
Cuối cùng chỉ còn lại hai hàng nước mắt.*


### 09. Nghĩ đến chuyện cầu mưa


Vào năm ấy. Năm 2021 đó!
Đài Loan hạn hán.
Các hồ chứa nước đều đã nhìn thấy đáy rồi!
Càng ngày càng nghiêm trọng, nghiêm trọng đến mức phải giới hạn nước, một tuần cắt nước hai ngày, mọi người đều mong mỏi nhìn trời.
Ông Trời ơi! Cho mưa xuống đi mà! Đáy hồ đều đã nứt cả rồi!
Các chùa, đường, cung, miếu ở Đài Loan đều làm lễ cầu mưa.
Thượng sư Liên Triết ở Đài Loan Lôi Tạng Tự truyền tin tức đến cho tôi, họ cũng muốn cầu mưa.
Tôi nói: 
"Được thôi!"

Sau khi chọn được thời gian, đang chuẩn bị cho lễ cầu mưa.
Tôi lại yêu cầu Đài Loan Lôi Tạng Tự dừng việc cầu mưa.
Ơ! Tại sao vậy?
Tôi nói:
"Không có tại sao gì cả. Mọi người không cần cầu mưa nữa! Tôi đã nhìn thấy một trận ngập lụt lớn rồi."
Chỉ một tháng sau.
Quả nhiên, cả nước Đài Loan bị ngập lụt.
Ngập tới mức các hồ chứa nước đầy căng.
Còn tràn cả ra ngoài nữa!
Dòng mưa lũ tràn vào rất nhiều nhà dân.
Ôi! Vừa là hạn hán lớn.
Vừa là lũ lụt lớn.
Ông Trời ơi!
Vì sao không thể vừa phải chứ?

🌟

Lúc còn nhỏ.
Mẹ tôi thích hát một bài hát thiếu nhi:
*Tí ta tí tách, ầm ầm ào ào, trời đổ mưa rồi!
Mẹ em đem ô đi đón em
Tí ta tí tách, ầm ầm ào ào, ào ào ào!*

Nói thật lòng:
Tôi thích mưa.
Hàng nghìn sợi mưa.
Hàng vạn sợi mưa.
Rơi xuống mặt nước thì không thấy nữa.
Tôi thích một chiếc ô nhỏ.
Nhìn mẹ tôi tươi cười, cầm chiếc ô nhỏ, trong màn mưa bụi mênh mông, đi đến cổng trường học, nói với tôi:
"Tạp Tử! Chúng ta về nhà thôi!"
(Tạp Tử là tên tục của tôi, trong tiếng Nhật có ý nghĩa là "Thắng".)
Tôi nép vào mẹ tôi.
Cả đoạn đường nhìn mưa hoa, từng đóa từng đóa nở bên cạnh bước chân của chúng tôi, chiếc ô nhỏ và chiếc áo dài sườn xám của mẹ tôi cùng có màu đỏ tươi.
Tôi nhìn mưa đầy trời.
Ngẫm nghĩ!
Có mẹ thật tốt!

Thơ:

**Nhớ mẹ**

*Mưa,
Là tấm áo lưới xanh ngọc bích của trời
Lướt qua mặt đất
Lướt qua cỏ cây hoa lá
Lướt qua suối nhỏ*

*Chiếc ô mẹ cầm
Là cái lọng hoa duy nhất của tôi
Là hai người
Dựa sát vào nhau*

*Thấy trời mưa
Tôi lại nhớ đến mẹ.*


### 10. Đồ cổ của tôi


Ở Vancouver Canada có chị Điền, chị là đệ tử của tôi.
Chồng của chị là một nhà sưu tập đồ cổ. Sau khi chồng chị qua đời, tất cả đồ cổ đều trở thành của chị. Sau này, sau khi chị quy y tôi, vì muốn cúng dường tôi, chị đã biến tất cả đồ cổ thành cúng phẩm để cúng dường Lư Sư Tôn.
Ngoài chị Điền ra, đương nhiên cũng có nhiều nhà sưu tập đồ cổ tặng tôi làm quà yết kiến.
Lúc bấy giờ, tôi đột nhiên phát hiện ra mình cũng sắp sửa trở thành một nhà sưu tập đồ cổ rồi. Ha ha ha!
Tôi có:
Thanh kiếm triều Thương (được mài từ đá).
Cái bát thời Chiến Quốc.
Ngựa ba màu triều Đường.
Kinh điển triều Tống. (Kinh Phật Thập Thiện Pháp Điển, Chư Phật Danh Tướng, Đại Trang Nghiêm Kinh.)
Chén uống rượu triều Minh.
Một đống đồ gốm triều Thanh. Bình hoa và lọ tròn có quấn viền cổ.
Bàn bát tiên.
Lư hương. Ngọc thạch.
Tượng gốm Quan Âm của Từ Hy Thái Hậu. Tây phương Tam Thánh.
Tranh của Phổ Nghi.
Tranh của Tề Bạch Thạch.
Chữ của Triệu Thiếu Ngang.
v.v…

Ngoài ra còn có một chiếc giường cổ, không biết là của triều đại nào. Chiếc giường quá lớn nên đặt ở Biệt thự Cầu Vồng.
Pháp tọa cổ của tôi bên trên có chạm trổ ba con rồng bằng ngọc ở lưng ghế và hai bên tay vịn, rất tinh xảo.
Đây chắc chắn là ghế ngồi của hoàng đế bệ hạ hoặc của quan lớn, bây giờ chiếc ghế này để ở Nam Sơn Nhã Xá.
Có được những món đồ này cũng chẳng hề khiến tôi phấn khởi lắm.
Bởi vì tôi hiểu:
Những thứ này chỉ có thể chứng minh dòng chảy của thời gian.
Giống như các nhà khảo cổ học, đào lên được xương cốt của tổ tiên.
Chứng minh rằng:
Nghìn năm.
Vạn năm.
Tôi càng hiểu rằng:
Tôi (Lư Sư Tôn) viên tịch nghìn năm, vạn năm sau, thì cũng là một món đồ cổ.
Bây giờ còn đang sống thì là đồ mới.
Cái gọi là đồ cổ:
Chính là đời thượng thượng truyền xuống đời thượng, đời thượng truyền xuống đời này, đời này truyền xuống đời sau. Truyền mãi… truyền mãi… truyền mãi…
Để cho bạn ngây ra nhìn ngắm mấy chục năm.

Thơ:

**Đồ cổ của tôi**

*Có người hỏi tôi
Có bán hay không?
Tôi đáp
Không bán*

*Vì sao không bán?
Tôi đáp
Không phải của tôi*

*Của ai?
Tôi đáp
Chẳng phải của ai
Chủ nhân thật sự của đồ cổ chính là
Cảnh xuân tươi đẹp.*


### 11. Hữu tình


Tháng 8 năm 2021.
Có một người đến từ một đất nước xa xôi, anh tặng tôi một chậu hoa rất đẹp và tinh xảo.
Lòng tôi thì vẫn luôn bình lặng.
Nhưng, sau khi nhìn bình hoa này, trong lòng bỗng dưng trào dâng như sóng nước.
Từ trong hoa, tôi nhìn thấy kiếp trước của mình và kiếp trước của anh. Khiến tôi có cảm giác như vừa mới tỉnh khỏi giấc mộng.

Tôi nghĩ:
Vì sao anh cứ liên tục tặng tôi rất nhiều chậu hoa?
Còn tôi có thể giúp anh giải quyết được một vấn đề khó khăn nan giải trong cuộc sống của anh. (phép màu)
Anh đã ổn rồi!
Tôi rất an nhiên!
Thì ra là như thế này, đây chính là "hữu tình".
Tôi nghĩ:
Chắc chắn tôi và anh ấy có một quá khứ phi phàm, tôi mơ hồ hiểu ra một chút.
Về sau, anh đến hỏi việc. Từ trong chiếc điện thoại, anh tỏ ý muốn tôi xem một ngôi nhà, chà, đó là một ngôi nhà nhỏ rất bình thường. Xung quanh ngôi nhà có mấy mẫu ruộng.

Anh nói:
"Người cha quá cố của tôi là nông dân!"
Anh nói:
"Tôi là người ở bên cạnh nông dân!"
Anh kể:
Anh có thể nhớ được rất nhiều việc của kiếp trước, đó là những đoạn nhân duyên bình phàm.
Tại Kyoto Nhật Bản.
Tại Tây An Trung Quốc.
Tại Shigatse Tây Tạng.
...

Tôi yên lặng lắng nghe, cảm thấy thật bất khả tư nghì!
Tôi phảng phất cũng có cảm giác như vậy, tâm linh quá khứ, tâm linh hiện tại, tâm linh vị lai.
Quá khứ anh ấy là hoa đỏ, tôi là lá xanh.
Hiện tại tôi là sư phụ, anh ấy là đệ tử.
Vị lai?
Không biết. Không muốn nghĩ!
Cho dù hiện tại, anh ấy đi xuống, còn tôi ngược dòng đi lên, hai con đường khác nhau.
Hoặc là:
Càng đi càng xa.
Hoặc là:
Cùng ở một bờ!
Đó đều là ẩn số!
Bởi vì anh ấy là một cụm bèo trên mặt nước, tôi cũng là một cụm bèo trên mặt nước.
Gặp gỡ.
Chia ly.
Khi tâm tôi bị khuấy động thì anh ấy đã đi xa rồi.
Tương lai….

Thơ:

**Hữu tình**

*Có người nói
Là hai đám mây
Ngẫu nhiên gặp nhau
Tôi nói
Là gió
Thổi về hư không ấy*

*Một về đông
Một về tây
Hữu tình chỉ có thể ở trong mơ.*


### 12. Chỉ điểm


Có một đệ tử đem thơ của một vị thiền sư đưa cho tôi xem, trên đó có viết:
*Voi chúa đi
Sư tử dừng
Côn Lôn chân trần lông mày dựng đứng
Hàn Sơn Thập Đắc cười ha ha
Bảo rằng trước cửa cây tùng già.
Thử hỏi họ chỉ cái gì?
Khi gió bỗng dưng thổi tới
Thế rồi một đống củi cây.* (Chữ "cây" này là do tôi thêm vào.)
Tôi đọc xong, hỏi:
"Vì sao anh đưa cho tôi bài thơ này?"
Anh đáp:
"Thỉnh Lư Sư Tôn chỉ điểm!"

Tôi cũng tiện bút viết một bài thơ đưa cho anh ấy đọc, trên đó viết:
*Ngọc Sơn đi
A Lý Sơn dừng
Vội vội vàng vàng tìm Thần Cây
Tàu hỏa nhỏ nhả khói tu tu tu
Cuối cùng thấy cây đổ ra đất
Thử hỏi điều này chỉ cái gì?
Già rồi
Chỉ còn sâu đến đục.*

Chỉ trong nháy mắt, tôi viết một bài thơ chẳng phải là thơ, đưa cho đệ tử xem, anh ấy đọc thử.
Không nói gì.
Tôi hỏi:
"Bài thơ chỉ cái gì?"
Anh đáp:
"Không."
Tôi hỏi:
"Còn gì nữa?"
Anh đáp:
"Còn có tác dụng."
Tôi nói:
"Đúng rồi! Thật ra thế giới này, mặt trăng mặt trời những vì sao, núi sông mặt đất, không có cái gì là không chỉ chúng ta."
Tôi nói:
"Chỉ điểm rằng chúng ta cần học tập Bồ Tát, không những tự giác mà còn phải giác tha. Cho dù đi đến ga cuối cùng của cuộc đời, vẫn phải làm lợi ích chúng sinh."
Cây tùng già đổ xuống
Trở thành một đống củi
Vẫn có thể thổi cơm nấu trà
Thần Cây đổ xuống
Nằm trên mặt đất
Vẫn có thể làm lợi ích cho những côn trùng nhỏ.
Tôi thường nói:
"Trời sinh ra ta tất có tác dụng, tất cả đều là sự an bài hoàn hảo."

Viết bài thơ:

**Chỉ điểm**

*Bạn muốn tôi chỉ điểm
Tôi bèn chỉ trăng
Mây đen che kín chẳng thấy gì*

*Bạn muốn hiểu về Không
Chỉ điểm Không
Người xa chân trời gần*

*Hiểu được Không
Thấy Không là nguồn Có
Đại Thủ Ấn ở đó*

*Cây tùng
Thần Cây
Ngó sen đứt gãy hãy còn tơ non.*

(Có hiểu không?)


### 13. Mật giáo


Đệ tử hỏi Lư Sư Tôn:
"Vì sao Phật giáo phân thành Hiển giáo và Mật giáo?"
Tôi đáp:
"Giáo lý biểu hiện bên ngoài chính là Hiển giáo. Bí mật nội chứng chính là Mật giáo."
Đệ tử hỏi:
"Con nghe nói ai ai cũng có thể tu học Hiển giáo, Mật giáo thì không công khai, đúng không?"
Tôi đáp:
"Đúng."
Đệ tử hỏi:
"Nhưng con thấy trên mạng, rất nhiều những bí mật vốn không công khai của Mật giáo, bây giờ đã hoàn toàn công khai rồi, là vì sao?"
Tôi đáp:
"Thời đại đã khác rồi, thế giới trên mạng cái gì cũng có hết, rất khó giữ bí mật."
Đệ tử hỏi:
"Trên mạng bây giờ, Mật pháp đã không còn là bí mật, ai ai cũng có thể học, có quán tưởng, có trì chú, có thủ ấn, có nhập Tam ma địa… Có phải là Mật giáo cũng trở thành Hiển giáo rồi không?"
Tôi đáp:
"Bây giờ là thời đại Mật giáo công khai. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói, khi chim sắt bay trên trời, Mật giáo đại hưng thịnh. Đó chính là chỉ thời hiện đại, nhưng tu Mật giáo vẫn cần có Thượng sư chỉ điểm thì mới không xảy ra sai sót."

Đệ tử hỏi:
"Vì sao cần có Thượng sư chỉ điểm?"
Tôi đáp:
"Thượng sư là tổng trì của Phật, pháp, tăng, một vị Thượng sư cụ túc là người có kinh nghiệm, có truyền thừa, có tu trì Mật pháp nhiều năm, làm lợi ích chúng sinh, chứng đắc quả vị, từ bi hỷ xả. Thượng sư này có thể tự làm lợi ích cho mình, cũng có thể làm lợi ích cho người khác. Vị Thượng sư từ bi này hiểu biết tám vạn bốn nghìn cả chính đạo lẫn tà môn, mới có thể giúp đỡ các đệ tử khỏi lạc đường."
Đệ tử hỏi:
"Nếu không nương dựa vào Thượng sư Mật giáo thì sẽ thế nào?"
Tôi đáp:
"Mật giáo có tám vạn bốn nghìn đường rẽ, một bước đi sai là nhập vào ma đạo. Cho nên rất đáng sợ, phải nương dựa vào Kim cương Thượng sư đầy đủ phẩm đức thì mới không đi sai đường."
Đệ tử hỏi:
"Tu học Mật giáo, nhất định phải quy y quán đảnh sao?"
Tôi đáp:
"Quy định của Mật giáo là bắt buộc phải quy y quán đảnh. Đó là một dạng trao quyền, trao quyền rồi mới có thể tu trì Mật pháp."
Đệ tử hỏi:
"Quán đảnh của Mật giáo có bốn quán đảnh, nghĩa lý của nó là như thế nào?"
Tôi đáp:
"Sự bộ — Ngoại pháp.
Hành bộ — Nội pháp.
Du già bộ — Nhất vị.
Vô thượng bộ — Không tính pháp."
Đệ tử hỏi:
"Nội hàm của chúng ra sao?"
Tôi đáp:
"Trong sách của tôi đều có thuật giảng rồi, xin mời đọc sách của tôi là có thể hiểu được. Ngày nay, Mật pháp công khai là vì thời đại đã thay đổi rồi."

Viết bài thơ:

**Mật giáo**

*Mật pháp phổ cập
Chẳng đáng lo
Vẫn đáng mừng*

*Nhưng đi sai đường
Thực thở than
Quá đáng tiếc*

*Quy y quán đảnh tự tìm được
Kim cương Thượng sư thổi sáo ngang.*


### 14. Đường đạo ở giữa


Có người đến Seattle Lôi Tạng Tự, trước khi bước vào trong chùa, ở trước cửa vào có ba lối đi.
Ở giữa là bậc thang.
Bên phải là lối đi lên dốc.
Bên trái cũng là lối đi lên dốc.
Ba lối đi này đều có thể dẫn vào cửa chính của Lôi Tạng Tự.
Người này nói:
"Lư Sư Tôn đi lối đi ở giữa!"
Câu nói này bề ngoài thì không có gì, nhưng lại khiến người ta ngẫm nghĩ, khá có pháp vị.

Phật Thích Ca Mâu Ni có một đệ tử, khi Thế Tôn thuyết pháp, vì người này luôn ngủ gật, Phật Đà Thế Tôn mới quở trách anh:
"Năm trăm kiếp sau sẽ là con ốc."
(Con ốc luôn nhốt mình trong vỏ, không nhìn thấy ban ngày.)
Anh thất kinh, đã phát đại nguyện: "Kể từ hôm nay, hai mắt không được khép lại! Tinh tấn học tập Phật pháp, vĩnh viễn không nhắm mắt."
Nhưng,
Không bao giờ nhắm mắt, con mắt không được nghỉ ngơi, không ngờ anh đã làm cho hai mắt mình bị mù rồi.
Về sau anh có được thiên nhãn, anh chính là một trong mười đại đệ tử của Phật - thiên nhãn đệ nhất A Na Luật.

Cá nhân tôi phát hiện ra, trung đạo thật sự rất quan trọng.
Ví dụ:
Thân thể con người chúng ta, mọi thứ đều phải hợp với trung đạo.
Nhịp tim phải vừa đúng, tim đập nhanh quá thì dễ khục khặc rồi dừng bặt luôn. Tim đập chậm quá thì con người giống như chẳng chết chẳng sống.
Cholesterol cũng vậy.
Cao quá - sẽ làm tắc mạch máu.
Thấp quá - mạch máu sẽ bị rạn nứt.
Ngoài ra:
Huyết áp.
Đường máu.
Nhiệt độ.
Mỡ máu.
...
Không có cái nào là không như thế.

Chúng ta lại xem xem giới tự nhiên, đất, nước, lửa, gió, không có cái nào là không như vậy. Lấy nước làm ví dụ:
Nhiều nước quá - lũ lụt.
Ít nước quá - hạn hán.
Nước vừa đủ - ngũ cốc được mùa.
Vì thế Phật Đà nói:
Dây đàn quá căng - dễ đứt.
Dây đàn quá lỏng - không phát ra được âm thanh.
Không căng không lỏng mới là hay nhất!

Tôi tu hành cũng như vậy, phải đi trên con đường trung đạo. Ban ngày cũng tu, ban đêm cũng tu, lúc nào tinh thần cũng phấn khởi thì cũng rất dễ tẩu hỏa nhập ma.
Không nóng vội.
Không ù ì.

Viết một bài thơ nhỏ:

**Trung đạo**

*Trang điểm đậm nhìn trông giả quá
Khuôn mặt mộc nhợt nhạt làm sao
Chỉ cần thoa lên chút phấn mỏng
Khác nào đóa hoa tự rạng ngời*

*Tĩnh lặng quan sát nhân thế gian
Lớn nhỏ đúng mực
Đều tương đồng*

*Đông lạnh
Hè nóng
Xuân trùng trùng.*


### 15. Tết Trung Thu


Ngày 21 tháng 9 năm 2021, tôi đón Tết Trung Thu tại Seattle.
Buổi tối hôm đó có video, các Thượng sư Chân Phật Tông dùng máy vi tính gặp mặt tôi trên "đám mây".
Họ muốn tôi nói vài câu.
Tôi nói gì đây?
"Chào mọi người!"
"Tết Trung Thu vui vẻ!"
"Ánh trăng đại diện cho lòng tôi!"
"Nghìn dặm cùng thiền quyên!"
…
Những câu này thì đều tầm thường quá! Tôi nói gì đây?

Tôi nhớ đến bài thơ của Thập Đắc: [Tên nhà thơ - Phật tử thời Đường, sống ở chùa Quốc Thanh trên núi Thiên Thai.]
*Không đến không đi vốn lặng lẽ
Trong ngoài hay giữa chẳng ở đâu
Một giọt nước trong không tì vết
Sáng trong lan tỏa khắp trời người.*

Chú thích:
Nước trong tức là mặt trăng.
Bài thơ này có thâm ý, người thế tục không hiểu được.
Nhưng lại quá siêu nhiên! Quá viên mãn!
Các Thượng sư! Có hiểu hay không?

Tôi lại nhớ đến bài thơ của thiền sư Vĩnh Minh: [Thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ, người Tiền Đường, Dư Hàng, Hàng Châu, là một cao tăng vào cuối đời nhà Đường, vị Tam Tổ của Pháp Nhãn Tông.]
*Vượn lẻ hú rơi trăng đỉnh núi
Khách quê than lụi ngọn đèn khuya,
Cảnh ấy người đây ai biết được
Sâu trong mây trắng một thiền tăng.*

Chú thích:
Bài thơ này đầy ắp sự hiu quạnh.
Trong cái hiu quạnh đầy ắp kỳ ảo.
Ai có thể hiểu được ý của tôi?

Tôi lại nghĩ đến bài thơ của Tử Thuần: [Thiền sư Đan Hà Tử Thuần, sống vào đời Bắc Tống, người Kiến Châu, làm trụ trì ở núi Đan Hà ở Đặng Châu.]
*Cố gắng gìn giữ suốt mười năm
Vạn điều ngoa ác đều không biết
Giờ đây chẳng còn chuyện lo lắng
Ngồi ngắm ánh trăng chiếu lưu ly.*

Chú thích:
Tôi rất thích bài thơ này.
Chân Phật Tông đâu chỉ có mười năm.
Trải qua nghìn tai bách nạn, tôi đều đã quên rồi, cũng như là không hề biết.
Giờ đây, có việc cũng như không, không việc cũng như có, việc à việc, có như không.
Hiểu không?
Tôi chẳng liên quan!
"Ngồi ngắm ánh trăng chiếu lưu ly" thôi!

Tôi nhớ đến bài thơ của Tông Di: [Hòa thượng Dưỡng Tẩu Tông Di (1375 - 1458), người Kyoto, tham gia phái Hoa Tẩu và là người kế thừa pháp này.]
*Đặt chân lên viên gạch
Rõ ràng là pháp này
Hoàng dương bên bờ cười ha ha
Non xanh vạn dặm một vầng trăng.*

Chú thích:
Mặt trăng này là trăng nào?
Mà cười!
Mà khóc!
Không cười không khóc!
Thật là dẫm lên bậc thềm mà có được ngộ cảnh.

🌟

Tôi đã kể ra mấy bài thơ rồi, nên nói về bài thơ của chính mình thôi, chứ đây đều là thơ của người khác.
Vào dịp Trung Thu năm 2021, tôi nói bản thân tôi là cái thứ gì đây?
Ha ha! Tôi cũng viết một bài thơ:
*Trăng trung thu xuống nghe một bài hát
Cũng trò chuyện đôi lời cùng ta
Có ai biết ta như sao băng
Làm dải cầu vồng
Của một đêm
Những lời thì thầm của ta
Chẳng qua là bất loạn bất định
Chẳng qua là phi phàm phi thánh.*


### 16. Một chuỗi tiếng lòng


Khoảng thời gian này, Thượng sư Liên Hương bị ốm.
Mỗi buổi tối, tôi phải chăm sóc cho bà ấy, nhỏ thuốc mắt, mắt bên trái là thuốc kháng sinh, mắt bên phải là nước mắt nhân tạo.
Tôi dặn bà ấy nhớ uống thuốc.
Tôi kéo rèm cửa sổ lại.
Tôi chuẩn bị chăn đệm.
Còn phải nhớ đặt chuông đồng hồ báo thức.
Thế rồi, tôi bắt đầu làm pháp kết giới, để tránh trong lúc ngủ bà ấy bị quấy nhiễu.
Thật may, những ngày này bà ấy đều ngủ rất ngon.
Tôi làm kết giới xong thì bà ấy cũng ngủ luôn.
Trước khi rời đi, tôi đắp chăn cẩn thận cho bà ấy.
Tôi rời đi rất nhẹ nhàng, tắt tất cả đèn đóm, chỉ còn bật một chiếc đèn nhỏ ban đêm để soi đường đi.

Từ phòng của bà ấy trở về phòng của tôi phải đi qua một hành lang.
Hai bên hành lang này có mấy vị Phật Bồ Tát, có vị thì là tranh vẽ, có vị thì là tượng điêu khắc, tôi vừa đi vừa đọc tên của các vị, vừa chắp tay lễ bái.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát.
Nam mô Cát Tường Thiên.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam mô Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang.
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô A Di Đà Phật.
Nam mô Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.
Nam mô Hắc Phẫn Nộ Mẫu.
Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn.
Nam mô Bất Động Minh Vương.
Nam mô Kim Cang Bồ Tát.
Nam mô Đại Uy Đức Kim Cang.
Tất cả Địa Thần.
Tất cả chư Tôn.
(Tôi gọi tên theo thứ tự không phân biệt trước sau, cứ theo thứ tự trên lối đi.)
Hành lang này giống như một con đường nhỏ, rất tự do, dẫn thẳng đến phòng của tôi (Lư Sư Tôn).

Tiếp theo là đến công khóa trước khi ngủ của tôi.
Tôi đánh răng.
Rửa mặt.
Làm kết giới.
(Phòng của tôi có Quan Thế Âm Bồ Tát, Thời Luân Kim Cang, Liên Hoa Đồng Tử.)

Sau khi xong xuôi tất cả, tôi ngồi lên pháp tọa tu siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp.
Trước tiên tôi cầu nguyện:
"Ba vị Bổn tôn, xin hãy chăm sóc cho Thượng sư Liên Hương ngủ ngon, ngủ sâu, thân thể khỏe mạnh, mắt mau bình phục. Xin giúp đỡ các trung ấm hữu duyên, trung ấm vô duyên, được vãng sinh Phật quốc tịnh thổ!"
Thế rồi tôi tu pháp.
Những lời cầu nguyện của tôi chính là một chuỗi tiếng lòng, không phải là những lời cố định, có khi rất mạch lạc, có khi thì lủng củng, có khi thì điềm đạm.

Thơ:

**Một chuỗi tiếng lòng**

*Lời cầu nguyện chẳng dài dòng
Đó chỉ là tấm lòng của tôi
Nghĩ cho mọi người
Vứt bỏ phiền não
Dù dài hay ngắn
Hằng đêm
Tôi ngồi yên trong căn phòng cô tịch
Mà chẳng hề lạnh lẽo thê lương.*


### 17. Tôi là Thiếu tá


Rất nhiều người đều biết, trước khi học Phật, tôi học trường quân đội. Tôi đã đi học trường Trắc Lượng (Bộ Đại Học).
Khoa đo đạc mặt đất.
Sau này, trường Trắc Lượng, học viện Công Trình Hải Quân, trường Công Nghiệp Quốc Phòng, hợp lại thành Học viện Khoa học Kỹ thuật Trung Chính.
Vì thế, tôi tốt nghiệp khóa 32 trường Trắc Lượng, tức là khóa 28 của Học viện Khoa học Kỹ thuật Trung Chính.
Tôi không hối hận vì đã học trường quân đội, bởi vì trường quân đội đã huấn luyện tôi, giáo dục tôi trở thành một con người không tán loạn. (Điểm này vô cùng quan trọng.)

Tôi là quân nhân chuyên nghiệp, đến khi giải ngũ, cấp bậc của tôi là Thiếu tá kỹ sư.
Tôi cho rằng:
Sau khi giải ngũ, tôi vẫn là một quân nhân.
Thành thật mà nói:
Tôi mấy giờ đi ngủ.
Tôi mấy giờ thức dậy.
Ăn sáng, ăn trưa, ăn tối. (Đúng giờ đúng lượng.)
Buổi sáng viết sách.
Buổi chiều vẽ tranh.
(Gia trì thư của đệ tử, trả lời thắc mắc của đệ tử cũng vào buổi chiều.)
Mấy giờ tu pháp.
Buổi tối làm siêu độ.
Tám giờ tối thứ bảy thì đồng tu thuyết pháp.
Ba giờ chiều chủ nhật thì làm hỏa cúng thuyết pháp.
...

Cuộc sống của tôi cực kì có quy luật, rất hiếm khi thay đổi thời gian, trừ phi có việc đặc biệt, bằng không thì không có gì thay đổi.
Đây chẳng phải là cuộc sống của quân nhân sao? Tôi còn hơn cả một quân nhân. Chỉ là chức trách khác nhau.
Trước kia là đo đạc.
Bây giờ là hoằng dương Thánh giáo.
Ngày trước khi tôi làm quân nhân, tôi rất nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ của tôi. Bây giờ hoằng dương Phật pháp, độ hóa chúng sinh, tôi rất tinh tấn.
Trước kia là:
Phục tùng.
Trách nhiệm.
Vinh dự.
Bây giờ là:
Bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định, trí huệ.
Khi tôi làm quân nhân, tôi cảm thấy không hề sống uổng phí.
Khi tôi hoằng dương Thánh giáo, tôi cũng cảm thấy không hề sống uổng phí.

Tôi viết một bài thơ:

**Tinh tấn**

*Có một con người
Suốt cả cuộc đời đều không hề thay đổi
Từng giờ
Từng phút
Đều đang sống hết mình*

*Dẫn dắt người đời
Từ buổi ban sơ
Cho đến hôm nay
Phong thái chưa bao giờ thay đổi*

*Lên pháp tọa
Thuyết pháp khai thị
Chỉ dẫn nhân tâm đừng hư hoại
Bằng tình yêu hết sức bao la.*


### 18. Chí hướng


Tôi nhớ lúc còn nhỏ, thầy giáo yêu cầu chúng tôi làm văn, và chủ đề của bài văn là: "Chí hướng của em".
Khi ấy, chí hướng của tôi là làm thầy giáo.
Bởi vì vào thời kỳ ấy, hoàn cảnh sống của tôi rất nhỏ hẹp, trừ gia đình ra thì chỉ biết đến trường học.
Đi học ở trường, giáo viên vừa bước vào lớp học, lớp trưởng liền hô:
"Đứng dậy!"
"Nghiêm!"
"Chào thầy!"
Khi ấy tôi cảm thấy thầy giáo thật vĩ đại!
Vì thế, chí hướng của tôi là muốn làm thầy giáo.
Nhưng các bạn học khác, chí hướng của họ đều rất vĩ đại, rất to lớn, rất đỉnh cao...
Có người muốn làm tổng thống.
Có người muốn làm doanh nhân khởi nghiệp.
Có người muốn làm nhà khoa học.
...

Tóm lại, chí hướng của họ đều to lớn như:
Mặt trời.
Mặt trăng.
Còn chí hướng của tôi chỉ như "ngôi sao nhỏ bé" mà thôi!

Năm nay, tôi 77 tuổi rồi, các bạn học thời tiểu học ngày xưa, người nào người nấy đều theo đuổi tiền đồ của mình.
Trong ký ức của tôi:
Lớp trưởng Trần Đồng Nhân không biết đã đi đâu?
Ngô Khoan Nhân không biết đã đi đâu?
Hoàng Kim Hùng không biết đã đi đâu?
...

Còn tôi, Lư Thắng Ngạn gầy gò nhỏ bé này chỉ là một "người sáng lập Chân Phật Tông" (hư danh).
"Đại Trì Minh Kim Cương Thượng Sư" (hư danh).
Tôi dạy các đệ tử của tôi học Phật.
Ồ!
Tôi đúng thật là một thầy giáo. Tôi đã thực hiện chí hướng của tôi rồi, là sự thật đó!
Tôi không phải là thầy giáo tiểu học, trung học, hay là giáo sư đại học, giáo sư nghiên cứu.
Nhưng dạy dỗ học Phật thì cũng là thầy giáo mà!
Chà!
Chân Phật Tông chỉ là một hạt bụi.
Thầy giáo tôi đây cũng chỉ là một hạt cát.
Tôi mãi mãi là một ngôi sao nhỏ.
Tôi chẳng phải mặt trời, tôi chẳng phải mặt trăng, tôi chẳng phải núi, tôi chẳng phải đại dương, tôi chẳng phải mặt đất.
Chỉ là một thầy giáo.
Chỉ là một hạt cát bụi.

Viết một bài thơ:

**Võ đài cuộc đời**

*Lúc này làm thơ
Muốn hỏi ông trời
Xuân đến thu đi
Tuổi già đã đến*

*Bạn học ngày xưa ở nơi đâu
Hoài niệm
Nhớ ngày xưa*

*Cuộc đời ơi cuộc đời
Tôi là ngôi sao nhỏ
Cũng thấy thật đáng thương*

*Đêm khuya tĩnh mịch
Nhấp một chén rượu nhỏ
Ngắm thiền quyên.*


### 19. Bát đại Thánh địa


Khi còn trẻ, tôi đặc biệt thích đi du lịch, bởi vì tôi muốn biết về mặt đất mà chúng ta đang sống này.
Khi học Phật, tôi muốn biết về Phật Đà, vì thế, chúng tôi đã đến tám đại Thánh địa.
Vườn Lumbini nơi Đức Phật giáng sinh.
Vườn Lộc Uyển nơi Đức Phật lần đầu chuyển pháp luân.
Thành Kapilavastu nơi Đức Phật lớn lên.
Thành Vương Xá nơi Đức Phật chuyển pháp luân lần thứ hai.
Bodhgaya nơi Đức Phật thành đạo.
Thành Liên Hoa Kamalasila nơi Đức Phật chuyển pháp luân lần thứ ba.
Núi Linh Thứu nơi Đức Phật thuyết pháp.
Tịnh xá Trúc Lâm nơi Đức Phật cư trú.
Tịnh xá Chi Viên nơi Đức Phật cư trú.
Hai tàng cây sa la nơi Đức Phật tịch diệt.
Và những nơi khác...

Tính như vậy thì không chỉ là tám Thánh địa lớn mà thôi, bất luận nói ra sao thì hễ nơi nào Phật Đà đã từng đi qua đều là Thánh địa.
Thật ra, tôi coi trọng nhất là:
Những chân đế trong ba lần chuyển pháp luân của Phật Đà, ý kiến cá nhân của tôi là:
Lần chuyển pháp luân thứ nhất là khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế.
Lần chuyển pháp luân thứ hai là vô tướng.
Lần chuyển pháp luân thứ ba là liễu nghĩa.

Tôi rất thích câu nói đầu tiên mà Phật Đà nói:
"Các đệ tử hãy nghe cho kĩ, đời người là khổ!"
Tôi thích:
"Vô nhân tướng, vô ngã tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng."
Tôi thích:
"Mộng, huyễn, bào, ảnh." (không gian)
Tôi thích:
"Điện, quang, thạch, hỏa." (thời gian)
Tôi thích:
"Niết bàn."

Cho đến liễu nghĩa thì tôi không nói nữa, bởi vì chẳng có pháp nào có thể nói.
Đây là cảnh giới bất khả thuyết.
Đối với một số người mà nói thì cần thuyết pháp.
Đối với một số người mà nói thì không cần thuyết pháp.
Không có người nói.
Không có người nghe.
Cũng không có pháp.
Tôi biến thành một bông hoa sen trắng nở rộ, lan tỏa hương thơm một cách đầy pháp nhĩ bản nhiên.
Ở một cấp độ nào đó mà nói thì có chút điên khùng, có chút lãng mạn, có chút chân thành, có chút hồn nhiên...
Không được không mất.
Không danh không lợi.
Không chấp không trước.
Không tâm không trụ.
Bạn có biết bươm bướm đang múa gì không?
Bạn có biết vì sao một bông hoa lại nở rộ không?

Viết một bài thơ:

**Tưởng nhớ Phật Đà**

*Lúc trăng tròn
Tôi ngồi tĩnh lặng
Chỉ một que hương
Mà biến thành bao nhiêu sợi trắng
Liên tiếp
Bay lên*

*Linh Sơn đâu xa
Ở ngay trước mắt
Còn trách điều gì?*

*Thương xuân đã hết tự khi nào
Biết đến bao giờ mới gặp lại.*


### 20. Hạnh đầu đà


Đệ tử hỏi tôi:
"Thế nào là hạnh đầu đà?"
Tôi đáp:
"Vào thời của Phật Đà, đại đệ tử của Phật là ngài Đại Ca Diếp chính là hạnh đầu đà, do vậy xưng là Đầu Đà Đệ Nhất."
Đệ tử hỏi:
"Là như thế nào?"
Tôi đáp:
"Trên phương diện tiền thì hạnh đầu đà không chạm vào tiền, tay không chạm vào tiền."
Đệ tử hỏi:
"Trên phương diện sắc thì sao?"
Tôi đáp:
"Nói chuyện với phụ nữ thì phải giữ khoảng cách, chỉ nói đôi ba câu, không được nhìn vào mắt đối phương, mắt phải nhìn xuống đất."
Đệ tử hỏi:
"Còn phương diện danh?"
Tôi đáp:
"Không tranh danh vị, biết tất cả danh vị đều là không, là giả. Không chấp vào danh tướng."
Đệ tử hỏi:
"Còn phương diện ăn?"
Tôi đáp:
"Đồ ăn sau khi đi hóa duyên trở về thì phải quán tưởng thành phân và nước tiểu. Phải nghĩ các món cơm là phân. Canh nghĩ thành nước tiểu. Hoặc là đất, đá, gạch, sỏi. Quán tưởng như vậy rồi mới ăn. Ngoài ra quá giờ Ngọ thì không ăn."
(Đại Ca Diếp chỉ hướng đến các nhà nghèo khó để hóa duyên.)

Đệ tử hỏi:
"Còn phương diện ngủ?"
Tôi đáp:
"Ngủ thì có ba nơi. Một, dưới cây. Hai, giữa mộ. Ba, hang đá. Không được ngủ trên giường cao rộng, cũng không được ngủ trên đệm. Hơn nữa chỉ ngồi không nằm, không được nằm ra để ngủ." (không đảo đan)
Tôi nói:
Những gì tôi trả lời chỉ là một phần mà thôi, hạnh đầu đà còn có nhiều phép tắc và kỷ luật nữa.
Bởi vì con người có rất nhiều dục vọng.
Dùng hạnh đầu đà để đối trị.
Ví dụ:
Tham, sân, si thì lấy giới, định, huệ để đối trị.
Phật pháp là tám vạn bốn nghìn loại thuốc, để đối trị tám vạn bốn nghìn bệnh.
Nhưng,
Hạnh đầu đà có thể làm vào thời cổ đại, còn thời hiện đại thì không thể làm được. Ví dụ hóa duyên, ví dụ như ngủ giữa mộ. (Ngủ giữa các ngôi mộ trong nghĩa địa.)
...

Thầy của Lư Sư Tôn tôi chỉ nhắc nhở tôi đời này tuyệt đối không được mở miệng ra đòi tiền người khác.
Vì vậy cho đến nay, tôi không mở miệng ra đòi tiền người khác, đây là giới luật mà tôi giữ vững!
Tôi lấy "không huệ" để hóa giải tài, sắc, danh, thực, thụy.

Thơ:

**Sự chuyển hóa của Không**

*Vườn xanh hoa đỏ
Đầy trước mắt
Oanh yến yến oanh
Đuổi theo nhau
Trên đường
Xe lộc cộc
Cho dù mưa bụi giăng mịt mờ
Tỉnh giấc
Đã biến thành một màn sương mù
Hôm qua ở đâu
Trăm điều ngẫm nghĩ
Hôm nay lại ở nơi nào.*


### 21. Đèn giao thông


Đệ tử hỏi tôi:
"Thế nào là giới luật?"
Tôi đáp:
"Đèn giao thông."
Đệ tử nghe xong, gật gật đầu, biểu thị rằng đã hiểu.
Ha!
Hóa ra đơn giản làm sao.
Đèn đỏ mà bạn vẫn lái xe vượt lên, không xảy ra chuyện mới là lạ!
Đèn xanh, có thể đi!
Chúng ta làm theo sự chỉ đạo của đèn giao thông, đó chính là giữ giới luật.

Còn nữa:
Ở Mỹ, nơi ngã tư, bốn phía đường đều có vạch đánh dấu dừng, xe đi từ bốn phía đến ngã tư đều phải dừng ba giây.
Điểm quan trọng là để:
Ai đến trước, người đó đi trước.
Ai đến sau, người đó đi sau.
Căn cứ theo thứ tự trước sau mà đi thì sẽ không xảy ra lỗi.
Còn có một chữ "nhường" nữa:
Xe nào nhìn thấy chữ "nhường" thì trước tiên phải dừng một lúc, nhìn thấy có xe chạy đến thì phải nhường. Không có xe chạy đến thì có thể đi.
(Lư Sư Tôn lái xe ở Mỹ 39 năm, chỉ cần tuân thủ giới luật thì sẽ không xảy ra lỗi.)

Kể với mọi người:
Trở về Đài Loan, tôi không dám lái xe.
Đến hôm nay vẫn không dám lái xe.
Họ nói:
"Đèn giao thông chỉ dùng để tham khảo thôi!" 
Tôi nghe xong thì sợ chết khiếp! Dùng để tham khảo ư?
Còn nữa, xe ô tô, xe máy, xe đạp, người đi bộ đều tranh nhau đường, loạn quá, hoa hết cả mắt.
Người sống ở Đài Loan đã quen rồi.
Còn tôi thì không sao thích ứng được.
Đặc biệt là đèn xanh vừa bật lên, tất cả xe ô tô, xe máy, xe đạp, người đi bộ đều cật lực mà đi.
Lao như tên bắn.
Động cơ gầm lên!

Tôi có một cảm giác là: "Liệu có phải họ đang buồn đi tiểu không!"
Xe cộ ở Đài Loan thật sự giống như nước thủy triều vậy, cuộn trào mãnh liệt dồn dập.
Nhấn chìm tất cả mọi thứ!
Đứng ở ngã tư đường cái ở Đài Loan, tôi nghĩ:
Mong con người ở đây tuân thủ quy tắc giao thông.
Mong con người ở đây yên lặng ôn hòa.
Mong con người ở đây nhã nhặn nhường nhau.
Mong con người ở đây bình an cát tường.
(Tôi sống ở Đài Loan 38 năm, thời gian ở Mỹ, tôi cũng thường xuyên trở về Đài Loan, Đài Loan là nơi đã nuôi dưỡng tôi.)
Người ở Mỹ.
Tâm ở Đài Loan.

Viết một bài thơ nhỏ:

**Nhớ**

*Trong thư phòng của tôi
Thắp lên ngọn đèn nhỏ
Lặng lẽ cầm cây bút
Viết xuống những nghĩ suy*

*Tôi thật sự rất nhớ
Cơn mưa nhỏ thu đông
Sừng sững trên núi Hổ
Lôi Tạng Tự Đài Loan
Pháp hội hàng vạn người
Con người ở nơi ấy
Vướng bận cõi lòng tôi.*


### 22. Tổ tiên của tôi


Do dịch bệnh nên thời gian ngồi lì ở trong nhà trở nên dài, Sư Mẫu Liên Hương Thượng sư sắp xếp lại tài liệu ở trong nhà.
Tìm thấy được danh sách số liệu về tổ tiên Lư gia, khiến tôi trong một chốc hồi tưởng lại liệt tổ liệt tông của mình.
Nguồn gốc sớm nhất của họ Lư chúng tôi là: Khương Tử Nha. (Phong Thần chủ soái của Phong Thần Bảng.)
Cụ nội của tôi là Lư Nhĩ Đức Thiệp.
Nguyên quán là: người Phạm Dương, châu Chương, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc, lấy vợ là Lư Tùng. Ở vùng Phạm Dương, châu Chương họ Lư rất phổ biến.
Còn nhà thờ họ Lư Thị được xây dựng tại trung tâm thành phố Phạm Dương. Ông nội tôi là Lư Xương.

Theo như tôi biết:
Đầu tiên, ông cha tôi di dân từ Phạm Dương đến Kim Môn, sau đó lại từ Kim Môn di dân tới Bành Hồ, cuối cùng lại từ Bành Hồ di dân tới Gia Nghĩa, Đài Loan.
Ông nội Lư Xương của tôi làm kinh doanh ở Gia Nghĩa.
Làm xưởng gạo.
Làm xưởng dầu.
Ông nội Lư Xương của tôi có một tính tốt rất đáng được nhắc đến. Đó là khi kết thúc mỗi năm, ông đem tất cả những biên lai cho vay mượn: mua gạo thiếu tiền, mua dầu thiếu tiền, tất cả những biên lai lớn nhỏ đều tập trung lại rồi trong ngày hôm đó đem đốt hết.
(Đức tính tốt này là do mẹ tôi Lư Ngọc Nữ kể lại cho tôi, bởi vì mẹ tôi chính là kế toán cho mặt hàng gạo và dầu.)

Khi ông nội Lư Xương 60 tuổi thì ông lấy bà nội của tôi là Du Đoan Hương, sinh hạ một người con trai, người con trai này chính là bố tôi Lư Nhĩ Thuận.
Cái tên Nhĩ Thuận này đến từ câu "lục thập nhi nhĩ thuận" của Khổng Phu Tử.
Về sau, bố tôi cưới người kế toán cho mặt hàng gạo và dầu của ông nội tôi là Lư Ngọc Nữ.
Thế là, Lư Thắng Ngạn tôi được sinh ra tại trại gà ở bên bờ suối Ngưu Trù ở Hậu Hồ, Gia Nghĩa.
(Đó là vào giờ Ngọ ngày 18 tháng 5 năm 1945 âm lịch, dương lịch tức là giờ Ngọ ngày 27 tháng 6 năm 1945.)
Đó là năm cuối cùng của chiến tranh thế giới lần thứ hai. Vì để tránh máy bay Mỹ ném bom nên tôi mới được sinh ra tại trại gà bên bờ suối Ngưu Trù.

Hai chữ Thắng Ngạn trong tên của tôi có nguồn gốc là do bố tôi mời một vị hiệu trưởng người Nhật Bản đặt tên. Vì thế có một chút mùi vị Nhật Bản.

Còn nữa, theo như tôi biết, ông nội Lư Xương có một người thân, tức là hàng chú bác của tôi. (Thuộc hàng thế hệ nào còn đang đợi kiểm tra.)
Ông ấy sống tại Bành Hồ, ở Mã Cung có một cửa hàng buôn Trung Quốc, có lịch sử thành lập lâu đời, buôn bán phát tài.
Tên ông ấy là Lư Kiều.
Tôi có một người anh con bác là Lư Triều Hoàng, tại Tây Tự ở Bành Hồ xây dựng một nhà thờ họ Lư Thị. (Tương đối có khí thế.)
Tôi đã từng đến đó, anh họ tôi đối với tôi rất tốt.
Nghĩ một chút về tổ tiên của Lư gia, đây cũng là một dạng truyền thừa thân nhân, là kính ngưỡng, cũng là tưởng nhớ.
Hy vọng sẽ có một ngày tôi có thể đến Phạm Dương, châu Chương ở Phúc Kiến để lễ bái nhà thờ họ Lư Thị.

Thơ:

**Siêu độ tổ tiên**

*Một nén hương thơm
Hóa thành mưa nhỏ
Từng giọt rơi xuống*

*Ở trong thiền định
Nghênh thỉnh Phật quang chiếu đến tổ tiên
Gia tăng che chở*

*Lư Thắng Ngạn tôi nhỏ bé
Chỉ có thể làm pháp hội như vậy mà thôi.*


### 23. Mắt của Sư Mẫu


Buổi tối ngày 29 tháng 9 năm 2021.
Tôi giúp Thượng sư Liên Hương nhỏ thuốc mắt.
Kéo rèm cửa.
Bật đồng hồ báo thức.
Gia trì kết giới.
Thượng sư Liên Hương nằm trên giường nói với tôi:
"Bây giờ ông đã thay đổi không còn là Lư Sư Tôn nữa rồi!"
Tôi hỏi:
"Vậy bà thấy tôi là ai?"
Bà ấy đáp:
"Trên đầu ông mọc ra một cái đầu."
Tôi nói:
"Đó không phải là đầu, là nhục kế [búi tóc bằng thịt, còn được gọi là Phật đỉnh], mọi vị Phật đều có nhục kế."
(Nhục kế của Phật là tượng trưng cho Bồ Tát địa thứ mười hai rưỡi. Bồ Tát có mười địa quả vị, mười hai địa rưỡi chính là Phật. Ngũ Phương Phật ở địa thứ mười ba, Bản Sơ Phật ở địa thứ mười sáu.)

Bà ấy nói:
"Tướng mạo của ông hoàn toàn thay đổi rồi, cũng có búi tóc, toàn thân màu trắng sáng rực."
Tôi hỏi:
"Vậy tôi là ai?"
Bà ấy đáp:
"Không biết, tóm lại, là Phật."
Tôi nói:
"Tôi là A Di Đà Phật. (Ba mươi sáu vạn tỉ mười một vạn chín nghìn năm trăm đồng danh đồng hiệu.)
Bà ấy nói:
"Đúng vậy, đúng vậy, ông là A Di Đà Phật."
Bà ấy đột nhiên mở to mắt, nhìn sang bên cạnh tôi, sau đó lại thong thả nói:
"Bên cạnh ông có một người, cao hơn ông! Mặc đồ Lama."
Tôi hỏi:
"Đó là ai?"
Bà ấy đáp:
"Người đó ở bên cạnh ông, theo sát bên cạnh!"
Tôi hỏi:
"Là nam? Hay nữ?"
Bà ấy đáp:
"Không biết! Tôi phải đi ngủ đây!" (Sau đó, bà ấy ngủ luôn.)
Tôi quay đầu sang nhìn người bên cạnh tôi, nhận ra đó là Thượng sư Liên Ấn.

Tôi hỏi Liên Ấn:
"Ông làm sao mà xuất nguyên thần vậy?"
Liên Ấn đáp:
"Đệ tử chết rồi!"
Tôi nói:
"Tôi biết đến tháng tám âm lịch ông sẽ chuyển hóa, bây giờ là ngày mấy?"
Liên Ấn đáp:
"Ngày 25 tháng 8 âm lịch."
Tôi nói:
"Tất cả đều nằm trong tính toán của tôi."
Thượng sư Liên Ấn nói:
"Lư Sư Tôn! Nhất định phải đưa đệ tử đi!"
Tôi đáp:
"Tôi sẽ đưa."

Thơ:

**Mắt**

*Mắt của Sư Mẫu
Nhìn ra
Trên đầu lại có một cái đầu
Một cái đầu khác
Chính là A Di Đà Phật*

*Mắt của tôi
Nhìn thấy Thượng sư Liên Ấn đến
Tôi sẽ đưa ông tới Phật quốc.*


### 24. Avatar


Tôi có phải là Avatar không?
Avatar có ý nghĩa là nửa người nửa thần.
Lấy một ví dụ nhé!
Em gái của Thượng sư Liên Ấn từ Trung Quốc đến Seattle, chủ yếu là để thăm Thượng sư Liên Ấn.
Bà ấy sống ở Mỹ vài tháng. Có một buổi tối, bà ấy nằm mơ thấy:
Mơ thấy bố, mẹ, chú, bác, ông nội, bà nội của Thượng sư Liên Ấn đều đến, những người thân thiết nhất đều đến cả! (Đều là những người đã chết.)
Bà ấy hỏi tôi:
"Giấc mơ này có ý nghĩa gì?"
Tôi đáp:
"Tháng tám sẽ có chuyện, chú ý tháng tám." (âm lịch)

Khi ấy, Thượng sư Liên Ấn rất khỏe mạnh, mỗi ngày đều đi bộ vận động, cười nói vui vẻ.
Mỗi ngày thứ bảy đều tham gia đồng tu.
Mỗi ngày chủ nhật đều tham gia Hộ Ma.
Cuộc sống bình thường.
Em gái của Thượng sư Liên Ấn ở Trung Quốc còn bận việc nên sau khi ở lại vài tháng đã trở về Trung Quốc rồi.
Đến tháng tám Trung Thu (âm lịch), trăng rằm Trung Thu đặc biệt tròn.
Chúng tôi hát:
*Chỉ mong người trường cửu.
Nghìn dặm cùng thiền quyên.*
Thượng sư Liên Ấn còn cười ha ha.
Nhưng, tôi nói với cô Hanifa - người chăm sóc Thượng sư Liên Ấn:
"Chú ý tháng tám, phải chuẩn bị rồi!"
Cô Hanifa còn không hiểu chuyện gì, hỏi ngược lại tôi:
"Mọi thứ đều chẳng phải là rất tốt sao? Phải chú ý cái gì? Ông ấy mọi thứ đều bình thường, da dẻ sáng bóng, lại còn béo lên nữa."
Tôi lặp lại một câu:
"Chú ý tháng tám!"

Đến ngày 23 tháng 8, Thượng sư Liên Ấn chỉ muốn ngủ, không muốn ăn, không muốn uống, cũng không xuống giường đi lại.
Rồi đến ngày 24 tháng 8, ông ấy cũng như thế. Đến 2 giờ sáng ngày 25, đột nhiên huyết áp ông ấy tăng cao, rồi huyết áp nhanh chóng tụt xuống, nhịp tim cũng như vậy, "tuuu…" một tiếng.
Thượng sư Liên Ấn đã đi rồi.
Đúng vào ngày 25 tháng 8.
(Tất cả những ngày tháng ở trên đều là âm lịch.)

Tôi nghĩ, tôi có phải là Avatar không? Vì sao tôi bảo lúc nào thì chính là lúc ấy?
Sự việc ứng nghiệm đặc biệt chuẩn. (Bấm ngón tay thần toán.)

Còn nữa:
Có một người là Quỷ Bà, hơn mười năm nay bà ấy đều đoán là tôi 73 tuổi sẽ chết!
Nói chắc như đinh đóng cột, như chém đinh chặt sắt.
Nhưng, 73 tuổi tôi vẫn không chết, 77 tuổi vẫn còn sống!
Ôi!
Quỷ Bà! Chết tiệt cái nhà bà!

Thơ:

**Gửi Thượng sư Liên Ấn**

*Biết đời như mộng
Chớ chần chừ
Mau mau đoạn tuyệt hồng trần*

*Cổng trời đã vì ông mà mở ra
Đừng lưu luyến
Muốn có được gì
Thì trồng cái đó.*


### 25. Nhân quả thật đáng sợ


Tôi kể một câu chuyện xưa:
Có một người thanh niên chạy xe máy, phía sau đèo một cô bạn gái rất xinh đẹp đi chơi lòng vòng trong nội thành.
Hai người đến sườn núi để ngắm cảnh.
Sau đó, hai người dựa sát vào nhau, má kề má rất thân mật.
Đang ngất ngây trong vòng xoáy tình yêu thì có một thiếu niên đến gần họ, huýt sáo với họ, rồi còn nói thêm mấy lời châm chọc.
"Ban ngày sáng sủa, bị người ta thấy hết trơn."
"Ánh trăng sáng tỏ, chiếu rõ cái mông của hai chúng mày."
Người thanh niên này nghe thấy thế vô cùng khó chịu, tiện tay vớ lấy xích xe máy. Cái xích này làm bằng sắt, khóa vào bánh xe máy để người khác không có cách nào trộm được.
Người thanh niên cầm lấy sợi xích này, nhất thời, cơn phẫn nộ hừng hực, một khi cơn giận nổi lên thì không thể nào cứu vãn được.
Sợi xích làm bằng sắt, đánh trúng vào đầu của thiếu niên kia.
"Rắc rắc!"
Đầu của cậu thiếu niên chảy máu, nằm im bất động trong vũng máu.
Người thanh niên kia chở bạn gái chạy như bay rời khỏi hiện trường, thần không biết, quỷ không hay.
...

Mấy chục năm sau.
Người thanh niên ấy đã là một người trung niên, ông ấy đến quy y tôi (Lư Sư Tôn).
Tôi nhìn thấy:
Sau lưng ông ta có một thiếu niên, cầm cờ lệnh màu đen bám sát theo ông ta. Tôi nói:
"Ông từng giết người à?"
Ông ta đáp:
"Đâu có!"
Tôi nói:
"Tôi nhìn thấy một thiếu niên cầm cờ lệnh "chết oan" màu đen bám sát theo ông, rốt cục đã xảy ra chuyện gì?"
Ông ta nghĩ một lúc rồi mới kể câu chuyện xảy ra khi còn trẻ.
Ông ta nói:
"Tôi đánh người ta xong thì chạy, không biết là hắn đã chết hay chưa, gần đó có bệnh viện mà!"
Tôi nói:
"Hắn đang chờ đợi thời cơ đến!"

Không lâu sau buổi ấy.
Đệ tử quy y này thích chơi trò nhảy bungee.
Trò chơi mạo hiểm này từng thịnh hành một thời. Nghe nói nó bắt đầu thịnh hành tại Queenstown ở đảo Nam, New Zealand. (Con người bị buộc chặt vào chân bằng một sợi dây thừng lớn, từ trên cầu cao quăng xuống, tận hưởng sự sung sướng được bật tung trong không trung.)
Nhưng xảy ra sự cố. Ông ta bị sợi dây khổng lồ bật lại đập vào đầu, chảy máu tai. (Phải khâu chín mũi.) Kể từ đó, ông ta có hai triệu chứng:
Chóng mặt.
Điên loạn. (Gần giống như chứng động kinh.)
Chao ôi! Nhân quả thật đáng sợ!

Thơ:

**Không đề**

*Người ở trên cầu
Bị bắn ra xa
Văng qua bên này
Văng qua bên nọ*

*Như người say rượu
Ở đâu có mùi rượu là lao tới
Lúc này
Nghiêng ngả ngả nghiêng bất định
Mặt người đỏ hây hây
Nhân quả trong đó đấy.*


### 26. Thời kỳ nổi loạn


Một cô con gái luôn mâu thuẫn với mẹ của mình. Người mẹ nói:
"Con gái phải học cách dịu dàng một chút."
Cô con gái đáp:
"Con đang ở trong thời kỳ nổi loạn."
Người mẹ nói:
"Tuổi nổi loạn của con thì đã là cái gì, mẹ già đây còn có thời kỳ mãn kinh nữa đấy!"
Ha!
Thời kỳ nổi loạn gặp thời kỳ mãn kinh, không biết có tia lửa gì sẽ nổi lên đây?

Cá nhân tôi nghĩ:
Bây giờ tôi đang ở thời kỳ gì?
Tôi luôn cảm thấy bản thân mình chẳng có thời kỳ gì cả.
Một ông già tuổi thất tuần, chỉ có thời kỳ tuổi già thôi!
Cũng đã sắp 80 tuổi rồi, còn có thời kỳ gì nữa chứ?

Nghĩ về ngày xưa:
Thời kỳ thanh xuân của tôi ở đâu?
Gia cảnh thanh bần, nghỉ đông nghỉ hè tôi đều đi làm thuê khắp nơi, giúp đỡ tài chính cho gia đình và bù vào tiền học phí của bản thân.
Tôi may mắn có một người dì, dì tôi là trưởng bộ phận kinh doanh của văn phòng quản lý Hoa Liên của công ty Điện lực Đài Loan.
Vì thế, vào dịp nghỉ đông và nghỉ hè, tôi làm việc tại Trạm kiểm tra công tơ điện Hoa Liên. Tôi làm việc tại nhà máy sửa chữa Hoa Liên.
Nếu tôi không đi Hoa Liên thì sẽ ở lại Cao Hùng. Bởi vì bố tôi là chủ nhiệm bộ phận lắp đặt của công ty Điện lực Đài Loan, cho nên nghỉ đông nghỉ hè, tôi làm việc trong một xưởng sửa chữa ở nhà máy nhiệt điện phía Nam.
Làm việc tại bộ phận xây dựng, tôi được cử đến khu Thảo Nha để dựng các cột điện thoại.
Thời thanh xuân của tôi.
Chẳng có thanh xuân, chỉ có làm việc, làm việc, làm việc. Vào thời trung học, làm việc, làm việc, làm việc.

Và như thế,
Thời kỳ nổi loạn, không có!
Thời kỳ thanh xuân, không có!
Đời người chỉ có một thời kỳ nổi loạn, một thời kỳ thanh xuân, tôi là đứa trẻ của gia đình nghèo khó. (Thời kỳ nổi loạn và thời kỳ thanh xuân trùng nhau.)
Nhanh chóng trôi qua!
Tôi chẳng có cảm giác gì về "nổi loạn".
Tôi cũng chẳng có cảm giác gì về "thanh xuân".
Theo định nghĩa trong từ điển thì:
"Vào mùa xuân, cây cỏ đâm chồi nảy lộc, màu sắc xanh tươi, vì thế gọi là thanh xuân. Vì thế dùng để so sánh với thời thiếu niên."
Còn tôi, nó cứ thế trôi tuột đi, tiếp sau đó là đi học trường quân đội thuộc bộ Đại Học.

Đó là bốn năm học hoàn toàn độc lập, cộng thêm bốn tháng đi huấn luyện, tôi đã trở thành người lớn rồi.
Tuổi thanh xuân của đời người không dài, nhiều nhất là hai mươi năm thôi!
20 tuổi — tuổi trẻ đau thương.
30 tuổi — sự nghiệp tìm đường.
Tôi luôn cảm thấy, thời thanh xuân của người bình thường là vào lúc ngoài hai mươi tuổi. Còn thời thanh xuân của tôi là vào lúc bảy mươi, tám mươi tuổi.
Ha!

Viết một bài thơ:

**Thanh xuân**

*Tuổi trẻ không biết mùi lo âu
Chỉ biết
Làm việc phải công minh hiểu biết*

*Nổi loạn
Thanh xuân
Đều qua rồi
Buổi hoàng hôn học Phật như sóng nước
Tâm càng nhiệt huyết
Lên pháp tọa
Ngày ngày khoác áo tăng.*

 


### 27. Anh không hiểu trái tim em


Khi còn học trường Trắc Lượng thuộc bộ Đại Học, tôi có một người bạn qua thư họ Lý, nhà ở Tú Thủy huyện Chương Hóa, lúc đó cô ấy học tại Học viện Y Học Quốc Phòng.
Trường Trắc Lượng và Học viện Y Học Quốc Phòng cùng thuộc trường Quân Sự.
Tôi viết thư cho cô ấy.
Cô ấy viết thư cho tôi.
Vì cô ấy mà tôi đã viết cuốn sách "Thì thầm trong vườn mộng".

Cứ như thế, chúng tôi thư từ qua lại cũng được vài năm.
Tôi có ảnh của cô ấy! Mặc trang phục y tá, áo trắng như thiên sứ, khuôn mặt thanh tú. Ngoài ra tôi còn có một tấm ảnh cô ấy mặc đồng phục của trường học, trông tràn đầy vẻ ngây thơ.
Trong thư, chúng tôi rất hợp nhau. Không có chuyện gì là không nói.

Một hôm. Cô ấy nói:
"Khi nào anh "tiểu đăng khoa", em nhất định sẽ đến. Em sẽ đứng bên cạnh anh."
Cái tên ngốc tử là tôi đây vừa có vẻ hiểu câu nói này, lại vừa có vẻ không hiểu câu nói này.
Rốt cục, vẫn là "hoang mang mơ hồ". (hiểu lờ mờ)
Tôi luôn cảm thấy con gái trưởng thành sớm hơn một chút, con gái thông mình hơn một chút.

Về sau, tôi kết hôn với Lệ Hương trong cuốn sách "Thư nhỏ gửi cho Lệ".
Ngày kết hôn người ta cũng gọi là "tiểu đăng khoa"!
Tôi viết một lá thư rất chân thành gửi cho cô Lý, mời cô ấy đến tham dự hôn lễ của tôi.
Bởi vì, cô ấy nói:
"Khi tôi tiểu đăng khoa, cô ấy sẽ đến."
Kết quả là, cô ấy gửi cho tôi một bức thư trả lời. Trong thư chỉ có một tờ giấy trắng. Trên giấy vẽ vài cái vòng tròn. Trong vòng tròn viết mấy dấu chấm hỏi (?) to to.

Lúc này tôi mới hiểu:
"Tiểu đăng khoa."
"Nhất định đến."
"Đứng bên cạnh."
Trời ơi!
Tôi đích thị là một tên ngốc tử chính hiệu.
Tôi đã nghĩ một cách rất ngây thơ rằng chúng tôi vẫn là những người bạn qua thư! Cho dù tôi đã kết hôn rồi thì vẫn có thể trao đổi tin tức với nhau, trao đổi đủ mọi tâm đắc sáng tác chứ! Tình bạn này là không thay đổi.
Tình bạn thật.
Chân thành thật.
Son sắt thật.
Khi tôi 77 tuổi, lúc sắp xếp lại đống ảnh cũ, tôi tìm thấy tấm ảnh của y tá Lý, tấm ảnh mặc đồng phục.
Khiến tôi nhớ lại ngày xưa…

Thơ:

**Nhớ**

*Sinh mệnh tựa như một cơn gió
Lời thì thầm trong vườn mộng
Vội vã*

*Em và tôi từng chìm trong những lời yêu thương
Đi lướt qua nhau
Tình cũ không còn*

*Bao nhiêu thư từ
Trò chuyện vô tư
Như tiếng sáo vang khắp đó đây*

*Rồi lại nhớ đến
Chân trời góc bể
Nơi nào có thể tương phùng.*


### 28. Tương ứng bọ cạp


Sư tỉ Huệ Văn mua bốn chiếc áo lót bọ cạp tặng tôi mặc. (Cái gọi là áo lót bọ cạp tức là mặt trước có in hình con bọ cạp độc nhe nanh múa vuốt, trên toàn bộ hình con bọ cạp viết đầy chữ, đó là áo lót bảo hộ của Mật giáo.)
Mặc áo này có thể:
Phòng ngừa bùa chú. (giáng đầu)
Phòng ma quỷ.
Phòng sát khí.
Vân vân và vân vân.

Tôi không cần phải mặc chúng mọi lúc, vào ngày 4 tháng 10 năm 2021 và ngày 5 tháng 10 năm 2021 tôi có mặc. Tổng cộng mặc có hai ngày.
Vào lúc 5 giờ 40 phút chiều ngày 5 tháng 10, tôi đi vào phòng vẽ tranh để chuẩn bị vẽ tranh.
Người phụ vẽ tranh của tôi là pháp sư Bích Yến kể với tôi rằng, ở một đất nước khác vừa có một người là sư tỉ Vũ nằm mơ, giấc mơ rất kỳ lạ đặc biệt, cô ấy mơ thấy hai con bọ cạp độc cắn vào tay mình, mỗi tay một con.
Chỉ là cắn nhè nhẹ, không hề có ác ý. Bọ cạp độc cũng không dùng đuôi để đâm cô ấy.
Cô ấy muốn hỏi:
"Giấc mơ này có ý nghĩa gì?"

Tôi nghe xong thì cười lớn ha ha, tôi nói:
"Tương ứng rồi!"
Tôi cởi nút áo Lama ra, để lộ ra áo lót bọ cạp, bảo pháp sư Bích Yến chụp một tấm ảnh, lập tức gửi cho sư tỉ Vũ, tôi đúng là đã mặc áo lót bọ cạp.
Hơn nữa, mới mặc có hai chiếc, hai ngày.
Sư tỉ Vũ ở đất nước nọ nhìn thấy tôi mặc áo lót bọ cạp thì choáng váng! Cô ấy hét lớn:
"Nói đơn giản là quá sức tưởng tượng!"
"Chà! Khiến người ta ngạc nhiên quá!"
"Đáng sợ đến mức khiến người ta không dám tin!"
...

Mọi người nghĩ mà xem, tôi mới mặc áo lót bọ cạp hai ngày, không ai biết là tôi mặc áo lót bọ cạp. Còn cô Vũ ở một đất nước xa xôi khác thì trong mơ đã mơ thấy hai tay trái phải, mỗi tay đều có một con bọ cạp cắn vào, không nhả ra và cũng không có ác ý.
Lạ ghê! Lạ ghê!

Cô Vũ nói:
Cả đời cô ấy chưa từng mơ thấy bọ cạp.
Từ trước đến giờ cũng chưa từng nghĩ đến bọ cạp.
Tôi mới mặc áo lót bọ cạp có hai ngày, cô ấy đã mơ thấy giấc mơ về bọ cạp rồi.
Đây chẳng phải tương ứng thì là cái gì?
Đây là một sự việc thần kỳ xảy ra vào ngày 5 tháng 10 năm 2021, tại phòng vẽ tranh của tôi ở thành phố Redmond nước Mỹ.
Tôi nói:
"Hai con bọ cạp có thần lực này là đã đến bảo vệ cho cô Vũ ở đất nước nọ."
Chú thích: thân phẫn nộ của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là Dorje Drollo trên tay có cầm bọ cạp.

Thơ:

**Tương ứng**

*Tôi ở phương Tây
Bạn ở phương Đông
Cách xa nhau như vậy*

*Tôi mặc áo bọ cạp
Bạn mơ thấy bọ cạp
Việc này quá trùng hợp*

*Như tranh vẽ
Như tranh tô lại
Cũng chẳng thể nào giống hệt
Việc này là tương ứng rồi.*


### 29. Mê trò chơi điện tử


Có một đệ tử giàu có nói với tôi về nỗi lo lắng của anh đối với đứa con trai mê trò chơi điện tử. Tôi nghe xong thì có chút ít cảm thán. Tôi nói:
"Rất nhiều người mê trò chơi điện tử."
Anh hỏi:
"Lư Sư Tôn! Phải làm sao đây?"
Tôi đáp:
"Tôi cho anh một tấm phù "trấn tà tâm du thần", anh đốt rồi cho con trai uống, hy vọng cháu sẽ bình thường trở lại."

Phù "trấn tà tâm du thần" như sau:


![image](/img/img_ce48382faf7c58201d6618dbf5da1d70.png)


Tôi gia trì phù rồi đưa cho anh.
Kết quả:
Con trai anh đã bình thường rồi! Lần đầu tiên cháu ra khỏi phòng, ăn cơm đi ngủ như bình thường, sinh hoạt giao tiếp hoàn toàn bình thường. Cũng biết gọi bố, mẹ rồi.
Con trai anh ấy đã sống lại rồi.
Trời ạ! Đây đúng là giờ khắc khiến người ta phấn khởi, con trai đã biến thành một người hoàn toàn khỏe mạnh rồi.

Con trai anh ấy trước kia bị làm sao vậy?
Chơi điện thoại di động, chơi trò chơi điện tử đến mê mẩn cả người. Bất kể ban ngày, bất kể ban đêm, không ăn không uống, không đi ra khỏi nhà, trốn trong phòng riêng của mình, hoàn toàn tự giam mình (bệnh tự kỷ).
Xong rồi!
Hỏng rồi!
Cả đời người đều bại hoại rồi!

Bạn nói xem, đứa bé đó đang sống, nhưng cũng giống như cái xác không hồn, ngày ngày đều chìm trong thế giới của trò chơi điện tử.
Trẻ nhỏ định lực không đủ, không có cách nào tự kiềm chế, thế là bị điện thoại di động và trò chơi điện tử khống chế.
Đầu tiên là một ngày, hai ngày, sau đó là một tuần, hai tuần, tiếp theo thì vô phương cứu chữa.
Tôi biết có người cả một đời!
Không đi học, không kết bạn, không kết hôn, không làm việc… Thân thể và tâm hồn đều dần dần bại hoại, một khi đã bại hoại rồi thì vĩnh viễn không có cách nào cải thiện được.
Bệnh tâm thần.
Bệnh tự kỷ.
Mất kiểm soát rồi! Trở thành kẻ lười biếng hoặc đồ bỏ đi!

Cho nên, tôi cảm thấy giáo dục rất quan trọng, giáo dục không chỉ là dạy ở trường học mà giáo dục từ trong gia đình càng quan trọng hơn, đừng quá ỷ lại vào điện thoại di động, xem điện thoại di động và máy vi tính phải có giờ giấc.
Tôi muốn nói rằng:
"Không phải là không thể chơi điện tử, mà cần phải biết chừng mực. Tự kiểm soát là vô cùng quan trọng, còn để bị kiểm soát thì coi như xong!"

Đây là vấn đề quan trọng cần giải quyết trong cuộc đời của con người hiện đại.
Tôn giáo cũng như vậy, phải có "trí tín" chứ không phải là "mê tín". Nếu mê tín thì cũng sẽ tẩu hỏa nhập ma.

Thơ:

**Lạc đường**

*Đã bước vào thì chớ mơ hồ
Lướt qua
Hoa cỏ trước mắt chỉ tự mình biết
Dưới trăng mùi hương thoang thoảng mấy lần
Trong mơ hương hồn lưu lại*

*Nghĩ lại
Hiểu được, mất
Phải tự kiềm chế
Chớ dạy học sinh tổn hại tinh thần
Phấn chấn lại từ đầu
Sông lớn có thể vượt qua.*


### 30. Thời kỳ dịch bệnh


Dịch cúm Covid-19 đã gần hai năm, hai năm này tôi có rất nhiều rất nhiều cảm tưởng…
Thường xuyên thấy các đệ tử đột nhiên bặt tăm. Không có một chút tin tức nào, cũng không để lại một câu nhắn nhủ, khiến tôi cảm thấy đặc biệt vắng lặng và cô độc.
Có một số người, sẽ đột nhiên xuất hiện.
Có một số người, sẽ đột nhiên biến mất.
Mọi người đều lặng lẽ gìn giữ gia đình của mình.
Không đi du lịch!
Không thấy đệ tử từ nước ngoài đến nữa!
Không có pháp hội!
Không có những dòng người!
Seattle Lôi Tạng Tự, những người cần gặp thì đã gặp rồi, còn đệ tử đến từ nơi khác thì rất ít gặp. (Khó gặp hơn rất nhiều.)
Tóm lại, gặp nhau xong, có cảm giác "sống sót sau tai nạn".

Khoảng cách giữa người với người càng ngày càng dài, phải giữ cự ly giãn cách, không phải sao?
Khi gặp mặt đều phải đeo khẩu trang, trời ạ! Đều là những đại hiệp che mặt.
Tôi thường hỏi:
"Anh là ai?"
Đối phương đáp:
"Tôi là tôi!"
Hầy hầy! Trò chơi giải đố!

Tôi phát hiện ra một hiện tượng đáng sợ, tình cảm cũ từng có trước đây đã không còn, tình cảm mới thì cũng chưa phát sinh, cả đôi bên đều có sự cảnh giác, chỉ sợ bị lây nhiễm.
Tôi từng thuyết pháp. (Ngồi trên pháp tọa.)
Ở bên dưới, đến một người ngồi nghe pháp cũng không có.
Chỉ có ghi hình, ghi âm.
Khi tôi cười, chỉ có một mình tôi cười, lúc này tôi mới hiểu thế nào là hai chữ: "Cười ngốc."
Virus đến thế nào? Không ai biết!
Khi nào virus đi? Không ai biết!

Tôi sợ nhất là tiêm. Nhưng trên tivi ngày nào cũng diễn trò tiêm chích, hàng tháng hàng ngày hàng giờ đều phát, ép bạn phải xem cảnh tiêm chích không ngừng nghỉ! Tôi cũng bị ép phải tiêm hai mũi, thuốc của Pfizer.
Họ nói:
"Không tiêm không được!"

Hành giả được Phật quang bảo hộ thân thể là tôi đây có được chuông vàng che chắn, công phu thiết bố sam cũng không làm gì được, thế mà vẫn phải tiêm.
Bởi vì, đối phương là kẻ địch không nhìn thấy được, ví như ngọn thương sáng thì dễ nấp để tránh, còn mũi tên ngầm, tối thì khó mà phòng tránh được.
Ôi!

Năm triệu đệ tử của tôi, mỗi người đều đi bảo toàn sinh mạng của mình rồi!
Nước nào đóng cửa thì đóng cửa, nhà nào đóng cửa thì đóng cửa, người nào tự nhốt mình thì nhốt mình, tóm lại, tình hình đã thay đổi rất lớn.
Chúng ta chỉ có thể chờ đến khi dịch bệnh qua đi, tất cả chỉnh đốn lại từ đầu.

Thơ:

**Virus**

*Cứ như thế
Mi lặng lẽ đến
Cứ thế
Tất cả loạn lên như hoa rụng
Hồn tiêu phách tán*

*Nhà nhà đóng kín
Sáng tối như nhau
Chân trời miên man những trận mưa đêm
Hỏi trời cao
Khi nào mới thay đổi.*


### 31. Cảm ơn Quế Thanh


Quế Thanh là nha sĩ ở Seattle. Cô ấy là con gái của sư tỉ Từ, cũng là bác sĩ nha khoa của tôi.
Cứ một khoảng thời gian, cô ấy lại khám răng cho tôi. Cô biết Lư Sư Tôn ngày nào cũng rất bận rộn, ngay cả thứ bảy, chủ nhật cũng không nghỉ ngơi. (Tôi không có hai ngày nghỉ cuối tuần.)
Thế là, cô ấy nghĩ ra một cách, vào lúc bình thường khi tôi ăn cơm tối xong, cô ấy liền tự mình lái xe đưa tôi đến phòng khám của cô ấy để khám.
Khoảng thời gian ngắn ngủi đó.
Là thời gian rảnh rỗi của tôi.
Đó cũng là lúc bác sĩ Quế Thanh đã tan làm rồi. Nhưng cô ấy đặc biệt phục vụ tôi.
Cô ấy cũng đã hẹn một người trợ lý để phục vụ tôi.
Tôi vô cùng cảm ơn cô ấy!

Cảm ơn không thể chỉ nói ngoài miệng, thế là tôi đã đem hai chiếc hồng bao, một chiếc đưa cho người phụ tá, một chiếc đưa cho bác sĩ Quế Thanh.
Buổi tối ngày 5 tháng 10 năm 2021.
Vừa làm sạch và đánh bóng răng.
Vừa trồng răng.
Bận bịu suốt hơn một tiếng đồng hồ.
Sau khi làm xong, tôi đưa cho người trợ lý và sư tỉ Quế Thanh mỗi người một chiếc hồng bao, đó là tấm lòng thơm thảo của tôi.

Hai ngày sau, sư tỉ Quế Thanh viết một bức thư đưa cho tôi, ngay cả hồng bao cũng gửi lại.
Thư của cô ấy viết như sau:
*Con chào Sư Tôn!
Dưới đây là mục "Trò hỏi Thầy đáp".
Sư Tôn:
"Hồng bao này một cái tặng cho trợ lý, một cái tặng cho cô, trên hồng bao còn viết chữ "phúc" nữa."
Quế Thanh:*
*"Trong hồng bao có một tờ tiền giấy, số tiền của tờ tiền giấy là một con số phải không?"
Sư Tôn:
"Đúng!"
Quế Thanh:
"Vậy thì cảm tạ Sư Tôn!"
Sau khi về nhà phát hiện ra trong hồng bao không chỉ là một tờ tiền giấy, số tiền cũng không phải là một con số, mà là một hồng bao lớn. Tâm ý của Sư Tôn con đã nhận rồi, hồng bao và sự ban phúc con cũng rất vui mừng nhận rồi, cảm tạ Sư Tôn!
Món cúng dường nho nhỏ này của con cũng xin Sư Tôn nhận cho!
Đệ tử Quế Thanh kính thư.*

Ôi! Cô ấy lại đem số tiền trong hồng bao làm thành cúng dường để hoàn trả lại tôi.
Tôi đưa!
Cô ấy trả!
Lại còn gửi đến một bài "Trò hỏi Thầy đáp" nữa, tôi thật sự cảm ơn Quế Thanh!

Tôi chỉ biết viết một bài thơ:

**Cảm ơn**

*Một chiếc xe chở tôi đi
Một chiếc xe chở tôi về
Miệng há ra
Bốn bàn tay bận bịu (cả tay của người trợ lý)*

*Ngồi trên ghế "nóng"
Chấn chỉnh lại vô số đỉnh núi lộn xộn (ví von những chiếc răng như đỉnh núi lộn xộn)
Kiểm tra kĩ càng
Chứ không chỉ nói suông*

*Một lúc sau
Mưa tạnh mây tan
Tôi chỉ có thể nói lời cảm tạ
Tất cả đã nắng ráo rồi.*


### 32. Cảm tưởng khi đi thang máy


Ở nước Mỹ, tôi có một thói quen khi đi thang máy, đó là khi tôi đi đến gần thang máy, tôi sẽ gật đầu với người ở bên trong một cái, sau đó nói một tiếng "hi" [xin chào].
Đi ra khỏi thang máy, tôi cũng gật đầu, nói một tiếng "hi" rồi đi ra.
Nếu bên trong thang máy không có người nào thì không cần làm như vậy. Nếu có người đi vào, tôi cũng sẽ gật đầu với người đó, rồi nhường chỗ một chút cho họ đứng.
Có khi, một số người da trắng rất thân thiết!
"Ông khỏe không? Hôm nay ấy!"
Tôi đáp:
"Tốt! Thế còn ông?"
Lúc này có thể nói chuyện vài câu, trong lòng mỗi người đều rất thư thái.
Sau đó, cửa thang máy mở ra, đường ai nấy đi. Đây là phép lịch sự và ấm áp trong thang máy.

Ở Mỹ.
Đi vào thang máy, cười một cái với nhau.
Gật đầu một cái với nhau.
Nhường chỗ cho nhau.
Những hành động này đều có cả…
Nói "chào buổi sáng", nói "chúc ngủ ngon".

Còn như:
Tôi về Đài Loan.
Tôi sống tại khu nhà cao ốc, hàng xóm đều là người quen, gặp mặt nhau thì mọi người đều rất khách khí.
"Đã lâu không gặp ông rồi!"
Tôi nói:
"Đúng vậy. Tôi mới từ Mỹ về!"
Tôi hỏi:
"Gần đây khỏe không?"
Họ đáp:
"Cũng tàm tạm!"
Rất tốt! Rất thân thiết!

Trong thang máy của trung tâm thương mại ở Đài Loan:
Tôi lại có thói quen gật đầu và nói một tiếng "hi" nho nhỏ. Người ở bên trong nhìn tôi. Không nói gì.
Tôi có một cảm giác có khoảng cách giữa người với người, đối với nhau:
Không gật đầu.
Không cười khẽ.
Không nói chuyện.
Ai nấy đều là người gỗ.
Mọi người chen chúc lẫn nhau, đều không ai lên tiếng. Chỉ có khi muốn đi ra khỏi thang máy thì người bên trong mới nói: "Xin lỗi!". Rồi lách khỏi đám người, chen ra ngoài, giống như bóp kem đánh răng vậy, chen ra, tự do rồi.
Đi thang máy!
Tôi có dịp thưởng thức khuôn mặt của mỗi người, hỷ nộ ái ố, chao ôi! Đây là một cuộc đời rất nhỏ bé.

Thơ:

**Thang máy**

*Nuốt vào
Nhả ra
Điện chuyển đi đầy những tâm tư*

*Mỗi người một con đường riêng
Mỗi người một nơi ở riêng
Những con người xa lạ
Bỗng dưng tụ tập lại một chỗ
Giống như
Những cái cây*

*Tiễn mọi người
Về xa xăm
Từng hộ lại từng hộ.*


### 33. Ký sự cầu mưa


Lần đầu tiên California ở Mỹ hạn hán, cháy rừng lớn.
Tôi mời bốn bà bác ở California đến đình Long Vương để cầu Hải Long Vương làm mưa.
Bốn bà bác ấy là:
Tôn Ái Trân.
Trần Truyền Phương.
Ngụy Tư Nhan.
Tưởng Quan Dung.
Người tuổi cao nhất là 80 tuổi, người tuổi ít nhất là hơn 70 tuổi, họ đều sống ở California.
Trong số đó, bà Tôn Ái Trân có tương ứng lớn với Quan Thế Âm Bồ Tát, bà Ngụy Tư Nhan thì làm Hộ Ma (hỏa cúng) có thành tựu, bà Trần Truyền Phương và Tưởng Quan Dung thì đều là những đệ tử ưu tú.
Tôi cho rằng:
Họ đi cầu mưa thì nhất định sẽ có hiệu quả.
Sau đó.
Quả nhiên ứng nghiệm.

Những cơn mưa này ban đầu trút xuống ở ngoài khơi California, đột nhiên một trận gió kỳ lạ thổi tới, trận gió kỳ lạ này đã thổi mưa từ ngoài biển vào trong nội địa California, thế là cơn hạn hán đã được làm dịu đi, những đám cháy rừng lớn cũng đã tắt lụi rồi.
Đây là lần đầu tiên cầu mưa thành công. Rất đáng chúc mừng.

Năm 2021, California nước Mỹ lại hạn hán, lại có cháy rừng ở nhiều nơi, đã lâu mà chưa thể lắng dịu.
Thế là, trên pháp tọa ở Seattle Lôi Tạng Tự ở Mỹ, tôi nói:
"California hạn hán, cháy rừng lớn, vẫn lại nên mời bốn bác gái ở California cầu mưa mới được."
Có người hỏi:
"Vì sao Lư Sư Tôn không đích thân cầu mưa?"
Tôi đáp:
"Thứ nhất, bốn bà bác sống tại California. Thứ hai, bốn bà bác hợp lực cầu mưa, có linh có nghiệm. Thứ ba, bốn bà bác có Quan Thế Âm Bồ Tát theo bên cạnh. Thứ tư, việc bình thường này không cần tôi đích thân làm."
Thế là tôi nói:
"Duyên cầu mưa nằm ở bốn bác gái."

Bốn bà bác ở California nghe lời tôi, bèn liên hệ với nhau, vào đầu tháng 10 từ California bay đến Seattle ở Washington, làm lễ cầu mưa tại đình Long Vương ở Seattle Lôi Tạng Tự.
Họ niệm chú Long Vương. Dâng cúng dường.
Tay kết thủ ấn Long Vương. Niệm kinh.
Viết sớ văn.
Nhiễu quanh hòn đá Long Vương.
Lễ bái Long Vương.
Phát nguyện.
Tổng cộng sáu ngày.
Kết quả:
California bỗng dưng mây đen đầy trời, sau ngày 11 tháng 10, California bắt đầu đổ mưa! Mưa liên tục không ngừng.

Tôi viết bài thơ nhỏ:

**Cầu mưa**

*Mưa California
Mây đen kín đặc bầu trời
Mưa
Chớp
Gió lớn nổi khắp nơi*

*Mưa bay lả tả
Mặt đất ướt đẫm
Sông
Núi
Sáng và chiều*

*Bốn bác gái thành kính cầu mưa
Bồ Tát cùng dõi theo chăm chú.*


### 34. Tình thân


Năm 2020, năm 2021, đã hai năm rồi tôi không trở về Đài Loan!
Nhà ở Đài Loan, vắng vẻ trống không.
Đài Loan Lôi Tạng Tự, pháp hội hàng vạn người vào mỗi ngày thứ bảy, những khuôn mặt quen thuộc đã dần dần không còn thấy nữa.
Còn nữa, các em gái của tôi, đã rất lâu rồi mọi người không gặp nhau!
Ôi chao!
Nhớ quá!
Những điều này đương nhiên đều là cái họa do dịch cúm virus Corona gây ra, thời kỳ dịch bệnh, các nước đóng cửa, nhà nhà đóng cửa, ngay cả cửa lớn của các ngôi chùa cũng không được mở nữa.
Tôi nhớ các đệ tử!
Họ đều ở trong trái tim tôi, làm sao tôi có thể không nhớ họ chứ?
Người với người, dường như khoảng cách càng ngày càng xa.
Không biết mọi người có được bình an không?

🌟

Ở Mỹ.
Con gái tôi Lư Phật Thanh có nhà riêng của mình.
Con trai tôi Lư Phật Kỳ cũng có nhà riêng của mình.
Hai đứa cháu tôi, Lư Hoằng và Lư Quân, tôi cũng không thường xuyên gặp mặt chúng.
Nguyên nhân là:
Tôi và Sư Mẫu thường xuyên gặp khách nước ngoài, gặp những đồng môn đến từ các bang khác. Và vì thế, con trai con gái và các cháu đều sợ.
Sợ cái gì?
Sợ khách nước ngoài, sợ những đồng môn đến từ bang khác lây nhiễm cho tôi và Sư Mẫu, rồi sau khi họ lây nhiễm cho tôi thì tôi lại lây nhiễm cho các con các cháu, cho nên chúng tôi tương đối ít gặp mặt.
Cho dù có gặp mặt thì cũng:
Đeo khẩu trang.
Giữ khoảng cách an toàn.
Không được ôm ấp.
Không được cùng ăn.

Tôi và Sư Mẫu đồng ý với yêu cầu của các con và yêu cầu của Lôi Tạng Tự, chúng tôi đều đi tiêm hai mũi vaccine Pfizer.
Bây giờ lại còn phải tiêm mũi thứ ba nữa!
Nghe nói những người đã tiêm mũi thứ hai rồi cũng có rất nhiều người bị lây nhiễm, rõ thật là không hay tí nào.
Tiêm! Tiêm! Tiêm…
Hơn nữa, dịch cúm mùa lại sắp đến rồi, cũng lại phải tiêm phòng cúm mùa nữa.
Lại phải tiêm.
Ôi chao! Khi nào mới không phải tiêm?

Ở Mỹ, ngay cả cháu của mình cũng không được gặp, có thể không nói đến tình thân sao?
Ở Đài Loan, Lôi Tạng Tự cũng không được tụ tập, vậy trở về Đài Loan có thể làm cái gì?
Xin mọi người thứ lỗi!
Bởi vì đây là thời kỳ dịch bệnh mà!

Viết một bài thơ:

**Đành vậy**

*Dịch bệnh này
Vốn dĩ là vô hình
Lúc âm u
Lúc sáng trong*

*Sóng dâng
Sóng rút rồi sóng lại dâng
Đợt dịch bệnh này
Nặng trĩu*

*Đành chịu sự xa cách
Khách chẳng thể nào đến gặp
Chỉ còn nước mắt đẫm tay áo.*


### 35. A La Hán trụ thế


Ở Seattle Lôi Tạng Tự, tòa nhà đầu tiên bên tay phải, tầng trên là thư viện, tầng dưới là nhà ăn.
Đi vào cửa nhà ăn là nhìn thấy bức tượng Tân Đầu Lư. Chúng tôi gọi ngài là:
"A La Hán trụ thế."
(Trụ thế tức là sống tại thế giới Ta Bà.)
Tướng mạo của ngài gầy gò, trợn mắt há miệng, đôi lông mày trắng dài buông xuống rất dài.
Chúng tôi cũng gọi ngài ấy là:
"Trường Mi tôn giả Tân Đầu Lư." [Tôn giả Tân Đầu Lư có lông mày dài.]

Điển cố của ngài ấy là:
Khi Phật Đà trụ thế, Trường Mi tôn giả thường hiển lộ thần thông bừa bãi. Phật Đà quở mắng ngài rằng:
"Sau này ông sẽ vĩnh viễn ở tại thế gian!"
Thế là, Trường Mi tôn giả Tân Đầu Lư vĩnh viễn lưu lại ở nhân gian.

Theo như tôi biết:
A La Hán có phân làm bốn bậc:
Tu Đà Hoàn — Nhập Lưu. (sơ quả)
Tư Đà Hàm — Nhất Lai. (nhị quả)
A Na Hàm — Bất Lai. (tam quả)
A La Hán — Ly Thế. (tứ quả)
Thực ra, A La Hán trụ thế cũng tương đương với Nhập Lưu. Hai chữ "Nhập Lưu" này rất có ý nghĩa, tôi giải thích hai chữ này là "nhập vào dòng chảy dục vọng của thế giới Ta Bà".
Thế nhưng, Tu Đà Hoàn có nhập vào dòng chảy dục vọng không?
Thật ra là không phải, Tu Đà Hoàn mặc dù là Nhập Lưu, nhưng duy trì được giới thể thanh tịnh.
Không nhập vào sắc thanh hương vị xúc pháp.
Vì thế, Nhập Lưu nhưng thật ra là không nhập lưu.
(Điều này trong kinh Kim Cang đều đã giải thích rõ ràng tỉ mỉ.)
Nhập Lưu. (trụ thế)
Nhất Lai. (trụ thế một lần)
Bất Lai. (Bất Hoàn thiên)
Ly Thế. (Tứ Thánh giới)

Những điều này trong kinh Kim Cang tôi đều đã giải thích tường tận, Nhập Lưu tức là không nhập lưu.
Tương tự như vậy, nó có ý nghĩa là ở tại ngũ trọc ác thế nhưng không bị ô nhiễm. Chúng ta thường nói:
"Hoa sen gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn."
"Sống trong ngũ dục lan tràn nhưng vẫn có thể bảo trì được thanh tịnh."
Sắc không mê, thanh không mê, hương không mê, vị không mê, xúc không mê, pháp không mê.
Tôi có thể!
Các đệ tử có thể như vậy không?

Thơ:

*Tôi sống ở tầng cao thường tu thanh tịnh
Nhìn mây
Nhìn trăng*
*Lòng ung dung*

*Tiệc rượu phòng hoa dòng chảy tình ái
Đêm nay như vậy
Đêm mai như vậy
Đến khi nào dừng*

*Ngày tháng dễ dãi tùy tiện qua
Tri không bất không
Minh không lý không
Chẳng bị ràng buộc
(Nhập lưu cũng như không nhập lưu.)*


### 36. Ký sự thưởng phong


Ngày hôm ấy.
Ba giờ chiều ngày 14 tháng 10 năm 2021.
Tôi lái xe xuất phát từ Seattle Lôi Tạng Tự, đi qua quận Bellevue đến trung tâm quận Redmond.
Chính ở phía trước công viên Marymoor, tôi chợt phát hiện ra hàng cây lá phong hai bên đường đều đã đỏ rồi.
Đoạn đường này không thể xem là dài, nhưng cũng không thể xem là ngắn.
Trong chốc lát, tôi tiến vào trong cảnh sắc đẹp đến nghẹt thở của màu phong đỏ.
Cái sắc đỏ ấy không có cách nào mô tả được.
Tựa như lửa.
Tựa như máu.
Vừa hừng hực.
Vừa mướt mát.

Trong tích tắc đi vào trong mắt, nhuộm đỏ cả trái tim tôi.
Tôi nghĩ đến câu thơ: "Lá đỏ ngập núi như thiêu đốt."
Tôi nghĩ đến:
Vườn hoa ở Nam Sơn Nhã Xá, có một cây lá phong, đương nhiên nó cũng đỏ rồi, đó là một chấm đỏ trong muôn vàn đám xanh.
Nhưng,
Chẳng thể bằng được với sự rực rỡ xán lạn ở đây. (Như chim công xòe đuôi.)
Cây phong đỏ trong nhà tôi là thơ.
Còn cây phong đỏ ở đây là cả một dàn hợp xướng.

Tôi có một đệ tử sống ở đất nước khác, viết thư cho tôi, đệ tử nói:
"Thỉnh Lư Sư Tôn tặng cho con hai chiếc lá phong đỏ có được không? Con muốn làm thẻ kẹp sách!"
Tôi nghĩ, việc này thì có tốn công sức gì đâu, thế rồi tôi liền ngắt hai lá phong gửi cho đệ tử sống ở nước khác này.

Tôi nhớ đến bài thơ "Đậu đỏ":
*Đậu đỏ ở phương nam
Xuân đến mọc mấy nhánh
Khuyên chàng hãy năng nhặt
Vật này là tương tư.*

Trong thoáng chốc, trong não tôi đã thay đổi bài thơ này:
*Phong đỏ ở phương bắc
Mướt xinh khắp trên cành
Khuyên chàng thường cất kĩ
Thấy lá như thấy em.*

Tôi từng trông thấy đậu tương tư, trông chúng giống như những viên tròn ở trên bàn tính, nhưng đặc ruột. Để trong lòng bàn tay, chúng đỏ tươi lấp lánh.
Thế nhưng,
Phong đỏ thì khác, nó là phiến lá mỏng mỏng, những đường gân rõ ràng tỏa ra khắp xung quanh, tràn đầy sức sống.
Tôi thích tỏa đi khắp nơi.
Đương nhiên, màu đỏ của lá phong cũng rất ngắn ngủi, nhưng điều này cũng là một sự khai sáng cho chúng ta.
Hãy trân trọng thời gian ngắn ngủi.

Thơ:

**Phong đỏ**

*Lá tựa như hoa
Thưởng thức cả đoạn đường
Xa xăm tận chân trời
Tôi là người khách chẳng màng danh lợi
Chỉ phiêu bạt
Chưa về nhà*

*Phong đỏ
Đánh thức sớm mùa thu
Hơi lạnh
Mấy ai biết
Đông đến rồi*

*Lá phong làm kẹp sách
Dù phai màu
Vẫn còn gân
Gờn gợn như làn sóng.*


### 37. Trò hỏi thầy đáp


Gần đây, rất nhiều đệ tử ở khắp nơi trên thế giới gửi thư đến hỏi thắc mắc, còn tôi thì ngồi trên pháp tọa lần lượt trả lời.
Thế là hình thành nên hình thức "Trò hỏi Thầy đáp".
Ví dụ:
Trò hỏi:
"Tư duy quan trọng hay là thực tu quan trọng?"
Thầy đáp:
"Phật giáo là tu bằng tư duy. Hai cái đều quan trọng, cái trước là trí huệ từ nhất niệm mà đốn ngộ, cái sau là sự sáng tạo của vô hạn."
Trò hỏi:
"Thiền là gì?"
Thầy đáp:
"Thiền chính là ngộ."
Trò hỏi:
"Có cần nghiên cứu công án không? Hay là tự tính thanh tịnh?"
Thầy đáp:
"Nghiên cứu công án là một hình thức, càng cần phải thông qua thực tiễn, chứng minh tự tính thanh tịnh và tất cả tự tính thanh tịnh."

Trò hỏi:
"Vì sao nói chúng sinh đều có Phật tính? Con muỗi cũng có Phật tính sao?"
Thầy đáp:
"Khi Phật Đà ngộ đạo đã nói, chúng sinh đều có Phật tính, con muỗi là một trong những chúng sinh, đương nhiên cũng có Phật tính. Cá nhân tôi nghĩ rằng, Phật tính là Chân Như, Chân Như là Phật tính, bao hàm tất cả hữu tình, vô tình. Nhưng, muốn thành tựu pháp nhĩ bản nhiên thì phải biết có lớn nhỏ nhanh chậm."
Trò hỏi:
"Con muỗi chỉ biết đốt người ta, làm gì có Phật tính gì chứ?"
Thầy đáp:
"Con muỗi không có trí tuệ, đương nhiên không thể biết mình có Phật tính, nhưng nếu con muỗi có trí tuệ thì nó sẽ biết."
Trò hỏi:
"Khi nào con muỗi mới có trí tuệ?"
Thầy đáp:
"Trong tương lai rất xa."
(Kiến, gián, côn trùng nhỏ, thằn lằn,… đều như vậy.)

Chú thích:
Nghe nói: có một lần Xá Lợi Phất nhập vào thiền định rất sâu, linh hồn của kiến tập trung lại hỏi Xá Lợi Phất đến khi nào chúng mới đầu thai làm người?
Xá Lợi Phất đáp:
"Trong tương lai rất xa!"
Ôi chao! Thật quá xót xa! Có thể thấy thân người thật sự là rất quý giá.

Trò hỏi:
"Làm sao có thể tự do tự tại?"
Thầy đáp:
"Khi đạt đến pháp nhĩ bản nhiên. Là thanh tịnh, là vốn có, là tự nhiên."

Thơ:

**Trò hỏi Thầy đáp**

*Trò hỏi
Một chiếc thuyền lá đi về đâu
Thầy đáp
Thuyền nhẹ đã đi qua muôn trùng núi non
Trò hỏi
Tà dương có gì hay
Thầy đáp
Phương tây tỏa ánh huy hoàng
Trò hỏi
Nếu chim nhạn sợ lạnh
Thầy đáp
Có thể đậu trên sa mạc
Còn hỏi gì nữa không
Bạn hỏi tôi sẽ đáp*
*(Tám vạn bốn nghìn nghi vấn không có con đường.)*


### 38. Đi tìm cái Ta


Tam pháp ấn của Phật giáo là:
Vô thường.
Vô ngã.
Tịch tĩnh.
Chư hành vô thường, chư pháp vô ngã, niết bàn tịch tĩnh. (Chân lý vĩnh viễn không bao giờ thay đổi.)
Tam pháp ấn này nhìn thì có vẻ rất bình thường, chả có gì cả!
Thế nhưng, nếu nghiên cứu sâu sẽ thấy, học vấn này là một điều bí ẩn lớn nghìn đời!

Lấy "vô ngã" làm ví dụ:
Cái gì là ta?
Dùng cái gì để tượng trưng cho ta?
Ý nghĩa chân thực của ta là gì?
Chúng ta quan sát ngược lại bản thân thì sẽ phát hiện ra tính bất định của bản thân.
Sinh ra, nhi đồng, thiếu niên, thanh niên, tráng niên, già. Vẻ bề ngoài luôn luôn biến đổi. (tính bất định)
Vào mỗi độ tuổi, tư tưởng đều không giống nhau. (tính bất định)
Thân thể thay đổi từ lớn lên, cường tráng, lão hóa, sinh bệnh. (tính bất định)
Cuối cùng là chết!

Trước khi sinh ra, ta ở đâu?
Sau khi chết đi, ta lại đi đâu?
Khi ta đang còn sống, ta đã tìm kiếm "ta" rồi, kết quả căn bản là tính bất định. (Tìm kiếm "tự ngã" nhưng tìm không được.)
Còn sau khi chết thì lại càng tìm không được. Đất, nước, lửa, gió tứ đại phân rã rồi thì ta là cái gì?
Cho nên, chân đế của Phật giáo thật sự là:
"Vô ngã."
Vì thế bốn câu kệ là:
Vô ngã tướng.
Vô nhân tướng.
Vô chúng sinh tướng.
Vô thọ giả tướng.
Sau khi ta đã hiểu về "vô ngã" rồi, bất luận bạn tìm kiếm "tự ngã" như thế nào, đến khi hoàn toàn không tìm được, bạn mới hiểu chân đế của "vô ngã".
Diễn biến tiếp sau đó là:
Không có gì để mong cầu.
Không có gì để bám trụ.
Không có gì đáng kể.
Không có được hay mất.

Sau khi xác định rõ cái này rồi, bạn sẽ biết hàm nghĩa của câu "thiên thượng địa hạ, duy ngã độc tôn".
Cái tôi này, là tự tính.
Cái tôi này, là Phật tính.
Cái tôi này, là chân như.
Cái tôi này, là vô vi.
Cái tôi này, là bản nhiên.
(Tự tính Di Đà pháp tính thân.)
Tôi biết phương pháp tu hành thực tiễn của pháp Đại Thủ Ấn.
Chuyên nhất du già.
Ly hý du già.
Nhất vị du già.
Vô tu du già.
Tôi hét lớn một tiếng, tiếng gầm sư tử, bạn có hiểu không?

Thơ:

**Vô ngã**

*Ai là ai
Ta chẳng phải ta
Bí ẩn như sương mù dày đặc*

*Đến Ta Bà
Rời Ta Bà
Tìm kiếm thứ hư vô trống rỗng*

*Thì ra là như vậy
Cả quãng đường tìm kiếm
Trở về không ở đâu.*


### 39. Cỏ nhỏ


Phía trước cổng lớn ở Chân Phật Mật Uyển có hai bãi cỏ, tôi đi vào Chân Phật Mật Uyển sẽ nhìn thấy chúng trước tiên.
Khi mưa nhiều thì cỏ xanh mướt.
Khi mưa ít thì cỏ khô héo một màu vàng úa.
Khi khô hạn thì cỏ trụi trơ.
Tôi nhìn cỏ là biết bốn mùa xuân, hạ, thu, đông.

Tôi chưa bao giờ lo lắng cỏ sẽ khô héo mà chết hết, bởi vì tôi biết, hễ mưa xuống là cỏ lại mọc lên.
Rõ ràng là cả bãi cỏ đã khô héo hết cả, thế nhưng hễ mưa xuống là lại biến thành một thảm cỏ xanh mướt.
Tôi rất ngạc nhiên và thán phục sức sống của chúng, thời tiết có khắc nghiệt thế nào, hạn hán, đại hạn, thiếu nước, nước đọng, nhiều tháng không có mưa, nửa năm không có mưa, nhìn bề ngoài thì rõ ràng là không còn một chút sinh khí nào, thế nhưng chúng bất ngờ sống lại.
Đúng là:
"Sống dai!"
"Sống dẻo!"
"Sống khổ!"
"Sống tệ!"
Nhưng,
Hễ thời cơ đến thì cỏ lại sống lại!

Tôi nói: "Tôi nguyện là một cây cỏ nhỏ!"
Cuộc đời này của tôi đã trải qua rất nhiều khổ nạn, tính mạng đã phải chịu nhiều uy hiếp nghiêm trọng.
Sát thủ hắc đạo.
Bắt chẹt sách nhiễu.
Phỉ báng gièm pha.
Hăm dọa.
Khủng bố.
v.v…
Thế nhưng,
Cuối cùng tôi đã sống đến tận bây giờ!

Tôi cảm thán:
"Ông Trời phù hộ, khi tính mạng tôi như ngọn đèn dầu khô kiệt, ấy thế mà đều sống lại."
Nguyên nhân ở đây là:
"Đạo tâm không thối lùi!"
Con người tôi đây không có gì là tài ba ghê gớm, chỉ là một phàm phu, chỉ biết rằng mình như con tốt qua sông, chỉ có bước tiến lên phía trước.
"Tâm bền bỉ lâu dài là số một!"

Tôi,
Một ngày không tu, một ngày là ma.
Một ngày không viết sách, một ngày hồn bay phách lạc.
Một ngày không vẽ tranh, một ngày đánh mất cái lõi tâm linh.
Tôi chả có gì!
Cứ như vậy mà duy trì, tôi chẳng có cốt truyện, cốt truyện chính là "sự tinh tấn".
Tôi phát nguyện: "Không thành Phật, không dừng lại. Sống một ngày, viết một ngày. Sống một ngày, vẽ một bức tranh."
Tôi là cỏ nhỏ, cỏ nhỏ bất tử, lại mọc lên rồi!

Thơ:

**Cỏ nhỏ**

*Lúc không mưa
Thiếu nước
Héo lưa thưa*

*Hoa nở
Hoa tàn
Thêm tiều tụy*

*Tôi thường rơi lệ
Thỉnh thoảng cũng say
Nhưng đưa mắt nhìn
Đã lại xanh mướt.*


### 40. Mấy viên “đá” của tôi


Gần đây, tôi bỗng nhiên muốn xem những thứ trong tủ bảo quản tài sản ở ngân hàng của mình, thế là tôi liền đi đến ngân hàng.
Bên dưới những tài liệu quan trọng, tôi nhìn thấy những viên "đá" của tôi.
Bao nhiêu viên?
Mấy viên thôi!
Dưới ánh sáng, những viên "đá" ấy sẽ tỏa ra những tia sáng lấp lánh không gì sánh bằng.
Mấy carat?
Viên nhỏ thì một carat, viên to cũng có.
Viên to thì mấy carat?
Tôi không dám nói.
Ngài, Lư Sư Tôn làm sao mà có những viên "đá" này?
Rất đơn giản, chúng là do những đệ tử giàu có tặng cho tôi.
Ví dụ như Thượng sư Liên Tín, ông ấy tặng tôi chiếc xe Rolls-Royce đẳng cấp số một thế giới.
Cô Hanifa tặng tôi một chiếc xe Rolls-Royce.
Chiếc đầu tiên thì đã bán mất rồi! (Bởi vì bị hỏng.)
Chiếc sau thì mỗi ngày tôi đều lái!
(Chính là cái kiểu trên nóc xe là cả một bầu trời đầy sao, đôi khi cũng có cả sao băng nữa, là mẫu xe mới nhất.)

Mấy năm nay, tôi:
Ăn ở Lôi Tạng Tự.
Mặc trang phục Lama.
Sống ở Nam Sơn Nhã Xá.
Đi bằng xe Rolls-Royce.
Tay không có thói quen đeo nhẫn, mặc thì ngoài quần áo Lama ra thì vẫn chỉ có quần áo Lama.
Căn bản là tôi không cần tiền để tiêu, chỉ có khi nào mua xăng thì tôi dùng tiền đổ xăng thôi.
Thế còn những viên "đá" kia thì sao?
Đeo chúng lên! Thì làm việc không tiện! (kết thủ ấn)
Không đeo! Thì chúng căn bản chính là những viên đá!
Trước kia, có một dạo tôi có đeo, nhưng sau đó cảm thấy không đeo cũng được, không đeo lâu rồi cũng quen rồi.

Tôi nghĩ đến:
Tôi đã 77 tuổi rồi, có thể sống bao lâu nữa?
9 năm đi!
Những viên "đá" này so với cái thân thể già nua bại hoại này của tôi thì tuổi thọ dài hơn rất nhiều!
Lúc này mới tỉnh ngộ:
Căn bản là bạn chẳng có cái gì cả, xe và đá quý đều là những vật bên ngoài thân. Thậm chí những thứ liền với thân cũng không phải là của bạn.
Ha! Ha! Ha!
Gom tiền có ích gì?
Gom tiền có ích sao!
Bán hết đi, đi bố thí đi! In kinh sách đi! Đi làm việc công ích đi!
Bằng không, những viên đá này của bạn muốn để lại cho ai???

Thơ:

**Đá quý**

*Đá quý đẹp
Đá quý sang
Đá quý có thể mua nhà lầu*

*Cùng là đá
Lại khác nhau
Thất trân bát bảo
Ngồi ôm qua tháng ngày*

*Có người nói một viên đá quý
Vĩnh viễn lưu truyền
Lưu truyền chính là dòng nước chảy dài
Cảnh vật càng xinh đẹp bình yên.*
(Tôi cho rằng bài thơ này mình viết rất lộn xộn, ôi chao! Bộ não của tôi căn bản là một hòn đá.)


### 41. Vướng víu lẫn nhau


Tình cảm giữa tôi và bố tôi vô cùng phức tạp.
Tôi vừa ra đời, bố tôi nói:
"Đứa bé này không phải là con tôi."
Mẹ tôi nói:
"Nó là đứa bé sinh non."
Kết quả là:
Tôi mới sinh ra đã do bà ngoại nuôi dưỡng. Sau khi bà ngoại tôi qua đời thì tôi được dì tôi nuôi. Khi dì tôi lập gia đình, tôi chỉ còn cách trở về nhà của bố mẹ tôi. Kể từ đó, chúng tôi đành vướng víu lẫn nhau.
…
Sau này, tôi khai ngộ rồi, tôi nói:
"Tôi cảm ơn bố tôi đã nuôi dưỡng tôi thành người."
Nếu không có bố tôi.
Tôi làm sao mà lớn lên?

Còn nữa:
Thế giới tình cảm giữa bố tôi và mẹ tôi, chúng tôi là phận làm con, chẳng có cách nào phân biệt được.
Chỉ đến khi già rồi, bố tôi dặn dò:
"Sau khi chết, tuyệt đối không chôn cùng mẹ chúng mày. Nhất định phải tách nhau ra!"
Bố tôi nhất ngôn cửu đỉnh. Chúng tôi không dám trái lời.
Vì thế, linh cốt của bố tôi để ở Tây Phương Cảnh tại Đài Loan Lôi Tạng Tự.
Linh cốt của mẹ tôi để ở Song Liên Cảnh Giới tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự.
Tách nhau ra.
Tách biệt rồi.
Thì sẽ không còn vướng víu nữa sao?

Còn nữa:
Tôi và Sư Mẫu (Thượng sư Liên Hương).
Tôi rất cảm ơn bà ấy.
Tình cảm của chúng tôi cũng rất vướng víu rầy rà, nhưng, cùng nhau đi qua gian khổ nhiều năm, tan tan hợp hợp. (Cãi vã chắc chắn là có.)
Có ngày nắng.
Có ngày mưa.
Nhưng rồi vẫn đi qua, chúng tôi đã đi cùng nhau gần 50 năm rồi đó!
Sư Mẫu là người có tài đức. (Năng lực siêu mạnh.)
Tôi rất bái phục!
Trong lòng tôi quyết định:
"Tôi sẽ ở bên bà ấy đến già!"
Bà ấy cũng nói:
"Tôi càng già càng ngon!"

Ha ha! Lão tăng thất tuần là tôi đây đã xuất gia rồi mà vẫn còn có một người "vướng víu", cũng không tệ nhỉ!
Tôi ngộ ra:
"Vướng víu không nhất định là xấu, cùng nhau hiểu và bỏ qua cho nhau, chăm sóc lẫn nhau là điều rất quan trọng!"
Cuộc đời này của tôi có tình thân vướng víu, có tình bạn vướng víu, có tình thầy trò vướng víu, có tình cảm vướng víu, có………..
Đây vốn dĩ chính là thế giới vướng víu.
Tôi ngộ ra:
"Bất kể nó vướng víu thế nào, tự tâm thanh tịnh là được!"

Thơ:

**Vướng víu**

*Trên đời có hoa đẹp
Nhưng cũng có cỏ xanh
Vì thế hoa mới đẹp
Yêu kiều duyên dáng nhất*

*Cái mũi thì nằm thẳng
Đôi mắt thì nằm ngang
Hai thứ cùng cộng lại
Hẹn nhau ở Tiên gia.*
(Đối với người tu hành, mắt và mũi vô cùng quan trọng, mắt nhìn mũi, mũi nhìn tim, chính là chuyên nhất du già.)


### 42. Hỗn độn


Tôi nhớ lúc tôi còn trẻ, tôi từng đọc cuốn "Thượng cổ thần thoại diễn nghĩa".
Trong sách có ghi lại rằng, thời thượng cổ, có một người tên là Hỗn Độn. Người này không có mắt, không có tai, không có mũi, không có miệng, không có thân thể, không có suy nghĩ. Chỉ là một vật hình tròn. Tôi chỉ có thể miêu tả là một sự hỗn độn như vậy.
Giống như núi.
Giống như biển.
Giống như mây.
Giống như khí.
Dù cũng là một khối tròn khá to thì cũng không biết phải hình dung thế nào.

Hỗn Độn vĩnh viễn sống như vậy, nếu dùng danh từ của Phật giáo để giải thích thì hắn chính là: "Không sống không chết."
Sau đó.
Có mấy vị đại thần cảm thấy nên giúp đỡ Hỗn Độn một chút, thế là họ tìm công cụ. Mấy vị đại thần bận rộn giúp Hỗn Độn mở mang một vài thứ mới.
Tạo ra mắt.
Tạo ra tai.
Tạo ra mũi.
Tạo ra miệng.
Nặn ra cái thân.
Có suy nghĩ.
Từ đó, Hỗn Độn nhìn thấy được, nghe thấy được, có thể hít thở, có thể ăn uống, có thân thể rồi, có suy nghĩ rồi.

Tuy nhiên:
Không mở mang, Hỗn Độn sống lâu không giới hạn.
Mở mang rồi, Hỗn Độn liền chết.
Tôi đọc xong câu chuyện về Hỗn Độn, có một cảm giác kỳ lạ đặc biệt, cảm giác này không biết nói thế nào. Cũng không thể lý giải rõ ràng.
Hỗn Độn lúc ban đầu tốt?
Hay là Hỗn Độn lúc mở mang tốt?

Ở đây dường như có một vài đạo lý, lại dường như chẳng có đạo lý gì, nếu dùng Phật giáo để giải thích thì:
Hỗn Độn chính là niết bàn.
Còn Hỗn Độn sau khi được mở mang chính là đời người.
Con người có dục vọng.
Thì sẽ chết!
Con người không có dục vọng.
Thì sẽ niết bàn!
Tôi cảm thấy nói như vậy thì cũng không đúng lắm.
Tôi nghĩ đến "trung quán" của Long Thụ Bồ Tát, trung quán là một tri thức rất lớn.
Tám điều không của trung quán là:
Không sinh không diệt.
Không đoạn không thường.
Không giống không khác.
Không đến không đi.
Đột nhiên, tôi tiến vào trong một vùng hỗn độn. Tôi có thể là hỗn độn, cũng có thể không là hỗn độn.

Thơ:

**Hỗn độn**

*Không phải cái này
Chẳng phải cái kia
Rốt cục là cái thứ gì*

*Đều vì cái tự ngã này
Ban ngày chật vật
Đêm muộn hồn phiêu
Thời gian vội vã*

*Luôn là chính mình tự gặp
Một tiếng chuông, một tiếng Không.*


### 43. **Sân hận rất đáng sợ**


Tôi xem tin tức trên truyền hình, thấy:
Một nam sinh, yêu một nữ sinh, yêu lắm yêu lắm. Thế nhưng, nữ sinh ấy lại từ chối nam sinh. Nam sinh từ yêu chuyển thành hận.
Thế là, cậu ta đã giết chết cô bé nữ sinh, đâm mấy chục nhát dao, mỗi nhát dao lại hét lên một tiếng: "Anh yêu em!"

Tôi thảo luận cùng các đệ tử về mẩu tin tức xã hội này. (Rất đáng sợ.)
Đệ tử hỏi:
"Yêu như thế mà vì sao lại hạ độc thủ tàn nhẫn đến vậy?"
Tôi đáp:
"Yêu và hận cùng xuất phát từ trái tim của một con người, yêu càng sâu đậm thì hận càng ghê gớm. Cần nhớ, đều là ảnh hưởng của tâm."
Đệ tử hỏi:
"Vì sao đâm một dao lại phải hét lên một tiếng "anh yêu em"?"
Tôi đáp:
"Đây chính là vừa yêu vừa hận!"
Đệ tử hỏi:
"Vì sao không thể kiềm chế được?"
Tôi đáp:
"Bởi vì là con người thế tục, bởi vì người thế tục không hiểu cách điều hòa chế ngự thân tâm của chính mình. Nếu có thể kiềm chế thì không đến nỗi như vậy."
Đệ tử hỏi:
"Nếu là Lư Sư Tôn thì thầy sẽ thế nào?"
Tôi đáp:
"Quan điểm về tình yêu của tôi khác với con người thế tục, yêu người ta tức là đem hạnh phúc đến cho người ấy. Nếu có người có thể làm cho người ấy hạnh phúc hơn thì sẽ nhường cho người đó."
Đệ tử hỏi:
"Thầy không yêu người đó sao?"
Tôi đáp:
"Có yêu. Nhưng người khác có thể cho người ấy hạnh phúc hơn thì nên nhường cho họ."
Đệ tử hỏi:
"Con không hiểu, yêu cũng có chuyện nhường sao?"
Tôi đáp:
"Người tu hành chúng ta nghĩ cho người khác, không nghĩ cho bản thân. Đó là tinh thần của Lư Sư Tôn tôi."
Đệ tử hỏi:
"Tinh thần của Lư Sư Tôn là gì?"
Tôi đáp:
"Bình đẳng xả." (Từ, bi, hỷ, xả.)
Đệ tử hỏi:
"Điều mà Lư Sư Tôn tu là gì?"
Tôi đáp:
"Tất cả đều là sự sắp đặt hoàn mỹ."
Đệ tử hỏi:
"Lư Sư Tôn không sân hận sao?"
Tôi đáp:
"Đặt mình vào vị trí của người khác, ta và người khác bình đẳng, thì sẽ không có hận!"

Thơ:

**Viết cho hữu tình**

*Tình cảm càng nồng đượm
Thề nguyện càng đậm sâu
Thế giới Ta Bà này
Cũng chẳng biết làm sao*

*Giờ đây tóc sương
Người ở biên thùy
Ai còn nhớ ta
Xa xăm nơi nào*

*Mây trôi về tây
Nước chảy về đông
Mang theo tình yêu của ta.*


### 44. Long Thụ và cỏ


Chúng ta biết rằng:
Trong đời quá khứ, Long Thụ Bồ Tát là Diệu Vân Tự Tại Vương Như Lai.
Long Thụ Bồ Tát là tổ sư của tám tông Hiển - Mật.
Long Thụ Bồ Tát đến Long Cung đọc kinh Hoa Nghiêm.
Long Thụ Bồ Tát mở tháp sắt ở Nam Thiên Trúc, gặp Kim Cang Tát Đỏa, nhận đại pháp và hai bộ kinh, trở thành tổ sư của Mật giáo.
Long Thụ Bồ Tát cũng là tổ sư của Trung quán tam luận, và Du già tông của Di Lặc Bồ Tát, cùng được thực hiện tại Thiên Trúc.

Chúng ta biết rằng:
Đại thừa có hai hệ tư tưởng:
Một là Trung quán.
Một là Du già. (Duy thức)
Theo như tôi biết:
Ngài Long Thụ từng học "vô tử du già", vì thế thọ mạng của ngài là vô hạn, trừ phi tự mình cảm thấy nhân duyên ở nhân gian đã hết, hoặc bản thân muốn rời khỏi Ta Bà, bằng không sẽ không chết.
Vì thế ngài Long Thụ có thọ mạng rất dài.

Có một hôm.
Tự bản thân Long Thụ đã muốn đi rồi.
Thế rồi ngài nghĩ đến ngày xưa từng cắt cỏ, đây cũng xem là "nghiệp".
Thế rồi, Long Thụ dùng đám cỏ này quấn quanh cổ mình, rồi cứ như thế rời khỏi nhân gian.
Đệ tử hỏi tôi:
"Cắt cỏ cũng coi là nghiệp sao?"
Tôi đáp:
"Cỏ cũng là sinh mạng!"
Đệ tử hỏi:
"Thế có cái gì không phải là sinh mạng?"
Tôi đáp:
"Chúng ta biết lục đạo luân hồi. Trời, người, a tu la, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Nhưng nên thêm vào thực vật, khoáng vật nữa."
Đệ tử hỏi:
"Thực vật, khoáng vật cũng ở trong luân hồi ư?"
Tôi đáp:
"Nói một cách nghiêm khắc thì đúng." (bát đạo luân hồi)
Tôi nói:
"Thực vật cũng lớn lên, sẽ thay đổi, có sinh có tử. Rễ, thân, lá, quả, hoa, hạt đều tượng trưng cho sinh mạng."
Đệ tử hỏi:
"Còn khoáng vật thì sao?"
Tôi đáp:
"Bất kì khoáng vật nào cũng có sự khác biệt từ trường mạnh yếu, có loại thì từ trường mạnh, có loại thì từ trường yếu, những thứ này đều là sinh mạng."
Đệ tử hỏi:
"Khoáng vật cũng có sinh tử sao?"
Tôi đáp:
"Những khoáng vật lớn thì từ trường mạnh mẽ, chia nhỏ thành bột thì từ trường sẽ suy yếu hoặc chết."
Đệ tử hỏi:
"Chúng ta làm sao để thích ứng?"
Tôi đáp:
"Trân trọng! Hành giả không nên tùy tiện giẫm đạp! Tất cả đều phải cảm ơn."

Thơ:

**Long Thụ**

*Long Thụ truyền bát tông
Đương thời bậc anh tài
Tư tưởng của trung quán
Phật chân đạo ở đây*

*Tam luận hương thơm phức
Bước đều trong mây xanh
Chúc mừng được tâm yếu
Ta Bà tuy cũ kĩ
Vừa hay để ta dạy.*


### 45. Vô ngã tướng


Câu kệ đầu tiên trong kinh Kim Cang là: "Vô ngã tướng."
Lời cửa miệng của tôi (Lư Sư Tôn) là:
Khổ.
Không.
Vô thường.
Vô ngã.
Tôi gặp chuyện gì cũng sẽ đều nghĩ đến "khổ, không, vô thường, vô ngã".
Đối với "vô ngã tướng", tôi đã lĩnh ngộ rất sâu sắc.
Trước khi sinh ra, ta ở đâu?
Sau khi chết đi, ta ở đâu?
Giữa lúc sống và chết, không những ngoại hình thay đổi rất nhanh mà tư tưởng nội tâm cũng thay đổi rất nhanh.
Ngoại hình nào là ta?
Ý nghĩ nào là ta?
Bởi vì đều không tồn tại nên đó chính là "vô ngã".
Lư Thắng Ngạn là tôi sao?

Tôi nhớ có người nói với tôi: "Ở Đài Loan, tổng cộng có mười sáu người tên là Lư Thắng Ngạn."
Từng có một người tên Lư Thắng Ngạn đến quy y Lư Thắng Ngạn là tôi đây.
Ha! Thật thú vị!
Lư Thắng Ngạn quy y Lư Thắng Ngạn.
Lư Thắng Ngạn là tôi sao?
Đương nhiên không phải.
Liên tục cho đến bây giờ, tôi đều tìm kiếm cái tướng chân thực của "tôi".
Tôi cho rằng tìm được tự tính thì đó là cái tôi chân thực rồi. Kì thực cũng không phải. Phật Đà nói:
"Tất cả chúng sinh đều có Phật tính." (Tự tính tương đương với Phật tính.)
Vẫn là "vô ngã". Ha!


### 46. Vô nhân tướng


Câu kệ thứ hai trong kinh Kim Cang là: "Vô nhân tướng."
Con người là do thứ gì hợp lại mà thành?
Đáp án là đất, nước, lửa, gió.
Đất — xương thịt.
Nước — máu và dịch.
Lửa — nhiệt độ.
Gió — không khí.
Khi con người còn sống thì là tứ đại tổ hợp.
Khi con người chết đi thì là tứ đại phân rã.
Con người sống thọ trăm tuổi.
Tôi (Lư Sư Tôn) thường nói với các đệ tử rằng:
"Một trăm năm sau, mọi người đang ở đâu?"
Đáp:
"Không còn nữa!"
Chính là đây! Chính là "vô nhân tướng".

Cho nên,
*Trường giang sóng sau xô sóng trước, một lớp người mới thay người xưa.
Trường giang sóng sau xô sóng trước, sóng trước chết trên bãi cát vàng.*
Tôi phát hiện ra một chuyện, những người xung quanh tôi, những người vướng víu ràng buộc với nhau quanh mọi người.
Người thân, bạn bè, đồng nghiệp, thầy trò… Những người này đều là những người có duyên trong đời quá khứ.
Chỉ vì luân hồi mà đến kiếp này lại dính líu đến nhau.
Ha!
Rất hay! Rất hay! Rất hay!
Tâm Kinh nói: "Ngũ uẩn đều không."
Vô sắc, vô thọ, vô tưởng, vô hành, vô thức.
Đó là vô nhân tướng.
Đó là điều Quán Tự Tại Bồ Tát khi nhập vào thậm thâm ba la mật đa đã chiếu kiến thấy.


### 47. Vô chúng sinh tướng


Câu kệ thứ ba trong kinh Kim Cang là: "Vô chúng sinh tướng".
Tôi nói:
"Trên mặt trăng có chúng sinh không?"
Đáp:
"Không." (Vô chúng sinh tướng tức là như vậy.)
Tôi hỏi:
"Trên trái đất có chúng sinh không?"
Đáp:
"Có."
Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người:
"Trái đất khi mới hình thành, ngay cả một chúng sinh cũng không có. Chỉ vì thiên nhân ở Quang Âm Thiên nhìn thấy cái hình tướng sáng sủa ở trái đất, trong lòng sinh niềm yêu thích, bèn bay đến trái đất."
Những chúng sinh này thật sự là:
Huyễn sinh huyễn hữu.
Nếu biết là huyễn.
Tức:
Vô chúng sinh tướng.

Chúng tôi đi du lịch Trung Quốc, hướng dẫn viên du lịch nói: 
"Đến Tây An đếm mộ, đến Quế Lâm đếm núi, đến Thượng Hải đếm đầu người.”
Tôi đứng trên cây cầu Thượng Hải, nhìn những đầu người nhiều vô số kể, đây có phải là chúng sinh tướng không?
Đúng.
Nhưng, bạn có biết không?
Đây chỉ là cái huyễn trăm năm thôi. Sau một trăm năm, những chúng sinh này đều không tồn tại nữa.
Vô chúng sinh tướng.
Sơn hà đại địa, những thứ bay trên trời, những thứ bò dưới đất, những thứ bơi trong nước, đều tồn tại một cách không tồn tại.
Cái gọi là chúng sinh tức không phải chúng sinh, vì không phải chúng sinh nên mới là chúng sinh.


### 48. Vô thọ giả tướng


Câu kệ thứ tư trong kinh Kim Cang là: "Vô thọ giả tướng."
Sư phụ của tôi bảo tôi:
"Vô chúng sinh tướng là tượng trưng cho không gian, vô thọ giả tướng là tượng trưng cho thời gian."
Câu nói này khiến tôi chấn động!
Có một câu kệ: "Thụ cùng tam tế, hoành biến thập phương."
Vô chúng sinh tướng là: trên, dưới, tám hướng đều không.
Vô thọ giả tướng là: quá khứ, hiện tại, vị lai đều không.
Những gì của quá khứ đã qua đi, là không.
Những gì của hiện tại cũng sẽ qua đi, là không.
Những gì của tương lai còn chưa đến, là không.

Vì thế chứng minh: "Vô thọ giả tướng."
Chúng ta từ vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng.
Chứng minh:
Cái tôi là huyễn, con người là huyễn, chúng sinh là huyễn, thọ giả là huyễn.
Vì thế:
Vô sinh vô tử.
Vô đắc vô thất.
(Chân đế của Tâm Kinh là: "Dĩ vô sở đắc cố, Bồ Đề Tát Đỏa.")
Vô chấp vô trước.
Vô tác vô vi.

Thế giới Ta Bà này, núi sông đại địa, chim bay thú chạy, chỉ là cái không huyễn nhất thời mà thôi.
Sư phụ của tôi còn nói với tôi:
"Thời gian là do con người sáng tạo ra!"
Nghĩ cho kĩ, đúng thật, thời gian năm, tháng, ngày, giờ, vốn là không. Là do con người đặt ra.
Tôi nói với mọi người:
Không không không không.


### 49. Người giác ngộ nói nhỏ


Vì vô sở trụ mà sinh tâm ấy.
Là tùy theo tự nhiên mà làm.
Tôi chẳng vì điều gì cả nên mới viết hết cuốn sách này lại đến cuốn sách khác.
Một chút vui vẻ.
Một chút tươi sáng.
Một chút không.
Ở đây có cả sự ấm áp.

Tôi sáng tác cả một đời cũng tương đương như không sáng tác, bởi vì không sáng tác nên mới gọi là sáng tác.
Ha!
Không có người viết sách.
Không có người đọc sách.
Không có nội dung được viết ra.
Bạn có biết vì sao không?
Bởi vì:
"Tất cả đều sẽ qua đi!"

Thời sơ sinh của tôi đã qua rồi, thời thơ ấu của tôi đã qua rồi, thời nhi đồng của tôi đã qua rồi, thời thanh niên của tôi đã qua rồi, thời trung niên của tôi đã qua rồi, tuổi già của tôi đang là thời hiện tại, nhưng cũng sắp qua rồi!
Những người bạn tri kỷ thì quá nửa đã ra đi. Cái này thì đã là gì. Tiếp sau đây thì những người bạn tri kỷ cũng là con số không.

Bạn nhìn thấy tôi rồi sao?
Bạn căn bản là không nhìn thấy tôi.
Bất kể là thấy hay không thấy, đều không quan trọng, bởi vì căn bản đều là không thấy.
Bạn và tôi.
Tôi và họ.
Tương tư cái không.

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/288-mot-gio-y-tuong-ky-la.md
# Title: 288. Một giỏ ý tưởng kỳ lạ
---

![image](/img/img_255be49cf0f39f1ab3e90a28a3fa4541.jpg)



## Một giỏ ý tưởng kỳ lạ


🪷 Mỗi ngày một tiểu phẩm

Văn tập số: 288
Xuất bản: 07/03/2022
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu: Năm con mắt


Buổi tối ngày 3 tháng 11 năm 2021, khoảng 12 giờ.
Tôi giúp Thượng sư Liên Hương làm kết giới phòng ngủ. Làm xong, đúng lúc tôi đang chuẩn bị trở về phòng mình tu pháp, đôi mắt Sư Mẫu nhìn thẳng vào mặt tôi, khá bình thản nhưng hơi lộ chút kỳ lạ. Bà ấy nói:
”Mặt ông lại biến đổi rồi!”
Tôi hỏi:
”Biến thành mặt gì? Bà nhìn thấy cái gì?” (Gần đây bà ấy có con mắt âm dương.)
Bà ấy nói:
”Quái vật!”
Tôi hỏi:
”Tôi biến thành quái vật gì?”
Bà ấy nói:
”Trên mặt ông có năm con mắt. Ông là quái vật, quái vật có năm con mắt.”

Tôi vừa nghe thấy vậy thì trong lòng chấn động, sửng sốt. 
Bởi vì:
Một tuần trước, tôi có một giấc mơ. 
Mơ thấy mười hai vị Cát Tường Thiên Nữ mặc thiên y với mười hai màu sắc, ríu ra ríu rít nói với tôi:
”Đại Phật tử hữu duyên hữu phận, bậc Thánh tôn học tu thành tựu, hãy mau mau theo chúng tôi đến Sắc Cứu Cánh bái kiến Phật Đà.”

Mười hai vị Cát Tường Thiên Nữ đều có vẻ đẹp tuyệt sắc. Tôi đi theo họ đến Sắc Cứu Cánh Thiên. Đúng lúc Phật Đà đang thuyết pháp cho vô số Thánh hiền.
Phật Đà trông thấy tôi đến thì Phật ngừng thuyết pháp. Vô số Thánh hiền quay đầu nhìn tôi, tôi tự cảm thấy bản thân mình chỉ là một nhân vật nhỏ bé của thế giới Ta Bà nên không dám ngẩng lên, chỉ cúi thấp đầu.

Phật Đà nói:
”Lư Sư Tôn đến trước đây, ta sẽ trao giải thưởng cho ngài!”
Giải thưởng ư?
Tôi không dám suy đoán, Phật Đà sẽ giao giải gì cho tôi, giấy khen? Tiền thưởng? Huy chương?…

Tôi đến gần Phật Đà. Phật Đà lấy ra một tấm vải đỏ phát quang, mở mảnh vải ra, bên trong có năm con mắt đang tỏa ánh sáng lấp lánh.
Phật Đà rất thân mật, ngài giúp tôi lần lượt đặt những con mắt vào trán tôi. 
Con mắt thứ nhất là nhục nhãn - là con mắt mà thân thể xương thịt có thể nhìn thấy.
Con mắt thứ hai là thiên nhãn - là con mắt của Sắc Giới Thiên, xa gần, trong ngoài, ngày đêm đều có thể nhìn được. 
Con mắt thứ ba là huệ nhãn - là trí huệ quán chiếu lý luận về chân không vô tướng.
Con mắt thứ tư là pháp nhãn - là con mắt quán chiếu tất cả pháp môn.
Con mắt thứ năm là Phật nhãn - là con mắt quán chiếu mọi loại trí huệ.
(Con mắt thứ nhất thì tôi đã có, con mắt thứ hai cũng có. Tôi rất hân hoan với ba con mắt kia.)

Phật Đà trao giải thưởng cho tôi là năm con mắt. Tôi vô cùng sung sướng. Và tất cả Thánh hiền đều ào ào vỗ tay, tiếng vỗ tay vang dội như sấm, làm kinh động đến cả Chư Thiên…

Giấc mơ này tôi không kể ra. Nhưng Thượng sư Liên Hương lại nhìn ra trên mặt tôi có năm con mắt. Thật là bất khả tư nghì không thể tưởng tượng nổi!

Tôi lấy chương này làm lời mở đầu, cuốn sách này có tên là “Một giỏ ý tưởng kỳ lạ”, mà cũng là “Một giỏ sự việc kỳ lạ”. 
Chúc mọi người: Mở sách ra có được lợi ích!

(Tháng 1 năm 2022)

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn 
Sheng-yen Lu**
17102 NE 40th Ct.,
Redmond WA 98052
USA


### 01. Nguồn gốc của con người


Có người hỏi tôi:
”Con người từ đâu đến?”
Tôi đáp:
”Tinh cha huyết mẹ, trùng dài trùng tròn.”
Người đó hỏi:
”Tôi muốn hỏi đến nguồn gốc sớm nhất ấy?”
Tôi đáp:
Căn cứ theo kinh Thánh:
Con người là do Thượng đế lấy hình dáng của chính mình mà sáng tạo ra Adam trước, sau đó lại từ một chiếc xương sườn trên người của Adam mà sáng tạo ra Eva. 
Kinh Thánh nói như vậy.

Còn căn cứ theo Nguyên Nhân Luận [Luận về nguồn gốc loài người]:
Quang Âm thiên nhân thấy địa cầu khi mới hình thành sáng rực rỡ không gì sánh bằng, liền bay đến địa cầu. Sau khi họ uống nước suối thơm và ăn đất màu mỡ thì thân thể trở nên đặc và nặng, không trở về Quang Âm Thiên được nữa, nên trở thành tổ tiên của loài người.

Còn căn cứ theo Dịch Sử:
”Bàn Cổ khai thiên lập địa, những loài côn trùng trên thân thể ngài vì gió mà rung cảm, hóa thành dân chúng.”
Điều này nói lên rằng: con người là do những loài côn trùng trên người Bàn Cổ biến hóa ra.

Còn căn cứ theo Thuật Dị Ký:
Vợ chồng Bàn Cổ là sự khởi đầu của âm dương. 
Điều này nói rằng: Bàn Cổ và Thái Nguyên Ngọc Nữ trở thành vợ chồng, sinh ra nhân loại.

Còn căn cứ theo Thái Bình Ngự Lãm:
Khi trời đất mới bắt đầu, Nữ Oa dùng đất sét để nặn thành con người. (Con người là do Nữ Oa tạo ra.)

Còn căn cứ theo Hoài Nam Tử:
Hoàng Đế sinh ra âm dương, Thượng Biền sinh ra tai mắt, Tang Lâm sinh ra tay, Nữ Oa làm 70 biến hóa.
Điều này nói rằng: con người là do các thần cùng sáng tạo ra.

Lại căn cứ theo Hoài Nam Tử:
Có hai vị thần hỗn sinh tổ chức trời đất. 
Khí thô thì trở thành trùng, khí tinh thì trở thành con người. 
Điều này nói rằng: có một thần nam và một thần nữ, hai người hợp thể, sinh ra con người và những thứ khác. 

Nhiều thần thoại và truyền thuyết như vậy thì bạn phải tin theo cái nào?

Người hỏi:
”Nhiều truyền thuyết như vậy, Lư Sư Tôn tin theo cái nào?”
Tôi đáp:
”Nguyên Nhân Luận.”
Tôi nói:
”Tôi tin rằng loài người chúng ta vốn là Quang Âm thiên nhân di cư đến địa cầu.”
Người hỏi:
”Vì sao?”
Tôi nói:
”Phật Đà nói, chúng sinh đều có Phật tính, Quang Âm thiên nhân có Phật tính rất sâu dày. Hơn nữa, tôi có tư tưởng thiên nhân hợp nhất, trời và người là một không phải là hai, Phật và ta là như nhau không phải là khác nhau.”
Người hỏi:
”Ngài không tin những thần thoại khác phải không?”
Tôi đáp:
”Cũng không phải là không tin, trong những thần thoại khác cũng có đạo lý tồn tại. Nhân loại sau này là tinh trùng (trùng dài) của người cha và trứng (trùng tròn) của người mẹ hợp lại mà sinh ra. Điều này phù hợp với thuyết trùng trên người Bàn Cổ hóa sinh ra con người.”
Người hỏi:
”Lư Sư Tôn còn tin tưởng điều gì nữa?”
Tôi đáp:
”Nhân quả luân hồi.”


### 02. Ý nghĩ do tâm


Ngày 5 tháng 11 năm 2021, 5 giờ sáng. Tôi đột ngột tỉnh dậy. 

Tôi nghĩ một lúc, bây giờ mà dậy thì vẫn còn hơi sớm, chi bằng ngủ thêm một chút, nhưng tôi lại cảm thấy đầu óc rất tỉnh táo. Tôi có một suy nghĩ kỳ lạ:
”Nếu bây giờ tôi chết thì ai sẽ đến đón tôi?”
Hai mắt tôi nhắm lại, tiến nhập vào trạng thái mông lung. Trong sát-na này, không ngờ tôi lại nhìn thấy một đám đông người, không phải là một đám đông người, mà là một đám đông ma quỷ ở âm gian. 
Là Thất Gia, Bát Gia, một trắng một đen, thè lưỡi ra, đó là Bạch Vô Thường, Hắc Vô Thường.
Đầu trâu, mặt ngựa.
Văn phán quan, võ phán quan.
Quỷ lao dịch.
Còn có Diêm La Vương của mười điện. (Tần Quảng Vương, Sở Giang Vương, Tống Đế Vương, Ngũ Quan Vương, Diêm La Vương, Biện Thành Vương, Thái Sơn Vương, Đô Thị Vương, Bình Đẳng Vương, Chuyển Luân Vương.)
Còn có Đông Nhạc Đại Đế (Thái Sơn Phủ Quân).

Tôi nhìn thấy vậy thì rất kinh sợ. Họ xếp hàng hai bên. Tôi hét lớn:
”Mọi người đến để bắt tôi sao?”
Đông Nhạc Đại Đế nói:
”Sai rồi! Chúng tôi đến để nghênh tiếp Lư Sư Tôn! Hoan nghênh! Hoan nghênh!”
Tôi nói:
”Tôi không muốn đi địa ngục!”
Đông Nhạc Đại Đế nói:
”Đây không phải là vấn đề ngài muốn đi hay không muốn đi, mà là vấn đề ngài đã phát nguyện.”
Tôi hỏi:
”Tôi phát nguyện ư?”
Đông Nhạc Đại Đế nói:
”Lư Sư Tôn! Ngài từng phát nguyện rằng, nguyện theo Địa Tạng Vương Bồ Tát, vĩnh viễn ở trong địa ngục, địa ngục chưa trống thề không thành Phật. Lời nguyện này ngài không thể quên.”
Tôi ngẫm nghĩ, quả nhiên là vậy.

Tôi nói:
”Nhưng tôi cũng từng nói, muốn đến Diêu Trì Tiên Cảnh, muốn đến Tây phương Cực Lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì.”
Đông Nhạc Đại Đế nói:
”Vậy chỉ có thể lần lượt đến thôi.”
Tôi hỏi:
”Tôi có thể biến hóa thành ba thân không?”
Đông Nhạc Đại Đế đáp:
”Vậy để xem hành vi tu hành của ngài.”
Tôi hỏi:
”Bây giờ tôi phải theo các vị đi sao?”
Đông Nhạc Đại Đế đáp:
”Đúng vậy.”
Tôi vã mồ hôi như mưa, tôi kinh hãi! Tôi hét lớn:
”Thời điểm của tôi còn chưa đến, vẫn chưa phải là lúc chết, mọi người không cần đến nghênh tiếp tôi đâu. Khi thời điểm của tôi đến, tôi muốn Bổn tôn Địa Tạng Vương Bồ Tát của tôi đến đón tôi.”

Đúng vào lúc này, Địa Tạng Vương Bồ Tát hiện thân, tỏa sáng rực rỡ, tay phải cầm tích trượng, tay trái cầm minh châu, đầu đội mũ Ngũ Phật, ngồi trên hoa sen vàng. Địa Tạng Vương Bồ Tát hét lớn một tiếng:
”Tỉnh dậy!”
Tôi lập tức tỉnh dậy!
Ôi! Vẫn là một giấc mộng Nam Kha!


### 03. Một vũng máu


Ngày 6 tháng 11 năm 2021, thứ bảy, 2 giờ chiều. Một cô gái đến gặp tôi. Cô gái yêu cầu thị giả của tôi đi ra ngoài cửa. Sau đó, cô ấy nói với tôi:
”Lư Sư Tôn! Xin thầy cứu tôi!”
Tôi hỏi:
”Chuyện gì?”
Cô gái đáp:
”Đêm nào cũng có một con ma nam đi vào phòng tôi, đè tôi xuống, lần nào cũng cưỡng bức tôi.”
Tôi hỏi:
”Cô có nhận ra con ma nam đó không?”
Cô gái đáp:
”Không quen!”

Tôi bấm ngón tay tính toán một lúc, tôi nói:
”Nhà trọ mà cô ở không sạch sẽ, có một nam thanh niên đã tự sát, là nam thanh niên đó quấy nhiễu cô.”
Cô gái đáp:
”Khi tôi chuyển vào thì cũng có nghe nói đến. Nhưng tôi nghĩ nước giếng không phạm nước sông, không oán không thù, bởi vì tiền thuê nhà khá rẻ nên tôi cũng vào ở đó, không ngờ lại phát sinh ra chuyện này.”

Tôi nói:
”Thế này đi! Tôi viết mấy chữ, cô đem về dán lên cửa sổ, nhất định có hiệu quả, con ma này không thể vào được.”
Tôi viết mấy chữ như sau:



![image](/img/img_fce7c9699302ffb94657391983b84184.png)


(Hum mama hum ni soha.) [Thần chú Bạch Tản Cái Phật Mẫu]
Tôi gia trì chú tự (hà khí), rồi tôi đưa cho cô gái đem về dán vào cửa sổ. 

Đêm đó. 
Con ma nam lại đến, hắn đứng bên ngoài cửa sổ, không thể vào được. Con ma nam lạnh lùng nói:
”Lư Sư Tôn! Ông hãy nhớ đấy, ông làm hỏng việc tốt của tôi, nhất định tôi sẽ báo thù!” (Không ngờ con ma nam đó lại nhận ra tôi.)
Ma nam đó đứng ngoài cửa la hét một hồi thì không la hét nữa. Kể từ đó thì họ sẽ sống hòa thuận với nhau sao? Không hề có chuyện đó. 
Ma nam không bỏ cuộc, lại ở bên ngoài cửa sổ nói:
”Xé câu chú này đi, tôi yêu em!”
Ma nam gọi:
”Để cho tôi vào đi!”
Thế là, cô gái lại đến tìm tôi, hỏi tôi phải làm sao. Bởi vì rốt cục thì ma nam kia vẫn không đi. 
Tôi cười! Tôi nói:
”Đơn giản thôi, tôi cho cô một cái lọ, con ma nam này gọi thì cô vỗ vào lọ hai cái rồi đậy nắp lại, sau đó trả cái lọ lại cho tôi là được.” (Tôi muốn con ma nam này trở thành ma nô lệ trong nhà tôi.)

Sau đó, cô gái đưa lại cho tôi cái lọ. Tôi mở nắp lọ ra, hắn không xuất hiện. Tôi hỏi:
”Cô vỗ mấy cái?”
Cô gái đáp:
”Không phải là hai cái sao?”
Tôi hỏi:
”Là hai cái phải không?”
Cô gái đáp:
”Xin lỗi! Tôi căng thẳng quá nên cứ vỗ liên tục, không biết là mấy cái nữa!”
Tôi nói:
”Ấy! Hắn đã hóa thành vũng máu rồi! Hình thần của con ma đều chết rồi!”
Cô gái hỏi tôi:
”Phải làm sao?”
Tôi nói:
”Mạng của ma nam đó cũng nên diệt tận thôi, chẳng có cách nào! Cảnh giác chúng ta rằng trên đầu chữ sắc có một con dao đó.”


### 04. Nữ sinh nói chuyện rất ngọt ngào ấy


Năm ấy.
Sau khi Tôn Thắng Lôi Tạng Tự tổ chức La Thiên Đại Tiếu, tôi phải rời khỏi hội trường, ngồi trên xe du lịch, đang chuẩn bị rời khỏi Oakland. Tôi kéo cửa sổ xe xuống, nhìn thấy trên vỉa hè có cô nữ sinh nói chuyện rất ngọt ngào ấy đang vẫy tay chào chúng tôi, nói tạm biệt. 
Tôi hét lớn:
”Lý Trinh Ni! Con định đi đâu?”
Lý Trinh Ni đáp:
”Con định về New York.”
Tôi nói:
”Vì sao con không đi Los Angeles?”
Lý Trinh Ni đáp:
”Ở Los Angeles con không có bạn bè!”

Tôi “ồ” lên một tiếng, không nói thêm nữa!
Xe du lịch cứ thế chạy đi! Càng đi càng xa. 
Ấn tượng của tôi đối với Lý Trinh Ni là:
Dáng người nhỏ nhắn.
Khuôn mặt thanh tú.
Nói chuyện lúc nào cũng ngọt ngào, rất cuốn hút người khác. 
……………….

Khoảng hơn một năm sau. Lý Trinh Ni xuất hiện tại Seattle Lôi Tạng Tự. Cô ấy nói:
”Lư Sư Tôn! Con đã có rồi!”
Tôi hỏi:
”Có cái gì?”
Cô ấy đáp:
”Có thai rồi.”
Tôi nhảy dựng lên! 
”Của ai vậy?”
Cô ấy đáp:
”Của chồng con.”

Thì ra sự tình là như thế này:
Ngày hôm ấy, sau khi chúng tôi vẫy tay tạm biệt, Lý Trinh Ni nghĩ Lư Sư Tôn muốn mình đi Los Angeles. Mình phải nghe theo lời của Lư Sư Tôn sao? Nhưng ở Los Angeles, mình không có một người bạn nào, ở New York mình mới có bạn chứ! 

Lý Trinh Ni cảm thấy khó xử, cuối cùng, cô ấy nghe theo lời tôi, quyết định dứt khoát đi Los Angeles. (Cô ấy nói, lời của Lư Sư Tôn không thể không nghe theo.)

Ở Los Angeles không một người quen biết. Một nam sinh nói với cô ấy:
”Chúng ta làm bạn với nhau nhé?”
Cậu nam sinh này rất thành khẩn, tướng mạo cũng không tồi. Lý Trinh Ni nói:
”Được thôi!”

Không lâu sau. Cậu nam sinh này nói với Lý Trinh Ni:
”Chúng ta kết hôn nhé?”
Lý Trinh Ni nói:
”Được thôi!”
Kết quả là bây giờ họ đã kết hôn rồi, bây giờ đã sinh con, là một đứa bé trai rất khỏe mạnh. Gia đình hạnh phúc mỹ mãn.
Đây chính là duyên phận của cô nữ sinh nói chuyện rất ngọt ngào Lý Trinh Ni. 

Tôi nghĩ: tôi chỉ nói một câu rằng sao không đi Los Angeles? Cũng không biết linh cảm của câu nói này đến từ đâu, chỉ là đột nhiên buột miệng nói ra mà thôi. 

Ai cho tôi chỉ thị tâm linh ấy? Không có!
Thật sự là không có!
Kết quả là đã thúc đẩy được một cặp vợ chồng rất đẹp đôi. Chỉ một từ: “Kỳ diệu!” 


### 05. Là Diêu Trì Kim Mẫu nói


Tháng 3 năm 2020.
Đó là lúc dịch bệnh ở Mỹ gay gắt nhất. 
Tháng 5 năm 2020. 
Em trai của sư huynh Kha Bỉnh Tường ở Seattle Lôi Tạng Tự là Kha Bỉnh Toàn và sư tỉ Hòa Địch Tư đưa con gái là Kha Phật Huệ đến gặp tôi. 

Hỏi:
”Kha Phật Huệ là bác sĩ thực tập, cô ấy được cử đến bệnh viện ở thành phố Detroit bang Michigan để thực tập ba năm.”
Vấn đề là:
1. Đó là bệnh viện có nhiều người mắc Covid-19 nhất.
2. Detroit là khu vực có đông hậu duệ của người da màu Phi Châu nhất.
3. Cách nhà quá xa.
(Họ sống ở bang Oregon, ở bờ tây. Michigan ở bờ đông.)
Họ muốn hỏi xem có thể:
Lấy cớ bị bệnh không đi.
Lấy có có việc không đi.
Trì hoãn rồi đi sau.
Yêu cầu được đi đến bệnh viện gần nhà hơn.

Tôi nhìn Phật Huệ, đó là một cô gái có tấm lòng rất lương thiện, có đôi mắt sáng, nhã nhặn và xinh đẹp. Cô ấy nói:
”Nghe theo lời Lư Sư Tôn!”
Tôi bấm ngón tay thần toán. Diêu Trì Kim Mẫu nói:
”Nhất định phải đi Detroit.”
Bố mẹ cô sốt ruột:
”Ở đó dịch bệnh ghê gớm lắm, đi thì chắc chắn sẽ nhiễm bệnh!”
Diêu Trì Kim Mẫu nói:
”Vẫn phải đi!”
Bố mẹ hỏi:
”Vì sao?”
Diêu Trì Kim Mẫu nói:
”Đi rồi sẽ gặp quý nhân!”
Vợ chồng Kha Bỉnh Toàn và Hòa Địch Tư rất lo lắng cho cô con gái này. Nhưng Phật Huệ nói:
”Nghe theo lời Lư Sư Tôn.”

Sau đó, Phật Huệ đã đi đến bệnh viện lớn ở Detroit kia. Quả nhiên không lâu sau, bác sĩ thực tập Phật Huệ đã nhiễm Covid-19, sốt cao không thuyên giảm, tôi đặc biệt vẽ một lá phù cho Phật Huệ. 
Phù thức như sau:


![image](/img/img_6952064a272107f1568b6c31cdfd9d50.png)


(Chú thích của người biên soạn: trọng điểm của phù nằm ở người vẽ phù và người uống phù. Còn một điểm quan trọng nhất là: Phật Bồ Tát có phóng quang gia trì hay không! Ba điều này kết hợp lại thì mới có hiệu quả.)

Phù này ngoài phóng quang gia trì vào chỗ sưng viêm ra thì còn khiến chứng viêm tiêu tan, chỉ cần cơn sốt thuyên giảm thì bệnh sẽ khỏi.

Ngày 26 tháng 7 năm 2021, sư huynh Kha Bỉnh Toàn và sư tỉ Địch Tư đưa Kha Phật Huệ và một bác sĩ nam làm ở bệnh viện đến cảm tạ Lư Sư Tôn.
1. Bệnh đã khỏi rồi!
2. Tất cả đều thuận lợi.
3. Thật sự đã gặp được quý nhân.

Phật Huệ nói:
”Tại bệnh viện Detroit, tình cờ gặp được một đàn anh học cùng trường, anh ấy là Andrew, khi con mắc bệnh, anh ấy đã chăm sóc con rất tỉ mỉ chu đáo.”
Phật Huệ nói:
”Con đưa quý nhân đến đây!”
Hơn nữa, chúng con đã đính hôn rồi!
Chà! Cừ quá! Cừ quá!
Tôi nghĩ:
Tôi muốn cô ấy đi Detroit. Diêu Trì Kim Mẫu nói:
”Gặp được quý nhân!”
Đây chính là cảm ứng có thật.


### 06. Điềm mộng


Gần đây, tôi có một giấc mơ, giấc mơ này rất kỳ lạ.

Có một người con gái xinh đẹp phi phàm. Mặc thiên y màu xanh lam, quần áo màu xanh da trời. Thiên y của nàng có mây trắng và ráng mây ngũ sắc bao quanh. 

Nàng bước đi một bước là vượt qua được sông lớn biển lớn, có thể bay trên không trung. Nàng mở miệng ra nói thì trong miệng xuất hiện hào quang màu trắng, chiếu sáng cả mặt đất. Trên đầu nàng có nhật nguyệt. Bên trong nhật nguyệt có rất rất nhiều vị Phật và Bồ Tát nhỏ xíu cùng đi theo nàng. 

Từ trái tim nàng phóng ra một vệt ánh sáng xanh lam, rất nhiều bệnh nhân nằm trên giường bệnh thức dậy, hết người này tới người khác đều bình phục, hơn nữa còn có thể xuất viện. 

Lúc này, không trung có một diệu âm:
*Đây là Chân Phật tử
Đến tìm Chân Phật sư
Thỉnh cầu ngài chỉ điểm
Để có duyên giải thoát.*

Mộng cảnh này hết sức thù thắng và đặc biệt.

Sau khi tỉnh lại, tôi tự mình bói toán một chút, biết rằng đây không phải là một giấc mơ huyễn tưởng thông thường. Mà thật sự là có một đệ tử Chân Phật muốn đến để nhờ cậy tôi. Thế là tôi đặc biệt lưu ý. 

Một hôm, quả nhiên là có một cô gái đến, cô đưa cho tôi một bài thơ.

*Sư Phật kính yêu
Đệ tử thảm thương
Trầm luân nổi chìm
Tại chốn nhân gian
Phiêu bạt bất định
Phiêu bạt nhiều năm
Chẳng biết thời gian
Đã bao lâu rồi*
*Đôi khi cảm thấy
Vận mệnh kỳ quái
Biến hóa khôn lường
Kiếp trước đời này kiếp sau
Bất khả tư nghì thật khó nghĩ.*

*Đời này lúc này
May mắn gặp thầy
Thừa nguyện lại đến
Đệ tử không còn 
Buồn đau thê thảm
Không còn lang thang
Lưu lạc mệt lắm
Thở thôi cũng mệt
Chung quy cũng vì
Tự mình trói buộc chính mình. *(Đây là một sự lĩnh ngộ sâu sắc.)

*Lư Sư Tôn
Đến hôm nay con mới gặp được thầy
Cầu xin Sư Phật
Đừng vội vàng bỏ đi, xin hãy bảo vệ con
Con sẽ học tập chăm chỉ
Giải thoát mình khỏi những ràng buộc
Con tha thiết thỉnh cầu Sư Phật
Lưu lại thế gian
Thật lâu lâu lâu
Đệ tử cần có Sư Phật dạy dỗ và dẫn dắt
Con yêu Sư Phật
Lời này không thể nói hết.*

Tôi đọc xong, đây là thơ không phải thơ, tất cả đều hiểu rõ rồi. Giấc mơ của tôi cũng đã ứng nghiệm rồi. 
Tôi trả lời:
*Hỡi nữ đệ tử đẹp diệu kỳ
Chịu nhận giáo huấn là đáng quý
Đại mật pháp giấu ở tâm ta
Sẽ truyền đạt hết chẳng giữ lại.*


### 07. Đại pháp thuyền


Buổi tối ngày 10 tháng 11 năm 2021, khoảng 12 giờ. 
Thượng sư Liên Hương lên giường đi ngủ. Tôi giúp bà ấy đắp chăn, chúc bà ấy ngủ ngon, sau đó tôi chuẩn bị trở về phòng mình. 
Bà ấy nói:
”Mắt tôi lại thay đổi rồi!”
Tôi nói:
”Lại biến thành mắt âm dương à?”
Bà ấy nói:
”Đúng vậy! Tôi lại nhìn thấy thế giới khác.”
Tôi hỏi:
”Bà nhìn thấy cái gì?”
Bà ấy đáp:
”Tôi nhìn thấy ông đứng trên một con thuyền pháp lớn, ông chỉ huy con thuyền pháp tiến lên phía trước, sau lưng ông có rất nhiều rất nhiều người, đó đều không phải là người, mà là ma.”

Tôi nghe nói đến sau lưng tôi có rất nhiều ma thì tôi không sợ hãi chút nào, bởi vì tôi nhìn thấy ma quá nhiều rồi.
Ma chính là “trở về”. 
Trở về nơi chốn ban đầu. 
Tôi muốn hỏi tiếp xem bà ấy còn nhìn thấy cái gì, nhưng Thượng sư Liên Hương đã nhắm mắt, một chốc đã ngủ thiếp đi. 

Tôi tắt đèn, trở về phòng mình.
Tôi nghĩ:
Hai năm nay từ 2020 đến 2021.
Cho đến…………….
Đây là thời kỳ đại dịch lan tràn, dịch bệnh hoành hành. 
Nước này và nước kia đều đã thay đổi!
Người và người đều thay đổi!
Cuộc sống đã thay đổi rồi!
Khi nào mới có thể trở về cuộc sống bình thường ngày xưa, chẳng ai có thể biết được.

Hai năm nay.
Tôi chỉ làm một việc quan trọng, đó chính là vào mỗi buổi tối, tôi lên pháp tọa, làm siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp.
Tôi đứng ở đầu thuyền, chỉ huy thuyền pháp, chạy hướng về cõi tịnh thổ Tây phương Cực Lạc thế giới. 

Trình tự của pháp này là:
Tôi biến hóa thành Bổn tôn A Di Đà Phật. 
Tôi phóng thuyền pháp lớn ra. 
Triệu thỉnh những trung ấm hữu duyên đã chết vì dịch bệnh, và cả trung ấm vô duyên đều lên thuyền pháp.
Tôi thỉnh A Di Đà Phật phóng vô lượng ánh sáng, để trung ấm hữu duyên và trung ấm vô duyên thân tâm đều thanh tịnh.
Niệm tâm chú A Di Đà Phật.
Chú vãng sinh.
Phụng thỉnh Liên Hoa Sinh Đại Sĩ trợ giúp trung ấm.
Tôi đưa tất cả trung ấm đến tịnh thổ Tây phương Cực Lạc thế giới của A Di Đà Phật.

Quá trình này tôi đã làm suốt hai năm nay. 
Hằng đêm, tôi bận rộn tới nửa đêm mới đi ngủ. 
Tôi viết một bài kệ về siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp:

*Bốn thượng sư ơn nặng như núi
Liên Sinh con kính lễ biết ơn
Truyền cho con mật pháp trân quý
Cứu con và vô lượng chúng sinh
Thành tâm con đệ tử Chân Phật
Nay dịch bệnh phát nguyện cứu độ
Nhờ mật chú cứu độ bao la
Muôn người khổ đến được bỉ ngạn.*

Và:

*Nghìn chiếc thuyền pháp nghìn chiếc hiện
A Di Đà Phật đại từ bi
Chiếu vô lượng quang diệt tội chướng
Người người tịnh hóa tỏa hào quang
Từ nay mãi sinh cõi Cực Lạc
Hàng cây thất bảo công đức thủy
Quan Âm Bồ Tát Đại Thế Chí
Nghìn đời kỳ duyên mãi lưu truyền.*

Tôi nghĩ đến:
Thượng sư Liên Hương nhìn thấy đại pháp thuyền. 
Tôi làm mật pháp siêu độ.
Thế cũng là đại tương ứng rồi!


### 08. Thêm một chương về Nghìn chiếc thuyền pháp


Ngày 13 tháng 11 năm 2021 (thứ bảy). 
Tôi ngồi trên pháp tọa siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp. (Lúc 1 giờ rưỡi đêm.)

Lúc tôi triệu thỉnh:
Khi trung ấm (linh hồn) lên thuyền pháp, tôi quan sát thấy có một đám linh hồn không lên thuyền pháp. 
Chuyện này là sao đây?
Bởi vì mỗi lần tôi triệu thỉnh, nghìn chiếc thuyền pháp đều ngồi kín người, người người lên thuyền pháp, không còn sót một ai. 
Lần này thì khác, có một đám linh hồn không chịu lên thuyền pháp. 
Tôi hỏi:
”Vì sao không lên thuyền pháp?”
Đáp:
”Bởi vì thuyền pháp này đi về hướng Tây phương tịnh thổ, cho nên chúng tôi không lên, chúng tôi muốn lên thiên đường.”
Tôi hỏi:
”Mấy người là tín đồ Cơ Đốc giáo à?”
Đáp:
”Đúng vậy.”

Lần này thì tôi sững người ra, thì ra là tín đồ Cơ Đốc giáo cũng tham gia siêu độ nghìn chiếc thuyền pháp. Tôi điềm tĩnh nói:
”Được rồi! Ngoài nghìn chiếc thuyền pháp ra, tôi sẽ tăng thêm một chiếc thuyền pháp nữa đưa mọi người đến thiên đường.”
Những linh hồn này nghe xong thì rất vui, tiếng hoan hô vang như sấm. 

Tôi (Lư Sư Tôn) lập tức biến hóa thành Chúa Jesus. (Mật giáo có pháp biến hóa.)
Tôi làm lễ rửa tội cho các linh hồn:
”Tôi dùng nước rửa tội cho mọi người, để mọi người trở về với Cha (Jehovah), Con (Jesus) và Thánh Thần. Amen!”
Tôi lần lượt rẩy tịnh thủy cho họ. Rồi họ lần lượt lên thuyền pháp. Chiếc thuyền pháp này đi một lối đi riêng, đứng tách biệt ra khỏi nghìn chiếc thuyền pháp, đi về hướng thiên đường.

Các tín đồ Phật giáo đều biết đến Tây phương Cực Lạc thế giới. Nhưng còn thiên đường thì ở đâu?
”Vườn địa đàng?”
”Nơi Chúa Jesus ở?”
”Thiên đường?”
……………
Bất kể là ở đâu, thiên đường là đại gia đình của Thiên Chúa, ở đó nhất định có 12 môn đồ của Jesus. (Peter, Andrew, James Lớn, John, Philip, Bartholomew, Thomas, James Nhỏ, Matthew, Simon, Judas Iscariot, Thaddaeus.) 
Chú thích: trong 12 môn đồ này có hai vị cùng tên là James và là hai người khác nhau, còn Judas kẻ phản bội Jesus hẳn là không ở trên thiên đường.
Ngoài ra còn có: Matthew, Mark, Luke, John, Corinth, Galatians, Ephesus, Philip,…
Những người truyền phúc âm và nơi ở. 
Đều có thể thấy. 
Giáo nghĩa của họ là:
”Tin theo Chúa Jesus thì sẽ được bất tử.”
”Jesus là lương thực sống mãi.”
”Jesus là đường đạo, là chân lí, sinh mạng.”

Chú thích:
Lư Sư Tôn được trưởng lão giáo hội Tân Hưng ở Cao Hùng Đài Loan rửa tội, mục sư khi ấy là mục sư Tô Thiên Minh. 
Tôi từng làm thầy giáo của lớp học ngày Chủ Nhật, làm thầy giáo lớp tra kinh, đội viên đội Thánh ca.
Đến nay:
Tôi nhận Chúa Jesus là Guru của tôi. (Truyền thừa Thiên Chúa.)
Tôi nhìn thấy:
Nghìn chiếc thuyền pháp đi về Tây phương Cực Lạc thế giới của Phật giáo.
Còn riêng một chiếc thuyền thì đi về thiên đường. 
Đây là một chương bổ sung vào việc làm pháp siêu độ của tôi (Lư Sư Tôn), là thật không phải giả.


### 09. Mỗi miếng ăn miếng uống đều có định số


Nói thẳng thắn, nguồn kinh tế của Lư Sư Tôn trong đời này đều là (hoặc đại bộ phận là) cúng dường của đệ tử. 
Cá nhân tôi lại giữ giới luật:
”Không mở miệng đòi tiền của người ta!”
Vì thế:
Cúng dường đều là tự động tự phát.

Buổi sáng một ngày nọ, trong lúc đang mơ màng, tôi nghe được cuộc đối thoại giữa Diêu Trì Kim Mẫu và Đại Lực Kim Cang. Kim Mẫu nói:
”Thu nhập của Lư Sư Tôn hôm nay là 3.300 đô la Mỹ.” 
Đại Lực Kim Cang nói:
”Kim Mẫu nói như vậy thì nhất định là đúng rồi.”
Kim Mẫu nói:
”3.300 đô la Mỹ thì coi là nhiều hay ít?”
Đại Lực Kim Cang nói:
”Không nhiều không ít.”
Kim Mẫu nói:
”3.300 đô la Mỹ đó vừa hay có thể hỗ trợ Lư Sư Tôn chi phí sửa xe.”
Đại Lực Kim Cang nói:
”Đúng vậy, đúng vậy.”

Dần dần tôi không còn nghe thấy cuộc đối thoại giữa hai vị đại thần nữa. 
Tôi tỉnh khỏi giấc mơ, cẩn thận ghi nhớ kĩ trong lòng cuộc đối thoại của hai vị đại thần này. Bởi vì giấc mơ này chân thực quá, 3.300 đô la Mỹ để trợ giúp chi phí sửa xe, thật hay quá!

Ngày hôm ấy. 
Buổi sáng tôi vẫn viết sách như bình thường. Sau đó tôi đến Seattle Lôi Tạng Tự. 5 giờ chiều, tôi đến phòng làm việc của Tông Ủy Hội. (Chủ yếu là để gia trì thư tín, giải đáp thắc mắc, và vẽ một bức tranh.)

Có đệ tử đưa cho tôi ba chiếc hồng bao, mỗi chiếc hồng bao để 100 đô la Mỹ, tổng cộng là 300 đô la Mỹ. 
Sau khi ăn tối tại Lôi Tạng Tự, tôi chuẩn bị trở về Nam Sơn Nhã Xá. Tôi vào gara để lấy xe, khởi động xe, rồi từ từ lái xe ra khỏi gara. 

Trong đầu tôi nghĩ đến:
”Diêu Trì Kim Mẫu nói với Đại Lực Kim Cang là hôm nay sẽ có người cúng dường 3.300 đô la Mỹ.”
Nhưng bây giờ chỉ có 300 đô la Mỹ. Lời Diêu Trì Kim Mẫu nói đã không còn chuẩn nữa rồi! 
Chà! Tôi mơ lung tung sao?
Hay là tôi nghe nhầm?
Hay là tôi tự mình nghĩ ngợi lung tung?
Lời trong giấc mộng huyễn sao có thể là thật!

Xe tôi sắp rời khỏi Lôi Tạng Tự, bỗng nhiên có người gõ vào cửa sổ xe. 
”Cốc! Cốc! Cốc!”
Tôi phanh xe lại. Một đệ tử ra hiệu muốn tôi hạ kính cửa sổ xe xuống, cô ấy đưa vào một chiếc hồng bao, nói với tôi:
”Có một pháp sư ở Đài Loan gửi cho Lư Sư Tôn hồng bao này, để hỗ trợ chi phí sửa xe.”
Tôi nói:
”Ồ! Cảm ơn!”

Sau khi trở về nhà, tôi mở hồng bao ra, là 3.000 đô la Mỹ. (Hôm nay tổng cộng đệ tử cúng dường tôi là 3.300 đô la Mỹ.)
Tôi cảm thán nói:
”Mỗi miếng ăn miếng uống đều có định số!”

Chú thích: Mỗi miếng ăn miếng uống đều có định số thật sự không phải là giả dối, đây là số mệnh. Nhưng, Phật Đà nói: “Muốn cải biến vận mệnh, chỉ có đại thiện, đại ác, đại tu hành là có thể thay đổi vận mệnh!”


### 10. Tôi công khai bát tự của tôi


Bát tự ngày sinh của tôi là:
”Giờ Ngọ ngày 18 tháng 5 năm 1945 (âm lịch), dương lịch là giờ Ngọ ngày 27 tháng 6 năm 1945.”
Từ lâu tôi đã công bố bát tự của mình trong sách. Có đệ tử hỏi:
”Lư Sư Tôn! Thầy không sợ có người bỏ bùa sao?” (ếm bùa)
Tôi đáp:
”Không sợ!”
Đệ tử hỏi:
”Vì sao không sợ?”
Tôi đáp:
”Tôi sẽ làm pháp Thế thân.”
Đệ tử hỏi:
”Liệu thầy có biết có người bỏ bùa để hàng phục thầy không?”
Tôi đáp:
”Phần lớn là không biết!”
Đệ tử hỏi:
”Vì sao không biết?”
Tôi đáp:
”Phần lớn là pháp Thế thân của tôi đã chịu thay rồi!”

Rất nhiều người hỏi tôi thế nào là pháp Thế thân. Tôi sẽ kể một câu chuyện cho mọi người nghe. 
Ngày xưa.
Vào thời đại của Khương Tử Nha (thời đại triều Thương và Chu ở Trung Quốc). Có một người tiều phu ở trên núi tên là Vũ Cát. Anh lên núi đốn củi rồi đem xuống núi bán. Một hôm, anh dùng đòn gánh để gánh củi trên đường. Bởi dòng người đông đúc nên đòn gánh mất thăng bằng, không ngờ đụng chết một người!

Đúng lúc ấy Chu Văn Vương đi ngang qua, thấy được sự việc này, ông bèn vẽ một nhà lao ở trên mặt đất, đợi khi trở về sẽ thẩm vấn.

Khương Tử Nha đã để mắt đến chuyện này. Khương Tử Nha muốn cứu Vũ Cát, bởi vì Vũ Cát có phẩm cách của một vị tướng quân. (Sau này sẽ giúp Chu diệt Thương.)

Khương Tử Nha bảo Vũ Cát hà một hơi khí lên trên hình người bằng giấy, trên người giấy này viết sinh thần bát tự của Vũ Cát. (Người giấy hoặc người cỏ.) Khương Tử Nha bảo Vũ Cát không được quay trở lại, phải đi đến một nơi núi cao vực sâu trong núi để quăng người giấy này xuống vực. Sau đó trở về nhà thì tự nhiên sẽ vô sự.

Chu Văn Vương trở về, phát hiện ra Vũ Cát đã không còn ở trong nhà lao vẽ trên mặt đất nữa thì nổi giận đùng đùng. Trở về cung, ông liền bày quẻ Văn Vương ra, từ quẻ Văn Vương mà biết được rằng Vũ Cát vì sợ tội đã gieo mình xuống vực tự tử rồi. Nhờ thế, Vũ Cát đã thoát được kiếp nạn này.

Đây chính là pháp Thế thân.

Ở đây, tôi giải thích:
Khương Tử Nha là đệ tử của Nguyên Thủy Thiên Tôn, là một đạo sĩ thông thạo ngũ thuật. Chu Văn Vương là người tinh thông Dịch học, quẻ Văn Vương của ông ấy có thể biết thiên văn địa lý, Vũ Cát không thể thoát được. 
Thế nhân đều biết quẻ Văn Vương linh nghiệm vô cùng. Nhưng Khương Tử Nha đã dùng pháp Thế thân để chịu thay rồi. 

Hôm nay, Lư Sư Tôn thông hiểu mọi pháp, tôi đã giấu thế thân của mình ở:
Rừng cây.
Núi đá.
Tượng Phật.
Sinh cơ.
Cái gối.
………..

Thế thân của tôi ít nhất cũng có ở 108 nơi, bất kì người nào bỏ bùa (ếm bùa) tôi, chỉ có thể giáng vào những vật sinh cơ của tôi thôi, không thể giáng lên thân tôi được. 

Vì thế, tôi chẳng có một chút cảm giác nào! (Chẳng mảy may tổn hại một sợi lông tóc.)


### 11. Em trai của Thượng sư Liên Hỷ


7 giờ chiều ngày 16 tháng 11 năm 2021. 
Thượng sư Liên Ngạn trụ trì và Thượng sư Liên Hỷ kế toán của Cầu Vồng Lôi Tạng Tự (biệt thự Cầu Vồng) cùng đến Seattle Lôi Tạng Tự tìm tôi.

Thượng sư Liên Hỷ nói:
”Em trai đệ tử ở Panama bị cướp, bị tên cướp đó dùng súng bắn trúng vào tim. Bây giờ đang cấp cứu trong bệnh viện.”
Tôi bói toán một lúc rồi nói:
”Nguy hiểm!”

Bởi vì trong thần toán của tôi xuất hiện năm ký hiệu, năm ký hiệu này biểu thị không có cách nào cứu được!
Nhưng tôi bổ sung thêm một câu:
”Thỉnh Phật Bồ Tát mau mau đi bảo hộ cho cậu ấy đi!”
Thượng sư Liên Hỷ gửi tôi hồng bao. Tôi gửi trả lại. Bởi vì năm ký hiệu này, tôi e rằng không có cách nào cứu được cậu ấy. Tôi không dám nhận hồng bao.

Theo như tôi biết:
Trong các vùng của Châu Mỹ gồm Bắc Mỹ, Trung Mỹ, Nam Mỹ thì tình hình an ninh trật tự ở Bắc Mỹ tạm được. Ở Trung Mỹ, Nam Mỹ thì không tốt lắm, cướp giật trộm cắp hoành hành, an ninh trật tự rất kém.

Tôi cảm thấy Thánh nhân Khổng Tử của Trung Quốc, Tứ Thư và Ngũ Kinh của ngài ấy: Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh Tử, Thư kinh, Lễ kinh, Dịch kinh, Thi kinh, Xuân thu. 
Chữ “nhân” của Khổng Tử là: phụ từ, tử hiếu, huynh lương, đệ đễ, phu nghĩa, phụ thính, trưởng huệ, ấu thuận, quân nhân, thần trung. Đó là nhân tình nghĩa lý!

Tứ duy là: lễ, nghĩa, liêm, sỉ. 
Bát đức là: trung, hiếu, nhân, ái, tín, nghĩa, hòa, bình.
Đó là giáo dục đạo làm người của Khổng Tử. 

Tuy nhiên trái lại, ngày nay lại đề xướng tự do, đề xướng dân chủ. Những đạo làm người kia đã biến mất từ lâu rồi. 
Con người hiện đại còn biết đạo lễ, nghĩa, liêm, sỉ không? Còn biết trung, hiếu, nhân, ái, tín, nghĩa, hòa, bình không?
Người Trung Quốc như vậy.
Người nước ngoài căn bản là không biết.
Còn ai biết:
”Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ?”
Tiếc thay!
Thương thay!

1 giờ sáng ngày 17 tháng 11 năm 2021. 
Thượng sư Liên Ngạn niệm Chân Phật Kinh. 
Tĩnh tọa.
Trước tiên bà ấy nhìn thấy Tây phương Tam Thánh A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát hiện thân.
Sau đó nhìn thấy em trai của Thượng sư Liên Hỷ ngồi trên hoa sen màu trắng, nét mặt tươi cười rất lâu. 
Thượng sư Liên Ngạn rất ngạc nhiên!
Cùng thời gian đó, tin tức truyền tới báo rằng em trai của Thượng sư Liên Hỷ đã vãng sinh rồi. Thượng sư Liên Hỷ lập tức đặt vé máy bay vào 7 giờ sáng, bay đi Panama. (Tình chị em sâu đậm.)

Thượng sư Liên Ngạn và Thượng sư Liên Hỷ tình sâu như chị em, Thượng sư Liên Ngạn đã lái xe đưa Thượng sư Liên Hỷ ra sân bay, lúc đó là 4 giờ sáng.
Tôi nghe tin tức, trong lòng rất xót xa!
Ôi!
Tôi cảm thấy mình bất lực, không có cách nào cứu được em trai của Thượng sư Liên Hỷ. 
Lại thở than!
Thế giới ngày càng trở nên tồi tệ, trộm cướp hoành hành, biết làm sao đây?


### 12. Phụ lục: Thư của Thượng sư Liên Hỷ


Đảnh lễ từ phụ từ mẫu!
Đệ tử cảm ơn Sư Phật đại gia trì! Cảm ơn sự yêu thương và quan tâm lớn lao của Sư Mẫu!

Thật không may, trong gia đình, bố đệ tử vãng sinh mới được hơn một năm thì em trai đã gặp phải kiếp nạn cũng đã vãng sinh rồi! Có điều, em trai vẫn còn trẻ tuổi, để lại người vợ và hai đứa con còn nhỏ, nên ai cũng cảm thấy buồn đau thương tiếc. Thế nhưng trong lòng đệ tử nghĩ rằng em trai không cần ngày ngày tu pháp ngồi thiền niệm kinh tu pháp, mặc dù trong tích tắc bị cướp bắn chết, nhưng vẫn có thể lập tức được Chân Phật tiếp dẫn cứu độ cũng là điều may mắn một phần vạn vạn vạn trong thế gian Ta Bà này rồi! Nhân gian ngày nay có bao nhiêu thiên tai nhân họa, nhiều và tồi tệ đến mức khiến người ta khó mà tưởng tượng nổi, nhưng họ thì không được Chân Phật cứu độ ngay lập tức!

Trong lòng đệ tử đương nhiên có buồn vì người nhà, nhưng càng buồn và tiếc thương hơn là họ không biết rằng kiếp trước đã tạo ra quả của kiếp này. Họ không hiểu rằng nên mượn cảnh ngộ của kiếp này mà mau chóng tỉnh ngộ, khi Chân Phật vẫn còn trụ thế ở nhân gian thì phải nhanh nhanh thật sự nhất tâm hướng thiện quy y học Phật đi thôi. 

Đệ tử thành tâm thỉnh cầu Sư Phật truyền thừa đại gia trì để đệ tử có được tâm từ bi mềm mại, từ bi cảm hóa và an ủi tâm của những người nhà, để họ được lòng từ bi của Phật Bồ Tát cứu độ mà rời xa đau thương, tuyệt vọng, không còn tâm hoảng sợ vô vọng nữa, để họ nảy sinh sự an lòng, tâm sáng, phát tâm hướng thiện và sám hối học Phật.

Năm xưa, khi đệ tử kiên quyết xuống tóc xuất gia, từng có nhân viên hoằng pháp nói với đệ tử rằng, cô đừng cho rằng xuất gia rồi là cũng giống như Thầy bay đi khắp thế giới hoằng pháp. Khi ấy trong lòng đệ tử chưa từng nghĩ đến điều ấy, đệ tử chỉ muốn chăm chỉ cùng Sư Tôn tu hành thành Phật thôi! Nếu có một ngày mình thật sự chết đói không có ai cần nữa thì khẳng định là bản thân tu hành đã sai lệch và hành vi tu hành có vấn đề rồi, không có bất kì liên quan gì đến Sư Tôn và Phật pháp.

Lúc này đây, đệ tử cảm ơn vô hạn trước sự ban phúc của Sư Phật. Cảm ơn Sư Mẫu chỉ dạy chu đáo, đệ tử hôm nay có thể ở bên cạnh từ phụ từ mẫu, như thế là phúc báo còn lớn hơn số cát sông Hằng rồi!

Ngu đệ tử nhỏ bé Liên Hỷ cảm ơn và đảnh lễ!


### 13. Đã đến lúc giáo dục chữ “nhân” rồi


Vì tin tức em trai của Thượng sư Liên Hỷ gặp bọn cướp và bị bắn tử vong truyền đến, trong lòng ngoài cảm thấy rất thương xót ra thì tôi còn nghĩ ngợi rất nhiều. 
Nhân gian này đã không còn lành mạnh nữa rồi. 
Nhân gian này càng ngày càng tồi tệ, an ninh trật tự càng ngày càng không tốt. Trộm cướp hoành hành, phải làm sao đây?
Tôi nghĩ:
Đã đến lúc giáo dục chữ “nhân” rồi. 

Luận Ngữ:
”Nhân nhi bất nhân, như lễ hà? Nhân nhi bất nhân, như nhạc hà?” [Lời của Khổng Tử, nghĩa là: Người bất nhân thì lễ mà làm gì? Người bất nhân thì nhạc mà làm gì?]
”Nhân” là gặp gỡ và nương dựa lẫn nhau, nói chung, người và người cần phải giúp đỡ nhau, yêu kính lẫn nhau.

Luận Ngữ:
”Kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân.” [Lời của Khổng Tử, có nghĩa là: mình muốn lập cái gì thì lập cái đó cho người khác, mình muốn đạt được cái gì thì giúp người khác đạt được cái đó, tức là hết lòng vì người khác.]
Đây là giúp đỡ lẫn nhau.
Đây là tâm đồng cảm.
Đây là hiếu, đễ, trung, tín, là đức hạnh chân chính.

Mạnh Tử nói: 
”Đại đạo chi hành dã, thiên hạ vi công. Hựu, nhân bất độc thân kì thân, bất độc tử kì tử, sử lão hữu sở chung, tráng hữu sở dụng, ấu hữu sở dưỡng.” [Đạo lớn thi hành, thiên hạ là của chung. Còn nữa, người ta không chỉ lo cho thân mình, không chỉ lo cho con mình, xã hội như vậy thì khiến người già có nơi chết yên lành, người khỏe mạnh có chỗ dùng tới, người nhỏ tuổi được nuôi dưỡng.]
”Nhân chi sơ, tính bản thiện.”
”Cố sống chết mà giữ lấy thiện đạo.”
Đây là cái tinh thần của đạo làm người.

Tôi nghĩ:
Ở Mỹ, ai cũng có súng, những vụ nổ súng có ở khắp nơi.
Ở Trung Mỹ, Nam Mỹ, lại càng tệ càng loạn.
Thiên hạ này còn có ai biết được về chữ “nhân” này? Yêu người thương vật, phẩm chất tốt này tìm được ở đâu?
Vào thời đại này, lễ ở đâu? Nghĩa ở đâu? Liêm ở đâu? Sỉ ở đâu?
Tôi nghĩ:
Thánh nhân ở đâu?


### 14. Là thật? Hay giả?


Lúc tôi ở Đài Loan, có một hôm, chuỗi vòng tay màu đỏ (san hô) trên tay tôi bị đứt. 
Tôi nhờ thị giả là pháp sư Liên Anh đem đến cửa hàng Phật giáo để đổi lấy một sợi dây xâu vòng khác, dây cần bền một chút.

Pháp sư Liên Anh trở về bảo tôi, bà chủ cửa hàng nói:
”Vòng tay của ai đây?”
Liên Anh đáp:
”Của Lư Sư Tôn.”
Bà chủ cửa hàng nhanh nhẹn xâu một sợi dây mới ngay tại chỗ, chiếc vòng tay rất đỏ rất sáng, rất đẹp. Liên Anh hỏi:
”Hết bao nhiêu tiền?”
Bà chủ cửa hàng đáp:
”Không lấy tiền.”
Liên Anh hỏi:
”Vì sao không lấy tiền?”
Bà chủ cửa hàng nói:
”Tôi nghĩ rằng Lư Sư Tôn là Phật thật.”
”Sao lại nói vậy?” - Liên Anh hỏi.
Bà chủ cửa hàng đáp:
”Nhiều chúng sinh như vậy, quỳ xuống để đón tiếp ngài ấy, cúi đầu lạy những món trang sức của ngài ấy. Ngài ấy lại có biết bao nhiêu là tượng kim thân, nhiều người như vậy đều cúi lạy những tượng kim thân này. Những điều này người bình thường chịu không nổi đâu, nếu không phải là Phật thật thì đã chết từ lâu rồi.”

Pháp sư Liên Anh trở về kể với tôi chuyện này, khiến tôi nghĩ đến thật và giả. 
Có người hỏi tôi:
”Ông có phải là thật không? Hay là giả?”
Tôi đáp:
”Không thật không giả.”
Người hỏi:
”Không hiểu?”
Tôi nói:
Tôi là Liên Hoa Đồng Tử. Tôi đã tự mình kiểm chứng, tôi thật sự đã nhìn thấy Liên Hoa Đồng Tử phát quang chói lọi.
Tôi là hóa thân của A Di Đà Phật, từ xưa đến nay gọi Liên Hoa Đồng Tử là Hóa Sinh Đồng Tử hoặc Hạng Quang Đồng Tử.
Triều Đường có bài ca dao:
*Liên Hoa Đồng Tử gặp Kim Tiên.
Khắp cả hư không hoa rơi xuống.
Vượt mây nghe tiếng trời vi diệu.
Lời nào tả xiết lạc cõi thiên.*

(Hóa Sinh Đồng Tử Liên Hoa Đồng Tử thật sự tồn tại.)

Người hỏi:
”Đã là thật thì sao lại nói là không phải thật?”
Tôi đáp:
”Tôi không muốn nhấn mạnh tôi là Liên Hoa Đồng Tử thật, mặc dù tôi nghe thấy, nhìn thấy.”
Người hỏi:
”Nghĩa là thế nào?”
Tôi đáp:
Thật giả tạm thời không bàn luận, đặt qua một bên đi! Ý của tôi là:
Tôi bước đi từng bước vững vàng.
Hàng ngày tôi viết sách.
Hàng ngày tôi tu pháp.
Mỗi thứ bảy, chủ nhật tôi thuyết pháp.
Ngày ngày như thế.
Tháng tháng như thế.
Năm năm như thế.
Đây chính là hình ảnh thu nhỏ cả cuộc đời tôi. Cái gì là thật? Cái gì là giả? Tôi chưa bao giờ nghĩ đến.
Thậm chí tôi còn không nghĩ:
”Tôi đã tu đến cảnh giới nào rồi!”


### 15. Câu chuyện hai con cá


Sinh nhật pháp sư Liên Quân.
Bà ấy thỉnh tôi vẽ một bức tranh, thế là, tôi vẽ hai con cá, rồi thêm vào chút bèo trôi lững lờ.
Tôi đề chữ là: 
”Trường thọ hữu dư.” [tuổi thọ có thừa]
Tôi đề chữ rồi áp ấn. 
Vẽ xong, tôi tặng cho pháp sư Liên Quân. Liên Quân vừa nhìn thấy dòng chữ thì kêu lên:
”Đệ tử không muốn sống lâu! Đệ tử không muốn sống lâu! Đệ tử không muốn sống lâu!”
Nhíu mày.
Cáu kỉnh.
Tôi thấy bà ấy không thích bức tranh này, nhưng cũng không biết phải làm thế nào.

Sau đó, bức tranh này được chuyển đến tay của cô Hanifa. Cô Hanifa thỉnh bức tranh này về, dự định tặng cho Thượng sư Liên Ấn để chúc tăng tuổi thọ.
Nhưng, thật không may, Thượng sư Liên Ấn đã về trời rồi!
Bản thân cô Hanifa cũng không mong muốn “trường thọ hữu dư”, thế là bức tranh này lại được chuyển đến tay của sư tỉ Huệ Văn. 
Như thế là, truyền qua tay ba người. 

Cá nhân tôi thì rất thích bức tranh này vì:
Thứ nhất, miệng của cá rất kỳ diệu.
Thứ hai, mắt của cá rất có hồn.
Thứ ba, màu sắc của cá rất sinh động.
Tôi chỉ cảm thấy rằng bức tranh này tràn đầy hơi thở xinh đẹp và tươi mát.

Huệ Văn nói:
”Họ đều không thích, cuối cùng, đệ tử lại có được một cách dễ dàng.”
Tôi nói:
”Bức tranh này có giá trị, đáng cất giữ.”
Huệ Văn nói:
”Họ không thích sống lâu!”
Tôi nói:
Đề là trường thọ hữu dư, là lời chúc cát tường, điều này rất bình thường thôi. Tôi không thể nào đề là:
Đoản thọ.
Yểu thọ.
Đột tử.
Chết nhanh.
Chết tức thì.
Chết thảm.
(Như thế thì trở thành lời nguyền rủa rồi.)

Tôi nói:
”Chữ thọ ở đây thì có tính là gì chứ? Vốn vẫn là vận mệnh của chính mình mà. Sống chết có số, phú quý tại trời.”
Tôi nói:
Bài thơ của Hàn Sơn:

*Có ai mà không chết? Chuyện chết là xưa nay.
Mới đây nam tử hán, chớp mắt thành cát bụi.
Dưới mộ không ánh dương, mỗi cỏ xanh mơn mởn.
Bùi ngùi đi giữa mộ, thông reo lòng xót xa.*

Bài thơ của Thập Đắc:

*Chẳng đến chẳng đi vốn trong veo,
Chẳng ở trong ngoài hay ở giữa
Một viên thủy tinh sạch tì vết
Tỏa sáng xuyên thấu khắp trời người.*

Tôi nghĩ:

*Thọ mạng tính vô trụ
Cũng chẳng do người định
Đề chữ vốn để vui
Hiểu tâm này tự tĩnh.*

Tôi đề chữ “trường thọ hữu dư” thì sẽ được sống lâu sao?
Hãy đọc bốn câu kệ trong kinh Kim Cang: “Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng.”
Nghĩa là hãy vứt bỏ sự bám chấp vào ta, vào pháp, vào người, vào tuổi thọ.
Đã hiểu chưa?


### 16. Bắt đầu từ một lá thư


Liên Hoa Ngọc Thuyền ở Calgary, Canada viết một lá thư gửi cho tôi, thư như sau:

*Kính chào Sư Tôn, Sư Mẫu kính yêu!
Vô cùng cảm ơn Sư Tôn từ bi đại gia trì. 
Bố con là Liên Hoa Thúc Tiêu đã vãng sinh vào ngày 1 tháng 5 năm ngoái.
Mẹ con là Liên Hoa Thuận Lan đã vãng sinh vào ngày 1 tháng 10 năm nay.
Nhờ có Lư Sư Tôn gia trì tiếp dẫn, sau khi bố mẹ hỏa thiêu xong thì đều có được xá lợi. (Hạt xá lợi tròn xoe, sáng bóng, trong suốt như thủy tinh.)
Nhất là mẹ con Liên Hoa Thuận Lan vốn mù chữ, không biết đọc, cũng không thể nói chuyện. Bình thường bà chỉ báo danh tham gia pháp hội của Lư Sư Tôn, báo danh làm chủ cầu và chủ công đức cho Hộ Ma ở Cầu Vồng Lôi Tạng Tự. Âm thầm tham gia. (Âm thầm tưởng nhớ trong tâm.)*

*Với tình hình của bà như vậy mà cũng có thể thiêu ra được hạt xá lợi thì thật sự khiến chúng con cảm thấy bất ngờ và mừng rỡ. Có thể thấy rằng tín tâm thật quan trọng. Chân Phật Mật Pháp thật thù thắng. Thật sự là bất khả tư nghì!*

*Tại đây, con thay mặt bố mẹ con dâng lên cúng dường, cảm tạ Sư Tôn và Phật Bồ Tát đại lực gia trì.
Cảm tạ Lư Sư Tôn.
Đệ tử Liên Hoa Ngọc Thuyền cúi lạy.
20/11/2021*

Tôi nói:
Bức thư này rất thật thà.
Cô ấy nói tín tâm thật quan trọng, Chân Phật Mật Pháp thật thù thắng, đây cũng là sự thật.
Đệ tử Chân Phật Tông sau khi hỏa thiêu xong đều có được hạt xá lợi, thật sự là rất nhiều rất nhiều. (Tử tù phạm tội, nhờ niệm Cao Vương Kinh mà khi thiêu xong cũng có xá lợi.) 

Gần đây, Thượng sư Liên Ấn cũng thiêu ra được rất nhiều hạt xá lợi, thật sự khiến người ta ca ngợi!

Có đệ tử hỏi:
”Hạt xá lợi có ý nghĩa gì?”
Tôi đáp:
Hạt xá lợi có được là nhờ sự huân tu giới-định-huệ.
Có ba màu sắc:
Màu trắng - Xá lợi xương.
Màu đen - Xá lợi tóc.
Màu đỏ - Xá lợi thịt.

Kinh Kim Quang Minh nói:
Hạt xá lợi được trồng bởi vô lượng công đức của sáu ba-la-mật. 
Hạt xá lợi lại phân thành:
Xá lợi toàn thân, như Đa Bảo Như Lai.
Xá lợi mảnh thân, như Thích Ca Mâu Ni Như Lai.
(Khi Phật Thích Ca Mâu Ni nhập niết bàn, các đệ tử hỏa thiêu thân ngài, có hạt ngọc ngũ sắc, cứng và tỏa ánh sáng óng ánh, gọi là hạt xá lợi, vì thế mới xây dựng tháp để cất giữ.)

Lại nói:
”Hạt xá lợi của Phật Thích Ca Mâu Ni có một viên đá sáu đầu, phân thành tám phần, bảy phần ở tại Nam Chiêm Bộ Châu, một phần ở Long Cung.”
Truyền Đăng Lục viết:
”Hạt xá lợi tám hộc bốn đấu.”
Phật giáo viết:
Tượng Phật — tượng trưng cho thân Phật.
Kinh điển — tượng trưng cho khẩu Phật.
Tháp xá lợi — tượng trưng cho ý Phật.
Trong kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật giải thích: tượng Phật, kinh điển, tháp xá lợi chính là có Phật tồn tại, cần phải tôn trọng.

Theo tôi được biết: 
Năm nay Lư Sư Tôn 77 tuổi, từng có lần tôi ngủ dậy thấy quanh giường rơi ra rất nhiều hạt xá lợi màu trắng. 
Khi tôi bước đi, cũng có đệ tử nhặt được hạt xá lợi.
Pháp tọa tôi ngồi thuyết pháp cũng có hạt xá lợi rơi ra.
Lạ quá! Lạ quá!
(Chú thích của người biên tập: muốn thờ hạt xá lợi thì trước tiên phải phân biệt được xá lợi thật hay giả.)


### 17. Giữa hôn mê và tỉnh thức


Vào khoảng tháng 11 năm 2021. 
Tình cờ xem tivi, tôi thấy có mấy người thanh niên khỏe mạnh vì chuyện vặt vãnh mà đánh một nam sinh đến mức chảy máu trong.
Nam sinh đó nhập viện cấp cứu. Mẹ của nam sinh khóc lóc than vãn:
”Có cần phải đánh thằng bé đến mức thế này không?”
Sau sự việc ấy, có người hỏi tôi:
”Lư Sư Tôn! Ngài cảm thấy thế nào?”
Tôi đáp:
”Quá tàn nhẫn, nắm đấm và gậy gộc cùng tấn công.” (Tivi có chiếu đoạn băng hình.)
Người nói:
”Nam sinh đã hôn mê rồi! Đang cấp cứu.”
Tôi nói:
”Ôi! Đạo đức xã hội suy đồi, nhân gian sao lại loạn đến mức thế này, nhân tính rốt cục đã làm sao rồi!”
Người nói:
”Ngài có đồng cảm với nạn nhân không?”
Tôi nói:
”Đương nhiên. Đổi lại là anh thì anh sẽ cảm thấy thế nào?”
Người nói:
”Cậu ấy hôn mê, sao Lư Sư Tôn ngài không cứu cậu ấy đi!”
Tôi nói:
”Tôi niệm Phật giúp cậu ấy vậy!”
Người nói:
”Sao ngài không xuất thần đi cứu cậu ấy đi!”
Tôi nói:
”Được!”

Mặc dù tôi đang ở Mỹ, nhưng chỉ cần xuất thần, nguyên thần từ lỗ đỉnh đầu đi ra.
Chỉ trong một ý nghĩ là tôi có thể đến được khắp nơi trên thế giới, trong tích tắc tôi có thể đến được, đây gọi là thần túc thông.
Tôi thật sự đã đi tới nơi đó!
Tôi ở khoảng không phía trên bệnh viện. Bên trong bệnh viện, bầy ma quỷ đang huyên náo! (Trong bệnh viện có rất nhiều vô hình.)
Có ma nói: 
“Có thiên sứ đến rồi! Trên người họ có ánh sáng.”
Có ma nói: 
“Là thần thánh phương nào ấy nhỉ?”
Có ma nói: 
“Tôi nhận ra rồi, đó là Lư Sư Tôn, biệt hiệu là Đại Vương Bắt Quỷ, chúng ta mau chạy thôi.”
Một lúc sau, trong bệnh viện, bầy ma quỷ chạy thục mạng, tất cả đều chạy hết sạch, không còn một con ma nào nữa.

Tôi tìm đến cậu bé bị hôn mê đang bất tỉnh nhân sự đó. Phương pháp mà tôi dùng là:
Đưa tay vào trong hộp sọ của cậu để lấy ra khối máu tụ. 
Khâu lại mạch máu đã bị vỡ.
Rửa sạch máu bẩn.
Tiêu viêm.
Tôi thổi một hơi khí vào trong hộp sọ của cậu (hà khí). Hơi khí này rất quan trọng, bởi vì đó là nguồn gốc trọng yếu nhất của tinh, khí, thần.

Sau đó:
Truyền hình đưa tin:
Cậu nam sinh đã dần dần lấy lại tri giác.
Có biểu hiện hồi sức.
Đang khỏe lên rồi.
Tôi xem được tin tức truyền hình thì cảm thấy hết sức vui mừng thay cho cậu nam sinh, bởi vì cậu bé sẽ không trở thành người thực vật.
Người hỏi:
”Cậu nam sinh này có nhìn thấy ngài không?”
Tôi đáp:
”Tôi không biết.”
”Người này là do ngài cứu phải không?” - Người đó hỏi.
Tôi đáp:
”Là bác sĩ của bệnh viện cứu! Tôi chỉ đi thăm cậu ấy mà thôi.”


### 18. Ma trong nhà tôi


Kể từ khi dịch Covid-19 lan tràn, từ tháng 3 năm 2020, tôi bắt đầu làm siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp, đến bây giờ đã là tháng 11 năm 2021. 
Mỗi buổi tối tôi đều lên pháp tọa, siêu độ những trung ấm hữu duyên và những trung ấm vô duyên đã tạ thế. Vì thế mà tự nhiên Nam Sơn Nhã Xá có rất nhiều vô hình (ma) ra vào.

Tôi có thể nói thế này:
Ma trong nhà tôi đều là ma thiện. Họ không hại người. 
Cái gọi là trung ấm hữu duyên là:
Họ là đệ tử Chân Phật Tông, hoặc là tín đồ Phật giáo, hoặc là hồn ma lương thiện, hoặc là bạn bè do đệ tử Chân Phật Tông giới thiệu, hoặc là quyến thuộc của Chân Phật Tông…
Cái gọi là trung ấm vô duyên là:
Họ chỉ là những người nghe nói đến pháp hội siêu độ này.
Ma đi ngang qua. (Đúng lúc đó thì đi ngang qua.)
Về cơ bản là hoàn toàn không có tín ngưỡng.
Hoặc là linh hồn của tôn giáo khác.
Linh hồn gặp may đúng lúc.
Linh hồn bạn bè giới thiệu.
Những hồn ma đầy hiếu kỳ.
Những hồn ma đến để xem xem có chuyện gì.
Những ma thiện.
Những ma không thiện không ác. 
Những ma có lòng ăn năn.
(Đối với những ma vô cùng độc ác mà lại không biết sám hối, thần minh bảo vệ ngôi nhà của tôi không cho phép họ đi vào trong phòng mà đưa họ đi lục đạo luân hồi, chuyển thế thành chúng sinh của các đạo khác.)

Vì sao cũng cần độ hóa trung ấm vô duyên?
Chỉ vì Phật giáo Đại thừa có câu:
”Vô duyên đại từ, đồng thể đại bi.”
Học Phật cho đến nay, tư tưởng của tôi có một sự đột biến, trở thành tính bình đẳng.
Thế nào là tính bình đẳng?
”Chúng sinh trong thiên hạ đều bình đẳng hết.”
Loài bay trên trời.
Loài bò dưới đất.
Loài bơi trong nước.
Đều bình đẳng như nhau.
Người da trắng, người da đen, người da vàng…, nhất loạt bình đẳng. Người có chỉ số thông minh cao cho đến người ngu si vô minh, nhất loạt bình đẳng. Người tốt, người xấu, người thiện, người ác, nhất loạt bình đẳng.
Vân vân và vân vân.
Vì sao?
Tôi đáp:
”Bởi vì họ đều có Phật tính!”
Vì thế, tôi “hữu duyên đại từ, vô duyên đại bi”. 

Tôi nói với mọi người:
Ma đến nhà tôi khi chưa được siêu độ thì họ sống ở đâu?
1. Trong tủ lạnh. (Rất nhiều ma ưa thích nhiệt độ của tủ lạnh.)
Hễ tôi đi đến gần tủ lạnh là bên trong tủ lạnh sẽ có một trận hỗn loạn, vang lên âm thanh “cạch, cạch, cạch”. 
2. Dưới bồn rửa. (Rất nhiều ma thích nước, họ trốn bên dưới bồn rửa.)
3. Chậu cây cảnh. (Chậu cây trúc cảnh trong nhà tôi, vì cây trúc có thân rỗng, ma sống bên trong thân trúc, giống như sống trong nhà cao tầng.)
4. Trong tủ. (Họ trốn trong phòng đọc sách, phòng khách, trong tủ quần áo, v.v… trong các loại tủ.)
5. Toilet. (Họ trốn trong nhà vệ sinh, không biết vì sao.)
6. Những chỗ khác.
Tôi và bầy ma sống với nhau rất hòa thuận yên ổn. Họ khao khát được tôi siêu độ, tôi có thể độ họ thoát khỏi biển khổ.


### 19. Giai thoại vui về ma


Ma sống trong nhà tôi (Nam Sơn Nhã Xá) trong thời gian chờ đến lúc siêu độ cũng có rất nhiều giai thoại thú vị, tôi kể ra như sau:

Có một lần, tôi hơi chậm trễ một chút. Họ không kiên nhẫn chờ đợi! 
Tôi đang ngồi trên ghế *sofa*, lưng tôi dựa vào ghế, họ từ phía sau ghế đấm lồi cả ghế lên, đẩy tôi ra khỏi ghế *sofa*, yêu cầu tôi mau chóng lên pháp tọa.
Tôi cứ ngồi yên. Họ lắc ghế *sofa* qua trái qua phải, tôi lắc lư giống như ngồi trên thuyền. Tôi nói:
”Đừng nóng! Tôi làm siêu độ ngay đây!”

Còn nữa:
Cũng tương tự, tôi hơi chậm trễ một chút. Bọn họ tấu lên khúc nhạc gõ đập vui nhộn. Giống như âm nhạc Nanta của Hàn Quốc. 
Giường phát ra tiếng vang lớn.
Rèm cửa kêu lạch phạch lạch phạch.
Khung cửa kêu tùng tùng tùng tùng.
Ghế *sofa* thì kêu như pháo nổ “pẹt pẹt pẹt pẹt pẹt”.
Ngay cả bức tường cũng kêu “cạch cạch cạch cạch cạch”.
Suýt chút nữa thì một bình hoa rơi xuống đất, tôi kịp đưa tay ra giữ được. Tôi hét lên:
”Được rồi! Đủ rồi! Đừng làm ồn nữa! Tôi đã lên pháp tọa rồi!”
Trong tích tắc. 
Tĩnh lặng hoàn toàn.

Còn nữa:
Có một con ma là đệ tử của tôi. Nó thích ở sau lưng tôi, tôi đi đâu là nó liền đi theo đó. Tiếng bước chân của tôi, tiếng bước chân của nó hòa lẫn vào nhau.
Tôi nói:
”Đừng có lúc nào cũng đi theo tôi!”
Nó nói:
”Tôi không theo thầy thì theo ai?”
Ôi! Chẳng biết phải làm thế nào nữa!

Còn nữa:
Có một lần, tôi từ phòng của Sư Mẫu đi về phòng của mình, đi qua hành lang dài, trong sát-na, bức tường hai bên vang lên tiếng “póc, póc, póc, póc, póc”. Thế rồi năm cái đầu thò ra. Tôi nói:
”Làm gì vậy! Muốn dọa tôi à!”
(Thì ra trong tường cũng giấu được người, không phải người trốn, mà là ma trốn.)
Năm cái đầu nói:
”Lư Sư Tôn! Xin gia trì!”
Tôi đưa tay ra lần lượt sờ đầu cho họ. Khi tôi sờ đầu như vậy thì lại có mấy cái đầu nữa thò ra. Tôi vừa đi vừa sờ đầu cho ma dọc lối đi.
Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người:
”Ma quỷ cũng có thể trốn bên trong bức tường.”
Họ có thể xuyên tường! 

Còn nữa:
Có một ma nữ trẻ trung xinh đẹp, tôi gọi cô ấy là Kiều. Tôi đã siêu độ mấy buổi tối rồi mà cô ấy vẫn không đi. Tôi hỏi:
”Vì sao vẫn chưa lên thuyền pháp?”
Cô ấy đáp:
”Tôi không muốn đi!”
Tôi hỏi:
”Tây phương Cực Lạc thế giới, ai mà được đi đến đó thì quý lắm, có hàng cây thất bảo, nước bát công đức, đình, đài, lầu, gác. Chỉ có hạnh phúc tột đỉnh, không có đau khổ, lại không thối chuyển, sao không đi chứ?”
Cô ấy đáp:
”Tôi yêu thầy mất rồi!”
Tôi cười:
”Cái đó không phải là vĩnh viễn đâu.”
Cô ấy đáp:
”Cho dù yêu một lần cũng được.”

Cô ấy ngả người vào tôi. 
Tấm thân ngọc ngà mềm mại căng tràn mùi hương quyến rũ.
Thật sự cô ấy rất đẹp, vóc dáng đường cong cuốn hút, toàn thân mềm mại, áp chặt lên thân thể bạn thì hiếm có ai mà không động tâm. 
Tôi nhẹ nhàng đẩy cô ấy ra. Tôi nói:
”Tôi là người, cô là ma, một âm một dương, không thể được!”
Cô ấy nói:
”Một âm một dương chẳng phải chính xác là thái cực sao?”
Tôi nói:
”Người và ma là hai con đường khác nhau!”
Cô ấy nói:
”Tôi không quan tâm.” - Cô ấy bĩu môi. 
………

Một buổi sáng, tôi tỉnh dậy, phát hiện ra bên cạnh mình có người, khiến tôi giật thót. Tôi vẫn luôn có thói quen ngủ một mình. Tôi mở to mắt ra nhìn. Đó là Kiều. Mái tóc đen mượt bay bay tỏa mùi hương thoang thoảng. (tuyệt mỹ)

Tôi nói:
”Cô to gan thật đấy, không ngờ còn lên cả giường tôi!”
Cô ấy nói:
”Tôi yêu thầy mà!”
Đến bước này thì tôi biết không được rồi, tôi phụng thỉnh Kim Giáp Thần bắt cô ấy lên thuyền pháp. Trên thuyền pháp, cô ấy khóc lóc. Tôi không đành lòng nhìn cô ấy, bởi vì nếu tôi nhìn cô ấy thêm nữa thì tôi thật sự muốn giữ cô ấy lại. 
”Ôi! Tạm biệt Kiều!”
Thuyền pháp bay lên cao tới cõi trời bên ngoài cõi trời!
Chỉ còn lại một chấm nhỏ.


### 20. Nói ngắn gọn về dòng chảy pháp của tông phái


Đệ tử hỏi tôi:
”Lư Sư Tôn, vì sao Phật giáo có ba thừa? Lại còn có nhiều tông phái đến như vậy? Xin giải thích tỉ mỉ.”
Tôi đáp:
”Ba thừa và các tông phái khác nhau của Phật giáo được thành lập dựa theo những giáo nghĩa trong kinh Phật, tôi sẽ giải thích cụ thể.”
Đệ tử hỏi:
”Tiểu thừa dựa vào cái gì?”
Tôi đáp:
”Tiểu thừa có Thành Thực tông và Câu Xá tông. Thành Thực tông dựa vào Thành Thực luận, giáo nghĩa là ngã và pháp đều không, lấy khổ-tập-diệt-đạo làm giáo nghĩa.”
Tôi nói tiếp:
”Câu Xá tông là dựa vào Câu Xá luận mà thành lập. Chuyên luận về “hữu lậu” có sinh diệt, “vô lậu” không sinh diệt. Cũng đề xướng vô ngã.”

Đệ tử hỏi:
”Đại thừa căn cứ vào cái gì?”
Tôi đáp:
Đại thừa có tám tông:
(1) Tịnh Thổ tông

Dựa vào Vô Lượng Thọ kinh, Quán Vô Lượng Thọ kinh, A Di Đà kinh, và Vãng Sinh luận.
Giáo nghĩa chủ trương tha lực, nương dựa vào nguyện lực của A Di Đà Phật để đi về tịnh thổ (Cực Lạc thế giới).

(2) Thiền tông

Không có kinh điển, là Bồ Đề Đạt Ma đến Trung Thổ, trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật, đây chính là giáo nghĩa. Sau Lục Tổ, Thiền tông phân thành 5 tông: Lâm Tế tông, Vân Môn tông, Tào Động tông, Vi Ngưỡng tông, Pháp Nhãn tông.

(3) Tam Luận tông

Dựa vào Trung luận, Thập Nhị Môn luận của Long Thụ và Bách luận của Đề Bà. Giáo nghĩa là phá trừ tà kiến ngoại đạo, hiển lộ chính kiến của trung đạo.

(4) Thiên Thai tông

Dựa vào Trung luận, Pháp Hoa kinh, Đại Trí Độ luận, Niết Bàn kinh, Đại Phẩm Bát Nhã kinh. Giáo nghĩa là lập Tam quán Không-Giả-Trung.

(5) Luật tông

Dựa vào Phạm Võng kinh, Bồ Tát Giới bản kinh, Thập Tụng luật, Tứ Phân luật. Giáo nghĩa dựa vào giới luật mà thành tông phái. (Giới luật là cơ sở của Phật giáo.)

(6) Pháp Tướng tông

Tông phái này căn cứ theo kinh điển rất nhiều: Lăng Già kinh, A Tì Đạt Ma kinh, Hoa Nghiêm kinh, Mật Nghiêm kinh, Giải Thâm Mật kinh, Bồ Tát tạng, Du Già Sư Địa luận, Hiển Dương Thánh Giáo luận, Trang Nghiêm luận, Biện Trung Biên luận, Ngũ Uẩn luận, Tạp Tập luận, Nhiếp Đại Thừa luận, Bách Pháp Minh Môn luận, Phân Biệt Du Già luận, Nhị Thập Duy Thức luận, Thành Duy Thức luận. Giáo nghĩa là giải thích pháp, tướng, tính. (Chú trọng phân tích suy ngẫm về triết lý.)

(7) Mật tông (Mật thừa)

Đại Nhật kinh, Kim Cương Đỉnh kinh. Giáo nghĩa là tam mật thân-khẩu-ý tương ứng. (Bổn tôn và hành giả tương ứng.) Sự hóa quang của khí, mạch, minh điểm. Quang và quang hòa tan. (Mẫu quang và tử quang.)

Đệ tử hỏi:
”Thế Chân Phật Tông là cái gì?”
Tôi đáp:
”Là Mật tông. Giống như Mật tông có Trung Mật, Đài Mật, Tạng Mật, Đông Mật (Chân Ngôn tông), Chân Phật Tông.”
Đệ tử hỏi:
”Vì sao Chân Phật Tông lại thù thắng như vậy?”
Tôi đáp:
”Chắt lọc tinh hoa.” (Chú trọng khẩu quyết thực tu.)
Đệ tử hỏi:
”Người thành tựu có nhiều không?”
Tôi đáp:
”Như cát sông Hằng.”


### 21. “Lay động” là khẩu quyết


Cá nhân tôi trên phương diện tu trì Mật giáo có vô cùng nhiều kinh nghiệm, đặc biệt là bộ phận “chuyên nhất” và “quán tưởng”. 
Trên phương diện tác pháp, tôi lấy ví dụ giải thích rõ như sau. 

Ví dụ:
Khi Quỷ Bà sai khiến năm đại quỷ (ác quỷ) Hoàng Kim Tuyền, Lâm Lương Tri, Kobayashi, Watanabe Ichiro, Nakamura Kazumu, dẫn theo trăm nghìn vạn quỷ binh đánh úp bất ngờ tôi, thần thủ hộ mà tôi kết giới là Bất Động Minh Vương và Đại Lực Kim Cang. Tôi quán tưởng là:
Kiếm của Bất Động Minh Vương.
Lay động.
Xuất hỏa.
Gậy kim cương, thừng kim cương của Đại Lực Kim Cang. 
Lay động.

Kết quả là:
Kiếm của Bất Động Minh Vương bay ra, xoay tròn như bánh xe lửa, như cánh chân vịt của máy bay, phóng ra lửa, chém bay đầu lũ quỷ vương quỷ tốt. Máu chảy thành sông. Xương chất thành núi. 

Còn về phần Đại Lực Kim Cang thì: 
Gậy đánh. Thừng trói. Dọa lũ quỷ của Quỷ Bà sợ chết khiếp, quân lính tan rã, bỏ chạy mất dạng. Từ đó không dám đến nữa. 

Ví dụ khi tôi tu pháp Long Vương. 
Có một con rồng ác đã làm hại vô số chúng sinh. Ác long này ghen tỵ tôi đã thu thập được tám đại long vương làm đồ đệ, trong lòng ôm hận bất mãn, nên nó khè ra lửa ác thiêu cháy tôi. 
Khi quán tưởng, tôi và Đại Uy Đức Kim Cang hợp nhất. Tôi lắc lư hai cái sừng nhọn trên đầu. Trên sừng nhọn (sừng trâu) phóng ra lửa, sừng nhọn đâm lên trên. Sừng đâm trúng đầu và bụng của ác long. 
Khi tôi lắc lư hai cái sừng trên đầu thì quấy đảo lên một cơn gió lớn. Đại dương nổi sóng lớn, ác long bay vọt lên không trung bay tới tận trời. Sừng nhọn của tôi kéo dài ra, xuyên vào trong mây. Trong chốc lát, chiếc sừng đã đâm trúng hai mắt của ác long, khiến nó trở thành con rồng mù. Lửa thiêu ác long. Ác long uốn mình lăn lộn khiến đại dương bị khuấy đảo đến mức bọt sóng bắn tung tới trời, nhưng vẫn thua lửa kim cang của tôi. 

Vì thế, khẩu quyết hàng phục ác long của Đại Lực Kim Cang là:
Lay động hai sừng.
Hai sừng phóng hỏa.

Ví dụ:
Trong khi tôi tu pháp, có hai mươi la sát nữ quấy nhiễu. Tôi hợp nhất với Mã Đầu Minh Vương. Hét lên âm thanh của tiếng ngựa kêu. 
Lay động đầu ngựa. 
Răng nghiến trèo trẹo. 
Dọa cho hai mươi la sát nữ này bỏ chạy mất mạng, nhưng chúng không chạy thoát khỏi sức truy kích của ngựa. Cuối cùng, hai mươi la sát nữ này đã quy y Lư Sư Tôn, khấu đầu đảnh lễ, đồng ý nương dựa Tam Bảo.

Hôm nay tôi thật lòng thật sự nói với mọi người rằng:
Lay động chính là khẩu quyết.
Khẩu quyết này vô cùng quan trọng. 

Lại ví dụ:
Bình thường chúng ta tu pháp Bổn tôn thì cần quán tưởng Bổn tôn đang sống. Nếu Bổn tôn là Quan Thế Âm Bồ Tát, ngài xuất hiện ở hư không trước mặt chúng ta. 
Rồi lại quán tưởng: thiên y váy xếp đều lay động. 
Đây là khẩu quyết quan trọng. 
Lại quán tưởng: mi tâm luân của Quan Thế Âm Bồ Tát phóng ra chữ “Om” màu trắng chiếu đến mi tâm luân của mình, hầu luân phóng ra chữ “Ah” màu đỏ chiếu đến hầu luân của mình, tâm luân phóng ra chữ “Hum” màu lam chiếu đến tâm luân của mình. [Các chữ Om Ah Hum bằng tiếng Phạn.]
Đây cũng là khẩu quyết quan trọng về ánh sáng chiếu tới và hòa tan. Cũng là lay động. 

Về phương diện quán tưởng tác pháp:
Quan Thế Âm Bồ Tát trên tay cầm tịnh bình dương liễu. 
Cành dương liễu lay động.
Tịnh thủy vẩy ra toàn bộ căn nhà, căn nhà đã được kết giới thanh tịnh. 
Tịnh thủy vẩy vào bản thân, bản thân trở nên thanh tịnh.
Tịnh thủy vẩy vào đất, đất thanh tịnh.
Tịnh thủy vẩy vào nước, nước thanh tịnh. 
Tịnh thủy vẩy vào lửa, lửa hóa thành mát mẻ.
Tịnh thủy vẩy vào gió, gió liền ngừng thổi.
Chữ vẩy này cũng chính là cành liễu lay động.
Đây chỉ là ví dụ về một vị Bổn tôn. Những Bổn tôn khác cũng làm như vậy. 

Pháp Tài Thần:
Chuột nhả châu báu, mở miệng nhả ra báu vật, những thất trân bát bảo đều lần lượt từ trong miệng chuột quý tuôn ra. Quán tưởng này chính là khẩu quyết về lay động. 
Tức tai, tăng ích, hàng phục, kính ái. Khẩu quyết quan trọng là “lay động”. 


### 22. Điểu Khiếu Thượng Sư


Ngày 27 tháng 11 năm 2021.
Khi ngồi trên pháp tọa ở Seattle Lôi Tạng Tự thuyết pháp cho vô số đệ tử, tôi có nhắc đến Mã Minh Bồ Tát. Tôi hỏi:
”Vì sao Bồ Tát lại có tên là Mã Minh?” [Mã Minh nghĩa là ngựa kêu.]
Một đệ tử trả lời:
”Bởi vì khi ngài ra đời thì ngựa kêu lên.”
Tôi nói:
”Không đúng.”
Thượng sư Huệ Quân tra điện thoại, đáp:
”Là vì khi Bồ Tát thuyết pháp, ngựa nghe được Phật pháp liền kêu lên, cho nên mọi người mới gọi ngài ấy là Mã Minh Bồ Tát.”
Tôi nói:
”Bà nói đúng rồi. Nhưng bà tra điện thoại thì mới biết, cho nên không tính, không được lĩnh thưởng.”

Từ Mã Minh Bồ Tát khiến tôi liên tưởng đến chính mình. Tôi từng khai quang Di Lặc Bồ Tát tại sườn núi Cầu Vồng. Vừa khai quang xong, một tia nắng ban mai xuyên qua mọi tàng cây, rọi thẳng xuống mặt của Di Lặc Bồ Tát. Di Lặc Bồ Tát có hào quang vạn trượng. 
Thật là vừa khéo!
Thật là kỳ diệu!
Chính vì ánh sáng chiếu trên mặt Di Lặc Bồ Tát này.
Chính vào lúc này. 
Tất cả lũ chim ở Biệt thự Cầu Vồng đều tụ tập trên những cành cây xung quanh Di Lặc Bồ Tát. 
Chúng kêu lích ra lích rích. 
Chúng kêu chíp chíp chiu chiu. 
Giống như trăm nghìn vạn người cùng vỗ tay.
Chim đồng loạt kêu, âm thanh dồn dập khác thường. Người có mặt ở đó ai cũng xúc động, thốt lên: 
“Thật sự quá là bất khả tư nghì!”

Còn nữa:
Tại khu phố người Hoa ở Seattle, lúc khai trương Chân Phật Văn Vật, tôi đi khai quang đàn thành. (Trong cửa hàng của Chân Phật Văn Vật có sắp đặt đàn tràng của chư tôn.)

Khi tôi khai quang, lũ chim trong không trung đều hạ xuống kêu lên:
Chích chích.
Chiu chiu.
Khai quang xong, tôi bước ra ngoài xem, trời ơi! Lũ chim này vẫn chưa bay đi. Tất cả chim đều đậu trên dây điện của những cột điện gần đó. Líu ra líu ríu. Chim đậu kín trên những dây điện. Chúng kêu xong thì đứng yên nghỉ ngơi!
Các tín đồ đều thốt lên:
”Bất khả tư nghì! Chưa từng có.”

Còn nữa:
Tôi thuyết pháp tại Đài tưởng niệm Tưởng Giới Thạch (quảng trường Tự Do) tại Đài Bắc trong buổi pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang. Một bầy chim nhạn bay vòng quanh đàn thành, bay vô số vòng. 
Chúng còn kêu lên “ca, ca, ca, ca, ca”. 

Còn nữa:
Khi tôi truyền pháp Bất Động Minh Vương tại San Francisco, bầy quạ cũng kêu. 
Còn nữa….

Tôi nói:
”Mọi người đừng gọi tôi là Điểu Khiếu Thượng Sư!” [điểu khiếu nghĩa là chim kêu]
Bởi vì đồng âm với từ Điểu Khiếu là một từ nghe rất khiếm nhã. Mọi người có mặt đều cười vang.


### 23. Bươm bướm mùa đông


Đêm ngày 28 tháng 11 năm 2021. Tôi có một giấc mơ:
Trong mơ tôi nhìn thấy người bạn gái thời thanh niên của tôi, cô ấy mặc bộ váy màu xanh nhạt, khuôn mặt rạng ngời nét thanh xuân, nét mặt tươi cười rất đáng yêu, duyên dáng yêu kiều đứng trước mặt tôi. 

Cô ấy nói:
”Lư Sư Tôn! Tôi đến tìm ngài đây!”
Tôi rất kinh ngạc:
”Là cô…”
Cô ấy nói:
”Lâu rồi không gặp, cảm ơn ngài vẫn nhớ tôi, tôi đến là để tìm ngài siêu độ.”
Tôi nói:
”Siêu độ? Cô bị làm sao rồi?”
Cô ấy nói:
”Tôi chết rồi!”
Tôi kinh hoàng nói:
”Cô chết rồi ư! Chết rồi nên đến tìm tôi?”
Cô ấy nói:
”Đúng vậy. Lúc còn sống tôi đã nghe đến đại danh của ngài, vốn muốn tìm gặp ngài. Nhưng tôi vẫn luôn không có đủ can đảm, tôi đã kết hôn rồi, cũng có hai người con. Một tuần trước tôi đã qua đời rồi, thọ 70 tuổi.”
Tôi hỏi:
”70 tuổi, mà sao cô lại trẻ như vậy?”
Cô ấy cười:
”Tôi nhất định phải biến thành trẻ tuổi thì ngài mới có thể nhớ ra tôi chứ. Tôi mặc bộ váy trong buổi hẹn lần đầu tiên của chúng ta, ngài còn nhớ không?”
Tôi nói:
”À! Tôi nhớ, tôi có nhớ, vậy còn chiếc ô nhỏ của cô đâu?”
Cô ấy giơ tay lên, quả nhiên là chiếc ô nhỏ đó. Tôi hỏi:
”Làm thế nào mà cô tìm được tôi?”
Cô ấy đáp:
”Ma có ngũ thông, ngài quên rồi à. Tôi đã đến nhà ngài, Kim Giáp Thần canh cửa không cho tôi vào. Tôi chỉ còn cách đưa tấm ảnh chụp chung của chúng ta ra, nói cả buổi thì ngài ấy mới để cho tôi vào đó.”
Tôi hỏi:
”Sao cô biết tôi có thể siêu độ?”
Cô ấy đáp:
”Ở dương gian ngài rất có tiếng tăm. Ở âm gian tiếng tăm của ngài cũng rất lớn, siêu độ nghìn chiếc thuyền pháp ai mà không biết chứ!”
Tôi hỏi:
”Sao cô không tìm người khác siêu độ mà lại tìm đến tôi siêu độ?”
Cô ấy đáp:
”Những người đã chết như chúng tôi đều biết ngày nay ai là người có khả năng nhất.”
Tôi hỏi:
”Ngày mai, làm sao tôi nhận ra người nào là cô? Bởi vì người âm quá nhiều.”
Cô ấy đáp:
”Tôi sẽ hóa thành một con bướm, bay quanh ngài ba vòng, đó chính là tôi.”
Mơ đến đây thì tôi tỉnh dậy!

10 giờ 30 phút tối ngày 29 tháng 11 năm 2021. 
Tôi, Thượng sư Liên Dư, Sư Mẫu, ba người ở trong phòng khách, có một con bướm bay quanh người tôi ba vòng. Liên Dư nói:
”Lạ thật! Con bướm này sao lại bay được vào trong nhà nhỉ? Mà lại chỉ bay xung quanh thầy thôi.”
Sư Mẫu nói:
”Mùa đông mà cũng có bướm à?”
Đúng vậy.
Trăm hoa đều tàn lụi rồi, mùa đông lạnh cóng, bươm bướm từ đâu đến chứ?
Tôi trở về phòng mình, con bướm cũng bay theo tôi, bay vào trong tay áo tôi rồi.


### 24. Pháp chuyển dịch


Ở Indonesia, tôi có một đệ tử tên là Liên Hoa Thiệu Hoành. Mẹ anh ấy mắc bệnh ngoài da ở cẳng chân, tình trạng bệnh ngoài da này vô cùng nghiêm trọng. 

Mẹ anh ấy vì được bác sĩ chữa trị bệnh ngoài da mà đã bôi thuốc mỡ, uống thuốc, tiêm, tiêu độc, thanh lọc. Bác sĩ này chữa không khỏi lại chuyển sang bác sĩ khác, cứ như thế đã chịu giày vò rất lâu rồi. Trước sau gì bệnh của mẹ anh ấy vẫn chưa chữa khỏi, những chỗ lở loét càng ngày càng rộng.

Liên Hoa Thiệu Hoành tìm được hai đồng môn người Indonesia sống tại Mỹ, một người là Lệ Điền, người kia là Lỵ Tát, nhờ đem ảnh của mẹ anh ấy đến xin tôi trợ giúp. Tôi nhìn tấm ảnh chụp cẳng chân của mẹ anh ấy thì sợ đến mức nhảy dựng lên. Một vết lõm to rất sâu, e rằng đã lở loét đến tận xương rồi. 
Đen thui.
Bầm tím.
Sưng đỏ.
Da thịt thối rữa.
(Xem ra, quả nhiên là khiến người ta khiếp sợ.)

Cả cẳng chân đều loang lổ những vết, lỗ to, lỗ nhỏ, không có chỗ nào da dẻ khỏe mạnh lành lặn cả, vừa sưng vừa loét, thế này thì chữa làm sao?

Tôi nói:
”Trông giống như viêm mô tế bào, có uống thuốc kháng sinh, dùng steroid không?”
Đáp:
”Đã dùng thử từ lâu rồi!”

Tôi dùng phương pháp của tôi:
1. Tôi thỉnh ý chỉ của Diêu Trì Kim Mẫu, gia trì cho cẳng chân của mẹ Liên Hoa Thiệu Hoành.
2. Tôi vẽ phù, phù thức là:


![image](/img/img_0dfbb810f3ca53d4bb2af22b42a07627.png)


1. Tôi niệm chú:
Thiên viên địa phương, luật lệnh cửu chương, ngã họa linh phù, khôi phục kiện khang.

1. Gia trì phù.

1. Đốt tiền giấy vàng ở lò vàng mã thứ sáu.

(Chú thích: chữa bệnh về đầu thì đốt ở lò thứ nhất. Chữa bệnh về cổ thì đốt ở lò thứ hai. Chữa bệnh về tim thì đốt ở lò thứ ba. Chữa bệnh ở chỗ kín thì đốt ở lò thứ tư. Chữa bệnh ở đùi thì đốt ở lò thứ năm. Chữa bệnh từ cẳng chân trở xuống thì đốt ở lò thứ sáu.)

Phù của tôi vừa đến nhà của Liên Hoa Thiệu Hoành ở Indonesia. Liên Hoa Thiệu Hoành nói:
Phù vừa tới, cây hoa lan ở trong nhà liền bị sâu. Sâu ở hoa lan càng ngày càng nhiều, nhiều đến mức dày đặc. Nhưng da dẻ của mẹ anh thì kỳ lạ thay, da cẳng chân đã bớt đen đi, vết bầm tím cũng giảm bớt, giảm bớt sưng đỏ, da dẻ ngày một khá hơn. 
Lỗ to thu nhỏ lại.
Lỗ nhỏ thì se khít lại.
Lỗ to, lỗ nhỏ đóng vảy.
Vảy rụng ra.
Ô! Bệnh ngoài da đã khỏi rồi!
Đây là pháp thuật gì?
Đây chính là pháp thuật chuyển dịch chịu thay. Vì những vi trùng trên cẳng chân của mẹ Liên Hoa Thiệu Hoành đã bị chuyển dịch lên cây hoa lan rồi. Cây hoa lan sinh ra đầy sâu. Còn bệnh của người mẹ thì đã khỏi rồi!

Pháp thuật chuyển dịch chịu thay này rất mới lạ, rất nhiều bệnh của con người đã khỏi theo cách này. 



### 25. Chân thực nghĩa mà Phật Đà giáo hóa


Có người hỏi tôi:
”Đời này ngài đến nhân gian có ý nghĩa gì?”
Tôi đáp:
”Tôi đến để tuyên dương giáo hóa của Phật Đà.”
Người hỏi:
”Có thể dùng văn tự ngắn gọn nói cho tôi biết được không?”
Tôi đáp:
”Được chứ.”

Tôi nói:
”Ý nghĩa chính mà Phật Đà giáo hóa chính là từ đời người đi đến giải thoát, cũng có nghĩa là từ con người phàm phu đến được cảnh giới của Thánh hiền.”
Người hỏi:
”Ý chính trong đó là gì?”
Tôi đáp:
”Tam pháp ấn, tứ thánh đế, lục độ, bát chính đạo, thập nhị nhân duyên.”
Người hỏi:
”Thế nào là tam pháp ấn?”
Tôi đáp:
”Chư pháp vô ngã — mỗi cá nhân là huyễn sinh, tất cả hiện tượng là huyễn sinh. Tất cả đều không có tự tính.”
”Chư hành vô thường — mọi thứ đều đang biến hóa, sinh sinh diệt diệt, vô thường đến trong chớp mắt.”
”Niết bàn tịch tĩnh — ở đây là diệt sạch ngã chấp, diệt sạch pháp chấp, từ đó đạt đến giải thoát.”

Người hỏi:
”Thế nào là tứ thánh đế?”
Tôi đáp:
Khổ đế — đời người là khổ, thật ra vui cũng là khổ.
Tập đế — nghiệp chướng của thân, khẩu, ý tạo thành quả khổ, là tập đế.
Diệt đế — kết thúc cái khổ của tập đế. (Thân khẩu ý thanh tịnh.)
Đạo đế — nếu như kết thúc được tập đế rồi, tự nhiên đạt đến niết bàn tịch tĩnh.

Người hỏi:
”Thế nào là lục độ?”
Tôi đáp:
Bố thí — vượt qua lòng tham. 
Trì giới — vượt qua ác hạnh (ngu si).
Nhẫn nhục — vượt qua sân hận.
Thiền định — vượt qua sự tán loạn.
Bát nhã — vượt qua ngu dốt.
(Sáu mục này là phương pháp tu hành.)

Người hỏi:
”Thế nào là bát chính đạo?”
Tôi đáp:
”Chính kiến — biết tam pháp ấn, tứ thánh đế.
Chính tư duy — suy tưởng về tam pháp ấn, tứ thánh đế.
Chính ngữ — không tạo khẩu nghiệp.
Chính nghiệp — chỉ làm nghề thiện.
Chính mệnh — cuộc đời không tạo ác.
Chính tinh tấn — nỗ lực bền bỉ làm việc thiện.
Chính niệm — nghĩ nhớ về chính đạo.
Chính định — thiền định chuyên nhất thanh tịnh.”
(Tám mục này cũng là pháp của tu hành.)

Người hỏi:
”Thế nào là thập nhị nhân duyên?”
Tôi đáp:
Thập nhị nhân duyên là vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử.
Đó là nhân quả tuần hoàn của sinh mệnh, trong nhân có quả, trong quả có nhân, là đạo lý của duyên khởi tính Không.
Hiểu thập nhị nhân duyên mới có thể phá được nhân duyên, đạt đến thánh vực niết bàn.
Niết bàn là vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng.

Đó là chân thực nghĩa của giáo hóa Phật Đà.


### 26. Đến viết một bài thơ


Một đệ tử của tôi từ Đài Loan đến, viết một bài thơ tặng tôi, tiêu đề bài thơ này là “Đến viết một bài thơ”.

Thơ như sau:

*Đến viết một bài thơ
Biểu đạt lòng cảm kích
Biết ơn rất nhiều những điều không như ý
Bởi điều không như ý
Tác động đến lòng sám hối trong con
Ôi 
Hối hận vì những hành vi sai trái ngày xưa*

*Đến viết một bài thơ
Biểu đạt tình ý của con đối với Căn bản Thượng sư
Tình cảm dạt dào miên man
Không có biên giới
Giáo huấn của thầy
Xúc động lòng con
Con biết rằng con không cô độc
Đây là tình nghĩa siêu nhiên
Mà con đang học tập*

*Đến viết một bài thơ
Biểu đạt vận may mắn của con
Biết ơn đời này đã gặp được thầy
Gặp được thế giới của tâm
Con sẽ không rời đi nữa
Trong ánh sáng của trí huệ
Có thầy có con
Không theo không rời*

*Đến viết một bài thơ
Biểu đạt nội tâm của con
Nội tâm của con
Nội tâm của thầy
Vĩnh viễn bầu bạn không rời xa
Thì ra
Đời này phiêu bạt
Là để gặp mặt*

*Đến viết một bài thơ
Biểu đạt niềm day dứt
Thầy thu nhận thân tâm tàn tạ này của con
Điều này cho thấy
Thầy không bỏ rơi
Cho thấy
Thầy luôn bình đẳng*

*Đến viết một bài thơ
Ngợi ca thầy
Thì ra
Tất cả đều ở cùng nhau
Không rời xa
Người ta, con và thầy
Ở cùng nhau
Hát ca nhảy múa
Điều quan trọng nhất là
Nhân gian là tịnh thổ.*

Tôi đọc xong bài thơ “Đến viết một bài thơ” này thì có một cảm giác rất mới mẻ, mặc dù không giống với một bài thơ thông thường, không giống thơ từ kiểu cũ, nhưng ngôn ngữ đơn giản rõ ràng, ý tình đẹp đẽ.

Đặc biệt đây là lời thật lòng của đệ tử đó, đáng quý vô cùng. 
Chân Phật Tông chính là “thật”.
”Thật” chính là hoàn mỹ.


### 27. Viết cho sư phụ của tôi


Người đệ tử đến từ Đài Loan này, ngoài viết tặng tôi một bài thơ ra, anh còn viết một bài thơ khác. Tên bài thơ này là “Sư phụ của con”. 
Tôi luôn cảm thấy:
Đệ tử này rất thần bí.
Vù một cái là đến, rồi lại vù một cái đã đi rồi.
Anh sống tại Seattle Lôi Tạng Tự vài tháng, không ai biết anh từ đâu đến, cũng không ai biết anh đi đâu. Không ai nhắc đến quá khứ của anh, anh không nói. Cũng không nhắc đến sau này sẽ làm cái gì, anh không nói. Giống như một bong bóng nước nổi lên, lại cũng giống như bong bóng nước, “bụp” một tiếng, tan biến mất. 
Chao! Thật là một người khách qua đường thần bí!

Bài thơ “Sư phụ của con” mà anh ấy viết như sau:

*Căn bản Thượng sư tôn kính của con
Sư phụ ơi, thầy là bát nhã
Khéo léo pha trộn giữa Có và Không, giữa Sắc và Không
Trong hỗn loạn mang đến sự tĩnh lặng
Trong tinh tấn có sự điều hòa
Trong cử chỉ có giáo lý
Giữa những lời nghiêm khắc có tâm ý hiền từ
Giữa cứng và mềm có huyền cơ*

*Ôi! Căn bản Thượng sư kính yêu
Tâm tư sư phụ mềm mại không tì vết như cây kẹo bông
Chẳng hề chắt lọc, tiếp nhận hết mọi người từ năm sông bốn bể
Trí huệ sư phụ như giọt nước long lanh
Mở ra bao cơ hội ở khắp nơi bằng tất cả mọi phương tiện như ống kính vạn hoa
Sư phụ như đỉnh núi cao uy nghi*
*Phóng tầm mắt rộng khắp ra hư không vô tận, sưởi ấm mặt đất
Sư phụ tự tại như những đám mây trôi
Mặc sức tự do khiêu vũ, tô vẽ lên bầu trời
Tư tưởng minh triết của sư phụ
Như một bác sĩ tâm lý, muộn phiền đã lắng dịu*
*Tập thơ của sư phụ
Như bức phong cảnh xinh đẹp, gợi lên bao làn sóng liên tưởng
Thần biến của sư phụ
Giống như tập ảnh về cảnh giới đời người, thức tỉnh rồi
Giống như bước vào rừng nhiệt đới tắm gội, tâm thanh tịnh rồi
Cảm ơn sư phụ đã đem đến những tư tưởng thoát tục tươi mát
Cân bằng thế giới hư huyễn này
Tưới đẫm cay đắng của nhân gian
Và đánh thức những con người đang say ngủ*
*Sư phụ của con trí huệ từ bi vô hạn
Tâm lượng rộng lớn như hư không
Sư phụ của con là hư không
Con yêu hư không*

*Sư phụ như đại địa
Tâm thần đệ tử bất định, lo này lo kia, giờ đây tâm an trụ rồi
Sư phụ như cơn mưa
Đệ tử vô thức bị vấy bẩn bụi trần, nay tâm đã được gột rửa
Sư phụ như cơn gió
Thổi qua quét sạch bụi bẩn trên người đệ tử
Sư phụ như ngọn lửa
Sưởi ấm trái tim đệ tử
Sư phụ như cái gì, không phải là cái gì
Dẫn dắt con mọi thứ
Dẫn dắt con, kẻ phàm phu nhỏ bé tự mình chuốc lấy phiền toái này.*

(Chú thích: bài thơ của đệ tử này là những câu thơ ca tụng, trong thơ, dường như tôi là một người thầy hoàn mỹ. Trên thực tế, tôi chưa chắc đã hoàn mỹ như vậy. Tôi luôn cảm thấy tôi là một con người tự nhiên, không giả dối mà thôi.)


### 28. Trên đường ở cõi âm (1)


Trong phòng hỏi chuyện của tôi. Có một người là Liên Hoa Hằng Đạo ngoài 60 tuổi ra sức rập đầu lạy tôi. Tôi nói:
”Không cần phải như vậy, không cần làm như thế.”
Nhưng ông ấy vẫn tiếp tục rập đầu.
Tôi nói:
”Được rồi! Được rồi! Không cần phải đa lễ như vậy!”
Ông ấy miễn cưỡng thôi không rập đầu nữa. Tôi hỏi:
”Đơn hỏi chuyện của ông đâu?”
Ông ấy đáp:
”Tôi không có đơn hỏi chuyện, tôi chỉ đến để cảm ơn Lư Sư Tôn thôi, cảm tạ ơn cứu mạng.”

Ông ấy cúng dường tôi. Tôi nhìn ông ấy, ông ấy hơi xúc động. Hình như tôi vừa nhận ra ông ấy, lại vừa không nhận ra ông ấy, bởi vì thật sự có nhiều đệ tử quá, mọi người nhớ Lư Sư Tôn, còn Lư Sư Tôn chưa chắc đã nhớ ra mọi người.

Ông ấy nói:
”Trên đường ở âm gian, Lư Sư Tôn đã cứu tôi!”
Tôi nghe nói đến “trên đường ở âm gian” thì sững người ra, cảm giác hơi hư huyễn. Ông ấy kể sự tình như thế này. 
Tháng 6 năm nay (2021), ông ấy bị đột quỵ xuất huyết não, hôn mê bất tỉnh nhân sự. Người nhà vội vàng gọi xe cứu thương đưa ông đến phòng cấp cứu của bệnh viện. Người nhà niệm tâm chú Thượng sư. 
Trong cơn hôn mê, ông ấy tự cảm thấy mình đang đi trên con đường ở cõi âm. Ông ấy biết xung quanh cũng có rất nhiều người đang cùng đi trên con đường này, xung quanh bốn bề tối đen như mực, khiến rất nhiều người hoảng hốt. 
Thế nhưng mọi người đều không nói gì cả.

Bỗng nhiên có một người xuất hiện bên cạnh ông, Liên Hoa Hằng Đạo chăm chú nhìn, thì ra đó là Lư Sư Tôn. Lư Sư Tôn nói:
”Ông không nên đến đây.”
Ông ấy nói:
”Không nên đến, vậy tôi phải đi đâu?”
Lư Sư Tôn nói:
”Đây là âm gian, thọ mệnh của ông chưa tới, tôi đưa ông trở về.”
Ông ấy nói:
”Làm sao để trở về?”
Lư Sư Tôn nói:
”Sau khi trở về, chăm chỉ tu hành, sau này đến cảnh giới quang minh, không phải ở đây, nơi đây không phải nơi ông đến. Ông hãy nhớ, chăm chỉ tu hành thực tiễn, đừng quên! Đừng quên!”

Lư Sư Tôn chỉ vỗ vỗ vào vai ông. Ông mở to mắt. Chỉ nghe thấy người nhà kêu lên:
”Tỉnh rồi!”
”Mở mắt rồi!”
”A Di Đà Phật! Được cứu rồi!”

Tỉnh lại rồi, ông ấy nằm trên giường bệnh. Nghe mọi người kể ông ấy hôn mê đã ba ngày ba đêm. Bác sĩ đã truyền dịch và thuốc rất nhiều. Có một lần tim ngừng đập, sau đó lại đập lại. 

Sau khi xuất viện, ông kể với người nhà, trên con đường ở cõi âm, ông đã gặp Lư Sư Tôn, Lư Sư Tôn vỗ vào vai ông. Ông nhớ Lư Sư Tôn dạy ông phải thực tu. Ông ấy đợi sau nửa năm thì thân thể mới hoàn toàn khỏe mạnh, liền khẩn trương đích thân đến tìm sư phụ Lư Sư Tôn của mình để cảm tạ. 


### 29. Trên đường ở cõi âm (2)


Câu chuyện này cũng khá giống với câu chuyện ở chương trước, nhưng tình tiết thì khác. 
Nhân vật chính của câu chuyện không muốn để lộ danh tính, cho nên tôi giấu tên của người này, không tiện công khai.

Đó là một người đàn ông cường tráng. Chưa kết hôn. Bạn bè quy y Chân Phật Tông, anh ấy cũng quy y, nhưng không thật sự thực tu, chưa từng tập Tứ gia hành. Anh ấy chỉ biết niệm Thượng sư tâm chú. Niệm được một triệu biến thì dừng không niệm nữa. 

Một buổi tối, có năm ma nữ xinh đẹp tìm đến anh ta, anh bị bóng đè. Toàn thân không động đậy được. Để mặc cho năm ma nữ xinh đẹp khống chế. Ma nữ này xong việc thì lại đến ma nữ khác. Ma này xong lại đến ma khác. Cứ liên tục làm như thế. Cho đến khi năm ma nữ thỏa mãn rồi thì tình trạng bóng đè mới kết thúc.

Nhưng anh ấy đã bị hư thoát rồi! Cả người giống như đèn dầu cạn kiệt dầu. Chỉ còn một màn đêm tăm tối. 

Anh nghĩ đến hai chữ “đột tử”, nghĩ đến cái chết của Lý Tiểu Long. Đúng rồi! Lý Tiểu Long cũng bị chết như vậy! 
Anh đi trên con đường ở cõi âm, biết rằng mình thế là xong rồi. Năm ma nữ xinh đẹp thay phiên nhau “xuất trận”, sau sự sung sướng mãnh liệt thì bây giờ nhiệt độ người anh đã tụt xuống điểm đóng băng rồi, thậm chí còn dưới cả điểm đóng băng. 
Anh tự biết mình “đã chết”!
Quần lót đã ướt đẫm!
Đây chính là “thượng mã phong”!
(Vào thời cổ đại, nghe nói muốn cứu anh thì phải dùng kim châm vào người để anh giật mình tỉnh dậy, dừng rò rỉ tinh dịch, nếu không thì tinh dịch cứ tiết ra mãi, đến khi khô cạn mà chết.)

Anh đi trên con đường ở âm gian. Cứ quẩn quanh lưỡng lự, không biết phải làm thế nào. Đột nhiên anh nhớ đến tâm chú của Lư Sư Tôn: “Om guru liansheng siddhi hum.”
Trước mắt anh xuất hiện một tia sáng, ánh sáng càng ngày càng lớn, trong ánh sáng lớn đó có một người ngồi yên, người đó chính là Lư Sư Tôn.

Anh hỏi:
”Đây là đâu?”
Lư Sư Tôn đáp:
”Con đường ở cõi âm.”
Anh hỏi:
”Sẽ đi tới đâu?”
Lư Sư Tôn đáp:
”Sẽ đến đạo địa ngục, đạo ngạ quỷ, đạo súc sinh.”
”Tôi không đi!” - Anh hét lớn.
Lư Sư Tôn nói:
”Tôi đặc biệt đến cứu anh đây!”

Lư Sư Tôn lấy ra một bình cam lộ đưa cho anh uống, tinh thần anh lập tức hồi phục. Lư Sư Tôn nói:
”Nơi này không nên lưu lại lâu, mau mau trở về đi, chăm chỉ tu Tứ gia hành, trì Thượng sư tâm chú, Cao Vương Kinh,…”

Lư Sư Tôn đẩy anh một cái. Anh mở to mắt, thấy mình vẫn đang nằm trên giường mình. Anh đã sống lại rồi! Anh đặc biệt đến để kể cho tôi, anh nghĩ đến rất nhiều người đột tử trên giường liệu có phải là đã chết như vậy không. Anh đến cảm ơn tôi, anh nói anh sẽ chăm chỉ tu Tứ gia hành, cũng sẽ tiếp tục trì Thượng sư tâm chú và đọc Cao Vương Kinh. 

Đây là một câu chuyện có thật. Nhưng tôi không tiện công bố danh tính của người này. 


### 30. Trên đường ở cõi âm (3)


Đính kèm hai lá thư. 

Lá thư thứ nhất:

“*Đảnh lễ Pháp Vương Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật vô thượng. 
Đệ tử thay mặt mẹ quỳ xuống đảnh lễ cảm ơn Sư Tôn đại gia trì. Mẹ con đã gần 90 tuổi, hai năm trước bệnh tim bộc phát, đã nhiều lần nhập viện, đã nhiều lần trên con đường chết, chần chừ tiến nhập thân trung ấm, đi đến một nơi không biết là nơi nào, rất nhiều người. Trên con đường trung ấm đó, Sư Tôn xuất hiện, nói với bà rằng đây không phải nơi bà nên tới, mau trở về đi, nói ba lần thì bà tỉnh lại và kể lại cho đệ tử nghe.*

*Tháng 8 năm ngoái bệnh lại tái phát, bác sĩ đưa dụng cụ từ tay phải vào tim để kiểm tra, chuẩn bị thông ballon, thì phát hiện thấy các mạch máu mới phát triển trong tim. Bấy lâu nay luôn thỉnh Sư Tôn gia trì, thật là bất khả tư nghì và kỳ tích. *

*Sư Tôn, mẹ con quy y đã hơn 30 năm, nhưng một chữ bẻ đôi cũng không biết, chỉ biết trì tâm chú Sư Tôn và Thánh hiệu Địa Tạng Vương Bồ Tát. Xin hỏi Sư Tôn, nếu trì Thánh hiệu Kim Cang Tâm Bồ Tát liệu có hiệu quả như Bách tự minh chú không? Rồi hỏi Sư Tôn thêm nữa là trì tên thì có phải quán đảnh không, hay là mỗi Thánh hiệu đều phải quán đảnh? Hay là sau khi quán đảnh một lần rồi thì tên của vị Bồ Tát nào cũng đều có thể trì được?*

*Cảm ơn Sư Tôn từ bi.
Hà Lan, Liên Hoa Thanh Du đảnh lễ.”*

Chú thích: 
Mẹ của Liên Hoa Thanh Du từng đi trên con đường ở âm gian. Sau đó Lư Sư Tôn xuất hiện, đưa bà ấy trở về dương gian. 

Ngoài ra: 
Mẹ của Liên Hoa Thanh Du tim tự động sinh ra mạch máu mới, đây cũng là chuyện rất hiếm có. Bất khả tư nghì. 
Thượng sư tâm chú và Thánh hiệu Địa Tạng Vương Bồ Tát đều có lợi ích lớn.
Còn: đối với đệ tử Mật giáo, một kinh, một chú, một Thánh hiệu, một thủ ấn, một quán tưởng, vốn đều cần quán đảnh thì mới có thể tu trì.
Quán đảnh là trao quyền.
Quán đảnh cũng là gia trì.

🌟

Lá thư thứ hai:

*“Đảnh lễ Pháp Vương Sư Tôn vô thượng.*

*Sáng hôm qua, con xem được khai thị của Sư Tôn vào thứ bảy tuần trước, trong mục “Trò hỏi Thầy đáp”, người thứ hai đặt câu hỏi là Liên Hoa Thanh Du ở Hà Lan là cô và bà của con. *

*Thực tế là hai năm nay, con cũng muốn viết thư cho Sư Tôn về việc bà của con. Có thể nói là có sự việc này, hai năm trước bà của con hít thở có chút khó khăn (thì ra là tim bà có vấn đề, sau đó bác sĩ nói là bà mắc bệnh tim), hỏi bà có muốn vào viện không thì bà nói không cần.*

*Hôm sau bà không được ổn nên mới đưa bà vào bệnh viện thì lúc đó bà đã hôn mê rồi, bố con và cô con ở trong bệnh viện ngồi bên cạnh bà, bố con liên tục niệm tâm chú Sư Tôn, đột nhiên máy đo tim ngừng lại và kêu lên một tiếng “bíp” rất dài. Bố con nhìn cô con, cô con lại nhìn bố con, bố con bảo cô mau niệm tâm chú Sư Tôn đi!*

*Đột nhiên tim bà con lại đập trở lại, không lâu sau lại dừng, sau đó lại đập trở lại. Tim bà ngừng đập hai lần. Sau đó bà con dần dần hồi tỉnh. Bà nói: vừa nãy bà nhìn thấy Sư Tôn, bà nói với Sư Tôn rằng, Sư Tôn ơi thầy đưa tôi đi, tôi đi theo thầy. Sư Tôn trả lời bà rằng: Sao bà lại ở đây? Lập tức nhanh chóng trở về gặp các con của bà đi! Thế là bà dần dần tỉnh lại.*

*Hôm bà con xảy ra chuyện, Sư Tôn khi ấy đang truyền thụ pháp Cứu Thiên Tai Độ Mẫu tại pháp hội ở Cao Hùng vào tháng 4 năm 2019. Pháp thân của Sư Tôn có ở khắp mười phương pháp giới! Liên Hoa Đồng Tử có trăm nghìn tỉ pháp thân! Thật sự vô cùng cảm ơn Sư Tôn và Phật Bồ Tát đã cứu độ!*

*Khi ấy bố con cũng nói là thật sự rất cảm tạ Sư Tôn và Phật Bồ Tát đã cứu bà con sống lại.*

*Liên Hoa Kevin đảnh lễ.”*

Chú thích:

Lá thư thứ hai này đã giải thích lá thư thứ nhất, đã viết rõ ràng tường tận hơn. Tôi đăng thêm hai lá thư này là để chứng minh trên con đường ở cõi âm thật sự có sự việc này. Phân thân của Lư Sư Tôn đã nhiều lần hiển hiện tại con đường ở cõi âm. 


### 31. Bảy pháp phá


Có người hỏi tôi:
”Lư Sư Tôn! Danh tiếng của ngài lớn như vậy, nhất định có rất nhiều hung thần ác quỷ đến để phá quấy, ngài đối phó ra sao?”
Tôi đáp:
”Tôi có bảy pháp phá.”
Hỏi:
”Tạp niệm rất đáng sợ, cản trở tu trì, ngài phá thế nào?”
Tôi đáp:
”Tôi dùng nhất tự chú, một tiếng “pây”, tạp niệm dừng ngay.”
Hỏi:
”Nếu như có đại hung thần đến gây chướng ngại, Lư Sư Tôn phá làm sao?”
Tôi đáp:
”Đại hung thần thông thường đều có đại lực. Tôi có pháp thuẫn (khiên) của Thời Luân Kim Cang để chặn. Tôi có hai sừng của Đại Uy Đức bắn ra lửa để phản kích. Lại có bảo kiếm xuất hỏa của Bất Động Minh Vương để trảm quỷ. Đại hung thần có mạnh đến thế nào cũng không sợ.”

Hỏi:
”A tu la thiên quân vạn mã, khi giết tới nơi thì phải làm sao?”
Tôi đáp:
”Tôi có Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu bảo vệ tôi, dùng chú phản hồi, chặn tới chặn lui, A tu la cũng không thể hại tôi. Ngược lại, chú phản hồi còn khiến cho chúng tổn thất nghiêm trọng hơn.”

Hỏi:
”Các tà pháp sư dùng thuật nguyền rủa rất lợi hại, móc lấy linh hồn của ngài, hút lấy linh hồn ngài, khiến ngài tê liệt, toàn thân không có sức, nằm bẹp trên giường, thì ngài sẽ thế nào?”
Tôi đáp:
”Tôi có rất nhiều pháp Thế thân, thế thân của tôi là những cây lớn, là đá to, là tượng kim thân, là mặt đất, là đại dương, là núi lớn. Họ chỉ hút được linh hồn Lư Thắng Ngạn giả thôi, còn Lư Thắng Ngạn thật vẫn rất yên ổn.”

Hỏi:
”Ma nữ rất mê hoặc con người, rất đáng sợ! Ngài sẽ bị hút hết tinh khí, phải làm sao?”
Tôi đáp:
”Ha! Chuyện này tôi đã gặp nhiều lắm rồi, ma nữ là cực âm, tôi là cực dương, âm dương mà kết hợp thì công lực của tôi càng tăng trưởng mạnh, âm khí tan hết, tôi càng chẳng còn trở ngại.”
Hỏi:
”Nếu bị phụ nữ âm gian mê hoặc thì phải làm sao?”
Tôi đáp:
”Thế thì càng không sợ! Tôi là hành giả vô lậu.”
Hỏi:
”Oan thân trái chủ đến đòi nợ, nhân quả tiền kiếp rất đáng sợ, ngài (Lư Sư Tôn) sẽ đối phó ra sao?”
Tôi đáp:
”Tôi có pháp cam lộ, bố thí cam lộ thì họ đều rất hài lòng, vui vẻ rời đi. Họ muốn cái gì thì tôi cho họ cái đó, tất cả nguyện vọng của họ đều được viên mãn.”
Hỏi:
”Không ai là không sợ Thần Chết, khi Thần Chết đến, ngài đối phó thế nào?”
Tôi đáp:
”Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Tôi tín giải thọ trì. Tôi đã vô ngã rồi, Thần Chết không có cách nào làm gì được tôi, trừ phi tôi tự mình muốn đi.”

Tôi viết một bài kệ:

*Tôi có bảy pháp phá
Hóa nghìn pháp vạn pháp
Có vô số khẩu quyết
Là tuyệt chiêu phá địch
Tu hành không chướng ngại
Hố lửa hóa ao sen
Linh nghiệm tự nghiệm chứng
Cũng đặc biệt thần kỳ
Lành thay! Lành thay!*


### 32. Sumaya Sali


Tháng 12 năm 2021. 
Nữ đệ tử Sumaya Sali từ Indonesia đến Seattle nước Mỹ, cô ấy trú tại một khách sạn ở gần Lôi Tạng Tự. Sau ba ngày, cô nói với tôi:
”Ba ngày không ngủ.”
Tôi quan sát mặt cô ấy, ấn đường có màu đen, cả khuôn mặt u tối, trông phờ phạc nhợt nhạt. Tôi hỏi:
”Có chuyện gì vậy?”
Cô đáp:
”Không biết!”

Tôi dùng thiên nhãn để nhìn, hỏng rồi, có một linh hồn đã ám vào người cô, cười hi hi. Tôi bảo Sumaya Sali quay người lại, tôi dùng thủ ấn của mình, vận khí, gia trì vào lưng cô. Tôi vỗ “bộp, bộp, bộp,….”

Một bóng đen từ trên người cô văng ra một tiếng “păng”, ngã xuống đất. Rất nhanh chóng, nó đã chạy mất tích. Tôi nói:
”Xong rồi! Tối nay cô có thể ngủ ngon rồi!”

Tôi lấy một tấm thẻ hộ thân đưa cho cô, dạy cô trước khi ngủ thì niệm Thượng sư tâm chú: “Om guru liansheng siddhi hum.”

Ngày hôm sau. Cô nói:
”Đêm qua ngủ rất ngon!”
Sắc mặt của cô từ màu đen đã chuyển thành bình thường rồi. Tôi nói:
”Căn phòng mà cô đang ở, khoảng một tháng trước, có người tự sát ở trong phòng đó.”
Tôi nói tiếp:
”Diêu Trì Kim Mẫu nói cho tôi biết.”
Sumaya Sali nói:
”Con sẽ lập tức đổi phòng.”
Tôi nói:
”Đổi phòng cũng được, nhưng quan trọng nhất là cô đeo bùa hộ thân rồi, cộng thêm tâm chú Liên Hoa Đồng Tử nữa thì có thể sống yên ổn rồi.”

Sau sự việc này, có một đệ tử kể với tôi, một tháng trước anh ta cũng tới khách sạn đó chuẩn bị thuê phòng. Trong lúc đang làm thủ tục lưu trú thì có một chiếc xe cứu thương kêu “ò e í e” chạy vào trong khách sạn, còn có xe cảnh sát theo phía sau. Xe cảnh sát vừa nháy đèn vừa hú. Nhân viên khách sạn chạy lao ra ngoài, thủ tục tạm trú tạm thời dừng lại, các đệ tử trong nhóm của anh chờ đợi ở phòng làm việc. 

Một lát sau, nhân viên trở lại quầy tiếp tân nói:
”Ôi! Bận chết mất, có một người khách tự sát ở trong phòng chết rồi, chúng tôi phải đi lo liệu thủ tục.”
Đệ tử hỏi:
”Tòa nhà nào?”
Nhân viên đáp:
”Tòa A. Phòng XY.”
(Người phương tây đối với chuyện khách chết trong khách sạn của mình thì chẳng hề lo lắng chút nào.)

Sau đó, thông qua sự hỏi thăm tin tức của chúng tôi, Sumaya Sali đã ở đúng trong căn phòng XY tòa nhà A đó.
Trời ạ! 
Sao mà chuẩn quá!
Tôi nói:
”Có Lư Sư Tôn rồi thì không sợ gì cả!”


### 33. Mông Cổ đại phu


Tôi có một đệ tử, chúng tôi gọi đùa anh là Mông Cổ đại phu. Vị Mông Cổ đại phu này không hề thật sự sống ở Mông Cổ. Mà là sống ở một nơi xa xôi của đảo quốc, làm nghề bác sĩ. Anh ấy có giấy phép hành nghề bác sĩ. Vì địa phương đó chỉ có một người làm bác sĩ, cho nên con người ở đó có bệnh thì chỉ có thể tìm đến anh. 

Đối với những bệnh nặng nghiêm trọng thì phải đưa đến bệnh viện ở thành phố lớn khá xa mới có thể chữa trị được. Còn những bệnh nhỏ thì anh ấy bao hết. 

Chúng tôi hỏi anh:
”Cảm cúm thì sao?”
Anh đáp:
”APC.” (Tên một loại thuốc trị cảm cúm.)
Chúng tôi hỏi anh:
”Sưng viêm thì sao?”
Anh đáp:
”Uống viên tiêu viêm.”
……………..

Chúng tôi hỏi:
”Thế còn bệnh trĩ?”
Anh đáp:
”Có thuốc mỡ để bôi trĩ, có thuốc viên để tiêu trĩ. Nặng hơn một chút thì làm phẫu thuật nhỏ.”
Chúng tôi hỏi:
”Còn sinh đẻ?”
Anh đáp:
”Có một lần, có một phụ nữ lâm bồn, đứa bé đã sắp sửa tuột ra rồi. Cô ấy không có cách nào tới bệnh viện được. Thế là đành dựa vào những gì tôi đã học, tôi ấn, đè, kéo, khử trùng, cầm máu, v.v… Cuối cùng đã đưa được đứa bé ra bình an, mệt đến nỗi toàn thân ướt đẫm mồ hôi.”
Chúng tôi hỏi:
”Có căng thẳng không?”
Anh đáp:
”Căng thẳng! Bởi vì đó là lần đầu tiên tôi đỡ đẻ.”

Mông Cổ đại phu còn kể với chúng tôi rằng, anh ấy ở Seattle nước Mỹ đem về nước chú Đại Bi mà Lư Sư Tôn đã gia trì. Khi đi qua hải quan, qua máy kiểm tra thì kêu lên “bíp bíp”. Nhân viên kiểm tra rất lấy làm lạ. Rõ ràng là nước mà sao máy lại báo động. Anh bèn uống cho hải quan xem thì mới qua cửa được. 

Mông Cổ đại phu trở về phòng khám, đem nước chú Đại Bi ra cho thêm nước vào, chế thành những chai nhỏ, để ở tủ thuốc ở quầy hàng. Có bệnh nhân đến, anh bèn đưa cho họ một bình nước chú Đại Bi. Kết quả là bệnh nhân nói:
”Cái chai nước thuốc màu trắng đó là có hiệu quả nhất.”
Rất nhiều bệnh nhân đều chỉ rõ rằng:
”Cái chai nhỏ để ở quầy thuốc là có hiệu quả nhất, những thuốc khác đều không hiệu quả.”
Ha ha! Mông Cổ đại phu muôn năm!

Tôi (Lư Sư Tôn) thường nói:
”Có bệnh, nhất định phải tìm bác sĩ.” (Bản thân tôi có bệnh cũng đi khám bác sĩ trước.)
”Nếu như bệnh chữa mãi không khỏi thì mới tìm đến tôi, tôi sẽ chữa theo liệu pháp dân tộc.”
Niệm chú.
Vẽ phù.
Gia trì.
Tôi là Thượng sư Mật giáo, triệu thỉnh Bổn tôn của tôi, dựa vào pháp lực của Bổn tôn để giúp đỡ con người. (Cái này chính là chữa trị bằng tâm linh.)


### 34. Cũng xem là thơ Kinh Kim Cang


Có đệ tử nghe tôi giảng kinh Kim Cang: vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng.
Lại nghe theo lời tôi, lấy mặt trăng để so sánh:
Trên mặt trăng, không có con người.
Cái gì là thiện? Cái gì là ác?
Cái gì là đúng? Cái gì là sai?
Cái gì là mặn? Cái gì là chay?…
Đệ tử này đã viết một bài thơ, đưa cho tôi, tôi đọc xong thì cười ha ha, cũng xem như là thơ kinh Kim Cang. 

Thơ rằng:

*Tôi nghĩ rồi lại nghĩ
Thật sự tôi chẳng phải là tôi
Thân này cũng chẳng phải
Quan hệ con người cũng chẳng phải*
*Hiện tại của tôi càng không phải
Tương lai của tôi đương nhiên không phải
Bạn bè của tôi cũng không phải
Người nhà cũng không phải*
*Tất cả đều không phải, không phải, không phải
Tôi phát hiện ra tôi không phải là cái gì hết
Tôi phát hiện ra tôi cái gì cũng sai
Tôi cũng không phải là cái gì cũng sai
Tôi phát hiện ra cũng cần người ta mới phải
Tôi phát hiện ra điều tôi cần là sự dung nhập*
*Điều tôi cần là đến đi tự do mới phải
Tôi không muốn bị khốn khổ mới phải
Tôi muốn cùng vui chơi nhưng phải có thể tự chủ mới phải
Giống như tôi cần không khí
Nhưng cũng không nắm giữ được không khí
Giống như bong bóng tươi đẹp
Xuất hiện ngắn ngủi
Biến mất tự nhiên.*

(Bài thơ này là những cảm tưởng của anh khi nghe tôi giảng kinh Kim Cang, sau đó anh mới viết ra, hy vọng có chút gợi ý đối với mọi người.)

Lĩnh ngộ của bản thân tôi là:
Thế gian này là không.
Giới hiện tượng là giả.
Cho nên sắc là huyễn.
Sắc tức thị không, không tức thị sắc.
Sắc bất dị không, không bất dị sắc.
Tôi nói “song vận”. 
Dalai Lama nói “tự nhiên”. 
Chỉ có biết được về thức thứ tám A lại da thức thì mới tiến tiếp vào “vô cấu thức”. 
Cuối cùng là “Am ma la”. 
”Om!”

Trung quán học là:
Sắc - không song vận.
Không tức là giả, giả tức là không, không - giả song vận chính là “trung”. 
Hoàng Đế hỏi đạo ở Quảng Thành Tử.
Khổng Tử hỏi đạo ở Lão Tử.
Chính là: xa xăm tăm tối, trong đó có vật.
Tôi đã thể hội được:
”Vô ngã” bất khả tư nghì.
”Vô nhân” bất khả tư nghì.
”Vô chúng sinh” bất khả tư nghì. (không gian)
”Vô thọ giả” bất khả tư nghì. (thời gian)
Phật tính và Không tính của tôi song vận.
Sắc tính và Không tính của tôi song vận. (Sắc tính chỉ ý thức.)
Phi tướng là thực tướng.
Thực tướng là phi tướng.
Như thế này, chính là “ngộ”!


### 35. Đàm phán với đại ác linh


Buổi tối ngày 18 tháng 12 năm 2021. 
Đột nhiên, nguyên thần của tôi hóa quang, bắn vọt đi như mũi tên. Đến một ngọn núi cao. Trong ngọn núi cao này có một hang động rất lớn, trong hang động có rất nhiều ác linh. Những ác linh này đang đùa cợt một phàm phu. 

Tôi nhìn thấy:
Ác linh hóa thành vô số chấm đen nhỏ, đi vào trong tai của phàm phu, sau đó chui ra từ miệng của phàm phu. Giống như chơi trò cầu trượt. Cái lưỡi của phàm phu chính là cầu trượt, nước đen kinh tởm tuôn chảy ra. 
Ác linh lại chui vào từ lỗ mũi, theo khí quản đi vào phổi, sống ở trong lá phổi, ăn uống thả cửa.
Ác linh đi vào từ con mắt, tụ tập ở não của phàm phu, lấy những tế bào não làm thức ăn. Toàn thân phàm phu co giật, điên dại, bất tỉnh nhân sự.
Ác linh từ rốn đi vào, rồi chui ra từ mật luân, máu dịch từ chỗ bí mật chảy ra.
Ác linh từ từ gặm nhấm tim, gan, lách, phổi, thận của anh ta, nhai lục phủ của anh ta.
Ác linh lại hóa thành sâu nhỏ, bò lên da của phàm phu, khiến da của phàm phu này có trăm lỗ lở loét, những con sâu hút cạn máu của phàm phu.
Phàm phu hét lớn một tiếng, rồi bất tỉnh, còn da của phàm phu thì trở nên thối rữa, toàn thân tanh hôi.

Tôi nhìn thấy cảnh tượng như vậy thì cảm giác nôn mửa! Ác tâm quá! Phàm phu kia chịu khổ chịu nạn, tôi đã thấy hết cả. Tôi không biết nguyên thần của mình đến đây để làm cái gì. 

Đột nhiên, trong miệng phàm phu niệm một câu: 
“Om guru liansheng siddhi hum.”
Tôi mới hiểu ra:
”Phàm phu này là đệ tử của tôi (Lư Sư Tôn).”

Thế là, tôi dùng “pháp thổ nạp”, hít vào một hơi khí, những ác linh này từ trên người của đệ tử bị hút ra. (Con này đến con khác ngã lảo đảo.) Chúng nhe nanh múa vuốt tấn công tôi. Tôi dùng “phòng hộ luân”, đám ác linh kia không có cách nào đến gần được. Tôi lại dùng “chuyết hỏa”, lửa bùng lên thiêu cháy đám ác linh, kết quả là chúng đều bị thiêu cháy.
Con thì chết cháy.
Con thì bỏ chạy. 
Kết quả là đã lôi kéo một đại ác linh, là một con quái vật đầu sư tử, có ba đầu sáu tay, toàn thân màu xanh lục, trên người mọc ra rất nhiều lông.

Sư tử hỏi:
”Ông là ai?”
Tôi đáp:
”Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.”
Sư tử phẫn nộ:
”Vô danh tiểu tử mà cũng dám ức hiếp Đại Vương Mặt Xanh ta.”

Cái đầu sư tử chỉ lắc lư, thế mà không ngờ hóa ra mười con sư tử bao vây lấy tôi. Sư tử cười lớn ha ha: 
”Ngươi có mọc thêm cánh cũng khó mà thoát được!”

Thế là, tôi bay vọt lên, ngồi trên lưng Đại Bàng Kim Sí Điểu Vương, miệng bắn ra vô số mũi tên chữ “Hum” (tiếng Phạn). Mỗi con sư tử đều bị trúng tên mà chết. Tên sư tử đứng đầu thất kinh:
”Ngươi là Vishnu à?” (Đại Thần Biến Tịnh Thiên)
Tôi đáp:
”Không phải! Đây chỉ là một trong vạn pháp của ta thôi!”
Sư tử hỏi:
”Bản địa của ngươi là ai?”

Tôi không nói gì, thân tôi khởi lên rất nhiều biến hóa, xuất hiện một đàn thành. Chính giữa đàn thành là Sư Diện Không Hành Mẫu, hai bên là Phật Mẫu Rahula và Phật Mẫu một mắt một miệng một vú. Bốn xung quanh đều là Không Hành Mẫu. (thanh thế lẫy lừng)
Phía trên là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.

Sư tử kia (Đại Vương Mặt Xanh), thấy thế thì kinh hãi:
”Là sư phụ của tôi! Là Bổn tôn của tôi!”
Hắn lập tức quỳ xuống, toàn thân nằm bò ra đất đảnh lễ.
Tôi dùng Sư Diện Không Hành Mẫu để ứng phó với sư tử, trong chốc lát, con sư tử này đã thua rồi.
Tôi thu đàn thành lại. Sư tử hướng về tôi đảnh lễ tạ tội. 

Sư tử (Đại Vương Mặt Xanh) nói:
”Bổn tôn mà tôi tu chính là Sư Diện Không Hành Mẫu, còn Hoạt Phật có thể hiển hóa Bổn tôn của tôi, thế là tu hành cao hơn tôi rồi, tôi nguyện quy thuận Hoạt Phật, tùy ngài sai khiến.”
Tôi nói:
”Sau này không được hại người hại mệnh nữa, như thế mới là phải!”
Sư tử liên tục đáp:
”Vâng!”

Tôi nói:
”Đệ tử của ta, ta có thể đưa đi được chứ?”
Sư tử đáp:
”Đương nhiên.”
Thế là tôi túm chặt lấy đệ tử, bay vọt lên hư không, để cho đệ tử trở về với nhục thân của mình. Nguyên thần của tôi cũng trở về lỗ thủng trên đầu mình.

Tôi để lại một bài kệ cho sư tử:

*Ẩn cư núi sâu tu Mật pháp
Thu thập ác linh là ma chướng
Kết giao âm tà sẽ đọa lạc
Chớ gây thị phi, đọc kinh nhiều.*


### 36. Phụ lục: Thư của Liên Hoa Hán Long


*Đảnh lễ đại ân Căn bản truyền thừa Thượng sư Thánh tôn Liên Sinh Hoạt Phật.
Đệ tử Liên Hoa Hán Long chí thành đảnh lễ cúi lạy. Kính chúc Sư Tôn Phật an cát tường.*

*Đệ tử ủy thác cho trưởng lão Liên Tăng Thượng sư thay con chuyển hồng bao cúng dường, thỉnh cầu Sư Phật từ bi tiếp nhận. Cảm ơn Sư Phật từ bi cứu giúp đệ tử, ba năm trước đệ tử đã gặp nạn tà linh bùa chú, và mắc bệnh do nghiệp chướng hiển hiện. *

*Đặc biệt trình bày với Sư Phật, trong thời gian từ 29/8/2018 đến 18/9/2018, đệ tử ở tại Seattle Lôi Tạng Tự mỗi ngày đều thỉnh cầu Sư Phật sờ đầu gia trì, hơn nữa lúc hỏi chuyện còn cầu gia trì nhiều lần, sau đó còn được Sư Phật từ bi ban cho quán đảnh chú Đại Lực Kim Cang phản hồi, sau khi trở về Malaysia thì hàng ngày đều tu pháp trì chú chưa từng gián đoạn, đến hôm nay đã trì được quá 120 nghìn biến chú cấm quỷ và chú phản hồi Đại Lực Kim Cang rồi.* 

*Xin thưa Sư Phật, đệ tử từ Seattle trở về đảo Langkawi Malaysia, tu trì pháp Đại Lực Kim Cang và chú phản hồi sau khoảng hai tuần thì có một giấc mơ hết sức rõ ràng và đặc biệt. Trong mơ tự thấy là Sư Phật đưa đệ tử ốm yếu đến một nơi thương lượng với một linh to lớn, giống như là một phù thủy ma quỷ có tướng mạo hung dữ oai vệ, khi ấy ở trong mơ đệ tử không cảm thấy sợ hãi, bởi vì trong lòng tin tưởng sâu sắc rằng Căn bản Thượng sư là vua của các vị Phật Vương, phúc đức uy thần lực khẳng định là vượt xa quỷ linh to lớn kia. Trong mơ mặc dù đệ tử hoàn toàn không hiểu được cuộc thương lượng giữa Sư Phật và đại quỷ linh kia, nhưng lòng tin của đệ tử đối với Sư Phật là hoàn toàn 100% tin tưởng hết lòng.*

*Quả nhiên sau khi thương lượng xong, dưới sự gia trì đại uy thần lực của Sư Phật, đệ tử đưa tay phải lôi ra một sợi máu từ trong tai phải ra, sau đó lại dùng bốn ngón tay, từ trong tai phải cuộn và kéo ra rất nhiều sâu bọ và rác rưởi, giống như là câu cá vậy, cứ kéo cuộn như thế rất lâu, kéo đến cùng thì mới lôi ra được một vật lớn. Đệ tử lại kéo mạnh một cái, “póc” một tiếng, không ngờ kéo ra được một mặt quỷ, hai mắt nó còn chuyển động nữa, rất đáng sợ. Đến đây thì đệ tử tỉnh giấc mơ, sau khi tỉnh dậy, trong lòng đệ tử tin tưởng sâu sắc rằng là do Sư Phật đại từ bi, đại thần thông lực đã che chở, đã thay đệ tử giải trừ rất nhiều bùa chú tà vật và nghiệp chướng tích lũy nhiều năm nay. Kể từ đó mỗi ngày đệ tử càng thêm tinh tấn tu trì, khoảng sáu tháng sau, tình trạng sức khỏe của thân thể đệ tử đã chuyển biến tốt lên rất nhiều.*

*Đệ tử cũng hoàn toàn nghe theo chỉ thị của Sư Phật lúc hỏi chuyện, từ Mỹ trở về, lập tức chuyển đi khỏi ngôi biệt thự cũ, sống tạm ở cửa hàng cho đến nay. (Sau này cũng tình cờ gặp hai vị Thượng sư Liên Minh và Liên Uất hoằng pháp tại Malaysia cũng đến đảo Langkawi, Thượng sư Liên Minh cũng giúp đệ tử tu Hộ Ma và gia trì, tẩy tịnh ngôi nhà cũ.)*

*Cảm ơn Sư Phật từ bi gia trì và hóa giải, khiến đệ tử có thể vượt qua được cửa nạn lần này. Đệ tử từ nay sẽ nỗ lực tu tập nhẫn nhục để giảm bớt và loại bỏ bùa chú tà pháp do kẻ thù làm hại.*

*Đệ tử thành thật hướng về Sư Phật sám hối những lỗi lầm. Cảm ơn Sư Phật từ bi gia trì không bỏ rơi. *

*Nhà mới của đệ tử dự tính khoảng giữa năm 2022 là xây dựng xong. Thỉnh cầu Sư Phật gia trì cho ngôi nhà tương lai của đệ tử có thể bình an cát tường. (Đệ tử theo hướng dẫn của Thượng sư Liên Kim, trước khi khởi công, có chọn ngày để tẩy tịnh và an vị chày kim cang chữ thập ở chính giữa ngôi nhà.)*
*Cũng thỉnh cầu Sư Phật từ bi gia trì mà ngôi nhà cũ của đệ tử đã có thể bán được nhanh chóng.*

*Gần hai năm nay, đệ tử phát tâm đúc tượng kim thân Sư Phật Liên Hoa Đồng Tử tinh xảo, cao khoảng 3 thước 16 tấc **[khoảng 1,4 mét]** tay kết ấn thuyết pháp và cầm hoa sen, lên kế hoạch sẽ tặng cho các Lôi Tạng Tự có nhu cầu và các hội đồng tu, đạo tràng. (Trong quá khứ nhiều năm cho đến nay, đệ tử cũng đã đúc khoảng hai nghìn bức kim thân Căn bản Thượng sư cao 12 tấc, tùy duyên tặng cho các đệ tử Chân Phật có nhu cầu. Đệ tử cũng giúp một vài đồng môn khai quang an tọa.) Và lần này là bức tượng khá to, muốn tặng cho các đạo tràng của Chân Phật Tông.* 

*Sau này khi tượng đúc xong, đệ tử sẽ báo cáo với Sư Phật và Tông Ủy Hội. Mong rằng bức kim thân Sư Phật Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử tinh xảo trang nghiêm sẽ trấn thủ các đạo tràng Chân Phật Tông, uy linh hiển hách, gia trì thu nhận các đệ tử Chân Phật và tất cả chúng sinh hữu duyên cùng trở về tịnh thổ Chân Phật.*

*Đệ tử một lần nữa cảm ơn đảnh lễ Sư Phật, cầu nguyện Sư Phật khỏe mạnh trường thọ, quang minh nhậm vận, hỷ lạc tự tại.*

*Đệ tử Liên Hoa Hán Long.
Đảnh lễ trăm lạy.*

Chú thích:
Nguyên thần của tôi thường xuyên đi cứu các đệ tử. Phân thân của tôi vô cùng nhiều. 
Sau khi học được pháp phân thân thì liên tục cứu người, đây cũng là liên tục nuôi dưỡng bồ đề tâm của bản thân.
Tôi hy vọng tôi không oán ghét, bình đẳng bố thí.
Chân Phật Mật Pháp hoằng dương toàn thế giới. Thế giới hòa bình, người người hạnh phúc.


### 37. Tâm đắc về học tập Mật pháp


Có đệ tử là Liên Hoa Quân Chí chắp tay trước tôi, hỏi tôi về những tâm đắc khi học tập Mật pháp.

Tôi nói phạm vi này quá rộng, cho nên tôi sẽ nói về những cảm tưởng gần đây thôi. Một vài tâm đắc nhỏ như sau:
Học pháp nhất định phải như pháp, giới luật vô cùng quan trọng.
Học pháp không được có tâm đố kỵ, nhất định phải loại bỏ tâm vì danh vì lợi, nhất tâm là khẩu quyết quan trọng.
Phải hiểu rõ ràng tường tận pháp nghĩa.
Phải phát khởi bồ đề tâm.
Không thể chỉ làm những công phu biểu hiện bên ngoài, mà là thật sự phát tâm.
Quyết tâm khắc phục tham sân si.
Bằng không tất cả đều uổng công.

Thường xuyên quan sát vô thường, như sinh, lão, bệnh, tử, tăng trưởng tâm học pháp của bản thân.
Bố thí là ba la mật vĩnh viễn, đó là đại pháp tu phúc. Là tư lương đạo số một.
Thâm nhập kinh tạng là đại pháp tu huệ, suy nghĩ sâu sắc, phân biệt rõ ràng.
Cúng dường.
Cầu nguyện.
Tụng bách tự minh.
Đây là công khóa quan trọng mỗi ngày.
Pháp gia hành.
Pháp Thượng sư tương ứng.
Pháp Bổn tôn.
Pháp Nội mật. (Khí, mạch, minh điểm.)
Chú trọng thiền định, tam ma địa. (Tự nhiên, thả lỏng, nhất tâm.)
Tìm tòi tỉ mỉ về sinh diệt động tĩnh.
Chú ý chân diện mục của pháp tính, bởi vì lĩnh hội được pháp tính rồi thì mới có thể hiểu về khai ngộ.

Kiến tính tự có thể kiến đạo.
Kiến đạo mới có thể tu đạo.
Vô thượng mật bộ đại công phu.
Đây là thứ tự sinh khởi, thứ tự viên mãn song vận.
Là sắc-không song vận.
Là dục lạc định.
Trong dục lạc kết hợp bồ đề tâm.
Lạc.
Minh.
Không.
Đây là đại trí huệ về đại lạc, quang minh, tính Không.

Đại trí huệ này là:
”Vô ngã tướng.”
”Vô nhân tướng.”
”Vô chúng sinh tướng.”
”Vô thọ giả tướng.”
Đến đây, biết thế nào là liễu nghĩa, thế nào là không liễu nghĩa. (không phá cũng không ngộ)
Tử quang là ánh sáng của bản thân.
Mẫu quang là ánh sáng của ý thức vũ trụ.
Tử quang và mẫu quang hòa lẫn với nhau. Chảy vào trong tính hải quang minh. Một giọt nước tan vào biển lớn.
Niết bàn.
Không còn nhân sinh.
Không còn nhân tử.
Tự nhiên không còn lục đạo luân hồi nữa.
(Tâm cảnh sáng ngời, vui vẻ hòa thuận, vạn vật nhìn thấy đều là Phật Ta.)

Sau đó:
Như Phật độ tất cả.
Chú ý:
Thứ tự tu pháp là: tư lương đạo, gia hành đạo, kiến đạo, tu đạo, cứu cánh đạo.
Tôi (Lư Sư Tôn) nói sơ lược như vậy.


### 38. Liên Quản và Liên Chi


Khi tôi mới đến Mỹ, tôi thu nhận hai đệ tử là Liên Quản và Liên Chi, cho nên hai người họ có thể xem là đệ tử thời kỳ đầu.

Liên Quản là người Hoa có học vấn cao (tiến sĩ). 
Liên Chi là người da trắng có trình độ văn học và hội họa tinh thâm. (Đã xuất bản nhiều cuốn sách.)
Liên Quản (nam).
Liên Chi (nữ).
Hai người là vợ chồng.
Sau này, Liên Quản mắc ung thư tuyến tụy, giai đoạn cuối. Bác sĩ nói:
”Không cứu được nữa!”
Bác sĩ nói với Liên Chi:
”Về nhà chuẩn bị hậu sự đi!”
Bác sĩ nói:
”Nhiều nhất là chỉ có thể sống được ba tuần nữa.”

Họ đến tìm tôi. Tôi vẽ một lá phù đưa cho Liên Quản uống. Phù thức là: 

(Bệnh nhẹ)


![image](/img/img_255de6c611e3a28aa894b6aca121b57e.png)


(Bệnh nặng)


![image](/img/img_4a6091cfe50aaeb8c329762bf314598d.png)


Đây là phù trị ung bướu.

Đây là phù thức dành cho ung thư và u nhọt. Thật ra trọng điểm của phù nằm ở người vẽ phù và người uống phù. Còn có điểm quan trọng nhất là: “Phật Bồ Tát có phóng quang gia trì hay không!”
Ba điểm này hợp lại mới có hiệu quả.

1. Người vẽ phù công lực đức hạnh cao. (sức mạnh tu hành)

1. Người uống phù đủ tín tâm. (sức mạnh lòng tin)

1. Phật Bồ Tát phóng quang gia trì. (yếu tố quyết định)

Ba điểm này thiếu một điểm cũng không được.
Cứ thế, cứ thế, Liên Quản và Liên Chi đã sống tiếp như người bình thường, cho đến tận bây giờ. 

Liên Quản hỏi bác sĩ:
”Bảo tôi chuẩn bị hậu sự, vì sao vẫn còn sống đây?”
Bác sĩ xoa xoa đầu:
”Chúng tôi thật sự không biết.”
Sau khi bác sĩ kiểm tra, ung thư tuyến tụy vẫn còn đó, không hề tiêu biến. Nhưng Liên Quản thì vẫn cứ sống. Đã là cuối năm 2021 rồi, năm 2022 sắp đến, Liên Quản vẫn sống như người bình thường. (Không chỉ ba tuần, ba tháng, mà cả một năm.)

Liên Quản và Liên Chi vì có được thần tích này, họ đã giới thiệu một nữ sinh của trường đại học Stanford đến chỗ tôi. 
Bác sĩ nói:
”Mắt sẽ bị mù. Không thuốc nào chữa được.”
Tôi dùng phù:
(Phù nhãn khoa)


![image](/img/img_eb8e69602eb94b87fce1cac5b1760b3e.png)


Kết quả: 
Mắt không bị mù.
Kiểm tra lại: thì ra lớp màng che mắt không ngờ đã tan biến mất phần lớn. (Đây cũng là thần tích.)

Tôi nói:
”Có bệnh trước tiên phải tìm bác sĩ để chữa, thật sự chữa không khỏi thì mới tìm Lư Sư Tôn, hy vọng vào kỳ tích!”
Tôi dựa vào sức mạnh của Diêu Trì Kim Mẫu. Diêu Trì Kim Mẫu phóng quang gia trì.


### 39. Phụ lục: Thư của Liên Hoa Xảo Hoa


*Liên Sinh Pháp Vương Lư Sư Tôn tôn kính nhất, Phật thể an khang, trường thọ tự tại, A Di Đà Phật!*

*Đệ tử Liên Hoa Đàm Lê Xảo Hoa vào đầu tháng 10 nhiều lần gửi thư đến Mật Uyển thỉnh cầu Sư Tôn đại cứu độ và gia trì cho con rể của mình là Song-ja Hong, nó mắc ung thư dạ dày giai đoạn bốn, chỉ số cao tới 148 điểm (150 điểm là nguy cơ cao rồi). Vào đầu tháng 10 và tháng 11, sau khi được Sư Tôn hai lần đại gia trì và ban phù hóa uống, trong thời gian hóa trị không có phản ứng xấu nào, cũng không có bất kì tác dụng phụ nào, không nôn mửa.* *Sau lần hóa trị thứ ba, kỳ tích thật sự đã xuất hiện, tế bào ung thư đã suy yếu và thoái hóa, sau khi thử máu và làm nhiều loại xét nghiệm thì biết được chỉ số đã hạ xuống còn 41! (35 đến 50 là bình thường), ngay cả bác sĩ cũng nhiều lần hoài nghi là lấy nhầm báo cáo của người khác. Thật sự là kỳ tích, kỳ tích, thật sự là người chết sống lại rồi, lời của chư Phật không giả dối, con rể bây giờ ngủ ngon, ăn ngon! Đệ tử và con gái, con rể quỳ xuống khấu lạy Sư Tôn đại cứu độ, đại gia trì, Song-ja Hong có thể tiêu tai kéo dài tuổi thọ, hồi phục khỏe mạnh, sinh hoạt bình thường, đại ân đại đức, cảm ơn lại cảm ơn, cảm tạ lại cảm tạ!*

Tôi giải thích rõ:
Tôi (Lư Sư Tôn) năm nay 77 tuổi. Tới năm 2022 là 78 tuổi. (Tính theo cách tính tuổi của Đài Loan.)
Mấy năm gần đây, tôi hoài niệm rất nhiều, rất sâu.

Tôi phân cuộc đời của tôi thành hai giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhất — tôi là một trong những bản linh của vũ trụ.
Là vô ngã.
Pháp nhĩ bản nhiên.
Sự tồn tại của cái Không.
Mượn tên là A Di Đà Phật, Liên Hoa Đồng Tử, Liên Sinh Hoạt Phật, Lư Thắng Ngạn.
Cái tôi giả này tồn tại một cách không tồn tại.
Là niết bàn.
Là giải thoát.
Là bồ đề.
Là bất động.
Là tự tại.

Một cá nhân đã đến cảnh giới này thì không có cách nào hình dung, bút mực không có cách nào mô tả. (Ngay cả cảnh giới cũng là một cái tên giả.)
Có người nói là khai ngộ.
Được thôi! Cho dù là một dạng nhận thức của tự ngã, thì nhận thức này cũng có một cái tên giả: Tỳ Lô Tính Hải.

Giai đoạn thứ hai — trò chơi nhân gian của cuộc đời này của tôi. 
Sinh ra tại Đài Loan.
Đi học, kết hôn, làm việc, con cái, cháu chắt. (thói thường của cuộc đời)
Sinh lão bệnh tử.
Viết sách, tu pháp, vẽ tranh, thuyết pháp, v.v…
Tại gia, xuất gia.
Di cư đến nước Mỹ.
Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người, đây chỉ là trò chơi nhân gian của tôi. 
Là sự huyễn hóa nhất thời.
Đây không phải là thật, nhưng, không phải là thật cũng tốt, tôi coi cuộc đời này là một trò chơi nhân gian.
Lục đạo luân hồi là trò chơi của nghiệp lực.
Sinh sinh tử tử, tử tử sinh sinh, sinh tử tử sinh.
Còn như vẽ phù niệm chú thì chỉ là: 
Một phương pháp cứu người, cứu người cũng là cứu người tạm thời, điều quan trọng nhất là:
”Nhảy ra khỏi lục đạo luân hồi”, trở về với Phật tính của tự ngã.
Hãy cố gắng! Cố gắng!


### 40. Một giỏ ý tưởng kỳ lạ (1)


Tôi đọc kinh Kim Cang. Trong đó có một đoạn:
*”Tu Bồ Đề, nhẫn nhục ba la mật, Như Lai nói không phải nhẫn nhục ba la mật, thì gọi là nhẫn nhục ba la mật.”
Lại nói:
”Là vì sao, Tu Bồ Đề, như khi xưa ta bị vua Ca Lợi cắt đứt thân thể, ta khi ấy vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng.”
Lại nói:
”Là vì sao? Ngày xưa khi ta bị cắt ra từng phần, nếu có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, thì ắt sinh lòng sân hận.”*

Đoạn văn này khiến tôi khá hoảng hốt. 
Trọng điểm nằm ở:
Cắt đứt thân thể.
Cắt ra từng phần.

Giải thích nôm na là:
Đời quá khứ của Phật Đà, vào thời đại vua Ca Lợi, ngài đã thuyết pháp cho nhiều vị minh phi xinh đẹp mà vua Ca Lợi sủng ái. Bởi Phật Đà và các vị ái phi gần gũi quá mức nên vua Ca Lợi tức giận (đố kỵ), bèn dùng đao chặt lìa chân, tay, mắt, mũi, tai của Phật Đà. Việc chặt đứt này gọi là “cắt ra từng phần”. 

Phật Đà khi ấy không tức giận một chút nào. Không oán hận. Vì sao? 
Bởi vì Phật Đà đã vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Ý Phật Đà muốn nói rằng:
Bởi vì vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả, cho nên “không sinh sân hận”. 
Đây cũng là:
”Nhẫn nhục, thật sự không cần nhẫn nhục, vì không cần nhẫn nhục mới là nhẫn nhục ba la mật.”

Tôi giải thích như vậy, hẳn là mọi người có thể hiểu được. Đoạn văn này, tôi giải thích sơ qua một lượt. Thế còn, nguyên nhân khiến tôi hoảng hốt là:
Có người khoét con mắt của bạn. Bạn không đau sao?
Có người chặt ngón tay của bạn
Có người chặt cánh tay của bạn
Có người chặt chân của bạn
Có người cắt noãn bào của bạn
……….
Bạn có thể không oán hận sao?
Cho dù bạn biết lý luận “vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả”, và cũng hiểu rõ. Nhưng, người có thể thật sự bố thí, có ai?

Tôi hiểu rằng:
Cái tôi hiện thực này, thân là tứ đại tổ hợp, khi phân tách ra thì không còn là tôi nữa (vô ngã). 
Tất cả đều như là không có ai (vô nhân). 
Vô nhân tức là vô chúng sinh.
Vô chúng sinh tức là vô thọ giả.
Những điều này, tôi đều hiểu.
Đời người chỉ là cái huyễn nhất thời. Trên cả một hệ thống thì là không tồn tại, cũng giống như một giấc mơ huyễn. 
Hư cấu.
Giả tạo.
Nhưng, cho dù là nằm mơ thì cũng sẽ kinh sợ mà hét lên, tỉnh dậy, toàn thân toát mồ hôi lạnh. 

Ý tưởng kỳ lạ của tôi là:
Phật nói là việc của Phật, tôi kêu là việc của tôi. (Đau mà!)


### 41. Một giỏ ý tưởng kỳ lạ (2)


Thời đại Phật Thích Ca Mâu Ni. Có người hỏi Phật Đà:
”Con người là cái gì?”
Phật Đà đáp:
”Ổ trùng.”

Trời ơi! Vào thời đại đó, khoa học chưa phát triển, làm sao mà Phật Đà biết được thân thể con người là ổ trùng? 
Ngày nay, chúng ta hiểu rằng:
Trong nước bọt có vi khuẩn.
Trong dịch dạ dày có vi khuẩn.
Trong ruột có vi khuẩn.
Cơ thể người chúng ta có vi khuẩn tốt, cũng có vi khuẩn xấu, vi khuẩn tốt chính là các lợi khuẩn. Vi khuẩn xấu chính là các cỗ máy phá hoại.

Chúng ta càng biết rằng:
Tinh trùng của đàn ông.
Trứng của phụ nữ.
Do tinh trùng và trứng kết hợp lại mới sinh ra con người. 
Tinh là trùng có hình dài.
Trứng là trùng có hình tròn.
Mắt thường của chúng ta không nhìn thấy được, nhưng thực tế chính là như vậy. Vì hai trùng này kết hợp mới dần dần biến chủng mà thành con người. 

Nói ngắn gọn là:
Con người là biến ra từ trùng.
Con người là biến ra từ vi khuẩn.
Cũng có nghĩa là:
”Trùng (vi khuẩn) là nguồn gốc của con người.”
Cho nên Phật Đà nói, con người là ổ trùng, đó là một sự thật hoàn toàn chuẩn xác. 

Đó là vào 2600 năm trước, Phật Thích Ca Mâu Ni đã biết rồi. Phật Đà nói:

*"Uống một ngụm nước sạch
Tám vạn bốn nghìn trùng.
Nếu như không trì chú
Cũng là giết chúng sinh."*

Từ đây có thể thấy kiến giải của Phật Thích Ca Mâu Ni, từ lâu ngài đã biết thế giới này căn bản là thế giới của trùng. 

Tôi nhớ có một chuyện cười. 

Có một người đàn ông đi chơi gái ở một đất nước nọ, bị công an bắt giữ, đã đóng vào hộ chiếu hai chữ: “Dâm trùng”. [con nghiện tình dục]
Người đàn ông này đã bỏ ra một ít tiền để xin bỏ đi hai chữ này. Kết quả là hộ chiếu được sửa thành:
Thêm hai chữ ở phía trước: “Không phải dâm trùng.”
Ha ha ha!
Câu chuyện cười này nếu là thật thì tôi cảm thấy hai chữ “dâm trùng” này cũng rất là xác đáng. 

Theo suy luận này:
Địa vị cao thì cũng là trùng.
Người giàu có cũng là trùng.
Bề ngoài xinh đẹp cũng là trùng.
Ăn uống và sắc dục chính là bản tính của trùng.

Các quốc gia trên thế giới này đều là các quốc gia của trùng, gia tộc là gia tộc của trùng. Gia đình là sự kết hợp của hai con trùng, sinh ra toàn là trùng trùng trùng. 
Chiến tranh là cuộc chiến giữa các con trùng.
Tình ái là sự mê thích lẫn nhau giữa trùng và trùng.
Trùng to là hổ.
Trùng dài là rắn.
Bệnh dịch là siêu vi trùng đang diệt trừ nhân loại.
Bây giờ cuối cùng đã hiểu:
”Con người vốn là trùng.” (Cũng là vi khuẩn.)


### 42. Một giỏ ý tưởng kỳ lạ (3)


Khuôn mẫu của đời người là gì?
Đi học.
Làm việc.
Sinh con dạy cái.
Con cái sinh ra cháu.
Già chết.
(Đây chính là khuôn mẫu của đời người, cũng chính là một đời của con người hiện đại.)

Ngoài ra:
Theo đuổi thành tích xuất sắc.
Theo đuổi kiếm tiền càng nhiều.
Theo đuổi tình yêu.
Theo đuổi địa vị cao trọng.
Theo đuổi nhà đẹp.
Theo đuổi xe sang.
………….
(Đây cũng là khuôn mẫu của đời người.)

Đời người từ khi sinh ra cho đến khi chết không tách rời cái khuôn mẫu nói đến ở trên, cái khuôn mẫu này từ thế hệ già truyền đến thế hệ trẻ, từ đời trên truyền đến đời chúng ta, rồi lại từ đời chúng ta truyền xuống cho đời tiếp theo. 
Về sau, cái khuôn mẫu này đã được định hình. 
Bạn, tôi, người khác.
Chỉ có thể ở trong cái khuôn mẫu này, từ khi sinh ra cho đến khi già chết, mọi người đều như nhau.

Đời người chính là khuôn mẫu này. 
Người có thể thoát ra khỏi nó, không nhiều!
Nếu có người không đi học.
Có người không kết hôn.
Có người không làm việc.
Có thể tưởng tượng, áp lực của họ nhất định sẽ rất lớn, đến từ bề trên, đến từ xã hội, gia đình, hoàn cảnh, v.v…
Con người này nhất định sẽ rất đau khổ.
Muốn phá bỏ cái khuôn mẫu này thật không hề dễ dàng.

Nhưng,
Có một người đã đột phá, người này chính là: Phật Thích Ca Mâu Ni.
Ngài không cần vương vị.
Ngài không cần tiền bạc.
Ngài không cần tình yêu.
Ngài rời khỏi vương thành, tự mình cạo đầu, quyết tâm đi tu hành ở núi tuyết, không cần phi tần của mình.
Sau này, dưới cây bồ đề, ngài tự mình ngộ đạo, bắt đầu hoằng truyền chân lý mà ngài đã lĩnh ngộ. 
Đó chính là lão tổ sư của Phật giáo.
Đạo mà ngài đã ngộ ra chính là: “Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng.”
Đời người là khổ. (Chư hành vô thường.)
Đời người là cái không rốt ráo. (Chư pháp vô ngã.)
Đời người là từ lúc sinh cho đến chết. (Niết bàn tịch tĩnh.)
Thực tướng tức là phi tướng, phi tướng tức là thực tướng.
Phật Đà đã thuyết rất nhiều kinh điển, có kinh liễu nghĩa, có kinh không liễu nghĩa. 
Kinh liễu nghĩa là cái Không rốt ráo. (xuất thế)
Kinh không liễu nghĩa là những dạy dỗ về cuộc đời. (nhập thế)

Giác ngộ triệt để nhất của Phật Thích Ca Mâu Ni là:
Phật tính.
Không tính.
Chân như.
Vì thế, hiện tượng viên mãn nhất của cuộc đời là thoát ra khỏi lục đạo luân hồi. Đạt đến pháp nhĩ bản nhiên.
Con người thế tục theo đuổi viên mãn, đều là sự viên mãn tiền bạc, viên mãn ái tình, viên mãn địa vị…
Nhưng, tôi biết:
”Những thứ đó chỉ là tạm thời mà thôi.”


### 43. Một giỏ ý tưởng kỳ lạ (4)


Cuộc đời này của tôi, có một việc khác với người ta, đó là: “Tôi đến 77, 78 tuổi vẫn không có điện thoại, không có máy vi tính.”
Xã hội hiện đại là:
”Ai cũng cầm điện thoại trên tay.”
Còn tôi, căn bản là không có.

Sư Mẫu Liên Hương Thượng sư có điện thoại, con cái tôi có điện thoại, cháu tôi đều có điện thoại. Đệ tử của tôi đều có điện thoại.
Mỗi tôi.
Không có.
Tôi nghĩ rất đơn thuần, tôi chỉ muốn sống những ngày an tĩnh, tôi vẫn luôn rất an tĩnh. 
Đương nhiên, tôi biết tính tiện dụng của điện thoại, công năng của nó bao hàm cả một đời người.
Con người ra đời.
Điện thoại đã hợp nhất với con người.
Tất cả mọi thứ trong cuộc sống đều dựa vào cái điện thoại rồi. Bên trong cái điện thoại có đủ mọi thứ. Rất tiện lợi. Giúp con người rất nhiều.

Lợi ích của điện thoại tôi đều biết. Con người hiện đại nếu như một ngày không có điện thoại thì sẽ cảm thấy không thể nào xoay xở được.
Có đệ tử tặng tôi điện thoại Apple.
Có đệ tử tặng tôi điện thoại Huawei.
Có đệ tử tặng tôi điện thoại Samsung.
Đều là những mẫu mới nhất……..
Nhưng, 
Tôi vẫn sống cuộc sống của con người nguyên thủy của tôi thôi!
Tôi thích câu nói của Lão Tử:
”Vi học nhật ích, vi đạo nhật tổn.” [Theo học thì ngày một tăng thêm, theo đạo thì ngày một giảm bớt.]
Nếu diễn giải nôm na thì là:
”Bạn muốn học thức tốt thì phải nỗ lực tăng trưởng kiến thức của bạn. Còn nếu bạn muốn tu đạo, thì mỗi ngày phải buông bỏ những tưởng niệm của bạn.”

Giờ đây, tôi không muốn thấy quá nhiều. (mắt)
Không muốn nghe quá nhiều. (tai)
Không muốn ngửi quá nhiều. (mũi)
Không muốn ăn quá nhiều. (lưỡi)
Không muốn làm quá nhiều. (thân)
Không muốn nghĩ quá nhiều. (ý)
Và:
Tôi không muốn kiếm nhiều tiền hơn. (tài)
Không cần quá nhiều tình. (sắc)
Không suy nghĩ về vấn đề địa vị. (danh)
Ăn uống càng đơn giản càng tốt. (ăn)
Tôi cũng không muốn ngủ quá nhiều. (ngủ)
Tôi chỉ nghiêm túc làm ba việc:
Viết sách.
Vẽ tranh.
Tu hành.

Vì thế, cuộc sống của tôi rất đơn giản, phạm vi càng ngày càng nhỏ hẹp, tôi không ở nhà thì tôi ở chùa. 
Đối với quá khứ, tôi coi như giấc mơ đã qua.
Đối với tương lai, tôi không có kì vọng gì.
Tôi nói:
”Không có kỳ vọng, thì không có thất vọng.”
Tôi nói:
”Mỗi sự việc đều là sự an bài hoàn hảo nhất.”

Tôi không có điện thoại.
Tôi không có máy vi tính.
Cuộc sống của tôi rất đơn thuần, không phức tạp. Có thể nói tôi là đạo nhân vô vi.
Tôi là: “Tâm vô sở trụ.”


### 44. Một giỏ ý tưởng kỳ lạ (5)


“Một giỏ ý tưởng kỳ lạ” của tôi ban đầu là “vô tưởng”. 
”Vô tưởng” thì mới có thể:
Ngày ngày đều vui vẻ.
Không có phiền não ở trong đầu.
Nội tâm tự nhiên phóng quang chiếu khắp nơi.
Thuần khiết.
Thanh tịnh.
Tất cả tập tính tôi đều hóa thành không.
Bởi vì:
”Vô vi nhi vô bất vi.” [Dịch nôm na là: Không làm gì mà không có gì là không làm, hoặc làm mà như không làm, có nghĩa là làm thuận theo quy luật của thực tại, thoạt nhìn có vẻ như không làm gì, nhưng thực ra cái gì cũng làm hết.]
”Có làm gì thì cũng là vô vi, làm không vì cái gì cả.”
”Rất hiếm có thứ gì khiến tôi phát khởi dục vọng, tôi đã xa lìa dục vọng rồi.”
Đã không còn phân biệt người tốt, người xấu, không có thiện và ác, không có đúng và sai.
Không có đối lập.
Rất hiếm có thứ gì có thể khiến tôi động tâm.
Tôi không phải là không có trí huệ. Mà là có trí huệ mà không dùng, cho dù có dùng thì cũng vô vi mà dùng. [Dùng một cách tự nhiên, không vì điều gì cả.]

Ý tưởng kỳ lạ của tôi là:
Tự nhiên.
Không minh.
Pháp nhĩ.
Song vận.
Nhậm vận.
Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người rằng:
Tôi không còn ham muốn tiền bạc.
Tôi không còn ham muốn mỹ sắc.
Tôi không còn ham muốn danh vị.
Đến là tự nhiên đến, đi là tự nhiên đi, giữa đến và đi cũng không bám chấp.

🌟

Năm đó, tôi trở về Đài Loan. Tôi gặp mấy người đệ tử đã quy y thời kỳ đầu.
Có người bảo tôi:
”Lư Sư Tôn! Tôi đã không còn là đệ tử của ngài nữa rồi!”
Tôi nói:
”Rất tốt! Thế ông đi đâu rồi?”
Họ đáp:
”Đầu tiên tôi quy y lão hòa thượng Diệu Liên, sau đó đã quy y pháp sư Duy Giác, tôi cảm thấy lợi ích khá nhiều.”
Tôi nói:
”Tốt lắm, phải tinh tấn đó!”

Còn có một phu nhân giàu có nói với tôi:
”Bây giờ tôi là thành viên hội đồng quản trị danh dự của Từ Tế, tôi đã không còn là đệ tử của ngài nữa rồi!”
Tôi nói:
”Tốt lắm! Phải học tập xả vô lượng đó!”
Bà ấy hỏi:
”Thế nào là xả vô lượng?”
Tôi đáp:
”Oán thân bình đẳng xả.” (Không được bố thí với tâm phân biệt.)

Còn nữa, có một đệ tử học Phật có học thức cao nói với tôi:
”Tôi đã đi đến Pháp Cổ Sơn, rời bỏ Chân Phật Tông, từ lâu đã không còn tu Chân Phật Mật Pháp nữa rồi!”
Tôi nói:
”Tốt lắm! Ông học đến cái gì rồi?”
Họ đáp:
”Không.”
Tôi nói:
”Đúng rồi. Ta chính là Không, Không chính là ta. Hãy nhớ phải dung nhập đó! Dung nhập Không, vô niệm mà nghĩ.”


### 45. Một giỏ ý tưởng kỳ lạ (6)


Tôi phát hiện ra, tuổi tác tôi càng cao lại càng dễ đi vào giấc ngủ. 
Vừa lên giường, vừa nằm xuống, còn chưa kịp tu pháp Miên quang thì tôi đã ngủ mất rồi. Hoặc là, mới tu được một nửa thì đã ngủ say rồi.
Niệm: “Vãng sinh tịnh thổ, siêu sinh xuất khổ, nam mô A Di Đà Phật!”
Còn chưa niệm xong câu này thì tôi đã chẳng còn biết gì nữa rồi. 
Tôi nằm xuống là có thể ngủ.
Tôi ngồi cũng có thể ngủ.
Tôi đứng, dựa vào tường cũng có thể ngủ.
Thế này không kỳ lạ sao?
Bởi vì chỉ cần tôi hễ thả lỏng là không còn biết đông tây nam bắc gì nữa. Lạ quá!
Tôi nghe rất nhiều người nói:
”Tuổi tác càng cao thì càng khó ngủ!”
”Chất lượng giấc ngủ kém đi!”
”Ngủ chập chờn!”
”Một buổi đêm thức dậy rất nhiều lần!”
”Hễ tỉnh dậy là không ngủ được nữa!”
”Rất khó đi vào giấc ngủ!”
…………….

Rất nhiều người phải nhờ có thuốc mới có thể ngủ được. Một bác sĩ khoa tâm thần nói với tôi:
”Ngài nhìn xem những người đang đi bên ngoài, cứ ba người trong số đó thì có một người gặp vấn đề về giấc ngủ.”
Ôi! Con người hiện đại, việc ngủ là một vấn đề lớn.
Tôi nói:
Đừng nghĩ quá nhiều.
Tịnh không.
Bản chất của vạn vật là như nhau.
Vô sự.
(Bản chất của sự việc cũng là như nhau.)

Tôi phát hiện ra: trước tiên học ngủ được thì có thể học thiền định. 
Câu nói này không hề hoang đường.
Mỗi một lần tôi lên pháp tọa, rất nhiều đệ tử ở dưới pháp tọa nhìn Lư Sư Tôn ở trên pháp tọa, thường có một nghi vấn:
Lư Sư Tôn chẳng hề cử động.
Hai mắt nhắm lại.
Đang ngủ sao?
Hay là thiền định?
Câu trả lời của tôi là:
”Có khi là ngủ, có khi là thiền định.”
Ngủ — tiến nhập vào một thế giới khác, quên hết tất cả.
Thiền định — giữa ngủ và tỉnh.
Thiền định là tâm vi tế nhất, bảo lưu một chút sức mạnh của nhận thức, trạng thái tinh thần chuyên nhất. 

Chúng ta thường nói:
Khẩu quyết của thiền định là:
Vô sự.
Vô tâm.
Thật ra hai khẩu quyết này cũng chính là khẩu quyết của việc ngủ.
Chính tôi phát hiện thấy, khi tôi tiến nhập vào trạng thái chuyên nhất, rồi quên luôn cả chuyên nhất, thì tiến nhập vào thế giới Không, “tiểu ngã” lúc này không còn tồn tại nữa. 

Lão Tử nói:
”Vi đạo nhật tổn, tổn chi hựu tổn, vô vi nhi vô bất vi.”
Ý nghĩa là:
Vứt đi! Vứt đi! Buông bỏ! Buông bỏ!
Cho đến khi vứt hết sạch rồi!
Tiến nhập vào trạng thái tự nhiên không làm gì cả (vô vi), lúc này sẽ có thể dùng “vô vi” để làm việc thiên hạ.
Tiến nhập vào ý thức vũ trụ.
Phóng quang chiếu khắp nơi!


### 46. Một giỏ ý tưởng kỳ lạ (7)


Ngày 30 tháng 12 năm 2021. Đó là ngày mà đệ tử Sư Đầu ở nước Anh rời Seattle trở về Anh Quốc. 
Sư Đầu là biệt hiệu mà chúng tôi đặt cho cô ấy. Bởi vì đầu tóc của cô ấy rất giống con sư tử. Cô kể:
”Khi còn đi học, rất nhiều bạn học đặt biệt danh cho cô, gọi cô là Sư Đầu.”
Sư Đầu là bác sĩ đông y. Lúc chia tay, cô ấy quỳ trước cửa thư viện, chào từ biệt tôi (Lư Sư Tôn). Cô dâng hoa tươi. Tôi nói:
”Sư Đầu! Cô trở về nước Anh, thầy sẽ có một pháp thân đi theo cô!”
Sư Đầu nói:
”Vâng ạ! Con biết. Con chỉ cần niệm tâm chú của Lư Sư Tôn là Lư Sư Tôn liền xuất hiện!”
Tôi nói:
”Đây chính là tương ứng, cô đã tương ứng với Thượng sư rồi!”
Sư Đầu nói:
”Con làm nghề y, gặp lúc khó khăn, chỉ biết gọi Lư Sư Tôn, Lư Sư Tôn tự nhiên sẽ giúp con giải quyết việc một cách đầy kỳ tích!”

Các đồng môn xung quanh nghe thấy thế thì cảm thấy rất kinh ngạc. Tôi nói:
”Việc này có gì đâu, vốn dĩ chính là như vậy, pháp thân của thầy có ở khắp nơi.”
Pháp thân của tôi hiển hóa ở khắp nơi trên thế giới.
Bạn chỉ cần tu tương ứng được pháp Thượng sư tương ứng, tôi lập tức trong tích tắc sẽ đến. Rất nhiều rất nhiều đệ tử đều có hiện tượng như vậy, ban ngày, ban đêm đều như vậy. (Không chỉ là xuất hiện trong giấc mơ.)
Chuyện này là thế nào đây?
Đáp án là:
”Một mặt trăng soi bóng nghìn sông.”

Tôn Ngộ Không trong Tây Du Ký từ trên đầu nhổ ra trăm nghìn sợi lông, hô biến một tiếng, thế là biến ra rất rất nhiều Tôn Ngộ Không, mỗi Tôn Ngộ Không đều cầm gậy như ý. Mỗi một Tôn Ngộ Không đều giống thân thật như y như đúc. Pháp thuật này chính là: 
”Pháp phân thân.”

Trong kinh điển Phật giáo, chuyện này có ở khắp nơi. Ví dụ:
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát có một lần sắp bị Đại Ca Diếp đuổi ra khỏi tăng đoàn. Phật Thích Ca Mâu Ni mời Đại Ca Diếp xem rất nhiều thế giới. Mỗi một thế giới đều xuất hiện Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. Che kín cả trời đất. Tôn giả Đại Ca Diếp rất sửng sốt.
Phật Đà nói:
”Nhiều Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát như vậy, ông muốn đuổi vị Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nào đi?”
Tôn giả Đại Ca Diếp á khẩu không nói được gì.

Còn nữa:
Quan Thế Âm Bồ Tát có trăm nghìn tỉ hóa thân, chuyện này tín đồ Phật giáo đều biết.
Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người rằng:
Chỉ cần bạn có thể dung nhập với Bổn tôn. (nhập ngã ngã nhập)
Bạn có thể hiển hóa.
Từ một Bổn tôn, biến ra nghìn nghìn vạn vạn Bổn tôn.
Điều này không khó. 
Hợp lại thì thành một thân.
Phân ra thì đầy khắp lục hợp. 
Đọc kinh Bản Nguyện Địa Tạng Bồ Tát, phẩm Phân Thân Tập Hội là có thể hiểu thôi.


### 47. Phụ lục: Thư của đệ tử từ Bắc Carolina


Lư Sư Tôn kính yêu:
Con chào Sư Tôn. Đệ tử là Elisabet Hidalgo Andrews sống tại Bắc Carolina. 
Họ tên: Bà Elisabet H. Andrews
Ngày tháng năm sinh, địa chỉ: (lược bỏ)
Đệ tử kiền thành hướng về Sư Tôn và chư Phật Bồ Tát kính lễ, chúc thầy thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý. Hôm nay, đệ tử muốn chân thành cảm tạ Sư Tôn bao lâu nay đã luôn nhọc công độ chúng sinh, từ bi vô tư giúp đỡ đệ tử, điều này đối với đệ tử mà nói là vô giá, vô cùng quý báu. 

Hôm nay, đệ tử chỉ muốn nêu ra một vài bằng chứng mà Sư Tôn đã giúp đệ tử:

(1) Trong lúc đệ tử ngủ, Sư Tôn đã giúp làm phẫu thuật cho đệ tử.

(2) Trong lúc đệ tử ngủ, Sư Tôn đã cứu đệ tử ra khỏi nơi ma quỷ có năng lượng tiêu cực, Sư Tôn mang linh hồn của con bay đi. (Sư Tôn có sức mạnh vĩ đại.) Vô cùng cảm tạ Sư Tôn.

(3) Sư Tôn vẫn luôn luôn bảo vệ con.

(4) Sư Tôn đã giúp đỡ con rất nhiều trong công việc của mình.

(5) Sư Tôn đã gia trì và quán đảnh cho con nhiều lần.

(6) Sư Tôn giúp con tiêu trừ ác nghiệp của con.

(7) Sư Tôn đã giúp đỡ hai đứa con của con (Alicia và Jonathan).

(8) Sư Tôn phóng ánh sáng trắng lên người con, đó là một trải nghiệm đẹp đẽ nhất của con, vô cùng cảm tạ.

(9) Sư Tôn đặt Phật linh lên người con, nhưng con phải có thân tâm thanh tịnh thì các vị mới ở lại. Cho nên khi các vị đi rồi, thì liệu các vị có trở lại nữa không, hay là phải nhờ Sư Tôn gia trì lại?

(10) Sư Tôn giúp con loại bỏ oan thân trái chủ bất hảo trên người con, con cho rằng điều này vô cùng bất khả tư nghì. Chúng con làm người thường không chú ý đến trên người mình có những linh hồn bám theo, cho đến khi có người đuổi chúng ra.

(11) Con có thể tiếp tục liệt kê ra rất nhiều cảm ứng cát tường khác nữa.

Con muốn nói với Sư Tôn rằng, con đã có hai giấc mơ rất đẹp:

(1) Con mơ thấy thầy cạo sạch tóc trên đầu con.

(2) Con mơ thấy A Di Đà Phật phóng ánh sáng trắng lên đỉnh đầu con, trước khi ngủ mơ thì con đã liên tục niệm tụng “Om guru liansheng siddhi hum” trong khoảng 45 phút. Cảm ơn thầy. Giấc mơ của con rất chân thực, con không chấp vào mộng cảnh, con chỉ muốn kể để Sư Tôn biết thôi.

Con hy vọng Sư Tôn có thể nói cho con biết Bổn tôn mẫu thân của con là vị Phật Bồ Tát nào, con đến từ đâu? Con cảm nhận mạnh mẽ rằng mẫu thân nguồn gốc của con ở tịnh thổ, nếu như cảm nhận của con là đúng, xin Sư Tôn nói cho con biết, con nên làm sao để tôn trọng ngài?
Xin Sư Tôn tha thứ cho những lỗi lầm mà con đã mắc phải. Cũng xin Sư Tôn tiếp nhận cúng dường của đệ tử coi như một chút tâm ý bày tỏ lòng cảm tạ, cảm ơn thầy.

Đệ tử của thầy,

Liên Hoa Elisabet Hidalgo Andrews.


### 48. Phỏng vấn Tết Xuân 2022


Người chủ trì mục phỏng vấn: cô Cao Luật Kỳ.
Người được phỏng vấn: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.
Thời gian: Tết Xuân 2022.
Địa điểm: Seattle Lôi Tạng Tự, Mỹ.
(Ghi hình buổi phỏng vấn đã được phát sóng trên các đài truyền hình lớn ở Đài Loan.)

- Phần hỏi đáp thứ nhất

Cô Cao Luật Kỳ: Xin chào các bạn khán giả. Hoan nghênh các bạn đến với tiết mục “Tết Xuân báo hỷ, phúc hổ sinh phong” của chúng tôi. Năm nay, chúng tôi đặc biệt vinh dự mời được Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đến tham gia tiết mục của chúng ta. Các bạn trước đây đã tham dự tiết mục của chúng ta chắc hẳn là đã quen thuộc với Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn rồi. Liên Sinh Hoạt Phật là một bậc trí giả của cuộc đời, cũng là một tác gia, nghệ thuật gia tài nghệ đầy mình! Hôm nay, chúng tôi đặc biệt mời Liên Sinh Hoạt Phật trở lại với chương trình để giải thích với chúng ta về năm Nhâm Dần, cũng tức là vận trình của năm con Hổ, năm Dân Quốc 111. 

(1) Vào dịp xuân mới năm Nhâm Dần 2022, trước tiên xin Liên Sinh Hoạt Phật cầu phúc và chúc tết Đài Loan và tất cả các bạn khán giả. 

**Liên Sinh Hoạt Phật:** Xin chào cô dẫn chương trình, chào các bạn khán giả. Nhân dịp xuân mới, mong mọi người sức khỏe, vạn sự như ý. Chúc mừng năm mới. A Di Đà Phật.

(2) Năm nay, Liên Sinh Hoạt Phật ban cho mọi người câu đối năm mới là “Hổ niên hổ hổ sinh phong uy, phong sinh thủy khởi phúc lai lâm.” Có thể xin Liên Sinh Hoạt Phật giải thích hàm ý trong câu đối này được không ạ?

**Liên Sinh Hoạt Phật:** Hổ là vua của muôn thú, uy chấn thiên hạ, một tiếng gầm có thể làm kinh thiên động địa. Cái gọi là rồng theo mây, hổ theo gió, gió sinh ra thì nước dâng lên, có nghĩa là sẽ có đại vượng đại phát.

(3) Mỗi năm, Liên Sinh Hoạt Phật đều sẽ ban một chữ đại diện cho năm mới. Ví dụ năm 2020 là chữ “nhất”, năm 2021 là chữ “diên”, đều đã nói trúng vận trình của toàn thế giới. Đón xem chữ đại diện mà Liên Sinh Hoạt Phật ban cho đã trở thành chủ đề mà các khán giả mong đợi, xin hỏi liệu Hoạt Phật có thể ban chữ đại diện cho năm nay không?

**Liên Sinh Hoạt Phật:** Chữ đại diện cho năm nay là chữ “thự” [nghĩa là rạng sáng]. Dịch bệnh kéo dài đã hai năm, đến năm nay sẽ xuất hiện một tia sáng ban mai. Từ năm nay, thế giới sẽ bắt đầu sống lại, toàn thế giới bắt đầu hướng tới bình thường hóa.

(4) Dưới ảnh hưởng của thị trường quốc tế hai năm qua, kinh tế thế giới không khởi sắc, xin hỏi dự đoán về tổng thể kinh tế năm nay ra sao?

**Liên Sinh Hoạt Phật:** Nước lớn được 80 điểm. Nước nhỏ 60 điểm. Nước rất nhỏ thì 50 điểm. Nói chung thì sẽ tốt hơn hai năm trước.

(5) Năm nay đầu tư hạng mục nào thì sẽ có lợi?

**Liên Sinh Hoạt Phật:** hàng tiêu dùng dân sinh, những mặt hàng cần thiết cho cuộc sống. Nguồn năng lượng cũng vô cùng quan trọng. Khoa học công nghệ mới, v.v… Bất động sản cũng rất quan trọng.

(6) Đối với dịch bệnh, năm 2022 có trở lại bình thường không? Diêu Trì Kim Mẫu chủ quản bệnh dịch, năm con Hổ, dịch bệnh có giảm nhiệt không?

**Liên Sinh Hoạt Phật:** Cuộc sống dần dần bình thường. Năm nay là thời điểm có tính then chốt. Dịch bệnh sẽ giảm nhiệt. Thế giới bắt đầu sống lại, vạn sự vạn vật sẽ hân hoan thịnh vượng. Sẽ xuất hiện thuốc mới, dịch bệnh sẽ được khống chế. Hoặc là virus Corona sẽ biến chủng, không càng biến càng hung ác nữa mà là đột biến, càng biến càng trở nên lành tính, ngược lại sẽ trở thành có ích đối với nhân loại, trở thành lợi khuẩn.

🌟

- Phần hỏi đáp thứ hai

(1) Hàng năm, Liên Sinh Hoạt Phật đều sẽ dạy mọi người phương pháp bí truyền để khai vận đón Thần Tài, vậy vật cát tường của năm nay là gì? Năm Hổ Nhâm Dần phải làm sao?

**Liên Sinh Hoạt Phật: **Vật cát tường của năm nay là Hổ Đầu Kim Cang. Hổ Đầu Kim Cang vừa hay phù hợp với năm Hổ, “hổ hổ sinh uy” mà. Nhất là có hai con hổ thì lại càng ghê gớm!

(2) Chọn ngày để đón Thần Tài thế nào, cách làm ra sao?

**Liên Sinh Hoạt Phật: **

Thời gian là vào mồng 5 và mồng 9 tháng Giêng, buổi sáng từ 8 giờ đến 9 giờ. Hoặc vào ngày 12, 16 cũng được. 
Tay bưng bình tụ tài bảo Hổ Đầu Kim Cang, từ cửa nhà sải bước ra ngoài, bước 8 bước về hướng Tây. Niệm ba lần: “Mời Thần Tài đến nhà tôi.” Sau đó quay người cầm bình tụ tài bảo đặt vào nơi giữ của cải trong nhà là được. 
Chú ý: bình đựng tài bảo phải đựng đầy nguyên bảo (lượng vàng lượng bạc). Thủy tinh màu trắng, đỏ, vàng. Kim thân Hổ Đầu Kim Cang ngồi ở trên nguyên bảo. (Hoặc cờ lệnh viết: “Hổ Đầu Kim Cang trấn tại đây”, và cắm trên bình tụ tài bảo.)

(3) Vật cát tường của năm ngoái thì xử lý thế nào?

**Liên Sinh Hoạt Phật:** Có thể chắp tay cung kính tiễn đi, ví dụ như hóa đốt, hoặc thả trôi theo dòng nước. 

(4) Cầu khấn như thế nào?

**Liên Sinh Hoạt Phật: **Chắp tay trước nơi trữ của cải, niệm: “Om jinmu siddhi hum hum pei.” [Ôm chin-mủ sít-đi hùm hùm pây] Có thể trấn trạch bình an. Có thể chiêu tài tấn bảo. Sức khỏe, thi cử, quý nhân đều được tăng ích.

(5) Màu sắc may mắn của năm Hổ là gì?

**Liên Sinh Hoạt Phật: **Màu vàng, màu kim.

(6) Năm Hổ người nào phải an sao Thái Tuế?

**Liên Sinh Hoạt Phật: **Chính xung là người tuổi Hổ hoặc tuổi Khỉ. Thiên xung là người tuổi Rắn hoặc tuổi Lợn.

(7) Năm Hổ có gì cấm kỵ?

**Liên Sinh Hoạt Phật: **Năm Hổ mặc dù là năm đại vượng, nhưng cũng phải chú ý đến: binh đao (chiến tranh, hỗn loạn), tai họa đất, nước, lửa, gió. Bởi vì đại vượng thì sẽ kèm theo đại hung, như anh em, như chị em. 

🌟

- Phần hỏi đáp thứ ba

(1) Hội từ thiện Lư Thắng Ngạn và Hội công đức Hoa Quang đã làm được công ích gì?

**Liên Sinh Hoạt Phật: **
Hội từ thiện Lư Thắng Ngạn trong thời kỳ dịch bệnh đã quyên góp hơn 4 triệu đô la Mỹ (4,2 triệu đô). 
Cung cấp khẩu trang, quần áo bảo hộ, vật dụng y tế. 
Cung cấp vaccine. 
Học bổng Hoa Sen dành cho học sinh nghèo. (Mỗi học kỳ đều trao giải.) 
Ủng hộ 76 đơn vị từ thiện khác. (ở bang Washington) 
Cứu trợ tai họa nghiêm trọng ở mức độ thế giới.
Bố thí không phân biệt. (Vài năm gần đây tổng cộng đã bố thí hơn 8 triệu đô la Mỹ.)

Hội công đức Hoa Quang:
Năm 2021, hoạt động quyên góp gạo đã quyên góp được 226 tấn gạo.
Hoạt động cứu trợ dịch bệnh ở Đài Loan, Malaysia, Indonesia, Mỹ, Canada, Châu Âu. 
Tặng người nghèo. (túi tư lương nhân ái) Giúp ích cho hơn 500.000 hộ nghèo. (Bao gồm cả người lang thang trên đường phố.)
Dùng 250.000 đô la Mỹ dùng vào mua vật tư phòng chống dịch bệnh: máy dưỡng khí, giá truyền dịch, máy vi tính, khẩu trang, thuốc sát trùng.
Học bổng cho học sinh nghèo. (thiên sứ nhỏ Hoa Quang)

Chú thích: Hai đơn vị công ích từ thiện của Chân Phật Tông làm việc thiện dựa trên tinh thần người chìm thì mình chìm, người đói thì mình đói. Đây chính là tinh thần của Bồ Tát.


### 49. Thư cảm ứng đến muộn


Đệ tử Liên Hoa Tử Nghị nhất tâm đảnh lễ Sư Phật!

Câu chuyện cảm ứng từ pháp hội Hộ Ma Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang.

Ngày chủ nhật đệ tử thường đến chùa để làm tình nguyện. Đệ tử 20 tuổi, có thể là vì làm việc quá nhiều nên đầu gối của đệ tử thường xuyên đau nhức, đau đến nỗi thỉnh thoảng đi lại cũng không được. Bên cạnh đệ tử cũng có những công việc phải nỗ lực nhiều hơn cả công việc của đệ tử, nhưng mà đầu gối của mọi người đều không bị sao cả. Đệ tử đã khám bác sĩ nhưng bác sĩ cũng chỉ băng bó sơ sơ, không biết được nguyên nhân vì sao. 

Ngày hôm đó, đệ tử đến phục vụ ở đạo tràng, lúc 6 giờ chiều (6 giờ chiều ở Mỹ theo giờ tiêu chuẩn phương Đông - EST là 3 giờ chiều ở Seattle), đúng giờ tham gia trực tiếp trên Youtube. Ngày hôm đó rất thù thắng, Sư Phật từ bi gia trì cho đại chúng năm phút. Khi ấy, con bèn sờ lên đầu gối của mình, đột nhiên, một dòng chảy ấm áp đi qua đầu gối con. Khi ấy con cho rằng đó là bàn tay của mình khá nóng khiến sinh ra cảm giác như vậy, nên cũng không để ý lắm. Một hai tuần sau pháp hội, vì công việc quá bận, con chỉ nhớ mang máng là không còn đau nhói nữa, chỉ có hơi tê tê một chút. Nhưng sau này đệ tử mới biết là không ngờ đầu gối đã hoàn toàn không đau nữa rồi.

Từ sau khi pháp hội kết thúc ngày 11/7 cho đến hôm nay là ngày 31/10/2021, đã hơn 3 tháng rồi, không ngờ dù chỉ một chút đau cũng không còn! Đệ tử vô hạn cảm ơn Sư Phật từ bi! Đệ tử cũng cầu mong Sư Phật có thể trường trụ thế gian, hằng chuyển pháp luân!

Ngu đệ tử Liên Hoa Tử Nghị chắp tay. Chúc Sư Phật Phật thể an khang! 

31/10/2021.


### 50. Thư của Liên Hoa Vân Thân


Đảnh lễ đại ân Căn bản Thượng sư Thánh tôn Liên Sinh Hoạt Phật!

Đệ tử báo cáo với Sư Tôn hai việc:

Báo cáo 1: Sư Tôn tiên đoán đại linh nghiệm.

Ngày 18/2/2020, đệ tử và bạn đích thân đến Chân Phật Mật Uyển Seattle hỏi chuyện, thỉnh Sư Tôn chỉ thị phương hướng của ngành du lịch. Khi ấy Sư Tôn thần toán xong thì trả lời: “Gay go!”
Chúng con hỏi: 
”Là do dịch bệnh sao?”
Thầy đáp: 
”Đúng!”
Chúng con hỏi: 
”Mất bao lâu?”
Thầy đáp: 
”2 năm!”
Chúng con hỏi: 
“Nên làm thế nào?”
Thầy đáp: 
”Phải chịu chờ qua. Có thể thử làm du lịch trong nước.” 

Đầu năm 2020, Trung Quốc bùng phát dịch bệnh, người làm ngành du lịch ở khắp nơi cho rằng dịch bệnh sẽ kết thúc vào nửa cuối năm 2020, kết quả là không đúng! Cuối năm 2020 vaccine ra đời, rất nhiều thương nhân cho rằng trung tuần năm 2021 dịch bệnh sẽ kết thúc, không ngờ lại xuất hiện biến chủng, những thương nhân lại một lần nữa đoán sai! Cho đến cuối năm 2021, vaccine đã phổ cập, cộng thêm thuốc đã được nghiên cứu thành công, người làm du lịch sôi nổi tung ra các sản phẩm du lịch cho đầu năm 2022, du lịch sẽ hồi phục trong ngày một ngày hai. Hai năm đã qua, quả nhiên thịnh hành du lịch trong nước! Không sai khác chút nào so với dự đoán của Sư Tôn! Chuẩn chuẩn chuẩn!

Báo cáo 2: Quẻ bói của Diêu Trì Kim Mẫu đại linh nghiệm!

Ngày 18/2/2020, sau khi hỏi việc, đệ tử vì tiền đồ của cá nhân mình mà hướng về Diêu Trì Kim Mẫu ở Lôi Tạng Tự để xin một quẻ, quẻ nói rằng: 

*Sống ở cách nhau chỉ một núi
Sao mà xa như quỷ môn quan?
Ngày tháng qua nhanh người chóng già
Bao nhiêu vất vả chẳng bằng chơi.*

Khi ấy đệ tử không hiểu, sau này bỗng nhiên tỉnh ngộ ra! Hai câu đầu là nói về mức độ nguy hiểm cao của virus, và lệnh phong tỏa cách ly ở trong nhà, không được thăm viếng lẫn nhau, nhà hàng xóm giống như cách xa như quỷ môn quan vậy! Kể từ khi Malaysia có lệnh phong tỏa cho đến hôm nay, đệ tử cũng làm được mỗi ngày một tu, chưa từng gián đoạn. Cái hay hơn là chữ “nhàn” trong quẻ bói, dường như là chỉ chữ “trang” và “nhàn” trong trò chơi bài baccarat, việc này khiến cho đệ tử vẫn có được tư lương ổn định không gián đoạn, không bị quá áp lực, an tâm mà tu trì! 

Vì thế, khi Malaysia tuyên bố mở cửa biên giới quốc gia vào ngày 11/10/2021, đệ tử và bạn bè chờ đợi 21 ngày rồi lập tức lao đến nước Mỹ để báo cáo với Sư Tôn. 


### 51. Hãy biến điều không thể thành có thể 


Bài viết của Tôn Ái Trân.

Kể từ thượng tuần tháng 10 năm nay, vì tình trạng thiếu nước ở California, chúng tôi đã đến chùa tổ hướng về Long Vương Bồ Tát cầu mưa. Sau đó chúng tôi đã từng đưa ra lời hứa với Long Vương Bồ Tát là từ nay về sau, hễ chúng tôi đi đến Seattle để bái kiến Căn bản Thượng sư Liên Sinh Thánh Tôn thì chúng tôi cũng nhất định sẽ đi đảnh lễ và dâng cúng ngài. Lần đó sau khi trở về, tôi đọc tờ Thời báo Los Angeles ngày 18/10, đưa tin rằng: “Số liệu cho thấy, năm nay là một năm khô hạn nhất trong vòng trăm năm nay ở California, trải qua cái nóng cực đoan và khô hạn, các chuyên gia lo lắng, mười hai tháng tới e rằng sẽ rất tệ.” Còn may, Bắc California còn có một chút mưa, và vào ngày 24 thì xuất hiện cơn bão đầu tiên của mùa này, và đạt lượng mưa kỷ lục, vì thế cũng làm dừng lại nhiều vụ cháy rừng lớn bên ngoài California. Còn bốn bà bác sống ở miền Nam California chúng tôi (Ngụy Tư Nhan, Trần Truyền Phương, Tưởng Quan Dung và tôi), cũng cảm nhận được vài trận mưa nhỏ lẻ tẻ, mặc dù có niềm vui hạn hán lâu ngày gặp mưa lành, nhưng lượng mưa này đối với tình trạng hạn hán tổng thể thì chẳng giúp ích gì được mấy.

Thế là vào ngày 2/12/2021, bốn bà bác California chúng tôi lại một lần nữa khởi động chuyến đi tới Seattle lần thứ hai, một mặt là thỉnh cầu Căn bản Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật Lư Sư Tôn gia trì giải trừ hạn hán ở California, đồng thời lễ bái và dâng cúng lên Long Vương Bồ Tát ở Seattle Lôi Tạng Tự, cầu nguyện có thể ban nhiều mưa hơn cho các khu chứa nước ở California. Mặt khác là chúc mừng Noel và năm mới đến Sư Tôn Sư Mẫu. Một ngày trước khi chúng tôi lên đường, chính phủ bang California tuyên bố, vì tình hình California hạn hán nghiêm trọng, ngoài việc đảm bảo nước an toàn và lành mạnh cho cư dân, các yêu cầu cung cấp nước khác, chẳng hạn như tưới tiêu và phủ xanh, sẽ không được cung cấp bởi các cơ quan cấp nước trên toàn California. Cùng ngày, tôi cũng xem dự báo khí hậu của NOAA trên Internet, người ta nói rằng về cơ bản không có khả năng hạn hán sẽ chấm dứt ở California trong vài tháng tới, và vấn đề thiếu nước liên tục ở California cũng sẽ là điều không thể tránh khỏi. Những tin tức như thế này thực sự khiến tôi lo lắng.

Buổi chiều hôm vừa đến Seattle, tại phòng hỏi việc ở Chân Phật Mật Uyển, tôi đã đem những lo lắng trong lòng mình viết vào sớ văn hồi hướng thỉnh cầu Long Vương Bồ Tát ban mưa. Sau khi Sư Tôn đại lực gia trì thì có nói một câu: “Hãy biến điều không thể thành có thể.” Tôi nghe xong, thật sự là không thể nói lên niềm vui và cảm động, bởi vì Phật không nói khoác, tình hình hạn hán ở California nhất định được cứu rồi.

Do tình trạng thiếu nước trầm trọng ở California, trong sáu ngày ở Seattle, ngày nào chúng tôi cũng đến Đình Long Vương để cầu xin Long Vương Bồ Tát ban mưa. Chúng tôi kính cẩn cúi đầu thỉnh Sư Tôn từ bi gia trì cho chúng tôi cầu mưa có được sức mạnh, chúng tôi cũng khẩn cầu Long Vương Bồ Tát có thể thương xót lời khấn nguyện thành tâm của chúng tôi mà ban mưa lớn cho các vùng ở California, để hạn hán được giải tỏa hoàn toàn, và tất cả chúng sinh sớm được hưởng ân huệ và lợi ích.

Ngày 4/12, khoảng hơn 10 giờ tối ngày thứ bảy, sau khi kết thúc buổi đồng tu ở Seattle Lôi Tạng Tự và được Sư Tôn gia trì, chúng tôi rời khỏi đại điện, đang chuẩn bị rời đi thì không ngờ gặp những tín chúng sau khi được Sư Tôn gia trì xong, họ ra khỏi Lôi Tạng Tự thì nói rằng: “Đi đến đình Long Vương!” Thế rồi họ bước nhanh về phía đình Long Vương, bốn người chúng tôi thấy thế thì cũng vội vàng đi qua đó. Ở trước Long Vương Bồ Tát, từ đầu tới cuối chúng tôi đều đứng chắp tay bên cạnh Sư Tôn, tận mắt chứng kiến toàn bộ quá trình Sư Tôn cầm hương hướng về Long Vương Bồ Tát niệm động chân ngôn. Nghĩ đến Sư Tôn vì chuyện cầu mưa mà đích thân đến cầu xin ở đình Long Vương, nghĩ đến Long Vương Bồ Tát nhất định đã nhận luật lệnh pháp chỉ của Lư Sư Tôn, và tình hình hạn hán ở California khẳng định sẽ rất nhanh chóng dịu xuống, trong lòng chúng tôi hết sức xúc động.

Sau khi trở về từ Seattle vào ngày 7/12, tôi thấy trời mưa rất nhiều, thị trấn nơi tôi sống đã bắt đầu hạn chế nước, nhưng căn bản là tôi không có nhu cầu bật vòi phun nước tự động. Vào ngày 14/12, một cơn bão ở miền Nam California đã đổ lượng mưa hơn 5mm xuống trung tâm thành phố Los Angeles, nhiều hơn gấp đôi lượng mưa kể từ kỷ lục vào năm 1888, các khu vực của Nam California nhận được lượng mưa lên tới 18mm, trong khi các khu vực ven biển và thung lũng cũng nhận được từ 2 đến 8mm. CNN đưa tin vào ngày 19/12 rằng: "Hạn hán tuyết ở California kết thúc một cách kịch tính, trong khi các bang khác vẫn đang đối phó với tình trạng thiếu nước." Hóa ra khoảng một phần ba nguồn cung cấp nước của California đến từ tuyết rơi. "Do nhiều sự kiện về khí hậu và sông ngòi, lượng tuyết phủ trung bình của California đã tăng từ 18% lên 98% chỉ trong hai tuần" và "Lượng tuyết tăng ở mức độ này cũng không phổ biến. Sự thay đổi đột ngột này đã mang lại cho California lượng nước trong năm ẩm ướt nhất trong hơn bốn thập kỷ do một số hệ thống mưa và tuyết khô đã lan rộng khắp khu vực trong những tuần gần đây.” Nhiệt độ ở hầu hết các khu vực của California khá ấm áp và rất hiếm khi có tuyết sau tháng 11, vì vậy lượng tuyết tăng nhanh lần này là rất đáng kể!

Sau đó, từ ngày 21/12 đến cuối năm, hết cơn bão này đến cơn bão khác (tuyết) tràn qua vùng núi và đồng bằng của California như một cuộc tiếp sức, các chuyên gia cũng rơi xuống dưới cảnh tượng, lượng mưa ở nhiều nơi, đặc biệt là khu vực Nam California khiến các chuyên gia cũng phải choáng váng. Theo một báo cáo của Nhật Báo Thế Giới của Hoa Kì vào đầu tháng 1 năm nay, NOAA đã chỉ ra rằng một số cơn bão lớn vào tháng 12 năm ngoái có ảnh hưởng rất lớn đến tình trạng hạn hán của bang California, hầu như tất cả các khu vực đều thoát khỏi hạn hán nghiêm trọng nhất cấp D4 và hạn hán cấp D3 nghiêm trọng thứ hai, lượng mưa và tuyết rơi, lượng mưa và tuyết rơi đã làm cải thiện đáng kể mức độ hạn hán ở nhiều nơi khác nhau, và hạn hán ở California cuối cùng đã xuất hiện ánh bình minh rồi. 

Cảm tạ uy thần lực của Long Vương Bồ Tát cho mưa tuyết, nhưng cũng thành tâm cầu nguyện Long Vương Bồ Tát khi trời mưa ở Bắc và Nam California có thể làm giảm lũ lụt và lở đất, và cũng xin Long Vương Bồ Tát quan tâm đặc biệt đến những người dân ở những vùng trũng thấp.

Thật tài tình, một đồng nghiệp nhiệt tình đã tìm thấy một số hiện tượng kỳ diệu sau khi tải xuống và so sánh bản đồ theo dõi hạn hán và dữ liệu liên quan được cung cấp bởi trang web "Trung tâm theo dõi hạn hán Quốc gia NDMC Hoa Kỳ”. Chúng tôi lần đầu tiên đến Seattle cầu mưa trong sáu ngày, sau đó trở về California (ngày 12/10), chưa đầy hai tuần sau, chỉ số mức độ nghiêm trọng và phạm vi hạn hán của DSCI ngừng xấu đi ở mức 427, phục hồi từ mức đáy và từ từ được cải thiện. Khi chúng tôi lần thứ hai đến Seattle cầu mưa trong sáu ngày và trở về California (ngày 7/12), lần này có được sự gia trì và cầu nguyện của Căn bản Thượng sư, mới chưa đầy một tháng, chỉ số hạn hán DSCI giống như nhảy ba cấp, cải thiện nhanh chóng từ 401 còn 284!

Chúng tôi sâu sắc cảm ơn Căn bản Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật Lư Sư Tôn đã đáp ứng cầu nguyện của chúng sinh, đại lực gia trì cho hạn hán ở California và ân từ ban cho câu nói “Hãy biến điều không thể thành có thể”. Câu nói này dường như là chỉ thị của Phật, đại pháp lực siêu cấp và đại thần thông lực mà nó đã hiển hiện thật sự khiến người ta ca ngợi! Một kỳ tích bất khả tư nghì giống như hý kịch như vậy, cả trăm đồng môn thiện tín chúng tôi có mặt tại đình Long Vương đều là những nhân chứng! Hy vọng mấy tháng tiếp theo, California càng có nhiều mưa tuyết hơn để loại bỏ tình trạng hạn hán, khiến mặt đất khô hanh và nghìn vạn hữu tình ở California đều có được ân Phật tưới đẫm, cam lộ tưới nhuần!


![image](/img/img_f3c412bfca1c1f35f8a27cdf72da270f.png)



### 52. Thư của Thượng sư Liên Ngũ


Mẹ của đệ tử đã chứng kiến niệm tâm chú Sư Tôn, Cao Vương Kinh mà đã có thần tích cải tử hoàn sinh.

Đảnh lễ cảm ơn Căn bản Truyền thừa Thượng Sư Liên Sinh Phật tôn quý nhất! Sư Tôn Phật an!

Đệ tử là Thích Liên Ngũ, thường sống tại Hoa Quang Lôi Tạng Tự ở Vancouver. Vào đầu tháng 12 năm 2021, đệ tử từng thỉnh Thượng sư Liên Từ thay mặt trình lên thư xin Sư Phật gia trì, trong đó có một mục là cầu gia trì cho người mẹ 83 tuổi sống tại thôn Phượng Vinh, Trung Quốc của mình. Tháng trước vì nhiều bộ phận trong cơ thể bà phát bệnh phải nằm liệt giường, vì một lần khi ngồi dậy làm động tác hơi nhanh, khiến cột sống bị đứt thành ba đoạn, phải khẩn cấp nhập viện. Bệnh viện thông báo rằng vì bà tuổi tác đã cao và tình trạng thân thể nên không có cách nào làm bất kì biện pháp gì để cứu chữa được, chỉ có thể truyền nước truyền thức ăn để duy trì sự sống thôi. Mặc dù bệnh viện không nói rõ, căn cứ theo tình hình của mẹ đệ tử sau đó thì đệ tử đã biết rằng, bệnh viện từ bỏ chữa trị, bản thân đệ tử khi đó cũng đã có những dự tính cho tình huống xấu nhất. 

Trong thời gian mẹ nhập viện, chỉ có chị của đệ tử là luôn túc trực bên giường bệnh, mỗi ngày chỉ ngủ hai, ba tiếng, thời gian còn lại thì ngày đêm không ngừng niệm tâm chú Sư Tôn và Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh.

Ngày 25/12, đệ tử nhận được điện thoại của mẹ, câu nói đầu tiên là: “Cảm ơn Sư Tôn, Quan Thế Âm Bồ Tát, không ngờ mẹ vẫn còn có thể gọi điện thoại cho con, lại còn sống qua được lễ Noel nữa!” Mẹ nói với đệ tử: “Khi ở trong bệnh viện, đại tiểu tiện đều không thể tự mình làm được, mỗi ngày đau đớn đến nỗi không sao ngủ được, còn nhớ có một lần đau đến choáng váng, bên tai nghe chị của con ở cạnh giường đọc Cao Vương Kinh, có thể là vì chị mệt quá nên đoạn giữa có rất nhiều chỗ đọc sai. Thế là mẹ quyết tâm tự mình niệm, đầu tiên là niệm tâm chú Sư Tôn “Om guru liansheng siddhi hum”, sau đó niệm Cao Vương Kinh. Sau này chị con kể, sau khi mẹ hôn mê thì ngừng thở một lúc, sau đó tự tỉnh lại. Thì ra, vào lúc mẹ hấp hối vẫn còn tự mình niệm được tâm chú Sư Tôn và Cao Vương Kinh, đó là Sư Tôn đã cứu mẹ ra khỏi Quỷ Môn Quan rồi.”

Mẹ đệ tử nói, bà chỉ ở trong bệnh viện mười mấy ngày, bây giờ đã xuất viện trở về nhà nghỉ ngơi, tự mình có thể ăn cơm và đi vệ sinh, thân thể cũng dần dần hồi phục rồi. Mấy ngày nay khí lực hồi phục tốt hơn một chút, thế là quyết định gọi điện thoại thông báo bình an, và bảo đệ tử thay mẹ cảm tạ Sư Tôn đại gia trì.

Mặc dù đệ tử đã giúp mẹ quy y Sư Phật từ rất lâu rồi, nhưng bà ấy mới chỉ thật sự bắt đầu trì tâm chú Sư Tôn và đọc Cao Vương Kinh từ năm 2012 khi đệ tử trở về Trung Quốc thăm người thân. Kể từ đó, mẹ và chị đệ tử hai người mỗi ngày hễ có thời gian đều niệm. Người khác niệm Cao Vương Kinh 1000 biến có thể mất một tháng, thậm chí lâu hơn. Chị đệ tử thì một tháng đã thông báo là đọc được 20.000 biến rồi, tâm chú Sư Tôn thì niệm vô số. Mẹ của đệ tử vì không đếm nên không biết biến số, nhưng cũng niệm được cả vạn biến rồi. Trong 10 năm qua người nhà bắt đầu trì tâm chú Sư Tôn và đọc Cao Vương Kinh, rất ít khi nghe thấy người nhà gọi điện thoại kể khổ, lần nào cũng là sau khi sự việc qua rồi thì mẹ đệ tử mới gọi điện kể, gần đây suýt chút nữa đã chết rồi, không hít thở nữa, trong hôn mê nhìn thấy Sư Tôn xuất hiện, một lúc sau thì sống lại. Còn có một lần cấp cứu trong bệnh viện, bác sĩ từ bỏ không cấp cứu nữa, kết quả bà cũng nhìn thấy Sư Tôn xuất hiện, mấy hôm sau thì xuất viện rồi. Có được những bằng chứng cảm ứng đích thân mình trải qua này, mẹ và chị đệ tử rất kiên định nói với đệ tử rằng: “Quãng đời còn lại từ nay về sau chỉ niệm tâm chú Sư Tôn và Cao Vương Kinh, không còn mong cầu gì nữa.”

Cảm ơn Sư Tôn, cảm ơn Kim Mẫu, cảm ơn Chư Phật Bồ Tát Hộ Pháp từ bi gia trì. Chứng kiến những thần tích bất khả tư nghì của Sư Tôn và Chân Phật Mật Pháp, con cầu nguyện những chúng sinh gặp khổ nạn trong thiên hạ đều có thể có duyên gặp được Chân Phật, trân trọng pháp duyên Chân Phật trụ thế, A Di Đà Phật!

Đệ tử Thích Liên Ngũ khấu lạy cảm ơn.

26/12/2021.

(**Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/289-nhu-mong-nhu-huyen.md
# Title: 289. Như mộng như huyễn
---

![image](/img/img_5ac0e8d25b18263b41f70d67a3fa0793.jpg)



## Như mộng như huyễn


🪷 Tôi là một dải cầu vồng

Văn tập số: 289
Xuất bản: 12/05/2022
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu


Có một hôm. 
Tôi lái chiếc xe thể thao Maserati trở về *garage* ở Chân Phật Mật Uyển. Sau đó tôi đi tới phòng vẽ của mình, chuẩn bị vẽ một bức tranh. 

Bỗng nhiên.
Tôi cảm ứng thấy phòng vẽ tranh của tôi có một vị vô hình đang đợi tôi. Tôi hỏi:
”Là ai?”
Vị đó đáp:
”Thượng sư Lý Hạnh Chi.”
Tôi hỏi:
”Có chuyện gì không?” (Đây là Thượng sư quy y tôi từ thời kỳ đầu.)
Bà ấy đáp:
”Xin Lư Sư Tôn nói với gia đình tôi, mặc dù nhục thể của tôi đã chết, nhưng bây giờ tôi rất vui vẻ và yên ấm.”
Tôi nói:
”Điều này tôi biết, khi còn sống bà mắc nhiều bệnh, những năm tuổi già xương khớp toàn thân đau nhức, khổ sở không kể xiết. Sau khi chết, nhục thân không còn, phiền não vì bệnh cũng đã dứt, đương nhiên là vui vẻ!”

Bà ấy nói:
”Không chỉ như vậy, tôi bây giờ là thiên sứ ánh sáng, tất cả tập tính nhân gian đã trừ hết, vì tôi theo thầy học Phật, thiên tính thuần tịnh, cảnh giới Phật quốc hiện tiền, rời xa hồng trần, thiện huệ viên mãn.”
Tôi hỏi:
”Thiện huệ viên mãn của bà thế nào, bà kể cho mọi người đi!”
Bà ấy nói:
”Một, mọi thứ tùy ý.
Hai, thiên y sạch sẽ.
Ba, đi lại tự do.
Bốn, một niệm là đến.
Năm, thần thông nhậm vận.”

Tôi hỏi:
”Còn có gì khác không?”
Bà ấy đáp:
”Kể ra cũng chẳng hết…”
Tôi nói:
”Cảnh giới của bà tôi đều biết, trọng điểm bà muốn tôi nói với thế nhân là cái gì?”
Bà ấy nói:
”Chết rồi tốt bao nhiêu, nhân gian không tốt.”
Tôi cười.
”Thế bà muốn mọi người chúng tôi đều chết sao?”
Bà ấy nói:
”Cũng không phải! Muốn mọi người việc ác đừng làm, làm mọi việc thiện, phải thanh tịnh thân khẩu ý của chính mình.”

Tôi nói:
”Chẳng phải tôi vẫn đang dạy những điều này sao?”
Bà ấy nói:
”Đúng vậy! Nhưng con người thế gian chấp mê không ngộ, đạo lý dù biết nhưng không làm được! Thế nhân đều đang chạy theo dục vọng.”
Tôi hỏi:
”Bà còn muốn nói gì với thế nhân nữa?”
Bà ấy nói:
”Đời người như mộng như huyễn, rốt cục thì chẳng có cái gì cả.”
Tôi nói:
”Được! Tôi sẽ đi nói với mọi người!”
Đây chính là nhân duyên viết nên cuốn sách này.
Chúc bạn:
Mở sách ra có được lợi ích!

(Tháng 3 năm 2022)

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn:
Sheng-Yen Lu**
17102 NE 40th Ct.,
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Thượng sư Lý Hạnh Chi đã tỉnh ngộ rồi


Sau khi tôi kể với mọi người là Thượng sư Lý Hạnh Chi chạy tới phòng vẽ tranh của tôi và nói với tôi những điều này, có người hỏi tôi:
”Thượng sư Lý là vì nhân duyên gì mà nói những điều này?”
Tôi đáp:
”Bà ấy đã tỉnh ngộ rồi!”
Tôi nói:
”Sau khi Thượng sư Lý chết, bà ấy đã tỉnh ngộ. Sau khi tỉnh, bà ấy bỗng nhiên ngộ ra, thì ra ngày xưa là một giấc mơ lớn.”
Người hỏi:
”Chết rồi mới đại ngộ à?”
Tôi đáp:
”Có người chết rồi mới đại ngộ, nhưng có người khi chưa chết đã đại triệt đại ngộ rồi.”
Người hỏi:
”Ai?”
Tôi đáp:
”Phật Thích Ca Mâu Ni.”
Tôi nói:
”Phật Thích Ca Mâu Ni dưới gốc cây bồ đề đã tỉnh ngộ, từ đó, ngài hoằng pháp độ chúng sinh, ba lần chuyển pháp luân, thế nhân tuân theo giáo pháp của Phật Đà có thể thoát khỏi lục đạo luân hồi, minh tâm kiến tính.”
Người hỏi:
”Phật Thích Ca Mâu Ni tỉnh rồi thì ngài dạy chúng ta phương pháp để thức tỉnh sao?”
Tôi đáp:
”Đúng.”
Người hỏi:
”Vậy thì nhân gian Ta Bà là mê mộng à?”
Tôi đáp:
”Đúng vậy. Chính là người ngộ là Phật, người mê là chúng sinh. Chúng sinh Ta Bà đều đang trong cơn mê mộng.”
Người hỏi:
”Lư Sư Tôn ngài là mê hay là ngộ?”
Tôi đáp:
”Tôi à? Tôi không mê không ngộ.”
Người đó sửng sốt, hỏi:
”Thế nào là không mê không ngộ?”
Tôi đáp:
”Tôi không phải là cái gì cả, cái gì cũng đều không phải, thì là không mê không ngộ.”
Người hỏi:
”Không hiểu?”
Tôi nói:
”Tôi thật lòng thật sự nói với anh, tôi là người hiểu đạo lý mê ngộ. Nhưng cá nhân tôi, từ sau khi hiểu ra, tôi tự nhiên đối đáp cuộc đời, đây là không mê. Con người không mê này đã xem chính mình là hư vô rồi, cho nên mới không có vấn đề ngộ hay không ngộ, vì thế là không ngộ.”
Người đó nói:
”Không thật sự hiểu lắm!”
Tôi nói:
”Tôi là nhất nguyên, không phải nhị nguyên. Mê và ngộ là nhị nguyên, vì thế tôi không mê không ngộ.”
Người hỏi:
”Lư Sư Tôn là Phật à?”
Đáp:
”Không phải.”
Người hỏi:
”Lư Sư Tôn là ma à?”
Đáp:
”Không phải!”
Hỏi: “Lư Sư Tôn là gì?”
Đáp: “Không là cái gì cả.” 
(Xin mọi người suy nghĩ kĩ câu nói này.)


### 02. Chứng đạo ca của đại sư Vĩnh Gia


Đại sư Vĩnh Gia có cuốn “Vĩnh Gia tập”. 
Tập sách này là do Ngụy Tĩnh - thứ sử Khánh Châu, biên tập mười bài văn của đại sư Vĩnh Gia lại mà thành. 
Bản thân đại sư Vĩnh Gia là người Ôn Châu, họ Đới, sau khi xuất gia, ngài đã thâm nhập kinh tạng, sau đó đã gặp được Lục Tổ Huệ Năng Tào Khê. 
Sau khi nói chuyện thì ngài đại ngộ. 
Ngài chỉ lưu lại một đêm rồi đi, người đương thời gọi ngài là “Nhất Túc Giác” [giác ngộ sau một đêm]. 

Ngài nhập tịch vào năm đầu tiên của năm Tiên Thiên đời vua Duệ Tông triều Đường, được ban tên thụy là Vô Tướng đại sư. 
Tác phẩm gồm:
”Chứng đạo ca”
”Vĩnh Gia tập”

Chứng đạo ca của đại sư Vĩnh Gia có một câu là:
*”Trong mộng rõ ràng có lục thú, 
Tỉnh rồi trống trải không đại thiên.”*
Cái gì là mộng?
Đời người chính là giấc mộng lớn trăm năm. 
Cái gì là lục thú?
Trời, người, a tu    la, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.
Cái gì là tỉnh?
Đại ngộ.
Cái gì là đại thiên?
Một nhật nguyệt là một tiểu thiên thế giới.
Ba nghìn tiểu thiên thế giới là một trung thiên thế giới.
Ba nghìn trung thiên thế giới là một đại thiên thế giới.
Ba nghìn đại thiên thế giới chính là tam thiên đại thiên thế giới mà chúng ta thường xuyên nói đến. 
(Trong kinh Phật nói, tam thiên đại thiên thế giới là biểu đạt ý nghĩa là vũ trụ lớn vô hạn.)

Ý nghĩa của câu nói này là:
Trong mơ rõ ràng có.
Tỉnh rồi tất cả không.
Thượng sư Lý Hạnh Chi của chúng ta thì:
Lúc sống mọi thứ có.
Chết rồi tất cả không.
(Lý Hạnh Chi tỉnh dậy, phát hiện ra tất cả đều không còn nữa.)
Ha!
Đây cũng không phải là phát hiện sớm nhất của đại sư Vĩnh Gia, cũng không phải là phát hiện của Thượng sư Lý Hạnh Chi.
Là Phật Thích Ca Mâu Ni đã phát hiện ra:
Tâm quá khứ bất khả đắc.
Tâm hiện tại bất khả đắc.
Tâm vị lai bất khả đắc.

Tôi thường nói:
”Quá khứ đã qua rồi, hiện tại cũng sẽ trở thành quá khứ, tương lai vẫn còn chưa đến!”
Tôi nói:
”Tất cả vô sở đắc!”
”Tất cả vô sở đắc” này tôi phải nói một trăm lần, nói một nghìn lần, nói một vạn lần, nói vạn vạn lần…
Nói đến khi miệng khô lưỡi cháy.
Nói đến khi trời đất mịt mù.
Nói đến khi mặt trăng mặt trời không còn ánh sáng nữa.
Có nhớ trong những cuốn sách trước kia của tôi, tôi thường viết bài “Mộng thơ” của Vương An Thạch không?

“*Biết đời như mộng vô sở cầu
Vô sở cầu lòng tĩnh lặng không
Vẫn biết trong mơ tùy mộng cảnh
Công đức thành tựu tựa hà sa.”*

Trong kinh Kim Cang, Phật Đà nói:
Vô ngã tướng.
Vô nhân tướng.
Vô chúng sinh tướng.
Vô thọ giả tướng.
Hôm nay tại đây tôi nói:
”Không không không, có hiểu không?”


### 03. Luân hồi


Sau khi tôi tiếp xúc với Phật pháp. (Khi ấy tôi vẫn chưa khai ngộ.)
Tôi và bố tôi có một cuộc tranh luận. Bố tôi nói:
”Con người chết đi là hết.” (Ý ông ấy nói không còn tái sinh luân hồi nữa.)
Tôi nói:
”Có luân hồi.”
Bố tôi nói:
”Cái gì luân hồi?”
Tôi nói:
”Tùy theo nghiệp lực mà luân hồi trong lục đạo trời, người, a tu  la, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.”
Bố tôi nói:
”Anh lấy ra cho tôi xem, tôi mới tin.” (Bố tôi chỉ dựa vào những gì mắt nhìn thấy.)
Tôi nói: 
”Có thiên đường, có địa ngục.”
Bố tôi nói:
”Tôi không tin.”
Tôi nói:
”Kinh Phật đã ghi chép, thiên đường có Dục giới thiên, Sắc giới thiên, Vô sắc giới thiên, còn hạ giới có địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.”
Bố tôi nói:
”Kinh Phật là có người viết ra, tôi không tin.”
Sau đó, chúng tôi không còn hứng thú nói chuyện với nhau nữa.

Hôm nay, tôi có một sự lĩnh ngộ mới: (trong thế giới hiện thực)
Thế giới vũ trụ này toàn là luân hồi:
Trái đất — sự luân hồi của thành - trụ - hoại - không.
Thời tiết — sự luân hồi của xuân - hạ - thu - đông.
Tinh cầu — sự luân hồi của tự quay và quay xung quanh. 
Một ngày — sự luân hồi của ban ngày - ban đêm.
Cơ thể người — sự luân hồi của máu dịch. (Cũng có thành, trụ, hoại, không.)
Thực vật — sự luân hồi của chuỗi thức ăn.
Lịch sử — sự luân hồi của chiến tranh và hòa bình. (Hòa hợp lâu sẽ phân tách, phân tách lâu sẽ hòa hợp.)
……………….

Những ví dụ về luân hồi này kể ra thì vô số, dường như tất cả mọi thứ của tất cả đều không thoát khỏi luân hồi.
Tôi nói:
”Sinh ra là khởi đầu của cái chết, chết đi là khởi đầu của sự ra đời.”
Cho nên:
Sinh sinh tử tử, tử tử sinh sinh, sinh tử tử sinh đều là luân hồi.

Trong giới y học:
Hít thở là một dạng luân hồi. (gió)
Huyết dịch là một dạng luân hồi. (nước)
Tế bào là một dạng luân hồi. (đất)
Nhiệt độ cơ thể là một dạng luân hồi. (lửa)

Luận mười hai nhân duyên của Phật Thích Ca Mâu Ni kì thực cũng là một dạng luân hồi. 
Thế giới này chính là luân hồi tới rồi lại luân hồi lui, một động lực trong đó chính là nghiệp.
Phật Thích Ca Mâu Ni đã chỉ ra luân hồi, ý nghĩa chủ yếu là muốn chúng ta giải thoát khỏi luân hồi. (Giải thoát mộng huyễn.)

Có hai bài thơ làm đại diện:

*Đừng suy nghĩ vấn vương
Thành dòng sông sinh tử
Biển luân hồi lục thú
Nhìn chẳng thấy sóng dài.*

Và:

*Ta bản tính hư vô
Vì ngông sinh nhân ngã
Làm sao dừng vọng tình
Trở về nơi tính Không.*

Cá nhân tôi cho rằng, luân hồi lục đạo chẳng có kì kết thúc, thật sự chẳng hề có tình nghĩa nào mà nói, chỉ có sự khác biệt giữa tốt và xấu. 
Điều quan trọng nhất là:
”Chạy thoát khỏi luân hồi!” (Rời xa mộng huyễn.)


### 04. Câu chuyện cuộc đời


Tôi lấy hai ví dụ. 

Ví dụ thứ nhất:
Khi bố tôi già yếu, ông sống ở Thái Bình, Đài Trung, chúng tôi nhờ Tiểu Chương chăm sóc cho người bố già yếu 24/24 giờ. (Khi ấy chúng tôi đã di cư qua Mỹ lâu rồi.)

Bố tôi có một thói quen là đạp xe đạp để vận động. Cứ thế đạp mãi, đạp mãi cho đến khi trời tối. Đạp cho đến lúc đêm khuya. Đạp cho đến khi không còn biết chuyện gì và không còn có ý thức gì nữa (trong đầu trống rỗng). 
Người ta phát hiện ra ông. Người ta hỏi:
”Nhà ông ở đâu?”
Ông ấy đáp:
”Tôi không biết.”
Người ta đưa bố tôi đến đồn cảnh sát, cảnh sát hỏi ông ấy:
”Ông nghĩ kĩ thử xem, người nhà ông, nhà của ông.”
Bố tôi đã quên hết mọi thứ. (Mất trí nhớ.)

Cảnh sát hỏi:
”Ông có con cái không?”
Bố tôi đột nhiên nhớ ra, đáp:
”Có một đứa con trai.”
Cảnh sát hỏi:
”Con trai ông tên là gì, anh ấy làm gì?”
Bố tôi đáp:
”Tên thì quên rồi, nhưng, nó viết rất nhiều sách.”
Cảnh sát dựa vào câu nói “viết rất nhiều sách” này mà tìm ra Lư Thắng Ngạn, gọi điện thoại đến Đài Loan Lôi Tạng Tự, yêu cầu người của Lôi Tạng Tự đến đón ông ấy về.

Điều tôi muốn nói với mọi người là:
Đây là một câu chuyện cuộc đời.
Nhưng đã không còn là câu chuyện của bố tôi nữa. Bởi vì bố tôi đã quên hết toàn bộ câu chuyện cuộc đời của chính mình rồi. Ông ấy đã hoàn toàn “trống rỗng” rồi.

Ví dụ thứ hai:
Ở Seattle chúng tôi có một nữ đệ tử. Cô ấy trở về nhà chăm sóc cho người mẹ đã già yếu của mình, người mẹ sống trong viện dưỡng lão. Cô ấy đẩy xe lăn cho bà đi dạo trong khu vườn của viện dưỡng lão để hít thở không khí trong lành.
Bươm bướm bay lượn.
Trăm hoa đua nở.
Cụ bà đưa mắt nhìn ra xa, không biết là đang nhìn cái gì. Con gái mới hỏi người mẹ:
”Con là ai?”
Người mẹ đáp:
”Cô là…?”
Con gái nói:
”Con là con gái mẹ đây mà!”
Người mẹ hỏi:
”Con gái là cái gì? Cái gì là con gái? Cô là ai?”
Con gái đáp:
”Con là…, mẹ không nhớ rồi!”
Người mẹ tự hỏi:
”Cô là ai? Tôi là ai?” (Người mẹ già từ lâu đã mất trí nhớ.)
…………………..

Tôi đơn giản lấy hai ví dụ câu chuyện cuộc đời này. Những câu chuyện kiểu này nhiều vô số kể. Tôi hỏi:
”Đọc xong hai câu chuyện này, bạn có cảm tưởng gì?”
Đời người là cái gì? Cái gì là đời người?
Khi người ta mất trí nhớ, ai là ai?
Khi ký ức còn tồn tại, có rất nhiều câu chuyện cuộc đời, kể mãi không hết.
Khi ký ức không còn, thử hỏi: “Cuộc đời ở đâu?”


### 05. Đi sâu vào nghiên cứu cuộc đời


Nói một cách rất đơn giản:
”Cuộc đời, chính là một quá trình từ lúc sinh ra cho đến khi chết đi.”
Cũng có nghĩa là: 
Một ngày có cuộc đời của một ngày.
Một tháng có cuộc đời của một tháng.
Một năm có cuộc đời của một năm.
Tôi nói với mọi người:
”Mỗi người chúng ta cắm từng đoạn ngày tháng năm của cuộc đời vào trong kho ký ức (bộ não), cứ như thế xâu chuỗi lại, chính là một cuộc đời.”
Chúng ta vì sao mà có cuộc đời?
Đáp án là:
Mắt — thị giác.
Tai — thính giác.
Mũi — khứu giác.
Lưỡi — vị giác.
Thân — xúc giác.
Ý — tư giác.
Bởi vì chúng ta có cảm giác nên mới có cảm giác tồn tại của cuộc đời chúng ta. Ở đây chính là triết học tồn tại. 
”Tôi nghĩ nên tôi tồn tại.”
”Tôi thấy nên tôi tồn tại.”
…………….

Chúng ta cảm thấy đẹp, vì thế chúng ta vui vẻ.
Chúng ta cảm thấy không hoàn mỹ, vì thế chúng ta đau buồn.
Ngọt bùi đắng cay đều là những cảm giác.
Trong kinh Phật có nhắc đến “sinh khổ”, chúng ta ở trong thai mẹ có đủ thứ khổ. Bởi vì không có cảm giác, cho nên chẳng biết gì cả.
Vì thế, tôi đưa ra một kết luận:
Có cảm giác mới có cuộc đời.
Không có cảm giác thì không có cuộc đời.
Cuộc đời dựa hoàn toàn vào cảm giác.
Nếu kho ký ức trống không, cũng tức là mất trí nhớ, thì cuộc đời này đã trở thành không rồi.

Tôi lấy ví dụ để nói rõ:
Con người hiện đại có cái gọi là “bắt nạt trên mạng”, rất nhiều người không chịu nổi sự bắt nạt ấy mà tự sát. 
Ngày xưa:
Malaysia (Con Khỉ) phê phán tôi trên mạng.
Singapore (Nghiêu Trung) phê phán tôi trên mạng.
Đài Loan (Thang) phê phán tôi trên mạng.
Đài Loan (Nhiêu) phê phán tôi trên mạng.
Còn tôi, ấy thế mà lại không có cảm giác gì.
Vì sao?
Bởi vì Lư Thắng Ngạn không có điện thoại di động, không có máy vi tính, không có máy tính bảng. Họ phê phán tôi trên mạng, tôi chẳng hề đọc được một tí nào.
Tôi tự cười mình:
”Tôi là người nguyên thủy trong cuộc sống hiện đại!”
”Tôi là thằng ngốc trong cuộc sống hiện đại!”
”Tôi là kẻ sống cô độc xa lánh đời!”

Vì thế:
Tôi chỉ biết viết sách, vẽ tranh, tu pháp, thuyết pháp. Những cái khác, tôi đều mù tịt.
Cuộc đời của tôi tự tại như như.
Cuộc đời của tôi kì thực quá đơn giản, cuộc sống của tôi chỉ có hai không gian: nhà mình và Lôi Tạng Tự. (Những năm gần đây.)
Xin lỗi!
Cuộc sống của ông già tôi đây chính là như thế!
Lão Tử nói:
”Vi đạo nhật tổn.” [Theo đạo ngày một giảm bớt.]
Những thứ không cần thiết, tôi đều vứt bỏ đi hết, vứt bỏ toàn bộ đều sắp trống không rồi.
”Thanh tịnh!”
”Vô vi!”
”Không tịch!”


### 06. Chứng ngộ A La Hán


Ngày xưa, thời Phật Thích Ca Mâu Ni còn trụ thế. 
Rất nhiều người chứng ngộ A La Hán, A La Hán này là quả vị chứng ngộ của Tiểu thừa.
A La Hán có ba ý nghĩa:
1. Sát tặc — ý nghĩa là kẻ giết lục tặc, giết phiền não.
2. Ứng cúng — nên nhận cúng dường của trời người.
3. Bất sinh — vĩnh viễn nhập niết bàn, không còn chịu quả báo sinh tử nữa.

Phật Đà trụ thế, có mười sáu A La Hán. Có năm trăm A La Hán, năm trăm có ý nghĩa là rất nhiều rất nhiều. [Tôn sư viết như vậy, mười sáu A La Hán, sau đó là năm trăm A La Hán]
Tôi nói với mọi người cái gọi là giết lục tặc có ý nghĩa gì. 
1. Mắt — không nhìn lung tung.
2. Tai — không nghe lung tung.
3. Mũi — không ngửi lung tung.
4. Lưỡi — không liếm lung tung.
5. Thân — không chạm lung tung.
6. Ý — không nghĩ lung tung.

A La Hán có rất nhiều giới luật, hai mắt nhìn xuống đất, không được ngửa nhìn trời, không được xức nước hoa hay hương liệu, ăn uống phải đơn giản (ăn thô), không được mặc quần áo vải mềm, không được ngủ trên giường cao.
Ý niệm chỉ đơn nhất hoặc vô niệm.
Vì sao cần phải như vậy?
Bởi vì lục tặc sẽ dẫn đến phiền não. Phải giữ giới luật cho từng việc ăn, mặc, ở, đi lại, nhu cầu.

Trên phương diện ăn, ăn thô tức là thức ăn đơn giản, không tham vị ngon, quần áo thì phải là loại vải thô cứng trét phân.
Sống thì ở dưới cây, hang động, giữa phần mộ.
Những quy tắc đi lại rất nhiều, ví dụ:
Đi chân đất.
Đi giày cỏ.
Đi như gió, ngồi như chuông, đứng như tùng, nằm như cung.
Hai mắt nhìn đất, không được nhìn phụ nữ.
Nói chuyện với phụ nữ phải giữ khoảng cách bốn mét, chỉ có thể nói vài câu, những việc này đều có quy định rõ ràng.
Chỉ nói vào trọng tâm, không được nói nhiều lời.
Những việc này đều là giới luật.
Nói một câu đơn giản là:
”Cuộc sống trong sáng và đơn nhất (đơn giản).”

Ở đây tôi có một bài “Lục tướng tụng” của thiền sư Thiện Chiêu đời Tống.

*(1) Nhìn như A Na Luật, phân minh không một vật
Đại địa và sơn hà, diễn xuất ba la mật.*

*(2) Nghe như Bạt Nan Đà, âm thanh không bỏ sót
Gần xa đều rõ ràng, lại không nghĩ lớn lao.*

*(3) Thơm như Khắc Già Nữ, tâm từ bi rộng khắp
Tịnh uế biết tường tận, chính là mẹ chúng ta.*

*(4) Vị thì như Kiêu Phạm, ngọt đắng đều bình thường
Vào miệng biết chua cay, giống như trăng hôm ấy.*

*(5) Xúc như Thuấn Nhược Đa, thiện ác đều hay biết
Giết mổ không giận mừng, tôn trọng như Di Đà.*

*(6) Ý như Đại Ca Diếp, một pháp bì lư câu
Phòng tối vẫn thấy rõ, nhận lấy nghìn cành hoa.*

Tại đây, tôi nói với mọi người:
Đây là những phẩm hạnh và đạo nghĩa của sáu vị hành giả. Nếu có thể thực hành theo thì chính là A La Hán. Duy có như vậy mới là rốt ráo! 
Hãy ghi nhớ lời của tôi:
”Từ nhiều biến thành một.”
”Từ một biến thành không.”


### 07. Tôi ngồi trong trống rỗng


Ở Seattle Lôi Tạng Tự nước Mỹ.
8 giờ tối thứ bảy đồng tu. 
Tôi lên pháp tọa. Người điều khiển chương trình hô lên: 
Đại lễ bái, đại cúng dường, tứ quy y, mặc bia giáp hộ thân…
Hai mắt tôi nhắm lại. 
Không nghĩ ngợi gì cả, chỉ trong sát-na, không còn cảm giác gì cả, hai mắt vẫn nhắm. 
Tai không nghe thấy bất kì âm thanh nào nữa. 
Đầu tiên tôi đếm hơi thở, sau đó ngay cả đếm hơi thở cũng không còn nữa.
Lưỡi chạm vào hàm trên, lưỡi cũng không còn cảm giác.
Không chú ý tới thân thể chính mình.
Không nghĩ gì cả.

Chính vào lúc đó:
Bản thân biến mất!
Thế giới biến mất!
Thời gian không biết!
Không gian không biết!
Nói cách khác là, bốn bức tường của Lôi Tạng Tự đều tiêu biến, các đệ tử ngồi dưới không còn một ai.
Trống rỗng.
Trời ơi! Ngay cả đối tượng để bản thân chú ý đến cũng mất rồi. 
Không có quán tưởng.
Không có kết ấn.
Không có trì chú.
Không có nhập tam ma địa (thiền định).

Bình thường chúng ta có rất nhiều suy nghĩ, bây giờ không phải là chỉ nghĩ đến một đối tượng, mà là ngay cả đối tượng cũng không còn, tôi tiến nhập vào trong trạng thái trống không.
Thời khắc này.
Tôi chỉ có thể nói thế này:
”Tôi ngồi trong trống rỗng!”
Đây là một cảnh giới sao?
Không, ngay cả cảnh giới cũng không có.
Có nhìn thấy ánh sáng không?
Không, một điểm sáng cũng không có, cũng không phải là tối đen như mực.
Nhìn thấy Bổn tôn không?
Không, ngay cả Bổn tôn cũng không xuất hiện.
Là cảm giác khinh an? Là cảm giác hỷ lạc? Là cảm giác tự nhiên thoải mái? Là cảm giác ấm áp dễ chịu? Là cảm giác tự nhiên?
Không phải, đều không phải.
Nói để mọi người biết, cái gì cũng không phải.

Ngay đến bản thân cũng biến mất, ngay cả người khác cũng biến mất, ngay cả thời gian đang trôi qua cũng không còn cảm giác thấy, ngay cả không gian cũng hoàn toàn tan biến.
Thiền tông có một câu nói:
”Năng sở cùng mất. [Năng sở: từ gọi chung Năng và Sở. Chủ thể của một động tác gọi là năng, khách thể (đối tượng) của động tác ấy gọi là sở.]
Thân tâm rơi rụng.
Hư không vỡ tan.
Mặt đất san bằng.”

Tôi nghĩ đại khái chính là như vậy!
Tôi chỉ là một danh từ.
Trống rỗng cũng chỉ là một câu chữ.
Chính là như thế, chính là ngồi như thế, hoàn toàn bất động, tôi nói với mọi người, ngay cả ngồi cũng không còn cảm giác, ngay cả một cử động cũng không có, cũng không có cảm giác. 
Giống như đờ người ra à?
Không phải!
Giống như ngủ gật?
Không phải!
Giống như xác chết?
Không phải!
Cho đến khi người điều khiển chương trình hô lên: 
“Mời Lư Sư Tôn làm hồi hướng chung.”
Câu nói này đi vào trong tai, tôi mới ngẩn ngơ nhớ ra: “Đang đồng tu!”


### 08. Tồn tại một cách không tồn tại


Có một hôm, tôi gặp Hiền Thủ Bồ Tát. Tôi nói với ngài:
”Tôi thường xuyên chẳng có cảm giác gì cả.”
Hiền Thủ Bồ Tát không nói gì. Tôi ép ngài ấy nói cho tôi biết việc này rốt cục là thế nào. 
Hiền Thủ Bồ Tát nói:
”Được rồi! Ngài hỏi tôi đáp.”
Tôi hỏi:
”Chuyện gì đang xảy ra với tôi?”
Bồ Tát đáp:
”Tồn tại một cách không tồn tại.”
Tôi hỏi:
”Đã không tồn tại rồi thì còn có tồn tại gì nữa?”
Bồ Tát đáp:
”Bản nhiên.” (pháp nhĩ bản nhiên)
Tôi hỏi:
”Còn có cách giải thích khác không?”
Bồ Tát đáp:
”Chúng ta không cần giải thích. Nói trực tiếp chính là tự tính, pháp tính, Phật tính, không tính………”

Tôi hỏi:
”Có đặc trưng gì?”
Bồ Tát đáp:
”Là tồn tại liên tục (sống mãi), là nhẹ nhõm ung dung và vui vẻ, là chân ngã, là tịch tĩnh nhưng mà không phân biệt.”
Tôi hỏi:
”Có phải là thường lạc ngã tịnh không?”
Bồ Tát đáp:
”Đúng vậy.”
Tôi hỏi:
”Là ngoan không sao?” [Ngoan không: vô tri vô giác, cảnh giới hư vô tự nhiên không nghĩ suy.]
Bồ Tát đáp:
”Trong đó có vật.”
Tôi hỏi:
”Cái vật ở trong đó, làm sao để hiện ra?”
Bồ Tát đáp:
”Hoa trong gương, trăng trong nước.”
Tôi hỏi:
”Tôi là một dải cầu vồng nhỉ?”
Bồ Tát đáp:
”Đúng.”
Tôi hỏi:
”Chúng sinh trong thiên hạ này, người người đều là một dải cầu vồng nhỉ?”
Bồ Tát đáp:
”Chúng sinh đều có Phật tính, chỉ vì nhận thức sai rằng người người đều có thực, vì thế mới ở trong luân hồi, chẳng có kỳ thoát ra.”
Tôi hỏi:
”Làm sao thoát khỏi luân hồi?”
Bồ Tát đáp:
”Một mình tỏa sáng.”
Tôi hỏi:
”Một mình tỏa sáng chẳng phải là ích kỷ sao?”
Bồ Tát đáp:
”Ánh sáng và ánh sáng hòa tan vào nhau.”
Tôi hỏi:
”Như tôi thì phải làm sao?”
Bồ Tát đáp:
”Bảo trì chân ngã nhậm vận.”
Tôi hỏi:
”Chân ngã là Phật Đà, Thánh giả, Đại giác Kim Tiên phải không?”
Bồ Tát đáp:
”Người người đều như thế.”

Hiền Thủ Bồ Tát nói:
”Nếu bạn quá kiêu ngạo thì lại trở về thế giới phàm phu.”


### 09. Tôi là một dải cầu vồng


Bây giờ tôi đã hiểu rõ ràng rồi, minh bạch rõ rành rành rồi, tôi là một dải cầu vồng. Tôi cũng đã ngộ ra, thế giới này như mộng như huyễn.
Thì ra:
Thiên giới huyễn.
Nhân giới huyễn.
A tu la giới huyễn.
Địa ngục giới huyễn.
Ngạ quỷ giới huyễn.
Súc sinh giới huyễn.
Sáu giới này đều là huyễn biến mà ra. Và người huyễn diễn những trò huyễn, căn bản toàn là huyễn, lục đạo luân hồi toàn là trò chơi vở kịch huyễn.

Ngộ cảnh của tôi là:
Không — chân không. (trong đó có Phật tính) [cái Không chân thực]
Có — huyễn có. [cái có huyễn ảo]
Cho nên Tâm Kinh có nói:
Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc.
Kinh Kim Cang có nói:
Thực tướng là phi tướng, phi tướng tức thực tướng.
Chẳng trách mà:
Phật Đà dưới gốc cây bồ đề, vừa khai ngộ đã muốn nhập niết bàn. 
Còn nữa, Phật Đà thuyết pháp 49 năm. Khi ngài muốn niết bàn, Văn Thù Bồ Tát hạ giáng, thỉnh Phật Đà: “Tiếp tục chuyển pháp luân!”
Phật Đà nói:
”Ta có chuyển pháp luân sao?”
Còn nữa, Phật Đà nói:
”Căn bản ta chẳng hề thuyết pháp.”
Bởi vì:
Huyễn nhân thuyết pháp.
Huyễn nhân nghe pháp.
Và Phật pháp cũng là huyễn.
Chú thích: trong Kinh Kim Cang nói: “Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng.”

Đương nhiên tôi hiểu điều pháp sư Quảng Khâm nói lúc ngài niết bàn:
”Không đến, không đi, không hề gì!” (Đều là huyễn.)
Tôi cũng hiểu, Lão Tử cưỡi trâu xanh rời khỏi Hàm Cốc Quan. Cũng là: hai chữ ”vô sự”.
Lão Tử đã bặt tăm tông tích rồi. (huyễn sinh)
Tương lai, có một ngày, tôi (Lư Sư Tôn) cũng sẽ bặt tăm tông tích.
Vở kịch của tôi đã kết thúc rồi.
Tôi nghỉ ngơi rồi!
Chào tạm biệt mọi người!
Tôi thị tịch chỉ có ba chữ ngắn ngủn: “Không liên quan!”

Rất nhiều đệ tử nói với tôi:
”Không thể! Không thể! Lư Sư Tôn sẽ không thể nào!”
Tôi nói:
”Có thể chính là không thể, không thể chính là có thể.” (Vốn không sinh tử.)
Lúc này, mắt tai mũi lưỡi thân ý hoàn toàn không còn nữa!
Phật tính (tự tính) chính là ở đó.
Không tăng không giảm!
Tôi về nhà đây!

Nếu có người hỏi tôi:
”Vở kịch này, ngài đã diễn cái gì?”
Tôi đáp:
”Tùy duyên, tùy thuận, tùy phận.”
Xin chú ý hai chữ “tùy phận”, tùy phận này chính là tôi giữ vững bổn phận của mình.
Mặc dù tôi có thể muốn gì tùy ý, nhưng tôi cũng không quá đà! (giới luật)


### 10. Thế nào là “ngoan không”?


Có người hỏi Lư Sư Tôn:
”Ngài nói tất cả đều không! Không đến cực điểm thì là cái gì?”
Tôi đáp:
”Là có.”
Người đó há miệng không ngậm lại được vì kinh ngạc. Tôi khẽ cười với anh ta. Ha!

Còn nữa, có người tự nhận là đã khai ngộ, anh ta nói:
”Tôi không cần tu pháp nữa, bởi vì pháp là giả.” (Tất cả đều là giả.)
Tôi nói:
”Cần tu pháp, Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp, là tam căn bản.”
Anh ta hỏi:
”Có Thượng sư sao? Có Bổn tôn sao? Có Hộ pháp sao? Những cái này đều là huyễn, vì sao phải tu huyễn?”
Tôi đáp:
”Tu huyễn thành chân!” (Từ cái giả ngã tu xuất chân ngã.)

Còn nữa, có người nói: 
”Trên chẳng có Phật để mà tu thành, dưới chẳng có chúng sinh để mà độ. Vậy chúng ta thành Phật gì? Độ chúng sinh gì?”
Tôi nói:
”Tự tính tức Phật tính, Phật tính là tự tính. Tự mình giác ngộ, cũng cần người khác giác ngộ. Giác hành phải viên mãn.”
Người đó nói:
”Không hiểu!”
Tôi nói:
”Anh không hiểu thì tôi mới phải dạy anh!”

Còn nữa, có người nói:
”Lư Sư Tôn nói, tất cả đều là mộng huyễn, nhà cửa là mộng huyễn, xe cộ là mộng huyễn, thất trân bát bảo đều là mộng huyễn, vợ con tài lộc đều là mộng huyễn, vậy chúng ta sống để làm gì?”
Tôi nói:
”Lời này là thực tướng, thực tướng chính là phi tướng, tất cả mọi tướng đều là phi tướng. Nhưng, chúng ta ngộ được thực tướng tức là phi tướng, phi tướng là thực tướng thì vẫn phải sống tiếp, sống tiếp để làm gì? Để thực hành cuộc sống phi tướng, rời xa luân hồi.”
Tôi nói:
”Trọng điểm là ở sự trong sáng, không tạo ra nhân của luân hồi nữa, không còn có nghiệp, nghiệp báo là nhân của luân hồi.”

Còn nữa, có người nói:
”Tất cả đều là mộng huyễn. Tất cả rỗng tuếch trống không. Nỗ lực tinh tấn chẳng có chút ý nghĩa nào, tâm như cây khô tro tàn, thân là cái thể xác hư huyễn.”
Không ăn.
Không uống.
Không nghĩ.
Không ngủ.
Không chết.
Không sống.
Tôi nói:
”Như vậy cũng không đúng, đây chính là ngoan không.”
Hỏi:
”Thế nào mới không phải là ngoan không?”
Đáp:
”Trân trọng cái ta giả này, tu cái ta giả thành cái ta thật, không còn luân hồi trong lục đạo nữa. Sau đó, thường, lạc, ngã, tịnh. Tự tính thần thông nhậm vận, đây mới không phải là ngoan không.”
Hỏi:
”Giả ngã tu xuất chân ngã ư? Tu thế nào?”
Tôi đáp:
”Dùng Chân Phật Mật Pháp để tu.”
Tôi nói:
”Mộng huyễn không phải tiêu cực, mà là tích cực rời xa lục đạo luân hồi.”


### 11. Tôi nói với bạn một bí mật 


Đây là một bí mật cực lớn, tôi lén nói cho bạn biết.
Khi bạn hiểu tất cả đều không, thì đó là “kiến đạo”. 
Thế là đã bắt đầu “ngộ xong mới khởi tu”, tiến vào giai đoạn “tu đạo”. Lúc này mới xem là hành giả chân chính.

Cho đến khi “trống không tất cả”:
Thân không.
Tâm không.
Pháp không.
Tính không.
Lúc này, giống như điện cực, một tiếng nổ “ầm” như sấm, tiếng vọng vang rền khởi lên. 
Trời đất đại chấn động.
Vũ trụ tràn đầy pháp lưu.
(Giống như một cái bình rỗng, đột nhiên đổ đầy cam lộ.)

Trên thực tế, ngay cả bình rỗng cũng không có.
Đây là sự dung hợp giả ngã và chân ngã. 
Thiên địa hợp nhất.
Phật ta hợp nhất.
Bổn tôn và ta hợp nhất.
Ta tức là Bổn tôn.
Bổn tôn tức là ta.
Chúng ta thường giải thích là:
”Một giọt nước rơi vào trong biển lớn!”
Người tu Mật giáo thì nói:
Khí thông với khí.
Mạch tiếp xúc với mạch.
Điểm hòa tan với điểm. (minh điểm)
Cũng tức là “nhập ngã ngã nhập”, dòng chảy pháp của vũ trụ tiến vào ta, ta tiến vào dòng chảy pháp của vũ trụ. 

Lúc này:
Sướng như tiên sướng muốn chết. (Miêu tả một trạng thái hỷ lạc.)
Chết rồi!
Chết rồi!
Có người nói:
Không Hành Mẫu xuất hiện đầy ắp hư không, vỗ tay chúc mừng bạn.
Họ hô vang: Thành tựu rồi! Thành tựu rồi!
Kinh Kim Cang nói:
Như Lai đều thấy người ấy, Như Lai đều biết người ấy.
Phật và Phật biết nhau. 
(Trên thế giới chỉ có số ít người đạt đến được cảnh giới này.)
Nhưng, đích thực là có.
Bởi vì tôi (Lư Sư Tôn) đã đạt đến cảnh giới này rồi. 
(Trên nguyên tắc, dùng hai chữ cảnh giới cũng không đúng, nhưng để mọi người hiểu được nên mới phải dùng hai chữ cảnh giới này.)

Bởi vì không có văn tự, ngôn từ nào có thể dùng được.
Tôi mọi lúc đều ở trong cảnh giới này, Phật không rời xa tôi, tôi cũng không rời xa Phật.
Tôi chỉ là “bảo nhậm”. 
Bảo nhậm chính là duy trì nhậm vận. 
Có thần thông hay không?
Đất — Tôi vững chắc như núi.
Nước — Tôi biến hóa như nước.
Lửa — Tôi pháp lực vô cùng.
Gió — Tôi hóa thân vô số.

Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh nói:
Không sinh không diệt, không bẩn không sạch, không tăng không giảm.
Là đại thần chú.
Là đại minh chú.
Là vô thượng chú.
Là vô đẳng đẳng chú.
Đến được cảnh giới này rồi, Phật giáo có một danh từ, gọi là: A nậu đa la tam miểu tam bồ đề. 


### 12. Nhân sinh quan của tôi (kiến giải về chân không)


Tôi nói:
”Sau khi tôi chết, chỉ để lại ba chữ: Không liên quan.”
Đệ tử nói:
”Không hiểu!”
Rất nhiều đệ tử nói:
”Nghe không ra!” (Đài ngữ)
Để các đệ tử hiểu được lời tôi, chỉ có thể dùng so sánh để giải thích ngộ cảnh của tôi.

Ví dụ của tôi như sau:
Tôi đi xem một bộ phim điện ảnh.
Nam chính - nhân vật chính.
Nữ chính - nhân vật chính.
Vai phụ - khách thể.
Vai phụ - tình tiết bối cảnh.
(Chủ khách phân rõ ràng.)

Thế tôi là gì đây? Tôi là người xem. Chẳng có liên quan gì đến bộ phim. Nội dung của bộ phim đương nhiên là có hỷ nộ ái ố, có hài kịch, có bi kịch, có phim chiến tranh, phim tình cảm, phim kinh dị, phim khoa học viễn tưởng……
Có một số người khóc theo, cười theo, căng thẳng theo, sợ hãi theo, đi theo những tình tiết trong phim. 
Đó là người xem phim, họ hòa mình vào trong bộ phim, tự nhiên sản sinh ra những chấn động tình cảm. 
Đến khi bộ phim kết thúc.
Đèn điện bật sáng.
Bạn thốt nhiên nhận ra, thì ra ta là ta, phim là phim.
”Không liên quan!”

Tôi nói với mọi người:
Phim là giả.
Nam nữ chính cũng là giả.
Bối cảnh cũng là giả.
Tình tiết là giả.
Hỷ nộ ái ố là giả.
Sống là giả.
Chết là giả.
(Khi bạn hòa mình vào trong bộ phim, bạn cho rằng chính mình là nam chính, hoặc bạn là nữ chính.)
Đến khi phim kết thúc rồi, bạn mới tỉnh ngộ ra. Thì ra chỉ là một bộ phim. 
Bạn chỉ là người xem.
Hai thứ hoàn toàn không liên quan!

So sánh của tôi rất rõ ràng dễ hiểu rồi!
Phật tính là người xem.
Vai chính là cái ta giả.
Vai phụ là người khác.
Tình tiết là cuộc đời.
Cuộc đời có sinh, có tử, có chủ, có khách. Có những tình tiết mang hình dáng màu sắc khác nhau. Có hỷ nộ ái ố.
Bộ phim chính là cuộc đời.
Nhân sinh quan của tôi chính là như vậy. Cuộc đời là cuộc đời, ta chỉ là người xem. 
Cũng giống như vậy, hai thứ không liên quan!

Đến đây, mọi người đã hiểu ra:
Tổ sư Đạt Ma nói: “Không có công đức.”
Nhị Tổ Huệ Khả nói: “Không thể tìm được tâm.”
Lục Tổ nói: “Vốn dĩ không một vật.”
Và nói: “Không nghĩ thiện! Không nghĩ ác!”
Kinh Kim Cang nói: “Như mộng huyễn bào ảnh.”
Tôi nói: “Không liên quan!”


### 13. Rốt cuộc ta là ai?


Công án Thiền tông có một chủ đề để tham luận: 
”Ta là ai?”
Tiếp theo là hỏi:
”Ta từ đâu đến?”
”Ta đi về đâu?”
”Ta ở nhân gian làm cái gì?”
Được rồi! Mọi người tham luận câu nói này, tham luận đến cuối cùng thì kết quả là không có đáp án. 
Không có đáp án chính là đáp án.
Có trí giả trả lời:
Ta chính là ta.
Ta đến từ nơi sinh ra.
Ta đi về nơi chết.
Ta ở nhân gian làm người.
Đáp án này cũng là một câu trả lời như không trả lời.

Tư liệu về cuộc đời của “tôi”:
Tôi sinh vào giờ Ngọ, ngày 27 tháng 6 năm 1945. (Âm lịch là ngày 18 tháng 5.)
Địa điểm là trại gà bên bờ suối Ngưu Trù, huyện Hậu Hồ, tỉnh Gia Nghĩa, Đài Loan.
(Chú thích: 1945 là năm cuối cùng của chiến tranh thế giới thứ hai, máy bay quân sự Mỹ đã thả bom tại sân bay Thượng Thủy ở Gia Nghĩa.)
Bố mẹ tôi phải chạy tị nạn đến trại gà.
Bố tôi là Lư Nhĩ Thuận.
Mẹ tôi là Lư Hoàng Ngọc Nữ.
Tôi là con trai trưởng, đặt tên là Lư Thắng Ngạn.
Tiểu học: Tiểu học Đại Đồng thành phố Cao Hùng.
Sơ trung: Trường Cấp hai số hai Cao Thị.
Cao trung: Trường Trung Học Công Nghiệp Cao Hùng. 
Đại học: Trường Trắc Lượng. (Trường Quân Sự thuộc bộ Đại Học.)
Sau khi tốt nghiệp, tôi phục vụ tại hai đơn vị:
1. Liên đội trắc lượng số 5802. 
2. Xưởng đồ họa.
Ngày 16 tháng 6 năm 1982, di cư đến Seattle nước Mỹ.

Tôi viết đoạn lý lịch ngắn này là vào ngày 20 tháng 1 năm 2022. 
Tôi nói: Đây là những dữ liệu quan trọng về cuộc đời của tôi. 
Vậy tôi tự hỏi:
”Tôi là ai?”
Tôi không trả lời được.
Điều duy nhất tôi có thể trả lời là:
Vào năm 26 tuổi, tôi đã đến Ngọc Hoàng Cung ở Đài Trung, Diêu Trì Kim Mẫu đã giáng linh. 
Diêu Trì Kim Mẫu đã nói bên tai tôi:
”Con là Liên Hoa Đồng Tử.”
Khi ấy, tôi còn chẳng biết Liên Hoa Đồng Tử là ai.

Sau đó tôi biết đời Đường có bài ca dao:
*Liên Hoa Đồng Tử gặp Kim Tiên.
Khắp cả hư không hoa rơi xuống.
Vượt mây nghe tiếng trời vi diệu.
Lời nào tả xiết lạc cõi thiên.*

Sát-na ấy tôi đã hiểu, Liên Hoa Đồng Tử chính là hóa thân của A Di Đà Phật, bản địa chính là A Di Đà Phật.
Liên Hoa Đồng Tử có danh xưng sớm nhất là Hạng Quang Đồng Tử hoặc Hóa Sinh Đồng Tử.
Ý nghĩa là: “Đứa bé hóa sinh từ hoa sen.”
Và:
Bảo Thượng Đồng Tử.
Bảo Ý Đồng Tử.
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.
v.v… Đều là hóa sinh của Liên Hoa Đồng Tử.
Bây giờ, tôi là ai? Chí ít tôi cũng có một chút manh mối.
Vậy tôi xin hỏi:
”Rốt cuộc bạn là ai?”


### 14. Tự giác và giác tha


Chúng ta biết khuôn mẫu của cuộc đời là:
Đi học. (học hỏi)
Đi làm. (sự nghiệp)
Kết hôn. (gia đình)
Sinh và nuôi dưỡng con cái. 
(Ngoài những việc này ra, chẳng còn gì nữa.)
Ý nghĩa của cuộc đời nằm ở đâu? Mỗi người đều giống như nhau. Đều là như vậy, đời này đến đời khác cứ thế tiếp tục kế thừa.
Sinh sinh tử tử, tử tử sinh sinh, sống rồi lại chết, chết rồi lại sống.

Cuối cùng tôi đã giác ngộ rồi. 
Giác ngộ chính là tự giác.
Còn hướng dẫn người khác cũng giác ngộ chính là giác tha. 
Vì thế ý nghĩa của cuộc đời là:
Tự giác và giác tha.

Nói rõ hơn một chút chính là:
”Bản thân mình tỉnh đã, rồi cũng dạy cho người khác tỉnh ra!”
Nói một cách đẹp đẽ là:
”Độ chúng sinh!”

”Tự giác là cái gì?”
Phật Thích Ca Mâu Ni nói với chúng ta:
*Tất cả pháp hữu vi
Như mộng huyễn bào ảnh
Như sương cũng như điện
Nên quán thấy như vậy.*

Ngày xưa, khi Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp, ngài thường xuyên thức tỉnh đệ tử:
”Đời người là khổ.”
”Đời người là không.”
”Đời người vô thường.”
”Đời người vô ngã.”
Đây chính là điều tôi thường xuyên nói: “Khổ, không, vô thường, vô ngã.”
Khổ là cái gì?
Khổ là thân tâm bức bách phiền muộn.
Bộ phận của thân thể có bốn vạn tám nghìn loại bệnh, một khi bệnh đến thân thì khổ không lời nào tả xiết, đó là khổ của cái thân.
Ngoài ra còn có khổ tâm, lo buồn đố kỵ ghen tuông… là khổ tâm. 
(Hai cái khổ này gọi là cái khổ bên trong.)

Còn có cái khổ bên ngoài:
1. Tai vạ bị trộm cướp.
2. Tai họa gió mưa sấm chớp, đất nước lửa gió.
3. Thời tiết nóng quá lạnh quá.
4. Chiến tranh. 
5. Không có nước uống, không có thức ăn, vừa đói vừa khát. (nạn đói)

Còn có: sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ.
Còn có cả:
Yêu mà phải xa cách khổ.
Ghét mà phải gặp mặt khổ.
Cầu mà không được khổ.
Ngũ uẩn cháy hừng hực khổ.

Từ trong những cái khổ này, chúng ta hãy từ từ lĩnh hội “cuộc đời là khổ” của Phật Đà đi. 
Phát khởi lên cái tâm rời xa khổ, muốn thoát ly khỏi khổ cuộc đời này, duy có cách tỉnh lại, nhảy ra khỏi luân hồi.

Tôi nói:
Cuộc đời đương nhiên cũng có một vài lạc thú, nhưng khổ nhiều hơn vui, vui chỉ là nhất thời.
Kì thực lục đạo luân hồi cũng là khổ, đây chính là cái khổ lưu truyền.
Tôi dạy chúng sinh nhận thức cái khổ. Bởi vì khổ thì mới có thể nghĩ đến chuyện thoát ly khổ. Mới có thể tiêu trừ nghiệp của chính mình. 
Đừng cho rằng vui là vĩnh hằng, có một ngày vô thường đến thì cái vui ngắn ngủi của nhân gian cũng chính là:
”Giấc mộng vỡ tan!”


### 15. Bản chất của cuộc đời là Không


Tôi nói:
”Pháp vì nhân duyên mà sinh ra, tôi nói kết cục là không.”
Thân thể con người ta là tứ đại giả hợp, khi phân chia ra thì không có gì cả, vì thế là không.
Một người không.
Vạn người không.
Đây là: “Không sinh.”

Còn nữa, tất cả sự vật cũng đều là tướng giả hợp, to lớn như trái đất, nhỏ bé như ngôi nhà, cái xe, đều là không.
Đây là: “Không pháp.”
Ngã không, pháp không, ngã pháp đều không là ba cửa giải thoát.
Phật nói:
Pháp mười hai nhân duyên.
Pháp bốn đế. (Bốn đế, mười hai nhân duyên, đều là pháp không.)

Và:
Mười tám thứ không là:
Nội không, ngoại không, nội ngoại không, không không, đại không, đệ nhất nghĩa không, hữu vi không, vô vi không, tất cánh không, vô thủy không, tán không, tính không, tự tính không, chư pháp không, bất khả đắc không, vô pháp không, hữu pháp không, vô pháp hữu pháp không.

Tôi có một đệ tử đi nghe giảng kinh về mười tám không. Tôi hỏi:
”Nghe xong rồi thì sao?”
Anh ta đáp:
”Đã hiểu rồi.”
Tôi hỏi:
”Hiểu xong rồi thì thế nào?”
Anh ta đáp:
”Phiền não không, ngã chấp không, pháp chấp không, không tất cả mọi chỗ.”
Tôi hỏi:
”Từ đây trở đi thì sao?”
Anh ta đáp:
”Như mộng như huyễn.”
Tôi nói:
”Đây chính là ba tam muội, ba cửa giải thoát.”
Tôi nói:
Phật Thích Ca Mâu Ni chính là Vua Không. Phật là vua của vạn pháp, vạn pháp cũng là không, vì thế mà là Vua Không.

Còn có một thuyết khác là:
Đời quá khứ có vị Phật gọi là Không Vương Phật. 
Kinh Pháp Hoa ghi chép rằng:
”Phật Thích Ca Mâu Ni và A Nan tôn giả ở chỗ của Không Vương Phật phát tâm A nậu đa la tam miểu tam bồ đề. A Nan vui mừng với việc hiểu biết nhiều, tôi thường khuyên tinh tấn.”

Còn nữa:
A Di Đà Phật vì địa vị và thời thế mà cùng với ba vị tì kheo bái Không Vương Phật làm thầy. Không Vương Phật có tướng bạch hào sáng rực. Vì quán tướng bạch hào sáng của Không Vương Phật mà thành Phật. 
Vãng Sinh Yếu Tập viết:
”Cúi rạp người xuống đất, toàn thân đổ mồ hôi, quy mệnh Di Đà Phật, nhớ đến tướng sáng bạch hào ở giữa hai lông mày mà xúc động chảy nước mắt, nên nghĩ nhớ như vậy, Không Vương Phật trong quá khứ có tướng bạch hào giữa lông mày, Di Đà kính lễ, diệt tội mà thành Phật, nay con lễ Di Đà Phật, cũng thường lặp lại như vậy.”

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người:
Ta là sinh không.
Ta là tử không.
Chữ “ta” này cũng là giả không. 
Nhưng, ta không thể chấp vào kiến không.
Bởi vì:
Không tức là có, có tức là không. (Trong đó có vật.)
Có câu nói là:
”Cần biết tâm Không cũng đáng sợ, nếu rơi vào kiến Không, vĩnh viễn chìm đắm trong cái Không kéo dài, không thể vào được niết bàn trời người.”
Vậy thì phải làm sao?
Tôi nói:
”Không và Có dung hòa vào nhau.” (Trung quán)


### 16. Chân đế của vô thường


Ý nghĩa gốc của vô thường là:
Mọi pháp thế gian, sinh diệt cứ thế trôi mãi, một sát-na cũng chẳng dừng lại. 
Nói chung, vô thường có hai loại:
1. Sát-na vô thường — hết sát-na này đến sát-na khác có sự biến hóa có sinh có diệt.
2. Tương tục vô thường — trong sự liên tiếp, có sự biến hóa có sinh có diệt.

Trên kinh điển:
Niết Bàn Kinh: 
”Là thân vô thường, niệm niệm không dừng, giống như ánh chớp hay dòng nước chảy mạnh, biến huyễn dữ dội.”
Trí Độ Luận:
”Tất cả pháp hữu vi vô thường, vì thế sinh diệt liên tục, vì thế thuộc về nhân duyên.”
Lục Tổ Đàn Kinh:
”Việc sinh tử là lớn, vô thường đến rất nhanh.”
Vô Thường Kinh:
”Chưa từng có một việc gì mà không bị vô thường nuốt chửng.”

Thơ:
*”Mai kia nếu có vô thường đến, rừng gươm núi đao chẳng tha ai.”*

Bài kệ vô thường:

Bài của Tăng Triệu:
*Tứ đại ta không có, ngũ uẩn vốn dĩ không.
Quay đầu gặp dao sắc, giống như chém gió xuân. *
(Tăng Triệu bị xử tử hình.)

Bài của Hoành Trí:
*Mơ mộng hoa không, sáu mươi bảy năm
Chim trắng vắng bóng, thu thủy xa xăm.*

Bài của Hành Đoan:
*Vốn không sinh diệt, đâu có đến đi.
Sông băng bốc cháy, cây sắt nở hoa.*

Bài của Nhất Ninh:
*Hoành hành một đời, Phật Tổ nuốt khí.
Mũi tên rời pháp, hư không ra đời.*

Bài của Liên Sinh:
*Không liên quan.*

Tôi trước sau luôn có một cách nghĩ:
Trái đất mà chúng ta sống là vô thường. Vì sao?
Vì trong triệu triệu năm, đã có bao nhiêu lần thành, trụ, hoại, không. 
Biển xanh biến thành ruộng dâu, ruộng dâu biến thành biển xanh.
Mỗi người chúng ta là vô thường. Vì sao?
Bởi vì mỗi một ngày, bao nhiêu tế bào chết đi thì lại sinh ra bấy nhiêu tế bào, mỗi một ngày, thậm chí mỗi một giờ, mỗi một phút, mỗi một giây, ta đều đang biến hóa và trôi qua.
Tư tưởng của con người ta là vô thường. Vì sao? 
Con người ta mỗi ngày có bao nhiêu suy nghĩ, đếm cũng không đếm xuể. 
Con cá bơi tới bơi lui. Cái đầu cũng nghĩ tới nghĩ lui.

Tôi nói với mọi người:
Trên trời có thể có máy bay rơi.
Tàu thủy có thể chìm xuống đáy biển.
Tàu hỏa có thể trật đường ray.
Xe ô tô có thể gặp tai nạn.
Người đi bộ có thể rơi xuống hố.
Cho dù bạn chỉ ngồi trong nhà thì cũng có thể có vô thường. Nhà sập xuống, đè chết người rồi. (Đóng cửa ngồi trong nhà thì cũng có họa từ trên trời rơi xuống.)
Những chuyện vô thường, ngày ngày, mỗi phút mỗi giây, đều đang xảy ra. Muốn lấy ví dụ thì cũng có quá nhiều, lấy cũng không xuể.

Phật Đà nói:
Chư hành vô thường. 
Chư pháp vô ngã.
Niết bàn tịch tĩnh.
Tôi nói:
”Đã quán vô thường rồi thì mau mau tu xuất ly đi.” (Xuất li luân hồi.)


### 17. Cuộc đời vô thường này của tôi


Tôi muốn nói với mọi người, cuộc đời của tôi chính là vô thường.
Thứ nhất, sự ra đời vô thường.
Bố mẹ tôi kết hôn mới bảy tháng thì đã sinh ra tôi. Bố tôi nói:
”Đứa bé này không phải là con tôi.”
Mẹ tôi nói:
”Nó là đứa bé sinh non.”
Thế là ban đầu tôi được đưa cho bà ngoại nuôi, sau khi bà ngoại tôi qua đời thì chuyển qua cho dì tôi nuôi, khi dì tôi kết hôn thì tôi mới trở về nhà bố mẹ. 
Rốt cuộc tôi là con ai sinh ra?
Tôi tự trào phúng: “Thánh linh hoài thai!”
(Jesus cũng là Thánh linh hoài thai.)
Đây chính là sự ra đời vô thường.

Thứ hai, đi học vô thường. 
Tôi học trường cấp hai số hai Cao Thị, bị lưu ban hai lần. 
Tôi học trường cấp ba Công Nghiệp Cao Hùng, xếp hạng nhất lớp.
Cấp hai lưu ban hai lần, cấp ba lại đứng đầu lớp, đây chính là sự khác nhau như trời với đất. Đây chẳng phải vô thường thì là cái gì?

Thứ ba, sự nghiệp vô thường.
Tôi tốt nghiệp đại học tại trường Trắc Lượng. (Sau này cùng với Học viện Kỹ sư Hải Quân và Trường Công Binh hợp lại thành Học viện Khoa học Công nghệ Trung Chính.)
Tôi là kỹ sư hạng thiếu tá. 
Sau này, tôi xuất gia làm hòa thượng, thành lập Chân Phật Tông. Sự thay đổi này là quá lớn, đây chính là sự nghiệp vô thường.

Thứ tư, gia đình vô thường.
Tôi 30 tuổi kết hôn, vợ là Lư Lệ Hương. 
Có con gái là Lư Phật Thanh.
Có con trai là Lư Phật Kỳ.
Tôi 43 tuổi được pháp sư Quả Hiền cạo đầu xuất gia. 
Từ đang có gia đình thành xuất gia, thay đổi quá lớn.
Đây là gia đình vô thường.

Thứ năm, đất nước vô thường.
Tôi sinh ra tại Đài Loan, là người Đài Loan chính gốc. Tôi sống ở Đài Loan 38 năm. Sau đó di cư đến nước Mỹ. Trở thành người Mỹ gốc Hoa. 
Tôi ở Mĩ đã 40 năm rồi. Đây là sự vô thường của sống. 
Đất nước vô thường.

Thứ sáu, tín ngưỡng vô thường.
1. Cơ đốc giáo.
2. Đạo giáo.
3. Phật giáo.
Đây là tín ngưỡng vô thường. (Mặc dù vậy, nhưng tôi dung hợp ba tôn giáo, Cơ Đốc giáo cũng có Phật pháp, Đạo giáo cũng có Phật pháp, trăm sông đổ về một biển.)

Thứ bảy, tử kiếp vô thường.
A. Thời cấp ba, nghỉ hè tôi đi làm công ở nhà máy nhiệt điện miền nam. Khi tôi thao tác máy tiện, khoan lỗ trên tấm tôn, một lần không cẩn thận, tấm tôn xoay tròn, cứa rách áo ngoài, áo trong, chỉ thiếu một chút xíu là rạch vào bụng tôi, ruột và nội tạng sẽ xổ ra ngoài, giống như mổ bụng. (tử kiếp)
B. Thời cấp ba, nghỉ hè tôi đi làm công ở nhà máy nhiệt điện miền nam. Đi mời người ta mua dầu, dầu rất nặng. Tàu hỏa chở than chắn đường, tôi tham đường tắt nên đã chui qua gầm của tàu hỏa dài ngoằng. Nhưng tàu hỏa đã chạy mà không có báo động trước. Tôi vội vàng rụt chân lại, suýt chút nữa tôi bị tàu hỏa cán chết. (tử kiếp)
C. Tôi và đệ tử quy y đi chơi ở Khẩn Đinh, biển nổi sóng lớn, tôi thì đang ở dưới nước, bơi ra giữa biển không bơi vào được. Cuối cùng, tôi phải dựa vào sợi dây cáp kéo tôi vào bờ. (tử kiếp)
Đây là ba lần tôi gặp số chết mà không chết, đúng là vô thường. 


### 18. Ý nghĩa gốc của vô ngã


Kinh Kim Cang viết:
”Người thông đạt pháp vô ngã, Như Lai nói là Bồ Tát thật sự.”
Kinh Thập Địa viết:
”Vô ngã trí có hai loại, ngã không, pháp không.”
Đại Thừa Nghĩa Chương viết:
”Pháp không có thực tính, vì thế nói là vô ngã.”
Và:
”Vì là thể phi ngã, nên gọi là vô ngã.”
Câu Xá Quang Ký viết:
”Rời xa ngã kiến, nên là vô ngã.” 
Và: “Vì là phi tự tại, nên là phi ngã.”
Chỉ Quán viết:
”Vì không có trí huệ nên mới cho là có cái ngã. Dùng trí huệ để quan sát thì thật sự không có cái ngã. Cái ngã ở chỗ nào? Đầu chân tay, quán kĩ càng lần lượt cũng không thấy cái ngã. Chỗ nào có người và chúng sinh thì cơ chế nghiệp lực của chúng sinh sẽ giả làm thành sự tập hợp trống rỗng, từ các duyên mà sinh ra, không có chủ tể, giống như ở trọ trong cái quán trống.”

Tôi nói:
”Mỗi người chúng ta đều cho rằng cái thân thể này chính là ta. Vì thế tạo nên đủ loại ác nghiệp. Phật vì đã phá trừ được cái ngã mới nói đạo lý của sự vô ngã.”
Lục Tổ Huệ Năng nói:
”Đến bao giờ gốc tự tính tự thanh tịnh!”
”Đến bao giờ gốc tự tính không sinh diệt!”
”Đến bao giờ gốc tự tính tự có sẵn!”
”Đến bao giờ gốc tự tính không dao động!”
”Đến bao giờ tự tính có thể sinh vạn pháp!”

Có người hỏi tôi:
”Thế nào là thanh tịnh?”
Tôi đáp:
”Vô ngã chính là thanh tịnh.”
Người hỏi:
”Thế nào là vô ngã?”
Tôi đáp:
”Thanh tịnh.”
Người hỏi:
”Sao ngài có thể trả lời như vậy?”
Tôi hỏi ngược lại:
”Sao anh có thể hỏi như vậy?”

Còn nữa, có người hỏi tôi:
”Vì sao không sinh diệt, rõ ràng tôi nhìn thấy có người sinh diệt?”
Tôi hỏi ngược lại:
”Trước khi sinh ra anh ở đâu?”
Đáp:
”Không ở đâu.” (không biết)
Tôi lại hỏi:
”Sau khi chết anh đi đâu?”
Đáp:
”Không đi đâu.” (không biết)
Tôi nói với anh ta:
”Đây chính là không sinh diệt.”
Anh ta hỏi:
”Vậy giai đoạn ở giữa thì sao?”
Tôi đáp:
”Như mộng như huyễn.”
Người đó nói: 
”Tôi đã hiểu rồi!”
(Như mộng như huyễn, đây là tên sách của tôi.)


### 19. Hỏi đáp về vô ngã


Có nhiều đệ tử đặt ra cho lão tăng tôi đây những câu hỏi, tôi đặc biệt thu thập lại những câu hỏi có liên quan đến vô ngã.
Hỏi:
”Thật sự đạt đến vô ngã rồi thì là cảnh giới nào?”
Đáp:
”Tất cả có sẵn đầy đủ.”
Hỏi:
”Thế nào là tất cả có sẵn đầy đủ?”
Đáp:
”Thụ cùng tam tế, hoành biến thập phương.” [Dọc cùng tận ba đời, ngang trọn khắp mười phương, ý nghĩa là khắp mọi không gian.]
Hỏi: 
”Ở đây là thứ gì?”
Đáp:
”Không phải đông tây, không phải nam bắc.” (pháp nhĩ bản nhiên) [Ở đây có sự chơi chữ, trong tiếng Trung, đông tây vừa có nghĩa là phương đông phương tây, vừa có nghĩa là đồ, thứ.]

Và, hỏi:
”Vô ngã có tác dụng gì?”
Đáp:
”Không dao động.”
Hỏi:
”Không biết dao động là cái thứ gì?”
Đáp:
”Dao động là tham sân si nghi mạn, tài sắc danh thực thụy.”
Hỏi:
”Bỏ những thứ này đi thì là cái gì?”
Đáp:
”Không dao động.”

Và, hỏi:
”Lư Sư Tôn! Ngài cho rằng có ngã là hình tượng gì?”
Đáp:
”Ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng.”
Hỏi:
”Có ngã, có bốn tướng, có vạn pháp, là thế giới gì?”
Đáp:
”Thế giới không có dây thừng mà vẫn tự trói mình.”
Hỏi:
”Con người ở trong giang hồ, thân bất do kỷ mà! So sánh thế nào?”
Đáp:
”Xót xa bông liễu lay theo gió, lúc lay bên này lúc bên kia.”

Và, hỏi:
”Lư Sư Tôn giảng kinh Kim Cang, trọng điểm nằm ở đâu?”
Đáp:
”Không có người giảng, không có người nghe, pháp không pháp.”
Hỏi:
”Nếu mà tất cả đều không rồi thì hà tất phải thuyết giảng?”
Đáp:
”Ăn no xong, không có việc gì để làm!”
Hỏi:
”Thì ra vẫn là có thuyết pháp, có nghe pháp, có pháp?”
Đáp:
”Phật Đà nói, biết như thế, thấy như thế, tín giải [tin và hiểu rõ] như thế, đến cuối cùng thì không sinh pháp tướng.”

Và, hỏi:
”Vô ngã là trời không thể che, đất không thể chở, tất cả cõi giới không gian, con người ta đi đâu mà tìm kiếm?”
Đáp:
”Không cần tìm kiếm, tỉnh ra là được.”
Hỏi:
”Ban đêm mơ, ban ngày tỉnh, là như vậy à?”
Đáp:
”Cuộc đời là mộng, giải thoát là tỉnh, là như thế.”


### 20. Cách nhìn của tôi về “tiệm ngộ” và “đốn ngộ”


Chúng ta đều biết, Thiền tông có pháp môn tiệm ngộ và pháp môn đốn ngộ. 
Bài kệ của đại sư Thần Tú:
*Thân là cây bồ đề
Tâm là tấm gương sáng
Thường xuyên chăm lau phủi
Chớ để bụi bám lên.*

Bài kệ của đại sư Huệ Năng:
*Bồ đề chẳng phải cây
Gương sáng cũng đâu có
Vốn dĩ chẳng có gì
Lấy đâu mà bám bụi.*

Hai bài kệ này, bài đầu tiên là do đại sư Thần Tú - đệ tử thượng thủ của đại sư Hoằng Nhẫn làm. Bài sau là do đại sư Lục Tổ Huệ Năng làm. 
Hoằng Nhẫn đem y bát bí mật giao cho đại sư Huệ Năng (Nam tông). Vì Hoằng Nhẫn cho rằng Huệ Năng “tâm địa thấu triệt”.
Nhưng Thần Tú được Võ Hậu (Võ Tắc Thiên) phong làm Đế sư, Đường Trung Tông càng thêm lễ trọng, có danh xưng là Lưỡng Kinh Pháp Chủ. (Bắc tông)

Chủ trương tu hành của Thần Tú là: “Phất trần khán tịnh, phương tiện thông kinh.” [Phủi bụi thấy sạch, thuận lợi thông hiểu kinh sách.]

Có đệ tử hỏi Lư Sư Tôn, đại sư Huệ Năng, đại sư Thần Tú, người nào quan trọng hơn?
Tôi cũng thử viết một bài kệ:
*Bồ đề là bồ đề.
Gương sáng là gương sáng.
Bụi bặm là bụi bặm.
Ba thứ chẳng liên quan.*
(Ý của tôi là không liên quan.)

Tôi thường lấy ví dụ:
Trên mặt trăng, không có người. Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. 
Cũng không có bồ đề, không có gương sáng, không có bụi bặm, cái gì cũng không có, thậm chí thiện ác, chay mặn, đúng sai, đen trắng…
Cũng vẫn là ba chữ: 
”Không liên quan!” (Ngay cả ba chữ này cũng không có nốt.)
Đây là hai chữ vô ngã, hiển nhiên.

Những phiền não, bám chấp, phân biệt, tập khí trong cuộc đời này của tôi, toàn bộ đã bị vô ngã hòa tan hết rồi. 
Đã là vô ngã thì còn có phiền não gì?
Đã là vô ngã thì còn có bám chấp gì?
Đã là vô ngã thì còn có phân biệt gì?
Đã là vô ngã thì còn có tập khí gì?
Cho nên tôi nói: 
”Vô ngại!” [không còn trở ngại, vướng bận]

Đối với người thiên lệch về không, tôi nói có.
Đối với người thiên lệch về có, tôi nói không.
Đối với người siêu nhiên, tôi nói không liên quan.
Rất nhiều đệ tử nói với tôi:
”Đạo lý thì chúng con đều hiểu, chỉ là làm không được, phải làm sao?”
Tôi nói:
”Tiệm tu.” [tu từ từ, tu dần dần]
Cũng có đệ tử nói với tôi:
”Đột nhiên trở nên tỉnh ngộ, siêu nhiên rồi!”
Tôi nói:
”Đốn ngộ.” [giác ngộ lập tức]
Sau cùng tôi nói:
”Tất cả mọi thứ đều là sự an bài hoàn mỹ nhất.”


### 21. Dạy về tiệm tu


Có người hỏi tôi:
”Lư Sư Tôn! Tiệm tu của thầy tu như thế nào?”
Tôi đáp:
”Đầu tiên tu Tư lương đạo, tiếp đó tu Gia hành đạo, tiếp theo là Kiến đạo, sau khi kiến đạo rồi mới Tu đạo, cuối cùng là Cứu cánh đạo.”
Hỏi:
”Thứ tự của Mật giáo thì sao?”
Tôi đáp:
”Gia hành, Bổn tôn, Nội pháp, Đại viên mãn.”
Chú thích:
Phương diện gia hành, có pháp Đại lễ bái, pháp Đại cúng dường, pháp Tứ quy y, pháp Tứ vô lượng tâm…
Phương diện Bổn tôn, có quán tưởng, thủ ấn, trì chú, nhập tam ma địa.
Phương diện Nội pháp, có tu khí, tu mạch, tu minh điểm.
(Vô lậu, chuyết hỏa, minh điểm, mở ba mạch bảy luân xa.)
Phương diện Đại viên mãn là đại lạc, quang minh, không.
(Tử quang, mẫu quang hòa vào nhau. Tự tính và vũ trụ không khác biệt.)

Hỏi:
”Lư Sư Tôn cho rằng tiệm tu nên như thế nào?”
Đáp:
”Đầu tiên tu Chuyên nhất du già, sau đó tu Ly hý du già, tiếp theo tu Nhất vị du già, cuối cùng mới là Vô tu du già.”
Hỏi:
”Đây cũng là thực tu của Mật giáo sao?”
Đáp:
”Thật ra Mật giáo có tu hành bên ngoài, cũng có tu hành bên trong, có ngoại pháp và nội pháp, cứ y theo thứ tự mà tu, từ từ tiến lên từng bậc từng bậc, cuối cùng đạt được mục đích. Mật giáo đều là thực tu chứ không phải là lý luận suông.”

Hỏi:
”Lư Sư Tôn nói Đạo Quả là tiệm tu.”
Tôi đáp:
”Đúng!”
Tôi nói:
”Đạo Quả trong phương pháp mở ba mạch bảy luân xa đã giảng giải rất rõ.”
Chú thích: chúng ta từ sự hòa trộn của chuyết hỏa và minh điểm mà lần lượt mở ra mật luân, tề luân, tâm luân, hầu luân, mi tâm luân, đỉnh luân, kế luân. Mỗi lần mở ra một luân xa thì tiến lên hai phần (tức là Bồ Tát nhị địa). Cũng tức là thanh tịnh được hai phần. Đến khi luân xa thứ năm mở ra hết thì chính là Bồ Tát thập địa (Pháp vân địa). 
Hiển tông cho rằng trên địa thứ mười là Phật.
Mật giáo cho rằng địa thứ mười ba mới là Phật. (Điều này cần phải thảo luận.)

Người hỏi:
”Pháp Song thân của Mật giáo có ý nghĩa gì?”
Tôi đáp:
”Chuyển hóa song thân thành tu hành mà thôi!”
Hỏi:
”Song thân như thế nào?”
Đáp:
”Quán tưởng, thủ ấn, trì chú đều có. Hành giả nam có kham năng [người có năng lực tu hành rất cao], có vô lậu, và trí huệ tứ hỷ tứ không.” 
Hỏi:
”Tác dụng ra sao?”
Đáp:
”Khí, mạch đều thông, ba mạch bảy luân xa mở ra, sản sinh ánh sáng.”
Chú thích: pháp này là pháp cực kì bí mật, chỉ vị thầy có đủ chứng lượng mới có đủ tư cách, nếu làm bậy sẽ đọa địa ngục kim cang.
Trong vạn người cũng chẳng có được một người. 


### 22. Dạy về đốn ngộ


Chúng ta đã lĩnh ngộ được khổ, không, vô thường, vô ngã.
Đã sinh ra cảm giác như mộng như huyễn đối với thế giới con người, nếu bạn có thể từ trong cái như mộng như huyễn đó tỉnh ra thì đây gọi là đốn ngộ. 
Đốn là ngay lập tức.
Ngộ là tỉnh ra.

🌟

Bạn đã hiểu rồi, bạn đã rõ ràng rồi.
Có mấy câu nói rất quan trọng.
Vô sở trụ. [Không trụ vào đâu. Khắp không gian thời gian, không hạn chế ở một chỗ nhất định.]
Vô sở đắc. [Không có đối tượng chứng đắc.]
Vô hà hữu. [Không có gì.]
Vô sở vị. [Không có gì đáng nói, không quan tâm tới.]
Vô khủng bố. [Không sợ hãi.]
Vô điên đảo. [Không hoang đường mơ hồ.]

Đặc biệt là vô sở trụ và vô sở đắc. 
Mặc dù chúng ta ở trong nhân giới, nhưng nhân giới là một thành phố biến hóa, thành phố biến hóa tức là được biến hóa ra. Hoàn toàn không có tính chân thực.
Thành phố biến hóa này trong tỉ tỉ năm đã trải qua thành, trụ, hoại, không, cuối cùng là chẳng còn nữa.

Và mỗi con người, trong nhân giới, sống được trăm năm, cuối cùng là quy về không.
Thành phố biến hóa trống không trống rỗng.
Con người cũng trống không trống rỗng.
Đây chính là vô sở trụ. Nhân giới là không, con người là không, tâm niệm đương nhiên là không.
Cái này tức là hiển hóa trong mơ. 

Kinh Kim Cang nói: ”Như sương như điện.”
Đặc biệt là suy nghĩ của con người chúng ta: “Biến hóa vô thường.”
Đương nhiên là vô sở trụ.

🌟

Chúng ta lại nói về vô sở đắc. 
Tôi nói:
”Chúng ta sống đến nhân gian này, chẳng hề có dự định sống trở về.”
Tiền không mang đi được.
Sắc không mang đi được.
Danh không mang đi được.
v.v… Một chút xíu bạn cũng không mang đi được.
Ha! Ha! Ha!
Hi! Hi! Hi!
Tất cả bình đẳng bình đẳng. (Ngay cả bình đẳng cũng không có.)
Vô sở đắc là tất nhiên thôi.

Trong kinh Kim Cang, bốn câu kệ trọng yếu là:
Vô ngã tướng — thân không.
Vô nhân tướng — tâm không.
Vô chúng sinh tướng — pháp không.
Vô thọ giả tướng — tính không.
(Đây là chân đế.)

🌟

Khi bạn đã lĩnh hội được những chân lý này, bạn sẽ tỉnh ra, tỉnh ra thì bạn sẽ khai ngộ. 
Vốn dĩ thanh tịnh.
Không sinh không diệt.
Không được không mất.
Như như bất động.
Tâm sinh vạn pháp.
Như vậy có hiểu không? Nếu hiểu rồi, bạn nói cho người khác, để người khác cũng hiểu (bồ đề tâm), sau đó thực tiễn những điều đó ở chính mình, chính là tu hành. Đây chính là thường, lạc, ngã, tịnh.


### 23. Đạo ca của Thượng sư Rwa Lotsawa Dorje Drag


Tôi đọc cuốn “Ánh sáng đại uy đức”. 
Trong đó có bài đạo ca của Thượng sư Rwa Lotsawa Dorje Drag, tôi phát hiện ra trong đó chính là thứ tự tu hành. 
Văn tự của ngài rất phổ thông, ngắn gọn rõ ràng. 
Trích ra như sau:

*Đệ tử hữu duyên đang ngồi đó
Nếu như một lòng muốn học pháp
Người có hành vi hợp với pháp
Phải ghi nhớ lời ta nói đây.
Tu pháp căn bản có hai điều
Một là trừ bỏ nhân bất lợi
Hai là phát huy nhân có lợi
Nói ra cụ thể như thế này.*
*Yêu ghét ganh đua cầu danh lợi
Nhân tố bất lợi nên bài trừ.
Từ bi ngoan đạo chán ngán đời
Nhân tố có lợi nên phát huy. 
Pháp nghĩa nếu không hợp với tâm
Miệng có nói hay cũng vô ích.*
*Ngồi thiền mặc dù công phu sâu
Vẫn không thoát khỏi cái bề ngoài.
Nếu khắc phục được tham sân si
Tuy rằng chưa học không hiểu biết
Cũng là đa tài thiện tri thức
Cũng là tu thiền công phu cao.
Mở đầu quán tưởng chết vô thường
Viết lời cầu nguyện tụng bách tự*
*Đây là tu phúc tu huệ pháp
Còn gọi đệ nhất tư lương đạo.
Dựa theo Tỳ Lô thất chi tọa
Ngẫm nghĩ nguyên do nhập xuất thế.
Đó là tiến nhập thẳng thiền môn
Còn gọi ngộ tiền Gia hành đạo.
Tự nhiên thả lỏng quán tự tâm, 
Sinh diệt động tĩnh tìm cẩn thận
Phát hiện pháp tính chân diện mục
Gọi là kiến tính nhập Kiến đạo.*
*Sinh thành đạo cùng Viên mãn đạo
Kết hợp chặt chẽ bồ đề tâm
Kích phát lạc-không đại trí huệ, 
Cái này gọi là tập Tu đạo.
Tu luyện đến cùng kết quả lớn
Nhập thế xuất thế chỗ giao chung
Quả vị vô sinh được chu toàn
Đến đây không phá cũng không ngộ.
Nên gọi Phật địa Vô tu đạo
Dựa theo như vậy mà tu tâm.*
*Hiểu bệnh nhập thế và xuất thế
Thấy rõ tự tâm hiểu tính không.
Tâm cảnh sáng ngời vui chan hòa
Thấy vạn vật đều là Thần Phật
Ảo tưởng đã tan như mây bay
Tự thân thành tựu đều viên mãn
Sự nghiệp lợi chúng đã viên thành.*

Trong bài đạo ca này có nhắc đến: 
Tư lương đạo.
Gia hành đạo.
Kiến đạo.
Tu đạo.
Cứu cánh đạo.
(Đây chính là thứ tự tu hành.)

Cá nhân tôi phân chia thứ tự này như sau:
Tư lương đạo — công đức bố thí, hành thiện.
Gia hành đạo — Đại lễ bái, Đại cúng dường, Tứ quy y, Tứ vô lượng tâm, Bách tự minh.
Kiến đạo — hiểu rõ ràng tính Không.
Tu đạo — thực tiễn vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả.
Cứu cánh đạo — vô tu đại viên mãn.

Tôi nói:
Pháp Đại Thủ Ấn của Mật giáo có bốn thứ tự:
Chuyên nhất — gồm Tư lương đạo, Gia hành đạo.
Ly hý — gồm Kiến đạo.
Nhất vị — Tu đạo.
Vô tu — Cứu cánh đạo.

Thượng sư Rwa Lotsawa Dorje Drag phân chia như thế này:
Tư lương đạo — tụng bách tự minh chú, tu phúc tu huệ.
Gia hành đạo — chính thiền định, chính tư duy.
Kiến đạo — pháp tính chân diện mục.
Tu đạo — kết hợp Thứ tự sinh khởi, Thứ tự viên mãn, kết hợp lạc-không, bồ đề tâm.
Cứu cánh đạo — không phá không ngộ không tu.

Những cách viết này nhìn thì có hơi khác nhau, nhưng thật ra cũng là giống nhau!
Chúc những hành giả trong thiên hạ đều có thể từ đây mà đạt được lợi ích, người thọ trì có được thành tựu lớn.
Nếu có thể thực hành thì chắc chắn sẽ đại thành tựu!


### 24. Quan sát và lập đoạn


Muốn thực tu đốn ngộ, tôi dạy một pháp, phương pháp này chính là: Lập tức đoạn trừ. 
Chúng ta tu hành không phải là lý luận, không phải là nói miệng. Mà là thực tu. 
Thực tu cái gì?
Vô ngã tướng.
Vô nhân tướng.
Vô chúng sinh tướng.
Vô thọ giả tướng.
Tu như thế nào?
Tôi nói: “Đầu tiên phải học quan sát.”

Quan sát là quan trọng số một, không quan sát thì không thể thành lập được cái gì cả, vì thế quan sát là số một.
Quan sát bản thân, chứ không phải quan sát người khác, quan sát tâm niệm của chính mình.
Quan sát tức là phản tỉnh. (Một ngày ba lần tự kiểm điểm bản thân.)
Không chỉ là ba lần tự kiểm điểm, mà là từng phút từng giây đều kiểm điểm những lỗi lầm của bản thân.

Tâm niệm của chúng ta như thác nước.
Tâm niệm của chúng ta như dòng chảy xiết.
Tâm niệm của chúng ta như sóng biển.
Tâm niệm của chúng ta như dòng chảy ngầm.
Chúng ta huấn luyện tâm niệm của chính mình phải đạt đến sự bình tịnh, nhẹ nhàng, không dao động, tĩnh lặng, bất động.
Giống như nước sâu lặng như mặt gương.
Cái này dựa vào cái gì?
Đáp án là quan sát.
Chúng ta ở trong sự quan sát sẽ phát hiện ra tâm niệm có chính có phụ, có thiện có ác, có đúng có sai, có đen có trắng, có như pháp có không như pháp. (Rối rắm phức tạp.)

Chúng ta phải lập tức đoạn trừ mặt xấu, lập tức đoạn trừ cái ác, lập tức đoạn trừ cái đen, lập tức đoạn trừ cái sai, lập tức đoạn trừ cái không như pháp.
Ví dụ:
Bạn không thích người này, bạn nguyền rủa họ chết đi. 
Bạn nghĩ đến chuyện muốn trộm tiền của người ta, nghĩ đến chuyện cướp tiền. 
Bạn thích một cô gái, bạn tưởng tượng cô ấy là bạn tình của bạn. 
Bạn lừa người khác. 
Bạn chửi thầm người khác trong lòng.
Bạn quá nhiều tính toán ngông cuồng.
Những gì bạn muốn đều phạm vào giới luật.
…………….
Những việc này đều phải lập đoạn.

Làm một hành giả, khi nghĩ đến những suy nghĩ không như pháp, lập tức phải thấy được chúng, để lập tức đoạn trừ chúng.
”Pây!”
”Pây!”
”Pây!”
Chú ngữ ”Pây!” của Mật giáo này có ý nghĩa đoạn trừ ở trong đó.
Lập đoạn chính là chỉ. [dừng]
Dừng hết mọi ý nghĩ không đứng đắn.
Đoạn trừ mặt xấu, suy nghĩ ác, suy nghĩ sai, suy nghĩ đen tối, suy nghĩ không như pháp.

Khi bạn học được lập đoạn rồi thì đây chính là tu hành, đây cũng là thực tiễn. 
Rất nhiều người hỏi tôi tu như thế nào? Là tu cho đúng những hành vi của mình phải không? 
Tôi nói tu cho đúng những hành vi của mình là chính xác rồi. Nhưng hành vi đến từ tâm niệm của bản thân, tu tâm niệm đúng rồi thì hành vi tự nhiên sẽ đúng.
Lập đoạn là số một.


### 25. Chuyển thức thành trí


Chúng ta thường nghe đến danh từ của Phật giáo: “Chuyển thức thành trí.” 
Như Lai có năm loại trí huệ (ngũ trí):

(1) Pháp giới thể tính trí

Là chuyển amala thức mà thành. 
Pháp giới thể tính tức là lục đại. 
Đại Nhật Như Lai là tam muội của lục đại pháp giới.
Cũng tức là đức hạnh phương tiện và cứu cánh.

(2) Đại viên kính trí

Là alaya thức chuyển thành trí huệ đại viên kính. 
Vạn tướng của pháp giới.
Giống như một tấm gương tròn lớn.
A Súc Như Lai làm chủ đức hạnh phát bồ đề tâm.

(3) Bình đẳng tính trí

Chuyển manas thức mà có được. 
Là trí huệ biết rằng mọi pháp có tác dụng bình đẳng.
Bảo Sinh Như Lai làm chủ công đức tu hành.

(4) Diệu quan sát trí

Là chuyển ý thức mà có được.
Các pháp phân biệt được cái tốt cái hay, từ đó quan sát cơ duyên của chúng sinh.
Trí huệ thuyết pháp lập đoạn.
Là A Di Đà Như Lai làm chủ công đức bồ đề tâm.

(5) Thành sở tác trí

Chuyển năm thức mắt, tai, mũi, lưỡi, thân mà có được trí huệ này.
Trí huệ thành tựu các nghiệp tốt tự lợi lợi tha.
Là Bất Không Thành Tựu Như Lai làm chủ công đức nhập niết bàn.

(Ngũ trí nói đến ở trên, mọi vị Phật đều có đầy đủ.)

Cá nhân tôi cảm thấy, phương pháp tu hành lấy diệu quan sát làm điểm khởi đầu. 
Quan sát là quan sát tâm niệm chính mình.
Tâm niệm là mặt tiêu cực thì phải lập đoạn.
Tâm niệm là mặt tích cực thì phải tăng trưởng.
Đây chính là tu hành.

Tôi cho rằng tội ác lớn nhất là sát sinh. (Được liệt kê đầu tiên trong ngũ giới.)
Ví dụ: 
Khi mối thù hận của bạn, thù hận là một tâm niệm tiêu cực, bạn không lập tức đoạn trừ mà cứ tiếp tục tăng trưởng cái cảm xúc tiêu cực này, đến một ngày, bạn không kiềm chế được nữa, thì cảm xúc sẽ bộc phát, bạn có thể sẽ ra tay, thế là phạm tội giết người. 
Còn đối với tự sát cũng như vậy. Nó là kết quả của sự tích lũy tình cảm tiêu cực.
Bạn tự thấy mình bị sỉ nhục.
Bạn tự thấy mình bị bắt nạt.
Bạn tự thấy mình cái gì cũng sai.
Bạn tự thấy mình đã tới bước đường cùng.
Một cá nhân tự nhốt bản thân, đi ra xung quanh đâu đâu cũng vấp phải tường, buồn bực lo lắng mà không có cách nào tự kéo mình ra được. Thế là có thể sẽ đi trên con đường tự sát.

Cho nên một hành giả nhất định phải học được diệu quan sát, biết được đó là những tâm niệm tình cảm tiêu cực, phải lập tức lập đoạn ngay. Lập tức phải chuyển đổi. Chuyển thành tích cực. 
Phương pháp thay đổi vận mệnh thật sự cần diệu quan sát, cần chuyển đổi, biến tiêu cực thành tích cực.

Tôi thường nói:
”Tất cả đều là sự an bài hoàn mỹ!”
Ta bị sỉ nhục thì học nhẫn nhục.
Ta bị bắt nạt thì chuyển thành tinh tấn.
Ta bị chỉ trích cái gì cũng sai thì ta sẽ đột phá.
Ta đi đến bước đường cùng, núi không chuyển thì đường phải chuyển. 

Bạn phải tích lũy năng lượng tích cực. Nếu có năng lượng tiêu cực phải lập đoạn. 
Bạn chắc chắn có thể cải biến vận mệnh!
”Chuyển thức thành trí.”
Rất quan trọng đó!


### 26. Lập đoạn của Mật giáo


Mật giáo có pháp môn lập đoạn không?
Tôi nói có.
Nghe nói, tổ sư Đạt Ma - vị tổ đời thứ 28 của Thiền tông ở Tây Trúc, đã đến Trung Thổ hoằng pháp, trở thành vị tổ đầu tiên ở Trung Thổ. 
Tổ sư Đạt Ma truyền pháp môn đốn ngộ. 
Giáo ngoại biệt truyền.
Bất lập văn tự.
Trực chỉ nhân tâm.
Đốn ngộ thành Phật.
Tổ sư Đạt Ma khi hết duyên với Trung Thổ thì đã trở về Tây Trúc, rồi lại đi Tây Tạng. Ở Tây Tạng, tên gọi của ngài là Dampa Sangye. Ngài đã gặp Milarepa. Ngài truyền thụ pháp thí thân cho nữ đệ tử của mình là Machig Labdrön. Rồi Machig Labdrön đã sáng lập ra phái Giác Vũ. 

Pháp thí thân đại ý như sau:
Hành giả nằm xuống.
Quán tưởng thân thể mình biến thành to lớn như núi Tu Di. 
Và hóa thân của Machig Labdrön là Hắc Phẫn Nộ Mẫu, một tay cầm rìu, một tay cầm kapala (sọ người), nách kẹp trượng ba xiên, bay đến trước mặt hành giả.
Đầu tiên là ngài chặt đầu hành giả.
Tiếp theo chặt hai tay hai chân.
Lấy ba xương sườn trên người hành giả dựng thành giá để treo cái sọ người rất to lên, rồi bỏ đầu của hành giả vào trong đó. 
Rồi bỏ hai chân hai tay vào trong đó.
Rồi bỏ thân người vào trong đó.
Thế rồi, ở bên dưới ba cái xương sườn, nhóm lên ngọn lửa cháy hừng hực, ngọn lửa này nấu chín chính mình thành nát nhừ như cháo. 
Cuối cùng, cúng dường chính mình cho tứ Thánh, cúng dường chính mình cho lục đạo chúng sinh. 
Bên trong cái sọ người, thân thể chính mình đã hóa thành cam lộ. 
Trên dâng cúng, dưới bố thí. 
(Đây chính là đại ý của pháp thí thân.)

Ý nghĩa quan trọng của pháp thí thân như sau:
1. Lập đoạn đoạn trừ phiền não, bám chấp, tập tính của chính mình, hóa chính mình thành cam lộ.
2. Cúng dường. (Cúng dường mười pháp giới.)
3. Hy sinh bản thân, ngay cả thân thể của bản thân cũng bố thí hết.
4. Luyện tập vô ngã.
5. Hợp nhất với trời đất vũ trụ.

Cá nhân tôi cảm thấy tu pháp thí thân chính là pháp đoạn của Mật giáo.
Tâm sân hận được tịnh hóa.
Tâm vô minh được tịnh hóa.
Tâm keo kiệt được tịnh hóa.
Tâm ích kỷ được tịnh hóa.
Tâm tham dục được tịnh hóa.
Tâm đố kỵ được tịnh hóa.

Bởi vì có thể đạt được sự cảm nhận chí cao vô thượng về ngã không, pháp không, nên sản sinh ra tinh thần không hề sợ hãi.
Lấy thân mình cúng dường cho tứ Thánh lục phàm thập pháp giới chính là kết duyên với chúng sinh, mình và người đều được hưởng lợi, bất kể làm gì đều có được niềm vui.
Pháp tính trí huệ khai triển.
Vô minh hư huyễn tiêu tan.
Uy lực vô cùng chí đại.
Không tính thành tựu viên mãn.


### 27. Vô ngã của Jesus Christ


Lúc nhỏ tôi tín ngưỡng Cơ Đốc giáo. 
Tôi sống ở Cao Hùng, trưởng thành tại giáo hội Trưởng Lão Tân Hưng ở Cao Hùng. 
Chủ nhật hàng tuần, tôi tham gia lớp học ngày chủ nhật. Sau đó, tôi tốt nghiệp trường hàm thụ Kinh Thánh Vạn Quốc. Rồi tôi lại tốt nghiệp trường hàm thụ Kinh Thánh Thời Triệu. 

Tôi là một tín đồ Cơ Đốc đã được rửa tội, tham gia vào đội hát Thánh ca của giáo hội, làm thầy giáo lớp học ngày Chủ Nhật, làm thầy giáo lớp tra Kinh Thánh.
(Mục sư Tô Thiên Minh đã rửa tội cho tôi.)
Quãng thời gian này là lúc tôi đang học trung học. 
Trưởng lão Ngô Tân Đức là người phụ trách giáo hội, tôi trưởng thành dưới sự dẫn dắt của ngài.
(Ngài ấy là một trưởng lão rất tận tụy.)

Khi tôi học đại học, trường học ở Đài Trung, tôi mới rời khỏi giáo hội Cơ Đốc Trưởng Lão Tân Hưng. 
Vì thế, cho đến ngày hôm nay, tôi vẫn nhận định Jesus Christ là Guru (thầy) của tôi.
Tôi nói:
Jesus là hành giả vô ngã.
Tôi lấy vài ví dụ để giải thích rõ:
Jesus nói:
”Việc thiện mà tay trái làm, đừng để cho tay phải biết.”
Đây chính là “tam luân thể không” của Phật giáo. 
Không có người làm.
Không có người nhận.
Không có vật được cho nhận.
Jesus muốn nói rằng, con người chúng ta làm việc thiện, không muốn người khác biết, ngay cả chính mình cũng quên luôn. Đó mới là cái thiện chân chính. 

Jesus nói:
”Người ta lấy áo ngoài của bạn, bạn cho họ luôn áo trong.”
Đây là bình đẳng.
Đây là lợi tha.
Đây là chỉ nghĩ cho người khác, không nghĩ cho bản thân. Đây chính là tinh thần của Bồ Tát.
Jesus từng rửa chân cho đệ tử của mình. Tức là đệ tử ngồi đó, Jesus quỳ xuống, cứ thế rửa chân cho đệ tử của mình. Đây là một sự việc khiến người ta rất cảm động.
Ngài là Thần.
Môn đồ là phàm phu.
Thần rửa chân cho phàm phu.
Đây là: coi mình cũng là bình thường.
Tinh thần vô ngã!

Hành động vĩ đại nhất của Jesus là bị đóng đinh trên thập tự giá, thay thế nhân rửa sạch nguồn gốc tội lỗi. 
Lời cầu nguyện sau cùng của Jesus là:
”Thượng đế ơi! Xin hãy miễn tội cho họ, bởi vì những gì họ làm, họ không hề biết.”
Câu nói này khiến tôi cảm động nhất!
Ngài ấy bị đóng đinh trên thập tự giá.
Ngài tha thứ cho người đóng đinh ngài.
Tinh thần khoan dung độ lượng này chính là vô ngã.
(Tất cả không vì cái tôi.)
Sự phát huy lớn nhất của tinh thần vô ngã.

Jesus thường nói:
”Hãy yêu kẻ thù của bạn!”
Trong Phật giáo mà nói, đây là bình đẳng tính trí, cũng là đại viên kính trí. Yêu người khác hơn yêu chính mình lại càng quan trọng hơn.
Đây chính là điều vĩ đại nhất của Jesus. 
Jesus còn có rất nhiều rất nhiều điều vĩ đại nữa, có kể ra cũng không hết, vì thế, Jesus là Guru của tôi.


### 28. Vô ngã của Thánh Teresa


Phật Đà từng nói:
”Chúng thiện phụng hành.” [Hãy làm mọi điều thiện.]
Tín đồ Phật giáo phải làm được:
Từ — cho người khác niềm vui.
Bi — giải quyết đau khổ của người khác.
Hỷ — làm một cách vui vẻ. (Ca ngợi làm việc thiện.)
Xả — yêu hay ghét đều bình đẳng bố thí.

Điều này trong kinh điển nói như thế này:
Từ vô lượng — tâm có thể cho đi niềm vui.
Bi vô lượng — tâm có thể loại bỏ cái khổ.
Hỷ vô lượng — thấy người khác thoát khổ được vui thì sinh tâm vui mừng cho họ.
Xả vô lượng — ba điều kể trên, làm mà không giữ ở trong lòng, và oan thân bình đẳng.

Nói đến hai chữ bình đẳng, Ngũ Đăng Hội Nguyên viết:
Trời bình đẳng, vì vậy thường che phủ.
Đất bình đẳng, vì vậy thường nâng đỡ.
Nhật nguyệt bình đẳng, vì vậy bốn mùa thường chiếu sáng.
Niết bàn bình đẳng, vì vậy Thánh-phàm không khác. 
Nhân tâm bình đẳng, vì vậy không tranh cao thấp.

Trong chương văn này, tôi đặc biệt nhấn mạnh “yêu hay ghét đều bình đẳng bố thí tức oan thân bình đẳng xả.” 
Tôi nói:
”Vô ngã bình đẳng, vì vậy người người là Phật.”
Tôi lấy một ví dụ:
Vị nữ tu Thiên Chúa giáo người Ấn Độ được phong Thánh, vì vậy gọi là Thánh Teresa. Một đời làm việc nghĩa của ngài khiến tôi khởi tâm cung kính. 
Ngài nói:
”Tôi xem mỗi con người đều là Thượng đế, từ đó tôi đi phục vụ họ.”
Câu nói này khiến tôi hết sức tôn sùng.
Thánh Teresa xem mỗi con người đều là Thượng đế, đây là tinh thần gì?
Tôi cho rằng đây chính là oan thân bình đẳng xả. 
Là vô ngã.
Vô ngã mới có thể làm được oan thân bình đẳng.
Đây là việc mà người có ngã kiến không thể nào làm được.

Người bình thường là:
Kẻ thù.
Người yêu.
Phân biệt rất rõ ràng rành rọt.
Nhưng Thánh Teresa mà chúng ta thấy cả một đời làm việc nghĩa, coi mỗi con người là Thượng đế để phục vụ, điều này trong Phật giáo mà nói thì đã là Bồ Tát địa thứ tám rồi.
Bồ Tát địa thứ tám là:
Chứng chân như bình đẳng tịch diệt.
Có thể trong chốc lát ở khắp thập phương thế giới, thị hiện đủ loại giáo hóa, làm đủ loại Phật sự. 
Đó là pháp thân bình đẳng.
Đây cũng là sự thị hiện của vô ngã cứu cánh.

Thánh Teresa hoàn toàn không có quan niệm giai cấp, xem mỗi con người là Thượng đế, đây chính là tâm xả vô lượng, xả có ý nghĩa vô ngã ở trong đó.
Thánh Teresa nói:
”Thiên đường là nơi chúng sinh hướng về, nhưng tôi sẽ không ở đó. Tôi sẽ vĩnh viễn ở nơi đen tối, tôi là đầy tớ của chúng sinh, tôi vĩnh viễn phục vụ chúng sinh.”
Câu nói này khiến tôi nghĩ đến Địa Tạng Vương Bồ Tát.

Địa Tạng Vương Bồ Tát nói:
”Địa ngục chưa trống, thề không thành Phật.”
Thánh Teresa nói:
”Không đến thiên đường, mãi ở nơi tối tăm.”
Đây là không nghĩ về bản thân, chỉ nghĩ về chúng sinh.
Đây là tinh thần vô ngã.
Đây là điều có giá trị nhất, đáng khâm phục nhất.


### 29. Hỏi đáp về vô ngã cứu cánh


Hỏi:
”Tâm trụ như thế nào?”
Đáp:
”Vô trụ.”
Hỏi:
”Làm sao hàng phục tâm ấy?”
Đáp:
”Vô tâm.”
Hỏi:
”Suy nghĩ độ chúng sinh có đúng không?”
Đáp:
”Thực không có chúng sinh nào có thể độ.”
Hỏi:
”Vì sao không có chúng sinh nào có thể độ?”
Đáp:
”Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng.”
Hỏi:
”Có Phật pháp không?”
Đáp:
”Thực không có pháp.”
Hỏi:
”Thật khiến người ta kinh ngạc, vì sao không có Phật pháp?”
Đáp:
”Bởi vì không có Phật pháp cho nên không có pháp đắc được, không đắc mới là Phật pháp.”
Hỏi:
”Không hiểu?”
Đáp:
”Mọi pháp tức không phải mọi pháp, gọi là mọi pháp.”
Hỏi:
”Có danh hiệu Bồ Tát không?”
Đáp:
”Không có.”
Hỏi:
”Vì sao không có?”
Đáp:
”Bồ Tát chính là vì không phải Bồ Tát mới là Bồ Tát.”
Hỏi:
”Ta làm cõi Phật trang nghiêm, có thể không?”
Đáp:
”Người làm cõi Phật trang nghiêm tức không trang nghiêm thì gọi là trang nghiêm.”
Hỏi:
”Lư Sư Tôn là người thông đạt pháp vô ngã phải không?”
Đáp:
”Căn bản không có Lư Sư Tôn.”
Hỏi:
”Sao lại nói như vậy?”
Đáp:
”Bởi vì không có Lư Sư Tôn mới là người thông đạt pháp vô ngã.”
Hỏi:
”Vô ngã mới là thành tựu tột cùng, vì sao?”
Đáp:
”Hoàn toàn thanh tịnh, hoàn toàn vô nhiễm, hoàn toàn vô cấu, hoàn toàn nhậm vận, hoàn toàn viên mãn.”
Hỏi:
”Vì sao thanh tịnh? Vì sao viên mãn?”
Đáp:
”Quá khứ đã qua rồi, hiện tại cũng sẽ thành quá khứ, tương lai còn chưa đến.”
Hỏi:
”Đây là cái gì?”
Đáp:
”Không.”
Tôi (Lư Sư Tôn) nói với mọi người, không có Lư Sư Tôn, cũng không có đại chúng.
Đây là yếu nghĩa của thành tựu cứu cánh.


### 30. Một dải cầu vồng nơi chân trời


“Như mộng như huyễn” là ngộ cảnh của tôi.
”Tôi là một dải cầu vồng” cũng là ngộ cảnh của tôi.
Năm ấy, Thượng sư Liên Bảo lái xe lao băng băng trên đường cao tốc số 90, chúng tôi ngồi trong xe. Bỗng nhiên, mọi người chúng tôi nhìn thấy một dải cầu vồng rất lớn vắt ngang chân trời, dải cầu vồng này thật sự rất lớn, màu sắc rực rỡ bất khả tư nghì!
Đứng sừng sững.
Sáng rực rỡ.
Rất đẹp đẽ.
Từ một điểm trên mặt đất vươn vào hư không.
Tôi nói:
”Đuổi theo! Đuổi đến nơi cầu vồng đi lên.”
Thế là, chúng tôi đuổi đến nơi cầu vồng đi lên, đó là lối ra số 34 trên đường cao tốc 90, nơi đó gọi là Na Tư Cấp, xung quanh bốn phía đều là núi. 

Đến được địa điểm này, đó là một mảnh đất trống.
Có một chuồng ngựa nhỏ. 
Có mấy con ngựa đang thong dong gặm cỏ. 
Tôi nói:
”Mua mảnh đất này đi!”

Mảnh đất đó rộng 40 mẫu Anh [1 mẫu Anh bằng 4046 mét vuông], 32 mẫu là núi, trên núi toàn là cây thông rất to lớn. 
Cuối cùng tôi đã mua mảnh đất này.
Đó chính là Biệt thự Cầu Vồng sau này, cũng là Cầu Vồng Lôi Tạng Tự ngày nay.
Hiện tại bao gồm:
Đại điện chính, điện Hộ pháp.
Năm gian phòng nhỏ dành cho việc bế quan.
Hai hồ sen.
Điện Hộ Ma.
Song Liên Cảnh Giới (linh cốt tháp).
Năm tháp xá lợi. 
(Hộ Ma bảo điện là nơi sử dụng nhiều nhất.)
Đây chính là nguồn gốc của Biệt thự Cầu Vồng (Cầu Vồng Lôi Tạng Tự). 

Vì sao tôi lĩnh ngộ được rằng tôi là một dải cầu vồng?
Bởi vì tôi biết như thực như hư, thực chính là hư, hư chính là thực.
Cầu vồng đương nhiên có thật, nhưng, cầu vồng đương nhiên cũng là hư vô.
Nó vì duyên mà sinh, vì duyên mà diệt.
Nó rất đẹp, nhưng cũng có lúc rất mờ nhạt.
Có khi là cầu vồng đơn.
Có khi là cầu vồng đôi.
Nói nó như mộng cũng như huyễn, nói nó là bong bóng ảo ảnh, cũng nói nó là ánh điện lửa đá, cũng nói nó như sương như điện.

Bây giờ tôi càng hiểu rõ hơn:
Tôi là một dải cầu vồng.
Không có Lư Thắng Ngạn!
Không có Chân Phật Tông!
Không có đệ tử Chân Phật Tông!
Không có việc viết sách, không có việc thuyết pháp, không có…
Chỉ là nhất thời xuất hiện.
Rồi nhất thời tiêu biến.
Nguồn gốc thật sự của tôi chính là không.
Tôi thật sự vui mừng, tôi thật sự vô cấu, tôi thật sự phát quang, tôi thật sự hiển hiện, tôi thật sự bất động, tôi thật sự đa sắc thái phong phú…
Nhưng, tôi biết tôi là không!


### 31. 16 phép quán tưởng


Phần Chính hành trong tu hành Mật giáo là:
Quán tưởng. (kết ấn)
Trì chú.
Nhập tam ma địa.
Trong đó, quán tưởng tượng trưng cho ý thanh tịnh.
Kết ấn tượng trưng cho thân thanh tịnh.
Trì chú tượng trưng cho khẩu thanh tịnh.
Nhập tam ma địa chính là không.
Mật giáo dựa vào quán tưởng, kết ấn, trì chú, nhập tam ma địa để thanh tịnh thân, khẩu, ý, sau đó chứng đắc tính Không.

Tôi chỉ ra:
Quán tưởng chính là nhập môn quan trọng, bởi vì quán tưởng biến những suy nghĩ của con người chúng ta thành:
1. Chuyên nhất.
2. Đơn thuần.
3. Trong sạch.
4. Tỉ mỉ.
Cho nên, quán tưởng là phương pháp tốt nhất để thu tất cả suy nghĩ về thành một suy nghĩ (nhất niệm). 
Tôi nói:
Suy nghĩ (tạp niệm) của con người thế tục chúng ra bay lả tả, có thể thu những tạp niệm về thành một chính là nhờ quán tưởng.

Phật Thích Ca Mâu Ni dạy cho phu nhân Vaidehi tổng cộng 16 phép quán. Bởi vì phu nhân Vaidehi có ý nguyện sinh về Tây phương Cực Lạc thế giới, cho nên Phật Đà vì bà mà giảng 16 phép quán, điều này nói đến trong kinh Quán Vô Lượng Thọ, vô cùng quan trọng.
16 phép quán như sau:
1. Quán tưởng mặt trời.
2. Quán tưởng nước.
3. Quán tưởng đất. 
4. Quán tưởng cây quý.
5. Quán tưởng hồ nước bát công đức.
6. Quán tưởng chung.
7. Quán tưởng tòa sen.
8. Quán tưởng hình tượng.
9. Quán tưởng thân tướng thật của Phật.
10. Quán tưởng Quan Thế Âm.
11. Quán tưởng Đại Thế Chí.
12. Quán tưởng rộng khắp.
13. Quán tưởng xen lẫn.
14. Quán tưởng thượng phẩm thượng sinh.
15. Quán tưởng trung phẩm trung sinh.
16. Quán tưởng hạ phẩm hạ sinh.

Tôi cảm thấy là Phật Thích Ca Mâu Ni nói 16 phép quán tưởng Cực Lạc tịnh thổ để yêu cầu phu nhân Vaidehi tu, đương nhiên Phật Đà đã miêu tả rất rõ nét và đầy đủ về Tây phương tịnh thổ rồi. Nhưng tôi vẫn cảm thấy hơi phức tạp.
Nếu là tôi, nhiều nhất thì tôi cũng chỉ quán tưởng Tây phương Tam Thánh, cũng tức là quán tưởng A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát. Hoặc chỉ quán tưởng A Di Đà Phật cũng được. 
Tôi biến rườm rà thành đơn giản.
Biến nhiều thành một.
Chỉ cần A Di Đà Phật hiện tiền.
Hoặc tự mình hóa thành Bổn tôn.
Thì có gì phải lo không thể đến được Tây phương Cực Lạc tịnh thổ chứ? Đó là cách nghĩ của tôi.

Bởi vì 16 phép quán, muốn quán tưởng lần lượt từng cái cho thật rõ ràng, cũng không phải là một việc dễ dàng.
Bản địa của tôi, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chính là A Di Đà Phật, tôi chính là đồng tử hóa sinh của A Di Đà Phật.
Chỉ cần một suy nghĩ là tôi đã đến Tây phương Cực Lạc thế giới tịnh thổ rồi!


### 32. Tâm pháp tu trì khai ngộ (1)


Muốn đạt đến giải thoát lục đạo luân hồi, tôi thuật lại những tâm pháp như sau. 

Phải ghi nhớ giới luật:
Không sát sinh.
Không trộm cắp.
Không tà dâm.
Không vọng ngữ.
Không uống rượu.

Dùng diệu pháp quan sát, chú ý tâm niệm của chính mình, chú ý hành vi của chính mình.
Bởi vì nếu đã phạm vào ngũ giới thì có nhân ắt có quả, không cách nào giải thoát luân hồi, nhân duyên quả báo, vĩnh viễn ở trong luân hồi.
Quan sát là tâm pháp rất quan trọng. 
Loại bỏ mặt tiêu cực.
Tăng trưởng mặt tích cực.
Đây chính là tu trì.

Chúng ta vận dụng sức mạnh của quan sát để tu cho đúng tâm niệm và hành vi của bản thân.
Đến khi vô cùng ổn định vững chắc rồi thì sẽ tiến nhập vào định. 
Định chính là bất động.
Định chính là kiên cố.
Chính định của Phật giáo vô cùng quan trọng.
Từ xưa đến nay, hành giả đại tu hành từ chính định tiến nhập giác ngộ, hoàn toàn dựa vào chính định.
Nói thẳng ra:
Thiền định mà cổ nhân nói đến đã bị con người hiện tại giảng giải thành trầm tư hoặc suy tưởng. 
Trầm tư chính là quan sát.
Suy tưởng cũng là quan sát.
Quan sát là quan sát tâm niệm và hành vi của chính mình, nhờ diệu pháp này mà đạt đến sự chuyên nhất.
Từ chuyên nhất đạt đến vô niệm.
Vô niệm chính là chính giác rồi.
Nếu tu đến vô niệm thì có thể giải thoát luân hồi.

Phật Đà nói:
Vô ngã tướng.
Vô nhân tướng.
Vô chúng sinh tướng.
Vô thọ giả tướng. 
(Vô niệm là chí yếu.)

Trong Chân Phật Kinh nói: “Lấy vô niệm làm chính giác Phật bảo.” 
Đạo lý này rất rõ ràng!
Có diệu quan sát rồi, tự nhiên mọi việc ác sẽ không làm, sẽ làm mọi việc thiện.
Những tâm pháp tu trì này chính là bát nhã, bát nhã cũng chính là trí huệ của Như Lai.
Cho nên:
Giới.
Định. 
Huệ.
Phật Đà cho rằng đây là tam vô lậu học. Tam vô lậu học này là từ diệu quan sát mà ra. Giới, định, huệ, không phải là những đơn nguyên độc lập. Cái gọi là từ giới sinh định, từ định sinh huệ, cũng có thể từ huệ sinh giới, từ huệ sinh định. 
Phương pháp muốn tiêu trừ nghiệp chướng chính là vận dụng giới, định, huệ.
Nhưng, càng đòi hỏi diệu quan sát trí.

Cá nhân tôi cho rằng, tam vô lậu học rất quan trọng, và tam vô lậu học nhờ diệu quan sát trí mà đạt được.
Trầm tư.
Suy tưởng.
Tức là diệu quan sát.


### 33. Tâm pháp tu trì khai ngộ (2)


Chúng ta ngoài quan sát tâm niệm và hành vi ra, đồng thời cũng quan sát:

(1) Quán thân bất tịnh

Thân thể là tứ đại giả hợp, là vì duyên mà sinh ra. Là một vật tổ hợp tạm thời của đất, nước, lửa, gió.
Đất là xương thịt.
Nước là máu dịch.
Lửa là nhiệt độ.
Gió là không khí. [hơi thở]
Những cái này đều không sạch sẽ, ví dụ: đầu có gầu, mắt có gỉ mắt, mũi có gỉ mũi, tai có ráy tai, miệng có nước bọt, da có mùi cơ thể, trong người có phân và nước tiểu, v.v…
Máu dịch có mùi tanh hôi.
Lửa có khô nóng.
Khí không sạch.
(Đặc biệt là khi mất đi sức khỏe thì toàn thân đều có mùi hôi.)

(2) Quán thọ là khổ

Khổ sinh lão bệnh tử, yêu phải xa cách, ghét phải gặp mặt, cầu mà không được.
Ngoài ra còn có:
Khổ của dục vọng.
Khổ của ngũ uẩn.
Vui sướng luôn rất ngắn ngủi, đau khổ thì lại đặc biệt kéo dài.
Khổ của phiền não là vô tận không dừng.
Tôi cảm thấy khổ vì mắc bệnh là khổ nhất, nhất là sự đau khổ trước lúc chết, cái sự hành hạ ấy không phải là điều mà con người có thể chịu đựng được.

(3) Quán tâm vô thường

Lòng người sẽ thay đổi. (biến tâm)
Thân người sẽ thay đổi. (sinh bệnh)
Đi, đứng, ngồi, nằm, ăn, mặc, tất cả mọi thứ đều có hiện tượng vô thường.
Những tai họa bất ngờ thường xuyên xảy ra. (tai nạn máy bay, tai nạn trên biển, tai nạn xe cộ, họa của đất nước lửa gió)
Sinh mạng ở giữa từng hơi thở.
Trong phút chốc đã thay đổi, không thể dự đoán. Những cạm bẫy chết người ở ngay bên cạnh bạn.
Quốc gia là vô thường. (Nước mất.)
Gia đình là vô thường. (Nhà tan.)
Thân người là vô thường. (Người chết.)
Lòng người là vô thường. (Suy nghĩ sinh ra, suy nghĩ chết đi.)

(4) Quán pháp vô ngã:

Từ trong sự quan sát, chúng ta thấy được khổ, không, vô thường, vô ngã.
Chúng ta thường xuyên hỏi:
Ta là ai?
Ai là ta?
Ta từ đâu đến? (trước khi sinh ra)
Ta đi về đâu? (sau khi chết đi)
Từ trong sự quan sát mà biết được thân thể là một hợp tướng, do đất nước lửa gió tổ hợp mà thành. 
Khi phân tán ra thì không còn gì nữa.

Bánh xe khổng lồ của thời gian lăn qua thì bất kì thứ gì cũng đều biến mất.
Thân người.
Nhà cửa.
Xe cộ.
Hoàn cảnh.
Tài bảo.
Thân sắc.
Danh vọng.
Đều là một hợp tướng, không có tự tính. Vậy thì cái tôi chân chính nằm ở đâu?

Thế rồi, chúng ta tìm thấy cái tôi chân chính, đến cuối cùng, chúng ta mới biết, nhân gian này chỉ là một giấc mộng, những hiện tượng ở nhân gian này chỉ là một màn biến hóa.
Như mộng như huyễn.
Một dải cầu vồng.
Một trò chơi.
A! Cuối cùng bạn đã tỉnh rồi!


### 34. Tâm pháp tu trì khai ngộ (3)


Có người cho rằng:
Đã biết đời người như mộng như huyễn.
Đã biết sinh mạng là một dải cầu vồng.
Theo đuổi tiền bạc sớm muộn cũng không có gì, sắc đẹp sẽ biến thành già cỗi, danh tiếng địa vị sẽ không kéo dài.
Vì thế cuộc đời chắc chắn tiêu cực.

Thật ra cũng không nhất định sẽ như vậy. Xã hội vật chất, chúng ta đã nghĩ thông và xem nó không quan trọng, chúng ta chỉ tùy duyên đến, tùy duyên đi.
Cái gì phải đến sẽ đến.
Cái gì phải đi sẽ đi.
Không miễn cưỡng.
Không bám chấp.
Nhưng, chúng ta càng tích cực giải thoát luân hồi. (Thoát khổ được vui.)
Cũng càng tinh tấn tu trì, phải đạt đến:
Cái ác đã sinh, khiến nó đoạn diệt.
Cái ác chưa sinh, khiến nó không sinh.
Cái thiện chưa sinh, khiến nó sinh khởi.
Cái thiện đã sinh, khiến nó tăng trưởng.

Đây chính là điều mà Phật Đà đã nói, mọi việc ác không làm, hãy làm mọi việc thiện. Trên phương diện hành thiện bố thí là rất tích cực, rất tinh tấn, không làm đại khái qua loa một chút nào, không trốn tránh khó nhọc một chút nào.
Ví dụ:
Tôi (Lư Sư Tôn) trên phương diện viết sách, tôi là một người cực kì có nghị lực. 
Mỗi ngày đều viết sách, không có ngày nào ngơi nghỉ. (Đã viết 289 cuốn sách.) Vẫn còn tiếp tục viết.
Mỗi ngày tôi tu trì Chân Phật Mật Pháp, chưa từng dừng lại một ngày nào. 

Từ năm 2020 đến năm 2022, quãng thời gian dịch bệnh này, toàn thế giới bị virus Corona hoành hành. Những trung ấm vì dịch bệnh mà chết được tôi dùng pháp siêu độ trung ấm nghìn chiếc thuyền pháp, hằng đêm tôi cử hành siêu độ, chưa từng gián đoạn một ngày.
Việc thuyết pháp của tôi cũng vậy. Thứ bảy thuyết pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự. Chủ nhật thuyết pháp tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự. Chưa bao giờ dừng lại.
Tôi là một người làm việc tinh tấn, chưa bao giờ tiêu cực. Mà là rất tích cực.
Dục vọng dĩ nhiên đã ít rồi, không còn theo đuổi tài, sắc, danh nữa. Nhưng tu hành giải thoát lục đạo luân hồi càng tinh tấn, tâm thoát khổ được vui càng mạnh mẽ.
Tôi muốn làm được:
Cần cù.
Nhất tâm.
Không tán loạn.

Dùng phương pháp thiền định, tu khí, tu mạch, tu minh điểm. Không chỉ đạt đến đại lạc, mà còn đạt đến quang minh. 
Trên phương diện này, tôi phải cảm ơn sự giáo huấn của vị thầy đủ đức của chính mình, khiến tôi khai ngộ, cũng khiến tôi thực tu Phật pháp chính xác.
Đã phá bỏ tất cả chướng ngại.
Đã phá bỏ tất cả lười biếng.
Đã phá bỏ tất cả hôn trầm.
Đã phá bỏ tất cả tán loạn.
Đã phá bỏ tất cả ngu muội.
Tôi có thể từ mê nhập ngộ, không phải nhờ lực của tôi, mà là nhờ sự dạy bảo của các Thượng sư nhân gian của tôi. 
Không chỉ như vậy, bản địa A Di Đà Phật (Phật Vương) của tôi. 
Diêu Trì Kim Mẫu (Tiên Vương) của tôi. 
Địa Tạng Vương Bồ Tát (Địa Vương) của tôi.
Các ngài khiến tín tâm của tôi tràn đầy, hiểu biết pháp lý, nhận rõ chân pháp, tinh tấn không lười biếng.
Tôi chỉ có thể nói một câu: “Cảm ơn”. Cảm ơn gia trì!


### 35. Tâm pháp tu trì khai ngộ (4)


Chúng ta chỉ cần diệu quan sát là biết phiền não căn bản là vô tận.
Từ nhỏ, phiền não chuyện đi học. (Chết vì học, học đến chết.)
Học xong lại phiền não chuyện đi làm. (thăng chức, tăng lương)
Làm việc một thời gian lại phiền não chuyện gia đình. (kết hôn, tình cảm, con cái)
Có gia đình rồi lại phiền não chuyện xe cộ, nhà cửa. (tiền, tiền, tiền)
Tuổi tác cao một chút lại phiền não chuyện sức khỏe. (tám vạn bốn nghìn loại bệnh)
Có một chút tiền thì phiền não chuyện đóng thuế, phiền não bị trộm cắp. (suy tính thiệt hơn)
Già rồi, phiền não càng nhiều. (…….)

Còn có rất nhiều điều phiền não lớn, phiền não vừa, phiền não nhỏ, có thể viết thành một bộ kinh Phiền Não.
Nhưng, chỉ cần bạn khai ngộ rồi, bạn sẽ biết, những phiền não này toàn bộ đều là tự mình tìm đến. 
Từ khi sinh ra đến khi chết. 
Cuối cùng là: “Vô sở đắc.”
Lúc sống, tất cả không có. 
Chết rồi, tất cả là số không.
Cho nên, nếu có một ngày bạn khai ngộ rồi, bạn sẽ hiểu, tất cả phiền não đều là trống không trống rỗng.
Lúc này có thể cắt đứt phiền não!
Khinh an.
Thả lỏng.
Vui vẻ.
Hoan hỷ.
Tự tại.
(Điều này có thể chứng minh bạn đã nhìn thấu, đã buông bỏ.)

Bạn sẽ không bám chấp vào tướng mạo bên ngoài của mình. 
Bạn sẽ không bám chấp vào học thức của mình.
Bạn sẽ không bám chấp vào tình ái.
Bạn sẽ không bám chấp vào cách nhìn của người khác đối với bạn.
Bạn sẽ không bám chấp vào con cái tốt hay xấu.
Dần dần, bạn chính là “tôn giả vứt bỏ bám chấp”.
Phiền não vứt bỏ.
Bám chấp vứt bỏ.
Bạn đã đến gần “đạo”.

Nếu bạn đã không còn phiền não nữa, cũng không còn bám chấp nữa, thì chính là:
Vô sở trụ.
Vô sở vị.
Vô sở đắc.
Những điều này sẽ khiến bạn đi trên chính đạo, lời nói và việc làm của bạn thống nhất như một, hoàn toàn là chứng ngộ. Diệu quan sát của bạn đều là chính tư duy. Sự nghiệp của bạn đều là chính nghiệp. Tất cả mọi thứ của bạn đều hợp với Phật giáo, chính là chính mệnh. Nỗ lực tu trì bảo nhậm chính là chính tinh tấn. Suy nghĩ của bạn dưới sự quan sát vi diệu, đều là chính niệm. Bạn hãy dùng những điều này để tu thiền định…
Từ chuyên nhất đến không huệ.
Tức là:
Tán loạn quy về một.
Một quy về không.
Không quy về bồ đề.
Đây chính là chính định vĩ đại nhất.
Đây cũng là bát nhã.
Phật Thích Ca Mâu Ni tại pháp hội Bát Nhã đã giảng kinh Đại Bát Nhã, trong đó chính là Kim Cang Kinh, chính là Tâm Kinh. 
Sau đó thì, hãy đi thức tỉnh hữu tình đi! (tự giác giác tha)


### 36. Tâm pháp tu trì khai ngộ (5)


Hỏi:
”Thế nào là vô vi nhi vô sở bất vi?” [Thuận theo tự nhiên mà làm, làm không vì gì cả (vô vi) nhưng không có gì là không làm được.]
Đáp:
”Vì đã biết là vô sở đắc nên có thể không vì cái gì cả, đây chính là vô vi. Có thể thực hành thí tài, thí pháp, thí vô úy, thì chính là không gì không làm được.”
Chú thích:
Thí tài — dùng tiền để cứu khổ cứu nạn.
Thí pháp — dùng Phật pháp để dẫn dắt chúng sinh.
Thí vô úy — dùng tính mạng và thời gian để giúp đỡ chúng sinh.

Hỏi:
”Trì giới là vì cái gì?”
Đáp:
”Trì giới là để không phạm nhân duyên quả báo, là bước đầu tiên để giải thoát lục đạo luân hồi.”
Chú thích:
Luật nghi giới — chú trọng đi đứng ngồi nằm. Giữ vững bổn phận, không vi phạm.
Nhiếp thiện pháp giới — dùng thiện pháp để lợi ích chúng sinh.
Nhiêu ích hữu tình giới — quảng tu thiện pháp, lợi ích lục đạo chúng sinh.

Hỏi:
”Nhẫn nhục tu thế nào?”
Đáp:
”Một hành giả khai ngộ biết vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả, tự nhiên có thể nhẫn nhục.”
Chú thích:
Sinh nhẫn — chịu đựng những lời oán trách phỉ báng, ngậm bồ hòn làm ngọt, sau đó dùng tâm hiền từ thay đổi họ.
Pháp nhẫn — chịu đựng mọi đau khổ, đói, lạnh, nóng, bị đánh, bị giết.
Vô sinh pháp nhẫn — người giác ngộ đã hiểu tất cả đều không có, vì vô ngã nên có thể chịu đựng.

Hỏi:
”Tinh tấn vì sao quan trọng?”
Đáp:
”Lục độ của Bồ Tát là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ đều phải dùng đến tinh tấn, tinh tấn thích hợp dùng cho mỗi một độ, vì vậy vô cùng quan trọng.”
Chú thích:
Đoạn tinh tấn — tinh tấn loại bỏ cái ác.
Tu tinh tấn — tinh tấn tu thiện.
Pháp tinh tấn — tinh tấn để giải thoát lục đạo luân hồi.

Hỏi:
”Thế nào là thiền định?”
Đáp:
”Chuyên nhất, ly hý, nhất vị, vô tu. Chính là điều tôi thường nói, tạp niệm quy về nhất niệm, nhất niệm quy về vô niệm, vô niệm quy về bồ đề.”
Chú thích:
Thân định — thân thanh tịnh.
Khẩu định — khẩu thanh tịnh.
Ý định — ý thanh tịnh.
Thân khẩu ý thanh tịnh là tam mật của Mật giáo, là phương pháp tiêu trừ nghiệp chướng.

Hỏi:
”Thế nào là trí huệ?”
Đáp:
”Là trí huệ của Như Lai (Phật huệ), chứ không phải trí huệ của thế tục, còn gọi là bát nhã. Ví dụ là người đã hiểu rõ khổ, không, vô thường, vô ngã và có thể thực tiễn.”
Chú thích:
Sinh không — một hợp tướng, vì vậy sinh không. (Tất cả không có tự tính.)
Pháp không — tất cả nhân duyên sinh, tất cả nhân duyên diệt, vì thế pháp không.
Nhất thiết trí trí — trí huệ nhập thế, trí huệ xuất thế, tất cả đều hiểu rõ sáng tỏ và có thể vận dụng.

Cá nhân tôi đối với nhập thế đã giác ngộ. 
Đối với xuất thế cũng giác ngộ.
Có ngộ tức không ngộ. 
Vì sao?
Vì là “vô ngã”.


### 37. Tâm pháp tu trì khai ngộ (6)


Phật Đà nói:
”Phải đạt thành tựu cứu cánh, tức là vô ngã.”
Phật Đà còn nói:
”Cái gọi là pháp chính là vô pháp, bởi vì vô pháp cho nên là pháp.”
Trong kinh Kim Cang nói:
”Phật Thích Ca Mâu Ni cúng dường hoa sen cho Phật Nhiên Đăng, Phật Nhiên Đăng thọ ký cho Phật Đà rằng tương lai thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni.”
Phật Đà hỏi Tu Bồ Đề:
”Có đắc pháp không?”
Tu Bồ Đề đáp:
”Không, không đắc pháp.”

Trong đoạn này, tôi (Lư Sư Tôn) giải thích như sau:
So sánh:
Nếu bồ đề tâm là sông Hằng. 
Chúng ta không thể lấy một hạt cát của sông Hằng mà nói: “Đây là sông Hằng.” Cát sông Hằng không phải là sông Hằng.
Logic tương tự, chúng ta không thể lấy một giọt nước sông Hằng và nói: “Đây là sông Hằng.” 
Logic tương tự, chúng ta bơi trong nước sông Hằng, sau đó nói: “Tôi đã có được sông Hằng rồi.” 
Vì:
”Sông Hằng không thể nào so sánh.”
”Bồ đề tâm bất khả thuyết!”
”Tính Không vô tướng!”
Cho nên, tôi nói:
”Người khai ngộ, vì bất khả thuyết, cho nên bất khả thuyết mới gọi là khai ngộ.”

Pháp chỉ là công cụ, không phải là bản thể. Chỉ là linh kiện của chiếc xe, không thể gọi là một chiếc xe. 
Phật Nhiên Đăng thọ ký Phật Thích Ca Mâu Ni là:
”Lấy Không chuyển Không.”
Tôi lấy chính mình làm ví dụ:
Lư Thắng Ngạn là ai?
Ta là ai?
”Tên họ chỉ là một cái đại diện, không hề là tôi chân chính.”
(Theo như tôi biết, Đài Loan tổng cộng có mười sáu người đều có tên là Lư Thắng Ngạn.)

Tôi ở trên tấm ảnh, đó chỉ là tấm ảnh.
Lư Thắng Ngạn lúc nhỏ, Lư Thắng Ngạn lúc trẻ tuổi, Lư Thắng Ngạn lúc trung niên, Lư Thắng Ngạn lúc về già.
Đó chỉ là nhất thời.
Đầu, tứ chi, thân, đều không phải.
Hợp lại với nhau cũng không phải.
Thân không phải, khẩu không phải, ý không phải.
Bởi vì chúng đều ở trong sự biến hóa vô thường, có đôi khi thậm chí không thể kiểm soát thân khẩu ý của chính mình.
Tìm kiếm bên ngoài thân, không có.
Tìm kiếm bên trong thân, không có.
Tìm kiếm ở giữa, không có.

Cho nên ba chữ “ta là ai” này đã trở thành công án của Thiền tông.
”Ta là ai?”
Nghiên cứu thảo luận đến cuối cùng, tôi đã phát hiện ra. 
Thân chẳng phải cây bồ đề.
Tâm chẳng phải tấm gương sáng.
Vốn dĩ không có một vật.
Có chỗ nào mà bám bụi.
Cái ngã là bất khả thuyết. Cái ngã căn bản là không. Cái ngã là không có gì cả.
Ta như mộng như huyễn.
Ta như một dải cầu vồng.
Vô ngã mới là chân lý, vô thường mới là chân lý, Không mới là chân lý.
Cái ngã và thế giới vật chất chỉ là nhất thời.
Nhận định rõ ràng những điều này rồi thì chính là khai ngộ. 


### 38. Tâm pháp tu trì khai ngộ (7)


Cảm nhận khai ngộ của tôi là như sau.
Hỏi:
”Thế nào là đệ nhất nghĩa?”
Tôi đáp:
”Có con cá chui vào trong lưới.”
Hỏi:
”Hiểu như thế nào?”
Tôi đáp:
”Rõ ràng trong bao la vạn tượng.”
Hỏi:
”Nếu không chui vào lưới thì sao?”
Tôi đáp:
”Núi cao chẳng ngại mây trắng bay.”

🌟

Hỏi:
”Trước khi khai ngộ thì thế nào?”
Tôi đáp:
”Mặc áo ăn cơm.”
Hỏi:
”Sau khi khai ngộ thì sao?”
Tôi đáp:
”Mặc áo ăn cơm.”
Hỏi:
”Vì sao vẫn như nhau?”
Tôi đáp:
”Tiền tam tam, hậu tam tam, vẫn ở điểm ban đầu.”

🌟

Hỏi:
”Thế nào là tâm pháp tu trì của khai ngộ?”
Tôi đáp:
”Nhật nguyệt phân minh?”
Hỏi:
”Nếu không có nhật nguyệt thì sao?”
Tôi đáp:
”Vậy thì gió mát đầy đường.”
Hỏi:
”Hai câu này không thật sự hiểu lắm.”
Tôi đáp:
”Đi thỉnh giáo Chân Phật.”
Hỏi:
”Chân Phật ở đâu?”
Tôi đáp:
”Lôi Tạng Tự.”

🌟

Hỏi
”Làm sao dùng một câu để giải thích khai ngộ?”
Tôi đáp:
”Vọng tâm vô trụ tức bồ đề.”
Hỏi:
”Có pháp để tu không?”
Tôi đáp:
”Không có pháp để tu, pháp tức là phi pháp, phi pháp tức là pháp, tất cả đều là Phật pháp, tất cả cũng đều không phải là Phật pháp.”
Hỏi:
”Vì sao lại như vậy?”
Đáp:
”Như thực như hư.”
Hỏi:
”Hành giả làm thế nào để thiết thực?”
Đáp:
”Hành giả thiết thực tức không thiết thực, bởi vì không thiết thực mới là thiết thực.” 
A! Hiểu rồi!
Lư Sư Tôn tôi đây không cần thấy Phật.
Bởi vì Phật và Phật biết nhau.


### 39. Tâm pháp tu trì khai ngộ (8)


Đêm ngày 22 tháng 2 năm 2022, tôi tu siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp. Tu được một nửa thì tôi ngủ thiếp đi. Phật Thích Ca Mâu Ni hiện lên trước mắt tôi, tỏa ánh sáng rực rỡ, ánh hào quang màu trắng sáng chói lọi chiếu đến khiến tôi tỉnh giấc.
Tôi tiếp tục tu xong pháp Nghìn chiếc thuyền pháp.

Tôi kể chuyện này với đồng môn, hỏi đáp như sau:
Hỏi:
”Phật Thích Ca Mâu Ni từ đâu đến?”
Đáp:
”Không đến không đi.”
Hỏi:
”Phật Thích Ca Mâu Ni vì sao lại đánh thức Lư Sư Tôn?”
Đáp:
”Để làm tấm gương cho con người trong thiên hạ.”
Hỏi:
”Lư Sư Tôn ngủ thiếp đi, Phật Thích Ca Mâu Ni gọi dậy, là ý nghĩa gì?”
Đáp:
”Ngồi phải ngồi cho thẳng.”
Hỏi:
”Thật may có Phật Thích Ca Mâu Ni đánh thức, nếu không đánh thức thì thế nào?”
Đáp:
”Tự giác.” [Tự tỉnh lại.]
Hỏi:
”Sau khi tỉnh thì sao?”
Đáp:
”Giác tha.”
Hỏi:
”Tự giác là gì?”
Đáp:
”Núi sông đại địa đều là chân như.”
Hỏi:
”Giác tha là gì?”
Đáp:
”Cùng đi ngủ.”

🌟

Hỏi:
”Thỉnh giáo Lư Sư Tôn, tu Mật pháp như thế nào?”
Tôi đáp:
”Phi tâm phi Phật.”
Hỏi:
”Có người nói, tức tâm tức Phật, vì sao là phi tâm phi Phật?”
Tôi đáp:
”Sắc tức thị không, không tức thị sắc.”
Hỏi:
”Mật pháp và Thiền tông có khác nhau không?”
Tôi đáp:
”Mây có thế vượt khỏi núi, không có suối nào không có tiếng suối.”
Hỏi:
”Không hiểu?”
Tôi đáp:
”Nhất thể chân như.”

🌟

Hỏi:
”Phật pháp phân tông phân phái, Lư Sư Tôn có cách nhìn thế nào?”
Tôi đáp:
”Hư không không biến đổi.”
Hỏi:
”Họ đều nói bản thân là tốt?”
Tôi đáp:
”Ai hát điệu người ấy.”
Hỏi:
”Vậy cái nào mới đúng?”
Tôi đáp:
”Tự anh đi hướng đông tôi đi hướng tây.”


### 40. Tâm pháp tu trì khai ngộ (9)


Tôi (Lư Sư Tôn) tại đây cần nói rõ lại lần nữa bốn chữ rất quan trọng trong kinh Kim Cang: “Thọ trì đọc tụng.”
Đọc — đọc kinh Kim Cang.
Tụng — tụng kinh Kim Cang.
Tôi biết rất nhiều tín đồ Phật giáo đều có thể đọc tụng kinh Kim Cang, thậm chí còn chép kinh Kim Cang. Điều này rất tốt, lành thay! Lành thay!
Nhưng tôi lại càng coi trọng hai chữ “thọ trì”. 
Thọ — tiếp nhận nó.
Trì — thực hiện nó.

Tiếp nhận cái gì đây?
Tiếp nhận vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng.
Thực hiện cái gì đây?
Thực hiện vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng.
Cái gọi là thọ chính là tin tưởng, là có sức mạnh niềm tin.
Cái gọi là trì, chính là thực hiện.
Điều quan trọng là trì.

Tôi tu Mật giáo:
Thân thanh tịnh.
Khẩu thanh tịnh.
Ý thanh tịnh.
Thân khẩu là hành vi.
Ý là suy nghĩ.
Tu trì chính là sự thanh tịnh của hành vi, sự thanh tịnh của ý niệm.

Hành vi là cái bên ngoài.
Ý niệm là cái bên trong.
Tôi phải nói lại nhiều lần, dùng ý niệm của chính bản thân hành giả để quan sát ý niệm của chính mình. 
Quán tưởng của Mật giáo là hết sức quan trọng!
Quan sát suy nghĩ của mình, thật đó! Thật sự rất quan trọng!

Còn như hành vi, sự thanh tịnh của thân khẩu là do ý niệm sản sinh ra, cho nên ý thanh tịnh là số một.
Yếu nghĩa của kinh Kim Cang là:
”Không.”
Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. 
Nghĩa gốc của nó chính là “Không”.

Tại đây tôi nói với mọi người:
Thanh tịnh là gì?
Thanh tịnh chính là “Không”.
Cho nên, Mật giáo tu thân thanh tịnh, tu khẩu thanh tịnh, tu ý thanh tịnh, đến được điểm cao nhất chính là “Không”.
Thực hiện cái “Không” này thì tức là chứng ngộ.
Thực hiện cái “Không” này thì tức là giải thoát.

Muốn giải thoát lục đạo luân hồi, duy có “Không” mới có thể giải thoát, nếu như không có “Không” thì không có cách nào giải thoát.
Và “Không” chính là thân khẩu ý thanh tịnh của Mật giáo.
Từ sự tu trì “Không” mà có thể chứng minh.
Vô trụ.
Vô sở.
Vô đắc.
Vô tướng.
Vô thất.
Vô vị.
v.v…
Một vị Kim cương Thượng sư đã chứng ngộ “Không” sẽ dùng pháp như thực như hư này để hoằng hóa người khác.
Đây chính là bố thí.
Bồ đề tâm là “chân không diệu hữu”.


### 41. Tâm pháp tu trì khai ngộ (10)


Hỏi:
”Lư Sư Tôn tu cái Không, tu như thế nào?”
Tôi đáp:
”Buổi sáng cạo sạch đầu, buổi tối gội đầu.”
Hỏi:
”Đây là việc thế tục mà?”
Tôi đáp:
”Thanh tịnh.”
Hỏi:
”Còn có việc gì khác không?”
Tôi đáp:
”Tôi tạm hỏi anh, chư Phật xuất thế là vì việc gì?”
Người hỏi á khẩu.

🌟

Hỏi:
”Lư Sư Tôn thiền định là vì sao?”
Tôi đáp:
”Tôi bất động, còn mọi người động.”
Hỏi:
”Bất động để làm gì?”
Tôi đáp:
”Buổi sáng đi chơi tứ Thánh giới, buổi chiều đi xuống tam đồ.”
Hỏi:
”Chúng tôi động, động cái gì?”
Tôi đáp:
”Đi theo bước chân của tôi.”
Hỏi:
”Làm sao mà theo?”
Tôi đáp:
”Thấu pháp thân.”
Hỏi:
”Người học không làm được?”
Tôi đáp:
”Thiền định đi!”

🌟

Hỏi:
”Lư Sư Tôn thuyết pháp 50 năm, chọn lấy một chữ, Lư Sư Tôn lấy chữ gì?”
Tôi đáp:
”Thẳng.”
Hỏi:
”Không hiểu thẳng là nghĩa gì?”
Tôi đáp:
”Thẳng mà đi!”
Hỏi:
”Vẫn không hiểu là làm sao?”
Tôi đáp:
”Đến Lôi Tạng Tự, hỏi người tri âm.”
Hỏi:
”Ai là người tri âm?”
Tôi đáp:
”Cong không giấu thẳng.”

🌟

Hỏi:
”Khi Lư Sư Tôn thiên hóa rồi thì chúng tôi học người nào?”
Tôi đáp:
”Học Lư Sư Tôn.”
Hỏi:
”Còn có người hỏi đáp không?”
Tôi đáp:
”Phật Thích Ca Mâu Ni vẫn đang dạy chúng ta đó thôi!” (Ngài gọi tôi thức dậy.)
Chú thích: Điều này có thể chứng minh tam tế nhất như, hoành biến thập phương. Trong thời gian và không gian, tùy ý ta tung hoành.


### 42. Tâm pháp tu trì khai ngộ (11)


Hỏi:
”Người nào có thể hóa thân bên ngoài thân?”
Đáp:
”Lư Sư Tôn có thể hóa thân bên ngoài thân.”
Hỏi:
”Tu thế nào?”
Đáp:
”Huyễn thân.”
Hỏi:
”Làm sao tu thành tựu pháp Huyễn thân?”
Đáp:
”Bổn tôn, hành giả, hành giả trong gương, ba người hợp làm một.”
Hỏi:
”Xin giải thích.”
Đáp:
”Tâm ta tựa trăng thu, hồ xanh trong leo lẻo, không gì so sánh bằng, bảo tôi nói làm sao. Còn nữa, một sinh hai, hai sinh ba, không ngăn trở nổi nữa, lan rộng ra bao la.”
Hỏi:
”Hóa thân bên ngoài thân của Thích Ca Như Lai như thế nào?”
Đáp:
”Núi xanh nước cũng xanh, hoa đào hồng, hoa mận trắng. Sao không nghe thấy, một hoa một Phật thổ, một lá một Thích Ca.”
Hỏi:
”Ai nhìn thấy huyễn thân của Lư Sư Tôn?”
Đáp:
”Chiếu tới hết tứ sinh, một điểm tùy người thấy.”
Hỏi:
”Tôi hỏi ai nhìn thấy?”
Đáp:
”Có khối người.”

🌟

Hỏi:
”Lư Sư Tôn thành Phật như thế nào?”
Đáp:
”Đi đứng ngồi nằm.”
Hỏi:
”Điều tôi hỏi là đi thế nào?”
Đáp:
”Chân ở dưới bụng.”
Hỏi:
”Không phải nói cái bụng này, không phải là cái chân này.”
Đáp:
”Sinh tử niết bàn, cũng như nằm mơ. Vẫn không phải là huyễn trong huyễn, thân trong thân.”
Hỏi:
”Thành Phật lợi ích chúng sinh không?”
Đáp:
”Chân Phật gia phong, nam bắc tây đông, tùy mà vận dụng, lấy không độ không.”

🌟

Hỏi:
”Thế nào là tâm pháp khai ngộ?”
Đáp:
”Đã chứng vô sinh, tắc hợp bản diệu, kiến văn giác tri, lại hợp bản diệu.”
Hỏi:
”Bản diệu là cái gì?”
Đáp:
”Pháp nhĩ bản nhiên, chân không diệu hữu.”
Hỏi:
”Tìm ở nơi nào?”
Đáp:
”Sơn hà đại địa tràn đầy minh châu.”
Hỏi:
”Vì sao tôi không biết?”
Đáp:
”Tất cả đều là minh châu thì bảo ai biết được chứ?”


### 43. Tâm pháp tu trì khai ngộ (12)


Hỏi:
”Kinh Kim Cang có nói đến “nhất thể đồng quán”, thế nào là nhất thể đồng quán?”
Đáp:
”Chính là vạn pháp quy về một.”
Hỏi:
”Phật có ngũ nhãn, sông Hằng có nhiều cát, là ví von cái gì?”
Đáp:
”Ngũ nhãn là một con mắt, nhiều cát là một hạt cát.”
Hỏi:
”Phật biết tâm của mọi chúng sinh, là vì sao?”
Đáp:
”Tâm của mọi chúng sinh là không phải tâm, không phải tâm mới gọi là tâm, vì thế mà biết.”
Hỏi:
”Để biết tâm chúng sinh, có bí quyết gì?”
Đáp:
”Đơn giản. Tâm quá khứ không thể đắc, tâm hiện tại không thể đắc, tâm vị lai không thể đắc. Ba chữ không thể đắc, tức là nhiều loại tâm chúng sinh.”
Hỏi:
”Dường như hiểu, mà dường như không hiểu?”
Đáp:
”Bất kể chúng sinh là tâm gì, cuối cùng đều quy về một, cũng chính là tâm không thể đắc.”
Hỏi:
”Vì sao mà không thể đắc?”
Đáp:
”Xưa nay trong ngoài, thử hỏi, có người nào đắc? Đắc được cái gì?”
Hỏi:
”Nghĩ thử thì, quả thật vô sở đắc, vì sao lại như vậy?”
Đáp:
”Phật nói: tất cả pháp hữu vi, như mộng huyễn bào ảnh, như sương cũng như điện, nên quán thấy như vậy.”

🌟

Hỏi:
”Về mặt này, cổ nhân nói thế nào?”
Đáp:
”Trăm sông khác dòng, lấy biển làm điểm cuối. Đây chính là nhất thể đồng quán.”
Hỏi:
”Còn gì không?”
Đáp:
”Bao la vạn tượng, lấy Không làm điểm cuối. Đây chính là nhất thể đồng quán.”
Hỏi:
”Còn gì không?”
Đáp:
”Tứ Thánh lục phàm, lấy Phật làm điểm cuối. Đây chính là nhất thể đồng quán.”
Hỏi:
”Lư Sư Tôn lấy gì làm điểm cuối?”
Đáp:
”Lấy mỹ nữ làm điểm cuối.”
Hỏi:
”Lư Sư Tôn nói đùa rồi?”
Đáp:
”Mỹ nữ sẽ già, mỹ nữ sẽ xấu, xấu rồi thì cũng sẽ chết. Cũng là nhất thể đồng quán.”
Hỏi:
”Vì sao có người lại nhìn không ra?”
Đáp:
”Kẻ tham điều huyễn hoặc, xúc cảnh ngộ duyên, không thể lập tức thoát khỏi, là vì nghiệp thức sâu nặng, bị tình cảm làm cho mê muội.”
Hỏi:
”Làm thế nào để thoát hoàn toàn?”
Đáp:
”Vào nước không động sóng, vào rừng không đạp cỏ.”
Hỏi:
”Theo ai là tốt nhất?” (Chọn ai làm thầy?)
Đáp:
”Bỏ tôi thì làm gì có ai?”


### 44. Tâm pháp tu trì khai ngộ (13)


Hỏi:
”Thỉnh Lư Sư Tôn giải thích rõ về dung nhập tính Không là trạng thái gì?”
Đáp:
”Như một giọt nước hòa vào biển lớn.” (Trâu đất xuống biển.)
Hỏi:
”Kiến văn giác tri thì sao?” [Những điều thấy nghe hay biết.]
Đáp:
”Vô cùng vô tận.” (Vẫn quy về một.)
Hỏi: 
”Tôi muốn hỏi về cảm giác?”
Đáp:
”Vua đại lạc.”
Hỏi:
”Đại lạc là đại lạc thế nào?”
Đáp:
”Như say như mê, trăm nghìn tam muội một khẩu vị, vô lượng diệu môn hiện ngũ sắc.”
Hỏi:
”Vì sao gọi là đại?”
Đáp:
”Cả đất nước đều thuộc về ta.” (Lớn mà không phải ở bên ngoài.)
Hỏi:
”Vì sao gọi là lạc?”
Đáp:
”Ý muốn tùy tâm, thần tiên bay bay.”
Hỏi:
”Còn gì nữa không?”
Đáp:
”Ánh sáng lấp lánh khắp ba nghìn đại thiên thế giới. Đây gọi là: phá bóng tối vô minh, cắt đứt dòng sinh tử, vượt qua ba vùng có, nổi trên biển vô vi.”
Hỏi:
”Vào sâu thêm một lớp thì thế nào?”
Đáp:
”Không tịch.”
Hỏi:
”Niết bàn tịch tĩnh mà Phật nói là như thế nào?”
Đáp:
”Không phải tâm, không phải Phật, không phải vật. Không ở trong, không ở ngoài, không ở giữa.”
Hỏi:
”Có nói được không?”
Đáp:
”Không thể nói.”
Hỏi:
”Có thể miêu tả không?”
Đáp:
”Xa rời mọi sắc thanh ngôn ngữ.” (Nhân của vô sinh, nhân của vô tử.)
Hỏi:
”Thỉnh Lư Sư Tôn thử nói một câu?”
Đáp:
”Trời cao đất rộng, trăng thanh gió mát.”
Hỏi:
”Lư Sư Tôn nói thế nào về tu trì thành tựu?”
Đáp:
”Vua của đại lạc, vua của ánh sáng, vua của tính Không.”
Hỏi:
”Lại nói về hạt xá lợi, có công dụng gì?”
Đáp:
”Tứ đại tách rời ra, cuối cùng là không còn hình thể. Còn như hạt xá lợi cũng là huyễn hóa.”
Hỏi:
”Lư Sư Tôn còn độ chúng sinh không?”
Đáp:
”Một viên minh châu ở chỗ tôi đây, đẩy thì nó sẽ động, tỏa ánh sáng làm lay động mặt đất. Độ chúng sinh tức không độ chúng sinh, tức là độ chúng sinh.”


### 45. Tâm pháp tu trì khai ngộ (14)


Trong bản văn này, tôi viết ra những cảm tưởng về khai ngộ.
Tên của cuốn sách này lấy cảm hứng từ bài kệ sau cùng của kinh Kim Cang:
*Tất cả pháp hữu vi
Như mộng huyễn bào ảnh
Như sương cũng như điện
Nên quán thấy như vậy.*
Thế là tên sách là “Như mộng như huyễn”. 

Và:
*Nếu do sắc thấy ta
Do âm thanh cầu ta
Người ấy hành tà đạo
Không thể thấy Như Lai.*
Điều này chỉ pháp thân vô tướng.

Từ hai bài kệ này, chúng ta có thể lĩnh ngộ được:
Tất cả thế giới hiện tượng chỉ là nhất thời. (như mộng như huyễn)
Mọi tướng đều là phi tướng.
Ở đây có thể chứng ngộ:
Vô ngã tướng.
Vô nhân tướng.
Vô chúng sinh tướng. (không gian)
Vô thọ giả tướng. (thời gian)
Vì sao?
Bởi vì:
Tâm quá khứ bất khả đắc.
Tâm hiện tại bất khả đắc.
Tâm vị lai bất khả đắc.
Chứng ngộ: quá khứ đã qua rồi, trong sát-na hiện tại cũng sẽ thành quá khứ, tương lai còn chưa đến.
Cho nên, tất cả đều vô sở đắc.

Thử hỏi: thế gian này, ai có được cái gì?
Người có quyền thế nhất cũng quy về hư vô, người giàu có nhất cũng quy về hư vô, người xinh đẹp nhất cũng quy về hư vô.
Mọi thứ có đều quy về hư vô. 
Vì vậy chứng đắc:
Không được.
Không mất.
Bởi vì không được không mất cho nên không bám trụ.
(Vô vi nhi vô bất vi.) [Không làm gì mà không gì là không làm.]

Cái gọi là bồ đề tâm, vì tâm vô trụ, cho nên có vô lượng vô tận công đức.
(Công đức tức không phải công đức, không phải công đức mới là công đức.)
(Thực tướng tức phi tướng, phi tướng là thực tướng.)
(Trang nghiêm tức tịch tĩnh, tịch tĩnh là Không.)
Muốn đắc giải thoát luân hồi, cần biết:
*Vô nghiệp đệ nhất.
Thiện nghiệp thượng thiên.
Ác nghiệp tam đồ.*
(Vô thiện, vô ác, tức có thể giải thoát.)
Không vì thiện mà hành thiện là phát tâm. Đến được sự “bất động” thì mới biết vô sinh pháp nhẫn. 

Cá nhân tôi cho rằng:
Duy thức — kĩ lưỡng nhất.
Trung quán — không hữu song vận.
Đây là tâm pháp hoằng pháp tu trì, cũng là pháp tu hành chứng Không. 
Vạn pháp thực quy về một pháp, và một pháp này tức là đạo giải thoát, cũng tức là đạo bồ đề.
Một pháp cũng quy về Không.
Bồ đề tâm là không - hữu song vận.
Thuyết pháp chưa từng nói một chữ nào.
Độ sinh chưa từng độ một người nào.
Đó là pháp nhĩ bản nhiên.
Tỉnh trước, tỉnh sau, cùng là tỉnh.
Chứng ngộ của tôi là “không liên quan”.


### 46. Thư của Liên Hoa Thục Doanh


Đảnh lễ Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Thánh Tôn vô thượng! A Di Đà Phật!
Chúc Sư Tôn và gia đình năm mới vui vẻ! Cát tường như ý!
Năm Hổ tâm tưởng sự thành, hoằng pháp viên mãn.

Đệ tử sám hối vì bấy lâu nay vẫn chưa gửi ảnh phụ thân hồi hồn cho Sư Tôn xem. Đó là ngày mà Liên Hoa Tạ Chương Hưng hồi hồn, một con bướm đêm hóa hiện ra từ trong không khí (tận mắt đệ tử nhìn thấy), bay vòng quanh trên đầu một người nhà mấy vòng, sau đó đậu lại trên sách của Sư Tôn và không động đậy nữa, dường như đang ra ám thị cho con cháu chúng con.

Phụ thân Liên Hoa Tạ Chương Hưng cả một đời không tu pháp, bị đột quỵ mấy lần thì thân thể cũng không thể cử động, cũng không thể nói năng, thật may ông cụ tỏ ý quy y Sư Tôn, chúng con dạy ông cụ niệm thầm “Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật”. Chính nhờ việc niệm thầm của ông cụ mà Sư Phật A Di Đà Phật từ bi đã gia trì cho phụ thân. Cũng có dịp may vào ngày 25/7/2010, Sư Tôn đến Hồng Kông Lôi Tạng Tự, trong số mấy nghìn người, không ngờ Sư Tôn lại nhìn thấy phụ thân ngồi trên xe lăn, và đã đích thân tiến lên trước vỗ lên vai của phụ thân. Ngày 15/3/2011 thì phụ thân hấp hối, chúng con không hề biết gì về việc chăm sóc lúc lâm chung, chỉ có một tấm ảnh của Sư Tôn, một chiếc máy niệm chú Liên Hoa Đồng Tử, gửi fax đến Chân Phật Mật Uyển báo cáo với Sư Tôn, cứ thế người nhà luân phiên nhau ở bên cạnh phụ thân niệm chú.

Thời gian đã đến, phụ thân sắp đi, chúng con cũng khóc, đứa con nhỏ của con càng khóc to hơn vì nhìn thấy pháp thân của Sư Tôn đến tiếp dẫn phụ thân đến Phật quốc, trẻ con không nói dối, thậm chí cháu bé còn nhìn thấy Sư Tôn gia trì cho phụ thân xong thì phụ thân hóa thành hình tượng giống như Địa Tạng Vương Bồ Tát, đi ra từ cửa sổ, cùng Sư Tôn rời đi, vô cùng thù thắng!

Điều mà con muốn chia sẻ là, phụ thân cả đời không tu pháp, chỉ niệm thầm câu “Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật”, vậy mà Sư Tôn từ bi đã nghìn nơi cầu nguyện nghìn nơi hiện. Chúng con cũng không thành thạo việc chăm sóc lúc lâm chung, thế mà phụ thân đã được tiếp dẫn, con hy vọng chia sẻ cho các đồng môn biết, chỉ cần có lòng tin thì Sư Tôn chắc chắn tiếp dẫn.

Sư Tôn thừa nguyện lại đến, ban cho chúng con đại pháp vô thượng, đệ tử ngu muội chưa từng học tập chăm chỉ, đệ tử thật kém cỏi, đã để cho thầy phải đặc biệt đến với thế giới vọng tưởng đại huyễn của con để đánh thức đệ tử, thật là quá hạnh phúc, vậy mà cũng không biết cách trân trọng vận may này.

Đệ tử cảm ơn Sư Phật đã tiếp dẫn phụ thân, mặc dù con chưa thể tu được chứng lượng gì, nhưng đệ tử chắc chắn sẽ nỗ lực học tập giống như phụ thân, cũng hy vọng đem sự tích về bằng chứng không thể chối cãi này chia sẻ với Sư Tôn và các đồng môn Chân Phật.

Sư Tôn của chúng ta không thể coi thường, sâu rộng không thể đo lường, chỉ cần tin tưởng, chỉ cần thỉnh cầu, ngài nhất định sẽ đến tiếp dẫn, ngài chính là chân thân của A Di Đà Phật, không hề khác biệt.

Om guru liansheng siddhi hum.
Liên Hoa Thục Doanh đảnh lễ.


### 47. Thư của Liên Ha


Sư Phật Sư Mẫu kính yêu nhất, Phật an! 
Ngu đệ tử Liên Ha nhất tâm đảnh lễ và lấy thân khẩu ý cúng dường Sư Phật Sư Mẫu.

Đầu tiên đệ tử kính chúc Sư Phật Sư Mẫu Tết Xuân vui vẻ! Chúc nguyện Sư Phật Sư Mẫu Phật thể an khang, trường thọ tự tại, hổ hổ sinh uy, ngày ngày vui vẻ, ngày ngày thoải mái, năm Hổ mọi thứ đều cát tường như ý!

Khi Sư Phật đọc được lá thư này thì chắc là đệ tử đã ở Seattle rồi. Có thể trực tiếp gặp Sư Phật, đảnh lễ Sư Phật, nhận cái sờ đầu của Sư Phật mà đệ tử mong chờ bấy lâu là việc mà đệ tử mong ngóng biết bao! Suốt hai năm nay, vì tình hình dịch bệnh mà không có cách nào hành hương, không có cách nào ở bên cạnh Sư Phật để lắng nghe dạy dỗ, để được trực tiếp cảm nhận ánh sáng từ bi trong tâm thầy. Mà hôm nay cuối cùng đã có thể trở lại Seattle rồi, có thể lại một lần nữa chìm đắm trong hào quang của thầy, cùng với thầy cười những chuyện cười trong thiên hạ, cùng thương xót những con người đáng thương trong thiên hạ, hát những khúc hát thiếu nhi trong sáng nhất, tiếp tục duyên thầy trò sâu nhất trong thiên hạ.

Sư Phật kính yêu, hai năm nay mặc dù dịch bệnh nghiêm trọng đã càn quét toàn cầu, nhưng sự nghiệp giáo dục Chân Phật dưới sự gia trì của thầy vẫn đón gió tung cánh bay lên!

Trường Đại học Chân Phật trực tuyến sau khi được thành lập dưới ý chỉ của thầy, cho đến nay đã hoàn thành 61 tiết học “Khóa thực tu Chân Phật Mật Pháp”, 36 tiết học trình “Phật học bao la vạn tượng”. Khóa thực tu hoàn toàn dựa theo những sách và khai thị của Sư Phật, tổng hợp những khẩu quyết tinh hoa về thực tu Mật pháp, giúp đỡ mọi người nâng cao năng lực thực tu Chân Phật Mật Pháp. Khóa Phật học thì đã xây dựng cho đệ tử Chân Phật nền móng Phật học rộng rãi, xây dựng hệ thống tri thức Phật học quy củ. Như vậy là lý sự viên dung, lý luận và thực tiễn kết hợp với nhau, đem đến rất nhiều bước tiến bộ dài cho các đồng môn trên phương diện Phật học và thực tu. Đồng thời cũng giúp mọi người nuôi dưỡng thói quen tốt để học tập suốt đời! Cũng như Sư Phật Sư Mẫu mỗi ngày đều đọc kinh điển, mọi người mỗi tuần cố định thời gian cùng học tập với nhau, cùng tiến bộ, cổ vũ lẫn nhau, đây đúng là việc vô cùng tốt đẹp của đời người! Vào buổi lễ tốt nghiệp, khi nói lời tạm biệt với mọi người, rất nhiều đồng môn đều không kìm nén được nước mắt, chúng con đã đồng ý rằng sẽ phải gặp lại, vào năm mới lại gặp nhau, tiếp tục cùng học tập tiến bộ. Đệ tử Chân Phật là những thánh đệ tử có nội tâm chất phác, tình cảm nồng hậu.

Tại đây cũng thỉnh cầu Sư Phật đại gia trì cho tất cả những Thượng sư hướng dẫn, các phụ đạo viên và các đồng môn tình nguyện đã bỏ công phát tâm vì sự nghiệp giáo dục Chân Phật, cảm ơn họ đã vì các học viên mà nhiệt tình phục vụ, nhẫn nại chỉ dẫn, phê bình bài làm tỉ mỉ chu đáo, đã vất vả bỏ công sức cho các hạng mục công việc của sự nghiệp giáo dục Chân Phật, cùng nắm tay thúc đẩy sự nghiệp giáo dục Chân Phật bay cao.

Tại đây cũng đặc biệt cảm ơn trưởng lão Thượng sư Liên Mãn và Thượng sư Liên Truyền, hai vị đã giảng môn học thứ hai “Giải thích ngắn gọn về thứ tự tu hành đạo bồ đề” của trường Đại học Chân Phật trực tuyến hết sức tuyệt vời và sâu sắc, có rất nhiều nội dung mà trong sách và trên mạng không học được, những điều đó đều là những tinh túy mưa dầm thấm lâu mà hai vị trưởng lão đã học được sau nhiều năm ở bên cạnh Sư Phật. Các đệ tử mỗi lần lên lớp đều cảm thấy thu hoạch được nhiều điều phong phú, pháp hỷ tràn đầy!

Sư Phật kính yêu, một năm mới đã bắt đầu rồi, Đại học Chân Phật trực tuyến đã chuẩn bị tốt để một lần nữa bay lên, khóa trình cho học kỳ mới có tên gọi là “Chân Phật giản sử”, chính là trình bày về những sự tích truyền kỳ về sự rèn luyện gian nan của Sư Phật từ khi sinh ra là đứa bé quấn trong lớp tơ trắng cho đến tuổi thanh thiếu niên, đến khi vào quân đội làm việc mưu sinh, trở thành nhà thơ nhà văn, thậm chí mở thiên nhãn, được linh sư truyền pháp, đi khắp nơi học Đạo-Hiển-Mật, thực tu thành tựu, khai lập tông phái, độ chúng sinh vô lượng. Môn học này đối với toàn thể đệ tử Chân Phật, thậm chí đối với những nhân sĩ bên ngoài tông phái, đều có ý nghĩa hết sức quan trọng để hiểu thêm về tông phái Chân Phật và Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật. Người chủ giảng của môn học này, chúng con hân hạnh mời được trưởng lão Thượng sư Liên Tài giảng bài, khai giảng bắt đầu vào ngày mồng 5 tháng Giêng (5/2 dương lịch).

Đồng thời, Chân Phật Pháp Học Đường (chuyên môn lên lớp dạy học cho các nhân viên hoằng pháp Chân Phật Tông), hiện tại cũng đã chuẩn bị xong kế hoạch dạy học cho cả năm, không chỉ có các khóa trình cho giảng sư, trợ giảng, mà còn có các khóa trình đặc biệt dành cho chúng tăng của Chân Phật. Đồng thời năm nay cũng sẽ bắt đầu bồi dưỡng và giảng dạy cho các “giáo viên hạt giống”, với mục đích là để đào tạo ra một lớp giáo viên dạy học ưu tú cho tông phái Chân Phật, như vậy sự nghiệp giáo dục Chân Phật mới có thể thật sự như bức họa “Trăm năm trồng người” của Sư Phật.

Các đệ tử chúng con cầu thỉnh Sư Phật gia trì cho sự nghiệp giáo dục Chân Phật năm Hổ được như hổ thêm cánh, giống như hổ bay lên, khí thế chấn động núi sông, cảm hóa vô lượng chúng sinh đều quy y Chân Phật, mọi thứ đều thuận lợi cát tường viên mãn.

Sư Phật kính yêu, đệ tử mặc dù bận rộn với sự nghiệp giáo dục Chân Phật, nhưng đệ tử sâu sắc biết rằng, tất cả mọi thứ của nhân gian đều chẳng qua là một giấc mộng huyễn, thậm chí ngay cả giấc mộng cũng không có. Cái quan trọng nhất vẫn là an trụ trong tính Không, thực tu thành tựu. Cho nên đệ tử bất luận thế nào, mỗi ngày đều duy trì thực tu bốn đàn Mật pháp (ít nhất cũng phải ba đàn). Buổi sáng nạp khí nuốt dịch, Kim cang tụng, Bảo bình khí, Kim Mẫu bảy đại pháp, mỗi ngày đều kiên trì vận động. Cảm nhận khi tu pháp Thượng sư, Thời Luân, Chuyết hỏa đều rất mãnh liệt. Khi thiền định thì làm theo khẩu quyết mà Sư Phật truyền thụ, tâm luân sáng ngời ổn định, trong hư không mẫu quang chiếu rọi, tử quang mẫu quang dung hợp với nhau, an trụ trong cảm giác lạc không minh.

Đồng thời đệ tử cũng duy trì mỗi ngày không ngừng học tập, mỗi ngày đều viết một bài cảm nhận đọc văn tập của Sư Phật để chia sẻ với mọi người, dùng điều này để rèn luyện bản thân, cũng kéo theo mọi người cùng học tập theo văn tập của Sư Phật. Ngoài ra, khi đọc sách của Sư Phật, đệ tử đồng thời cũng học tập được những tri thức mới nhất của các môn khoa học đương đại, để dung hợp chúng với Phật pháp, để lợi ích cho sự phát triển sau này của sự nghiệp giáo dục Chân Phật.

Cuối cùng, một lần nữa chúc nguyện Sư Phật Sư Mẫu xuân mới hạnh phúc! Phật thể an khang! Trường thọ tự tại! Trường trụ thế gian! Hằng chuyển pháp luân! Thỉnh Phật trụ thế! Cũng cầu thỉnh Sư Phật gia trì cho đệ tử thân thể khỏe mạnh, đẩy lùi tai chướng, tu hành thành tựu, tương ứng thành tựu, khí mạch điểm thành tựu, thiền định thành tựu, kiến tính thành Phật, hơn nữa lấy đại bồ đề tâm để dẫn dắt chúng sinh cùng thành Phật!

Kính thư,
Ngu đệ tử Liên Ha vái lạy.

São Paulo, Brazil ngày 21/01/2022.


### 48. Thư của Liên Hoa Mạnh Thông (1)


Sư Tôn, Sư Mẫu Phật an!
Đệ tử Liên Hoa Mạnh Thông, Liên Hoa Giai Dĩnh (bà xã) và Liên Hoa Mạnh Chương (người anh song sinh), xin quỳ trước Sư Tôn Sư Mẫu để vấn an. 

Vào năm Dân Quốc 98 [năm 2009], đệ tử vì sức khỏe của bạn gái (hiện tại là bà xã Lã Giai Dĩnh) nên đã đưa cô ấy đi tiêm vaccine ung thư cổ tử cung, kết quả là gián tiếp dẫn đến các vấn đề miễn dịch tương tự như bệnh lupus ban đỏ, điều này là do tự miễn dịch quá mạnh, nó sẽ tự tấn công các tế bào của chính mình: cô ấy gặp vấn đề với thận, dây thần kinh sinh ba và tuyến tụy (đầu tiên là thận, sau đó là dây thần kinh sinh ba và cuối cùng là tuyến tụy) trong nhiều năm. Vì thế vào tháng 10/2009, tại bệnh viện Đại học Quốc gia Đài Loan (lúc đó cô ấy bị suy thận cấp tính), đệ tử đã dùng “Thời Luân Kim Cang quyết lặc lệnh” nguyện chịu thay đau khổ của cô ấy. Đã bao đêm, đệ tử khóc trong đau đớn bởi vì người vợ của mình phải chịu khổ như vậy nhưng mình lại chẳng thể làm gì, thật đau xót quá. Nhưng vợ đã an ủi đệ tử, đây là nghiệp cô ấy phải trả, và vợ đệ tử đã quy y Sư phụ vào năm 2008. Khi lần đầu tiên đệ tử đưa cô ấy đi Đài Loan Lôi Tạng Tự (ngày 3/5/2009), vừa đúng dịp gặp được Sư Tôn cũng đến đó, ngày hôm đó đã được quán đảnh Bất Động Minh Vương. Hiện tại sức khỏe của bà xã cũng xem là đã ổn định. Về sau, chị gái của Giai Dĩnh (Lã Mẫn Từ) cũng quy y Sư Tôn rồi, cảm tạ Sư Tôn từ bi.

Vào ngày 18/5/2018, con trai đệ tử đã ra đời, nhờ thời gian được Sư Tôn đại lực gia trì mà con trai được sinh ra thuận lợi. Theo lý mà nói, các vấn đề về hệ thống miễn dịch như lupus ban đỏ khiến cho việc thụ thai không thể thực hiện được, thế nhưng đã sinh con rồi, cảm tạ Sư Tôn, Phật, Bồ Tát từ bi, tất cả không thể nói hết bằng lời.

Đệ tử chúng con chắp hai tay cảm ơn Sư Tôn, Sư Mẫu.
Om guru liansheng siddhi hum.


### 49. Thư của Liên Hoa Mạnh Thông (2)


Giấc mơ khi quy y thời trung học.

Kì nghỉ hè của năm đầu cấp ba (năm 1995), đệ tử đã quy y Sư Tôn Liên Sinh Pháp Vương, khi ấy quy y đệ tử đã có hai giấc mơ:

(1) 

Đệ tử mơ thấy đi trong núi (cảm giác là thời cổ đại), đột nhiên có người nói bên suối có rất nhiều cá ngon. Khi đệ tử chạy tới nhìn thì… chà… cảm giác cá trông rất béo khỏe ngon lành, cho nên liền nhảy xuống để bắt. Đột nhiên những con cá đó biến thành quái vật, bao vây lấy đệ tử. Lúc này đệ tử liên tục niệm A Di Đà Phật, bỗng nhiên có người nói chẳng phải là cậu quy y Liên Sinh Hoạt Phật rồi sao? Lúc này đệ tử liền niệm “Om guru liansheng siddhi hum”, thế là là đệ tử tỉnh dậy, khi tỉnh dậy thì mồ hôi đầm đìa.

(2)

Mơ thấy ở trong một cung vua, cảm giác không rộng lớn lắm, Sư Tôn ngồi trên ghế rồng (trong mơ cảm giác Sư Tôn là Hoàng đế), còn đệ tử đứng bên cạnh làm hộ vệ. Lúc này có rất nhiều thích khách đến muốn giết Sư Tôn, bởi vì quá đông nên mắt đệ tử không kịp nhìn để bảo vệ Sư Tôn. Lúc này Sư Tôn bất ngờ phóng ra ánh sáng trắng rất mạnh trực tiếp làm thích khách đều bị thương, một người trong số đó khi bỏ chạy còn nói “Không ngờ ông là hóa thân của Đại Nhật Như Lai!” Kết quả là đệ tử tỉnh dậy. (Ha ha! Sư Tôn trước kia là Hoàng đế đó!)

(Chú thích) Thời cấp ba, đệ tử quy y là vì anh trai (Lý Mạnh Chương - người anh song sinh của đệ tử, hiện tại làm tiến sĩ giảng dạy tại học viện Y Học Quốc Phòng), có lần trong thư viện đã đọc được văn tập của Sư Tôn. Anh trai hỏi đệ tử có muốn quy y không? Đệ tử nói “Được thôi!”. Anh trai đệ tử lúc còn học cấp 3 đã rất nỗ lực tu pháp, còn thời gian đệ tử học cấp 3 thì không chăm chỉ tu pháp (thật là hổ thẹn quá!).

Đệ tử chúng con chắp hai tay cảm ơn Sư Tôn, Sư Mẫu.
Om guru liansheng siddhi hum.


### 50. Thư của Liên Hoa Mạnh Thông (3)


Thời gian học đại học cho đến hiện tại.

Khi đệ tử học năm ba đại học mới chính thức thực tu Tứ gia hành. Khi ấy đệ tử chuyên chú về Bách tự minh thiền định kim cương niệm tụng, trong vòng nửa năm đã hoàn thành 100.000 biến, đến nay thì đã hoàn thành 400.000 biến. Khi niệm Bách tự minh chú được khoảng 50.000 biến, có lần đi ăn món nướng kiểu Hồng Kông, lúc đệ tử làm siêu độ thì không ngờ lại nhìn thấy ánh sáng đỏ và trắng xung quanh mình bay lên, kể từ đó, trình độ làm siêu độ liệu có Phật Bồ Tát Hộ Pháp Minh Vương Kim Cang đến tiếp nhận cúng dường hay không, đệ tử đã có được cảm giác vô cùng chân thực. Cũng vào thời gian này, đệ tử cũng làm đại lễ bái, khi lạy được khoảng hơn 12.000 lạy thì nhìn thấy ở đàn thành, trên bức thangka Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử, bỗng xuất hiện ánh sáng cầu vồng giống như quay tròn, xuất hiện khoảng 12-14 cái, có to có nhỏ, mỗi lần xuất hiện một cái thì đều có âm thanh “tạch, tạch”. 

Có được sự gia trì liên tục của Sư Phật, sự che chở và yêu mến của Phật Bồ Tát Hộ Pháp, ý nghĩa sâu xa của thiền định niệm Bách tự minh chú đã dần dần hiển hiện. Cho nên khi đệ tử lúc học đại học, lần đầu tiên nhập thiền định, không ngờ đã nhìn thấy ánh sáng vàng kim ở khắp xung quanh, lúc này đệ tử bị làm cho sợ hãi nên lập tức mở to mắt ra, rất lâu chưa thể định thần lại, sau đó từ từ đã quen dần. Những thay đổi trong toàn bộ việc tu hành của đệ tử là vào năm 2000 khi lần đầu tiên được Sư Phật đích thân quán đảnh pháp Thời Luân Kim Cang ở Hồng Kông.

Khi trở về Đài Loan, có một buổi chiều đang nghỉ trưa, không ngờ đệ tử mơ thấy Sư Tôn, cảnh mộng đó là Sư Tôn ngồi một bên, và bởi vì đàn thành đều được phủ khăn vàng, đàn thành đó có ba tầng, cho nên đều không nhìn thấy bất kì kim thân của Phật Bồ Tát Hộ Pháp Kim Cang nào. Đệ tử vừa nhìn thấy Sư Tôn thì lập tức xông lên quỳ xuống, đồng thời lấy chân Sư Tôn ấn lên phạn huyệt trên đỉnh đầu đệ tử. Đúng vào lúc này, một lực gia trì rất mạnh như dòng điện chạy vào bên trong, đồng thời đệ tử cũng nhìn thấy trung mạch của mình mở ra (một ống dẫn màu xám trên rộng dưới hẹp). 

Kể từ đó cảnh giới thiền định đã được nâng cao, ví dụ khi thiền định sâu, có lúc sẽ nhìn thấy những điểm sáng như ánh sao. Tiếp đó vào năm 2005, đệ tử lại một lần nữa mơ thấy Sư Tôn, Sư Tôn rất vui vẻ gia trì. Chà… Sự gia trì như dòng điện mạnh mẽ này thật sự là cả đời khó quên. Lúc này Sư Tôn nói với đệ tử: “Cảnh giới hiện tại của con đã là Sắc giới Sơ thiền thiên, cứ tiếp tục tu như vậy, rất tốt, rất nhanh chóng có thể xuất tam giới.”

(Buổi tối một ngày trước khi mơ thấy Sư Tôn, khi thiền định, đệ tử dường như bay đi trong vũ trụ, đột nhiên, đệ tử xuyên qua một tầng không gian, nhìn thấy một chút ánh sáng, lúc này, trong sát-na đệ tử biết rằng đây chính là khởi nguồn của nhân loại.)


### 51. Thư của Liên Hoa Mạnh Thông (4)


Lần chuyển biến về tu pháp thứ hai là sau khi tu Thời Luân Kim Cang quyết (năm 2008), toàn bộ dung nhập và cảm nhận càng thêm vững chắc (đệ tử đã kết lời thề với Thời Luân Kim Cang).

Chú thích: Từ khi học đại học đến nay, đệ tử đều đang tu Bách tự minh thiền định kim cang niệm tụng, mặc dù có tu các pháp khác như Thời Luân Kim Cang quyết, pháp Thập phương xạ tiễn của Kurukulle Phật Mẫu, nhưng hiện tại vẫn lấy Bách tự minh thiền định kim cang niệm tụng là chính. Ngoài ra, Chân Phật Kinh và Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh cũng đã đọc vô số biến rồi. Khi tu cúng dường, đệ tử hoan hỷ dùng pháp cúng dường thất trân bát bảo mà Sư Tôn truyền dạy, và niệm Bất Không Mani cúng dường chân ngôn, cảm giác rất hoan hỷ.

Chú thích: Buổi chiều ngày 17/12/2021, khi đệ tử chuẩn bị dọn dẹp sơ qua đàn thành, bỗng phát hiện có hạt xá lợi bảy màu ở trước đàn thành. Ban đầu đệ tử cho rằng chỉ có thế, nhưng kết quả là không ngờ phát hiện ra cái bệ mà đệ tử dùng để đặt pháp khí (bên trong chỉ để đá quý mua từ ngày 3/1/2019), không ngờ lại có vô số hạt xá lợi bảy màu và hạt xá lợi màu trắng, ngày hôm đó phát hiện ra chắc là vì chúng nhiều đến mức trào ra ngoài. 

Trời ban xá lợi, thật khiến đệ tử xấu hổ toát cả mồ hôi rồi!

Đệ tử Liên Hoa Mạnh Thông cúng dường Liên Sinh Hoạt Phật trời giáng xá lợi:
Nguyện đem công đức và phúc đức của việc trời giáng xá lợi cúng dường, chúc nguyện Sư Tôn trường thọ trụ thế vạn kiếp, bước chân hoa sen trụ vững tại thế giới Ta Bà, quảng độ vô lượng chúng sinh, chớ nhập niết bàn. Mãi làm con mắt của trời người thế gian, lợi lạc vô lượng vô biên chúng sinh hữu tình.

Chú thích: Đây là bài thơ mà đệ tử viết từ thời đại học, xin dâng tặng Sư Tôn Liên Sinh Pháp Vương:

*Liên hoa tạng viên đại bi hành,
Bậc giác ngộ hóa sinh độ hữu tình.
Truyền pháp nhập thế để cổ vũ
Phật đỉnh vô thượng Hoa Quang Phật
Cảm ơn Sư Tôn!*

*Đệ tử chúng con xin chắp tay
Cảm ơn Sư Tôn và Sư Mẫu
Om guru liansheng siddhi hum.*

🌟

Tâm đắc khi đọc thư:

*Nhân gian Ta Bà bao sự vật
Biến huyễn cầu vồng trong hư không
Nhất thời hiện lên không trụ lại
Trong một sát-na biến mất rồi
Phật tính vốn là thể ánh sáng
Không sinh không diệt cực thanh tịnh
Không tăng không giảm pháp bản nhiên
Không thiện ác cũng không thua thiệt
Gọi là Phật pháp vốn vô pháp
Gọi là người cũng chẳng có người
Chỉ là người giả tu pháp giả
Đều như con thuyền ra biển khơi
Đến bờ bên kia nhờ Mật pháp
Tu trì Mật chú quá siêu nhiên
Nhất tâm tự mình tiêu nghiệp chướng
Nghiệp tiêu Không huệ tự nhiên sinh.*

Ngày 09/02/2022. 
Lư Thắng Ngạn viết.


### 52. Thư của Renee


Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật kính yêu!
Con muốn cảm tạ thầy trong sự kiện thảm hỏa mới đây đã giúp bảo vệ cho người nhà con.

Hai năm sau khi không thể đi du lịch do đại dịch Corona virus, con quyết định đi thăm nhà vào kì nghỉ Giáng sinh năm 2021. (Người thân sống ở Colorado.)

Ngày cuối cùng trước khi con trở lại California, con đã lên kế hoạch đi thăm một số người thân ở phía bên kia của thị trấn. Tuy nhiên, khi con thức dậy vào sáng hôm đó, gió bão đang thổi xung quanh hạt Boulder của chúng con. Khoảng 11 giờ sáng, bố con gọi điện nói rằng ông đã nhìn thấy một đám cháy gần nhà của chị dâu con ở South Boulder. Đến khoảng ba giờ chiều, toàn bộ bầu trời phía đông đồng bằng chìm trong khói lửa. Khi ấy, với sức gió 115 dặm/giờ, ngọn lửa đang lan nhanh hơn sự tưởng tượng của bất kì ai. Từ cửa sổ an toàn của phòng ngủ của mình, con nhìn thấy toàn bộ thị trấn bốc cháy nhanh chóng. Con chỉ có thể không ngừng niệm tụng Liên Hoa Đồng Tử tâm chú trong đầu, và cầu nguyện Sư Tôn giúp hóa giải tai họa này rất lâu, rất lâu.

May mắn cho con và gia đình, gió sau đó chuyển sang hướng đông, có nghĩa là không có lửa hoặc tro tàn xâm nhập vào khu vực của chúng con. Bà nội con đã được sơ tán an toàn khỏi viện dưỡng lão của bà ở Louisville. May mắn hơn nữa là, ngọn lửa bùng phát cách nhà bà gần 2km nhưng được dập tắt ngay lập tức nên ngôi nhà của bà không bị thiệt hại.

Điều đáng ngạc nhiên là nhà của chị dâu không bị thiêu rụi dù ở trong khu vực bị thiệt hại nặng nề nhất. Ngọn lửa đã bùng cháy trong địa giới của họ và phá hủy hầu hết các ngôi nhà xung quanh họ. Nhưng ngôi nhà của họ không bị hư hại, như thể có một sự bảo vệ nào đó xung quanh ngôi nhà của họ.

Thêm vào đó, trang trại nơi mẹ con nuôi ngựa cũng không bị bắt lửa. May mắn thay, một trận bão tuyết lớn ập đến và ngọn lửa đã được dập tắt trong vòng hai mươi bốn giờ. Hơn 900 ngôi nhà đã bị phá hủy. Chỉ có hai người bị mất tích. Đáng ngạc nhiên là đám cháy có cường độ mạnh như vậy đã không cướp đi sinh mạng của nhiều người hơn.

Sau đó, con nói chuyện với chú con, một cảnh sát đã nghỉ hưu, người tình nguyện tham gia đội ứng cứu khẩn cấp. Ông ấy nói, với rất nhiều vụ cháy quy mô lớn và tàn phá trong hai năm qua, nhưng mỗi khi lửa đến gần biên giới của thành phố Boulder quê hương con thì lửa lại dừng lại không cháy tiếp về phía trước nữa. Ông ấy không thể nào giải thích được tình huống này, giống như xung quanh quê hương con có một lớp bảo vệ.

Nhưng trong lòng con hiểu rất rõ, người nhà con phần lớn đều sống tại thành phố Boulder, con hàng ngày đều chăm chỉ tu Chân Phật Mật Pháp, thỉnh cầu Sư Tôn, Chư Phật Bồ Tát, Hộ pháp bảo vệ cho người nhà con bình an, khỏe mạnh, vui vẻ, con cũng luôn báo danh tham gia cho người nhà con ở mỗi pháp hội mà Sư Tôn chủ trì.

Con thường ước mình có nhiều cơ hội dành thời gian cho gia đình hơn, nhưng đồng thời con càng vui mừng vì bản thân có duyên trở thành đệ tử của Sư Tôn, biết học tập Chân Phật Mật Pháp, giúp ích rất lớn đối với người nhà. Bây giờ con biết làm thế nào để thỉnh cầu Sư Tôn gia trì cho người nhà rồi. Mặc dù họ không hiểu, nhưng con biết họ cũng rất may mắn có được sự bảo vệ và gia trì của Căn bản Thượng sư, Chư Phật Bồ Tát, Hộ pháp.

Một lần nữa, con vô cùng cảm ơn Sư Tôn đã luôn bảo vệ con và người nhà của con được an toàn.
Kính thư!
Đệ tử Liên Hoa Renee Lyn. (Đệ tử người phương Tây.)


### 53. Thư của Liên Hoa Đại Bàng


Nhất tâm đảnh lễ Căn bản Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật từ bi. 

Đệ tử là giảng sư Liên Hoa Đại Bàng, hiện tại khi đệ tử viết thư cho thầy ở Thụy Điển thì đệ tử cũng đang đọc bản thảo cuốn sách mới của thầy còn chưa phát hành là cuốn 288 “Một giỏ ý tưởng kỳ lạ”. Ngày 28/1, đệ tử đã nhận được thư mời của Chân Phật Bát Nhã Tạng để thu âm cuốn sách mới này của Sư Tôn, vì vậy đệ tử rất vinh hạnh được một lần nữa được đọc sớm những tác phẩm của thầy.

Khi đệ tử đọc đến nội dung của chương 11, chương 12, chương 13, đệ tử đã sâu sắc cảm nhận được tâm tình lo lắng của thầy đối với sự hỗn loạn của xã hội ngày nay, thầy đã vì em trai của Thượng sư Liên Hỷ gặp nạn cướp ở Panama, bị côn đồ nổ súng bắn trúng tim, cấp cứu vô hiệu và đã lìa đời vãng sinh, mà trong lòng hết sức đau đớn. Cảm khái đạo đức suy đồi, xã hội hiện nay đã mất đi đạo đức nhân nghĩa mà tổ tiên đã đề xướng và tôn sùng, nên trong tiêu đề của chương 13 đã nói “Đã đến lúc giáo dục chữ “nhân” rồi”. Nội dung của chương này khiến đệ tử thở dài xúc động trước lời kêu gọi cùng hành động của Sư Phật để lấy lại nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, tâm đồng cảm, tâm nhân ái, hy vọng nhân loại trong xã hội chúng ta đều có thể giữ lễ, nghĩa, liêm, sỉ trong tim, kêu gọi tinh thần của Thánh nhân. Đúng vậy, trong thời đại lan tràn sự ham muốn hưởng thụ vật chất, tự tư tự lợi, ai còn có thể chú ý đến cảm nhận và đau khổ của người khác đây!

Đệ tử còn nhớ thời gian pháp hội xuân mới năm 2016, Sư Phật từ bi đã ban cho đạo tràng Thụy Điển ở địa chỉ mới với tên gọi là Tu Đức Đường, và vào năm 2020 đã được Tông Ủy Hội thăng cấp thành Tu Đức Lôi Tạng Tự, dưới sự dẫn dắt của pháp sư Liên Ưng tu hành Chân Phật Mật Pháp, độ hóa chúng sinh hữu duyên ở địa phương. Vào năm 2016 khi Sư Tôn ban tên gọi Tu Đức Đường, đệ tử biết Sư Tôn kì vọng chúng con có thể hoằng dương Chân Phật Mật Pháp ở Châu Âu, và có thể dùng phương tiện thiện xảo, mượn tư tưởng của tổ tiên Thánh hiền Trung Quốc để ảnh hưởng những chúng sinh hữu duyên, trên cơ sở làm người mà trau dồi những kỹ năng cơ bản, tu đức, tu tâm.

Năm đó, các đệ tử của Tu Đức Đường cũng đã mở ra Học đường Tu Đức nhắm vào việc giáo dục đạo đức đối với thanh thiếu niên, cùng hợp tác với trường học Trung văn ở địa phương để mở lớp học Tứ thư Ngũ kinh của Khổng Tử, đạo Khổng Mạnh, cũng làm dấy lên làn sóng học Quốc học sôi nổi ở địa phương. Sáu năm sau, lớp thiếu nhi đó đều đã trưởng thành, con cũng đã hiểu sâu hơn về sự kết hợp của Khổng Tử, Lão Tử và Phật giáo trong quá trình tự học và giảng dạy của mình. Tác động trực tiếp của việc áp dụng những gì con đã học được là sự tu dưỡng cá nhân, các mối quan hệ gia đình và sự nghiệp trưởng thành của con đều đạt được những tiến bộ vượt bậc. Đối với những giáo huấn của Sư Phật thì càng có thể thực hành một cách chắc chắn trong cuộc sống, dung nhập Phật pháp vào cuộc sống, từ trong cuộc sống mà trải nghiệm và lĩnh ngộ được trí huệ của Phật lý. Vào năm 2021 đệ tử đã hoàn thành được loạt khóa học về Đạo Đức Kinh và Quản lý học, phát hành chúng trên nền tảng sách nói để kết duyên với đại chúng hữu duyên. 

Vì thế, khi đọc thấy trong sách Sư Phật kêu gọi những người nhân ái, con đã nảy ra ý muốn giúp Sư Phật phổ cập tư tưởng nhân ái, bằng cách dùng những ngôn ngữ thông tục dễ hiểu để biểu đạt những câu từ tinh hoa trọng yếu trong Luận Ngữ của Khổng Tử, dùng hình thức sách nói để làm thành một loạt chuyên mục bài học, ví dụ đăng lên Chân Phật Bát Nhã Tạng thì càng tiện cho các đồng môn của tông phái chúng ta tải xuống nghe. Đương nhiên, những cách nghĩ này đều phải được Sư Phật cho phép, đệ tử tài hèn học ít, vẫn không biết liệu có thể gánh vác nổi trách nhiệm này không, cần có sự gia trì của Sư Phật mới có thể hoàn thành thuận lợi.

Ngu đệ tử Liên Hoa Đại Bàng khấu đầu đảnh lễ.
Stockholm Thụy Điển, ngày 02/02/2022. 


### 54. Không phải thư tình — Là tu pháp


Bài viết của Hân Hân.

Một lòng chân thành quỳ xuống, chắp tay đảnh lễ Sư Tôn kính yêu nhất lại vừa đẹp trai của con. Vốn dĩ con chỉ định viết mấy câu trong thiệp chúc mừng, nhưng rồi lại viết thành một bức thư. Có thể thấy là trong lòng con thật sự có quá nhiều quá nhiều lời, rất muốn để thầy được biết. Không biết đời người còn được bao lâu, cho nên rất muốn để cho thầy hiểu.

Mỗi lần đứng trước mặt thầy là trái tim con lại đập nhanh hơn, không mở miệng ra được, chỉ có nhìn thầy, trong lòng muốn nói nghìn lời vạn ngữ, hy vọng thầy thật sự có thể nghe thấy. Thầy biểu diễn đầy duyên dáng khiến mặt con đỏ lên vì xấu hổ, lại cũng băn khoăn, bao giờ cũng khiến con vừa tôn kính vừa mất đi lý tính, mỗi lần nghĩ đến sự gặp gỡ của chúng ta, thầy luôn khiến con thấy ngọt ngào trong tim rất lâu rất lâu. Những biểu cảm rất nhỏ của thầy, những tâm tình rất nhỏ của thầy, mỗi một động tác, con đều rất muốn hiểu được, tất cả mọi thứ về thầy con đều rất tò mò, rất lưu ý. Thầy vui thì con vui, thầy thất vọng thì con sẽ khó chịu. Thầy to lớn dũng cảm bảo vệ con, thầy đại lực gia trì cho con, thầy thân thiết để ý lo lắng, thầy khẽ cười, tất cả bao giờ cũng vương ở trong tim con, khiến con cảm thấy vừa an tâm lại đau lòng.

Thầy nói, mỗi lần thầy nhớ đến là lại chảy nước mắt, thế là thành đại dương, con nói, bởi vì nước mắt nhớ nhung của thầy đã chảy vào tim con, thế là có “Hân” (con). Ở trong tim con thầy giống như một phong cảnh, trời nam đất bắc ở đâu cũng có thầy, thầy là phong cảnh mà con hiểu sâu sắc nhất. Trái tim con. Hơi thở của con, tên gọi của con, đều là bóng dáng của thầy. Thầy ở đó, thầy là tất cả, thầy không ở đó, tất cả đều là thầy. Có tình yêu của thầy ở trong tim, tình yêu đầy tràn lúc nào cũng tràn ra ngoài, khiến người bên cạnh cảm thấy con lúc nào cũng vui vẻ ngọt ngào một cách chẳng thể hiểu được. Chính thầy đã biến thế giới của con thành màu hồng, chính thầy đã khiến con nhìn bất kì thứ gì cũng đều thành hình trái tim, chính thầy khiến trái tim yêu thương của con lúc nào cũng vỡ òa và tuôn trào ra, chính thầy khiến cuộc sống của con không biết vì sao mà luôn rất vui vẻ, chính thầy khiến con chỉ có hít thở mà cũng ngất ngây.

Hy vọng mỗi lần con nhớ thầy, thầy đều biết được, như thế, thầy có thể biết con nhớ thầy nhiều thế nào. Xin thầy ở lại trong trái tim con, vĩnh viễn không rời xa, một lòng một ý. Thầy chính là trung tâm của cuộc đời con, trung tâm duy nhất. Trung tâm thế giới của con vĩnh viễn vẫn luôn là thầy. Bất kì ai đều không thể thay thế được. Thầy là Phật lực của con, loại bỏ mọi sự trống rỗng, nâng niu mật ngọt, nét tươi cười càng ngọt ngào hơn, khi cần sự dũng cảm là con nghĩ đến thầy. Nghĩ nhiều đã biến con thành khí oxy của thầy, chảy vào trong thân thể thầy, chăm chú nhìn vũ trụ nhỏ trong trái tim thầy.

Đệ tử đang tu pháp Thượng sư tương ứng, thỉnh cầu thầy sớm đến tương ứng, hợp nhất, tâm liền tâm, cho đến vĩnh cửu. Mong thầy mọi thứ đều tốt đẹp.

Xin đừng quên con. Hân Hân yêu thầy. 

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/290-cau-chuyen-nghin-chiec-thuyen-phap.md
# Title: 290. Câu chuyện nghìn chiếc thuyền pháp
---

![image](/img/img_1b620c3e0374e067a58a508d860e8b22.jpg)



## Câu chuyện nghìn chiếc thuyền pháp


🪷 **Chuyện linh dị về siêu độ**

Văn tập số: 290
Xuất bản: 15/08/2022
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


Tôi nhớ có một mẩu chuyện nhỏ.
Có một người lúc đêm khuya, vì không ngủ được nên khoác áo ra ngoài đi dạo. Lúc đi đến dưới một cái cây to, từ phía sau cái cây đột ngột có một con ma xồ ra. 

Người này kinh hãi, cao giọng nói:
”Sao mi dám xuất hiện để dọa người?”
Con ma kia nghe xong thì hét lên rằng:
”Loài người các ông sống vào ban ngày. Loài ma chúng tôi sống vào ban đêm. Còn ông xuất hiện vào ban đêm, là ông dọa tôi chứ có phải tôi dọa ông đâu, sao ông lại có thể nói ngược như vậy?”
Người này nghe xong thì cảm thấy cũng có lý, bèn nói với con ma:
”Xin lỗi! Xin lỗi!”

Câu chuyện này rất thú vị, tôi nói:
”Thế giới của người và thế giới của ma là trùng điệp, một đằng sống vào ban ngày, một đằng sống vào ban đêm, đây là nước giếng không phạm nước sông.”
Nhưng loài người lại xâm phạm vào loài ma. Vì thế loài ma cũng xâm phạm vào thế giới loài người. Cho nên đây là xâm phạm lẫn nhau.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) là con người, nhưng vì tu hành cho nên cũng hiểu rõ thế giới của ma.
Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người:
”Ma là có thật!”
Tôi từng nói với ma rằng:
”Các người và tôi cùng sống, sống chết có nhau, cùng chung hoạn nạn, cũng xem như là tri kỷ. Hôm nay, tôi giúp các người, các người đương nhiên cũng phải giúp tôi, các người ở trong nhà tôi cũng có thể uống trà uống nước, khi tôi không ở nhà thì các người giúp tôi trông coi nhà vườn.”

Tôi nói chuyện với ma, Sư Mẫu Liên Hương Thượng sư thấy tôi nói chuyện, bà ấy hỏi:
”Ông nói chuyện với ai đấy?”
Tôi nói:
”Với ma.”
Sư Mẫu Liên Hương Thượng sư nói:
”Ma làm gì có sức mạnh?”
Tôi nói:
”Thần có sức mạnh lớn, ma có sức mạnh nhỏ. Chúng ta không thể coi thường họ, họ mà hợp lại với nhau thì sức mạnh cũng rất lớn.”

🌟

Tôi thẳng thắn nói với mọi người.
Từ năm 2020 đến năm 2022, quãng thời gian này là những ngày tháng virus Corona tàn phá toàn thể nhân loại. 
Tôi rất đau lòng.
Tôi đã phát một lời thề:
”Tôi nguyện siêu độ cho những u linh đã chết vì virus Corona.”
Hàng đêm tôi làm siêu độ.
Không nghỉ một ngày nào.
Cứ như vậy mà hai năm trôi qua, đến hôm nay tôi vẫn chưa dừng lại. 
Tôi làm không vì gì cả.
Tôi chỉ làm hết bổn phận của mình.
(Nên vô sở trụ mà sinh tâm ấy.)

Vì thế, Nam Sơn Nhã Xá mà tôi ở đã trở thành một cái chợ cho loài ma tụ tập. Việc “làm ăn buôn bán” rất hưng thịnh, tiếng tăm vang xa. Và vì thế cũng đã phát sinh rất nhiều câu chuyện, tôi ghi chép chúng lại thành cuốn sách này.

Chúc mọi người:
Mở sách ra có được lợi ích!

(Tháng 5/2022)

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Nghi quỹ siêu độ của tôi


Tôi muốn trình bày sơ lược phần chính yếu trong nghi quỹ siêu độ của tôi như sau:

(Chính hành)
Tôi ngồi ngay ngắn trên pháp tọa.
Diêu Trì Kim Mẫu hiển hiện trong hư không, ngài phóng quang sáu lần chiếu đến tôi Lư Sư Tôn.
Tôi lắc mình một cái, biến thành Bổn tôn A Di Đà Phật. (tự hóa Bổn tôn)
Tay phải kết ấn ban nguyện.
Tay trái kết ấn thuyết pháp.
(Hai tay có thể hoán đổi thủ ấn.)
Từ trong ấn ban nguyện trượt ra một chiếc thuyền pháp. Chiếc thuyền pháp này biến thành mười chiếc, mười chiếc biến thành trăm chiếc, trăm chiếc biến thành nghìn chiếc.
Nghìn chiếc thuyền pháp này bày ra ngay trước mặt, trên một mặt biển rộng mênh mông vô cùng vô tận, rất tráng lệ.
Diêu Trì Kim Mẫu cầm cờ lệnh, hạ lệnh một tiếng:
”Trung ấm hữu duyên, trung ấm vô duyên, mời lên thuyền pháp.”
Trong sát-na, các hồn ma u linh theo trật tự nhanh chóng lần lượt lên thuyền pháp, nhanh chóng ngồi kín thuyền.
(Tai tôi nghe thấy tiếng các hồn ma u linh lên thuyền.)
Xột xoạt.
Lẹt xẹt.
Cạch cạch.

Đúng vào lúc này, A Di Đà Phật hiện thân tại hư không trước mặt tôi, ngài phóng vô lượng quang chiếu đến tôi. 
A Di Đà Phật hóa ra vô số thân, vây xung quanh nghìn chiếc thuyền pháp. 
Sau đó, ngài cũng phóng vô lượng quang chiếu đến u linh chúng. 
(Tôi Lư Sư Tôn cũng phóng vô lượng ánh sáng.)
Tắm gội cho các hồn ma u linh.
Cuối cùng các hồn ma u linh đều được thân tâm thanh tịnh, thân thể mỗi u linh đều tỏa ánh sáng trắng, thuyền pháp lần lượt bay vút lên không trung. 
Nghìn chiếc thuyền pháp từ mặt biển lần lượt bay vút lên không đến cõi trời bên ngoài cõi trời.
Tại cõi trời bên ngoài cõi trời, Diêu Trì Kim Mẫu đã giới thiệu cho họ về Tây phương Cực Lạc tịnh thổ.

Ba vị hỗ chủ của tịnh thổ là:
A Di Đà Phật.
Quan Thế Âm Bồ Tát.
Đại Thế Chí Bồ Tát.
Có bốn tịnh thổ là: Thường Tịch Quang Thổ, Thực Báo Trang Nghiêm Thổ, Phương Tiện Hữu Dư Thổ, Phàm Thánh Đồng Cư Thổ.
Có đình đài lầu gác.
Có hàng cây thất bảo.
Có bát công đức thủy.
Có ba mươi bảy đạo phẩm.
Cõi Tây phương cảnh là tịnh thổ bất thối chuyển, là cực lạc, là thanh tịnh.
Thế rồi nghìn chiếc thuyền pháp khởi hành, hướng về Tây phương tịnh thổ.

Lúc này, tôi tu pháp:
Niệm Phật: “Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật.”
Trì chú: “Om amidewa seh.” [Ôm a-mi-đê-wa sê]
Chú vãng sinh.
Chú Văn Thù vãng sinh. (kết thủ ấn Mật giáo)
Trong khi tu pháp, tôi đặc biệt từ trong tâm ấn của chính mình tuôn chảy ra chân ngôn vô thượng bí mật nhất.
Chân ngôn bí mật này đã thu lấy nghìn chiếc thuyền pháp, trực tiếp gửi vào trong tâm của A Di Đà Phật.
Thiện tai! Thiện tai!
Huô! (chú âm)
Huô! (chú âm)
Huô! (chú âm)
Mỗi buổi tối, tôi siêu độ đến 2 rưỡi sáng mới rời khỏi pháp tọa.
Cứ liên tục như vậy, ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác.
”Om guru liansheng siddhi hum.”


### 02. Nhà tôi thành khu của ma


Kể từ sau khi làm siêu độ nghìn chiếc thuyền pháp cho các linh hồn, nhà tôi đã trở thành khu của ma.
Nhà tôi không to không nhỏ, rộng hai mẫu đất [khoảng 1330 mét vuông], diện tích xây dựng là một vạn thước [khoảng hơn 900 mét vuông]. Nhưng mỗi đêm đều có xấp xỉ cả vạn hành khách của nghìn chiếc thuyền pháp. 

Làm sao mà nhà tôi chứa được nhiều ma như vậy?
Câu trả lời của tôi là:
Nếu bạn biết rằng ngôi nhà ổ chuột của cư sĩ Duy Ma Cật có thể dung nạp được trăm nghìn triệu tỉ pháp tọa của Phật thì bạn sẽ hiểu: lớn có thể chứa được nhỏ, nhỏ có thể chứa được lớn, lớn nhỏ hòa tan vào nhau. (Kinh Duy Ma Cật)

Ví dụ:
Nhà tôi có một chậu cảnh trồng cây trúc, trúc có từng đốt từng đốt, rỗng ruột, mỗi một đốt trúc rỗng ruột có thể chứa được vạn linh hồn.
Ngoài ra còn có:
Tủ lạnh.
Tủ quần áo.
Chậu rửa.
Giá sách.
Phòng chiếu phim.
Phòng vận động.

Mỗi buổi sáng tôi ngủ dậy, đi qua phòng vận động, tôi đi vào bên trong soi gương một lát. (Phòng vận động bốn xung quanh đều là gương.)
Tôi soi gương.
Tôi nghe thấy những dụng cụ vận động phía sau lưng mình đều phát ra tiếng động, tiếng động vang lên bất ngờ khiến tôi nhảy dựng.
Tôi nhìn thì lại càng sửng sốt hơn.
Bánh xe tự chuyển động.
Tạ tay tự lăn.
Dụng cụ vận động đều đang chạy.
Tôi hét lên một tiếng: “Dừng!”. 
Lập tức lặng ngắt như tờ!
Bạn nói xem, đây có phải là dọa người ta không?

Còn nữa, nửa đêm tôi tỉnh dậy để đi tiểu. Bức tường sau lưng tôi kêu lên ba tiếng “cách, cách, cách”. Tôi nói:
”Đừng làm ồn!”
Những con ma này thật sự quá đáng rồi, ngay cả nhà vệ sinh mà họ cũng muốn làm phiền tôi, thật may, từ lâu tôi đã không còn thấy kinh sợ nữa.

Ngoài ra, những hồn ma trốn trong bức tường thật sự rất nhiều. Có lẽ mọi người không biết, thì ra trong bức tường cũng có thể che giấu được ma, bức tường dày và đặc, ngay cả một kẽ nứt cũng không có. Thế nhưng trong một bức tường, ở giữa cát và vữa, có thể che giấu được vạn vạn con ma. 

Có một hôm, tôi đi qua phòng chiếu phim, cửa vốn dĩ là đóng, nhưng giờ nó lại mở hé, thậm chí cánh cửa còn lúc mở lúc hé. Tôi mở cửa ra nhìn vào trong, có cả một bầy ma ở trong đó. 
Tôi hỏi:
”Các người đang làm gì đấy?”
Ma đáp:
”Chúng tôi đang họp.”
Ma mà cũng họp sao? Nực cười chết mất!
Tôi thật lòng thật sự nói, bản thân tôi không sợ ma. Nhưng đột nhiên phát ra âm thanh thì tôi cũng giật thót mình đấy!

Ngoài ra, 
Họ đột nhiên xồ ra, tôi cũng giật mình.
Tôi đi qua một bức tường. 
”Póc!” Một cái đầu thò ra ngoài tường, tôi giật thót mình! Póc! Póc! Póc! Póc! Póc! Rất nhiều cái đầu thò ra. 
Tôi hỏi: “Làm cái gì đấy?”
Ma đáp: “Xin Lư Sư Tôn gia trì!”
Tôi lần lượt sờ đầu.
Ôi! Nhà tôi đã thành khu của ma rồi.


### 03. Phạm vi siêu độ rộng lớn


Ban đầu tôi phát nguyện siêu độ là:
”Tôi nguyện siêu độ cho những người chết vì dịch bệnh.”
Sau đó, đồng môn Chân Phật Tông của chúng tôi qua đời, người thân bạn bè ở dương gian thỉnh tôi siêu độ cho những đồng môn ở âm gian. Thế là tôi cũng xếp họ vào nghìn chiếc thuyền pháp cùng siêu độ. 

Tiếp theo, những hồn ma nghe được tin tức mà đến càng lúc càng đông, rất nhiều người tử vong không phải vì dịch bệnh cũng đến. Tôi chỉ có thể tiếp nhận toàn bộ.
Tôi đã trở thành Đẳng Dẫn Kim Cang.
Đẳng Dẫn Kim Cang là tên kim cang của Bất Không Quyến Sách Quan Âm, tượng trưng cho sự bình đẳng tiếp dẫn.
Tôi tiếp dẫn:
Ma đồi bại. (văn nghệ sĩ)
Ma nói khoác. (luật sư)
Ma đói. (kẻ lang thang)
Ma bạo lực. (bác sĩ ngoại khoa)
Ma đầu bù tóc rối. (phụ nữ già đơn độc)
Ma giữ tiền. (đại gia)
Ma đầu trọc. (giáo sư)
Ma giả mạo. (diễn viên)
Ma lật mặt. (kẻ lừa đảo)
Ma khí thế. (người lãnh đạo)
……

Tôi có thể nói thế này, chỉ cần bạn nghĩ ra loại ma nào thì ở chỗ tôi đều có hết. Những con ma đến chỗ của tôi thuộc đủ mọi ngành nghề, trăm hoa khoe sắc, thỏa thuê ngắm nhìn.
Vốn dĩ tôi chỉ siêu độ cho những người chết vì virus Corona, bây giờ nhà tôi đã trở thành trạm thu nhận ma quỷ, hơn nữa còn là trạm thu nhận có tầm cỡ thế giới. 
Siêu độ được tiến hành hừng hực khí thế.
Ma cũng hừng hực khí thế đến trình diện.

Tôi làm thơ tự trào phúng chính mình:
*Tôi là Liên Sinh Đại Hoạt Phật
Siêu độ bầy ma tự thấy vui.
Một tuần bảy ngày không ngơi nghỉ
Diễn hóa mật chú chẳng tính giờ
Tại đây tụ tập ma hữu duyên
Dạy dỗ những vị khách qua đường
Ngũ trọc ác thế làm pháp này*
*Cũng xem như có một không hai
Hiếm lạ hiếm lạ thật hiếm lạ
Lòng người lạnh giá lòng tôi ấm
Thần Thánh Bổn tôn Mẫu Diêu Trì
Thù thắng vô cùng bài giảng lớn
Thoát ly lục đạo không luân hồi
Đều nhờ Di Đà phóng quang chiếu*
*Nhân duyên ba đời đến tụ hội
Việc lớn như vậy chưa từng có.
Hum hum hum! Tiêu trừ sân hận.*
*Om om om! Tiêu trừ vô minh.
Ah ah ah! Tiêu trừ tập khí.
Pei pei pei! Tiêu trừ tham niệm.
Ha ha ha! Tiêu trừ đố kỵ.*
*Huo huo huo! Tiêu trừ nghiệp chướng.
Chu chu chu! Tiêu trừ ghen tuông.
(Pan cha pei ma gu ru ti cha.)*

Đệ tử hỏi:
”Ma phạm ngũ nghịch tội cũng siêu độ sao?”
Tôi đáp:
”Những ma đó tội ác tày trời, từ lâu đã đi vào địa ngục rồi, tự nhiên sẽ không đến chỗ tôi.”
Đệ tử hỏi:
”Ma đến chỗ của Lư Sư Tôn làm sao đi vào được? Làm sao quản lý họ? Mặc cho họ làm gì thì làm sao?”
Tôi đáp:
”Tôi có Hộ Pháp Kim Cang Thần, tự sẽ có Thần quân giám sát, ma thiện có thể vào, ma không thiện không ác có thể vào, người nghiệp chướng nhẹ có thể vào. Về phương diện quản lý cũng có 12 vị Thần Tướng quản, không có chuyện tự do ngang ngược.”
Đệ tử hỏi:
”Ai có quyền năng tối cao có thể tiêu trừ được nghiệp của những hồn ma?”
Tôi đáp:
”Tôi đã nói rồi, vô lượng quang minh của A Di Đà Phật.”


### 04. Tiệc cung đình thời xưa


Sư Mẫu Thượng sư Liên Hương tận mắt nhìn thấy ma mở tiệc. 
Tôi dùng hình thức đối thoại để giải thích rõ. Là đệ tử hỏi, Thượng sư Liên Hương sư trả lời.
Đệ tử hỏi:
”Nghe nói bà nhìn thấy ma?”
Thượng sư Liên Hương đáp:
”Đó là một buổi sáng sớm, địa điểm là phòng khách nhà tôi. Tôi ngồi trên ghế *sofa*, thị giả là pháp sư Liên Ân ở bên cạnh tôi.”
Đệ tử hỏi:
”Xin nói sơ về tình hình?”
Thượng sư Liên Hương đáp:
”Trong sát-na, dường như phòng khách nhà tôi đều biến mất, biến thành một cung điện kiểu châu Âu thời cổ xưa, trang hoàng theo lối cổ điển, vô cùng khí thế. Đại sảnh của cung điện vô cùng rộng lớn và tráng lệ, rất nhiều tác phẩm điêu khắc và tranh vẽ trên tường.”
Đệ tử hỏi:
”Thế còn các nhân vật?”
Thượng sư Liên Hương đáp:
”Nữ thì ăn mặc lộng lẫy, váy tùng xòe, đeo vàng đeo ngọc, tóc uốn rất đẹp. Nam thì mặc áo đuôi tôm, ra dáng quý ông. Đều trang điểm theo kiểu Âu thời xa xưa, chính là vì đang cử hành tiệc cung đình.”
Đệ tử hỏi:
”Bà nhìn thấy những việc này thì có cảm tưởng gì?”
Thượng sư Liên Hương đáp:
”Tôi thì vẫn bình thản, giống như xem một bộ phim châu Âu cổ đại, nhưng tôi biết họ là ma.”
Đệ tử hỏi:
”Sau đó thì thế nào?”
Thượng sư Liên Hương đáp:
”Có hai người một nam một nữ đi đến bên cạnh tôi, họ nói những chuyện riêng tư, tiếng nói rất nhỏ. Tôi mở miệng ra bảo họ nói to lên một chút, tôi cũng muốn nghe.”
Đệ tử hỏi:
”Bà không sợ sao?”
Thượng sư Liên Hương đáp:
”Không sợ!” (Không có cảm giác sợ hãi.)
Đệ tử hỏi:
”Sau đó hai người này thế nào?”
Thượng sư Liên Hương đáp:
”Hai người đó nghe thấy tiếng tôi hỏi còn quay đầu lại nhìn tôi, nhưng họ mặc kệ, vẫn tiếp tục nói chuyện.”

Lúc này pháp sư Liên Ân phát hiện ra Sư Mẫu Thượng sư Liên Hương đang nói chuyện với không khí thì cảm thấy rất dị. Liên Ân hỏi:
”Sư Mẫu đang nói chuyện với ai đấy?”
Sư Mẫu đáp:
”Cô không nhìn thấy à? Họ đang đứng bên cạnh cô đấy!”
Dọa cho Liên Ân toàn thân nổi gai ốc, Liên Ân bước lùi lại. Thượng sư Liên Hương quay đầu nói với bầy ma: 
”Mọi người đừng có ở đây nói chuyện riêng nữa, đi tìm A Di Đà Phật đi (ý là chỉ A Di Đà Phật tức là Lư Sư Tôn).”
Các con ma đều nhìn Thượng sư Liên Hương. 

Đệ tử hỏi:
”Sau đó thì sao?”
Thượng sư Liên Hương đáp:
”A Di Đà Phật sắp đến rồi! Tôi bảo với họ rằng A Di Đà Phật sắp đến ăn sáng.”
Đệ tử hỏi:
”Kết quả thế nào?”
Thượng sư Liên Hương đáp:
”Cung điện biến mất, bữa tiệc dừng lại. Ma nam ma nữ lần lượt đi vào trong cái tủ ở phòng khách, cửa tủ đóng lại còn kẹt chiếc mũ của một con ma, con ma đó chìa tay ra lôi mũ vào rồi mới đóng cửa.”
Thượng sư Liên Hương nói:
”Đây là những gì tôi nhìn thấy thật! Tôi còn nhìn thấy trong số đó có một con ma có một chân, là mang chân giả.”


### 05. Những gì Sư Mẫu Thượng sư Liên Hương nhìn thấy


Thứ nhất:
Tôi và Sư Mẫu ngồi trên ghế ở bàn ăn. Thời gian là buổi tối. Chúng tôi cùng ăn lạc. Chúng tôi đều thích ăn lạc, tôi thích mùi thơm, độ giòn của nó và mùi vị không thể nào nói rõ được. 
(Rất nhiều đồng môn đều biết chúng tôi thích lạc, lạc rang cả vỏ, lạc luộc, lạc bóc vỏ, lạc rang, lạc chiên. Chỉ cần không bỏ nhiều dầu nhiều muối thì chúng tôi đều thích.)

Sư Mẫu với tay ra để lấy lạc. Trời ạ! Bà ấy nhìn thấy rất nhiều cánh tay đều với ra lấy lạc. (Tay của ma.)
Sư Mẫu nói:
”Họ đều với tay ra lấy lạc.”
Tôi cười:
”Hóa ra ma cũng thích ăn lạc.”
Tôi lại nói:
”Không sao, chúng ta ăn là đồ thật, cái họ ăn là khí.”

Thứ hai:
Cũng là buổi tối. Sư Mẫu muốn trở về phòng đi ngủ, cái xe lăn của bà ấy để ở cửa phòng. Sư Mẫu nói:
”Có một cô gái ngồi trên xe lăn của tôi, cô ấy mặc áo màu xanh lục, váy hoa, tóc đen.”
Tôi hỏi:
”Có xinh không?”
Bà ấy không trả lời. Tôi lại hỏi:
”Rốt cuộc là có xinh không?”
Bà ấy nói:
”Hừ! Đúng là cái tật của đàn ông.”
Đến khi tôi đi ra khỏi cửa phòng của Sư Mẫu, tôi đặc biệt đưa mắt nhìn cái xe lăn, ma nữ trẻ tuổi kia không còn ở đó nữa, trên xe lăn không có một ai cả. 
Tiếc ghê!

Thứ ba:
Mỗi buổi tối, tôi đều giúp Sư Mẫu làm kết giới và gia trì cho căn phòng. 
Tôi phụng thỉnh:
Đông Hoa Đại Đế Quân. (Đông Phương Mộc Công)
Diêu Trì Kim Mẫu. (Tây Phương Kim Mẫu)
Thiên du thập nhị Khê Nữ.
Na Diên Thiên ngũ Thiên nữ.
Hỏa Quang Đại Tướng.
Phù Hải Đại Tướng.
Hống Phong Đại Tướng.
Đến gia trì và kiết giới.

Sư Mẫu nhìn thấy ba vị Đại Kim Cang Thần Tướng đứng ở đầu giường, đầu chạm trần nhà, chân đứng trên mặt đất.
Có ria mép.
Có râu dài.
Mũ giáp vàng, áo giáp vàng, trên lưng có đeo cờ, uy phong lẫm liệt.
Bà ấy mô tả cho tôi nghe. Tôi biết đó là ba vị Đại Tướng.

Thứ tư:
Sư Mẫu nhìn thấy một bầy ma rất đông xếp hàng tới tận cửa sổ phòng bà ấy, có người xưa, người nay, người Hoa, người ngoại quốc. Bà ấy hỏi tôi:
”Họ xếp hàng dài như vậy để làm gì đấy?”
Tôi đáp:
”Lên thuyền pháp.”
Sư Mẫu nói:
”Đúng rồi, đúng rồi, mới một lúc mà đã xếp hàng tới cửa sổ phòng tôi rồi.”

Những gì Sư Mẫu Thượng sư Liên Hương nhìn thấy không chỉ có những chuyện này, mà còn có nhiều nữa, vui lòng chờ đợi.


### 06. Ma lập lòe ẩn hiện


Buổi tối đó, tôi ngồi trên pháp tọa, thuyền pháp trên tay trái của tôi bay ra, đón gió giương buồm biến thành một chiếc thuyền pháp cực kì lớn. 
Một hóa ra mười.
Mười hóa ra trăm.
Trăm hóa ra nghìn.
Từ một chiếc thuyền pháp lớn biến hóa ra nghìn chiếc thuyền pháp lớn, dáng thuyền rất to có thể chứa được vô số linh hồn.
Khi cờ lệnh hạ xuống, linh hồn giống như chim bay, nhẹ nhàng đậu trên thuyền pháp, hàng này đến hàng khác, lượt này đến lượt khác.
Chính vào lúc này.
Tôi nhìn thấy một hồn ma trên người tỏa ra ánh hào quang màu trắng xám, hào quang lập lòe. 

Theo như tôi biết:
Ánh sáng trắng — hành giả tu hành.
Ánh sáng đỏ — người lương thiện.
Ánh sáng đen — người đại ác.
Ánh sáng xám — người tiểu ác.
Ánh sáng lam — người thích tranh đấu.
Ánh sáng lục — người tà môn.
Ánh sáng vàng — người phổ thông bình thường.

Tôi nhìn cái người màu trắng xám này dường như cố ý trốn tôi, lúc lóe bên này lúc lóe bên kia, tiếp cận với rất nhiều ma, cứ lập lòe ẩn hiện trong bầy ma, rất là kỳ quái.

Tôi nói:
”Ma huynh, không cần trốn, xin mời đến trước mặt tôi đây!”
Ma kia nghe thấy thế thì định bỏ trốn. Tôi nói:
”Đừng đi! Xung quanh có Kim Giáp Thần Tướng, ông không thoát được đâu. Tôi chỉ muốn nhìn xem ông là ai?”
Ma đó tự biết là không thoát được, cúi đầu đi đến trước mặt tôi. Tôi nói:
”Ngẩng đầu lên đi!”
Ma ngẩng đầu lên. Tôi nhìn thấy thì sửng sốt! Tôi nói:
”Ông là XX?”
Ma đáp:
”Chính là tôi.”
Tôi hỏi:
”Làm sao mà ông chết?”
Ma đáp:
”Bệnh tuyến tiền liệt.”
(Căn bệnh chết người của đàn ông.)

Ông ta là một nhân vật nổi tiếng trong giới tôn giáo, cũng là một hành giả tu hành, cá tính ghen ghét đố kỵ người khác như kẻ thù, năm xưa, ông ta là người phê phán tôi nhiều nhất, văn chương của ông ta rất ác liệt.
Ông ta phê phán tôi là “phụ Phật ngoại đạo”.
Ông ta nói:
”Tôi đã bị giam cầm ở âm phủ hơn 20 năm rồi, nghiệp đã trả hết nên được thả ra, bây giờ muốn được lên thuyền pháp đi đến Tây phương tịnh thổ.”
Tôi nói:
”Tất cả đều đã qua rồi! Hoan nghênh ông đến Phật quốc.” 
Tôi vui mừng gia trì cho ông ấy.
Ông ấy hỏi:
”Lư Sư Tôn, ngài không so đo chuyện quá khứ của tôi sao?”
Tôi đáp:
”Đời người là huyễn, việc huyễn là huyễn rồi, không có việc gì để mà so đo. Gặp được ông, tôi đặc biệt vui mừng.”
Ông ấy vui mừng sốt sắng lên thuyền pháp.
Tôi nghĩ:
”Chẳng phải tôi cũng thế sao, tôi cũng từng phê phán rất nhiều người. Thật sự là hổ thẹn!”


### 07. Cuộc tổng vệ sinh của ma


Nhà tôi Nam Sơn Nhã Xá hiện tại chỉ có ba người ở.
1. Lư Sư Tôn.
2. Sư Mẫu Thượng sư Liên Hương.
3. Thị giả Thượng sư Liên Dư. 
(Người khác là pháp sư Liên Ân thì đã đi đến Cầu Vồng Lôi Tạng Tự.)
Công việc dọn dẹp nhà cửa, một mình Thượng sư Liên Dư làm không hết. Thế là, Phật Thanh, Phật Kỳ thuê người phụ trách của công ty dọn dẹp vệ sinh đến nhà tôi để định giá. 
Nửa tháng làm vệ sinh một lần.
Nhà rộng 900 mét vuông quét dọn tổng cộng hết bao nhiêu tiền?
Người phụ trách đến, đi một vòng, xem phòng ngủ, phòng làm việc, phòng bếp, phòng giặt, phòng khách, nhà để xe, nhà vệ sinh, nhà tắm, Phật đường, phòng vận động, phòng chiếu phim, bệ rửa mặt, sân thượng, v.v….

Buổi tối hôm đó, tôi lên giường, vẫn còn chưa ngủ. Tôi nhìn thấy những bóng ma đi tới đi lui. Rất nhiều ma đang thì thầm to nhỏ. Một con ma nói:
”Mọi người chúng ta cùng chung tay làm một cuộc tổng vệ sinh sạch sẽ để ông chủ một phen bất ngờ.”
Một con ma khác nói:
”Để tôi triệu tập!”
Thế là, “người” thì lấy chổi quét, “người” thì cầm giẻ lau để lau chùi, “người” thì dùng máy hút bụi để hút bụi, “người” thì xách nước…
Một lát sau đã ồn ào hết cả lên. 
”Khẽ một chút, đừng đánh thức người khác.”
Máy hút bụi cũng nhỏ tiếng lại.
”Người” thì lau đồ thủy tinh.
”Người” thì lau tủ.
Lau sàn nhà.
Phủi trần nhà.
Lau đồ đạc.
Lau đàn piano. 
Ở chỗ mà người bình thường không lau chùi tới được thì họ trực tiếp bay lên, lau cửa sổ trên mái nhà.
Quét mạng nhện trên trần nhà.
Họ không dùng cái thang, chỉ bay lên để lau.
Họ có dùng dung dịch tẩy rửa không?
Tôi không nhìn thấy.
Tóm lại, những bóng ma cứ dập dờn đi tới đi lui, bầy ma vô cùng bận rộn.

Tôi nghe thấy tiếng:
”Cửa sổ sát mặt đất cần lau cho sáng một chút!”
“Lưng ghế tựa phải lau từng thanh một!”
”Góc nhà là dễ bỏ sót nhất đấy!”
”Phải hút bụi trên ghế sofa nữa!”
”Lá rụng ở cửa sổ trên mái nhà nữa!”
”Phía sau bồn vệ sinh!”
”Cái nút của chậu rửa mặt!”
”Tất cả tay nắm cửa và cửa sổ!”
”Bên dưới cái đèn bàn!”
”Xung quanh giá tivi!”
”Chú ý, đừng gây ra tiếng động!”
……

Ngoài ra, mỗi cuốn sách trên giá sách đều được rút ra, mỗi cuốn sách đều được lau sạch sẽ.
Trời ơi!
Cuộc tổng vệ sinh của ma này đã biến nhà tôi thành một ngôi nhà mới.
Sạch sẽ! 
Sáng bóng!
Ngay cả cái nắp bồn cầu còn được bôi sáp nữa.
Thượng sư Liên Hương nói:
”Tôi nhìn thấy ma đang cầm chổi quét nhà!”


### 08. Ma thường trú


Thế nào là ma thường trú?
Chính là ma sống tại Nam Sơn Nhã Xá một thời gian dài, một người là Thụy Quang, một người là Phù Dung, một người là Thiến Thiến. Ba người này đều có duyên phận với tôi, vì thế họ thường sống tại Nam Sơn Nhã Xá.
Họ sống trong tủ lạnh. Tôi từng hỏi:
”Tủ lạnh có lạnh không?”
Họ đáp:
”Không lạnh, rất thích hợp.”

Ba người họ có nhan sắc xinh đẹp, sống hòa thuận tại Nam Sơn Nhã Xá, thỉnh thoảng có thể giúp đỡ những việc nhỏ. Khi tôi đi đến gần tủ lạnh, họ sẽ chào hỏi tôi, lúc này tủ lạnh sẽ kêu lên ba tiếng “cạch, cạch, cạch”. 
Tôi đã quen rồi.
Người khác thì sẽ kinh ngạc lắm.
Khi siêu độ nghìn chiếc thuyền pháp, họ cũng không muốn đi đến Phật quốc tịnh thổ. Họ chỉ giúp giữ trật tự cho bầy ma.

Có một hôm (chủ nhật). Thiến Thiến nói với tôi:
”Lư Sư Tôn! Tôi muốn đi đến Cầu Vồng Lôi Tạng Tự xem ngài làm Hộ Ma, nghe ngài giảng kinh thuyết pháp.”
Tôi hỏi:
”Bên ngoài có con mắt của các Thần, cô có trốn được không?”
Thiến Thiến đáp:
”Tôi trốn trong túi hương của ngài.”
Tôi luôn mang theo túi hương bên mình, Thiến Thiến thật sự rất thông minh.
Thế là chúng tôi lên xe của Thượng sư Đức Huy cùng đi đến Cầu Vồng Lôi Tạng Tự.
Tôi làm Hộ Ma, cô ấy cũng ở đó.
Tôi thuyết pháp, cô ấy cũng ở đó.
Biểu diễn văn nghệ ở đại điện, cô ấy cũng ở đó.
Trên đường về nhà, ngồi trên xe của Thượng sư Đức Huy, Thiến Thiến bảo tôi:
”Tôi muốn ra ngoài để hít thở không khí.”
Tôi nói:
”Không được! Cô ra ngoài ngồi trong xe này, Sư Mẫu Thượng sư Liên Hương có con mắt âm dương, sẽ nhìn thấy cô đó!”
Cô ấy nói:
”Trong túi hương có người cúng dường tiền, tiền ở trong túi hương, tôi không chịu được cái mùi ấy! Tiền là bẩn nhất, mùi của nó rất khó ngửi. Tôi ngồi ở đuôi xe, Sư Mẫu sẽ không nhìn thấy đâu.”
Tôi nói:
”Được rồi!”

Tôi vẫn luôn ngồi ở ghế phụ bên cạnh lái xe, Sư Mẫu ngồi ở hàng ghế thứ hai, hàng ghế thứ ba không có ai ngồi. Phía sau hàng ghế thứ ba bình thường hay để những thứ đồ vận chuyển. Thiến Thiến ngồi ở sau hàng ghế thứ ba. Hai tay Thiến Thiến ôm lấy lưng ghế, ngồi xổm.
Sư Mẫu Thượng sư Liên Hương bất ngờ quay đầu lại, nhìn thấy cánh tay của Thiến Thiến thì giật thót mình. Lại nhìn thấy sau lưng ghế có thò ra một nửa khuôn mặt thì lại càng nhảy dựng. 
”Á! Trên xe có ma!”
Sư Mẫu liên tục quay đầu lại ba lần, Thiến Thiến vội vàng trốn đi. 

Xe về đến Nam Sơn Nhã Xá, Thiến Thiến nhanh như chớp đã biến mất.
Sư Mẫu bảo tôi:
”Trên xe có ma nữ, trẻ trung, rất xinh đẹp.”
Tôi nói:
”Tôi biết rồi.”
Tôi muốn cười thầm. 
Tôi nghĩ đến một vấn đề nhỏ:
”Tiền mà con người yêu nhất, ma lại nói là có mùi buồn nôn nhất, hầy!”


### 09. Phật Thích Ca Mâu Ni phóng quang


Có một buổi tối, khoảng hai giờ. Tôi ngồi trên pháp tọa, diễn hóa siêu độ nghìn chiếc thuyền pháp.
Tôi tiến hành đến phần:
Dưới tiếng hiệu lệnh, thuyền pháp đi về Tây phương Cực Lạc tịnh thổ, thanh thế hào hùng.
Tôi niệm Phật: “Nam mô A Di Đà Phật!”
Trì tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ:
”Om ah hum benza guru pema siddhi hum seh.”
(Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là hóa thân của A Di Đà Phật.)
Trì chú vãng sinh.
Trì chú Văn Thù vãng sinh.
Nghi quỹ tiến hành được một nửa thì đột nhiên tôi đến một cảnh giới khác.

Phật Đà hỏi:
”Liên Sinh ở Ta Bà thuyết pháp ra sao?”
Tôi đáp:
”Với phàm phu nói có, với Nhị thừa nói không có, với Bồ Tát nói huyễn có, với Nhất thừa nói trống không.”
Phật Đà hỏi:
”Đại ý của Phật pháp là gì?”
Tôi đáp:
”Song vận.”
Phật Đà hỏi:
”Ngài siêu độ là vì cái gì?”
Tôi đáp:
”Vốn không có một vật, nhưng xuân đến hoa tự nở.”
Phật Đà hỏi:
”Thế gian bao la vạn tượng, ứng đối ra sao?”
Tôi đáp:
”Một đạo thần quang thì không che chướng.”
Phật Đà nói:
”Tỉnh dậy đi, Liên Sinh, ngài ngủ mất rồi!”

Tôi giật mình, mở to mắt, trời ơi! Phật Thích Ca Mâu Ni phóng ra một đường ánh sáng, trong ánh sáng có một vị Hóa Phật đang ngồi. Ngài bảo tôi:
”Tỉnh dậy, ngài ngủ mất rồi!”
Lúc này tôi mới biết, tôi ngồi trên pháp tọa đã tiến vào mộng cảnh, tôi và Phật Thích Ca Mâu Ni nói chuyện. Nhưng nghìn chiếc thuyền pháp đã mất sự kiểm soát, trôi giạt ở cõi trời bên ngoài cõi trời, trôi sang bên đông lại trôi sang bên tây. 
Tôi thu lại tinh thần, lại lần nữa dẫn dắt nghìn chiếc thuyền pháp hướng về tây phương. 

Tôi cảm tạ sự hậu ái của Phật Thích Ca Mâu Ni, trong ánh sáng đã chỉ điểm cho tôi, còn đích thân phóng quang gia trì cho tôi, khiến tôi có thể tỉnh ngủ, khi tôi tỉnh dậy thì đã 4 giờ sáng rồi.
Tôi tu xong toàn bộ nghi quỹ. 

Trong lòng tôi nghĩ:
”Phật Thích Ca Mâu Ni đích thân phóng quang đánh thức tôi dậy, đây là việc vô cùng hy hữu.”
Hơn nữa còn dạy tôi rất nhiều pháp ngữ.
Thì ra Phật Thích Ca Mâu Ni lại quan tâm đến siêu độ nghìn chiếc thuyền pháp của tôi như vậy.

Tôi viết một bài kệ để ghi nhớ:

*Pháp hội siêu độ đến Tây thiên
Nửa đường mơ thấy gặp Kim Tiên
May được hóa quang đến gọi dậy
Pháp sự viên mãn chiêng trống vang.
Ôi! 
Tín giải như vậy!
Cầu nguyện hoàn hảo!*


### 10. Mẹ của Maree


Nữ đệ tử Maree ở Seattle, mẹ của cô ấy tôi không biết xưng hô thế nào, tôi thậm chí không biết tên của bà ấy.
Bởi vì mẹ của Maree đã nhiều tuổi nên có một vài căn bệnh phức tạp, liền đến tìm tôi. 

Bà ấy trong ấn tượng của tôi là như thế này:
Đơn thuần.
Học vấn thì không bàn đến.
Đi đứng cử chỉ khác người khác.
Chính là như vậy.
Thật sự bà ấy rất khó hình dung.

Có một hôm. 
Mẹ của Maree quỳ xuống đảnh lễ tôi, trên tay cầm hồng bao đưa cho tôi. Tôi đưa tay ra sờ đầu cho bà ấy, nhưng bà ấy đột ngột quay người lại rồi bỏ đi, tôi còn chưa chạm được vào đầu.
Maree nói:
”Ngày mai mẹ đệ tử phải làm phẫu thuật mổ mạch máu tim, cho nên bà ấy chủ động đến cầu Lư Sư Tôn gia trì.”
Không ngờ, ca phẫu thuật tiến hành được một nửa thì mẹ của Maree không còn nhịp tim nữa. Bác sĩ cấp cứu nhưng không kịp, thế là người cứ như thế “đơ” luôn. Maree rất đau lòng. Tôi cũng rất buồn. Tôi đã siêu độ cho mẹ của Maree.
Bà ấy đã đến rồi. Bà ấy nói lẩm bà lẩm bẩm trong miệng, tôi nghe dường như hiểu mà dường không hiểu. (Bà ấy nói tiếng của quê nhà.)
Tôi nói:
”Xin mời lên nghìn chiếc thuyền pháp!”
Bà ấy lắc đầu nói:
”Không!”
Tôi hỏi:
”Bà không lên nghìn chiếc thuyền pháp, vậy bà muốn đi đâu?”
Bà ấy đáp:
”Tôi muốn đi gặp tổ tiên của tôi.”
Tôi nói:
”Không được! Đó không phải là nơi tốt đẹp!”
(Tổ tiên của bà ấy ở âm gian.)
Bà ấy nói:
”Không thể gặp tổ tiên, nhưng tôi cũng không quen thuộc với Tây phương tịnh thổ, tôi không muốn đi!”
Tôi đã nói rất nhiều điều hay về tịnh thổ thì bà ấy mới đồng ý đi tịnh thổ.

Nhưng, bà ấy lại nói:
”Tôi không thích ngồi cùng thuyền với nhiều người như thế này.”
Ôi!
Bà ấy đúng là rất đòi hỏi, ai bảo tôi đã nhận một chiếc hồng bao cuối cùng của bà ấy chứ. 

Tôi nghĩ một lúc, chỉ có cách thế này, tôi tự mình dùng quán tưởng để huyễn hóa ra một chiếc thuyền nhỏ khác trong số nghìn chiếc thuyền pháp, thuyền nhỏ chỉ ngồi được một người. 
Cuối cùng bà ấy đã đi rồi. Thế là bà ấy đã đi tịnh thổ, thành công rồi!
Tôi hỏi Maree:
”Mẹ của cô rất đòi hỏi đó!”
Maree đáp:
”Thỉnh thoảng chúng con cũng không biết bà ấy muốn làm gì, chỉ cần vừa ý bà ấy là được.”
Tôi nói:
”Bà ấy đi tịnh thổ rồi, A Di Đà Phật sẽ cứu bà ấy!”
Maree nói:
”Thế thì tốt quá!”
Đây là câu chuyện về mẹ của Maree.


### 11. Phúc âm của thiên đường


Ngụy Tư Nhan đến từ California ở Nam Sơn Nhã Xá đã nhìn thấy: một người Tây mặc đồ Âu đánh phấn thắt cà vạt bay tới bay lui. Lại nhìn thấy một phụ nữ mặc đồ Âu màu vàng, tóc vàng lắc qua lắc lại. 
Có người hỏi tôi:
”Lư Sư Tôn! Có người phương Tây đến thỉnh cầu siêu độ không?”
Tôi đáp:
”Đương nhiên có.”
Người hỏi:
”Người Tây cũng đi Tây phương Cực Lạc thế giới à?”
Tôi đáp:
”Đúng thế. Cũng giống như chúng ta di cư đến quốc gia phương Tây, đương nhiên cũng có người phương Tây di cư đến các quốc gia phương Đông.”

Từng có một lần.
Một bầy ma người Tây (lần này đúng là ma Tây), bay vào Nam Sơn Nhã Xá của tôi. 
Một con ma hỏi:
”Ở đây có thuyền chở không?”
Tôi đáp:
”Ở đây có siêu độ nghìn chiếc thuyền pháp, tôi là sư phụ tiếp dẫn để đưa các linh hồn vãng sinh đến Phật quốc tịnh thổ.
Một con ma hỏi:
”Chúng tôi không đi đến Phật quốc tịnh thổ, chúng tôi muốn đi đến thiên đường, có tàu đi thiên đường không?”
Bầy ma ở phía sau đồng thanh kêu lên:
”Chúng tôi muốn đi thiên đường.”

Đương nhiên tôi biết, ở các quốc gia phương Tây là tự do tôn giáo, rất nhiều tín đồ Cơ Đốc, rất nhiều tín đồ Thiên Chúa. (Có người thuộc Giáo Đình La Mã, có người thuộc Đông Chính Giáo.)
Có rất nhiều tín đồ đạo Hồi.
Cũng không ít người theo đạo Do Thái.
Còn có rất nhiều rất nhiều các giáo phái rẽ nhánh nhỏ khác, trăm hoa khoe sắc, vô cùng phức tạp.

Tôi hỏi bầy ma Tây này:
”Sao mọi người biết ở đây có siêu độ?”
Họ đáp:
”Nghe tin tức.”
Tôi nói:
”Được thôi! Tôi nhân Thánh danh Thượng đế Cha (Jehovah), Con (Jesus), Thánh thần, ba vị nhập làm một thể, đưa mọi người đến thiên đường vậy! Amen!”
Họ hỏi:
”Lư Sư Tôn biết Thượng đế sao?”
Tôi cười. Tôi nói:
”Jesus là guru của tôi. Trước kia tôi làm thầy giáo lớp tra kinh, từ Sáng Thế Ký đến Khởi Thị Lục. Cựu Ước 39 quyển, Tân Ước 27 quyển tôi đều đọc hết rồi.”

Người đạo Hồi hỏi:
”Lư Sư Tôn đã đọc kinh Koran chưa?”
Tôi nói:
”Đọc rồi. Thiên sứ Gabriel ở hang núi Ha La đã khai sáng cho Muhammad, khiến cho Muhammad trở thành nhà tiên tri của Thượng đế.”
Những ma Tây này nghe vậy thì ngây người ra nhìn. 
Tôi lại nói thêm nhiều nữa. Những ma Tây này đa phần là người lành hoặc người tốt, vì thế họ hoàn toàn tin tưởng tôi. Tôi huyễn hóa ra thuyền pháp của thiên đường đưa họ đến thiên đường. Ở trên thuyền, họ hát vang: “Hallelujah!”

Tôi độ hóa những linh hồn có thể xem như là xưa nay trong nước ngoài nước hiếm có. 
Lành thay! Lành thay!


### 12. Cô dâu mặc áo voan trắng


Buổi tối ngày hôm đó. 
Thượng sư Liên Hương ở trong phòng ngủ của mình nói với tôi:
”Sau lưng ông có một cô dâu mặc áo voan trắng.”
Tôi hỏi, đầu không ngoảnh lại:
”Đẹp không?”
Bà ấy đáp:
”Đẹp cực kì! Dáng người thon thả, da dẻ trắng ngần, mày liễu mắt phượng, cái miệng nhỏ xinh…”

Tôi trở về phòng ngủ của mình. 
Cô dâu mặc áo voan trắng đó hiện thân để tôi nhìn thấy. Trước mắt tôi vừa lóe lên thì tôi kêu:
”Là cô!”
Cô ấy nói:
”Là tôi.”
Tôi hỏi:
”Sao cô đến đây?”
Cô ấy đáp:
”Vượt biển đại dương đến thăm ông!”
Tôi hỏi:
”Sao cô lại mặc như thế này?”
Cô ấy đáp:
”Chẳng phải tôi đã từng đồng ý sẽ gả cho ông sao, hôm nay, tôi đến để kết hôn với ông.”

Trong thoáng chốc, tôi nghĩ đến quá khứ. 
Vùng biển xanh ngắt xinh đẹp ấy, ngọn núi nhỏ ấy. 
Còn cả dòng suối nhỏ nước chảy róc rách nữa, bên bờ suối có những viên đá cuội tròn tròn.
Vườn hoa trong ngôi trường cấp ba ấy.
Bên dưới cây dừa, gió nam thổi hiu hiu.
……

Đều có bóng dáng xinh đẹp của nàng, bóng hình của tôi.
Năm ấy.
Chúng tôi tình cảm dạt dào. Nàng nói:
”Em muốn gả cho anh!”
Tôi nói:
”Anh sẽ đón chờ em đến!”
Cuối cùng, bức thư cuối cùng của nàng nói rằng: “Nếu anh không đến cưới em, em sẽ lấy người khác!”
”Tôi đã đặt tất cả thư tình của nàng ở trong một cái hộp giấy, nhưng bị bố mẹ tôi phát hiện ra và vứt cái hộp đó đi.”
Bố tôi nói:
”Thắng Ngạn! Đến bản thân anh còn không thể tự lập được còn muốn kết hôn sao?”
……

Đó là việc của hơn 60 năm trước. Năm ấy, tôi 18 tuổi.
Tôi nhớ đến hai bài thơ:

*Đêm nay trăng lẻ bóng
Núi đơn độc không mây
Năm ngoái theo cánh nhạn
Ngày nào xuống sông Phần?
Vắng tiếng xuân cô quạnh
Tình thâm mình ta nhớ
Hoa rơi chạm khung cửa
Biết chăng là trong mơ?*

Và:

*Mênh mông thảo nguyên thong thả bước
Xa xăm đỉnh núi đầy mây giăng
Nghìn vàng nhẹ tựa lời ly biệt
Trăm mối tâm sự nặng lời văn
Lòng ta đã đổi nay thanh thản
Bao mối âu sầu gửi lại chàng
Đêm nay trăng núi tỏa ánh bạc
Lẻ loi nhạn sợ chuyện đã qua.*

Tôi nói:
”Tôi đã xuất gia, cô đến tôi chỉ có thể tiễn cô đến Tây phương Cực Lạc, chúng ta nhanh chóng gặp lại nhau ở đó.”
Cô ấy cười:
”Nhớ là chúng ta có hẹn đấy nhé!”
Tôi tiễn cô ấy lên nghìn chiếc thuyền pháp. Cả chiếc thuyền chỉ có mình cô ấy mặc váy cô dâu.
Tôi nghĩ đến:
”Tất cả mọi thứ, đúng là một giấc mộng đẹp.” 
60 năm sau, tôi thật sự đã đón cô ấy rồi.


### 13. Cô dâu ma


Bài viết trước nói đến cô dâu mặc áo voan trắng. Sao lại có một cô dâu ma nữa?
Thật vậy, không sai, cô ấy lại đến rồi!
Tôi lại nhìn thấy cô ấy, sao lại có hai người? Một người đã đi đến Tây phương tịnh thổ rồi, một người lại xuất hiện trước mặt tôi?
Tôi rất đỗi sửng sốt!
”Sao lại là cô?”
Cô ấy đáp:
”Đúng vậy, là tôi!”
Tôi hỏi:
”Rõ ràng là tôi nhìn thấy cô đã đi Tây phương tịnh thổ rồi cơ mà?”
Cô ấy đáp:
”Tôi nhảy thuyền.”
Tôi hỏi:
”Vì điều gì?”
Cô ấy đáp:
”Tôi mặc váy cưới đến, nhưng ngay cả một ngày làm cô dâu cũng chưa được, chẳng phải là đã uổng công mặc váy sao?”
Tôi hỏi:
”Vậy cô muốn như thế nào mới được?”
Cô ấy đáp:
”Tôi muốn giống như Thụy Quang, Phù Dung, Thiến Thiến, ba người thường đi theo ông, cùng ông đi hết cuộc đời này.”
Tôi nhảy dựng:
”Mấy người đã gặp nhau rồi à?”
Cô ấy đáp:
”Đâu chỉ có gặp, tôi đến Nam Sơn Nhã Xá, bốn người gặp mặt, mới gặp đã thân thiết. Tôi đã ở nhiều ngày rồi, ba người họ giúp tôi chuẩn bị váy cưới nên tôi mới mặc váy cưới để gặp ông.”
Tôi hỏi:
”Vậy Sư Mẫu Thượng sư Liên Hương phải tính sao?”
Cô ấy đáp:
”Sư Mẫu là tiểu ngũ!”
Tôi hỏi:
”Vậy cô thì tính là thứ mấy?”
Cô ấy đáp:
”Tôi tính là chị đại!”

Tôi nghe xong thì cười vang ha ha, năm người, một người vợ dương gian, bốn người vợ âm gian, có xem là lấy nhiều vợ không?
Thế nhưng, năm người đều là thị giả của Lư Sư Tôn tôi. Tôi hỏi:
”Cô cũng sống trong tủ lạnh à?”
Cô ấy đáp:
”Tôi không ở trong tủ lạnh, tôi được tính là mới kết hôn nên sẽ ở trong tủ đầu giường của ông.”
Tôi “a” lên một tiếng, thảo nào gần đây tôi đi tới gần cái tủ đầu giường thì cái tủ sẽ kêu “cạch” một tiếng. 
Thảo nào! Mấy ngày nay đi ngủ, tôi luôn cảm thấy có cái gì đó trốn ở trong chăn. Tôi nói:
”Cô ăn trộm nguyên dương của tôi à?”
Cô ấy nói:
”Chỉ là hít vào mấy hơi thôi.”
Tôi nói:
”Cô làm xáo động tâm niệm của tôi à?”
Cô ấy nói:
”Tâm vương không vọng động, bảy mạch nhất thời thông, eo mang kiếm ba thước, sợ gì một cây cung.”
Tôi hỏi:
”Cô có biết pháp thiền không?”
Cô ấy đáp:
”Sẽ học với ông.”
Tôi để cho cô dâu mới ở lại, cô ấy vẫn ngây thơ đáng yêu, biết nói thiền ngữ.


### 14. Thiền ngữ của cô dâu ma


Khi còn tại thế, cô dâu ma này đã bí mật quy y Chân Phật Tông. Cô ấy thích thiền, đã đọc hết một lượt toàn bộ sách tôi viết, có kiến giải đặc biệt đối với thiền ngữ của thiền sư. 
Tôi hỏi cô ấy:
”Phật nói đời người là khổ, cô nghĩ thế nào?”
Cô ấy đáp:
”Dưa ngọt thì ngọt, dưa đắng thì đắng.”
Tôi hỏi:
”Quả nhiên cô có thể nhìn thấu, xin hỏi thế nào là nhìn thấu?”
Cô ấy đáp:
”Chỉ là cái này.”
Tôi hỏi:
”Xin hỏi đến tận chân tơ kẽ tóc, cái này là cái gì?”
Cô ấy đáp:
”Nhìn thấu.”

Còn nữa. Tôi hỏi:
”Hoa anh đào ở Biệt thự Cầu Vồng nở, sao cô không đi xem?”
Cô ấy đáp:
”Bốn mùa tám tiết mà thôi.”
Tôi hỏi:
”Tôi đánh côn pháp Thiếu Lâm, sao không đi xem?”
Cô ấy đáp:
”Không có đất dụng võ.”
Tôi hỏi:
”Tôi có Hộ Ma hỏa cúng, là pháp hội, sao không đi xem?”
Cô ấy đáp:
”Có thể đốt lửa nấu ăn không?”
Tôi hỏi:
”Cô không được cười nhạo người ta?”
Cô ấy đáp:
”Ai cười ông?”

Còn nữa. Tôi hỏi:
”Vì sao chúng ta thường xuyên đấu khẩu vậy?”
Cô ấy đáp:
”Núi nam cao, núi bắc thấp.”
Tôi hỏi:
”Tôi đang nói với cô những lời chính kinh đó.”
Cô ấy đáp:
”Thái tử Siddhartha chuyên nói lời chân thực.”
Tôi hỏi: 
”Lời chân thực của cô là gì?”
Cô ấy đáp:
”Núi cao trăng xa.”
Tôi hỏi:
”Cô học thiền để làm gì?”
Cô ấy đáp:
”Đúng là vốn dĩ không có một vật.”

Còn nữa. Tôi cố ý hỏi cô ấy:
”Cô đến tìm tôi là có ý gì?”
Cô ấy đáp:
”Cầu kiến minh sư.”
Tôi hỏi:
”Gặp được minh sư rồi thì sao?”
Cô ấy đáp:
”Nhìn trời nhìn đất.”
Tôi hỏi:
”Báo đáp tôi thế nào?”
Cô ấy đáp:
”Một bộ váy voan trắng của cô dâu mới.”

Những chuyện kiểu như vậy, cô ấy lanh trí hơn người, tùy hỏi tùy đáp, không phải kiểu hời hợt bình thường.


### 15. Một giọt nước mắt trong biển cả


Tôi ngồi trên pháp tọa làm siêu độ nghìn chiếc thuyền pháp. Nhất thời trong lúc mông lung, tôi nhìn thấy một con ma rúc vào dưới pháp tọa của tôi, nó kêu lên:
”Tôi muốn lên thuyền pháp!”
Tôi nói:
”Xin mời lên thuyền!”
Nó nói:
”Không được! Tôi bị Thần Hộ Pháp từ chối không cho tôi lên thuyền pháp.”
Tôi hỏi Thần Hộ Pháp:
”Vì sao người này không được phép lên thuyền pháp?”
Thần Hộ Pháp kể:
Người này tên là Lý Lão Thực, khi còn ở thế gian là một người nông dân rất thật thà chất phác, đời sống giản dị, lấy vợ sinh con, có ba đứa con, có cha mẹ già. 
Bởi vì nghề nông thành công, cộng thêm đất đai tăng giá, nên đã mua được một mảnh đất, xây được một ngôi nhà ở liền kề ba tầng, cả nhà sống đầm ấm vui vẻ. 
Trong ngân hàng, ông ấy có một ít tiền. Ông ấy bị một tập đoàn cờ bạc để ý đến, họ đã dụ dỗ ông ấy đánh bạc. 
Trong một đêm.
Mất nhà cửa.
Mất tiền tiết kiệm gửi ngân hàng.
Còn nợ rất nhiều khoản nợ cờ bạc.
Tập đoàn cờ bạc lừa đảo này còn gọi xã hội đen đến đòi nợ. Tên đòi nợ còn đe dọa:
”Nếu không trả tiền sẽ giết hết cả nhà!”

Lý Lão Thực đã bị dồn vào bước đường cùng liền nghĩ đến việc tự sát, nhưng lại sợ cha mẹ, vợ con bị hãm hại. Thế là ông ấy nhất thời nghĩ quẩn, đóng chặt cửa nhà, đốt than tự sát. Bản thân, cha mẹ, vợ con, cả nhà bảy người đều chết hết.

Thần Hộ Pháp nói:
”Lý Lão Thực là một người trung thực, không sai, nhưng tự sát đã là nghiệp tội, lại còn giết cha mẹ, vợ và ba đứa con nhỏ, nghiệp tội như vậy lại càng lớn, sao có thể lên thuyền pháp chứ?”
Thần Hộ Pháp nói:
”Lý Lão Thực còn viết một mảnh giấy, kể lại rằng, vì không muốn để cha mẹ vợ con bị hãm hại nên mới lựa chọn hạ sách này. Nếu Lư Sư Tôn khuyên bảo rằng có thể lên thuyền pháp, xin Lư Sư Tôn ký tên, các Thần Hộ Pháp chúng tôi sẽ để cho ông ta đi qua.”
Tôi nói:
”Bây giờ tôi đang làm pháp, trên người không có bút.”
Thần Hộ Pháp nói:
”Lư Sư Tôn chỉ cần tập trung tinh thần, bút sẽ xuất hiện trên tay ngài.”
Lúc này, đổi lại là tôi bị khó xử. 
Giết cha, giết mẹ.
Giết vợ, giết con.
Bản thân tự sát.
(Bảy mạng người.)
Có thể đến Tây phương Cực Lạc thế giới không? (Ở đây có ngũ nghịch tội.)

Nhưng, Lý Lão Thực cả một đời thật sự rất thật thà, không có nhân ác. Nghiệp tội duy nhất chính là bị lừa đi đánh bạc, thua hết sạch cả một đời, lỗ vốn hết cả một đời. Vì nghĩ quẩn nên mới lỗ luôn cả bảy mạng người. 
Phải làm sao đây?
Tôi nói:
”Xin Thần Hộ Pháp ghi lại con số linh hồn của Lý Lão Thực rồi sẽ định đoạt sau.”

Tôi đem chuyện này kể với các đệ tử xung quanh tôi, sự việc này nên xử lý thế nào. 
Thả cho đi?
Không thả cho đi?
Tôi ở vào thế khó xử. Ôi!

Có người bạn thân họ Khổng viết một bài phân tích như sau:
Cứu độ có nguyên tắc. 
Câu chuyện là: có một nhân vật trung ấm của linh giới, lúc tại thế vì trốn nợ mà lâm vào bước đường cùng, thế là đã giết hết người nhà, sau đó tự sát, kết liễu bản thân mình, cũng kết liễu cả người nhà, trong lòng nghĩ cả nhà sẽ không bị kẻ đòi nợ hãm hại. Linh hồn của ông ta đã tìm đến Lư Sư Tôn, người hằng đêm hy sinh giấc ngủ của mình, từ bi vất vả vì các vong linh hữu duyên vô duyên mà làm siêu độ, để cầu cứu. Ông ta đã nghĩ rất nhiều cách, lấy tờ giấy xin Lư Sư Tôn ký tên làm giấy thông hành (hoặc ý chỉ của Phật), để có thể lên thuyền pháp, siêu sinh đến Phật quốc tịnh thổ. Nhưng có giấy lại không có bút, không cách nào ký tên. Thế là Sư Tôn từ bi, đã nói ra miệng rằng cho phép ông ta lên thuyền pháp. 
Đáng tiếc là ông ta bị Thần Hộ Pháp chặn lại, không cho lên thuyền pháp. 

Sự khó xử của Sư Tôn:
Sư Tôn rất khó xử, liên tục tỏ ý rằng: ông ta là một người rất thật thà, là người trung thực… Ông ta giết người nhà cũng là sợ người nhà bị kẻ đòi nợ hãm hại. Sư Tôn hỏi đệ tử nên làm thế nào, xin đệ tử nghĩ giúp. Đệ tử con trực tiếp trả lời rằng: người này tạm thời không thể lên thuyền pháp. 
Sư Tôn kính yêu, con phải nói ra suy nghĩ thật trong lòng, tuyệt đối không có ý đắc tội, nhưng mong có thể loại bỏ được sự khó xử trong lòng của thầy. 
Đúng vậy, Hiền Thủ Bồ Tát nói: siêu độ có trung ấm hữu duyên và vô duyên. Đệ tử suy nghĩ và cho rằng, lời của Bồ Tát không có ý chỉ rằng “thông qua toàn bộ” để mà cứu độ siêu độ không có nguyên tắc.

Lưới pháp của pháp giới không thể lỏng lẻo. 
Sư Tôn là Phật Bồ Tát từ bi, mềm lòng. Thầy yêu chúng sinh, thuận theo chúng sinh, mong muốn làm viên mãn mọi nguyện vọng của chúng sinh. 
Thầy biết, khi chúng sinh muốn lòng từ bi của thầy, tham lam lòng từ bi của thầy, si mê lòng từ bi của thầy, thầy nên làm thế nào?
YES là dung dưỡng, NO là đè nén, hay là đều có thể? Căn khí kiếp trước của chúng sinh khác nhau, tập khí của chúng sinh sau khi bị ô nhiễm khác nhau, phải đối trị cho chuẩn xác mới là cứu độ chân chính, mới là tình yêu chân chính đó!
Thuận trị, nghịch trị đều là yêu mà!
Nhất thời mềm lòng, ngược lại có thể khiến cho chúng sinh càng luân hồi trong lục đạo nhiều kiếp hơn. Nghịch trị lúc này, dứt khoát chặn lại, là yêu!

Duyên lên thuyền pháp vẫn chưa đủ! Không liên quan gì đến hữu duyên vô duyên!
Đánh bạc: vào thời khắc đó, chính mình đã hủy hoại bản thân và người nhà rồi. Tâm ba thứ độc tham sân si càng ngày càng lớn, càng rơi càng sâu, gặp phải kẻ xấu chỉ là viện cớ!
Giết: tâm ích kỷ, muốn cùng đến chỗ chết. Chết hết sạch không đại diện cho việc chấm hết, càng không phải là hết sạch sành sanh!
Cứu độ ư: vì sao không đưa vợ con cùng xin lên thuyền pháp? (ích kỷ cá nhân)
Trung thực ư: còn phải để thời gian khảo nghiệm, lâu ngày mới biết.
Lợi dụng: vẫn đầu cơ trục lợi như cũ, xảo ngôn lợi dụng lòng từ bi của Phật Bồ Tát.
Tự mình nên sám hối: sám hối phải xuất phát từ sự thành tâm rất sâu, nếu chỉ là biểu hiện bên ngoài, thừa nước đục thả câu thì có làm cũng như không làm.

Sư Tôn kính yêu, trên đây là thiển kiến của đệ tử trình lên để thầy tham khảo, A Di Đà Phật!

Ngoài ra, có đệ tử nói:
Giết cha, giết mẹ là ngũ nghịch tội.
Không có lý do gì để mà tha, phải xuống địa ngục vô gián. 
Địa ngục có:
Địa ngục Bát nhiệt.
Địa ngục Bát hàn.
Địa ngục A tì.
Địa ngục Nhiễm hạng.
Cha mẹ và vợ con ông ta phải xuống thành chết oan để chờ đợi đến khi tuổi thọ ở kiếp trước hết rồi thì mới chuyển thế. 

Có đệ tử nói:
Tập đoàn cờ bạc.
Tập đoàn đòi nợ (xã hội đen).
Người làm trò hại người này nên chuyển thế vào đạo súc sinh. Phải chịu cái khổ của đói khát, sợ hãi và ăn thịt lẫn nhau. Vì họ chuyên môn đầu độc người khác, nên bị chuyển thế thành rắn, bọ cạp.

Có đệ tử nói:
Lý Lão Thực chắc là đầu óc đơn giản, ngu dại. 
Tự sát là giết Phật tính của mình, về lý nên chịu báo ứng. 
Còn cha mẹ vợ con ông ta là bị chết oan, tội không lớn, được chuyển thế tiếp là được.

Có đệ tử nói:
Lý Lão Thực nếu cũng đến Tây phương tịnh thổ, kẻ tự sát cũng có thể đến Tây phương tịnh thổ, kẻ giết cha giết mẹ, giết vợ giết con cũng đến được Tây phương tịnh thổ, làm gì có cái lý ấy? Lư Sư Tôn độ chúng sinh làm sao mà như vậy được? Sao có thể không phân biệt trắng đen vậy?
Lục đạo luân hồi tự làm tự chịu.
Còn như cờ bạc, lừa đảo, đòi nợ đều là ác nghiệp, đặc biệt là hãm hại người ta, thì càng không được đi.


### 16. Mười hai Cát Tường Thiên


Tôi ngồi trên pháp tọa. Bỗng nhiên trong hư không bay đến mười hai con thiên nga trắng, dáng dấp thong dong duyên dáng khiến người ta mê say. 
Không trung có tiếng nói:
”Lư Sư Tôn! Biết chúng tôi là ai không?”
Tôi dùng thiên nhãn để nhìn. Tôi nói:
”Mười hai vị Cát Tường Thiên!”
Âm thanh nói:
”Lư Sư Tôn có con mắt tinh tường, ngài có thể nhận ra Cụ Tài Thiên Nữ trong số chúng tôi không?”
Theo như tôi biết, mười hai Cát Tường Thiên có mười hai tên gọi là Cát Khánh, Cát Tường Liên Hoa, Nghiêm Sức, Cụ Tài, Bạch Sắc, Đại Danh Xưng, Liên Hoa Nhãn, Đại Quang Diệu, Thí Thực, Thí Ẩm, Bảo Quang, Đại Cát Tường. Những biệt danh khác thì rất nhiều.

Họ muốn tôi nhận ra trong mười hai con thiên nga trắng thì đâu mới là Cụ Tài Cát Tường Thiên. Đây là muốn kiểm tra công lực của Lư Sư Tôn tôi. Tôi dùng pháp nhãn để nhìn. Nhìn thấy có một vị trong đó đầu đội mũ hoa, tư sắc tuyệt đẹp, mặc thiên y màu vàng, tay phải cầm hoa sen, tay trái cầm viên ngọc như ý. 
Tôi đưa tay chỉ vào vị đó. Âm thanh nói:
”Lợi hại! Đó đúng là Cụ Tài Cát Tường Thiên!”

Lúc này, Cụ Tài Cát Tường Thiên đưa cánh tay tiên ra chỉ, pháp tọa của tôi biến thành pháp tọa màu vàng kim, Nam Sơn Nhã Xá của tôi biến thành ngôi nhà vàng, mặt đất hóa thành vàng kim, thuyền pháp biến thành thuyền vàng kim, tất cả đều rực sáng chói lọi. 
Đẹp cực kì!

Tôi hỏi:
”Mười hai vị Cát Tường Thiên đến pháp hội của tôi làm gì?”
Âm thanh nói:
”Mười hai Cát Tường Thiên chúng tôi, Cụ Tài Thiên Nữ có hai thị giả đến nhân gian để trả kiếp, nay đã mãn kỳ nên đặc biệt tới để dẫn họ về thiên cung.”
Tôi nói:
”Tôi hiểu rồi!”

Mười hai Cát Tường Thiên lần lượt hiện ra nguyên thần, mỗi người đều là thiên tiên mỹ nữ.
Nghiêm Sức Cát Tường Thiên — toàn thân phục trang đẹp đẽ, sáu vẻ trang nghiêm không thiếu vẻ nào.
Bạch Sắc Cát Tường Thiên — mặc thiên y màu trắng, tỏa hào quang màu trắng, tinh khiết như hoa sen, có thể thanh tịnh tâm linh chúng sinh.
Thí Thực Cát Tường Thiên — khiến chúng sinh không thiếu thức ăn.
Thí Ẩm Cát Tường Thiên — khiến chúng sinh giải trừ cơn khát.
Liên Hoa Nhãn Cát Tường Thiên — có đôi mắt đẹp nhất. (Nhìn vào ai thì nghiệp chướng người đó sẽ được tiêu trừ hết.)
Đại Quang Diệu Cát Tường Thiên — khiến trên người chúng sinh phóng quang.
……

Trong một lúc, đám linh hồn đều ngẩn người giương mắt ra nhìn. 

Còn nữa:
Trong hư không thả xuống một cái thang trời, tôi cũng là lần đầu tiên nhìn thấy cái thang trời này, giống như cầu vồng, nhưng có từng bậc từng bậc. 
Tôi không có cách nào miêu tả được. Nếu miễn cưỡng phải miêu tả thì là trong hư không thả xuống một chiếc giống như tàu hỏa bảy sắc cầu vồng, có hai ánh sáng quý hạ xuống đưa hai người phụ nữ trong đám linh hồn tiến nhập vào trong cầu vồng. 
Thang trời thu về. Từng bậc từng bậc hóa thành ánh sáng rồi đi mất. 

Âm thanh nói:
”Lư Sư Tôn! Chúng tôi trở về thiên thượng giới đây! Thị giả của ngài, khi đến lúc, chúng tôi cũng sẽ đến đón cô ấy về.”
Thế rồi mọi thứ lại trở về sự tĩnh lặng. 
Cảnh tượng này chỉ xuất hiện trong sát-na rồi lại biến mất trong sát-na. 
Cũng xem như là một câu chuyện vậy!


### 17. Suy nghĩ điên đảo


Tôi ngồi trên pháp tọa. Tay trái kết ấn ban nguyện thả ra thuyền pháp. Vốn dĩ là thuyền pháp này sẽ gặp gió mà phóng to ra, một hóa mười, mười hóa trăm, trăm hóa nghìn, trở thành nghìn chiếc thuyền pháp.
Nhưng lần này thì không như thế, thuyền pháp vừa thả ra thì mũi thuyền liền chúi xuống, thuyền pháp từ từ chìm vào trong biển lớn, một lát sau đã biến mất không để lại tăm tích. 
Có chuyện gì thế này?
Tôi kinh ngạc.

Tôi lại thả ra một chiếc thuyền nữa, lần này thuyền pháp thả ra gặp phải cơn gió lớn, thuyền pháp cật lực xoay vòng tròn, giống như cánh quạt chân vịt của máy bay vậy, tốc độ quay tròn rất nhanh, một hóa mười, mười hóa trăm, trăm hóa nghìn, kết quả là nghìn chiếc thuyền pháp đều quay tròn với tốc độ rất nhanh. Khiến tôi chóng hết cả mặt. 
Choa! Sao lại như vậy?
Tôi sửng sốt.

Tôi lại thả ra một chiếc thuyền, thuyền pháp này không biết vì nguyên nhân gì mà lại bốc cháy, thuyền bốc lửa cháy liên hoàn. 
Siêu độ bất thành rồi!
Thuyền pháp hóa thành tro tàn, trở thành con số không. 
Tôi không tin. Chuyện này là sao đây?

Tôi lại thả thuyền pháp một lần nữa, lần này thành công rồi, nhưng thuyền pháp này lại cứ đi thẳng, càng đi càng xa, căn bản là không chịu sự điều khiển của tôi, thuyền pháp tự mình chạy đi. 
Không thấy đâu nữa!
Thuyền pháp mất tích rồi!
Tôi tức chết mất!
Tôi ngồi trên pháp tọa hết sức ủ rũ, cảm xúc lên xuống bất định, hôm nay có chuyện gì thế này?

Tôi nghĩ đến một bài kệ:
*Tư tưởng tạp niệm thật đáng sợ
Tạp niệm sinh ra ma quấy rầy
Phải dùng Không quán chú quán Không
Ma chướng tâm tư được tiêu trừ
Kết hợp Bổn tôn định tại một
Tất cả chướng ngại hóa vô hình
Linh hay không linh đều nghiệm chứng
Vũ trụ pháp lưu trừ tâm ma.*

Tôi làm theo pháp tu này, chỉ trong sát-na, tay trái vừa thả thuyền pháp ra, thuyền gặp gió đã tung bay cánh buồm trắng, từng chiếc thuyền pháp lần lượt xếp thành hàng. 
Biến hóa thành trăm, nghìn chiếc. 
Đặc biệt tráng lệ.
Tôi trụ trong hư không, thần thông tự tại nhậm vận. Tôi lần lượt hoàn thành nghi quỹ siêu độ nghìn chiếc thuyền pháp của mình. 

Tôi viết ra cảm tưởng của mình:
Thế gian này,
Vốn dĩ không phải là chân thực,
Bởi vì thói quen và ác niệm của con người quá nặng,
Cho nên trong lòng sẽ có những vọng tưởng huyễn tượng đảo điên.
Vốn dĩ tâm tính là quang minh,
Là Phật tính,
Là Pháp thân,
Không sinh cũng không diệt.
Chúng ta tu học pháp mật chú,
Tự có thể thân khẩu ý thanh tịnh,
A Di Đà Phật Vô Lượng Thọ,
Thành quả hóa hiện vô lượng quang.
Nhớ kĩ Không và Huệ,
Sẽ chẳng còn sợ chi.


### 18. Địa Tạng Vương Bồ Tát chảy nước mắt


Tôi chỉ biết Quan Thế Âm Bồ Tát chảy nước mắt, đó là giọt nước mắt từ bi chúng sinh. Nước mắt của Bồ Tát hóa sinh ra Lục Độ Mẫu, còn hóa sinh ra Bạch Độ Mẫu.
Tôi không hề nghĩ đến Địa Tạng Bồ Tát cũng có thể rơi nước mắt, điều này vượt quá sự tưởng tượng của tôi.

Trong siêu độ nghìn chiếc thuyền pháp có rất nhiều Phật Bồ Tát giáng lâm, nhưng chủ yếu nhất là:
Diêu Trì Kim Mẫu.
A Di Đà Phật.
Địa Tạng Bồ Tát.
Quan Thế Âm Bồ Tát.
Đại Thế Chí Bồ Tát. 
(Ở đây bao gồm ba Bổn tôn của tôi.)

Ngày hôm ấy.
Tôi ngồi trên pháp tọa, Địa Tạng Bồ Tát và Lư Sư Tôn hợp nhất, Địa Tạng Bồ Tát chính là tôi, tôi chính là Địa Tạng Bồ Tát. 
Đầu tôi đội mũ Ngũ Phật.
Thân khoác áo cà sa tam quang. 
Tay phải cầm tích trượng.
Tay trái cầm bảo châu như ý sáng chói.
Ngồi trên “đế thính”. (Đế thính là thần thú, biết việc trong thiên hạ.)
Sau đó, tôi cảm nhận được nỗi buồn thương của Địa Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Bồ Tát là vị Bi Nguyện Kim Cang. 
Điều tôi không ngờ đến là Địa Tạng Bồ Tát bỗng khóc òa, tôi kìm nén không khóc, không phát ra tiếng kêu, không rơi nước mắt.
Nhưng không có cách nào kiểm soát được nước mắt, chúng cứ tuôn trào, cả khuôn mặt đầm đìa nước mắt. Khóc không thành tiếng ấy càng khiến cho bản thân khó chịu, toàn thân run rẩy.

Tôi nói với Địa Tạng Bồ Tát:
”Đừng khóc! Đừng khóc! Đại Bồ Tát không khóc!”
Không ngờ con đê ngăn khóc đã vỡ rồi, nước chảy lan tràn. 
Khóc thì khóc cho thỏa thích đi!
Địa Tạng Bồ Tát vì sao lại khóc như vậy? Thì ra là vì thương xót nỗi đau khổ của chúng sinh.
Chiến tranh.
Dịch bệnh.
Mất mùa.
Chiến tranh khiến chúng sinh tan cửa nát nhà, xác chết đầy đồng, máu chảy thành sông, dân tị nạn sống trôi giạt khắp nơi.
Người chết vì dịch bệnh không thể đếm xuể, con người không có cách nào sống như bình thường. Đất nước đóng cửa biên giới, thành phố phong tỏa.
Có chiến tranh, dịch bệnh thì tiếp theo là mất mùa. Nguồn năng lượng, lương thực, dân sinh đều bị ảnh hưởng. Hàng hóa không lưu thông, chuỗi cung ứng đã đứt rồi. 
Lạm phát.
Nhân loại làm sao mà sống tiếp?

Địa Tạng Bồ Tát vì nỗi khổ của nhân loại mà đau lòng chảy nước mắt. Chiến tranh, dịch bệnh, mất mùa, số người chết gia tăng, địa ngục làm sao mà trống được?
Còn việc siêu độ của tôi thì vĩnh viễn không có hồi kết thúc. 
Địa Tạng Bồ Tát khóc.
Tôi (Lư Sư Tôn) cũng khóc.
Nói tóm lại, chiến tranh, dịch bệnh, nạn đói đều là nhân loại tự làm tự chịu. 
Siêu độ nghìn chiếc thuyền pháp của tôi sao có thể dừng lại được, tôi cũng vô cùng cảm thán!
Địa Tạng Bồ Tát khóc rồi!
Tôi cũng khóc rồi!


### 19. Thái tử Shotoku


Trong lúc siêu độ, tôi và Địa Tạng Bồ Tát hợp nhất, khiến tôi từ trong đó mà đau buồn rơi nước mắt.
Tôi đã hiểu ra đại nguyện và lòng từ bi của Địa Tạng Bồ Tát, nỗi âu sầu miên man và mong manh ấy cứ trở đi trở lại trong lòng tôi. 

Địa Tạng Bồ Tát nói:
”Thái tử Shotoku thời đại Asuka.” [Thái tử Thánh Đức]
Chính là mấy từ này đột ngột xuất hiện trong đầu tôi.
Tôi nhảy dựng lên!
Tôi có một nghi vấn:
”Thái tử Shotoku và tôi có quan hệ gì?”
Tôi tự mình nói:
”Tôi từng chuyển thế tại Nhật Bản, nhưng hình như không có liên hệ gì với Thái tử Shotoku, tôi chưa bao giờ nhắc đến Thái tử Shotoku.” 

Thái tử Shotoku là một nhân vật truyền kỳ của Nhật Bản. Sự ra đời của ông ấy đã có truyền kỳ rồi. Mẹ ông ấy mơ thấy một tăng nhân mặc áo cà sa màu vàng đến mượn bào thai, biến thành một ánh sáng đi vào trong bào thai, thế là sinh ra Thái tử Shotoku. 
Chính Thái tử Shotoku cũng tự nói rằng: “Ta là thiền sư Huệ Tư ở núi Nam Nhạc chuyển thế.”

Thái tử Shotoku là người đầu tiên truyền Phật giáo Trung Quốc vào Nhật Bản, tức là tương đương với lão tổ sư. Vào thời đại của Thái tử Shotoku, ông ấy hoằng dương Phật giáo, là một nhà tôn giáo, cũng là một nhà cách mạng.
Tiền giấy của Nhật Bản có chân dung của Thái tử Shotoku. Có một bức chân dung là tay cầm tích trượng, ông ấy cực kì giống với Địa Tạng Bồ Tát.

Lại có một thuyết rằng:
Thái tử Shotoku có tư chất tự nhiên hơn người, mười người cùng đối thoại với ông ấy, ông ấy đều có thể ghi nhớ hết, hơn nữa còn đối đáp được.

Còn nữa, Thái tử Shotoku cho rằng kinh Pháp Hoa của Nhật Bản và kinh Pháp Hoa của Trung Quốc hơi khác nhau. Thái tử Shotoku ra lệnh cho người đến núi Nam Nhạc ở Trung Quốc để lấy kinh Pháp Hoa của Trung Quốc về, sau đó đối chiếu hai bản. Quả nhiên là có khác nhau. Đúng là sự linh nghiệm kì lạ.

Tôi (Lư Sư Tôn) có hai đệ tử đến từ San Francisco tên là Thuần Kiện và Y Phân. Họ là vợ chồng, là phần tử trí thức, là nhân tài về khoa học kỹ thuật cao. 
Thuần Kiện nói:
”Thái tử Shotoku và Lư Sư Tôn có tính liên hệ.”
Tôi nói:
”Cụ thể là như thế nào?”
Thuần Kiện nói:
”Thái tử Shotoku là thiền sư Huệ Tư chuyển thế, còn thiền sư Huệ Tư là sư phụ của Trí Giả đại sư.” (Là Nhị Tổ và Tam Tổ của Thiên Thai tông.)
Thuần Kiện lại nói:
”Trong chú thích của một cuốn sách thời kỳ đầu, Lư Sư Tôn có nhắc đến một vị pháp sư tay cầm lư hương đón Lư Sư Tôn trở về Phật quốc tịnh thổ. Và vị pháp sư này là đệ tử của Lư Sư Tôn, cũng là Trí Giả đại sư.”
Cho nên:
”Thiền sư Huệ Tư là sư phụ của Trí Giả đại sư.”
”Lư Sư Tôn là sư phụ của Trí Giả đại sư.”
Như vậy thì:
Kiếp trước của Lư Sư Tôn là thiền sư Huệ Tư.
Thái tử Shotoku cũng tức là Lư Sư Tôn.
Tôi nghe xong thì cười vang ha ha. 
Thái tử Shotoku**, **thiền sư Huệ Tư, Lư Sư Tôn.
Ha ha ha!
Chà! 
Tôi (Lư Sư Tôn) kém xa rồi! Hổ thẹn!

[Chú thích: điều ghi chú trên ở chương “Lư hương năm nghìn năm” trong cuốn văn tập số 92 của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn “Mảnh giấy hoa văn về thiền định”.] 


### 20. Sắc thân ma


Tôi ngồi trên pháp tọa. Đột ngột có một cái đầu ma thò ra, cái cổ kéo căng ra rất dài khiến tôi nghĩ đến con hươu cao cổ. Bởi sự việc xảy ra đột ngột nên tôi giật thót mình. 
Cái đầu ma này không hoàn chỉnh:
Bị nứt.
Mặt mũi bầm dập.
Biến dạng.
Răng rơi ra, xiêu vẹo.
Thiếu một cái tai. 
Rất nhiều vết máu.

Tôi hỏi Kim Giáp Thần:
”Gì đây? Các vị đưa ma bị tai nạn giao thông đến đây à?”
Kim Giáp Thần đáp:
”Không phải, họ là nạn nhân của máy bay rơi. Có khoảng 50 người, nghe nói Lư Sư Tôn siêu độ nên họ tập hợp nhau đến đây.”
Tôi mở to mắt ra nhìn thì giật nảy mình. 
Trước mắt tôi có hơn 50 người, có thể nói là linh thể máu thịt nát bấy, tứ chi không vẹn toàn, bị đứt đầu đứt chân, ruột xổ ra ngoài bụng, nhãn cầu rơi ra ngoài, lục phủ ngũ tạng không hoàn chỉnh.

Tôi hỏi:
”Kim Giáp Thần! Họ có thể đi Tây phương Cực Lạc thế giới sao?”
Kim Giáp Thần đáp:
”Không được! Nhưng chúng tôi từ bi họ, hy vọng Lư Sư Tôn có thể hoàn trả cho họ một sắc thân ma đẹp đẽ.”

Sắc thân ma?
Đây không phải là một danh từ mới, bởi vì ở thiên thượng giới có:
Báo thân Phật.
Sắc thân trời.
Báo thân Phật là pháp thân Phật hiển hóa ra một thân tướng trang nghiêm. Còn sắc thân trời là thân tướng mà thiên nhân hiển hóa ra, ví dụ:
Thân có ánh sáng.
Có mùi thơm.
Thiên y thanh tịnh, không nhiễm bẩn. (Một hạt bụi cũng không bám.)
Xinh đẹp.
Vĩnh viễn không già yếu.
Hoa không héo tàn.
(Đây là sắc thân của thiên nhân.)

Nhưng những linh hồn do máy bay rơi này thì không phải như vậy, toàn thân họ bẩn thỉu hôi thối, không hoàn chỉnh, ngũ quan không rõ ràng. 
Thật may!
Lư Sư Tôn tôi biết Du già diễm khẩu, trong các vị Như Lai, có một vị là Diệu Sắc Thân Như Lai. 
Tôi và Diệu Sắc Thân Như Lai hợp nhất.
Tôi kết thủ ấn của Diệu Sắc Thân Như Lai. 
Tôi niệm chú ngữ bí mật của Diệu Sắc Thân Như Lai. 
Tôi gia trì cho những hồn ma đó, tôi lần lượt gia trì, không ngờ có thể biến từng người một thành hình dạng ban đầu của họ. 
Đây không phải là phẫu thuật ngoại khoa. Mà là sắp xếp và tổ hợp lại thân thể, trả lại cho họ một sắc thân ma.

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người:
Siêu độ nghìn chiếc thuyền pháp này của tôi cũng có thể biến sắc thân ma rất xấu thành sắc thân ma xinh đẹp. Ma già tám, chín chục tuổi biến thành thiếu niên trẻ trung hai mươi tuổi, vĩnh viễn giữ được hình tượng xinh đẹp. 
Đó là sự biến hóa của sắc thân ma.
Cho nên Thụy Quang, Phù Dung, Thiến Thiến, ba nàng ma thường trụ này vĩnh viễn xinh đẹp.
Đây là nguyện lực của Diệu Sắc Thân Như Lai. 


### 21. Hỏi đáp về sắc thân ma


Hỏi:
”Những ma mà Lư Sư Tôn nhìn thấy có thân tướng gì?”
Đáp:
”Thật ra thân tướng không giống nhau, rất khó nói rõ.”
Hỏi:
”Xin Lư Sư Tôn nói rõ một đôi điều được không?”
Đáp:
”Được thôi! Tôi sẽ lấy ma mà tôi nhìn thấy trong siêu độ nghìn chiếc thuyền pháp để nói rõ những gì tôi nhìn thấy.”
Hỏi:
”Có giống như thấy vật chất thật không?”
Đáp:
”Sắc thân ma không phải là vật chất thật, nói một cách nghiêm ngặt thì chỉ là một dạng quang và khí.”
Hỏi:
”Quang và khí làm sao có thể nhìn thấy?”
Đáp:
”Người bình thường không nhìn thấy quang và khí của ma, nhưng nếu là người có tu hành, tu đến khi có thể hóa quang hóa khí thì có thể nhìn thấy. Ngoài ra, khi con người sắp chết thì cũng có thể nhìn thấy.”
Hỏi:
”Hành giả thế nào có thể nhìn thấy? Hóa quang hóa khí là ý gì?”
Đáp:
”Một hành giả tu đến khi ý niệm không còn chướng ngại hoặc tu đến khi thân không còn chướng ngại. Thân hóa quang, ý hóa khí, đây chính là hóa quang hóa khí. Lúc này có thể nhìn thấy.”
Hỏi:
”Chúng tôi không hiểu ý vô ngại, thân vô ngại, có thể lấy ví dụ không?”
Đáp:
”Được thôi. Ý niệm vô ngại giống như nước sạch không ô nhiễm, tự có thể hiện lên trăng sáng. Thân không chướng ngại giống như gương không bụi, tự có thể soi được vạn vật.”
Hỏi:
”Vậy thì sắc thân ma là như thế nào?”
Đáp:
”Chủng loại khác nhau.”
Hỏi:
”Xin Lư Sư Tôn cũng lấy ví dụ.”
Đáp:
”Pháp thân của Phật như hư không, thân của thiên nhân như cầu vồng, sắc thân của ma như tâm của họ.”
Hỏi:
”Sắc thân ma xuất hiện giống như tâm niệm của họ, phải không?”
Đáp:
”Không sai chút nào.” (Sắc thân ma chính là ý sinh thân.)
Hỏi:
”Xin giải thích rõ về tâm niệm?”
Đáp:
”Tà tâm tán loạn thành tam ác đạo. 
Tự mình đọa lạc xuống biển sinh tử.

Nghĩ cha nghĩ mẹ thì hóa hài nhi
Nghĩ tham biến hiện ngạ quỷ địa ngục
Nghĩ sân hóa thành rắn rết hổ báo
Nghĩ ngu tất cả không rời hắc nghiệp.

Thân mệnh dao động như bong bóng nước.
Ở trong đó thường có tướng hoại tử.

Chính niệm chính tri thanh tịnh tư duy.
Tu hành giải thoát xem là tâm yếu.

Thân khẩu ý niệm duy có thanh tịnh.
Dũng mãnh tinh tấn thành tựu bồ đề.”


### 22. Pháp tu trì sắc thân trời


Trong bản văn trước chúng ta nhắc đến sắc thân ma, người thông minh sẽ liên tưởng đến sắc thân người, sắc thân trời và sắc thân Phật. 
Tôi nói:
”Sắc thân ma chính là ý sinh thân.”
Tôi còn nói:
”Một hành giả có thể tu sắc thân trời.”

Trong “Mật tông đạo thứ đệ quảng luận”, tôi từng đề cập đến tinh yếu tu trì của sắc thân trời. 
Tôi nói:
Chỉ có tu sắc thân trời, không tu Phật tính thì không thể thành Phật. 
Cho nên:
Cần tu sắc thân trời cộng thêm tu Phật tính thì mới có thể thành Phật.
Luận sư Tịch Tĩnh cho rằng:
Sắc thân người là bất tịnh. Để đối trị bất tịnh mà tu thiên du già, thiên du già là sắc thân trời. 
Ngoại tu là phúc đức tư lương.
Nội tu là quang khí.

Vì sao nhất định phải tu sắc thân trời?
Bởi vì Mật giáo cho rằng trực tiếp tu Phật tính (pháp thân Phật) không phải là một việc dễ dàng. Cho nên, sắc thân trời và Phật tính cùng tu, như vậy càng dễ hơn, cũng có thể càng nhanh hơn. 
Sắc thân trời từ định niệm mà có được.
Pháp thân Phật cũng từ định niệm mà có được.
Mật giáo là như vậy, cho nên mới có khác biệt so với Hiển giáo.

Đại sư Tsongkhapa nói:
Sắc thân trời và pháp thân Phật có thể song tu, như vậy càng dễ thành tựu.
Mật giáo là gia trì thành tựu.
Dùng chú.
Dùng ấn.
Dùng niệm. (quán tưởng)
Tôi đặc biệt một lần nữa trình bày về pháp tu trì sắc thân trời trong cuốn sách này. Xin hãy trân trọng.

“Pháp tướng bảo điển”

**Pháp du già sắc thân trời**

Thiên du già là thân trời của tu hành giả, khi thành tựu, tương lai có thể thăng thiên, sau đó tu tính Không ắt có thể thành Phật.
Tu pháp như sau:

1. Vào buổi sáng sớm khi mặt trời sắp mọc nhưng chưa lên hết đường chân trời, hành giả lựa chọn ở ngoài nhà, hoặc ở trong nhà, quay mặt về cửa sổ nơi mặt trời mọc để tu pháp.

2. Quán tưởng trong hư không có mây ngũ sắc hạ xuống trước mặt, che kín mặt hành giả, hành giả hít vào mây ngũ sắc vào trong thân thể mình, mỗi lần một màu (đỏ vàng trắng xanh lục đen).

3. Lại quán tưởng hư không phía trên đỉnh đầu hành giả có mây ngũ sắc, trong đó có cung điện hình chóp nhọn, cửa cung mở ra, bên trong có thiên thần đang ngồi, người nam có thể tu thiên thần, người nữ có thể tu thiên nữ, hành giả cũng có thể tu Bổn tôn của chính mình.

4. Quán tưởng tỉ mỉ tướng mạo trang nghiêm thù thắng tuyệt diệu của thiên thần, thiên nữ. Ví dụ: đội mũ miện, hoa lụa, thiên y, váy xếp, lông mày như trăng khuyết, mắt màu xanh tím như sao trời, mũi to, tai dài, miệng vuông (thiên nữ thì miệng nhỏ như quả anh đào), trên người có vòng kim cương, châu báu, chuỗi ngọc. Hành giả quán tưởng thân Phật thì có búi tóc, nhục kế, các tướng trang nghiêm của Như Lai.

5. Lại hít vào thở ra, tổng cộng thở ra năm hơi khí, mỗi lần một màu sắc (đỏ vàng trắng xanh lục đen), khi thở ra thì quán tưởng ánh sáng bay về phía thiên thần hoặc thiên nữ trong cung điện để quán đảnh cho họ. Quán tưởng khí ngũ sắc phải cực kì sáng chói rực rỡ, việc này là trả khí ngũ sắc về chư thiên.

6. Hành giả quán tưởng thiên thần hoặc thiên nữ phải hết sức rõ ràng, có thể quán tưởng một vị, rồi quán tưởng vị thứ hai, thậm chí theo thứ tự quán tưởng nghìn vị.

7. Làm pháp quán tưởng như trên thật rõ ràng, sau đó niệm chú gia trì “Om hum pan ho seh” [Ôm hùm pan hô sê] 108 biến, sau đó nhập định. Khi hành giả quán tưởng các thiên thần hoặc thiên nữ, tu đến khi hoàn toàn vững chắc rõ ràng, có thể hiện ra rõ nét trong thiền định thì tức là tương ứng, trở thành thiên ngoại hóa thân của hành giả, tương lai hành giả quán tưởng vị này, có thể thỉnh vị đó trở thành phân thân của hành giả, trợ giúp hành giả. 

Xin tham khảo cuốn sách “Mật giáo trí huệ kiếm”. 


### 23. Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu hạ giáng


Có một buổi tối, tôi ngồi trên pháp tọa.
Tôi tu trì pháp siêu độ nghìn chiếc thuyền pháp cho đến đoạn trì chú Văn Thù vãng sinh. 
Trong hư không xuất hiện Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu cùng với chú âm từ từ giáng xuống. 
”Hum mama humni soha.” (chú âm) [Hùm ma-ma hùm-ni sô-ha]
Tay ngài cầm chiếc ô trắng lớn. 
Thân màu trắng, phóng tỏa đại nhật quang.
Tướng mạo giống như thiên nữ mười sáu tuổi.
Quốc sắc thiên hương.
Ngài chiếu ánh hào quang của chiếc ô trắng lớn che phủ lấy phía trên đầu và xung quanh tôi, giống như là xung quanh tôi đều được hào quang của chiếc ô trắng che chắn. 

Tôi hỏi:
”Có chuyện gì sao?”
Phật Mẫu nói:
”Đừng hỏi, đợi một lúc rồi ngài tự mình nhìn xem.”
Không lâu sau. Bầu trời xuất hiện một bầy ác quỷ, có nam có nữ, nhe nanh múa vuốt lao đến tấn công tôi. Nhưng bầy ác quỷ này không có cách nào áp sát tôi được, bởi vì hào quang của chiếc ô trắng đã che chắn tôi, tôi ngồi yên bất động.
Ác quỷ dùng cung tên bắn vào tôi, nhưng tên bay đến chạm vào ánh hào quang thì gãy và rơi xuống.
Chúng lại dùng dao dĩa xiên tôi nhưng không xiên được vào, dao đụng vào ánh hào quang thì tan chảy ra. Dĩa nhọn cũng như vậy. 
Bầy ác quỷ này liền lũ lượt rời đi.

Tiếp theo, lại có một bầy la sát kéo đến, mặt xanh nanh vàng, bọn chúng có thần thông, khè lửa để đốt chiếc ô trắng, kết quả là chiếc ô trắng chẳng hề sợ lửa mà còn đốt ngược lại, đốt cho lũ la sát này cháy xèo xèo. 
Bầy la sát này thấy không có biện pháp nào thì cũng lại tản đi. 

Cuối cùng có một vị Xà Thủ Không Hành Mẫu dũng mãnh lãnh đạo rất nhiều rắn độc phun ra khói độc bao vây lấy Lư Thắng Ngạn tôi từ bốn phương tám hướng. Đó là một cảnh tượng hung ác vô cùng đáng sợ. Chiếc ô trắng lớn đều bám đầy nghìn nghìn vạn vạn con rắn.
Chúng nhe nanh há mồm nhổ ra thạch tín. 
Phun ra khói độc, trong chốc lát trời đất mù mịt, nhật nguyệt không còn ánh sáng, trên trời có tiếng sấm vang rền. 
Đùng đoàng! Đùng đoàng!
Vừa chớp lóe, vừa sấm đánh.

Tôi trông thấy thật quá khủng khiếp, nếu như có một con rắn độc lọt vào thì tôi sẽ trúng độc chết chắc. Thật may, ánh hào quang của chiếc ô trắng lớn đã che hết, bất kì khói độc nào cũng chỉ có thể ở bên ngoài, không thể lọt vào.

Cuối cùng, Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu trì tụng chú phản hồi: “Soha humni mama hum.” [Sô-ha hùm-ni ma-ma hùm]
Một tiếng sấm rền. 
Xà Thủ Không Hành Mẫu đứt ngay cái đầu rắn, ngã vào trong vũng máu. Nghìn nghìn vạn vạn con rắn cũng đứt thành từng đoạn.
Không lâu sau, tất cả lại yên ắng. Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu thu ô về.

Tôi hỏi:
”Vì sao có sự việc này?”
Phật Mẫu nói:
”Có một người là pháp sư Áo Trại Nhĩ, vì ghen tỵ với đại danh của ngài, pháp sư này biết mật chú pháp thuật, đã thúc chú thuật hung ác đến lấy mạng ngài. Bây giờ hắn đã thất bại, tin rằng hắn đã bị trọng thương không dám đến nữa.” 
Tôi cảm tạ Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu.
Phật Mẫu nói:
”Không cần cảm ơn! Tôi là do Phật Đà phái đến, Phật Đà ủng hộ việc siêu độ của ngài đó.”


### 24. Hóa thân bên ngoài thân của Lư Sư Tôn


Có một buổi đêm khoảng 3 giờ. 
Sư Mẫu Thượng sư Liên Hương tỉnh dậy, có hơi khó ngủ nên khoác áo ngồi dậy. Bà ấy đi lại trong nhà, cuối cùng thì đi đến phòng tôi, bà ấy vừa nhìn thì sửng sốt.
3 giờ sáng mà tôi vẫn ngồi thẳng đơ, ngồi trên pháp tọa. Không phải là bà ấy sửng sốt vì điều này, mà bởi vì bà ấy nhìn thấy:
Không chỉ có một Lư Sư Tôn.
Mà là có mười Lư Sư Tôn, mười Lư Sư Tôn ngồi trên mười pháp tọa. Mười Lư Sư Tôn này đang sờ đầu cho bầy ma đang xếp hàng.

Càng kì lạ hơn là:
Phía trên đỉnh đầu của Lư Sư Tôn có một vị A Di Đà Phật ngồi đó, vô lượng quang của A Di Đà Phật chiếu khắp thập phương, hình thành nên cảnh tượng ánh sáng chiếu lẫn nhau cực kì lộng lẫy và rực rỡ. 
Nhìn kĩ hơn một chút thì bầy ma đang được sờ đầu này, hóa ra phần đông là ma già, ma ông ma bà, sau khi được sờ đầu thì hóa thành soái ca mỹ nữ. 
Biến thành trẻ!
Biến thành đẹp!
Ai bị khuyết tật không vẹn toàn thì thành có tay chân đầy đủ khỏe mạnh. 
Không có đầu thì thành có đầu.
Đặc biệt là sau khi được vô lượng quang chiếu đến, tất cả bầy ma được thân tâm thanh tịnh, bầy ma đạt đến cảnh giới tâm quang minh, trên người tự nhiên xuất hiện ánh sáng.

Thế những hài nhi còn nhỏ tuổi sau khi được sờ đầu thì sẽ thế nào?
Những hài nhi ban đầu khi vừa được sờ đầu thì trên lưng dường như có đôi cánh tàng hình, đột nhiên bay lên không trung, giống như chim đại bàng bay lượn trong không trung. 
Có người mang cả thú cưng đến để sờ đầu.
Lư Sư Tôn cũng không từ chối. Vừa sờ đầu một cái thì thú cưng hóa thành hình người. 
Tóm lại là biến hóa vô cùng, thần thông thị hiện cực kì nhiều.

Thượng sư Liên Hương còn nhìn thấy:
Khi Lư Sư Tôn đứng dậy thì hiện lên kim thân cao trượng sáu, đầu chạm đến trần nhà, còn phải hơi cúi xuống. Tay Lư Sư Tôn chỉ vào một bức tranh, bức tranh từ trên tường rơi xuống đất, sau đó lại từ mặt đất bay lên tường, treo ngay ngắn đẹp đẽ.
Lại nhìn thấy giấy vệ sinh bị xé thành từng đoạn từng đoạn, mỗi một đoạn lại biến thành một cô gái đẹp, vừa xoay tròn vừa khiêu vũ. 
Giấy vệ sinh biến thành mỹ nữ khiêu vũ.
Nhảy xong thì lại biến thành giấy vệ sinh treo trên tường.

Bà ấy lại nhìn thấy:
Nam Sơn Nhã Xá hóa thành hoàng cung. 
Trong hoàng cung tụ tập rất nhiều người, rất nhiều người.
Lư Sư Tôn lại thuyết pháp cho mọi người. Trong lúc nghe pháp, có hai người cãi nhau, cãi càng lúc càng to tiếng, ảnh hưởng đến việc thuyết pháp. 
Lư Sư Tôn cũng không nói gì. Chỉ dùng nước vẩy ra. Hai người đó hóa thành hai con lừa, kêu “oe oe”. Những người nghe pháp đều cười vang. Sau đó, nhờ có rất nhiều người cầu xin nên Lư Sư Tôn đã biến hai người đó về lại hình dáng ban đầu. 
Thượng sư Liên Hương còn nhìn thấy trong nhà có rãnh nước, trong rãnh nước còn có cá đang bơi.
……

Lư Sư Tôn ngoài hóa thân bên ngoài thân ra còn có rất nhiều thần thông bất khả tư nghì, kể ra cũng không hết.


### 25. Nói chuyện với Tiêu Diện Quỷ Vương


Lúc còn nhỏ, tôi sống ở Đại Cảng, Cao Hùng, gần chợ Phố Thái. (Địa chỉ cũ là: số 77 ngã tư đường Lâm Sâm thành phố Cao Hùng.)

Mỗi khi đến tết Trung Nguyên, ngày 15 tháng 7 âm lịch, chợ Phố Thái lại có đại pháp hội phổ độ, cực kì náo nhiệt. 
Khi còn nhỏ, chúng tôi đi xem pháp sư siêu độ. 
Cúng phẩm đa dạng đủ mẫu mã màu sắc, giống như một con rồng dài. (Bàn cúng rất dài.) 
Ở phía trước bàn thờ có đặt một vị thần minh cuộn bằng giấy, thân màu đen, mặt phẫn nộ, lưỡi thè dài, trên lưng cắm đầy cờ. 
Người ta nói với chúng tôi:
”Ngài là Tiêu Diện Quỷ Vương!” [Quỷ Vương Mặt Than]
Trên đỉnh đầu của Tiêu Diện Quỷ Vương còn cài một vị Bạch Y Quan Âm Đại Sĩ, nghe nói, Tiêu Diện Quỷ Vương là Quan Thế Âm Bồ Tát hóa ra, chuyên môn đến giám sát việc siêu độ.
Cho nên, Tiêu Diện Quỷ Vương còn gọi là Tiêu Diện Đại Sĩ.

Trong các buổi phổ độ chúc mừng tết Trung Nguyên không thể thiếu được Tiêu Diện Đại Sĩ. 
Ngài bảo vệ đàn tràng. 
Bảo vệ linh hồn.
Quản giám linh hồn.

Có một buổi tối, Tiêu Diện Quỷ Vương hiển hiện trước mặt tôi, do ấn tượng lúc còn nhỏ, tôi liền gọi:
”Tiêu Diện Quỷ Vương!”
Tôi hỏi:
”Tiêu Diện Quỷ Vương từ đâu đến vậy?”
Quỷ Vương đáp:
”Tôi có mặt ở khắp nơi, đến đi tùy ý.”
Tôi hỏi:
”Hôm nay vì sao mà hiển hiện?”
Quỷ Vương đáp:
”Nơi nào có phổ độ thì tôi đều ở đó.”
Tôi hỏi:
”Ngài thường ở chỗ tôi đây à?”
Quỷ Vương đáp:
”Không phải. Hôm nay tôi mới đến.”
Tôi hỏi:
”Vì sao hôm nay mới đến?”
Quỷ Vương đáp:
”Phật bằng đất không qua được nước, Phật bằng gỗ không qua được lửa, Phật bằng vàng không qua được lò nung. Còn như Lư Sư Tôn là Chân Phật, không có chuyện không qua được. Tiêu Diện Quỷ Vương tôi đến hay không đến cũng như nhau.”
Tôi hỏi:
”Tôi cảm thấy lời của ngài có thiền cơ!”
Quỷ Vương đáp:
”Ngài ngồi ghế Bồ Tát, tự có bách linh trợ giúp, tất cả tự  nhiên như thế. Độ tất cả u linh, chỉ búng ngón tay một cái, đây không phải là đàn tràng phổ độ bình thường.”

Tôi hỏi:
”Tôi có phải bày cúng phẩm không?” (Tôi nhớ đến hồi nhỏ.)
Quỷ Vương đáp:
”Tất cả vô tâm, nhất thời đầy khắp.”
Tôi hỏi:
”Tôi nên niệm kinh gì?”
Quỷ Vương đáp:
”Chính Pháp Nhãn Tạng, ắt thấy rõ ràng.”
Tôi hỏi:
”Tôi có cần phải cúng Tiêu Diện Quỷ Vương không?”
Quỷ Vương đáp:
”Chỗ người ta ở tôi không ở, chỗ người ta đi tôi không đi. Ở chỗ Lư Sư Tôn, chân tướng vô hình.”
Tôi nói:
”Cảm tạ Quỷ Vương dạy bảo!”
Quỷ Vương nói:
”Đêm tĩnh trăng sáng, nước trong cá hiện, tôi cũng đi đây!”
Quỷ Vương hóa hiện Quan Thế Âm Bồ Tát đi vào hư không.


### 26. Một nghìn cánh tay


Buổi tối hôm đó, tôi thật sự rất rất mệt, cũng không biết là có chuyện gì mà tôi cảm thấy rất buồn ngủ. 
Tôi ăn một chút đồ ăn.
Uống một chút nước.
Sau đó đánh răng rửa mặt.
Khoảng 2 giờ đêm, tôi lên pháp tọa, chuẩn bị làm siêu độ nghìn chiếc thuyền pháp. 

Trước tiên tôi phụng thỉnh Hổ Đầu Kim Cang gia trì cho tôi. Tiếp theo phụng thỉnh Diêu Trì Kim Mẫu gia trì cho tôi. Sau đó, tôi tự hóa thành Bổn tôn, chuyển thành A Di Đà Phật. Tay trái tôi kết ấn ban nguyện, thả ra chiếc thuyền pháp đầu tiên. Tiếp theo, một hóa mười, mười hóa trăm, trăm hóa nghìn, nghìn chiếc thuyền pháp xuất hiện phía trên biển lớn.
Diêu Trì Kim Mẫu dùng cờ lệnh triệu thỉnh các linh hồn lần lượt lên thuyền pháp. 
Thuyền pháp chật kín người. Cảnh tượng rất long trọng.

A Di Đà Phật hóa hiện thành vô lượng A Di Đà Phật, phóng vô lượng quang chiếu đến các linh hồn trên thuyền pháp, sắc lệnh mọi linh hồn thân tâm thanh tịnh. 
Tôi diễn hóa đến đây thì nhắm hai mắt lại, bất giác ý niệm không thể nào tập trung quán tưởng được. 
Cũng quên luôn cả thủ ấn. 
Tiếng trì chú cũng im bặt.
Sau đó, tôi không biết thân tâm tôi đã đi đâu, hoàn toàn mất đi năng lực quan sát. (Tôi tự giễu mình là nhập tứ ma địa.)
Tôi nhập vào trạng thái vô tri giác không có biên giới.
Ngủ say.
Không mơ.
Hồn bay phách lạc.
Mênh mông mù mịt.
……

Đợi đến khi tôi tỉnh dậy, tôi mở to mắt, nhìn đồng hồ, đã là 5 giờ 30 phút sáng rồi. 
Trời ơi! Tôi phải làm xong buổi siêu độ hôm nay. Nhưng tôi vẫn còn rất buồn ngủ. Muốn miễn cưỡng mở mắt ra, nhưng quá buồn ngủ nên da mắt không nghe lời, cứ nhắm chặt lại. Tinh thần không sao tập trung được. Cũng không nhớ ra nghi quỹ đã đến đoạn nào rồi. 
Không giơ tay lên được.
Trì chú thì cũng thất điên bát đảo.
Tôi nghĩ, ngoài việc lên giường đi ngủ ra thì tôi chẳng còn cách nào tiếp tục diễn hóa siêu độ nữa. Tôi mặc kệ tình hình ra sao, miễn cưỡng lên giường vùi đầu đi ngủ. 
Nhưng tôi nghe thấy tiếng kêu gào của đám u linh. 

Tám giờ!
Tôi mở to mắt, tôi trông thấy một cảnh tượng kì lạ:
Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát ở trước mặt tôi. 
Nghìn cánh tay của ngài, mỗi cánh tay nâng một chiếc thuyền pháp, tổng cộng là một nghìn cánh tay nâng một nghìn chiếc thuyền pháp. 
Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát phải đổi tên thành Thiên Thủ Thiên Thuyền Quan Thế Âm Bồ Tát rồi.
Bồ Tát nói:
”Lư Sư Tôn! Ngài mệt rồi!”
Tôi rất hổ thẹn. Tôi nói:
”Làm phiền Bồ Tát, nghìn chiếc thuyền pháp này phải làm sao đây?”
Bồ Tát nói:
”Tối nay siêu độ một thể luôn! Siêu độ hai nghìn chiếc thuyền pháp!”
Tôi khấu đầu tạ ơn Bồ Tát.


### 27. Độ hóa người phỉ báng tôi


Tôi ngồi trên pháp tọa. 
Phía xa xa, tôi nhìn thấy một hồn ma đang đi về phía tôi, tôi nhìn rõ được hắn rồi thì trong lòng rúng động:
”Ông là Trịnh?”
Ông ấy gật đầu nói:
”Tôi là Nghiêu Trung đây.”
Tôi hỏi:
”Ông là người phỉ báng tôi ở trên mạng, ông đúng là Trịnh Nghiêu Trung sao?”
Ông ta nói:
”Thật sự không dối gạt được.”
Tôi hỏi:
”Vì sao ông lại phê phán tôi?”
Ông ta nói:
”Tôi cũng không biết. Tôi viết bài văn về khai ngộ của mình nhưng ngài không coi trọng!”
Tôi hỏi:
”Nghe nói ông lấy ảnh của tôi in vào bên dưới bồn cầu, ngày ngày đi đại tiện tiểu tiện lên nó đúng không?”
Ông ta nói:
”Đúng vậy.”

Tôi hỏi:
”Vì sao như vậy?”
Ông ta nói:
”Cho bõ tức mà thôi!”
Tôi hỏi:
”Sau khi ông chết, ông đi đâu?”
Ông ta đáp:
”Đi tới Sở sám hối.”
Tôi hỏi:
”Âm gian cũng có Sở sám hối sao?”
Ông ta nói;
”Đúng vậy. Cái gì nhân gian có thì âm gian cũng có, điểm này cũng không có gì lạ. Tôi kết thúc khóa sám hối thì đến chỗ của ngài.”
Tôi hỏi:
”Nghiệp báo của ông đã hết ư?”
Ông ta nói:
”Đúng vậy. Ngũ trọc ác thế thời mạt pháp, giáo pháp thâm sâu khó nghe được, Thượng sư đạt chất lượng cũng rất ít, mà đệ tử có đủ lòng tin thì càng hiếm có. Điều mà tôi phạm phải là lúc thì tin lúc thì ngờ.”

Tôi hỏi:
”Thế còn bây giờ?”
Ông ta nói:
”Bây giờ thì tin rồi!”
Tôi hỏi:
”Vì sao bây giờ tin rồi?”
Ông ta nói:
”Tôi đã nhìn thấy sự chuyên cần và tinh tấn của ngài.”
Tôi hỏi:
”Vì sao ông biết tôi tinh tấn?”
Ông ta nói:
”Bởi vì thời kỳ dịch bệnh, ngài đã làm siêu độ không gián đoạn. Ngài là vị hộ chủ, ngài là Bồ Tát, ngài là Như Lai tiếp dẫn, ngài là chủ Chân Ngôn Giới Bí Mật Chủ.”

Tôi hỏi:
”Cho nên ông mới đến đây?”
Ông ta nói:
”Đúng vậy. Vào thời đại này, hiếm có thầy thành tựu, chưa từng thấy có người hiển đại thần thông như thế này, sau này rất khó xuất hiện lại, vì thế tôi sám hối và cảm ơn sâu sắc.”
Tôi nói:
”Cảm ơn ông! Trịnh Nghiêu Trung.”
Ông ta nói:
”Lần này tôi nói thật đó.”
Tôi nói:
”Xin mời lên thuyền pháp!”
Trịnh Nghiêu Trung đã đi đến Phật quốc tịnh thổ rồi.


### 28. Tình yêu lớn thuần khiết


Có một người đến Seattle. Người này sống ở đây một khoảng thời gian. Rồi giống như một cơn gió, người đó rời đi, để lại cho tôi một bài văn.

Bài văn như sau:
*Mùa xuân đến rồi!
Năm ngoái, vào tầm này, con hạ quyết tâm đến hỏi việc.
Năm nay, vào tầm này, con đã đến rồi, là bởi vì Thầy, bởi vì yêu!
Mỗi một chúng sinh xa gần đều được Thầy yêu mến.
Thầy vì chúng sinh mà không ngừng ngày đêm vất vả 
Hỏi chuyện, gia trì, tu pháp, viết sách, vẽ tranh, chỉ vì cứu độ.*
*Nếu như có thể đi hết trời nam đất bắc, con tin rằng,
Thầy cũng nguyện bôn ba như thế, tuyệt đối chẳng lười nhác buông lơi.
Bởi vì, trong tim Thầy có tình yêu lớn.
Tình yêu vô ngã đối với chúng sinh, con hiểu.
Thầy sẽ không cảm thấy phiền, tâm Thầy từ bi.
Điều này, làm phong phú cuộc đời của Thầy.
Điều này, khiến cuộc đời của Thầy càng có ý nghĩa.
Trên tâm linh, con sẽ vĩnh viễn ủng hộ Thầy.
Mặc dù đau lòng khi thấy Thầy vất vả.*

……

*Bởi vì Thầy, bởi vì yêu! Giờ đây, con đã đến rồi.
Hoa cỏ gặp mùa xuân, khắp nơi tràn trề nhựa sống.
Cảnh tượng đó đâu thể nào che đậy.
Mùa xuân, là sinh sôi nảy nở!
Tình yêu của chúng ta, lúc này mở ra trong sáng.
Chúng ta khát khao nhìn thấy nhau, phải không?
Trái tim chúng ta, chân thành! Cơ duyên, phải trân trọng!
Dưới đây là suy nghĩ kì lạ của con
Con không lưu tâm đến những suy nghĩ này. 
Cầm bút lên! Viết tặng Thầy:
Hy vọng xiết bao,
Được cầm tay Thầy.*

*Chúng ta đi nghe âm thanh của dòng suối nhỏ,
Chúng ta đi ngắm lũ cá nhỏ tự do bên bờ sông,
Chúng ta đi ngửi không khí thơm ngọt trong khu rừng.*

*Chưa hết, khí hậu Washington rất thích hợp cho sự sinh trưởng của các loại dâu, khắp các đường hầm đều có các loại dâu dại ăn được. Cảm kích tấm lòng từ ái của ông trời biết bao, giữa khu rừng này, quả dại được chính khí của trời đất hun đúc, có thể bồi dưỡng thân tâm, con đi hái quả để cúng dường Phật Bồ Tát, nuôi dưỡng Thầy và con.  *

*Đi đã lâu rồi, đã mệt hay chưa? Chúng ta ngồi xuống, quay mặt ra dòng suối, lưng dựa vào tảng đá lớn. Chú âm của tiếng suối không ngừng hát ca… Những tế bào, dịch thể, tinh khí thần, v.v… trong thân tâm chúng ta cũng chảy theo dòng nước tươi mát… thật thoải mái… chẳng nghĩ gì cả…
Thật lâu…*

*Gió xuân không lạnh không nóng thổi lướt qua… Ánh mặt trời ấm áp chiếu qua cành cây kẽ lá, chẳng ngờ chúng ta lại ngủ thiếp đi!
Không biết, đây là chốn nào.
Không biết, thân ở nơi nào.
Không biết, là giờ giấc nào.
Chẳng nghĩ ngợi gì cả.
Ngủ thật ngon thôi…
Lúc này, tứ ma địa này chính là tam ma địa chăng? Lẽ nào không phải sao?
Khi nào Thầy đã tỉnh rồi!
Thầy nhận ra mình đang ngồi, lưng dựa vào tảng đá lớn. Còn con nghiêng nghiêng ngả vào trong lòng Thầy, ngủ say sưa, giống như một baby **[em bé]**.
Thầy hốt hoảng, hỏi mấy giờ rồi? Con bị Thầy đánh thức!…
Trong suy nghĩ lạ lùng, chuyến dạo chơi ngắn ngủi một buổi chiều mùa xuân, thật đẹp đẽ mát lành!*


### 29. Phổ Độ Công giáng lâm


Tôi ngồi trên pháp tọa.
Trước mắt tôi xuất hiện ánh sáng kim tuyến, từng tia từng sợi, ánh sáng kim tuyến này rung rung, sau đó trở thành một lưới ánh sáng hình tròn. 
Lưới ánh sáng này tựa như vòng ánh sáng phía sau lưng Phật Bồ Tát. Theo như tôi biết, như thế này nhất định là có cao linh giáng lâm. 

Tôi đặc biệt chú ý đến trung tâm của vòng ánh sáng, bởi vì thông thường cao linh sẽ ngồi ở chính giữa vầng hào quang. 
(Tình huống này tương tự như ánh sáng bát nhã, trung tâm của ánh sáng bát nhã có đàn thành, và ở trung tâm của đàn thành có Bổn tôn ngồi.)
Tôi nhìn thấy một vị thần màu đen nào đó. 
Mặt đen thui. (như Bao Công)
Mắt như đồng. (Mở rất to, mắt không nhắm lại.)
Thân cao lớn lực lưỡng.
Quần áo giống như quan phục, là quan phục thời cổ đại.
Tôi vừa nhìn thì ngây người ra! Bởi vì tôi không nhận ra ngài là thần thánh phương nào. Tôi hỏi:
”Từ nơi nào đến?”
Ngài đáp:
”Đông Nhạc.”

A! Tôi biết rồi, đây là Đông Nhạc Đại Đế, là thủ tọa ở âm gian. Địa Tạng Bồ Tát là giáo chủ của âm gian, Đông Nhạc Đại Đế cũng giống như “tổng giám đốc”. Đông Nhạc Đại Đế chưởng quản:
Nhất điện — Tần Quảng Vương.
Nhị điện — Sở Giang Vương.
Tam điện — Tống Đế Vương.
Tứ điện — Ngũ Quan Vương.
Ngũ điện — Diêm La Vương.
Lục điện — Biện Thành Vương.
Thất điện — Thái Sơn Vương.
Bát điện — Đô Thị Vương.
Cửu điện — Bình Đẳng Vương.
Thập điện — Chuyển Luân Vương.

Tôi hỏi:
”Ngài là vị vua nào?”
Ngài đáp:
”Tôi ở Phổ Độ ty của Đông Nhạc Đại Đế, tôi là Phổ Độ Công.”
Phổ Độ Công ư, tôi chưa từng nghe tới. Ngài giải thích:
”Lần trước Tiêu Diện Đại Sĩ đã từng đến chỗ của Lư Sư Tôn, đã không ngớt lời ca ngợi, cho nên bảo tôi cũng đến một chuyến.”
Ngài nói:
”Phổ độ của Lư Sư Tôn không giống bình thường, mà là tiếp dẫn các u linh vãng sinh Phật quốc tịnh thổ. Nguyện vọng này có công đức rất lớn, tôi đặc biệt đến để tán dương đức hạnh của ngài.”
Tôi nói:
”Theo như tôi lĩnh ngộ thì thực không có công đức. Tất cả hành pháp như mộng như huyễn. Tôi chỉ là trong cuộc đời mình làm bổn phận của mình thôi. Không đáng được mọi người sùng bái, tôi hiểu khổ lạc vô thường, vinh nhục vô thường, được mất vô thường, thân tâm vô thường.”

Tôi nói:
*”Tất cả tướng hư huyễn
Không có cái thường hằng
Tự tính vốn là không
Chẳng cần phải ca ngợi.”*

Phổ Độ Công nghe xong nói:
”Thiện tai! Cái gọi là công đức chính là không có công đức, vì không có công đức mới là công đức. Hiểu rồi!” - Phổ Độ Công hướng về tôi chắp tay lại.
Tôi nói:
”Đây là pháp cú của kinh Kim Cang.”
Phổ Độ Công nói:
”Lư Sư Tôn! Ngài giảng kinh Kim Cang, chúng tôi rất tán thưởng. Nói ra điều người khác không nói, càng thâm nhập, càng sâu sắc, càng thấu triệt.”
Tôi nói:
”Kinh Kim Cang vô giá mà con người không hiểu, thì biết đến cũng có được gì. Đáng tiếc cho phàm phu sống uổng mấy chục năm.”
Phổ Độ Công hỏi:
”Lư Sư Tôn nói ý nghĩa chính của kinh Kim Cang nằm ở đâu?”
Tôi đáp:
”Thọ trì.”
Phổ Độ Công hỏi:
”Thế nào là thọ? Thế nào là trì?”
Tôi đáp:
”Thọ là tiếp thu, trì là thực tiễn.”
Phổ Độ Công hỏi:
”Thực tiễn ra sao?”
Tôi đáp:
”Thực tiễn pháp vô ngã, lập tức phát bồ đề tâm.”
Phổ Độ Công hỏi:
”Pháp vô ngã làm thế nào để thực tiễn bồ đề tâm?”
Tôi đáp:
”Trong kho tàng vô tận có vô tận, tất cả trân bảo tôi có hết, tôi đặc biệt đến để cứu giúp người bần cùng, tránh cho họ phải lục đạo luân hồi.”
Phổ Độ Công hỏi:
”Đây chẳng phải là cảnh giới có sao?”
Tôi đáp:
”Có trước không sau. Không - Sắc song vận.”
Phổ Độ Công hỏi:
”Ai là người bần cùng?”
Tôi đáp:
”Thực không có người bần cùng, chỉ là con người chưa thức tỉnh.”
Phổ Độ Công đại ngộ.


### 30. Một tiếng sấm rền


Tôi ngồi trên pháp tọa. 
Tôi trì tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ: “Om benza pema hum.” [Ôm pê-cha pê-ma hùm] (3 biến)
Tôi nói:
”Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là hóa thân của A Di Đà Phật.”
Nói xong, trong hư không vang lên một tiếng sấm rền. 

Ở bên ngoài:
Trời đêm không mây.
Trăng treo trên cao sáng vằng vặc.
Tất cả tịch tĩnh.
Sao lại có tiếng sấm nhỉ?
Tôi nói:
”Đó là Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thanh Phổ Hóa Thiên Tôn, đến trước pháp tọa của Lư Sư Tôn tôi.”
Đến để làm gì?
Ngài đến để báo hiệu.
Ngài muốn tôi cứu độ một người, bởi vì tư tưởng của người đó đã đi chệch rồi, phải mau chóng cứu độ. (Người đó nhập vào ngoan không, bám chấp vào chấp không.)
Tôi nói:
”Được!”

Ngày hôm sau, có đệ tử Singapore hỏi:
”Lục Tổ Huệ Năng nói: không nghĩ thiện, không nghĩ ác. Phật giáo thông thường vẫn dạy chúng ta làm mọi việc thiện, việc ác không làm, như thế mới chính xác, vì sao cái thiện cũng không nghĩ chứ?”
Tôi đáp:
”Lục Tổ Huệ Năng muốn chúng ta có thể dừng nghĩ, bởi vì dừng nghĩ mới có thể tịch tĩnh, mới có thể bất động.”
”Không can hệ gì tới thiện ác, sau khi dừng nghĩ mới có thể đạt đến tính Không.”
Tôi thường nói, dòng chảy pháp của vũ trụ dung nhập vào thân tâm của chính mình. Thân tâm thanh tịnh thì có thể hiển phát Phật tính.
Bạn là Bổn tôn.
Bạn là Như Lai.
Khi dừng nghĩ, không nghĩ thiện, không nghĩ ác. (chân đế của Lục Tổ)

Đệ tử Singapore nói:
”Kinh Kim Cang Lư Sư Tôn chuyên giảng về Không, Không tức là cái gì cũng không có.”
Đệ tử Singapore hỏi:
”Làm thiện là không, làm ác cũng là không, hơn nữa còn hoàn toàn không liên quan. Vậy thì nhân quả cũng là không, chúng ta làm ác cũng là không liên quan. Cho nên có thể làm ác đúng không?”
Tôi đáp:
”Kinh Kim Cang là trí huệ của Không. Nhân gian là huyễn, Ta Bà là mộng, cho nên là không, là giả.”
Tôi đáp:
”Cái gọi là không liên quan là tất cả hoàn cảnh xung quanh hoàn toàn không có ảnh hưởng gì đến Phật tính.”
”Rõ ràng là mộng huyễn bào ảnh, thế thì sẽ không ảnh hưởng đến Phật tính!”
”Con người tôi vì không liên quan cho nên giải thoát luân hồi, đạt được đại tự tại chân chính.”

Tôi lại nói:
”Còn như làm ác là không, đây là một lỗi sai lệch lạc. Mặc dù làm ác trong mộng huyễn, nhưng làm ác sẽ có hạt giống nhân quả, không thể rơi vào trong dị giáo này, thiên lệch về tư tưởng vô nhân quả là đáng sợ nhất.”
Tôi đáp:
”Làm ác cũng là không, nhưng rơi vào nhân quả thì không cách nào thoát ly khỏi luân hồi, vẫn rơi vào trong lục đạo luân hồi.”

Tôi đáp:
”Lục đạo luân hồi cố nhiên là huyễn, nhưng có nhân quả ở trong đó. Không thể thoát khỏi lục đạo thì còn nói không có liên quan gì chứ!”
Ý của tôi muốn nói rằng:
Con người chúng ta ở trong mộng huyễn, muốn thoát ra chẳng biết đến bao giờ. Duy có bỏ ác làm thiện, tự mình thanh tịnh ý mình mới có thể giải thoát. (tự tịnh ý mình)


### 31. Tạp âm trong phòng tập thể thao


Tôi từ phòng của Sư Mẫu đi về phòng mình, đi qua một hành lang dài, đi qua phòng tập thể thao. 
Lúc ấy là một giờ sáng.
Địa điểm là ở Nam Sơn Nhã Xá.
Phòng tập thể thao đương nhiên là không có một ai, nhưng lại cứ vang lên rất nhiều âm thanh. 
Bánh xe của xe đạp chuyển động.
Tiếng tạ tay của môn cử tạ va vào nhau.
Ghế mát-xa thì đang đấm bóp.
Cái đĩa xoay vặn người thì đang xoay.
Và những cái khác.
Đây vốn là chuyện bình thường, tôi vốn nghĩ cứ mặc kệ, nhưng cuối cùng tôi lại đi vào. 
Bên trong đương nhiên không có một người nào.
Tôi vừa đi vào thì mọi tạp âm lập tức im bặt, hoàn toàn trống trải, một khoảng lặng như tờ.

Tôi hỏi:
”Ai đang ở đây?”
Họ đáp:
”Chúng tôi.”
Tôi hỏi:
”Sao các người lại gây ồn ào thế?”
Họ đáp:
”Chúng tôi muốn lôi kéo Lư Sư Tôn bước vào, chúng tôi có vài vấn đề muốn hỏi Lư Sư Tôn.”
”Vấn đề gì?” - Tôi hỏi.
Họ đáp:
”Vì sao Lư Sư Tôn có năng lực đưa chúng tôi đến Tây phương Cực Lạc thế giới?”
Tôi cười:
”Ha ha ha ha ha.”
Họ nói:
”Câu hỏi này ngây thơ quá phải không?”
Tôi nói:
”Không phải. Bởi vì tôi chưa từng bao giờ nghĩ đến vấn đề này.”
Họ hỏi:
”Vậy ngài nói sao đây?”
Tôi đáp:
”Bản thân tôi có lực gia trì của Thượng sư, có Phật lực, có pháp lực, có lực của tăng thanh tịnh. Cho nên tôi có thể làm sự nghiệp cứu độ này.”

Họ hỏi:
”Phải tu đến trình độ nào mới được?”
Tôi đáp:
”Tôi cảm thấy tương ứng Thượng sư, tương ứng Bổn tôn, tương ứng Hộ pháp, tự hóa thành Bổn tôn. Tu được như vậy thì tự mình sẽ có năng lực vãng sinh, cũng có năng lực độ hóa người khác, đến được trình độ như vậy thì có thể làm pháp siêu độ rồi.”
Họ nói:
”Hiểu rồi!”

Họ lại hỏi:
”Lư Sư Tôn! Thế ngài còn dựa vào cái gì để mà tu đến trình độ tự hóa Bổn tôn?”
Tôi đáp:
”Nghị lực thôi! Tôi là một hành giả tinh tấn.”
Họ hỏi:
”Chúng tôi rất lấy làm lạ, con người đều sợ ma, vì sao ngài không sợ ma?”
Tôi đáp:
”Ma cũng là một trong số chúng sinh thôi!”
Họ hỏi:
”Ma cũng có ma rất tà ác, cũng không sợ sao?”
Tôi đáp:
”Tôi có Hộ Pháp Thần, cũng tu thành tựu kim cang bất hoại.”
Họ vỗ tay hoan hô. Tôi trở về phòng mình để làm siêu độ.


### 32. Mọi pháp vô ngã


Tôi ngồi trên pháp tọa. 
Nhìn thấy trong vô lượng ánh sáng có một vị Đại Bồ Tát đang ngồi, ngài chính là Hiền Thủ Bồ Tát. 
Hiền Thủ Bồ Tát hỏi tôi:
”Lư Sư Tôn! Ngài làm siêu độ nghìn chiếc thuyền pháp là làm vì điều gì? Làm vì ai?”
Tôi đáp:
”Vì vô sở trụ mà sinh tâm ấy.” (Làm mà không vì cái gì cả.)
Hiền Thủ Bồ Tát hỏi:
”Có thu nhập không?”
Tôi đáp:
”Không có được cái gì.”
Hiền Thủ Bồ Tát hỏi:
”Vì phúc đức sao?”
Tôi đáp:
”Phúc đức mà Bồ Tát làm không nên tham chấp, do đó nói là không nhận phúc đức.”
Hiền Thủ Bồ Tát hỏi:
”Là vì danh sao?”
Tôi đáp:
”Tâm Bồ Tát không nên trụ sắc bố thí, tương tự, tâm Bồ Tát không nên trụ danh bố thí. Không phải vì cái danh.”
Hiền Thủ Bồ Tát hỏi:
”Ngài không vì danh mà làm pháp siêu độ này, cũng không vì lợi mà làm pháp siêu độ này, càng không vì sắc mà làm pháp siêu độ này, chính là công đức vô lượng vô biên rồi!”
Tôi đáp:
”Tôi không nghĩ đến công đức. Tất cả pháp hữu vi, như mộng huyễn bào ảnh, như sương cũng như điện, nên quán chiếu như vậy.”
Hiền Thủ Bồ Tát không hỏi nữa, làm lễ rồi rời đi.

Tôi nghĩ đến bốn câu kệ của kinh Kim Cang:
Vô ngã tướng.
Vô nhân tướng.
Vô chúng sinh tướng.
Vô thọ giả tướng.
Tôi Lư Sư Tôn dùng sức mạnh tinh thần không gì sánh bằng để làm siêu độ nghìn chiếc thuyền pháp là lìa tất cả tướng, phát bồ đề tâm.
Tôi hiểu điều mà Phật Thích Ca Mâu Ni nói, lấy vô ngã vô nhân vô chúng sinh vô thọ giả để tu tất cả pháp thiện. 
Tôi hiểu:
Thế gian là mộng.
Thế gian là huyễn.
Đắc tức không đắc. Không đắc tức đắc.

Tôi ngưỡng mộ bài cầu nguyện của Thánh Phương Tế của Thiên Chúa giáo hồi thế kỷ 13:
*Chúa ơi!
Xin hãy biến con thành sứ giả hòa bình của Chúa.
Ở đâu có thù hận, để con rộng rãi bố thí ái hữu.
Ở đâu có sỉ nhục, để con truyền bá lòng khoan dung, 
Để con đem đến lòng tin cho những con người nghi hoặc, 
Đem đến hy vọng cho những con người chán nản. 
Để con xua tan bóng đêm và tỏa ra ánh sáng
Hóa khổ nạn thành niềm hỷ lạc.
Chúa ơi! 
Xin Chúa dạy con có thể an ủi con người, không mong cầu sự an ủi từ con người.
Có thể hiểu được con người, không mong cầu con người thấu hiểu.
Yêu thương con người không mong cầu được con người yêu thương.
Dạy con niềm tin chắc chắn rằng cho đi mới có thể nhận lại, có tha thứ mới có được miễn xá.
Hy sinh chính mình mới có thể sống mãi!*

Tôi đọc xong bài cầu nguyện của Thánh Phương Tế, đến “hy sinh chính mình mới có thể sống mãi”, tôi nói:
”Đó chính là pháp vô ngã!”


### 33. Diêu Trì Kim Mẫu với hình tượng thiên nữ


Tại đàn thành chính ở Hộ Ma Bảo Điện của Cầu Vồng Lôi Tạng Tự (Biệt thự Cầu Vồng). 
Ở chính giữa trên cao nhất có một vị Diêu Trì Kim Mẫu với hình tượng thiên nữ, dáng vẻ của ngài là:
Đầu đội mũ chim xanh.
Tóc vấn lên.
Lông mày lá liễu, mắt phượng hoàng.
Khuôn mặt trái xoan.
Mặc thiên y váy xếp màu đỏ. (Đeo thắt lưng thiên nữ nhiều màu.)
Tay phải cầm phất trần.
Tay trái cầm gậy như ý.
Sáu thứ trang nghiêm (mũ, hoa tai, dây chuyền, vòng tay, vòng chân, thắt lưng).
Hình tượng mười sáu tuổi.
Duyên dáng tao nhã.
Bức tượng này do Thượng sư Thường Nhân và các đồng môn ở hội đồng tu Thập Phương Hồng Kông tặng. 

Tôi tu pháp siêu độ nghìn chiếc thuyền pháp, mỗi lần ngài đều xuất hiện trong hư không. 

Tôi nhìn thấy rất rõ ràng:
Ngài phóng tỏa vô lượng hào quang, ngọn lửa vui vẻ ấm áp và thuần tịnh gia trì cho tôi. (Tôi từ trong ánh sáng ngọn lửa của ngài mà chuyển hóa thành Bổn tôn.)
Tướng của ngài là sắc thân trời đẹp đẽ, từ hư không giáng xuống, dáng vẻ xinh đẹp không có văn tự nào có thể mô tả được. (Nhẹ nhàng như cánh bướm.)
Tôi hoan hỷ tiếp nhận.
Tâm tôi thanh tịnh không nhiễm bẩn.
Ở trong định, tôi càng trở nên sáng rõ.
Tôi thể nghiệm được cảnh giới vô vi.
Mọi suy nghĩ cõi trần của tôi đã được tịnh trừ.
Trí huệ viên mãn rồi.
Mưa pháp rơi lả tả.
Ngài và tôi hợp nhất và bất động, ngài là tôi, tôi là ngài.
Tôi bắt đầu tu pháp “nghìn chiếc thuyền pháp quang minh vô chấp”. 

Lúc này:
Trong ý tất cả không vô tướng
Tâm tính và pháp tính một thể
Pháp nhĩ bản nhiên tự nhiên thành.
Lúc này, tôi lĩnh hội được “thất chi kim cang trì”:
Cảnh giới báo thân.
Cảnh giới hòa hợp.
Cảnh giới đại lạc.
Cảnh giới tính Không.
Cảnh giới thường hằng.
Cảnh giới đại bi.
Cảnh giới bất biến.

Diêu Trì Kim Mẫu với hình tượng thiên nữ nói với tôi:
Để pháp thể của Lư Sư Tôn, thiên tâm bồ đề tâm nguyệt dịch đầy ắp toàn thân.
Để pháp lực của Lư Sư Tôn và pháp lực của dòng chảy pháp vũ trụ, hai hợp làm một.
Để ánh sáng rực cháy.
Để đại lạc hằng tại.
Để Phật tính vô lượng.
Tất cả những điều này đều hiện lên một cách hoàn mỹ nhất.
Thiên nữ Kim Mẫu nói:
”Tôi đã trút toàn bộ pháp lực của mình lên trên thân ngài.”
Tôi hỏi:
”Tôi xưng hô với ngài ra sao?”
Thiên nữ Kim Mẫu đáp:
”Gọi tôi là Kim Ni!”
Ha!
”Kim Ni!”
Không có tên gọi nào thân thiết hơn tên gọi này!


### 34. Tăng nhân im lặng không nói ấy


Có một hôm, A Di Đà Phật nói với tôi:
”Buổi tối ngày mai có một tăng nhân sẽ đến và lên thuyền pháp của ngài.”
Tôi hỏi:
”Là vị tăng nhân nào?”
A Di Đà Phật trả lời:
”Ngày mai ngài sẽ biết!”
Tôi nói:
”Có thể nói cho tôi biết ngay bây giờ không?” (Tôi rất tò mò.)
A Di Đà Phật không nói rõ, chỉ nói một câu:
”Thầy độ trò, trò độ thầy.”

Đến buổi tối ngày hôm sau, tôi ngồi trên pháp tọa, xa xa trông thấy một vị tăng nhân từ xa lại gần, sau đó lên thuyền pháp.
Ông ấy không nói câu gì.
Tôi cũng không nói câu gì.

Nhưng trong lòng tôi gào lên: 
”Là ông ấy, là ông ấy, là ông ấy. Sao lại là ông ấy chứ? Sao lại là ông ấy chứ? Sao lại là ông ấy chứ?”
”Những năm qua ông ấy đã đi đâu?”
Phật giới? Bồ Tát giới? Thanh Văn? Duyên Giác? Chư Thiên giới? Nhân giới? A tu la giới? Địa ngục? Ngạ quỷ? Súc sinh?
Hay là…?
Không giới?

Ông ấy lên thuyền pháp của tôi, nói thẳng đây là một chuyện bất khả tư nghì không thể tưởng tượng được. Tôi không biết là nên vui hay là buồn.
Đúng là một cảm xúc khó tả.
Ông ấy xem ra hoàn toàn không thay đổi, một bộ áo tăng, hai tay không có gì, thái độ ung dung, trầm mặc kiệm lời, đến như thế, đi như thế.

Tôi kể sơ sơ về tư tưởng của ông ấy:
Phật Thích Ca Mâu Ni chủ trương tự lực. Ông ấy theo phái tự lực. 
Người Thiên Trúc (Ấn Độ) xưa thích mặt trời xuống núi với rất nhiều sắc màu rực rỡ tươi đẹp, vì thế mà có tư tưởng về Tây phương Cực Lạc thế giới. 
Do đó, Tây phương Cực Lạc là huyễn hóa. 
Ông ấy hiểu nhân gian là huyễn.
Ông ấy hiểu con người là giả.
Ông ấy phá trừ ngoại đạo.
Ông ấy phá trừ chấp mê. (Phá trừ đến không thể phá trừ thì chính là chân lý.)
……

Bây giờ tôi nói một chút về chủ trương của tôi (Lư Sư Tôn):
Tôi có tư tưởng về tịnh thổ (lạc thổ).
Tôi chủ trương con người cần có tự lực, nhưng cũng cần có tha lực, hai cái hợp làm một, có thể đến lạc thổ trước.
Tự lực đến từ trì danh niệm Phật.
Tha lực là Tây phương Tam Thánh đến tiếp dẫn.
(Căn cứ theo kinh A Di Đà, kinh Vô Lượng Thọ, kinh Quán Vô Lượng Thọ, luận Vãng Sinh.)
Tôi chủ trương thực tu pháp Mật giáo.
Tu gia hành, tu Bổn tôn, tu pháp Kim cang, tu Vô thượng mật, tu khí mạch minh điểm, tu hóa cầu vồng, v.v…
Đây là tự lực.
Tha lực là Bổn tôn gia trì, Hộ pháp gia trì, Thượng sư gia trì.
(Căn cứ theo kinh Đại Nhật, kinh Kim Cang Đỉnh, kinh Khổng Tước Vương, v.v…)

Tôi có tư tưởng Tây phương tịnh thổ, cũng có tư tưởng hóa cầu vồng.
Tôi cũng chủ trương:
Phi không. [Chẳng phải không.]
Phi giả. [Chẳng phải giả.]
Trung quán.
(Nhất tâm tam quán của Thiên Thai tông.)
Nói thẳng thắn:
Siêu độ nghìn chiếc thuyền pháp có tư tưởng tịnh thổ và tư tưởng gia trì của pháp Mật giáo.
Đây là chủ trương của tôi. 


### 35. Truyền thừa của Lư Sư Tôn


Văn bản này đại diện cho những dấu tích tôi đã đi qua trong giới tôn giáo. Tôi cho rằng những điều này đều là truyền thừa.
Nói thật lòng, chúng đều giáo dục tôi.

Hồi đầu, tôi là tín đồ Cơ Đốc:
Tại giáo hội Trưởng Lão Tân Hưng Cao Hùng, tôi được rửa tội bởi mục sư Tô Thiên Minh. Tôi đã trưởng thành trong giáo hội, sau đó trở thành thầy giáo của lớp học chủ nhật. 
Cho nên tôi nói: “Jesus là guru của tôi!”
(Jesus hy sinh mạng sống của mình, chảy dòng máu cao quý để cứu tội lỗi của nhân loại.)
Jesus là Đại Bồ Tát vô ngã.

Sau đó, tại Ngọc Hoàng Cung, tôi được người phụ nữ mặc áo xanh Lâm Thiên Đại chỉ dẫn, được Diêu Trì Kim Mẫu mở thiên nhãn. 
Tôi tận mắt nhìn thấy:
Diêu Trì Kim Mẫu.
A Di Đà Phật.
Địa Tạng Bồ Tát.

Tôi hiểu thì ra mình là Liên Hoa Đồng Tử lại đến nhân gian. Bắt đầu từ đó, tôi có linh lực. 
Tôi cảm ơn sự chỉ dẫn của Lâm Thiên Đại.
Tôi tôn sùng Diêu Trì Kim Mẫu, liên tục cho đến hôm nay, tôi 78 tuổi rồi, ngài là Bổn tôn trong cuộc đời này của tôi.
Diêu Trì Kim Mẫu là Đại La Kim Tiên, là tín ngưỡng dân gian, cũng là Tiên Vương của Đạo gia.
Tôi nói: “Không có Diêu Trì Kim Mẫu thì không có Lư Sư Tôn.”

Cuối cùng, tôi đã quy y Phật giáo. Các sư phụ nhân gian mà tôi nương dựa là:
Ấn Thuận đạo sư — là tông sư của Tam Luận tông. (Trung luận, thập nhị môn luận, bách luận.)
Lạc Quả pháp sư — là truyền thừa của Thiền tông Tào Động tông.
(Sau thời Huệ Năng là Lâm Tế tông, Vân Môn tông, Tào Động tông, Vi Ngưỡng tông, Pháp Nhãn tông.)
Đạo An pháp sư — Pháp Tướng tông.
(Kinh Lăng Già, kinh A Tì Đạt Ma, kinh Hoa Nghiêm, kinh Mật Nghiêm, kinh Giải Thâm Mật, Bồ Tát Tạng.)
Trên đây là ba vị thầy Hiển giáo.

Ba vị thầy mà tôi nhận Bồ Tát giới là:
Huệ Tam pháp sư.
Hiền Đốn pháp sư. (truyền thừa Tịnh Độ tông)
Giác Quang pháp sư.
Truyền thừa Mật tông là:
Liễu Minh Hòa Thượng (Hồng giáo).
Sakya Chứng Không Thượng sư (Hoa giáo).
Đại Bảo Pháp Vương thứ 16 (Bạch giáo).
Thubten Dhargye Thượng sư (Hoàng giáo). 
Phổ Phương Thượng sư.
Còn có rất nhiều các sư phụ mà tôi quy y nữa, việc học tập của tôi bao la vạn tượng.

Ngoài ra còn có một vị thầy cạo đầu cho tôi rất quan trọng, ngài chính là pháp sư Quả Hiền của chùa Huệ Tuyền ở Hồng Kông. 
Ngài ấy là Thiền tông (Lâm Tế tông).
Tôi xuất gia là nhờ vào đại hòa thượng Quả Hiền. (Ngài là đệ tử của tôi, nhưng cũng là thầy cạo đầu cho tôi.)
Bởi vì tôi học rất nhiều sư phụ, cho nên truyền thừa của tôi cũng nhiều, còn có rất nhiều vị thầy mà tôi kết duyên nhưng không kể ra ở đây.
Tôi có truyền thừa Tịnh Độ tông, truyền thừa Thiền tông, truyền thừa Tam Luận tông, truyền thừa Thiên Thai tông, truyền thừa Mật tông.
Thậm chí Luật tông, Pháp Tướng tông, Hoa Nghiêm tông tôi cũng đều có tiếp xúc.
Tôi cũng có nghiên cứu cả Thành Thực tông của Tiểu thừa và Câu Xá tông.

Lư Sư Tôn chủ trương:
Tông gì cũng thế, phái gì cũng vậy, trăm sông chảy vào một biển.
Thành tựu Phật tính quang minh.
Mới là quan trọng nhất.


### 36. Nghiệp lực thật đáng sợ


Tôi ngồi trên pháp tọa.
Phát hiện ra bên dưới pháp tọa của tôi có một bóng ma màu xanh nhạt, hắn ngửa mặt lên nhìn tôi, nét mặt đầy vẻ bất lực.
Tôi hỏi:
”Sao không lên thuyền pháp?”
Hắn đáp:
”Không lên được.”
Tôi hỏi:
”Vì sao không lên được?”
Hắn đáp:
”Tôi đã thử rất nhiều lần rồi, đều không lên được. Cứ lên rồi lại bị trượt xuống, lên rồi lại bị trượt xuống. Có một lần lên được rồi, nhưng thuyền lại biến mất, tôi vẫn đứng nguyên chỗ cũ.”
Tôi hỏi:
”Các linh hồn đều bay lên thuyền, cũng có linh hồn thả mình theo gió mà lên thuyền, họ đều có năng lực thần thông, vì sao anh ko có?”
Hắn đáp:
”Tôi không có năng lực thần thông.”

Tôi hơi nghi ngờ, không thể lên thuyền pháp thì sao lại được Kim Giáp Thần thông qua mà cho đi vào nhà tôi. Tôi hỏi:
”Làm sao mà anh đi vào Nam Sơn Nhã Xá được?”
Hắn đáp:
”Tôi đem chứng thư quy y đặt lên trên đầu tôi, cứ thế là đi vào, Kim Giáp Thần nhìn thấy chứng thư quy y liền để tôi đi vào.”
Tôi cười:
”Thì ra anh là đệ tử Chân Phật Tông, được rồi! Tôi sẽ đưa anh lên nghìn chiếc thuyền pháp.”
Tôi cõng hắn từ pháp tọa bay lên không. Giống như một con đại bàng bay lượn, khi đến gần thuyền pháp, đột nhiên tôi cảm thấy lưng rất nặng, nặng đến mức tôi không thể nào bay tiếp được. 
Tôi rơi xuống đất.

Tôi hỏi:
”Sao mà anh nặng thế?”
Hắn đáp:
”Tôi cũng không biết.”
Tôi lại lên thuyền pháp lại từ đầu, tôi hỏi hắn:
”Lúc còn sống anh làm nghề gì?”
Hắn đáp:
”Rất xin lỗi Lư Sư Tôn! Tôi không làm chính nghiệp. Tôi là đầu sỏ của một băng đảng, đã từng giết người, buôn bán ma túy, và tổ chức đánh bạc.”
Tôi nói:
”Anh đã phạm vào nghiệp tội sát sinh, lại phạm vào nghiệp tội buôn bán ma túy, còn phạm nghiệp tội hại người ta tham tiền.”
Hắn cũng nói:
”Không chỉ như vậy, tôi còn đánh thuốc mê rồi cưỡng bức rất nhiều phụ nữ.”
Tôi nói:
”Đã phạm giới sát sinh, phạm giới trộm cướp, giới tà dâm cũng phạm luôn rồi, đương nhiên cũng phạm giới vọng ngữ rồi, vậy còn giới uống rượu cũng đã phạm rồi đúng không?”
Hắn đáp:
”Vâng!”
Tôi nói:
”Vậy thuyền pháp của tôi đương nhiên không thể nào chở được anh, bởi vì nghiệp tội của anh quá sâu nặng.”
Hắn nói:
”Nhưng tôi có quy y ngài mà!”
Tôi nói:
”Anh quy y chỉ là hình thức, anh không tu pháp, không sửa sai hướng thiện, anh phải đi lục đạo luân hồi, tôi không có cách nào cứu anh được.”
Hắn đã bị Chuyển Luân Vương bắt đi rồi!


### 37. Nói một chút về giới luật


Có rất nhiều linh hồn nhìn thấy tôi cõng đệ tử quy y kia bay lên thuyền pháp. Đáng tiếc là bay được nửa đường thì lại ngã lăn ra đất. 
Tương tự, rất nhiều linh hồn nhìn thấy đệ tử quy y kia bị Chuyển Luân Vương bắt đi. 
Họ hỏi tôi:
”Đệ tử quy y Lư Sư Tôn mà Lư Sư Tôn cũng không có cách nào cõng lên thuyền pháp được ư?”
”Đệ tử quy y bị Chuyển Luân Vương bắt đi, cho dù đã quy y rồi, Lư Sư Tôn cũng không thể cứu sao?”
Tôi thờ ơ nói:
”Giới luật rất nghiêm, nghiệp lực rất nghiêm.”
(Tôi không muốn nói về điều này.)
Nhưng đám u linh ngờ vực không tin!
Tôi chỉ còn cách nói thêm một chút. 
Tôi nói:
Giữ giới là một trong sáu pháp độ. 
Giới cũng là những quy tắc của tín chúng, cũng chính là quy định. Phật giáo Tiểu thừa rất coi trọng giới luật. 
Kì thực Phật giáo Đại thừa cũng coi trọng giới luật, chỉ là không quá nghiêm khắc như Tiểu thừa.
Giới luật của Mật giáo cũng rất nhiều, bao gồm Phật giới của Đại thừa cộng thêm giới luật của Mật giáo. 
Giáo đoàn của Phật Thích Ca Mâu Ni ban đầu không có giới luật, về sau đệ tử phạm giới (phạm sai lầm) thì mới lần lượt đưa ra các giới điều.

Giới luật đầu tiên nhất của Phật Đà là:
Người tại gia phải giữ năm giới:
Không sát sinh.
Không trộm cắp.
Không tà dâm.
Không vọng ngữ.
Không nghiện rượu. 

Người xuất gia phải giữ: 
Không sát sinh.
Không trộm cắp.
Không tà dâm.
Không vọng ngữ.
Không nghiện rượu. 
Và cộng thêm:
Không ăn vặt ngoài bữa chính.
Không xem ca múa. (Cúng Phật là ngoại lệ.)
Không nằm trên giường cao. 
Không trang điểm son phấn.
Không đeo vàng bạc.
(Đây là mười điều giới luật cơ bản nhất.)

Về sau, giới luật càng ngày càng nhiều, càng phân chia nhỏ hơn. 
Kinh điển mà Phật Đà giảng giới luật cũng rất nhiều.
Kinh điển chủ yếu của Phật giáo Đại thừa là Kinh Phạm Võng, Bồ Tát Giới Bản Kinh. 
Kinh điển chủ yếu của Phật giáo Tiểu thừa là Thập Tụng Luật, Tứ Phân Luật.
Mật thừa có Mười Bốn Giới Đọa Căn Bản, Sự Sư Pháp Ngũ Thập Tụng, Kinh Susiddhi [Tô Tất Địa].
Pháp sư Đạo Tuyên thế kỉ 17 chủ trương giới luật nên thống nhất, tại núi Chung Nam, ngài giải thích các giới luật và nghi thức lễ tiết, chính là Nam Sơn Tông.
Triều Thanh, pháp sư Cổ Tâm, tại núi Bảo Hoa ở Giang Tô, đã giải thích các giới luật và nghi thức lễ tiết, chính là Bảo Hoa Sơn Giới Pháp. 

Về sau, giới luật học tự trở thành một phái, cũng chính là Luật tông. 
Khi Phật niết bàn, A Nan hỏi Phật:
”Sau khi Phật niết bàn thì lấy gì làm thầy?”
Phật đáp:
”Lấy giới làm thầy.”
Có thể thấy Phật Thích Ca Mâu Ni rất coi trọng giới luật.
Giới luật - có thể khiến đệ tử Phật đi trên chính đạo. (Tránh gây ra ác nghiệp.)


### 38. Khai quang như mộng như huyễn


Tôi ngồi trên pháp tọa, làm xong siêu độ nghìn chiếc thuyền pháp. Tôi cứ thế tự nhiên nhập vào thiền định. 
Khí nhập trung mạch.
Nuốt dịch thể.
Tinh thần thống nhất.
Từ “một” nhập vào “không”. 
Tôi lúc này như mộng như huyễn, như cảnh giới thái hư [trạng thái trống rỗng mênh mang], dường như chỉ còn lại cái “thức”. (Thức là bản thể.)
Thân thể biến mất, hoàn cảnh xung quanh biến mất. Dường như là tam tế nhất như, quá khứ, hiện tại, vị lai trở thành một. 
Hoành biến thập phương, phương trên, phương dưới, tám phương, tất cả đều đầy ắp và tự do đến đi.
Dường như có đến.
Dường như có đi.
Kì thực là không đến không đi.

Không ngờ tôi đã tới Penang ở Malaysia, đến Lôi Tạng Tự ở Penang. 
Đó là tòa Lôi Tạng Tự mới xây. Có điện chính và nhiều điện phụ. 
Có âm thanh bảo tôi khai quang!
Tôi niệm:
”Thiên chi thần quang, địa chi thần quang, nhật nguyệt thần quang, khai quang khai quang chú.”
Khai nhãn quang — quán thị thế giới.
Khai khẩu quang — khai khẩu độ chúng.
Khai nhĩ quang — văn thanh cứu khổ.
Khai tâm quang — từ bi chúng sinh.
Khai thủ ấn — thân thủ gia trì.
Khai thần túc — phi hành vạn lý.
Khai kim thân — hào hào phóng quang.
Cấp cấp như luật lệnh. 
Cấp cấp như luật lệnh.
Cấp cấp như luật lệnh.
Phụng thỉnh Diêu Trì Kim Mẫu luật lệnh cương.
(Chú ngữ này phải niệm ba lần.)
Kết thủ ấn.
Gia trì kim thân.
Đồng thời làm kết giới trên kim thân.

Tôi nhìn thấy:
Các Phật Bồ Tát Kim Cang Hộ Pháp và Không Hành Chư Thiên chúng, tất cả đều chuyển động.
Có vị bay lên không.
Có vị xuyên vào lòng đất.
Có vị khoa chân múa tay.
Có vị hóa thành ánh sáng.
Lại có cả chớp điện, có cả sấm sét.

Kim thân của mỗi vị đều sống dậy, các vị thi triển rất nhiều thần biến. Đặc biệt là Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn, ngài ngồi ở chính giữa một hồ nước lớn, xung quanh là nước. Giữa hồ nước có một đóa hoa sen rất lớn, trên hoa sen có tám quả cầu thủy tinh tỏa ánh sáng chói lọi. 

Diêu Trì Kim Mẫu thì ngồi trên hoa sen lớn đó. 
Một tay cầm phất trần.
Một tay cầm gậy như ý.
Có âm thanh niệm: “Om jinmu siddhi hum.” [Ôm chin-mủ sit-đi hùm]
Xung quanh tòa hoa sen có rất nhiều tiên nữ tung tăng bay múa, giống như Diêu Trì Tiên Cảnh vậy.

Thiền định của tôi kết thúc vào lúc 2 giờ 40 phút sáng. Tôi lên giường đi ngủ.
Ngày hôm sau.
Có pháp sư trụ trì của Penang Lôi Tạng Tự ở Malaysia là pháp sư Liên Ngụy thỉnh tôi khai quang Lôi Tạng Tự từ xa. Tôi nói: “Tương ứng rồi!”


### 39. Tương ứng của nghìn chiếc thuyền pháp


Có bố của một đệ tử nọ qua đời. Đệ tử đó là Liên Hoa Thủ Nghĩa, bố là Liên Hoa Kính Thiên. 
Liên Hoa Thủ Nghĩa thỉnh Lư Sư Tôn siêu độ tiếp dẫn cho bố, lại còn nói rõ là: “Thỉnh Lư Sư Tôn dùng nghìn chiếc thuyền pháp để siêu độ cho bố.”

Trên nguyên tắc, nguồn gốc của nghìn chiếc thuyền pháp là vì những người đã chết vì dịch cúm virus Corona, cho nên mới dẫn tới pháp tu này. 
Vì tôi thương xót những người chết do dịch bệnh mà khởi phát quyết tâm độ vong của tôi. Nhưng lâu dần, siêu độ nghìn chiếc thuyền pháp này âm dương đều biết, có thể xem là “náo động võ lâm, kinh động vạn giáo”, không chỉ con người ở cõi âm biết mà ngay cả con người ở dương thế cũng đều biết. 
Ngoài những người chết vì dịch bệnh ra, tôi còn siêu độ:
Người tự sát.
Người bị giết.
Người bệnh chết.
Người chết cháy.
Người chết do động đất.
Người chết đuối.
Người chết do bão.
Người chết vì tai nạn.
(Ngay cả người chết vì bị dã thú cắn, người phạm tội tử hình, người chết vì chiến tranh, người chết vì máy bay rơi, người chết vì tai nạn xe cộ…)
Có thể nói là bao gồm tất cả!
Vì thế Liên Hoa Thủ Nghĩa muốn làm siêu độ cho bố anh ấy là Liên Hoa Kính Thiên thì cũng không có gì lạ. Tôi nói với Liên Hoa Thủ Nghĩa rằng tối nay tôi sẽ siêu độ cho bố của anh.

Buổi tối hôm đó. 
Liên Hoa Thủ Nghĩa có một giấc mơ, mơ thấy cực kì rõ ràng. Anh nói:
Nhìn thấy nghìn chiếc thuyền pháp.
Nhìn thấy bố.
Người bố anh phát quang, ánh sáng rực rỡ như ngọn lửa. 
Bố anh cực kì hoan hỷ.
Ông ấy toát lên khí chất vô cùng cao quý, đặc biệt khác biệt, ông ấy đứng trên thuyền pháp. 
Thuyền pháp bay lên không và rời đi, bay đến Tây phương Cực Lạc thế giới, tịnh thổ của A Di Đà Phật.
Anh ấy nghe thấy âm thanh rằng:
Tây phương Tịnh Thổ là tịnh thổ bất thối chuyển. (Không còn phải lục đạo luân hồi nữa.)
Chỉ có duy nhất niềm cực lạc. (Không có mọi đau khổ của nhân gian.)
Có Thường tịch quang thổ, Thực báo trang nghiêm thổ, Phương tiện hữu dư thổ, Phàm Thánh đồng cư thổ. (Pháp thân thế giới, Báo thân thế giới, Ứng thân thế giới, Mang nghiệp thế giới.)
Có hàng cây thất bảo. (trang nghiêm)
Có nước tám loại công đức. (trừ chướng ngại)
Có đình đài lầu gác. (đẹp đẽ tuyệt vời)
Có ba mươi bảy đạo phẩm. (Phật pháp thanh tịnh)
Người người thanh tịnh, ai nấy thành Phật. (cảnh giới tối cao vô thượng)

Sau cùng, Liên Hoa Thủ Nghĩa nhìn thấy bố Liên Hoa Kính Thiên vẫy tay chào anh, nói:
”Đi về nói cảm ơn Lư Sư Tôn!”
Vâng!
Cảm ơn! 
Thế này là viên mãn rồi, quá hoàn mỹ rồi!


### 40. Thiên Nữ Kim Mẫu căn dặn


Trong lúc tôi siêu độ nghìn chiếc thuyền pháp. Thiên Nữ Kim Mẫu hạ giáng, bên cạnh ngài hóa ra một cô gái, tuổi khoảng mười tám đôi mươi. 
Làn da trắng ngần như ngọc.
Xinh xắn yêu kiều.
Đôi mắt lấp lánh ánh sáng trí huệ.
Thiên Nữ Kim Mẫu nói:
”Cô gái này, ở mi tâm có một dấu ấn bí mật, trên bàn tay có một dấu ấn bí mật, lòng bàn tay có một chữ Phạn…”
Tôi hỏi:
”Cô ấy là ai?”
Thiên Nữ Kim Mẫu đáp:
”Cô ấy là hóa thân của Diệu Âm Thiên Nữ. Giờ đây chuyển thế tại nhân gian.”
Tôi hỏi:
”Cô ấy tên là gì?”
Thiên Nữ Kim Mẫu đáp:
”Tên là ABC.” (Tạm thời giữ bí mật.)

Tôi hỏi:
”Vì sao lại nói với tôi chuyện này?”
Thiên Nữ Kim Mẫu đáp:
”Ta muốn ngài đem cô ấy trở về cho ta, đây là lời dặn dò của ta đối với ngài.”
Tôi hỏi:
”Cô ấy sẽ đến tìm tôi hay tôi sẽ đi tìm cô ấy?”
Thiên Nữ Kim Mẫu đáp:
”Tất cả tự nhiên đến.”
Nói xong, Thiên Nữ Kim Mẫu và cô gái kia liền biến mất.

Kể từ cái ngày Thiên Nữ Kim Mẫu căn dặn tôi, tôi bắt đầu rất chú ý quan sát. 
Tôi sẽ hỏi tên của khách đến thăm.
Tôi sẽ nhìn dấu vân tay của người ta.
Tôi nhìn tướng mặt. (mi tâm)
Có người thì có tướng mặt nhưng dấu vân tay lại không đúng.
Có người thì dấu vân tay đúng nhưng tướng mặt lại không đúng.
Cứ như vậy đã trải qua hơn một năm rồi.

Thiên Nữ Kim Mẫu lại đến bảo tôi:
”Phải mở thiên nhãn ra để nhìn mới có thể nhìn rõ hơn được.”
Thiên Nữ Kim Mẫu nói:
”Khi cô ấy đến, xung quanh nhất định sẽ có chiếc lọng quý lắc lư và các thiên nữ nhiều màu sắc đi theo ủng hộ.”
Còn nói:
”Dùng thiên nhãn để nhìn, trong lồng ngực có Hoàng Văn Thù và Hồng Văn Thù ngồi trên hoa sen.”
Còn nói:
”Ở ngực có động huyệt thủy tinh, có các Không Hành Mẫu đủ mọi dáng vẻ và biểu cảm.”
Còn nói:
”Khi cô ấy đi lại, phía trên đỉnh đầu có bảo trướng màu đỏ.”
Còn nói:
”Ở họng của cô ấy có Hắc Phẫn Nộ Mẫu bảo vệ cô ấy.”
Còn nói:
”Toàn thân cô ấy tỏa ánh hào quang. Như đế võng minh châu vậy.”

Trời ơi!
”Nhân gian Ta Bà này tìm đâu ra một người con gái như vậy, đây chẳng phải là làm khó tôi sao?” - Tôi nói.
Thiên Nữ Kim Mẫu nói:
”Không khó!”
Tôi hỏi:
”Tìm thấy cô ấy rồi thì sao?”
Thiên Nữ Kim Mẫu đáp:
*”Tam thế Chư Phật thầy Liên Sinh
Thầy dùng thiện đức để gia trì
Để cô nhớ về việc kiếp trước
Bắt đầu từ nay đến muôn đời
Mãi mãi về sau chẳng lạc lối.”*


### 41. Sợi dây mong manh giữa sống và chết


Năm nay (năm 2022), tôi 78 tuổi. Năm tới (năm 2023), tôi 79 tuổi. (Tính theo tuổi của Đài Loan.)
Diêu Trì Kim Mẫu nói với tôi:
”Lư Sư Tôn! 79 tuổi sẽ là kiếp tử của ngài.”
Tôi nghe xong không biết nói gì.
Lời của Diêu Trì Kim Mẫu là Thánh chỉ. Tôi tin tưởng tuyệt đối.
Tục ngữ nói: “Sinh là hạnh phúc của ta, tử là vận mệnh của ta.”
Tôi thì nói ngược lại: “Sinh là vận mệnh của ta, tử là hạnh phúc của ta.”
Căn bản là tôi không cảm thấy buồn.

Đời người như mộng như huyễn, tôi chẳng qua là trở về cội nguồn của tôi — Ma Ha Song Liên Trì.
Tôi tin rằng:
Sống chết có số.
Phú quý tại trời.
(Biển khổ nhân gian không đáng để nhớ tiếc, không đáng để chần chừ.)

Có một hôm, tôi lên pháp tọa, tôi nói với đệ tử Chân Phật Tông: “Sang năm 2023, tôi sẽ gặp tử kiếp.”
Đệ tử ngồi phía trước pháp tọa, nhất thời, im bặt không nói.
Tiếp đó, các đệ tử đều hét lên:
”Không thể nào.”
”Sẽ không đâu.”
”Thỉnh Phật trụ thế!”
”Thỉnh tiếp tục chuyển pháp luân!”
”Nhất thiết phải ở lại!”
”Xin ở lại! Xin ở lại! Xin ở lại! Xin ở lại! Xin ở lại! Xin ở lại! Xin ở lại!”
Có người khóc!
Có người quỳ xuống!
Tôi rất cảm động, ngẩng đầu nhìn trời.
Tôi tin Diêu Trì Kim Mẫu một trăm phần trăm.
Lời của Diêu Trì Kim Mẫu, tôi đã tin suốt 50 năm rồi, lời của ngài chắc như đinh đóng cột, chuẩn xác.
Cho nên, tôi dám nói ở trên pháp tọa. 
Một lời nói ra.
Tứ mã nan truy.
Sẽ không có chỗ mà rút lại.
Lần này thì tôi chết chắc rồi, tôi không hối hận tôi sẽ ra đi như thế, bởi vì biển khổ thế gian, lục đạo luân hồi đều khổ, từ lâu tôi đã muốn thoát khỏi nhân gian Ta Bà rồi.

Bài kệ cảnh tỉnh của Phổ Hiền Bồ Tát:
*”Một ngày trôi qua
Mệnh lại giảm bớt
Như cá thiếu nước
Có gì là vui.”*
Trong quãng thời gian này, A Di Đà Phật từng nói với tôi:
”Lư Sư Tôn! Ta sẽ giúp ngài kéo dài tuổi thọ!”
Tôi nghe xong! 
Ha!
Diêu Trì Kim Mẫu nói:
”79 tuổi, tử kiếp!”
A Di Đà Phật nói:
”Kéo dài thêm mấy năm!”
Một vị là Tiên Vương, một vị là Phật Vương. Diêu Trì Kim Mẫu là bậc chí tôn đã mở thiên nhãn cho tôi. A Di Đà Phật là bản địa của tôi, tôi là hóa thân của A Di Đà Phật.
Hai vị không phân cao thấp.
Rốt cuộc sẽ tính theo lời nói của ai đây?
Tôi chẳng thể phán đoán được.
Thế là tôi chỉ có thể tùy thuận thôi.
*Ngửa mặt trông lên Song Liên Trì.
Đôi bờ sinh tử đều mênh mông.*

Sau khi đệ tử Chân Phật Tông trên toàn thế giới đều biết việc này, họ đã phát khởi hành động “thỉnh Phật trụ thế”, diễn ra hừng hực khí thế.
Trì tâm chú Trường Thọ Phật để hồi hướng.
Bái Chân Phật Bảo Sám để hồi hướng.
Làm pháp hội Trường Thọ Tam Tôn để hồi hướng.
(Trường Thọ Tam Tôn là: Trường Thọ Phật, Tôn Thắng Phật Mẫu, Bạch Độ Mẫu.)
In kinh điển để hồi hướng.
Tu pháp Già chỉ: [pháp che chắn và ngăn chặn]
1. Tịch tĩnh.
2. Giảm dục.
3. Biết đủ.
4. Thanh tịnh.
5. Đoạn nhiễm.
6. Trừ tham.
In năm bộ Đại Luận để hồi hướng.
Năm bộ Đại Luận là: Hiện Quán Trang Nghiêm Luận, Nhập Trung Luận, Câu Xá Luận, Thích Lượng Luận, Luật Kinh Bản Luận. 
Đốt Hộ Ma (hỏa cúng).
Phụng thỉnh Ngũ Đại Kim Cang bảo vệ: Hỷ Kim Cang, Thắng Lạc Kim Cang, Mật Tập Kim Cang, Đại Uy Đức Kim Cang, Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang hoặc Thời Luân Kim Cang.

Ngoài ra:
Đại bố thí (hồi hướng).
Tụng bách tự minh chú (hồi hướng).
Dược Sư Thất Phật (hồi hướng trừ bệnh tật). Dược Sư Phật có thể kéo dài thọ mệnh, được khỏe mạnh.
Thỉnh Bạch Chư Tôn tiêu tai. [Thỉnh các Bổn tôn màu trắng để chấm dứt các tai nạn.]

……

Có thể nói thế này, mọi Mật pháp để kéo dài tuổi thọ thì đệ tử đều dùng hết rồi. 
Nếu tôi tự mình muốn kéo dài tuổi thọ:
Tôi phải bế quan, tu pháp Già chỉ: Tịch tĩnh, giảm dục, biết đủ, thanh tịnh, đoạn nhiễm, trừ tham.
Pháp nuốt không khí để nối dài mạng sống.
Tu pháp Quan Âm thân đàn thành tránh tai họa.
Tu pháp Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu hồi già. [pháp che chắn phản hồi]
Tu pháp đại than thi. [tư thế xác chết]
Tu pháp thí thân. 
(Tu các pháp ở trên đều có thể tránh được tai nạn và kéo dài tuổi thọ.)

Có một hôm.
Thượng sư Bích Trân gặp tôi, hỏi tôi:
”Phương pháp đủ hữu hiệu mà lại thỏa đáng là gì?”
Tôi đáp:
”Dùng vải đỏ, viết họ tên và bát tự của Lư Sư Tôn, trên đó vẽ phù bảo mệnh bình an.”
”Hoàn thành xong thì cho mảnh vải đỏ đó vào trong một cái túi nhỏ màu đỏ, rồi dùng chỉ đỏ buộc lại, đeo lên cổ của tượng Phật Bổn tôn.”
Tương đương như là: “Nhờ linh quang của Bổn tôn bảo vệ Lư Sư Tôn.”

Thượng sư Bích Trân hiểu ý. Thế là Thượng sư Bích Trân bèn cắt vài mảnh vải đỏ, làm vài chiếc túi nhỏ màu đỏ rồi buộc chỉ đỏ. 
Bà ấy chuẩn bị xong xuôi, vào sau buổi trưa ngày Trừ nhật, bà ấy đem túi vải đỏ đeo lên cổ của Bổn tôn. Bà ấy cũng đưa cho tôi hai cái. Tôi đem túi đỏ có phù bảo mệnh bình an đeo lên trước ngực hai vị Diêu Trì Kim Mẫu ở Nam Sơn Nhã Xá. 
Một chiếc đeo trên kim thân của Diêu Trì Kim Mẫu đặt tại vị trí két sắt ở tầng trên.
Một chiếc đeo trên kim thân của Diêu Trì Kim Mẫu trong phòng ngủ của tôi.
Kim thân Diêu Trì Kim Mẫu trong phòng ngủ chính là Bổn tôn mà tôi làm siêu độ nghìn chiếc thuyền pháp.
Tất cả xong xuôi.
(Tôi làm việc này một cách tự nhiên, tùy thuận sự thỉnh cầu của các đệ tử, ý tốt của họ nên tôi làm thôi!)

Đã xảy ra một sự việc trùng hợp như thế này.
Ngày thứ hai sau khi làm xong đã phát sinh một chuyện lớn, một chuyện không thể đã xảy ra. 
Thượng sư Liên Cầm.
Thầy giảng dạy Liên Anh. 
Hai người đó đã đến Nam Sơn Nhã Xá vì muốn treo một bức thangka Thời Luân Kim Cang cực kì lớn lên tường nhà tôi.
Ban đầu Sư Mẫu bảo:
”Treo bên tay phải cửa ra vào của Nam Sơn Nhã Xá, trên bức tường rất to.”
Tôi đề nghị:
”Treo ở chính giữa bức bình phong.”
Sau đó, chúng tôi lựa chọn treo ở trong phòng ngủ của tôi, phía đầu giường có bức tường lớn còn trống.

Dựng thang lên. 
Độ cao từ sàn phòng ngủ của tôi đến trần nhà là khoảng hai tầng lầu. Thượng sư Liên Cầm trèo lên đóng đinh vào thangka, không cẩn thận đã ngã từ trên thang xuống. 
”Á!”
Một tiếng thét lên, sau đó là tiếng rơi “bịch” xuống đất, Thượng sư Liên Cầm ngồi im trên mặt sàn không động đậy, đầu tựa vào giường của tôi. 

Thời gian như đứng im. Sau đó kiểm tra: Thượng sư Liên Cầm không bị nguy hiểm đến tính mạng, ngã như vậy nhưng không bị gãy xương, chỉ bị đau, mu bàn chân bị xước một lớp (da bị chảy máu), vết thương bên ngoài, may là không có trở ngại gì lớn.
Tủ đầu giường của tôi thì:
Đèn bàn vỡ nát.
Cái chụp đèn bị vỡ khiến thủy tinh văng đầy sàn nhà.
Các thứ trên tủ đầu giường đều rơi xuống đất.
Các thứ trên tủ đầu giường gồm có:
Kinh sách.
Khung ảnh.
Diêu Trì Kim Mẫu và túi vải đỏ bảo mệnh hộ thân. 
Trời ơi!
Bức tượng Diêu Trì Kim Mẫu làm bằng sứ đã “thịt nát xương tan” rồi, vỡ thành từng mảnh từng mảnh, thảm thương không nỡ nhìn.
Túi vải đỏ bảo thân hộ mệnh của tôi thì bị văng ra rất xa.
Xong rồi!
Tôi chết chắc rồi!

Hôm qua tôi vừa mới treo lên, hôm nay đã thịt nát xương tan rồi. Điều này có vẻ không cát tường lắm. Trên đời lại có sự việc trùng hợp như vậy, không vỡ sớm hơn, không vỡ muộn hơn, mà lại vỡ đúng vào lúc này.
Tôi cầu Diêu Trì Kim Mẫu bảo mệnh hộ thân cho mình, thế mà vị Diêu Trì Kim Mẫu ấy không ngờ lại vỡ thành các mảnh sứ vụn, không thể dán lại được.
Tôi đau lòng quá!
Tôi xót xa vì kim thân của Diêu Trì Kim Mẫu cũng không thể cứu được tôi.

Tôi đột nhiên lóe lên một linh cảm. Sao không thỉnh thị Diêu Trì Kim Mẫu (Đại Kim Tiên của hư không giới). 
Ngài nói:
Lư Sư Tôn! Chớ đau buồn!
Ta nói ngài chỉ có thể sống đến 79 tuổi, số trời đã định, chạy trời không khỏi nắng. Một lời của ta đã nói ra thì xe tứ mã cũng khó mà đuổi kịp. 
Ta không thể thu hồi lại câu nói này.
Đó là điều không thể thay đổi được.
Chắc chắn là chết không có gì phải nghi ngờ!
Cho dù A Di Đà Phật muốn giúp ngài kéo dài tuổi thọ.
Không nể mặt tăng thì cũng phải nhìn mặt Phật.
Ngài tránh được một hai, nhưng ba bốn thì cũng chết thôi!
Nói cách khác là chẳng có cách nào hóa giải.
Sau đó,
Ta thấy đệ tử của ngài đã vì ngài mà thỉnh cầu pháp hội thỉnh Phật trụ thế để hồi hướng, đương nhiên cũng có cảm động, nhưng số trời muốn ngài về trời, trở về vị trí ban đầu.
Thật sự không có cách nào thay đổi được.

Nguyện vọng cá nhân của ngài, chúng ta cũng biết:
Ngài ở lại nhân gian cũng được, về trời cũng được.
Đời người là khổ, ngài đã nếm trải hết rồi.
Tất cả đều là huyễn.
Không thể lưu luyến.
Vợ con, tiền tài, phúc lộc chỉ là nhất thời. Tương lai vẫn là trống rỗng, không một thứ nào có được.
Ngài cũng không kinh không sợ.
Nhưng,
Ngài cũng tự vẽ phù bảo mệnh hộ thân, tùy thuận đệ tử, đeo lên trước ngực kim thân của ta.
Bây giờ, ngài cũng biết, kim thân có đeo phù bảo mệnh hộ thân đã vỡ nát rồi.
Điều này tượng trưng cho:
Kim thân của ta thịt nát xương tan, tượng trưng cho ta đã thay ngài chết một lần rồi.
Ta đã để cho kim thân vỡ nát để chịu thay cho ngài một mạng.
(Giống như ngày xưa, ở Đài Loan ngài gặp tai nạn giao thông, nhưng thân thể lại không mảy may bị thương tí nào, nhưng kim thân của Quan Thế Âm Bồ Tát mà ngài cúng dưỡng, toàn thân đã xuất hiện những vết rạn nứt.)
Ta để cho kim thân thịt nát xương tan để chịu thay.
Ngài thoát được một kiếp nạn.
Sau này, ngài hãy đem toàn bộ thời gian cuộc đời mình để bố thí hết cho chúng sinh đi!


### 42. Bạn học tiểu học đến tìm tôi


Tôi ngồi trên pháp tọa.
Kim Giáp Thần đưa một người đàn ông (linh hồn) đến gặp tôi. 
Tôi hỏi:
”Người nào đây?”
Người đàn ông đáp:
”Tôi là Trần Vỹ Hoành, là bạn học tiểu học với ngài, Lư Sư Tôn! Ngài không nhớ tôi sao?”
Tôi nghĩ một lúc, đúng rồi, Trần Vỹ Hoành, nhà ông ấy ở khu Tân Hưng thành phố Cao Hùng, Đài Loan, nếu tôi nhớ không nhầm thì ở gần bùng binh, bố mẹ ông ấy làm kinh doanh vật liệu gỗ, gia cảnh rất khá.
Đi học ở trường tiểu học Đại Đồng, thành tích trên trung bình, tư chất rất tốt.
Còn thành tích học tiểu học của tôi nếu đếm từ phía cuối lên thì tương đối nhanh. Nguyên nhân chủ yếu là tôi không thích đi học.

Trong ấn tượng của tôi:
Nhà của Trần Vỹ Hoành có mời một thầy giáo dạy phụ đạo tại nhà, tôi từng đến nhà ông ấy để học phụ đạo. 
Về sau, sau khi tôi đi Mỹ, ông ấy cũng đến Mỹ, ông ấy đến tìm tôi trước, sau đó ông ấy lại đi New York.
Nghe nói ông ấy ở New York xem bói và xem phong thủy cho người ta.
Sau đó giữa chúng tôi không còn liên lạc.

Điều không ngờ là, sau khi Trần Vỹ Hoành chết, ấy thế mà lại xuất hiện ở nơi tôi tu siêu độ nghìn chiếc thuyền pháp. 
Tôi hỏi Kim Giáp Thần:
”Trần Vỹ Hoành có thể đi Tây phương cảnh thổ không?”
Kim Giáp Thần đáp:
”Không thể! Ông ta phải đi luân hồi! Ông ta có một vài chướng ngại.”
Lúc này, tôi đã hiểu ra.
Tôi nói:
”Trần Vỹ Hoành, ông ở New York thế nào, tôi không biết. Nhưng đứng trên lập trường bạn học, ông đến tìm tôi, tôi phải giúp đỡ ông mới phải.”
”Cảm ơn!” - Trần Vỹ Hoành đáp.
Tôi biết con người ông ta rất thông minh, nếu chăm chỉ tu hành sẽ có đại thành tựu. 
Tôi nói:
”Như thế này đi! Tôi giúp ông đi đến một nơi tu hành thì có thể tránh được lục đạo luân hồi.”

Mắt ông ấy sáng lên, hỏi:
”Nơi nào?”
Tôi nói:
”Tôi và Tứ Đại Thiên Vương có nhân duyên kiếp trước, các vị ấy là Thần Hộ Pháp của Phật giáo, là một cõi trời trong số hai mươi cõi trời, chính là tầng trời thứ nhất của Dục giới.”
Trần Vỹ Hoành nói:
”Cảm ơn! Chỉ cần không lục đạo luân hồi, tôi vô cùng cảm tạ ngài!”
Tôi thỉnh Tứ Thiên Vương đến! Tôi tụng bài ca ngợi Tứ Thiên Vương:
*Ôm đàn tì bà tấu diệu âm
Trì Quốc Thiên Vương.
Ngón tay bảo kiếm thân màu lam
Tăng Trưởng Thiên Vương.
Cầm rắn làm thừng thân màu đỏ
Quảng Mục Thiên Vương.
Bảo phướn với chồn thân màu vàng
Đa Văn Thiên Vương.*
Bốn vị Thiên Vương này đưa Trần Vỹ Hoành đến tầng trời thứ nhất của Dục giới, để ông ấy ở đó tu hành thì rất tốt.
Đợi tu đến khi loại bỏ tất cả chướng ngại thì tự có thể lên Tây phương cảnh thổ.
Đối với Trần Vỹ Hoành, tôi chỉ có thể dùng phương pháp này, kì thực Tứ Thiên Vương Thiên là một nơi tu hành rất tốt. 


### 43. Một lá thư cảm ứng


Đảnh lễ Căn bản Truyền thừa Thượng sư Thánh tôn Liên Sinh Phật. Sư Tôn Phật an!

Đệ tử Liên Từ lên mạng tham gia đại pháp hội Hộ Ma Kurukulle Phật Mẫu do Sư Phật làm chủ đàn vào ngày 17 tháng 4 năm 2022, có bằng chứng về cảm ứng thù thắng, xin báo cáo với Sư Phật như sau:

Đệ tử từ nhiều năm trước đã được Sư Phật quán đảnh Nội pháp, cũng vô tình mà đi trên con đường tu Nội pháp. Mãi cho đến mùa hè năm ngoái mới bắt đầu sản sinh ra hiện tượng hỏa đại rất nghiêm trọng, cảm giác rất khó chịu. Những mạch máu nhỏ ở mắt tổng cộng đã bốn lần bị vỡ chỉ trong một thời gian ngắn, kể từ đó đệ tử không thể làm Hộ Ma được, ngày đêm cảm giác khô nóng rất khó chịu, phải ở trong phòng có nhiệt độ dưới 15 độ C, không biết phải làm thế nào mới được.

Cảm ơn Sư Phật từ bi ban mộng thị, vì thế năm ngoái (2021) vào đầu tháng 12, đệ tử đã đến hỏi việc Sư Phật và cầu gia trì chỉ dẫn, cộng thêm tháng 4 năm nay, sau khi cửa khẩu giữa Mỹ và Canada đã mở lại, không cần phải qua kiểm tra nữa, cho nên từ ngày 3 tới ngày 10 tháng 4, đệ tử đã đi Seattle, sau khi được Sư Phật hai lần gia trì thì đã thấy có cải thiện. Tuần lễ thứ ba sau đó, khi đệ tử ở tại đàn thành niệm Phật thiền định, đột ngột nhìn thấy có người cầm một cái ống nước ở bên cạnh phun nước vào đệ tử. Đệ tử thấy thế thì trong lòng vui mừng, đây hẳn là Phật Bồ Tát đang giúp đệ tử dập lửa rồi! Vốn dĩ ngày 17 tháng 4 của tuần đó, đệ tử đã chuẩn bị xong xuôi hành trang để đi Seattle tham gia pháp hội Hộ Ma Kurukulle Phật Mẫu mà Sư Phật chủ trì, kết quả là sáng sớm đột nhiên bị đau lưng, bất đắc dĩ phải tạm hủy bỏ, chỉ còn cách đổi thành tham gia trên mạng lúc 3 giờ chiều.

Rất kỳ diệu, khi chú âm của chủ tôn Hộ Ma vang lên chưa được bao lâu, mặc dù đệ tử nhắm mắt lại, nhưng trước mắt lại xuất hiện một vùng ánh sáng đỏ lớn chưa từng thấy và duy trì rất lâu. Khi ấy trong lòng đệ tử nghĩ, ánh sáng đỏ như thế này không biết liệu có làm cho hỏa càng hừng hực không? Sau đó đệ tử nghĩ lại, màu đỏ không chỉ đại diện cho lòng kính ái của cá nhân mà hẳn là còn đại diện cho lòng kính ái phát đại bồ đề tâm đối với chúng sinh. Trong lúc đệ tử đang định trong ánh sáng bồ đề màu đỏ, sau khi thiền định một lúc lâu, bỗng nhiên có hiện tượng kỳ diệu hiển hiện, phía trên đỉnh đầu đệ tử vô duyên vô cớ xuất hiện một chiếc vòi hoa sen rất to, liên tục không ngừng từ phía trên phun ra rất nhiều nước tắm, trút xuống giống như đang tắm vậy, nhưng trên người không hề có vết nước và cũng không có cảm giác ướt. Trong lòng đệ tử khi ấy cảm động bội phần, chỉ là tham dự pháp hội Kurukulle Phật Mẫu ở trên mạng mà lại được chủ tôn tưới cam lộ mát rượi xuống quán đảnh và đại gia trì, pháp hội của Sư Phật thật là quá thù thắng quá thần kỳ! Buổi pháp hội đó thật khiến đệ tử thu được lợi ích lớn. 

Thứ nhất, kể từ sau hôm đó, đệ tử cảm thấy mặc dù nhiệt độ bên ngoài đã dần dần ấm lên, nhưng với nhiệt độ ở trong phòng thì đệ tử cũng dần dần điều chỉnh tăng lên, không còn sợ nóng như lúc trước nữa. Ngày xưa đệ tử yêu thích làm Hộ Ma, nhưng vì lý do hỏa đại mà cũng đã dừng không làm rất lâu rồi, bây giờ dần dần lại có thể làm được, hơn nữa phía trên đầu lúc nào cũng có cảm giác thấy sự mát mẻ của bồ đề tâm nguyệt dịch giáng xuống. Những chướng ngại về thân tâm của đệ tử trong khoảng thời gian này đều nhờ vào sự gia trì của Sư Phật mới có thể được Chư Tôn đón nhận và quan tâm, cuối cùng đã có bước chuyển biến, đệ tử thật sự không ngớt cảm ơn. Đệ tử tin rằng trong tương lai không xa, dưới sự phù hộ của Thượng sư Tam Bảo, đệ tử chắc chắn có thể phá trừ được chướng ngại, vượt qua được cửa này. Cảm ơn Sư Phật!

Thứ hai, Sư Phật giảng dạy về các vị kính ái cũng khiến những tư duy bế tắc của đệ tử đột nhiên được cởi mở. Hai năm nay, do chịu ảnh hưởng của quy định đóng cửa phòng chống dịch bệnh, đệ tử chuyển hướng sang phương pháp tự nhốt mình tự tu, nên tâm thái trở nên thờ ơ. Nghe được Sư Phật khai thị rằng: kính ái là điều mà ai ai cũng cần, trên thế gian này cần phải chú trọng mối quan hệ giữa người với người, không thể tự cho mình là thanh cao. Sau khi tham gia pháp hội, tâm thái của đệ tử đột ngột ngột được phá bỏ, ái tâm, nhiệt tâm, bồ đề tâm lại bùng cháy, nhanh chóng bước ra khỏi đám khói mù, đệ tử sống lại rồi!

Những chuyển biến về thân tâm của đệ tử trong cuộc đời này tất cả đều do thần thông của Sư Phật tạo nên. Tại đây, đệ tử cung kính chân thành thỉnh Sư Phật nhất thiết phải trụ thế gian thật lâu dài, chuyển pháp luân lâu dài, độ hóa chúng sinh Ta Bà đang lạc đường. Cảm ơn lại cảm ơn đại từ bi của Sư Phật!

Kính chúc Sư Tôn Phật thể an khang, pháp hỷ tự tại. Thỉnh Phật trụ thế, trường chuyển pháp luân.
Đệ tử Liên Từ ở Vancouver Canada cảm ơn và cúi lạy từ xa.
Ngày 28/4/2022.


### 44. Nhật ký trong mơ


Tôi (Lư Sư Tôn) trước khi bắt đầu chương sách này phải giải thích rõ:
Đây là nhật ký trong mơ của một đệ tử ở Singapore là Liên Hoa Lệ Phi. 
Tôi có sửa một số từ ngữ giúp cô ấy, nhưng không làm mất đi ý gốc. 

Nhật ký trong mơ của cô ấy như sau.

Đầu năm 2020, đệ tử Liên Hoa Lệ Phi nhờ có được cơ duyên sâu đậm nên đã bước vào trạng thái bán ẩn cư. 
Lánh xa việc đời và những ồn ào, chuyên chú vào thanh tịnh thân khẩu ý, tu sửa cho đúng hành vi và suy nghĩ của bản thân, sản sinh ra những giác ngộ rất khác về con người và sự vật sự việc.

Cùng năm đó, đệ tử chuyên tu Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử, thế là Lư Sư Tôn bắt đầu liên tục nhập mộng. 

Ghi chép lại nhật ký trong mơ như sau:

Tháng 11/2020.
Lư Sư Tôn cầm bút lông chấm một cái trên trán tôi. Nói rằng:
”Đây là để thọ ký cho cô!”

Tháng 1/2021. 
Lư Sư Tôn nói với tôi:
”Cô là Không Hành Mẫu!”
Chú thích: hành giả nữ giúp đỡ người tu hành thành tựu.
Tôi nói:
”Lư Sư Tôn, thầy không thể liên lạc được với con đâu!”
Lư Sư Tôn đáp:
”Không sao, cho dù cô có lẩn trốn thì tôi cũng có thể tìm được cô.”
Lư Sư Tôn tôi có vô số hóa thân.

Tháng 5/2021.
Tôi hỏi:
”Con nên tu hành thế nào?”
Lư Sư Tôn đáp:
”Là chính cô là được rồi. Thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh, tâm có ánh sáng.”

Tháng 5/2021.
Lư Sư Tôn không nói gì. 
Tôi nói:
”Mặc dù Lư Sư Tôn đã rất già rất già rồi, con vẫn cứ đi theo bước chân của thầy.”

Tháng 8/2021.
Lư Sư Tôn hỏi tôi:
”Hoàng Liên Hoa Đồng Tử hiện ra ánh sáng gì?”
Tôi đáp:
”Ánh sáng phúc túc.”
Lư Sư Tôn nói:
”Toàn bộ hư không đều là của cô.”

Tháng 9/2021.
Lư Sư Tôn gia trì cho tôi.
Tiến vào tòa sen trong tim tôi.
Hai người hợp nhất.
Điều này tương tự như nhập ngã ngã nhập của Mật giáo, hết sức thù thắng.

Tháng 10/2021.
Tất cả mọi thứ trên đời này đều là tu hành.
Trọng điểm nằm ở hai chữ “chuyển hóa”.
Phàm phu thế tục vĩnh viễn không hiểu, chỉ cần thanh tịnh, những thứ khác chẳng hề gì.
Lư Sư Tôn nói với tôi như vậy.

Tháng 11/2021.
Lư Sư Tôn gia trì cho tôi.
Toàn thân tôi chấn động.
Kể từ hôm đó, khí, mạch, minh điểm của tôi đều thông. Khí vận chuyển đến toàn thân.

Tháng 3/2022.
Lư Sư Tôn nói:
”Tôi sẽ đưa cô trở về bản địa. Phật tính hằng tại, tự tại nhậm vận.”
Tất cả viên mãn. Om brum!


### 45. Hóa thân của Lư Sư Tôn


Liên Hoa Mỹ Cầm ở Lyon nước Pháp nói, trong cuốn sách số 286 của Lư Sư Tôn, chương “Tôi không chỉ có một con người”, viết rằng: 
*”Tôi có một con người, nhưng linh hồn của tôi thì rất nhiều. Tôi chỉ cần tĩnh tọa thì Lư Thắng Ngạn này đến Lư Thắng Ngạn khác đều chạy ra ngoài, họ đi ra ngoài làm cái gì? Đáp án là: "Làm việc!" (cứu độ chúng sinh).”*

Tôi, Liên Hoa Mỹ Cầm, có thể chứng minh thật sự đích thực là như vậy.
Vào ngày 28/12/2021, tôi đã bị ngã khiến bị thương cánh tay phải và vai phải, mặc dù không bị gãy xương nhưng đau rất ghê gớm, ban đêm không ngủ được. 
Thời gian này.
Buổi sáng tôi trông thấy Lư Sư Tôn mỉm cười đến, kéo cánh tay tôi rất thân thiết.
Gia trì!
Xoa bóp!
Kết của là cơn đau ở cánh tay tôi đã tan biến, hồi phục lại như bình thường. 
Tôi đã có thể ngủ rất ngon.
Đây cũng là một câu chuyện linh dị về việc tương ứng với Sư Tôn.

Liên Hoa Nhất Lực ở nước Anh nói:
Tôi nhìn thấy hóa thân của Lư Sư Tôn.
Lư Sư Tôn tiến vào bên trong thân thể của tôi. 
Trung mạch rung động từ dưới lên trên, thẳng đến huyệt đỉnh đầu. Sự rung động này không chỉ là cảm giác thôi đâu, mà là cả người dường như nảy lên, cảm giác sung sướng nhờ lực gia trì ấy kéo dài rất lâu.
Mỗi lần tôi tĩnh tọa.
Trung mạch dường như đều bật nảy.
Pháp hỷ tràn đầy.
Cảm ơn!
(Chú thích: Liên Hoa Nhất Lực chính là cô Sư Đầu.)

Song Liên ở Singapore nói:
Lư Sư Tôn có mặt ở khắp nơi.
Trong giấc mơ ban đêm, tôi nhìn thấy một con ma đi vào phòng, tôi vội vàng niệm chú nhưng nó cũng không đi. Sau đó tôi niệm tâm chú Liên Hoa Đồng Tử: “Om guru liansheng siddhi hum”. 
Lư Sư Tôn đã xuất hiện đuổi con ma đó đi ra. Từ đó, ma không dám đến nữa!
Hóa thân của Lư Sư Tôn đã cứu tôi rất nhiều lần.

Liên Hoa Lệ Phi ở Singapore nói:
Tôi sinh ra đời thì đã quy y Lư Sư Tôn rồi. 
Khi tôi còn nhỏ thì Lư Sư Tôn đã xuất gia rồi!
Sau đó, tôi chỉ mới đến Seattle nước Mỹ có một lần.
Nhưng tôi ở Singapore nhìn thấy hóa thân của Lư Sư Tôn thì cực kì nhiều lần.
Ngày 3/5/2022, tôi đến Seattle lần thứ hai.
Cảm giác của tôi là: “Cố nhân trùng phùng.”
Vui mừng rơi nước mắt.

Hoàng Đình ở Australia nói:
Nhà tôi ở Melbourne, nhưng tôi lại làm việc ở Tây Úc.
Tôi có cảm ứng liên miên. Những sự việc cảm ứng có kể mãi cũng không hết. Tôi tận mắt nhìn thấy hóa thân của Lư Sư Tôn. Có thời gian, tôi sẽ viết ra những sự thật cảm ứng của mình để kể với mọi người.

Liên Hoa Nhất Thành ở Đài Loan nói:
Có một buổi tối, tôi đang ngủ thì bị người ta véo mũi ba lần. Tôi tỉnh dậy, nhìn thấy hóa thân của Lư Sư Tôn đứng phía trước giường mình, nói với tôi rằng: “Đi Seattle mau!”
Thế là tôi đã đến rồi!

Rất nhiều người nhìn thấy hóa thân của Lư Sư Tôn!
Đây chỉ là phần chóp của tảng băng trôi thôi.
Hóa thân của Lư Sư Tôn xuất hiện ở các nước trên toàn thế giới.


### 46. Lực gia trì của Lư Sư Tôn


Chia sẻ cùng mọi người ấn chứng chân thực về việc Sư Phật gia trì cho đệ tử Malaysia và gia đình bị nhiễm virus Corona. 

Viết bởi Liên Hoa Lina tại Nhẫn Trí Đường nước Đức. 
Ngày 12/4/2022.

Sư tỉ Liên Hoa Ngọc Liên và gia đình đến từ Malaysia vào ngày thứ sáu 8/4/2022 đã bị lây nhiễm virus Corona chủng Omicron, hai đứa con gái và bản thân bị sốt cao không thuyên giảm. Đứa con gái lớn 6 tuổi là Chung Hân Ân vào ngày chủ nhật đã bị sốt 41 độ không giảm, bệnh viện lại không thể cho nhập viện để điều trị, cho đến buổi tối thì cháu bé bắt đầu nói năng lung tung lộn xộn. Trong tình huống vào ngày chủ nhật không thể nào viết thư thỉnh cầu Sư Tôn gia trì, thật may có Thượng sư Huệ Quân giúp đỡ, trước khi bắt đầu pháp hội Hộ Ma đã thỉnh được Sư Tôn hà khí gia trì vào tấm ảnh của đứa con gái lớn. Sau khi gia trì thì buổi tối hôm đó cơn sốt cao lập tức suy giảm, nhờ đó mới có thể qua được giai đoạn nguy hiểm.

Sau đó, sư tỉ Ngọc Liên và đứa con gái nhỏ là Chung Kiều Ức cũng trở bệnh nặng hơn, hai người sốt cao đến 39,5 độ không giảm, đau đầu dữ dội và đau họng, người nữ giúp việc trong nhà cũng bị nhiễm bệnh và bị ho cực kì nghiêm trọng, lưng cũng bị đau ghê gớm.

Sau đó đến ngày thứ hai, tại trung tâm hồi đáp thư tín của Tông Ủy Hội, sau khi Sư Phật đã gia trì cho thư và ảnh của sư tỉ Ngọc Liên và gia đình thì sư tỉ Ngọc Liên và con gái nhỏ lập tức hạ sốt.

Sư tỉ Ngọc Liên kể lại rằng, ở Malaysia khoảng 6 đến 7 giờ sáng (thời gian ở Seattle là 5 đến 6 giờ chiều, đó là lúc Sư Tôn gia trì thư từ hỏi chuyện), đột nhiên cảm thấy có một dòng chảy ấm áp từ đỉnh đầu đi vào trong thân thể ba lần, cảm giác vô cùng vô cùng dễ chịu, cơn sốt cao lập tức hạ xuống 38 độ, đứa con gái cũng hạ sốt, hai người nhanh chóng khỏe lại. Còn tình hình của người giúp việc thì sau khi được Sư Tôn gia trì cũng nhanh chóng biến chuyển tốt lên.

Cảm ơn đại gia trì của Sư Phật. Lực gia trì của Căn bản Thượng sư thù thắng bất khả tư nghì!
Sư tỉ Ngọc Liên hy vọng có thể đem cảm ứng chân thực được Sư Phật gia trì cứu độ của mình và gia đình kể cho các đệ tử Chân Phật Tông, quy y Liên Sinh Hoạt Phật là sự lựa chọn chính xác, tuyệt đối không sai. Mọi người hãy trân trọng Chân Phật Mật Pháp trân quý vô thượng mà Sư Phật đã truyền thụ để mà tinh tấn tu trì. Cảm ơn vô hạn Sư Tôn vĩ đại!

Cũng vô cùng cảm tạ các vị Thượng sư, pháp sư, nhân viên hoằng pháp và đồng môn đã tu pháp tụng kinh hồi hướng cho sư tỉ Ngọc Liên và gia đình, cảm ơn mọi người!

Cảm ơn sư tỉ Ngọc Liên đã pháp tâm tham gia hoạt động tụng 500 bộ kinh Địa Tạng để thỉnh Phật trụ thế do Nhẫn Trí Đường ở Đức tổ chức. Sư tỉ Ngọc Liên mỗi ngày đều tụng một bộ kinh Địa Tạng hồi hướng cho thỉnh Phật trụ thế, công đức vô lượng. Cảm ơn Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát đã gia trì. Cảm ơn Sư Phật đại gia trì.

Cầu nguyện Sư Phật trường thọ khỏe mạnh, thỉnh Phật trụ thế, hằng chuyển pháp luân!
Om guru liansheng siddhi hum.


### 47. Bài viết của Thượng sư Liên Hiểu


Chỉ có một tình huống vượt qua sự tốt xấu, đó chính là tịnh tâm. 

Tình yêu như thế nào thì có thể tự do?
Chỉ có người vô tâm như gương, người mà trong tâm gương không dính mắc bất kì sự vật tình cảm nào. 
Mỗi người đều có Như Lai tạng, có kho báu như ý “nhất hô vạn ứng” [khởi một niệm, vạn sự sẽ ứng theo, có sức mạnh tối thượng].

Ra sức giữ khư khư thì cũng không có tác dụng gì, nếu tâm rất hẹp hòi, lúc nào cũng phân chia đây là của ai, kia là của ai, buổi sáng có được bao nhiêu, buổi chiều tổn thất bao nhiêu, cái tốt cho người ta thì không có lợi cho ta, tham lam, sân hận, ngu si, bất an, oán hận….
Thế thì chẳng thể nào chứng minh, hiển hiện được cái kho báu ẩn giấu ấy.

Bạn đã rõ ràng và kiên quyết chỉ chọn những suy nghĩ hẹp hòi, những suy nghĩ nhỏ nhặt, những suy nghĩ vẩn đục (thế nhân đa phần đều không tự biết). Cho nên những gì có thể thấy trước mắt tự nhiên sẽ rất ít, quá ít, rất tồi tệ, hơn nữa sự mờ mịt và hồ đồ lại tiếp tục không ngừng sinh ra.
Bạn vạch ra nhiều hạn định cái gì là của anh của tôi, đó là sự phân biệt bản thân với người khác, hạn định, tranh chấp, mê đắm.
Tư tưởng thì giới hạn, hành động thì bám chấp.
Điều đó đương nhiên dẫn đến những biểu hiện như hiện nay, tất cả đều hữu hạn.

Sau khi một người phàm trở thành ếch ngồi đáy giếng, tất cả những gì anh ta thấy và ở trong đó là một công ty hữu hạn. Vì thế, một khi đã mê đắm, người ta càng rơi vào trạng thái không thể nào rút ra được. Từ đó hàng tỉ năm đã trở thành thói quen xấu, thành thế lực ác và hạng bẩn thỉu.
Chấp vào một việc giống như trong tim mọc ra một sợi lông, một lớp da, hễ khi nào nhổ ra thì đương nhiên sẽ đau thấu tim gan!
Do đó, trụ tướng phải trở về với cái vô tướng của tướng, càng là một việc vô cùng khó khăn, buộc phải trải qua nhiều lần gọt giũa mới được. 
Tu hành cần phải thử thách dài lâu mới có thể thành tựu, nói trắng ra thì đó cũng là tự tìm đến rắc rối.
Khi đã rơi vào hố sâu bám chấp, bạn bảo là mắng người khác, tự nhiên đều là mắng sai rồi. Nên mắng chính bản thân mình đó.
Giống như khi mới yêu thì mong đợi, những mong đợi tốt đẹp đều là quyết định của chính mình:
Có thể là điều kiện của người đó rất tốt, hoặc đẹp trai xinh gái, có thể là do sức hút của người đó quá hấp dẫn, những lời yêu thương và hứa hẹn mà người đó nói ra quá hấp dẫn…

Tuy nhiên, điểm quan trọng là:
Bản chất thực sự của vũ trụ không bảo bạn mong đợi vào sự phân biệt hay chia cắt, là chính bản thân bạn vì các lý do, đạo lý khác nhau mà bạn tận lực và quan tâm thôi. Cho nên, đau khổ là vì bạn đã chôn cái nhân của đau khổ từ trước mà bây giờ có được quả này. Tận lực hay quan tâm mong đợi chính là quả bom hẹn giờ do chính bạn chế tạo ra mà bạn không hề hay biết.

Tình yêu, công danh, sự nghiệp,… đều là con người lấy những nguyên tố hình tượng huyễn ảo và xem là thật, sau đó tự mình chôn xuống những mong đợi như vậy, những quả bom hẹn giờ của những kỳ vọng đẹp đẽ.

Nguyên nhân mà sau cùng nó sẽ phát nổ là:
Phàm những sự vật được cấu thành bởi “duyên khởi tính không” (tình yêu, công danh, sự nghiệp…) đều có tính tạm thời của nhân duyên hòa hợp, là hiện tượng cấu thành có tính nhất thời. Bắt đầu từ ngày đầu tiên xây dựng “thành-trụ”, nó đã bắt đầu tiến về “hoại-không” cuối cùng.
Không một thứ nào là ngoại lệ!

Thứ bằng vàng sẽ bị lửa khắc mà biến thành không (điểm nóng chảy của vàng là 1.064,43 độ C, điểm sôi là 2.808 độ C. Trên 2.808 độ C thì vàng sẽ bốc hơi mà “thăng hoa” hết. Tức là nội trong 2.808 độ C thì vàng vẫn miễn cưỡng tồn tại được), lửa thì bị nước khắc chế hóa thành khói…

Ngũ hành hoàn thiện lẫn nhau, cũng phá hủy lẫn nhau.
Trồng hoa nhất định sẽ được hoa. Nhưng hoa nở tất nhiên sẽ có hoa tàn.
Bạn chỉ ham thích hoa nở, thích sự rực rỡ khi hoa nở, không ưa sự khô héo khi hoa tàn…
Bạn xác định rõ cách nghĩ này rồi và liên tục xác nhận điều này (trình tự này). 
Vậy thì kết quả tất nhiên sẽ là:
Bởi quy luật vận hành “thành, trụ, hoại, không” của các phép tắc do chân tính hiển lộ, việc bạn đặt ra chỉ là mơ tưởng, không phù hợp với phép tắc. 

Ví dụ, sự chấp thuận và mong đợi của bất kì bên nào trong tình yêu với nhau là sự lựa chọn và sắp đặt lẫn nhau theo phép tắc vũ trụ, không phải là sự cho phép của phép tắc vũ trụ.

Thề non hẹn biển đại khái chỉ dựa trên cách nghĩ hết sức ngây thơ là:
Núi vĩnh viễn không đổ, biển vĩnh viễn không cạn.
Trên thực tế, làm gì có chuyện ấy?
Biển cả thay đổi mới là chân tướng.
Núi sẽ sụp, đất sẽ nứt, đó mới là chân tướng.
Phạm pháp (phép tắc vũ trụ) thì nhất định sẽ phải chịu pháp chế.
Tình yêu cá nhân, tài sản cá nhân, độc quyền, v.v… dường như đều có đạo lý, nhưng vẫn không thể nào không nằm trong phép tắc của sự vận hành “thành, trụ, hoại, không”.

Kết quả đương nhiên là bạn chắc chắn sẽ đi đến cái giây mà bạn đã đặt hẹn quả bom hẹn giờ đó:
Khi người yêu thay lòng đổi dạ hoặc chết đi thì quyền lực, danh vọng, công danh, sự nghiệp bắt đầu sa sút, trở nên điêu tàn thậm chí đảo lộn, âm số, âm tài sản.
Tứ đại gia tộc ngày xưa làm gì còn? Tứ đại gia tộc cũ ở đâu rồi?
Các đại gia tộc mới thì đang “thăng quan tiến chức đầy ngạo nghễ, một ngày ngắm hết hoa Trường An”, lẽ nào họ sẽ không đi về hướng suy bại cũ rích sao?

(Chú thích: Lư Sư Tôn rất thích thú với bài viết này. Nó có tác dụng cảnh giới người đời, đặc biệt là đối với những người có tâm lượng hẹp hòi. Những con mắt nhỏ, những cái mũi nhỏ, nên ngẫm nghĩ đi, làm sao thanh tịnh tâm của chính mình, chứ không phải một mực đi chỉ trích người khác. Phật tính là bình đẳng, không có phân biệt. Hành giả nên yêu kính lẫn nhau.)

(**Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/291-phap-vuong-dai-than-bien.md
# Title: 291. Pháp Vương đại thần biến
---

![image](/img/img_919e505eda95570c0c15d23fba81bc2a.jpg)



## Pháp Vương đại thần biến


🪷 Duy Ma Cật và Tôi

Văn tập số: 291
Xuất bản: 14/10/2022
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu


Duy Ma Cật Đại Sĩ đến nhập mộng

Sau khi tôi (Lư Sư Tôn) kết thúc giảng thuyết kinh Kim Cang, các đệ tử đề nghị tôi tiếp tục giảng kinh. Họ đều nói Lư Sư Tôn giảng kinh không giống những người khác.
Không giống như thế nào?
Tôi nói:
Tôi không bắt chước lời người khác.
Điều tôi giảng là những nhận thức của chính mình, là sự lĩnh ngộ của chính mình, chỉ như vậy mà thôi!
Kinh Kim Cang đã giảng xong rồi, tiếp theo cần giảng kinh gì?

Kết quả:
Duy Ma Cật Đại Sĩ đến nhập mộng.
Ngài nói:
”Lư Sư Tôn! Ngài hãy giảng kinh Duy Ma Cật đi!”
Tôi nói:
”Được! Dứt khoát một lời, tôi sẽ giảng kinh Duy Ma Cật.”
Tôi hỏi:
”Duy Ma Cật Đại Sĩ, ngài từ nơi nào đến?”
Ngài đáp:
”Sao mà ngài vẫn ngốc như vậy! Ngài chỉ cần tịnh tâm là tôi sẽ ở nơi đó!”
Tôi nghĩ một lúc, ha! Quả nhiên là thế.
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
”Lư Sư Tôn! Bộ kinh này của tôi, người đời sau đã giúp tôi đặt rất nhiều tên kinh, ngài cũng giúp tôi đặt một cái tên được không?”
Tôi nói:
”Được! Nếu ngài không chê tôi vẽ rắn thêm chân thì tôi sẽ đặt một cái tên.”
Theo như tôi biết, có khá nhiều tên kinh cho bộ kinh này, đó là:
Duy Ma Cật Kinh.
Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh.
Bất Khả Tư Nghì Giải Thoát Kinh.
Duy Ma Cật Thuyết Bất Tư Nghì Pháp Môn Kinh.
Phật Thuyết Duy Ma Cật Kinh.
Thuyết Vô Cấu Xứng Kinh. 
Phổ Nhập Đạo Môn Kinh.
Phật Pháp Phổ Nhập Đạo Môn Tam Muội Kinh. 
v.v…

Linh quang của tôi lóe lên, tôi nói:
”Duy Ma Cật Nhân Gian Du Hý Kinh, được không?”
Duy Ma Cật cười lớn:
”Đúng là có “võ”! Rất thỏa đáng!”
Tôi đột nhiên lại nói:
”Duy Ma Cật Pháp Vương Đại Thần Biến Kinh thì sao?”
Duy Ma Cật nói:
”Cũng hay!”
Tôi hỏi ngược lại Duy Ma Cật Đại Sĩ:
”Nếu là do ngài tự mình đặt tên thì sẽ lấy tên nào?”
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
”OOOOO kinh.”
Tôi kinh hãi!
”Cái này căn bản là không có tên mà?”
Duy Ma Cật đáp:
”Văn Thù im lặng, Duy Ma lặng câm. Vốn dĩ chính là như vậy, tất cả mọi tên gọi của thế gian này đều là tên giả mà thôi.”
Duy Ma Cật Đại Sĩ và tôi cười vang ha ha.
Tại đây tôi nguyện cầu:
Nguyện chúng sinh hữu tình đọc kinh Duy Ma Cật cùng thành Phật đạo!

(Tháng 6 năm 2022)

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
U.S.A


### 01. Bay về Ma Ha Song Liên Trì


Có một hôm.
Con gái tôi Lư Phật Thanh bị ốm, nó bị ốm rất nặng.
Thế là, 
Tôi cõng Lư Phật Thanh, dùng thần túc để bay lượn, bay lên bầu trời, bay vào trong mây. Với dáng dấp đẹp đẽ nhất, giống như chim đại bàng, tôi bay về hướng Tây, bay đến cõi trời bên ngoài cõi trời.
Từ cõi trời bên ngoài cõi trời, tôi bay về Ma Ha Song Liên Trì.
Để cho Lư Phật Thanh tắm mình trong nước tám công đức của hai hồ sen. 
Xong việc, lại bay trở về nhân gian.
Từ đó, cơn đau bệnh của Lư Phật Thanh không còn đau nữa.
Nước tám công đức đã chữa khỏi cơn đau bệnh của Lư Phật Thanh. (Đây là giấc mơ của Lư Phật Thanh.)

Tôi nhớ đến chuyện này, vì thế tôi liền nghĩ, hiện tại Sư Mẫu Thượng sư Liên Hương đang bị bệnh. 
Tôi dùng thủ pháp tương tự, cõng Thượng sư Liên Hương đến Ma Ha Song Liên Trì. 
Dùng nước tám công đức để tắm gội cho Thượng sư Liên Hương, để tiêu trừ bệnh tật của bà ấy. 
Tôi dùng thuật Vũ không. 
Cõng Sư Mẫu Thượng sư Liên Hương trên lưng.
Cũng với dáng dấp tư thế đẹp đẽ nhất, tôi bay đến cõi trời bên ngoài cõi trời.
Tôi cảm thấy lưng mình càng lúc càng nặng.
Thượng sư Liên Hương giống như một tảng đá, là tảng đá to, không phải là một tảng đá mà là một ngọn núi, là núi Tu Di, núi Tu Di mà tôi đang cõng đang đè tôi đến mức không thở nổi.
Oa! Không chịu nổi nữa!
Tôi rơi thẳng xuống.
Tôi rơi trở lại nhân gian.
Tôi ngẫm nghĩ:
”Vì sao tôi có thể cõng Lư Phật Thanh bay đến Ma Ha Song Liên Trì, nhưng lại không thể đưa Sư Mẫu Thượng sư Liên Hương đi?”
Tôi (Lư Sư Tôn) đã dùng hết mọi pháp môn, không ngờ lại không có cách nào cứu Sư Mẫu sao?

Tôi thỉnh Duy Ma Cật Đại Sĩ. 
Duy Ma Cật Đại Sĩ hỏi tôi:
”Lư Sư Tôn! Có một người là cô Trần Lệ, bên dưới tai có khối u, đến để cầu ngài chữa. Ngài đưa tay sờ đầu cô ấy, chỉ một cái sờ đầu này mà khối u lập tức biến mất, đúng không?”
Tôi đáp:
”Đúng.”
Duy Ma Cật Đại Sĩ lại hỏi:
”Cái sờ đầu này của ngài, khối u liền tiêu biến. Nhưng, có phải là mọi chúng sinh mọc u bướu, ngài sờ đầu một cái là khối u đều tiêu biến không?”
Tôi đáp:
”Không phải, đương nhiên là không.”
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
”Đúng thế, đúng thế. Những cái này đều là căn tính khác biệt của vô số chúng sinh, cũng là đủ mọi hiện tượng do nhân duyên khởi lên.”

Duy Ma Cật Đại Sĩ lại nói:
”Như người đào giếng, cùng một nhóm người, cùng một công cụ, nhưng chỉ cần địa điểm khác nhau thì giếng đào được đều khác nhau.”
Có cái có nước.
Có cái không nước.
Có cái nước ngọt.
Có cái nước lợ.
Duy Ma Cật Đại Sĩ khoát tay một cái, để cho tôi xem một bộ phim nhiều tập…
Tôi xem xong thì kinh hãi!
Cuối cùng tôi đã hiểu nhân duyên vì sao tôi có thể chữa khỏi bệnh cho Lư Phật Thanh, nhưng không thể chữa khỏi bệnh cho Thượng sư Liên Hương.


### 02. Thời Luân Kim Cang đại thần biến


Từng có một lần, tôi ở thủ đô Jakarta của Indonesia cử hành đại pháp hội Thời Luân Kim Cang. Lần pháp hội đó, Bộ trưởng Tôn giáo Indonesia cũng đến tham gia. Ông ấy ca ngợi rằng: “Lần đầu tiên trong đời nhìn thấy có nhiều người Hoa đến vậy đều tập trung ở đây.”

Pháp hội bắt đầu.
Tôi thắp hương lễ bái Thời Luân Kim Cang.
Hương trên tay tôi hóa thành khói hương, làn khói uốn lượn, tụ lại thành hình một khuôn mặt của Thời Luân Kim Cang.
Mắt, tai, mũi, miệng phân biệt rất rõ ràng.
Tên đầu có mũ chày kim cang.
Tôi và Thời Luân Kim Cang mặt đối mặt.
Bức ảnh này được chụp ra đã làm chấn động mọi người.
(Thời Luân Kim Cang đại thần biến.)

Mới đây.
Tôi ở nhà mình là Nam Sơn Nhã Xá ở Seattle Hoa Kỳ, bức tường ở đầu giường tôi trống trơn. 
Có người tặng tôi một bức thangka Thời Luân Kim Cang lớn. 
Tôi nhờ Thượng sư Liên Cầm giúp tôi treo nó lên. 
Bức pháp tướng Thời Luân Kim Cang đó to đến nỗi có thể che kín bức tường ở đầu giường tôi. 
Vừa treo lên. 
Thời Luân Kim Cang đại thần biến từ trong bức tường đi ra. Ngài có bốn đầu hai mươi tư cánh tay. 
Thân màu xanh lam.
Bốn đầu phân rõ màu lam, vàng, trắng, đỏ.
(Tượng trưng tiêu tai, tăng ích, kính ái, hàng phục.)
Dưới chân ngài dẫm lên thần Dục vọng màu đỏ. Chân kia thì dẫm lên yêu quái đáng sợ màu trắng.
Trên người phóng tỏa ánh sáng ngũ sắc.
Ngài nói với tôi:
”Lư Sư Tôn! Chớ gom tiền gom bạc.”
Ngài nhấn mạnh:
Tiền là rắn độc.
Tiền là thú dữ.
Tai họa từ tiền nhiều lắm thay!
Trộm cắp cũng vì tiền mà sinh ra. Không trộm thì cướp.
Giết người phóng hỏa vì tiền mà ra. 
Con cái vì tiền mà tố cáo nhau, phân chia tài sản.
Tình bạn vì tiền mà tan vỡ.
….

Thời Luân Kim Cang nói với tôi:
”Không được chạm vào tiền!”
Tôi đem lời của Thời Luân Kim Cang nói với Duy Ma Cật Đại Sĩ. 
Hỏi:
”Con người thế tục nói, có tiền tùy hứng, không tiền cam chịu. Còn Thời Luân Kim Cang nói, tiền là rắn độc, tiền là thú dữ, không được chạm vào tiền. Xin Duy Ma Cật Đại Sĩ nói rõ một đôi điều.”
Duy Ma Cật Đại Sĩ cười một cái, đáp:
Tiền là trung tính.
Tiền là thứ không có tình cảm ý thức.
Tiền là giấy.
Tiền không có tội.
Nó chẳng là cái gì cả.
Tiền không có vấn đề “như pháp” hay “không như pháp”.
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
”Đó là vấn đề “cái tâm” của con người, tâm người xấu thì tiền là xấu, tâm người tốt thì tiền là tốt.”
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói với tôi:
”Lư Sư Tôn! Ngài nên không giữ không bỏ, tôi tặng ngài bốn chữ, không giữ không bỏ.”
A!
Tôi đã hiểu rồi!
Tùy nó đến! Tùy nó đi! Không cần dính mắc.


### 03. Ổ ma


Nhà tôi Nam Sơn Nhã Xá ở bang Washington nước Mỹ từ lâu đã trở thành một “ổ ma”. 
Tôi và Thượng sư Liên Hương cùng với bầy ma sống cùng một nơi.
Nguyên nhân chủ yếu là vì: “Thời kỳ dịch bệnh, mỗi buổi tối tôi đều làm siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp.”
Vì thế, nhà tôi đã trở thành khu chợ của ma.
Hiện tượng là:
Sư Mẫu Thượng sư Liên Hương tận mắt nhìn thấy ma chui vào trong chăn bông của bà ấy để ngủ, hơn nữa còn ngọ nguậy nữa.
Cái chụp đèn trở thành đĩa bay, chở rất nhiều ma huýt sáo bay qua.
Bức ảnh trên tường của Sư Mẫu rơi xuống đất, rồi lại treo trở lại trên tường, bức ảnh đã biến thành mặt ma nhìn bà ấy mỉm cười.
Nơi cửa sổ có rất nhiều ma xếp hàng chờ đến lượt lên thuyền pháp.
Bức tường trong nhà tôi đã trở thành những hang hốc cho rất nhiều ma trốn ở trong đó.
Soi gương, có rất nhiều khuôn mặt ma ở xung quanh.
……………….

Về phía tôi:
Ma hễ nhìn thấy tôi đến là chạy tán loạn tứ phía, tạo ra những tiếng binh binh beng beng.
Trong phòng thể dục, tủ quần áo, tủ lạnh, nhà vệ sinh, phòng chiếu phim, bên dưới bồn rửa mặt, trong chậu cảnh, phòng chứa đồ, tủ đầu giường, giá sách… Tất cả đều trở thành nơi trú ngụ của ma.
Tôi tĩnh tâm lại. 
Nghe thấy tiếng giày cao gót, giày da, giày bộ đội, dép lê đi lại.
Tôi đi qua hành lang, những cái đầu ma lần lượt từ trên tường thò ra póc póc póc póc, xin tôi gia trì.
Mở cửa phòng kho hay phòng thể dục thì bên trong có rất nhiều ma.
Tôi hỏi:
”Làm cái gì đấy?”
Họ đáp:
”Bày tiệc!”
Tôi và Thượng sư Liên Hương không hề sợ hãi, ngược lại cảm thấy sự náo nhiệt liên tục, tăng thêm rất nhiều hứng thú của chúng tôi đối với ma.
Ví dụ:
Thượng sư Liên Hương nhìn thấy một ma nữ trẻ tuổi mặc váy hoa ngồi trên xe lăn của bà ấy.
Thượng sư Liên Hương nói:
”Ớ! Ma nữ ngồi trên xe của tôi.”
Tôi hỏi:
”Có xinh không?”
Thượng sư Liên Hương nói:
”Không nói chuyện với ông nữa. Ông đã có bốn vợ ma rồi, còn chưa đủ sao?”
(Ma thị giả là: Thụy Quang, Phù Dung, Thiến Thiến, Tân Tân.)

Nhưng,
Tiệc vui chóng tàn.
Khi Thượng sư Liên Cầm treo bức thangka Thời Luân Kim Cang đặc biệt lớn lên trên bức tường ở đầu giường tôi. 
Những bóng ma lắc lư, toàn bộ đều biến mất tăm mất tích.
Vừa treo lên, khai quang xong một cái, ngay đến một con ma cũng không còn!
Thì ra tướng phẫn nộ của Thời Luân Kim Cang đã khiến những con ma sợ chạy mất tăm, họ không dám hiện thân. (Duy có bốn ma thị giả của tôi thỉnh thoảng vẫn hiện thân một lúc.)
Tôi hỏi Duy Ma Cật Đại Sĩ:
”Ma hiện thân là tốt hay ẩn thân là tốt?”
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
”Ma cũng là huyễn hóa, người cũng là huyễn hóa, đây là “chân không trí”. Lư Sư Tôn! Ngài là người “chân không trí”, có cái nhìn bình đẳng, vì thế đều tốt cả. Thời Luân Kim Cang là Kim Cang phẫn nộ “sai biệt trí”, vì thế hễ ngài xuất hiện là ma đều trốn đi hết.”
Duy Ma Cật Đại Sĩ lại nói:
”Lư Sư Tôn! Hiện thân tốt hay không hiện thân tốt? Ngài là chủ, Thời Luân Kim Cang cũng nghe theo lệnh của ngài.”


### 04. Chú thích: hỏi đáp về chương “Ổ ma”


Trong chương “Ổ ma”, cuộc đối thoại giữa tôi và Duy Ma Cật Đại Sĩ quá đơn giản, có một số người sẽ không hiểu.
Vì thế ở đây, tôi làm một cái “chú thích” cho mọi người. 
Trước tiên chúng ta cần phải hiểu “chân không trí”. 
Thế nào là “chân không trí”?
Tôi nói với mọi người, tôi thường dùng một so sánh, tức là lấy mặt trăng làm đối tượng so sánh. 
Vô ngã tướng — trên mặt trăng không có ta.
Vô nhân tướng — trên mặt trăng không có người.
Vô chúng sinh tướng — trên mặt trăng không có chúng sinh, các hướng đông tây nam bắc đều mất đi ý nghĩa. (Không gian mất đi ý nghĩa.)
Vô thọ giả tướng — trên mặt trăng thời gian cũng mất đi ý nghĩa. Trên mặt trăng vĩnh viễn đều y như thế.
Cần thời gian để làm gì?
Thiện, ác, chay, mặn, Phật, ma, đúng, sai, thị, phi, v.v… 
Toàn bộ đều là “chân không” [cái không chân thực].
Cho nên, tôi có “chân không trí” [trí huệ về cái không chân thực].

Tôi biết, trái đất của chúng ta có ta, có người, có chúng sinh, có thọ giả [thời gian]. 
Nhưng tôi cũng biết, đó chỉ là nhất thời, thực tướng chân chính là huyễn sinh huyễn diệt.
Người là huyễn sinh.
Ma là huyễn diệt.
Kì thực là không sinh không diệt. Đó là đệ nhất nghĩa.
Đây là yếu nghĩa của kinh Kim Cang. Đây là cảnh giới của “không”. 
Vì thế, 
Tất cả pháp vốn từ niết bàn.
Tất cả chúng sinh vốn từ giải thoát.
(Một thực tướng ấn) Pháp tính chân như, bình đẳng quán.
Vì thế, đối với ma và người, tôi có cái nhìn bình đẳng.

Chúng ta lại nói về “sai biệt trí”. 
Thế nào là “sai biệt trí”?
”Sai biệt trí” là thế tục đế. Tất cả mọi pháp, mặc dù cùng một chân như, nhưng nhân duyên khác biệt nên các hiện tượng cũng khác nhau.
Nhân duyên.
Nhân quả.
Có thể thấy rõ rành rành.
Đây là cảnh giới của “có”.

Trên trái đất mà con người chúng ta sống, có người, có ta, có chúng sinh, có thọ giả. Chúng sinh bình thường sống trong không gian thời gian, hơn nữa do nghiệp duyên sinh ra, vì thế mà có sự phân biệt. (sai biệt trí)
Phật ma.
Thiện ác.
Chay mặn.
Đúng sai.
v.v…

Thông thường là ở trong “sai biệt trí” mà kiến lập mọi pháp.
Thời Luân Kim Cang là tướng phẫn nộ.
Cho nên người và ma sẽ có sự khác biệt.
Vì thế, ma thấy Thời Luân Kim Cang thì tự nhiên sẽ kinh hãi khiếp sợ, vì thế mà họ không xuất đầu lộ diện.

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người:
”Chân không trí” là tiêu tan mọi pháp.
”Sai biệt trí” là lập nên mọi pháp.
Người học Phật phải biết trong pháp sai biệt đều không có tự tính.
Từ Không xuất Giả.
Từ Giả nhập Không.
Vì thế mới có thể:
Không giống không khác.
Chân - Tục viên dung.
Lư Sư Tôn tôi cho rằng: phải Không - Hữu song vận, đây cũng là Không - Giả song vận, đó là nghĩa Trung quán.


### 05. Sự thị hiện của đại uy thần lực


Có một buổi tối.
Tôi ngồi trên pháp tọa, trong một sát-na nhập vào tam muội, không ngờ xuất hiện cảnh tượng như thế này.
Trên đỉnh đầu tôi có vô lượng chư Phật.
Hai bên có các vị đại Bồ Tát.
Bên dưới có rất nhiều Thanh Văn.
Tôi chú ý đến xung quanh.
Có năm đại Kim Cang, tám đại Minh Vương. (các vị Hộ Pháp)
Vòng ngoài có chư Thiên. (Bao gồm Vô sắc giới, Sắc giới, Dục giới.)
Còn nhìn thấy:
Long thần — thiên long, địa long, thủy long.
Dạ xoa — Tật tiệp quỷ.
Càn thát bà — Lạc thần.
Ca lâu la — Kim sí điểu thần.
A tu la — các thần nặng tâm sân.
Ma hầu la già — đại mãng thần. (địa long)
Cảnh tượng này tôi chưa bao giờ trông thấy, tôi thốt lên, thật quá bất khả tư nghì. (Bao gồm cả tứ chúng đệ tử.)

Lúc này Thích Đề Hoàn Nhân, tức là Thiên Đế của Đao Lợi Thiên, thỉnh tôi thuyết pháp.
Nhất thời, tôi không biết phải nói từ đâu.
Nhưng, tôi chỉ nói:
”Chư Phật Bồ Tát cứu độ chúng sinh, có Tối Thắng Thế Giới, Diệu Bảo Thế Giới, Viên Châu Thế Giới, Vô Ưu Thế Giới, Tịnh Trú Thế Giới, Pháp Ý Thế Giới, Mãn Nguyệt Thế Giới, Diệu Hỷ Thế Giới, Diệu Viên Thế Giới, Hoa Tạng Thế Giới, Chân Như Thế Giới, Viên Thông Thế Giới, bây giờ sẽ có Chân Phật Thế Giới.”
Tôi lại nói:
”Tu hành lấy vô niệm làm chính giác Phật bảo. Lấy thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh làm pháp bảo. Lấy Chân Phật Thượng sư làm tăng bảo.”

Lúc này, Duy Ma Cật Đại Sĩ hiện thân, phóng vô lượng ánh sáng bách bảo chiếu khắp trời khắp đất, hỏi Lư Sư Tôn:
”Thế nào là Bồ Tát hành?”
Tôi đáp:
”Vô vi mà làm.” (Không vì cái gì cả mà làm mọi điều thiện.)

Hỏi:
”Thế nào là không?”
Đáp:
”Vô vi là không.”
Hỏi:
”Thế nào là giải thoát?”
Đáp:
”Pháp nhĩ bản nhiên.” (không nghĩ thiện, không nghĩ ác, vô niệm, bình đẳng)
Hỏi:
”Chân Phật Thế Giới của Lư Sư Tôn ở đâu?”
Đáp:
”Tâm.” (tức tâm tức Phật, phi tâm phi Phật)
Hỏi:
”Chân Phật Thế Giới lớn chừng nào?”
Đáp:
”To như núi Tu Di, nhỏ như hạt cải. Nói nghiêm túc là, không lớn không nhỏ, không nhỏ không lớn, lớn nhỏ hòa vào nhau.”
Hỏi:
”Ngài là Lư Sư Tôn à?”
Đáp:
”Tôi không biết Lư Sư Tôn là ai.”
Hỏi:
”Thế giới Ta Bà và thế giới Chân Phật có gì khác biệt?”
Đáp:
”Ta Bà tức Chân Phật, Chân Phật tức Ta Bà.” (không khác biệt)
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
”Ngài có thể giảng kinh Duy Ma Cật được rồi!”


### 06. Đại Hoạt Phật lên thuyền pháp


Trong siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp.
Tôi nhìn thấy:
Cờ phướn giương cao. (ô lọng)
Một nhóm các Lama chen chúc vây quanh một vị đại Hoạt Phật đi đến.
Vị Hoạt Phật này là Rinpoche chuyển thế.
Người Mông Cổ gọi là Khutukhtu.
Trung Thổ gọi là Hoạt Phật.
Vị đại Hoạt Phật này khi còn tại thế có tên tuổi rất lớn, có mấy ngôi chùa, chúng sinh vừa quỳ vừa lạy.
Đại Hoạt Phật muốn lên thuyền pháp của tôi.
Điều không ngờ tới là:
Khi ông ấy muốn giơ chân lên thuyền pháp, thuyền pháp lại biến thành cực kì cao lớn. 
Bình thường các linh hồn lên thuyền pháp, có linh hồn thì dùng cách bay, bay như chim, lướt như diều, bay lên thuyền là được.
Linh hồn nào không biết bay thì giơ chân lên là được.

Đại Hoạt Phật vừa nhìn thấy là thuyền pháp biến thành cực kì cao lớn, ông ấy không biết bay, chỉ có hét lên:
”Xin hãy thả cái thang lên thuyền!”
Cái thang đã thả xuống rồi.
Đại Hoạt Phật trèo lên thang, hai tay bám vào trèo, trèo được một nửa thì cái thang không tải nổi nữa liền đứt ra, đại Hoạt Phật lộn nhào rơi xuống, ngã sấp xuống như vồ ếch. 

Lúc này trông cực kì chẳng ra làm sao cả!
Đại Hoạt Phật vội vàng niệm chú Hộ pháp.
Hộ pháp đến lại là Ca lâu la, là thần Kim sí điểu.
Đại Hoạt Phật ngồi trên lưng Kim sí điểu, thoáng chốc đã vọt lên trời, cao hơn cả con thuyền pháp lớn.
Nhưng, thuyền pháp lại thu nhỏ lại, nhỏ giống như một hạt đậu, giống như một hạt cải.
Thân thể đại Hoạt Phật to cao, làm sao có thể tiến vào con thuyền nhỏ như hạt cải, đương nhiên là vẫn không thể lên thuyền.
Khiến đại Hoạt Phật tức giận đến mức một Phật xuất thế, hai Phật thăng thiên [câu thành ngữ này nghĩa là chết đi sống lại], ông ấy nổi trận lôi đình. 
Rất nhiều linh hồn nhìn thấy cảnh tượng này đều vỗ tay khen hay.
Đại Hoạt Phật không lên được thuyền pháp, quay người lại mắng tôi:
”Lư Sư Tôn! Ông giở trò trêu đùa tôi.”
Tôi đáp:
”Tôi ngồi trên pháp tọa, thân tâm bất động, làm sao mà trêu đùa?”
Đại Hoạt Phật nói:
”Vì sao thuyền pháp lúc to lúc nhỏ?”
Tôi đáp:
”Tôi không biết!”
Đại Hoạt Phật hỏi:
”Ông là Pháp Vương, ông không biết sao?”
Tôi không đáp.
Cờ phướn ô lọng của đại Hoạt Phật cùng các đệ tử ủng hộ ông ấy quay người bỏ đi.

Tôi hỏi Duy Ma Cật Đại Sĩ:
”Vì sao đại Hoạt Phật không thể lên thuyền pháp, trong khi các linh hồn bình thường có thể lên thuyền pháp?”
Duy Ma Cật Đại Sĩ đáp:
”Đại Hoạt Phật không có trực tâm!”
Tôi hỏi:
”Trực tâm là cái gì?”
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
”Trực tâm là đạo tràng.”
Tôi hỏi:
”Đại Hoạt Phật là tâm gì?”
Duy Ma Cật Đại Sĩ đáp:
”Ông ấy là tâm tự cao tự đại, tâm hết sức ngạo mạn.”
Ôi! Chả trách mà thuyền pháp biến thành cao lớn, biến thành hạt cải.


### 07. Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ


Có một hôm, tôi nhìn thấy cờ phướn tung bay, một nhóm người ngựa từ hư không giáng xuống. Phía trước có một vị thần tướng uy võ dị thường, thần thái sáng rực rỡ, toàn thân mặc áo giáp sáng chói cả mắt. 

Thần tướng nhìn thấy tôi thì chắp tay lại, nói:
”Lư Sư Tôn! Tôi đến rồi!”
Tôi ngẩng đầu lên nhìn, rõ ràng là có quen biết nhưng tôi lại không dám chắc.
”Ngài là…?”
Thần tướng nói:
”Tôi là Trịnh Dụ Tín.”
Tôi rất kinh ngạc:
”Anh là Trịnh Dụ Tín ư?” (đệ tử thời kỳ sớm nhất)
Tôi nhìn Trịnh Dụ Tín, bây giờ khuôn mặt anh ấy đầy thần quang, thần sắc phấn chấn, có các thần binh đi theo ủng hộ, uy phong tám hướng, đương nhiên là không giống trước kia.
Trịnh Dụ Tín nói:
”Tôi nhờ uy lực của Phật làm đại tướng quân ở Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ, chỉ huy tám trăm vạn thần binh.”
Tôi “oa” lên một tiếng đầy ngạc nhiên.

Tôi hỏi:
”Anh không đi Tây phương tịnh thổ sao?”
Anh ấy đáp:
”Tôi thích Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ.”
Tôi nghĩ, đây cũng là nhân duyên của Trịnh Dụ Tín, lúc còn sống anh ấy thích võ, có phẩm chất của đại tướng quân.
Tôi hỏi:
”Vì sao lần này anh đến đây?”
Anh ấy đáp:
”Tôi tuần hành thiên hạ, đặc biệt đến bái kiến Lư Sư Tôn, để Lư Sư Tôn biết là tôi đang ở Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ.”
Tôi hỏi:
”Mọi người trong nhà anh có biết không?”
”Biết! Tôi bảo vệ cho họ!”
Tôi hỏi:
”Anh có biết Hứa Thủy Vượng, Trương Hoàng Minh đi đâu không?” (Cũng là hai đệ tử thời kỳ đầu, họ đều đã qua đời.)
Anh ấy đáp:
”Lư Sư Tôn bấm ngón tay thần toán là biết thôi, không cần hỏi tôi. Tôi đến để đáp tạ ơn dạy dỗ của Lư Sư Tôn.”
Tôi hỏi:
”Cung điện của Liễu Minh Hòa Thượng, cung điện của tôi đều tốt cả chứ?”
Anh ấy đáp:
”Vẫn trang nghiêm huy hoàng như trước.”
Anh ấy nói:
”Thần tiên ở Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ đều mong đợi Lư Sư Tôn, Lư Sư Tôn cũng có thể thần du trở về.”
Tôi nói:
”Cảm ơn anh đã đến.”
Anh ấy nói:
”Tôi sẽ lại đến nữa, tôi bằng lòng để Sư Tôn sai khiến! Tôi để ấn tín lại đây, chỉ cần gọi một tiếng là tôi đến ngay.”
Trịnh Dụ Tín đại tướng quân liền hô hào các thần binh rời đi.

Tôi hỏi Duy Ma Cật Đại Sĩ:
”Trịnh Dụ Tín dựa vào nhân duyên gì mà sinh về Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ?”
Đại Sĩ đáp:
”Lư Sư Tôn từ Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ giáng sinh Ta Bà, đệ tử của ngài dựa theo nhân duyên của ngài mà sinh về Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ.”
Tôi hỏi:
”Trịnh Dụ Tín nhậm chức đại tướng quân là vì nhân duyên gì?”
Đại Sĩ đáp:
”Trên thiên thượng giới, anh ta vốn dĩ chính là đại tướng quân, đương nhiên là trở về bản địa thôi.”
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
”Người có nhân duyên sẽ có nơi chốn đã định. Duy Phật vô ngã trụ nơi vô ngã, tùy thuận thị hiện.”


### 08. Gia trì đại thần biến


Tôi từng nói:
”Một Thượng sư có đủ đức, gặp một đệ tử có đủ duyên, dựa vào lực gia trì mà sản sinh ra pháp lực cực lớn, đại thần biến này là kiểu rất khó tưởng tượng một cách không thể tưởng tượng được.”
Ai là Thượng sư có đủ đức? Tôi Lư Sư Tôn cho rằng:
1. Thanh tịnh trì giới.
2. Phá trừ phiền não.
3. Thanh tâm quả dục.
4. Tinh tấn bền bỉ.
5. Không màng danh lợi.
6. Khắc phục được ma.
7. Có đại trí huệ.
8. Có đại phẩm hạnh.
9. Kiến chứng Phật tính.
10. Giác hành viên mãn.
Thượng sư đủ đức có được mười điều toàn năng này thì đó là thật sự thập toàn thập mỹ.

Còn thế nào là đệ tử có đủ duyên?
1. Có duyên với Phật.
2. Có duyên với pháp.
3. Có duyên với Thượng sư.
4. Có duyên ba đời. [ba đời (tam thế): quá khứ, hiện tại, vị lai]
Có thể nói thế này, đệ tử đủ duyên, do nhờ vào các loại công đức tu hành kiếp trước mà kiếp này có thể gặp được Thượng sư đủ đức. 
Chỉ cần nương dựa vào Thượng sư thì một lần gia trì sẽ lập tức xuất hiện đại thần biến. Những ví dụ này vô cùng nhiều.

Viết một bài kệ:
*Thượng sư đủ đức nhập thiền định.
Thấy nghe được ngay mọi xấu ác.
Pháp Vương pháp lực vượt chúng sinh.
Chỉ một gia trì đại thần biến.*

Tôi lấy một lá thư làm chứng.

Kính lễ Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật.
Sư Tôn Phật an! Đệ tử Lâm Dư Tâm (Shirley Lim) cảm tạ sự gia trì của Sư Tôn. Bởi vì ngày hôm đó khi báo cáo với Sư Tôn, thời gian không có nhiều, sợ rằng nói không rõ ràng, cho nên đệ tử viết lại cảm ứng và quá trình gần nhất để báo cáo với Sư Tôn.

Đệ tử làm nghề y tá, năm nay 31 tuổi, lúc nhỏ từ Malaysia di cư sang Mỹ, vừa kết hôn năm ngoái. Cả nhà đệ tử bao gồm cả chồng đều là đệ tử Chân Phật Tông. Sư Tôn lúc trước từng nói đệ tử là Liên Hoa Đồng Tử, khi ấy đệ tử hoàn toàn không có cảm giác gì đặc biệt, tự cảm thấy mình tu pháp còn trì trệ không thông. Bình thường mỗi ngày đệ tử đều thực tu mấy đàn pháp. Lúc nào có nhiều thời gian thì sẽ đặt ra công khóa tu hành, tập trung trì chú tu thiền (có hơi giống bế quan), nhưng vẫn luôn không có cảm giác gì đặc biệt.

Tuần trước sau khi được Sư Tôn gia trì, dường như ý thức chìm sâu của đệ tử đã được đánh thức, cảm giác đã thông suốt rồi, đột nhiên tu hành có được sức mạnh, khả năng quán tu và lĩnh ngộ đều tiến vùn vụt, bất kể là nghe Sư Tôn khai thị hay là đọc kinh sách đều có thể hiểu được. Trước kia mỗi lần tu pháp đều cảm thấy thời gian trôi qua rất chậm, bây giờ mỗi đàn pháp đều cảm thấy lưu loát như nước chảy mây trôi, mỗi đàn pháp đều cảm thấy pháp vị đầy ắp, pháp lưu tràn trề.

Dưới đây là một vài cảm nhận và tâm đắc của đệ tử sau khi được Sư Tôn gia trì:

Ngày 11/5/2022 (thứ ba): Đệ tử đến Chân Phật Mật Uyển hỏi việc, Sư Tôn sờ đầu gia trì cho đệ tử, để cho đệ tử có thể mơ thấy Sư Tôn, có thể cảm ứng. Sư Tôn nói từ các ấn ký như vân tay có thể thấy là đệ tử cũng là Liên Hoa Đồng Tử. 

Ngày 15/5/2022 (chủ nhật): Tham gia pháp hội Hộ Ma Đại Cát Tường Thiên Nữ tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự. Chú âm vừa được bật lên, trong tích tắc đệ tử lập tức hợp nhất cùng với Bổn tôn Hộ Ma, cho đến khi Sư Tôn lắc chuông kim cang thì mới xuất định. Nếu Sư Tôn không lắc chuông thì rất có khả năng đến khi pháp hội kết thúc đệ tử vẫn ở trong trạng thái tam ma địa hợp nhất. Trước kia nghe thuyết pháp thì đều là dường như hiểu dường như không hiểu, kể từ ngày hôm đó, đệ tử có thể hiểu thông hiểu thấu, lĩnh ngộ được toàn bộ khai thị của Sư Tôn, cũng có thể thâm nhập ý cảnh trong sách của  Sư Tôn.

Buổi tối hôm đó khi chuẩn bị đi ngủ, mới vừa nhắm mắt thì đệ tử đã tiến nhập vào tâm cảnh đếm hơi thở không suy nghĩ gì cả. Tiếp theo giống như xem phim, đệ tử nhìn thấy rất rõ nét việc tu hành nhiều kiếp của mình, cho đến lúc có cảnh tượng thời kỳ Phật Thích Ca Mâu Ni tu hành, có tinh xá và tăng đoàn… Vừa mở mắt ra nhìn đồng hồ thì đã hơn 3 giờ sáng rồi.

Ngày 16/5/2022 (thứ hai): Ngày hôm đó tu pháp, vừa mới nhắm mắt lại bắt đầu tu pháp, mở mắt ra thì đã tu pháp kết thúc rồi. Cảm giác không có thời gian và không gian, giống như trong một cái búng tay là tu xong một đàn pháp rồi. Mỗi câu kinh chú đều thâm nhập và chạm đến nội tâm. Bây giờ đệ tử quán tưởng đã trở nên rất dễ dàng. 

Khoảng thời gian này, bất luận tu mấy đàn pháp, hoặc tu pháp các Bổn tôn khác nhau, đều có thể tập trung tu từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc. Trong quá trình đó, đệ tử nhìn thấy ánh sáng trắng của Kim Cang Tâm Bồ Tát chạy quanh chuỗi niệm hạt một vòng (khi quán tưởng chuỗi hạt), ánh sáng trắng xuất hiện ở phía trước chiếu rọi toàn thân đệ tử, đệ tử nhập định trong ánh sáng.

Vài ví dụ thường ngày:

1. Buổi chiều đệ tử ngồi tại đình Long Vương trì chú, đợi Sư Tôn hỏi việc xong thì đi đến Chân Phật Mật Uyển chào Sư Tôn. Ban đầu đệ tử có đặt chuông đồng hồ, nhưng trước khi chuông báo thức kêu lên thì tự mình đã tự động dừng trì chú, một giây sau thì đồng hồ kêu lên. Đồng hồ kêu và đệ tử tự động kết thúc trì chú dường như cùng xảy ra một lúc, giống như có cảm ứng tâm điện vậy. 

1. Khi tâm đệ tử không có suy nghĩ thì trước khi đi ngủ đều tự động đi bộ, ngồi im, đều bắt đầu luyện khí, rất tự nhiên đã biết ngồi tư thế nâng hậu môn, lưỡi chạm hàm trên, ép yết hầu, tự động bước vào trình tự luyện khí.

1. Lúc chuẩn bị ăn phải quả táo sắp hỏng, răng lập tức cảm thấy đau buốt không thể cắn được, đồng thời khi ăn những thức ăn khác thì răng lại rất tốt. Thân tâm giống như có dự cảm, biết rằng quả táo này không tốt cho sức khỏe.

Đệ tử nghĩ đến chủ nhật tuần trước, trong phần khai thị “Trò hỏi Thầy đáp” của Hộ Ma Đại Cát Tường Thiên Nữ, Sư Tôn nhắc đến “Đại Tỳ Lô Giá Na thần biến gia trì”, khi Thượng sư đủ đức và đệ tử đủ duyên gặp nhau thì mới có sức mạnh đại thần biến gia trì. Đệ tử chỉ cần có đầy đủ nhân duyên, bản thân trong quá khứ đã tu hành rất lâu, kiếp này đi theo Sư Tôn, khi Sư Tôn thành tựu, gia trì cho những đệ tử hữu duyên thì lập tức sẽ thành tựu. Đệ tử thật sự cảm nhận thấy Phật Bồ Tát muốn độ người hữu duyên, chỉ cần nhân duyên đủ thì thật sự thần biến rất nhanh chóng như một cái búng tay. Sư Tôn là đại thành tựu giả có đầy đủ phẩm đức chân chính, chúng con đời này có thể làm đệ tử của Sư Tôn, có duyên phụng sự và đi theo bước chân của Sư Tôn mà tu hành, pháp duyên và phúc phần của các đệ tử Chân Phật thật quá ư bất khả tư nghì!

Đệ tử có trình độ tiếng Trung bình thường, bản văn này có nhờ đồng môn giúp đỡ để tăng thêm sự biểu đạt ý văn. Sau này nếu đệ tử có phát hiện ra chỗ nào không đúng đáng nghi thì đều sẽ ngay lập tức bẩm báo với Sư Tôn để xin giải đáp và gia trì.
Cảm ơn Sư Tôn Căn bản Truyền thừa Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật!
Cầu mong Sư Tôn Phật thể an khang, trường thọ tự tại, thường chuyển pháp luân.
Đệ tử Lâm Dư Tâm đảnh lễ. 
21/05/2022.


### 09. Đủ đức và đủ duyên


Lư Sư Tôn hỏi:
”Vì sao mà đủ đức?”
Duy Ma Cật đáp:
”Vì ngài không cư ngụ trong đức, cho nên mới đủ đức.”
Lư Sư Tôn hỏi:
”Thượng sư đủ đức độ hóa chúng sinh ra sao?”
Duy Ma Cật đáp:
”Hóa mà không hóa, tùy duyên mà làm. Chỉ hai chữ này: tùy duyên.”
Lư Sư Tôn hỏi:
”Lâm Dư Tâm vì sao là đệ tử đủ duyên?”
Duy Ma Cật đáp:
”Bản thân ngài đã biết, sao tôi còn cần trả lời ngài.”
Lư Sư Tôn hỏi:
”Lâm Dư Tâm có biết rằng cô ấy là đệ tử đủ duyên không?”
Duy Ma Cật đáp:
”Cô ấy biết.”
Lư Sư Tôn hỏi:
”Làm sao cô ấy biết được?”
Duy Ma Cật đáp:
”Diêu Trì Kim Mẫu đã nói cho cô ấy biết rõ đầu đuôi ngọn ngành rồi.”
Lư Sư Tôn hỏi:
”Lâm Dư Tâm là ai?”
Duy Ma Cật đáp:
”Diêu Trì Kim Mẫu có bảy người theo sát bên mình nhất, họ là Hoa Lâm, Mị Lan, Thanh Nga, Diêu Cơ, Ngọc Chi, Song Thành, Phi Quỳnh.”
Duy Ma Cật hỏi ngược lại tôi:
”Như vậy còn chưa đủ duyên sao?”
Lư Sư Tôn đáp:
”Đủ rồi!”

Lư Sư Tôn tôi dịch chuyển thời gian lùi lại, đó là câu chuyện của rất nhiều, rất nhiều năm trước. 
Tôi ở Diêu Trì.
Tôi có bạn đạo.
Thời gian đó chúng tôi cùng đi độ hóa chúng sinh. 
Sau đó, Diêu Trì Kim Mẫu nói với chúng tôi:
”Lần này một mình con hạ phàm trần đi độ hóa chúng sinh, có năm triệu người đang chờ con.”
Tôi nói:
”Vậy còn cô ấy thì sao?”
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
”Cô ấy à, cô ấy cũng sẽ xuống, nhưng muộn hơn một chút, đợi con độ hóa sắp kết thúc thì cô ấy mới đi xuống.”
Tôi hỏi:
”Vì sao?”
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
”Chuyến đi này quá khổ, ta không nỡ để cô ấy chịu khổ.”
Tôi nói:
”Con cũng không nỡ để cô ấy chịu khổ, mọi nỗi khổ của thế gian con có thể chịu được, cô ấy hãy cứ ở lại bên cạnh Kim Mẫu thì tốt hơn.”
Tôi hỏi ngược lại:
”Sau khi cô ấy xuống, cô ấy có nhận ra con không?”
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
”Có, con gia trì một cái là cô ấy sẽ nhận ra ngay.”
Tôi hỏi:
”Bản thân cô ấy có thể trở về không?”
Diêu Trì Kim Mẫu đáp:
”Bản thân cô ấy đã biết đường về nhà.”

“Đủ duyên” này chỉ đơn giản như vậy thôi. (Tất cả đều mờ nhạt.)

Tôi viết một bài kệ:

*Người người tàng tạo hóa
Vốn dĩ là Tiên gia
Ai ai cũng học Phật
Cùng ngắm ánh chiều tà.*


### 10. Người không biết xấu hổ


Khi tôi ở Seattle nước Mỹ, bữa trưa bữa tối của tôi đều dùng bữa tại thư viện của Seattle Lôi Tạng Tự. (Tầng trên là thư viện, tầng dưới là nhà ăn.)
Nhà ăn ở Seattle Lôi Tạng Tự là mở cửa tự do, cung cấp cơm miễn phí.
Chỉ có ngày chủ nhật là tôi đi đến Cầu Vồng Lôi Tạng Tự làm Hộ Ma hỏa cúng thì bữa trưa bữa tối đổi lại là ăn cơm tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự.
Người ở trong nhà ăn ăn cơm có tứ chúng đệ tử:
Tỳ kheo.
Tỳ kheo ni.
Ưu bà tắc (cư sĩ nam).
Ưu bà di (cư sĩ nữ).

Nhà ăn không có quy định nghiêm ngặt, bạn muốn đến ăn thì đến ăn. Người không quy y cũng có thể đến ăn, cho nên cũng không ít người nghe được tin tức này mà đến. Đại bộ phận đều là những khuôn mặt quen thuộc. Cũng có bộ phận nhỏ là người từ bang khác đến, hoặc là từ các nơi khác trên thế giới đến. 
Có đệ tử của tông phái ta, cũng có đệ tử không phải của tông phái ta.
Chúng tôi đều nhất loạt hoan nghênh, không có phân biệt, có thể nói là “bạn cùng ăn cơm” rồi.
Tôi Lư Sư Tôn đối với những người đến Seattle Lôi Tạng Tự hoặc đến Cầu Vồng Lôi Tạng Tự thì đều cung kính như nhau. 
Đối với người lạ đều cung kính.
Đối với nam nữ già trẻ đều cung kính.
Đối với trẻ em đều cung kính.

Duy nhất đối với một người phụ nữ, tôi lại có đôi chút phản cảm. 
Người phụ nữ này rất vô công rồi nghề. (thỉnh thoảng mới làm việc)
Về mặt tâm thần thì cũng có chút quái dị.
Điều này thì cũng không xem là gì lắm.
Chỉ là:
Cô ta đánh bố mình. (Tôi cho rằng là đại nghịch bất đạo.)
Cô ta đánh chị em gái. (Chị em bất hòa.)
Bố và người nhà của cô ta đã dọn ra ngoài, tìm nhà ở ngoài để sống, tránh xa người phụ nữ này, để cho cô ta sống một mình trong nhà.
Một mình cô ta lại không thể tự nấu cơm, thế là ngày ngày đến Seattle Lôi Tạng Tự để ăn cơm miễn phí.
Tôi nhìn loại người này thì không thích.
Tất cả người nhà không chịu nổi cô ta, cô ta đánh chửi bố mình, loại người này lại còn muốn ăn “chùa” nữa.
Tôi không ưa loại người này. Tôi xem thường cô ta.
Kiểu người ăn bơ làm biếng, từ sáng đến tối chỉ lêu lổng trong chùa.
Tôi gọi cô ta là:
”Người không biết xấu hổ, thật sự không biết hổ thẹn!”

Có một hôm.
Duy Ma Cật nói với tôi:
”Lư Sư Tôn! Ngài không có cái nhìn bình đẳng!”
Tôi nói:
”Cũng chẳng biết phải làm sao! Tôi cứ nhìn thấy cô ta là không thích rồi. Sao cô ta có thể đánh bố mình? Loại người bất hiếu này, vô liêm sỉ này, làm sao khiến tôi khởi tâm cung kính bình đẳng chứ?”
Duy Ma Cật nói:
Tâm thần cô ta kỳ dị là có nhân quả của nó.
Cô ta đánh bố mình là có nghiệp duyên của nó.
Ngài cần phải khởi tâm đồng cảm với cô ta. Ngài vẫn còn tâm thích, ghét thì đó là tâm thế tục rồi! Chẳng phải ngài nói không bỏ rơi một chúng sinh nào sao?”
Tôi nghe xong thì sợ hãi!
Tôi nói:
Tôi sẽ sửa đổi! Đối với mỗi một người đều cung kính như nhau.


### 11. Lục Độ Mẫu thị hiện


Bà Y Lị Tát Bạch từ Indonesia đến Seattle. Bà ấy tặng tôi một món quà, đó là một bức tranh vẽ Lục Độ Mẫu.
Bức tranh vẽ này có điểm đặc biệt của nó:
1. Lục Độ Mẫu này là do bảo tháp Lục Độ Mẫu ở Yogyakarta Indonesia chế tác.
2. Khuôn mặt và tạo hình của Lục Độ Mẫu hoàn toàn mang tướng mạo của phụ nữ Indonesia. 
3. Mắt to.
4. Môi dày.
5. Khỏe đẹp. (Mặc váy sarong của Indonesia.)
6. Cúng phẩm dâng lên Lục Độ Mẫu là xoài và măng cụt.
7. Đồ trang sức của ngài đều bằng vàng sáng bóng, có cả hồng ngọc, ngọc lục bảo, ngọc mắt mèo, ngọc tùng nhĩ, v.v…
8. Lục Độ Mẫu đứng trên hoa sen trắng, thái độ ung dung tự tại.
9. Mũ miện làm bằng vàng, sáng chói lóa.
10. Những dây đai tung bay.

Tôi nhìn thì rất thích.
Tôi đem bức tranh vẽ trở về phòng khách của Nam Sơn Nhã Xá, tạm thời đặt trên chiếc bàn dài.
Buổi tối hôm đó.
Khi tôi từ phòng của Sư Mẫu trở về phòng của mình, đi qua phòng khách, phòng khách rất tối, đột nhiên tôi nghe thấy tiếng gọi tôi:
”Lư Sư Tôn!”
Tôi dừng bước quay đầu lại nhìn.
Sau lưng tôi chẳng có một người nào cả. (Tôi cho rằng tôi đã gặp ma rồi.)
Tôi bước nhanh hơn, rời khỏi phòng khách.
Lại một tiếng nói:
”Lư Sư Tôn!”
Tôi nghe rõ mồn một.
Tôi lại quay đầu nhìn, không có ai. 
Tôi chú ý đến bức tranh vẽ Lục Độ Mẫu ở trên bàn, ngài lại gọi:
”Lư Sư Tôn!”
Thì ra nguồn gốc của âm thanh kia là từ Lục Độ Mẫu trên bức tranh vẽ đang gọi tôi. Tôi đi đến trước bức họa tướng của Lục Độ Mẫu.

Thế rồi, Lục Độ Mẫu hiển hóa.
Ngài đứng dậy, không chỉ như thế, ngài còn bay qua bay lại trong không trung, giống như là đang bay trên trời.
Lục Độ Mẫu hát lên:
”Ôm ta-rê tu-ta-rê tu-rê sô-ha.”  [Om tare tutare ture soha.]
Tiếng hát rất đẹp.
Lục Độ Mẫu lại hát:
*Thời gian như nước chảy
Sao Liên Sinh quên tôi
Ngày xưa từng bầu bạn
Ấn-Tạng hoằng Chân Phật. **[Ấn-Tạng: tức Ấn Độ và Tây Tạng]*
Tôi nghe xong, hoang mang.

Lúc này, Duy Ma Cật Đại Sĩ xuất hiện nói với tôi:
”Lư Sư Tôn! Ngài là người tam minh lục thông, sao có thể quên kiếp trước của mình chứ?”
”Kiếp trước của tôi ư?”
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
”Ngài từ Ấn Độ (Thiên Trúc) đến Jambi Indonesia bái kiến Kim Châu Đại Sư. Ngài từ Yogyakarta Indonesia đưa Lục Độ Mẫu về Ấn Độ và Tây Tạng.”
A! Hiểu rồi! Hiểu rồi!
Atisa tôn giả.
Tôi nhìn về Lục Độ Mẫu trong hư không, chắp tay lại, ngài bay trở về trong bức tranh vẽ.


### 12. Lời dạy của Duy Ma Cật về Nghìn chiếc thuyền pháp


Sư tỉ Song Liên ở Seattle cầm một bức ảnh có hơn hai chục đứa trẻ thỉnh cầu tôi siêu độ cho chúng. 
Hơn hai chục đứa trẻ này chính là những đứa trẻ đã thiệt mạng trong vụ xả súng tại bang Texas nước Mỹ. 
Nội tâm tôi thét gào: 
“Thật đáng thương!”
(Chao ôi! Chúng đều là những đứa trẻ vô tội.)
Tôi nói:
”Tôi sẽ siêu độ.”
Buổi tối hôm đó, khi tôi làm siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp, tôi đã siêu độ cho hơn hai chục đứa trẻ đó, để chúng đi đến Tây phương Cực Lạc thế giới. 

Duy Ma Cật Đại Sĩ hỏi tôi:
”Siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp, việc siêu độ của ngài dựa theo nhân duyên gì?”
Tôi đáp:
”Do dịch bệnh phát sinh.” (Dịch bệnh bắt đầu thì tôi cũng bắt đầu tu pháp.)
Duy Ma Cật hỏi:
”Nghìn chiếc thuyền pháp từ đâu sinh ra?”
Tôi đáp:
”Từ Không sinh ra.”
Duy Ma Cật hỏi:
”Pháp siêu độ từ đâu sinh ra?”
Tôi đáp:
”Từ Có sinh ra.” (Ở trong cái Không tạo lập cái Có.)
Duy Ma Cật hỏi:
”Tức Không tức Có, không Không không Có, là trí huệ gì?”
Tôi đáp:
”Trí huệ song vận.” (Không - Hữu song vận)
Duy Ma Cật gật gật đầu nói:
”Đúng vậy, đúng vậy.”

Theo như tôi biết:
Trí huệ (bát nhã) có ba loại:
1. Nhất thiết trí — là trí huệ của A La Hán, tất cả đều Không.
2. Đạo chủng trí — là trí huệ của Bồ Tát, là tất cả đều Có, lấy việc tự giác giác tha để độ hóa chúng sinh là chí nguyện. (giác hữu tình)
3. Nhất thiết đạo chủng trí — là trí huệ của Phật, tức hữu tức không, phi hữu phi không, chân không diệu hữu.
Siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp của tôi tạo lập tại:
Không.
Hữu.
Chân không diệu hữu.
Tôi nói:
Thuyền pháp là từ trong không huyễn mà sinh ra.
Pháp siêu độ là từ trong nghi quỹ mà sinh ra.
(Pháp cũng Không.)
(Pháp cũng Có.)

Và siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp cũng chính là siêu độ Không và Có dung hợp lẫn nhau. 
Thuyền pháp là huyễn quán mà ra.
Người siêu độ là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn là người huyễn.
Người được siêu độ là thân trung ấm huyễn.
Pháp siêu độ là pháp huyễn.
Nơi vãng sinh là Tây phương Cực Lạc thế giới là tịnh thổ huyễn.
(Tất cả những điều này đều là huyễn.)
Nhưng trong cái không huyễn dường như có “vật”. 
Đây chính là “chân không diệu hữu”. 

Duy Ma Cật Đại Sĩ hỏi tôi:
”Siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp là siêu độ gì? Đáp nhanh! Đáp nhanh!”
Tôi đáp:
”Siêu độ trong Không - Hữu.” (siêu độ trong Không - Giả)
Duy Ma Cật khen ngợi:
”Đúng thế, đúng thế.”


### 13. Cúng hương đèn và nước


Tại Nam Sơn Nhã Xá, đàn thành chủ yếu nhất của tôi là ở tầng dưới. 
Đàn thành phân ra:
Đàn thành Phật Thích Ca Mâu Ni.
Đàn thành Hỷ Kim Cang.
Đàn thành Khổng Tước Minh Vương.
Đàn thành Diêu Trì Kim Mẫu.
Còn có đàn thành nhỏ:
Đàn thành Tam Thanh tổ sư.
Đàn thành Quan Thế Âm Bồ Tát.
Đàn thành truyền thừa.
Ngoài ra có: chư Phật, Bồ Tát, Kim cang, Hộ pháp, Không hành, chư Thiên.
Phân loại ở trong đó.
Hàng ngày tại đàn thành ở dưới nhà, tôi nhờ thị giả cúng hương, cúng đèn, cúng nước…
Còn cá nhân tôi, ở tầng trên của Nam Sơn Nhã Xá, tôi có một đàn thành nhỏ.
Chủ tôn là Diêu Trì Kim Mẫu.
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.
Bất Động Minh Vương.
A Di Đà Phật.
Kim Cang Tát Đỏa.
Đại Uy Đức Kim Cang.
v.v…

Việc cúng hương đèn và nước hàng ngày tôi đều tự làm.
Ngoài đàn thành ở tầng trên và tầng dưới ra, chúng tôi có rất nhiều tượng Phật đơn lẻ bố trí ở khắp nhà.
Ví dụ: Địa Tạng Vương Bồ Tát, Cát Tường Thiên, Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, Phật Đà, Lục Độ Mẫu, Hắc Phẫn Nộ Mẫu, Thời Luân Kim Cang, Hổ Đầu Kim Cang, v.v…
Đối với các bức tượng đặt rải rác, tôi chỉ chắp tay lễ bái.
Phía sau đàn thành nhỏ ở tầng trên có bức thangka lớn của cây quy y, trên bức thangka đã bao gồm tất cả chư tôn. 

Có người đến Nam Sơn Nhã Xá tham quan, sau khi xem xong nói: 
“Nhà ngài giống như viện bảo tàng.”
Đúng là có chút hơi hướng của viện bảo tàng, nhưng nhỏ hơn viện bảo tàng rất nhiều.
Về việc cúng dường tại đàn thành thì:
Tầng dưới do thị giả làm.
Tầng trên do tôi làm.
Thế nhưng gần đây, đàn thành ở tầng dưới lại không có ai cúng hương đèn và nước, bởi vì người phụng sự đã từ chức rồi.
Thế là hàng ngày tôi chịu trách nhiệm cả tầng trên tầng dưới.
Quá vui rồi!
Nhưng, thời gian không đủ! Tôi vì việc cúng hương đèn và nước này mà có một chút xíu phiền não. (Không phải là phiền não tiêu cực.)

Có một hôm.
Tôi ở trong thiền định, bỗng dưng nhìn thấy toàn thân tôi trong suốt, và ở trong thân tôi không ngờ lại xuất hiện đàn thành ở trên tầng và đàn thành ở dưới tầng, toàn bộ đều ở trong thân tôi.
Thế là trong ý niệm, tôi đã cúng hương, cúng đèn, cúng nước, cúng hoa, cúng quả, đều cúng hết cả.
Tôi giải tỏa nỗi phiền não nhỏ xíu của mình. Cảm thấy tất cả đều sáng sủa sạch sẽ, tôi thì cung kính, đàn thành thì trang nghiêm như vậy. 
Tôi hỏi Duy Ma Cật Đại Sĩ:
”Tôi làm như vậy có được không?” (dùng tâm cúng dường)
Duy Ma Cật Đại Sĩ đáp:
”Tam thiên đại thiên thế giới đều ở trên thân ngài. Việc cúng dường của ngài đâu chỉ có đàn thành trên tầng, đàn thành dưới tầng. Cúng dường tâm của ngài quảng đại vô biên, chính là số một.”


### 14. Cùng Duy Ma Cật Đại Sĩ nói chuyện thần biến


Tôi hỏi:
”Thần biến là gì?”
Duy Ma Cật đáp:
”Ví dụ: ngài ở Mỹ, nhưng lại hiện thân ở quốc gia khác. Ngài vừa đưa tay sờ đầu thì bệnh của rất nhiều người đã khỏi. Ngài ở trong định có thể quán chiếu các Phật quốc khác. Ngài biết đời quá khứ của mình và cả đời tương lai. Ngài có thể biết tâm niệm của người khác. Ngài có thể biết trước việc sinh tử của mình.”
Duy Ma Cật lại nói:
”Ngài có thể thay đổi thời tiết; thay đổi đất, nước, lửa, gió trong thân thể chính mình; thay đổi hoàn cảnh; khiến cá bay trong không trung; khiến chim bơi trong nước; khiến điều không thể biến thành có thể, có thể biến thành không thể.”
Duy Ma Cật nói:
”Những thần biến này có thể phân thành hai loại chính: Một là, sự biến hóa của tâm. Hai là, sự biến hóa của nội tâm và ngoại cảnh. Sự biến hóa của tâm như là nhìn thấy Bổn tôn, ánh sáng, Phật quốc, dự báo, tâm thông, đời hiện tại, đời quá khứ, đời tương lai. Biến hóa bên ngoài như là di chuyển đồ vật, chữa bệnh, cải vận, thời tiết, v.v…”

Tôi hỏi:
”Vì sao có thể như vậy?”
Duy Ma Cật đáp:
”Đây là hiện tượng tự nhiên phát triển do tâm, sự thanh minh và tinh tế của hành giả.”
Tôi hỏi:
”Vì sao có một số người không tin?”
Duy Ma Cật đáp:
”Người thế tục không có những kinh nghiệm này, đương nhiên sẽ không dễ dàng tin.”
Tôi hỏi:
”Làm sao để người ta tin?”
Duy Ma Cật đáp:
”Để người ta cũng có những sự trải nghiệm kiểu này thì tự nhiên sẽ tin.”
Tôi hỏi:
”Thần biến của ai là mạnh nhất?”
Duy Ma Cật đáp:
”Phật.” (cùng Phật hợp nhất)
Tôi hỏi:
”Vì sao?”
Duy Ma Cật đáp:
”Vì năng lực tri giác quảng đại vô biên.”
Tôi hỏi:
”Vì sao Milarepa có thể bay?”
Duy Ma Cật đáp:
”Ngài ấy tu tập thân vi tế.”
Tôi hỏi:
”Thế nào là Hoạt Phật chuyển thế?”
Duy Ma Cật đáp:
”Đời quá khứ, đời hiện tại, đời tương lai của họ hoàn toàn không lẫn lộn. Kiếp trước, kiếp này, kiếp sau đều là cùng một người.”

Tôi hỏi:
”Những điều này đều là chân thực chứ?”
Duy Ma Cật đáp:
”Chỉ cần tâm có tri giác, những điều này là sự thật.”
Tôi hỏi:
”Nếu tâm không có tri giác?”
Duy Ma Cật đáp:
”Thì là đui mù và bảo thủ.”
Tôi hỏi:
”Con người có cần tu thần biến không?”
Duy Ma Cật đáp:
”Cố ý tu thần biến thì không cần thiết.”
Tôi hỏi:
”Nên như thế nào?”
Duy Ma Cật đáp:
”Gìn giữ sự quang minh của tâm mình là được, nếu bảo nhậm được sự thanh minh của tâm thì tất cả sẽ tự nhiên đến.”
Duy Ma Cật nói:
”Thiền tu tâm lực là được.” (duy tâm)


### 15. Năm con rùa mù


Có một hôm.
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói với tôi:
”Lư Sư Tôn! Tôi đưa ngài đến một nơi du lịch.”
Tôi hỏi:
”Nơi nào?”
Duy Ma Cật Đại Sĩ đáp:
”Đi rồi sẽ biết.”
Thế là Duy Ma Cật Đại Sĩ bay lên, tôi bay theo ngài ấy, một trước một sau, hai người giống như bay tàu lượn, lúc lượn bên này lúc lượn bên kia.
Núi sông đại địa đều nằm dưới chân.
Rất nhanh chóng xuyên qua mây, bay qua chín tầng trời, không ngờ lại đến Đô Sử Thiên. 
Tôi nói:
”Đây là Đô Sử Thiên!”
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
”Không sai! Lư Sư Tôn! Thiên nhãn của ngài thật là có nhãn lực tốt. Tôi đưa ngài đến Thiên Trì [ao trời] của Đô Sử Thiên.”
Chúng tôi đi xem Thiên Trì.
Đó đúng là một vùng đất đẹp tuyệt vời.
Trăm hoa đua nở.
Phong cảnh tuyệt mỹ.
Hồ nước trong veo.

Bên trong Thiên Trì có năm con rùa đang bơi, năm con rùa này nhìn thấy chúng tôi liền vội vàng quay người bơi đi, càng bơi càng xa, bỏ trốn mất dạng.
Duy Ma Cật cười vang.
Tôi cười vang.
Duy Ma Cật Đại Sĩ hỏi tôi:
”Ngài cười cái gì?”
Tôi đáp:
”Tôi cười năm con rùa này chỉ có một mắt, một mắt kia bị mù, là năm con rùa bị mù một mắt.”
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
”Tại Đô Sử Thiên là cảnh giới thần tiên, tiên cảnh làm gì có rùa của đạo súc sinh, đã vậy lại còn mù một mắt nữa, đây là nhân duyên gì chứ? Lư Sư Tôn ngài có biết không?”
Tôi nói:
”Mong được nghe chi tiết!”

Thế là Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
Tại thế giới Ta Bà.
Có năm vị đệ tử có nhân duyên lành quy y một vị Thượng sư đủ đức. Năm đệ tử này yêu cầu Thượng sư truyền pháp. Thượng sư đủ đức nói:
Được! Truyền cho các trò một pháp “siêu độ chính mình”. (tự độ)
Năm đệ tử này liền yêu cầu:
Chúng con không muốn pháp “siêu độ chính mình”. Chúng con muốn đại pháp “phúc phần viên mãn”. 
Thượng sư đủ đức nói:
”Siêu độ chính mình” mới là pháp lớn, còn “phúc phần viên mãn” là pháp nhỏ.
Năm đệ tử nói:
Chúng con chỉ cần phúc phần, không cần siêu độ. Chúng con muốn phúc phần, cũng muốn trường thọ. 
Còn nói: Chúng con không có nguyện vọng siêu độ chính mình.
Năm đệ tử này từ chối Thượng sư đủ đức truyền pháp.

Sự khước từ này đã trồng xuống nhân duyên chuyển thế trở thành năm con rùa mù một mắt tại Thiên Trì ở Đô Sử Thiên.
Tôi nghe xong, trong lòng buồn bã.
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
Sinh về Đô Sử Thiên là phúc phần, trường thọ. Nhưng chuyển thế thành rùa mù một mắt là có mắt như mù, không biết rằng siêu độ chính mình siêu việt hơn phúc phần. 
Tôi nói:
Một lần khước từ trở thành nỗi ân hận nghìn đời. Đệ tử vô minh, biết làm sao!


### 16. Mũ miện Kim Cang màu đen


Người ta nói rằng:
Khi vị Karmapa thứ nhất Dusum Khyenpa đắc chính giác, thập phương Không Hành Mẫu đã dùng tóc của mình dệt thành một chiếc mũ miện Kim Cang màu đen tặng cho Dusum Khyenpa đội. 
Chiếc mũ miện này là vô hình, người bình thường không nhìn thấy.
Đến Đại Bảo Pháp Vương thứ năm Deshin Shekpa, ngài là quốc sư của Hoàng đế Vĩnh Lạc triều Minh. Hoàng đế Vĩnh Lạc vô cùng cung kính trước Đại Bảo Pháp Vương Karmapa Deshin Shekpa. 
Không ngờ Hoàng đế Vĩnh Lạc lại nhìn thấy mũ miện Kim Cang màu đen đội trên đầu của Deshin Shekpa. Thế là, Hoàng đế Vĩnh Lạc đã làm lại một chiếc mũ miện Kim Cang màu đen hữu hình, sau đó trang điểm thêm bằng vàng và châu báu trân quý. 
Bắt đầu từ vị Karmapa thứ năm đã có chiếc mũ miện Kim Cang màu đen. Là hữu hình.
Thế là Deshin Shekpa lập tức cử hành pháp hội đội chiếc mũ miện Kim Cang này. 
Kể từ đó về sau, Đại Bảo Pháp Vương mỗi đời đều cử hành pháp hội đội mũ miện màu đen. Đó là một trong những pháp hội thần thánh nhất của Đại Bảo Pháp Vương, cũng có tính tượng trưng.

Khi Lư Sư Tôn tôi đi Mỹ vào năm 1980 đã cùng với Hoàng Triều Sơ đến thăm Đại Bảo Pháp Vương thứ mười sáu Rangjung Rigpe Dorje. 
Vì thế, tôi có truyền thừa của Bạch giáo. Có được quán đảnh và sự gia trì tối cao. (Ấn câu sinh viên mãn, Đại thủ ấn)
Đại Bảo Pháp Vương dạy tôi:
1. Thân người khó có được.
2. Sinh tử vô thường.
3. Nhân quả không tự mất đi.
4. Họa hoạn tuần hoàn.
Ngài dạy kiến, tu, hành, chứng.
Quang minh và tính Không kết hợp.
Tự tâm vô vi vô tạo tác.
Không và bi.
Chính giác.
(Tâm là hạt giống của tất cả sự vật, thế giới tương lai và niết bàn đều kiến lập ở trên đó.)
(Tâm đại thủ ấn an trú tại không vô.)
Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ mười sáu dạy tôi những giáo huấn quý báu này.

Tôi hỏi Duy Ma Cật Đại Sĩ:
”Bây giờ mũ miện Kim Cang của Hoàng đế Vĩnh Lạc ở đâu?”
Duy Ma Cật Đại Sĩ đáp:
”Ở trong tim người đời.” (trả lời khéo)
Chiếc mũ miện Kim Cang màu đen hữu hình đó, từ sau khi Đại Bảo Pháp Vương thứ mười sáu niết bàn đã không còn thấy nữa.
Ở chùa Long Đức ư?
Không biết.
Ở trong tay của bốn vị Đại Pháp Vương Tử ư? (Hạ Mã, Tích  Đỗ, Gia Sai, Khương Cống)
Không biết.
Ở trong tay của Đại Bảo Pháp Vương thứ mười bảy Ogyen Trinley Dorje, Trinley Thaye Dorje ư?
Không biết.
Đây đã trở thành một câu đố.
Tôi hỏi:
”Chiếc mũ miện Kim Cang màu đen của Hoàng đế Vĩnh Lạc rốt cục ở đâu?”
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
”Ở trong túi hương của Lư Sư Tôn!”
Ha! Tôi không hỏi nữa.


### 17. Truyền thừa đại gia trì


Có một hôm.
Tôi (Lư Sư Tôn) ở trong thiền định.
Không ngờ nhìn thấy Kim Cương Tổng Trì, Tilopa, Naropa, Marpa, Milarepa, Gampopa. 
Ngoài ra, toàn bộ mười sáu vị Đại Bảo Pháp Vương đều hiển hiện.
01. Karmapa Dusum Khyenpa.
02. Karmapa Karma Pakshi.
03. Karmapa Rangjung Dorje.
04. Karmapa Rolpe Dorje.
05. Karmapa Deshin Shekpa.
06. Karmapa Thongwa Donden.
07. Karmapa Chodrak Gyatso.
08. Karmapa Mikyo Dorje.
09. Karmapa Wangchuk Dorje.
10. Karmapa Choying Dorje.
11. Karmapa Yeshe Dorje.
12. Karmapa Changchub Dorje.
13. Karmapa Dudul Dorje.
14. Karmapa Thekchok Dorje.
15. Karmapa Khakyab Dorje.
16. Karmapa Rangjung Rigpe Dorje. 

Các vị ở trên đỉnh đầu tôi kết thành một chuỗi hạt trân châu, tỏa ánh sáng lấp lánh. 
Sau đó các vị lần lượt từ lỗ đỉnh đầu của tôi đi vào bên trong thân thể tôi, thân thể tôi khởi lên đại thần biến.
Thân thể biến thành một ngọn lửa.
Ngọn lửa này đốt tôi cháy thành tro tàn.
Tôi phát hiện ra mình đã trở thành không vô.
Cảm nhận được:
Vô nhiễm.
Thanh tịnh.
Quang minh.
Đại lạc.
Đó là sự rộng lớn không biên giới, đó là bản thân tự nhiên giải thoát, đó là pháp tính vô sinh vô tử, bất sinh bất diệt.
Pháp tính.
Phật tính.
Cũng chỉ là một danh từ mà thôi!
Trong hư không có vô số Không Hành Mẫu hát bài ca, ý nghĩa là:
Đại thủ ấn.
Minh không giác.
Vô cấu nhiễm.
Pháp thân quả.
Đây đúng là “vượt mây nghe tiếng trời vi diệu”.

Sau đó, tôi hỏi Duy Ma Cật Đại Sĩ:
”Truyền thừa đại gia trì kiểu này là gì?”
Duy Ma Cật Đại Sĩ đáp:
”Đây là chư pháp cứu cánh.”
Tôi hỏi:
”Chư pháp cứu cánh là cái gì?”
Duy Ma Cật đáp:
”Bản tự nhĩ nhĩ.”
Tôi hỏi:
”Thế bản tự nhĩ nhĩ là cái gì?”
Duy Ma Cật đáp:
”Bất khả thuyết.”
Tôi nghĩ đến một câu nói của Khổng Phu Tử:
”Thiên hà ngôn tai? Tứ thời hành yên! Bách vật sinh yên! Thiên hà ngôn tai?”
[Trời có nói chi? Bốn mùa chuyển vần! Trăm vật sinh ra! Trời có nói chi?]

Tôi hiểu, trong cảnh giới này cũng là cảnh giới, cũng không có cảnh giới, thế thì có cái gì có thể giải thích, đây chính là giải thoát bất khả tư nghì.


### 18. Không sợ tham sân si


Đệ tử Morgan của tôi hỏi tôi:
”Trong một bộ kinh điển có câu nói là “không sợ tham sân si”, tôi nghĩ rất lâu mà không hiểu, xin Lư Sư Tôn giải thích.”
Tôi đáp:
”Morgan! Tăng nhân tu hành Tiểu thừa vì biết tham sân si (dâm nộ si) sẽ khiến người ta mê đắm, sẽ đọa tam đồ, cho nên sợ tham sân si.”
Lại nói:
”Thế cho nên ăn không tham món ăn ngon, mặc không mặc lộng lẫy, ở nơi núi rừng hang hốc. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý (lục tặc đóng chặt).”
Đây là:
Mắt không nhìn sắc.
Tai không nghe âm thanh lả lướt. 
Mũi không ngửi hương thơm.
Lưỡi không tham vị ngon.
Thân không xúc chạm.
Ý không nghĩ ngợi.
(Đây là sợ tham sân si cho nên hết sức né tránh.)

Tôi nói:
”Người tu hành Đại thừa Bồ Tát nên biết “không sợ tham sân si”. Bởi vì Bồ Tát độ chúng sinh, sống tại thế giới hữu tình, ngày ngày đều ở trong thế giới thế tục, đâu đâu cũng đều là tham sân si.”
Tôi lại nói:
Bồ Tát tu hành và Tiểu thừa khác nhau.
Sống trong tham mà không tham.
Sống trong sân mà không sân.
Sống trong si mà không si.
Vì sao có thể như vậy?
Tôi cho rằng là vì thiền định và trí huệ.
Thiền định (tâm bất động).
Trí huệ (tất cả nằm trong Không-Giả).
Có thiền định và trí huệ rồi, vượt qua tham sân si (dâm nộ si).
Cho nên không sợ tham sân si. (Trong các địa của Bồ Tát có Bất động địa.)
Đây chính là công phu “nhìn thấu, buông bỏ, tự tại”.

*Bách hoa tùng trung qua, phiến diệp bất lưu thân.
Tửu nhục xuyên tràng qua, Phật Tổ tâm trung lưu.*

[Bước qua trăm bụi hoa, thân không vương chiếc lá.
Rượu thịt đi qua ruột, Phật Tổ ở trong tim.]

Tôi nói:
”Morgan! Bồ Tát không sợ tham sân si chính là như thế.”

Tôi lấy một ví dụ:
Một vị lão hòa thượng đưa một tiểu hòa thượng qua sông. 
Trên bờ sông có một cô gái trẻ xinh đẹp cũng muốn qua sông. (dáng vẻ thướt tha)
Nhưng, cô gái trẻ không dám qua sông. (nước sông chảy xiết)
Lão hòa thượng không nói gì, lập tức cõng cô gái xinh đẹp trên lưng rồi cứ như thế qua sông.
Mấy tháng sau sự việc này, tiểu hòa thượng hỏi lão hòa thượng:
”Sư phụ cõng cô gái xinh đẹp qua sông có xem là phạm giới không?”
Lão hòa thượng đáp:
”Chuyện này ta đã quên rồi!”
Tiểu hòa thượng nói:
”Có mà! Ngày ấy tháng ấy, trời mưa to, chúng ta đi qua sông.”
Lão hòa thượng nói:
”Ồ! Ta đã quên từ lâu rồi, thế mà con vẫn còn nhớ.”
Tiểu hòa thượng nói:
”Cô gái trẻ đó xinh đẹp như tiên trời.”
Lão hòa thượng nói:
”Trong tâm ta chỉ giống như cõng một tảng đá qua sông.”
Tôi lấy ví dụ này để trả lời câu hỏi của Morgan.
Bồ Tát vô ngã.
Bồ Tát vô tâm.
Bồ Tát vô vi.
Cho nên, không sợ tham sân si (dâm nộ si).


### 19. Hắc Phẫn Nộ Mẫu


Có một hôm.
Một phụ nữ họ Tô đưa con trai là Tô Khải đến hỏi tôi:
”Con trai đã 11 tuổi, nhưng hành vi cử chỉ giống như nhi đồng 3 tuổi, học đâu quên đấy, thi cử toàn đứng cuối, năng lực học tập cực kì kém, chỉ số thông minh rất thấp, giống như bị đần độn, không biết phải làm sao?”
Tôi nhìn Tô Khải. Cậu bé có một vài tướng ngu độn.
Tôi hỏi:
”Đã khám bác sĩ chưa?”
Bà mẹ đáp:
”Bác sĩ kiểm tra nhưng không tìm ra bệnh.”
Tôi hỏi:
”Cậu bé ngủ thế nào?”
Bà mẹ đáp:
”Ngủ say như chết, rất thích ngủ, thích ăn.”
Tôi hỏi:
”Cậu bé đi học có tập trung tinh thần không?”
Bà mẹ đáp:
”Vấn đề chính là ở đây, hễ cầm sách lên là nó nhìn ngó lung tung, hễ cầm bút lên là thấy bút nặng trĩu, không chú ý đến nó thì nó sẽ gục đầu vào sách mà ngủ.”
Tôi hỏi:
”Sinh hoạt thường ngày của cậu bé có vấn đề gì không?”
Bà mẹ đáp:
”Mặc quần áo, tắm rửa vẫn phải có người giúp nó. May là trong nhà có người giúp việc có thể giúp nó.”
”Nói năng thì sao?” - Tôi hỏi.
”Như con nít.” - Bà mẹ đáp: “Vẫn nói bi ba bi bô.”
Tôi nghĩ:
”Cứ như là lợn đến chuyển thế!”
Tôi vốn định vẽ một lá “tinh thần khoa phù” cho cậu bé, nhưng Tô Khải lại không phải bị bệnh thần kinh. Thế là tôi đưa tay ra sờ đầu gia trì cho Tô Khải.

Buổi tối hôm đó, mẹ của Tô Khải có một giấc mơ, bà mẹ mơ thấy:
Một người nữ toàn thân màu đen, thân trên lõa thể, thân dưới mặc váy da hổ, trên tay cầm dao cong. 
Cắt bỏ bộ não quả dưa của Tô Khải.
Đem đến bên hồ nước để rửa.
Rửa xong rồi!
Người nữ màu đen này lại đem bộ não quả dưa trả về cho Tô Khải.
Mẹ của Tô Khải ở trong mơ nhìn thấy thế thì chấn động hồn phách.
Thế nhưng, sự việc kỳ quái đã xảy ra rồi!
Tướng ngu độn của Tô Khải đã không còn nữa.
Cậu bé hoàn toàn có thể tự chủ sinh hoạt thường ngày của mình.
Cậu bé có thể học hành.
Cậu càng ngày càng thông minh, năng lực biểu đạt cũng rất mạnh, nói năng cực kì rõ ràng.
Cậu cũng không còn tham ăn nữa!

Mẹ của Tô Khải kể lại kỳ tích sờ đầu này cho tôi nghe. Tôi nói:
”Đó là sức mạnh gia trì của Hắc Phẫn Nộ Mẫu!”
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
Nghiệp chướng của con người giống như mây che khuất mặt trời.
Mây che mặt trời là mê.
Có được nguyên do từ pháp thanh tịnh thì mây đen được xua tan, giống như vạn dặm không mây, trời xanh như được gột rửa, mặt trời xuất hiện, chính là ngộ.
Thế là,
Ngã chấp!
Pháp chấp!
Được loại bỏ hết.
Có thể như pháp mà chỉ báo chúng sinh, chúng sinh sẽ có thể hồi sinh.
Đây chính là đạo hạnh gốc của Bồ Tát.


### 20. Hà Diệp Đồng Tử đến nhà tôi


Có một lần, ở trong thiền quán.
Tôi nhìn thấy hai vị tiểu đồng tử một nam một nữ, trên tay của tiểu đồng tử cầm một lá sen lớn.
(Lá sen giơ trên cao, bên dưới lá sen là hai vị tiểu đồng tử.)
Cười hi hi ha ha.
Tiểu đồng tử nói với tôi:
”Hai chúng tôi đến nhà ngài!”
Tôi nói:
”Đến nhà tôi làm gì?”
Tiểu đồng tử nói:
”Ngài là Liên Hoa Đồng Tử, chúng tôi là Hà Diệp Đồng Tử, chúng ta là người nhà, hoa lá là một nhà.”
Tôi hỏi:
”Hai người khi nào sẽ đến vậy?”
Tiểu đồng tử đáp:
”Rất nhanh thôi!” 

Quả nhiên không lâu.
Cô Lưu Ngọc sống tại bang California đến Chân Phật Mật Uyển hỏi việc. Cô ấy tặng tôi hai vị Hà Diệp Đồng Tử, pháp tướng giống như kể ở trên, một phiến lá sen lớn, bên dưới có hai vị Hà Diệp Đồng Tử.
Tôi hỏi:
”Sao lại có bức pháp tướng này?”
Cô ấy đáp:
”Một người Thái Lan tặng cho tôi.”
Tôi hỏi:
”Đây là Hà Diệp Đồng Tử, sao cô lại muốn tặng cho tôi?”
Cô ấy đáp:
”Tôi cũng không biết, theo trực giác của tôi, Hà Diệp Đồng Tử thì nên tặng cho Lư Sư Tôn.”
Ha! 
Lại tương ứng rồi!
Thì ra Hà Diệp Đồng Tử muốn đến giúp đỡ Liên Hoa Đồng Tử, đây đúng là việc rất kỳ diệu.
Hà Diệp Đồng Tử giúp một phụ nữ trừ bùa ngải. 
Người phụ nữ này bị trúng bùa. Đau đầu.
Trên đầu bị một thầy bùa ngải bỏ bùa, đóng một cái đinh dài vào trong não. 
Hai vị Hà Diệp Đồng Tử đã rút cái đinh dài ra, thế là hết đau đầu.
Thế nên tôi đã để Hà Diệp Đồng Tử ở lại trong phòng hỏi việc của tôi.

Tôi hỏi Duy Ma Cật Đại Sĩ:
”Có điềm báo Hà Diệp Đồng Tử đến nhà tôi, tôi đã nhìn thấy trước rồi, rồi Hà Diệp Đồng Tử đến thật, đúng là kỳ diệu. Thế nhưng Duy Ma Cật Đại Sĩ đến nhà tôi sao lại chẳng có điềm báo gì?”
Duy Ma Cật Đại Sĩ đáp:
”Tôi đến nhà ngài cũng có điềm báo.”
Tôi hỏi:
”Điềm báo gì?”
Duy Ma Cật Đại Sĩ đáp:
”Ngài quên rồi à?”
Tôi nói:
”Tôi không nhớ được.”
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
”Buổi tối khi ngài bắt đầu giảng kinh Duy Ma Cật, trên bầu trời của Lôi Tạng Tự có tiếng sấm. Rất nhiều đệ tử của ngài đã kêu lên là có sấm rồi! Có sấm rồi!”
Tôi nói:
”Có. Tôi nhớ ra rồi!”
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
”Nơi mà tôi đến ắt sẽ nổi sấm. Kinh nói rằng: Duy Ma Cật Đại Sĩ, hoặc im lặng hoặc sấm rền.”


### 21. Bác sĩ Quế Thanh không nhận tiền của tôi


Bác sĩ nha khoa Hồng Quế Thanh mỗi lần giúp tôi đều không nhận tiền của tôi. Lần nào tôi đưa phong bì tiền, cô ấy đều trả lại. 
Cô ấy còn gửi kèm theo bức thư:

*Sư Tôn, xin chào Thầy!
Cảm tạ Sư Tôn đã tin cậy để cho con có cơ hội được hiếu kính Thầy!
Lần này vẫn lại không hợp lệ rồi! Con vẫn luôn nghĩ mãi không hiểu vì sao vấn đề “một tờ chi phiếu, khoản tiền vài con số” này lại khó giải quyết như vậy, sau này nghĩ rằng khả năng vì trong túi hương của Sư Tôn không có chi phiếu 1 đô la! Trong bức thư này con có gửi kèm một khoản tiền, lần sau xin Thầy gia trì cho khoản tiền này một chút rồi lại đưa cho con, được không ạ? Như thế là đủ rồi, như vậy có thể thuận lợi “thông quan” rồi!*

*Đổi lại con sẽ viết một bài thơ tặng Sư Tôn:
Cảm ơn Sư Tôn
Người yêu công việc như con
Không coi đó là tăng ca
Con là thế hệ hậu bối
Hiếu kính là lẽ thường tình
Có ngày nay, nhờ cha mẹ
Thầy như cha, ở trong tim
Cảm kích của Thầy là quá thừa
Tận tâm của con là niềm vui!*

*Quế Thanh kính thư.*

Thói quen của tôi là:
Đệ tử của tôi phục vụ tôi, tôi nhất định muốn trả phí, thời gian là tiền bạc, làm việc là tiền bạc, lại còn cả học vấn và tu dưỡng của bản thân cô ấy nữa, cũng phải đổi bằng tiền và thời gian mà có.
Cho nên, tôi nhất định muốn trả phí.
Nhưng Hồng Quế Thanh nói, cô ấy gói một đồng 1 đô la đưa cho tôi, tôi lại gia trì rồi đưa lại cho cô ấy.
Như vậy là được rồi!
Tiền là của cô ấy.
Tôi lại đưa lại cho cô ấy.
1 đô la Mỹ, quá ít đi!
Tôi hiểu tâm ý của cô ấy, cô ấy muốn hiếu kính ông già Lư Sư Tôn này.

Tôi đem chuyện này hỏi Duy Ma Cật Đại Sĩ. Tôi nói:
”Phải làm sao mới được đây?”
Duy Ma Cật Đại Sĩ hỏi ngược lại tôi:
”Tâm ngài không yên sao? Cảm thấy nợ người ta sao?”
Tôi đáp:
”Đúng.”
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
”Có phải là ngài mơ thấy một giấc mơ, mơ thấy kiếp trước của ngài và Quế Thanh không?”
Tôi nói:
”Đúng vậy.”
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
”Nếu theo mộng cảnh kiếp trước, ngài có cần phải trả phí cho cô ấy không?”
Tôi nghĩ một lúc. Theo giấc mơ về kiếp trước của tôi và Quế Thanh thì không cần phải trả phí.
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
”Thế đó, thế đó, ngài có thể yên tâm rồi!”


### 22. Hỏi đáp về thân trung ấm


Có người hỏi Lư Sư Tôn:
”Thế nào là thân trung ấm?”
Tôi đáp:
”Vấn đề này quá rộng quá lớn, sau khi tôi thảo luận với Duy Ma Cật Đại Sĩ xong thì sẽ trả lời anh.”

Dưới đây là kết quả của cuộc thảo luận:
Thân trung ấm chính là linh hồn theo cách nói thế tục. (Còn gọi là trung hữu.)
Sự tồn tại của thân trung ấm không nhất định là 49 ngày, số ngày không cố định.
Còn về hình tượng của họ thì cũng có thay đổi.
Hình người.
Hình thiên nhân.
Cũng không có hình tượng cố định.
(Bởi vì chúng sinh bất khả tư nghì, do đó hình tượng bất khả tư nghì.)

Màu sắc của thân trung ấm thì sao?
Ở địa ngục là màu xám đen.
Ở bàng sinh là màu khói.
Ở ngạ quỷ giống như nước.
Ở cõi trời là màu vàng kim. (cũng có màu trắng)
Về thể tích kích cỡ thì thân trung ấm ở nhân gian giống như trẻ con năm, sáu tuổi.
Thời gian tồn tại của thân trung ấm đích thực là không cố định, hoàn toàn do nhân duyên định đoạt.
Nhân duyên đủ thì có thể đầu thai. (chuyển thế)
Nhân duyên không đủ thì cứ tiếp tục chờ đợi. Tại cõi trung ấm cũng có người già.

Ai có thể nhìn thấy thân trung ấm?
Cùng là thân trung ấm thì có thể nhìn thấy nhau.
Nguyên nhân mà thân trung ấm có thể tồn tại là vì ăn khí, thức ăn mà họ thích nhất là khí.
Rất nhiều thân trung ấm nếu thanh tịnh vi tế thì sẽ có năng lực thần thông.
Có thể bay trên không.
Có thể tự do đi xuyên qua rừng, núi đá, tường bao, không có một chút xíu trở ngại nào.
Nhưng có hai nơi họ không thể đi vào.
1. Thai mẹ.
2. Kim cương tọa của Phật.
Bởi vì thai mẹ được kết giới. (trừ người đủ duyên)
Kim cương tọa của Phật có lực gia trì bảo vệ rất lớn, thân trung ấm không thể vào.

Thân trung ấm chuyển thế như thế nào?
Có một số nhập thai là đi vào từ âm đạo.
Có một số đi vào từ hậu môn.
Có một số đi vào từ rốn.
Ngoài ra thì sẽ đầu thai làm bàng sinh.
Trứng của gà mái. (lúc gà giao cấu)
Đầu thai làm trâu bò vào mùa hè.
Đầu thai làm chó vào mùa thu.
Đầu thai làm gấu vào mùa đông.
Đầu thai làm ngựa vào mùa xuân.
……

Đại bộ phận thân trung ấm có đầy đủ ngũ căn, bộ phận nhỏ thân trung ấm có ngũ căn không đầy đủ. (Điều này có liên quan đến nghiệp lực.)
Người sống đối với trung ấm đã chết, làm việc Phật có tác dụng gì không?
Đáp án là có tác dụng.
Bởi vì thân trung ấm cùng niệm Phật theo thì có thể đến tịnh thổ.
Nếu đầu thai làm chó thì tuổi thọ của chó không dài, lại có thể chuyển đến nơi tốt đẹp hơn.
…….

Duy Ma Cật Đại Sĩ nói với tôi:
”Có kể về thân trung ấm thì cũng chẳng thể kể hết.” (Thân trung ấm cũng là một trong các chúng sinh.)
Tôi nói:
”Chúng ta cần tu cho không rơi vào thân trung ấm, đó là pháp môn vô thượng.)


### 23. Hiện tượng thời tiết mới của Seattle Lôi Tạng Tự


Thời gian vào tháng 6 năm 2022. 
Tôi đột nhiên nghĩ đến tôi cần phải cải tiến Seattle Lôi Tạng Tự. Vì thế, một tấm lòng hướng đạo kiền thành đã được thai nghén. 
Lúc này lại xuất hiện điềm lành. (Seattle Lôi Tạng Tự gọi tắt là Tây Lôi.)
Trên bầu trời Tây Lôi xuất hiện cầu vồng mặt trời, các đệ tử nhìn thấy bên cạnh mặt trời buổi trưa xuất hiện một cầu vồng hình tròn bao quanh mặt trời ở chính giữa.
Tôi nhìn thấy trong hư không có rất nhiều tăng nhân hiện lên mờ mờ, quay mặt về Tây Lôi làm đại lễ bái.
Tại thư viện ở Tây Lôi, ở cửa vào có bức thangka Phật Thích Ca Mâu Ni. Phật Thích Ca Mâu Ni từ trong thangka bước ra, quay mặt về phía tôi khẽ mỉm cười.
Trong sát-na tôi ngây người ra.
Đây không phải là tôi nhìn thấy hình ảnh huyễn ảo, mà là rất chân thực, Phật Thích Ca Mâu Ni đang mỉm cười.

Thượng sư Liên Hương (Sư Mẫu) vào thời điểm này nghe thấy trong hư không truyền đến âm thanh tụng kinh. 
Cực kì rõ ràng. Thượng sư Liên Hương còn tụng theo.
Sư tỉ Lâm Dư Tâm biết vị Diêu Trì Kim Mẫu ở đại điện là “sống”, ngài có thể nói chuyện, hơn nữa còn có những cử chỉ rất dịu dàng nho nhã.
Trong hư không tung bay mưa hoa, mưa bụi mát rượi, thấm đẫm nội tâm của các đệ tử.
Bầu không khí tràn ngập mùi thơm.
Những cây bông đang rơi xuống những sợi bông.
Mưa êm dịu và ngọt ngào.
Cầu vồng liên tục xuất hiện, một dải, hai dải, ba dải, đẹp không sao tả xiết.
Có rất nhiều màu sắc, từ Tây Lôi tỏa ra.
Có hai con thỏ đang đuổi nhau, chúng lăn mình đùa giỡn trên thảm cỏ mượt như nhung.

Những đám mây ngũ sắc trên bầu trời Tây Lôi biến hóa thành:
Cung điện.
Rồng.
Phượng hoàng.
Mặt và mắt của Phật Bồ Tát.
Rất giống nhiều vị A La Hán.
Giống như bản đồ hải hội.
Có tiếng sấm nổi lên, không chỉ một lần, có lúc trời xanh vạn dặm không một đám mây cũng có tiếng sấm rền.
Mây hóa thành ô báu.
Mây hóa thành lọng báu.
Còn có các vị thiên long bát bộ hộ trì Phật pháp.
Thích Đề Hoàn Nhân — Thiên Đế của Đao Lợi Thiên.
Long Thần — đình Long Thần tỏa ánh sáng màu sắc tuyệt diệu.
Dạ Xoa — tật tiệp quỷ thần.
Càn Thát Bà — nhạc công của Thiên Đế.
A Tu La —  thần nặng tâm sân.
Ca Lâu La — thần đại bàng Kim sí điểu.
Khẩn Na La — nhạc sĩ của Thiên Đế, âm thanh đẹp đẽ nhất.
Ma Hầu La Già — con trăn lớn, tức là địa long.
Các vị đều đến nghe Liên Sinh Hoạt Phật thuyết pháp.

Tôi hỏi:
”Duy Ma Cật Đại Sĩ! Đây là nguyên nhân gì?”
Duy Ma Cật Đại Sĩ đáp:
”Đây là ngài giảng kinh Duy Ma Cật dẫn đến gia trì đại thần biến.”
Tôi hỏi:
”Nhiều dị tượng như vậy, là lành hay là dữ?”
Duy Ma Cật Đại Sĩ đáp:
”Phật xuất thế gian, có thể không? Đây là hiện tượng viên dung vô ngại, là phương pháp duy nhất.” (Phật Thích Ca Mâu Ni mỉm cười chính là gia trì.)


### 24. Như hạt giống bị cháy


Tôi hỏi Duy Ma Cật Đại Sĩ:
”Chúng ta biết rằng, tất cả pháp hữu vi, như mộng huyễn bào ảnh, đã là như mộng huyễn bào ảnh thì làm sao lại là nghiệp?”
Duy Ma Cật Đại Sĩ đáp:
”Nghiệp của mộng huyễn bào ảnh.”
Ha! Tôi hiểu rồi!
Đúng là kỳ diệu!
Duy Ma Cật Đại Sĩ hiểu tâm ý của tôi, nói:
”Không có cái gì kỳ diệu không kỳ diệu, vốn dĩ chính là như vậy.”
Tôi hỏi:
”Nghiệp có thiện nghiệp, ác nghiệp, vô ký nghiệp. Thiện nghiệp và ác nghiệp thì chúng ta đều hiểu, thế còn vô ký nghiệp thì là như thế nào?”
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
”Giống như hạt giống bị cháy.”
Tôi muốn hỏi nữa. 
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
”Ngài không cần phải hỏi nữa, ngài đi đọc Câu Xá Luận là sẽ hiểu thôi.”
Tôi nghĩ:
”Giống như hạt giống bị cháy.”

Câu nói này có ý vị sâu xa, một câu trả lời rất đơn giản nhưng thật sự rất thú vị. 
Tôi nghĩ đến Diệt tận định:
Diệt hết tất cả tâm tiếp nhận tư tưởng.
Không kiến văn giác tri. [những điều thấy nghe cảm biết]
Hạt giống bị cháy rồi. 
Thì không còn tác dụng.
Đây chính là vô ký nghiệp. 
Lành thay!
Lành thay!

Tôi nhớ có một câu chuyện như thế này. 
Có một người phụ nữ dâm đãng.
Cô ta đã tạo ra rất nhiều nghiệp tà dâm.
Trông cô ta rất xinh đẹp.
Cả đời hành lạc không biết mệt.
Nghiệp tà dâm cao hơn cả núi, sâu hơn cả biển.
Sau này, cô ta đã nghe giới luật Phật pháp là không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không ác khẩu, không uống rượu.
Cô ta đi thỉnh giáo một vị đại sư:
”Làm sao để tiêu trừ dâm nghiệp của mình?”
Đại sư đáp:
”Áo bẩn trăm năm, một khi được giặt, sẽ được sạch sẽ.”
Đây là hạt giống bị ngâm trong nước, sẽ mục rữa, mất đi tác dụng, đây chính là rửa sạch.
Cũng giống như hạt giống bị cháy.
1. Là nước.
2. Là lửa.
Dâm nữ này đã khắc họ tên và ảnh của mình vào trong bồn tiểu của đàn ông. Ngày ngày đàn ông đi tiểu sẽ tiểu vào cô ta.
Trải qua nhiều năm, cuối cùng dâm nghiệp của cô ta đã trở thành vô ký nghiệp.
Dâm nghiệp của cô ta đã tiêu trừ rồi!
(Đây cũng là điều không thể nghĩ, không thể bàn của nghiệp.)

Duy Ma Cật Đại Sĩ nói với tôi:
”Vạn vật rối ren, đều là nghiệp. Một tấm lòng trong veo tĩnh lặng chính là vô ký nghiệp.”
Thiền định cũng là pháp phàm phu.
Nhưng, không tách rời pháp phàm phu, không khởi suy nghĩ của phàm phu, mới là thiền định chân thực.
Từ câu nói “hạt giống bị cháy” này, tôi đã nghĩ nhiều như vậy.


### 25. Ngũ cái thập triền


Trong kinh Duy Ma Cật có nhắc đến ngũ cái và thập triền. 
Ngũ cái là ngũ cái nào? [ngũ cái: năm thứ che chắn]
1. Tham dục cái. Là chìm đắm vào năm thứ dục, che phủ Phật tính.
2. Sân hận cái. Tâm sinh phẫn nộ, che phủ Phật tính.
3. Thụy miên cái. Rơi vào vô ký, che phủ Phật tính.
4. Trạo hối cái. Phấn khích hỗn loạn, che phủ Phật tính.
5. Nghi pháp cái. Không tin Phật pháp, không tin nhân quả, che phủ Phật tính.

Thập triền là thập triền nào? [thập triền: mười thứ phiền não trói buộc vướng víu]
1. Bản thân có lỗi, nhưng không hổ thẹn mà thay đổi. Là vô tàm. [tàm: xấu hổ]
2. Bản thân tự cao tự đại, trên thực tế có lỗi mà không biết hối hận. Là vô quý. [quý: hổ thẹn]
3. Thấy người khác tốt thì trong lòng không thích. Là tật đố. [tật đố: ghen ghét đố kỵ]
4. Nhỏ mọn, chỉ lo cho mình, không muốn cho người. Là khan. [khan: keo kiệt]
5. Là việc thiện nhưng lại hối hận vì đã làm. Là hối.
6. Mê ngủ, khiến người luôn hôn trầm, trì trệ không tiến lên. Là thụy miên.
7. Ý chí không thể tập trung, quá căng. Là trạo cử. 
8. Thần chí mờ mịt, uể oải, không có cách nào phấn chấn. Là hôn trầm. 
9. Bộc phát sự căm phẫn. Là phẫn nộ. 
10. Che giấu tội lỗi của mình, không hối cải, không cải chính. Là phú. [phú: che đậy]

Trên đây chính là ngũ cái và thập triền.

Duy Ma Cật Đại Sĩ đưa tôi đi xem một nơi, là ao rùa ở đạo súc sinh. 
Rất nhiều con rùa ở trong ao, đứng im bất động.
Hơn nữa những con rùa trong ao này đều mù một mắt.
Tôi hỏi:
”Vì sao đưa tôi đi xem rùa mù?” (Tôi rất tò mò.)
Duy Ma Cật Đại Sĩ đáp:
”Đây đều là những đệ tử tương lai của ngài đó!”
Tôi hỏi:
”Vì sao có nơi này?” (Tôi rất ngạc nhiên.)
Duy Ma Cật Đại Sĩ đáp:
”Địa Tạng Bồ Tát đặc biệt vì Chân Phật Tông mà tạo ra ao rùa mù này.”
Tôi hỏi:
”Người nào sẽ tới nơi này?”
Duy Ma Cật Đại Sĩ đáp:
”Lư Sư Tôn! Ngài nhìn xem các đệ tử xung quanh ngài, có mấy người là người mắt sáng? Có mấy người là người mắt mù? Người mắt sáng nhiều hay người mắt mù nhiều?”

Tôi nghiêm túc ngẫm nghĩ một lúc rồi kinh hãi:
”Người mắt mù nhiều!”
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
”Đúng rồi! Vì mắt mù.”
Tôi hỏi:
”Thế còn đứng im bất động là vì sao?”
Duy Ma Cật Đại Sĩ đáp:
”Đó là đệ tử mù của Chân Phật Tông chỉ biết ăn, chỉ biết ngủ, chỉ biết chơi, vì thế đứng im bất động.” (Cho dù có hoạt động thì cũng rất chậm chạp.)
Tôi hỏi:
”Họ đã phạm phải nghiệp gì?”
”Ngũ cái và thập triền.”
Tôi hỏi:
”Là mục nào?”
Duy Ma Cật Đại Sĩ đáp:
”Ham ngủ, hôn trầm, lười biếng.”
”Tôi phải dạy họ thế nào đây?” - Tôi hỏi.
”Lư Sư Tôn có ba việc tinh tấn: một là viết sách, hai là vẽ tranh, ba là tu pháp. Tiếc là bọn họ có mắt như mù, không xấu hổ, không hổ thẹn, vì mắt mù. Và họ lại không biết ngài làm như vậy là để dạy bảo họ, họ không biết sửa sai, vì thế đứng im bất động. Nhưng họ quy y Chân Phật Tông cũng là một điều thiện, vì thế tuổi thọ dài. Do vậy, Địa Tạng Bồ Tát đã tạo ra ao rùa mù này.”


### 26. Một sợi dây thừng màu xám


Có một đệ tử từ Sydney Australia đến. Cô ấy là Quảng Trân Hoa (Liên Hoa Trân Hoa). 
Cô ấy nói:
Đây là một câu chuyện có thật.
Nhiều năm trước, Lư Sư Tôn từ Mỹ trở về Đài Loan Lôi Tạng Tự hoằng pháp. Liên Hoa Trân Hoa từ Australia bay đến Đài Loan.
Tại Đài Loan Lôi Tạng Tự, cô thỉnh cầu Lư Sư Tôn hóa giải một vụ kiện tụng của cô ấy. 

Đầu đuôi sự việc là như thế này:
Liên Hoa Trân Hoa làm việc cho một công ty di trú, sếp của cô ấy rất hà khắc đối với cô. 
Cô cực kì nỗ lực. Cô ấy có rất nhiều hiểu biết về vấn đề di cư, dốc toàn lực để giúp đỡ những người muốn di cư. Sự nỗ lực và nhiệt tình của cô ấy có thể nói là trụ cột của cả công ty. 
Cô ấy có được sự ủng hộ của tất cả khách hàng.
Mặc dù sếp coi trọng cô ấy nhưng vẫn hà khắc.
Về sau, Liên Hoa Trân Hoa muốn tự mình mở một công ty di trú. 
Và thế là xảy ra vấn đề.
Sếp muốn giữ cô ấy lại, không để cho cô ấy rời đi! Nếu không, sếp sẽ thuê luật sư để kiện Quảng Trân Hoa. 
Cô ấy đến thỉnh Lư Sư Tôn hóa giải vụ kiện cáo này.

Kết quả:
Tôi đại gia trì cho cô ấy!
Chúc phúc cô ấy tất cả suôn sẻ thuận lợi!
Cô ấy trở về Sydney Australia, có được một giấc mơ:
Trong mơ nhìn thấy giữa sếp và cô ấy bị trói bằng một sợi dây thừng màu xám. Và rồi Lư Sư Tôn xuất hiện, cầm một cái kéo, “phập” một tiếng, sợi dây thừng màu xám đã bị cắt đứt. Sau đó Lư Sư Tôn mỉm cười rồi biến mất!

Nói ra cũng kì lạ, ông sếp kia chủ động hủy vụ kiện, không kiện cáo nữa. Ông sếp ôn hòa nhã nhặn để cho cô ấy rời đi.
Cô ấy cũng đã lập ra một công ty di trú kinh doanh thịnh vượng.
Liên Hoa Trân Hoa nói:
Cắt sợi dây thừng màu xám, đúng là vô cùng kỳ diệu!

Tôi đem sự việc này nói với Duy Ma Cật Đại Sĩ. Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
Một hành giả tu đến cảnh giới Không.
Bởi vì là Không, cho nên có sức mạnh bí mật bất khả tư nghì. Có thể chuyển hóa.
Chuyển hóa chính là trọng điểm.
Biến điều không thể thành có thể.
Độ hóa chúng sinh cũng như vậy.
Rất đơn giản.
Chính là chuyển hóa tâm của chúng sinh.
Một hành giả vĩ đại có thể chuyển hóa tâm của mọi chúng sinh, giống như Phật Thích Ca Mâu Ni vậy.

Có một câu nói này tôi muốn nói với mọi người:
”Luân hồi và niết bàn đều bắt nguồn từ tâm, tâm chính là trí huệ, trí huệ chính là Không, Không chính là sức mạnh, có thể tiến nhập vào Không thì hoàn toàn không có những thứ bậc khác nhau, mỗi sự vật sự việc đều bắt nguồn từ tâm mà thôi!”
Uy lực!
Thần thông!
Đều là tâm!
Ở trong chính quán, tôi đã nhìn thấy trăm nghìn triệu hóa thân của Lư Sư Tôn.


### 27. Ba khối u vô cớ biến mất


Ngũ Quỳnh Hương ở Sydney Australia kể với tôi câu chuyện có thật dưới đây. 
Có một hôm. 
Phần dưới của cô ấy xuất hiện hiện tượng chảy máu không ngừng. Cô ấy đến bệnh viện lớn để làm siêu âm, phát hiện ra bên trong tử cung có ba khối u to như quả trứng gà. 
Bác sĩ yêu cầu cô phẫu thuật để lấy khối u ra.
Sự việc này khiến cô ấy cảm thấy rất khổ sở. 
Cô ấy bay đến Đài Loan, được Thượng sư Liên Tổ ở Indonesia sắp xếp cúng dường cơm. (Ngũ Quỳnh Hương là Hoa Kiều ở Indonesia di cư sang Úc.)
Trong bữa cúng dường cơm, cô ấy viết một lá thư thỉnh cầu Lư Sư Tôn gia trì. Lư Sư Tôn đã đại gia trì cho cô ấy, trong miệng niệm: chú trừ ung thư.
Sau đó nói: 
”Để cho cô khỏe lại!”

Lúc gia trì, cô cảm thấy có một khối năng lượng rung động liên tục đi vào thân thể mình. 
Sau khi gia trì xong, tại phòng vệ sinh ở nhà hàng, cô ấy rất kinh ngạc, hiện tượng chảy máu không ngừng hàng ngày kể từ ngày hôm đó không ngờ đã không còn chảy máu nữa.
Cô ấy trở về Sydney Australia.
Hai ngày sau thì cô ấy đi khám lại. Mấy ngày trước khi đi khám lại, cô ấy đi vệ sinh đều bị tiêu chảy, thải ra rất nhiều những thứ ô uế. 
Đến bệnh viện, bác sĩ lại siêu âm để kiểm tra trước khi làm phẫu thuật. Không ngờ ba khối u kia đã hoàn toàn vô duyên vô cớ biến mất, quét đi quét lại mấy lần để tìm vị trí của ba khối u kia, nhưng không có là không có.
Bác sĩ hoài nghi hỏi:
”Cô đã làm phẫu thuật rồi phải không?”
Ngũ Quỳnh Hương đáp:
”Không có.”
Bác sĩ nói:
”Ba khối u to bằng quả trứng gà không thấy đâu nữa.”
Ngũ Quỳnh Hương hỏi:
”Còn cần mổ không?”
Bác sĩ đáp:
”Không có khối u thì mổ cái gì.”
Lúc này trong lòng Ngũ Quỳnh Hương mới hiểu sự gia trì của Lư Sư Tôn chính là con dao vô hình. 
Lư Sư Tôn bất khả tư nghì.

Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
Chúng sinh vì có nghiệp cho nên mới sản sinh ra đủ loại cảm ứng của nghiệp, nghiệp cảm của mỗi người khác nhau.
Nghiệp cảm của Ngũ Quỳnh Hương khiến xuất hiện ba khối u.
Còn Lư Sư Tôn là pháp thân thanh tịnh của Không, có sức mạnh gia trì bất khả tư nghì.
Có thể chuyển hóa đất, nước, lửa, gió của tự thân mình.
Cũng có thể chuyển hóa đất, nước, lửa, gió của người khác. (sắp xếp tổ hợp)
Là vì chuyển hóa!

Ba khối u to như quả trứng gà của Ngũ Quỳnh Hương có thể vô cớ biến mất. Nhưng không phải là người người đều có thể như vậy.
Ở đây phải là người có đủ nhân duyên mới có thể như vậy. (Đủ đức và đủ duyên như nói đến ở chương trước.)
Điều này giống với bác sĩ chữa bệnh, cùng một loại thuốc, có một số người có thể uống vào là khỏi bệnh, có một số người thì lại chữa không khỏi.
Cảnh giới của nghiệp cảm rất lộn xộn. (sai biệt trí)
Như Lư Sư Tôn độ chúng sinh:
Có người được độ.
Có người không được độ.


### 28. Ngày 16 tháng 6 năm 2022


Ngày 16 tháng 6 năm 2022, tức là ngày 18 tháng 5 âm lịch, cũng chính là sinh nhật theo lịch âm của tôi (Lư Sư Tôn). 
Năm nay, tôi 78 tuổi (tuổi Đài Loan). 
Trên bầu trời xuất hiện kỳ quan thiên văn:
Bảy ngôi sao đứng liền thành một chuỗi.
Năm ngôi sao đứng liền thành một chuỗi.
Cũng tức là sao Thiên Vương, sao Diêm Vương, sao Hải Vương, sao Kim, sao Mộc, sao Thủy, sao Hỏa thành một hàng. 
Truyền hình đưa tin năm ngôi sao thẳng hàng. Tức là năm ngôi sao Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ thành một hàng.
Điều này tượng trưng cho cái gì?
Một câu đố.

7 giờ sáng hôm đó, thầy giảng dạy Liên Anh chụp được ảnh cầu vồng xuất hiện trên bầu trời. Những ngày này, ngày nào trời cũng âm u và có mưa, duy có ngày 16 tháng 6 thì mặt trời chói lọi, ánh nắng rực rỡ. 
Đó là một ngày Seattle có mặt trời rực rỡ nhất. 

Buổi tối đó, các đệ tử ở đại điện của Seattle Lôi Tạng Tự chúc mừng sinh nhật tôi, cũng tổ chức buổi dạ tiệc. Các tiết mục trong buổi dạ tiệc rất xuất sắc, do Thượng sư Liên Ha và luật sư Chu Huệ Phương chủ trì. 
Ở đây có một việc kì lạ. 
Có một con chim hỷ tước có cái đuôi rất dài. 
Khi tôi vừa bước chân vào đại điện, nó từ sau lưng tôi cũng bay vào đại điện. Con chim hỷ tước này lượn vòng vòng ở phía trên lọng hoa của bảy vị Đại Phật. Nó cứ bay đi bay lại giữa những chiếc lọng hoa. 
Vui mừng nhảy nhót.
Tất cả đồng môn đều ngửa đầu nhìn nó biểu diễn.
Việc này có ý nghĩa gì đây?
Đến khi buổi dạ tiệc kết thúc, tôi đi ra khỏi đại điện, nó (hỷ tước) lại từ sau lưng tôi bay vọt ra. 
Rồi bặt vô âm tín.

Tôi hỏi Duy Ma Cật Đại Sĩ:
”Con chim hỷ tước này là ai?”
Duy Ma Cật Đại Sĩ đáp:
”Là tôi.” (Trả lời rất dứt khoát.)
Tôi hết sức ngạc nhiên. Tôi hỏi:
”Ngài cũng đến chúc mừng sinh nhật tôi ư?”
Duy Ma Cật Đại Sĩ đáp:
”Kể từ khi Lư Sư Tôn ngài bắt đầu giảng kinh Duy Ma Cật thì tôi và ngài đã gắn với nhau như hình với bóng.”
Tôi hỏi:
”Ngài sống ở đâu?”
Ngài đáp:
”Ở trong tâm ngài!”
Tôi hỏi:
”Khi tôi bắt đầu giảng kinh Duy Ma Cật, buổi tối hôm ấy, bầu trời vang lên một tiếng sấm, cũng là ngài sao?”
Ngài đáp:
”Đúng thế. Lẽ nào chưa biết Duy Ma Cật Đại Sĩ tôi được gọi là “hoặc im lặng hoặc sấm rền” sao?”
Tôi gật gật đầu thán phục!
Tôi hỏi:
”Vậy sấm đại diện cho cái gì?”
Duy Ma Cật Đại Sĩ đáp:
”Tiếng gầm sư tử!”
Tiếng gầm sư tử khiến thiên hạ chấn động!


### 29. Giấc mơ của Liên Hoa Trí Hạo


Liên Hoa Trí Hạo ở Singapore có mấy giấc mơ, thỉnh tôi giúp anh ấy giải mộng. Tôi giải thích đơn giản, liệt kê ra như sau:

(1)

Sư Tôn ở trong mơ chạm đầu vào đầu đệ tử ba lần, sau đó viết Thời Luân Kim Cang thập tự chú để tặng cho đệ tử.
Còn mơ thấy tổ sư Sakya Chứng Không ở trong không trung gia trì cho đệ tử, đệ tử không ngừng trì niệm chú Thời Luân Kim Cang.
(Tôi giải thích như sau: Đây là Lư Sư Tôn đã ban cho quán đảnh chân thực của Thời Luân Kim Cang. Cần lấy pháp Thời Luân Kim Cang làm Bổn tôn tu pháp.)

(2)

Tại đàn thành trong nhà mình, đột nhiên có một thiên nữ đến giúp đệ tử mở ra một bức thangka lớn. Đệ tử giới thiệu Sư Tôn và truyền thừa của tổ sư của mình, đệ tử liên tục rơi nước mắt, bởi vì đây là truyền thừa vô thượng trân quý của mình.
Thế rồi, Phật, Bồ Tát, Hộ Pháp ở trong thangka lần lượt từ thangka đi ra. 
(Lư Sư Tôn giải thích như sau: Truyền thừa của Chân Phật Tông vô cùng chân thực và cực kì trân quý. Có được truyền thừa này không phải là chuyện vừa. Tất cả Bổn tôn đều sống.)

(3)

Có người đưa đệ tử đến một gia đình để giúp đỡ người nhà của cô ấy, bởi vì trong nhà có ma quỷ quấy nhiễu. Đệ tử tự hóa thành Lư Sư Tôn, sờ đầu cho người nhà bị ma nhập. Tóc của cô ấy rụng sạch, không ngờ lại là mặt của Lư Sư Tôn. Bố của cô ấy cũng biến thành mặt Lư Sư Tôn. 
(Lư Sư Tôn giải thích như sau: Người nhà bị ma nhập lần lượt biến thành mặt Lư Sư Tôn, biểu thị rằng họ đã có được sự gia trì của Lư Sư Tôn. Phật-người-ma - không có sự khác biệt.)

(4)

Đệ tử nhắm mắt 20 phút, nhìn thấy Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi trong ngọn lửa ở chính giữa Mandala, linh thể của đệ tử từ từ bay vào trong bầu trời, nhìn thấy Phật Thích Ca Mâu Ni ở bên dưới. Trong lòng nghĩ, đệ tử nhỏ bé như hạt vừng hạt đậu, vì sao lại từ trên trời nhìn Phật Thích Ca Mâu Ni ở bên dưới chứ? Đệ tử là ai?
(Lư Sư Tôn giải thích như sau: Phật tính không có phân biệt cao thấp, tất cả bình đẳng như nhau.
Phật tính không có tính không gian.
Phật tính không có tính thời gian.
Tu hành đệ nhất nghĩa, ta là Phật tính.)

(5)

Mơ thấy A Di Đà Phật to bằng đệ tử đưa đệ tử bay trên vùng biển xanh thẳm. Khi đến được nơi giao nhau cao nhất của bầu trời xanh thẳm, A Di Đà Phật yêu cầu đệ tử đi chín bước. Nói xong, A Di Đà Phật đưa cho đệ tử một tòa hoa sen. Trong lòng đệ tử nghĩ, vì sao vị A Di Đà Phật này lại có màu xanh lam?
(Lư Sư Tôn giải thích như sau: Đi chín bước chính là Cửu phẩm liên hoa sinh. Ở trên, ở giữa, ở dưới là ba phẩm, mỗi phẩm có ba tầng, vì thế gọi là Cửu phẩm liên hoa sinh. Thân sắc của A Di Đà Phật trong Mật giáo là màu đỏ, nhưng A Di Đà Phật cũng là Bổn tôn tức-tăng-hoài-tru, cho nên hiện sắc thân màu lam cũng không có gì là lạ. Đó là vì muốn anh hàng phục phiền não của mình mình, hàng phục ác niệm ác nghiệp của chính mình, hàng phục bám chấp, hàng phục sinh tử của chính mình, v.v…)

(6)

Đệ tử mơ thấy mình sau khi chết, linh thể thăng lên một ngôi chùa ở trên trời, trong chùa có Địa Tạng Vương Bồ Tát, đệ tử và Địa Tạng Vương Bồ Tát hợp nhất. 
Đệ tử mơ thấy mình là người xuất gia, bên trong mặc áo bào màu vàng kim, tay trái cầm tích trượng, ở trong chùa có rất nhiều tùy tùng. 
Đệ tử ở trước Sư Tôn, đệ tử, sư tỉ [vợ], quỳ xuống chắp tay khớp với độ dài của âm thanh vang lên.
Sư Tôn nói:
”Xuất gia hay không xuất gia tùy anh tự mình quyết định.”
(Lư Sư Tôn giải thích như sau: Có duyên phận cực kì sâu dày với Địa Tạng Bồ Tát, ý chỉ rằng sau khi chết sẽ chuyển hóa thành Địa Tạng Vương Bồ Tát ở trong chùa. Xuất gia hay không xuất gia là do tự mình quyết định.)

(7)

Đệ tử ở trong mơ niệm chú Tôn Thắng gia trì cho các linh hồn, hơn nữa còn biến hóa ra Mandala hiển hiện Bổn tôn phóng ánh sáng vàng kim, giống như ánh sáng mặt trời chiếu khắp bóng tối. 
Nhưng đệ tử không biết là đệ tử hiển hóa vị Bổn tôn nào. Khả năng là A Di Đà Phật chăng?
(Lư Sư Tôn giải thích như sau: Phóng tỏa ánh sáng chiếu nơi u tối, đây là điều mỗi hành giả Mật giáo đều cần làm, hành giả là ngọn đèn của chúng sinh, là mặt trời của chúng sinh. Hiển hóa vị Bổn tôn nào hoàn toàn không có hạn chế, hoàn toàn xem nhân duyên mà xác định, nếu hành giả tương ứng Bổn tôn thì thiên biến vạn hóa.)

(8)

Đệ tử đi vào một hang động, ở cùng với ánh sáng của Diêu Trì Kim Mẫu. Sư tỉ nhà đệ tử đem về một vị Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn tạc bằng gỗ cực kì lớn, đệ tử hỏi sư tỉ rằng đây là Kim Mẫu màu gì. Lúc này ở trong nhà, trong không trung hiện lên rất nhiều ánh sáng màu sắc.
(Lư Sư Tôn giải thích như sau: Diêu Trì Kim Mẫu có rất nhiều thân sắc. Hướng tây thuộc Kim nên là màu vàng. Còn hướng tây của Mật giáo là màu đỏ. Diêu Trì Kim Mẫu có Kim Mẫu màu vàng kim, Kim Mẫu màu đỏ, Kim Mẫu màu đen, thậm chí có Kim Mẫu biến đổi màu sắc… Vì thế mà có nhiều màu sắc.)

(9)

Mơ thấy Lư Sư Tôn đấm một thầy phù thủy, sau đó dùng chày Phổ Ba Kim Cang đánh vào đầu hắn, đánh tới mức vỡ đầu, máu chảy đầm đìa. Đệ tử đứng bên cạnh hét lên: “Sư Tôn lợi hại quá!” 
(Lư Sư Tôn giải thích như sau: Khi Liên Hoa Sinh Đại Sĩ hàng phục năm trăm ngoại đạo đã dùng chú phản hồi của Sư Diện Không Hành Mẫu. Bởi vì năm trăm ngoại đạo đã làm pháp hại Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, cho nên Liên Hoa Sinh Đại Sĩ bất đắc dĩ mới dùng chú phản hồi. Năm trăm ngoại đạo ngã lăn ra chết. Sau đó, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ dùng pháp siêu độ để chuyển dịch những ngoại đạo đã chết này đến tịnh thổ. Lư Sư Tôn cũng có thể làm như vậy, nhưng tôi nói thẳng là: “Bản thân tôi lấy từ bi làm gốc, không thể sử dụng pháp giết rồi độ. Bởi vì tôi không muốn đắc tội với bất kì một chúng sinh nào.)

(10)

Đệ tử mơ thấy quỳ trước mặt Sư Tôn, sau đó đệ tử biến thành Kim Cang Minh Vương, tay trái cầm tháp xá lợi, tay phải cầm vũ khí, đuổi đánh yêu ma. Có âm thanh nói với đệ tử đây là Hàng Tam Thế Minh Vương, đệ tử  không biết vị Kim Cang Minh Vương này.
(Lư Sư Tôn giải thích như sau: Năm đại Kim Cang Minh Vương của Mật giáo là Mật Tập Kim Cang, Thắng Lạc Kim Cang, Đại Uy Đức Kim Cang, Hỷ Kim Cang, Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang (hoặc Thời Luân Kim Cang). Đây là Tạng mật. Còn trong Đông mật, năm đại Kim Cang Minh Vương là Bất Động Minh Vương, Hàng Tam Thế Minh Vương, Quân Đồ Lợi Minh Vương, Kim Cang Dược Xoa Minh Vương, Đại Uy Đức Minh Vương. Đây là năm đại Minh Vương của Đông Mật, về mặt danh xưng thì có khác biệt, nhưng dù tên khác với năm đại Minh Vương của Tạng mật nhưng thật ra có tính liên quan. Thủ ấn của Hàng Tam Thế Minh Vương giống với thủ ấn của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.)

(11)

Có một đám lính quỷ xếp thành từng hàng từng hàng tiến về phía đệ tử, đệ tử lập tức trong hư không biến hóa thành Đại Hắc Thiên uy lực và đáng sợ, dọa cho đám lính quỷ sợ chết khiếp, phải lui binh. 
(Lư Sư Tôn giải thích như sau: Đại Hắc Thiên là một trong các thần Hộ Pháp của Mật giáo Tây Tạng, còn gọi là Mahakala, hiện nay được Bạch giáo tôn sùng nhất. Ngài là vị đại thần quản lý mộ phần, thần chiến đấu, là đại hộ pháp thần của nước Ba La Nại. Đại Bảo Pháp Vương Karmapa các đời đều tôn sùng Đại Hắc Thiên.
Nhưng trong Mật tông Nhật Bản thì ngài lại là một trong bảy vị Phúc Thần, biến thành Tài Phúc Thần, Ẩm Thực Thần. Nhật Bản rất thịnh hành an vị tượng Đại Hắc Thiên hai tay ở trong nhà bếp. Vì thế Đại Hắc Thiên là tổng hợp của thần chiến đấu, thần bếp, thần giữ mộ, thần tài, có đại uy thần lực.

(12)

Mơ thấy có bộ xương người một nam một nữ đang khiêu vũ trước mặt đệ tử, đệ tử và họ cùng bay lên trời. Hai bộ xương người này đột nhiên biến thành đẹp trai xinh gái, ở trên trời họ hỏi đệ tử muốn cầu cái gì. Đệ tử nói không cần gì cả. Họ và pháp thân của đệ tử đều biến thành ánh sáng trắng thanh tịnh. 
(Lư Sư Tôn giải thích như sau: Điệu múa của hai bộ xương người, tôi giải thích đây là sự gợi ý. (Đây là chủ của khu rừng vứt xác.) Biểu trưng thanh tịnh. Tự tính thanh tịnh. Tất cả tự tính thanh tịnh. Kết thúc. Vạn tượng đều không. Hàng phục tất cả yêu tinh tà ác trong tam giới. Thành tựu cõi tịnh thổ.)


### 30. Khai quang từ xa


Đệ tử Liên Hoa Lạp Tang sống tại Mông Cổ thỉnh cầu tôi khai quang đàn thành cho anh ấy. 
Tôi đã đồng ý.
Thế là tôi cách không khai quang từ xa. 
Tôi cách không vẩy gạo muối.
Cách không vẩy cam lộ. 
Niệm chú khai quang:
Thiên chi thần quang, địa chi thần quang, nhật nguyệt thần quang, khai quang khai quang chú:
Khai nhãn quang — quán thị thế giới.
Khai khẩu quang — khai khẩu độ chúng.
Khai nhĩ quang — văn thanh cứu khổ.
Khai tâm quang — từ bi chúng sinh.
Khai thủ quang — thân thủ phù trì.
Khai thần túc — phi hành vạn lý.
Khai kim thân — hào hào phóng quang.
Tôi niệm chú:
”Na-mô sa-man-tô mu-thua-nam wa-zư-la đa-mô sê.” (3 biến) [Thần chú Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát.]
Dùng bút đỏ chấm vào hư không.
Tôi nhìn thấy Không Hành Mẫu thu chấm đỏ lại rồi lập tức biến mất.

Liên Hoa Lạp Tang bố trí đàn thành tại Mông Cổ như thế này:
Ở giữa là tượng Phật. (thân)
Bên phải là tháp xá lợi. (ý)
Bên trái là Cao Vương Kinh, Chân Phật Kinh. (khẩu)
Cúng phẩm là:
Tịnh thủy — thân, ý thanh tịnh.
Hoa — mắt thanh tịnh.
Gạo — lưỡi thanh tịnh.
Đèn — ánh sáng thanh tịnh.
Hương — thành kính thanh tịnh. (mũi thanh tịnh)
Quả — miệng thanh tịnh.
Thực phẩm — món ăn thanh tịnh. (ăn)
Chày kim cang — từ bi phương tiện thanh tịnh.
Chuông kim cang — trí huệ tính Không thanh tịnh.
Trống tay — tai thanh tịnh. (pháp âm thanh tịnh)
Mandala — tính Không thanh tịnh.
Bảo bình — cam lộ thanh tịnh.
……………

Phía Liên Hoa Lạp Tang ở Mông Cổ:
Buổi sáng có một trận mưa.
Bầu trời phía trên ngôi nhà của Liên Hoa Lạp Tang xuất hiện một dải cầu vồng lớn rất đẹp. 
Sau khi dải cầu vồng tan biến, không ngờ có mưa đá trút xuống, hơn nữa chỉ xung quanh nhà ở, trên mặt đất có đầy những hạt ngọc lấp lánh, có hạt lớn cỡ ngọc trai, có hạt nhỏ cỡ hạt gạo.
Giống như là gạo rắc đầy mặt đất khi khai quang.
Những cái này đều là điềm lành trời ban dị tượng.

Càng kỳ lạ hơn là:
Đêm ấy, Liên Hoa Lạp Tang mơ thấy Lư Sư Tôn đến nhà anh, hơn nữa còn khai quang đàn thành trong nhà anh. 
Lư Sư Tôn hỏi:
”Nhà anh có gạo không?”
Liên Hoa Lạp Tang đáp:
”Không có, chỉ có lúa mì.”
Lư Sư Tôn nói:
”Lúa mì cũng được!”
Lư Sư Tôn khi đến cầm theo một cây bút, chấm vào trán của Liên Hoa Lạp Tang, trên mặt anh ấy có ký hiệu màu đỏ, rồi Sư Tôn vẩy lúa mì lên người anh. Thế rồi anh tỉnh giấc mơ.
Lúa mì không có ở trên mặt đất. Nhưng trên mặt, trên trán anh thật sự có một chấm màu đỏ, ba ngày sau mới tiêu biến. Đây đúng là linh nghiệm kỳ lạ của việc khai quang! Là thật không phải giả.


### 31. Hỏi đáp về quy y


Duy Ma Cật Đại Sĩ hỏi tôi:
”Lư Sư Tôn! Ngài có hiểu quy y không?”
Tôi cười lớn ha ha:
”Câu hỏi đơn giản thế này sao ngài lại hỏi tôi?”
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
”Ngài nói thử xem.”
Tôi nói:
Quy y các Thượng sư quý báu đủ đức có truyền thừa căn bản.
Quy y tất cả Bổn tôn Thánh chúng trong đàn thành.
Quy y chư Phật.
Quy y mọi chính pháp.
Quy y các tăng già Thánh chúng.
Quy y các Dũng Phụ Không Hành, Hộ Pháp, Thánh chúng có trí nhãn Phật pháp.
Tôi nói:
”Đây là sáu quy y của Mật giáo.”

Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
”Đây là biểu hiện ở bên ngoài của quy y. Quy y chân chính là quy y tất cả Phật tính có sẵn của chính bản thân mình.”
Tôi biện luận:
”Phật tính của chính mình còn chưa hiểu, làm sao quy y? Tôi thấy vẫn là Thượng sư, Bổn tôn, Phật, pháp, tăng, Hộ pháp, như thế mới thực tế hơn.”
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
”Quy y cuối cùng của tất cả chúng sinh hữu tình, trừ Phật tính ra thì không có gì khác. Ngài không nghĩ rằng Phật tính của ngài là đủ rồi sao?”
Duy Ma Cật Đại Sĩ lại nhấn mạnh:
Bất hủ.
Bất biến.
Rốt ráo.
Đây chính là Phật tính.
Hiểu chưa?
Tôi chỉ biết gật gật đầu.

Tôi hỏi:
”Quy y có phải là tìm cầu sự bảo hộ không?”
Duy Ma Cật Đại Sĩ đáp:
”Căn bản không có ai bảo hộ ai.”
Tôi hỏi:
”Theo như tôi biết, con người tìm cầu sự bảo hộ là do nỗi sợ hãi, điều này trong Thánh điển có nói.”
Duy Ma Cật đáp:
*”Đây không hề là bảo hộ thật
Bảo hộ vĩnh hằng lại càng không
Chúng sinh tiếp nhận bảo hộ này
Nỗi khổ thật sự chưa thể thoát.”*
(Đây là điều Phật Đà nói.)

Tôi hỏi:
”Thế nào là quy y được bảo hộ?”
Duy Ma Cật đáp:
”An tâm.”
Tôi hỏi:
”Làm sao an tâm?”
Duy Ma Cật đáp:
”Vô tâm, không vấn vương.”
Tôi hỏi:
”Điều này rất nhiều người chẳng thể làm được đâu!”
Duy Ma Cật đáp:
”Muốn đạt được hoặc làm được, chỉ có thể dùng trí huệ, và trí huệ này thì không thể cầu.”
Tôi hỏi:
”Ai có thể dạy chúng tôi những điều này?” (Tôi nghĩ đến Tam Bảo Phật-pháp-tăng.)
Duy Ma Cật đáp:
”Tự mình đi lĩnh hội.”

Tôi hỏi đến đây thì không muốn hỏi thêm.
Duy Ma Cật Đại Sĩ cũng im lặng không nói.
Tôi nghĩ rất lâu.
Lĩnh ngộ được pháp quy y mà Duy Ma Cật Đại Sĩ dạy cho tôi, tôi tổng kết nó như sau:
Quy y Phật — là quy y Phật tính có sẵn của chính bản thân mình.
Quy y pháp — là quy y Phật pháp truyền thừa mà chính mình hành trì.
Quy y tăng — là quy y pháp thân phạm hạnh thanh tịnh của chính mình.
Còn như quy y thông thường của chúng ta là quy y có tính tượng trưng:
Tượng Phật.
Kinh điển.
Thánh hiền tăng.
Thượng sư.
Hộ pháp. 

Quy y trên nguyên tắc là:
Không linh chí cao vô thượng. (Phật)
Công cụ chỉ dẫn hành giả chứng đắc. (pháp)
Hành giả thanh tịnh dựa vào pháp mà tu chứng. (tăng)
Cá nhân tôi biết:
Không thể nương dựa quỷ thần để mà cầu bảo hộ.
Phải tu thiện nghiệp tăng trưởng, ác nghiệp không sinh.
Không thể học tập pháp của ngoại đạo, nhưng nếu vì thế mà dẫn được người ta vào Phật đạo thì có thể phương tiện thiện xảo. [khéo léo sử dụng]
Như dâm, nộ, si.
Như xem sao, chiêm bốc.
Như phong thủy, địa lý.
Như năm thuật: sơn, y, mệnh, bốc, tướng.
v.v…
Chính pháp của chúng ta là:
Bốn Thánh đế, sáu độ, tám chính đạo, mười hai nhân duyên, ba mươi bảy phẩm trợ đạo.


### 32. Kệ tán thán viết cho Duy Ma Cật Đại Sĩ


(1)

Chính giác còn chưa tịch diệt
Ngài xuất hiện đúng lúc tháo gỡ mê muội của tôi
Cảm tạ sự dìu dắt
Chỉ bảo tôi quay về thực tế hơn

Tam thân ngũ trí và ngũ nhãn
Lục độ vạn hành
Tùy duyên kiến
Chỉ vì lợi tha
Trong vòng ánh sáng có ngọc mani.

(2)

Dạy tôi tự thấy chân tâm
Cũng không có tướng
Càng không có lời gì để nói
Chỉ dùng ngón tay để chỉ
Là thấy ngay lời giải thích đúng đắn

Pháp thân thanh tịnh không nội ngoại
Không trong
Không ngoài
Không ở giữa
Hai bên đều bỏ cái trung tâm
Thì ra chính là
Đại Kim Tiên.

(3)

Duy Ma Cật vẫn là Duy Ma Cật
Thật chẳng xưa nay
Cũng chẳng tốt xấu
Đừng phân nam bắc đông tây
Giờ đây đã hiểu
Diệu kỳ ở chỗ
Hóa thân vô tận hư không

Giờ đây hóa Chân Phật Tông
Tất cả như như
Chốn chốn đều thông
Sau này có ai có thể
Kế tục.

(4)

Tôi biết vô sinh vô diệt
Thì ra Phật tính đều như thế
Vốn không tăng giảm

Thánh giả như gương sáng
Dạy tôi giảng kinh thuyết pháp
Nói trời
Kể đất
Vạn vật tự nhiên khó ẩn giấu.

(5)

Ta Bà vốn chẳng phải Ta Bà
Tịnh thổ cũng chẳng phải tịnh thổ
Ta Bà tịnh thổ vốn như nhau
Chỉ xem một lòng
Phiền não
Bồ đề
Cùng một loại

Niết bàn cũng chẳng phải niết bàn
Luân hồi cũng chẳng phải luân hồi
Ai nói Di Đà ở Tây phương
Nam mô nam mô
Mô mô mô 
Rơi vào cái bầu nhà ai.


### 33. Truyền kỳ về Cát Tường Thiên Mẫu


Ở Tây Tạng, tôi nghe được rất nhiều câu chuyện truyền kỳ về Cát Tường Thiên Mẫu. Những câu chuyện này đều là truyền thuyết dân gian.
Tôi đặc biệt thuật lại như sau:

Cát Tường Thiên Mẫu vốn là một trong những thần minh chủ yếu của Ấn Độ giáo, tính cách vô cùng phong lưu. Ngài có 99 người chồng, những người chồng này có một số là thần, một số là ma, một số là người. 
Những người chồng này đều tặng pháp bảo trân quý cho Cát Tường Thiên Mẫu, cho nên Cát Tường Thiên Mẫu có rất nhiều pháp bảo.
Ngài dùng những pháp bảo này để oai nghiêm trấn giữ tam giới.
Phụ thân của ngài rất không thích tác phong này của ngài, đã dùng xích sắt màu vàng kim để trói hai chân của ngài lại. 
Ngài vùng vẫy, cưỡi một con La Thần bỏ trốn.
Phụ thân từ phía sau đuổi theo, giương cung tên lên bắn, bắn trúng vào mông phía sau của La Thần. Sau khi rút tên ra, mông phía sau của La Thần đã mọc ra một con mắt. Vì thế, muốn phân biệt Cát Tường Thiên Nữ thì có hai đặc trưng lớn:
Chân của ngài có xích chân màu vàng kim.
Con La Thần mà ngài cưỡi trên mông có một con mắt.

Còn nữa:
Còn có một truyền thuyết khác không giống lắm.
Ngài vốn là một nữ thần xinh đẹp, nhưng cũng vẫn phong lưu phóng túng.
Phụ thân đã nguyền rủa ngài.
Ngài liền biến thành xấu xí không thể chịu nổi, bức thangka của Tây Tạng vẽ Cát Tường Thiên Mẫu chính là xấu xí vô cùng. (tướng phẫn nộ)
Ngài bỏ nhà ra đi.
Cưới một La Sát Quỷ Vương. La Sát Quỷ Vương này chuyên môn ăn thịt người. Vì thế Cát Tường Thiên Mẫu cũng chuyên môn ăn thịt người.
Về sau, tính tình ngài vô cùng hung dữ, cãi nhau với La Sát Quỷ Vương.
Ngài cưỡi La Thần bỏ nhà đi. La Sát Quỷ Vương đuổi theo không kịp, từ phía sau bắn một mũi tên, tên bắn trúng vào mông của La Thần. Mông của La Thần mọc lên một con mắt.
Có hai phiên bản như vậy.

Sau này, Cát Tường Thiên Mẫu gặp được Vô Lượng Quang Phật. Vô Lượng Quang Phật điều phục Cát Tường Thiên Mẫu, Cát Tường Thiên Mẫu mới trở thành Thần Bảo Hộ của Phật giáo.

Cát Tường Thiên Mẫu trở thành Thần Bảo Hộ lớn của Tây Tạng.
Cát Tường Thiên Mẫu xưng là Lạp Mẫu.
Hồ Lhamo Latso là hồ thần của ngài. 
Ban đầu Cát Tường Thiên Mẫu xinh đẹp phi phàm, là thần vận mệnh, thần tài, thần sắc đẹp, thần bảo hộ.
Trong truyền thuyết, con gái Tây Tạng xinh đẹp, mắt to, thon thả, là vì Cát Tường Thiên Mẫu ban phúc cho họ.
Ngài là Thần Bảo Hộ cho Lhasa.
Vừa là Thần Bảo Hộ của tu viện Tashilhunpo.
Vừa là Thần Bảo Hộ của tu viện Jokhang.
Tướng tịch tĩnh của ngài thì xinh đẹp và trang nhã.
Tướng phẫn nộ của ngài thì xấu xí thậm tệ.

Tôi hỏi Duy Ma Cật Đại Sĩ:
”Hai phiên bản này, cái nào đúng?”
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
”Câu hỏi này không cần trả lời, Cát Tường Thiên Mẫu về sau nương dựa Vô Lượng Quang Phật là đúng.”
Tôi hỏi:
”Cát Tường Thiên Mẫu của Trung Thổ có hai vị, Cát Tường Thiên Mẫu của Tây Tạng có mấy vị?”
Duy Ma Cật Đại Sĩ đáp:
”Tôi thử hỏi ngài, Lư Sư Tôn! Hóa thân bên ngoài thân của ngài có mấy vị?”


### 34. Hồ Tiên


Tôi nghe người ta nói:
Vẻ đẹp của phụ nữ có ba kiểu:
Một kiểu là vẻ đẹp điển hình — đoan trang nho nhã.
Một kiểu là vẻ đẹp diễm lệ — xinh tươi khiến xúc động lòng người.
Một kiểu là vẻ đẹp quyến rũ — thuần điệu bộ quyến rũ.

Tôi mô tả như vậy không biết có đúng không? Tóm lại là mỗi người một ý.
Ngày hôm đó. 
Có một cô gái đến hỏi việc, cô ấy thuộc loại cô gái đẹp kiểu thứ ba. (Thật sự là phô ra đủ mọi điệu bộ quyến rũ.)
Cô ấy hỏi về hôn nhân. Tôi đáp:
”Bất kì người đàn ông nào nhìn thấy cô cũng đều sẽ động lòng.” (Tôi nói lời thật.)
Cô ấy hỏi:
”Người bạn trai kia của tôi liệu có cưới tôi không?”
Tôi tính toán một lúc. Tôi đáp:
”Có một chút chướng ngại.”
”Vì cái gì?”
”Khả năng là do bề trên hoặc xung quanh tác động.”
Tôi nói:
”Tôi cho cô một lá phù, cô mang theo người, đây là phù “bảo sao nghe vậy”, cô đeo trên người thì anh ta sẽ nghe theo cô tất cả mọi thứ.”
Cô ấy đeo lá phù mà tôi cho. (Cô ấy cười.)

Cô gái đó lấy từ trên người mình ra một lá phù đưa cho tôi xem. Tôi vừa nhìn thì giật mình kinh hãi. Mặt chính của lá phù đó viết “Giang Tây Long Hổ Sơn”. Mặt sau rất quái dị, phù thức giống như con cáo, có:
Đầu cáo.
Mắt cáo.
Đuôi cáo.
Ở giữa còn viết một chữ “mị”. 
Đó chẳng phải là “yêu mị” sao?
Tôi kêu lên một tiếng:
”Đây là hồ ly tinh!” (Phù của hồ ly tinh.)
Cô ấy nhanh nhẹn thu lá phù lại. 
Cô ấy bỏ đi rồi!

Sau khi cô ấy bỏ đi, tôi bắt đầu cảm thấy toàn thân mệt mỏi, hơi thở yếu ớt, tay chân không còn sức lực.
Toàn thân mệt lử, mồm miệng khô rang, tinh thần sung mãn hoàn toàn không còn nữa. 
Ngáp liên tục.
Hai mắt không mở ra được, mệt vô cùng, chỉ muốn ngủ, tất cả đều trở nên mơ hồ.
Hiện tượng này tiếp tục đến buổi chiều, đây là chuyện mà tôi chưa từng xảy ra. (Chân khí đều bị cướp đi rồi.)
Tôi đâu phải như thế này. Ngay cả cầm đũa ăn cơm tôi cũng không còn sức nữa. 

Tôi hỏi:
”Duy Ma Cật Đại Sĩ, xin nói cho tôi biết vì sao?”
Duy Ma Cật Đại Sĩ đáp:
”Lư Sư Tôn! Ngài đắc tội với Đại Tiên rồi, ngài gọi cô ta là hồ ly tinh, khí của cô ta ở trên người ngài rồi.”
Tôi nói:
”Tôi ngã quỵ rồi! Toàn thân không còn sức nữa!”
Duy Ma Cật nói:
”Chẳng phải ngài có thể siêu độ sao? Ngài siêu độ hết “hồ khí” thì sẽ hồi phục như ban đầu.”
Buổi tối hôm đó.
Tôi làm pháp siêu độ thì giật mình đánh thót, không ngờ từ sau lưng tôi xồ ra trăm con hồ ly. 
Choa!
Tôi đã gặp phải “đại tiên” rồi. “Đại tiên” quả nhiên lợi hại!


### 35. Thơ của Ngô Mạnh Hoa


Đệ tử Ngô Mạnh Hoa ở Đài Loan gửi đến một bài thơ, là bài thơ thỉnh tôi thường trụ thế gian. 

Thơ như sau:

*Khi đi trên đường phố, con luôn nhớ đến nét tươi cười của Thầy
Cầm bút lên, chẳng hiểu vì sao lại mô phỏng nét chữ của Thầy
Chỉ vì
Thầy là tất cả
Thầy là dưỡng khí*

*Khi đi đến một nơi xa lạ
Một ngọn cỏ, một cái cây, một bông hoa đều là hóa thân của Thầy
Nhìn không thấy, sờ không được, nhưng cảm nhận được
Là ánh dương?
Là trời xanh?*

*Thầy hóa thành dải ánh sáng dẫn dắt chúng sinh
Chúng sinh nhìn lên
Có Thầy chỉ dẫn
Con là bản sơ
Thầy là bản sơ
Chúng sinh và Thầy là một thể*

*Thầy là
Ánh dương
Trăng sáng
Những vì sao
Thầy là bài thơ vĩnh hằng.*

🌟

Tôi nói:

*Có một ngày
Tôi sẽ “vừa dứt giấc mộng Hoa Tư, người nơi nao” **[Câu thơ đầu trong bài “Đào Nguyên nhớ cố nhân - Cuối xuân” của Tô Thức. Hoa Tư tương truyền là đất nước không có vua, người dân đều hạnh phúc. Giấc mộng Hoa Tư ý chỉ cảnh thái bình, mộng cảnh thanh bình.]*
*Nam Sơn Nhã Xá 
Chỉ còn lại mấy cây thông tùng
Khi nào hoa rơi
Biến thành ngôi nhà đóng cửa im lìm cô quạnh*

*Tháng năm chẳng thể lưu giữ
Tuổi già và cái chết
Con đường cuối cùng của mỗi người
Tôi muốn
Ngô Mạnh Hoa ghi nhớ
Tôi chỉ để lại
Sách nhiều vô kể*

*Tôi lại viết một bài thơ vậy
Thơ như sau
Bạn nói tôi là
Ánh dương
Trăng sáng
Những vì sao
Tôi nói với bạn
Tôi thích trăng sáng*

*Tôi thích tết Trung Thu
Ở nơi đất khách quê người
Tôi thường nhớ đến một từ
Chính là
”Cách biệt”*

*Nói cùng ai đây
Tôi ở phương Tây
Bạn ở phương Đông
Tôi thật lòng thật sự nói với bạn rằng
Tôi chỉ để lại “chính giác”.*


### 36. Hộ pháp của Duy Ma Cật Đại Sĩ


Theo như tôi biết, ba căn bản của tu hành Mật giáo là: Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp. Trong đó Hộ pháp vô cùng quan trọng, bởi vì Hộ pháp là hộ trì Phật, hộ trì pháp, hộ trì tăng.
Nhất là hành giả Mật giáo dùng Hộ pháp để quét sạch tất cả chướng ngại trong quá trình tu trì của hành giả. 
Chướng ngại của hành giả có rất nhiều, đại thể là:
Chướng ngại của ma.
Chướng ngại của thần. (thần bất chính)
Chướng ngại của quỷ.
Chướng ngại của người.
Chướng ngại của phi nhân. (rồng, dạ xoa, la sát, yêu tinh)
Chướng ngại của linh.
Chướng ngại của chính mình. (nghiệp chướng)
v.v…

Cho nên mỗi một hành giả đều cần có Hộ pháp ủng hộ, bảo vệ mỗi một hành giả. 
Trong Mật tông Tây Tạng, Hộ pháp có thể phân thành bốn loại lớn:

(1)

Thân phẫn nộ của Phật Bồ Tát.
Ngũ Phương Phật hóa thân thành Ngũ Đại Kim Cang.
Hỷ Kim Cang, Thắng Lạc Kim Cang, Mật Tập Kim Cang, Đại Uy Đức Kim Cang, Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang.
Bát Đại Bồ Tát hóa thân thành Bát Đại Minh Vương.
v.v…
Những vị Phật Bồ Tát này vốn là vị tịch tĩnh (thiện tướng), vì để hộ trì Phật pháp nên mới biến hóa thành vị phẫn nộ.
(Các vị này đều là Hộ pháp của xuất thế gian.)

(2)

Thần của Ấn Độ giáo chuyển hóa thành Hộ pháp của Phật giáo. Ví dụ: 
Biến Tịnh Thiên, Đại Phạm Thiên, Đại Tự Tại Thiên.
Cát Tường Thiên.
Diệu Âm Thiên.
Tài Thần Thiên Mũi Voi.
Thần Khỉ.
Nữ Thần Kali.
v.v…
(Đại bộ phận là Hộ pháp của thế gian.)

(4)

Từ đạo Bon chuyển hóa thành Hộ pháp của Phật giáo.
Ví dụ:
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đến Tây Tạng, trên đường đã khuất phục yêu ma quỷ quái, các thần quỷ của đạo Bon này đều được giáo hóa trở thành thần Hộ pháp của Phật giáo.
Khâm Liệt Gia Ba, Phổ Ba Kim Cang.
v.v…

(5)

Thần của dân gian
Thần núi.
Thần thổ địa.
Thần mồ mả.
Thần Gesar.
v.v…

Hộ pháp Kim Cang Minh Vương chủ yếu nhất của tôi (Lư Sư Tôn) là:
Đại Uy Đức Kim Cang.
Bất Động Minh Vương.
Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu. (dùng để kết giới)
Kim Cang Thủ, Đại Lực Kim Cang, Ma Lợi Chi Thiên, Hổ Đầu Kim Cang.
v.v…
(Vì sao tôi lại dùng “vân vân và vân vân”, bởi vì đội ngũ Hộ pháp của tôi rất lớn.) 

Tôi hỏi:
”Duy Ma Cật Đại Sĩ, Hộ pháp của ngài là ai?”
Duy Ma Cật Đại Sĩ đáp:
”Hộ pháp của tôi là Không.”
Tôi nghĩ trong lòng: 
“Không cũng là Hộ pháp ư?”
Duy Ma Cật Đại Sĩ biết ý trong lòng tôi, ngài nói:
”Ma cũng không, quỷ cũng không, thần cũng không, quái cũng không... Tất cả chướng ngại đều không. Lư Sư Tôn! Đã hiểu hay chưa?”


### 37. Thơ ca của Liên Hoa Bích Vân


Liên Hoa Bích Vân, người phụ trách của Thẩm mỹ viện Bích Chi Nghệ ở Brazil đến Seattle.
Cô ấy viết tặng tôi một bài thơ. Bài thơ như sau:

*Mỗi cảm ứng tu hành của Chân Phật
Khiến con cảm động vô cùng
Đối với những thực chứng rõ ràng ngay trước mắt
Chẳng thể kìm được lời tán tụng nâng niu
Trên sân khấu cuộc đời
Cùng động viên nhau
Cùng khích lệ nhau
Kiên định lòng tin
Càng nỗ lực tinh tấn
Đời đời kiếp kiếp chờ đợi thành tựu.*

*Gặp Lư Sư Tôn
Lại muốn gặp Lư Sư Tôn thêm nữa
Trong lòng cuồn cuộn
Nỗi nhớ Lư Sư Tôn*

*Xa làm sao
Dài làm sao
Bất giác vô tình
Giọt lệ cứ dâng trào nơi khóe mắt*

*Đó là
Rất nhiều năm trước
Lần đầu tiên gặp được Lư Sư Tôn
Tại Chân Phật Mật Uyển
Thầy trò tình cờ gặp nhau trong chốc lát
Mà như thể hẹn ước nghìn vạn năm
Tự thấy
Đã cách biệt rất nhiều rất nhiều đời
Đời này đến đời khác*

*Từ nay sám hối tội lỗi của mình
Lúc này
Nếu tâm tĩnh lặng như ánh trăng
Trên con đường biết ơn
Đa tạ những lời giáo huấn
Cảm tạ Bồ Tát an bài
Cảm kích
Cảm kích*

*Dùng tâm thanh tịnh gặp Lư Sư Tôn
Núi xa sông dài
Đường đi vất vả
Tất cả phiền não
Vô số cản trở oan ức
Hóa thành
Hóa thành không
Là Lư Sư Tôn đã nâng đỡ tâm linh
Con biến thành
Kim cương bất hoại*

*Đi gặp Lư Sư Tôn
Quán đảnh dòng chảy pháp
Trí huệ tràn đầy
Những lời pháp của Lư Sư Tôn
Từng lời dung nhập
Con hóa thành ánh sáng
Con trở nên sáng ngời
Và cứ thế bay lên trời cao
Cõi trời bên ngoài cõi trời
Cuồn cuộn dâng trào.*

(Chú thích: Bài thơ này rất chất phác, rất đẹp đẽ, rất đơn giản, rất rõ ràng. Tôi chỉ thay đổi vài chữ, nhưng không làm mất đi ý nghĩa ban đầu. Cảm ơn Liên Hoa Bích Vân ở Brazil.)

Tại đây, tôi kèm theo một bài thơ tôi viết, tên bài thơ này đặt là: Tiêu dao.

Thơ như sau:

*Trong quá trình tôi thiền định
Tín tâm thật sự rất kiên định
Duy Ma Cật nói như thế này
Nhất tâm
Thanh tịnh
Khắp nơi đều là thắng cảnh*

*Luân hồi của tam giới lục đạo
Tôi thấy
Là vô minh tạo nên
Ngã chấp chính là nguồn gốc lớn
Nếu loại bỏ được
Phàm phu biến thành Thánh hiền*

*Tất cả đều là tâm
Quan sát chính mình
Thì ra
Chẳng có gì
Chẳng vật gì
Chẳng thể đắc
Vậy mới nhận ra vô tự tính*

*Không ô nhiễm
Không mê hoặc
Không khổ
Không vui
Không thật
Không giả
Không sinh
Không chết
Trong chân đế chẳng có một vật
Như một giấc mộng huyễn
Đó là sứ mệnh lợi ích chúng sinh*

*Tôi muốn nói với bạn về vô thường
Sinh là vô thường
Lão là vô thường
Bệnh là vô thường
Tử là vô thường
Đó đều chỉ trong thoáng chốc
Trong thoáng chốc đã biến mất rồi
Đây chính là
Pháp ấn của Thích Ca Như Lai*

*Tôi là ánh sáng
Bạn là ánh sáng
Họ là ánh sáng
Tùy duyên tỏa sáng
Nơi thế giới Ta Bà
Một pháp giới chân thực
Thanh tịnh.*

Chú thích: Bài thơ này tôi viết từ rất rất lâu rồi, tự mình cảm thấy không hay. Bây giờ từ trong đống tài liệu cũ tìm thấy nó, tôi mới biết:
Thì ra Duy Ma Cật Đại Sĩ và tôi sớm đã là tri âm nhiều năm rồi.
Tặng cho bạn đó.
Tất cả không cần gò bó, tùy duyên tiêu dao là được.


### 38. Tôi đã tan vào hư không


Quan Thế Âm Bồ Tát hóa thân trăm nghìn vạn triệu, từng khiến tôi nghĩ rất nhiều mà không thể hiểu nổi. Chúng ta niệm Thánh hiệu A Di Đà Phật cũng niệm rằng: “Nam mô 36 vạn tỷ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật.” 
Điều này khiến tôi kinh ngạc tán thán!
Chà!
Nhiều phân thân làm sao!

Rồi khi đọc đến phẩm “Phân thân tập hội” của kinh Địa Tạng, tôi phát hiện ra Địa Tạng Bồ Tát cũng như vậy. 
Phân thân nhiều làm sao!
Sau này, Duy Ma Cật Đại Sĩ nói với tôi, điều này rất dễ, chỉ cần có thể tan vào hư không là được.
Thế là, tôi học tập “tan vào hư không”.
”Oàng” một tiếng!
Không ngờ khắp nơi đều có một vị Lư Sư Tôn.
Đúng như bài kệ tán thán của Quan Thế Âm Bồ Tát:
*”Nghìn nơi thỉnh cầu nghìn nơi hiện
Biển khổ thường làm thuyền độ người.”*
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói:
”Người kính sư, trọng pháp, thực tu sẽ đắc.” 
Đắc cái gì? Đắc hư không.

Còn nữa:
Trong “Ứng hóa sử lược”, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ có nói: “Đại Sĩ thành tựu tam muội, đúng là có hình thức mặc mũ áo của vua chúa như các bức họa tướng được truyền bá ngày nay, nhưng hóa thân của ngài cũng có tới 21 vị. Tên ngài là…”
Đương nhiên, phân thân của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ không chỉ có 21 vị, mà con số ấy không thể đếm xuể.

Sau khi tôi tan vào hư không, tôi mới biết rằng, hư không vô hạn, cho nên hóa thân là vô hạn.
Điều này thật sự quá bất khả tư nghì!

Tôi lấy thư của Liên Hoa Duy An làm chứng.

Đệ tử báo cáo với Sư Tôn một số cảm ứng tu hành của đệ tử.

(1) Tận mắt thấy Sư Tôn

Có một hôm tu pháp xong, đệ tử ở tại đàn thành thỉnh cầu Sư Tôn một sự việc, kết quả là buổi sáng ngày hôm sau tỉnh dậy, từ trên giường ngồi dậy thì nhìn thấy Sư Tôn mỉm cười đi về phía đệ tử. Đệ tử biết Sư Tôn đã gia trì cho điều thỉnh cầu của đệ tử được viên mãn rồi.

Còn có một hôm, sư huynh [chồng] của đệ tử nói với đệ tử rằng cái cửa ga-ra ở nhà đã bị hỏng rồi, cần phải sửa, anh ấy nói nhà hàng xóm ở đối diện sửa ga-ra tốn một nghìn đô la. Khi ấy đệ tử đột ngột quay đầu lại thì nhìn thấy Sư Tôn, đệ tử vội vàng hướng tới Sư Tôn thỉnh cầu để cho chi phí sửa cửa ga-ra đừng quá cao, đồng thời cũng cảm ứng thấy sự gia trì của Sư Tôn. Hai hôm sau, sư huynh nói cửa ga-ra đã sửa xong rồi, còn nói rằng thật không dám tin, thợ sửa chữa sửa trong thời gian gần hai tiếng đồng hồ, cuối cùng chỉ thu chút tiền phí gọi đến nhà. Sư huynh cũng ca ngợi sự gia trì của Sư Tôn thật bất khả tư nghì!

(2) Cảm ứng thấy Sư Tôn

Vào đêm trước ngày Thánh đản của Sư Tôn năm 2020, cả ngày đệ tử ở trong nhà tu pháp, cảm ứng thấy rõ ràng là Sư Tôn giáng lâm, và còn chỉ cho đệ tử bốn chữ: bế quan, cấm ngôn.

Khi đệ tử niệm tụng Chân Phật Kinh, nhiều lần hợp nhất với Sư Tôn, liên tục mấy tiếng đồng hồ không có bất kì tạp niệm nào, âm thanh tụng kinh rất trôi chảy, dường như không cần phải lấy hơi, cảm giác mình hóa thành một vùng ánh sáng trắng, ánh sáng vô cùng thanh tịnh. Sau đó, một lần khi đang tụng kinh, đệ tử cảm ứng thấy Sư Tôn cười và đi về phía đệ tử, sau đó đệ tử và Sư Tôn hợp nhất vô cùng vững chắc. Thế rồi trong lòng đệ tử trào dâng một tình yêu lớn vô hạn hết sức mãnh liệt đối với Sư Tôn, đệ tử chưa từng một lần có cảm nhận này ở nhân gian. Ngày hôm sau ở trên mạng truyền phát trực tiếp nhìn thấy Sư Tôn, đệ tử đã không kìm nén được cảm xúc của mình mà khóc như mưa cho đến khi pháp hội kết thúc.

Một hôm khi tu pháp, đệ tử liên tục hợp nhất với Sư Tôn, cảm giác mình tách biệt không có quan hệ gì với thế giới xung quanh, cảm nhận này rất khó dùng ngôn ngữ để diễn tả.

(3) Mơ thấy Lư Sư Tôn

Tháng 8/2020, đệ tử mơ thấy mình giơ tay thỉnh cầu Sư Tôn gia trì. Sau đó Sư Tôn cúi người xuống (trong mơ đệ tử đang nằm), dùng thiên tâm chạm vào thiên tâm của đệ tử, kiểu như đầu chạm đầu để gia trì cho đệ tử.

Đệ tử nhiều lần mơ thấy Sư Tôn và đệ tử thân mật ngồi nói chuyện tu hành.

(4) Thấy ánh sáng: Xin hỏi Sư Tôn những ánh sáng này có ý  nghĩa gì?

Một hôm vào buổi tối, khi làm kết giới để đi ngủ, đệ tử nhìn thấy trong tim mình có một nguyệt luân màu lam, trong nguyệt luân có một chữ Hum tiếng Phạn màu trắng, từ nguyệt luân ở trong tim phóng những vòng ánh sáng trắng ra bên ngoài. 

Một buổi tối nằm nhắm mắt trên giường, đệ tử nhìn thấy chỗ thiên tâm của mình có một chấm sáng màu xanh lam đậm, xung quanh chấm sáng còn có một quầng sáng màu xanh lam nhạt, cực kì rõ ràng. Buổi tối ngày hôm sau khi nhắm mắt lại thì nhìn thấy thiên tâm xuất hiện chấm sáng màu trắng. 

Một hôm đệ tử thiền định có cảm giác rất tốt, ở trong định, trước mắt đột nhiên hiện lên một màu xanh lam rất đẹp, từ màu xanh nước biển cho đến màu xanh da trời, sau đó nhìn thấy rất nhiều đốm sáng màu trắng lấp lánh.

Thường thường khi tu pháp, đệ tử có thể nhìn thấy ánh sáng trắng sáng rực, đôi khi ở thiên tâm, đôi khi ở đỉnh đầu, đôi khi ở chóp mũi, đôi khi ở tâm luân, khi bên trái khi bên phải. 

Tháng 5 năm nay, một hôm đệ tử đi đến chùa đồng tu Hộ Ma Liên Hoa Đồng Tử, đệ tử ở trong thiền định nhìn thấy một vòng tròn ánh sáng màu lam quấn xung quanh nửa thân trên của mình.

(5) Phật Bồ Tát chỉ thị tâm linh

Đệ tử vốn không dự định đi pháp hội cầu phúc mùa xuân năm 2020 ở Seattle, nhưng một hôm đệ tử đang ngủ thì rõ ràng nghe thấy một âm thanh nói ở bên tai của đệ tử rằng: “Mua vé máy bay.” Đệ tử biết là chỉ thị của Sư Tôn và Phật Bồ Tát, thế nên đã lên mạng mua vé máy bay đi Seattle. Bây giờ mới biết thì ra là có dịch bệnh nên mùa thu không thể đi đến Seattle được. 

Vào năm nay có một hôm đệ tử quên đặt đồng hồ báo thức, buổi sáng đang trong giấc mơ, cảm giác có một ngón tay thon nhỏ chạm nhè nhẹ ba lần vào trán của đệ tử, đồng thời nghe thấy âm thanh đi vào trong tâm của đệ tử là “dậy dậy”. Đệ tử lập tức ý thức là phải dậy để tham gia pháp hội trực tiếp ở trên mạng của Sư Tôn, cho nên mở to mắt ra nhìn thời gian thì đã là 7 giờ 17 phút sáng rồi. (Pháp hội ngày chủ nhật tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự của Sư Tôn là 8 giờ sáng theo giờ ở Melbourne.)

(6) Cảm ứng khác

Sau khi tương ứng với Sư Tôn không lâu, có một ngày thiên tâm của đệ tử đột nhiên có cảm giác khí xung kích mãnh liệt, cảm giác dường như khí có thể xung lên mở thiên nhãn.  Đệ tử bây giờ thường xuyên thấy tâm luân phát nhiệt, có khi cảm giác ấm áp đó còn lan ra tới tề luân.

Kể từ khi quy y Sư Tôn, thực tu Chân Phật Mật Pháp, đệ tử sâu sắc lĩnh hội được pháp thân của Sư Tôn tồn tại ở khắp mọi nơi, bảo vệ và gia trì cho chúng đệ tử, trải nghiệm được sự thù thắng của Chân Phật Mật Pháp, nhập thế hay xuất thế đều có thể viên mãn. Đệ tử lại càng cảm nhận được sự từ bi và vĩ đại của Sư Tôn! Đệ tử cảm thấy vô cùng may mắn đời này có thể quy y Sư Tôn, lại có được nhân duyên và phúc phần tu hành! Một lần nữa cảm ơn đại gia trì của Sư Tôn!

Kính chúc Sư Tôn Phật thể an khang, trường trụ thế gian!
Đệ tử Liên Hoa Duy An đảnh lễ cúi lạy.
10/06/2022.

🌟

Đối với những cảm ứng của Liên Hoa Duy An, tôi có cảm tưởng như sau:

(1) Tận mắt nhìn thấy.

Liên Hoa Duy An sống tại Australia, phân thân của tôi đã đi đến châu Úc.
Thật ra có rất nhiều người tận mắt nhìn thấy phân thân của tôi, đệ tử ở các nước trên toàn thế giới đều có. 
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
”Tan vào hư không, hóa thân là bất khả hạn lượng.”
Tô Mã Á ở Indonesia tận mắt nhìn thấy.
Sư Đầu ở nước Anh cũng có thể tận mắt nhìn thấy.
Liên Ngạn, Liên Hỷ ở Mỹ đều có thể tận mắt nhìn thấy.
…………………

(2) Cảm ứng.

Cảm ứng thấy Lư Sư Tôn thường ở bên cạnh.
Ở trong tâm.
Có rất nhiều người như thế.

(3) Gặp trong mơ.

Vô số.

Tôi viết như thế này không phải là tự cao ngạo mạn, mà là muốn dạy mọi người tầm quan trọng của tu pháp.
Tu đến khi hòa vào hư không, phân thân vô số, phân thân lợi ích chúng sinh, làm sự nghiệp bồ đề.
Lúc này sẽ đắc đại trí huệ: chân không trí, sai biệt trí, trung quán trí.
Có thể thiện xảo độ chúng sinh.
Thông đạt không chướng ngại, có thể tự mình giải thoát.
Hành giả không thối chuyển, không nhập lục đạo luân hồi.

Lúc này, hành giả đắc được bốn vô úy:
1. Phật vô úy.
2. Tổng trì vô úy — thiện niệm tăng trưởng, ác niệm không sinh.
3. Quyết nghi vô úy — giỏi tháo gỡ tất cả nghi hoặc.
4. Tri vô úy — biết căn khí của chúng sinh.
5. Báo đáp vô úy — đất nước, Tam Bảo, cha mẹ, chúng sinh.
(Bao hàm Phật vô úy và bốn vô úy của Bồ Tát.)

Tiến thêm một bước nữa thì:
Chứng đắc thập lực mà đặc biệt Như Lai mới có.
Chứng 18 pháp đặc thù.
Đây đã là vô thượng của vô thượng rồi.
Đối với vấn đề hóa thân của Phật và Bồ Tát, trong chốc lát tôi đã hoàn toàn giải đáp rồi.


### 39. Giải thích rõ hơn về tan vào hư không


Một lá thư cảm ứng.

Đảnh lễ Căn bản Truyền thừa Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật.
Sư Tôn Phật an!
Đệ tử theo Sư Phật tu tập Chân Phật Mật Pháp 33 năm, năm qua nghe Sư Phật giảng kinh Kim Cang, Sư Phật đã giải thích một cách tinh tế và sâu sắc về trí huệ tính Không vốn dĩ không thể dùng ngôn ngữ để biểu đạt, khiến đệ tử pháp hỷ tràn đầy, trí huệ rộng mở. Lại cộng thêm gần đây Sư Phật bắt đầu giảng kinh Duy Ma Cật, đệ tử càng sâu sắc bái phục Sư Phật đã từ bi tận tụy giáo huấn, dốc hết “vốn liếng” để truyền dạy. Từng câu từng chữ pháp ngữ trí huệ của Sư Phật, sự sâu sắc trong ý nghĩa của nó, sự rộng lớn trong tư duy của nó, thật không phải là người giảng kinh thuyết pháp bình thường có thể so sánh được.

Trong lòng đệ tử lặp đi lặp lại lời tán thán truyền thừa và khả năng ghi nhớ không thể đo lường của Sư Phật, trí huệ Phật học uyên bác như biển rộng. Chúng đệ tử có thể có được giáo hóa hun đúc của một bậc đại đạo sư từ bi không thể sánh bằng như vậy, thật cảm ơn lại cảm ơn. Tấm lòng yêu thương và quan tâm của Sư Phật dành cho các đệ tử có thể sánh với trời đất, đời này kiếp này may mắn xiết bao có thể gặp được nhân duyên đại thiện này, có được ơn tái tạo của Sư Phật khiến đệ tử được sinh ra một lần nữa. Tấm lòng biết ơn này không ngôn ngữ nào có thể biểu đạt được một phần vạn, tấm lòng này có trời chứng giám, và duy có Sư Phật biết.

Dưới sự dưỡng dục gia trì của Sư Phật và chư tôn, ngoài việc trí huệ và năng lực không ngừng được mở mang, ngày ngày tăng trưởng ra, đệ tử còn có những trải nghiệm chân thực bất khả tư nghì khi thực tu Chân Phật Mật Pháp, xin báo cáo với Sư Phật như sau:

Trong pháp giới: Đệ tử thường được pháp thân Sư Phật thị hiện, trong quá trình tu pháp của đệ tử, có mấy lần ban ngày tận mắt nhìn thấy pháp thân của Sư Phật, được pháp thân của Sư Phật gia trì dạy bảo. Trong thiền định của đệ tử, trong tu pháp hoặc trong pháp hội, đệ tử đều có được đại gia trì, đại cảm ứng, kiến chứng Chân Phật Mật Pháp là chân thực không giả, thù thắng khó mà tưởng tượng được!

Trong giấc mơ: Trong vô số những mộng cảnh suốt mấy chục năm của đệ tử, Sư Phật không lúc nào là không bận rộn chăm lo cho chúng sinh xử lý các việc Phật, đệ tử nhìn thấy hình tượng của chính mình từ lúc còn là cô gái nhỏ lúc bỡ ngỡ nhất cho đến khi thành người như bây giờ, đệ tử vĩnh viễn là một người ở bên cạnh đi theo Sư Phật. Có thể thấy, ở trong mơ, Sư Phật cũng để cho đệ tử được ở bên cạnh hầu hạ và học tập, gia trì cho con trưởng thành. Cảm ơn Sư Phật từ bi.

Trong hiện thực: Hơn mười năm trước, đệ tử từng được Sư Phật khai thị giảng về cảm giác của đại lạc, khi ấy cũng có thể dùng ý niệm để kiểm soát. Nhiều năm nay đệ tử tiếp tục tu luyện pháp khí-mạch-minh điểm, thời gian gần đây rất ngạc nhiên phát hiện ra cảm nhận về đại lạc và tính Không này càng có thể tùy tâm vận chuyển. Tâm niệm vui thì cảm giác hỷ lạc lập tức sinh ra; tâm niệm định thì định niệm lập tức sinh ra; tâm niệm trống rỗng thì không niệm lập tức sinh ra. Lúc ngủ bất luận là ngủ kiểu “đại than thi” hay là “cát tường ngọa”, ý niệm đặt ở tay, ở chân, nghĩ đến khí là lập tức khí đến, mỗi tế bào giống như đang nhảy  múa, có cảm nhận tê tê không thể nào dùng ngôn ngữ để mô tả được, giúp đệ tử rất nhanh chóng đi vào giấc chiêm bao tuyệt diệu, thư thái và khinh an. Vào ban ngày cũng có thể cảm nhận được ánh sáng ninh tịnh và pháp hỷ diệu lạc của “thường lạc ngã tịnh” trong Cao Vương Kinh. Cuối cùng đệ tử đã lĩnh ngộ được khai thị mật nghĩa của Sư Phật rằng người xuất gia tu thiền cũng có thể thành tựu.

Những điều đệ tử kể trên chưa phải là toàn bộ cảm nhận cảm ứng khi tu tập Chân Phật Mật Pháp, toàn bộ đến từ sự gia trì và bồi dưỡng dạy bảo suốt bao nhiêu năm của Sư Phật, đệ tử không biết dùng lời lẽ nào để bày tỏ một phần vạn tấm lòng của mình. Đệ tử xin khấu đầu cảm tạ ơn Phật!

Kính chúc Sư Phật khỏe mạnh trường thọ, pháp hỷ tự tại.
Thỉnh Phật trụ thế, hằng chuyển pháp luân.

Đệ tử Liên Từ đảnh lễ khấu tạ.
19/06/2022.

🌟

Đây là một bức thư cảm ứng, tôi lại giải thích rõ như sau:
Đối thoại giữa tôi và Duy Ma Cật Đại Sĩ:
Duy Ma Cật hỏi:
”Lư Sư Tôn! Ngài và hư không là hai hay là một?”
Tôi đáp:
”Là một.”
Duy Ma Cật hỏi:
”Lư Sư Tôn! Ngài và chúng sinh là hai hay là một?”
Tôi đáp:
”Là một.”
Duy Ma Cật hỏi:
”Lư Sư Tôn! Ngài và thế giới Ta Bà là hai hay là một?”
Tôi đáp:
”Là một.”
Duy Ma Cật hỏi:
”Lư Sư Tôn! Ngũ Phương Phật và Ngũ Đại Kim Cang, Bát Đại Bồ Tát và Bát Đại Minh Vương là hai hay là một?”
Tôi đáp:
”Là một.”
Duy Ma Cật nói:
”Đây chính là pháp môn bất nhị.”
Tôi nói:
”Tôi đã hiểu rồi! Cảm ơn!”

Tôi hiểu cái gì? Nói cho mọi người biết nhé! 
Hữu - Không bất nhị.
Thanh - Không bất nhị.
Trí - Không bất nhị.
Thậm chí tôi còn hiểu rằng, ngũ độc chính là ngũ trí, phiền não chính là bồ đề, luân hồi chính là niết bàn…
Tôi đã đạt được chân như.
Sinh tử như thế. (vô sinh vô tử)
Viên mãn như thế. 


### 40. Song thân của Duy Ma Cật Đại Sĩ


Đây là cuộc đối thoại giữa Lư Sư Tôn và Duy Ma Cật Đại Sĩ nói về pháp Song thân.
Tôi hỏi:
”Đại Sĩ có thực hành pháp Song thân không?”
Duy Ma Cật đáp:
”Có.”
Tôi hỏi:
”Bạn đạo là ai?” (Bạn đạo là minh phi.)
Duy Ma Cật đáp:
”Tán Hoa Thiên Nữ.”
Tôi hỏi:
”Thế nào là pháp Song thân?”
Duy Ma Cật đáp:
”Biến mối liên kết nam nữ của thế gian thành Phật pháp.”
Tôi hỏi:
”Dâm dục cũng là Phật pháp à?”
Duy Ma Cật đáp:
”Đúng.”
Tôi hỏi:
”Vì sao dâm dục cũng là Phật pháp?”
Duy Ma Cật đáp:
”Đây là Phật pháp phương tiện, cũng là Phật pháp tịnh hóa.”
Tôi hỏi:
”Phương tiện thế nào? Tịnh hóa thế nào?”
Duy Ma Cật đáp:
”Bởi vì là pháp bí mật nên không thể công khai kỹ thuật của pháp. Nhưng một điểm quan trọng nhất là thiền định trí huệ.”

Tôi hỏi:
”Nam nữ giao hợp cũng là thiền định à?”
Duy Ma Cật đáp:
”Đúng.”
Tôi hỏi:
”Kết quả ra sao?”
Duy Ma Cật đáp:
”Sản sinh đại lạc, sản sinh quang minh, xuất hiện tính Không.”
Tôi hỏi:
”Đại Sĩ dùng tâm gì để thực hành pháp Song thân?”
Duy Ma Cật đáp:
”Tâm thanh tịnh.”
Tôi hỏi:
”Pháp Song thân cũng có thể thanh tịnh ư?”
Duy Ma Cật đáp:
”Tâm tịnh thì Phật thổ tịnh, tâm tịnh thì song thân tịnh. Chuyển hóa dâm nộ si thành thanh tịnh.”
Tôi hỏi:
”Vậy tất cả thế giới Ta Bà đều là thanh tịnh sao?”
Duy Ma Cật đáp:
”Tất cả do tâm tạo.”

Tôi hỏi:
”Nếu có người lợi dụng pháp Song thân để thỏa mãn dục vọng của mình thì sao?”
Duy Ma Cật đáp:
”Tâm tạo địa ngục.”
Tôi hỏi:
”Pháp Song thân có khó không?”
Duy Ma Cật đáp:
”Cực khó!”
Tôi hỏi:
”Vì sao?”
Duy Ma Cật đáp:
”Tập khí của con người thế tục chưa loại bỏ.”
Tôi hỏi:
”Tu hay không tu?”
Duy Ma Cật đáp:
”Đã chứng thân tâm vô lậu, có thể tu. Chưa chứng thân tâm vô lậu, không thể tu.”
Tôi hỏi:
”Làm sao để tu thân vô lậu?”
Duy Ma Cật đáp:
”Thân vô lậu tức là không rò rỉ chảy mất minh điểm. Lư Sư Tôn! Ngài đã biết câu trả lời rồi, ngài đã tu thành thân vô lậu rồi, sao còn hỏi tôi?”
Tôi nói:
”Mượn lời của Đại Sĩ để cho chúng sinh biết.”

Chú thích:
Lưỡi chạm hàm trên.
Hạ hành khí nâng minh điểm thăng lên. (Thượng hành khí đẩy ra hết.)
Ép họng xuống.
Bụng ép về phía lưng.
Thu gọn tứ chi.
Nâng hậu môn.
Quan trọng nhất là làm một mạch trôi chảy, nâng minh điểm bay đến núi Tu Di.
Tôi hỏi:
”Làm sao tu tâm vô lậu?”
Duy Ma Cật đáp:
”Tâm tan vào hư không. Ánh sáng một mình tỏa chiếu. Lạc, minh, không đồng thời hiển hiện (tức đại lạc, quang minh, tính Không).”

Tôi hỏi:
”Tu thế nào?”
Duy Ma Cật đáp:
”Chuyên nhất. (nhất tâm bất loạn)
Nhập tam ma địa.
Ly hý.
Vô tâm.
Tan vào hư không.” (Đây chính là tâm vô lậu.)

Tôi hỏi:
”Pháp Song thân có công dụng gì?”
Duy Ma Cật đáp:
”Hãy đọc giảng nghĩa Hỷ Kim Cang mà ngài viết đi!”


### 41. Tùy thuận vô úy


Duy Ma Cật Đại Sĩ hỏi tôi:
”Bồ Tát có sợ hãi chút gì không?”
Tôi đáp:
”Bồ Tát không sợ hãi chút gì.”
Duy Ma Cật Đại Sĩ hỏi:
”Rất tốt! Bồ Tát không sợ hãi, đối với tham sân si thì sao?”
Tôi đáp:
”Tùy thuận tham sân si!”

Tôi không sợ hãi tham sân si, giải thích như sau:
Kẻ tham tiền. Tôi dạy pháp Tài Thần. 
Kẻ tham sắc. Tôi dạy pháp Song thân.
Kẻ tham danh. Tôi dạy pháp Đại Quyền Thần Vương.
Kẻ sân tâm. Tôi dạy pháp Kim cang.
Kẻ ngu si. Tôi dạy pháp Bổn tôn trí huệ.
………………..

Tôi nói với Duy Ma Cật Đại Sĩ:
”Đây chính là sự tùy thuận chúng sinh của Lư Sư Tôn.”
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
”Tham sân si là ba thứ độc, nhưng tham sân si cũng là Phật pháp.”
Tôi nói:
”Tiên dĩ dục câu chi, tái lệnh nhập Phật đạo”. [Trước tiên theo dục vọng của con người để thu hút họ, sau đó khiến họ bước vào Phật đạo.]
Duy Ma Cật nói:
”Đây chính là tùy thuận.”
Tôi nói đại Bồ Tát cần hiểu:
Tùy thuận.
Tùy duyên.
Tùy phận.


### 42. Cảm ngộ đọc kinh - Bài viết của Hướng Hồng


Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật vô thượng tôn quý!

A Di Đà Phật! Trước tiên đệ tử tại đây đảnh lễ một trăm lạy Căn bản Truyền thừa của mình, cảm ơn Thầy đã một lần nữa vì chúng con mà thắp lên ngọn đèn sáng trong tâm: kinh Kim Cang, kinh Lục Tổ Đàn, kinh Viên Giác,… Còn có cả kinh Duy Ma Cật mà Thầy sắp giảng nữa. 

Khi nghe thấy Thầy sẽ vì chúng con mà giảng giải kinh này, trong lòng con có một nỗi mong chờ không thể mô tả được, giống như cuối cùng đã gặp được cố nhân lâu này chưa gặp. Hôm nay cuối cùng Thầy đã bắt đầu giảng rồi, trong lòng con lại có một nỗi phấn khích không thể nào mô tả, nhưng vì sao lại thế? Con cũng không biết, trước kia khi chưa đọc kinh này, điều con biết về cư sĩ Duy Ma Cật là: ngài ấy tương đương với Phật, câu nói nổi tiếng nhất của ngài là: “Phiền não tức là bồ đề.” Khi Thầy giảng kinh đã hỏi: “Phật quốc là chỉ cái gì?” Khi ấy câu trả lời của Thầy là: “Thế giới Ta Bà chính là Phật quốc.”

Oa! Lời này khiến tâm con nhảy nhót tung tăng, dường như bản thân hiểu được Sư Tôn đang nói cái gì, cảm thấy pháp hỷ tràn trề, con hiểu tâm của Thầy ư? Nhưng đây chỉ là cảm nhận của con, không biết có thật là hiểu được ý của Thầy không? Dưới đây là nhận thức của con lúc đó đối với câu hỏi của Sư Tôn: “Pháp giới toàn nhiên” đó là thân của chúng ta tuy ở tại thế giới, nhưng tâm thì ở tại pháp giới, cho nên sự nhiếp dụng của thân bản thể này cũng chính là Phật quốc, bởi vì tất cả chúng sinh vốn dĩ không ai là không ở trong cảnh giới của Như Lai. Kinh Hoa Nghiêm còn nói: “Cảnh giới thâm mật của Như Lai, rộng lớn như  hư không, tất cả chúng sinh ở trong đó, nhưng thật ra cũng không ở trong đó.” Còn nói: “Nếu ai muốn biết hết, tam thế mọi chư Phật, nên quán tính pháp giới, tất cả do tâm tạo.” Đây là nhận thức của đệ tử hiện tại, cũng không biết có đúng với chủ đề hay không, mong Sư Tôn từ bi dạy bảo.

Sau đó Sư Tôn có nhắc đến cư sĩ Duy Ma Cật có uống rượu, có đi lầu xanh, vì sao? Đệ tử cho rằng cư sĩ Duy Ma Cật có thể làm như vậy là vì ngài dùng tri thức của cảnh giới Phật, lấy vô niệm để nhận thức tất cả, để thực hành tất cả phương tiện, và khi ngài nhận thức được tất cả của tất cả quy về bản tâm, tất cả mọi thế giới đối với ngài ấy mà nói, toàn bộ đều là pháp giới. Tại đây đệ tử nghĩ đến trích dẫn trong kinh Viên Giác có một đoạn ghi chép liên quan đến Văn Thù Bồ Tát: “Văn Thù Bồ Tát cười rạng rỡ, rút bảo kiếm ra, vung lên chém tất cả Như Lai, và nói thanh tịnh bát nhã ba la mật tương ứng.” Đệ tử cho rằng: sở dĩ Văn Thù Bồ Tát có thể vung kiếm chém tất cả Như Lai là vì ngài biết Như Lai cũng chỉ là một cái danh từ mà thôi, cho nên không chấp vào cái danh xưng này, còn cái gọi là ô nhiễm và thanh tịnh, tất cả đều chỉ là hý luận: phi nhiễm/phi tịnh, bất sinh/bất diệt, bất lai/bất khứ, trở về thâm quán pháp tính, tiến nhập trạng thái bất nhị, tâm, Phật, chúng sinh, ba điều này không khác biệt, ngay lúc này chính là Phật quốc.

Nhận thức của đệ tử có hạn, tại đây khẩn thiết thỉnh cầu Sư Tôn từ bi ban cho chỉ bảo và chỉ ra chỗ sai, để đệ tử có thể tiếp tục không ngừng đi lĩnh ngộ trí huệ bát nhã của Sư Tôn/cư sĩ Duy Ma Cật, càng nỗ lực để tu sửa chính mình, càng nghiêm túc lắng nghe dạy bảo của Sư Tôn, tự giác giác tha, tự lợi lợi tha, mọi người cùng tinh tấn tu trì, cùng trở về Ma Ha Song Liên Trì.

Cuối cùng, tại đây đệ tử xin lạy trăm lạy, kính chúc Sư Tôn Phật thể an khang, trường thọ tự tại, chúc mừng Thánh đản, thỉnh Phật trụ thế lâu lâu lâu!!!

🌟

Lư Sư Tôn bình luận như sau:
1. Tâm thanh tịnh, nơi nào không phải là tịnh thổ?
2. Bất kì cảnh giới nào, không nhiễm tâm ta. Tức là giải thoát vô ngại.
3. Tất cả mọi chốn vô ngại.
4. Tất cả mọi chốn giải thoát.

🌟

Tại đây, đệ tử đặc biệt báo cáo với Sư Tôn một chút về ba lần lĩnh ngộ tương đối sâu sắc trong hơn nửa năm qua. 

(1) 

Một buổi sáng ngủ dậy, tuyết rơi ngoài cửa sổ, đệ tử nhìn thấy cảnh yên tĩnh như vậy thì bản thân cứ ngồi ngây ra trước cửa sổ, thả hồn theo những bông hoa tuyết từ trên trời rơi xuống, không khởi lên bất kì tạp niệm nào, ngay cả khi bài hát mà bình thường mình thích nghe nhất đi vào tai cũng không có bất kì sự phán xét nào, cũng chỉ là yên lặng lắng nghe… dường như rơi vào trong trạng thái vô cùng mát mẻ, yên tĩnh, yên ổn, tịch tĩnh.

(2) 

Một ngày nọ, đệ tử vì một chuyện mà cứ rối hết cả lên, mặc dù về mặt lý luận mà nói thì biết rằng phải buông bỏ, phải biết hành vi và rời bỏ hành vi, nhưng thật sự không hề dễ dàng như vậy, dường như phiền não vẫn còn ở nguyên đó. Lúc đó đệ tử vẫn đi tu pháp như thường lệ, trong lúc tu pháp tự nhiên có mấy chữ bay đến khiến đệ tử biết: “Phiền não tức là bồ đề.” Sau khi tu pháp xong đứng dậy, bản thân cảm thấy cả người nhẹ nhõm, phiền não trước mắt không còn nữa, tức khắc cảm thấy rất ngạc nhiên: phiền não sao có thể nói không còn là không còn nữa chứ? Con nghĩ liệu có phải là để cho con từ trong việc này mà ngộ ra được điều gì chăng? Phiền não từ đâu đến, rồi lại đi về đâu? Sau đó bản thân mới dần dần hiểu được là: khi chúng ta dùng tâm bám víu để chấp vào cảnh thì sẽ sản sinh phiền não, khi chúng ta không chấp vào cảnh thì trở về với chân tính bồ đề, nhưng tâm tính của nó là một không phải hai, nói cách khác là, không có bồ đề cũng sẽ không có phiền não, vì thế mới có thể nói phiền não tức là bồ đề. Ở đây đệ tử muốn mượn một bài kệ trong “Chứng đạo ca” của đại sư Vĩnh Gia để khái quát một chút: 
*“Học tập đạo nhân vô vi nhàn
Không trừ vọng tưởng không cầu chân,
Thực tính vô minh là Phật tính,
Hành hóa không thân là pháp thân, 
Pháp thân hiểu rồi không một vật, 
Tự tính khởi nguồn Phật thiên chân.”*

(3)

Một hôm đệ tử đang tu pháp Bổn tôn, đúng vào lúc đang làm nhập ngã ngã nhập cùng Bổn tôn hợp nhất, toàn thân sáng rực, dường như để cho đệ tử biết rằng: tức tâm tức Phật, tức tâm tố Phật; tâm, Phật, chúng sinh, ba thứ không khác biệt.


### 43. Liên Hoa Đồng Tử từ lâu đã trấn thủ tháp Phật cổ ở Indonesia


Bài viết của Thích Liên Phi.

Hơn một nghìn năm trước, Phật giáo sớm đã được hoằng dương đến Indonesia cổ đại, Indonesia khi đó được gọi tên là Nusantara, có ý nghĩa là ở giữa các hòn đảo. Có vô số tháp Phật lớn nhỏ còn sót lại từ Indonesia cổ đại, phần lớn nằm ở Sumatra và Java. Điểm khác biệt là các tháp Phật ở Sumatra đều được làm bằng gạch đỏ, hiện nay chỉ còn lại phần móng. Những tháp Phật ở Java được làm bằng đá núi lửa, chịu được nắng mưa, việc bảo tồn cũng được coi là khá hoàn thiện.

Những ghi chép về lịch sử Indonesia rất hạn chế, bên cạnh đó, những người thu thập tài liệu giảng dạy lịch sử thông thường không nhất định phải có hiểu biết sâu sắc về Phật giáo. Do đó, chúng tôi chỉ gọi Phật giáo thịnh hành trong thời kỳ đầu của Indonesia là Đại thừa nói chung, nhưng thật không ngờ rằng các di tích Phật giáo ở Indonesia đều mang sắc thái của Phật giáo Mật tông. Điều đó có nghĩa là, Phật giáo thịnh hành ở Indonesia cổ đại đều là Mật tông chân chính.

Ngũ Phương Phật ở Candi Borobudur, Lục Độ Mẫu ở Candi Kalasan, Đại Hắc Thiên ở Candi Singosari, Bát Nhã Phật Mẫu ở Muara Jambi, v.v… đâu đâu cũng là một loạt chư Phật Bồ Tát được thờ phụng trong Mật tông. Trong số rất nhiều tháp Phật, có một tháp Phật tuy kém nổi tiếng hơn Borobudur rất nhiều, chỉ cách Borobudur chừng ba cây số, nhưng toàn bộ tháp Phật này được bảo tồn tương đối tốt, tên là Môn Đồ Phật Tháp (Candi Mendut), ý nghĩa là Trúc Lâm Phật Tháp, cùng với một tháp Phật khác cách đó một cây số là tháp Candi Pawon nằm trên một đường thẳng. Thiết kế này cho đến nay vẫn là một điều bí ẩn chưa được giải đáp.

Môn Đồ Phật Tháp cao 26,4 mét. Nó được thành lập vào năm 824 sau Công nguyên bởi Raja Indra, vị vua Indra của Java cổ đại, người tin vào Phật giáo Mật tông. Nó không còn tồn tại và có 48 tòa tháp Phật xung quanh tầng trên cùng. Có hơn chục bậc thang đá hướng về phía tây nam, trên bậc thang có một cái hang, trong đó có thờ phụng ba pho tượng Phật bằng đá. Các báo cáo phi học thuật thông thường chỉ giới thiệu sơ lược về ba tượng Phật bằng đá là Thích Ca Mâu Ni Phật, Kim Cang Tát Đỏa và Quan Thế Âm Bồ Tát. Để bảo vệ các di tích lịch sử, vài năm trước, đất nước này đã đóng cửa các hang động của Môn Đồ Phật Tháp và chỉ cho phép khách du lịch chiêm bái, chụp ảnh hoặc đi vòng quanh chùa dưới các bậc đá. Theo báo cáo của một số học giả, ba bức tượng Phật này thuộc hệ phái chính thống của Phật giáo Mật tông, ở giữa là Đại Nhật Như Lai, tay kết ấn chuyển pháp luân; bên trái là Kim Cang Thủ Bồ Tát, tay phải cầm pháp khí đã bị hư hoại, lờ mờ có thể nhìn ra là tay đang cầm chày kim cang giữ trước ngực, tay trái chắc hẳn là cầm chuông kim cang đặt trên đùi; bên phải là Liên Hoa Thủ Bồ Tát, tay trái kết ấn cầm hoa sen, tay phải đáng tiếc là đã bị hư hoại, nhưng rất dễ để nhìn ra là tay phải không hẳn là buông xuống kết ấn ban nguyện, mà khả năng lớn là đưa tay ra phía trước và tay kết ấn thuyết pháp. 

🌟

(Liên Hoa Thủ Bồ Tát tức Liên Hoa Đồng Tử.)


### 44. Thư của Liên Ha


Sư Phật kính yêu nhất! Phật an!

Ngu đệ tử Liên Ha nhất tâm đảnh lễ và đem thân khẩu ý cúng dường Sư Phật!
Thánh đản của Sư Phật đã đến rồi, trước tiên đệ tử kính chúc Sư Phật sinh nhật vui vẻ! Ngày ngày vui vẻ! Ngày ngày cát tường! Mong Thầy Phật thể an khang! Trường thọ như ý! Pháp luân hằng chuyển! Độ chúng vô lượng! Đệ tử một lòng thỉnh Sư Phật trụ thế!

Trong chuyến đi đến Seattle vào mùa xuân năm nay, đệ tử đã thu hoạch tràn trề! Ngày ngày tắm trong Phật quang, mỗi bữa ăn đều được bầu bạn bên cạnh Sư Phật. Ánh mắt của Sư Phật chính là quán đảnh, nụ cười của Sư Phật chính là an tâm, bất kì lời nói nào của Sư Phật đều là chú âm gia trì. Ngày trước khi đối diện với ánh mắt của Sư Phật, trong lòng đệ tử sẽ cảm thấy bối rối bất an, nhưng bây giờ đệ tử có thể an nhiên tiếp nhận Phật nhãn gia trì của Sư Phật, cảm nhận sự gột rửa tâm linh, sự dung hợp của Phật tính và Phật tính. 

Ở bên cạnh Sư Phật, tu hành tiến bộ như bay, đệ tử thường quán bản thân và Bổn tôn hợp nhất, sau đó bắt đầu đi ăn cơm hoặc đi rửa bát, tất cả động tác đều biến thành trang nghiêm và ung dung. Còn khi đệ tử không ngồi bên cạnh Sư Phật, sau khi ăn xong thì tu tập thiền định. Đệ tử cực kì tin chắc Sư Phật hiểu rất rõ trạng thái thiền định của đệ tử, cũng giống như Sư Phật hiểu rõ lời nói hành vi và tâm niệm của mọi đệ tử, cho nên lúc sau khi đệ tử hỏi việc, Sư Phật cầm bút lên đã viết ngay một bài kệ hướng dẫn đệ tử tu hành, mỗi câu trong đó đều là những khẩu quyết vô cùng vi diệu mang tính chất bước ngoặt.

Sau khi có được hướng dẫn từ Sư Phật, việc tu pháp của đệ tử lập tức có tiến bộ như bay, đệ tử cực kì nghiêm túc tu trì Thứ tự sinh khởi và Thứ tự viên mãn, quán tu tiến nhập vào trong tri giác vi tế. Ngày hôm đó thiền định ở bên cạnh Sư Phật không hề giống với bình thường, và Sư Phật cũng gật đầu mỉm cười khích lệ đệ tử.

Sau khi trở về Brazil, đệ tử càng dựa theo những khẩu quyết của Sư Phật mà không ngừng thâm nhập. Trước mắt, đệ tử quán tu Chính hành là: đầu tiên quán Căn bản Thượng sư và chư tôn của cảnh giới quy y, chư tôn đều dung nhập vào Căn bản Thượng sư (Sư Phật vốn dĩ chính là sự hợp nhất của thập phương tam thế chư Phật Bồ Tát Kim cang Hộ pháp). Sau khi Sư Phật phóng quang lại hóa thành Thời Luân Kim Cang, phóng ba ánh sáng bao bọc lấy đệ tử (Kim cang thân gia trì, Kim cang ngữ gia trì, Kim cang ý gia trì). Sau đó Thời Luân Kim Cang và Phật Mẫu Nữ Thần Thời Gian trụ đỉnh đầu, lấy cam lộ quán đảnh cho đệ tử, tịnh hóa nghiệp chướng nhiều kiếp (nghiệp chướng chảy xuống dưới đất cúng dường oan thân trái chủ và thần chết). Sau đó Thời Luân Kim Cang và đệ tử hợp nhất. Sau khi tự mình hóa thành Thời Luân Kim Cang, chữ Hum trong tim phóng ra ánh sáng lam, chiếu đến mọi chúng sinh xung quanh. Chúng sinh lần lượt hóa thành Thời Luân Kim Cang và quyến thuộc, hoàn cảnh xung quanh hóa thành tịnh thổ thời gian Shambhala. Thế là chúng sinh đều thành Phật đạo, ánh sáng chiếu lẫn nhau, và tiến vào cảnh giới của Mahayoga. 

Sau đó, đệ tử tu tập Kriya yoga, khiến chữ Hum trong tim bay vào trong hư không, hòa vào hư không, không những hóa chính mình thành tính Không mà cũng hóa tất cả đồng môn, quyến thuộc, chúng sinh, núi sông mặt đất thành tính Không, cứ thế tiến nhập vào cảnh giới của kinh Tâm và kinh Kim Cang: vô ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, chư pháp không tướng. Đây chính là khiến cho tất cả chúng sinh nhập vào vô dư niết bàn mà diệt độ. Kì thực tất cả chúng sinh và tất cả pháp vốn dĩ chính là tính Không, không cần chuyển hóa, ngay lúc này chính là pháp tính chân như, chỉ cần nhận thức được là được.

Đệ tử ngộ ra là: chúng sinh của Mahayoga đều là Phật, cực kì gần với cảnh giới tính Không của Không tướng của mọi pháp, cái trước là diệu hữu trong suốt, cái sau là chân không, thậm chí có thể nói là một thể, đều là chân như. 

Về phương diện tu tập chuyết hỏa, cũng nhờ Sư Phật chỉ điểm mà đệ tử đã tiến vào trạng thái vi tế hơn. Đệ tử phát hiện ra tâm và hô hấp vi tế hơn, còn chuyết hỏa trái lại càng mãnh liệt hơn. Hỏa không chỉ có thể tràn đầy toàn thân mà sau cùng, hỏa và tính Không cũng dung hợp vào nhau. Đệ tử lĩnh hội được: thì ra hỏa cũng là một bộ phận trong tính Không, hỏa tức là Không, trong Không có hỏa. Vạn vật đều là như vậy, vạn vật đều là chân như, chân như bao hàm vạn vật.

Ngoài tu pháp ra, trong cuộc sống thường ngày và khi làm sự nghiệp bồ đề, đệ tử cũng tự hóa thân thành Bổn tôn, và quán chúng sinh đều là Bổn tôn. Và cứ như thế, tất cả phiền não tự nhiên tiêu trừ, vì giữa Phật và Phật không thể có điều không thoải mái, giữa Phật và Phật không thể có sự chán ghét và tranh đấu. Đệ tử phát hiện ra: việc quán tu Mahayoga này không ngờ có thể giải trừ tất cả phiền não và tổn thương của thế gian, thật sự là kì diệu chẳng thể diễn tả bằng lời! Cảm ơn Sư Phật đã truyền thụ!

Sư Phật muôn vàn kính yêu, về sự nghiệp giáo dục Chân Phật, năm nay, Đại học Chân Phật trực tuyến hàng tuần do trưởng lão Liên Tài giảng dạy “Chân Phật giản sử”, đây là môn học bắt buộc của mỗi đệ tử Chân Phật. Tất cả đệ tử Chân Phật đều cần có nhận thức hoàn chỉnh và rõ ràng về Căn bản Thượng sư của mình và nguồn gốc của Chân Phật Tông, như vậy mới có thể càng gia tăng thêm chính tín. Hơn nữa trưởng lão Liên Mãn, Liên Truyền giảng dạy “Giải thích ngắn gọn về thứ tự tu hành bồ đề đạo” cực kì xuất sắc! Mỗi tiết học đều khiến các đệ tử học tập được rất nhiều trọng điểm tri thức mới, đồng thời cũng khơi dậy đạo tâm tinh tấn càng lớn hơn.

“Học đường giáo dục pháp” là lớp học chuyên môn dành cho toàn thể nhân viên hoằng pháp Chân Phật học tập. Năm nay, lớp học pháp này mở khóa huấn luyện bồi dưỡng trợ giảng tương lai, biến nhân viên hoằng pháp trước đây chưa từng được học tập trở thành được học tập, bồi dưỡng huấn luyện, thi cử kiểm tra trước, sau đó mới có thể trở thành nhân viên hoằng pháp. Trải qua giai đoạn bồi dưỡng huấn luyện này, chúng ta rõ ràng thấy được tố chất của giảng sư, trợ giảng đã được nâng cao đáng kể, họ nghiêm túc học tập, nghiêm túc thi cử, thậm chí tham gia giảng bài, trường Đại học của chúng ta đành phải “bật ngón tay cái” khen ngợi sự xuất hiện của những nhân viên hoằng pháp ưu tú này, đúng là sự may mắn của tông phái Chân Phật Tông!

Tháng trước, lớp học pháp còn tiến hành dạy học tụng kinh Chân Phật toàn cầu. Dùng Internet để dạy tụng kinh, đây là một sự tiên phong, trước nay chưa từng có. Chúng ta đã khắc phục được những trở ngại như không có âm thanh trên mạng, cuối cùng đã hoàn thành được việc dạy học tụng kinh trên mạng, tiến một bước lớn trong việc thống nhất hóa dạy học tụng kinh của tông phái.

Tiếp nữa, lớp học pháp còn tổ chức các môn “Lịch sử Phật giáo thế giới”, “Lịch sử Phật giáo Trung Quốc”, “Lịch sử Mật giáo Tây Tạng”, “Chân Phật giản sử” do các trưởng lão giảng dạy, và chuyên đề “Giới luật xuất gia” chuyên môn dành cho tăng chúng xuất gia của Chân Phật Tông. Chúng ta nghiêm khắc yêu cầu tất cả tăng chúng Chân Phật tham gia học tập, ban bố các bài kiểm tra và phân tích, khích lệ tất cả tăng chúng không ngừng tiến thủ, không ngừng cải thiện bản thân, vì sự phát triển tương lai của toàn bộ Chân Phật Tông mà gây dựng nền tảng tốt đẹp.

Càng quan trọng hơn là, phòng giáo dục sẽ công khai tuyển chọn những “giáo sư hạt giống ưu tú” từ các đệ tử Chân Phật toàn cầu, để tập hợp tất cả những giáo viên nhân tài ưu tú sẵn lòng phát tâm cống hiến cho giáo dục Chân Phật, mời các giáo sư và giáo viên chuyên nghiệp lên lớp cho họ, hướng dẫn họ cách dạy các khóa học có hệ thống, chất lượng cao, thu hút quần chúng và hiệu quả. Sau đó những vị thầy hạt giống Chân Phật này sẽ được cung cấp một nền tảng giảng dạy, trau dồi sự trưởng thành của họ và khiến họ trở thành những giáo viên xuất sắc cho sự giáo dục tương lai của Chân Phật Tông. Thỉnh cầu Sư Phật gia trì cho sự nghiệp giáo dục Chân Phật tất cả thuận lợi, không ngừng bay cao.

Cuối cùng, lại một lần nữa chúc nguyện Sư Phật sinh nhật vui vẻ! Phật thể an khang! Trường thọ tự tại! Thỉnh Phật trụ thế! Cũng thỉnh cầu Sư Phật gia trì cho đệ tử thân thể khỏe mạnh, đẩy lùi tai chướng, tu hành thành tựu, thiền định thành tựu, Thứ tự sinh khởi và Thứ tự viên mãn đều có thể thành tựu, kiến tính thành Phật, bồ đề viên mãn!

Kính thư.
Ngu đệ tử Liên Ha bái lạy.
Sơn Trung, Sao Paulo, Brazil. 
03/06/2022.


### 45. Thần biến của chú


Sư Phật Liên Sinh Hoạt Phật tôn quý nhất, A Di Đà Phật! 
Cầu nguyện Sư Phật: Phật thể an khang, thỉnh Phật trụ thế, quảng độ chúng sinh. 

Đệ tử Liên Hoa Lily (Lily Tjetiep Tjahjadi) là người Indonesia gốc Hoa, năm nay 81 tuổi, cả nhà đều là đệ tử Chân Phật Tông. 
Một ngày nọ, con gái hỏi đệ tử có muốn tham gia hoạt động trì niệm 8 triệu biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú do Thượng sư Liên Dạng của Đại Giác Đường phát động không. Bởi vì đệ tử học thức không đủ, cũng nghe không hiểu tiếng Trung, nên không có khái niệm gì về các khai thị và tu pháp của Sư Phật. Chỉ nghe nói niệm tâm chú Liên Hoa Đồng Tử rất tốt nên đồng ý. Vào ngày 1/6/2017 thì báo danh tham gia. (Khi ấy đệ tử 76 tuổi.)

Ngày 18/8 cùng năm, đệ tử không biết vì nguyên nhân gì mà thấy đau đớn cực độ phải nằm liệt trên giường, không thể hoạt động. Vội vàng đến bệnh viện, làm đủ loại xét nghiệm, cuối cùng vào tháng 10 xác định được là do sỏi mật gây ra, khi phẫu thuật lấy ra được cả một bát sỏi.

Sau phẫu thuật, chân của đệ tử bị mất chức năng, thân thể cũng không cách nào tự do di chuyển, chỉ có tay còn có thể hoạt động, sinh hoạt không cách nào tự mình xử lý được, chỉ có thể mời y tá chăm sóc. 

Khi ấy đau khổ quá, hơn nữa trong lòng vẫn luôn có một nghi vấn, vì sao vừa mới bắt đầu trì chú thì đã mắc bệnh nặng như vậy? Thậm chí có một khoảng thời gian nằm liệt trên giường không cách nào cử động được, đến nay cũng không cách nào đi lại được. Đệ tử tự mình cho rằng niệm chú này chắc là không tốt rồi, nên sợ không dám niệm chú nữa. Không muốn niệm nữa! Mọi người khuyên đều không nghe.

Có một hôm, khi việc đại tiểu tiện khiến cho thân thể bẩn thỉu ô uế không thể nào chịu được, tự mình lại không thể cử động. Vào lúc cảm thấy bất lực, trong lòng vô cùng buồn bã, cảm thấy cuộc sống như thế này, mỗi ngày đều vật lộn trong đau khổ, sống không bằng chết. Nhưng thời gian bị bệnh, con cái đều hiếu thuận hơn trước, không chỉ giúp đệ tử tìm bệnh viện tốt nhất, bác sĩ tốt nhất, ở trong phòng bệnh tốt nhất, mà còn ân cần thăm hỏi, hết sức quan tâm.

Đột nhiên trong tâm đệ tử lóe lên linh quang, có lẽ đây chính là linh cảm của tâm chú của Sư Phật mới khiến cho đệ tử tuy rằng bệnh nặng, nhưng lại có được sự chăm sóc tốt như vậy. Nếu nỗ lực trì niệm 8 triệu biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, tất cả rồi sẽ đều chuyển biến tốt.

Thế là đệ tử lại một lần nữa hạ quyết tâm, nỗ lực trì chú, hy vọng Sư Phật có thể cứu đệ tử giải thoát bệnh khổ, nếu đệ tử có thể khỏe lại, có thể dùng chính trải nghiệm của đệ tử làm chứng, giúp đỡ người khác cũng có thể được lợi ích.

Vì thế mỗi ngày, dựa vào việc vẫn còn có thể cử động tay cầm chuỗi niệm hạt, nâng cao đệm, đệ tử nỗ lực nửa ngồi nửa nằm niệm chú, rồi lại nhờ y tá sắp xếp, nhờ con gái chuyển đến cho nhân viên hoằng pháp giúp ghi lại con số. 

Có lẽ là người có thành tâm, Phật có cảm ứng, sau khi đệ tử lại nỗ lực trì chú, tình trạng sức khỏe mỗi ngày lại chuyển biến tốt, tín tâm kiên định. Ngày 15/8/2019, không ngờ có thể đứng dậy đi lại được.

Người nhà vội vàng mua dụng cụ hỗ trợ đi lại để cho đệ tử luyện tập di chuyển trong nhà. 
Cảm ơn sự gia trì của chú lực của Sư Phật, khiến trong lòng đệ tử không còn lo lắng, thân thể hồi phục nhanh chóng, tinh thần phấn chấn, dần dần có thể nhờ vào các dụng cụ hỗ trợ mà đi lại được trong khoảng cách ngắn. 

Ngày 21/3/2020, nhân viên hoằng pháp hồi báo cáo rằng đã trì đủ 8 triệu biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú. 

Ngày 12/7/2020, dùng các dụng cụ hỗ trợ đi lại, đệ tử đã có thể đi được quãng đường 500 mét và lên được cầu thang. Trong thời kỳ dịch bệnh bùng phát, đệ tử vẫn thường nhờ vào các dụng cụ hỗ trợ đi lại để đi dạo, trong lúc vô thức, không ngờ phát hiện ra có thể đi lại mà không cần dùng dụng cụ hỗ trợ nữa. Thật sự đã hồi phục rồi.

Ngày 2 và 3/5/2022, Đại Giác Đường tổ chức hai ngày lớp tinh tấn trì Bách tự minh chú, con gái đã đi cùng đệ tử đến Phật đường tham gia trì chú, có duyên nói chuyện với Thượng sư Liên Cấm. Sau khi Thượng sư biết tình hình của đệ tử thì từ bi nói sẽ giúp đệ tử truyền đạt ý cảm tạ đến Sư Phật!

Đệ tử thành tâm sám hối do không hiểu Phật lý, lại không hiểu nhân duyên quả báo, một lần vì đau khổ mà đánh mất lòng tin. Càng cảm ơn Sư Phật từ bi không bỏ rơi một chúng sinh nào, nghe tiếng là cứu khổ. Đệ tử đã xác định chắc chắn rằng trì tụng tâm chú Liên Hoa Đồng Tử thật sự có thể tùy tâm như ý, lại càng có thể vãng sinh tịnh thổ.

Cầu nguyện Sư Phật từ bi tiếp dẫn đệ tử vào lúc lâm chung, để cho đệ tử vãng sinh tịnh thổ.
Cảm ơn vô hạn!
Đệ tử gửi kèm một khoản cúng dường ít ỏi, kính thỉnh Sư Phật từ bi vui lòng nhận cho!
Đệ tử Liên Hoa Lily đảnh lễ cảm ơn.

15/05/2022.

🌟

Chú thích:
Chú là sức mạnh tu trì của Mật thừa.
Trì minh tức là trì chú đắc được quang minh.
Về Mật thừa mà nói, chú chính là tâm của Bổn tôn, làm xúc động tâm của Bổn tôn thì dễ dàng tương ấn.
Đại sư Tsongkhapa nói: “Đây là thành tựu trì minh.”
Nhập ngã ngã nhập dựa vào ý niệm, cũng dựa vào chú.
Sức mạnh của chú là vô hạn.
Tu trì Chân Phật Mật Pháp là dựa vào chú, dựa vào thủ ấn, dựa vào tam ma địa (thiền định).


### 46. Nói sơ lược về ngộ cảnh của kinh Kim Cang


Sư Phật kính yêu!
Đệ tử trì tụng kinh Kim Cang đã qua mấy chục mùa nóng lạnh! Gần đây đột nhiên ngộ được ý nghĩa của kinh như sau, cầu thỉnh Thầy chỉ bảo một đôi lời.

Hai chữ “thật không” đã chỉ ra ý nghĩa của kinh; vẽ rồng thêm mắt, không thể sai lầm. Phật Đà bắt đầu diễn pháp đã nói: “Như vậy, diệt độ vô lượng vô số vô biên chúng sinh, nhưng thật không có chúng sinh nào được diệt độ.” Đoạn kinh văn phía sau lại có: “Tư Đà Hàm còn gọi là Nhất Vãng Lai, nhưng thật không hề có sự đến đi”, “A Na Hàm còn gọi là Bất Lai, nhưng thật không có không đến”, “Thật không có pháp danh là A La Hán”, “Thật không có pháp Như Lai đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề”, v.v… Hai chữ “thật không” này đã xuất hiện nhiều lần trong bản kinh.

Có hai ý nghĩa của hai chữ “thật không”: 
Thứ nhất, cái “thật” kiên cố tồn tại là “không”, không có. “Có” là ảo tưởng điên đảo chấp sai của phàm phu mà thôi, giống như ở trong mộng chấp vào tất cả mộng cảnh cho là thật. 
Thứ hai, “thật không” tức là “thật” nằm ở “không” (căn bản không có). 

Với “thật không” này, cho thêm bất kì câu văn nào, ví dụ như các câu “thật không có chúng sinh nào được diệt độ” kể ra ở trên, đều hợp với tâm gốc của Phật.

Ngày xưa, có tổ sư lên bục khai diễn kinh Kim Cang. Tổ sư ngồi rất lâu không nói gì, rồi lập tức rời khỏi bục. Mọi người ngơ ngác, không biết có gì sai. Tổ sư thuyết kinh Kim Cang đã xong rồi. Đây chính là cách diễn dịch hay nhất của việc “thật không” có pháp nào Như Lai có thể thuyết.

Cuối kinh Kim Cang, Phật Đà có bài kệ rằng: “Tất cả pháp hữu vi, như mộng huyễn bào ảnh, như sương cũng như điện, nên quán thấy như vậy.” Lấy “mộng” đứng đầu, sự ví von này là chuẩn xác nhất, có ý nghĩa sâu nhất. Phàm phu nằm mơ, bất luận là thấy tốt hay thấy xấu, tất cả những gì họ thấy đều cho là thật. Đến lúc tỉnh lại, tất cả nhân vật sự việc tốt xấu đã nhìn thấy trong mơ đều không tồn tại, căn bản là không có. Đối với mọi điều buồn vui trong mơ, cần phải điềm nhiên mỉm cười, phải cảm thấy có gì cần chấp vào giải mộng mà không buông bỏ chứ!

Cảnh giới chí cao của “thật không”, như việc tổ sư khai thị nói đến ở trên, phàm phu không dễ lĩnh ngộ được. Nhưng một so sánh về giấc mộng thì tương đối rõ ràng dễ hiểu, Phật tử có thể theo đó mà tiến dần từng bước, nghiên cứu kĩ càng, cuối cùng có thể ngộ được “thật không”. 

“Trong mơ rõ ràng có lục thú, tỉnh rồi trống trải không đại thiên”, chính là thiền sư Vĩnh Gia đã khai thị về tâm của con người Ta Bà. Đệ tử đang ở trong mơ thì nói những lời nói mê, khẩn cầu Sư Phật - người đã tỉnh giấc, từ bi nhanh chóng đánh thức đệ tử. Mong rằng tỉnh khỏi giấc mộng Nam Kha sẽ biết “trong bánh mặt trời không có mặt trời”, “trong mì thịt bò không có thịt bò”, tìm Sư Phật không thể đắc, cái không thể đắc ấy cũng không thể đắc!

Đệ tử Chân Phật Liên Kềnh ở Hồng Kông đảnh lễ. 
07/12/2021.

🌟

Dùng bài kệ để bày tỏ.

Phật thuyết kinh Kim Cang, “thật không” là tâm yếu
Từ đầu đã chứng tỏ, trí giả tự biết hết.
Đọc lại bao câu kinh, hai chữ “thật không” này
Cúi nhặt là sẽ thấy, mong người tụng lưu tâm.
”Thật không” có hai nghĩa, người nhân ái nói rõ.
Đầu tiên là nghĩa thật, phàm phu lỡ điều này
Chấp “thật” cho là có, từ đó phiền não sinh
Sa vào biển sinh tử, vạn kiếp khó thoát ra.
Cái “thật” vốn là “không”, người ngu khó mà biết.
Nghĩa sau nói “thật” “không”, đồng nghĩa với không sinh
Vạn pháp trong vũ trụ, vốn chưa từng xuất hiện.
Nghĩa này thật khó hiểu, cần minh sư chỉ rõ.
Đắc khẩu quyết tâm yếu, sẽ hiểu thấu mà thôi.
Trước kia có tổ sư, lên bục diễn pháp nghĩa.
Khai giảng kinh Kim Cang, đại chúng nghển cổ chờ.
Mong nghe được nghĩa kinh, chờ lâu chẳng thấy nói.
Tổ sư đã xuống bục, phẩy tay rồi bỏ đi.
Nghĩa Kim Cang đã thuyết, có ai ngộ được chăng.
”Thật không” cực sâu sắc, khó thuyết giảng người ngu.
Điều tốt đẹp tiếp theo, chính là ví như mộng.
Những gì thấy trong mơ, hoặc thiện hoặc bất thiện.
Hoặc khủng bố kinh sợ, hoặc xa hoa tuyệt mỹ.
Lập tức có phản ứng, có khóc lóc cười vui.
Gà gáy mở to mắt, giấc mơ biến mất rồi.
Đột nhiên cười một tiếng, than rằng biết làm sao.
Vốn dĩ không một vật, nhưng trong mộng chẳng biết.
Tỉnh dậy mới hiểu ra, giấc mộng vốn không thật.
Căn bản không sinh diệt. Hạng phàm phu chúng ta.
Bát nhã trí chưa thông, nghiệp chướng vô minh nặng.
Cho nên sống điên đảo, chủ nhân mất phương hướng.
Bài kệ cuối bản kinh, tất cả pháp hữu vi
Như mộng huyễn bào ảnh, như sương cũng như điện
Nên quán thấy như vậy, đại bi Phật Thế Tôn.
Dặn dò chư Bồ Tát, phát đại tâm bồ đề
Cứu hộ như người mẹ, chúng sinh thời mạt thế.
Nay con ở trong mộng, đang nói lời nói mê
Mong Sư Phật từ bi, đánh thức mọi mê đồ.
Nay biết bánh mặt trời, vốn dĩ không mặt trời.
Rồi cả mì thịt bò, cũng không có thịt bò.
Tìm tâm không thể đắc, tìm Phật không thể đắc.
Không đắc không thể đắc.

Lời kết: Trong mơ rõ ràng có lục thú, tỉnh dậy trống trải không đại thiên.
Đệ tử Chân Phật Liên Kềnh ở Hồng Kông đảnh lễ. 
07/12/2021.

Chú thích: vừa đúng chín chín tám mươi mốt câu.
Cửu cửu quy nhất, cửu cửu quy chân, số dương cực điểm, có ý nghĩa là công đức viên mãn.


### 47. Sự ban phúc từ thỉnh tranh


Đệ tử Chân Phật Liên Hoa Tiết Trình Tế, vào trung tuần tháng 3/2022, có may mắn thỉnh được một bức họa của Sư Phật, Sư Phật đề mấy chữ trên bức họa là: “Linh quang Chân Phật chiếu Đẩu Ngưu”. 
Cảm ơn Sư Phật đại gia trì, ban cho đệ tử trân bảo như vậy. 

Hôm nay 25/4, vào lúc sáng sớm đệ tử có một giấc mơ, cảnh trong mơ như sau:
Đệ tử mơ thấy một người anh cùng tuổi với Sư Phật đến nhà của đệ tử làm khách, đệ tử đưa người anh này đi tham quan bức họa của Sư Phật để ở tầng dưới. Bức họa này vẫn còn chưa treo lên tường.

Đệ tử giải thích cho người anh này hàm nghĩa của bức họa là Phật quang phổ chiếu Seattle Lôi Tạng Tự, cũng như phổ chiếu nhà chúng tôi, hơn nữa còn có điện Long Vương nữa.

Đột nhiên Sư Phật giá lâm, hơn nữa còn giúp đệ tử giải thích cụ thể hơn. Sư Phật nói: “Seattle Lôi Tạng Tự đại diện cho điện tài phúc, cũng đại diện cho chữa bệnh. Điện Long Vương ở bên ngoài chùa cũng phải có thêm thứ như thế mới càng có lực.”
Sau đó Sư Phật đi đến chỗ thông khí (giống như chỗ thông khí ở Đại Giác Đường), lấy ra một thứ là con chuột vàng, sau đó dùng dao gọt hết phần vỏ của chuột vàng đi trở thành màu trắng, sau đó dùng chỉ đỏ buộc lên thân của chuột vàng.

Sau đó, Sư Phật đưa tay vào bên trong bức họa, lấy điện Long Vương ra, sau đó lấy con chuột vàng được buộc chỉ đỏ đó đặt vào phía sau điện Long Vương, ở nơi sau cùng nhất, rồi nói là xong việc rồi.

Mơ đến đây thì đệ tử tỉnh dậy, xem giờ thì là 3 giờ sáng. Sau đó đệ tử chuẩn bị tham gia pháp hội Tôn Thắng Phật Mẫu phát trực tiếp trên mạng của Sư Phật. 

Đệ tử Liên Hoa Trình Tế đảnh lễ cảm ơn.

25/04/2022.

🌟

Chú thích:
1. Chuột vàng là ban tài phúc.
2. Dùng chỉ đỏ để buộc chuột vàng lại, là ban tài phúc, rồi còn ban cho kính ái viên mãn.
3. Điện Long Vương là nơi Long Thần ở, là dựa vào sức mạnh của rồng để ban tài và ban kính ái.


### 48. Thư của Liên Hoa Thái Hồng


Liên Sinh Hoạt Phật Sư Tôn tôn quý kính yêu.
Trước khi nói chuyện với Thầy, đầu tiên ngu đệ tử Liên Hoa Thái Hồng xin chúc phúc Thầy sinh nhật vui vẻ! Phúc như Đông Hải thọ tỉ Nam Sơn! Trường thọ khỏe mạnh! Vĩnh trụ thế gian! Vĩnh chuyển pháp luân! Và chúc phúc Sư Mẫu thân thể khỏe mạnh, tinh thần minh mẫn! Vạn sự như ý! Tất cả cát tường!

Mấy năm nay thời kỳ dịch bệnh, mỗi ngày chủ nhật, đệ tử và sư huynh nhà đệ tử [chồng], ở trên “đám mây” tham gia pháp hội Hộ Ma mà Thầy chủ trì tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, lắng nghe pháp ngữ khai thị của Thầy, làm động tác “502” với Thầy, nói rằng “Sư Tôn con yêu Thầy”, đây chính là chuyện vui nhất trong lòng chúng con mỗi ngày chủ nhật.

Ngày 22/05/2022, trên “đám mây” tham gia pháp ngữ khai thị Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Pháp Vương giảng kinh Duy Ma Cật (pháp hội Hộ Ma Hồng Tài Thần), đệ tử nghe thấy Thầy nói mấy đoạn có liên quan đến khí:
”Nói cho bạn biết một việc này, bạn tu Nội pháp, tu đến khi khí của trung mạch có thể di chuyển ở trong trung mạch của bạn và chuyển động, khi đó thân thể của bạn sẽ gây ra một niềm khoái lạc, bạn vĩnh viễn đều cảm thấy vui sướng, không có lúc nào đau buồn, đó mới gọi là cực lạc…

Cảm giác khoái lạc đó không người nào có thể tưởng tượng được, chỉ có chính mình tự trải nghiệm thôi. Giống như con người uống nước, nước lạnh hay ấm tự mình biết, có người đã trải nghiệm được cảm giác này rồi, tôi rất chúc mừng anh ta! Anh ta đã lĩnh hội được lạc, đại lạc. Đại lạc đó xong rồi, bạn còn lĩnh hội được quang minh. Quang minh xong rồi, bạn lại lĩnh hội được tính Không, chính là Phật tính. Trải nghiệm được Phật tính, đây chính là sự liên kết của tu hành.”

Sư Tôn tôn quý kính yêu, không giấu gì Thầy, khi ấy tại pháp hội Thầy nói những lời như trên, con nghe như say như mê, lòng sinh hoan hỷ! Bởi vì những gì Thầy nói có liên quan đến đại lạc, quang minh, tính Không và Phật tính, rất nhiều năm trước con đã lĩnh hội được rồi. Đặc biệt là khi Thầy nói đến: “Cảm giác khoái lạc đó không người nào có thể tưởng tượng được, chỉ có chính mình tự trải nghiệm thôi. Giống như con người uống nước, nước lạnh hay ấm tự mình biết, có người đã trải nghiệm được cảm giác này rồi, tôi rất chúc mừng anh ta!”, con lập tức sung sướng, vui vẻ tiếp nhận lời chúc mừng của Thầy! Bởi vì con đích thực đã lĩnh hội được như vậy.

Khi còn trẻ, trong một lần tình cờ, con học được thiền định. Sau đó con ham mê thiền định, mỗi lần thiền định là một tiếng đồng hồ, thậm chí thời gian dài hơn. Bởi vì từ trong thiền định, con trải nghiệm được pháp hỷ hoan lạc của thân thể khỏe mạnh, tâm bình khí hòa, tịnh hóa tâm linh, tâm ý rộng mở, không tranh với đời.

Đặc biệt là năm 25 tuổi, con có may mắn theo Sư Tôn học Phật, con càng nhất tâm bất loạn, kiên định không lung lay mà tu tâm dưỡng tính, tích cực hành thiện, tiêu nghiệp tích phúc để thực tiễn thiền định, bởi vì Sư Tôn từng nói rằng: “Công phu thiền định sâu có thể thành Phật.”

Trải qua tháng này qua năm khác, con thực hành thiền định không ngơi nghỉ không lười biếng, đối với sự ma sát của khí ở trong trung mạch bên trong cơ thể, khí vận hành toàn thân tứ chi, con hiểu sâu sắc hàm nghĩa, sâu sắc có đồng cảm, lĩnh hội thấu triệt, sự lĩnh hội thấu triệt này chính là như Sư Tôn nói: “Như người uống nước, lạnh hay ấm tự mình biết.”

Khi thiền định đến được trạng thái hơi thở mảnh nhỏ và dài, và hoàn toàn quên mất mình, khí từ trung mạch từ từ vận hành đi lên, gai gai, tê tê, âm ấm, từng đợt xung động, cảm giác ma sát nhẹ nhàng và dễ chịu, thật sự là có được cảm giác khinh an không thể nào mô tả được, hạnh phúc và khoái lạc! Cái sự khoái lạc đó nói đơn giản là khiến người ta tiêu dao tự tại, không phiền không não, không ưu không sầu, thậm chí cả một ngày dài đều say sưa trong tâm trạng vui vẻ sung sướng!

Trong công việc, từng có đồng nghiệp ca ngợi con rằng: “Sao cô lúc nào cũng có thể vui vẻ như vậy, miệng lúc nào cũng tươi cười” - Chính là vì nguyên nhân này.

Con và tất cả người và việc xung quanh, người nhà, bạn bè, đồng nghiệp bên cạnh mình, đều sống với nhau hòa hợp, bầu không khí luôn ấm áp, chính là nhờ thiền định đã đem tới đại lạc giống như Sư Tôn nói, thậm chí là cực lạc. Cũng đúng như Sư Tôn nói: “Sự khoái lạc đó không người nào có thể tưởng tượng, chỉ có tự mình trải nghiệm thôi.”

Vì thế, ở trong nhóm học môn “Phật học bao la vạn tượng” và “Chân Phật giản sử” của Đại học Chân Phật Tông Online, con luôn chăm chỉ viết ra những tâm đắc về thiền định của mình để trình bày với nhóm học viên, để khích lệ những học viên khác chăm chỉ theo Thầy học Phật, dùng tâm để thiền định, chính là vì con đã có được rồi, bản thân đã lĩnh hội được thiền định rồi.

Thân người khó có, minh sư khó gặp. Dưới sự hướng dẫn bất khả tư nghì của Thầy ở trong Chân Phật Tông, dưới sự kính sư trọng pháp thực tu, thân khẩu ý thanh tịnh và tu tâm dưỡng tính, ngày thường con đi đứng ngồi nằm đều ở trong thiền định, đều đang tu hành.

Con từ lúc Sơ thiền chỉ có thể nhắp mắt đến khi có một chút hào quang, rồi dần dần nhìn thấy càng ngày càng nhiều…

Hơn 10 năm trước, khi con đang say đắm trong pháp hỷ hân hoan của thiền định, từ giữa hai lông mày của con, ở chỗ ấn đường, đột nhiên con rõ ràng nhìn thấy một mặt trời màu vàng kim treo ở nơi chân trời xanh thẳm, từ hư không trên cao, với tốc độ nhanh hơn cả tia chớp, rơi thẳng vào giữa hai lông mày của con, đi vào chỗ ấn đường của con thì “cạch” một tiếng, đi vào trong thân thể con.

Có được trải nghiệm chân thực kể trên, từ đó trong lòng con trở nên có một tình cảm khó mà hình dung được đối với vũ trụ đại tự nhiên. Con thường xuyên dùng tâm mình để kết nối với vũ trụ đại tự nhiên và lĩnh hội đại tự nhiên.

Mỗi lần nhìn thấy mặt trời hay mặt trăng, tất nhiên con đều chắp tay cung kính, giống như là trong lòng có một tình cảm có nói cũng chẳng hết đối với chúng.

Ngoài ra, ở bên ngoài bệnh viện con làm việc có núi cao bao quanh, có cảnh hồ tuyệt đẹp, nắng chiều lung linh. Bất cứ khi nào con ở trong bộ phận nơi mình đang làm việc, khi con chụp một cảnh hoàng hôn đẹp, con có thể nhìn thấy hoàng hôn đỏ rực và đẹp tuyệt qua ống kính của máy ảnh, giống như mỉm cười và gửi cho con một thông điệp, lần nào cũng khiến con rung động vô hạn!

Kể từ tháng 7 năm 2019, con đã vinh dự được tham gia Lôi Tạng Tự phát sóng trực tiếp nhóm 2 của Brazil Chân Đế Lôi Tạng Tự, cùng với Thượng sư Liên Ha học tập “ngôn ngữ đến từ Phật quốc” của Thầy, và Mật pháp thiền tu và luyện khí, sau khi nắm chắc những chìa khóa bí mật và ảo diệu của Mật giáo thiền tu của Sư Tôn, khi thiền định con rất nhanh chóng đạt được Tử quang và Mẫu quang chiếu sáng lẫn nhau.

Đồng thời, mỗi khi con nhắm mắt trước khi đi ngủ vào buổi tối, con có thể nhìn thấy một luồng ánh sáng trắng rất mạnh từ giữa hai lông mày chiếu thẳng vào mi tâm luân của mình. Ánh sáng rất mạnh này giống như một ngọn đèn pha trên bầu trời, nó mạnh đến mức chiếu vào con khiến con kinh ngạc, khó quên và chấn động!

Điều làm con kinh ngạc hơn nữa là hơn mười năm trước, trước mỗi bữa ăn, khi con nhắm mắt ngồi thiền, khi con cúng dường và cúng dường trước bữa ăn, con có thể thấy một luồng sáng vàng hoặc vàng kim từ mi tâm luân và trước ngực phát ra ánh sáng vàng hoặc đỏ, cảm thấy bản thân rất được khích lệ. 

Gần đây, kể từ tháng hai, con đã đến Seattle để tham gia đại pháp hội Hộ Ma Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang cầu phúc, tiêu tai, siêu độ xuân mới Nhâm Dần mà Sư Tôn chủ trì tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự vào ngày 13/2. Sau khi tương ứng với Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, mỗi lần trước khi ăn cơm, khi con nhắm mắt lại, tĩnh tâm quán tưởng, khi siêu độ và cúng dường trước lúc ăn cơm đều nhìn thấy hư không vũ trụ ở phía trên phóng về phía con vạn tia sáng cực kì mạnh. Mỗi lần tĩnh tâm quán tưởng làm siêu độ và cúng dường trước khi ăn cơm đều như thế, trăm lần thì cả trăm lần đều linh, quang huy xán lạn! Khiến con tấm tắc tán thán! Tất cả những điều kể trên chính là Sư Tôn đã nói: “Bạn còn trải nghiệm được quang minh.”

Càng đáng khen hơn là, kể từ hơn 10 năm trước khi con tương ứng với Địa Tạng Vương Bồ Tát, con đã cảm nhận được bản thân toàn bộ thân thể hoàn toàn là Không, một vị Địa Tạng Vương Bồ Tát trong suốt, kể cả mũ Phật của Địa Tạng Vương Bồ Tát cũng không có gì.

Đồng thời, mỗi lần khi con thiền định đến lúc không còn khởi lên những suy nghĩ linh tinh, tạp niệm không sinh ra, tâm tĩnh lặng sâu đến cảnh giới quên luôn chính mình, con cảm giác cả người con ngồi ngay ngắn trong vũ trụ bao la, đỉnh đầu và bầu trời chỉ cách nhau trong gang tấc, bản thân to lớn như vũ trụ, hợp nhất với ý thức vũ trụ, hoàn toàn hòa tan thành một thể, hoàn toàn không còn chính mình nữa.

Cùng với cảm giác thân thể con trong suốt trống rỗng, cùng với sự hợp nhất với ý thức vũ trụ, dung hợp làm một khi con thiền định, dần dần, bản thân con đã cảm giác nhân thế gian tất cả phàm trần thế tục, hồng trần cuồn cuộn, kì thực tất cả đều như bóng ảnh, tất cả đều là giả, tất cả đều không tồn tại, thậm chí ngay cả chính con cũng không tồn tại giống như vậy. Giống như thấy núi không phải là núi, thấy sông không phải là sông, thấy mặt đất không phải là mặt đất, tất cả đều trống không. Điều này giống như Sư Tôn nói: “Quang minh xong rồi, bạn lại lĩnh hội được tính Không, chính là Phật tính.”
Con đã kiến chứng thiền định và tu hành đích xác là đi theo đúng trật tự từng bước đã được vạch ra.

Đến cuối cùng, con càng trở nên không hề gì, vô sở đắc, tất cả đều vui vẻ tiêu dao, tùy duyên tự tại. Dần dần, bồ đề tâm tăng tiến hơn nữa, đạo tâm càng kiên cố hơn, tâm xuất ly càng được khẳng định hơn. Giống như quá trình “xuất ly tâm, lục độ vạn hành, thất bồ đề phần, bát chính đạo” trong mấy bài học cuối cùng của môn “Phật học bao la vạn tượng” của Đại học Chân Phật Tông trực tuyến của chúng ta.

Bởi vì tất cả đại lạc, quang minh, tính Không, Phật tính trên đây, con đều hoàn toàn trải nghiệm rồi, hôm nay, con chính thức tự nhiên tự tại, dưới sự an bài trợ giúp của Phật Bồ Tát, bước ra hoằng dương Phật pháp, tuyên dương Chân Phật Mật Pháp của Thầy và phổ độ chúng sinh!

Sư Tôn tôn quý, ngu đệ tử có may mắn như vậy, đời này có thể gặp được Thầy như vậy, một danh sư Hoạt Phật chân chính, được cùng thầy một đời tu hành mấy chục năm, thực tiễn thiền định mấy chục năm, hoàn toàn từ một phàm phu tục tử, dần dần biến thành thân là thân Bồ Tát, tâm là tâm Bồ Tát và tâm Phật hiển hiện, minh tâm kiến tính. Hơn nữa còn lĩnh hội được đại lạc, quang minh, tính Không và Phật tính như Thầy đã nói.

Giai đoạn trải nghiệm và lĩnh hội này đúng là giống như khi khai thị Thầy đã nói: “Như người uống nước, lạnh hay ấm tự mình biết.” Đúng là không tích cực duy trì bền bỉ thực tiễn thì không thể lĩnh hội được. Vì thế, con lập tức cảm thấy rất sung sướng, hân hoan tiếp nhận lời chúc mừng của Thầy!

Từ trong tâm mình, con cũng cảm thấy tự hào và hãnh diện về chính mình vì trong quá khứ con đã liên tục đi theo Thầy học Phật, kiên trì bền bỉ suốt bao nhiêu năm, chịu khó và thành tâm, trải qua muôn vàn thử thách để mà thực hành, tin tưởng và thực tiễn, nhất tâm chuyên chú thiền định, liên tục rèn giũa cho đến khi từ đại lạc lĩnh hội được quang minh, từ quang minh lĩnh hội được tính Không, rồi lại từ tính Không lĩnh hội được Phật tính. 

Đồng thời khi con liên tục nhận được những lời khích lệ, giờ đây, con tràn đầy lòng biết ơn! 
Cảm ơn Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật tôn quý kính yêu!
Cảm ơn tất cả chư Phật Bồ Tát của vũ trụ!
Cảm ơn sự cổ vũ và thành tựu của Thượng sư Liên Ha kính yêu!

Tại đây, một lần nữa con chân thành chúc phúc Căn bản Truyền thừa Thượng sư - Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật của con:
Sinh nhật vui vẻ!
Trường thọ khỏe mạnh!
Mãi trụ thế gian!
Mãi chuyển pháp luân!
Và Sư Mẫu khỏe mạnh vui vẻ! Tất cả cát tường! Hạnh phúc tràn đầy!

Ngu đệ tử Liên Hoa Thái Hồng chắp tay quỳ lạy cảm tạ.

Viết vào Tết Đoan Ngọ ngày 03/06/2022.

**(Hết.)**

---

---
# File: sach-tam-linh/292-than-thong-dai-su-duy-ma-cat.md
# Title: 292. Thần thông đại sư Duy Ma Cật
---

![image](/img/img_978320eff8f4e5990e30c624d0e8d9c0.jpg)



## Thần thông đại sư Duy Ma Cật


🪷 Huyền bí bất khả tư nghì

Văn tập số: 292
Xuất bản: 03/01/2023
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


Giữa năm 2022.
Tôi bắt đầu giảng kinh Duy Ma Cật.
Bắt đầu từ đó, tôi phát hiện ra, Duy Ma Cật Đại Sĩ luôn đi theo tôi, ở sát cạnh bên như hình với bóng.
Tôi giảng kinh thuyết pháp rất nhiều năm.
Chưa từng có hiện tượng này, cho dù là có thì cũng chỉ là sự gia trì của Phật Bồ Tát.
Nhưng,
Lần này thì khác, lần này là ông chủ của kinh Duy Ma Cật - Duy Ma Cật Đại Sĩ, thường ở quanh tôi. 24 giờ, như bóng theo hình, mọi lúc chỉ thị cho tôi phải nói ra sao, giảng thế nào.

Tôi hỏi Duy Ma Cật Đại Sĩ:
”Ngài sống ở nơi nào?”
Duy Ma Cật đáp:
”Sống ở trong tâm ngài.”
Tôi nói:
”Tìm tâm chẳng thể được! Là tâm gì?”
Duy Ma Cật đáp:
”Sống trong lỗ chân lông của ngài.”
Tôi nói:
”Trong lỗ chân lông của tôi làm sao chứa được cái thân to lớn này?”
Duy Ma Cật đáp:
”Không tin thì ngài tự nhìn đi!”
Tôi chăm chú nhìn, giật mình nhảy dựng lên, thì ra trong lỗ chân lông của tôi thật sự có một chấm nhỏ hình người đang lay động.
Bóng người đó nói:
”Tôi là Duy Ma Cật.”
Tôi hỏi:
”Ngài sống ở trong một lỗ chân lông à?”
Duy Ma Cật đáp:
”Ngài hãy nhìn kĩ lần nữa xem, nhìn những lỗ chân lông khác.”
Trời ơi!
Lỗ chân lông trên khắp người tôi đều có một vị Duy Ma Cật Đại Sĩ, lỗ chân lông của toàn thân tôi không thể đếm xuể, và đương nhiên Duy Ma Cật Đại Sĩ cũng không cách nào đếm xuể.

Tôi hỏi:
”Ngoài sống trên người tôi ra, ngài còn sống ở đâu nữa?”
Duy Ma Cật Đại Sĩ đáp:
”Tôi không ở đâu là không có, sống ở khắp mọi nơi. Không tin, ngài nhìn trời xem.”
Tôi ngẩng đầu nhìn trời.
Ông Trời ơi!
Bầu trời biến thành một khuôn mặt Duy Ma Cật Đại Sĩ, là toàn bộ bầu trời.
Tôi hỏi:
”Ngài là nhân vật của thời đại Phật Thích Ca Mâu Ni, sao đến thời hiện đại mà ngài vẫn tồn tại?”
Duy Ma Cật trả lời tôi:
”Phật Thích Ca Mâu Ni còn tồn tại không?”
Tôi đáp:
”Còn.”
Duy Ma Cật nói:
”Phật Thích Ca Mâu Ni vẫn còn, tôi (Duy Ma Cật) đương nhiên vẫn còn.”
Tôi không còn lời gì có thể nói.
Duy Ma Cật nói:
”Lượng, vượt quá lượng.”
Tôi hỏi:
”Là ý gì?”
Duy Ma Cật đáp:
”Tôi thọ vô lượng, vượt quá vô lượng thọ.”
Xin tất cả độc giả chú ý, cuốn sách “Huyền bí bất khả tư nghì” này, mọi người chỉ có thể ngầm hiểu thôi.

Tháng 9 năm 2022.

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-Yen Lu**
17102 NE 40th CT
Redmond WA 98052
U.S.A.


### 01. Rốt cục tôi là ai?


Đời này tôi là Lư Sư Tôn, vậy đời quá khứ tôi là ai đây?
Tôi thường hỏi chính mình:
Ông từ đâu mà tới?
Ông sẽ đi về đâu?
Ông ở nhân gian làm cái gì?
Có người trả lời:
Tôi đến từ nơi đến.
Tôi đi về nơi đi.
Tôi đến nhân gian chỉ là một chuyến đi chơi.
Bây giờ tôi đã có Duy Ma Cật Đại Sĩ đại thần thông, cớ gì tôi không hỏi ngài ấy.

Tôi hỏi Duy Ma Cật Đại Sĩ:
”Rốt cục tôi là ai?”
Ngài đáp:
”Lư Sư Tôn!”
Tôi cười hỏi:
”Đương nhiên tôi biết tôi là Lư Sư Tôn, tôi muốn biết đời quá khứ tôi là ai?”
Ngài đáp:
”A Di Đà Phật!”
Tôi nói:
”Có người viết sách nói tôi là Xá Lợi Phất. Sao có thể là A Di Đà Phật chứ?”
Duy Ma Cật Đại Sĩ đáp:
”Phật Thích Ca Mâu Ni giảng kinh A Di Đà, là giảng cho Xá Lợi Phất nghe. Phật Đà thuyết pháp là có nhân duyên, vì Xá Lợi Phất chính là hóa thân của Phật A Di Đà.”
Tôi nói:
”Ngài khẳng định tôi chính là A Di Đà Phật?”
Duy Ma Cật Đại Sĩ dùng bàn tay vỗ vào đầu tôi. 
Tôi lập tức nhìn thấy kiếp quá khứ của tôi:
Bố tôi là Chuyển Luân Thánh Vương trên mặt trăng.
Mẹ tôi là phu nhân có nhan sắc thù thắng tuyệt diệu.
Khi ấy có một vị Phật xuất thế, chính là Thế Tự Tại Vương Phật.
Trong quá trình trưởng thành, tôi đã nương dựa vào Thế Tự Tại Vương Phật, và rồi tôi xuất gia tu hành.
Tôi chính là tì kheo Pháp Tạng.
Sau này thành Phật chính là A Di Đà Phật.
A Di Đà Phật lập nên một tịnh thổ, chính là Tây phương Cực Lạc thế giới tịnh thổ.
Thế giới Cực Lạc có:
Bảy tầng lan can lá chắn.
Bảy tầng lưới võng.
Bảy tầng hàng cây.
Hồ bảy loại bảo vật.
Nước tám loại công đức.
Có những con đường và bậc thềm bằng vàng bạc, lưu ly, pha lê, có đình đài lầu gác đều được làm từ trân bảo. Trong hồ có hoa sen, hương thơm tinh khiết vi diệu.
Có thiên nhạc, mặt đất bằng vàng bạc, mandala hoa. Có chim bạch hạc, khổng tước, anh vũ, xá lợi, ca lăng tần già, biểu diễn pháp ba mươi bảy đạo phẩm.
Tại thế giới Cực Lạc đó có sự trang nghiêm thù thắng không kể xiết. 
……

Tôi hỏi Duy Ma Cật:
”Tôi đã là A Di Đà Phật thì sao lại đến thế giới Ta Bà này?”
Duy Ma Cật đáp:
”Ngài từng đến sao? Ngài từng đi sao?”
Tôi sực hiểu ra:
Thì ra là Phật huyễn độ người huyễn.
Tôi chỉ là giấc mộng huyễn này nối tiếp giấc mộng huyễn khác, như mộng như huyễn, tùy duyên mà thôi.
Duy Ma Cật hỏi ngược lại tôi:
”Tỉnh chưa?”
Tôi đáp:
”Trống rỗng không đại thiên.”


### 02. Long Vương trong thiên hạ


Tôi nói với Duy Ma Cật Đại Sĩ:
”Tôi muốn gặp Long Vương trong thiên hạ!”
Duy Ma Cật hỏi:
”Là thiên long? Hay địa long? Hay thủy long?”
Tôi hỏi ngược lại:
”Giải thích như thế nào đây?”
Duy Ma Cật đáp:
”Thiên long có tám bộ chúng, tức là trời, long thần, dạ xoa, càn thát bà, a tu la, ca lâu la, khẩn na la, ma hầu la già.”
”Địa long chính là ma hầu la già, tục gọi là thần đại mãng xà.”
”Còn thủy long là chỉ rồng ở dưới biển.”
Chú thích:
Thiên — là thiên thần có thân rồng. Như Thiên Đế.
Long thần — rồng sống ở cõi trời.
Dạ xoa — tật tiệp quỷ. 
Càn thát bà — nhạc công của Đế Thích Thiên.
A tu la — kẻ đối địch với Đế Thích Thiên, là rồng nặng tâm sân.
Ca lâu la — tức là đại bàng Kim Sí Điểu, lấy rồng làm thức ăn.
Khẩn na la — ngôi sao ca nhạc của Đế Thích Thiên.
Ma hầu la già — thần đại mãng xà. (địa long)

Tôi nói:
”Tôi muốn gặp Long Vương ở dưới nước.”
Duy Ma Cật đáp:
”Vậy thì tức là Hải Long Vương rồi, cái này dễ thôi.”
Duy Ma Cật Đại Sĩ từ trên người mình xuất hiện một vị hóa thân đồng tử, tướng mạo trang nghiêm, thoáng một cái đã nhảy vào trong cốc trà trên bàn viết của tôi, trong sát-na đã biến mất. 
Tôi rất kinh ngạc, tôi hỏi:
”Cậu ta nhảy vào trong cốc trà của tôi, là vì sao?”
Duy Ma Cật đáp:
”Nước trong cốc trà có tính chất của nước. Tính chất của nước thông với tất cả nước, tự nhiên sẽ thông với sông hồ biển cả.”
Tôi hỏi:
”Giải thích ra sao?”
Duy Ma Cật đáp:
”Trong thiên hạ này, không gì không thuộc bốn tính lớn là đất, nước, lửa, gió. Đều là một hợp tướng của bốn tính lớn này. Con người cũng thế, trời đất cũng đều như thế, không cần lấy làm lạ.” (Đây là độn thủy.)

Không lâu sau, quả nhiên Long Vương trong nước đều đến rồi, có thể nói là sục sôi cuồn cuộn. Tám nghìn Long Vương ở bốn phương đều tụ tập đến.
Duy Ma Cật Đại Sĩ đã biến căn phòng của tôi thành không biên giới, có thể chứa được hết Thủy Long Vương trong thiên hạ.
Thần thông mà ngài hiển hóa chính là:
Nhỏ có thể chứa lớn.
(Một lỗ chân lông có thể dung nạp ba nghìn đại thiên thế giới.)
Tôi đã được mở mang tầm mắt rồi.

Tôi nói với các Long Vương:
”Tôi có siêu độ nghìn chiếc thuyền pháp, xin các Long Vương trình lên danh sách (chúng sinh u minh có công đức), tôi muốn một lần đưa các u minh chúng của thủy tộc đến Tây phương Cực Lạc thế giới.”
Các Long Vương nói:
”Lành thay! Lành thay! Long Vương chúng tôi vui mừng khen ngợi, đây là việc chưa từng có.”
Tôi hỏi:
”Các Long Vương! Tôi có hai đệ tử, vì gặp tai nạn máy bay mà vùi thân trong biển, không biết đang ở đâu?”
Long Vương ở Châu Úc đáp:
”Ở chỗ của tôi!”
Tôi nói:
”Cũng xin trình lên để tôi siêu độ.”
Long Vương Châu Úc đáp: 
”Vâng.”
Đó là một lần tụ họp lớn của Long Vương trong thiên hạ, trên thế giới Ta Bà này rất hiếm gặp rồi.


### 03. Kim Túc Như Lai


Trong kinh Duy Ma Cật có nói:
Tiền thân của Duy Ma Cật Đại Sĩ là Kim Túc Như Lai, đến từ Diệu Hỷ thế giới của A Súc Phật. 
Tôi đặc biệt tìm kiếm tư liệu về Kim Túc Như Lai trong kinh điển.
Kim Túc — chỉ màu vàng của hạt kê giống như vàng kim.
Ngoài ra, những tư liệu có liên quan đến Kim Túc Như Lai như sau:
Từ xưa tới nay truyền rằng, tiền thân của Duy Ma Cật Đại Sĩ chính là Kim Túc Như Lai.
Nhưng trong kinh điển lại không có chứng cứ.
Có người nói:
Trong kinh Phát Tích có.
Trong kinh Tư Duy Tam Muội có.
Nhưng hai bộ kinh này đều không nằm trong sách cổ của Phật giáo.
Ngoài ra, trong các trình bày và phân tích của người đời sau có đề cập:
Duy Ma Cật Kinh Hội Sớ nói: “Nay Tịnh Danh, hay còn gọi là Kim Túc Như Lai, đã đắc vô thượng tịch diệt nhẫn.”
(Tịnh Danh chính là ý nghĩa thật của tên tiếng Phạn của Duy Ma Cật.)
Cốc Hưởng Tập nói: “Lý Thiện viết “Nhà sư Thạch Bi chú dẫn kinh Phát Tích” nói rằng: Tịnh Danh Đại Sĩ là Kim Túc Như Lai ngày xưa. Tôi (Tịch Chiếu) đã thử tra kho tàng kinh sách, không tìm được kinh này.”

Còn nữa,
Pháp sư Phục Lễ trong Thập Môn Biện Hoặc Luận nói: “Theo cái nhìn hạn hẹp của tôi thì thần lực của Duy Ma có thể chưởng quản vận chuyển Như Lai, nhưng hiểu biết của tôi về quán Như Lai thập địa vẫn còn kém rất xa. Nếu Duy Ma là Như Lai, giúp Phật tuyên hóa, chưa biết tên gì hiệu gì luận gì kinh gì. Xin phiền bậc thượng trí chỉ rõ cho kẻ ngu này.”

Biện Hoặc nói: “Cái tên Kim Túc được lưu truyền là có căn cứ, nên tự nhiên mới có ghi chú.”
Thầy Cát Tạng nói: “Kim Túc xuất xứ từ kinh Tư Duy Tam Muội, nhưng chưa thấy bản kinh này, nói đến cùng tận thì Tây Quốc có kinh này, phương Đông chưa dịch.”
Tổ Đình Sự Uyển viết: “Thập Môn Biện Hoặc Luận nói, Duy Ma là Kim Túc Như Lai, xuất xứ từ kinh Tư Duy Tam Muội, nhưng chưa thấy kinh này.”

Tóm lại, theo như tôi biết, tên gọi Duy Ma Cật là Kim Túc Như Lai, có hai cuốn kinh có thể tra cứu.
Nhưng, hai cuốn kinh điển này ở phương Đông chưa được dịch ra, vì thế cũng không rõ.

Tôi (Lư Sư Tôn) hỏi Duy Ma Cật Đại Sĩ:
”Ngài là Kim Túc Như Lai à?”
Duy Ma Cật đáp:
”Tên huyễn.”
Tôi hỏi:
”Từ Diệu Hỷ thế giới đến à?”
Duy Ma Cật đáp:
”Thật không có đến đi.”
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói với tôi:
Hư không vô danh.
Quá khứ, hiện tại, vị lai, đều không tồn tại.
Chúng sinh ngông cuồng chấp:
Cho nên mới có danh hiệu.
Cho nên mới có quá khứ, hiện tại, vị lai.

Ví dụ tam giới thiên:
”Dục giới thiên, vì có dục vọng mới thành cõi trời.”
”Sắc giới thiên, vì có ánh sáng, mới thành cõi trời.”
”Vô sắc giới thiên, vì không có sắc hữu, mới thành cõi trời vô sắc.”
Duy Ma Cật nói:
Chấp vào những điều này nên mới có tam giới, đời đời kiếp kiếp không có kỳ thoát ra. Đây chính là “tam hữu”. 
Duy Ma Cật lại nói:
”Lư Sư Tôn, có một ngày, ngài cũng không phải là Lư Sư Tôn, Lư Sư Tôn chỉ là tên gọi phương tiện.”
Và:
”Đông phương Diệu Hỷ thế giới cũng như thế, bốn xung quanh và trên dưới không có cái gì không là hư không. Đông phương vô tận, tây phương vô tận, nam phương vô tận, bắc phương vô tận, thế thì có phương nào? Đều là hư không. Vì là hư không nên mới có thể tự tại, không luân hồi, không niết bàn, đã hiểu chưa?”


### 04. Biến thân của Duy Ma Cật


Buổi tối ngày 23 tháng 7 năm 2022.
Tôi ở trong phòng Sư Mẫu Thượng sư Liên Hương giúp bà ấy làm kết giới.
Nhỏ thuốc mắt cho Sư Mẫu.
Sư Mẫu Thượng sư Liên Hương trỏ vào sau lưng tôi nói:
”Sau lưng ông có một cô gái.” (Sư Mẫu có con mắt âm dương.)
Tôi hỏi:
”Đẹp không?”
Sư Mẫu đáp:
”Đẹp cực kì!”
Tôi trở về phòng tôi, chuẩn bị làm siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp, nhưng cô gái đó vẫn cứ theo sau tôi. 
Tôi quay người lại nhìn cô:
Cô ấy đúng là rất xinh đẹp.
Một khuôn mặt tươi vui.
Vóc dáng thon thả.
Làn da trắng ngần lại còn ửng hồng.
Mái tóc bóng mượt như thác nước.
Đôi mắt to, nhãn cầu đưa qua đưa lại, giống như con nai nhỏ sợ sệt, ngơ ngác đưa mắt qua bên này qua bên nọ.
Lông mày như trăng khuyết.
Chóp mũi hơi nhô thẳng lên.
Miệng nhỏ chúm chím như trái anh đào, đầy vẻ quyến rũ.
Mặc y phục màu trắng trẻ trung, dáng diệu đung đưa.

Cô ấy không phải vợ ma của tôi, vợ ma của tôi là:
Phù Dung.
Thụy Quang.
Thiến Thiến.
Tân Tân.
Trên người cô ấy lộ ra ánh sáng, là ánh sáng của thiên nữ, đúng vậy, cô ấy là thiên nữ trôi nổi ở vùng đất này.
Trên đầu có vòng tròn ánh sáng.
Tôi hỏi:
”Cô là thiên nữ nào đấy?”
Chú thích: những thiên nữ mà tôi quen biết là Bạch Độ Mẫu, Lục Độ Mẫu, Trường Thọ Ngũ Thiên Nữ, Mã Cát Lạp, Kurukulle, Kim Cang Hợi Mẫu, Du Già Mẫu.
Yeshe Tsogyal.
Mandarawa.
Sakya Dewa.
Kala Siddhi.
Tashi.
Saraswati.
Maha Celiya.
Uma, Kali.
Không Hành Mẫu của Áo Minh Thiên, Không Hành Mẫu của 12 thiên.
v.v…

Thiên nữ này trả lời tôi:
”Tôi là Duy Ma Cật Đại Sĩ.”
Tôi kinh ngạc ngây người ra!
Tôi nói:
”Duy Ma Cật Đại Sĩ là đàn ông, thời đại Phật Đà là ông già Duy Ma, sao có thể là thiên nữ?”
Duy Ma Cật nói:
”Ngài còn có phân biệt tướng nam nữ.”
Tôi nói:
”Đúng vậy. Tôi có phân biệt tướng nam nữ, tôi chẳng thể nào coi Sư Mẫu thành đàn ông được!”
Duy Ma Cật dùng tay chỉ, tay vừa chỉ vào tôi, không ngờ tôi biến thành Sư Mẫu, còn Duy Ma Cật biến thành Lư Sư Tôn. (Còn thiên nữ kia biến mất rồi.)
Ngài hỏi:
”Giờ nói sao đây?”
Tôi không thể nói được câu nào.
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói với tôi:
”Phật tính vô tướng, tất cả huyễn hóa. Bản chất của tất cả pháp tướng đều là tự tính không vô.”


### 05. A Súc Phật và Dược Sư Phật


Tôi hỏi Duy Ma Cật Đại Sĩ:
”Tôi nghe người ta nói, A Súc Phật ở phương Đông có một Diệu Hỷ thế giới, còn Dược Sư Phật ở phương Đông có một Lưu Ly thế giới. Thế nên người ta nói, A Súc Phật chính là Dược Sư Phật, Diệu Hỷ thế giới chính là Lưu Ly thế giới, là khác tên cùng thể. Không biết ý kiến của Duy Ma Cật Đại Sĩ thế nào?”
Duy Ma Cật đáp:
A Súc Phật thật ra chính là A Súc Bỉ Phật, ý nghĩa là vị Phật bất động.
Thế giới của ngài chính là Diệu Hỷ thế giới (tịnh thổ).
Thật ra Phật ở phương Đông nhiều như số cát sông Hằng, có rất nhiều rất nhiều Phật. 
Ví dụ:
Tu Di Tướng Phật, Đại Tu Di Phật, Tu Di Quang Phật, Diệu Âm Phật, v.v…. 
Tu Di Tướng Phật — phúc đức trí huệ như núi Tu Di.
Đại Tu Di Phật — vị Phật này phúc đức lớn, trí huệ lớn, lớn vượt cả núi Tu Di.
Tu Di Quang Phật — ánh sáng của vị Phật này lớn đến mức như núi Tu Di.
Diệu Âm Phật — âm thanh của vị Phật này vi diệu, nghe Phật thuyết pháp người người đều được lợi ích.
……

Phật ở phương Đông nhiều vô số kể, dùng cát sông Hằng để so sánh thì con số ấy còn nhiều vượt xa số cát sông Hằng.
Thử hỏi:
Đông phương A Súc Phật.
Đông phương Dược Sư Phật.
Có nhất định phải là khác tên cùng thể không?
Các vị là hai vị Phật khác nhau, đặc biệt là khi Đông phương thế giới to lớn đến mức không thể nào đếm được.
Phật cũng nhiều như cát sông Hằng.
Còn nữa:
Diệu Hỷ thế giới và Lưu Ly thế giới là hai thế giới khác nhau, cũng cùng một đạo lý.

Duy Ma Cật lại nói:
Chúng ta biết Tây phương Cực Lạc thế giới là tịnh thổ của A Di Đà Phật.
Cực Lạc thế giới ở phương Tây.
Nhưng không thể nói phương Tây toàn là Cực Lạc thế giới.
Bởi vì ngay mở đầu kinh A Di Đà đã nói:
”Từ phương Tây, đi qua mười vạn ức Phật thổ [tương đương 10 tỉ], có thế giới tên gọi là Cực Lạc.”
Nói như vậy tức là: 
Đi qua hết mười vạn ức tịnh thổ ở phương Tây thì mới đến được Cực Lạc thế giới.

Thử hỏi:
Tây phương chỉ có một thế giới Cực Lạc sao?
Đương nhiên không phải.
Chỉ là Phật Đà cho rằng tất cả thắng cảnh của Cực Lạc thế giới, trong con mắt của Phật Thích Ca Mâu Ni, thì là số một.
Còn như:
Phật và Phật chẳng hề ngăn trở lẫn nhau.
Tịnh thổ và tịnh thổ chẳng hề ngăn trở lẫn nhau.
Giống như một căn phòng, thắp đèn các màu sắc, nhưng ánh sáng tỏa ra từ các ngọn đèn đó hòa tan vào nhau, cùng tồn tại lẫn nhau, chẳng có một chút trở ngại nào.
Duy Ma Cật nói:
”Pháp thân của tất cả Phật và bản thể của chúng sinh là tương đồng.”
Bởi vậy nói:
Tâm.
Phật.
Chúng sinh.
Ba thứ này không khác biệt.
Phật và Phật.
Tịnh thổ và tịnh thổ.
Là không có sự ngăn trở.
Nhưng mỗi một nơi lại có cái hay riêng.


### 06. Hạt giống bị đốt cháy


Chúng ta biết rằng “nghiệp là bất khả tư nghì”.
Và phân thành ba loại:
Thiện nghiệp.
Ác nghiệp.
Vô ký nghiệp. [nghiệp không bị ghi lại]
Thiện nghiệp là chúng ta hành thiện bố thí, tự nhiên sinh ra.
Ác nghiệp là chúng ta làm ác, tự nhiên sinh ra.
Tôi biết có mười điều đại thiện:
1. Tin tưởng.
2. Cần cù.
3. Bố thí.
4. Hổ thẹn.
5. Xấu hổ.
6. Không tham.
7. Không sân.
8. Không hại.
9. Khinh an.
10. Không buông thả.
(Ngược lại sẽ là đại ác nghiệp. Ngũ nghịch tội là nặng nhất, đó là giết cha, giết mẹ, giết A La Hán, làm thân Phật chảy máu, phá hòa hợp tăng.)
Những thiện ác nghiệp này đều có nhân duyên quả báo.

Tôi hỏi Duy Ma Cật:
”Thế nào là vô ký nghiệp?”
Duy Ma Cật đáp:
”Hạt giống bị đốt cháy.”
Tôi nghe xong, cảm thấy Duy Ma Cật rất có trí huệ, lập tức nói ngay ra câu “hạt giống bị đốt cháy”. 

Tôi nói với Duy Ma Cật:
”Lúc còn trẻ Lư Sư Tôn tôi không hiểu chuyện, đã phạm rất nhiều nghiệp, không biết có thể giải được không?”
Duy Ma Cật hỏi:
”Phạm nghiệp gì đây?”
Tôi nói:
Giết rất nhiều kiến, rất nhiều côn trùng.
Ăn trộm sách.
Phạm việc dâm.
Đã nói rất nhiều lời nói dối.
Cũng từng uống rượu.
(Thi cử cũng gian dối.)
v.v…

Duy Ma Cật nói:
”Bây giờ ngài có hổ thẹn và sám hối không?”
Tôi nói:
”Đương nhiên.”
Duy Ma Cật nói:
”Tôi đem hết những hạt giống của việc ngài phạm pháp ra rồi đốt nhé!”
Duy Ma Cật hai tay dùng “ấn thác”, lỗ chân lông của tôi mở ra, rất nhiều hạt giống màu đen bay vào trong bàn tay của Duy Ma Cật Đại Sĩ, từng hạt từng hạt.
Duy Ma Cật nói:
”Đây đều là hạt giống bị đốt cháy, thuộc về vô ký.”
Tôi hỏi:
”Sao có thể đốt cháy được?”
Duy Ma Cật đáp:
”Ngài dùng Bách tự minh chú của Kim Cang Tát Đỏa hóa chúng thành không, hoặc dùng chuyết hỏa đốt cháy những hạt giống của ác nghiệp, đây chính là vô ký nghiệp sẽ không sinh ra quả báo.”
Tôi hỏi:
”Vô ký tức là không có nhân quả?”
Duy Ma Cật đáp:
”Vô ký cũng là nhân quả, có nguyên nhân của nó, vì đốt cháy hạt giống của nó mà quả không sinh ra, trở thành quả vô ký.”
Là nhân ác nghiệp nhưng lại đắc quả vô ký.


### 07. Nam Sơn Nhã Xá có gấu mèo


Nhà tôi ở quận Bellevue nước Mỹ, trên mái nhà có gấu mèo sống.
Chúng là một nhà sáu con gấu mèo.
Gấu mèo bố mẹ và bốn đứa con.
Đây cũng chính là ngôi nhà Nam Sơn Nhã Xá, ngoài Lư Sư Tôn và Lư Sư Mẫu ra thì còn có một nhà sáu con gấu mèo sinh sống.
Thượng sư Liên Hương có thính giác rất nhạy, thường nghe thấy lũ gấu mèo đi lại trên mái nhà. Thế là bèn mời sư huynh Ngạn Địch đến để mời công nhân lên mái nhà xem xét. 
Quả nhiên trông thấy phân và nước tiểu của gấu mèo.
Sư Mẫu cho rằng:
Phân và nước tiểu phải rửa sạch sẽ.
Đóng chặt cửa ra vào.
Đuổi gia đình gấu mèo đi nơi khác.
Gấu mèo là những kẻ xâm phạm.
Ngôi nhà Nam Sơn Nhã Xá này là của chúng tôi, chứ không phải là nhà của gấu mèo.

Tôi hỏi ý kiến Duy Ma Cật Đại Sĩ, việc này phải làm sao.
Duy Ma Cật nghe xong thì cười vang ha ha.
Duy Ma Cật nói:
Nam Sơn Nhã Xá của Lư Sư Tôn nào chỉ có ngài và Sư Mẫu đâu.
Còn có rất nhiều người khác sống nữa!
1. Còn có Duy Ma Cật sống.
2. Bốn người vợ ma của Lư Sư Tôn sống. (Phù Dung, Thụy Quang, Thiến Thiến, Tân Tân)
3. Chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, Chư Thiên, v.v…
4. Hai con sư tử ở hướng Bắc. Một con mèo đen nhỏ.
5. Vô số chúng sinh u minh, đi đi về về.
6. Kim cang lực sĩ.
7. Hai vị đại tướng canh cửa.
8. Đại Uy Đức Minh Vương, Bất Động Minh Vương, Đại Lực Kim Cang, v.v…
9. Ma thường trú.
10. Ma tạm trú.
v.v…
Những điều này tôi (Duy Ma Cật) không nói thì ngài (Lư Sư Tôn) cũng biết rất rõ.

Tôi nói:
”Đương nhiên tôi biết những điều này. Không biết Duy Ma Cật Đại Sĩ có ý kiến gì?”
Duy Ma Cật đáp:
”Sống hòa thuận vui vẻ với nhau là được.” (xem như người nhà)
Tôi nói:
”Tôi cũng nghĩ như vậy. Tôi nói với Sư Mẫu Thượng sư Liên Hương, Nam Sơn Nhã Xá chúng ta chỉ còn lại mình tôi với bà, con cái cũng chuyển đi rồi. Bây giờ có một gia đình gấu mèo sáu con đến ở cùng chẳng phải vui sao. Tóm lại, như thế này cũng náo nhiệt hơn một chút.”
Sư Mẫu nói:
”Nam Sơn Nhã Xá là của chúng ta, sao có thể cho động vật vào ở chứ?”
Tôi nghe xong, không dám nói thêm gì.

Duy Ma Cật nói với tôi:
Nhà chỉ là nơi ở tạm.
Không phải là nơi ở vĩnh viễn.
Ai là chủ nhân? Chẳng ai có thể biết được. (nói về tương lai)
Nhà như mộng huyễn bóng ảnh, từ xưa tới nay, không có nhà nào có thể sống mãi.
Lư Sư Tôn à! Ngài nên biết:
Duy có Phật tính vô tướng mới là ngôi nhà chân chính của hành giả.
Tồn tại vĩnh hằng.
Không tăng không giảm.
Pháp nhĩ bản nhiên.
Không có quá khứ, không có hiện tại, không có vị lai.
Không cần quá bám chấp.
Thế giới này là dung hòa lẫn nhau, các thế giới đều có thể dung hòa lẫn nhau, huống chi là Nam Sơn Nhã Xá!


### 08. Ma Phật địa


Đêm qua.
Có ma đến thăm.
Tôi tu siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp, nghi quỹ loạn hết cả, một đống hỗn loạn, lung tung lộn xộn.
Rèm liếp trong căn phòng ngủ đều kêu loạn cả lên.
Pháp tọa của tôi thò ra một bàn tay to, đẩy tôi khỏi pháp tọa, suýt chút nữa là tôi ngã dập mặt.
Cửa sổ kính kêu loạn lên một chặp.
Đèn treo lắc lư.
(Giống như có động đất.)
Nhưng căn bản là không có động đất. Xung quanh tôi truyền đến tiếng gầm gừ gào thét. Dường như có hổ đang ở xung quanh, khiến người ta nghe thấy mà hoảng hốt kinh sợ. 
Là ma ư?
Tôi nghĩ thầm trong lòng.
Tôi nhìn thấy khuôn mặt khổng lồ xuất hiện, đôi mắt hung tợn nhìn chằm chằm vào tôi.
Càng nhìn càng sợ.
Kêu “á” lên một tiếng, tôi ngã lăn ra đất, thế rồi tôi nằm cả đêm trên sàn nhà.

Ngày hôm sau.
Tôi hỏi Duy Ma Cật:
”Đêm qua có phải có ma đến quấy nhiễu không?”
Duy Ma Cật đáp:
”Tâm ngài động rồi!”
Tôi nói:
”Đúng vậy. Nhìn thấy cảnh tượng khủng bố, nghe thấy âm thanh khủng bố, thật sự kinh sợ!”
Duy Ma Cật nói:
”Tâm ngài bất động, tất cả đều không; tâm ngài hễ động, tất cả đều có.”
Tôi nói:
”Tôi nhìn thấy rõ ràng, nghe thấy rõ ràng.”
Duy Ma Cật nói:
”Lúc đó, ngài không chấp vào điều nhìn thấy nghe thấy, tâm trụ trong bất động địa là được rồi.”
Tôi nói:
”Rung trời lở đất đó!”
Duy Ma Cật nói:
”Rung trời lở đất cũng là huyễn. Lư Sư Tôn! Bồ Tát không bị ngoại cảnh trói buộc, chính là vì biết tất cả đều không phải là thật, cho nên có thể ở trong những cái thấy biết mà giải thoát.”
Tôi hỏi:
”Vì sao có ma đến?”
Duy Ma Cật đáp:
”Trong Phật hiện Phật, trong người hiện người, trong ma hiện ma, đều là sự biến hiện của tự tâm.”
Tôi hỏi:
”Làm sao để phá?”
Duy Ma Cật đáp:
”Phật - ma như nhau, ma là Bồ Tát ở địa thâm sâu đến giúp hành giả tu chứng thành tựu, cho nên là ma Phật địa.”

Còn nói:
”Không cần phá. Ma tức là Phật, Phật tức là ma, không hề có hai pháp.”
Duy Ma Cật nói:
”Phật là không, ma là không, ngài là không, cho nên có thể tất cả vô ngại. Tôi thật sự nói cho ngài biết, chỉ cần không chấp không nhận, tự thân sẽ không ràng buộc, là hạnh Bồ Tát.”
Thế là,
Tôi đã hiểu rồi!
Phật là không chấp, thì tất cả là một.
Ma là nhiễm duyên mà thành ma nghiệp.
Về mặt bản thể mà nói:
”Ta Bà tam giới lục đạo, pháp tính như nhau, thật sự không có sự phân biệt thiện ác sang hèn. Cho nên, Phật Đà có thể lệnh cho nhập vô dư niết bàn mà diệt độ. Đây là pháp Một thực tướng.” (ấn một thực tướng)


### 09. Ngoài âm thầm bỏ qua


Sau khi phát sinh sự việc ma Phật địa, Duy Ma Cật Đại Sĩ còn trịnh trọng nói với tôi: “Ma Phật địa là do ngài ấy hóa hiện ra.”
Tôi nghe xong thì suýt ngất xỉu.
Tôi nói:
”Ngài thật sự hóa hiện ra Ma Vương Ba Tuần ư?”
(Tôi không dám tin.)
Ngài nói:
”Chính xác.”
Ngài nói:
”Lư Sư Tôn! Ngài phải nghĩ thử xem, Nam Sơn Nhã Xá của ngài có kết giới, Hộ pháp rất nhiều, đầu giường có Thời Luân Kim Cang, đàn thành có Bất Động Minh Vương, tu pháp có Hổ Đầu Kim Cang, phòng khách có Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, sảnh vào nhà có Đại Uy Đức Kim Cang…..”
Ngài nói:
”Thế trận kiểu này, Ma Vương Ba Tuần cũng sợ Lư Sư Tôn ngài phần nào, nhưng Ma Vương Ba Tuần dám vào, vậy đó không phải là Duy Ma Cật tôi thì không được. Là tôi vào bên trong hóa hiện, cho nên tất cả Kim Cang Minh Vương mới bất động.”

Tôi nghĩ một lúc.
Quả vậy.
Tôi nói:
”Ngài lúc thì là Đại Bồ Tát (Kim Túc Như Lai), lúc lại biến thành Ma Vương Ba Tuần. Cứ thế này thì tôi còn có thể tin ai chứ?”
Duy Ma Cật nói:
”Nhớ kĩ! Là nhất như, không phải nhị như.”
Tôi nói:
”Phật - ma là một.”
Duy Ma Cật bắt đầu hỏi tôi:
”Nếu có Thượng sư của ngài muốn bỏ ngài mà đi, ngài phải làm sao?”
Tôi đáp:
”Âm thầm bỏ qua.”
Duy Ma Cật hỏi:
”Nếu có Thượng sư của ngài, lợi dụng tên tuổi của ngài để làm sự nghiệp kiếm lời cho mình, ngài phải làm sao?”
Tôi vẫn trả lời:
”Âm thầm bỏ qua.”
Duy Ma Cật hỏi:
”Nếu Thượng sư của ngài, trong lòng không phục ngài, biểu hiện bề ngoài thì là thầy của ngài, nhưng sau lưng lại phỉ báng ngài, ngài phải làm sao?”
Tôi đáp:
”Vẫn âm thầm bỏ qua.”
Duy Ma Cật** **hỏi:
”Nếu Thượng sư của ngài lôi kéo những đệ tử bên cạnh ngài đi, rồi lén lút chế giễu, ngài phải làm sao?”
Tôi đáp:
”Lại là âm thầm bỏ qua.”
Duy Ma Cật hỏi:
”Nếu Thượng sư của ngài không đến gặp ngài mà tạo ra những vòng ảnh hưởng nhỏ xung quanh mình, hoàn toàn phớt lờ ngài, ngài phải làm sao?”
Tôi đáp:
”Cũng là âm thầm bỏ qua.”
……

Duy Ma Cật hỏi:
”Tôi hỏi tới hỏi lui, ngài đều trả lời là âm thầm bỏ qua, thế ngoài âm thầm bỏ qua ra thì sao? Ngài sẽ trả lời tôi thế nào đây?”
Tôi nói:
”Âm thầm bỏ qua là Phật Đà nói, không có cái ngoài âm thầm bỏ qua.”
Duy Ma Cật nói:
”Ngoài âm thầm bỏ qua là phù hộ!”
Tôi nói:
”Vì sao phải phù hộ?” (Những người này đều là người xấu.)
Duy Ma Cật nói:
”Họ đến giúp ngài thành Phật, cái này mới cần phù hộ, hiểu chưa?”
Tôi nghĩ:
”Căn bản là nhất như, không phải nhị như. Hiểu rồi!”


### 10. Tư lương đủ đầy


Thời Luân Kim Cang từng nhắc nhở tôi:
”Không được tích trữ tiền tài!”
Duy Ma Cật cũng từng nói với tôi:
”Không được tích trữ tiền tài!”
Tôi vâng vâng dạ dạ. Không có ý kiến gì.
Tôi nghĩ:
Sư Mẫu và tôi đều già rồi, tôi 78 tuổi rồi, Sư Mẫu 74 tuổi rồi, đều đã bước vào tuổi già.
Sư Mẫu có bệnh.
Khám bệnh cần tiền.
Mời y tá cần tiền. (chăm sóc 24 giờ)
Thậm chí nhập viện phải cần tiền.
Sống trong khu điều dưỡng cần tiền, sống trong viện dưỡng lão cần tiền, sống trong khu chăm sóc cần tiền.
……

Những chi phí này đều rất đắt đỏ, viện dưỡng lão một tháng hết mười nghìn đô la Mỹ.
Như thế là rất rẻ rồi. (Đi đâu cũng tiền, tiền, tiền.)
Đặc biệt là viện dưỡng lão cao cấp một tí thì mấy chục nghìn đô cũng có, đúng là dọa người ta sợ.
Ngoài ra, tôi sâu sắc hiểu đạo lý vô thường, một ngày vô thường xảy đến, tuổi già và bệnh tật đi liền với nhau, là điều không tránh khỏi.
Đặt hẹn,
Khám bệnh,
Kê thuốc. (ngay cả xe lăn, xe đẩy)
Mời y tá.
Ăn, mặc, ở, đi, cái gì cũng cần tiêu tiền, tiền có nhiều cũng như nước chảy mất. Có người bị bệnh một cái là tiêu hết sạch tiền tiết kiệm cả đời, có thể mua được mấy tòa nhà lớn.
Thế nên,
Tư lương đủ đầy!
Vô cùng quan trọng. (Người không lo xa ắt có lo gần.)

Duy Ma Cật nói:
”Có thể nhờ con cái giúp đỡ!”
Tôi đáp:
”Tôi không muốn phiền hà con cái.”
Duy Ma Cật nói:
”Có thể nhờ đệ tử giúp đỡ!”
Tôi đáp:
”Tôi không muốn phiền hà các đệ tử.”
Duy Ma Cật nói:
”Tôi thấy ngài dành dụm tiền bạc, rất vất vả, tích tiểu thành đại để mà chữa bệnh, thật là tội nghiệp!”
Tôi đáp:
”Cũng chẳng tránh được!”

Có một hôm. Duy Ma Cật đưa tôi đi xem cung điện sau này của tôi. 
Bảy tầng lan can rào chắn.
Bảy tầng lưới võng.
Bảy tầng hàng cây.
(Đều bằng bốn loại châu báu vàng, bạc, lưu ly, pha lê.)
Hồ bảy báu vật. (Cát vàng phủ đầy đáy hồ.)
Nước tám loại công đức. (cam lộ)
Cung điện.
(Xây dựng bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xà cừ, hồng ngọc, mã não.)
Pháp tọa của tôi.
Một viên kim cương trong số đó có thể mua được cả tòa cao ốc chung cư ở Đài Loan.
Có thiên nhạc.
Có mưa mandala hoa trời.
……

Duy Ma Cật hỏi:
”Còn cần tích lũy tiền tài của nhân gian không?”
Tôi đáp:
”Không cần! Đại Sĩ.”


### 11. Danh tiếng của Phật giáo Đài Loan


Theo như tôi biết!
Phật giáo Đài Loan đương nhiên là từ Trung Quốc Đại Lục, thời kỳ đầu di dân, Phật giáo đã theo vào Đài Loan. 
Ở đây bao gồm người hoằng giáo và chùa hoằng giáo.
Ví dụ:
Trịnh Kinh xây dựng chùa Di Đà.
Thẩm Quang Văn xây dựng La Hán Môn.
Lý Mậu Xuân xây dựng chùa Pháp Hoa.
Trần Vĩnh Hoa xây dựng Long Hồ Nham.
Trịnh Tỉnh Anh xây dựng chùa Trúc Khê.
Ngoài ra,
Vương Hiệu Tông xây dựng chùa Khai Nguyên.
Còn có chùa Hưng Long, chùa Khai Hóa, Thanh Thủy Nham, chùa Long Sơn,… Đây đều là những ngôi chùa thời kỳ đầu. (thời kỳ nhà Minh, nhà Thanh)
Khi ấy, Phật giáo chính thống là Thiền tông, còn những cái khác là Phật giáo phổ thông.

Đến thời đại của chúng ta, tôi sinh ra vào năm 1945.
Phật giáo Đại Lục du nhập Đài Loan, khi ấy có:
Pháp sư Nam Đình ở Đài Bắc.
Pháp sư Tinh Vân ở Nghi Lan.
Pháp sư Quảng Từ ở Bành Hồ.
Pháp sư Huệ Phong ở Đài Nam.
Sáu cư sĩ gồm cư sĩ Đường Tương Thanh, cư sĩ Lý Bỉnh Nam, cư sĩ Tăng Phổ Tín, cư sĩ Chung Thạch Bàn. Và v.v.. 
Đây đều là những pháp sư và đại cư sĩ có danh tiếng.

Giai đoạn phát triển về sau có:
Phật Quang Sơn (pháp sư Tinh Vân)
Từ Tế (pháp sư Chứng Nghiêm)
Pháp Cổ Sơn (pháp sư Thánh Nghiêm)
Trung Đài Sơn (pháp sư Duy Giác)
(Được gọi là bốn ngọn núi lớn, đây đều là những ngọn núi lớn cực kì nổi tiếng.)

Theo tôi được biết:
Pháp sư Chứng Nghiêm của Từ Tế tuy là nương dựa vào đạo sư Ấn Thuận của Tam Luận tông, nhưng không thấy bóng dáng của Tam Luận tông.
Tam Luận là: Trung Luận, Bách Luận, Thập Nhị Môn Luận.
Pháp sư Chứng Nghiêm là gốc của Từ Tế.
Từ — đem niềm vui đến cho người khác.
Bi — giải trừ đau khổ của cuộc đời.
Hỷ — hoan hỷ tự tại bố thí hành thiện.
Xả — bình đẳng bố thí.
(Có bóng dáng của kinh Pháp Hoa.)

Pháp sư Tinh Vân của Phật Quang Sơn chủ trương “bát tông toàn hoằng”.
Bát tông là:
Tịnh Độ tông — A Di Đà Kinh, Vô Lượng Thọ Kinh, Quán Vô Lương Thọ Kinh, Vãng Sinh Luận.
Thiền tông — Bồ Đề Đạt Ma truyền đến Trung Thổ. Có Thiền Kinh.
Thiền tông một hoa nở năm cánh.
Phân thành năm tông, ở Trung Thổ thì Lâm Tế tông, Tào Động tông là thịnh vượng nhất.
Tam Luận tông — Trung Luận, Bách Luận, Thập Nhị Môn Luận.
Thiên Thai tông — tam quán “không, giả, trung”. Pháp Hoa Kinh, Đại Trí Độ Luận, Niết Bàn Kinh, Đại Phẩm Bát Nhã Kinh, Trung Luận.
Luật tông — Phạm Võng Kinh, Bồ Tát Giới Bản Kinh, Thập Tụng Luật, Tứ Phân Luật.
Pháp Tướng tông — Lăng Già Kinh, A Bì Đạt Ma Kinh, Hoa Nghiêm Kinh, Mật Nghiêm Kinh, Giải Thâm Mật Kinh, Bồ Tát Tạng. Dựa theo rất nhiều luận thuyết, có Thành Duy Thức Luận, Nhị Thập Duy Thức Luận, Phân Biệt Du Già Luận, v.v…
Hoa Nghiêm tông — Hoa Nghiêm Kinh.
Mật tông — Khổng Tước Vương Kinh, Kim Cương Đỉnh Kinh, Đại Nhật Kinh, v.v… 
Phân thành:
Tạng mật, Đông mật, Đài mật, Trung mật.
Đây là chủ trương của pháp sư Tinh Vân.

Pháp sư Thánh Nghiêm của Pháp Cổ Sơn ban đầu ở tại New York nước Mỹ, sau đó đến Đài Loan thành lập Pháp Cổ Sơn.
Lấy Thiền tông làm chính, pháp sư Thánh Nghiêm là đệ tử của Đông Sơ Lão Nhân.
Đối với luật học có nghiên cứu rất sâu.

Pháp sư Duy Giác của Trung Đài Sơn ở Phố Lý, Nam Đầu xây dựng Trung Đài Thiền Tự, lấy Thiền tông làm chính.

Duy Ma Cật hỏi tôi:
”Bốn ngọn núi lớn, dựa vào cái gì mà lớn?”
Tôi đáp:
”Rất khó nói!”
Duy Ma Cật hỏi:
”Từ bên ngoài quan sát, nói thử xem.”
Tôi đáp:
”Từ Tế cứu đời, tiền nhiều số một. Phật Quang phổ chiếu, chùa chiền lớn nhất. Pháp Cổ tiếng tăm vang lừng, các sách luận nhiều số một. Trung Đài đứng sừng sững, không tức là có.”
Duy Ma Cật nghe xong thì cười vang ha ha.
Hỏi:
”Phật Thích Ca Mâu Ni nói, cái nào lớn nhất?”
Tôi đáp:
”Phật Đà nói, cái nào hợp với đạo là lớn.”
Hỏi:
”Lấy Mật giáo để bàn luận, giải thích thế nào?”
Tôi đáp:
”Tương ứng. Đạo nhập thân ta, thân ta nhập đạo, đạo và ta hợp nhất, tức Phật và ta hợp nhất.”
Duy Ma Cật nói:
”Ông già Thích Ca nói cái hợp với đạo là lớn, thì vẫn là có nhị như - đạo và ta.”
Tôi hỏi:
”Thế nào là nhất như?”
Duy Ma Cật đáp:
”Hành giả tự hiển Phật tính, tức là nhất như.”
Lành thay! Duy Ma Cật.


### 12. Diệu Hỷ thế giới


Trong kinh Duy Ma Cật có nhắc đến Diệu Hỷ thế giới là Phật quốc tịnh thổ của Duy Ma Cật. 
Kinh rằng:
”Phật bảo Xá Lợi Phất, có một quốc thổ tên Diệu Hỷ, Phật hiệu là Bất Động, là từ khi quốc thổ này còn chưa có, Duy Ma Cật đã đến mà sinh ra nơi này.”
Quốc thổ đó tên gọi là Diệu Hỷ thế giới.
Giáo chủ là Bất Động Như Lai.
(Bất Động Như Lai chính là A Súc Như Lai.)

Tôi đọc kinh Duy Ma Cật, biết Duy Ma Cật Đại Sĩ vận dụng sức mạnh đại thần thông vận chuyển Diệu Hỷ thế giới của phương Đông đến thế giới Ta Bà. 
Để chúng sinh của thế giới Ta Bà được mở rộng tầm mắt.
Khi ấy, những chúng sinh có mặt ở đó:
Nhìn thấy Bất Động Như Lai.
Nhìn thấy Diệu Hỷ thế giới trang nghiêm đẹp đẽ.
Thanh tịnh.
Thuần khiết không tì vết.
Khi ấy có một triệu bốn trăm nghìn chúng sinh đều phát đạo tâm vô lượng, đều nguyện vãng sinh đến Phật quốc Diệu Hỷ.

Tôi đọc đoạn kinh văn này thì ca ngợi sức mạnh thần thông của Duy Ma Cật Đại Sĩ. 
Diệu Hỷ thế giới chuyển đến Ta Bà thế giới.
(phá vỡ không gian)
Diệu Hỷ thế giới và Ta Bà thế giới hòa nhập vào với nhau không có sự ngăn trở.
(bất khả tư nghì)
Hai thế giới đều không bị thay đổi, không to không nhỏ.
(quá diệu kỳ)
Hai thế giới hợp lại với nhau. Thời gian không tồn tại.
(phá vỡ thời gian)
Đây là một thần thông quả là không thể nào tưởng tượng được. Cá nhân tôi cảm thấy quá bất khả tư nghì.
Đây là Phật lực vận chuyển ư?
Diệu Hỷ thế giới đẹp đẽ như thế nào?
Tôi rất tò mò.

Tôi nói với Duy Ma Cật Đại Sĩ:
”Tôi muốn nhìn thấy Diệu Hỷ thế giới!”
Duy Ma Cật nói:
”Dễ thôi. Ngài nhắm mắt lại.”
Tôi nhắm mắt lại.
Chỉ cảm thấy thân thể mình biến mất, hoặc giống như thân thể nhẹ như không, dường như tôi đã hóa thành hoa sen, thanh tịnh không gì sánh bằng.
Duy Ma Cật nói:
”Nhìn ánh sáng.”
Tôi cảm giác nhìn thấy ánh sáng màu vàng kim, không phải là ánh nắng mặt trời, không phải là ánh trăng, là màu vàng suộm, vàng kim óng ả.
Tôi hỏi:
”Đây là ánh sáng gì?”
Duy Ma Cật đáp:
”Là ánh sáng do Bất Động Như Lai tỏa ra, ánh sáng này hơn cả ánh nắng mặt trời, cũng hơn cả ánh trăng.”
Người được ánh sáng này chiếu tới thì hỷ lạc vô cùng, tự nhiên đắc đại lạc. Tôi ca ngợi rằng:
”Chưa từng thấy.”
Tôi nhìn thấy hàng cây bồ đề được làm từ bảy loại bảo vật.
Rộng lớn vô cùng, không có biên giới.
Phát ra âm thanh hòa nhã. Trời ơi! Là âm nhạc cõi trời, âm thanh vi diệu, không cách nào mô tả được, chỉ cần nghe thấy âm thanh này thì phiền não căn bản là không tồn tại nữa, vì thế mà không có phiền não.
Tôi nhìn thấy mỹ nữ.
Diệu Hỷ thế giới có mỹ nữ, ai nấy đều tuyệt sắc, vẻ đẹp rạng rỡ không tì vết.

Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
”Những thiên nữ rắc hoa chính là những mỹ nữ đẹp rạng ngời hoàn hảo.”
Những thiên nữ xinh đẹp vô cùng này không giống như con gái ở thế gian, không ghen tuông, đố kỵ…
Không có chuyện ô uế.
Không có việc hành dâm.
Chỉ là ánh sáng và ánh sáng hợp lại tan vào nhau.
Đại lạc sản sinh ra tuyệt vời hơn cái lạc thế tục cả trăm nghìn vạn triệu lần.
Việc đi lại ở Diệu Hỷ thế giới đều dùng hoa sen để bay. Hoa sen các màu sắc đến đến đi đi, chẳng khác gì hoa sen chính là chiếc xe, thật sự là thế giới của hoa sen.
Những cung điện để ở được làm bằng bảy loại báu vật.
Cũng có nước tám loại công đức.
(Hai điểm này giống với Tây phương Cực Lạc thế giới.)

Diệu Hỷ thế giới nhờ có sức mạnh thần thông của A Súc Như Lai mà có đầy đủ tất cả mọi nhu cầu. 
Quần áo, từ trên cây bồ đề sinh ra thiên y. (nhiều màu sắc)
Thức ăn, hóa sinh. (tự mình biến hóa ra)
Ở, cung điện thất bảo.
Đi, hoa sen bay trên không.
Nuôi dưỡng, âm thanh hòa nhã.
Vui chơi, nhảy múa hát ca.
(Tất cả hương thơm tinh khiết vi diệu, thanh tịnh tự nhiên.)
Cái gọi là giấc ngủ thì không có danh từ giấc ngủ, mà là thiền định, thiền định tức là vô niệm.
Không có mùi hôi hám.
Toàn là mùi thơm.
Không có thứ không sạch sẽ.
Có:
Diệu trí. (vô thượng trí)
Diệu ý. (lý lẽ về thực tướng)
Diệu thuyết. (chân ngôn diệu ngữ)
Diệu đức. (không khởi pháp tướng, không khởi phi pháp tướng)
Diệu huệ. (tâm Phật tử không sở hữu)
Diệu thú. (tôn chỉ vi diệu)
Diệu hiền. (quả vị chí cao)
Những điều này đều chỉ có thể tự ngầm hiểu, diệu kỳ bất khả tư nghì.


### 13. Hỏi đáp về Diệu Hỷ thế giới


Tôi hỏi:
”Diệu Hỷ thế giới có giới luật không?”
Duy Ma Cật đáp:
”Không. Người ở trong quốc thổ này có sẵn gốc lương thiện.”
Tôi hỏi:
”Vì sao Diệu Hỷ thế giới có phụ nữ mà không có việc dâm?”
Duy Ma Cật đáp:
”Tự tại phóng quang mà thôi, không biết đến việc dâm.”
Tôi hỏi:
”Vì sao không tham?”
Duy Ma Cật đáp:
”Không có sử dụng tiền bạc, không có tranh giành danh vị, không có đố kỵ ghen tuông, tham cái gì chứ?”
Tôi hỏi:
”Vì sao không sân?”
Duy Ma Cật đáp:
”Không có oán thù thì lấy đâu ra sân hận?”
Tôi hỏi:
”Vì sao không si?”
Duy Ma Cật đáp:
”Người ở quốc thổ này đều là trí giả, đương nhiên không ngu si.”
Tôi nghe xong thì thật sự kinh ngạc!

Tôi hỏi:
”Vì sao không nghi?”
Duy Ma Cật đáp:
”Tự tính thanh tịnh rồi, nghi ngờ cái gì?”
Tôi hỏi:
”Vì sao không mạn?”
Duy Ma Cật đáp:
”Trong quốc thổ này người người bình đẳng, lấy đâu ra từ ngạo mạn?”
Tôi hỏi:
”Có tu hành không?”
Duy Ma Cật đáp:
”Không có tu hành. Tất cả có sẵn, không tu.”
Tôi hỏi:
”Có tà pháp không?”
Duy Ma Cật đáp:
”Tà pháp vô dụng, không có tà pháp.”
Tôi hỏi:
”Có chính pháp không?”
Duy Ma Cật đáp:
”Bốn thanh tịnh, tám chính đạo, người người đều có.”
Tôi hỏi:
”Người ở quốc thổ này có phải học Phật pháp không?”
Duy Ma Cật đáp:
”Muốn đến đất nước của A Súc Phật, hành giả phải du học Phật pháp khắp nơi, đã đến Diệu Hỷ thế giới rồi thì không cần học nữa.”

Tôi hỏi:
”Có các chủng tộc khác nhau không?”
Duy Ma Cật đáp:
”Không có.”
Tôi hỏi:
”Có bệnh không?”
Duy Ma Cật đáp:
”Không có đau bệnh.”
Tôi hỏi:
”Vì sao không có đau bệnh?”
Duy Ma Cật đáp:
”Không có tứ đại, lấy đâu ra đau bệnh.”
Tôi hỏi:
”Sao ngài lại thị hiện có bệnh?”
Duy Ma Cật đáp:
”Chúng sinh có bệnh, tôi có bệnh. Việc có bệnh của tôi là để trừ bỏ bệnh của chúng sinh.”


### 14. Di chuyển Diệu Hỷ thế giới


Căn cứ theo kinh Duy Ma Cật:
Duy Ma Cật Đại Sĩ triển khai sức mạnh thần thông đặc biệt lớn. Chẳng cần phải rời khỏi chỗ ngồi mà đã dịch chuyển toàn bộ Diệu Hỷ thế giới.
Chuyển đến Ta Bà thế giới.
(Giống như Duy Ma Cật Đại Sĩ cầm trong tay một bó hoa đưa ra cho mọi người thấy.)

Trong kinh ghi chép rằng:
Diệu Hỷ thế giới được di chuyển đến Ta Bà thế giới, nhưng không hề biến thành nhỏ.
Còn Ta Bà thế giới cũng không vì có thêm một Diệu Hỷ thế giới mà trở nên chật chội hơn.
Nhưng,
Trong Diệu Hỷ thế giới, rất nhiều Bồ Tát và Thanh Văn chúng đều sửng sốt.
Nhất loạt hét lớn:
”A Súc Như Lai ơi! Là ai đưa chúng tôi đi vậy?”
A Súc Như Lai nói:
”Không phải ta, là sức mạnh thần thông của Duy Ma Cật Đại Sĩ gây ra đó.”
Sau đó thì:
Thích Ca Như Lai nói với đại chúng:
”Bây giờ mọi người có thể nhìn cho kĩ Diệu Hỷ thế giới và A Súc Như Lai giáo chủ của cõi giới đó rồi.” 
Đại chúng đều nhìn thấy rồi.

Thích Ca Như Lai nói:
”Diệu Hỷ thế giới này mới trang nghiêm đẹp đẽ làm sao, Bồ Tát thanh tịnh như vậy, Bất Động Phật (A Súc Phật) thanh khiết hoàn hảo như vậy, các đệ tử Phật lại viên mãn như vậy.”
Khi ấy.
Một triệu bốn trăm nghìn người đã phát đạo tâm vô thượng, đều nguyện vãng sinh Diệu Hỷ thế giới. Thích Ca Như Lai đã thọ ký cho một triệu bốn trăm nghìn người là:
”Sau này sẽ sinh về Diệu Hỷ thế giới.”

Đoạn kinh văn này khiến tôi ngạc nhiên.
Vận chuyển cả một Phật quốc đến thế giới Ta Bà, đây phải là sức mạnh thần thông vĩ đại tới mức nào? Thậm chí ngay cả A Súc Như Lai cũng chuyển tới luôn.
(Mọi người đều nhìn thấy A Súc Như Lai.)
Thân màu lam.
Để lộ vai phải.
Tay trái nắm lại, cầm vào góc áo cà sa.
Tay phải duỗi năm ngón tay ra, ngón tay chỉ xuống đất, đặt trên đầu gối phải.
Ngồi tư thế kiết già.
Ngồi trên tòa hoa sen màu xanh trên lưng voi.

Về nguồn gốc của A Súc Phật thì như sau:
Có Chuyển Luân Vương tên là Vô Tranh Niệm, hoàng tử thứ chín của ông ấy là Mật Tô ở trước mặt Bảo Tạng Như Lai đã phát nguyện rằng:
Tu trì giới hạnh thanh tịnh.
Phát nguyện không sân hận.
Nguyện thành tựu tịnh thổ.
Bảo Tạng Như Lai ban cho tên là: A Súc.
Đồng thời thọ ký cho hoàng tử rằng: “Vào đời sau, trải qua một a tăng kì kiếp nhiều như số cát sông Hằng, bước vào a tăng kì kiếp thứ hai nhiều như số cát sông Hằng, khi ấy ở tại Diệu Hỷ thế giới thành tựu chính giác, hiệu là A Súc Như Lai.”

Còn nữa:
A Súc Phật trước khi thành Phật từng hầu hạ Đại Nhật Như Lai, sau đó phát khởi lời thề nguyện đối với chúng sinh không sân hận, trải qua tu hành nhiều kiếp, ở tại Đông phương Diệu Hỷ thế giới đã thành Phật. 
(A Súc Phật còn gọi là Bất Động Phật, là bởi vì không vì sự oán giận mà động tâm, vì thế gọi là Bất Động.)

Tôi hỏi Duy Ma Cật:
”Ngài có thể di chuyển Diệu Hỷ thế giới, ngay cả A Súc Phật cũng dịch chuyển, sức mạnh thần thông lớn như vậy, ngài là thần thánh phương nào vậy?”
Duy Ma Cật không trả lời.
Tôi nói:
”Ngài nhất định là……”
Duy Ma Cật nói:
”Lư Sư Tôn! Không thể nói ra.”


### 15. Tín và trí


Có người nói:
Muốn vào Cực Lạc thế giới, quan trọng nằm ở chữ “tín”. 
Muốn vào Diệu Hỷ thế giới, quan trọng nằm ở chữ “trí”.
Tôi hỏi Duy Ma Cật:
”Có đúng không?”
Duy Ma Cật đáp:
”Cực Lạc thế giới là trì danh niệm Phật, nhất tâm bất loạn, quan trọng nằm ở chữ “tín”.”
Duy Ma Cật hỏi ngược lại tôi:
”Ngài giải thích chữ tín này thế nào?”
Tôi đáp:
Lư Sư Tôn tôi cho rằng, tín có hai loại:
1. Tín giải.
Hiểu rõ chân lý, chân đế, chân như. Không có một chút nghi ngờ nào, giống như tâm kim cương.
2. Thâm tín.
Tin vào việc vào người, đối với lời của Phật Đà hoặc trưởng giả, dùng lẽ thường tình để biện luận, sinh ra lòng tin, đây cũng là một loại tín.
Đã hiểu chân như rồi. (tín giải)
Tin tưởng vào lời của Phật Đà. (thâm tín)
Duy Ma Cật nói:
”Cái trước là tin vào tự lực. Cái sau là tin vào tha lực.”
Tôi nói:
”Niềm tin vào tự lực và trí tuệ kết hợp với nhau. Niềm tin vào tha lực là niềm tin ban đầu, trong đó có năng lực trí tuệ thì tức là chính tín.” (Tín và trí kết hợp với nhau.)

Duy Ma Cật nói:
Còn có 10 loại tín:
1. Tất cả pháp đều không.
2. Tất cả pháp đều không có tướng.
3. Tất cả pháp đều không có mong cầu.
4. Tất cả pháp đều không tạo tác.
5. Tất cả pháp đều không phân biệt.
6. Tất cả pháp đều không dựa theo.
7. Tất cả pháp đều không thể đo lường.
8. Tất cả pháp đều không có cao thấp.
9. Tất cả pháp đều khó vượt qua.
10. Tất cả pháp đều không sinh ra.

Tôi nói:
”Chà! Cái này quá thâm sâu! Phải suy nghĩ kĩ.”
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói với tôi:
Nếu muốn vãng sinh Diệu Hỷ thế giới, phải có sức mạnh trí huệ, sức mạnh trí huệ đến từ:
Phát nguyện, học tập hạnh nguyện không động sân niệm của A Súc Như Lai.
Đây là sức mạnh trí huệ của “chân không trí”.
Đọc kinh Đại Bảo Tích, phẩm “Bất Động Như Lai”, thâm nhập học tập trí năng của Bất Động Như Lai.
Niệm chân ngôn A Súc Như Lai.
Lấy Bồ Tát lục độ để tu hành.
Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ.
Học “chân không trí”.
Học “sai biệt trí”.
Tất cả các loại trí của xuất thế nhập thế hợp nhất.
Hồi hướng:
Nguyện sinh Diệu Hỷ quốc
Có đại bi bồ đề
Thấy A Súc Như Lai
Cắt nút buộc sinh tử.
Như vậy càng có thể đắc được sức mạnh công đức trang nghiêm mà A Súc Như Lai gia trì.
Những điều này đều phải tinh tấn.

Tôi nói:
Tôi là một lão tu hành.
Mỗi ngày đều luôn tinh tấn.
Không sợ ma đến quấy rầy.
Không sợ gió thổi mưa rơi.
Sừng sững đứng trong trời đất.
Chỉ có lão tu hành này.
(Phỏng theo bài đồng dao “Cây tùng già”, đổi ca từ thành “Lão tu hành”.)

Phụ lục:
Đây là thư của đệ tử gửi đến cho tôi (Lư Sư Tôn). Thư như sau:
Cảm ơn nhân duyên lớn đời này, được Phật gia trì.
Vì trí huệ mà tu hành, vì trí huệ mà vui vẻ, vì trí huệ mà thành tựu.
Con ghi nhớ trong tâm, y theo Phật dạy bảo, tinh tấn không lười nhác…
Con hiểu khổ lạc là đạo.
Không ngừng suy ngẫm, suy ngẫm là đạo.
Vì trí là thân ta, thân ta là trí.
Những đạo lý này rất sâu xa.
Có thể có Sư Phật (Lư Sư Tôn) thường ở trong tâm con, giấu kĩ, bảo vệ, đúng là hạnh phúc.
Cầu nguyện mở ra cánh cửa Mật pháp, vì con mà lại mở ra đàn thành kim cang quyết.
Thật ra vào ngày 11 tháng 1 khi thầy 50 tuổi, thầy đã mở ra cho con, là năng lực của con không đủ. Cho nên thỉnh cầu thầy gia trì lại!
Gia trì con, ban cho con giáo pháp kim cang quyết.
Hợp nhất, đại lạc, quang minh, tính không hòa vào nhau.
Hợp nhất với Phật.
Làm sự nghiệp lợi sinh.
Nguyện khi thân sắc này tiêu tan, có thể ở trong hư không, hòa tan vào nhau mãi mãi, vĩnh viễn không phân ly.
Xin ban cho sức mạnh tinh tấn dũng mãnh.
Xin ban cho những ký kết ngầm với nhau không thay đổi.
Phật và Phật hợp nhất.
Con nguyện vì thầy mà chứng minh, thầy là đại sư thành tựu, vị tôn giả trí huệ vô lậu.
Con nói, con làm được.
Bởi vì Yeshe Tsogyal có thể chứng minh, Diệu Âm Thiên Nữ có thể chứng minh, con có thể chứng minh.
Từ lâu Thầy đã tu chứng! 
Trí Danh kính thư.


### 16. Mặt quỷ trên phiến đá lát nền nhà


Nam Sơn Nhã Xá mà tôi ở dùng đá cẩm thạch để lát nền nhà, những phiến đá lát nền rất vuông vức, mỗi cạnh dài 1/3 mét. 
Đá cẩm thạch hơi có màu vàng.
Nhà tôi ở rộng khoảng 5.300 mét vuông, cho nên xem ra rất hoành tráng. 
Cháu trai của Thượng sư Liên Hương là Lư Tín Kiệt đi du lịch đến Seattle, cậu ta ở luôn tại Nam Sơn Nhã Xá.
Cậu ta nói:
”Trong nhà của hai bác có rất nhiều âm thanh.”
Còn nói:
”Đi đến chỗ nào là âm thanh vang lên ở chỗ đó.”
Tôi nghe xong, không nói gì.
Sư Mẫu Thượng sư Liên Hương cũng im bặt.

Thật ra tôi rất muốn nói với cậu ta rằng:
”Nam Sơn Nhã Xá mà cháu ở chính là ngôi nhà ma đó.”
Tôi nghe thấy âm thanh liên tục vang lên, thấy chuyện quái dị là điều bình thường, không có âm thanh mới là quái dị đó!
Chúng tôi đã quen rồi.
Chỉ là, cậu ta không quen.

Gần đây, tháng 8 năm 2022, Sư Mẫu Thượng sư Liên Hương đã nhìn thấy:
Mỗi phiến đá lát nền nhà đều xuất hiện những khuôn mặt quỷ. Mỗi phiến đá đều có một mặt quỷ.
Mặt quỷ trên mỗi phiến đá đều khác nhau.
Tôi hỏi:
”Mặt quỷ có đẹp không?”
Thượng sư Liên Hương đáp:
”Mặt quỷ sao mà đẹp được!”
Ha!
Hỏi cũng như không hỏi.

Thượng sư Liên Hương nói:
”Có mặt thì lè lưỡi, có mặt thì bảy lỗ chảy máu, có mắt lệch miệng méo, có mặt thì đen như củi cháy, có mặt thì nhe răng trợn mắt, có mặt thì thâm tím, có mặt thì há miệng đỏ lòm…”
Bà ấy nói:
”Muôn hình vạn trạng, tất cả đều khác nhau, nhưng chính là mặt quỷ!”
Tôi nói:
”Không cần phải để ý, bọn họ đều đến để cầu siêu độ đó.”
Bà ấy hỏi:
”Có thể dẫm chân lên mặt họ không?”
Tôi đáp:
”Đương nhiên có thể, chúng ta không dẫm lên mặt họ thì chúng ta bay được sao?”
Thượng sư Liên Hương cười.
Tôi cũng cười!

Tôi hỏi Duy Ma Cật Đại Sĩ:
”Chuyện này là sao?”
Duy Ma Cật đáp:
”Tự tâm ngài đã hiểu, đâu cần hỏi tôi.”
Tôi hỏi:
”Ở trong ống trúc, ở trong tủ quần áo, ở trong tủ lạnh, ở trong tường, ở dưới chậu rửa… Sao còn ở cả trong phiến đá lát nền nữa?”
Duy Ma Cật đáp:
”Thật sự là quá đông rồi, không còn chỗ ở nữa!”
Tôi hỏi:
”Sau này ngay cả phiến đá lát nền cũng đầy kín rồi thì phải làm sao?”
Duy Ma Cật đáp:
”Sống trong lông tóc ngài.”
Tôi nói:
”Tôi không có lông tóc, tôi là hòa thượng.”
Duy Ma Cật đáp:
”Thế thì sống trong lỗ chân lông của ngài.”
Tôi hỏi:
”Lỗ chân lông là chỗ mà lão già nhà ông ở mà?”
Duy Ma Cật đáp:
”Tôi cho họ thuê, thu tiền thuê, ha ha ha!”


### 17. Ma con ma cháu


Mới đây, có một hòa thượng viên tịch.
Theo như tôi biết, thân trung ấm của ông ấy đã đi trên con đường ở âm gian rất lâu rồi, nhưng không đi đến được cuối đường. 
Con đường ở âm gian đó đã biến thành rất dài, dài đến nơi vô tận.
Ông ấy rất hoảng.
Tâm rất loạn.
Sao lại như thế này chứ?
Lúc còn sống, tự ông cho rằng:
Ông ấy vứt bỏ nhục thân, lập tức có thể nhìn thấy Tây phương Tam Thánh đến đón. 
A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát hiện tiền, cho ông ấy một đóa hoa sen thanh tịnh. 
Ông ấy ngồi trên hoa sen.
Vãng sinh Tây phương tịnh thổ.

Vị hòa thượng này đã nghĩ như vậy, nhưng sau khi viên tịch thì lại chẳng hề như thế.
Ông ấy cảm thấy nghi hoặc, sao lại phải đi bộ như thế này?
Ông ấy không tin, cũng không thừa nhận, kinh A Di Đà sao có thể lừa gạt người ta chứ? Đó là Phật Thích Ca Mâu Ni nói mà!
Nhất tâm bất loạn!
Trì danh niệm Phật!
Vãng sinh Tây phương tịnh thổ!
Điều này tuyệt đối không thể sai được.
Thế thì sai ở đâu?
Khó khăn lắm cuối cùng ông ấy mới nhìn thấy Địa Tạng Bồ Tát. 
Địa Tạng Bồ Tát nói cho ông ấy biết đầu đuôi ngọn ngành.
Ông ấy mới sực tỉnh ngộ.
……

Tôi hỏi:
”Duy Ma Cật! Ngài có thể nói cho tôi biết nguyên nhân không?”
Duy Ma Cật đáp:
”Được. Tôi có thể nói với ngài, tín đồ Phật giáo ngày nay cho rằng pháp mà Phật Đà giảng mới là kinh Phật, còn những kinh khác toàn là kinh giả.”
Tôi hỏi:
”Còn có những kinh mà Phật khác giảng sao?”
Duy Ma Cật đáp:
”Tôi có phải là Phật khác không?”
Ngài ấy hỏi ngược lại tôi. 
Tôi nói:
”Đương nhiên phải. Ngài là Kim Túc Như Lai.”
Duy Ma Cật nói:
”Phật Đà đương nhiên là chỉ Phật Thích Ca Mâu Ni. Nhưng đồng thời cũng là chỉ rất nhiều vị Phật đã giác hành viên mãn.”
Duy Ma Cật nói tiếp:
”Vị hòa thượng kia đã phạm phải tội là, ông ấy chỉ trích kinh Cao Vương Quan Thế Âm là kinh giả, người trì tụng đều là ma con ma cháu.”
Tôi nghe xong, kinh hãi!

Tôi nói:
”Nội dung của Cao Vương Kinh đều là Phật hiệu và danh hiệu Bồ Tát. Có gì để mà phê bình chứ?”
Duy Ma Cật nói:
”Cao Vương Kinh là một bộ kinh được trao truyền trong giấc mơ. Là một vị Phật khác ở trong mơ truyền dạy. Trong kinh đó có danh hiệu của tất cả Phật, tất cả Bồ Tát của thập phương tam thế, sinh ra sức mạnh bất khả tư nghì.”
Tôi hỏi:
”Vị Phật này phải xưng hô thế nào?”
Duy Ma Cật đáp:
”Ngài ấy chính là Phật Duy Ma Cật.”
Tôi “a” lên một tiếng, dọa chết tôi rồi!
Tôi (Lư Sư Tôn) rất cung kính kinh Cao Vương Quan Thế Âm. Đương nhiên tôi biết kinh này không phải là Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết. Tôi chỉ là cung kính chư Phật Bồ Tát trong kinh đó. 
Duy Ma Cật nói:
”Tôi đến tìm ngài, không phải là không có nguyên nhân, chỉ vì ngài đã tôn sùng điều tôi nói.”


### 18. Phân tích Cao Vương Kinh


Tôi nghe Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
”Cao Vương Kinh là Duy Ma Cật Đại Sĩ truyền thụ.”
Tôi đã ngây người ra ngay tại chỗ.
Sau một lúc bình tĩnh, tôi kinh ngạc cực kì.
Căn cứ:
Giữa năm Thiên Bình thời Đông Ngụy. Kinh Quan Âm do con người thời Cao Vương đã cảm được. 
Là Tôn Kính Đức ở trong ngục.
Ở trong mơ.
Được một sa môn truyền thụ kinh Cao Vương.
Tôn Kính Đức tụng đủ một nghìn biến thì tránh được tội chết.
Vì thế kinh này lưu truyền đến nay.
……

Thế là tôi hỏi Duy Ma Cật:
”Ngài hóa thành sa môn à?”
(Sa môn là tăng nhân xuất gia.)
Duy Ma Cật đáp:
”Không có gì là tôi không hóa ra.”
Tôi hỏi:
”Ngài đích xác khẳng định Cao Vương Kinh là ngài truyền thụ?”
Duy Ma Cật đáp:
”Chính là lão Duy Ma này.”
Tôi hỏi:
”Vậy thì xin ngài giải thích chân đế trong Cao Vương Kinh được không?”
Duy Ma Cật đáp:
”Được, lão Duy Ma phân tích cho ngài nghe, xin hãy chú ý lắng nghe!”

Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
1. Bắt đầu từ “tam quy y” cho đến “vô đẳng đẳng chú”.
Ở đây là sự khởi đầu của Phật pháp cho đến khi thành tựu vô đẳng đẳng.
Đặc biệt chú trọng:
Hữu duyên Phật pháp.
Phật pháp tương nhân.
Phật quốc hữu duyên.
Thường lạc ngã tịnh.
(Bốn câu kệ này đã đảo lộn trật tự, chính là từ hữu duyên Phật pháp cho đến khi thường lạc ngã tịnh.)
Cũng tức là từ chúng sinh cho đến khi thành Phật.
2. Từ “Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật” đến “Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật”. 
Chân đế của đoạn này là:
Sự nghiệp bồ đề của Phật.
Tịnh Quang. (nghĩa thanh tịnh)
Pháp Tạng. (nghĩa pháp bảo)
Thần Túc. (nghĩa tinh tấn)
Đăng Vương. (nghĩa quang minh)
Pháp Hộ. (nghĩa hộ pháp)
Du Hý. (nghĩa tùy duyên)
Bảo Thắng. (nghĩa tối thắng)
Dược Sư. (nghĩa đối trị)
3. Từ “Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật” đến “Định Quang Phật”.
Là quá khứ. Là hiện tại. Là vị lai.
(Tam tế nhất như.) [Ba ranh giới thời gian là như nhau.]
4. Từ “Lục phương lục Phật danh hiệu” đến “Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật”. 
(Là nghĩa về không gian.)
5. Từ “Vô lượng chư Phật” đến “A Di Đà Phật”. 
(Là nghĩa về thời gian.)
6. Từ “Trung ương nhất thiết chúng sinh” đến “Tiêu trừ chư độc hại”. 
(Là nghĩa về mục đích chính.)
7. Từ “Đại Minh Quan Thế Âm” đến “Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát”.
(Là nghĩa về Bồ Tát.)
8. Từ “Niệm niệm tụng thử kinh” đến “sô-ha”. 
(Là nghĩa về chú Thất Phật.)
9. Từ “Thập phương Quan Thế Âm” đến “Chuyên công thọ trì kinh”. 
(Là nghĩa bồ đề kiêm hồi hướng.)
10. Bát đại Bồ Tát.
(Là nghĩa Bồ Tát lợi sinh.)
Sự sắp xếp tổ hợp của kinh này nếu không phải là người có con mắt tinh tường thì không thể nhìn ra được.
v.v… 

Tôi hỏi:
”Duy Ma Cật Đại Sĩ, lời giải thích của ngài tôi có thể hiểu được một đôi điều. Trước kia tôi cũng phân tích Cao Vương Kinh, nhưng nghe phân tích của ngài, tôi thấy còn vi diệu hơn tôi. Bây giờ tôi có một thắc mắc, xin ngài giải thích.”
Duy Ma Cật hỏi:
”Thắc mắc gì?”
Tôi đáp:
”Ngày xưa tôi từng nói, Cao Vương Kinh là Lư Sư Tôn tôi truyền thụ, bây giờ ngài nói là ngài truyền thụ, rốt cục là ai truyền thụ?”
Duy Ma Cật nghe xong thì cười vang ha ha.
Ngài hỏi ngược lại tôi:
”Lư Sư Tôn! Ngài có tu được phân thân không?”
Tôi đáp:
”Đã tu được phân thân, hóa thân bên ngoài thân.”
Ngài hỏi:
”Ngài có bao nhiêu phân thân?”
Tôi đáp:
”Vô số!”
Ngài nói:
”Có một phân thân ở nước Anh bị cô Sư Đầu nhìn thấy. Lại có một phân thân ở Indonesia bị Maya nhìn thấy. Rồi có một phân thân ở Đài Loan bị Hồng Hồng nhìn thấy. Lại có một phân thân ở Singapore bị Lệ Lệ nhìn thấy. Lại có một phân thân ở nước Mỹ bị Yến Yến nhìn thấy. Phân thân ở nước Mỹ rất nhiều. Cứ thế, phân thân ở khắp các nước trên thế giới……”
Duy Ma Cật hỏi tôi:
”Nhiều phân thân như vậy, những gì họ đã làm, là ai làm?”
Tôi đáp:
”Là Lư Sư Tôn.”
Duy Ma Cật nói:
”Đúng vậy. Đúng vậy. Duy Ma Cật tôi cũng có vô số phân thân như thế, một phân thân trong số đó chính là Lư Sư Tôn.”
(Hây! Tôi là phân thân của Duy Ma Cật.)


### 19. Vấn đề phân thân


Tôi biết:
Một bông hoa một thế giới.
Một quốc thổ một Thích Ca.
Tôi cũng biết, Quan Thế Âm Bồ Tát có trăm nghìn triệu hóa thân (phân thân), nhiều đến mức không đếm xuể.
Văn Thù Bồ Tát trong hằng hà sa số Phật quốc tịnh thổ, bên cạnh mỗi một vị Phật lại có một Văn Thù Bồ Tát.
Còn nữa:
Chư Phật dùng sức mạnh phương tiện hóa hiện khắp nơi nơi có chúng sinh hữu duyên, phân thân ở mười phương và hiện thành tướng Phật.
Theo kinh Địa Tạng Bồ Tát bản nguyện, phẩm thứ hai “Phân thân tập hội”:
”Khi ấy, trăm nghìn vạn triệu, không thể nghĩ, không thể bàn, không thể tính đếm, không thể nói hết, vô lượng a tăng kì thế giới, tất cả chốn địa ngục, phân thân Địa Tạng Bồ Tát đều đến tụ tập tại cung trời Đao Lợi.”
Và:
”Người thoát ra khỏi chốn nghiệp đạo cũng đông đến số lượng trăm nghìn vạn triệu na-do-tha, cùng cầm hương hoa đến cúng dường Phật.”
(Đây cũng là phân thân Địa Tạng Bồ Tát.)
Và:
”Vì đã đến được cung trời Đao Lợi, lòng họ vui mừng hớn hở, chiêm ngưỡng Như Lai, mắt nhìn mãi không rời.”
Và:
”Khi ấy Thế Tôn chậm rãi đưa cánh tay màu vàng kim sờ đầu của trăm nghìn vạn triệu, không thể nghĩ, không thể bàn, không thể tính đếm, không thể nói hết, vô lượng a tăng kì thế giới các phân thân Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.”
Và:
”Ta cũng phân thân trăm nghìn triệu để rộng rãi tạo lập phương tiện.”
(Đây là Phật Thích Ca Mâu Ni tự nói mình phân thân trăm nghìn triệu.)
Và:
”Khi ấy, phân thân Địa Tạng Bồ Tát ở các thế giới đều cùng nhập trở về một hình thể.”
(Các phân thân của Địa Tạng Bồ Tát hợp nhất thành một hình thể.)

Tôi (Lư Sư Tôn) đọc xong phẩm “Phân thân tập hội” thì càng hiểu thêm Phật Thích Ca Mâu Ni phân thân trăm nghìn vạn triệu là vì cứu độ chúng sinh.
Và Địa Tạng Bồ Tát cũng phân thân trăm nghìn vạn triệu, ở các nơi trong địa ngục, và còn cả các nơi trong lục đạo chúng sinh cũng có vô số phân thân, ở trong các chốn lục đạo chúng sinh để cứu độ chúng sinh.

Câu hỏi của tôi là:
”Tôi là phân thân của A Di Đà Phật, sao lại là phân thân của Duy Ma Cật Đại Sĩ? Điều này giải thích thế nào?”
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
”Ví dụ Quan Thế Âm Bồ Tát, ngài là người hầu hạ sát sườn của A Di Đà Phật. A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát được gọi là Tây phương Tam Thánh.”
Và:
”Trong Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bản Nguyện Công Đức Kinh, hầu hạ sát sườn của Phật Dược Sư là Nhật Quang Biến Chiếu Bồ Tát, Nguyệt Quang Biến Chiếu Bồ Tát.”
Ngoài ra có:
Bát đại Bồ Tát. (Trong đó có Quan Thế Âm Bồ Tát.)
Bát đại Bồ Tát là:
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.
Quan Thế Âm Bồ Tát.
Đại Thế Chí Bồ Tát.
Vô Tận Ý Bồ Tát.
Bảo Đàn Pháp Bồ Tát.
Dược Vương Bồ Tát.
Dược Thượng Bồ Tát.
Di Lặc Bồ Tát.
(Đây là tám đại quyến thuộc.)
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
”Quan Thế Âm Bồ Tát đồng thời là quyến thuộc của A Di Đà Phật, cũng có thể là quyến thuộc của Dược Sư Phật. Từ đây chứng minh Lư Sư Tôn ngài là phân thân của A Di Đà Phật, cũng có thể là phân thân của Duy Ma Cật Đại Sĩ.”
Tôi nghe xong, không còn lời gì có thể nói.
Tôi hiểu:
Không thể nghĩ, không thể bàn, không thể tính đếm, không thể nói hết.


### 20. Đối thoại của phân thân


Tôi hỏi:
”Lư Sư Tôn là phân thân của A Di Đà Phật, cũng là phân thân của Duy Ma Cật, bây giờ đã biết, nhưng vì sao trước đây không biết?”
Duy Ma Cật đáp:
”Bây giờ đã biết là vì ngài tu hành.”
Tôi hỏi:
”Nếu không tu hành, từ đầu chí cuối đều không biết sao?”
Duy Ma Cật đáp:
”Chúng sinh của thế giới Ta Bà này phân thành ba hạng, một là hạng tiên tri biết trước, hai là hạng sau này mới biết, ba là hạng chẳng biết gì hết.”
Tôi hỏi:
”Tôi là hạng nào?”
Duy Ma Cật đáp:
”Ngài là hạng tiên tri biết trước.”

Tôi hỏi:
”Tôi chợt có một suy nghĩ, lẽ nào chúng sinh của thế giới Ta Bà toàn là phân thân?”
Duy Ma Cật cười:
”Cuối cùng ngài đã ngộ ra rồi.”
Tôi hỏi:
”Chả trách Phật Đà nói, chúng sinh đều có Phật tính, đúng không?”
Duy Ma Cật đáp:
”Chính xác.”
Tôi hỏi thẳng:
”Thế thì Duy Ma Cật ngài cũng là phân thân rồi?”
Duy Ma Cật đáp:
”Lư Sư Tôn! Ngài rất có trí huệ, ngài là “giác”, giác chính là Phật.”
Tôi hỏi:
”Duy Ma Cật! Ngài đã theo tôi bao lâu rồi?”
Duy Ma Cật đáp:
”Tôi chính là Linh Sư vô hình của ngài.”
Trời ơi! Đúng thật, Linh Sư của tôi cuối cùng đã hiện thân rồi.
Tôi hỏi:
”Thế Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh thì sao?”
Duy Ma Cật đáp:
”Là hóa hiện của tôi!”
Tôi đã hiểu rồi!
Tôi hỏi:
”Tôi thế nào lại là tiên tri biết trước?”
Duy Ma Cật đáp:
”Bởi vì ngài đắc chân không trí, đắc sai biệt trí, đắc tất cả loại trí. Ngài có thể có trí huệ vô ngại, có thể có một tâm cảnh duy nhất, hơn nữa còn tinh tấn, hành pháp lục đạo, cho nên là “giác”.”

Tôi hỏi:
”Tôi đến Ta Bà là độ hạng người sau này mới biết và chẳng biết gì hết, phải không?”
Duy Ma Cật:
”Trả lời đúng rồi, đây chính là “giác hữu tình”!”
Tôi hỏi:
”Làm sao độ?”
Duy Ma Cật đáp:
”Bố thí là độ tham, trì giới là độ ác, nhẫn nhục là độ sân, tinh tấn là độ lười nhác, thiền định là độ tán loạn, trí huệ là độ ngu si.”
Tôi hỏi:
”Bổn tôn thì sao?”
Duy Ma Cật đáp:
”Phân thân thành tựu là Bổn tôn, Bổn tôn một niệm là phân thân.”
(Câu này phải ngẫm nghĩ kĩ.)
Tôi hỏi:
”Bổn tôn phân thân có phân biệt lớn nhỏ không?”
Duy Ma Cật đáp:
”Bổn tôn là niết bàn, phân thân là không nhập niết bàn.”
Chà! Tôi hiểu rồi!


### 21. Câu chuyện của Katy


Ở Seattle, tôi có một đệ tử tên là Katy.
Cô ấy có một đứa con trai tên là Lỗ Lỗ.
Sư tỉ Katy làm việc ở công ty bảo hiểm.
Có một hôm.
Cô cảm thấy bụng mình có một cơn đau tức, hơn nữa còn bị chảy một ít máu.
Đến bệnh viện kiểm tra.
Bị phát hiện là có khối u nhỏ như quả nho, rất nhiều. 
Bác sĩ nói:
”Phải phẫu thuật!”
Bác sĩ chuẩn bị phẫu thuật cho Katy.
Trước khi phẫu thuật, Katy gọi điện cho mẹ ở bang Texas nước Mỹ. Mẹ của cô ấy liền thắp hương, ở trước đàn thành cầu nguyện Lư Sư Tôn. (Mẹ của cô ấy có thể tự mình nhìn thấy được Lư Sư Tôn.)
Mẹ cô ấy lần này lại nhìn thấy Lư Sư Tôn.
(Lần trước, bà của Katy qua đời, mẹ cô ấy tận mắt nhìn thấy Lư Sư Tôn đích thân đến tiếp dẫn bà cô ấy vãng sinh Phật quốc tịnh thổ. Bà của Katy hỏa táng, thiêu ra rất nhiều xá lợi hoa đẹp đẽ.)
Còn lần này, Katy phẫu thuật, mẹ cô ấy lại nhìn thấy Lư Sư Tôn.
Khi Katy phẫu thuật, trong lúc nửa tỉnh nửa mê, cô ấy nhìn thấy bác sĩ phẫu thuật.
Chính là Lư Sư Tôn.
Lư Sư Tôn tận tay làm phẫu thuật cho Katy.
Phẫu thuật xong xuôi.
Vô cùng thuận lợi.
Bác sĩ nói ngày hôm sau cô ấy có thể về nhà nghỉ ngơi.
(Sự việc xảy ra vào giữa tháng 8 năm 2022.)

Vì sự việc này mà tôi lại hỏi Duy Ma Cật Đại Sĩ.
Tôi hỏi:
”Duy Ma Cật! Lư Sư Tôn tôi học đo đạc mặt đất, tôi không phải là bác sĩ, làm sao tôi phẫu thuật được cho người khác chứ?”
Duy Ma Cật đáp:
”Phân thân không gì là không thể!”
Tôi hỏi:
”Phân thân của tôi biết phẫu thuật ư?”
Duy Ma Cật đáp:
”Đúng thế.”
Tôi hỏi:
”Phân thân có biết nói tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Bồ Đào Nha…..?
Duy Ma Cật đáp:
”Biết.”

Tôi hỏi:
”Sao có thể như vậy?”
Duy Ma Cật nói:
”Tôi lấy Lục Độ Mẫu và 21 Độ Mẫu làm ví dụ. Lục Độ Mẫu là chủ tôn, 21 Độ Mẫu là phân thân.”
”Và Lục Độ Mẫu còn là phân thân của Quan Thế Âm Bồ Tát.”
”Phân thân của Lục Độ Mẫu có 21 Độ Mẫu, mỗi vị đều có chức năng riêng.”
”Ví dụ:
Độ Mẫu cứu dịch bệnh.
Độ Mẫu cứu thiên tai.
Độ Mẫu cứu lũ lụt.
……

Còn có:
Bảo Nguyên Độ Mẫu.
Hùm Tự Độ Mẫu.
Tăng Phúc Huệ Độ Mẫu. v.v…”

Duy Ma Cật nói:
”Vào thời nay, tôi tin rằng cũng có Độ Mẫu cứu phẫu thuật nữa.”
Tôi ngẫm nghĩ, rất có đạo lý.
Nhưng, bất khả tư nghì, khó tưởng tượng được.


### 22. Một hào nước lớn


Buổi tối ngày 16 tháng 8 năm 2022.
Tôi ở trong phòng làm công khóa du già.
Thượng sư Liên Hương ngồi trên ghế* sofa* bên cạnh nhìn tôi tập yoga, chẳng bao lâu bà ấy đã ngủ mất.
Tôi làm xong bài tập yoga thì tôi gọi Thượng sư Liên Hương dậy. Đưa bà ấy về phòng lên giường đi ngủ.
Bà ấy mở mắt ra nói:
”Trước mắt tôi có một hào nước lớn, tôi không bước qua được!”
Tôi đưa mắt nhìn.
Cơ bản là trước mắt chẳng hề có hào nước lớn.
Nam Sơn Nhã Xá là nhà ở, ở trong nhà thì làm gì có hào nước lớn chứ?
Nhưng,
Tôi nói với Thượng sư Liên Hương:
”Ừ! Để tôi đưa bà đi qua!”
Tôi nói:
”Chúng ta dùng cách bay đi, hai người giống như cưỡi trên mây rồi bay qua!”
Thế rồi tôi làm động tác bay.
Thượng sư Liên Hương nói:
”Nhẹ nhàng, thoải mái bay qua rồi!”
Trước khi lên giường, bà ấy nói với tôi:
”Sau lưng ông có một người già.”
Tôi nói:
”Tôi biết, ông ấy là Duy Ma Cật.”
Bà ấy không nói nữa, ngoan ngoãn lên giường đi ngủ.
Tôi trở về phòng của mình.

Tôi hỏi:
”Duy Ma Cật! Bà ấy nhìn thấy một hào nước lớn là sao?”
Duy Ma Cật đáp:
”Việc này giống như một người có bệnh mắt, họ nhìn thấy có mưa hoa đầy trời vậy, đều là do tâm thức gây ra mà thôi.”
Tôi lại hỏi:
”Nhưng bà ấy cũng có thể thật sự nhìn thấy ngài, ông già Duy Ma là ngài đây đã bị bà ấy nhìn ra rồi!”
Duy Ma Cật đáp:
”Đây cũng là tâm thức gây ra.”
Tôi hỏi:
”Nhìn thấy một hào nước lớn, là do tâm thức gây ra. Nhưng nhìn thấy ngài chân thực cũng là tâm thức gây ra sao?”
Duy Ma Cật đáp:
”Đương nhiên đều là do tâm thức gây ra rồi!” - Duy Ma Cật nói: “Trên đời này, phàm tất cả tướng đều là hư vọng, không hề có thực tướng. Lão Duy Ma tôi chỉ là hiển hóa của tôi, bà ấy dùng tâm thức nhìn thấy hiển hóa của tôi mà thôi, cũng không phải thật.”

Tôi hỏi:
”Vậy tướng chân thực của ngài là gì?”
Duy Ma Cật cũng không trả lời, lập tức biến thân thành một vị Phật khổng lồ chiếm trọn cả hư không. 
32 tướng tốt.
80 vẻ đẹp.
Tỏa sáng rực rỡ.
Tôi hết sức ngưỡng mộ! Trang nghiêm cực kì!
Duy Ma Cật Đại Sĩ thật sự đã hiển hiện Kim Túc Như Lai cho tôi xem, tôi hết sức ca ngợi!
Duy Ma Cật nói:
”Đây vẫn chỉ là dùng tâm thức của ngài để nhìn thấy hiển hóa của lão Duy Ma tôi đây mà thôi.”
Tôi nói:
”Đây vẫn không phải là thực tướng ư?”
Duy Ma Cật nói:
”Đúng thế. Chỉ cần là Thánh giả có ngũ nhãn viên thông thì đều biết tất cả tướng đều là hư vọng.”
A!
Tôi đã hiểu rồi! Chân tướng tức là vô tướng, vô tướng tức là chân tướng.
Tướng huyễn tính không, huyễn không như một.


### 23. Lại muốn gặp Lư Sư Tôn


Đây là bài thơ “Lại muốn gặp Lư Sư Tôn”, tác giả là một đồng môn đệ tử ở Brazil. 
Viết vào tháng 8 năm 2022.
Tôi đọc rồi, ngắn gọn, trong sáng mà mạnh mẽ.
Bài thơ như sau:

*Nghĩ đến
Hạnh phúc vô hạn*

*Không kìm được
Nước mắt lại lăn dài*

*Chỉ hy vọng
Lại muốn gặp Lư Sư Tôn
Một ý nghĩ hy vọng
Chính là gìn giữ từng chút từng chút một*

*Con vẫn luôn ở bên cạnh Thầy
Chưa từng đi xa
Chỉ là vì
Con thà dùng cuộc đời này
Gìn giữ tấm lòng thành kính*

*Chỉ là vì
Không thể quên được nữa
Nét tươi cười của Thầy
Khi nhớ Thầy
Thầy ở chân trời
Khi nhớ Thầy
Thầy ở trước mắt
Khi nhớ Thầy
Thầy ở trong tâm trí
Khi nhớ Thầy
Thầy ở trong cõi lòng
Con thêm vào một câu
Khi nhớ Thầy
Con vẫn luôn chịu đựng*

*Mối duyên hẹn ước nghìn năm
Và sự tìm kiếm đời này
Sẽ không thay đổi
Chỉ là không giảm, ngược lại còn tăng lên*

*Giấu kín những đau thương
Gạt bỏ sạch phiền não
Tâm tư này
Tựa như mật ngọt
Con cũng sẽ lĩnh hội pháp ngữ của Thầy
Hiểu thấu những lời vàng
Học cách nhìn rõ
Sẽ không buồn rầu
Tương lai nhất định sẽ hoàn nguyên.*

🌟

Tôi đọc xong bài thơ này, trong lòng có đôi chút khó tả.
Tôi hỏi Duy Ma Cật Đại Sĩ:
”Duy Ma Cật! Ngài biết cô ấy là ai không?”
Duy Ma Cật đáp:
”Đời người là mộng, trong mộng vẫn có lời nói mê. Hẹn ước nghìn năm, như giả mà còn muốn thật. Tự ngài nghĩ xem, nghìn năm trước, ngài là ai?”
Tôi hỏi:
”Ngài muốn tôi đoán à?”
Duy Ma Cật đáp:
”Không phải đoán, hãy liệt kê ra các thời đại vương triều, giai nhân trong hậu cung, chính là người đó.”


### 24. Băng Yết La Đồng Tử (Hà Diệp Đồng Tử)


Tháng 8 năm 2022.
Pháp sư Liên Thùy ở Malaysia gửi tặng tôi một vị Băng Yết La Đồng Tử (Hà Diệp Đồng Tử).
Tôi để Băng Yết La Đồng Tử thờ cúng tại Đồng Tử Thiên ở Chân Phật Mật Uyển.
Hình tượng của vị Băng Yết La Đồng Tử này khiến người ta hoan hỷ!
Trên đầu có năm búi tóc.
Ngồi tư thế hoa sen.
Tay trái cầm quả cát tường.
Tay phải buông xuống, lòng bàn tay hướng ra ngoài. (ấn ban nguyện)
Ngồi trên lá sen.
Khuôn mặt là của một bé trai rất khả ái và hoàn hảo.
Nét mặt tươi cười.
Trên người có đủ loại chuỗi ngọc làm vật trang sức.

Theo như tôi biết, lai lịch của Băng Yết La Đồng Tử là như sau:
Vào thời đại Phật Đà.
Có một vị là Ha Lê Đế Mẫu, chính là Quỷ Tử Mẫu. 
Bà vốn là một quỷ thần hung ác, sinh được năm trăm người con trai, Băng Yết La Đồng Tử là đứa con trai út trong số năm trăm đồng tử đó.
Ha Lê Đế Mẫu yêu thương nhất là đứa con trai út này.
Vị nữ thần hung ác này thích nhất là ăn thịt trẻ con. Rất nhiều trẻ con trong thành Vương Xá đã bị bà ta ăn sạch sẽ. 
Rất nhiều cha mẹ trong thành Vương Xá kinh sợ, lũ lượt đi báo cáo với Phật Thích Ca Mâu Ni.
Thế là,
Phật Đà dùng chiếc bát của mình phóng quang để hút Băng Yết La Đồng Tử út ít của Ha Lê Đế Mẫu vào trong bát. 
Ha Lê Đế Mẫu trở về, tìm không được đứa con trai mà mình yêu thương nhất, đau đớn tuyệt vọng. Thế là, bà ấy đi tìm Phật Đà.
Phật Đà nói:
”Bà mất một đứa con mà đã đau lòng đến tuyệt vọng rồi sao?”
Ha Lê Đế Mẫu đáp:
”Đúng thế.”
Phật Đà nói:
”Trong thành Vương Xá, rất nhiều đứa trẻ đã bị bà ăn thịt, cha mẹ chúng có đau lòng tuyệt vọng không?”
Ha Lê Đế Mẫu đáp:
”Có đau lòng tuyệt vọng!”
Phật Đà nói:
”Hãy đặt mình vào hoàn cảnh của người khác, sau này bà còn ăn trẻ con nhà người ta không?”
Ha Lê Đế Mẫu nghe xong, quả nhiên tỉnh ngộ. Đáp rằng:
”Sẽ không ăn trẻ con của người khác nữa!”

Thế rồi Phật Đà thả Băng Yết La Đồng Tử ra khỏi bát. Băng Yết La Đồng Tử này vì sống ở trong bát của Phật Đà nên có được pháp lực truyền thừa của Phật Đà.
Không ngờ cậu bé có pháp lực thỏa mãn ước nguyện của chúng sinh, sau này đổi tên thành Mãn Nguyện Đồng Tử.
Vì thế Băng Yết La Đồng Tử còn gọi là Mãn Nguyện Đồng Tử, cũng chính là Hà Diệp Đồng Tử.

Phật Đà nói với Ha Lê Đế Mẫu:
”Trong tương lai, ta sẽ lệnh cho đệ tử Phật trong khi thí thực cũng sẽ cúng dường cho bà.”
Cũng tức là:
”Đại bàng Kim Sí Điểu
Hoang dã quỷ thần chúng
La sát Quỷ Tử Mẫu
Cam lộ đều tràn trề.”
(Ha Lê Đế Mẫu chính là Quỷ Tử Mẫu.)
Sau này, Ha Lê Đế Mẫu trở thành thần Hộ pháp của Phật pháp. Còn đứa con trai nhỏ nhất của bà là Băng Yết La Đồng Tử thì lại càng vĩ đại hơn.
Chú ngữ là:
”Ôm bi-li-in-ca sô-ha.”
Tụng đủ 100.000 biến.
Cúng dường như pháp. 
Băng Yết La Đồng Tử sẽ hiện thân trước mặt hành giả.


### 25. Băng Yết La Đồng Tử hiện thân


Vào ngày 18 tháng 8 năm 2022, tôi đang ở trong thiền định. 
Nhìn thấy chín vị tiểu đồng tử ở bên phải pháp tọa của tôi. 
Tôi hỏi:
”Các cậu là ai?”
Một vị đồng tử đứng trước nhất đáp:
”Tôi là Băng Yết La Đồng Tử!”
Tôi rất vui mừng.
Tôi nói:
”Cậu chính là Hà Diệp Đồng Tử (Mãn Nguyện Đồng Tử) phải không?”
Đồng tử đáp:
”Lư Sư Tôn! Vì ngài đã thờ phụng tôi nên tôi hiện thân. Tôi chính là Hà Diệp Đồng Tử, cũng tức là Mãn Nguyện Đồng Tử.”
Tôi hỏi:
”Cậu có thể thỏa mãn ước nguyện gì?”

Đồng tử đáp:
Muốn được quý nhân giúp đỡ, tôi sẽ giúp.
Muốn được phụ nữ kính yêu, tôi sẽ giúp.
Có việc khó giải quyết, tôi sẽ ở trong không trung báo cho biết, ở trong mơ báo cho biết.
Có ma quỷ, tôi có thể trừ khử.
Có kẻ xấu gây khó dễ, có ác pháp, tôi có thể phá trừ.
Học kém, tôi có thể khiến người đó xếp hạng nhất.
Vợ chồng bất hòa, tôi có thể khiến họ hòa hợp.
Có người trúng độc, tôi có thể trừ độc.
Kiện cáo không thuận lợi, tôi có thể giúp thuận lợi.
Biện luận, tôi có thể khiến họ thắng.
Có người thiếu nợ, tôi có thể khiến họ trả nợ.
Tôi có thể chữa trị các loại bệnh.
Hung trạch trở thành cát trạch.
Tôi có thể khiến sản phụ sinh sản thuận lợi.
Tôi có thể khiến người tu pháp nhanh chóng tương ứng.
Tôi có thể khiến người ta thành tựu sự nghiệp.
Tôi có thể khiến người ta phát minh ra sản phẩm mới.
Khiến người ta văn chương tuôn trào.
Khiến người ta tương ứng các Bổn tôn……

Tôi nghe xong thì ca ngợi:
”Quả nhiên là Mãn Nguyện Đồng Tử! Có thể thỏa mãn các ước nguyện.”
Tôi hỏi:
”Tu pháp của cậu như thế nào?”
Đồng tử đáp:
”Niệm tên tôi, cúng dường tôi là được.”
Tôi hỏi:
”Tên húy là gì?”
Đồng tử đáp:
”Bi-li-in-ca hoặc Bi-li-uyn-cha.”
Tôi hỏi:
”Cúng dường thế nào?”
Đồng tử đáp:
”Xin đọc pháp thành tựu Đại dược xoa nữ Hoan Hỷ Mẫu và ái tử.”
Băng Yết La Đồng Tử nói xong, toàn thân tỏa ánh sáng chói lòa, ẩn vào trong hư không.
Tôi không ngừng xuýt xoa.

Tôi hỏi Duy Ma Cật:
”Mãn Nguyện Đồng Tử vì sao lại tìm tôi?”
Duy Ma Cật đáp:
”Lúc trước có Lưu Ngọc dâng tặng cho ngài Hà Diệp Đồng Tử, nay lại có pháp sư Liên Thùy dâng tặng ngài Hà Diệp Đồng Tử, đây là nguyên nhân.”
Tôi hỏi:
”Cái gì là quả?”
Duy Ma Cật đáp:
”Ngài phải hằng dương pháp của Hà Diệp Đồng Tử là quả.”
Tôi nghe xong, rất hoan hỷ!
”Ôm bi-li-in-ca sô-ha.” (chân ngôn)


### 26. Xem thi đấu bóng đá


Đối với môn bóng đá, tôi có ký ức như thế này:
Thời tiểu học.
Tôi thích bóng chày và bóng đá, lúc tan học, chúng tôi chạy đến bãi tập, không phải đánh bóng bàn thì sẽ chơi đá bóng.
Ngày chủ nhật.
Mấy đứa bạn học cùng trường chúng tôi hẹn nhau đến bãi tập của trường học để đá bóng hoặc đánh bóng chày.
Tôi còn thích bơi nữa. (Đây là môn tôi thích nhất.)
Chơi xà đơn và xà kép. (Đây là môn tôi thích thứ nhì.)
Bơi là sở trường của tôi, tôi từng tham gia thi đấu.
Còn về bóng đá thì tôi cũng tạm được.
Đến đại học.
Người chơi bóng đá giỏi nhất là Trần Chấn Hoa, biệt hiệu “Chân To”. 
Thủ môn giỏi nhất là trưởng khoa Tăng Du Mẫn.
Còn về tôi.
Chỉ là chơi cho vui mà thôi!

Vào đầu tháng 8 năm 2022.
Trong một lần thiền định.
Một sự việc rất kỳ lạ đã xảy ra. Không ngờ tôi lại dịch chuyển đến một sân bóng đá xa lạ. Ở trên khán đài, tôi chen chúc trong đám đông để xem một trận thi đấu bóng đá.
Đó là một trận thi đấu bóng đá thật sự.
Tiếng hoan hô của đám đông.
Cầu thủ thì dốc hết sức mình.
Cổ động viên thì nhảy múa hát ca.
……

Điều tôi ngạc nhiên nhất là, rõ ràng tôi đang ở trong nhà thiền định, sao có thể dịch chuyển đến sân bóng nơi đang diễn ra trận đấu bóng đá chứ?
Có chuyện gì vậy?
Tôi không phải là người hâm mộ bóng đá.
Ấy thế mà trong thiền định, tôi lại nhìn thấy trận thi đấu bóng đá.
Lạ thay! Quái dị!
Sau đó, 
Sư tỉ Liên Hoa Thái Hồng đã viết một bài về sự tương ứng của cô ấy và đưa cho tôi. 
Tôi đọc bài viết.
Lúc này chân tướng mới lộ ra.

Bài viết của Liên Hoa Thái Hồng như sau:
Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật tôn quý kính yêu,
Con theo Thầy học Phật tu hành đến nay, đã chứng kiến Thầy chưa bao giờ vọng ngữ, cũng chứng kiến pháp thân của Thầy có ở khắp mọi nơi.
Con nhớ hơn 10 năm trước đây, trong lúc khai thị Thầy từng nói rằng: “Tương ứng một vị thì rất dễ có thể tương ứng với các vị.”
Nay con vô cùng cảm ơn và vui mừng nói để Thầy biết, ngày 30 tháng 4 năm nay, khi con đang tu pháp Liên Hoa Đồng Tử Căn bản Thượng sư tương ứng, con đã tương ứng với Thầy rồi.

Sau khi tương ứng, con lập tức viết thư nói cho Thượng sư Liên Ha biết, và để cảm ơn Thượng sư trong quá khứ đã vất vả hướng dẫn chúng con học tập Mật pháp tu thiền và luyện khí, và Mật pháp tu thiền pháp Liên Hoa Đồng Tử Căn bản Thượng sư tương ứng.

Sau đó, cho đến tận bây giờ, con đã dùng pháp Liên Hoa Đồng Tử Căn bản Thượng sư tương ứng này để tu thiền. Mỗi lần tu thiền, con đều ngồi tối thiểu một tiếng rưỡi đến hai tiếng, thậm chí lâu hơn.
Cho đến nay, con xem Sư Tôn như Phật Thích Ca Mâu Ni tái sinh, con rất nhớ Sư Tôn và vô cùng cảm ơn Sư Tôn. Suốt 10 năm qua, chân lý Phật học 10 năm như một ngày, Thầy ân cần giáo huấn và vất vả viết sách, con được hưởng lợi ích vô cùng.

Sư Tôn tôn quý, cái ngày mà con tương ứng với Thầy, con như thường lệ tu pháp Liên Hoa Đồng Tử Căn bản Thượng sư tương ứng. Khi tiến vào quán nhập ngã, quán ngã nhập không bao lâu, con rất nhanh chóng nhập định, hơn nữa rất nhanh chóng chìm đắm trong cảnh giới thậm thâm vi diệu hoàn toàn quên chính mình. 

Dần dần, con cảm giác rõ ràng, con của trước đây đã không còn là chính con, con kinh ngạc vui mừng cảm giác chính con đã cùng với pháp thân của Sư Tôn hợp nhất rồi. Con là Sư Tôn, Sư Tôn là con, cứ ngồi yên bất động như thế. Cho đến gần 2 tiếng 10 phút sau, toàn bộ một đàn tu thiền với pháp hỷ thù thắng đã xong, con đứng dậy, con vẫn là Sư Tôn và tự động kết thủ ấn của Thầy để tự gia trì cho mình.
Vô cùng bất khả tư nghì!

Điều càng bất khả tư nghì hơn là sư huynh nhà con là một người rất mê bóng đá. Đứa con trai lớn của con mưa dầm thấm lâu, cũng đặc biệt vào đầu tháng 6 năm nay đã mua một bộ vé xem các trận bóng đá vòng tròn mỗi tuần thi đấu một trận, để làm quà tặng cho Ngày Của Bố cho sư huynh nhà con. Đứa con trai lớn của con cũng mua một bộ vé cho mình, cùng với vợ và hai đứa con trai của nó cùng đi xem.

Trong một số trận đấu của giải bóng đá, đội bóng đá của tiểu bang Vermont chúng con luôn dẫn đầu. Đội bóng đá của tiểu bang chúng con vô cùng xuất sắc! Khiến sư huynh nhà con cảm thấy rất vui mừng, cho rằng xem đã con mắt. Mỗi lần xem bóng đá xong trở về nhà luôn vui mừng hớn hở, mặt tươi như hoa, nói liến thoắng không ngừng! Đến nỗi người hoàn toàn không có cảm hứng gì với bóng đá như con cũng vui mừng thay cho ông ấy.

Vào một ngày tháng trước - tháng 7, lại là một ngày thi đấu bóng đá. Ngày hôm đó sau khi con tan làm trở về nhà, sư huynh nhà con vui mừng nói với con: 
”Mấy trận bóng đá này thi đấu vô cùng xuất sắc! Hay là hôm nay bà đi cùng tôi, chúng ta cùng xem thi đấu được không? Xem tại chỗ, bầu không khí cực kì căng thẳng và kích động!”
Người hoàn toàn không có cảm hứng gì với bóng đá như con nghe xong cảm thấy rất khó xử, nhưng nhìn thấy ánh mắt chờ đợi của sư huynh nhà con, cuối cùng con cũng cười và đồng ý đi.

Đến sân thi đấu bóng đá cách nhà con chỉ 15 phút. Từ xa nhìn toàn bộ sân thi đấu, bốn phía là biển người núi người. Cầu thủ, nhân viên, người xem, náo nhiệt sôi sục! Sư huynh nhà con thì không ngừng phấn khích! Lại còn kéo tay con bước nhanh bước dài về phía sân bóng. Con đi theo sư huynh nhà con, cảm giác giống như một chú cún con đi theo chủ nhân của nó.

Trận thi đấu cũng sắp bắt đầu. Dưới cái nắng chói chang, các cầu thủ đều toát mồ hôi nhưng rất quyết liệt. Sư huynh nhà con xem mà vỗ tay rồi lại dậm chân, hứng khởi dâng trào. Thế nhưng, con thì lại kiểu “thần nữ hữu tâm, Tương Vương vô mộng”. [Ở đây ngầm ám chỉ rằng: vợ có tâm sự nhưng chồng lại chẳng hề để ý thấy.]

Để không làm cho sư huynh và con trai ở bên cạnh thất vọng, con giả vờ như không có chuyện ấy, thậm chí còn tỏ ra rất có hứng thú. Đầu óc và hai mắt con chạy theo hướng của các cầu thủ và quả bóng, không ngừng quay tới quay lui về hai phía của sân bóng. 

Đột nhiên, con chợt có linh cảm: đã cảm thấy tẻ nhạt như thế này, tâm trạng thì chán ngán suốt cả trận thi đấu bóng đá gần hai tiếng đồng hồ, chi bằng ở dưới ánh nắng chói chang này tu thiền thôi.

Thiền định thời gian dài, bất kể là ở nơi ồn ào thế nào, trong tâm con vẫn có thể lặng ngắt như tờ như thường lệ, tâm trạng yên ổn, nhập định chẳng có chướng ngại.

Khi các cổ động viên xung quanh hét vang, dưới những tiếng cổ vũ náo nhiệt của khán giả, con lập tức tập trung tinh thần, thân tâm thả lỏng, toàn bộ tinh thần thành kính hướng tâm đến Đại Nhật Như Lai của vũ trụ, hết sức cung kính.

Hai mắt con chạy theo hướng của quả bóng, chạy theo các cầu thủ, âm thầm trong tâm quán tưởng Sư Tôn trụ đỉnh phóng quang gia trì. Con tập trung ở trong tâm quán tưởng chính mình tay kết thủ ấn Liên Hoa Đồng Tử, trì tâm chú Liên Hoa Đồng Tử.
Con lặng lẽ tập trung tinh thần, chuyên tâm nhất ý tu pháp Liên Hoa Đồng Tử Căn bản Thượng sư tương ứng.

Thế rồi chẳng ngờ đã tiến vào quán tưởng nhập ngã. Hai mắt con mở nhưng chuyên tâm nhất ý.
Kỳ quái! Khi con tiến vào quán tưởng ngã nhập không lâu, không biết thế nào mà con dù đang mở mắt, nhưng đã cảm nhận được, con lúc này đã không còn là con, mà là Sư Tôn! Khuôn mặt của con, ánh mắt của con, thần thái của con, ôi chao, không ngờ là Sư Tôn!

Sư Tôn tôn quý kính yêu nhất, Thầy có thích xem bóng đá không? Hôm đó, pháp thân của Thầy không ngờ đã hợp nhất với con để cùng tập trung xem trận thi đấu bóng đá đó.
Quá thần kỳ! Quá ư là bất khả tư nghì!

Khi ấy tuy là con mở mắt, nhập định đến mức hoàn toàn vô ngã rồi, nhưng lại được Sư Tôn trong chớp mắt hợp nhất với con, con nhanh chóng tràn đầy pháp hỷ!
Cả người con mặc dù đông cứng lại, nhưng con lại có thể mở hai mắt nhập định, và đầu con thì từ từ chuyển động theo quả bóng, nhưng cho dù thế nào, con vẫn cảm giác rõ ràng, khi đó con đã không phải là con, mà là Sư Tôn rồi.
Đúng là quá thần kỳ! Quá kỳ diệu!
Cho đến tận bây giờ, con vẫn còn nhớ y nguyên khuôn mặt biểu cảm quen thuộc của Sư Tôn khi Sư Tôn ở dưới ánh nắng mặt trời chói chang trong không trung xem trận thi đấu bóng đá.

Ôi!
Sư Tôn tôn quý, Sư Tôn kính yêu,
Thầy là vị đại thành tựu giả chân chính!
Thầy là hóa thân của tất cả chư Phật Bồ Tát của thập phương tam thế.
Pháp thân của Thầy ở khắp hư không, không đâu là không có!
Pháp thân của Thầy ở khắp bất kì xó xỉnh ngóc ngách nào!
Con đích thực đã trải nghiệm được, chỉ cần con nghĩ đến Thầy, nhớ đến Thầy, con sẽ lập tức biến thành Sư Tôn!
Con thật sự đã chứng kiến, Thầy chưa bao giờ vọng ngữ!

Sư Tôn - Căn bản Truyền thừa Thượng sư của con,
Trong đời này kiếp này của con, Thầy là bậc minh sư Hoạt Phật chân chính nghìn năm khó gặp!
Thầy là vị Pháp Vương đương đại!
Xin hãy để cho con ở đây kiền thành cung kính, toàn tâm chí thành quỳ gối đảnh lễ trước Thầy, và chân thành cảm ơn Thầy, pháp thân của Thầy ngày hôm đó đã hợp nhất với con và khiến cho con lúc đó căn bản là hoàn toàn cảm thấy chán ngán với trận bóng đá, đột nhiên trở nên cảm thấy vô cùng có hứng thú, pháp hỷ vô cùng!
Cảm ơn Thầy! Cảm tạ Thầy!
Chúc phúc Thầy trường thọ khỏe mạnh! Trường trụ thế gian! Mãi chuyển pháp luân! An khang tự tại! 
Chúc phúc Sư Mẫu thân thể khỏe mạnh! Cuộc sống vui vẻ! Cát tường như ý!

Ngu đệ tử Liên Hoa Thái Hồng chắp tay đảnh lễ khấu tạ.
Thư viết ngày 15 tháng 8 năm 2022. 


### 27. Cùng Duy Ma Cật nói chuyện “dịch chuyển”


Tôi nói với Duy Ma Cật Đại Sĩ:
Khi tôi thiền định:
Từng dịch chuyển đến sân bóng đá lớn, xem một trận thi đấu bóng đá.
Ngày xưa, tôi từng ngồi tại hành lang của siêu thị, dịch chuyển đến nơi rất đông người.
Còn người ta đi qua đi lại đều đi xuyên qua người tôi.
Dịch chuyển đến đáy biển sâu nhất. 
Cả một bầy cá lớn bơi qua bơi lại xuyên qua người tôi.
Dịch chuyển đến một đám cháy lớn.
Không có cảm giác gì về cái nóng của ngọn lửa, ngược lại, cảm thấy sự mát mẻ của ngọn lửa.
Dịch chuyển đến mắt bão.
Tôi liền ngủ trong mắt bão, cơn bão này đã bị tôi chế ngự.
Tôi kêu bão dừng, nó liền dừng. Tôi kêu nó chuyển hướng, nó liền chuyển hướng. Tôi kêu nó đi thẳng, nó liền đi thẳng. Tôi kêu nó tan biến, nó liền biến thành khí áp.
Ở trong thiền định, tôi có thể đi vào đất, nước, lửa, gió, không.

Về phương diện không gian:
Dịch chuyển đến các nơi trên trái đất.
Dịch chuyển đến mặt trăng.
Dịch chuyển đến mặt trời.
Dịch chuyển đến ngân hà.
Đi dạo trong vũ trụ.
Tôi nói:
”Duy Ma Cật Đại Sĩ, thần thông thiền định này của tôi, ngài nghĩ thế nào?”
Duy Ma Cật nói:
”Kiểu thần thông này vẫn là trường mầm non thôi. Nói thật với ngài nhé! Cái mà ngài gọi là đất, nước, lửa, gió, không, vẫn nằm trong thân thể ngài.”
Đất chính là xương thịt trong người.
Nước chính là máu dịch.
Lửa chính là nhiệt độ.
Gió chính là hô hấp.
Mặt trăng là mắt phải của ngài.
Mặt trời là mắt trái của ngài.
Ngân hà là mũi của ngài.
Đi dạo trong không gian của ngài là não ngài.
Thần thông thiền định của ngài chính là nguyên thần đi qua đi lại ở trong thân thể ngài mà thôi!”

Tôi nói:
”Tôi không tin! Thế tôi xem trận đấu bóng đá thì sao?”
Duy Ma Cật đáp:
”Đó là xem nhịp tim của chính mình.”
Tôi nói:
”Thế đi dạo trong không gian thì sao?”
Duy Ma Cật đáp:
”Đó là đi dạo trong não, tôi nói rồi mà.”
Tôi hỏi:
”Duy Ma Cật Đại Sĩ, thế thì thần thông của ngài là…?”
Duy Ma Cật Đại Sĩ không nói gì, ngài ấy mở lồng ngực của mình ra, tôi nhìn chăm chú.
Hầy!
Bên trong lồng ngực ngài ấy có Cực Lạc thế giới, Diệu Hỷ thế giới, Hoa Tạng thế giới, Diệu Bảo thế giới, Vô Ưu thế giới, Viên Thông thế giới……
Thậm chí Ma Ha Song Liên Trì cũng ở trong lồng ngực của ngài ấy. 
Tất cả tịnh thổ đều ở trong lồng ngực của Duy Ma Cật Đại Sĩ.
Tôi hỏi:
”Đây là thần thông gì?”
Duy Ma Cật đáp:
”Thần thông hút toàn bộ tịnh thổ vào trong người mình, đây chính là dịch chuyển.”
Oa! 
Tôi lè lưỡi ra. (Nghẹn họng nhìn trân trối.)
Không thể nói lời nào.


### 28. Thư của tăng nhân Tây Tạng


Có một tăng nhân Tây Tạng tên là Dorje Tashi, thông qua pháp sư Liên Nghi, chuyển đến cho tôi một bức thư.
Nội dung thư như sau:

Sư Tôn vô thượng tôn quý, A Di Đà Phật!
Sư Tôn! Tôi là Dorje Tashi, là tăng nhân Tây Tạng phái Hoàng giáo Kagyup. 
Tôi là bạn của pháp sư Liên Nghi, lần này đến Thái Lan gặp được bà ấy, tôi cũng đi xem sách của Sư Tôn. Bởi vì thầy Liên Nghi rất hy vọng tôi có thể dịch những pháp bảo của Sư Tôn sang tiếng Tạng, có thể độ hóa được người Tây Tạng hữu duyên.
Lần này khi sắp đến đây, pháp sư Liên Nghi cũng có thỉnh Sư Tôn gia trì cho tôi, để tôi lên đường đi Thái Lan tất cả đều thuận lợi, bình an!
Vô cùng cảm tạ sự gia trì của ngài, khiến tôi đến Thái Lan thuận lợi. Vì tôi biết là pháp sư Liên Nghi đến tháng 8 sẽ đi Mỹ tham gia pháp hội của Sư Tôn, cho nên tôi muốn nhờ pháp sư đem một bức thư cho Sư Tôn, cũng là để cảm tạ đại lực gia trì của Sư Tôn.

Tuy rằng chưa từng gặp mặt Sư Tôn, nhưng Sư Tôn đã đi vào trong giấc mơ của tôi rồi. Ở trong mơ, Sư Tôn ngồi trên ghế tựa, tôi và những trẻ em ngồi quây tròn xung quanh Sư Tôn, Sư Tôn vui vẻ nhìn bên trái, nhìn bên phải xem chúng tôi chơi, Sư Tôn cũng cười rất vui vẻ. Trong lòng tôi nghĩ, lần đầu tiên nhìn thấy Sư Tôn phải dâng khăn khata, mới nghĩ đến việc đi tìm khăn khata thì đã tỉnh khỏi giấc mộng. Thật sự cảm thấy bất khả tư nghì!
(Pháp sư nói, khi tâm anh nghĩ đến dâng khăn khata thì chiếc khăn này đã trở thành cúng vật được cúng lên rồi.)

Ở Thái Lan tôi cũng đã tham gia đồng tu và pháp hội của Sư Tôn trên mạng, nghe Sư Tôn khai thị, cảm thấy rất hoan hỷ, Sư Tôn thuyết pháp rất dí dỏm, khiến người ta có cảm giác thân thiết, cực kì thoải mái. Thời gian ở Thái Lan, tôi từng mơ thấy trên cánh tay phải mọc rất nhiều mụn mủ, sinh ra rất nhiều mủ. Pháp sư rất vui vẻ nói đó là tiêu nghiệp chướng, tôi cũng cho là như vậy. Tôi cũng muốn dịch sách của Sư Tôn sang tiếng Tạng, nhưng bây giờ có lẽ là vẫn chưa tới lúc, cho nên tôi sẽ tiếp tục đọc sách của Sư Tôn. 

Từ nhất cử nhất động của pháp sư Liên Nghi mà tôi hiểu được Sư Tôn là một người vĩ đại đến thế nào.
Ở Thái Lan, sự kính ngưỡng của các đồng môn đối với Sư Tôn thật sự khiến người ta cảm động. Mỗi người đều rất muốn gặp Sư Tôn, đều rất muốn nhận được sự gia trì của Sư Tôn, đều vô cùng nỗ lực. Lần này đến Thái Lan tôi có được cảm nhận sâu sắc, cho nên tôi cũng rất muốn gặp Sư Tôn, rất muốn có được sự gia trì của Sư Tôn. Hy vọng Sư Tôn gia trì cho Tashi tôi để tâm từ bi và trí huệ của tôi có thể tăng trưởng. Đương nhiên bản thân tôi cũng sẽ cố gắng.

Trình độ tiếng Trung của tôi rất kém, tôi có một chút cảm tưởng cũng không biết làm sao để biểu đạt, nhưng tôi nghĩ tôi không nói thì Sư Tôn cũng biết được cảm nhận trong lòng tôi. Sau khi tôi trở về Ấn Độ thì một lần nữa tôi cũng lại mơ thấy Sư Tôn và Đại Bảo Pháp Vương. Nếu không có nhân duyên kiếp trước thì sao có thể mơ thấy Sư Tôn chứ? Thứ nhất, tôi chưa từng trực tiếp gặp ngài. Thứ hai, tôi cũng chưa hiểu rõ về Sư Tôn, cho nên sao có thể liên tục mơ thấy ngài chứ? Đúng là bất khả tư nghì, tôi cũng rất tò mò.

Cuối cùng, hy vọng Sư Tôn trường trụ cửu thế, thường chuyển pháp luân!

Tashi cung kính chắp tay. 
Ngày 22 tháng 7 năm 2022.

🌟

Đọc xong lá thư này, tôi muốn nói một vài lời.
Thứ nhất:
Tôi xem tất cả hiện tượng đều là “duyên sinh huyễn hữu”.
Mơ cũng là “duyên sinh huyễn hữu”.
Vì có duyên, tăng nhân Tây Tạng mới mơ thấy tôi (Lư Sư Tôn).
Ở đây chính là nhân quả.
Thứ hai:
Lại mơ thấy Lư Sư Tôn và Đại Bảo Pháp Vương.
Tôi là đệ tử của Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16.
Tôi cũng từng kết duyên với Đại Bảo Pháp Vương thứ 17 Thaye Dorje. 
Tôi có nhân duyên nhiều kiếp với Đại Bảo Pháp Vương.
Vì thế, 
Mơ thấy tôi và Đại Bảo Pháp Vương là rất bình thường.
Thứ ba:
Dorje Tashi và tôi chưa từng gặp mặt.
Dorje Tashi không có nhớ nhung. (không biết rõ)
Sao có thể mơ thấy Lư Sư Tôn?
Đáp án rất đơn giản, thế giới này là pháp giới viên dung, tôi là hành giả tùy duyên nhậm vận.
Tôi ngộ cảnh tùy duyên, là phẩm hạnh bát nhã.
Tự do là phẩm hạnh giải thoát.
Tự tại là phẩm hạnh pháp thân.
Người có ba phẩm hạnh này, có thể tùy nơi ứng hóa, gặp được người có duyên thì tự nhiên sẽ ứng hóa.
Vì thế,
Dorje Tashi có thể mơ thấy tôi.
Thậm chí tín đồ tôn giáo khác cũng có thể mơ thấy tôi, không có gì là bất ngờ.
Thứ tư:
Không chỉ mơ thấy.
Tôi cũng có thể hiện thân.
Làm tất cả những việc bất khả tư nghì. (Mọi pháp vô ngại.)


### 29. Thượng sư Liên Hương nhìn thấy điều linh dị


Tháng 8 năm 2022.
Có mấy chuyện linh dị mà Thượng sư Liên Hương nhìn thấy như sau:
Thứ nhất:
Bà ấy nhìn thấy tiên nữ trong tranh vẽ từ trong tranh đi ra, sau đó bay múa trong không trung.
Vẻ đẹp của điệu múa ấy ở nhân gian hiếm thấy.
Tiên nữ nhảy múa, bà ấy cứ đứng ngây người ra nhìn.
Múa xong.
Tiên nữ lại quay trở lại trong tranh.

Thứ hai:
Bà ấy định lên giường đi ngủ. 
Bà ấy hét lên: “Trên giường có người!”
Bà ấy nói: “Ông xem! Người đó chui xuống bên dưới cái gối rồi.”
Tôi nói: “Tôi sẽ đuổi người đó đi là bà có thể lên giường đi ngủ!”
Bà ấy nói: “Lại chui xuống bên dưới chăn bông rồi! Chăn bông giống như nổi sóng vậy!”
Tôi nói: “Tôi sẽ bắt nó ra.”
Đợi cho đến khi không còn động tĩnh gì nữa thì bà ấy mới lên giường đi ngủ.

Thứ ba:
Bà ấy nói:
”Trên xe điện của tôi có người đang lái xe.”
Tôi hỏi:
”Nam hay là nữ?”
Bà ấy không trả lời tôi.
(Chiếc xe điện của bà ấy giống như xe đồ chơi, người có thể ngồi lên, cũng có thể chạy trong nhà, giống như chiếc xe lăn, những lúc di chuyển bất tiện thì có thể dùng nó.)

Thứ tư:
Bà ấy nghe thấy trên trời có người đang tụng kinh.
Thế là bà ấy cũng tụng kinh theo.
Bà ấy nói:
”Người trên trời tụng kinh nghe rất hay.”
Tôi thì khác.
Tôi nghe thấy thiên nhạc. (Dùng tâm thanh tịnh để nghe.)
Âm nhạc trên trời quả nhiên xuất sắc phi phàm, không phải là âm nhạc thế tục thông thường.
Nghe xong! Pháp hỷ tràn trề.
Nghe xong! Tục niệm tiêu tan.
Nghe xong! Thân tâm thanh tịnh.
Nghe xong! Vui sướng vô cùng.
(Tiên nhạc bồng bềnh khắp nơi đều nghe thấy.)

Tôi từng hỏi người khác:
”Đã từng nghe âm nhạc ở trên trời chưa?”
Người ta đáp:
”Chưa từng nghe!”
Tôi hỏi Thượng sư Liên Hương:
”Bà có từng nghe thấy âm nhạc ở trên trời không?”
Bà ấy đáp:
”Tôi chỉ từng nghe thấy người trời đang tụng kinh.”

Tôi kể những gì tôi nhìn thấy, và những gì Thượng sư Liên Hương nhìn thấy và nghe thấy cho Duy Ma Cật Đại Sĩ. 
Duy Ma Cật nói:
Ở thế giới Ta Bà, có rất nhiều người huyễn thính huyễn thị, trong những tình huống đặc biệt sẽ xảy ra.
Những việc này đều là do thần thức gây ra.
Người tâm thần bệnh hoạn, gần như đều là có kiểu huyễn giác này.
Nhưng,
Lư Sư Tôn nghe thấy (thiên nhạc), đó là thật sự nghe thấy, không phải là huyễn thính của người bình thường, thật sự có thiên nhân đang diễn tấu âm nhạc. (tâm thanh tịnh)
Tôi hỏi:
”Thế những chuyện linh dị mà Thượng sư Liên Hương nhìn thấy thì sao?”
Duy Ma Cật không trả lời.
Duy Ma Cật chỉ nói: “Ngài biết mà!”


### 30. Nói chuyện từ một bức thư cảm ứng


Đảnh lễ Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Phật tôn quý nhất!
Đệ tử Liên Từ hộ trì Sư Phật trong đại pháp hội mùa thu có được cảm ứng thù thắng, kiến chứng đại thần tích thật sự bất khả tư nghì khi Sư Phật diễn pháp, xin ghi lại ra đây để cúng dường Sư Phật!

Trải nghiệm chân thực trong đại pháp hội Nghìn chiếc thuyền pháp vào mùa thu năm 2022 ở Seattle.

Ngày 20, 21/8/2022, đón chào sự kiện lớn muôn người chú ý mỗi năm một lần của Chân Phật Tông - đại pháp hội mùa thu ở Seattle. Cung thỉnh Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Pháp Vương chủ trì đại pháp hội A Di Đà Phật siêu độ vào ngày 20, và diễn hóa cùng truyền thụ pháp Nghìn chiếc thuyền pháp. Rồi vào ngày 21 là Hộ Ma Diêu Trì Kim Mẫu, truyền dạy pháp Bổn tôn Diêu Trì Kim Mẫu, tám đại pháp Diêu Trì Kim Mẫu, Diêu Trì Kim Mẫu cửu chuyển huyền công, pháp Diêu Trì Kim Mẫu thu tài chiêu tài, đại pháp Trạng nguyên Đẩu tinh của Diêu Trì Kim Mẫu, pháp thủy cúng của Diêu Trì Kim Mẫu, pháp lập tức có tiền của Diêu Trì Kim Mẫu, pháp thế thân của Diêu Trì Kim Mẫu, pháp Hổ Đầu Kim Cang thân phẫn nộ của Diêu Trì Kim Mẫu, đại pháp đặc biệt Hắc Diện Kim Mẫu, đại pháp đặc biệt Kim Diện Kim Mẫu, đại pháp đặc biệt Biến Thân Kim Mẫu. Tổng cộng là 12 quán đảnh lớn, cơ duyên thù thắng, không đi không được.

Vì vẫn trong thời kỳ dịch bệnh, đệ tử tự nghiệm thấy mình bảy chục tuổi là thuộc về nhóm có nguy cơ cao, vì thế lần đầu tiên quyết định không ở trong khách sạn, mà đổi thành cả hai ngày đó mỗi ngày đều mất tám tiếng đi đi về về giữa Mỹ và Canada. Điều này khi đệ tử còn trẻ tuổi thể lực cũng khó làm được, huống chi là bây giờ. Có thể nói đây là một dịp thử thách cực độ.

Đại pháp hội A Di Đà Phật và Nghìn chiếc thuyền pháp siêu độ ngày 20, vì gần đây đệ tử hay bị ốm vặt, cho nên đặc biệt làm chủ cầu nguyện, ấy thế nên đệ tử đã chứng kiến đại thần tích Sư Tôn diễn pháp. Khi tiếng chú âm Sư Tôn đích thân tụng A Di Đà Phật vang lên, cùng với những tiếng đồng môn có mặt tại đó không hẹn mà cùng niệm Phật hòa vào nhau, khiến người ta cảm động vô cùng. Bên tai đệ tử truyền đến cực kì rõ ràng những tiếng khóc do bị xúc động mà không ngừng vang lên của linh chúng vô hình. Tuy rằng khi đó đệ tử nhắm mắt, nhưng lại nhìn rõ trước mắt có một vùng ánh sáng hiền hòa cát tường, trong lòng vừa ấm áp vừa cảm động, thân tâm khoan khoái khinh an, pháp hỷ tràn trề. Bất giác tâm khởi lên một ý nghĩ, cảm nhận thù thắng hảo hạng như thế này nên viết ra để làm chứng cho Sư Phật. Suy nghĩ vừa khởi lên, một giây sau trước mắt không ngờ xuất hiện một vị báo thân A Di Đà Phật tướng đứng vừa to cao vừa rõ ràng là đã quen biết, cao hơn cả Hộ Ma Bảo Điện. Đồng thời, ánh sáng trong không trung càng rực rỡ hơn, đệ tử nhìn thấy linh chúng trèo lên truyền pháp cực kì rõ ràng, nhìn thấy trong hư không rộng lớn vô biên, thuyền pháp nhiều chi chít như sao trên trời, tiếp theo đó Sư Phật diễn hóa thủ ấn và chú âm A Di Đà Phật, thuyền pháp từ từ đi xa, thăng lên hư không, biến thành những chấm đen nhỏ. Đệ tử cảm giác chính mình bất giác dường như cũng đi theo đến tịnh thổ của A Di Đà Phật, nhúng mình vào trong biển ánh sáng màu vàng kim rực rỡ. Cảm giác này nói thẳng ra là chẳng thể nào dùng bất kì từ ngữ nào để miêu tả được, chỉ có thể nói đúng là quá thù thắng, quá khinh an, quá thanh tịnh, quá pháp hỷ!

Sau khi Hộ Ma kết thúc, nghe Sư Tôn khai thị: “Pháp hội siêu độ hôm nay tổng cộng có năm vị chủ tôn, ở trên cao nhất là Diêu Trì Kim Mẫu, ở giữa là A Di Đà Phật, bên dưới là Hổ Đầu  Kim Cang, hai bên trái phải là Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, mỗi lần tôi làm siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp thì vị A Di Đà Phật ở Chân Phật Mật Uyển đều đến.” A! Thì ra vị A Di Đà Phật mà đệ tử nhìn thấy đó chính là vị mà Sư Tôn nói đến. Tương ứng thật sự rồi!

🌟

Sau khi pháp hội kết thúc, đệ tử trở về đến Vancouver thì đã là nửa đêm, mặc dù hoa mắt chóng mặt, mệt mỏi cực kì, rất hiếm khi nào ngủ một giấc thẳng đến khi trời sáng. Hơn 7 giờ sáng còn có một giấc mơ cát tường, bầu trời xanh trong vắt, một đoàn tàu tốc hành kiểu Châu Âu và Nhật Bản mới tinh như một anh chàng lực sĩ sáng loáng, đầu tàu tạo dáng hình bầu dục, thân tàu thì có màu lục và màu xanh ngọc liên tiếp xen lẫn nhau, yên tĩnh không một tiếng động nào lao nhanh đến trước mặt đệ tử. Trong chốc lát, đệ tử đã tỉnh khỏi giấc mơ. Vốn dĩ buổi đêm hôm trước còn nghĩ là ngày hôm sau không biết có thể nào lên đường được không, thế mà mới sáng ra đã có một đoàn tàu siêu cấp đến. Chà! Đi được rồi! Không đi không được!

🌟

Ngày 21, thời tiết càng khô nóng hơn, nóng đến mức khiến người ta không thở được dễ dàng. Nhưng ở trên đường, tình trạng của đệ tử còn tốt hơn ngày đầu tiên, tinh thần tràn trề, tình hình đường xá giao thông cũng thuận lợi. Vừa bước chân vào cổng chính của Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, những phiền não của cõi trần huyên náo dường như đã đi vào một cõi yên vui, nhìn thấy ai là cười, nói năng đầy dí dỏm, niềm vui như dâng trào, ngay cả chính đệ tử cũng không dám tin. Đây có còn là nữ vương mặt mày nhăn nhó cả đời không? Sao lại có được tinh thần này? Sao lại có được tâm tình tốt như thế?

Pháp hội Hộ Ma bắt đầu, khi chú âm Hộ Ma Diêu Trì Kim Mẫu vang lên, đệ tử tập trung hết tinh thần tâm trí để nhìn Sư Phật diễn hóa thủ ấn, trước mắt ánh sáng chói lòa. Đột nhiên rõ ràng nhìn thấy những vị “thần bay” xinh đẹp rạng ngời, mặc thiên y màu xanh lục và màu vàng với những dây đai bay bay sống động như thật, tiếp đó lại nhìn thấy nơi xa có một loạt tiên nữ các màu sắc… trước đây chưa từng thấy, ngay khi ấy tâm đệ tử sinh ra sự cảnh giác, liệu có phải tự mình vọng niệm không? Vừa mới nghĩ đến điều này thì lập tức đệ tử lập tức chuyển sự chú ý, khép lại màn biểu diễn này, chuyên tâm nhất trí trong biển ánh sáng mênh mông để nhập định. Rất nhanh chóng, đệ tử nghe thấy tiếng chuông kim cang tinh tinh tang tang của Sư Phật vang lên, trong lòng nghĩ, lần Hộ Ma này sao lại nhanh như vậy, vẫn còn mong muốn tiếp tục!

Khi hồi hướng, đệ tử nghe thấy Sư Phật không chỉ phụng thỉnh chủ tôn Diêu Trì Kim Mẫu, mà còn bất ngờ phụng thỉnh một nghìn thị nữ của Kim Mẫu như Hoa Lâm, Mị Lan, Diêu Cơ, Ngọc Hộ, Song Thành, Phi Quỳnh, Thanh Nga, Thiếu Nga,… Lúc này đệ tử mới bất chợt tỉnh ngộ, lắng tâm xuống, thì ra những tiên nữ mà đệ tử nhìn thấy trong pháp hội thật sự không phải là nhìn lầm! Đệ tử không kìm được mà sâu sắc ca tụng Sư Phật diễn hóa pháp thật chân thực thù thắng! Khi đó, đệ tử đã bí mật hạ quyết tâm nói với chính mình, bất kì một câu nói nào của Sư Tôn đều là lời nói thật không giả dối, đệ tử nhất định phải ghi nhớ trong tâm, tín thọ phụng hành.

🌟

Sư Phật kính yêu, hai ngày này đệ tử đã trải nghiệm sâu sắc, bất kể là tận mắt nhìn thấy, hoặc tận tai nghe thấy Sư Phật khai thị, rồi lại nhắc đến pháp ngữ quý báu về pháp môn bất nhị của Duy Ma Cật Đại Sĩ, không ai là không sâu sắc hiểu được rằng, vị đại đạo sư Liên Sinh Phật mà con quy y truyền thừa cùng với A Di Đà Phật là không hai không khác, cùng với Duy Ma Cật Đại Sĩ là không hai không khác. Vốn dĩ ở xa tận chân trời xa xăm, khó mà hy vọng các thánh chúng của thập phương tam thế pháp giới đều vì nhân duyên đại thiện Sư Phật trụ thế hiếm có khó gặp, mà đã hiện lên sống động tại thế giới của đệ tử Chân Phật, thậm chí là sống trong người, trong tim… đệ tử, một ngày sáu thời không rời xa. Quá thù thắng! Quá bất khả tư nghì không thể tưởng tượng được!

🌟

Không ngờ, sau khi hai buổi đại pháp hội kết thúc, cảm ứng của đệ tử vẫn chưa dừng lại, thân tâm đệ tử vẫn có thể cảm nhận được Thượng sư và Tam Bảo bí mật gia trì. 
Thứ nhất, ngày hôm sau, đệ tử ngồi thiền trước mật đàn, trong lúc tĩnh lặng, nhìn thấy đỉnh luân có một chút tựa như khói hoa hình cái ô ở trong bầu trời đêm buông xuống, những chuỗi ánh sáng màu trắng bạc lặng lẽ và chậm rãi lan truyền. 
Thứ hai, lại có một hôm, trong lúc tĩnh tọa, đệ tử nhìn thấy một đường trung mạch thẳng tắp có khí màu trắng xoáy ở phía trên vội vàng đi xuống, đến lúc này, khí mạch bị tắc nghẽn một khoảng thời gian rõ ràng đã thông hơn rất nhiều, thân thể cũng nhẹ nhàng rất nhiều.
Thứ ba, rất đặc biệt là sau lần pháp hội này, thị giác của ba con mắt dường như khác nhau, ví dụ khi ở trong định, đôi khi nhìn thấy thân hình của Hộ pháp. Có lần, không ngờ lại nhìn thấy hiện lên trước mắt cảnh tượng phía trước và hai bên có hai hàng Hộ pháp đang đứng, giống như miêu tả trong “Diêu Trì Kim Mẫu phổ độ thu viên định huệ giải thoát chân kinh” là “Lão Mẫu sẽ tự phái thần hộ vệ đến bảo hộ. Thân không bị ma khảo. Nhà có được bình an…..”

Đệ tử ở tại pháp hội trước sau đã thuật lại những trải nghiệm thần diệu có kể mãi cũng không hết, đủ chứng minh tấm lòng từ bi của Sư Phật và chư tôn, sự gia trì bồi dưỡng của pháp lực vô biên, để đệ tử tuy vẫn còn ở thế giới Ta Bà, nhưng đã được hưởng những niềm vui vi diệu như của cõi trời Cực Lạc. Đệ tử không kìm được mà nghĩ đến Sư Phật luôn luôn thường yêu thích tụng niệm bài kệ tán thán: 
”*Liên Hoa Đồng Tử gặp Kim Tiên.
Khắp cả hư không hoa rơi xuống.
Vượt mây nghe tiếng trời vi diệu.
Lời nào tả xiết lạc cõi thiên.”
*Trong trạng thái ngẩn ngơ, nếu có giác ngộ, chẳng lẽ đó là sự miêu tả hai lớp trong ngoài của ngoại hình bên ngoài và nội chứng bên trong?

Tại đây, đệ tử chân thành đảnh lễ cảm ơn Sư Phật! Kính chúc Sư Phật Phật thể an khang, trường thọ tự tại, thỉnh Phật trụ thế, hằng chuyển pháp luân!
Đệ tử Liên Từ đảnh lễ cúi lạy.
Ngày 28 tháng 8 năm 2022.

🌟

(Chú giải)
Đối với bức thư cảm ứng này, tôi đưa cho Duy Ma Cật Đại Sĩ xem. 
Tôi hỏi:
”Thật sự là như thế này phải không?”
Duy Ma Cật đáp:
”Đúng thế, đúng thế.”
Tôi hỏi:
”Là ai có sức mạnh uy thần này mà mời được tất cả Như Lai, Kim Tiên, quyến thuộc đến?”
Duy Ma Cật đáp:
”Là tôi.”
Tôi hỏi:
”Ngài cũng quen Diêu Trì Kim Mẫu (Kim Tiên) à?”
Duy Ma Cật đáp:
”Trong tất cả có tôi, tôi có tất cả. Phật Thích Ca Mâu Ni nói, duy ngã độc tôn.”
Tôi hỏi:
”Thế tôi xếp ở đâu?” (chỉ bản thân thôi)
Duy Ma Cật đáp:
”Tôi chính là ngài, ngài chính là tôi.”
Tôi chẳng thể nói lời nào.


### 31. Một trò cười lớn


Tôi đọc kinh Duy Ma Cật đến đoạn “không có lượng, đã quá lượng”, chợt thấy mù mờ.
Tôi hỏi:
”Thế nào là không có lượng, đã quá lượng?”
Duy Ma Cật đáp:
”Chỉ thời gian, không gian.”
Tôi hỏi:
”Hai câu này là không bị hạn chế bởi thời gian, đúng không?”
Duy Ma Cật đáp:
”Không sai, đúng là ý này!”
Tôi hỏi:
”Lượng tức là mức đo lường à?”
Duy Ma Cật đáp:
”Ngài thông minh đấy.”
Tôi hỏi:
”Vì sao là không có lượng, đã quá lượng?”
Duy Ma Cật đáp:
”Tôi lấy ba nghìn đại thiên thế giới để trả lời ngài vậy!
Thế giới Ta Bà hiện tại (hệ mặt trời), chỉ là một tiểu thiên thế giới.
Ba nghìn tiểu thiên thế giới mới là một trung thiên thế giới.
Ba nghìn trung thiên thế giới mới là một đại thiên thế giới.
Ba nghìn cái đại thiên thế giới đó mới là tam thiên đại thiên thế giới.”
Tôi hỏi:
”Chà! Đúng là không gian rộng lớn vô biên không có lượng.”

Duy Ma Cật nói:
”Về mặt thời gian cũng thế, không có lượng, hơn nữa lại đã quá lượng, lượng không thể đo lường.”
Tôi nói:
”Tôi hiểu không gian vô lượng, thời gian vô lượng, đây là vô hạn của vô hạn, vô lượng của vô lượng.”
Duy Ma Cật nói:
”Phật nói tam thiên đại thiên thế giới, trên thực tế, không chỉ mỗi tam thiên đại thiên thế giới đâu, mà còn có vô số tam thiên đại thiên thế giới.”
Tôi nói:
”Chà! Không thể nào tưởng tượng được!”
Duy Ma Cật nói:
”Thế đó, thế đó.”
Tôi nói:
”Khi còn nhỏ, tôi đọc một bài thơ, bài thơ đó chỉ tầm nhìn của con người rất hạn hẹp.”
Thơ như sau:
*Núi cao trăng xa tưởng trăng nhỏ,
Liền bảo núi này to như trăng,
Nếu người có mắt to như trời,
Sẽ biết núi cao trăng càng to.*
Duy Ma Cật nói:
”Nhân loại đúng là hạn hẹp đó!”
Tôi nói:
”Bám chấp là mê, không chấp là ngộ.”

Duy Ma Cật nói:
”Cho nên tôi nói, Phật - ma như nhau, Phật tức là ma, ma tức là Phật. Luân hồi tức là niết bàn, niết bàn tức là luân hồi, chúng sinh thiên hạ, tứ sinh, lục đạo, tùy nghiệp thọ sinh mà thôi.”
Tôi nói:
”Bám chấp là ma, không chấp là Phật.”
Tôi hỏi:
”Hiện nay quốc gia và quốc gia chiến tranh, nhà nát, người chết. Duy Ma Cật ngài coi đây là cái gì?”
Duy Ma Cật đáp:
”Sâu nhỏ và sâu nhỏ, tranh nhau một đống gạo to.”
Tôi hỏi:
”Cảm giác ra sao?”
Duy Ma Cật đáp:
”Một trò cười lớn!”
(Con người sống tại thế giới Ta Bà, trăm năm, là một trò cười lớn.)


### 32. Đỉnh đầu phóng ra ánh sáng cầu vồng


Ngày 28 tháng 8 năm 2022. 
Buổi sáng 11 giờ rưỡi.
Tôi đến địa điểm mà Cầu Vồng Lôi Tạng Tự làm đất sinh cơ, đó là nơi đất quý có phong thủy.
Sinh cơ là một danh từ trong phong thủy.
(Là phương pháp dùng quần áo, lông tóc móng tay của người sống, chôn vào trong đất có long huyệt, nhờ long khí mà từ yếu chuyển thành mạnh, từ suy chuyển thành vượng, từ họa chuyển thành phúc, để tài vận, sức khỏe, phúc phần, nhân duyên đều trở nên tốt đẹp.)
Tôi vừa xuống xe.
Thị giả cầm ô che nắng cho tôi.
Rất nhiều đồng môn vây xung quanh.
Đúng vào khoảnh khắc này.
Đỉnh đầu tôi phóng ra một đường ánh sáng cầu vồng, chiếu thẳng lên trên không.
Tại đỉnh đầu tôi lại có một vòng tròn lớn của ánh sáng bát nhã.
Nhiều đồng môn khác nhau đã cầm điện thoại nô nức chụp ảnh:
Có người chụp được trên bảo huyệt có một vùng ánh sáng lam.
Không gian phía trên bảo huyệt có một vệt ánh sáng trắng.
Xung quanh bảo huyệt có rất nhiều ánh sáng bát nhã.
Đúng là hết sức ngoạn mục, chưa từng có.
Tôi hỏi Duy Ma Cật:
”Giải thích thế nào?”
Duy Ma Cật đáp:
”Nếu không phóng quang thì mới là chuyện lạ!”

Tôi hỏi:
”Sao lại nói vậy?”
Duy Ma Cật đáp:
”Lư Sư Tôn! Hàng ngày ngài thỉnh Diêu Trì Kim Mẫu, A Di Đà Phật, Địa Tạng Bồ Tát, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát,… phóng quang gia trì cho ngài!”
”Hàng ngày ngài tu pháp Tụ quang.”
”Rồi hàng ngày ngài tu chuyết hỏa, minh điểm, khiến quanh thân ngài phóng ra ánh sáng. Cho nên đỉnh đầu ngài có thể phóng ra ánh sáng cầu vồng, trên đỉnh đầu có ánh sáng bát nhã, điều này không hề kỳ quái.”
Tôi hỏi:
”Trên bảo huyệt có ánh sáng lam, rồi từ trên bảo huyệt phóng ra ánh sáng trắng, chuyện này thì là thế nào?”
Duy Ma Cật đáp:
”Vì đã là bảo huyệt, là nơi địa khí tụ tập, đương nhiên cũng có hào quang của long huyệt.”
Duy Ma Cật bảo tôi:
Năm xưa Thích Ca Như Lai ở thành Tỳ Xá Ly [Vesāli] đã mở đại pháp hội. 
Có năm trăm vị con trai trưởng giả. 
Mỗi người đều cầm lọng quý được trang sức bằng thất bảo, năm trăm lọng quý này đều cúng dường Phật Đà.
Phật dùng sức mạnh uy thần, biến hóa năm trăm lọng quý thành một chiếc lọng quý khổng lồ.

Chiếc lọng quý khổng lồ này đã che kín:
Dân chúng đến đại pháp hội.
Thế giới Ta Bà.
Sông hồ biển lớn.
Bốn đại châu tám tiểu châu.
Núi Tu Di.
Tuyết Sơn, Hương Sơn, Bảo Sơn, Kim Sơn, Hắc Sơn, Thiết Vy Sơn…
Chư Phật mười phương.
Duy Ma Cật nói với tôi:
Đó là:
Đại Thánh Phật Đà hiện thần biến.
Hiện khắp mười phương vô lượng cõi.
Trong đó chư Phật diễn thuyết pháp.
Thế là tất cả đều thấy nghe.
Đây mới là hào quang nghìn vạn trượng, vạn tia khí cát tường.
Trời người ca tụng.
(Tôi nghe xong, tự thấy “ánh sáng nhỏ” của mình nào đáng nói đến.)


### 33. Cảm tưởng về ba năm dịch bệnh


Đây là dịch bệnh lớn (virus Corona) mà lần đầu tiên tôi (Lư Sư Tôn) gặp phải trong suốt 78 năm cuộc đời.
Ba năm này, tôi đã gặp cảnh:
Đóng cửa biên giới.
Phong tỏa.
Sống chung với dịch bệnh.
Ba năm này, tôi không đi ra nước ngoài hoằng pháp. Tôi chỉ ở tại Seattle bang Washington nước Mỹ.
Phạm vi hoạt động chỉ có ba nơi:
Nam Sơn Nhã Xá. (nhà ở)
Seattle Lôi Tạng Tự. (gồm Chân Phật Mật Uyển)
Cầu Vồng Lôi Tạng Tự. 
Hàng ngày tôi không rời chiếc khẩu trang, còn phải làm đại hiệp bịt mặt này bao lâu nữa? Chẳng thể biết được.
Ba năm này, công việc của tôi là viết sách, vẽ tranh, hoằng pháp.

Quá trình hoằng pháp là:
Một mình tôi thuyết pháp, bên dưới bục không có người, chỉ có tổ ghi âm ghi hình.
Tiến thêm một bước nữa là:
Bên dưới bục có người, nhưng giữ cự ly giãn cách.
Tiến thêm một bước nữa là:
Bên dưới bục có khá nhiều người, nhưng đều đeo khẩu trang.
Năm cuối cùng trong ba năm này, có ba lần “tụ tập đông người”:
Pháp hội Tân Xuân ở Seattle Lôi Tạng Tự.
Sinh nhật của tôi.
Pháp hội mùa thu của Seattle Lôi Tạng Tự và Cầu Vồng Lôi Tạng Tự.
(Trong ba lần này, số người tụ tập tương đối đông.)
Lần đông nhất là một nghìn sáu trăm người.
Có người nào bị “dương tính” không?
Có, đương nhiên có.
Nhưng không xuất hiện người bệnh nặng, cũng không có người nào vì “dương tính” mà tử vong.

Có người hỏi tôi:
”Lư Sư Tôn! Ngài có từng bị dương tính không?”
Tôi đáp:
”Anh xem tôi có khi nào từng nghỉ phép không? Có khi nào tự mình cách ly không? Buổi tối thứ bảy đồng tu, ngày chủ nhật ở Biệt thự Cầu Vồng làm hỏa cúng, trước nay chưa bao giờ dừng lại.”
Người hỏi:
”Về lý mà nói, Lư Sư Tôn tiếp xúc với người ta nhiều nhất, nhất định sẽ dương tính chứ?”
Tôi đáp:
”Không có đâu nhé!”
Người nói:
”Lư Sư Tôn có Phật quang bảo vệ thân thể!”
Tôi cười vang ha ha.

Sau này tôi hỏi Duy Ma Cật Đại Sĩ:
”Mỗi lần đồng tu, mỗi lần làm Hộ Ma hỏa cúng, tôi đều hồi hướng cho dịch bệnh bị đẩy lùi, virus bị đẩy lùi. Vì sao dịch bệnh vẫn còn, virus vẫn còn, việc hồi hướng của tôi mất hiệu quả rồi sao?”
Duy Ma Cật đáp:
”Đây là cộng nghiệp của nhân loại, đây là nhân quả của loài người.”

Tôi hỏi:
”Tôi đã sám hối.”
Duy Ma Cật đáp:
”Nhân loại có sám hối không?”
Tôi á khẩu không nói.
Duy Ma Cật nói:
”Nhân gian cố nhiên là huyễn, nhưng trên thực tế việc trong huyễn thì không che giấu được nhân quả, bất kì việc gì cũng đều là nhân quả, cho dù là huyễn cũng không giấu được nhân quả.”
Duy Ma Cật lại nói:
”Ví dụ địa ngục, Địa Tạng Bồ Tát nói, địa ngục chưa trống thề không thành Phật, nhưng địa ngục có trống được không?”
Ở đây là nghiệp lực bất khả tư nghì, nhân quả bất khả tư nghì. Cho dù là Phật cũng không thể độ hết chúng sinh.

Phật không thể độ hết chúng sinh, có một ví dụ thực tế:
(Đây là ví dụ về việc không thể che được nhân quả.)
Nói về “nhân”:
Gia tộc Thích Ca trước đây sống quây quần ở làng chài ven biển.
Bắt được một con cá to.
Phật Đà khi đó chỉ là một cậu bé ở trong làng.
Cậu ta bướng bỉnh, dùng nắm đấm đánh vào đầu con cá to.
Gia tộc Thích Ca ăn thịt con cá to.
Nói về “quả”:
Sau khi Phật Đà thành Phật rồi.
Ngài từ đầu tới cuối đều có một căn bệnh nhỏ - bệnh đau nửa đầu.
Mãi vẫn không thể chữa khỏi.
Đây là vì việc đánh vào đầu con cá.

Ngoài ra:
Dòng họ Thích Ca bị vua Lưu Ly diệt tộc.
Con cá to kia chuyển thế chính là vua Lưu Ly.
Vua Lưu Ly dẫn quân tấn công vua Tịnh Phạn, vua Tịnh Phạn là tộc Thích Ca.
Phật Thích Ca Mâu Ni muốn cứu người trong dòng họ.
Từng tìm cách ngăn chặn.
Nhưng cuối cùng đã từ bỏ ngăn chặn.
Kết quả sau cùng là: Vua Lưu Ly cuối cùng đã diệt hết gia tộc Thích Ca.
Đệ tử của Phật Đà - Mục Kiền Liên thần thông đệ nhất, dùng cái bát trong tay, cứu được năm trăm người của dòng họ Thích Ca.
Mục Kiền Liên cứu được năm trăm người của dòng họ Thích Ca, Mục Kiền Liên đến gặp Phật Đà tranh công.
Phật Đà nói:
”Cứu không được, đổ ra ngoài mà xem.”
Vừa úp bát xuống, đã hóa thành máu.
Từ ví dụ này:
Duy Ma Cật nói: “Cứu độ chúng sinh, có khi cứu được, có khi không thể cứu. Đây là nhân quả.”


### 34. Mười lực, bốn vô úy, mười tám pháp đặc biệt


Tôi hỏi Duy Ma Cật Đại Sĩ:
Như Lai có mười lực, bốn vô úy, mười tám pháp đặc biệt, xin hãy giải thích cho tôi.
Duy Ma Cật Đại Sĩ đáp:
Đây là thành tựu của Như Lai ở tại “nhân” địa. (Xin chú ý là “nhân” địa.) [Chữ “nhân” trong nhân quả.]

Mười lực như sau:
Biết “lý” và “phi lý” của tất cả sự vật.
Biết nhân duyên quả báo của tất cả chúng sinh.
Biết thiền định, giải thoát.
Biết căn khí của tất cả chúng sinh, căn thượng, trung, hạ.
Biết năng lực hiểu biết, năng lực nhận thức của tất cả chúng sinh. 
Biết tố chất và cảnh giới của tất cả chúng sinh.
Biết thiện ác và xu hướng của tất cả chúng sinh.
Biết thiên nhãn nhìn ra sinh lão bệnh tử và nghiệp báo của chúng sinh.
Biết vận mệnh của chúng sinh, và làm sao để chứng đắc.
Biết tập khí của chúng sinh, hơn nữa còn có thể cắt đứt phiền não, không còn lục đạo luân hồi nữa.

Bốn vô úy như sau:
Biết thực tướng của các pháp, vì thế vô úy. [vô úy: không sợ]
Biết đoạn trừ phiền não, không còn phiền não nữa, cho nên vô úy.
Biết các loại ngoại đạo, cho nên không sợ tà đạo.
Biết phá trừ pháp chướng ngại, cho nên không sợ. Có thể thoát khổ được vui, vì thế vô úy.

Mười tám pháp đặc biệt như sau:
1. Thân không mất.
2. Khẩu không mất.
3. Niệm không mất.
4. Không dị tưởng.
5. Không có tâm bất định.
6. Không có không biết mình.
7. Dục không diệt.
8. Tinh tấn không diệt.
9. Niệm không diệt.
10. Huệ không diệt.
11. Giải thoát không diệt.
12. Giải thoát tri kiến không diệt.
13. Tất cả thân nghiệp trí huệ hành.
14. Tất cả khẩu nghiệp trí huệ hành.
15. Tất cả ý nghiệp trí huệ hành.
16. Trí huệ biết đời quá khứ không chướng ngại.
17. Trí huệ biết đời tương lai không chướng ngại.
18. Trí huệ biết đời hiện tại không chướng ngại.

Tôi nghe xong, biết rằng:
Mười lực là vì chúng sinh. (tự giác giác tha)
Vô úy là tự thân không còn sợ hãi.
Mười tám pháp đặc biệt là Phật pháp tu hành để tự mình giác ngộ, đạt đến trí huệ hoàn hảo và không còn chướng ngại.
Duy Ma Cật hỏi:
”Lư Sư Tôn! Ngài có biết ý nghĩa thâm diệu của nó không?”
Tôi đáp:
”Còn có ý nghĩa thâm diệu ư?”
Duy Ma Cật nói:
”Có đủ sáu thần thông.”
Tôi nói:
”Xin giải thích cho tôi.”
Duy Ma Cật nói:
Biết vận mệnh của chúng sinh là túc mệnh thông.
Nhìn ra sinh lão bệnh tử của chúng sinh là thiên nhãn thông.
Biết xu hướng của chúng sinh là thiên nhĩ thông.
Biết hiểu biết và nhận thức của chúng sinh là tha tâm thông.
Biết quá khứ, hiện tại, vị lai là thần túc thông.
Thân vô lậu, khẩu vô lậu, ý vô lậu, các loại vô lậu, là lậu tận thông.
Năm thần thông đầu khá phổ biến.
Duy có lậu tận thông là chỉ mỗi Như Lai có.
Tôi nghe xong, đại ngộ.

🌟

Người biên tập chú thích: 
Về mười tám pháp đặc biệt, căn cứ theo tra cứu trên mạng, trong đó có sáu mục, được ghi lại trong Wikisource / Từ điển nghiên cứu Phật học ([https://zh.m.wikisource.org](https://zh.m.wikisource.org/)) là Dục không diệt, Tinh tấn không diệt, Niệm không diệt, Huệ không diệt, Giải thoát không diệt, Giải thoát tri kiến không diệt. Còn theo thông tin từ Wikipedia ([https://zh.wikipedia.org](https://zh.wikipedia.org/)) lại ghi là Dục không giảm, Tinh tấn không giảm, Giải thoát không giảm, Giải thoát tri kiến không giảm. Vì thế ở trên mạng có thể tra được hai phiên bản, tác giả của cuốn sách này đã dùng bản đầu tiên, xin giải thích thêm như vậy.


### 35. Cùng Duy Ma Cật nói về bệnh khổ


Tôi hỏi Duy Ma Cật:
”Thượng sư Liên Hương bị bệnh, tôi cũng đành chịu bó tay, vì sao?”
Duy Ma Cật đáp:
”Thân thể con người là vô thường, Sư Mẫu có bệnh, hoặc Lư Sư Tôn có bệnh, là chuyện rất tự nhiên. Nhưng những cái này đều là nghiệp báo.”
Tôi hỏi:
”Có cách để trị không?”
Duy Ma Cật đáp:
”Duy có sám hối.”
Tôi hỏi:
”Chúng tôi đều nghĩ đến chán đời.”
Duy Ma Cật đáp:
”Không thể nói chán đời, vì thân thể vốn là không, là tứ đại giả hợp, nên càng tinh tấn tu trì, càng đi độ hóa chúng sinh.”

Tôi hỏi:
”Chính chúng tôi đều sắp không xong rồi, còn độ hóa chúng sinh sao?”
Duy Ma Cật đáp:
”Năm xưa tôi có bệnh, mới có kinh Duy Ma Cật, có bệnh cũng phải độ hóa chúng sinh.”
Tôi hỏi:
”Ngài đại Phật đại Bồ Tát, chúng tôi có tính là gì chứ.”
Duy Ma Cật đáp:
”Không thể nói như vậy, tâm, Phật, chúng sinh, ba điều này không khác nhau. Lư Sư Tôn ngài cũng là đại Bồ Tát, Thượng sư Liên Hương cũng là đại Bồ Tát.”
Tôi hỏi:
”Làm sao cứu chúng sinh?”
Duy Ma Cật đáp:
”Chính mình có bệnh, càng thương xót chúng sinh có bệnh, đây là tâm từ bi của Bồ Tát.”
Tôi hỏi:
”Làm sao độ?”
Duy Ma Cật đáp:
”Không nên vì mình có bệnh mà sinh phiền não, mà phải coi bệnh tật và bệnh khổ là không. Ngài cần phải như thế mà độ hóa chúng sinh.”
Tôi hỏi:
”Vì sao Lư Sư Tôn có nghiệp báo này?”
Duy Ma Cật đáp:
”Ngài quên rồi, ngài từng là vua của một nước.”
Tôi hỏi:
”Vua của một nước thì sao chứ?”
Duy Ma Cật đáp:
”Một vị tướng công thành danh toại thì vạn bộ xương khô, vua của một nước thì có bao nhiêu bộ xương khô đây?”
Tôi hỏi:
”Là nghiệp sát?”
Duy Ma Cật đáp:
”Chính xác.”

Tôi hỏi:
”Tôi truy theo nghiệp tội kiếp trước, quả thật là nghiệp sát của chiến tranh giữa hai nước. Nhưng bảo vệ con dân của mình cũng là nghiệp sát sao?”
Duy Ma Cật đáp:
”Đủ mọi trải nghiệm của ngài trước khi chưa tu đạo đã tích lũy thành cái khổ của già bệnh sau này. Bây giờ tất cả những điều này đều đã qua, ngài chỉ có tinh tấn tu hành, tăng thêm lợi ích cho chúng sinh.”
Tôi hỏi:
”Thế còn về Sư Mẫu?”
Duy Ma Cật đáp:
”Cũng thế.”
Tôi hỏi:
”Vì sao cũng thế?”
Duy Ma Cật đáp:
”Cùng cảnh ngộ thì thông cảm cho nhau.”
Tôi đã hiểu rồi, nhân gian này đều có khổ của già bệnh, bạn đến nhân gian tức là có nghiệp. Đại Bồ Tát thừa nguyện lại đến, phải thị hiện bệnh tật để đi độ hóa người già bệnh.


### 36. Giấy thông hành


Có một hôm.
Tôi ở trên pháp tọa nhập định.
Nhìn thấy một phụ nữ đi đến trước mặt tôi, cô ấy cầm một tờ giấy đưa cho tôi.
Tôi hỏi:
”Để làm gì?”
Cô ấy đáp:
”Xin ký tên, đây là giấy thông hành.”
Tôi chẳng nghĩ ngợi gì liền ký tên.
(Sau khi xuất định, tôi đã kể lại việc giấy thông hành này cho các đồng môn ngồi trước pháp tọa.)

Ngày 6 tháng 9 năm 2022.
Có một phụ nữ ở Hồng Kông đến Seattle Lôi Tạng Tự, nói với tôi:
”Sư Tôn! Tôi đến rồi!”
Tôi hỏi:
”Từ đâu đến?”
Cô ấy đáp:
”Là Thầy kêu con đến mà.”
Tôi nhìn cô ấy, dường như có quen biết, nhưng tôi bảo cô ấy đến khi nào, chính tôi cũng không hiểu ra làm sao.
Tôi ngây ra.

Cô ấy nói:
”Ở trong mơ, con nhìn thấy Lư Sư Tôn, Lư Sư Tôn biến thành nhân viên di trú, đưa cho con một tờ “Giấy thông hành Lư Sư Tôn”, để cho con đi vào Mỹ, con biết là con phải đi gặp Lư Sư Tôn.”
Tôi nghe xong thì cảm thấy rất thú vị.
Ha ha ha!

Tôi ngồi trên pháp tọa nhập định, cô ấy có được giấy thông hành để đến Mỹ, có phải là tương ứng không?
Người phụ nữ ở Hồng Kông này, cô ấy là Liên Hoa Vịnh Thi.
Cô ấy đưa cho tôi một bức thư.
Văn phong tương đối lưu loát.

Nội dung thư như sau:
”Liên Hoa Vịnh Thi trình lên Sư Phật một lá thư”
Quy y Sư Tôn, ngài ấy là Chân Phật.
Sư Phật kính yêu mong từ bi soi xét:
Đầu tiên, con xin báo cáo với Thầy về nhân duyên quy y của mình.
Hạ tuần năm 2018, thông qua một người là sư huynh Quách mà con biết đến Sư Tôn, khi ấy con còn chưa muốn quy y Sư Tôn, vì bản thân không có tín ngưỡng tôn giáo, nhưng con rất thích nghe những câu chuyện tôn giáo, bản thân cũng từng tham gia vào các hoạt động của Hiển giáo, Cơ Đốc giáo, Thiên Chúa giáo, Ma Môn giáo, thế nhưng rất nhiều phương thức và nội dung trong đó, con hoàn toàn không có cảm giác gì, trong lòng cảm thấy đó là những trò lừa tiền thôi, vì thế con sinh ra thái độ nghi ngờ đối với tôn giáo.

Sau đó, cuối cùng con đã lần đầu tiên nghe được sự việc về Mật giáo, là từ miệng của sư huynh Quách mà biết được. Bởi vì anh ấy làm việc rất bận, anh ấy chỉ bảo con lên mạng tìm hiểu xem ai là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. 

Bởi vì bản thân mang thái độ nghi ngờ, nên con lên mạng tìm kiếm, quả nhiên có người này, ban đầu là do tò mò, về sau thì tự mình không ngờ lại thích nghe Sư Tôn thuyết pháp không biết chán. Sư Tôn dùng phương thức đơn giản nhất để giải thích Phật pháp thâm sâu ảo diệu nhất, phải nói rằng Sư Tôn vốn dĩ rất đặc biệt…….

Cuối cùng sau khi tìm tòi nghiên cứu, con đã lên mạng tìm đại một phân đường, ngày hôm đó, chủ tiệm hoa quả còn tặng cho con hoa quả, thế là con cầm cúng phẩm đến phân đường Chân Phật Tông.

Đến phân đường, có hai tình nguyện viên đi ra đón con, hỏi con có chuyện gì mà đến đây. Là ai giới thiệu? Con thận trọng trả lời là: “Tìm trên mạng, đến xin lực gia trì của phân đường!” Khi đó, con hiểu là vì năng lượng tích cực, thế nhưng, khi con ở phân đường đó nhìn thấy ảnh của Sư Tôn, bản thân không ngờ lại khóc nức nở tới 10, 15 phút. Con cũng không hiểu vì sao nhìn thấy pháp tướng của Sư Tôn thì lại có cảm giác đau lòng, có một cảm giác rất quen thuộc, nhưng không nói ra được.

Sau đó có một vị Thượng sư rót cho con một cốc nước chú Đại bi, đưa cho con một tờ đơn quy y, vì con không tin nên cũng không điền thông tin vào đơn quy y. Trước khi sắp rời khỏi phân đường, Thượng sư đó tặng cho con một thẻ Hộ pháp (khi ấy không biết đó là Đại Lực Kim Cang). Thượng sư giải thích là có thể bảo vệ con bình an. Sau khi trở về nhà, việc đầu tiên con làm là đem tấm thẻ Hộ pháp đó cho con rùa của con xem (khi đó con có một con rùa sống ở trong bồn tắm trong phòng tắm). Liên tục mấy buổi tối đã có sự việc xảy ra, mơ thấy những tình huống khác nhau.

Buổi tối thứ nhất, nhìn thấy Sư Tôn trẻ tuổi và con cùng ngồi ghế đầu trên xe buýt hai tầng, ngay cả thói quen của con mà Sư Tôn cũng biết, con thích ngồi trên hàng ghế đầu để ngắm phong cảnh. Sư Tôn đi đến bên cạnh con, khi đó trên tay con cầm một quyển kinh Thánh, Sư Tôn ngồi bên cạnh con, biến cây thập tự thành chữ Vạn của nhà Phật, rồi bổ sung một câu là: “Để tôi dạy cô!” Hoàn toàn là khẩu khí trong đời sống thực của Sư Tôn.

Buổi tối thứ hai, ở trong mơ con nhìn thấy linh hồn của mình từ nhục thể thoát ra, tình cảnh là từ trong phòng ngủ của mình đi đến nhà vệ sinh để soi gương. Trong gương, con nhìn thấy bộ dạng của mình không ngờ đã biến thành giống như con rùa. (Tự suy đoán: ý nghĩa của giấc mơ này chính là bảo con đừng lấy những thứ đó ra làm đồ chơi, thật sự là có sự việc này!)

Ngày hôm đó sau khi tỉnh giấc mơ, con đi vào nhà vệ sinh để soi gương, không ngờ cảm ứng thấy Bất Động Minh Vương xuất hiện ở trong gương khoảng 5 giây, cho đến tận hôm nay ký ức đó vẫn còn rất mới mẻ trong tâm trí. Ban đầu con không hề biết tên của ngài là Bất Động Minh Vương, thế nhưng khi ở trong mơ nhìn thấy ngài, con đã biết tên ngài là Bất Động Minh Vương. Răng của ngài rất nhọn, mắt không đối xứng, ngài có một thanh kiếm, ngọn lửa lớn phía sau có màu đỏ cam ở trạng thái động. Khi ngài biến mất thì giống như tắt ti vi vậy.

Mấy hôm sau con đi xe taxi, tai con không ngờ lại nghe thấy radio trên xe taxi đang phát Cao Vương Kinh, con hỏi tài xế: “Anh bật kinh Phật à?” Anh ta phản ứng: “Điên à!”
Trước khi xuống xe, con lại nghe thấy radio của xe taxi chỉ là đang báo cáo tình trạng giao thông trên đường chứ không phải là dùng để phát kinh Phật. Nhưng trước đó tai con thật sự đã nghe thấy Cao Vương Kinh.

Cảm tạ Sư Tôn đã truyền Phật pháp trân quý cho đệ tử, cũng không hề bỏ rơi ngu đệ tử này, mà còn liên tục gia trì cho đệ tử có cảm ứng. Hy vọng độc giả đọc được bài viết này có thể kiên cố đạo tâm, sư phụ của chúng ta là Chân Phật!

Chúc Phật an.
Liên Hoa Vịnh Thi đảnh lễ. 
Ngày 7 tháng 9 năm 2022.

🌟

Tôi hỏi Duy Ma Cật Đại Sĩ:
”Tôi và cô gái này có tồn tại nhân duyên gì?”
Duy Ma Cật đáp:
”Những nhân duyên này đương nhiên có liên quan đến đời quá khứ. Nhưng đều phải coi là thầy huyễn hóa tiếp dẫn người huyễn hóa.”
Tôi hỏi:
”Tôi ở trong thiền định nhìn thấy, và cô ấy ở trong mơ nhìn thấy thì sao?”
Duy Ma Cật đáp:
”Cái thấy ở trong thiền định của ngài là trong nước thấy trăng, cái thấy ở trong mơ của cô ấy là trong gương thấy hoa.”
Tôi hỏi:
”Tương ứng không phải là một dạng hiện thực sao?”
Duy Ma Cật đáp:
”Thật ra tương ứng cũng là như thế, là tiếng vọng của âm thanh, mây trôi gặp mây trôi, sấm và ánh chớp, nước và bèo tấm…”
Tôi nói:
”Đúng là hư huyễn!”
Duy Ma Cật nói:
”Một đại Bồ Tát chính là phải quan sát và đối đãi với chúng sinh hữu tình như vậy.”
Tôi nói:
”Không chân thực, cũng không hư huyễn.”
Duy Ma Cật nói:
”Đại Bồ Tát cần nói chân lý mọi pháp đều không cho họ.”


### 37. Pháp thuật bùa ngải


Ngày 9 tháng 9 năm 2022.
Tôi nhìn thấy một con mãng xà khổng lồ từ không trung lao xuống, con mãng xà đó có màu xanh đen, thân to như cái cột, uốn éo bảy tám khúc, trườn đến gần tôi.
Miệng vừa há ra.
Tôi nhìn thấy những chiếc răng to sắc nhọn, trắng ơn ởn, nhất là hai cái răng nanh giống như thanh kiếm sắc.
Con mãng xà thè cái lưỡi màu đỏ ra, chỉ cần cuốn lưỡi lại là tôi sẽ bị cuốn vào trong miệng nó.
Trong đời này tôi sợ nhất là rắn.
Đương nhiên tôi hoảng hốt vô cùng.
Vừa cuốn vừa cắn, tôi nghĩ, lần này mình phân thân xả cốt rồi!
Nói ra thì đã muộn.
Trong sát-na, nó đã lao vào cắn.
Tôi kêu một tiếng “ui da”, mắt nhắm lại.
Khi tôi mở mắt ra.
Con mãng xà đã biến mất rồi!
Tôi chẳng hề gì.
Tất cả đều cực kì yên tĩnh.
Như thể chẳng hề xảy ra chuyện gì.

Lại có một lần.
Không phải là mãng xà đến, mà là một đám người mặc đồ đen.
Trên tay họ đều là đao võ sĩ.
Thì ra là ninja Nhật Bản.
Họ vây quanh lấy tôi.
”Roẹt” một tiếng!
Những chiếc đao đều chém lên người tôi, nhưng thân thể tôi đã biến thành vô hình, đao chém hụt, giống như chém vào không khí.
Họ liền cầm đao khua tới khua lui.
Tôi hoàn toàn không bị ảnh hưởng gì cả.
Kết quả là những ninja này ngơ ngác nhìn nhau, rồi đồng loạt rút lui. 

Tôi hỏi Duy Ma Cật Đại Sĩ:
”Chuyện này là thế nào?”
Duy Ma Cật đáp:
”Pháp thuật bùa ngải!”
Tôi hỏi:
”Pháp thuật bùa ngải đến trước mặt tôi thì biến mất. Là chính tôi có sức mạnh kết giới, sức mạnh Hộ pháp, sức mạnh phòng vệ, hay sức mạnh Bổn tôn…?”
Duy Ma Cật đáp:
”Đều không phải là những điều này, cũng không phải là chú thuật của ngài cao minh. Mà là tâm ngài đã vô tâm, vì đã vô tâm nên tất cả tướng bên ngoài không thể mê hoặc ngài, cho nên pháp thuật bùa ngải không thể khởi tác dụng.”
Tôi hỏi:
”Có bao nhiêu thuật sĩ giáng bùa ngải lên tôi?”
Duy Ma Cật đáp:
”Rất nhiều! Những người này không giáng bùa ngải lên ngài thì còn giáng lên ai?”

Tôi hỏi:
”Vì sao tôi không cảm thấy nhiều?”
Duy Ma Cật đáp:
”Căn bản là ngài không nghĩ về bùa ngải, tất cả bùa ngải tự nhiên tiêu biến.”
Duy Ma Cật lại nói:
”Ngài không cầu tài, nhưng tài tự đến, đại phúc tự đến!”
”Ngài không cầu danh, nhưng danh tự đến!”
”Ngài không cầu sắc, nhưng sắc tự đến!”
”Với ngài tất cả đều chẳng hề gì, nhưng lại có đủ tất cả. Không cần cầu, quang minh bảo tạng chốn chốn đều mở ra.”
”Ngài bố thí tất cả, không cầu danh, nhưng danh vị tự nhiên đến.”
Tôi hỏi:
”Vì sao lại có thể như vậy?”
Duy Ma Cật đáp:
”Bởi vì người có tâm thanh tịnh, không có gì là không thể tùy ý hóa hiện.”
Đến nghĩ tôi cũng chẳng nghĩ.
Duy Ma Cật nói:
”Chính là vô niệm, thứ tự viên mãn đã đạt đến cùng.”


### 38. Chuyện của sư tỉ Thụy Cầm


Sư tỉ Thụy Cầm và sư huynh Vương là vợ chồng.
Tình cảm giữa họ cực kì tốt.
Đến lúc tuổi già, họ quyết định chuyển nhà đi khỏi Las Vegas (thành phố sòng bài), đến một đất nước khác để sống quãng đời tuổi già.
Đầu tiên họ trở về Đài Loan.
Nhưng ở Đài Loan, sư huynh Vương bị bệnh, đã là giai đoạn cuối, khi kiểm tra sức khỏe mới phát hiện ra.
Ở Đài Loan chữa trị, hiệu quả không rõ rệt, đã sắp đến lúc “chuyển hóa” rồi.
Tôi (Lư Sư Tôn) dùng siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp.
Sư huynh Vương khăng khăng không lên thuyền pháp.
Lý do là ông ấy muốn ở lại nhân gian để bầu bạn với sư tỉ Thụy Cầm, không muốn rời khỏi nhân gian để một mình đi đến Ma Ha Song Liên Trì.
Tôi nói:
”Đi đến tịnh thổ rồi thì chính là cực lạc.”
Ông ấy nói:
”Không thể bỏ lại một mình Thụy Cầm để một mình đi đến tịnh thổ được.”
Cuối cùng tôi nói:
”Sau này hai người chắc chắn sẽ gặp lại nhau! Đây chỉ là tạm chia tay thôi.”
Ông ấy chần chừ nhiều ngày.
Cuối cùng ông ấy mới đồng ý lên thuyền pháp, đến Ma Ha Song Liên Trì.

Còn về phía Thụy Cầm.
Bà ấy cảm ứng thấy sư huynh Vương nói với mình rằng:
”Em yêu! Anh sắp rời đi rồi, e rằng không thể thường xuyên đến thăm em. Trừ phi… trừ phi… Lư Sư Tôn đặc biệt cho phép anh có thể trở về thăm em.”
Tôi nghe xong lời này thì hết sức kinh ngạc. Sư huynh Vương muốn trở về nhân gian phải có sự phê chuẩn của tôi, tôi có quyền hành này sao?
Phê chuẩn.
Bằng lòng.
Cho phép.
Tôi có quyền lực này sao?

Tôi hỏi Duy Ma Cật Đại Sĩ:
”Tôi có đặc quyền này không?”
Duy Ma Cật đáp:
”Tại thế giới Ta Bà và thế giới Cực Lạc, mỗi thế giới đều có kết giới riêng, vì kết giới này cho nên không thông với nhau.”
”Ví dụ, hệ mặt trời của tiểu thiên thế giới - thế giới Ta Bà này, bản thân đã có kết giới. Nhân loại muốn đến hệ mặt trời khác thì sẽ bị tầng khí vô hình cản trở.”
Tôi hỏi:
”Nhưng vì sao kinh A Di Đà ghi chép rằng, chúng sinh ở Tây phương Cực Lạc thế giới, việc ăn uống đi lại, có thể dâng lên rất nhiều diệu hoa để cúng dường đại Bồ Tát ở các tịnh thổ Phật quốc khác?”
Duy Ma Cật đáp:
”Giữa các tịnh thổ với nhau thì không có kết giới. Hoặc có kết giới, nhưng vì địa vị ngang bằng, cho nên có thể đi qua đi lại.”

Tôi hỏi:
”Vì sao thế giới Cực Lạc và thế giới loài người lại không thể qua lại?”
Duy Ma Cật đáp:
”Thế giới Cực Lạc và thế giới con người không ngang bằng. Nếu ngang bằng thì con người có thể trực tiếp đến thế giới Cực Lạc, không cần tu trì. Cho nên thế giới Cực Lạc có kết giới, nhân gian có kết giới của nhân gian.”
Duy Ma Cật lại nói:
”Tại Ma Ha Song Liên Trì, ngài là chủ tôn. Ngài có thể tự do đến đi, ngài có thể tiếp dẫn chúng sinh tiến vào Ma Ha Song Liên Trì, cũng có thể đi qua tầng kết giới, đưa sư huynh Vương xuống nhân gian Ta Bà.”
Tôi bỗng nhiên tỉnh ngộ:
Thế giới Ta Bà có rất nhiều quốc gia, tương tự cũng có rất nhiều đường biên giới, bạn phải có được thị thực mới có thể vào được đất nước khác.
Có một số đất nước miễn thị thực, là bởi vì ngang bằng.
Ngoài ra, có một số quốc gia thì không nhất định cần phải xin visa.
Tôi biết:
Chư Phật và đại Bồ Tát vì bình đẳng tính trí cho nên tất cả vô ngại.


### 39. Thưởng thức tản văn


“Khi bạn già rồi!”
Đây là tên một bài hát mộc mạc, giản dị, chân thành.
Mấy năm trước, khi nghe bài hát này, trong lòng tôi có đôi chút cảm hoài. 
Theo nhịp điệu bài hát, tôi nhìn trời, khe khẽ hát.
Tôi lại hát khe khẽ, xin trời hãy đưa tôi đi đến với Liên Sinh Hoạt Phật kính yêu của tôi.
Bất kể ở trong trường hợp nào, bên cạnh Thầy, đều sẽ luôn có một đám người đông đúc vây quanh.
Tôi không thích tranh giành, tôi không thích giành giật.
Đứng từ xa, tôi cung kính hướng về Thầy, chân thành chắp tay.
Thầy chẳng dễ gì chú ý thấy tôi. Tôi giống như không khí, rất nhẹ, rất yên tĩnh, đến đến đi đi.
Cứ như thế, đã 29 năm trôi qua…

Năm 2021, sức mạnh nhân duyên đã đưa tôi đi đến với Thầy, Thầy đi đến với tôi.
Không ngờ, chúng tôi lại ở gần nhau đến thế.
Không ngờ, Thầy lại thích tản văn của tôi.
Không ngờ, tâm linh của hai chúng tôi lại tương thông.
Mặt đối mặt, tôi nhìn thấy tuổi già của chúng tôi. Hai chúng tôi, cùng nhau bên nhau, đợi đến già.
Có một sự việc, tôi hiểu rất rõ, hãy nghe bài hát này vậy! Hãy hát đi!
~ Thầy ở trong tim tôi, rất đẹp! Rất đẹp!~
……
Chúng ta hiểu về vô thường, chúng ta cũng hiểu tất cả là hư huyễn. Giữa không và có, không phải là sự tách bạch rạch ròi.
Có một loại trường, có một loại từ lực, liên kết lại, cũng giải thích lẫn nhau.

🌟

Đây chính là tương ứng.
Tương ứng là một khúc ca!
Tương lai!
Bạn sẽ ở Ma Ha Song Liên Trì.
Tôi sẽ ở Ma Ha Song Liên Trì.
Bài tản văn này là do một đệ tử giấu tên viết, văn phong lưu loát, rất cảm động.
Tôi nghĩ đến vấn đề tuổi già.
Tôi nói với Duy Ma Cật Đại Sĩ:
Gần đây,
Có một đệ tử chạy băng băng trên cỏ, bị trẹo trân. “Khậc” một tiếng! Xương gãy rồi!
Lại có một đệ tử múa sạp. “Khậc” một tiếng! Xương gãy rồi!
Có một đệ tử, chụp ảnh, chân khuỵu xuống, bị bong gân.
Có một đệ tử, vừa xuống xe, trượt chân, cũng bị thương.
Có một đệ tử, hắt xì hơi một cái, xương sườn gãy luôn.
Tôi đánh quyền pháp “tán thủ”, nhảy bật lên một cái, đầu gối bị bong gân, phải quấn nịt đầu gối.
……

Tôi nói:
Thượng đế tạo ra con người, sao con người lại nát như vậy. Cái cổ, sụn đệm cột sống, đầu gối, sao lại mong manh yếu ớt như vậy?
Duy Ma Cật đáp:
Thân người rất nguy!
Đau ốm là trạng thái thường có của con người, chỉ vì có nhục thân, cho nên càng già thì lục phủ ngũ tạng đều thoái hóa.
Vì thế, 
Đời người chỉ có trăm năm, rất mong manh, khi tuổi già đến thì già bệnh đi liền với nhau, sống chẳng ra sống, chết chẳng ra chết.
Gần đất xa trời, tội nghiệp đáng thương!
Nhưng,
Không có hình thể, trăm bệnh đều hết, vì bệnh chẳng có gì để bám vào.
Người có tu hành,
Có thiên sắc thân, diệu sắc thân. Hiện lên tướng quang minh của vẻ đẹp hoàn hảo.
Phật nói, tất cả tướng đều là hư vọng.
Tướng chân thực là không.
Không dựa vào pháp tướng để thấy Như Lai!


### 40. Trả lời Liên Hoa Kính An


Liên Hoa Kính An gửi đến những tâm đắc tu hành, xin tôi chỉ bảo.
Tôi chuyển cho Duy Ma Cật Đại Sĩ, thỉnh Đại Sĩ trả lời cho anh, như sau:
Thứ nhất:
Lư Sư Tôn ở trong mơ ban cho Kính An một cây phất trần, một cái bút.
Dặn dò phải viết nhiều văn chương.
Duy Ma Cật đáp:
Phải viết văn chương quét sạch phiền não.
Quét sạch phiền não là một trong bốn vô úy, sống trong chính kiến, không có nỗi sợ hãi với những phiền muộn.
Còn thế nào là chính kiến?
Thân khẩu ý vô lậu, không sai lầm.
Tất cả đều dùng trí huệ để làm
Giải thoát.
Nhậm vận. v.v…

Thứ hai:
12 bộ kinh điển Tam Tạng, có pháp của Đại thừa và Tiểu thừa.
Duy Ma Cật đáp:
Thập phương chư Phật cùng làm vô cấu thức, chân như thức. Vì thế, pháp của thừa nào cũng không có tốt xấu.
Tăng nhân Tiểu thừa là nhận thức về khác và giống, cho nên có thứ bậc.
Phàm phu lục đạo là a-lại-da thức, cho nên có vô số khác biệt, vì thế tùy theo phúc đức nhân duyên mà không hoàn toàn tương đồng.
Cho nên,
Pháp bất cô khởi,
Trượng cảnh phương sinh.
[Pháp chẳng tự sinh ra một mình, do hoàn cảnh mà có.]
Đúng thế, đúng thế. (Là thế, là thế.)

Thứ ba:
”Đen trắng mất đi, mỗi cái ở tại vị trí của nó” là điều Liên Hoa Kính An nói.
Duy Ma Cật nói:
Đen là vô minh.
Trắng là phá vô minh.
So sánh này là nếu da không tồn tại thì lông có chỗ để bám vào không?
Nhưng,
Không tu hành thì,
Không cắt đứt phiền não, cũng không có việc không cắt đứt.
Không tu đạo, cũng không có việc không tu đạo.
Hãy suy nghĩ kĩ càng.

Lư Sư Tôn chú giải:
Ngộ cảnh của Liên Hoa Kính An đã gần chín muồi.
Có thể kế tục huệ mệnh, và có thể khiến Phật pháp truyền bá rộng rãi.
Anh ấy kế tục giáo pháp của Lư Sư Tôn.
Hàng phục ma chướng.
Chế ngự ngoại đạo.
Rời xa phiền não hoặc chướng.
Tâm thường thanh tịnh cũng không nhiễm bẩn.
Cảnh giới vô ngại cũng đã hình thành, có chính niệm, và chính định, chính kiến cũng rõ ràng.
Có thể đảm đương sự nghiệp vĩ đại của Như Lai.

Sau đây, tôi đặc biệt công bố bài viết của anh ấy.
Một bài thơ của Liên Hoa Kính An:

Pháp ngữ Chân Phật (lĩnh ngộ)

*Sống có gì vui gọi là lạc, chết có gì sợ gọi là thảm
Phù du xưa nay như giấc mộng, rực rỡ muôn màu rốt cục không
Phật thuyết bốn đế chứng không-hữu, tám chính đạo vẫn cùng với Phật
Mười hai nhân duyên nối thành vòng, chân nghĩa mọi pháp sẽ viên dung
Trăng lặn trời lên mãi luân chuyển, trời đất vận hành hiển huyền tông
Quỹ sinh vật giải hiện pháp nghĩa (*), nhậm vận tự như là gia phong
Chính hành lần lượt tiếp truyền thừa, pháp tính bình đẳng khắp nơi trọng
Trên đường bồ đề quên lùi tiến, trong tâm vô vi chẳng trước sau
Pháp Vương tuyên thuyết Chân Phật ngữ, tam nghiệp thanh tịnh chứng pháp tràng
Tìm kiếm bên ngoài không thấy Phật, vô niệm mới quy về bản cung.*

[(*) Quỹ sinh vật giải: nằm trong cụm câu đầy đủ là “nhậm trì tự tính, quỹ sinh vật giải”, tức là khi giữ gìn tự tính thì sẽ phân biệt được vật này với vật khác.]


### 41. Trình bày của Liên Hoa Kính An


Gửi Sư Tôn Liên Sinh Phật đài giám!
Sư Phật cát tường!
Kính An hôm nay trình lên những tâm đắc đã lĩnh ngộ được trong hai năm tu hành vừa qua, khẩn cầu Sư Phật xem qua, sau đó có chỗ nào không phải xin ban cho con lời chỉ dạy, để đệ tử có thể thâm nhập sâu hơn vào nghĩa lý của chính pháp, sau đó sẽ sáng tỏ trong tâm. Chắp tay cảm tạ!

Từ sau khi Sư Phật nhiều năm trước ở trong mơ ban cho đệ tử cây phất trần và cây bút, dặn dò phải viết nhiều văn chương để khích lệ đồng môn, đồng thời nhận thấy sự biến động liên tiếp trong hoàn cảnh hiện thực, cho nên đệ tử thường xuyên ở trong tình trạng cân nhắc và do dự. Và sau đó khi hành hương đến Seattle, được sự cổ vũ của Thượng sư Liên Chi, đệ tử đã tự đề cử mình với Thượng sư Liên Ha, được Thượng sư cho phép tham gia vào Đại học Chân Phật trực tuyến đảm nhiệm công việc biên tập, chớp mắt một cái đã hai năm rồi. Đệ tử tin rằng việc này thứ nhất có thể hộ trì sự phát triển tuyên truyền trong nội bộ tông phái, thứ hai là có thể phụng pháp chỉ của Sư Phật, hai điều này không mâu thuẫn với nhau, và cả hai đều được hoàn mỹ hơn.

Sau khi tham gia vào đội ngũ biên tập của Đại học trực tuyến, cảm ơn Sư Phật từ bi gia trì, đệ tử đã hoàn thành biên soạn gần một trăm tài liệu học tập. Bởi vì công tác biên tập đòi hỏi tham khảo nội dung kinh điển Phật giáo, cho nên vô hình trung đệ tử đã tăng trưởng tri thức quý giá về lẽ phải của Phật pháp, vì thế đệ tử đã xuyên thủng những chướng ngại vẫn luôn có trong nhận thức về Phật pháp. Đệ tử nhận ra rằng mặc dù bản thân nói là nhân viên biên soạn khóa học, nhưng lại cảm thấy mình là một sinh viên đến trường học sớm nhất. Trong lòng đệ tử nghĩ rằng quyết định lần này mặc dù thuần theo duyên khởi mà làm, nhưng nhờ điều này mà lại đạt được điều gì đó, có lẽ chính như lời Sư Phật thường nói, một miếng ăn miếng uống đều có định số, tất cả mọi thứ của thế gian đều là sự sắp đặt tốt nhất.

Đối diện với mười hai bộ kinh điển Tam Tạng nhiều vô kể, dường như đệ tử đã hiểu được pháp lý mà Sư Phật đã diễn dịch trong sách: nói về Phật thừa duy nhất của Phật pháp, Đại thừa và Tiểu thừa, là Thế Tôn vì đáp ứng thời cơ của chúng sinh mà mở ra pháp môn tiện lợi. Thừa (cỗ xe) có sự phân biệt lớn nhỏ, còn pháp thực không có phân biệt cao thấp. Cái gọi là khai ngộ về mặt giáo pháp chỉ là trong một khoảnh khắc lĩnh hội được ý nghĩa huyền diệu của bên trong tám vạn bốn nghìn pháp môn mà thôi. Còn vẫn phải đặt chân lên con đường thênh thang của “tín, nguyện, hành, chứng”. Trong Chân Phật Mật Pháp, “sự mật” và “lý mật” phải sáp nhập, dung hòa hợp nhất, không tìm cầu Phật bên ngoài thân, tam mật thanh tịnh mà yên tịnh tìm cầu pháp ở tại nội tâm. Thế rồi đến cuối cùng, cho dù là pháp cũng phải thoải mái buông bỏ. Vì thế trong tên bài “Pháp là chỉ cái gì”, đệ tử có cảm hứng và đã viết ra, giải thích rõ tất cả pháp chính là: “Có thể từ trong hữu hình tìm ra lý lẽ vô hình, từ trong vô hình nhìn ra đạo hữu hình.” Các pháp là lấy từ tự nhiên mà có, cuối cùng cũng quy về tự nhiên mà trở thành không, “pháp bất cô khởi, trượng cảnh phương sinh”. Nhưng mà pháp không có tự tính, vì có nhân duyên này sinh ra, nhân duyên diệt, rốt cục là không.

Phật pháp sinh ra theo những giáo hóa độ chúng sinh của Phật Đà, đích thực là quý giá và thù thắng vô cùng, nhưng thuần nhiên là một con đường tu hành chỉ dẫn chúng sinh (Phật pháp như con thuyền). Sau khi lĩnh hội và thậm chí thấy được bản lai diện mục, không cần cố chấp mà cứ khăng khăng giữ lấy, bởi thường nói: “Pháp còn nên bỏ, huống chi không phải là pháp.”, trả lại sự tự do cho người tu đạo. Ngu đệ tử cho rằng, đây chính là đại ý (không chấp) về “qua sông phải dùng bè, đến bờ rồi thì không cần thuyền nữa” trong kinh Kim Cang, cũng là điều đệ tử từng viết cho Sư Phật trong mục “Trò hỏi Thầy đáp”, đệ tử trả lời: ý nghĩa là ”đen trắng mất đi, mỗi cái ở tại vị trí của nó”.

Dưới lệnh cấm đi lại, Kính An đã bám sát giáo huấn của Sư Phật “một ngày không tu, một ngày là ma”, mỗi ngày đều kiên trì tụng kinh trì chú và tu hành Tứ gia hành, nơi sâu nhất trong nội tâm càng ngày càng điềm đạm, tịch tĩnh và rộng lớn, lại còn cảm thấy tư duy tâm linh toát lên sự sắc bén, sống động và rực rỡ. Trong những ngày tháng vô vị, đệ tử đã dung nhập những điều Sư Phật dạy vào cuộc sống, thường xuyên hiểu thêm về những đạo lý bao hàm trong những cuốn văn tập của Sư Phật: thân khẩu ý thanh tịnh mà Chân Phật Mật Pháp nói đến là dùng kết ấn, trì chú, quán tưởng để tương ứng (tam mật hợp nhất). Vì thế, mỗi ngày trong khi tu pháp, tu nhiều hơn một giây thì càng bảo trì được thân tâm thanh tịnh nhiều thêm một giây, lấy sự tinh tấn để đoạn trừ nhiễm ác, tu thiện chuyển thành thanh tịnh, tam mật gia trì và chuyển hóa tam nghiệp của tự thân, ánh sáng thanh tịnh sẽ theo thời gian mà tăng trưởng, chiếu sáng chân tâm mà không thối lui đọa lạc.

“Chúng sinh đều có Phật tính” mà Sư Phật nói là dạy chúng ta tôn trọng sinh mạng và sự bình đẳng, luôn luôn gìn giữ tấm lòng bao dung, khiêm nhường, để ứng đối với vạn sự vạn vật trước mắt xảy đến, tâm, Phật, chúng sinh ba điều này không khác biệt, dựa theo đó có thể nuôi dưỡng tăng trưởng bồ đề tâm đồng thể đại bi, là bình đẳng quán, cũng là cái tâm quan trọng mà người học Phật cần tu hành… Đệ tử thích mỗi ngày trong lúc tĩnh tọa, suy ngẫm về từng câu khai thị ngắn gọn trong sáng của Sư Phật, thường xuyên có thể kéo dài và tiến nhập vào ý nghĩa thâm sâu của kinh điển Phật pháp, từ đó chìm đắm vào chốn thanh tịnh vốn có, không còn nghĩ đến cái khác.

Từ trong cuộc sống dưới tình cảnh dịch bệnh giống như bế quan, Kính An ở trong sự tĩnh lặng suy ngẫm về giáo huấn của Sư Phật, đối với thuyết về “nơi tâm an” cũng có chút lĩnh ngộ. Tâm an thật sự không phải là từ chỗ gần gũi với Sư Phật để cầu ban phúc và phú quý mà có được, cầu trường thọ không bệnh tật mà có được, cầu công danh quyền uy mà có được, cầu gia tộc yên ổn hưng vượng mà có được, không từ trong phạm vi của chủ nghĩa bè phái mà có được, càng không phải từ trong sức mạnh kỳ lạ của thần thông mà có được. Mà là thông qua thực tiễn tu hành Chân Phật Mật Pháp theo thứ tự, khi nhận ra được bản lai diện mục của tự thân mà có được. Cái này chính là điều mà đệ tử liên tục đến nay tuân theo giáo pháp tâm an mà Sư Phật dạy mà có được. Ngày xưa, đệ tử đọc trong Đạo Đức Kinh của Lão Tử, đạo lý “phu duy bất tranh, cố thiên hạ mạc năng dữ chi tranh” [vì không tranh giành, cho nên thiên hạ không ai có thể tranh giành với mình], đọc xong nhất thời cảm thấy thảng thốt và ca ngợi. Hôm nay, đệ tử từ Sư Phật học được chân lý “phu tự thanh tịnh, cố thiên hạ sắc mạc năng nhiễm chi” [thanh tịnh chính mình, cho nên các sắc tướng trong thiên hạ không thể nhiễm vào mình], lập tức sáng tỏ thông suốt, bất chợt đại ngộ, sâu sắc lĩnh ngộ được, giác chiếu thế gian mọi tướng không phải tướng, là pháp yếu “quán chiếu thường tỏ, thông đạt vô ngại” mà Sư Phật dạy bảo, tự mình phải khắc ghi sâu đậm trong tâm.

Trong số những điều đệ tử lĩnh ngộ được ở trên nếu có chỗ nào sai sót, kính mong Sư Phật từ bi chỉ bảo cho đúng. Trong những ngày tháng còn lại, Kính An sẽ tận lực hộ trì công tác tuyên truyền của tông phái, để báo đáp ơn Sư Phật đã tái sinh và ban cho huệ mệnh này. Đệ tử cũng cúi mình rập đầu xin Sư Phật từ bi gia trì cho đệ tử có ý tứ văn chương minh mẫn sáng láng, để từ đó có thể hoàn thành tốt đẹp tâm nguyện bồ đề nhỏ bé của đệ tử. Cuối cùng, cầu nguyện Sư Phật và Sư Mẫu thân thể khỏe mạnh, trường thọ tự tại! Thỉnh Phật trụ thế, trường chuyển pháp luân!
Kính thư.
Kính chúc Phật an!
Ngu đệ tử Liên Hoa Kính An chắp tay.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) đọc xong, bèn viết một bài thơ:
*Nhàn nhã không ngưng trệ
Theo mây trắng bận lòng
Vốn biết vô sở đắc
Chút tâm sự đêm khuya.*

(Bài thơ này tặng cho Liên Hoa Kính An.)


### 42. Lư Sư Tôn đi giao hàng


Mời mọi người đọc một lá thư của Liên Hoa Vịnh Thi:

Liên Hoa Vịnh Thi trình lên Sư Tôn một lá thư.
Lư Sư Tôn đi giao hàng trong mơ.

Trung tuần tháng 8, đệ tử mơ thấy Sư Tôn mặc pháp y đi đến con đường ở nhà con để giao đồ ăn nhanh. 
Sư Tôn dùng xe đạp chở mấy hộp đồ ăn cần giao đến các địa điểm khác nhau.
Trong mơ, con hỏi Sư Tôn: “Vị sư phụ này, sao xe đạp của ngài có thể đi lên dốc được thế, ngài thần kỳ quá?”
Trong mơ, bản thân con đang ngồi trong một chiếc xe cáp treo đi lên đỉnh núi, còn xe đạp của Sư Phật thì không ngờ còn nhanh hơn cả toa cáp treo chạy bằng điện của con.
Sư Tôn mặc pháp bào trả lời: “Đi theo tôi là được, tặng cho cô một hộp đồ ăn, sau đó tôi còn phải đi giao tới địa điểm khác nữa. Rất nhiều người cần.”

Đầu tháng 9, con được sắp xếp đến Seattle Lôi Tạng Tự để đảm nhiệm công việc trong nhà bếp, cũng giúp giao đồ ăn đến cho một người bị bệnh.

Ngoài ra, lúc chạng vạng tối ngày 12 tháng 9, con đang ở trên đường đi giao cơm hộp, vừa hay gặp hai người lạ, họ hỏi con: “Cơm hộp của cô ở đâu đó?” Thế là nhân tiện con đưa họ đi tham quan chùa. 

Họ không nói gì thêm, rất tin tưởng và mong chờ, con đi giao cơm trước, sau đó đưa họ về chùa. Thế rồi khi họ đi tham quan Seattle Lôi Tạng Tự thì họ hết sức thán phục, cảm nhận đạo tràng vô cùng trang nghiêm và có từ trường rất tốt. 

Trên đường đi, con giới thiệu vắn tắt về sự thù thắng của Sư Tôn, họ cảm thấy ngày hôm đó là một ngày rất may mắn của họ, có thể nghe được những duyên phận và sự tích này, cảm thấy rất bất khả tư nghì. Trước bữa ăn tối, Sư Tôn vô cùng từ bi chẳng hề ra vẻ kiêu ngạo, cũng nói chuyện vài câu với hai người khách lạ.

Họ nhìn thấy sự trang nghiêm của Sư Tôn thì hết sức phấn khởi và tò mò, khi ăn cơm họ cũng hỏi con rất nhiều câu hỏi.
Ăn cơm xong, họ quỳ trước phòng ăn để nhận cái sờ đầu gia trì của Sư Tôn giống như con. Hai người khách lạ hỏi con là cần phải làm những gì. Con trả lời rằng cần tịnh tâm cúng dường, trong túi của họ không có tịnh tài, con liền cho họ mượn. Sư Tôn không hề vì họ không phải là đệ tử thì không sờ đầu. 
Khi sờ đầu Sư Tôn nói: *“Good!” **[Tốt.]*

Ăn xong bữa tối, các đệ tử vui vẻ tiễn Sư Tôn lên xe về nhà, Sư Tôn biểu diễn kim cang côn gia trì cho các đệ tử, hai người khách lạ hoàn toàn cảm nhận được sức mạnh gia trì của Sư Tôn, tuy rằng là lần đầu tiên gặp mặt.
Một trong hai người khách lạ sống ở gần Seattle Lôi Tạng Tự, nhưng lại chưa từng đến đây.

Từ các điểm nói trên, xem ra Sư Tôn là Phật, không có gì là không biết, sự việc trong giấc mơ tái diễn một lần trong hiện thực. Khi con vừa mới đến Seattle Lôi Tạng Tự thì Sư Tôn hỏi một câu là ai sắp xếp. 

Người giao hàng trong mơ, đáp án là: người đó là Sư Tôn. Sư Tôn chăm sóc cho từng người rất chu đáo, không gì không biết, Liên Hoa Đồng Tử có ở khắp nơi nơi.
Khi cơ duyên đến rồi thì sẽ gặp mặt, ai không có duyên thì sống ở gần nhất cũng không gặp được.
Xin những độc giả và người có duyên với Liên Sinh Hoạt Phật hãy trân trọng duyên phận cả đời này.

Phật pháp rộng sâu rất nhiệm màu
Trăm nghìn vạn kiếp khó tìm cầu
Nay con nghe thấy xin trì tụng
Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm sâu.

Sư Tôn từng khai thị: “Độ chúng sinh không phải chỉ là việc của một mình Sư Tôn, là việc của mỗi đệ tử Phật.”
Tinh thần của Căn bản Thượng sư là: không bỏ rơi một chúng sinh, đệ tử sâu sắc cảm nhận được. 

Đệ tử Liên Hoa Vịnh Thi chắp tay đảnh lễ Sư Phật.
Ngày 13 tháng 9 năm 2022.

🌟

Đọc xong bức thư này, tôi (Lư Sư Tôn) viết một bài “thơ giao đồ ăn nhanh”. 

Thơ như sau:

*Tôi là người giao thức ăn nhanh
Cũng xem như khi đói gửi hơi ấm
Bánh xe quay
Tặng cho Phật pháp
Sự phong phú tâm linh
Trước nay hoằng pháp nhiều khó khăn
Tôi mặc kệ
Chỉ cần người ta muốn
Tôi sẽ hẹn gặp bạn
Thức ăn nhanh này
Giao đến nghìn nghìn vạn vạn.*


### 43. Phù lực


Có đồng môn ở Hồng Kông bị bong gân mắt cá chân trái rất nghiêm trọng, chỉ uống linh phù của Sư Tôn mà không ngờ đã nhanh chóng hồi phục!

(Liên Hoa Huệ Quân báo cáo.)

Sư tỉ Hà Mỹ San đến tử Hồng Kông là một đệ tử Chân Phật Tông kiền thành. Vào ngày 16-29/8/2022 đã đến Seattle hộ trì Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật làm pháp hội mùa thu. Trong thời gian ở Seattle tự mình thuê nhà trọ, ngày ngày đi đi về về để nghe Sư Phật giảng pháp!

Một hôm cô ấy thuê xe lái từ bên ngoài trở về, lúc xuống xe dẫm lên bãi cỏ có độ dốc, không chú ý cho nên không ngờ đã bị bong gân ở mắt cá chân trái. Ban đầu cô ấy cho rằng không sao cả nên không để ý, không ngờ chỗ bị đau càng ngày càng sưng to lên, còn cảm thấy xương ở chỗ mắt cá chân có tiếng “khục khục” không bình thường. Sau đó cô ấy phát hiện ra dường như có hiện tượng dây chằng ở mắt cá chân bị tổn thương.

Cứ thế vài tiếng sau, rất may mắn, sau bữa cơm tối hôm đó, cô đã báo cáo việc này với Sư Tôn để thỉnh cầu gia trì, truyền thừa của Sư Phật đã chiếu rọi ánh sáng, Sư Tôn cũng ban cho cô bốn lá phù. Sau khi cô đốt phù uống, không uống bất kì loại thuốc nào khác, không ngờ chỗ bị đau đã bình phục rồi!

Sau đó, trụ trì của Seattle Lôi Tạng Tự là Thượng sư Liên Cầm cũng đưa cô ấy đi chụp X-quang, kết quả kiểm tra cũng không bị gãy xương.

Sư tỉ Hà Mỹ San vô cùng cảm tạ sự gia trì cứu độ thần kỳ của Sư Phật, ca ngợi thần lực của Sư Tôn đúng là thù thắng! Ngày khác cô lại một lần nữa gặp Sư Phật, vẫn quỳ hai chân, một lần nữa đảnh lễ cảm ơn. Cô ấy nói Sư Tôn quá vĩ đại!”

🌟

Chú thích:
Sư Tôn đã học tập phù lục từ Liễu Minh Hòa Thượng. 
Một là phù chữ “thượng” 
Hai là phù chữ “quỷ”.
Phù có phù lực, cũng là sức mạnh tinh thần bất khả tư nghì. 
Phù và linh lực có liên quan.
Trọng điểm nằm ở lá phù này có lực gia trì của các vị như Phật Bồ Tát Kim Cang Hộ Pháp hay không?
Có, thì sẽ có phù lực.
Không, thì sẽ là tờ giấy lộn.
Như vậy mà thôi.


### 44. Cảm ứng về Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang


Đây là một lá thư cảm ứng, như sau:

Đảnh lễ Sư Phật, Sư Tôn Phật an.
Đệ tử Liên Hoa Chiêu Mỹ lên mạng tham gia pháp hội Hộ Ma (hỏa cúng) Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang do Sư Phật chủ trì vào tháng 2 năm 2022. 
Khi đó gáy và eo của đệ tử rất đau nhức. 
Khi Sư Phật diễn hóa thủ ấn gia trì.
Đệ tử quán tưởng Phật quang gia trì để bệnh nghiệp đau nhức sớm được tiêu trừ.
Sau đó, đệ tử cũng không quá để ý xem là sẽ khỏi hay là không khỏi.
Mấy ngày sau mới cảm thấy gáy và eo hoàn toàn không đau nữa, cho đến tận ngày hôm nay, vẫn hoàn toàn không đau.

Đệ tử rất cảm ơn Sư Phật và Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang đại gia trì.
Cát tường an khang.
Phúc huệ tăng trưởng.
Đệ tử Liên Hoa Chiêu Mỹ một lòng kiền thành kính lễ.
Om guru liansheng siddhi hum.
Ngày 10 tháng 8 năm 2022.

🌟

Chú thích:
Trong pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, tôi đều sẽ đặc biệt đại gia trì trong năm phút. 
Chủ yếu là để giải trừ bệnh khổ của tín chúng.
Rất nhiều người có được cảm ứng.
Những người tôi công bố trong sách chỉ là một phần trăm mà thôi.
Tôi nói:
Xin các đệ tử tiếp nhận gia trì không cần vội vã viết thư cảm ứng, bởi vì có một số bệnh có thể khỏi tạm thời, nhưng cũng có khả năng sẽ tái phát.
Liên Hoa Chiêu Mỹ này được gia trì vào tháng 2, nửa năm sau, đến tháng 8 mới viết thư cảm ứng.
Điều này chứng minh là bệnh thật sự đã khỏi.
Bản thân tôi cảm thấy chú âm của Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang có sức mạnh lớn, có thể chữa được bệnh tật của chúng sinh. Mong người người trì tụng, người người thành tựu.


### 45. Cảm ứng tốc độ nhanh nhất


Khâu Tiểu Lăng là giáo sư Đại học New York, anh ấy dạy Dinh dưỡng học và Tài chính.
Khâu Tiểu Lăng lấy vợ là Tô Ly Na. 
Kết hôn xong, bảy năm mà chưa có con.
Vợ Tô Ly Na đã đi khám bác sĩ Đông y, bác sĩ đều nói: “Sẽ không có con.”
Tô Ly Na vốn là bác sĩ Đông y. 
Cô hỏi sư phụ Đông y của mình:
”Sẽ có con không?”
Sư phụ Đông y của cô nói chắc như đinh đóng cột:
”Cô sẽ không có con!”

Khâu Tiểu Lăng và Tô Ly Na đều là đệ tử Chân Phật Tông.
Đường chủ của New York Kim Cương Lôi Tạng Tự là sư tỉ Liên Vy bảo họ đi thỉnh cầu Lư Sư Tôn.
Họ viết thư gửi fax đến cầu Lư Sư Tôn gia trì.
Vừa mới gửi fax đi.
Lư Sư Tôn vừa mới gia trì.
Buổi tối hôm đó, Khâu Tiểu Lăng cảm ứng thấy có một người đi vào trong nhà mình, nhưng tìm kiếm khắp nhà, không ngờ lại chẳng tìm thấy người nào, lạ quá! Lạ quá! Còn Tô Ly Na cảm ứng thấy mình buồn nôn, tràng vị khó chịu, chóng mặt, ăn uống không ngon miệng.
Cô đi khám bác sĩ Đông y. 
Bác sĩ Đông y bắt mạch.
”Không phải bệnh, là có thai!”
Cô đi khám bác sĩ Tây y.
Bác sĩ Tây y cũng chứng minh:
”Có bầu rồi!”
Sau đó họ sinh được một đứa con gái, chính là Khâu Tình.

Bản văn này là do Tô Ly Na kể lại.
(Tháng 8 năm 2022, trong buổi cúng dường cơm, cô ấy đã kể lại.)
Có thể nói là: “Cảm ứng tốc độ nhanh nhất.”


### 46. Trúng xổ số


Tôi nói:
”Chân Phật Tông là trúng số tông!”

Xin mời xem bức thư dưới đây:
Trong pháp hội Hộ Ma, Sư Phật từng nói: “Nhìn thấy rất nhiều kim cương, đệ tử sẽ trúng số.” Quả nhiên, ông ấy đã trúng giải xổ số X vạn Ringgit Malaysia. 

Bài viết của Liên Hoa Ngọc Linh.

Đệ tử Liên Hoa Ngọc Linh ở Malaysia hôm nay cầm bút viết thay cho sư huynh Vương để làm chứng một sự việc cảm ứng nhờ lực gia trì của Sư Phật.

Một ngày nọ, bản thân đệ tử đang nghe Sư Phật khai thị sau khi chủ trì buổi đồng tu Chuẩn Đề Phật Mẫu thì bỗng nhận được điện thoại. Thì ra là sư huynh Vương đã trúng xổ số, muốn đệ tử giúp ông ấy gửi 5000 Ringgit để cúng dường Sư Phật, đầu tiên là để cảm ơn Sư Phật đã gia trì cho ông ấy trúng giải thưởng X vạn Ringgit.

Còn nhân duyên trúng giải là như sau: Pháp hội Hộ Ma chủ nhật hàng tuần của Sư Phật, trong thời kỳ dịch bệnh, hàng tuần đệ tử đều báo danh pháp hội và cúng dường một khoản tiền nhỏ, trước nay chưa từng gián đoạn, thỉnh thoảng bản thân cũng làm chủ cầu hoặc mời đồng môn cùng làm.

Sư huynh Vương quy y hơn 30 năm, là một đệ tử già vô cùng tinh tấn, cũng là một sư huynh rất có bồ đề tâm. Vì biết chủ nhật hàng tuần đệ tử đều có báo danh pháp hội thì mong muốn cũng có thể giúp ông ấy cùng báo danh, cho nên hàng tuần đệ tử đều phụ trách thêm phần công việc nhỏ nhặt này.
Đệ tử tin tưởng rằng có sự gia trì của Sư Phật, sau này có thể thực hiện chủ nhật hàng tuần đều có thể làm chủ cầu. Cảm ơn Sư Phật.

Còn sư huynh Vương này, vào ngày 29 tháng 7 năm nay, khi đang đi trên phố, bỗng nhiên cảm thấy trên đầu có cái gì đó dính dính. Sờ vào thì… Ôi! Thật kinh khủng! Là phân chim đó! Thế là ông ấy bỗng có linh cảm liền đi mua vé xổ số, kết quả là, ngày hôm đó đã trúng giải nhất, sư huynh Vương thật sự đã trúng giải nhất rồi… Đệ tử nhớ là trong pháp hội Hộ Ma gần đây, Sư Phật từng nói: nhìn thấy rất nhiều kim cương, đệ tử sẽ trúng xổ số. Kết quả là phúc báo của sư huynh Vương đã đến rồi. Ông ấy đã lĩnh thưởng, thật vui mừng thay cho ông ấy. Sự thù thắng của Chân Phật Mật Pháp, sức mạnh gia trì của Sư Phật đúng là không hư giả.

Càng cảm ơn hàng tuần đều có thể nhận được gia trì, các đệ tử hàng tuần có thể ở trên “đám mây” gặp mặt và hỏi thăm Sư Phật (đệ tử cảm nhận đây cũng là một kiểu “trúng số” khác). 

(Ghi chú: Ngày 10 tháng 7 năm 2022, Sư Phật chủ trì Hộ Ma Câu Tài Thiên Nữ xong thì khai thị rằng: “Vừa rồi nhìn thấy móc kim cương của Câu Tài Thiên Nữ quay ba vòng, không ngờ là kim cương đầy ắp cả sơn cốc! Lần này lại có người trúng xổ số rồi!”)

🌟

Tôi nói:
”Đây là một trong số ba người, vào tháng 7 năm 2022, đã trúng xổ số.”


### 47. Thư của Liên Ha


Sư Phật kính yêu nhất,
Phật an! Ngu đệ tử Liên Ha nhất tâm đảnh lễ và đem thân khẩu ý cúng dường Sư Phật!
Tuần sau, đệ tử sẽ khởi hành bay đến Seattle, dẫn theo hơn 30 đồng môn Brazil, cùng tham gia đại pháp hội Mùa Thu của Sư Phật. Khi Sư Phật đọc được lá thư này, hẳn là đệ tử đã rất vui mừng đến bên Sư Phật rồi. Vô cùng mong chờ Sư Phật sẽ diễn hóa thánh cảnh siêu độ nghìn chiếc thuyền pháp cho các đệ tử chúng con, thật sự là nghìn năm khó gặp. Các đệ tử thật may mắn có thể đích thân đến tham gia  dịp lớn này. Cảm ơn đời này đã gặp được Sư Phật, không chỉ là may mắn ba đời, mà còn là may mắn nhiều đời!

Mỗi lần ở bên Sư Phật, đệ tử đều thu hoạch được tràn trề, bất luận là trên phương diện tu hành, cuộc sống, lĩnh ngộ, cảm nhận hay tâm tính, thậm chí cả trên phương diện vật chất cũng đều “được vụ mùa lớn”, giống như vào ngày đệ tử rời đi, Sư Phật đã vẽ bức tranh đề chữ là “Suối nhỏ uốn cong, thắng lợi trở về”. 

Nói đến tranh vẽ, đệ tử vạn phần cảm ơn Sư Phật đã ban tặng tranh cho đệ tử, trên bầu trời xanh thăm thẳm không mây, một vầng mặt trời đỏ ối, và hoa sen đang nở rộ ở trong mặt trời. Sư Phật ban tặng tranh và đề thơ khiến đệ tử cảm nhận được sự cổ vũ và gia trì không gì sánh bằng. Nội tâm tràn ngập sự ấm áp và biết ơn! Vầng mặt trời đó dường như chiếu rọi trong tim đệ tử. Khi đệ tử trang hoàng xong bức tranh của Sư Phật, cung kính treo lên căn nhà bế quan ở trong núi, thời khắc đó, toàn bộ ngọn núi hiện lên cảnh tượng kỳ lạ, chưa từng nhìn thấy những đám mây tía dày đặc xuất hiện phía sau căn nhà bế quan. Những đám mây thần tiên ấy, cái màu sắc ấy đệ tử cả đời ít thấy, chụp ảnh cho các đồng môn xem, mọi người cũng tặc lưỡi kinh ngạc, cảm ơn Sư Phật đã ban phúc và gia trì!

Trong thời gian ở Seattle, đệ tử đã lắng nghe Sư Phật khai thị kinh Duy Ma Cật, trong lòng rất chấn động. Trong xã hội ngày nay, có ai có thể một mình có đầy đủ mười truyền thừa lớn của Phật giáo (Hồng, Hoàng, Bạch, Hoa, Chân Ngôn tông, Thiền tông, Tịnh Thổ tông, Tam Luận tông, Pháp Tướng tông, Thiên Thai tông) chứ? Để đệ tử Chân Phật đời thứ hai chúng con vừa quy y là đã có được dòng chảy pháp của mười truyền thừa lớn, thật may mắn xiết bao! Lại có ai có thể từ “tiếng gầm sư tử” mà giảng đến “hoặc im lặng hoặc sấm rền”? Khai thị tiếng sấm của chân như? Duy có Lư Sư Tôn thôi!

Còn có một điểm khiến đệ tử xúc động sâu sắc, ngày hôm đó Sư Phật mời chúng con vào trong thư phòng của Sư Phật ở Cầu Vồng Lôi Tạng Tự. Nơi đó cất giữ rất nhiều tín vật truyền thừa của Sư Phật, đều là những pháp bảo trân quý mà các Tổ sư đã ban cho. Càng quan trọng hơn là, Sư Phật nói với các đệ tử, mỗi vật phẩm ở trong thư phòng đều được bày biện ngay ngắn gọn gàng, không nghiêng lệch chút nào. Sư Phật tự tay thị phạm cho chúng con, nếu cây bút này bị để như thế này thì không được, phải đặt nó ngay ngắn như thế này thì mới được. Chúng con trố mắt há miệng ra mà nhìn, bởi vì sự khác biệt ở đây gần như rất nhỏ không thể nhìn thấy được. Có thể thấy Sư Phật nghiêm cẩn thế nào. Và sự ngăn nắp sạch sẽ này chính là tương ứng với sự thanh tịnh của nội tâm. Thế rồi khi đệ tử trở về Brazil là bắt đầu lần lượt dọn dẹp sạch sẽ phòng của mình và phòng Phật đường. Mỗi khi đệ tử dọn dẹp phòng đều nghĩ đến thư phòng của Sư Phật, và tâm đệ tử dường như cũng thanh tịnh hơn, càng tương thông với tâm của Sư Phật hơn.

Sư Phật kính yêu, cảm ơn sự gia trì của Thầy, khiến sự nghiệp giáo dục Chân Phật không ngừng bay cao. Chương trình dạy học của Học đường Chân Phật pháp đã mang đến sự tiến bộ lớn cho toàn thể nhân viên hoằng pháp của Chân Phật Tông, mọi người đều nói tố chất truyển chọn trợ giảng năm nay có sự nâng cao rõ rệt so với trước đây. Và trong các lớp học của Đại học Chân Phật trực tuyến, trong tương lai gần sẽ bắt đầu chia sẻ những tâm đắc học tập sau mỗi bài học của mỗi học viên, mọi người sẽ tuần tự trình bày theo vòng tròn. Như vậy, một mặt sẽ tăng cường sự nghiêm túc nghe giảng, ghi chép và suy nghĩ tỉ mỉ của các học viên khi lên lớp, mặt khác sẽ nâng cao tài hùng biện, năng lực diễn thuyết của học viên, và năng lực này cực kì quan trọng bất luận là đối với công việc tương lai của học viên hay là công tác hoằng pháp độ chúng. 

Sắp tới đây giáo dục Chân Phật sẽ đưa ra kế hoạch “Chòm sao lấp lánh” bồi dưỡng huấn luyện các giáo viên hạt giống: chiêu mộ tinh anh trong toàn bộ nhân viên hoằng pháp của tông phái, mời giáo sư chuyên nghiệp để bồi dưỡng huấn luyện họ làm sao để trở thành một giáo viên ưu tú, sau đó trong từng lĩnh vực của giáo dục Chân Phật pháp, tùy theo sở trường và sở thích của các giáo viên hạt giống để mà phân công công việc, tiến tới không ngừng nghiên cứu và trau dồi chuyên sâu, và dần dần trở thành một giảng viên chuyên nghiệp của khóa học. Bằng cách này, một nhóm các giáo viên hạt giống Chân Phật xuất sắc sẽ được vun trồng, và các vì sao sẽ tỏa sáng dưới bầu trời của Chân Phật.

Cảm ơn Sư Phật mỗi lần đều ban cho đệ tử những chỉ thị về tu hành. Đệ tử mỗi lần ở tại Seattle hỏi việc đều là những thời khắc quan trọng nhất. Sư Phật tự tay viết cho đệ tử pháp môn tu trì, chỉ điểm cho đệ tử những tâm yếu khẩu quyết, đều là trân quý nhất, khiến việc tu hành của đệ tử có thể tiến bộ nhảy vọt. Đệ tử trở về trong núi ở Brazil, ngày ngày lĩnh hội những pháp yếu của Sư Phật, ngày ngày thực tiễn những chỉ thị của Sư Phật, không ngừng cảm nhận được sự tiến bộ của tu hành. Đệ tử thành tâm muốn hét lớn vào hư không rằng: “Có Sư Phật thật tốt!”

Cuối cùng chân thành chúc nguyện Sư Phật khỏe mạnh trường thọ, vui vẻ tự tại, thỉnh Sư Phật trụ thế! Chúc nguyện pháp mạch Chân Phật sẽ chảy xa chảy mãi, để Sư Phật yên tâm và vui mừng. Chúc nguyện đệ tử Chân Phật đều có thể tu hành thành tựu, không phụ sự khổ tâm của Sư Phật. Cũng thỉnh cầu Sư Phật gia trì cho đệ tử và tất cả chúng sinh cát tường an khang! Thiền định thành tựu! Thấy Phật thành Phật! Gia trì cho sự nghiệp giáo dục Chân Phật và sự nghiệp bồ đề của Chân Đế Lôi Tạng Tự không ngừng bay cao, cho đến khi bồ đề viên mãn!

Kính thư,
Ngu đệ tử Liên Ha cúi lạy.
Trong núi ở Sao Paulo, Brazil, ngày 7 tháng 8 năm 2022.

🌟

Cảm tưởng khi đọc thư:

Vốn là thanh tịnh một linh quang
Trong một sát-na chẳng che giấu
Chiếu khắp Ta Bà nghìn vạn tia
Công đức bao nhiêu chẳng thể lường
Dạy bảo chúng sinh không sinh tử
Đến đến đi đi đều là huyễn
Giấc mộng qua đi chẳng còn gì
Con đường tu hành vô thường lắm
Thời nay phải tìm Chân Phật gia
Chẳng biết đời người như ráng chiều
Một bước chân đi cần tinh tấn
Tự sinh cõi Phật ở chân trời.


### 48. Liên Hoa Kiến Thanh nói như vậy (1)


Cảm ngộ chứng minh Sư Phật cứu độ là bất khả tư nghì! Tu Chân Phật Mật Pháp là bất khả tư nghì!

“Đài Tổng hợp Bầu Trời Chân Phật” - Bài viết của Liên Hoa Kiến Thanh.

Đệ tử Liên Hoa Kiến Thanh đảnh lễ Sư Tôn, Sư Mẫu, A Di Đà Phật!
Đệ tử viết bài này là cảm ngộ của đệ tử. Chứng minh Sư Phật cứu độ là bất khả tư nghì. Tu Chân Phật Mật Pháp là bất khả tư nghì!

Đệ tử Nguyễn Kiến Thanh sinh vào tháng 1 năm 1958, lúc còn nhỏ thể trạng yếu ớt và nhiều bệnh. Lúc 8 tuổi không cẩn thận mắc bệnh viêm màng não, đã đi lướt qua Tử Thần. Sau đó để lại di chứng là: thần kinh não bị tổn thương, hay quên, tư duy phản ứng chậm, giao tiếp với người khác có trở ngại lớn, gan bị tổn thương. Mấy năm nay được bác sĩ chuyên khoa chẩn đoán là gan đã hoại tử hơn một nửa, hơn nữa đã mấy chục năm rồi! Từ xưa đến nay đệ tử luôn cảm thấy tai kiếp trùng trùng!

Vào năm 1994 còn gặp trận hỏa hoạn ở Tân Ốc. Nhưng vì thế mà mới có cơ duyên từ chỗ của người hàng xóm là sư tỉ Trang mà gặp được sách tâm linh của Sư Tôn! Sau khi đọc xong thì có nhiều cảm xúc đan xen, lập tức chọn ngày quay về hướng đông quỳ lạy, quy y Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật, rồi viết thư khẩn cầu Sư Phật tiếp nhận thỉnh cầu quy y của đệ tử.

Sư Phật từ bi, ngay cả một chúng sinh không ra gì như đệ tử đây mà cũng được cứu độ. Cảm ơn!

Đệ tử đã sắp đặt đàn thành, bắt đầu đi trên con đường mỗi ngày một tu, và từ trong những khai thị của Sư Tôn, dần dần tiếp xúc với những cuốn sách của Sư Phật mà hiểu về Phật pháp. Từ một người theo chủ nghĩa vô thần biến thành một đệ tử học Phật tin vào nhân quả. 

Cùng với việc thâm nhập tu pháp, chướng ngại cũng càng ngày càng lớn. Vào năm 1999, đệ tử phát nguyện trì tụng Thượng sư tâm chú - chú dài 1 triệu biến, để cầu thoát khỏi cái khổ của lục đạo luân hồi. Khi đệ tử trì đến 200 nghìn biến thì cũng chính là lúc bạn thân khuyên nhủ đệ tử phải rời bỏ Chân Phật Tông và công kích tín ngưỡng tôn giáo.

Sáng sớm ngày 15 tháng 6 năm 2000, Sư Tôn nhập mộng gia trì! Sự việc này giống như vừa xảy ra ngày hôm qua, vẫn sống động như ở trước mắt, là sự thật không phải giả dối. Suốt đời không quên! Ở trong mơ, đệ tử và một người bạn gặp được Sư Tôn, khi đó Sư Tôn đang ngồi ở trong phòng, đang sửa sách. Đệ tử lập tức quỳ xuống đảnh lễ, còn người bạn kia thì cứ đứng không quỳ. Sư Tôn nói: “Anh ta không biết phân biệt hàng tốt xấu.” (Không nhận ra được Chân Phật.) Sư Tôn lập tức quăng cây bút đi.

Đệ tử vội vàng nhặt cây bút trên mặt đất giao cho Sư Tôn, Sư Tôn trong chốc lát đã cắm cây bút vào đỉnh huyệt của đệ tử. Trong sát-na, đệ tử chỉ thấy một đống rác đen sì khổng lồ che chắn toàn bộ xung quanh đệ tử, có đôi chút giống như tình huống của sự kiện 11 tháng 9 khi tòa nhà lớn sụp đổ. 

Còn chỗ mà đệ tử đang quỳ thì không ngừng được nâng cao lên, một đằng nâng lên một đằng sụp xuống, biến thành đệ tử đang quỳ trên đỉnh núi, chỉ thấy ánh sáng chiếu khắp nơi. Sư Tôn nói: “Tốt rồi!” Thế là thấy Sư Tôn trong chốc lát đã bay vào trong bức tường, biến hóa thành bức chân dung Sư Tôn mỉm cười. Sau đó mới biến mất. Đệ tử cũng tỉnh khỏi giấc mơ, hết sức chấn động! Trong lòng tự hỏi điều này có thật không?

Lúc này đỉnh huyệt trên đầu đệ tử, da đầu liên tục phập phồng, giống như mí mắt bị co giật, khiến đệ tử xác nhận Sư Tôn thật sự đã nhập mộng rồi! Khi đó là 4 giờ 50 phút sáng, cũng là thời gian hàng ngày đệ tử thức dậy để tu pháp. (Cảm ơn Sư Tôn đã nhập mộng cứu độ.)

Vào năm 2009, khi lần đầu tiên Sư Tôn truyền pháp Khổng Tước Minh Vương, đệ tử đã hành hương đến Seattle lễ Phật, báo cáo với Sư Tôn về mộng cảnh này, Sư Tôn khai thị rằng: “Đó là lúc nguy hiểm nhất (của đệ tử).” Đệ tử cảm ơn Sư Phật từ bi!

Khi đệ tử khoảng 40 tuổi, vì lưng eo đau nhức, vì thế tu thêm Đại lễ bái và Bảo bình khí, cơn đau ở eo lập tức thuyên giảm. Trong khi không ngừng nghe băng ghi âm, ghi hình Sư Tôn khai thị, đệ tử cũng tìm tòi được một vài bí quyết. Vào lúc 50 tuổi, đệ tử đã có thể nhịn thở được trên 5 phút. Đệ tử đã đưa phương pháp này vào trong việc tu pháp mỗi ngày một tu của mình, đến nay đã 9 năm rồi, trừ phi có tình huống đặc biệt không thể làm được, vì thế việc tu pháp hàng ngày đều là là một lần khảo nghiệm, pháp hỷ vô lượng!

Từ trong khai thị của Sư Tôn, đệ tử hiểu rằng tu hành chính là phải tu chứng quang minh, vì thế đệ tử quán tưởng việc tu Bảo bình khí thành cúng dường Hộ Ma ở bên trong. Và thỉnh cầu Sư Tôn gia trì, hóa thành ánh sáng cúng dường Phật. Ngày ngày đều quán tưởng như thế, phiền não cũng ít dần. (Đệ tử cũng đưa mộng cảnh vào trong tu pháp, vì thế thường rơi nước mắt, nghĩ đến ơn Phật khó báo đáp!)

Đệ tử cầu nguyện Sư Phật thân thể khỏe mạnh, mãi chuyển pháp luân, không nhập niết bàn! 
Đệ tử cầu nguyện Sư Phật thường xuyên trụ đỉnh, gia trì bảo vệ bồ đề tâm của đệ tử vĩnh viễn không thoái chuyển.
Đệ tử cầu nguyện có thể mãi mãi theo Sư Phật tu hành, tu chứng bồ đề, để báo ơn từ bi cứu độ của Sư Phật!

Chúc Phật an!
Đệ tử Liên Hoa Kiến Thanh đảnh lễ.
Ngày 8 tháng 9 năm 2022.

🌟

Viết một bài thơ “Một cây bút”:

Một cây bút cắm vào Phạn huyệt
Thân thể y nguyên
Nghiệp chướng trôi mất
Hóa thành nước
Tuôn ra bốn biển
Đời người bắt đầu lại từ đầu
Tinh tấn trì chú
Đệ tử hữu duyên
Cuối cùng
Quang minh đắc thành tựu. 

(Chúc Liên Hoa Kiến Thanh tu dưỡng đúng đắn, thoát khỏi cõi trần.)


### 49. Liên Hoa Kiến Thanh nói như vậy (2) 


Đệ tử Liên Hoa Kiến Thanh trình lên Sư Phật kiến chứng cảm ứng - Cảm ơn Sư Tôn đã chiếu rọi Phật quang, tiếp dẫn bố mẹ đệ tử vãng sinh tịnh thổ, thoát khổ được vui. 

Sư Phật kính yêu xin từ bi soi xét:

Đệ tử Liên Hoa Kiến Thanh vào năm 1994 thì quy y Sư Phật. Bố đệ tử ban đầu không tin tưởng lắm. Sau này ông bị bệnh nặng phải nhập viện, trong lúc đó đã đọc cuốn sách Sư Tôn khai thị Tâm Kinh thì mới thật sự tin tưởng. Hơn nữa còn bắt đầu trì Cao Vương Kinh, liên tục cho đến khi lâm chung, ông ấy đã trì tụng được hơn một nghìn biến.

Khi bố đệ tử sắp qua đời, có một hôm vào buổi trưa, mẹ đệ tử ở trước đàn thành trong nhà khóc lóc và quỳ lạy cầu Sư Phật, thỉnh cầu Sư Phật đến bệnh viện cứu độ cho bố, sau đó thì đến bệnh viện để chăm sóc cho bố. Bố nói: “Sư Tôn đến rồi.” Mẹ đệ tử liền hỏi han sự tình, bố nói: “Sư Tôn ngồi trên hoa sen lớn màu trắng, từ trong không trung từ từ hạ xuống, cười với bố. Bố cũng cười với Sư Tôn.” Sau đó bố ngủ thiếp đi. Điều này xảy ra vào buổi trưa, ngay lúc ban ngày, đúng là bất khả tư nghì.

Khi bố đệ tử sắp qua đời, mẹ đệ tử đọc được Mật pháp “trung ấm nghe dạy mà được cứu độ”, sau đó liền không ngừng nói với bố rằng phải ngồi trên hoa sen để đi, phải đi theo Sư Tôn, phải nhìn thấy ánh sáng trắng chói lòa mới được đi, phải ở trên đó đợi mẹ không được đi lung tung. Mẹ đệ tử lấy vài sợi tóc ở chính giữa đỉnh đầu của bố, nhắc nhở bố phải đi ra từ thiên tâm, không được đi ra từ những chỗ khác. Bố cũng liên tục gật đầu đồng ý.

Vào ngày 7 tháng 8 năm 2000, khi đệ tử được biết bố đã vãng sinh, lập tức dừng công việc, vội chạy đến bệnh viện, dùng viên cam lộ Chân Phật bỏ vào trong miệng của bố, cũng dùng nước chú Đại bi để rẩy tịnh. Tiếp đó, mẹ đệ tử ở trong bệnh viện đặc biệt thu xếp căn phòng, đi theo bố, đồng thời không ngừng cung kính niệm A Di Đà Phật và Thánh hiệu của Sư Tôn, cũng không ngừng nhắc nhở bố phải đi theo Sư Tôn, đi theo A Di Đà Phật. Đệ tử lập tức cung thỉnh Nghiêm Sơn Lôi Tạng Tự giúp gửi fax, thỉnh cầu Sư Phật từ bi tiếp dẫn bố đệ tử vãng sinh tịnh thổ, thoát khổ được vui. Đệ tử cũng thỉnh cầu sư huynh sư tỉ đồng môn giúp đỡ trợ niệm.

Có sư tỉ sau sự việc đã chia sẻ cảm ứng, nói rằng: “Khi ở trong nhà niệm chú Vãng sinh cho bố đệ tử, nhìn thấy bố đệ tử nói: “Thân dơ bẩn phải đợi thanh tịnh thân thể xong mới có thể bước qua thiên môn.” Sau đó thì nhìn thấy thiên môn mở ra, bố đệ tử liền tiến vào cõi trời sáng rực rỡ.” Đây là chia sẻ của một sư tỉ, đệ tử chỉ biết cảm ơn!

Sau khi bố đệ tử vãng sinh, buổi sáng ngày thứ bảy sau đó, đệ tử đến nơi mẹ sống, mẹ xúc động nói: “A Di Đà Phật đã đưa bố trở về rồi!” Mẹ còn nói: “A Di Đà Phật giống như vị được thờ cúng ở tại đàn thành, thế nhưng cực kì cao lớn, toàn thân tỏa ánh hào quang màu vàng kim. Bố liền biến thành tướng mạo trẻ trung, không vui không buồn!” Những việc này đều là từ chính miệng mẹ đệ tử nói, đệ tử tin rằng đây là sự thật! Đệ tử tin Sư Phật đã tiếp dẫn cho bố! Cảm ơn Sư Phật từ bi cứu độ!

Lại nói về chuyện của mẹ. Sau khi bố qua đời thì mẹ đệ tử vô cùng đau lòng, cứ nói muốn đi theo bố. Đệ tử không ngừng khuyên nhủ mẹ nhất định phải kiên cường sống tiếp, bây giờ đã không còn phải dành thời gian ra để chăm sóc cho bố rồi. Chính là lúc gia tăng tư lương cho việc vãng sinh của chính mình, là lúc thích hợp nhất để tu hành. Mẹ đệ tử kìm nén sự đau đớn mà bắt đầu con đường tu hành của mình.

Đệ tử thường chia sẻ khai thị của Sư Tôn cho mẹ nghe, mẹ vô cùng hoan hỷ lắng nghe, thường yêu cầu đệ tử làm nhiều việc công đức phúc đức. Khi ấy có phát động niệm tâm chú Liên Hoa Đồng Tử 8 triệu biến, mẹ đệ tử cũng bắt đầu trì chú. Hơn nữa rất nhanh chóng đã hoàn thành. Vào năm 2012 khi mẹ đệ tử vãng sinh thì đã trì được hơn 10 triệu biến tâm chú Liên Hoa Đồng Tử.

Mẹ đệ tử cực kì thích quán tưởng Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát, bình thường ngoài tu pháp, trì tâm chú Sư Tôn ra, thì mẹ lại trì tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát. Mẹ đệ tử lúc lâm chung từ Trung Quốc trở về Australia, được đưa vào bệnh viện chăm sóc đặc biệt cho người sắp qua đời - phòng chăm sóc điều trị giảm nhẹ, và nói với đệ tử và người nhà là bản thân lúc nào cũng phải sẵn sàng xử lý mọi việc sau khi chết. 

Đệ tử cũng lập tức dừng công việc, mỗi ngày cung kính niệm kinh Bản Nguyện Địa Tạng Bồ Tát, hồi hướng cho mẹ thuận lợi vượt qua biển lớn sinh tử, mỗi ngày cầu nguyện Sư Phật tiếp dẫn cho mẹ, mong mẹ không có đau khổ, ở trong giấc ngủ mà vãng sinh.

Mẹ đệ tử sống trong phòng chăm sóc điều trị giảm nhẹ sống được vài tuần, tất cả đều tốt đẹp, cũng đã phá vỡ quy định của bệnh viện, bệnh viện chỉ còn cách mời mẹ đệ tử rời đi, yêu cầu tìm một trung tâm chăm sóc phù hợp.

Mỗi ngày đệ tử cung kính niệm kinh Bản Nguyện Địa Tạng Bồ Tát, tu pháp hồi hướng. Cho đến khi mẹ vãng sinh thì đệ tử đã niệm được hơn 108 bộ kinh Địa Tạng, có kiến giải sâu sắc hơn, đệ tử chỉ còn biết cảm ơn!

Khi mẹ vãng sinh, đệ tử lập tức ở trước mặt mẹ cung kính niệm kinh Bản Nguyện Địa Tạng Bồ Tát, và khuyên nhủ mẹ buông bỏ bám chấp, không được nhớ nhung, con cháu đều rất tốt. Hãy ngoan ngoãn đi theo Sư Tôn. Nhìn thấy ánh sáng chói lọi thì phải hòa tan vào đó mà đi, và lập tức mời đồng môn giúp đỡ gửi fax đến Sư Phật, thỉnh cầu Sư Phật từ bi tiếp dẫn mẹ đệ tử vãng sinh tịnh thổ, thoát khổ được vui, đệ tử lại mời đồng môn giúp đỡ trợ niệm. Ở nhà tang lễ, có duyên có được cơ hội mời pháp sư và tổ tụng kinh của Nghiêm Sơn Lôi Tạng Tự, đồng môn suốt hai ngày đều làm hai lần tụng kinh cho tang lễ. 

Ngày thứ nhất có đồng môn cảm ứng thấy: Sư Phật ở phía trước, mẹ đệ tử theo sau Sư Phật, ngồi trên hoa sen để đi, sau đó quay đầu lại vẫy tay chào tạm biệt mọi người. 

Ngày thứ hai trong lúc tụng kinh cho tang lễ, có đồng môn cảm ứng thấy: Mẹ đệ tử biến thành Quan Thế Âm Bồ Tát mặc áo tím gia trì cho mọi người. (Khi đệ tử mua áo liệm cho mẹ đã chọn áo liệm màu tím.)

Sư huynh sư tỉ đồng môn sau khi giúp đỡ đệ tử với việc hỏa táng xong thì nhìn thấy rất nhiều hoa xá lợi, đệ tử tin rằng: bố, mẹ chắc chắn đã được Sư Phật từ bi tiếp dẫn, vãng sinh Phật quốc tịnh thổ rồi.

Đời này đệ tử được Sư Phật nhập mộng cứu độ, những di chứng của bệnh viêm màng não cũng dần dần tiêu trừ, quan trọng nhất là khiến đệ tử từ trong cuộc đời mộng huyễn đã đánh thức Phật tính, hiểu rõ nhân quả, tất cả đều chẳng thể có được, cũng chẳng mất gì. Chỉ là không trung hiện huyễn, duy có thanh tịnh tiêu trừ vô minh, chứng bồ đề vô thượng mới là chính đạo xuất ly tam giới, giải thoát luân hồi. Đệ tử nguyện vĩnh viễn theo Sư Phật tu hành, nguyện không thối chuyển, nguyện chứng bồ đề vô lượng. Cảm ơn Sư Phật! Cảm ơn bố mẹ, cảm ơn chúng sinh, cảm ơn tất cả hữu duyên! Duy có cảm ơn!

Chúc Phật an.
Đệ tử Liên Hoa Kiến Thanh đảnh lễ.
Ngày 30 tháng 8 năm 2022. 

🌟

Một bài thơ “Ngồi trên hoa sen”:

Đời người cuối cùng quy về đâu
Khi hoa rụng xuống
Người đời trước ra đi
Người đời này lại đến
Hãy nhớ đến nguồn gốc
Tôi sẽ tặng bạn một đóa sen
Tôi đi trước, bạn theo sau.

(**Hết.)**

---

---
# File: sach-tam-linh/293-ma-trong-nha-toi.md
# Title: 293. Ma trong nhà tôi
---

![image](/img/img_5768a89f00bc408fc5c21b7bc05a2477.jpg)



## Ma trong nhà tôi


🪷 Tôi và chúng sinh vô hình

Văn tập số: 293
Xuất bản: 20/03/2023
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


**Ma gối**

Buổi tối ngày 23 tháng 9 năm 2022.
Thượng sư Liên Hương chỉ vào cái gối ở trên giường nói:
”Nhìn kìa! Cái gối di động.”
Tôi nhìn chăm chú, cái gối từ từ di chuyển đến mép giường, rồi lại từ từ di chuyển sang bên kia. 
Bộ dạng này giống như lúc nhỏ chúng tôi nuôi tằm, cái thân xác màu trắng nhúc nhích, loi nhoi. 

Tôi nói:
”Hay ho!”
Thượng sư Liên Hương nói:
”Ông xem! Trên cái gối có một khuôn mặt!”
Tôi nhìn thấy một khuôn mặt đang cười mỉm, bộ dạng cực kì đắc ý và tinh nghịch. 

Tôi nói:
”Đừng nghịch nữa! Sư Mẫu (Thượng sư Liên Hương) phải đi ngủ rồi, yên tĩnh một chút đi, được không?”
Con ma gối đó từ cái gối đi ra, chui vào trong chăn bông, chăn bông biến thành hình dạng lượn sóng.
Tôi dùng tay vỗ vào cái chăn.
Con ma đó không chịu được, ngã ra khỏi giường, rồi nhanh như chớp, chạy mất!

Tôi trở về phòng mình.
Tôi nhìn thấy cái gối của mình di chuyển qua bên này rồi lại di chuyển qua bên kia, rồi lại di chuyển về chính giữa.
Cái gối thở gấp.
Tôi hỏi:
”Cái gối hay lắm sao?”
Ma đáp:
”Tôi thích cái mùi trên gối.”
Tôi hỏi:
”Vì sao?”
Ma đáp:
”Con người ngoài mùi trên quần áo là khá nặng ra thì sau đó là mùi trên gối và chăn, nhưng mùi trên gối thì nặng hơn, bởi vì quần áo thì thường xuyên giặt, gối thì hầu hết là không giặt thường xuyên, cho dù có giặt thì cũng chỉ là giặt vỏ gối, không phải sao?”
Tôi hỏi:
”Anh thích mùi trên gối của tôi à?”
Ma đáp:
”Thích!”

Tôi hỏi:
”Mùi gì?”
Ma đáp:
”Đó là mùi cực kì hiếm có, đó là mùi của từ bi và trí huệ, trên đời hiếm có, có hai mùi này, quỷ phẩm của tôi sẽ tăng lên, sau này không chuyển thế luân hồi nữa.”
Tôi nói:
”Đủ rồi! Bớt nói khoác trước mặt tôi đi, tối nay anh hãy lên thuyền pháp của tôi đi!”
Ma nói:
”Cảm ơn Lư Sư Tôn!”
(Mấy năm nay, mỗi tối tôi đều làm siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp, con ma gối này đã lên thuyền pháp, đã đến tịnh thổ rồi!)

Cuốn sách này!
Người đọc hiểu được sẽ thấy môn đạo!
Người đọc không hiểu được thì đọc cho vui.

Chúc:
Mở sách ra có được lợi ích!

(Tháng 10 năm 2022)

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn 
Sheng-yen Lu**

17102 NE 40th Ct.,
Redmond WA 98052
USA


### 01. Ma chiếm nhà


Tôi từng kể ở Đài Trung Đài Loan, tôi đã chuyển nhà bốn lần.
Lần thứ nhất, ở trong hẻm đường Tinh Võ.
Lần thứ hai, ở tiểu khu Thái Bình. (Một khu nhỏ trong đó.)
Lần thứ ba, tòa nhà trên đường Lực Hành.
Lần thứ tư, ở biệt thự Tinh Võ trong khu Thái Bình.

Sau đó,
Tôi di cư đến Seattle bang Washington nước Mỹ.
Trong bốn ngôi nhà ở Đài Trung Đài Loan, tôi ở nhà giúp người ta hỏi việc, gây chấn động tới cả chính quyền và người dân.
Ngay cả ở nước ngoài cũng nổi tiếng.
Tôi từng giúp đỡ rất nhiều bệnh nhân tâm thần.
Họ đều khỏi bệnh.
Hết sức bất khả tư nghì!

Tôi có một lá phù rất hay, lá phù này chính là phù Thượng yểm [chữ: 尚掩].


![image](/img/img_75c72d2359ee41f01929db766d8fa5cb.png)


Phù này rất có hiệu lực đối với khoa tâm thần.

Có một lần.
Một nữ bệnh nhân tâm thần được người nhà đưa tới nhà tôi. Tôi vừa nhìn thì thấy có một con ma nam ở trên người cô ấy.
Cô ấy nhìn tôi bằng con mắt phẫn nộ. (Đôi mắt tóe lửa.)
Nhe nanh múa vuốt.
Hiện tướng hung dữ.
Lao thẳng về phía tôi. 
Cô ấy vốn là một cô gái yếu ớt, thế mà đột ngột trở nên khỏe như lực sĩ.

Tôi ung dung thong thả “cởi áo nhường chỗ”, né qua một bên, hai tay kết lôi ấn. 
Cô ấy quay người lại rồi lại lao về phía tôi.
Tôi hà một hơi khí lên thủ ấn, tung thủ ấn về phía nữ bệnh nhân tâm thần.
Cô ấy rú lên một tiếng rồi ngã lăn ra đất.
Con ma nam đó ngã ra rồi liền muốn tháo chạy, tôi kết thủ ấn thiên la địa võng bao vây lấy nó. 
Tôi trực tiếp nhốt con ma nam đó trong cái bình của tôi. Còn nữ bệnh nhân tâm thần kia tỉnh lại và hỏi:
”Sao tôi lại ở đây?”
Cô ấy nhận ra bố mình, anh chị em mình, cả nhà ôm lấy nhau khóc, cô ấy đã bị bệnh thần kinh hành hạ bốn năm rồi.

Tôi cho cô ấy ba lá phù Thượng yểm. 
Cô ấy không còn phải vào bệnh viện nữa, hoàn toàn khỏi rồi.

Loại pháp thuật này của tôi được gọi là khoa Chúc do. 
Khi ấy, số lượng bệnh nhân tâm thần mà tôi đã giúp khỏi bệnh được ví như: dùng tàu hỏa để chở cũng không chở hết.
Thậm chí có bác sĩ của bệnh viện tâm thần nói với người nhà bệnh nhân rằng: “Đi tìm Lư Thắng Ngạn thử xem!”

Đây đều là những chuyện ngày xưa.
Thời gian tôi từ Mỹ trở về Đài Loan hoằng pháp, có lần tình cờ đi qua ngôi nhà trước kia. Tôi đi vào dạo một vòng, bất chợt nhìn thấy bên ngoài ngôi nhà là một vùng hoang vu, nước sơn đỏ trên cánh cổng chính đã bong tróc từng mảng, giống như một đống hoang tàn.
Tôi hỏi thăm một chút:
”Ngôi nhà này bị sao vậy?”
Người ta trả lời:
”Đây là ngôi nhà ma, không ai dám ở!”
Tôi giật nảy mình.
Đây chắc hẳn là lỗi của tôi, năm xưa tôi đã thu rất nhiều ma vào trong bình, khi tôi chuyển nhà, tôi đã không mang theo cái bình đựng ma đó.
Cũng không biết thế nào mà ma đều chạy ra ngoài, chiếm lấy ngôi nhà này, quấy nhiễu những người sau này. (Ma chiếm nhà.)
Trong lòng tôi có đôi chút áy náy.
Xin người chủ nhân của ngôi nhà đọc được bài viết này có thể liên lạc với tôi, tôi có thể giúp họ thanh trừ ma chiếm nhà.
Để cho ngôi nhà ma lại trở về bình yên. Cảm ơn!


### 02. Lư Tín Kiệt nói như vậy


Cháu trai của Thượng sư Liên Hương - sư huynh Lư Tín Kiệt, là một kĩ sư máy vi tính.
Chuyên môn của cậu ấy là lập trang web.
Trang web của Đài Loan Lôi Tạng Tự là do cậu ấy làm.
Trang web của Cầu Vồng Lôi Tạng Tự cũng là do cậu ấy làm.
Người ta nói rằng:
”Trang web do Lư Tín Kiệt làm rất chỉn chu và dễ dùng, là cực phẩm.”
Cậu ấy là chuyên viên công nghệ thông tin.
Cậu ấy nhận lời mời của Cầu Vồng Lôi Tạng Tự đến nước Mỹ để xử lý các vấn đề của trang web.
Thời gian này cậu ấy đã ở trong ngôi nhà Nam Sơn Nhã Xá.

Sau khi ở một khoảng thời gian, cậu ấy đề nghị người trông coi của Seattle Lôi Tạng Tự:
”Có thể chuyển vào trong khu kí túc của Seattle Lôi Tạng Tự không?”
Cậu ấy cũng có yêu cầu tương tự đối với Cầu Vồng Lôi Tạng Tự:
”Có thể chuyển vào trong khu kí túc của Cầu Vồng Lôi Tạng Tự không?”
Nguyên nhân gì mà muốn chuyển?
Lư Tín Kiệt nói:
”Nam Sơn Nhã Xá có rất nhiều âm thanh kì quái!”
”Tôi đi đến đâu, âm thanh liền đi theo đến đó!”
”Âm thanh trong phòng vận động là nhiều nhất!”
Tôi nghe xong thì cười vang ha ha!

Ban đầu tôi định nói với cậu ấy là:
”Nhà cháu ở chính là ngôi nhà ma đó!”
Tôi sống ở Nam Sơn Nhã Xá đã nhiều năm rồi, đó là nhà của tôi, tôi đã không còn kinh sợ khi thấy chuyện quái dị nữa rồi.
Ví dụ:
Buổi sáng thức dậy.
Đi qua phòng vận động, xung quanh phòng vận động đều là gương, tôi sẽ đi vào soi gương.
Các dụng cụ vận động bên trong đều phát ra âm thanh.
Bánh xe chuyển động.
Tạ tay va vào nhau.
Dụng cụ vặn hông xoay tròn, kêu lẹt xẹt.
……

Tôi quay đầu lại nhìn.
Mọi âm thanh dừng bặt.
Đi qua toilet ở phòng khách, cái nắp bồn cầu trong toilet tự động đậy xuống.
”Bộp” một tiếng rất to.
Đi đến tủ lạnh tìm đồ ăn.
Tủ lạnh sẽ kêu lên hai tiếng “cạch cạch” .

Còn nữa,
Nửa đêm tôi tỉnh dậy đi tiểu, họ sẽ gõ vào bức tường sau lưng tôi. 
Âm thanh “Cộc! Cộc! Cộc!”.
Âm thanh của tiếng giày cao gót.
Từ xa lại gần.
Tiếng bước chân ở chỗ nào cũng có.
Cửa tự động mở, cửa tự động đóng.
Sau lưng phát ra âm thanh rung trời, tôi quay đầu lại nhìn, căn bản là chẳng có cái gì.
Bức tường bên này: “Póc, póc, póc.”
Bức tường bên kia: “Binh, binh, binh, binh.”
Chậu trúc cảnh cũng kêu lao xao.
Những âm thanh kì quái mà Lư Tín Kiệt nghe thấy cũng chưa xem là gì!
Rèm cửa sổ của tôi từng cái đều nhảy múa, đây mới là chuyện hiếm lạ đó! Ghế sofa mà tôi ngồi sẽ thò ra một cánh tay để đẩy tôi.
Lư Tín Kiệt nghe thấy.
Lư Lệ Hương nhìn thấy. (Sư Mẫu)
Lư Thắng Ngạn sờ thấy. (tôi)
Ngôi nhà ma của tôi! 
Đủ thú vị rồi nhỉ!


### 03. Quỷ trong nhà sư tỉ Á Đễ


Có đệ tử nữ từ Malaysia đến, cô ấy là La Á Đễ. 

Cô ấy nói:
Trước đây Quỷ Bà đến Malaysia hoằng pháp, Quỷ Bà và các pháp sư khác đều ở tại nhà cô ấy.
(Quỷ Bà là Thượng sư trước đây của Chân Phật Tông, nổi tiếng nuôi quỷ, vì thế gọi là Quỷ Bà.)
Năm đại quỷ của Quỷ Bà là:
Kobayashi.
Watanabe Ichiro.
Nakamura Kazumu.
(Ba vị này là quỷ người Nhật.)
Hoàng Kim Tuyền.
Lâm Lương Tri.
(Hai vị này là quỷ người Hoa.)

Quỷ Bà đi Malaysia hoằng pháp, La Á Đễ nhiệt tình tiếp đãi, sau khi hoằng pháp xong, Quỷ Bà rời đi đã quên mang hết lũ ma quỷ về, để lại một vài con quỷ ở trong nhà của La Á Đễ. 

Thế là,
Trong nhà La Á Đễ không còn yên ổn nữa. Bản thân cô ấy khá dễ bị quấy nhiễu, cô ấy muốn bán ngôi nhà đó, nhưng bán không được, ngôi nhà rất có phong cách nhưng bán không được.
La Á Đễ nói:
”Muốn bán ngôi nhà đó, cầu Lư Sư Tôn giúp đỡ, nhưng lũ ma quỷ đó tìm mọi cách ngăn chặn, không cho tôi đến gặp Lư Sư Tôn.”
Tôi nghe xong yêu cầu của La Á Đễ thì quyết định giúp cô ấy.
Tôi triệu thỉnh quỷ.

Có một hôm, tôi đang đi dạo, bên cạnh cũng có một người nữa đang đi dạo.
Tôi đi nhanh, nó cũng đi nhanh.
Tôi đi chậm, nó cũng đi chậm. 
Tôi hỏi nó:
”Mi là ai?”
Nó đáp:
”Đại quỷ trong nhà của La Á Đễ.”
Tôi hỏi:
”Sao mi đến đây?”
Nó đáp:
”Cái này phải hỏi ông, chẳng phải ông gọi tôi đến sao?”
Tôi nói:
”Mi hãy rời khỏi nhà của La Á Đễ, được không?”
Nó nói:
”Không được. Tôi ở đó đã quen rồi!”
Tôi nói:
”Thế này đi! Mi hãy đến ở nhà ta, trả lại sự thanh tịnh cho nhà La Á Đễ, được không?”
Nó nói:
”Không được! Nhà ông có Kim Giáp Thần canh giữ, chúng tôi lười nhác quen rồi, ma ở nhà ông lương thiện, chúng tôi thì hung ác, khác nhau như trời với đất, làm sao mà hòa hợp với nhau được?”

Chà! Xem ra việc “thương lượng” không được rồi!
Tôi nghĩ ra một kế sách khác.
Tôi nói:
”Ở Nam Sơn Nhã Xá ta có siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp, hướng dẫn cho các u linh vãng sinh Phật quốc tịnh thổ, hay là các người đến tham gia?”
Nó nói:
”Phật quốc tịnh thổ có để cho chúng tôi hoành hành ngang ngược không?”
Tôi nói:
”Tây phương Cực Lạc thế giới rất khác, ở đó có cõi phàm Thánh đồng cư, là nơi vượt trội hơn hẳn, Thánh hiền và phàm phu cùng chung sống.”
Nó nói:
”Có lợi ích gì?”
Tôi nói:
”Có nước tám loại công đức có thể bơi, có hàng cây thất bảo, thất bảo đó mi tùy ý lấy, có thú cưng, có chim cộng mạng, có chim anh vũ, có chim công hát múa cho mi xem, có rượu tiên có thể uống, vân vân và vân vân.”
Nó nói:
”Hay quá! Tôi thích!” 
Tôi nghĩ:
”Lần này thì thành công rồi!”


### 04. Quỷ trong nhà sư tỉ Á Đễ (tiếp)


Trên thực tế, muốn giúp sư tỉ Á Đễ không phải là một việc rất dễ dàng.
Bởi vì con quỷ này là một kẻ nanh nọc.
Nó lại nói:
”Nghe nói Tây phương Cực Lạc thế giới không có con gái, không có con gái thì không đi, không khoái!”
Tôi sững người ra!
Nó nói:
”Tôi thích chơi bời, rượu chè cờ bạc gái gú, nếu không có cái này thì làm sao mà cực lạc được chứ?”
Tôi nói:
”Mi ở trên thân ta là được rồi, thân ta để cho mi ở đó.”
”Sống ở đâu?” - Nó hỏi.
”Sống ở trong ngón áp út tay phải của ta đây.” - Tôi đáp.
Nó vào sống trong ngón áp út tay phải của tôi.

Nó vừa vào ở thì ngón áp út tay phải của tôi liền bị đau, trở thành “tay cò súng” [ngón tay bị sưng đau cong lại, không duỗi thẳng ra được]. 
Hại tôi mỗi ngày phải tập yoga “tay cò súng”.
Lúc này nó lại cằn nhằn:
”Lư Sư Tôn! Ông không được gia trì cho đệ tử, bởi vì lực gia trì khiến toàn thân tôi đau nhức.”
”Sáng quá, ánh sáng xuyên qua ngón tay, tôi thành người trong suốt rồi.”
”Ông kết thủ ấn là thân thể tôi biến dạng méo mó.”

Có một lần.
Nó từ trong ngón áp út tay phải của tôi nhảy ra. Nó hét to:
”Khổ quá! Khổ quá! Hễ ông sờ đầu gia trì cho đệ tử là thân quỷ của tôi lại co rút lại một lần, hình thần của tôi sẽ bị diệt hết.”
Nó lại chạy đi quấy nhiễu La Á Đễ.

Nói thẳng ra, tôi đã bó tay với con quỷ nhà La Á Đễ rồi, không thể ở trong nhà tôi, không thể ở trên người tôi, không thể đi Tây phương tịnh thổ, làm sao để cho con quỷ này sống yên đây?

Tôi bảo nó đi về tìm Quỷ Bà.
Nó nói:
”Tôi cũng không trở về chỗ của Quỷ Bà được! Năm con đại quỷ quản tôi, tôi chỉ có thể giúp chúng chùi mông thôi, tôi không làm quỷ nô. Hơn nữa, ông đã phá năm đại quỷ rồi, tôi lại không quen năm đại quỷ mới, kết quả là chỉ còn sót lại một con quỷ tốt, tôi không làm đâu!”

Tôi nghĩ, 
Nhờ Kim Giáp Thần đi gặp Chuyển Luân Vương, để Chuyển Luân Vương đưa nó đi lục đạo luân hồi.
Nó nhanh chóng biết được tâm ý của tôi.
Nó quỳ xuống cầu xin tôi:
”Tôi không muốn đi chuyển luân, đó là thân bất do kỷ thôi, tôi sống ở nhà của sư tỉ La Á Đễ là thích hợp nhất.”
Thế là nó lại đi quấy nhiễu La Á Đễ. 
Tôi thỉnh Lôi Thần tiêu diệt nó.
Nó nói:
”Lư Sư Tôn! Người tu hành phải nhớ từ bi, tôi không muốn gặp Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thanh Phổ Hóa Thiên Tôn đâu.”

Đến đây thì tôi hết hy vọng.
Lúc này, Duy Ma Cật Đại Sĩ nói với tôi:
”Con quỷ này có một nơi có thể đi!”
Tôi mừng rỡ hỏi:
”Ở đâu?”
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
”Malaysia có một ngọn núi, nơi đó có sòng bạc, trên đỉnh núi đó có Ưng Vương Quỷ sống. Con quỷ vô lại này rượu chè cờ bạc gái gú, nơi đó đúng hợp với nó, đưa nó đến đó là hợp nhất.” (Vật họp theo loài.)
Tôi nói:
”A! Ưng Vương Quỷ và tôi có một chút duyên, đến sòng bạc, đây đúng là quá hay rồi!”
Thuộc hạ của Ưng Vương Quỷ có quỷ quân quỷ binh quản nó là hay nhất.
Thế là,
Tôi thỉnh Ưng Vương Quỷ đưa con quỷ vô lại đó đi đến sòng bài Genting. Như vậy việc này mới hoàn toàn kết thúc.


### 05. Tôi đã ăn một con quỷ


Buổi đêm ngày 28 tháng 9 năm 2022.
Tôi đang tĩnh tọa.
Có Kim Giáp Thần vội vàng đến báo:
”Lư Sư Tôn! Có một con quỷ khí thế hung hãn, nói là bạn đạo trong quá khứ của ngài, nằng nặc đòi xông vào đây!”
Tôi nói:
”Để tôi ra ngoài xem sao.”

Tôi đi ra ngoài cửa, vừa nhìn thì tôi nhận ra đó là một giảng viên đại học ngày xưa khi tôi mới xuất đạo, người này thích tu hành. 
Tôi hỏi:
”Ông đến rồi! Mời ngồi! Mời ngồi!”
Con quỷ này nói:
”Tôi không ngồi, tôi đến là muốn ăn thịt ông.”
Tôi hỏi:
”Vì sao?” - Tôi rất ngạc nhiên.

Quỷ đáp:
”Tôi vẫn luôn cho rằng nhân gian là huyễn, biết huyễn rời huyễn, huyễn tận mới hiển chân như. Cho nên Phật đến giết Phật, ma đến giết ma. Tôi đã ăn không ít ma huyễn, hôm nay tôi đến ăn ông.”
Tôi nói:
”Chúng ta là bạn đạo, ngay cả bạn đạo ông cũng ăn ư?”
Quỷ nói:
”Ông thành lập Chân Phật Tông, phải biết là tông tông vô tông, pháp pháp vô pháp, tôi có trách nhiệm tiêu diệt Chân Phật Tông.”
Tôi nói:
”Sai rồi! Chân Phật Tông lợi ích chúng sinh, cứu độ chúng sinh, sao có thể tiêu diệt chứ?”
Quỷ nói:
”Lợi ích chúng sinh tức là không lợi ích chúng sinh, thật sự không có chúng sinh nào được lợi ích. Cứu độ chúng sinh, thực không có chúng sinh nào được độ.”
Tôi nói:
”Là huyễn không sai, nhưng hành giả chúng ta không lìa không bỏ, theo huyễn tùy duyên, tự tại như như, đây mới là chân đế và tục đế hòa hợp với nhau, ông đã bị chấp vào pháp, thiên lệch về Không rồi.”
Quỷ nói:
”Lư Sư Tôn nhà ông mới chấp vào pháp, chấp huyễn là thật, không thể bỏ qua.”

Quỷ há mồm cắn tôi.
Tôi phải sử dụng tứ trùng kết giới:
Trên có lưới kim cang.
Dưới có mặt đất kim cang.
Xung quanh có tường kim cang.
Tường kim cang lại nổi lên ngọn lửa kim cang.
Tôi ngồi ở giữa, phóng ra vạn tia kim quang, hơn nữa tự mình biến thành chày kim cang. Con quỷ cắn một cái liền gãy mấy cái răng, tức quá kêu oai oái. 

Con quỷ bạn đạo tức lên, hóa thân thành đại lực quỷ vương, cầm cái chùy lớn muốn đập tan tứ trùng kết giới. 
Lúc này, Duy Ma Cật Đại Sĩ nói với tôi:
”Con quỷ bạn đạo này chấp vào huyễn quá sâu, đã ăn rất nhiều quỷ, tạo thành vô số nghiệp, cách duy nhất để giúp nó là ngài hãy ăn nó đi. Ăn nó rồi, tiêu trừ nghiệp chướng ăn quỷ của nó, tái luân hồi mới cứu được.”

Tôi ăn thế nào đây?
Duy Ma Cật đáp:
”Há miệng ra là được.”
Tôi há miệng ra.
Một tiếng sấm rền, vừa hút vừa nhai, “rắc” một tiếng, tôi đã nhai đầu nó thành hai nửa, lại một miếng nữa, nuốt chửng nó luôn. 
Duy Ma Cật hỏi tôi:
”Mùi vị thế nào?”
Tôi đáp:
”Lườn gà chiên giòn.”

Đây là lần đầu tiên trong đời tôi ăn quỷ, tôi cứ nghĩ là rất khó ăn, nhưng thật ra không phải, nó rất xốp rất giòn, khá ngon miệng.
Việc này giống như tôi ăn hết nghiệp của quỷ đó, tiêu hóa rồi, thanh trừ nghiệp chướng nó ăn các quỷ khác.


### 06. Tôi đã ăn một con quỷ (giải thích)


Ở đây tôi cần giải thích rõ vì sao lại ăn quỷ. 
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
Phật đến giết Phật, ma đến giết ma.
Hai câu nói này, người học Phật đều từng nghe qua.
Nhưng rất nhiều người hiểu sai rồi! Đã hiểu sai chữ “giết” này.
Bạn cho rằng dùng dao giết Phật, dùng dao giết ma ư?
Thật ra không phải vậy.
Mà là:
Phật đến, tâm hành giả bất động.
Ma đến, tâm hành giả bất động.
Tâm bất động chính là thiền định, ý nghĩa là sự kiên cố rốt ráo.
Tâm của hành giả không vì Phật đến mà vui, không vì ma đến mà sợ, hoàn toàn kiên cố.
Đây chính là Định Tự Tại Vương.
Chứ không phải là dùng dao giết Phật, dùng dao giết ma. 

Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
Phật đến giết Phật, ma đến giết ma, chữ “giết” này có ý nghĩa là thiền định.
Cũng có thể nói thế này:
Hành giả nhìn tất cả pháp, pháp là vô tự tính, sinh tử trôi qua, liên tục lặp lại.
Trong thời gian và không gian, không có một pháp nào tồn tại vĩnh hằng.
Cho nên không bị pháp trói buộc.
Cho nên hành giả ở tại bất kì pháp giới nào đều hiểu tất cả pháp giới đều là không huyễn.
Đây chính là:
Sắc tức thị không, không tức thị sắc; sắc bất dị không, không bất dị sắc.
Hành giả không chấp vào không.
Hành giả không chấp vào sắc.
Không sắc vô ngại, tùy duyên tự tại, đây chính là trí huệ.
Cũng chính là pháp tự tại.
Đây gọi là “chân tục viên dung, pháp pháp tự tại”. 

Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
Chúng sinh đều có bám chấp, giống như người bạn đạo của Lư Sư Tôn, ông ấy chính là bám chấp vào không.
Phật là không, giết Phật.
Ma là không, giết ma.
Tông là không, giết tông.
Pháp là không, giết pháp.
Cho nên người bạn đạo đó, thấy nhân ngã, hữu vô, thiện ác, đều nói giết.
Cho nên người bạn đạo đó, sau khi chuyển hóa, đi khắp nơi ăn quỷ, gặp Lư Sư Tôn cũng ăn.
Đó là vì chấp “không”.
Ông ấy cho rằng đây mới là “nhất thực tướng ấn”. 

Thật ra trí huệ chân chính là:
Biết “chân không trí”.
Biết “sai biệt trí”.
Không rơi vào “không vong”.
Không rơi vào “tục thế”. 
Giữa không và có, tùy duyên an trụ, đây mới là pháp ấn nhất thực tướng.
Lư Sư Tôn ăn sạch bạn đạo chấp không đó không hề là giết bạn đạo đó. 
Mà là:
Ngăn chặn nghiệp sát của bạn đạo đó.
Hơn nữa còn giải trừ nghiệp sát của bạn đạo đó.
Là đại từ đại bi, giống như Phật Thích Ca Mâu Ni vì cứu độ năm trăm thương nhân mà giết một tên cướp vậy.
Bởi vậy:
Thiền định có ý nghĩa là kiên cố.
Trí huệ có ý nghĩa là tự tại.
Hai điều này là nhân quả của nhau.
Duy Ma Cật Đại Sĩ đặc biệt nói với tôi, không chấp không, không chấp có, mới có thể tùy duyên tự tại. 


### 07. Không thể ra khỏi gian tủ quần áo


Buổi tối ngày 2 tháng 10 năm 2022.

Tôi (Lư Sư Tôn) muốn giúp Sư Mẫu Thượng sư Liên Hương nhỏ thuốc mắt và thu xếp cho bà ấy đi ngủ. (gia trì kết giới)
Tôi từ phòng mình đi qua hành lang, đến phòng của Sư Mẫu.
Chúng tôi thường nói:
Tôi sống ở chái nhà bên đông.
Sư Mẫu sống ở chái nhà bên tây.
Khi tôi đi đến phòng Sư Mẫu thì phát hiện ra trong phòng không có người, tôi lại đi xem phòng đọc sách, cũng không có người, phòng rửa mặt cũng không có người.
Nhưng đèn điện sáng trưng.
Ngoài ra, trong gian tủ quần áo đèn điện cũng sáng, cửa khép hờ, bên trong có tiếng bước chân. 

Tôi hỏi:
”Bà đang ở trong tủ quần áo làm gì đấy?”
Bà ấy đáp:
”Tôi không đi ra ngoài được, tôi đã đi nửa giờ rồi, đi thế nào cũng không đi ra được.”
Tôi hỏi:
”Vì sao?”
Bà ấy đáp:
”Trong tủ quần áo đông người quá, có đến mấy trăm người (ma), tôi đi tới đi lui mà không đi ra được.”
Tôi nói:
”Được! Tôi đi vào đưa bà ra!”

Tôi mở cánh cửa, đi vào trong gian tủ quần áo, chỉ có ba bước chân là đưa Sư Mẫu trở về phòng ngủ.
Sư Mẫu nói:
”Gian tủ quần áo có mấy trăm người.”
Người bình thường thấy gian tủ quần áo của bà ấy không lớn, mười người đi vào đó là chật rồi, sao có thể có mấy trăm người chứ? (Hơn nữa, lại còn chẳng có một ai.)
Khi tôi trông thấy bà ấy, bà ấy một mình ở trong gian tủ quần áo, đi lòng vòng, vòng tới vòng lui, cứ đi lòng vòng như vậy nửa tiếng đồng hồ. Bà ấy nói, không đi ra ngoài được. 
Tôi vừa đi vào, chỉ ba bước chân là đã đưa bà ấy ra ngoài rồi.
Bà ấy liên tục nói:
”Chân đi mỏi rã rồi!”
Đây có phải là một việc linh dị hết sức mơ hồ không?

Tôi nhớ đến:
Lúc cháu trai của Sư Mẫu là Lư Tín Kiệt sống tại nhà chúng tôi. (Nam Sơn Nhã Xá)
Buổi tối cậu ấy nằm mơ:
Mơ thấy mình ở trên hành lang dài, muốn đi về căn phòng của mình.
Hành lang dài đó biến thành rất dài rất dài…
Cậu ấy đi tìm phòng ngủ của mình.
Đi rất lâu, hành lang càng biến càng dài. 
Thế là dùng cách đi chậm, đi nhanh, càng đi càng dài, từ đầu đến cuối đều không đi về phòng mình được.
Cậu ấy chạy suốt cả buổi tối.
Hành lang dài đó không có điểm cuối.
Tâm hoang mang.
Ý hoảng loạn.
Căng thẳng, rối bời.
Cuối cùng đến được phòng của mình, mở cửa ra, nằm xuống giường, đang định đi ngủ.
Kết quả là tỉnh giấc mơ, trời cũng sáng rồi, suốt cả đêm cậu ấy đều chạy trên hành lang dài để tìm phòng mình.
Mệt lả cả người! Đúng là giấc mơ kì quái!

Tôi nói với mọi người:
Nam Sơn Nhã Xá đúng là quái dị như vậy!
Sư Mẫu Thượng sư Liên Hương ở trong gian tủ quần áo nhỏ xíu mà không đi ra được!
Lư Tín Kiệt trong mơ đi trên hành lang dài, đi suốt cả buổi tối.
Tôi ở trong phòng ngủ của mình (chái nhà phía đông) làm siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp, nghìn chiếc thuyền pháp đều ở trong phòng ngủ của tôi, cũng không thấy là không dung nạp được. 
(Đây là hạt cải chứa được cả núi Tu Di.)


### 08. Hạt cải chứa cả núi Tu Di


Trong kinh Duy Ma Cật, chúng tôi đọc đến Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát phụng ý chỉ của Phật, đi hỏi thăm bệnh tình của Duy Ma Cật Đại Sĩ.
Tất cả những người nghe thấy đều nghĩ đến:
”Văn Thù Bồ Tát là hóa thân của Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật, Duy Ma Cật Đại Sĩ là hóa thân của Kim Túc Như Lai. Một vị là trí huệ đệ nhất, bất khả tư nghì. Một vị là biện tài vô ngại, bất khả tư nghì. Hai người ở cùng nhau, nhất định sẽ tóe lửa.”
Thế là:
Tám nghìn Bồ Tát.
Năm trăm đại A La Hán.
Các đại đệ tử của Phật.
Đao Lợi Thiên.
Đại Phạm Thiên.
Tứ Thiên Vương Thiên.
Trăm nghìn thiên nhân, vân vân và vân vân.
Thế là cả một đoàn thăm hỏi long trọng, do Văn Thù Bồ Tát làm chủ, dẫn dắt một đám đại chúng hùng hậu đi thăm Duy Ma Cật Đại Sĩ.

Tôi (Lư Sư Tôn) tại đây nói cho mọi người biết rằng:
Căn nhà nhỏ của Duy Ma Cật Đại Sĩ rộng bao nhiêu, chỉ mỗi tám nghìn Bồ Tát, năm trăm đại A La Hán đã chẳng thể chứa nổi rồi.
Huống hồ có trăm nghìn thiên nhân.
Với người bình thường mà nói thì chắc chắn là không thể chứa được.
Nhưng mà, căn nhà nhỏ của Duy Ma Cật Đại Sĩ lại chứa được nhiều người như vậy. Chẳng phải là quái lạ sao?
Đây chính là “hạt cải chứa cả núi Tu Di”. 

Hơn nữa,
Duy Ma Cật Đại Sĩ dùng sức mạnh thần thông từ chỗ của Tu Di Sơn Vương Phật chuyển vô lượng pháp tọa vào trong nhà mình.
Phải biết rằng, chỗ của Tu Di Sơn Vương Phật có tất cả pháp tọa của Như Lai.
Những pháp tọa này đương nhiên là vô cùng lớn.
Căn nhà nhỏ xíu của Duy Ma Cật Đại Sĩ làm sao bày được hết những pháp tọa lớn này chứ?
Hơn nữa còn bảo các đại Bồ Tát, các đại Thanh Văn, lần lượt lên pháp tọa mà ngồi.
Có những Bồ Tát dễ dàng lên được pháp tọa.
Còn những Thanh Văn công lực tương đối nông, và các đệ tử sơ cơ của Phật thì đều không cách nào lên được pháp tọa.
Pháp tọa cao rộng, không dễ mà lên được.
Thế là, Duy Ma Cật Đại Sĩ dạy những người không lên được pháp tọa phải đảnh lễ Tu Di Sơn Vương Phật. 
Đảnh lễ xong, cũng có thể lên được pháp tọa.
Đây đều là những chuyện vô cùng kỳ lạ hiếm thấy!

Còn nữa:
Duy Ma Cật Đại Sĩ còn có thể gọi những pháp giới khác, toàn bộ đều chuyển vào trong căn nhà của mình.
Pháp giới không biến nhỏ đi.
Căn nhà không biến to ra.
Nhưng lại có thể dung nạp được, đây chính là chỗ ảo diệu của Phật pháp.
Tôi (Lư Sư tôn) nghĩ đến chính mình.
Phòng ngủ của tôi cũng không phải là đặc biệt lớn.
Mà cũng chứa được mấy vạn vạn chúng sinh u minh.
Trời ơi! Một nghìn chiếc thuyền.
Trên thuyền chở đầy người, mấy vạn vạn người.
Đều ở trong căn phòng của tôi.
Đây cũng là kỳ tích đó!

Tôi viết một bài thơ:

*Nhà nhỏ to nhường ấy
Pháp giới sao thu về?
Một đóa hoa sen nhỏ
Nghìn Phật chở được thôi.
Một hoa một thế giới
Một lá một Như Lai.*
(Đây là sự hòa tan vào nhau.)


### 09. Ma gõ cửa sổ


Đêm khuya, ngày 5 tháng 10 năm 2022.

Tôi ngồi tại pháp tọa, làm siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp, xung quanh vô cùng yên tĩnh, ngay cả một cây kim rơi xuống đất tôi cũng có thể biết được.
Tôi làm nghi quỹ được một nửa.
Pháp tọa của tôi cách cửa sổ kính rất gần. (cửa sổ sát sàn)
Buổi tối, tôi đã buông rèm xuống.
Đột nhiên.
”Cộc! Cộc! Cộc!”
Cửa sổ kính kêu lên.
Tôi không sợ ma, nhưng canh ba nửa đêm, bốn bề tĩnh lặng, ai lại đến gõ cửa sổ kính của tôi chứ?
Sau đó.
”Cộc! Cộc! Cộc! Cộc! Cộc! Cộc! Cộc!”
Tiếng gõ cửa dồn dập.
Tôi nghĩ là con chim mù, không trở về tổ, trời tối quá rồi nên đâm vào cửa sổ của tôi.
Nhưng âm thanh sau đó rất lạ!
Con chim mù gõ vào cửa sổ thì cũng chỉ mấy cái rồi sẽ bay đi!
Làm sao mà lại dồn dập như vậy, rồi lại còn gõ lâu như thế?
Nếu là người?
Vậy đương nhiên càng không phải.
Bởi vì phòng của tôi ở trên tầng hai, mở cửa đi ra ngoài sân thượng, sân thượng cách mặt đất cả một tầng lầu.
Không có người nào cao như vậy?
Là những cành khô của cây tùng rơi xuống mặt đất, gõ vào cửa sổ kính? Đương nhiên cũng không phải.

Tôi kéo rèm cửa sổ ra.
”Soạt” một tiếng!
Bên ngoài quả nhiên là ma đông nghìn nghịt.
Tôi hỏi:
”Từ đâu đến?”
Ma dẫn đầu đáp:
”Từ Malang Indonesia đến.”
Tôi hỏi:
”Bay qua biển đến sao?”
Ma đáp:
”Đúng vậy.”
Tôi hỏi:
”Có mấy người?”
Ma đáp:
”127 người.”
Tôi hỏi:
”Ai bảo cho các người ở chỗ tôi đây có siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp?”
Ma đáp:
”Quan Thế Âm Bồ Tát ở Malang Lôi Tạng Tự ở Indonesia.”

Tôi nghe thấy là Quan Thế Âm Bồ Tát giới thiệu đến thì không dám thờ ơ, mở cửa sổ ra để cho họ đi vào.
Tôi đếm nghìn chiếc thuyền pháp, mỗi chiếc thuyền đều đã đầy kín rồi, chỉ còn lại một chiếc thuyền còn chỗ trống, vừa hay đúng là 127 chỗ.
Kì quái!
Đúng là số trời!
Tôi vì 127 hồn ma này mà lại gấp rút đưa toàn bộ họ đến Phật quốc ở Tây phương Cực Lạc thế giới.

Có một hôm, tôi hỏi Hanifa:
”Cô có biết ở Malang Indonesia xảy ra chuyện gì không?”
Hanifa đáp:
”Con xem điện thoại thấy ở Malang Indonsia có thi đấu bóng đá, đội Malang Indonesia suốt hơn 20 năm qua chưa từng thua trận nào. Lần này bị thua, kết quả là dẫn đến bạo động, cảnh sát dùng đạn hơi cay, đám người rối loạn, tháo chạy lung tung, kết quả là dẫm đạp chết 127 người. (Hanifa là người Malang Indonesia.)
A! Là ma chết oan.
127 người, đúng là 127 người.
Trời ạ!
”Sao có thể chuẩn như vậy?”


### 10. Tủ lạnh có ma


Phòng bếp ở nhà tôi có một cái tủ lạnh, ở ngăn trữ đồ có hai ngăn đông lạnh lớn.
Mỗi lần khi tôi đi về phía tủ lạnh, tôi sẽ kêu lên trước:
”Chào các cô!”
Hoặc:
”Hây!” một tiếng.
Đây là để chào hỏi những con ma sống trong tủ lạnh một tiếng. 
Họ là:
Phù Dung.
Thiến Thiến.
Thụy Quang.
Tân Tân.
Tôi từng kể với đồng môn rằng họ là bốn vợ ma của tôi (Lư Sư Tôn). 
Ha ha!
Lấy mấy cô vợ ma thì đều không phạm tội đa thê, chủ yếu là vì căn bản họ là vô hình.
Cũng không bị pháp luật nhân gian quản thúc.
Trong số này, Thiến Thiến là dễ thương nhất, Phù Dung xinh đẹp đoan trang, Thụy Quang thì có những đường cong đẹp lung linh, Tân Tân thì xinh xắn phóng khoáng.

Tôi từng hỏi:
”Vì sao muốn sống ở trong tủ lạnh?”
Họ trả lời:
”Nhiệt độ vừa tầm.”
Bốn cô này khi còn sống không phải là chị em, chỉ là bốn người tâm đầu ý hợp giống như chị em vậy.

Lần này, tôi muốn kể về cháu trai Lư Tín Kiệt của Sư Mẫu làm khách ở nhà tôi.
Có một hôm.
Lư Tín Kiệt trở về nhà trước.
Cậu ấy phát hiện ra cửa tủ lạnh đang mở, cũng không biết là ai đã mở. 
Cậu ấy kiểm tra nhiệt độ tủ lạnh, thảm rồi, nóng hừng hực.
Đã trở thành lò nướng rồi.
Cậu ấy khởi động tủ lạnh. 
Động cơ hỏng rồi! Không thể khởi động khí lạnh.
Cậu ấy bỏ hết đồ trong tủ lạnh ra ngoài, bởi vì những đồ đông lạnh nếu rã đông thì chắc chắn sẽ hỏng.
Cậu ấy không biết phải làm sao mới được.
Cậu ấy gọi điện cho Phật Kỳ, nói:
”Tủ lạnh hỏng rồi, phải gọi thợ đến sửa.” (Phật Kỳ là con trai tôi.)
Cậu ấy gọi điện cho Phật Thanh, nói:
”Tủ lạnh hỏng rồi, phải mua một cái tủ lạnh mới.” (Phật Thanh là con gái tôi.)

Một lát sau.
Sư Mẫu Thượng sư Liên Hương trở về nhà.
Lư Tín Kiệt nói với Sư Mẫu:
”Cửa tủ lạnh bị mở, động cơ hỏng rồi, thức ăn phần lớn cũng hỏng rồi, không có khí lạnh đóng băng, nhiệt độ bên trong tủ lạnh rất cao, phải nghĩ cách thôi.”
”Ai mở cửa tủ lạnh vậy?”
Lư Tín Kiệt đáp:
”Không biết!”
Tôi nói:
”Không phải tôi mở đâu.”
Sư Mẫu Thượng sư Liên Hương không mở.
Đó là ma mở sao?

Sư Mẫu đi đến trước tủ lạnh, Sư Mẫu nhận ra:
Tủ lạnh vẫn tốt.
Không khí bên trong lạnh như băng.
Động cơ đang chạy.
Sư Mẫu vội vàng chuyển những thức ăn ở bên ngoài vào trong ngăn đông lạnh. Tủ lạnh mọi thứ đều bình thường. Còn chuyện tủ lạnh hỏng, động cơ hỏng, căn bản không hề hỏng! (Tất cả đều là do ma trêu đùa.)

Lư Tín Kiệt lẩm bẩm một mình:
”Rõ ràng là hỏng rồi, sao lại biến thành hoàn toàn bình thường chứ, quái dị!”


### 11. Ma nữ trong khung ảnh


Trên bức tường bên trái giường ngủ của Sư Mẫu Thượng sư Liên Hương có treo một bức ảnh lớn của bà ấy khi ngoài 40 tuổi, đóng khung gỗ, đóng đinh treo trên bức tường trắng.
Để tóc ngắn.
Mặt nghiêng.
Đôi mắt sáng ngời.
Mặt tròn như trứng ngỗng.
Trên tay cầm một bó hoa tươi.

Có một buổi tối, bà ấy nói với tôi:
”Người trong bức ảnh này không phải là tôi.”
Tôi hỏi:
”Bức ảnh này là chụp bà, không phải bà thì là ai?”
Bà ấy đáp:
”Nó đã thay đổi rồi!”
Tôi hỏi:
”Thay đổi cái gì?”
Bà ấy đáp:
”Nó biến thành người phụ nữ khác.”
Tôi hỏi:
”Người phụ nữ trông thế nào?”

Bà ấy mô tả:
”Là một cô gái tóc vàng, rất trẻ trung xinh đẹp, mũi cao, ngũ quan rõ ràng, mắt màu xanh lam, môi hơi nhô ra, mỉm cười nhìn quanh, cực kì xinh đẹp.”
Tôi nói:
”Là a đâu tử.” (quỷ muội tử) [A đâu tử hoặc quỷ muội tử là từ ngữ ở Đài Loan, chỉ những cô gái da trắng tóc vàng mũi cao mắt xanh.]
Bà ấy nói:
”Đúng rồi. Cái cô quỷ muội này có thể từ trong khung ảnh nhảy ra, sau đó nhảy một điệu múa rất đẹp mắt, nhảy xong lại đi vào trong khung ảnh.”

Tôi nghe xong cũng khá kinh ngạc.
Tôi đặc biệt đi đến bên dưới khung ảnh, nhìn chăm chú người phụ nữ ở trong khung ảnh, rõ ràng vẫn là Sư Mẫu.
Thế rồi, tôi hà một hơi khí vào khung ảnh. 
Tôi dùng linh nhãn của tôi nhìn người phụ nữ trong khung ảnh, quả nhiên dần dần biến hóa, biến thành bộ dạng như Sư Mẫu đã mô tả.
Tôi biết cô ấy là một ma nữ.
Cô ấy cũng biết là tôi đã biết cô ấy rồi. (Cô ấy nhập vào trong khung ảnh.)
Cô ấy định nhảy ra khỏi khung ảnh.
Tôi ngăn lại cử động của cô ấy, nhẹ nhàng nói với cô: 
”Chờ một chút.”
Ma nữ gật đầu.

Tôi trở về phòng ngủ của mình, ma nữ xuất hiện chân hình, quả nhiên là một quỷ muội tử trẻ trung xinh đẹp. (Quỷ muội tử là mô tả những cô gái Tây trẻ trung.)
Tôi hỏi:
”Sao cô đến đây?”
Cô ấy đáp:
”Tôi từ New York Kim Cang Lôi Tạng Tự, theo Thượng sư Liên Giả đến đây, nghe ngài thuyết pháp, đã nhiều năm đi theo ngài.” 
Cô ấy nói: 
”Ngài thuyết pháp, tôi thích.”
Tôi rất nghiêm túc nói:
”Cô phải hiểu được Chân Phật Mật Pháp, sau này tôi có thể độ cô đi tịnh thổ.”
Cô ấy đáp:
”Tôi rất nghiêm túc tu pháp, cho nên Diệu Sắc Thân Như Lai gia trì cho tôi vĩnh viễn trẻ trung xinh đẹp. Tôi có tư cách đi tịnh thổ.”
Tôi hỏi:
”Vì sao không đi?”
Cô ấy đáp:
”Tôi muốn học theo bốn chị em, ở lại đây với ngài!”
Tôi ngẩn người ra, bộ mặt ngây ngô. Cả người đều đờ ra.
Cô ấy bay lướt đi!
Tôi rơi vào trầm tư. Ngoài bốn người vợ ma ra, tôi còn muốn nạp thêm người vợ ma thứ năm không?


### 12. Ma sợ nước


Ngày 8 tháng 10 năm 2022.
Tôi phát hiện ra có một bầy ma, chúng vốn dĩ muốn lên thuyền pháp, nhưng lại cứ chưa lên thuyền.
Tôi rất kinh ngạc.
Tôi hỏi:
”Vì sao lại chần chừ không lên thuyền pháp?”
Một đứa trẻ mặc đồng phục học sinh trong số đó nói:
”Chúng cháu sợ nước.”
Tôi “a” lên một tiếng.
”Thì ra là ma sợ nước.”
Tôi hỏi:
”Vì sao sợ nước?”
Đứa trẻ đáp:
”Cháu đến từ đảo Jeju Hàn Quốc, bởi vì lật thuyền nên chết trong nước, chúng cháu sợ thuyền và cũng sợ nước, cho nên cứ lần lữa không dám lên thuyền.”
Tôi nói:
”Thuyền pháp của tôi không lật đâu, thuyền pháp của tôi là từ nước mà bay lên cõi trời bên ngoài cõi trời, nơi đó cũng không có nước, sợ cái gì?”
Chúng nói:
”Kể cả là như vậy thì chúng cháu vẫn sợ! Sợ là sợ thôi!”
Tôi nói:
”Các cháu đều biến thành ma rồi, còn sợ ư?”
Chúng nói:
”Không thoát nỗi sợ!”

Tôi đã nghĩ rất nhiều cách để chở đám người này đến Phật quốc tịnh thổ. Ví dụ:
Máy bay.
Xe hơi.
Tàu hỏa.
Xe ngựa.
Vân vân và vân vân……..
Thậm chí là cho mỗi người một bông hoa sen, cưỡi hoa sen vãng sinh, chẳng phải là càng tốt hơn sao?
Nhưng,
Chúng nói:
”Hoa sen mọc từ nước, hoặc nổi trên mặt nước, chúng cháu cũng sợ!”
Đây là một khi đã bị rắn cắn rồi thì nhìn thấy sợi cỏ cũng sợ.
Đúng vào lúc hết cách.
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
”Xóa bỏ hết toàn bộ đoạn ký ức về vụ lật thuyền chìm nước của chúng, khiến chúng quên sạch, tự nhiên sẽ có thể lên thuyền.”
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
”Đi thỉnh Tư Duy Bồ Tát tẩy sạch hoàn toàn đoạn ký ức này.”
Thế là tôi mời Tư Duy Bồ Tát đến, tẩy sạch hoàn toàn đoạn ký ức về lật thuyền chìm nước, trở thành “ma mất trí”. Lúc này, bầy ma này vui mừng hớn hở lên thuyền pháp.
Việc lớn đã thành.

Tôi nghĩ đến chính mình.
Nỗi sợ của chính tôi là:
Tôi sợ những vật sắc nhọn, ví dụ:
Trước đây tôi sợ dao cạo ở tiệm cắt tóc, lưỡi dao rất sắc.
Lưỡi đao của đao võ sĩ Nhật Bản.
Dao bổ dưa hấu.
Thậm chí là dao lam, dao thủ công.
Dao phay.
……

Tôi nghĩ đến những thứ này thì thấy gai hết người. (Nghĩ đến cái đau khi bị cứa vào.)
Mũi kiếm, mũi khoan, dao dọc giấy, v.v… 
Tôi hỏi Duy Ma Cật Đại Sĩ:
”Vì sao tôi lại sợ những thứ này?”
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
”Đây cũng là ký ức của kiếp trước. Chỉ cần tẩy sạch ký ức thì cũng sẽ không sợ nữa!”
Thì ra “quên hết” cũng là một trong các pháp tu hành. (quên luôn phiền não)


### 13. Ma chuột


Tôi từng viết ở nước Mỹ, tôi đã chuyển nhà năm lần:
1. Quận Ballard (Linh Tiên Các).
2. Redmond (Chân Phật Mật Uyển).
3. Bellevue (hồ U Linh). [Phantom lake]
4. Redmond (Gunshy Ridge).
5. Bellevue (Nam Sơn Nhã Xá). 

Tôi viết cuốn sách “Ma trong nhà tôi”, nhà này là chỉ ngôi nhà cuối cùng, có nghĩa là Nam Sơn Nhã Xá. Ngôi nhà này ở quận Bellevue, là một tiểu khu ở Bridle Trails. 

Tôi nhớ ngôi nhà thứ tư vì ở trên khu núi cao cho nên có rất nhiều chuột.
Ở Gunshy Ridge.
Nhà nhà đều có chuột, tôi nghĩ tôi đang sống ở hang chuột rồi.
Tôi lấy vài ví dụ về lũ chuột ngang ngược:
1. Tôi ở tại đàn thành trì chú, chuột nghênh ngang khệnh khạng từ trên bàn cúng chạy qua, nó đang đi tìm đồ ăn.
2. Tôi ở tại đàn thành lễ bái, cả đàn cả lũ chuột chạy tới chạy lui xung quanh tôi, chúng đang chơi đùa, chơi trò “nổi gió lên”. 
3. Chuột làm tổ trong đường ống dẫn khí nóng, đường ống dưới tầng hầm, gặm nhấm đường dẫn khí nóng.
4. Chuột gặm một lỗ trên đệm ghế sofa trong phòng khách, xây nhà trong lỗ và sinh ra rất nhiều chuột con.
5. ……

Chúng tôi vì nạn chuột mà mời đến một chuyên gia, ông ấy chuyên môn đuổi chuột.
Tôi hỏi:
”Đuổi thế nào?”
Ông ấy đáp:
”Chặn đường.”
(Dùng giấy bắt chuột, bên trên có bôi keo dính, chuột chạy qua là bị dính lại, không đi được.)
Tôi hỏi:
”Rồi làm sao bắt?” (Chỉ lũ chuột không bị dính bẫy.)
Ông ấy đáp:
”Dùng bả.”
(Chuột ăn vào, chất độc lan ra toàn thân mà chết.)
Tôi hỏi:
”Nhà chúng tôi có bao nhiêu chuột?”
Ông ấy đáp:
”Nhà của ông còn được xem là ít, ngôi nhà ở trên đỉnh núi kia, tổng cộng tôi bắt được hơn hai trăm con.”
Hầy! Chuột đúng là điên cuồng.

Vì ở trong ngôi nhà thứ tư này đã phải giết nhiều chuột quá, trong lòng tôi có đôi chút không nỡ, vì thế tôi muốn siêu độ cho bọn chúng.
Tôi sắp đặt một đàn thành.
Lần lượt triệu đến các linh hồn chuột mà trước kia tôi đã giết. 
Cúng dường chúng.
Gia trì cho những con chuột này, để chúng chuyển thế đến nơi tốt đẹp hơn.
Tôi niệm chú.
Thỉnh Chuyển Luân Vương đến, để ma chuột chuyển thế đến cảnh giới tốt đẹp hơn.
Đêm đó làm xong nghi quỹ, tôi nhìn thấy một con ma chuột lớn không muốn đi chuyển thế. 
Nó chuồn đi!
Buổi sáng ngày hôm sau.
Sư Mẫu Thượng sư Liên Hương đến đàn thành nhỏ của tôi, bà ấy kêu lên thất kinh:
”Có một con chuột to đang chạy tới chạy lui trên bàn, mau nghĩ cách bắt nó đi!”
Tôi nghe xong, trong lòng nghĩ thầm: 
”Bà ấy nhìn thấy, quả nhiên không phải giả.”
Bởi vì tối hôm qua tôi siêu độ hồn chuột, có một con chạy mất.
Lại tương ứng rồi! (Một kiểu tương ứng khác.)


### 14. Ma mãng xà


Đêm ngày 11 tháng 10 năm 2022. 
Sư Mẫu Thượng sư Liên Hương vào lúc 4 giờ sáng thức dậy đi vệ sinh, đi vệ sinh xong thì lại trở về giường ngủ.
Bà ấy bị dọa tới mức nhảy dựng lên!
Bởi vì bà ấy nhìn thấy cái chăn của mình đã không còn là chăn của mình, mà là một con đại mãng xà vừa thô vừa béo.
Đang ngọ nguậy.
Một phen hù dọa khủng khiếp, đầu tiên bà ấy nhắm mắt, rồi lại mở mắt, vẫn là con đại mãng xà, lại nhắm mắt, lại mở mắt, vẫn là con đại mãng xà. Bà ấy xác nhận là mình không bị hoa mắt.
Con ma mãng xà đó vẫn cứ chậm rãi nhúc nhích, cực kì đáng sợ. Sư Mẫu đương nhiên không dám trở về giường ngủ, bởi vì bà ấy không thể coi con mãng xà là cái chăn được.
Bà ấy chỉ còn cách tìm một cái ghế sofa rộng, đến gian tủ quần áo tìm một cái chăn mới.
Rồi cứ như vậy, bà ấy lại nằm ngủ. Đến khi trời sáng thì vội vàng chạy đến phòng tôi, kể cho tôi nghe chuyện này. 
Đương nhiên là tôi rất kinh ngạc!
Ma đại mãng xà sao lại đi vào trong nhà chúng tôi chứ?
Hơn nữa cái chăn của Sư Mẫu lại bị biến thành đại mãng xà, quá kinh khủng! Quá khủng khiếp!

Tôi triệu thỉnh Kim Giáp Thần, chất vấn:
”Vì sao lại để cho ma đại mãng xà vào trong nhà tôi?”
Kim Giáp Thần đáp:
”Nó không phải là ma đại mãng xà, mà là thần đại mãng xà.”
Tôi hỏi:
”Mãng xà cũng là thần ư?”
Kim Giáp Thần đáp:
”Thần đại mãng xà này tên tiếng Phạn là Mahoraga, cũng gọi là Địa Long, là một trong các thiên long bát bộ.”
Tôi hỏi:
”Nó có công đức gì? Ngồi trên thuyền pháp đến Tây phương tịnh thổ được không?”
Kim Giáp Thần đáp:
”Nó có thể nhất tâm bất loạn trì danh niệm Phật, hơn nữa nó còn giữ trai giới, chỉ ăn thực vật.”
Tôi hỏi:
”Vì sao nó lại nhập vào cái chăn của Thượng sư Liên Hương?”
Kim Giáp Thần đáp:
”Nó cần nhập vào vật mới có thể sinh tồn.”
Tôi hỏi:
”Vì sao là cái chăn?”
Kim Giáp Thần đáp:
”Nó vốn định nhập vào cái cột trụ trong nhà, nhưng cột trụ đó có thần, các cột trụ tròn của Nam Sơn Nhã Xá đều là Hộ pháp thần tướng. Chỉ có cái chăn của Sư Mẫu cuộn tròn lại, có thể nhập vào. Vì thế nó đã dọa Sư Mẫu sợ, thật sự xin lỗi.”

Tôi hỏi:
”Với hình tượng này của nó mà lên thuyền pháp, chúng sinh trên nghìn chiếc thuyền pháp chẳng phải cũng sợ chết khiếp sao?”
Kim Giáp Thần đáp:
”Chúng ta thương lượng mời Diệu Sắc Thân Như Lai đến sờ đầu gia trì cho thần đại mãng xà này.”
Sau đó, 
Diệu Sắc Thân Như Lai đến, đã sờ đầu gia trì cho thần đại mãng xà, thần đại mãng xà hóa thành một vị:
Đầu thắt hai búi tóc.
Tướng mạo anh tuấn.
Là đứa bé trai bảy tuổi.
Bộ dạng rất đáng yêu, ai nhìn cũng không ngờ đứa bé xinh trai này lại là đại mãng xà hóa ra.
Mãng xà xưng thần.
Bé trai bảy tuổi.
Phật pháp quả là vô biên!


### 15. Ma thanh nhạc


Trong quá trình tôi tu hành đã từng nghe thiên nhạc của cõi trời, hay vô cùng, khiến người ta mê mẩn.
Trong thiên nhạc, tôi nghe được âm thanh của nhạc cụ kèn suona, tôi đặc biệt ưa thích.
Tôi biết, Thiên Đế (Đế Thích Thiên) có một vị thần âm nhạc, tên tiếng Phạn là Càn Thát Bà, ngài là nhạc sư của Thiên Đế, cũng là một trong các thiên long bát bộ.

Tại cảnh giới của Như Lai có tám loại âm nhạc, phân biệt ra là:
1. Thắng diệu âm.
2. Nhu nhuyễn âm.
3. Hòa nhã âm.
4. Tôn huệ âm.
5. Bất thư âm.
6. Bất ngộ âm.
7. Thâm viễn âm.
8. Bất kiệt âm.

Ở Tây phương Cực Lạc thế giới, A Di Đà Như Lai đã hóa hiện ra chim cộng mạng, chim anh vũ, chim công, chim ca lăng tần già… Có thể hót lên âm thanh hòa nhã, khiến chúng sinh ở Tây phương Cực Lạc thế giới nghe được thì:
Chủ động niệm Phật.
Chủ động niệm pháp.
Chủ động niệm tăng.
Chủ động tu trì ba mươi bảy đạo phẩm.
Ngoài ra, bảy lớp lan can che chắn, bảy lớp lưới võng, bảy hàng cây. 
Gió nhẹ thổi qua.
Cũng phát ra âm thanh hòa nhã.

Ở Singapore tôi có một đệ tử tên là Vu Khải Lị, cô ấy đã từng nghe được âm thanh hòa nhã.
Cô ấy nói, mỹ miều, thù thắng, tao nhã… Chỉ cần nghe thấy là tâm linh sẽ vô cùng thanh tịnh.
Có cái kiểu không thể hình dung được, thắng cảnh quang minh ấy không nói ra được thành lời, sinh ra cảm giác hòa tan vào hư không.

Có một buổi tối, tôi nghe thấy một thứ âm nhạc, khi nghe được âm nhạc này khiến toàn thân con người dễ chịu, tê dại mê mẩn, không cách nào mô tả.
Tôi hỏi:
”Là ai đang hát vậy?”
Kim Giáp Thần đáp:
”Ma thanh nhạc.”
Ha!
Tôi nghĩ đến các nghệ sĩ thanh nhạc, hàng ngày vào buổi sáng phải luyện hát “ah… ah… ah…”
Không ngờ lời hát vang lên lại cảm động lòng người đến vậy, khiến lòng người ngây ngất, cảm động không thể mô tả được. 

Tôi đang đi trên hành lang, sau lưng đột nhiên vang lên một tiếng vọng lớn “tùng”. 
Kim Giáp Thần nói:
”Ma thanh nhạc đang chơi dương cầm.”
Thì ra là âm đầu tiên.

Thượng sư Liên Hương thường nghe thấy âm thanh tụng kinh.
Sư Mẫu cho rằng hành trình của bà ấy ở nhân gian đã hết nên mới nghe được âm thanh tụng kinh.
Hóa ra không phải là như vậy, khi tôi siêu độ, đã có một bầy ma chuyên môn tụng kinh kéo đến.
Ma thanh nhạc, khiến tôi có cảm giác mới mẻ.
Ma tụng kinh, khiến Sư Mẫu cùng tụng kinh theo.
Ma chơi đàn, ngày ngày đánh dương cầm.
Giả sử những con ma này đều tập hợp lại, nhà tôi có thể cử hành đại hội âm nhạc rồi.

Tôi viết một bài thơ:
*Không ngăn được diệu âm
Ngân nga như nước chảy
Đêm trăng ở Nam Sơn
Gió thu thổi ngọn tùng.*

(Tôi thích nghe âm thanh hòa nhã.)


### 16. Ma trẻ con


Đêm ngày 13 tháng 10 năm 2022. 

Tôi từ hành lang của Nam Sơn Nhã Xá đi về phòng ngủ của mình, đi qua phòng chiếu phim, từ phòng chiếu phim xông ra một đứa bé.
Nó dừng lại trước mặt tôi, chắp tay.
Tôi không thể không dừng bước.
Đứa bé nói:
”Lư Sư Tôn! Ông chơi trò bịt mắt bắt dê với cháu đi!”
Tôi nói:
”Lâu lắm rồi ông không chơi trò bịt mắt bắt dê rồi.”
Đứa bé nói:
”Ông chơi trò bịt mắt bắt dê với ai?”
Tôi trả lời:
”Với Lư Hoằng, Lư Quân đó! Trước kia ông từng làm con ngựa để cho hai cháu cưỡi.”
Đứa bé nói:
”Ông là ông nội tốt! Bây giờ sao lại không chơi nữa?”
Tôi nói:
”Bọn chúng đều học đại học rồi, còn chơi trò bịt mắt bắt dê sao? Còn chơi trò cưỡi ngựa sao?”

Đứa bé nhìn tôi nói:
”Cháu biết biến hóa, bây giờ ông nhìn cháu, cháu biến thành Lư Hoằng, Lư Quân.”
Đứa bé nói biến là biến, trong sát-na, biến thành Lư Hoằng lúc nhỏ, trong sát-na lại biến thành Lư Quân lúc nhỏ.
Đứa bé nói:
”Cháu còn có thể biến thành hai người, một người biến thành hai người.”
Chỉ trong chớp mắt.
Lư Hoằng, Lư Quân đã đứng trước mặt tôi.
Tôi khá kinh ngạc!
Đứa bé trước mắt tôi giỏi biến hóa, nó từ đâu đến đây?
Việc này một con ma bình thường không thể làm được.
Đứa bé dường như biết được tâm ý của tôi.

Đứa bé nói:
”Lư Sư Tôn, đừng nghĩ quá nhiều, cháu là đứa trẻ chết yểu, được chôn ở khu mộ trên núi, nhưng nơi cháu được chôn lại đúng chỗ có địa lý lớn, vì có được địa khí nên giỏi biến hóa.”
A!
Tôi nói:
”Cháu có được địa linh?”
Đứa bé nói:
”Đúng vậy. Cháu cũng có thể biến thành Lư Âm.” (Lư Âm mới hai tháng tuổi, là cháu ngoại của tôi.)
Nó nói biến là biến.
Bé Lư Âm nằm trong cái giỏ nhỏ, mở đôi mắt bé xíu nhìn bên này, nhìn bên kia. Bộ dạng rất đáng yêu.
Tôi ôm bé Lư Âm lên, nói: 
”Ông ngoại rất nhớ con.”
Nó lại biến trở về thành đứa bé ban đầu.

Tôi nói với đứa bé:
”Cháu có thể lưu lại thế giới Ta Bà, dùng thần lực của cháu để giúp đỡ chúng sinh, tương lai tích lũy ba nghìn đại công, có thể xưng thần xưng tiên.”
Nó nói:
”Cháu không muốn, làm thần vẫn phải luân hồi, làm tiên cao nhất thì cũng vẫn là tiên ma. Cháu vẫn nên lên thuyền pháp của ông để đến Tây phương tịnh thổ, sau này thành tựu lại thừa nguyện mà đến, như vậy thì ổn thỏa hơn.”
Tôi nói:
”Cháu có năng lực tư duy rất tốt, ông chúc phúc cháu thành công.”
Tôi dắt tay đứa bé.
Đi về phòng ngủ của tôi.
Nó nói:
”Cháu cũng có thể biến thành ông, thành hai Lư Sư Tôn, có thể biến thành ông lúc 30 tuổi.”
Nó biến cho tôi xem. Tôi nhìn nó không ngớt ngợi khen.
Sư Mẫu nhìn thấy hai Lư Sư Tôn, từng nhìn thấy tôi lúc 30 tuổi, cũng từng nhìn thấy bé Lư Âm. 
Tôi bỗng nhiên đại ngộ, thì ra là đứa bé này biến ra.


### 17. Ma thiện


Tôi nhìn thấy có một con ma đi vào cửa chính nhà tôi. 
Con ma này toàn thân lộ ra ánh hào quang màu đỏ, Kim Giáp Thần trong nhà chắp tay hướng về con ma đó cúi lạy.
Con ma này rất lễ độ, cũng hướng về Kim Giáp Thần chắp tay, còn niệm “A Di Đà Phật”. 
Kim Giáp Thần đưa ma đó đi vào phòng khách quý.

Tôi nói:
Nam Sơn Nhã Xá vốn là nhà tôi ở, chái nhà phía tây là phòng Sư Mẫu ở, còn tôi ở chái nhà phía đông. Chái nhà đông tây nối với nhau bằng một hành lang dài.
Hai bên hành lang có phòng chiếu phim, phòng vận động, phòng đọc sách, phòng bếp, quầy bar, phòng máy tính.
Ngoài ra có phòng khách lớn và phòng khách nhỏ ở cửa vào.
Không có phòng khách quý. 
Nhưng Kim Giáp Thần lại đưa ma thiện này vào phòng khách quý, chuyện này là sao đây?

Thì ra là phòng khách nhỏ của tôi có thờ một vị A Di Đà Phật - giáo chủ của Tây phương Cực Lạc thế giới.
Là bức tượng đúc bằng đồng.
Điều không ngờ là, A Di Đà Phật mở lồng ngực mình ra, bên trong có một động thiên phủ địa, đây đúng là:
*Trong không một vật ẩn vô tận.
Có hoa có trăng có lầu gác.*
Đây chẳng khác gì một thế giới Cực Lạc nhỏ xíu.
Đây chính là phòng khách quý trong nhà tôi.

Kim Giáp Thần nói với tôi:
Vị khách tôn quý này cả đời đều làm việc bố thí, từ tay của ông ấy đã bố thí:
Tiền bạc.
Quan tài.
Thuốc thang.
Thực phẩm.
Quần áo.
Nhà ở.
Xe lăn.
Xe cứu hỏa.
Xe chữa bệnh.
Xe cứu hộ.
Viện dưỡng lão.
Trại trẻ mồ côi.
Vân vân và vân vân. Không thể kể hết.

Tôi nghe xong, cảm thấy vô cùng sùng kính.
Vị ma thiện này hễ nghe thấy có người gặp tai nạn liền đem tấm lòng từ bi vội vàng đi cứu tế, suốt cả cuộc đời chưa bao giờ dừng lại.
Trước vì thiên hạ lo mà mình lo.
Sau vì thiên hạ vui mà mình vui.
Ông ấy không chỉ từ bi hỷ xả, luôn mang tâm nguyện từ bi, cố gắng hết sức từ tận đáy lòng mình. 

Kim Giáp Thần nói, vị thiện nhân này từng đọc một bài thơ cổ:
*Một tấc thời gian một tấc vàng
Khuyên người niệm Phật sớm hồi tâm
Bao nhiêu gác phượng hay lầu rồng
Tóc bạc da mồi tránh làm sao.
Trong vạc khói hương còn chưa tản
Không trung xe pháp đã đến rồi
Chùa Phật cõi trần tuy thanh tịnh
Duy có Di Đà nguyện lực sâu.*

Kim Giáp Thần nói:
Vị thiện nhân này cả đời chỉ làm hai việc:
1. Bố thí.
2. Niệm Phật.
Tôi nghe xong lời giải thích của Kim Giáp Thần, biết bố thí có thể lên trời. Ông ấy lại còn niệm Phật, tự nhiên có thể đến tịnh thổ của Tây phương Cực Lạc thế giới. (Hơn nữa còn là tịnh thổ thượng phẩm.)


### 18. Ma sám hối


Tôi trông thấy một vị tì kheo (nam nhân xuất gia), dáng người cao lớn, mặc áo cà sa màu đỏ (giới y), tôi nhìn thì thấy ngay đây là một đại hòa thượng.
Hở vai phải.
Đầu gối phải quỳ xuống đất.
Chắp tay.
Đảnh lễ dưới chân tôi.
Tôi hỏi ông ấy:
”Có việc gì?”
Ông ấy trả lời:
”Sám hối!”
Tôi nói:
”Đại hòa thượng sám hối phải làm ba pháp, ông có biết không?”
Ông ấy đáp:
”Một, là làm pháp sám — theo những lỗi lầm mình đã phạm trước đây, những tội phạm giới do thân khẩu ý, theo pháp độ mà tiêu nghiệp diệt tội.”
”Hai, là có được tướng sám — trước tiên định tâm xuống, nghĩ đến tội mình đã phạm mà sám hối. Phải làm đến khi Bổn tôn của mình đến sờ đầu, hoặc như có tướng lành như vậy xuất hiện, mới xem là diệt tội.”
”Ba, là vô sinh sám — chính tâm ngồi thẳng, quán đạo lý vô sinh, biết thực tướng của lỗi lầm. Các tội đã gây ra như tuyết như sương, như ánh nắng chiếu vào tuyết chiếu vào sương mà tiêu tan.”

Tôi nói:
”Đại tì kheo đã biết ba pháp sám hối rồi, vì sao lại đến cầu tôi sám hối?”
Ông ấy đáp:
”Tôi trực tiếp sám hối, tìm được căn nguyên phạm giới của mình, trực tiếp sám hối với Lư Sư Tôn.”
Tôi hỏi:
”Ông đã phạm giới gì?”
Ông ấy đáp:
”Giới phỉ báng Lư Sư Tôn!” (Tương đương với giết thánh hiền tăng.)
Tôi nói:
”Văn sám hối nói, xưa tôi đã tạo bao ác nghiệp, đều vì vô thủy tham sân si, đều sinh ra bởi thân ngữ ý, tất cả tôi nay đều sám hối.”
Ông ấy nói:
”Tôi đã phạm tội ngu si, thấy người ta nói thì mình cũng nói, tôi thật sự đã phỉ báng ngài, hơn nữa còn nhục mạ ngài, thậm chí còn ghét ngài đến mức nghiến răng kèn kẹt, không cào rách da ngài không được.”
Tôi ôn tồn hỏi:
”Bây giờ thì sao?”
Ông ấy đáp:
”Tôi đã biết sai rồi.” - Ông ấy nói: “Tôi đặc biệt đến sám hối, thỉnh cầu sờ đầu gia trì.”

Tôi nói với đại hòa thượng:
”Phật từng nói với tì kheo, ông sám hối trong Phật pháp, người chí thành sám hối như pháp, phải tăng trưởng sám hối. Hơn nữa sinh tâm chán ghét lìa bỏ, thề không tái phạm, tôi nhất định tiếp nhận.”
Đại hòa thượng nói:
”Tôi chí thành.”
Tôi thỉnh Kim Giáp Thần đến dẫn đại hòa thượng này đi đến nơi sám hối ở Nam Sơn Nhã Xá. 
Nơi sám hối ở đâu?
Vốn dĩ nhà tôi có một chậu cây cảnh, trên đó trồng trúc, bên trong đốt trúc là rỗng. Đại hòa thượng đi vào bên trong đốt trúc, ngồi yên.
Tôi từng nói:
Đốt trúc của cây trúc cảnh, từng đốt từng đốt, bên trong có rất nhiều ma ở trong đó.
Vì sao nơi sám hối cũng ở trong đốt trúc?
Tôi nói:
Đúng vậy, phần trên và phần giữa của đốt trúc là nơi ở của bầy ma. 
Còn bên dưới đốt trúc là nơi sám hối.
”Tâm Địa Quán Kinh” nói:
”Nếu người nào lặp lại tội, tội sẽ tăng trưởng, phát lộ sám hối, tội tự tiêu trừ.”


### 19. Bầy ma ở Biệt thự Cầu Vồng (ma cầu vồng)


Thời gian tôi ở Seattle:
8 giờ tối thứ bảy, tại Seattle Lôi Tạng Tự đều có đồng tu, đồng tu xong, tôi thuyết pháp khai thị ngay tại đó. 
3 giờ chiều chủ nhật, tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, có Hộ Ma (hỏa cúng) của tất cả Bổn tôn. 
Làm Hộ Ma xong, tôi thuyết pháp khai thị ngay tại đó.
Tôi phát hiện ra một việc đặc biệt kỳ lạ.
Khi tôi từ Cầu Vồng Lôi Tạng Tự trở về nhà, tôi phát hiện ra ma ở trong Nam Sơn Nhã Xá đã nhiều lên gấp bội.
Có thể nói là:
Chật ních!
Đông nghịt!
Đầy ắp!
Sao những con ma này lại đi theo tôi trở về Nam Sơn Nhã Xá, đúng là hết sức kì quái?

Sau đó, tôi hỏi những con ma này, ma đáp:
”Mỗi lần Hộ Ma, rất nhiều người sẽ báo danh tiếp dẫn siêu độ cho các vong linh.”
”Sau khi làm hỏa cúng (Hộ Ma) xong, có một số vong linh sẽ được đưa đi. Có một số vong linh sẽ lưu lại, vong linh ở lại sẽ đi theo Lư Sư Tôn trở về Nam Sơn Nhã Xá.”
Theo về làm cái gì?
Những con ma ở Cầu Vồng Lôi Tạng Tự này đợi để được siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp tiếp dẫn. 
Ồ! Tôi hiểu rồi!
Thì ra mỗi buổi tối chủ nhật tôi đều sẽ đưa về một bầy ma từ Cầu Vồng Lôi Tạng Tự. (Họ đều là những vong linh trong lễ hỏa cúng chưa được tiếp dẫn đi.)
Trở về Nam Sơn Nhã Xá, xem xem siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp có cơ hội để lên thuyền pháp hay không.
Vì thế, bầy ma ở Nam Sơn Nhã Xá nhiều lên gấp bội.
Trong chốc lát mà có nhiều ma đến như vậy, có ảnh hưởng gì không?
Đương nhiên có!
Lần này thì náo nhiệt rồi, Nam Sơn Nhã Xá đã trở thành như một cái chợ bán thức ăn, tiếng chí cha chí chóe khắp nơi, ồn ào không chịu được.
Tôi đi về bên đông, ma đi theo về bên đông.
Tôi đi về bên tây, ma đi theo về bên tây.
Bên trong bức tường có không ít ma trốn trong đó. Hễ tôi đi qua là: Póc póc póc!
Hết đầu ma này đến đầu ma khác thò ra ngoài bức tường, kiên trì đến cùng để xin được gia trì.
Tôi chỉ còn cách học theo “thường giơ tay Bồ Tát”, giơ tay của mình ra để lần lượt sờ đầu.
Có những con ma thì vội vàng tìm vật để nương dựa, trong nhà tôi, bất kể là thứ gì cũng đều có ma nhập vào.
Ngay cả nắp bồn cầu cũng bị ma nhập vào.
Huống hồ là những cái khác…

Cái bàn, cái ghế, giường, thậm chí là cái bát, cái đũa đều có ma nhập.
Có một lần, tôi lấy đũa ra để gắp thức ăn.
Đôi đũa nói:
”Đừng có cầm chặt thế!”
Cái đĩa nói:
”Tôi không muốn đựng miếng thịt đó, miếng thịt đó nhiều mỡ quá!”
Bát nói:
”Đừng đựng quá đầy, quá đầy tôi ăn không nổi!”
Hầu như các thứ trong nhà tôi đều biết nói chuyện.
Giường nói:
”Lư Sư Tôn! Tối nay đừng làm kết giới, thế thì tôi mới có thể nhập vào được, hễ ngài làm kết giới thì tôi không có chỗ nào để đi!”
Đây thật sự là quá phiền phức rồi!
Tôi chỉ còn cách khi siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp mau mau đưa họ đi.


### 20. Ma Thượng sư


Ngày 18 tháng 10 năm 2022.
Có một vị đường chủ của phân đường Chân Phật Tông hỏi tôi:
”Lư Sư Tôn! Trước đây phía sau nhà tôi có một vị Thượng sư sống ở đó, ông ấy và tôi giống như anh em, nghe nói, Lư Sư Tôn bảo ông ấy sẽ xuống địa ngục. Ông ấy đã chết nhiều năm rồi, bây giờ, tôi rất muốn biết ông ấy đã đi đâu.”
Tôi đáp:
”Trước đây đích thực là ông ấy đã ở âm gian, bây giờ thì đã đi thiên giới rồi.”
Đường chủ nói:
”Vậy tốt quá rồi, ông ấy đã ra khỏi âm gian.”
Tôi nói:
”May mà các người đã đề bạt ông ấy.”
Đường chủ hỏi:
”Ở cõi trời nào?” (thiên giới)
Tôi đáp:
”Ở Đô Sử Thiên.”

Buổi tối ngày 18 tháng 10 năm 2022.
Có một vị Thượng sư quỳ trước pháp tọa của tôi, vị này lại đúng là Thượng sư mà tôi và đường chủ đã nhắc đến.
Tôi nói:
”Ông đến à, có việc gì?”
Thượng sư đáp:
”Tôi đến gặp Lư Sư Tôn có một thỉnh cầu!”
”Nói nghe xem.”
Thượng sư nói:
”Tôi ở thiên giới hưởng phúc, nhưng tôi biết phúc cũng có hạn, muốn đến Tây phương Cực Lạc thế giới, sau đó tu hành đạt được phẩm vị cao nhất.”
Tôi hỏi:
”Ông muốn lên nghìn chiếc thuyền pháp sao?”
Thượng sư đáp:
”Đúng vậy.”
Tôi hỏi:
”Ông biết tội lỗi của mình chứ?”
Ông ấy đáp:
”Vâng. Đã biết.”
”Đã làm Acharya (Thượng sư) rồi mà chỉ nghĩ về tiền, muốn thành đại gia.”
Đây là tội lỗi thứ nhất.
”Đi khắp nơi giúp người ta xem phong thủy, xem dương trạch, lại xem âm trạch. Không hề thực tu Phật pháp.” (Nói phong thủy là tổ truyền.)
Đây là tội lỗi thứ hai.
”Làm Thượng sư, coi mình là lão đại, hùng bá một phương. Từ đó quên luôn Căn bản Thượng sư. Ngoài xem phong thủy ra, hai mươi năm không gặp Căn bản Thượng sư, truyền pháp quán đảnh cũng không nghe không đi.”
Đây là tội lỗi thứ ba.
”Thượng sư là chức vụ, người người nhìn vào để tôn kính. Không biết mình đã đánh mất truyền thừa, xem phong thủy chỉ là công cụ kiếm tiền, tu hành đã không quan trọng, trở thành đại gia mới quan trọng.”
Đây là tội lỗi thứ tư.
”Sau đó tự mình không học cho tinh thông kĩ năng phong thủy, đã phạm vào đất sát, bị quấy nhiễu, lại còn trách có hai Rinpoche bỏ bùa.”
Đây là tội lỗi thứ năm.

Tôi nói với vị Thượng sư này:
”Ông đã biết tội là rất tốt. Ông ở Đô Sử Thiên, tôi dạy ông học Di Lặc, Vô Trước, nghe cho rõ vào:
Tu định lìa được dục.
Tư duy Đại thừa không.
Hãy đọc kinh Trang Nghiêm.
Sở duyên duy tâm quang.”
Tôi lại dạy ông ấy:
”Ngoài tâm không có vật, vật không tâm cũng không.”
Dạy ông ấy:
”Phẩm chân thực.” (Kinh Đại Thừa Trang Nghiêm)
Tôi nói:
”Ông chỉ cần học được những thứ này, tự có thể siêu sinh!”


### 21. Ma lẩn trốn


Tôi từ Seattle Lôi Tạng Tự lái xe trở về Nam Sơn Nhã Xá.
Tôi lái xe một mình. Thượng sư Liên Hương và Đậu Đậu, “110” và “140” đi ra ngoài ăn cơm.
Đậu Đậu (thành viên đoàn vũ công Dương Quang). 
”110, 140” là chị em song sinh, họ Dịch. Âm đọc tên của họ giống với “10” và “40”. 
Vì thế mà gọi như vậy.
Tôi vừa lái xe ra khỏi cổng chùa thì dường như nhìn thấy hai người phụ nữ mặc bộ đồ màu xanh lá. (dáng dấp đong đưa)
Tôi chú ý nhìn kĩ hơn thì không thấy đâu nữa.
Tôi không bận tâm, chỉ chú ý lái xe của mình, sau đó tôi nhìn vào gương chiếu hậu, không ngờ lại nhìn thấy hai người phụ nữ mặc đồ màu xanh ngồi ở hàng ghế sau xe tôi.
Thì thà thì thầm, âm thanh rất nhỏ.
Tôi lại chú ý nhìn, hầy! Lại biến mất rồi!

Tôi lái xe trở về Nam Sơn Nhã Xá, xe chạy vào garage, rồi tôi đi về phòng ngủ của mình.
Tôi nhìn thấy trên túi hương của mình hiện lên hai đám ánh sáng xanh lục. 
Tôi biết là hai phụ nữ mặc đồ xanh đã trốn vào trong túi hương của tôi để chui vào Nam Sơn Nhã Xá.
Lúc này,
Hai phụ nữ áo xanh từ trong túi hương đi ra, đứng trước mặt tôi đầy vẻ xinh đẹp.
Lần này thì tôi nhìn rõ ràng rồi:
Là hai ma nữ xinh đẹp.
Mắt xanh.
Đường nét rõ ràng.
Dáng người thon thả.
Mặc váy xanh.
Tuổi khoảng hai mươi tám.
Tôi muốn hỏi chuyện họ, nhưng họ chỉ hiện lên ba phút rồi lại biến mất.

Tôi hỏi Kim Giáp Thần:
”Sao lại để cho hai ma nữ này chui vào Nam Sơn Nhã Xá?”
Kim Giáp Thần đáp:
”Họ trốn ở trong xe, rồi lại trốn vào trong túi hương của ngài, chúng tôi nhất thời không xem xét kỹ nên họ đã chui vào đây. Thật sự đã không làm tròn trách nhiệm.”
Tôi nói:
”Mau đi tìm xem.”
Kim Giáp Thần thi triển thần thông lực, trong ngoài Nam Sơn Nhã Xá đều tìm khắp một lượt, ấy thế mà vẫn không thấy.
Kim Giáp Thần hồi báo:
”Không thấy dấu vết!”
Tôi nói:
”Các ông không biết coi khí sao?”
Kim Giáp Thần đáp:
”Có coi khí, phát hiện ra không hề có mùi.”

Quái lạ! Quái lạ!
Tôi cảm thấy hai ma nữ áo xanh này có một chút lai lịch, nhưng lại không thể nói rõ được là lai lịch gì.
Xanh lục, xanh lục, xanh lục.
A! Có rồi!
Trong kho của tôi có một túi đỗ xanh.
Tôi tìm được túi đỗ xanh đó, mở đỗ xanh ra, rải trên mặt bàn.
Có hai hạt đỗ nói chuyện:
”Chúng tôi ở đây.”
Ha! Cuối cùng đã tìm được rồi!

Chúng tôi cùng nhau trò chuyện, lúc này mới biết hai mỹ nữ áo xanh này là chị em song sinh chết trong một vụ tai nạn xe, được Địa Thần thu nhận, truyền dạy cho một ít thần thông nhỏ.
Họ chỉ thấy kỳ lạ là Lư Sư Tôn vì sao trên người có ánh sáng trắng, chỉ là đi theo vào Nam Sơn Nhã Xá mà thôi! (Họ không biết đến nghìn chiếc thuyền pháp.)
Kết luận cuối cùng của chúng tôi là:
Thả họ trở về chỗ của Địa Thần.


### 22. Ma kí sinh


Trải qua nhiều năm như vậy tôi và vô hình tiếp xúc với nhau, nói chung tôi cũng có một chút manh mối.
Vì thế tôi viết ra bài viết ngắn này.
Ma là gì?
Tôi đặt cho nó một cái tên là “thân vi tế”.
Giải thích cái thân vi tế này như thế nào đây?
Rất khó giải thích!
Tôi chỉ có thể nói, không nhìn thấy, không nghe thấy, không ngửi thấy, không nếm thấy, không chạm thấy, không nhận thấy.
Nhưng,
Tôi lại biết, người khác không biết.
Có người gọi nó là “ma bay”, từ “ma bay” này dùng rất hay, dùng rất khéo, rất chuẩn xác!
Ma bay có một thói quen, chính là kí sinh.

Tôi lấy một ví dụ nhé!
Virus.
Vi khuẩn.
Vi sinh vật.
Những thứ này đều là vô hình, nhưng khi bị nhiễm rồi thì toàn thân sẽ khởi tác dụng. Giống như virus corona lần này, nó đã khiến nhân loại toàn thế giới đều sống trong nơm nớp lo sợ. 
Đóng cửa biên giới.
Phong tỏa thành phố.
Tiêm vaccine dự phòng.
Nó phát tác khiến tình hình toàn thế giới biến đổi. Quá lợi hại, nhưng nó phải kí sinh trên thân người thì mới có thể khởi tác dụng. 

Tôi nói:
Ma cũng như thế.
Người bị ma nhập sẽ kêu la gào thét, thoắt nóng thoắt lạnh, đủ mọi quấy nhiễu, và đủ thứ nữa.
Chúng ta đều gọi các hiện tượng này là bệnh quỷ thần.
Giống như có một người không cẩn thận đụng phải vô hình, vô hình liền bám lên thân họ.
Chúng ta gọi cái này là bị xung phạm.
Có một số vô hình là thiện.
Có một số vô hình là ác.
Cũng tương tự có rất nhiều kiểu.

Jesus Christ từng có chuyện như thế này. 
Một phụ nữ bị ma nhập.
Jesus nói:
”Ta nhân danh Thượng Đế, ra lệnh cho mi rời khỏi thân thể người phụ nữ này!”
Con ma đó lập tức không thể ở được nữa, chạy đến nhập vào một đàn lợn.
Thế là mỗi con lợn đều nhảy xuống sườn núi mà chết.

Lư Sư Tôn tôi cũng có một chút năng lực nhỏ như vậy:
”Ta phụng luật lệnh của Diêu Trì Kim Mẫu, ra lệnh cho ngươi rời khỏi thân thể của người này.”
”Ta phụng Lục Giáp Thần Tướng, Lục Đinh Thần Binh, thần binh thần tướng cấp cấp như luật lệnh, ra lệnh cho người rời khỏi thân thể của người này.”
……

Vì thế, tôi đã chữa khỏi cho rất nhiều bệnh nhân tâm thần, người được chữa khỏi có thể dùng tàu hỏa để chở. (Có nghĩa là đã chữa khỏi cho rất nhiều người.)
Ma ngoài nhập lên thân người ra còn có thể nhập vào:
Cây.
Miếu.
Tảng đá.
Vân vân và vân vân. Thứ gì cũng đều có thể nhập vào, đây chính là thuyết vạn vật hữu linh.
Tôi làm siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp chính là siêu độ cho những vô hình có thiện căn sớm đến Tây phương Cực Lạc thế giới, đi tu hành, đi chứng quả.


### 23. Ma dưới gầm giường


Khoảng ngày 23 tháng 10 năm 2022.
Mỗi lần tôi đi đến gần giường mình để đi ngủ đều nghe thấy bên dưới giường có những âm thanh xáo động.
Điều này trước đây không có.
Trước đây ở bồn rửa trong phòng rửa mặt có tiếng xáo động.
Bây giờ thì ở dưới gầm giường.
Tôi vẫn thường không quá để ý đến những âm thanh này, bởi vì đã nghe quá nhiều rồi.
Một lần như vậy.
Hai lần như vậy.
Lần nào cũng như vậy.
Điều này mới thu hút sự chú ý của tôi, tôi thử nhìn vào khe hở. 
Chà!
Cả một bầy ma. (bóng ma lắc lư)

Mỗi buổi tối tôi ngủ trên giường, còn bên dưới gầm giường thì có rất nhiều rất nhiều ma. Chung sống hòa hợp. 
Có một hôm, tôi dùng chú chiêu hồn thì có một cụ già hiền lành nho nhã đến.
Toàn thân cụ già mặc đồ trắng, tay áo dài thượt.
Ngũ quan trang nghiêm, để râu trắng, trên đầu còn búi tóc. 
Ông ấy hướng về tôi chắp tay:
”Lư Sư Tôn! Gọi chúng tôi có việc gì?”
Tôi hỏi:
”Vì sao ở dưới giường tôi?”
Cụ già nói:
”Ở đây quá đông người, chỉ có bên dưới giường Lư Sư Tôn là rộng rãi, vì thế chúng tôi sống ở đây.”
Tôi hỏi:
”Vì sao tôi đi đến gần giường thì bên dưới lại xáo động?”
Cụ già đáp:
”Lư Sư Tôn toàn thân hào quang lấp lánh, chúng tôi né bên này né bên kia, vì thế mà xáo động.”

Tôi hỏi:
”Các người từ đâu đến?”
Cụ già đáp:
”Chúng tôi di dân đến đây, chúng tôi là ma thiện, Kim Giáp Thần biết nên mới để chúng tôi vào.”
Tôi hỏi:
”Di dân?” - Tôi kinh ngạc giật nảy mình, hóa ra ma cũng có di dân. 
Cụ già đáp:
”Đúng vậy, chúng tôi là dân di cư, từ nước khác di cư đến đây, ở đây đều là tộc người của tôi.”
Tôi hỏi:
”Tộc người gì?”
Cụ già đáp:
”Nói thẳng ra, chúng tôi là tộc hồ ly. Chúng tôi không phải là người, là cáo.”

A! Tôi kinh hãi, là cáo, không phải người. Cáo mà Bồ Tùng Linh đã viết trong “Liêu Trai Chí Dị”. 
Tôi thật sự quá kinh ngạc, thời đại này, nhất là tôi ở Mỹ, mà cũng có cáo tìm đến cửa.
Cụ già dường như hiểu tâm ý của tôi, cụ già nói:
”Chúng tôi là cáo, nhưng tâm tính chúng tôi lương thiện, cũng tu thổ nạp, chưa từng hại người.”
Tôi hỏi:
”Sao không lên thuyền pháp?”
Cụ già đáp:
”Tu hành vẫn chưa có lực, có lực rồi mới lên thuyền pháp, ở tạm dưới giường của Lư Sư Tôn, xin tha tội!”
Tôi nói:
”Được!” (Cáo cũng là chúng sinh.)
Cụ già có hai con gái, đều cực kì dễ thương, quả nhiên cũng là cáo!


### 24. Ma chết “lâm sàng”


Tôi nhìn thấy có một con ma đi vào nhà tôi, nó nghiêng bên này, ngả bên kia, bộ dạng rất lơ đãng.
Tôi hỏi:
”Con ma này giống như cái xác không hồn, là ma gì đây?”
Kim Giáp Thần đáp:
”Là ma chết lâm sàng.”
Ma chết “lâm sàng” này khiến tôi nghĩ đến cuốn sách “Liễu Phàm Tứ Huấn”. Trong sách nói:
Nhân vật chính trong sách đi xem bói, thầy bói dùng Thiệu Tử Dịch Số để dự đoán:
Đoán ra sau này ông ấy sẽ kiếm được bao nhiêu tiền lương.
Lấy vợ là ai.
Sinh được mấy đứa con.
Cảnh ngộ cuộc đời.
Tương lai ông ấy sẽ có được bổng lộc chức quyền gì.
Bao nhiêu tuổi thì chết.
Kết quả, tất cả đều chuẩn.

Sau đó, ông ấy hiểu rằng tất cả đều là số trời đã định, từ đó về sau, tâm ông ấy như nước đứng yên. (Thiệu Tử Dịch Số, Thiệu Tử ở đây là Thiệu Khang Tiết.)
Nhân vật chính này đã gặp một vị cao tăng, người đã chỉ ra “vận mệnh có thể thay đổi”. 
Cao tăng dạy ông ấy dùng tất cả thiện hành để thay đổi định mệnh.
Vì thế mới có môn học lập mệnh.
Đây là điều được nói đến trong “Liễu Phàm Tứ Huấn”. 

Còn như người học Phật chúng ta biết tuy có số mệnh, nhưng không thể cho rằng số mệnh là đã định sẵn như thế mà lười biếng, chúng ta phải biết cách cải biến.
Ngoài ra,
Có một số hành giả nhận định tất cả đều không, vô sở cầu, vô ngã, vô vi, thế là tất cả đều chết lặng.
Rất dễ rơi vào cái chết “lâm sàng”. 
Tin theo vô nhân quả.
Bởi vì nhân quả cũng là không.
Lúc này, chúng ta cũng phải chú ý, học Phật trở thành “chết lâm sàng” cũng là một loại tà kiến thiên lệch về Không.

Cái gọi là:
”Tất cả đều không”, nhưng phải biết “không trung diệu hữu” [trong cái Không có cái Có, nhưng cũng không phải là “thật có”].
”Vô ngã”, nhưng phải biết Phật tính.
”Vô vi”, nhưng phải biết “vô vi nhi vi” [làm không vì điều gì cả].
Trong tất cả đều không cũng phải tùy vật mà thích hợp, đảm nhận tất cả sự vật, tự giác giác tha, tự lợi lợi tha.
Trong vô ngã, chúng sinh và ta không khác biệt. Tâm không vướng mắc, thế rồi tùy thuận chúng sinh, người không lười biếng sẽ thường trụ nơi pháp.
Ở trong vô vi là chỉ tất cả các hành vi đều vì lợi ích chúng sinh, không làm vì muốn có công đức. Không phải vì công đức mới đi làm lợi ích chúng sinh, cứu độ chúng sinh.
Học Phật, dễ rơi vào “chết lâm sàng”.
Ở đây phải không được mơ hồ về bồ đề tâm, không được mơ hồ về nhân quả thì mới không sai lầm. 
Tôi nói với con ma chết “lâm sàng” về lý lẽ này. 

Tôi hỏi:
”Vì sao đến đây?”
Ma chết “lâm sàng” đáp:
”Nghe người ta nói.”
Tôi hỏi:
”Muốn đến Tây phương tịnh thổ không?”
Ma chết “lâm sàng” đáp:
”Tùy thuận.”
Tôi hỏi:
”Có biết Tây phương tịnh thổ cũng là một cõi được hóa ra không?”
Ma chết “lâm sàng” đáp:
”Đúng vậy.” - Ma lại nói: “Đến Tây phương tịnh thổ rồi, tự nhiên có thể tinh tấn tu trì.”
Tôi nghe hai chữ “tinh tấn”, cảm thấy con ma chết “lâm sàng” này còn có thể cứu được!


### 25. Ma du lịch


Tôi nhìn thấy một người phụ nữ dắt theo ba đứa con (hai trai một gái) đi vào Nam Sơn Nhã Xá, vừa vào cửa, ba đứa trẻ đã trở nên hoạt bát đáng yêu.
Chúng rất thích thú với tượng Phật, với mọi thứ đều thích thú. 
Còn liên tục hỏi:
”Thuyền đâu? Thuyền đâu?”
Người phụ nữ trả lời:
”Nghe nói thuyền là do Lư Sư Tôn hóa ra.”
Còn nói:
”Bến sông đâu?”
Người phụ nữ đáp:
”Tự nhiên sẽ có bến sông.”
Đứa con hỏi:
”Lần này chúng ta đi thuyền đi đâu chơi?”
Người phụ nữ đáp:
”Lần này phải đi thuyền đến một nơi rất xa, nơi đó chắc chắn là rất vui.”
Đứa con hỏi:
”Mấy giờ chúng ta lên thuyền?”
Người phụ nữ đáp:
”Đêm nay khoảng 2 giờ.”

Tôi tìm Kim Giáp Thần đến hỏi:
”Họ là ai vậy?”
Kim Giáp Thần đáp:
”Họ là ma du lịch, họ thích đi thuyền du lịch, có một lần bị lật thuyền, thế là chết ở biển.”
Tôi hỏi:
”Chết ở biển, họ không sợ thuyền sao?”
Kim Giáp Thần đáp:
”Họ không sợ, sau khi chết rồi vẫn cứ đi thuyền, đi du lịch các nước trên thế giới, tham quan các danh thắng của các nước.”
Tôi không hỏi nữa.
Đến 2 giờ đêm hôm đó.
Họ đã đến.

Người phụ nữ hỏi tôi:
”Xin hỏi Lư Sư Tôn, thuyền pháp này khi nào sẽ trở về?”
Tôi cười rồi trả lời:
”Đi rồi thì không trở về nữa!”
Người phụ nữ hỏi tôi:
”Nơi đó không có con thuyền nào quay trở về sao?”
Tôi đáp:
”Một đi không trở lại.”
Người phụ nữ hỏi:
”Chúng tôi đi du lịch khắp thế giới, có đi có về. Không biết lần này sao lại có đi mà không có về? Nơi đó gọi tên là gì?”
Tôi đáp:
”Tây phương Cực Lạc thế giới, tịnh thổ A Di Đà Phật.”
Người phụ nữ nói:
”Tôi thích hai chữ Cực Lạc, chúng tôi không đi không được. Bất kể là có thuyền quay trở về hay không thì cứ đi rồi tính.”

Người phụ nữ gọi ba đứa con cùng lên thuyền pháp.
Người phụ nữ này tâm địa lương thiện, ba đứa con thì ngây thơ, cùng lên thuyền pháp. 
A Di Đà Phật dùng vô lượng quang chiếu đến.
Họ đều đã thanh tịnh.
Đến Tây phương Cực Lạc thế giới rồi, nghe được âm thanh hòa nhã thì càng khởi lên tâm muốn niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng. 
Nghe được âm thanh hòa nhã.
Tu được ba mươi bảy đạo phẩm.
Căn bản là họ không muốn trở về, cũng quên luôn việc con thuyền quay trở về này.

Tại thế giới Ta Bà, căn bản không thể tìm thấy có Tây phương Cực Lạc thế giới - một cõi tịnh thổ xinh đẹp trang nghiêm như vậy. 
Vô lượng thọ.
Vô lượng quang.
Tự do tự tại như vậy. 


### 26. Ba mươi bảy đạo phẩm


Trong siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp, tôi quan trọng nhất là đưa người đến Tây phương tịnh thổ, đi tu hành ba mươi bảy đạo phẩm.

Ba mươi bảy đạo phẩm là thứ tự tu hành và pháp yếu mà Phật Đà đã chỉ ra trong Trường A Hàm Kinh. 
Cũng chính là:
Bốn niệm xứ.
Bốn chính cần.
Bốn thần túc.
Năm căn.
Năm lực.
Bảy giác chi.
Tám chính đạo.
Trong đó quan trọng nhất là phần bảy bồ đề và phần tám chính đạo.

Trọng điểm của phần bảy bồ đề (bảy giác chi) là:
Trạch pháp giác chi — trí huệ.
Tinh tấn giác chi — nỗ lực thực hiện.
Hỷ giác chi — hành thiện.
Khinh an giác chi — không còn phiền não.
Niệm giác chi — không-sắc bình đẳng.
Định giác chi — nhất tâm bất loạn.
Hành xả giác chi — nhập vào chính giác.

Trọng điểm của tám chính đạo là:
Chính kiến — Thánh đế.
Chính tư duy — ý niệm của Thánh đế.
Chính ngữ — khẩu thanh tịnh.
Chính nghiệp — thân thanh tịnh. (nghiệp thanh tịnh)
Chính mệnh — nghĩ sự vật thanh tịnh.
Chính tinh tấn — tăng trưởng.
Chính niệm — ý thanh tịnh.
Chính định — nhập vô lậu định.

Đây đều là những điều mà hành giả cần đi thực tiễn, ở nhân gian phải học tập, đến Tây phương tịnh thổ càng phải từ đây mà chứng đắc vô thượng chính đẳng chính giác.
Tôi luôn cảm thấy Bồ Tát thập địa, đến được địa thứ tám rồi, địa thứ tám này vô cùng quan trọng.
Bởi vì địa thứ tám là Bất động địa.
Cá nhân tôi cho rằng, đến được địa thứ tám - địa bất động rồi tức là cho thấy sẽ không thối chuyển nữa. (chứng vô sinh pháp nhẫn)

Tôi khuyên chúng sinh đi Tây phương tịnh thổ.
Bởi vì bất thối chuyển, sớm muộn cũng sẽ thành Phật.
Đây là một cảm ngộ của cá nhân tôi. 

Tôi thích nhất một bài kệ, đó là:

*Liên Hoa Đồng Tử gặp Kim Tiên.
Khắp cả hư không hoa rơi xuống.
Vượt mây nghe tiếng trời vi diệu.
Lời nào tả xiết lạc cõi thiên.*

Tôi viết một bài thơ:
*Ở cõi Ta Bà chẳng mong cầu
Quyền quý
Sắc tướng
Hay nhà lầu
Vạn sự dừng
Nhân sự dừng
Tất cả mọi thứ đều dừng
Năm tháng cũng đi đến điểm cuối
Thật không có
Một thứ gì có thể tồn lưu
Nếu lưu luyến
Thẹn hay không
Đi Tây phương
Đừng do dự.*


### 27. Ma vay nợ


Có một con ma lén la lén lút đi vào cửa nhà tôi.
Hành tung của nó cứ che che giấu giấu, lẩn lẩn trốn trốn, không muốn để tôi nhìn ra nó là ai.
Nó càng như thế.
Tôi càng chú ý đến nó.
Dường như nó giống một người, hành động cử chỉ của nó cơ bản là giống với một đệ tử mà tôi đã thu nhận khi còn trẻ.
Tôi gọi giật nó:
”Anh là…?”
Nó nói:
”Vâng đúng, thầy Lư, là tôi.”
A! Quả nhiên là anh ta.
Tôi có hơi hoảng hốt. Năm xưa, đệ tử thời kỳ đầu của tôi đều gọi tôi là: “Thầy Lư!”

Tôi nhớ đến một vài chuyện trước kia:
Anh ta có hoàn cảnh hơi lẫn lộn trắng đen phải trái.
Đã giúp tôi giải quyết được một việc có liên quan đến hắc đạo.
Tôi rất cảm kích!
Có một hôm.
Anh ta nói với tôi:
”Thầy Lư! Thầy có thể cho tôi mượn tiền không?”
Tôi hỏi:
”Dùng làm gì?”
Anh ta đáp:
”Việc chi tiêu không được thoải mái lắm.”
Tôi hỏi:
”Cần bao nhiêu?”
Anh ta dùng ngón tay để biểu thị con số.
Tôi giật nảy mình, con số này chẳng khác nào toàn bộ số tiền tiết kiệm của tôi.
Tôi rất dứt khoát:
”Được! Cho anh mượn!”
Một lời nói ra chắc như đinh đóng cột. 
Tôi còn nhớ cái lưng của anh ta.
Anh ta dùng một cái bao tải đựng đầy tiền tôi cho anh ta mượn, khoác lên lưng rồi sải bước đi một mạch. 

Cái hình bóng sau lưng đó vô cùng quen thuộc, rất tự nhiên đã in vào trong đầu tôi.
Kể từ sau ngày hôm đó.
Từ đó anh ta “bái bai” luôn!
Trước kia thường xuyên đến nhà tôi, một lời thầy, hai lời thầy, sau đó thì cũng chẳng bao giờ gặp nữa.
Bặt tăm tin tức.
Giống như trâu đất đi vào biển, từ đó biệt vô tăm tích.
Cái lần anh ta khoác tiền trên lưng bỏ đi đó cũng chính là lần cuối cùng tôi nhìn thấy anh ta.
Nhưng,
Bây giờ anh ta lại đang đứng trước mặt tôi.

Tôi gọi anh ta là:
”Ma vay nợ!
Anh ta nói với tôi:
”Thầy Lư! Tôi thiếu nợ thầy, tôi đã trả hết rồi!”
Tôi nghĩ thầm:
”Làm gì có?”
Anh ta nói:
”Tôi đi vào cửa nhà thầy, đưa ra tờ chứng thư quy y, còn có cả một bức di chúc, Kim Giáp Thần mới để cho tôi vào, trên di chúc viết rằng khoản tiền vay nợ Lư Sư Tôn, nhờ con cháu chuyển vào tài khoản quỹ từ thiện Lư Thắng Ngạn.”
A! Anh ta đã kiếm được tiền rồi!
Đúng vậy. Cuối đời, anh ta đã kiếm được không ít tiền, cuối cùng đã muốn trả hết số nợ, chuyển vào quỹ từ thiện Lư Thắng Ngạn. 
Trong lòng tôi thoải mái. Thật ra tôi cũng không để bụng lắm.
Đương nhiên!
Anh ta đã lên thuyền pháp rồi.


### 28. Ma giữ nhà


Tôi nhận lời mời đi xem phong thủy của một ngôi biệt thự. 
Chủ nhân của ngôi biệt thự này là đệ tử thời kỳ đầu của tôi, vợ chồng đều là đệ tử, sau này người chồng đã qua đời.
Khi tôi bước vào cửa.
Nữ chủ nhân nói:
”Lư Sư Tôn! Tôi đã không còn là đệ tử của ngài nữa rồi!”
Tôi “ồ” lên một tiếng.
Tôi hỏi:
”Bà đã quy y ai rồi?”
Bà ấy đáp:
”Giáo đoàn Thiền tông.”

Đó là một giáo đoàn rất lớn, bà ấy đi quy y cũng không sai, chỉ cần có thể học tập chính pháp thì đi đâu cũng được.
Tôi thường nói:
Đệ tử như nước chảy.
Có người chảy đến.
Có người chảy đi.
Chỉ mong các đệ tử có thể kính sư, trọng pháp, thực tu, bất kì giáo phái nào đều như nhau.
Đây cũng là việc rất tự nhiên.
Thế nhưng, đừng quy y sư phụ mới rồi thì lại chửi sư phụ cũ. Bởi vì đây là vấn đề về phẩm cách.
Bạn đi quy y sư phụ mới, nhưng sư phụ cũ vẫn cần phải cư xử lễ độ.

Xem xong phong thủy cho ngôi nhà, tôi lái xe trở về, phát hiện ra bên cạnh tôi có nhiều thêm một người, thì ra nhiều thêm không phải là người, mà là ma. 
Tôi có quen con ma này. (Chính là nam chủ nhân.)

Ma nói:
”Lư Sư Tôn! Tôi đi về cùng ngài!”
Tôi hỏi:
”Mấy năm nay ông ở đâu?”
Ma đáp:
”Tôi là ma giữ nhà.”
Tôi hỏi:
”Tịnh thổ ông không đi, giữ nhà làm cái gì?”
Ma đáp:
”Giữ sự nghiệp của tôi, giữ vợ của tôi, thật ngại quá, khiến ngài chê cười rồi!”
Tôi hỏi:
”Sư phụ mới mà ông nương dựa không tiếp dẫn ông à?”
Ma đáp:
”Cũng có pháp sự, rất long trọng, pháp sư cũng có nghi quỹ siêu độ, nhưng chỉ thuần là hình thức, không có lực thật sự. Cho nên tôi chỉ còn biết canh giữ ngôi biệt thự của mình.”
Tôi hỏi:
”Vì sao bây giờ ông lại chịu rời khỏi ngôi biệt thự?”
Ma đáp:
”Lư Sư Tôn! Ngài mới là “có chất” đó, Quan Thế Âm Bồ Tát trong nhà tôi nói với tôi, còn không mau đi theo Lư Sư Tôn, chỉ có ngài ấy mới có thể đưa anh đi Phật quốc thôi.”

Tôi hỏi:
”Quan Thế Âm Bồ Tát rất vĩ đại, vì sao ngài không đưa ông đi mà muốn tôi đưa?”
Ma đáp:
”Nhân duyên của tôi là ở ngài mà! Là tôi quy y ngài trước.”
Tôi hỏi:
”Ông không canh giữ sự nghiệp và vợ nữa à?”
Ma đáp:
”Vô thường.”

Thế là, tôi đưa ma giữ nhà đi.
Đưa đến Tây phương Cực Lạc thế giới.
Tôi nói với đệ tử Chân Phật Tông:
”Ngôi nhà chân chính của mình chính là tự tính, tự tính là Phật tính.”


### 29. Lũ quỷ của Quỷ Bà


Có người hỏi tôi:
”Gần đây, lũ quỷ của Quỷ Bà có đến quấy nhiễu ngài không?”
Tôi đáp:
”Tương đối ít, nhưng cũng vẫn có.”
Người hỏi:
”Quỷ của Quỷ Bà cũng lên thuyền pháp của ngài à?”
Tôi đáp:
”Đương nhiên có, nhưng chỉ là thiểu số.”
Người hỏi:
”Vì sao?”
Tôi đáp:
”Quỷ Bà nuôi quỷ, nguồn gốc bất chính, quỷ cực hung ác chiếm đa số. Ví dụ, năm đại quỷ đều là năm đại ác linh, chuyên làm việc xấu, sát hại người rất nhiều, không thể kể hết.”
(Quỷ Bà gọi năm đại quỷ này là năm đại thần.)

Người hỏi:
”Quỷ Bà có thể cải tà quy chính không?”
Tôi đáp:
”Cái này phải xem tâm của Quỷ Bà, nhưng đã nuôi quỷ rồi, muốn thu lại cũng không hề dễ dàng, bởi vì ác quỷ sẽ cắn trả.”
(Thật ra nuôi quỷ là phải lập lời thề với quỷ, cũng tức là bạn giúp quỷ, quỷ giúp bạn. Hai bên hợp nhất, người nuôi quỷ cũng được giúp đỡ, nhưng người nuôi quỷ chết rồi thì cũng phải hiến thân cho quỷ.)
Người hỏi:
”Người hiện đại cũng có người nuôi quỷ ư?”
Tôi đáp:
”Có chứ! Nghệ sĩ cũng có người nuôi quỷ, muốn nổi tiếng thì phải nuôi tiểu quỷ. Thái Lan có rất nhiều quỷ bài, bùa hộ thân của Thái có chính, cũng có tà.”
(Đều là bùa làm bằng tro xương.)

Người hỏi:
”Quỷ của Quỷ Bà quấy nhiễu ngài thế nào?”

Tôi kể:
Có một hôm.
Có ba con quỷ của Quỷ Bà ở bên ngoài cổng sắt nhà tôi la hét om sòm. 
”Lư Thắng Ngạn ra ngoài gặp chúng tao!”
Ba con quỷ đó chạm vào kết giới, bên ngoài cổng sắt xuất hiện một con sông lớn, sông vừa rộng vừa sâu.
Ba con quỷ cũng biết biến hóa, biến thành ba con rắn nước, bơi ở trong sông lớn, muốn đi vào Nam Sơn Nhã Xá.
Gặp phải thần sư tử của Nam Sơn Nhã Xá, cửa nhà tôi có hai thần sư tử trấn trạch.
Thần sư tử chặn đường đi, sư tử dùng móng vuốt tóm lấy con rắn, rắn không chống đỡ nổi, bay lên hư không, biến thành ba con diều hâu.
Nhưng,
Ba con diều hâu bay trên không trung gặp phải Kim Giáp Thần Tướng, chim ưng tự biết không địch nổi Kim Giáp Thần Tướng, sợ quá lại bay trở về bên ngoài cổng sắt.

Rồi lại la hét:
”Lư Thắng Ngạn, có gan thì đừng trốn trong nhà, bước ra đây một phen, chúng tao muốn đưa lão đi San Francisco gặp chủ nhân của chúng tao!”
Tôi nhìn thấy tất cả việc này.
Tôi niệm một câu chú:
”Thiên đạo thanh minh, địa đạo an ninh, nhân đạo thủ tự, tam tài nhất thể, hỗn hợp càn khôn, quy mệnh vạn thần.”
”Sắc Chung Quỳ Đại Tướng, cấp cấp giáng lai lâm. Nhiếp!” [Thần Chung Quỳ là vị thần có thể đánh quỷ trong truyền thuyết.]
Trong sát-na.
Chung Quỳ đã đến!
Ba con quỷ của Quỷ Bà vừa nhìn thấy thần Chung Quỳ thì sợ đến mức hồn bay phách lạc, bèn chạy về chỗ cũ, đờ ra không động cựa nổi.
Chỉ thấy Chung Quỳ há to miệng.
”Rắc”, đầu quỷ bị cắn đứt.
Chung Quỳ ngoạm liên tiếp, ba con quỷ đã bị đại thần Chung Quỳ nuốt gọn vào trong bụng rồi.


### 30. Hộ Ma siêu độ bầy ma


3 giờ chiều ngày 30 tháng 10 năm 2022. 
Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, bang Washington nước Mỹ.
Pháp hội Hộ Ma hỏa cúng Địa Tạng Bồ Tát.
Trong khi tôi (Lư Sư Tôn) chủ trì hỏa cúng, có một vị là Liên Hoa Già Vấn đến từ vườn Bồ Đề, núi Phù Dung ở Hồng Kông.
Anh ấy tận mắt nhìn thấy:
Nghìn chiếc thuyền pháp.
Nghìn chiếc thuyền pháp này chở đầy u linh chúng (ma). 

Còn nữa:
Lệnh bài của Địa Tạng Vương Bồ Tát biến thành lệnh bài khổng lồ.
Còn có vô số lệnh bài nhỏ.
Nhất tề bay lên hư không.
Còn nữa:
Trong hư không có một chữ: “Ha” ह.

Màu xanh lục, tỏa ra ánh huỳnh quang, vô cùng lấp lánh.
Tất cả lệnh bài nhỏ biến thành các vị Địa Tạng Bồ Tát tí hon. 
Những tiểu Địa Tạng này đều bay. Bay vào bên trong chữ ह.

Còn nữa:
Tất cả thuyền pháp.
Đi về hướng Phật quốc tịnh thổ của Tây phương Cực Lạc thế giới. 
Còn nữa:
Liên Hoa Già Vấn cùng lúc này nhập vào trong định. 
Chữ ह đi vào trong Liên Hoa Già Vấn.
Nhập ngã ngã nhập. 
(Trên đây là những gì mà Liên Hoa Già Vấn tự mình trải qua.)

Điều tôi muốn nói với mọi người là:
Pháp hội Hộ Ma Địa Tạng Bồ Tát lần này, trong lúc diễn hóa thủ ấn, tôi đặc biệt thêm vào siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp.
Bầy ma lên thuyền pháp.
Thuyền pháp lần lượt bay đến cõi trời bên ngoài cõi trời.
Tất cả bầy ma đều có được sự gia trì của Diệu Sắc Thân Như Lai, lần lượt biến thành Địa Tạng tí hon.
Địa Tạng tí hon lại nhận được sự gia trì của vô lượng quang.
Thân tâm thanh tịnh.
Thuyền pháp hướng về Tây phương Cực Lạc thế giới……
Kết quả là, Liên Hoa Già Vấn tận mắt nhìn thấy tất cả.
Quả nhiên tương ứng rồi.

Tôi viết một bài thơ: 

**Ba năm siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp**

*Bệnh dịch ba năm
Tôi không giấu
Vì nghìn chiếc thuyền pháp
Chẳng lỡ một đêm nào.*

*Trăng lên cao
Trời lạnh
Tôi lên pháp tọa
Chính ở nơi bức bình phong
Ai biết đã là canh năm.*

*Chỉ là thương cảm
Những con người có giấc mộng ngắn ngủi
Đừng lưu luyến nữa
Mau mau đến Tây phương
Còn chưa muộn.

Một giọt nước mắt rơi trên gối
Không vì cái gì
Chỉ vì một lời nguyện
Một mình ngồi đó
Một con người thêm tiều tụy.*


### 31. Ma điện thoại di động


Có một con ma đang xem điện thoại.
Tôi đi đến gần nó, nó hoàn toàn không nhận ra. (Nó đang say sưa rồi.)
Tôi cười, hỏi:
”Làm ma rồi mà vẫn xem điện thoại sao?”
Nó ngẩng đầu lên nhìn tôi:
”Lư Sư Tôn! Tây phương Cực Lạc thế giới có điện thoại di động không?”
Tôi bị hỏi như vậy thì sững người ra.
”Có hay không có?” - Ma hỏi.
Tôi cười ha ha:
”Không biết.”
Tôi hỏi:
”Anh bị chết thế nào vậy?”
Ma đáp:
”Vừa đi vừa xem điện thoại, trước mặt có người đang thi công, là sửa chữa công trình dưới lòng đất, có một cái hố lớn. Xung quanh hố có biển cảnh báo, tôi đẩy biển cảnh báo và tiếp tục xem điện thoại, kết quả là rơi xuống hố, thế là chết.”
Tôi nói:
”Anh là con ma điện thoại!”

Tôi nói với ma điện thoại:
”Tôi không có điện thoại di động.”
Ma nói:
”Động vật hiếm có!”
Tôi nói:
”Tôi là người nguyên thủy.”
Ma hỏi:
”Ngài không có điện thoại, làm sao liên lạc với đồng môn?”
Tôi đáp:
”Không ai có thể liên lạc với tôi, tôi chỉ chuyên tâm nhất trí tu hành.”
Ma hỏi:
”Tu hành phải không có điện thoại sao?”
Tôi đáp:
”Cũng không phải. Chỉ là tôi nghĩ không để điện thoại chiếm dụng quá nhiều thời gian của tôi.” (Con người sống thời gian không nhiều.)
Ma hỏi:
”Làm sao để không nghiện điện thoại?”
Tôi đáp:
”Tự kiềm chế.”
Ma hỏi:
”Tôi cũng biết là phải tự kiềm chế. Nhưng kiềm chế không được!”
Tôi nói:
”Đây là vì nỗ lực không đủ.”
Ma hỏi:
”Lư Sư Tôn! Xin ngài dạy tôi tự kiềm chế và nỗ lực.”
Tôi nói:
”Được!”

Tôi nghĩ cách lấy hết những tư tưởng khái niệm về điện thoại di động từ trong não của anh ta ra. (Tôi thỉnh Tư Duy Bồ Tát đến để lấy hết cơn nghiện.)
Tôi gia trì cho anh ta.
Anh ta đã quên luôn điện thoại rồi.
Tôi giấu điện thoại của anh ta đi.
Sau đó tôi dạy anh ta:
”Một ngày tới bảy ngày, niệm Phật không ngừng nghỉ.” (ban chu tam muội)
Sau cùng, tôi đã đưa anh ta lên thuyền pháp, anh ta đã đến Phật quốc tịnh thổ rồi.

Tôi phát hiện ra xã hội hiện đại có một thứ mê hoặc mới, thứ mê hoặc này chính là điện thoại di động.
Sự phát triển của kỹ thuật tốt hay không tốt?
Phải có nhân ái.
Phải có trí tuệ.
Không thể quên kết luận cuối cùng này!
Tất cả việc làm của chúng ta nếu quá đà đều không tốt. Tôi là hành giả Trung quán.


### 32. Ma hồ


Trước đây tôi từng viết:
Ở phía trước cách Seattle Lôi Tạng Tự không xa có một cái hồ, tên gọi là hồ Sammamish.
Hồ này tôi từng xuống để bơi.
Nước chảy rất xiết.
Khi tôi xuống bơi, mở mắt ở dưới nước, tôi bị dọa cho giật nảy mình.
Bởi vì tôi nhìn thấy một khuôn mặt rất to.
Lông mày, mắt, mũi, miệng, tai, vô cùng rõ ràng.
Thì ra đó là: ma hồ.
Sau này, 
Ma hồ đã cứu mạng người.
Nó được thăng lên làm thần hồ.
Sự việc này tôi đã viết ở trong sách thời kỳ đầu.

Bây giờ, tôi lại viết về ma hồ.
Ma hồ này không ở trong hồ Sammamish, mà ở trong cái hồ lớn nhất là hồ Washington. Cái hồ này tôi chưa từng xuống bơi.
Nhưng tôi từng chèo thuyền nhỏ, từng bơi thuyền trên mặt hồ. Chủ nhân của chiếc thuyền đó tên là “Hải Tặc”. 
(Đây là biệt hiệu, là do Liên Hỏa, Liên Thế, Liên Chủ đặt cho người đó. Hiện Hải Tặc đã qua đời rồi.)
Có một hôm.
Tôi nhìn thấy một con ma trông rất kì quái, tóc trên đầu nó không ngờ lại là rong rêu, đung đưa lắc lư. Nó đi chân trần, da dẻ trên người màu xanh lam. Hỏi thăm ra thì không ngờ là ma hồ, ma của hồ Washington. Tôi rất hiếu kỳ:
”Sao anh biết ở chỗ tôi có siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp?”
Anh ta đáp:
”Do một con ma hồ người Hoa nói cho tôi biết.”
Tôi hỏi:
”Anh sống ở trong hồ ra sao?”
Anh ta kể với tôi:
Anh ta ăn chay.
Anh ta cũng niệm Phật.
Anh ta cũng tu thiền định.
Anh ta tận lực cứu người, cứu tất cả sinh vật.

Tôi hỏi:
”Vì sao anh lại ăn chay? Ai dạy anh?”
Anh ta đáp:
”Lúc tôi còn sống là hội viên của hội bảo vệ động vật, từ việc không sát sinh mà ăn chay.”
Tôi hỏi:
”Vì sao anh niệm Phật? Vì sao học thiền định?”
Anh ta đáp:
”Lúc còn sống, tôi học yoga, thầy giáo là tín đồ Phật giáo, cho tôi mượn sách Phật giáo đọc, nên tôi mới biết niệm Phật, học thiền định.”
Tôi hỏi:
”Anh ở trong hồ ăn mặc thế nào? Sống ở đâu? Đi lại làm sao?”
Anh ta đáp:
”Lấy rong rêu làm quần áo, lấy đá trong hồ làm chỗ ở, nhờ nước hồ mà đi lại.”
Tôi hỏi:
”Anh ăn chay, trong hồ ăn chay thế nào?”
Anh ta đáp:
”Trong hồ rất nhiều cỏ dại, không thành vấn đề.”
Tôi hỏi:
”Anh từng cứu bao nhiêu người rồi?”
Anh ta đáp:
”Không nhớ nổi, người rơi xuống nước cũng không ít đâu.”
Chà!
Tôi kính trọng anh ta, tán thưởng anh ta, bái phục anh ta, anh ta là một con ma hồ có lương tri.
Tôi quán đảnh quy y cho anh ta.
Đưa anh ta lên nghìn chiếc thuyền pháp.


### 33. Ma nhớ quê hương


Tô gặp một con ma, anh ta thường né tránh bầy ma, không đi đến nơi ồn ào, đơn độc một mình.
Có đôi khi.
Trong mắt anh ta ánh lên nước mắt, đúng là “giọt nước mắt long lanh”.
Tôi hỏi nói:
”Sao thế?”
Anh ta đáp:
”Nhớ quê.”
Tôi hỏi:
”Quê anh ở đâu?”
Anh ta đáp:
”Thanh Hải.”
Tôi tiện mồm nói:
”Thanh Hải xanh, Hoàng Hà vàng, lại có cả sông Kim Sa cuồn cuộn.”
Anh ta nghe thấy tôi nói câu này thì cười lên một cái, rồi lại chìm vào trong trầm tư.

Tôi hỏi:
”Thanh Hải chỗ nào?”
Nó đáp:
”Hoàng Trung.”
Tôi nghe xong thì chấn động, đó chẳng phải là nơi có chùa Tháp Nhĩ sao? [Tháp Nhĩ Tự - Tu viện Kumbum] Tổ sư Hoàng giáo Tsongkhapa đã sinh ra ở nơi đó.
Tôi hỏi:
”Anh là dân tộc Tạng à?”
Anh ta đáp:
”Đúng vậy.”
Tôi hỏi:
”Vợ anh thì sao?”
Anh ta đáp:
”Vợ chồng vốn như chim cùng rừng, đại hạn ập đến thì tách nhau ra bay.”
Tôi nói:
”Anh hiểu được câu nói này!”
Anh ta đáp:
”Tôi hiểu được câu nói này.” (Người học Phật đều hiểu.)
Tôi nói với anh ta:
”Đời người không phải là sinh ly thì cũng là tử biệt. Tôi cũng có nỗi nhớ quê hương giống anh, người tôi ở nước Mỹ, tim tôi ở Đài Loan. Con người vào những thời điểm quan trọng, nỗi nhớ quê hương đều sẽ trỗi dậy trong lòng.”
Anh ta nói:
”Đúng vậy, đúng vậy, chính là như vậy.”

Tôi hỏi:
”Anh đã đọc bài thơ “Nhớ quê” của nhà thơ Dư Quang Trung chưa?”
Anh ta đáp:
”Chưa đọc.”
Tôi ngâm bài thơ “Nỗi nhớ quê của tôi”:

*Thiếu niên, thanh niên, tôi ở nơi đó
Tráng niên, lão niên, tôi ở nơi này
Tôi nhớ về nơi đó
Càng nghĩ càng hoài niệm nơi đó
Người ở nước Mỹ
Tim ở Đài Loan
Chỉ mong
Thái Bình Dương chỉ là một dòng suối nhỏ
Bắc lên một cây cầu
Tôi đi đến nơi đó
Cũng đi đến nơi này.*

Anh ta nghe xong bài thơ của tôi thì khá xúc động, anh ta hỏi:
”Lư Sư Tôn! Tôi có thể đi đi về về như vậy không?”
Tôi nói:
”Đến Tây phương Cực Lạc thế giới, vì có lực gia trì, rất nhanh có thể thành tựu. Chỉ cần thành tựu rồi thì sẽ có thần túc thông, đến đi mười phương thế giới chỉ trong nháy mắt thôi.”
Anh ta nghe xong rất vui mừng.
Tôi nói:
”Tashi delek.” (cát tường viên mãn)


### 34. Ma khóa tụng kinh sám


Khi tôi còn trẻ, nhà ở Đài Trung. (Khi ấy tôi mới ngoài 20 tuổi.)
Đài Trung có ba ngôi chùa: (lấy chữ Từ đứng đầu)
Chùa Từ Thiện — Pháp sư Chấn Quang.
Chùa Từ Minh — Pháp sư Thánh Ấn.
Chùa Từ Âm —  Pháp sư Thiện Tứ. 

Pháp sư Chấn Quang vừa là thầy vừa là bạn, chúng tôi nói chuyện với nhau mọi thứ, có qua lại với nhau, thầy ấy thường đến nhà tôi.
Pháp sư Thánh Ấn, tôi đến chùa Từ Minh thăm viếng thầy ấy, còn thầy ấy thường đến nhà hàng xóm của tôi để thăm đạo sư Ấn Thuận, thường xuyên gặp mặt.
Pháp sư Thiện Tứ (thầy Trần) khi chưa xuất gia, mẹ tôi và tôi ở chùa Từ Âm học khóa tụng kinh sám.

Tôi nhớ có một hôm.
Ngoài giờ học, tôi ở chùa Từ Âm hát một bài “Lư hương tán”, bài hát này là do pháp sư Thượng Lâm ở chùa Từ Minh dạy cho tôi.
Lúc này, thầy Trần ở trong phòng làm việc xông ra.
Hét lên một tiếng: 
”Là ai hát?”
Tôi nói:
”Trò hát.”
Thầy Trần nói:
”Khó nghe chết đi được!”
Tôi ngây người ra tại chỗ, bị mắng đến tối tăm mặt mũi.
Thầy Trần nói:
”Ở chỗ của tôi chỉ được hát bài tôi dạy, biết chưa?”
Tôi nói:
”Vâng, vâng, vâng.”
Thầy Trần thường ca ngợi một nhóm tụng kinh ở Vụ Phong là do thầy Trần dạy dỗ, là nhóm tụng hay nhất,
Tôi ở chỗ của thầy Trần (pháp sư Thiện Tứ) học được:
Lư hương tán. [Bài ca ngợi lư hương]
Thập phương nhất thiết sát. [Mọi ngôi chùa khắp mười phương]
Chí tâm tín lễ.
Cúi đầu quy y.
Tựa như mặt Phật.
A Di Đà Phật thân kim sắc.
Giới định chân hương.
Vân vân và vân vân.
(Lúc đó cách bây giờ dường như đã rất xa rồi, đó là việc của 50 năm trước.)

Gần đây.
Sư Mẫu (Thượng sư Liên Hương) thường xuyên vô duyên vô cớ nghe thấy tiếng tụng kinh ở phía trên của Nam Sơn Nhã Xá. 
Nghe được pháp thân Phật thanh tịnh, v.v…
Ngày nào cũng nghe thấy.
Thì ra có một bầy ma khóa tụng kinh sám đến nhà tôi, số người không ít.
Tôi tìm đến một người có tuổi hỏi:
”Các người từ đâu đến?”
Người đó nói:
”Đài Trung.”
Tôi hỏi:
”Ngôi chùa nào ở Đài Trung?”
Người đó nói:
”Chùa Từ Âm.”
Tôi giật nảy mình, nhóm tụng kinh của chùa Từ Âm.
Tôi nói:
”Tôi cũng từng học kinh sám ở chùa Từ Âm, vậy các người là sư huynh tỉ của tôi rồi.”
Người đó nói:
”Không dám không dám, hiểu đạo có trước sau, kỹ nghệ có chuyên môn, Lư Sư Tôn, chúng tôi đến để nương nhờ vào ngài!”
Tôi nói:
”Các vị đều là sư huynh tỉ, không cần khách khí. Cũng đều là người cùng quê, khiến người ta cảm khái!”
Tôi nhớ đến kinh sám mà tôi đã học ngày xưa.


### 35. Hồn ma của Ma Thần


Có một vị tiểu Mahakala từ Ấn Độ, Tây Tạng, Trung Quốc đến Nam Sơn Nhã Xá. 

Khi tôi biết vị đó là Mahakala (Đại Hắc Thiên) thì gợi cho tôi tâm hiếu kỳ. Tôi muốn biết mọi việc về Mahakala.
Tôi hỏi thân phận của ngài:
”Ngài ăn mặc như Mahakala, nhưng vì sao lại nhỏ như vậy?”
Ngài đáp:
”Tôi là con trai do Mahakala và Laksmi sinh ra.” (Con trai của Đại Hắc Thiên và Cát Tường Thiên.)
Tôi cười, chả trách mà lại nhỏ như vậy.

Tôi rất phấn khởi hỏi:
”Nguồn gốc của Đại Hắc Thiên là thế nào?”
Ngài đáp:
”Ngài ấy vốn là Ma Thần của Đại Thiên Shiva của Ấn Độ.” (Shiva là Đại Tự Tại Thiên - Thần Hủy Diệt.)
Tôi hỏi:
”Vì sao ngài ấy lại trở thành thần Hộ Pháp đứng đầu ở vùng Tây Tạng?”
Ngài đáp:
”Long Thụ Bồ Tát đi dạo bên sông Hằng, từ thượng du trôi đến một bức tượng thần. Long Thụ Bồ Tát vớt về, đem đến tu viện Nalanda, bức tượng thần mà Long Thụ Bồ Tát nhặt về đó chính là Mahakala Đại Hắc Thiên.”
Tôi hỏi:
”Thế ngài ấy đến Tây Tạng như thế nào?”
Ngài đáp:
”Đến thế kỷ thứ 11, vị đại dịch giả của Tây Tạng là Rinchen Zangpo đã đưa Ma Thần của Ấn Độ vào Tây Tạng, do đại uy thần lực của Mahakala mà ngài mới trở thành thần Hộ Pháp lớn nhất ở Tây Tạng.”

Điểm này tôi đã hiểu:
Rất nhiều Thiên Thần của Ấn Độ (Thiên Trúc) chuyển hóa thành thần Hộ Pháp của Phật giáo.
Ví dụ:
Mahakala.
Cát Tường Thiên.
Diệu Âm Thiên.
Kali (Nữ Thần Núi Tuyết).
Trường Thọ Ngũ Thiên Nữ.
Rất nhiều vị khác như thế.

Tôi hỏi:
”Mahakala đến Trung Quốc như thế nào?”
Ngài đáp:
”Thời đại triều Nguyên, Hốt Tất Liệt [Khubilai Khan, cháu trai của Thành Cát Tư Hãn - Genghis Khan] rất cung kính Mahakala, ở trong quân đội mọi lúc đều thờ cúng, khi ra trận cũng cầu nguyện Mahakala, vì thế mà luôn chiến thắng.”
Còn nữa:
”Hoàng Thái Cực triều Thanh có một vị Mahakala do vị hoàng đế đầu tiên để lại, vì thế đã xây một ngôi chùa Mahakala tại Bắc Kinh.”
(Bởi thế mà Mahakala ở Thiên Trúc, Tây Tạng, Trung Quốc đều rất được tôn sùng.)

Tôi hỏi:
”Đặc trưng của Mahakala là gì?”
Ngài đáp:
”Trên đầu có mũ miện năm sọ người, tượng trưng cho ngũ độc hóa ngũ trí.”
”Trước ngực đeo năm mươi mốt cái đầu người, tượng trưng đã chỉnh đốn năm mươi mốt tâm.”
”Tay phải cầm dao cong, cắt đứt mọi phiền não, bám chấp.”
”Tay trái cầm xương sọ người, đựng đầy cam lộ, tượng trưng cho thanh tịnh.”
Tôi hỏi:
”Vì sao ngài lại đến chỗ tôi?”
Tiểu Mahakala nói:
”Tôi muốn đến Tây phương Cực Lạc thế giới.”
”Vì sao?” - Tôi hỏi.
”A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát cũng là bản địa của tôi.”
A!
Bây giờ tôi mới biết, bản địa của Mahakala không ngờ lại cùng một cội nguồn với tôi.


### 36. Đại Hắc Thiên (Mahakala)


Theo như tôi biết:
Đại Hắc Thiên có bốn loại năng lực:
1. Thần chiến đấu — có thể ẩn thân phi hành, vô lượng quỷ thần làm quyến thuộc, sức mạnh chiến đấu là vô cùng.
2. Thần nhà bếp — có thể khiến lương thực dồi dào, cho nên có người thờ phụng ngài trong nhà bếp.
3. Thần canh mộ — có thể sai bảo ma quỷ, cho nên là một trong các vị chủ của mồ mả.
4. Thần phúc đức — có thể ban cho người nghèo tư lương dồi dào, gia tăng của cải.
(Ngài là một trong bảy vị Tài Thần của Đông mật Nhật Bản.)

Văn cầu nguyện Đại Hắc Thiên như sau:

*Hum.
Lễ bái Tốc Giác Hành Nguyên Quán Tự Tại
Chân đeo trang sức dẫm lên Vua Đầu Voi
Bậc Đại Hắc giả thân quấn áo da hổ
Sáu cánh tay rắn quấn càng trang nghiêm
Tay phải ở trên cầm dao cong nạm ngọc
Tay phải ở dưới mạnh mẽ gõ trống xương
Tay trái phân ra cầm đầu lâu máu và xiên nhọn
Và sợi thừng có móc làm sự nghiệp trói buộc
Tướng mặt phẫn nộ nhe răng nanh nhọn
Ba mắt trợn trừng chằm chằm nhìn thẳng
Giữa hai chân mày ấn ký của tiên
Quan Âm Bồ Tát làm trang sức trên đầu
Cổ đeo năm mươi đầu người còn nhỏ máu
Mũ miện xương sọ trang nghiêm trên đỉnh
Thỉnh mau giáng xuống nhận hoa và mã não
Hành giả ca tụng vị sáu tay thù thắng
Mong theo lời thề hộ trì giáo pháp Phật
Quy y lời thề hoằng dương pháp Tam Bảo
Thượng sư đồ đệ và quyến thuộc nghịch duyên
Cùng các chướng ngại cúi mong hãy phá hủy
Xin mau ban thành tựu mọi việc như ý nguyện.
Hum.
Thượng sư hộ chủ không ai khác
Hành giả chí tâm nương dựa vào
Xin trừ tất cả điều bất tịnh
Của chúng hữu duyên và con đây
Hộ chủ thượng sư không ai khác
Hành giả chí tâm nương dựa vào
Xin trừ hết nghịch duyên chướng ngại
Của chúng hữu duyên và con đây
Đem công đức này hồi hướng đời tương lai
Mong được thọ trì dòng chảy pháp thù thắng
Trừ hết nghịch duyên được tất cả thuận duyên
Chứng đắc cảnh giới Thượng sư hộ chủ không khác biệt.*

Pháp tu trì như sau:
Tứ quy y. Tứ vô lượng tâm. Phát bồ đề tâm. Tịnh nghiệp quán không.
Quán tưởng:
Từ chữ ཧཱུྃ biến hóa thành Bổn tôn Đại Hắc Thiên. Chân dẫm lên Vua Đầu Voi. (Hình tượng của Đại Hắc Thiên trong văn cầu thỉnh.)
Chú: “Ôm ben-za ma-ha-ka-la ka-na-pi na-ya-ka hùm hùm pây pây sô-ha.” (vô số lần)
Thủ ấn: ấn phẫn nộ.
Nhập ngã ngã nhập.
Bài kệ tán thán:
*Mahakala
Cùng ta không rời
Thanh tịnh tam nghiệp
Chí tâm quy mệnh.
Mong chúng sinh ta
Nghiệp bẩn tiêu diệt.*

Chú ý: Nếu tu trì Mahakala và các quyến thuộc thì pháp tu trì sẽ rất dài, phải phụng thỉnh lần lượt từng vị một và cúng dường lần lượt từng vị một.
Pháp tu trì của tôi là bản cực ngắn.


### 37. Tôi và Pháp Vương Karmapa đối thoại


Om Karmapa hum. 
Kính lễ Karmapa.
Tôi hỏi:
”Xin hỏi Pháp Vương ngày thường tu trì thế nào?”
Pháp Vương đáp:
”Ban ngày tu Độ Mẫu, ban đêm tu Hộ pháp.”
Tôi hỏi:
”Vì sao tu Độ Mẫu?”
Pháp Vương đáp:
”Dễ tương ứng.”
Tôi hỏi:
”Hành giả ở nhân gian, quan trọng nhất là cái gì?”
Pháp Vương đáp:
”Vĩnh viễn duy trì được cái tâm quang minh.”
(Mấy câu trả lời đơn giản ngắn gọn này của Pháp Vương Thượng sư, tôi mãi mãi ghi nhớ trong tâm.)

Pháp Vương Karmapa có những chỉ dạy sau đây về tu pháp hoàn chỉnh của pháp Mahakala:
Bổn tôn Mahakala là Quan Âm hóa thân, theo lời dặn dò của A Di Đà Phật mà độ hóa chúng sinh.
Lục Độ Mẫu, Bạch Độ Mẫu đều phát nguyện giúp Mahakala hàng ma độ hóa chúng sinh.
Tu pháp Mahakala có ba lợi ích lớn:
1. Có thể nhanh tương ứng.
2. Lâm chung không nhập tam giới.
3. Vĩnh viễn đóng cửa ba ác đạo.

Phương diện cúng dường có:
Cúng trên [cúng Phật Bồ Tát chư Thiên], cúng dưới [cúng chúng sinh], cúng Hộ pháp, cúng sơn thần thổ địa, cúng tứ sinh lục đạo.
Lập đàn thành. 
Đặt một vị Mahakala. Bổn tôn là một bức tướng to, còn các bức khác thì nhỏ bằng một nửa đặt ở hai bên.
Trước tiên đặt Vua Đầu Voi ở dưới chân Mahakala.
(Quán tu Mahakala trong bài văn cầu thỉnh ở chương sách trước.)

Còn nữa,
Phía trước bên trái Bổn tôn, đặt Cát Tường Thiên Mẫu.
Phía trước bên phải Bổn tôn, đặt Kháp Trát Ba Lạp Đại Tướng.
Chếch bên phải đặt Tạp Mễ Trát Đại Tướng.
Sau lưng đặt Tạp Cách Nhạ Tạp Đại Tướng.
Chếch bên trái đặt Đổ Nhã Ca Tạp Đại Tướng.

Những vị khác:
Thập phương vô thượng Hộ pháp tôn, thiên long bát bộ, nhật nguyệt tinh tú, bát thiên, bát đại Long Vương, tứ đại Thiên Vương, hai mươi tám tinh tú, ác sát cửu tinh.
Những vị này và Cát Tường Thiên Mẫu tổng cộng là bảy mươi lăm vị.
Thậm chí Thiên Ma đều là quyến thuộc.
Triệu thỉnh các vị phẫn nộ đều hạ giáng bảo vệ cho hành giả.
Tụng chú triệu thỉnh.
Niệm: “Mahakala yê tang”.

Cúng dường: trước tiên cúng Mahakala, tiếp theo cúng Cát Tường Thiên Mẫu, sau đó cúng bảy mươi lăm vị đại quyến thuộc.
Sau cùng cúng Hộ pháp chư Thiên, chủ của tam giới, thiên long bát bộ, sơn thần thổ địa, lục đạo quyến thuộc.
Kính lễ: Nam mô tứ thân Phật, nam mô vô thượng Kim Cương Trì, nam mô Thượng sư truyền pháp, nam mô Mahakala.
Cuối cùng tu pháp Bổn tôn, giống như tu trì bản tinh giản pháp Mahakala trong chương trước.
Quán tưởng (kết ấn).
Tụng chú.
Nhập Tam ma địa.
(Như vậy mới là tu trì theo bản hoàn chỉnh.)


### 38. Nhắc nhở quan trọng về đại pháp hóa cầu vồng


Tôi (Liên Sinh Hoạt Phật) dạy mọi người như thế này:
Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp bốn mươi chín năm, tám vạn bốn nghìn pháp.
Trọng điểm nằm ở:
Quán — một thừa tuyệt đối. (không có tương đối)
Tu — thanh tịnh. (thân, khẩu, ý)
Hành — không hư vọng. (không tạo tác)
Quả — hóa cầu vồng.

Những thứ ở trên thân thể con người:
Ngoại tại — giữ giới luật.
Nội tại — khí, mạch, minh điểm.

Chú ý:
Về mặt tu pháp phải có thói quen dùng ánh sáng để thanh tịnh hành giả.
Phải có tâm từ bi.
Có tâm bố thí.
Trong Mahayoga, chú trọng hợp nhất, hợp nhất tương ứng cùng Bổn tôn. Bổn tôn là ta, ta là Bổn tôn.
Trong Anuyoga, tu khí, tu mạch, tu minh điểm.
Trong Atiyoga, sát-na thành Phật quả.

Tôi nói:
Trekcho tức là chỉ đoạn [dừng và cắt đứt].
Thogal tức là đốn siêu [lập tức vượt qua].
Đây chính là chính đẳng chính giác vô thượng thượng. (đốn siêu)

Tôi muốn nói với mọi người:
Thân thể của bạn chính là đàn thành hoàn mỹ,
Bạn chính là pháp thân Phật thanh tịnh,
Bạn lấy Phật pháp để làm trang nghiêm báo thân của chính mình,
Bạn bố thí chúng sinh chính là ứng thân của bạn,
Đây là ba thân
Cũng là không khác biệt, bạn cũng là Bản Sơ. (Bản Sơ Phật)
Quá trình bạn tu hành là vì đỉnh cao của cửu thừa,
Đó chính là hóa cầu vồng.

Sự gia trì của tôi là:
Để bạn biết thức tỉnh
Đây chính là gia trì thứ nhất.
Để bạn dừng lại tam nghiệp thân khẩu ý
Đây chính là gia trì thứ hai.
Để bạn cắt đứt tham sân si nghi mạn, v.v…
Đây chính là gia trì thứ ba.
Để bạn hiểu tự lợi lợi tha
Đây chính là gia trì thứ tư.
Đây chính là nguyện lực thần thánh
Để tiếp tục huệ mệnh của Phật.

Thế nào là hóa cầu vồng?
Dùng tu chuyết hỏa, tu minh điểm thủy,
Mở ra đàn tràng của trung mạch tự thân,
Sau đó
Mi tâm. Bạch quang.
Hầu. Hồng quang.
Tâm. Lam quang.
Tề. Hoàng quang.
Mật. Lục quang.
Năm luân xa này đều giải thoát, khai mở.
Đại lạc. Quang minh. Tính Không.
Rồi lần lượt có thể chứng minh.
Trong đại lạc, là Kim Tiên.
Trong quang minh, hóa ra ánh sáng cầu vồng.
Trong tính Không, hư không viên mãn.
Đây chính là Kim cương thừa.
Chính đẳng chính giác vô thượng thượng.


### 39. Bút kí hoằng pháp (1)


**Mãn Nguyện Đồng Tử**

Mãn Nguyện Đồng Tử tức Hà Diệp Đồng Tử.
Phạn ngữ: Băng Yết La Đồng Tử.
Quán tưởng:
Trong hư không.
Từ chữ: 


![image](/img/img_98ccdde849201dbffc2b8ee3e58a9075.png)


sinh ra cái bát của Phật Thích Ca Mâu Ni. 
Từ trong bát mọc ra lá sen.
Trên lá sen xuất hiện Mãn Nguyện Đồng Tử.
Hình tượng:
Trên đầu có ba búi tóc. (cũng có hình tượng năm búi tóc)
Tướng mạo mũm mĩm mỉm cười. (như em bé)
Hoặc ngồi hoặc đứng trên lá sen.
Tay trái cầm quả cát tường.
Tay phải kết ấn ban nguyện.
(Hình tượng đứng thì tay phải chỉ trời, tay trái kết ấn ban nguyện.)
Chủng tử chữ “La” (phát âm), tức là chữ:


![image](/img/img_a12f98634f8eee1a31c32c4801c99d50.png)


Chú ngữ: “Ôm bi-li-yin-ca sô-ha.”

Mãn Nguyện Đồng Tử này có chú ngữ tiếng Hoa, phải được Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Thượng sư đích thân trao truyền.
Tụng chú phải đủ 100.000 biến.
Tu pháp Mãn Nguyện Đồng Tử, tất cả ác quỷ thần không thể quấy nhiễu, hành giả cầu gì đều được như ý.

Nguồn gốc của Mãn Nguyện Đồng Tử: (Trong cuốn sách trước đây của tôi đã từng nhắc đến.)
Là con trai thứ 500 của Ha Lê Đế Mẫu.
Vì Ha Lê Đế Mẫu thích ăn trẻ con nhà người ta.
Phật Thích Ca Mâu Ni vì giáo hóa Ha Lê Đế Mẫu nên đã dùng thần thông lực để bắt Mãn Nguyện Đồng Tử, giấu trong cái bát của ngài.
Ha Lê Đế Mẫu không tìm được đứa con trai nhỏ nhất của mình.
Khóc cầu Phật Đà.
Phật Đà khuyên răn Ha Lê Đế Mẫu:
”Bà chuyên ăn thịt con của người ta, khi chính bà mất đi đứa con trai thì đã khóc thành ra như vậy rồi, thế con của người ta thì sao đây?”
Ha Lê Đế Mẫu tỉnh ngộ.

Phương pháp của Phật Đà là:
”Điều mình không muốn, đừng làm nó với người khác.”
Thế là Phật Thích Ca Mâu Ni dạy các đệ tử Phật phải làm thí thực:
”Đại bàng Kim Sí Điểu
Hoang dã quỷ thần chúng
La sát Quỷ Tử Mẫu
Cam lộ đều tràn trề.”
Chú: “Ôm mu-ti-li sô-ha.”
Quỷ Tử Mẫu ở đây tức là Ha Lê Đế Mẫu.

🌟

**Năng Tỏa Hoại Độ Mẫu**

Quán tưởng:
Trên nhật luân hoa sen màu đỏ.
Chủng tử chữ “Tu” ཏུ

Biến thành Hắc Độ Mẫu, mặc y phục màu vàng.
Tướng phẫn nộ.
Tóc búi lên.
Một mặt bốn tay.
Tay phải cầm pháp luân, cầm kiếm.
Tay trái cầm hoa sen (trên hoa sen có chày), và kết ấn phẫn nộ. 
Trên đầu là Bảo Sinh Phật.
Chú ngữ:
”Ôm ta-ra tu-ta-ra tu-ra sô-ha hùm hùm pây.”
Kệ tán thán:
Kính lễ Năng Tỏa Hoại Độ Mẫu
Có thể bẻ gãy mọi chướng ngại
Bảo hộ hành giả mọi tu trì
Mau mau chứng đắc bồ đề quả.
(Có thể tự mình viết bài kệ tán thán.)


### 40. Bút kí hoằng pháp (1)


**Ngũ Sắc Bất Động Minh Vương**

Quán tưởng: 
Chủng tử chữ “Han”: 


![image](/img/img_3bb5fea5dff462df53bc611bbcb0fecb.png)


Hóa thành Ngũ Sắc Bất Động Minh Vương. (Xếp hàng theo ngũ hành)
Phía đông — Bất Động Minh Vương màu lam. (hoặc màu xanh đen) (hàng phục)
Phía nam — Bất Động Minh Vương màu đỏ. (kính ái)
Phía tây — Bất Động Minh Vương màu trắng. (tiêu tai)
Phía bắc — Bất Động Minh Vương màu đen. (trừ chướng)
Ở giữa — Bất Động Minh Vương màu vàng. (tăng ích)
Hình tượng:
Mặt cực kì phẫn nộ, mắt một to một nhỏ, nhìn giận dữ.
Môi dưới bặm lên môi trên.
Để lộ răng nanh.
Tóc xoăn.
Tay phải cầm kiếm, trên kiếm có rồng lửa.
Tay trái cầm thừng, là thừng kim cang.
Xung quanh thân là lửa. (hoặc ngồi hoặc đứng)
Thủ ấn: kiếm ấn.
Chú: “Nam-mô san-man-tô mô-thô-nam wa-zư-la lan han.”
(Han là phát âm của chữ chủng tử.)

Ngũ Sắc Bất Động Minh Vương là đàn tràng do một vị hòa thượng Nhật Bản thiết lập, vì kẻ địch đến công thành, hòa thượng vì bảo vệ thành trì mà thiết lập đàn thành.
Tác dụng là:
Kết giới.
Quét sạch kẻ địch ngoại xâm.
Bảo vệ thành trì.
Tiêu diệt kẻ địch.
Hành giả tu pháp này, tất cả chướng ngại đều có thể tiêu diệt.
Tiêu diệt nghiệp chướng nhiều kiếp, ngăn chặn ác quỷ và bùa ngải giáng đầu.
Nếu niệm thêm Cửu tự chân ngôn: “Lâm binh đấu giả giai trận liệt tại tiền”.
Có thể kết giới.
Quốc gia, gia đình, đàn thành, cá nhân, v.v…
Phòng chống bên ngoài, bảo vệ bên trong.
Không nhập tam ác đạo.
Nếu tương ứng với Bất Động Minh Vương có thể nhanh chóng thành Phật.

🌟

**Vạn Phật Thủ Vô Cực Nhãn Diêu Trì Kim Mẫu**

Thủ ấn: ấn Diêu Trì Kim Mẫu.
Cũng có thể dùng ấn Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát.
Chủng tử tự: Seh màu đỏ. 


![image](/img/img_6497ee07e1172a1f8bbb9965a10cac1c.png)


Quán tưởng:
Chủng tử tự màu đỏ hóa ra:
Ở giữa là Diêu Trì Kim Mẫu.
Có vạn cánh tay ở xung quanh.
Trong bàn tay có vạn con mắt.
Đây là sự đại hiển hóa của Diêu Trì Kim Mẫu.
(Tượng trưng Diêu Trì Kim Mẫu thiên biến vạn hóa. Quan Thế Âm Bồ Tát có trăm nghìn triệu hóa thân, Diêu Trì Kim Mẫu cũng như vậy.)
Chú: “Ôm chin-mủ sit-đi ta-mô sê.”

Nguồn gốc:
Hiện tại ở Đài Loan có cả nghìn ngôi miếu Diêu Trì Kim Mẫu, còn trên toàn thế giới thì có cả vạn ngôi miếu. 
Chân Phật Tông có năm triệu đệ tử, người người đều thờ Diêu Trì Kim Mẫu, tức Diêu Trì Kim Mẫu có năm triệu hóa thân.
A Di Đà Phật có ba mươi sáu vạn tỉ mười một vạn chín nghìn năm trăm đồng danh đồng hiệu hóa thân.
Diêu Trì Kim Mẫu đương nhiên cũng vậy.
Diêu Trì Kim Mẫu đang phổ hóa chúng sinh.
Đây là nhân duyên vô cùng hiếm có.

Chú thích của người biên tập:
Vào ngày 8/1/2023, tại Hoàng Đế Lôi Tạng Tự ở Đài Loan, Liên Sinh Hoạt Phật đã chủ trì pháp hội thủy cúng Diêu Trì Kim Mẫu tiêu tai cầu phúc đón Thần Tài. Khi truyền pháp, ngay tại đó ngài đã thị phạm kết thủ ấn Vạn Phật Thủ Vô Cực Nhãn Diêu Trì Kim Mẫu là: ngón tay của hai bàn tay đan chéo nhau, hai ngón giữa giơ thẳng chạm vào nhau, ngón áp út và ngón trỏ úp vào nhau gập xuống. Ở giữa chính là Diêu Trì Kim Mẫu, bên cạnh là tay và mắt của ngài, như hình sau:


![image](/img/img_45f5e71a485b3b7d4d775aea919e3d6d.png)



### 41. Nói về hóa thân bên ngoài thân


Chương sách này ghi lại cuộc đối thoại giữa tôi và Liên Hoa Lệ Phi. 

Tôi hỏi:
”Cô nhìn thấy phân thân của tôi đúng không?”
Lệ Phi đáp:
”Dạ vâng Lư Sư Tôn!”
Tôi hỏi:
”Nhìn thấy như thế nào?”
Lệ Phi đáp:
”Vào ngày 4 tháng 5, khi đệ tử Liên Hoa Lệ Phi ở sân bay chờ máy bay, mở mắt tu pháp, đột nhiên nhìn thấy Lư Sư Tôn rất to lớn hiện lên ở trước mặt, vô cùng kỳ diệu.”
Tôi hỏi:
”Cảm giác của cô thế nào?”
Lệ Phi đáp:
”Đây là nhìn thấy thật, cảm động không thể mô tả, thân tâm trong sát-na trở nên cứng đờ ra, tràn đầy tín tâm, ngập tràn hạnh phúc.”
Tôi hỏi:
”Cô còn nhìn thấy cái gì?”
Lệ Phi đáp:
”Nhìn thấy Tứ Đại Thiên Vương đứng hai bên bảo vệ cho Lư Sư Tôn.”
Tôi hỏi:
”Sau khi nhìn thấy thì cô có cảm nhận thế nào?”
Lệ Phi đáp:
”Cuộc đời thay đổi rất nhiều.”

Lệ Phi lấy ví dụ:
Thường xuyên trong lúc tu pháp nhìn thấy Lư Sư Tôn.
Trong mơ thường mơ thấy Lư Sư Tôn.
Cuộc sống trở nên rất có ý nghĩa.
Tạp niệm trở nên ít đi!
Kiểm soát tình cảm cực kì tốt, không quá vui không quá buồn.
Mỗi ngày làm tốt việc mình nên làm.
Tình thân, tình bạn, tùy duyên.
Đối với danh lợi, không màng.
Hóa thân của Lư Sư Tôn thường ở bên bầu bạn.
Trong khi tu pháp, Bảo bình khí sẽ vô thức tự nhiên khởi động.
Tu pháp thần thủy, nước bọt càng ngày càng nhiều.
Nhìn thấy ánh sáng trắng.
Dòng chảy pháp đầy ắp toàn thân.
Thân kiên cố.
Khi dòng chảy pháp chảy khắp toàn thân, từ đầu đến chân, tự nhiên sẽ hơi chấn động.

Tôi hỏi:
”Về sau cô thường nhìn thấy hóa thân của tôi à?”
Lệ Phi đáp:
”Đúng vậy. Nhất là khi tu pháp tương ứng Liên Hoa Đồng Tử, khi mở mắt ra, nhìn thấy váy Lama màu đỏ, khi ngẩng đầu lên mới nhìn thấy nửa thân trên của Lư Sư Tôn. Sau này thường xuyên nhìn thấy.”
Còn nói:
”Nhìn thấy hóa thân của Lư Sư Tôn thì hết sức vui mừng. Thân thể sẽ nóng lên.”
Và:
”Đệ tử trở nên càng ngày càng vui vẻ!”

Ngày 14 tháng 5 năm 2022. 
Liên Hoa Lệ Phi phải trở về Singapore. (Từ Seattle trở về Singapore.)
Tôi nói với Lệ Phi:
”Hóa thân của tôi sẽ đi cùng cô!”
Lệ Phi nói:
”Đệ tử vui mừng quá!”

Đây là bài ghi chép vô cùng chân thực. Hiện tại, đồng môn nhìn thấy Lư Sư Tôn càng ngày càng nhiều. Đây chỉ là một ví dụ trong số đó.
Chỉ mong, người người tu trì.
Người người thành tựu.


### 42. Không Hành Mẫu ca tụng


Sau khi tôi giảng xong về 52 vị Bồ Tát trong kinh Duy Ma Cật, có vô lượng Không Hành Mẫu ở trong hư không ca tụng tôi.
Ca từ như sau:
*Om ah hum!
Đây là vinh quang của Liên Sinh Hoạt Phật.
Lời thuyết pháp của ngài như cầu vồng
Đó là minh chứng của một bậc thù thắng
Kiểm soát tất cả ma.*

*Ngài đã giải thoát khỏi sự ràng buộc của tham sân si
Bắt đầu từ nay
Hoằng pháp càng hưng thịnh.
Cõi trời bên ngoài cõi trời trong tam giới ấy
Ngài được ấn ký
Giống như Thần Rồng.*

*Ngài là thân thể kim cương bất tử!
An trụ tại không trung
Thành tựu tính Không
Năm mươi hai vị Đại Bồ Tát
Càng thêm tán đồng.*

*Không Hành Mẫu chúng tôi
Muốn thỉnh cầu có thể chứng như vậy
Kết thúc nghiệp lực
Chấm dứt dục lạc
Kết thúc mọi pháp nhị phân
Sẵn lòng làm quyến thuộc theo phục vụ ngài
Dâng lên ngài
Lời ca tiếng hát.*

(Bài ca tụng này vô cùng vui tai cảm động lòng người, tôi nghe xong, xúc động không sao kể xiết.)

Ngoài ra, còn có một bài nữa, ca từ như sau:

*Liên Sinh Hoạt Phật!
Ngài là đại thành tựu giả nương dựa vào giáo pháp bí mật,
Thanh tịnh,
Nhiễm bẩn,
Ngài ở trên vòng nước xoáy,
Ngài là hoa sen.*

*Bát nhã ba la mật vĩ đại,
Ngài đã đạt được chân đế,
Tám pháp thế gian,
Ngài đã xuất ly.
Thế gian,
Xuất thế gian,
Không ở ngoài, không ở trong,
Cũng không ở giữa.*

*Khúc hát mừng vui,
Điệu múa của ánh sáng,
Mái tóc của tính Không,
Ngài chơi đùa trong trò chơi.*

*Gió nghiệp đã hoàn toàn ngừng thổi,
Luân hồi cũng đã đứng im,
Phương tiện thiện xảo của ngài,
Đã cứu vãn vô số chúng sinh.
Ngài có đủ sức mạnh,
Ngài và năm mươi hai vị Đại Bồ Tát hợp nhất,
Tiến vào vùng đất của hoa sen,
Ngài là chày kim cang kiên cố,
Hum!*


### 43. Giải thích giấc mơ của Liên Hoa Trí Hạo


1. Hộ Pháp mandala

Đệ tử đứng ở trung tâm của một mandala rất lớn. Đệ tử bắt đầu tìm kiếm Sư Phật, đi khắp đông tây nam bắc nhưng bốn phương tám hướng chỉ thấy một vị đại Hộ Pháp và Thần Tài cao to vĩ đại, trong lòng nghĩ không tìm được Sư Tôn ở đâu. Đệ tử trở về điểm ban đầu thì thức dậy. Đệ tử đã đi đâu? Vì sao mandala không có Sư Tôn quan trọng nhất?

Câu trả lời của tôi là:
Tôi không có tướng đến.
Cũng không có tướng đi.
Có một ngày,
Anh vĩnh viễn sẽ không nhìn thấy Lư Sư Tôn, đây là điều chắc chắn.
Sao không thử tìm tâm của chính mình?
Tôi ở ngay trong tâm anh đó.

2. Chùa ở Thiên Sơn

Đệ tử mơ thấy mình ở trong ngôi chùa ở trên trời tìm Sư Tôn. Ngôi chùa này được xây ở ngay giữa trời. Khắp bầu trời là những vì sao, hơn nữa chùa rất thanh tịnh trang nghiêm. Bên trong rất nhiều pháp sư Đại thừa. Đệ tử hỏi người lãnh đạo nhóm pháp sư là Sư Tôn ở đâu. Sau đó, vị trưởng lão có râu này cùng đệ tử và pháp sư đi lên đi xuống tìm Sư Tôn. Nhóm pháp sư và đệ tử đi đến ranh giới của chùa nhưng phía nào cũng chỉ nhìn thấy tháp xá lợi mà không tìm thấy Sư Tôn. Khi giấc mơ kết thúc, đệ tử nằm trên giường còn Sư Tôn ở trên trời cao vời vợi, lớn tiếng tâm thông tâm nói với đệ tử: “Hai tháng trước anh chỉ tu nhân thiên đạo, anh phải tu tứ Thánh đạo.” Đệ tử hiểu rồi và sẽ chú trọng tu lục độ vạn hành.

Câu trả lời của tôi là:
Anh không cần tìm tôi nữa, nếu như đông tây nam bắc không tìm thấy, trong chùa cũng không tìm thấy, ở đâu cũng không tìm thấy.
Sao anh không đi hỏi thử Sư Đầu ở nước Anh, cô ấy tất cả đều biết. 
Tu hành quan trọng nhất là tâm xuất ly.
Người và trời không có tâm xuất ly thì vẫn ở cõi tục.
Trọng điểm là tứ Thánh đạo.
Phải quay pháp thế gian hướng về pháp xuất thế gian.
Nói để anh biết:
Không cần tìm nữa,
Anh không tìm được mới là thật sự tìm được.
(Câu nói này là chân đế.)

3. Bánh oản gì vậy?

Đệ tử nhìn thấy mình từ trên giường bay lên, và đệ tử trong suốt từ trên mái nhà nhìn xuống, không ngờ nhìn thấy mình đang nằm trên giường là một vị Phổ Ba Kim Cang ba mặt sáu tay dang đôi cánh. Đệ tử nhìn thấy ngọn đèn bên cạnh Phổ Ba Kim Cang đích thực là ngọn đèn giường vốn có của mình. Sau đó, đệ tử lại bay trở về thân thể của Phổ Ba Kim Cang. Từ trên giường đệ tử ngồi bật dậy. Đệ tử nhìn thấy tay của mình là cánh tay cuồn cuộn cơ bắp của Phổ Ba Kim Cang. Đệ tử nhìn thấy chân và bụng mình đều biến thành to, biến thành màu xanh và thô xù. Đệ tử nhìn sang bên trái thấy Phù Âm và vợ vẫn đang ngủ. Đệ tử nghĩ sáng mai phải dậy sớm, rồi lại nằm xuống giường. Bất kể là có biến trở lại hay không, nhưng trong lòng nghĩ đây là cái bánh oản gì vậy? 
Ai là ai?

Câu trả lời của tôi là:
Phổ Ba Kim Cang,
Liên Hoa Trí Hạo,
Ai là ai?
Tôi nói với anh:
Tôi tồn tại trong thuộc tính thuần tịnh trong veo trong giới hiện tượng.
Trước tiên dung nhập giới hiện tượng,
Sau đó dung nhập bán nguyệt,
Dung nhập minh điểm,
Dung nhập trong tính Không trong ánh sáng thanh tịnh.
Anh học được rồi,
Thì sẽ đầy khắp tam giới.
Có thể làm được không?

4. Thượng sư giả mạo

Đệ tử mơ thấy một người đàn ông đội mũ Ngũ Phật. Ông ấy nói ông ấy là một Thượng sư, rồi đệ tử ở trước mặt ông ấy trực tiếp hỏi pháp mạch truyền thừa của ông là gì. Ông ấy nói truyền thừa của tôi là chân thực không thể hạn lượng. Nhưng đệ tử biết ông ấy giả mạo. Khi đệ tử giống như con sư tử liên tục hỏi về truyền thừa của ông ấy, ông ấy cứ thụt lùi dần, rồi càng biến càng nhỏ, sau đó hoàn toàn biến mất. Thượng sư giả mạo này đúng là rác rưởi.

Câu trả lời của tôi là:
Truyền thừa rất quan trọng.
Trong Mật giáo mà nói:
Thượng sư của tôi có chìa khóa bí mật,
Thượng sư giao nó vào tay tôi,
Tôi lại giao nó vào tay đệ tử,
Không có chìa khóa bí mật
Làm sao mở ra đàn thành Mật giáo?
Tôi có chìa khóa bí mật.
Thượng sư chân thực, truyền cho đệ tử chân thực.

5. Đánh kẻ ác

Đệ tử mơ thấy ở trên bục có ba vị Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn còn to lớn hơn cả mình. Sau đó từ bên cạnh xuất hiện một người đàn ông cực ác. Đệ tử không nhiều lời, lập tức đấm vào bụng kẻ ác đó. Đến hôm nay đệ tử vẫn nghĩ vì sao lại phẫn nộ như vậy? Đệ tử thật sự muốn sám hối. Chẳng lẽ là Bồ Tát đến khảo nghiệm sao?

Câu trả lời của tôi là:
Trong lòng tôi không có thiện ác.
Chúng sinh đều là căn khí.
Chỉ là giác ngộ sớm hay giác ngộ muộn mà thôi.
Không cần phẫn nộ.
Đó cũng là đối tượng anh cần cứu độ,
Thế gian đều biến đổi,
Chỉ có hư không bất biến.


### 44. Cuộc đời nở hoa


Chí thành đảnh lễ Căn bản Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật.
(Tôi nói: ……………. Khi thời khắc của cái chết đến, bạn nhất định cần biết chắc được rằng mình có thể vãng sinh.
Điều này là quan trọng số một!)

Văn tập số 283 của Sư Tôn “Nghìn chiếc thuyền pháp”, chương 34 “Ôi! Vô thường”. 

Lời dặn dò của Căn bản Thượng sư, lời dạy bảo của Căn bản Thượng sư, là duyên khởi khiến đệ tử viết mười bốn bài văn, cho nên bài văn thứ hai “Quan trọng số hai” là duyên khởi của động niệm. Và khi đệ tử viết đến bài văn thứ năm “Cuộc đời nở hoa”, tự mình cảm thấy rất sung sướng và cảm động, tự nhiên liền đem bốn chữ “cuộc đời nở hoa” này làm thành trục chính của toàn bộ mười bốn bài văn. Toàn bộ mười bốn bài văn đều được viết ra dưới dạng gửi bản thảo đăng báo. 

Ba bài đầu là viết về tháng 3 năm nay (2022), bài số một và số hai đã được đăng trong Chân Phật Báo.
Mười bốn bài văn đại diện cho sự thọ trì, lý giải, thực tiễn, lĩnh hội, quan sát, tu sửa, rồi lại thực tiễn… trong tu hành đối với những điều mà Sư Tôn dạy dỗ. Chăm chỉ đi qua, từng li từng tí đều sẽ ở trong lòng, hóa những điều này thành động lực trưởng thành và tiến tới, tiến bước mạnh mẽ đến điểm ban sơ nhất.

("Tư duy quan trọng hay là thực tu quan trọng?"
Thầy đáp:
"Phật giáo là tu bằng tư duy. Hai cái đều quan trọng, cái trước là trí huệ từ nhất niệm mà đốn ngộ, cái sau là sự sáng tạo của vô hạn.")

Văn tập số 287 của Lư Sư Tôn “Thì thầm một chút thơ”, mục “Trò hỏi Thầy đáp” tháng 1/2022.

Trong khi viết, đọc được khai thị trên của Sư Tôn, đệ tử cảm thấy không ngớt kinh ngạc, tư duy tu và thực tu song hành, đích xác lĩnh hội được trong tiến trình này sẽ sinh ra những diễn biến kỳ diệu, chỉ là hành giả làm nhưng không nhận ra mà thôi.

Tại đây, đệ tử đem toàn bộ bài viết “Cuộc đời nở hoa” dâng lên Sư Tôn. Nhưng phải* say sorry **[xin lỗi]** *với Sư Tôn, xin lỗi là vì chương thứ ba viết tương đối dài. 
Những điều đệ tử phải học còn rất nhiều rất nhiều…
Ân sư, Căn bản Thượng sư, Phật phụ của đệ tử:
Đệ tử thỉnh cầu chỉ giáo của Thầy, đã đem tất cả sức mạnh - trí huệ, từ bi, pháp lực vô cùng vô tận, không ngừng nghỉ che chở và dẫn dắt các đệ tử và chúng sinh.

Đệ tử Liên Hoa Phái Quân khấu đầu. 
10/10/2022.


### 45. “Tình thế gian chưa dứt”, “Điểm thạch thành kim”


Bài viết của Liên Hoa Phái Quân

Tình thế gian chưa dứt,
Một tuổi, khởi đầu một chương,
Sau đó, trên đường đời chầm chậm, gặp lại những người bạn cũ mới quen trên đường, tiền tài, sắc dục, danh vị, ăn uống, quyền lực, tình cảm, sự nghiệp, vui chơi,… vân vân… và vân vân.
Có những người mới quen đã thân, có những người càng yêu càng sâu đậm,
Kết quả là, bạn bè đã chiếm tất cả không gian và thời gian của chúng ta, trở thành người chủ của ta,
Cuối cùng, hồi chuông nổi lên, đến một tuổi nào đó, tấm ảnh chụp chân dung của ta sẽ được treo lên tường,
Để lại một chút niềm nuối tiếc.

Bậc hiền thánh nói,
Đời người, là đến trả nghiệp, trả nghiệp đó, là nghiệp ác và thiện, nghiệp đen và trắng.
Đây là,
Trò chơi của nghiệp:
Trả nghiệp, tạo nghiệp, bận bịu cả hai bên,
Mưu cầu tính toán, cả một đời,
Dồn dập hỗn loạn, chẳng thoát trần,
Được được mất mất, vui trong khổ,
Túm túm xoay xoay, vẫn là người trong lưới.

Chỉ chuyên chú vào thứ trên mặt đất, chắc chắn sẽ mất đi thứ trên trời,
Niềm vui của trò chơi nhân gian, đều là cái gốc của khổ, cuối cùng chắc chắn không có được một thứ gì cả,
Nỗ lực trọn một đời, khổ của lục đạo luân hồi vẫn đang chờ.
Người trí huệ nói, quân tử chi giao đạm như thủy,
Điều lợi là sẽ nhẹ nhõm một chút, không sinh phiền não,
Có được sự mát lành trong tâm, kết giao một người bạn mới,
Người bạn này gọi là, điểm thạch thành kim. 

Điểm thạch thành kim:
Điểm hóa người đời, mộng chìm nổi
Trong đá ẩn vàng, là một người
Thành bại được mất, ngoảnh lại không
Kim quang độc diệu, thạch xuất trần.

(Tôi là Guru chân chính.
Tôi và những Guru chân chính khác là như nhau, giáng sinh nơi này, đều là đến để đánh thức người đời.
Tôi là báu vật.
Báu vật phải đánh thức báu vật đang ngủ sâu.
……

Tôi nói với mọi người:
”Linh thể là vĩnh hằng, vật chất là cực kì ngắn ngủi!”
Cũng có thể nói thế này:
”Phật tính là vĩnh hằng, thế giới Ta Bà là huyễn hóa!”
Tôi trịnh trọng nói với thế nhân:
”Đã đến lúc phải thức tỉnh rồi, nếu không tỉnh dậy, bạn chỉ có đời này lại đời khác luân hồi trong huyễn tướng!”
Tôi nói:
”Mỗi một người, phải có một vị đạo sư tài trí, người có thể nâng cao tâm linh của bạn.”)
Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn văn tập số 266 “Những lời vàng”, tháng 7/2018, chương mở đầu “Tôi là Guru chuyển thế”. 

Cửa ải khó khăn, trùng trùng.
Thân người khó có được, Phật pháp khó nghe được, kinh điển vẫn có những pháp môn chưa hiểu được,
Thầy tốt khó gặp, vị Guru chân chính càng khó gặp,
Lên trời khó, đừng đau buồn,
Tất cả hóa thân của chư Phật Bồ Tát Hộ Pháp Kim Cang Không Hành chư Thiên,
Guru chân chính, ở trước mặt,
Phật trụ thế gian,
Chúng ta đi theo, đã giống như đứng trên đỉnh núi cao cao,
Một bước lên trời, chẳng phải là mộng,
Quan trọng là, tín thọ phụng hành, chuyên tâm một ý, theo sát từng bước,
Khi tìm được đường đi khác, trở thành đi xuống, chứ không phải đi lên, thì sẽ chẳng đi đến đâu,
Trái tim nặng, thành ý lớn,
Thỉnh cầu tam căn bản, đưa ta đi.

(Chú thích: Liên Hoa Phái Quân tổng cộng viết mười bốn bài văn, lời nói có chất, đây chỉ là bài viết đầu tiên của anh ấy.)


### 46. Thơ buông bỏ


Đời người chỉ là một trò chơi
Dường như chẳng có ý nghĩa gì
Mắt nhìn thấy
Tai nghe thấy
Não nghĩ thấy
Cuối cùng đều vứt bỏ đi hết

Căn bản Thượng sư Mật giáo hiểu rõ
Huyễn quán
Được cũng không vui mừng
Mất cũng không đau buồn
Bởi vậy mà
Không có lực tạo tác

Không
Giả
Trung
Nói nghiêm túc
Chỉ óc hư không không thay đổi

Thời gian
Không gian
Đó là một dạng quan niệm
Không phải là sự tồn tại của tồn tại
Có thể có có thể không
Thật ra cũng chỉ là ký ức của hậu thế

Bạn có thể đi đến điểm cuối
Họ có thể đi đến điểm cuối
Tôi có thể đi đến điểm cuối
Nói với mọi người
Đây chính là thứ tự

Muôn loài hoa
Hoa đỏ vàng trắng
Đây đều là nhân duyên
Dáng vẻ mỗi loài mỗi khác

Đi đứng ngồi nằm
Ăn mặc sống làm dạy chơi
Gió từ đâu thổi tới
Mỗi người tự lắc lư

Nhân ngã
Hữu vô
Thiện ác
Đây là nghiệp duyên của luân hồi
Chỉ còn lại
Pháp duyên
Đó là ấn ký của Bồ Tát

Không phân biệt
Không dao động
Không chọn lựa
Vô sở đắc
Vô sở trụ
Vô sở vị
Tôi nói
Đó là sự lý thú chân chính.

Chú thích: Ban đầu Liên Hoa Linh Huệ viết một bài thơ cảm ngộ tặng cho tôi. Tôi đọc xong, nhận thấy trong thơ có chất. Nhất thời cao hứng, bèn viết đổi lại thành bài thơ này, một nửa là do Linh Huệ viết, một nửa là do tôi viết, xem như là pháp nhĩ bản nhiên!


### 47. Tâm đắc ba năm xuất gia


Đảnh lễ Căn bản Truyền thừa Thượng sư Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật.
Con chào Sư Tôn, A Di Đà Phật.
Đệ tử Thích Liên Thùy đem tấm lòng thành kính nhất trình lên Sư Phật lá thư này, để báo cáo với Thầy về một vài lĩnh ngộ tu hành trong ba năm qua.

Vô cùng cảm tạ Sư Tôn ban cho đệ tử pháp hiệu xuất gia (Liên Thùy), khiến đệ tử thường xuyên rất nghiêm túc suy ngẫm (Liên Thùy rốt cục là ai). Là người trước khi xuất gia (Lôi Phong Bồi) sao? Hay là Thích Liên Thùy của hiện tại này? Bất kể là Lôi Phong Bồi hay là Thích Liên Thùy, đó chỉ là một cái danh tướng, là một hợp tướng mà thôi, không tới một trăm năm rốt cục cũng quy về không vô, chẳng thể nào tồn tại mãi mãi, cũng là chẳng thể có được gì. Bất kể người hay sự vật nào cũng đều là sự tồn tại tạm thời (huyễn hóa nhất thời), vì thế ra sức đi tìm kiếm (ai) thì chẳng thể tìm thấy. Chỉ có sau khi chứng được Phật tính rồi mới có thể biết diện mạo vốn có của mình, còn cái (ai) này là đại diện cho Phật tính vốn tự thanh tịnh, không sinh không diệt, chân không diệu hữu. Lôi Phong Bồi khi chưa xuất gia tồn tại là vì có cái ngã, Thích Liên Thùy sau khi xuất gia là sự tồn tại không tồn tại, bởi vì vô ngã thanh tịnh, toàn bộ quá trình cuộc sống như mộng như huyễn, hoa trong gương trăng trong nước mà thôi. Sau khi lĩnh ngộ được tầng đạo lý này, đệ tử từng bước đối với mỗi sự việc đều sẽ tận lực thực tiễn và làm cho tốt, và không còn chấp vào được mất và kết quả nữa, chỉ cần đã làm hết bổn phận là được, không còn hết sức vì (ai) mà làm, cũng không còn vì (ai) mà khởi lên phiền não. Đây là những thiển kiến mà hiện tại đệ tử có thể lĩnh hội được, xin Sư Phật từ bi chỉ bảo cho đệ tử, để đệ tử có thể thâm nhập sâu hơn vào ngộ cảnh.

Trong bữa ăn chung ở Đài Trung vào tháng 4 năm 2018, Sư Phật từng trả lời câu hỏi đệ tử đưa ra khi đó, là liệu đệ tử xây dựng Lôi Tạng Tự xong phát tâm xuất gia thì có thể được thăng chức làm Thượng sư không? Sư Tôn khi đó đã trả lời rằng, người bình thường xuất gia trước, chí ít phải năm năm trở lên, cộng thêm hoằng pháp biểu hiện ưu tú, mới có tư cách làm Thượng sư. Nhưng anh (chỉ đệ tử) đã là giảng sư, lại có công đức xây chùa, sau khi xuất gia và nhận huấn luyện, không cần phải đủ năm năm, Sư Tôn sẽ có thể nhanh chóng thăng cấp làm Thượng sư rồi.

Vào ngày 24/08/2019, đệ tử đã xuất gia, cho đến nay đã qua ba năm rồi, trong cuộc sống ba năm xuất gia đó, đệ tử mới thật sự lĩnh hội được thế nào là chính kiến và tâm thái mà người xuất gia nên có, cho dù muốn làm Thượng sư cũng cần có đủ một số nền tảng mới được, không phải là xây được Lôi Tạng Tự là có thể trực tiếp được thăng lên làm Thượng sư, đệ tử nói tóm tắt nguyên nhân như sau:

(1) Nếu làm Thượng sư chỉ vì tên tuổi và lợi lộc cho bản thân, mà không có phát tâm bồ đề, phát nguyện thật sự đi giúp đỡ chúng sinh thoát khổ được vui, thì đó là giả Thượng sư, nhân quả tự chịu.

(2) Nếu làm Thượng sư mà ngay cả thứ tự sinh khởi và thứ tự viên mãn của Chân Phật Mật Pháp cũng không hiểu rõ thì làm sao dạy đồng môn đi trên con đường đạo tu hành chính xác được, đồng môn làm sao có thể hiểu được tầm quan trọng của tâm xuất ly, tâm bồ đề và trung quán chính kiến, cuối cùng tự mình sai mà cũng làm hại người khác, người mù dẫn dắt người mù, phải tự chịu nhân quả. 

(3) Nếu làm Thượng sư mà chỉ không ngừng gây quỹ để xây Lôi Tạng Tự, mà không thật sự vì tông phái, vì quần chúng xã hội trả ơn được điều gì, quần chúng xã hội căn bản cũng không biết về Chân Phật Tông và Chân Phật Mật Pháp, làm Thượng sư rồi cũng không hộ trì Căn bản Thượng sư và tuân thủ những điều lệ chế độ mà Tông Ủy Hội đưa ra, vậy thì sẽ trở thành tư lợi, là vì khuếch trương địa bàn của chính mình, tụ tập đám đông để thu gom của cải mà thôi, nhân quả tự chịu.

Ba điểm trên đây là điều kiện tối cơ bản mà đệ tử cho rằng một vị muốn làm Thượng sư Acharya (nghi quỹ sư) cần có, gần như thống nhất với điều kiện cơ bản để làm Acharya mà Sư Tôn đã đề cập trong pháp hội Hộ Ma Cao Vương Quan Âm ngày 4/9. Đệ tử sau khi nghe xong đoạn khai thị này của Sư Tôn thì có một mộng thị cát tường, mơ thấy Sư Phật giá lâm đến Chính Hoằng Lôi Tạng Tự, đáp ứng yêu cầu của đệ tử, làm các loại pháp vụ gia trì. Tuy rằng các việc cần gia trì rất nhiều, nhưng Sư Tôn vô cùng hoan hỷ đến thỏa mãn các thỉnh cầu của đệ tử, và còn động viên đệ tử phải chăm chỉ hoằng pháp lợi chúng sinh.

Đệ tử tự thấy hơn một năm qua, tâm thái đã có chuyển biến lớn, xin kể ra như sau:
(1) Rất nhiều lần khi tu pháp sẽ đột nhiên cảm thấy buồn, nước mắt đầm đìa, thậm chí khóc to lên, cảm nhận được sâu sắc lời nguyện lớn lao không bỏ rơi chúng sinh của Sư Tôn và chư Phật Bồ Tát, khiến đệ tử không ngớt cảm động. Đệ tử cũng lập tức phát nguyện sau này phải thành lập trung tâm nuôi dưỡng, nhận nuôi người già và giúp đỡ nhiều học sinh nghèo khổ hơn, cải thiện điều kiện cuộc sống của họ, chăm sóc cho họ, sau cùng là độ họ quy y Sư Tôn.
Chú thích: Chính Hoằng Lôi Tạng Tự và Hội công đức Hoa Quang bắt đầu từ đầu năm nay đã trợ giúp dài hạn cho ba học sinh nghèo khó, một cháu học lớp hai, một cháu học lớp bốn, một cháu học lớp năm, cho đến khi các cháu tốt nghiệp trung học. Ba cháu này vào ngày 2/10 cũng đã thông qua nghi thức quy y từ xa để quy y Sư Tôn. Và trong tương lai gần, đệ tử cũng sẽ thu xếp đi viện dưỡng lão khai thị Phật pháp cho những cụ già neo đơn, hướng dẫn người già học Phật.

(2) Từ sau khi giúp đỡ học sinh nhỏ nghèo khó, đệ tử không hiểu sao mà cực kì vui mừng giúp đỡ và tự nguyện chủ động gần gũi với các cháu học sinh này, và cảm thấy chỉ cần các cháu hạnh phúc vui vẻ thì tự mình cũng sẽ vui vẻ hài lòng, tâm tính càng ngày càng giống chúng, mãi cho đến ngày 12/8, trước bữa cơm tối Sư Tôn nói với đệ tử rằng, Băng Yết La Đồng Tử, quả địa là Đồng Tử Thiên, trong sát-na, đệ tử có cảm giác tâm tính của mình cũng càng ngày càng giống như một đứa trẻ, tự cảm thấy có nhân duyên rất sâu với Hà Diệp Đồng Tử, Băng Yết La Đồng Tử và Liên Hoa Đồng Tử.

(3) Đối với các đồng môn, đệ tử cũng thường xuyên có thể chủ động quan tâm đến đối phương, chỉ cần trong phạm vi khả năng của mình, đệ tử có thể giúp đỡ được thì đệ tử sẽ tận lực mà làm, không cầu báo đáp. Trước đây đệ tử làm việc gì cũng đều sẽ tính toán lợi hại được mất, cũng rất ít đi chủ động giúp đỡ những người không có quan hệ gì với mình, cho nên có thể nói là đã có chuyển biến rất lớn về mặt tính cách, ngay cả đồng môn và người thân xung quanh đều có thể cảm nhận được sự thay đổi của đệ tử.

Đệ tử về mặt thực tu Chân Phật Mật Pháp và nghiên cứu kinh luận cũng có tiến triển rất tốt.

(1) Quy y Sư Tôn 35 năm, đã có vinh dự đọc được toàn bộ văn tập và khai thị của Sư Tôn, thời kỳ đầu ngay cả bài văn đó ở trong cuốn văn tập nào đệ tử cũng có thể thuộc được. Bây giờ sức ghi nhớ đã suy giảm, nhưng rất nhiều bài viết và trọng điểm khai thị của Sư Tôn, đệ tử vẫn nhớ được, cũng thường xuyên dùng để giải thích cho đồng môn và khuyên giải những khúc mắc trong lòng họ.

(2) Đệ tử vô cùng thích nghiền ngẫm “Bồ Đề Đạo Thứ Đệ Quảng Luận” của tổ sư Tsongkhapa, trong thời kỳ dịch bệnh cũng ở trên mạng giải thích bộ luận này cho đồng môn, mãi cho đến khi trưởng lão Liên Truyền, Liên Mãn đại diện Tông Ủy Hội ở trên mạng giảng dạy, đệ tử mới dừng giảng dạy. Hiện tại, chỉ sau buổi đồng tu ở Chính Hoằng Lôi Tạng Tự thì đệ tử mới giảng giải kinh Dược Sư, và lên kế hoạch tiếp tục giảng giải kinh Phật Thuyết Bốn Mươi Hai Chương, kinh Phật Di Giáo, giải thích trọng điểm của bộ Đại Trí Độ Luận. Đệ tử cũng sẽ đi nghiên cứu Duy thức luận để hiểu thông hai tư tưởng Phật học lớn là Trung quán và Duy thức, học để sử dụng, tăng trưởng kiến địa và năng lực trí huệ của bản thân.

(3) Chân Phật Mật Pháp từ Ngoại pháp đến Nội pháp, từ Sơ quán - quán đảnh bình, Nhị quán - quán đảnh khí mạch minh điểm, Tam quán - vô thượng mật, về mặt lý luận đệ tử đều có thể hiểu rõ, bởi vì Sư Tôn đều có viết rõ ràng trong ba cuốn văn tập là “Cảnh giới mới của Phật Vương”, “Mật giáo áo nghĩa thư”, và “Tính Không trong đại lạc”, đệ tử thường xuyên ngẫm đọc, cho nên về cơ bản đã hiểu khái niệm tu hành của thứ tự sinh khởi đến thứ tự viên mãn. 

(4) Công khóa cá nhân của đệ tử là mỗi ngày cố định tu hai đàn pháp, pháp Thượng sư tương ứng và Hà Diệp Đồng Tử niệm tụng pháp, mỗi ngày đều cúng ngọ, công khóa buổi tối, thí thực quỷ thần chúng, mỗi tuần làm một đàn Hộ Ma hỏa cúng, mỗi thứ bảy làm từ thiện đi thăm hỏi các gia đình, mỗi chủ nhật dẫn dắt đồng tu và khai thị, mỗi ngày trì tụng Bách tự minh chú 21 - 108 biến, mỗi tuần hai hoặc ba ngày luyện tập Bát đoạn cẩm [một bài tập dưỡng sinh] và Thái cực quyền, thả lỏng cơ mạch, làm Cửu tiết Phật phong, Bảo bình khí, v.v… 

Về phương diện pháp vụ của Lôi Tạng Tự, vì dịch bệnh nên đã gần 3 năm không làm pháp hội, nhưng đệ tử dẫn dắt đồng môn tích cực thúc đẩy sự nghiệp từ thiện của hội công đức Hoa Quang, phân phát vật tư cho ba tộc người lớn, để cho những người dân làng bần cùng sống ở khu vực gần Lôi Tạng Tự được lợi ích, ủng hộ người bệnh và giúp nuôi dưỡng học sinh nghèo, v.v… vì thế người dân khắp làng, trưởng thôn và nghị sĩ đại diện nhân dân (nghị viên các tỉnh ở Malaysia) đều ca ngợi hành động tốt của chùa.

(5) Cũng vì tích cực làm sự nghiệp công ích, đệ tử trong thời gian tháng 3 đến tháng 5/2022, đã được Sudan của tỉnh Pahang trao tặng huân chương (Datuk), đệ tử trước khi thụ phong đã hỏi ý kiến của trưởng lão Liên Tăng ở ban giám sát xem người xuất gia có được thụ phong không, trưởng lão trả lời rằng sẽ không có mâu thuẫn gì với giới luật xuất gia, cho nên đệ tử mới tiếp nhận. 

(6) Hiện tại đệ tử cũng là phó tổng hội trưởng của Tổng Hội Mật Giáo Malaysia, tổ quan hệ công chúng của Tổng Hội Mật Giáo Malaysia thi hành quản lý chung và là điều tra viên của ban giám sát tại Malaysia của Tông Ủy Hội. Đệ tử cũng vô cùng tích cực giao lưu qua lại với quan chức chính phủ ở địa phương, hiện tại là giới thiệu với họ về Chân Phật Tông và Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật, để các quan chức hiểu thêm Chân Phật Tông cũng là Phật giáo chứ không phải là phụ Phật ngoại đạo. Đệ tử cũng sẽ thử nghiệm thông qua sự sắp xếp của các quan chức để chủ động tiếp xúc với Tổng hội Phật giáo cao cấp của Malaysia để cải thiện mối quan hệ không qua lại giữa tông phái ta và Tổng hội Phật giáo Malaysia, cầu mong cục diện bế tắc này có một ngày có thể được tháo gỡ nhờ thành ý của đệ tử, sau này họ sẽ không hiểu lầm Sư Tôn nữa, không phỉ báng Sư Tôn nữa.

Tại đây đệ tử xin lần lượt bẩm báo với Sư Tôn những lĩnh ngộ tu hành trong ba năm xuất gia và phát nguyện những thiện hành muốn làm, đồng thời, đệ tử cũng hướng đến Sư Tôn sám hối những nghiệp ác trọng tội do thân khẩu ý đã phạm phải trong thời gian ba năm qua. Đệ tử mỗi ngày đều kiền thành phát lộ sám hối, thỉnh cầu dưới sự gia trì của Sư Tôn, Phật Bồ Tát Hộ Pháp, nghiệp chướng tiêu trừ, tương lai tu hành có thể có lực và thành tựu.

Đệ tử cũng hiểu nếu bàn về chứng lượng tu hành thì đệ tử còn xa mới đạt tiêu chuẩn, nhưng hy vọng Sư Tôn hiểu đệ tử một lòng một ý muốn đi con đường hoằng pháp lợi ích chúng sinh, cũng vì để Chân Phật Tông có thể ở Penang Malaysia dẫn dắt được nhiều chúng sinh hơn quy y học Phật.

Tất cả thành tựu và công đức của đệ tử đều bắt nguồn từ sự gia trì lớn của Căn bản Thượng sư, cảm ơn Sư Tôn, A Di Đà Phật.

Chúc Sư Phật khỏe mạnh trường thọ, vui vẻ tự tại, quảng độ chúng sinh.

Đệ tử Thích Liên Thùy khấu tạ trăm lạy.

11/10/2022.


### 48. Tam căn bản của tôi


Đảnh lễ Căn bản Truyền thừa Thượng Sư Liên Sinh Phật tôn quý. Phật tôn Phật an!

Đệ tử Liên Từ xin báo cáo những lĩnh ngộ về sự thay đổi thân tâm trên phương diện tu hành trong 5 tháng qua:

Mấy tháng nay, dưới sự gia trì của Thượng sư và Tam Bảo, những chướng ngại về thủy đại và hỏa đại của thân thể đã dần dần có thể kiểm soát được, thiền định cũng trở nên dễ dàng hơn, định cảnh sâu hơn, tâm khí an định hơn. Khởi tâm động niệm ví dụ như có ý niệm bất chính đều dễ dàng nhận ra, ngay lập tức nhận ra, cũng tương đối có thể trong thời gian ngắn mà bài trừ và chuyển hóa. Vào tháng 8, tuy rằng cảm nhận được cái lạc tựa như sự giải thoát mà trước đây chưa từng có, nhưng đệ tử đã bình tĩnh suy nghĩ, vẫn cảm thấy không ổn, vì theo những gì đệ tử đã học được từ những điều Sư Phật dạy mấy chục năm trong quá khứ, đây chẳng qua chỉ là quá trình của một kiểu thiền lạc, không nên một mực sa vào cái lạc của trời người, không cầu vươn lên. Nên hạ nhiều công phu vào việc chuyển tứ hỷ thành tứ không, huống hồ dựa theo ý của Phật Đà trong “Đại Phương Quảng Viên Giác Tu Đa La Liễu Nghĩa Kinh”: “Hữu giác hữu chiếu, chưa đăng địa; vô giác vô chiếu, mới đăng địa.” Nhưng nhất thời trong nửa giờ lại không biết nên làm sao để đột phá tiến lên phía trước.

Vào một buổi sáng tháng 9 đệ tử đang thiền định, trong hư không rơi xuống hai chữ lớn: “Học lại.” Chẳng lẽ học không qua bị lưu ban chăng? Trong lòng đành cam chịu, vẫn khoan khoái thoải mái, không đếm xỉa tới, chuyện ta ta làm. Hai hôm sau, sáng sớm thiền định, hư không lại rơi xuống một chữ lớn: “Dagchen”. Cái tên này sao mà quen tai quá? Sau khi kiểm tra, biết rằng đây là vị Dagchen Rinpoche trụ trì của ngôi chùa Sakya Tegchen Choling nổi danh lẫy lừng ở Seattle, chính Rinpoche trưởng lão là người hoằng dương Phật pháp (Hoa giáo) ở các nước phương Tây và thiết lập sự nghiệp bồ đề, công đức được tôn sùng bội phần. Đến đây, như đã ngộ ra điều gì, đệ tử ngoan ngoãn bắt đầu từ từ ôn lại các giáo nghĩa, ví dụ như loạt bài giảng về “Đạo Quả” mà Sư Phật đã giảng từ ngày 28/05/2016, và “Tính Không trong đại lạc” (Giảng nghĩa Hỷ Kim Cang). Sau khi phụng lệnh học lại, tuy vẫn là một cuốn sách, nhưng ôn cũ biết mới, đối chiếu trước sau mới nhận ra, những lĩnh ngộ trong quá khứ và hiện tại khác nhau rất nhiều. Tuy không thể ghi hết vào trong đầu, nhưng năng lực hiểu biết đã tăng lên, trí huệ cũng tăng trưởng, đích thực là nỗ lực học tập đã có ích.  Ngày 4/9 tâm huyết dâng trào, đệ tử lại phát tâm viết thư hỏi Sư Phật: “Có nhiệm vụ gì cần đệ tử làm không?” Tuy Thầy chưa trả lời. Nhưng trong khoảng thời gian một tuần, hư không trả lời: “Chỉ có một công việc.” Quá kỳ lạ! Nhục thân chưa trả lời, pháp thân đã trả lời rồi!

Ngày 11/9, đại pháp hội Hộ Ma Khổng Tước Minh Vương ở Seattle, lần này đệ tử đặc biệt nghiêm túc dặn dò chính mình là nhất thiết phải đi tham gia. Lý do? Năm xưa (năm 2009), Sư Phật ở Cung Thể Thao Lynnwood Seattle lần đầu tiên truyền pháp Phật Mẫu Đại Khổng Tước Minh Vương và tổ chức pháp hội, khi ấy đệ tử ở Đài Loan đã đặc biệt đi tới trung tâm buôn bán vải ở đường Địch Hóa, Đài Bắc để lựa chọn hai tấm vải làm long bào, rồi mời thợ may thợ thêu trước sau đã may ra tấm long bào khổng tước của Viện Bảo Tàng Cố Cung để cúng dường Sư Phật. Nhiều năm sau, vào ngày 13/10/2019, Sư Phật một lần nữa chủ trì Hộ Ma Khổng Tước Minh Vương, vừa đúng lúc căn bệnh đau chân cũ tái phát, không muốn đi đâu, chỉ lên mạng, xem nửa buổi thì mới nhận ra áo bào mà Sư Phật đang mặc chính là chiếc áo bào khổng tước mà năm xưa đệ tử tặng, không biết vì sao mà trong lòng lại hốt hoảng, thầm kêu lên: Hỏng rồi! Không hay rồi! Hy vọng Sư Tôn không chú ý thấy là đệ tử đã vắng mặt! Chẳng ngờ, Sư Tôn trong lúc khai thị đã bất ngờ hỏi một câu: “Chiếc long bào này là ai tặng?” Đáp: “Hoa Quang Lôi Tạng Tự.” Sư Tôn lại hỏi: “Thế Liên Từ đâu? Không đến à?” Đáp: “Không đến, bà ấy đau chân.” Sư Tôn xúc động và lo lắng dùng tay chỉ trỏ về màn hình trên mạng và nói lớn tiếng: “Chân đau mới cần phải đến đó! Khổng Tước Minh Vương chuyên trị bệnh, đến rồi mới có thể khỏi được!” Trời ơi! Mới làm biếng một lần “đào ngũ”, thế mà đã bị lật tẩy rồi, đúng là hù người ta mà!

Vì thế, đến buổi Hộ Ma Khổng Tước Minh Vương vào ngày 11/9/2022, đệ tử có thể không đi sao? Huống hồ gặp xui xẻo rất đáng đời, bệnh đau chân của đệ tử mấy năm nay phát tác trở lại, hành hạ khó chịu hơn, đứng lâu ngồi lâu hay đi lại đều không được, cho nên nhất định phải đi, không đi không được! Ngoan ngoãn báo danh làm công đức chủ của pháp hội, mang theo một tấm lòng chan chứa để lên đường. Quả nhiên, trong mười phút Hộ Ma diễn hóa thủ ấn ngắn ngủi, đệ tử lại muốn diễn tập hợp nhất với Sư Phật, lại vừa muốn hợp nhất với Khổng Tước Minh Vương, lại vừa muốn hợp nhất với hư không, cho nên thở cũng không dám thở, suy nghĩ không dám tản mát, chuyên tâm một ý, tranh thủ từng giây từng phút, giống như tham gia một bữa tiệc Mật pháp có đầy đủ cả âm thanh ánh sáng điện lực. 

Sau khi trở về, cũng không để ý gì, mấy ngày sau mới phát hiện ra cái chân đau gây chướng ngại cho đệ tử nhiều năm nay không biết từ khi nào đã không còn làm phiền đệ tử nữa rồi! Quả thật đúng như mấy năm trước Sư Phật ở trước màn hình trên mạng nói: “Chân đau phải đến thì mới khỏi được!” Kim khẩu của Sư Phật đã nói ra thì bất luận là trải qua bao nhiêu năm vẫn đều có hiệu lực! Đều ứng nghiệm! Quá thần kỳ! Đệ tử âm thầm hạ quyết tâm từ nay về sau mỗi pháp hội của Sư Phật, chí ít cũng phải báo danh làm công đức chủ, không báo danh mới là bỏ lỡ cơ hội!

Tiếp theo đó, trong pháp hội Hộ Ma Đại Lực Kim Cang, Đại Lực Kim Cang là Thần Hộ Pháp lớn nhất trấn giữ Hoa Quang Lôi Tạng Tự, là Giới Thần, lại là Đại Lực Quỷ Vương, chuyên trừ quỷ. Đệ tử lại không dám thờ ơ, lý do rất đơn giản, thờ ơ rồi chẳng phải rõ ràng là phạm giới sao?

Trong lúc tiến hành Hộ Ma, vị đại Hộ Pháp của Chân Phật Tông thật sự uy lực to lớn không gì sánh bằng, năng lượng tuôn trào, tập hợp siêu năng lượng của năm vị Bổn tôn Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử, Diêu Trì Kim Mẫu, A Di Đà Phật, Địa Tạng Vương Bồ Tát, Đại Lực Thị Giả lại với nhau, điện chạy đến toàn thân đệ tử khiến đông cứng lại, không thể cử động được. Vào giờ khắc cuối cùng, màu lam, màu trắng vừa lớn mạnh vừa sáng chói, từng chùm tia điện từ trong hư không như chớp chiếu rọi thẳng xuống, đầy ắp hư không là kim cang quyền chân thực đầy kinh ngạc, thù thắng vô cùng. Đệ tử biết lần này lại lãi to rồi! Ra về đầy túi rồi!

Quả nhiên, bị dội dòng điện mạnh như vậy, trên đường trở về đệ tử phát hiện ra, ngón út tay trái sưng đau cứng đờ không thể gập lại được mấy ngày nay không ngờ đã hết sưng và hồi phục lại như bình thường rồi! Hơn nữa còn trải qua một đêm ngủ không mơ, ngủ ngon đến khi trời sáng, thoát khỏi sự quấy nhiễu của ác mộng ma quỷ suốt cả tuần lễ nay. Đáng quý nhất là sáng sớm ngồi định tâm thì rất nhiều đạo lý không thông suốt nay dường như “cổng kiểm soát” đã được mở ra, hoàn toàn thông rồi. Ví dụ, pháp hội tối hôm trước Sư Tôn khai thị: “Ngày thường bạn nhất định phải cúng dường Mẫu chấn thủ bốn phương, Không Hành Mẫu tám phương, hai mươi mốt Thiên Nữ, Bạch Độ Mẫu, Lục Độ Mẫu, hai mươi mốt Độ Mẫu, Mã Cát Lạp Tôn, Hắc Phẫn Nộ Mẫu, năm đại Phật Mẫu của Liên Sư, thị nữ của Diêu Trì Kim Mẫu…” Một mặt Sư Tôn niệm danh hiệu, một mặt đệ tử lại cứ băn khoăn: “Vì sao Sư Phật cúng dường toàn là Không Hành Mẫu và Thiên Nữ vậy?” Sau một giấc ngủ tỉnh dậy, bộ óc không thông đã thật sự thông rồi. Sao lại không thể chứ? Sư Phật chẳng phải nhiều lần đã dạy: “Phật Phụ là phương tiện, Phật Mẫu là trí huệ.” Đúng vậy, trí huệ thế gian mới có sự phân biệt “sai biệt trí”, so sánh với bản tính của pháp giới, thể dụng của tất cả loại trí của Phật, trí huệ, phương tiện vĩnh viễn hợp nhất nhậm vận, đó mới gọi là tự nhiên. Sau đó đệ tử lại suy tưởng đến các tông phái phương đông và phương tây: bốn phái Mật giáo Hồng-Hoàng-Bạch-Hoa, Tam luận tông, Luật tông, Duy thức tông, Thiên thai tông, Thiền Tông năm lá bảy cành, Tịnh thổ tông… tất cả đều là trăm con đường đồng quy, tất cả cùng hướng về một loại trí cùng nguồn gốc! Sau đó lại nói đến những câu nói cửa miệng của Sư Phật: “Phật Ma nhất như”, “Luân hồi niết bàn nhất như”, “Sinh tử nhất như”, “Thiện ác nhất như”… Tất cả mọi sự đối lập của thế gian và xuất thế gian, trong con mắt Phật, tất cả đều tiêu tan không tồn tại, duy có sự tuyệt đối là nhất như, chân như, bản địa, tính Không, chân tâm, chân nguyên, Phật tính là một mình tỏa sáng… Lần này cuối cùng đệ tử đã bỗng dưng tỉnh ngộ rồi, thì ra Chân Phật Mật Pháp mà ân sư Liên Sinh Phật đã ban cho trước mắt, không ngờ chính là chiếc chìa khóa vàng vạn năng mở ra đại bí mật của vũ trụ!

Đệ tử từ sự cảm động tận đáy lòng ca tụng:

Căn bản Thượng sư là nguồn gốc gia trì!
Căn bản Thượng sư là nguồn gốc thành tựu!
Căn bản Thượng sư là nguồn gốc bảo hộ!
Kính cẩn trình lên từng chút từng chút cúng dường Sư Phật!
Om guru liansheng siddhi hum.
Kính chúc Sư Phật Phật Thể an khang, trường thọ tự tại.
Thỉnh Phật trụ thế, thỉnh chuyển pháp luân.

Đệ tử Liên Từ hành lễ cúi lạy. 
25/09/2022.


### 49. Pháp sư Liên Long nói công đức


Sư Tôn kính yêu,
Chào Thầy! A Di Đà Phật! Đệ tử Liên Long chắp tay!
Thời gian này bế quan, trong đầu đệ tử không ngừng hiện lên một cảnh tượng: đó là vào ngày 20/8/2022 khi đệ tử thọ giới xuất gia, Sư Tôn đã đặt câu hỏi cho đệ tử. (Thật ra ngay sau khi nghi thức thọ giới xuất gia hoàn thành xong, trong tâm đệ tử đã tự phát ra tiếng nói là câu trả lời vừa xong không hoàn chỉnh, vì sao không thể nói cho rõ ràng được nhỉ? Điều này cũng nói lên rằng những lĩnh ngộ về Phật pháp của đệ tử không đủ vững chắc, vào lúc vội là não sẽ trống rỗng. Đệ tử vốn muốn sớm trả lời Sư Tôn, chỉ là thật sự mỗi ngày đều sắp xếp kín lịch, không thể khiến bản thân hoàn toàn yên tĩnh lại, cho nên cứ trì hoãn mãi, bây giờ tranh thủ lúc bế quan có thể tĩnh tâm lại, tỉ mỉ trả lời câu hỏi của Sư Tôn. Tuy rằng Sư Tôn khi đó cũng đã giải thích rồi, nhưng đây là những ý chân thực tuôn chảy từ tự tâm đệ tử, cũng xin Sư Tôn xem qua và chỉ bảo.)

Khi ấy Sư Tôn hỏi: Xuất gia có công đức không? Đệ tử trả lời: Không có (nhưng đây là nói từ góc độ của pháp vô vi), thật ra từ góc độ của pháp hữu vi mà nói, xuất gia có công đức. Trong kinh “Phật Thuyết Công Đức Xuất Gia” cũng là nói từ góc độ của pháp hữu vi, nhưng đó là phương tiện, vì để độ hóa chúng sinh nên không thể không nói như vậy. Nhưng làm một đại Bồ Tát thì không thể có công đức, vì sao lại nói như vậy? Bởi vì đứng tại pháp giới để nhìn thế giới, tất cả mọi thứ của thế gian đều là hư huyễn, là giả tướng, là chân không diệu hữu, cho nên chỉ có thể tùy duyên dùng cho khéo, và căn bản không tồn tại thuyết công đức. Khi chúng ta hiểu được điểm này rồi mới xem là công đức chân chính, giống như trong kinh Kim Cang có nói: “Nếu thấy mọi tướng là phi tướng, tức thấy Như Lai.” Bởi vậy mới có thể nói là vì biết không có công đức mới là công đức chân chính! Trên đây là câu trả lời bổ sung của đệ tử.

Còn có một buổi sáng đệ tử thức dậy, trong đầu hiện lên câu nói của Sư Tôn khi Thầy giảng kinh Duy Ma Cật: “Diễn pháp can đảm như tiếng gầm sư tử”, bởi vì sự khai sáng của Thầy khiến đệ tử hiểu rằng “diễn pháp” là chỉ đại Bồ Tát vì biết các loại hiện tướng hiện lên trong tâm là giả tướng (mọi tướng chẳng phải tướng), cho nên “can đảm” là nói rằng đại Bồ Tát khi làm tất cả mọi việc phương tiện tại thế giới, có thể không một chút gì sợ hãi, “tiếng gầm sư tử” là chỉ làm một vị đại Bồ Tát khi đã biết thực tướng chân như, bất luận là ngài dùng phương thức gì để biểu đạt thì đều có thể cảm động mười phương pháp giới.

Còn có vào ngày hôm đó Sư Tôn bảo chúng con hãy tìm hiểu cho thấu đáo câu nói này trong kinh Duy Ma Cật: “Hiểu thấu nghĩa thâm diệu của mọi pháp”, đệ tử cho rằng “hiểu thấu” là chỉ làm một đại Bồ Tát phải hiểu rõ được ý nghĩa rốt ráo, “nghĩa thâm diệu của mọi pháp” là chỉ tâm sinh thì đủ loại pháp sinh, tâm diệt thì đủ loại pháp diệt. Và “pháp” nói đến ở đây là chỉ tự tính vốn không tịch, nhưng gặp duyên thì hóa thành tâm hiện ra đủ loại huyễn tướng, cho nên chỉ có tùy duyên diệu dụng, bởi thế Phật Đà mới nói là: “Thấy duyên khởi tức thấy pháp, thấy pháp tức thấy không, thấy không tức thấy Phật.”

Trên đây là một vài tâm đắc học Phật của đệ tử, đệ tử rất cảm ơn có Thầy luôn dẫn dắt, cũng từ chính bản thân thầy mà học được sức mạnh tự giác giác tha. Tại đây cũng cảm ơn sự gia trì của chư Phật Bồ Tát, tất cả Hộ Pháp, khiến đệ tử dưới mọi phương tiện đã học tập và lĩnh ngộ được chỗ ảo diệu của pháp. Quy y Thầy là điều may mắn nhất trong cuộc đời này, tuy rằng chướng ngại trùng trùng, nhưng không hề oán trách không hề hối hận, đi lĩnh hội các loại pháp vị.

Cuối cùng thỉnh cầu Căn bản Thượng sư gia trì, Bổn tôn thu nhận, Hộ pháp ủng hộ, phúc huệ dồi dào, lý sự vô ngại, giác hành viên mãn, tự giác giác tha, tự lợi lợi tha, rộng kết thiện duyên, cùng mọi người tinh tấn tu trì, cùng trở về trong tự tính thanh tịnh.

Sau cùng chúc Thầy Phật thể an khang, trường thọ tự tại, thỉnh Phật trụ thế lâu lâu lâu!!!

Đệ tử Thích Liên Long lạy trăm lạy.

23/09/2022.

🌟

Lư Sư Tôn đọc xong có một bài thơ:

*Thân theo cõi trần xoay chuyển
Cuối cùng cũng đã tỉnh rồi
Tỉnh rồi lại nói công đức
Rốt cuộc chẳng có cái chi.*


### 50. Nhất du già diệu hỷ hoàn toàn tự nhiên


Đảnh lễ Căn bản Thượng sư Liên Sinh Phật tôn quý nhất. Sư Tôn Phật an!
Dưới đây là những cảm ứng và cảm nhận về pháp hỷ từ đầu tới cuối của đệ tử khi tham gia buổi Hộ Ma Dược Sư Phật vào ngày 23/10/2022, bây giờ ghi ra đây để cúng dường Sư Phật.

Bước vào tháng 10, lá phong đỏ rơi đầy mặt đất, trời thu cao vợi đem lại cảm giác khỏe khoắn. Một ngày nọ, theo thường lệ, đệ tử thiền định vào sáng sớm, đột nhiên thấy trong não có tiếng nổ “đùng”, có thứ gì đang nổ rồi! Trong chốc lát não đệ tử mở ra, áp lực trong đầu trong chớp mắt tan biến, dường như tự đặt mình trong không trung vô biên, cảm giác được sự giải thoát và khoan khoái chưa từng có trước đây…

Mấy hôm sau, hư không truyền âm đến hai chữ “thiên nhãn”. Đệ tử không cho những điều nghe thấy là đúng, cũng không để trong lòng, mỗi ngày đều sống yên ổn bình tịnh qua những ngày dịch bệnh như thường lệ.

Hai ngày cuối tuần đến Seattle, ngày 23/10, Sư Phật làm Hộ Ma Dược Sư Phật tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, cơ hội chữa bệnh khó gặp, trong lòng có mong cầu, đệ tử ngưỡng mộ danh tiếng ấy mà cực kì hưng phấn để đến tham gia. Từ lúc bình minh đã vội vã xuất phát, phóng xe trên đường, cuối cùng đã đến kịp cùng lúc với Sư Phật, thật tốt quá!

Sư Phật vừa xuống xe, bất chợt nhận ra trước mắt lóe lên, chỉ thấy Sư Phật mặc chiếc áo bào Pháp Vương rồng bay màu xanh lam mới toanh và khí phách rất trang nghiêm, mọi người lập tức rơi vào trong mộng huyễn của vùng màu xanh nước biển đó. Sư Mẫu cũng cực kì phối hợp khi mặc một chiếc áo khoác màu trắng điểm hoa xanh rất tân thời, trông rất đẹp. Mọi người giống như ngậm mật ong, hoan hoan hỷ hỷ nối đuôi nhau và cũng làm theo Sư Phật phủ phục xuống đất làm đại lễ bái trước đàn thành. Quỳ quỳ lạy lạy, không dám thở mạnh, vọng niệm tiêu tan, tập trung toàn bộ tinh thần, thời gian ngừng trôi, nhìn chăm chú vào bóng hình của Sư Phật, cho đến khi Sư Phật đi lên tầng và biến mất…

Chẳng bao lâu có người hét lên: “Sư Tôn xuống rồi!” Một âm thanh quỳ xuống đồng loạt, từ đầu cầu thang đến phòng ăn, đệ tử vội vàng tìm đến một chỗ ngồi ngửi thấy được mùi thức ăn ở gần đó, quỳ xuống đầu chạm đất lễ lạy. Sư Phật đi đến trước mặt, bỗng nhiên nói: “Bài văn bà viết rất hay!” Bất ngờ quá! Nhưng loay hoay cả buổi mới bò dậy được! Sư Mẫu cũng nói: “Bà là người cầm bút mà, đương nhiên là hay rồi!” Chà! *Surprise** [ngạc nhiên]*! Sáng sớm trước khi xuất phát, có một điều lạ, những bộ đồng phục thường ngày đệ tử vẫn mặc bị chật, vô căn cứ mà lại biến thành béo sao? Ăn cơm xong, đệ tử cầu Sư Phật giải thích thì Thầy nói: “Hiện tượng này chưa từng nghe nói!” Đệ tử nghe xong thấy trong đầu trống rỗng, chứng bệnh kỳ lạ, phải làm sao?

3 giờ 15 phút, nghênh đón Sư Phật lên pháp tọa diễn hóa Hộ Ma Dược Sư Phật tiêu tai cầu phúc trị bệnh siêu độ. Đệ tử tự thấy mình mắc bệnh không hề nhẹ, không hay chút nào, cho nên từ lúc chú âm vang lên, mắt đệ tử đã nhìn chăm chú vào bức thangka Dược Sư Phật, một lòng nghĩ, Dược Sư Phật, con đến rồi! Quả nhiên, quán tưởng hôm nay đúng là đặc biệt rõ ràng, đặc biệt tốt! Nghĩ lam là lam, nghĩ lục là lục, đầy ắp hư không một vùng lam lục, ánh sáng bát nhã từng chuỗi từng chuỗi to như mặt trăng trong suốt, cam lộ của Dược Sư Phật biến thành đại dương xanh thẫm, cả người dứt khoát nhảy vào trong biển pháp. A! Mát mẻ làm sao! Nhẹ nhõm làm sao! Pháp hỷ tràn trề… Cho đến tận lúc chú âm dừng lại, đệ tử vẫn luyến tiếc không nỡ quay về.

Kỳ lạ là, trong định vẫn nghe thấy Sư Phật giảng kinh Duy Ma Cật, Đế Võng Bồ Tát, Minh Võng Bồ Tát, Vô Duyên Quán Bồ Tát…… lần lượt khắc ghi trong đầu, không bỏ lỡ một chút nào.

Sau khi xuống bục, tập thể đảnh lễ quỳ lạy cảm ơn Sư Phật, “đùng” một cái đệ tử đứng phắt dậy, thân thủ nhanh nhẹn, hoàn toàn khác với sự nặng nề lúc trước. Một pháp sư già bên cạnh loay hoay cả buổi mới đứng dậy được, kinh ngạc nói: “Thân thể bà nhanh nhẹn quá nhỉ!” Lúc này đệ tử mới thận trọng cúi đầu nhìn thân thể mình, hầy, lẽ nào…? Sau một buổi pháp hội mà lập tức hông ra hông, chân ra chân, đã khôi phục lại trạng thái nhanh gọn rồi. Xong xuôi rồi!

Trên đường lái xe trở về, đệ tử đã ăn hết cả hộp cơm nóng hổi của chùa Cầu Vồng, trong lòng rất thỏa mãn, tiếp tục nghe băng Sư Phật giảng “Đạo Quả”, chỉ thấy Thầy nói: “Pháp Ẩm không tục mệnh trong “Đạo Quả” phải quán tưởng trong hư không có một vùng màu sắc lam lục đi vào trong thân mình, đầy ắp từng lỗ chân lông trên toàn thân, sau đó lại thở ra, thường xuyên tu quán như vậy có thể trường thọ.” Chà! Thì ra trong pháp hội, nhờ đại gia trì lực thần kỳ khi Sư Phật và Phật Dược Sư hợp nhất mà bất giác ma xui quỷ khiến thế nào đã tương ứng đại pháp trường thọ chưa từng nghe qua này!

Ngày hôm sau, 24/10, nhân lúc vui mừng, đệ tử lại tiếp tục tiến lên, một tiếng trống làm tinh thần hăng hái thêm, vội vàng dậy sớm để chúc mừng Phật đản Dược Sư, làm Hộ Ma đại cúng dường Phật Dược Sư mà mấy năm qua không làm. Dựa vào ấn tượng trong pháp hội của Sư Phật làm vào hôm trước, đệ tử cũng tự mình lầm rầm phụng thỉnh Dược Sư Phật, Nhật Quang Bồ Tát, Nguyệt Quang Bồ Tát, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, mười hai Dược Xoa Thần Tướng… ấy thế mà lần lượt quán tưởng ra hết, trước nay chưa từng như vậy, các vị xếp hàng đầy cả hư không. Diễn hóa thủ ấn tự động và lưu loát như nước chảy mây trôi, gửi lên trời như dòng chảy vô tận. Lại còn cảm nhận được sự xúc động tâm linh trước giờ chưa từng có, tâm của Thượng sư, tâm của Dược Sư Phật và chư tôn, tâm của vũ trụ và tự tâm mình trọn vẹn hợp nhất, tự mình cũng trở thành quyến thuộc của chư Tôn vũ trụ, diệu hỷ diệu lạc không gì sánh bằng, không còn tách biệt nữa.

Khoảnh khắc này, đệ tử cuối cùng đã thật sự lĩnh ngộ được điều Sư Phật nói: “Phật ở ngay trong tâm bạn. Bồ Tát ở ngay trong tâm bạn. Hộ Pháp ở ngay trong tâm bạn.” Chân đế “sinh Phật bất nhị”. 

Còn nhớ năm xưa Sư Phật nói với các đệ tử: “Bạn chuẩn bị tốt rồi, tôi sẽ đến.” Lời Sư Phật đã nói không hề giả, thiên trường địa cửu chờ đến khi nhân duyên chín muồi rồi, đệ tử hữu duyên tự có thể lĩnh hội được việc ở cùng với Phật dễ như trở bàn tay, đâu đâu cũng là báu vật.

Tại đây đệ tử chân thành đảnh lễ vũ trụ đại đạo sư Liên Sinh Phật! Kính chúc Sư Phật Phật thể an khang, trường thọ tự tại, thỉnh Phật trụ thế, hằng chuyển pháp luân!

Canada, đệ tử Liên Từ đảnh lễ tạ ơn.

30/10/2022.


### 51. Kiến giải của Liên Long


Sư Tôn kính yêu!
Chào Thầy! A Di Đà Phật! Đệ tử Liên Long trước hết tại đây cảm ơn Sư Phật đại gia trì, đồng thời đặc biệt báo cáo với Sư Tôn: trong pháp hội Thời Luân Kim Cang vào ngày 16 tháng 10, vào lúc Sư Tôn làm hồi hướng chung, chuông chày kim cang phát ra âm tần tựa như tâm luân của chính mình đã mở ra, đệ tử đã hiểu được tam tế nhất như (quá khứ, hiện tại, vị lai), Phật tính mãi mãi ở khắp hư không pháp giới, tự tính thanh tịnh, tất cả thanh tịnh. Từ sau đó, đệ tử đã có một nhận thức rõ rệt hơn đối với “vô tu”, đó chính là điều mà Lục Tổ Huệ Năng đại sư đã nói: *“Tự tính ấy, vốn tự thanh tịnh; tự tính ấy, vốn không dao động; tự tính ấy, vốn không sinh diệt; tự tính ấy, vốn tự có sẵn; tự tính ấy, thường sinh vạn pháp.” *Pháp ấy như thế. Từ đó mà càng ấn chứng bài kệ mà đại sư Vĩnh Gia đã viết trong “Chứng Đạo Ca”: *“Tuyệt học vô vi nhàn đạo nhân, không trừ vọng tưởng không cầu chân, vô minh thực tính là Phật tính, huyễn hóa không thân là pháp thân, pháp thân hiểu rồi không một vật, tự tính bản nguyên Phật thiên chân.”*

Đệ tử cho rằng điều mà Lão Tử viết: *“Vô vi, nhi vô bất vi, vô vi nhi trị.”* Nên trong sự xuyên suốt làm tất cả mọi pháp mà đạt đến đạo pháp tự nhiên, tuân theo kiểu sự vật tự nhiên mà vậy, dùng thái độ vô vi để làm việc “vi vô vi, sự vô vi, nhân vô vi”, chỉ có như vậy mới có thể đạt đến niềm vui chân chính.

Trên đây là một vài cảm ngộ của đệ tử, xin Sư Tôn chỉ giáo nhiều nhiều. Để đệ tử có thể thật sự thực tiễn đạt đến lý-sự vô ngại, sự sự viên dung, giác hành viên mãn. 

Cuối cùng tại đây kính chúc Sư Tôn Phật thể an khang, trường thọ tự tại, thỉnh Phật trụ thế lâu lâu lâu!!! Chúc Sư Mẫu thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý!!!

Đệ tử Liên Long chắp tay đảnh lễ.
29/10/2022.

(Hết.)

---

---
# File: sach-tam-linh/294-muon-kiep-tinh-duyen.md
# Title: 294. Muôn kiếp tình duyên
---

![image](/img/img_e8c3555aca58e507f510e803a7e1c373.jpg)



## Muôn kiếp tình duyên


🪷 Giác hữu tình của Bồ Tát

Văn tập: 294
Xuất bản: 15/05/2023
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam


---

### Lời mở đầu


Trước tiên:
Ngày 20 tháng 11 năm 2022, tôi trở về Đài Loan.
Khi thu dọn thư phòng của mình, tôi tìm thấy một cái hộp, mở ra xem, bên trong đều là thư của đệ tử nữ viết cho tôi.
Đây chính là động cơ khiến tôi viết cuốn sách này.

Động cơ thứ nhất:
Tôi vốn nghĩ rằng châm một mồi lửa đốt hết những lá thư này.
Nhưng sau khi đọc thư, có một chút không đành lòng.
Bởi vì trong những lá thư này đều là tình cảm.
Tình cảm có thể châm lửa đốt thành tro tàn sao? Rốt cục nơi đây là thế giới Ta Bà, là chúng sinh hữu tình.
Chính tôi cũng là “người hữu tình”.
Về điểm này tôi hiểu rõ chính mình, nếu không phải là vì những cái tình này thì sao tôi lại sinh ra ở Ta Bà?
Nếu không phải là tình? Làm sao độ chúng sinh?
Bồ Tát chẳng phải là “giác hữu tình” sao? [Giác hữu tình chính là ý nghĩa của tên gọi Bồ Tát - Bồ Tát là gọi tắt của Bồ Đề Tát Đỏa, trong đó Bồ Đề nghĩa là giác, Tát Đỏa là hữu tình.]

Động cơ thứ hai:
Điều then chốt của Mật giáo là hai chữ “chuyển hóa”.
1. Dùng giới, định, huệ để chuyển hóa tham, sân, si.
2. Dùng ngộ để chuyển hóa mê.
3. Dùng ý thức vi tế để chuyển hóa ý thức thô nặng. 
4. Dùng bố thí để chuyển hóa tiền tài.
5. Dùng ánh sáng để chuyển hóa nghiệp đen.
6. Dùng khí, mạch, minh điểm để chuyển hóa đại lạc, quang minh, tính Không.
7. Dùng thiền định, trí huệ để chuyển hóa tình dục. (Vô thượng mật)
Tôi nói:
”Tình duyên nhiều kiếp” cũng tương tự có thể chuyển hóa thành “quyến thuộc của Bồ Tát”. 
Tôi đã học tập:
Yoga khí.
Yoga chuyết hỏa.
Yoga minh điểm.
Yoga tứ hỷ. (Hỷ, thắng hỷ, siêu hỷ, câu sinh hỷ)
Tôi tu xuất “thân vô lậu” cũng phải tu xuất “tâm vô lậu”. 

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người:
Chỉ cần có tính Không.
Chỉ cần có vô lậu.
Chỉ cần có tâm bồ đề.
Là có thể chuyển hóa tình dục.

Động cơ thứ ba:
Tôi hiểu tình cảm giữa người với người đến từ:
Nhìn say đắm.
Khẽ cười.
Nắm tay.
Ôm ấp.
(Còn có cái duyên đời này đến đời khác, không thể thoát được điều đó, hơn nữa cũng không thể trốn tránh.)
Quan trọng là, tôi phải viết nó ra!
Thế rồi chuyển hóa.

Cuốn sách này không phải là sách về tình dục, nhưng cũng là cuốn sách hữu tình. Tôi muốn dùng:
Phật pháp để chuyển hóa tình dục.
Như vậy mới có thể có ý nghĩa hơn.
(Thư của đệ tử nữ, họ tên sẽ đều được giấu đi. Để tránh cho mọi người đoán mò ai là ai.)
Chúc bạn: mở sách ra có được lợi ích.

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-Yen Lu**

17102 NE 40th Ct.,
REDMOND WA 98052
Tháng 12/2022


### 01. Khi em tìm thấy thầy


Đây là bài thơ do Trang Trang viết:

*Ngày qua ngày mặt trời mọc rồi lặn
Càng tăng thêm vô hạn ý thơ
Cỏ đã lên xanh
Ngôi sao chính là đôi mắt em
Mặt đất làm nên một chút tình
Trở nên thêm phần rực rỡ*

*Khi em tìm thấy thầy
Em hân hoan
Em ngưỡng mộ
Em nhớ thầy
Cũng muốn nói với thầy
Ngoài nhớ thầy ra, rất muốn ở bên thầy*

*Đừng miễn cưỡng nhé
Có phải em quá miễn cưỡng rồi không
Đây chẳng xem là mong cầu
Em thật sự cảm thấy
Để cho em ở trong tim thầy
Hòa tan vào nhau.*

🌟

Tôi từng nói với Trang Trang đừng ngày nào cũng viết một bài thơ cho tôi. Trang Trang liền viết thế này:

*Khi thầy nói với em
Đừng ngày ngày viết thơ cho thầy
Nhưng em không ngăn nổi mình
Cũng chẳng thể nào giấu giếm
Bởi vì thầy chính là tất cả của em
Em thuộc về thầy
Bất luận thầy có thích hay không
Bất luận thầy có yêu hay không
Bất luận mảnh tình này liệu có dài lâu
Em vẫn cứ viết
Chỉ mong
Chàng hạnh phúc là được
Chỉ mong
Chàng vui vẻ là được
Hạnh phúc của thầy chính là hạnh phúc của em
Niềm vui của thầy chính là niềm vui của em
Mong người em yêu
Bình an cát tường.*

🌟

Trang Trang còn có một bài thơ như thế này:

*Trời ơi
Thầy khiến em say rồi
Quan tâm thầy lắm lắm
Em như nước sông cuồn cuộn dào dạt dâng trào
Em như ngọn lửa bừng bừng
Trời long
Đất lở
Em vì thầy mà sống
Trong trời cao biển rộng này, vì em đã tìm thấy thầy
Em muốn nắm tay thầy thật chặt, sẽ chẳng để thầy đi
Đây không phải trò chơi
Em xin thầy hãy chiều em
Hãy làm hư em.*

🌟

Trang Trang tổng cộng đã viết vô số bài thơ cho tôi, đây có thể xem là thơ tản văn cũng được!
Cô ấy khiến tôi không biết phải ứng đối thế nào.
Nói thẳng ra:
Cô ấy là một cô gái xinh đẹp, vô cùng dễ thương.
Bản thân tôi chân tay vụng về, lòng ngắc ngứ, mặt ngây ngô, tôi nghĩ tôi sắp đắm chìm rồi!
Tôi đã sắp không còn cách nào thoát ra được rồi!
Thơ của cô ấy càng viết càng trắng trợn, càng viết càng “nóng”, tôi sắp bị hòa tan rồi!
Mỗi lần gặp Trang Trang, con mắt của cô ấy cứ nhìn dán chặt vào tôi, trong cái nhìn đắm đuối ấy, tôi đã rơi vào vùng biển lớn của đôi mắt cô ấy. (Tôi tự giễu mình: định lực không đủ.)

Tôi nói với Trang Trang: 
Thật ra muốn vĩnh viễn ở cùng nhau, không khó.
Pháp Thượng sư tương ứng của Mật giáo, nếu tương ứng rồi.
Đó chính là:
Thân ngữ ý của Lư Sư Tôn
Cùng ta hợp nhất không phân biệt
Như nước hòa tan cùng với nước
Mong em và tôi mãi đại lạc.

Trang Trang!
Em quán tưởng Sư Tôn ở phía trên đỉnh đầu em, ở đó có một tòa hoa sen, trong hoa sen có nhật luân, nguyệt luân xếp chồng lên nhau, còn Lư Sư Tôn thì ngồi trên nhật nguyệt luân. 
Quanh thân Lư Sư Tôn phóng ra ánh hào quang như cầu vồng.
Sau khi quán tưởng rõ ràng:
Em cần niệm tâm chú của Lư Sư Tôn.
”Om guru liansheng siddhi hum.”
Tay có thể kết thủ ấn của Lư Sư Tôn, khi quán tưởng thì kết thủ ấn.
Tay phải — ấn thuyết pháp.
Tay trái — ấn cầm hoa sen.
Khi niệm chú, tay có thể lần chuỗi hạt.
Niệm chú càng nhiều càng tốt.
Niệm chú xong thì có thể tu nhập Tam ma địa, đó chính là nhập ngã - ngã nhập.
Lư Sư Tôn tiến vào trong thân của em.
Hoặc em tiến vào trong thân của Lư Sư Tôn.
Hai người hợp nhất.
Không phân biệt.
Thiền định.
(Việc tu trì này cũng tức là thân ngữ ý của Lư Sư Tôn tiến vào thân ngữ ý của hành giả.)
Đây cũng là gia trì: (Căn bản Thượng sư gia trì)
Nghiệp chướng tiêu trừ, trí huệ tăng trưởng, ánh sáng chiếu rọi phúc huệ tăng, tâm địa sáng ngời thiện lương.
Cuộc sống mỹ mãn, hạnh phúc khỏe mạnh, sống trong hiện tại, hợp nhất với Phật.
Hiểu rõ việc đời vô thường, bất kì việc gì cũng đều là vô sự.
Không có tâm được mất.
Chỉ là tùy duyên tự nhiên.
Cá tính điềm đạm không nóng nảy, tâm bình khí hòa, hiểu rõ đời người như mộng, hiểu rõ đời người như huyễn, như hoa trong gương, như trăng trong nước, như cầu vồng trên bầu trời.
Tập khí không còn. Dục vọng không còn.
Người - vô ngã.
Pháp - vô ngã.
Bám chấp - loại bỏ hết.
Sống một ngày, tu hành một ngày.
Sống một ngày, cảm ơn một ngày.
Sống một ngày, vui vẻ một ngày.
Sống một ngày, giải thoát một ngày.
Khi Trang Trang và Lư Sư Tôn tương ứng rồi thì sẽ hiểu, chúng ta là viên mãn, chúng ta là bình đẳng, chúng ta là giải thoát, chúng ta cũng là hợp nhất.
Loại bỏ ngũ độc tham, sân, si, nghi, mạn.
Biến thành ngũ trí.
Dục vọng biến thành sức mạnh tu trì.
Lành thay! Lành thay!


### 02. Cảm giác thuộc về nhau chạm vào trái tim


Đệ tử của tôi rất đông, đệ tử có duyên cũng rất nhiều, đây đều là những điều khiến người ta khó quên.
Tình cảm nối dài nhiều kiếp.
Ngay cả chính tôi cũng hoang mang, giống như một chiếc thuyền lá, trên mặt hồ, phiêu đãng nổi trôi, đã mất phương hướng.

Tại đây tôi công bố thư của Tuyết Tuyết.
*Lư Sư Tôn!
Còn nhớ lần đầu tiên chúng ta gặp mặt là sau buổi hòa nhạc, thầy đã đến hậu trường để tham quan triển lãm tranh Trung Quốc.
Có người bảo em rót một ly nước mời thầy uống, em liền rất cung kính đi đến trước mặt Lư Sư Tôn. Trong khoảnh khắc chúng ta trao nhau ánh mắt, có một cảm giác thuộc về nhau chạm vào trái tim khiến em đến ngày hôm nay vẫn thấy khó quên. 
Phút giây đó, em đã bị trái tim thầy thu phục rồi!*

🌟

*Bất kể sự ngăn cách về thời gian hay không gian, em luôn cảm thấy tâm của chúng ta chưa bao giờ từng rời xa nhau. Mỗi ngày, điều mà em sớm nghĩ chiều mong đều là bóng hình của thầy và cuộc trò chuyện giữa chúng ta. Em cũng hiểu Tam muội mà Lư Sư Tôn đặc biệt chỉ dạy, khi chúng ta tâm tâm tương ứng, nhân duyên và pháp hỷ thù thắng ấy.
Chúng ta đã vượt lên trên tất cả thế tục.
Chúng ta là sự thánh khiết sinh ra từ bùn mà không nhiễm bẩn.
Chúng ta là sự hòa hợp của tình yêu và pháp.
Là cảm nhận thanh tịnh và quang minh.*

🌟

Tuyết Tuyết còn viết:
*Lư Sư Tôn ơi! 
Xin lỗi thầy! Ban đầu khi tình cảm của em bị kích động mạnh mẽ, em đã chưa nghĩ một cách rõ ràng về những sự tình này mà đã ngã về phía thầy rồi.
Có lẽ điều đó cũng đã làm liên lụy đến tình cảm của Lư Sư Tôn.
Trong khoảng thời gian đó, em thật sự đã đi qua một chặng đường quanh co, rõ ràng tình yêu trong trái tim em là chân thành tha thiết. 
Thật sự là:
Băn khoăn trùng trùng.
Cảm xúc lẫn lộn.
Rõ ràng sẵn lòng đặt toàn bộ thể xác và tâm hồn vào trong vòng tay của thầy.
Lắng nghe thầy lan man kể câu chuyện của mình.
Nhưng lại cảm thấy giữa chúng ta bị cách trở bởi nghìn núi vạn sông, thời gian và không gian vô tận.
Em đã điều chỉnh tâm trạng của mình rất lâu rồi, mỗi ngày ở trước đàn thành thổ lộ hết với thầy, cuối cùng, từ chính Sư Tôn mà em đã học được cảnh giới từ tự ngã đến vô ngã.
Khi đặt mình ở bên ngoài chính mình, thứ mà em nhìn thấy là hào quang của thầy. 
Cảm nhận thấy toàn thân tươi mới.
Em biết,
Cho dù có lùi lại bao xa, trái tim của em đối với Lư Sư Tôn vĩnh viễn không thay đổi.*
……………………

🌟

Tuyết Tuyết là một cô gái tràn đầy trí tuệ.
Cô ấy là một nghệ sĩ, vẽ tranh, trồng hoa, âm nhạc, nhảy múa,… tất cả đều tinh thông.
Vóc dáng cao ráo, lại thon thả, diện mạo lại xinh đẹp kết hợp cả hiện đại và cổ điển, có sự tu dưỡng rất sâu đối với văn học. 
Trong thư của cô ấy, đối với tình cảm của chính mình có thể giữ, có thể bỏ. 
Tôi rất nhớ cô ấy! Cô ấy rất xinh đẹp!
Trong thư của cô ấy nhắc đến vô ngã.
Đúng vậy!
Vô thường, vô ngã, tịch diệt! Là ba chân đế lớn của Phật pháp và nhập thế, xuất thế.
Tôi muốn nói với Tuyết Tuyết:
Tâm vô trụ.
Tình vô trụ.
Lạc vô trụ.
Hãy nhớ:
”Minh không đại thủ ấn!”


### 03. Phụ lục: Thơ về Minh không đại thủ ấn


Mấy bài thơ này là Lư Sư Tôn viết, để ở trên bàn đã nhiều năm, bây giờ công bố ra, mong người đọc có được lợi ích.

🌟 Bài thứ nhất:
*Hoằng pháp đã năm mươi năm
Thật ra từ đầu đến cuối đều chẳng khai diễn
Không có người thuyết pháp
Không có người nghe pháp
Ngay cả pháp cũng không có
Đây mới là tính Không hiện tiền. *

🌟 Bài thứ hai:
*Tôi cũng không dừng suy nghĩ
Suy nghĩ như nước mặc nó chảy
Không căng
Không lỏng
Không trói không buộc
Chẳng đi tìm kiếm điều gì
Tôi biết
Hoàn toàn tuyệt đối không lý do không lý do.*

🌟 Bài thứ ba:
*Giống như một áng mây trên trời
Không từ đâu đến
Không đi về đâu
Và cũng không dừng không ở
Chẳng hề giữ
Chẳng hề bỏ
Mặc cho nó mãi mãi tự nhiên.*

🌟 Bài thứ tư:
*Tôi đây tự ngã là vô ngã
Giống như nước và sóng
Đều cùng một ngọn nguồn
Tôi an trụ
An trụ tức là vô trụ
Phật pháp tám vạn bốn nghìn
Toàn bộ đều thông suốt bài thơ này.*

🌟 Bài thứ năm:
*Tham sân si nghi mạn
Ngũ độc này
Thật ra cũng là ngũ trí
Luân hồi
Niết bàn
Phật
Ma
Đây đều là những danh từ
Tôi hoàn toàn chẳng để trong lòng.*

🌟 Bài thứ sáu:
*Ơ kìa
Lão Lư này đã không còn suy tưởng
Lão Lư này cũng chẳng còn viết lách
Những vần thơ này
Cũng chẳng sáng tác
Bạn hiểu cũng được
Không hiểu cũng được
Mừng vui lộ thì lộ
Mừng vui giấu thì giấu
Chẳng ai quản được gì.*

🌟 Bài thứ bảy:
*Quán tu hành chứng vô biên giới
Sâu vô hạn
Rộng vô biên
Chỉ một sát-na này
Chân trời kia
Treo một dải cầu vồng.*


### 04. Nghìn lời muốn nói


Tĩnh Tĩnh đã viết nghìn lời muốn nói:
*Một buổi tối, có một giấc mơ ngọt ngào…
Trong mơ chúng ta ở trong một căn phòng đẹp đẽ.
Em khẽ kéo tấm rèm cửa sổ khép lại,
Hát cho thầy nghe:
Nhớ thầy nhiều, nhớ thầy nhiều, nhớ thầy nhiều, nhớ thầy nhiều,
Sau đó chúng ta cùng hát:
Thật sự thật sự rất nhớ thầy, không phải là giả vờ vờ như rất nhớ thầy, là cực kì cực kì rất nhớ thầy, là vô cùng vô cùng rất nhớ thầy…
Sau đó, nhìn nhau và cười,
Nói cười an yên.
Ha ha!
Thầy có khỏe không? Thầy có vui không?
Rất muốn cùng thầy ăn một bữa cơm, uống một chén trà, cùng tán gẫu.
Khi tỉnh mộng…
Em vẫn nghĩ đến thầy,
Khi cách xa nghìn dặm,
Cho dù thế giới của em có bầu trời và mặt đất rộng lớn đầy màu sắc
Trong mắt em vẫn là thầy,
Có rất nhiều lời muốn nói, nghìn ngôn vạn ngữ,
Nhưng chung quy chỉ có,
Sư Tôn em yêu thầy, thật sự.
Lư Sư Tôn, you are my sunshine. My only sunshine. **[Thầy là ánh mặt trời của em. Ánh mặt trời duy nhất của em.]*

🌟

Tĩnh Tĩnh là một cô nữ sinh rất trẻ tuổi.
Tuổi của cô ấy ở giữa tuổi trưởng thành và chưa trưởng thành, cuộc đời của cô ấy còn có con đường rất dài để mà đi.
Tôi nói với Tĩnh Tĩnh:
Chúng ta đều có những giấc mơ, tôi từng mơ tôi là một đứa trẻ ngây thơ.
Từng mơ giấc mơ thời niên thiếu.
Từng mơ giấc mơ thời thanh niên, tôi còn là Bạch Mã Hoàng Tử nữa!
Tôi từng mơ tôi rất giàu có, rất giàu có. Tôi có rất nhiều biệt thự, trăm vạn xe sang. Còn có thê thiếp xinh đẹp…
Nhưng,
Tỉnh mơ rồi!
Tôi chỉ là một ông già Lư tu hành. (đời người như mộng)
Tôi cũng rất nhớ em, thật sự.
Thế nhưng, điều tôi muốn nói với em là:
Trong tu hành có pháp Mộng quán.
Trong mơ biết rõ ràng đây chỉ là một giấc mơ. (biết mộng) (hiểu mộng)
Chúng ta vẫn phải chuyển hóa giấc mơ. (chuyển mộng)
Trong mơ cũng có thể tu hành. (tu mộng hoặc mộng tu)
………………………
Được như thế, ban ngày em có thể tịnh hành, ban đêm cũng có thể tịnh hành, hai mươi bốn giờ đều có thể tịnh hành.
Em sẽ có thể thật sự, hoàn toàn thanh tịnh.
Khẩu quyết tu hành Mộng quán là:
Từ Hầu luân của em phóng ra một đường hào quang màu đỏ, hào quang che trọn lấy giường của em.
Em ở trong ánh hào quang đó, giống như lưới ánh sáng bao trọn lấy.
(Đây là pháp Miên quang.)
Em nhớ đến Bổn tôn của mình.
Trì tâm chú của Bổn tôn.
Cho đến khi tiến vào trong giấc ngủ sâu của em.
(Cũng tức là sự tu hành ban ngày liên kết với sự tu hành trong mơ.)
Đương nhiên, đây cũng không phải là một việc dễ dàng, luyện tập lâu ngày, tự nhiên sẽ có đủ lực.
Tĩnh Tĩnh, thầy rất nhớ em!
Chỉ mong, an lành và vui vẻ có thể sinh ra từ trong tim em, và còn vĩnh hằng. 
Om Ah Hum.


### 05. Làm sao tự tại


Thư của Ti Ti:
*Lư Sư Tôn!
Em đọc sách của thầy, có ngộ cảnh, rất mừng!
Đọc cuốn “Một mũi tên bắn lên trời xanh”.
Trong sách nói:
”Thế nào là tự tại?”
Thầy đáp: “Cười lớn ba tiếng.”
”Vì sao không phải là bốn tiếng, năm tiếng, sáu tiếng…?”
Thầy đáp: “Bạn muốn tôi cười đến chết à!”
”Thế nào là tự tại? Xin hãy làm một động tác.”
Thầy đứng dậy, đi về hướng Đông Tây Nam Bắc, sau đó lại ngồi xuống.
”Đây là cái gì?”
Thầy đáp: “Đều là bồ đề.”
”Chỉ có những cái này thôi sao?”
Thầy đáp:
”Những cái này là cái gì? Những cái kia là cái gì?”
Nếu để em trả lời thì:
”Những cái này là yêu, những cái kia là yêu, tất cả đều là yêu.”
Ha! Ha! Ha!
Thầy nói:
Lìa tất cả cảnh giới, sẽ được tự tại.
Lìa tất cả phiền não, sẽ được tự tại.
Lìa tất cả bám chấp, sẽ được tự tại.
Thầy hỏi mọi người:
”Làm sao để lìa?” (Đây mới là trọng điểm của khai ngộ.)
Em trả lời:
Làm sao lìa?
Chưa từng tồn tại.
Làm sao lìa?
Em chỉ có yêu và yêu.
Thầy (Lư Sư Tôn) thích bài “Mộng Thơ”. 
”Biết đời như mộng vô sở cầu.
Vô sở cầu lòng tĩnh lặng không.
Vẫn tưởng trong mơ tùy mộng cảnh.
Thành tựu công đức tựa hà sa.”
Thầy nói:
”Không có gì cả.”
Em nói:
”Tuy không có gì, nhưng em vẫn muốn nhìn thấy vẻ tươi cười của thầy.”
Nhìn thấy thầy,
Không có gì cả, cũng được.
Ti Ti kính thư.*

*Kèm thêm một bài thơ:
Nhớ đến thầy
Thích nụ cười của thầy
Ngọt ngào
Trong trẻo
Thầy trong mắt em
Đáng yêu như vậy đó
Hồn nhiên như vậy đó
Đẹp như vậy đó.*

🌟

Tôi trả lời Ti Ti:
Cuộc đời này của tôi chính là không có cuộc đời này.
Cuộc đời này của tôi là mộng, mộng cũng là không.
Em đã yêu ai?
Tôi đã yêu ai?
Những điều này đều là nhất thời.
Ai yêu em?
Ai được yêu?
Tôi nói:
Đành chịu! Đành chịu!


### 06. Một vài suy nghĩ của em


Một vài suy nghĩ mà Nghiên Nghiên viết cho Lư Sư Tôn:
*Gần đây đều vào lúc trời mưa, gió thổi đến mát lạnh, nhìn ra ngoài cửa sổ, em có một vài suy nghĩ:
Em tưởng tượng mưa là tuyết
Tưởng tượng nhà mình là một căn nhà gỗ nhỏ
Tưởng tượng bên ngoài cửa sổ là một màn trắng xóa
Ngọn lửa đỏ, đang cháy bập bùng trong lò sưởi
Tưởng tượng Liên Hoa Đồng Tử ở đàn thành là thầy
Thế là
Em ngả vào thầy
Em ngửi thấy mùi cơ thể quen thuộc của thầy
Hai mắt ngưng lại (khi bốn mắt gặp nhau)
Em cảm thấy rất ấm áp rất ấm áp
Tất cả những điều này quá tuyệt diệu
Là thật hay huyễn đều chẳng nghĩ nữa
Em cứ tưởng tượng như thế, cứ tưởng tượng như thế.*

🌟

*Có một buổi tối, em mơ thấy thầy
Thầy mặc áo dài màu đỏ
Thầy nói
Thầy là lửa
Lửa sẽ đốt hết sạch phiền não
Lúc này em thật sự đã đốt sạch phiền não rồi
Em tỉnh dậy
Trống trải
Cảm giác rất nhẹ nhõm tự tại, giống như tiên nhân
Cảm ơn thầy
Em ngẫm nghĩ
Thầy là Marpa của Bạch giáo
Em tu Vô Ngã Mẫu, cùng với thầy
Được không.*

🌟

*Em cảm thấy em đã bị trúng điện của thầy
Đây là điều chẳng thể khác được
Hải quan hỏi em
Sao tuần nào cũng đến Đài Loan, lấy chồng ở Đài Loan sao
Em chỉ gật gật đầu
Là sức mạnh của “đại kính ái”
Đây là điều em trông mong chờ đợi mỗi tuần
Em mong
Trong những huyễn tưởng vỡ vụn của em
Lư Sư Tôn
Một hơi thở của thầy có thể khiến em hồi phục lại nguyên vẹn
Vì thầy
Em không hối hận
Đi theo thầy mãi.*

🌟

Lư Sư Tôn nói với Nghiên Nghiên:
Tư tưởng chủ yếu nhất của Trung quán chính là viên dung [hòa nhập hoàn toàn].
Ví dụ:
Phương tiện và tính Không viên dung. (Sắc - Không nhất như)
Danh tướng và thực tướng viên dung.
Thế tục và thắng nghĩa viên dung.
Luân hồi và niết bàn viên dung.
Tôi cho rằng:
Em có thể biến tình cảm thành sức mạnh, biến thành nguồn động lực tu hành, cứ thế mà tinh tấn.
Vô Ngã Mẫu là Không Hành Mẫu vĩ đại, là Minh Phi vĩ đại nhất của Hỷ Kim Cang.
Thành tựu của Yeshe Tsogyal đến từ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.
Em và tôi đều có Phật tính,
Trong phương tiện đã có Phật tính. Mong em sớm thành tựu.


### 07. Dâng hoa


Thư Nghiên Nghiên viết cho Lư Sư Tôn:

Buổi sáng hôm nay em đã đi chợ hoa.
Trong trăm hoa đua nở hết sức tươi đẹp, em đặc biệt lựa chọn những cành hoa đẹp nhất, làm thành một chuỗi hoa.
Em đã đi pháp hội, nhìn thấy những dòng người hướng về thầy, em ôm hoa, đứng sang một bên. Em nghĩ, bước lên trước dâng hoa, hay là đứng nguyên tại chỗ, hay là trốn đi. Một nhân viên bảo vệ nhìn thấy em, nói:
”Không được đứng ở đây!”
Em nói:
”Tôi muốn dâng hoa.”
Bảo vệ nói:
”Là Thượng sư nào để cho cô vào vậy?”
Em á khẩu không nói.
Bảo vệ nói:
”Không có Thượng sư nào đưa cô vào thì cô phải đi ra đi!”
Thế là, em bị đuổi ra.
Em đã khóc! Thút tha thút thít, giống như một đứa trẻ đã làm việc sai.
Em ôm bó hoa, đi ra ngoài cửa. Vừa đi, vừa khóc.
Lúc này em nghĩ:
Chẳng phải mình là Vô Ngã Mẫu sao? Vô ngã của mình đã đi đâu mất rồi? Mình phải mạnh mẽ lên một chút.
Em không thể trách bảo vệ.
Bởi vì những người bảo vệ đang chấp hành công tác, họ có trách nhiệm của họ.
Kỳ lạ là:
Thầy đột nhiên chuyển hướng, đi về phía em, em lập tức quỳ xuống, dâng lên hoa và thư.
Lá thư này, em viết viết, sửa sửa, đại diện cho trái tim em.
Em nhìn thấy thầy đem bó hoa cúng dường Phật Bồ Tát trong hư không, bỏ thư của em vào trong túi hương.
Thật hay!
Tất cả đều là sự sắp đặt hoàn mỹ.

🌟

Nghiên Nghiên còn nói:
*Nghiên Nghiên của thầy, tu pháp tương ứng rồi.
Diêu Trì Kim Mẫu, Quan Thế Âm Bồ Tát, Liên Hoa Đồng Tử hòa nhập vào nhau, rồi biến thành Vô Ngã Mẫu.
Có một hôm.
Thầy hỏi em:
”Xưng hô thế nào?”
Em đáp:
”Liên Sinh Phật Mẫu.”
Thầy nhất thời ngây ra.
Em lại nói:
”Là Phật Mẫu riêng của thầy đó!”
Em lại giải thích:
”Lư Sư Tôn, Liên Hoa Đồng Tử tuyệt đối không giả dối, là đại thành tựu giả chân thực nhất, trí huệ vô lậu, minh điểm vô lậu, tâm vô lậu, chính xác đích xác, chân thật không giả.”
Em nói:
Thầy là bầu trời.
Em là đám mây.
Thầy là mặt trời.
Em là cỏ nhỏ.
Thầy là mặt trăng.
Em là ngôi sao.*

🌟

Tôi đã bị Nghiên Nghiên làm cho xúc động một chút.
Tôi hiểu tình duyên nhiều kiếp, tôi sẽ hướng dẫn cô ấy tu hành Chuyên nhất, tu hành Ly hý, tu hành Nhất vị, tu hành Vô tu.
Cùng đến Ma Ha Song Liên Trì.
Cô ấy là một đóa hoa sen.
Tôi là người bảo vệ hoa sen.


### 08. Đối thoại với Băng Băng


Trên đường sắt cao tốc, tôi và Băng Băng ngồi cùng một hàng, rất trùng hợp, nhưng thật ra cũng không phải là trùng hợp, là Băng Băng cố ý sắp xếp.

Cô ấy đi thẳng vào vấn đề và hỏi:
”Pháp Song thân của Mật giáo là thế nào?”
Tôi đáp:
”Thanh tịnh và thanh tịnh kết hợp.”
Cô ấy hỏi:
”Thượng thượng căn khí với thượng thượng căn khí?”
Tôi đáp:
”Phá bỏ tất cả hữu hạn.”
Cô ấy hỏi:
”Vì sao Mật giáo có loại pháp này?”
Tôi đáp:
”Mọi con đường đều dẫn đến thành Rome.”
Cô ấy hỏi:
”Làm sao thầy chứng minh bản thân thầy thanh tịnh?”
Tôi đáp:
”Đã vượt qua từ lâu rồi.”
Cô ấy hỏi:
”Em cũng có thể vượt qua sao?”
Tôi đáp:
”Hỏi chính mình xem có tâm không?”
Cô ấy hỏi:
”Tâm của em ở trên tâm của thầy, thầy có biết không?”
Tôi đáp:
”Không cần đoán cũng biết.”
Cô ấy hỏi:
”Kỹ xảo như thế nào?”
Tôi đáp:
”Đến thế nào thì đi như thế.”
Cô ấy hỏi:
”Loại người nào có thể làm pháp Song thân?”
Tôi đáp:
”Tính Không và tính Không.”
Cô ấy hỏi:
”Lư Sư Tôn thật sự là tôn giả vô lậu sao?”
Tôi đáp:
”Thật thì chẳng thể giả.”
Cô ấy hỏi:
”Có ai chứng minh?”
Tôi đáp:
”Vô lậu chứng minh.”
Cô ấy hỏi:
”Làm sao để duy trì việc này?”
Tôi đáp:
”Ngay cả duy trì cũng không cần.”
Cô ấy hỏi:
”Nếu có người phỉ báng thì sao?”
Tôi đáp:
”Trên đời này có người ư?”
Dường như cô ấy có chút ngộ ra, gật gật đầu.

Lư Sư Tôn nói thế này:
Đây là yoga của khí.
Dùng khí đả thông trung mạch, phong mạch ánh sáng.
Mở ra tất cả các mạch luân.
Hóa thành cầu vồng.
(Trong ánh sáng có lạc, có ánh sáng, có tính Không.)
Lư Sư Tôn tôi ở trong hư không có Không Hành Mẫu trí huệ. Ở tại thế giới hiện thực có Không Hành Mẫu thực thể.
Chứng nghiệm vô số.
Ở trong hư không, tôi cũng hóa thân vô số, là Không Hành Dũng Phụ trí huệ, độ hóa rất nhiều chúng sinh.


### 09. Lời nói mê của Băng Băng


Băng Băng đương nhiên là tên giả do tôi đặt, tên gọi trong cuốn sách này đều là tên giả, không dùng họ tên thật.

Nhưng,
Băng Băng khiến tôi nghĩ đến Lãnh.
Người mang họ Lãnh rất hiếm.
Tôi nhớ đến thời kỳ đầu, tôi từng đọc một cuốn sách, tên sách là “Lục Dã Tiên Tung” [Phù thủy nơi đồng xanh - Phù thủy xứ Oz], nhân vật chính trong đó mang họ Lãnh, tên là Vu Băng.
Lãnh Vu Băng sau này đã tu tiên thành đạo.
Tôi rất ngưỡng mộ.

Sau này, tại Bắc Kinh Trung Quốc, tôi ở nhà khách chính phủ Điếu Ngư Đài, nhà khách số 10, đã gặp một thị giả nữ họ Lãnh, tên là Nhược Băng.
Lãnh Nhược Băng đặc biệt tiếp đãi tôi, vô cùng tỉ mỉ, buổi sáng cùng tôi đi dạo trong hoa viên.
Chúng tôi cảm thấy cực kì hòa hợp.

Lúc chia tay.
Tôi nói:
”Tôi sẽ lại đến!”
Lãnh Nhược Băng nói:
”Em sẽ đợi thầy!”
Nhưng, tôi đã không trở lại nữa, là tôi đã cao hứng mà hẹn ước, trong lòng rất buồn, nhưng cũng đành chịu!
Vì thế,
Lãnh chưa chắc đã lạnh.
Băng chưa chắc đã buốt.

Cô Băng Băng này nhiệt huyết như lửa, cô ấy viết rất nhiều những lời nói mê cho tôi, liệt kê ra vài câu như sau:
*Thầy
Ở giữa hơi thở của em
Ở giữa nhịp đập trái tim em
Ở giữa sự tồn tại của em
Ở giữa sự không tồn tại của em
Luôn ở đó
Mãi ở đó*

🌟

*Khi trong tim có thầy
Cho dù thân em ở nơi nào
Thì luôn luôn là tâm tâm tương ấn
Em đã bay lên trời cao
Em đã là thần tiên
Ca hát, nhảy múa, vui chơi, sung sướng
Chẳng thể nào nói bằng lời*

🌟

*Những gì em có được
Đều là từ thầy mà có
Liên tục không ngừng
Tưới đẫm tưới đẫm lại tưới đẫm
Đầy ắp yêu thương*

🌟

*Cảm tạ thầy gia trì
Em đã vượt lên thế tục
Khí đang tăng trưởng
Mạch đang đập
Minh điểm phóng quang
Em ở trong vùng hào quang, hóa thành cầu vồng
Om ah hum*

🌟

*Phá ngã tướng, phá nhân tướng, phá chúng sinh tướng, phá thọ giả tướng, phá tứ tướng
Em là hư không
Sinh diệt không tồn tại
Thanh tịnh
Tự tính thanh tịnh
Tất cả tự tính thanh tịnh*


### 10. Lời nói mê của Băng Băng (tiếp)


Lư Sư Tôn nói:
Băng Băng không phải là rất lạnh, mà là cô ấy rất tĩnh lặng, bình thường không nói chuyện, nhưng suy nghĩ thì rất tỉ mỉ.
Cô ấy có nguyên tắc.
Cô ấy dễ thương, ngũ quan xinh xắn, đôi mắt cô ấy lộ ra vẻ thông minh và trí tuệ.
Cô ấy, trong như ngọc trắng như ngà.
Cô ấy nói:
Cô ấy đã hiểu bốn bộ Mật tục.
Sự bộ — tu trì sự thanh tịnh bên ngoài, thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh.
Hành bộ — sự thanh tịnh bên ngoài và yoga nội tại coi trọng như nhau.
Du già bộ — tu trì khí, mạch, minh điểm. (yoga nội tại)
Vô thượng du già bộ — thân hóa cầu vồng.

🌟

Bí quyết thành công của thân hóa cầu vồng là:
1. Khí hóa quang.
2. Lạc hóa quang.
3. Chuyết hỏa hóa quang.
4. Vô niệm hóa quang.
(Pháp của Đại viên mãn và pháp của Đại thủ ấn đều dùng “vô niệm” để hóa ra ánh sáng cầu vồng.)
Chân Phật Kinh của Lư Sư Tôn có nói, lấy “vô niệm” làm chính giác Phật bảo, chính là ý nghĩa này.

🌟

*Cuối cùng em đã hiểu:
Lư Sư Tôn là cái không của vô niệm.
Còn Băng Băng là đại lạc.
Không và Lạc cùng hòa tan vào nhau.
Kết quả là hóa ra cầu vồng lớn.
Băng Băng đã thể nghiệm được kinh nghiệm về đại lạc, còn Lư Sư Tôn có thể thể nghiệm được tính Không của vô niệm.
Thì ra đây chính là khẩu quyết của Song thân. *

🌟

*Thắng nghĩa chẳng có cách nào để miêu tả được.
Đó chính là chân lý rốt ráo, vượt lên trên ngôn ngữ và văn tự, người bình thường không cách nào hiểu được.
Cho nên phỉ báng là điều khó tránh.
Người bình thường tức là người thế tục, có sự đối lập thiện ác của thế tục, dùng trí tuệ thế tục để phân biệt.
Mật giáo chân chính là thế tục và thắng nghĩa hòa nhập vào nhau.*

🌟

*Phật Đà nói:
”Tất cả pháp hữu vi, như mộng huyễn bào ảnh, như sương cũng như điện, nên quán thấy như vậy.”
(Đây là sự nhìn thấu tỏ về thế tục đế.)
Còn như pháp vô ngã vô vi. (Đây là thắng nghĩa đế.)
Đây đều là trí huệ của Lư Sư Tôn bộc lộ, cảm tạ sự dạy dỗ của Lư Sư Tôn.
Em và thầy hợp nhất.
Đúng là vô cùng thù thắng.
Thầy thật sự rất cừ.
Thầy không phải là thế tục, mà là thắng nghĩa.
Thầy tiến vào trong thiền định rất sâu rất sâu, không phải là điều mà người bình thường có thể làm được.
Thầy là thầy của trời người, là Phật.
Băng Băng em nhìn thấy ánh sáng rồi, nhìn thấy vô số Bổn tôn Không Hành.*

🌟

*Em muốn nói với thầy:
Thế giới biến mất rồi.
Em biến mất rồi.
Thầy biến mất rồi.
Chỉ còn lại một vùng trống rỗng của tính Không.*


### 11. Một cô gái học Tạng mật


Có một cô gái học Tạng mật, tôi đặt cho cô ấy một cái tên gọi là Kim Kim.
Kim Kim viết một bài kệ cho tôi:
*Em từ quê nhà của mình đến nơi thầy
Em chẳng còn bám chấp vào cha mẹ
Em chẳng còn bám chấp vào anh chị em
Em chẳng còn bám chấp vào của cải
Em chẳng còn bám chấp vào tương lai
Em cũng chẳng còn bám chấp vào học tập truyền thừa của Tạng mật
Em chẳng còn bám chấp vào hôn nhân thế tục
………………….*

*Em là người con gái không bám chấp
Giờ đây em đến bên cạnh thầy
Nếu thầy có tấm lòng từ bi dành cho em
Chỉ cần một chút xíu
Thì hãy đưa em đến đất nước ban đầu của em đi
Lư Sư Tôn
Có được không*

🌟

Tôi nhìn cô ấy:
Có vẻ ngoài xinh đẹp, có đủ mọi dáng vẻ tuyệt vời
Giọng nói ngọt ngào, thông minh lại có trí tuệ
Mùi thơm như hoa
Trên tay cô ấy có ký hiệu (thọ ký)
Cô ấy hẳn là một bạn đạo của Thánh giả
Tôi nên dẫn dắt cô ấy trở về thánh địa thù thắng

🌟

Tôi viết một bài kệ hồi đáp cô ấy:
*Tôi (Lư Sư Tôn)
Là một bậc yogi đích thực có sức mạnh tu hành vô lậu
Bổn tôn của tôi là Diêu Trì Kim Mẫu (tôi được Diêu Trì Kim Mẫu tiết lộ đời quá khứ của mình)
Bổn tôn của tôi là A Di Đà Phật
Bổn tôn của tôi là Địa Tạng Bồ Tát
Tôi là Guru (Acharya) chân chính
Hoa sen là ký hiệu của tôi
Điều tôi muốn nói với em là
Tâm của em cần an định lại, em cần trì tụng tâm chú của tôi
Em cần quán tưởng thân tướng của tôi, trì tụng tâm chú của tôi
Em cần tiến vào trong tâm tôi, trì tụng tâm chú của tôi
Tôi là Guru
Guru của em
Tôi thật sự có rất nhiều quyến thuộc và tịnh thổ thuộc về mình
Tôi có thể đưa em đến thánh địa
Đó là cung điện thanh tịnh của Bổn tôn
Em cần trì tụng bát tự chú
Om guru liansheng siddhi hum
Sẽ cho em sức mạnh tu đạo đại lạc thù thắng
Nói cho em biết, họ tên của tôi*

🌟

Cô gái đó nói:
*Đọc xong bài kệ của Guru, con tim rộn ràng
Ký hiệu hoa sen vô biên như vậy
Là thứ em yêu nhất
Em đem tất cả, tất cả của tất cả những gì mà em có
Đều tặng hết cho thầy
Em chỉ là một giọt nước trong biển lớn
Em sẽ trở về biển lớn
Nơi đó trời đất nối liền nhau
Sẽ viên mãn sinh mệnh của em
Em sẽ
Đi theo thầy mãi mãi, hư không bất biến vĩnh hằng, lời thề mãi mãi không đổi*


### 12. Phụ lục: Thứ tự sinh khởi và Thứ tự viên mãn


Đây là điều tôi dạy Kim Kim.

1. Trước tiên quán tưởng đàn thành.
(Cây quy y của Liên Hoa Đồng Tử.)
Tu pháp Thượng sư tương ứng, dựa theo nghi quỹ, chuyên chú tu trì.
Tập trung vào thủ ấn.
Tập trung vào y phục.
Tập trung vào hình tượng.
(Có thể mang theo ảnh của Thượng sư theo người, lấy ra nhìn trước, sau đó quán tưởng.)
Ngày ngày tu, tháng tháng tu, năm năm tu.
Cho đến một ngày, em sẽ nhìn thấy Căn bản Thượng sư như người thật xuất hiện.
Người mà em nhìn thấy còn có thể thuyết pháp cho em.
Chính em và Căn bản Thượng sư không có sự phân biệt, thân ngữ ý của Căn bản Thượng sư chính là thân ngữ ý của em.
(Trên đây chính là Thứ tự sinh khởi. Tu trì pháp Bổn tôn và pháp Thượng sư tương ứng là như nhau.)

2. Tu khí, tu mạch, tu minh điểm.
Dùng Bảo bình khí để thông mạch.
Nâng chuyết hỏa lên, giáng minh điểm xuống. Lợi dụng chuyết hỏa minh điểm để làm tan và mở ra năm luân xa bảy luân xa. 
Tứ hỷ tứ không xuất hiện.
Hỷ tức là lạc. Sơ hỷ, thắng hỷ, tối thắng hỷ, câu sinh hỷ.
Không tức là trống rỗng, cực kì trống rỗng, sự trống rỗng lớn lao, tất cả đều trống rỗng.
Có ánh sáng xuất hiện.
Có cầu vồng xuất hiện.
Hòa nhập cầu vồng vào trong hư không, kiến chứng Phật tính luôn tồn tại.
Vô thượng chính đẳng chính giác.
(Trên đây chính là Thứ tự viên mãn.)

Theo kinh nghiệm của Lư Sư Tôn, khí sẽ sinh ra ánh sáng, lạc sẽ sinh ra ánh sáng, mạch sẽ sinh ra ánh sáng, không sẽ sinh ra ánh sáng.
Chú ý:
Vô niệm cũng sẽ sinh ra ánh sáng. (đại pháp hóa cầu vồng)


### 13. Pháp hội ở Đài Bắc Arena 


Thời gian: Ngày 11 tháng 12 năm 2022.
Địa điểm: Đài Bắc Arena, Đài Loan.
Tín chúng: 20.000 người.
Chủ giảng: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.
Chủ đề thuyết giảng: Đại pháp hóa cầu vồng - đỉnh cao của chín thừa.
Tôi được đội nghênh đón đưa vào trong hội trường, tất cả các đệ tử đứng ở hai bên hét vang: “Lư Sư Tôn! Con yêu thầy!”
Khi tôi giảng xong, rời khỏi hội trường, tất cả các đệ tử cũng vẫn hét vang: “Lư Sư Tôn! Con yêu thầy!”
Đệ tử nữ hét lớn: “Con yêu thầy!”
Đệ tử nam hét lớn: “Con yêu thầy!”
Đây là tình yêu lớn.
Tình yêu giữa sư phụ và đệ tử.
Câu nói “con yêu thầy” này, nghĩ mà xem, cũng là câu nói thật nhất, thiện nhất, đẹp nhất của cuộc đời.
Trong cõi lòng tôi mà nói, tôi tu hành 50 năm, đã thay đổi không ít, đối với chúng sinh, tôi chỉ có một chữ: “Yêu”. 
Tôi của hiện tại và tôi của quá khứ đã khác rồi.
Tôi của quá khứ ái hận tình thù đều có cả.
Tôi của hiện tại, chỉ có “yêu”. 
Thậm chí tôi yêu người hận thù mình, thậm chí yêu kẻ thù của mình.
Tứ sinh: noãn sinh, thai sinh, thấp sinh, hóa sinh.
Lục đạo: trời, người, atula, ngạ quỷ, súc sinh, địa ngục.
Thập pháp giới: Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật. (cộng thêm lục đạo)
Tôi chỉ có tình yêu.
Tôi yêu (bạn, tôi, người khác).
Bởi vì tôi biết, tất cả mọi chúng sinh đều có Phật tính. Phật tính của tôi và Phật tính của chúng sinh là như nhau.
Tôi và chúng sinh là một thể.
Vô duyên đại từ.
Đồng thể đại bi.
Mọi người một thể.
Không có phân biệt.

🌟

Có một đệ tử nữ tên là Nhu Nhu, cô ấy nói với tôi giọng nhỏ nhẹ:
”Lư Sư Tôn! Em yêu thầy!”
Tôi hỏi:
”Là tình yêu giữa thầy trò phải không?”
Nhu Nhu đáp:
”Không phải! Là em đã yêu thầy.”(tình yêu nam nữ)
Tôi nói:
”Lư Sư Tôn đã sắp 80 tuổi rồi!”
Nhu Nhu nói:
”Thầy mới 18 tuổi.” - Lại nói: “Tình yêu này là miên man không dứt, là từ trong con tim tuôn trào, là từ sinh mệnh tuôn trào, là từ thân thể tuôn trào, là tình yêu chân thật tuôn trào, hạnh phúc vô cùng.”
Tôi hỏi:
”Cô chắc chắn chứ?”
Nhu Nhu đáp:
”Lư Sư Tôn là của Nhu Nhu, Nhu Nhu là của Lư Sư Tôn.”
Nhu Nhu viết rằng:
*Nhịp đập trái tim em!
Hơi thở của em!
Thầy đều ở trong đó!*

🌟

Ở trong thiền định, tôi quan sát Nhu Nhu, thì ra trong đời quá khứ, cô ấy lại là ái phi của tôi.
Trời ơi!
Là tôi trong đời quá khứ đã dành cho cô ấy đầy ắp tình yêu, tràn ngập tình yêu.
Trong đời này, cô ấy cũng dành cho tôi tình yêu đầy ắp.
Tôi sẽ dẫn dắt cô ấy,
Trở về tịnh thổ vĩnh hằng, tình yêu này mới có thể tồn tại mãi mãi.


### 14. Tôi nói với Nhu Nhu như vầy


Nhu Nhu, Lư Sư Tôn mà bây giờ em nhìn thấy đã là một vị tăng già.
Vị tăng già này không phải 18 tuổi, tuổi tác thật sự đã là 80 rồi.
Tương lai không xa,
Cái chết sẽ đến, đương nhiên sẽ có rất nhiều đệ tử vây xung quanh vị tăng già đã chết này.
Có lẽ em cũng sẽ ở đó. Em sẽ nhìn thấy vị tăng già bất động đó, một mình ông ấy đi về Tây phương.
Lúc này, đối tượng yêu thương mà em khao khát đã biến mất rồi.
Cho dù em khóc bao nhiêu nước mắt, vị tăng già đó cũng sẽ không sống lại nữa.
Bất kể tình yêu gì cũng đều không có tác dụng. (không có thực tướng)
Cho nên tôi muốn nói với Nhu Nhu: 
”Hãy bỏ sự bám chấp vào tình yêu đi!”

🌟

Tôi nói:
Ngôi nhà mà Lư Sư Tôn đang ở rất rộng rãi. (hơn 600 mét vuông)
Nhưng, khi cái chết đến,
Ngôi nhà chẳng thể đem đi, càng nực cười hơn là, ngay cả một cây kim cũng không đem đi được. 
Đồng thời, trên tay tôi có đồng hồ kim cương, có nhẫn kim cương, có vòng tay, nhưng, ngay đến một cây kim cũng không đem đi được.
Nghĩ đến tôi, Nhu Nhu! Cũng nghĩ đến chính mình.
”Tình yêu! Chẳng có chút tác dụng nào!”
”Hãy bỏ bám chấp đi!”

🌟

Em nói:
Tình yêu là lô-cốt của hai người.
Vô cùng kiên cố.
Bất kì ai cũng không thể phá vỡ nó.
Nhưng, nếu chỉ còn lại một mình em, có phải là em sẽ càng cô đơn và buồn chán không.
Nhu Nhu! Tôi không còn nữa!
Hoặc em không còn nữa!
Điều này chắc chắn sẽ xảy ra, trong tương lai không xa, không phải là tôi không còn thì là em không còn!
Lô-cốt cũng là đồ bỏ đi.
Nhu Nhu! Hãy bỏ bám chấp vào tình yêu.

🌟

Nhu Nhu! Bây giờ tôi đã không phải là quân vương.
Em cũng không phải là quý phi.
Tôi (Lư Sư Tôn) chỉ là một vị yogi có danh tiếng, danh tiếng thì có đấy nhưng cũng sẽ không lâu dài, tiền, sắc, danh, đều không phải tồn tại mãi mãi. (huyễn hóa)
Tôi cho rằng thứ tồn tại vĩnh hằng chỉ có Phật tính.
Tôi có Phật tính,
Em có Phật tính.
Nhu Nhu! Phật tính của tôi và Phật tính của em có thể kết hợp với nhau, đó mới là vĩnh hằng.
Tình yêu, đó chỉ là nhất thời, chỉ có Phật pháp mới có thể luân hồi trong bùn lầy mà giải thoát ra được.
Nhu Nhu!
Em có thể vận dụng sức mạnh của tình yêu, chuyển hóa thành sức mạnh tu trì, tiến hành tu hành có lực.
Không thể thiếu thiện căn, phải có tâm từ bi bố thí.
Nhất tâm bất loạn niệm Phật.
Em có thể đến tịnh thổ của A Di Đà Phật.
Tôi ở Ma Ha Song Liên Trì, em ở Ma Ha Song Liên Trì, đó mới là lô-cốt chân chính.
Tôi là phương tiện. (từ bi)
Em là trí huệ. 
Sự kết hợp khi ấy có thể dung nhập tính Không, em và tôi là Phật cụ thể.


### 15. Tám vị Không Hành Mẫu màu trắng


Có một buổi sáng sớm, tôi có một giấc mơ. Trong mơ Bát Nhã Phật Mẫu thị hiện, ngài nói với tôi:
”Lư Sư Tôn! Có tám vị Không Hành Mẫu màu trắng, họ đều ở nhân gian, chờ ngài gia trì.”
Tôi hỏi Bát Nhã Phật Mẫu:
”Họ là ai vậy?”
Bát Nhã Phật Mẫu đáp:
”Họ đều có ký hiệu, họ cũng đều sẽ đi tìm ngài.”
Tôi hỏi:
”Gia trì thế nào? Gia trì xong thì sao?”
Bát Nhã Phật Mẫu đáp:
”Ngài cần quán đảnh trí huệ cho họ, sau khi quán đảnh, hóa thân của ngài sẽ ở cùng với tám vị Không Hành Mẫu, sau này họ sẽ hiểu được tất cả bản chất của hữu tình và hư không là tương đồng.”
Tôi hỏi:
”Quán đảnh gia trì xong, có dấu hiệu gì cụ thể không?”
Bát Nhã Phật Mẫu đáp:
”Mạch luân của họ đều thông suốt, mạch luân chấn động, toàn thân đắc đại lạc.”
Tôi hỏi:
”Có ý nghĩa gì?”
Bát Nhã Phật Mẫu đáp:
”Sau này có thể lợi ích vô số vô lượng chúng sinh.”
Tôi hỏi:
”Tôi dạy họ thế nào?”
Bát Nhã Phật Mẫu đáp:
”Đoạn cảnh đại thủ ấn.” (Mã Cát Lạp Tôn là chuyển hóa của Bát Nhã Phật Mẫu.)
Cuối cùng, Bát Nhã Phật Mẫu hóa thành ánh sáng cầu vồng, biến mất trong giấc mơ của tôi.

Tám vị Không Hành Mẫu này là ai vậy?
Tôi hết sức tò mò, diễn biến thực tế sau này khiến tôi tấm tắc ca tụng:
”Quá thù thắng!”

Họ là:
Đóa Đóa ở Anh.
Á Á ở Indonesia.
Phi Phi ở Singapore.
Ôn Ôn ở Malaysia.
Hiểu Hiểu ở Mỹ.
Thanh Thanh ở Đài Loan.
Ân Ân ở Việt Nam.
Hoàng Hoàng ở Trung Quốc.

Tôi nói với họ:
”Tôi lấy thiền định của tôi làm thức ăn, tôi lấy chuyết hỏa làm quần áo, hư không là nơi tôi ở, tất cả mọi thứ là bạn đạo của tôi, giáo hóa của tôi là hóa thân, Phật quốc là thành trì của tôi.”
Tám vị Không Hành Mẫu đều có thể hiểu lời tôi nói.
Tôi dạy họ:
Các cô hãy chăm chỉ tu trì!
Trước tiên phải đoạn trừ ngã chấp!
Dùng Đoạn cảnh đại thủ ấn để đoạn trừ sự bám chấp của chính mình với chính thân thể mình.
Nếu đoạn trừ được cái ngã thì tức là vô ngã.
Tu bất kì đại pháp nào đều không bằng vô ngã.
Nếu vô ngã thì tự nhiên sẽ vô niệm.
Vô niệm thì có thể thân hóa ánh sáng cầu vồng.

Tôi có một bài kệ:
*Trời trong không mây dải cầu vồng
Nối liền trời đất tiếng ầm ầm
Chứng ngộ nội tại là tính Không,
Mọi duyên thù thắng người tôn sùng.*

Tôi khích lệ tám vị Không Hành Mẫu màu trắng:
”Giờ này phút này, các cô có lương duyên cực tốt, các cô tu đoạn trừ tất cả, tự có thể thông đạt rốt ráo, đi làm lợi ích chúng sinh trong thiên hạ.”


### 16. Hóa thân của Lư Sư Tôn


Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người:
”Tôi đã tu xuất vô số hóa thân, những hóa thân này đại diện cho tôi, hóa thân xuất hiện ở trong thiền định của các đệ tử, cũng xuất hiện ở trong giấc mơ của các đệ tử. Điều khiến người ta kinh ngạc là, trong khi bạn làm việc và nghỉ ngơi bình thường cũng có thể tận mắt nhìn thấy.”

Tám vị Không Hành Mẫu màu trắng đều tận mắt nhìn thấy Lư Sư Tôn, hơn nữa ngày ngày đều sinh hoạt cùng nhau.
24 giờ, ban ngày, ban đêm, đều ở cùng nhau.

Khi họ sắp rời khỏi Seattle nước Mỹ, tôi nói với họ:
”Hóa thân của tôi sẽ đi về cùng cô!”
Thật đó!
Tất cả những điều này đều là thật!
Chỉ cần Không Hành Mẫu nghĩ đến tôi, nhớ đến Lư Sư Tôn, hóa thân liền xuất hiện.
Đặc biệt là khi tu pháp.
Hóa thân của tôi xuất hiện, thật ra cũng không phải là rất hiếm lạ, chỉ vì Lư Sư Tôn đã dung nhập vào hư không.
Các bạn chỉ cần nhớ đến!
Hóa thân liền xuất hiện!

Ví dụ:
Phi Phi ở Singapore, cô ấy muốn đến Seattle, cô ấy muốn liên lạc với Lư Sư Tôn.
Lư Sư Tôn không có điện thoại di động, chẳng thể nào liên lạc.
Cô ấy chỉ nói với hóa thân của tôi rằng:
”Ngày mấy tháng mấy tôi muốn đi Seattle.”
Tôi liền biết.
Không cần phải lấy làm lạ, hóa thân chính là tôi, tôi chính là hóa thân.
Nhưng, cũng phải biết kiểm tra và phân biệt hóa thân thật và hóa thân giả.
Nhìn thấy hóa thân, niệm:
”Om guru liansheng siddhi hum.” (3 tiếng)
Hóa thân thật vẫn còn đó.
Hóa thân giả sẽ biến mất.
Hóa thân của tôi có thể khiến cho tám vị Không Hành Mẫu màu trắng đắc được đại lạc, nhưng phải ghi nhớ lời dạy của tôi:
Khi đại lạc dâng lên,
Phải biết Lạc - Không không có sự phân biệt.

🌟

Khi ánh sáng dâng lên,
Phải biết Không - Minh không có sự phân biệt.

🌟

Khi suy nghĩ dâng lên,
Phải biết lìa bỏ vọng niệm tức là Không.

🌟

Khi phiền não dâng lên,
Phải biết phiền não đều là huyễn.

🌟

Khi ngũ độc dâng lên,
Phải biết những thứ này không thực tế.

🌟

Khi oán hận dâng lên,
Phải biết Phật tính vốn bình đẳng.

🌟

Nếu quỷ quái đến quấy nhiễu,
Phải biết quỷ quái vốn thanh tịnh.

🌟

Khi sợ hãi dâng lên,
Phải biết đây là ma ngã chấp.

🌟

Các đệ tử thân mến, thử nghĩ chính mình đã chết, sau khi chết rồi, cái gì cũng không có, tất cả đều trống rỗng như nhau. (rời bỏ ngã chấp)
Bạn chỉ đem tâm thức thanh tịnh của chính mình từ Phạn huyệt đi ra, tan vào hư không, đây chính là Đại thủ ấn. (đại thành tựu)


### 17. Con gái của Diêu Trì Kim Mẫu


Ngày hôm ấy, tôi đi qua bên cạnh em, em nói với tôi: “Em là con gái của Diêu Trì Kim Mẫu.”
Đúng vậy, tôi biết.
Tôi nhớ rõ, em và tôi ở dưới nhà ăn lớn Đại Viên Trụ chụp ảnh chung, tôi nói: “Em là con gái của Diêu Trì Kim Mẫu.”
Tên của em là Diêu Diêu.
Em không phải là Hoa Lâm.
Cũng không phải là Mị Lan.
………………………….
Mà là Diêu Diêu.
Tôi nhớ em rất rõ, là bởi vì chúng ta từng có lời thề.
Em nói:
”Liên Sinh, thầy ở nơi rất sâu trong tâm trí em, cũng ở trong giấc mơ của em, ở trong tim em, ở trong bài hát của em.”
Em nói:
”Hễ nhớ đến thầy là em sẽ ngây người ra, thầy có biết không? Một ngày hai mươi tư giờ, thầy ở bên cạnh em, sau đó,...”
Những điều này,
Thầy biết!
Em biết! 
Chúng ta hoàn toàn không tách rời nhau, bởi vì thầy chính là em, em cũng chính là thầy.
Em muốn trở về nơi của Diêu Trì Kim Mẫu, em nhận ra nơi đó mới là nhà của chúng ta.
Nơi đó có kết giới:
Nhược thủy. [sông nước mềm mại]
Cương phong. [ngọn gió mạnh mẽ]
Lan thuẫn. [hàng rào lá chắn]
Phàm phu bình thường không đi đến được, nhưng em có thể trốn trong tim của thầy, thầy có thể nhẹ nhàng đưa em đi, chỉ vì em thuộc về thầy, bất kì lúc nào.
Em hiểu điều mà thầy nói:
”Biết đời như mộng vô sở cầu,
Vô sở cầu lòng tĩnh lặng không,
Vẫn tưởng trong mơ tùy mộng cảnh,
Thành tựu công đức tựa hà sa.”
Đây là: ”Thân vô thái phụng song phi dực, Tâm hữu linh tê nhất điểm thông.” [Hai câu thơ trong bài “Vô Đề” (Sao trời đêm qua gió đêm qua) của nhà thơ Lý Thương Ẩn thời Đường, nghĩa là: Thân không cánh phượng cùng bay cao, Tâm có tương đồng để kết nối.] Thế giới rực rỡ như thế, em hiểu rằng chẳng hề có gì.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) nói với Diêu Diêu - công chúa của Diêu Trì Kim Mẫu có đủ mọi xác thực:
Trên đỉnh đầu em có một đóa hoa sen màu trắng, ở trên nhật nguyệt luân hoa sen có Liên Hoa Đồng Tử màu trắng ngồi đó, một mặt hai tay, tay phải kết ấn thuyết pháp, tay trái kết ấn cầm hoa sen.
Trên đầu Liên Hoa Đồng Tử đội mũ miện.
Thân đeo trang sức bằng thất bảo.
Hai chân ngồi xếp bằng.
Trên đầu có vòng hào quang, tựa như mặt trời nhô lên đỉnh núi tuyết.
Sau lưng có ánh hào quang tỏa ra như sợi tơ.
Lúc này, Liên Hoa Đồng Tử biến thành chữ “Seh” màu trắng.
Chữ “Seh” màu trắng của Liên Hoa Đồng Tử như sữa tan ra, từ lỗ đỉnh đầu đi vào trong thân em.
Trì tâm chú Liên Hoa Đồng Tử vô số biến.
Lúc này,
Cam lộ có màu trắng như sữa này đều phân bố khắp trong các mạch luân toàn thân, toàn thân đầy ắp cam lộ trí huệ thanh tịnh không cáu bẩn.
Thân ngữ ý của em.
Thân ngữ ý của Lư Sư Tôn.
Hợp làm một, không hai không khác.
Tôi sẽ đưa em trở về Diêu Trì Tiên Uyển của Diêu Trì Kim Mẫu.
Diêu Diêu trở về rồi!
Ba nghìn thiên nữ hoan hô em!
Vân Hoa phu nhân trở về rồi! Tiếng vỗ tay hoan hô vang rền như sấm.


### 18. Thư của Đậu Đậu


(Chương sách này dùng tên thật.)
*Sư Tôn kính yêu, Phật an!
Hôm trước trong thư Sư Tôn gửi trả lời cho dì em (pháp sư Liên Cần), có nhắc đến nhân tiện hỏi em một câu:
”Trái tim em ở bên trái hay bên phải?”
Đọc thấy câu nói này, em lập tức liên tưởng đến ngày hôm đó khi cúng dường cơm, có một sư tỉ nọ nói chuyện với Sư Tôn.
Sư Tôn hỏi:
”Sư tỉ! Tim của cô ở bên nào?”
Sư tỉ đáp:
”Tim ở bên Sư Tôn.”
Bởi vì trái tim của sư tỉ đã bị Sư Tôn lấy mất rồi.
Vì thế, em bây giờ cũng không biết trái tim của em ở nơi nào.
Sư Tôn, thầy có biết tim của em ở nơi nào không?
Chúc,
Phật thể an khang, ngày ngày vui vẻ.
Đậu Đậu khấu đầu.*

🌟

Bức thư này rất dễ khiến người ta liên tưởng đến mẩu đối thoại giữa Sơ tổ Thiền tông Tổ sư Đạt Ma và Nhị tổ Huệ Khả. 
Huệ Khả nói: “Tâm con không an!”
Đạt Ma nói: “Lấy tâm ra đây, ta sẽ giúp con an!”
Huệ Khả nói: “Tìm tâm không được!”
Đạt Ma nói: “Tâm đã an rồi đó.”
(Chú thích: Đoạn đối thoại này là trí huệ cao nhất của Thiền tông, trọng điểm là hai chữ “vô tâm”.)
Tôi cho rằng tâm là một khái niệm trừu tượng.
Tuy rằng thân của con người là một hình tượng cụ thể, nhưng nghiêm túc mà nói, nó cũng vẫn là một cái vỏ huyễn hóa.
Tạm thời có.
Từ đầu tới cuối vẫn là không.

Đậu Đậu hỏi tôi:
”Lư Sư Tôn có tâm không?”
Tôi đáp:
Tâm của con người là chỉ ý thức thô nặng.
Nhãn thức, nhĩ thức, thiệt thức, tỵ thức, thân thức, ý thức. (tâm sáu thức)
Còn có căn thức. (thức thứ bảy)
Những thức này sẽ dẫn đến sợ hãi, bám chấp, đói khát, buồn đau, lười nhác, hoài nghi…
Ái, hận, tình, thù đều có.
Còn như tâm của thức thứ tám là thể tổng hợp của mọi ý thức. (a-lại-da thức)
Đến tâm của thức thứ chín hoặc tâm của thức thứ mười thì chúng ta gọi là ý thức vi tế và ý thức tối vi tế.
Cuối cùng là thức vô cấu.
Đây là tâm tịnh quang căn bản, là Phật tính.
Chúng ta biết rằng:
Thân thể là cái vỏ huyễn, như mộng như huyễn, tất cả mọi thứ thế gian đều là huyễn có, cuối cùng là tất cả đều không.
Thân đều là không, tâm không thể dựa vào nó, nên tự nhiên cũng là không.
Không chính là vô tâm.
Không chính là vô sự.
Không chính là vô niệm.
Đây là:
Thân xác thịt → tâm ý thức → huyễn thân thanh tịnh.
Sự hợp nhất của ánh sáng vũ trụ và ánh sáng thanh tịnh chính là vô thượng chính đẳng chính giác.

Đậu Đậu hỏi tôi: “Thầy có tâm không?”
Tôi đáp:
”Không phải tâm, là tịnh quang căn bản!”


### 19. Cùng Đậu Đậu lại nói về tâm


Đậu Đậu:
Khi tôi đọc Kinh Kim Cang, có ba câu khiến người ta tỉnh ngộ.
Tâm quá khứ bất khả đắc.
Tâm hiện tại bất khả đắc.
Tâm vị lai bất khả đắc.
Xin hỏi: “Bạn có được tâm gì?”
Đáp án chuẩn mực là:
”Tâm vô sở đắc!”

Kinh Tâm cũng nói:
”Vì tâm vô sở đắc, nên Bồ Đề Tát Đỏa.”

Chúng ta biết rằng: 
Vì tất cả đều vô sở đắc, cho nên đoạn tận phiền não, người không, pháp không, ngã không, chính là không, không, không.
Bám chấp không.
Phiền não không.
Tôi chứng đắc bình đẳng tính trí.

🌟

Lại nói:
Tôi học tập Trung quán.
Biết thực tướng rốt ráo của tâm:
Trung quán tự không phái — tột cùng của tâm rời xa tất cả hý luận, tự tâm của bạn chính là Phật tính, không có khái niệm, không có tạo tác.
Trung quán tha không phái — bản tính của tâm chính là Phật tính, là ánh sáng, là thanh tịnh.
Đại thủ ấn của tôi — thực tướng tột cùng của tâm là ánh sáng và tính Không là một.
Tâm là pháp thân.
Đại thủ ấn, Đại viên mãn, Đại trung quán.
Lời ca mà tôi viết:
*Phật tính là biển. (tâm)
Nhân gian là những con sóng.
Bạn và tôi lưu lạc ở nhân gian.
Cuối cùng,
Vẫn là trở về với biển.*

🌟

Đậu Đậu:
Tôi muốn nói với em, chúng ta muốn giải thích tâm.
Thứ nhất, dùng trí huệ Phật pháp của chúng ta đi nhìn tâm của chính chúng ta, đây là kiến địa.
Thứ hai, sau khi có kiến địa rồi, chúng ta phải tu hành, tu hành chính là an trụ trong tâm, chính em an trụ trong tính Không (Phật tính), đây chính là tu.
Thứ ba, tâm có an trụ rồi, sau đó trong cuộc sống thường ngày đi thực tiễn, đây chính là hành.
Thứ tư, trong khi thực hành, em thực sự biết:
Vô sở đắc.
Vô sở trụ.
Vô sở vị.
Vô sở hữu.
Đây chính là chứng ngộ.

🌟

Đậu Đậu:
Em hỏi tôi: “Thầy có tâm không?”
Tâm của tôi là tâm bồ đề.
Tâm của tôi là tâm từ bi.
Tâm của tôi là tâm Phật quảng đại vô biên.
Tâm bố thí và lợi ích chúng sinh.
Tôi muốn độ mình và độ người, tôi muốn lợi mình và lợi người, tôi muốn chúng sinh đều có được.
Còn kết quả ra sao?
Tôi chẳng có được điều gì, cũng chẳng hề gì.
Nói như vậy, em có hiểu không?


### 20. Bước ngoặt đẹp đẽ nhất trong cuộc đời


Đây là Bình Bình viết cho Sư Tôn:
*Lư Sư Tôn!
Em rất thích đoạn văn này, cùng chia sẻ với thầy.
Sức hấp dẫn thật sự của con người — không phải là bạn để lại ấn tượng đẹp đẽ cho đối phương, mà là sau mười mấy năm đối phương quen biết bạn vẫn thích ở cùng với bạn.
Sức hấp dẫn thật sự của con người — không phải là trong chớp mắt bạn thu hút được ánh mắt của đối phương, mà là sau khi đối phương hiểu rõ bạn, vẫn yêu thích bạn như thế.
Sức hấp dẫn thật sự của con người — không phải là sau lần đầu gặp mặt đã có cảm giác quen biết nhau từ rất lâu, mà là sau khi đã trải qua mọi sự thăng trầm, có thể nói từ tận đáy lòng rằng: “Quen biết bạn thật tốt.”
Gặp được Lư Sư Tôn là bước ngoặt đẹp đẽ nhất trong cuộc đời em.
Đã trải qua nhiều năm như vậy, em vẫn nói:
”Biết đến thầy thật tốt!”*

🌟

*Lư Sư Tôn!
Chào thầy!
Bươm bướm không bay qua được biển cả, không ai nỡ lòng trách cứ. Đó là vì biển cả cuộc đời đầy ắp quá nhiều những việc ta đành chịu.
Trải qua cuộc đời với những cuộc gặp gỡ và chia ly vội vã, đã nếm đủ mọi đắng cay trần thế, em rất vui mừng vì năm tháng không mang đến những thăng trầm cho dung nhan và tâm hồn em. Ký ức tuổi thơ em gần như toàn là một màu xám xịt, với những giọt nước mắt tuôn rơi, là bi ai, bi ai đến mức ngay chính em cũng không biết phải miêu tả thế nào, em cứ hoang mang mơ hồ sống qua ngày…..
Nhân gian xuân sắc, vạn vật sinh trưởng.
Cảnh vật nơi rừng núi càng quyến rũ, mỗi loài thực vật đều có vẻ đẹp và linh tính không thể nói thành lời.
Những tâm tình bấy lâu nay đã ngủ yên của em đã bị xáo động, chỉ vì không muốn rời bỏ cảnh xuân màu tím đỏ tươi, không muốn người đời nhìn thấy sự yếu đuối của mình, cho nên em đã cố gắng tỏ ra mạnh mẽ.
Ở trong dòng người đông đúc, em của khi ấy chỉ hiểu sự yêu thương lẫn nhau chứ không hiểu phải bảo vệ lẫn nhau thế nào. Em từng nói đây chính là mùa xuân trêu đùa con người, em đã trở nên rất si tình.
Đã bao đêm em đều khóc.
Em đã biến thành không còn là một thuyền* *trưởng tâm linh, chỉ là một hành khách trong số đó.
Hoàng hôn buông xuống.
Khi ấy đã yêu một cách không thể kìm lại được….
Dường như quá khứ đã dần dần đi xa, tất cả còn chưa kết thúc, ngoảnh đầu nhìn lại, trên con đường, chúng ta có cảm giác sâu sắc về nhau.
Một lực rất mạnh rất mạnh đã hấp dẫn em.
Có một phẩm chất đặc biệt rất vi diệu rất vi diệu, cứ cuốn hút.
Tĩnh lặng suy nghĩ.
Cô đơn tận hưởng.
Em đã không còn là một đám mây trên trời, là gió tự do đến đi.
Giờ đây, mái tóc của em vì thầy mà được chải.
Bài hát của em, vì thầy mà được hát lên.
Điệu múa của em, vì thầy mà được nhảy múa.
Em mong mỏi cùng thầy khiêu vũ, cùng thầy hát ca.
Hoa nở thấy Phật! Phật pháp thật đẹp!
Em là quả táo nhỏ của thầy, yêu thầy bao nhiêu cũng không thấy là nhiều….
Em cảm thấy trên người thầy có sức mạnh mãnh liệt vô hạn, yêu thích những bài khai thị lấp lánh trí huệ của thầy.
Chúc phúc:
Khai mở cánh cửa tâm của em.
Khai mở cánh cửa tâm của chúng sinh.
Quảng độ chúng sinh hữu tình trong thiên hạ.
Bình Bình kính thư.*

🌟

Bình Bình rất xinh đẹp.
Bình Bình có trí tuệ.
Bình Bình có kiến địa.
Cô ấy vẫn có sự kiên cường và cố chấp đến đi một cách tự nhiên.
Tôi muốn nói với Bình Bình:
Khi Phật Thích Ca Mâu Ni tại thế thường nói với tín chúng, cơ bản nhất cũng là tam pháp ấn (tứ pháp ấn) quan trọng nhất.
Vô thường.
Vô ngã.
Khổ.
Không.
”Chư hành vô thường”, “chư pháp vô ngã”, “niết bàn tịch tĩnh”, “nhất thực tướng ấn” của ngài.
Thường xuyên vang vọng ngân nga trong đầu tôi. 
Người đầu tiên nuôi dưỡng tôi, là bà ngoại tôi.
Người thứ hai nuôi dưỡng tôi, là dì tôi.
Cha mẹ dạy dỗ tôi.
Sư phụ Hiển giáo mà tôi quy y.
Họ đều đã thiên hóa, rời khỏi nhân thế. Tương lai không lâu, tôi cũng sẽ rời khỏi nhân thế giống như vậy.
Nghĩ xem, những vật ở bên ngoài thân tôi, nhà cửa, xe cộ, tiền, trân bảo, cũng sẽ không còn.
Còn về tình cảm, cũng là vô thường. Tôi không còn nữa thì tình cảm làm sao mà bám vào?
Tôi vô sở đắc!
Cha mẹ, vợ, con, cháu… Tương lai đều sẽ chia tay, huống hồ là những tình nhân.
Vì thế có người nói: “Trân trọng hiện tại.”
Đương nhiên tôi trân trọng hiện tại, bởi vì tôi biết cho dù có sức hấp dẫn thì cũng là nhất thời.
Sẽ không lâu dài, cũng không phải là vĩnh hằng.
Điều tôi muốn nói với em là:
”Vô thường, vô ngã, khổ, không.”
Điều cuối cùng là:
Tôi đi con đường của tôi.
Em đi con đường của em.
Chúng ta chỉ ngẫu nhiên gặp gỡ! (giống những đám mây)
Tôi nói với Bình Bình:
Mỗi hiện tượng đều là nhân duyên khởi, khi ấy chúng ta gặp mặt, đó cũng là tình duyên nhiều kiếp.
Nhưng, những nhân duyên này cũng sẽ vì ảnh hưởng của ngoại lực nào đó mà chuyển biến thành không.
Nó không phải là ngay từ đầu đã tồn tại.
Cũng sẽ không tồn tại vĩnh viễn.
Phải nghĩ như vậy mới không nảy sinh đau khổ.
Tôi thường quán tưởng nó thành:
Trăng trong nước.
Hoa trong gương.
Tôi so sánh với giấc mộng, trong mộng rõ ràng tồn tại, nhưng tỉnh mộng rồi, là trống không. 
Thật ra trong thế giới hiện thực cũng là một giấc mộng lớn trăm năm.
Giờ đây tôi đã già rồi!
Như mộng.
Như huyễn.

Có hai bài kệ:
*Vẻ ngoài xem như dải cầu vồng
Mọi tướng rõ ràng pháp tính không
Pháp tức tự sinh mọi huyễn tướng
Đây là Như huyễn Tam ma địa.*

🌟

*Tình cảm trong tim khi nhớ đến
Quán chiếu tình ấy cũng là không
Có đến có đi tự nhiên thế
Không chấp không nghi cứ vậy thôi.*

Bình Bình:
Khi em có đến tôi trân trọng.
Nếu như em đi không tiễn nhau.
Trân trọng, tạm biệt nhé!


### 21. Trên một tấm thiệp nhỏ


Trên một tấm thiệp nhỏ, một người không ký tên, dùng bút lông, nắn nót viết một bài thơ tặng tôi.
Bài thơ nhỏ như sau:
Ở trong mơ
Người ấy rạng ngời trong ký ức tươi đẹp
Vừa nghĩ đến
Liền giống như hơi ấm của nắng mùa đông
Trái tim em đang đập rộn ràng
Cảm giác thù thắng ấy
Thật sâu
Vĩnh viễn in hằn
Thời gian giống như dừng lại vậy
Dường như em là ngôi sao nhỏ
Bầu bạn với ánh trăng
Ở dưới cùng một bầu trời
Cùng tồn tại
Cùng hít thở
Mong sao
Năm tháng cuộc đời này
Tồn tại mãi mãi
Nếu có thể ở bên nhau
Cùng thầy đi đến tận cùng trời biển
Kề vai sánh bước
Em sẽ không buông lỏng tay thầy
Thầy cũng không buông lỏng tay em
Đây là
Lời cầu nguyện của em.

🌟

Bài thơ này khiến tôi nghĩ đến em, không cần giải đố, đó chắc chắn là em, bởi vì đôi mắt em chính là ngôi sao.
Bất chợt, tôi cũng muốn viết một bài thơ nhỏ, bài thơ nhỏ này tặng cho em nhé!

Thơ như sau:
*Tháng ngày bàng bạc
Đương nhiên hy vọng có người bầu bạn
Từ đầu đến cuối
Tôi chẳng hề quên em
Nắm tay em
Đi qua con đường nghìn hố vũng
Tôi sẽ không buông lỏng bàn tay
Bởi vì
Đó là nguyện vọng của em
Cũng là nguyện vọng của tôi
Chúng ta đi đến Ma Ha Song Liên Trì
Nơi đó không phải là thế tục
Nơi đó không phải là phàm trần
Ở cõi trời bên ngoài cõi trời
Ở trên mọi sự ô uế
Đó mới là bờ bên kia thật sự
Tôi chẳng nghĩ rằng mình có phẩm cách cao thượng
Nhưng
Tôi thích cởi bỏ trói buộc
Thả lỏng tâm hồn
Tôi thả lỏng
Em thả lỏng
Thứ ta buông là nghiệp chướng
Trừ hết phiền não
Trời xanh xanh
Mây lăn tăn.*


### 22. Tôi viết cho Hoàng Tĩnh


Hoàng Tĩnh là họ thật tên thật.
Cô ấy viết một mảnh giấy đưa cho tôi. 
*Sư Tôn kính yêu!
Mấy hôm trước Hoàng Tĩnh có duyên đến Gia Nghĩa, đi dạo bên bờ suối Ngưu Trù vào buổi chiều.
Nghĩ đến chuyện thầy giáng sinh, lại nhìn thấy Hậu Hồ (tên của nơi đó) hiện tại.
Sự biến đổi của cảnh sắc, vạn vật, hết sức vô thường, có cái gì là vĩnh hằng bất biến đây?
Chẳng ngờ trong khai thị tại pháp hội đầu tiên khi thầy trở về Đài Loan, cũng là trả lời đệ tử, thầy nói: “Cái bất biến là tình yêu của Sư Tôn đối với chúng sinh, và trí huệ chân như.”
Ở trong sách, Hoàng Tĩnh đọc thấy: “Tri thức có thể truyền thụ, nhưng trí huệ chân chính không thể truyền thụ.” Hoàng Tĩnh vẫn còn ngu dốt, nhưng đôi khi cũng có thể cảm nhận được trí huệ, lần nào cũng có được ngộ cảnh.
Đôi khi sẽ không kìm lại được mà trỗi dậy niềm yêu kính đối với Sư Tôn.
Cảm ơn Sư Phật ban phúc gia trì.
Hoàng Tĩnh kính yêu thầy.
Mong có thể gặp thầy ở Seattle.
Đệ tử Liên Hoa Hoàng Tĩnh đảnh lễ.*

🌟

Nghĩ đến Hoàng Tĩnh, tôi liền nghĩ đến những ngày tháng trước kia ở Đài Loan.
Những năm ấy, nửa năm tôi ở Đài Loan, nửa năm trở về Mỹ.
Sau khi thuyết pháp ở Đài Loan Lôi Tạng Tự xong, tôi sẽ lại lần lượt gia trì cho tất cả đệ tử nghe pháp.
Tôi gia trì cho nhóm các cháu nhỏ trước.
Và Hoàng Tĩnh trốn trong nhóm các cháu nhỏ đó.
Lần nào tôi cũng hỏi cô bé:
”Cháu là người lớn hay là trẻ con?”
Hoàng Tĩnh đáp:
”Là trẻ con.”
Thế là,
Tôi chạm vào đầu cô bé một cái.
Đây là Hoàng Tĩnh bé con, cô bé để lại cho tôi ấn tượng rất sâu sắc, khuôn mặt tròn trịa, rất ngây thơ, một cô bé con mới trưởng thành một nửa, rất đáng yêu.
Mùa đông năm 2022, tôi trở về Đài Loan, khi đó đã cách bốn năm rồi tôi mới lại một lần nữa nhìn thấy Hoàng Tĩnh.
Trời ơi! Cô bé đã trở nên duyên dáng yêu kiều, hai con mắt to, rất đẹp rất xinh, có một mùi hương của thiếu nữ, khuôn mặt của trái táo, Hoàng Tĩnh đã lớn rồi.
Tôi ngây ngô hỏi:
”Hoàng Tĩnh! Sao cháu lại lớn thế này rồi?”
Tôi tự cười mình, Hoàng Tĩnh sao lại không lớn lên chứ? Thế mà câu đầu tiên lại hỏi người ta một câu hỏi ngốc nghếch như vậy.
Hoàng Tĩnh tham gia Hội Thanh Niên Chân Phật Tông, lần đầu tiên cô bé làm nhiệm vụ là đi thăm suối Ngưu Trù nơi tôi sinh ra.
Đi tham bái miếu Thành Hoàng ở Gia Nghĩa.
Ghi hình…
Hoàng Tĩnh dựa theo sách tôi viết đã thực hiện hành trình tìm về cội nguồn đầu tiên, rồi quay tập một, tập hai….
Tôi đã xem tập một, cảm thấy cô bé quay rất tốt. (Âm thanh rất đẹp đẽ.)
Hoàng Tĩnh, cháu đã giúp Sư Tôn làm được việc rồi!
Tôi rất cảm động. Cảm giác gặp lại sau một thời gian dài xa cách khiến tim tôi có chút nhói lên, con người tôi đa sầu đa cảm, mắt gần như đỏ hoe! Tôi cảm thấy cô bé là con tôi, tôi nói với Hoàng Tĩnh:
”Đến Seattle đi!”
Hoàng Tĩnh nói:
”Sẽ đến, con sẽ đi!”
Tôi có cảm tình với Hoàng Tĩnh, cô gái nhỏ đáng yêu như vậy, là sự quan tâm yêu mến giữa sư phụ và đệ tử, là một sự kỳ vọng trong tương lai giữa sư phụ và đệ tử. 
Mong rằng cháu thành tựu tất cả, tất cả đều hoàn mỹ.


### 23. Ngày ngày trời xanh


Lam Lam nói:
Em thích nhất là bài hát “Ngày ngày trời xanh”:
Ngày ngày trời xanh
Bảo tôi không nghĩ đến người ấy thật khó
Đứa trẻ không hiểu tình cảm còn phải hỏi:
Con mắt của cô vì sao lại “đổ mồ hôi”?

🌟

Khi em tu pháp Thượng sư tương ứng, thầy có biết không? Em phải chuẩn bị một xấp khăn giấy. 
Em quán tưởng bầu trời xanh thành khuôn mặt của thầy.
Bởi vì con mắt em “đổ mồ hôi”. 
Rõ ràng biết rằng:
Tình là sâu
Ý là nồng
Xa là khổ
Nhớ là không.
Nhưng mà, em chẳng có cách nào mạnh mẽ, vẫn yếu đuối, em muốn Diêu Trì Kim Mẫu cứu em, tốt nhất là Lư Sư Tôn cứu em.
Thầy có thể cứu em không?
Chỉ cần thầy cứu em,
Tâm em sẽ rất yên bình, giống như hồ Sammamish.
Rất nhẹ nhõm, cảm nhận được sự tươi mát của hiện tại.

🌟

Em lại nhìn thấy bầu trời xanh xanh!
Lại nhìn thấy khuôn mặt của thầy!
Nhìn thấy ánh nắng ban mai ấm áp hôn lên má em,
Xa là khổ,
Nhớ là không,
Em biết.
Nhưng em không chấp vào khổ, em chỉ muốn nhớ thầy, bởi vì nhớ thầy, trong khổ cũng có vui.

🌟

Em lại muốn gặp mặt rồi!
Em nghĩ tâm trí em phải kiên cường lên một chút, lau đi nước mắt, em muốn đi gặp thầy.
Em nhớ thầy nói:
Chăm chỉ tu pháp,
Tu pháp thành tựu,
Tu thân khẩu ý thanh tịnh
Là lời hứa của tôi đối với em!

🌟

Điều Lư Sư Tôn muốn nói với Lam Lam là:
Tu hành thật ra chính là chuyển hóa.
Chuyển hóa hận thành yêu.
Chuyển hóa đố kỵ thành vui vẻ.
Chuyển hóa lười biếng thành tinh tấn.
Chuyển hóa keo kiệt thành hào phóng.
Chuyển hóa hoài nghi thành tín nhiệm.
Chuyển hóa buồn phiền thành hạnh phúc.
Chuyển hóa sợ hãi thành mạnh mẽ.
Chuyển hóa tham sân si thành giới định huệ.
…………………………

Người ta nói, thói quen xấu của con người có hơn 85 loại, nhưng Phật pháp đều có pháp đối trị, cũng chính là chuyển hóa.
Tu hành chính là tu cái này.
Không còn bám chấp, phiền não cũng không còn.
Tâm quá khứ bất khả đắc! (đã qua rồi)
Tâm hiện tại bất khả đắc! (sẽ qua đi)
Tâm vị lai bất khả đắc! (còn chưa đến)
Trên thực tế là vô sở đắc [không có được điều gì].
Tôi (Lư Sư Tôn) hiện tại đã ngộ ra, có một số người phải đến lúc lâm chung mới có thể ngộ ra được.
Chúng ta trân trọng hiện tại.


### 24. Viết cho Y Đình, Lý Kỳ, Lôi Thiến


Y Đình, Lý Kỳ, Lôi Thiến, ba cô bé nữ sinh, khi các cháu khoảng 3 tuổi, tôi đã biết các cháu rồi.
Y Đình ở Đài Loan.
Lý Kỳ ở Malaysia.
Lôi Thiến ở Hồng Kông.
Khi những cô bé 3 tuổi này đều đã trở thành thiếu nữ 17 tuổi, tuổi tác gần bằng nhau, nhưng điểm chung là, các cháu đều trẻ trung xinh đẹp.

Trước tiên tôi viết cho Y Đình:
Y Đình có khuôn mặt thanh tú.
Thành tích học tập ở trường của cháu luôn rất tốt, ta cũng biết cháu có tâm lý hiếu thắng, bản thân hiếu thắng cũng không phải là xấu.
Nhưng,
Thắng không kiêu ngạo.
Thắng bại là chuyện bình thường của nhà binh, cuộc đời không phải thắng thì sẽ là bại.
Người học Phật chúng ta là:
”Xem những người đồng môn như chính mình.”
Đây chính là sự từ bi của Phật giáo, đương nhiên, đây không hề là một việc dễ dàng.
Cháu đã là đệ tử Phật, đệ tử Phật cần thỉnh Bổn tôn của cháu gia trì để cháu từ bi.
Từ bi không phải là nhường lẫn nhau, mà là bất kể cháu là người số một hay cháu là người số hai, thì cháu đều phải dùng tâm bình thường để cư xử.
Cháu phải ca ngợi người số một!
Học tập sở trường của người khác, sau đó tự bản thân nỗ lực.
Dựa vào việc học tập của cháu, tương lai cháu lấy được bằng tiến sĩ sẽ dễ như trở bàn tay, nhưng đừng khiến mình kiệt sức.
Đối tốt với chính mình, cũng đối tốt với bạn cùng học, tương lai sự thoải mái và tự nhiên của cháu sẽ khiến ai nấy đều yêu mến.
Cháu vốn dĩ là con cưng của trời!
Lư Sư Tôn, ở trong lòng mình, luôn yêu thương cháu!

🌟

Tôi lại viết cho Lý Kỳ:
Thời kỳ đầu, tôi làm pháp hội, cô bé Lý Kỳ sẽ chủ động chạy tới, ngả vào người tôi, rồi tôi dắt tay cô bé.
Tôi luôn nắm bàn tay nhỏ của cô bé đi vào nơi pháp hội, hình ảnh trong máy quay phim chính là Lý Kỳ và tôi.
Lý Kỳ có khuôn mặt rất giống Thư Kỳ. Nguyện vọng của chính cô bé cũng là muốn làm một nghệ sĩ.
Có một năm, cô bé đến Seattle nước Mỹ, nhìn thấy tôi, cô bé cầm một chiếc hồng bao cúng dường tôi, tôi mở ra xem thì giật thót mình, không ngờ là 10.000 USD, tức là 300.000 Đài tệ. 
Tôi hỏi:
”Sao cháu cúng dường Sư Tôn nhiều tiền như vậy?”
Cô bé đáp:
”Là tiền cháu tự kiếm được.”
Lý Kỳ nhỏ như vậy mà đã trở thành người nổi tiếng trên mạng rồi. (Cô bé rất xinh đẹp.)
Có người môi giới.
Lý Kỳ làm đại sứ thương hiệu, ông chủ lớn tìm được cô bé, trả tiền quảng cáo, cô bé thật sự là người nổi tiếng trên mạng. Dựa vào khuôn mặt, vóc dáng, cái miệng biết ăn nói, cô bé hoạt động sôi nổi trên mạng.
Tên tiếng Anh là Kaylee.
Tên tiếng Trung là Kỳ Kỳ.
Cô bé có rất nhiều người hâm mộ. 
Lý Kỳ, ta sẽ ấn cho cháu một nút “like”. 
Ta nghĩ, con đường tương lai của cháu đương nhiên là sẽ muôn màu muôn vẻ, dựa vào điều kiện của cháu, nổi tiếng là không khó.
Điều ta muốn nói với cháu là:
Xã hội này là một thùng thuốc nhuộm lớn, bên ngoài có đủ mọi tướng phát sinh, tương lai sẽ có những điều khiến cháu yêu thích, có những điều khiến cháu phiền não, ta muốn nói với cháu, những điều này đều là những tướng biểu lộ một cách tự nhiên của tâm.
Cháu cần coi chúng là bình đẳng. (vui khổ như nhau)
Cháu đừng quá tham lam, tất cả tự nhiên là tốt.
Nhớ phải bố thí.
Cháu cần làm một nghệ sĩ có tâm Phật. Bất kì hoàn cảnh nào cũng đều là đạo tràng của chúng ta.

🌟

Tôi lại viết về Lôi Thiến.
Lôi Thiến khi còn nhỏ có dáng vẻ đáng yêu và bẽn lẽn, hai con mắt to to, dáng người gầy và nhỏ.
Ngày 24 tháng 12 năm 2022, tôi gặp cô bé, hai con mắt to to rất có sức quyến rũ.
Cô bé mặc bộ đồ màu đen, để lộ bắp chân trắng ngần, khi tháo khẩu trang ra, tôi nhìn cô bé một cái, cô bé rất xinh đẹp, dễ thương.
Cô bé nói:
”Sư Tôn ôm con đi!” - Giọng nói rất mềm mại.
Tôi không hiểu ý của cô bé nên đứng ngây ra.
Cô bé lại nói:
”Con muốn Sư Tôn ôm con!”
Tôi ôm cô bé.
Giống như khi cô bé còn nhỏ tôi đã ôm cô bé.
Trời ơi! Cô bé đã là một thiếu nữ rồi, trong ba cô nữ sinh, có lẽ cô bé này là quyến rũ nhất. 
Y Đình (nét cổ điển). (dáng vẻ xinh xắn)
Lý Kỳ (rất xinh đẹp). 
Lôi Thiến (quá dễ thương). 
Tôi cảm thấy ba cô nữ sinh nhỏ này đều đã lớn rồi, ba cô đều giống như thiên nữ. Lý Kỳ là thân, Y Đình là ngữ, Lôi Thiến là ý, các cô bé là hóa thân của thân ngữ ý của Bát Nhã Phật Mẫu.
Điều tôi muốn nói với Lôi Thiến là:
Người học Phật chúng ta cần có huệ nhãn, pháp nhãn, Phật nhãn.
Huệ nhãn chính là căn bản trí.
Pháp nhãn chính là phân biệt trí.
Phật nhãn chính là căn bản và phân biệt hợp làm một không hai. Xuất thế độ thế đều vô cùng viên dung. Viên mãn mà chứng nhập tính Không.

Tương lai nếu có cơ duyên, tôi thật sự muốn dạy Phật pháp cho các cháu, để các cháu có được trực tâm, thâm tâm, bồ đề tâm.


### 25. Đối thoại giữa tôi và Phương Phương


Phương Phương nói:
”Khi thuyết pháp, thầy cười rất rạng rõ, cảm nhận được trái tim rộng lớn và tính tình chân thật của thầy.”
Tôi nói:
”Vậy khi tôi khóc rưng rức thì sao?”
Phương Phương đáp:
”Có nụ cười, đương nhiên cũng sẽ có nước mắt, đó là trái tim mềm mại của Lư Sư Tôn.”
Tôi nói:
”Phương Phương, em nghe tôi thuyết pháp, có cảm nhận gì?”
Phương Phương đáp:
”Lư Sư Tôn! Vất vả quá!”
Tôi nói:
”Không vất vả, nói kĩ về Phật pháp vô thượng là gánh vác sự nghiệp của Như Lai.”
Phương Phương nói:
”Thầy diễn hóa thủ ấn, uyển chuyển vi diệu, hai mắt em cứ thế nhìn chăm chú không rời.”
Tôi hỏi:
”Đánh gậy Thiếu Lâm thì sao?”
Phương Phương đáp:
”Giống như xem cảnh sắc mùa xuân tươi đẹp, vô cùng tài tình.”
Tôi hỏi:
”Em tuần nào cũng đến như vậy, không mệt sao?”
Phương Phương đáp:
”Em đi theo bước chân của thầy.”
Tôi hỏi:
”Nếu tôi không còn nữa thì sao?”
Phương Phương đáp:
”Em không sợ, thầy vĩnh viễn ở trong tim em.”
Tôi hỏi:
”Nếu tôi không ở trong tim em thì sao?”
Phương Phương đáp:
”Vậy thì sẽ ở trong mơ.”
Tôi hỏi:
”Nếu trong tim cũng không có, trong mơ cũng không có thì sao?”
Phương Phương đáp:
”Em sẽ bay đến nơi của thầy!”
Tôi hỏi:
”Đó là nơi nào?”
Phương Phương đáp:
”Hạnh phúc.”
Tôi hỏi:
”Em xác định đó là hạnh phúc ư?”
Phương Phương đáp:
”Đúng vậy. Đó là nơi nương dựa mãi mãi của em.”
Tôi hỏi:
”Tôi là Pháp Vương điên đúng không?”
Phương Phương đáp:
”Em là đệ tử điên.”
Phương Phương đưa cho tôi một mảnh giấy:
Em nhìn thấy một người có trái tim thiện lương, người đó chính là thầy, thầy có sức mạnh ý chí phi phàm.
Từ viết sách, vẽ tranh, tu pháp là có thể nhìn ra.
Thầy có trí huệ tài hoa, còn có trái tim đồng tử.
Thầy tự nhiên lại phi phàm.
Nụ cười của thầy là ánh sáng của bóng tối.
Thật ra thầy là người khổng lồ.
Thầy thuần khiết.
Thầy vô tư.
Thầy vì cứu độ chúng sinh mà đến! Đây chính là sự nghiệp đời này của thầy.
Những điều này em đều hiểu cả.
Cuộc đời này của em sẽ đi theo thầy, bất kể thầy ra sao, em sẽ không thoái tâm.


### 26. Viên Viên cầu gia trì


Viên Viên thường thỉnh cầu tôi gia trì, tâm địa cô ấy tốt đẹp, lương thiện, tràn đầy ý vị viên mãn.
Cô ấy nói:
*Lư Sư Tôn thân yêu, vạn sự an lành!
Trên pháp hội, tận mắt nhìn thấy thầy mặc áo bào Pháp Vương màu đỏ, nghìn tia khí cát tường, thầy ở trên pháp tọa dí dỏm hài hước, ánh sáng phổ chiếu. Vào mùa đông, nhìn thấy nụ cười của thầy, ấm áp cõi lòng em.
Đệ tử đông nghìn nghịt như biển, mọi người cùng hét lên: “Con yêu thầy!” 
Có thể thấy mọi người đều rất nhớ thầy.
Con tim em nói, tình yêu của thầy ở cùng với mọi người.
Nhìn thấy thầy, trong lòng ai nấy đều kích động, thầy và mọi người ở cùng nhau, như vậy là tất cả viên mãn rồi.
Em không mong cầu chỉ có thầy và em ở cùng nhau. Khi thầy nhìn em một ánh mắt, trong lòng em bình an tĩnh lặng, tình yêu đầy ắp như vậy tràn ra ngoài, như thế là thỏa mãn rồi.
Đúng vậy, một nghìn địa cầu cũng không chứa nổi, xin gia trì thầy có thể nhìn em một cái, sau đó, em sẽ tận hưởng khoảnh khắc đó, toàn thân em sẽ tràn đầy năng lượng và vẻ đẹp.
Đệ tử Viên Viên kính thư.*

🌟

Thư cầu gia trì của Viên Viên:
Thỉnh cầu Liên Sinh Hoạt Phật, Phật thể an khang, trường thọ vui vẻ tự tại, quang minh nhậm vận, hóa độ mười phương, tất cả như ý cát tường, một ngày sáu thời đều cát tường, cuộc sống hạnh phúc vui vẻ.
Thỉnh cầu chư Phật Bồ Tát luôn luôn thỉnh Sư Phật trụ thế, đại chuyển pháp luân, quảng độ chúng sinh, công đức vô lượng.
Om ah hum!
Om guru liansheng siddhi hum.
Om mani padme hum.
Thỉnh cầu Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật phóng quang che chở cho Viên Viên!
Nghiệp chướng tiêu trừ, trí huệ tăng trưởng.
Ánh sáng chiếu rọi phúc huệ tăng, hợp nhất cùng Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật.
Hợp nhất với Bổn tôn.
Hợp nhất với ý thức chí thượng của vũ trụ.
Gia trì:
Vô ngã, minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử.
Khai ngộ thành Phật, thường ở cùng với Phật.
Làm thiện tri thức, cùng hoằng dương chính pháp, hoa nở thấy Phật ngộ vô sinh, không chối từ Bồ Tát làm bạn lữ, tâm địa quang minh lương thiện, phát tâm bồ đề, từ bi hỷ xả, không bám chấp, không tạo tác.
Thường lạc ngã tịnh, cuộc sống bình an hạnh phúc vui vẻ, sống có trí huệ, đối nhân xử thế có trí huệ, hành đạo bồ đề có trí huệ, có trí huệ cùng thiện tri thức chia sẻ chính giác.
Khai ngộ!
Yêu chính mình!
Yêu chúng sinh!
Không ích kỷ!
Không chiếm hữu!
Nói lời hay, làm việc tốt, giữ tâm đẹp.
Đời này tư lương đầy đủ, thường xuyên có thể tham gia pháp hội của Liên Sinh Hoạt Phật Sư Tôn, tận mắt thấy tận tai nghe Liên Sinh Hoạt Phật Sư Tôn thuyết pháp.
Phật quang chiếu rọi thân em!
Thân em sáng ngời không tắt!
Tất cả hạnh phúc viên mãn, đại lạc đầy ắp, Phật tính hiển hiện, Phật-ta hợp nhất.
Em mãi mãi xinh đẹp!
Em mãi mãi khỏe mạnh!
Em mãi mãi viên mãn!
Chúng sinh mãi mãi viên mãn!
Cảm ơn Liên Sinh Hoạt Phật từ bi!
Om ah hum!
Om guru liansheng siddhi hum!
Om mani padme hum.


### 27. Tôi nói với Viên Viên


Viên Viên!
Tôi cảm thấy thư thỉnh cầu của em rất tốt!
Cái gọi là “trực tâm” cũng chính là tâm không tạo tác, không tạo tác này có ý nghĩa gì?
Tôi thường nhìn thấy trên cột điện ở Đài Loan có viết mấy chữ “trực tâm là đạo tràng”. 
Mới đầu, tôi không hiểu.
Sau này học Phật rồi, tôi mới hiểu đây là không tạo tác. 
Cái gọi là:
Không chào đón.
Không chối từ.
Không chiếm giữ.
Không từ bỏ.
Đây chính là không tạo tác. Một người tu hành, không phải vì cái gì đó mà làm, mà là không vì gì mà làm.
Đối mặt với hoàn cảnh thiên biến vạn hóa, không được có sự chọn lựa chủ quan, cũng không nên đi chào đón, đi chối từ.
Đây là một học vấn rất lớn, cũng là trí huệ rất lớn, đối diện với câu hỏi lớn của đời người, phải có thể không bám chấp, không ngần ngại, trực tâm này không dễ.
Còn nữa,
Thế nào là thâm tâm, “thâm tâm là đạo tràng” là ý nghĩa gì?
Tôi cho rằng đây chính là Diệu quan sát trí.
Có thể có sự quan sát vi diệu mới có thể biết:
Sinh - tử là một.
Ta - người là một.
Phật - ta là một.
Sắc - không là một.
……………….
Cái gọi là “tâm, Phật, chúng sinh”, ba thứ không khác biệt. Em có thể lĩnh ngộ được, cũng biết “thực tướng vô tướng”, loại tâm này, chúng ta gọi là thâm tâm.
Viên Viên! Tôi nói thâm tâm là bình đẳng tâm.

Lại nói bồ đề tâm, “bồ đề tâm là đạo tràng”, cái gọi là bồ đề tâm tôi nói là giác tâm.
Tôi viết thế này:
Trực tâm — không tạo tác.
Thâm tâm — không khác biệt.
Bồ đề tâm — không hỗn loạn.
Nghĩa là phải thẳng phải sâu phải triệt để giác ngộ. Sự giác ngộ triệt để này là thẳng đến thành Phật.

Lư Sư Tôn tôi học Phật 50 năm, đến ngày hôm nay mới biết tâm tham chẳng có ích gì, cái thân không phải của em, tất cả vàng bạc tài bảo không phải là của em, tất cả tình, tất cả yêu, không phải của em. 
Giờ đây tôi hiểu buông bỏ, buông bỏ chính là xả.
Tôi trực tâm xả.
Tôi bình đẳng xả. (thâm tâm)
Tôi bồ đề xả.
Tôi ngồi trên pháp tọa, nói Phật pháp, chính là xả.
Tôi từng nói, tôi tuyệt đối sẽ không đi tố cáo người ta, điều này là vì sao? Bởi vì cuối cùng tôi đã hiểu rồi, các giới hiện tượng đều là duyên sinh huyễn có, tôi là tôi huyễn, họ là họ huyễn, kiện tới kiện lui, cũng đều là huyễn.
Vì kiện người khác là có ngã chấp.
Tôi đã tu thành người vô ngã, sao có thể kiện người khác?
Chúng ta đều là hiện tượng tồn tại nhất thời, sau này cuối cùng cũng quy về không, quy về vô, kiện cái gì?
Cái gọi là “vô sinh pháp nhẫn” chính là phải lĩnh ngộ được “vô sinh”. 
Tôi vô sinh.
Em vô sinh.
Họ vô sinh.
Đúng là như mộng như huyễn mà!
Viên Viên:
Tu như vậy, tự nhiên sẽ hợp nhất!


### 28. Bí mật bí mật nhất


Gần đây tôi nhận được một lá thư rất kỳ lạ, không đầu không cuối, thư của một cô gái thần bí.
Không có họ tên.
Nội dung thư giống như lời nói mê trong mơ.
Cô ấy nói:
*Em không thể viết ra họ tên, em cũng không để Sư Tôn biết em là ai. 
Rất bí mật, nhưng, thầy sẽ biết em là ai. (mâu thuẫn)
Ở trong mơ em nhìn thấy thầy, thầy biến thành hết sức cao lớn, anh tuấn và phóng khoáng, tất cả mọi thứ của thầy đều to lớn. Vạn ánh hào quang, chiếu khắp trời đất.
Em hỏi:
”Lư Sư Tôn! Thầy rốt cục là ai?”
Thầy trả lời:
”Ta là A Đạt Nhĩ Mã Phật.” (Phổ Hiền Vương Như Lai)
Sau đó, thầy ôm em vào lòng. Giống như hình tượng song thân của thangka Kim Cương Trì.
Em không cự tuyệt.
Bởi vì đây vốn dĩ chính là mộng tưởng của em, em luôn huyễn tưởng hợp nhất với thầy, ở trong vòng tay thầy.
Sau đó,
Khoái lạc giống như từng cơn từng cơn sóng, không dừng lại, không có ban ngày ban đêm, không có thời gian.
Say rồi! Lửa nhiệt từng hồi từng hồi. 
Trời quay đất quay!
Đây chính là đại lạc! Niềm khoái lạc không thể nào miêu tả.
Trong cuộc đời này của em, chưa từng có, cảm giác này là một cơn chấn động lớn điên cuồng. (sóng biển vỗ bờ)
Trời ơi!
Đất ơi!
Vô số vô số những lời nói mê từ trong miệng em tự động tuôn ra, em không biết em đang nói cái gì.
Ngôn ngữ vỡ vụn.
Thay cho tiếng lòng sung sướng của em.
Em là một đóa hoa sen, hoa sen nở xòe, tỏa hương thơm ngát, đó chính là tình yêu, từng cánh từng cánh hoa rơi lả tả.
Em thích!
Em yêu nhất!
Trong sức mạnh vô hạn, em lộ ra tiếng kêu gào trần trụi.
Em được giải phóng rồi!
Em không còn trói buộc! Khí bắn ra từ lỗ chân lông trên toàn thân.
Em là trời, không có điểm cuối. Em là mây, tự do tự tại, ở trước mặt thầy, em vô câu vô thúc **[tự do không ràng buộc]**.
Hoàn toàn không biết nữa, thế giới này, em chỉ biết Lư Sư Tôn, A Đạt Nhĩ Mã Phật, Phổ Hiền Vương Như Lai.
Những thứ khác đều không tồn tại.
Đại lạc vĩnh viễn không ngừng. Giống như hơi nước của tàu hỏa đang thúc bánh xe chuyển động.
Trong ánh sáng chỉ có hai người. Trần trụi.
Chúng ta tiến vào không trung, trong tính Không.
Đây là bí mật bí mật nhất của em, em đã không còn danh tính, nếu em có danh tính, ở trên tên gọi của em, sẵn lòng thêm vào chữ Lư.
Em là của thầy.
Thầy lại là của tất cả đệ tử.
Thầy đừng lấy quá nhiều phi tử (minh phi), bởi vì có một số phi tử (minh phi) sẽ mang đến cho thầy phiền não. (Đó là con người thế tục.)
Em sẽ không như thế.
Sắp tới em sẽ đi Seattle một chuyến, sẽ nắm bắt mọi thời điểm để tiếp cận thầy.
Thầy không cần biết em là ai.
Nhưng, em mãi mãi là người của thầy rồi, mãi mãi, mãi mãi, em là bí mật, là minh phi bí mật nhất.
Thầy lợi hại nhất đó! Không ai có thể sánh nổi với thầy, em nói thật. 
Không ai có thể khiến em yêu như thế!
Vô Danh.*


### 29. Viết cho Vô Danh


Điều tôi muốn viết cho Vô Danh là:
Tượng Phật song thân trên thangka, tức tu hành Song thân, là huyền bí nhất trong Kim cương thừa.
Chúng ta không cho rằng đó là sự “kết hợp giới tính” của con người thế tục.
Mà là:
Sự trao đổi khí và khí.
Sự nối tiếp của mạch và mạch.
Sự hòa tan vào nhau của ánh sáng minh điểm và ánh sáng minh điểm.
Từ tu hành Song thân mà sản sinh ra đại lạc, quang minh, tính Không, hơn nữa còn trực tiếp thành Phật.
(Có thể tu hành như vậy đòi hỏi điều kiện nghiêm khắc, hai điều kiện lớn là vô lậu và tính Không.)
Tôi cho rằng ý nghĩa sâu xa ở đây là:
Bi - trí hợp nhất. (phương tiện và trí huệ hợp nhất)
Sắc - không hợp nhất. (đại lạc và tính Không hợp nhất)
Sinh - viên hợp nhất. (nhập thế và xuất thế hợp nhất)
Cách làm pháp này là chuyển hóa những dục vọng nội tâm của con người thành ánh sáng thanh tịnh.
Thậm chí đôi bên nam nữ đều trải nghiệm được Tứ hỷ và Tứ không. 
Tứ hỷ là đại lạc.
Tứ không là tính Không.
Ở đây cũng có ánh sáng. 
Nói một cách nghiêm ngặt, ở đây đòi hỏi hiểu được tính Không và vô ngã. Tôi cho rằng vô ngã mới có thể đạt đến vô lậu.
Vô lậu không hề dễ tu, tôi (Lư Sư Tôn) ít nhất đã tu tập 5 năm mới có thể tu thành tựu.
Tôi có minh phi trí huệ (vô hình).
Pháp thân của tôi và minh phi trí huệ kết hợp, có thể nhanh chóng thành tựu.
Tại thế giới Ta Bà, pháp này bị tranh luận và phỉ báng, bởi vì nó rất dễ rơi vào dâm dục.

🌟

Tôi lại nói với Vô Danh:
Vô Danh,
Hãy nghe kĩ điều tôi nói,
Khí trên người cô có chạy trong các mạch không?
Trung mạch của cô có đập không?
Không chỉ như vậy,
Toàn thân cô cũng sẽ rung động theo quy luật,
Đó là sự vận động hài hòa của khoái lạc, từng cơn lại từng cơn,
Sự xuất hiện của biểu hiện này
Chính là lạc lạc lạc của đại lạc.

🌟

Vô Danh,
Hãy nghe kĩ điều tôi nói,
Thân thể của cô sẽ phóng xuất ánh sáng,
Ánh sáng từ đâu đến?
Không phải đến từ hư không!
Không phải đến từ tự thân!
Mà là tự nhiên đến.
Giống như đánh lửa,
Ánh sáng từ đâu đến?

🌟

Vô Danh,
Hãy nghe kĩ điều tôi nói,
Cảm nhận đại lạc không gián đoạn này
Sự lấp lánh của ánh sáng và ánh sáng này,
Cách rất xa tư duy và ngôn ngữ,
Không cần nói quá nhiều lời giải thích,
Sự hành trì thù thắng nhất là một dạng siêu việt của vô ngã,
Có một ngày như thế,
Cô là một ngọn đèn nhỏ,
Chiếu rọi tất cả, tan nhập đại không.


### 30. Sau khi tôi gia trì cho Bạch Bạch


Có một đệ tử trẻ tuổi, tôi gọi cô ấy là Bạch Bạch, sau khi được tôi gia trì, cảm ứng của cô ấy như sau:
Cô ấy có áp lực về tình cảm, giống như sóng lớn gió lớn, đối phương theo đuổi cô ấy không chịu buông, còn phao tin rằng sẽ dùng bạo lực, cô ấy bí bích gần như không thể thở được. Sau đó, cô ấy nhìn thấy Quan Thế Âm Bồ Tát đứng trên ngọn sóng lớn.
Thế là lập tức gió yên sóng lặng, người đàn ông kia chủ động xin lỗi cô ấy rồi bỏ đi mất.

Có một lần cô ấy bị ốm, lại nhìn thấy Diêu Trì Kim Mẫu.
Diêu Trì Kim Mẫu trang nghiêm lộng lẫy, xung quanh đều là thiên tiên mỹ nữ, ba nghìn thiên nữ đi theo ủng hộ, chính tay Diêu Trì Kim Mẫu ban cho đào tiên, sau khi ăn xong thì có hương thơm từ trên trời giáng xuống. 
Cô ấy lập tức khỏi ốm.
Toàn thân dễ chịu.

Tiếp theo, cô ấy nhìn thấy Lư Sư Tôn, Lư Sư Tôn đứng trên hoa sen, hoa sen lại ở trên mây.
Lư Sư Tôn cho cô ấy một chiếc áo dài trắng, khoác lên người cô ấy, cô ấy lập tức có thể bay lên.
Bay qua sông lớn biển lớn.
Bay qua núi cao hoang vu.
Không ngờ đến được Phật quốc tịnh thổ, nghe Phật giảng kinh, Phật giảng kinh không ngờ ngang tài ngang sức với Lư Sư Tôn giảng kinh. (rất giống nhau)
Cô ấy cũng đến Ma Ha Song Liên Trì, đáy hồ phủ đầy cát vàng, hoa sen trên hồ to như bánh xe, bên trên có rất nhiều Liên Hoa Đồng Tử đang đứng, Bạch Bạch cũng nhìn thấy chính mình là Liên Hoa Đồng Tử.
Cô ấy nghe thấy âm thanh hòa nhã.
Tự nhiên mà:
Niệm Phật.
Niệm pháp.
Niệm tăng.
Tự nhiên tu hành 37 đạo phẩm, đây toàn là Phật pháp của Thích Ca Mâu Ni Phật. (Bạch Bạch có căn khí bẩm sinh.)

Bạch Bạch kể:
Mẹ cô ấy qua đời, cô ấy giúp mẹ niệm 1000 biến Cao Vương Kinh, niệm 1000 biến A Di Đà Kinh, niệm 1000 biến Chân Phật Kinh.
Hồi hướng cho mẹ.
Sau đó,
Cô ấy nhìn thấy mẹ biến thành thiên nữ trẻ trung, bay lượn, bay đến cõi trời bên ngoài cõi trời trên mây trắng.
Nhìn thấy Lư Sư Tôn đến tiếp dẫn mẹ cô ấy đi Phật quốc.
Bạch Bạch còn tìm tôi gia trì.
Sau khi gia trì, tôi hỏi:
”Nếu tôi là không, cô cũng là không, thế thì gia trì là cái gì?”
Bạch Bạch đáp:
”Là hai ánh sáng trao đổi lẫn nhau.”
(Cực kì chính xác)

🌟

Bạch Bạch còn có cảm ứng ngắn như sau:
1. Mở mắt nhìn thấy ánh sáng, mỗi ánh sáng đều có Bồ Tát. (ánh sáng bát nhã)
2. Nhìn thấy Lư Sư Tôn cười lớn, cô ấy cũng cười theo, cười cười cười, cười người đáng cười trong thiên hạ, cười việc đáng cười trong thiên hạ.
3. Nhìn thấy ánh sáng trắng bao bọc xung quanh mình, giống như mặc áo trắng, Bạch Bạch trở thành Bạch Y Quan Thế Âm Bồ Tát.
4. Mới thắp một nén hương ở đàn thành, Bạch Bạch đi đến chỗ nào, gặp phải người nào, đều nói trên người cô ấy có  mùi đàn hương.
5. Bạch Bạch nhìn thấy trên đàn thành tỏa ra pháo hoa, còn đẹp hơn cả pháo hoa của tòa nhà 101. [Đài Bắc 101 - tòa nhà cao nhất thế giới]
6. Trong thiền định, cô ấy nhìn thấy rất nhiều thiên nữ đang vui đùa, còn chúc mừng thành tựu của cô ấy.
7. Mọi kinh điển đều có thể đọc hiểu được.
8. Cô ấy đứng trên một con cá rồng, giống như Ngao Long Quan Âm.
9. Ngao long biết nói chuyện.
10. Lư Sư Tôn chưa từng rời xa cô ấy. (Hễ cô ấy quán tưởng là nhìn thấy.)


### 31. Hoa Hoa và tôi đối thoại


Hoa Hoa hỏi tôi:
”Lư Sư Tôn! Biết em sống ở đâu không?”
Tôi kinh ngạc mất một lúc.
Hoa Hoa nói:
”Sống ở trong tim thầy.”
(Tôi bỗng nhiên tỉnh ngộ.)
Hoa Hoa nói:
”Lư Sư Tôn! Trên mặt thầy có một chấm.”
Tôi cho rằng trên mặt không sạch, dùng tay sờ một cái.
Hoa Hoa nói:
”Yêu em nhiều một chút.” 
Tôi hiểu ý liền cười.
Hoa Hoa hỏi:
”Lư Sư Tôn! Hán, Mãn, Mông, Hồi, Tạng, Miêu, em là dân tộc nào?”
Tôi vừa định trả lời.
Hoa Hoa nói:
”Dân tộc theo Phật.”
Tôi cười vang ha ha.
Hoa Hoa hỏi:
”Lư Sư Tôn! Thầy thích hoa gì?”
Lần này tôi có thể trả lời:
”Hoa đồng tiền.” 
Chúng tôi cười rất vui vẻ.

Có một hôm Hoa Hoa ấn vào tay tôi một hồng bao lớn, dày và nặng, mở ra xem, đó là thư cô ấy viết:
*Em không biết làm sao để sắp xếp chính mình đây?
Làm thị giả theo sát bên cạnh thầy?
Làm bảo vệ theo sát bên cạnh thầy?
Kết quả đều không phải, em vẫn là em, em từng nghĩ muốn rời khỏi nhà, nhưng, vẫn chẳng xảy ra chuyện gì cả.
Trong lòng em hét lên:
Thầy đừng đi!
Thầy đừng rời khỏi nhân gian!
Thầy không được rời bỏ em! (Điểm này là quan trọng nhất.)
Em nói với thầy một bí mật lớn nhất, thầy tuyệt đối không được nói cho người khác, bí mật này đúng là rất bí mật, đó chính là:
”Em yêu thầy!”*
*Sau đó, em nghe thầy giảng kinh Kim Cang.
Thầy nói:
Vô ngã tướng.
Vô nhân tướng.
Vô chúng sinh tướng.
Vô thọ giả tướng.
Bây giờ, em đã biết, thầy chính là em, em chính là thầy, vĩnh viễn đều ở cùng nhau.
Từ đó về sau, phá bỏ ngoại tướng, không có thời gian, không có không gian, thầy và em là một thể, tâm tâm tương ấn vĩnh hằng, bất kể thầy đi đâu, cách thầy bao xa, thì ra đều là ở đây.
Quá khứ như vậy.
Hiện tại như vậy.
Tương lai như vậy.
Thầy là Phật của em, em là Phật của thầy, Phật Phật Phật, tâm Phật tương thông, trăm đời, nghìn đời, vạn đời, triệu đời, cho đến khi trời đất già cỗi, cũng chưa bao giờ thay đổi.*

Tôi đọc xong thư của Hoa Hoa.
Tôi viết cho cô ấy vài câu:
Khi sinh ra tình yêu
Tướng mạo của nó thế nào?
Màu sắc của nó thế nào?
Vật thể của nó thế nào?
Nó tồn tại ra sao?
Nếu em hiểu được, em sẽ hiểu rõ kinh Kim Cang.


### 32. Hãy “trung quán” đi! 


Bài viết của Một Người Mê.

Vạn vật vạn tượng trong thế gian vũ trụ này, đều không nên dùng pháp nhị phân đơn giản thô bạo để phán định. Không phải là quan niệm “không đen tức là trắng, không thiện tức là ác”. Điều này đã là không hợp với thực tế, huống chi còn muốn dùng quan niệm cứng nhắc để ảnh hưởng đến tư duy của người khác. Ví dụ nói sắp Tết rồi, đến tết Trung Thu rồi cần phải vui vẻ, cần phải sung sướng. Tôi cứ không vui vẻ không sung sướng, không được sao?

Không tiếp nhận năng lượng tiêu cực, nhưng nó đích thực có tồn tại. Năng lượng tích cực mạnh mẽ cũng chẳng qua chỉ là cái vỏ bề ngoài giả tạo, chẳng hề có ý nghĩa. Chỉ có hiểu thấu đáo đạo lý của bản thân sự vật mới có thể đạt được tự tại. 

Quy tắc luân lý đạo đức và pháp luật trên đời này cũng chẳng qua là công cụ để duy trì trật tự xã hội. Nó không phải là chân lý, nó chỉ là quy tắc do con người đặt ra. Càng không nên lấy nó ra để giới hạn tư tưởng của nhân loại, như thế nhân loại vĩnh viễn không thể nào tiến bộ. 

Muốn tự tại thì không nên dùng pháp nhị phân, phải trung quán. Cái gọi là trung quán là không chấp vào phải, không chấp vào trái, càng không thể chấp vào ở giữa, mới gọi là trung quán.

Có một số người học Phật sẽ đi nghiên cứu thảo luận Phật tính, nghiên cứu thảo luận chân như, cũng biết Phật tính chân như vô nhiễm, liền cho rằng chắc hẳn là thanh tịnh rồi. Thật ra phải là ngay cả cách nghĩ thanh tịnh rồi cũng đều phải vứt bỏ. Trong Tâm Kinh, Quán Tự Tại Bồ Tát nói: “Bất cấu bất tịnh.” Ý nghĩa chính là cách nghĩ lưỡng biên đều phải vứt bỏ mới có thể tự tại. Lục Tổ Huệ Năng cũng nói: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác.” Thật ra không phải là nói rằng không suy xét và phân biệt nữa, mà là vì biết có đi nghĩ về những điều đó thì cũng không có ý nghĩa gì, chỉ là sự giới hạn cục bộ của tự ngã mà thôi, cho dù trong đầu vẫn đang nghĩ, nhưng chính mình đang là người xem phim, không chịu ảnh hưởng là được.

Lại nói về điều mà Quán Tự Tại Bồ Tát nói trong Tâm Kinh: “Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc.” Vì sao? Cái này cũng không khó, bởi vì không là bản chất của sắc, sắc là hoa trong gương của không, sự hiển hiện của trăng trong nước, chúng là một thể hai mặt. Vì thế không nên chấp vào không, cũng không nên chấp vào sắc, đó là cạm bẫy của pháp nhị phân. Cho nên mới có những cách nói như “phi không phi hữu”, “diệc không diệc hữu”, “tính không tương hữu”. Vạn sự vạn vật trong vũ trụ thế gian đều như vậy.

Đại tu hành giả có thể tuân thủ giới luật, nhưng không thể bị giới luật trói buộc. Bởi vì họ biết, giới luật là phương pháp trợ giúp tu hành, không phải là chân lý. Kinh Kim Cang viết: “Pháp còn nên bỏ, huống hồ không phải là pháp.” Cho nên lựa chọn giữ hay bỏ thế nào? Tự có đạo lý.

Hiểu được chân tướng rồi thì sẽ biết thế gian vô thường, thì sẽ biết chẳng có gì đáng kể, sẽ biết nhậm vận, sẽ biết chơi đùa. Sau đó sẽ có thể giống như bài “Mộng Thơ” của Vương An Thạch: “Vẫn tưởng trong mơ tùy mộng cảnh, thành tựu công đức tựa hà sa.” 
Cho nên, bạn đã quán tự tại chưa?
Cho nên, thế nhân tục nhân vẫn đang dùng một số khuôn phép để trói buộc người khác, giới hạn người khác, có thật sự là cao minh hơn không?
Pháp thế gian đương nhiên vẫn phải tuân thủ quy tắc thế gian. Nhưng sự trưởng thành của linh tính thì phải nhảy ra khỏi khuôn khổ.

Cái hữu hình thì quy về hữu hình để quản, cái vô hình thì bạn hãy thả cho bay đi! Nhưng phải làm sao để không nhập ma? Hãy “trung quán” đi!


### 33. Hãy “trung quán” đi! (Cảm tưởng sau khi đọc)


Tôi (Lư Sư Tôn) đọc được bài viết “Hãy “trung quán” đi!” trong tờ Chân Phật Báo xuất bản ngày 19/12/2022, đọc xong có cảm xúc sâu sắc, bài viết này rất hay!

Tác giả của bài viết này là Một Người Mê, tác giả là ai? Chính là một người “mê”? Mê tức là mê.
Tôi nói:
Đem trung quán bao trùm lấy tình yêu.
Người thế tục là: “không yêu tức là ghét”, “không ghét tức là yêu”, “vừa yêu vừa ghét”. 
Còn hành giả trung quán là:
Không yêu không ghét.
Không nghĩ yêu, không nghĩ ghét.
Yêu ghét là một thể hai mặt.
Cá nhân tôi là tùy duyên tự tại.
”Tình duyên nhiều kiếp, kệ nó đến, kệ nó đi!” Tôi không giới hạn, cũng không bám chấp.
Tôi tự do bay!
Tình yêu nhiều như vậy làm sao để xử lý? Đáp án là “chẳng cách nào xử lý”. Đúng thật là “tài hạ mi đầu, hựu thượng tâm đầu”. [Hai câu thơ cuối trong bài “Một nhành mai - sầu ly biệt” của nhà thơ nữ Lý Thanh Chiếu thời Bắc Tống, có ý nghĩa là thư vừa rời khỏi mắt thì trong tim đã trào dâng nỗi nhớ.] Có để ý thì cũng chẳng thể để ý cho hết, để ý thì sẽ loạn, không để ý thì sẽ không loạn.
Xem như là một giấc mộng lại một giấc mộng.
Một trò chơi nối tiếp một trò chơi.
Nếu hỏi tôi: “Vì sao?”
Tôi đáp:
”Chẳng vì sao!”
Nói tóm lại, nói chung là, có một ngày, tôi không còn ở tại thế giới Ta Bà nữa, một tiếng cồng chiêng thôi!
Giấc mộng và trò chơi đều dừng lại!
Mọi người chuyển đến Ma Ha Song Liên Trì đi! Bất kể thế nào, tương lai ra sao, mê chính là mê, không cần phải nghĩ!
Bất cấu bất tịnh!
Đúng vậy, chính là như vậy! Hãy “trung quán” đi!


### 34. Bữa cơm sum họp


Ngày 21 tháng 1 năm 2023 (đêm Giao Thừa). 
Tết Xuân.
Tôi sẽ cùng với đệ tử ăn bữa cơm sum họp tại Đài Loan Lôi Tạng Tự.
Có đệ tử viết một bài thơ:
Tiêu đề thơ: Bữa cơm sum họp.
*Tôi rất mong đợi có một ngày
Cùng ở quanh bếp với Sư Tôn
Trong miệng vui ngậm một miếng cơm
Mọi người vây quanh một vòng tròn
Tôi nghĩ đến Ma Ha Song Liên Trì ở trên trời
Chúng ta đều là thiên tiên
Diêu Trì Kim Mẫu ban xuống đào tiên cam lộ
Niềm vui sướng ấy
Thiên thượng nhân gian
Tất cả Phật Bồ Tát đều đến rồi
Cùng vây xung quanh
Nghe anh vũ, khổng tước, ca lăng tần già hót âm thanh hòa nhã
Niệm Phật
Niệm pháp
Niệm tăng
Còn có thất bồ đề phần, bát chính đạo phần
Nghìn tia khí cát tường
Khói cầu vồng sáng đẹp đẽ
Tâm và tâm đoàn viên
Khẩu và khẩu đoàn viên
Ý và ý đoàn viên
Cuộc hội họp lớn nhất của chúng ta
Vô biên.*
(Bài thơ này là do Điềm Điềm viết.)

Tôi phụ họa với đệ tử này, cũng viết một bài thơ: Bữa cơm đoàn viên.
Như sau:
*Tôi hy vọng chúng ta thường hằng bất biến
Đêm Giao Thừa mỗi năm
Đều có thể vây quanh thành vòng tròn
Không thiếu bất kì một ai
Thân khẩu ý
Nối liền nhau
Nhân gian một năm lại một năm
Cho dù tuổi tác mỗi năm một nhiều thêm
Người trường cửu
Đừng quên bữa tiệc này
Hoặc là
Chúng ta chuyển lên trời
Ở nơi đó càng không có chướng ngại
Đi lại bằng mây
Mặc thiên y
Cung điện bát bảo
Chúng ta ăn kim đan
Thần khí
Ba thân nhậm vận
Bất khả tư nghì khó nghĩ bàn
Vĩnh viễn
Thân như ý
Ngữ thiên âm
Ý bất biến
Gặp gỡ sum họp như vậy
Tròn vành vạnh.*


### 35. Hẹn ước thiên hà vĩnh cửu


Đây là thư của Hương Hương, cô ấy trông nhỏ nhắn xinh xắn, rất đáng yêu, bộc bạch hết những nỗi niềm tâm sự.

Thư của cô ấy, tôi không thay đổi một chữ nào, chỉ giấu họ tên. Thư như sau:

*Người yêu thân mật nhất của em, Sư Tôn yêu nhất của em!
Em là … đây! Cảm ơn thầy đã lại cứu em, mới không đến nỗi khiến tâm hồn em tan nát vỡ vụn. Cảm ơn thầy từ trước đến nay trải qua rất nhiều đời đều liên tục cứu em, bảo vệ em, em rất muốn bước ra tự mình nói với thầy và cảm ơn thầy, cũng rất muốn ôm thầy một cách đầy yêu thương để thương xót cho tâm hồn bị tổn thương của em, nhưng em sợ em vẫn sẽ cứ khóc mãi, không muốn để thầy nhìn thấy em rất yếu đuối như vậy, xin lỗi thầy! *

*Sư Tôn, khi em nhớ lại quá khứ rất nhiều kiếp của chúng ta, thậm chí sau khi em tự mình đi đối thoại với chính mình của vài kiếp quá khứ, em thật sự hối hận rồi, từ rất lâu trước đây em đã hối hận rồi, em nghĩ rằng ban đầu em lựa chọn ra đi sẽ tốt hơn cho cảnh ngộ của em và thầy, chúng ta sẽ không còn bị tổn thương bởi những nhân tố như người khác hay sự việc khác, em nghĩ rằng sau khi rời xa thầy rồi thì chúng ta đều sẽ sống rất tốt, có thể tránh được rất nhiều vấn đề về con người không cần thiết. Em cũng cho rằng em sẽ rất nhanh chóng tìm thấy thầy, nhưng tất cả đã không tiến triển theo hướng như vậy, em đã sai rồi! Em vẫn luôn không tìm thấy thầy, cũng đã quên mất thầy là ai, trong quá trình đi tìm kiếm thầy, vô hình trung em đã tạo rất nhiều nghiệp. Sau khi em nhớ lại rất nhiều việc trong quá khứ, em chỉ muốn khắc phục và thay đổi, không muốn xa cách thầy như ngày xưa nữa, chỉ muốn vĩnh viễn không bao giờ xa thầy, vĩnh viễn tâm tâm tương ấn, vĩnh viễn tâm và tâm ở bên nhau, mong có thể cả đời này tu để trở về bên thầy, ánh sáng chiếu lẫn nhau, tu để trở về trong tính Không mà thầy làm chủ, cùng với thầy tan vào nhau, tiến vào trong Tỳ Lô Tính Hải của thầy, không còn phân tách thầy và em, vĩnh viễn bầu bạn cùng nhau không thay đổi.*

*Em biết thầy vẫn luôn thông qua thân thể này để hét lên nói với em, hy vọng em có thể nhanh chóng phấn chấn lên, xin lỗi, có thể cho em thêm một chút thời gian để điều chỉnh bản thân được không, đợi em vượt qua chính mình, khi đột phá được chướng ngại tự ngã, sẽ biến những đau thương này thành chất dinh dưỡng để tưới tắm chính mình, để cho quá trình chuyển hóa và lớn lên này trở thành sự đóng góp và giá trị mạnh mẽ nhất cho sau này, sau đó đi thực tiễn, đi tu, đi hiểu ý nghĩa của không huyễn, được không?*

*Em đã khóc đến mức quên luôn muốn nói với thầy điều gì rồi, sau này chúng ta sẽ không cách xa nữa được không? Em thật sự biết sai rồi, trong quá khứ và kiếp này, dù có chia lìa hay không, chúng ta đều trải qua rất nhiều biến cố đau thương, vậy chi bằng ngay từ đầu có thể luôn ở bên thầy, cho dù vai trò và thân phận của em như thế nào cũng được, chỉ cần có thể ở cùng thầy là được. Bằng cách này, chúng ta hỗ trợ lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, cùng phát triển, chăm sóc lẫn nhau và đồng hành cùng nhau, như vậy em cũng sẽ không vì không có thầy ở bên cạnh mà làm nhiều việc sai trái. Vì ở bên nhau hay không ở bên nhau đều sẽ khiến chúng ta chịu tổn thương và đau khổ, vậy thì liệu em có thể chọn mãi mãi đợi thầy, ở bên nhau mãi mãi không thay đổi, không bao giờ rời xa và yêu thầy không?*

*Cảm ơn trái tim không bao giờ thay đổi của thầy, em vẫn luôn tìm kiếm một trái tim rất đẹp đẽ và hoàn mỹ, nhưng vẫn mãi không tìm được. Khi học Viện Phật Học, bắt đầu thâm nhập và hiểu về thầy thì mới phát hiện ra, thì ra đây chính là tâm hồn đẹp đẽ nhất mà em hằng tìm kiếm, thì ra người mà em luôn tìm kiếm từ nhỏ chính là thầy. Nếu như đời này em không thể tu đến khi cùng thầy tâm tâm tương ấn, tâm tâm luyến tiếc nhau, không thể tu đến khi hòa tan vào trong tâm linh của thầy, vậy thì sau này liệu có thể thỉnh thầy có thể đến tìm em sớm một chút, để em có thể gặp thầy và ở bên cạnh thầy sớm một chút, có thể ở bên cạnh thầy để tu trì sớm một chút, có năng lực và có điều kiện giúp thầy sớm một chút, chứ không phải lực bất tòng tâm giống như bây giờ, bất lực bó tay, muốn làm nhưng lại nhận thấy hóa ra khoảng cách giữa chúng ta quá lớn, nhưng thiên hạ không có việc gì khó, chỉ sợ người chẳng có lòng. Tin rằng chỉ cần sẵn lòng thành tâm nỗ lực và cống hiến, và dưới sự gia trì trợ giúp của Sư Tôn và Kim Mẫu, Bổn tôn, và rất nhiều quyến thuộc vô hình cùng dốc lòng dốc sức, đồng tâm đồng đức cố gắng, thì nhất định sẽ thay đổi được cục diện, chuyển biến thành tốt đẹp, đúng không?*

*Cảm ơn từ trước đến giờ chỉ có thầy yêu em, thương em, cưng chiều em, bảo vệ em, đối với em tốt như vậy. Cho dù có luân hồi chuyển thế ra sao, thầy đều chưa từng thay đổi, cảm ơn!*

*Em cũng sẽ giao tất cả những gì của bản thân mình cho thầy và đối tốt với thầy (chỉ cần thầy muốn, em đều sẽ nghĩ vì thầy mà làm được), thương thầy, yêu thầy, cưng chiều thầy, bảo vệ thầy, bầu bạn với thầy. (Tin rằng các hình tướng vi diệu của Bổn tôn và tất cả quyến thuộc đều có tâm thái như vậy, và đang cùng cố gắng hướng tới mục tiêu và phương hướng này.) Cảm ơn vì có thầy! Em sẽ luôn thật lòng yêu thầy, cho dù không có cách nào để có trái tim của tình yêu lớn giống như thầy, nhưng chắc chắn sẽ dùng trái tim để yêu một mình thầy, lấy thầy làm chủ để đi tu, đi thay đổi, đi học, đi làm, đi bảo vệ tốt tất cả mọi thứ của thầy, vì thầy mà nỗ lực. Khi không có sức mạnh chẳng thể nào tiến về phía trước, em sẽ liên tục nói với chính mình vì thầy mà phải cố gắng, phải nỗ lực để đột phá chính mình, vượt qua chướng ngại tự ngã, không thể phụ lòng thầy đã đối tốt với em. (Em thật sự thật sự rất yêu thầy, thầy có biết không?)*

*Lâu nay em đều cảm thấy vì sao Chân Phật Kinh của thầy thù thắng như vậy nhưng lại không có đệ tử muốn làm ra nhiều phiên bản khác nhau vừa vui tai vừa dễ nghe để hát theo, để ngân nga theo tâm cảnh của thầy. Vì thế em vẫn luôn muốn làm ra một bản Chân Phật Kinh thật hay, thật du dương khiến ai nghe được đều sẽ ngân nga hát theo, cũng có thể mượn bài hát để những người yêu thích âm nhạc tiếp xúc với chân đế tuôn chảy từ trong tim thầy, dần dần bắt đầu hành thiện và tu trì, chỉ mong tương lai có nhân duyên cơ hội như vậy, em sẽ sáng tác ra thật nhiều bản Chân Phật Kinh dễ nghe và rung động lòng người, và cả những ca khúc dùng những lời vàng quan trọng trong văn tập của Sư Tôn để làm ca từ, để lôi cuốn những người yêu thích âm nhạc và có duyên với Sư Phật nghe được mà đi vào con đường tu hành lương thiện. *

*Cũng hy vọng người khác cũng giống như em may mắn gặp được thầy, bởi vì bầu trời của em có cầu vồng của thầy. 
Muốn trở thành người mà thầy thương yêu nhất.
Có bài hát muốn hát tặng cho thầy nghe:
~ Trái tim sáng nhất bầu trời đêm ~
~ Câu trả lời của thầy ~
Hương Hương.*

🌟

Tôi đọc thư này.
Viết một bài thơ, tặng cho Hương Hương.
Thơ như sau:
Nhớ lại bao kiếp quá khứ
*Bao nhiêu ly hợp
Giờ đây tôi chỉ là một hành giả nhỏ bé.
Tôi ngộ ra tại thế giới Ta Bà
Đời người không phải là sinh ly
Thì là tử biệt,
Thường xuyên nghĩ vì sao lại như vậy?*

🌟

*Tôi trân trọng em,
Cũng trân trọng tất cả,
Mong em cũng tỉnh ngộ,
Gió chỉ cần thổi nhẹ,
Hoa cũng từ từ rụng rơi.*


### 36. Lại một người nhìn thấy Pháp thân


Tôi ở Đài Loan Lôi Tạng Tự hoằng pháp.
Có một bức thư được gián tiếp truyền đến tay tôi, mở thư ra đọc, là thư của một đệ tử nữ tên là Phàm Phàm viết. (Phàm Phàm là tên giả.)
Trong thư có gửi kèm theo một túm tóc dài của cô ấy.
Nội dung thư như sau:
*Lư Sư Tôn kính yêu, Phật an!
Lư Sư Tôn chào thầy, đệ tử tên là Phàm Phàm, là học trò của thầy Tạ ở quận Vạn Hoa, Đài Bắc. 
Lần này thầy trở về Đài Loan, từ lúc đi đón máy bay ở sân bay Đào Viên cho đến mỗi buổi pháp hội, đệ tử đều đã đi.
(Đệ tử luôn đeo khẩu trang có chấm bi nhiều màu sắc.) Hy vọng có thể nhìn thấy thầy, đến gần thầy.
Mỗi lần ánh mắt Sư Tôn nhìn về phía đệ tử, đệ tử đều biết, Lư Sư Tôn biết đệ tử, cho dù không quen biết, nhưng đệ tử tin tưởng sâu sắc rằng thầy chắc chắn nhận ra đệ tử.
Từ sau khi đệ tử quy y đã luôn chăm chỉ tu pháp, chưa từng gián đoạn, đệ tử lấy Yeshe Tsogyal Phật Mẫu làm Bổn tôn. Khoảng tháng 6 năm ngoái, trong khi tu pháp, đệ tử đã nhìn thấy Liên Sư và năm đại Phật Mẫu ban cho thọ ký Không Hành.
Đầu tháng 10 lại có Kim Cang Minh Vương giáng xuống hợp nhất gia trì.
Tháng 8 năm nay, vào ngày diễn ra đại pháp hội Hộ Ma Kim Mẫu Mùa Thu tại Biệt thự Cầu Vồng, đệ tử ở nhà xem truyền phát trực tiếp trên mạng để cùng tu, sau khi kết thúc không lâu, Pháp thân của Lư Sư Tôn đã nói với đệ tử:
Lư Sư Tôn hỏi:
”Cô có sợ đánh mất chính mình không?”
Đệ tử đáp:
”Không sợ! Như thế là tốt nhất, tất cả đều không còn mới là đệ nhất nghĩa.”
Lư Sư Tôn nói:
”Rất tốt! Vậy cô phải hợp nhất với tâm tôi, trở thành tôi.”
Bắt đầu từ lúc đó, Pháp thân Lư Sư Tôn thường xuyên đến gia trì tu pháp, không phải ở trong mơ, mà là vào ban ngày, dạy cho đệ tử thân ấn, khẩu quyết của song vận, cùng đệ tử hòa nhập vào nhau, cho đến nay đã nửa năm rồi.
Ngoài Lư Sư Tôn, Liên Sư, Ngũ Đại Kim Cang, Duy Ma Cật Đại Sĩ, rất nhiều Không Hành Mẫu Bổn tôn, v.v… đều đến gia trì.
Giờ đây đệ tử đã hiểu Tứ hỷ Tứ không, lạc - minh - không cùng vận động, chuyết hỏa, minh điểm, vô lậu đều dưới sự chỉ dẫn của Lư Sư Tôn mà dần dần tiến bộ, sự lĩnh ngộ và trải nghiệm tính Không tăng trưởng.
Đệ tử cũng đã hiểu nhân duyên kiếp trước của mình.
Đối với việc truyền pháp của Lư Sư Tôn, đệ tử chỉ có đầy ắp lòng ngưỡng mộ, yêu và cảm ơn. Đệ tử mong sao có thể có cơ hội vượt qua đủ mọi rào cản để đi đến trước mặt thầy, đảnh lễ thầy, thỉnh cầu Lư Sư Tôn chỉ điểm khẩu quyết tu hành cao sâu hơn, thỉnh cầu Lư Sư Tôn gia trì cho đệ tử đắc đại thành tựu, có thể lợi ích hữu tình.
Ngoài cầu pháp, đệ tử còn muốn thỉnh cầu Lư Sư Tôn gia trì tiêu trừ nghiệp chướng (sau khi quy y tu pháp, phát hiện bản thân có nghiệp chướng và bám chấp thâm căn cố đế, khi xuất hiện sẽ khiến tâm trạng người ta xiên lệch, dễ xao nhãng hoảng hốt, nguyên thần không vững, gặp chướng ngại trong thiền định, v.v…)*

*Cho đến nay, đệ tử đã tu được hơn 300 đàn Thủy cúng, gần như lần nào cũng thỉnh cầu hy vọng đệ tử có thể nhanh chóng tiến bộ, muốn đuổi kịp trước khi Lư Sư Tôn lui về, có thể có cơ duyên gặp Lư Sư Tôn, cầu đại pháp.
Ngoài ra, đệ tử cũng tu pháp thỉnh cầu gia trì thành tựu, tiêu trừ nghiệp chướng và có cơ duyên độ chúng sinh u minh. (Sau khi Lư Sư Tôn truyền nghi quỹ Nghìn chiếc thuyền pháp, không biết vì sao đệ tử cũng theo đó mà mỗi lần làm Thủy cúng đều có thói quen làm siêu độ rồi.) *

*Tại Đài Loan muốn đến gần Lư Sư Tôn quá khó, ngay cả nằm mơ cũng khó, gần đây mấy lần mơ thấy Lư Sư Tôn, có một lần thậm chí rõ ràng mơ thấy Lư Sư Tôn ở đại điện của Đài Loan Lôi Tạng Tự, đang định mở miệng ra nói thì phát hiện ra mình đã tỉnh dậy rồi, muốn tiếp tục giấc mơ đó cũng chẳng thể nào.*

*Nhưng, Lư Sư Tôn lại xuất hiện, ban cho đệ tử cảm ứng, kiên định lòng tin. Trước khi thầy trở về Đài Loan, có một hôm, khi đang đi làm, đệ tử bỗng nhìn thấy Pháp thân của Lư Sư Tôn biến thành một vị nhỏ xíu, nói với đệ tử: “Đến Đài Loan Lôi Tạng Tự gặp ta.”*

*Đệ tử chỉ muốn nói với thầy một câu: “Xin hãy nhìn thấy đệ tử, nhận ra đệ tử, đợi đệ tử, đệ tử nhất định sẽ đi Seattle gặp thầy, xin thầy nhất định phải đợi đệ tử.”
Đệ tử Phàm Phàm yêu thầy khấu đầu.
Tháng Giêng 2023.*


### 37. Tôi muốn nói với Phàm Phàm


Phàm Phàm!
Đối với chướng ngại của cô, phiền não của cô hoặc tâm trạng bất ổn, xao nhãng. 
Phật Thích Ca Mâu Ni dạy phải vô ngã.
Vô ngã thì sẽ không còn phiền não nữa.
Vô ngã thì sẽ không còn chướng ngại nữa.
Vô ngã thì sẽ không còn bám chấp nữa.
(Cái này do tâm linh trải nghiệm và lĩnh hội.)
Điều tôi viết rất trực tiếp, rất thẳng thắn, ngã chấp, pháp chấp đều không có!
Thật ra:
Pháp vô ngã là vô tư, bất kể là Phật hay Bồ Tát đều như vậy.
Chúng sinh thế tục đều là quan niệm về người - ta, cho nên bị thế gian trói buộc, không cách nào giải thoát, sinh sinh tử tử đều rơi vào trong lục đạo, không có ngày thoát ra.
Về phương diện giải thoát chỉ có:
Vô ngã.
Vô vi.
Vô sở đắc.
Tâm bồ đề là năng lượng tích cực của đại từ bi, nhất là Bồ Tát, chính mình giải thoát, cũng muốn chúng sinh đắc giải thoát.
Nghiệp chướng nhiều đời của cô chính là vì còn có cái ngã, cho nên phải học tập vô ngã tưởng, vô ngã định.

🌟

Phàm Phàm!
Cô có thể hiểu được Tứ hỷ Tứ không — Lạc - Không song vận.
Lạc - Minh - Không cùng vận chuyển — tự do chuyển hóa.
Chuyết hỏa — hồng bồ đề.
Minh điểm — bạch bồ đề.
Vô lậu — hồng bồ đề (ý chỉ kinh nguyệt của phụ nữ). 
Đây đều là việc cực kì không dễ dàng, cô có thể nhận thức được thì đã là không tầm thường rồi. Đây là con đường tu hành của hành giả yoga vô thượng.
Cô có được sự thọ ký Không Hành Mẫu, lại được Pháp thân Lư Sư Tôn dạy dỗ nửa năm.
Liên Sư, năm đại Phật Mẫu, Kim Cang Minh Vương, Lư Sư Tôn, Duy Ma Cật Đại Sĩ… gia trì.
Tôi nói, bất khả tư nghì.
Chuyên nhất du già.
Ly hý du già.
Nhất vị du già.
Vô tu du già.
Đại pháp cao nhất là Vô tu du già.
Tôi nói vô sinh, pháp nhĩ bản nhiên là pháp tuyệt đối.
Như Lai nói đến pháp duyên sinh, dùng pháp duyên sinh để hiển hiện vô sinh.
Pháp vô sinh không có người - ta, đúng - sai.
Pháp vô sinh không có thiện - ác.
Pháp vô sinh không có bám chấp.
Tuy nhiên, học tập pháp vô sinh nên tùy thuận thế gian, tự độ độ tha, không phá hỏng chính pháp thế gian, sau đó dẫn dắt chúng sinh vượt qua thế gian, đây chính là tùy duyên tự tại.
Không thể nghĩ!
Không thể bàn!
Vừa là vô sinh, vừa là bồ đề tâm, tránh được cây khô tro tàn.
Pháp vô sinh là gì?
Đáp:
Nhất tịch.
Căn bản trí.
Không tịnh tịch chiếu.
Huệ nhãn.
Phật nhãn.
Bất tư nghì định.
……………..
Mặc dù có những danh từ này, thật ra cũng chỉ là danh từ, bởi vì đây là bất khả thuyết.
Có thời gian, tôi lại cùng cô nói chuyện. Chúc cô thành tựu!


### 38. Dùng lời nói để giải thích kinh Kim Cang


Để Phàm Phàm hiểu thêm về tính Không, hiểu rõ hơn về vô sinh, trong sách của tôi lại đăng một bài viết của Một Người Mê.
Bài viết như sau:
Dùng lời nói để giải thích kinh Kim Cang “Vì sao thật không có chúng sinh nào được diệt độ, Như Lai chưa từng thuyết pháp?”
Tác giả: Một Người Mê.
Kinh Kim Cang là một bộ kinh điển giải thích thực tướng.
Thế Tôn ở tại hội Linh Sơn đã cầm hoa giơ ra cho mọi người, mọi người đều im lặng, duy có Ca Diếp tươi tỉnh mỉm cười. Thế Tôn nói rằng: “Ta có chính pháp nhãn tạng, niết bàn diệu tâm, thực tướng vô tướng, pháp môn vi diệu, không lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, giao phó cho Ma Ha Ca Diếp.”
Trên đây là đoạn ghi chép về Sơ tổ của Thiền Tông - Đại Ca Diếp đắc tâm ấn của Phật.

Tuy nói Thiền tông không lập văn tự, nhưng cá nhân tôi cảm thấy Đức Phật vẫn có giảng, đó chính là kinh Kim Cang.
Nhưng rốt cuộc kinh này khó hiểu, ngay cả Đức Phật cũng lo lắng “vì không thể giải thích điều tôi nói”, vì thế nói lôi thôi loằng ngoằng cả một đống vẫn khiến người ta rất khó hiểu. Điều này không thể trách Phật Đà, bởi vì Phật Đà biết chân tướng của thế giới liễu nghĩa này, người đời rất khó hiểu được, cho nên vốn nghĩ không lập văn tự, muốn Thiền tông tự đi tìm hiểu. Nhưng rồi vẫn không thể nén được lòng từ bi mà nói cho đệ tử biết, đó chính là kinh Kim Cang.

Đáng tiếc là giảng cả một đống vẫn là rất nhiều người mù mờ không hiểu gì cả, thế nhưng hiện nay, kinh Kim Cang thường xuyên được người đời lấy ra để làm công cụ tránh ma. Tôi nghĩ Phật Đà mà biết kinh điển về thực tướng liễu nghĩa nhất này lại thường bị lấy ra để tránh ma thì chắc là cũng chỉ có thể trợn mắt thất vọng.

Kinh Tâm chính là bản tinh giản của kinh Kim Cang, chỉ là quá tinh giản và trực chỉ, cho nên người không có ngộ cảnh nhất định thì giống như bắt vàng trong không khí vậy, chẳng thể túm được cây vàng nào.
Kinh Kim Cang đã khó hiểu, nhưng đi nghe một số pháp sư Phật giáo giải thích kinh Kim Cang thì sẽ càng xoắn não, lập tức ngủ gật.

Bây giờ tôi sẽ dựa vào những điều tôi biết, dùng phương thức lời nói suông tinh giản để giải thích ý nghĩa trọng yếu của kinh Kim Cang.
Trước khi giải thích, trước tiên hãy nghe tôi kể một câu chuyện:
”Vô số kiếp trước, có một đám người sống tại núi Khỉ, họ tự nhận mình là khỉ (sau đây gọi là khỉ giả), cho nên chỉ biết kêu khẹc khẹc mà không biết nói tiếng người. Họ khom người chạy nhảy, không biết đứng thẳng để đi lại. Họ trải qua đời này đến đời khác sinh con đẻ cái, dạy cho đời sau cách giao tiếp và hành vi của khỉ, xây dựng xã hội và chế độ của loài khỉ. Họ cướp giật đồ ăn, chiếm núi để sống như vua, căn bản họ không biết bản thân mình là người có thể nói tiếng người, có những bản năng của con người như có tâm từ bi, có thể thưởng thức âm nhạc, vẽ tranh nghệ thuật, v.v… 

Một ngày, có một người tỉnh táo đến núi Khỉ, nhìn thấy đám người này sao lại biến thành khỉ rồi. Còn có đủ mọi phiền não khi làm khỉ nữa. Người tỉnh táo này cảm thấy không đành lòng, thế là đã dạy dỗ đám khỉ giả này làm sao để trở thành con người thật sự, thoát khỏi đủ mọi phiền não của việc tự cho mình là khỉ. 

Về sau, đám khỉ giả này đã bái người tỉnh táo làm thầy, học cách nói chuyện ra sao, học cách đứng thẳng bước đi, học hát học vẽ, v.v… mục tiêu là trở thành con người chân chính.”
(Câu chuyện kết thúc.)

Tôi tin rằng câu chuyện kể trên rất dễ hiểu. Chúng ta lấy khỉ giả thay thế cho chúng sinh, con người tỉnh táo thay thế cho Phật.
Rồi, bây giờ chúng ta giải thích:
Vì sao “Thật không có chúng sinh nào được diệt độ”? Bởi vì khỉ giả vốn dĩ chính là người, căn bản không có việc người thay đổi người. Chỉ là họ không biết bản thân đang sắm vai diễn là con khỉ.
Vì sao “Như Lai chưa từng thuyết pháp”? Bởi vì khỉ giả vốn chính là con người, căn bản không có phương pháp người thay đổi người. Chỉ là bảo bạn loại bỏ ngã chấp thì có thể hiển hiện bản chất của con người vốn có.
Vì sao “Việc thuyết pháp, không có pháp nào có thể nói, thì gọi là thuyết pháp”? Bởi vì trong thế giới liễu nghĩa thật không có pháp. Nhưng để cho người chưa ngộ hiểu được, trong quá trình đánh thức người chưa tỉnh, chỉ có cách giả danh để thuyết pháp.

Chú ý: Trong kinh Kim Cang có rất nhiều cách nói tương tự như thế này, đều được giải thích theo cách này. Ví dụ: “Cái gọi là cõi Phật trang nghiêm, tức không phải trang nghiêm, thì gọi là trang nghiêm.”
Vì sao gọi là tên giả? Chính là vì “phàm mọi thứ có tướng đều là hư vọng”. 
Cái gọi là Phật tướng, chúng sinh tướng, ngã tướng, nhân tướng, thọ giả tướng, v.v… đều là tên giả. Đều là hư vọng.
Vì sao?
Bởi vì chân như chính là không bẩn không sạch, không tăng không giảm. Mọi sự phân biệt đều là tên giả, đều là hư vọng, chỉ vì tiện lợi cho nên mới dùng. 

Vâng, trên đây chính là những tinh yếu của kinh Kim Cang mà tôi nhận thức được. Không cần phải thông qua nhiều thuật ngữ chuyên môn để giải thích, như thế sẽ càng giải thích càng không hiểu. Nếu vẫn còn có người không hiểu thì thật sự vẫn còn phải bỏ một chút công phu để mà ngẫm nghĩ và hiểu.

Tôi nghĩ hiểu được ý chính của kinh Kim Cang rồi cũng sẽ có thể hiểu được điều Lư Sư Tôn nói: “Tâm, Phật, chúng sinh không khác biệt.”
Và sau khi hiểu được thực tướng rồi, trong sự thâm mật cũng sẽ hiểu điều Lư Sư Tôn nói: “Luân hồi và niết bàn là như nhau.”

Rồi Phật lại nói với Tu Bồ Đề: “Đúng vậy, đúng vậy. Nếu lại có người nghe được kinh này, không kinh, không hãi, không sợ, nên biết người này là rất hiếm có.”
Chính xác, thực tướng vì khó hiểu và kỳ lạ như vậy, rất khó khiến người ta không kinh sợ. Tại đây tôi kiến nghị dùng thái độ trung quán để điều hòa hai cực không - hữu, để chính mình ở trong trạng thái thoải mái ổn định. 

Hiểu được thực tướng rồi thì sao? Thế thì hãy nhậm vận, vui đùa mà phát bồ đề tâm để “nên vô sở trụ mà độ chúng sinh”, nhưng cần hiểu ở mức độ sâu là “thực không có chúng sinh có thể độ”. 

Như bài “Mộng Thơ” của Vương An Thạch: “Vẫn tưởng trong mơ tùy mộng cảnh, thành tựu công đức tựa hà sa.”
Nếu lấy ví dụ mà nói thì:
Phật nguyên thủy đại diện cho chân như, Tỳ Lô Giá Na Phật đại diện cho Phật tính, Ngũ Phật chính là công dụng của năm đức của Phật tính.
Quyến thuộc của Tỳ Lô Giá Na Phật (Đại Nhật Như Lai) có Kim Cang Ca Bồ Tát, Kim Cang Vũ Bồ Tát, Kim Cang Hy Hý Bồ Tát, Kim Cang Hoa Man Bồ Tát, bốn vị đại Bồ Tát này là do Đại Nhật Như Lai hóa hiện ra để cúng dường.
Vì sao là bốn vị đại Bồ Tát này?
Nếu hiểu được rồi thì bạn đã biết chân tướng của vũ trụ rồi.


### 39. Thư ngắn


Đây là thư ngắn do Nhi Nhi viết.

Lư Sư Tôn!
Em yêu thầy
Yêu thầy
Yêu thầy
Yêu thầy
Yêu thầy
Yêu thầy
Rất yêu rất yêu thầy
(Cảm ơn thầy đã báo mộng, ban cho pháp hiệu là Liên Ma và mọi quán đảnh, thỉnh cầu gia trì cho cục cưng Nhi Nhi.)
Nội khí minh điểm sáng,
Pháp giác thiền định quang.
Một chiếc CD là Nhi Nhi chẳng có cách nào dùng ngôn ngữ và nước mắt để biểu đạt tình yêu và tất cả mọi thứ của em đối với thầy.
Vòng tuần hoàn của tình yêu vô hạn.
I LOVE YOU FOREVER! [Yêu thầy mãi mãi]

🌟

Tôi nói với Nhi Nhi:
Ngày xưa khi Phật Đà ở dưới cây bồ đề khai ngộ thành Phật, vì sao lại muốn niết bàn?
Đáp án là: vô sinh. 
Sau đó do Đại Phạm Thiên, Đế Thích Thiên khuyên thỉnh trụ thế, ở lại Ta Bà là vì sao?
Đáp án là: tùy duyên. 
Phật Đà thuyết pháp độ chúng sinh là vì sao?
Đáp án là: phương tiện.
Cuộc đời của Phật Đà, dùng hai chữ để giải thích, là chữ gì?
Đáp án là: tự tại.

Đối với bức thư ngắn của Nhi Nhi, tôi có mấy câu muốn nói ra, tôi đọc xong bức thư ngắn, rất thích.
Bởi vì có yêu mới có sức mạnh thu hút và thay đổi.
1. Thu hút sự bố thí tình yêu.
2. Thu hút những lời yêu thương.
3. Thu hút phương tiện. (Thu hút những hành động lợi ích.)
4. Thu hút đồng nghiệp.

Tôi và Nhi Nhi ẩn mình, tôi chỉ cần tâm không tham chấp là có thể tùy duyên nói chuyện cùng em.
Tôi rất kính trọng Nhi Nhi, bởi vì tôi cũng có tình yêu, hơn nữa còn rất yêu rất yêu, tôi tu tâm không phân biệt.
Tôi đối với tất cả đều tùy duyên, bởi vì tôi biết, nếu không tùy duyên thì chẳng có cách nào độ hóa chúng sinh.
Tôi có thể gia trì cho em!
Tôi có thể quán đảnh cho em!
Em cúng dường tôi tất cả, tôi cũng cúng dường em như thế. Phật pháp của tôi là phương tiện, lớn, nhỏ, cong, duỗi, tự do tùy ý.
Tôi có thể đương đầu với tất cả, chỉ cần tâm thanh tịnh, tất cả việc làm đều thanh tịnh. Tôi có pháp môn thù thắng vi diệu có thể sống tại Ta Bà mà cũng thoát khỏi Ta Bà, tôi có thể cỏi bỏ được những trói buộc.
Pháp môn của tôi là:
Tùy thuận chúng sinh.
Tu vô tướng hành.
Chúng sinh đều là hữu lậu, duy có Lư Sư Tôn là vô lậu. Tôi có thể làm lợi ích cho em, cũng có thể làm lợi ích chúng sinh.
Nhi Nhi, tương lai tôi có thể giúp em:
Không phiền não.
Không bám chấp.
Không lo âu.
Không sạch bẩn.
Tôi cho em pháp hiệu Liên Ma, bởi vì tôi là Thubten Kỳ Ma [Qimo], em là hoa sen, tôi là hoa sen, em là Ma, tôi cũng là Ma, vốn là một, không phải hai.
Tương lai đến Phật quốc tịnh thổ rồi, đó là thế giới của tình yêu lớn, mỗi một Liên Hoa Đồng Tử đều là một.


### 40. Đạo xử thế của tôi


Đã viết nhiều tình yêu như vậy, thật ra tình yêu của tôi chỉ có một, chính là yêu chúng sinh.
Tôi dần dần loại bỏ ngã kiến, dần dần giác ngộ đệ nhất nghĩa không, sau đó là bình đẳng xả.
Nguyên tắc của tôi là:
Tùy duyên tự tại.
Tùy duyên biến hóa.
Yêu là huyễn biến.
Huyễn biến là không.
Khi lĩnh ngộ được Không thì cũng tức là không còn chướng ngại, tất cả đều giải quyết triệt để rồi.
Đương nhiên, trong pháp nhãn của tôi, yêu có muôn hình muôn vẻ, nhưng, trong huệ nhãn của tôi thì là bình đẳng nhất vị.
Tôi đem tình yêu của mình:
Bố thí.
Thu hút.
Bình đẳng.
Tự nhiên.
Không tham, không lìa, không bỏ, không nhiễm, không ép,… Tất cả tùy thuận chúng sinh, tôi không kiểm soát không can thiệp, hành vi và thái độ thanh tịnh.
Cách làm của tôi tách khỏi hận, tách khỏi thù, tách khỏi khổ, tách khỏi ham muốn, tách khỏi phiền não, tách khỏi phẫn nộ, đó là diệu hành.
Tình yêu này là lý tính, là linh tính, là siêu thoát. Nhìn thì giống thế tục, trên thực tế có phần khác biệt.
Ví dụ:
Nam nữ hòa nhập vào nhau.
(Sự thật là thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh.)
Là thiền định.
Khí thông khí.
Mạch nối mạch.
Điểm hòa tan điểm.
Bên ngoài nhìn là giao hợp, sự thật là luật hành thanh tịnh, 
điều này khiến người đời nghĩ không thông.
(Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chính là người hành trì như vậy.)

Chúng ta coi tình yêu như chuyển hóa, bất kì việc gì đều là Phật pháp, bất kì việc gì đều là tu hành, tuy tùy thuận tình yêu, nhưng lại là tu phạm hạnh.
Tôi mặc long bào.
Đeo đồng hồ hiệu.
Nhẫn kim cương.
Vòng tay.
Nhưng, trong tâm tôi biết, những thất trân bát bảo này chỉ là cho bạn mượn để ngây ra nhìn trong mấy chục năm, chẳng phải là vĩnh cửu. Vì thế, tâm không tham chấp, tùy duyên đến đi, vẫn là lấy công đức để làm trang nghiêm cho thân mình.
Mặc dù tôi không kiêng ăn uống:
Sơn hào cũng ăn.
Hải vị cũng ăn.
Dùng thức ăn để duy trì thân mạng, nhưng, thức ăn tốt nhất là không khí và niềm vui từ thiền.
Vì độ hóa chúng sinh, bất kì nơi nào tôi cũng đều có thể đi, nơi có tiền, sắc, danh cũng có thể đi, cố nhiên là ẩn mình, nhưng tứ nhiếp pháp cũng có thể độ hóa người ta.

Tôi (Lư Sư Tôn) và Bổn tôn hợp nhất, vì thế có thể hiển hóa sức mạnh thần thông, ứng dụng một cách hoàn hảo, khiến mọi người cảm thấy bất khả tư nghì, khiến mọi người vui thích Phật pháp.
Vì thế: có thể độ năm triệu đệ tử!
Đại y vương.
Đại thí chủ.
Đại pháp vương.
Tôi có thể đắc “một”, vì thế vạn sự thành.
Tại thế giới Ta Bà huyễn hóa này, tôi thuận theo cách thế gian, không có nơi chốn, dẫn dắt đại chúng tiến vào Phật quốc, lành thay!


### 41. Nỗi lòng của Bảo Bảo


Bảo Bảo gửi thư cho tôi, như sau:
*Nhất tâm kính lễ Căn bản Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật kính yêu nhất. Phật an!
Đệ tử ở Đài Loan lại nhìn thấy Sư Tôn, thật sự rất vui mừng và cảm ơn.
Vốn dĩ tuần này không mua vé máy bay để đến tham gia pháp hội. (Nhưng vì nhiều nhân duyên mà không ngờ đã lại đến rồi.)
Một mình đệ tử đến, rất vui mừng rất sung sướng!
Em rất cảm ơn Sư Tôn!
1. Cảm ơn Sư Tôn khi nhận được lá thư đầu tiên của đệ tử thì đã gọi điện thoại cho đệ tử. Sư Tôn mỗi ngày đều vất vả mà vẫn còn đọc thư của em, muốn gọi điện thoại cho em, cảm thấy một cảm giác may mắn, rất cảm ơn.
Bởi vì Sư Tôn là của chúng sinh, không phải của một mình em, em không thể quá ích kỷ chiếm dụng thời gian độ chúng sinh của Sư Tôn, cảm giác rất hổ thẹn!
(Đây là mâu thuẫn trong lòng, vừa muốn Sư Tôn quan tâm đến em, trong lòng lại vừa thấy không yên.)
2. Sư Tôn! Có một lần trong lúc khai thị Sư Tôn nói, Sư Tôn là tùy thuận chúng sinh, bởi vì Sư Tôn muốn viên mãn nguyện vọng của chúng sinh.
Ngày hôm đó, Sư Tôn đã cầu nguyện Quan Thế Âm Bồ Tát: “Nguyện chúng sinh đều có thể mãn nguyện.”
Sư Tôn! Thầy có biết không? Đệ tử tu pháp hồi hướng và cũng thỉnh cầu như thế. Ngày hôm đó xem truyền phát trực tiếp trên mạng, nghe thấy lời cầu nguyện của Sư Tôn, em thật sự không kìm được đã khóc òa lên.
Lời cầu nguyện của Sư Tôn, lời cầu nguyện của em, giống nhau. Em nhớ Sư Tôn quá rồi, nhớ Sư Tôn quá rồi, em thường nghĩ Sư Tôn có phải là cũng đang nhớ em không? Học theo thuyết pháp của Sư Tôn, phàm chuyện gì cũng nghĩ theo hướng vui vẻ, sẽ làm một đệ tử mà Sư Tôn mãi mãi nhớ đến, bởi vì đệ tử rất nhớ thầy.
3. Sư Tôn! Đệ tử đôi khi ngửi thấy mùi của Sư Tôn, thông thường là sau khi tu pháp, trên đầu ngón tay sẽ ngửi thấy, đây có phải là đã quá nhớ Sư Tôn nên sinh ra huyễn giác không? Hay là Sư Tôn thật sự đang gia trì cho em, cầu xin thầy luôn luôn ở trong hư không gia trì cho em.
4. Sư Tôn! Cảm ơn thầy! Đệ tử nguyện đem tình yêu dành cho Sư Tôn cũng hóa thành tình yêu lớn, lợi ích chúng sinh hữu duyên.
Pháp mà Sư Tôn dạy, đệ tử sẽ nỗ lực tu tập.
Liên Hoa Bảo Bảo yêu Sư Tôn kính thư.*

🌟

Theo như tôi biết:
Đời quá khứ của Bảo Bảo là phi tử của tôi.
Tôi từng đến một hồ sen để ngắm hoa sen.
Trong hồ sen, một chiếc thuyền nhỏ xuất hiện giữa đám lá sen, trên thuyền có hai cô gái, một chủ một tớ.
Cô gái là chủ nhân đó chính là Bảo Bảo, hồ sen có mùi thơm hoa sen, cũng có mùi thơm của Bảo Bảo.
Đặc biệt là cô gái giống như tiên nữ, duyên dáng đứng trên thuyền nhỏ, đôi mắt thông minh nhìn tôi, tôi giống như bị điện giật.
Sau đó tôi cưới Bảo Bảo làm vợ.
Có một bài thơ để kỷ niệm:
*Hồ sen lững lờ dòng nước chảy
Có nàng thiếu nữ tên Thanh Du
Trâm vàng cài tóc sáng lấp lánh
Dưới chân ngót sen đẹp thon thon.*
Về sau tôi xưng đế, cô ấy là phi tử của tôi.
(Đây là đời quá khứ.)

Còn trong đời này,
Bảo Bảo giống như cô gái Giang Nam, là một “tiểu gia Bích Ngọc” [điển cố, chỉ cô gái xinh đẹp xuất thân từ gia đình bình thường], khuôn mặt thanh tú, mặc quần áo kiểu gì nhìn cũng đều rất xinh đẹp.
Mái tóc cô ấy không dài không ngắn, vừa hoàn hảo, mùi tóc thơm tỏa ra xung quanh. 
Nhất là đôi mắt thông minh, rất có hồn.
Còn có tấm lòng lương thiện, khiến người ta cảm động!
Khi tôi nhìn thấy cô ấy, trong lòng chấn động, cô gái này chính là ái phi trong đời quá khứ của tôi. Cô ấy đi vào trong tim tôi, có đuổi cũng không đi nữa rồi, những đường cong rõ ràng và hình thể duyên dáng của cô ấy hiện lên trong tâm trí tôi.
Tiếng cười cô ấy giòn tan.
Giọng nói cô ấy sang sảng.
Mối tình nhiều kiếp, khiến tôi bối rối.
Thường xuyên khi tôi đang nghĩ về cô ấy, đang nhớ về cô ấy, đột nhiên cô ấy xuất hiện ở Seattle.
Tôi hỏi:
”Sao em lại đến rồi?”
Cô ấy đáp:
”Nhớ Sư Tôn nên đến!”
Tôi hỏi:
”Có việc gì sao?”
Cô ấy đáp:
”Không có việc gì!”
Tôi hỏi:
”Chúng ta cách xa nhau như vậy cơ mà?”
Cô ấy đáp:
”Phật nói, chỉ một ý nghĩ, không phải sao?”

Khi tôi đi đến phòng vẽ tranh định vẽ tranh, cô ấy liền quỳ ở trước cửa phòng vẽ.
Tôi gia trì đầu cô ấy, cô ấy ngẩng đầu lên nhìn tôi, tôi có phần không nỡ bỏ đi. Nhưng, tôi sải bước lớn, đi vào trong cửa chính của Tông Ủy Hội, đi vào phòng vẽ của tôi, sau đó nhìn ra bên ngoài, ngoài cửa trống không. (Tông Ủy Hội không cho người ngoài đi vào.)
Để nhìn thêm chút nữa, cô ấy cứ đi tới đi lui!
Tôi muốn nói với Bảo Bảo:
Giờ này phút này
Em đã có một cơ hội rất tốt rồi!
Tôi là người tỉnh ngộ,
Tôi cũng muốn Bảo Bảo của tôi tỉnh ngộ,
Em phải thường xuyên nhìn vào tâm mình,
Nhìn thấy không có tâm nào có thể thấy,
Chính ở trong cái tâm không thể thấy này,
Cuối cùng tỉnh ngộ,
Thì ra em và tôi, đều là Liên Hoa Đồng Tử.


### 42. Lời từ biệt nhẹ nhàng


Trước tiên tôi đưa ra một lá thư từ biệt.
*Lư Sư Tôn thân yêu!
Thời gian trôi qua nhanh quá, những ngày tháng vui vẻ này trong nháy mắt đã qua đi, ngày 8 tháng 2, thầy sẽ trở về Seattle rồi.
Cảm ơn những ngày có thầy, cảm ơn sự yêu mến của thầy, trong lòng rất ngọt ngào, vị ngọt miên man, mỗi ngày đều cảm thấy rất nhẹ nhõm.
Bây giờ là đầu tháng 2, thầy lại sắp bay trở về nơi đẹp đẽ.
Nơi đó có hồ Sammamish.
Có hồ Washington.
Có núi Rainier.
Có núi Cầu Vồng.
Có núi có sông, một nơi có rất nhiều thông tùng, em cũng rất thích những cây cao thẳng đứng. 
Còn có bầu trời treo đầy cầu vồng sau mỗi cơn mưa nhỏ.
Tiếng quạ kêu.
Những con thỏ chạy băng băng trên bãi cỏ.
Em thích nơi có thầy, cũng hy vọng thầy ở nơi nào thì em ở nơi đó.
Tận hưởng thời gian ở cùng nhau.
Thầy sẽ nhớ em chứ?
Em chắc chắn sẽ nhớ thầy.
Thầy từng dạy chúng em, có hợp sẽ có tan, duyên hợp duyên tan, đây chính là vô thường, cũng là chuyện bình thường.
Xuân hạ thu đông, hoa nở hoa tàn, luôn luôn tuần hoàn như vậy. Thế giới tình cảm của thầy và em cũng phong phú như thế, cũng vắng lặng như thế, có khi vui vẻ, có khi u buồn…
Tất cả những điều này, em hiểu, đều vô thường như cơn gió.
Em chỉ muốn chúc phúc thầy:
Bình an!
Hạnh phúc!
Khỏe mạnh!
Tạm biệt một cách nhẹ nhàng như vậy thôi!
Em muốn nói:
Thầy ở trong lòng em, quan trọng số một. Từng phút từng giây em đều nhớ đến thầy, thầy có biết không?
Mọi người chúng em đều yêu thầy, trong mọi người còn có em, rất đậm sâu, khi em nhớ thầy sẽ cảm thấy hơi thở của thầy.
Thế này thôi, nhẹ nhàng tạm biệt!
Những ngày có thầy thật tốt.
Tâm tâm tương ấn.
Hạnh phúc đầy tràn.
Em yêu thầy!
An An yêu thầy kính thư.*

🌟

Thơ viết cho An An:
*Đã gần giữa mùa đông
Mặt đất phủ đầy tuyết
Trong kiểu thời tiết này
Chỉ ngóng ánh mặt trời
Em có đến hay không
Xa xăm những ngọn núi
Vòng vòng những con sông
Đều hoan nghênh chờ đón
Tuy thông đã úa vàng
Tôi cũng thích tiếng quạ
Âm thanh kêu ca ca
Như khẽ khàng cáo biệt
Có vô hạn nỗi nhớ
Đôi mắt
Có chút mênh mang.*


### 43. Tình cảm của Dalai Lama thứ 6


Tôi (Lư Sư Tôn) từng đọc tiểu sử của Dalai Lama thứ 6, sau khi đọc xong:
Có thích thú.
Có mỉm cười.
Có thở dài.
Có cảm thương.
Có thể xem như là nhiều cảm xúc đan xen.

Tôi kể ra những tâm sự của ngài ấy như sau:

1. 
Ai, cầm tay tôi, khiến tôi nửa đời điên dại; 
Ai, hôn mắt tôi, ngăn tôi nửa đời trôi giạt.
Ai, xoa mặt tôi, an ủi tôi nửa đời bi thương; 
Ai, mang theo trái tim tôi, làm tan băng giá nửa đời tôi.
Ai, nâng vai tôi, xua tan một đời tôi vắng lặng; 
Ai, gọi trái tim tôi, che cho tôi một đời áp lực.
Ai, bỏ tôi mà đi, để lại cho tôi một đời mang nỗi đau cô độc; 
Ai, hiểu được tâm ý tôi, khiến tôi đời này không tiếc nuối.
Ai, có thể làm cánh tay trợ giúp tôi, tung hoành ngang dọc vô song; 
Ai, có thể làm trái tim tôi suy sụp, mặt đất tựa như trống rỗng.
Ai, có thể chôn vùi nỗi đau của tôi, vô cớ cười trời đất, tâm tôi điên. 
Nàng, phủ lên môi tôi, gạt bỏ những lênh đênh đời trước của tôi.
Nàng, nép chặt vào ngực tôi, gạt bỏ những tùy tiện đời trước của tôi.
Cầm tay nàng, cùng nàng cuồng nhiệt nghìn đời; 
Hôn mắt nàng, cùng nàng vạn kiếp luân hồi.
Cầm tay nàng, cùng nàng một đời sương gió; 
Hôn mắt nàng, tặng nàng một mối thâm tình.
Ta, dắt bàn tay ngọc, nhận lấy những gì nàng có đời này; 
Ta, vuốt trên cổ xinh, che cho nàng mưa gió đời này.
Ta, vén mái tóc nàng, vén tâm tư cả đời của nàng; 
Ta, cầm tay nàng, cùng nhau yêu suốt một đời.
Từng, nhân danh cha, tránh cho nàng một đời buồn đau; 
Từng, yêu nàng xót xa, chúc nàng một đời bình an!

2. 
Vào kiếp ấy
Khoảng khắc ấy, ta cưỡi lên phong mã, không phải vì cầu phúc, chỉ vì chờ đợi nàng đến
Ngày ấy, ta nhắm mắt trong màn sương mỏng thơm nơi cung điện, chợt nghe thấy chân ngôn trong tiếng tụng kinh của nàng
Ngày ấy, xếp đống ngọc mani, không phải để tu hành đức hạnh, chỉ là vì ném những hòn đá vào trong hồ nước tâm hồn
Đêm ấy, ta đã nghe tiếng Phạn hát cả đêm, không phải vì tham ngộ, chỉ vì muốn tìm một chút hơi thở của nàng
Tháng ấy, ta đã rung tất cả cuộn kinh, không phải để siêu độ, chỉ là để chạm vào đầu ngón tay nàng
Năm ấy, nằm dài rập đầu trên đường núi, không phải để yết kiến, chỉ vì muốn kề sát làn hơi ấm của nàng
Kiếp ấy, rời núi rời sông rời tháp Phật, không phải để tu cho kiếp sau, chỉ vì trên đường sẽ được nhìn thấy nàng
Khoảnh khắc ấy, ta bay lên thành tiên, không phải vì trường sinh, chỉ vì bảo vệ cho nàng bình an hỷ lạc.

3. 
Một là tốt nhất không gặp, như thế sẽ chẳng yêu nhau. 
Hai là tốt nhất không quen, như thế sẽ chẳng thương nhớ. 
Ba là sẽ không làm bạn, như thế sẽ chẳng nợ nhau. 
Bốn là đừng lưu luyến nhau, như thế sẽ chẳng nhung nhớ. 
Năm là tốt nhất không yêu, như thế sẽ không rời bỏ. 
Sáu là không đối lập nhau, như thế sẽ chẳng gặp gỡ. 
Bảy là đừng có lầm lỡ, như thế sẽ không phụ nhau. 
Tám là không thề ước hẹn, sẽ không tiếp tục kéo dài. 
Chín là sẽ không gắn bó, sẽ chẳng nương dựa vào nhau. 
Mười là đừng có tương ngộ, như thế sẽ chẳng tương phùng.
Gặp rồi thì sẽ biết nhau, gặp rồi làm sao không gặp. 
Quyết tâm đoạn tuyệt với chàng, tránh khỏi sinh tử tương tư.

4. 
Gặp và không gặp
Nàng gặp, hoặc không gặp ta, ta vẫn ở đây, không buồn không vui.
Nàng nhớ, hoặc không nhớ ta, tình vẫn ở đây, không đến không đi.
Nàng yêu, hoặc không yêu ta, yêu vẫn ở đây, không tăng không giảm.
Nàng theo, hoặc không theo ta, tay ta vẫn đây, ở trong tay nàng.
Không rời không bỏ, hãy đến trong vòng tay ta, hoặc là, để cho ta đi vào trong tim nàng, lặng lẽ yêu nhau, tịch tĩnh, hoan hỷ.

5. 
Sống trong cung điện Potala, ta là vị vua lớn nhất của vùng núi tuyết. 
Lang thang trên đường phố Lhasa, ta là người yêu tuyệt vời nhất.
Cùng Mã Cơ A Mễ càng thêm sinh động, tự sợ đa tình tổn hại phạm hạnh, vào núi lại sợ để lỡ khuynh thành [ý chỉ người con gái đẹp nghiêng nước nghiêng thành]. 
Thế gian có được cách song toàn, không phụ Như Lai chẳng phụ nàng.

🌟

Tôi viết một bài thơ.
Tiêu đề: Viết cho Dalai Lama thứ 6

*Người ta nói ngài biến mất ở hồ Thanh Hải
Cuối cùng
Ngài không còn sợ khổ của cõi Ta Bà
Ngài lên trời
Ngài xuống đất
Ngài vào hồ
Đương nhiên mặc kệ là sống hay là chết*

*Cơn gió kia ra sức vang vọng
Thổi đám cỏ lau bên hồ
Vua Tây Tạng gì chứ
Người yêu lang thang gì chứ
Đều quy về không*

*Tôi đã đọc hết tiểu sử của ngài
Con đường chữ tình này
Tôi ngộ ra một điều
Càng ngày càng hồ đồ.*


### 44. Hoa trong gương trăng trong nước


Tôi nói với chính mình:
Viết nhiều tình cảm như vậy, viết nhiều yêu thương như vậy, cuối cùng kết cục thế nào?
Tôi đáp: “Hoa trong gương trăng trong nước.”
Bài kệ của kinh Kim Cang:
”*Tất cả pháp hữu vi
Như mộng huyễn bào ảnh
Như sương cũng như điện
Nên quán thấy như vậy.”*
Tất cả tình yêu của tôi đều biểu diễn trong sự vô sinh nhất thời, khi bạn cho rằng là có, giống như pháo hoa.
Nhưng, pháo hoa lóe lên,
Là biến thành hư không.
Đây cũng là một dạng pháp môn, bạn có thể lĩnh ngộ được pháp tối thắng, tất cả đều là tịch diệt.
Có một ngày, thể xác và tinh thần tách rời nhau, đây chính là một trò chơi, trò chơi hết rồi thì sẽ tỉnh dậy.
Nhục thân của chúng ta là ngũ uẩn, nhục thân có sự ưa thích về tiền, sắc, danh, ăn, ngủ. 
Bạn không cảm thấy tiền, sắc, danh, ăn, ngủ đều là không sao?
Tình yêu của tôi!
Tình yêu của bạn!
Tình yêu của người ta!
Cái sự hợp và tan ấy, bữa tiệc tình yêu ấy, toàn bộ đều là huyễn hóa nhất thời. Nhất thời hợp, nhất thời tan, nhất thời nhớ, nhất thời nghĩ, cuối cùng là hoa trong gương trăng trong nước.
Nếu có thể ngộ ra điều này, tức là chứng ngộ.
Có người nói:
”Đạo lý thì tôi hiểu, chỉ là làm không được!”
Ha ha!
Bạn làm được cũng thế, bạn không làm được cũng thế. Làm không được thì hãy ở trong lục đạo mà luân hồi thêm nhiều lần nữa đi!


### 45. Con đường tự mình tu luyện của lễ nghi sư


Căn bản Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật tôn quý!
Báo cáo với Thánh Tôn, từ năm 2016, sau khi mở công ty tang lễ Hân Huy do Thánh Tôn ban tên, tôi đã giúp đỡ nghi thức tang lễ cho các Thượng sư, pháp sư, đệ tử già của Chân Phật Tông vãng sinh, danh sách như sau:
Tiêu Uyển Anh (Indonesia), pháp sư Liên Gia (Đài Trung), pháp sư Liên Trung (Đài Trung), pháp sư Liên Nhân (Thảo Đồn), pháp sư Liên Tồn (Nam Đầu), Dương Phong Niên (Đài Trung), Thượng sư Liên Hựu (Đài Nam), Đồng Thắng Ngạn (Đài Trung), Thượng sư Liên Hải (Đài Trung). 
Ngoài ra còn có mấy trăm trường hợp đồng môn đệ tử Chân Phật Tông và người nhà của họ vãng sinh và hoàn cảnh nghèo khó được giúp đỡ, rất nhiều nên không ghi lại.

Vũ Tự Tại có thể bước vào nghề quàn linh cữu và mai táng là vì sau khi đảm đương chức thư ký trưởng của tông phái mười mấy năm đã nhận ra rất nhiều sư huynh, sư tỉ của chúng ta tu hành cả đời nhưng sau khi vãng sinh lại không có cách nào để hoàn toàn dựa theo nghi thức mà Sư Tôn của chúng ta đã dạy để mà chấp hành hoàn chỉnh pháp vãng sinh: lâm chung trợ niệm trung ấm nghe dạy cứu độ pháp. Tìm hiểu nguyên nhân của việc này thì luôn luôn là do các công ty tang lễ truyền thống không quen thuộc với sự sắp xếp hoàn cảnh và thời gian cần thiết để trợ niệm của Chân Phật Tông. Không có người chuyên nghiệp ở bên cạnh để giúp đỡ, vì thế đã bỏ lỡ mất thời khắc hoàng kim cực kì quan trọng, khiến cho người nhà tiếc nuối. Công ty tang lễ bình thường căn bản là không có cách nào hiểu rõ trình tự giáo pháp và trang bị hoàn cảnh cần thiết cho đệ tử Chân Phật khi vãng sinh. 

Tôi cảm thấy thật sự cần phải bổ sung mảnh ghép này cho đủ. Thế là tôi kiên quyết từ chức thư ký trưởng. Đầu tiên tôi đi làm cho công ty tang lễ ở Đài Bắc, học đủ loại trình tự công việc liên quan đến quàn linh cữu và mai táng. Đồng thời cũng phối hợp với chính phủ quản lý nghề quàn linh cữu và mai táng, thi lấy chứng chỉ lễ nghi sư để bản thân chuyên nghiệp hơn. Mặc dù doanh nghiệp kinh doanh của Vũ Tự Tại đặt địa chỉ tại Nam Đầu, nhưng trên thực tế ở Đài Bắc, Đài Trung, Đài Nam, Cao Hùng đều có trụ sở do các nhóm đồng nghiệp phụ trách. 

Những người biết rõ Liên Sinh Hoạt Phật thời kỳ đầu đều biết, Sư Tôn khi còn trẻ đã đề cập đến nghi lễ quàn linh cữu và mai táng truyền thống, từ trong những cuốn sách thời kỳ đầu đều có thể đọc thấy. Sư Tôn thường xuyên giúp đệ tử tín đồ xem phong thủy địa lý, và đủ các công đoạn quan trọng có liên quan đến đào mộ, nhập huyệt mai táng, v.v… Bắt đầu từ khi Sư Tôn học pháp cho đến khi thành lập tông phái, viết sách khai thị truyền pháp, đã trải qua sự kết hợp giữa ba tôn giáo Đạo - Hiển - Mật. Sau khi Sư Tôn sáng lập tông phái đã lấy giáo nghĩa Phật giáo về giải thoát phiền não, minh tâm kiến tính, thoát ly sinh tử luân hồi làm chính, vẫn không tách rời vấn đề sinh tử.

Sau khi đi sâu tiến hành rất nhiều trường hợp vãng sinh, tôi nhận ra bất luận là gia đình tín ngưỡng Đạo giáo, Mật giáo hay Hiển giáo, Chân Phật Mật Pháp đều có thể ngay lập tức và rất phù hợp đưa ra những sự trợ giúp cho gia đình, không hề có vấn đề xung đột với văn hóa vãng sinh truyền thống của người Hoa. Tôi có thể khẳng định một cách rất chắc chắn rằng: Chân Phật Mật Pháp và giáo nghĩa mà Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật đã truyền thụ vô cùng thích hợp dung nhập vào nghi lễ quàn linh cữu và mai táng của người Hoa. Thân là một đệ tử Chân Phật Tông quy y Liên Sinh Hoạt Phật từ khi còn trẻ cho đến nay đã 37 năm, và dấn thân vào làm người thực hiện nghi lễ quàn linh cữu và mai táng đã 7 năm, lại thêm tham khảo những tôn giáo khác xem họ sử dụng các nơi tổ chức tang lễ ra sao để phát huy giáo nghĩa của chính họ, tôi cho rằng: Về phương diện nghi lễ quàn linh cữu và mai táng của người Hoa, Chân Phật Mật Pháp vẫn còn rất nhiều không gian để phát huy!”

Chỉ riêng ở các khâu tiễn biệt, nhập liệm, an linh, niêm phong quan tài… là nơi mà giáo nghĩa Chân Phật sẽ có rất nhiều chỗ có thể phát huy. Ngoài ra còn có các chủ đề như trợ niệm, làm Thất Phật sự, đàn công đức siêu độ, tiến tháp, bố trí hội trường, cúng phẩm tiền giấy, chọn ngày, hộ thân chặn sát,… Chân Phật Mật Pháp đều có thể dung nhập.

Thông qua việc tổ chức tang lễ và cúng tế cũng là một cách hay để thu hút tất cả chúng sinh. Trên thực tế, nhờ sự tham gia của cá nhân tôi vào ngành tang lễ, nhiều thành viên trong gia đình đã biết đến Chân Phật Mật Pháp. 

Tang lễ Hân Huy hy vọng các nhóm đồng nghiệp khi nhận làm các trường hợp thì ai nấy đều có thể tự mình yêu cầu, lo liệu, lấy chính tri chính kiến mà Thánh Tôn đã dạy để làm nguyên tắc chuẩn, để Chân Phật Mật Pháp có thể đi sâu vào lòng người, có thể động viên nỗi đau của các gia đình, và cung cấp dịch vụ tang lễ tốt hơn.

Đệ tử Chân Phật Hoàng Chính Vụ (Vũ Tự Tại) đảnh lễ.
18.01.2023. 
Lý lịch của Vũ Tự Tại:
Năm 2004 - 2016: tại quê hương Đài Loan, đảm nhiệm chức thư ký trưởng của viện Phật học và Mật tông Chân Phật Tông.
Năm 2014 lấy bằng Thạc sĩ triết học (2 năm tu xong học phần, luận văn viết 2 năm mới thông qua).
Năm 2016 tại Nam Đầu khởi nghiệp mở dịch vụ tang lễ Hân Huy.
Năm 2017 thi được bằng kỹ thuật phục vụ tang lễ hạng B.
Năm 2018 lấy được chức danh Trung Hoa Dân Quốc lễ nghi sư.


### 46. Quan kiến về Vạn Phật Thủ Vô Cực Nhãn


Chào Lư Sư Tôn!
Ngày hôm qua tại Hoàng Đế Lôi Tạng Tự, sau khi Sư Phật đề chữ lên hình vẽ Vạn Phật Thủ Vô Cực Nhãn Kim Mẫu, đệ tử nhìn thấy Kim Mẫu đang mỉm cười, đôi mắt của ngài và con mắt trên mỗi cánh tay đều tỏa ra ánh sáng lấp lánh, toàn thân ngài cũng tỏa ra hào quang màu vàng kim, trẻ trung xinh đẹp, trang nghiêm vô cùng, nhất là đôi mắt của ngài vừa đen vừa sáng vừa sâu, đẹp một cách không thể tưởng tượng được. Cảm giác mà ngài tỏa ra là một nguồn năng lượng vô cùng từ bi.

Trong pháp hội, khi Sư Phật diễn hóa thủ ấn, đệ tử nhìn thấy Vạn Phật Thủ Vô Cực Nhãn Kim Mẫu hiện lên trước mặt, đệ tử ở trong lòng hướng đến Kim Mẫu cầu nguyện, thỉnh cầu ban cho đệ tử trí huệ và năng lực, để đệ tử có thể chăm sóc tốt cho Sư Tôn Sư Mẫu. Trong sát-na, dường như Kim Mẫu đi vào trong người đệ tử, mặt đệ tử biến thành mặt của Kim Mẫu, mắt của đệ tử cũng trở nên hoàn toàn giống với mắt của Kim Mẫu. Sau đó, đột nhiên cảm thấy hai lòng bàn tay đau nhức, xòe bàn tay ra nhìn thì thấy hai lòng bàn tay đều mọc ra một con mắt to, từ từ lại đầy những con mắt nhỏ, sau đó cánh tay, trên đầu, trên mặt, thân thể cho đến lòng bàn chân, toàn thân đều đầy những con mắt to to nhỏ nhỏ. Trong đó, con mắt ở hai lòng bàn tay và hai lòng bàn chân to hơn, con mắt ở tay to gần bằng lòng bàn tay (và nằm ngang), con mắt ở chân thì to như lòng bàn chân (và nằm dọc), ở chính giữa hai con mắt trên mặt có một con mắt to nằm ngang, rộng khoảng đến hai bên đuôi mắt. Con mắt mọc ra ở trước ngực là to nhất, trong con mắt to ở trước ngực dường như có vô lượng hư không và vũ trụ, trong con mắt to lại có vô số con mắt nhỏ, trong mỗi con mắt đều có một vũ trụ.

Tiếp sau đó, đệ tử biến thành Kim Mẫu, tư thế đứng, từ đỉnh đầu mọc ra vô số cánh tay cho đến tận chân, toàn thân tỏa ra ánh hào quang màu vàng kim, đứng trong hư  không. (Nhưng tướng hiện ra hơi khác so với hình vẽ, trong hình vẽ, con mắt chỉ mọc ra trong lòng bàn tay, nhưng đệ tử thì toàn thân đầy những con mắt to nhỏ, trong hình vẽ, tay chỉ đến vùng eo, nhưng tay mà đệ tử hiện ra thì đến tận chân, lòng bàn tay cũng có con mắt.)

Kim Mẫu nói với đệ tử: “Lư Sư Tôn sẽ đưa cô trở về Phật quốc tịnh thổ, cô hãy giúp ngài ấy hoàn thành sự nghiệp độ chúng sinh.” “Cô hãy đối tốt với Lư Sư Mẫu.” Kim Mẫu nói với đệ tử rất nhiều điều, có liên quan đến Sư Tôn, cũng có liên quan đến Sư Mẫu, còn có liên quan đến bản thân và việc của một thế giới khác.

Cho đến bây giờ, cảm giác toàn thân đầy con mắt và hợp nhất với Kim Mẫu vẫn còn rất rõ rệt, hôm qua chỉ cảm thấy con mắt trước ngực có vũ trụ, nhưng đến hôm nay, đệ tử cảm thấy toàn thân trong mỗi con mắt đều có vũ trụ.

Tối qua, đệ tử phát hiện ra đệ tử nhìn thấy thế giới vô hình trở nên rõ ràng hơn, pháp lực tăng lên, hôm nay, đệ tử phát hiện ra xúc giác và cảm giác ở tay trở nên mạnh hơn, chỉ cần đệ tử nghĩ đến, đệ tử dường như còn có thể nhìn thấy và cảm nhận được cơ thịt và cơ quan bên dưới da, còn có thể tự điều chỉnh được mức độ nông sâu mà mình muốn nhìn. (Không thể mô tả, cảm giác rất kỳ lạ.) Nếu muốn nhìn thấy điều gì cũng có thể tự mình hiện ra hình ảnh, giống như có thể nhìn xuyên qua tường thấy được nơi chốn và thế giới mình muốn nhìn thấy. Không biết có phải là huyễn giác không? Nhưng nếu đệ tử nghĩ thì sẽ có hình ảnh xuất hiện, không biết là thật hay là huyễn? Cảm giác rất khác trước đây, bây giờ hình ảnh hiện ra đều trở nên rõ rệt hơn lúc trước rất nhiều. 

Đệ tử Tinh Tinh kính thư.
09.01.2023.


### 47. Sự giác ngộ của Liên Hoa Hán Tông


Sư Phật Phật an!
Vào tháng 9, đệ tử có viết mấy bài về “Cuộc gặp gỡ trong ký ức”, chọn ra mấy bài để cúng dường Căn bản Thượng sư để cảm ơn những giáo hóa của Sư Phật, nhờ đó mà thoát ly hồng trần tịnh hóa tâm linh, dần dần những phiền nhiễu không sinh ra nữa.
Đệ tử từ hội đồng tu Thiên Tràng
Liên Hoa Hán Tông đảnh lễ.

Cuộc gặp gỡ trong ký ức (1) - Cung điện ở trên trời.
Còn nhớ lần đầu tiên Sư Tôn ở tại Đài Loan Lôi Tạng Tự truyền thụ và ban quán đảnh pháp Diêu Trì Kim Mẫu lập tức có tiền, tôi đi theo bước chân của đám người tiến lên trước, từ từ di chuyển về phía tràng phan quán đảnh.
Dựa theo khẩu quyết mà Sư Tôn truyền mà tôi lần lượt quán tưởng, từ chữ Hum màu trắng phóng quang, xoay tròn hóa thành Bổn tôn Diêu Trì Kim Mẫu, sau đó quán tưởng chữ Ah phóng quang, xoay tròn.
Lúc này trong hư không xuất hiện một cung điện, trong cung điện có một vị tay trái cầm hoa sen, tay phải kết ấn thuyết pháp đang ngồi, chắc chắn là Liên Hoa Đồng Tử không sai.
Khi nhìn vào khuôn mặt của Liên Hoa Đồng Tử ở trong cung điện, trong lòng tôi vô cùng kinh hoảng, đó chẳng phải là chính tôi sao?
Lần này tôi đã hiểu rồi, tài phúc tư lương của hành giả không ở nhân gian. 
Lành thay!

Cuộc gặp gỡ trong ký ức (2) - Căn bản truyền thừa Thượng sư.
Gần đây, vào buổi chiều của một ngày chủ nhật nọ, tôi đọc chương cuối cùng - chương “Liên Hoa Thủy Tinh Quật Bảo Tạng” trong cuốn “Tùng Lĩnh Bảo Tạng” - terma của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Đọc xong, tôi buồn ngủ nên đã ngủ thiếp đi. Trong mơ, tôi phục vụ bên cạnh Sư Tôn, muốn giúp Sư Tôn bóp vai để làm tan sự mệt mỏi. Bỗng nhiên Sư Tôn đứng sau tôi, dùng tay xoa vào bên dưới gáy của tôi, đồng thời trút vào lực gia trì của truyền thừa, đi theo trung mạch qua Tâm luân, cung sinh pháp rồi đi xuống dưới. 

Cường độ dòng chảy pháp mà Sư Tôn gia trì khiến tôi vui mừng đến nỗi ở trong mơ kêu lên những tiếng mừng rỡ, thời gian gia trì bao lâu thì có bấy nhiêu tiếng kêu. Sau khi được Sư Phật gia trì, đệ tử lập tức thần biến thành tổ sư Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, tay trái cầm chén sọ người, tay phải cầm dao cong kim cang.

Cuộc gặp gỡ trong ký ức (3) - Căn bản truyền thừa Thượng sư.
Trong buổi cúng cơm tại khách sạn Trường Vinh Quế Quán [Evergreen Laurel Hotel], tôi ngồi cùng Sư Tôn trong bàn ăn tròn lớn. Tôi nhớ tổng cộng có ba lần, lần nào cũng được bố của Lý Kỳ và vợ chồng sư huynh Lưu mời, được chủ nhân cất nhắc, cá nhân tôi sâu sắc cảm thấy vinh hạnh và cảm ơn khi được sắp xếp được gặp Phật ở khoảng cách gần một cách trang nghiêm và thoải mái nhất như vậy.

Còn nhớ vào cuối tháng 7/2011, tôi chuẩn bị một tờ giấy, đó là những chú giải về “Tựu Vật Trình Tâm” của thiền sư Ngộ An để trình lên Sư Tôn.
Sư Tôn đặc biệt dành một chút thời gian chú thích thêm vào phía sau năm phần chú giải. Nhìn thấy Sư Phật chuyên tâm, tỉ mỉ đọc tư liệu trình lên như vậy, khiến tôi ngay khi ấy sâu sắc khởi lên lòng ngưỡng mộ.
Sư Phật đặc biệt nhắc nhở: phải lìa không, lìa hữu mới được.
Từ sau lần khai thị bằng văn tự đơn giản rõ ràng này, tổng cộng hơn ba năm, trong đầu tôi hiện lên hiện tượng trống rỗng, cũng không có cách nào khởi lên bất kì tạp niệm nào, đây là một hiện tượng hết sức đặc biệt kỳ lạ.
Ghi lại:
Rời xa bụi trần chẳng hay biết
Rời xa huyên náo chẳng lưu tâm
Thánh dụ của thầy tài tình nhất
Duy thức thần biến đại pháp lạc.

Cuộc gặp gỡ trong ký ức (4) - Căn bản truyền thừa Thượng sư.
Gần đây ban đêm ngủ mơ, tôi mơ thấy Sư Tôn nhận lời mời chủ trì pháp hội, đàn thành được sắp đặt rất diễm lệ, nằm ở quảng trường trước nhà của đồng môn ở trung tâm thành phố Đài Trung. 
Bốn bề đều có các tòa nhà bao quanh, bên trái có con đường lớn, bên phải và ở phía trước bên phải là ngõ nhỏ. Theo quan sát, ngõ bên phải là thuộc phương vị sát khí, con đường lớn bên trái là thuộc phương vị cửa vào của sinh khí, ngõ nhỏ ở phía trước bên phải thuộc phương vị cửa xuất khí, vì thế phán đoán rằng đó là ngôi nhà kiếm được rất nhiều tiền. 

Trong quảng trường, mọi người vây quanh Sư Tôn, tôi đứng cách một chiếc bàn dài lắng nghe pháp yếu.
Cuối cùng Sư Tôn nói: “Vô ngã, vô pháp, không, không không.”
Khi đệ tử nghe đến “không không” thì hơi sững lại một lúc.
Dường như có giác ngộ, hướng về phía Sư Tôn gật gật đầu.
Thế là trong tim sinh ra ánh sáng, từ từ xoay tròn mở ra.
Ghi lại:
Tâm khai vô minh tận
Tâm vô quang minh hiển
Không không là thứ gì
Mơ mộng đều tỉnh ngộ.

Cuộc gặp gỡ trong ký ức (5) - Tôi đã chết rồi?
Trong mơ, vào một kiếp nọ ở thời đại chiến tranh loạn lạc, lẽ tự nhiên tôi phải nhập ngũ làm lính.
Còn nhớ phe tôi thua trận, từng người chạy trốn quân địch, giống như rơi vào một tình cảnh rất nguy hiểm và căng thẳng.
Có một cảnh là:
Tôi từ trên đỉnh núi liều mạng nhảy xuống, không may bị bắt làm tù nhân, tay họ cầm đao lớn đâm vào họng tôi, thế là đi đời nhà ma, tắt thở rồi.
Thế rồi, linh thức thoát khỏi thể xác đi ra,
Cảm giác là một niềm vui sướng được tái sinh,
Bởi vì không có sự trói buộc của nhục thể nên cảm thấy rất thoải mái,
Bởi vì thoát ly khỏi bám chấp của biển khổ nên cảm thấy rất vui sướng.
Tình trạng này rốt cuộc là chết? Hay là sống?
Vì sao Sư Tôn nói ngài không sống cũng không chết?
Bởi vì là “vô sinh”. 


### 48. Thư của Liên Ha 


“Tôi là một hạt bụi”

Sư Phật kính yêu nhất, Phật an!
Ngu đệ tử Liên Ha nhất tâm đảnh lễ và lấy thân khẩu ý cúng dường Sư Phật!
Hôm nay đệ tử sẽ lên đường bay vượt qua nửa vòng trái đất để bái kiến Sư Phật, tham gia kỳ lễ hội long trọng của Sư Phật.
Bất kể cuộc hành trình dài dằng dặc ra sao, đường đạo có gập ghềnh thế nào, đều không thể cản trở duyên gặp gỡ giữa thầy trò chúng ta.
Hơn nữa, mỗi lần chờ đợi để bái kiến Sư Phật đều tràn đầy xúc động, trải qua mấy chục năm vẫn không hề giảm bớt, chỉ có sâu sắc thêm.
Bây giờ đệ tử càng hiểu sâu sắc và cảm nhận được thế nào là mối duyên thầy trò đời đời kiếp kiếp.

Sư Phật kính yêu, đệ tử từ Seattle trở về, y theo chỉ thị của Sư Phật, mỗi tối chăm chỉ tu tập pháp mà Sư Phật đã chỉ định, cho dù mệt mỏi thế nào cũng không gián đoạn. Đệ tử bây giờ càng hiểu được nỗi vất vả và sự vĩ đại của Sư Phật hàng ngày làm siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp. Nghị lực kiên trì của Sư Phật thế gian không ai sánh bằng, có thể gọi là thiên hạ đệ nhất! Và điều càng cao siêu hơn là sự diễn hóa thần diệu của Sư Phật: thuyền pháp xếp hàng, chở các u linh, tịnh hóa nghiệp chướng, tiến vào cõi trời bên ngoài cõi trời, nhanh hướng đến Cực Lạc tịnh thổ. Tất cả đều là những kỳ quan chưa từng có trong thiên hạ, cả trong và ngoài nước, cả xưa và nay. Chả trách mà ngay đến Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni Phật cũng bị kinh động.

Sư Phật là tấm gương đứng sừng sững cho chúng đệ tử mỗi khi khích lệ đệ tử không ngừng dũng mãnh tinh tấn, dũng cảm tiến tới! Mỗi ngày đệ tử ở trong núi tại Brazil tu pháp bốn lần, còn cả luyện khí, thần thủy, vận động. Cảm nhận hợp nhất với Bổn tôn ngày càng vững chắc, có lúc vừa làm việc, vừa hợp nhất rất lâu. Cảm nhận của thiền định cũng ngày một tiến bộ, quang minh xán lạn, tịch tĩnh an nhiên.

Càng quan trọng hơn là, đệ tử cảm nhận nội tâm của mình tràn đầy khiêm tốn, bình đẳng và đại ái. Đệ tử xem đồng môn chúng sinh đều là đại Bồ Tát, đều tràn đầy linh tính bất khả tư nghì, còn đệ tử xem chính mình là một hạt bụi trên mặt đất. Thật sự, sự thể ngộ của đệ tử hiện tại chính là bản thân mình là một hạt bụi bình thường mà thôi.

Sư Phật kính yêu, trong hai tháng rời khỏi Seattle, Giáo dục Chân Phật của chúng con đã cử hành khóa trình huấn luyện toàn thể tăng chúng Chân Phật Tông vô cùng long trọng. Vào ngày đầu tiên khai giảng, toàn thể tăng chúng mặc giới y, cùng quỳ gối trì tụng giới xuất gia của Chân Phật Tông, sau đó trưởng lão giảng bài. Bầu không khí trang nghiêm ấy khiến trong lòng mọi người khởi lên một niềm linh thiêng không gì sánh bằng. Cảm ơn sự gia trì của Sư Phật, cảm ơn trưởng lão Liên Mãn, Liên Truyền, Liên Tăng đã giảng bài.

Tháng trước, Giáo dục Chân Phật lại một lần nữa bay cao, lần đầu tiên tổ chức khóa trình đào tạo giáo viên hạt giống chùm sao lấp lánh, chúng đệ tử đã mời các giáo viên có danh tiếng giảng dạy: sư tỉ Văn Bân - người dẫn chương trình của mười đài phát thanh lớn ở Malaysia, giáo sư Cố Hạo Tường ở Đại học Hải Dương Đài Loan, sư huynh Chính Vĩ - giáo viên đào tạo doanh nghiệp nổi tiếng ở Đài Loan, Giáo sư Đàm Vĩ Luân của Đại học Trung Văn Hồng Kông, Thượng sư Thiếu Đông của Đại học Simon Fraser ở Canada đảm nhiệm giảng dạy, đã dành được sự hưởng ứng nhiệt liệt của các học viên và nhân viên hoằng pháp, mọi người đều khen ngợi, khóa trình xuất sắc, gặt hái được rất nhiều, giúp ích rất nhiều đối với khai thị Phật pháp của mọi người sau này. Cảm ơn sự ban phúc của Sư Phật, cảm ơn các giáo sư giảng bài, cũng cảm ơn sự khích lệ và ủng hộ của mọi người. 

Tháng 10, chúng đệ tử đã tổ chức hội nghị nhân vật ảnh hưởng lớn của đội ngũ cố vấn và tất cả thành viên nòng cốt của Ban Giáo dục Chân Phật, mọi người háo hức đề xuất rất nhiều ý kiến quan trọng đáng quý.

Tháng 11, chúng đệ tử đã chiêu mộ tình nguyện viên trong toàn tông phái, sau đó đã mở đại hội toàn thể tình nguyện viên của Giáo dục Chân Phật, cảm ơn Sư Phật đã ban phúc cho rất nhiều nhân tài tinh anh, dưới sự phát tâm nhiệt tình của họ, chúng đệ tử đã bắt đầu công việc biên tập tài liệu giáo dục Chân Phật dành cho trẻ em và thanh thiếu niên - thế hệ thứ hai của Chân Phật, thỉnh cầu Sư Phật gia trì mọi việc tiến triển thuận lợi viên mãn.

Sư Phật kính yêu, đệ tử sâu sắc biết rằng, trong mọi giáo pháp, sách và khai thị của Căn bản Thượng sư là quan trọng nhất, quý giá nhất, là giáo pháp trọng tâm nhất, đồng thời thực tu là biểu tượng của phái Chân Phật Tông. Thế nên bắt đầu từ tháng 11, vào thứ năm hàng tuần, đệ tử bắt đầu dẫn dắt đồng tu trên mạng toàn cầu, cùng với mọi người cùng thâm nhập Căn bản Thượng sư tương ứng pháp, y theo khẩu quyết của Sư Phật để thực tu thiền định. Sau khi tu pháp, đệ tử và mọi người cùng học tập văn tập của Sư Phật - cuốn “Định Trong Thiền Định”, bơi trong biển pháp cam lộ của Sư Phật, trải nghiệm những tâm yếu vi diệu của Sư Phật. Mọi người đều cảm thấy pháp hỷ tràn trề, kỳ diệu không lời nào kể xiết. Ví dụ, “dừng thở, dừng nghĩ, dừng động, chịu điều khiển, thu lấy sự điều khiển” trong sách của Sư Phật, dạy chúng đệ tử làm sao để tiến vào thứ tự của thiền định rất sâu. Những điều này đều chỉ có thành tựu giả thực tu chân chính mới có thể viết ra được, là những pháp yếu trân quý không thể đọc thấy trong những kinh điển khác. Cứ như thế, chúng đệ tử vừa học tập khẩu quyết của Sư Phật, vừa ở trong thiền định thực tiễn trải nghiệm, đó thật sự là vô cùng tuyệt vời.

Năm mới sắp đến rồi, tại đây đệ tử thành kính chúc nguyện Sư Phật Sư Mẫu Phật thể an khang, trường thọ tự tại, mãi chuyển pháp luân, hoằng pháp tại Đài Loan tất cả đều thuận lợi, mong Sư Phật gia trì cho tất cả đệ tử Chân Phật đều có thể tu hành tiến bộ thành tựu, thiền định thành tựu, tương ứng thành tựu, gánh vác sự nghiệp của Như Lai, hoằng dương Chân Phật Mật Pháp, quảng độ vô lượng chúng sinh.
Kính thư,
Ngu đệ tử Liên Ha bái lạy.
São Paulo Brazil, ngày 05/12/2022.

Lư Sư Tôn đọc thư xong có cảm nghĩ:
Thượng sư Liên Ha trọng trách lớn
Chuyển động pháp luân Chân Phật Tông
Một lòng một ý không thay đổi
Khí mạch minh điểm thủy hỏa phong.

🌟

Dừng thở dừng nghĩ lại dừng động
Thiền định tam muội là chân Không
Lĩnh hội Tất cả là không Có
Trí huệ sâu rộng ở bên trong.


### 49. Cảm ngộ của pháp sư Liên Anh


**Thầy trò (1)**

Phụng sự bốn loại tâm căn bản,
Làm thuyền phục vụ chở chúng sinh.
Thêm việc phụng dưỡng tình hiếu tử,
Liên Anh khắc cốt lại ghi tâm.
Sám hối trước Thầy những lỗi lầm,
Tập khí vô minh thường đã phạm.
Tay Phật vỗ về không truy cứu,
Khiến con hổ thẹn cúi thấp đầu.
Nửa năm cùng ở không nhiều lời,
Đôi khi chăm chú ngắm Phật nhan.
Nghìn lời vạn lời không nói hết,
Gần ngay trước mắt lại [xa] như trời.

**Thầy trò (2) **

Đã quen biết Thầy mấy nghìn năm,
Như một cuốn phim cảnh luân hồi.
Cho dù thời-không đan chằng chịt,
Trong lòng cảm động suốt muôn đời.
Cảm thán thời gian thúc tuổi già,
Hai tay ôm Thầy mong giữ chắc.
Thế gian vô thường con rất hiểu,
Khẩn cầu chư Phật bảo hộ Thầy.
Mong Thầy giữ mình luôn khỏe mạnh,
Từng lời tha thiết viết mấy dòng.
Đi đến Tây Thành rời huyên náo,
Lòng con điềm tĩnh ngóng mong thầy.

**Đạo (1)**

Trên núi Bồng Lai mới học đạo,
Thanh Chân Đạo Trưởng truyền pháp giáo.
Kim Tiên vốn ở thiên ngoại thiên,
Chỉ rõ thiên cơ thân là miếu.
Một nén hương thơm cúi thiên khiếu,
Đan nguyên nhất khí quang khí nhiễu.
Tam hoa tụ đỉnh thoát xác giả,
Phản phác quy chân tối ảo diệu.

**Đạo (2)**

Thái Thượng Hoàng Đình Kinh,
Các nội cảnh trong người.
Mượn giả mà tu thật,
Chứng đạo ở chốn tiên.

**Hiển (1)**

Tịnh Thổ Tam Tôn từ bi nhất,
Thế giới Cực Lạc chốn quy về.
Tứ sinh lục đạo tiếp dẫn trọn,
Chẳng còn đảo lộn bay tứ tung.
Chí tâm một chỗ là mật ý,
Thân khẩu và ý đều thanh tịnh,
Bốn tám lời thề nguyện làm theo,
Cửu phẩm liên hoa khắp mọi chốn.
Từng tiếng Phật hiệu ở trong tâm,
Từng câu Di Đà thật vững chắc.
Dốc lòng dốc lòng lại dốc lòng,
Tín tâm đầy đủ Phật hiện tiền.

**Mật (1)** 

Hồng Hoàng Hoa Bạch truyền thừa đỉnh, [Hồng giáo, Hoàng giáo, Hoa giáo, Bạch giáo]
Thánh Tôn chí nguyện hưng Mật pháp.
Thứ tự giới luật làm nền tảng
Sinh khởi viên mãn thù thắng hành.
Ngoại tu Bổn tôn đại du già,
Nội tu thanh tịnh khí mạch điểm.
Ngũ luân Ngũ Phật Ngũ Kim Cang,
Toàn thân là mắt ẩn ánh sáng.

**Mật (2)**

Tam mật chuyển hóa thành nhân duyên thần thánh,
Thông suốt pháp giới vang vọng tiếng pháp âm.
Vốn dĩ Phật tính đã có sẵn đầy đủ,
Bổn tôn hành giả cùng đồng lòng nhất tâm.

**Mật (3) **

Không chết thân cầu vồng,
Tự tính làm chủ tôn.
Mật giáo Đại viên mãn,
Phá vỡ từng phân vuông.

**Mật (4) **

Sắc - Không song vận tùy ý chơi, vô ngại hồng quang hóa thần kỳ,
Phàm phu thế gian chẳng manh mối, vô sinh vô tử nghĩa là sao.
Liên Sinh Pháp Vương chưởng pháp ấn, năm trăm năm mới hạ phàm trần,
Nhân gian nơi nào tìm thấy được, ba thân không khác ứng muôn nơi.

**Jesus Christ**

Tôi sâu sắc cảm thấy có duyên với Jesus, ngài là một vị Guru vĩ đại, tôi là tín đồ Phật giáo, nhưng dường như tôi bẩm sinh đã biết cầu nguyện. Thậm chí tôi từng ở trong buổi hỏi việc đã hướng dẫn tín đồ Cơ Đốc cầu nguyện, tôi xúc động sâu sắc.

Tôi cảm thấy ngôn ngữ của tâm linh rất kỳ diệu, siêu việt không gian thời gian, trở thành một dạng phù hiệu. Nếu để ý kỹ, bạn sẽ thấy rằng bản thân lòng sùng đạo đã là một “tín hiệu” mạnh mẽ và họ sẽ không bao giờ bỏ cuộc, chỉ cần thành tâm nhất định sẽ nghe được Cha, Con và Thánh Thần - ba vị một thể. Pháp thân, Báo thân, Ứng hóa thân, ba thân không khác biệt. Thần yêu thế nhân, Phật yêu chúng sinh, từ bi hỷ xả, tam luân thể không.

“Yêu và bao dung, từ ngữ khác nhau, giáo hóa tương đồng.”
Trường cũ của tôi là Đại học Đông Hải có nhà thờ Lộ Tư Nghĩa rất to, mỗi lần đi ngang qua, tôi sẽ chắp hai tay, đảnh lễ Căn bản Thượng sư, cũng kính lễ vị Guru vĩ đại - Jesus Christ. (Bên ngoài nhà thờ mô phỏng động tác chắp tay quỳ lễ.)

**Sự nghiệp bồ đề**

Nửa năm ở Tây nửa năm Đông,
Dù ở nơi đâu chí chẳng đổi.
Phân thân xả cốt độ chúng sinh,
Gắng đem Phật pháp làm thuyền pháp.
Hoằng pháp lợi sinh bốn mươi năm,
Khen chê tốt xấu vẫn không dừng.
Pháp Vương chứng nhập pháp giới tính,
Bát phong điên cuồng chẳng lung lay.
Vất vả gian lao đánh trống pháp,
Để cho chính pháp trụ Ta Bà.
Ơn Thầy nhiều như muôn sao sáng,
Thực tu thực chứng báo Phật ân.

Gặp sư tỉ Lại Danh Hương đến từ Công ty Công nghiệp Cơ khí chính xác Đại Bá và sư tỉ Thẩm Diệu Quyên, có cảm xúc nên viết hai bài thơ nhỏ này để ghi nhớ, cúng dường Sư Tôn.

**Bạn cũ (1)**

Trong tiệc tình cờ gặp bạn cũ,
Tán gẫu chuyện đời ý tương đầu.
Mới gặp lần đó còn khỏe mạnh,
Giờ đây gặp lại đã thất tuần.
Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ,
Lo gì bèo nước chẳng tương phùng.

**Bạn cũ (2) **

Ngọt bùi cay đắng ba mươi năm,
Cháo hoa món nhỏ cả một bàn.
Nói dông nói dài chuyện chẳng hết,
Cuối cùng im lặng lòng cảm thông.
Sự nghiệp nhân gian bận cả ngày,
Chẳng bằng thành tâm hướng đến Phật.
Công danh phú quý cũng có ngày,
Biển xanh sẽ biến thành ruộng dâu.
Lúc ấy sẽ chẳng còn kịp nữa,
Trân trọng chúc phúc giữ trong lòng.
Cho dù không thể thường xuyên gặp,
Có thể nhớ nhau sẽ không buồn.

**Bảo mực của Lư Sư Tôn**

Phật giáo có tam bảo là Phật bảo, pháp bảo và tăng bảo. Lư Sư Tôn còn có một thứ quý giá nữa, đó là tay Phật vung ra thành bảo mực. Là chữ là thơ, là phù là tranh. 
Lúc thì giống như rồng bay, lúc thì giống như phượng múa, lúc thì giống như nai hiền, lúc thì giống như hổ dữ. 
Viết chữ chữ như ngọc, viết thơ thơ có tình.
Vẽ tranh thành trời đất, sắc phù quỷ thần kinh.
Dạy giới dạy đức dạy tu tâm, dạy luật dạy pháp dạy Phật lý.
Diệu bút thành văn ẩn tâm Phật, hiển hiện chân như vô tận ý.
Giữa những dòng chữ có linh khí, có thần có tiên thơ tự nhiên.
Vô tình trồng liễu thành bóng mát,
Mây trong hư không diễn thần kỳ.
Dụng tâm lúc này là chân tâm,
Vạn vật hữu tình đến tương ứng.
Pháp Vương bút vàng vô tư khúc,
Thu hết cảnh đẹp khắp muôn phương.

**Mưa**

Thầy nói nỗi nhớ là mưa, thông qua mưa để nối liền tâm của các đệ tử. Gần đây có một trận mưa như trút nước, có lẽ là Thầy, có lẽ là chúng con, đã dốc hết nỗi lòng, chúc phúc và tình cảm sâu sắc thắm thiết nhất dành cho nhau.
Seattle có mưa mùa đông, Đài Loan có mưa phùn, tuy rằng không cùng cơn mưa, nhưng cùng một cái tình tương tư.
Xuân hạ thu đông, bốn mùa thay đổi không ngừng,
Hỷ nộ ai lạc, tâm trạng lên xuống bất định.
Nhưng, chỉ cần nghĩ đến Thầy, con liền an tâm, lại có được sự yên bình. Mưa ơi mưa, cảm ơn mưa đã vô tư truyền đạt tình cảm sâu sắc chân thành của chúng tôi; mưa ơi mưa, mong hành trình của mưa xán lạn và trong vắt, như thế có thể đem đến cho chúng tôi sự tươi mới; mưa ơi mưa, mưa giống như một quý ngài nho nhã lịch thiệp, giống như khoảng cách giữa tâm chúng tôi, không xa cũng không gần. Mưa bụi ở Tây Thành có kỷ niệm gặp gỡ với các đệ tử, hy vọng những cảnh tượng ấy sẽ mang lại cho cuộc sống của Thầy một chút niềm hạnh phúc chân thực nhỏ bé.

**Ngộ về việc người (1)**

Rắc rối về nhân sự, nguy hiểm về nhân sự,
Mỗi người một ý khó kết nối.
Chẳng qua cái tôi thích thể hiện,
Phật nói vô ngã là chân tiên.
Ngoài khen trong mỉa, miệng lưỡi giáo gươm,
Lá mặt lá trái, cố tình làm bậy.
Hồng trần đâu dễ ở, sớm trở về cõi trời,
Tự xem xét lại mình, đừng làm điều tương tự.
Sinh ra từ bùn mà không nhiễm,
Mong thành một đóa bạch liên hoa.
Tâm ở ngoài vật, không xoay theo cảnh,
Quan điểm hiện tại, trí huệ rõ ràng.
Phương tiện thiện xảo, ung dung tự tại,
Không khởi phân biệt, để nó tự nhiên,
Tâm trùm vũ trụ, pháp nhĩ bản nhiên.

**Ngộ về việc người (1)**

Sư Ma Quan Âm đến thị hiện,
Cố gắng quan điểm như mọi người.
Tự - tha hoán đổi là chân đế,
Đừng khởi tranh chấp tâm quang minh.
Tập khí chúng sinh là luyện thép,
Ứng đối tiến lui là kinh nghiệm.
Bảo nhậm minh-không mọi đối cảnh,
Trung quán chính kiến là bảo kiếm.

**Mã Cát Lạp Tôn Phật Mẫu**

Mở đầu: Buổi trưa hôm ấy Thầy hỏi con, pháp hội mùa xuân tại Đài Loan Lôi Tạng Tự nên truyền pháp gì thì tốt? Đệ tử ngẫm nghĩ rồi khẩn cầu Sư Tôn truyền Mã Cát Lạp Tôn bất cộng đại pháp, đây là thỉnh nguyện mà đệ tử giữ trong lòng từ lâu. Dưới sự gia trì của Thầy, có được duyên khởi thù thắng, cảm động chẳng thể mô tả, viết hai bài kệ để ghi nhớ.

(1) 
Đoạn cảnh đại thủ ấn, xả thân Mã Cát Lạp,
Vô ngã đệ nhất nghĩa, thực chứng pháp tính Không.
Nhật nguyệt hợp ngân hà, núi sông và mặt đất,
Gió cây nước lửa núi, mắt mũi lưỡi thân ý.
Tham sân si nghi mạn, chuyển thức thành trí lý.

(2) 
Phẫn nộ Mẫu màu đen, mớm sữa trong du già, phục ma đại trừ chướng, trụ trong tam muội hỏa. Tán thán Dũng Khuynh Mẫu, một vị trong Không Hành, một dao chặt ngã chấp, gậy trời tiêu ngã mạn, linh bát đầy cam lộ, sữa ánh sáng đại lạc, bảo hộ chân hành giả, thẳng đến cây bồ đề.

**Ngộ ra trung quán từ trong hỏi đáp kỳ diệu **(Bài phỏng vấn của tiên sinh Nhan Liên Vũ)

Nhan tiên sinh hỏi
Lư Sư Tôn đáp
Tùy cơ đề cập là hỏi hay
Binh đến tướng chặn là đáp khéo,
Trong không bố cục có logic.
Trong không manh mối có mạch lạc.
Có vẻ vô tình mà hữu tình,
Ngắm hoa trong sương có thâm ý.
Không thiên về không, không thiên về có, tình ý sẽ sâu nặng,
Không trụ trong cảnh, không trụ trong tướng, hài hước mà thú vị.
Người biết thấy môn đạo, thơm ngon có vị.
Người mê thấy ồn ào, nhạt nhẽo vô vị.
Đều là vị, xem bạn trải nghiệm thế nào.
Tục đế và thắng đế, hòa lẫn càng song vận.
Chân không mà diệu hữu, hỏi đáp quá thần kỳ.

Cuối năm 2018, ngu đệ tử Liên Anh cung kính đảnh lễ chắp tay.

(Chú thích: Vào ngày 21/01/2023, pháp sư Liên Anh đã được Liên Sinh Hoạt Phật ban quán đảnh Acharya, trở thành Thượng sư.)

**Hết.**

---
# File: sach-tam-linh/295-chiec-hop-anh-trang.md
# Title: 295. Chiếc hộp ánh trăng
---

![image](/img/img_46f70827e36170896fb8beea19972225.jpg)



## Chiếc hộp ánh trăng 


🪷 Muôn kiếp tình duyên - Phần 2

Văn tập: 295
Xuất bản: 07/2023
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


Bút ký “Chiếc Hộp Ánh Trăng”

Ngày 8 tháng 2 năm 2023. 
Tôi từ Đài Loan trở về Seattle nước Mỹ.
Ở tại nhà mình ở Seattle, tôi cũng tìm thấy một chiếc hộp giấy, tôi biết bên trong nó là cái gì.
Đó là chiếc hộp báu.
Bên trong đều là “tình”. 
Thế còn vì sao lại là “ánh trăng”?
Bởi vì tôi nghĩ đến ca từ trong bài hát “Ánh trăng trong thành phố”, tôi nhớ có một đoạn nhỏ như thế này:
*Ánh trăng trong thành phố
Chiếu sáng những giấc mơ
Xin hãy ở bên bảo vệ người ấy
Nếu một ngày có thể gặp lại
Hãy để hạnh phúc lấp đầy cả đêm.*
Cho nên, cuốn sách này được đặt tên là:
”Chiếc Hộp Ánh Trăng”. 

Cuốn sách này là phần hai của cuốn “Muôn Kiếp Tình Duyên”. 
Vì sao tình duyên lại nhiều như vậy?
Tôi nói với mọi người một nguyên nhân: bởi vì tôi (Lư Sư Tôn) là một vị Bồ Tát giác hữu tình.
Làm cho chúng sinh hữu tình người người đều có thể đạt đến giác ngộ.
Có một đệ tử viết một tấm thiệp nhỏ cho tôi:
*Ngày mai xa thầy rồi,
Nỗi buồn chẳng thể nói.
Duy nước mắt đầm đìa.
Nỗi nhớ thầy miên man,
Luôn giấu trong cõi lòng.
Thầm mong thầy sớm về,
Hàng năm thường gặp mặt.*

Đọc xong tấm thiệp nhỏ này, nội tâm tôi vô cùng kích động, tôi không phải là vật vô tình.
Trong lòng tôi chỉ có:
”Xin hãy ở bên bảo vệ người ấy!”
Đời người!
Không phải sinh ly, thì là tử biệt. Đều khiến người ta “nước mắt đầm đìa”. 

Loan Loan nói:
Không và Có là tương đối. Nhưng cũng là không giống không khác.
Trong cái Không là cái Có.
Tột cùng của cái Có là cái Không.
Có là thế giới vật chất, là tướng bề ngoài do ngũ uẩn kết hợp lại tạo ra, phân tích đến tận cùng cũng là Không.
Trong thế giới của cái Có, có luân hồi, có nhân quả, đây là hiện tượng “hữu ngã”.
Trong “vô ngã”, vẫn có luân hồi, có nhân quả, phàm là chân như thì mới thanh tịnh vô nhiễm.

Loan Loan nói:
Vô ngã là nhân quả.  
Chân như là nhân quả.
Ngoại tướng khác nhau, cái gốc là như nhau.
Tình cảm cũng thế.
Bạn nói xem có phải không?
Cuốn sách này, có tình cảm, cũng có Phật pháp, không phụ Như Lai chẳng phụ nàng.
Chúc: mở sách ra có lợi ích.

**Liên Sinh Hoạt Phật . Lư Thắng Ngạn
Sheng-Yen Lu**
17102 NE 40th Ct,
REDMOND WA 98052
Tháng 2 năm 2023



### 01. Hai bài thơ “Lúc này”


Loan Loan viết hai bài thơ theo lối tự do:

*Lư Sư Tôn thân yêu:
Lúc này con tim đang đập
Lúc này thật nhớ, nhớ thầy
Vật đổi sao dời
Tiếng chim đêm hót trên cây*

*Tương lai bất định
Không hoài niệm quá khứ
Chỉ có lúc này
Yêu không dời*

*Giờ này phút này
Tim đang đập
Nhớ nhớ nhớ
Thầy mãi mãi.*

(Chú thích: Thầy chính là hương thơm của sự tồn tại của em, tỏa ra sức quyến rũ từ mọi hướng, bao bọc lấy em, từng giờ từng phút.)

🌟

*Lư Sư Tôn thân yêu:
Em không viết ra được
Cảm giác ấm áp và ngọt ngào đó
Em không viết ra được
Viết viết viết viết
Ai có thể hiểu*

*Chỉ có thể nói cảm ơn
Lúc này
Là câu thơ bình yên sâu lắng
Cũng là nước sông đang dâng trào
Cuồn cuộn chảy
Hướng về
Sư Tôn ở Seattle.*

(Chú thích: Khi lòng nhớ Phật, tâm chính là Phật, đúng vậy, đó là điều không thể dùng bút để viết ra.)

🌟

Tôi viết cho Loan Loan:

*Em cần quán tưởng
Cây quy y
Cây quy y của Mật giáo đó
Vô số lá cành*

*Hoa là Phật
Lá là Bồ Tát
Cành là Hộ pháp
Lư Sư Tôn ở chính trung tâm
Chắp tay
Lễ kính
Nghìn vạn cánh tay chắp lễ
Để chúng sinh biết đến
Con đường quay về*

*Đừng nhìn một cách thờ ơ
Đừng sống qua ngày một cách hồ đồ
Vội vàng đến
Vội vàng đi
Hãy nhớ khi mới phát tâm
Trân trọng
Mỗi sớm chiều.*

(Chú thích: Loan Loan là một cô gái có trí tuệ rất cao, có tài hoa. Tôi viết bài thơ này là muốn cô ấy chuyên tâm. Mỗi một ngày, mỗi một giờ, ánh sáng ở trong tim, duy trì sự thanh tịnh bất động, tự nhiên thành tựu.)


### 02. Lá thư sám hối


Có một đệ tử nữ hay đố kỵ và ghen tuông.
Cô ấy viết một lá thư sám hối, công bố như sau:

*Lư Sư Tôn:
Em đã kiểm điểm cả một đêm, em biết em sai rồi, em muốn sám hối với thầy.
Em đã phạm tội đố kỵ.
Em đã phạm tội ghen tuông.
Em nhìn thấy mắt thầy nhìn ai, trong lòng em liền không thoải mái, em chỉ muốn ánh mắt thầy nhìn em.
Em nhìn thấy thầy nói chuyện rất thân thiết với người khác, em cũng rất buồn.
Có một cô gái mới đến, thầy quán đảnh Kim Cang Hợi Mẫu cho cô ấy, em không thích.
Em luôn nghi ngờ cái này.
Em luôn nghi ngờ cái nọ.*
*Em luôn rất sợ hãi.
Em sợ mất đi sự quan tâm của thầy, sợ mất đi sự gia trì của thầy, sợ thầy không để ý tới em.
Em không có tự tin.
Bởi vì rất nhiều đệ tử nữ đều trẻ trung xinh đẹp, em hoàn toàn không có cảm giác an toàn.
Đây chính là lời trong tim em, em đã để cho thầy biết hết.
Điều em sợ hãi là, thầy không để ý tới em, không gia trì cho em, không hướng dẫn em tu hành nữa.
Lỗi mà em phạm phải là ghen tuông, đố kỵ, nghi hoặc, mất phương hướng, tức giận…
Bây giờ, em kiểm điểm chính mình, em đã rơi vào “lưới tình” rồi.*
*Em muốn một mình chiếm hữu.
Không cho phép thầy đi độ hóa người khác. (Em đã xem Sư Phật thành người bình thường.)
Nhưng, em không thoát ra được, bị mắc kẹt trong đó, đây chính là tình trạng của bản thân em. 
Em đã biết sai!
Em không nên làm thầy phiền muộn!
Không nên tăng thêm rắc rối cho thầy!
Không nên sản sinh oán hận!
Em cần không ghen tuông.
Em cần không đố kỵ.
Em cần thanh tịnh tu cho đúng tâm niệm của mình.
Các cô ấy và em hòa thuận, không phân biệt lẫn nhau, cùng đến Ma Ha Song Liên Trì.
Lư Sư Tôn:
Xin hãy tin rằng em sẽ thay đổi.
Em thật lòng sám hối.
Tâm ích kỷ tư lợi, biến thành tâm khoan dung.
Em sẽ an tâm.
Em sẽ tiếp tục nỗ lực.
Em nói với chính mình, phải tiến bộ, xin thầy cho em cơ hội, đừng bỏ rơi em!
Cảm ơn Sư Tôn!
Y Y kính thư.*

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) viết một bài thơ:

*Cho dù là hồng nhan
Cũng sẽ già
Việc tu hành
Phải làm sớm*

*Thói quen thế tục
Phải thu về
Sám hối như vậy
Phật biết*

*Em có thể hối cải
Thật tốt
Có thể tĩnh tâm lại
Lòng tin sẽ không dao động.*


### 03. Sự phức tạp hai nghìn năm trước


*Lư Sư Tôn thân yêu:
Em quy y vào năm 2009, lần đầu tiên đến Seattle tham gia pháp hội Mùa Thu, nhìn thấy Lư Sư Tôn, liền khóc òa lên, không biết vì sao lại òa khóc.
Em viết một tấm thiệp, trên đó viết rằng:
Nâng cốc hỏi trăng sáng,
Xin hỏi tôi là ai?
Cúi đầu nhớ quá khứ,
Hai ta từng biết nhau.
Sau đó, mỗi lần nhìn thấy Lư Sư Tôn, em đều không thể kiềm chế được mà khóc òa lên.
Cứ thế cho đến một ngày, chúng em đi đến chùa Sakya, khi tay em chạm vào chiếc kinh luân, đột nhiên những ký ức và cảm xúc từ rất lâu rất lâu trỗi dậy ùa đến rất mãnh liệt.
Hai nghìn năm trước.
Chúng ta.
Sự ngọt ngào ấy.
Kể từ hôm đến chùa Sakya đó, tình yêu đã chôn giấu rất lâu rất lâu của em đó, đã được giải phóng.
Cuộc đời em có bốn đại nguyện:
1. Đi du học nước ngoài. (đã hoàn thành)
2. Cưới người mình yêu. (chưa thành)
3. Ở một mình cùng Lư Sư Tôn.
4. Minh tâm kiến tính. (hai điều sau, buồn muốn khóc)
Sư Tôn, tối hôm qua em nằm mơ, mơ thấy Sư Tôn, giấc mơ này, khi có duyên, em sẽ kể với thầy!
Hãy nhớ!
Luôn bảo trọng sức khỏe!
Khỏe mạnh trường thọ!
Hai nghìn năm trước, em yêu thầy sâu sắc.
Bây giờ, vẫn yêu thầy sâu sắc.
Em không biết em đến nhân gian làm gì!
Bây giờ em hiểu rồi, là để gặp lại thầy.
Xin hãy đưa em, con cừu lạc đường này, trở về Ma Ha Song Liên Trì nhé!
Xin hãy trân trọng em!
Doanh Doanh kính thư.*

🌟

Tôi viết một bài thơ cho Doanh Doanh:
Tiêu đề: Hai nghìn năm trước

*Mối tình từ hai nghìn năm trước
Nước mắt chảy dài
Hôm nay gặp lại
Thế nào là thề non hẹn biển*

*Quá khứ không thể có
Hiện tại không thể có
Tương lai
Có thể nghĩ thử xem
Quay chiếc kinh luân đó*

*Ngả vào nhau trong mơ
Tựa như vẫn còn
Da thịt xưa kia
Còn ấm
Tôi hỏi em nhé
Khi nào lại là mùa xuân*

*Những điều này đã thành linh hồn
Như huyễn
Cho dù muốn lo lắng
Ai có thể sống mãi
Chẳng bằng hãy trở về
Cùng bay lên Côn Luân.*


### 04. Lá thư về yêu và ngộ


*Sư Tôn thân yêu:
Chào thầy! Thật hiếm khi có thể tĩnh tâm lại mà tâm sự với thầy những lời thầm kín, bởi vì em luôn thích giữ tất cả ở trong lòng, hôm nay có thể bộc lộ với thầy, trong lòng em rất vui.*

*Khi viết lời bày tỏ lần trước, thật ra em không nghĩ đến bất kì kết quả gì, thật sự là em đã biểu đạt một cách đầy xúc động và chân thực. Khoảnh khắc thầy đi đến nói với em rằng thầy đã đọc rồi, trái tim em đột nhiên vang lên một tiếng nói: Câu trả lời sẽ là gì? Bỗng nhiên em đã lạc đề rồi, em dùng cách hát ca ngợi thầy để che giấu sự hồi hộp khó hiểu của mình, bây giờ nghĩ lại có chút hối hận, vì sao không hỏi thẳng đáp án chứ? Thế nhưng nếu như hỏi rồi, có lẽ cũng sẽ không có đoạn tâm sự này, cho nên hãy cứ như thầy nói, tất cả đều là sự sắp đặt hoàn hảo. Thầy biết không? Trên đoạn đường từ Seattle đến Vancouver, tâm trạng của em dường như yên bình nhưng lại không yên bình, giả tưởng rằng nếu thầy nói “CÓ”, thế thì em sẽ cảm thấy rất vui, nếu thầy nói “KHÔNG”, thế thì em sẽ buồn một hồi, nhưng biết rằng tất cả đều sẽ qua đi, nếu thật sự là như thế, hy vọng thầy đừng nói gì cả, hãy xem như là một nỗi niềm thôi, rốt cục niềm vui của em chính là nhớ thầy.*

*Còn nhớ có một lần ở trong mơ thầy hỏi em: “Vì sao có thể tự tại?” Em trả lời: “Bởi vì đã không để ý nữa rồi.” Thầy hỏi: “Thế vì sao có thể không để ý đây?” Em trả lời: “Bởi vì đã không chấp vào biểu tượng của sự vật đó rồi.” “Tất cả sự vật đều ở trong sự biến hóa vô thường - thành, trụ, hoại, không.” Tại đây, cảm ơn thầy đã xuất bản những cuốn sách như “Dòng Nước Nguyệt Hà”, thầy đã dùng trò chơi tình yêu để giáo hóa em, khiến cho em có thể vực dậy từ trong sự giam cầm của tình yêu khó khăn nhất, quá khứ bản thân đã chấp vào tình yêu, yêu ghét rõ ràng, nhưng bây giờ sau khi trải qua rất nhiều, tâm rộng mở hơn, nhẹ nhõm hơn, tuy con đường phía trước không dễ dàng, nhưng bản thân tin chắc rằng trên đầu mãi mãi có thầy, làm việc nghĩa không được chùn bước mà tiến lên phía trước, cảm ơn thầy đã cho em có một bầu trời, để em đi vào thế giới nội tâm: cuộc đối thoại của tâm và tâm. Cảm ơn trên đường có thầy bầu bạn. Cảm ơn tình yêu của thầy để em có được sự thanh thản và vui vẻ. Đối với thầy, em nghĩ thế này: Thầy chính là một bậc trượng phu điều ngự, thầy dùng trò chơi của tình yêu để giúp đỡ người hữu duyên và đi làm tất cả pháp, đây là điều quý giá nhất, là điều mà em không mua được, là điều khó có được, em hiểu, em sẽ trân trọng, cho nên em mới đến để cố gắng một chút, hy vọng thầy có thể tiếp nhận, còn nhớ bài hát đó không?*

*Bài hát “Tìm anh trong đám đông” chỉ hát dành cho thầy mà thôi.*

*Tìm anh trong đám đông, tình yêu là thứ dẫn đường duy nhất
Như chờ đợi cuộc thử thách của âm thanh tự nhiên
Như chờ đợi màn cộng hưởng giữa trời đất
Tìm anh trong đám đông, dùng âm thanh của tình yêu nhất hô bách ứng.*

*Tại đây, một lần nữa em muốn nói với thầy: Cảm ơn thầy đã dùng cách thức của tình yêu để đánh thức em, cảm ơn thầy vì em mà biến thành thầy thuốc. Thật sự em không biết nên làm sao để biểu đạt tình yêu và cảm ơn đối với thầy, cho nên chỉ biết nhờ vào lời ca điệu múa để biểu đạt tình cảm ở trong tim, trong số đó bao gồm các bài: “Ngày hôm ấy”, “Mây đang bay”, “Đêm ấy mơ thấy anh”, “Tình là thứ gì”, “Bông hoa Thành Đô”, “Tìm anh trong đám đông”, “Bầu trời”, “Niềm vui của em chính là nhớ anh”, còn có bài “Đường trên trời”. Đây là những bài hát thầy thích nhất, những điều ấy đều là sự thật, biểu đạt, bộc lộ và cúng dường một cách tự nhiên, hy vọng thầy có thể thích và tiếp nhận, tuy nhiên em không phải là rất giỏi biểu đạt (nhưng em đều dùng tâm để làm), nhưng nếu thầy có thể thích, em sẽ rất vui, rất hạnh phúc.*

*Cuối cùng, hy vọng thầy có thể ban phúc cho em có cơ hội luôn luôn được hát cho thầy nghe, múa cho thầy xem. Xin đại lực gia trì có thể lập tức có tiền, để em có thể có một chỗ ở thanh tịnh tại Seattle để chờ đợi sự xuất hiện của thầy; xin đại lực gia trì để tất cả nghiệp chướng đẩy lùi, để nghĩ gì được nấy. Đương nhiên hy vọng sau cùng có thể gặp lại thầy ở Ma Ha Song Liên Trì… Còn rất nhiều lời nữa làm sao để bộc lộ, “cơ hội ở cùng nhau rất khó”, cho nên chỉ có thể tự mình thổ lộ với lòng mình, đi nói với thầy rằng, thầy có biết không? Khi viết xong lá thư này, thầy liền xuất hiện trong mơ, thật đấy! Mong rằng duyên này có thể tiếp tục, mãi mãi cảm nhận được sự tồn tại của thầy, chưa từng bao giờ xa cách, bởi vì thầy từng nói: Là một, không phải hai, đây chính là tuyệt đối.
Cuối cùng, chúc phúc thầy vĩnh viễn khỏe mạnh trường thọ cát tường!
Yêu thầy.*

🌟

Lư Sư Tôn nói:
Lá thư về yêu và ngộ này chính là thổ lộ.
Lá thư này ở trên tay tôi, tự tôi cảm thấy, cô ấy đã nói ra những lời trong tim.
Cũng tự mình giải phóng trái tim của chính cô ấy.
Đây là điều vô cùng vi diệu.
Cũng là một biểu hiện tự nhiên.
Lá thư này không ký tên, nhưng, tôi biết cô ấy là ai.
Tôi đặt cho cô ấy một cái tên vậy!
Gọi là:
An An.
Tất cả đều là sự sắp đặt hoàn hảo, cho nên là An An.
Tôi cảm ơn tình yêu của cô ấy.
Càng cảm ơn sự tỉnh ngộ của cô ấy.
Như thế sẽ rất thanh thản vui vẻ, không có ai đi trói buộc ai, như mây như khói.

Một bài thơ:

Sự tỉnh ngộ của tình yêu

*Ý loạn
Như mưa rơi
Gặp phải gió mạnh mà lay động*

*Nhưng
Vạch ra một suy nghĩ
Còn có thể nhớ lại
Chỉ mong có thể đến bỉ ngạn*

*Yêu và ngộ có thể hoán đổi
Mưa phùn
Gió lớn
Trong chốc lát đều dừng.*


### 05. Đi theo mãi mãi


Có một đệ tử chân thành, cô ấy đã đến Seattle, chỉ có một câu nói:
”Muốn đi theo Lư Sư Tôn cả đời!”
Cô ấy trẻ tuổi.
Tướng mạo đáng yêu.
Ngây thơ hồn nhiên.
Tôi nói với cô ấy:
”Cô không thể đi theo tôi cả đời!”
Thế là, 
Cô ấy viết một lá thư cho tôi.

*Lư Sư Tôn:
Em hiểu ý của Sư Tôn.
Đi theo của em là đệ tử đi theo sư phụ, không phải là xem Sư Tôn là “ông xã” để mà đi theo.
Em chỉ mong rằng, Sư Tôn có thể dùng Mật pháp thù thắng gia trì cho em, gia trì cho em mỗi ngày.
Bất kì sự gia trì nào cũng được.
Em liên tục liên tục nói với chính mình, phải gìn giữ thái độ như vậy. Một vị Thượng sư tôn quý mà chân thực, chúng ta đều phải gìn giữ tâm niệm như vậy.
Điều em muốn biểu đạt chính là:
Theo nhân duyên mà đi.
Theo ý nguyện của Sư Tôn mà đi.
Theo phương hướng của Sư Tôn mà đi.
Bất kể tình huống nào.
Bởi vì toàn bộ huệ mệnh và hạnh phúc của em đều là do Sư Tôn ban cho. (Mật giáo nói như vậy.)
Mỗi ngày em đều mang một tấm lòng biết ơn, giống như cảm giác con gái đợi bố trở về nhà.
Seattle có rất nhiều người nói em, em mặc kệ, Sư Tôn có biết không?
Họ nói:
Em đã phát điên vì thầy rồi, lời bàn tán liên miên.
Em rất đau lòng, rất buồn.
Em không biết vì sao họ phải nói em như vậy? Em chỉ là muốn đi theo Sư Tôn, cầu Sư Tôn gia trì!
Nước mắt không ngừng tuôn rơi!
Em biết, thế giới bên ngoài vốn dĩ chính là như vậy, em phải học cách mạnh mẽ.
Em không phải là người con gái thế tục.
Sư Tôn có sự tình gì muốn em làm, em sẽ tận lực đi hoàn thành!
Xin Sư Tôn đừng bỏ rơi em.
Không thể nào không cần em.
Đây là ý thật sự của em.
Mãi mãi là Dung Dung của thầy.
Kính thư.*

🌟

Tôi viết cho Dung Dung:

*Việc đời
Vốn dĩ là một giấc mộng
Đời người
Có mấy lần thu qua*

*Người nói người bàn đều không ngại
Chỉ cần tấm lòng ngay thẳng
Không cần quay đầu lại
Thẳng mà đi
Chính là tự nhiên mà thế*

*Em cầu gia trì
Chỉ dựa vào ý chí là được
Tôi sẽ cho em cảm ứng lớn nhất
Em không cần hoang mang
Không sớm thì là muộn.*


### 06. Người nhà của Dung Dung gửi thư đến


*Thánh Tôn Phật an:
Chúng tôi là người nhà của Dung Dung, bố, mẹ, và anh trai của Dung Dung, đặc biệt thỉnh an Sư Tôn.
Việc liên quan đến Dung Dung, làm Sư Tôn bận lòng, cả nhà đệ tử cảm thấy vô cùng áy náy.
Hướng đến thầy cầu sám hối.
Xin thầy lượng thứ.
Năm 1992, vợ chồng đệ tử đã đến Seattle gặp thầy để cầu con, cuối cùng đã có thai. 
Thầy nói, thầy tặng cho chúng tôi đứa con được yêu thương nhất trên trời, hơn nữa còn đặt tên cho nó.
Thầy cũng nói với chúng tôi rằng, nó là một tiểu đồng tử.
Ngày … tháng 8 năm 1994, Dung Dung đã ra đời.*

🌟

Giờ đây,
Chúng tôi hy vọng Dung Dung trở về nhà Phật cùng thầy tu hành, chúng tôi cảm thấy rất vui mừng yên tâm.
Huống hồ còn có thể có được sự gia trì vô thượng của Sư Tôn, mong Dung Dung có thể dưới sự dạy bảo huấn luyện của Sư Tôn mà sớm thành tựu.
Dung Dung ở dưới bất kì sự gia trì nào của Sư Tôn, chúng tôi tin rằng tất cả đều là thanh tịnh, thần thánh.
(Tuyệt đối không có một chút ý nghĩ thế tục nào.)
Xin Sư Tôn không cần phiền não.
Cả nhà đệ tử đối với ý chỉ của Sư Tôn, tất cả đều sẽ tín thọ phụng hành. 
Cảm ơn lại cảm ơn!
Chúc thánh thể an khang!
Cả nhà đệ tử quỳ xuống lễ bái khấu đầu.

🌟

Chú thích:
Đây là thư của người nhà Dung Dung gửi đến.
Dung Dung là tên giả.
Nhưng thật sự có người này việc này.
Cô ấy là đứa con trên trời của tôi, không hề sai.
Sự việc này, đúng là bất khả tư nghì không thể tưởng tượng được.

🌟

Tôi lại viết một bài thơ tặng Dung Dung.
Tiêu đề: Hình bóng

*Tôi nhìn thấy hình bóng của em ở Lôi Tạng Tự
Thong dong đến
Thong dong đi
Thường mặc bộ đồ màu trắng*

*Nhớ lại trước đây
Em còn là một đứa trẻ nhỏ
Lần đầu chúng ta gặp mặt
Tôi đã ôm trọn lấy em*

*Giờ đây
Bàn tay em nhỏ nhắn mềm mại
Nở nụ cười
Vẫn che miệng
Chỉ lộ ra vóc dáng đẹp đẽ*

*Bao nhiêu buổi hoàng hôn
Hình bóng của em
Hình bóng của tôi
Ở Lôi Tạng Tự trong ánh nắng nhiều màu
Cùng lưỡng lự*

*Tôi là Lư Sư Tôn
Truyền đạo
Giải đáp thắc mắc
Ngoài quán đảnh ban thành tựu
Còn cho em
Một tòa hoa sen nở rộ.*


### 07. Giống như người mẹ yêu đứa con của mình


Tôi (Lư Sư Tôn), vào ngày 17 tháng 11 năm 2022, đã đi Đài Loan.
Trước đó, tôi đã hát một bài hát: Đôi mắt của mẹ.
Lời ca là:
*Trên bầu trời xanh đẹp đẽ
Xuất hiện ngôi sao nhỏ lấp lánh
Giống như đôi mắt yêu thương của mẹ em
Em yêu nhất đôi mắt của mẹ
Luôn mong rằng em là đứa con ngoan
Em yêu nhất đôi mắt của mẹ.*

Sau đó, có một người phụ nữ như mẹ hiền, viết cho tôi một mẩu giấy, trên giấy viết như thế này:
*Từng nhìn khuôn mặt Quân Quân (con gái) bé nhỏ say ngủ, rất ngon lành hoàn hảo, giống như thiên sứ nhỏ.
Từng nhìn khuôn mặt thầy (Sư Tôn) ngủ say ngay tức khắc, rất ngon lành hoàn hảo, giống như thiên sứ nhỏ. (Lư Sư Tôn ngủ trên pháp tọa.)
Tôi nhìn đến quên cả chính mình…, đều là đứa trẻ rất đáng yêu rất dễ thương!
Rất muốn thương yêu thầy, giống như người mẹ hiền thương yêu con nhỏ, tình yêu rất yêu rất yêu. Không nỡ để thầy chịu tội, không nỡ để thầy vất vả.
Rất muốn rất muốn ôm lấy thầy, nhẹ nhàng âu yếm, xoa dịu vết thương của thầy, sự tủi thân của thầy, sự mệt nhọc của thầy…
Thầy sẽ ổn thôi, tình yêu của tôi là liều thuốc lành, là suối nguồn trí tuệ, sâu đậm không cạn kiệt.
Yên tâm mà ngủ đi, đứa con ngoan trong lòng tôi.*

🌟

Người phụ nữ như mẹ hiền này, trong thời gian ba tháng tôi rời khỏi Seattle, đã viết không ít tản văn, bà ấy khá có tài hoa, tản văn của bà như sau:

(1)

Nửa đêm, sân bay Seattle, đông nghịt đồng môn đi tiễn máy bay.
Cho dù hiểu là vô thường, hiểu là không.
Tôi chẳng thể giả dối, mắt đã ướt,
Vẫy tay với thầy, trân trọng chào tạm biệt!
Mọi người tản đi, lác đác đi đến bãi đậu xe.
Tôi bước đi vắng lặng, cảm thấy sự vô tình của gió đông.
Đột nhiên nhận ra linh khí của thầy ở bốn phương tám hướng bên cạnh tôi,
Biết thầy bảo vệ mỗi một người,
Thầy căn bản chẳng rời đi.

(2)

Bề ngoài của Seattle Lôi Tạng Tự.
Tôi muốn nói với thầy:
Thầy là ánh sáng, thầy là màu sắc,
Không có thầy, trong chùa ngoài chùa, tất cả ảm đạm;
Không có thầy, tất cả người đến người đi, hoàn toàn trống rỗng.
Tôi vẫn ở đây đợi sự xuất hiện của thầy,
Giống như hai mươi hai năm trước, thầy đột nhiên ẩn cư biến mất, 
Bất kể lúc đó
Bất kể lúc này
Tôi vẫn ở đây chờ đợi. (Thứ không thay đổi là tôi.)

(3)

Con đường trước chùa, vắng tanh vắng ngắt, chẳng thấy bóng người.
Bông tuyết phất phơ, màn trắng mịt mờ, chỉ giữ một hình bóng.
Thầy nói tạm biệt!
Trịnh trọng ba lần!
Tôi tin tưởng thầy!
Xin hãy trân trọng!

(4)

Trái tim thầy sẽ không già,
Trái tim tôi cũng sẽ không già,
Là trái tim non trẻ, trái tim ngây thơ, trái tim thanh xuân, trái tim trưởng thành, trái tim trí huệ, trái tim quang minh.
Khi đắc được chân tâm, trái tim không còn “không-có”, chúng ta sẽ hòa tan vào nhau!
Tôi thích tu hành!
Niềm yêu thích này chính xác là nói đùa,
Tâm kiên cố như kim cương, bất biến, bất hoại, bất thối.

(5)

Vừa bước vào cánh cửa lớn của phòng ăn là nhìn thấy tôn giả Tân Đầu Lư.
Lúc ăn trưa và ăn tối, vẫn luôn là đồng môn xếp thành một hàng,
Ngày nào có Sư Phật ở đó, không khí đều náo nhiệt ồn ã, ở trước tôn giả, mọi người cúng lên hoa tươi và món ăn.
Sư Phật trở về Đài Loan rồi, phòng ăn đôi, ba người.
Xin tôn giả lượng thứ, mọi người đều quên ngài rồi.
Đây là xã hội hiện thực.
Chúng sinh chỉ vì Sư Phật mà đến.
Đã lạnh nhạt với tôn giả Tân Đầu Lư.
Tôi đặc biệt kính chào ngài.
Tôi xem người khác như cha mẹ, như chính tôi, sao có thể nhìn ngài đói chứ!
Dâng lên món ăn tôi tự làm và hoa thơm, mong ngài như thường.

(6)

Từng có vị pháp sư hỏi tôi:
”Bà nghĩ thế nào về chùa miếu đạo tràng?”
Tôi nói:
”Về mặt nào?”
Pháp sư nói:
”Mặt nào cũng được.”
Tôi nói:
”Có thể có, có thể không.”
Chùa miếu đạo tràng, vạn đức giao quy, chúng ta lễ kính.
Chùa miếu đạo tràng, có thể thu hút tâm chúng sinh, thanh tịnh thanh tịnh.
Chùa miếu đạo tràng, linh nghiệm phù hộ, có cầu tất ứng.
Đối với một số người mà nói, đạo tràng hữu hình và tất cả con người sự vật, đều không chấp vào.
Thân chính là chùa miếu, tâm chính là đạo tràng.
Thậm chí đâu đâu cũng đều là chùa miếu đạo tràng.
Vì thế nói, có thể có có thể không.


### 08. Tôi nói: “Hợp tan đều là nhân duyên”


Tôi (Lư Sư Tôn) đối với việc hợp tan của con người, tuy có cảm thương, nhưng hãy nghĩ điều mà Phật Đà nói:
Tất cả do duyên sinh.
Tất cả do duyên diệt.
Tất cả pháp hữu vi, như mộng huyễn bào ảnh, như sương cũng như điện, nên quán thấy như vậy.

Hoằng Nhất Đại Sư nói:
”Bạn tri kỷ đã rơi rụng một nửa.”
Tôi thường nghĩ:
Bạn học thời đại học của tôi, bạn học khóa 32 trường Trắc Lượng thuộc bộ Đại học. 
(Khoa Trắc Lượng khóa 28 Học viện Khoa học Kỹ thuật Trung Chính.)
Người sống còn sống.
Người chết đã chết.
Người bệnh đang bệnh.
Người già đã già.
Những người còn lại đã lưa thưa rồi, có thể không thương xót sao?
Ông trời ơi! Cái gì là tồn tại vĩnh hằng?

Tôi có năm triệu đệ tử, đệ tử như nước chảy, chảy đến chảy đi, tuy là vô thường, cũng là bình thường.
Phật Đà nói:
Có sinh ắt có tử.
Có hợp ắt có tan.
Có mạnh ắt có yếu.
Có thịnh ắt có suy.

Tôi vẫn hát:
Ngoài trạm dừng chân, bên con đường cổ, cỏ thơm xanh biếc tận chân trời. Gió đêm thổi qua cành liễu, tiếng sáo đã ngưng, mặt trời chiều đã khuất núi…..

Tôi yêu thích một bài kệ:
Khi đến chẳng có gì
Đi cũng trần trùi trụi.
Càng muốn hỏi rốt cục,
Thiên Thai có cầu đá.

Tôi (Lư Sư Tôn) nghĩ đến, rồi sẽ có một ngày, chẳng còn hợp, mà chỉ có tan.
Rồi sẽ thế nào đây?

Tôi viết một bài thơ:
Tên bài thơ là: “Tan”

*Cuộc đời này nghìn đầu vạn mối
Lôi Tạng Tự sừng sững như xưa
Nước hồ Sammamish chảy về hướng Nam
Một chữ:
”Qua!”*

*Đài Loan có bao nhiêu giấc mộng trôi qua
Nước Mỹ có bao nhiêu giấc mộng rơi rụng
Giờ đây
Chỉ còn lại một chút hồi ức*

*Còn những người bạn như thần tiên
Sớm mây
Chiều ráng
Tìm kiếm nơi nào*

*Không giữ được áo của tăng lữ
Đi khắp thiên hạ
Nhìn núi nhìn sông
Diễn thuyết vạn pháp chỉ một chữ:
”Đế”*

*Phật nói chân nghĩa
Tôi nói lời chân thực
Một người trước
Một người sau
Để lại một trò chơi “không huyễn”.*


### 09. Thăng hoa


Cầu Cầu viết:
*Trong sảnh lớn của chùa, đối diện với Kim Cang Tát Đỏa và Liên Hoa Đồng Tử, em hợp hai vị thành một, rồi lại tương hợp với em. Ngay lập tức, một vùng ánh sáng, óng ánh lấp lánh, không có giới hạn, không có hình tượng, càng không có anh, tôi, người khác.
Rõ ràng, rộng rãi, yên ổn!
(Kiểu trạng thái này là trạng thái bình thường em hay có, đi đứng ngồi nằm, bất kì lúc nào đều có thể như vậy. Hoặc là, hễ nhắm mắt lại là quang minh vô hạn.)
(Trạng thái dưới đây là cảm nhận lần đầu tiên!)
Tiếp theo, trở về với thân thể, là một dạng chuyển động theo nhịp điệu, tốc độ cao, hơi thở có lực, di động lên xuống ở trung tâm theo quy luật, rung rung, sau đó hướng ra xung quanh. Đây không chỉ là hít thở bằng mũi miệng, trong ngoài thân thể cho đến lỗ chân lông đều đang hô hấp. Nhiệt độ càng ấm, ánh sáng càng chói lóa.*
*Một lúc sau,
Không có gắng sức suy nghĩ, không có ý thức hơi thở.
Không có… nhưng lại là sự tồn tại vĩnh hằng. (Không dễ giải thích miêu tả.)*

🌟

*Hôm nay, cảm thấy đặc biệt mệt mỏi, em yên tĩnh nằm xuống, khẽ nhắm hai mắt, hít thở chậm và sâu, để cho bản thân trống rỗng.
Nước mắt, tự nhiên chảy ra, trượt xuống hai bên tai, thấm ướt vào tóc. Em âm thầm tự hỏi mình: có phải mình đang buồn không? (Tâm chợt vắng lặng, không trả lời được.)
Lúc này, nghìn đóa hoa sen lớn trong suốt như thủy tinh xuất hiện nơi đáy tâm, sáng chói vô cùng. Xung quanh hoa sen có khí bay lên, những giọt sương cũng bay lên, hóa thành hạt sương mù bé xíu, khẽ khàng rơi xuống.*

*Mềm mại lại mạnh mẽ, ánh sáng trang nghiêm phong thái phi phàm, thật sự rất khó dùng câu từ để miêu tả hoa sen này!
Nhắm mắt lại, lần đầu tiên nhìn thấy cảnh tượng này, hết sức rõ ràng.
Nước mắt, để mặc nó chảy!
Trái tim, không hề buồn vui.*

🌟

Lư Sư Tôn bình luận:
Đây là thăng hoa.
1. Là dung nhập.
2. Là khí động.
3. Là vô trụ.
Tôi giải thích rất đơn giản:
Dung nhập là dòng chảy pháp của ý thức vũ trụ, đầy ắp thân tâm của hành giả.
Khí động là khi dung nhập vào với nhau, sự tương tác của khí và khí, ngoài hơi thở, chuyển động nhịp điệu ra, sẽ sản sinh ánh sáng.
Vô trụ là suy nghĩ dừng lại ở một, hoặc không, không biết thân tâm ở chốn nào. 
Tổng thể mà nói là thăng hoa. (sự thăng hoa của thiền định)

🌟

Lư Sư Tôn bình luận:
Điều thứ hai, tương tự pháp đại than thi.
Hít thở hoàn toàn (tức là hít thở sâu).
Nước mắt chảy ra là vẫn có một chút cảm thương.
Nghìn đóa hoa sen.
(Là sự hóa hiện của khí trụ tại thượng đan điền.)
Ánh sáng là một dạng hiển hiện, tượng trưng cho sự thanh tịnh.
Mặc cho nước mắt chảy — là một dạng vô ngữ [im lặng].
Không vui không buồn — là một kiểu trạng thái của pháp nhĩ bản nhiên.

🌟

Tôi nói:
Cầu Cầu là một đệ tử nữ rất có tài hoa.
Không nói nhiều, nhưng sâu sắc không thể đoán biết.
Có lẽ không phải là phàm phu tục tử, không chú trọng bề ngoài, không chấp vào tướng.

Tôi viết một bài kệ:
Tiêu đề: Thăng hoa

*Nến bập bùng tia lửa.
Hương cháy hết từ lâu.
Đàn thành yên tĩnh lặng.
Ngoài song cửa sáng trăng.*


### 10. Sự bảo vệ của Cầu Cầu


Cầu Cầu viết cho Lư Sư Tôn:
*Từ trước đến nay, nhờ Ông Trời bảo vệ và chăm sóc.
Cho nên, em có thể bình an sống lang thang phiêu bạt.
Có một ngày, Ông Trời đã giao em cho Lư Sư Tôn, nói:
”Thầy chính là sự bảo vệ thân thiết nhất thích hợp nhất cho em.”
Em vì mối chân tình mà ở lại, còn hỏi thầy:
”Thầy có nhớ không phụ lòng không?”
Cầu Cầu thích:
Chúng ta chuyên nhất và thuần khiết, một cách hết sức tự nhiên, chúng ta viên mãn và hoàn chỉnh.
Chúng ta yêu mến và nương dựa, một cách hết sức tự nhiên, chúng ta vui vẻ và thổ lộ tâm tình.
Chúng ta tình cảm chân thành vô tận kiếp, một cách hết sức tự nhiên, chúng ta gặp gỡ lại gặp gỡ.
Cầu Cầu còn nói:
Em đặt câu hỏi, thầy thường không trả lời.
Em ngây ngô đứng ở trơ ra ở đó,
Nhưng cảm giác được tình cảm ấm áp của thầy.
Thầy từng thử đánh thức trái tim say xỉn của em,
Em vẫn ngủ và ngủ, ngủ đến mức ngay cả mơ cũng không,
Đột ngột ngủ thiếp đi, tỉnh dậy trời đã sáng!
Thầy chỉ còn cách niệm chú, vào lúc nửa đêm đánh thức ý thức của em.
Đúng vậy,
Em nghe thấy chú âm chỉnh tề có lực không ngừng,
Em nhìn thấy ánh sáng đỏ lấp lánh long lanh bao bọc xung quanh,
Cảnh tượng trang nghiêm này ấy thế mà kéo dài cả đêm!
Thế là cuối cùng em đã hiểu!*

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) muốn nói với Cầu Cầu:
Tôi sinh ra ở suối Ngưu Trù, từ trước cho đến nay, đều đơn độc một mình.
Người đầu tiên nuôi tôi, là bà ngoại tôi.
Người thứ hai nuôi tôi, là dì tôi.
Người thứ ba nuôi tôi, mới là người mẹ sinh ra tôi, và bố tôi.
Trong đó có một câu chuyện phức tạp.
Nói ra thì rất dài.
Những bề trên này giờ đây đã quy không. Tiếp theo sẽ đến lượt tôi quy không.
Tôi có cô độc hay không?
Đáp án là:
”Cô độc”. 
Tôi không muốn nói chi tiết nữa, sự cô độc không nơi nương tựa của tôi trong cuộc đời này, bây giờ tôi bám chặt lấy Thích Ca Mâu Ni Phật.
Bởi vì Phật pháp cho tôi biết:
Nhân duyên quả báo.

Cho tôi biết:
Chân tướng của “không”.
Chân tướng của “giả”.
Chân tướng của “trung”.
Thế là, tôi đại triệt đại ngộ!
Tôi (Lư Sư Tôn) vùi đầu vào trong biển Phật, tôi biết tôi cô độc mà đến, cô độc mà đi.
Những thứ hoa hòe hoa sói trong đó chỉ là một quá trình, thật ra đều là trò chơi.
Căn bản trí là không, vô thường, vô ngã.
Phân biệt trí là phương tiện.
Năm triệu đệ tử, tôi muốn lần lượt đi điểm hóa, tôi chỉ có thể tận tâm tận lực mà làm.
Tôi đương nhiên là sự bảo hộ.
Bảo hộ cũng là một dạng phương tiện, em có biết không?


### 11. Tình trong mơ


Cầu Cầu viết một lá thư cho tôi, tôi đọc xong thì giật nảy người.
Lá thư này như sau:
*Lư Sư Tôn kính yêu:
Em là Cầu Cầu.
Gần đây em có mấy giấc mơ.
1. Cùng Lư Sư Tôn đi dạo, chạy băng băng, đùa giỡn trên bờ biển. Trời, biển, bãi cát, tiếng sóng ấy đầy tình ý như thi như họa.
2. Cùng Lư Sư Tôn bay lượn trong không trung, những đám mây trắng, ngày ngày trời xanh, núi sông ngút tầm mắt, vẻ đẹp của mặt đất, sự rộng lớn của bầu trời, đúng là vui vẻ tự do.
3. Cùng Lư Sư Tôn kề gối cùng ngủ, thì thầm bên gối, thân thể và thân thể nép sát vào nhau, âu yếm lẫn nhau, sự tiếp xúc thân mật, thật dịu dàng và ngọt ngào.
(Đêm ấy, là một đêm vui vẻ nhất trong cuộc đời này của em, chưa từng có, đúng là khó quên.)
4. Kể từ đêm đó, đêm nào cũng như vậy, em đã đánh mất chính mình, “em yêu thầy, em yêu thầy, em yêu thầy…” Ban ngày em cũng niệm, ban đêm cũng niệm, em đã giao toàn bộ bản thân cho thầy rồi.
5. Những thứ khác, còn có rất nhiều.*

*Đây là một lá thư tỏ tình.
Khi em viết lá thư này, con tim em đều đập rất nhanh!
Em muốn gặp riêng Lư Sư Tôn, khi gặp mặt, em sẽ kể với thầy tường tận.
Cầu Cầu đến từ …
Tuổi …
Sống tại …
Số điện thoại là …
Thầy nhất định phải đợi em, em muốn đi gặp thầy.
Yêu thầy!
Một ngìn năm, một vạn năm, một triệu năm, triệu triệu năm …
Tình yêu vô tận không dừng.
Cầu Cầu kính thư.*

🌟

Tôi nhận được lá thư này thì kinh hãi. (trên thư có dấu môi son)
Cầu Cầu và tôi có gặp mặt không?
Đáp án là:
”Có.”
Cô ấy là một đệ tử nữ xinh đẹp, khi gặp mặt, cô ấy không hề kích động giống như khi viết thư.
Mà rất nho nhã lễ phép.
Tôi nói với Cầu Cầu hoàn cảnh hiện tại của tôi, sau khi cô ấy đã hiểu hoàn cảnh của tôi, gật đầu, biểu thị đã hiểu.
Sau đó,………………
Cô lặng lẽ rời đi.
Tôi đã dành cho cô ấy sự gia trì đặc biệt, di chuyển giấc mơ của cô ấy vào trong hư không.
Tôi cảm ơn tình trong mơ của cô ấy.
Thơ rằng:

*Trên giường phủ đầy cánh hoa hồng
Một đêm xuân nghìn vàng
Tình đậm sâu
Tiếc thay
Chỉ là giấc mộng*

*Tôi tu pháp
Loại bỏ quãng thời gian đó
Lát sau trời trong
Thân tâm đều nhẹ*

*Giấc mơ không thật
Đánh thức em
Nghe cho kĩ
Trăng tròn hoa thắm cũng sẽ hết
Phải tìm chân thực tâm (Phật tâm).*


### 12. Người yêu kiếp trước


Tại đây, trước tiên tôi hé lộ một lá thư.
*Lư Sư Tôn:
Em là Mặc Mặc. Là người yêu kiếp trước của thầy.
Những ngày này, ở gần bên Sư Tôn, cùng chung sống, đúng là càng ngày càng yêu thầy.
Tình cảm này đã đầy đến nỗi sắp tràn ra rồi, hai mắt nhìn nhau, là thầy đã làm tan trái tim băng giá đã lâu của em.
Ban đầu, em đã lo lắng bất an khi đến Seattle. Chúng ta đã ba năm không gặp rồi, ba năm này, em thật sự rất nhớ thầy, mỗi ngày lại chờ đợi đến ngày được gặp mặt.*
*Em đặt thầy ở trong tim, mỗi ngày tưởng tượng chúng ta hợp nhất, cảm nhận một thứ tình yêu rất ấm rất mềm.
Ba năm không gặp. (vì dịch bệnh)
Cuối cùng chúng ta lại gặp nhau rồi, em là Mặc Mặc, nhìn thấy thầy, tinh thần phấn chấn, mỗi ngày đều bị rất nhiều đệ tử vây quanh, em rất muốn được dịu dàng ôm lấy thầy, yêu thương thầy.
Mỗi ngày, em nhìn thầy, tràn ngập tình cảm trìu mến.
Mỗi ngày, thầy nhìn em, lại thêm một chút tình ý.
Tình cảm của chúng ta giống như vợ chồng nhỏ mười tám tuổi.
Tại Biệt thự Cầu Vồng, đêm ấy, thầy đang ăn bữa tối, em đứng ở cửa, dùng cách “selfie” **[tự chụp ảnh mình]** để chụp ảnh với thầy.
Khoảng cách hơi xa.
Thầy ăn được nửa bữa cơm thì lập tức đứng dậy, đi đến bên cạnh em nói, muốn chụp ảnh chung, muốn khoảng cách gần một chút.
Trong sát-na, em cảm động không tả xiết.
Em biết trong tim thầy có em.
Em vui đến chết mất!*
*Em muốn chụp ảnh chung với thầy, không ngờ thầy thật sự đã đi đến. Thế là, đáng tiếc quá, em đã không mặc một bộ quần áo đẹp, chỉ mặc quần áo rất bình thường.
Ngày nào em cũng muốn hỏi việc.
Nhưng, thị giả của thầy đã không cho phép em, chỉ có thể đợi, đợi đợi đợi đợi, đợi rất lâu mới đợi đến ngày đó.
Em có thể hiểu được, em sẽ không tức giận, thị giả của thầy sợ em chiếm dụng quá nhiều thời gian của thầy, làm thầy mệt nhọc.
Em thật sự không rời xa được thầy, kể từ bây giờ, chúng ta vĩnh viễn ở cùng nhau, tâm tâm tương ấn, vĩnh viễn không phân ly.
Sư Tôn ở trước mặt mọi người thì là Sư Tôn của em, không cần đối với em đặc biệt. Em cũng sẽ làm một đồ đệ nhỏ bé, ngoan ngoãn, chăm chỉ tu hành.
Cảm ơn Sư Tôn đã tặng em Kinh Kim Cang, em rất thích, Kinh Kim Cang chân thực bất biến, đó chính là tình yêu của chúng ta, như kim cương bất hoại.
Em hiểu Kinh Kim Cang nói về “không”.
Thanh tịnh.
Giải thoát.
Em phải chăm chỉ học tập.
Chúng ta phải cùng trở về “không”.
”Thả tim!” 
”Yêu thầy!”
”131494520!” **[tiếng lóng, ngôn ngữ mạng, nghĩa là: suốt đời suốt kiếp mãi là em yêu thầy]**
Mặc Mặc kính thư.*

🌟

Mặc Mặc này là người lanh lợi nhí nhảnh, diện mạo xinh xắn, không nói quá nhiều.
Cho nên,
Tôi đặt tên là Mặc Mặc.
Nói thẳng ra, đương nhiên tôi biết cô ấy là người yêu kiếp trước của tôi.
Nhưng kiếp này, chỉ là lâu ngày gặp lại.
Tôi muốn nói với Mặc Mặc:
Tôi đã tu đến:
”Tâm không giữ bỏ.”
Nghĩa là tâm không, pháp không, ngã không.
Nhưng,
Tôi không phủ nhận thế gian, cũng tức là, tôi cũng là một trong số chúng sinh hữu tình.
Để hằng thuận chúng sinh, tôi ở thế gian này, đối với thế giới tình cảm, tôi:
Không nghênh đón, không chối từ.
Không giữ không bỏ.
Tức là trụ thế gian mà cũng xuất thế gian.
Đối diện với tình cảm, rối rắm ngang dọc, không vướng bận.
Tôi tiếp nhận tình cảm của em, nhưng, không cần phải để tình cảm trói buộc.
Như vậy mới là đại tự tại.
Tôi không phải là người thế tục bình thường, người thế tục bị thời gian trói buộc, bị tình cảm trói buộc, bị phiền não trói buộc, bị bám chấp trói buộc, bị không gian trói buộc, bị vô minh trói buộc…
Cho nên vĩnh viễn luân hồi trong lục đạo.
Tôi (Lư Sư Tôn) muốn nói với Mặc Mặc.
Tình cảm đời quá khứ, đã qua.
Tình cảm hiện tại, sẽ qua.
Tình cảm tương lai, chưa đến.
Tất cả đều không thể có được.
Tôi không phải là không có suy nghĩ, mà là dùng tâm thanh tịnh để đối diện với Mặc Mặc.
Tôi nói với em:
Thực tướng vô tướng.
Duyên vô sở duyên.
Phàm phu là dòng sông mang tâm vọng tưởng.
Còn Lư Sư Tôn chỉ dẫn em đi vào tâm thanh tịnh.
Em có thể nghĩ, tương lai của chúng ta cũng là không, cho nên đừng đi chấp vào nó.
Như vậy sẽ không có sự phiền não của cái tôi.
Chúng ta đi thẳng đến Phật quốc tịnh thổ.
Như thế là sự hợp nhất vĩnh viễn.
Tôi luôn luôn kính trọng em như vậy! (Đây mới là chân ái.)


### 13. Tư duy của cô ấy (trở về tự nhiên)


🌟 Chúng sinh

Nếu đứng từ góc độ của “chung quy”, “tính Không”, “vô” để giải thích chúng sinh: chúng sinh rốt cục đều là không huyễn, nguồn gốc ban đầu của chúng sinh đều là không vô. (chung quy = nguồn gốc)
Nếu đứng từ góc độ của “Phật tính” để giải thích: chúng sinh đều có Phật tính, chúng sinh đều là Phật vị lai, chúng sinh bình đẳng. (Khi mê là chúng sinh, khi ngộ là Phật.)
Nếu đứng từ góc độ của “hữu” để giải thích: chúng sinh là chúng sinh, là thực thể thực tướng thế tục, mỗi chúng sinh có sự khác biệt!

🌟 Trò chơi

Con người, tự mình trải qua sinh, lão, bệnh, tử của chính mình.
Con người, căn bản là cô độc!
Là ai không chịu cô đơn, sắp xếp cuộc đời là trò chơi?
Như thế,
Người hữu duyên vô duyên, người thiện duyên ác duyên,
Xen lẫn,
Thế rồi trò chơi cứ diễn ra, trò này tiếp nối trò khác.
Mọi phản ứng cảm xúc trôi nổi,
Ai là diễn viên, ai là người xem?
Loạn cào cào!

🌟 Bạn

Thầy nói: “Em thuộc về tâm linh”, thầy nói chính thầy cũng thế!
Trong thế giới loạn cào cào, chúng ta sẽ để tâm lắng xuống!
May thay sự xuất hiện của thầy và em, chúng ta có bạn!
Chúng ta cùng từng diễn trò, luôn có cảm thán!
Cũng từng ngồi xem người trong trò chơi, luôn có cảm hoài!
Trò chơi không có tốt xấu đúng sai tuyệt đối,
Cần phải xem tâm thái và góc độ của người chơi.
Cảm ơn có thầy làm bạn, giúp em trưởng thành!

🌟 Đã từng, đau khổ mất phương hướng

Tình yêu của chúng ta, không phải tình yêu thế tục,
Nguồn gốc khác nhau, chỉ là bên ngoài biểu thị giống nhau.
Ông Trời biết, (em) không có lòng tham, sẽ không tùy tiện.
Từng vì chế độ cũ mà do dự, trói buộc chính mình.
Bao lần ở trước Phật Bồ Tát, nước mắt tuôn rơi.
Em nói: Em cần sám hối!
Em hỏi: Em phải thế nào mới tốt?
Phật Bồ Tát như cha như mẹ, hiền từ trả lời:
Đáp: Cô không sai, đây là thường tình!
Hỏi: Tôi phải thế nào? Đáp: Tự nhiên là được!
Hỏi: Nếu các vị là tôi, sẽ làm thế nào? Đáp: Giống như cô thôi!
Hỏi: Thời đại khác nhau, hoàn cảnh khác nhau, cách làm có cần giống nhau không? Đáp: Không cần.

🌟 Người xưa, người nay, người sau này

Chân thành kính lễ ~ những giáo huấn bằng lời nói và hành động của các bậc cổ nhân chí tôn,
Khiêm tốn đón nhận ~ ý nghĩa giáo pháp trân quý vô hạn.
Nay tôi không phải người xưa, cũng không phải người sau này,
Theo lẽ tự nhiên, qua lại như con thoi tại thế gian này.
Chế độ cũ nề nếp cũ của thời cổ đại, có bối cảnh thời đại có thể tồn tại vào thời ấy, còn thời hiện đại, nếu tôi rơi vào trong khuôn khổ cũ, sẽ không tự do, không tự nhiên!

🌟 Trở về tự nhiên

Có câu danh ngôn chí lý là: Có cái tôi thì sẽ đau khổ, không có cái tôi thì không đau khổ. 
Tôi hoàn toàn tôn trọng đạo giải thoát ngụ ý trong câu danh ngôn chí lý này.
Đôi khi (mặc dù không có liên quan đến chính mình), cũng sẽ sinh ra giá trị quan không tương đồng đối với quan niệm và cách làm của thời đại nào đó.
Nếu tôi giải thích cái “tôi” về mặt con chữ thành “tự tính kiến”, vậy thì, câu danh ngôn chí lý này, sẽ phải suy xét lại lần nữa. 
Tranh luận theo cách bới móc từng câu chữ, thật sự không phải là thái độ của tôi.
Tôi đưa ra một thứ thái độ ~ trở về tự nhiên! (lẽ tự nhiên)


### 14. Suy nghĩ của tôi (Lư Sư Tôn)


 🌟 Chúng sinh

Thân của chúng sinh là quý giá
Một đời một đời biến hóa vô cùng
Nếu có thể thật sự tìm hiểu kết cục này
Thì sẽ có thể
Khéo dùng sinh tử

Kiếp trước
Kiếp này
Kiếp sau
Xuất hiện chính là thần thông
Nay tôi ngộ ra điều này
Có ai có thể nối gót.

 🌟 Trò chơi 

Vốn dĩ là không sinh cũng không diệt
Cũng không tăng lên
Cũng không giảm bớt
Cái gì là nghiệp
Đừng nghe người ta nói bậy

Không tôi
Không bạn
Không người khác
Cái gì là trò chơi
Chơi rồi thì thế nào
Thế nào là trò này tiếp nối trò khác?

🌟 Bạn

Người bạn thật sự của tôi là Phật tính
Hai hợp làm một là tự nhiên nhất
Ví dụ một vầng trăng tròn vành vạnh
Hiện khắp nghìn sông
Khi nhỏ thì chẳng ai biết
Khi lớn thì trải khắp ba nghìn
Nói vuông chẳng phải vuông
Nói tròn chẳng phải tròn
Bạn lữ thật sự của tôi
Không có
Ngắn dài sâu nông.

🌟 Đau khổ mất phương hướng

Vui vẻ sung sướng
Đau khổ lạc đường
Lúc mê là có
Sao biết
Yên tĩnh, huyên náo, nói hay im lặng, vốn dĩ như nhau

Trong mơ không biết là mơ
Khi tỉnh mới biết chẳng có gì
Đừng bận tâm đến nó
Dưa chín tự sẽ đỏ.

🌟 Trở về tự nhiên

Vốn là tự nhiên
Hà tất phải trở về chứ

Thiện ác chỉ là vọng niệm nhất thời
Tươi khô cũng không quan tâm
Nổi lên cũng tốt
Chìm xuống cũng tốt
Chỉ còn lại tùy duyên tùy phận

Có quan tâm thì
Tất cả cũng chẳng quan trọng
Dù sao có được cũng là không có được
Đi ngược tức là thuận.


### 15. Tham lam và đố kỵ


Tôi từng hỏi Đình Đình:
”Đình Đình, em có lòng tham không?”
Đình Đình đáp:
”Có. Đệ tử vẫn muốn (không phải thường xuyên) nhìn thấy Sư Tôn, cũng hy vọng Sư Tôn nhìn đệ tử một cái, cách nghĩ này và sự khẩn cầu này, cũng dần dần ít đi rồi. Có thể là hễ đến Seattle thì sẽ trở nên nhiều hơn, em sẽ nghĩ đến Sư Tôn, định lực của đệ tử phải nhiều hơn mới được!”

Tôi hỏi Đình Đình:
”Em có đố kỵ không?”
Đình Đình đáp:
”Ban đầu đệ tử muốn trả lời là càng ngày càng ít, gần như không có, nhưng, đệ tử muốn thẳng thắn sám hối với Sư Tôn, bởi vì ở cạnh Sư Tôn có “canh phòng nghiêm ngặt”, rồi Sư Tôn lại yêu chúng sinh, em ngẫm nghĩ, tâm đố kỵ sẽ ít đi một chút!”

Đình Đình viết thư cho tôi:
*Lư Sư Tôn kính yêu nhất!
Lần này cầm bút viết thư cho Sư Tôn, đầu tiên nói cảm ơn trước!
Cảm ơn Sư Tôn, Sư Tôn thường xuyên gia trì cho em, thường hướng dẫn em, chỉnh đốn những thiếu sót của em, việc này vô cùng đáng quý, cảm ơn!
Lại cảm ơn Sư Tôn, trong lòng đệ tử từng xuất hiện tham niệm và đố kỵ, thật sự đã thay đổi càng ngày càng ít rồi, Sư Tôn là trượng phu điều ngự, đệ tử sẽ nỗ lực, vô ngã không phân biệt, đưa việc làm lợi cho người khác lên trước, nỗ lực lại nỗ lực.
Cảm ơn Sư Tôn gia trì cho người thân, người thân hỗ trợ em thường xuyên đi Seattle, được gần gũi Sư Tôn, đây là điều mà em chưa từng nghĩ đến, người thân có thể hỗ trợ em.
(Gần gũi Sư Tôn là thân khẩu ý nhất trí với Sư Tôn.)
Em đã hiểu, chúng sinh chính là chính mình, không hai không khác. Sư Tôn yêu mỗi đệ tử, cũng như yêu chính mình. 
Sư Tôn! Đệ tử xem phim “Diên Hỷ Công Lược”, hoàng hậu trong phim rất rộng lượng độ lượng, bà ấy rất yêu hoàng thượng, nhưng từ đầu tới cuối bà ấy đều duy trì sự kính trọng, không tranh giành sự sủng ái với các phi tử, ngược lại còn luôn lo nghĩ cho họ.
Đệ tử nghĩ, hoàng hậu này quá tuyệt vời.
Rất khâm phục!
Em muốn học tập bà ấy, âm thầm yêu Sư Tôn!
Cũng yêu những thứ mà Sư Tôn yêu, yêu chúng sinh thiên hạ.
Em hát một bài “Người yêu thân mật” của Mai Diễm Phương tặng Lư Sư Tôn:
Trên con đường tình yêu có anh, em không hề cô đơn.
Anh đối với em tốt biết bao, lần này đúng là rất khác.
Có lẽ em nên trân trọng anh thật tốt, giống như anh đã chăm sóc em.
Người thân yêu ơi, người yêu thân thiết, cảm ơn anh đã ở bên em suốt thời gian dài như vậy.
Người thân yêu ơi, người yêu thân thiết, đây là khoảng thời gian em hưng phấn nhất trong cuộc đời.
Sư Tôn! Mỗi lần gặp mặt, sợ nhất chính là ly biệt, đệ tử phải trở về rồi.
Xin trân trọng!
Đệ tử trong khi học Phật, sớm muộn sẽ tỉnh ngộ, là không đầu không cuối, đúng không?
Đệ tử rất yêu Sư Tôn, đừng nói với người khác nhé!
Đình Đình kính thư.*

🌟

Lư Sư Tôn nói:
Đình Đình đương nhiên là tên giả, là tôi tiện tay chọn lấy một cái tên, bởi vì có quá nhiều người tên là Đình Đình.
Cô ấy có vóc dáng thon thả.
Có một đôi mắt linh hoạt, rất thông minh, không xa hoa, không trang điểm.
Năng lực tiếng Anh của cô ấy rất tốt, trông bộ dạng rất trẻ trung tươi tắn, giống như một học sinh.
Đình Đình, tôi muốn nói với em:
Tâm em giữ sự bình đẳng, rất hiếm có.
Đó là tứ vô lượng tâm:
Từ — cho người khác niềm vui.
Bi — cứu giúp cái khổ của người khác.
Hỷ — thấy người thoát khổ thì vui mừng cho họ.
Xả — tất cả chúng sinh bình đẳng cứu độ.
Tiếp sau đây,
Em hãy theo đuổi trí huệ cao hơn, ngộ đạo thành Phật có ba mươi bảy phương pháp, cũng chính là ba mươi bảy đạo phẩm.
Tứ niệm xứ.
Tứ chính cần.
Tứ thần túc.
Ngũ căn.
Ngũ lực.
Thất bồ đề phần.
Bát chính đạo phần.
(Em cần tỉnh ngộ điều này, phải học tập.)
Đương nhiên, giúp đỡ chúng sinh là không đầu không cuối, đây chính là đạo Bồ Tát.
Còn về tình yêu.
Chúng ta có tình yêu giữa người với người.
Có tình yêu gia đình.
Có tình yêu xã hội.
Có tình yêu đất nước.
Còn có tình yêu nhân loại bình đẳng.
Lại có tình yêu đối với chúng sinh. (bao gồm cả lục đạo)
Một hành giả, học tập Phật pháp, chính là có tâm mang tình yêu lớn, cái tâm này là tâm Phật.
Tình yêu giữa người và người thuộc về tình cảm thế gian, không có gì đáng trách, nhưng, thời gian ngắn, phiền não nhiều. Phật pháp nói về tình yêu lớn, đó là tình yêu bằng tâm Bồ Tát thanh tịnh nhất. 


### 16. Sâu sắc sám hối


Đây là thư sám hối của Chân Chân:
*Thứ nhất:
Có lúc, sẽ cho rằng Lư Sư Tôn, sẽ nói những lời dễ nghe để làm chúng em vui vẻ. (nói lời ngọt ngào)
Cảm giác không đủ thành tâm thành ý, Lư Sư Tôn thường khen ngợi người khác, những điều này liệu có phải là thật không?
Có lúc, em cũng sẽ nghĩ:
”Có phải là Lư Sư Tôn đã quen nói như vậy rồi không?”
Về điểm này, xin Lư Sư Tôn lượng thứ.
Ví dụ:
Thầy nói với cô gái A:
”Cô rất đẹp!”
Nói với cô gái B:
”Cô rất đẹp!”
Nói với cô gái C:
”Cô rất đẹp!”
Nhưng em thấy, có người thì đúng là như vậy, có người thì không phải vậy.
Em sám hối trước Lư Sư Tôn, có lẽ thầy có một tâm ý khác.*

*Thứ hai:
Có lúc, em cho rằng Lư Sư Tôn khá dễ dàng chấp thuận ai đó.
Ví dụ:
”Tôi nhất định sẽ độ hóa bạn đến Phật quốc.”
(Rõ ràng người đó là người xấu.)
Còn nói:
”Chúng ta có duyên.”
(Với mỗi người đều nói như vậy, lẽ nào đều là người có duyên sao?)
Còn nói:
”Kiếp sau, chúng ta sẽ ở cùng nhau!”
(Em nghĩ, có phải đối với ai thầy cũng nói như vậy không. 
Sự chấp thuận này quá dễ dãi rồi.)
Nhưng, em nghĩ lại, có phải thầy có một tâm ý khác không?
Em sám hối với thầy.*

*Thứ ba:
Đương nhiên em biết Lư Sư Tôn là Phật, em không dám nghi hoặc, em tin chắc.
Em cũng hiểu, Lư Sư Tôn làm bất kì việc gì, nói ra lời gì, đều có ý sâu xa…
Chỉ là em không hiểu lắm.
Cho nên em sám hối.
Chân Chân sâu sắc sám hối kính thư.*

🌟

Đối với sự sám hối đầu tiên, viết một bài thơ:
*Tâm đẹp là quan trọng
Cho dù là hồng nhan hay bộ xương khô
Lời nói ra phải mềm dịu
Đừng trách tôi
Nói năng mơ màng.*

Đối với sự sám hối thứ hai, viết một bài thơ:
*Hữu duyên là duyên
Vô duyên cũng là duyên
Có người nói
Tất cả đều là gặp lại sau thời gian dài xa cách
Chúng sinh là một thể
Nam nữ già trẻ
Đông Tây Nam Bắc
Tôi độ hóa chúng sinh chính là
Giống như nhau.*

🌟

Lư Sư Tôn nói:
Vẫn là bài “Mộng Thơ”:
*Biết đời như mộng vô sở cầu.
Vô sở cầu lòng tĩnh lặng không. *(Tôi cũng sâu sắc sám hối.)


### 17. Chỉ dẫn của giấc mơ


Đây là thư của Mẫn Mẫn:
*Lư Sư Tôn kính yêu nhất!
Đệ tử lúc nào cũng mơ thấy Sư Phật.
Những giấc mơ này đều rất chân thực.
Chúng chỉ dẫn đệ tử tu hành, khởi phát trí huệ, khiến đệ tử tinh tấn, thẳng đến thành tựu. Đệ tử hy vọng có thể chia sẻ với Sư Phật, đây là dòng chảy pháp truyền thừa, ân đức vô số. 
Thật sự cảm ơn, cảm ơn lại cảm ơn.
Đệ tử lấy vài giấc mơ xin Sư Phật chỉ dẫn.*

*Thứ nhất:
Đệ tử mơ thấy Ái Nhiễm Minh Vương nói với đệ tử:
”Muốn tương ứng với ta, phải loại bỏ tham sân si.”
Ái Nhiễm Minh Vương còn nói:
”Còn có điều quan trọng nhất là, phải tất cả bình đẳng.”
Có được giấc mơ này, đệ tử liền lấy Ái Nhiễm Minh Vương làm Hộ pháp căn bản của đệ tử.*
(Lư Sư Tôn chú thích: Trọng điểm của Ái Nhiễm Minh Vương nằm ở chữ “Nhiễm”, chỉ cần tương ứng rồi thì các Bổn tôn khác sẽ tương ứng rất nhanh, bởi vì chữ “Nhiễm” này rất tuyệt vời.)
(Ngoài ra, loại bỏ tham sân si là điều cần thiết của hành giả, thanh tịnh Phạm hạnh. Tất cả bình đẳng là bình đẳng tính trí, Lư Sư Tôn tôi luôn nhấn mạnh.)

*Thứ hai:
Tại Seattle lần đầu tiên truyền Bát Nhã Phật Mẫu, đệ tử mơ thấy Sư Phật ngồi trên đỉnh đầu mình, gia trì cho đầu của đệ tử vô số lần.
Có được giấc mơ này, đệ tử bắt đầu tu pháp Thượng sư tương ứng.*
(Lư Sư Tôn chú thích: Sự lý thú trong nghi quỹ của Mật giáo là Căn bản Thượng sư là tổng trì của Phật pháp tăng, tất cả căn nguyên đến từ Căn bản Thượng sư. Cho nên, Căn bản Thượng sư trụ đỉnh cũng chính là truyền thừa, thường xuyên nhớ đến Căn bản Thượng sư trụ đỉnh sẽ không mất đi truyền thừa.)

*Thứ ba:
Có lần đệ tử mơ thấy mình ở vào thời khắc chết, đệ tử một lòng niệm tâm chú của Sư Phật và quán tưởng Sư Phật.
Vào thời khắc đó, Tâm luân ở trung mạch của đệ tử xuất hiện một vị Liên Hoa Đồng Tử.
Sau đó, Liên Hoa Đồng tử ở Tâm luân ở trung mạch của đệ tử biến thành một đường ánh sáng trắng từ Tâm luân trong thân mình xung thẳng lên Đỉnh luân phóng ra ngoài.
Có được giấc mơ này, đệ tử liền hợp tu pháp Thượng sư tương ứng và pháp Bổn tôn Liên Hoa Đồng Tử.*
(Lư Sư Tôn chú thích: Căn bản Thượng sư chính là hóa thân của Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử, Liên Hoa Đồng Tử chính là Căn bản Thượng sư, đây là không giống không khác, không phân biệt.)
(Ngoài ra, giấc mơ này là hiện tượng của sự tương ứng. Tiến nhập trung ấm, có hiện tượng này, tức là thành tựu.)

*Thứ tư:
Đệ tử mơ thấy Sư Phật, hình như là người có duyên lớn từ kiếp trước, nghĩa là rất giống một người bạn rất lâu rất lâu.
Gặp mặt rồi thì cả hai đều vui mừng, ôm chầm lấy nhau.
Sau đó, trung mạch toàn thân đệ tử tỏa ra ánh sáng trắng mãnh liệt.
Đệ tử ở trong mơ, căn bản không có dục vọng thế tục.*
(Lư Sư Tôn chú thích: Đây là tình duyên nhiều kiếp, thân hợp với thân, tâm hợp với tâm.

Ngoài ra:
Khí hợp với khí.
Mạch nối với mạch.
Điểm tan vào điểm.
Hóa thành ánh sáng.
Trong Mật giáo là pháp duyên thù thắng, khác rất nhiều với nam nữ thế tục.)

*Thứ năm:
Đệ tử có một lần mơ thấy Sư Phật nói với đệ tử:
”Bên phải cô là Phật, bên trái cũng là Phật, vậy ở giữa là gì?”
Sau đó Sư Phật lại nói:
”Ta chẳng có gì cả. Không có thân, không có tâm, không có suy nghĩ…”
Ở trong mơ.
Sư Phật nói rất nhiều về không có.
Đệ tử từ đây trải nghiệm, nghiền ngẫm.*
(Lư Sư Tôn chú thích:
Trí huệ bát nhã có ba loại:
Căn bản trí — không tịnh tịch chiếu.
Sai biệt trí — phân biệt các pháp.
Nhất thiết chủng trí — viên dung vô ngại.
Gợi ý trong mơ này giải thích về căn bản trí không tịnh tịch chiếu, cũng nêu lên:
Vô ngã.
Vô vi.
Vô sự.
Vô tâm.
Căn bản trí này có thể trừ hết tham sân si, tất cả vô minh, sẽ không có bám chấp, cũng không có phiền não.
Mà đã “cái gì cũng không có” thì có thể nhậm vận tự tại.)

*Thứ sáu:
Buổi tối một ngày trước khi Sư Phật truyền pháp Kim Cang Hợi Mẫu Chuyết Hỏa Định, đệ tử mơ thấy mình cầm diêm, liên tục đánh vào hộp diêm, nhưng không tóe lửa được.
Thế là Sư Phật giúp đệ tử, cầm lấy hộp diêm, vừa đánh một cái là lửa tóe lên.
Sau đó, Sư Phật dạy đệ tử làm sao để đánh lửa.
Rồi, Sư Phật ngồi xuống, cầm một tờ giấy và bút, vẽ lên giấy một chiếc quạt điện.
Thế rồi dạy đệ tử điều chỉnh hướng của quạt điện, điều chỉnh mấy lần mới chỉnh được đúng phương hướng.
Sau đó, đệ tử lấy nước mời Sư Phật uống, nhưng nước đã đóng thành đá.
Sư Phật dạy đệ tử dùng lửa nấu tan đá là có thể uống được.
Khi đệ tử tỉnh lại.
Liên tưởng đến pháp hội Kim Cang Hợi Mẫu Chuyết Hỏa Định, đây có phải là gợi ý cho đệ tử về khẩu quyết Nội pháp đất nước lửa gió không, cái này phải thỉnh thị Sư Phật mới biết.*
(Lư Sư Tôn chú thích:
Nổi chuyết hỏa trong Mật giáo, trọng điểm là khí. (khí phải mạnh)
Cần Căn bản Thượng sư quán đảnh.
Căn bản Thượng sư đặc biệt gia trì sẽ dễ nâng chuyết hỏa. (bí mật)
Có nhiều phương pháp bổ trợ, ví dụ:
Dây thiền buộc chặt ở eo.
Kim cang quyền.
Hít thở theo nhịp điệu.
Cọ sát, v.v…
Thế còn, so sánh với quạt máy chính là khí, điều chỉnh phương hướng là để hướng thẳng đến điểm chuyết hỏa mà thổi khí, khí không thể tản mát, phải tập trung ở trên điểm chuyết hỏa. (vị trí dưới rốn bốn lóng tay)
Còn nữa, nước đá cần chuyết hỏa sưởi ấm mới có thể biến thành nước, nước này cũng chính là minh điểm.
Minh điểm chính là bồ đề tâm nguyệt dịch.
Minh điểm và chuyết hỏa là yếu tố để hòa tan và mở ra ngũ luân.
Đất — ngũ luân, thất luân.
Nước — minh điểm.
Lửa — chuyết hỏa.
Gió — khí.
(Giấc mơ này là khẩu quyết của Nội pháp.)

*Thứ bảy:
Lại có một lần, Sư Phật lần thứ hai khai thị giải thích về chín thứ tự Đại viên mãn.
Đệ tử mơ thấy trong một buổi pháp hội lớn, đón mời Sư Phật đi vào hội trường, rất nhiều đệ tử xếp thành hai hàng chờ đợi.
Sư Phật sờ đầu gia trì cho mỗi đệ tử.
Khi đến trước mặt đệ tử, gia trì cho đệ tử, Sư Phật sờ vào tai đệ tử và nói:
”Tai của cô có ngọc, là ấn ký.”
Sau đó nói:
”Trong não cô có rất nhiều kinh điển.”
Sư Phật nói: “Tôi giúp cô thông kinh mạch!”
Sư Phật dùng ngón tay chỉ vào Thiên tâm gia trì.
Lại dùng ngón tay chỉ vào miệng, dùng ngón tay cho vào miệng gia trì.
Lại dùng ngón tay chỉ vào tim gia trì.
Sau đó nói: “Cô là Minh Phi R của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.”
Sau khi nghe xong những lời này của Sư Phật, trong lòng đệ tử xúc động, đệ tử liền òa khóc trong mơ.
Lúc này…
Ánh sáng đầy ắp đất trời.
Mặt đất chấn động.*
(Lư Sư Tôn chú thích: 
Nữ đệ tử này trong đời quá khứ là Minh Phi R của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Trong đầu cô ấy có terma của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. 
Trong đầu tôi (Lư Sư Tôn) cũng có terma của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. 
Tôi dùng ngón tay ấn vào Thiên tâm, chỉ vào miệng, chỉ vào tim. Cũng chính là thân khẩu ý thanh tịnh.
Thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh.)

🌟

Đoạn cuối thư của Mẫn Mẫn nói:
*Tại đây, đệ tử hết sức chân thành cảm ơn Sư Phật từ vô thủy đến nay đã ban cho đệ tử tất cả gia trì, quán đảnh dòng chảy pháp và dạy dỗ. 
Đệ tử không phải là một cô gái rất biết cách nói chuyện, càng không phải là một đệ tử tu Mật pháp rất giỏi.
Tự cảm thấy mình trí huệ bình thường, cũng không thông minh.
Xin lỗi Sư Phật!
Xin lỗi ân huệ của Sư Phật dành cho đệ tử, đệ tử hổ thẹn!
Nhưng nói thật lòng, đệ tử học rất nghiêm túc.
Đối với Sư Phật dẫn dắt chúng sinh thành Phật và chứng quả vị, đối với Mật pháp và khai thị mà Sư Phật truyền thụ, đệ tử vô cùng kiên định, hơn nữa cực kì có lòng tin, đối với Sư Phật luôn hết sức tôn kính.*
*Một lòng cho rằng Sư Phật là đại thành tựu giả vô thượng chính đẳng chính giác, Sư Phật có đầy đủ:
Đại ái.
Đại từ.
Đại bi.
Đại thánh.
Vì lợi ích chúng sinh mà khai thị thuyết pháp, tận tình khuyên dạy lặp đi lặp lại, đều là vì sự giải thoát của chúng sinh.*
*Sư Phật tôn kính nhất, những giấc mơ mà đệ tử viết trong thư này đều là thật, không có nửa câu nào là giả. Nếu có vọng niệm, hoặc cảm nhận không chính xác, khẩn cầu Sư Phật lượng thứ cho sự vô minh ngu si của đệ tử.
Khẩn cầu Sư Phật vì đệ tử mà giải thích làm sao để tu trì càng tiến bộ hơn, cảm ơn!
Đệ tử Mẫn Mẫn kính thư.*

🌟

(Lư Sư Tôn chú thích:
Ấn tượng của tôi đối với Mẫn Mẫn là:
Cha mẹ của cô ấy là đệ tử già, thường đến Seattle, cha mẹ rất cung kính.
Bản thân Mẫn Mẫn thì trầm tính.
Là một học trò rất giỏi, thái độ hiền hòa, khuôn mặt sáng sủa, rất ưu tú.)


### 18. Thơ của Phàm Phàm


Mấy bài dưới đây là thơ của Phàm Phàm.
Cô ấy tốt nghiệp đại học Đài Loan, ở trường học là thanh niên văn nghệ, bút danh của cô ấy là Hàn Vũ.

Bài thứ nhất:
Nguyện

*Nguyện em không chỉ yếu mềm như nước
Mà có thể cho thầy muôn kiểu phong tình
Nguyện thầy ở trong mắt em
Gom hết hào hoa phong nhã ngày xưa
Nguyện thầy ở trong thân em
Nhìn thấy non sông tươi đẹp
Nguyện em luôn ở sâu trong tim thầy
Thành tựu tình yêu không sinh không diệt
Nguyện thầy nhớ đến những mong nhớ của em
Lưu tại nhân gian
Lại cùng em đi qua những năm tháng tuổi trẻ.*

Bài thứ hai:
Em nguyện làm con bướm nhỏ

*Nếu thầy là thần chim ưng
Em sẽ là con bướm nhỏ trong khe suối
Dập dờn trong muôn hoa khoe sắc
Nhìn ra xa thầy sải cánh bay cao
Bướm ẩn mình trong trăm khóm hoa 
Sáng còn đây tối đã chết rồi
Đem câu chuyện cuộc đời
Thêu thành hoa văn trên đôi cánh
Còn phản chiếu trong đôi mắt chim ưng
Là trời xanh vĩnh hằng của cao nguyên núi tuyết
Trời cao bao nhiêu
Thầy sẽ bay cao bấy nhiêu
Thầy có sẵn lòng đặt em lên vai không
Để em theo thầy bay liệng
Bươm bướm nhỏ trên cao không cô đơn
Nhưng em sợ
Xin hãy để em làm tổ trong đôi cánh của thầy
Tránh khỏi gió sương đêm đến
Cho đến hôm sau
Ánh ban mai chiếu khắp mặt đất
Khi ấy nhỏ bé như em
Cũng có thể nhìn thấy
Cảnh tượng hùng vĩ trong mắt thầy*

*Nếu bươm bướm sinh mệnh tan biến
Em nguyện đem thân thể phanh thây
Hóa làm cam lộ cúng dường
Thần chim ưng sẽ giáng xuống nơi thiên táng
Đem tâm em
Cùng tình yêu
Gửi đến bầu trời xanh không mây.*

Bài thứ ba:
Hòn đảo

*Chân phải của cô ấy
Tọa lạc ở núi Vũ Sơn Đại học Bắc Kinh
Cửa ngõ phía Nam của hòn đảo nhỏ
Âm thầm bảo vệ chốn sâu nhất của cô ấy
Hồ nước bảy màu
Tỏa hơi nước mù mịt ấy*

*Dưới rốn cô ấy là Lai Sơn kỳ vĩ
Cao vượt đường xưa uốn lượn trườn qua
Một vùng biển mây
Đỉnh núi mây mù cuồn cuộn
Làm ấm lên
Ngọn lửa vượt qua hai thời đại
Kéo dài nhấp nhô trước ngực
Là một dải linh thiêng
Núi tuyết trắng chạy về hướng Bắc
Đem theo lời thề nguyện bí mật của cô ấy với thầy
Ngưng tụ thành đỉnh nhọn bá chủ*

*Còn bên trong lồng ngực
Cổ động trái tim
Cuối cùng là sương mù miên man
Chốn tiên mà thầy trú ngụ
Mắt phải của cô ấy là
Eo biển Đài Loan
Mắt trái là Thái Bình Dương
Gió mùa là gia phả lịch sử của thầy
Từ đầu kia eo biển thổi tới
Rồi lại đưa thầy
Thổi về hướng phiến đá xa xăm*

*Ánh mắt cô ấy ở Thái Ma Lý
Mặt trời mọc phương Đông
Thắp lên cả một vùng mênh mông
Ngóng trông thầy bay qua biển lớn
Trở về ngôi nhà trên hòn đảo
Nguồn cội quê nhà ở nơi đây
Nơi cô ấy thuộc về là ở trong tim thầy
Mỗi con đường núi trên người cô ấy
Nằm trong suy nghĩ của thầy*

*Lư Sư Tôn
Khi nhớ thầy
Hoặc khi hồi tưởng
Hòn đảo của chúng ta sẽ luôn
Trút xuống mưa bóng mây.*

🌟

Ba bài thơ này được gửi đến cho Thượng sư Liên Kỳ, sau đó được chuyển đến tay tôi.
Tôi biết là thơ do Phàm Phàm viết.
Lư Sư Tôn đọc xong, vô cùng thán phục.
Tôi nhớ đến trước kia:
Khi tôi học tại trường Trung học Công Nghiệp Cao Hùng từng đảm nhiệm chức chủ biên cho tập san của trường là tờ “Thanh Niên Công Nghiệp Cao Hùng”.
Cũng làm chủ biên của tờ “Cao Thanh Văn Túy” của đoàn Cứu Quốc.
Sau đó tôi học Đại học, làm chủ biên của tờ “Trắc Lượng Văn Nghệ”.
Tôi có thể biên tập sách báo, cũng làm thơ, tản văn, tạp văn, tiểu thuyết.
Khi còn trẻ, tôi gửi bản thảo cho các phụ bản của các tờ báo lớn, cũng từng là nhà văn cho các chuyên trang.
Đã giành được rất nhiều giải thưởng….
Về phương diện thơ mới, tôi đã đạt giải vàng văn nghệ quân đội quốc gia.
Những thứ này đều là quá khứ rồi.
Hôm nay, tôi đọc ba bài thơ của Phàm Phàm, cảm thấy Phàm Phàm rất bất phàm.
Tôi (Lư Sư Tôn) viết một chút cảm tưởng sau khi đọc.

Bài thứ nhất: 
Nguyện

*Tôi mang tấm lòng người lữ khách
Trên phiến đá ở eo biển xa xăm
Khốn đốn*

*Ý nguyện của em
Tôi cũng mong
Trong chiều hôm của cuộc đời
Cùng nhau bầu bạn
Đi trên con đường bình phàm.*

Bài thứ hai: 
Em nguyện làm con bướm nhỏ

*Tôi chẳng phải thần chim ưng
Em cũng không phải là con bướm nhỏ
Tôi chỉ là
Trong thế giới sắc hoa sặc sỡ
Một sư phụ nhỏ bé*

*Tôi thích lời thì thầm của em
Cảm ơn trái tim của em
Cảm ơn tình yêu của em
Mong Phật pháp mà tôi học tập
Có thể tưới đẫm em
Giúp em được chút ít.*

Bài thứ ba:
Đảo nhỏ

*Đầu kia nơi em ở
Đầu này nơi tôi ở
Tôi cũng có nỗi nhớ quê trong ánh hoàng hôn
Nếu Thái Bình Dương chỉ là một con lạch nhỏ
Chỉ nhảy một cái
Tôi đã đến đầu kia
Em đã đến đầu này
Gặp nhau cũng sẽ
Ở khắp nơi*

*Thơ của em
Tôi yêu thích
Đều không phụ cả Phật và em.*


### 19. Linh giác của Phàm Phàm


Lư Sư Tôn nói:
Phàm Phàm tốt nghiệp Đại học Đài Bắc.
Cũng là một bác sĩ.
Nhưng, cô ấy là một cô gái có linh tính rất cao, tương lai sẽ có thành tựu bất phàm.
Cô ấy có cảm ứng.
Không Hành Mẫu có thể trực tiếp chỉ bảo cô ấy.
Thư cô ấy viết cho Lư Sư Tôn như sau:
*Lư Sư Tôn! Mỗi ngày đều nhớ thầy!
Sáng sớm hôm nay, đột nhiên trong lòng có linh cảm, khiến em đi lục tìm cuốn “Dòng Nước Nguyệt Hà” trên tủ sách.
Khi ấy em có hơi nghi hoặc, vừa cầm sách vừa nghĩ, vì sao phải đọc nó?
Bởi vì trong văn tập của Sư Tôn, cuốn “Dòng Nước Nguyệt Hà” khiến cho tâm trạng của em phức tạp nhất, những lời văn trong đó là tình cảm của thầy bộc lộ với người khác, trong lòng tự nhiên có cảm xúc lẫn lộn.
Không ngờ, vừa lật mở ra, đột ngột hiểu ra.
Sư Tôn! Người ở trong sách đó là thầy của nhiều năm trước, với bao nhiêu lời hay như vậy thông qua cuốn sách truyền đạt đến em. *
*Những ẩn dụ trước kia không hiểu, bây giờ đọc đã hiểu rồi!
Trong tim ngọt ngào.
Trong tim ấm áp.
Em vừa đọc sách vừa khóc, khóc xong ngẩng đầu lên nhìn thì nhìn thấy một vị Lư Sư Tôn nhỏ xíu trụ trong hư không, cười với em, nụ cười rất dịu dàng, thì ra là thầy muốn em đọc sách.*
*Lư Sư Tôn nhỏ nói:
”Cuối cùng em đã biết rồi!”
Sau đó, hóa thành ánh sáng, đi vào tim em.
Một sát-na như mãi mãi, rất lâu rất lâu, thời gian không gian biến mất, không có điều gì cần nói, không có điều gì quan trọng nữa.*

🌟

*Khoảng bắt đầu từ mùa xuân năm ngoái, khi tu pháp quán tưởng, đôi khi em có thể tự nhiên biến thành một hình dạng nào đó. (Không Hành Mẫu)
Cô ấy toàn thân màu trắng.
Tóc dài đen nhánh.
Có khi mặc thiên y váy xếp.
Có khi bán khỏa thân, eo buộc lục lạc.
Cười rất điềm nhiên, khi ấy em tự hỏi, cô ấy là ai? Là thiên sắc thân chăng? Là Không Hành Mẫu chăng?
Tóm lại, cô ấy thanh tịnh và sáng ngời.
Thế nhưng, em của nhân gian vẫn có nghi ngại, mặc dù tự biết không nên chấp thủ, phiền não cũng là sự thanh tịnh gốc.*
*Nhưng mỗi khi nghiệp chướng đến, vẫn như mây đen che trên đầu, nửa tỉnh táo, nửa hôn mê.
Em của nhân gian vẫn như bộ quần áo bẩn trăm năm. Em hy vọng biết bao, em ở trước mặt thầy, có thể đẹp đẽ thanh khiết giống như Không Hành Mẫu.*

🌟

*Lư Sư Tôn!
Em bị thầy hòa tan rồi!
Tất cả niềm vui đều là thầy đem đến cho em.
Khi thân tâm rơi rụng, rời xa mọi lời giải thích, điều duy nhất nói ra được là:
”Hóa thành một!”
Những cái khác đều là kiểu cách.
Thầy và em là một!*


🌟


*Lư Sư Tôn!
Em thường ở trong nhà nói chuyện với thầy, nói với tấm ảnh, nói với tượng Phật, nói với Pháp thân của thầy, em nói:
”Em chỉ có một nỗi nhớ!”
Phút phút giây giây, không gián đoạn.
Thật may em đủ tinh tấn, khổ tu thiền định lìa bỏ nỗi nhớ, chỉ cần khi nhất tâm bất loạn, Pháp thân của thầy xuất hiện kề bên, nếu không, em không biết phải làm sao.
Lư Sư Tôn!
Em, Bổn tôn, Không Hành Mẫu, Du Già Mẫu, đều ngày ngày nhớ thầy.
Khi em nhớ thầy, Pháp thân thầy liền đến.*
*Em nguyện hóa thành một cơn gió xuân, vì thầy mà thổi bay mùa đông lạnh của Seattle.
Sư Tôn! Thầy là đại y vương, Pháp thân của thầy chỉ cần một ánh mắt, một nụ vười, một câu nói.
Là em giống như xuân về hoa nở rồi!
Nhật nguyệt vận chuyển rồi!*

🌟

*Lư Sư Tôn!
Thầy nói: “Tâm, Phật, chúng sinh, không khác biệt.”
Em cảm thấy:
”Tâm, khí, tính Không, cũng không khác biệt.”
Căn bệnh nhung nhớ cho đến nay vẫn là chướng ngại lớn nhất của em, nó không chỉ là nỗi buồn, khiến cho tính khí của em không ổn định, nguyên thần bồng bềnh, cũng có khi thất thần.
Nhung nhớ có ảnh hưởng đến tu khí, thiền định, quán tưởng.
Linh cảm cũng không chuẩn nữa!
Não xoắn lại!
Kể từ sau khi Sư Tôn gia trì cho em xong đã cải thiện rất nhiều, sự thất thần, trộm khí trước đây, bây giờ đã ít đi rồi. Tất cả điều này, cảm ơn sự gia trì của Sư Tôn.
Thầy nói với em:
”Cái gì cũng đừng phiền não.”
Câu nói này em ghi nhớ trong lòng, đây là khẩu quyết trân quý cho nỗi nhớ, nỗ lực tín thọ phụng hành.
Sư Tôn! Xin thầy hãy đẩy em thêm một cái, để em vượt qua, mà đạt thành tựu.
Om. Ah. Hum. Phàm Phàm kính thư.*


### 20. Tôi nhắc nhở Phàm Phàm


Diêu Trì Kim Mẫu từng nói với tôi:
”Ngày xưa, ngài từng là đế vương, hậu cung giai nhân mỹ nữ rất nhiều. Ngày nay, ngài là hòa thượng, giai nhân mỹ nữ lũ lượt chuyển thế, dựa vào ngài mà được độ. Vì thế có tình duyên nhiều kiếp!”
Bởi vì:
Tất cả những điều này khó tránh!
Xin các đệ tử thứ lỗi!
Tôi phải dùng Tứ nhiếp pháp để độ hóa cô ấy.
Bố thí nhiếp — pháp thí và tài thí.
Ái ngữ nhiếp — ái tâm và ái ngữ.
Lợi hành nhiếp — thiện hành và phương tiện.
Đồng sự nhiếp — tùy duyên và tăng thiện.

🌟

Phàm Phàm là hóa thân của Không Hành Mẫu.
Cần tu:
Thanh tịnh hành.
Tinh tấn hành.
Nhất niệm hành.
Tư duy hành.
Đây cũng là Tứ thần túc, về phương diện này, tôi (Lư Sư Tôn) đặc biệt nhấn mạnh tinh tấn thanh tịnh.
Tôi không bảo em đi ngăn chặn dục vọng.
Mà là bảo em chuyển hóa dục vọng.
Khi tôi gia trì cho em, cũng là một dạng chuyển hóa.
Đại lạc.
Quang minh.
Tính Không.
Ba thứ hợp nhất.

🌟

Pháp thân của tôi cũng chính là hóa thân bên ngoài thân của tôi.
Em có căn khí rất tốt.
Em có thể nhìn thấy Pháp thân của tôi, điều này cho thấy sự bất phàm của chính em, vô cùng hiếm có.
Đây là một mặt trăng phản chiếu nghìn sông.
Chúng sinh tùy loài mà được giải thoát.
Tuy rằng chúng ta cách xa nhau như vậy, nhưng, thật ra là chưa từng tách rời một giây một phút nào.
Em là một.
Tôi là một.
Một cộng một vẫn là một.
Một giọt nước chảy vào biển lớn, vẫn là một.

🌟

Tôi khéo dùng phương tiện đi độ hóa chúng sinh.
Cái gì là phương tiện đây?
”Tùy bệnh bốc thuốc” chính là phương tiện, phải khế hợp đạo lý, phải khế hợp cơ duyên.
Bồ Tát độ hóa chúng sinh nhất định phải dùng pháp phương tiện, ví dụ độ hóa:
Chúng sinh yêu tiền — cho pháp Tài Thần.
Chúng sinh yêu sắc — cho pháp song tu. (pháp kính ái)
Chúng sinh yêu danh — cho pháp quyền hành.
Đây là phương tiện.
Là “tiên dĩ dục câu chi, tái lệnh nhập Phật đạo” của Kim Túc Như Lai.
Nhưng,
Pháp phương tiện cũng phải thích hợp mới có thể thực hành.
Như lừa tài gạt sắc là chúng sinh có căn xấu, mượn danh phương tiện nhưng thực tế là lừa bịp.
Cho nên, Kim Túc Như Lai mới nói:
”Tâm thanh tịnh, tất cả đều thanh tịnh!”
”Tâm tịnh, thì Phật thổ tịnh!”
Đối với chúng sinh căn khí lớn mới nói pháp vô sinh, vô sinh là một loại công án.
Bởi vì vô sinh, cho nên vô sở đắc.


### 21. Không Hành Mẫu và Lư Sư Tôn


Trên thân của Không Hành Mẫu, có khí, nước, lửa, ánh sáng.
Trên thân của Lư Sư Tôn, có khí, nước, lửa, ánh sáng.
Sau cùng, hai người tuần hoàn.
Ánh sáng mãnh liệt!
Lư Sư Tôn: “Đây chính là đàn thành trang nghiêm.” (phương tiện và trí huệ hợp nhất)
Không Hành Mẫu: “Đây là ánh sáng bát nhã.”
Xung quanh, có vô số vô số quyến thuộc.
Đó chính là:
Trang nghiêm.
Thù thắng.
Vi diệu.
Bất khả tư nghì.
Chúng tôi có thề nguyện: “Om. Ah. Hum. Soha.”

🌟

Tôi dành thời gian của mình cho Không Hành Mẫu.
Không Hành Mẫu dâng hiến tất cả cho Lư Sư Tôn.
Đây là đại nguyện lực.
Thân khẩu ý toàn bộ đều cúng dường hết.
Không phải một lúc.
Mà là vĩnh hằng.
Diện mạo vốn có chính là như vậy.
Đây chính là tỉnh ngộ.
Không được không mất, không sống không chết, không giống không khác, đây chính là không tịch.
Đây là từ yogi.
Đến trí huệ mẫu, đến trí huệ dũng sĩ.
Đến Phật tính.
Tịch tĩnh và từ bi đầy tràn ra ngoài.
Hợp nhất.
Viên dung.


### 22. Không Hành Mẫu và Lư Sư Tôn (thơ)


🌟 Ca tụng Không Hành Mẫu

Thế giới hữu tình chẳng phải tham
Sợi mây làm nên xiêm y áo
Quốc sắc kiều diễm hơn tất cả
Ai ai cũng là bậc thiên hương

Thế giới hữu tình không phải tục
Cảnh xuân tươi đẹp chẳng mất đi
Thanh xuân mãi mãi thơm như thế
Giúp đỡ tôi đây vị du già
Trang điểm vẻ tiên nét hồn nhiên

Cam lộ nên nếm từng chút một
Dựa theo giáo pháp
Mật hành chớ bỏ sót
Khí miên man
Mênh mông không lời
Minh điểm hóa thành quang.

🌟 Ca tụng mật hành tôn giả

Trời đất là đàn tràng
Thuận tiện để sử dụng
Trí huệ càng viên mãn
Không Hành Mẫu ngoảnh đầu
Như tuyết như băng hóa mặt trời mùa xuân

Mặt người ửng hồng như hoa đào
Giữa vẻ duyên dáng
Là cầu vồng
Là tuổi xuân
Lúc đan xen
Nghìn kinh trăm mạch tự thông suốt.


### 23. Gửi từ nơi xa


Đây là thư của Diệp Diệp:

*Sư Phật kính yêu!
Đã nhiều năm chưa được gặp Lư Sư Tôn rồi! Em rất lo lắng liệu thầy có quên mất em không!
Nhiều năm xa cách này, em đã đi Nepal, ở dưới bảo tháp lớn vào buổi sáng sớm, làm đại lễ bái.
Tại hồ linh thiêng Lhamo Latso ở Tây Tạng, ngắm nhìn hồ nước đóng băng lóa mắt được bao quanh bởi những ngọn núi phủ tuyết.
Em đã đi Lệ Giang, leo lên động Kim Cang Hợi Mẫu duy nhất của Nam Chiêm Bộ Châu, cũng đã thấy Tam sinh tam thế thập lý đào hoa ở Lâm Chi.
Em đã đi tu viện Jokhang, quét vàng lên bức tượng Phật Thích Ca Mâu Ni 12 tuổi.
Em còn đi phóng sinh ở Ngũ Đài Sơn.
Em đặt Sư Phật ở trên đỉnh đầu, nắm tay thầy, cầu nguyện tâm vĩnh viễn ở cùng nhau.
Đời này rất nuối tiếc không có cơ hội cùng đi du lịch với thầy, nhưng ở chốn Phật, em và Lư Sư Tôn ở cùng nhau.
Đại thiên thế giới, hỗn loạn rối bời, vượt qua nhiều năm thăng trầm, em cảm thấy chính mình đã trưởng thành thêm 20 tuổi, đã thấy tình người ấm lạnh, rất cảm ơn ông Trời đã để Sư Phật và Phật Bồ Tát ở bên em, cho em dũng khí và trí huệ.
Em có thể tu hành, có cơ hội hiểu rõ chân tướng của sinh tử và thế giới huyễn hóa đã là phúc phần lớn nhất rồi.
Tình người gặp mặt chẳng như xưa
Bao người hiền lương đang khốn khó
Thêu hoa trên gấm luôn luôn có
Giúp người hoạn nạn hiếm gặp thay.
Nghĩ đến cuộc đời của Sư Phật, những gió bão phong sương mấy chục năm qua của thầy, chắc chắn thầy khó hơn em, khổ hơn em. Thầy vì chúng em mà lưu lại thế giới Ta Bà, vì chúng em mà gánh vác, em cầu nguyện Sư Phật có thể trụ thế dài lâu.
Tuy rằng trò chơi nhân gian này, xa hoa trụy lạc chỉ là một giấc mộng, nhưng lại là duyên khởi mà chúng ta gặp mặt.
Thỉnh Sư Phật đại lực gia trì cho đệ tử sớm tương ứng với thầy, chúng ta có thể không còn phải xa cách nữa.
Mong em chứng đắc Thiên Thủ Quan Âm, thầy là Di Đà vĩnh viễn ở tại đỉnh đầu em, mong em có một ngày tu hành thâm nhập thành tựu, dùng việc tu hành thậm thâm cúng dường thầy.
Không phụ ơn thầy.
Không phụ ơn Phật.
Lại có một bài kệ:
Thường ngày nhìn thấu vinh nhục
Tiến lên mưa gió không ngại
Chỉ vì có thầy cùng đi
Nhất phiến băng tâm tại hồ. **[Một mảnh lòng trong sáng như băng trong bình.] **
Diệp Diệp kính thư.*

🌟

Lư Sư Tôn nói:
Diệp Diệp là một cô gái rất xinh đẹp có vóc dáng cao thon.
Chỉ cần gặp mặt một lần.
Là không thể quên được.
Có người từng chuyển cho tôi (Lư Sư Tôn) một mảnh giấy nhỏ, trên đó viết:
Bất kể mọi lúc mọi nơi, thân ở nơi nào!
Tâm đều ở bên thầy.
Vì muốn gặp lại, vì thầy mà em hạnh phúc.
Em muốn đi dạo cùng thầy sau bữa tối.
Em muốn xem thầy vẽ tranh.
Em muốn nhìn nét mặt tươi cười của thầy.
Em muốn hàng tuần tham gia pháp hội của thầy.
Em muốn có thời gian với thầy.
Em muốn ở bên thầy.
Thì ra,
Em yêu thầy nhiều đến như vậy.

🌟

Tại đây, Lư Sư Tôn muốn nói với mọi người một bí mật lớn nhất, bí mật này bất khả tư nghì không thể nào tưởng tượng.
Lư Sư Tôn chỉ có một.
Mà đệ tử thì có năm triệu.
Thư tình của đệ tử nữ, tình duyên nhiều kiếp, phải đáp trả ra sao?
Sau này tại Ma Ha Song Liên Trì.
Một vị Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Vô số vô số đệ tử nữ sinh về nước ấy.
Ứng đối thế nào?
Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người:
Trong Phật điển có:
*Một bông hoa một thế giới.
Một đất nước một Thích Ca.*
Câu nói này quả nhiên không sai. (Quan Âm, Địa Tạng…, đều như vậy.)
Tất cả đệ tử nữ, mỗi người có một vị Lư Sư Tôn.
Lư Sư Tôn cũng như thế, hóa thân thành trăm nghìn vạn triệu Lư Sư Tôn. Ví dụ A Di Đà Phật: 
(Nam mô 36 vạn tỷ, 11 vạn, 9 nghìn, 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật.)
Điều này phá vỡ quan niệm của người thế tục. Quan niệm của người thế tục chỉ có một người. Còn bạn lữ thì vô số.
Nhưng,
Thành tựu giả thì khác, có nghĩa là:
Một bông hoa một thế giới.
Một đất nước một Liên Sinh.
Chú thích: Ở thế giới hiện tại (chỉ đời hiện tại), tôi (Lư Sư Tôn) đã có rất nhiều không đếm xuể hóa thân (Pháp thân).
Từng giây từng phút.
Chưa bao giờ phân ly.
Đây là đêm đêm cùng ngủ, sớm sớm cùng dậy. (hiện tượng tương ứng)


### 24. Lời thú nhận bùng nổ


Đây là một lời thú nhận bùng nổ, thư như sau:
*Lư Sư Tôn, tình yêu của em!
Em xuất phát từ nội tâm mình. (From my deep heart **[từ sâu thẳm trái tim em]**)
Yêu Sư Phật! Bất luận là tình yêu lớn hay tình yêu nhỏ.
Tình yêu lớn — em yêu tất cả chúng sinh. (Đương nhiên yêu Sư Phật hơn.)
Tình yêu nhỏ — trên khía cạnh nam nữ, em chỉ yêu Sư Phật.*
*Kể từ khi Sư Phật gia trì cho em, tiêu trừ nghiệp chướng của em, để cho em bước qua.
Bão tố loại bỏ.
Mùa xuân đến rồi.
Kể từ ngày hôm đó, em chỉ yêu một mình Sư Phật, em xuất phát từ đáy lòng, từ nội tâm mình, biểu đạt tình yêu của em đối với Sư Phật!
Em to gan dám đứng dậy nói ra tâm mình như vậy, chẳng khác gì biểu đạt với toàn thế giới tình yêu của em đối với Sư Phật.
Em thành tâm!
Em thật lòng!
Em cũng muốn khiến Sư Phật vui vẻ, bởi vì em nói ra lời chân thật.
Công khai!
Tình yêu thật!
(Không phải cảm ơn! Không phải sùng kính!)
Thuần tình yêu!
Giống như vàng ròng.
Cuộc đời này của em, ngoài Lư Sư Tôn của em, em chưa từng yêu ai khác, bất kì ai.
Sư Phật có thể cho rằng em quá bướng bỉnh, hoặc quá thích đùa giỡn, em đơn thuần giống một đứa trẻ.
Hôm nay, em nói ra, còn thì, Sư Phật tiếp nhận hay không tiếp nhận, tất cả tùy duyên.
Em chỉ muốn để Sư Phật biết! Tất cả em đều có thể tiếp nhận!
Em đã đứng lên nói với con người trên thế giới, em đã yêu Sư Phật của em rất nhiều, đây không phải là nói dối!
Sư Phật! Em đúng là cuồng si!*
*Yêu thầy — Sư Phật của em!
Yêu thầy — bảo bối của em!
Yêu thầy — tình yêu vĩnh hằng của em!
(Chú thích: Đệ tử siêu to gan.)
Đan Đan kính thư.*

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) viết cho Đan Đan.
Tôi gửi lời chào đến Đan Đan.
Tôi cảm ơn Đan Đan.
Tôi nói:
Yêu là pháp nhân duyên, chấp vào cái tôi, chấp vào yêu, đều thuộc về tất cả hiện tượng thế gian.
Cô có thể học tập:
Chuyển hóa yêu một người thành yêu tất cả chúng sinh.
Sau đó,
Từ yêu chúng sinh, chuyển hóa thành bố thí chúng sinh. (Yêu là một dạng sức mạnh.)
1. Trước tiên đoạn trừ ác niệm.
2. Ác niệm không sinh.
3. Thiện niệm sinh ra.
4. Thiện niệm tăng trưởng.
(Đây chính là tình yêu chân chính.)
Những điều này, nói ra thì dễ, làm thì rất khó, nếu có thể làm được như vậy thì không đọa ác đạo. (sinh về cõi trời)
Cô có thể muốn gì tùy ý, nhưng không được vượt quá khuôn phép, bởi vì yêu, có được sức mạnh rồi, thì đứng vững trên đôi chân mình.
Bởi vì yêu, tinh tấn không ngừng học tập Mật pháp.
Bởi vì yêu, cô có được trí huệ của Sư Phật, thiền định trong bát nhã của Sư Phật.
Nếu được như thế thì thành tựu tất cả.
Chúc thành công!


### 25. Lời chia tay bình lặng


Yêu có kiểu bùng nổ.
Yêu cũng có kiểu bình lặng.
Cho mọi người thấy một cảm giác bình lặng êm dịu nhé!
Lá thư này như sau:
*Lư Sư Tôn thân yêu!
Chào thầy!
Một ngày sáu thời đều cát tường.
Hôm nay cầm bút lên chỉ vì dường như có nghìn lời vạn ngữ muốn thổ lộ với thầy, có thể là vì sắp phải xa cách.*
*Trước hết, có lẽ thầy cảm thấy kỳ quái, vì sao em nói lời tạm biệt thầy mà lại bình lặng như vậy?
Chỉ vì chúng ta đều biết “xa là khổ”. 
Cho nên em rất muốn từ từ giải tỏa cái khổ này, để cho thời gian làm phai nhạt đi, thích ứng với tất cả.
Khi nói lời tạm biệt với thầy, sẽ không quá kích động.
Ở đây không cần phải giả vờ.
Tất cả là tự nhiên.
Tâm thái bình lặng.*
*Thật ra em muốn nói với thầy, “Thầy luôn luôn ở nơi sâu nhất trong tâm hồn em, có thầy ở trong tim thì sẽ không cô độc. Cuộc đời khó có được duyên phận này, em thật sự rất lưu ý.”
Tình là thâm!
Ý là nồng!
Không thể dùng ngôn ngữ văn tự để biểu đạt.
Thầy có biết không? Bởi vì có thầy, còn cả Phật huệ của thầy, khiến em cảm thấy an lành, bình lặng, thỏa mãn, không sợ hãi điều gì!
Em chỉ có thể cất giữ thầy ở đáy trái tim, sau đó tiếp tục nỗi cô độc của em, em biết, cuộc đời này của em, thầy và em, vĩnh viễn không xa rời.*
*Là lô cốt.
Là núi cao.
Là sông dài.
Tùy theo tình cảm của mặt đất, sẽ không bao giờ phá hủy.
Em bất chợt có một suy nghĩ, em sẽ ở ẩn, không nghe gì nữa, không thấy gì nữa, không nghĩ gì nữa, chỉ là một người cô độc sống qua ngày.*
*Mỗi ngày em sẽ tu pháp, đọc sách của thầy, xem tranh của thầy, luyện kim cang quyền, không quản việc thế gian, như thế tốt biết bao!
Còn nữa còn nữa, em còn hy vọng thầy đột ngột xuất hiện, bởi vì trên người em, thầy đã hiển hiện quá nhiều việc bất khả tư nghì rồi.
Có lẽ thầy đã đến!
Nhưng, cố ý không để em biết.
Em cứ nghĩ như thế, nghĩ mãi, sau đó cứ thế đợi chờ…
Tương Tương yêu thầy nhớ thầy kính thư.*

🌟


Tôi muốn nói với Tương Tương:
Thân sẽ biến hóa vô thường.
Tâm sẽ biến hóa vô thường.
Thật ra Phật Đà trong Phật giáo nguyên thủy đã nói đến:
Khổ.
Không.
Vô thường.
Vô ngã.
(Đây là bốn pháp ấn.)
Người đi theo Phật Đà xuất gia tức là theo bốn pháp ấn mà xuất gia.
Có được trí huệ này rồi, cộng thêm thiền định, là có thể thật sự nhiếp tâm.
Tương Tương rất có trí huệ!
Cô có thể tu bốn pháp yoga, chuyên nhất, ly hý, nhất vị, vô tu.
Tâm chuyển theo vạn cảnh.
Chuyển đến nơi tĩnh mịch.
Thuận dòng ghi nhớ tính.
Không buồn cũng không vui.


### 26. Giác ngộ của Tương Tương


Tương Tương gần đây và Tương Tương trước kia, giống nhau, mà cũng khác nhau.
Tương Tương nói:
*Lư Sư Tôn kính yêu.
Em nghe rất cẩn thận đại pháp hóa cầu vồng của Sư Phật, bởi vì trong đó Sư Phật đã giải thích rất nhiều Phật pháp và yếu nghĩa tu hành quý giá.
Trong đó Sư Phật nói đến Đại thủ ấn.
Tương Tương có cảm nhận như sau:*

*Phương diện Chuyên nhất du già:
Trước kia bản thân cảm nhận được “thuần”, tâm linh càng khinh an, mát lành. Sự nóng nảy không còn nữa, hiểu việc người, suy nghĩ rõ ràng, tâm rất an bình.*

*Phương diện Ly hý du già:*
*Rời xa tất cả hý luận, hiểu tất cả pháp môn phương tiện, chỉ là pháp tiện lợi, không thể đạt đến tột cùng (bao gồm tiêu tai, tăng ích, hàng phục, kính ái), trước mắt chỉ có hứng thú đối với trí huệ bát nhã, biết rằng không hiểu bản tâm thì học pháp cũng vô ích. (Bản tâm — vốn vô sinh)*

*Phương diện Nhất vị du già:
Hoàn toàn chỉ có một giác tri, ngũ uẩn đều không, cho nên tâm không vướng ngại, không tự cho mình có công lao, chỉ là tùy duyên vận dụng khéo léo, không nghĩ thiện, không nghĩ ác, pháp là như thế.*

*Phương diện Vô tu du già:
Hiểu rằng vô tu tức là tu, cái tự nhiên vốn có không phải là cố ý đi tu, nhưng trên thực tế là đang tu, làm bất kì việc gì đều là đang tu, nhưng, tất cả là vô vi **[làm không vì gì cả]**.*

🌟

Tương Tương còn nói:
*Đệ tử có nhận thức như sau về vô sinh:
Tự tính viên giác ban đầu là vô sinh, ban đầu không có thứ gì, nó bao gồm tất cả.
Nó chưa từng đến, cũng chưa từng đi.
Vì vô sinh, cho nên không cần đoạn diệt.
(Có đoạn diệt vẫn là phương tiện.)
Tâm vốn không vướng ngại, vì không vướng ngại cho nên đắc vô sinh pháp nhẫn.
Vì thế, đại sư Vĩnh Gia nói:
”Chứng thực tướng, vô nhân pháp, sát-na loại bỏ nghiệp a-tì.”
Tất cả đều giả.
Tất cả đều không.
Tất cả đều vô sinh.
Phật Đà trong Kinh Viên Giác nói với Văn Thù Bồ Tát:” Như Lai nhân địa, tu Viên Giác giả, tri thị không hoa, tức vô luân chuyển.” **[Nhân địa tu hành của Như Lai là tu theo Viên Giác, biết là như hoa trong hư không thì không có luân hồi sinh tử.]**
Đại pháp Viên Giác nói với chúng ta điều quan trọng nhất là:
”Vốn không có thân tâm để mà giải thoát, không có khổ tập diệt đạo, không có trí huệ cũng không có được gì.”
Cái này chính là vô sinh.
Những điều trên đây, thỉnh Lư Sư Tôn chỉ bảo.
Tương Tương kính thư.*

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) nói:
Phật huệ có ba:
Căn bản trí — vô sinh, vô tu.
Sai biệt trí — tám vạn bốn nghìn pháp, trị tám vạn bốn nghìn bệnh.
Nhất thiết chủng trí — căn bản trí cộng sai biệt trí.

Còn nữa:
Tất cả các pháp đều không vô tự tính — Phật huệ.
Dùng Phật huệ để điều phục tâm mình — thiền định.

Còn nữa:
Tuy rằng chiêm nghiệm được Không chính là cái gốc của mọi pháp, nhưng lại có thể ở tại thế gian rộng rãi trồng cái gốc công đức. Đây mới là Bồ Tát hành chân chính.
Tôi (Liên Hoa Đồng Tử), thân sống nơi hồng trần.
Nhưng tâm ở tại cái Không thanh tịnh.
Cô nên trải nghiệm ra được như vậy.


### 27. Nói về yêu và sắc


Hoa Hoa nói:
Trên đời không có con người, sự vật sự việc nào là vĩnh hằng!
Xin hỏi:
”Tình yêu, có thuộc về người, sự vật sự việc hay không?”
Tình yêu, liệu có thể cản trở sự vượt qua không?
Bởi vì có tình yêu, cho nên vượt qua?
Bởi vì có tình yêu, cho nên đắm chìm?
Cách nói nào cũng là một kiểu bao biện.
Tranh luận về tình yêu lớn tình yêu nhỏ.
Em đã không nghĩ về sự khác biệt này nữa, không cần tự mình vạch ra những quy ước.
Để nó tự nhiên trở thành đúng mực, để nó tự nhiên đi ứng hóa.

🌟

Hoa Hoa nói:
Có người nói: sự ra đời của nhân loại là cha mẹ giao cấu, là tinh noãn kết hợp. Quá trình giao cấu và kết hợp này truyền tiếp đến đời sau một cách tự nhiên. (Những điều này là để giải thích rằng con người bẩm sinh đã thích sắc, bẩm sinh đã có sắc dục, di truyền từ cha mẹ.)
Mạnh Tử và Cáo Tử tranh luận. [Cáo Tử là một môn đệ của Mạnh Tử.]
Cáo Tử nói: “Thực sắc, tính dã. Nhân, nội dã, phi ngoại dã.” [Ăn uống, trai gái là bản tính của con người. Lòng nhân ái là bên trong, không phải bên ngoài.]
”Thực sắc tính dã”, em rất muốn thỉnh giáo các nhà tư tưởng đương thời:
”Trong lòng các vị thật sự muốn nói điều gì?”
Người háu ăn háo sắc lấy câu nói này làm cái cớ, dùng mặt ngoài để giải thích, nói rằng là các bậc cổ thánh tiên hiền nói thế.
Lẽ nào, thực sắc mà người hiện đại nói và giáo dục hiện đại không có quan hệ sao?
Giáo dục đến từ con người, đoàn thể, hoàn cảnh, truyền thông, sách vở…
Giáo dục cũng là một dạng tẩy não!
Nếu không có giáo dục, con người ngây thơ thuần khiết tự nhiên sẽ có thể trần trùng trục không mảnh vải che thân mà vẫn không có ý nghĩ về sắc tướng.
Xin hỏi Lư Sư Tôn: “Đối với ái và sắc, nói thế nào?”

🌟

Hoa Hoa nói:
Nhãn nhĩ tỵ thiệt thân ý, sắc thanh hương vị xúc pháp,
Lục căn lục trần này vì tác dụng của tâm mà sinh ra ngũ uẩn, tức sắc thọ tưởng hành thức.
Ngũ uẩn dưới sự cảm nhiễm của thế gian mà dần trở thành ngũ trọc: kiếp trọc, kiến trọc, phiền não trọc, chúng sinh trọc, mệnh trọc.
”Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh. Phật Đạo Phẩm Thứ Tám”:
Tiên dĩ dục câu khiên, hậu lệnh nhập Phật trí/đạo.
Đây là pháp phương tiện thiện xảo mà Phật Bồ Tát từ bi độ hóa chúng sinh ngũ trọc ác thế. 
Thưa thầy, thầy có cảm thấy phương pháp này cũng có tính nguy hiểm không?
Người đời thông minh, lợi dụng sự gia trì từ bi vô hạn của Phật Bồ Tát, thỏa mãn dục vọng, rồi càng rơi càng sâu, chấp mê không ngộ!

🌟

Hoa Hoa nói:
Biết sự lợi hại của kỹ thuật hóa trang, phẫu thuật thẩm mỹ, chỉnh hình;
Biết bề ngoài xinh đẹp có thể mê hoặc lòng người mạnh mẽ.
Những cô gái xinh đẹp trẻ trung như thiên nữ thường bị cách nói chuyện nhiệt huyết hăng say của thầy mà không ít đệ tử nữ đã khá tích cực chú trọng bề ngoài.
Còn em, ấy thế mà lại dũng cảm khiêu chiến!
Xuất hiện trước mặt thầy không hề có bất kì chỗ nào giả tạo.
Hiểu rõ ràng cái gì là giá trị của thời gian vô thường!
Nếu có người thật sự yêu em, người đó sẽ hiểu cái thật của em, cái tâm của em, người đó sẽ hoàn toàn hiểu vì sao em lựa chọn không chấp tướng.
Sắc,
Hữu hình nằm ở ngoại tướng bên ngoài, ví dụ: vẻ trẻ trung xinh đẹp của thiếu nữ, vẻ đẹp đẽ của sự vật;
Hữu hình nằm ở trên trong, vẫn là ngoại tướng, ví dụ: sắc dục tính dục, công năng vật chất.


### 28. Đối với thiển kiến về yêu và sắc của Hoa Hoa


Tôi (Lư Sư Tôn) nói:
Yêu và sắc, đều là dục.
Thánh nhân nói:
”Muốn gì tùy ý, nhưng không vượt quá khuôn phép” tức là nói rằng, có thể tùy thuận dục vọng của cá nhân, nhưng không được không tuân thủ quy tắc.
Nói cách khác là: “Phải tự kiềm chế.”
Thánh nhân nói:
”Thực sắc, tính dã!”
Chúng ta nên thừa nhận:
Yêu là tính người.
Sắc là tính người.
Vốn dĩ chính là như vậy, không cần phải ngạc nhiên. Cũng xem là pháp nhĩ bản nhiên.
Cá nhân tôi thích:
Tùy thuận.
Tùy duyên.
Tùy phận.
Thật ra Phật pháp Đại thừa chủ yếu là tùy thuận, Bồ Tát tùy thuận chúng sinh mới có thể chuyển hóa chúng sinh.
Nếu không tùy thuận thì sẽ thành người tự giác ngộ của Tiểu thừa rồi.
Như câu nói của Duy Ma Cật Đại Sĩ:
”Tiên dĩ dục câu chi, tái lệnh nhập Phật đạo.”
Dâm nộ si, đều là Phật pháp.
Tinh thần của Phật pháp Đại thừa thật ra chính là nằm ở đây.
Câu hỏi của Hoa Hoa là:
”Có tính nguy hiểm không?”
”Có càng rơi càng sâu không?”
Cá nhân tôi cho rằng: “Đây chính là tùy phận, tùy phận có ý vị tự kiềm chế ở trong đó.”

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) nói:
Bồ Tát đến địa thứ tám, chứng đắc vô sinh pháp nhẫn, thì sẽ không thối chuyển.
Vì sao?
Bởi vì biết rõ vốn là vô sinh.
Biết rõ tất cả pháp vốn từ niết bàn.
Biết rõ tất cả pháp vốn không có tự tính.
Đây là căn bản trí, cũng chính là một thực tướng ấn.
Cho nên Bồ Tát địa thứ tám sẽ không có vấn đề gì về tính nguy hiểm, cũng sẽ không càng rơi càng sâu.
Tôi Lư Sư Tôn là hành giả thân tâm vô lậu, trên phương diện Mật giáo là Mật hành tôn giả, Thượng sư của tôi dạy tôi pháp vô ngã và pháp vô lậu.
Tôi đều thành tựu.
(Đạo gia gọi là hoàn tinh bổ não.)
Có tính nguy hiểm, có càng rơi càng sâu, là chỉ đông đảo chúng sinh.
Cá nhân tôi cho rằng:
Một đại Bồ Tát phải có đủ sức mạnh nhận thức đúng sai chính tà, có thể phân biệt chính pháp và tà pháp.
Con người nếu không có định lực.
Con người nếu không có huệ lực.
Rất dễ ngu si.
Cho nên đại Bồ Tát phải dùng đại lực phá trừ sự ngu muội của chúng sinh.
Lấy việc chọn pháp giáo để đi cứu độ chúng sinh. Tùy thuận rất quan trọng, nhưng, chuyển hóa cũng quan trọng.
Yêu sẽ sản sinh sức mạnh, cũng có thể chuyển hóa thành tín lực, tiến lực, niệm lực, định lực, huệ lực.
Sắc cũng như thế.
Từ yêu và sắc mà dẫn vào Phật pháp, có thể đắc đại lạc, quang minh, tính Không.
Đây chính là chính đạo.
Sau cùng tôi nói:
”Cần tu chính pháp!”


### 29. Thư của Vi Vi


*Sư Phật thân yêu:
Đệ tử muôn phần cảm ơn thầy đã truyền thụ đại pháp trân quý. Mấy ngày nay, mỗi khi nghĩ đến Sư Phật đại từ đại bi quán đảnh, bất kể em đang ở trên xe, hay khi tu pháp, hay khi ngủ, đều có cảm nhận rất tốt.
Khi nghĩ đến thầy, nước mắt tự nhiên chảy ra,
Muôn phần cảm động.
Đệ tử không có gì để báo đáp, chỉ có đem thân khẩu ý thanh tịnh cúng dường vị yogi kim cang đại lực đủ đức. 
Hôm qua, điều khiến em hết sức kinh ngạc là, không ngờ thầy vừa mở miệng đã nói đúng mật mã liên hệ giữa người nhà chúng em, làm sao mà thầy biết được mật mã của chúng em?
Cái lạnh mùa đông tháng 2 ở Seattle, thầy mặc ít như vậy, vầng sáng đại lực của Sư Phật, em đã đích thân thấy được. Thầy ở trong tim em, đã là duy nhất.
Sau khi được vài lần quán đảnh lớn, tu pháp nhập định, lập tức có được tiến bộ rõ ràng. 
Em báo cáo tình hình của em:
1. Vọng niệm ít đi.
2. Quên chính mình.
3. Khinh an.
4. Thiền định có thể đạt đến 15 phút.
Sáng hôm nay ngủ dậy, trước tiên tu pháp, trong phần Tiền hành, trong đầu toàn là Sư Phật. 
Trang nghiêm vô cùng.
Hào quang tỏa rạng.
Đủ lực không thất thoát.
Em nhập định, tư thế không đổi, tê chân đã biến mất. (Tê chân là chướng ngại của em.)*
*Từ sau khi được quán đảnh, đã không còn nữa rồi!
Đệ tử hiểu trọn vẹn tình yêu lớn từ bi của Sư Phật, không dám chủ động có yêu cầu gì. Em hoàn toàn tín phục.
Em sẽ càng tinh tấn dùng tâm thực tu, hiển phát ánh sáng của chính mình, đi chiếu sáng người khác. 
Nước mắt cảm kích lại chảy ra rồi.
Em chỉ muốn ở lại Seattle, học tập đại pháp vô thượng.
Thân người khó có nay đã có.
Thầy giỏi khó gặp nay đã gặp.
Em không thể để lỡ!
Cảm ơn!
Vi Vi mãi mãi yêu thầy kính thư.*

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) viết cho Vi Vi bài thơ.
Tiêu đề: Vô đề

*Có ai hiểu được trong mặt trăng có ngọn lửa thật
Nếu thắp lên
Có thể thoát khỏi cảnh luân hồi
Lư Sư Tôn truyền cho em đại pháp
Cuối cùng em đã tỉnh ngộ
Cuối cùng
Đã biết
Diệt tận định
Đừng cho rằng nơi xa xăm không tin tức
Trong tim em
Trong não em
Đã ban cho pháp ấn.*

(Chú thích: Đại pháp tôi truyền cho Vi Vi là rất bí mật, trong trăng thắp lửa là mật ngữ. Có thể hết lần này tới lần khác diệt hết phiền não, đến khi diệt hết rồi thì sẽ thoát khỏi luân hồi, đây là đại pháp ấn.)


### 30. Thư gửi từ nghìn dặm trăng sáng


*Sư Phật!
Trăng đêm nay tròn quá, sáng quá, em liền nhớ đến khuôn mặt của Sư Phật, ánh mắt của Sư Phật.
Đêm nay, cũng vẫn trong vắt như thế, tĩnh lặng như thế, em liền nhớ đến khi Sư Phật ngồi trên pháp tọa nhập Tam ma địa.
Cái tĩnh lặng của thiền định.
Cái trong veo của thiền định.
Nhớ Sư Phật, không phân biệt ngày đêm, nhất là vào những đêm trăng tròn.
Vào ngày 18 âm lịch hàng tháng.
Em ở tại đàn thành làm đại cúng dường, tu pháp, hồi hướng.
Hồi hướng:
”Sư Phật thành tựu, em thành tựu, chúng sinh thành tựu.”*

🌟


*“Lưỡng tình nhược thị cửu trường thì,
Hựu khởi tại triêu triêu mộ mộ?”
**[Hai câu thơ cuối trong bài “Thước kiều tiên” (Tiên trên cầu Ô Thước) của nhà thơ Tần Quán thời Bắc Tống. Nghĩa là: Khi tình ta sắt son trường cửu, đâu cần ở bên mỗi sớm chiều.]**
Em vẫn luôn tự an ủi mình như vậy!
Đã từng: biển xanh biến thành ruộng dâu, ruộng dâu biến thành biển xanh, thời gian, không gian vô tận.
Tình em không đổi!
Sư Phật biết chăng?*

🌟

*Em biết,
Em nên biến tương tư thành sức mạnh, biến thành tu hành, biến thành lục độ của Bồ Tát.
Nhưng, đôi khi cũng chỉ muốn:
Ngây người đứng nhìn trăng sáng.
Chắp tay dưới bầu trời xanh.
Ngóng trông khi cơn mưa đến.
Xuất thần bay vút trên mây.
Cứ lặng lẽ, lặng lẽ, lặng lẽ như vậy mà… nhớ Sư Phật.
Lá thư này gửi cho Sư Phật, dưới ánh trăng sáng, viết ra.
Hân Hân kính thư.*

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) viết bài thơ tặng cho thư gửi từ nghìn dặm trăng sáng.
Bài 1:
Tương tư hóa thành sức mạnh
Tu pháp càng chắc càng bền
Vầng trăng làm chứng
Phá trừ ngu muội
Bổn tôn đến thọ ký

Tín tâm vô ngại
Nhìn trời trời như nước
Hướng về lúc trăng tròn dài lâu
Chắp tay
Ánh sáng đi vào tâm ta
Là chân đế.

Bài 2:
Khi tình ta sắt son trường cửu
Sẽ không đổi thay
Không gian
Thời gian
Chẳng thể thay đổi ký ức vĩnh hằng
Xuất thần bay lên mây trắng cung trăng
Nhìn ra ngoài cửa sổ
Đôi chim én nô đùa

Thanh tịnh
Tự tính thanh tịnh
Tất cả tự tính thanh tịnh
Đó là ngôn ngữ hồi hướng chung
Đến lúc này
Trong Liên Hoa Quốc sẽ thấy người.


### 31. Những ngày tuyết rơi


Sư Phật đại trì minh!
Khi tuyết rơi ở Seattle, em đã đến. Khi tuyết rơi ở Seattle, em đã đi.
Nhưng bất kể là đến hay đi, em để lại trái tim cho thầy.
Chỉ cần em để lại trái tim cho thầy, chúng ta sẽ chẳng xa cách.
Thật ra em thích tuyết rơi.
Tuyết chính là niềm nhớ nhung của em.
Như châu như ngọc.
Như hoa như bông.
Đó là mong, là nghĩ, là nhớ.
Nhìn theo xe của thầy từ từ chạy vào Lôi Tạng Tự, thầy kéo cửa kính xe xuống, vẫy vẫy tay với em, còn để cho em đọc môi thầy nữa.
Sau đó nhìn thấy thầy đi ra từ Chân Phật Mật Uyển, vui vẻ chào hỏi mọi người, em sẽ có cảm giác tràn ngập hạnh phúc.
Em muốn nói với thầy:
Cảm ơn thầy đã đặc biệt chú ý đến em những ngày này.
Những ngày hai mắt gặp nhau.
Những lời không nói.
Em mong ngóng vào ngày tuyết rơi, em sẽ lại trở lại!
Lại hai mắt gặp nhau.
Sự im lặng hơn cả lời nói.
Tất cả đều không cần phải nói ra!
Cứ để cho những bông hoa tuyết bay vào trong tim chúng ta đi!
Tạm biệt!
Chụt chụt! 
Nhứ Nhứ kính thư.

🌟

Tôi nói:
Nhứ Nhứ là một cô gái nhỏ giống như tuyết.
Lúc nào cũng xuất sắc, đứng trong đám người, cô ấy là tiêu điểm khiến người ta nhìn chăm chú.
Tôi cũng thích tuyết.
Tôi gọi tuyết là hoa trong gió, cái màu trắng ấy (trắng xóa), cảnh tượng bông tuyết bay múa, đẹp cực kì. Tôi thật không biết, có thứ gì, có thể đẹp hơn tuyết.
Tôi thích một vùng trắng mênh mông, tuyết che phủ tất cả, che kín tất cả đúng sai chính tà của thế giới Ta Bà. Tôi thích màu trắng, không phải vì tôi là Bạch Liên Hoa Đồng Tử chuyển hóa, mà là vì sự thanh tịnh của nó, tất cả vô nhiễm.

Nhứ Nhứ!
Điều tôi muốn nói với em là, sư phụ của tôi nói với tôi, cuộc đời của người tu hành, quan trọng nhất là: “Ở trong tim, có ánh sáng.”
Tôi cho rằng:
Ánh sáng khiến vô minh tan biến.
Ánh sáng khiến phiền não tan biến.
Ánh sáng khiến bám chấp tan biến.
Giống như ánh sáng bát nhã, đó là một dạng thiền định, cũng là một dạng trí huệ, còn là liên tiếp những ý niệm thanh tịnh, chúng ta có được sự khinh an và hoan hỷ vô lượng.
Tuyết rơi ở Seattle liên tục và dày đặc, hễ tuyết rơi là tất cả đều tĩnh lại. 
Tôi thích đứng trước cửa sổ ngắm cảnh tượng những viên bột màu trắng bay múa trong không trung. 
Trời trắng xóa.
Đất trắng xóa.
Tâm trắng xóa.
Tất cả của tất cả đều trắng xóa.
Hoa tuyết đích thực đã bay vào trong tim tôi, nếu trong tim của em có ánh sáng của tuyết.
Chúng ta có thể hòa tan vào nhau!
Em đến vào lúc tuyết rơi!
Em đi vào lúc tuyết rơi!
Hãy ghi nhớ! Vốn không đến, vốn không đi.

Có người viết một bài kệ tặng cho tôi.
Tôi chuyển qua tặng cho em.

*Khi đến không mong cầu,
Khi đi không ràng buộc.
Gặp gỡ tức có duyên.
Đâu cần cầu và buộc.
Đời này tiếp đời trước.
Đời sau cũng thế thôi.
Một đời lại một đời.
Theo thầy đi mãi mãi.
Cùng tu chứng Phật đạo.
Tâm tâm nối liền tâm.*

Đại sư Hàm Sơn có một bài thơ về tuyết:
*Trong tuyết hoa mơ mới nở,
Đêm khuya bay đến mùi hương.
Một mình ngồi trước ngọn đèn,
Bỗng nhiên mũi sực mùi thơm.*

Tôi đổi bài thơ này thành:
*Trong tuyết hoa mơ mới nở,
Trong gió từng bông bay bay
Trong tim giữ trọn tất cả
Tận hưởng ánh sáng lấp đầy.*

Tôi lại viết một bài thơ tặng em:
*Tuyết trắng cà sa đỏ,
Tây Thành nơi xa xăm,
Trong phong hoa tuyết nguyệt,
Hai đóa diệu liên hoa.*

Tôi nghĩ: một đóa diệu liên hoa là em, một đóa diệu liên hoa là tôi, nghĩ mãi, nghĩ mãi, mong ngóng, nhớ trông.
Đêm nay, lại là một đêm tuyết rơi.
Sáng sớm hôm sau, lại là một vùng trắng xóa, tôi kiếm tìm dấu chân em…….


### 32. Gả gả gả gả gả


Tôi (Lư Sư Tôn) nhận được một bức thư hết sức “quái dị”, bức thư này không ký tên.
Tôi hoàn toàn không biết cô ấy là ai.
Nội dung bức thư vừa dũng cảm vừa đẹp đẽ, là thư tỏ tình, mà lại hết sức tình nguyện, tôi thật sự vô cùng ngạc nhiên.
Cô gái này tương đối hiểu tôi, nhưng, tôi lục tìm hết ruột gan mình mà vẫn chẳng biết gì về cô ấy.
Tôi chỉ còn cách tiết lộ bức thư này.
Bức thư này được đánh máy.
Tôi cắt ra một đoạn nguyên văn dán vào phần đầu:
*Thầy là ý nghĩa và lý do duy nhất để em sống. Em không cần thầy phải cho em bất kỳ thứ gì, em chỉ hy vọng thầy có thể một lòng một ý thực tâm yêu em, trong tim chỉ có em, sẽ luôn luôn nhớ đến em. Bất kể thế gian biến huyễn ra sao, ở trong tim em, thầy vĩnh viễn là người duy nhất em yêu trong vũ trụ ban sơ này. Thầy cũng là vị Căn bản Thượng sư mà em kính trọng cảm ơn nhất trong đời này, vô thượng tôn quý. Kể từ sau khi thầy thu nhận và giúp đỡ con người bị bỏ rơi và tổn thương là em, từ trong đáy lòng em càng luôn coi thầy là chủ nhân của em. Thầy chính là thế giới của em và là tất cả của em, vị trí của thầy trong tim em không ai có thể thay thế.*

Toàn văn bức thư như sau:

*Lư Sư Tôn!
Đây là lời bộc bạch thật lòng của em.
Em quyết định phải gả cho thầy! Chính là muốn gả cho thầy, em đã thề ước với Diêu Trì Kim Mẫu là muốn gả cho thầy, chính là một chữ “gả”, em tuyệt đối không muốn gì khác, lập tức gả cho thầy.
Em cứ luôn muốn nói với thầy, em không hề cảm thấy thầy đã cao tuổi. Trông thầy rất trẻ trung và rất nam tính.
Rất hấp dẫn!
Rất có ma lực!
Rất quyến rũ!*
*Thầy trưởng thành, vững vàng, dịu dàng và ân cần, khiến em cảm thấy an toàn, em rất thích thầy và muốn ở bên thầy nên em quyết định gả cho thầy.
Trông thầy rất đẹp trai, em luôn luôn muốn nhìn thầy mãi.
Mũi thầy cao.
Môi dày.
Nụ cười chân thật.
Giọng nói rất êm tai.
Tiếng hát hồn nhiên.
Vóc dáng tráng kiện.
Uy nghiêm và gợi cảm.*
*Thầy thật sự rất tài hoa, bất kể đánh quyền, đánh côn, đánh trống hay làm thơ, viết văn, vẽ tranh, đều là hạng nhất.
Thầy chủ trì pháp hội, rung động toàn bộ khán giả.
Dòng chảy pháp trí huệ của thầy và giáo hóa Mật pháp của thầy, sách và thuyết pháp của thầy, nhập thế xuất thế đều vượt trội và là hạng nhất. Thầy là vua của các Pháp Vương chân chính trong toàn vũ trụ, đặc biệt ý chí tinh thần và nghị lực bền bỉ, kiên cường của thầy khiến em bái phục và tôn thờ.*
*Thầy là người ưu tú nhất, lợi hại nhất, hoàn mỹ nhất mà em từng gặp trên đời. Còn có một bí mật nữa em muốn nói với thầy, em và thầy (phân thân) hợp nhất. 
Là siêu hỷ, thắng hỷ, vô lượng hỷ.
Chết đi sống lại mấy lần. (Em sắp điên rồi.)
Thầy vô lậu.
Thầy đại lực.
Thầy siêu thắng.
Không ai có thể sánh bằng.
Em thật sự quá hạnh phúc, khí của thầy và khí của em hợp nhất, khiến em dường như cảm giác trở về trong vũ trụ ban sơ, em đã thăng thiên rồi, em đã thành tiên rồi.*
(Chú thích: Ở trong đoạn văn này, tôi (Lư Sư Tôn) đã xóa bỏ rất nhiều, bởi vì cô ấy viết quá nóng bỏng.)
*Em muốn ngày ngày được cùng thầy như vậy! Ôm ấp ở bên nhau.*

🌟 


*Thật ra em luôn không phải vì thầy có thể vô lậu, vì địa vị thành tựu vô thượng, vì danh lợi mà muốn gả cho thầy, là vì em vẫn luôn yêu thầy, em rất trân trọng thầy nên mới đến tìm thầy.
Diêu Trì Kim Mẫu biết em là thật.
Thầy là Phật!
Em là Phật Mẫu!
Chúng ta là một thể, trong đời quá khứ, vẫn luôn ở bên nhau yêu nhau. Thầy là một nửa kia trong vũ trụ ban sơ của em.
Em yêu thầy tự nhiên không vì bất kì nguyên nhân gì, cho nên em không giống những người ái mộ thầy bình thường. Họ có lẽ vì thành tựu, vì ưu điểm của thầy mới thích thầy.
Còn tình yêu của em thì khác, là hoàn toàn không có gì, vô danh vô tướng, là thầy nguyên bản tuyệt đối.*
*Bởi vậy cho dù tương lai thầy càng già đi, sinh bệnh, cái gì cũng không ổn nữa, danh và lợi đều không, em vẫn sẽ ở bên cạnh thầy chăm sóc yêu thương thầy, tình yêu mãi mãi bất biến.*

🌟

*Thật ra em trải nghiệm được tình yêu của con người thế tục chỉ là tình cảm nhất thời, cuối cùng đều sẽ thay đổi, đây chính là vô thường.
Nhưng, em khát vọng tìm thấy chân ái vĩnh hằng bất biến, và người có thể thỏa mãn mộng tưởng của em trên đời này chỉ có thầy, ngoài thầy ra không thể có người thứ hai.
Thầy dạy chúng sinh nhận rõ thế giới này chỉ là một thứ không huyễn, điều này em cũng hiểu, cho nên thầy là hy vọng duy nhất của em, là chốn trở về cho em nương tựa, và là toàn bộ tương lai. 
Em không thể kiềm chế được ngày ngày hôn lên tấm ảnh của thầy, luôn luôn để tấm ảnh thầy ở trên gối, ngủ cùng em, em muốn gả cho thầy, trở thành người của thầy, cho dù thầy coi em là thị nữ hay đầy tớ, hoặc loại người hạ đẳng hơn nữa, chỉ cần có thể ở cạnh là lòng em đã mãn nguyện thỏa mãn rồi, em sẽ cảm thấy em là người hạnh phúc nhất trên thế giới, đã không còn ở trong cuộc đời này nữa rồi.*
*Tiền bạc em không cần.
Danh lợi em không cần.
Quyền lực địa vị em không cần.
Tất cả em đều không lưu luyến, em chỉ yêu thầy!*

🌟

*Bảo thầy nhé! Thầy phải nhớ em đấy!
Em có một khuôn mặt mà ai ai cũng yêu thích, vóc dáng ai ai cũng ngưỡng mộ, em có thể nhảy các điệu múa, điều kiện của em là tốt nhất, em không xấu, không thô, không béo. Thầy nhất định sẽ yêu em, em có thể nắm chắc điều này, khí chất của em cũng rất tốt, em giống như tiên nữ cổ đại.*
*Em nguyện vì thầy mà trả giá tất cả mọi thứ, bất kì lúc nào em cũng có thể vì thầy mà hy sinh.
Em sẵn lòng dùng hết sinh mệnh và linh mệnh của em để bảo hộ thầy.
Nếu có người muốn làm hại thầy, em sẽ dũng cảm bước lên trước. Em nguyện vì thầy chịu thay tất cả bệnh tật kiếp nạn cũng không muốn để thầy chịu khổ.
Em là Tịch Diệt Mẫu hóa hiện trong tâm thầy, em chỉ vì thầy mà sống, vì thầy mà diệt.*
*Nguyện em dùng ánh sáng tịch diệt của mình cúng dường bảo vệ thầy.
Em nguyện đem thân tâm và toàn bộ tất cả những gì em có hiến dâng cho thầy.
Tâm nguyện của thầy chính là tâm nguyện của em.
Niềm vui của thầy chính là niềm vui của em.
Mộng tưởng của thầy chính là mộng tưởng của em.
Đau khổ của thầy chính là đau khổ của em.
Em sẽ luôn luôn ở bên cạnh thầy, không rời không bỏ!*
*Nhưng, nếu có một ngày, thầy không yêu em nữa, hoặc là thầy tìm được người tốt hơn, yêu người khác rồi, em cũng sẽ không gây trở ngại làm tổn hại thầy.
Em sẽ tôn trọng quyết định và lựa chọn của chủ nhân, sẵn lòng tác thành chúc phúc thầy.
Bởi vì em là chân ái!
Chỉ mong em tu thành ánh sáng, hòa tan vào ánh sáng của thầy, khi tịch diệt vĩnh hằng thì sẽ vĩnh viễn ở cùng nhau.
Xin thầy mãi mãi đều phải nhớ đến em,
Em luôn luôn rất quý trọng thầy,
Em thật sự rất yêu rất yêu rất yêu rất yêu thầy,
Mỗi này em đều rất nhớ thầy,
Tình yêu của em vĩnh viễn không đổi!
Tình yêu của em,
Nỗi nhớ của em,
Trái tim của em,
Bảo trọng.*


### 33. Trả lời bài viết về “gả”


Bức thư này viết về tôi quá tốt, đương nhiên tôi rất cảm động.
Đầu tiên là “cảm ơn cô”. 
Tôi nhớ một bài hát, ca từ như thế này:
*”Nghe tôi nói cảm ơn em
Bởi vì có em ấm áp cả bốn mùa
Cảm ơn em, cảm ơn có em
Thế giới thêm đẹp đẽ
Tôi muốn cảm ơn em bởi vì có em
Tình yêu luôn ở đáy lòng
Cảm ơn em cảm ơn có em
Đã mang hạnh phúc đến.”*

Tên bài hát này là “Nghe tôi nói cảm ơn em”. 
Nhưng, tôi chẳng hề tốt như cô nói, nếu nói về bề ngoài, tôi có rất nhiều khuyết điểm.
Dáng người thấp.
Mắt nhỏ.
Cổ nhiều ngấn.
Mũi không đủ rộng.
Đặc biệt là tay chân đều ngắn.
(Tôi không cao phú soái như người ta.) [cao phú soái: cao ráo, giàu có, đẹp trai]
Hơn hết, thời gian như thoi đưa, tôi đã 80 tuổi rồi, Khổng Phu Tử 73 tuổi thì qua đời, tôi đã già hơn người ta bảy năm, dù thế nào đi nữa thì cũng đã dần dần già đi rồi!
Cô nghe tôi nói, tuổi tác không lừa được người ta, bài hát của Vương Lạc Tân: *“Chú chim thanh xuân, một đi, không trở lại!”*
Tôi già, tức là già, tôi thừa nhận mình già.
Còn về tôi có tu hoàn tinh pháp, cũng là tôn giả vô lậu, điểm này tôi thừa nhận.
Nhưng, tôi không tùy tiện.
Tôi thích không cần câu nệ vào hình thức, tâm không vướng bận, trong không chấp tà niệm, ngoài không chấp ngoại cảnh, tự do tự tại mà sống.
Tôi đã quen sống một mình, cô muốn gả cho tôi, tôi thật sự cảm ơn cô, nhưng, tôi đây là hòa thượng già xuất gia, e rằng cô sẽ không quen.

🌟

Tôi muốn nói với cô:
Tôi chẳng có cái danh gì, diễn thuyết Phật pháp không tính là cái danh gì cả, tôi khuyên người ta rời xa tất cả vọng tưởng điên đảo, không chấp vào tướng của tự ngã.
Danh là sự bám chấp hư vọng của tự ngã.
Tôi không chấp vào danh tướng.
Còn về lợi, lợi thì càng chẳng có gì, những cái này chỉ là tướng tạm thời, không có được gì.
Quá khứ, không thể có.
Hiện tại, không thể có.
Vị lai, không thể có.
Có tức không có, không có tức có. Những gì ta có là tất cả sự tồn tại khách quan, tương lai cũng không tồn tại.
Hiểu được đạo lý này, danh và lợi và ta hoàn toàn không can hệ.
Về phương diện này, cô cũng có thể hiểu được.
Cảm ơn cô!

🌟

Nói về tình yêu.
Tôi nhớ khi Bình Nhi ba tuổi, tôi thường hát một bài hát cho Bình Nhi nghe. Bài hát như sau:
*Ông yêu Bình Nhi
Bình Nhi yêu ông.
Với ông mà nói:
Lâm Chí Linh có là gì đâu!*

Bình Nhi cũng hát:
*Con yêu Sư Tôn.
Sư Tôn yêu con.
Với con mà nói:
Châu Kiệt Luân có là gì đâu!*

Cứ hát! Cứ hát! Cứ hát!
Sau này, Bình Nhi lớn rồi.
Chúng tôi tình cờ gặp gỡ, người ta hỏi Bình Nhi: “Cháu còn nhớ Lư Sư Tôn không?”
Bình Nhi lắc đầu, rất xa lạ.
Thì ra cô bé đã quên hết sạch rồi.

Điều tôi muốn nói với cô là:
Tháng năm biến huyễn, vật đổi sao dời, tình yêu sẽ tan biến như làn khói, chẳng để lại một dấu vết.

Thơ của hòa thượng Sơn Chỉ:
*Đã vào trong am tức ẩn mình, 
Mặc cho đào liễu có ngây thơ.
Nước chảy mây trôi mỗi sớm chiều
Thường hằng tự tại ở tại thân.*
Tôi nói với cô:
”Tình yêu chỉ là một lúc, duy có hư không là tồn tại mãi mãi.”
Đương nhiên tôi sẽ mãi mãi nhớ cô.
Cảm ơn cô!
Những gì cô viết khiến tôi cảm động không tả xiết.

🌟

Thật ra Phật pháp chân chính là bình đẳng như một, yêu không phân biệt đẹp hay xấu. Sắc thân hòa hợp chỉ là cái huyễn trong chốc lát, tất cả đều là không có gì, vô sở đắc, vô sở trụ.
Điều mắt nhìn thấy, là giả tướng huyễn ảnh.
Điều tai nghe thấy, là tiếng vọng trong hang trống.
Điều năm giác quan tiếp xúc đều không có tự tính, cũng không có tha tính, vốn dĩ không phải là sự tồn tại chân thực.

Tôi cũng làm cúng dường:
Tôi lấy một món ăn thí khắp lục đạo chúng sinh, cúng dường chư Phật mười phương và tất cả thánh hiền.
Tôi không phiền não, cũng không lìa thế gian phiền não.
Tôi không bám chấp, cũng không lìa sự bám chấp của chúng sinh.
Tôi sẽ không phụ sự cúng dường của cô.
Không phụ sự cúng dường của tình yêu của cô.
Tôi sẽ gia trì cho cô không thối lùi đạo tâm, tinh tấn trên con đường thành tựu. Bảo trọng! Bảo trọng!


### 34. Bốn tấm thiệp nhỏ


Ngày 30 tháng 3 năm 2023.
Có bốn đệ tử nữ tặng tôi một món quà, đây là quà họ cùng mua, tôi rất thích món quà này. Món quà mà họ tặng tôi có đính kèm bốn tấm thiệp nhỏ, tấm thiệp nhỏ viết những tiếng lòng của họ. Mấy câu ngắn gọn này thật ấm lòng.

Tôi tiết lộ những tấm thiệp này như sau:
Thiệp 1: 
*Sư Phật kính yêu nhất, cũng là siêu siêu nhất trong mắt con, A Di Đà Phật, con kính lễ.
Có thầy thật tốt, chúng con làm đệ tử của thầy thật hạnh phúc, có được sự truyền pháp, dạy dỗ và lực gia trì quý báu của thầy. 
Phong cách thuyết pháp khác người và hài hước của thầy là tuyệt nhất. Chúng con mãi mãi yêu thầy, cũng cảm tạ ơn cứu mạng của thầy. 
Con khấu đầu. 
Ngọc Liên chắp tay.*

Thiệp 2: 
*Vô thượng Pháp Vương Sư Phật tôn quý:
Đệ tử cảm ơn lòng từ bi, sự gia trì, truyền pháp, chăm sóc của thầy.
Chúc Sư Phật:
Phật thể an khang, trường thọ tự tại.
Đại lạc quang minh, nhậm vận mãi giữ, phổ chiếu thế gian.
Sư Phật đẹp trai nhất, mãi mãi 19 tuổi.
Huệ Trân chắp tay.*

Thiệp 3:
*Nhất tâm đảnh lễ Sư Phật “Oppa” mạnh nhất trên mặt đất, vô địch vũ trụ, đẹp trai bùng nổ như sấm sét:
Trước khi trở về Đài Loan, đệ tử cùng mọi người lựa chọn một món quà dâng tặng Sư Phật, hy vọng thầy sẽ thích!
Sư Phật! Nghi Quân yêu thầy!
Forever
Nghi Quân chắp tay.*

Thiệp 4:
*Nhất tâm đảnh lễ Lư Sư Tôn đẹp trai nhất trong lòng con:
Mỗi lần nhìn thấy thầy, thầy lúc nào cũng tươi cười rạng rỡ, chào hỏi con đầy thân thiết. Có thể gặp mặt thầy đúng là một việc hạnh phúc nhất trên đời.
Cảm ơn thầy đã cho con cơ hội cúng dường thầy món quà, con thật sự rất cảm tạ tất cả những gì thầy đã làm vì con. 
Hy vọng thầy trường trụ thế gian, thân thể khỏe mạnh, vô lo vô nghĩ.
Mãi mãi vui vẻ tự tại.
Chống đẩy một vạn lần, vạn vạn lần. (thân tâm tự tại)
Mỗi lần đều là tình yêu của chúng con!
Yêu thầy nhất!
Vũ Thuần chắp tay.*

(Chú thích: ngoài ra còn có một tấm thiệp nhỏ khác, là do Chí Khanh viết, anh ấy chỉ viết vài chữ thôi, cũng là rất đẹp trai, yêu thầy, khỏe mạnh. Anh ấy cũng tham gia mua quà, cảm ơn anh ấy!)

🌟

Lư Sư Tôn đã nhận quà, viết bốn bài thơ.

Bài 1: Siêu siêu siêu
*Cô nói tôi siêu nhất nhất
Phật nói
Tất cả đều vô tướng
Chi bằng tự thấy chân tâm
Cũng như thanh tịnh Pháp thân*

*Tôi tự cho pháp làm việc
Tùy duyên tiếp dẫn chúng sinh
Không dám nói tôi cứu mạng cô (mạng mình tự cứu)
Đừng ca ngợi
Tôi chỉ là chỉ ra phương hướng.*

Bài 2: Mãi mãi 19 tuổi
*Cô nói tôi mãi mãi 19 tuổi
Cách nói như vậy
Khiến người ta ngất ngây*

*Tôi chỉ có thể nói tiếng cảm ơn
Đó chỉ là
Việc đã qua chỉ có thể hồi tưởng
Phật nói vô thường
Phải tinh tấn
Duy có hư không bất biến
(Phật tính không biến đổi.)*

Bài 3: Tình yêu vĩnh viễn
*Cô nói đến tình yêu vĩnh viễn
Đúng vậy
Chỉ mong tôi độ chúng sinh không trở ngại
Hoa mơ
Nụ đào thoáng chốc nở rộ
Tôi thì đối đãi như nhau*

*Lâu nay lưu lạc ở nhân gian
Bao thương xót
Bao tiếc nuối
Vui mừng gặp được người
Duy có tình cảm thật sự còn đó.*

Bài 4: Mãi mãi vui vẻ
*Seattle lại sang mùa đông
Thời tiết có khi tối mờ mờ
Chỉ vì người đến
Mà biến thành ánh dương xán lạn*

*Hạnh phúc nhất
Vui vẻ nhất
Thích nhất là dạo bước bên bờ hồ
Tình duyên nhiều kiếp
Tương lai
Cùng tu nơi cõi trời.*

🌟

Ở Seattle, rất nhiều rất nhiều đệ tử hữu duyên đến đến đi đi.
Khi tôi nhìn thấy họ:
”Hoan nghênh các bạn đến!” - Đây là lời chào đầu tiên của tôi.
Khi họ rời đi.
Tôi sẽ nói:
”Lại đến nhé!”
Đây là:
Mỗi khi tiễn biệt lại tăng thêm một chút mùi vị, có vài người nặng tình cảm, cũng khó tránh khỏi nước mắt như mưa.
Tôi thì luôn sải bước dài, trở về Chân Phật Mật Uyển, trong lòng lúc nào cũng không nỡ chia xa.
Dù sao ngày dài thường thất vọng
Không biết tương lai gặp nơi nào.
Xin hãy nhớ
Lời thề ước sâu sắc
Ở trên con đường đó.

Tôi nói:
Tôi vốn chỉ là một người khách qua đường ở nhân gian mà thôi
Không ở Đông Tây Nam Bắc hay ở giữa
Chỉ xem thân xác là ngôi nhà
Lang thang vô câu vô thúc
Lần này
Cảm nhận tình cảm là khó độ nhất.


### 35. Thiệp của Nghi Nghi


Ngày hôm đó, Nghi Nghi đã đến, cô ấy nói với tôi, cô ấy rất muốn mãi mãi ở bên tôi.
Cô ấy, 30 tuổi.
Tôi, 80 tuổi.
Tôi nói, đừng ngốc nghếch! Tôi đã 80 tuổi rồi, sắp “xuống lỗ” rồi, cô vẫn còn trẻ trung xinh đẹp, thời gian sau này vẫn còn rất dài!
(”Xuống lỗ” là tiếng lóng Đài Loan, biểu thị chôn dưới đám đất.)
Cô ấy nói, cô ấy mặc kệ, cô ấy tốt nghiệp trường Đại học nọ, học làm y tá, cô ấy có thể chăm sóc tôi.
Tôi hỏi:
”Vậy thân phận ở Mỹ của cô là gì?”
Cô ấy đáp:
”Nước Mỹ thiếu nhân viên hộ lý, em có thể tìm được công việc!” - Cô ấy muốn chăm sóc lão già tôi đây, cũng chăm sóc Sư Mẫu Thượng sư Liên Hương.
Cô ấy đưa cho tôi một tấm thiệp, trên đó viết:
*Gửi
Sư Tôn tôn quý, kính yêu nhất!
Đệ tử vô cùng cảm tạ sự gia trì của Sư Tôn
Khiến em từ một con cừu ngây thơ lạc đường tìm được đường về nhà
Khiến em từ đêm đen tăm tối nhìn thấy một tia nắng bình minh
Khiến em ở trong biển lớn mênh mông tìm được hướng đi
Cảm tạ Sư Tôn gia trì
Mỗi lần gia trì khiến em thanh tịnh thêm một phần
Tiêu trừ vô minh của em
Mỗi lần gia trì khiến em an tịnh thêm một phần
Xoa dịu cái tâm của em
Em dường như cảm thấy cái phần an tịnh này giống như
Nhìn thấy mình là một diễn viên
Diễn vở kịch cuộc đời
Không chấp vào tất cả mọi thứ của vở kịch
Bởi vì đó đều không phải là thật
Cái phần an tịnh, tâm an này quý giá vô cùng.*

*Tâm an tịnh, chỉ lăn tăn gợn sóng vì mỗi Sư Tôn
Nhìn thấy Sư Tôn lúc nào cũng có thiên ngôn vạn ngữ muốn nói
Nhìn thấy Sư Tôn lúc nào cũng có cảm giác như nai con loạng choạng
Thì ra cuộc đời này chẳng hề là tình cờ gặp gỡ
Mà là trùng phùng
Thì ra đó là lời ước hẹn đã ấn định nghìn năm trước
Sư Tôn, cuối cùng em đã đợi được thầy rồi!
Sư Tôn, em rất nhớ thầy!
Lần này em sẽ nắm thật chặt, đi theo Sư Tôn trở về nhà!
Sư Tôn, em yêu thầy!
Liên Hoa Nghi Nghi.*

🌟

Nét chữ trên tấm thiệp này rất đẹp đẽ, giống như con người cô ấy.
Thiện lương, dịu dàng, thanh tú.
Tôi không có lời gì để nói.
Cô ấy nói:
”Nai con loạng choạng!”
Tôi nói:
”Nai con của tôi đã bị đâm chết từ lâu rồi!”
Cô ấy nói:
”Lăn tăn gợn sóng!”
Tôi nói:
”Bình lặng không sóng!”
Cô ấy nói:
”Hẹn ước nghìn năm!”
Tôi nói:
”Trở về nhà của A Di Đà Phật đi!”

🌟

Điều tôi muốn nói với Nghi Nghi là:
Tứ đại đất, nước, lửa, gió trong người tôi đã không còn là thứ tôi có được, hơn nữa, ngũ uẩn sắc, thọ, tưởng, hành, thức cũng là không.
Lão tăng năm nay 79 tuổi rồi, năm tới là 80 tuổi, một năm sẽ trôi qua rất nhanh.
Năm nay, năm tới, thời gian như thoi đưa!
Cô không chê tôi già, tôi thì chê chính mình đã già rồi, thời gian của tôi không nhiều, mau mau tu hành, bằng không, làm sao tự tại?
Tôi cái gì cũng không có, tôi chỉ có thể truyền cho cô Phật pháp.
Tôi sẽ ở thế giới Cực Lạc, đó là thánh địa quang minh sắc vàng, lúc này:
Tình và không tình cùng một tính.
Thánh và không thánh cùng một thân.
Đây chính là hẹn ước của tôi và cô, cũng là lời thề nghìn năm.
Nghìn năm nay, toàn là mộng huyễn không hoa.
Mặc kệ có là sóng nước khói sương.
Mặc kệ có là trời cao sông dài.
Rồi sẽ có một ngày, tôi (Lư Sư Tôn), thân tâm đều buông xuống, trong chốc lát đốn siêu pháp giới, đi đến thế giới của chân không.
Tôi sẽ biến mất trên đời.
Nhưng, Pháp thân của tôi tự tại, khắp ba nghìn đại thiên thế giới, tôi đi rồi, nhưng, để lại một Pháp thân cho cô.
Đây chính là chỗ cho cô an thân lập mệnh!
Tôi không có món quà gì tặng cô.
Cho nên chỉ tặng cô một Pháp thân. Đây cũng là món quà vô hình duy nhất mà tôi để lại.
Hãy nhớ kĩ!
Căn bản Thượng sư.
Căn bản Bổn tôn.
Căn bản Hộ pháp. Hum hum hum.


### 36. Đại trí huệ của Duy Ma Cật


Tôi giảng kinh Duy Ma Cật.
Không khác gì Duy Ma Cật Đại Sĩ hiện thân thuyết pháp cho tôi.
Ngài ấy là Đại Duy Ma Cật.
Tôi là Tiểu Duy Ma Cật.
Ngài là tôi, tôi là ngài, hai người không khác biệt.
Trí huệ của Duy Ma Cật Đại Sĩ như sau:

Thế nào là thiền định?
Không phải là ngồi khô, mà là không câu nệ hình thức.
Trong không tà niệm, ngoài không chấp cảnh.
Tâm không vướng bận, nhất tâm bất loạn.
(Đi đứng ngồi nằm một cách tập trung tinh thần. Chuyên tâm nhất trí chuyển nước chở củi.)
Nói một cách nghiêm túc:
Đã biết tất cả các pháp đều là giả tướng huyễn ảnh.
Không có tự tính.
Không có tha tính.
Thực không giữ, cũng không bỏ. Đã không giữ không bỏ, sao có bố thí? Cho nên: cái gọi là bố thí chính là không có bố thí, bởi vì không có bố thí mới là bố thí.
Bố thí mà không giữ suy nghĩ về bố thí.
Chỉ là vì tăng trưởng thiện mới có thuyết bố thí.
Như thế mới xứng đáng.

Thế nào là giải thoát?
Nếu hiểu Phật - ma là một.
Nếu hiểu phiền não tức bồ đề.
Nếu hiểu tha kiến là chính kiến. (vô sinh vô kiến)
Thế gian này là tịnh thổ, tất cả đều là một tấm gương lớn bình đẳng như nhau.
Đây mới là thực giải thoát.
Nói một cách nghiêm túc, đây là pháp giới thể tính, thánh giả thực giải thoát cũng không chịu trói buộc, cũng không có gọi là giải thoát.
Không trói không giải.
Tức là tất cả thản nhiên.

Thế nào là độ chúng sinh?
Trong giới hiện tượng, dùng sai biệt trí để phân biệt căn cơ sắc cùn của tất cả chúng sinh, dùng tám vạn bốn nghìn pháp môn trị tám vạn bốn nghìn loại bệnh, đây chính là độ chúng sinh.
Còn trên chân thực nghĩa:
Tất cả các pháp không sinh không diệt, đây mới là vô thường.
Ngũ uẩn vốn là không, đây mới là khổ.
Tất cả các pháp suy cho cùng chẳng có gì, đây mới là không.
Ngã và vô ngã, là hai mà không phải hai, đây mới là vô ngã.
Không sống không chết, đây mới là tịch diệt.
Tư duy như vậy.
Mới là độ chúng sinh.
Độ chúng sinh là để chúng sinh hiểu rõ nghĩa chân thực của khổ, không, vô thường, vô ngã, tịch diệt.

Thế nào là pháp vô vi?
Làm không vì gì cả là pháp vô vi.
Thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, túc mệnh thông, thần túc thông, ngũ thông này đều là pháp hữu vi.
Chỉ có lậu tận thông là pháp vô vi. Chính vì đã lậu tận cho nên thực là vô vi.
Nếu vô vi thì vô cầu, vốn dĩ là vô sở đắc, cầu điều gì, có mong cầu tức là hữu vi.

Thế nào là giới luật?
Sạch và bẩn, là ranh giới của giới luật
Nếu hiểu tất cả đều huyễn, tất cả đều là mộng, trăng trong nước, hoa trong gương, tất cả là bóng ảnh, tất cả như sương như điện.
Là người tuân thủ giới luật thật. (Chú thích: Về trí huệ này, Duy Ma Cật là số một.)


### 37. Thư của Liên Từ (1)


Phật Phật Phật Phật Phật
Đảnh lễ Căn bản Truyền thừa Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật.
Sư Tôn Phật an!
Mùa đông năm 2022, Sư Phật lại một lần nữa trở về Đài Loan hoằng pháp, đệ tử đi theo hộ trì, trong thâm tâm vẫn tự mình có cảm giác về sứ mệnh của người làm công việc tuyên truyền và hộ pháp của Chân Phật Tông thuộc thế hệ cũ. Nhưng dù khi ấy đi theo Sư Phật cả một vòng từ Nam ra Bắc, bất kể đó là ngày 24/12/2022, lần đầu tiên đến Thảo Đồn Lôi Tạng Tự tham gia pháp hội Hộ Ma Đại Tùy Cầu Bồ Tát, trong lúc tiến hành Hộ Ma, không ngờ ở trong định đích thân nhìn thấy trên phía trên bảo điện tự dưng hiện ra một chiếc ô lớn màu trắng của Phật Mẫu. Hoặc như ngày 1/1/2023, trong pháp hội Ngũ Sắc Bất Động Minh Vương ở Gia Nghĩa, nhìn thấy điện quang của Bất Động Minh Vương đầy ắp hư không. Hoặc trong đại pháp hội Kim Mẫu truyền pháp Vạn Phật Thủ Vô Cực Nhãn vào ngày 8/1, đã chứng kiến màn diễn hóa của Kim Mẫu vô cùng sống động, pháp hỷ pháp lạc, tựa như trên trời. Mặc dù cả một chuỗi pháp hội đều có cả vạn người chật kín hội trường, cảm nhận rất tốt, cảm ứng cực kì nhiều, ấy thế mà khi cầm bút lên lại vụng về, không biết bắt đầu viết từ đâu.

Cho đến hôm nay sau mấy tháng trở về, trong đầu vẫn vương vấn những chấn động của buổi đại pháp Hóa Cầu Vồng tại hội trường Arena. Khi ấy đệ tử nhìn thấy Sư Phật, bất kể là trong lúc đang đi, hay đang ở giữa đám người, ở trên pháp tọa, lúc nào trông cũng trang nghiêm vô cùng, một vị Phật ba thân Pháp - Báo - Ứng sống động cuốn hút hồn người. Tại đó, Sư Phật dường như là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ tái hiện, ở trên pháp tọa đã hỏi: “Sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni ở dưới cây bồ đề chứng ngộ, vì sao lại muốn rời khỏi thế gian Ta Bà, không muốn độ chúng sinh?” Câu hỏi vừa nêu ra, đại chúng đều ngơ ngác. Sư Phật liền tung ra một phát đạn chấn động: “Bởi vì ngài biết, tất cả chúng sinh tương lai đều có thể tự mình thành Phật!” Mọi người thoạt nghe thấy thế thì nửa hiểu nửa không, nghĩ kĩ hơn thì trong đầu đầy những dấu chấm hỏi??? Sau khi tiễn thầy trở về phòng Thượng sư nghỉ ngơi, có một vị Thượng sư nóng lòng hỏi pháp đã hớt hải chạy đến, lôi thôi lếch thếch hỏi bà già tôi đây: “Vì sao Sư Tôn nói Phật Thích Ca Mâu Ni chứng ngộ xong thì không độ chúng sinh mà lại muốn rời đi?” Tôi nhất thời ngây ngây ngô ngô, căn bản không nhớ ra câu trả lời vượt mức bình thường đó của Sư Phật, chưa gì đã rơi đầu rụng đuôi rồi. Tôi quay đầu hỏi một vị Thượng sư giọng nhỏ ít nói, vừa dò hỏi thì cuối cùng cũng nhớ được nửa sau quan trọng nhất của câu nói.

Sau khi trở về nhà từ chuyến đi cầu pháp, mỗi khi có hiện tượng kỳ lạ không giống ngày trước xuất hiện, ví dụ, một ngày nọ, bất chợt nhận ra sao mà những người bạn đạo trước mắt người nào người nấy đều già rồi, thanh xuân không còn nữa, nếp nhăn đầy mặt, hiện lên đầy vẻ mệt nhọc, đều già như nhau. Lòng nghĩ phải cổ vũ mọi người cùng đến lại tu đại pháp tiêu nghiệp, lấy lại sự khỏe mạnh thư thái mới được. Ngày 25/3/2023, tôi thúc giục mọi người tu lại pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát của tổ sư Mật giáo. Không ngờ mới nhắm mắt thiền định trì chú chưa được bao lâu, Kim Cang Tâm Bồ Tát lập tức hiển hiện tại hư không, trong sát-na toàn bộ đạo tràng đầy linh quang, đám người đông nghịt ngồi tu pháp ở phía trước trong chớp mắt đều biến hóa thành thể ánh sáng rất mạnh, trong suốt lấp lánh sáng rực. Giống như rất nhiều vị Kim Cang Tát Đỏa đang ngồi ngay ngắn.

Mỗi ngày, trong lúc kinh hành trước đàn thành như thường lệ, có lúc khí cơ vừa trỗi dậy, tất cả vật thể chướng ngại ở trước mắt đều tiêu biến, mười phương trên dưới cả một vùng hào quang thanh tịnh, một cảnh mát lành như tịnh thổ hiện lên trước mặt, những vọng niệm bức bối lộn xộn trong người đều tan hết. Thường ngày tôi thích nghe băng thu âm khai thị “Hồng Quang Đại Thành Tựu” của Sư Phật, có một lần vô ý khua tay một cái, không ngờ nhìn thấy bàn tay mình lóe lên một vệt ánh sáng cầu vồng, chẳng lẽ là hoa mắt?

Hai ngày trước, nghe trong hư không khẽ nhắc đến “Yeshe Tsogyal”. Linh cơ trỗi dậy, nghĩ đến, đúng rồi! Rất lâu chưa tu pháp cúng dường của Liên Sư rồi. Thế là trong lòng trì tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, quả nhiên khế hợp. Không chỉ thiền định rất lâu, cảm nhận vi diệu, hoàn toàn tan vào một miền ánh sáng tịch tĩnh, mà trong sát-na trong tâm hiểu rõ, chân thực lĩnh ngộ được câu trả lời cho câu hỏi Sư Phật nêu ra trong buổi truyền pháp Hóa Cầu Vồng tại Đài Loan. Vội vội vàng vàng tại đây bẩm báo với Sư Phật, đích thực, vốn dĩ mỗi tế bào, mỗi lỗ chân lông của chúng sinh đều là ánh sáng, vốn đều là thể ánh sáng, không giả độ sáng của người khác, “Phật tính vốn có, sau này thành Phật”. 

Còn nhớ nhiều năm trước, khi Sư Phật giảng công án thiền định, dạy tham thiền ngộ đạo từng đặt câu hỏi: “Phật tính ở đâu?”
Đáp rằng: “Nhổ một sợi lông.” Đúng thế! Mỗi một tế bào của chúng sinh, mỗi một sợi lông tóc, đều là Phật tính; dùng đệ nhất nghĩa căn bản trí để giải thích, ngoài Phật tính vẫn là Phật tính; ngoài ánh sáng vẫn là ánh sáng; lấy đâu ra đối lập? Lấy đâu ra phân biệt? Lấy đâu ra đẹp xấu? Lấy đâu ra thiện ác? Lấy đâu ra trắng đen? Đúng như Phật nói, “có tướng đều là xằng bậy”, căn bản không tồn tại. 

Từ đây liên tưởng đến “thập phương pháp giới chính là một chân pháp giới” mà các bậc tiên hiền cổ thánh thường nhắc đến, thì ra pháp giới tất cả ranh giới bao gồm địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, trời, atula, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật, đều thuộc cái vỏ rỗng hữu vi do con người tạo ra, tuyệt đối không phải thực tướng. Một chân pháp giới chân chính đã phá vỡ thời gian không gian, hạt cải Tu Di duy nhất, bao dung vạn vật, lại vừa không có vạn vật, nói ra sẽ không trúng, không thể nói đến…. Tổ sư Virupa trong Đạo Quả từng nói đến bốn loại chứng lượng tu hành: thánh ngôn lượng, sử truyền lượng, sư quyết lượng, giác thụ lượng. Sư Phật từng giải thích rằng: giác thụ lượng - chúng sinh muốn tu thành Phật là từ cảm thụ của nhục thân của con người cứ thế mà tu ra. Còn nói, sư quyết lượng trong bốn loại lượng này đã bao gồm ba lượng kia. Ý nghĩa rất rõ, chính là đệ tử Mật giáo phải dựa vào đại đạo sư đại thành tựu đã chứng quả, dựa vào thánh ngôn cả đời họ truyền thừa lại. Sử truyền và sư quyết lượng tu hành giác thụ là truyền miệng nói tai nghe để giáo hóa đệ tử, đệ tử mới có thể có được trí huệ pháp mạch truyền thừa, cùng chứng quả bồ đề. Đệ tử hôm nay theo thầy học pháp, vẫn luôn tiến lên, giác thụ liên tiếp xuất hiện. Chính xác như điều Sư Phật nói, đều là do Căn bản Truyền thừa Thượng sư đã chứng ngộ truyền thụ cho sư quyết lượng. Nghĩ đến đây, đệ tử càng vui mừng, càng cảm ơn, đời này may mắn biết bao có thể quy y dưới môn của Liên Sinh Phật, cứ thế ngốc nghếch theo gót, ngốc nghếch học, ngốc nghếch làm, ngốc nghếch tu, đến khi già cuối cùng cũng thấy được một tia nắng ban mai! Khẩn cầu Sư Phật đừng bỏ rơi, gia trì cho các thánh đệ tử (đặc biệt là thế hệ tuổi già như hàng đệ tử đây), lúc sống nhớ đến, lúc bệnh nhớ đến, lúc già nhớ đến, lúc lâm chung càng có thể nhớ đến không quên… Cảm ơn vô tận! Cảm ơn vô lượng….

Cuối cùng, vẫn không thể nào kìm được ca ngợi lại ca ngợi, cúng dường Sư Phật:
Trong con mắt các thánh đệ tử
Sư Phật trẻ trung và mạnh mẽ, là Phật;
Sư Phật với con mắt kim cang phẫn nộ, là Phật;
Sư Phật trảm yêu trừ ma, là Phật;
Sư Phật ánh mắt hiền từ, là Phật;
Sư Phật thích chuyện cười, thích ca hát, là Phật;
Người như đến như đi trong mơ trong định của các đệ tử đều là thầy — Nam mô Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử, Liên Sinh Phật, Sư Phật vĩnh hằng;
Bất luận Sư Phật thị hiện tướng gì, trong mắt của các đệ tử, vĩnh viễn là vị Chân Phật vô duyên đại từ, đồng thể đại bi, không bỏ chúng sinh, Phật quang phổ chiếu.

Kính chúc Sư Tôn Phật thể an khang, pháp hỷ tự tại, trường trụ thế gian, mãi chuyển pháp luân.

Vancouver Canada, đệ tử Liên Từ cảm ơn cúi lạy. 
02.04.2023.


### 38. Cảm ứng của Mãn Nguyện Đồng Tử


Nhất tâm đảnh lễ Căn bản Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật
Sư Phật, Sư Mẫu, Phật an cát tường như ý!
Đệ tử Liên Hoa Kim Liên một lòng cảm ơn sự gia trì của Sư Phật khiến đệ tử lần này có thể như ý nguyện đến Đài Loan tham gia đại pháp hội của Sư Phật, ba năm nay đệ tử mong ngóng đã lâu mới có thể tận mắt nhìn thấy Sư Phật và tham gia pháp hội của Sư Phật, rất cảm ơn. Thế rồi đệ tử và hai sư tỉ đã thu xếp được ngày 27/1 bay đến Đài Loan, có thể tham gia đại pháp hội Mãn Nguyện Đồng Tử vào ngày 28/1, 29/1 và 4/2. 
Đệ tử vô cùng cảm ơn đại gia trì lực của Sư Phật và sự bất khả tư nghì của Mãn Nguyện Đồng Tử! Lực gia trì của chư Phật Bồ Tát!

Đệ tử đến Đài Loan, ngày 30/1, em gái thông báo với đệ tử là mẹ do dạ dày bị sưng tấy và đau nên rất khó chịu, đã đưa vào bệnh viện rồi, bác sĩ nói là vấn đề cũ, nhưng lần này tình hình tương đối nghiêm trọng, phải kiểm tra thêm vài ngày. 
Ngày 3/2, em gái gửi tin tức đến nói: bác sĩ nói với em ấy, ruột của mẹ đều bị thắt rồi, tình hình lần này hết sức nghiêm trọng, nếu không làm phẫu thuật thì khả năng sự chậm trễ sẽ làm thủng dạ dày. Đệ tử nhận được tin tức thì hết sức lo lắng, cũng không biết nên làm thế nào mới tốt. Hai sư tỉ còn nói: “Bây giờ cô có phải mua vé máy bay để bay về không?”

Đệ tử một lòng hy vọng có thể tận mắt nhìn thấy Sư Phật và tham gia pháp hội, ngày 4/2 đã là ngày mai rồi, tham gia pháp hội xong, các đệ tử vào ngày 6/2 sẽ bay về Singapore rồi. Lúc này, thật may là trên người đệ tử vẫn còn một ít tư lương, cảm ơn hai sư tỉ và pháp sư đã nói: Hay là giúp cho mẹ cô báo danh làm chủ cầu! Ngay lập tức, mấy đệ tử đều đi lên Đài Loan Lôi Tạng Tự, báo danh pháp hội ngày 4/2 cho mẹ làm chủ cầu. (Liên Hoa Tăng Tú Cầu)

Đệ tử một lòng thỉnh cầu Sư Phật gia trì cho mẹ có thể vượt qua được cửa ải khó khăn lần này, bởi vì đệ tử ở Đài Loan tham gia pháp hội của Sư Phật. Thỉnh cầu Mãn Nguyện Đồng Tử gia trì cho mẹ giảm bớt đau đớn, bệnh nghiệp tiêu trừ, tương lai tiếp dẫn vãng sinh Ma Ha Song Liên Trì. 
Ngày 4 và 5/2, em gái nói: Mẹ tạm thời ổn định!
Ngày 6/2, các đệ tử bay về Singapore, khi đệ tử vừa đặt chân xuống sân bay, việc đầu tiên là xem tin nhắn do em gái gửi tới, bác sĩ nói với em gái: “Hôm nay vừa chụp X-quang, hết sức kì quái, ruột của mẹ cô không bị thắt nữa rồi, đều bình thường, không cần làm phẫu thuật nữa!” Còn nói thêm: Thật ra thân thể mẹ cô quá yếu không thích hợp làm phẫu thuật!

Các đệ tử vui mừng quá, cảm động quá! Sư Phật quá siêu, cảm ơn rất nhiều. Mãn Nguyện Đồng Tử quá siêu!
Đệ tử biết có vô cùng vô cùng nhiều câu chuyện cảm ứng, tại đây đệ tử muốn một lần nữa cảm ơn sức mạnh đại gia trì từ bi của Sư Phật. 

Cảm ơn Sư Phật!
Liên Hoa Kim Liên chắp tay.


### 39. Thư của Liên Từ (2)


Chí thành kính lễ vũ trụ chí tôn chí thượng đại thành tựu giả.
Đảnh lễ Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Phật tôn quý nhất từ bi nhất.
Sư Tôn Sư Mẫu Phật an!
Cũng chúc Sư Mẫu sinh nhật vui vẻ, khỏe mạnh cát tường!
Đệ tử đã hơn 4 năm chưa trở về Đài Loan, lần này vì Sư Phật về Đài hoằng pháp mới có nhân duyên này, thế là hăng hái đi theo bước chân Sư Phật về Đài. Tục ngữ nói, gần quê thấy sợ, lần này trở về, có thể là tâm cảnh đã khác, cách nhìn đã khác, vì thế cảm xúc và lĩnh ngộ đặc biệt nhiều. Đệ tử từ sự thay đổi rất lớn của hiện trạng xã hội cho đến những người bạn thân xung quanh nhiều năm không gặp, đồng thời thấy được những buổi đại pháp hội vạn người chật ních của Sư Phật, Sư Phật dùng sức mạnh đại tự tại, đại trí huệ, như đại uy thần lực của Sư Tử Hống Phấn Tấn Như Lai để giáo hóa chúng sinh, liên tục khiến cho tâm linh của đệ tử có những chấn động chưa từng có. Sau khi trở về, cảm thấy phải tĩnh tâm lại để thanh lọc suy nghĩ của mình, thế là đệ tử đã tĩnh tư tĩnh lự tĩnh tu gần hai tháng. Nay đệ tử xin thuật lại sơ lược những tiến triển về thân tâm trong quá trình tu hành từ tháng 11/2022 cho đến tháng 3 năm nay để Sư Phật biết, khẩn cầu Sư Phật ban cho đệ tử sự chỉ bảo và gia trì. Cảm ơn bất tận.

1. Những thay đổi mới về khí mạch

Khoảng thời gian này, đệ tử thường sẽ nhìn thấy một vài trạng thái của trung mạch: như là khí xoáy thành vòng ánh sáng chuyển động xoay ngang, hoặc ở trong thân, hoặc ở thiên tâm; cũng thấy được nửa trên của trung mạch động tĩnh đi qua của thượng hành khí; có một lần ở trong định nhìn thấy hư không xuất hiện hai chữ: bát địa. Một sự thay đổi khá đặc biệt gần đây nhất là vào trung tuần tháng 2/2023, trong thiền định, không hề có dấu hiệu nào mà đột ngột nhìn thấy toàn bộ đỉnh luân mở ra cánh hoa có màu trắng đỏ xen lẫn nhau, giống như một đoạn phim quay chậm, nó có hình chiếc kèn hướng xuống dưới, từ từ xòe ra và nở rộ. Nhìn lên, chỉ thấy một lỗ tròn to như chiếc đĩa đồng ở giữa bông hoa, một cảnh tượng tuyệt đẹp.

2. Những thay đổi về cảm nhận thân thể

Kể từ sau khi khí mạch có những thay đổi mới, toàn bộ trên đầu thường có thể cảm nhận thấy rõ rệt dòng điện lưới điện có hình chiếc ô: thân thể dễ dàng cảm nhận thấy hiện tượng giao nhau lúc thì nóng bừng, lúc thì mát mẻ, trên đầu có cam lộ trút xuống. Lại phát hiện ra khi trạng thái thiền định được điều chỉnh cho thích hợp đầu lưỡi chạm vào hàm trên, sẽ có chất lỏng như dòng suối ngọt ngào chảy ra từ đầu lưỡi vào cổ họng, rất lâu không dứt, rất là kỳ diệu.

3. Những thay đổi trong suy nghĩ và hiểu biết

Về năng lực quan sát và tư duy thì có cảm giác sắc nét và rõ ràng hơn trước, có thể nhìn thấu những gì đã làm trong đời quá khứ, trong cuộc sống thế tục và tu hành vô tình mắc phải những sai lầm nực cười và khác thường, sâu sắc cảm thấy sám hối; khi thể nghiệm và quan sát thấy những vọng niệm vô minh khi khởi tâm động niệm, cũng có thể kịp thời cảnh giác và tiến hành loại bỏ; càng thêm chuyên chú tập trung vào trong những băng ghi âm ghi hình pháp hội cũ và mới của Sư Phật, mỗi khi thân nhập vào cảnh ấy, câu chữ ngọc ngà trang nghiêm trở thành “súp gà cho tâm hồn” không thể thiếu mỗi ngày của đệ tử, chứa đầy niềm vui.

4. Sự thay đổi của cảnh giới

Trong mơ hoặc trong định, sự tương tác tiếp xúc với chúng sinh linh giới càng nhiều. Đặc biệt là, kể từ ngày 4/2/2023 ở nhà mình tại Vancouver, lên mạng tham gia đại pháp hội Mùa xuân Mãn Nguyện Đồng Tử do Sư Phật chủ trì xong, mặc dù không có mặt ở hiện trường pháp hội ở Đài Loan, ấy thế mà có một sát-na, rõ ràng nhìn thấy Mãn Nguyện Đồng Tử xuất hiện trong nhà ở phía trước màn hình máy tính, giống hệt tạo hình ở trên bức thangka, rất sống động, nhìn thẳng vào tôi. Khi ấy tôi thật sự vô cùng kinh ngạc, sao mà còn chưa quán đảnh mà ngài đã đến rồi? Từ đó về sau, đệ tử hoặc ở trong định, hoặc ở trong mơ, thường xuyên có thể tiếp xúc với tiểu đồng tử: có khi thì đến giúp đỡ, có khi hai mẹ con tươi cười cùng đến, mặc tôi pha trò làm cho khuôn mặt hồng hào cười tít, cùng vui vẻ với nhau, nước sữa hòa quyện, vui vẻ hòa hợp. Có lần còn nghe thấy chính mình nói lớn không biết ngượng với một vị tiểu đồng tử lanh lợi đáng yêu chỉ cao đến eo tôi là: “Cậu là đồng tử, tôi cũng là đồng tử đó!” Chẳng lẽ đây chính là huyễn thân tiến vào huyễn cảnh mà Sư Phật nói?! Nghĩ đến đây, trong lòng thấy sợ hãi, nếu tôi không nỗ lực hơn nữa để thanh trừ nghiệp đen vô minh của chính mình, há chẳng phải sẽ tạo ra hai tầng ác nghiệp càng sâu nặng hơn tại thế gian và pháp giới sao?

5. Tổng kết quán tu tự ngã

Từ những thể nghiệm thực tu ở trên, tôi sâu sắc lĩnh ngộ được: thân thể con người đích thực là công cụ phương tiện quan trọng nhất và không thể thiếu được trên phương diện tu hành, là đạo tràng thân đàn thành của hành giả Mật giáo; trong tu hành, bất kì cảm ứng cảm nhận ở bất kì cấp độ nào, thậm chí quả vị, vẫn chỉ là sự thể hiện phản xạ của ý thức nông sâu của thân người (như gương thấy hình), là duyên khởi huyễn hiện của quá trình tu hành, vẫn ở tại cảnh giới hữu lậu, chưa đạt đến cứu cánh [kết quả cuối cùng]; cứu cánh thành Phật chính xác là giáo thị của Sư Phật, xa rời cắt đứt suy tưởng (vô niệm), đạt đến cái gốc (căn bản trí), vô cấu (lậu tận), dựa vào mười lực sáu đại thần thông của Phật mà thành tựu, hóa thân bên ngoài thân, tự chủ tự tại, nhậm vận vô ngại, mười phương pháp giới tùy duyên độ chúng, vô thủy vô chung.
Đệ tử tu hành đến nay, càng hiểu được biển Phật học sâu không thể đo lường, học không thể hết, chỉ là ngộ xong thì khởi tu sơ cơ, nhưng đã cảm thấy sâu sắc rằng thời gian đã không dành cho tôi nữa, không còn theo kịp nữa.

6. Tán dương

Chí thành lễ kính mang ơn Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Phật, đại từ đại bi, đại trí huệ lực, đại thần thông lực, tự tại nhậm vận, đại viên mãn giáo hóa!
Chí thành lễ kính Mật giáo Hồng Hoàng Bạch Hoa lịch đại tổ sư, dốc hết tâm huyết thực tu thực chứng truyền đi giáo pháp mật tục thánh điển trân quý!
Chí thành lễ kính vũ trụ chí tôn chí thượng đại thành tựu giả!
Vancouver Canada, đệ tử Liên Từ đảnh lễ khấu đầu kính thư.
05.03.2023.

🌟

Lư Sư Tôn đọc xong, viết một bài thơ.
Tiêu đề: Thân đàn thành
*Nước lửa gió đến đều vô hình
Ý năng vận chuyển
Không thể dừng*

*Niệm lực chỉ cần nhập định cảnh
Bổn tôn hiển hiện
Tay lắc chuông*

*Phàm thai cũng có thể chuyển thành thánh thai
Khí thanh lọc
Nhậm vận tự tại
Mười phương thế giới hiển chân linh.*


### 40. Sự linh nghiệm của Cao Vương Kinh


Lư Sư Tôn kính yêu Phật an!
Đệ tử Liên Hoa Nhất Huy, vào năm 2007 dưới sự hướng dẫn của pháp sư Liên San đã quy y Sư Tôn.
Nhận quán đảnh xong, bắt đầu trì tụng Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, sau khi tụng đọc được 300 biến thì đã có thể thuộc lòng.
Sau đó một thời gian dài đều ngày ngày làm công khóa tu pháp, cũng đọc tụng kinh này.
Đến sau này, vì sự nghiệp bận rộn, công việc nhiều, tâm cũng không tĩnh xuống được, công khóa tu pháp và Cao Vương Kinh đã không còn ổn định nữa, đây là lười biếng.

Cho đến năm ngoái (buổi trưa ngày 9/8/2022), bỗng nhận được điện thoại của người nhà ở Đại Lục thông báo, người bố hơn tám mươi tuổi của đệ tử bị suy phổi đột ngột và không thở được (hôn mê). Ông được đưa thẳng đến bệnh viện để cấp cứu và cần đặt ống thông mũi dạ dày để điều trị cấp cứu (phòngchăm sóc đặc biệt).

Đệ tử ở nước ngoài rất sốt ruột. Lại do ảnh hưởng của Covid nên các chuyến bay đều bị gián đoạn. Vì thế không có cách nào lập tức bay về Đại Lục để chăm sóc bố đang bị bệnh nguy cấp.
Trong lúc bối rối, đệ tử chỉ có thể nói với chính mình phải bình tĩnh, sau khi bình tĩnh mới nhớ đến khai thị của Sư Tôn, Cao Vương Kinh có thể cứu khổ sinh tử, tiêu trừ các độc hại. 

Thế là chúng tôi một gia đình ba người mở Cao Vương Kinh ra, liên tục niệm tụng không ngừng.

Cho đến 5 giờ chiều hôm sau.
Người nhà ở Đại Lục gọi điện đến, bố đệ tử đã hồi phục lại tri giác, nhưng vẫn phải chăm sóc ICU, cho đến khi tính mạng có dấu hiệu ổn định mới có thể ra khỏi phòng chăm sóc đặc biệt. Sau đó, phải mất một tuần nằm trong phòng chăm sóc đặc biệt và hàng chục ngày điều trị cấp cứu tại phòng bệnh đa khoa ông mới được xuất viện và trở về nhà. Mặc dù tình trạng thể chất hiện tại của ông không còn tốt như trước nhưng ông đã có thể sinh hoạt bình thường và tự chăm sóc bản thân.

Điều đệ tử muốn bẩm báo với Sư Tôn là:
Khi bố trở về nhà nghỉ ngơi, lúc ý thức hoàn toàn tỉnh táo, ông đã gọi điện cho chúng tôi và nói rằng: 
”Khi ông ở trong hôn mê, lúc cắm ống ICU cấp cứu, bỗng dưng nhìn thấy tôi (Nhất Huy) và Nhất Dân ngồi máy bay, mặc áo giáp và mũ vàng, toàn thân phóng quang, trở về cứu ông.”
Hết sức rõ ràng.
Chúng tôi không biết là nhân duyên gì.
Chúng tôi chỉ có ra sức niệm Cao Vương Kinh, thỉnh cầu Quan Thế Âm Bồ Tát mau mau cứu hộ.
Đây là sự hiển hóa của Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh.
Cảm ứng lớn nhất “năng diệt sinh tử khổ, tiêu trừ chư độc hại”. 
Đặc biệt tại đây
Bẩm báo Sư Tôn
Đệ tử Liên Hoa Nhất Huy, Liên Hoa Nhất Dân chắp tay đảnh lễ.

🌟

Viết một bài thơ:
Ca ngợi Cao Vương Kinh

*Phật và Bồ Tát
Cứu chúng sinh
Tâm hương thắp lên*

*Trời cao bay xuống một thuyền pháp
Rơi trước mặt
Thế là
Bệnh khổ giảm bớt*

*Bao nhiêu người niệm Cao Vương Kinh
Kết nối tâm niệm
Hóa thành chân ngôn quang minh.*


### 41. Thư cảm ứng


Sư Tôn kính yêu!
Ngày 21/1/2023, cảm ơn sự gia trì của Sư Tôn và Phật Bồ Tát khiến cho hôn lễ vào đêm Giao Thừa của con gái con thuận lợi một cách thần kỳ.
Bởi vì đám cưới của con gái tổ chức trên núi tuyết, chọn ngày vào lúc mùa đông lạnh nhất là đêm Giao Thừa của năm mới của người Hoa, tức là ngày 21/1, cũng đã thỉnh cầu Sư Tôn và Phật Bồ Tát gia trì, Sư Tôn chỉ điểm rằng tất cả sẽ rất thuận lợi.

Một tuần trước đám cưới, trận bão tuyết dày đặc hơn chục phân nên người dân địa phương cũng đóng cửa mọi con đường lên núi tuyết, khiến ô tô không thể qua lại, mọi người đều cho rằng đám cưới ở trên núi tuyết có thể bị hủy, đám cưới diễn ra vào thứ bảy, mà có vẻ thứ năm tuyết vẫn rơi. Chúng con vẫn giữ lòng tin vào điều Sư Tôn đã chỉ điểm, trong lòng không dao động, cho đến tận thứ sáu tuyết mới bắt đầu dừng, đường đã thông thoáng, ô tô có thể đi qua ngay. Mọi người cũng đều lên núi tuyết thuận lợi. Thứ bảy, mọi người đến núi tuyết thuận lợi để dự đám cưới. Sau đám cưới, ngày chủ nhật đợi mọi người trở về nhà xong rồi mới bắt đầu tuyết rơi lớn.

Sự gia trì của Sư Tôn và Phật Bồ Tát đúng là bất khả tư nghì, con gái con rể đều vô cùng cảm ơn sự gia trì của thầy và Phật Bồ Tát, trong lòng cảm ơn lại cảm ơn.
Đệ tử Phật Huệ và Andrew chắp tay đảnh lễ Sư Tôn. 

(Chú thích: Núi tuyết ở đây là núi Rainier.)

🌟

Lư Sư Tôn viết một bài thơ.
Tiêu đề: Tuyết rơi

*Nghìn bông hoa trắng cùng ào đến
Tiên tử áo trắng bay xuống đây
Ngọn núi tuyết*

*Nhân duyên không thể để chần chừ
Trong sát-na sát-na
Đột nhiên dừng
Một đôi vợ chồng mới
Cười mãn nguyện.*


### 42. Ung thư biến mất


Thư cảm ơn
Đảnh lễ Pháp Vương vô thượng Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật và Thượng sư Thiếu Đông tôn kính.
Cảm ơn Pháp Vương vô thượng Sư Tôn cứu chữa.
Tên tôi là Ngũ Vĩ Huân, trải qua khoảng 10 tháng kết hợp trị liệu Đông Tây y, cuối tháng 1/2023, tôi đã đến bệnh viện chụp quét hình điện tử (PET SCAN), lần báo cáo mới nhất đã không thấy ung thư trong các bộ phận trên người tôi. Tối hôm qua tôi cũng đến bệnh viện công để khám lại, vị bác sĩ trẻ tuổi ở đây nói trường hợp của tôi khá hiếm gặp, bởi vì trong một thời gian ngắn như vậy mà đã loại bỏ được tế bào ung thư. Dường như anh ấy không tin kết quả PET SCAN mới nhất. Nhưng báo cáo mới nhất này cũng đã được chứng thực bởi một bệnh viện công khác. 

Anh ấy nói rằng tôi phải tiếp tục dùng thuốc “tiêu bá” [tên một loại thuốc chuyên dùng trị ung thư] thêm hai năm nữa để xác định xem có tái phát hay không, sau đó mới quyết định ngừng dùng thuốc tiêu bá vì quan niệm thuốc tiêu bá là cùng tồn tại với tế bào ung thư.

Vì thế hôm nay lại một lần nữa cảm ơn lực gia trì của Sư Tôn và sức mạnh của Mật pháp.
Chúc Sư Tôn và Thượng sư Thiếu Đông thường chuyển pháp luân và không nhập niết bàn, giáo hóa chúng sinh.

Ngũ Vĩ Huân kính.
11.02.2023


### 43. Trúng số


Chào Sư Tôn!
Đệ tử Liên Hoa… hướng đến Sư Tôn thành tâm cảm tạ!
Đệ tử vào ngày 25 tháng 1 năm … (mồng 4 Tết) đã trúng số hàng trăm triệu tệ. Khi chọn số, trong lòng cảm giác muốn lập tức chọn số xx, không ngờ thật sự đã trúng số! Vì thế muốn cúng dường Sư Tôn, cảm ơn Sư Tôn giúp đỡ đệ tử vượt qua cửa ải khó khăn!
Đệ tử Liên Hoa …. chắp tay.

(Chú thích: Gần đây có rất nhiều những tin tức trúng số, Malaysia, Singapore, Đài Loan, Thái Lan đều có người trúng số, thậm chí có người trúng liên tiếp ba lần. Trúng số ba lần liên tiếp này là Thượng sư Liên Truyền nói.)

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) viết một bài thơ:

Trúng số

*Khi Thần Tài ban phúc
Không ngưng trệ
Bao nhiêu uy lực
Cứ thế tuôn*

*Việc này
Nhân gian là thích nhất
Không cần chờ đợi lâu
Hành giả tu chân thực
Chở đầy.*


### 44. Truyền đạt trí huệ


Trí huệ của Duy Ma Cật Đại Sĩ là vô cùng, ngài luôn luôn chỉ dẫn tôi, gợi ý tôi, tôi ghi lại như sau:
Khi tôi có một chút khổ.
Duy Ma Cật nói:
”Sắc, thọ, tưởng, hành, thức, là cái Không ban đầu.”
Khi tôi và đệ tử tạm biệt. (thiện đệ tử)
Duy Ma Cật nói:
”Hợp tan như sóng gợn.”
Khi tôi nhớ lại trước kia.
Duy Ma Cật nói:
”Ba tâm bất khả đắc.”
Khi tôi đánh mất thứ gì.
Duy Ma Cật nói:
”Vốn dĩ không có, làm gì có mất?”
Khi tôi hát sai lời.
Duy Ma Cật nói:
”Nên đi thì đi, nên dừng thì dừng.”
Khi người thân qua đời. Hoặc thánh đệ tử qua đời.
Duy Ma Cật nói:
”Mặt trời mọc, mặt trời lặn.”
Khi tôi già rồi, động tác chậm chạp.
Duy Ma Cật nói:
”Thân ta không phải chốn của ta.”
Khi tôi nghĩ đến cái chết.
Duy Ma Cật nói:
”Ngài của quá khứ đang ở đâu?”
Tôi nghĩ đến nên chết thế nào.
Duy Ma Cật nói:
”Sau khi chết, chẳng quản được.”
Tôi chết rồi sẽ đi về đâu?
Duy Ma Cật nói:
”Không thể nói với người khác.”
Tôi nghĩ đến đau khổ của thánh đệ tử.
Duy Ma Cật nói:
”Núi Nam nhiều mây, núi Bắc mưa.”
Khi tôi vui.
Duy Ma Cật nói:
”Huyễn tâm.”
Tôi nghĩ đến chiến tranh.
Duy Ma Cật nói:
”Thánh phàm đều giết.”
Tôi làm sai một việc gì.
Duy Ma Cật nói:
”Đâm đổ núi Tu Di.”
Có người phỉ báng tôi.
Duy Ma Cật nói:
”Ngựa gỗ hí.”
Có người tán dương tôi.
Duy Ma Cật nói:
”Khắp người chẳng tìm thấy.”
Tai họa lớn của nhân loại ập đến.
Duy Ma Cật nói:
”Hư không rơi xuống đất.”
Khi Lư Sư Tôn thuyết pháp.
Duy Ma Cật nói:
”Sư tử trăm triệu lông tóc chạy điên cuồng.”
Làm sao làm công đức?
Duy Ma Cật nói:
”Thanh tịnh thắp một nén hương.”
Thế nào là cảnh giới bất động?
Duy Ma Cật nói:
”Cười lớn ba tiếng.”
Thế nào là thành tựu?
Duy Ma Cật nói:
”Không nói.”

**Hết.**

---

---
# File: sach-tam-linh/296-tang-ban-mot-doa-hoa.md
# Title: 296. Tặng bạn một đóa hoa 
---

![image](/img/img_80d4913fdb4416f4d93babccabf0eb39.jpg)



## Tặng bạn một đóa hoa 


🪷 Ý nghĩa sâu xa của thiền

Văn tập: 296
Xuất bản: 10/2023
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


Năm ấy.
Tôi (Lư Sư Tôn) ở Đài Loan, chân bị mắc chứng viêm mô tế bào phải nằm ở nhà.
Đúng vào lúc mơ mơ hồ hồ, nửa mơ nửa tỉnh.
Tôi bỗng nhìn thấy một lão hòa thượng tóc bạc ngồi trên đám mây, chỉ thấy ông ấy tự lẩm bẩm với chính mình:
”Vị Lư hành giả này không phải do ta cứu thì không xong rồi, cũng xem như là tri âm vậy.”
Ông ấy nói: “Tôi là Hư Vân.”
Lão hòa thượng Hư Vân vươn tay ra, bàn tay này hết sức kì quái, càng vươn càng dài, xuyên qua đám mây trắng, xuyên qua hư không, xuyên qua ngôi nhà, rồi bất ngờ vươn tới phòng ngủ của tôi.
Sau đó, xoa đầu tôi.
Thế rồi, tôi khỏi bệnh!

Về sau này, tôi biết lão hòa thượng Hư Vân là tổ sư Thiền tông.
Tôi (Lư Sư Tôn) và Thiền tông có nhân duyên.
1. Khi chưa xuất gia, tôi đã quy y lão pháp sư Lạc Quả, lão pháp sư là người kế thừa của Tào Động tông.
2. Khi tôi xuất gia, thầy cạo đầu cho tôi là đại hòa thượng Quả Hiền, đại hòa thượng Quả Hiền là người kế thừa của Lâm Tế tông.
3. Khi tôi ốm nằm liệt giường, người sờ đầu trong hư không là lão hòa thượng Hư Vân, lão hòa thượng Hư Vân là người kế thừa của Vi Ngưỡng tông. (Lão Hư trải qua nhiều tông phái.)
Tôi tuy là Mật tông.
Nhưng, hiểu biết Thiền tông.
Sau khi tôi quy y Phật giáo, tôi đã học Tịnh Độ tông đầu tiên, cho nên tôi có thể nói, mọi tông tôi đều hoằng.

Tôi yêu thích bài kệ của lão hòa thượng Hư Vân:
*Lý do gì đây kẻ ngốc này
Xuất đầu lộ diện thời mạt pháp
Than ôi Thánh mạch gặp nguy hiểm
Việc mình bỏ lơ lo cho người
Lên đỉnh núi hoang tìm câu cá
Xuống đáy biển rộng nổi lửa đun
Không biết tri âm tự đau buồn
Cười vỡ hư không trách gì đây
Hỏi lớn vì sao không buông bỏ
Muôn dân khổ tận khi nào ngơi.*

Bài kệ này là lão hòa thượng Hư Vân tự đề, xem ra lão già ấy cũng xem tôi là tri âm rồi.
Tôi thích Thiền tông ở:
Vô sở đắc.
Vô sở trụ.
Vô sở vị.
Ba cái “vô” này là lời răn mình của tôi, luôn luôn cảnh giác chính mình.
Tên cuốn sách này là “Tặng Bạn Một Đóa Hoa”.
Đó là:
Thế Tôn tại Linh Sơn Hội Thượng, cầm hoa cho mọi người thấy, lúc này mọi người đều im lặng, duy có tôn giả Ca Diếp khẽ cười.
Thế Tôn nói:
”Ta có chính pháp nhãn tạng, niết bàn diệu tâm, thực tướng vô tướng, vi diệu pháp môn, bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, giao phó cho Maha Ca Diếp.”
Nay tôi “tặng bạn một đóa hoa”.
Bạn cũng có thể cầm hoa.
Vì sao cầm hoa?
Hãy nghĩ đi!
Chúc mở sách có được lợi ích.

**Liên Sinh Hoạt Phật. Lư Thắng Ngạn**

**Sheng-Yen Lu**
17102 NE 40th CT
REDMOND WA  98052
U.S.A
Tháng 4/2023


### 01. Phùng Phùng tặng tôi “Mây của hư không”


Khi tôi di cư đến Seattle nước Mỹ, tôi nhanh chóng quen biết cư sĩ Phùng Phùng sống tại Vancouver Canada.
Tác gia nổi tiếng Phùng Phùng tặng tôi “Mây của hư không” (ba quyển lớn). 
Nay tôi đưa chữ ký mà tác gia Phùng Phùng ký sách tặng tôi ra đây.


![image](/img/img_d527857b453934431d201237823a0e6b.png)


Phùng Phùng tặng tôi cuốn “Mây của hư không” vào ngày 16 tháng 11 năm 1985. 

Nhân vật chính trong cuốn “Mây của hư không” đương nhiên là lão hòa thượng Hư Vân. Từ đó, tôi và lão hòa thượng Hư Vân đã kết nên duyên.
Lão hòa thượng Hư Vân thường tự gọi mình là tỳ kheo Huyễn Du, bản thân tôi có hứng thú với hai chữ “Huyễn Du” này.
Huyễn là hư không.
Du là du lịch.
Du lịch hư không khiến tôi nghĩ rất nhiều, lão hòa thượng Hư Vân tạ thế năm 1959. 
Ông ấy đã sống 120 tuổi. (sống thọ)
Nhưng, vẫn ra đi!
Cư sĩ Phùng Phùng cũng đi rồi!
Tôi nghĩ đến chính mình, cũng sắp đi rồi nhỉ! Nghĩ đến huyễn du, thử hỏi, có người nào không huyễn du?

Cá nhân tôi vô cùng yêu thích chữ “huyễn” này. Vì sao yêu thích chữ “huyễn”?
Bởi vì thân ta là huyễn.
Đương nhiên tất cả những người xung quanh đều là huyễn, mọi việc lớn nhỏ đều là việc huyễn.
Tiếp đó, cả thế giới này đều là thế giới huyễn hóa, không hề là chân thực.
Từ thân ta là huyễn lại dẫn đến tâm, cái tâm sinh ra từ “cái tôi huyễn” đương nhiên cũng là cái tâm huyễn.
Nghĩ như vậy, đúng không?
Phật nói:
”Thực tướng phi tướng.”

Tôi viết mấy bài kệ:
*Dưới gốc cây tùng là nhà tôi,
Nắng chiều mây ráng tựa khói hoa
Về nhà nghỉ,
Thân đã nghiêng,
Thuyết pháp giảng kinh là kiếp sống.*

🌟

*Vì lúc rảnh chúng sinh hỏi việc
Theo đuổi danh lợi kèm thắng thua
Bàn được mất
Hỏi thịnh suy
Mấy người hiểu được vô sở trụ.*

🌟

*Mua được đất lại mua được nhà
Ngày tháng nghỉ hưu được nhàn nhã
Chốn hồng trần
Loạn cào cào
Bận bịu thân xác huyễn hóa có ích gì.*

Đọc ba bài kệ này, bạn ngộ được điều gì? Bạn có hiểu? Hay không hiểu? 
Nghĩ đi!


### 02. Hoa ở chốn nào?


Khi tôi ở Seattle, bữa trưa và bữa tối hàng ngày tôi đều ăn cơm tại Seattle Lôi Tạng Tự.
Ăn cơm xong, tôi đi bộ về Chân Phật Mật Uyển, thường xuyên có đệ tử quỳ ở bên đường dâng hoa tặng tôi.
Tôi cầm lấy hoa, lập tức cúng dường hoa đến Phật Bồ Tát trong hư không, tôi cảm ứng thấy Phật Bồ Tát tiếp nhận cúng dường.
Sau đó, tôi trả lại hoa cho đệ tử dâng hoa.
Như thế,
Ngày ngày như thế,
Tháng tháng như thế,
Năm năm như thế,
Tôi bất chợt nghĩ đến: “Cuối cùng thì hoa ở chốn nào?”
Đệ tử dâng hoa cho tôi, đương nhiên là ở chỗ tôi.
Tôi dâng hoa cho Phật Bồ Tát, đương nhiên là ở chỗ Phật Bồ Tát.
Tôi lại trả lại hoa cho đệ tử, đương nhiên là ở chỗ đệ tử.
Cuối cùng thì bỏ hoa ở chỗ nào? 
Không biết nữa?
Vấn đề chính là ở đây, cuối cùng, hoa ở chốn nào?
Nếu là tôi trả lời thì có một bài thơ luyến tiếc hoa:
*Tuổi trẻ tóc xanh đi ngắm hoa
Cưỡi ngựa thổi sáo cùng đàn ca
Nay tuổi già đến càng tiếc nuối
Cả ngày ngắm hoa vẫn chẳng đủ.*
Không lãng phí nhiều lời, rốt cục hoa ở chốn nào? Câu trả lời chính xác là: Hoa ở khắp chốn.
Ngoài ra, còn có một đáp án: Không có hoa.
Rốt cục là hoa ở khắp chốn hay là không có hoa?
Nghĩ đi!

🌟

Lão hòa thượng Hư Vân nói:
Mục đích sâu xa của thiền nằm ở minh tâm kiến tính, loại bỏ ô nhiễm của tâm mình, thấy được diện mục của tự tính.
Còn nói:
Tự tính chính là đức tướng trí huệ của Như Lai.
Ô nhiễm chính là bám chấp vọng tưởng.
Vì thế, tôi nói với mọi người:
Hoa phi hoa.
Sương phi sương.
Phải “nín lặng các duyên, một niệm không sinh”. 

🌟

Tặng bạn một đóa hoa, thật là tặng bạn một đóa hoa sao? Không phải, đó là mục đích sâu xa của thiền.
Hoa đào hồng.
Hoa lê trắng.
Trong hoa có rất nhiều ong mật.
Vù. Vù. Vù.
Vù. Vù. Vù.
Còn nữa:
Vừa là hạ lan, vừa là thu cúc.
Mơ hồ là xứ sở thần tiên.
Trong gió tây, phù dung mang mưa.
Hương thơm bay khắp thành.
Lão hòa thượng Hư Vân nói với mọi người:
Cái gọi là mục đích sâu xa, cái gọi là nhìn lại tự tính,
Tuyệt đối không phải là dùng con mắt để nhìn, cũng không phải là dùng tai để nghe, không phải là dùng mũi để ngửi,
Mắt nhìn, tai nghe, mũi ngửi,
Chính xác là chạy theo thanh sắc, bị vật trói buộc, gọi là tục lưu [trôi theo thế tục].
Phải không sinh không diệt mới phải.
Đây mới là nhìn lại tự tính.
Thiền chính là nhìn lại tự tính.
Nhìn lại thế nào? Thế nào là không sinh? Thế nào là không diệt?
Nghĩ đi!


### 03. Nhân quả không mơ hồ


Lão hòa thượng Hư Vân tin sâu sắc vào nhân quả, thường xuyên nhắc nhở hành giả không được mơ hồ về nhân quả.
Nhưng, hành giả ngày nay, có một số người, cho rằng “tất cả đều là mộng”, “tất cả đều là huyễn”. Vì đã là mộng huyễn, làm gì có nhân quả?
Tôi nói:
Cho dù thành Phật, vẫn có nhân quả.
Muốn thành Phật, nhất định phải có nhân của thành Phật mới có thể có quả của thành Phật.
Tôi lại nói:
Bạn muốn đến Tây phương Cực Lạc thế giới, tịnh thổ của A Di Đà Phật, cũng phải có nhân duyên mới có thể đi được.
1. Không được thiếu thiện căn.
2. Nhất tâm bất loạn.
3. Niệm Phật.
Ba điều này là nhân.
Còn Tây phương Tam Thánh hiện tiền tiếp dẫn là quả.
Đạo lý này rất đơn giản, không được xem thường.

Lão hòa thượng Hư Vân thường kể một câu chuyện:
Thiền sư Bách Trượng có một hôm lên pháp tọa, khi xuống pháp tọa, mọi người đã tản đi. Nhưng có một cụ già chưa đi.
Thiền sư Bách Trượng hỏi:
”Có việc gì?”
Cụ già trả lời:
”Tôi không phải là người, thật ra là hồ tinh, kiếp trước là người đứng đầu nơi này, vì có học giả hỏi: “Người đại tu hành, có còn rơi vào nhân quả không?” Tôi nói: “Không rơi vào nhân quả.” Chính vì thế mà đọa lạc, làm hồ tinh hoang 500 năm, chẳng thể thoát thân, xin hòa thượng từ bi khai thị!”
Bách Trượng nói:
”Vậy ông hỏi đi.”
Cụ già đó liền nói:
”Xin hỏi hòa thượng, người đại tu hành có còn rơi vào nhân quả không?”
Bách Trượng đáp:
”Không tránh được nhân quả.”
Cụ già nghe lời này xong thì đại ngộ.
Cụ già khấu tạ nói:
”Nay nhờ có lời của hòa thượng mà tôi siêu thoát thân cáo, tôi ở dưới tảng đá sau núi, cầu hòa thượng dùng nghi lễ dành cho tăng đã khuất để tiễn tôi.”
Ngày hôm sau, ở dưới tảng đá sau núi, Bách Trượng dùng cây gậy bới lên được một con cáo chết, sử dụng nghi lễ dành cho tăng đã khuất để chôn cất cho nó.
Câu chuyện về nhân quả này, lão hòa thượng Hư Vân thường nhắc đến, đủ để cảnh giác người đời.
Người học thiền rất dễ rơi vào vô nhân quả.
Cho rằng:
Vô ngã.
Vô nhân.
Vô chúng sinh.
Vô thọ giả.
Từ đây suy ra, không người không ta, đương nhiên là không có nhân quả rồi, nhưng họ quên mất, trong thân người, sinh tử của mỗi một tế bào cũng là có nhân quả. Cho dù là cao tăng đại đức, người đại tu hành, cũng vẫn có nhân duyên quả báo.
Cái gọi là:
*Muốn biết nhân kiếp trước,
Là kiếp này đang chịu;
Muốn biết quả kiếp sau,
Là kiếp này đang làm.*


Còn nữa:
*Giả sử trăm nghìn kiếp
Nghiệp đã tạo không mất
Nhân duyên khi gặp lúc
Quả báo vẫn tự chịu.*


Kinh Lăng Nghiêm nói: “Nhân địa không thật, tạo quả đan xen.” 
Đại sư Lục Tổ Huệ Năng trông thấy cờ bay bay liền nói: “Không phải cờ động, không phải gió động, chính là tâm động.”
Tâm động cũng là nhân đó!


### 04. Lại bàn nhân quả


Lão hòa thượng Hư Vân thường xuyên yêu cầu người học tin sâu sắc vào nhân quả, lão hòa thượng còn nhắc đến một câu chuyện khác:
Trước thời Phật Thích Ca Mâu Ni, ở trong thành Ca Tỳ La Vệ,  có một xóm nhỏ sinh sống bằng nghề bắt cá.
Trong xóm có hồ lớn, năm đó hạn hán nước cạn, các loài cá trong hồ lớn đó đều bị người trong xóm nấu ăn, cuối cùng chỉ còn lại một con cá to nhất cũng bị đem ra nấu.
Trong xóm chỉ có một đứa trẻ không bao giờ ăn cá, vào ngày hôm đó chỉ gõ vào đầu con cá ba cái cho vui. 
Sau này Phật Thích Ca Mâu Ni trụ thế, vua Ba Tư Nặc rất tin tưởng Phật pháp, đã cưới một cô gái họ Thích, sinh hạ một thái tử, chính là vua Lưu Ly. Lúc còn nhỏ, vua Lưu Ly đi học trong thành Ca Tỳ La Vệ.
Có một hôm cậu ngồi lên pháp tọa của Phật Thích Ca Mâu Ni để chơi, bị người ta trách mắng và ném xuống khỏi ghế nên cậu đã ôm hận trong lòng.
Cho đến khi vua Lưu Ly lên ngôi trở thành quốc vương liền dẫn đại quân tấn công thành Ca Tỳ La Vệ, tàn sát vô số người trong thành. Khi ấy, đầu của Phật Thích Ca Mâu Ni đã bị đau ba ngày.
Khi bị tấn công, đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni thỉnh Phật cứu gia tộc Thích Ca, Phật nói: “Định số khó chuyển.”
Tôn giả Mục Kiền Liên thần thông đệ nhất dùng bát của mình để hút năm trăm người của gia tộc Thích Ca vào trong đó, cho rằng có thể cứu được năm trăm người, nào biết khi đổ ra, tất cả đều đã hóa thành máu.
Phật Thích Ca Mâu Ni nói: “Đây đều là nhân duyên quả báo.”
Vua Lưu Ly chính là con cá lớn.
Đại quân là tộc cá bị ăn thịt.
Gia tộc Thích Ca bị sát hại chính là gia tộc đã ăn cá.
Đứa trẻ chính là Phật Thích Ca Mâu Ni. Bởi vì gõ vào đầu cá nên Phật đã bị đau đầu ba ngày.
Đây đều là định nghiệp, có nhân có quả.
Về sau, vua Lưu Ly đọa vào trong địa ngục, oan oan tương báo không có hồi kết.
Nhân quả thật sự đáng sợ.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) giảng Kinh Duy Ma Cật, giảng đến một đoạn trong đó:
Phật Thích Ca Mâu Ni nói với Bảo Tích Bồ Tát:
Vì Bồ Tát trực tâm (nhất tâm), cho nên đắc thâm tâm (đạo tâm). 
Vì đắc đạo tâm thâm hậu mới có thể điều phục ý niệm của hành giả.
Vì điều phục được ý niệm mới có thể hành đạo.
Có hành đạo rồi mới có tâm hồi hướng.
Có tâm hồi hướng rồi mới có pháp môn phương tiện.
Có pháp môn phương tiện rồi mới có thể độ hóa các kiểu chúng sinh.
Vì chúng sinh được độ mới có quốc thổ thanh tịnh xuất hiện.
Phật thổ thanh tịnh.
Thuyết pháp thanh tịnh.
Trí huệ thanh tịnh.
Đạo tâm thanh tịnh.
Công đức thanh tịnh.
Tất cả những điều này đều có liên quan chặt chẽ với nhau.
Phật Thích Ca Mâu Ni nói:
”Tùy sự thanh tịnh của tâm mà Phật thổ thanh tịnh.”

Cá nhân tôi cho rằng:
”Đây chính là nhân quả.”
Chuyện nhân quả cần phải tin sâu sắc, tránh tạo nhân ác là quan trọng nhất, bởi vì:
Trồng đậu được đậu.
Trồng dưa được dưa.
Tôi bây giờ là:
*Người ở Lôi Tạng Tự
Tâm du ngoạn trong kinh
Thường tu pháp siêu độ
Độ mình cũng độ người.*

Lão hòa thượng Hư Vân nói:
”Bất luận là người nào, nếu không tin nhân quả, làm bừa những hành vi sai trái, đừng nói tu không thành, tam ác đạo cũng sẽ không thiếu người đó đâu.”


### 05. Đừng sợ tạp niệm


Lão hòa thượng Hư Vân nói:
Rất nhiều người đều sợ tạp niệm, mọi người đều nói tạp niệm quá nhiều, cho rằng tạp niệm rất khó hàng phục.
Lão Hư còn nói:
Đừng sợ tạp niệm, cũng không cần phí lực đi điều phục tạp niệm.
Bạn phải nhận ra đó là tạp niệm.
Đừng chấp vào nó.
Đừng chạy theo nó.
Đừng bài trừ nó.
Đừng áp chế nó.
Thì vọng tưởng tạp niệm tự nhiên tiêu tan.

Tôi (Lư Sư Tôn) có một so sánh:
Giống như trẻ con đi tham quan triển lãm tranh, tranh bày ra lung linh trước mắt, xem hết từng bức tranh.
Nhưng chẳng đặt trong tâm một bức tranh nào. (tạp niệm)
Hoàn toàn không có cảm giác.
Đi ra khỏi triển lãm tranh.
Không lưu lại chút gì cả!

Lão hòa thượng Hư Vân còn nói:
Thế nào là không sinh?
Có nghĩa là tạp niệm còn chưa đến, đây chính là không sinh.
Thế nào là không diệt?
Hành giả tu thiền định, không trạo cử, không hôn trầm, không chấp vào tạp niệm, không chấp vào không. Đây chính là không diệt.
Thời thời khắc khắc, giản giản đơn đơn, không bám chấp, cũng không sinh, cũng không diệt. Đây chính là thiền định!

Tôi (Lư Sư Tôn) nói:
Đây chính là lão hòa thượng Hư Vân dạy chúng ta:
Buông bỏ.
Tự tại.
Nhậm vận.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) thường dạy người ta:
Dùng một suy nghĩ để tiêu trừ vạn vạn suy nghĩ.
Cũng chính là quán tưởng của Mật giáo đó!
Trong quán tưởng Mật giáo, chúng ta gọi là ý thanh tịnh.
Ví dụ:
Chúng ta quán tưởng một chú tự.
Om.



![image](/img/img_9a90cddc0256f8d29749f3c8c6c17c22.png)


Đặt chú tự này ở hư không phía trên trước mặt. 
Sau đó làm biến mất nét chấm ở trên đầu chữ Om.
Tiếp theo quán tưởng vòng tròn biến mất.
Tiếp theo quán tưởng hai nét xiên biến mất.
Tiếp theo quán tưởng nét ngang biến mất.
Tiếp theo quán tưởng nét móc biến mất.
Tiếp theo quán tưởng nét chữ v biến mất.
Cuối cùng chữ Om hoàn toàn biến mất.
Quán tưởng chú tự này chính là dùng một niệm để tiêu trừ đủ mọi tạp niệm.
Khi tất cả đều không còn nữa.
Lúc này sẽ tiến vào trong thiền định sâu.
Khi không sinh không diệt, chúng ta sẽ đạt được huyền chỉ [dụng ý sâu xa], pháp môn bất nhị của đệ nhất nghĩa đế.

Phương pháp quán tưởng của Mật giáo vô cùng nhiều.
Quán Bổn tôn.
Quán chú tự.
Quán pháp khí.
Quán thủ ấn.
……………….
Đây đều là những phương pháp khiến ý niệm của hành giả thanh tịnh, lấy một niệm dừng vạn niệm.
Có thể làm được như vậy không?


### 06. Điều quan trọng hàng đầu của ngồi thiền


Lão hòa thượng Hư Vân trong cả cuộc đời mình có hai lần ngồi thiền mà tôi ấn tượng rất sâu sắc.
Có một hôm, trong lúc ngài vân du bốn phương.
Lão Hư nổi lửa nấu khoai tây.
Bỗng dưng ngài nghĩ đến muốn thiền định, thế là bèn ngồi xuống hai chân xếp bằng.
Vừa ngồi xuống.
Trời cũng không, đất cũng không, người cũng không…..
Tất cả đều quên hết.
Đến khi lão hòa thượng Hư Vân xuất thiền, ngài thấy lửa đã tắt, trở thành tro tàn, ngay cả một chút khói cũng không còn.
Còn những củ khoai đều đã lên mốc.
Ngài hoảng hốt!
Rốt cục ngài đã ngồi bao lâu?

Còn nữa:
Lão hòa thượng Hư Vân ở Thái Lan.
Một lần ngài nhập định.
Một ngày trôi qua.
Hai ngày trôi qua.
……………….. Năm ngày trôi qua.
Mười ngày trôi qua.
Lần này đã làm chấn động cả đất nước Thái Lan, mọi người đều sôi nổi bàn tán.
Ngay cả vua Thái Lan cũng biết việc này, vua Thái Lan cũng đến lễ bái vị Thánh tăng này.

Công phu thiền định thâm hậu của lão hòa thượng Hư Vân đúng là không còn lời nào để nói.
Có một bài thơ rằng:
*Tam thiên đại thiên thoải mái ngủ
Chẳng quản thời gian và không gian
Duy ngã độc tôn tự tỏa sáng
Đại địa càn khôn một Kim Tiên.*
Bài thơ này ca ngợi lão hòa thượng Hư Vân.

🌟

Lão hòa thượng Hư Vân trong khi khai thị nói:
”Buông bỏ vạn duyên, một niệm không sinh” là tâm yếu của thiền định, chúng ta đã biết như vậy, làm sao để có thể làm được?
Thượng căn khí — mãi dừng lại ở một niệm, cho đến khi vô sinh.
Trung căn khí — dùng lý trừ sự, hiểu rõ Phật tính, vốn dĩ thanh tịnh.
Hạ căn khí — tìm thầy hướng dẫn, chăm chỉ học rộng biết nhiều.
Còn nói: 
Phiền não bồ đề, sinh tử niết bàn, chỉ là tên giả mà thôi, vốn dĩ không liên quan tới Phật tính.
Tất cả sự vật đều là mộng huyễn bóng ảnh.
Sắc thân tứ đại của con người và mặt đất núi sông, ở trong Phật tính, giống như bọt nước nổi trong biển.
Bởi vì sinh diệt vô thường, cho nên thành, trụ, hoại, không, đều không liên quan.
Yêu ghét giữ bỏ, toàn bộ đều buông bỏ!
Đau khổ hạnh phúc, đói rét ấm no, vinh nhục sinh tử, họa phúc lành dữ, khen chê được mất, nguy hiểm an bình….
Tất cả đều không để ý đến!
Như thế mới là buông bỏ!
Cho đến khi vạn duyên đều buông bỏ rồi, tất cả vọng tưởng tạp niệm tự nhiên đều tiêu biến hết.
Đến lúc này,
Một niệm không sinh nữa!
Khi một niệm không sinh, Phật tính của chính mình tự  nhiên đều hiển lộ.
Kinh nghiệm của cá nhân tôi (Lư Sư Tôn) là:
Khi tôi để mình trống rỗng.
Dòng chảy pháp sẽ tan vào thân tôi. Hư không và tôi không hai không khác.
Hư không là tôi, tôi là hư không.
Hòa thành một khối.


### 07. Tùy phương giải phược (1)


[Tùy phương giải phược: tùy ý giúp người cởi bỏ những trói buộc trên người.]

Lão hòa thượng Hư Vân nói:
Phật Thích Ca Mâu Ni từ bi lục đạo, nói ra tám vạn bốn nghìn pháp môn, dùng để đối trị tám vạn bốn nghìn loại bệnh của chúng sinh.
Pháp mà Phật thuyết cái nào cũng là diệu pháp.
Thiền — hiểu rõ Phật tâm, kiến chứng Phật tính.
Tịnh — nhất tâm niệm Phật, kiến chứng Phật tính.
Mật — tam mật thanh tịnh, kiến chứng Phật tính.
Luật — nghiêm thủ giới luật, kiến chứng Phật tính.
Tóm lại, bất kì một môn nào cũng đều có thể chấm dứt sinh tử, bất kì một môn nào cũng đều có thể thành Phật đạo.
Không cần cố phân biệt sự cao thấp của pháp môn.
Lão hòa thượng Hư Vân nói:
Pháp môn thiền chủ yếu nằm ở “minh ngộ tự tâm, triệt kiến bản tính”. 
Nhưng quá trình bắt tay vào làm thì lại có nhiều biến hóa.
Ngày xưa, Phật Thích Ca Mâu Ni chỉ cầm hoa.
Đại Ca Diếp chỉ khẽ cười.
Đây chính là dùng tâm ấn tâm.
Còn tổ sư Đạt Ma đến Đông Thổ cũng là “trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật”. 
Vào thời đại triều Đường, triều Tống đều là phương thức tham vấn đáp lễ “một lời nửa câu”. 
Vào thời này chỉ có tham công án hoặc khán thoại đầu. 
Ví dụ:
”Người tha xác chết là ai?”
”Trước khi cha mẹ sinh ra, diện mạo vốn có của ta là thế nào?”
”Người niệm Phật là ai?”
Tương tự tiếp tục như vậy!
”Niệm kinh là ai?”
”Trì chú là ai?”
”Bái Phật là ai?”
”Ăn cơm là ai?”
”Mặc quần áo là ai?”
”Đi đường là ai?”
Kiểu pháp suy ngẫm này, nói thẳng ra, chính là tìm ra vạn pháp do tâm tạo, tâm là nguồn gốc.
Sau đó sẽ là quán tâm.
Cái gọi là “phản vấn vấn tự tính”, “viên chiếu thanh tịnh giác tướng”. 
”Tuy tịch nhưng thường chiếu.” [dẫu vắng lặng nhưng không hề mất khả năng thấu hiểu trọn vẹn]
”Tuy chiếu mà thường tịch.” [tuy thông suốt nhưng không chấp trước, không bị ô nhiễm bởi ngoại cảnh]

🌟

Có một ngày.
Tôi đứng ở giao lộ giữa đường Văn Tâm và phố Đại Đôn 17 ở Đài Trung, nhìn thấy một nhóm cư sĩ mặc y phục tu hành đi đến.
Trong đó có mấy người nhìn thấy tôi mặc trang phục Lama.
Họ nhận ra tôi là Lư Thắng Ngạn, liền đi đến gần tôi, chắp tay hướng về tôi hỏi:
”Là Lư Sư Tôn phải không?”
Tôi đáp:
”Vâng.”
Tôi hỏi ngược lại họ:
”Tu pháp gì vậy?”
Họ trả lời:
”Pháp môn quán tâm.”
Tôi hỏi:
”Quán thấy cái gì?”
Họ không trả lời được, chỉ cười cười.
Họ hỏi ngược lại tôi:
”Lư Sư Tôn quán thấy cái gì?”
Tôi đáp:
”Quán vô khả quán.” (Họ không trả lời nên tôi đành phải trả lời.)
Họ gật gật đầu, không nói gì, vẫy tay nói chào tạm biệt với nhau! Bảo trọng! 


### 08. Tùy phương giải phược (2)


Lão hòa thượng Hư Vân nói:
Tông tông vô tông.
Pháp pháp phi pháp.
Môn môn cũng thế.
Những cái này là tùy phương giải phược mà thôi.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) giảng Kinh Duy Ma Cật đến phẩm thứ hai: Phương Tiện.
Tôi lĩnh hội được tùy phương giải phược:
Duy Ma Cật Đại Sĩ ở trong thành Vaisali chính là tùy phương giải phược độ hóa chúng sinh, ví dụ:
Ngài lấy sự sung túc để giúp đỡ người nghèo đói khổ.
Ngài giữ giới luật để tác động đến người phạm giới.
Ngài nhẫn nhục tu dưỡng để chuyển hóa người giận dữ oán hận.
Ngài tinh tấn để độ hóa người lười nhác.
Ngài thiền định để độ chúng sinh tâm nóng nảy không ổn định.
Trí huệ vô thượng của ngài chuyển hóa người ngu si mê muội.


Còn nữa:
Ngài là cư sĩ, nhưng giữ giới thanh tịnh.
Có vợ con, nhưng tu hạnh thanh tịnh.
Có lục thân [sáu người thân là cha mẹ, anh em, vợ con], nhưng không có phiền não thế tục.
Ăn mặc quý phái, nhưng, tướng đẹp trang nghiêm.
Ẩm thực ăn uống, nhưng niềm vui từ thiền là số một.
Đến sòng bạc, nhưng khuyên nhủ thế nhân.
Đặt chân vào ngoại đạo dị đoan, nhưng dẫn người đi vào chính pháp.
Thông hiểu sách vở bên ngoài, nhưng đề xướng Phật pháp.


Còn nữa:
Ngài kiếm được rất nhiều tiền, nhưng giúp đỡ người nghèo là việc quan trọng số một.
Ngài đi khắp hang cùng ngõ hẻm, nhưng dùng Phật pháp để làm lợi ích cho người đời.
Ngài giảng kinh thuyết pháp, nhưng lấy Đại thừa làm chính.
Ngài ở giảng đường của trường học, dùng chính kiến dạy dỗ trẻ em.
Ngài vào thanh lâu kỹ viện, khuyên nhủ thế nhân về họa hoạn của dâm dục.
Ngài vào quán rượu nơi phố phường náo nhiệt, là để độ người sống mơ mơ màng màng.


Còn nữa:
Ở trong đám trưởng giả, tuyên thuyết pháp môn thù thắng.
Ở trong đám cư sĩ, nói về loại bỏ tham dục, bám chấp.
Ở trong đám quý tộc, giảng làm sao để tu trì tiêu trừ ngã mạn.
Ở trong đám bà-la-môn, dạy người loại bỏ tự đại.
Ở trong đám đại thần, dạy người ta công chính thành thật.
Ở trong đám vương công, dạy người ta giữ ngay thẳng không tùy tiện.
Ở trong đám vương tử, dạy người ta trung hiếu song toàn.
Ở trong đám cung nữ, dạy tuân thủ bổn phận.
Ở trong đám bình dân, dạy thiện căn phúc đức.
Ở trong Phạm Thiên, dạy bồi dưỡng đại trí huệ.
Ở trong Đế Thích Thiên, dạy nghĩa lý tam giới vô thường.
Ở trong Hộ Pháp Thiên, dạy làm sao để hộ trì Phật pháp.

🌟

Cá nhân tôi cho rằng những phương pháp này của cư sĩ Duy Ma Cật, mục đích chủ yếu chính là tùy phương giải phược.
Trong “Quan Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm” cũng ghi chép rằng Quan Âm Bồ Tát hóa thân trăm nghìn triệu.
Là để độ trăm nghìn triệu chúng sinh có thân phận khác nhau.
Đây là Tứ nhiếp pháp:
Bố thí.
Ái ngữ.
Lợi hành.
Đồng sự.
Có một hành giả tự nhận là khai ngộ đến hỏi tôi:
”Lư Sư Tôn! Có Bổn tôn không?”
Tôi đáp: “Có.”
Anh ta nói: “Tôi nghĩ là không.”
Thử hỏi: “Nếu không có Bổn tôn, làm sao tôi giáo hóa chúng sinh và tu pháp Bổn tôn?”


### 09. Pháp nhĩ bản nhiên


Lão hòa thượng Hư Vân nói:
Dạo này thường có người học thiền đến hỏi:
Pháp vốn vô pháp, hễ thành văn tự, hễ nói ra miệng, tức phi thực nghĩa, đây chính là thiền phải không?
Lão Hư đáp:

“Cần biết rõ tâm này, bản lai là Phật, không cần phải làm gì cả, tất cả đều sẵn có ở đó.”
Hỏi: 
Chúng sinh trên mặt đất đều là Phật sao?
Hư Vân đáp:
Đi thẳng đến chỗ nhận ra tự tính thanh tịnh này (Phật tính), tùy thuận vô nhiễm, trong mười hai thời, đi đứng ngồi nằm, tâm đều không khác, chính là Phật vốn có.
Hỏi:
Tu thế nào?
Hư Vân đáp:
Không cần dùng tâm dùng lực, càng không cần làm gì cả, không cần nói đến hay suy nghĩ chút nào. Cho nên nói thành Phật là việc dễ nhất, việc tự do nhất, hoàn toàn do tâm mình, không tìm cầu bên ngoài.
Hỏi: Cái gì cũng không làm sao?
Hư Vân đáp: 
Tất cả chúng sinh trên mặt đất, nếu không cam chịu luân hồi tứ sinh lục đạo, vĩnh viễn chìm trong biển khổ, thế thì sẽ thường lạc ngã tịnh, tỉ mỉ tin theo Phật Thích Ca Mâu Ni, buông bỏ tất cả, không nghĩ đến thiện ác, ai ai cũng đều có thể lập tức thành Phật.
Hỏi:
Buông bỏ tất cả, tôi cảm thấy khó?
Hư Vân đáp:
Phải học buông bỏ tất cả, phải giác ngộ pháp nhĩ bản nhiên.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) cảm thấy câu nói sau cùng của lão hòa thượng Hư Vân - “pháp nhĩ bản nhiên”, là quan trọng nhất.
Rất nhiều người hỏi tôi, thế nào là pháp nhĩ bản nhiên?
Tôi nói:
Gọi là chúng sinh là vì chúng sinh mê vào huyễn.
Gọi là Bồ Tát chính là vì Bồ Tát giác ngộ cái huyễn này.
Gọi là Phật chính là vì Phật chứng ngộ huyễn, biết huyễn rời huyễn, độ hóa chúng sinh ở trong huyễn.
Biết rõ huyễn.
Không vì gì cả mà làm chính là pháp nhĩ bản nhiên. 
Ngược lại,
Vì gì đó mà làm thì là chúng sinh.
Chúng sinh là pháp hữu vi.
Phật là pháp vô vi.
Ở trong pháp vô vi, tất cả mọi hành vi đều là tùy thuận Phật tính, đây chính là pháp nhĩ bản nhiên.

🌟

Tôi lại nói:
Pháp thân Phật thanh tịnh chính là pháp nhĩ bản nhiên.
Vì sao vậy?
Vì đã giác ngộ “tất cả là huyễn” rồi, thế giới Ta Bà đều là vô thường, thân vô thường, tâm vô thường, bên ngoài vô thường.
Thế thì tự nhiên sẽ thanh tịnh tâm mình.
Bởi vì vô sở đắc mà!
Tỉ mỉ hơn nữa, điềm đạm hơn nữa, tuy tịch mà thường chiếu, trực tiếp đến ngũ uẩn đều không, thân tâm có đủ sự tĩnh lặng, không có bất kì một việc gì, như như bất động.
Đây tức là Pháp thân Phật thanh tịnh.
Pháp thân Phật thanh tịnh chính là pháp nhĩ bản nhiên.

Tôi viết một bài thơ vậy!
*Chợt nghĩ tuổi đã bảy mươi chín
Ngày xưa đã làm việc cần làm
Rốt cuộc chẳng thể theo tiếng suối
Thị phi cũng đều chẳng đúng sai.
Nam Sơn Nhã Xá là khách sạn
Hàng thông thêm một lần trút lá
Lãng quên quên lãng lại lãng quên
Tây bắc đông nam đều không quản.*


### 10. Nói về ba tâm


Lão hòa thượng Hư Vân nói:
Học tập pháp thiền phải có đủ ba tâm.
Ba tâm này không phải là phân vân lưỡng lự, mà là toàn tâm toàn ý, một tâm mà có ba ý. 
1. Tín tâm — tin rằng tâm này của ta vốn dĩ là Phật, không khác thập phương tam thế tất cả Phật. Có nghĩa là, tâm, Phật, chúng sinh không khác biệt, không có chút gì phải nghi ngờ. 
2. Trường cửu tâm — các loại pháp môn của Phật Thích Ca Mâu Ni đều là phương tiện thành Phật, pháp nào cũng đều có thể chấm dứt sinh tử, pháp nào cũng đều có thể thành tựu. Tâm lâu dài tức là chọn lựa một pháp để thực hành suốt đời, thậm chí đời sau cũng hành trì như vậy.
Người tham thiền cứ tiếp tục thiền tiếp!
Người niệm Phật cứ tiếp tục niệm tiếp!
Người trì chú cứ tiếp tục trì tiếp!
Người giữ giới cứ tiếp tục giữ tiếp!
3. Vô tâm — vô tâm tức là buông bỏ tất cả, làm không vì gì cả, không có sự phân biệt chấp trước, trở thành một đạo nhân vô tâm, chỉ còn lại sự tùy duyên, tùy thuận, tùy phận.
Tùy duyên là tùy duyên độ chúng sinh.
Tùy thuận là phương tiện độ chúng sinh.
Tùy phận là giữ giới độ chúng sinh.
Lão nhân Vy Sơn nói:
”Nếu có người có thể thực hành ba tâm này, nếu có thể ba đời không thối lui, chắc chắn thành tựu Phật đạo.”
Lão nhân Vĩnh Gia nói: 
”Nếu có người có thể thực hành ba tâm này, nếu không thể thành Phật đạo, thì là lừa chúng sinh, mãi đọa địa ngục rút lưỡi.”
Hàm ý ở đây là, ba tâm có ý nghĩa sâu xa.

🌟

Hành giả tu hành sợ nhất là:
Tín tâm không vững — nửa đường dừng lại.
Trường cửu tâm không đủ — lựa chọn bất định.
Vô tâm phát sinh biến cố — kiểu như lúc vui lúc chán.

🌟

Lão hòa thượng Hư Vân là một cao tăng giữ giới nghiêm chỉnh, ngài thường kể một câu chuyện:
Thuở trước ở nước Kế Tân [Kashmir], địa phương gần chùa có một con độc long. Độc long đã làm hại địa phương này, rất nhiều dân chúng đều bị hại, con độc long ngày càng táo tợn hơn, máu chảy thành sông, xương chất cao như núi.
Có năm trăm vị A La Hán tụ lại cùng nhau, dùng sức mạnh của thiền định để đuổi nó.
Nhưng, từ đầu tới cuối chẳng thể đuổi con độc long đi!
Sau đó xuất hiện một tăng nhân vô danh, không nhập thiền định, chỉ đi đến trước độc long.
Nói với độc long:
”Ngoan nào! Rời xa địa phương này, trở về núi đi!”
Con độc long đó gật gật đầu, bay đi!
Năm trăm La Hán hỏi tăng nhân:
”Ông dùng thần thông gì mà đuổi được độc long?”
Tăng nhân đáp:
”Tôi chẳng dùng gì cả, tôi chỉ giữ giới thanh tịnh mà thôi!”
Năm trăm La Hán kinh ngạc.
Lão hòa thượng Hư Vân nói:
”Người không giữ giới mà tu tam muội, chẳng thể thoát cõi trần. Cho dù có bao nhiêu trí tuệ thiền định hiện tiền thì cũng rơi vào tà ma ngoại đạo. Người giữ giới thì long thiên ủng hộ, ma cũng kính nể.”
Lão hòa thượng Hư Vân nói:
”Tâm bình thì đâu phải nhọc công giữ giới? Hành vi ngay thẳng thì đâu cần dùng tham thiền?” Câu nói này là do Lục Tổ Huệ Năng nói.
Nhưng,
Tâm bạn bình được không?
Hành vi của bạn ngay thẳng được không?
Nếu không thì chớ nói suông.


### 11. Tôi nhấn mạnh thực tu


Khi Phật Thích Ca Mâu Ni chứng ngộ đã nói:
”Chúng sinh trên mặt đất đều có đức tướng trí huệ của Như Lai, chỉ vì vọng tưởng bám chấp mà không thể chứng đắc.”
Câu nói này người học Phật đều biết.
Thế nhưng,
Không loại bỏ vọng tưởng bám chấp, làm sao mới có thể thành tựu?

Lão hòa thượng Hư Vân lấy một ví dụ để nói rõ:
Mọi người đều biết đậu nành có thể làm thành đậu phụ, nhưng nếu bạn không chế biến thì vĩnh viễn vẫn là đậu nành.
Lão Hư nói:
Nếu không bỏ thạch cao đúng cách cũng không làm ra được đậu phụ.
Đậu nành phải bỏ bã, phải xay, phải nấu, cuối cùng phải bỏ vào một lượng thích hợp thạch cao, như vậy mới có thể làm thành đậu phụ.
Lão Hư nói:
Biết rõ chúng sinh là Phật.
Muốn thành Phật, phải dùng Phật pháp.
Không đi tu, đương nhiên không thể thành Phật.
Trọng điểm cũng nằm ở việc tu hành như pháp, không như pháp thì vẫn tu bất thành. 
Căng quá sẽ sinh bệnh!
Lỏng quá cũng không thể thành!
Không căng không lỏng là tuyệt vời nhất.
Nếu tu hành như pháp, không thối lùi không hối hận, nhất định có thể thành Phật.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) nhấn mạnh thực tu.
Tôi từng nói:
”Một ngày không tu, một ngày là ma.” Đây chính là tính quan trọng của thực tu. Bạn không thực tu, chỉ nói suông, chứng ngộ đương nhiên là tương lai xa vời.
Cho dù có thầy giỏi cũng không đào tạo nổi bạn.
Muốn đến Tây phương Cực Lạc thế giới tịnh thổ, cũng phải thực tiễn ba việc:
1. Không thể thiếu thiện căn.
2. Nhất tâm bất loạn.
3. Niệm Phật.
Bạn không làm ba việc này, làm sao có thể đến Tây phương tịnh thổ?
Cho dù là pháp tiện lợi nhất cũng phải thực tu.
Tôi nói với mọi người:
Nhất tâm bất loạn chính là thiền.
Chúng sinh ở thế giới Ta Bà này, cả đời đều đang vọng tưởng bám chấp, mê vào tiền, mê vào sắc, mê vào danh.
Lại cộng thêm:
Mê ăn, mê ngủ.
Như thế vĩnh viễn là chúng sinh. 
Vọng tưởng bám chấp phải thu về, phải nhất tâm bất loạn.
Phật nói:
”Chuyên tâm nhất trí, không việc gì không làm được!”
Lão Tử nói:
”Con người có thể thủ nhất, vạn sự xong!”
Đây là đạo lý tương tự.
Muốn nhất tâm bất loạn đòi hỏi công phu lâu dài, nhìn thì dễ, sự thật không đơn giản.
Tôi có một ví dụ:
Người ta hỏi tôi:
”Ngài viết 296 cuốn sách, sao có thể làm được thế?”
Tôi đáp:
”Mỗi ngày đều viết.”
Người ta hỏi:
”Mỗi ngày có viết nhiều đâu, mỗi hai trang thôi?”
Tôi đáp:
”Cộng lại sẽ thành nhiều!”
Tôi nói: Tu hành chính là phải thực tu, mỗi ngày tu, cộng lại sẽ thành tựu.


### 12. Thiền định chân chính


Lão hòa thượng Hư Vân nói:
Tham thiền tĩnh tọa không phải là ngồi thì mới là thiền. Mọi lúc mọi nơi đều có thể thực hiện.
Nói cách khác là, chỗ nào không phải là đạo tràng?
Pháp thiền chân chính là không câu nệ vào hình thức.
Cái gọi là thiền đường, cái gọi là tĩnh tọa, chẳng qua là vì chúng sinh thời mạt thế nghiệp chướng nặng nên mới lập ra phương hướng.
(Đoạn này hoàn toàn phù hợp với ý chỉ của cư sĩ Duy Ma Cật.)
Cư sĩ Duy Ma Cật nhìn thấy Xá Lợi Phất đang ngồi ăn tiệc ở trong rừng.
Đại cư sĩ nói với Xá Lợi Phất:
Tọa thiền chân chính không cần giống kiểu của ông.
Phải là không câu nệ vào hình thức.
Thậm chí ngay cả suy nghĩ ngồi thiền cũng không có, đây mới là tĩnh tọa thiền định.
Chỉ cần tuân theo Phật pháp, gánh nước chở củi, đây mới là thiền định.
Trong không chấp tà niệm, ngoài không chấp cảnh tướng, đây mới là thiền định chân chính.
Tâm không lo lắng, đi đứng ngồi nằm, đều ở trong định cảnh, đây mới là thiền định chân chính.
Không khởi tâm động niệm, không chịu quấy nhiễu mà chuyên tâm nhất trí, đây mới là thiền định chân chính.
Hiểu rõ phiền não tức là niết bàn, tức là thiền định chân chính.
Xá Lợi Phất nghe xong, á khẩu không nói.
Cũng đã tỉnh ngộ.

🌟

Tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) nói với mọi người:
Hàng ngày tôi viết sách.
Tinh thần của tôi chuyên tâm nhất trí đặt trên những văn tự, trên từng dấu chấm câu, trên sự trôi chảy của văn tự và cách diễn đạt ý tưởng của tôi.
Việc viết sách hàng ngày, sử dụng ngòi bút và con chữ, đều hết sức chăm chú.
Không biết thời gian trôi qua.
Không biết thân ở nơi nào. (quên mất mình)
Không biết động tĩnh bên ngoài.
Tôi nói với mọi người:
”Đây chính là thiền định.”
Gánh nước là thiền định.
Chở củi là thiền định.
Đi đứng ngồi nằm đều là thiền định.
Chỉ cần tâm bạn không vướng bận, nhất tâm bất loạn, không có một chút tà tư vọng niệm nào cả, không bị quấy nhiễu, tức là thiền định.
Cho nên, việc viết sách của tôi cũng là thiền định của tôi.
Thật sự!
Trong khi viết sách, tôi hoàn toàn vứt bỏ ngoại duyên, giờ này phút này tập trung viết sách, không có suy nghĩ khác.
Đây chính là dụng ý sâu xa.
Tâm là một.
Bút là một.
Chữ là một.
”Con người có thể thủ nhất, vạn sự thành!”

🌟

Lão hòa thượng Hư Vân có một vị “đầu rau” (lão hòa thượng trồng rau), công việc hàng ngày của ông ấy là trồng rau.
Ít nói kiệm lời.
Hàng ngày, mặt trời mọc thì đi làm, mặt trời lặn thì nghỉ ngơi. Cứ như vậy sống qua ngày này lại ngày khác.
Ông ấy chẳng có thị phi với việc người.
Bên ngoài chẳng thể quấy nhiễu ông.
Về sau,
Ông viên tịch.
Ngồi trong vườn rau của mình, không còn một chút hơi thở nào nữa.
Tất cả nhân viên của tăng đoàn phát hiện ra ông ấy viên tịch, im lìm bất động, nên đã làm phiền lão hòa thượng Hư Vân đến xem ông ấy.
”Đầu rau” hóa thành một đống đất bụi và hạt xá lợi. (dùng nội hỏa tự hóa)
Lão hòa thượng Hư Vân nói:
”Ông ấy tọa hóa rồi, chứng quả rồi!”


### 13. Không căng không lỏng


Lão hòa thượng Hư Vân nói:
Khi ngồi kiết già, nên ngồi thẳng thuận theo tự nhiên, sự thoải mái là rất quan trọng.
Không cần phải ưỡn lưng.
Nhưng không được cong lưng.
Ưỡn lưng là quá căng, dễ trạo cử.
Cong lưng thì quá lỏng, dễ hôn trầm.
Tóm lại, không căng không lỏng là quan trọng nhất.
Nếu quá căng, không dễ nhập Tam ma địa (định cảnh).
Nếu quá lỏng, sẽ ngủ mất.
Khi quá căng thì phải làm sao? Đừng tác ý, đừng nghĩ là “mình phải ngồi yên”, “mình phải nhập thiền định”. 
Tóm lại, tùy thuận và tác ý một chút vào sự ra vào của hơi thở.
Khi quá lỏng thì phải làm sao? Mở mắt ra, khẽ xoay mông, hôn trầm sẽ tiêu biến.
Thế nào là không căng không lỏng?
Giống như con người uống nước, lạnh hay ấm tự biết. Điều chỉnh thân tâm như thế nào, giống như điều hòa không khí.
Không nóng không lạnh là quan trọng nhất!
Không nhanh không chậm là quan trọng nhất!
Có đôi khi nghỉ ngơi cũng rất quan trọng.
Nói đến đây, cũng không thể không nói một câu, “quên mình” mới là quan trọng nhất!

Vi diệu tinh tế, nhẹ nhàng thoải mái, pháp hỷ hân hoan, đừng bứt rứt, đừng mất kiên nhẫn. 
Đây cũng là bất khả thuyết!

🌟

Nói đến cảnh giới.
Lão hòa thượng Hư Vân nói:
Chẳng thể nói hết về cảnh giới, quan trọng nhất là đừng bám chấp vào nó thì sẽ không bị ảnh hưởng.
Một câu nói:
Thấy quái dị mà không coi là quái dị
Thì điều quái dị ấy sẽ tự tiêu tan.
Mặc dù nhìn thấy yêu ma quỷ quái đến gây trở ngại.
Đáp án là:
Mặc kệ.
Mặc dù nhìn thấy Bổn tôn đến sờ đầu thọ ký.
Đáp án là:
Mặc kệ.
Nghe thấy quân xấu nhục mạ hành giả.
Mặc kệ.
Nghe thấy tiên nữ ca tụng hành giả.
Mặc kệ.
Mặc kệ, mặc kệ, mặc kệ, mặc kệ, mặc kệ.
Đối với việc nhìn thấy hoặc nghe thấy.
Chẳng hề gì, chẳng hề gì, chẳng hề gì, chẳng hề gì, chẳng hề gì.
Có một câu nói:
Đừng đi lĩnh hội
Cảnh giới tốt đẹp
Nếu lĩnh hội nhiều
Sẽ bị trói buộc.
Trên phương diện này cũng là bất khả thuyết.
Bởi vì đều là một vở kịch huyễn!

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) cũng như vậy.
Nếu thấy yêu ma quỷ quái đến quấy nhiễu, tôi nghĩ, yêu ma quỷ quái cũng là không. 
Không tức là phòng hộ.
Nếu thấy Bổn tôn đến sờ đầu thọ ký, tôi nghĩ, Bổn tôn cũng là không.
Không chính là khích lệ.
Tóm lại,
Không mừng không lo.


### 14. Thế nào là chủ? Thế nào là khách?


Lão hòa thượng Hư Vân nói:
Muốn học pháp thiền, phải nhận thức được khách, nhận thức được chủ.
Lấy ví dụ để nói rõ:
Có một người mở một khách sạn, cung cấp chỗ ở cho khách du lịch, khách đến khách đi rất đông.
Khách ở xong thì đi.
Quản lý của khách sạn thì không thể đi.
Vậy thì ai là chủ? Ai là khách? 
Quản lý là chủ.
Khách du lịch là khách.
Dùng phương thức này để phân biệt suy nghĩ.
Tự tính là chủ.
Vọng niệm là khách.
Đây chính là, tự tính (Phật tính) thường trụ vốn dĩ không đi theo vọng niệm, thoắt sinh thoắt diệt, lên lên xuống xuống.
Chỉ cần:
”Vô tâm với vạn vật, ngại gì vạn vật thường xoay quanh.”
Nói cách khác là:
Phật tính bất động.
Vọng niệm tự sinh tự diệt, hoàn toàn không có ảnh hưởng.
Người học pháp thiền, tự tính như như bất động, bất kể bên ngoài nổi gió lớn.
Đứng như tùng.
Ngồi như chuông.
Đi như gió.
Nằm như cung.
Thì sẽ không trôi theo vọng niệm.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) thường nói thế này:
Tôi lấy hư không để làm so sánh:
Hư không là chủ.
Mây, sương, gió, mưa, sấm, chớp... xuất hiện trong hư không đều là khách.
Hư không vĩnh viễn là hư không.
Còn về những biến hóa trong hư không, đó là vô cùng vô tận. Căn bản là vô thường. 
Từng có một ngày.
Ban đầu trời trong xanh, đột nhiên một đám mây đen lớn kéo đến, chẳng bao lâu thì chớp lóe sấm rền.
Sau đó là mưa đá.
Tiếp theo không ngờ lại có mưa tuyết.
Rồi còn nổi gió, là gió mạnh.
Một trận bão tuyết đã ập đến.
Tuyết ngập rất dày, mặt đất cũng đóng băng. 
(Ban đầu trời đang trong xanh, kết quả là bão tuyết lớn, rất nhiều nhân viên văn phòng chỉ có thể tạm ở lại trong phòng làm việc, không thể trở về nhà.)
Tôi dùng điều này để làm so sánh:
Tự tính là chủ.
Tất cả vọng tưởng vô thường là khách.
Mặc nó biến hóa thế nào, tự tính vẫn là tự tính, chẳng thể ảnh hưởng đến tự tính (Phật tính).
Nếu đã là như vậy thì sẽ không ảnh hưởng đến thiền định.
Vọng tưởng nhiều, cũng không sợ.
Như như bất động, vọng tưởng cũng tự sinh tự diệt!
Tôi nói: 
Tặng bạn một đóa hoa.
Để bạn cầm trong tay.
Bạn là bạn.
Hoa là hoa.
Ai là chủ?
Ai là khách?
Nhận thức rõ ràng ai là ngọn nguồn?
Hãy suy ngẫm!


### 15. Ai là ai?


Lão hòa thượng Hư Vân nói:
Pháp thiền thời xưa rất trực tiếp, chính là “trực chỉ nhân tâm”. 
Không cần văn tự.
Lập tức thấy được chân tính.
Ví dụ:
Pháp môn an tâm của Tổ Sư Đạt Ma, tìm tâm bất khả đắc của Nhị Tổ, lập tức đốn ngộ.
Lục Tổ có:
*Bồ đề chẳng phải cây.
Gương sáng cũng chẳng có.
Vốn không có một vật.*
Lúc này sẽ hiểu rõ, trực tiếp đảm đương, không chút vướng bận.

Về sau này.
Nhân tâm suy đồi, đành phải tham thoại đầu.
Pháp thiền dạy con người khai ngộ, thoại đầu rất nhiều, ví dụ:
”Vạn pháp quy về một, một quy về nơi nào?”
”Trước khi cha mẹ sinh ra, diện mạo vốn có của ta như thế nào?”
”Niệm Phật là ai?”
Thật ra, cũng có thể là:
”Người mặc quần áo là ai?”
”Người ăn cơm là ai?”
”Người đi ị là ai?”
”Người đi tè là ai?”
”Người vô minh là ai?”
”Người đánh rắm là ai?”
Lão hòa thượng Hư Vân nói:
”Ai là ai?”
Chữ “Ai” này đúng là cực kì, hãy suy ngẫm chữ “Ai” này. Một khi đoán ra, hãy suy nghĩ một lần nữa, đúng là diệu pháp tham thiền hiện đại!
Là Lư Thắng Ngạn sao? Không, đó chỉ là một cái tên.
Là Liên Sinh Hoạt Phật sao? Không, đó chỉ là một pháp hiệu.
Là thân thể này sao? Không, đó chỉ là một thứ của tứ đại giả hợp.
Là tấm ảnh sao? Không, thiếu niên, thanh niên, tráng niên, lão niên, đều chẳng giống nhau, căn bản là không phải.
Là tâm sao? Trái tim cũng không phải.
Là khuôn mặt đó sao? Không, khuôn mặt cũng đang thay đổi.
Cái gì cũng đều không phải, Ai là ai? Sắp ra rồi đó.
Suy ngẫm đi!

🌟

Lão hòa thượng Hư Vân nói:
Một niệm chưa sinh, gọi là không sinh.
Không trạo cử, không hôn trầm, không chấp tĩnh, không chấp không, cái gì cũng đều không chấp, gọi là không diệt.
Người không sinh không diệt này lại là ai?
Hành giả dùng tâm để suy ngẫm về “Ai”.
Không có suy nghĩ khác.
Nhẹ nhàng nâng lên.
Nhẹ nhàng buông xuống.
Cứ thế suy ngẫm, Ai là ai, Ai không phải là ai, ngẫm đến khi Ai cũng đều không còn nữa!
Một tiếng “Om”!
Một tiếng “Ah”!
Một tiếng “Hum”!
Cuối cùng đã giác ngộ rồi!

🌟

Có người hỏi tôi:
”Lư Sư Tôn! Ngài học Phật 50 năm, ngài có được cái gì?”
Tôi đáp:
”Chẳng có được cái gì.”
Người hỏi:
”Chẳng có được cái gì! Thế lãng phí 50 năm một cách vô ích sao?”
Tôi đáp:
”Chẳng có được cái gì chính là có được.” Ha! Ha! Ha!


### 16. Phản vấn tự tính


Lão hòa thượng Hư Vân nói:
Phương pháp viên thông của Quan Thế Âm Bồ Tát chính là phản vấn tự tính.
Lão Hư cho rằng phản vấn tự tính chính là thiền.
Phản chính là hồi.
Vấn chính là chiếu.
Tự tính chính là không sinh không diệt.
Gộp lại sẽ là: “Một suy nghĩ hồi quang phản chiếu không sinh không diệt.”
Có nghĩa là muốn hành giả tỉnh ngộ quán chiếu, tỉnh ngộ quán chiếu thì sẽ không mê, không mê tức là trí huệ, trí huệ không loạn chính là thiền định.
Lúc này:
Thanh tịnh trong veo.
Rỗng không trống vắng.
Trong vắt tịch chiếu.
Như như bất động.
Linh lợi không mờ.
Hiểu rõ thường biết.
Đây là cảnh giới không có gì có thể ảnh hưởng được, nếu muốn nói ra cũng rất khó.

Có người hỏi hòa thượng Triệu Châu:
”Không nhấc nổi một vật, thì sao?”
Triệu Châu đáp:
”Buông bỏ!”
Người hỏi:
”Không buông bỏ được thì sao?”
Triệu Châu đáp:
”Nhấc lên!”
Người hỏi:
”Không buông bỏ được cũng không nhấc lên được thì sao?”
Triệu Châu đáp:
”Đi mà hỏi mẹ anh!”
(Câu nói sau cùng này là Lư Sư Tôn tôi tự mình thêm vào đó, ha ha ha!)

🌟

Lão hòa thượng Hư Vân nói:
Rất nhiều đại thiền sư ở trong cảnh giới khó xử của một số hành giả không biết phải làm thế nào mới tốt.
Thế là một gậy!
Thế là một tiếng hét!
Một gậy một tiếng hét này, lập tức mây mù giăng kín trời tan đi, rất nhiều người vì thế mà ngộ ra đạo tâm, đây là vì căn khí của con người mà làm được như thế.
Có bài thơ làm chứng:
*Lộ phùng kiếm khách tu trình kiếm.
Bất thị thi nhân bất hiến thi.*
*[Gặp đúng kiếm khách nên trình kiếm.
Không phải thi nhân chẳng tặng thơ.]*

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) có một đệ tử, anh ấy viết một bài thơ cho tôi:
*Đạo này gần trong gang tấc
Thân khẩu ý thanh tịnh chính là
Ở trong miệng
Ở trong tâm
Ở trong mờ tối có ánh sáng.
Con đường tin Phật như thế,
Con đường yêu thầy như thế,
Con chỉ đặt nó ở yên trong tim
Không trốn không nấp
Thế rồi “beng” một tiếng!
Toàn bộ thế giới
Đều chiếu sáng.*

Tôi (Lư Sư Tôn) nói:
Đúng vậy, đúng vậy.
Cái gọi là pháp thiền chính là như thế, bạn chỉ cần ấn vào công tắc điện là đèn liền sáng.
Sáng choang một căn phòng.


### 17. Cảnh giết tâm. Tâm giết cảnh


Lão hòa thượng Hư Vân nói:
Người thế tục là cảnh giết tâm.
Người thiền hành là tâm giết cảnh.
Lão hòa thượng Hư Vân còn kể một câu chuyện của chính mình.
Năm xưa.
Thời đại Mãn Thanh, trong năm Canh Tý, liên quân tám nước tấn công vào thành Bắc Kinh.
Lão Hư và Hoàng Đế Quang Tự cùng Từ Hy Thái Hậu vội tháo chạy ra khỏi hoàng cung Bắc Kinh.
Một đám người di tản về mạn Thiểm Tây, một ngày chạy mấy chục dặm đường, mỗi người đều ăn rất ít đồ ăn, có người căn bản là không ăn gì.
Có một gia đình nông dân dâng nạp cho Hoàng Đế, Thái Hậu một ít “mô mô” làm từ khoai lang. 
”Mô mô” là thực phẩm mà người ở vùng đó gọi.
Từ Hy Thái Hậu ăn xong, luôn miệng khen ngợi.
Hoàng Đế Quang Tự ăn xong, ăn một lèo mấy cái.
Lão Hư nói:
Mọi người nghĩ xem, Thái Hậu, Hoàng Đế bình thường uy phong lẫm liệt, đi đến đâu là người người kinh sợ. Cao lương mỹ vị trong hoàng cung cái gì cũng có, ở đó đã từng ăn khoai lang sao?
Nhưng,
Đi cả quãng đường dài, đói sắp ngất, bây giờ đến cả khoai lang cũng quý giá.
Từ Hy Thái Hậu liên tục hỏi người nông dân đây là thứ gì mà lại ngon đến thế?
Về sau, triều đình nhà Thanh và liên quân tám nước hòa giải, ngự giá trở về hoàng cung Bắc Kinh. Từ Hy Thái Hậu và Hoàng Đế Quang Tự ra lệnh cho nhà bếp hoàng cung làm bánh mô mô dâng lên ăn.
Hai người ăn xong thì suýt chút nữa là nôn ra, hét lớn: “Khó ăn chết đi được!” 
Lão hòa thượng Hư Vân nói:
Câu chuyện này nói về cảnh giết tâm. Người thế tục thông thường bị hoàn cảnh xung quanh thay đổi.
Còn người thiền hành thì phải là tâm giết cảnh.
Có nghĩa là trong bất kì hoàn cảnh nào đều có thể thích ứng, giữ vững được một trái tim như như bất động.
Ví dụ:
Học trò Nhan Hồi của Khổng Tử.
Bên ngoài ngôi nhà mưa to, bên trong ngôi nhà mưa nhỏ, mái nhà bị dột, Nhan Hồi vẫn ung dung thản nhiên.
Vẫn đánh đàn.
Hơn nữa tiếng đàn đẹp tuyệt!
Đây là đứng trên đỉnh núi cao, đi dưới đáy biển sâu.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) nói:
Tôi tu hành hơn 50 năm nay, có ý chí bền vững, càng bị áp chế thì càng dũng mãnh, duy trì không đổi.
Một ngày một tu, không đổi.
Một ngày viết sách, không đổi.
Tôi ở Đài Loan cũng thế cũng thế, tôi ở Mỹ cũng thế cũng thế.
Lúc ẩn cư cũng thế cũng thế. Lúc xuất quan cũng thế cũng thế. Lúc sinh bệnh cũng thế cũng thế. Lúc khỏe mạnh cũng thế cũng thế.
Tôi từng nói:
”Nếu có người phỉ báng tôi, tôi sẽ viết thêm mười cuốn sách.”
Trong thuận cảnh nghịch cảnh, tôi đều tu hành.
Không có một ngày dừng lại.
Tôi cho rằng:
Tất cả các thánh đệ tử đều nên như vậy.
Đây chính là thiền!
Trong bất kì hoàn cảnh nào đều không thay đổi cái tâm ban đầu!


### 18. Hành thiền


Lão hòa thượng Hư Vân nói:
Có một năm.
Đại hạn hán, ông Trời liên tục mấy tháng liền không mưa, nước hồ khô cạn đã nhìn thấy đáy, chỉ còn như một bể tắm nhỏ.
Đồng ruộng nứt nẻ.
Trồng cây cối đều chết khô.
Nông dân kêu khổ thấu trời.
Người dân cả nước đang gặp thiên tai nặng nề, hỏi trời trời không đáp. Cứ tiếp tục thế này thì nhân loại làm sao sinh tồn?
Họ thỉnh lão hòa thượng Hư Vân là cao tăng thời đó đứng ra cầu mưa.
Hư Vân nói:
”Cơ bản là tôi không biết cầu mưa!”
Người dân nói:
”Làm ơn cầu mưa!”
Hư Vân nói:
”Tôi chỉ biết hành thiền!”
Người dân nóng lòng cầu mưa, nói:
”Hành thiền cũng được.”
Lão hòa thượng Hư Vân miễn cưỡng đáp ứng.
Đến ngày hôm đó, lão hòa thượng Hư Vân dưới cái nắng chói chang.
Đi trên bờ ruộng nứt nẻ, hai tay chắp lại, mồ hôi nhễ nhại chảy ròng ròng.
Thu tâm về một niệm.
”Kính lễ chư thiên, chỉ cầu nước mưa!”
Lão Hư tập trung tinh thần, tâm không tán loạn, đi từng bước từng bước trên bờ ruộng khô cằn.
Cứ như thế đi xung quanh ruộng một vòng.
Dân thường đứng xem đông nghìn nghịt.
Lão Hư chẳng vì điều gì khác, chỉ là một lòng cung kính, dùng công phu hành thiền. 
Khi đi đến bước cuối cùng.
Một đám mây đen lớn đã che khuất ánh nắng, trong sát-na, mây đen phủ kín. 
Ào ào! Rào rào! Những hạt mưa to như hạt đậu rơi xuống!
Mưa như trút nước.
Người dân vui mừng hò reo như sấm rền.
Hư Vân, Hư Vân, Hư Vân, Hư Vân…. Tất cả mọi người đều không ngớt ca ngợi.
Năm ấy, tình hình hạn hán đã được giải trừ.
Lão hòa thượng Hư Vân nói: “Thật sự không biết cầu mưa, tôi chỉ một lòng hành thiền.”
Lão Hư nói:
”Thiền không câu nệ bất kì hình thức nào.” (Lão Hư ở Trường An cầu tuyết rơi, tuyết cũng rơi, dập tắt được dịch bệnh.)

🌟

Nếu đệ tử Chân Phật Tông không chóng quên.
Khi tôi làm pháp hội tại Senayan Indonesia.
Ở trên pháp tọa tôi đã nói:
”Pháp hội này của tôi kết thúc thì lệnh cho cả Indonesia có mưa!”
(Indonesia đang hạn hán.)
Tôi phụng thỉnh:
”Ma Tọa Long Vương cho mưa!”
Pháp hội kết thúc.
50 phút sau, toàn Indonesia đổ mưa, mưa lớn đến mức ngập lụt. Đệ tử Indonesia là sư huynh Tăng Diệu Toàn gọi điện thoại đến các chùa đường hội trên cả nước để hỏi tình hình mưa ở các nơi.
Chùa đường hội báo cáo, đúng là cả nước đều có mưa.
(Indonesia là đất nước nghìn đảo.)
Sự việc này từng gây chấn động cả đất nước Indonesia. Tạp chí Đông Hiệp nổi tiếng nhất cũng từng đưa tin.
Lão Hư chỉ dùng hành thiền.
Tôi (Lư Sư Tôn) dùng:
”Nhất tâm.”


### 19. Chính là một xác chết


Đây là một trải nghiệm của lão hòa thượng Hư Vân.
Khi ngài ngao du khắp nơi.
Có một lần đi tàu thủy, ngài ngủ ở “thông phô”, tức là rất nhiều người ngủ cùng nhau. 
”Thông phô” không phân biệt nam nữ già trẻ, mọi người tụ lại cùng nhau, cùng ngủ.
Đến nửa đêm.
Một người phụ nữ rực lửa dựa thân thể vào ông.
Cô ta như một ngọn lửa.
Đốt cháy Hư Vân, ngọn lửa này đốt từ đầu đến chân Hư Vân. Cô ta giở thủ đoạn, tay của người phụ nữ sờ mó thân thể của Hư Vân.
Người phụ nữ hổn hển.
Người phụ nữ rên rỉ.
Người phụ nữ lẩm bẩm.
Ra sức ép về phía Hư Vân.
Hư Vân lúc này, nếu cũng là một ngọn lửa, thế thì sẽ thành sấm sét chớp lóe rồi.
Thiên lôi kết hợp với địa hỏa thì rầm rầm rộ rộ rồi.
Nhưng,
Hư Vân tinh tường minh mẫn là một vị đại hòa thượng giữ giới luật, một mực thanh lương.
Người phụ nữ ép vào, ngài bất động.
Ngọn lửa thiêu cháy, ngài vẫn không động.
Dục niệm ập đến, ngài là băng.
Tay của người phụ nữ sờ mó, ngài là một xác chết.
……………….

Cuối cùng, người phụ nữ thấy Hư Vân hoàn toàn bất động thì cũng dần dần thu mình lại.
Một vở kịch hay đến đây là kết thúc rồi!
Thật ra đây không phải là vở kịch hay, mà là một vở kịch tồi vô tình mà cay nghiệt.
Một đằng thì nóng, một đằng thì lạnh, khuôn mặt nóng dán vào cái mông lạnh, và thế là kết thúc!

🌟

Tôi còn nhớ Thượng sư Trần Kiện Dân có một vài bình luận về đoạn này.
Thượng sư Trần nói:
Nếu Hư Vân luyện thành vô lậu, cũng có đủ đệ nhất nghĩa tính Không.
Hư Vân có thể độ hóa người phụ nữ này.
Có thể “giao tiếp”.
Làm ngọn lửa dục của người phụ nữ này tan đi, để người phụ nữ này có được đại lạc.
Dùng khí trên người của Hư Vân tiến vào mạch luân của người phụ nữ, để người phụ nữ sinh ra tâm quang minh. 
Sau đó, 
Người phụ nữ trở thành thị giả của Hư Vân.
Sau đó dạy cô ấy đệ nhất nghĩa Không của Phật pháp.
Có nghĩa là người phụ nữ này được lão hòa thượng Hư Vân độ hóa, trở thành đệ tử Tam Bảo.
Đây là cách nhìn của Thượng sư Trần.

Thượng sư Trần nói:
Dâm nộ si, đều là Phật pháp.
Dâm hóa thành Phật.
Nộ hóa thành Kim Cang.
Si hóa thành Bồ Tát.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) cho rằng:
Chủ trương của lão hòa thượng Hư Vân là, ông ấy nhận thức được tập tính của con người là khó buông bỏ nhất.
Vô minh, cao ngạo, đố kỵ, chướng ngại, tham, sân, si, nghi, yêu, lười…
Con người muốn tu hành, trước tiên phải loại bỏ tập tính.
Tập tính không bỏ.
Phật đạo khó thành.
Lão Hư nói:
Phải thường xuyên nghĩ chính mình như xác chết, người chết rồi thì tập tính hoàn toàn không còn. 
Một chữ “chết” này là cực kì nhất, chết có thể trừ bỏ tập tính.


### 20. Lão hòa thượng Hư Vân dùng “chết” để giải thoát


Trong cuốn “Mây của hư không”, tôi đọc được mấy trọng điểm.
Thứ nhất:
Vô thường — vốn dĩ hai chữ Hư Vân là pháp hiệu, nhưng, từ pháp hiệu này mà hiểu ngầm được vô thường. Chữ Vân này biến hóa vô cùng, sinh tử chỉ trong một sát-na.
Là hư, là giả, là huyễn.
Không có chân thực.
Ví dụ:
Mây có thể biến thành mưa, mưa có thể biến thành nước, nước có thể biến thành khí…..
Biến huyễn không ngừng, tức là vô thường.

Thứ hai:
Vô ngã — lão Hư từ núi Phổ Đà, đi ba bước lạy một lần cho đến núi Ngũ Đài. 
Ba bước một quỳ này nếu không có nghị lực tinh thần của sự vô ngã thì sao có thể làm được?
Thử hỏi:
Hôm nay ai dám?
Tôi (Lư Sư Tôn) chỉ mới nghe đã cảm thấy rất sợ rồi. Từ núi Phổ Đà đến núi Ngũ Đài, đi bộ đã rất khó, huống hồ là ba bước một lạy.
Đây là tinh thần vô ngã.

Thứ ba:
Khổ — hành giả hiện đại ham ăn biếng làm, cậu ấm cô chiêu, tập khí không quên, một chút uất ức cũng đã chịu không nổi, khổ một tí đã không chịu thấu.
Hãy nhìn lại lão Hư.
Cả cuộc đời ông đều là nghịch cảnh, thế nhưng ông không cảm thấy khổ một chút nào.
Chịu khổ chính là để tu bổ.
Ông dụng công để làm.
Khổ cả một đời.
Đây mới là con đường thành tựu.

Thứ tư:
Chết — lão hòa thượng Hư Vân thường nói chữ “chết” này cực kì.
Ông nói:
Người chết rồi, bạn thử mắng xác chết mấy câu, hắn cũng chẳng tức giận.
Người chết rồi, tiền tài vô ích, tiền nhiều bao nhiêu hắn cũng không tham.
Người chết rồi, gái đẹp ở trước mặt, hắn cũng không có dục niệm.
Người chết rồi, vô minh cũng không còn.
Người chết rồi, tập khí cũng không còn.
Người chết rồi, háo danh háo lợi đều không còn.
Người chết rồi, phiền não cũng không còn.

Lão Hư nói:
Con người chỉ vì sống sót mà coi trọng thể xác này, thế là sinh ra ta người đúng sai, sinh ra yêu ghét giữ bỏ. 
Hành giả chúng ta cần nhận định bản thân là một xác chết, đừng coi trọng nó, căn bản không xem nó là ta.
Như thế,
Mới có thể buông bỏ tất cả!
Vì thế lão hòa thượng Hư Vân có thể buông bỏ tất cả, mới có thể giác chiếu thanh tịnh, đâu đâu cũng là thiền cơ, đâu đâu cũng là diệu đạo.
Không — lão hòa thượng Hư Vân nói:
Hữu giác hữu chiếu vẫn thuộc sinh tử.
Vô giác vô chiếu lại rơi vào không vong [hư vô, không thực]. 
Đến được cảnh giới này thì càng khó, bách xích can đầu [cảnh giới cao nhất, đỉnh cao của sự giác ngộ], không có cách nào tiến lên. 
Lão Hư nói:
Cái này phải “không mà bất không”, “vi mà vô vi”. 
Đó mới là:
Chân không diệu hữu.
Diện mạo vốn có.
Bằng không sẽ là cây khô, tro tàn, người chết.
Tôi (Lư Sư Tôn) lĩnh hội đến đây mới biết sự lao tâm khổ tứ của Long Thụ Bồ Tát, mới biết dụng ý trụ thế của cư sĩ Duy Ma Cật.


### 21. Thế nào là thiền bệnh?


Lão hòa thượng Hư Vân nói:
Tâm tức là Phật, Phật tức là giác.
Chúng sinh và Phật, bình đẳng không khác.
Chỉ vì chúng sinh là mê, Phật là bậc giác ngộ, nên mới có phân biệt.
Chúng sinh vì mê mới phải tu, mới phải chứng.
Phật là tính Không, không có một vật, không nhận một pháp, không thể tu chứng.
Lão hòa thượng Hư Vân nói:
Chúng sinh tu thiền rất dễ đi vào đường rẽ, đây chính là thiền bệnh, thiền bệnh rất nhiều, lão Hư phân tích như sau:
Thứ nhất:
Hoàn toàn không hiểu rõ thế nào là thiền, thế nào là định. Mỗi ngày nhắm mắt ngồi thẳng.
Ngủ gật.
Vọng tưởng.
Hôn trầm.
Trạo cử.
Người học thiền kiểu này lơ mơ hồ đồ, có ngồi đến “tết Công Gô” cũng không thể khai ngộ.

Thứ hai:
Có một số người ngồi thiền có một chút nắm bắt, nhưng thực sự là chết, suy tưởng chết, ý niệm chết, cho rằng định vào một điểm là được rồi.
Không biết định vào một điểm này vẫn là pháp sinh diệt, nếu chấp vào một điểm này thì làm sao mà vô sinh.
Học thiền trở thành người chết, không biết vận dụng linh hoạt, thực sự là một việc vô cùng đáng tiếc.
Chán sống.
Thích chết.
Không chết.
Không sống.
Đây cũng là thiền bệnh cứng nhắc máy móc.

Thứ ba:
Có một số người học thiền sản sinh ra tâm tướng vô niệm, vọng niệm thô đều dừng, đắc khinh an.
Bắt đầu có một vài cảnh giới.
Tự thấy có thể thần hành, có thể du lịch trên trời dưới đất.
Có người trở về đời quá khứ.
Có người tự biết nhân quả ba đời, cũng biết nhân quả ba đời của người khác.
Biết tâm tư của người khác.
Thiên nhãn.
Thiên nhĩ.
Thần thông tự do như vậy, trong lòng rất vui mừng, thế là liền sống trong những ngày tháng có thần thông, bản thân cho rằng đã đắc đạo, đắc chứng rồi.
Không biết cảnh giới thần thông này:
Thần cũng có.
Ma cũng có.
Quỷ cũng có.
Ngoại đạo cũng có.
Tà cũng có.
Những cái này chỉ là trò ảo, không đáng giữ, nếu mê muội trò ảo thì cũng là thiền bệnh.

Thứ tư:
Đến khi lý-sự đều hiểu rõ, tu hành đi trên chính pháp, vọng niệm bám chấp bỏ hết, phiền não thanh tịnh rồi. Nhưng vẫn có đường rẽ.
1. Cao ngạo.
2. Ngã mạn.
3. Kiêu căng.
4. Tôi đúng.
5. Anh sai.
Đây là không thành Phật, trái lại là thành ma, lúc này dễ mắc bệnh này, đây cũng là người mắc thiền bệnh cực nặng.
Lão Hư nói:
Những thiền bệnh này không phải là diện mạo vốn có!


### 22. Uống trà đi


Lão hòa thượng Hư Vân trong một khai thị ở chùa Vân Môn.
Lão Hư nói:
Ngày xưa.
Hòa thượng Triệu Châu đạo phong rất thịnh, học giả mười phương đều đến thăm hỏi, qua lại tới lui rất náo nhiệt.
Có một hôm.
Có hai nhà sư đến thăm, hòa thượng Triệu Châu chỉ vào một nhà sư và hỏi:
”Ông đã từng đến đây chưa?”
Nhà sư đáp:
”Chưa từng.”
Hòa thượng Triệu Châu nói:
”Uống trà đi!”
Rồi lại hỏi nhà sư kia:
”Ông đã từng đến đây chưa?”
Nhà sư kia nói:
”Đã từng.”
Hòa thượng Triệu Châu cũng nói:
”Uống trà đi!”
Lúc này viện chủ bên cạnh liền hỏi:
”Người chưa từng đến, bảo ông ấy đi uống trà; người đã từng đến, vì sao cũng bảo ông ấy đi uống trà?”
Hòa thượng Triệu Châu hét một tiếng:
”Viện chủ!”
Viện chủ lên tiếng trả lời:
”Có!”
Hòa thượng Triệu Châu nói:
”Uống trà đi!”
Sự việc này truyền khắp thiên hạ, vì thế mới có điển cố “Triệu Châu trà”.

Lão hòa thượng Hư Vân kể điển cố này là muốn nói đây là hòa thượng Triệu Châu dạy mọi người đi suy ngẫm:
”Người uống trà là ai?”

🌟

Tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) đối với điển cố (công án) này vốn nghĩ là bớt nói linh tinh.
Nhưng vì viết chương sách này cho nên đành phải nói một chút chút, cũng xem như là vẽ rắn thêm chân.
Tôi ở Seattle Lôi Tạng Tự nước Mỹ.
Mỗi khi đến giờ ăn cơm, tôi sẽ luôn gọi mọi người:
”Ăn cơm thôi!”
Đối với đồng môn mới đến tôi gọi:
”Ăn cơm thôi!”
Đối với đồng môn cũ tôi gọi:
”Ăn cơm thôi!”
Đối với đồng môn tổ nấu ăn tôi gọi:
”Ăn cơm thôi!”
Đối với đồng môn đến từ các nơi trên thế giới tôi gọi:
”Ăn cơm thôi!”
Đối với khách lạ lần đầu tiên đến thăm Seattle Lôi Tạng Tự tôi gọi:
”Ăn cơm thôi!”
Ngày nào cũng như vậy, cũng không phiền chán, vốn dĩ chính là như thế, hà tất ngày nào cũng phải gọi ăn cơm chứ?
Đây là “đãn tận phàm tình, biệt vô thánh giải”. [Sinh hoạt giống như một người phổ thông, không biểu hiện có gì đó to tát hơn người khác.]
Con người nhất định phải ăn cơm.
Hơn nữa phải ăn cơm đúng giờ.
Có nhàm chán không?
Không nhàm chán!
Đây là nuôi dưỡng sinh mạng của con người, không ăn không được.
Nhưng, mọi người thử nghĩ xem:
Nuôi dưỡng huệ mệnh thì dùng cái gì?
Bạn có nuôi dưỡng huệ mệnh của bạn không?
Diện mạo vốn có của huệ mệnh của bạn là gì?


### 23. Thơ của Hàn Vũ


Hàn Vũ là đệ tử của Lư Sư Tôn. Thơ của anh ấy có pháp vị.
Một bài thơ gần đây:
*Mỗi một lần
Quy y quán đảnh hoàn tịnh
Con của quá khứ đã chết
Con mới mẻ vì thầy mà sinh ra
Thầy giơ thẳng ngón trỏ (ở Hoàng Đế Lôi Tạng Tự)
Như tiếng sấm không vang in vào trong tim con
Thầy hét pháp danh con
Thời khắc ấy sống không còn là vì chính mình nữa.*

*Con thuộc về huyết khí đã chết
Con thuộc về linh hồn
Vì thầy mà sinh ra.*

🌟

Bài thơ này khiến tôi nghĩ đến mấy câu nói mà lão hòa thượng Hư Vân thường xuyên nhắc đến.
Lão Hư nói:
*Trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật.
Thức tự bản tâm, kiến tự bản tính.
Không nói một chữ.
Vốn dĩ thanh tịnh.
Vốn tự có sẵn.
Viên mãn khắp nơi.
Diệu dụng hằng sa.*
Tôi (Lư Sư Tôn) giơ thẳng ngón trỏ chính là chỉ thẳng vào tâm của Hàn Vũ. 
Cái chỉ tay này chính là ấn tâm.
Cái chỉ tay này là chỉ tính chỉ Phật, tất cả đều là linh tính.
Tôi không nói gì cả.
Tôi chỉ niệm pháp danh Hàn Vũ.
Thế là….
*Vốn dĩ thanh tịnh.
Vốn tự có sẵn.
Viên mãn khắp nơi.
Diệu dụng hằng sa.*

🌟

Hàn Vũ còn viết:
*Nếu như thầy muốn gặp con
Cả thế giới đều sẽ giúp con đi đến với thầy
Nếu thầy nhớ đệ tử
Trái tim con sẽ đáp lại thầy không hề rụt rè*

*Con tin tưởng tất cả sẽ thành tựu viên mãn
Vì thầy là Mãn Nguyện Đồng Tử
Nguyện của thầy
Là sự nghiệp Không Hành muốn thành tựu
Và tất cả hơi thở của vũ trụ này
Đều đang nói ở bên tai con
Trong tim ngân lên
”Đừng sợ hãi, hãy đến bên cạnh thầy!”*

Lão Hư nói:
Đại trượng phu, thẳng thừng dứt khoát.
Từ xưa đến nay, tất cả sự vật đều là mộng huyễn bóng ảnh, không có tự tính. Tất cả con người nên gắng sức học hỏi đạo, thường đi gần gũi thiện tri thức.
Thiện tri thức sẽ chỉ dẫn con đường.
Đây là “như thiết như tha, như trác như ma” [Luận Ngữ, dịch là như cắt như gọt, như mài như giũa, chỉ việc học đạo và tu thân phải thường xuyên được mài giũa, giống như ngọc đá phải mài giũa mới sáng bóng], “Giang Hán dĩ trạc chi, thu dương dĩ bộc chi” [câu nói của Tăng Tử về thầy mình, ý nói giống như đã được nước Giang Hán gột sạch, đã được phơi dưới nắng hè, thật sự là trong sạch không tì vết]. 
Hỏi đạo không thể dài dòng dây dưa.
Tôi nói với Hàn Vũ:
Đừng sợ, thăm hỏi không dài dòng dây dưa.
Bằng không, tiếc nuối cả đời.


### 24. Câu chuyện nhỏ về “ba bước một lạy”


Lão hòa thượng Hư Vân ba bước một lạy, từ núi Phổ Đà lạy đến núi Ngũ Đài, đây là để báo ơn người mẹ đã sinh ra ông.
Việc lạy này phải ba năm mới hoàn thành chí nguyện.
Có một lần, ông lạy đến bên bờ sông Hoàng Hà, gặp đúng lúc tuyết rơi lớn, trận tuyết này tổng cộng rơi ba ngày ba đêm vẫn chưa dừng.
Lão Hư trú tạm trong túp lều cỏ, vừa đói vừa lạnh, vừa có bệnh, thân thể mất đi cảm giác, bất tỉnh nhân sự.
Khi ông tỉnh dậy. 
Phát hiện ra trong túp lều cỏ có một người ăn xin đang nấu cháo kê cho lão Hư ăn. 
Sau khi ăn xong, bụng không đói nữa, cũng không lạnh nữa, bệnh cũng khỏi rồi.
Ông cảm ơn người ăn xin, hỏi: “Họ tên?”
Người ăn xin đáp:
”Văn Cát.”
Hỏi: “Từ đâu đến?”
Người ăn xin đáp:
”Người ở núi Ngũ Đài đều biết tôi.”
Cuối cùng, người ăn xin rời đi.
Sau đó, lão hòa thượng Hư Vân cuối cùng đã đến được núi Ngũ Đài, hỏi thăm khắp nơi về Văn Cát.
Mọi người ở núi Ngũ Đài đều không biết có người ăn xin nào tên là Văn Cát. Sau cùng, có một cao tăng nói với Hư Vân:
”Đây là hóa thân của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.”
Hư Vân hỏi:
”Sao ông biết?”
Cao tăng đáp:
”Văn Cát chính là Văn Thù Sư Lợi Diệu Cát Tường Bồ Tát.”
Chà!
Lão hòa thượng Hư Vân rất đỗi cảm động.
(Quả nhiên người ở khắp núi Ngũ Đài đều biết ngài.)

🌟

Tôi còn nhớ khi tôi triều lễ núi Ngũ Đài.
Từ đỉnh Bồ Tát lạy xuống.
Gặp chùa là lạy.
Có một nhà sư mặc áo vàng hoàn toàn xa lạ, tôi lạy cả quãng đường, ông ấy cũng lạy theo tôi.
Nhà sư này ở bên cạnh tôi lạy cùng tôi.
Đây cũng là một việc kỳ lạ.
Tôi lạy cả quãng đường, ông ấy cũng cùng tôi lạy cả quãng đường.
Ông ấy muốn gì ở tôi sao? Tôi thầm nghĩ.
Đến khi lạy xong.
Tôi đưa tiền cho ông ấy. (Rất nhiều tờ 100 Nhân Dân Tệ.)
Ông ấy lắc đầu từ chối.
Ông ấy nói:
”Tôi ở đây đợi đã nhiều năm mới đợi được ngài.”
Tôi giơ ngón trỏ lên.
Ông ấy giơ ngón tay chỉ trời, rồi lại chỉ đất, rồi lại chỉ vào tim mình.
Hai người chúng tôi dùng ngôn ngữ tay để giao tiếp.
Sau đó, chúng tôi hỏi người ở núi Ngũ Đài nhà sư này là ai. Có phải người của ngôi chùa đó không?
Không ngờ lại chẳng có ai biết.
Chúng tôi cho rằng nhà sư này là hóa thân của Văn Thù Bồ Tát.
Hai câu chuyện này đều là câu chuyện về cảm ứng đạo giao.
Tôi (Lư Sư Tôn) cho rằng:
Người có thành tâm, Phật có cảm ứng.
Trên người tôi đã xảy ra quá nhiều sự việc linh dị rồi, nhiều đến mức không đếm xuể. 
Nghĩ xem! 
Tôi lạy cái gì?
Nhà sư lạy cái gì?
Ai lạy ai?


### 25. Vì pháp quên mình


Tại chùa Dũng Tuyền trên núi Cổ ở Phúc Châu, lão hòa thượng Hư Vân đã lễ trưởng lão Diệu Liên làm thầy.
Pháp danh Diễn Triệt.
Hiệu Đức Thanh.
Ông rất sợ bị người ta tìm đến, cho nên vẫn ở hang động sau núi tu khổ hạnh.
Khi đói thì ăn hạt thông và lá cỏ.
Khi khát thì uống nước ở khe suối.
Sự khổ hạnh này người bình thường chịu không nổi.
”Mặc những thứ con người không thể mặc, ăn những thứ con người không thể ăn, nhẫn nhịn những thứ con người không thể nhẫn nhịn, chịu đựng những thứ con người không thể chịu đựng.”
Cứ thế kéo dài ba năm.
Khi lão Hư từ sau núi xuất hiện. 
Tăng chúng nhìn thấy ông giống như người hoang dại, quần áo không che kín thân thể, gầy như cái que, lông tóc bờm xờm, giống như động vật vậy.
Phương trượng nhìn thấy ông thì cũng cảm động sâu sắc.

🌟

Lão hòa thượng Hư Vân tu hành trong túp lều cỏ ở núi Cửu Hoa, nghe nói chùa Cao Mân ở Dương Châu có đả thiền thất, thế là ông đi tham gia. [Đả thất là kỳ hạn tu hành trong vòng bảy ngày để cầu chứng ngộ, người nào tu niệm Phật thì gọi là đả Phật thất, người nào tu thiền gọi là đả thiền thất.]
Từ núi Cửu Hoa đi men theo sông.
Gặp mưa lớn, nước sông dâng lên, nước tràn ra mặt đường, ông gấp rút lên đường, không cẩn thận rơi xuống sông, bị cuốn trôi suốt hai mươi tư giờ, trôi đến mỏm đá Thải Thạch mới được người đánh cá phát hiện, người đánh cá dùng lưới để vớt lão Hư lên.
Người đánh cá biết gần đó có chùa Bảo Tích nên đưa lão Hư trở về chùa.
Ông thở thoi thóp.
Bảy lỗ chảy máu.
Chỉ còn một hơi thở.
Tình hình nghiêm trọng.
Nhưng cuối cùng ông đã được cứu chữa.
Ông đã đi đến chùa Cao Mân để đả thiền thất.

🌟

Lão hòa thượng Hư Vân cả đời đi khắp nơi, thăm hỏi các thiện tri thức, mũi dính tro không ít. [Mũi dính tro là một thành ngữ tiếng Hán ý nói rằng mong muốn điều tốt đẹp nhưng lại bị bẽ mặt.]
Chịu đựng sỉ nhục, nhưng ông không thay đổi chí nguyện ban đầu.
Ông từng đến Singapore, Malaysia, Thái Lan.
Ông cũng từng đi Tây Tạng, đi Vân Nam, đi Quảng Châu.
Đã đi rất nhiều nơi.
Những gian khổ mà ông đã phải chịu nhiều không đếm xuể.
Lão hòa thượng Hư Vân lúc cuối đời đã thiên hóa viên tịch tại chuồng bò ở núi Vân Cư. Chuồng bò ấy trên lợp cỏ tranh, thật sự là nơi nuôi bò, có một cửa ra vào và một cửa sổ, chuồng bò là nơi nuôi bò, nhưng ông tự nguyện chịu đựng gian khổ.

🌟

Nghe nói:
Ông đã xây rất nhiều chùa.
Hai cuộc đại chiến, máy bay của quân Nhật không tập đã phá hủy không ít chùa, có người khuyên ông đừng xây chùa nữa, xây xong lại bị phá thì chẳng bõ công.
Lão Hư nói:
”Xây là tôi xây, phá là họ phá. Hai việc này chẳng hề liên quan.” 
Tinh thần của lão Hư chính là như vậy.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) từng dùng sức mạnh thần thông để đến chỗ của Di Lặc Bồ Tát, nghe Di Lặc giảng kinh.
Tôi đã thấy lão hòa thượng Hư Vân cũng ngồi ở đó.
Tôi,
Hư Vân,
Đã kết nhân duyên tại thiên thượng giới.
Đây cũng chính là nguyên nhân ngài đã cứu tôi khi tôi mắc chứng viêm mô tế bào.


### 26. Hư Vân và con hổ


Khi lão hòa thượng Hư Vân ở chùa Nam Hoa.
Đúng lúc đang giảng Bồ Tát giới thì phát sinh một sự việc kỳ dị, là một con hổ lớn xuất hiện.
Thì ra phía sau núi của chùa Nam Hoa gặp rất nhiều nạn hổ.
Tứ chúng đệ tử nhìn thấy hổ thì ai nấy đều sợ hãi la hét và lập tức bỏ chạy.
Hư Vân ở trên pháp tọa nói:
”Con hổ này đến để nghe kinh và quy y, để cho nó lại đây.”
Tứ chúng nghe xong, bán tín bán nghi.
Có một vị là lão pháp sư Quán Bản lấy thân mình chặn trước mặt hổ, giận dữ quát hổ:
”Chớ hại sư phụ ta!”
Con hổ gầm lên một tiếng.
Ngoe nguẩy cái đuôi.
Tứ chúng kinh sợ bỏ chạy, lão pháp sư Quán Bản sợ té cứt té đái.
Lão Hư bình tĩnh như thường, xuống khỏi pháp tọa, đi đến trước mặt con hổ, nhìn con hổ với ánh mắt từ bi.
Con hổ trở nên ôn hòa thuần hậu.
Lão Hư hỏi:
”Chúa sơn lâm, ngươi đến để quy y phải không?”
Không ngờ con hổ lại gật gật đầu rồi đột ngột quỳ phục trước mặt lão Hư.
”Hiếm thấy hổ có thể giác ngộ, nhất định là biết nhân quả kiếp trước, nay đến quy y, ta sẽ nói cho ngươi về tam quy ngũ giới. Sau này ở ẩn trong núi sâu, đừng hại mạng người, chăm chỉ tu trì, tương lai có thể chứng quả.”
Thế là,
Lão Hư đã quy y cho con hổ.
Cũng truyền giới cho con hổ.
Con hổ hơi ngửa đầu, lão Hư đưa tay ra xoa lên đầu hổ, nói bài kệ:
*Hổ biết quy y Phật
Tính ngay chẳng khác biệt
Lòng người và súc vật
Cùng ẩn giấu ánh sáng.*
Ngươi hãy trở về núi sâu, giữ núi bảo vệ Phật pháp!
Lúc này tứ chúng đồng thanh niệm Phật, con hổ đứng dậy bỏ đi, dần dần mất hút vào trong đêm tối.
Tứ chúng khâm phục:
”Lão Hư pháp lực vô biên!”
Lão hòa thượng Hư Vân nói:
”Đây không phải là pháp lực của tôi, mà là Phật lực bất khả tư nghì.”
Câu chuyện này là một thần tích của lão hòa thượng Hư Vân, lão Hư có rất nhiều thần tích. (Lão Hư quy y thọ giới cho gà trống cũng rất thần kỳ.)

🌟


Tôi (Lư Sư Tôn) cho rằng:
Lão hòa thượng Hư Vân dùng:
Sức mạnh từ bi.
Sức mạnh thiền định.
Sức mạnh trí huệ.
Đã hàng phục con hổ, vì sao có thể làm như vậy? Chỉ vì trong cõi vô hình tự có Thủ Hộ Kim Cang ở đó, hình thành một lớp khí che phủ vô hình, kết thành lưới ánh sáng bảo vệ.
Lão Hư chính là như vậy.
Có Kim Cang bảo vệ, tự nhiên không sợ.
Đặc biệt là lão Hư xem tất cả chúng sinh đều là Phật, đối với con hổ hung ác cũng đối đãi bình đẳng.
Con hổ thấy lão Hư không có ý sợ nó, nó cũng không có ý hại người. 
Cho nên:
*Lòng người và súc vật
Cùng ẩn giấu ánh sáng.*
Lành thay! Lành thay!
Tứ sinh lục đạo cùng một Phật tính.


### 27. Lão Hư khóc lóc thảm thiết


Có một hôm lão hòa thượng Hư Vân đang ở trong đại điện chùa Nam Hoa làm khóa tu sớm.
Trong sát-na, nước mắt lấp lánh, nghẹn ngào khóc lóc thảm thiết, đau đớn không thể tự kiềm chế.
Các đệ tử nhìn thấy lão hòa thượng Hư Vân nước mắt đầm đìa, ai nấy đều không hiểu gì cả.
Mới đây khóa tu sớm vẫn còn tốt đẹp.
Bây giờ khóa tu sớm đã gián đoạn rồi, các đệ tử ngơ ngác nhìn nhau, lão hòa thượng hôm nay làm sao vậy nhỉ?
Đệ tử ngồi đầu hỏi:
”Sư phụ làm sao vậy?”
Lão hòa thượng Hư Vân nức nở, đau đớn bi thảm trả lời:
”Tôi nhìn thấy Nam Kinh…”
”Nam Kinh làm sao?”
Lão hòa thượng Hư Vân đáp:
”Người Nam Kinh bị tàn sát, hàng triệu sinh linh con người đều chết rồi, đều thành xác chết rồi, tử thi chất cao như núi, máu chảy thành sông, đây là bi kịch của nhân gian.”
”Sao sư phụ biết?”
Lão hòa thượng Hư Vân đáp:
”Tôi ở trong định nhìn thấy.”
Sự việc này khiến các đệ tử lộ vẻ kinh ngạc, thật sự bất khả tư nghì không thể tưởng tượng được.
Về sau.
Tin tức về cuộc đại tàn sát ở Nam Kinh, vốn dĩ bị quân Nhật phong tỏa, mãi cho đến mấy tháng sau mới được dân tị nạn chạy thoát chứng thực, và ảnh do phóng viên nước ngoài chụp lộ ra ngoài chứng minh. 
Những việc này.
Đã ấn chứng thiền định của lão hòa thượng Hư Vân thấy trước, những đồ đệ của Hư Vân mới hiểu vì sao ngày hôm đó lão Hư òa khóc, quả nhiên là nhìn thấy thật.

🌟

Công lực thiền định của Hư Vân, tôi từng viết trong sách:
Có một lần.
Lão hòa thượng Hư Vân đang thiền định vào buổi tối.
Ông lại nhìn thấy bên ngoài căn phòng phương trượng của mình, có nghĩa là ông có thể nhìn xuyên tường thấu vách, nhìn thấy cả vườn hoa bên ngoài căn phòng.
Tường vách biến mất.
Một vị tiểu hòa thượng từ thiền phòng đi ra, đêm tối gió mát, tiểu hòa thượng hấp tấp đi đến vườn hoa.
Nhìn ngó bốn phía không có người.
Liền tụt quần.
Xè xè! Xè xè! Làm một bãi tè to đùng vào vườn hoa.
Tiểu hòa thượng lại nhìn xung quanh, chắc chắn không có người.
Tiểu hòa thượng liền nhanh như chớp trở về phòng đi ngủ.
Những tình tiết này không ngờ đã bị lão hòa thượng Hư Vân trong thiền định nhìn thấy rõ tất cả, hơn nữa còn hết sức rõ ràng.
Lão Hư không trách mắng tiểu hòa thượng.
Chỉ nói với anh ta:
”Sau này đi vào nhà vệ sinh thì hay hơn.”
Đây là khởi đầu của việc trong định nhìn thấy của lão hòa thượng Hư Vân.
Thiền định có thể hiển hiện thông lực, đây cũng là một dạng năng lực thần thông.

🌟

Lão hòa thượng Hư Vân ở trong định còn nhìn thấy chữ Vạn 卐 của Phật giáo quay theo chiều kim đồng hồ biến thành chữ Vạn 卍 quay ngược chiều kim đồng hồ. 
Không chỉ như vậy mà còn treo nghiêng nghiêng nữa.
Sau này mới biết đây là phù hiệu Nazi Đức quốc xã của Adolf Hitler. 
Hư Vân đều có thể nhìn thấy trước những việc này.
Lão hòa thượng Hư Vân thiền định nhìn thấy trước rất nhiều, không thể kể hết.
Quan trọng nhất là, thiền có thể hiển phát Phật tính.


### 28. Hư Vân ở thiên cung Đâu Suất


Năm đó, lão hòa thượng Hư Vân ở tại chùa Đại Giác trên núi Vân Môn.
Lão Hư bị đánh tàn nhẫn đến mức hôn mê.
Lão Hư nhờ thiền định mà đến được Đâu Suất Thiên, nội viện của Di Lặc Bồ Tát.
Nghe Di Lặc Bồ Tát giảng “duy tâm thức định”.
Lão hòa thượng Hư Vân tự thuật trải nghiệm này:
Giống như một giấc mơ.
Bỗng dưng cảm thấy mình đã đến nội viện của Đâu Suất Thiên, nhìn thấy cung điện Phật trang nghiêm thù thắng, tỏa muôn ánh vàng.
Di Lặc Bồ Tát ngồi trên pháp tọa thuyết pháp.
Bên dưới rất nhiều người nghe pháp.
(Trong số đó có một vị chính là Lư Sư Tôn.)
Lão Hư nhìn thấy:
Tôn giả Tử Bách.
Hòa thượng Chí Thiện.
Trưởng lão Dung Kính.
Hòa thượng Thánh Tâm.
……………..

Lão hòa thượng Hư Vân nghe Di Lặc Bồ Tát giảng kinh, vô cùng hoan hỷ, nhưng, sau đó Di Lặc chỉ vào Hư Vân đang ngồi ở dưới nói:
”Ông có thể đi về rồi!”
Hư Vân đáp:
”Tôi không về, Ta Bà khổ lắm.”
Di Lặc cười nói:
”Khổ thì cũng đã khổ rồi, không sao hết, trở về đi! Nghiệp duyên hết thì lại tới cũng được.”
Hư Vân nói:
”Vì sao Bồ Tát lại nói tôi?”
Di Lặc nói:
”Tặng ông một bài kệ:
*Thức trí hà phân? Ba thủy nhất cá. 
Mạc muội bình bồn, kim vô hậu bạc.
Tính lượng tam tam, ma thằng oa giác.
Nghi thành cung ảnh, bệnh duy trừ hoặc.
Phàm thân mộng trạch, huyễn vô sở trước.
Tri huyễn tức ly, ly huyễn tức giác.
Đại giác viên minh, kính giám sâm la.
Không hoa phàm thánh, thiện ác an lạc.
Bi nguyện độ sinh, mộng cảnh tư tác.
Kiếp nghiệp đương đầu, cảnh dịch phổ giác.
Khổ hải từ hàng, vô sinh thối khước.
Hoa khai nê thủy, đoan tọa Phật Đà.
……………………………………………*

[Tạm giải thích bài kệ như sau: (dựa theo Học Báo Phật Học Trung Hoa (Kỳ 16).
Câu 1: Mối quan hệ giữa vọng thức và trí huệ giống như sóng và nước, thể tính của hai cái này không khác.
Câu 2: Vọng thức và trí huệ cũng như bình vàng chậu vàng, mặc dù ngoại hình khác nhau, nhưng tính chất vàng không có sự khác biệt dày mỏng.
Câu 3: Khả năng ở đây dựa vào bài tụng quy tắc tám thức, giải thích thức thứ sáu thuộc ba tính (thiện, bất thiện, vô ký), ba lượng (hiện lượng, bỉ lượng, phi lượng), ba cảnh (tính cảnh, độc ảnh cảnh, đới chất cảnh). Vì thế, tam tính ở đây bao gồm ba loại tự tính là sở chấp tính, y tha khởi tính, viên thành thực tính. Ma thằng (dây gai) có lẽ là chỉ câu nói “trong bóng tối dây thừng như rắn, từ đó ẩn dụ thành lập thông đạt ba loại tự tính” trong “Nhiếp Đại Thừa Luận Thích”. Oa giác (sừng ốc sên) có lẽ xuất phát từ điển cố “Có một nước ở sừng trái của con ốc sên là Xúc Thị, và một nước ở sừng phải của con ốc sên là Man Thị, khi ấy đang đánh nhau tranh giành lãnh thổ” trong Trang Tử.
Câu 4: “nghi thành cung ảnh” có liên quan đến câu chuyện “bóng rắn trong cốc”, tức thần hồn nát thần tính, lo sợ hão huyền. Mắc bệnh này chỉ có cách loại bỏ nghi hoặc.
Câu 5: Thân thể phàm trần là ngôi nhà trong mơ, nó là huyễn ảo không có gì để bám chấp.
Câu 6: Biết là huyễn lập tức lìa bỏ huyễn, lìa bỏ huyễn tức là giác ngộ.
Câu 7: Giác ngộ trọn vẹn sáng tỏ, như gương sáng soi rõ tất cả. Câu này có lẽ ý nghĩa có liên quan tới kinh Viên Giác: “Tất cả huyễn hóa của chúng sinh đều sinh diệu tâm viên giác của Như Lai, tựa như không hoa từ không mà có. Tuy hoa huyễn diệt nhưng tính Không bất hoại. Huyễn tâm của chúng sinh vẫn phải dựa vào huyễn diệt. Diệt hết mọi huyễn thì giác tâm bất động.”
Câu 8, 9, 10: Mặc dù ở trong kiếp nghiệp khổ nạn vẫn gắng sức thực hiện bi nguyện độ sinh không thối chuyển. 
Câu 11: Hoa nở trong bùn, ngồi nghiêm là Phật.]

🌟

Có đệ tử hỏi tôi:
”Thời đại của Lư Sư Tôn và thời đại của Hư Vân khác nhau, sao lại có liên quan tới nhau được?”
Tôi đáp:
”Không liên quan.” [Không trong từ không trung, sự liên quan trống rỗng, liên quan về mặt tính Không.]
Đệ tử hỏi:
”Không thì liên quan thế nào?”
Tôi đáp:
”Tịnh thổ Di Lặc cũng là không.”
Đệ tử hỏi:
”Vì sao tịnh thổ cũng là không?”
Tôi đáp:
”Tịnh thổ đến từ tâm của Bồ Tát, mà tâm của Bồ Tát là không.”
Đệ tử hỏi:
”Lư Sư Tôn là không, các đệ tử cũng không, làm sao lại có bệnh?”
Tôi đáp:
”Bệnh cũng không.”

Tôi viết về lão hòa thượng Hư Vân, đã viết nhiều như vậy, cũng xem như là một cái duyên không tách rời.
Thảo nào mà tôi đã viết mười cuốn sách về thiền.
Tôi cũng muốn viết về Giải Thâm Mật Kinh, Thành Duy Thức Luận. (của Di Lặc Bồ Tát)


### 29. Hư Vân và Thiền Tu


Đây là một đoạn nhân duyên giữa lão hòa thượng Hư Vân và lão hòa thượng Thiền Tu. 
Những năm ấy.
Hư Vân ở núi Kê Túc ở Vân Nam đã xây dựng lại đạo tràng Phật giáo ở núi Kê Túc. Ngài đi khắp nơi để quyên góp tịnh tài, ngài không chỉ đi quyên ở Đại Lý và Côn Minh mà cũng đến cả Vĩnh Xương, đi đến rừng Hòa Mộc. Đường núi trong rừng Hòa Mộc gập gềnh không được tu sửa, thưa thớt bóng người.
Có người nói với Hư Vân:
”Có một vị hòa thượng đang sửa đường ở đây, ông ấy không đi hóa duyên, một mình sửa đường, tùy người qua lại bố thí cho cơm nước mà thôi, đã sửa mấy chục năm rồi. Có người muốn xây chùa cho ông ấy ở, ông ấy cũng không chịu, chỉ khổ hạnh sửa đường.”
Hư Vân rất cảm động, quyết định tìm gặp lão hòa thượng khổ hạnh cao quý này.
Hư Vân nhìn thấy một lão hòa thượng râu tóc bạc phơ tay cuốc tay xẻng.
Hư Vân tiến lên trước hỏi thăm, lão hòa thượng không nói gì.
Hư Vân theo lão hòa thượng trở về lều trúc.
Lão hòa thượng ngồi trên bồ đoàn, Hư Vân bước lên trước làm lễ, ông ấy cũng không nói gì.

Ngày hôm sau.
Lão hòa thượng thổi cơm sáng, Hư Vân vội giúp đỡ, lão hòa thượng cũng không nói gì.
Lão hòa thượng nấu cơm và tự ăn, Hư Vân cũng lấy bát tự ăn, hai người cũng không nói chuyện.
Ăn cơm xong, lão hòa thượng lại đi sửa đường, Hư Vân cũng đi theo giúp, lão hòa thượng vẫn không nói gì y như thế.
Hơn mười ngày rồi, ngày nào cũng không nói không rằng.

Thế rồi một buổi tối, trăng sáng như tranh, Hư Vân đang ngồi xếp bằng trên tảng đá to bên ngoài lều trúc, đến lúc đêm khuya, hòa thượng kia đột nhiên mở miệng ra hỏi:
”Ông đang làm gì thế?”
Hư Vân đáp:
”Ngắm trăng.”
Lão hòa thượng hỏi:
”Trăng ở chỗ nào?”
Hư Vân biết là thiền cơ, đáp:
”Ánh sáng đẹp đẽ, không đâu không có.”
Lão hòa thượng hỏi:
”Vàng thau trộn lẫn, sao có thể nhận nhầm?”
Hư Vân đáp:
”Chỉ có một thôi, làm gì có nhận nhầm.”
Lão hòa thượng hỏi:
”Có chướng ngại ngăn trở không?”
Hư Vân đáp:
”Không có xưa nay, lấy đâu ra chướng ngại ngăn trở.”
Lão hòa thượng nghe xong lời đáp của Hư Vân, kinh ngạc vui mừng khôn xiết, cười lớn nói:
”Tốt! Tốt! 60 năm nay tôi mới gặp được một chân nhân, hay cho câu chỉ có một, không có xưa nay, không đâu không có. Đây là ngộ được cực điểm, dụng ý sâu xa của thiền, nếu không có công lực thì không thể nào nói được thiền ngữ này.”

Hai người đã luận bàn mối giao tình.
Một người là lão hòa thượng Hư Vân, cầu tuyết giải trừ tai họa, nổi danh khắp thiên hạ, ba bước một lạy, đến núi Ngũ Đài, đại sư khổ hạnh.
Một vị là lão hòa thượng Thiền Tu ở chùa Kim Sơn, phát tâm khổ hạnh sửa đường 60 năm. 
Hai người cảm giác như đã quen biết nhau từ rất lâu rồi.
Hai người đều là người Tương Đàm tỉnh Hồ Nam.
(Rất nhiều người đã lướt qua đoạn ghi chép này, cho rằng không có gì cả, thật ra lại rất quan trọng.)

Lư Sư Tôn tôi chỉ cho mọi người thấy:
Không đâu không có — Phật tính không đâu là không có.
Chỉ có một — cũng là chỉ Phật tính, tứ thánh lục phàm thập pháp giới chính là cái một này.
Không xưa nay — Phật tính không có xưa và nay, không Nam Bắc, không Đông Tây, cũng không có chướng ngại ngăn trở.
Lành thay! Lành thay!


### 30. Dung Kính dạy bảo Hư Vân


Trong cuốn “Mây Của Hư Không” mà Phùng Phùng viết có một đoạn: “Hư Vân đến núi Thiên Thai.”
Trưởng lão Dung Kính dạy bảo Hư Vân, khi ấy, Hư Vân vẫn còn trẻ, đã tu khổ hạnh mười năm.
Dung Kính nói:
”Khổ hạnh mười năm, đều không phải Đại thừa. Quan sát những gì anh đã làm thì gần với ngoại đạo. Sống trong hang ăn ngũ cốc, cho dù có tu được thọ mạng vạn năm thì nhiều nhất cũng là mười loại tiên nhân nói đến trong Kinh Lăng Nghiêm thôi, vẫn cách đạo rất xa.”
Ở chỗ của trưởng lão Dung Kính, Hư Vân đã học Kinh Pháp  Hoa và Pháp Hoa Tông Thông.
Dung Kính nói:
”Tôi mong anh không câu nệ vào một tông, phải kết hợp các tông, trở về một thừa. Phật pháp vốn không phân biệt tông phái, nhưng vì lâu ngày mà rời xa cái gốc, mỗi người lập môn phái riêng, mỗi người chấp vào một đoạn, đây là hiện tượng diệt pháp.”
Dung Kính nói:
”Kinh A Hàm và Kinh Đại Bát Nhã là hai tư tưởng lớn về Hữu và Không. Long Thụ Bồ Tát đề xướng “thực tướng Đại thừa” và “Không quán”, Vô Trước Thế Thân Bồ Tát lại đề xướng “duyên khởi Đại thừa” và “Hữu quán”. Thật ra, Không - Hữu là một thể hai mặt, không hề tương phản.”
Dung Kính chủ trương:
Bát Nhã quét trừ mê vọng.
Pháp Hoa chỉ ra cứu cánh.
Lại nói:
”Năm ý sâu xa của Kinh Pháp Hoa là: pháp ý là danh, thực tướng là thể, nhất thừa nhân quả là tông, đoạn nghi sinh tín là dụng, vô nhị là giáo.”
Lại nói:
”Chỉ-quán của Thiên Thai tông, tam chỉ tam quán là công phu. Lấy quán chiếu làm pháp, minh Phật tâm, khởi Phật hành, nhập Phật huệ.”
Dung Kính chủ trương:
Không — gốc.
Hữu — dấu tích.
Không thể trọng Không khinh Hữu.
Không thể trọng Hữu khinh Không.

🌟

Hư Vân ở chùa Nhạc Lâm (Chiết Giang).
Lại học niệm Phật từ lão pháp sư Bảo Quang.
Bảo Quang nói:
Thượng căn khí — dùng quán tưởng niệm Phật.
Trung căn khí — dùng quán tượng niệm Phật.
Hạ căn khí — dùng trì danh niệm Phật.
Hạ hạ căn khí — lâm chung mười niệm. (phải có thiện căn)

🌟

Hư Vân đi khắp nơi để học hỏi:
1. Chùa Dũng Tuyền ở núi Cổ — học thiền. (chưa đạt đến sơ thiền)
2. Chùa Quốc Thanh ở Thiên Thai — học Thiên Thai tông.
3. Chùa Nhạc Lâm — học Tịnh Độ.
4. Chùa Huệ Tế ở núi Phổ Đà — nghiên cứu học tập Long Tạng.
Hoa Nghiêm môn.
Phương Quảng môn.
Bát Nhã môn.
Pháp Hoa môn.
Niết Bàn môn.

🌟

Tôi nói, việc đi khắp nơi học hỏi của lão hòa thượng Hư Vân có thể nói là đã trải qua Thiền, Thiên Thai, Tịnh Độ, Hiền Thủ, Lăng Già, Pháp Tướng, Pháp Nhãn, Chân Ngôn, Lạt Ma, Pháp Tính,….
Bây giờ tôi hỏi mọi người:
”Hư Vân chuyên chú vào học gì?”
”Hư Vân đắc thành tựu như thế nào?”
”Hư Vân ở chùa Thiên Đồng học cái gì?”
Xin cho ý kiến.


### 31. Hư Vân ở chùa Dục Vương và Thiên Đồng


Hư Vân xuất gia tại chùa Dũng Tuyền trên núi Cổ, chùa Dũng Tuyền vốn là Tào Động Tông. Sau đó ông đến chùa Dục Vương, lão hòa thượng Bản Lai của chùa Dục Vương là Lâm Tế Tông, đều là Thiền Tông.
(Lâm Tế, Tào Động, Vân Môn, Pháp Nhãn, Vi Ngưỡng là một hoa nở năm cánh của Lục Tổ.)
Lão hòa thượng Bản Lai dạy Hư Vân:
Từ bi là Quan Âm.
Hỷ xả là Thế Chí.
Năng tịnh là Thích Ca.
Bình trực là Di Đà.
Lão hòa thượng Bản Lai dạy Hư Vân đệ nhất nghĩa của Kinh Kim Cang, tức là thực tướng bát nhã.
Còn dạy định huệ, huệ là thể, định là dụng.
Lão hòa thượng Bản Lai nói: “Lập vô niệm làm tông, vô tướng làm thể, vô trụ làm gốc.”
(Lư Sư Tôn tôi lấy vô niệm làm chính giác Phật bảo. Chân Phật Tông là Vô Niệm Tông.)
Lão hòa thượng Bản Lai dạy Hư Vân ngồi thiền:
Không nhìn tâm.
Không nhìn tịnh.
Nói: Tâm niệm không khởi gọi là tọa. Nội kiến tự tính bất động gọi là thiền.
Sau đó:
Hư Vân đã quy y lão hòa thượng Bản Lai.
(Lúc này Hư Vân mới chính thức học tập Thiền Tông.)

🌟

Hư Vân được lão hòa thượng Bản Lai giới thiệu đi gặp lão hòa thượng Pháp Trạm ở chùa Thiên Đồng để học tập Lăng Nghiêm Tông Thông.
Lão hòa thượng Pháp Trạm nói:
Chú — Lăng Nghiêm đại chú.
Quán — Phạn tự.
Ấn — Ba thủ ấn. (Đỉnh (Bạch Tản Cái) và Ngũ Phật ấn, Kim Cang ấn.)
Đây chính là Mật giáo.
Hư Vân ở chùa Dục Vương và chùa Thiên Đồng tổng cộng đã học nhiều năm.
Hư Vân ở chỗ lão hòa thượng Pháp Trạm cũng học được cách phá trừ năm mươi âm ma.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) phá trừ năm mươi âm ma như thế nào, tôi dùng bài thơ nổi tiếng của đại sư Hàm Sơn:
*Thế giới sáng như thủy nguyệt, thân tâm sáng tựa lưu ly.
Vạn cảnh vốn dĩ tịch diệt, do tâm mới có khởi diệt.
Một niệm nếu chẳng Vô - Hữu, động tĩnh đâu thể nổi lên.
Gió từ nơi nào thổi đến, bóng ảnh động vào trong hang.
Lặng nghe âm thanh vốn không, làm sao mà có khởi diệt.
Nước chảy không phải thanh âm, trăng sáng cũng không có sắc.
Thanh sắc chẳng hề tương quan, cảnh này có ai hiểu được.*
Tôi nói:
Vô niệm. 
Vô niệm.
Vô niệm.
(Có niệm đều không quan tâm.)
Không quan tâm, không quan tâm, không quan tâm, thì sẽ phá được ma.
(không hề tương quan)

🌟

Hôm nay tôi nói với mọi người:
Sắc như đám bọt.
Thọ như bong bóng.
Tưởng như ngựa hoang.
Hành như quả chuối.
Thức là pháp huyễn.
Nếu tất cả đều hiểu rõ, tự có thể phá trừ tất cả ma chướng, trong tâm sẽ hết sức khiết tịnh quang minh.
Tôi thì:
Vô ngã. Chính là bình đẳng hành trì, tùy duyên hành trì, vô cầu hành trì, như pháp hành trì.


### 32. Hư Vân học Luật Tông


Hư Vân đến chùa Kim Sơn.
Chùa Kim Sơn này rất nổi tiếng, rất nhiều truyền thuyết.
Thứ nhất:
Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương ở chùa Kim Sơn, nhìn những cánh buồm trên sông Trường Giang nhiều như rừng, nói:
”Trên sông nhiều thuyền quá!”
Trưởng lão chùa Kim Sơn nói:
”Chỉ có hai con thuyền thôi!”
Chu Nguyên Chương rất ngạc nhiên.
Trưởng lão nói:
”Một thuyền là danh, một thuyền là lợi.”
Chu Nguyên Chương im lặng.

Thứ hai:
Trong Truyện Bạch Xà.
Bạch Tố Trinh và Hứa Hán Văn yêu nhau.
Hòa thượng Pháp Hải ngăn cản.
Bạch Xà và Thanh Xà trong cơn tức giận đã dâng nước nhấn chìm chùa Kim Sơn, khiến rất nhiều sinh linh chết đuối.
Bạch Xà Bạch Tố Trinh bị đè dưới tháp Lôi Phong.
Bởi vậy nói:
Sát sinh là một trong đại giới, Bạch Xà sát sinh, tội ấy rất lớn!
Cảnh giác! Cảnh giác!

Thứ ba:
Tô Đông Pha và hòa thượng Phật Ấn.
Đông Pha làm thơ: “Kê thủ thiên trung thiên, hào quang chiếu đại thiên, bát phong xuy bất động, đoan tọa tử kim liên.” [Đảnh lễ bậc Giác Ngộ, hào quang chiếu vũ trụ, tám gió thổi chẳng động, ngồi vững tòa sen vàng.]
Hòa thượng Phật Ấn ở chùa Kim Sơn chỉ viết “Đánh rắm! Đánh rắm!” đưa cho Tô Đông Pha. [Đánh rắm cũng có nghĩa là nói láo, nói xạo.]
Tô Đông Pha tức giận tới nỗi qua sông tìm thiền sư Phật Ấn để lý luận.
Phật Ấn chỉ cười:
”Cái gì mà tám ngọn gió thổi chẳng động, kết quả, đánh một cái rắm mà đã qua sông rồi!”
Bởi thế:
Công phu chưa tới, chớ có khoác lác!

🌟

Hư Vân ở chùa Kim Sơn thật ra không hề học Luật, chỉ học đến thích ứng với phương tiện thiện xảo, toàn là tiếp người ta tiệc tùng.
Nơi mà Hư Vân thật sự học Luật là chùa Cao Mân ở Dương Châu.
Khi ấy, trưởng lão Lãng Huy ở chùa Cao Mân nói:
”Chùa này, người người tu không nói chuyện.”
”Nếu trái với thanh quy [quy tắc Phật giáo đối với tăng ni] thì sẽ bị phạt đánh roi.”
Hư Vân học tập:
Bốn bộ Luật là: Bát Thập Tụng Luật, Tứ Phần Luật, Tăng Kỳ, Ngũ Phần Thập Tụng. 
Sau đó học: Tát Bà Đa Luận, Ma Đắc Lặc Già Luận, Thiện Kiến Luận, Tỳ Ni Hải Luận, Minh Liễu Luận.
Đây là năm bộ Luận. 
Ở chùa Cao Mân, ngài đã học tập:
Điều chuyển năm dục - sắc thanh hương vị xúc.
Loại bỏ năm uẩn - tham sân thụy hối nghi.
Điều hòa năm việc:
Điều hòa tâm không sắp đặt không trôi nổi.
Điều hòa thân không chậm không nhanh.
Điều hòa hơi thở không thô không trơn.
Điều hòa mạch không thắt nút không phóng túng.
Điều hòa ăn uống không đói không no.
Hư Vân đã học được làm sao để nhất tâm, làm sao để tinh tấn, thế nào là tâm niệm, thế nào là xảo huệ…

🌟

Hư Vân từ núi Phổ Đà đi ba bước một lạy, lạy đến núi Ngũ Đài, là quyết định được đưa ra vào lúc đó.
Mục đích chính là để báo ơn mẹ sinh đẻ khó nhọc.
Ngoài ra là báo ơn cha và mẹ kế đã nuôi dưỡng.
Ông chỉ biết dùng cách này để chuộc tội bất hiếu, bởi vì Hư Vân đã trốn nhà đi xuất gia tu hành.
Sức mạnh ý chí của Hư Vân không ai có thể sánh bằng.


### 33. Hư Vân và Văn Cát


Hư Vân từ núi Phổ Đà đi ba bước lạy một lạy, đến một nơi là bến đò Thiết Tá, ở vùng ngoại ô đã gặp trận tuyết lớn.
Ở trong lều cỏ.
Chút xíu nữa đã chết vì đói rét, may gặp được người ăn mày tên Văn Cát cứu sống.
Ở chương trước tôi đã kể.
Ở đây ghi ra cuộc đối thoại giữa Hư Vân và Văn Cát, tôi (Lư Sư Tôn) cảm thấy lời có huyền cơ, vì thế viết ra như sau:
Văn Cát hỏi:
”Ông từ đâu đến? Đi đến đâu?”
Hư Vân đáp:
”Từ núi Phổ Đà đến, ba bước một lạy, đi đến núi Ngũ Đài.”
Văn Cát hỏi:
”Núi là cái gì mà ông lạy?”
Hư Vân đáp:
”Tôi lạy Bồ Tát Văn Thù, không phải lạy núi.”
Văn Cát hỏi:
”Bồ Tát ở khắp mọi nơi, ông ngốc quá! Ông cầu cái gì?”
Hư Vân đáp:
”Chẳng cầu gì, chỉ mong Văn Thù ban cho trí huệ, báo ơn cha mẹ.”
Văn Cát hỏi:
”Từ đây đi đến Ngũ Đài là hơn hai nghìn dặm, phía trước là vùng tuyết hoang vu, không người không nhà, lại đói rét, ai cứu ông?”
Hư Vân đáp:
”Chỉ có một lòng thôi.”
Văn Cát nói:
”Thôi đi! Thôi đi! Không hỏi nữa! Ông là đồ hòa thượng con la, lòng hiếu thảo đơn thuần đáng kính! Còn hành động ngu dốt đáng thương hại!”

🌟

Tôi cảm thấy đoạn Văn Cát hỏi Hư Vân này có thiền cơ, nếu dùng đối thoại kiểu thiền cơ để trả lời thì càng rực rỡ, càng sáng chói. 
Tôi thử trả lời như sau.
Văn Cát hỏi:
”Ông từ đâu đến? Đi đến đâu?”
Đáp thay rằng:
”Tôi không đến cũng không đi.”
(Từ núi Phổ Đà lạy đến núi Ngũ Đài cũng là không đến không đi.)
Văn Cát hỏi:
”Núi là cái gì?”
Đáp thay rằng:
”Núi không phải núi.”
Văn Cát hỏi:
”Núi không phải núi, thế là cái gì?”
Đáp thay rằng:
”Núi không phải núi, là chỉ tịch tịch nhiên, linh linh nhiên.”
Văn Cát hỏi:
”Bồ Tát ở khắp mọi nơi, lạy cái gì?”
Đáp thay rằng:
”Thanh tịnh.” (tự tính thanh tịnh, tất cả tự tính thanh tịnh)
Văn Cát hỏi:
”Cầu cái gì?”
Đáp thay rằng:
”Chẳng cầu gì.”
(Chẳng cầu gì là được rồi, không cần phải dài dòng lôi thôi rằng báo ơn cha mẹ, mong trí huệ, toàn là nói thừa.)
Văn Cát hỏi:
”Từ đây đi đến Ngũ Đài là hơn hai nghìn dặm, phía trước là vùng tuyết hoang vu, không người không nhà, lại đói rét, ai cứu ông?”
Đáp thay rằng:
”Đạo.”
Văn Cát hỏi:
”Ông là đồ hòa thượng con la?”
Đáp thay rằng:
”Con la là hòa thượng, hòa thượng là con la.”
Tôi trả lời như vậy, không nhất định là đúng, các thánh đệ tử thử trả lời xem.


### 34. Hư Vân và Chúa Jesus


Tôi (Lư Sư Tôn) trong thời gian học cấp hai, cấp ba là tín đồ Cơ Đốc giáo. 
Đã được rửa tội.
Là thầy giáo lớp học ngày chủ nhật.
Là đội viên đội Thánh ca.
Là thầy giáo lớp tra kinh.
(Mục sư của tôi là mục sư Tô Thiên Minh.)
Mặc dù sau này tôi gặp được kỳ duyên, bước vào Đạo giáo, Phật giáo, cuối cùng cố định với Mật tông.
Nhưng,
Tôi vẫn coi Chúa Jesus là Guru của tôi, là một trong các đạo sư của tôi. Vì sao? Bởi vì tư tưởng của Jesus có rất nhiều điều đều là tư tưởng của Phật giáo.

Tôi đọc sách của Hư Vân, Hư Vân đến Trường An, ghé thăm Viện Dịch Kinh Huyền Trang, tại Bi Lâm [rừng bia đá] dưới chân tháp đã nhìn thấy bia Cảnh Giáo Đại Tần [bia đá Cơ Đốc giáo ở Trung Quốc, nội dung văn bia cho thấy có một cộng đồng Cơ Đốc giáo hiện diện tại Trung Hoa đương thời, thuộc phái Nestorian, còn được gọi là Giáo hội phương Đông].
Lúc này, Hư Vân mới biết vào thời nhà Đường đã có giáo sĩ Cơ Đốc đến Trung Quốc truyền giáo, khi ấy gọi là Cảnh Giáo.
Hư Vân cho rằng:
Jesus phản đối sùng bái tượng, giống như “cái có tướng đều là ngông” trong Kinh Kim Cang.
Lòng bác ái của Jesus giống như “vô duyên đại từ, đồng thể đại bi” của Phật Đà.
Jesus nói rằng người có đức tin sẽ được bất tử, giống như tư tưởng tịnh thổ trong Kinh A Di Đà của Phật giáo.
………………………….
Hư Vân cho rằng, tư tưởng của Jesus bắt nguồn từ tư tưởng của Phật Đà.
Hư Vân cho rằng:
Jesus có khả năng đã tiếp xúc với Phật pháp ở trên núi Himalaya.
Điều này là có khả năng.

🌟

Cá nhân tôi thường nói:
Jesus thường nói:
”Việc thiện tay phải làm, đừng để tay trái biết.”
Đây là tư tưởng “tam luân thể không” của Phật giáo.
Jesus nói:
”Có người lấy áo ngoài của bạn thì bạn cho họ luôn cả áo trong.”
Đây là tư tưởng “vô ngã” của Phật giáo. (bình đẳng xả)
Jesus nói:
”Có người tát bạn vào má phải, bạn đưa luôn má trái cho họ tát.”
Đây là tư tưởng “vô ngã”, cũng là tư tưởng “nhẫn nhục”, “bát phong xuy bất động”.
Jesus nói:
”Nếu người nào không có tội thì mới có thể cầm đá đi ném người khác.”
(Jesus cứu một cặp đôi thông dâm.)
Đây là điều mà Phật giáo thường nói:
”Mỗi cử chỉ suy nghĩ không có cái nào không là nghiệp tội.”
Thật ra, chúng sinh đều có nghiệp tội.
Khi cầu nguyện, Jesus đã nói:
”Lạy Cha, xin hãy tha thứ cho chúng sinh, bởi vì những gì họ làm, họ không biết.”
Đây là xả trong từ bi hỷ xả, cũng chính là tư tưởng chúng sinh bình đẳng.
Tư tưởng về nguồn gốc tội lỗi của Cơ Đốc về cơ bản chính là tư tưởng trả nghiệp của Phật Đà.
Jesus nói:
”Đạo này gần trong gang tấc, ở ngay trong miệng con, ở ngay trong tim con, đạo này chính là đạo của người mang đức tin mà chúng ta truyền.”
Phật nói:
”Tức tâm tức Phật, tâm tức là Phật.”
……………………………
Khi đối chiếu Kinh Thánh và Kinh Phật, thật sự có quá nhiều sự tương đồng.
Là thế! Là thế!


### 35. Một cuộc đời du lịch


Đại sư Không Hải của Nhật Bản nói:
”Đời người chính là du lịch.”
Câu nói cuối cùng khi Không Hải viên tịch là: “Tôi phải đi du lịch rồi!”
Đại sư Không Hải từng đến Trường An của Trung Quốc. 
Tại chùa Thanh Long ở Trường An, ông đã có được truyền thừa Mật giáo của lão hòa thượng Huệ Quả.
Ông trở về Nhật Bản, thành lập Chân Ngôn Tông. 

🌟

Theo tôi được biết về cuộc đời của lão hòa thượng Hư Vân, chuyến du lịch của ông đúng là rộng lớn vô cùng.
Từ núi Cổ ở Phúc Kiến đến núi Phổ Đà.
Từ núi Phổ Đà đến núi Ngũ Đài.
Từ núi Ngũ Đài đến núi Nga Mi.
Từ núi Nga Mi đến Tây Tạng.
Từ Lhasa, Shigatse Tây Tạng đến Bhutan.
Từ Bhutan đến Ấn Độ.
Từ Ấn Độ đến Sri Lanka.
Sau đó là toàn bộ Đông Nam Á, Đông Bắc Á.
………………..

Chuyến du lịch của lão hòa thượng Hư Vân có lẽ không ai có thể sánh bằng, ông chăm chỉ học đạo, trải qua trăm đắng nghìn cay, bất chấp sống chết, trong lòng chỉ có Phật Đà.
Chuyến du lịch của ông lớn.
Lòng tin của ông lớn.
Tu hành của ông lớn.
Nghị lực của ông lớn.
Dựa vào những điều này, cùng với công phu thiền định, sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền….
Vị tăng người Hán này quả thật không phải là con người, không phải là con người thì là gì? Là Phật tôn quý!
Ông và Phật Đà là như nhau.
Tôi (Lư Sư Tôn) kính ngưỡng ông và Phật Đà, ông chính là Phật Đà.
Phật Đà dùng mười ví von để giải thích tất cả:
Như huyễn. Như ảo ảnh.
Như ngọn lửa. Như giấc mộng.
Trăng trong nước. Như bóng ảnh.
Hư không. Như hoa trong gương.
Như tiếng vọng. Như biến hóa.
(Tôi cảm thấy mười ví von của Phật Đà và bài kệ của Hư Vân ăn khớp với nhau.)

Bài kệ của Hư Vân:

*Xin các bạn pháp
Suy ngẫm kĩ càng
Vòng nghiệp sinh tử
Như tằm tự trói
Tham niệm không dừng
Phiền não đau khổ
Muốn trừ họa này
Bố thí đứng đầu
Nghiên cứu Tam Học
Kiên trì bốn niệm
Có ngày mở mang
Nhận ra sương điện
Chứng ngộ chân Không
Vạn pháp một thể
Vô sinh hữu sinh
Là sóng là nước.*

Bài kệ này
Tôi thích
*Có ngày mở mang, nhận ra sương điện.*
Rồi còn:
*Vô sinh hữu sinh, là sóng là nước.*

Trong ca từ của “Dòng Nước Nguyệt Hà”, tôi viết rằng:
*Phật tính là biển
Cuộc đời là những con sóng
Bạn và tôi lưu lạc ở nhân gian
Cuối cùng
Lại trở về với biển.*

🌟

Tôi tán thưởng:
Chính niệm của Hư Vân.
Thiện pháp của Hư Vân.
Quán chiếu của Hư Vân.
Vô trụ của Hư Vân.
Lão hòa thượng Hư Vân ở trên mây của hư không, vươn cánh tay dài gia trì.


### 36. Hư Vân ở núi Kê Túc


Từ việc lão hòa thượng Hư Vân có kế hoạch xây đạo tràng ở núi Kê Túc khiến tôi nghĩ đến tôn giả Đại Ca Diếp.
Tín đồ Phật giáo đều biết:
Tôn giả Đại Ca Diếp sau cùng đã ở ẩn tại núi Kê Túc.
Khi Phật tại thế từng thọ ký Đại Ca Diếp:
”Maha Ca Diếp trong đời tương lai sẽ thành Phật, Phật hiệu là Quang Minh Như Lai.”
Vị tôn giả Đại Ca Diếp này là tổ sư đầu tiên của Thiền Tông.
Phật ở núi Linh Thứu, một hôm cầm hoa thị chúng, trăm vạn trời người không hiểu ý ngài. Duy có Đại Ca Diếp tươi tỉnh mỉm cười.
Phật Đà nói, ta có chính pháp nhãn tạng, niết bàn diệu tâm, giao cho tôn giả Đại Ca Diếp.
Về sau, tôn giả Đại Ca Diếp lại đem tâm pháp giao phó cho tôn giả A Nan, Thiền Tông đã được truyền thừa xuống như vậy.
(Tổ sư Đạt Ma là vị tổ thứ 28 của Tây Thiên, là vị tổ đầu tiên của phương Đông.)
Khi Phật Đà tại thế, ngài rất coi trọng Đại Ca Diếp.
Phật Đà ở trên pháp tọa thuyết pháp, Đại Ca Diếp bước vào, Phật Đà nói:
”Lành thay tì kheo đã đến, lập tức nhường nửa chỗ ngồi, lệnh cho Đại Ca Diếp ngồi bên cạnh Phật Đà.”
Đây là sự tôn trọng vô thượng.
Đại chúng tham dự hội nghị khác, ai cũng kinh ngạc.
Phật Đà mới nói, Đại Ca Diếp đại hành uyên bác.
Còn nữa,
Trong số mười đại đệ tử của Phật Đà, Đại Ca Diếp đương nhiên là đệ tử hàng đầu, được xưng là bậc đầu đà đệ nhất.
Còn nữa,
Sau khi Phật Đà viên tịch, Đại Ca Diếp triệu tập năm trăm sa môn kết tập kinh điển.
Đây là lần kết tập đầu tiên. 
Một thắng hội vô cùng trọng đại.

Còn nữa,
Phật Đà niết bàn, sắp hỏa thiêu, A Nan ba lần nổi lửa đều không cháy. Chỉ có đợi đến khi Đại Ca Diếp đến, Đại Ca Diếp nổi lửa thì lửa mới cháy, đây cũng là sự thù thắng của Đại Ca Diếp.
Núi Kê Túc hiện tại có mười ngôi chùa lớn:
Chùa Tiếp Đãi.
Chùa Thánh Phong.
Chùa Long Hoa.
Chùa Thạch Chung.
Chùa Tịch Quang.
Chùa Đại Giác.
Chùa Na Lan Đà.
Chùa Tất Đàn.
Chùa Ca Diếp.
Chùa Truyền Y.
Truyền thuyết nói rằng, tôn giả Đại Ca Diếp muốn đợi Di Lặc Bồ Tát hạ sinh, Long Hoa Tam Hội thì mới lại xuất hiện giúp đỡ Di Lặc độ chúng sinh.

Tại đây ghi ra cuộc đối thoại giữa tôi (Lư Sư Tôn) và tôn giả Đại Ca Diếp như sau:
Tôi hỏi:
”Tương lai xuất thế, có dấu hiệu gì?”
Đại Ca Diếp đáp:
”Nhất bộ vi sơ.” [Bắt đầu từ bước đi đầu tiên.]
Tôi hỏi:
”Làm sao để biết là ngài?”
Đại Ca Diếp đáp:
”Xem gia phong đầu đà.”
Tôi hỏi:
”Sẽ thuyết pháp gì?”
Đại Ca Diếp đáp:
”Chuyển thức thành trí.”
Còn nói:
”Vô pháp khả thuyết.”


### 37. Câu chuyện tiên lan nở hoa


Khi Hư Vân ở Vân Nam, lúc đến phủ Sở Hùng, trời đã tối, cổng thành đã đóng, ông không vào thành được.
Thật may bên ngoài cửa Tây có ngôi chùa Cao Đỉnh. Vì đêm đã khuya nên chùa Cao Đỉnh cũng đã đóng cổng chùa.
Hư Vân chẳng còn cách nào nữa, chỉ biết cầm vòng sắt gõ vào cổng chùa.
”Cộc! Cộc! Cộc!”
Hư Vân nghĩ:
”Rất nhiều chùa, quá nửa đã không cho mình ở lại, xem ra người trong chùa này cũng sẽ không để mình ở lại.”
Nhưng,
Nằm ngoài dự đoán của ông.
Cổng chùa mở rộng, có ba nhà sư bước ra, vừa nhìn thấy Hư Vân liền quỳ xuống lạy.
Hư Vân không hiểu gì cả, vội vàng hỏi:
”Chuyện này là sao?”
Sau đó ba nhà sư mới nói cho Hư Vân nguyên do:
Chùa Cao Đỉnh này có trồng tiên lan. 
Căn cứ theo ghi chép của phủ Sở Hùng:
”Núi có tiên lan, gặp chân nhân đến thì mới nở hoa.”
Tiên lan của chùa Cao Đỉnh đã 30 năm chưa nở hoa, không ngờ đêm nay lại nở rộ.
Tỏa ra hương thơm thanh nhã, mùi thơm ngát không gì sánh bằng lan tỏa khắp sơn tự, cả ngọn núi đều ngửi thấy mùi thơm lạ này.
Ba nhà sư dựa theo ghi chép của phủ Sở Hùng mà nhận định chắc chắn có cao nhân đến chùa. Vì thế, Hư Vân đã trở thành cao nhân, ba nhà sư vừa nhìn thấy Hư Vân liền quỳ lạy.
Con người Hư Vân rất khiêm tốn, nói: 
“Trùng hợp thôi mà!”
Ba nhà sư nói:
”Không thể nào là trùng hợp.”
Hư Vân nói:
”Thật sự là trùng hợp mà thôi.”
Ba nhà sư không chịu buông.
Hư Vân mới nói:
”Tôi chỉ là một hòa thượng đi khắp nơi, đã đi vạn dặm, tìm tòi học đạo khắp nơi, vẫn còn đang học đây.”
Ba nhà sư nghe xong một lúc thì nhận định Hư Vân khổ hạnh vạn dặm, càng khẳng định tiên lan vì Hư Vân mà nở hoa.
Ba nhà sư niềm nở tiếp đãi Hư Vân. Lại còn thỉnh thị đại pháp.
Hư Vân nói:
”Tôi không có đại pháp.”
Ba nhà sư nói:
”Xin khai thị một vài điều.”
Hư Vân mới nói:
”Không tiếc thân mạng, không ngừng bồi dưỡng thiện căn, không bao giờ lười biếng, luôn giữ chí nguyện lớn lao giúp người cứu đời, đem tất cả công đức thiện hành hồi hướng cho chúng sinh, tinh tấn tu trì Phật pháp, hoằng dương hộ trì Phật pháp, dốc hết mọi khả năng, cúng dường chư Phật niềm nở, không bao giờ động tâm đối với tất cả vinh nhục…”
(Đây vốn dĩ chính là khắc họa cuộc đời của Hư Vân.)
Ba nhà sư hỏi:
”Còn gì nữa không?”
Hư Vân đáp:
”Không còn gì!”
Ba nhà sư hỏi:
”Xin chỉ thị tâm yếu!”
Hư Vân mới nói:
”Ngay cả tâm yếu cũng phải buông bỏ!”

🌟

Câu nói ”Ngay cả tâm yếu cũng phải buông bỏ!” này chính là mấu chốt. Lúc này, trần trùng trục, không vương một sợi tơ, mới là diện mục vốn có. Không biết, thánh đệ tử có hiểu không?


### 38. Tranh luận về đốt ngón tay cúng Phật


Phật giáo truyền đến Trung Thổ, có mấy kiểu hiện tượng đáng để mọi người bàn bạc thảo luận.
Cạo đầu đốt giới sẹo.
Đốt ngón tay cúng Phật.
Xả thân cúng Phật.
Cạo đầu thọ giới cụ túc, cái này không có gì phải tranh luận, vốn dĩ chính là như vậy.
Đốt giới sẹo ở trên đầu, vào thời Phật Đà không có, ở Thái Lan cũng không có, Phật giáo Nam truyền không có, Phật giáo Tạng truyền cũng không có, Phật giáo Nhật Bản cũng không có. Nhưng, vì sao Phật giáo Trung Thổ lại có?
Nghe nói là Lương Vũ Đế tự mình đặt ra, có phải không? Chẳng thể biết được.
Đệ tử của tôi có Thượng sư Thường Nhân, Thượng sư Thường Trí là hòa thượng có đốt sẹo trên đầu.
Có đốt hay không đốt sẹo, nghe nói bây giờ tùy ý nguyện của mỗi người. 
Trên cánh tay trái của tôi cũng đốt ba cái sẹo, đó là khi tôi còn trẻ, tại chùa Bích Sơn Nham ở Nam Đầu, khi thọ giới Bồ Tát, tôi đã đốt ba cái sẹo này.
(Đốt hay không đốt sẹo cũng không có tranh luận lớn, cũng tùy duyên thôi.)

🌟

Còn việc đốt ngón tay cúng Phật thì có nhiều tranh cãi.
Hư Vân tại chùa A Dục Vương ở Ninh Ba đã đốt ngón tay cúng Phật, trong cuộc đời của Hư Vân, đây là một việc lớn.
Chùa A Dục Vương được các Phật tử khi ấy coi là thánh địa để đốt ngón tay.
Đốt ngón tay là:
Buộc vải lên đầu ngón tay.
Chấm vải vào dầu.
Sau đó châm lửa.
Đốt đến khi da thịt không còn nữa, chỉ còn lại xương.
Sau đó dùng kéo cắt cụt xương đi.
Đây là tôi nghe Thượng sư Thường Trí kể với tôi như vậy, tôi nghe xong thì cảm thấy rất đáng sợ.

Ý nghĩa của đốt ngón tay cúng Phật là:
Lời thề cung kính.
Hy sinh cống hiến. 
Một lòng một dạ.
Còn ý định gốc của Hư Vân là báo ơn cha mẹ, độ hóa cha mẹ vãng sinh Phật quốc tịnh thổ.
Cá nhân tôi cho rằng hành vi tự hại mình này là biểu thị lòng trung thành với Phật không thay đổi.
Cũng có khả năng là chịu ảnh hưởng của việc khi Phật Đà hành Bồ Tát đạo, ngài đã xả thân cho hổ, cắt thịt cho chim ăn. 
Cũng giống như Thường Đề Bồ Tát thương xót chúng sinh, đã xả bỏ tất cả mọi thứ trên người mình để giúp đỡ chúng sinh.
Pháp sư Chấn Quang, người vừa là thầy vừa là bạn của tôi, cũng trích máu viết kinh, dùng máu của chính mình để chép kinh điển.
(Ông ấy tặng tôi một cuốn chép kinh bằng máu, ngón út của ông ấy dùng vải xô buộc lại.)
Những việc này cố nhiên là có ý nghĩa.
Nhưng, tôi cảm thấy đốt ngón tay cúng Phật, hy sinh ngón tay khiến mình tàn tật, có đáng không?
Phật Đà có tiếp nhận không?
Kiểu tự hại mình này ngoài chứng tỏ tấm lòng ra, đối với chúng sinh có lợi ích hay không? Việc không có ý nghĩa đối với chúng sinh, chúng ta làm thì có đúng không?
Sau cùng chính Hư Vân cũng nói:
”Nay tôi cũng đã giác ngộ rồi, đốt ngón tay làm sao đủ để báo ơn cha mẹ, chỉ có tự hủy hoại vô ích. Là hành vi ngu ngốc.”
Ngoài ra:
Bỏ thân cúng Phật thì càng không đủ.
Nhảy vách đá, tự thiêu, đều là hành vi tự sát.
Phật tử chúng ta phải đại từ đại bi lợi ích chúng sinh mới là báo ơn Phật.
Đốt ngón tay, bỏ thân.
Đối với chúng sinh là vô ích, không đáng làm!


### 39. Nhẫn nhục ba la mật


Tôi thấy cuộc đời của Hư Vân và ba pháp hiệu của ông ấy có sự liên quan lớn, ba pháp hiệu của ông ấy là:
Cổ Nham.
Đức Thanh.
Hư Vân.
Tôi cho rằng:
Cổ Nham — chọn việc thiện và giữ vững việc đó.
(Chính là khổ hạnh mười năm.)
Đức Thanh — đạo hạnh thanh cao.
(Khổ hành vạn dặm, thập tử nhất sinh, nhẫn nhục ba la mật.)
Hư Vân — biết huyễn lìa huyễn.
(Hiểu rõ huyễn sinh, biết đệ nhất nghĩa, đắc căn bản trí.)
Hư Vân nói:
”Hiểu thì dễ, thực hành rất khó, hiểu rồi thì phải thực tiễn.”

🌟

Kinh Duy Ma Cật, phẩm Phật Quốc viết rằng:
”Nhẫn nhục là đạo tràng Bồ Tát.”
Kinh Pháp Hoa, phẩm Mở Đầu nói:
”Lại thấy Phật tử giữ sức mạnh nhẫn nhục, ngay cả người ngạo mạn bị chửi mắng đánh đập đều có thể nhẫn nhịn để cầu Phật đạo.”
Du Già Luận viết:
”Thế nào gọi là nhẫn? Tự mình không tức giận, không báo oán người khác.”
Duy Thức Luận viết:
”Nhẫn dựa vào trí huệ khảo sát tinh tấn không sân hận và tính chất tam nghiệp sinh ra từ nó.”
Đại Thừa Nghĩa Chương viết:
”Pháp làm an huệ tâm gọi là nhẫn.”
Trong Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Nhân Vương có mười bốn nhẫn. Nói sơ lược như sau:
Như huyễn nhẫn — hiểu thấu mọi pháp đều theo duyên mà sinh, có tính chất như huyễn hóa, vốn dĩ không tịch, từ đó mà nhẫn.
Như diễm nhẫn — hiểu thấu tất cả cảnh giới như lửa mặt trời (hơi nước), bản tính không tịch, từ đó mà nhẫn.
Như mộng nhẫn — hiểu thấu tất cả vọng tâm như mộng cảnh và không chân thực, từ đó mà nhẫn.
Như hưởng nhẫn — hiểu thấu ngôn ngữ thế gian như tiếng vọng trong hang, không hề chân thực, từ đó mà nhẫn.
Như ảnh nhẫn — hiểu thấu sắc thân nhờ vào ngũ uẩn mà tích tập, vốn không có bản thể, từ đó mà nhẫn.
Như không nhẫn — hiểu thấu mọi pháp như hư không, căn bản không có sắc tướng, từ đó mà nhẫn.

Cá nhân tôi thích Vô sinh nhẫn:
Ta vốn vô sinh.
Hữu sinh là huyễn.
Ta và chúng sinh đều là huyễn hóa.
Vô sinh tức vô ngã vô chúng sinh.
Như thế cho nên Vô sinh nhẫn.

Ngoài ra còn có:
Thuận nhẫn. Duyên nhẫn. Chính giác nhẫn.

🌟

Tôi viết lại một bài thơ của Hàn Vũ:

*Tôi luôn cảm thấy
Đời người chính là cầu vồng
Khi đến như mộng huyễn
Khi đi không tung tích*

*Giống như soi gương
Người đến hiện ảnh
Người đi trống rỗng
Tất cả đều là trăng trong nước
Vốn dĩ chính là hoa trong gương
Ngay trong tâm
Như mộng tựa huyễn tựa chân.*


### 40. Cầu tuyết được tuyết


Việc lớn trong cuộc đời Hư Vân tương đối nhiều, trong đó có một việc rất đáng được đặc biệt viết ra.
Đó chính là cầu tuyết được tuyết.
Năm đó.
Triều Thanh gặp nhiều tai họa, thiên tai đói kém, châu chấu xâm hại, khắp nơi đều là dân gặp nạn.
Rất nhiều dân thường đã chết đói.
Thảm nhất là phát sinh dịch bệnh, lần này thì người chết càng nhiều, còn có cả tranh nhau ăn xác chết. Mà như thế thì dịch bệnh càng nghiêm trọng hơn. Thời tiết nóng nực, mặt trời chói chang, xác chết đầy đường, mùi hôi thối ngút trời.
Có thần tử kiến nghị chỉ có tuyết rơi thì mới có thể dẹp được bệnh dịch.
Từ Hy Thái Hậu nói:
”Chỉ có mời hòa thượng Hư Vân cầu nguyện trời cho tuyết rơi để tiêu tai!”
Khi ấy là tháng tám nhuận, mùa hè nóng nực, sao có thể có tuyết rơi để dịch bệnh lắng xuống. Sau đó Hư Vân cũng chỉ có thể lên pháp tọa để cầu tuyết.
(Sự việc này được lan truyền vang dội khắp cả nước.)

Hư Vân chỉ quỳ trên pháp đài, nhắm mắt, dốc sức cầu nguyện mà thôi.
Mồ hôi chảy ròng ròng.
Hư Vân nhập vào thiền định.
Tâm phóng tỏa ánh sáng.
Trong tâm ngài chỉ có Quan Thế Âm Bồ Tát và Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát cứu khổ cứu nạn.
Ông quỳ suốt một ngày một đêm.
Sau đó, đến lúc trời gần sáng, bầu trời rơi xuống những chấm nhỏ xíu, không ngờ lại là bông tuyết.
Dần dần, cả bầu trời đều trắng xóa, một trận tuyết lớn ào ào trút xuống, trong chốc lát đã phủ kín cả mặt đất.
Hạn hán đã được giải trừ.
Châu chấu biến mất.
Dịch bệnh dừng lại.
Đây là kỳ tích Hư Vân cầu tuyết, tuyết rơi nhiều tổng cộng năm ngày, giải trừ nạn hạn hán, dịch bệnh, châu chấu.
Đây là cầu tuyết được tuyết.
Mà Hư Vân chỉ ở trên bục thiền định.
Có rất nhiều truyền thuyết.
1. Hòa thượng Hư Vân ở trên pháp đài làm pháp, tay chỉ lên trời, Thiên Long Bát Bộ nhận được mệnh lệnh, tuyết liền rơi xuống.
Tiên nữ giáng tuyết nô nức đến giúp đỡ, trên trời có rất nhiều tiên nữ giáng tuyết.
2. Hòa thượng Hư Vân là cao tăng đắc đạo, ông đã đến Bắc Cực gặp Huyền Thiên Thượng Đế, Huyền Thiên Thượng Đế mệnh lệnh:
Thần Tuyết.
Thần Gió.
Thần Hoa.
Đến trợ giúp, tuyết rơi, gió thổi, hoa tuyết bay trong gió.
3. Hòa thượng Hư Vân cưỡi mây đạp sương, hô mưa gọi gió, dời núi lật biển, đã di chuyển những núi băng ở Bắc Cực Nam Cực đến bầu trời ở Trung Thổ.
Sau đó từng bông tuyết đã rơi xuống mặt đất khô cạn.
4. Hòa thượng Hư Vân đã mời rất nhiều Bồ Tát đến cùng làm pháp, có một vị là Thời Quang Bồ Tát đã mời Thần Mùa Đông đến, nên tự nhiên tuyết rơi!

Thế là:
Hư Vân trở thành Thần Tăng.
Hư Vân trở thành Hoạt Phật.
Hư Vân trở thành Thần Tiên.
Sự việc này truyền đi khắp cả nước, người người không ngớt ngưỡng mộ.
Cá nhân tôi cho rằng đây không phải là trùng hợp, một tăng nhân có công phu thiền định thâm sâu tự nhiên sẽ có sức mạnh thiền định, sức mạnh này thay đổi được khí hậu.
Thánh tăng, bách linh tương trợ!


### 41. Xây chùa và hai lần cầu tuyết


Lão hòa thượng Hư Vân, vào lúc 83 tuổi, đã ở Côn Minh. 
Ông đã tu sửa chùa:
Chùa Vân Tê.
Chùa Thái Hoa.
Chùa Tùng Ẩn.
Xuống núi lại xây mới chùa Chiêu Đề.
Ngoài ra còn có chùa Thắng Nhân là hạ viện của chùa Vân Tê.
Có người hỏi:
”Ông đã cao tuổi rồi, tự mình tu dưỡng không phải là rất tốt sao? Nhiều chùa như vậy ông làm sao ở hết?”
Hư Vân nói:
”Chính vì già rồi, ngày sau không nhiều, tôi mới càng nỗ lực xây nhiều chùa Phật hơn.”
Còn nói:
”Không phải cho chính mình ở.” - Hư Vân nói: “Thúc đẩy hoằng dương Phật pháp, Phật hóa giáo dục, bảo tồn hạt giống Phật pháp.”
Hư Vân dự đoán:
”Tương lai có người phỉ báng Phật, chùa Phật khả năng sẽ bị phá hoại, xây nhiều một chút cũng có thể giữ được một hai.”
Người hỏi:
”Xây nhiều chùa, nếu bị phá hoại thì chẳng phải là công lao vô ích sao?”
Hư Vân đáp:
”Tôi xây chùa là việc của tôi. Họ phá chùa là việc của họ. Tôi chỉ có một lòng xây chùa, như thế mà thôi.”
(Đây chính là tinh thần của Hư Vân.)

🌟

Lão hòa thượng Hư Vân ở chùa Côn Minh lại gặp hạn hán, cũng có dịch bệnh bạch hầu. 
Đường Kế Nghiêu đã mời lão hòa thượng Hư Vân cầu tuyết.
Lần đầu tiên ông cầu tuyết là ở Trường An.
Lần thứ hai cầu tuyết là ở Côn Minh. Hơn nữa lại là vào ngày tháng năm.
Lần đầu tiên cầu tuyết là vào năm Quang Tự thứ 26, bây giờ cầu tuyết là hơn 20 năm sau.
Lão hòa thượng Hư Vân nói:
”Đây là cầu trời giáng mưa rào để giải trừ hạn hán. Cầu giáng tuyết để tiêu trừ vi khuẩn dịch bệnh bạch hầu. Đại chúng nên thành tâm cùng cầu nguyện.”
Hư Vân quỳ ở pháp đài.
Im lìm bất động.
Ban ngày phơi dưới nắng.
Ban đêm đốt đuốc tùng hương.
Lão hòa thượng Hư Vân tóc bạc râu trắng, cộng thêm lông mày trắng, người lại gầy đét. Ông quỳ ở đó không ăn không uống, không hề động đậy, cũng không cho phép ai làm phiền ông. 
Trước khi vào việc, Hư Vân nói với đệ tử: “Không cầu được mưa thì không uống nước, không cầu được tuyết thì không ăn cơm.”
Phơi nắng một ngày.
Phơi nắng hai ngày.
Đến ngày thứ ba, nửa đêm về sáng, bỗng nhiên cây rừng khắp núi lay động, cuồng phong chợt nổi lên, mây đen kéo đến và những hạt mưa bắt đầu rơi xuống.
”Trời mưa rồi!”
Rồi đến lúc cuối buổi nửa đêm về sáng, từ dãy núi thổi tới những luồng khí lạnh, trong mưa có tuyết.
”Tuyết rơi rồi!”
Nhiệt độ hạ xuống -4 đến -6 độ.
Có một người già nói: “Ngày tháng năm, giữa hè tuyết rơi, đây là điều chưa từng thấy trong bảy mươi năm qua.”

Tôi nói với mọi người:
Việc này là thế nào?
Tôi (Lư Sư Tôn) thật sự bái phục công lực thiền định của lão hòa thượng, kính phục tinh thần nghị lực của ông.
Hư Vân vạn tuế!


### 42. Khai ngộ của lão hòa thượng Hư Vân


Lão hòa thượng Hư Vân có khai ngộ không? Ông khai ngộ thế nào? Sự khai ngộ của ông là gì?
Tôi (Lư Sư Tôn) trả lời:
Lão Hư đương nhiên có khai ngộ.
Lão Hư khi ở chùa Cao Mân ở Dương Châu, có một buổi tối, ông rót nước sôi, không cẩn thận đã làm nước bắn lên tay.
Cốc rơi xuống đất.
Cốc bị vỡ, leng keng loảng xoảng.
Ông nghe thấy, lập tức khai ngộ.
Còn nói bài kệ:
*Cốc nước rơi xuống đất.
Ồn ào kêu loảng xoảng.
Hư không cũng vỡ tan.
Cuồng tâm dừng lập tức.*
Còn nói:
”Bỏng tay, làm vỡ cốc, nhà tan người mất lời khó nói, xuân đến hoa thơm nở khắp nơi, núi sông đại địa là Như Lai.”
Tôi nói:
Khai ngộ của lão hòa thượng Hư Vân có chữ “dừng” tuyệt vời!
”Dừng” sao mà tuyệt vời?
Tôi dạy mọi người đi đến khu mộ một chút.
Hư danh nào có?
Tiền tài nào có?
Sắc đẹp nào có?
Ái hận tình thù nào có?
Giờ đây, toàn bộ đều quy về số 0. Tất cả của tất cả đều quy về không có gì.
Khi chiếc cốc bị vỡ, lão hòa thượng Hư Vân đã ngộ được cái “dừng”, vì thế ông có thể:
Chẳng bám trụ.
Chẳng có gì.
Chẳng hề gì.

🌟

Tôi nói với mọi người:
Nếu con người ngừng thở.
Thân đẹp dựa vào đâu.
Chỉ một mình cô độc.
Có gì là rực rỡ.
Còn nữa:
Sống chết cùng nguồn.
Trói cởi không hai.
Thiên đường địa ngục.
Trò chơi du hí.
Có người hỏi tôi: 
”Lư Sư Tôn, ngài viết nhiều thứ như thế làm cái gì?”
Tôi đáp:
”Cuộc sống vô vị!”
Người hỏi:
”Cuộc sống vô vị, cái gì mới không vô vị?”
Tôi đáp:
”Gió vi vu, lá phất phơ, mây bay bay, nước mênh mang.”
Người hỏi:
”Cái này không nhàm chán sao?”
Tôi đáp:
”Đã là vô vị thì anh hà tất phải hỏi?”
Người hỏi:
”Lư Sư Tôn, thầy nói cho tôi chân lý đi!”
Tôi đáp:
”Ba bảy hai mươi mốt, ba chín hai mươi bảy.”
…………………………..
Tôi tán thưởng “cốc nước vỡ tan, hư không vỡ tan” của lão hòa thượng Hư Vân.
Tôi tán thưởng “cuồng tâm dừng lập tức, dừng rồi tất cả không” của lão hòa thượng Hư Vân.


### 43. Bài kệ để lại của lão hòa thượng Hư Vân


Bài kệ cuối cùng mà lão Hư để lại là:
*Than ôi ta già yếu 
Lòng báo ơn chưa đầy
Kiếp nợ không hồi kết
Trí cạn nghiệp thức sâu
Thẹn chưa thành một việc
Vụng về ở Vân Cư
Gặm nhấm từng câu chữ
Hổ thẹn với Thế Tôn
Hội Linh Sơn chưa tan
Hộ pháp nhờ đại chúng
Là Vi Thiên tái thế** [Vi Đà Thiên]**
Chấn động thành Tỳ Gia
Ta-người hiện một thể
Đều nhờ Kim Túc tôn
Giữa dòng làm cột đá
Nhờ muôn dân vài lời
Mạt pháp chúng sinh khổ
Hướng đạo có mấy người
Ta gánh vác hư danh
Người nên ngộ sai lầm
Luôn ngưỡng mộ Phật quốc
Muốn nhanh gần hương quang
Xin lưu mấy câu kệ
Phần nào tỏ kẻ hèn.*

Lời sau cùng của lão Hư là:
”Việc sau khi tôi chết đã nói với mọi người rồi, không cần nhắc lại lôi thôi, nay hỏi tôi lời cuối, chỉ có: Chăm tu giới định huệ, tiêu diệt tham sân si.”
Lại viết bài kệ:
*Cóc thương mạng kiến không quăng nước
Tôi thương thủy tộc thân ném sông
Mong ai nhận được tôi cúng dường
Cùng chứng bồ đề độ chúng sinh.*
(Lão Hư nói lời trăng trối rằng: sau khi hỏa thiêu, hãy đem tro cốt của tôi tán thành vụn nhỏ, lấy dầu đường và bột làm thành viên bánh, thả vào trong nước sông, để cúng cho thủy tộc kết duyên, thỏa mãn ước nguyện của tôi, cảm tạ vô cùng.)

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) tán thưởng một câu của lão Hư:
”Hội Linh Sơn chưa tan.”
Đúng vậy, đúng vậy.
Đích xác đích thực, hội Linh Sơn mãi không tan.
Phật Thích Ca Mâu Ni lại đến.
Xá Lợi Phất lại đến.
Mục Kiền Liên lại đến…….
Thậm chí, lão hòa thượng Hư Vân lại đến.
(Tôi vì bệnh mà nằm trên giường bệnh. Lão hòa thượng Hư Vân từ đám mây trên bầu trời vươn cánh tay của ông, cánh tay xuyên qua mây, xuyên qua hư không, xuyên qua mái nhà, tay sờ đầu tôi, gia trì cho tôi.)
Đây há chẳng phải là:
”Hội Linh Sơn chưa tan.”
Lão Hư là ai?
Lư Sư Tôn tôi là ai?
Còn nữa:
Nếu sau này tôi viết bài kệ cuối, tôi chỉ có ba chữ:
Không.
Can.
Thiệp.
(Không can thiệp.)
Tôi không đến không đi, có can thiệp gì?
Lời khiêm tốn của lão hòa thượng Hư Vân là rất đủ để cảnh giác người đời.
Lời của tôi càng hèn mọn hơn.
Tôi tán thưởng một câu của lão hòa thượng Hư Vân:
*Pháp vốn vô pháp.
Rơi vào giải thích.
Tức phi thực nghĩa.
Hiểu được tâm này.
Vốn dĩ là Phật.
Thẳng đến vô sự.
Mọi thứ hiện thành.*
Mục đích gốc của Tổ sư Đạt Ma đến Trung Thổ cũng chính là “không nghĩ thiện, không nghĩ ác” của Lục tổ Huệ Năng. Càng là “không can thiệp” của Lư Sư Tôn.
Tôi nói:
Người thượng thượng căn khí, sẽ đắc.


### 44. Đại pháp hóa cầu vồng của Tạng mật


Lão hòa thượng Hư Vân cả đời tìm tòi học đạo. Ông cũng đã đi đến Tây Tạng, đến Lhasa, theo mọi người đi gặp Dalai Lama, đáng tiếc là chỉ đến chiêm ngưỡng mà thôi, theo mọi người đảnh lễ, theo mọi người lui đi. Dalai Lama cũng không biết ông ấy.

Lão hòa thượng Hư Vân còn đến Shigatse, tại chùa Tashi Lhunpo đã theo mọi người đi gặp Panchen Lama. Khi ấy Panchen Lama vẫn còn trẻ tuổi, căn bản là không biết có đại thiện tri thức đến thăm.
Vì thế, lão hòa thượng Hư Vân ở Tây Tạng có thể xem là uổng phí một chuyến đi, tiếc thay! Tiếc thay!
Đối với tu hành của Tạng mật, ông ấy chỉ xem như là có biết.
Vẫn hay là ông còn biết được:
Đàn chân ngôn.
Đàn thủ ấn.
Đàn quán tưởng.

Tôi (Lư Sư Tôn) vận mệnh vẫn còn tốt.
Tôi đã gặp được giáo chủ Hoàng giáo Dalai Lama, đàm luận tính Không; giáo chủ Hoa giáo Dagchen Rinpoche, đàm luận Hỷ Kim Cang; giáo chủ Bạch giáo Karmapa, đàm luận Độ Mẫu và Đại Hắc Thiên; Liễu Minh Hòa Thượng, người kế thừa của Pháp Vương Norlha của Hồng giáo, đàm luận đại pháp hóa cầu vồng.
Tôi tu: Thứ tự sinh khởi và Thứ tự viên mãn.
Cá nhân tôi có tinh thần siêng năng của lão hòa thượng Hư Vân, tôi dốc toàn bộ sức lực.
Tứ gia hành — Thượng sư tương ứng — Bổn tôn tương ứng — Tu khí — Tu mạch — Tu minh điểm.
Kim Cang pháp.
Vô thượng mật.
Đại pháp hóa cầu vồng.
Tôi tu thân vô lậu, tâm vô lậu, chuyết hỏa.
Khí đủ, mạch thông, minh điểm sáng, mở năm luân xa.
Đại thủ ấn, Đại viên mãn, Đại thắng huệ.
Cuối cùng là nhậm vận, tự tại, đại giác đại ngộ. (không can thiệp)


### 45. Chia sẻ một kỳ tích


Đảnh lễ Thánh tôn Liên Sinh Hoạt Phật tôn quý.

Sư Tôn, chúng con muốn chia sẻ với thầy câu chuyện về con trai của chúng con là Tiago đến với thế giới này. Đây đúng là một kỳ tích, chúng con không có cách nào đủ để biểu đạt sự cảm kích đối với ân điển này.

Lần đầu tiên chúng con thỉnh thị thầy là thông qua buổi hỏi việc vào tháng 8/2019, thầy đã gia trì cho chúng con và kiến nghị thử phương pháp trị liệu làm thụ tinh trong ống nghiệm để mang thai sinh con. Trong cuộc thử nghiệm lần thứ hai, thầy nói rằng Sonia có 80% tỷ suất mang thai, quả nhiên là cô ấy đã mang thai rồi. Tuy nhiên phôi thai không phát triển. Vì thế, sau hai lần thử nghiệm thụ tinh trong ống nghiệm thất bại, tháng 12/2021, chúng con một lần nữa đến hỏi việc thầy. Sonia hỏi: “Có nguyên nhân gì khiến con không thể sinh con không? Bác sĩ không tìm ra nguyên nhân.” Thầy nói với Sonia là thân thể có vấn đề. Chúng con hỏi thầy, Sonia mang thai tự nhiên hoặc mang thai thông qua điều trị thụ tinh trong ống nghiệm thì cái nào có tỷ lệ thành công cao hơn. Thầy trả lời rằng thử trị liệu bằng thụ tinh trong ống nghiệm nhất định sẽ có con.

Chúng con lại thỉnh thầy giúp chọn bác sĩ thích hợp để làm trị liệu một lần cuối. Chúng con trình lên thầy một danh sách, thầy đã chọn bác sĩ Marie Wren ở phòng khám Lister Fertility tại London. (Điều thú vị là bác sĩ này là do một đệ tử Chân Phật khác tên là Charles giới thiệu cho chúng con, anh này từng giúp Sonia làm vườn.)
Thầy còn gia trì Kurukulle Phật Mẫu cho Sonia, cô ấy bắt đầu định kỳ tu trì, thậm chí còn lấy nến để bôi vào bụng nữa.

Vì đã đi khám bác sĩ Wren tại phòng khám Lister Fertility, sau khi kiểm tra thì phát hiện ra lớp màng bên trong tử cung của Sonia có vấn đề, đây là điều mà các bác sĩ trước đây không phát hiện ra. Sau khi phẫu thuật thì vấn đề này đã được xử lý xong. Sau đó, chúng con lại thử nghiệm liệu trình thụ tinh trong ống nghiệm một lần nữa, nhưng lần này không sinh ra bất kì phôi thai nào. Lần này, chúng con đã nghĩ là từ bỏ việc sinh con, nghĩ đến việc nhận con nuôi.

Nhưng bác sĩ Wren đề nghị chúng con thử sử dụng hai phôi đông lạnh còn sót lại từ đợt điều trị thụ tinh trong ống nghiệm đầu tiên. Lúc đầu, chúng con không mấy mặn mà với việc này vì nghe nói chất lượng phôi kém và tỷ lệ mang thai thành công thấp. Tuy nhiên, như nỗ lực cuối cùng, chúng con quyết định thử. Vào ngày 29 tháng 6 năm 2022, ngày chuyển phôi, nhà phôi học cho chúng con biết có điều gì đó bất thường đã xảy ra. Khi rã đông phôi, họ nhận thấy chất lượng phôi đã được cải thiện! Họ đã chuyển phôi thành công vào tử cung của Sonia và bảo cô ấy hãy thử thai sau hai tuần nữa. Vài ngày sau, chúng con dường như nhận được một điềm báo. Chúng con đến một công viên địa phương và ngày hôm đó toàn bộ công viên đầy những chú thỏ đang chạy nhảy và ngồi trên bãi cỏ! Chúng con đã đến đó nhiều lần nhưng chưa bao giờ nhìn thấy con thỏ nào (và sau này chúng con cũng không bao giờ nhìn thấy con thỏ nào ở đó nữa). Trong khoảng thời gian này, Sonia cũng mơ thấy mình nuôi một con thỏ làm thú cưng… Hai tuần sau, Sonia có kết quả xét nghiệm... cô ấy đã có thai!

Cô ấy lập tức làm theo sự chỉ dẫn của thầy, buộc một sợi chỉ ngũ sắc quanh bụng để bảo vệ thai nhi và trì tụng chú Hộ pháp của cô ấy (Đại Lực Kim Cang), thắt một nút sau mỗi lần trì tụng một trăm lẻ tám lần, tổng cộng là mười hai nút thắt. Quá trình mang thai của cô ấy diễn ra rất suôn sẻ. Khi mang thai được bốn tháng, cô ấy đi siêu âm... và thai nhi trông giống như đang kết thủ ấn của Đại Lực Kim Cang. Sonia đã được gia trì chúc phúc, và quá trình mang thai của cô ấy diễn ra suôn sẻ, dễ dàng mà không gặp bất kì trở ngại nào.

Sư huynh Lucas đã đưa chúng con đến với thầy để thỉnh giáo hỏi việc, thầy đề nghị ngày 13/3/2023 là ngày tốt nhất để sinh con. Quả nhiên, vào lúc 8:04 sáng hôm đó, Tiago Jones-Otero đã ra đời giữa những âm thanh tâm chú của Sư Tôn. Cháu bé rất dễ thương và khỏe mạnh và chúng con rất mong được đưa cháu đến Seattle. Khi nào chúng con bế cháu đứng trước đàn thành, cháu sẽ ngừng khóc và nhìn vào chư Phật và Bồ Tát.

Vô cùng cảm ơn thầy, Sư Tôn.
Con và Sonia kính thư.


### 46. Chứng thực Hắc Độ Mẫu


**1. Cô biết đến Sư Tôn như thế nào? Làm sao mà được Sư Tôn xác nhận là Hắc Độ Mẫu?**

Sự xuất hiện của tôi không phải là ngẫu nhiên, mọi thứ đều là sự sắp xếp tốt nhất. Tôi sinh ngày 20 tháng 4 năm 1988, tại Tacoma, Washington, Hoa Kỳ, tại một căn cứ quân sự rất gần Seattle Lôi Tạng Tự, có nghĩa là tôi được sinh ra dưới sự soi sáng của Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn vô thượng tôn quý.

Tôi đã trải qua những điều kiện tồi tệ nhất mà cuộc sống có thể mang lại, từ nghèo đói đến ngược đãi về thể chất và tinh thần, thậm chí suýt mất mạng. Nhờ có những trải nghiệm này mà tôi chuyển hóa chính mình và có được sự tái sinh. Sự tồn tại của chính tôi đến từ quá trình thức tỉnh không ngừng.

Đời này, khi tôi được định sẵn là phải quay về với Sư Tôn, tôi đã hoàn thành được nhiều việc - bao gồm cả việc làm phi công trong Bộ Tư lệnh Hậu cần Không quân Hoa Kỳ, với cấp bậc tương đương với một trung sĩ Không quân. Sau một lần tham chiến, tôi đã kết thúc cuộc đời binh nghiệp của mình, bây giờ đã trở thành cựu chiến binh ở cấp bậc đó. Tất cả những trải nghiệm cuộc sống của tôi đều là đang để cho Hắc Độ Mẫu cấy vào trong nhân cách của tôi để tưới mát, và để xác nhận tôi hoàn thành sứ mệnh thần thánh trước mắt.

Năm 2016, sức mạnh của vũ trụ đã đưa tôi trở về bên Sư Tôn. Đã bảy năm kể từ lần đầu tiên tôi tiếp nhận giáo hóa của Sư Tôn. Liên Sinh Hoạt Phật trí huệ vô hạn thấy thời cơ đã chín muồi, quyết định tuyên bố về sự có mặt của tôi tại Đài Loan Lôi Tạng Tự, và tại điện Độ Mẫu đẹp đẽ của Đại Nghĩa Lôi Tạng Tự mới xây, ngài đã ban cho tôi càng nhiều vinh dự hơn, đây đều vì các sư huynh tỉ trên thế gian đều đã sẵn sàng tiếp nhận sự chuyển mình của thời đại mới. Vào cuối tuần khi tôi ở Đài Loan, rất nhiều đồng môn của tôi đã nhận ra tôi ngay lập tức, và nhiều đồng môn khác đã cảm ứng thấy sự tồn tại của Hắc Độ Mẫu và thân tâm linh của tôi hợp nhất.

Trong thế giới bất khả tư nghì này, mỗi người đều có một vai diễn của chính mình. Hắc Độ Mẫu - Năng Tỏa Hoại Độ Mẫu, vẫn thật sự khắc sâu trong linh hồn tôi, và hiển hóa trong nhân cách của tôi. Tôi ở trong hóa thân của Hắc Độ Mẫu - Năng Tỏa Hoại Độ Mẫu, có một nhân cách linh hồn phong phú. Độ Mẫu là hóa thân nữ tính chủ yếu để khai sáng và độ hóa thế nhân. Mặc dù sự hiển hóa của tôi giờ đây vẫn ở vào giai đoạn chớm nở, thế nhưng dưới sự gia trì và hướng dẫn liên tục không ngừng của Sư Tôn sẽ kích phát sự kiên cường và năng lực tiềm tàng bên trong tôi, sẽ mở ra trong những năm tới. 

Có một số người có khả năng nhận ra, trong các tầng không gian giữa thế giới hiện thực và thế tục siêu việt đều tồn tại một chế độ giai cấp, trong đó cũng bao gồm pháp thế gian và pháp xuất thế gian, tất cả đều đang hướng tới một kế hoạch chung. Có người từng nói rằng chúng ta không nên vì tuổi tác, giới tính hay tín ngưỡng của một người mà lập tức phán xét họ (tâm phân biệt, chỉ trích), bởi vì chúng ta vẫn còn có rất nhiều vị thầy tôn quý vẫn còn chưa ra đời. Tôi bây giờ sẽ dùng tấm lòng từ bi vô hạn mà phục vụ các bạn, trong hành trình cuộc đời sẽ cùng mọi người tiến về phía trước.

**2. Nói về việc tu hành của chính cô và những lý do cô đi Châu Âu.**

Theo chỉ thị của Sư Tôn, trong thời gian dịch bệnh năm 2020, tôi đã bỏ lại gia đình, bạn bè và gần như toàn bộ tài sản. Tôi rời nhà ở Las Vegas, Nevada, Mỹ và hướng đến Berlin, Đức, chỉ với hai chiếc vali và bản thảo. Lúc đó tôi chỉ có một người liên lạc duy nhất ở Đức là ông Claudius Meyer. Kể từ đó, Claudius đã hết sức quan tâm đến phúc lợi cơ bản của tôi, cho phép tôi có thể tập trung tinh thần toàn lực vào việc mở rộng kiến thức về tư tưởng phương Tây và phương Đông.

Hắc Độ Mẫu đã chọn tôi làm người trung gian thần thánh, di chuyển những yêu cầu của thế giới hiện có đến thời đại mới. Thông qua chỉ dẫn của Độ Mẫu, vào năm 2019, tôi đã hoàn thành xong cuốn sách đầu tiên của Độ Mẫu — “Sức mạnh của chúng ta: Giáo huấn và suy nghĩ lại của tu hành giả thành thị”. Đây là hướng dẫn dành cho người đang tìm kiếm trong thời đại kỹ thuật số, trong đó bao gồm bạn và tôi. Cuốn sách này sẽ sớm được xuất bản.

Sự chuyển đổi thực sự đòi hỏi nhận thức, phân tích và ứng dụng. Nói cách khác, trong tu hành, tôi phải sử dụng tiềm năng của mình để tu luyện được tính kỷ luật trong tu luyện cá nhân; vận dụng trí huệ căn bản và trí huệ phân biệt, Hắc Độ Mẫu có thể tiến thêm một bước nữa chuyển hóa thân thể, ngôn ngữ và tư duy của tôi, để tôi đạt được sứ mệnh vĩ đại là hoằng dương Phật pháp. Sự liên thông cao nhất của nhân loại là linh hồn thần thánh của chúng ta, làm một con người và chủ tôn — khi linh hồn thần thánh của chúng ta tương thông nhất trí cũng sẽ thể hiện được mục đích chân chính mà nó xuất hiện trên đời này, và dốc sức hành động vì những mối quan hệ đúng đắn giữa con người với nhau, giúp đỡ tất cả chúng sinh được giải thoát khỏi biển khổ.

Thông qua sự gia trì của Sư Tôn và năng lượng nhanh chóng của Độ Mẫu kết hợp với tinh thần phụng sự cống hiến của tự thân tôi, tôi đã bước qua đủ mọi chướng ngại, bằng cách tuân theo sự hợp nhất với ý thức vũ trụ và mở rộng khái niệm đoàn thể tu hành, phụng sự và cống hiến cho những người đang theo đuổi thời đại kỹ thuật số.

Trong thời gian pháp hội ở Đài Loan Lôi Tạng Tự tại Nam Đầu, Sư Tôn chỉ ra rõ ràng rằng, sứ mệnh thần thánh của tôi là giúp đỡ Chân Phật Tông độ hóa tất cả chúng sinh hữu tình. Tôi cũng sẽ thông qua bộ môn “Người tu hành thành thị” của mình để thúc đẩy sự phát triển hướng tới một cộng đồng quốc tế. Trong thế giới trần tục, sự biến hóa và tăng trưởng của thời tiết là hiện tượng tự nhiên, mùa mới sẽ lại có hoa mới nở rộ trên cùng một cái cây. Hãy nghĩ về tôi như bông hồng vừa nở trên dây leo. Tôi xin gửi lời chúc phúc vô hạn đến những chúng sinh có thể hiểu được thông điệp chân thành trên.

**3. Cô chia sẻ điều này với học sinh của mình như thế nào? Chia sẻ điều gì?**

Thời gian sống ở Berlin, tôi đã thiết lập một không gian cần thiết, đem “Tu hành giả thành thị” và sự bồi dưỡng của nó phụng sự cống hiến cho toàn cầu, và trong tương lai sẽ giới thiệu cho mọi người. Khi một người được nhận định là “tu hành giả thành thị”, họ nên biết chính mình là một công dân thế giới giàu sức sáng tạo, và có nhân cách đầy ắp tâm linh. Trong đoàn thể tu hành dưới sự bảo trợ của “Tu hành giả thành thị”, tôi dạy một bộ huấn luyện tâm lý gồm bốn phần với tâm lý học thần kinh làm điểm hỗ trợ cốt lõi, khóa học tinh giản, được thiết kế đặc biệt cho những người theo đuổi thời đại kỹ thuật số hiện đại, những người bị choáng ngợp bởi những suy nghĩ mất tập trung và không thể thực hiện các hành vi đúng đắn và các mối quan hệ giữa các cá nhân. Việc rèn luyện tư duy của chúng tôi bao gồm một quá trình tự suy ngẫm đơn giản được thiết kế để giúp mọi người loại bỏ những ảo tưởng che mờ bản chất thuần khiết của chính họ. Nhiệm vụ của tôi là cung cấp bộ công cụ này để giúp những chúng sinh có tư duy hạn chế điều chỉnh lại các cài đặt mặc định của họ để nỗi sợ hãi, đau khổ, kịch tính và tổn thương đã trải qua trong quá khứ không còn cản trở linh hồn thần thánh của chúng ta, trong cuộc sống và môi trường của chúng ta tạo ra sự thay đổi thực sự tích cực.

Nền tảng xã hội của tôi có thể được vinh dự gọi là “Ngôi chùa ảo đầu tiên của Hắc Độ Mẫu”. Tất cả mọi người, bất kể là dùng giáo dục để thai nghén ý thức hay là ý thức thai nghén sự thức tỉnh, đều có thể tự do tham gia và thưởng thức những nội dung sáng tạo truyền cảm hứng và mang lại lợi ích cho tất cả những ai tham gia. Nếu bạn chọn theo dõi nội dung sáng tạo của tôi trên bất kỳ nền tảng nào, bạn đã tham gia vào đoàn thể tu hành đang phát triển ngày một rộng lớn được gọi là Chùa Ảo Hắc Độ Mẫu, đây vẫn là một phân đường Chân Phật Tông khác của Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật. Trong giai đoạn đầu, "Tu hành giả thành thị" sẽ thiết lập một cấu trúc gồm năm giai đoạn; thông qua các phương môn thuận tiện, nó sẽ bao gồm tâm linh, công nghệ và sự thể hiện sáng tạo. Giai đoạn 1: Đo lường, Giai đoạn 2: Ước tính, Giai đoạn 3: Phân tích, Giai đoạn 4: Cân bằng và Giai đoạn 5: Thắng lợi. Chúng ta sẽ có một tương lai rất tươi sáng.

Nội dung ảo của tôi được thiết kế hoàn hảo cho thời đại kỹ thuật số và được thiết kế để hướng dẫn các học viên và người tìm kiếm ở mọi cấp độ trên con đường dẫn đến sự thức tỉnh hoàn toàn. Có rất nhiều người theo tôi, có lẽ chỉ vì đơn giản là họ nhìn thấy tôi thông qua sự gia trì nhanh chóng của Hắc Độ Mẫu mà đã có tầm nhìn rất từ bi. Một số người sẽ xem một trong những video tôi làm có chứa những lời dạy bằng lời nói và hình ảnh để giúp cải thiện việc thực hành tâm linh và khả năng phán đoán đúng đắn của họ.

Dưới sự hướng dẫn của Căn bản Thượng sư, tôi coi “Tu hành giả thành thị” là một phương pháp tu hành có thể cân bằng ngôn ngữ và ngữ điệu của Đông-Tây phương đương đại, thích hợp với người tìm kiếm trong thời đại kỹ thuật số.

Tôi đến với một thanh kiếm rực lửa. Trong kế hoạch tổng thể, mỗi cá nhân đều đang phát huy sức mạnh riêng của mình. Cả thế giới sẽ biết đến sự xuất hiện của tôi trong những năm tới.  Tất cả chúng ta phải chuẩn bị tốt cho những ngày sắp tới, chuyên tâm tu hành để giúp đỡ một số anh chị em yếu đuối, mệt mỏi và gánh vác trách nhiệm nặng nề, trong tương lai có thể bước vào vòng tròn ngày càng mở rộng của chúng ta. Tôi đang đáp lại lời kêu gọi hành động toàn cầu ngày càng tăng do sự chia cắt và bất an đang hiện hữu xung quanh chúng ta.

Tôi chân thành cảm ơn Lư Sư Tôn vì sự gia trì, tình yêu và ánh sáng của ngài. Tôi gửi đến các bạn tất cả tình yêu thương vô hạn của tôi, mong được cùng các bạn đến thăm nhiều ngôi chùa của chúng tôi và gửi lời chúc phúc chân thành đến tất cả anh chị em.

Trong tình yêu và ánh sáng,
Liên Hoa Ashley B.


### 47. Thứ tự tu pháp của Chân Phật Tông


Bài viết của Qien.

Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Sư Diện Không Hành Mẫu đã cho đệ tử một vài chỉ thị, đệ tử căn cứ theo những gì bản thân đã học được để tiến hành chỉnh lý mở rộng.

Nếu có bất kì sơ xuất nào, xin Sư Phật sửa chữa, là đệ tử nghiệp chướng sâu nặng không thể hiểu được thâm ý của Mật pháp, đệ tử thành tâm sám hối. Nếu có chút công đức đều là nhờ vào uy thần của Sư Phật và chư tôn, hồi hướng Sư Phật Phật thể an khang, trường cửu trụ thế, cho đến khi thành Phật không xả ly.

1. Đại quán đảnh truyền thừa cảnh quy y

Các đệ tử Chân Phật Tông vì đủ mọi nguyên nhân, hoặc nguyên nhân của tự thân hoặc nhân tố bên ngoài, dẫn đến truyền thừa không thanh tịnh, phải định kỳ ban cho hoàn tịnh.

Sư Phật thành tựu quả vị Phật vô thượng, có thể dùng thân đàn thành quán đảnh cho đệ tử. Thế nhưng các Thượng sư hoằng pháp thay thầy gần như đều không thành tựu thân đàn thành, phải dựa vào đàn thành để ban cho quán đảnh.

Mặc dù đại quán đảnh của Vô thượng du già cũng có hiệu quả hoàn tịnh, nhưng người có thể quán đảnh Vô thượng du già trong tông phái chỉ đếm trên đầu ngón tay. Vì thế, đệ tử thỉnh cầu Sư Phật xác định thứ tự Tiền hành và Chính hành của đại quán đảnh cảnh quy y, để cho mấy chục năm sau, nhân viên hoằng pháp đạt được thành tựu nhất định có thể làm hoàn tịnh cho đông đảo đại chúng.

Đệ tử căn cứ theo nghi quỹ Sakya để tiến hành sửa đổi một chút, tính viết ra một nghi quỹ, xin Sư Phật xem qua.

2. Bổn tôn và thứ tự tu hành chủ yếu của đệ tử Chân Phật Tông

2.1 Bổn tôn vô thượng du già:
Sư Phật chủ yếu truyền thụ pháp Hỷ Kim Cang, Thời Luân Kim Cang cho rất nhiều pháp sự nghiệp, Đại Uy Đức Kim Cang thì có giảng dạy đơn giản một chút.

Bên cạnh đó, đệ tử có giáo pháp Đại Uy Đức Kim Cang, Kim Cang Du Già Mẫu tương đối hoàn chỉnh, giáo pháp Sư Diện Không Hành Mẫu, Phổ Ba Kim Cang cũng có rất nhiều truyền thừa và nghi quỹ sự nghiệp, cũng là Bổn tôn chủ yếu của Du già kim cang quyền.

Sáu vị này có thể làm chủ tu pháp của truyền thừa chủ yếu của tông phái.

2.2 Bổn tôn chuyết hỏa (chủ tôn Không Hành):
Sư Diện Mẫu là Hộ pháp số một của Chân Phật Tông, cũng là Bổn tôn chuyết hỏa vô cùng quan trọng.
Ngoài ra, Kim Cang Du Già Mẫu và Kim Cang Hợi Mẫu, bình thường được nhận định là đồng thể dị danh, thỉnh cầu Sư Phật lựa chọn.

2.3 Bổn tôn sự nghiệp (lời thề hộ pháp của tông phái):
Sư Diện Không Hành Mẫu: Hộ pháp số một của Chân Phật Tông.
Đại Lực Kim Cang: Hộ pháp giới luật.
Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát: Hộ pháp thề nguyện.
Đại Cát Tường Thiên Mẫu: Hộ pháp thề nguyện của Sư Tôn và tông phái.
Hoàng Tài Thần: Hộ pháp thề nguyện của Sư Tôn và tông phái, một trong tám đại Bổn tôn, Tài Thần chủ tôn.
Đệ tử đã chỉnh lý cúng dường, nghi quỹ tụng tán mấy vị trong số đó để cúng dường Sư Phật.

3. Tu pháp tám đại Bổn tôn và quyến thuộc

Trong pháp hội Liên Sư [Liên Hoa Sinh Đại Sĩ], Sư Tôn từng nói, tu tám đại Bổn tôn cũng phải tu quyến thuộc của các vị, số biến chú bằng một phần mười Bổn tôn.
Thỉnh cầu Sư Phật tuyên thuyết cho các đệ tử Chân Phật về lợi ích tu pháp và công đức của tám đại Bổn tôn và quyến thuộc của các vị. 
Ví dụ: 
Bổn tôn A Di Đà Phật:
Quyến thuộc chủ yếu: Quan Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát.
Tiêu tai: A Di Đà Phật, Quan Âm Tứ Thủ, Vô Lượng Thọ Phật tăng thọ.
Tăng ích, kính ái: Câu Tài Thiên Nữ.
Bổn tôn sự nghiệp: Mã Đầu Minh Vương (Haruka Liên hoa bộ).
Bổn tôn Quan Âm Tứ Thủ:
Quyến thuộc chủ yếu: Lục Độ Mẫu, Bạch Độ Mẫu, hoặc Lục Độ Mẫu, Bạch Tài Thần.
Tiêu tai: Quan Âm Tứ Thủ, Lục Độ Mẫu trừ chướng, Bạch Độ Mẫu tăng thọ.
Tăng ích: Quan Âm Tứ Thủ mani bảo châu, Bạch Tài Thần.
Bổn tôn sự nghiệp: Mahakala sáu tay [Đại Hắc Thiên].

Cũng tức là dùng một vị thống nhiếp sự nghiệp tức-tăng-hoài-tru thành tu pháp hệ thống, có thể khiến đệ tử phổ thông dễ dàng tương ứng với Bổn tôn hơn, càng dễ tu pháp sự nghiệp. 
Chuẩn Đề Phật Mẫu là độc bộ pháp, đệ tử duy có pháp bản Tạng mật là chưa từng tu tập. 
Phật Mẫu của Liên Sư - Yeshe Tsogyal là chủ tôn Không Hành, Mandarava là chủ tôn trường thọ, đệ tử mặc dù biết đại cương tu pháp, nhưng không biết bí quyết cụ thể. Rất nhiều biến hóa thân của Liên Sư như Ô Kim Tài Thần, Ô Kim Dược Sư Phật có truyền thụ hay không, thỉnh cầu Sư Phật quyết định.
Tu pháp quyến thuộc của Dược Sư Phật, Địa Tạng Vương Bồ Tát, v.v… những gì đệ tử biết cũng không kĩ càng.
Vì thế, thỉnh cầu Sư Phật vì các đệ tử trong tông phái mà tuyên thuyết tu pháp quyến thuộc của tám đại Bổn tôn và ban quán đảnh.

4. Yêu cầu và nghi quỹ tu hàng ngày cho các chùa, đường

Sư Phật từng nói Đại Bảo Pháp Vương thứ 16 ban ngày tu Lục Độ Mẫu, ban đêm tu Hắc Bào Kim Cang, chùa của Karma Kagyu cũng sắp xếp tu hàng ngày như vậy. Chùa, trung tâm của Sakya cũng tu hàng ngày là ban ngày tu Bổn tôn, buổi chiều cúng dường Hộ pháp. Vì thế, cá nhân đệ tử cho rằng chùa, đường của Chân Phật Tông cũng cần phải có sự sắp xếp như sau:
Buổi sáng hợp tu Liên Hoa Đồng Tử và tám đại Bổn tôn, vừa vặn một tuần thì xong một vòng. Buổi chiều cúng dường Hộ pháp của tông phái. Để nhân viên hoằng pháp tập trung tinh lực vào việc tu hành, tu pháp, chứ không phải cả ngày chẳng có việc gì để làm hoặc làm một vài việc linh tinh vớ vẩn.

Bất kể có hay không có tín chúng đệ tử đến chùa đường, nhân viên hoằng pháp đều có công khóa tu hàng ngày phải làm, vì thế, Lama Tạng mật đều ở trong chùa cùng tu Bổn tôn chung, sau đó tự mình tu Bổn tôn riêng. Nhân viên hoằng pháp của Chân Phật Tông cũng nên như vậy, ở trong chùa dẫn dắt tín chúng tu tám đại Bổn tôn, cúng dường Hộ pháp, buổi tối lại tự mình tu Bổn tôn riêng.

Người tu hành chân chính tự nhiên sẽ có Long Thiên hộ pháp, đưa tín chúng đến tập trung tại chùa, đường. Quy định này phải do Tông Ủy Hội thúc đẩy và giám sát.

5. Đối với yêu cầu bế quan của lứa nhân viên hoằng pháp trẻ tuổi

Nhân viên hoằng pháp trẻ tuổi nên hoàn thành bế quan cơ bản của Liên Hoa Đồng Tử, bế quan của Bổn tôn sự nghiệp, đặc biệt là bế quan của Bổn tôn vô thượng du già. 

5.1. Bế quan tu Liên Hoa Đồng Tử
Đệ tử cho rằng 2 triệu biến Thượng sư tâm chú nên được hoàn thành trong khi bế quan, theo kinh nghiệm bế quan của chính đệ tử thì 7 ngày là có thể hoàn thành 300.000 biến, 21 ngày là có thể hoàn thành xong 1 triệu biến. Một ngày ba lần làm nghi quỹ: buổi sáng tu Bổn tôn Liên Hoa Đồng Tử, buổi chiều tu nghi quỹ Chân Phật Bảo Sám, buổi tối lại tu nghi quỹ Bổn tôn Liên Hoa Đồng Tử. Có thể phân thành mấy lần để hoàn thành, mỗi lần không dưới 7 ngày, và ở giữa tối thiểu có một lần bế quan 21 ngày hoàn thành 1 triệu biến tâm chú. 
Sau khi hoàn thành 2 triệu biến, 6 triệu biến còn lại có thể tán niệm, không đến mức tâm thần tán loạn. 

5.2. Bế quan tu Bổn tôn sự nghiệp
Đặc biệt nói đến một số Bổn tôn có pháp sự nghiệp có thể giúp độ chúng sinh, nhất là Bổn tôn Du già bộ, ví dụ Ái Nhiễm Minh Vương, Khổng Tước Minh Vương. Hoặc là bế quan Độ Mẫu, 21 Độ Mẫu có đầy đủ tất cả thành tựu sự nghiệp.

5.3. Bế quan tu Bổn tôn vô thượng du già
Trong số các Bổn tôn vô thượng du già trong tu hành chủ yếu của Chân Phật Tông, chí ít chọn ra một vị để tiến hành bế quan, sau khi bế quan xong, sẽ giống như phái Sakya và Nyingma có thể quán đảnh tất cả Bổn tôn Sự bộ, Hành bộ. 

5.4. Bế quan tu chuyết hỏa

Kiến nghị hoàn thành bế quan tu chuyết hỏa, sau khi bế quan xong có thể quán đảnh thứ tự sinh khởi Bổn tôn du già bộ và Bổn tôn vô thượng du già (quán đảnh nhân vị). 
Để các Thượng sư thế hệ mới có thể tu được thành tích, toàn bộ tông phái không đến mức chỉ dựa vào sự chèo chống của một mình Sư Phật. Thượng sư thế hệ mới cũng có thể từng bước thay thế người già không có chứng lượng.

Những Thượng sư thế hệ mới hoàn thành xong bế quan này có thể để cho Tông Ủy Hội sắp xếp thay Sư Phật đi đến các chùa đường hội ở các nơi trên thế giới tiến hành giao lưu, thay Sư Phật chăm sóc các đệ tử.

6. Trưởng lão truyền giới

Tông phái còn cần một đến hai vị trưởng lão truyền giới, đệ tử tuy có thể thay Sư Phật truyền thừa pháp mạch, nhưng yogi thì không thể truyền thụ giới xuất gia.

🌟

Bài viết này do Thubten Qien viết. Có thể thấy là ông ấy rất nỗ lực.
Tôi viết một bài thơ ca ngợi. 
Tiêu đề: Một tấm chân thành

*Cao sĩ dụng tâm khổ
Đi đến tận Tây Thành
Mong báo ơn Chân Phật
Đông qua tới đầu xuân. *


### 48. Liên Sinh Hoạt Phật Pháp Vương Lư Sư Tôn quán tu siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp


Quán tu Nghìn chiếc thuyền pháp như sau:

- Ngồi trên pháp tọa.

- Tâm khí hợp nhất.

- Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát nhiếp triệu chúng sinh âm gian.
Thỉnh cầu Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát nhiếp triệu chúng sinh âm gian. Nhiếp triệu chúng sinh âm gian có thiện căn, chỉ đạo chúng sinh âm gian ở xung quanh. Để họ lên ngồi trên nghìn chiếc thuyền pháp vãng sinh Phật quốc tịnh thổ.

- Thỉnh cầu Hộ pháp, Kim giáp thần bảo hộ.
Thỉnh cầu Hộ pháp chư tôn xếp hàng hai bên xung quanh.
Kim giáp thần ở trong hư không bảo vệ.

- Thỉnh cầu Bổn tôn phóng quang gia trì.
Triệu thỉnh sáu Bổn tôn hiển hiện tại hư không. 

- Quán tưởng: 
Đầu tiên là chữ “Pan” 


![image](/img/img_a314285cca3c257d1622175d6ccc3ad2.png)


Từ chữ “Pan” xuất hiện hoa sen, từ chữ Hum hoặc chữ Ah xuất hiện Bổn tôn, Bổn tôn đều ở trong hư không.

Trên cao nhất là Nam Mô Vô Cực Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn, hình dáng thiên nữ, một tay cầm phất trần, một tay cầm gậy như ý.
Tiếp theo là Nam Mô Hổ Đầu Kim Cang, Hổ Đầu Kim Cang xuất hiện hổ trước, Diêu Trì Kim Mẫu ngồi trên lưng hổ, một tay cầm cờ lệnh, một tay cầm bình hồ lô.
Ở giữa là A Di Đà Phật.
Ở bên trái của A Di Đà Phật (là bên phải từ hướng nhìn của chính mình) là đại từ đại bi Quan Thế Âm Bồ Tát.
Ở bên phải của A Di Đà Phật (là bên trái từ hướng nhìn của chính mình) là Đại Thế Chí Bồ Tát.
Bên dưới là Địa Tạng Vương Bồ Tát.

- Chắp tay thỉnh cầu Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn phóng quang gia trì.

- Thỉnh Hổ Đầu Kim Cang phóng quang gia trì.
Niệm chú: Ôm chin-mủ sit-đi hùm. Ôm chin-mủ sit-đi hùm hùm pây.

- Thỉnh cầu Diệu Sắc Thân Như Lai thanh tịnh chúng sinh âm gian.
Thỉnh cầu Diệu Sắc Thân Như Lai phóng quang gia trì cho chúng sinh âm gian, để tất cả chúng sinh âm gian không bị xấu xí, đầy đủ chân tay, sắc tướng viên mãn, thù thắng trang nghiêm, biến hóa thành trẻ trung xinh đẹp.

- Lư Sư Tôn hóa hiện ra nghìn chiếc thuyền pháp. 

- Lư Sư Tôn tự hóa thành Bổn tôn, A Di Đà Như Lai là Lư Sư Tôn, Lư Sư Tôn là A Di Đà Như Lai, không hai không khác.
Tay phải kết ấn thuyết pháp. (Ngón cái và ngón trỏ chạm vào nhau thành vòng tròn, ba ngón còn lại dựng thẳng.)
Tay trái kết ấn ban nguyện. 
Khi kết ấn ban nguyện, lòng bàn tay mở ra, có một chiếc thuyền pháp nhô lên, từ trong lòng bàn tay trượt ra, đậu trên mặt biển.
Thuyền pháp màu vàng kim, gặp gió thì phóng to lên.
Trên mặt biển, một chiếc thuyền pháp hóa thành mười chiếc thuyền pháp, mười chiếc thuyền pháp hóa thành trăm chiếc thuyền pháp, trăm chiếc thuyền pháp hóa thành nghìn chiếc thuyền pháp, trên mặt biển rộng mênh mông có nghìn chiếc thuyền pháp.

- Hổ Đầu Kim Cang ra lệnh cho chúng sinh âm gian lên thuyền pháp. 
Cờ lệnh của Hổ Đầu Kim Cang vẫy lên: “Mời chúng sinh âm gian lên thuyền pháp.”
Chúng sinh âm gian lần lượt lên thuyền pháp theo cách bay lên, một lúc sau, nghìn chiếc thuyền pháp đều chật ních chúng sinh âm gian ngồi kín thuyền.

- A Di Đà Phật phóng vô lượng quang chiếu đến Lư Sư Tôn.
A Di Đà Phật ba lần phóng ánh sáng đến Lư Sư Tôn - Chữ Om màu trắng phóng ánh sáng trắng, chữ Ah màu đỏ phóng ánh sáng đỏ, chữ Hum màu lam phóng ánh sáng lam. Mi tâm ánh sáng trắng, họng ánh sáng đỏ, tim ánh sáng lam, ba ánh sáng Om Ah Hum bao trùm.
A Di Đà Phật lại phóng vô lượng ánh sáng chiếu đến Lư Sư Tôn. 

- A Di Đà Phật phóng vô lượng ánh sáng thanh tịnh chúng sinh âm giới.
A Di Đà Phật ở trong hư không hóa ra vô số thân, mỗi thân lại phóng vô lượng ánh sáng chiếu khắp chúng sinh âm gian trên thuyền pháp. 
Ánh sáng lóe lên quét qua quét lại, quét phía trước quét phía sau, cứ như thế lóe lên mấy lần, tất cả chúng sinh âm gian thân tâm thanh tịnh. 
Chúng sinh âm gian chỉ có thân tâm thanh tịnh mới có thể đến Tây phương Cực Lạc thế giới.
Thuyền pháp lần lượt bay đến cõi trời bên ngoài cõi trời, cõi trời bên ngoài cõi trời và thế giới Cực Lạc là một không gian bình đẳng, thế giới Cực Lạc và tất cả nghìn chiếc thuyền pháp là không gian bình đẳng, là cõi trời bên ngoài cõi trời, cho nên thuyền pháp chở chúng sinh âm gian thanh tịnh lần lượt bay đến cõi trời bên ngoài cõi trời.

- Lư Sư Tôn khai thị cho chúng sinh âm gian về sự thù thắng trang nghiêm của thế giới Cực Lạc.
Lúc này, Tây phương Cực Lạc thế giới hiện ra bốn cõi — Thường Tịch Quang, Thực Báo Trang Nghiêm, Phương Tiện Hữu Dư, Phàm Thánh Đồng Cư. Dựa theo tất cả chúng sinh âm gian: người thượng căn khí thì đến cõi Thường Tịch Quang; người trung căn khí thì đến cõi Thực Báo Trang Nghiêm, cõi Phương Thiện Hữu Dư; người hạ căn khí thì đế cõi Phàm Thánh Đồng Cư; ở đây có bốn cõi. Lúc này, Diêu Trì Kim Mẫu nói với tất cả chúng sinh âm gian: “Thế giới Cực Lạc ở trong Kinh A Di Đà, Kinh Vô Lượng Thọ Phật, Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, Luận Vãng Sinh, trong ba kinh một luận này, chư Phật mười phương cùng lộ ra tướng lưỡi rộng dài cùng ca ngợi thế giới Cực Lạc. Tây phương Cực Lạc thế giới có A Di Đà Phật, có Quan Thế Âm Bồ Tát, có Đại Thế Chí Bồ Tát là ba vị hỗ chủ. Ba vị hỗ chủ chính là ba vị hỗ chủ của Tây phương Cực Lạc thế giới, có thể nương dựa vào, có thể dựa vào Đại Thế Chí Bồ Tát, dựa vào Quan Thế Âm Bồ Tát, dựa vào A Di Đà Phật, cũng đều có thể đến Tây phương Cực Lạc thế giới, cho nên gọi là hỗ chủ.
Lúc này, Lư Sư Tôn giảng giải cho tất cả chúng sinh âm giới, Tây phương Cực Lạc thế giới chỉ có cực lạc chứ không có thế giới đau khổ, hơn nữa còn không thối chuyển. Thế giới Ta Bà của chúng ta đương nhiên có đau khổ, vì thế có một bài kệ, một bài ca dao là: “*Liên Hoa Đồng Tử gặp Kim Tiên. Khắp cả hư không hoa rơi xuống. Vượt mây nghe tiếng trời vi diệu. Lời nào tả xiết lạc cõi thiên.” *Đây chính là thế giới Cực Lạc vượt trội Dục giới thiên, Sắc giới thiên, Vô sắc giới thiên. Cho nên, tất cả tịnh thổ đều hơn cả lục đạo, đến tịnh thổ rồi thì bạn không chịu lục đạo luân hồi nữa. Có nghĩa là không bị luân hồi trong cõi trời, cõi người, cõi atula, cõi địa ngục, cõi ngạ quỷ, cõi súc sinh, đến tịnh thổ rồi thì sẽ không bị luân hồi, cho nên chúng sinh âm gian nghe xong thi đều hoan hỷ vô cùng.
Lư Sư Tôn lại giới thiệu thế giới Cực Lạc. Thế giới Cực Lạc có bảy lớp lan can, có bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, đều được làm từ bảy loại châu báu. Ở thế giới Cực Lạc có đình đài lầu gác, có cung điện giống như đế võng minh châu, kết mây mà thành, đều xây lên bởi vàng và châu báu.
Ngoài ra còn có Ma Ha Song Liên Trì, dưới đáy hồ đều rải cát vàng, được lót bằng cát vàng, cả thế giới Cực Lạc là vùng đất đẹp đẽ tuyệt vời. Trên mặt nước tám loại công đức có hoa sen to như bánh xe, trên hoa sen có Liên Hoa Đồng Tử.
Đồng thời gió thổi nhè nhẹ, lay động bảy lớp lưới, bảy hàng cây. Ngoài ra, bảy lớp lan can đều phát ra âm thanh hòa nhã, âm thanh đó đang dạy bạn niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng. A Di Đà Phật hóa hiện ra chim anh vũ, chim ca lăng tần già, chim cộng mạng, và tất cả các loài chim đều cất lên âm thanh hòa nhã, diễn xướng ba mươi bảy đạo phẩm, đó chính là tứ niệm xứ, tứ chính cần, tứ thần túc, ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần, bát chính đạo phần, để cho tất cả chúng sinh ở nơi đó nghe được âm thanh hòa nhã có thể học tập được ba mươi bảy đạo phẩm, người người tự động niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng, tu hành ba mươi bảy đạo phẩm, tu trì đến được tứ Thánh giới.
Thế giới Cực Lạc được Phật các phương đều cùng công nhận là một thế giới cực lạc. Trong Kinh A Di Đà có ghi chép “Thế giới Cực Lạc trong Kinh A Di Đà, Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Luận Vãng Sinh, trong ba kinh một luận này, chư Phật mười phương cùng lộ ra tướng lưỡi rộng dài cùng ca ngợi thế giới Cực Lạc. Tất cả đều ca ngợi thế giới Cực Lạc, tất cả chư Phật đều ca ngợi thế giới Cực Lạc.”

- Diêu Trì Kim Mẫu Hổ Đầu Kim Cang cũng ra lệnh cho chúng sinh đều đến Tây phương Cực Lạc thế giới, vì thế thế giới Cực Lạc có đầy đủ trang nghiêm, thù thắng, vi diệu và bất khả tư nghì.
1. Người thiếu thiện căn không thể đến thế giới Cực Lạc.
2. Phải nhất tâm bất loạn niệm Phật, Tây phương Tam Thánh tự nhiên sẽ xuất hiện tiếp dẫn, điều này căn cứ theo Phật Thích Ca Mâu Ni nói, muốn đến Tây phương Cực Lạc thế giới thì một là không thể thiếu thiện căn, hai là phải nhất tâm bất loạn niệm Phật. 
Bây giờ dùng nghìn chiếc thuyền pháp đưa các người từ thế giới ngũ trọc ác thế này lên cõi trời bên ngoài cõi trời, sau đó ngồi trên nghìn chiếc thuyền pháp cùng đến Tây phương Cực Lạc thế giới.

- Diêu Trì Kim Mẫu Hổ Đầu Kim Cang giơ cờ lệnh ra lệnh cho nghìn chiếc thuyền pháp khởi hành. 
Lúc này Diêu Trì Kim Mẫu Hổ Đầu Kim Cang giơ cờ lệnh ra lệnh: nghìn chiếc thuyền pháp lập tức xuất phát, lên đường. 

- Lư Sư Tôn nhắc nhở chúng sinh âm gian nhất tâm niệm Phật.
Lúc này Lư Sư Tôn cùng tất cả chúng sinh âm gian cùng niệm Phật, chúng ta liên tục trì tụng Phật hiệu, trì tụng trong lúc thuyền chạy. 
Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. Ôm a-mi-đê-wa sê.
Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. Ôm a-mi-đê-wa sê.
Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. Ôm a-mi-đê-wa sê.

- Trì danh niệm Phật
Chúng ta dựa theo điều nói đến trong Kinh A Di Đà mà trì danh niệm Phật. 
”Nam Mô A Di Đà Phật. Nam Mô A Di Đà Phật. Nam Mô A Di Đà Phật. Nam Mô A Di Đà Phật.”
Chúng ta niệm Phật vô số lần.

- Niệm tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là tổ sư Mật giáo, ngài là hóa thân của A Di Đà Phật, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ và Liên Hoa Đồng Tử đều là hóa hiện của A Di Đà Phật, niệm tâm chú của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ (21 biến hoặc hơn hoặc vô số biến). “Ôm ah hùm ben-za gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê.”

- Niệm chú vãng sinh:
Vì muốn vãng sinh Tây phương Cực Lạc thế giới, A Di Đà Phật có chú vãng sinh, chúng ta lại niệm chú vãng sinh (7 biến trở lên):
”Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê. Tô-tây-ya-tha. A-mi-ni-tô pô-pi. A-mi-ni-tô si-tam pô-pi. A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê. A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô. Ka-mi-ni ka-ka-na. Chê-tô ka-ni sô-ha.”

- Niệm tâm chú Văn Thù Sư Lợi, chú vãng sinh Văn Thù
Niệm xong chú vãng sinh, lại niệm tâm chú Văn Thù Sư Lợi và chú vãng sinh Văn Thù (7 biến trở lên):
”Ôm a-ra-pa-sa-na đi. Ôm man-su-sư-li-ya. Ôm a-pây-la-hùm kan-cha-la sô-ha.”
Một mặt bảo tất cả chúng sinh âm gian niệm theo Lư Sư Tôn, một mặt thuyền chạy về hướng Tây phương Cực Lạc thế giới.

- Niệm Thánh hiệu của Diêu Trì Kim Mẫu
Lư Sư Tôn lại nhấn mạnh, quan trọng nhất là chúng ta có ba Bổn tôn, một là Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn, hai là A Di Đà Như Lai, ba là Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thánh hiệu của Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn là rất quan trọng, Thánh danh của ngài tỏa đi khắp mười phương, phóng quang tiếp dẫn tất cả chúng sinh âm gian vãng sinh Phật quốc thanh tịnh. 
Niệm Thánh hiệu của Diêu Trì Kim Mẫu (vô số biến): “Diêu  Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn”. 
Lúc này tất cả chúng sinh âm gian đều niệm theo Lư Sư Tôn, niệm đến khi thân tâm của chúng sinh âm gian đều vui vẻ hoan hỷ.

- Khi chúng sinh âm gian đã đến được bờ bên kia, niệm tâm chú của ba vị hỗ chủ của Tây phương Cực Lạc thế giới. 
Chúng ta dựa vào sự tiếp dẫn của Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn, ở Tây phương Cực Lạc thế giới của A Di Đà Phật, Bổn tôn A Di Đà Phật là vị hỗ chủ lớn nhất, dựa vào pháp lực của Địa Tạng Bồ Tát mà nhiếp triệu tất cả chúng sinh âm gian tiến vào Tây phương tịnh thổ, lúc này thuyền pháp nhờ lực gia trì của tam căn bản mà đã đến được điểm cuối là Tây phương Cực Lạc thế giới, tất cả chúng sinh âm gian đã lên được bờ bên kia. Họ lễ bái ba vị hỗ chủ là Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Như Lai, Nam mô đại từ đại bi Quan Thế Âm Bồ Tát, Nam mô đại tinh tấn đại uy thế Đại Thế Chí Bồ Tát.”
Niệm: “Ôm a-mi-đê-wa sê. Ôm ma-ni pê-mi hùm. Ôm xuy-xuy-xua sô-ha.”
Tất cả chúng sinh âm gian lễ bái ba vị hỗ chủ, nghe được âm thanh hòa nhã, tất cả chúng sinh âm gian tự động niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng, tu hành ba mươi bảy đạo phẩm, quan trọng là thất bồ đề phần, bát chính đạo phần, tương lai người người tu trì, người người thành Phật.

- Cảm tạ, thỉnh cầu sáu Bổn tôn phóng quang gia trì Liên Sinh Lư Sư Tôn
Lư Sư Tôn lại thỉnh cầu Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn, Hổ Đầu Kim Cang gia trì cho Liên Sinh, gia trì Lư Sư Tôn, các vị phóng ba lần ánh sáng gia trì.
Niệm “Ôm chin-mủ sit-đi hùm. Ôm chin-mủ sit-đi hùm hùm pây.”
Cảm tạ Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Như Lai
Niệm: “Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. Ôm a-mi-đê-wa sê.” A Di Đà Phật phóng vô lượng ánh sáng gia trì Lư Sư Tôn.
Cảm tạ u minh giáo chủ đại nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, tay phải cầm tích trượng, tay trái cầm ngọc như ý quang minh (mani bảo châu). Ngài dùng quả cầu như ý quang mình trên tay bay lên hư không, chiếu sáng bốn phương, phóng quang gia trì cho Lư Sư Tôn: một là nghĩ gì được nấy, hai là thân thể khỏe mạnh, ba là vạn sự như ý, bốn là tu pháp thành tựu. Niệm “Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha.” 
Cảm tạ đại từ đại bi Quan Thế Âm Bồ Tát. Kính lễ đại từ đại bi Quan Thế Âm Bồ Tát, dùng cành liễu tịnh thủy, cành dương liễu cắm vào bình cam lộ rồi vẩy khắp người Sư Tôn ba lần. Bồ Tát dùng cành liễu tịnh thủy vẩy khắp ba nghìn, vẩy một lần thanh tịnh, vẩy hai lần tự tính thanh tịnh, vẩy ba lần tất cả tự tính thanh tịnh, chúng sinh tất cả thanh tịnh. Niệm “Ôm ma-ni pê-mi hùm.”
Cảm tạ Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát.
Kính lễ đắc đại thế chí Bồ Tát, đại tinh tấn Bồ Tát Đại Thế Chí Bồ Tát.
Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát, tay cầm hoa sen chưa nở phóng ánh sáng vàng chiếu đến Lư Sư Tôn, đại tư lương đầy đủ, phóng ánh sáng đỏ chiếu đến Lư Sư Tôn, đại kính ái viên mãn. 
Niệm “Ôm xuy-xuy-xua sô-ha. Ôm xuy-xuy-xua sô-ha.” 
Sáu vị đại Bổn tôn này —  Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn, Hổ Đầu Kim Cang, A Di Đà Phật, Địa Tạng Bồ Tát, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát phóng quang gia trì cho Lư Sư Tôn. 

- Chân Phật Tông Liên Sinh Thượng sư Lư Sư Tôn dựa vào tam căn bản, Diêu Trì Kim Mẫu, A Di Đà Phật, Địa Tạng Bồ Tát và tất cả quyến thuộc hộ pháp, tu hành nghìn chiếc thuyền pháp tất cả viên mãn. 
Niệm: Ôm bu-lin. Ôm bu-lin. Ôm bu-lin.

- Lư Sư Tôn tu hành nuốt nước bọt, nạp khí, thông trung mạch, mở năm luân xa. 
Sau đó tự mình thực hành nuốt nước bọt, nạp khí, thông trung mạch, mở năm luân xa. 
Sau đó là bản thân Sư Tôn thiền định, tự mình nuốt nước bọt, nạp khí, thông trung mạch, mở năm luân xa. Trước tiên nạp thủy nuốt nước bọt, làm pháp thần thủy, làm xong pháp thần thủy thì lại nạp khí, thông trung mạch, mở năm luân xa, tu pháp chuyết hỏa, sau đó lại nhập định cho đến khi xuất định. 

Đây chính là nghi quỹ siêu độ nghìn chiếc thuyền pháp của tôi.


### 49. Biệt Thời Luân


Liên Sinh Hoạt Phật Sư Tôn tôn quý kính yêu nhất!

Trước khi vào thư, đầu tiên chúc phúc thầy khỏe mạnh trường thọ, mãi chuyển pháp luân, nhậm vận tự tại và Sư Mẫu thân thể khỏe mạnh, tất cả cát tường, bình an hỷ lạc!

Sư Tôn tôn quý, tại Hồng Kông vào năm 2000, thầy đã công khai và trở thành vị Pháp Vương người Hoa đầu tiên truyền thụ đại pháp vô thượng Thời Luân Kim Cang. Năm ấy, con và sư huynh nhà con cũng may mắn được nhận quán đảnh trực tiếp, cầu nguyện sau khi chuyển thế bảy lần thì chắc chắn thành Phật, chúng con đặc biệt đưa con trai nhỏ bốn tuổi và mẹ con cùng đi đến Hồng Kông tham dự đại pháp hội long trời lở đất lần này.

Thời gian trôi qua. Không ngờ chủ nhật tuần trước của 22 năm sau, tức là ngày 16 tháng 10 năm 2022, con và sư huynh nhà con lại cùng may mắn ở trên “đám mây” tham gia đại pháp hội Hộ Ma Thời Luân Kim Cang mà thầy chủ trì tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự. 

Pháp hỷ và sự thù thắng của ngày hôm đó, đối với con mà nói, nói thẳng ra là khó mô tả, không thể nào so sánh! Nay con đặc biệt viết thư để bẩm báo với Sư Tôn niềm vui sướng bất ngờ và thu hoạch của con ngày hôm đó. Đồng thời cũng ca ngợi sự bất khả tư nghì và thù thắng vô thượng của đại pháp hội Hộ Ma Thời Luân Kim Cang mà thầy chủ trì. 

Chủ nhật tuần trước, vào đúng 6 giờ chiều theo giờ miền Đông Bắc nước Mỹ, con và sư huynh nhà con chỉnh tề ngồi ngay ngắn trước “đám mây”, cung kính chờ đợi thầy chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Thời Luân Kim Cang. 
Không ngờ rằng, khi pháp hội tiến hành đến lúc thầy khai thị pháp ngữ, liên quan đến khẩu quyết quan trọng của Thời Luân Kim Cang mà thầy nói đến:
”Con người chúng ta sống trên thế gian chính là sống trong thời gian và không gian, bạn sống ở đâu? Bạn sống trong thời gian, sống trong không gian. Pháp Thời Luân là dùng nội thời luân bạn tu luyện được ở trong thân thể bạn kết hợp với thời gian và không gian trong vũ trụ, chính là ngoại thời luân. Thời gian và không gian là ngoại thời luân, trong người bạn tu được là nội thời luân, bạn đem hai bánh xe thời gian này khớp lại với nhau thì bạn chính là biệt thời luân. Biệt thời luân chính là thành tựu rồi.” 
Khi nghe pháp ngữ khai thị này, con lập tức đưa khí, mạch, minh điểm mà mình tu luyện được, tức là nội thời luân, và dẫn ngoại thời luân của vũ trụ đến nội thời luân ở trên người mình. 

Trong chốc lát, con cảm thấy thân thể của mình lập tức giống như chạm vào điện, thậm chí giống như minh tinh trong phim ảnh đánh võ, như bị đối thủ điểm huyệt. Toàn thân con lập tức đông cứng lại, không thể cử động! Khi ấy con vẫn mở to hai mắt, nhìn về phía “đám mây”, lắng nghe khai thị trong pháp hội của thầy, cho đến khi hai mắt con vẫn mở và nhập định, cảm thấy không thoải mái rồi thì hai mắt con tự nhiên chầm chậm khép lại, rồi tiếp tục chìm vào nhập định. 
Con giống như con cua lông, giống như người sắt tượng đồng, giống như một ngọn đồi nhỏ. 
Như như bất động, chìm trong trạng thái đông cứng quên mình, hết sức chăm chú lắng nghe…
Con không ngừng tập trung chuyên chú, không ngừng tập trung tinh thần, không ngừng một hít một thở, sau đó lại tự nhiên không ngừng nín thở,… Khí của con lên xuống trong trung mạch, toàn thân tứ chi và các mạch, có một sự ma sát mềm mại, khinh an, đồng thời ở trước ngực con còn tỏa ánh hào quang. Con tiêu dao tự tại, vui vẻ vô cùng!

Cùng với việc này, con cảm thấy thân thể con giống như có thứ gì vô hình, từ từ biến hóa…. 
Con biến hóa thành giống như một khối lửa, bên trong lửa lại có thứ gì đó khác vươn ra bên ngoài thân thể con. Càng kỳ diệu hơn là, ngay cả đầu con cũng khác. Toàn bộ phần đầu, hai tai trái phải, không ngờ từ từ mỗi bên tai đều biến thành một cái đầu. Ngay cả phía sau cũng có một cái đầu! Vô cùng kỳ diệu và vô cùng bất khả tư nghì!

Trong chốc lát, con lập tức dự liệu được rằng, con đã dùng nội thời luân khí, mạch, minh điểm mình đã tu được bên trong thân thể mình kết hợp với ngoại thời luân của thời gian và không gian vũ trụ, hai bánh xe thời gian kết hợp lại, tương ứng rồi! Sự tương ứng của hai bánh xe này chính là biệt thời luân. A, giống như khi Sư Tôn khai thị đã nói, con chính là biệt thời luân rồi!

Và quá trình tương ứng kết hợp giữa nội thời luân và ngoại thời luân diễn biến thành biệt thời luân này xảy ra trong toàn bộ đại pháp hội Hộ Ma Thời Luân Kim Cang, từ lúc thầy bắt đầu khai thị pháp ngữ cho đến khi pháp hội hoàn toàn kết thúc. 

Giờ đây, sau khi có được biệt thời luân, con đã hoàn toàn trở nên thay da đổi thịt rồi! Con hoàn toàn biến thành giống như bị bánh xe thời gian lớn của thời luân lăn qua, xoay tròn, nghiền nát tất cả, tất cả phiền não, nghiệp chướng đều được thanh trừ sạch sẽ, phá hủy toàn bộ sinh lão bệnh tử, tất cả mọi thứ đều bị phá hủy, tất cả đều hóa thành không rồi!

A! Con may mắn quá!
Con theo Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật học Phật mà đạt được biệt thời luân, thật sự quá may mắn rồi!
Cảm ơn Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật vô cùng tôn quý của chúng con!
Cảm ơn tất cả chư Phật Bồ Tát của hư không vũ trụ!
Cảm ơn Thời Luân Kim Cang!
Cuối cùng chúc phúc Sư Tôn, Sư Mẫu đi Đài Loan hoằng pháp thuận lợi! Tất cả cát tường! Vạn sự như ý!
Ngu đệ tử: trợ giảng Liên Hoa Thái Hồng chắp tay đảnh lễ khấu tạ.
Viết vào ngày 20 tháng 10 năm 2022 (bang Vermont nước Mỹ). 

**(Hết.)**

---

---
# File: sach-tam-linh/297-but-ky-than-ky.md
# Title: 297. Bút ký thần kỳ
---

![image](/img/img_be44a997c191ae607c593963b5cc0a18.jpg)



## Bút ký thần kỳ


🪷 Tri kiến thần kỳ

Văn tập: 297
Xuất bản: 12/2023
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


Cuốn sách này, tôi nhấn mạnh ba chữ:
Kỳ — Kỳ diệu.
Thần — Bất khả tư nghì.
Xảo — Rất nhiều trùng hợp.

Trước tiên tôi viết về một việc đã xảy ra trong quá khứ để chứng minh cho ba chữ này, ở trong sách tôi từng nói như thế này:
Tôi xem phóng sự “Hoa trong gió ở Nayoro” trên ti vi.
Đây là nói về Hokkaido ở Nhật Bản có một thành phố ở tít phía Bắc tên gọi là Nayoro. Ở đó thường có tuyết, khi tuyết rơi, hoa tuyết bay bay, đẹp tuyệt vời.
Tuyết là hoa trong gió. Vì thế, phóng sự đó tên là “Hoa trong gió ở Nayoro”. Tôi xem xong thì có ấn tượng sâu sắc.
Sau đó, tôi cùng đồng môn đi du lịch đến Hokkaido ở Nhật Bản.
Tôi hỏi hướng dẫn viên du lịch: 
”Ở vùng Hokkaido có một thành phố tên là Nayoro, anh có biết không?” 
Hướng dẫn viên du lịch đáp: 
”Không biết. Nhật Bản không có nơi nào như thế!” 
Tôi nói:  
”Có.” - Tôi thật sự tin phóng sự kia là thật. 
Hướng dẫn viên trả lời chắc nịch: 
”Không có.” 
Đúng lúc chúng tôi đang thảo luận.
Đột nhiên có chiếc xe buýt du lịch “két” một tiếng, dừng ngay trước mặt chúng tôi. Trên biển số xe viết chữ to “Nayoro”. Là xe du lịch của Nayoro.
Người hướng dẫn viên du lịch này trong sát-na há mồm trợn mắt không thốt nên lời. Sau đó xem thử tên của người lái xe, không ngờ là “…. Thắng Ngạn”. 
Ha! Là tên của tôi.
Lại nhìn kĩ biển số xe, không ngờ khiến tôi ngây người ra! Là 627. Tháng 6 ngày 27 là sinh nhật theo Dương lịch của tôi (Lư Thắng Ngạn). 
Tất cả đồng môn nhìn thấy cảnh ấy thì đều la lên: 
”Kỳ lạ quá!”
”Xuất thần quá!” 
”Quá trùng hợp!” 
Đây gần như là chuyện không thể nào, xe du lịch của Nayoro lại dừng ngay trước mặt chúng tôi, không sớm hơn không muộn hơn.
Tài xế lái xe tên là “… Thắng Ngạn”, họ tên của người Nhật thường có bốn chữ, còn tôi là Lư Thắng Ngạn. 
Biển số xe là 627. Là ngày sinh theo Dương lịch của tôi, thật không thể tưởng tượng được! Khéo tới mức không thể nào khéo hơn!
Tôi nói: 
Trong cuộc đời tôi có quá nhiều “kỳ”, “thần”, “xảo”, những sự trùng hợp thần kỳ này tôi viết ra thành sách, tên gọi cuốn sách này là “Bút Ký Thần Kỳ”. 
Xin mời các vị đại đức thưởng thức cuốn kỳ thư này của tôi.
Trong cuốn sách này là: 
”Nhân duyên quả báo.” 
Chúc bạn mở sách có được lợi ích.

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn**
Sheng-Yen Lu
17102 NE 40th CT,
Redmond WA 98052
U.S.A
Tháng 6/2023


### 01. Ý tưởng lạ về biển số xe


Hiện tại tôi có hai chiếc xe, một chiếc là Rolls-Royce, chiếc kia là Maserati. 
Hai chiếc xe này đều là sư tỉ Hanifa tặng. 
Hai chiếc xe này của tôi khi xin biển số xe đã không đặc biệt lựa chọn con số, đều do đơn vị có liên quan tự phát ra.
Biển số xe Rolls-Royce là: 
”BUC6428” 
Biển số xe Maserati là: 
”AVT9951” 
Khi biển số xe phát ra, tôi gắn lên xe, không cảm thấy có gì khác thường, không cảm thấy có gì đặc biệt.
Sau đó là đồng môn phát hiện: 
”Biển số xe có bí ẩn.”
Tôi hỏi: 
”Bí ẩn gì?” 
Đệ tử đáp: 
”BUC chính là “Phật đến rồi” trong tiếng Anh, còn 6428 tức là “chính là bố mày”, tiếng Đài Loan gọi là “đích thị ba mày”, cũng có nghĩa là “bố mày”.” 
Đệ tử nói tiếp: 
”Tóm lại là biểu thị ý nghĩa “Phật đến rồi, chính là tôi” .” 
Tôi nghe xong: 
”Cảm thấy khá thú vị!”
Còn nữa: 
Đệ tử nói: 
”AVT tiếng Anh là avatar, avatar cũng có nghĩa là người bán thần.”
Đệ tử còn nói: 
”Biển số xe là 9951, có nghĩa là mãi mãi tôi là một người.” 
Đệ tử nói tiếp: 
”Ở đây nói rằng, Lư Sư Tôn là avatar - người bán thần, trải qua rất nhiều năm lâu thật lâu, tôi chính là một người bán thần.” 
Tôi nghĩ: 
”Cũng cảm thấy thú vị!” 
Hai chiếc xe này, hai biển số xe này, hình như vô tình nói lên rằng: 
”Có một vị Phật đã đến thế giới Ta Bà, ngài không phải ai khác, ngài chính là tôi (Lư Sư Tôn).” 
”Ngài hóa thành nửa thần nửa người, trong thời gian rất rất lâu, tôi chính là người số một.” 
Đây chính là bí ẩn của biển số xe.
Lư Sư Tôn tôi nghĩ: 
Tôi không muốn huênh hoang như vậy.
Tôi chỉ là một nhân vật nhỏ.
Cuộc đời này đã đi qua 80 năm, già rồi, tất cả cũng chẳng mong gì, thật ra cũng là mong chẳng được.” 
Học Phật đến nay
Đã có tam minh: 
Thiên nhãn minh — kiến chứng diện mạo vốn có. 
Túc mệnh minh — tam tế nhất như. (đời huyễn)
Lậu tận minh — phiền não không có nữa, bám chấp không có nữa, tất cả đều không.
Khai ngộ của tôi là: 
”Không liên quan!” 
Về căn bản trí — Phật tính thường tịch.
Về phân biệt trí — thiện xảo độ chúng sinh. (phương tiện độ chúng sinh)
Còn về bí ẩn của biển số xe: 
Cười ha ha một cái! 
Phật đến rồi! 
Người bán thần! 
Đây chính là kỳ, thần, xảo.
Các vị đại đức, đối với hai biển số xe này của tôi, các bạn có cách nghĩ đặc biệt nào không? Xin chỉ giáo!


### 02. Thà rằng tôi khóc


Đêm ngày 11 tháng 5 năm 2023. 
Duy Ma Cật Đại Sĩ (Kim Túc Như Lai) hiện thân trong hư không.
Ngài hỏi tôi: 
”Lư Sư Tôn! Ngài đã hoàn toàn buông bỏ chưa?” 
Tôi đáp: 
”Hoàn toàn có thể buông bỏ.” 
Ngài hỏi: 
”Thật không?” 
Tôi đáp: 
”Thật.” 
Duy Ma Cật Đại Sĩ chỉ vảo hư không, trong hư không hiện lên một tịnh quang tròn lớn, tịnh quang sáng đẹp rực rỡ. 
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói: 
”Lư Sư Tôn! Chỉ cần ngài hòa nhập tâm quang của mình vào trong tịnh quang tròn lớn này thì sẽ trở về bản địa của ngài.” 
Lúc này tôi mới hiểu, thì ra đến lúc rồi, là lúc tôi (Lư Sư Tôn) trở về hư không rồi.
Tôi nhìn thấy: 
Đại viên tịnh trí quang. (Mẫu quang)
Tôi tỏa ra tâm quang. (Tử quang)
Tử quang Mẫu quang gặp nhau.
(Đây là sự viên tịch của Mật giáo, tiến vào niết bàn.) 
Thường ngày tôi luôn luôn nghĩ thế này: 
Tiền — chẳng cầu gì.
Sắc — vô thường.
Danh — hão huyền.
Sống ở nhân thế gian, đã không còn vướng bận, ở lại cũng được, không ở lại cũng được. Rốt cục thế giới Ta Bà này chỉ là một huyễn cảnh, tôi đã hiểu thực tướng phi tướng. 
Còn về con cái. Con cháu tự có phúc của con cháu, không vì con cháu mà làm trâu ngựa.
Còn về Sư Mẫu Thượng sư Liên Hương. Vợ chồng vốn là chim một rừng, khi tai vạ đến thì con nào con nấy tự bay.
Những điều này,
Tôi có thể nhìn thấu.
Cho nên đời người thật sự như mộng như huyễn, những cái này tôi thật sự có thể buông bỏ!
(Còn Chân Phật Tông? Tôi nói, nó có số mệnh của nó.) 
Buông bỏ! 
Buông bỏ! 
Buông bỏ! 
Chính vào sát-na này, tôi đột nhiên nghĩ đến một ngôi nhà, trong ngôi nhà có một người phụ nữ già ngồi xe lăn.
Bà ấy là Thượng sư Liên Hương.
Có bệnh.
Ngồi xe lăn.
Bà ấy mãi mãi không nhìn thấy tôi nữa rồi, tôi biến mất rồi thì mãi mãi không gặp được nữa, bà ấy sẽ thế nào? Khoảng thời gian này tôi thường nói đến chuyện bà ấy đi trước hoặc tôi đi trước, hoặc hai người cùng đi. Hai người cùng đi thì không thể nào, không phải bà ấy đi trước thì là tôi đi trước.
Tôi đi trước có được không? Có phải là quá vô tình không?
Tôi nghĩ: 
Thà rằng tôi khóc! 
Chứ không muốn bà ấy khóc! 
Khi tôi nghĩ đến “thà rằng tôi khóc”. 
Đại viên tịnh trí quang biến mất! 
Duy Ma Cật Đại Sĩ cũng biến mất! 
Tôi ở trong căn phòng trống vắng, dường như có được gì đó, cũng dường như đánh mất gì đó, tôi cứ nghĩ mãi, nếu lần này tôi ra đi có đúng không? Tôi không ra đi có đúng không?
Tôi chỉ nghĩ: 
”Thà rằng tôi khóc!” 


### 03. Tiếng tụng kinh trên trời


Quãng thời gian năm 2023, Thượng sư Liên Hương có thể tự tai nghe thấy tiếng tụng kinh trên trời. 
Đầu tiên, bà ấy cho rằng có pháp sư đang mở nhạc tụng kinh, nhưng hỏi ra thì kết quả là không có.
Một ngày hai mươi tư giờ đều đang tụng kinh.
Ngoài lúc ngủ không nghe thấy ra thì bà ấy từng phút từng giây đều có thể nghe thấy.
Khi Thượng sư Liên Hương trở về Đài Loan cũng vẫn nghe thấy. Trở về Mỹ cũng vẫn nghe thấy.
Ở trên máy bay. 
Tôi hỏi: 
”Vẫn nghe thấy tiếng tụng kinh à?” 
Bà ấy đáp: 
”Đúng. Vẫn nghe thấy!” 
Đây chính là thiên nhĩ thông của Thượng sư Liên Hương, tôi nói bà ấy đã có thiên nhĩ thông.
Tôi hỏi: 
”Là một người tụng kinh à?” 
Bà ấy đáp: 
”Không phải, là một nhóm tụng kinh.” 
Tôi hỏi: 
”Ngôn ngữ gì?” 
Bà ấy đáp: 
”Ngôn ngữ của chúng ta.” 
Tôi hỏi: 
”Bà đều nghe hiểu hết ư?” 
Bà ấy đáp: 
”Có một số cái tôi thuộc thì tôi sẽ hát theo. Có một số cái tôi không thuộc, chỉ có thể nghe.” 
Bà ấy nói: 
”Khi họ tụng nhanh, tôi không thể nghe được rõ.” 
Thượng sư Liên Hương nói: 
”Nếu tôi đang làm việc, hoặc nói chuyện với người khác, tiếng tụng kinh sẽ nhỏ đi.” 
Tôi hỏi: 
”Nhóm tụng kinh trên trời vì sao lại tụng kinh cho bà nghe?” 
Bà ấy đáp: 
”Đang tiêu nghiệp chướng của tôi nhỉ!”
Tôi nói với Thượng sư Liên Hương: 
”Điều này rất hiếm có, họ ngày đêm tiêu tai ban phúc cho bà, bà nghe thấy thì phải niệm kinh niệm Phật theo họ.”
Bà ấy nói: 
”Tự nhiên là được.”

Có thể nghe thấy tiếng tụng kinh trên trời, có kỳ không?
Kỳ!
Có thể nghe thấy tiếng tụng kinh trên trời, có thần không?
Thần!
Có thể nghe thấy tiếng tụng kinh trên trời, có xảo không?
Xảo! (Chỉ một mình bà ấy nghe thấy, người xung quanh đều không nghe thấy.)
Tôi hỏi: 
”Có phối nhạc không?” 
Bà ấy đáp: 
”Có tiếng mõ, có chuông trống, có liễu âm……”
Tôi hỏi: 
”Tụng kinh gì?” 
Bà ấy đáp: 
”Cũng có Phổ Môn Phẩm, có thanh tịnh Pháp thân Phật, cũng có niệm Phật, họ cũng tụng rất nhiều kinh điển, có một số tôi cũng không hiểu.” 

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người: 
Chính tôi cũng từng nghe thấy tiếng tụng kinh trên trời, nhưng không phải là ngày ngày hai mươi tư giờ. 
Nghe thấy có phối nhạc bằng kèn suona.
Rất hay!
Giống như thiên nhạc, nghe xong tinh thần sảng khoái.
Rất tuyệt diệu!


### 04. Chiếc xe kỳ diệu


Tôi ở Seattle.
Hàng ngày, tôi lái xe chở Thượng sư Liên Hương từ Nam Sơn Nhã Xá đến Chân Phật Mật Uyển. 
Thật ra không phải là rất xa, chỉ mất mười phút là đến rồi.
Đoạn đường này phải đi qua công viên công nghệ của công ty Microsoft, cả đoạn đường phong cảnh rất đẹp.
Nhất là mùa thu, dọc đường là cây phong đỏ.
Vào lúc bình thường thì một màu xanh ngắt.
Bởi vì Thượng sư Liên Hương có vấn đề về thân thể, trước khi ngồi lên xe tôi, bà ấy đi lại khó khăn.
Lúc thì y tá đỡ bà ấy lên xe.
Lúc thì tôi đỡ bà ấy lên xe.
Chúng tôi còn phải giúp bà ấy thắt dây an toàn, bà ấy thường tay chân lóng ngóng. 
Nhưng, chỉ cần hễ ngồi lên xe.
Đến Chân Phật Mật Uyển là bà ấy tự nhảy từ trên xe xuống, chân tay linh hoạt vừa nhảy vừa nhún xuống xe, tự đi lên cầu thang đến phòng của mình.
Từ đầu đến cuối đều như một người khác.
Lên xe thì ốm yếu.
Xuống xe thì chạy như thỏ.
Quái lạ! 
Quái lạ!
Tôi và đồng môn nhìn thấy thì đều lè lưỡi, trợn mắt, cảm thấy thật không thể tưởng tượng được!
Đây không phải một lần.
Mà là lần nào cũng thế.
Lên xe khổ sở, xuống xe như thường. Mọi người đều thấy rất kỳ quái, thế là chúng tôi đặt biệt hiệu cho chiếc xe là “xe trị liệu tâm linh”.
Rất thần.
Rất kỳ.
Rất xảo.
Không thể giải thích.
Chỉ là trong mười phút đã hoàn toàn biến thành người bình thường. Cũng chẳng có lý do gì để nói là cố ý giả vờ.
Nói không phải giả vờ thì chuyện này là thế nào?

Chỉ có một chuyện muốn kể với mọi người: 
Trên xe của tôi có một vị Quan Âm nhỏ xíu đúc bằng vằng treo ở dưới gương chiếu hậu, treo lên thì cứ lắc la lắc lư.
Còn nữa, 
Mỗi khi lên xe tôi lại tụng Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh.
Tôi đọc thuộc lòng.
Lên xe thì bắt đầu niệm, niệm đến Chân Phật Mật Uyển thì cũng vừa kết thúc.
Tôi thích: 
”Diệt được khổ sinh tử, tiêu trừ các độc hại.” 
Có lẽ là Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát gia trì.
Ai biết được?
Các vị đại đức! Có ai có thể hiểu, một người khi lên xe thì bước đi khó khăn, sau mười phút đồng hồ, xuống xe lại có thể chạy. 
Ai có thể giải thích?

Tôi viết bài thơ: 

*Nhiều bệnh gầy gò chân teo tóp
Khom người lên xe cũng chẳng xong
Đỡ lấy thân thể tựa như gió
Ô tô lăn bánh nhẹ tênh tênh*

*Đến khi tới được nơi cần đến
Giống như tỉnh rượu tỉnh giấc mơ
Bỗng dưng nhún nhảy chân thoăn thoắt
Trăm bệnh trên người biến mất tiêu.*


### 05. Khỏi bệnh đau xương cổ


Đây là đệ tử Liên Hoa Hiểu Quang ở California viết: 
*Đệ tử ở nhà mình tại California nước Mỹ. 
Tối thứ bảy tuần trước (ngày 3 tháng 6 năm 2023). 
Sau buổi đồng tu cuối tuần ở Seattle Lôi Tạng Tự, Lư Sư Tôn gia trì cho mọi người, đệ tử nhìn vào màn hình ti vi nhắm mắt thành tâm tiếp nhận.
Đột nhiên cảm nhận có một sức mạnh rất lớn khiến đệ tử mở to hai mắt.
Đệ tử tận mắt nhìn thấy Pháp thân của Lư Sư Tôn xuất hiện trước mặt đệ tử, Pháp thân cao bốn mét.
Chỉ thấy trước tiên Lư Sư Tôn dùng tay sờ đầu gia trì cho đệ tử, lập tức toàn thân đệ tử tràn đầy ánh sáng và năng lượng. Tiếp theo Lư Sư Tôn đưa tay vào xương cổ của đệ tử, đặt vào đó một cái đinh bạc sáng loáng, rồi hình như cũng lấy từ trong xương cổ ra thứ gì đó.
Thốt nhiên cảm thấy Lư Sư Tôn ra lệnh cho đệ tử mở miệng ra, Lư Sư Tôn cầm một cái cốc bằng bạch ngọc, từ bên trong đổ ra cam lộ mát lạnh, đổ vào trong miệng của đệ tử.
Lúc này, không trung có âm thanh nói: 
”Sự thành tâm của anh cảm động Lư Sư Tôn và Phật Bồ Tát, sẽ để cho anh qua được nạn này.” 
Còn nữa,
Đệ tử hôm qua đang tu pháp Quan Âm thân đàn thành tránh tai nạn, lúc nhập Tam ma địa. 
Nhìn thấy kiếp trước của đệ tử là một tướng quân thời cổ đại, dùng cung tên bắn tướng lĩnh thua trận. Vị trí bắn trúng chính là chỗ ở xương cổ mà kiếp này bị đau. Rồi còn có âm thanh nói với đệ tử rằng đệ tử và Lư Sư Tôn có duyên phận bảy đời. Trong đó có ba đời rất sâu, là pháp duyên.*

🌟

Liên Hoa Hiểu Quang bị đau xương cổ, bệnh này đã được chữa khỏi rồi.
Tôi muốn nói về cảm tưởng của tôi (Lư Sư Tôn): 
Pháp thân của tôi cao bốn mét.
Thật ra Pháp thân là không cao thấp.
Khi cao thì như một ngọn núi lớn, cao giống như núi Tu Di.
Cũng có thể nhỏ như cây kim.
Như một hạt vừng.
Bởi vì Pháp thân có trăm nghìn triệu hóa thân, vì bố thí cho những nhu cầu của chúng sinh mà hóa hiện.
Vì thế,
Có thể lớn có thể nhỏ.
Có thể nhiều có thể ít.
Cho dù Lư Sư Tôn tiến vào niết bàn, Pháp thân vẫn lần lượt xuất hiện.
Cũng chính là nghìn nơi thỉnh cầu nghìn nơi hiện, biển khổ thường làm thuyền chở người.

Còn nữa: 
Nhân quả báo ứng sẽ không sai một sợi tơ một sợi tóc nào.
Kiếp trước là tướng quân thời cổ đại, bắn chết vào xương cổ của tướng địch.
Đời này, xương cổ bị đau.
Có người nói: 
”Đây là trách nhiệm phải làm, như thế cũng có báo ứng ư? Lẽ nào nhân quả không phân biệt phải trái đúng sai?” 
Ôi! Bản thân chiến tranh chính là tội ác.
Theo Lư Sư Tôn tôi biết: 
Công lý tình người giữa đúng sai
Tình người công lý khó phân biệt
Nếu xét về lý mất tình người
Thuận theo tình người lý khó tròn.
Tóm lại, nợ một trả một, đúng đúng sai sai khó so bì!
Chỉ có gạt qua một bên con đường sinh tử, nhảy qua cửa đúng sai. (tức là đi tu hành)




### 06. Sự mệt mỏi trên pháp tọa


Ở Seattle nước Mỹ, buổi đồng tu vào tối thứ bảy hàng tuần. 
Thật sự rất xin lỗi các tín chúng.
Tôi thường xuyên ở trên pháp tọa, vừa nhắm mắt vào là nhập “tứ ma địa”, thế là: 
Thân thể xiêu vẹo.
Đầu liên tục gật gù.
Lắc lư hai bên.
Nửa tỉnh nửa ngủ.
Tôi mệt đến mức ngủ gật, không thể nào phấn chấn tinh thần, liên tục ngáp, hai mắt lờ đờ.
Thật may, người quay phim phát sóng trực tiếp biết tôi mệt mỏi bèn di chuyển ống kính đi chỗ khác.
Nhưng, tín chúng ngồi dưới đều nhìn thấy tôi ngủ mất rồi.
Tôi từng hỏi tín chúng: 
”Ai nhìn thấy tôi ngủ?” 
Mọi người đáp: 
”Không có!” 
Chỉ có một cháu bé ngây thơ đáp: 
”Con nhìn thấy Lư Sư Tôn ngủ.” 
Ha!
Trẻ con chẳng có mưu đồ gì, chúng rất ngây thơ nói: “Lư Sư Tôn ngủ gật rồi.” 
Tôi từng tự cười mình: 
”Sau này pháp tọa đổi thành giường lớn, trên đó có gối, chăn, tôi ngủ trước, tỉnh dậy thì lại thuyết pháp!” 
Tôi cảm thấy tôi bị mệt mỏi như vậy do nguyên nhân là: 
Ban ngày quá mệt.
Tuổi tác đã cao.
Sức sống kém đi.
Vừa lên pháp tọa, tinh thần thả lỏng, rất nhanh chóng tiến vào thế giới hỗn độn. 
Cá nhân tôi, trời không sợ, đất không sợ, nói tỉnh là tỉnh, nói ngủ là ngủ, không câu nệ tiểu tiết, ngay cả trên pháp tọa cũng có thể ngáy ầm ầm, đúng là tuyệt vời!
Sau đó,
Sau pháp tọa của tôi là Địa Tạng Bồ Tát, ngài thật sự rất từ bi. Có một lần, tôi sắp ngã khỏi pháp tọa, ngài từ phía sau đưa tay ra, dùng dây an toàn buộc tôi ở trên ghế pháp, khiến tôi không thể cử động được. (Giống như dây an toàn trên xe ô tô.)
Tôi rất cảm tạ lòng từ bi của Địa Tạng Bồ Tát, ngài muốn tôi ngủ trang nghiêm một chút. 
Địa Tạng Bồ Tát dùng dây an toàn buộc tôi lại cũng là một sự việc kỳ lạ lớn.
Tôi hướng về Địa Tạng Bồ Tát liên tục nói: 
”Cảm ơn! Cảm ơn! Cảm ơn đại ca.”
Có khi,
Vào lúc đầu tôi đang gật gù câu cá, Địa Tạng Bồ Tát búng ngón tay bên cạnh tai tôi: 
”Pặc” một tiếng!
Tôi liền mở to mắt ra. 
Nhìn xung quanh. 
Không có ai búng ngón tay.
Người búng ngón tay vẫn là Địa Tạng Bồ Tát.
Tôi lại ngủ.
Ngài lại búng ngón tay, “pặc” một tiếng, tôi lại tỉnh! Ôi! Cảm tạ Địa Tạng Bồ Tát! Cảm ơn!
Đợi tôi chợp mắt một lát, tỉnh dậy là có tinh thần khai thị thuyết pháp rồi!
Tôi nói: 
Tượng Phật có thần.
Làm được việc lạ.
Đúng là vô cùng tài tình!
Tôi chân thành cầu nguyện: 
Chỉ mong chúng sinh có thể thoát khổ, chỉ mong Lư Sư Tôn có thể thoát buồn ngủ.


### 07. Liên Hoa Mộc Minh tự thuật


Liên Hoa Mộc Minh hiện đang ở Chiang Mai Thái Lan, anh ấy từ Hồng Kông di cư đến Thái Lan. 
Anh ấy tự thuật như sau: 
Sư Phật!
Đệ tử chưa bao giờ cùng thầy gặp mặt và nói chuyện. Nhưng con có thể cảm ứng được Pháp thân của thầy. 
Tương tác.
Giao lưu.
Trong toàn bộ pháp giới, không có chỗ nào là thầy không tồn tại.
Có mấy lần con mắc bệnh nặng, lúc hiểm nghèo hoặc đi cấp cứu, con nhìn thấy bóng hình của Sư Phật đi theo.
Chân thành cảm tạ thầy!
Năm tháng như mộng, vào 22 năm trước, từ trong lợi ích đời sống thực tế, chuyển hóa thành sự phát triển tu dưỡng tâm linh. 
Vì ở một hiệu sách gần nhà mình ở Hồng Kông đã mua sách của Sư Phật.
Chính vì như vậy, trong dòng chảy cuộc đời, trải qua thời thanh niên và trung niên, năm nay con đã 52 tuổi rồi, di cư đến Chiang Mai Thái Lan cũng đã 13 năm tròn. 
Nhờ có sự gia trì của Sư Phật và Bồ Tát mà con dần dần trưởng thành.
Vào ba năm trước con mới có phòng làm việc của mình.
Con làm nghề vẽ tranh, trong ba năm qua, con đã tập hợp tất cả tác phẩm (tranh vẽ) trong nhiều năm. 
Muốn chia sẻ với thầy đầu tiên!
Con nhận được sự kêu gọi của thầy nên mới đến Chiang Mai Thái Lan. (Đó là nơi cô Đặng Lệ Quân qua đời.)
Có một bài hát: 
*Đi khắp mọi nơi hỏi hành tung
Chỉ mong kiếp sau lại tương phùng
Chốn người phiêu bạt nào ai biết
Chỉ có hoa đào cười gió xuân.*
Còn nữa: 
Sư Phật! 
Con tin tưởng sâu sắc vào Phật pháp và triết học, khi còn trẻ, tâm rất hiếu kỳ, con nghiên cứu học tập, đã đi tìm hiểu về chân đế.
Mười năm nay không đi ra ngoài học tập, chùa chiền đều không đi, nhưng con chuyên chú vào nghiên cứu nội tâm.
Con tin tưởng sâu sắc có: 
Bậc cao minh.
Bậc thâm minh.
Trong nội tâm con, Phật giống như sự tồn tại của ánh sáng, ánh sáng có thể chiếu đến tất cả những con người thanh tịnh.
Tâm tịnh Phật quang tịnh.
Tâm minh Phật quang minh.
Vào một buổi tối nửa tháng trước, Phật đã khai sáng cho con: 
Mộc Minh, con tồn tại là để nhìn thấy nỗi đau buồn của con người, phải vượt qua đau buồn, vậy mới có thể có ánh sáng.
Mộc Minh, con hãy nhìn thế giới là giấc mộng, vô thường, biến hóa đều là mới.
Đi hưởng thụ cái mới.
Hưởng thụ điều kỳ lạ.
Đừng bám chấp.
Liên Hoa Mộc Minh kính thư.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) nhận được một cuốn sách và lời tự thuật trong cuốn sách.
Cảm tưởng của tôi như sau: 
Tôi tán thưởng tranh của anh ấy, mỗi bức tranh đều bộc lộ tâm linh.
Phóng khoáng.
Linh tính. 
Siêu nhiên.
Anh ấy có thể cảm ứng thấy Pháp thân của tôi và Pháp thân của chư tôn, đây là điều tất nhiên. (Bởi vì anh ấy đã dùng tâm linh.)
Tôi luôn cảm thấy Liên Hoa Mộc Minh cả người đều đầy ắp linh khí, con mắt to to, mắt kính to to.
Lông mày cong và rậm.
Cái mũi cao thẳng.
Còn có nụ cười tủm tỉm của nghệ sĩ.
Tấm ảnh đàn thành phía sau có rất nhiều tượng Phật, tạp mà không loạn, loạn mà không tạp.
Bày biện đàn thành chính là nghệ thuật của anh ấy. (Quy tắc không theo quy tắc.)
Tôi còn tán thưởng anh ấy ở một điểm nữa: 
Cá nhân tôi là tùy duyên mà đi.
Liên Hoa Mộc Minh là tùy thích mà đi.
Anh ấy di cư đến Chiang Mai Thái Lan để làm gì?
Lẽ nào là: 
*Tiếc hoa xuân dậy sớm
Yêu trăng đêm ngủ muộn
Múc nước trăng trong tay
Làm hoa thơm đầy áo.*
Anh ấy đi tìm hình bóng của Đặng Lệ Quân sao? *Chốn người phiêu bạt nào ai biết, chỉ có hoa đào cười gió xuân.*
Đây cũng là nguồn gốc của cảm hứng sao?
Người nghệ sĩ có tâm tư của người nghệ sĩ, luôn khiến người khác không nắm bắt được.
Dù thế nào, anh ấy cảm ứng thấy Pháp thân của tôi (Lư Sư Tôn), Pháp thân của chư Phật Bồ Tát.
Đương nhiên,
Cũng sẽ có ngày gặp lại Đặng Lệ Quân.
Tôi nói: 
*Không chỉ khỏi thăm nơi vườn đào
Đến cả cung trăng gặp Hằng Nga
Thiên cơ trong tranh người không hiểu
Chỉ tôi Liên Sinh cười ha ha.*


### 08. Tựa như mơ. Chẳng phải mơ


Bài viết này đã ghi chép chân thực sự tương tác giữa Lệ Phi và Pháp thân Lư Sư Tôn. Nhật ký Lệ Phi như sau: 
Tháng 3 năm 2023, khi tôi từ Seattle bay trở về Singapore. 
Lư Sư Tôn nói: 
”Pháp thân tôi sẽ đi về cùng cô!”
Quả nhiên là vậy. 
Tôi (Lệ Phi) ở trên máy bay, nhìn ra ngoài cửa sổ, trên đám mây xuất hiện vòng ánh sáng cầu vồng, trong vòng ánh sáng có một vị Lư Sư Tôn ngồi trên tòa sen.
Lúc này,
Nắng chiều màu vàng kim.
Mây màu vàng kim.
Trời màu vàng kim.
Biển và mặt đất màu vàng kim.
Ánh sáng, điềm lành, vui vẻ.
Lệ Phi biết Pháp thân của Lư Sư Tôn đã cùng tôi trở về, nước mắt tôi lập tức tuôn trào.
Dưới đây là sự tương tác giữa Pháp thân và Lệ Phi trong tháng 5. 

Ngày 1 tháng 5. 
Pháp thân Sư Tôn uống một ngụm trà, đặt chén trà xuống, tôi cầm chén trà lên uống. Trà không phải là trà, là cam lộ.
Tôi biết là cam lộ, bởi vì chưa bao giờ ở nhân gian tôi từng uống mùi vị như thế.
Tôi nói với Pháp thân Sư Tôn: 
”Tháng 6 muốn đi Seattle tìm thầy, chúc mừng sinh nhật thầy.”
Pháp thân không nói gì.
”Đi hay không đi?” - Tôi lại hỏi.
Pháp thân nói: 
”Đông người lắm! Tùy ý cô.” 

Ngày 2 tháng 5.
Pháp thân hỏi: 
”Lệ Phi, cô sẽ mặc quần áo màu gì?” 
Lệ Phi đáp: 
”Màu trắng.” 
Pháp thân nói: 
”Màu trắng tượng trưng cho sự thánh khiết.” 

Ngày 8 tháng 5.
Pháp thân muốn Lệ Phi tặng kẹo cho đồng môn.
”Ý nghĩa gì?” 
Pháp thân đáp: 
”Để chúng sinh hoan hỷ.”

Ngày 16 tháng 5. 
Pháp thân đội mũ Ngũ Phật, mặc long bào, cầm phất trần để đặc biệt gia trì cho Lệ Phi! Bởi vì trong thời gian này có một số chuyện vặt quấy rầy, tâm trạng suy sụp, rất mệt rất mệt.
Sau khi được gia trì.
Tất cả nhanh chóng cải thiện, cảm ơn!

Ngày 23 tháng 5.
Tôi lại gặp khó khăn.
Pháp thân hỏi: 
”Vì sao không vui?” 
Tôi không trả lời.
Pháp thân nói: 
”Tôi có thể khiến cô vui!”
Pháp thân tan vào thân tôi, đột nhiên tâm liền rộng mở, vui vẻ vô cùng.
Vừa ngọt ngào vừa dễ chịu.
Khí mạch toàn thân liên tục chấn động không ngừng!

Ngày 27 tháng 5. 
Pháp thân nói: 
”Cô sẽ biết thân phận kiếp trước của mình. Tôi sẽ giao pháp cho cô, cũng sẽ cho cô tư lương đầy đủ.” 
Pháp thân đưa cho tôi một chiếc lá, lại cho tôi nhiều chiếc lá, bảo tôi chia ra tặng cho đồng môn nghèo.


### 09. Pháp thân đích thực bất khả tư nghì


Chương sách này là tiếp nối của chương trước “Tựa như mơ. Chẳng phải mơ”, chuyên thảo luận về Pháp thân. 
Tôi (Lư Sư Tôn) muốn nói với Lệ Phi rằng Pháp thân đích thực bất khả tư nghì.
Tôi nói: 
”Pháp thân sẽ đi cùng cô về!” 
Câu nói này là tùy thuận chúng sinh mà nói, thật ra Pháp thân căn bản không hề đến, căn bản cũng không hề đi, thật không có đến đi.
Pháp thân vốn dĩ là vô hình vô tướng, vốn dĩ là không đến không đi, vì thế không thể nói: 
”Cùng cô đi về!” 
Tôi thật lòng thật sự nói với Lệ Phi: 
Thế nào là nghĩa chân thực của Pháp thân. 
Pháp thân không có khái niệm thời gian, hai mươi tư giờ đều tồn tại, từ xưa đến nay đều tồn tại. 
Pháp thân không có vấn đề về thọ mệnh dài ngắn. 
Chỉ cần bạn khởi lên một suy nghĩ, Pháp thân sẽ xuất hiện. 

🌟

Pháp thân cũng không có khái niệm không gian, Pháp thân ở trong hư không thường hằng tịch tĩnh. 
Nói thế nào nhỉ?
Tôi chỉ có thể nói thế này, không chỗ nào là không tồn tại. Ví dụ: bạn ở Mỹ, Pháp thân sẽ ở Mỹ; bạn ở Singapore, Pháp thân sẽ ở Singapore; bạn đến bất kì nơi nào, Pháp thân sẽ ở nơi đó. 
Tôi chỉ có thể nói như thế này: 
”Pháp thân phủ khắp tất cả!” 
Pháp thân không chỉ là “cùng thụ tam tế”, cũng là “hoành biến thập phương”, không cách nào mô tả được.

🌟

Tôi muốn nói với cô: 
Pháp thân biến hóa vô cùng, bởi vì Pháp thân vô hình vô tướng, nhưng, vì để cho cô biết, Pháp thân từ đầu tới cuối sẽ dùng tướng mạo của Lư Sư Tôn để xuất hiện. 
Nếu cô muốn nhìn thấy tướng anh tuấn lúc Lư Sư Tôn còn trẻ thì Pháp thân có thể biến hóa ra. 
Tướng trang nghiêm tuổi trung niên, Pháp thân có thể hóa hiện. 
Tướng trường thọ tuổi già, Pháp thân cũng có thể hóa hiện ra.
Lớn.
Nhỏ.
Cao. 
Thấp.
Lớn đến như núi Tu Di, nhỏ đến như cây kim, đều có thể hóa hiện. (không nơi nào không hóa hiện)

🌟

Pháp thân không có sáu trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, nhưng dựa theo cô mà sinh ra sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.
Đây là tùy thuận chúng sinh mà sinh ra.
Pháp thân và cô tương tác là vì độ hóa chúng sinh.
Nói một cách nghiêm túc: 
Không hình không tướng.
Không tạo tác.
Không tốt xấu.
Không tăng giảm.
Không sinh không diệt.
Thường trụ bất động.
Pháp thân vì độ hóa cô nên mới thuận theo lời cô, đối đáp với cô. 

🌟

Người hỏi: “Pháp thân có bao nhiêu?” 
Tôi đáp: “Không thể đếm.”
Người hỏi: “Pháp thân ở nơi nào?” 
Tôi đáp: “Không ở nơi nào.” 
Người hỏi: “Pháp thân có thuyết pháp không?”
Tôi đáp: “Tùy căn cơ của bạn mà thuyết pháp.” 
Người hỏi: “Danh tính thật của Pháp thân là gì?”
Tôi đáp: “Rời xa danh tính văn tự.”
Người hỏi: “Pháp thân rốt cục là thứ gì?”
Tôi đáp: “Không thể thông báo.” (bất khả thuyết)


### 10. Lệ Phi tu đoạn cảnh đại thủ ấn


Đệ tử Liên Hoa Lệ Phi nhất tâm đảnh lễ Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử Lư Sư Tôn.
Gửi thư chia sẻ cảm nhận sau khi Sư Tôn gia trì pháp xả thân. 
Sau khi gia trì, Pháp thân Lư Sư Tôn nói với tôi: “Cô vốn đã biết pháp xả thân. Bây giờ được gia trì rồi thì đi thực hiện đi.” 
Kim Mẫu cũng nói: “Dùng xả thân (tính Không, vô ngã) đi nghe người ta nói ra, bởi vì chỉ có như vậy, cô mới có thể hiểu được cảm nhận của họ (hoán đổi mình và người khác), sau đó đợi cơ duyên chín muồi rồi thì lại cho họ trí huệ quang minh, nguyện họ đều có thể kính sư, trọng pháp, thực tu.” 

Sau đó, tôi có tiếp xúc với một số người. Phát hiện ra họ có rất nhiều trở ngại khiến họ không thể lĩnh hội được chân đế của tu pháp/tu hành. Ngoài việc nghe họ bộc lộ ra, tôi cũng có thể sửa chữa thỏa đáng những chướng ngại của họ (ví dụ thành kiến của họ về Sư Tôn), nhắc nhở họ tu hành phải có thứ tự (giống như học sinh tiểu học không thể hiểu vì sao sinh viên đại học có lời nói và hành động như vậy), và cổ vũ họ xem thầy như Phật, trân trọng Phật duyên, thu xếp thời gian để tu pháp (thông qua sự gia trì của Bổn tôn để tăng trưởng ánh sáng nội tâm và trí huệ), đồng thời quán chiếu chính mình (tu sửa hành vi của chính mình) xem có đúng giới luật không.

Sáng sớm một ngày nọ, Pháp thân Lư Sư Tôn xuất hiện gia trì xong, tôi nhìn thấy một vị Không Hành Mẫu màu trắng xuất hiện tại hư không. (Bởi vì tôi chưa từng nhìn thấy vị Không Hành Mẫu màu trắng này cho nên lập tức lên mạng tìm kiếm, thì ra là huyễn thân của Mã Cát Lạp Tôn Phật Mẫu.)
Thế là, tôi kiên quyết tu xong pháp tương ứng Liên Hoa Đồng Tử và pháp Bổn tôn Diêu Trì Kim Mẫu, sau đó tu thêm pháp xả thân. 
Khi tu pháp xả thân, tôi còn chưa kịp hoàn thành quán tưởng tam đoạn Pháp thân mà trực tiếp hợp nhất với Mã Cát Lạp Tôn Phật Mẫu. 

Sức mạnh của ngài rất lớn, năm luân xa tự vận chuyển, luồng nhiệt tự nhiên dâng lên, từ đầu đến ngón chân đều chấn động và nhảy nhót, cảm giác chính mình sắp bay lên rồi, khi sắp nổ tung, tất cả phiền não, bám chấp, ma chướng trong sát-na bị đẩy lùi, trong tâm quang minh vô nhiễm!
Ngài nói với tôi: “Dùng mắt của cô chiếu sáng tâm chúng sinh, dùng máu và nước của cô rửa sạch sự vẩn đục của chúng sinh, dùng nhục thân của cô để che chở cho chúng sinh, dùng chính mình làm tấm gương để chúng sinh hiểu ra mà thực tu.” 
Sau khi tu pháp xong, lực gia trì khiến cảm giác mệt mỏi tiêu tan trong chớp mắt.

Cảm tạ Sư Tôn gia trì! Cảm tạ Kim Mẫu, Mã Cát Lạp Tôn Phật Mẫu gia trì!
Hy vọng tôi có thể mãi mãi vui sướng, tư lương đủ đầy, viên mãn thành tựu!
Nguyện Sư Tôn thân thể khỏe mạnh, bệnh tật tiêu trừ, vui vẻ độ chúng, đại lạc tự tại!
Đệ tử Liên Hoa Lệ Phi chắp tay đảnh lễ.


### 11. Hỏi đáp về đoạn cảnh đại thủ ấn


Người hỏi: 
”Thế nào là đoạn cảnh đại thủ ấn?” 
Tôi đáp: 
”Đoạn trừ tất cả bám chấp về thân thể, đem thân thể mình cúng dường bố thí cho mười pháp giới.” 
Người hỏi: 
”Dùng thân thể chính mình cúng dường cho mười pháp giới là đạo lý gì?” 
Tôi đáp: 
”Mỗi cá nhân thường luôn bám chấp vào thân thể chính mình. Bởi vì có thân thể mới có tiền, sắc, danh, ăn, ngủ. Để cắt bỏ những tham chấp này, dùng xả thân, thí thân mới có thể đoạn trừ.”
Người hỏi: 
”Mật pháp này có thù thắng không?” 
Tôi đáp: 
”Đương nhiên. Sư phụ nói, cúng dường thân mình hơn gấp trăm lần cúng dường vàng bạc châu báu, hơn gấp nghìn lần cúng dường ngựa voi vợ con, còn tu pháp xả thân thì hơn gấp một trăm nghìn lần.” 
Người hỏi: 
”Truyền thừa của pháp xả thân thế nào?” 
Tôi đáp: 
”Mã Cát Lạp Tôn Phật Mẫu.”
Người hỏi: 
”Nguồn gốc sớm nhất của pháp xả thân (đoạn cảnh đại thủ ấn) là gì?” 
Tôi đáp: 
”Khởi đầu từ Bồ Đề Đạt Ma, Bồ Đề Đạt Ma đã truyền dạy Mật pháp này cho Mã Cát Lạp Tôn Phật Mẫu.” (Pháp này rất đặc biệt.) 
Người hỏi: 
”Không biết giáo phái nào dùng pháp này để tu hành?” 
Tôi đáp: 
”Đầu tiên là phái Giác Vũ, sau đó truyền đến phái Kagyu, cũng tức là pháp xả thân cổ-tát-lý [ăn mày]. Cũng truyền đến phái Nyingma. Sau cùng, bốn giáo phái cùng có pháp này, bốn giáo phái đều có truyền thừa.” 
Tôi lại nói: 
”Pháp lập đoạn của Hồng giáo, dùng pháp xả thân, rất hay! Rất tốt! Rất dễ đạt được thành tựu.”
Người hỏi: 
”Pháp xả thân có thứ tự quán tu ra sao?”
Tôi đáp: 
1. Đầu tiên quán tưởng tâm thức của hành giả thành minh điểm to như hạt đậu, niệm chữ “Pây” từ huyệt đỉnh đầu đi vào hư không.
2. Chữ “Pây” biến thành Hắc Phẫn Nộ Mẫu, tay phải cầm dao cong, tay trái kẹp kachangka và kapala (dụng cụ bằng đầu lâu đựng cam lộ).
3. Thân thể hành giả biến thành thi thể to bằng ba nghìn đại thiên thế giới.
4. Hắc Phẫn Nộ Mẫu dùng dao cong cắt đầu của hành giả, biến thành dụng cụ bằng đầu lâu rất to rất to, đặt lên giá ba chân làm bằng xương. 
5. Bên dưới giá ba chân có chữ “Ah” nổi lên lửa.
6. Xác chết của hành giả bỏ vào trong đầu lâu.
7. Thế rồi đun sôi.
8. Xác chết của hành giả hoàn toàn tan thành cam lộ thanh tịnh (”Hằng”).
9. Thế rồi Ngũ Sắc Không Hành Mẫu xuất hiện, hóa xác chết của hành giả thành cam lộ, cúng dường tứ Thánh lục phàm thập pháp giới.
10. Cúng dường oan thân trái chủ của hành giả.
(Trên đây là thứ tự quán tu.)
Cuối cùng, hành giả mới nhập định. 

Pháp này có thể thanh tịnh nghiệp chướng, thanh tịnh nghiệp tội tích lũy nhiều kiếp.
Đoạn trừ tập khí của hành giả, tất cả tham chấp đều tiêu tan.
Người hỏi: 
”Lúc nào tu là tốt nhất?” 
Tôi đáp: 
”Lúc hoàng hôn chạng vạng.”
Người hỏi: 
”Vì sao?” 
Tôi đáp: 
”Âm hồn xuất hiện, đúng là lúc tốt nhất để bạn cúng dường!”


### 12. Điềm lành khi khai quang


Hội đồng tu Thập Phương, Thượng sư Thường Nhân và hội trưởng hội công đức vào tháng 6 năm 2023 đã đến Seattle. 
Họ tặng bốn bức tượng Phật lớn bằng thân người cho Lư Sư Tôn ở Nam Sơn Nhã Xá. 
Ba đại Hộ pháp: 
Đại Lực Kim Cang.
Bất Động Minh Vương.
Đại Uy Đức Kim Cang.
Và: 
Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát.
(Vị nào cũng trang nghiêm, uy mãnh, thù thắng, sự tinh tế tỉ mỉ của công nhân điêu khắc rất hiếm gặp.)
Cao bằng thân người tức là chiều cao bằng chúng ta.
Cộng thêm cái bệ.
Cộng thêm ánh sáng sau lưng. (ngọn lửa)
Thì còn cao to hùng vĩ hơn cả chúng ta.

🌟

Thời gian xe tải container vận chuyển đến là:
Giờ Ngọ ngày 5 tháng 5 năm 2023 (Tết Đoan Ngọ), kết hợp các bộ phận hết năm giờ đồng hồ.
Giờ Ngọ ngày 5 tháng 5, năm tiếng đồng hồ.
Bạn nói xem có trùng hợp không!

🌟

Ngày hôm đó, Nam Sơn Nhã Xá có rất nhiều chuyện thần kỳ. 
1. Có một con mèo to màu đen đi vào Nam Sơn Nhã Xá (Nam Sơn Nhã Xá không nuôi mèo), là tự nó đi vào.
2. Có một con quạ bay lượn, từ không trung bay xuống, đậu trên nóc bể phun nước, quay mặt về cửa lớn, kêu lên nhiều tiếng “a, a, a”. 
3. Lại có một con chim ngói lông đen và lam cũng bay đến, cũng kêu lên rất nhiều tiếng.
4. Có một người da trắng dẫn theo sáu con llama đi nhiều vòng trước cửa của Nam Sơn Nhã Xá. Llama là động vật hiếm gặp. Thân giống con ngựa, miệng giống lạc đà. Không phải ngựa, không phải lừa, không phải la. Người phương Tây gọi nó là llama. 
Chú thích: Tôi sống ở Nam Sơn Nhã Xá khoảng 16 năm, chưa từng nhìn thấy llama, thế mà một lần có tận sáu con tới nên tôi thấy quá kỳ lạ.
Quạ đã rất kỳ lạ rồi.
Chim ngói đã rất kỳ lạ rồi.
Mèo đen to đã rất kỳ lạ rồi.
Những con vật này cộng lại tổng cộng là chín con.
Còn tôi khai quang cho ba vị đại Hộ pháp và Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát kết thúc vào lúc 9 giờ tối.
Lại là một sự trùng hợp!
(Cảm ơn Thượng sư Thường Nhân và hội trưởng, rất cảm ơn.)

🌟

Ca ngợi Đại Lực Kim Cang: 
*Đầu đội thanh long ngũ nhạc quán. *[mũ rồng xanh và năm ngọn núi lớn nổi tiếng của Trung Quốc]
*Thân khoác da hổ làm áo bào.
Eo thắt đại long làm thắt lưng.
Ba mắt trên mặt như vòng đồng.
Sau lưng lửa bùng lên như điện.
Quyền trượng trên tay,
Phất trần,
Thừng kim cang,
Ấn phẫn nộ,
Khẽ búng tay đến khắp mười phương thế giới.
Trong tích tắc qua mọi danh lam thắng cảnh.
Bắt rồng ác về,
Yêu ma mất vía.
Mahabala hùm hùm pây!
Sô-ha.*


### 13. Liên Hoa Kính An viết bài kệ


Thư của Liên Hoa Kính An: 
Sư Tôn cát tường!
Gần đây, Kính An tham ngộ Chân Phật pháp lý, viết ba bài kệ, đúng dịp Thánh đản của Sư Phật. Nay cung kính dâng lên cúng dường Sư Phật để tạm bày tỏ tâm ý của đệ tử, cảm ơn Sư Phật bao lâu nay từ bi chỉ bảo, chỉ mong Sư Phật đọc xong sẽ vui lòng.
Xin kính chúc:
Phật thể an khang, trường thọ tự tại. 
Đệ tử Liên Hoa Kính An vái trăm lạy. 

Bài 1: 
Huyễn khởi huyễn diệt đừng suy xét
Thánh tục khi không hiện bốn tướng
Mây gió nhàn nhã thảnh thơi bay
Tâm thẳng đạo tràng chẳng hề khác.

Bài 2:
Vạn pháp chưa hề có một pháp
Giải được thế gian trăm mối lo
Chỉ có vô ngã quên tất cả
Áo xanh một bộ thỏa ngao du.

Bài 3: 
Độ mình vốn mang nghĩa tinh tấn
Độ người vô ngã lại vô nhân
Bồ đề Chân Phật tỏ bản tính
Diệu pháp không không dứt phàm trần.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) nói với Liên Hoa Kính An: 
Trong đời quá khứ,
Tôi từng là vua của một nước, anh là một viên võ tướng của tôi, anh uy phong lẫm liệt.
Còn bây giờ anh hào hoa phong nhã, còn viết thơ làm kệ. 
Đúng là huyễn khởi huyễn diệt đừng suy xét. 
Tôi thích tâm thẳng chính là đạo tràng, tâm thẳng đạo tràng là như nhau. 
Tâm thẳng là gì?
Rất nhiều người không cách nào hiểu được thế nào là tâm thẳng, tôi nói: 
Không hoan nghênh không từ chối.
Không giữ lấy không từ bỏ.
Chính là tâm thẳng.
Đây hoàn toàn là cảnh giới tự do không ràng buộc.
Chúng ta biết rằng: 
Ta là giả.
Thời gian là giả.
Không gian là giả.
Vô minh là giả.
Người bình thường bị những thứ này trói buộc, sống mang theo bao nỗi khổ.
Nếu hiểu tất cả những điều này mà không bị chúng trói buộc, hoàn toàn tự do, đây gọi là tâm thẳng.

 🌟

Bài kệ thứ hai là: 
Vạn pháp không một pháp.
Vô ngã vô sở đắc.
Đây là diệu hữu chân không, vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. 
Ngã không.
Pháp không.
Tôi biết bản chất của pháp là pháp nhĩ bản nhiên.
Là điều mà Duy Ma Cật đã nói với Mục Kiền Liên, nhân duyên huyễn hóa, bản tính vô sinh, không sinh không diệt, đệ nhất nghĩa không.
Tôi nói: 
Không can hệ! Chính là nghĩa này.

🌟

Tôi thích:
Độ mình — là tinh tấn.
Độ người — không có người thuyết pháp, không có người nghe pháp.
Vốn dĩ chính là “như thế, như thế”.
Diệu pháp không không.
Tôi lại nói: 
Đã không sinh thì làm sao có diệt?
Cho nên danh tướng huyễn giả, không cần diệt.
Đây là nghĩa gốc của Kinh Tâm.
”Sắc tức thị không, không tức thị sắc. Sắc bất dị không, không bất dị sắc.”
Không mê không ngộ.
Không được không mất.
Đây mới là nghĩa gốc của “dứt phàm trần”. 

🌟

Phật pháp thật sự quá thần diệu! Quá thần kỳ! Đây tuyệt đối không phải là pháp đối lập mà chúng ta tưởng tượng. 
Thiện ác.
Tốt xấu.
Phải trái.
Đúng sai.
Cảnh giới của tôi rất khác so với rất nhiều người.
Người bình thường là phá vô minh, cắt phiền não, xuất tam giới.
Tôi thì: 
Vô minh không cần phá! Vô minh là Phật.
Phiền não không cần cắt! Phiền não là bồ đề.
Tam giới không cần xuất! Tam giới là tịnh thổ.
Tu hành của tôi là: 
Thuận tính.
Không can hệ.
Lục Tổ nói: “Tâm an bình thì không cần khổ cực giữ giới! Hành vi ngay thẳng thì không cần tham thiền!”
Tôi viết đến đây, tôi chỉ biết tất cả bình đẳng bình đẳng. Xin hãy lĩnh hội được: “Tâm, Phật, chúng sinh không khác biệt.” 
Nếu có người muốn tranh luận. 
Tôi nói: “Đợi đến tết Công-gô sẽ tranh luận.”


### 14. “Cho” và “trả” của Hàn Vũ


Cô Hàn Vũ rời khỏi Seattle.
Tặng cho Lư Sư Tôn một tấm thiệp, trên tấm thiệp có một bài thơ, tên bài thơ là “Cho và trả”. 
Thơ như sau:
*Thầy cho như núi lớn
Con trả sự phì nhiêu
Thầy cho như biển rộng
Con trả sự đợi chờ
Thầy cho như gió cả
Con trả nhẹ như bông
Thầy cho như thái dương
Con trả bằng tịnh quang
Thầy cho trăm đóa hoa
Con trả lòng tùy thuận
Thầy cho nhiều như sao
Con trả một ngôi sáng.*
Lư Sư Tôn kính yêu nhất:
Cảm ơn thầy đã hạ sinh cõi Ta Bà.
Tặng cho nhân gian quãng thời gian đẹp nhất.
Sư Tôn đã cho sự yêu thương vĩnh hằng.
Hàn Vũ trả lại bằng thời gian vô tận.
Đệ tử nhỏ Hàn Vũ đảnh lễ.
27.06.2023

🌟

Nhìn bề ngoài, tấm thiệp này rất bình thường.
Lời thơ bình thường.
Nhưng, tôi cảm nhận được một linh khí mới mẻ từ trong câu thơ thẩm thấu ra ngoài. 
Nhất là,
Cho sự yêu thương vĩnh hằng, trả bằng thời gian vô tận.
Còn nữa, còn nữa…..
Cho cả bầu trời sao, trả bằng một ngôi sao sáng.
Về mặt Phật pháp:
Tôi nói là không có cho và trả.
Cho là bố thí.
Trả là trả nợ.
Cho và trả là tương đối, là duyên khởi mới có.
Với tôi mà nói, nếu không có tướng của bạn và tôi, không có tướng bạn, không có tướng tôi, có nghĩa là không có nhân tướng. 
Không có con người, làm gì có “bạn cho tôi trả”?
Người bố thí không thể có suy nghĩ về bố thí.
Cho nên tam luân thể không là:
Không có người bố thí.
Không có người được bố thí.
Không có vật bố thí.
Đây mới là nghĩa gốc của Phật pháp, pháp nhĩ bản nhiên.
(Đây là bố thí chân chính.)

🌟

Tôi nhấn mạnh, bình đẳng bình đẳng.
Đừng tự cho rằng bản thân là Lư Sư Tôn, cũng đừng tự cho rằng bạn là đệ tử nhỏ. 
Theo Phật tính mà nói:
Thánh hiền và phàm phu, bình đẳng bình đẳng.
Thánh hiền là phàm phu, phàm phu là Thánh hiền, cả hai bình đẳng không khác biệt tính.
Chỉ là Thánh hiền là ngộ, phàm phu là mê, như thế mà thôi. Còn về mặt Pháp thân thì bình đẳng bình đẳng.
Từ một tấm thiệp nho nhỏ.
Từ bài thơ trên thiệp.
Tôi nghĩ đến những điều này.
(Tôi cảm thấy câu thơ của Hàn Vũ có thần, có linh, có chỗ hiếm lạ, khiến tôi ca ngợi. Nhưng, về bản chất của Phật pháp thì không có cho và trả.)


### 15. Phàm phu Phật


Tháng 6 năm 2023. 
Pháp sư Liên Thùy ở Malaysia nói với tôi: 
”Lư Sư Tôn! Có người phê bình thầy là phụ Phật ngoại đạo.”
Tôi nghe xong.
Cười một cái, không nói gì.
Tôi nhớ đến lúc tôi còn trẻ, 26 tuổi vừa mới xuất đạo.
Giới tôn giáo dành cho tôi một lời bình luận là: 
”Phụ Phật ngoại đạo.”
Thế là gió nổi mây vần, danh hiệu “phụ Phật ngoại đạo” này đeo trên người tôi cho đến hôm nay. 
Bây giờ tôi đã 79 tuổi rồi, sắp 80 tuổi rồi, kẻ phụ Phật ngoại đạo vẫn chưa chết!
Hôm nay, ngộ cảnh của tôi và tôi năm xưa gần như có khác, thật ra cũng không khác. 
Chúng ta nói đến hai chữ “phụ Phật” trước.
Tôi nói: 
Phật bất khả tư nghì!
Phàm phu bất khả tư nghì!
Tứ Thánh lục phàm, thập pháp giới bất khả tư nghì!
Tôi lĩnh ngộ được: 
Hai chữ “phụ Phật” là không đúng. Vì sao vậy?
Tôi vốn dĩ chính là Phật, cần gì phải dùng chữ “phụ”. 
Chuyện này chẳng phải rất kỳ quái sao?
Bạn vốn dĩ chính là Phật, còn phải phụ thêm Phật gì nữa?
Hiểu được điểm này rồi:
Đây căn bản là trên đầu đặt thêm một cái đầu. Người nói ra hai chữ “phụ Phật” này có phải là vẫn chưa đến được địa đầu không?
Hay là thuận miệng nói khơi khơi?
Tôi (Lư Sư Tôn) bây giờ nói với mọi người: 
Phật không cần phụ Phật!
Tứ Thánh (Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, A La Hán) là Phật.
Lục phàm (trời, người, atula, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh) là Phật.
Khi trẻ, tôi là phàm phu Phật.
Bây giờ, tôi là Chân Phật. 
Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. 
Vô ngã tướng.
Vô nhân tướng.
Vô chúng sinh tướng.
Vô thọ giả tướng.
Pháp nhĩ bản nhiên, là thế là thế, căn bản không có ai đi dựa dẫm vào Phật, làm sao là “phụ Phật” được?

🌟

Chúng ta lại nói một chút về ngoại đạo.
Phật pháp chân chính là bình đẳng như một.
Phật pháp không nằm bên ngoài.
Phật pháp không nằm bên trong.
Phật pháp không nằm ở giữa.
Sáu thầy ngoại đạo vào thời Phật Đà đều là dựa vào huyễn tướng do nhân duyên hòa hợp mà thành thật. Vì là như thế mới được gọi là sáu thầy ngoại đạo.
Nếu lìa được những thứ do nhân duyên hòa hợp thì không còn mê nữa.
Hư vọng có sinh, hư vọng có diệt.
Nếu không có liên lụy, không chấp không nhận, tùy thuận pháp tính, đại từ bình đẳng.
Sáu thầy ngoại đạo cũng là Phật.
Phật là nhân duyên tính Không, không hoại các sắc, không còn bám chấp.
Còn sáu thầy ngoại đạo nếu cũng thế, từ ngoại mà đi vào chính, đến lúc ấy thì ngoại đạo cũng vốn là Phật. (Con người chúng ta khi mới tu hành, có người nào không phải là ngoại đạo.) 
Không hai không khác.
Tôi nói: 
Ngoại đạo cũng là phàm phu Phật. Nếu ngộ rồi thì cũng là Chân Phật.
Bây giờ, tôi (Lư Sư Tôn) hoàn toàn hiểu:
”Bình đẳng không hai.”


### 16. Sự thăng cấp về tu hành của Chân Hồng


Vào tháng 6 năm 2023. 
Tôi nhìn thấy cơ duyên tu hành của Liên Hoa Chân Hồng đã chín muồi rồi. Thế là tôi dạy Chân Hồng khẩu quyết thù thắng.
Ví dụ:
Thủ ấn. (bao gồm thân ấn)
Thổ nạp. 
Quán tưởng. (tâm trong tâm)
Sau đó, Chân Hồng đã viết tâm đắc gửi cho Lư Sư Tôn.
Cô ấy viết rằng:
Lư Sư Tôn kính yêu. 
Thời gian trôi qua thật nhanh, đệ tử lại sắp phải về nước rồi. Nhưng trong chuyến đi lần này, Chân Hồng đã thu hoạch lớn, đã nâng cấp cảm nhận thù thắng trong việc tu hành. 
Cảm ơn Lư Sư Tôn dạy bảo và gia trì.
Đệ tử trân trọng nhân duyên thù thắng này.
Sẽ tinh tấn tu hành cho tốt, không phụ sự chỉ dạy của Lư Sư Tôn. 
Cảm nhận của đệ tử như sau:
Thứ nhất: 
Trong lần làm pháp đầu tiên, đệ tử cảm thấy rất đau khổ thương tâm, bởi vì đệ tử nhìn thấy cõi người, cõi súc sinh, cõi atula, cõi địa ngục, cõi ngạ quỷ, đang chịu khổ trong vô minh.
Nhờ sức mạnh của sự đau khổ mà đệ tử sinh tâm từ bi, nghĩ đến việc muốn giúp đỡ những chúng sinh vô minh này, độ hóa họ.
Thứ hai: 
Trong lần làm pháp thứ hai, đệ tử nhìn thấy hư không sáng chói lọi, trong hư không xuất hiện A Di Đà Phật và Bồ Tát, ngoài ra còn có Không Hành Mẫu (thiên nữ) màu đỏ, trắng, vàng.
Trong thân thể của đệ tử có ánh sáng, là ánh sáng màu lam, cam, lục đang tuần hoàn. 
Thứ ba:
Sau đó, thiên tâm của Chân Hồng có ánh sáng trắng từ từ chảy xuống dưới, theo một khối khí chảy đến Mật luân. Đệ tử nâng hậu môn, hóp bụng dưới và hít thật sâu.
Điểm sáng và khí đó liền đi lên đến Tề luân, sau đó đến Tâm luân.
Điểm sáng đến Tề luân rất dễ dàng.
Nhưng từ Tề luân lên đến Tâm luân thì tương đối khó.
Khi điểm sáng ở trong Tâm luân, đệ tử lắc thân thể, dùng cách ép để cho khối khí và ánh sáng đó chảy đến kinh mạch toàn thân, thậm chí bắn ra bên ngoài thân thể, đệ tử dùng ánh sáng và khí này trong thân mình để làm kết giới.
Thứ tư: 
Đệ tử nhìn thấy đàn thành trong hư không, đàn thành mandala của Thời Luân Kim Cang.
Trong buổi pháp hội Trường Thọ Phật, đệ tử cũng nhìn thấy đàn thành mandala của Trường Thọ Phật.
Đệ tử không chỉ nhìn thấy.
Mà còn tiến vào đàn thành mandala.
Thân ở trong cảnh giới đó.
Lư Sư Tôn vừa kết thủ ấn.
Đệ tử liền hóa thân tại trung tâm mandala.
Mandala vì đệ tử mà mở rộng ra.
Đệ tử trở thành chủ nhân của đàn thành.
Những cảm nhận này xin Lư Sư Tôn dạy bảo!
Cảm ơn!
Lại cảm ơn!
Chân Hồng kính yêu Sư Tôn, cảm ơn!
Đệ tử ngày ngày chúc nguyện!
Phật thể an khang.
Bình an hỷ lạc.
Thỉnh Phật trụ thế.
Chân Hồng có được khẩu quyết thù thắng vô thượng, đó là sự dạy dỗ viên mãn vô năng thắng, siêu cấp vô địch. 
Hum!
01.07.2023
Đệ tử Liên Hoa Chân Hồng viết.


### 17. Phân tích của tôi về cảm nhận của Chân Hồng


Thứ nhất:  
Nhìn thấy cõi người, cõi súc sinh, cõi atula, cõi địa ngục, cõi ngạ quỷ.
Nhìn thấy chúng sinh vô minh và đau khổ.
Đây là sự vật khách quan phản ánh đến chủ quan. Vì thế sinh ra tâm từ bi. Tâm từ bi là sự phát tâm của Bồ Tát Đại thừa.
Đó gọi là: 
Đại bi phổ khắp, tùy duyên hiển hiện, tâm tính quang minh, quan kiến vạn tượng, đã hiển hiện ở năm đạo thấp.
Tương lai,
Ngoài chính mình chứng đắc ra cũng muốn chúng sinh có thể chứng đắc, dạy dỗ chúng sinh loại trừ nghiệp chướng.
1. Chướng ngại thân.
2. Chướng ngại ngữ.
3. Chướng ngại ý.
4. Chướng ngại bởi những gì đã biết.

Thứ hai: 
Mỗi người kì thực đều có Phật tính, ánh sáng vốn thanh tịnh ở trong thân. 
Chỉ cần phiền não vọng niệm của chúng sinh tùy duyên tùy diệt, chúng ta rẽ mây nhìn thấy mặt trời, là có thể nhìn thấy Bổn tôn quang minh xán lạn. 
A Di Đà Phật.
Không Hành Mẫu.
Tự thân quang minh.
Đây là ba loại hiện tượng Không-Minh-Hiện.

Thứ ba: 
Tôi (Lư Sư Tôn) thường nói: 
Khí — cỗ xe.
Mạch — con đường.
Điểm — vật vận chuyển.
Đây là Chân Hồng đưa minh điểm màu trắng của tự thân theo trung mạch đến Mật luân.
Từ Mật luân đến Tề luân.
Từ Tề luân đến Tâm luân.
Lại từ Tâm luân đến toàn thân, thậm chí tỏa ra bên ngoài thân thể.
Thông qua tu trì nhậm vận tự tại, Minh-Không song vận, tứ đại ngũ uẩn trong nhục thể toàn bộ hóa thành ánh sáng.
Ánh sáng này có thể kết giới.
Có thể bắn ra ngoài thân thể, trở thành ánh sáng Đỉnh luân, ánh sáng thân, ánh sáng sau lưng của Phật Bồ Tát.
Thậm chí thân hóa cầu vồng.
(Đại pháp hóa cầu vồng của Mật giáo từ đây mà chứng minh.)
Cá nhân tôi thường làm phương pháp này dựa trên thứ tự là: 
Thân tâm hướng Phật.
Viên mãn tư lương.
Loại trừ tội chướng.
Có được gia trì.
Tịnh hóa khí mạch.
Minh điểm nhậm vận.
Quang minh tăng trưởng.
Hóa hồng [cầu vồng] giải thoát.

Thứ tư: 
Trước kia, khi Liên Hoa Sinh Đại Sĩ giúp đệ tử quán đảnh, lần lượt hiện lên đàn thành của Bổn tôn.
Phân loại đàn thành rất nhiều.
Trọng điểm là: 
Đàn thành mà Chân Hồng nhìn thấy là đàn thành do pháp giới hư không hiển hiện.
Người bình thường không nhìn thấy đàn thành này. (Chân Hồng không hề đơn giản.) 
Nhìn thấy đàn thành, hơn nữa còn đặt thân ở trong đó, chính mình ở trung tâm của đàn thành, đây không phải là một việc đơn giản. Đây là hiện tượng tương ứng với Bổn tôn. 
Bổn tôn và ta là một rồi!


### 18. Tán thán Cao Vương Kinh


Cao Vương Kinh tức là Cao Vương Quan Thế Âm Kinh, vào năm Thiên Bình thời Đông Ngụy, là kinh điển do cảm ứng mà có.
Được ghi chép trong: 
”Tục Cao Tăng Truyện” - quyển 29.
”Pháp Uyển Châu Lâm” - quyển 25.
”Phật Tổ Thống Kỷ” - quyển 54.
Bắt nguồn từ “Đông Ngụy năm Thiên Bình, có một người là Tôn Kính Đức ở Định Châu, gặp chuyện liên lụy phải vào trong ngục, sẽ bị xử tử hình.” 
”Tôn Kính Đức ở trong ngục mơ thấy một sa môn dạy ông tụng niệm kinh này, niệm tụng 1000 biến thì có thể tránh được tội chết.” 
”Khi Tôn Kính Đức bị xử hình, vừa đi vừa tụng, lúc hành hình, tụng đủ 1000 biến, người cầm đao chém xuống, dao liền gãy thành ba đoạn, ba lần đổi đao, da thịt vẫn không tổn hại.”
(Đây là nguồn gốc của Cao Vương Kinh.)

🌟

Tôi (Lư Thắng Ngạn Sư Tôn) tại Ngọc Hoàng Cung ở Đài Trung đã được Diêu Trì Kim Mẫu mở thiên nhãn. Trụ trì của Ngọc Hoàng Cung là pháp sư Thích Huệ Linh cho tôi một cuốn kinh điển đầu tiên cũng chính là Cao Vương Kinh. 
Tôi mang về nhà trì tụng.
Rất nhiều chuyện linh dị đều đã được ghi lại trong sách của tôi.
Sau này tôi hoằng dương Cao Vương Quan Thế Âm Kinh, cũng dạy người ta trì tụng nhiều. 
Triều Minh, đại sư Phật giáo (đại sư Liên Trì) cho rằng Cao Vương Kinh là ngụy kinh. 
Tôi không bận tâm về điều này.
Bởi vì nội dung của kinh điển chỉ có Thánh hiệu của Phật, Thánh hiệu của Bồ Tát, không nói gì khác. Căn bản không đề cập đến ngụy thuyết ngụy ngôn.
Vì thế, tôi (Lư Sư Tôn) theo đó niệm và quảng đại hoằng dương, người được cứu độ nhiều không thể kể xiết.
Càng lạ hơn là: 
Tôi giảng kinh Duy Ma Cật, Duy Ma Cật Đại Sĩ hiện thân nói với tôi: “Lư Sư Tôn! Ngài và Cao Vương Kinh rất có nhân duyên, ngài có biết không?”
Tôi hỏi: 
”Nhân duyên gì?” 
Duy Ma Cật nói: 
”Sa môn truyền thụ Cao Vương Kinh cho Tôn Kính Đức là ai? Ngài có biết không?” 
Tôi hỏi: 
”Là ai?” 
Duy Ma Cật đáp: 
”Chính là ngài!” 
Lần này tôi đã bị “điện giật” rồi, khiến tôi khá kinh ngạc, tôi thật sự chấn động, sa môn truyền thụ trong mơ không ngờ lại là chính bản thân tôi, có sai sót gì không?
Còn kỳ diệu hơn là ngài Duy Ma Cật nói: 
”Lư Sư Tôn! Người tạo ra Cao Vương Kinh này là ai?”
Tôi hỏi: 
”Là ai?” 
Duy Ma Cật Đại Sư cười lớn ha ha. 
Duy Ma Cật nói: 
”Chính là tôi! Là Duy Ma Cật!”
”Thật ư?” - Tôi thật sự điên mất rồi!
”Không sai! Chính là lão Duy Ma Cật tôi.” 
Duy Ma Cật nói: 
”Cuốn Cao Vương Kinh này trên dưới xưa nay, thời gian không gian giao thoa, đan xen ngang dọc, bao phủ trọn vẹn, đều là sáng tác của lão Duy Ma Cật tôi.” 
Tôi nói: 
Duy Ma Cật Đại Sĩ, tôi kính ngưỡng!
Kim Túc Như Lai, tôi kính ngưỡng!
Cao Vương Kinh, tôi kính ngưỡng!


### 19. Phụ lục: Thư của Liên Hoa Thái Hồng


Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật chí cao vô thượng tôn quý kính yêu nhất!
Trước khi nói chuyện với Thầy, ngu đệ tử Liên Hoa Thái Hồng xin chúc phúc Thầy sinh nhật vui vẻ, phúc như Đông hải, thọ tỉ Nam sơn, sống lâu khỏe mạnh, mãi chuyển pháp luân! Và chúc phúc Sư Mẫu thân thể an khang, vạn sự như ý, tất cả cát tường.

Sư Tôn tôn quý, con vô cùng tán thán Cao Vương Kinh và luôn khắc ghi Cao Vương Kinh trong tâm khảm mọi lúc mọi nơi. Bởi vì con đã hai lần, khi sinh nở, đối diện với sinh ly tử biệt, sống chết cận kề, tinh thần suy sụp, đau đớn tột cùng, đều nhờ vào pháp lực vô biên, lòng từ bi cứu độ và sự chỉ dẫn của Thầy, thành tâm tụng Cao Vương Kinh mà hai lần chuyển họa thành phúc, thật là không thể nghĩ bàn và khắc cốt ghi tâm, một phép mầu mà con sẽ biết ơn suốt đời.

Để tán thán Cao Vương Kinh, con xin tri ân Cao Vương Kinh và đại pháp lực vô úy của Thầy cùng sự nâng đỡ của Chân Phật Báo. Cách đây hai mươi lăm năm, sau khi đứa con trai thứ tư của con được sinh ra khỏe mạnh đủ tháng. Với tấm lòng tràn đầy biết ơn, con đã viết một bài dài với đôi mắt ngấn lệ, kể về hai mươi tuần lễ dài đằng đẵng, năm tháng nằm liệt giường, khi con mang thai và đứng trước bờ vực sinh tử, trong cảnh tuyệt vọng vô cùng, làm thế nào con đã nhất tâm, không vọng niệm, chuyên tâm trì tụng Cao Vương Kinh, và may mắn nhận được phép màu linh ứng vô thượng, rồi gửi bài viết đó đến Chân Phật Báo.

Lúc đó, vào dịp kỷ niệm bảy năm thành lập, Chân Phật Báo đã đăng toàn bộ bài viết "Kiếp nạn mang thai" của con liên tục trong bảy tuần trên trang quan trọng.

Thế sự vô thường khó lường. Những năm gần đây, dù dịch bệnh nghiêm trọng, nhưng thật vui mừng thấy mạng lưới Chân Phật phát triển rực rỡ như ánh dương sau cơn mưa; từ đó thúc đẩy sự phát triển không ngừng của Đại học Trực tuyến Chân Phật Tông . Con và sư huynh của con cũng được hưởng lợi từ đó, may mắn được theo học với Thượng sư Liên Ha, Trưởng lão Liên Tài và vị giáo sư đang giảng dạy Chân Phật Mật Pháp hiện nay - Thượng sư Liên Nhất.

Trong khi học các khóa "Phật học bao la vạn tượng" trước đây và "Chân Phật Mật Pháp" hiện nay, con vui mừng nhận ra rằng Đại học Trực tuyến Chân Phật Tông của chúng ta, dưới sự dẫn dắt của Căn bản Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật, và đi theo bước chân của Ngài, rất tôn sùng Cao Vương Kinh, và trong hai giai đoạn khác nhau của chương trình học tại Đại học Trực tuyến Chân Phật Tông đều có giảng dạy về Cao Vương Kinh.

Trong mỗi buổi học về Cao Vương Kinh, mặc dù con cảm xúc đan xen lẫn lộn, nhưng lòng con vẫn hăm hở phấn chấn, vô cùng hoan hỷ! Sau mỗi buổi học, con đều không ngần ngại, nhân cơ hội tốt đem bài viết "Kiếp nạn mang thai" mà con đã đăng trên Chân Phật Báo cách đây 25 năm để chia sẻ rộng rãi. Con kể về phép mầu linh ứng khi con thành tâm cầu nguyện Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát và trì tụng Cao Vương Kinh, rồi phát tán trong nhóm học tập để quảng bá Cao Vương Kinh. Con mong muốn thúc đẩy các đạo hữu và học viên trong nhóm học tập của Đại học Trực tuyến Chân Phật Tông cùng học tập Cao Vương Kinh, được lợi ích từ Cao Vương Kinh, và cùng nhau tán thán Cao Vương Kinh cũng như ca ngợi sự không thể nghĩ bàn của Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật.

Để thực hiện lời nguyện mà con đã phát khi thành tâm trì tụng và cầu nguyện Cao Vương Kinh:

"Kính bạch Bồ Tát, xin Ngài từ bi lắng nghe lời sám hối chân thành của con! Xin Ngài từ bi tha thứ cho những tội chướng vô minh của con! Xin Ngài gia hộ cho thai nhi của con! Trong tương lai, con sẽ nhờ lòng từ bi của Ngài mà công khai chia sẻ câu chuyện của con với thế gian, để ca ngợi sự vĩ đại của Ngài và dẫn dắt mọi người hướng thiện."

Đồng thời con cũng quảng bá Cao Vương Kinh đến những người bạn xung quanh mình.

Tuy nhiên, không thể ngờ được rằng, bộ kinh mà con biết ơn cả đời, không thể nào quên, mãi mãi tán thán, và trong suốt 29 năm qua, mười năm như một ngày, ngày ngày không ngừng, thành tâm trì tụng - Cao Vương Kinh; sau 29 năm, khi con nghiêm túc theo Sư Tôn - Liên Sinh Hoạt Phật, tu học Phật pháp đến mức buông bỏ hết những đau buồn trong lòng, khi con trong thời kỳ đại dịch, theo Thượng sư Liên Ha thực hành thiền định, thiền định đến mức không ngừng tiến bộ vượt bậc; khi con thông qua việc học tập tại Đại học Trực tuyến Chân Phật Tông, phát khởi tâm bồ đề rộng lớn; con càng không ngờ được rằng, mình lại nhận được ân đức còn lớn lao hơn, không thể nào báo đáp!

Đó chính là vào tháng này, ngày 11 tháng 6 năm 2023, trong buổi Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật giảng Kinh Duy Ma Cật và chủ trì pháp hội Hộ Ma Cao Vương Quan Thế Âm, dưới sự chủ trì không thể nghĩ bàn và pháp lực vô biên của Thầy, con đã may mắn được tương ứng với Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát!

Con nhớ lại ngày hôm đó, khi tham gia pháp hội trực tuyến, trong trạng thái vô sự vô tâm, nhất tâm nhất ý, nhanh như chớp, thân thể con lập tức nhập định như bị điện giật; trong tích tắc con biến thành một vị Phật Bồ Tát trang nghiêm vô cùng, ngồi như Phật, đầu đội mũ miện, khoác y phục đỏ của Phật.

Con ngồi bất động, toàn thân từ trên xuống dưới vững chắc như núi, cứng rắn như sắt, không thể cử động, nhưng vẫn nghe rõ ràng; chú tâm lắng nghe toàn bộ pháp hội Hộ Ma, khai thị và giảng giải Kinh Duy Ma Cật.

Trong trạng thái nhập định chuyên chú thư giãn, với hơi thở điều hòa, hít vào thở ra nhẹ nhàng, đến khi pháp hội Hộ Ma trực tuyến gần kết thúc, con mới từ từ tự nhiên xuất định.

Thật không ngờ, sau khi pháp hội kết thúc, khi con tràn đầy pháp hỷ, pháp vị miên man, đứng dậy đối diện với tất cả chư Phật Bồ Tát và Hộ pháp Kim cang trên đàn thành để bày tỏ lòng biết ơn, trong thoáng chốc, con cảm thấy mình không còn là chính mình nữa; thật không thể ngờ được, hai tay con tự nhiên kết thành ấn nội chuyển pháp luân của Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát. Con vô cùng kinh ngạc!

Cảm giác lúc đó thật tuyệt vời, khó diễn tả bằng lời, nhưng vô cùng ấm áp!
Con chỉ cảm thấy như được gặp lại người thân yêu thương nhất từ nghìn năm, nghìn kiếp, sau bao năm xa cách, trao nhau những lời yêu thương, ôm nhau thật lâu, ấm áp dịu dàng mãi mãi!
Con không ngừng thành thục kết ấn nội chuyển pháp luân của Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát, con lặp đi lặp lại vô số lần............. Như thể muốn con ghi nhớ thật sâu, hiểu rõ và cảm nhận được vậy.

Lúc này, khi con không ngừng thành thục kết ấn nội chuyển pháp luân của Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát, và thành thục gia trì cho chính mình, rồi gia trì cho sư huynh đang đứng bên cạnh con với đôi tay chắp lại.

Lúc này, từ tận sâu thẳm trong tâm hồn, trong khoảnh khắc chuyển biến, con thấu hiểu sâu sắc, chợt giật mình nhận ra, con đã không còn là chính mình nữa! Con đã hợp nhất với Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát! Con đã tương ứng với Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát.
Lúc đó con thực sự đã trở thành Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát sống động, linh hoạt!
Con vui mừng khôn xiết!
Con tràn đầy lòng biết ơn!
Ôi!

Căn bản Truyền thừa Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật tôn quý và kính yêu nhất của con!
Con tán thán sự thù thắng và pháp lực vô biên trong mỗi lần Thầy chủ trì pháp hội Hộ Ma!
Con nhớ trong ngày đó, khi Thầy khai thị tại pháp hội Hộ Ma Cao Vương Quan Thế Âm, Thầy đã dạy rằng:
"Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát, không phải vì Ngài cao mà là vì không có ai cao hơn Ngài. Vương, đương nhiên là bậc nhất. Ý nghĩa là "Ngài là vị Quan Thế Âm Bồ Tát tôn quý nhất, vô thượng nhất, đệ nhất", và Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh chính là kinh điển của Ngài."

Ôi! Con thật may mắn quá!
Pháp hội Hộ Ma Cao Vương Quan Thế Âm mà Thầy chủ trì ngày hôm đó, đúng như lời Thầy đã khai thị trong pháp hội: "Trong Cao Vương Kinh toàn là danh hiệu của chư Phật Bồ Tát, có thể nói, tất cả chư Phật đều ở trong đó, tất cả chư Bồ Tát cũng đều ở trong đó."

Và đúng như Thầy đã viết trong tác phẩm "Định Trong Định - Kinh nghiệm trì tụng Cao Vương Kinh của tôi": "Bộ kinh này hoàn toàn là thánh hiệu của chư Phật Bồ Tát, và có Thất Phật diệt tội chân ngôn, tam thế thập phương chư Phật Bồ Tát đều dung hợp trong đó."

Căn Bản Truyền Thừa Thượng Sư - Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật tôn quý và kính yêu nhất của con!
Con thật sự quá may mắn!
Thầy thật sự là vị minh sư Hoạt Phật nghìn năm khó gặp, vạn phần may mắn của con, quả thật là một bậc Đại Pháp Vương của thời đại này!
Con vô cùng biết ơn Thầy!
Con biết ơn Thầy, bởi vì theo Thầy học Phật, Thầy đã giúp con không ngừng nhìn thấy cầu vồng giữa mưa gió, không ngừng thay đổi vận mệnh của chính mình! Dưới ánh hào quang của Phật, con không ngừng phát tâm bồ đề.

Con biết ơn Thầy, bởi vì con đã theo Thầy học Phật, đi theo bước chân của Thầy, vững tin vào lời dạy của Thầy, và dưới sự tôn sùng và hoằng dương Cao Vương Kinh của Thầy; dưới sự không thể nghĩ bàn của Thầy, trong lúc nguy nan, con đã nhất tâm bất loạn, chuyên tâm trì tụng Cao Vương Kinh, và may mắn nhận được hai lần linh ứng kỳ diệu khó tin.

Con biết ơn Thầy, bởi vì vào ngày 11 tháng 6 này, trong buổi Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật giảng Kinh Duy Ma Cật và chủ trì pháp hội Hộ Ma Cao Vương Quan Thế Âm, Thầy đã một lần nữa, với tâm đại vô úy, thù thắng và không thể nghĩ bàn, cho con may mắn được tương ứng với Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát qua mạng trực tuyến.

Giờ đây, Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát luôn đồng hành cùng con, hơi thở của con hòa quyện cùng Ngài. Chỉ cần con khởi một niệm tưởng về Ngài, đôi tay con tự nhiên kết thành ấn nội chuyển pháp luân của Ngài.

Giờ đây, tinh thần đại từ bi của Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát "nghìn nơi cầu nguyện nghìn nơi hiện, thường trong biển khổ làm thuyền độ người" đã khắc sâu trong tâm con, hòa quyện trong tâm con, khơi dậy tâm bồ đề của con, khiến con không ngừng nỗ lực phấn đấu để hoằng dương chính pháp của Chân Phật Mật Pháp của Thầy!
Ôi!

Căn bản Truyền thừa Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật tôn quý và kính yêu nhất của con!
Được theo Thầy học Phật thật là hạnh phúc, thật là may mắn và thật là vui sướng biết bao!
Con vô cùng biết ơn Thầy! Con không biết làm sao để báo đáp.
Nơi đây, xin cho phép con được quỳ lạy Thầy, lạy mãi lạy hoài...

Cuối cùng, con thành tâm chúc Thầy sinh nhật vui vẻ, trường thọ khỏe mạnh, pháp luân thường chuyển, tự tại vô ngại và chúc Sư Mẫu khỏe mạnh vui vẻ bình an tự tại, vạn sự như ý!
Ngu đệ tử Liên Hoa Thái Hồng trợ giảng cung kính đảnh lễ.
Viết tại Vermont, vùng Đông Bắc Hoa Kỳ, ngày 28 tháng 6 năm 2023.

🌟

Cảm hoài của tôi (Lư Sư Tôn) mỗi khi niệm Cao Vương Kinh là:
Tôi tôn kính nhất Cao Vương Kinh!
Cảm ơn đã ở bên tôi, cùng đi trên con đường dài đằng đẵng của cuộc đời này, con đường này có bão táp mưa sa, có hố có vũng, có vách cao vực sâu, nhưng, đã bao dung và che chở tôi. 
Là cảng tránh gió.
Là chiếc ô che.
Là cây cầu.
Là đôi cánh của tôi. 

Tôi đã quên rất nhiều kinh văn
Nhưng duy nhất có
Ở trong tim tôi
Mãi mãi đầy ắp

Tôi muốn làm đại lễ bái
Hướng về cầu nguyện
Ghi lại những kỳ tích thù thắng
Làm thành cúng dường của tôi.


### 20. Khối u cứng biến mất rồi


Ở Vancouver Canada, Thượng sư Thích Liên Ngũ ở Hoa Quang Lôi Tạng Tự, gần đây gửi cho tôi một lá thư. 
Nội dung thư như sau: 
*Đảnh lễ Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Phật tôn quý nhất từ bi nhất.
Kính chúc Sư Tôn Phật đản vui vẻ, Phật thể an khang, thỉnh Phật trụ thế, cửu cửu cửu cửu!*

*Đệ tử Thích Liên Ngũ cảm ơn Sư Phật đại pháp lực thần kỳ gia trì, khiến đệ tử đích thân trải nghiệm kỳ tích khối u to bằng quả trứng gà biến mất một cách thần kỳ, tán thán cảm ơn Sư Tôn Phật lực bất khả tư nghì. Nay tóm tắt lại trải nghiệm này của đệ tử để làm chứng cho sự thần kỳ này.*

*Đầu tháng 6 năm 2023, trong một lần đệ tử lái xe trên đường, cảm thấy miệng hơi khô bèn lấy bình đựng nước uống một ngụm nước, khi ấy có mấy giọt nước chảy xuống cổ, đệ tử vô thức đưa tay lên lau, đột nhiên sờ thấy thứ gì tròn tròn cứng cứng ở ngay dưới cổ. Sờ kĩ hơn vào bên trong thì thấy nó to cỡ quả trứng gà, hai phần ba nằm lọt vào trong thịt, một phần ba nhô ra ngoài da. Chả trách hơn một tháng qua cứ cảm thấy hơi đau khi nuốt, thì ra là mọc lên một khối u to như vậy, thế mà chính mình lại không biết. Đệ tử nghĩ nên đi kiểm tra một chút, xem xem là khối u lành tính hay ác tính.*

*Vừa hay ngày hôm sau là chủ nhật, tham gia pháp hội Hộ Ma Đại Uy Đức Kim Cang do Sư Tôn chủ trì, khi Sư Tôn hồi hướng, tay đệ tử đưa lên sờ vào khối u và thỉnh cầu Sư Phật gia trì. Sau khi trở về thì lập tức hẹn lịch chụp X-quang, bác sĩ nói ba ngày sau sẽ thông báo kết quả. Mấy ngày sau, đệ tử phát hiện ra khối u mặc dù kích cỡ không thay đổi nhưng bắt đầu trở nên mềm ra. Đến chủ nhật tuần tiếp theo khi tham gia Hộ Ma Cao Vương Quan Âm của Sư Tôn, đệ tử vẫn hồi hướng như trước. Sau khi trở về, khối u bắt đầu trở nên nhỏ, đột ngột một phần ba khối u nhô ra ngoài đã trở nên phẳng, cũng không cảm thấy có trở ngại gì khi nuốt. Sau đó vì bận pháp vụ và quản lý suốt hai tuần sau đó mới nhớ ra vì sao vẫn chưa được bác sĩ thông báo kết quả. Lúc đó đệ tử mới kinh ngạc nhận ra thời gian vừa rồi dường như đã quên mất việc này, kết quả là sau khi sờ thử thì không sờ thấy hai phần ba khối u mọc vào bên trong nữa, khối u cứng như đá to bằng quả trứng gà không ngờ đã biến mất một cách thần bí!*

*Đệ tử ngũ thể đầu địa cảm ơn Sư Phật từ bi cứu độ, đích thân trải nghiệm Sư Phật đại uy thần lực diễn hóa thần kỳ, kiến chứng Chân Phật Mật Pháp quả thực không hư giả, nay ghi lại kiến chứng này để cổ vũ đồng môn. *

*Kính chúc Sư Tôn Phật thể an khang, thỉnh Phật trụ thế, hằng chuyển pháp luân!
Đệ tử Thích Liên Ngũ đảnh lễ tạ ơn.
05.07.2023*

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) nói thế này: 
Tôi từng sờ đầu cho Elizabeth, khiến cho khối u não của cô ấy biến mất.
Sờ đầu cho Trần Lệ, khiến khối u cổ của cô ấy biến mất.
…………….
Kỳ tích về khối u biến mất là cực kì nhiều.
Nhưng, 
Tôi nói: 
Tôi không vì mình có năng lực này mà đi đến khoa u bướu của bệnh viện để sờ đầu cho mỗi người bị mắc ung thư. 
Bởi vì,
Không phải mỗi người hễ sờ đầu là sẽ khỏi. Cái đó phải dựa vào nhân duyên quả báo. Có những nhân quả là bất khả tư nghì, có những hồi báo là bất khả tư nghì. 
Bởi vì bất khả tư nghì cho nên không có cách nào (không có quy luật nhất định), chỉ có thể nói là kỳ tích.
Đệ tử Liên Ấn của tôi vì ung thư não mà ra đi rồi!
Đệ tử Liên Quảng của tôi vì ung thư tuyến tụy mà ra đi rồi!
Tôi cứu cũng không cứu được.
(Chỉ là kéo dài thọ mạng của họ, từ ba tháng thành ba năm, bác sĩ phán đoán là thọ mạng còn ba tháng, nhưng lại sống thêm được ba năm.)
Khối u cổ của Thượng sư Thích Liên Ngũ, ông ấy gửi thư đến nói là đã biến mất rồi.
Bản thân ông ấy vui, người làm sư phụ như tôi cũng vui. Ấy! Vì sao có người vừa cầu nguyện là có thể khỏi, có người cầu nguyện thế nào cũng không khỏi? Vì sao? Vì sao?
Mỗi ngày tôi đều cầu nguyện: 
Chỉ mong chúng sinh thoát khổ được vui!
Chỉ mong chúng sinh khỏe mạnh sống lâu vui vẻ!
Chỉ mong chúng sinh vãng sinh Phật quốc tịnh thổ!


### 21. Gia trì cho người đột quỵ


Đệ tử Liên Hoa Trinh Ni được biết mẹ của bạn thân Angel sống ở Los Angeles đi Mỹ thăm Angel thì đột nhiên bị đột quỵ, tình hình mười phần nguy cấp, đang hôn mê. Thế là đệ tử liền đề nghị Angel thỉnh Sư Tôn gia trì và niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh để hồi hướng cho mẹ. Đệ tử nói với Angel rằng trong Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh có một câu kinh văn là “lúc khó khăn nguy cấp, người chết còn thành sống”, lại thêm Sư Tôn từ bi đại lực gia trì, nhất định sẽ có chuyển biến tốt. Kết quả đúng là lập tức được Sư Tôn cứu sống rồi. Bác sĩ cũng không thể giải thích vì sao kỳ tích lại xuất hiện. Hãy để đệ tử từ từ rủ rỉ kể chuyện…

Ngày 15 tháng 5, buổi tối 9h38 phút, Lý Trinh Ni được biết mẹ của bạn Angel bị đột quỵ và hôn mê, Lý Trinh Ni đã đề nghị bạn thỉnh Sư Tôn gia trì và niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh hồi hướng.

Sáng ngày 16 tháng 5, Nhất Như Lôi Tạng Tự nhận được thư chúng tôi thỉnh cầu Sư Tôn gia trì và giúp gửi fax đến Mật Uyển để thỉnh cầu Sư Tôn gia trì.

Ngày 17 tháng 5 Sư Tôn gia trì xong thì đến ngày hôm sau đã xuất hiện kỳ tích, mẹ của Angel đã tỉnh lại rồi! Nhưng ý thức còn chưa rõ ràng, e rằng vẫn còn hôn mê ở cấp độ hai, vẫn đang trong thời kỳ nguy hiểm.

Ngày 19 tháng 5, ý thức của mẹ Angel tương đối rõ ràng, nhưng tay phải hoàn toàn không có phản ứng, chân phải thì có một chút phản ứng, không thể nói chuyện, không thể nuốt nước bọt và ăn cơm, không thể tự đi đại tiểu tiện. 

Ngày 20 tháng 5, bác sĩ nói với Angel là mẹ của cô ấy có thể còn phải ở trong viện hai đến ba tháng.

Ngày 21 tháng 5, Lý Trinh Ni quyết định tự mình giúp mẹ của bạn Angel cho nên lại thỉnh cầu Sư Tôn gia trì một lần nữa, nhưng vì ngày 21 tháng 5 là chủ nhật, Sư Tôn và Thượng sư, pháp sư đều ở Cầu Vồng Lôi Tạng Tự làm pháp hội, vì thế Lý Trinh Ni nhờ Nhất Như Lôi Tạng Tự đến ngày thứ hai là 22 tháng 5 lại gửi fax đến Mật Uyển Seattle. 

Ngày 22 tháng 5, thư xin gia trì lần thứ hai đã được gửi đến Chân Phật Mật Uyển và ngày hôm đó đã nhận được thư trả lời của Sư Tôn và Mật Uyển.

Ngày 1 tháng 6, 11 ngày sau khi được gia trì lần thứ hai thì xuất hiện kỳ tích, mẹ của Angel vốn dĩ phải nằm viện ít nhất hai đến ba tháng thì giờ đã có thể xuống giường đi lại. Bác sĩ nói có thể ra viện rồi. 

Ngày 7 tháng 6, mẹ của Angel đã về đến Đài Loan một cách thuận lợi và tiến hành phục hồi chức năng sau trị liệu. 

Nếu hỏi đệ tử cảm tưởng về đại cảm ứng của Sư Phật và Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh lần này là gì thì đệ tử chỉ muốn dẫn một câu kinh văn ở trong Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh là: “Lúc khó khăn nguy cấp. Người chết còn thành sống. Chư Phật chẳng nói đùa. Vì vậy nên đảnh lễ.” 

Nghìn lời cũng không thể nào nói hết sự biết ơn và ca ngợi Căn bản Thượng sư, Căn bản Thượng sư Sư Tôn của chúng ta là vị Phật thật sự, thật sự cứu độ chúng sinh, chúng ta vô cùng may mắn được Căn bản Thượng sư dẫn dắt dạy dỗ và gia trì. Gần đây có tin tức cho biết Anna Shay, tỷ phú Los Angeles với tài sản 600 triệu USD, người từng ghi hình cho chương trình Netflix "Đế Quốc Hào Nhoáng" [Bling Empire], đã qua đời vì đột quỵ ở tuổi 62. Những người giàu có phúc lớn từ khi sinh ra đã đứng trên đỉnh của vinh hoa phú quý mà bỗng nhiên chết vì bệnh khi còn trẻ, huống hồ là người bình thường như chúng ta. Hãy tranh thủ nắm bắt thời gian để mà kính sư, trọng pháp, thực tu! Mạng sống thật sự là quá vô thường! Hãy nhanh chóng đi theo bước chân của Căn bản Thượng sư của chúng ta mà nỗ lực tu hành!

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) nói thế này: 
Mỗi ngày.
Tôi đều sẽ gia trì thư tín, mỗi lá thư đều gia trì, bao gồm fax và tin nhắn.
Trước tiên tôi tập trung tinh thần.
Bổn tôn Diêu Trì Kim Mẫu của tôi và Lư Sư Tôn hợp nhất.
Tôi trì chú.
Dùng thủ ấn kiếm quyết để dòng chảy pháp gia trì cho mỗi người thỉnh cầu. 
Mặc dù tôi ở Seattle nước Mỹ nhưng dòng chảy pháp thì lan đến khắp các nước trên thế giới. 
Tôi từng gia trì cho một người bị đột quỵ là Liên Hoa Mộc Bân. 
Sau đó,
Liên Hoa Mộc Bân sau khi tỉnh lại đã nói với mọi người rằng trong lúc hôn mê, anh ấy đã nhìn thấy Lư Sư Tôn đến, đưa tay vào trong não lấy ra một cục máu đông màu đen. 
Lư Sư Tôn nói: 
”Chính là cục máu này đã tắc lại khiến anh bị hôn mê, lấy ra rồi thì sẽ khỏe lại!”
Lư Sư Tôn cầm cục máu đông bỏ đi. Lư Sư Tôn không mở cửa mà trực tiếp đi xuyên qua tường. 
Liên Hoa Mộc Bân nhìn thấy rõ mồn một.
Sau khi tỉnh lại, bác sĩ kiểm tra xong thì thấy rất lạ, vốn dĩ ở trong não có một cục máu đông rất to, nhưng sau khi chụp chiếu thêm thì hoàn toàn không thấy đâu nữa, cục máu đông đó sao lại biến mất chứ?

Liên Hoa Mộc Bân nói với bác sĩ: 
”Sư phụ Lư Sư Tôn của tôi đã cho tay vào trong não để lấy nó đi rồi!”
Bác sĩ nói: 
”Bất khả tư nghì!”
Liên Hoa Mộc Bân nói: 
”Sư phụ của tôi vốn dĩ chính là bất khả tư nghì!”


### 22. “Giác” của Đại Bảo Pháp Vương


Trong một lần cúng cơm.
Có một gia đình Singapore đặc biệt cúng dường tăng chúng một bữa cơm chung. Gia đình này ngồi tại bàn ăn của Lư Sư Tôn, ngồi đối diện trên cùng bàn ăn. 
Một quý bà nói: 
”Tôi có một việc muốn báo cáo với Sư Tôn, Sư Mẫu.” 
Tôi nói:  
”Xin mời nói!” 
Quý bà kể: 
Năm xưa, Đại Bảo Pháp Vương Karmapa 16 đến Singapore hoằng pháp, cả nhà chúng tôi đều đi nghe pháp, tín chúng rất đông.
Nghe pháp xong thì có nghi thức quy y.
Cả nhà chúng tôi từ lâu đã có ý muốn quy y Đại Bảo Pháp Vương 16, trở thành đệ tử kiền thành. 
Mọi người theo thứ tự quy y.
Cả nhà chúng tôi đứng vào hàng tiến lên phía trước. Khi đi đến trước mặt Đại Bảo Pháp Vương 16 thì ngài đột nhiên nói: 
”Gia đình này không cho quy y!”
Chúng tôi nghe xong thì đứng sững ra.
Cả nhà chúng tôi không tiến không lùi mà cứ đứng ngây ra tại chỗ, chúng tôi cảm thấy rất ngại ngùng, rất mất mặt.
Chúng tôi cảm thấy không biết đã làm gì sai, tất cả mọi người đều cho quy y, vì sao nhà chúng tôi không cho quy y chứ?
Lẽ nào…?
Nghiệp chướng sâu nặng? 
Tội ác ngất trời? 
Là ma? 
Là quỷ? 
Là khác loài? 
Mọi người đều quy y, chỉ có mỗi gia đình tôi là không cho quy y, sao lại có cái lẽ ấy? 
Khi ấy, tất cả đệ tử quy y có mặt ở đó đều nhìn thấy cảnh tượng này, cả nhà chúng tôi giống như bị phán tội chết vậy, đứng trong đám đông không ngẩng đầu lên nổi, cuống quýt giống như chó mất chủ. 
Sau đó, 
Đại Bảo Pháp Vương nhờ phiên dịch nói cho chúng tôi biết, Đại Bảo Pháp Vương 16 nói như thế này:  
Gia đình này không phải là tôi (Đại Bảo Pháp Vương) nên thu nhận làm đệ tử quy y.
Gia đình này tương lai sẽ gặp một vị Pháp Vương rất thù thắng và trân quý nhất. Pháp Vương này cũng là pháp tự của tôi (Đại Bảo Pháp Vương 16), nhưng truyền thừa của ông ấy đến từ cõi trời bên ngoài cõi trời. 
Vị Pháp Vương này là báu vật hiếm có trên đời, vô cùng trân quý.
Ông ấy là trân bảo lấp lánh, soi sáng con mắt của người đời.
Các bạn có thể nhìn thấy ánh sáng của ông ấy.
Ánh sáng của ông ấy ở trên toàn thế giới, sự phát triển mạnh mẽ của Mật giáo nằm trên đôi vai của ông ấy.
Tôi (Đại Bảo Pháp Vương 16) không thể thu nhận các bạn.
Gia đình các bạn là đệ tử của ông ấy.
Nhưng, cũng là học trò của học trò pháp tự của tôi (Đại Bảo Pháp Vương 16).
Nói vậy đã hiểu chưa?

Lúc ấy, gia đình này nghe xong thì ngượng ngùng rời khỏi hội trường, vẫn cảm thấy rất hoang mang. Không được làm học trò mà lại trở thành học trò của học trò, vừa mừng vừa tức cười, đúng là rất mơ hồ.
Làm học trò chẳng phải là rất tốt sao? Vì sao phải làm học trò của học trò?
Gia đình này vẫn giận dỗi bất bình.
Quý bà nói đến đây thì vui vẻ nói với Lư Sư Tôn: 
”Lư Sư Tôn! Bây giờ chúng tôi đã hiểu rồi, duyên của chúng tôi nằm ở nơi thầy.” 


### 23. “Giác” của Thượng sư Trần Kiện Dân


Thượng sư Trần Kiện Dân được nước ngoài công nhận là chuyên gia Mật tông Tây Tạng có uy tín nhất. Thượng sư Trần có rất nhiều trước tác, trong đó “Khúc Quăng Trai Toàn Tập” là có ảnh hưởng rộng nhất, là một bộ tác phẩm lớn về Mật giáo học.
Truyền thừa của Thượng sư Trần đến từ: 
Thượng sư Norlha của Nyingma.
Cống Cát Hoạt Phật của phái Kagyu. 
Vào những năm 30, Thượng sư Norlha ở tại đất Hán hoằng dương Mật pháp khoảng 4 năm, còn Cống Cát Hoạt Phật ở tại đất Hán hoằng dương 20 năm, khi ấy rất nhiều đệ tử có được pháp.
Trong đó nổi tiếng nhất có: 
Lương Thấu Minh. Hoàng Niệm Tổ. 
Người hoằng pháp là: 
Trần Kiện Dân. Ngô Nhuận Giang. Lưu Nhuệ Chi. Trương Trừng Cơ.
(Trong đó, tiến sĩ Trương Trừng Cơ từng quy y Lư Sư Tôn.)
Thượng sư Trần Kiện Dân là người huyện Du ở Hồ Nam.
Ông ấy tu pháp tịnh quang, pháp mộng quán, pháp chuyết hỏa… đạt được chứng lượng.
Thượng sư Trần Kiện Dân có một phẩm chất đặc biệt là ông ấy rất coi trọng siêu độ cho người chết. Ông ấy thích nói thế này: 
1. Chúng ta và người chết đều coi trọng vô thường.
2. Chúng ta và người chết đều có nghiệp tội, phải sám hối nghiệp chướng. 
3. Chúng ta có thể cầu nguyện bố thí cho người chết.
4. Chúng ta nhờ người chết mà tác động đến tâm vô thường, tâm bồ đề, tâm từ bi.
Vì thế, Thượng sư Trần Kiện Dân thường đi đến khu mồ mả nơi rừng vứt xác. 
Đi đến rừng vứt xác để bố thí.
Ông ấy cảm thông với mười loại cô hồn: 
1. Bắc chiến Nam chinh, khoác lên bộ áo giáp, không sợ hy sinh để báo hiếu đất nước, một tiếng pháo nổ, thân đã nằm trên sa trường, những cô hồn chết trận đến nhận hương vị cam lộ.
2. Hiếu tử hiếu nữ và những người bị giữ làm nô lệ sớm tối phục vụ, quần áo không đủ che thân, bị đuổi ra khỏi nhà, nằm cuộn mình trên đường phố, thành cô hồn chết đói, đến nhận hương vị cam lộ. (chỉ dân lang thang)
3. Bán dạo trên đường, tăng nhân hành khất, năm này qua năm khác ở bên ngoài tìm kiếm cơm ăn áo mặc, bệnh tật ốm đau, không thể ở nhờ hàng quán, cô hồn chết nơi đất khách, đến nhận hương vị cam lộ.
4. Đấu tranh với kẻ ác kẻ mạnh, bị nhốt trong gông cùm nhà ngục, bị xử trảm treo cổ xử bắn, mất mạng nơi pháp trường, luật pháp rõ ràng, phạm vào vương pháp, cô hồn bị chết vì tử hình đến nhận hương vị cam lộ.
5. Kẻ thù nhiều kiếp, kiếp này gặp lại nhau, bày mưu hãm hại, thuốc độc đi vào bụng, chín lỗ bốc khói, giết chết thân thể, cô hồn chết vì thuốc độc đến nhận hương vị cam lộ.
6. Ba năm cho bú, ơn cha mẹ khó nhọc, mười tháng hoài thai, vào lúc lâm bồn, tính mạng nguy kịch, mẹ con trở về âm thế, cô hồn chết khi sinh sản đến nhận hương vị cam lộ.
7. Gặp lúc nguy cấp, tai họa khó tránh, nợ tư nợ công đè nặng mỗi ngày, treo cổ tự sát, cắt đứt đường thở, cô hồn chết ngoẹo đến nhận hương vị cam lộ.
8. Chán chường vì bệnh tật lâu ngày, thiếu sinh khí, nằm liệt giường, ung nhọt đầy thân, hôi thối khắp người, chữa trị vô hiệu, chẳng thể chữa khỏi, cô hồn chết vì bệnh đến nhận hương vị cam lộ.
9. Sóng to gió lớn, lũ lụt ngút trời, động đất hỏa hoạn, mất mạng trong thiên tai, nhớ lại quê hương, không ai thư từ, cô hồn như vậy đến nhận hương vị cam lộ.
10. Tinh tà bám trên cây, hàng yêu quái vô chủ, động vật sống dưới nước bay trên trời, không loài nào có ý hồi sinh, Phật ta từ bi đưa xuống đại phương tiện, mười loại cô hồn đến nhận hương vị cam lộ.

Thơ của Thượng sư Trần: 
*Xác cũ còn chưa hóa thành dầu
Đã thấy xác mới trên sườn núi
Xin hỏi lò nung xé banh xác
Sống chết vô ích khi nào thôi?*

*Tuổi trẻ tinh tấn trong thư phòng
Trưởng thành để đời một tiếng thơm
Vào được cửa thiền thì đã già
Đầu bạc khóc than sự vô thường.*

*Rừng xác thường có người chết cháy
Ngửi thấy khói tanh lòng lo âu
Xem bà hàng xóm cảm xúc gì
Nhổ mấy bãi đờm về phía núi.*

(Lư Sư Tôn tôi đọc xong trước tác của Thượng sư Trần Kiện Dân, hiểu về những sự kiện trọng đại trong cả một đời hoạt động của Thượng sư Trần, từ lúc sinh ra cho đến khi 82 tuổi, ông ấy viên tịch tại California nước Mỹ.)

Điều tôi kính ngưỡng là: 
Tinh thần của Thượng sư Trần.
Cảnh giới Pháp thân.
Sự thù thắng của giác thụ.
Pháp và ta hợp nhất.

🌟

Có một sự việc tôi muốn đặc biệt chỉ ra: 
Khi Thượng sư Trần 78 tuổi.
Ông ấy đã đến Hội Phật Giáo Thế Giới ở Vancouver Canada để diễn giảng thuyết pháp. 
Khi ấy tài xế lái xe cho Thượng sư Trần là Lại Văn Ngạn.
Lại hỏi: 
”Thượng sư đi đâu?” 
Thượng sư đáp: 
”Nghĩa địa ở gần đây.” 
Thượng sư Trần đến nghĩa địa các nơi rắc gạo, kẹo, bánh quy, nước, vừa rắc vừa trì chú nữa. Các nghĩa địa ở lân cận Vancouver đều đã đi rồi. 
Tu pháp, trì chú, bố thí.
Sau khi kết thúc.
Lại Văn Ngạn đưa Thượng sư Trần trở về nơi nghỉ, lúc này Lại Văn Ngạn nói với Thượng sư Trần: 
”Thượng sư! Tôi muốn quy y thầy học Phật pháp!”
Thượng sư Trần Kiện Dân nhìn anh ấy chăm chú. 
Nói: 
”Anh có căn khí học Mật giáo.” 
Lại hỏi: 
”Thượng sư muốn nhận tôi làm học trò? Tôi đi chuẩn bị cúng dường.” 
Thượng sư Trần nói: 
”Tôi không thể nhận anh làm học trò. Thượng sư của anh là một người khác, sau này Thượng sư của anh là một vị yogi vĩ đại.” 
Lại hỏi: 
”Nhưng bây giờ tôi muốn quy y thầy, lẽ nào không được sao?” 
Thượng sư Trần đáp: 
”Duyên của anh là với người đó, không phải với tôi.” 
Lại hỏi: 
”Ông ấy là ai?” 
Thượng sư Trần đáp: 
”Ông ấy xuất thân ở Đài Loan, tương lai sẽ như đại nhật phổ chiếu, độ chúng sinh vô số, anh mới là đệ tử của ông ấy.” 
Lại hỏi: 
”Làm sao gặp được?”
Thượng sư Trần đáp: 
”Tôi đã nhìn thấy trước được ngôi sao chổi Mật giáo trong tương lai này, hào quang của ông ấy tỏa bốn phương, người quy y đến từ khắp mọi miền, ông ấy là một vị truyền thừa vĩ đại, sẽ dẫn dắt anh thành tựu.” 
Lúc này Lại Văn Ngạn không nói gì nữa.
Lại Văn Ngạn lái xe đưa Thượng sư Trần về chỗ nghỉ ngơi, Lại Văn Ngạn đảnh lễ Thượng sư Trần Kiện Dân.

🌟

Sự việc này là chính miệng Lại Văn Ngạn (Thượng sư Liên Cao) kể với tôi.
Kỳ lạ! Lành thay!
Thượng sư Trần Kiện Dân đã nhìn thấy trước.


### 24. Gia trì buôn bán


Đảnh lễ Căn bản Thượng sư Liên Sinh Thánh Tôn. Phật an!
Đệ tử Liên Hoa Phồn Sâm đến từ nước Úc, trước tiên cầu nguyện Sư Tôn Phật thể an khang trường thọ, cầu nguyện Sư Mẫu sống lâu khỏe mạnh. Tông Ủy Hội, Phật an!

Hôm nay gửi thư đến nói về việc liên quan đến nhà hàng ăn của đệ tử sáu, bảy năm nay giao cho môi giới bất động sản đứng ra bán và cho thuê mà không hề có kết quả. Bởi vì tôi và vợ tuổi già sức yếu cho nên muốn nhanh chóng bán đi sản nghiệp này. Năm ngoái tôi đã viết thư thỉnh cầu Sư Tôn gia trì, sau khi nhận được thư trả lời kèm theo phù buôn bán thì thật tình cờ cơ duyên đúng lúc có một môi giới bất động sản mới của Hoa kiều từ nơi khác chuyển đến cách nhà hàng của chúng tôi chỉ vài căn, vì vậy rất thuận tiện làm việc, hơn nữa còn là Hoa kiều. Đây là điều tôi mong chờ bấy lâu nay, mong được chuyển sang làm với môi giới bất động sản là Hoa kiều. Nhận được thư trả lời gia trì của Sư Tôn đúng là bất khả tư nghì, quả nhiên đã được như ý nguyện. Đúng là có môi giới bất động sản từ nơi khác chuyển đến. Chúng tôi đã chuyển sang môi giới bất động sản mới này và chưa đầy hai tháng đã nhận được không ít đề nghị từ người mua. Môi giới cũng rất nhiệt tình giúp chúng tôi tìm được người mua nước ngoài với mức giá lạc quan và hiện tại đã hoàn thành giao dịch thuận lợi, tháng 6 sẽ chính thức chuyển giao. Cũng thật đúng lúc là hai con của chúng tôi đã tìm được việc làm ngay sau khi tốt nghiệp. Nay đệ tử và vợ thật sự cảm ơn vô hạn sức mạnh gia trì bất khả tư nghì của Sư Tôn, cũng cảm ơn chư Phật Bồ Tát và thổ địa thần chúng đã phù hộ cho việc thuận lợi. 

Nay đệ tử gửi kèm theo thư này cúng dường cảm ơn trợ lực gia trì của Sư Tôn, cũng cảm ơn chư Phật Bồ Tát phù hộ cho mọi việc thuận lợi. 
Xin chúc Sư Tôn Sư Mẫu cát tường trường thọ kiện khang.

Đệ tử được nhận ân điển Liên Hoa Phồn Sâm chắp tay. 
Ngày 11 tháng 6 năm 2023.

🌟

Lư Sư Tôn chú thích:
Với mỗi thư của đệ tử gửi đến, tôi đều cực kì coi trọng. Hơn nữa tôi còn tự mình gia trì cho mỗi một lá thư đệ tử gửi đến. 
Đại đa số đệ tử đều có điều thỉnh cầu, bởi vì chúng ta đều là chúng sinh ở thế giới Ta Bà.
Tôi thường khẩn cầu Bổn tôn của tôi: 
Mong những người cầu nguyện đều được như ý nguyện.
Mong người người đều vui vẻ.
Mong người người thoát khổ.
Mong người người cùng hợp tác với nhau.
Mong người người đều đạt được phúc đức viên mãn.
Mong người người tu pháp thành tựu. 

🌟

Tôi thường nghĩ đến lời của Duy Ma Cật: 
Không cần phải đoạn trừ phiền não mới đắc được giải thoát. 
(Phiền não chính là bồ đề.)
Tiến vào tà kiến và lấy được chính giác. 
(Tà kiến cũng là kiến.)
Sống trong tám nạn mà không cảm thấy khó khăn.
(Không xem những khó khăn đó là khó khăn.)
Phật và ma là như một, không phải như hai. 
(Pháp tính là một.)
Cũng như: 
Từ tâm và oán tâm.
Cung kính và phỉ báng.
Vân vân và vân vân.
Những cái tâm này bản chất đều là như nhau.
Khi ta đạt đến tư tưởng siêu nhiên, ta có thể: 
Tất cả bình đẳng. (xem chúng sinh như chính mình)
Tất cả tùy thuận. (hòa quang đồng trần [hòa ánh sáng cùng bụi trần, hòa hợp với trần tục mà không lập dị])
Tất cả vô vị. (thành hay không thành tự có nhân duyên)

Tôi cũng có thể tận tâm tận lực đi giúp đỡ tất cả chúng sinh, đối với tất cả mọi việc tôi đều không thích cũng không lo. 
Sức mạnh gia trì của tôi đến từ lực gia trì của Phật Bồ Tát Bổn tôn, sau đó thí cho chúng sinh. 
Lực gia trì là bình đẳng.
Lực gia trì là tùy thuận.
Thành và bất thành.
Tất cả vô vị.
Bởi vì ở đây đều là nhân duyên quả báo cả!


### 25. Jodie nhìn thấy như vầy


Trong pháp hội Hộ Ma Đại Lực Kim Cang, sư tỉ Jodie nhìn thấy ba vị Phật xuất hiện ở phía trên, bên trái và bên phải Đại Lực Kim Cang. 
Tôi nói: 
Đại Lực Kim Cang một tay cầm quyền trượng (côn), tượng trưng cho Liên Hoa Đồng Tử. Một tay cầm phất trần, tượng trưng cho Diêu Trì Kim Mẫu. Còn một tay cầm thừng kim cang, tượng trưng cho Kim Cang Thủ. Một tay nữa kết ấn phẫn nộ, tức là Đại Lực Kim Cang tượng trưng cho Đại Lực Thị Giả. 
Tôi nói:
Liên Hoa Đồng Tử cộng thêm Diêu Trì Kim Mẫu cộng thêm Kim Cang Thủ cộng thêm Đại Lực Thị Giả là thành Đại Lực Kim Cang.
Còn nữa,
Bản địa của ngài là Địa Tạng Bồ Tát.
Còn có một bản địa nữa là A Di Đà Phật.
Lai lịch như vậy quả là vĩ đại siêu cấp!
Nói một cách nghiêm túc, Liên Hoa Đồng Tử chính là một trong những hóa thân của A Di Đà Phật. 
Ba vị Phật đó đều là A Di Đà Phật, tức là: 
Bổn tôn A Di Đà Phật.
Trường Thọ Phật.
Vô Lượng Quang Phật.

🌟

Jodie còn nhìn thấy trong buổi pháp hội Hộ Ma Khổng Tước Minh Vương, một đóa hoa sen từ trong bùn mọc lên, xung quanh là cầu vồng tròn.
Đây là hoa sen sinh ra từ bùn mà không nhiễm bẩn. 
Bùn — hồng trần.
Hoa sen — Phật xuất thế gian.
Duy Ma Cật nói: 
Không rời Ta Bà mà đạt được chính giác. (thanh tịnh và ô uế là một)
Không rời phiền não mà đạt được chính giác. (phiền não và bồ đề là một)
Không rời ma giới mà đạt được chính giác. (Phật và ma là một)
Lành thay!


### 26. Mở ra túc mệnh thông


Trong kinh Duy Ma Cật: 
Phú Lâu Na (thuyết pháp đệ nhất) trong số mười đại đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni ở trong rừng sâu, bên dưới một cây lớn, đã thuyết pháp cho tì kheo mới xuất gia. 

Duy Ma Cật xuất hiện nói với Phú Lâu Na: 
”Thuyết pháp cần phải biết căn cơ sắc hay cùn của đối tượng, không thể đem pháp Tiểu thừa giảng cho người Đại thừa nghe.” 
Có nghĩa là: 
”Da dẻ của người này đã hoàn hảo rồi, nhưng lại cho họ bôi lên thuốc da chó, ngược lại sẽ làm cho da người bị tổn thương.” 
Ngay lúc đó Duy Ma Cật nhập tam muội. 
Đi khai mở túc mệnh thông của những người mới xuất gia.
Khi các tì kheo mới xuất gia đạt được túc mệnh thông thì lập tức biết trong đời quá khứ:
Họ cúng dường phụng sự năm trăm vị Như Lai.
Đắc bồ đề tâm.
Thiện nghiệp kiếp trước hiển hiện thành gốc đức kiếp này.
Trong sát-na, họ liền đắc bồ đề tâm và chứng quả vị ở địa bất thối chuyển. 
Những tì kheo mới xuất gia này hướng về Duy Ma Cật đảnh lễ dưới chân Phật. 
Những điều trên đây là Duy Ma Cật dạy Phú Lâu Na trước khi thuyết pháp cần biết căn khí của người đến nghe. Thuyết pháp như vậy mới là tùy bệnh cho thuốc.

🌟

Duy Ma Cật (Kim Túc Như Lai) dùng sức mạnh tam muội để khai mở túc mệnh thông của người ta. 
Lực tam muội này quả nhiên bất phàm.
Rất thần.
Rất kỳ.
Bất khả tư nghì.
Duy Ma Cật nói với tôi: 
”Lư Sư Tôn! Ngài cũng có thể. Tôi là Đại Duy Ma Cật, ngài là Tiểu Duy Ma Cật.” 
Tôi hỏi: 
”Tôi có thể sao?” 
Duy Ma Cật đáp: 
”Có thể.”
Duy Ma Cật lại nói: 
”Không những bản thân ngài có túc mệnh thông mà còn có thể khiến người khác đắc túc mệnh thông. Ngài có hai lá thư có thể chứng minh.” 
Cuối cùng tôi đã tìm ra hai lá thư.

Thứ nhất: 
*Một lá thư gửi đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật. 
Căn bản Truyền thừa Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật kính yêu nhất. 
A Di Đà Phật! Phật an!
Ngu đệ tử Liên Hoa Liễu Ngộ nhất tâm đảnh lễ Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật (sau đây xưng là Sư Phật), và đem thân khẩu ý kiền thành nhất cúng dường Sư Phật. Đệ tử vô cùng cảm ơn Sư Phật vào ngày 2/5/2021 trong đại pháp hội Hộ Ma Uế Tích Kim Cang ở Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, mục tương tác hỏi đáp đã giải đáp thắc mắc của đệ tử. Đệ tử từ khi quy y Sư Phật tám năm nay không ngừng có được sự gia trì vô hình của Sư Phật, và không ngừng đánh thức ký ức kiếp trước của đệ tử, khiến đệ tử rất chân thực cảm nhận được sự thù thắng của Chân Phật Mật Pháp. *

*Vì sự kêu gọi của sứ mệnh, đệ tử đã đấu tranh suốt tám năm, đến nay mới lấy hết can đảm để viết thư cho Sư Phật, thành thật chia sẻ với Sư Phật những sự việc cảm ứng đã xảy ra với đệ tử suốt tám năm qua (chúng xảy ra một cách tự nhiên). Chúng là những ghi chép trên con đường tu hành, cũng là pháp lực của Sư Phật mà đệ tử đã đích thân chứng kiến đích thực là biến khắp mười phương pháp giới.*

*Ngày 5/11/2019 là ngày khó quên nhất trong cuộc đời đệ tử. Đó là ngày đệ tử đến Lãnh Sự Quán Mỹ để phỏng vấn xin visa. Đệ tử rất cảm ơn Sư Tôn đã âm thầm vận thần thông và từ bi gia trì cho đệ tử, khiến đệ tử may mắn có được visa thương vụ mười năm của Mỹ. Đến ngày 13 thì đệ tử có được visa đi Mỹ và lập tức đặt chuyến bay đến Seattle vào ngày 15. Đệ tử đi ủng đi tuyết, đội mũ lông đen và mặc áo khoác màu đỏ, vội vã đến để Sư Tôn sờ đầu sau bữa ăn (ăn mặc giống như một người từ cao nguyên vùng tuyết đến, bởi vì ở Montréal Canada đã có tuyết rồi). *

*Đệ tử đã đích thân trải nghiệm sóng từ trường năng lượng của chùa tổ Seattle Lôi Tạng Tự, quả nhiên là nó rất phi thường. *

*Vào ngày 16, khi đệ tử đến Seattle Lôi Tạng Tự để lễ Phật Bồ Tát thì gặp một cảm giác rất lạ lùng và linh dị:
Khi đệ tử tụng tâm chú Sư Tôn, vô tình nhắm mắt lại, nhìn thấy sóng từ trường năng lượng của đàn thành rất mạnh, tràn ngập ánh sáng màu vàng kim, nhất là năng lượng ở phía trên cao nhất của đàn thành hiện lên như những bánh xe hình xoáy ốc phóng tỏa ra ánh sáng ngũ sắc, giống như “già thiên nhất khí” mà Đạo gia nói đến, trọn vẹn tạo nên một cảnh tượng kỳ diệu, in đậm vào trong tâm trí đệ tử, dường như đang kêu gọi linh thức tu hành kiếp trước của đệ tử, khiến tâm đệ tử ngộ ra con người và vũ trụ là tương thông, chỉ cần mở ra được cái nút ở trung tâm trong đó là có thể kết nối để đi lên. *

Đồng thời khi đệ tử tụng niệm tâm chú Liên Sư, cũng vô tình nhắm mắt lại, nhìn thấy đôi mắt sâu xa của Liên Sư hiển hiện trong hư không, nhìn đệ tử chan chứa tình cảm: “Cuối cùng đã đến rồi.” 

*Ngày 16 ăn cơm trưa xong xếp hàng đợi Sư Phật sờ đầu, lúc đến lượt đệ tử, Sư Phật không sờ đầu đệ tử mà dùng cách điểm huyệt để điểm vào chỗ thịt dày ở dưới ngón cái tay phải của đệ tử để gia trì cho đệ tử, khiến thân tâm đệ tử xúc động sâu sắc, khiến nội tâm của đệ tử rất lâu vẫn không thể bình tĩnh được, pháp hỷ tràn ngập toàn thân cho đến tận ngày hôm sau. *

*Phật Bồ Tát được thờ phụng tại Seattle Lôi Tạng Tự là hoạt linh hoạt hiện, có thể khiến đệ tử hữu duyên có được cảm ứng tâm điện, cho thấy đây là mảnh đất quý có phong thủy năng lượng từ trường đặc biệt, để lại trong lòng đệ tử những hồi ức đẹp đẽ.*

*Chúc Sư Phật Phật thể an khang, mãi trụ thế gian, hằng chuyển pháp luân. 
Ngu đệ tử Liên Hoa Liễu Ngộ chắp tay quỳ đất đảnh lễ Sư Phật.
Ngày 30 tháng 1 năm 2023. *

Thứ hai: 
*Một lá thư gửi đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật. 
Căn bản Truyền thừa Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật kính yêu nhất. A Di Đà Phật! Phật an!
Ngu đệ tử Liên Hoa Liễu Ngộ nhất tâm đảnh lễ Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật (sau đây xưng là Sư Phật) và đem thân khẩu ý thanh tịnh kiền thành nhất để cúng dường Sư Phật.*

*Kể từ khi Ban Giáo Dục của Tông Ủy Hội thông báo chiêu mộ tình nguyện viên vào ngày 12/05/2018, đệ tử đã báo danh tham gia thu thập tư liệu cho khóa học “Lịch sử Phật giáo” và “Chân Phật lược sử”, sau khi tham gia thì đệ tử đã thu được rất nhiều lợi ích, muôn vàn cảm kích, luôn mong được chia sẻ với Sư Phật những cảm ngộ khi học tập “Chân Phật lược sử”, rất muốn thổ lộ tiếng lòng: mơ mộng về nhân duyên Hoạt Phật Tây Tạng và pháp sư Hiển giáo quy y Liên Sinh Hoạt Phật. *

*Trong “Lược sử Chân Phật”, chương 4, tiết thứ 6 giới thiệu ví dụ về Hoạt Phật Tây Tạng và pháp sư Hiển giáo quy y Sư Phật, điều làm lay động sâu sắc nội tâm của đệ tử là rốt cục nhân duyên nào khiến cho họ buông bỏ những quan niệm thế tục của hệ phái để đến quy y Sư Phật. *

*Với một chuỗi câu hỏi này, trong lòng đệ tử trỗi dậy muốn nghiên cứu tìm tòi về tấm màn bí mật về tiền kiếp của Sư Phật, hôm nay xin cho phép đệ tử trình bày dưới dạng sơ đồ ba chiều. *

*Sơ đồ truyền thừa 2500 năm trước Phật Đà truyền Phật pháp:*
*
Pháp thân Phật: Đại Nhật Như Lai. 
Báo thân Phật: Lô Giá Na Phật
Ứng thân Phật: Thích Ca Mâu Ni Phật.*

---

*Sơ đồ truyền thừa của Liên Sinh Hoạt Phật đời này hoằng dương Phật pháp:*
*Pháp thân Phật: Đại Nhật Như Lai. 
Báo thân Phật: A Di Đà Phật
Ứng thân Phật: Liên Sinh Hoạt Phật.*

*Liên Sinh Hoạt Phật là chuyển thế của Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử lại đến, từng là thầy tiếp dẫn của Thích Ca Mâu Ni Phật. Bởi vì Đại Uy Đức Vương là chuyển thế của Thích Ca Mâu Ni Phật, Bảo Ý Đồng Tử, Bảo Thượng Đồng Tử tiếp dẫn Đại Uy Đức Vương đi quy y Kim Quang Phật, mà Bảo Ý Đồng Tử cũng là Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử, nguồn gốc là như vậy. 
Bảo Ý Đồng Tử là truyền nhân thứ nhất của pháp Đại Thủ Ấn, hình vẽ dòng chảy pháp truyền thừa như sau: A Đạt Nhĩ Mã Phật — Bảo Ý Đồng Tử — Bảo Thượng Đồng Tử — Saraha — Niguma — Tilopa — Naropa — Marpa — Milarepa — Gampopa — Đại Bảo Pháp Vương đời thứ 1 Dusum Khyenpa — truyền đến Đại Bảo Pháp Vương đời thứ 16 (ngài là Thượng sư truyền thừa ở nhân gian của Liên Sinh Hoạt Phật đời này). *

*Đại đệ tử thủ tọa Xá Lợi Phất của thời đại Phật Đà là tiền kiếp của Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật, trong thời kỳ hoằng pháp tại đất Tạng, tiền kiếp của Liên Sinh Hoạt Phật đồng thời phân thân đóng vai ba nhân vật: một là Tạng Vương Trisong Detsen, hai là Sri Singha, ba là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, mà Sri Singha là Thượng sư của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, vua Tây Tạng Trisong Detsen cũng quy y Liên Hoa Sinh Đại Sĩ và nhận terma của Liên Sư.*

*Tây Tạng trong quá khứ có nói về tám đại Hoạt Phật, Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Hoạt Phật chính là Thượng sư của tám đại Hoạt Phật này, tám đại Hoạt Phật này đều là tám đại đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni chuyển thế, và Thượng sư của tám đại đệ tử này chính là tiền kiếp của Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Hoạt Phật chuyển thế, nhân duyên quả báo nằm ở đây, đây cũng là nguyên nhân mà các Hoạt Phật Tây Tạng có thể buông bỏ những thiên kiến thế tục để quy y Liên Sinh Hoạt Phật.*

*Còn có tiền kiếp của Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật có một kiếp chuyển thế thành Lục Tổ Huệ Năng, là Lục Tổ của Thiền tông, các đệ tử của ngài đã chỉnh lý những trải nghiệm và ngôn luận của ngài thành “Lục Tổ Đàn Kinh”, gọi tắt là “Đàn Kinh”, là kinh điển của Thiền tông. 43 người dưới nghê tọa đã khai ngộ, hình thành nên cảnh tượng huy hoàng của ngũ tông thất phái. Đường Huyền Tông vào năm 730 tại đại hội Vô Già ở Hoạt Đài (nay là huyện Hoạt) thuộc Hà Nam, đệ tử của Huệ Năng là Hà Trạch đã biện luận thắng được môn sinh của Thần Tú là Sùng Viễn, Phổ Tịch, khiến cho Nam tông trở thành Thiền tông chính thống của Trung Quốc. Nhưng ảnh hưởng lớn đối với hậu thế lại là Nam tông Tào Khê, sau này hình thành nên năm tông là Lâm Tế tông ở Hà Bắc, Tào Động tông ở Giang Tây, Vi Ngưỡng tông ở Hồ Nam, Vân Môn tông ở Quảng Đông, Pháp Nhãn tông ở Giang Tô, tức là một hoa nở năm cánh. Sau này Pháp Nhãn tông còn truyền đến Thái Lan, Triều Tiên, Vân Môn tông còn truyền xa hơn đến tận Âu Mỹ. Ở Trung Quốc, Nhật Bản thì hưng thịnh nhất là hai phái Lâm Tế tông và Tào Động tông. Như ở trên đã nói, nguồn gốc và truyền thừa của Thiền tông khiến cho pháp sư Hiển giáo cũng có thể buông bỏ hệ phái, chỉ dựa vào nhân quả luân hồi mà đã không kìm được mình đến quy y Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật.*

*Bởi vì tiền kiếp của Sư Phật huy hoàng như vậy, đây chính là nguyên nhân mà bao nhiêu Hoạt Phật Tây Tạng và pháp sư Hiển giáo đã cung kính quy y Sư Phật, đây cũng là nhân quả luân hồi mà Phật pháp thường nói đến, kỳ diệu không thể kể xiết. Các đệ tử hễ nhìn thấy Sư Phật là vô cùng kích động, đều không kìm được mình quỳ xuống đất đảnh lễ Sư Phật, đây chính là sự phản ánh của ý thức vũ trụ về tình cảm gắn bó giữa thầy và trò qua nhiều kiếp, kiếp này cùng luân hồi lại chuyển thế đến thế giới Ta Bà, lại cùng hộ trì nhau chơi trò chơi nhân gian, quảng độ vô lượng chúng sinh hữu tình.*

*Đời này Liên Sinh Hoạt Phật sinh ra ở Đài Loan, lập Chân Phật Tông, lấy Liên Hoa Đồng Tử Thượng sư tương ứng pháp và Liên Hoa Đồng Tử Siddhi Ma Ha Song Liên Trì làm nhân duyên, phổ truyền Chân Phật Mật Pháp, truyền khắp năm đại châu.*

*Chúc Sư Phật Phật thể an khang, nhậm vận tự tại, mãi trụ thế gian, không nhập niết bàn.
Ngu đệ tử Liên Hoa Liễu Ngộ chắp tay quỳ dưới đất đảnh lễ Sư Phật.
Ngày 3 tháng 2 năm 2023. *

🌟

Duy Ma Cật nói với Lư Sư Tôn: 
”Này! Cảm ứng của hai lá thư này đến từ đâu?”
Tôi đáp: 
”Đến từ việc khai mở túc mệnh thông.”
Duy Ma Cật hỏi: 
”Khai mở túc mệnh thông như thế nào?” 
Tôi đáp: 
”Dùng sức mạnh tam muội để khai mở tâm của Liên Hoa Liễu Ngộ.” 
Duy Ma Cật nói: 
”Này! Lư Sư Tôn! Sức mạnh tam muội của ngài hình thành phân thân (Pháp thân), đi trú trong tâm của đệ tử ngài. Rồi họ có được sức mạnh thần thông, tám đại Không Hành Mẫu của ngài chính vì thế mà đến.”
Duy Ma Cật chỉ ra điểm này.
Tôi biết: 
”Sức mạnh tam muội chính là Pháp thân.” (sức mạnh tam muội tỏa ra mười phương)


### 27. Cứu người bị chìm


Liên Hoa Thắng Du và hai người bạn thân đi ra ngoại ô chơi, đó là nơi có núi có nước. Ở đó có thác nước, có suối trong vắt, có hồ, có những mỏm núi hình thù quái dị. 
Họ ở bên suối nướng thịt.
Sau đó, do trời nóng nên ba người họ xuống nước bơi.
Liên Hoa Thắng Du từ suối bơi ra hồ. (Anh ấy là người bơi giỏi.)
Hai người kia chỉ chơi ở ven suối.
Khi anh ấy bơi đến giữa sông, thác nước ở ngay phía trên, phía trên thác nước là bầu trời xanh thăm thẳm.
Ở nơi này nước màu xanh thẫm gần như màu đen. (nước rất sâu)
Lúc này,
Liên Hoa Thắng Du phát hiện ra hồ này nhìn bên ngoài rất yên ả, nhưng nước bên dưới hồ thì có nước xoáy, có một dòng nước hút xuống. Bên dưới có một dòng chảy xiết.
Anh ấy muốn rời khỏi hồ nước.
Nhưng,
Anh nhận ra là bơi một hồi nhưng từ đầu tới cuối đều bị kéo về trung tâm của hồ nước.
Cứ bơi về lại bị kéo đi như thế mấy lần. 
Cuối cùng là anh không có cách nào rời khỏi được cái hồ đó.
Tiếng thác nước đổ xuống ào ào, cản lại tiếng kêu của anh, anh nhận ra sức mình đã kiệt rồi.
Anh bắt đầu hơi hoảng loạn.
Anh đã dùng hết sức lực, đã hoàn toàn kiệt sức.
Anh bị lôi xuống đáy hồ, đáy hồ là một vùng tối đen như mực. Anh sắp không thở được nữa. 
Liên Hoa Thắng Du bỗng nhớ đến một câu nói của Lư Sư Tôn: “Trong lúc tăm tối, hãy gọi tên tôi, ắt sẽ được cứu.”
Anh niệm trong đầu: 
”Lư Sư Tôn! Om guru liansheng siddhi hum.”
Anh nhìn thấy mặt của Lư Sư Tôn ở trong hồ nước sâu.
Đột nhiên,
Một dòng nước xiết đẩy anh về chỗ nước cạn ở bên bờ.
Hai người bạn của Liên Hoa Thắng Du nhìn thấy tình hình ấy thì vội vàng chạy tới, kéo anh từ chỗ nước cạn vào bờ.
Hai chân anh yếu ớt, không thể đứng dậy được.
Chỉ có thể kêu lên: 
”Lư Sư Tôn! Đã cứu tôi.”
”Lư Sư Tôn! Đã cứu tôi.”
……………
(Câu chuyện này là chính miệng Liên Hoa Thắng Du kể lại cho tôi.)
Anh ấy nói: 
”Khuôn mặt của Lư Sư Tôn xuất hiện ở chỗ sâu trong hồ nước.)

🌟

Tôi hỏi: 
”Duy Ma Cật! Pháp thân có thể ở trong hồ sâu không?”
Duy Ma Cật đáp: 
”Không đâu là không có.”
Duy Ma Cật nói một bài kệ: 
”Chỉ một tiếng gọi, đã đến bên bờ.
Chỉ một tiếng gọi, rời đạo sinh tử.
Chỉ một tiếng gọi, liền được giải thoát.
Chỉ một tiếng gọi, không đâu không hiển.
Chỉ một tiếng gọi, tức chẳng lo âu.
Chỉ một tiếng gọi, chính là thần thông.”
Tôi hỏi: 
”Pháp thân trú tại nơi nào?”
Duy Ma Cật đáp: 
”Khéo trú trong không tịch.”
Tôi hỏi: 
”Pháp thân dựa vào gì?”
Duy Ma Cật đáp: 
”Không thì chẳng dựa vào gì, tùy duyên mà khởi tác dụng.”
Tôi đã hiểu vì sao Quan Thế Âm Bồ Tát nghìn nơi cầu nguyện nghìn nơi hiện, biển khổ thường làm thuyền độ người. 


### 28. Đại quang minh tạng


Tôi giảng kinh Duy Ma Cật, tôi vừa giảng vừa cảm thấy kinh hãi.
Vì sao?
Bởi vì những gì mà Duy Ma Cật nói là cực kì siêu thắng, không phải là điều mà người bình thường có thể tưởng tượng được.
Ví dụ: 
Duy Ma Cật nói: 
Vô thường — không sinh không diệt là nghĩa chân thực.
Khổ — ngũ uẩn là không, từ không mà khởi. Đây là nghĩa chân thực của khổ.
Không — tất cả mọi pháp sau cùng là chẳng có gì.
Vô ngã — ngã và vô ngã, là hai mà không hai. Là nghĩa chân thực của vô ngã.
Tịch diệt — không có sinh khởi, cũng không có tán diệt. Đây mới là nghĩa chân thực của tịch diệt.
Theo như tôi biết: 
Vô thường là thường.
Sướng khổ không hai.
Có không bình đẳng.
Ngã là vô ngã.
Tịch diệt không sinh.
Điều này chẳng thể nghĩ.
Điều này chẳng thể bàn.
Ví dụ: 
Ánh sáng phải có sự phản chiếu thì mới có thể hiện lên tướng của ánh sáng, nếu không có cái gì che chắn thì làm gì có ánh sáng? Nhưng ánh sáng xuất hiện cũng là có tướng.
Nếu có tướng tức là chảy về hai hướng.
Ý kiến này của tôi không biết có mấy người có thể hiểu được? Nếu bạn hiểu rồi, tham sân si là Phật pháp, dâm nộ si là Phật pháp, cũng tức là cái gì cũng đều là Phật pháp.
Chúng ta thường nói đến: 
Duyên khởi tính Không.
Chân Không diệu hữu.
”Sắc tức thị không, không tức thị sắc” chính là như vậy!

🌟

Khi tôi nói những pháp này, Liên Ha đã hiểu rồi! Thầy ấy nói: 
*Sư Phật kính yêu nhất, Phật an.
Đệ tử nhất tâm đảnh lễ cảm ơn Sư Phật!
Cảm ơn Sư Phật đã giải thích cho chúng con kinh Duy Ma Cật, khiến đệ tử có được cực nhiều lợi ích, cảm xúc cực sâu!
Đệ tử nghe Sư Phật giảng kinh, sâu sắc nhận được những gợi ý! Điểm mấu chốt nhất mà Sư Phật nói chính là giữ được tâm quang minh, làm tất cả mọi việc!
Nếu một hành giả có thể luôn giữ được tâm quang minh, vậy thì anh ta không nhất định phải ngồi thiền trong núi, đi đứng ngồi nằm đều là thiền định. 
Nếu hành giả có thể giữa được ánh sáng của Phật tính trong tâm, thế thì trong dâm nộ si cũng là trong tâm không ô nhiễm, cho dù làm ngũ nghịch ác nghiệp thì trong tâm cũng vẫn thanh tịnh không ràng buộc.
Đúng như kinh văn đã nói, cho dù có đi theo sáu thầy ngoại đạo xuất gia, theo họ cùng đọa vào địa ngục, cũng không hề sợ hãi, bởi vì ánh sáng trong tâm chiếu khắp. *
*Cho dù làm bạn với ma, thậm chí trở thành ma, cũng không hề sợ hãi, bởi vì ánh sáng Phật tính trong tâm không tắt một chút nào.
Đại thành tựu giả như vậy có thể ở trong phiền não, không cần theo đuổi pháp thanh tịnh, có thể không cần đến bỉ ngạn, bởi vì bất kì nơi nào mà họ ở đều là bỉ ngạn.
Thậm chí chúng sinh vì cúng dường họ mà đọa vào ác đạo, khởi tâm oán hận với họ, báng Phật, hoại pháp, và không cách nào được độ, đại thành tựu giả đều có thể bình chân như vại, thản nhiên gánh vác, ánh sáng trong tâm vẫn sáng rực như thế.
Đại thành tựu giả như vậy không cầu quả vị, không trụ trong quả vị, không cầu khổ tập diệt đạo, không cầu thoát ly thân phàm phu, không cần trở thành Thánh nhân, bởi vì bản thân họ chính là ánh sáng, chính là đạo, chính là chân như.
Cả vũ trụ đối với họ mà nói, chính là quang minh tịch tĩnh, chính là cõi Thường Tịch Quang, cho nên không chỉ địa ngục là cõi Thường Tịch Quang, cả vũ trụ này đều là nó, tất cả pháp giới đều là cõi Thường Tịch Quang. Thật ra cái gọi là “sắc tức thị không” tương đương vũ trụ chính là cõi Thường Tịch Quang, hơn nữa không cần chuyển hóa, ngay lúc này chính là thế rồi. Sư Phật là như vậy, trong tâm luôn giữ được quang minh, không trụ quả vị, không cần thành Thánh, bởi vì bản thân chính là chân như, sống đã như một đại thành tựu giả của tịnh thổ rồi!
Cảm ơn Sư Phật thuyết pháp giảng kinh thù thắng như vậy, còn dùng thân thị hiện, khiến đệ tử lĩnh ngộ được sâu sắc, xem Sư Phật là tấm gương để mạnh mẽ tiến lên phía trước.*

*Đệ tử Liên Ha kính thư. 
Ngày 12 tháng 7 năm 2023.*


### 29. Thấy nghe trong mơ


Ngày 19 tháng 7 năm 2023. Buổi tối.
Tôi (Lư Sư Tôn) lên giường.
Tôi quán tưởng Diêu Trì Kim Mẫu dùng phất trần, vừa phất lên trời một cái, trên trời hiện lên một chiếc ô trắng lớn, chiếc ô hạ xuống che kín lấy Nam Sơn Nhã Xá. 
Tôi niệm chú kiên cố.
Để chiếc ô trắng lớn kết giới kiên cố, bảo vệ Nam Sơn Nhã Xá. Thế là tôi yên tâm đi ngủ. 
Lúc ngủ say, tựa như mơ mà không phải mơ.
Tôi đã đi gặp cô A. 
Cô A đang ở trong phòng tắm để tắm gội.
Về lý mà nói thì rất khiếm nhã, tôi nên lui đi chớ có nhìn, như thế mới là lịch sự! 
Nhưng, cá nhân tôi cũng rất kỳ quái, tâm tôi không tà, nhìn thấy cũng không có suy nghĩ xấu, như vậy thì có thể nhìn. 
Cô A vừa tắm vừa hát.
Bài hát là: 
”Tặng em một ngôi sao nhỏ, tặng em một bông hoa…”
Tôi nghe nhiều nên thuộc rồi.
Tôi liền hát theo, ở trong phòng tắm, hai người cùng hát. 
Cô A hoàn toàn không biết gì. 
Sau đó cô A tắm xong, mặc bộ đồ ngủ màu trắng sữa, cô ấy cũng muốn lên giường đi ngủ rồi.
Cô ấy đi đến đàn thành nhỏ, cầm bức ảnh của tôi lên rồi hôn một cái vào bức ảnh, rồi lại đặt về chỗ cũ, sau đó cô ấy lên giường đi ngủ.
Chẳng mấy chốc cô ấy đã ngủ say!

🌟

Ngày hôm sau. Là ngày 20. Tại Seattle Lôi Tạng Tự.
Tôi nhìn thấy cô A.
Tôi hỏi: 
”Đêm qua cô vừa tắm vừa hát à?”
Cô ấy sững người ra!
Cô hỏi: 
”Hát bài gì?”
Tôi đáp: 
”Tặng em một ngôi sao nhỏ, tặng em một bông hoa…”
Mặt cô ấy đầy kinh ngạc.
Tôi nói: 
”Cô mặc đồ ngủ màu trắng.”
Tôi còn nói: 
”Cô còn hôn ảnh của tôi.”
Cô ấy gần như không dám tin, cô hỏi tôi: 
”Thầy ở trong phòng tôi à?”
Tôi đáp:
”Đúng.”
Đến lúc này thì cô A lại rất bình tĩnh thản nhiên, cô ấy biết một số truyền kỳ và chuyện lạ của Lư Sư Tôn, cô ấy chẳng ngạc nhiên lắm.
Cô hỏi: 
”Thầy đi vào bằng cách nào vậy?”
Tôi đáp: 
”Trong mơ tôi đã đến chỗ cô! Xuyên tường mà vào.”
Cô hỏi: 
”Là Pháp thân à?”
Tôi đáp: 
”Mộng thân.”
Cô ấy hỏi: 
”Vì sao thầy không đi nơi khác mà lại chạy đến chỗ tôi?”
Lúc này tới phiên tôi không trả lời được.

🌟

Tôi viết chương sách này là muốn nói chúng ta sống trong thế giới mộng huyễn, mộng huyễn đương nhiên là giả. Nhưng mộng huyễn cũng có một vài cái thật. (ví dụ nhân quả)
Cho nên, nhân duyên quả báo cũng là thực nhận.


### 30. Nhật ký Ngũ Sắc Quang Nữ (1)


Tôi (Lư Sư Tôn) có một vị Không Hành Mẫu nhân gian, cô ấy ở thiên thượng giới có một tên gọi là Ngũ Sắc Quang Nữ.
Cô ấy viết một cuốn nhật ký tu hành gửi cho tôi, tôi đặt tên là “Nhật ký Ngũ Sắc Quang Nữ”. 
Cuốn nhật ký này ghi lại trải nghiệm tu hành của chính mình.
Trước tiên tôi nói với độc giả: 
Cô ấy có linh giác.
Cô ấy có thiên nhãn.
Cô ấy có thiên nhĩ.
Cô ấy có thần túc.
Cô ấy có túc mệnh.
Sau đây là Nhật ký Ngũ Sắc Quang Nữ. 

🌟

Kim Cang Tát Đỏa nói: 
”Lư Sư Tôn là vị vua của đại lạc ở nhân gian! Còn Kim Cang Tát Đỏa tôi là vua của đại lạc ở hư không giới!”
”Món quà tôi tặng Lư Sư Tôn là đại lạc, quang minh, tính Không. So với hai bộ Kim-Thai ngày xưa tôi tặng Long Thụ Bồ Tát khi mở tháp sắt tuy tên gọi khác nhau, nhưng thực chất là như nhau.”
Kim Cang Tát Đỏa nói với Ngũ Sắc Quang Nữ: 
”Bảo bình khí là pháp mà khí vào trung mạch, cũng là pháp để nâng chuyết hỏa. Rung động của khí lên xuống là thông trung mạch.
Dữ dội hơn nữa là khai đỉnh. (Ở đây bao gồm tất cả tế bào và năng lượng.)

🌟

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ xuất hiện nói với tôi: 
”Cô (Ngũ Sắc Quang Nữ) cần dựa vào tôi ở nhân gian, tôi ở nhân gian là Lư Sư Tôn, giữa hai chúng tôi không có sự phân biệt.”
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói: 
”Trên người cô (Ngũ Sắc Quang Nữ) có terma của tôi.”
”Cô (Ngũ Sắc Quang Nữ) đến từ đâu? Nói cho cô biết nhé! Dược Sư Phật có Ngũ Sắc Quang, cô chính là hóa thân của Ngũ Sắc Quang.”

🌟

Kim Cang Tát Đỏa nói: 
Nói cho cô biết nghĩa chân thực của cúng dường nhé!
Cúng tâm là số một.
Lư Sư Tôn thường cúng dường Tứ Thủ Phương Mẫu, Bát Phương Không Hành Mẫu, thiên nữ của hai mươi cõi trời, là vô hình vô tướng.
Là đại lạc cúng dường.
Nghĩa chân thực của nó là: 
Không có người cúng dường.
Không có người thọ cúng.
Không có vật cúng dường.
Nhưng, cúng dường cảm nhận là số một. Cúng dường cảm nhận chính là cúng tâm.
Tôi (Kim Cang Tát Đỏa) dạy cô: 
Quét sạch tiêu cực trong tâm.
Từ ý thức thô biến thành ý thức vi tế, sau đó là đến ý thức vi tế nhất.
Tịnh tín đối với Lư Sư Tôn.
Đem đại lạc của cô cúng dường mười phương pháp giới, đây chính là cúng dường tốt nhất.
Như vậy, cô sẽ có được sự gia trì của mười phương pháp giới.

🌟

Đại Uy Đức Kim Cang xuất hiện.
Ngũ Sắc Quang Nữ tiến vào trong lửa đại phẫn nộ.
Hợp nhất.
Tiêu trừ tham sân si, dâm nộ si, chấp trước.
Tiêu trừ ma chướng.
Tiêu trừ chướng ngại.
Trọng điểm là tăng trưởng trí huệ của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.
Đại Uy Đức Kim Cang nói: 
”Phải tịnh tín Lư Sư Tôn! Tất cả những điều này đều là vô thượng.”


### 31. Tịnh tín Lư Sư Tôn?


Trong Nhật ký Ngũ Sắc Quang Nữ (1), Đại Uy Đức Kim Cang nói: 
”Phải tịnh tín Lư Sư Tôn!”
Kim Cang Tát Đỏa nói: 
”Phải tịnh tín Lư Sư Tôn!”
Còn nữa,
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói với Ngũ Sắc Quang Nữ: 
”Cần dựa vào tôi ở nhân gian, tôi ở nhân gian là Lư Sư Tôn, giữa hai chúng tôi không có sự phân biệt.”
Tôi (Lư Sư Tôn) đọc ba câu này thì suy nghĩ rất kĩ càng. 
Khi tôi 26 tuổi. 
Được Diêu Trì Kim Mẫu đưa đến cõi trời bên ngoài cõi trời, đi xem kiếp quá khứ của chính mình.
Diêu Trì Kim Mẫu chỉ vào thể ánh sáng sáng chói lọi nói: 
”Anh chính là Liên Hoa Đồng Tử!”
Đây là tận mắt tôi nhìn thấy.
Cũng là tận tai tôi nghe thấy.
Năm nay tôi 79 tuổi rồi, sắp 80 tuổi rồi. Sự việc đã trôi qua 54 năm rồi, nhưng vẫn hết sức rõ ràng.
Tôi tin chắc vào những gì năm xưa nhìn thấy nghe thấy.
Là chân thực.
Sau này, đi trên suốt con đường, tôi đã sống một cuộc đời hoằng pháp lợi sinh.
Vì sao phải tịnh tín Lư Sư Tôn?
Bởi vì: 
Mỗi ngày tôi viết một chút văn tự.
Mỗi ngày tôi vẽ một bức tranh.
Mỗi ngày tôi tu pháp.
Mỗi ngày tôi siêu độ u linh chúng hữu duyên vô duyên. (Nghìn chiếc thuyền pháp)
Mỗi tuần tôi hoằng pháp, làm Hộ Ma (hỏa cúng). 
Còn từng giờ từng phút làm công tác độ hóa chúng sinh.
Cuộc sống như vậy đã chiếm hết toàn bộ sinh mệnh của tôi, thử hỏi:
”Tôi có thể được người ta tịnh tín không?”

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) từng nói: 
”Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là đồng tử hóa sinh trong hoa sen, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chính là Liên Hoa Đồng Tử chính cống.”
Tôi cũng là: Liên Hoa Đồng Tử.
Cả hai cùng là Liên Hoa Đồng Tử.
Tôi có phải là người đại diện cho Liên Hoa Sinh Đại Sĩ ở nhân gian không?
Trên người tôi cũng có terma của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.
Tôi nhớ rằng: 
Tôi được Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đưa đến hang động ở khu mộ cổ.
Thứ nhất:
Tôi được Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nuốt vào trong bụng, sau đó lại từ Mật luân (đầu bảo châu) của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đi ra. (Đây là quán đảnh cơ mật nhất.)
Thứ hai: 
Lỗ chân lông trên toàn thân của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ phóng quang, mỗi một tia sáng đều đi vào lỗ chân lông của Lư Sư Tôn. Đây là quán đảnh biển ánh sáng. 
Tôi tự mình đặt tên.
Thế thì, tôi chính là hóa thân đại diện cho Liên Hoa Sinh Đại Sĩ ở nhân gian phải không?
Thật ra, 
Tôi thật sự tu chứng vô lậu. (không rò rỉ bạch bồ đề)
Tôi cũng đã kiến chứng tính Không. (mọi pháp là hư vô)
Tôi đã tu được hóa thân bên ngoài thân, để cho những đệ tử có thiên nhãn thật sự nhìn thấy.
Từ đây,
Tôi biết trăm nghìn triệu hóa thân của rất nhiều Phật Bồ Tát là chân thực. Quan Thế Âm Bồ Tát có trăm nghìn triệu hóa thân là chân thực.
Tôi là chân thực.
Phật Bồ Tát đều là chân thực.


### 32. Nhật ký Ngũ Sắc Quang Nữ (2)


Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói:
Đừng bám chấp vào những cảm nhận trước kia.
Đả khai Tâm luân, khí sẽ di động lên xuống.
Tôi luôn ở bên cạnh cô, nhân gian chỉ có thể dựa vào Lư Sư Tôn, bởi vì cô có sự trói buộc của thân người, cũng ở nhân gian, nhất định phải tịnh tín Lư Sư Tôn. Mật pháp của Lư Sư Tôn là dòng chảy pháp của tôi. 
Không ngờ rằng:
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ và Lư Sư Tôn như nhau, thật thần kỳ!
Diêu Trì Kim Mẫu nói:
Cô phải tiếp nhận sự gia trì của Lư Sư Tôn, có thể chuyển đổi năng lượng. Khiến tất cả mạch lớn nhỏ trên người mình đều biến thành ánh sáng bảy sắc.
Trên người có thể có ánh sáng bảy sắc, là hiện tượng mạch mạch đều thông.
Trên ý niệm, loại bỏ tham sân si.
Trên thân thể, thông khí, thông mạch, thông bảy luân xa.
Cô phải cùng với tất cả Không Hành Mẫu cùng cố gắng!
Cho đến khi nhậm vận, như Lư Sư Tôn.
Đại Phạm Thiên Vương đến rồi, bên cạnh ngài có trăm ngựa đi theo, Đại Phạm Thiên Vương ban cho tôi một viên bảo châu.
Ngài nói: 
Để cho cô ở nhân gian có thể tự tại.
Nói cho cô biết, tại nhân gian bất kể cảnh ngộ nào, cô phải coi chúng là trò chơi. 
Tôi sẽ bảo hộ cô!
Tu pháp cho tốt.

🌟

Tôi nhìn thấy trên đầu của Kim Cang Tát Đỏa có chấm sáng ngũ sắc, giống như trên đầu tôi có chấm sáng ngũ sắc. 
Tôi vận dụng pháp hít thở.
Thân thể sản sinh sự chấn động, chấn động tức là rung mở mạch lớn nhỏ trên thân thể, sau đó tổ hợp lại từ đầu, tổ hợp thành thể ánh sáng mới. 
(Tôi cho rằng đây cũng là tịnh hóa.)

🌟

Sau khi từ Seattle trở về, lực chấn động càng hơn lúc trước.
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói: 
Trước kia, Phật Mẫu của tôi cũng chấn động như vậy, phải có tín tâm với Lư Sư Tôn, tiếp tục kiên trì!
Lúc này sự vận hành của khí va đập trên dưới trái phải.
Có một hôm.
Nửa đêm tỉnh dậy uống nước, nhìn vào gương, ở chỗ Mi tâm luân xuất hiện một vòng ánh sáng hình tròn kích cỡ bằng quả bóng bàn, nửa trong suốt, màu vàng kim, cực kì sáng.
Vòng ánh sáng lưu động.
Có lúc ở Mi tâm.
Có lúc ở Tâm luân.
Nhìn kĩ:
Vòng ánh sáng giống như dòng nước màu vàng kim, giống dịch thể.
(Khi ở Seattle, khi Lư Sư Tôn gia trì, nhìn thấy Mi tâm và Tâm luân của Lư Sư Tôn đều xuất hiện ánh sáng hình tròn phóng ra hào quang màu trắng.)

🌟

Có một buổi sáng sau khi ngủ dậy, lại trở về giường ngủ tiếp, trong giấc mơ đột nhiên cảm giác Mi tâm luân có luồng khí xoáy.
Nó tự động khởi động giống như điện giật, sau đó toàn thân rung lên.
Không phải là sự rung lên của toàn thân thực tế.
Mà là sự chấn động cực vi tế của hình thể nửa trong suốt của nội tại (bên trong thân thể), cảm giác giống như cộng hưởng.
Ý thức của tôi rất rõ rệt.
Không ở ngoài.
Không ở trong.
Dường như ở trong hư không, nói một cách đơn giản thì điều này quá tuyệt diệu, vô cùng thù thắng.
Cảm thấy toàn thân phóng ra ánh sáng ngũ sắc.
Tôi dường như không phải tôi.
Tôi là hư không.


### 33. Từ việc chấn động mà nói


Tôi (Lư Sư Tôn) nói thế này:
Khi Ngũ Sắc Quang Nữ ở Seattle đã được tôi nhiều lần gia trì, trung mạch của cô ấy đã bắt đầu chấn động.
Lực chấn động tương đối lớn, dường như cả người đều bay lên.
Vừa lên vừa xuống, vừa xuống vừa lên.
Đầu rung.
Thân rung.
Tay chân đều rung.
Cô ấy nói: 
”Cả người sắp xung lên não, bay thẳng lên trên rồi!”
Lực chấn động này có khi giữ được liên tục một tiếng, cả người sắp lịm đi.
Cô ấy nói: 
”Sức mạnh đến từ trung mạch!”
Khí liên tục đi vào trung mạch, khí chạy trong trung mạch, đại lạc không dừng lại, từng cơn từng cơn giống như sóng, có lúc đại lạc kéo dài liên tục cả ngày, hoặc liên tục rất nhiều ngày.
Vào lúc này.
Cô ấy nhìn thấy rất nhiều Bổn tôn xuất hiện trong hư không.
Ví dụ: 
Diêu Trì Kim Mẫu.
Kim Cang Tát Đỏa.
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.
Vô số vô số Không Hành Mẫu, Không Hành Mẫu vây xung quanh Ngũ Sắc Quang Nữ, nhảy múa trong hư không, vô cùng ngoạn mục.
Phối hợp với âm nhạc ở trên trời (âm thanh hòa nhã), bởi vì đại lạc của Ngũ Sắc Quang Nữ và Không Hành Mẫu cũng có đại lạc cho nên có niềm đại lạc không phân biệt lẫn nhau.
(Đây chính là cúng dường đại lạc.)
Đây là hiện tượng khí mà Lư Sư Tôn gia trì vận hành trong trung mạch sản sinh, cũng xem như là một dạng khí dung hợp, chính là khí và khí thông.

🌟

Ngũ Sắc Quang Nữ nói: 
”Không chỉ Diêu Trì Kim Mẫu đến, Đổng Song Thành, Hứa Phi Quỳnh, Hoa Lâm, Mị Lan, Diêu Cơ, Ngọc Chi, ba nghìn thị nữ đều đến.”
Còn có năm Phật Mẫu của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ:
Yeshe Tsogyal.
Mandarava.
Sakya Dewa.
Kala Siddhi.
Tashi.
………………

Toàn bộ đều đến. Còn có mười vạn Không Hành Mẫu của Áo Minh Thiên, đó là một cuộc hội họp long trọng.
(Rất hiển nhiên, đó là một hội cúng lớn.)

🌟

Chấn động là có thứ tự.
Chấn động thô.
Chấn động tinh.
Chấn động vi tế nhất.
Liên tục cho đến khi từ ngoài vào trong, từ trong đến hư không. Sau đó ánh sáng xuất hiện.
Từ đại lạc chuyển hóa thành ánh sáng.
Đây biểu thị trung mạch chấn động đến thông, sau đó từng mạch từng luân xa lần lượt mở ra, chấn động đến vi mạch toàn thân, đầu tiên nhìn thấy ánh sáng hình tròn như quả bóng bàn, ánh sáng di động lên xuống.
Ánh sáng từ lỗ chân lông phóng ra, toàn thân tỏa hào quang.
Ánh sáng đầu, ánh sáng sau lưng, ánh sáng tay, ánh sáng chân, giống như tượng Bổn tôn (thangka). 
Tôi (Lư Sư Tôn) thật lòng thật sự nói với mọi người:
Thân người chúng ta chính là đàn thành.
Hành giả nhìn thấy đàn thành cũng chính là mở ra thân đàn thành của chính mình, có hiểu không?


### 34. Nhật ký Ngũ Sắc Quang Nữ (3)


Lời dạy của Liên Hoa Sinh:
Cô không nên để việc thế tục quấy rầy, chính cô phải thấy rõ việc thế tục là huyễn. Cô phải có tự tin cô là độc nhất vô nhị.
Bây giờ cô phải mở ra đàn thành của Ngũ Phật!
Tôi hỏi: 
Không Hành Mẫu ở đâu?
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói: 
Ở ngay xung quanh cô, cô hẳn là có thể nhìn thấy. (không trung có chấm sáng ngũ sắc)
Trong quá trình tu pháp.
Có tiếng nói nói với tôi: 
Ngũ Sắc Quang Nữ, ngũ sắc này của cô chính là ánh sáng do Ngũ Phật tỏa ra, cũng tương đương với người nữ của Ngũ Phật.
Trong một lúc, tôi (Ngũ Sắc Quang Nữ) biến hóa thành một vị Kim Cang Tát Đỏa hình tướng nữ.
Trên đầu là mái tóc bồng bềnh như mây.
Trang điểm nhẹ xinh đẹp thanh nhã.
Áo trơn màu bạch kim.
Đồ trang sức kêu leng keng.
Giày cong mềm mại màu vàng nhạt.
Toàn thân màu vàng kim vô cùng sáng chói.
(Kim Cang Tát Đỏa tướng nữ trước kia được Lư Sư Tôn gia trì, cũng từng xuất hiện một lần.)

🌟

Ngũ Sắc Quang Nữ đang tu khí mạch minh điểm.
Trước mắt xuất hiện những chấm sáng màu lam dày đặc như sao.
Tập trung vận chuyển khí, cảm nhận sự di động của khí, suy nghĩ đặt vào khí, tự nhiên hướng lên trên đến lỗ đỉnh đầu.
(Không cần để ý đến sự rung lên của thân.)
Quán tưởng khí rung mở ra năm luân xa.
Tự thân tôi hóa thành Không Hành Mẫu, trang sức trên đầu, trang sức trên tay, trang sức trên chân đều có màu vàng kim lấp lánh.
Da dẻ mịn màng trắng ngần tinh khiết.
Lúc này tôi vô cùng xinh đẹp, duyên dáng.
(Rất nhiều người đều nghĩ Hắc Phẫn Nộ Mẫu rất hung bạo, thật ra không phải như vậy, ngài là thiếu nữ mười sáu tuổi, đôi mắt có thần, ngũ quan rõ ràng, mặc dù phẫn nộ nhưng vẫn rất xinh đẹp.)
Hắc Phẫn Nộ Mẫu nói với tôi:
”Kim Cang Tát Đỏa là chủng tính của tôi.”

🌟

Tôi đọc kinh hàng ngày.
Sức chú ý tập trung vào chấm sáng trên Mi tâm. Có nghĩa là khí ở trên Mi tâm. Từ hồi nào đến giờ đều như vậy. 
Khi đọc kinh, kinh văn cũng trở thành chấm sáng.
Tôi cho rằng mắt mình có vấn đề, đi khám bác sĩ, bác sĩ nói: “Mắt không có vấn đề gì, nhưng mắt cô hình như có điện.”
Tôi thường xuyên nhìn thấy ánh sáng cầu vồng.
Nhắm mắt lại cũng nhìn thấy, mở mắt ra cũng nhìn thấy.
Trong khi đọc kinh.
Tôi không biết đã đọc bao lâu, đột nhiên sức chú ý không còn, cũng không nghĩ gì nữa.
Cái này chính là ở giữa ý nghĩ trước và ý nghĩ sau. Cái này giống như “vô niệm” mà Sư Tôn nói đến.
Có hơi chóng mặt, nhưng không buồn ngủ.
Trước mắt có một chấm sáng hình tròn, tôi không hề cố ý, việc này vô cùng kỳ diệu!
Bình thường muốn vô niệm rất khó, thế nhưng đọc kinh có thể tiến vào vô niệm đúng là không ngờ tới.
Thấy Hắc Phẫn Nộ Mẫu nói: 
”Tâm không thể có sự rối rắm!”
Lư Sư Tôn xuất hiện nói: 
”Khổ và quả là ly cảnh đại thủ ấn.”
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói: 
”Gặp phải khổ là trợ duyên của tu hành, trọng điểm là chuyển hóa, không có khổ sẽ không có thành tựu!”


### 35. Kim Cang Tát Đỏa hình tướng nữ


Tôi (Lư Sư Tôn) đọc Nhật ký Ngũ Sắc Quang Nữ, thấy cô ấy nhìn thấy Kim Cang Tát Đỏa tướng nữ thì giật nảy mình.
Hầy! Kim Cang Tát Đỏa cũng có nữ ư?
Tôi chưa từng nghe thấy.
Nghe cô ấy nói vậy, tôi nhập tam muội, gặp Kim Cang Tát Đỏa tướng nữ.
Lông mày tựa như lá liễu đầu xuân.
Khuôn mặt như hoa đào tháng ba.
Eo thon mềm mại.
Miệng thơm chúm chím.
Nét ngọc hoa thẹn lời.
Duyên dáng ngọc tỏa hương.
Trên đầu là búi tóc màu bạc, lộ ra bốn lọn tóc mai, bên tai đung đưa khuyên tai bằng đá sapphire, áo lót màu vàng nhạt, áo ngoài màu đỏ bạc, váy màu đào tơ, đôi giày thon nhỏ cong hình uyên ương.
Đáng yêu tựa như ngọc trắng ngần.
Tôi hỏi:
”Là ai?”
Ngài đáp: 
”Kim Cang Tát Đỏa tướng nữ.”
Tôi hỏi: 
”Kim Cang Tát Đỏa sao lại hóa trang thành thế này?”
Ngài đáp: 
”Tướng do tâm sinh.”
Trong sát-na tôi đã hiểu, thực tướng phi tướng. Nếu là thiên nhãn chân chính.
Ngoài không chấp tướng.
Trong không chấp ý.
(Giống như một tấm gương, nó không chấp ý, cũng không chấp tướng. Chỉ là có cái gì đến thì sẽ hiện lên tướng đó, tướng đến, tướng đi, vẫn là một tấm gương.)
Không đi theo tướng. (không chịu ảnh hưởng của tướng)
Không sinh không diệt.
Từ đây tôi có được sự khai sáng là: “Vô tác vô vi”.

🌟

Lại nói về vô niệm.
Gương cũng là vô niệm.
Nó là Căn bản trí.
Có tướng đến đi, cũng là Phân biệt trí.
Tôi (Lư Sư Tôn) nói: 
Đạo vốn không sinh.
Pháp thân có thể nhập tướng.
Từ nhập tướng mà hiển hiện Pháp thân.
Phật Thích Ca Mâu Ni giáng xuống thế giới Ta Bà, ngài là ngọn đèn trí huệ sáng tỏ, mở ra tâm của chúng sinh.
Là gương Phật chiếu sáng, chiếu rõ cát bụi, trăm nghìn triệu năm trong sát-na trở nên sáng sủa.
Huyễn thân tứ đại giống như bong bóng, suốt cả ngày nghiệp chướng mù mịt.
Để thế nhân tỉnh ngộ:
Khi Phật tính viên minh, sự tham dục của sáu căn hiển lộ ra cũng là trống không.
Công danh cái thế chẳng qua chỉ là một giấc mộng lớn.
Giàu có hơn người cũng khó tránh khỏi hai chữ vô thường.
Cần biết rằng: 
Phong hỏa tán thời vô lão thiếu, sơn hà ma tận kỷ anh hùng. 
[Gió lửa tiêu tan bao già trẻ, núi sông mài nát mấy anh hùng.]

Đây là: 
Giàu sang nghèo khó có nguyên do
Là bởi nhân quả chớ tìm cầu
Xuân đến chưa từng gieo hạt giống
Tay trắng ruộng hoang thu hoạch gì.
Còn nữa:
Quét sạch bàn thờ thật chăm chỉ
Đắc ý hoan hỷ chẳng buông lơi
Lục căn ngũ trọc đều thanh tịnh
Thấu hiểu Phật pháp rõ nếp nhà.

Tôi (Lư Sư Tôn) lấy vô niệm làm chính giác pháp bảo.


### 36. Nhật ký Ngũ Sắc Quang Nữ (4)


Lư Sư Tôn tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự cử hành Hộ Ma hỏa cúng Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. 
Tôi (Ngũ Sắc Quang Nữ) ngồi trước ti vi tham gia đồng tu.
Nhắm mắt điều hòa hơi thở nhập tam muội.
Tôi hỏi: 
”Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát tay cầm bảo kiếm là dùng để chém đứt phiền não phải không?”
Văn Thù Sư Lợi trả lời: 
”Có phiền não để mà chém sao?”
Ngũ Sắc Quang Nữ nghe xong thì chấn động!
(Chẳng trách Văn Thù Sư Lợi trí huệ đệ nhất, một lời nói thức tỉnh người trong mộng.)

🌟

Sau khi tu pháp du già khoảng 15 phút.
Rất nhiều Không Hành Mẫu bay đến, tiến vào trong lỗ chân lông của tôi.
Sư Tôn xuất hiện gia trì.
Toàn thân tôi đại lạc.
Không Hành Mẫu trong các lỗ chân lông cũng đại lạc.
Thế rồi,
Hỷ Kim Cang xuất hiện, Tứ Thủ Phương Mẫu xuất hiện, bát phương Không Hành Mẫu xuất hiện, thiên nữ của hai mươi thiên xuất hiện. 
Đây là đàn thành đại lạc.

🌟

Lư Sư Tôn nói:
”Lấy tham dừng tham.”
Duy Ma Cật nói: 
”Tham sân si là Phật pháp.”
Thích Ca Mâu Ni Phật nói: 
”Tâm ô nhiễm thì chúng sinh ô nhiễm, tâm tịnh thì chúng sinh tịnh.” 
Ngũ Sắc Quang Nữ cho rằng:
Lấy tham dừng tham, là vì tâm không còn tham dục.
Nếu tâm thanh tịnh, dù tham sân si cũng là hoa sen.
Tâm ô nhiễm, tâm tịnh, nằm ở tội và phúc, còn bản chất là không.

🌟

Hư Không Tạng Bồ Tát nói với tôi hai trọng điểm:
1. Thế nào là trí huệ?
Không có phiền não.
Cũng không có thanh kiếm có thể chém đứt.
Đây chính là trí huệ.
(vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả)
2. Quán tưởng cái Không, không phải là cái Không chân thực.
Cái Không chân chính là tuyệt đối.
Ngộ mới là Không.
Bát nhã là Không.
Tất cả Có cũng là tất cả Không.
Có chính là Không, Không chính là Có.
Không - Có là một.
Bất nhất bất dị.

Chuẩn Đề Phật Mẫu nói với Ngũ Sắc Quang Nữ: 
Đừng bài trừ hoặc cố ý đi đối trị phiền não hoặc cảm xúc tiêu cực, chỉ cần khuếch đại ánh sáng của chính mình là được rồi. Giống như một cốc đèn chiếu sáng căn phòng tối.
Trong mơ phạm giới, có phải là tội không?
Trong mơ sát sinh, có phải là tội không?
Trong mơ trộm cắp, có phải là tội không?
Trong mơ phạm dâm, có phải là tội không?
Những điều này không cần phải để ý đến.
Chỉ cần bạn tỉnh dậy thì tất cả những điều này đều là không. (ngộ)
Có một câu nói: “Trong mộng rõ ràng có lục thú, tỉnh rồi trống rỗng không đại thiên.” 
Chỉ cần bạn vô tâm, vô tâm không bị ô nhiễm, vĩnh viễn thanh tịnh, đây chính là giữ giới.
Hư không vĩnh viễn là thanh tịnh không nhiễm.
Nhớ kĩ:
”Tội phúc tính không”.


### 37. Không Hành Mẫu tiến vào lỗ chân lông


Trong Nhật ký Ngũ Sắc Quang Nữ.
Không Hành Mẫu (mười vạn) tiến vào trong lỗ chân lông của Ngũ Sắc Quang Nữ. 
Đúng lúc Lư Sư Tôn gia trì cho Ngũ Sắc Quang Nữ, thế là Ngũ Sắc Quang Nữ sinh ra trạng thái đại lạc.
Chính vì Ngũ Sắc Quang Nữ đại lạc.
Mười vạn Không Hành Mẫu cũng đại lạc.
Tôi cũng có kinh nghiệm tương tự với đoạn ghi chép này.
Ngày 30 tháng 7 năm 2023.
Tôi (Lư Sư Tôn) ở Cầu Vồng Lôi Tạng Tự làm Hộ Ma hỏa cúng Chuẩn Đề Phật Mẫu.
Trong hư không có mười vạn Không Hành Mẫu của Áo Minh Thiên đã đến, họ đến cúng dường Chuẩn Đề Phật Mẫu.
Mười vạn Không Hành Mẫu liền tiến vào an trú trong lỗ chân lông của Lư Sư Tôn, họ chuẩn bị điệu múa để cúng dường Chuẩn Đề Phật Mẫu.
Mười vạn Không Hành Mẫu này:
Trẻ trung.
Xinh đẹp.
Hoạt bát.
(Tiên nữ trên trời ai nấy đều có tư sắc bất phàm.)
Nhưng mà tiếng nói râm ran khiến tôi ở trên pháp tọa không thể thuyết pháp được.
Thế là tôi lóe lên một sáng kiến, tôi mời người điều khiển chương trình là Thượng sư Liên Hỷ dùng ngôn ngữ của Không Hành Mẫu để nói với mười vạn Không Hành Mẫu: 
”Lư Sư Tôn đang thuyết pháp, mười vạn Không Hành Mẫu các cô phải yên lặng một chút, nếu không sẽ ảnh hưởng đến Lư Sư Tôn thuyết pháp khai thị.”
(Đoạn này được nói bằng ngôn ngữ Không Hành Mẫu.)
Trong sát-na.
Mười vạn Không Hành Mẫu trở nên yên lặng.
Tín chúng thì vỗ tay như sấm.
Vì sao?
Bởi vì Thượng sư Liên Hỷ không ngờ lại biết nói ngôn ngữ của Không Hành Mẫu, đúng là mới nghe thấy lần đầu.

🌟

Vì sao Thượng sư Liên Hỷ lại biết nói ngôn ngữ của Không Hành Mẫu?
Theo tôi được biết: 
Điều này không lạ, bởi vì kiếp quá khứ của Thượng sư Liên Hỷ là thủ tọa của Không Hành Mẫu.
Bà ấy là thị giả thủ tọa của Diêu Trì Kim Mẫu.
Bình thường, trên đầu Thượng sư Liên Hỷ có một vị Không Hành Mẫu đi theo bà ấy. 
Khi Thượng sư Liên Hỷ nhận biết được điều này.
Thượng sư Liên Hỷ đã mở ra ký ức của kiếp trước, bà ấy nhớ lại ngôn ngữ ở thiên thượng giới của mình. Thế là Thượng sư Liên Hỷ và Không Hành Mẫu dùng ngôn ngữ Không Hành Mẫu để nói chuyện với nhau. 
Thế còn, vì sao tôi (Lư Sư Tôn) lại biết được chueyện này?
Bởi vì Pháp thân của Lư Sư Tôn và Không Hành Mẫu của Thượng sư Liên Hỷ là bạn đạo với nhau.
Nhờ đó mà tôi biết Thượng sư Liên Hỷ biết nói ngôn ngữ Không Hành Mẫu (thiên ngữ).

🌟

Trong Nhật ký Ngũ Sắc Quang Nữ nói: 
Lư Sư Tôn!
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ!
Kim Cang Tát Đỏa!
Ba vị là một thể.
Bởi vì tôi và Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là Liên Hoa Đồng Tử. Nguồn gốc là như nhau.
Nguồn gốc pháp của tôi là Đại Nhật Như Lai — Phật Nhãn Phật Mẫu — A Di Đà Phật — Liên Hoa Đồng Tử — Lư Sư Tôn (Liên Sinh Hoạt Phật). 
Kim Cang Tát Đỏa là Pháp Vương Tử của Ngũ Phật.
Hai người cũng có mối liên hệ.


### 38. Nhật ký Ngũ Sắc Quang Nữ (5)


Hôm nay.
Lư Sư Tôn xuất hiện, ngài dạy tôi: 
Vô sự — Làm sao có thể không có chuyện chứ? Nhân gian mọi lúc mọi nơi đều có chuyện, chỉ là không bận tâm đến chúng, thuận theo chúng mà đi giải quyết, đây chính là vô sự.
Vô tâm — Làm sao có thể không có tâm? Trong tâm bao gồm hỷ nộ bi lạc sầu, chỉ là nhìn thấu chúng là nhất thời, không bị ảnh hưởng, chính là vô tâm.
Vô niệm — Làm sao có thể vô niệm chứ? Rất nhiều suy nghĩ giống như sóng, nhưng những suy nghĩ này đều sẽ trở về bản tính, chính là vô niệm.
Vô ngã — Làm sao có thể vô ngã chứ? Chỉ là cái tôi này không có tư lợi thì chính là vô ngã.
Vô sự: giống như gương, có cái gì thì hiện cái đó, tùy nó đến tùy nó đi, cái gương im lìm bất động.
Vô tâm: như nước, chảy đến chỗ nào thì ở chỗ đó, thích ứng mọi hoàn cảnh, chính là vô tâm.
Vô niệm: giống như sóng nước, sóng chính là ý nghĩ, hết sóng này lại đến sóng khác, nhưng đều trở về biển. Biển không động, sóng động, không ảnh hưởng đến biển, chính là vô niệm.
Vô ngã: lấy giấc mơ làm ví dụ, ta ở trong mơ không phải là ta thật, mặc dù trong mơ có rất nhiều ta, nhưng khi tỉnh dậy chỉ có một Chân Phật (tự tính), vì thế vô ngã.
Nghiệp lực là trợ duyên.
Phiền não là bồ đề.

🌟

Mấy năm nay khi tôi tu cúng dường, ngoài cúng phẩm ra, tôi cũng cúng dường thân khẩu ý của chính mình. 
Từ một hóa thành một mặt phẳng.
Từ một mặt phẳng hóa thành trên dưới tám phương, cả hư không đều là tôi, đây là cúng dường 100%.
Dần dần, tôi có một tâm đắc: 
Những chấm ánh sáng xung quanh tôi là rất nhiều Không Hành Mẫu, họ tan vào thân thể tôi. Và thân thể tôi cũng biến thành chấm ánh sáng như sau, đây chính là phương pháp hóa hiện vô số phân thân.

🌟

Diêu Trì Kim Mẫu mà tôi nhìn thấy có hình tượng khác nhau, có thiên nữ, có cung đình, có trang nghiêm… Trăm nghìn tư thế dáng điệu.
Tôi phát hiện ra Diêu Trì Kim Mẫu chính là ngọn nguồn của Không Hành Mẫu, bởi vì từ Diêu Trì Kim Mẫu hóa ra:
Con gái của ngài.
Thị giả của ngài.
Ba nghìn thị nữ của ngài.
Diêu Trì Kim Mẫu là vị đứng đầu các Không Hành Mẫu, thị giả lớn nhỏ là thượng thủ, ba nghìn thị nữ là Bổn tôn hóa hiện, kết quả là cùng một căn nguyên. Căn bản là không có phân biệt.

🌟

Trong pháp hội Mãn Nguyện Đồng Tử.
Tôi (Ngũ Sắc Quang Nữ) nhìn thấy Ha Lê Đế Mẫu, ngài vô cùng lộng lẫy, xinh đẹp, rực rỡ.
Nhưng cảm giác của quang khí và thiên nữ, Không Hành Mẫu không giống nhau, là sự diễm lệ có màu lam thẫm.
Tôi lại nhìn thấy Mãn Nguyện Đồng Tử, mặc y che ngực và bụng, đứng thẳng, có một tay chỉ trời, có một chân dẫm lên một vật. 
Nhìn thấy Lư Sư Tôn ngồi ngay ngắn ở chỗ cao nhất trong hư không, nói với Ngũ Sắc Quang Nữ: 
”Mãn Nguyện Đồng Tử lớn nhất chính là Liên Hoa Đồng Tử!”
Theo tôi được biết: 
Lư Sư Tôn ở trên cao nhất, tiếp theo là Mãn Nguyện Đồng Tử, bên dưới mới là Ha Lê Đế Mẫu.
Không sai.
Chính là sự sắp xếp như vậy!


### 39. Tôi nói về chữ “Vô”


Trong Nhật ký Ngũ Sắc Quang Nữ, tôi (Lư Sư Tôn) dạy cô ấy về vô sự, vô tâm, vô niệm, vô ngã.
Tôi (Lư Sư Tôn) muốn tại đây nói với mọi người:
Quá khứ — không có.
Hiện tại — không có.
Vị lai — không có.
Điều này trong Kinh Kim Cang đã nói rất rõ ràng rồi: vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng.
Trái đất mà nhân loại chúng ta sinh tồn.
Đã trải qua vô số lần biến động lớn, cũng tức là: thành - trụ - hoại - không.
Cũng đã có rất nhiều lần nhân loại bị tuyệt diệt, biển xanh biến thành ruộng dâu. 
Tôi chỉ nghĩ đến một chữ: Vô.
Lấy vài ví dụ nhé!
Trước kia trên trái đất, đế quốc lớn nhất là đại đế quốc Mông Cổ, bây giờ ở đâu?
Đáp án là không có.
Trong lịch sử trong nước và thế giới, bất kể là trên lĩnh vực nào, vĩ nhân thành tựu lớn nhất, bây giờ ở đâu?
Đáp án là không có.
Người giàu có nhất thế giới, lịch sử biến đổi, sự biến đổi hết đời này đến đời khác, có ai giàu có mãi mãi?
Đáp án là không có.
Người xinh đẹp nhất thế giới, bây giờ ở đâu? Không có.
Người nổi tiếng nhất thế giới, bây giờ ở đâu? Không có.
Con người hiện tại chúng ta, tương lai sẽ ra sao? Không có.
Bây giờ bạn hỏi tôi cái gì, câu trả lời của tôi chỉ có một chữ: “Vô”. 
Ba chữ quan trọng nhất của Kinh Tâm là: 
”Vô sở đắc”.
(Đây chính là khai ngộ của Lư Sư Tôn.)

🌟

Trong Kinh Duy Ma Cật nói: 
Vọng tưởng là cáu bẩn, không vọng tưởng là thanh tịnh.
Ngã tướng là cáu cẩn, không ngã tướng là thanh tịnh.
Tất cả mọi pháp là:
Sinh sôi không ngừng, niệm niệm không dứt.
Giống như huyễn ảnh, chớp điện, mộng cảnh, dương diệm [hiện tượng ánh mặt trời chiếu lên mặt đường, ánh sáng bị phản xạ lại toàn phần và không khí có bụi, tạo nên cảm giác ảo ảnh bồng bềnh].
Trăng trong nước.
Hoa trong gương.
Những cái này đều là một chữ: “Vô”. 
Còn nữa: xuất gia là pháp vô vi, không cầu công đức lợi ích mới là ý gốc của xuất gia.
Xuất gia rời xa sáu mươi hai tà kiến, không tham nhân gian, cũng không tham bỉ ngạn, không dừng lại ở giữa những cái này, thuận theo tự nhiên mà thôi.
Đây là đạo của xuất gia.
Đây cũng là “Vô”.
Bởi vì “Vô”, mới có thể hàng phục các ma; bởi vì “Vô” mới có thể siêu độ chúng sinh; bởi vì “Vô” mới có thể thanh tịnh ngũ nhãn; bởi vì “Vô” mới có thể không bị phiền não trói buộc; bởi vì “Vô” mới có thể phá tan ác niệm, ác hành; bởi vì “Vô” mới có thể phá tà thuyết ngoại đạo; bởi vì “Vô” mới có thể không bám chấp; bởi vì “Vô” nên tâm cảnh bình tịnh…..
Đây mới là xuất gia chân chính.
”Vô” mới có thể không bệnh.
”Vô” mới có thể không phỉ báng.
”Vô” mới có thể không động.
”Vô” mới là phúc đức vô lượng.
”Vô” mới là thân kim cang bất hoại.
Lư Sư Tôn chú thích: 
Chữ “Vô” này là xuất sắc, phải suy ngẫm tỉ mỉ mới có thể đạt đến chân đế.
Thế nhân đều chấp vào chữ “Hữu”, Thánh nhân là chữ “Vô”. (Hữu - Vô như nhau)


### 40. Thơ của Hàn Ngư


*Thầy dùng sự tự nhiên thuần khiết
Làm tan dòng sông băng trong nội tâm con
Thầy là sông lớn chảy xiết
Đưa con về lại biển lớn
Thầy là suối ngọt mát lành
Bồi dưỡng hoang mạc khô cằn
Để cho sắc thân xơ xác của con
Trở thành núi Tu Di cao sừng sững
Đạo là thượng thiện nhược thủy **[lời Lão Tử, nghĩa là cảnh giới cao nhất của đạo giống như nước, đem lại lợi ích cho tất cả]**
Đạo là tuyệt thánh khí trí **[lời Lão Tử, nghĩa là bỏ hết trí tuệ thông minh thiện xảo]**
Thế nhân cười chân ái là ngu ngốc
Con lại muốn cùng thầy
Nghìn vạn năm.*
(Xin chú ý, thượng thiện nhược thủy là tự nhiên. Tuyệt thánh khí trí là không vô.)

Còn nữa:
*Có một thứ “nhập ngã ngã nhập” kỳ diệu
Khi tu pháp
Con biến thành Kim Mẫu
A Di Đà Phật đến hợp nhất.
Kim Mẫu hóa thành Bạch Y Phật Mẫu
Cuối cùng
A Di Đà Phật và Lư Sư Tôn không hai
Phật Mẫu và Kim Mẫu không khác.*
(Lư Sư Tôn chú thích: chỉ có không vô có thể hợp nhất, 0+0=0, không hai tức là hợp nhất, hợp nhất tức là 0. Nói cho mọi người biết, không khác cũng là 0+0.)
Hữu là Vô.
Vô là Hữu.
Không hai.
Không khác.


### 41. Đọc “Muôn Kiếp Tình Duyên” viết thành thơ


Đệ tử Hồng Kông Liên Hoa Ý Linh đọc cuốn “Muôn Kiếp Tình Duyên” mà tôi (Lư Sư Tôn) viết.
Cô ấy có rất nhiều cảm xúc.
Đã viết hai bài thơ, tôi đọc xong, cảm thấy ý vị sâu xa, đây không phải là thơ mà người bình thường có thể viết ra được, thơ của cô ấy đã xúc động trái tim tôi.
Trời ơi!
Nhân gian này, chữ “tình” này, khiến tôi lưu luyến!
Thơ của Liên Hoa Ý Linh như sau: 

*Như mộng tác thành
Khi tình yêu nồng nàn bấy lâu giấu kĩ được liên tục viết ra
Nỗi nhớ đóng thành quyển
Khi những bức ảnh được trưng bày chỉ chau chuốt dung nhan của thầy
Khăng khăng vì thầy mà sửa đổi
Tận hưởng niềm hân hoan cách đời và những tâm nguyện chưa thành
Khăng khăng bất chấp mọi thứ
Con mắt đọc hết bể dâu chỉ chờ đợi đường nét dáng hình của thầy
Thầy là thế giới ấm áp đọng lại miên man trong trái tim em
Nỗi khao khát tình duyên không thể nói
Là món nợ em không thể trả hết trong niềm tiếc nuối vội vàng
Là sóng gió giục giã ly biệt
Là phồn hoa tàn lụi bị lãng quên trong im lặng
Tình yêu ấy cũng không đổi
Sự ngọt ngào của thế giới trong trái tim em.*

*Lần đầu gặp lại, khi nỗi nhớ thầy làm tim em xao xuyến
Biển hoa đung đưa khi em cô đơn tìm kiếm ánh mắt thầy trong vô biên
Từng lớp tương tư biến thành cái kén
Chuyển thành tiếng nói trước khi giấc mơ cũ đổi thay
Nghiêng nghiêng như gió đuổi trăng
Đã buông bỏ hồng trần vạn kiếp, nhưng không thể buông bỏ khuôn mặt của thầy
Thầy là thế giới ấm áp đọng lại miên man trong trái tim em
Nỗi khao khát tình duyên không thể nói
Là món nợ em không thể trả hết trong niềm tiếc nuối vội vàng
Là sóng gió giục giã ly biệt
Là phồn hoa tàn lụi bị lãng quên trong im lặng
Tình yêu ấy cũng không đổi
Sự ngọt ngào của thế giới trong trái tim em.*

🌟

*Sự tĩnh lặng bị một chùm tia sáng đốt cháy
Nhanh chóng phủ lên bởi một biển mây
Bầu trời sao xa xăm đang gọi em giục giã
Nhìn thầy rực rỡ như xuất thần
Nín thở chờ mong.*

*Chậm lại trên tấm hình này
Sau lưng có bao nhiêu là viên mãn
Vượt qua mây núi nghe thế gian kinh thán
Chính là em chẳng quản bao gian nan
Đó là lòng dũng cảm của em.*

*Em sẽ lao về phía thầy
Đi tìm ý nghĩa của cuộc sống
Ngay cả trong biển sao xa xăm
Chỉ cần cưỡi gió thì sợ gì xa không thể với tới
Em muốn chạy về phía thầy
Trong nháy mắt phá vỡ mọi hoàn cảnh
Em muốn tìm kiếm ở những nơi chưa biết
Cho dù sự rộng lớn này có bí ẩn đến đâu
Em sẽ lao về phía thầy.*

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) nói: 
Bài thơ này khiến tôi cảm động rất lâu…
Tôi cứ nhẩm đi nhẩm lại.
Bất kể thời gian là xưa hay nay.
Tôi mãi mãi mong chờ, mãi mãi chờ đợi sự ngọt ngào trong thế giới của em.


### 42. Cảm nghĩ của Ngô Mạnh Hoa


Ngô Mạnh Hoa là đệ tử Đài Loan, cô ấy đọc xong cuốn “Muôn Kiếp Tình Duyên” liền viết cảm nghĩ sau khi đọc.
Cô ấy nói: 
Đọc thư tình của Lư Sư Tôn, chỉ cảm thấy trong thư bộc lộ sự giáo hóa từ bi không gì sánh bằng.
Khiến tôi nghĩ đến việc phát bồ đề tâm càng quan trọng hơn. 
(Bồ đề tâm chính là đạo tâm, chỉ mong chúng sinh thoát khổ được vui.)
Phiền não của chúng sinh, ngoài khổ của sinh lão bệnh tử ra thì tình cũng là một trong các khổ. 
Ngày ngày sống quay cuồng trong thế giới tình cảm, từ đầu đến cuối đều không thể nào buông bỏ được tất cả tình, tự đáy lòng càng thêm cảm khái.
Chúng sinh khóc! 
Vì khổ mà khóc!
Tôi khóc!
Tôi nghĩ rằng: “Mọi người giữ được một tấm lòng son, trở về với sự vĩnh hằng của linh tính mới là niềm vui và hạnh phúc chân thực.”
”Diêu Trì Kim Mẫu Thu Viên Định Huệ Giải Thoát Chân Kinh” nói: 
”Nhật nguyệt âm dương vận chuyển. Con người từ âm dương mà phôi thai. Là nam hay là nữ. Đều từ vô cực mà ra. Chỉ vì thái cực vận chuyển. Chớp mắt đọa lạc hồng trần. Rơi vào ngũ trọc ác thế. Tham luyến tửu sắc khí tài. Vì thế luân hồi loanh quanh. Sóng tình biển dục tai họa. Xót xa máu loãng chảy quanh. Bi ai thi hài rơi rụng. Lão Mẫu nói kinh đến đây. Nước mắt không ngừng tuôn rơi.”

Ngô Mạnh Hoa nói: 
”Thật lòng hy vọng mọi người tu hành, trở về bản vị. Dừng lại sự khổ sở vô hạn của tình, tránh phải đi chịu xiềng xích của luân hồi. Nhớ kĩ rằng vô sở đắc, phải buông bỏ, duy có tu hành mới có thể mở ra một cuộc đời có ý nghĩa!”
Cảm tạ Lư Sư Tôn dạy dỗ. 
Hướng dẫn dùng Mật pháp để thoát khỏi thế giới hữu tình vô hạn. 
Bình đẳng.
Phát bồ đề tâm.
Đến Phật quốc bỉ ngạn.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) nói: 
Tình và phi tình đều là Phật pháp. Tôi không phân biệt tình, tình cũng là Phật pháp độ chúng sinh. 
(Bồ Tát hành tại phi đạo là vì thông đạt Phật đạo.)
Thế gian.
Xuất thế gian.
Là không hai.
Tôi là tì kheo xuất thế, cũng là tì kheo nhập thế, tôi chủ trương đã xuất thế lại nhập thế, như vậy mới có thể độ hóa chúng sinh.
Nhưng mà,
Tôi cũng cho rằng:
Độ chúng sinh, thật không có chúng sinh để mà độ.
Bởi vì:
Tâm.
Phật.
Chúng sinh.
Ba cái này không khác biệt.
Chúng sinh là Phật chưa ngộ, Phật là Phật đã ngộ. Chỉ ở giữa mê và ngộ mà thôi!
Một đằng là bùn nhơ, một đằng là hoa sen. Hoa sen sinh ra từ bùn nhơ mà không nhiễm. 
Còn thế nào là pháp môn bất nhị? 
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát không nói.
Duy Ma Cật Đại Sĩ im lặng.
Đây là lấy tâm truyền tâm, không lập văn tự, cũng không ngôn ngữ, đây mới là pháp môn bất nhị. 
Cho nên, tâm thanh tịnh thì Phật thổ tịnh. 
(duy tâm tịnh thổ)
Tôi (Lư Sư Tôn) nói: 
Tôi viết hai cuốn sách “Muôn Kiếp Tình Duyên” và “Chiếc Hộp Ánh Trăng”, là thư tình, cũn là không phải thư tình, là chúng sinh, cũng là không phải chúng sinh, mọi người thấy thế nào?


### 43. Tịnh thổ ở đâu?


Chí thành lễ kính vũ trụ đại tôn sư đại thành tựu giả Liên Sinh Phật.
Sư Tôn Sư Mẫu Thánh an!
Chúc Sư Phật Ngày Của Cha khỏe mạnh vui vẻ, cát tường như ý!
Ngày 11 tháng 6 năm 2023, vào giờ cơm trưa ở Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đệ tử đã thỉnh giáo Sư Phật về vấn đề liên quan đến chỗ tồn tại của tịnh thổ Phật Bồ Tát và sự phân biệt tầng thứ, Sư Phật từ bi ngay tại chỗ đã giải thích tường tận cho đệ tử, dạy bảo rất nhiều phương diện trí huệ, ví dụ: Áo Minh Thiên là tịnh thổ của Không Hành Mẫu, Đâu Suất Thiên của ba mươi ba thiên là tịnh thổ của Di Lặc Bồ Tát, tịnh thổ của Đại Nhật Như Lai ở Đại Tự Tại Thiên, Phật Thích Ca Mâu Ni ở tại Sắc Cứu Cánh Thiên, tịnh thổ của Địa Tạng Bồ Tát ở trong địa ngục, gọi là tịnh thổ Thúy Vi... Khiến đệ tử hiểu rằng trong địa ngục và các cõi trời, cảnh giới khác nhau đều có tịnh thổ của Phật Bồ Tát. Còn tịnh thổ Tây phương Cực Lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì, Sư Phật đã lấy bài ca dao thời Đường: *“Liên Hoa Đồng Tử gặp Kim Tiên, khắp cả hư không hoa rơi xuống, vượt mây nghe tiếng trời vi diệu, lời nào tả xiết lạc cõi thiên”* để chỉ rõ cảnh giới này hơn các cõi trời, cho nên, mặc dù cùng là tịnh thổ, nhưng vẫn có sự khác biệt về tầng thứ.

Đệ tử hỏi Sư Phật: Nếu hành giả không đặc biệt phát nguyện muốn đi đến tịnh thổ nào, vậy sau khi vãng sinh sẽ đi về đâu? Có phải do chủ tôn an bài không? Sư Phật liền nói rằng: Tịnh thổ chính ở trong người bạn, không phải là ở chỗ nào khác bên ngoài, Phật tính của bạn chính là tịnh thổ của bạn. Sư Phật nhấn mạnh một lần nữa: thân người mặc dù rất dơ bẩn, nhưng trong thân người cũng có tịnh thổ. Mắt, tai, mũi, lục phủ ngũ tạng đều có Bồ Tát ở đó, Ngũ Phương Phật ở tại năm luân xa, Sư Tôn còn nói bài đạo ca bằng tiếng Đài: *“Các cảnh trong thân người, ba vạn sáu nghìn thần, mong thân con tự tại, thường trụ trong Tam Bảo”* biểu thị toàn thân mỗi một lỗ chân lông đều có thần sống ở trong đó.

Tín đồ Phật giáo thường chịu ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo truyền thống, cho rằng tịnh thổ ở nơi cách chúng ta mười vạn tám nghìn dặm xa không thể tới. Sau khi được Sư Phật ngay tại chỗ giải thích phân tích tường tận, đệ tử trong một chốc đã giải được một câu đố phức tạp sâu sắc mà mấy ngày nay đệ tử liên tục nghĩ về nó mà vẫn không thể hiểu được, kéo huyễn tưởng của ngoại cảnh về trong thân mình, thì ra, Phật tính chính là tịnh thổ. Phật tính xuất, quang minh hiện, chắc chắn có tịnh thổ. Sư Tôn cao minh, xứng đáng là Mật giáo đại đạo sư Liên Sinh Phật, một lời nói thức tỉnh người trong mộng!

Ngày 12 tháng 6, sau khi đệ tử trở về, tiếp tục nghiền ngẫm về lời Sư Phật nói, bỗng dưng nghĩ đến phẩm thứ nhất “Phật Quốc” trong “Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh” mà Sư Phật giảng, trong đó Sư Phật đã dành rất nhiều thời gian để giải thích liên quan đến ngóc ngách ngọn nguồn của Phật Bồ Tát tịnh thổ, thế là đệ tử vội vàng đọc lại. Trước đây chỉ mỗi nghe Sư Phật khai thị, bởi vì không tự mình động não, nghe xong là vứt ra sau đầu, quên hết rồi. Lần này do bản thân có thắc mắc này, sau khi được Sư Phật dạy bảo và gia trì, linh quang lóe lên, muốn tiến thêm một bước nữa đạt đến đáp án, muốn tốt hơn nữa. Quả nhiên sau khi để tâm đọc thì đã sản sinh một sự khai sáng rất lớn, hiểu thêm một tầng sâu hơn nữa đối với kinh văn. 

Vì rằng Phật tính là tịnh thổ, vậy thì vì sao mỗi Bồ Tát lại có tịnh thổ của riêng mình? Chúng sinh dựa vào cái gì để sinh về nước ấy? Trong kinh, Duy Ma Cật Đại Sĩ sớm đã có phân tích cực kì rõ ràng: *“Các hàng chúng sinh là cõi của Phật Bồ Tát. Vì sao như vậy. Bồ Tát tùy theo chúng sinh được hóa ra để mà lấy cõi Phật. Tùy theo chúng sinh điều phục được mà lấy cõi Phật. Tùy theo các chúng sinh nên lấy nước nào để nhập trí huệ Phật mà lấy cõi Phật. Tùy theo các chúng sinh nên lấy nước nào để khởi căn Bồ Tát mà lấy cõi Phật. Vì sao như vậy. Bồ Tát lấy tịnh quốc đều vì lợi ích các chúng sinh.” “Bồ Tát vì thành tựu chúng sinh như thế nên nguyện lấy Phật quốc. Việc nguyện lấy Phật quốc cũng không phải là vô ích.”* Điều kỳ diệu là, lần này đọc lại kinh văn, trong lòng sâu sắc lĩnh ngộ được sự sâu sắc trước giờ chưa từng có. Bồ Tát độ chúng sinh không thể trụ trong hư không, phải có Phật thổ huyễn hóa mới có thể giáo hóa chúng sinh thành đạo, dựa theo lục độ vạn hành của họ mà dùng pháp môn phương tiện, thu hút chúng sinh hữu duyên có căn tính gần với nhau đến sống tại nước đó, cùng nhau tu hành thành Phật.

Trong chương này, đọc đến tổng kết cuối cùng *“Tùy tâm họ tịnh mà tất cả công đức tịnh. Nếu Bồ Tát muốn đắc tịnh thổ. Nên tịnh tâm họ. Tùy tâm họ tịnh mà Phật thổ tịnh.”* Câu này đã ấn chứng lời của Sư Phật, đệ tử vui mừng phát hiện ra, dưới sự dạy bảo của Mật giáo đại tôn sư, Sư Phật dạy đệ tử tu pháp thanh tịnh, thanh tịnh tức Phật tính, quang minh hiện tiền, thông trung mạch, mở ngũ luân, bảy vạn hai nghìn mạch trong thân thông với nhau, toàn thân lỗ chân lông đều phóng tỏa hào quang, trong ánh sáng hiện lên tịnh thổ, thành tựu Báo thân, Pháp thân trang nghiêm, sau đó lại dùng Ứng hóa thân tiện lợi phổ độ chúng sinh, tức là phát khởi bồ đề tâm, thu nạp chúng sinh cùng tu Phật đạo, cuối cùng mới có thể tự giác giác tha, giác hành viên mãn, quá trình tu hành chuyển thành tựu Phật quả đúng là pháp môn mật tu thực chứng lý sự viên dung.

Ngày 13 tháng 6, theo dòng tư duy mà Sư Phật đã dạy bảo gia trì, liên tục kéo dài cho đến buổi tu sáng sớm ngày 13, trong đầu nhớ đến Sư Phật nhiều lần nhắc nhở vào ngày hôm trước: thân thể con người tuy là dơ bẩn, nhưng trong thân người cũng có tịnh thổ. Quả nhiên dưới sự gia trì của Sư Phật, tiến vào thiền định, cảnh giới và ngộ tính tiếp tục tăng trưởng, thu hoạch đầy ắp.

Khi suy nghĩ của đệ tử tập trung vào trong thân, khi định cảnh vô tư vô niệm sâu hơn, bất tri bất giác trong tai bỗng truyền đến tiếng Không Hành hát tụng chú âm Kim Diện Kim Mẫu, Vạn Phật Thủ Vô Cực Nhãn Diêu Trì Kim Mẫu, và niệm danh Diêu Trì Kim Mẫu. Trong sự hốt hoảng ngẩn ngơ, đệ tử theo đó được đeo vào một mắt kính tinh xảo, trong lòng mừng vui. Bởi vì nhiều năm nay mỗi một giai đoạn thời kỳ, trong định đều có mắt kính khác nhau được gửi tới, cũng rất lâu rồi chưa nhận được. Còn lần này đệ tử mới thật sự thông minh lên, cuối cùng đã lĩnh ngộ được thì ra Phật Bồ Tát tặng mắt kính không chỉ để nhìn ngoại cảnh, căn bản chính là tăng trưởng trí huệ nhãn của nội cảnh.

Tiếp theo là diệu cảnh hiện tiền, quán liên hoa, liên hoa hiện; quán Phật, Phật hiển; quán Đồng Tử, Đồng tử đến; quán Không Hành, Không Hành nhảy múa vòng quanh… cuối cùng lại được khoác lên áo bào bảy sắc làm đẹp thân, lộng lẫy rực rỡ, tựa như đích thân trải qua sự đẹp đẽ của tịnh thổ. Xuất định xong, nghĩ đến “Lục Tổ Đàn Kinh” của Thiền tông mà năm xưa Sư Phật đã giảng, Lục Tổ nói: *“Nội ngoại minh triệt. Bất dị Tây phương.” “Người mê niệm Phật cầu sinh về chốn ấy. Người ngộ tự tịnh tâm mình. Cho nên Phật nói: Tùy tâm họ tịnh. Mà Phật thổ tịnh.” “Tự tính có thể chứa vạn pháp là lớn. Vạn pháp ở trong các tính người. Nếu thấy tất cả người. Cái ác và thiện. Tất cả đều không giữ không bỏ. Cũng không nhiễm mắc. Tâm như hư không. Thì gọi là lớn. Nên gọi là maha.”* Đến đây cuối cùng đã hiểu điều Sư Phật dạy: sự lý thú chân thực của “nhất tâm có thể diễn hóa vạn pháp”. 

Đệ tử cảm động sâu sắc trước sự tùy cơ giáo thị dựa theo căn khí của Sư Phật, khiến đệ tử càng có thể lý giải được những điều kinh tạng Thánh hiền và Phật Đà dạy, cũng có thể dựa vào đó mà ấn chứng, lĩnh hội chân đế thậm thâm của Mật pháp, càng hiểu sâu sắc thêm về thành tựu chí cao. Chỉ vì có Sư Phật nhiều năm dạy bảo sự pháp của Mật pháp, và sự tu trì nhiều năm, khiến lý pháp và sự pháp của Mật giáo đối ứng lẫn nhau, lĩnh ngộ càng sâu hơn, bổ trợ cho nhau, lý sự viên dung, làm ít được nhiều, tiến bộ thần tốc. Sư Phật đúng là một vị thầy tốt cực kì hiếm có nghìn năm khó gặp, khiến đệ tử vô cùng biết ơn và khâm phục, tin chắc Mật pháp vẫn là đại pháp thành tựu nhanh chóng độc nhất vô nhị trong thế giới ngày nay.

Om guru liansheng siddhi hum! Om guru liansheng siddhi hum! Om guru liansheng siddhi hum! 
Kính chúc Sư Phật Phật thể khang thái, thỉnh Phật trụ thế, hằng chuyển pháp luân.
Kính chúc Sư Mẫu thanh tịnh kiện khang, cát tường tự tại.

Đệ tử Liên Từ ở Vancouver Canada đảnh lễ khấu đầu tạ ơn.
18.06.2023. 


### 44. Báo cáo của Thượng sư Liên Ha


Sư Phật kính yêu nhất, Phật an!
Ngu đệ tử Liên Ha nhất tâm đảnh lễ và đem thân khẩu ý cúng dường Sư Phật!
Ngày mai đệ tử sẽ khởi hành từ Sao Paulo, Brazil và bay đến Seattle, rất nhanh sẽ được gặp mặt Sư Phật, trong lòng đệ tử đầy ắp niềm vui và sự mong chờ. Bái kiến Sư Phật là việc quan trọng nhất trong cuộc đời này của đệ tử. Trong chuyến đi này, đệ tử tạm thời nhận nhiệm vụ đứng ra tổ chức và chủ trì tiệc sinh nhật của Sư Phật, xin Sư Phật gia trì cho bữa tiệc thành công viên mãn, nguyện Sư Phật hoan hỷ, chư Phật Bồ Tát hoan hỷ, mọi người hoan hỷ. Đệ tử xin chúc mừng sớm Sư Phật sinh nhật vui vẻ! Phật thể an khang, trường thọ tráng kiện, trường trụ thế gian, mãi chuyển pháp luân, thỉnh Phật trụ thế.

Sư Phật kính yêu, khoảng thời gian này, thứ sáu hàng tuần trên “đám mây”, đệ tử đều dẫn dắt đồng môn cùng tu pháp, luyện tập thiền định, sau đó cùng mọi người học tập “Định Trong Định” của Sư Phật. Cuốn sách này của Sư Phật viết thật sự quá hay, đưa tính quan trọng của thiền định, cơ sở tiền đề của thiền định, chủng loại của thiền định, pháp lực và hiện tượng của thiền định, thứ tự và cấp độ của thiền định, làm sao trong thiền định chứng được khai ngộ, sau khi khai ngộ lại làm thế nào để bảo nhậm trong sinh hoạt, tất cả những điều này Sư Phật đều giảng giải tỉ mỉ một cách hệ thống. Không chỉ như vậy, Sư Phật còn lấy Cao Vương Kinh làm ví dụ, tay cầm tay dạy chúng con làm sao để luyện tập chuyên nhất, giảm thiểu vọng niệm, sau đó làm sao để đem sự chuyên nhất này ứng dụng trong đời sống thường ngày, đem toàn bộ cuộc sống đều chuyển hóa thành sự luyện tập tinh thần thống nhất. Sư Phật đã dạy chúng con tu tập như thế này, cho đến khi giống như Phật Thích Ca Mâu Ni, không có phút giây nào là không ở trong định, đây mới là thành công của thiền định, đây cũng chính là “bảo trì tâm quang minh, không dứt phiền não mà nhập niết bàn” được nói đến trong Kinh Duy Ma Cật mà Sư Phật đang giảng giải.

Đệ tử càng ngày càng cảm nhận được sách của Sư Phật là pháp bảo quý giá không gì sánh bằng! Sách không chỉ đại diện cho tâm của Sư Phật mà còn đại diện cho pháp thân huệ mệnh của Sư Phật! Học tập sách của Sư Phật sẽ có được huệ mệnh vô thượng mà Sư Phật ban cho. Mấy hôm trước có đồng môn viết thư cho đệ tử nói, xem xong đệ tử giảng giải sách của Sư Phật đã khiến cho lòng tin của họ đối với Sư Phật càng tăng lên, đã hiểu vì sao Sư Phật là Chân Phật! Sách của Sư Phật rất có giá trị dùng vào thực tế, có rất nhiều khẩu quyết thực tu, đây là những tâm yếu khẩu quyết mà đại thành tựu giả thực tu mới có thể viết ra được, có thể khiến việc tu hành của chúng con nhanh chóng cất cánh bay lên, thậm chí tình trạng cuộc sống cũng có thể cất cánh bay lên. Đệ tử cảm thấy sách của Sư Phật chính là tài liệu giảng dạy hay nhất của Giáo Dục Chân Phật!

Sư Phật kính yêu, sự nghiệp Giáo Dục Chân Phật dưới sự gia trì và ban phúc của Sư Phật đã không ngừng tiến bộ bay cao. Hiện tại hàng tuần đều có lớp Chân Phật Mật Pháp của Đại Học Chân Phật Trực Tuyến (Thượng sư Liên Nhất giảng dạy), lớp Bồ Đề Đạo Thứ Đệ Giản Luận (trưởng lão Liên Mãn, Liên Truyền giảng dạy), và lớp Định Trong Định của đệ tử, còn có các giáo trình của Pháp Học Đường dành cho toàn thể nhân viên hoằng pháp và người quản lý các đạo tràng trên thế giới, như là: lớp Bồi Dưỡng Nhân Tài Tuyên Truyền Chân Phật (Thượng sư Huệ Quân), lớp Bồi Dưỡng Thanh Thiếu Niên Ra Sao (Thượng sư Thiếu Đông), lớp Làm Sao Để Đạo Tràng Chân Phật Đi Vào Dân Gian (Thượng sư Liên Trí)… Tương lai còn có lớp Đào Tạo Thực Chiến Giáo Sư Hạt Giống và các lớp học thường thức không chỉ hướng đến đồng môn trong tông phái mà còn hướng đến đại chúng bên ngoài như lớp Quản Lý Thời Gian, Phương Pháp Đúng Đắn Trong Giao Tiếp Cá Nhân, Bí Quyết Thành Công Của Người Lãnh Đạo, Làm Sao Giáo Dục Con Cái Đúng Đắn, Mật Mã Hạnh Phúc Gia Đình Và Vợ Chồng, v.v…

Điều làm cho Giáo Dục Chân Phật năm nay tiến bộ hơn những năm trước đó là chúng con đã bắt đầu “check-in” các hoạt động tinh tấn, dẫn dắt các đệ tử Chân Phật mỗi ngày tinh tấn, trì chú, tụng kinh, tu pháp, đại lễ bái, đọc sách, tinh tấn toàn diện, và cùng mọi người trong tổ chức “check-in” hàng ngày. Đây là một cuộc chạy marathon tinh tấn, để các đệ tử Chân Phật kích động lẫn nhau, khích lệ lẫn nhau, cùng nắm tay, cùng bước lên đỉnh.

Ngoài lớp học “đám mây” trực tuyến ra, chúng con cũng đã lên kế hoạch chi tiết cho lớp học thực thể ngoại tuyến, sau pháp hội Mùa Thu sẽ có lớp chuyên bồi dưỡng Thượng sư dành cho các Thượng sư, trong thời gian đại hội cúng tăng tại Malaysia vào tháng 10, Giáo Dục Chân Phật đã sắp xếp khóa học thực thể cho toàn thể nhân viên hoằng pháp và tăng chúng trong sáu ngày liên tiếp, giảng giải nội dung mà mọi người cần phải học tập nhất, tin rằng sẽ khiến mọi người sẽ thu hoạch đầy ắp. Thỉnh cầu Sư Phật gia trì cho tất cả các khóa học kể trên của Giáo Dục Chân Phật đều có thể thuận lợi thành công viên mãn.

Sư Phật kính yêu, mặc dù đệ tử bận rộn với sự nghiệp bồ đề của Giáo Dục Chân Phật và Chân Đế Lôi Tạng Tự, nhưng việc tu trì của cá nhân đệ tử vẫn chưa từng gián đoạn, mỗi ngày bốn lần tọa pháp (có khi thì ba tọa), luyện khí, đại lễ bái, vận động thể dục, đọc kinh điển hoặc danh tác thế giới. Nhất là những pháp mà Sư Phật chỉ thị, đệ tử mỗi tối đều tu trì, dựa theo sự minh họa của Sư Phật mà tu, càng ngày cảm nhận càng tốt, quang minh càng ngày càng mãnh liệt, đệ tử càng ngày càng cảm nhận thấy ý nghĩa trọng đại của pháp này. Không chỉ có thể tăng cường mối liên kết với Tam Căn Bản mà càng có thể lợi ích vô lượng chúng sinh, tích lũy vô lượng công đức.

Sư Phật kính yêu nhất, mấy ngày trước, đệ tử nghe Sư Phật khai thị ở Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, Duy Ma Cật Đại Sĩ hóa hiện ánh sáng đại viên kính trí, hỏi Sư Phật có phải là buông bỏ tất cả tiến vào ánh sáng không? Đệ tử nghe xong, ngay tại chỗ không kìm nổi hét lên một tiếng “a”! Sư Phật! Thỉnh Sư Phật ở lại! Nội tâm đệ tử chấn động, lòng đau nhói! Thật may mắn là Sư Phật nhớ đến sức khỏe của Sư Mẫu mà ở lại. Đệ tử sâu sắc hiểu được Sư Phật vì sao không phải là nhớ các đệ tử mà lưu lại nhân gian. Tại đây đệ tử kiền thành cầu nguyện Sư Phật không bỏ chúng sinh, trường trụ thế gian, mãi chuyển pháp luân, thỉnh Phật trụ thế!

Cuối cùng một lần nữa chúc nguyện Sư Phật sinh nhật vui vẻ! Ngày ngày vui vẻ, miệng thường mỉm cười, trường thọ kiện khang, tự tại cát tường! Cũng thỉnh cầu Sư Phật gia trì cho đệ tử thân thể khỏe mạnh, nghiệp chướng tiêu trừ, tu hành tiến bộ thành tựu, thiền định thành tựu, tương ứng thành tựu, thúc đẩy sự nghiệp Giáo Dục Chân Phật không ngừng cất cánh bay lên, sự nghiệp chân đế bồ đề không ngừng tiến bộ, quảng truyền Chân Phật Mật Pháp, quảng độ vô lượng chúng sinh!

Kính thư,
Ngu đệ tử Liên Ha cúi lạy.
27.06.2023
Sao Paulo, Brazil.

(Lư Sư Tôn chú thích: cái gọi là “định trong định” là chỉ tâm không vướng ngại. Trong không chấp tà niệm, ngoài không chấp cảnh tướng, nhất tâm chuyên chú đi, đứng, ngồi, nằm. Là không chấp vào hình thức biểu hiện bên ngoài, thậm chí mặc áo, ăn cơm, đi ngủ, đi đường, đều là thiền định. Trọng điểm là “tâm không vướng ngại”.)


### 45. Thổ Đăng Kỳ Ân nói như vầy


Đệ tử cung thỉnh Sư Phật Thánh an!
Đệ tử đang dạy kim cang quyền, đồng thời giảng giải cho đồng môn chỗ thù thắng của pháp Liên Hoa Đồng Tử Thượng sư tương ứng, đồng môn nghe giảng cho rằng góc độ giảng giải mới mẻ, nội dung có tính khởi phát. Vì thế, đệ tử đem tâm đắc tu pháp này trình lên báo cáo với Sư Phật, mong rằng có thể lợi ích các thiện tín đệ tử khác, có thể khiến càng nhiều người được lợi.

Đệ tử xuất phát từ góc độ của Ngoại, Nội, Mật, Bí mật để giảng giải sự thù thắng của Liên Hoa Đồng Tử. Đầu tiên nói về Ngoại, Liên Sinh Sư Phật là tổng hợp của Tam hỗ chủ. Sư Phật bi mẫn tất cả chúng sinh hữu duyên, chúng sinh vô duyên, dùng bi tâm dẫn dắt từng bước, dùng từ tâm ban cho các phương tiện, vì thế, Sư Phật là sự hiển hiện của Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát. Sư Phật giảng kinh thuyết pháp mấy chục năm, giảng dạy rất nhiều giáo pháp Hiển-Mật, lại viết hơn 200 cuốn sách, trước tác cao bằng cả người, vì thế Sư Phật là sự hiển hiện của Đại Trí Văn Thù Bồ Tát. Sư Phật thị hiện các loại thần thông gia trì cho đệ tử, tiêu tai giải ách, thành tựu Bổn tôn, v.v… cho nên Sư Phật là sự hiển hiện của Đại Dũng Kim Cang Thủ Bồ Tát. Vì thế, tu tập Bổn tôn Liên Hoa Đồng Tử có thể đồng thời có được sự gia trì của Tam hỗ chủ.

Tiếp theo lại nói về Nội, truyền thừa hư không của Sư Phật là Đại Nhật Như Lai, Phật Nhãn Phật Mẫu, A Di Đà Phật, Liên Hoa Đồng Tử, Liên Sinh Hoạt Phật. Đại Nhật Như Lai là bộ chủ của Phật bộ trung ương, Phật Nhãn Phật Mẫu là Phật Mẫu của Đông phương A Súc Phật, biểu trưng cho Kim cang bộ, A Di Đà Phật là bộ chủ của Tây phương Liên hoa bộ. Đồng thời, mật hiệu của Sư Phật là Đại Phúc Kim Cang, Đại Phúc chính là điểm đặc trưng của Nam phương Bảo bộ. Lời thề không bỏ rơi một chúng sinh nào của Sư Phật, lời thề “bất không” của Sư Phật chính là điểm đặc trưng của Bắc phương Bất Không Thành Tựu Phật bộ. Cho nên, Liên Sinh Sư Phật có đầy đủ điểm đặc trưng của năm bộ Như Lai, tu pháp Bổn tôn Liên Hoa Đồng Tử đồng thời có thể có được sự gia trì của Ngũ Phương Phật.

Về Mật mà nói, tâm chú Liên Hoa Đồng Tử “Om guru liansheng siddhi hum”, trong đó chữ “Om” là tinh hoa của Trung ương Phật bộ, “guru” là tinh hoa của Nam phương bảo bộ, “liansheng” tức là liên hoa hóa sinh, là tinh hoa của Tây phương Liên hoa bộ, “siddhi” là thành tựu, cũng chính là tinh hoa của Bắc phương Yết ma bộ, “hum” là tinh hoa của Đông phương Kim cang bộ. Vì thế, niệm tâm chú Liên Hoa Đồng Tử chính là đồng thời đang niệm tinh hoa của ngũ bộ Như Lai, tại thế gian có thể có được thành tựu của tất cả sự nghiệp tức tăng hoài tru, tại xuất thế gian có thể thành tựu quả vị Phật vô thượng. 

Chúng ta biết mười tám đại Liên Hoa Đồng Tử đều là từ trong tâm Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử hóa sinh, cần quán tưởng mười tám đại Liên Hoa Đồng Tử tan nhập vào trong tâm của Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử lại từ đầu, hào quang mà Bạch Liên Hoa Đồng Tử hiển hiện là màu trắng của năm màu rực rỡ, hoặc có thể nói rằng vòng tròn hào quang bên trong mà Liên Hoa Đồng Tử tỏa ra là màu trắng, vòng tròn bên ngoài là năm màu rực rỡ. Vì thế nếu muốn tu sự nghiệp tiêu tai, khi trì chú có thể đặt trọng âm vào chữ “Om”, đồng thời quán tưởng chú luân màu trắng. Nếu muốn tu sự nghiệp tăng ích thì trọng âm trì chú đặt vào “guru”, quán tưởng chú luân màu vàng kim. Tương tự suy ra.

Cuối cùng nói về Bí mật, tam thế chư Phật cùng một Pháp thân, Sư Phật chính là sự thị hiện tổng hợp của thập phương tam thế tất cả Như Lai vào thời mạt pháp cứu độ chúng sinh Ta Bà, tất cả dòng chảy pháp đều thông qua Sư Phật tập hợp lại, rồi lại chuyền qua cho các đệ tử. Tu trì pháp Liên Hoa Đồng Tử Thượng sư tương ứng chính là tu trì pháp của thập phương tam thế tất cả Như Lai. Vì thế không có pháp nào thù thắng hơn pháp Liên Hoa Đồng Tử Thượng sư tương ứng.
Đệ tử Thổ Đăng Kỳ Ân.
Kiền thành đảnh lễ.
Trăm lạy từ xa.

**Nghi quỹ cúng dường hàng ngày đến Hộ pháp có lời thề với Chân Phật Tông**

Yêu cầu về cúng dường Hộ pháp:
1. Nghi quỹ cúng dường Hộ pháp không giống với pháp niệm tụng Bổn tôn, người muốn tu cúng dường Hộ pháp nên cầu Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật ban quán đảnh trước, sau đó hướng đến Sư Phật hoặc Thổ Đăng Kỳ Ân để xin khẩu truyền và truyền thụ “Văn cầu thỉnh Hộ pháp”. Quán đảnh, khẩu truyền và truyền thụ không thể thiếu một trong ba cái này. Căn cứ theo video trên mạng hoặc băng ghi âm không được xem là có được sự gia trì của khẩu truyền và truyền thụ, phải đến gặp mặt trực tiếp để tìm cầu. 
2. Nghi quỹ này tự thân và Liên Hoa Đồng Tử hợp nhất (tức là tự thành Bổn tôn Liên Hoa Đồng Tử), sau đó cúng dường Hộ pháp đối thân, vì thế, có được quán đảnh này không đồng nghĩa với có được quán đảnh pháp niệm tụng của Hộ pháp có thề ước, nếu muốn tu pháp Bổn tôn của Hộ pháp có thề ước thì vẫn phải cầu quán đảnh riêng.
3. Muốn tu cúng dường Hộ pháp, xuất gia chúng (Thượng sư, Hộ pháp, giáo thọ sư, v.v…) tại chùa, đường, hội dẫn dắt đồng tu cúng dường Hộ pháp, Thượng sư chủ pháp nên hoàn thành đủ 8.800.000 biến tâm chú Liên Hoa Đồng Tử (tức 8 triệu biến tâm chú cộng thêm 8 trăm nghìn biến để bổ khuyết), hơn nữa trong đó chí ít 2.200.000 biến phải hoàn thành theo phương thức bế quan. Tại gia chúng tự mình cúng Hộ pháp thì phải niệm đủ 2.200.000 biến tâm chú Liên Hoa Đồng Tử. Với người thông thường, nên niệm đủ số biến tâm chú Liên Hoa Đồng Tử xong mới cầu quán đảnh cúng dường Hộ pháp.
4. Muốn tu cúng dường Hộ pháp, nên sắp đặt dựa theo Thượng sư và Bổn tôn, lấy đàn thành mandala cát của Bổn tôn, tượng Phật, thangka vẽ tay đặt trên cao nhất, ảnh in hoặc hình tượng giả (ví dụ ipad) làm phương tiện.
5. Muốn tu cúng dường Hộ pháp, nên chuẩn bị đủ lượng cúng dường. Lấy chùa, đường đồng tu làm ví dụ, nên chuẩn bị năm phần cúng phẩm, cúng dường Liên Hoa Đồng Tử và bốn vị Hộ pháp có thề ước của tông phái, tức là vị Hộ pháp số một của tông phái Sư Diện Không Hành Mẫu, Hộ pháp giới luật Đại Lực Kim Cang, Hộ pháp thề ước Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát chiến uy kim cang, thần thủ hộ tư lương của người tu hành Hoàng Tài Thần.
6. Mỗi phần cúng phẩm nên sử dụng một chiếc đĩa có kích thước không nhỏ hơn 25cm, cúng phẩm nên bày đầy ắp đĩa, chiều cao của cúng phẩm không thể thấp hơn 6cm. Cần có các loại cúng phẩm sau đây: 1. Các loại thực phẩm như bánh ngọt, bánh ngọt, thanh ngũ cốc, v.v. 2. Đồ ngọt như chocolate, kẹo, v.v. 3. Các loại hạt như hạt điều, đậu phộng, v.v. 3. Các loại thịt nấu chín như thịt bò khô, v.v. Ngoài ra, trong mỗi một phần cúng phẩm phải có một ly rượu không dưới một trăm ml. 
7. Nếu tự mình ở nhà tu cúng Hộ pháp, cúng phẩm có thể căn cứ theo tình hình thực tế của mình mà tăng giảm, không cần câu nệ. Nếu hành giả ăn chay có thể không cúng rượu thịt, dùng trà đặc hoặc cà phê đặc thay cho rượu, dùng thức ăn dinh dưỡng khác thay cho thịt.
8. Cúng phẩm cúng Hộ pháp xong có thể chia cho mọi người, đồng thời đem ít nhất một phần tư cúng phẩm bố thí cho lục đạo chúng sinh. 

[Tại đây phần nghi quỹ cho Thổ Đăng Kỳ Ân viết ra được lược bỏ.]

Đệ tử Thổ Đăng Kỳ Ân nương nhờ uy thần của tam ân Căn bản Thượng sư, tam giới pháp chủ Liên Sinh Hoạt Phật, dựa theo nghi quỹ pháp niệm tụng của truyền thừa Sư Phật làm cơ sở, kết hợp với tinh hoa của cúng dường kiểu Tạng mật mà viết ra, để tiện cho các đệ tử của Sư Phật và truyền nhân kế tục có thể cúng dường Hộ pháp có thề ước một cách như pháp, các chùa, đường và hội đồng tu các nơi trên thế giới có thể dùng để tu Hộ pháp.

Nếu có một chút công đức nào cũng là nhờ vào sự gia trì của Liên Sinh Sư Phật, hồi hướng cầu nguyện Sư Phật Phật thể an khang, trường cửu trụ thế, cho đến khi thành Phật không xả ly. Nếu có bất kì sai lầm hoặc thiếu sót nào, thỉnh cầu Sư Phật từ bi chỉnh sửa, đệ tử thành tâm sám hối.

Tập kết vào ngày Không Hành Mẫu cát tường [tức ngày 25], tháng Sagadawa [tức tháng 4] năm Thỏ Nước [tức năm Quý Mão 2023] theo Tạng lịch.


### 46. Nói từ chuyện Long Nữ thành Phật


Kính chúc Sư Phật sinh nhật vui vẻ, kiện khang trường thọ, thỉnh Phật trụ thế, hằng chuyển pháp luân. Kính chúc Sư Mẫu khỏe mạnh vui vẻ.
Sư Tôn Sư Mẫu Thánh an!
Ngày 25 tháng 6 năm 2023, khi cùng Sư Phật dùng cơm đệ tử đã hỏi một câu: Mật giáo nói Phật tính bình đẳng, tức thân thành Phật, trong Đạo Quả của Hoa giáo, tổ sư Virupa nói: đỉnh kế mở ra, địa 12 rưỡi mới thành Phật. Thắc mắc của đệ tử là: nếu là như vậy, thân là thân nam mới có chuyện đỉnh kế đả thông, thân nữ thì không, dựa theo pháp môn này, thân nữ làm sao thành Phật? Lại hỏi: Nếu thân nữ không thể thành Phật, vậy Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Chuẩn Đề Phật Mẫu hiện tướng nữ là thế nào? Từng nói chuyển nữ thành nam mới có thể thành Phật, phải làm sao để chuyển nữ thành nam?
Thầy đáp: cái này rất đơn giản. Bồ Tát là Phật hóa hiện. Phật không có tướng nam nữ, Quan Thế Âm Bồ Tát thật ra là thân nam, Quan Thế Âm Bồ Tát cũng có hiện tướng nam, vì thị hiện từ bi cho nên hiện tướng nữ. Sau cùng Sư Phật còn dặn dò đệ tử đi đọc câu chuyện Long Nữ thành Phật chính là như vậy.

Khi ấy đệ tử vẫn chưa thể hiểu rõ vấn đề này, buổi chiều sau pháp hội Trường Thọ Phật, Sư Phật tiếp tục giải thích Kinh Duy Ma Cật, phẩm thứ ba “Đệ Tử”, trong kinh nói đến Phật bảo Đại Mục Kiền Liên đi thăm bệnh Duy Ma Cật một chuyến, Sư Phật đã cực kì tỉ mỉ đi sâu vào phân tích bản chất liên quan đến pháp mà Duy Ma Cật nói, quả thực là thâm sâu ảo diệu vô cùng, càng không dễ giảng giải. Nhưng Sư Phật không hề ngại khó khăn mà giải thích và gia trì, đệ tử càng nghe càng theo bài giảng của Sư Phật, dần dần tiêu trừ tất cả chấp pháp, tâm ý rộng mở. Khi ấy cảm thấy vấn đề được hỏi trong lúc ăn trưa căn bản không thành vấn đề. Tất cả pháp môn đều là hướng đến giải thoát phiền não chướng ngại mà lập ra. Vì thế trong quá trình tu hành, bất kể pháp thế gian hoặc pháp xuất thế gian, cuối cùng đều dựa vào thành tựu chí cao thượng thừa nhất mà chế định ra. Khi càng thâm nhập vào địa cao thì phải tu không gì khác ngoài tự tính, còn nếu như chấp pháp nhất vị, thì giống như trên đầu đặt một cái đầu, trên sừng đặt một cái sừng, cuối cùng là chấp pháp không ngộ, trái lại còn đọa vào ngu si. Vì có sự cảnh giác này, tu hành vốn có pháp điển có thể làm theo, nhưng vì chúng sinh nhiều đời nhiều kiếp vì lục căn lục trần lục thức trói buộc, thâm căn cố đế, muốn tu đến khi tâm có thể chuyển cảnh, không bị ngoại cảnh sắc thanh hương vị xúc pháp, mắt tai mũi lưỡi thân ý trói buộc thì phải thường trụ trong đệ nhất nghĩa đế, thật sự là công phu lớn. Sai một ly đi một dặm, hơi không để ý là đọa vào mê cảnh.

Thông qua lần hỏi này, trong lòng đệ tử đọng lại một câu nói của Sư Phật “chuyển nữ thành nam rất đơn giản”. Thế là bản thân không ngừng nghiêm túc tìm hiểu đáp án.
Ngày hôm sau (ngày 26), sáng sớm, trời còn chưa sáng, dường như ngộ ra, đệ tử một lần nữa thử nhập vào thiền định tâm không pháp không, không biết bao lâu, không ngờ bầu trời đêm phía trên đầu mình đột nhiên có một cảnh tượng rực rỡ như một que pháo hoa nhỏ được thắp sáng trong ngày lễ hội, lặng lẽ lóe lên và nổ tung với những chấm sao. Nhìn thấy như thế thì tâm động, trong lòng rất cảm động. Đến đây lại một lần nữa lĩnh ngộ được nội tu thật không dễ, nếu không có minh sư đại thành tựu luôn luôn ở bên cạnh chỉ bảo gia trì thì khó mà đột phá tiến về phía trước được nửa bước.

Sáng sớm ngày 27, đệ tử tiếp tục có một giấc mơ cát tường, mơ thấy đệ tử tay cầm bó hoa tươi, hai tay đưa lên cúng dường Sư Phật. Kỳ lạ là, trong chớp mắt, những bông hoa màu vàng, màu đỏ được gói trong lớp giấy gói màu hồng nhạt trước mặt đệ tử trở nên to hơn, sáng hơn và đẹp hơn, chúng được trả lại cho đệ tử, nhìn thấy vậy thì vừa kinh ngạc vừa vui mừng.

Rồi đệ tử nhớ lại lời dạy của Sư Phật ngày hôm kia, tìm Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, trong phẩm “Đề Bà Đạt Đa”, điển cố liên quan đến Long Nữ 8 tuổi tức thân thành Phật: “Long Nữ chính là con gái của Sa Kiệt La Long Vương, tuổi vừa lên 8, trí tuệ sắc bén, các bí tạng mà chư Phật thuyết đều có thể thọ trì, trong sát-na đã phát tâm bồ đề, đắc quả vị bất thối chuyển. Lại đem một viên bảo châu dâng lên Phật, với công đức nguyện lực này mà đột ngột chuyển từ nữ thành nam, đầy đủ hạnh Bồ Tát. Trong sát-na lập tức trú trong Nam phương Vô Cấu thế giới, ngồi trên hoa sen báu, thành bậc Chính Đẳng Giác.” Câu chuyện này cho đệ tử ba gợi ý, thứ nhất, Long Nữ nhanh chóng có được trí huệ gốc, phát tâm bồ đề, đắc quả vị bất thối chuyển. Đệ tử chú ý đến đem ngọc rồng quý giá nhất mà mình có dâng lên Phật Đà, vì thế mà chuyển từ nữ thành nam rồi thành Phật. Đệ tử ngộ ra rằng, một người tu hành phát tâm chí thành, ngày này qua tháng khác cần cù tu pháp phát bồ đề tâm mới đắc được quả vị bất thối chuyển. Và do Long Nữ tặng bảo châu, chuyển thân nữ thành nam, và gợi ý từ việc chính đệ tử ở trong mơ tặng hoa được hoa, mà ngộ được rằng mỗi khi hành giả dâng tặng cho Phật một vật gì, bất kể là lớn hay nhỏ đều cần nhất tâm, tất nhiên công đức lớn gấp mười lần trăm lần nghìn lần đều được trả lại lên chính thiện nam thiện nữ đó. Đệ tử càng lĩnh ngộ được một tầng sâu hơn là cúng Phật tức là cúng tự tính, Phật tính.

Thứ hai, trong câu chuyện Long Nữ thành Phật, có Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Trí Tích Bồ Tát, Xá Lợi Phất. Trong đó, Trí Tích Bồ Tát không đồng ý với Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát tôn sùng tán dương Long Nữ thành tựu lớn, trong lòng Xá Lợi Phất càng có quan niệm nam nữ bất bình đẳng, được Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát giải thích thêm: “Phật tính bình đẳng, bất kể nam nữ. Phật Đà nói, chúng sinh trên mặt đất đều có đức tướng trí huệ của Như Lai…” ban cho chúng sinh, nam nữ bình đẳng quán, người người tinh tấn, tu Phật tu pháp tu tâm, người người thành Phật.

Thứ ba, điều khiến đệ tử càng sực tỉnh ngộ là từ chuyện Long Nữ ngồi trên hoa sen báu thành bậc Chính Đẳng Giác, trú tại Nam phương Vô Cấu thế giới, quả thật đã tìm được đáp án mà Sư Phật muốn chỉ ra: chính là nằm ở hai chữ “vô cấu” trong Vô Cấu thế giới của Long Nữ. Bởi vì Sư Phật từng nhiều lần nói với các đệ tử rằng, người tu Duy thức phải tu đến Vô cấu thức cao nhất mới chứng được Phật thức thanh tịnh nhất. Cho nên, bất luận là thân nam thân nữ, chỉ cần có thể giống như Long Nữ, tuy tuổi nhỏ nhưng vẫn có thể tu đến vô cấu, tức là chuyển thức thành trí, khiến ngũ uẩn bát thức thanh tịnh vô cấu, chứng Chính Đẳng Chính Giác.

Đệ tử tình cờ phát hiện ra Long Nữ thị hiện quá trình kỳ dị trong sát-na chuyển nữ thành nam, chứng Chính Đẳng Giác thành Phật có phải là không ăn khớp với đại pháp hóa cầu vồng của Mật giáo Đại viên mãn, liên quan đến giáo pháp Ati yoga trong sát-na thành tựu Phật quả không?
Thầy nói: Trekcho — dừng dứt (tức định). Togal — đốn siêu (tức huệ). Thành tựu vô thượng Chính Đẳng Chính Giác. Còn nói: Bình đẳng tính trí, Đại viên kính trí là quan trọng nhất trong năm trí. (Lục Tổ cũng nói: “Đại viên kính trí tính thanh tịnh, Bình đẳng tính trí tâm vô bệnh.”) Xưa nay những người đã chứng đủ mà thành Phật thành Thánh đều giống nhau, khác ở chỗ nhanh hay chậm còn thành tựu thì không khác biệt.

Đến đây đệ tử càng hiểu được cảnh giới của Sư Phật từ lâu đã siêu phàm nhập Thánh, ngồi ngay ngắn trên bảo tọa kim cương, như như bất động, đối mặt với bất cứ khó khăn nan giải kỳ dị nào của chúng sinh cũng vẫn luôn luôn trực chỉ nhân tâm, tận tình khuyên bảo chỉ dẫn đệ tử giáo pháp Đại viên mãn lìa tướng, vô vi, vô trụ, vô đắc, không rời xa tự tính chân như thanh tịnh. Đúng như kinh nói: “Khéo phân biệt các pháp tướng, tại đệ nhất nghĩa mà không động.” Lục Tổ nói: “Ở tại tướng mà lìa tướng, ở tại không mà lìa không, tức là nội ngoại không mê.” “Chỉ có thân tâm ta là không khác Phật.” Tất cả đều phù hợp với lời dạy của Sư Phật: “Tự tính thanh tịnh, viên dung vô ngại.” 

Nhớ lại đệ tử từng không biết tự lượng sức mình, khi mới quy y học Phật chưa được bao lâu đã giảng kinh điển khai ngộ Kim Cang Kinh, sau đó còn mạo muội giảng Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh, cùng lắm chỉ là dựa theo sách vở mà nói, giống như những pháp sư thông thường chỉ làm công phu tỉa tót câu chữ bề ngoài. Thật may, theo thầy học Phật hơn 30 năm nay, dưới sự dạy dỗ, gia trì và bồi dưỡng của Sư Phật, những năm gần đây may mắn được nghe Sư Phật giảng Kim Cang Kinh và Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh, mới sâu sắc cảm thấy hổ thẹn, đệ tử đã muôn phần vô tri mà múa rìu qua mắt thợ. Không kìm được từ trong thâm tâm ca tụng Sư Phật trí huệ như biển, giảng giải thấu đáo sâu sắc, lời nói sắc bén làm cho kinh điển phức tạp khó hiểu trở nên đơn giản, khiến người tỉnh ngộ, mở ra chính trí của con người, giống như Phật Đà, Duy Ma Cật tái thế, là con người số một trong đời nay.

Mỗi khi đệ tử nghe Sư Phật giảng kinh, bất kể là kinh văn có khô khan vô vị đến đâu, khiến người ta nhạt nhẽo buồn ngủ đến đâu, thì sự giải thích tài tình của Sư Phật đều có thể khiến các đệ tử giống như vén mây nhìn thấy mặt trời, tâm khai ý giải. Tựa như kinh Phật tái hiện: “Tất cả Thanh Văn Duyên Giác, tứ chúng đệ tử, trời người atula, nghe điều Phật nói đều phát tâm A nậu đa la tam miểu tam bồ đề, đều đại hoan hỷ, tín thọ phụng hành.”

Cuối cùng, đệ tử không kìm được muốn kiền thành cầu chúc Sư Phật: 
Sinh nhật của thầy chính là sinh nhật của các đệ tử, nếu không có thầy, hiển nhiên không có đệ tử.
Bởi vì không có sự ra đời của thầy và chuyển pháp luân thì sẽ không có sự khai ngộ giải thoát của các đệ tử. 
Thầy tuyệt đối có thể nói là đại đạo sư đương đại của trời người. Là người cha đại từ bi của chúng sinh!
Các đệ tử vĩnh viễn kính yêu thầy! Vĩnh viễn cảm ơn thầy! Mong thầy khỏe mạnh trụ thế cửu cửu cửu, thuyết pháp độ chúng cửu cửu cửu!

Đệ tử Liên Từ ở Vancouver Canada đảnh lễ tạ ơn.
02.07.2023.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) viết một bài thơ ca ngợi Long Nữ. 

*Các pháp từ duyên khởi,
Nam nữ đều tuyên dương.
Nếu như khởi Phật tính,
Đều hiển lộ đường đường.
Long Nữ nhập tịch diệt,
Cũng là Đại Giác Vương.
Lành thay! Lành thay! Long Nữ thành Phật, mười phương tán dương.*

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/298-su-he-lo-cua-nhung-giac-mo.md
# Title: 298. Sự hé lộ của những giấc mơ
---

![image](/img/img_248d69f7e3ad9a126bcdee258e86f5fe.jpg)



## Sự hé lộ của những giấc mơ


🪷 Tâm quang minh thuyết pháp

Văn tập: 298
Xuất bản: 02/2024
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


Có một đệ tử tên là Viên Anh từ nước khác đến Mỹ (Seattle). 
Anh ấy nói:
”Con mơ thấy Lư Sư Tôn!”
Tôi nói:
”Thầy cũng mơ thấy anh!”
Anh ấy nói với tôi:
”Mơ là đi vào trong một khu rừng rộng lớn thì lạc đường, đi tới đi lui, quay vòng vòng thế nào cũng không thể ra khỏi khu rừng. Lúc này trong lòng vô cùng sợ hãi, nghĩ là lần này toi rồi, chết đến nơi rồi. Trời tối dần, gió cũng mạnh hơn.”
Tôi hỏi:
”Có phải là anh gặp được Lư Sư Tôn không?”
Anh ấy đáp:
”Đúng thế.”
Tôi hỏi: 
”Có phải là anh nhìn thấy một chấm sáng, anh đi theo chấm sáng đó, nhìn thấy một cái đình hình bát giác, và Lư Sư Tôn ngồi ở trong đình bát giác đó đợi anh phải không?”
Anh ấy đáp:
”Đúng thế. Sư Tôn, sao thầy biết được? Giấc mơ của con đúng là như vậy!”
Tôi tiếp tục nói:
”Thầy nắm chặt lấy tay anh, sau đó bay vọt lên hư không, đưa anh bay trong hư không.”
Anh ấy kinh ngạc nói:
”Đúng là như thế, chính là như thế.”
Tôi nói với anh:
”Ở trong mơ thầy nắm lấy tay anh, hơn nữa cả hai cùng bay trong hư không, không chỉ là bay phía trên khu rừng rộng lớn mà còn bay đến cõi trời bên ngoài cõi trời, đến thiên hà có nở đầy hoa sen…”
Anh ấy rất sửng sốt:
”Giấc mơ của con đúng là như vậy, Lư Sư Tôn! Giấc mơ của thầy và giấc mơ của đệ tử hoàn toàn giống nhau.”
Ở trong mơ đệ tử hỏi:
”Lư Sư Tôn! Thầy là Liên Hoa Đồng Tử, thế còn đệ tử là ai?”
Tôi đáp:
”Anh cũng là Liên Hoa Đồng Tử!”

🌟

Giấc mơ này hé lộ cho tôi thấy là:
Liên Hoa Đồng Tử là mơ. (Chúng sinh đều là Liên Hoa Đồng Tử.)
Tôi mơ thấy anh ấy.
Anh ấy mơ thấy tôi.
Từ đây mà biết được rằng:
Liên Hoa Đồng Tử và chúng sinh bình đẳng không khác. (Phật và chúng sinh bình đẳng.)
Tất cả pháp là như vậy. (Chúng sinh đều có Phật tính.)
Tất cả chúng sinh là như vậy. 
Tôi đã hiểu: “Đây là pháp môn của ngọn đèn vô tận.”
Tôi càng hiểu rằng: “Lời nguyện của tôi là không bỏ rơi một chúng sinh nào.”

🌟

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người:
Giấc mơ của đệ tử này và giấc mơ của Lư Sư Tôn tôi hoàn toàn giống nhau.
Là gắn liền với nhau, nửa đoạn trước và nửa đoạn sau nối liền với nhau.
Nói là lạ thì cũng rất lạ, nói là không lạ thì cũng không lạ.
Vì sao?
Các bạn không thấy rằng cuộc đời này của Lư Sư Tôn đều là mộng huyễn sao?
Thật sự quá đủ mộng huyễn rồi!

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn**
Sheng-Yen Lu
17102 NE 40th CT
REDMOND WA 98052
USA
Tháng 08/2023


### 01. Di Tú hát ca


Thiên phú của Di Tú là ca hát. 
Cô ấy tự nói: “Là kế thừa từ bố tôi, bố tôi biết hát, bản thân tôi cũng biết hát.”
Khi đi học. 
Có người đi săn tìm ngôi sao phát hiện ra cô ấy biết hát bèn đưa cô ấy lên sân khấu hát. 
Nhưng,
Bố cô không cho phép.
Bố cô nói: “Giang hồ hiểm ác.”
Ngày 13 tháng 8 năm 2023, sư tỉ Di Tú đưa ba đứa con trở về Đài Loan. (Chồng của Di Tú là Vương Tư Chủ một mình ở lại Seattle.)
Trước đó, 
Khi còn ở Seattle, sau bữa tối, cô ấy lại hát ba bài hát cho Lư Sư Tôn và các đệ tử nghe.
Hát từ thứ hai cho đến thứ sáu. (cúng dường tiếng hát)
Tai chúng tôi được hưởng “no nê”. 
Cô ấy hát:
*Thời gian điềm đạm, nhưng, cũng cần gắng sức.
Thời gian đẹp đẽ, nhưng, cũng lắng trong.
Thời gian mơ hồ, nhưng, thế gian chẳng mơ hồ.
Thời gian như hoa, nhưng, hoa không như thời gian.*

Có khi thì: 
Hoàng hôn mưa xuống vườn xơ xác, giọt giọt lộp độp trái chuối tây.
Có khi thì:
Rồng bay phượng múa đụng ngọc vỡ, tựa như thân ở chín tầng mây. 
Có khi thì:
Tương Vương bước xuống nước lững lờ, một nỗi tương tư hai nỗi sầu.
Chà!
Thật là đẹp đẽ!
*Xuân đến nở bung đào hạnh liễu
Nghìn bông vạn đóa ngát hương thơm
Hạ đến sen nở như lụa gấm
Sen hồng sen trắng đọ mùi hương.*

🌟

Sư tỉ Di Tú nói:
”Chúng tôi phải về Đài Loan rồi!”
Tôi nói:
”Vậy thì chỉ có thể ở trong mơ nghe cô hát rồi!”
Tôi chắp tay cảm ơn cô ấy.
Không ngờ là:
Ngay buổi tối hôm sư tỉ Di Tú rời khỏi Seattle, tôi (Lư Sư Tôn) đã có một giấc mơ. Trong mơ, Diệu Âm Thiên Nữ hiện thân vô cùng xinh đẹp, tay trái ngài cầm đàn tì bà, tay phải gảy tì bà. 
Diệu Âm Thiên Nữ vốn là Nữ Thần Sông Hằng, về sau cũng là Nữ Thần Tuyết Sơn, từng chuyển thế thành:
Yeshe Tsogyal.
Machig Labdron.
(Diệu Âm Thiên Nữ có hai tướng tay, bốn tay, tám tay. Ngài có rất nhiều tên gọi như Diệu Âm Thiên Nữ, Diệu Nhạc Thiên Nữ, Mỹ Âm Thiên Nữ, Biện Tài Thiên Nữ, v.v…)
Càng kỳ lạ hơn là, khuôn mặt của Diệu Âm Thiên Nữ từ từ biến thành khuôn mặt của sư tỉ Di Tú. 
Sư tỉ Di Tú ở trong mơ hát cho tôi nghe.
Sau khi tỉnh dậy, tôi tự mình nhận định:
Diệu Âm Thiên Nữ là bản địa của sư tỉ Di Tú, vậy Bổn tôn của cô ấy chính là Diệu Âm Thiên.
Tôi cần truyền thụ pháp của Diệu Âm Thiên Nữ cho cô ấy.
Quán tưởng Diệu Âm Thiên.
Kết thủ ấn Diệu Âm Thiên, tay trái cầm đàn tì bà, tay phải ngón trỏ và ngón cái chạm vào thành vòng tròn, ba ngón còn lại giơ thẳng.
Chú là:
”Ôm pê-cha sa-ra-sa-ti sua-pô-ti sô-ha.”
Đây là pháp đẹp đẽ nhất.
Hát ca cũng là Phật pháp đó!


### 02. Trong mơ gia trì phẫu thuật


Pháp thân của tôi (Lư Sư Tôn) tồn tại khắp nơi.
Ở trong mơ, tôi cũng nghe thấy có người cầu nguyện tôi gia trì, đệ tử này là Liên Hoa Bích Phương.
Trong thư cô viết:
*Mắt đã phẫu thuật xong rồi, bởi vì đến buổi trưa mới biết là có phòng bệnh, yêu cầu tôi đi báo danh, bốn rưỡi chiều thì mổ.
Căn bản là không kịp thông báo với Sư Tôn.
Thế là chỉ còn cách thầm cầu nguyện Lư Sư Tôn gia trì cho tất cả bình an. 
Khi thay bộ quần áo để phẫu thuật, khi nhỏ thuốc mắt để làm giãn đồng tử, tôi rất căng thẳng, rất hồi hộp. (Chỉ biết liên tục trì tâm chú Thượng sư.)
Khi lên bàn mổ để khử trùng, một lần nữa tôi quá căng thẳng (nhãn áp tăng lên), mí mắt căng lên không thể nào thả lỏng, bảo tôi mở mắt thì tôi rất sợ, nhất là bác sĩ khi làm động tác gì đều nói cho tôi biết, vừa nghe nói là sắp bắt đầu, tôi thật sự chỉ muốn chạy trốn. 
Đột nhiên tôi nhìn thấy Kim Cang Tát Đỏa màu trắng.
Tiếp đó tôi nhìn thấy Dược Sư Phật toàn thân màu lam ở phía trên phòng phẫu thuật của tôi.
Dược Sư Phật nói: 
”Đừng căng thẳng! Nhìn ta là được.”
Thế là miệng tôi trì chú, mắt nhìn Dược Sư Phật, cuộc phẫu thuật tiến hành.
Khi phẫu thuật kết thúc phải đặt miếng thủy tinh, bác sĩ nói đây là thời khắc rất quan trọng, yêu cầu tôi nhất định phải thả lỏng, bác sĩ cũng hy vọng có thể gắn chặt mà không cần phải khâu. (Kết quả là cực kì viên mãn thành công, không cần khâu.)
Từ bàn phẫu thuật bước xuống, tôi nhìn thấy Quan Thế Âm Bồ Tát đứng bên cạnh mình, lúc ấy tôi thật sự rất muốn khóc.
…………….
Tôi thật sự cảm ơn Sư Tôn, cảm ơn lực gia trì của Phật Bồ Tát!*

Liên Hoa Bích Phương này có chồng là Liên Hoa Xương Thụy, ông ấy là tổ trưởng tổ cảnh sát hình sự đã nghỉ hưu. 
Hai người thích làm việc thiện.
Họ đã nhận nuôi rất nhiều trẻ mồ côi, nuôi dưỡng chúng thành người. Hành động làm thiện bố thí này cực kì hiếm gặp.
Những trẻ mồ côi này nhìn thấy tôi đều gọi tôi: “Ông nội Sư Tôn!”
Mỗi lần tôi trở về Đài Loan, Liên Hoa Bích Phương sẽ lo hết đồ dùng ăn mặc ở đi lại của chúng tôi.
Ví dụ:
Bình đựng nước.
Vật dụng nhỏ như dao cạo râu bằng điện của tôi.
Nơi ở của thị giả.
…………….
Cô ấy và chồng đều là đệ tử rất tốt.

🌟

Lần này Liên Hoa Bích Phương phẫu thuật, cô ấy chỉ cầu nguyện thầm trong tâm, tự nhiên có tương ứng.
Nhìn thấy Kim Cang Tát Đỏa, Pháp Vương Tử của Ngũ Phật của Mật giáo.
Nhìn thấy Dược Sư Phật, loại trừ bệnh tật.
Nhìn thấy Quan Thế Âm Bồ Tát, nghìn nơi cầu nguyện nghìn nơi hiện.
Ba vị này là đại Phật đại Bồ Tát, cuộc phẫu thuật của cô ấy tự nhiên sẽ bình an cát tường.
Lư Sư Tôn nói:
”Người có thành tâm, Phật có cảm ứng.”
Chỉ cần trong tâm thầm cầu nguyện là được, không nhất định phải ở tại đàn thành, không nhất định phải ở trong chùa, mọi lúc mọi nơi, cầu nguyện thầm trong lòng là được.
Cũng không nhất định phải để cho Lư Sư Tôn biết. Đây là:
*Bao nhiêu năm tháng làm việc thiện
Tin tưởng thầy Lư không dối lòng
Pháp thân tựa như trăng trên trời
Không để bệnh tật xâm phạm đến.*


### 03. Trì chú trong mơ đẩy lùi tà ma


Tôi (Lư Sư Tôn) thường khuyên người:
Tôi khuyên người thế gian, đừng dối gạt tâm mình,
Dối tâm là dối trời, đạo nhân đều biết hết,
Trời chỉ ở trên đầu, rõ rệt chẳng thể lừa.
Tôi viết cái này, không chỉ là hữu hình, mà cũng có vô hình.

Tôi có một đệ tử tên là Song Liên.
Dung mạo xinh đẹp.
Vóc dáng uyển chuyển.
Tính cách lanh lợi.
Eo thon như liễu.
Cô ấy nói với tôi:
”Nơi con ở hình như không sạch sẽ lắm, thường có ma nam đến xâm phạm.”
Tôi hỏi:
”Mấy lần?”
Cô ấy đáp:
”Nhiều lần.”
Cô ấy nói:
”Thật may trong mơ con đều có thể trì chú, con trì tâm chú Thượng sư và trì chú Đại Lực Kim Cang, những tà ma đó sẽ biến mất.”
Tôi nói:
”Rất tốt. Cô có thể ở trong mơ trì chú, đẩy lùi tà ma, việc này không hề đơn giản.”
Tôi lại nói với Song Liên:
Thường ngày chí nguyện luôn tiết hạnh
Một chút chân tâm hướng về trời
Trong mơ trì chú xua tà quỷ
Hiển hiện quang minh được tiếng thơm.

Người tu Mật giáo chúng ta, Căn bản Thượng sư, Căn bản Bổn tôn, Căn bản Hộ pháp chính là tam căn bản.
Phải luôn luôn nhớ kĩ trong tâm.
Đặc biệt là chú Thượng sư, chú Bổn tôn, chú Hộ pháp.

Tôi (Lư Sư Tôn) lại nói:
Trong mơ có thể trì chú.
Trong mơ có thể niệm Phật.
Trong mơ có thể tu pháp.
Đây đều cực kì đáng quý, cực kì thù thắng, cực kì tuyệt vời, cực kì hiếm có.
Con người thế tục nằm mơ quá nhiều, quá loạn. Và căn bản cũng không biết là mơ, vì thế mà lung tung lộn xộn.
Tôi nói với mọi người:
Ban ngày thầm yêu cô gái đẹp
Tinh thần huyết mạch thầm tiêu hao
Đêm đến âm ma đến gần gũi
Di tinh rò rỉ đục nhơ nhơ.

Còn nữa:
Khi ấy hận rằng hoan lạc ít
Tỉnh rồi nhận ra bệnh tật nhiều
Núi ngọc tự đổ chẳng tại người
Luôn là mộng xuân phải làm sao?

Tôi nói với mọi người:
Tu hành Mật giáo có pháp miên quang, có pháp mộng quán. 
Pháp miên quang là ngủ trong kết giới bằng ánh sáng.
Tu hành mộng quán phải:
Tri mộng — biết là mình đang nằm mơ.
Minh mộng — hiểu rõ mộng cảnh là thiện hay ác, là lành hay dữ.
Chuyển mộng — chuyển ác thành thiện, chuyển dữ thành lành.
Tu mộng — trong mộng cũng có thể tu hành.
Người bình thường ban ngày có thể tự kiểm soát, ban đêm không cách nào tự kiểm soát được. Nhưng, hành giả Mật giáo ban ngày có thể tự kiểm soát, ban đêm cũng có thể tự kiểm soát, đây đều dựa vào công lực tu hành.
Muốn tu pháp miên quang hoặc pháp mộng quán, có thể thỉnh giáo tôi (Lư Sư Tôn). 
Lành thay! Lành thay!


### 04. Gậy kim cang trừ tà và những chuyện khác


Giấc mơ của Liên Hoa Bảo Dĩnh:
Sau sự việc Quỷ Bà nuôi quỷ lộ ra.
Đệ tử mơ thấy quỷ đến hại mình. 
Sau khi tu pháp Đại Lực Kim Cang cấm quỷ, Lư Sư Tôn tiến vào trong mơ cảnh cáo lũ quỷ không được quấy nhiễu đệ tử.
Đại Lực Kim Cang cũng tiến vào trong mơ ban cho đệ tử gậy kim cang, đánh cho lũ quỷ kêu oai oái.
Lũ quỷ không dám đến xâm phạm nữa!

Tôi (Lư Sư Tôn) viết bài thơ sau:
*Vạn sự theo trời đừng cưỡng ép, ông trời báo ứng tự phân minh,
Dung túng nuôi quỷ là tà pháp, bội chủ lừa tiền là bất nhân.
Không hiểu chết rồi người làm quỷ, vốn do thế bại quỷ làm người
Than ôi tu hành không tu chính, biến thành hiểm độc sống một đời.*
Đây là tôi khuyên Quỷ Bà.

Còn nữa:
Liên Hoa Bảo Dĩnh mơ thấy sư công Thubten Dhargye nhập mộng.
Nói:
”Cô đi hỏi Lư Sư Tôn xem ta là ai?”
Trong mơ đệ tử đảnh lễ sư công.
Đệ tử không biết sư công là ai, bởi vì đệ tử mới quy y chưa lâu. 
Lư Sư Tôn nói:
Thubten Dhargye là Tịch Hộ.
Lư Sư Tôn là Tạng Vương.
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là tổ sư Mật giáo.
Ba người cùng xây chùa Samye.
Ha ha ha!

Bây giờ tôi (Lư Sư Tôn) hỏi ngược lại đệ tử:
”Liên Hoa Bảo Dĩnh là ai?”
Nghĩ ra không?
Tôi (Lư Sư Tôn) vì sao liên tục đến trong giấc mơ của cô, nói với cô rất nhiều cơ mật.
Có biết không?
Còn nữa:
Liên Hoa Bảo Dĩnh mơ thấy:
Có một nhóm các đệ tử xếp hàng luân phiên cúng dường Lư Sư Tôn, người rất đông nhưng xếp hàng rất trật tự ngay ngắn.
Liên Hoa Bảo Dĩnh mở túi của mình ra, bên trong chỉ có một gói bánh đậu xanh. 
Trong lòng rất xấu hổ.
Cúng dường thế này thì ít quá!
Hổ thẹn cúi đầu, đệ tử dâng lên bánh đậu xanh, nước mắt cứ thế tuôn rơi. 
Liên Hoa Bảo Dĩnh nói:
”Xin lỗi, cúng dường của con rất nhỏ, chỉ có bánh đậu xanh!”
Lư Sư Tôn mỉm cười, cầm bánh đậu xanh lên, tay kia thì sờ đầu (sờ đầu đệ tử), nói với đệ tử:
”Cô phải trở về bên cạnh tôi, rồi phải tu pháp bách tự minh, Lục Liên Hoa Đồng Tử của tôi.”
Lúc này đệ tử tỉnh dậy, mặt đẫm nước mắt.
(Lư Sư Tôn chú thích: mộng cảnh ngắn này đã nói rõ Liên Hoa Bảo Dĩnh là ai.)

Còn nữa:
Liên Hoa Bảo Dĩnh mơ thấy:
Lư Sư Tôn nhập mộng, gọi đệ tử: 
”Hồ Phi!”
Ở trong mơ, đệ tử mở to mắt, nhìn thấy trước mặt có một tấm màn ánh sáng, trên tấm màn ánh sáng có rất nhiều chữ, các chữ đều đang phát sáng.
Đệ tử đọc những chữ phát sáng đó.
Lư Sư Tôn nói:
”Vị này là Đại Nhật Như Lai!”
”Vị này là Minh Phi của Đại Nhật Như Lai!”
”Vị này là quyến thuộc của Đại Nhật Như Lai!”
Thế là tỉnh mộng.
(Lư Sư Tôn chú thích: Hồ Phi là ai? Minh Phi quyến thuộc của Đại Nhật Như Lai là ai? Tự cô nghĩ xem!)


### 05. Thượng sư Liên Ngạn nói Pháp thân và mộng


Sư Tôn vô thượng từ bi tôn quý!
Ngu đệ tử Liên Ngạn sám hối với Sư Tôn. Chủ nhật tuần trước Sư Tôn hỏi đệ tử có muốn nói một chút về Pháp thân của Sư Tôn không, khi ấy đệ tử trả lời Sư Tôn rằng: Pháp thân của Sư Tôn có ở khắp mọi nơi, thật ra trong lòng đệ tử tràn đầy hổ thẹn, rất xin lỗi Sư Tôn, Chân Phật Mật Pháp mà Sư Tôn dạy là thù thắng nhất, nhưng đệ tử ngu dốt, đến bây giờ vẫn chưa tu được chứng lượng, nhưng Pháp thân của Sư Tôn đích thực là có ở khắp mọi nơi, trong thư này đệ tử lấy ra vài ví dụ, hy vọng có thể khiến người khác sinh tâm tịnh tín.

Đệ tử tin rằng mỗi một đệ tử Chân Phật kiền thành cho dù chưa có cơ hội gặp trực tiếp Sư Tôn, nhưng khẳng định đều từng mơ thấy Sư Tôn, hơn nữa mỗi khi gặp chuyện đều cầu nguyện Sư Tôn, khẳng định rằng cũng sẽ có được sự sắp xếp tốt đẹp hoặc phương pháp giải quyết tốt nhất. 

Đệ tử ở Panama, vào quãng thời gian 1996-1997 đã quy y Sư Tôn, sau khi quy y được hơn một năm, cảm thấy mình không đủ tinh tấn, tín tâm đối với Sư Tôn không đủ, vì thế đã hướng về hư không sám hối với Sư Tôn, sau đó tự mình đặc biệt lập đàn, vào ngày mồng 1 Âm lịch năm 1998, đệ tử đã quay mặt về hướng Đông quy y Sư Tôn lại từ đầu. Ngày hôm đó trời xanh vạn dặm không mây, bảy giờ sáng đã xuất hiện mặt trời rồi, không có bất kì hiện tượng nào về trời mưa, nhưng khi đệ tử niệm chú Tứ quy y thì có nước cam lộ vô cùng mát mẻ rơi trên người đệ tử. Đệ tử đặc biệt ngẩng đầu lên nhìn trời, thật sự không phải là mưa, mà chỉ có vài giọt nước cam lộ rơi trên thân mình mà thôi. Khi ấy đệ tử vui mừng khôn xiết, Sư Tôn thật sự đã đến quán đảnh quy y cho đệ tử rồi, hơn nữa còn tiếp nhận sám hối của đệ tử. Kể từ sau lần quy y lại và sám hối đó, đệ tử đã sản sinh tín tâm vô cùng kiên cố đối với Sư Tôn, cảm ơn Sư Tôn đại gia trì!

Khi ở Panama, bởi vì không dễ lấy được visa Mỹ, đã quy y Sư Tôn 10 năm mà vẫn không gặp được Sư Tôn, nhưng đệ tử có thể thường xuyên mơ thấy Sư Tôn, cảm ơn Sư Tôn từ bi không rời bỏ. Nhớ một lần ấn tượng sâu sắc nhất là có một sự việc khiến đệ tử rất đau lòng, đệ tử cứ khóc mãi cho đến khi ngủ thiếp đi, Sư Tôn đến trong mơ gia trì cho đệ tử, nhẹ nhàng cầm tay đệ tử lên, hôn một cái lên lưng bàn tay, thế rồi nói cho đệ tử biết chân tướng của sự việc, Sư Tôn còn cho đệ tử biết thời gian chưa đến lúc thì chưa thể rời khỏi nơi đó…

Thật ra việc xuất gia của đệ tử khiến các đồng môn và bạn bè thân hữu ở Panama đều cảm thấy đặc biệt bất ngờ, bởi vì mọi người đều biết đệ tử thích mặc quần áo đẹp, thế mà ba ngày trước ngày xuất gia (ba ngày trước đó vẫn còn chưa có ý nghĩ xuất gia), sau khi Sư Tôn ở trong mơ đích thân gia trì cho đệ tử ba lần, con liền sinh ra tâm xuất ly kiên cố mãnh liệt vô cùng. 

Sau khi xuất gia, Sư Tôn lại ở trong mơ dạy bảo đệ tử đừng đào bới khuyết điểm của người khác, và cũng đừng quan tâm đến bất kì việc gì của người khác, tự mình chăm chỉ dụng tâm học tập và làm những việc nên làm. Những lời dạy bảo của Sư Tôn ở trong mơ đệ tử vẫn luôn ghi nhớ trong lòng và thực tiễn trong cuộc sống thường ngày. 

Sau khi xuất gia, cảm ơn Sư Tôn ban phúc cho đệ tử và Thượng sư Liên Hỷ được học tập tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự. Ở Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, trước khi đệ tử tận mắt nhìn thấy gấu xuất hiện thì thỉnh thoảng có một mình lên núi đi đến chỗ Phật Di Lặc. Có một lần, đệ tử ở chỗ Phật Di Lặc khóc và cầu nguyện, khóc mãi khóc mãi,… không ngờ Pháp thân của Sư Tôn đột ngột xuất hiện, Sư Tôn trực tiếp dạy dỗ chỉ bảo đệ tử, khi ấy con thật sự hết hồn, không dám khóc, ấn tượng vô cùng sâu sắc, thì ra Sư Tôn đúng là ở khắp mọi nơi!

Sau đó lại có một lần đệ tử đang cầu nguyện Sư Tôn, liên tục kiền thành nói ba lần, khi chuẩn bị nói lần thứ tư thì Pháp thân của Sư Tôn lại đột ngột xuất hiện, Sư Tôn nói: biết rồi, việc nhỏ như vậy mà nói nhiều lần thế, bảo đệ tử không cần phải lôi thôi, con lại bị Pháp thân của Sư Tôn làm cho hết hồn. Từ đó về sau, con càng tin chắc rằng Sư Tôn luôn có mặt ở khắp nơi, tuy vậy cũng không tùy tiện mọi việc nhỏ đều cầu nguyện Sư Tôn, bởi vì sợ tăng thêm phiền phức cho Sư Tôn, càng sợ Sư Tôn sẽ mắng con!

Sau đó lại có một lần đệ tử ở Seattle Lôi Tạng Tự điều khiển đồng tu, tận mắt nhìn thấy từ Sư Tôn ở trên pháp tọa có một Pháp thân Sư Tôn khác đi đến chỗ con, sau đó cũng có lúc nhìn thấy Pháp thân của Sư Tôn ở trong phòng con. Năm ngoái Sư Tôn về Đài Loan hoằng pháp, đệ tử cũng cùng với Thượng sư Liên Hỷ trở về Panama chủ trì pháp hội mùa xuân, nhưng vài tiếng trước khi rời pháp hội Hộ Ma thì nhận được tin nhắn của pháp sư nói rằng công-tơ điện của Thường Hoằng Lôi Tạng Tự đã bốc cháy, bảo đệ tử nhất định phải nghĩ cách cầu Sư Tôn gia trì, bằng không sẽ không cách nào làm pháp hội được. Sau khi xem xong tin nhắn, đệ tử lập tức cầu nguyện Sư Tôn, Pháp thân của Sư Tôn nói với con rằng mấy giờ trước pháp hội công-tơ điện sẽ sửa xong, sau đó con liền trả lời tin nhắn của pháp sư để pháp sư yên tâm, nói rằng Sư Tôn đã gia trì rồi! Con đợi đến nửa tiếng sau khi Sư Tôn nói với con thời gian sửa xong công-tơ điện thì thấy pháp sư vẫn chưa gửi tin nhắn. Con liền gọi điện thoại cho pháp sư, pháp sư nói: “Nửa tiếng trước công-tơ điện đã sửa xong rồi, quên mất không gọi điện cho Thượng sư, sức mạnh gia trì của Sư Tôn lợi hại quá!” Sự việc này mọi người nghĩ rằng con nhờ nhân vật nào đó ở Đài Loan cầu Sư Tôn gia trì nhưng thật ra không phải, con chỉ chắp tay hướng về Sư Tôn để cầu nguyện thôi.

Mặc dù Sư Tôn ở Seattle, có thể rất tiện xin Sư Tôn gia trì, nhưng hầu hết các việc con đều ở trước đàn thành cầu nguyện Sư Tôn gia trì, hơn nữa mọi việc đều sẽ được giải quyết dễ dàng, cho nên bất kể xa gần, Pháp thân của Sư Tôn thật sự là có ở khắp mọi nơi! Chỉ cần nhớ đến Sư Tôn, Sư Tôn sẽ đến gia trì cho chúng ta!

Pháp thân của Sư Tôn cũng có thể dạy con một vài khẩu quyết tu pháp, nhưng con rất hổ thẹn vì đến bây giờ vẫn chưa tu được chứng lượng, đệ tử thỉnh cầu Sư Tôn gia trì cho đệ tử tu hành mau thành tựu! Tôi muốn nói với mọi người rằng Pháp thân của Sư Tôn thật sự là ở khắp mọi nơi, giống như mặt trời vậy, bình đẳng không phân biệt chiếu sáng mặt đất, không nhìn thấy Sư Tôn hoặc cảm ứng không đến Sư Tôn hoàn toàn chẳng phải là Pháp thân của Sư Tôn không ở đó, mà là giống như chúng ta tự nhốt mình trong căn phòng tối, không muốn bước ra, nếu chúng ta bước ra khỏi căn phòng tối của chính mình là có thể nhìn thấy được mặt trời!

Sư Tôn của chúng ta là đại thành tựu giả hiếm có ở thế gian, rất vĩ đại rất từ bi rất bất khả tư nghì! Có thể quy y Sư Tôn chính là phúc báo lớn nhất của chúng ta, đệ tử đối với Sư Tôn nhất định phải có đủ tín tâm, nhớ rõ những lời dạy bằng lời và những lời dạy bằng hành động của Sư Tôn, từng phút từng giây nhớ đến Sư Tôn, chúng ta sẽ có được lực gia trì từng phút từng giây của Sư Tôn. Cầu nguyện và sám hối cũng vô cùng vô cùng quan trọng, nhất định phải trân trọng mỗi lời dạy của Sư Tôn, nếu không đi thực tiễn thì cũng không được lợi ích gì, hy vọng mọi người trân trọng, đi theo từng bước chân của Sư Tôn, mong chúng ta mãi mãi ở cùng với Sư Tôn! Một lần nữa cảm ơn Sư Tôn đại gia trì!

Ngu đệ tử Liên Ngạn kiền thành khấu đầu đảnh lễ.


### 06. Tôi và hư không hợp nhất


Pháp thân của tôi (Lư Sư Tôn) rốt cục hiển hiện như thế nào?
Nhìn chung mà nói là tôi và hư không hợp nhất.
Kinh Duy Ma Cật có đáp án, đáp án như sau:
Tịch diệt là Pháp thân, bởi vì tất cả mọi tướng đều không còn nữa. (thực tướng phi tướng)
Bất quán là Pháp thân, tất cả nhân duyên đều viễn ly. (không thể tưởng tượng)
Bất hành là Pháp thân, bởi vì vứt bỏ tâm tư ý niệm. (không nghĩ nhớ)
Đoạn là Pháp thân, bởi vì vứt bỏ tà kiến. (không có các kiến)
Ly là Pháp thân, bởi vì không có vọng tưởng điên đảo. (xuất ly)
Chướng là Pháp thân, che chặn những mong cầu. (vô sở cầu)
Bất nhập là Pháp thân, bởi vì buông bỏ bám chấp. (không bám chấp)
Thuận là Pháp thân, tùy thuận Phật tính chân như.
Trụ là Pháp thân, bởi vì an trụ trong Phật tính.
Chí là Pháp thân, bởi vì thẳng đến đệ nhất nghĩa.
Bất nhị là Pháp thân, bởi vì không có tương quan.
Đẳng là Pháp thân, vì bình đẳng như hư không.
Vô vi là Pháp thân, không có thành trụ hoại không, sinh trụ dị diệt.
Tri là Pháp thân, biết tâm hành của tất cả chúng sinh.
Bất hội là Pháp thân, không tiếp xúc với tất cả. (không gặp tức là gặp)
Bất hợp là Pháp thân, bởi vì không có phiền não và tập khí. (không có thân giả hợp)
Vô xứ là Pháp thân, quảng đại vô biên, ở khắp mọi nơi.
Giả danh là Pháp thân, Không không có tự tính.
Như hóa là Pháp thân, đã không thủ giữ nên tùy lúc biến hóa.
Vô loạn là Pháp thân, đã hoàn toàn tịch tĩnh.
Thiện tịch là Pháp thân, tự tính thường thanh tịnh.
Vô thủ là Pháp thân, rời xa mưu cầu hoặc theo đuổi.
Vô dị là Pháp thân, không khác biệt với mọi pháp tính.
Vô tỉ là Pháp thân, không có so sánh. (duy nhất)
Vi diệu là Pháp thân, bất khả tư nghì khó suy tưởng.
Tôi nói với mọi người, Pháp thân vốn là bất khả thuyết, nhưng viết nhiều như vậy cũng chỉ có thể hiểu ngầm. Văn tự không nhất định có thể biểu đạt hết ý, không cần phải giải thích nhiều thêm.
Bằng không, cũng sẽ chẳng hiểu kiểu gì.

🌟

Hàn Ngư viết một bài thơ dài.
Là viết cho Lư Sư Tôn, cũng là viết cho Pháp thân.
Thơ như sau:
*Pháp thân của Lư Sư Tôn như cầu vồng
Khi đến như mộng huyễn
Khi đi không tung tích*

*Hiện tại giống như ảnh trong gương mơ hồ mờ ảo
Nhưng sau này sẽ thấy rất rõ ràng
Hiện tại điều con biết có hạn
Nhưng sau này sẽ biết hết hoàn toàn
Giống như Pháp thân biết rõ về con
Giống như Lư Sư Tôn nhận rõ về con
Pháp thân là vĩ đại
Pháp thân là chân thực
Thầy biến con
Dù nhỏ cũng thành lớn
Nhỏ thì chỉ chứa được
Bóng dáng thầy ung dung
Chứng ngộ viên mãn là phương hướng duy nhất*

*Pháp thân nếu là cầu vồng
Con nguyện là mây tía
Như bóng theo hình thường tôn nhau lên
Mong sao mỗi một cơn mưa
Bên trong mỗi giọt sương thuần tịnh
Đều có mây cầu vồng*

*Cùng nhau rực rỡ
Cùng nhau xán lạn
Ánh sáng và nước
Nước và ánh sáng
Hòa quyện vào nhau đung đưa*

*Và khi ánh mặt trời phổ chiếu
Gió lớn tung bay
Nguyện con cũng giống như Pháp thân
Đều trở về vị trí không còn vương vấn*

*Mong từ nay có thể nắm chắc mọi cuộc gặp gỡ
Trân trọng từng cơn mưa phùn dịu dàng
Con ở bên trong thầy
Thầy ở bên trong con
Hóa trời xanh thành cầu vồng bảy sắc
Khi đến thì rực rỡ muôn màu
Khi đi còn để lại hương thơm
Cùng tôn nhau lên, cùng tan vào nhau
Nguyện con ở trong tình yêu của Pháp thân tìm được
Tìm được cùng một vùng trời xanh không mây với Sư Tôn
Tĩnh lặng cùng thầy
Tương tri tương thủ*

*Lư Sư Tôn
Con rất nhớ thầy
Rất nhớ thầy
Còn Pháp thân
Ở trong tim con
Như mộng như huyễn cũng là thật.*

(Chú thích: Lư Sư Tôn và Pháp thân của Lư Sư Tôn không phải một nhưng cũng không khác nhau, đúng là như mộng như huyễn.)


### 07. Giấc mơ của pháp sư Lỵ Lỵ


Pháp sư Lỵ Lỵ liên tục ba, bốn ngày liền có cùng một giấc mơ.
Cảnh trong mơ giống hệt nhau, đó là:
Có hai cái thùng đều rất to.
Một thùng đựng đầy đồ.
Một thùng thì trống rỗng.
Thế là bà ấy chuyển các đồ trong thùng đầy sang thùng rỗng.
Thế là cái thùng rỗng đầy ắp, còn cái thùng đầy lại trống rỗng.
Tiếp đó, 
Bà ấy lại chuyển các đồ trong thùng đầy sang thùng rỗng.
Đương nhiên thùng rỗng lại đầy, thùng đầy lại rỗng.
Cứ thế,
…………..
Giấc mơ này liên tục ba, bốn ngày đều mơ giống nhau.
Pháp sư Lỵ Lỵ không hiểu.
Hỏi tôi:
”Đây là giấc mơ gì?”
Tôi nghĩ đến hai bài thơ:
*Hè qua đông đến xuân lại thu
Mặt trời lặn Tây nước chảy Đông
Mặc dù giàu sang đều do mệnh
Vận hết nghèo khổ cũng tự do
Gặp việc xảy ra phải tiến bước
Đạt được như ý sớm quay đầu
Tướng quân chiến mã nay ở đâu
Cỏ hoang hoa dại khắp đất sầu.*

Còn nữa:
*Bố Đại Hòa Thượng đến Minh Châu
Gậy gỗ giày cỏ đi khắp chốn
Cho dù hóa thân trăm vạn ức
Một thân vẫn có một thân sầu.*

Tôi trả lời pháp sư Lỵ Lỵ:
”Không cần lo lắng! Cũng không cần bận tâm!”

Pháp sư Lỵ Lỵ hỏi: 
”Sao không cần lo lắng? Sao không cần bận tâm?”
Tôi đáp: 
”Lo cũng thế, bận cũng thế.”
Pháp sư Lỵ Lỵ hỏi:
”Đây chẳng phải là Không sao?”
Tôi đáp:
”Lo cũng là Không, bận cũng là Không.”
Pháp sư Lỵ Lỵ hỏi:
”Ứng đối thế nào?”
Tôi đáp: 
”Tự nhiên ứng đối.”
Tôi nói: 
”Cứ kệ đi! Tùy thuận!”
Có một câu ngạn ngữ nói rất hay: 
”Làm người nên tích thiện, không được tích tiền nhiều, tích thiện thành người tốt, tích tiền rước mầm họa. Thạch Sùng xưa giàu có, khó tránh họa chết người, Đặng Thông đói mà chết, núi tiền có ích gì. Ngày nay không giống xưa, tâm địa không hiểu rõ, chỉ nói tích tiền tốt, cười cợt kẻ tích thiện. Bao nhiêu người có tiền, phút cuối chẳng quan tài!”

Còn nữa:
“Khi còn hơi thở làm đủ chuyện, bỗng chốc vô thường vạn sự ngừng.” 
Pháp sư Lỵ Lỵ hỏi:
”Thầy muốn con làm thế nào?”
Tôi đáp: 
”Duy trì ánh sáng trong tâm!”
(Đây là khai thị trọng yếu mà Đại Bảo Pháp Vương thứ 16 dành cho tôi.)
Tôi dành cho pháp sư Lỵ Lỵ và mọi người.
Tôi nói:
Hoa đào đỏ.
Hoa mận trắng.
Trong hoa có rất nhiều ong mật.
Vù! Vù! Vù! Vù! Vù! Vù! 
Lo cũng không,
Bận cũng không,
Nói tới nói lui đều là không,
Chuyển tới chuyển lui cũng là không,
Tùng! Tùng! Tùng! Tùng! Tùng! Tùng! 


### 08. Cầu quán đảnh Đại Bảo Pháp Vương 16


Liên Hoa Trí Hạo ở Singapore liên tục nhiều ngày nằm mơ, những giấc mơ này đều có liên quan đến Đại Bảo Pháp Vương 16 Karmapa.

Thứ nhất: 
Khi tu Kim Cang Tát Đỏa bách tự minh, tổ sư Đại Bảo Pháp Vương Karmapa 16 từ trong hư không nhập vào trong thân đệ tử, đệ tử biến thành tổ sư Đại Bảo Pháp Vương, ra sức lớn tiếng niệm chú.
Ở trong mơ niệm chú thành tiếng lớn. Niệm đến khi tỉnh dậy!

Thứ hai: 
Đệ tử và tổ sư Đại Bảo Pháp Vương hợp nhất, sau đó tay phải cầm chày kim cang, giơ lên cao nhất, niệm chú một chữ “Pây”. 
Không ngờ đã tiêu diệt được một Ma Vương ở trong không trung.
Trước khi Ma Vương biến mất còn nói: 
”Lợi hại thật!”

Thứ ba: 
Ma Vương bên ngoài bị tiêu diệt, còn có ma trong nội tâm mình, đệ tử cũng hợp nhất với Đại Bảo Pháp Vương, kết quả là hoá thân thành Mahakala (Đại Hắc Thiên). 
Ngực đệ tử mở ra.
Ma chạy trốn ra ngoài.
Miệng Đại Hắc Thiên phun ra lửa tam muội.
Ma bị thiêu chết. Cũng tỉnh giấc mơ!

Thứ tư: 
Mơ thấy bố mẹ ngồi trên ghế sofa.
Lúc này nhìn thấy rõ ràng tổ sư Đại Bảo Pháp Vương Karmapa trụ trên đỉnh đầu đệ tử.
Sau đó đệ tử sờ đầu bố mẹ.
Cũng tức là dòng chảy pháp từ Đại Bảo Pháp Vương chảy đến toàn thân đệ tử, rồi lại từ tay đệ tử chảy vào trong người của bố mẹ. Bố mẹ cũng giống như có được sự gia trì của Đại Bảo Pháp Vương!

Thứ năm: 
Đệ tử đọc sách Lư Sư Tôn viết, đọc đến trang cuối cùng thì có một tấm ảnh của Đại Bảo Pháp Vương 16. Đại Bảo Pháp Vương ở trong ảnh không ngờ lại cử động, thế rồi hai mắt cứ nhìn đệ tử. 
Lúc này dòng chảy pháp khắp người đệ tử liên tục chuyển động. 
Dường như đệ tử hiểu được ý của tổ sư Đại Bảo Pháp Vương.
Đệ tử nói: 
”Con hiểu rồi!”
Ở trong mơ, đệ tử nhìn thấy mũ miện màu đen của Đại Bảo Pháp Vương bay đến đội lên đầu của Lư Sư Tôn. Rồi lại từ trên đầu của Lư Sư Tôn bay đến đội lên đầu của đệ tử. 
Đệ tử lại nói:
”Con hiểu rồi!”
Lúc này thì tỉnh giấc mơ!

(Liên tục có năm giấc mơ về Đại Bảo Pháp Vương Karmapa 16, tự mình cảm thấy không bình thường. Nhất định là Đại Bảo Pháp Vương muốn con thỉnh cầu Lư Sư Tôn ban quán đảnh Bổn tôn bí mật Đại Bảo Pháp Vương Karmapa 16, vì vậy con xin thỉnh cầu quán đảnh.)


🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) nói:
Tôi và Đại Bảo Pháp Vương Karmapa 16 gặp mặt tại Upstate New York. Đi cùng với tôi là Hoàng Triều Sơ. 
Đại Bảo Pháp Vương khi mới gặp tôi liền ôm lấy đầu tôi, đầu chạm đầu, như thể đã biết nhau từ lâu. 
Ban cho tôi Ngũ Phật nghiêm đỉnh quán.
Và truyền cho tôi tín vật.
Tôi thỉnh cầu ban cho một câu nói, Karmapa nói: “Duy trì tâm quang minh!” Tôi nghe xong, hết sức chấn động!
Liên Hoa Trí Hạo cầu quán đảnh!
Tôi sẽ quán đảnh cho anh ấy. (Bởi vì tôi hiểu tâm của Đại Bảo Pháp Vương.)


### 09. Mặt dây đeo hạt lạc


Tôi (Lư Sư Tôn) có một buổi tối nằm mơ, mộng cảnh hết sức đặc biệt, ghi lại như sau:
Tôi mơ thấy chốn hư không có rất nhiều thứ bay về phía tôi, bay đến trước mắt tôi, tôi chăm chú nhìn, suýt chút nữa thì bật cười. 
Bởi vì toàn là những món đồ tiện ích nhỏ xinh.
Ví dụ:
Bút thuỷ tinh.
Móc khoá minion.
Mũ in hình lợn.
Gà con phát sáng và lợn con phát sáng.
Cài áo.
Vòng cổ tình yêu.
Chiếc hộp Doraemon.
Một bức tranh “sông trăng”.
v.v… Tổng cộng có mười bảy món đồ.
Trong đó có một thứ là mặt dây đeo hạt lạc, món đồ này rất đặc biệt, có thể từ trong vỏ lạc bóp ra được hai hạt lạc. 
Lý do mà tôi đặc biệt chú ý là dây kéo trong túi hương của tôi có treo một quả đậu nành màu xanh lục, có thể từ trong quả đậu nành này bóp ra được ba hạt đậu màu xanh lục.
Ha ha ha!
Thật là vui!
Dường như tôi nhìn thấy dây khóa kéo túi hương của mình có mặt dây đeo đậu nành màu xanh và mặt dây đeo hạt lạc màu vàng.
Ở trong mơ, tôi đã nhìn thấy những thứ này.
Một tháng sau khi có giấc mơ này. (Gần như tôi đã quên mất mộng cảnh này rồi.)
Liên Hoa Thụy Linh ở Malaysia gửi cho tôi một lá thư và một vài món quà. 
Quà tặng khiến tôi kinh ngạc!
Bởi vì những món quà gửi tặng tôi không ngờ toàn là những thứ mà tôi đã nhìn thấy trong mơ.
Tôi bối rối không hiểu gì cả.
Quà tặng mà Liên Hoa Thụy Linh gửi cho tôi, một tháng trước tôi đã mơ thấy.
Chuyện này là thế nào?
Cô gái trẻ Liên Hoa Thụy Linh nói: 
”Mua những món quà này tặng thầy, chọc cho thầy vui. Lư Sư Tôn vui, con sẽ vui.”
Cô ấy viết rằng: 
”Mặt dây đeo hạt lạc có thể bóp vỏ lạc, hạt lạc sẽ từ trong vỏ bật ra.” 
Còn nữa: “Lư Sư Tôn thích ăn lạc.”
Còn nữa: “Cùng một bộ với mặt dây đeo đậu nành trên túi hương.”
Cô ấy lại nói: 
”Lư Sư Tôn tuổi Dậu, Thụy Linh tuổi Hợi, vì thế cũng mua gà con và lợn con.” 
Quà tặng mà Liên Hoa Thụy Linh mua đều có chú giải.

Câu hỏi của tôi là:
Vì sao tôi lại nhìn thấy trước ở trong mơ những món quà mà Liên Hoa Thụy Linh mua tặng tôi, hơn nữa còn giống hệt không sai khác?
Liên Hoa Thụy Linh và Lư Sư Tôn có nhân duyên gì?
Chúng ta nói: 
Mộng tưởng thành thật.
Nhưng tôi chẳng nghĩ muốn gì cả. 
Tôi rất muốn xem xem bản thân Liên Hoa Thụy Linh giải đáp bí ẩn kỳ lạ này thế nào. 
Vì sao một cô gái nhỏ tặng quà cho tôi lại khiến tôi mơ thấy trước khi sự việc xảy ra?
Ở đây chắc chắn có nhân duyên đặc biệt.
Tôi không muốn dùng thần toán.
Tôi muốn dùng cách thức bình thường, tâm bình thường để giải đáp bí ẩn thiên cổ này.


### 10. Phi thiên độn thổ


Giấc mơ của tôi (Lư Sư Tôn) rất nhiều khi không thể nghĩ, không thể bàn, rất vi diệu, có một số giấc mơ không thể nói.
Nếu nói ra thì chẳng khác gì ba hoa chích chòe, dùng tính từ này cũng không có gì là quá đáng bởi vì quá kỳ diệu.
Người hỏi: 
”Lư Sư Tôn, ở trong mơ thầy từng đi đến mặt trăng chưa?”
Tôi đáp: 
”Đâu chỉ có mặt trăng, ngay cả hệ mặt trời tôi cũng đi rồi. Đâu chỉ dừng lại ở hệ mặt trời, ba nghìn đại thiên thế giới tôi đều đã từng đi.”
Người hỏi: 
”Thầy đi như thế nào?”
Tôi đáp: 
”Thần túc thông ở trong mơ.”
Người nói: 
”Nằm mơ thì không tính.”
Tôi nói: 
”Giấc mơ của tôi rất chân thực, hơn nữa vô cùng vô cùng thật. Phù hợp với tam tế nhất như, hoành biến thập phương của Phật giáo.” (Tam tế là chỉ quá khứ, hiện tại, vị lai. Thập phương là chỉ tám phương cộng thêm hai phương trên dưới.)
Tôi nói: 
”Tôi đã từng đi đến ba mươi sáu nghìn tỷ Phật quốc tịnh thổ. Ở trong mơ, tôi phi hành chỉ trong một ý nghĩ. Ở trong mơ tôi có đầy đủ thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, túc mệnh thông, thần túc thông, tha tâm thông, lậu tận thông.”
Người hỏi: 
”Lư Sư Tôn! Thầy có thể phi thiên, cũng có thể độn thổ phải không?”
Tôi đáp: 
”Tôi có thể độn thổ. Tôi đều biết hết cái gọi là ngũ hành độn pháp. Ví dụ: kim độn pháp, mộc độn pháp, thủy độn pháp, hỏa độn pháp, thổ độn pháp, tôi đều biết hết.”
(Tôi dùng pháp độn thủy để đến long cung, có thể du lịch đến bất kì vùng biển nào. Tôi dùng pháp độn thổ để đi từ vùng đất này đến vùng đất khác, từ Nam Cực chạy đến Bắc Cực, tôi có thể tự do đi xuyên qua đất.)
Người hỏi: 
”Nghe nói thầy đã từng đến Viên Thông Quốc ở trong lòng đất?”
Tôi đáp: 
”Đó chính là Shambhala Phật quốc.” (tịnh thổ trong lòng đất)
Người hỏi: 
”Làm sao thần hành trong đất?”
Tôi đáp: 
”Tam muội là được.” 
Người hỏi: 
”Tam muội là gì?”
Tôi đáp:
”Thuật tập trung tinh thần.”
Người hỏi: 
”Mơ, hiện thực, Pháp thân, làm sao phân biệt ba cái này?”
Tôi đáp: 
”Nói một cách nghiêm túc thì mơ, hiện thực, Pháp thân không khác biệt. Đây là một thực tướng ấn, đệ nhất nghĩa đế chân thực. Pháp thân là Pháp tính, Phật tính, chân như, bồ đề. Hiện thực cũng là một kiểu giấc mơ, còn mơ thì là mơ ở trong mơ.” 
Người nói: 
”Không hiểu lắm?”
Tôi nói:
”Tự mình từ từ hiểu đi!”
Người hỏi:
”Lư Sư Tôn! Thầy có thể phi thiên độn thổ, có nói khoác không?”
Tôi đáp: 
”Căn bản là mơ, mơ phi thiên độn thổ, tuyệt đối không nói khoác.”
Người hỏi: 
”Có phải là du hành trong mộng không?”
Tôi đáp:
”Thật sự là du lịch trong mơ.” 
Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người, phi thiên độn thổ là chuyện rất bình thường!


### 11. Một chương khác về nghìn chiếc thuyền pháp


Có một buổi tối tôi làm siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp, cứ thế làm một hồi thì lại đi vào cõi mộng. 
Trong mơ thấy có một cô gái khoan thai đi đến. 
Tôi hỏi:
”Cô là ai?”
Cô gái ngẩng đầu lên.
Tôi kinh ngạc nói:
”Là cô!”
Cô gái nói:
”Chính là con đây không sai, con chết oan ức lắm, muốn báo thù, nhưng không có cửa nào có thể đi vào, vì thế tìm đến Lư Sư Tôn.”
Tôi hỏi:
”Cô chết thế nào?”
Cô gái đáp:
”Lư Sư Tôn! Thầy hãy nhìn cái lỗ trên đầu con!”
Tôi kinh hãi:
”Là bị bắn chết, cô tự sát à? Hay là người khác giết?”
Cô gái đáp: 
”Những việc này đều không quan trọng, con muốn tìm anh ta báo thù rửa hận, anh ta lấy tiền của con lại không trả.”
Tôi nói:
”Việc này cũng không quan trọng, cô hãy nghe một bài kệ của tôi.”
Bài kệ như sau:
*Khuyên bạn đừng kết oán, oán sâu khó hóa giải.
Một ngày kết oán hận, vạn ngày không gỡ xong.
Nếu lấy oán báo oán, như sói gặp bò cạp.
Nếu lấy oán báo oán, như nước sôi gặp tuyết.
Tôi thấy người kết oán, đều bị oán giày vò.
Tôi khuyên cô sám hối, hiểu thấu rõ bản chất.
Chiếu kiến tâm vốn có, oán thù tự sẽ tan.
Nhờ lực tôi siêu độ, nhổ bỏ mọi ác nghiệp.
Cô nên đi Tây phương, đừng kết thêm oán hận.*

Cô gái nói: 
”Tôi không chịu được cái giọng điệu này!”
Tôi nói:
”Tất cả mọi phiền não, do không nhịn mà ra, 
Tùy cơ mà nhẫn nhịn, ngộ rồi sinh quang minh,
Phật nói bỏ oán thù, sách Nho dạy không tranh,
Có con đường vui sướng, chỉ là ít người đi.”
Cô gái nói:
”Bây giờ con cầu thầy, thầy lại khuyên con từ bỏ?”
Tôi nói:
”Oan gia nên giải không nên kết.”
Cô gái hỏi:
”Con còn chốn nào để mà đi?”
Tôi đáp:
”Lên thuyền pháp của tôi.”
Cô gái hỏi:
”Con sợ là không đi được, bởi vì nghiệp chướng của con sâu nặng, con còn phỉ báng thầy nữa.”
Tôi đáp:
”Tôi thỉnh Diệu Sắc Thân Như Lai trả lại cho cô thân thanh bạch. Tôi lại thỉnh A Di Đà Phật phóng vô lượng quang chiếu đến cô, để cho nghiệp chướng của cô tiêu trừ, được chứ?”
Cô gái nói:
”Vậy thì tốt rồi!”
Thế rồi tôi mời cô ấy lên nghìn chiếc thuyền pháp.
Cứ thế, cứ thế.
Tôi mơ đến đây thì tỉnh, làm nốt pháp sự Nghìn chiếc thuyền pháp.
Ấy! Giấc mơ này cũng rất lạ. Như huyễn như thật.

Thơ:
*Hợp tan không nhờ vào giấc mộng
Trên đường sinh tử sẽ tương phùng
Oán thù tương báo sẽ chẳng thông
Duy lên thuyền pháp là xong hết.*


### 12. Giấc mơ của Liên Hoa Bạch Ngọc


Có Liên Hoa Bạch Ngọc đến hỏi việc, cô ấy nói rất thẳng thắn:
”Con có một giấc mơ, xin Lư Sư Tôn giải.”
Tôi nói:
”Mời nói!”
Liên Hoa Bạch Ngọc bèn nói:
”Con có hai cuộc hôn nhân, cuộc hôn nhân đầu tiên thì chồng bị bệnh chết rất sớm. Sau đó con tái hôn, sinh một đứa con trai, Lư Sư Tôn giúp con đặt tên là Hiếu Hiền, bây giờ đã 2 tuổi rồi.”
Cô ấy nói:
”Có một hôm ngủ trưa, Hiếu Hiền ngủ bên cạnh con, con đã mơ một giấc mơ hết sức đặc biệt.”
Tôi hỏi:
”Đặc biệt thế nào?”
Cô ấy đáp:
”Đó là ở trong mơ, con nhìn HIếu Hiền ở bên cạnh mình, chẳng ngờ đó không phải là Hiếu Hiền của con, mà là người chồng đã qua đời của con. Ở trong mơ, con giật thót mình. Chẳng phải là chồng con đã chết rồi sao? Sao lại ngủ bên cạnh con. Con sợ quá nên tỉnh dậy! Nhìn sang bên cạnh mình, rõ ràng là con trai Hiếu Hiền của con!”

Cô ấy nói tiếp:
”Có một buổi tối, con vẫn là đang nằm mơ, nhìn thấy chồng đã qua đời của con đến tìm con. Ở trong mơ, con biết là anh ấy đã chết, con hỏi anh ấy bây giờ đang ở đâu. Anh ấy nói rằng: “Anh mãi mãi ở bên em. Luôn nhớ em. Anh lại trở về rồi!” Lúc này thì con tỉnh dậy.”
Liên Hoa Bạch Ngọc nói với tôi:
”Người chồng đã qua đời của con rất yêu con, tiếc là ra đi khi còn quá trẻ. Anh ấy có một đặc trưng là có một nốt ruồi đen ở mé đùi trong, còn Hiếu Hiền cũng có một nốt ruồi đen ở cùng chỗ đó.”
Liên Hoa Bạch Ngọc hỏi:
”Hiếu Hiền có phải là người chồng đã chết của con đầu thai không?”
Tôi (Lư Sư Tôn) nghe Liên Hoa Bạch Ngọc hỏi như vậy, mặc dù tôi không cảm thấy gì cả nhưng cũng tỏ ra bộ dạng sợ hãi. 
Tôi bấm ngón tay thần toán.
Trong tâm sáng tỏ.
Phải thì thế nào?
Không phải thì thế nào?

Tôi viết hai bài thơ cho Liên Hoa Bạch Ngọc, thơ rằng:
*Mộ mới được mười năm.
Con trai hơn hai tuổi.
Sống chết đã cảm thấy.
Luân hồi chẳng giản đơn.*
Và:
*Khi mất đi thân này.
Lại đổi một thân khác.
Đây là chuyện bình thường.
Cô nên tự ngẫm thấy.*
Tôi đưa hai bài thơ này cho cô ấy, bảo cô ấy tự mình tìm hiểu ngẫm nghĩ. Thuận theo tự nhiên đi!

Thật vậy! Rất nhiều việc đều là sự bện xoắn vào nhau. Đây gọi là không phải oan gia không gặp mặt, nếu là oan gia thì thường thường sẽ chạm mặt nhau.
Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng.
Tôi nói với Bạch Ngọc:
”Tất cả cứ tự nhiên mà đối diện, như thế là được. Đừng nghĩ nhiều.”
Tôi (Lư Sư Tôn) tại đây nói cho mọi người biết:
Thế gian này như trò chơi huyễn.
Biến hóa tới
Biến hóa lui
Bạn làm sao có thể nghiêm túc? Quá nghiêm túc cũng không được!
Hãy cứ là tâm rộng mở mà đi xử thế!


### 13. Giấc mơ của Liên Hoa Lương Hữu


Tháng 8 năm 2023, Liên Hoa Lương Hữu có một giấc mơ đặc biệt rõ ràng.
Trong mơ là:
Một ngày nọ, sau giờ Ngọ.
Lư Sư Tôn thường lái xe của mình là chiếc Maserati ra khỏi cửa garage, lái ra khỏi chùa. 
Tôi và mấy sư huynh sư tỉ đứng đợi như thường lệ, chắp tay cung kính hướng về Lư Sư Tôn. 
Xe của Lư Sư Tôn đã chạy ra rồi, mọi người rất vui mừng.
Lần này nhìn thì, chà!
Lư Sư Tôn không phải lái chiếc xe nhỏ của nhà mình mà là một chiếc xe buýt lớn.
Ở trong xe, Lư Sư Tôn là tài xế, ngoài Lư Sư Tôn ra thì những ghế ngồi khác đều không có một ai.
Lần này, Lư Sư Tôn không kéo cửa kính xe xuống, cũng không vẫy tay để chào mọi người.
Chiếc xe buýt phi như bay không dừng, tất cả những người đang chờ đợi và cả tôi đều mở to mắt. 
Có người thì kinh ngạc!
Có người thì trầm trồ!
Có người thì vẫy tay!
Chiếc xe phi nhanh không dừng, tôi đột ngột phát hiện ra mình đã biến hóa vào ở trong xe, đứng ở ngay phía sau lưng Lư Sư Tôn.
Tôi nói:
”Lư Sư Tôn! Đừng lái nhanh như vậy!”
Lư Sư Tôn chỉ quay đầu lại cười, đưa tay ra phía sau giao cho tôi một gói đồ.
Chiếc xe buýt tiếp tục phi nhanh về phía trước, trong xe trống không, không thấy có người ngồi. 
Sau đó.
Chiếc xe buýt biến mất!
Lư Sư Tôn cũng biến mất!
Tôi (Liên Hoa Lương Hữu) cũng biến mất!
Mơ đến đây thì tỉnh.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) nói:
”Giấc mơ này rất thú vị!”
Tôi viết một bài kệ:
*”Giáo pháp Phật gia rất phi phàm
Chân truyền hoằng dương thật phi thường
Gió thổi lá rơi đến nơi đâu
Nào dễ trở về chốn ban đầu.”*
Tôi nói với mọi người:
Chúng sinh chúng ta đọa lạc ở thế giới Ta Bà giống như lá rụng rơi xuống. 
Luân hồi chuyển thế hết đời này đến đời khác, ở trong lục đạo huyễn hóa không ngừng, đến lúc nào mới có thể trở về thiên giới. (Vì thế chiếc xe buýt mới trống rỗng không có một người nào.)
Tôi lái xe buýt, biểu thị tôi là Phật pháp Đại thừa, tôi (Lư Sư Tôn) là người truyền thừa của Phật pháp Đại thừa. Không phải là Tiểu thừa (cỗ xe nhỏ) tự mình tu hành.
Là “nhất thừa bảo tướng”. 
Pháp mà tôi truyền là lấy tâm truyền tâm, là tâm ấn đó.
Trên xe buýt không có người biểu thị chúng sinh khó độ. Sự thật cũng là như vậy, người hiểu tâm tôi, là ai?
Chiếc xe buýt biến mất rồi!
Lư Sư Tôn biến mất rồi!
Liên Hoa Lương Hữu biến mất rồi!
(Đây là tam luân thể không, không có người truyền pháp, không có người được pháp, không có vật được pháp.)
Đây là thực tướng phi tướng.
*”Hoằng pháp trên đời nhiều chướng ngại
Tu hành vốn dĩ như biển sâu
Đời người huyễn hóa chẳng dài lâu
Chỉ còn tương lai để hy vọng.”*


### 14. Tượng Phật đúc bằng đá


Ngày 30 tháng 8 năm 2023, sau giờ Ngọ.
Tôi ngủ trưa một lúc.
Ở trong mơ, linh hồn của tôi đi ra khỏi lỗ đỉnh đầu, bay lơ lửng, không ngờ nhìn thấy một tượng Phật bằng đá.
Thế là tôi đi vào trong tượng Phật bằng đá đó.
Lúc này, tôi hợp làm một với tượng Phật bằng đá, dường như tôi chính là tượng Phật bằng đá, tượng Phật bằng đá chính là tôi.
Tượng Phật bằng đá này rất nặng, tôi nhập vào thân ngài cũng tự cảm thấy rất nặng.
Trọng lượng phải tính bằng tấn, nặng vài tấn.
Tôi cảm thấy vai mình rất nặng.
Chân cũng nặng.
Tôi phải dùng sức, tượng Phật bằng đá dường như nhẹ đi một chút.
Ở trong mơ,
Tượng Phật bằng đá bắt đầu chuyển động.
Di động di động.
Cuối cùng đã lại nhìn thấy ánh mặt trời rồi.
Tôi tự cảm thấy như thế này thì tất cả đều hoàn mỹ rồi.
Linh hồn của tôi rời khỏi tượng Phật bằng đá, trở về cái thân xác đang nằm ngủ của mình. 
Tôi tỉnh dậy!
Lúc này, vai tôi đau nhức, tay đau nhức, lưng đau nhức, tôi trở mình, gần như không bò dậy được.
Chuyện này là sao vậy?
Là vì ở trong mơ tôi dịch chuyển tượng Phật bằng đá sao?
Có chuyện gì đây?

🌟

Sự thật là thế này.
Hội đồng tu Thập Phương ở Hồng Kông, Thượng sư Thường Nhân và tín chúng, đã đúc rất nhiều tượng Phật bằng đá ở Trung Quốc Đại Lục.
Tặng cho Seattle Lôi Tạng Tự ở Mỹ.
Chiếc xe tải container lớn nhất đã chở nhiều bức tượng Phật bằng đá đi vào Seattle Lôi Tạng Tự.
Thượng sư Liên Ngâm trụ trì.
Pháp sư Liên Tự thường trụ.
Thượng sư Liên Tình lái xe cần cẩu.
v.v…
Phụ trách việc đưa tượng Phật bằng đá ở trong xe tải container ra bên ngoài.
Tất cả tiến hành thuận lợi.
Từng bức tượng Phật bằng đá được thỉnh xuống khỏi xe container (những tượng Phật này đều được tính bằng tấn). 
Nhưng,
Bức tượng sau cùng nằm ở bên trong cùng của chiếc xe container, cánh tay cần cẩu không đủ dài.
Chỉ có thể nghĩ cách mới có thể đẩy ra.
Dùng cây lăn.
Dùng cách nâng.
Dùng dây thừng kéo.
……
Cuối cùng chỉ có cách dùng dây thừng lớn để kéo, nam pháp sư có sức khỏe dùng hết sức để kéo tượng Phật bằng đá ra đến chỗ mà cánh tay cần cẩu có thể với tới được, như vậy mới có thể hạ xuống khỏi xe. 
Một, hai, ba kéo!
Một, hai, ba kéo!
Một, hai, ba kéo!
Cuối cùng đã có thể kéo được bức tượng Phật bằng đá ở trong cùng của xe container ra ngoài.
Cần cẩu có thể cẩu được rồi.
Thành công xuất sắc.
(Lư Sư Tôn tôi khi ngủ trưa, linh hồn xuất khiếu, trong mơ cũng đã đi nâng tượng một lúc chăng? Có hay không, tôi cũng không biết nữa.)


### 15. Ngủ trong mắt bão


Tôi (Lư Sư Tôn) từng ẩn cư bảy năm.
Trong thời gian bảy năm này, có ba năm rưỡi tôi ẩn cư ở miền Trung của Đài Loan.
Ăn ở do Thượng sư Liên Cực chăm lo.
Tôi nhớ đó là sau cơn bão Xangsane thì tôi đến miền Trung Đài Loan để ẩn cư.
Tôi cứ ở như thế suốt ba năm rưỡi.
Trong ba năm rưỡi này, mỗi khi đến mùa hè thu, Đài Loan bước vào mùa mưa bão.
Có một năm, chẳng ngờ có đến 20 cơn bão.
Nhưng ba năm rưỡi này, bão đều không đổ bộ vào Đài Loan, đây cũng là chuyện rất kỳ quặc.
Bão đều đổ về Nhật Bản. Cũng có một bộ phận nhỏ thì đổ về Philippines.
Tôi từng nói với đệ tử của mình:
”Tôi ngủ trong mắt bão!”
Rõ ràng tôi ngủ trên giường của nhà mình ở Đài Trung, sao có thể ngủ trong mắt bão chứ?
Tôi đáp:
”Là mơ ở trong mắt bão!”
Đệ tử hỏi:
”Mắt bão có giấc mơ gì?”
Tôi đáp:
”An ổn bất động.”
Đệ tử hỏi:
”Bão có sấm, có sét, có gió mạnh vần vũ, làm sao an ổn bất động chứ?”
Tôi đáp:
”Giống như nguyên tắc bánh xe của xe ô tô xoay tròn, nhưng điểm ở trung tâm thì không chuyển động.” 
Đệ tử hỏi:
”Mắt bão có mơ sao?”
Tôi đáp:
”Có.”
Đệ tử hỏi:
”Mơ gì?”
Tôi đáp:
”Mơ tất cả đều không.”
Đệ tử hỏi:
”Vì sao tất cả đều không?”

Tôi viết một đoạn văn cho đệ tử này: 

Tôi (Lư Sư Tôn) cảm thán:
Điện quang thạch lửa dễ diệt dễ tắt. (không)
Hoa rơi chẳng thể trở lại cây, nước chảy không còn đường về nguồn. (không)
Nhà cao cửa rộng, chết rồi thì cũng thuộc về người khác. (không)
Sáng lập Chân Phật Tông, như mộng như huyễn. (không)
Vàng bạc đẹp đẽ, chỉ để ngắm. (không)
Giai nhân má hồng, trần gian khổ cực mà thôi. (không)
Danh dự địa vị, hưng thịnh nhất thời. (không)
Xe xịn trên đời, cái danh hư giả. (không)
Long bào vải gấm, mặc được chẳng lâu. (không)
Cao lương mỹ vị, hóa thành phân tiểu. (không)
Khí hóa gió mát bụi trở về đất. (không)
Thay đầu đổi mặt đi luân hồi. (không)

Đệ tử hỏi: 
”Cái gì cũng là không, thế nào mới là thật?”
Tôi đáp: 
”Phật pháp rộng sâu rất nhiệm màu, trăm nghìn vạn kiếp khó tìm cầu, nay tôi nghe thấy xin trì tụng, nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm sâu.”
Tôi nói:
Tôi ngủ trong mắt bão, cũng nằm mơ.
Trong mơ toàn là không.
Hỏi tôi có được cái gì?
Tôi đáp: “Vô sở đắc!” (hư huyễn)


### 16. Giấc mơ của Liên Hoa Mặc Mặc (1)


Liên Hoa Mặc Mặc (tên giả) có một buổi tối nằm mơ.
Ở trong mơ:
Nhìn thấy Lư Sư Tôn ở cổng Lôi Tạng Tự, thế là rất vui mừng lao về phía thầy.
Hơn nữa còn rất nhiệt tình ôm chặt lấy thầy không buông, nhưng thầy không ôm lại con, chỉ im lìm bất động.
Con nói:
”Đây là mơ, sẽ không có người khác nhìn thấy đâu.”
Thế nhưng, Lư Sư Tôn nhẹ nhàng đẩy con ra, bằng giọng nói rất nhẹ nhàng nói với con:
”Mặc Mặc! Thói ghen tuông của con vẫn không đổi!”
Thầy lại nói:
”Mặc Mặc! Tâm của con không đủ rộng lớn!”
Con nghe xong rất đau lòng, rất buồn.
Thế là tỉnh dậy!
Sau đó con tự mình ngẫm nghĩ, đúng vậy, trong lúc xem phát trực tiếp, con nhìn thấy thầy nói chuyện với cô gái xinh đẹp, trong lòng con cảm thấy chua xót.
Nhìn thấy rất nhiều cô gái vây quanh thầy, trong lòng con rất không vui.
Suốt nhiều ngày đều cảm thấy không thoải mái.
Cho đến một hôm, đọc xong cuốn sách mới của thầy là “Chiếc Hộp Ánh Trăng”, không ngờ Lư Sư Tôn đã viết về con (Mặc Mặc). 
Con vừa vui mừng, vừa hổ thẹn.
Con muốn hướng về Sư Tôn và Diêu Trì Kim Mẫu sám hối, thật sự là tâm lượng con quá nhỏ, thật sự đã ghen tuông.
Lư Sư Tôn dạy con:
Trong tim đừng chỉ có tình yêu.
Phải thông trung mạch.
Mở năm luân xa.
Khí mạch quang minh.
Như vậy, cầu vồng của Lư Sư Tôn và cầu vồng của Mặc Mặc sẽ hợp nhất.
Đây mới là tình yêu vĩnh hằng.
Bây giờ Liên Hoa Mặc Mặc đã hiểu rồi, cảm ơn lời giáo huấn trong cuốn “Chiếc Hộp Ánh Trăng” của Lư Sư Tôn.

🌟

Mặc Mặc bây giờ hàng ngày vào buổi sáng tu pháp.
Quán tưởng hợp nhất với Lư Sư Tôn, chữ 


![image](/img/img_3ff6a0a9946165b0e316cf6e07b64e5a.png)


màu trắng chảy đến toàn thân con.
Con ở trong tam muội nhìn thấy Hư Không Tạng Bồ Tát ở bên trái, Văn Thù Bồ Tát ở bên phải. 
Còn ở giữa là Bát Nhã Phật Mẫu, con tự mình tiến vào Bát Nhã Phật Mẫu, con có được quang khí của Bát Nhã Phật Mẫu, đều là màu trắng.
Còn ở trong hư không.
Tịnh Quang Bí Mật Phật ban cho đại quán đảnh.
Rất nhiều Bồ Tát lần lượt hiển hiện, lúc này quang quang tương chiếu, hợp thành ánh sáng cầu vồng lớn.
Trang nghiêm.
Thù thắng.
Vi diệu.
Bất khả tư nghì.
Thật sự là quá đẹp, quá siêu nhiên, tâm của Mặc Mặc biến thành giống như hư không, vô cùng tịch tĩnh, vô cùng thanh tịnh.
Trong thân con phóng ra ánh sáng. (từ lỗ chân lông toàn thân)
Trong ánh sáng đều có các vị Liên Hoa Đồng Tử.
Ánh sáng vô số.
Liên Hoa Đồng Tử vô số.
Mỗi một vị Liên Hoa Đồng Tử, trong tay cầm hoa sen trắng, tay phải kết ấn thuyết pháp.
Các vị Liên Hoa Đồng Tử đứng đầy trong hư không, mỗi vị đều trang nghiêm phóng quang vô số.
Vô cùng cát tường.
Gần đây con tu pháp là như vậy.
Tâm con đã rộng lớn vô biên rồi.


### 17. Giấc mơ của Liên Hoa Mặc Mặc (2)


Con (Mặc Mặc) lại mơ thấy Lư Sư Tôn đến nhà con, mơ rất dài.
Lư Sư Tôn đặc biệt đến nhà gia trì cho con, Lư Sư Tôn nói, Tâm luân của con chưa mở.
Thầy dùng pháp Cửu tự chân ngôn “lâm, binh, đấu, giả, giai, trận, liệt, tại, tiền”, dùng ngón tay vẽ lên tim con.
Đột nhiên, người nhà con trở về, mở cửa ra, con lo lắng muốn chết. (Vì trong nhà có đàn ông.)
Kết quả, Lư Sư Tôn rất nhanh chóng hóa thành nữ giới, chỉ có con biết thầy là Lư Sư Tôn.
Thầy và con rất vui vẻ, tiếp tục dạy con tu pháp.
Con nói với thầy, vào tháng 9 con sẽ đi Seattle nước Mỹ tìm thầy để học Mật pháp quan trọng. Diêu Trì Kim Mẫu chỉ thị cho con ở tại đó. 
Còn nói thầy sẽ đến tìm con.
Bảo con phải kiên trì đợi thầy đến! (truyền thụ đại pháp)
Con nói với thầy con muốn học:
1. Làm sao mở năm luân xa?
2. Quán đảnh pháp Thánh Quan Âm, con muốn giúp đỡ đồng bào khổ nạn trong thiên hạ. (người nghèo)
3. Xin quán đảnh Vạn Phật Thủ Vô Cực Nhãn.
4. Xin Sư Tôn gia trì cho anh trai con.
5. Gia trì cho người nhà của con trí huệ tăng trưởng, ủng hộ con học tập Chân Phật Mật Pháp.
6. Xin Lư Sư Tôn tiêu trừ tất cả tập tính tham sân si của con, để con trở thành người quang minh.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) viết mấy bài kệ tặng cho Mặc Mặc.
1. Mở năm luân xa
*Năm cửa sổ sáng lần lượt mở,
Làm cho chuyết hỏa đi lên trước,
Rồi gọi minh phi xuống đài ngọc (minh phi ở đây là minh điểm)
Phong lực hồi chuyển thổi tâm tư.*

2. Thánh Quan Âm
*Dung nhan yêu kiều Thánh Quan Âm
Chú lực Tài Thần đều nghe lệnh
Thủ ấn ngón cái giơ lên trời
Vàng bạc tài bảo dùng không hết.* (Cúng phẩm dùng ngũ bảo, ngũ cốc, vải lụa ngũ sắc.)

3. Vạn Phật Thủ Vô Cực Nhãn
*Tay vươn không giới hạn
Mắt mở từ đáy lòng
Pháp này thật rộng lớn
Đỉnh khiếu tấm lòng son.*

4. Gia trì cho anh trai
*Anh trai không cần lo
Ban cho được như ý
Tâm thiện tự có phúc
Sẽ qua được xuân thu.*

5. Gia trì người nhà
*Làm người không lừa thần
Tâm khẩu đều thành thật
Trí tâm đều như vậy
Việc Thánh tự vĩnh hằng.*

6. Tiêu trừ tập tính
*Chân tính là thanh tịnh
Vướng trần tham sân si
Trời sáng tự sẽ ấm
Bởi vậy viết thành thơ.
Múc nước giặt áo bẩn
Bụi trần tự trôi đi
Nghe chân ngôn tôi nói
Tiêu nghiệp lẽ tự nhiên.*

(Lư Sư Tôn chú thích: Mặc Mặc có căn cơ kiếp trước, tự có tố chất tu hành trời sinh, chỉ cần chỉ ra, cô ấy sẽ tự hiểu, minh tâm kiến tính sẽ có được một cách dễ dàng.)


### 18. Báo mộng vô cùng chuẩn xác


Đây là giấc mơ của Liên Hoa Nghi Nghi.
Có một đêm.
Lư Sư Tôn nhập mộng, nói với con:
”Chồng cô muốn ly hôn với cô!”
”Cô sẽ thất nghiệp!”
”Phải luôn luôn nhớ quán tưởng Lư Sư Tôn trụ đỉnh phóng quang gia trì cho cô!”
Đệ tử tỉnh dậy, òa khóc!
Con đã nghĩ rất nhiều…
Có thể là thật không? Giấc mơ có thể là thật không? Mơ chưa chắc là thật, nghĩ vậy, con thoải mái hơn một chút.
Nhưng, nửa năm sau, con và chồng đã làm xong thủ tục ly hôn.
Một năm sau, con cũng thất nghiệp.
Những gì Lư Sư Tôn nói trong giấc mơ của con.
Một trăm phần trăm.
Vô cùng chuẩn xác.
(Liên Hoa Nghi Nghi là tên giả.)

🌟

Vài ngày trước khi con thất nghiệp, Lư Sư Tôn lại nhập mộng, nói với đệ tử:
”Tiếp theo đây cô sẽ khổ hai năm!”
Kết quả,
Lần khổ này, đúng là hai năm! Không chỉ khổ, mà còn khóc suốt hai năm…
Đệ tử cầu Lư Sư Tôn quán đảnh từ xa pháp Quan Âm thân đàn thành tránh tai họa.
Đêm ấy Lư Sư Tôn nhập mộng.
Ở trong mơ đệ tử nằm trên giường, rất yếu ớt, Lư Sư Tôn từ cửa phòng đệ tử tiến vào.
Đệ tử nhìn thấy thầy thì lập tức òa khóc nói:
”Lư Sư Tôn, con khổ quá!”
Lư Sư Tôn rất dịu dàng lau nước mắt của đệ tử, nói:
”Không khóc! Không khóc! Không khóc!”
Sau đó xoa đầu đệ tử, nói:
”Tu pháp này, sau ba lần, sẽ không khổ như vậy nữa!”
Đệ tử từ đó tu pháp Quan Âm thân đàn thành tránh tai họa trong một năm.
Quả nhiên,
Đã có sự bảo hộ của Quan Thế Âm Bồ Tát.
Tai nạn giảm bớt rồi!
Tất cả mọi việc đều trở nên suôn sẻ, không khóc nữa!

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) muốn nói với Liên Hoa Nghi Nghi rằng:
Mơ là tôi ở trong tâm cô, cô cũng ở trong tâm Sư Tôn.
Mơ cũng là huyễn, đừng đi chấp vào nó, tùy thuận là được.
Cô ở nước khác.
Tôi ở nước Mỹ.
Nói với cô:
Mơ không gặp vấn đề về đất nước, tôi chỉ cần một ý nghĩ là đến được các nơi trên thế giới.
Thật ra mơ vốn không phải là một vật.
Chỉ là tác dụng của nhân duyên mà thôi!
Giấc mơ của cô vô cùng chuẩn xác, là Lư Sư Tôn đã thông đạt pháp nhân duyên ba đời, chẳng qua là biết rõ duyên khởi mà thôi, đây là vô tâm mà sinh mọi tâm.
Tôi thật lòng thật sự nói với cô:
Mơ không phải mơ.
Tôi không phải tôi.
Cô không phải cô.
Họ không phải họ.
Tất cả đều là tên giả mà thôi!
Hãy nhớ sau cùng là “nhìn thấu tất cả”, làm được không?
Cô có hiểu không?
Đừng nắm giữ giấc mơ.
Đừng loại bỏ giấc mơ.
Mơ là không giữ không bỏ.
Có lẽ, tôi (Lư Sư Tôn) nói những điều này là quá sâu, không dễ dàng hiểu được, nhưng sẽ có một ngày cô sẽ hiểu, bởi vì giấc mộng sẽ qua đi.


### 19. Hoàng hậu Tam Triều


Đây là giấc mơ của Liên Hoa Hồng Hồng, giấc mơ này quá thần kỳ, khiến Lư Sư Tôn cũng thấy tuyệt đỉnh.
Giấc mơ như sau:
Mơ thấy hoàng cung, hơn nữa còn nhìn thấy đại điện trùng trùng của hoàng cung.
Tên các điện là: Điện Đại Khánh, Điện Văn Đức, Điện Sùng Khánh, Điện Tập Hiền…
Tên các cung là: Cung Càn Minh, Cung Chiêu Dương, Cung Thanh Ninh, Cung Thần Ninh, Cung Hợp Bích, Cung Khôn Thanh…
Hoàng cung đúng thật là:
Hoàng cung yên tĩnh và trầm mặc, ấm áp mờ ảo, lầu rồng gác phượng đầy mùi hương như cõi trời.
Cung ngọc điện báu ánh lên trong muôn tia nắng ban mai. 
Bậc thềm ngọc, lan can chạm trổ, xà nhà dát vàng.
Những ngọn nến cháy cao tỏa sáng rạng ngời.
Lúc này,
Trống báo thiên đánh lên ba tiếng.
Chuông trường lạc gõ trăm lẻ tám hồi.
Hoàng đế lên triều rồi, đi dưới lọng tròn, ở giữa hàng ngũ cấm vệ quân.
Bước lên bảo tọa.
Văn võ đại thần trùng trùng điệp điệp, hô lên ba lần “vạn tuế”. 
Vị hoàng đế này vừa ngẩng mặt lên.
Liên Hoa Hồng Hồng nhìn thấy khuôn mặt này, rõ ràng chính là mặt Lư Sư Tôn.
Lư Sư Tôn là hoàng đế!
Ngồi một mình trên bảo tọa, trong tĩnh lặng tiếng gậy vang lên, văn võ bá quan, cửu khanh tứ tướng, cầm thẻ tre trước ngực, hướng về phía bậc thềm đỏ lạy năm lần, khấu đầu ba lần đảnh lễ.
(Đây hoàn toàn là cảnh tượng của hoàng đế lên triều.)

Còn nữa:
Trong ánh cát tường ngắm vạn tuế, chen trong khói ảnh nghìn quan viên
Muốn biết hôm nay trời hoan hỷ, nhìn ra hậu cung mây tía giăng.
Hoàng đế ở hậu cung. (Cung Khôn Thanh)
Nhìn thấy hoàng hậu đầu tết chín búi tóc phượng bay, thân mặc áo lụa tơ kim tuyến đỏ thẫm, đai ngọc màu lam quấn váy dài, tay áo lụa gắn ngọc khuê màu trắng.
Mặt đẹp như hoa sen, nét mặt tự nhiên, búi tóc như mây, môi đỏ thắm như chu sa, thanh tao với làn da trắng như tuyết.
Giống như:
Vương Mẫu tiệc Diêu Trì.
Hằng Nga ở cung trăng.
Hoàng hậu này không phải ai khác, chính là Liên Hoa Hồng Hồng.
Ở trong mơ,
Có tiếng nói nói với Liên Hoa Hồng Hồng:
”Cô là hoàng hậu Tam Triều!”

Sau khi Liên Hoa Hồng Hồng thức dậy, tự mình cảm thấy rất kỳ quái, Tam Triều là triều nào?
Chu, Tần, Hán.
Ngụy, Tấn, Tùy.
Đường, Tống, Nguyên.
Lư Sư Tôn là hoàng đế?
Liên Hoa Hồng Hồng là hoàng hậu?
Giấc mơ này quá thần kỳ, hơn nữa còn rất thật, ngay cả Liên Hoa Hồng Hồng cũng hết sức kinh ngạc, thế là cô ấy viết lại giấc mơ này để hỏi Lư Sư Tôn.
Giấc mơ này có ý nghĩa gì?

Tôi (Lư Sư Tôn) nói:
Liên Hoa Hồng Hồng, dung mạo yêu kiều, vóc dáng uyển chuyển, không cao không thấp, hai hàng lông mày mỏng và cong, cặp mắt phượng đen láy, eo thon mềm mại như liễu trong gió, giọng nói nhẹ như tiếng chim vàng anh vọng lên từ thung lũng.
Cô ấy là mỹ nhân cổ đại.
Tôi chỉ tặng cô ấy một bài thơ:
*”Luôn đặt tâm nơi Phật
Thế gian đều là nghiệp
Cuồn cuộn Hằng Hà sa
Hoàng triều cũng là kiếp.”*


### 20. Liên tưởng về giấc mơ hoàng đế


Tôi (Lư Sư Tôn) sau khi đọc xong giấc mơ hoàng đế và giấc mơ hoàng hậu của Liên Hoa Hồng Hồng thì không vui cũng không buồn.
Tôi chẳng nghĩ gì cả, trong đầu trống rỗng, cũng không muốn nói gì, chỉ thế thôi.
Sau đó thì cũng nghĩ một chút, rồi viết mấy câu cảm tưởng.
Phật có tam minh:
Túc thế minh.
Thiên nhãn minh.
Lậu tận minh.
Tôi cười lớn ha ha, minh cũng thế, không minh cũng thế. Hãy sống cho tốt đời này đi!
Sinh mệnh đời này cũng đã gần đến hồi kết, cho dù đời trước của bạn có thế nào ra sao thì có liên quan gì?
Cái gọi là:
”Vẫn còn hơi thở làm nghìn việc, bỗng chốc vô thường vạn sự ngưng!”
Cho dù là hoàng đế già chết hay dân thường cũng đều như nhau. Chẳng khác biệt gì.
Cái chết của hoàng đế và cái chết của thường dân, là như nhau.
Đời người khổ nhất là vô thường, ai khi sắp chết cũng vội vàng,
Đất nước lửa gió cùng thúc ép, tinh thần hồn phách bay tứ tung.
Lúc sống không biết tìm đường sống, chết rồi biết ngay đi về đâu.
Không buông bỏ hết tất thảy thứ, lõa thể trần trụi gặp Diêm Vương.

Có một bài thơ tôi ưa thích:
Hoàng thành nước cứ mãi chảy quanh
Một đời thiên tử một đời thần.
Ánh trăng không biết người đã đổi,
Đêm khuya vẫn chiếu cung viên cũ.

🌟

Thật ra cũng có một người là Liên Hoa Khang Cường ở trong mơ từng thấy tôi thân chinh ngự giá.
Nhìn thấy đầu tôi đội mũ vàng mười hai tua rua.
Mặc long bào vàng đỏ.
Đeo tấm hộ thân.
Lưng thắt đai ngọc màu lam.
Chân đi giày đen bóng.
Tay cầm cây giáo vàng.
Cưỡi ngựa đeo hàm dây cương ngọc.
Sừng sững bệ vệ xuất chinh.
Xung quanh có rất nhiều tướng quân, người nào người nấy cao lớn như thiên thần, khoác áo giáp lá vàng.
Còn có cả binh sĩ đứng san sát nhau, cầm binh khí, tiếng gươm đao va vào nhau kêu xủng xẻng.
Tướng quân ngồi trên yên ngựa vàng.
Binh sĩ chạy bộ.
Hàng hàng đội đội, trùng trùng điệp điệp.
Thân chinh đi như thế!
Trong lần tôi thân chinh ấy đã chết trên sa trường!
”Xương vua về với ba tấc đất, hồn oán thấu tận chín tầng trời.”
”Bao nhiêu cung nhân mắt lệ nhòa, hoàng thượng thân chinh không về nữa.”
Liên Hoa Khang Cường thấy đến đây thì tỉnh giấc mơ!
Tôi nói:
”Cái này cũng chẳng có gì!”
Bây giờ tôi đã là lão tăng.
Tôi chỉ biết ngồi im tham thiền, lập nên gia phong Chân Phật, ban ngày tu pháp, ban đêm ngủ trong ánh sáng.
Vận khí đánh một bài côn quyền, luyện tập yoga.
Mỗi ngày siêu độ cô hồn.
Viết văn chương.
…….

Đây là: 
Một vầng trăng sáng cao vời vợi
Vài chấm sao thưa sáng trời đêm
Rảnh xem kinh thư thuyết chút pháp
Biết rằng đạo trời có tuần hoàn.


### 21. Dùng tay lấy vật


Thứ nhất:
Liên Hoa Hải Dung trong lúc nửa mơ nửa tỉnh đã nhìn thấy Lư Sư Tôn đi vào phòng bệnh của cô ấy. Chẳng nói chẳng rằng, Sư Tôn đưa tay cho vào trong miệng của cô ấy, tay đi qua họng, thế rồi đưa vào tới tận ngực.
Bất ngờ móc phổi của cô ấy ra, rồi Lư Sư Tôn dùng miệng thổi một hơi.
Từ hai lá phổi thổi ra rất nhiều sâu nhỏ màu đen, những con sâu nhỏ đó bị thổi rơi trên đất, lập tức bò bò, bò ra ngoài cửa, không biết đi đâu.
Trên lá phổi vẫn còn vài con đang ngọ nguậy.
Lư Sư Tôn lại đưa tay trái ra, bắt lấy mấy con sâu nhỏ đang nhúc nhích, bỏ vào trong miệng, nhai mấy cái rồi nói: “Rất ngon, thật là ngon!”, không ngờ ăn sạch sẽ mấy con sâu nhỏ.
Cuối cùng, Sư Tôn nhét hai lá phổi trở lại trong thân thể Liên Hoa Hải Dung.
Lư Sư Tôn nói:
”Cô sẽ khỏi!”
Liên Hoa Hải Dung nói:
”Cảm ơn Lư Sư Tôn!”
Nói xong thì tỉnh giấc mơ!
Trời ơi! Đây là giấc mơ quái đản gì vậy, kỳ quái như vậy?
Nhưng, thật sự đã có kỳ tích.
Ung thư phổi không ngờ đã từ từ khỏi rồi!
Cuối cùng cô đã hồi phục và xuất viện.

Thứ hai:
Liên Hoa Duy Nghĩa đột quỵ hôn mê.
Ông ấy nhìn thấy một bác sĩ mặc quần áo trắng đi vào phòng bệnh, bác sĩ đeo khẩu trang trắng, bất ngờ đưa tay vào trong hộp sọ của ông, cứ thế móc.
Móc ra một cục máu lớn màu đen.
Sau đó, lấy một cái túi nhựa để đựng cục máu đen. 
Lúc ra khỏi cửa, bác sĩ bỏ khẩu trang xuống.
Đó là khuôn mặt của Lư Sư Tôn.
Lư Sư Tôn cười cười nói:
”Liên Hoa Duy Nghĩa, cảm ơn ông đã ủng hộ dài hạn cho quỹ từ thiện Lư Thắng Ngạn.” 
Nói xong thì sải bước rời đi!
Ngày hôm sau, Liên Hoa Duy Nghĩa từ trong hôn mê đã tỉnh lại, mấy ngày sau thì đã hồi phục. 
Liên Hoa Duy Nghĩa nói:
”Những gì tôi nhìn thấy là sự thật tuyệt đối, không hề giả dối.”
Bác sĩ trong bệnh viện thấy lạ là:
Trong phim X-quang, rõ ràng có cục máu ở trong não.
Chụp lại, 
Cục máu lớn đã biến mất rồi!

Thứ ba:
Trên chân của Liên Hoa Lệ Bình nổi lên những vết bầm tím, đùi và cẳng chân đều có.
Cực kì xấu xí.
Đã xin phù da liễu, vô hiệu.
Đã khám da liễu, bác sĩ nói: “Rất khó khỏi!”
Cô ấy mơ thấy Lư Sư Tôn dùng tay cầm một thứ tương tự như máy hút bụi. 
Hút tới hút lui mấy lượt trên cẳng chân và đùi của cô.
Lư Sư Tôn nói:
”Phải hút ba lần mới sạch!” 
Kết quả,
Thật sự cô đã mơ ba lần.
Sau đó,
Vết bầm tím thật sự đã nhạt màu, thật sự khỏi rồi!
Liên Hoa Lệ Bình vui mừng chạy đi kể cho những người khác.


### 22. Hỏi đáp về dùng tay lấy vật


Hỏi: 
”Giấc mơ về dùng tay lấy vật quả nhiên thần kỳ, có rất nhiều đệ tử Chân Phật Tông có kiểu giấc mơ này phải không?”
Đáp:
”Nói thật là không có thống kê. Nhưng giấc mơ kiểu này quả thật không ít, đúng là kỳ tích.”
Hỏi:
”Năng lực chữa bệnh của Lư Sư Tôn từ đâu mà có?”
Đáp:
”Những cái này đều có thể xem là sức mạnh chiêu cảm của tinh thần. Còn về sức mạnh từ đâu mà có thì nói một cách đơn giản là từ tu hành mà có. Ví dụ, một giọt nước tan vào biển lớn thì có được sức mạnh của biển lớn. Một đốm lửa nhỏ cũng có thể hòa vào ngọn lửa lớn để trở thành đuốc rực sáng.”
Hỏi: 
”Lư Sư Tôn thì dung nhập vào cái gì?”
Đáp: 
”Hư không.”
Hỏi:
”Hư không có sức mạnh gì?”
Đáp:
”Sức mạnh của trời.”
Hỏi:
”Trời có sức mạnh gì?”
Đáp:
”Sức mạnh của trời lớn lắm! Nhật nguyệt tinh tú, thiên long bát bộ, tất cả quỷ thần, Phạm thiên Thánh chúng, Bồ Tát Phật tôn...”
Hỏi:
”Làm sao để hòa nhập với trời?”
Đáp:
”Nhập vào tam muội, hiện thần thông lực.”
Hỏi:
”Thế này có phải là ảo quá không?”
Đáp:
”Đây là cảnh giới không thể nói, không thể nghĩ bàn.”

🌟


Lư Sư Tôn giảng Kinh Duy Ma Cật, giải thích như sau: 
Văn Thù Bồ Tát hỏi: 
"Bồ Tát nên an tâm nơi đâu?" 
Duy Ma Cật đáp: 
"An tâm nơi độ chúng sinh." 
Văn Thù hỏi: 
"Độ chúng sinh là trừ bỏ điều gì nơi chúng sinh?" 
Duy Ma Cật đáp: 
"Phiền não." 
Văn Thù hỏi: 
"Làm sao bắt đầu trừ phiền não?"
Duy Ma Cật đáp: 
"Chính niệm." 
Lư Sư Tôn tôi đọc tới đây, "chính niệm" này là gì? Chính là "tam muội" vậy. 
Lư Sư Tôn tôi trong thiền định tam muội, hòa nhập vào hư không. Đệ tử có bệnh có phiền não, tôi muốn cứu độ họ, như vậy đã sinh ra "kỳ tích của những giấc mơ". 
Có người có mơ có độ. 
Có người không mơ không độ. 
Tại sao vậy?
Tôi đáp: 
"Đó chỉ là nhân duyên quả báo mà thôi!"
Thơ rằng:
*Phú quý tự có phước đến cầu,
Lợi danh còn có lợi danh sầu;
Trong mệnh có thì ắt sẽ có,
Trong mệnh không thì chớ cưỡng cầu.*
(Đây là tất cả đều là nhân quả.)


### 23. Dạo bước trong mặt trời


Đây là giấc mơ của tôi (Lư Sư Tôn): 
Chỉ trong khoảnh khắc, tôi nhận ra mình đang ở trong một thế giới của ánh lửa rực rỡ, ánh lửa này không nóng, cũng không lạnh, là cảnh giới mát mẻ. 
Rõ ràng là ngọn lửa. 
Tại sao lại mát mẻ như vậy? 
Tôi giác ngộ ra cảnh giới mà kinh điển thường nhắc đến "hầm lửa hóa thành ao sen trắng". 
Tôi đang dạo bước trong mặt trời, đây là lần đầu tiên trong đời tôi, chưa từng nghe nói có ai có thể dạo bước trong mặt trời. 
(Trên mặt trăng có người dạo bước, đó là Armstrong.)

Dạo bước trong mặt trời, chưa từng nghe thấy ai làm được điều đó.
Tôi không hề mơ hồ.
Cũng không hề chóng mặt hoa mắt.
Trong lòng hiểu rõ, đây là mặt trời, là mặt trời mà người ta không dám nhìn thẳng vào.
Tại sao thực sự đến được mặt trời? Và ngọn lửa với ánh sáng nóng bỏng kia, sao lại trong lành mát mẻ đến thế?
Tôi thấy trong mặt trời có một cõi Phật, vị chủ nhân của cõi Phật này tên là Tạp Sắc Bảo Hoa Hằng Quang Phật.
Tịnh độ của Ngài ở ngay trên mặt trời.
Lúc này, tôi mới hiểu ra, thì ra tôi có thể dạo bước trên mặt trời là nhờ uy lực gia trì của Hằng Quang Phật.

Tôi lại thấy:
Không chỉ có một Hằng Quang Phật, ngoài Ngài ra còn có ba nghìn vị Hằng Quang Phật.
Lúc này, tôi hiểu ra, không chỉ có một mặt trời, mà có đến ba nghìn mặt trời. (Xếp thành hàng giống như trứng gà.)
Thật đúng là:
Vô lượng quang.
Vô lượng thọ.
Tôi muốn hiểu, chữ "Hằng" trong Hằng Quang Phật có ý nghĩa gì?
Hằng Quang Phật bảo tôi:
Đi một vòng và bắt đầu lại.
Bắt đầu lại rồi lại đi một vòng.
(Đây là tuần hoàn.)
Duỗi ra và dài ra.
Thu vào và định.
(Đây là hành khí)
Định rồi sáng..
Sáng rồi vững.
(Đây là quang minh.)
Chết trở về sinh.
Sinh trở về chết.
(Đây là vĩnh hằng.)


### 24. Mộng đến rồi mộng lại qua


Đảnh lễ tri ân Đại Từ Bi Phụ, Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Phật.

Kính chúc Sư Tôn Sư Mẫu thánh an!

Đệ tử từ khi quy y năm 1989, theo Sư Phật học tập Chân Phật Mật Pháp mấy chục năm, gần đây càng ngày càng thật sự cảm nhận được diệu giác diệu thọ của Chân Phật Mật Pháp. Có thể nói, muốn cảm ứng thì có cảm ứng, không muốn cũng có cảm ứng, vi diệu không thể nói, thật sự không thể không nói ra, không nhịn được phải trình báo với Sư Phật.

Ngày 13 tháng 8 năm 2023, Sư Phật chủ trì Pháp hội Hộ Ma Kỵ Long Bạch Tài Thần tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đệ tử vì hoàn toàn không cầu xin gì, nên như ngày thường, thoải mái tắm mình trong dòng pháp lực gia trì của Sư Tôn. Khi Hộ Ma gần kết thúc, bất ngờ thấy trước chân có một túi $ vàng óng ánh, trong lòng vui mừng, nghĩ rằng người xuất gia không có vận tài lộc bất ngờ, cũng không mua vé số (mua cũng không trúng), Tài Thần ban tài, chắc là đạo tràng sẽ có tài lộc. Quả nhiên, sau đó đạo tràng tổ chức Pháp hội Lương Hoàng Bảo Sám, cuối cùng đã chuyển lỗ thành lãi, thật là không cầu mà linh ứng!

Ngày 20 tháng 8, tham gia Pháp hội Hộ Ma Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm của Sư Phật, âm thanh thần chú vô cùng du dương và mạnh mẽ. Đang đắm chìm trong đó, bỗng cảm thấy đan điền nóng lên, toàn thân cứng lại, tiếp đó thấy từ vùng đan điền trong cơ thể bắn ra một chùm ánh sáng rực rỡ như tia hàn điện, phát ra dòng điện quang liên tục không ngừng, chùm sáng có dạng tia, dạng sao khác nhau, như cây lửa hoa bạc tạo thành cảnh tượng kỳ diệu, kéo dài rất lâu. Hôm đó vốn đã mệt mỏi vì đường xa, nhưng lúc trở về tinh thần tràn đầy, không còn chút mệt mỏi nào.

Ngày 21 tháng 8, năm nay cháy rừng ở Vancouver phía Tây Canada gấp sáu lần so với mười năm qua, ô nhiễm không khí vô cùng nghiêm trọng, khắp bầu trời mây mù che phủ, khói mù lan tràn, rất nhiều người dân bị bệnh về đường hô hấp. Sáng sớm thấy pháp sư bị nghẹt mũi khó thở, rõ ràng bị ảnh hưởng bởi sương mù, nghĩ rằng Quan Âm có thể trừ tai, nên nhờ vào sự gia trì lớn lao của Sư Phật và Quan Âm hôm qua, vội vàng nỗ lực làm một lễ Hộ Ma Thiên Thủ Quan Âm, đồng thời phát tâm bồ đề lớn, nhất tâm cầu nguyện Sư Phật, Quan Âm Tam Bảo gia trì, để dập tắt cháy rừng và sương mù. Đêm đó lúc năm giờ sáng, vui mừng thấy những ngọn núi xa xăm trước đây mờ ảo không thấy rõ nay hiện ra trước cửa sổ, bầu trời u ám cũng đã quang đãng. Quả thật Sư Phật gia trì lớn, Mật pháp thật là lợi hại!

Ngày 23 tháng 8, trong thiền định sáng sớm không một chút tư tưởng vọng tưởng, bỗng thấy Thánh Quan Âm Thập Nhất Diện hiển hiện.

Ngày 27 tháng 8, đệ tử nhận thấy gần đây nhờ sự chỉ dạy từ bi và gia trì trực tiếp của Sư Phật, cảnh giới thiền định rõ ràng sâu sắc và vững chãi hơn. Trên đường đi tham dự Pháp hội Hộ Ma Địa Tạng Vương Bồ Tát Vu Lan của Sư Phật, vừa nghe băng khai thị của Sư Phật vừa thiền định. Bỗng nhiên thiên nhãn mở ra, thấy một vật trắng tinh, quan sát kỹ, kinh ngạc thấy được cảnh tượng chất não màu trắng ngà trong đầu mình xếp chồng lên nhau.

Hôm đó thời tiết nóng bức trên 30 độ, áp suất thấp nhiệt độ cao, khiến người ta khó thở, rất khó chịu. Mọi người mong ngóng Sư Phật đến điện Hộ Ma, khi thầy vừa đến tinh thần ai nấy đều phấn chấn. Sư Phật vừa kết giới, đốt lửa Hộ Ma lên, trường khí lập tức thay đổi, linh lực tràn đầy. Trong lòng nghĩ hôm nay chắc chắn sẽ có điều kỳ diệu, nên nhất tâm hòa vào trong pháp, quả nhiên chủ tôn Địa Tạng Vương Bồ Tát hiển hiện trong vầng hào quang vàng rực, phía sau còn xuất hiện hàng hàng lớp lớp Địa Tạng Vương Bồ Tát và đồng tử. Đệ tử hòa vào cõi tịnh độ tỏa sáng này, rất lâu rất lâu, thanh tịnh vô cùng, pháp hỷ tràn đầy. Sau khi kết thúc, pháp sư dưới đài chạy lên tấm tắc khen ngợi rằng, chưa từng thấy Sư Phật trên đài toàn thân phát sáng như vậy, đệ tử đầu và tay cũng phát sáng, thật là một điềm lành kỳ diệu, ôi! Quả thật là một buổi diễn pháp thật tuyệt vời!

Ngày 28 tháng 8, đệ tử nhận thấy thứ Bảy này là ngày Thánh đản của Bổn tôn Diêu Trì Kim Mẫu, không dám có chút sơ suất nào đối với Người, nên ngay từ hôm nay đã bắt đầu thành kính khởi kiến chuỗi lễ Hộ Ma cúng dường Kim Mẫu và các hóa thân. Không ngờ sau khi làm xong đàn đầu tiên, sáng sớm 6 giờ hôm sau, bỗng có một giấc mơ tuyệt vời chưa từng có. Trong mơ Sư Phật hiện đến dẫn con nhảy múa, ôi! "Cùng Phật nhảy múa"! Lại còn là điệu nhảy áp má! Con vốn không biết nhảy, nhưng dưới sự dẫn dắt uyển chuyển, thành thạo và nhẹ nhàng của Sư Phật, bước trước bước sau, con đã có thể lướt theo mà không giẫm chân. Tiếc thay, cuối cùng, khi Sư Phật dang hai tay định nâng bổng bạn nhảy lên cao, thử liền hai lần đều không thành công.

Ôi! Có lẽ không phải do vấn đề "trọng lượng" của thân thể, mà là vì đệ tử còn "nặng trược", cuối cùng đã phụ lòng tốt của thầy rồi! Sau khi tỉnh dậy, đệ tử còn hơi thắc mắc, rõ ràng là cúng Kim Mẫu, sao lại là Sư Tôn đến? Pháp sư thông minh nói ngay: "Sư Tôn chính là Kim Mẫu! Kim Mẫu cũng chính là Sư Tôn!" Đúng vậy! Sau đó, mỗi ngày làm Hộ Ma Kim Mẫu, nhưng Sư Phật liên tục xuất hiện trong mơ, thật là kỳ diệu thay! Không khỏi giật mình thầm nghĩ, chẳng lẽ tu hành bao nhiêu năm nay, không thành "phân thân" của Sư Phật mới là lạ?!

Ngày 31 tháng 8, buổi lễ Hộ Ma cúng dường cuối cùng trước ngày Thánh đản của Kim Mẫu, chủ tôn là Kim Diện Kim Mẫu và Vạn Phật Thủ Vô Cực Nhãn Diêu Trì Kim Mẫu. Trong quá trình hành pháp, đệ tử càng hiểu sâu sắc hơn về cách tự điều khiển ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) và trí (căn bản trí); pháp bên ngoài là quán tu hữu tướng, căn bản trí là vô tướng, hữu tướng và vô tướng trong hành pháp phải đạt đến cảnh giới "song dung nhậm vận" mới là cảnh giới cao. Sư Phật giảng Kinh Kim Cang nói, tu hành không chấp có, cũng không được chấp không, đó chính là lý thú tương đồng "không hữu song vận". Vì vậy, hành giả Mật giáo trong khi hành pháp, cũng phải rèn luyện pháp môn bất nhị "không hữu song vận" này đến mức thuần thục, không giả tạo, thành tựu thành bậc đạo nhân "vô tu" mà vẫn tu.

Đệ tử thấu hiểu sâu sắc rằng mọi cảm ứng đạo giao trong Mật pháp đều là sự thị hiện từ bi của Sư Phật và chư tôn, là sự khích lệ và hơn thế nữa là sự gia trì. Hành giả phải chuyển hóa "giao lưu ý thức" giữa người và trời này thành trí tuệ "không" trong từng sát-na, nhờ đó có thể tăng trưởng Phật trí qua mỗi lần giao hội tâm linh, chứng đắc vô thượng bồ đề. Đây chính là quá trình tu luyện "chuyển thức thành trí" mà Sư Phật đã chỉ dạy. Suy nghĩ đến đây, đệ tử sâu sắc nhận ra rằng, tâm thái tư duy học Phật của con thuở ban đầu và hiện tại quả thật không thể so sánh được. Nếu không có hơn ba mươi năm ngày đêm nhất tâm hộ sư hộ giáo, làm sao có thể siêu phàm thoát tục, từ sự lấp lánh của thế gian, cam tâm quay về với sự tĩnh lặng bình thường, trở về với chân như được?!

Nhớ lại lời khai thị của Sư Phật sau Pháp hội Hộ Ma Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm ngày 20 tháng 8, về thế giới quan lý tưởng của Sư Phật: các quốc gia không nên tranh giành bá chủ, mà hãy cùng tồn tại thịnh vượng, giúp đỡ lẫn nhau, không có quân đội và chiến tranh, thế giới sẽ viên mãn. Đệ tử cho rằng, đứng từ góc độ cá nhân, nếu mọi người đều học tập Thánh giáo của Đức Phật, nương nhờ sự gia trì của các bậc Thánh linh thành tựu trong vũ trụ và công hạnh tu trì của chư Phật Bồ Tát, chuyển hóa ngũ độc (tham sân si nghi mạn) và vô minh (nghiệp thức) thành ngũ trí thanh tịnh của Phật (ý thức vũ trụ), thì toàn thể thế giới địa cầu cuối cùng sẽ hòa bình quang minh.

Hơn nữa, “Kinh Phật Thuyết Di Lặc Hạ Sinh” của Đức Phật cũng mang đến cho chúng sinh niềm hy vọng và khát khao lớn lao về tương lai; khi Bồ Tát Di Lặc hạ sinh xuống thế giới Ta Bà, sẽ có Long Hoa Tam Hội vô cùng thù thắng. Lúc đó, Đức Phật Di Lặc sẽ dùng đại thần biến lực "Duy Thức" để độ 96 ức người đắc quả A La Hán trong hội thứ nhất; độ 94 ức người đắc quả A La Hán trong hội thứ hai; và độ 92 ức người đắc quả A La Hán trong hội thứ ba. [1 ức là 100 triệu]

Phật Đà dạy: "Đức Phật Di Lặc sẽ thọ tám vạn bốn nghìn tuổi. Sau khi nhập Niết Bàn, chính pháp sẽ tồn tại thêm tám vạn bốn nghìn năm. Điều này là vì lúc đó chúng sinh đều có căn cơ lanh lợi." Khi ấy, đất đai màu mỡ, dân chúng thịnh vượng, của cải châu báu dồi dào, mọi ô uế tự tiêu trừ, thời tiết điều hòa thuận lợi, lòng người bình đẳng, thân không bệnh tật, gặp nhau vui vẻ, nói năng từ ái, người dân Diêm Phù Đề lớn nhỏ đều bình đẳng, không phân biệt. ... Như vậy, có thể mong chờ một thời đại thịnh vượng tốt đẹp.

Đúng như lời dạy của Phật Đà và Sư Phật, sự "thành trụ hoại không" của Trái Đất đều chỉ là "tạm thời", "chúng sinh rồi sẽ thành Phật"!

Đệ tử vô cùng tri ân lời dạy của Sư Phật về sự không khác biệt giữa Pháp thân, Báo thân và Ứng thân. Sự trưởng thành tâm linh của đệ tử hoàn toàn nhờ vào đại gia trì của Sư Phật, kính xin Sư Phật không xả bỏ, luôn nhiếp thọ!

Kính chúc Sư Phật Phật thể an khang, trường thọ trụ thế chuyển pháp luân.
Kính chúc Sư Mẫu khỏe mạnh trường thọ, hộ sư hộ giáo thành Phật đạo.
Đệ tử Liên Từ đảnh lễ kính cẩn.
Ngày 3 tháng 9 năm 2023.

🌟

Đọc được cảm ngộ của Thượng sư Liên Từ.
Tôi (Lư Sư Tôn) viết một đoạn văn ngắn như sau:
Cuộc đời như giấc mộng.
Và cảm ngộ của Thượng sư Liên Từ là mộng trong mộng, nên tôi viết "Mộng đến rồi mộng lại qua".
Tất cả đều là mộng mộng mộng mộng mộng.
Trong cõi Ta Bà này, chỉ xem ai mộng "đẹp", ai mộng "xấu" mà thôi.

“Tâm Kinh” dạy chúng ta:
Không thọ tưởng hành thức.
Không mắt tai mũi lưỡi thân ý.
Không sắc thanh hương vị xúc pháp.
Không ý thức giới.
Không vô minh. Không già chết.
Không khổ tập diệt đạo. Không trí cũng không đắc.
Tại sao vậy? Đáp án là "tất cả đều là huyễn mộng".

Chính vì tất cả đều là huyễn mộng, hành giả nhận rõ điểm này mới có thể chứng đắc sáu thần thông, dứt sạch phiền não, chứng đắc bồ đề tâm (Phật tính).


### 25. Diêu Trì tiên yến


Liên Hoa Tiểu Phân trong tam muội.
Cô thấy Lư Sư Tôn nắm tay mình bay lên trời, bay mãi đến thế giới hư không.
Khi đến thế giới hư không, mới thấy Diêu Trì Kim Mẫu đang chủ trì yến tiệc của các tiên.
Cô rất ngạc nhiên, vì trong yến tiệc Diêu Trì lại có thêm một Lư Sư Tôn nữa, thì ra trên trời có một Lư Sư Tôn, dưới trần gian cũng có một Lư Sư Tôn.
Vị nào là thật?
Vị nào là giả?

Cô thấy Diêu Trì Kim Mẫu ngồi trên cỗ xe phượng hoàng rực rỡ ánh sáng, bao quanh là những tia hào quang nhiều màu sắc.
Trên đầu của Lư Sư Tôn tỏa ra ánh sáng đỏ rực, có rất nhiều thiên nữ và Phật Mẫu theo hầu bên cạnh Lư Sư Tôn.
Thấy Phật A Di Đà ngồi bên phải trong yến tiệc Diêu Trì, có Quan Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát hai bên.
Bên trái của Diêu Trì Kim Mẫu có bảy vị thị nữ lớn, ba nghìn thiên nữ. Ngoài ra còn có Thượng Nguyên Phu Nhân, Trung Nguyên Phu Nhân, Hạ Nguyên Phu Nhân, Vân Hoa Phu Nhân, La Kế Phu Nhân...

Phía trên, phía dưới có chư Phật, chư Bồ Tát lớn nhỏ, và xung quanh có Kim Cang, Long Thiên, Hộ Pháp, Không Hành Mẫu, tiên nam, tiên nữ, đồng nam, đồng nữ.
Lại có nhiều tiên đúng là cưỡi mây bay đến!
Quả thật là:
Từng đàn hạc tiên.
Chim xanh.
Rồng bay.
Phượng múa.
Ánh cầu vồng và quang khí mười phương giao hòa với nhau đẹp tuyệt vời.
Trong tiệc tiên đang diễn ra, tất cả quả tiên, rượu tiên, nước tiên, phẩm vật tiên, mật tiên đều bay qua bay lại trong không trung.
Dâng lên trước chư Phật Bồ Tát thần tiên.
Còn có: nhạc trời du dương.
Có tiên nữ múa.
Không Hành Mẫu múa.
Kim Cang Thần múa.
Nhạc trời - khúc nhạc này chỉ có ở cõi trời, cõi người chưa từng nghe.
Hương trời - hương thơm tràn ngập, khiến người tinh thần phấn chấn.
Ánh sáng trời - tỏa khắp mười phương, thông thoáng tươi đẹp.
Vũ điệu trời - dáng vẻ tuyệt mỹ, vừa lòng đẹp mắt.
Diêu Trì Kim Mẫu phóng đại từ quang, chiếu khắp mười pháp giới. Và bảy vị Phật cũng tỏa ra ánh sáng bảy màu dày đặc.
Lại có đèn vàng lấp lánh khắp mười phương.
Các loại hương hoa, mùi thơm tràn ngập.

Diêu Trì Kim Mẫu thấy Lư Sư Tôn nắm tay cô ấy, từ ái nói:
"Đặc biệt chào đón hai con!"
Lúc này, dòng pháp lực liên tục gia trì trên thân hai người chúng tôi, Tiểu Phân cảm thấy năng lượng tràn ngập ra ngoài.
Lư Sư Tôn rất vui.
Liên Hoa Tiểu Phân rất vui.
.............

Lúc này, trong tam muội Liên Hoa Tiểu Phân bỗng nghe thấy tiếng của Lư Sư Tôn từ pháp tọa ở Seattle Lôi Tạng Tự.
"Tiểu Phân! Cô hãy ra múa đi."
Thế là,
Liên Hoa Tiểu Phân tỉnh dậy, bước đến giữa đàn thành, tự nhiên diễn lại điệu múa trên trời, còn hát một đoạn ngắn bài ca của Không Hành Mẫu.
Lúc này,
Tín chúng kinh ngạc đến sững sờ.
Liên Hoa Tiểu Phân nói:
"Tại đây, con xin cảm ơn gia trì lực của Lư Sư Tôn, cảm ơn thầy đã dẫn con lên trời tham dự yến tiệc Diêu Trì, cho con một bài học quý báu."
Nhân gian có lễ Thánh đản Diêu Trì Kim Mẫu.
Thiên thượng có yến tiệc Diêu Trì.


### 26. Nói về Diêu Trì tiên yến


Theo Lư Sư Tôn biết được:
Trên trời có Lư Sư Tôn, dưới trần có Lư Sư Tôn, đây đều là chuyện rất bình thường.
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có Pháp thân, Báo thân, Ứng thân.
Pháp thân - Tỳ Lô Giá Na Phật.
Báo thân - Lô Xá Na Phật.
Ứng thân - Thích Ca Mâu Ni Phật.

Và Lư Sư Tôn cũng có ba thân:
Pháp thân - Tỳ Lô Giá Na Phật.
Báo thân - A Di Đà Phật.
Ứng thân - Liên Hoa Đồng Tử Lư Sư Tôn.

Quan Thế Âm Bồ Tát cũng có ba thân:
Pháp thân - Chính Pháp Minh Như Lai.
Báo thân - Quan Thế Âm Bồ Tát.
Ứng thân -
Quan Thế Âm Nghìn Tay Nghìn Mắt, Quan Thế Âm Hương Sơn Hội,
Quan Thế Âm Thiên Trúc Linh Sơn, Quan Thế Âm Phổ Đà Sơn,
Quan Thế Âm Triều Vân Động, Quan Thế Âm Nam Hải Ngạn,
Quan Thế Âm Bắc Hải Hà Đầu, Quan Thế Âm Tọa Liên Tống Tử,
Quan Thế Âm Phong Ba Lãng Thượng, Quan Thế Âm Bản Thảo Linh Sơn,
Quan Thế Âm Hoa Hóa Ngư Lam, Quan Thế Âm Bạch Y Tố Hiện,
Quan Thế Âm Tử Trúc Lâm Trung, Quan Thế Âm Tăng Phúc Minh Vương,
Quan Thế Âm Ngũ Luân Pháp Thủy, Quan Thế Âm Ngũ Thập Tam Tham,
Quan Thế Âm Thất Thập Nhị Nguyện, Quan Thế Âm Tam Thập Lục Nguyện,
.............

Theo như tôi biết, ứng hóa thân của Quan Thế Âm Bồ Tát có hàng trăm tỷ, không thể kể xiết.
Còn tôi (Lư Sư Tôn nhỏ bé này) cũng có nhiều hóa thân, hiện tại ở khắp nơi trên thế giới, đều có người đích thân chứng kiến.
Cho nên việc có Lư Sư Tôn trên trời là chuyện bình thường.
(Chỉ cần hòa nhập vào hư không là được)

🌟

Ở cõi trời —
Hoa không tàn úa!
Áo không vấy bẩn!
Thân tỏa ánh sáng thơm!
Ở trong cung điện bảy báu!
Thức ăn là tinh khí!
Tuổi thọ ở cõi trời cũng là vô lượng.
Ví như tuổi thọ của Đại Phạm Thiên, phải trải qua một trăm chu kỳ "thành trụ hoại không" của trái đất mới hết một đời.
Thật là vô lượng thọ.
Ở cõi trời có vô số cảnh đẹp. Không thể dùng ngôn ngữ văn tự để miêu tả vẻ đẹp của nó.
Niềm vui ở cõi trời, không thể diễn tả.
Âm thanh cõi trời.
Nhạc trời.
Vũ điệu cõi trời.
Trang sức cõi trời.
Trò vui cõi trời.
Tất cả những điều này hoàn toàn vượt ngoài sức tưởng tượng của con người.
Như thế giới Cực Lạc của Phật A Di Đà thật khó tưởng tượng:
Bảy lớp lan can.
Bảy lớp lưới võng.
Bảy lớp hàng cây.
(Tất cả đều được tạo thành từ thất bảo)
Nước tám công đức, đáy hồ toàn cát vàng, trên mặt hồ có hoa sen to như bánh xe, vi diệu thơm tho thanh khiết.
Cung điện như đế võng minh châu, toàn bằng vàng ròng xây dựng, nối tiếp lên tận mây xanh.
Phật A Di Đà hóa hiện ra chim anh vũ, khổng tước, ca lăng tần già, cộng mạng, cùng hòa tấu âm thanh vi diệu của cõi trời.
.............

Phật quốc tịnh độ lại là một cảnh tượng khác.
Những điều này không thể kể xiết!


### 27. Con gái của Diêu Trì Kim Mẫu


Đây là giấc mơ của Liên Hoa Hân Hân:
Sư Phật ngồi trên tấm thảm ở Tây Thành Lôi Tạng Tự, xung quanh toàn là đồng môn vây quanh, lắng nghe Sư Phật khai thị.
Sư Phật nói với đại chúng:
"Nếu bạn thấy hai luồng ánh sáng dừng trên đầu mình, là ánh sáng hồng và xanh lục nhạt, hãy đến đây gặp Lư Sư Tôn, bạn chính là con gái của Diêu Trì Kim Mẫu."
Sư Phật nói tiếp:
"Kích thước của hai luồng ánh sáng này trông như cỡ một cái đĩa."
Sư Phật vẫy tay một cái.
Liền xuất hiện ánh sáng hồng và xanh lục nhạt, xoay tròn tròn, như con ngươi của mắt người, to bằng cái đĩa.
Hai bên đệ tử có hai người nữ, hai luồng ánh sáng này bay lên phía trên đỉnh đầu đệ tử, nhưng, ở vị trí khá cao, con không dám đường đột bước đến chỗ Sư Phật.

Nhưng, hai người nữ bên cạnh cũng nhìn thấy hai luồng ánh sáng, trong đó có một người nữ mặc áo đen, dáng người cao và xinh đẹp, đã đứng dậy.
Chạy vội đến trước mặt Sư Phật.
Dang rộng hai tay.
Ôm chặt lấy Sư Phật, và Sư Phật để cô ấy ngồi trong lòng mình.
Hai người như một đôi tình nhân vậy.
Xung quanh có rất nhiều đồng môn, nhưng hai người dường như không để ý đến ai, ôm nhau rất thân mật.

Lúc này,
Đệ tử bỗng xuất hiện trước mặt Sư Phật, thấy Sư Phật đang ôm chặt cô gái áo đen, chứ không phải đệ tử, trong lòng nghĩ thầm: "Thì ra con gái của Diêu Trì Kim Mẫu không phải là mình."
Con đành mỉm cười, gửi lời chúc phúc.
Rồi đi đến khu bán đồ Phật.
Bất chợt,
Hai luồng ánh sáng ấy lại bay đến đỉnh đầu con, xoay vòng trên đầu con một lúc rồi dừng lại.
Con vốn định bước đến trước mặt Sư Phật.
Nhưng,
Con vẫn đứng yên tại chỗ, sợ rằng lại là một sự nhầm lẫn.
Một cô gái bên cạnh nói:
"Sư Phật đã nói rồi, có hai luồng ánh sáng dừng trên đỉnh đầu là đúng, sao cô vẫn chưa đến?"
Con vẫn không dám động đậy, con không có tự tin đó là mình. Con không thể mạo nhận mình là con gái của Kim Mẫu.
Sau đó,
Có một luồng ánh sáng trắng rực rỡ, như một đám mây, nâng toàn thân con lên.
Đưa con lên trời, đám mây ánh sáng trắng, bay nhanh qua trái qua phải, bay Đông bay Tây, bay lên bay xuống, bay đến nỗi con sợ hãi trong lòng.
Muốn kêu.
Muốn hét.
Rồi từ trên không trung bay xuống, đưa con đến trung tâm Tây Thành Lôi Tạng Tự, dừng lại trước mặt Sư Phật.

Sau đó, mọi chuyện càng thêm kịch tính.
Sư Phật bỗng hóa thành Diêu Trì Kim Mẫu.
Vị Diêu Trì Kim Mẫu này rất giản dị, tóc búi cao, chỉ đeo đồ trang sức đơn giản, mặc áo dài xanh nhiều tầng, thắt nơ bướm ở eo, có dải lụa đỏ như thiên nữ bay bay.
Diêu Trì Kim Mẫu mỉm cười từ ái, như một người mẹ nhìn con của mình.
Kim Mẫu nói:
"Con thiếu gì?"
Con không thốt nên lời.

Con nói với cô gái mà trước đó được Sư Phật ôm:
"Chúng ta phải trân trọng duyên phận!"
Cô gái áo đen gật đầu. Và rồi, giấc mơ kết thúc.
Liên Hoa Hân Hân xin hỏi, đây là giấc mơ gì vậy?


### 28. Chuyện phiếm về “con gái của Diêu Trì Kim Mẫu”


Theo Lư Sư Tôn tôi biết:
Hiện nay tại Từ Huệ Đường ở Đài Loan (miếu của Diêu Trì Kim Mẫu), các nữ tín đồ trong đó đều mặc áo xanh.
Họ gọi Diêu Trì Kim Mẫu là Mẫu Nương.
Thực ra họ đều là nghĩa nữ.
Cũng đều là con gái của Diêu Trì Kim Mẫu, đây là cách gọi chung.
Như vậy,
Mọi người đều là con gái của Diêu Trì Kim Mẫu.
Nam tín đồ của Từ Huệ Đường cũng mặc áo xanh như vậy, họ cũng gọi Diêu Trì Kim Mẫu là Mẫu Nương.
Đều là con trai của Diêu Trì Kim Mẫu.

Kinh Đạo nói:
"Chín mươi sáu nguyên linh tỏa xuống!"
Vì vậy mỗi người đều là con trai con gái của Diêu Trì Kim Mẫu, đều là một thể chung.

🌟

Diêu Trì Kim Mẫu yêu cầu tôi (Lư Sư Tôn) tìm kiếm con gái của Ngài, điều này lại khác biệt.
Những người con gái trên thiên giới của Diêu Trì Kim Mẫu là:
Hoa Lâm.
Mị Lan.
Thanh Nga.
Diêu Cơ.
Ngọc Chi.
.............

Theo như tôi biết, Diêu Trì Kim Mẫu có rất nhiều con gái, trong "Phong Thần Bảng" do Lục Tây Tinh viết, cũng có nhắc đến một người con gái của Diêu Trì Kim Mẫu.

Ngoài ra còn có:
Thanh Loan.
Thiếu Loan.
Ấu Loan.
Cũng nên được tính vào.
Thêm nữa, hai thị giả lớn của Diêu Trì Kim Mẫu:
Đổng Song Thành.
Hứa Phi Quỳnh.
Cũng nên được tính vào.
Diêu Trì Kim Mẫu còn có ba nghìn thị nữ nữa!
Từ khi Diêu Trì Kim Mẫu yêu cầu tôi tìm kiếm con gái của Ngài, tôi đã rất nghiêm túc tìm kiếm.

Theo chỉ thị của Diêu Trì Kim Mẫu:
Họ có những dấu hiệu đặc biệt.
Trên người hoặc trong đường chỉ tay có ấn ký.
Có quang khí.
Trên người có hào quang đặc biệt.
Trên người có hương thơm kín đáo.
Loại hương thơm này chỉ có ở thiên giới, không có ở nhân gian.
.............

Những nhân gian kỳ nữ này đều có những điểm đặc biệt, từ những dấu hiệu nhỏ nhặt đều có thể tìm ra được.
Diêu Trì Kim Mẫu nói:
"Từ thời xa xưa, Liên Hoa Đồng Tử và con gái của Diêu Trì Kim Mẫu đã có duyên phận đặc biệt, những người thật sự là con gái của Diêu Trì Kim Mẫu, vừa gặp Lư Sư Tôn là lập tức xúc động, nước mắt tuôn rơi. Từ trường của họ hoàn toàn tương hợp."

Tôi viết một bài thơ:

*Tuy chưa cùng một chốn,
Ngày đêm vẫn chung lòng.
Đất nước xa vạn dặm
Cùng tụ linh tính này.
Dấu ấn tuy hữu hình,
Tâm tư chốn vô hình.
Một khi nhận ra nhau,
Dẫn người lên thiên đình.*


### 29. Thư của Thượng sư Liên Lai


Sư Phật:
Dưới đây là suy đoán của đệ tử về ý nghĩa lời dạy của Duy Ma Cật Đại Sĩ dành cho A Nan, kính mong Sư Phật từ bi chỉ dạy và sửa sai.

Về việc Sư Phật hỏi các thánh đệ tử rằng việc Duy Ma Cật Đại Sĩ quở trách A Nan có hợp lý hay không, đệ tử cảm thấy đây là một câu hỏi mang tính bẫy, đồng thời cũng là phương tiện tùy cơ giáo hóa. Đệ tử không khỏi nghĩ ngợi, phải chăng đây cũng là một trò chơi giữa Duy Ma Cật Đại Sĩ và Sư Phật, để xem ai là phiên bản A Nan trong thực tế.

Có thể chăng bất kì thánh đệ tử nào cố gắng trả lời câu hỏi này, nếu không quán chiếu tâm niệm của chính mình, giữ gìn tâm thanh tịnh, xem thầy như Phật, thì các đệ tử đều có thể trở thành A Nan thứ hai.

Nếu Duy Ma Cật Đại Sĩ có mặt tại đây, có lẽ ngài sẽ lập tức "giáo huấn" bất kì thánh đệ tử nào đang cố gắng trả lời câu hỏi của Sư Phật về "việc A Nan khất thực sữa có hợp lý hay không". Duy Ma Cật Đại Sĩ có lẽ sẽ dạy tương tự như sau: "Bạn không thể cho rằng vị Căn bản Thượng sư của mình không biết cách trả lời, hoặc trả lời chưa viên mãn. Căn bản Thượng sư của bạn đã chứng đắc Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác, viên mãn căn bản trí, sai biệt trí, nhất thiết chủng trí. Tất cả giáo pháp đều tùy duyên, thuyết pháp đều vô ngại, Căn bản Thượng sư của bạn là bậc Chính Biến Tri, Thế Gian Giải, Điều Ngự Trượng Phu, bạn không nên cho rằng giáo pháp của Căn bản Thượng sư có sai lệch mà thử sửa đổi lời Phật dạy."

Mặc dù A Nan có lòng tin kiên định nơi Phật Đà, nhưng chưa đạt được tịnh tín một trăm phần trăm. A Nan tuy hiểu rằng Đức Phật là bậc đại thành tựu giả, viên mãn bồ đề, giác tính viên mãn. Nhưng vì bản thân A Nan còn hữu lậu, tất cả những gì thấy được vẫn còn hữu lậu, do quá gần gũi với Đức Phật nên "gần sinh khinh mạn", không thể bảo nhậm "xem thầy như Phật". Khi thấy sắc thân Phật Đà có bệnh tật, tự nhiên sinh ra một số phản ứng cảm xúc, xuất hiện tri kiến hữu lậu, cho rằng hóa ra Đức Phật cũng không phải là đấng toàn năng, Đức Phật cũng giống như phàm nhân, có khổ có bệnh, Đức Phật cũng không thể hóa giải bệnh tật của chính mình. A Nan không nhận ra rằng những suy nghĩ như vậy là không thanh tịnh.

Giống như các đệ tử khác, cũng dễ sinh ra những ý nghĩ hữu lậu, một khi thấy Căn bản Thượng sư thân thể xuất hiện bệnh tật, ngôn hành cử chỉ hiện tướng phàm phu, liền sinh ra nghi hoặc, cho rằng Căn bản Thượng sư của mình cũng giống như phàm phu, không thể giải trừ bệnh khổ của chính mình, không thể thanh tịnh tập khí của mình.

Cần phải nhận thức rằng Căn bản Thượng sư là Báo thân Phật viên mãn, cũng là Pháp thân Phật thanh tịnh, đồng thời cũng phải nhận thức rằng Căn bản Thượng sư là Ứng thân Phật có nhục thân, những tri kiến này tự thân nó tương đương với việc quán tịnh thổ và uế thổ là bình đẳng, là sự song vận của chân không và huyễn hữu. Chúng ta là những đệ tử vẫn đang tu hành thanh tịnh thân khẩu ý, chưa thể có tri kiến rằng "tịnh uế nhất như". Chúng ta là những đệ tử đều còn hữu lậu, rất khó để luôn luôn giữ được cái thấy thanh tịnh, một khi ngôn hành cử chỉ của Sư Phật không như ý nguyện và suy nghĩ của mình, các đệ tử rất dễ sinh khởi những ý niệm bất cung kính. Từ việc của A Nan, có thể thấy rằng xem thầy như Phật không phải là điều dễ dàng!

Từ lời dạy của Duy Ma Cật Đại Sĩ dành cho A Nan, đệ tử thấy được pháp vị của "tâm tịnh tất cả đều tịnh". Nếu "tâm" xem thầy như Phật, tự nhiên tất cả hành vi cử chỉ của Sư Phật đều là công đức của Phật, bao gồm giáo pháp của Sư Phật đều là Phật pháp hoàn hảo nhất tùy theo địa phương, thời điểm và đối tượng.

Những suy đoán trên, nếu có lời lẽ không phù hợp, hoặc có bất kỳ ý niệm bất kính nào đối với Sư Phật, kính xin Sư Phật tha thứ và tịnh hóa.

Cảm ơn Sư Phật từ bi giảng giải Kinh Duy Ma Cật cho các đệ tử, những lời khai thị chưa từng được nghe, phi thường, khiến người nghe như được khai mở tầm mắt, tâm môn bừng sáng, khai mở trí tuệ tầng tầng lớp lớp cho các đệ tử, tràn đầy ánh sáng và pháp hỷ.

Đệ tử Liên Lai kính cẩn đảnh lễ.

🌟

Sau khi đọc thư của Thượng sư Liên Lai, tôi có một giấc mơ:
Trong mơ,
Tôi đối thoại với Duy Ma Cật Đại Sĩ:
Lư Sư Tôn hỏi:
"Phật Thích Ca Mâu Ni có bệnh không?"
Duy Ma Cật đáp:
"Không."
Lư Sư Tôn hỏi:
"Phật Thích Ca Mâu Ni khi còn tại thế, rõ ràng có bệnh tật, như chứng đau nửa đầu và lúc nhập diệt cuối cùng là do ngộ độc thực phẩm mất nước mà viên tịch, sao có thể nói một chữ Không?"
Duy Ma Cật hỏi lại tôi:
"Ngài có biết Kinh Duy Ma Cật nói về điều gì không?"
Lư Sư Tôn đáp:
"Duy tâm."
Duy Ma Cật hỏi:
"Ngài biết đó là duy tâm, vậy Phật Thích Ca Mâu Ni có bệnh không?"
Lư Sư Tôn đáp:
"Phật Thích Ca Mâu Ni có trí huệ vô lậu, nên không có bệnh."
Duy Ma Cật nói:
"Đúng vậy! Đúng vậy! Phật chứng đạo vô thượng, là tâm kim cang bồ đề, là tâm không bệnh!"
(Bệnh chẳng phải bệnh)
Lư Sư Tôn nói:
"Nhưng, nhục thân có bệnh khổ mà!"
Duy Ma Cật đáp:
"Nhục thân chỉ là huyễn ảnh tạm thời, trong huyễn không có gì cả. Có bệnh khổ cũng như không có bệnh khổ. Trong mộng rõ ràng có bệnh khổ, tỉnh dậy rồi thì không còn bệnh khổ, hiểu chăng! Hiểu chăng!"
Tôi Lư Sư Tôn hiểu ra:
Nếu chứng đắc "tâm vô thượng bồ đề", tất cả bệnh khổ cũng chỉ là huyễn ảnh tạm thời.


### 30. Giấc mộng xuân không để lại dấu vết


Liên Hoa Nguyên Nguyên nói:
Năm nay nhiều lần mơ thấy Sư Phật, cảnh trong mơ như sau:
Giấc mơ thứ nhất:
Vào ngày ứng hóa của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, khoảng 4 giờ sáng, con gặp được Sư Phật. Con rất xúc động, đưa ra một yêu cầu táo bạo: "Con muốn ôm Sư Phật."
Sư Phật từ bi gật đầu.
Con lập tức ngả vào lòng Sư Phật.
Ôm thật chặt.
Tay đặt ngang eo.
Mặt áp mặt.
Môi chạm môi.
Tư thế ngồi, như trong các bức tranh Mật tông.
(Phần văn bản còn lại được lược bỏ)
Sư Phật hỏi:
"Đây là tu hành, biết không?"
Con trả lời:
"Là tu hành, con đã sẵn sàng!"

Giấc mơ thứ hai:
Con mơ thấy mình ở Seattle, con nói với Sư Phật:
"Con đã nhiều lần muốn gặp Sư Phật, nhưng luôn bị người khác cản trở. Lần này cuối cùng cũng được gặp."
Thế là,
Sư Phật xoa đầu con.
Sau đó..........
(Phần văn bản được lược bỏ)

Giấc mơ thứ ba:
Con dìu Sư Phật đi bộ.
Đôi tay con đặt trên vai Sư Phật. Thân con áp sát vào người.
Rồi đầu Sư Phật tựa vào vai con, má kề má.
Bất chợt,
Có một la sát nữ với ý đồ xấu muốn hãm hại Sư Phật, con trở thành Hộ pháp, dũng cảm bảo vệ.
Hai bên giao đấu.
Con đã thắng!
Con là người bảo vệ chân chính của Sư Phật.
Con cảm thấy Sư Phật và con là một thể, là một không phải hai.

Giấc mơ thứ tư:
Con mơ thấy mình ở Seattle.
Sư Phật viết một chữ trên cửa kính trong suốt, rồi viết thêm ba chữ "Thầy thương con" màu đỏ.
Con đứng bên trong cửa kính.
Con thầm đọc không thành tiếng: "Con cũng thương thầy."
Thầy gật đầu.
Hiểu được khẩu hình của con.
Sau đó,
Sư Phật chủ trì đại pháp hội, người đông như nêm cối, con ngồi ngay bên cạnh Sư Phật.
Rồi,
Thầy nắm tay phải con bằng tay phải, tay trái nắm tay trái con, đan chéo siết chặt, mặt con áp sát vào mặt Sư Phật.
Cuối cùng con ngồi trong lòng Sư Phật.
Trước mặt mọi người.
Chúng ta như không có ai xung quanh.
Thể hiện sự hợp nhất.

Trên đây là giấc mơ của con, con muốn biết con thực sự là ai? Tại sao trong mơ, chúng ta lại thân thiết đến vậy? Sứ mệnh đời này của con là gì?

Nguyện dâng thân khẩu ý,
Cúng dường Đại Sư Phật;
Cùng tu Vô thượng mật,
Hóa cầu vồng bay đi.
(Những dòng trên, tôi (Lư Sư Tôn) có chỉnh sửa đôi chút.)


### 31. Phân tích bài “giấc mộng xuân”


Tôi (Lư Sư Tôn) đã đọc bài "Giấc mộng xuân không để lại dấu vết" và có những phân tích sau đây.

Qua giấc mơ có thể thấy Liên Hoa Nguyên Nguyên đã đầy đủ phẩm chất của Không Hành Mẫu (Thiên Nữ).
Không Hành Mẫu cũng chính là Phật Mẫu vậy.
Tuy nhiên, để trở thành Phật Mẫu Minh Phi cần có những điều kiện:
1. Là nhận thức được tính không.
Minh Phi cần biết rằng, sắc không bất nhị, thanh không bất nhị, hương không bất nhị, vị không bất nhị, xúc không bất nhị.
(Đây là tu hành trên con đường tham ái.)
Đầy đủ định lực và thắng quán của thứ tự sinh khởi.
Khí mạch minh điểm có sức mạnh chân thật to lớn.
Thông thạo việc giáng, đề, trì, tán.
Đây không phải là sự giao hợp nam nữ thế tục, mà là sự tu hành "không-lạc song vận”.

Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
"Tâm thanh tịnh là điều tối yếu, tâm thanh tịnh chính là tâm quang minh vậy."

2. Mục đích là khai mở mạch trung tâm và năm luân xa của Minh Phi.

Mở luân xa mật - thấy được câu sinh trí.
Mở luân xa rốn - đắc đại tự tại.
Mở luân xa tim - đắc pháp giới thể tính.
Mở luân xa cổ họng - đắc diệu quan sát.
Mở luân xa mi tâm - đắc đại viên kính.
Mở đỉnh khiếu - đắc vô thượng trí.
Nhờ tác dụng của song vận, có thể chứng đắc "đại lạc", "quang minh", "không tính".
Và đạt được "tam minh lục thông".

🌟

Không có nhiều Minh Phi hội đủ những điều kiện này, ngoài ra, càng hiếm hơn nữa là các Kim cương Thượng sư có khả năng song vận.
1. Bảo vệ minh điểm không bị thất thoát, tức là hoàn toàn vô lậu.
2. Nhận biết được tính Không.
3. Khí, mạch, minh điểm đã có thành tựu.
4. Trong pháp tu có đại chứng lượng về tứ hỷ, tứ không.
5. Biết được chín loại pháp kỹ thuật.
6. Đầy đủ định lực và thắng quán.
7. Khí giáng, đề, trì, tán. (Minh điểm cũng vậy)
8. Có đại gia trì lực.
9. Có đại tự tại lực.
10. Bản thân có thể hóa cầu vồng, cũng giúp Phật Mẫu hóa cầu vồng.
(Vô lậu và tính Không là hai yếu tố chủ yếu.)
Hành giả thời xưa, Virupa và Trác Mễ Lãng Túc đều là như vậy.

🌟

Có một nữ hành giả của Chân Phật Tông có một bài thơ rất thú vị, xin ghi lại như sau:

Ta là Không Hành Mẫu
Là Bạch Y Quan Âm
Là Tsogyal
Là Tán Hoa Thiên Nữ
Ta không là ai cả, ta là hư không vô biên

Lư Sư Tôn là Lư Sư Tôn
Lư Sư Tôn cũng là bất nhất bất dị
A Di Đà Phật
Liên Hoa Sinh
Liên Hoa Đồng Tử
Duy Ma Cật Đại Sĩ
Lư Sư Tôn là vạn hữu quảng đại

Điểm quan trọng là
Dung nhập hư không (không và hữu dung hợp)
Phật tính là chân không, ta và người là ánh cầu vồng, người hãy cùng ta hòa vào một dải cầu vồng
Như vậy tất cả sẽ viên mãn.


### 32. Khẩu quyết chí yếu của “song vận” (1)


Tôi (Lư Sư Tôn) rất muốn trình bày đầy đủ và chi tiết về khẩu quyết “song vận” mà mình biết được.
Dù thế nào đi nữa, đây là trí tuệ vô cùng thù thắng, cũng là một phần quan trọng của cuộc đời.
Thực ra đây cũng không phải là điều bí mật gì, nhưng lại được người đời xem như "bí mật tối thượng".
Bây giờ tôi sẽ tuần tự tiết lộ khẩu quyết chí yếu, tôi dùng văn từ đơn giản, hy vọng mọi người hiểu được trí tuệ về phương diện này.

🌟

Theo Mật giáo:
Hành giả trong thời khắc quan trọng, khi nhận thấy nhạy cảm, sắp bị thất thoát.
Cần phải phanh gấp, và thực hiện "tát già lục thế biến":
1. Nhật nguyệt triều thiên.
(Hai nhãn cầu nhìn lên trên)
2. Ép yết hầu.
(Dùng cằm ép vào yết hầu.)
3. Lưỡi chống lên hàm trên.
(Lưỡi đẩy lên vòm miệng, đây là điều mà các hành giả thiền đều biết.)
4. Bụng dán lưng.
(Lập tức thu bụng dưới, làm cho bụng và lưng co lại gần nhau nhất.)
5. Nâng hậu môn.
(Người thực hành Bảo bình khí, cần nâng hậu môn lên, mượn pháp này để giữ tinh khí, không để thất thoát.)
6. Co rút tứ chi
(Thu tay chân về, có tác dụng kết khí.)

Ngoài ra còn có:
Miệng hút mạnh ngón giữa, tập trung chú ý vào việc hút ngón giữa, tránh để ý đến "Mật luân".
Những động tác này được hoàn thành rất nhanh chóng, có hai tác dụng:
1. Chuyển di tiêu điểm.
2. Nâng giữ tinh khí.

Nếu nâng giữ tinh khí như vậy, rồi đưa tinh khí theo trung mạch đi lên, thẳng đến đỉnh khiếu, sau đó phân bố khắp toàn thân.
Tức là:
"Hoàn tinh bổ não".
(Hoàn tinh bổ não là cách nói của người Hoa chúng ta.)

🌟

Thiền định Mật giáo:
Là pháp nạp khí.
Hít vào không khí trong lành, mảnh, chậm, dài, giữ khí ở hạ đan điền (vị trí dưới rốn bốn lóng tay).
Sau đó nâng hậu môn, đưa hạ hành khí lên.
(Thượng hành khí và hạ hành khí hợp nhất.)
Giữ khí trong hai, ba phút.
Sau đó đưa khí lên đến đỉnh khiếu, rồi phân tán khí đến khắp tứ chi toàn thân.
Cuối cùng thở khí ra.
(Đây chính là Bảo bình khí)
Giáng - thượng hành khí hạ xuống.
Đề - hạ hành khí nâng lên.
Trì - giữ khí.
Tán - lên đến Mi tâm, phân tán đến tứ chi.
(Kinh nghiệm cá nhân của tôi là, mượn Bảo bình khí có thể luyện tập nâng tinh "minh điểm", hoàn về đỉnh khiếu)

🌟

Mật giáo đơn tu:
Mượn phương pháp thủ dâm.
Khi đến thời điểm quan trọng, phanh gấp, dùng tát già lục thế biến hoặc "phương pháp nâng của Bảo bình khí.
Đưa tinh khí lên đến đỉnh khiếu, rồi phân bố đến tứ chi.
Điểm trọng yếu:
Tuyệt đối không được để thất thoát minh điểm (tinh khí).
Việc bảo vệ chặt chẽ tinh khí là điều tối quan trọng.


### 33. Khẩu quyết chí yếu của “song vận” (2)


Theo hiểu biết của tôi, Đạo gia có rất nhiều khẩu quyết chí yếu, đáng để hành giả tham khảo. Tôi xin trình bày sơ lược trí tuệ về phương diện này như sau:

Những khẩu quyết chí yếu về song vận này xuất phát từ:
Tố Nữ Kinh
Huyền Nữ Kinh
Ngọc Phòng Bí Quyết
Động Huyền Tử
Văn Thủy Chân Kinh
Hành Khí Minh
Thập Gian
Hợp Âm Dương
………….

Vào thời Hán, thời Ngụy, "Hoàng Đình Kinh" chủ trương thủ tinh tiết dục. Đào Hoằng Cảnh có "Ngự Nữ Tổn Ích Thiên"; Vương Ốc Chân Nhân có "Âm Đan Bí Quyết"; Xích Tương Tử có "Hoàn Nguyên Hóa Chân Quyết"; Tôn Tư Mạc có "Phòng Trung Bổ Ích".

Tôi (Lư Sư Tôn) đối với phương diện này, không chỉ là đọc qua, mà còn sắp xếp lại những khẩu quyết chí yếu, trình bày cho độc giả, tôi cho rằng điều này có lợi ích cho chúng sinh.
Bởi vì nếu không có trí tuệ về phương diện này, sẽ sinh ra rất nhiều tật bệnh, ví dụ:
Chưa già đã suy.
Sớm mắc bất lực.
Thận tạng bệnh biến.
Tinh khí khô kiệt.
Tiểu tiện đau buốt.
Đại tiện khô táo.
Đầu lệch mắt yếu.
Lưng sống đau nhức.
Tạng phủ hư thoát..........

Như bài thơ của Lã Thuần Dương:

Giai nhân mười sáu thân như sáp
Lưng giắt gươm sắc chém kẻ ngu
Rõ ràng chẳng thấy đầu rơi xuống
Xương tủy đã khô tự bao giờ.

🌟

Tôi chủ trương rằng:
Nạp khí là điều chí yếu.
Nuốt dịch là điều chí yếu.
Thông trung mạch là điều chí yếu.
(Thông trung mạch chính là thông tam tiêu của Đạo gia.)

Khi "song vận", an thần định chí, giữ gìn tinh khí (vô lậu), chờ đợi minh phi đại lạc đến.
Lúc này là thời khắc trọng yếu, dùng miệng hít khí năm lần, nuốt dịch mới năm lần, đưa khí lên đến đỉnh khiếu, rồi lưu bố toàn thân.
Phương pháp này, chính là:
Thái âm bổ dương.
Hoàn tinh bổ não.
Nam hành giả cũng có thể đưa khí đã hạ xuống, vận đến Mật luân, đi vào thân thể người nữ.
Đây là:
Thái dương bổ âm.
Minh phi đem khí của nam hành giả, hòa hợp với khí của mình, thông vào trung mạch, lên đến đỉnh khiếu, phân bố toàn thân.
Đây chính là:
Người bổ người.
Âm dương bổ trợ lẫn nhau.
Không chỉ nam giới được lợi ích, nữ giới cũng được lợi ích.

Tôi (Lư Sư Tôn) đã viết ra những khẩu quyết tinh yếu nhất này bằng văn tự rõ ràng, người nào đọc được thì có phước!
Điểm trọng yếu vẫn là:
"Vô lậu".
Ngoài ra:
Bất kể là nam hành giả hay nữ hành giả, thường ngày cần chú ý ăn uống, cần dùng thuốc và thực phẩm bổ âm bổ dương.
Bởi vì:
"Đây là nguồn gốc của tinh khí!" (giúp ích cho tinh khí)


### 34. Khẩu quyết chí yếu của "song vận" (3)


Theo như tôi biết:
Pháp tu "Song vận" khi thành tựu, có ba lợi ích:
1. Người hư nhược có thể được sung mãn - khí dồi dào, thần thái vượng.
2. Người cường tráng có thể cửu vinh - hào quang trường tồn.
3. Người già có thể trường sinh - khỏe mạnh trường thọ.

Trong "Mật giáo" mà nói:
1. Trung mạch thông suốt, quang minh xuất hiện.
2. Ngũ luân khai mở, xuất hiện ngũ sắc quang.
3. Đầy đủ tam minh lục thông.
(Tam minh là thiên nhãn minh, túc mệnh minh, vô lậu minh. Lục thông là thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, túc mệnh thông, tha tâm thông, thần túc thông, lậu tận thông.)
4. Hóa cầu vồng bay lên.
5. Chứng minh Phật tính.

🌟

Đạo gia tu luyện "vô lậu" bằng cách dùng pháp nạp khí.
Hít thở sâu - mỗi ngày thực hiện nhiều lần hít thở sâu (hít thở hoàn toàn), sức mạnh sẽ tăng gấp đôi.
Khi thở ra, bụng phình lên. Khi hít vào, bụng thót lại.
(Chú thích: Điều này giúp không bị tiết ra, là điều tối quan trọng của pháp tu hít thở, hít thở không cần dùng sức, hãy tự nhiên.)
Trang Tử nói:
"Người thường hít thở chỉ ở cổ họng, hành giả hít thở phải đến tận lòng bàn chân."
Mảnh, nhẹ, dài, hít vào đến tận lòng bàn chân.
"Ngọc Phòng Bí Quyết" chỉ ra:
"Dùng sức nâng hậu môn, thở ra một hơi dài, sau đó cắn chặt răng."
"Ngẩng đầu, mắt nhìn trái phải, thót bụng lại, chuyển di tác dụng."

Lư Sư Tôn cho rằng:
Tương tự như "tát già lục thế biến".
Mắt nhìn trái phải, chuyển sự chú ý ra cảnh vật bên ngoài, giúp cảm giác nhạy cảm được tĩnh lại.

🌟

Phần kỹ pháp:
"Tố Nữ Kinh" có chín pháp:
Rồng lật, hổ bước, vượn vồ, ve bám, rùa nhảy, phượng bay, thỏ mút lông, cá ghép vảy, hạc giáp gáy.
"Động Huyền Tử":
Có ba mươi thức.
(Phần kỹ pháp xin lược bỏ.)

🌟

Tôi cho rằng, phương diện này là một phần quan trọng của cuộc sống, cũng là một phần của đời sống, không thể không nói ra.
Nếu có điều gì chưa hiểu rõ, nên thỉnh giáo bậc Kim cương Thượng sư chân chính (những vị có chứng nghiệm, nhưng rất hiếm).
Tuyệt đối không được mắc lừa tà sư.
Ai vô lậu.
Ai hữu lậu.
Cần phải phân biệt kĩ càng.
Trong phương diện này, có rất nhiều tà sư, buông thả dục vọng, cũng sẽ lừa gạt người, xin đừng mắc lừa.
Tối quan trọng, tối quan trọng.


### 35. Khẩu quyết chí yếu của "song vận" (4)


Tôi cho rằng:
Khi "song vận", tâm trạng cần ổn định, không hoảng sợ căng thẳng, cũng không quá buông thả. Phải hòa hợp chặt chẽ với tâm trạng của minh phi.
Phối hợp hài hòa chặt chẽ thành một thể.
Trong quá trình này, hít thở nuốt dịch, dẫn khí vận mạch, cần khiến âm dương hợp nhất, toàn thân sung mãn khí. (Khí hợp nhất tuần hoàn.)

🌟

Trong sinh hoạt thường ngày:
Ngủ đủ giấc sẽ giúp phục hồi thể lực, loại bỏ mệt mỏi, khiến dạ dày hoạt động bình thường.
Về phương diện ăn uống, nên dùng thức ăn bổ âm bổ dương, nhưng không được quá độ.
Thượng sư Thubten Dhargye nói:
"Cần ăn trứng gà."
Về thực vật, ăn hẹ có thể thông dương sơ khí, khí huyết lưu thông, lục phủ ngũ tạng vững chắc, nội tạng khỏe mạnh, bề ngoài an hòa.
Rượu bổ uống một ít.

🌟

Quá trình "song vận":
Co rút tứ chi liên tục.
Duỗi thẳng xương sống.
Xoa bóp lưng.
Vận động Mật luân.
Thắt chặt hậu môn.
Nhắm mắt dưỡng thần.
Không nghe âm thanh.
Thu nhiếp dương tinh. (vô lậu)
Ngậm nước miếng, nuốt nước miếng, tinh khí và nước miếng đi lên não, đây là "hoàn tinh bổ não".
Những quá trình này tương tự như "song vận" trong Mật giáo.

🌟

Bành Tổ nói:
Bảo dưỡng tinh khí là yếu tố số một của trường thọ.
Không chỉ bảo dưỡng yêu thương, còn phải bổ trợ, thúc đẩy nó phát triển.
Thuận theo âm dương của trời đất.
Thở ra khí ô uế trong thân.
Hít vào không khí trong lành.
"Tinh khí" cần được bảo dưỡng như chăm sóc trẻ sơ sinh vậy.
Đừng khinh suất hành phòng.
Quá trẻ mà phòng sự nhiều, tiết tinh khí nhiều, là nguyên nhân chính của chứng chưa già đã suy, dương uy bất chấn.
Người bình thường không hiểu "song vận", đến tuổi sáu, bảy mươi, sẽ bị còng lưng gù lưng, tứ chi vô lực, toàn thân đau nhức, mắc chứng liệt dương, đây là điều đáng buồn nhất.
Nếu hiểu được "thái âm bổ dương", "hoàn tinh bổ não", giữ tinh khí không tiết.
Hợp với âm dương trời đất, thậm chí có thể vũ hóa đăng tiên, đến được Diêu Trì tiên cảnh.

🌟

Vua Thuấn nói:
Sinh mệnh là vô cùng quý giá.
Muốn bảo vệ sinh mệnh, phải tuân theo quy luật âm dương của trời đất.
Mật luân sẽ suy yếu trước tiên là do không tiết chế và ràng buộc, mất đi chức năng là do tiết tinh khí quá nhiều.
Cần tiết chế.
Đừng buông thả dục vọng.
Đừng dễ dàng tiết ra "tinh khí".
Cần tích trữ.
Cần tích lũy.
Đây mới chính là đạo dưỡng sinh.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) nói:
"Nếu trong tâm có ánh sáng, dù đang trong lúc song vận, cũng là tịnh độ."


### 36. Nghe thấy một bài đạo ca


Một đêm nọ, trong giấc mơ, tôi nghe được một bài đạo ca, âm thanh du dương, từng chữ rõ ràng, nghe xong rất xúc động.

Bài đạo ca được hát như sau:

Đảnh lễ Sư Phật, bậc Đạo sư của con:
Sư Phật đại ân trong tâm con, con cái ở trong tâm Sư Phật.
Con cái hồi hương ngộ tâm này, tức vô sở trụ mà sinh tâm.
Cái tâm vốn dĩ không một vật, không trong không ngoài không ta người.
Nếu có trong ngoài với ta người, nếu có hai nơi cách biển khơi.
Đây là chướng ngại bám vọng tướng, chưa đạt Như Lai cứu cánh đạo.

🌟

Cái tâm vốn dĩ không một vật, nhậm vận hiện tiền sinh muôn pháp.
Các pháp mộng huyễn vì duyên khởi, không đón không từ rốt ráo không.
Ta thấy thế giới phi thế giới, ta thấy chúng sinh phi chúng sinh.
Ta thấy cuộc sống phi cuộc sống, Đài Loan Mỹ quốc không xa gần.
Cái ta này cũng là tên giả, không lấy không bỏ là Ta Bà.

🌟

Cái tâm vốn dĩ không một vật, quảng đại bao dung khắp muôn nơi.
Gạo muối dầu củi cũng trọn vẹn, vô tâm nào theo luận phàm tục.
Trong đó thực vô pháp khả thuyết, thật không pháp nào để tu trì.
Không nói không học không chỗ tu, đây là Nhất thừa viên mãn pháp.
Vô sở trụ mà sinh tâm ấy, tam luân thể không hạnh Bồ Tát.

🌟

Sắc thân nam nữ như chữ Hum, một lòng một niệm nhớ thầy con.
Tâm này niệm này là lời thề, hợp nhất song vận là chữ Ah.
Tương ái trụ tâm đều là tướng, Sư Phật với con vốn như một.
Cầu thầy gia trì phương tiện lực, chứng đắc vô sinh là chữ Om.

🌟

Tôi, Lư Sư Tôn nói:
Bài đạo ca này nói về "tâm".
Câu trọng điểm là:
"Tâm vốn không một vật."
Nghe xong! Tôi thiếp ngủ sâu!
Thức dậy, dường như còn nhớ được một nửa lời, nhưng tôi cũng chẳng bận tâm nhớ hay không nhớ.
Vốn dĩ là thế mà! Có can hệ gì đâu!
Không lâu sau.
Liên Hoa Khúc Khúc tặng tôi một cuốn sách nhỏ, trong cuốn sách nhỏ này, thật bất ngờ lại có bài đạo ca này.
Ha! Tương ứng rồi!

🌟

Tôi đáp lại họ một bài thơ:

Tôi vốn khách qua đường trần thế
Đông Tây qua lại
Nam Bắc đi về
Nhà cửa tạm trú
Chẳng rộng bao nhiêu

Thỉnh thoảng hát ca
Thỉnh thoảng vẽ tranh
Thỉnh thoảng luyện võ
Tự biết rằng
Tương lai cuộc đời khó lường trước
Bạn viết đạo ca
Tôi viết sách vở
Bàn về tâm thiền tông
Vốn dĩ là không có gì cả
Chẳng can thiệp
Nhưng tôi thích đạo ca của bạn
Này tâm ơi
Không khổ không vui.


### 37. Thiền định cũng là mộng


Đây là một bức thư của Liên Hoa Thái Hồng viết về thiền định.

Tôi nói "cuộc đời là mộng ảo".
Vì vậy, ngay cả thiền định cũng là mộng ảo.

Gần đây, tôi cảm khái rất nhiều, bởi vì cuộc đời có quá nhiều thay đổi, quá nhanh, quá không thể tưởng tượng được!

Viết một bài thơ, ghi lại:

*Ai biết tôi bâng khuâng
Lòng nhớ tình bạn cũ
Có được như chưa được,
Làm thơ cũng như không
Dưới đèn có bóng hình,
Đối thoại cũng tự nhiên;
Hôm nay không thấy người,
Phương Đông sương mịt mờ.*

Bài thơ này không liên quan đến thư của Liên Hoa Thái Hồng, chỉ là cảm thán mà thôi.

Sau đây là thư của Liên Hoa Thái Hồng:

Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật chí cao vô thượng tôn quý và kính yêu nhất!

Trước tiên con xin cảm ơn ân đức của Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật, chư Phật Bồ Tát từ bi gia trì, cho phép con và gia đình con may mắn được cùng nhau tham dự pháp hội mùa thu vừa kết thúc không lâu. Hôm nay, con lại vui mừng và may mắn được cùng sư huynh của con đến Seattle để tham dự đại pháp hội Hộ Ma Liên Hoa Sinh Đại Sĩ Hóa Cầu Vồng do Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật chủ trì!

Lần này, con lại vui mừng mang đến cho thầy một lá thư!

Lá thư này nói về những cảm ứng đặc biệt trong đại pháp hội Hộ Ma Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang tiêu tai cầu phúc siêu độ Mùa Thu 2023 do thầy chủ trì tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự vào ngày 10 tháng 9 năm 2023, cách đây hai tuần.

Đây là lần thứ hai con đích thân đến Chùa Cầu Vồng tham dự đại pháp hội Hộ Ma Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang do thầy chủ trì.

Lần đầu tiên là vào tháng 2 năm ngoái trong đại pháp hội Hộ Ma Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang tiêu tai cầu phúc siêu độ đầu xuân năm Nhâm Dần 2022 ngày 13 tháng 2 năm 2022. Lần đó, con may mắn được tương ứng hợp nhất với Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang.

Trải nghiệm tương ứng lần đó thật vô cùng thù thắng! Đến nay con vẫn còn nhớ rõ như in, suốt đời khó quên! Con đã viết một lá thư trình lên thầy. Sau khi thầy đọc thư tương ứng của con, thầy đã đưa lá thư đó vào quyển 289 của thầy, trong bài "Sự tương ứng của Liên Hoa Thái Hồng" trong cuốn "Như Mộng Như Huyễn".

Tuy nhiên thật không ngờ, lần này con tham dự tiếp "Đại pháp hội Hộ Ma Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang tiêu tai cầu phúc siêu độ Mùa Thu" do thầy chủ trì, con lại may mắn được nhận những cảm ứng không thể nghĩ bàn!

Nhớ lại ngày 10 tháng 9 năm nay, thời tiết ở Seattle hôm đó, trời thu trong xanh, nắng chói chang.
Còn sớm trước giờ pháp hội, đệ tử và ba đứa con trai cùng sư huynh đã ngồi tản mát khắp hội trường.
Một mình đệ tử tìm được một chỗ dành riêng cho các trợ giảng, bên trong mái lều vải cạnh điện Hộ Ma phía trái, chọn một vị trí ngồi gần cửa ra vào của lều, ngẩng đầu nhìn lên thấy cây cối đong đưa, gió nhẹ thổi về.

Dưới làn gió mát dịu thổi qua những tán cây đung đưa, con hoan hỷ tụng niệm thần chú Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang mà con rất thích tụng từ sau khi được tương ứng với Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang năm ngoái "Ôm pa-cha chua-ta ma-ha-sê xi-li hê-ru-ka hùm hùm pây."

.............

Con hân hoan mong chờ thầy đến chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang.

Nào ngờ trong lúc con đang mong chờ và thành kính tụng niệm thần chú Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, dưới sự quang lâm trang nghiêm của thầy, dưới sự chủ trì pháp hội Hộ Ma với thần lực không thể nghĩ bàn và vô biên của thầy, con lại một lần nữa may mắn nhận được cảm ứng phi phàm từ đại pháp hội Hộ Ma Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang do thầy chủ trì!

Cảm ứng lần này hoàn toàn khác với lần đầu tiên.
Con nhớ khi con đang chú tâm theo dõi nghi thức pháp hội, cho đến khi thầy kết ấn được một lúc.............

Bỗng nhiên con như bị điện giật, vô thức con nhanh chóng nhập định.
Trong khoảnh khắc, toàn thân con không thể cử động, và nhanh chóng chìm đắm vào trạng thái định sâu.
Con cảm nhận cơ thể con từ cổ trở lên dần dần cứng lại và tràn đầy cảm giác của khí. Con cảm thấy đầu mình như được kéo dài ra, luồng nhiệt bên trong cơ thể con dần dần bốc lên, nóng như một khối lửa; trước tiên từ từ đi lên theo mạch trung tâm, sau đó lan ra phía lưng cho đến toàn bộ đầu con.

Thậm chí thần chú Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang vang vọng tận mây xanh cứ liên tục vang lên bên tai con, âm vang khắp hội trường... Tâm con vẫn vô cùng chuyên chú, chìm sâu trong định.
Con càng chuyên chú, càng chìm sâu vào định, bên trong cơ thể con càng cảm thấy nóng, càng cảm thấy thông suốt.
Con nhẹ nhàng an lạc vô cùng!
Con hạnh phúc vô cùng!
Cho đến khi con nghe người chủ trì pháp hội yêu cầu các tín chúng đặt tay lên vị trí cần gia trì, để thầy dùng thần chú Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang gia trì cho mọi người năm phút.
Con vẫn ngồi như một ngọn đồi nhỏ.
Bất động như như!
Cứng đờ như đồng sắt!
Con thậm chí không thể đưa tay lên đặt vào vị trí cần thiết để được thầy dùng thần chú Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang gia trì, nhưng con lại cảm thấy vô cùng thoải mái và nhẹ nhàng!
Con hoan hỷ vô cùng!

Trong năm phút thầy gia trì bằng thần chú Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, con cảm thấy nhiệt bên trong cơ thể con càng lúc càng nóng, nóng như một khối lửa, nóng đến mức con toát mồ hôi đầm đìa, mồ hôi tuôn chảy...

Cảm giác bên trong cơ thể này hoàn toàn trái ngược với làn gió mát dịu thổi vào từ cửa ra vào của lều vải bên cạnh điện Hộ Ma!
Con liên tục toát mồ hôi đầm đìa...
Con liên tục ướt đẫm mồ hôi...
Con cảm thấy kỳ diệu vô cùng!
Nhưng con vô cùng sảng khoái!

Cho đến khi thầy hoàn tất năm phút gia trì bằng thần chú Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang cho đại chúng, thầy bắt đầu khai thị pháp hội, con vẫn chuyên chú ngồi như tứ chi bị trói buộc, cứng đờ bất động, chìm sâu trong định...

Thậm chí những điều thầy nói về sức mạnh vô biên của thần chú Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, và sự không thể nghĩ bàn mỗi lần thầy chủ trì Hộ Ma Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, cũng như sự tương tác của thầy với từng người có mặt, con đều nghe rất rõ ràng, vô cùng rõ ràng..., chỉ là con nhắm mắt trong định nên không biết thầy đang tương tác với ai tại hiện trường mà thôi!

Suốt đại pháp hội Hộ Ma Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, con chìm sâu trong định, cho đến khi pháp hội gần kết thúc, con nghe thấy các trợ giảng bên cạnh bắt đầu đứng dậy xếp ghế lại ngay ngắn, con mới từ từ xuất định.
Thật sự quá thù thắng!
Con nhớ là con còn nghe thầy kêu gọi mọi người tại pháp hội viết thư báo cáo về những cảm ứng nhận được từ đại pháp hội Hộ Ma Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang. Vì vậy, một lần nữa, con xin trình lên thầy về những cảm ứng thù thắng không thể nghĩ bàn mà con đã nhận được khi tham dự đại pháp hội Hộ Ma Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang tiêu tai cầu phúc siêu độ Mùa Thu năm 2023.

Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật tôn quý, con đã liên tiếp hai lần tham dự đại pháp hội Hộ Ma Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang do thầy chủ trì vào năm ngoái và mùa thu năm nay. Cả hai lần con đều nhận được những cảm ứng thù thắng không thể nghĩ bàn như vậy. Làm sao con có thể không tán thán thầy! Làm sao con có thể không năm vóc sát đất kính phục thầy! Làm sao con có thể không ca ngợi thầy là bậc Hoạt Phật danh sư, bậc Pháp Vương của thời đại này!

Con chân thành cảm ơn thầy!
Tại đây, xin cho phép con được đảnh lễ thầy, đảnh lễ, đảnh lễ thêm lần nữa...

Cuối cùng, con thành tâm cầu chúc thầy trường thọ khỏe mạnh! Trụ thế lâu dài! Pháp luân thường chuyển! Tùy duyên tự tại và Sư Mẫu khỏe mạnh vui vẻ! Cát tường như ý! Tâm tưởng sự thành! Cuộc sống an vui!

Ngu đệ tử Liên Hoa Thái Hồng trợ giảng cung kính đảnh lễ tạ ơn.
Viết ngày 28 tháng 9 năm 2023 tại tiểu bang Vermont, vùng Đông Bắc Hoa Kỳ.

🌟

Sau khi đọc thư của Liên Hoa Thái Hồng, tôi viết vài chữ:

Phi ngã.
Phi không.
Đây là:
Lúc đến một thiền định,
Lần sau một thiền định;
Rốt cuộc là việc gì,
Tây Thành có Liên Sinh.

Lại viết:

Tham thiền học Phật thật mênh mang,
Cảm ứng đạo giao Phật tính tàng;
Lúc đến diện mục toàn là một,
Lúc đi trống rỗng chẳng phải bàn.

Tôi thật sự thành thật nói với mọi người, các bạn còn việc gì chưa xong?
Đến cuối cùng, không ràng buộc là tốt nhất, lúc này có thể tùy duyên tự tại!


### 38. Giấc mơ của Liên Hoa Văn Quý


Tôi nhận được thư của đệ tử Liên Hoa Văn Quý từ Malaysia, anh ấy nói đây là điều anh ấy đã thực sự chứng kiến.
Tôi nói:
"Cho dù là thực sự chứng kiến, thì cũng là mơ."

Thứ nhất:
Khi Liên Hoa Văn Quý quy y, vào lúc 7 giờ sáng, sau khi tắm rửa sạch sẽ, hướng về phía mặt trời mọc làm lễ lạy, thực hiện nghi thức quy y.
Bỗng nhiên thấy Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát hiện ra trên không trung, tay cầm bình cam lộ.
Nước cam lộ nhỏ giọt từ cành dương liễu, để làm lễ quán đảnh cho anh ấy.
Sau lễ quán đảnh này, trong tâm trí hiện ra:
"Bài thơ thất ngôn."
"Nhân duyên đời trước của Liên Hoa Văn Quý."
Liên tục không ngừng............
(Hiện tượng này khiến Liên Hoa Văn Quý có niềm tin kiên định, quán đảnh từ xa mà thực sự không hư dối)

Thứ hai:

Trong quá trình tu hành, trải qua nhiều thử thách, cũng từng phạm lỗi, nên tu pháp sám hối bảy đàn.
Mơ thấy Không Hành Mẫu (Thiên nữ) đỡ anh ấy đứng dậy.
Đến đàn thứ tư, thấy Căn bản Thượng sư đến sờ đầu gia trì. Trong khoảnh khắc, anh ấy bỗng xuất hiện tại Cầu Vồng Sơn Trang Seattle, quỳ trước mặt Căn bản Thượng sư Thánh Tôn, một lần nữa được gia trì và quán đảnh.
(Pháp sám hối này thật thù thắng.)

Thứ ba:

Liên Hoa Văn Quý tu tập pháp Tam ma địa.
Nhập vào thế giới Viên Thông của Quan Thế Âm Bồ Tát, dùng cách tu nghe và suy ngẫm để nhập pháp giới.
Được một bài kệ pháp:

*Hai tướng động tĩnh
Rõ ràng không sinh,
Như thế dần tăng,
Nghe hết điều nghe,
Nghe nhưng không trụ
Giác biết đều không,
Không giác đã tròn,
Mọi không đã diệt,
Sinh diệt đã diệt,
Tịch diệt hiện tiền,
Vượt thoát tam giới.
Trên hợp mười phương chư Phật cùng một từ lực, dưới hợp với sáu nẻo chúng sinh cùng một niềm ngưỡng mộ bi mẫn.*

Thứ tư:
Đích thân thấy Tứ Đại Thiên Vương hộ trì Tây Phương Tam Thánh: Phật A Di Đà, Bồ Tát Quan Thế Âm, Bồ Tát Đại Thế Chí.
Tam Thánh trang nghiêm phi thường.
Đích thân thấy Phật A Di Đà tay cầm hoa sen tiếp dẫn chúng sinh.
Thấy Không Hành Mẫu đang cứu độ chúng sinh.
Cũng thấy nỗi khổ của ba cõi địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.

Thứ năm:
Có một lần bay đến Đài Loan.
Trên máy bay nhìn thấy Căn bản Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật hóa hiện tràn đầy hư không.
Và máy bay bay thẳng vào tim của Thánh Tôn.
Anh ấy xúc động nói với vợ:
"Sư Tôn chào đón chúng ta."
Anh ấy xúc động rơi nước mắt.
Lần đó, quả thật Thánh Tôn đang ở Đài Loan.

Liên Hoa Văn Quý nói:
"Cảm ơn Thánh Tôn đã gia trì lớn lao, cho đệ tử liễu ngộ Phật tính, những chân đế này,
người đời không biết.
Những điều con viết, tuyệt đối không giả dối, tất cả đều là thực chứng."
Liên Hoa Văn Quý khấu bái


### 39. Bài kệ pháp của Liên Hoa Văn Quý


Tôi (Lư Sư Tôn) đặc biệt quan tâm đến bài kệ pháp của Liên Hoa Văn Quý, và xin phân tích đặc biệt như sau:

*Hai tướng động tĩnh
Rõ ràng không sinh
*(Đây vốn là tâm yếu khẩu quyết để nhập Tam ma địa, vô sự, vô tâm, vô động, vô tĩnh. Đặc biệt là vô tĩnh, ngay cả "tĩnh" này cũng phải buông bỏ. Trong tĩnh mà không biết là tĩnh.)

*Như thế dần tăng
Nghe hết điều nghe
*("Như thế” chính là phù hợp với chân đế. Trong Phật pháp chúng ta thường nói như thế, như thế. Dần tăng cái gì? Dần tăng không phải là cái gì cả, mà là diệu dụng của Phật pháp.)
(Còn về "nghe hết điều nghe", là vô ngã hữu, vô ngã sở, tất cả đều diệt hết.)

*Nghe nhưng không trụ
Giác biết đều không
*(Nghe hết mà không trụ, tức là vô trụ tướng. Không chỗ trụ, không ngã sở, nhập vào Không tính, Không tính chính là Phật tính.)

*Không giác đã tròn
Mọi không đã diệt
*(Trong cảnh giới đại viên mãn như vậy, có thể nói, không có biên giới, mười phương trên dưới, không có gì cả, không có ngã sở, đã bước vào một trong tam pháp ấn là niết bàn tịch tĩnh.)

*Sinh diệt đã diệt
Tịch diệt hiện tiền
*(Niết bàn tịch tĩnh hiện tiền.)

*Vượt thoát tam giới.
(*Đây chính là đốn siêu. Đại viên mãn có hai cảnh giới, một gọi là chỉ đoạn, hai gọi là đốn siêu. Chỉ đoạn tức là diệt vô ngã, diệt vô ngã sở, cho đến khi tất cả tịch diệt. Lúc này mới là đốn siêu, thoát khỏi tam giới vậy.)

Trên đây là phần phân tích, để chỉ dạy thánh đệ tử!


### 40. Cái thấy của Liên Hoa Tiểu Dã


Đảnh lễ vị thầy vô thượng Pháp Vương Liên Sinh Phật!
Pháp giới chấn động lớn khi Sư Phật lần thứ hai truyền đại pháp hóa cầu vồng! Khơi dậy xúc cảm sâu sắc trong tâm ngu đệ tử!

Nhìn thấy Sư Phật chính là tổ sư Mật giáo Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, chính là Phật A Di Đà, chính là Sư Phật hợp nhất với Mẹ hóa thành Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn, chính là Cổ Phật A Đạt Nhĩ Ma Phật, chính là vua của vũ trụ, chính là ánh sáng thanh tịnh đại viên mãn vô thượng!

Khi Sư Phật truyền đại pháp hóa cầu vồng tại Arena Đài Loan vào ngày 11 tháng 12 năm 2022, đệ tử không thể trực tiếp tham dự vì vấn đề visa. Đệ tử đã may mắn được cảm ứng với Pháp thân của Sư Phật trong hơn một năm. Khi xem trực tuyến pháp hội, đệ tử cảm nhận được dòng pháp lực gia trì như thể đang ở bên cạnh Sư Tôn, thậm chí còn có cảm giác như đang hiện diện tại pháp hội và hợp nhất với Sư Phật, thật kỳ diệu làm sao...?

Lần này Sư Phật truyền đại pháp hóa cầu vồng lần thứ hai, thật không thể nghĩ bàn...! Đệ tử nhìn thấy Sư Phật đã hóa thành Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, Không Hành Mẫu gọi Sư Phật là Hải Sinh Kim Cang. Khi thần chú đón Sư Phật đến điện Hộ Ma vang lên, vô số chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Không Hành Mẫu, thánh hiền, tiên từ các cõi Phật và tịnh thổ khác nhau trên trời lần lượt giáng xuống, thật vô cùng tráng lệ và nhiệm mầu. Đệ tử cảm thấy như đã hòa vào ánh sáng để đối thoại... Trong lúc cử hành nghi thức thỉnh pháp và pháp hội, các Không Hành Mẫu trên trời đã múa, vui mừng và thỉnh pháp, niềm đại lạc này thật sự quá quá quá không thể nghĩ bàn... Trong lúc Sư Phật biến hóa thủ ấn, từ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ hóa thành Phật A Di Đà, thế giới Tây phương Cực Lạc lần lượt hiện ra quả thực là điều không thể nghĩ bàn. Lúc đó cảm giác như bước vào không gian thứ hai, đệ tử nghĩ: "Ôi! Thế giới Tây phương Cực Lạc thực sự hiện ra sao? Nhưng trên địa cầu còn nhiều chúng sinh đang chịu khổ nạn quá! Xin Phật A Di Đà... có thể đưa các đệ tử Chân Phật không có mặt và chúng sinh trên địa cầu cùng hòa vào cõi Phật tịnh thổ!"

Bỗng nhiên có tiếng Sư Phật dạy rằng đừng khởi ý niệm, hãy chuyên nhất. Đệ tử lại bắt đầu hợp nhất với ánh sáng, tịnh thổ hiện ra, loài trên trời và dưới đất cùng nhau trì chú, cảm giác như mười phương pháp giới đang chuyển pháp luân? Hay là chúng sinh đang hòa vào thần chú và ánh sáng, hợp nhất phát quang chuyển động? Rồi như biến thành ánh sáng ngũ sắc chuyển động, những tia sáng rực rỡ này tỏa khắp hư không như sấm sét giữa trời quang, vừa rực rỡ mà lại vô cùng dịu dàng thanh tịnh, đẹp tuyệt vời không thể diễn tả...! Sau đó thật bất ngờ, tất cả mọi người đều tan biến, hòa vào biển ánh sáng lớn, hoàn toàn ở trong một không gian khác. Thật đẹp đẽ, thoải mái và thanh tịnh quá! Hòa mình trong vầng hào quang rực rỡ tuyệt đẹp như vậy, đệ tử có thật sự đã trở về tinh cầu của mình chăng?! Tiếc thay cảnh đẹp không ở lại lâu.

Bởi vì Sư Phật lắc chuông xuất định, Sư Phật ơi! Biển ánh sáng này là gì vậy? Đệ tử khóc thật thảm thật thảm thật thảm, đệ tử hoàn toàn không muốn trở về thân xác của mình, khóc lóc hướng về Mẹ Diêu Trì Kim Mẫu, khẩn cầu đau đớn... Khi Sư Phật làm xong hồi hướng và khai thị hỏi mọi người ai đã thấy, lúc đó thần thái của đệ tử trong dáng vẻ yêu kiều ưu nhã buồn bã, đắm chìm như hoàn toàn biến thành một người khác, một tiên nữ xinh đẹp... vẫn còn trong nỗi buồn, bám víu khóc lóc cầu xin Mẹ Diêu Trì Kim Mẫu đưa con về... Pháp thân của Sư Phật nói sát bên đệ tử rằng thời cơ chưa đến! Đệ tử thấy Không Hành Mẫu đẹp quá!

Tiếp theo Sư Phật khai thị khẩu quyết của đại pháp hóa cầu vồng rằng: phải dùng khí để thắp lên chuyết hỏa, minh điểm hạ giáng, chuyết hỏa thăng lên dẫn minh điểm ở Mi tâm là bồ đề tâm nguyệt dịch làm cho trung mạch khai mở, khai mở toàn bộ ngũ luân thất luân. Sư Phật dạy chỉ cần trung mạch khai mở là sẽ phát quang. Chỉ cần trung mạch thông suốt thì gọi là quang minh phong mạch.

Dưới đây là lần đầu tiên ngu đệ tử trong đời này từ khi quy y học Phật đến nay báo cáo lên Sư Phật về cảm nhận và quá trình tu pháp, kính xin Sư Phật từ bi gia trì chỉ dạy để ngu đệ tử sớm tu hành viên mãn!

Trong nửa năm Pháp thân Sư Phật ở trên thân đệ tử, lúc đầu là khí động, dần dần xoa bóp bụng và toàn thân, các động tác yoga, rồi từ từ khí song vận từ Mật luân bắt đầu sinh ra đại lạc, sau đó đến Tề luân, đến Tâm luân, đến Hầu luân, đến Mi tâm luân, cuối cùng là đỉnh khiếu. Đệ tử rất nóng lòng thỉnh cầu Sư Tôn mau chóng khai mở đỉnh khiếu, nhưng Sư Tôn không cho, bởi vì tâm cầu vãng sinh của đệ tử quá chấp trước. Sư Tôn rất từ bi chỉ dẫn đệ tử, dù cho Mật luân sinh ra bao nhiêu đại lạc, Sư Tôn giải thích..., bản thân nghiệp chướng cố chấp này lại nghe không vào. Đệ tử mỗi ngày đều khóc rất thảm, chỉ muốn trở về. Mẹ Diêu Trì Kim Mẫu ở chùa tổ đã ba lần hiển hiện sống động trước mặt đệ tử vào ban ngày và ba lần phóng quang, đệ tử đối thoại với Mẹ, cuộc đối thoại này thật ra là ánh sáng hợp nhất với ánh sáng, rồi tự miệng hứa không về nữa!

Ngày hôm sau Sư Tôn thật sự dẫn khí xông vào đỉnh khiếu, ôi! Thông rồi! Cả hai cùng trải nghiệm đại lạc một phen, khi đệ tử đi dạo dưới ánh nắng mặt trời, trên đỉnh đầu có cảm giác như châm cứu, hơi đau nhói một chút rất vi diệu. Hiện tại ngu đệ tử tu pháp cùng Pháp thân Sư Phật gần được hai năm, khi tu pháp muốn khí đến đâu thì khí sẽ đến đó, gần đây Sư Tôn dạy đệ tử niệm chú Hum dài, Hum ngắn, hít vào, nín thở, khi nạp khí thường hay hét to lắc người. Thường xuyên Không Hành Mẫu và Sư Tôn đối ca rất hoan hỷ, lời ca rất thơ mộng, rất kích thích phản ứng hormone, có khi rất trí tuệ Bát Nhã, đối ca còn kèm theo ngôn ngữ cơ thể yoga, những phản ứng đối ca và cảm xúc mãnh liệt này hoàn toàn phối hợp với khí đang vận chuyển. Đệ tử ngu muội kính xin Sư Phật từ bi chỉ dạy! Những cảm nhận này của ngu đệ tử trong việc tu khí đang ở cảnh giới nào?

Sư Phật có dạy trong khai thị rằng thân khẩu ý phải thanh tịnh.

Nếu không có Pháp thân Sư Phật cứu độ và dẫn dắt, thật sự rất khó khăn cho đệ tử. Hóa ra một chút vọng tưởng cũng là nghiệp đen, chỉ cần đệ tử nói ra hoặc chỉ nghĩ mà chưa nói, đệ tử sẽ bị phạt trong mơ, thì ra là để cân bằng trở lại. Khi tỉnh dậy trong đau khổ, Sư Tôn sẽ nhắc nhở đừng vọng niệm, hãy giữ thiện niệm... Có khi Sư Tôn sẽ ngăn đệ tử ngay lập tức. Cứ thế qua một thời gian, cuối cùng đệ tử cảm nhận được và nhận được ân điển cứu độ của Sư Phật, làm việc và suy nghĩ đều rất tự nhiên, dần dần tỉnh thức, gặp bất cứ việc gì cũng sẽ từ từ tự nhiên giữ được thiện niệm. Đệ tử ngu muội đời này được quy y Sư Phật, được Sư Phật từng bước chỉ dẫn cứu độ. Đệ tử nguyện đời đời kiếp kiếp dùng thân khẩu ý cúng dường Sư Phật không rời không bỏ! Đệ tử nguyện đời đời kiếp kiếp làm một đóa sen cúng dường Sư Phật, cùng Phật ở trong đại lạc vĩnh hằng vô tận!

Đời đời kiếp kiếp không thể dừng yêu yêu yêu thầy vô tận.
Tiểu Dã đảnh lễ cảm ơn.


### 41. Đại pháp hóa cầu vồng thù thắng


Sau khi đọc những điều Liên Hoa Tiểu Dã thấy được, tôi (Lư Sư Tôn) muốn nói rằng, không chỉ một người nhìn thấy mà thôi.
Có:
Người phương Tây Luke.
Liên Hoa Gia Minh.
Liên Hoa Khanh Khanh.
Vân vân và vân vân..........

🌟

Đại pháp hóa cầu vồng là sự chứng nghiệm tu hành thâm sâu và kỳ diệu nhất của Đại viên mãn.
Đây là sự chuyển hóa vật chất trong cơ thể hành giả thành ánh sáng, từ đó thành tựu hào quang cầu vồng.

Dòng truyền thừa này đến từ:
A Đạt Nhĩ Ma Phật (Bản Sơ Phật)
Bảo Ý Đồng Tử
Bảo Thượng Đồng Tử
Cực Hỷ Kim Cang
Vô Cấu Hữu
Sư Lợi Tinh Ha
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) nói:
Khi trung mạch thông, tự nhiên sẽ có quang minh phong mạch.
Mi tâm luân khai mở, có ánh sáng trắng.
Hầu luân khai mở, có ánh sáng đỏ.
Tâm luân khai mở, có ánh sáng xanh dương.
Tề luân khai mở, có ánh sáng xanh lá.
Mật luân khai mở, có ánh sáng vàng.
Còn có Đỉnh luân, Hải để luân, như vậy tự nhiên hóa thành cầu vồng.

Còn có một cách nói khác:
Trong thân thể con người có ngũ đại.
Trong quả tim thịt có ánh sáng xanh dương.
Địa đại là ánh sáng trắng.
Thủy đại là ánh sáng đỏ.
Hỏa đại là ánh sáng vàng.
Phong đại là ánh sáng xanh lá.
(Tất cả những điều này đều phải nhờ vào thanh tịnh mới có thể hiển quang.)

Thân người vốn có đủ năm loại ánh sáng, chỉ khi tu hành thanh tịnh mới có thể phóng chiếu mười phương.

Hành giả tu Đại viên mãn "Quán quang", ánh sáng trong thân được tăng trưởng, cuối cùng chuyển hóa vật chất.
Mới có thể thành tựu hóa cầu vồng.

Tôi (Lư Sư Tôn) cho rằng:
Trước tiên thông trung mạch.
Sau đó khai mở ngũ luân.
Cuối cùng là toàn thân mạch luân.
(Tu khí, tu chuyết hỏa, tu minh điểm, tu mạch, đây là cơ bản của pháp hóa cầu vồng.)

Tôi trước tiên tu nạp khí.
Sau đó tu nuốt dịch.
Tu chuyết hỏa.
(Chuyết hỏa thượng thăng, minh điểm hạ giáng, thủy hỏa giao dung, mới có thể khai ngũ luân.)

🌟

Trong pháp hội đại pháp hóa cầu vồng, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ hợp nhất với tôi. Trong hư không có từng tầng ánh sáng:
Năm vị Phật Mẫu (Minh Phi) của Liên Sư và một vạn bốn nghìn minh phi.
Năm vị thiên nữ của Trường Thọ Thiên.
Các vị Tuyết Sơn nữ thần. (Đóa Nhĩ Gia, Ô Ma, Ca Lợi)
Biện Tài Thiên Saraswati.
Đế Thích Thiên và một vạn hai nghìn thiên nữ.
Cát Tường Thiên mười hai thiên nữ.
Áo Minh Thiên mười vạn không hành mẫu.
Diêu Trì Kim Mẫu ba nghìn thị nữ.
……..

Chư Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn và chư Thiên.
Tôi có thể nói như thế này:
"Tận hư không, khắp pháp giới. Vô tận quang minh chiếu khắp không ngừng nghỉ".
Pháp hội thù thắng như vậy, thế gian hiếm thấy!
Kim cang ca.
Kim cang vũ.
Kim cang hý hí.
Kim cang hoa man.
Tất cả đều hiển hiện trong hư không, như cát tường vân, như đế võng minh châu.
Không thể diễn tả được.

Tôi chỉ có thể nói:
Hoa tươi mây kỳ diệu trang hoàng.
Ánh cầu vồng chiếu khắp mười phương.
Biển âm nhạc tuyệt vời vi diệu.
Thiên nữ múa hát vui đùa.
Bảy báu tám châu bao la.
Hương thuốc vị cam lộ.
Rực rỡ nghìn ánh sáng.
Vô lượng vô tận hiển hiện.

Tôi tán thán:
*Lớn tựa mây lành
Che khuất mặt trời chiều tà
Nhỏ như tia chớp
Chợt hiện chợt mất
Đây không phải phương tiện
Ngay trong khoảnh khắc này
Linh quang hiện khắp mười phương
Tất cả đều là vô niệm trong thiền định.*


### 42. Liên Sư và tôi là một


Liên Hoa Tiểu Dã thấy được:
"Lư Sư Tôn đã sớm biến hóa thành Liên Hoa Sinh Đại Sĩ."
Liên Hoa Gia Trân thấy được:
"Khi con được sờ đầu, con thấy Lư Sư Tôn chính là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ."

Liên Hoa Gia Trân viết như sau:
Trong pháp hội đại pháp hóa cầu vồng, đệ tử Liên Hoa Gia Trân thấy được Liên Hoa Sinh Đại Sĩ và Phật Mẫu.
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ phóng ánh sáng trắng lớn chiếu vào con, nói rằng muốn thanh tịnh con.

Con lại thấy Lư Sư Tôn ngồi trên pháp tọa, phóng ra ánh sáng cầu vồng tràn ngập cả pháp hội. Ánh sáng cầu vồng như gió thấm vào thân thể con, tất cả vật chất trong thân thể con đều bị hóa tan, thân thể con hoàn toàn biến mất!
Xung quanh Lư Sư Tôn có rất nhiều Không hành mẫu, ngài ngồi ở trung tâm.
Ngoài ra, chư Phật Bồ Tát Kim Cang Hộ Pháp, từng nhóm vây quanh trung tâm, như mandala.
Toàn bộ mandala là đại quang minh màu đỏ.
Khi tụng chú.
Mandala liền chuyển động.
Khi được sờ đầu, Lư Sư Tôn chính là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, con nhìn thấy mình, đã trở thành Không hành mẫu.
(Trên đây là do Liên Hoa Gia Trân viết.)

🌟

Liên Hoa Cẩm Phượng viết như sau:
Đệ tử trong lúc hỏi việc, đã cầu xin quán đảnh Liên Hoa Sinh Đại Sĩ Bổn tôn pháp.
Sư Phật đáp: Ngày mai trong buổi hóa cầu vồng đại pháp sẽ ban cho con quán đảnh chân thực.
Quả nhiên!
Đệ tử trong pháp hội Hộ Ma, khi tiếng chú âm vừa cất lên, lập tức cảm nhận mạnh mẽ pháp lưu nhập thân.
Con quán tưởng Bổn tôn, con, và lửa Hộ Ma hợp làm một, pháp lưu và khí mạnh mẽ đi vào trung mạch của con, toàn thân sảng khoái, trong khoảnh khắc nhập vào thiền định, lúc thiền định, toàn thân là cầu vồng.
Sau đó con thấy mình ngồi trên mây, hư không và thân mình đều là ánh sáng cầu vồng.
Và đàn thành cũng là ánh sáng cầu vồng.
Tất cả vi diệu không thể diễn tả.
Đây quả thật là quán đảnh chân thực.

🌟

Liên Hoa Khâm Thắng viết:
Trong pháp hội Hộ Ma đại pháp hóa cầu vồng.
Con đích thân thấy Lư Sư Tôn ngồi trên pháp tọa, đã sớm biến thành Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.
Xung quanh toàn là Phật Mẫu.
Ánh sáng cầu vồng tràn ngập khắp pháp hội và cả hư không, rộng lớn vô biên như mây như biển.
Con thấy:
Lư Sư Tôn biến thành Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, rồi Liên Hoa Sinh Đại Sĩ lại biến về Lư Sư Tôn, cứ biến đổi qua lại, khiến mắt hoa lên.
Con hỏi hư không:
"Sao lại như vậy?"
Đáp:
"Không hai."
Hỏi:
"Đây là nhất chân pháp giới?"
Đáp:
"Khi chưa đạt đến cảnh giới, mới có phân biệt."
Hỏi:
"Vậy xuất gia và tại gia có phân biệt không?"
Đáp:
"Người phát tâm bồ đề là chân xuất gia. Những phân biệt khác chỉ là hình tướng bên
ngoài."
Hỏi: 
"Thế nào là giải thoát?"
Đáp:
"Người tâm thanh tịnh chính là giải thoát."


### 43. Pháp lạc


Khi tôi giảng Kinh Duy Ma Cật đến phần "Trì Thế Bồ Tát".
Thiên nữ hỏi:
"Pháp lạc là gì?"
Duy Ma Cật đáp:
Tin tưởng Phật pháp là pháp lạc.
Lắng nghe Phật pháp là pháp lạc.
Cúng dường Tam Bảo là pháp lạc.
Xa lìa tiền, sắc, danh, ăn, ngủ (năm thứ ham muốn) là pháp lạc.
Xa lìa sắc, thọ, tưởng, hành, thức là pháp lạc.
Xa lìa tứ đại là pháp lạc. (Thân người có tứ đại là địa, thủy, hỏa, phong, một khi mất cân bằng sẽ sinh khổ.)
Xa lìa lục thức là pháp lạc. (Thân người có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý đều là hư huyễn.)
Hộ trì đạo tâm là pháp lạc.
Lợi ích chúng sinh là pháp lạc.
Cung kính sư trưởng là pháp lạc.
Rộng làm bố thí là pháp lạc. (Hành thiện là niềm vui lớn nhất.)
Tinh tấn hành trì không biếng nhác là pháp lạc.
Nhẫn nhục nhu hòa là pháp lạc.
Siêng trồng thiện căn, rộng tích thiện hạnh là pháp lạc.
Thiền định không loạn là pháp lạc. (Pháp hỷ tràn đầy, không thể diễn tả.)
Xa lìa ô nhiễm, khai phát trí huệ là pháp lạc.
Độ hóa chúng sinh là pháp lạc.
Hàng phục ma chướng là pháp lạc.
Đoạn trừ phiền não là pháp lạc. (Phiền não là khổ, không phiền não là vui.)
Thành tựu Phật quốc tịnh thổ là pháp lạc. (Cực Lạc thì không có khổ.)
Tướng đẹp trang nghiêm là pháp lạc.
Rộng tu công đức là pháp lạc.
Trang nghiêm đạo tràng là pháp lạc. (Tâm sinh hoan hỷ.)
Diệu pháp của Phật là pháp lạc. (Diệu pháp là vui nhất.)
Tu tam giải thoát môn là pháp lạc. (Đệ nhất nghĩa không, vô tướng, vô tác.)
Thân cận bạn đạo là pháp lạc.
Tâm bình đẳng đối với tất cả mọi người là pháp lạc. (Yêu ghét bình đẳng.)
Thân cận thiện tri thức, giúp đỡ ác tri thức là pháp lạc.
Hỷ thọ thanh tịnh là pháp lạc.
Tu hành chứng nhập Phật tính là pháp lạc. (Không tính là vui nhất.)

🌟

Tôi có thể lĩnh hội được pháp lạc mà Ngài Duy Ma Cật đã thuyết giảng.
Thực ra Lư Sư Tôn cũng hiểu rõ cái lạc của ngũ dục vốn là vô thường, cũng rất hư huyễn.
Đây là nhận thức của tôi về năm thứ ham muốn:
Tiền - Tôi đã không còn mong cầu.
(Đệ tử cúng dường đầy đủ, biết đủ thường an vui.)
Sắc - Cái đẹp là vô thường, chỉ là ảo hóa, già rồi sẽ không còn tươi sáng.
(Rất ngắn ngủi)
Danh - Tôi không đuổi theo danh vọng.
(Nghĩ đến những người nổi danh, nhiều người có kết cục bi thảm, đó là vô thường.)
Ăn - Tôi ở chùa ăn cơm.
(Ăn cơm trong chùa, tâm đã đủ.)
Ngủ - Tôi cũng không ham ngủ.
(Chỉ để hồi phục mệt mỏi mà thôi.)

🌟

Tôi muốn nói với các Thánh đệ tử:
Có một loại pháp lạc mà người thường không biết đến, đó chính là "cái lạc của sự vô lậu".
Người đời "lấy lậu làm vui". (rò rỉ tinh khí)
Tôi lấy "vô lậu làm vui".
Khi tu khí, tu mạch, tu minh điểm, tu chuyết hỏa.
Khí vào trung mạch, cọ xát trung mạch, thì sung sướng không thể tả xiết.
Minh điểm hạ giáng trung mạch, cọ xát trung mạch, sung sướng không thể tả xiết.
Chuyết hỏa thăng lên trung mạch, cọ xát trung mạch, sung sướng không thể tả xiết.
Thời gian kéo dài, hai mươi bốn giờ, thậm chí lâu hơn nữa, không thể diễn tả được, thật sự như tiên vậy.
Đây chính là Tứ Hỷ.
Nếu có được loại pháp lạc này, những niềm vui khác đều trở nên không đáng kể, thật sự là như vậy.


### 44. Thư của Liên Hoa Lệ Phi


Đệ tử Liên Hoa Lệ Phi một lòng đảnh lễ Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật - Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử - Lư Sư Tôn.

Con viết thư chia sẻ một số cảm nhận và trải nghiệm sau khi được gia trì ở Seattle.

Trước khi đến Seattle, con đã có giấc mơ báo trước. Trong mơ thấy Sư Tôn rất bận rộn, trong thời gian đại pháp hội có rất nhiều chúng sinh cần được quan tâm và gia trì đến tham dự. Trong khi con âm thầm chờ đợi được gia trì, con vẫn tiếp tục làm những việc mà Bổn tôn cần làm, cuối cùng qua rèn luyện mà được gia trì, thực tại và giấc mơ đã tương ứng với nhau. Con cảm ơn Sư Tôn!

Qua mười năm tinh tấn tu pháp, tu tâm, tu hành, đệ tử không ngừng tăng trưởng trên con đường tu tập. Con tri ân nhiều đời tích lũy công phu tu hành mới có thiện duyên đời này được tiếp nối duyên xưa, được Pháp thân Lư Sư Tôn, Diêu Trì Kim Mẫu, Mã Cát Lạp Tôn Phật Mẫu và chư Bổn tôn thường trụ thân đàn thành, ban cho gia trì không ngừng, khiến nội lực và quang minh không ngừng tỉnh thức và nâng cao, tập tính được tịnh hóa, đạt được thân không, khẩu không, pháp không, tính không. Cảm nhận này như thể mọi biến đổi của con người, sự vật, sự việc đều không nhiễm tâm, nhưng vẫn tiếp tục dùng Phật tính (chân ngã) để hành sự. Cũng hiểu rõ thân xác hiện tại chỉ là giả tướng tạm thời (chẳng qua là giả ngã do không pháp thân biến hiện). Cho nên dưới tiền đề giữ sự “làm mà không vì gì cả”, chỉ là dùng phương tiện du hý để đánh thức chúng sinh còn mê đắm trong tướng mà thôi.

Lư Sư Tôn dạy con rằng, Hoàng Liên Hoa Đồng Tử cần vô ngã, tâm rộng mở, đừng sống trong ánh mắt và lời nói của người khác, hãy là chính mình (Bổn tôn). Con đã làm được điều đó, cảm ơn Sư Tôn đã gia trì và chỉ dạy.

Diêu Trì Kim Mẫu dặn dò con phải giữ tâm buông xả, tự nhiên mà lợi ích chúng sinh. Con cũng đã thực hành được "không trung diệu hữu", như như bất động. Cảm ơn Kim Mẫu đã gia trì và chỉ dạy.

Mã Cát Lạp Tôn Phật Mẫu dạy con phải đốt cháy bản thân để soi sáng người khác, phá trừ chướng ngại và mở cửa tu hành cho những quyến thuộc có duyên. Con cũng đã làm được điều đó, cảm ơn Mã Cát Lạp Tôn Phật Mẫu đã gia trì và chỉ dạy.

Cảm ơn Đại Lực Kim Cang, Hổ Đầu Kim Cang và tất cả chư tôn trong thân đàn thành đã hộ trì, đồng hành và ủng hộ con, khiến mọi việc gặp dữ hóa lành, cát tường như ý.

Mặc dù liên tục làm việc, nói chuyện cùng với thiếu nghỉ ngơi dẫn đến mất giọng, nhưng con cảm nhận được các quyến thuộc đã thấu hiểu, có sự thay đổi, mọi khổ nhọc đều ngọt ngào như đường mật, con cảm ơn Sư Tôn, Kim Mẫu, Mã Cát Lạp Tôn Phật Mẫu, Không Hành, chư Hộ Pháp đã gia trì.

Ngoài ra, trong pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, con thấy được toàn thân Sư Tôn là mắt, Sư Tôn chính là Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang. Trong pháp hội Kim Mẫu, con cũng thấy được Pháp thân Lư Sư Tôn ở Diêu Trì tiên cảnh. Khi Sư Tôn làm nghi thức sinh cơ triệu thỉnh, con thấy rất nhiều chư tôn (bao gồm Kim Mẫu và Đông Hoa Đại Đế) giáng lâm gia trì, huyệt vị sinh cơ tràn đầy ánh sáng cầu vồng. Lư Sư Tôn là vị Phật chân thật, là căn bản của tất cả thành tựu, không thể nghĩ bàn, tán thán vô cùng!

Ngoài ra, nói chuyện trong buổi đồng tu, Sư Tôn mời các đồng môn tự nguyện đứng lên làm chứng. Vì lúc đó không có gọi tên nên họ không muốn đứng lên, họ nói rằng: việc Sư Tôn gọi tên là sự công nhận, còn việc tự mình đứng lên là còn ngã tướng, vì không muốn giai đoạn này của con thể hiện là tự cho mình đúng mà nhận lấy vai trò đó, thêm vào đó là bị mất giọng, không thể nói chuyện một cách đàng hoàng, xin Sư Tôn thông cảm!

Cầu nguyện Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật Lư Sư Tôn khỏe mạnh, trường thọ, hoan hỷ. Cầu xin Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử Lư Sư Tôn, Diêu Trì Kim Mẫu, Mã Cát Lạp Tôn Phật Mẫu, Tôn Thắng Phật Mẫu, Kurukulle Phật Mẫu, Mãn Nguyện Đồng Tử, Đại Lực Kim Cang, Hổ Đầu Kim Cang, chư thiên nữ chúng đẳng đại lực gia trì Liên Hoa Lệ Phi có thân thể khỏe mạnh tiếp tục tu hành, giữ gìn tâm quang minh và thanh tịnh, đầy đủ tất cả tư lương, đắc tu hành viên mãn thành tựu, lợi ích hữu tình chúng sinh giới. Vô vàn cảm ơn!

Đệ tử Liên Hoa Lệ Phi chắp tay đảnh lễ.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) viết một bài thơ tán thán chư Thánh:

*Di Đà giáng
Chư Thánh tự bay lên
Ngồi yến tiệc giữa ánh sáng hư không
Tuy không đến đi
Nhưng hiển thần thông lớn
Nói tiếng trời
Múa điệu tiên
Pháp hội khí trong lành
Mở cửa trời
Đóng cửa đất
Chúng u minh lên cõi Phật
Tất cả tự nhiên thành.*


### 45. Thư của Liên Hoa Chân Chân


Sư Tôn kính yêu:
Cảm ơn Sư Tôn đã hộ niệm và gia trì nhiếp thọ cho đệ tử, con cảm ơn Sư Tôn. Trong thời gian học tập này, đệ tử đã cảm nhận sâu sắc tầm quan trọng của giáo pháp "Sự sự pháp ngũ thập tụng" và "Mười bốn giới căn bản Mật giáo". Chỉ có kính tin Thượng sư mới được giải thoát, đệ tử sẽ tăng cường hiểu biết và tu học, xin Sư Tôn gia trì. Sau khi con về, nếu Sư Tôn có điều gì muốn đệ tử tăng cường thực tu, xin Sư Tôn từ bi chỉ dạy, con cảm ơn Sư Tôn.

Ngoài ra, đệ tử có những cảm nhận và vấn đề tu pháp sau đây, kính xin Sư Tôn chỉ dạy:

I) Một ngày nọ, khi đệ tử đang đi đến Lôi Tạng Tự, trong tâm trí bỗng xuất hiện một thông điệp, nói với đệ tử rằng ánh sáng trong tâm cần được bảo vệ. Giống như một ngọn đèn sáng, cần phải thêm dầu, để tránh dầu cạn đèn tắt. Khiến đệ tử hiểu được những điểm quan trọng sau:
1. Tu tập nhẫn nhục và khiêm tốn học hỏi.
2. Giữ giới, đừng vì việc thiện nhỏ mà không làm, đừng vì việc ác nhỏ mà làm.
3. Bố thí.
4. Tinh tấn tu tập Phật pháp và vận dụng trong đời sống hàng ngày.
5. Tu tập thiền định và tư duy tu.
6. Nghe nhiều.

II) Trong kỳ kinh nguyệt, khi đệ tử tu pháp và nhập Tam ma địa, con thấy được mây ánh sáng ở mi tâm, nhưng không thể nâng khí lên được. Bởi vì nếu tu chuyết hỏa trong kỳ kinh nguyệt sẽ cảm thấy khó chịu ở vùng bụng dưới, và cũng không thể tập trung lực ở vùng bụng dưới. Sau khi đọc lại khai thị của Sư Tôn, con biết phụ nữ không được tu chuyết hỏa trong kỳ kinh nguyệt. Vì vậy đệ tử xin hỏi Sư Tôn, nếu không thể tu chuyết hỏa trong kỳ kinh nguyệt, có cần pháp tu khác để bù đắp không? Ngoài ra, phụ nữ tu tập vô lậu có phải vì thế mà sẽ không bị kỳ kinh nguyệt ảnh hưởng đến việc tu chuyết hỏa không? (Lư Sư Tôn chú thích: ... Đúng vậy. Hãy dùng sự gia trì của Thượng sư để bù đắp.)

III) Cuối cùng, đệ tử muốn nói rằng những gì Sư Tôn dạy là chân thật. Pháp “song vận” là một pháp môn tu hành, là Mật pháp dùng tham kết hợp với giới luật và Phật pháp để tu tập, không thiên lệch về bất kỳ phía nào, là song vận, là viên dung, là viên mãn. Là trong tham vẫn duy trì được tâm quang minh, là thanh tịnh, tu pháp này có thể khiến ánh sáng hiển hiện. Khi khí được quán nhập vào thân thể và phối hợp với chuyết hỏa, mi tâm, mây ánh sáng sẽ biến thành minh điểm chảy xuống, sau đó lại đưa minh điểm lên và tỏa ra, là có sức mạnh. Đệ tử muốn thỉnh hỏi Sư Tôn, có phải là mượn minh điểm được nâng lên này để khai ngũ luân không? Nên vận dụng minh điểm và sức mạnh này như thế nào để thông trung mạch và khai ngũ luân? Và sau khi đệ tử về nước, có nên tiếp tục tu tập chuyết hỏa để củng cố việc tu tập không? Cảm ơn Sư Tôn. (Lư Sư Tôn chú thích: ... Khai ngũ luân, dùng minh điểm và chuyết hỏa. Có thể tu chuyết hỏa để củng cố.)

Cảm ơn Sư Tôn đã chỉ dạy. Con cầu xin Sư Tôn gia trì cho đệ tử tu hành viên mãn, thuận lợi. Con vô cùng cảm ơn Sư Tôn. Chân Chân rất không muốn rời xa, nhưng Chân Chân sẽ mạnh mẽ. Chân Chân sẽ nhớ Sư Tôn, thương Người!

Đệ tử Liên Hoa Chân Chân kính bút.
Ngày 7 tháng 10 năm 2023.

🌟

Lư Sư Tôn viết thơ cho "Chân Chân":

*Mây với ráng chiều
Vốn là một thể
Mưa với hạt sương
Chẳng khác chi nhau
Thân tâm xưa nay
Không hề phân biệt
Cát với bùn về
Hòa quyện làm một.*
(Thơ gửi Chân Chân, hiểu chăng?)


### 46. Chân xuất gia?


Đảnh lễ Căn bản Thượng sư Liên Sinh Phật tôn quý và từ bi nhất!
Kính chúc Sư Tôn Sư Mẫu bình an!

Chủ nhật ngày 6 tháng 8 năm 2023, các đệ tử ở Vancouver đều dậy sớm, như thường lệ, từng đoàn xe chở các Phật tử ở Vancouver lần lượt lái xe đến Seattle để tham dự pháp hội Hộ Ma Đại Tùy Cầu Bồ Tát do Sư Phật chủ trì.

Trên đường đi, đệ tử vừa thiền định vừa nghe Sư Phật khai thị kinh Duy Ma Cật, bất chợt thấy trên đầu không biết từ lúc nào đã được bôi đầy kem cạo đầu trắng xóa, còn có người cầm dao cạo quẹt một đường ở thái dương, trong trạng thái mơ màng cũng không thấy có gì lạ, tiếp tục đắm chìm trong dòng pháp khai thị của Sư Phật.

Trong giờ ăn trưa, con hỏi Sư Phật về phẩm "Đệ Tử" trong kinh Duy Ma Cật tuần trước, về việc chỉ dạy và giải thoát nghi vấn cho Ưu Ba Ly tôn giả về tội phạm giới của vị tì kheo. Nhiều đệ tử trong lòng còn nhiều thắc mắc, chưa hiểu rõ tại sao phạm trọng giới vẫn có thể dễ dàng được giải thoát? Thầy đáp: Phật Thích Ca Mâu Ni trong kinh "Phật Thuyết Xuất Gia Công Đức" cho rằng, dù phạm tội lớn như vũ trụ, một khi phát tâm xuất gia, tội liền tiêu diệt. Đệ tử nghe xong, ngỡ ngàng, không dám tin. Sư Phật nói: "Chúng sinh phạm giới sẽ gặp nhân quả, nhưng nhân quả cũng chỉ là nhất thời." "Vậy còn địa ngục Vô Gián thì sao?" Sư đáp: "Địa ngục Vô Gián là từng phút từng giây chịu khổ báo, nhưng cũng chỉ là nhất thời." Nghe lời Phật dạy, tâm trí bỗng khai mở, như có điều tỏ ngộ. Phật tính (thực tướng vũ trụ) là thường hằng bất biến, không sinh không diệt, chúng sinh phạm giới là huyễn sinh huyễn thọ, chỉ là ảo tượng nhất thời, nên phạm tức không phạm, không phạm tức phạm.

Sau pháp hội Hộ Ma, trong phần "Trò hỏi Thầy đáp", đồng môn có hỏi Sư Phật về vô niệm: "Người thực vật có vô niệm không?" Thầy đáp: "Điều này phải hỏi người thực vật." Con xen vào: "Vô niệm trong Phật pháp có thể sinh trí tuệ, vô niệm của người thực vật giống như hư không, hai cái khác nhau." Thầy đáp: "Về lý thuyết thì đúng, nhưng chưa từng làm người thực vật thì làm sao biết được?" Nghe lời thầy dạy, con ngỡ ngàng, dường như hiểu mà không hiểu. Đệ tử hễ trong lòng có điều gì chưa hiểu thì nhất định phải truy cứu đến cùng, thỉnh thoảng lại suy ngẫm. Ngày 11 tháng 8, trong lúc kinh hành, cuối cùng con đã phá được mây mù, bừng tỏ. Về câu hỏi người thực vật, qua lời đáp tưởng chừng đơn giản của Sư Phật, cuối cùng con đã hiểu được sự khác biệt về trí tuệ giữa bậc đại thành tựu và phàm phu (đệ tử, người học Phật). Phàm phu đối với kinh điển chỉ luẩn quẩn trong "sai biệt trí", còn bậc giác ngộ thành tựu đã chứng Phật tính đối với "căn bản trí" (Phật tính), và sự viên dung quán thông thiện xảo ứng dụng của đại trí tuệ viên mãn đều thuần thục tự tại vô ngại. Đó chính là như trong bài viết "Mười lực, bốn vô úy, mười tám bất cộng pháp" của cuốn sách "Thần thông đại sư Duy Ma Cật", Sư Phật đã giải thích về thành tựu ở nhân địa: "Mười lực" là vì chúng sinh; "bốn vô úy" là tự thân vô úy; "Mười tám bất cộng pháp" là phương pháp tu hành tự giác, đạt đến trí huệ hoàn toàn vô ngại; đủ để chứng minh Sư Phật đã chứng đắc quả vị Phật.

Vì con người và người thực vật, cho đến toàn bộ pháp giới, trong mắt Phật đều không có thực tính, tất cả đều là hư huyễn, vậy tại sao phải cố gắng phân biệt người hoạt bát nhảy nhót, hay người như gỗ mục tro tàn? Không phân biệt mới là chính kiến, có phân biệt không phải chính kiến, Sư Phật nói đó là chấp trước vào chi tiết nhỏ nhặt, không thể thoát ra được, đương nhiên là không thể hiểu thấu đáo.

Ngay cả "Bát thức" được đề cập trong "Duy thức" cũng chỉ là tướng phân biệt, giải thoát chân thật không có thức nào để theo. Nhưng trong kinh Phật có nói, Bồ Tát dùng "vô vi pháp mà có phân biệt", sự phân biệt ở đây là tùy theo nhân duyên độ chúng sinh mà có sự phân biệt, đó là phương tiện thiện xảo trong việc ứng dụng "vô vi pháp". Ví như, Phật phân thân Bồ Tát, hiện tướng từ bi, hành từ bi hỷ xả cứu độ chúng sinh; phân thân Kim cang Hộ pháp, hiện tướng phẫn nộ, trừ yêu trừ ma, hộ trì chúng sinh. Cho nên chư Phật Bồ Tát dùng vô vi pháp mà phân biệt, thực ra không phân biệt.

Nghĩ đến điều này, đệ tử đem những gì đã học từ Tâm Kinh, Kim Cang Kinh và Duy Ma Cật Kinh trước mắt, sắp xếp lại trong đầu để so sánh đối chiếu. Ba bộ kinh đều giảng về đệ nhất nghĩa đế (Thánh nghĩa đế) của Phật pháp; Tâm Kinh và Kim Cang Kinh là những bảo điển tinh hoa về khai ngộ về mặt lý; Duy Ma Cật Kinh giảng về pháp môn bất nhị (tướng bất nhị), là sự tiến hóa và thực hành trên mặt lý, là một bảo điển Đại thừa lý sự viên dung hiếm có nghìn năm qua, phân tích tỉ mỉ toàn diện về Tiểu thừa và Đại thừa. Thoạt nhìn văn tự có nhiều chỗ khó hiểu, lại dường như chỗ nào cũng trái với giới luật đạo đức, khiến người đời sau rất khó diễn giải cho rõ ràng. Nhưng sau khi được Sư Phật chuyển phức tạp thành đơn giản, phân tích từng câu một, đệ tử nhận ra rằng, nếu có thể không bị văn tự chướng ngại, ở những chỗ không thông, dùng đệ nhất nghĩa đế (thực tướng, không tính, Phật tính, tướng bất nhị) để giải thích, rất dễ phá trừ được từng lớp mê chấp chướng ngại, ngộ được điều này, lập tức cảm thán vô cùng.

Ngày hôm đó khi sắp kết thúc, Sư Phật giảng về phẩm "Đệ Tử", về ý nghĩa chân thật của xuất gia của Tôn giả La Hầu La. Sư Phật giải thích về lời của ngài Duy Ma Cật: phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề là "chân xuất gia", nghĩa là "đạo tâm". Lời giải thích về xuất gia này quả thật nghìn năm khó được nghe, thật chính xác! Kỳ diệu thay, khi giảng đến xuất gia, vừa hay trên đường đến đây, đầu trọc của con đã được bôi đầy bọt để chuẩn bị cạo tóc. Phải chăng con xuất gia đã hai mươi tám năm, mãi đến hôm nay trong pháp hội này nhân duyên khéo hợp, pháp giới mới thật sự giúp con làm lễ xuất gia?! A Di Đà Phật! Lành thay! Diệu thay! Đệ tử vô cùng biết ơn Sư Phật đã khổ tâm giáo hóa, ân cần dạy dỗ, mấy chục năm như một ngày, đệ tử lại một lần nữa được chỉ dạy! Cảm ơn vô tận!

Kính chúc Sư Phật Phật thể an khang, trường thọ trụ thế, thường chuyển pháp luân.
Kính chúc Sư Mẫu khỏe mạnh trường thọ, hộ sư hộ giáo, sớm thành Phật quả.

Đệ tử Liên Từ đảnh lễ kính cẩn.
Ngày 13 tháng 8 năm 2023.

🌟

Kệ xuất gia của Lư Sư Tôn:

*Năm nay bảy mươi chín,
Bốn mươi năm xuất gia;
Vốn dĩ chẳng có gì,
Đời này thật nhàn nhã.*

Lại nữa:

*Khi đến thân trống không,
Ra đi như cơn gió;
Nếu hỏi về xuất gia,
Đông đông là cái gì? *[ở đây có sự chơi chữ “đông đông”]

Lại nữa:

*Thiên đường ta chẳng vào,
Địa ngục cũng không ở;
Tất cả đều thênh thang,
Hoàn toàn không ràng buộc.*

(Chú thích: Có người hỏi Lư Sư Tôn, thế nào là chân xuất gia? Tôi đáp "nhật nguyệt tại thiên", người có tâm quang minh chính là chân xuất gia.)


### 47. Thư của Liên Ha


Sư Phật kính yêu nhất, Phật an!

Ngu đệ tử Liên Ha một lòng đảnh lễ và xin dùng thân khẩu ý cúng dường Sư Phật!

Tuần sau đệ tử sẽ bay đến Seattle tham dự đại pháp hội Mùa Thu, tiếp nhận quán đảnh pháp Thánh Quan Âm đời đời kiếp kiếp đại phú hào do chính Sư Phật ban cho. Chuyến đi này có hơn 40 đồng môn từ Brazil cùng đi, kính xin Sư Phật gia trì cho các đồng môn được bình an thuận lợi trên đường đi, tham dự pháp hội cát tường viên mãn. Đệ tử đã nghe được lời khai thị của Sư Phật, tiếp nhận quán đảnh này, thành tựu lớn nhất trên cõi trời là có thể đắc Đạo, hợp nhất với Đạo, đó chính là nguyện vọng lớn nhất của đệ tử. Đệ tử xin cầu chúc tất cả đệ tử Chân Phật sau khi tiếp nhận quán đảnh của Sư Phật, đều có thể đời đời kiếp kiếp hợp nhất với Đạo, trở thành người giàu có nhất trên trời dưới đất.

Sư Phật kính yêu, đệ tử theo chỉ thị của Sư Phật, đã tăng cường tập luyện thể dục, thái cực quyền, thất trùng luân, lục thức thể công pháp và đại ha đẩu thân để khai thông các mạch luân. Đệ tử cũng đã tăng cường tập khí công mỗi sáng sớm: sau khi nạp khí và nuốt dịch, tập kim cang tụng, tăng cường mạnh mẽ việc hòa tan và vận chuyển Tâm luân, Mật luân, Hầu luân và Đỉnh luân; khi luyện Bảo bình khí, sau khi thỉnh chư tôn nhập thể, cũng lần lượt quán tưởng sự xoay chuyển của từng luân. Khi tu tập chuyết hỏa, cảm nhận về sự nóng rực và ánh sáng xuất hiện rất nhanh, và cực kỳ mạnh mẽ và chân thực.

Về việc tu trì ngoại pháp, đệ tử luôn quán tưởng Căn bản Thượng sư xuất hiện trước tiên, bên phải Sư Phật là chư Phật mười phương, bên trái là chư Bồ Tát Thanh Văn mười phương, phía trên là chư tôn truyền thừa, phía dưới là Kim cang Hộ pháp, sau đó quán tưởng chư tôn lần lượt hòa nhập vào Căn bản Thượng sư, Sư Tôn tỏa ra ánh sáng tổng hòa của chư Phật Bồ Tát ba đời mười phương và Kim cang Hộ pháp. Mỗi đàn pháp đệ tử đều cảm nhận được đại quang minh của Sư Phật và Bổn tôn Hộ pháp, sau đó đệ tử và Sư Phật đối lưu ở khoảng cách gần, quang khí tự nhiên hòa hợp. Khi Sư Phật trụ đỉnh, ánh sáng trong tâm đệ tử và ánh sáng trên đỉnh đầu của Sư Phật tương ứng với nhau, hợp nhất một cách tự nhiên như nước hòa với sữa.

Khi nhập Tam ma địa, đệ tử trước tiên tập trung vào hỏa ở đan điền, chuyển hóa tam giới thành lửa, vạn vật thành không; sau đó tập trung vào ánh sáng của Tâm luân, chuyển hóa chúng sinh thành Bổn tôn, ánh sáng chiếu rọi lẫn nhau; cuối cùng tập trung vào Mi tâm luân, đưa vạn pháp trở về Mẫu quang tính không chân như. Trong chỉ-quán song vận, tiến vào tính không vô niệm. Mỗi khi ý niệm dừng lại, dòng chảy pháp của vũ trụ tự nhiên chảy vào thân thể, lúc đó chuyết hỏa, tâm quang và tính không đều được tăng cường. Trong trạng thái đó, sắc-không có thể chuyển hóa lẫn nhau, năng lượng và vật chất có thể chuyển hóa qua lại, đó thực sự là cảnh giới của Tâm Kinh “sắc tức thị không không tức thị sắc”. Chân không và diệu hữu là một thể. Cảm ơn Sư Phật đã truyền thụ tất cả tâm yếu khẩu quyết, đệ tử đều ghi nhớ từng điều trong tâm, mỗi ngày đều thực hành và rèn luyện, nguyện đời này không phụ ơn Phật.

Sư Phật kính  yêu, ngoài việc tinh tấn thực tu, đệ tử vẫn duy trì việc đọc sách và học tập mỗi ngày. Đệ tử học các sách của Sư Phật, kinh Phật, sách khoa học hiện đại, và các tác phẩm nổi tiếng thế giới để không ngừng tiến bộ và trưởng thành. Đồng thời, mỗi thứ năm đệ tử hướng dẫn các đồng môn cùng tu pháp Thượng sư tương ứng trực tuyến, sau đó cùng nhau học tập cuốn "Định Trong Định" của Sư Phật. Cuốn sách này đã mang lại nhiều lợi ích cho tất cả chúng con, giúp ích rất nhiều cho việc thiền định của mọi người.

Đệ tử cũng thường dành thời gian giao lưu với các đồng môn Chân Phật, giúp họ giải tỏa phiền não và nghi hoặc, động viên họ tiếp tục cố gắng tinh tấn. Mỗi khi thấy các đồng môn được giải tỏa tâm tư, mãn nguyện, đệ tử cảm thấy vô cùng hoan hỷ trong lòng. Dù tốn một chút thời gian và tâm sức, đệ tử vẫn thấy rất xứng đáng và có ý nghĩa. Đệ tử nghĩ rằng, cảnh giới cao nhất của giáo dục là để mỗi người đều nhận được sự quan tâm và chỉ dạy riêng biệt. Đây cũng là lý do Sư Tôn Phật Bồ Tát phải phân thân vô số để độ hóa riêng từng chúng sinh.

Sư Phật kính yêu! Sự nghiệp giáo dục Chân Phật đang không ngừng phát triển, ngoài các khóa học trực tuyến còn có các khóa học trực tiếp: "Lớp nâng cao dành cho Thượng sư Chân Phật" sau Đại pháp hội mùa thu, và "Khóa học chuyên biệt 6 ngày dành cho toàn thể nhân viên hoằng pháp và tăng chúng" trong thời gian Đại hội cúng tăng ở Malaysia. Nửa cuối năm sẽ mở thêm "Khóa học phổ thông" hướng tới xã hội và "Khóa đào tạo thực chiến Giáo viên hạt giống Chân Phật". Các giáo viên hạt giống Chân Phật sẽ bắt đầu giảng dạy thực tế, các chuyên gia hướng dẫn liên tục góp ý cải thiện, cho đến cuối cùng, sẽ tổ chức theo hình thức bảo vệ tốt nghiệp, học viên thuyết trình trước các giảng viên hướng dẫn, giảng viên nhận xét tại chỗ, người thi đậu sẽ được cấp "Chứng chỉ Giáo viên hạt giống Chân Phật", sau đó chính thức giảng dạy cho đồng môn Chân Phật.

Đệ tử kính xin Sư Phật gia trì mạnh mẽ cho tất cả các công việc giáo dục Chân Phật kể trên, để mọi việc đều thuận lợi thành công, để sự nghiệp giáo dục Chân Phật không ngừng phát triển, mang lại lợi ích cho đại chúng đệ tử Chân Phật và tất cả chúng sinh.

Cuối cùng, đệ tử kính chúc Sư Phật Phật thể an khang, trường thọ tự tại, thỉnh Phật trụ thế, thường chuyển pháp luân. Đệ tử cũng kính xin Sư Phật gia trì cho đệ tử thân thể khỏe mạnh, tu hành không ngừng tiến bộ, thành tựu thiền định, thành tựu chuyết hỏa, giúp chúng sinh cùng thành tựu! Kính xin gia trì cho sự nghiệp chân đế bồ đề không ngừng tiến bộ, nhân sự hòa thuận, mọi người đồng tâm hiệp lực, việc mua và xây dựng Tân Chân Phật Gia Viên thuận lợi thành công, việc xây dựng tượng Phật lớn nhất Nam Mỹ và chùa chiền đạo tràng thuận lợi thành công, hoằng dương rộng rãi Chân Phật Mật Pháp, độ vô lượng chúng sinh!

Kính chúc Sư Phật Sư Mẫu an khang cát tường, đại pháp hội mùa thu viên mãn thành công!

Ngu đệ tử Liên Ha kính thư.
Ngày 5 tháng 9 năm 2023.
Tại núi São Paulo, Brazil.

🌟

"Hợp nhất với Đạo", tôi (Lư Sư Tôn) viết một bài thơ:

*Hoàn toàn không can thiệp,
Độc chiếu kho ánh sáng;
Nếu hỏi tâm trụ đâu?
Mười phương là đạo tràng.*


### 48. Nam Mô Hồng Tôn


Kính thưa Sư Tôn! Nam mô A Di Đà Phật. Đệ tử muốn chia sẻ về quá trình tu tập của mình.

Khi tu pháp, đệ tử có thể lập tức hợp nhất biến thân, biến thành Sư Tôn, cũng có thể biến thành Kim Mẫu và các vị khác để đối thoại với các ngài. Những cuộc đối thoại này là sự giao lưu của tâm linh, không có văn tự. Kim Mẫu luôn chỉ dạy đệ tử trong những lúc đệ tử cảm thấy hoang mang về nhiều tình huống khác nhau, ví dụ như: đệ tử rất phân vân không biết Không Hành Mẫu đang xuất hiện là thật hay giả, Ngài đáp: "Vô thẩm." Đây là đệ nhất đế, rất thâm diệu.

Chính nhờ những lời chỉ dạy như vậy mà trong những năm qua đệ tử đã học hỏi được rất nhiều. Trong quá trình tu tập, đệ tử không ngừng trưởng thành, Sư Tôn luôn là vị chủ tôn đầu tiên mà đệ tử hợp nhất biến thân, sau đó mới đến các vị khác. Có vài lần, đệ tử biến thân thành hình dạng thủy tinh xanh lục trong suốt của Kim Cang Tát Đỏa. Thông thường, về những vấn đề tu hành, đệ tử có thể trực tiếp thỉnh giáo Sư Tôn (đôi khi cũng được Kim Mẫu chỉ dạy ngay lập tức). Hơn nữa, đệ tử đã tu pháp Hộ Ma được ba trăm tám mươi đàn, mỗi đàn đều có thể hợp nhất biến thân theo sự giáng lâm của chủ tôn. Hiện nay, đệ tử cũng có thể hiểu được phần nào các tác phẩm công án Thiền tông của Sư Tôn, mặc dù vẫn còn một số chỗ chưa thể lĩnh hội hoàn toàn.

Vài năm trước, trong lúc tu pháp, đệ tử có thể nhìn thấy những đoạn tiền kiếp của mình. Ví dụ, đệ tử thấy mình đứng trên ban công cùng với một vị vua của bộ tộc khác (có lẽ là Tây Tạng), cùng nhau vẫy tay chào thị dân ở quảng trường. Còn một đoạn khác, đệ tử bay lượn trên một vùng đất rộng lớn, trông giống như thảo nguyên trên núi Tây Tạng, dường như là sau một trận dịch bệnh.

Năm 2008, đệ tử đã tham dự pháp hội Hộ Ma Thích Ca Mâu Ni Phật do Thượng sư Liên Hỏa chủ trì. Trong lúc Tam ma địa, đột nhiên đệ tử đến một nơi. Đệ tử nắm tay Sư Tôn, bước lên bậc thang, đến trước mặt Phật Thích Ca Mâu Ni. Ngài nói một câu: "Sudhanaksa, con đã đến." Lúc đó, đệ tử trong hình dáng một tiểu sa-di, nắm tay Sư Tôn bước đi.

Một lần nữa, trong một pháp hội khác, khi nhập Tam ma địa, Phật Thích Ca Mâu Ni xuất hiện và dạy rằng: "Việc của người khác là của người khác, việc của mình là của mình." (Lúc đó vừa hay có một việc không thể hiểu được.) Đây quả thật là đệ nhất đế vô cùng chấn động! Từ đó trở đi, đệ tử bắt đầu thâm nhập khám phá pháp thiền. Thậm chí trong pháp hội Đại Tự Tại Thiên của Sư Tôn ở Đài Loan, đệ tử có nghi hoặc hỏi: "Đại Tự Tại Thiên không phải là ma sao?" Lúc đó, Đại Tự Tại Thiên đáp: "Ngươi xem ta là Phật thì ta là Phật, ngươi xem ta là ma thì ta là ma."

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, một trong những điều đáng kinh ngạc nhất là đệ tử biến thân thành một vị chủ tôn màu đỏ, đệ tử nghi ngờ đây chính là Bổn tôn của mình. Đệ tử đã nhiều lần biến thành vị này, đệ tử cố gắng giao tiếp với ngài (giống như cách đệ tử giao tiếp với Sư Tôn và Kim Mẫu), nhưng mỗi lần ngài đều im lặng, không nói một lời. Có một lần, đệ tử bị ngài nuốt chửng, bị đẩy đến luân xa bí mật của ngài. Khi đệ tử ngước nhìn lên, đệ tử thấy trong trung mạch của ngài có những đóa sen trong suốt, màu xanh lục nhạt.

Đệ tử tin rằng vị chủ tôn màu đỏ có thể chính là Bổn tôn của đệ tử. Cho đến nay, đệ tử có thể xác nhận rằng ngài không phải là Kurukulle Phật Mẫu, cũng không phải là Dorje Pamu. Đệ tử tin rằng cuối cùng ngài sẽ khai sáng cho đệ tử biết thân phận của mình. Vì vậy, đệ tử vẫn luôn tôn xưng ngài là "Nam Mô Hồng Tôn".

Những điều này là những trải nghiệm từ vài năm trước và gần đây, vẫn luôn được cất giữ trong tâm đệ tử. Gần đây, Sư Tôn trên pháp tọa thường kêu gọi mọi người chia sẻ những điều mình thấy biết, vì vậy đệ tử viết bức thư này. (Nhưng xin Sư Tôn đừng công khai tên của đệ tử, vì đệ tử làm việc trong cơ quan nhà nước, hơi nhạy cảm.)

Đệ tử đã từng đến Seattle trong thời gian pháp hội tháng 9, nhưng vì có quá nhiều người xin hỏi việc nên không thể nêu thắc mắc, vì vậy đệ tử viết thư cho thầy, và cũng hy vọng có thể nhận được sự giúp đỡ và chỉ dẫn của Sư Tôn để hiểu được thân phận chân chính của Hồng Tôn.

Cuối cùng, đệ tử cũng mong Sư Tôn gia trì cho đệ tử, để đệ tử sớm thành tựu, giải thoát sinh tử, cuối cùng tự độ độ tha. Đệ tử viết thư này không chỉ để hưởng ứng lời kêu gọi của Sư Tôn, mà còn để bày tỏ lòng tôn kính, và tán thán sự vĩ đại của Sư Tôn cùng sự thù thắng của Chân Phật. Đệ tử biết rằng tất cả thành tựu tu hành đều nhờ ơn của Căn bản Truyền thừa Thượng sư.

Cảm ơn.
Vô danh.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) tán thán "Nam Mô Hồng Tôn":

*Om Ah Hum.
Ngài là Không hành tôn quý nhất của Mật giáo,
Sự độ hóa của Ngài hiển hiện không gì sánh được,
Ngài là sự hiển hiện hợp nhất lần nữa của Liên Sư,
Hồng Tôn tối thượng
Trung tâm của Bát Nhã Ba La Mật Đa
Tôi, Lư Sư Tôn, biết được bí mật trong bí mật của Ngài*

*Thuần tịnh
Tuyệt mỹ
Thánh khiết
Hồng Tôn vĩnh hằng
Tôi tán thán sự cứu độ vô tận của Ngài
Ngài xuất hiện từ cõi vô biên
Dẫn dắt đệ tử của tôi vào tịnh thổ liên hoa
Cảm tạ lòng đại từ của Ngài
Cảm tạ lòng đại bi của Ngài*

*Ngài và tôi thị hiện vì lợi ích chúng sinh
Nguyện chúng sinh trong tam giới được dẫn dắt
Nam Mô Hồng Tôn
Om ah hum soha.*


### 49. Tự thuật của một vị Rinpoche


Đảnh lễ Đấng Tôn Quý Ân Đức Tối Thắng - Liên Sinh Phật (ba lần đảnh lễ)

Đệ tử Liên Hoa Tuế Trình mong được mượn lá thư này để báo cáo về quá trình tu hành của mình cho đến ngày hôm nay.
Thành tâm hy vọng có cơ hội được Sư Phật xem qua.
Đây cũng là lời nguyện kim cương samaya kiên cố giữa Căn bản Thượng sư Liên Sinh Phật, Bổn tôn và đệ tử.
(ba lần đảnh lễ)

Chương Nhân duyên

Đệ tử Liên Hoa Tuế Trình quy y Sư Phật vào ngày 30 tháng 12 năm 1995, khi Sư Phật đến Singapore. Vài ngày trước khi ra sân bay đón Sư Phật, con đã mơ thấy Sư Phật gia trì cho con tại pháp hội, và mơ thấy nhân duyên kiếp trước của mình cùng với sự hiển hiện của Đại Uy Đức Kim Cang to lớn như núi, Ngài cho con biết Ngài là Hộ pháp của con, rồi hóa thành ánh sáng đi vào thân thể con. Vào ngày 26 tháng 12, lần đầu tiên gặp Sư Phật tại sân bay, trong lòng con bỗng cảm thấy như gặp lại người thân đã lâu không gặp, nước mắt tuôn rơi không ngừng.

Lúc đó, con hoàn toàn không biết Đại Uy Đức Kim Cang là gì. Sau này, tại pháp hội ở Singapore năm 1995, con đã mua một cuốn sách của Sư Phật tên "Pháp Thuật Của Mật Giáo", phía sau sách có khai thị về Đại Uy Đức Kim Cang do Sư Phật truyền dạy, lúc đó con mới biết được nguồn gốc của Đại Uy Đức Kim Cang. Con đã viết thư hỏi Sư Phật về việc này, thư phúc đáp nói rằng đó là ký ức kiếp trước của đệ tử và bảo đệ tử viết thư xin quán đảnh trì chú Đại Uy Đức Kim Cang từ xa. Đệ tử đã làm theo chỉ dẫn trong thư phúc đáp để xin quán đảnh trì chú Đại Uy Đức Kim Cang từ xa, và nỗ lực tinh tấn tu trì, trong quá trình đó còn có rất nhiều cảm ứng thù thắng và điềm lành.

Cùng thời kỳ đó, con cũng nỗ lực tu trì pháp Tứ gia hành và pháp Thượng sư tương ứng, đều có rất nhiều cảm ứng. Trong đó, sau khi tu trì viên mãn đàn pháp Tứ gia hành, con đạt được cảm nhận rất quang minh và khinh an. Sau khi xuất đàn, con tiện tay cầm một tờ giấy, vẽ một vòng tròn rồi theo Bách tự minh chú trong "Chân Phật Pháp Trong Pháp" mà viết ra. Không ngờ dưới tiền đề không đo lường trước mà hoàn thành được toàn bộ chú luân, không sai lệch.

Trong quá trình tu trì pháp Thượng sư tương ứng, con đã nhiều lần thấy Sư Phật ngồi trên hoa sen trong đàn thành, hiển hiện giữa hư không, xung quanh có hào quang cầu vồng bao quanh.

Có một lần khi dùng cơm ở Đài Loan, sau khi cúng dường Sư Phật chày kim cang phổ ba, Sư Phật đã khoác lên người con tấm lụa màu xanh, từ đó con thường xuyên thấy được Phổ Ba Kim Cang và Phật Mẫu đứng trên hoa sen, bay lượn xung quanh con, bây giờ chỉ cần tập trung tâm ý là có thể thấy được, thật là cảm ứng vô cùng.

Những điều nhìn thấy này, con chưa từng nói với ai, con cũng không thích nói về những chuyện cảm ứng thần thông. Xét cho cùng con cũng không cảm thấy mình có điểm gì hơn người, luôn cho rằng điều quan trọng nhất trong tu hành vẫn là thật thà chân thật, tự kiểm điểm xem bản thân có từ bi hơn không, có lợi ích chúng sinh không, có thể hàng phục vọng niệm phiền não của mình hay không mới là điều quan trọng.

Chương Nepal

Vào cuối năm 2000, do một cơ duyên đặc biệt, với sự tài trợ của người chú thứ sáu của con, con đã đến Nepal trong ba năm để xây dựng một ngôi chùa cho dân tộc Tamang, đó là "Chùa Cát Tường Tháp Đạt Mang".

Người Tamang là dân tộc lớn thứ ba ở Nepal, tổ tiên của họ đến từ dãy núi Côn Lôn và vùng đất Tạng.

Lịch sử huyết thống của họ có thể truy nguyên đến quốc gia Đảng Hạng, thời xưa họ là những chiến binh cưỡi ngựa, tính cách mạnh mẽ, trọng tình nghĩa. Dân tộc này phân bố khắp Nepal, Bhutan, Sikkim và khu vực Himalaya. Đa số họ theo truyền thừa phái Nyingma cựu dịch (Jetsun Nyingma và Jangtrel Nyingma), dòng pháp truyền thừa từ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ và tổ sư Đại viên mãn Rigzin Jetsun Nyingpo, người cũng chính là Đại Bảo Pháp Vương đời thứ 10 Choying Dorje.

(Đức Karmapa Choying Dorje đời thứ 10) là Thượng sư truyền thừa dòng pháp Đại viên mãn. Hệ thống tu hành của người Tamang chủ yếu dựa trên “giọt tâm” Đại viên mãn của Liên Sư, terma Đại Huyễn Hóa Võng Tục và Bát Đại Heruka Tục. Trong quá trình xây dựng chùa cũng đã xảy ra nhiều điều thần kỳ không thể nghĩ bàn.

Trong thời gian đó, con được hai vị trưởng lão của dân tộc Tamang là Lama Karma Siddhi và Lama Kusong công nhận là Rinpoche do có nhiều điềm lành. Sau khi họ thực hiện nghi thức thẩm định, họ xác nhận con là một trong 25 đại đệ tử của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, và tặng cho con một tượng kim thân cổ của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ từ 15 thế kỷ trước (đại diện cho thân mật), một quyển kinh Văn Thù Bồ Tát Chân Thật Danh (đại diện cho khẩu mật), một bảo tháp cổ thờ hai viên xá lợi của Phật Ca Diếp (Kasyapa Buddha) (đại diện cho ý mật), áo nạp và y của tổ sư, mũ Pháp Vương hoa sen phái Nyingma, và mặt nạ cổ của Bạch Ha Nhĩ Vương - vị Hộ pháp của dòng truyền thừa Jetsun Nyingma, làm vật khởi duyên.

Còn có một vị Rinpoche (Thượng sư Mật giáo Kyabje Ralo Rinpoche của sư huynh Khải Trọng) cũng muốn trao cho con thư chứng nhận, đặc biệt đến tận nơi con ở. Nhưng con đã từ chối. Tuy nhiên, để kết thiện duyên, ngài vẫn tặng cho con một phần nhỏ mật tục do Đại Tỳ Lô Giá Na dịch sư (Khenpo Vairocana) tự tay viết vào thế kỷ 7, làm vật khởi duyên.

Lý do con từ chối sự công nhận của họ là vì con hiểu sâu sắc về samaya của Mật giáo. Từ đầu đến cuối, con chỉ có một vị Căn bản Thượng sư duy nhất, đó là Liên Sinh Phật. Vì vậy, dù có kết duyên quen biết nhiều vị Pháp Vương, Đại Hoạt Phật, Rinpoche của các phái Mật tông, con cũng chưa bao giờ quy y họ, càng không nhận quán đảnh từ họ. Hơn nữa, con cũng không phải vì danh hão này mà phụng sự chúng sinh, nên con đã từ chối một cách nhã nhặn sự công nhận của họ.

Tuy nhiên, nhiều người đã biết về những sự công nhận này, nên ở Nepal có rất nhiều người bao gồm nhiều vị Hoạt Phật Rinpoche, các Bộ trưởng, chính khách cấp Thị trưởng và nhân sĩ xã hội đều gọi con là Rinpoche. Trong số đó có cựu Bộ trưởng Xây dựng Quốc gia Nepal Budiman, cựu Thị trưởng Kathmandu, Trưởng huyện Trishuli Bungthang Santhay Tamang và cháu đích tôn của Đại sư truyền thừa pháp Mã Đầu Minh Vương của Đức Karmapa đời thứ 16 - Ngài Urgyen Sangye Gyaltso Rinpoche - là Ngapa Karpo Jigme. Ông ấy cũng là người nắm giữ dòng truyền thừa không gián đoạn về pháp Mã Đầu Minh Vương của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ được nhiều tông phái công nhận, đồng thời là một Mật sư nổi tiếng ở Nepal, và cố Quốc vương Nepal cũng từng công khai ca ngợi thành tựu của ông. Ông ấy rất cung kính con và cũng tôn xưng con là Rinpoche.

Tên chỉ là tên, Rinpoche chỉ là một danh xưng người ta gọi con mà thôi, có thể lợi ích chúng sinh, khiến chúng sinh dừng ác làm thiện mới là bản ý của con. Con luôn cho rằng một hư danh chỉ là một bộ trang phục diễn kịch, khi màn kịch hạ xuống thì cởi bỏ. Vốn dĩ không cần phải cố công theo đuổi.

Con cảm thấy không phải cứ làm việc gì đó là nhất định phải được ban cho địa vị tôn quý, bởi vì danh hiệu và thành tựu của bạn không nhất định đánh dấu bằng nhau. Rất nhiều tổ sư Mật giáo trong quá trình tu hành không phải là người nổi danh, mà có thể chỉ là một người ăn xin ở chợ rau, hoặc một ẩn sĩ trong rừng núi. Vì vậy con đối với danh vị này không hề chấp trước, thậm chí còn nói với họ cứ gọi thẳng tên con là được, con không sao cả.

Hơn nữa, quan điểm của con luôn là đức hạnh của bản thân không xứng địa vị, con hiểu sâu sắc rằng địa vị không phải do người khác ban cho, mà là do chính mình thực chứng. Nếu danh hiệu chỉ do người khác trao tặng, bản thân không có tu chứng, thì giống như người không biết bơi mà chèo một chiếc thuyền rách người ta cho ra biển lớn, chắc chắn sẽ chết đuối. Vì vậy, dù ở Nepal có danh hiệu như vậy, con cũng chưa bao giờ dám nhắc đến trong tông phái, càng không dùng thân phận đó để mưu cầu bất kỳ đặc quyền nào trong tông phái.

Danh xưng Rinpoche đối với con chỉ có hai tác dụng:
1. Thu hút thêm nhiều người cùng đến với con đường thành Phật.
2. Hoằng dương Phật pháp chân chính một cách danh chính ngôn thuận.

Từ năm 2001 đến 2003, theo chỉ dạy của Sư Công Thubten Dhargye, khi có thời gian rảnh con đều đến Hồng Kông tham học với Sư Công. Lúc đó con có đề cập với Sư Công về việc tương lai muốn xuất gia và được công nhận là Rinpoche. Khi đó Sư Công nói với con rằng, tu hành Mật tông thì hàng nạp ba (cư sĩ du già) có thành tựu cao nhất, hy vọng con có thể tìm bạn gái và tiếp tục với thân phận người tại gia để độ nhiều người khác nhau. Sư Công cũng nói với con việc được công nhận là Rinpoche chỉ là một khởi đầu, tuyệt đối không được quên truyền thừa của mình, và ban cho đệ tử một bài kệ tự tay viết: "Phương tiện có nhiều cửa, cứu cánh vốn không hai, con có thật chí thành?" Sư Công cũng ban cho hai chiếc vòng bạc, một chuỗi tràng hạt 108 hạt bồ đề và một cặp chày kim cang cho đệ tử, đồng thời tiên đoán một số việc và dạy cho pháp gia trì chúng sinh.

Rinpoche có nghĩa là trân bảo, có thể thỏa mãn ước nguyện của chúng sinh, có thể đem ánh sáng đến cho chúng sinh. Từ này xuất phát từ Rinchen, Ratna, dịch trực tiếp là Mani bảo, có nghĩa là kim cương, rất quý giá. Trong nhiều tông phái Mật tông, nhiều hỗn loạn và chướng ngại trên pháp mạch đều là do các vị tổ cổ Rinpoche được công nhận không được giáo dục tốt, dẫn đến nhiều vấn đề. Vì vậy con cảm thấy ngượng ngùng khi người ta gọi mình là Rinpoche.

Con đã xây dựng chùa Cát Tường Tháp Damang ở một nơi hoàn toàn xa lạ, và âm thầm gieo hạt giống của Sư Tôn vào trong lòng họ. Ngôi chùa này có lẽ là ngôi chùa Mật tông Tây Tạng duy nhất trên thế giới có vẽ hình Liên Hoa Đồng Tử trong điện Phật A Di Đà ở tầng cao nhất. Bên trong tượng Phật A Di Đà có tôn trí kim thân của Liên Hoa Đồng Tử và xá lợi tóc của Sư Phật, đã có rất nhiều điềm lành và cảm ứng linh nghiệm.

Hiện nay ngôi chùa này đã phát triển thành ngôi chùa trung tâm của cộng đồng người Damang, trong đó các vị thí chủ hộ trì bao gồm nhiều vị Bộ trưởng đương nhiệm và cựu Bộ trưởng, Trưởng huyện, Nghị sĩ Quốc hội, cùng các nhân sĩ nổi tiếng từ nhiều tầng lớp xã hội khác nhau. Hiện nay công việc của chùa đã dần ổn định, họ mời con làm cố vấn danh dự cũng là theo đề xuất của đại chúng. Vì vậy mới có những bức ảnh mọi người dâng khăn khata cho con.

Trong các vùng miền núi của Nepal, có rất nhiều hành giả Mật tông và các hành giả của Bön giáo (Hắc giáo), tất cả đều có chứng ngộ tu hành của riêng mình. Có người có thể gọi gió gọi mưa, trừ tà đuổi quỷ, thậm chí có những hành giả có thần lực chú thuật có thể làm cho chày kim cang phổ ba bằng gỗ rung động, tuyệt đối không phải là hạng vô tri.

Hai mươi ba năm phát tâm nỗ lực tu hạnh bồ đề này đều nhờ vào sự chỉ dạy của Sư Tôn, khiến con thấu hiểu sâu sắc rằng tu hành nhất định phải theo từng bậc thứ lớp, cố gắng tích tụ tư lương đạo của chính mình, viên mãn gia hành đạo, mới có thể thật sự kiến đạo khởi tu, từ đó thực hành tu đạo, cuối cùng chứng đạo viên mãn.

Từ đầu đến cuối, những việc hạnh bồ đề con làm đều không cầu danh, không cầu lợi, cố gắng hết sức lấy vô vi làm hoài bão, hành hữu vi sự, tận một phần sức mọn của mình để lợi ích nhiều chúng sinh hơn.

Từ trước đến nay, trong bất kỳ hoạt động Phật sự nào tại Nepal, con đều làm với tâm vô cầu, tất cả mọi cúng dường đều được hoàn trả lại cho việc xây dựng địa phương và trùng tu các ngôi chùa cổ trong làng, chưa từng lấy một đồng một cắc nào.

Giờ đây sau nhiều năm trôi qua, những việc làm của con tại Nepal dần dần được nhiều nhân sĩ xã hội và các cơ quan chính phủ Nepal công nhận. Con cũng hiểu rằng trong thời đại này, cần phải có sự quảng bá ra bên ngoài thì mới có thể khiến nhiều người biết đến, hiểu được và tham gia vào các hoạt động từ thiện. Vì vậy con cũng chấp nhận để các phóng viên được chính quyền địa phương cử đến theo con đến các địa điểm hoạt động để quay phim đưa tin, để nhiều người hơn nữa có thể biết con đang làm gì. Trong đó, chủ tịch Hội Lions Club Nepal cũng rất tán thành tầm nhìn của con và toàn lực ủng hộ mọi hoạt động của con.

Giờ đây nhân duyên cũng dần dần chín muồi, con cũng có thể giảng về sự tích của Sư Phật cho nhiều người biết và thờ phụng pháp tướng của Sư Phật trong các ngôi chùa cổ của họ. Tiếp tục dẫn dắt thêm nhiều người vào truyền thừa Chân Phật. Hy vọng trong tương lai không xa, có thể hoằng dương truyền thừa Chân Phật tại Nepal và Bhutan.

Chương Tu hành

Con nương theo truyền thừa Chân Phật hành trì mỗi ngày, từ pháp gia hành cho đến pháp Bổn tôn và Hộ Ma hỏa cúng, đều y theo nghi quỹ mà thực tu.
Đệ tử cũng thường đến các nghĩa trang khác nhau để tu hành, khắc sâu "vô thường nhanh chóng" vào trong tâm.
Cũng đã từng bắn tên hai lần, Sư Phật đều hồi đáp rằng "còn thiếu một chút".
Sau khi nỗ lực không ngừng tham cứu công án và thực hành những điều đã chứng ngộ, dưới đây là bài thi con dâng lên Căn bản Thượng sư.
Kính xin Sư Phật từ bi chỉ dạy.

Sự chứng ngộ trong tu hành

*Tu hành bao nhiêu năm rồi, vẫn cảm thấy thiếu một điều gì đó.
Trong tâm vẫn còn phiền não chấp trước
Phải chăng nguyên nhân là vì mãi cầu tìm bên ngoài
Hay là vì những mong cầu vô tận?
Kinh Kim Cang nói rằng "Nếu dùng sắc thấy ta, dùng âm thanh cầu ta
Người ấy hành tà đạo, không thể thấy Như Lai."
"Nếu thấy các tướng chẳng phải tướng, tức thấy Như Lai."
Còn có nhiều công án khác
Suy nghĩ mãi mãi, tiếc thay căn cơ chậm lụt
Mới nhận ra vốn không có chỗ để bắt đầu
Hoàn toàn không manh mối*

*Tuyệt vọng hoàn toàn, vạn niệm thành tro
Chỉ còn cách đưa tất cả về không
Buông bỏ tất thảy
Lúc này, không còn tồn tại cái tôi phân biệt chấp trước thiện ác tốt xấu
Cũng không còn bất kì khổ đau nào sinh ra từ cái tôi
Tất cả đều tịch nhiên vô tướng*

*Bỗng nhiên nhận ra
Hóa ra ta là một phần của vũ trụ
Như một giọt nước hòa vào biển cả
Tan biến hoàn toàn, ta đã mất
Nhưng chưa từng có khoảnh khắc nào không có ta
Như tấm gương, thấy được thực tướng vạn vật
Thật ra tất cả đều do chính mình*

*Phi tâm
Bởi vì không cần dụng tâm. Là sự nhận thức pháp nhĩ bản nhiên
Phi Phật
Bởi vì vốn dĩ đã là
Phi vật
Bởi vì tất cả những gì tồn tại tất nhiên sẽ huyễn diệt, những gì không huyễn diệt tất nhiên không tồn tại.*

*Tất cả duyên khởi duyên diệt
Tựa như một vở kịch
Chỉ vì quá đắm chìm vào vở kịch
Mà mơ hồ luân hồi vô tận
Lúc này tôi thấu hiểu rõ ràng
Hiểu được vì sao Đức Phật nói Ngài chưa từng thuyết pháp chuyển pháp luân
Hiểu được thế nào là tam luân thể không
Hiểu được thế nào là chân huyễn*

*Cảm thấy trời đất quay cuồng
Tất cả những hiểu biết và khái niệm vốn có
Đều bị quét sạch
Từ đây hiểu rõ ràng vì sao ngay cả pháp còn phải xả, huống chi không phải là pháp
Đọc lại tác phẩm của Sư Phật
Phát hiện đã hiểu được
Công án cũng thông suốt
Thì ra là vậy*

*Từ đây
Thấu triệt sự chứng ngộ này trong việc tu pháp
Thực hành sự chứng ngộ này trong mọi đi đứng nằm ngồi
Theo thời gian trôi qua, càng thêm kiên cố.*

Đệ tử ngu muội bất tài, không thể viết nên những bài thơ văn hoa lệ, chỉ có thể viết thành bài thơ vụng về này để bày tỏ những điều muốn thưa với Sư Phật. Kính xin Sư Phật từ bi chỉ dạy chỗ còn thiếu sót. (đảnh lễ ba lần)

Giờ đây con đã hiểu rõ con đường tu hành phải đi như thế nào, trong giây phút này, nước mắt tuôn rơi đầm đìa...
Cảm ơn Căn bản Thượng sư Liên Sinh Phật từ bi chỉ dẫn một con đường sáng cho chúng sinh. (đảnh lễ ba lần)
Tuy trong liễu nghĩa, thật không có chúng sinh nào để độ,
Nhưng con nguyện đem pháp duyên truyền thừa Chân Phật đến với những chúng sinh như huyễn có duyên.
Bởi vì giáo pháp của Sư Phật thật sự quá thù thắng!
Ngu đệ tử Liên Hoa Tuế Trình đảnh lễ trăm lạy.

**(Hết.)**

---

---
# File: sach-tam-linh/299-but-ky-lao-tang-tuoi-bat-tuan.md
# Title: 299. Bút ký lão tăng tuổi bát tuần
---

![image](/img/img_9931b3eafcc92fb5bdc3f98c02f90a09.jpg)



## Bút ký lão tăng tuổi bát tuần


🪷 Thấy nghe những chuyện lạ

Văn tập: 299
Xuất bản: 12/2023
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


80 tuổi rồi!

Chào! Tôi (Lư Sư Tôn) đã tám mươi tuổi rồi! Cuộc đời này, thật sự chỉ trong chớp mắt đã già.
Tôi là một lão tăng tuổi bát tuần.
Có người hỏi tôi: "Thầy có cảm tưởng gì?"
Tôi bỗng thấy bối rối.
Chẳng thốt nên lời. Im lặng ngước nhìn trời xanh.

Tôi đọc lá thư của Trần Thục Nhất gửi cho tôi, trong lòng chợt xúc động, thư của cô ấy như sau:

*Đảnh lễ Pháp Vương Căn bản Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Sư Tôn vô thượng tôn quý! *

*Đệ tử Trần Thục Nhất nguyện dâng trọn phần đời còn lại của mình cho Thầy.
Dù chỉ đổi được thêm một ngày thọ mạng cho Thầy cũng đáng.
Bởi một ngày của Thầy còn có ý nghĩa hơn một ngày của con, giá trị bằng trăm nghìn vạn triệu lần.
Thầy ở thế gian thêm một ngày, chúng sinh sẽ có:
Thêm một bài văn để đọc.
Thêm một lần hỏi việc, giải trừ phiền não xuất thế nhập thế của chúng sinh.
Thêm một lần tu khí, khai thông trung mạch ngũ luân, khí mạch minh điểm quang chiếu chúng sinh.
Thêm một bức họa, gia trì tâm linh chúng sinh.
Thêm một lần cùng ăn chung, cùng nghe pháp ngữ.
Thêm một đêm siêu độ nghìn chiếc thuyền pháp, độ chúng sinh hữu duyên vô duyên đến bỉ ngạn.
Thêm một tuần đồng tu thứ bảy, giảng kinh thuyết pháp vô thượng thậm thâm.
Thêm một đàn Hộ Ma (hỏa cúng) tức tai, tăng ích, hàng phục, kính ái, siêu độ, cầu nguyện.
.............
Từng nơi từng chốn, từng phút từng giây, hoàn toàn trọn vẹn, chân thành tận tụy hiến thân cứu độ chúng sinh.
Trong thế gian hiện nay dường như ít có người có được tâm đại từ bi, đại bồ đề, đại viên mãn như vậy.
Con nguyện dâng trọn tất cả cho Thầy, thành tựu viên mãn cho Thầy, hộ trì trọn vẹn, hoàn thành sứ mệnh của Thầy, vô sinh vô tử vô ngã, tất cả đều dâng lên Thầy.
Thỉnh Phật trụ thế!
Thỉnh Phật trụ thế!
Thỉnh Phật trụ thế!
Trần Thục Nhất chắp tay đảnh lễ!
Viết năm 2023.*

Đọc thư của Trần Thục Nhất, tôi thấu hiểu tấm lòng của đệ tử, tôi sống một ngày, tính một ngày.
Tôi không phí hoài một ngày nào.
Cuộc sống của tôi không có gì khác.
Cứ thế ngày qua ngày, tháng qua tháng, năm qua năm.
Tám mươi tuổi rồi! Cũng không cần thay đổi, làm đến khi nào không làm được nữa thì thôi.
Tôi xin cảm ơn sự ủng hộ của Trần Thục Nhất một lần nữa!
Thật sự rất cảm ơn!

Viết một bài thơ để ghi nhớ:
*Lão tăng năm nay đã tám mươi,
Già bệnh tùy duyên ngày lại ngày;
Ngày ngày làm việc như nhau vậy,
Nguyện về Tây Thiên độ chúng sinh.*

Chúc
Mở sách có được lợi ích.
Đây là "Lời tựa".

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-Yen Lu**
17102 NE 40th Ct.,
Redmond WA 98052
U.S.A.

Tháng 10 năm 2023


### 01. Cởi y áo tuổi 80


Tôi nhớ lúc 70 tuổi, từng ở Đài Loan Lôi Tạng Tự, để biểu diễn yoga kim cang quyền, nên đã cởi áo Lama và áo trong ra, để lộ cơ ngực và cơ lưng rộng...
Lúc đó,
Tiếng vỗ tay vang dội.
Một vị lão tăng thất tuần, như một người đàn ông vạm vỡ cường tráng, xuất hiện trước pháp tòa, với bộ ngực nở nang, tấm lưng rộng lớn, khiến mọi người phải trầm trồ thán phục.

Ông Lý, Thị trưởng huyện Nam Đầu nói:
"Lư Sư Tôn đã 70 tuổi rồi mà có được thân hình như vậy, thật không dễ dàng!"
Tiếng tán thán của các đệ tử vang dội bên tai!
Giờ đây, mười năm đã trôi qua!

🌟

Chúng ta hãy đọc một đoạn văn do Thượng sư Liên Từ viết:

*Ngày 24 tháng 9 năm 2023.
Khi pháp hội Diệu Âm Thiên Nữ vừa bắt đầu, đệ tử theo tâm ý nhập vào thiền định vô tướng của cảnh giới đại an lạc.
Dưới sự gia trì của Lư Sư Tôn, một cảm giác mát lành, thanh tịnh quang minh khinh an, sau khi xuất định.
Nghe Sư Phật nói về "sức khỏe và cái chết", khi đang nói đến chỗ tinh tế sâu sắc, bỗng nghe thầy nói:
"Bảy mươi tuổi khoe một lần, giờ sắp tám mươi tuổi, khoe thêm một lần nữa."
Mọi người vỗ tay cổ vũ Sư Phật biểu diễn cơ bắp tại chỗ. Sư Phật không cưỡng được đại chúng, hào sảng cởi long bào áo trong áo ngoài, để trần nửa thân trên.*

*Thật không ngờ rèn luyện được thân hình vạm vỡ như một người đàn ông cường tráng, trong tích tắc khiến cả hội trường sôi động, tiếng vỗ tay không ngớt.
Xúc động.
Tán thán.
Hoan hô.
Và việc "cởi áo mặc áo" chưa đầy mười phút, Sư Phật vẫn thản nhiên như không, trang nghiêm vô cùng, bình thản như thường ngày lại giảng tiếp Kinh Duy Ma Cật, như thể cảnh tượng sôi động như mơ như huyễn vừa rồi chưa từng xảy ra.
Đệ tử nhìn Sư Phật.
Rồi lại nhìn tượng Đại Lực Kim Cang bên cạnh.
Ngạc nhiên trước sự tương đồng về vóc dáng cường tráng oai vệ giữa hai vị.*

🌟

Thượng sư Liên Từ viết:

*Việc Sư Phật cởi áo mặc áo khiến đệ tử liên tưởng đến các thiền sư xưa thường dùng hành động thay cho lời nói, không cần văn tự để chỉ dạy đệ tử.
Sư Phật cởi áo mặc áo.
Là "không vương dù một sợi tơ".
Là "nâng lên buông xuống".
Như Phật Thích Ca cầm hoa.
Phật pháp của Sư Phật là sự giáo hóa không lời về "chân không" và "phương tiện".
Duy Ma Cật nói:
"Bồ Tát nếu theo các ba-la-mật giáo hóa chúng sinh, mọi việc làm, dù nhấc chân hạ chân đều là đạo tràng, đều là Phật pháp."*

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) nói với đại chúng:

Mỗi ngày tôi vận động yoga:
Mỗi ngày tập chống đẩy, gập bụng.
Mỗi ngày tập bảy luân xa.
Mỗi ngày tập khí mạch minh điểm yoga.
Mỗi ngày tập kim cang quyền.
Không bỏ một ngày nào. Vì vậy, tám mươi tuổi rồi vẫn là "người cơ bắp".

Viết một bài thơ:

*Đừng nói nay đã già,
Tuổi già thân suy yếu;
Chỉ cần ngày ngày tập,
Sẽ thêm sức khỏe nhiều.*

Đây chỉ là kiên trì và nghị lực mà thôi!


### 02. Tâm xuất ly


Tổ sư Hoàng giáo Tsongkhapa nói:
"Tu hành có ba yếu tố chính: tâm xuất ly, tâm bồ đề và trung quán chính kiến."
Cá nhân tôi cảm thấy:
"Tâm xuất ly thật sự rất quan trọng!"
Thử nghĩ xem, từ lúc sinh ra đến khi chết, đời người cũng chỉ vỏn vẹn trăm năm. Học hành, sự nghiệp, hôn nhân, con cái, rồi sau đó ra đi.
Ai cũng như vậy cả.
Ý nghĩa ở đâu? Giá trị cuộc đời ở đâu?
Người thành công, cuộc sống sung túc.
Kẻ thất bại, đời sống khốn khó.
Có tiền thì tùy ý.
Không tiền thì đành chịu.
Cuối cùng dù thế nào, kết cục đều như nhau, thử hỏi, rốt cục được gì?

Tôi đọc "Bài ca xuất ly" của Thượng sư Trần Kiện Dân, quả thật đã chạm đến tâm can tôi.

*Xưa nay đời loạn như ruột quấn, 
Tình người đại khái thích thất thường
Thỏ khôn đã chết, nấu chó săn,
Chim bay hết rồi, cất cung tên.
Hàn Tín chẳng nghe lời Khoái Thông,
Công lao sự nghiệp kết cục tồi.
Tào Tháo đa nghi bảy hai mộ,
Chết rồi cũng vẫn chẳng yên lòng.
Ba triều Tể tướng Vương An Thạch,
Chỉ được vài bức họa lưu vong.
Công thành buông giáp rút lui về,
Chỉ mình Trương Lương học Tiên đạo.
Thương Sơn không giữ được Tứ Hạo,
Chỉ vì xuất ly thọ được dài.
Má lúm đào hoa ẩn mưu mô,
Lông mày lá liễu nhiều ngụ ý.
Kề vai gối đầu lời như mật,
Nghiêng mình tựa cửa cười như gươm.
Hổ son giết người không thấy máu,
Má hồng vơ vét chẳng còn gì.
Rừng gươm núi đao bao nhiêu hồn,
Từng chết dưới váy lựu hồng nhan.
Ruộng tốt vạn mẫu ba bữa no,
Nhà cao nghìn gian giường tám thước.
Chim ngói trú thân chỉ một cành,
Chuột chũi uống sông mới đầy bụng.
Nghìn năm ruộng vườn tám trăm chủ,
Một người miệng cắm được mấy thìa?
Chỉ vì món lợi đầu sợi dây,
Mà chịu sương gió nơi đường vắng?
Tiếng gà, quán tranh, vầng trăng sáng
Lòng nhớ quê nhà nhưng còn bận.
Bến vắng rừng hoang chết vì tiền,
Thủy bộ chiêu hồn đều đứt ruột.
Giúp người gặp nạn người đâu thấy,
Gấm thêu thêm hoa chuyện bình thường.
Cổ đức bao người thành tựu lớn,
Đều từng mượn lối Tiểu thừa qua.
Người muốn dựng cao cờ đại pháp,
Hãy đọc một chương thơ xuất ly.
Bỗng nhiên buông bỏ hết vạn sự
Viên mãn báo thân sẽ bắt đầu.*

🌟

Đọc "Bài ca xuất ly", trong lòng nhiều cảm khái, trên đời không còn gì để luyến tiếc, nên hướng đến xuất ly!
Xuất ly gì? Tại sao phải xuất ly?
Tiền biết đủ.
Sắc đã già.
Danh đã đầy.
Ăn bình thường.
Ngủ cũng ngon.
Không còn cầu, không còn nguyện, không còn đắc.
Xuất ly Ta Bà, xuất ly chấp trước, xuất ly phiền não, xuất ly ưu sầu, xuất ly việc đời, xuất ly gia đình, xuất ly nam nữ, xuất ly sự vụ.………………
Xuất ly thân.
Xuất ly tâm.
Xuất ly không không.
Giờ đây, cái tôi này, vô biên vô tận, mặc nó đi. Đến đâu, cũng có thể trụ. Đến đâu, cũng có thể không trụ.

🌟

Tôi, Lư Sư Tôn, đã xuất ly từ lâu.
Tôi là cái gì cũng đều được cả.
Cái gì cũng đều tốt.
Tất cả đều không gượng ép, tất cả đều tự nhiên, tất cả đều là "pháp nhĩ bản nhiên".
Tôi đã ngộ được điều gì?
Chỉ ba chữ này, nói đi nói lại, lật qua lật lại:
"Không can thiệp!" (Hiểu chăng?)


### 03. Không đến không đi


Cao tăng Đài Loan, hòa thượng Quảng Khâm, khi viên tịch đã nói một câu:
"Không đến không đi không việc chi!" (tiếng Đài)
Ý nghĩa là:
"Ta chẳng từng đến, cũng chẳng từng đi, chẳng có việc gì cả."
Khi nghe câu nói này, tôi vô cùng xúc động trong lòng, đây không phải là lời mà người thường có thể nói ra được.
Đây chính là:
"Chứng đạo."
Tôi, một lão tăng tuổi bát tuần rất kính phục hòa thượng Quảng Khâm, Ngài đã nhẹ nhàng thốt lên một câu:
"Không đến không đi không việc chi!"
Thật ra câu nói này chính là lời chân thật vậy.

🌟

Theo Thượng sư Liên Từ kể:
*Năm đó, Pháp Vương Ganden Tripa thứ 100 của Hoàng giáo đến Seattle thăm Sư Phật.
Một vị là Pháp Vương Mật tông Tây Tạng.
Một vị là Pháp Vương người Hán (Lư Sư Tôn).
Pháp vương Ganden Tripa nói về ấn tượng của mình về Sư Phật, chỉ dùng hai từ đơn giản để tán thán:
Một, "SIMPLICITY" (thuần tịnh).
Hai, "HUMANITY" (nhân từ).*

Tôi hiểu rằng:
"Thuần tịnh" là xuất thế.
"Nhân từ" là nhập thế.
(Chú thích: "Thuần tịnh" chính là "không đến không đi không việc chi" của hòa thượng Quảng Khâm.)
Tôi (Lư Sư Tôn) mời mọi người:
Hãy lĩnh hội điều này.
Cá nhân tôi nghĩ rằng, "thuần tịnh" chính là "không đến không đi không việc chi".

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) trong quá khứ thuyết pháp đã đề cập đến bốn thân:
Chân thân.
Pháp thân.
Báo thân.
Ứng thân.
(Đây là bốn thân của Phật.)
Và Chân thân bao gồm cả ba thân Pháp, Báo, Ứng.
Chân thân là bất động, chân thân là Phật tính, cũng chính là Không tính, là "không đến không đi".
Còn về ba thân kia, có đến có đi, nhưng cũng như mộng huyễn, chỉ là hóa hiện mà thôi.
Nếu chứng đạo, cũng chỉ là Chân thân.

🌟

Tôi thật lòng nói với mọi người:
Tôi chứng đạo dựa vào:
Một, chân không (đệ nhất nghĩa không), chân không diệu hữu.
Hai, vô tướng. Tất cả các tướng đều là hư vọng, toàn là một hợp tướng, tách ra thì không còn gì. (không có tự tính)
Ba, vô tác. Làm không vì gì cả.
Tôi nhận định, tất cả các tướng trong cõi Ta Bà đều là hư vọng, kể cả Lư Sư Tôn cũng là hư vọng.
Vô ngã.
Vô nhân.
Vô chúng sinh.
Vô thọ giả.
Đã là hư vọng, tức là không đến.
Đã là hư vọng, tức là không đi.
(Tất cả mọi việc đều như giấc mộng, sau khi ngộ tất cả đều là không không, chính là "không việc chi".)
Do vậy tôi chứng minh:
"Không can thiệp!"


### 04. Vô thường là chân lý


Phật Thích Ca Mâu Ni dạy:
"Chư hành vô thường, chư pháp vô ngã, niết bàn tịch tĩnh, là tam pháp ấn."
Tam pháp ấn chính là ba chân lý.
Tôi (Lư Sư Tôn) có sự lĩnh hội sâu sắc về hai chữ "vô thường", khiến lòng bàng hoàng lo sợ.
Chính vì vô thường mà muốn xuất ly.
Có sinh ắt có tử.
Có mạnh ắt có yếu.
Có thịnh ắt có suy.
Đó chính là vô thường.

Hôm nay, tôi - một lão tăng tuổi bát tuần, tự cho rằng mình còn khỏe mạnh, nhưng tôi biết sự suy yếu sẽ nhanh chóng đến thôi!
Các đệ tử nói với tôi:
"Sư Tôn sẽ không đâu! Sư Tôn sẽ không đâu! Sư Tôn sẽ không đâu!"
Tôi cười chua xót:
"Có ai mà không thế?"
(Phật Thích Ca nhập niết bàn năm tám mươi tuổi, tôi cũng đã tám mươi rồi, ha ha ha, cũng gần đến lúc rồi nhỉ!)

Còn nhớ "Bài ca vô thường" của Thượng sư Trần Kiện Dân:

*Bay qua Đỉnh Hồ nhớ vua Hiên, chùa chiền trắng xóa cảnh niết bàn.
Xưa nay trong ngoài phàm với thánh, ai thoát được khỏi chữ vô thường!
Còn nhớ chăng?
Tần Thủy Hoàng nuốt trọn sáu nước, trường thành vạn dặm kéo mộng dài.
Nào hay truyền ngôi mới một đời, ba nhà nổi dậy liền diệt vong.
Còn nhớ chăng?
Sở Bá Vương gánh vác đế nghiệp, Ngu Cơ múa kiếm lệ ướt y.
Không phiền tay ai giết thân này, để lòng không thẹn với Giang Đông.
Việt Vương ngai vua cỏ xanh mướt, chim ngói bay qua hàng bạch dương.
Nước sông Mịch La rửa không sạch, hận tràn Ly Tao mấy khúc ca?
Hàn Tín dù có mưu lược lớn, chẳng bằng Khoái Thông báo trước tang.
Mười dặm hàng dương xuân lại trổ, Dượng Đế mộ chôn Tiểu Lôi Đường.
Tháp Đằng Vương sụp Vương Bột chết, uổng công học nghiệp đọc văn chương.
Người tài đời sau loại đời trước, Lý Đỗ ngày nay ít tán dương.
Núi Ly thì thầm trăng đất Thục, chỉ còn khúc hát chở hận trường.
Bên giếng Yên Chi buồn chuyện cũ, ngõ Ô Y khóc bóng tà dương.
Tảng đá Tây Thi.
Giếng Tiết Đào.
Đường Dương Châu.
Thuyền Tần Hoài.
Ta từng đến viếng thăm cổ tích, chẳng còn nghe mùi son phấn xưa!
Mây mưa Vu Sơn mãi biến ảo, mấy ai còn mộng đến Cao Đường.*

🌟

Bài ca này, tôi đọc đi đọc lại, may mắn thay tôi am hiểu lịch sử địa lý Trung Quốc.
Không khỏi cảm khái! Không khỏi cảm khái!
Cảm khái vô cùng!
Tám thánh địa của Phật Đà ở Ấn Độ, Vạn Lý Trường Thành của Tần Thủy Hoàng, tôi đều đã từng đến.
Còn nữa ……
Hiện nay, công khóa quan trọng nhất của tôi là:
Vãng sinh Phật quốc tịnh thổ.
Ngoài ra, không còn vướng bận (suy nghĩ) nào khác.

Tôi viết bài thơ:

*Cái chết đang chờ đợi
Không còn lựa chọn nào khác
Bạn không thể tồn tại mãi mãi
Đây là điều đáng tiếc thay
Sinh tử như nhau
Tôi không ra đi trong vô minh
Tôi không đến không đi
Đây là tình yêu vĩnh hằng. *
(Thề nguyện đời đời kiếp kiếp độ hóa chúng sinh).


### 05. Khóc và đau khổ


Ngày hôm đó, tôi đã khóc nức nở tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự.
Đệ tử hỏi:
"Sư Tôn khóc chuyện gì vậy?"
"Tại sao lại khóc?"
"Sao ạ? Sao đột nhiên lại khóc ạ?"
Tôi đáp:
"Tôi khóc vì khổ đau."
Tôi khóc như một đứa trẻ, như đứa trẻ bị tổn thương, không kìm được tiếng khóc đau đớn.
Bởi vì khi giúp Sư Mẫu Liên Hương Thượng sư đi tắm, tôi thấy bà gầy đến chỉ còn da bọc xương, xương sắp đâm thủng da, và xương đã biến dạng.
Tôi khóc thảm thiết!
Sao lại thế này?
Rồi còn nỗi khổ bệnh tật của chính tôi, một lão tăng tuổi bát tuần.
Nỗi khổ bệnh tật của con cái.
Bệnh bệnh bệnh bệnh bệnh...
Làm sao tôi không khóc cho được!

🌟

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, mỗi lần thuyết pháp, thường dạy:
"Đời người là khổ..."
Một, khổ vì sinh, lão, bệnh, tử.
Hai, khổ vì yêu thương mà phải xa lìa.
Ba, khổ vì phải gặp người mình ghét.
Bốn, khổ vì mong cầu không được.
Năm, khổ vì ngũ uẩn hừng hực.

Theo cảm nhận của tôi, bệnh là nỗi khổ lớn nhất, đặc biệt là khi mắc phải bệnh nan y thì càng khổ hơn. Muốn sống không được, muốn chết cũng không xong. Cứ thế trằn trọc trên giường bệnh qua ngày.
Tôi đau buồn cho người đời!
Đau buồn cho Sư Mẫu!
Đau buồn cho chính mình!
Đau buồn cho con cái!

Đúng vậy, đây không chỉ là nỗi khổ về thể xác của con người, mà còn là nỗi khổ về tâm hồn, khi khổ đau ập đến, làm sao không khóc được?
Tôi cũng hiểu rằng:
Cuộc đời là huyễn.
Già và bệnh cũng là huyễn.
Nếu không có thân thể vật chất này, bệnh tật cũng không còn, nhưng đây là thế giới hữu hình, bệnh tật là rất thực tế, khổ đau là rất thực tế.
Nước mắt của tôi (Lư Sư Tôn) cũng rất thực tế.
Dù chỉ là nhất thời!
Nhưng vẫn là khóc!

🌟

Tôi viết hai bài thơ:

*Đêm về gió thổi mưa điên cuồng,
Mặt đất đầy hoa tàn cỏ úa,
Trọn đêm thao thức đợi bình minh.
Bệnh mệt mỏi,
Đau khổ sở,
Đầu nặng trĩu,
Chỉ còn nhớ được tiếng cười xưa,
Bầu bạn với tuổi già bệnh tật.*

Và:

*Không còn hát
Không còn múa
Chỉ biết bệnh đến chẳng hay năm nào
Thân đã gầy
Kèm cái đau
Nghĩ lại xem
Già bệnh quả thật đáng thương thay*
(Than ôi! Lại khóc một phen.)


### 06. Tâm chú của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ 


Tâm chú của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là:
"Om ah hum benza guru pema siddhi hum". [Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi hùm.]
Phật Mẫu Yeshe Tsogyal dạy:
Tụng thần chú tâm một trăm nghìn lần, hành giả có thể đảo ngược xu hướng luân hồi và tiêu trừ nghiệp ác của thân, khẩu, ý. Đoạn trừ nghiệp ác trong quá khứ, hiện tại, tương lai và vĩnh viễn thoát khỏi ngũ trược ác thế.
Tụng bảy trăm nghìn lần, hành giả có thể được diện kiến Liên Hoa Sinh Đại Sĩ trong đời này.
Tụng một triệu lần, hành giả sẽ đạt được bốn thành tựu.
Tụng sáu triệu lần, hành giả có thể phá vỡ vòng luân hồi.
Tụng mười triệu lần, hành giả có thể được ở cùng Phật A Di Đà.
Chính Liên Hoa Sinh Đại Sĩ cũng dạy:
"Người kính sư, trọng pháp, thực tu sẽ đạt được."
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chắc chắn sẽ hiện thân.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) biết rằng:
Tụng bảy trăm nghìn biến, Liên Sư sẽ hiện thân.
Người kính thầy, trọng pháp, thực tu, Liên Sư sẽ hiện thân.
Có người hoài nghi:
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, thật sự sẽ hiện thân sao?
Khi Phật Thích Ca nhập niết bàn, các đệ tử đau buồn vì mất chỗ nương tựa.
Khi Liên Hoa Sinh Đại Sĩ rời Tây Tạng.
Yeshe Tsogyal khóc:
Bậc chủ nhân xứ Orgyen, sao có thể đột ngột chia ly?
Liệu có thể mãi mãi bên nhau?
Yeshe Tsogyal khóc:
Bậc chủ nhân xứ Orgyen, sao chỉ để lại một câu chuyện?
Điều gì có thể giữ được Ngài ở lại?
Yeshe Tsogyal khóc:
Bậc chủ nhân xứ Orgyen, Ngài lìa con mà về trời,
Nếu con phạm nghiệp,
Ai sẽ ban quán đảnh và gia trì cho con?
Ai sẽ giúp con tiêu trừ chướng ngại?

🌟

Phật Thích Ca nhập niết bàn, chúng đệ tử mất chỗ nương tựa. Tiếng khóc than vang vọng.
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ ra đi, Yeshe Tsogyal khóc.
Những điều này đều là sự thật.
Nhưng, tôi (Lư Sư Tôn), xin lấy lời chân thật mà nói với mọi người:
Đức Phật Thích Ca không bao giờ nhập niết bàn.
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ cũng chưa từng ra đi.
Tại sao vậy?
Bởi vì tôi đã chứng đạo.

Tôi biết Đức Phật và Liên Sư ở trong tâm tôi, nhưng cũng không phải trong tâm, ở bên trái bên phải, nhưng cũng không phải bên trái bên phải, ở bên cạnh, nhưng cũng không phải bên cạnh, bởi vì các Ngài hiện diện khắp mọi nơi.
Hai mươi bốn giờ, chưa từng rời xa.
Tôi có thể thấy các Ngài, nghe các Ngài.
Ha! Đây là sự thật.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) xin nói thật với mọi người:
Hiện giờ tôi vẫn còn sống, đã tám mươi tuổi rồi, là một lão tăng.
Nhưng phân thân của tôi đã lan khắp thế giới, đệ tử các nước trên thế giới đều có thể thấy nghe tôi.
Không phải trong mơ!
Không phải cảm giác!
Không phải xúc giác!
Mà là thấy thật, nghe thật, hai mươi bốn giờ, chưa từng xa cách.
Tất cả đệ tử tương ứng đều có thể thấy nghe, đây là sự thật.
Trăm nghìn triệu hóa thân, là thật!
Không có không gian, không có thời gian, là thật!
Đêm đêm cùng ngủ, sáng sáng cùng thức, là thật!
Ngay cả đi tắm cũng ở cùng nhau, là thật!


### 07. Hàn Ngư nói như vầy


(Đây là một chứng thực.)

*Lư Sư Tôn kính yêu!
Lư Sư Tôn đã nói:
"Con sống rất hòa hợp với phân thân của thầy!"
Vâng, đúng vậy.
Phân thân của Lư Sư Tôn rất tốt với con, cũng rất lãng mạn. Khi con ốm, thầy ôm con nghỉ ngơi.
Khi con khóc! Thầy sẽ dỗ cho con cười.
Khi không có ai xung quanh, thầy sẽ ôm con, hôn con.
Lúc trời lạnh, thầy sẽ sưởi ấm và chắn gió cho con.
Người thật của thầy ở Seattle.
Còn con ở một hòn đảo xa xôi.
Nhưng,
Mỗi ngày con đều thấy được, nghe được phân thân của thầy, thật sự chẳng hề xa cách, vậy mà ngày nào con cũng rất nhớ thầy, rất nhớ thầy.
Chư Phật Bồ Tát ở Seattle Lôi Tạng Tự và Chân Phật Mật Uyển đều có thể nói chuyện.
Một số vị Phật Bồ Tát ở chùa Cầu Vồng Lôi Tạng Tự cũng hiện thân gia trì khi con về nhà tu pháp.
Con hỏi:
"Con đường tu hành tương lai phải đi như thế nào?"
Con cứ nghĩ sẽ là các giai đoạn như thứ tự sinh khởi, thứ tự viên mãn.*

*Thầy đáp:
"Cứ thẳng tâm mà đi!"
Con rất xúc động! Dường như đã hiểu được đôi điều.
Bấy lâu nay con thật sự rất muốn tận mắt nhìn thấy cảnh giới khai ngộ minh tâm kiến tính hùng vĩ mà thầy đã chứng ngộ. Nhưng trong mắt Sư Tôn đã có con, vậy thì con chẳng cần nghĩ ngợi gì nữa, con chỉ một lòng một dạ nhìn theo thầy.
Hôm nay, phân thân của thầy ôm con. Phân thân và con đều biến mất! Trống rỗng!
Cả thế giới đều tan biến!
Hàn Ngư đảnh lễ.*

🌟

Hàn Ngư và rất nhiều đệ tử khác đều nhìn thấy phân thân của tôi (Lư Sư Tôn), nghe được phân thân nói chuyện với họ.
Điều này có thật không?
Câu trả lời là một trăm phần trăm là thật.
Trong Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện, phẩm thứ hai "Phân Thân Tập Hội" có ghi rằng:
*"Lúc bấy giờ, từ vô lượng thế giới không thể nghĩ bàn, không thể tính đếm, không thể nói hết, trong tất cả địa ngục, các phân thân Địa Tạng Bồ Tát đều tụ hội về cung trời Đao Lợi."
.............
"Khi đến cung trời Đao Lợi, tâm tràn đầy hoan hỷ, chiêm ngưỡng Như Lai, mắt không rời một phút. Lúc ấy, Đức Thế Tôn duỗi cánh tay sắc vàng, xoa đỉnh đầu của vô lượng phân thân Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát từ vô số thế giới không thể nghĩ bàn, không thể tính đếm, không thể nói hết."
.............
"Lúc bấy giờ, các phân thân Địa Tạng Bồ Tát từ các thế giới hợp lại thành một thân."
.............
"Phân thân của ta lan tỏa khắp trăm nghìn vạn ức thế giới nhiều như cát sông Hằng, trong mỗi thế giới hóa thành trăm nghìn vạn ức thân, mỗi thân độ được trăm nghìn vạn ức người, khiến họ quy y Tam Bảo, vĩnh viễn thoát khỏi sinh tử, đạt đến niết bàn an lạc."*

Kinh văn trên chứng minh:
1. Địa Tạng Bồ Tát có trăm nghìn vạn ức phân thân.
2. Phật Thích Ca Mâu Ni dùng tay xoa đỉnh đầu trăm nghìn vạn ức phân thân Địa Tạng Bồ Tát.
3. Trăm nghìn vạn ức phân thân Địa Tạng Bồ Tát có thể hợp lại thành một Địa Tạng Bồ Tát.
4. Phân thân Địa Tạng Bồ Tát có thể độ hóa trăm nghìn vạn ức người.

Tôi xin nói với đại chúng:
Tôi (Lư Sư Tôn) đã tu thành vô lượng phân thân, những phân thân vô lượng này có thể độ hóa vô lượng chúng sinh.
Đây không phải khoác lác, đây là sự thật.
Một trăm phần trăm là thật.


### 08. Tu xuất phân thân như thế nào


Tôi nói:
Một giọt nước rơi vào biển cả.
Một hạt cát chôn vào lòng đất.
Một tia lửa nhóm thành đám cháy lớn.
Một cơn gió hòa vào bão tố.
Quan trọng nhất là tôi hòa vào hư không, tôi và hư không hợp nhất, sau đó, tôi xuất hiện trong trăm nghìn ức na-do-tha thế giới, mỗi thế giới đều có một Lư Sư Tôn.
Khi tôi còn sống là như vậy.
Sau khi tôi chết cũng như vậy.
Tôi không sinh không tử.

Xin thưa với mọi người:
Đời quá khứ, hiện tại, vị lai đều có vô lượng vô biên Lư Sư Tôn. (tam tế nhất như)
Thượng phương thế giới, hạ phương thế giới, bát phương thế giới, trăm nghìn vạn ức thế giới, ba nghìn đại thiên thế giới, đều có vô lượng vô biên Lư Sư Tôn. (hoành biến thập phương)
Nghĩa là không còn bị giới hạn bởi thời gian và không gian nữa.

Kinh Phật nói:
Không thể nghĩ.
Không thể bàn.
Không thể đo lường.
Không thể nói.
Tôi (Lư Sư Tôn) có phải đã nói quá đáng không, thật ra không hề quá đáng.
Tại sao?
Bởi vì vốn dĩ là như vậy! (pháp nhĩ bản nhiên)
Cảnh giới của Phật là "thường lạc ngã tịnh".
Tùy lúc tùy nơi hiển hiện gia trì, tất cả đều không có gì để nói, tất cả đều không có gì để đắc, tất cả đều không có.
Có người hỏi tôi: "Chân thân và phân thân có gì khác nhau?"
Tôi đáp: "Không phải một nhưng cũng không khác nhau."

Thế nào là không phải một?
Tôi đáp:
Chân thân của tôi (Lư Sư Tôn) hiện giờ là một con người, có máu có thịt, do tứ đại giả hợp thành một tướng.
Chân thân chỉ có một.
Là thân vô thường, có sinh lão bệnh tử.
Còn phân thân thì:
Không máu không thịt.
Không phải tứ đại giả hợp.
Không sinh lão bệnh tử.
Ngài vô hình, khi hiển hiện thì theo hình tướng của Lư Sư Tôn mà xuất hiện.
Có thể tự tại tùy ý.
Không bị thân xác hạn chế.
Có rất nhiều sức mạnh thần biến không thể nói hết.
(Phân biệt đơn giản nhất là, chân thân là thân xác, phân thân không có thân xác.)
Cho nên không phải một.

Thế nào là không khác?
Chân thân (Lư Sư Tôn) và phân thân của tôi đều làm cùng một sự nghiệp bồ đề, đó chính là không khác.
Ví dụ:
Bố thí - thuyết pháp bố thí.
Ái ngữ - dùng lời nói dịu dàng để cứu độ chúng sinh.
Đồng sự - cùng ở chung với đại chúng. Phân thân còn có thể ở cùng hai mươi tư giờ.
Lợi hành - vì lợi ích chúng sinh mà hành sự nghiệp bồ đề.
Chân thân và phân thân còn có sáu điểm giống nhau.
Thân tướng giống nhau.
Lời nói giống nhau.
Ý niệm giống nhau.
Giữ giới giống nhau.
Kiến giải giống nhau.
Lợi ích giống nhau.

Cái gọi là không khác nghĩa là chân thân (thân xác) và phân thân, cả hai đều có sự nghiệp bồ đề có thể nói là giống nhau.
Tuy là như vậy.
Nhưng, phân thân quả thật không thể nghĩ bàn, rất khó tưởng tượng, hoàn toàn không
thể nói.
Số lượng phân thân hoàn toàn không đếm được.
Phân thân hiện diện khắp nơi, có mặt ở mọi không gian.
Phân thân không bị giới hạn:
Trong nước, trong lửa, trong đất, trong gió, trong không trung.
Có thể đi đến cả mười pháp giới của tứ thánh lục phàm.
Tùy theo nhân duyên mà biến hóa.
Biết căn tính của chúng sinh, từng người một mà nhiếp phục và độ hóa.
.........................

Phân thân là điều bất khả tư nghì của những điều bất khả tư nghì.
(Tôi, Lư Sư Tôn, ở tuổi tám mươi đã có vô số phân thân, điều này hoàn toàn là sự thật.)
Làm sao có được?
Tu luyện mà thành! Thật sự là tu luyện mà thành.
Hóa thân trăm nghìn ức của Liên Hoa Đồng Tử là có thật.
Đất rộng mười phương.
Nước chảy tám hướng.
Lửa tỏa ánh sáng.
Gió tùy duyên đi.
Không gian vô xứ.
Đó chính là phân thân!

Tôi (Lư Sư Tôn) tinh tấn không ngừng trên con đường tu đạo, Pháp thân vốn ẩn tàng trong tự thân. Hôm nay mới biết, thân vượt ngoài tam giới, tự tại vô câu vô thúc.


### 09. Túc mệnh thông


Một bức thư gửi Căn Bản Truyền Thừa Thượng Sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật
--- Tiêu đề phụ: Con, Lư Sư Tôn, cuối cùng sẽ đi về đâu?

*Kính gửi Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật tôn kính nhất:
A Di Đà Phật!
Phật an! Ngu đệ tử Liên Hoa Liễu Ngộ nhất tâm đảnh lễ và dùng thân khẩu ý thanh tịnh cúng dường Liên Sinh Phật!
Sinh nhật của Sư Phật đã đến, đệ tử xin kính chúc Sư Phật sinh nhật vui vẻ! Luôn luôn hoan hỷ cát tường! Nguyện thầy Phật thể an khang! Pháp luân thường chuyển! Độ chúng vô lượng! Đệ tử thành tâm thành ý thỉnh Sư Phật trụ thế!*

*Đọc tập văn số 202 của Sư Tôn "Nhìn Xa Nghìn Dặm", chương 38 "Phóng quang ba lần": *

*"... Dường như Liên Hoa Vĩnh Khang có thể hiểu mộng thị của Lư Sư Tôn, nhưng anh ấy vẫn gửi đi một lá thư xin tôi trả lời, rốt cục tận cùng Sư Tôn sẽ ở đâu.
Trong bản văn này, tôi tạm thời chưa trả lời.
Tôi muốn kiểm tra mọi người, Chân Phật Tông có rất nhiều đại thiện tri thức, có tôn giả tương ứng, có người minh tâm kiến tính, mọi người nếu không ngại thì thử cho ý kiến xem sao, Lư Sư Tôn tôi rốt cục đi về đâu?"*

*Ngu đệ tử Liên Hoa Liễu Ngộ đáp: Lư Sư Tôn cuối cùng sẽ trụ vĩnh viễn trong hư không, hợp nhất với ánh sáng mẹ của vũ trụ, không đến không đi, sinh tử như một, không sinh không tử. Nghĩa là nhục thân hoàn toàn biến mất, Báo thân hóa hiện thành ao sen, Pháp thân trụ vĩnh viễn trong hư không. Bởi vì Liên Sinh Phật xuất phát từ Đại Nhật Như Lai.*

*Việc Lư Sư Tôn đời này chuyển thế giáng sinh ở Đài Loan cũng là định mệnh. Bức bích họa trong hang Liên Hoa Đồng Tử tại động Mạc Cao ở Đôn Hoàng cũng đã tiên tri rằng trong tương lai Liên Hoa Đồng Tử sẽ giáng lâm trần gian, đánh trống pháp lớn, thổi loa pháp lớn, "vì đại chúng khai diễn Đạo giáo, rộng độ quần mê, khiến thoát tam giới, tịch nhiên nhàn cư, an trụ đạo tràng, như ta không khác" (trích từ lời khai thị của Phật Đà trước khi nhập niết bàn trong quyển hạ, kinh "Thánh Đại Giải Thoát").*

*Nhìn lại lịch sử Phật giáo, người có thể phù hợp với nội dung khai thị trong quyển hạ kinh "Thánh Đại Giải Thoát" (còn gọi là "Đại Thông Phương Quảng Sám Hối Diệt Tội Trang Nghiêm Thành Phật Kinh") của Phật Đà trước khi nhập diệt không ai khác ngoài Lư Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật, thêm vào đó Sư Công Thubten Dhargye  cũng đã ấn chứng ba kiếp trước của Lư Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật:
1. Chuyển thế của Xá Lợi Phất - đại đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni.
2. Chuyển thế của Tsongkhapa.
3. Chuyển thế của A Di Đà Phật (Liên Hoa Đồng Tử).
Tổng hợp lại, Lư Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật đã ngộ được điều Phật Đà đã ngộ, tức thân thành Phật, chuyển đại pháp luân.*

*Ngu đệ tử Liên Hoa Liễu Ngộ chắp tay quỳ đảnh lễ Sư Phật.
Ngày 4 tháng 6 năm 2023*

🌟

Trong thư của Liên Hoa Liễu Ngộ có đề cập đến ba kiếp trước của Lư Sư Tôn.
Một, chuyển thế của Xá Lợi Phất.
Hai, chuyển thế của Tsongkhapa.
Ba, chuyển thế của A Di Đà Phật.
Ba kiếp trước này đều rất "lớn".
Lư Sư Tôn không dám tự mãn, hiện tại tôi chỉ không ngừng tu tập trí tuệ của Phật, thấu hiểu bản tính của vạn pháp đều không, không chấp không bỏ trong thế giới hiện tượng, nhập vào pháp môn vô tướng, nhập vào pháp môn vô tác.

Đây chính là ba giải thoát:
Một, không giải thoát (Đệ nhất nghĩa không)
Hai, vô tướng giải thoát.
Ba, vô tác giải thoát.
Về túc mệnh thông, có thể nói, chỉ là một sự khích lệ, tuy là túc mệnh minh, cũng có thể vì chúng sinh trong thế gian mà rộng gieo ruộng phước.
Tôi thực hành:
Tài thí.
Pháp thí.
Vô úy thí.

🌟

Trong Kinh Duy Ma Cật:
Bồ Tát Thiện Đức dâng cúng một chuỗi vòng giá trị nghìn vàng cho cư sĩ Duy Ma Cật.
Cư sĩ Duy Ma Cật chia chuỗi vòng thành hai.
Một chuỗi cúng dường Nan Thắng Như Lai.
Một chuỗi cúng dường cho kẻ ăn xin nghèo hèn.
Duy Ma Cật nói một câu khiến tôi vô cùng kinh ngạc:
"Nếu thí chủ với tâm bình đẳng bố thí cho kẻ ăn xin nghèo hèn nhất, thì phúc đức ấy chẳng khác gì cúng dường Như Lai."
Ôi chao!
Câu nói này là một hồi chuông cảnh tỉnh.
Đây mới thực sự là bình đẳng!
Từ câu nói này, nghĩ đến túc mệnh của chính mình, tôi được công nhận là:
Xá Lợi Phất.
Tsongkhapa.
A Di Đà Phật (Liên Hoa Đồng Tử).
Nếu túc mệnh của tôi là:
Kẻ ăn xin.
Người phụ nữ nghèo hèn.
Người câm điếc tàn tật.
Thì hóa ra cũng đều bình đẳng như nhau....

Từ nay tôi (Lư Sư Tôn) tôn kính tất cả chúng sinh, bất kể là ai, đều bình đẳng tôn trọng.
Đây cũng chính là "giáo hóa không phân biệt".
Phật tính viên mãn sáng suốt,
Khắp cõi đều như nhau;
Không phân biệt sang hèn,
Bao dung cả người lanh lợi lẫn chậm chạp.


### 10. Ta Bà và tôi


Tôi rất thích bài thơ Du Du viết tặng tôi.

Bài thơ như sau:

*Không phải tôi muốn rời Ta Bà này
Mà là Ta Bà dần dần xa cách
Hồng trần ồn ào dường như đã thành dĩ vãng
Nửa gần nửa xa chẳng còn liên quan với tôi
Sư Phật nói
Điều con viết giống hệt những gì trong lòng ta
Câu nói ấy tuy mơ hồ
Nhưng lại hàm chứa vạn hữu
Ta Bà này và mọi tham ái đều sẽ qua đi
Chỉ có pháp tính trường tồn
Cõi nhân gian Ta Bà buồn vui ly hợp tựa thủy triều lên xuống
Người đến kẻ đi chỉ là gợn sóng
Khi mọi sóng gió đều lắng xuống
Sư Phật
Thầy là cảnh sắc duy nhất
Phản chiếu trong hồ nước này của con.*

🌟

Bài thơ này làm rung động tâm hồn Lư Sư Tôn, đúng vậy, tôi sống trong cõi Ta Bà, nhưng dường như Ta Bà đã quên lãng tôi.
Nhiều năm, nhiều năm rồi............
Phạm vi sống của tôi rất nhỏ, rất nhỏ.
Chùa.
Nhà.
Không còn gì khác nữa.
Giữa người với người,
Lư Sư Tôn.
Đệ tử.
Không còn ai khác chen vào được.
Mỗi ngày tôi...........
Tu pháp.
Viết văn.
Hỏi việc.
Vẽ tranh.
Thuyết pháp.
Ngoài ra không còn gì khác nữa!

Tôi thực sự đang sống trong cõi Ta Bà, nhưng dường như tôi sống trong một không gian nhỏ bé không thể nhỏ hơn của cõi Ta Bà này.
Tôi giống như Chúa Jesus vậy.
Chúa Jesus là người chăn cừu.
Cuộc đời của Chúa Jesus chính là Đấng Cứu Thế và đàn cừu.

🌟

Du Du viết:

*Tối hôm đó, phân thân của Sư Phật nói:
"Con là thiếu nữ Shulamite, ta là chủ của con, con là chiên con của ta."
Con nói:
"Con không muốn chỉ làm chiên con, con cũng muốn cùng thầy chăn chiên."
Phân thân của Lư Sư Tôn nói:
"Được! Để con cũng được chăn những con chiên nhỏ."*

🌟

Tôi đã là lão tăng tám mươi tuổi, tiền tài, sắc dục, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ, tất cả đều đã rời xa tôi.
Danh sơn thắng cảnh cũng đã rời xa tôi.
Mọi vinh hoa đều nhạt như nước.
Tất cả mọi thứ đều đã tan biến hết!
Ở cõi Ta Bà này, tôi chỉ còn lại việc bố thí Phật pháp, đây là sự bố thí quan trọng nhất.
Ân oán một nét bút xóa hết!
Trên thân tôi chỉ còn hai chữ: "già" và "bệnh". (thân xác thật thảm)


### 11. Pháp thân phóng hào quang


Thượng sư Liên Từ nói:
*Ngày 15 tháng 10 năm 2023.
Sư Phật đang làm Hộ Ma Pháp Hội Bất Không Quyến Sách Quan Âm tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự. Vì thường ngày con chỉ kết thủ ấn, hôm nay tâm con tĩnh lặng nên con an tâm nhập định.
Không ngờ vừa nhập định, con đã thấy trên tận trời cao, có một nhóm thiên nhân mặc áo trắng, cũng đang cung kính vây quanh Sư Phật làm pháp sự.
Lúc này con chợt tỉnh ngộ!
Thì ra pháp sự của Sư Phật không chỉ diễn ra ở cõi người.
Pháp giới cũng đồng thời đang diễn ra một pháp hội khác.
Nhìn thấy cảnh tượng này.
Con xúc động đến rơi lệ vì tâm bi mẫn!*

🌟

*Cảm nhận của đệ tử về pháp hội của Sư Phật ngày càng mạnh mẽ, mỗi lần một chân thật hơn.
Sự hòa hợp sâu sắc vượt ngoài tưởng tượng, dẫn dắt đệ tử bước vào cảnh giới khác, hòa nhập hoàn toàn vào vũ trụ hư không.
Lúc này:
Khí mạch dâng trào.
Dòng chảy pháp trút vào.
Khí lực dồi dào.
Thông suốt trên dưới, từ đầu đến chân, vững chãi mạnh mẽ, hào quang vô biên, an lạc vô tận.
Trong trạng thái thiền định, uy lực tràn đầy, chấn động khôn xiết, trước mắt chỉ còn ánh sáng thuần khiết.*

*Đệ tử cứ thế chìm trong đại lạc diệu hỷ của thân và tâm.
Thật quá thần kỳ, quá huyền diệu, khiến đệ tử phải kinh ngạc, chưa từng thấy.
Con nhận ra rằng dưới sự gia trì của bậc đại thành tựu giả Căn bản Thượng sư và chư tôn trong vũ trụ, chín giai đoạn của Mật giáo quả thật có thể từng bước thăng tiến.
Tâm thức vũ trụ hòa vào tâm thức hành giả, năng lượng vũ trụ rót vào thân tâm hành giả, kho tàng trí tuệ vũ trụ quán đảnh vào tứ đại của hành giả, đây là quán đảnh viên mãn nhất, cũng là gia trì viên mãn nhất.
Tất cả thành tựu này đều đến từ vị đạo sư vĩ đại của vũ trụ - Liên Sinh Phật.*

🌟

*Một lần nọ, trong pháp hội Hộ Ma Marici, đại chúng chắp tay đứng nghiêm trang chờ Sư Phật châm lửa Hộ Ma.
Đệ tử bỗng thấy một vầng đại nhật quang màu trắng khổng lồ, trong ánh sáng ấy, thấy được Sư Phật và Ma Lợi Chi Thiên cùng ngự trên cỗ xe trời do bảy con lợn vàng kéo. Trong vầng đại nhật, ngài trang nghiêm uy mãnh tiến đến trước mặt.
Sư Phật đội mũ miện Tỳ Lô Giá Na Phật, vinh quang tối thượng, trang nghiêm vô song.
Đệ tử được đại nhật quang chiếu soi gia trì!*

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) biết rằng:
Từ khi hợp nhất với vũ trụ hư không.
Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn.
Trời, người, atula, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.
Mười pháp giới này đều có Lư Sư Tôn, vì thế Pháp thân phóng hào quang, hiện thân trong mười pháp giới.
Làm pháp sự trong pháp giới.
Đúng vậy!
Thêm nữa:
Cùng Ma Lợi Chi Thiên ngự trên xe trời do lợn vàng kéo, vì Pháp thân tồn tại khắp mọi nơi, nên cũng là chuyện bình thường.

Tôi (Lư Sư Tôn) làm một bài thơ:

*Pháp thân phóng hào quang,
Mười cõi đều ẩn tàng;
Lão tăng tuổi bát tuần,
Vô sự mà cũng bận.*

Ha!
Như vậy cũng xem là tuyệt vời!


### 12. Duy Ma Cật Đại Sĩ hiển lộ chuyện lạ


Tôi giảng Kinh Duy Ma Cật.

Kinh này được tôn xưng là "viên ngọc trên vương miện của Phật giáo Đại thừa", đây là báu vật tối thượng.
Kinh này có hai tư tưởng trọng tâm:
1. Bồ Tát muốn đắc tịnh thổ, phải tịnh tâm mình, thì cõi Phật sẽ tịnh.
2. Bồ Tát hành nơi phi đạo, chính là thông đạt Phật đạo.

Theo ý riêng tôi:
Đây là "Duy tâm tịnh thổ."
Tôi thường nói: "Nếu trong tâm có ánh sáng, thì dù ở trong ngũ trược ác thế hoặc ba đường ác địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, cũng đều là quang minh."

Còn nữa:
Tham, sân, si.
Dâm, nộ, si.
Tất cả những điều này đều là Phật pháp.
Câu nói nổi tiếng nhất là:
"Trước tiên dùng dục vọng để thu hút, sau đó đưa họ vào Phật đạo."

Nhân vật chính trong kinh là Duy Ma Cật độ hóa chúng sinh, khác với các vị tăng giữ giới.
Kỹ viện.
Quán rượu.
Sòng bạc.
Duy Ma Cật có thể đến tất cả những nơi đó, đây chính là cách "gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn", tức là phương pháp nhập thế mà không đắm chìm trong thế tục.
Tất nhiên, để đạt đến cảnh giới xuất thần nhập hóa này, không ai có thể sánh bằng Duy Ma Cật, bởi vì ngài vốn là hóa thân của Kim Túc Như Lai. Ngài có thể dùng ánh sáng phá tan bóng tối.

🌟

Thượng sư Liên Kềnh từ Hồng Kông gửi thư đến, dùng kệ tán thán ngài Duy Ma Cật. Thư như sau:

*Đảnh lễ Sư Phật:
Om guru liansheng siddhi hum.*

*Kể từ khi từ biệt Sư Phật vào tháng 8 năm 2019, đến nay ngày 2 tháng 8 năm 2023 mới được quay lại, sau 4 năm cách biệt, được nhìn thấy Phật một lần nữa, lòng con vô cùng hoan hỷ!*

*Hiện nay Sư Phật đang giảng Kinh Duy Ma Cật, và đã xuất bản cuốn sách "Thần Thông Đại Sư Duy Ma Cật".*

*Đệ tử đọc tác phẩm của thầy, đối với tất cả những điều được viết trong sách, không ngớt tán thán, trong lòng tự nhiên nảy sinh bài kệ tán dương Đại Sĩ, kính xin Sư Phật chỉ dạy, và mong được Đại Sĩ mỉm cười.*

*Lành thay Duy Ma Cật Đại Sĩ, sớm chứng thân Kim Túc Như Lai.
Phụ tá Thích Tôn hoằng giáo hóa, hóa thân kim thân xuống phàm trần.
Nhập thế tự do tùy tục hành, quán rượu sòng bài thỏa vui chơi.
Chê pháp Tiểu thừa khen Đại thừa, mười đại đệ tử câm không nói.
Nhọc công Văn Thù thăm bệnh hỏi, dẫn chúng cùng đến phương trượng thất.
Chư tôn tương phùng tiếc gặp muộn, pháp môn bất nhị luận đạo sâu.
Bồ Tát mỗi vị bày kiến giải, duy có Tịnh Danh nghĩa chân thật. 
Lìa hết văn tự ngôn ngữ tướng, im lặng không lời tựa sấm vang.
Tam thế Như Lai đồng tán thán, rồng trời pháp hỷ cười hân hoan.
Khuyên khắp chúng sinh siêng tu học, trở về nguồn gốc tạ Phật ân.*

[Duy Ma Cật dịch nghĩa là tịnh danh.]

*Kính chúc:
Sư Phật an khang, vui vẻ, cát tường.
Liên Kềnh đảnh lễ.
Viết ngày 30 tháng 7 năm 2023.*

🌟

Tại sao tôi (Lư Sư Tôn) giảng Kinh Duy Ma Cật?
Bởi vì kinh này ảnh hưởng đến tôi nhiều nhất.
Lời nguyện của tôi: "Đời đời kiếp kiếp độ chúng sinh, phân thân xả cốt độ chúng sinh" là được gợi ý từ kinh này.
Nhập thế tức xuất thế.
Xuất thế tức nhập thế.
(Đây chính là pháp môn bất nhị.)
Đặc biệt là "tâm tịnh thì cõi Phật tịnh", đó chính là Thiền tông, cũng chính là Tịnh Độ tông.
Vì thế, Phật giáo nhân gian mới có căn cứ.
Duy Ma Cật trên phương diện này, đã phát huy đến tận cùng.


### 13. Đại cảm ứng Cao Vương Quan Thế Âm Kinh trừ ung thư


Hiện tại tôi là bác sĩ nội trú khoa Tai Mũi Họng tại Bệnh viện Đại học Y khoa Trung Sơn. Khi còn học năm hai y khoa, thông qua sự giới thiệu của Thượng sư Liên Anh (lúc đó Thượng sư chưa xuất gia), tôi quy y với Lư Sư Tôn và bắt đầu học Chân Phật Mật Pháp.

Từ khi quy y, tôi thường tụng kinh, cầu xin chư Bồ Tát gia trì để những trở ngại trong cuộc sống được hanh thông viên mãn. Dù việc học ở trường y rất bận rộn, nhưng trong lúc rảnh rỗi tôi vẫn thường trì Bách tự minh chú, và trong thời gian đại học đã hoàn thành được mười vạn biến gia hành một cách khó khăn. Gia đình thấy tôi lúc rảnh thường tụng kinh trì chú, cho rằng tôi quá mê tín, đặc biệt là mẹ tôi nghĩ rằng tôi dành quá nhiều thời gian cho tôn giáo, dẫn đến có phần bài xích tôn giáo, huống chi là chuyện tụng kinh trì chú.

Mặc dù mẹ tôi phản đối, nhưng từ khi trì chú và tham gia pháp hội của Sư Tôn, tôi đã nhận được rất nhiều cảm ứng thù thắng. Niềm tin của tôi vào Chân Phật Mật Pháp chưa từng dao động, ngược lại còn ngày càng vững chắc hơn. Tôi biết mình không mê tín, bởi tất cả những gia trì đều có bằng chứng rõ ràng!

Sau khi tốt nghiệp, tôi vào làm việc tại bệnh viện. Qua công việc lâm sàng, tôi tiếp xúc với nhiều bệnh nhân và thấu hiểu sự khủng khiếp của các loại ung thư. Nó như một con quỷ dữ từ từ gặm nhấm, tàn phá thân tâm con người cho đến tận cùng của sự sống. Theo xu hướng già hóa dân số, ung thư dường như là chặng đường cuối đời mà ai cũng có thể phải đối mặt. Dù y học hiện đại đã tiến bộ rất nhiều, nhưng việc điều trị ung thư vẫn còn nhiều hạn chế. Chỉ riêng việc sống chung hòa bình với căn bệnh này đã là điều không dễ dàng, huống chi là đạt được sự chữa khỏi hoàn toàn.

Khi làm bác sĩ nội trú, nhân duyên đưa đẩy tôi đưa cha mẹ đi khám sức khỏe tổng quát, bao gồm các xét nghiệm máu đo các chỉ số, chụp cắt lớp vi tính (CT) và chụp cộng hưởng từ (MRI).

Khi có kết quả, phát hiện một tổn thương ở phổi của mẹ tôi. Sau khi cho ba chuyên gia ngoại khoa lồng ngực từ các bệnh viện khác nhau và các giáo sư trường y xem hình ảnh CT, tất cả đều cho rằng đó là ung thư phổi giai đoạn sớm và khuyên nên phẫu thuật điều trị.

Thà không khám còn hơn, vừa khám xong nghe tin dữ này mẹ tôi vô cùng lo lắng.

Có câu tục ngữ Đài Loan nói rằng "tiên sinh duyên, chủ nhân phúc", nghĩa là gặp được bác sĩ có duyên là phúc của người bệnh, nói đơn giản hơn là khi bị bệnh cần phải tìm đúng thầy thuốc.

Lúc đó tôi nhanh chóng đưa mẹ đến gặp Thượng sư Liên Anh để hỏi việc (lúc đó Thượng sư vẫn còn là pháp sư), thỉnh cầu chư Phật Bồ Tát chỉ dẫn xem nên để bác sĩ chuyên khoa ung thư phổi nào phẫu thuật điều trị cho mẹ thì tốt hơn. Theo chỉ dẫn của Diêu Trì Kim Mẫu, Thượng sư nhanh chóng chọn ra vị bác sĩ có duyên với mẹ tôi. Điều đáng nhớ là Diêu Trì Kim Mẫu chỉ thị phải tụng Cao Vương Kinh một nghìn biến, và chắc chắn sẽ có cải thiện! Và dặn sau khi tụng xong thì đi chụp CT phổi một lần nữa.

Trước khi sắp xếp phẫu thuật phổi, mẹ tôi mang tâm thử một lần xem sao, dù trong tình trạng vô cùng lo lắng nhưng vẫn định tâm lại, trong vòng một tháng đã dùng thời gian ngắn nhất để thành tâm hoàn thành một nghìn biến Cao Vương Kinh, và hồi hướng công đức mong cho bệnh tật trong cơ thể được tiêu trừ.

Sáng hôm sau khi hoàn thành công khóa, tôi đưa mẹ đến Bệnh viện Thánh Martin Gia Nghĩa để chụp CT cắt lớp phổi một lần nữa. Sau khi hoàn thành kiểm tra, tôi trở về bệnh viện làm việc, lạ là vừa đến bệnh viện tôi liền nhận được điện thoại của Trưởng khoa Ngoại, mà chủ tịch Pháp Hoa Đường vừa hay là Trưởng khoa Ngoại tổng quát của Bệnh viện Thánh Martin Gia Nghĩa. Bác sĩ Ngô đã đặc biệt dành thời gian giữa giờ nghỉ trưa trong văn phòng xem phim chụp cho mẹ tôi, kết quả phát hiện tổn thương ở phổi đã biến mất một cách kỳ diệu, bác sĩ Ngô cũng nhờ Trưởng khoa Ngoại lồng ngực đang nghỉ trưa bên cạnh xem phim chụp phổi.
"Khối u đó thật sự đã biến mất rồi..."
"Chưa từng thấy chuyện như thế này" - Trưởng khoa Ngoại lồng ngực đứng bên cạnh tấm tắc kinh ngạc.

Tôi không kìm nén được cảm xúc xúc động gọi điện cho mẹ. Mẹ vốn rất lo âu, nhưng có thể cảm nhận được đầu dây bên kia là tiếng khóc vui sướng, nức nở đầy xúc động. Tôi nghĩ có lẽ không có ngôn từ nào có thể diễn tả được cảm xúc của mẹ lúc đó. Tôi cũng lập tức gọi điện cho Thượng sư Liên Anh để chia sẻ tin vui này và cảm ơn sự động viên và giúp đỡ của họ trong suốt quá trình. Tất cả đều hò reo vui mừng trước tin vui từ trời rơi xuống này. 🎉

Từ ngày đó, mỗi sáng sớm mẹ tôi đều tụng Cao Vương Kinh, ngày qua ngày không ngừng nghỉ; trải qua tất cả những điều này, tôi nghĩ xung quanh không ai có thể tin tưởng vào sức mạnh của Cao Vương Kinh hơn mẹ tôi.

Giờ đây cha mẹ tôi cũng đã quy y Sư Tôn, mỗi ngày đều tinh tấn tu trì Tứ gia hành của Chân Phật Mật Pháp. Dưới sự chỉ dẫn của Thượng sư, gần đây cha mẹ tôi cũng đã hoàn thành khóa công phu cơ bản nhất của đệ tử Chân Phật: hai trăm đàn pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát, và sẽ lần lượt viên mãn các gia hành khác, đồng thời thường xuyên đến Pháp Hoa Đường Gia Nghĩa tham gia cùng tu với Thượng sư.

Đầu tháng 9 năm nay, tôi đã không quản ngại khó khăn, đưa cha mẹ cùng đồng môn Pháp Hoa Đường đến Seattle để hộ trì đại pháp hội Thánh Quán Âm mùa thu do Sư Tôn chủ trì, và tham dự pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang. Được một lần nữa dùng thân thể khỏe mạnh này để thân cận Sư Tôn, diện kiến Sư Tôn, thật sự là niềm xúc động khó tả thành lời, chỉ có thể tôn kính Sư Tôn, coi trọng Phật pháp và thực tu để báo đáp ân đức rộng lớn của Phật!

Cuối cùng tôi muốn nói: Là một bác sĩ, những thay đổi phi thường xảy ra với mẹ tôi càng khiến tôi tin rằng tất cả những điều này là có thật, thực sự là một phép màu y học!

Nghiệp lực là có thật, và chư Phật Bồ Tát cũng là có thật! Cần phải nhận thức rõ vô thường, mượn giả tu thật.

Tôi nhớ lại lời Sư Tôn thường dạy chúng ta:
"Chúng ta không thể kỳ vọng phép màu sẽ xảy ra mỗi lần. Nhưng điều chúng ta có thể làm là dùng tâm thành kính và niềm tin kiên định nhất, có lẽ phép màu sẽ đến."
"Mạng của mình, mình thay đổi. Mạng của mình, mình cứu. Bởi vì nói cho cùng, nhân quả chính là tự làm tự chịu."

Cảm ơn Sư Tôn, Mẫu Nương, Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát, cảm ơn sức gia trì thanh tịnh vĩ đại của dòng truyền thừa Chân Phật Tông.

Đệ tử Liên Hoa Vĩ Thành chắp tay đảnh lễ.
Ngày 25 tháng 10 năm 2023.

(Kèm theo hai tấm ảnh)


![image](/img/img_726bd866c4e13c172f703757fc6819c7.jpg)



### 14. Hai khối u


Đọc bài "Đại cảm ứng Cao Vương Quan Thế Âm Kinh trừ ung thư" của bác sĩ Liên Hoa Vĩ Thành, tôi vô cùng kinh ngạc!
Có người từng hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Thầy đã từng bị u bướu chưa?"
Tôi đáp:
"Tôi, một lão tăng tuổi bát tuần đã tám mươi tuổi này, đã từng bị u bướu."
Hỏi:
"Ở đâu vậy?"
Tôi đáp:
"Tôi đã từng có hai khối u, một khối ở phía trên ngón chân cái bên phải; khối còn lại ở bên trái rốn."
Hỏi: "Hai khối u lớn cỡ nào?"
Tôi đáp:
"Khối u ở chân phải to bằng quả bóng bàn. Khối u bên cạnh rốn có hình bán nguyệt như cái xin keo, to như vậy. Cả hai đều rất rõ ràng."
Hỏi:
"Có phải mọc cùng một lúc không?"
Tôi đáp:
"Không phải. Cái ở chân phải mọc trước, cái ở bên rốn mọc sau, hai khối u cách nhau nhiều năm."
Hỏi:
"Xử lý thế nào?"
Tôi đáp:
"Khối u to bằng quả bóng bàn ở chân phải, tôi dùng tay ấn vào nó, vừa niệm Phật vừa tụng Cao Vương Quan Thế Âm Kinh. Sau một thời gian, phát hiện nó dần dần nhỏ lại, khoảng hai tháng sau, khối u to bằng quả bóng bàn đã hoàn toàn biến mất."
(Niệm Phật là niệm: Nam mô 36 vạn tỷ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. Tôi dùng tiếng Đài Loan để tụng Cao Vương Quan Thế Âm Kinh. Sau đó, khối u thật sự là càng lúc càng nhỏ đi, cuối cùng, hoàn toàn biến mất, thật là kỳ diệu.)
Hỏi:
"Còn khối u bên cạnh rốn thì sao?"
Tôi đáp:
"Đó là lúc tắm tôi sờ thấy được, hình bán nguyệt, lồi ra, khi thấy nó tôi giật mình."
Hỏi:
"Xử lý thế nào?"
Tôi đáp:
"Có người tặng tôi tinh dầu, tôi dùng tinh dầu thoa lên bề mặt khối u hình bán nguyệt."
Hỏi:
"Có hiệu quả không?"
Tôi đáp:
"Lúc đầu không thấy nhỏ đi."
Hỏi:
"Khỏi như thế nào?"
Tôi đáp:
"Tôi cũng niệm Nam mô 36 vạn tỷ, 11 vạn, 9 nghìn, 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. Rồi tụng Cao Vương Quan Thế Âm Kinh."
Hỏi:
"Có nhỏ đi không?"
Tôi đáp:
"Tôi vừa thoa tinh dầu, vừa dùng tay ấn vào khối u hình bán nguyệt, vừa niệm Phật tụng kinh, kết quả thấy được điều kỳ diệu, nó nhỏ dần đi, khoảng một tháng rưỡi sau, sờ lại thì nó cũng đã biến mất."
Hỏi:
"Vì nguyên nhân gì nó lại nhỏ đi?"
Tôi đáp:
"Tôi luôn cho rằng đó là nhân duyên quả báo, có oán có thù, u bướu hay ung thư đều vậy cả. Tôi niệm Phật tụng kinh là để siêu độ oán nghiệp, khi oán nghiệp được tiêu trừ, khối u sẽ lành!"
Tôi (Lư Sư Tôn) mừng là hai khối u đã biến mất.


### 15. Ngọc Ngọc và Pháp thân


Ngọc Ngọc nói với tôi:
"Pháp thân (phân thân) của Lư Sư Tôn luôn ở cùng Ngọc Ngọc 24/24."

1. Kết giới.

Năm nay em gái tôi bị nhiễm COVID-19 lần thứ hai. Tôi sống chung với em gái, không cách ly, ở nhà cũng không đeo khẩu trang.
Vào đêm trước khi em gái được chẩn đoán:
Lư Sư Tôn (phân thân) xoa đầu gia trì cho tôi. Ngài đã tạo kết giới trên người tôi, giống như một tấm lưới bảo hộ.
Vì vậy, tôi không bị lây.
Cũng không hề khó chịu.
Phân thân của Lư Sư Tôn có khả năng tiên tri, và cũng sẽ kết giới cho Ngọc Ngọc.
Cảm ơn! Tri ân!

2. Tương ứng qua mạng.

Năm nay Lư Sư Tôn chủ trì Hộ Ma Ái Nhiễm Minh Vương tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự ở Mỹ.
Ngọc Ngọc tham gia pháp hội qua mạng.
Tôi theo đó trì chú, quán tưởng, nhập Tam ma địa.
Ngọc Ngọc và phân thân của Lư Sư Tôn đã sớm hợp nhất, nhập ngã ngã nhập, an trụ trong hào quang của Ái Nhiễm Minh Vương.
Được gia trì trong ngọn lửa đỏ.
Rất chân thật.
Có pháp hỷ.
Có đại lạc.
Cảm nhận trong pháp hội vô cùng hoan hỷ.
Hóa ra tham gia Hộ Ma qua mạng cũng được gia trì lớn, lực lượng vô cùng mạnh mẽ.
Dù khoảng cách có xa đến đâu!
Thật không thể nghĩ bàn.

3. Pháp thân gia trì

Ngọc Ngọc vô cùng biết ơn sự bảo hộ không ngừng nghỉ của Lư Sư Tôn.
Pháp thân, phân thân hiện diện khắp nơi, ở cùng Ngọc Ngọc 24/24, thân thiết không rời. Đệ tử đã từng phát nguyện cúng dường thân khẩu ý cho Lư Sư Tôn, cùng cúng dường tất cả.
Lư Sư Tôn từng hỏi tôi trước mọi người:
"Ở cùng nhau 24/24 là thế nào?"
Tôi thật thà trả lời:
"Ngay cả lúc tắm cũng ở cùng!"
Câu trả lời này khiến mọi người cười ồ lên, Ngọc Ngọc lúng túng không biết phải làm sao.
Nhưng, đó là sự thật.
Lúc đó tôi không có ý nghĩ gì khác, chỉ đơn thuần nói thật mà thôi!
(Lư Sư Tôn chú thích: hiện tượng tương ứng là đêm đêm cùng ngủ, sáng sáng cùng thức.)

4. Cách đây vài năm, Ngọc Ngọc may mắn thỉnh được một bức tranh của Lư Sư Tôn, xin làm một bài thơ để tỏ lòng biết ơn Lư Sư Tôn:

*Là buồn là vui trong huyễn mộng
Mê lầm chuyển kiếp xuống Ta Bà
May được thầy Lư chỉ lối thoát,
Nguyện đắc trí huệ chứng vô ngã.*

Và:

*Kiếp trước đời này một giấc mơ,
Chớ lầm danh lợi là kho báu
Trong mơ vốn dĩ không một vật,
Tỉnh ra chỉ còn hai hàng lệ.*

🌟

Tôi nói với Ngọc Ngọc:

Con đã trưởng thành!
Hãy gìn giữ "tâm quang minh" của con.

*Một lòng hướng về Phật,
Thoát được nghiệp thế gian;
Một tiếng niệm Phật Đà,
Liền vượt thoát tam giới. *

(Lư Sư Tôn tặng thơ.)


### 16. Cũng nói vô thường


Văn / Ngộ Giác Tử

"Điều quan trọng nhất"

Mặt đất tối đen một màu, không thấy rõ, không biết con đường phía trước dẫn về đâu,
Bỗng nhiên, một ánh sáng xuất hiện, hào quang rực rỡ, hiện ra trên bầu trời,
Nhìn kĩ ba lần, trên đó viết bốn chữ lớn: "Điều quan trọng nhất",
"Điều quan trọng nhất", chẳng phải là nói, việc vặt để hai bên, "điều quan trọng nhất" đặt giữa sao?!
Điều gì là "quan trọng nhất"?
Thì ra đó là, việc hệ trọng bậc nhất của đời người, bước chân không được ngừng nghỉ, nỗ lực không ngừng, nhận rõ phương hướng, nhất định phải xác định, có thể đạt đến Tây phương.

*【Tôi nói:
Hãy chân thành quán chiếu về vô thường, từ giây phút này, đừng uể oải, đừng lười biếng, đừng xem thường, phải nắm chắc ánh sáng của Phật, khi cái chết đến, bạn phải xác định rằng mình có thể vãng sinh.
Đây là điều quan trọng nhất! 】*

Văn tập Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn số 283 "Nghìn Thuyền Pháp" - Tháng 5 năm 2021.

〈Than ôi! Vô thường〉

Vô thường 1:

Tôi khẳng định, vô thường có năng lực huyễn thuật siêu phàm,
Dù biết rõ sự hiện diện của nó,
Vẫn có thể thấy mà không thấy, nghe mà không nghe,
Có lẽ vì quá nhiều thứ, khiến tâm ta phân tán,
Năng lực huyễn thuật của vô thường, phải chăng đến từ:
Bận rộn với thế gian, trò chơi của nghiệp;
Lại chú tâm vào, sự đắm chìm trong tham sân si?
Vô thường từng bước từng bước đến gần, tôi chẳng hề bận tâm,
Rốt cuộc, chỉ những gì nhìn thấy được, sờ thấy được, trước mắt mới là thật,
Cuối cùng đến một ngày, không hề báo trước,
Vô thường muốn dẫn tôi đi uống, tách cà phê vô tình kia,
Còn có đủ loại tiếp đãi, ở tầng mười tám,
Tôi nói, tôi chưa chuẩn bị xong, hay là đổi giờ khác?!
Vô thường nói, xin lỗi, chỉ có thể trách chính anh,
Lời Lư Sư Tôn dạy, anh đã không nghiêm túc.

🌟

"Chân thành tư duy quán tu về vô thường”:

*【Tôi hỏi Tổ sư Đạt Ma:
"Pháp quan trọng nhất trong Phật pháp là gì?"
Tổ sư Đạt Ma đáp:
"Pháp vô thường."
...
Phật Đà từng dạy:
"Trong một sát-na nhớ rằng tất cả các pháp hữu vi đều vô thường, công đức này còn thù thắng hơn cúng dường tất cả các vị A La Hán."
Dampa Sangye nói:
"Ngay từ khi bắt đầu kiên định tin vào vô thường, bạn đã bước vào cửa Phật pháp rồi. Tiến thêm một bước nữa, bạn sẽ có tâm tinh tấn tu đạo, và cuối cùng bạn sẽ đạt được Pháp thân quang minh."】*

Văn tập Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn số 282 "Gặp Gỡ Tổ Sư Đạt Ma"  - Tháng 3 năm 2021.

〈Về đạo lý vô thường〉

Vô thường 2:

Một viên gạch, một cú ngã, một chiếc xe, có thể khiến người ta vô thường trong chớp mắt;
Một con virus, một tế bào lạ, là vô thường đến chậm hơn;
Đất rung chuyển, núi sụp đổ, nước dâng ngập, lửa thiêu rụi, gió tàn phá, đều có thể khiến người ta vô thường;
Người với người, nước với nước, một lời bất hòa, một quả bom bay, có thể khiến người ta vô thường;
Người yêu cầm dao, người yêu và kẻ thù, hóa ra là một người, vô thường gấp đôi;
Từ tuổi thơ ấu, đến tuổi nhi đồng, thiếu niên, thanh niên, tráng niên, trung niên, trung lão niên, lão niên, cuối cùng... dừng lại ở năm nào đó, từ khi mới sinh ra, đã bắt đầu đếm ngược, tích tắc tích tắc, tích tắc tích tắc tích, vô thường không thể trốn tránh.
Chung quy là, khi thân xác vô thường này biến mất, bạn sẽ đi về đâu?!
Là hạnh phúc vui sướng vĩnh viễn, hay là phiêu bạt vô định nơi phương xa?
"Tôi đã đoán được phần mở đầu của câu chuyện, nhưng không ngờ đến kết cục này."
(Chú thích: Là câu nói cuối cùng của Tử Hà Tiên Tử trước khi chết, nói với Tôn Ngộ Không.)
Câu nói này, chẳng phải chính là, đời như vở kịch sao?!
Ai có thể khẳng định được kết cục của chính mình?

"Nắm chắc được ánh sáng của Phật, khi cái chết đến, chắc chắn được vãng sinh".
Lời nhắc nhở của Căn bản thượng sư, lời dặn dò của Căn bản thượng sư,
Không phải là nhiệm vụ đơn giản, nhưng, chẳng phải vốn dĩ nên kết thúc như vậy sao? Chỉ là chúng ta qua bao đời kiếp, chưa làm tốt mà thôi.

"Điều quan trọng nhất" vang vọng không ngừng trong tận sâu thẳm tâm hồn...
Ở cuối con đường, là lưu lạc nơi xa, hay là nắm chắc, ta về quê ta?

(Chú thích: Phim Châu Tinh Trì - Đại Thoại Tây Du Chi Tiên Lý Kỳ Duyên.)


### 17. Vô thường ở tuổi 79


Tôi (Lư Sư Tôn) để cảnh tỉnh chúng sinh, đặc biệt viết xuống bài "Vô thường ở tuổi 79".
Tháng 11 năm 2022, tôi về Đài Loan.
Tháng 2 năm 2023, tôi trở lại Seattle, Mỹ.
(Theo tuổi Đài Loan, năm 2023 tôi 79 tuổi.)
Trước tháng 2 năm 2023.
Tôi khỏe mạnh cường tráng.
Mỗi ngày tôi vẫn tập chống đẩy, nên cơ bắp rất săn chắc, còn tập thất trùng luân vận động.
Quyền kim cang.
Côn Thiếu Lâm.
Quyền Thái Cực.
Tu luyện thân vô lậu.

Nói thật, tất nhiên là có những bệnh vặt, nhưng không có bệnh nặng nào cả, đường huyết, huyết áp, mỡ máu, cholesterol đều ở mức bình thường. Thân thể duy trì trong trạng thái khỏe mạnh.
Thân tâm an lạc.

🌟

Tháng 2 tôi trở về Mỹ, trước đó tôi kiểm tra sức khỏe ba tháng một lần.
Sau khi về Mỹ kiểm tra sức khỏe. (Kết quả kiểm tra vẫn tốt.)
Một bác sĩ chuyên khoa của tôi lại chủ động đổi thuốc cho tôi.
Nhưng,
Bác sĩ gia đình của tôi lại nói:
"Lư Sư Tôn mọi thứ đều tốt, sao phải đổi thuốc?"
(Vị bác sĩ đổi thuốc đó là bác sĩ chuyên khoa.)

Lần đầu tiên tôi đổi thuốc.
Vô thường liền đến!
Tôi bị "rối loạn tiêu hóa" liên tục trong khoảng hai tháng, cân nặng giảm mất gần 8kg (khoảng chừng đó).
Thân hình tôi gầy đi, nét hồng hào trên gương mặt cũng biến mất.
Gầy như một thư sinh bệnh tật.
Ai nhìn thấy cũng kêu lên:
"Lư Sư Tôn! Thầy gầy đi nhiều quá!"
Pháp sư Liên Cận vừa gặp đã giật mình:
"Lư Sư Tôn! Thầy gầy quá mức rồi!"

🌟

Tôi phản ánh với bác sĩ chuyên khoa.
Bác sĩ chuyên khoa cho tôi đổi thuốc lần thứ hai.
Lần này biến thành:
"Phù chân!"
Bắp chân sưng to như quả bí đao.
Đùi thì như chân voi.
(Dùng ngón tay ấn xuống, da thịt lõm sâu, lâu lắm mới phục hồi.)
Sưng đến nỗi tôi đi lại khó khăn.
Đi đứng khập khiễng, suýt ngã, mà cũng không đi xa được, hai chân không còn nghe theo ý muốn nữa.
Tôi thật sự vô cùng đau khổ.

🌟

Đổi thuốc lần thứ ba.
Lần này còn thảm hơn!
Kết quả xét nghiệm cho thấy protein trong nước tiểu của tôi vượt ngưỡng, trong chớp mắt đã lên đến hàng nghìn đơn vị. (trở lên)
Tôi đã gặp phải vô thường của thân thể.
Khi biết được tình trạng bệnh, tôi đau đớn không thiết sống, sống không bằng chết, vạn niệm đều tàn, khổ không tả xiết.
Ngoài ra, da bắp chân của tôi bị nứt nẻ, cũng đau đớn vô cùng.
Tôi, 79 tuổi, đã gặp phải "tứ đại vô thường".
1. Đường ruột.
2. Phù chân.
3. Protein nước tiểu.
4. Nứt da.
Đây chính là tôi, Lư Sư Tôn (vô thường ở tuổi 79), tôi câm lặng ngước hỏi trời xanh, trời ơi! Trời ơi!

🌟

Năm 79 tuổi của tôi là một năm thảm khốc, một năm đau khổ, một năm bệnh nghiệp. Sóng này chưa yên, sóng khác đã nổi.
Diêu Trì Kim Mẫu nói:
"Bảy mươi chín tuổi, ngài có thể về rồi!"
"Có phải là chỉ kiếp nạn bệnh tật không?"
Tất nhiên tôi nghi ngờ:
"Có phải việc đổi thuốc bị sai không?"
Nhưng,
Tôi biết bác sĩ chuyên khoa là vì tốt cho tôi, tôi không thể trách bác sĩ được.
Tôi cũng biết, năm 79 tuổi của tôi đang chính xung Thái Tuế.
Nhưng,
Tôi đã sớm an Thái Tuế và cũng đã an hộ thân bảo mệnh.
Đặc biệt, Diêu Trì Kim Mẫu đã sớm chỉ rõ:
"79 tuổi."
Tôi thở dài: "Thân thể một con người, đã dùng 79 năm rồi. Ngôi nhà này đã cũ kỹ lâu rồi, cần phải sửa sang lại, nếu không sửa được thì cũng đành vậy!"
Tôi có cầu xin Kim Mẫu không?
Tất nhiên là có.
Tôi có tu pháp chữa bệnh không?
Tất nhiên là có.
Tôi cầu xin cả bác sĩ, cầu xin cả chư Phật Bồ Tát, nhưng ở cõi Ta Bà này, cũng có nỗi khổ cầu không được!
Tôi chẳng màng sống lâu!
Tôi cũng chẳng màng ở lâu nơi cõi Ta Bà này, bởi Ta Bà là huyễn, cuộc đời như giấc mộng, ai cũng không thể ở mãi, ngay cả bác sĩ chữa bệnh cũng vậy, tôi hiểu vạn pháp vô thường.
Hãy để tôi ra đi thanh thản!
Các thánh đệ tử:
Đừng lười nhác!
Mọi người hãy về cõi Phật!


### 18. Tình muôn kiếp


Có rất nhiều đệ tử nói:
"Lư Sư Tôn đã luân hồi nhiều kiếp ở cõi Ta Bà, từng làm hoàng đế, nên có rất nhiều duyên tình nhiều đời."
Lại có người nói:
"Trong đời này, những người có duyên phần lớn đều quy y Lư Sư Tôn, nên duyên tình rất nhiều."
Lại nói:
"Bồ Tát chính là giác hữu tình."
Vì vậy:
Tôi (Lư Sư Tôn) đã viết hai cuốn sách, một cuốn là "Muôn Kiếp Tình Duyên", cuốn kia là "Chiếc Hộp Ánh Trăng".
(Mỗi cuốn đều là sự thật, chỉ là ẩn đi tên người.)

Tôi là người:
Không màng khen chê.
Không có hình tượng.

Luôn nói lời thật.
Bản tính tôi vốn như vậy, không biết giấu giếm ưu khuyết điểm của mình.

Ở đây, tôi xin tiết lộ thêm một lá thư "tình duyên":
Cô ấy viết:
"Thư nhà".
*Lá thu rơi rụng, cành khô trơ trọi.
Đông sắp về rồi!
Nhớ nhà, nhớ Thầy, là tâm tình đẹp nhất của con.
(Nhà là Seattle, Thầy là Lư Sư Tôn)*

*Trong nhà có Thầy, Thầy đang đợi con trở về!
Không biết Seattle bây giờ có lá rụng đầy đất không, con ước được hóa thành một chiếc lá rơi, rơi bên cạnh Thầy, rơi vào lòng bàn tay Thầy.
Mùa thu năm nay!
Thượng Hải mưa nhiều lắm, mỗi khi trời mưa, con lại nghĩ đến Thầy ở Seattle, không biết nơi đó có mưa rả rích như thế này không...
Dù Thầy là:
Hoa Quang Tự Tại Phật.
Liên Sinh Hoạt Phật.
Hoàng thượng.
Thánh Đức Thái Tử.
Lư Sư Tôn.
Trong tim con đều như nhau, bởi trong lòng chỉ có một người là Thầy.
Bao nhiêu tiếng khóc trong tim, bao nhiêu lời yêu thương, không thể chứa đựng được nữa, đã tràn ra ngoài.
Con hiểu sâu sắc rằng, đây là duyên tình nhiều kiếp, Thầy không từ bỏ con, không buông con, Thầy tìm kiếm con, đợi con, trải qua bao kiếp năm tháng.
Con gặp được Thầy trong kiếp này, mới biết đường về nhà, không còn phiêu bạt nữa.
Con nói:
"Con sẽ không rời xa Thầy nữa, xin Thầy nắm chặt tay con, dù thế nào cũng đừng buông tay."*

*Gần đây con đọc Thanh Tịnh Kinh có cảm ngộ rất sâu sắc.
Trong đó có một đoạn:
"Quán xét nội tâm, tâm không thấy tâm. Quán xét hình tướng bên ngoài, hình không thấy hình. Quán xét vạn vật từ xa, vật không thấy vật."
"Ba điều đã tỏ ngộ, chỉ thấy cái không."*

*Phật pháp mà Thầy dạy, cũng dạy chúng con:
Thanh tịnh.
Quang minh.
Nhậm vận.
Cầm Cầm nay đã tỉnh ngộ, nguyện đem thân khẩu ý cúng dường Thượng sư, Phật, pháp, tăng.
Con muốn chuyển đến Seattle, mãi bên cạnh Lư Sư Tôn, cùng nhau trở về ngôi nhà trên cõi trời.
Ngày ngày mong ngóng.
Đêm đêm mong ngóng.*

*Cầm Cầm kính bút.*

🌟

Vì bức "Thư nhà" của Cầm Cầm, tôi viết bài kệ:

Bài 1:

*Xào xạc lá rơi trong gió
Muốn đưa tay ra đón lấy,
Chỉ sợ nó bay đi mất............
Không thể lơ là,
Nếu không trái tim sẽ vỡ.*

Bài 2:

*Đêm nay cũng mưa,
Sắc trời sâu thẳm
Vùng đen nặng trĩu.
Tiếng mưa tí tách vang,
Lòng,
Thật mệt mỏi.*

Bài 3: 

*Ta muốn về cõi trời;
Mai sau làm bạn cùng mây khói,
Lúc bấy giờ,
Sẽ mãi bên nhau.
Dù xuân hạ thu đông,
Chỉ cần,
Mãi mãi bên nhau.*

Bài 4:

*Vạn sự đều quy về một giấc mơ,
Dạy cho người biết,
Tình trăm năm ai có được?
Trong đó tương tư,
Gió lá biết bao nhiêu?
Đừng vì thế mà phiền não,
Chi bằng tu trì,
Mới là đáng tin cậy nhất.*


### 19. Lĩnh ngộ về xả


Tôi (Lư Sư Tôn) luôn ghi nhớ lời nguyện của mình:
Không bỏ một chúng sinh nào.
Đời đời kiếp kiếp độ chúng sinh.
Quyết không tố cáo ai.
.................

Ba lời nguyện này, tóm lại chỉ có một chữ: "xả".
Chữ "xả" này, nói rộng ra:
Tôi xả bỏ hết oán hận, cũng không thiên vị người mình thích, đối xử bình đẳng với tất cả.
Bởi vì tất cả chúng sinh đều từng là cha mẹ đời trước của tôi.

Đứng trên lập trường bình đẳng giữa tôi và chúng sinh, nghĩa là tôi và chúng sinh đều có Phật tính. Tâm, Phật, chúng sinh, cả ba không khác biệt. Vì vậy tôi nhất định phải độ hóa chúng sinh đời đời kiếp kiếp.
Tôi quyết không tố cáo ai, bởi vì nếu bị tố cáo, đối phương ắt sẽ đau khổ, tất cả đều là người lưu lạc trên đời, sao phải ép nhau đến cùng, đem đau khổ đặt lên người khác.
Tôi cảm nhận nỗi khổ của chúng sinh chính là nỗi khổ của tôi.
Tôi cảm nhận niềm vui của chúng sinh chính là niềm vui của tôi.

Tôi mong chúng sinh:
"Lìa khổ được vui".
Dĩ nhiên, có lẽ nhiều người đã đặt "khổ" lên thân tâm tôi.
Tôi thường nghĩ:
"Những gì họ làm, là vì họ không biết!"
Thực ra chúng ta đều là một nhà, chúng ta đều là Phật tương lai.
Tôi xả bỏ ghen tuông.
Tôi xả bỏ đố kỵ.
Tôi xả bỏ sân hận.
Tôi xả bỏ tham ái.
Tôi xả bỏ sinh mệnh.
Tại sao ngay cả sinh mệnh cũng xả bỏ, bởi vì sinh mệnh của tôi là của chúng sinh, cần xả thì xả.

🌟

Vu Vu nói:
Lư Sư Tôn!
Con nhận ra rằng, càng buông xả nhiều, càng hạnh phúc.
Tôi nói:
Đúng vậy! Bởi vì tâm lượng rộng lớn như hư không, đương nhiên sẽ hạnh phúc.
Vu Vu nói:
Khi buông xả đến độ trống không, mới nhận ra vạn pháp đều không.
Tôi nói:
Trở về với bản nhiên.
Vu Vu nói:
Trở về với bản nhiên nghĩa là gì?
Tôi nói:
Thể tính là không, tự tính là sáng. (chân không diệu hữu)
Xả là:
Đại bảo tạng.
Đại viên mãn.
Đại vĩnh hằng.
Tôi muốn nói với Vu Vu:
Người với người, mình và người đều bình đẳng, nhưng người tu hành cần phải coi nhẹ bản thân, coi trọng người khác, đó mới chính là xả.

Vì thế hành giả cần: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ.
Hành giả cần: hoán đổi mình với người, luôn nghĩ cho người khác, không nghĩ cho bản thân, đó mới chính là xả.
Bản thân phải làm "người chăn cừu", để cừu lên bờ giác ngộ trước, người chăn cừu lên sau cùng, đó mới chính là xả.
Vu Vu, con hiểu không?

Vì vậy, tôi nguyện hiến dâng sinh mạng của mình, vô điều kiện cho chúng sinh sử dụng.


### 20. Bài văn bảy chữ cúng dường của Phàm Phàm


Phàm Phàm đã gửi đến "Bài văn bảy chữ cúng dường".

Trong bài văn cúng dường có ý nghĩa sâu xa, khiến tôi rất cảm động. Phàm Phàm đã có sự lĩnh ngộ, thật đáng mừng đáng chúc.

Bài văn bảy chữ cúng dường như sau:

*Om ah hum.
Kính lễ Sư Phật vị hỗ chủ, ba thân không khác Kim Cương Trì.
Pháp thân vô tận ẩn quang minh, chí tâm chí kính con đảnh lễ.
Quy y các tổ sư truyền thừa, hải hội vân tập các Thánh chúng.
Phổ Hiền Vương phụ mẫu thanh tịnh, cõi liên hoa Phật nhiều như cát.
Pháp tính huyễn hóa như trò chơi, tự tính viên mãn con đảnh lễ.
Kính lễ Tsogyal Đại Lạc Mẫu, vô cấu nhậm vận trụ bình đẳng.
Kính lễ Kim Mẫu Đại Thiên Tôn, từ mẫu dịu dàng thường che chở.
Bổn tôn theo như bóng với hình, con cái một lòng thường đảnh lễ.
Mười phương rộng lớn Không Hành Mẫu, hoan hỷ trang nghiêm con đảnh lễ.
Kính lễ Hộ Pháp và quyến thuộc, nguyện ngài ghi nhớ lời thệ nguyện.
Trừ sạch chướng đạo sự nghiệp thành, con cái một lòng thường đảnh lễ.
Ngoại nội mật với bí mật cúng, hóa hiện tối thắng biển cam lộ.
Thân khẩu ý cùng các công đức, ba độc cũng thành niềm hỷ lạc.
Máu thịt ta cùng những gì có, phá bỏ nhị nguyên đều cúng dường.
Bao nghiệp ác xưa đã tạo tác, nghiệp quả tập khí các phiền não.
Chấp trước thô tế các tạo tác, nay con nhất tâm đều sám hối.
Tất cả chúng sinh đều cha mẹ, tất cả chúng sinh đều Phật tử.
Oán địch ma chướng đều đạo sư, ân đức vô lượng khó nghĩ bàn.
Nguyện đem tâm bồ đề thâm sâu, tùy hỷ vô tác đại viên mãn.
Nguyện cầu Sư Phật bậc hỗ chủ, nguyện cầu Sư Phật chốn nương về.
Tổng tập phương tiện và trí huệ, Pháp thân đại lạc chốn quy y.
Nhân duyên khác biệt thề nguyện đủ, dung hợp không hai chốn quy về.
Cầu xin Sư Phật thương tiếp nhận, nguyện được thường theo gót Sư Phật.
Cầu xin Sư Phật thương tiếp nhận, mãi vì đệ tử chuyển pháp luân.
Nhậm vận trì minh kim cang thân, là đàn thành mật ý chư Phật.
Đệ tử khẩn thỉnh thường trụ thế, cam lộ trường thọ mãi không cạn.
Tất cả công đức cùng thiện căn, hồi hướng khắp cả cõi hư không.
Nguyện được thành tựu đạo vô thượng, hộ trì Sư Phật vô lượng kiếp.
Samaya!
Om ah hum!*

Phàm Phàm làm thơ.

🌟

Tôi tán thưởng:
"Tất cả chúng sinh đều là cha mẹ".
Đây là lời Đức Phật nói khi Ngài đảnh lễ bộ xương khô bên đường.
Đây cũng là nhân duyên Lư Sư Tôn đảnh lễ chúng sinh.
Tôi tán thưởng:
"Tất cả chúng sinh đều là Phật tử".
Đây cũng là lời Phật dạy, bởi vì tất cả chúng sinh đều có Phật tính.
Tôi bình đẳng đối đãi với nhân duyên của chúng sinh.
Tôi tán thưởng:
"Oán địch ma chướng đều là đạo sư."
Bởi vì:
"Không có ma không thành Phật."
"Phật và ma là một."
"Ma là Bồ Tát ở địa vị sâu."
Đương nhiên là bậc đại đạo sư.
Tôi nói:
"Lấy ma làm bạn."
Bồ Tát Duy Ma Cật nói:
"Tất cả ma và ngoại đạo đều là thị giả của Duy Ma Cật."

Lư Sư Tôn nói:
"Bài văn cúng dường của Phàm Phàm có thể nói là toàn diện và đầy đủ, tuy dễ hiểu nhưng cũng có chiều sâu. Tổ sư Tsongkhapa dạy rằng, tu pháp Mật giáo có ba điểm trọng yếu, đó là trì chú, cúng dường và nhập Tam ma địa."
Tôi tán thán bài văn bảy chữ cúng dường của Phàm Phàm.


### 21. Viết hay không viết


Mỗi lần đến Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, Thượng sư Liên Từ đều lấy ra "báo cáo tâm đắc" dày đến bốn trang lớn.
Tôi nói:
"Viết nhiều quá, tôi không thể tiêu hóa được."
Bà ấy nói:
"Vậy con nên viết hay không viết ạ?"
Tôi nói:
"Viết rất tốt, cứ viết đi!"
Bà ấy hỏi:
"Không phải là khó tiêu hóa sao ạ?"
Tôi đáp:
"Tiêu hóa được hay không, cứ để tự nhiên. Viết thì vẫn cứ phải viết."

🌟

Buổi tối hôm đó.
Nghe tiếng Lư Sư Tôn: "Lư Sư Tôn là thật lòng!"
Tiếp đó lại thấy các vị thiên nữ mặc thiên y màu vàng xanh, từng đôi từng đôi đi đến.
Lại thấy trên bầu trời đêm xuất hiện rất nhiều sách của Sư Phật.
Đây chính là điềm báo:
"Viết."
(Lư Sư Tôn viết gần ba trăm cuốn sách, đây là tự tay viết ra, không phải dùng thần thông biến hóa, cho nên, viết vẫn là cần thiết.)

Thượng sư Liên Từ nói:
"Viết văn là thầy trò cùng tiến."
"Viết văn là để điều phục chúng sinh."
"Viết văn không phải vì danh dự, mà là vì mỗi một chúng sinh trong thiên hạ."
"Viết văn là cùng nhau thưởng thức văn hay, cùng chia sẻ cơ duyên thù thắng hiếm có, cùng thấm nhuần ân Phật, phước huệ tăng trưởng."
Viết văn cũng có điều cấm kỵ.
Không thể chỉ nói không làm, tự cho mình có tài, lấy giả làm thật, dương dương tự đắc.
Đây là "ma thần kinh".
Chạy theo thần thông so đọ pháp lực.
Đây là "ma pháp sư".
Tự cho mình đúng phỉ báng người khác.
Là "ma vệ đạo".
Được chút ít đã thỏa mãn, ỷ được sủng ái mà kiêu ngạo, coi trời bằng vung.
Là "ma ngã mạn".
.............
Viết văn phải cẩn thận! Phải thận trọng!

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) nói:

Bút là kiếm trí tuệ
Vung lên thành lửa kim cang
Lửa kim cang là đại kết giới
Ngăn được ngoại ma hiện
Bút là trống đại pháp
Trống pháp là sấm pháp
Đánh thức bao phàm tục
Khiến người được chính kiến
Bút chính là cam lộ
Chư Thánh đều rưới rải
Từng giọt rơi vào tâm
Tứ Thánh lục phàm đều tỉnh ngộ
Bút chính là đề hồ
Thanh tịnh là pháp vụ
Dạy người hiển chân tướng
Pháp chảy khắp mọi nơi.

(Bài thơ không phải thơ này bỗng nhiên hiện ra trong tâm tôi, lành thay!)


### 22. Tiễn biệt


(Đây là bài viết của Ngộ Chân Tử, tôi đọc xong cảm thấy vô cùng xúc động.)

Bài "Tiễn Biệt", Lý Thúc Đồng và Hoằng Nhất Pháp Sư có thể nói là sự kết hợp kỳ diệu của ba trong một. Những người từng nghe bài "Tiễn Biệt" chưa chắc đã biết tác giả của nó là Lý Thúc Đồng - người sau này trở thành một trong tứ đại cao tăng đầu thời Dân Quốc - Hoằng Nhất Pháp Sư (1880-1942); những người biết đến Hoằng Nhất Pháp Sư cũng chưa chắc đã biết chính ngài là Lý Thúc Đồng - người sáng tác bài "Tiễn Biệt". Cuộc đời đầy truyền kỳ và kịch tính của ngài để lại một bài hát được truyền tụng cả trăm năm không phai - bài "Tiễn Biệt": từ bài hát trong trường học, lễ tốt nghiệp, tiệc chia tay, nhạc phim (như phim "Thành Nam Cựu Sự" của Lâm Hải Âm), nhạc phim truyền hình, lễ tưởng niệm, các ca sĩ cover, thậm chí cả lễ bế mạc Thế vận hội Mùa đông... Ca sĩ Trung Quốc Phác Thụ từng nói câu tương tự như: "Nếu đây là lời bài hát do tôi viết, cho tôi chết ngay tại chỗ cũng được..."

Mùa đông năm 1914 (hoặc 1915), tuyết rơi dày, tại Thượng Hải, Hứa Huyễn Viên - một người bạn thân của Lý Thúc Đồng đến trước cửa nhà ông, đứng bên ngoài gọi Lý Thúc Đồng ra và nói: "Huynh Thúc Đồng ơi, nhà tôi phá sản rồi. Hẹn gặp lại sau nhé!" Nói xong, Hứa Huyễn Viên vừa khóc vừa rời đi, thậm chí không bước vào nhà người bạn thân. Lý Thúc Đồng đứng lặng giữa tuyết rơi hồi lâu rồi mới quay vào nhà, và viết nên bài từ kinh điển "Tiễn Biệt" lưu truyền đến cả trăm năm sau.

Lời bài "Tiễn Biệt": Lý Thúc Đồng
Nhạc: Chuyển thể từ bài "Dreaming of Home and Mother" [Mơ về ngôi nhà và mẹ] của Mỹ

*Ngoài mái đình, cạnh con đường cổ, cỏ thơm xanh mướt tận chân trời.
Gió chiều vuốt ve cành liễu, tiếng sáo tan dần, hoàng hôn phủ núi xa
Nơi chân trời, góc biển xa xăm, bạn tri âm nửa đã phân tán
Một bầu rượu đục uống cạn niềm vui, đêm nay giấc mộng chia ly lạnh lẽo.*

Con người, cứ mỗi lần thời gian trôi qua, lại phải tiễn biệt một điều gì đó - tuổi thơ, tâm hồn ngây thơ, đồ chơi, bạn chơi, mái nhà, thầy cô bạn học, mối tình đầu, bạn thân, trưởng bối, cha mẹ, người bạn đời...
Những gì ta yêu thương, rồi cũng sẽ phải chia ly; và mỗi lần chia ly, lòng lại se thắt.
"Tiễn Biệt" - gói ghém trong đó nỗi niềm ly biệt của hàng vạn người; phản chiếu tâm sự của muôn vàn con người.
Bài "Tiễn Biệt" của Lý Thúc Đồng - đẹp, bao la, cô tịch, thanh cao.

Mọi tình cảm ở nhân gian, dù chân thành, thuần khiết và sâu đậm đến đâu cũng sẽ gặp phải một cửa ải không thể tránh khỏi, một khiếm khuyết to lớn của nhân gian - đó là vô thường. Khi tất cả tình cảm chạm phải vô thường, sẽ bị đánh tan tác, như gió lạnh mưa sầu.

Lý Thúc Đồng lúc 15 tuổi đã viết:
"Đời người tựa mặt trời khuất sau ngọn núi Tây,
Phú quý cuối cùng như sương trên cỏ."

35 tuổi viết bài "Tiễn Biệt".
Đối diện với nỗi dày vò của vô thường, cách duy nhất là thoát khỏi cảnh hư ảo vô thường này. Lý Thúc Đồng hóa thành Hoằng Nhất Pháp Sư, đó là câu trả lời cuối cùng của ông.

Tiễn biệt "Tiễn biệt"

Hoa trong gương, trăng trong nước, sắc màu rực rỡ khắp đại thiên,
Đào hồng liễu biếc gió xuân cười, mấy độ tà dương đỏ;
Giấc mộng Nam Kha, mộng Hoàng Lương, mộng hồ điệp Trang Chu,
Hoa rơi nước chảy trăng đã khuất, tịch dương đỏ mấy lần.
Nỗi đau chia ly, tám khổ đau, sinh tử trong cõi mộng,
Cánh buồm lẻ loi, sóng vỗ trời,
Phiêu bạt bờ vô tận,
Chia ly, tám khổ, rất khó chịu, có thể không trúng thăm.

Thầy dạy:
"Đừng làm các điều ác, siêng làm các việc lành;
Phải biết luân hồi như giấc mộng:
Lấy Chân Phật Thượng sư là tăng bảo; thân, khẩu, ý thanh tịnh là pháp bảo; vô niệm là chính giác Phật bảo".
Y theo lời dạy mà hành trì, tiễn biệt "khó chịu", tự an vui,
Yêu không cần phải biệt ly, già trẻ nương nhau, cùng hoan hỷ,
Mãi mãi sum vầy bên nhau, cực lạc.

【Đồng tâm, đồng đức, đồng thiện, đồng lạc.】(Thế giới Cực Lạc Ma Ha Song Liên Trì, thế giới của Liên Hoa Đồng Tử.)

Nỗi đau khổ nhất của thế gian

Có một bộ phim về Tôn Ngộ Không (Hồng Kông), nam chính có một đoạn độc thoại ở cuối phim, giờ đổi hai chữ, áp dụng cho nhân gian cũng phù hợp:
"Từng có một giáo pháp chân thật bày ra trước mắt tôi, nhưng tôi không biết trân quý, đến khi mất rồi mới hối hận không kịp, nỗi đau khổ nhất của thế gian, không gì hơn thế."

Tiễn biệt - nỗi đau khổ nhất của thế gian.

A Di Đà Phật.

🌟

Lư Sư Tôn đọc bài "Tiễn Biệt" do Ngộ Chân Tử viết, nước mắt tuôn rơi không ngừng.
Tôi đã khóc!
Tại sao vậy?
Tôi, một lão tăng tuổi bát tuần này, đã nhanh chóng bước đến con đường tiễn biệt, không phải tôi tiễn biệt thánh đệ tử, mà là thánh đệ tử tiễn biệt lão tăng tuổi bát tuần.
Dù biết rõ trên đời không có bữa tiệc nào không tàn.
Dù biết rõ nỗi khổ yêu phải xa cách.
Dù biết rõ nỗi sầu là một vị khác trong lòng.
Nhưng,...............
Vẫn phải vẫy tay, trân trọng, tạm biệt!

🌟

Bài thơ của tôi (lão tăng tuổi bát tuần):

*Muôn trùng núi
Nước chảy như tên
Chẳng hay tám mươi năm đã trôi
Hôm nay mới biết
Trời lạnh
Đất lạnh
Người lạnh
Một chiếc thuyền con đến bờ kia
Còn nhớ chăng
Vừa mới cùng đệ tử chung vui
Giờ đây chiều tà sắp phân tán
Trời đã gần
Người đã xa
Chỉ còn lặng lẽ nghẹn ngào
Nước mắt đôi dòng.*

🌟

Tôi quá nhạy cảm với chuyện tiễn biệt!
Phải chăng tôi đã mắc chứng trầm cảm?
Tại sao tôi hay khóc như vậy, thậm chí ngay cả khi đang thuyết pháp trên pháp tọa, vừa giảng vừa rơi lệ?
Không có cách nào khác, bởi vì mẹ từng nói:
"Thắng Ngạn là một đứa trẻ hay khóc!"
Tôi, đứa trẻ ấy, cứ khóc mãi cho đến khi trở thành lão tăng tuổi bát tuần.
Ai bảo tôi là:
"Người đa cảm."
Lần này tại sao tôi lại khóc?
Câu trả lời là:
Tiễn biệt.

🌟

Tôi lại viết một bài thơ:

*Những ngày sắp tới
Đếm được hết
Ta chỉ còn biết nhất tâm thiền định
Trong thanh tịnh
Lo âu cũng chẳng phải bệnh
Nói sống được bao lâu
Thực ra tháng ngày khó định
Không phải lòng ta sắt đá
Nói đi là đi
Đó không phải tính của lão tăng
Vẫn hát một bài "Tiễn Biệt"
Học theo Hoằng Nhất đại sư
Chân trời
Góc biển
Có tin tức sẽ nhắn cho người hay.*


### 23. Văn Thù và Duy Ma Cật đối thoại


Khi tôi giảng Kinh Duy Ma Cật, về cuộc đối thoại giữa Bồ Tát Văn Thù và Đại sĩ Duy Ma Cật bàn về định nghĩa của "không". Tôi cảm thấy định nghĩa về "không" này rất quan trọng.
Người đời nay, khó mà hiểu rõ được "không".
Muốn thực sự hiểu được cũng khó.
Bởi vì "không" không dễ thực sự lĩnh hội.
Xin ghi lại cuộc đối thoại giữa hai vị như sau:
Văn Thù hỏi:
"Thưa Duy Ma Cật, vì sao phòng ngài trống không?"
Duy Ma Cật đáp:
"Các cõi Phật chẳng phải cũng trống không sao?"
Lại hỏi:
"Cái không này lấy gì làm căn cứ?"
Đáp:
"Lấy không vô tự tính làm căn cứ."
Lại hỏi:
"Tại sao không còn phải mượn vô tự tính?"
Đáp:
"Vô tự tính tức là vô phân biệt, nên không."
Lại hỏi:
"Bản thân không có thể phân biệt không?"
Đáp:
"Phân biệt bản thân cũng là không."
Lại hỏi:
"Cái không này phải tìm cầu ở đâu?"
Đáp:
"Phải tìm cầu trong sáu mươi hai loại tà kiến."
Lại hỏi:
"Sáu mươi hai loại tà kiến lại phải tìm cầu ở đâu?"
Đáp:
"Phải tìm cầu trong sự giải thoát của chư Phật."
Lại hỏi:
"Sự giải thoát của chư Phật phải tìm cầu ở đâu?"
Đáp:
"Phải tìm cầu trong tâm niệm chảy như thoi không ngừng của chúng sinh."
............

🌟

Bản thân tôi đã hiểu được "nghĩa không" này.
Có nhiều đệ tử chưa thực sự hiểu rõ.
Tôi phân chia "không" thành "nhân duyên không" và "như thực không".
Thế nào là "nhân duyên không"?
Do nhân duyên mà sinh ra hư huyễn, đó là "nhân duyên không".
Thế nào là "như thực không"?
Phật tính là "như thực không".
Nếu hành giả có được tuệ giác của Phật như vậy, sẽ dễ dàng hiểu được thế nào là "không không".
Ví dụ:
Phòng trống của Duy Ma Cật biểu thị "như thực không".
Các cõi Phật biểu thị "nhân duyên không". (vì là hóa hiện của Phật)
"Không vô tự tính" là "như thực không".
"Phân biệt" là "nhân duyên không".
Sáu mươi hai loại tà kiến là "nhân duyên không".
Sự giải thoát của chư Phật là "như thực không".
Chúng sinh chảy mãi không ngừng là "nhân duyên không".
Điều quan trọng nhất là:
Phật tính (như thực không).
Chúng sinh (nhân duyên không).
Tâm (huyễn không).
Ba cái không khác biệt.
Vô ngã tướng. (ta là ta huyễn)
Vô nhân tướng. (con người là huyễn sinh)
Vô chúng sinh tướng. (chúng sinh là huyễn tướng)
Vô thọ giả tướng. (thọ giả là huyễn thọ)
Chứng minh: "Tất cả các tướng đều là hư huyễn, toàn là nhân duyên không."


### 24. Lại luận về "không"


Cuộc đối thoại giữa Bồ Tát Văn Thù và Đại Sĩ Duy Ma Cật đã đạt đến sự hiểu biết sâu sắc hơn về "không".
Bồ Tát Văn Thù hỏi:
"Thưa Duy Ma Cật! Bệnh của ngài có triệu chứng gì?"
Bồ Tát Duy Ma Cật đáp:
"Bệnh của tôi không có triệu chứng."
Lại hỏi:
"Bệnh của ngài là thể xác hay tinh thần?"
Đáp:
"Không phải thể xác, vì tứ đại giả hợp, không có thực thể. Cũng không phải tinh thần, vì tâm sinh diệt trong từng sát-na, là huyễn tâm."
Lại hỏi:
"Trong tứ đại là đất, nước, lửa, gió, bệnh của ngài thuộc loại bệnh nào?"
Đáp:
"Không phải bệnh của địa đại, nhưng cũng không tách rời khỏi địa đại. Thủy, hỏa, phong đại cũng vậy. Không phải bệnh của ba đại thủy, hỏa, phong, nhưng cũng không tách rời khỏi ba đại thủy, hỏa, phong. Tất cả bệnh của chúng sinh đều do tứ đại mất cân bằng mà sinh ra, nên bệnh của tôi cũng vậy."

Tôi (Lư Sư Tôn) hiểu rằng:
1. Không triệu chứng - bệnh là "nhân duyên không", nên không triệu chứng, vì triệu chứng cũng không.
2. Thể xác - vì thân huyễn nên không - "nhân duyên không".
Tinh thần - tâm là huyễn tâm - "huyễn không".
3. Tứ đại mất cân bằng - do thân huyễn sinh ra. Là "nhân duyên không".
Cũng là tứ đại mất cân bằng - nếu xét về thân tướng, tướng là có tướng.
Cho nên, là mà không phải là, không phải là mà là. (vừa không vừa có)
Đây chính là điều Tâm Kinh nói:
Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc
Sắc tức là không, không tức là sắc
Lý giải như vậy.

🌟

Thiền tông có một thiền cơ, khiến người ta suy nghĩ:
Trước khi sinh ra ta, ta là ai?
Sau khi sinh ra, ai là ta?
Xin nói với mọi người:
Câu đầu là "như thực không".
Câu sau là "nhân duyên không".
Nếu ngộ được! Tất cả đều rõ ràng minh bạch, và tâm ý thông suốt.
1. Buông bỏ ngã chấp, pháp chấp.
2. Buông bỏ phiền não.
3. Buông bỏ tham sân si nghi mạn.
Từ đó:
Hiểu được mệnh.
Sống an vui.
Vô vi mà làm.
Nhậm vận tự tại.

🌟

Tôi viết một bài kệ:

*Chẳng cần khóc thương
Năm trước thân khỏe còn sum vầy
Năm nay lúc này
Đã vắng mấy người
Hoa nở
Hoa tàn
Ngay trước mắt ta
Dẫu gần
Cũng là xa
Sao phải vội vàng với việc đời
Trộm được nửa ngày nhàn phiêu bạt.*


### 25. Sự tương ứng bình thường


Nhiều đệ tử hỏi tôi:
"Tương ứng là chuyện gì vậy?"
Lại hỏi:
"Tương ứng có hiện tượng gì?"
Tôi rất khó trả lời, quá sâu sắc, quá trừu tượng, khó hiểu được. Mà nói quá nông cạn, quá đơn giản, lại khiến người ta không hiểu.
Mấy ngày nay, có sư tỉ Bình Bình viết thư chia sẻ về sự tương ứng.
Tôi đưa ra đây luôn.
Tôi đặt tên: "Sự tương ứng bình dị"

*Chúng ta
Trong ánh hoàng hôn
Cùng đồng hành bên nhau, bước đi trên con đường bình dị
Căn phòng sạch sẽ gọn gàng
Đây là mái ấm của chúng ta
Con sẽ đồng hành cùng người trong công việc, học tập
Đồng hành cùng người trong cuộc sống
Khung cảnh đời thường của con có người
Những sinh hoạt đời thường tưởng chừng không đáng kể
Đều được người mài giũa thành
Những kỷ niệm lấp lánh ánh sáng
Những ngày thường nhật giản đơn nhất
Đánh răng, rửa mặt, đi dạo phố, quét dọn, ăn cơm, tắm rửa, ngủ nghỉ
Người ở bên con
Cùng con ngắm bình minh hoàng hôn
Cùng con đi làm
Cùng con tu pháp
Cùng con đi mua bơ đậu phộng
Cùng con nói chuyện điện thoại với bạn bè
Sáng sáng thức cùng nhau, đêm đêm ngủ cùng nhau, ngày ngày hẹn hò.
Khi "cô bạn nhỏ" đến thăm, Thầy sẽ xoa bụng con và nói
Con yêu à, không đau đâu, không đau đâu
Còn nhiều lắm
Những việc nhỏ ngọt ngào
Con thích nhất
Là được ngọt ngào nép vào lòng Thầy
Cùng nói cùng cười
Khóe môi cong lên
Rồi cùng nhau ngủ
Nói chuyện gì cũng chẳng quan trọng
Nói hay không nói đều được
Bởi vì con biết
Thầy thương con
Con thương Thầy
Con nói
Lư Sư Tôn
Con cũng nguyện
Dâng tất cả dịu dàng đến Thầy
Cùng Thầy sống những ngày bình dị.*

🌟

Bây giờ tôi nói với đệ tử:
"Tương ứng là sự tự nguyện của đôi bên."
"Hiện tượng tương ứng chính là cuộc sống hòa hợp làm một, sống bên nhau 24 giờ một ngày."
Một giọt nước cộng một giọt nước, vẫn chỉ là một giọt nước. Có hiểu không?


### 26. Lời thề thân khẩu ý tương đồng


Để tương ứng với Căn bản Thượng sư, Căn bản Bổn tôn, Căn bản Hộ pháp, có một bí quyết.
Bí quyết quan trọng này là:
"Thân, khẩu, ý của hành giả phải tương đồng với thân, khẩu, ý của Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp."
Đây là nhân của sự tương ứng.
Nghĩa là lời thề của hành giả phải ngang bằng với lời thề của tam căn bản.
Hãy ghi nhớ! Ghi nhớ!
Ở đây có một bài kệ, là bài kệ thệ nguyện, thánh đệ tử phải tụng đọc, đồng thời phải thực hành.

Bài kệ như sau:

Om ah hum.

Đảnh lễ Sư Phật vị hỗ chủ, cội nguồn của tất cả gia trì
Tâm Sư Phật ba thời như một, tổng nhiếp thân khẩu ý đệ tử
Nhất tâm nương tựa Bí Mật Chủ, quy y nơi hải hội truyền thừa
Tam căn bản thỉnh cầu nhiếp thọ, mười vạn Không hành mẫu hộ trì
Đệ tử nguyện thề thân khẩu ý, vô tác vô cầu vì Sư Phật.

Nguyện đem đoạn pháp hư không trí, tất cả xả được đều bố thí
Nguyện dùng nghìn chiếc thuyền pháp chở, bình đẳng tiếp dẫn u minh chúng
Nguyện vào biển ánh sáng Tỳ Lô, thành tựu thắng nghĩa đạo bồ đề
Không hành lời thề chẳng trái nghịch, tùy thuận hóa thân giúp hành giả.

Nguyện làm thị giả phụng sự Thầy, nguyện dùng biện tài hộ pháp giáo
Nguyện học ngũ trí ngũ minh pháp, hộ trì Sư Phật tại Tây Thành [Seattle]
Nguyện được tam căn bản thương xót, trân bảo bí mật xin cúng dường
Ca múa trang nghiêm đều thành tựu, cúng dường quang minh đại lạc tịnh
Con cái tam căn bản pháp ấn, pháp tính thường lạc ngã tịnh này
Vô ngã vô tâm vô chúng sinh, trong một chân cảnh tam căn bản.

Samaya

(Trên đây là lời thề thân khẩu ý tương đồng.)

🌟

Cá nhân tôi nghĩ rằng, thân, khẩu, ý thực ra không thể tách rời.
Không có thân thì không có khẩu, không có ý.
Không có khẩu thì lấy đâu ra thân, lấy đâu ra ý.
Không có ý thì thân và khẩu đều không có động tác gì.
Ba yếu tố thân, khẩu, ý này đều quan trọng.
Tất cả chư Phật Bồ Tát, Kim cang Hộ pháp, Không hành chư thiên đều có lời thề nguyện.
Phật A Di Đà có bốn mươi tám lời nguyện.
Phật Dược Sư có mười hai lời nguyện.

Lời nguyện mà hành giả thường tụng niệm là:

Chúng sinh vô biên thề nguyện độ.
Pháp môn vô lượng thề nguyện học.
Tự tính chúng sinh thề nguyện độ.
Tự tính pháp môn thề nguyện học.
Phiền não vô tận thề nguyện đoạn.
Phật đạo vô thượng thề nguyện thành.
Tự tính phiền não thề nguyện đoạn.
Tự tính Phật đạo thề nguyện thành.

Chúng ta hành giả tụng "Văn phát nguyện":

Thập phương tam thế Phật, A Di Đà đệ nhất, chín phẩm độ chúng sinh, oai đức vô cùng tận, nay con xin quy y, sám hối ba nghiệp tội, tất cả các phúc thiện, chí thành xin hồi hướng.

Nguyện cùng người niệm Phật, cảm ứng tùy thời hiện, lâm chung cảnh Tây Phương, rõ ràng hiện trước mắt, thấy nghe đều tinh tấn, đồng sinh cõi Cực Lạc, thấy Phật thoát sinh tử, như Phật độ tất cả.

Đoạn vô biên phiền não, tu vô lượng pháp môn, thề nguyện độ chúng sinh, tổng nguyện thành Phật đạo, hư không có cùng tận, nguyện con không cùng tận, hữu tình và vô tình, cùng viên mãn chủng trí, thập phương tam thế tất cả Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật. (Đây là văn phát nguyện của Tịnh Thổ tông.)

Quan Âm Đại Sĩ có mười hai đại nguyện.
Phổ Hiền có mười nguyện. (rất nổi danh)

🌟

Có một "Văn thề nguyện" dâng lên Thượng sư mà tôi rất thích, xin ghi ra như sau:

Chân Phật Tông Căn Bản Thượng Sư
Ngài là chìa khóa bí mật của Mật giáo
Ngài là bậc đảm đương sự nghiệp Như Lai
Ngài không phân biệt đệ tử tịnh hay nhiễm
Ngài chỉ lo cho lợi ích của đệ tử
Ngài thương yêu tất cả chúng sinh
Ngài là bạn pháp của chư Phật
Ngài là tổng trì của Mật giáo
Con xin đảnh lễ Ngài
Xin hãy là bậc đạo sư vĩ đại của chúng con
Dùng trí huệ gia trì chúng con
Dùng đại bi gia trì chúng con
Dùng biển pháp Mật thừa quán đảnh chúng con
Xin truyền trao tất cả giáo pháp viên mãn
Con nguyện theo chân
Con nguyện hộ trì
Con nguyện hầu cận
Con nguyện cúng dường
Con nguyện hoằng dương
Con nguyện thân
Con nguyện khẩu
Con nguyện ý
Toàn quy về Ngài
Om ah hum
Samaya.

(Đây là lời phát nguyện bằng văn nói, do Mặc Mặc viết.)


### 27. Phương Phương đến Tây Thành


Phương Phương dĩ nhiên là tên giả.
Cô ấy quy y tôi đã hơn 20 năm. Khi cô ấy quy y, tôi có ấn tượng sâu sắc.
Một, đôi mắt biết nói.
Hai, khuôn mặt tươi cười.
Ba, kiểu tóc như tiên nữ.
Bốn, hương thơm thanh khiết.
Năm, tỏa sáng rạng ngời.
Lần này, cô ấy lại đến, chỉ trong vòng hai tuần ngắn ngủi, tôi không nói chuyện nhiều với cô ấy.

Chỉ có vài chữ tiếng Nhật: "Aishiteru".
Năm chữ này rất bình thường, trong Chân Phật Tông nó tương đương với một sự "quan tâm".
Tôi (Lư Sư Tôn) dùng năm chữ này để thu nhận đại chúng.
Điều đặc biệt là:
Trong hai tuần này, cô ấy viết cho tôi bốn mảnh giấy nhỏ, mỗi mảnh đều ghi:
"Aishiteru".

🌟

Lá thư thứ nhất:

Nhìn thấy Thầy là con no rồi!
Vì tim con cứ đập loạn xạ. (như chú nai con)
Xin Thầy đừng trách con.
Vì trong mơ con tìm thầy nghìn lần, luôn đắm chìm trong đó, chúng ta có rất nhiều, rất nhiều câu chuyện trong mơ.
Món quà con muốn tặng Thầy, chính là:
"Aishiteru".

🌟

Lá thư thứ hai:

Có một câu muốn thủ thỉ với Thầy:
Quy y Thầy, con thật hạnh phúc!
Vì Thầy ở khắp mọi nơi.
Thầy soi sáng thế giới của con,
Đúng vậy đó!
Thầy cũng đồng thời soi sáng toàn thế giới.
Thầy chỉ cần một lời:
"Aishiteru".
Con sẽ bay đến thăm Thầy ngay.
Xin nhớ:
2024, 2025, 2026..........
Con sẽ đến. Tu hành với Thầy, con chỉ có bốn chữ:
"Hạnh phúc tràn đầy".

🌟

Lá thư thứ ba:

Con quán tưởng Thầy, rồi lại nhớ Thầy da diết,
Và rồi:
Nhớ Thầy quá, nhớ Thầy quá, nhớ Thầy quá, nhớ Thầy quá............
Con xem Thầy là báu vật số một.
Nâng niu trong lòng bàn tay.
Đặt trên trái tim con.
Không chỉ vậy thôi!
Chúng ta thực sự là:
"Aishiteru".

🌟

Lá thư thứ tư:

Lại phải chia tay rồi! Nước mắt tuôn rơi, lã chã!
Con không nỡ!
Thầy nói:
"Có hợp thì có tan." (Đó là vô thường.)
Con nói:
"Con không muốn xa Thầy!"
Thầy nói:
"Con hãy tu hành tinh tấn, gặp lại trên thiên giới, sẽ không phải chia ly nữa."
Con sẽ làm được.
Nhớ niềm vui đoàn tụ trên thiên giới: "Aishiteru".

🌟

Thư hồi âm của lão tăng tuổi bát tuần gửi Phương Phương:

Phương Phương:
Nhận được bốn mảnh giấy nhỏ em viết, tình ý sâu nặng, thật cảm động!
Đối với tôi:
"Huyễn ảo như mộng!"
Em còn nhớ tập thơ của tôi không? Cuốn 149, tên sách là "Trăng Trong Nước", trong đó có một bài thơ tên là "Huyễn ảo như mộng".

Bài thơ như sau:

*Phật Đà ngồi thiền trong cõi hư không vô tận
Bậc trí giả tiến đến thỉnh vấn
Phật thì thầm đáp
"Như mộng như huyễn"
Câu trả lời này thật đáng kinh ngạc
Thử hỏi
Khi tất cả đều không có lời giải
Bốn chữ này
Sao lại có thể đánh động lòng người sâu sắc đến vô hạn
Từng cảnh tình yêu nam nữ
Từng màn thiện ác đối đầu
Đây là một ngày của phù du
Cũng là sân khấu nghìn năm của kiếp người
Nhìn xem cảnh tượng kỳ diệu mềm mại như nước
Con người tổn thương lẫn nhau
Cứu rỗi chính mình
Ngươi có thấy chăng
Còn gì khác biệt nữa đâu.*

🌟

Bài thơ này không áp dụng cho hai ta, nhưng tôi chỉ muốn bày tỏ "huyễn ảo như mộng".
Chúng ta không tranh đấu!
Chúng ta không tổn thương!
Mà chúng ta chỉ có "aishiteru", một tình yêu thuần khiết ngọt ngào.
Nhưng "huyễn ảo như mộng" là thật!

🌟

Tôi lại viết một bài thơ tặng em:

*Ánh mắt đưa đẩy
Ta đã tám mươi
Còn là lão tăng
Hữu ý vô ý sao không sớm nói
Giờ đây
Tuổi đã cao rồi
Dẫu lòng trĩu nặng cả ngày
Cũng hiểu rằng
Đã đến lúc
Dù em có ý
Cũng khó thành
Gửi tình này lên trời
Để trời phiền não
Hãy lắng lòng xuống
Sau tình sâu
Chỉ niệm Di Đà
Tịnh thổ sẽ gặp lại
Từ đây là bạn đạo
Thế mới thật tốt đẹp.*
(Ta, lão tăng tuổi bát tuần, trong bài văn này, chúc em sớm thành tựu Phật đạo.)


### 28. Bệnh tật của tôi


Có một đệ tử thấy tôi (Lư Sư Tôn) trong năm 2023 bị bệnh tật đau đớn, đã hỏi những câu hỏi sau:
Hỏi:
"Lư Sư Tôn đã tu chứng thân vô lậu, tâm vô lậu. Tại sao Thầy vẫn bị bệnh?"
Tôi đáp:
"Thân xác này của tôi cũng giống như người bình thường. Vì tu khí nên thân vô lậu, vì tu niệm nên tâm vô lậu. Nhưng, thân xác vẫn là thân xác, là thân tứ đại giả hợp, là thân vô thường, cũng sẽ già đi, đến tuổi bảy mươi chín thì bị bệnh."
Hỏi:
"Lư Sư Tôn, Thầy có ghét thân thể của mình không?"
Tôi đáp:
"Tôi có được thân xác này mới có thể thuyết pháp độ chúng sinh, rất nhiều vị Phật, rất nhiều vị Bồ Tát, đều mượn thân xác này để thuyết pháp độ chúng. Thông qua bệnh tật, thị hiện nỗi khổ bệnh trong tám khổ, cũng nhờ nỗi khổ này để dạy chúng sinh lìa khổ được vui. Không thể vì bệnh khổ mà ghét bỏ thân xác của mình."
Hỏi:
"Thầy có bệnh, làm sao giáo hóa chúng sinh?"
Đáp:
"Giáo hóa rằng thân người do tứ đại giả hợp: đất, nước, lửa, gió. Giáo hóa để trừ bỏ ngã chấp, buông bỏ tham sân si. Giáo hóa về vô sở đắc, tiền tài sắc đẹp danh vọng đều là không. Giáo hóa về vô ngã, vì thân người rốt cuộc là không. Vân vân và vân vân."
Hỏi:
"Khi bị bệnh, cần phải làm gì?"
Tôi đáp:
"Khi bị bệnh, phải sám hối. Bệnh tật nơi thân người là do nghiệp chướng nhiều đời tích tụ gây ra. Từ vô thủy đến nay, nghiệp chướng sâu dày không thể đo lường. Thật sự nghiệp tội sâu nặng, nên phải tu pháp sám hối."
Hỏi:
"Làm sao để thích nghi với bệnh tật của mình?"
Tôi đáp:
"Khi mình bị bệnh, hãy nghĩ đến nỗi đau khổ của người khác khi họ bị bệnh, từ đó sẽ sinh lòng thương xót. Đây cũng là pháp hoán đổi ta và người khác, nghĩ đến khi người khác bị bệnh khổ, họ cũng đau đớn như vậy, sẽ phát khởi tâm từ bi. Ngoài ra, hãy nghĩ rằng đây cũng là hiện tượng tự nhiên, đừng quá đau buồn."
Hỏi:
"Khi bị bệnh, nên sống như thế nào?"
Tôi đáp:
"Vẫn phải sống đúng đắn, có bệnh thì đi khám bác sĩ trước, cần làm gì thì làm đó. Hãy làm nhiều việc thiện, bố thí, in ấn kinh sách. Đừng từ bỏ việc tu tập công đức ruộng phước, đừng vì thế mà phiền não, hay dao động niềm tin."
Hỏi:
"Tâm thái khi bị bệnh nên như thế nào?"
Tôi đáp:
"Hãy tự nhiên thích nghi, thân người vốn như vậy, không có ngoại lệ, ngay cả bác sĩ chữa bệnh cho người khác cũng sẽ bị bệnh, nghĩ như thế thì sẽ không tự thương hại, than thân trách phận."

Tôi lại nói:

"Sống chết như một.
Khỏe bệnh như một.
Phiền não bồ đề như một.
Ma Phật như một.
Khổ vui như một.
Ta và chúng sinh như một.
Ta là không.
Pháp là không.
Tất cả đều không.
Như một không như hai."


### 29. Pháp thân không bệnh


Tôi (Lư Sư Tôn) nói:
"Nhục thân có bệnh, Pháp thân không có bệnh."
"Tại sao Pháp thân không có bệnh?"
"Vì Pháp thân không phải là thân tứ đại giả hợp, nên không có bệnh."
"Thiên nhân có bệnh không?"
Tôi đáp:
"Thiên nhân chắc chắn sẽ có bệnh, vì thiên nhân ở cõi dục giới vẫn còn dục vọng, nên sẽ xuất hiện năm tướng suy hoại của thiên nhân."

Năm tướng suy hoại của thiên nhân là:
Hoa trời héo úa.
Y phục trời dơ bẩn.
Thân thể chư thiên đổ mồ hôi.
Không còn thích thú ngồi trên ghế trời.
Thân thể chư thiên trở nên hôi hám (mất đi hào quang nơi thân).

"Vì sao có năm tướng suy hoại của thiên nhân?"
Tôi đáp:
"Vì phúc phần của chư thiên đã hết, thọ mạng đã tận, chư thiên cũng phải luân hồi."

🌟

Pháp thân của tôi (Lư Sư Tôn) không phải là thân trời, nên không có năm tướng suy hoại của thiên nhân.
Tôi có bệnh.
Pháp thân của tôi không bệnh.

🌟

Chân Chân nói:
Gần đây tôi thấy Pháp thân của Lư Sư Tôn và chư Phật Bồ Tát trong hư không ngày càng rõ ràng.
Pháp thân chỉ dạy tôi tu hành, có nhiều tiến bộ.
Pháp thân cùng mười vạn Không hành mẫu, rải hoa từ trời xuống, tỏa ánh sáng đỏ rực rỡ.
Lư Sư Tôn ngồi trên pháp tọa rất to, lưng ghế của pháp tọa là Du Già Mẫu màu trắng.
Chân Chân bỗng hợp nhất với Bạch Du Già Mẫu, và cùng Pháp thân Lư Sư Tôn ôm nhau song vận.
Có pháp lạc rất đặc biệt.
Pháp hỷ thù thắng.
Cảm nhận ánh sáng giác ngộ hợp nhất với không.
Kéo dài rất lâu.
Ngũ Sắc Bất Động Minh Vương xuất hiện, các ngài gọi Chân Chân:
"Phật Mẫu."
Bốn đại tổ sư xuất hiện, Liễu Minh Hòa Thượng, Sakya Chứng Không Thượng Sư, Đại Bảo Pháp Vương thứ 16, Thubten Dhargye Thượng Sư cũng gọi Chân Chân:
"Phật Mẫu."

🌟

Chân Chân hỏi:
"Xin hỏi đệ tử có chấp tướng không?"
Tôi đáp:
"Toàn bộ thế giới này thật ra đều là "như thật không", nếu có tướng, cũng là "nhân duyên không", nên rốt cuộc cũng là không."

Có một bài kệ:
Các pháp nhân duyên sinh.
Ta nói tức là không.
Gắn vào đó tên giả.
Cũng là nghĩa trung đạo.

(Tôi đã sửa vài chữ.)

Hiểu được những điều này thì sẽ không chấp tướng.

Chân Chân hỏi:
"Con làm sao mở ngũ luân?"
Tôi đáp:
"Ngũ luân là chỉ Mi tâm luân, Hầu luân, Tâm luân, Tề luân, Mật luân. Nếu thêm Đỉnh luân và Hải để luân nữa thì thành thất luân. Muốn khai mở ngũ luân thất luân, cần phải hợp nhất chuyết hỏa và minh điểm, cần dùng khí để thúc đẩy. Đây là pháp tu thực hành, có rất nhiều khẩu quyết, dĩ nhiên thầy sẽ dạy con từng điều một."

Chân Chân hỏi:
"Thưa Lư Sư Tôn! Con nên theo hướng nào làm con đường tu hành?"
Tôi đáp:
"Tu Thứ tự sinh khởi trước, sau đó tu Thứ tự viên mãn. Trước tu nhân, sau tu quả. Trước tu Ngoại pháp, sau tu Nội pháp, thứ ba tu Mật pháp, thứ tư tu Mật mật pháp."
"Về nguyên tắc, chia thành thô, tế, tế tế, tối tế."
(Con là thượng căn khí, đến lúc thầy sẽ nói với con.)

Chân Chân hỏi:
"Con có cần xin quán đảnh Vô thượng mật nữa không?"
Tôi đáp:
"Pháp thân của ta - Lư Sư Tôn song vận với con, đây chính là quán đảnh."
Tôi lại nói:
"Trong đó có bốn loại quán:
Cảnh pháp quán.
Bổn tôn quán.
Mật luân quán.
Đại lạc quán.

Ngoài ra còn có bốn loại thiện xảo:
Giáng thiện xảo.
Trì thiện xảo.
Đề thiện xảo.
Tán thiện xảo. (điều hòa thiện xảo)
(Tất cả đều là mật hành, cần phải giải thích thêm mới có thể hiểu được)

Chân Chân hỏi:
"Xin phép Pháp thân của Lư Sư Tôn thường xuyên chỉ dạy cho con được không?"
Tôi đáp:
"Con đã biết múa điệu Không hành mẫu, cũng biết ngôn ngữ Không hành. Thân là không hành, khẩu là không hành, ý là không hành. Tự nhiên Pháp thân sẽ chỉ dạy con."


### 30. Trả lời thêm những câu hỏi của Chân Chân


Chân Chân hỏi:
"Làm sao để mở ngũ luân?"
"Con đường tu hành phải theo hướng nào?"
"Pháp lạc là gì?"

Tôi cảm thấy câu trả lời của mình chưa đủ chi tiết, để giải thích kĩ hơn, tôi trả lời như sau:
Lư Sư Tôn nói:
Muốn chứng đắc Pháp tính (Phật tính chân như), nhất định phải mở năm luân xa trước.
Theo thứ tự Mật giáo, muốn mở năm luân xa, trước tiên phải thông trung mạch, nếu trung mạch không thông, ngũ luân không thể mở được.

Muốn mở trung mạch, nhất định phải tu Bảo bình khí và chuyết hỏa.
Muốn tu Bảo bình khí và chuyết hỏa cần phải biết và thực hành pháp hô hấp, khí công, du già kim cang quyền.
Trước khi làm những điều này:
Việc tu Ngoại pháp là điều bắt buộc. (Thứ tự sinh khởi)

Tôi - Lư Sư Tôn cho rằng:
Trước hết tu Tứ gia hành.
Tiếp theo tu Thượng sư tương ứng.
Sau đó tu Hộ pháp tương ứng.
Cuối cùng tu Bổn tôn tương ứng.
Những pháp tu này là một loại nhân duyên, ví dụ:
Chúng ta biết rằng:
Thân thể của chúng ta là bất tịnh.
Chúng ta chịu khổ nhiều hơn vui.
Tương lai của chúng ta chắc chắn có sinh có tử, sẽ trở về không.
Hoàn cảnh của chúng ta là vô thường.
Từ đó sinh ra:
Nhân quả báo ứng, không muốn luân hồi nữa, tâm xuất ly, tâm bồ đề, tâm tu đạo, tâm tinh tấn, tâm bất thoái.

Nói về pháp lạc.
Tôi (Lư Sư Tôn) cần giải thích trước:
Pháp lạc và dục lạc hoàn toàn khác nhau, cần phân biệt rõ:
Khoái lạc khi nam giới xuất tinh.
Khoái lạc khi nữ giới lên đỉnh.
Hai loại này là dục lạc, là thứ mà người phàm tục theo đuổi trong tình yêu nam nữ.
Còn pháp lạc thì khác.
Pháp lạc là:
Sự khoái lạc phát sinh khi khí đi vào trung mạch.
Chuyết hỏa trong trung mạch lên lên xuống xuống.
Minh điểm trong trung mạch lên lên xuống xuống.
Điều này sẽ tạo ra:
Đại lạc kéo dài rất lâu, trong Mật giáo gọi là:
"Hỷ", "Thắng hỷ", "Tối thắng hỷ", "Câu sinh hỷ".
Đây là khinh an.
Cũng là sự khoái lạc không thể diễn tả được, loại pháp lạc này hơi giống với dục lạc của phàm phu.
Tuy nhiên,
Đại lạc của trung mạch kéo dài rất lâu.
Dục lạc của người phàm tục thì ngắn ngủi.
Đây là điểm khác biệt giữa hai loại.
Dục lạc nếu không đúng cách sẽ tổn hại thân thể.
Pháp lạc không tổn hại thân thể, còn có lợi cho thân tâm, là pháp hỷ thanh tịnh.
Pháp lạc tăng trưởng sẽ phát thành ánh sáng.
Nhờ sự hợp nhất của chuyết hỏa và minh điểm, thông trung mạch, khai ngũ luân, khai thất luân, cho đến chứng quả.
Như vậy chứng được tính Không.
Chứng đạo.
Chứng quả.
(Đây là pháp yếu tu hành của Mật giáo.)


### 31. Sự tương tác giữa Văn Văn và Lư Sư Tôn


Văn Văn có thể đối thoại và tương tác với Pháp thân của Lư Sư Tôn.
(Chú thích: Văn Văn là tên giả.)

Pháp thân nói:
"Cuộc đời của mình do mình lựa chọn."
Văn Văn hỏi:
"Còn cuộc đời của con thì sao?"
Pháp thân đáp:
"Thầy sẽ giúp con."
Lư Sư Tôn giải thích:
Thầy là sư phụ của Văn Văn. Làm thầy là để truyền đạo, dạy học, giải đáp thắc mắc.
Về phương diện này thầy có thể chỉ dạy.
Còn việc thực tu thì phải tự mình làm lấy.

🌟

Văn Văn hỏi:
"Làm sao để viên mãn việc tu hành của con?"
Pháp thân đáp:
"Chỉ còn thiếu một chút thôi."
Văn Văn hỏi:
"Còn thiếu gì ạ?"
Pháp thân đáp:
"Chút đó cũng không có gì đáng kể."
Lư Sư Tôn giải thích:
Văn Văn đã tu thành tựu tử quang, đã có được ánh sáng của riêng mình, chỉ cần đưa ánh sáng của mình hòa vào đại quang minh của vũ trụ là xong.
Cho nên chỉ còn thiếu một chút.
Chút đó chính là sự hợp nhất giữa tử quang và mẫu quang.
Hòa nhập thành tựu.
Như một giọt nước chảy vào biển cả.

🌟

Pháp thân nói:
"Ta có quà cho con!"
Sau đó, Pháp thân lấy ra một bao lì xì.
Pháp thân lấy bút ra, định viết vài chữ lên bao lì xì, nhưng bút đã cạn mực, không viết được.
Văn Văn hỏi:
"Thầy định viết chữ gì ạ?"
Pháp thân không trả lời, chỉ mỉm cười.
Cuối cùng Pháp thân nói:
"Lần sau thầy sẽ cho con bao lì xì."
Lư Sư Tôn giải thích:
Ban đầu định viết hai chữ "vô sự", vì Văn Văn đã chịu tủi thân, mà tủi thân thì sẽ khó chịu.
Thật ra,
Mọi việc đều có nhân duyên, nhưng nhân duyên rồi cũng sẽ qua đi.
Cuối cùng là "nhân duyên không".
Cho nên, cũng là "vô sự".

🌟

Pháp thân nói:
"Minh phi phải có điều kiện, cô ấy phải có đủ tư cách để trở thành minh phi, phải có chứng đắc của riêng mình."
Lại nói:
"Tứ gia hành tương ứng, Thượng sư tương ứng, Bổn tôn tương ứng. Nhận thức được trung quán chính kiến, hiểu được tính Không, minh phi như vậy mới được gọi là Đại thủ ấn."
Văn Văn gật đầu, hiểu rõ.
Văn Văn càng thêm tinh tấn.
Hai điều kiện lớn này chính là:
1. Tương ứng.
2. Tính Không.

Lư Sư Tôn giải thích:
Sự nghiệp thủ ấn (minh phi) chân chính, dĩ nhiên còn cần những điều kiện khác, nhưng hai điểm này là quan trọng nhất.


### 32. Sự dạy bảo của Pháp thân


Một ngày nọ.
Một thiện tri thức tặng cho Văn Văn một mặt dây Phật.
Tối hôm đó, Pháp thân đến gia trì xoa đầu, Pháp thân đặt tay lên đầu Văn Văn.
Trong chớp mắt.
Văn Văn biến thành vị Phật trong mặt dây.
Sau đó, lại biến về hình dáng của mình.
Sau khi được Pháp thân gia trì, có một nguồn lực ẩn tàng trong cơ thể, sau đó nguồn lực này chỉ dẫn Văn Văn phải bế quan.

🌟

Trong thời gian bế quan, Văn Văn chuyên tu:
Tứ gia hành.
Pháp tương ứng Thượng sư (pháp tương ứng Liên Hoa Đồng Tử).
Chân Phật Bảo Sám (ba trăm đàn).
Pháp cúng khói (một nghìn đàn).
Sau đó,
Khối sức mạnh trong cơ thể ấy chuyển hóa thành một vị tiên nữ (Không hành mẫu).
Rồi,
Một ngày nọ, Tâm luân đột nhiên chấn động, một khối sức mạnh từ hư không đi vào thân, đây là dòng chảy pháp của Kim Mẫu, tiếp đó, có tiếng nói:
"Ta sẽ dạy dỗ con thật tốt!"

🌟

Văn Văn dưới sự chỉ dạy của Pháp thân, đã bước vào tu tập Nội pháp và thường xuyên tương tác với Pháp thân.
Pháp thân nói:
"Con là minh phi!"
Rồi lại thọ ký cho Văn Văn.
Pháp thân nói:
"Con là Hoàng Liên Hoa Đồng Tử."
Trong thời gian này, có ba vị dạy dỗ Văn Văn:
1. Pháp thân (Lư Sư Tôn)
2. Kim Mẫu
3. Mã Cát Lạp Tôn Phật Mẫu

🌟

Tiếp theo,
Tiên nữ (Không hành mẫu) mà Văn Văn gọi là Tiểu Thiên Nữ đã dùng miệng của Văn Văn để nói chuyện.
Diêu Trì Kim Mẫu đã dùng miệng của Văn Văn để nói chuyện.
................. (Đây là chân ngôn giáng trí.)

Giờ đây, mong Văn Văn trong tương lai có thể theo học tốt với Lư Sư Tôn, cùng nhau tu hành, cho đến khi viên mãn tất cả thành tựu.
Cầu xin Lư Sư Tôn gia trì cho Văn Văn được thêm can đảm viên dung, tự tin làm chính mình.
Có thể thuận lợi nâng cao cảnh giới tu hành, cát tường viên mãn, hoan hỷ thu hoạch.
Không phụ lòng giáo huấn và ân huệ của Lư Sư Tôn cùng Pháp thân.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) viết một bài kệ tặng Văn Văn:

*Nhiều đời nhân duyên người một nhà
Một đêm nay
Hóa thành Phật pháp tăng
Từng vướng bao nhiêu bụi trần
Cần gột rửa
Hóa thành thiên ân
Lần này ruộng tâm khéo vun xới
Cùng là kẻ lưu lạc chân trời
Phải trân quý
Thân Liên Hoa Đồng Tử.*


### 33. Văn Thù Bồ Tát hỏi: điều phục tâm


Trong Kinh Duy Ma Cật, Bồ Tát Văn Thù hỏi Duy Ma Cật Đại Sĩ:
"Một vị Bồ Tát khi mắc bệnh, phải điều phục tâm mình như thế nào?"
Duy Ma Cật Đại Sĩ đáp:
"Bồ Tát có bệnh nên suy nghĩ rằng, tất cả bệnh tật đều do phiền não nghiệp chướng từ vọng tưởng điên đảo đời trước gây ra, không có bệnh thật sự."
"Tại sao vậy?"
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
"Thân thể con người vốn do giả hợp mà thành, thân không phải của ta, vì vậy là vô ngã. Bồ Tát nếu có tư tưởng vô ngã thì sẽ không chấp trước vào sắc thân, không chấp trước vào sắc thân thì sẽ không chấp trước vào bệnh, bởi không có sắc thân thì không có bệnh."
"Bệnh là nhân duyên, sắc thân cũng là nhân duyên, tất cả chỉ là sự tụ tập và phân tán của nhân duyên mà thôi."
"Thật ra bệnh cũng không đến không đi."

Bồ Tát Văn Thù hỏi:
"Làm sao để xa lìa vọng tưởng điên đảo?"
Duy Ma Cật Đại Sĩ đáp:
"Ngã là không. Ngã kiến là không. Bệnh cũng là không."
Lư Sư Tôn giải thích:
Ngã - vô ngã (nhân duyên không).
Chúng sinh - vô chúng sinh (nhân duyên không).
Pháp - vô pháp chấp (nhân duyên không).
Bệnh - nhân duyên không.
(Đây là phương pháp tốt nhất để đoạn trừ ngã chấp và pháp chấp.)

Nếu suy nghĩ như thế này:
Không bám giữ vào cái tôi.
Không cầu mong gì ở ngoại cảnh.
Với bệnh tật coi như không có.
Bản thân ta sẽ không còn vọng tưởng điên đảo nữa. Từ đó sẽ sinh khởi tâm đại từ bi, bởi vì chúng sinh đều bị ngã, ngã kiến, ngã chấp trói buộc.
Bệnh tật cũng vậy, nó trói buộc chúng sinh.

🌟

Tôi có ba bài thơ thiền do đệ tử Liên Hoa sáng tác, suy ngẫm kĩ sẽ hiểu được.

*Giả mượn tứ đại tu chân đế
Chân thường ứng vật tâm không mê
Duyên mộng đan xen sinh lục thú
Xưa nay điên đảo biết bao người.
Tùy duyên thấu tỏ đều nhân quả
Tùy hỷ hòa quang vui cõi trần
Tứ trí viên thông thành sở tác
Tâm không vướng ngại cùng Phật hành.*

🌟

*Các pháp vốn không sinh, duyên khởi cũng duyên diệt,
Hiểu rõ nghĩa thánh đế, không chấp lại không tranh,
Niệm động các cảnh hiện, hiển vạn tượng rườm rà,
Chỉ tâm hằng thanh tịnh, huệ nhãn thấy tính chân.*

🌟

*Tu là diệu quán sát,
Giới sáng sinh tịnh hành;
Do từ tướng chúng sinh,
Giác tính biết thật giả.
Chẳng khởi tâm sinh diệt,
Không nghĩ về đến đi;
Tự nhiên và nhậm vận,
Như không bụi không vương.*

🌟

Lư Sư Tôn chú giải:
1. Mượn giả tu thật, vừa nhập thế vừa xuất thế, đó là trung đạo!
2. Vô niệm là chính giác, hữu niệm có chấp trước, sinh ra vạn tượng.
3. Có được đại trí huệ, biết "như thật không", biết "nhân duyên không", phá ngã chấp và pháp chấp.


### 34. Nói về tâm đắc tu pháp xả thân


Văn/Phi Phi

Con xin cảm ơn Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật - Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử - Lư Sư Tôn đã ban cho con ân điển vô thượng quý báu, giúp con không ngừng đột phá trong tu hành. Tiếp theo bức thư trước, sau khi được Sư Tôn gia trì pháp xả thân, tu tập pháp xả thân và hóa thành Bổn tôn tu pháp xả thân hóa cam lộ trong pháp hội Hộ Ma của Sư Tôn, con có một số trải nghiệm đặc biệt.

1. Vào tháng 9 năm 2023, trong định, con đi vào một không gian thời gian, trong hư không hiện ra thân tướng của Mã Cát Lạp Tôn Phật Mẫu, diện mạo lại giống con, xung quanh có các Không hành mẫu đủ màu sắc, phía dưới có rất nhiều chúng sinh.
Ngài nói: "Con chính là ta."

2. Sau một thời gian tu pháp xả thân, một ngày nọ, pháp khí (trống tay và chuông kim cang) trong tay Mã Cát Lạp Tôn Phật Mẫu tự nhiên biến thành dao cong kim cang và kapala (không biến thành Hắc Phẫn Nộ Mẫu nữa). (Tại sao?) Con hợp nhất với Mã Cát Lạp Tôn Phật Mẫu (con), năm luân xa trong cơ thể bắt đầu vận chuyển và rung động, trước mắt đi vào biển ánh sáng. Trong biển ánh sáng xuất hiện Pháp thân Lư Sư Tôn, ôm (con) song vận, hòa vào trong ánh sáng và nhiệt, bỗng nhiên không còn hình tướng, an trụ trong vùng ánh sáng trắng, trong ánh sáng trắng dần dần xuất hiện ánh sáng bảy sắc, trong tâm bình tĩnh; vô ngại.

Con hỏi Mã Cát Lạp Tôn Phật Mẫu: "Tại sao Pháp thân Lư Sư Tôn lại xuất hiện trong định và song vận với Mã Cát Lạp Tôn Phật Mẫu?"
Ngài đáp: "Vì là đạo bạn!" (Lư Sư Tôn chính là Tác Nam Rinpoche.)

3. Một lần nọ, khi tu pháp xả thân, con đã cúng dường cam lộ cho tứ thánh, lục đạo, thập pháp giới và tứ ma, đặc biệt còn cúng dường cho những người có hiểu lầm và thành kiến với con, nguyện cho họ sớm mở tâm mở ý, hoa nở thấy Phật.

Trong định, Mã Cát Lạp Tôn Phật Mẫu bỗng nói với con: "Con xem! Biển tâm của con chính là biển cam lộ, vốn dĩ đã có ánh sáng. Buồn đau và mất mát như mây che ánh sáng, nhưng không ảnh hưởng đến ánh sáng vốn có của biển tâm, và rồi mây cũng sẽ tan đi. Những người và việc khiến tâm con gợn sóng đều là sự ràng buộc của nhân duyên nhiều đời, cũng chỉ là hiện tướng tạm thời mà thôi."
"Sẽ kịp thời dừng tổn thất, bảo vệ con chu toàn."
"Hãy tiếp tục dũng mãnh tiến về phía trước, để cam lộ vô tận tỏa sáng nơi Ta Bà, an ủi chúng sinh được an lạc!"
Trong lòng xúc động, con khóc nức nở.

4. Khi tham dự pháp hội Hộ Ma của Sư Tôn, con tự thấy cúng phẩm chuẩn bị còn thiếu. Bỗng nhiên, Mã Cát Lạp Tôn Phật Mẫu nói với con: "Con chính là cúng dường tốt nhất." Vì thế, khi Sư Tôn biến hóa thủ ấn, con đã dùng pháp xả thân hóa thành cam lộ, dòng ánh sáng và nhiệt cúng dường Sư Tôn, Bổn tôn pháp hội và tứ thánh, lục đạo, thập pháp giới, tràn đầy pháp hỷ.

Ngoài ra, vì Sư Tôn rất đau lòng trước hoàn cảnh của Palestine, nên con cũng đặc biệt cúng dường cam lộ cho người dân Palestine, nguyện cho họ nhận được sự an ủi của ánh sáng, kết thiện duyên, tương lai thoát khỏi biển khổ, hy vọng có thể giúp ích được phần nào.

5. Khi tham dự pháp hội Hộ Ma của Sư Tôn, sau khi cúng dường cam lộ, con hỏi Mã Cát Lạp Tôn Phật Mẫu: "Sư Tôn đang bệnh, con phải làm sao để giúp Sư Tôn tiêu trừ/giảm nhẹ bệnh nghiệp?" Ngài nói: "Hãy hợp nhất với ta, hút bệnh nghiệp về, rồi hòa tan vào hư không."

Trong pháp hội, sau khi hợp nhất, con cầu xin vô số Không hành mẫu trong hư không trợ lực, thân thể tự động vận hành công pháp, sinh khởi ánh sáng và nhiệt, mỗi lỗ chân lông đều tràn đầy sức mạnh, thân thể trở nên vô cùng kiên cố, rộng lớn như hư không, một hơi hút lấy một luồng khí bệnh, trước mắt tối đen như mực, rồi dùng Bảo bình khí để tán khí bệnh ra ngoài.

Có lẽ là do nhân duyên hòa hợp, thêm vào đó Sư Tôn đã làm pháp thế thân, các đệ tử cũng cầu phúc cho Sư Tôn, nên hôm sau tình trạng sức khỏe của Sư Tôn đã khá hơn.

6. Ngoài ra, trong pháp hội ngày 27 tháng 11 năm 2023, con thấy xung quanh Lư Sư Tôn có vô số chư Phật Bồ Tát, Không hành mẫu, Kim cang vây quanh. Bỗng nhiên, một luồng ánh sáng đưa (con) vào trong tâm Sư Tôn. Bên trong tràn ngập ánh sáng vô tận, trong ánh sáng hiện ra vô số cung điện, sau khoảng 30 giây bay vút xuyên qua, con mới từ phía sau Sư Tôn đi ra.

Lúc đó con vô cùng kinh ngạc, dù nhục thân Sư Tôn đang bệnh, nhưng không ảnh hưởng đến sự trang nghiêm trong tâm của Lư Sư Tôn, Lư Sư Tôn là thành tựu giả chân thật! Được gặp lại Thầy, con vô cùng trân quý! Cảm ơn Thầy, Sư Tôn!

7. Ngày 29 tháng 11 năm 2023, Mã Cát Lạp Tôn Phật Mẫu nói với con ba lần: "Con chính là ứng hóa thân của ta!"
Rồi nói: "Hồng trần cuồn cuộn, rốt cục vẫn quy về một."
Và dặn dò con: "Hãy đến cầu xin Lư Sư Tôn quán đảnh truyền thừa Mã Cát Lạp Tôn Phật Mẫu."


### 35. Tinh thần của Mã Cát Lạp Tôn


Tôi (Lư Sư Tôn) nhận thức như sau:
Mã Cát Lạp Tôn Phật Mẫu là tổ sư của phái Giác Vũ thuộc Mật tông Tây Tạng. Tuy phái Giác Vũ không còn tồn tại, nhưng pháp xả thân (pháp thí thân) được bốn đại giáo phái vô cùng tôn sùng.
Bản thân tôi rất kính trọng pháp xả thân, bởi vì tôi hiểu rõ tinh thần của pháp này.
Pháp xả thân có tinh thần là:
"Hy sinh phụng hiến".
(Trọng điểm là đoạn diệt bản thân, cúng dường cho chúng sinh trong thập pháp giới.)

Tinh thần này là:
Làm kinh động đất trời.
Làm rơi lệ quỷ thần.
Hùng hồn dũng mãnh.
Chính khí lẫm liệt.
Pháp tu trì này chính là pháp "đoạn", đoạn tuyệt tất cả, xả thân vì chúng sinh.

🌟

Guru của tôi là Chúa Jesus.
Tôi chỉ ra rằng:
"Jesus bị đóng đinh trên thập tự giá, cái chết của Người là để rửa sạch tội gốc của nhân loại."
Người ra đi khi mới 33 tuổi.
Tinh thần này thật cảm động.
Đó chính là:
"Hy sinh phụng hiến."
(Dùng sự đoạn diệt của bản thân để cứu độ thế nhân.)

Ở đây, tôi không bàn về cuộc đời của Chúa Jesus, tôi chỉ bàn về tinh thần hy sinh phụng hiến của Chúa Jesus.
Người đã truyền bá "Phúc âm Thiên quốc".
Tôi tôn kính Chúa Jesus vì nhiều lý do, bởi những lời Người nói có nhiều điểm tương đồng với Phật giáo.
Ví dụ:
Tay phải làm việc thiện, đừng để tay trái biết.
(Đây chính là tích âm đức)
Bố thí - Lục độ ba la mật.

Còn nữa:
Ai tát má phải, hãy đưa má trái cho họ tát.
Nhẫn nhục - Lục độ ba la mật. (Phải yêu kẻ thù của mình.)
Còn nữa:
Chúa Jesus cầu nguyện rằng: "Họ không biết việc họ đang làm."
Chúa Jesus là bình đẳng xả.
Từ bi hỷ xả, Chúa Jesus đều đã thực hiện được!

Chúa Jesus nói:
"Nhân loại là anh chị em đồng thể cùng sinh mệnh."
Phật dạy:
"Tâm, Phật, chúng sinh, ba thứ không khác biệt. Chúng sinh đều có Phật tính."
...........

🌟

Chúa Jesus là hành giả "đoạn pháp" của Cơ Đốc giáo.
Mã Cát Lạp Tôn là hành giả "đoạn pháp".
Rất nhiều môn đồ của Chúa Jesus đã tử vì đạo:
Stephen tử vì đạo.
James tử vì đạo.
Andrew tử vì đạo.
Paul tử vì đạo.
............ (Tất cả họ đều hy sinh phụng hiến.)

🌟

Tôi kính ngưỡng Thánh Teresa, Người nói:
"Dù có Thiên đường, tôi cũng không đến. Tôi nguyện mãi mãi ở trong bóng tối, cùng với chúng sinh đau khổ tội lỗi."
Đây chính là sự hy sinh phụng hiến.
Giống như lời nguyện của Địa Tạng Bồ Tát.
Tôi cung kính đảnh lễ:
Những bậc thánh hiền vĩ đại này.
Hy sinh phụng hiến thật sự quá vĩ đại.


### 36. Tóm tắt pháp thiên nhãn Bạch Độ Mẫu


Tôi (Lư Sư Tôn) vì để chúng sinh có được thiên nhãn thông nhằm kết hợp trí huệ và phương tiện mà đặc biệt viết ra tâm yếu tu trì Bạch Độ Mẫu thiên nhãn thông. 

Tâm yếu tu pháp như sau:
Cúng phẩm: ba trắng ba ngọt. Bảy viên minh châu thủy tinh màu trắng trong suốt (tượng trưng cho bảy con mắt của Bạch Độ Mẫu). 

Nghi quỹ tu pháp: 
Tứ quy y. Tứ vô lượng tâm. Phát bồ đề tâm.

Tụng tán: 
Phổ nguyện chúng sinh giải thoát lục đạo
Mãi lìa sinh tử đều chứng Phật địa
Đại Bạch Độ Mẫu kính mong từ bi
Thiên nhãn như ý đắc diệu quan sát
Bình đẳng gia trì thành tựu cõi Phật.

Tịnh nghiệp quán Không:
Quán tưởng: (khi quán tưởng kết thủ ấn Độ Mẫu)
Hư không có chữ "Pang" hóa thành hoa sen tám cánh màu trắng. 


![image](/img/img_89021cb66228be5af179968c111e0fc1.png)


Trong tâm hoa sen có chữ "Ah" hóa thành nguyệt luân.


![image](/img/img_5d26fe51cb46bdcb452f24e6290c0143.png)


Trong nguyệt luân có chữ "Tang" phóng quang.


![image](/img/img_0fd94d45d85c4daddecd40340e4b52a9.png)


Hóa thành Bạch Độ Mẫu. 
Bạch Độ Mẫu thân màu trắng, một đầu hai tay, tay phải kết ấn ban nguyện, đặt trên đầu gối phải. Tay trái kết ấn cầm hoa, cầm hoa upala ba bông, một bông nụ, một bông hé nở, một bông nở xòe. 
Hai lòng bàn tay có hai con mắt, hai lòng bàn chân có hai con mắt, trên mặt có ba con mắt, tổng cộng là bảy con mắt nên gọi là Thất Nhãn Phật Mẫu.
Tướng mạo của ngài như thiếu nữ mười sáu tuổi xinh đẹp, tết tóc, một lọn tóc buông xõa.
Mặc thiên y váy lụa.
Vòng ngọc trang nghiêm.
Ngồi thế kim cương kiết già.
Lưng tựa vào bình phong mặt trăng.
Trên đỉnh đầu có Bát Nhã Phật Mẫu. (bản địa)

Sau đó quán tưởng: 
Bản thân hành giả nhận gia trì "Om Ah Hum" của Bạch Độ Mẫu trong hư không.
Om - ánh sáng trắng chiếu đến mi tâm của hành giả. 
Ah - ánh sáng đỏ chiếu đến họng của hành giả.
Hum - ánh sáng lam chiếu đến tim của hành giả. 
Trong sát-na, hành giả biến thành Bạch Độ Mẫu.
Bạch Độ Mẫu trong hư không, thiên nhãn ở mi tâm phóng ánh sáng trắng chiếu đến thiên nhãn của hành giả, sinh ra nhiệt, quang, hỏa.
(Giống như bảy quả cầu thủy tinh liên tục xuyên vào con mắt thứ ba của hành giả.)
Sau đó quán tưởng Bạch Độ Mẫu trong hư không và Bạch Độ Mẫu - hành giả hợp nhất, không hai không khác.

Tụng chú: "Ôm gu-ru-ya sô-ha." (tâm chú)
Chú thiên nhãn: "Ôm cha-chiu cha-chiu chia-na cha-chiu ye sô-ha."
(Mỗi chú tụng 108 biến.)

Tụng tán: 

Bạch Độ Mẫu bảy mắt phóng quang
Hành giả thành tựu mở thiên nhãn
Diệu quan sát trí đại trí huệ
Độ mình độ người đến bỉ ngạn.

Nhập định (Tam ma địa)

Lư Sư Tôn chú thích: 
Tu pháp này nhất định phải giữ giới thanh tịnh. Vọng tưởng, điên đảo, phiền não nhiều thì tu không tương ứng. 


### 37. Nhật ký Không hành mẫu (1)


Một ngày nọ.
Pháp thân của Lư Sư Tôn nói với tôi:
"Hãy dùng huệ nhãn của Lư Sư Tôn để nhìn, mọi thứ sẽ rõ ràng, minh bạch."
Sau đó,
Tôi thấy trong thân mình hiện lên một đóa sen trắng mười sáu cánh, rực rỡ chói lọi.
Sự thấy này là sự thấy của pháp thân Lư Sư Tôn hợp nhất với tôi.
Không phải dùng thị giác, mà là trực giác của huệ nhãn.
Thấy được chư Phật Bồ Tát.
Thấy được Pháp thân của Sư Tôn.
Đều dùng huệ nhãn để thấy.
Trong hoa sen trắng có ngọn lửa xanh lam thẳng đứng, ổn định bất động, cao ba đốt tay, rộng nửa đốt tay.
Sau đó, tôi không để ý đặc biệt đến nó nữa, sinh hoạt bình thường, thỉnh thoảng vô tình nhìn lại.
Vẫn thấy ngọn lửa xanh ở đó!

🌟

Một ngày nọ, tôi có một sự tỉnh ngộ, đây là một nhân duyên kỳ diệu.
Ngày hôm đó, chư Phật Bồ Tát khiến tôi nhìn vào tủ sách trong nhà, một cách kỳ lạ tôi đã đọc liên tiếp rất nhiều tác phẩm viết về tình cảm của Lư Sư Tôn.
Chẳng hạn như: "Nhật Ký Mộng Quê Hương", "Nói Chuyện Với Trăng" v.v.
Trước đây những bài viết này khiến tôi cảm xúc lẫn lộn.
Nhưng,
Điều kỳ lạ là, lần này tôi lại mỉm cười đọc hết từ đầu đến cuối.
Tôi không còn cảm xúc tiêu cực nữa, và trong lòng tràn đầy tình yêu thương.
Tôi cảm thấy đã yêu thương nhân vật nữ chính trong sách, trời ơi!
Sao lại thế này?
Muốn dỗ dành,
Muốn yêu thương.
(Thì ra là tôi đã dùng huệ nhãn của Lư Sư Tôn để nhìn.)

Trời ơi! Tôi thật sự cảm thấy lòng tràn ngập hạnh phúc.
Thì ra:
Lư Sư Tôn!
Bạch Không Hành Mẫu!
Thiên Nữ!
Tôi! Tất cả đều là người nhà!
Tất cả đều hòa làm một!

🌟

Gần đây tôi đang nghiêm túc chuẩn bị cho kỳ thi chứng chỉ tiếng Anh, áp lực hơi lớn.
Ngủ mơ cũng thấy mình luyện nói tiếng Anh.
Pháp thân của Lư Sư Tôn nói:
"Pháp thân không gì là không làm được!"
Thật vậy!
Tôi đang học thuộc từ vựng tiếng Anh.
Pháp thân sẽ giúp tôi học thuộc.
Ví dụ:
Construct là xây dựng.
Conduct là thiết lập.
Pháp thân nói:
"Em là wife của ta, ta là husband của em."

🌟

Pháp hội Chuẩn Đề Phật Mẫu, Phật Mẫu đã gia trì rất lớn cho tôi!
Hôm đó, Lư Sư Tôn mời Thượng sư Liên Hỷ nói ngôn ngữ của Không hành mẫu.
Tôi được quán đảnh Chuẩn Đề Phật Mẫu, trong sát-na, rất nhiều Không hành mẫu nhập vào thân tôi.
Từ giây phút đó!
Tôi cũng nói được ngôn ngữ của Không hành mẫu. (Nói một cách tự nhiên.)


### 38. Nhật ký Không hành mẫu (2)


Tôi luôn biết rằng, bên cạnh mình có Pháp thân của Lư Sư Tôn và nhiều vị Không hành mẫu.
Đến Seattle mới phát hiện, ở Seattle còn có vô số Không hành mẫu khắp trời.
Tôi luôn cung kính các Ngài, trong ba bữa ăn, khi tu pháp, khi hẹn gặp, đều cúng dường:
Bốn thủ phương mẫu.
Tám phương Không hành mẫu.
Mười hai thiên thiên nữ.
Mười vạn Không hành mẫu.

Tôi dùng ngôn ngữ của Không hành mẫu nói với các Ngài:
"Con xin cúng dường thân khẩu ý của con, xin hãy hộ trì con, để con được như các Ngài, cùng nhau cúng dường đấng chúa tể của chúng ta, hộ trì Lư Sư Tôn."
Sau khi được quán đảnh trong pháp hội Chuẩn Đề Phật Mẫu, các Ngài không còn ở trong hư không nữa, mà đã nhập vào thân tôi. Âm thanh không phải từ bên ngoài truyền vào, mà phát ra từ tự tâm.
Không còn phân biệt trong ngoài nữa.

Tôi phát hiện từ da, tứ chi, thân thể, trong thân có từng cung điện "Việt Lượng Cung" nối tiếp nhau, mỗi cung điện có rất nhiều Không hành mẫu cư ngụ.
Pháp thân của Lư Sư Tôn nói:
"Em là Không Hành Tổng Trì!"
Khi tôi cô đơn, các Ngài an ủi tôi, nói rằng tôi có các Ngài bên cạnh, còn có Pháp thân của Lư Sư Tôn đồng hành.
Các Ngài vui đùa trong hư không:
Thiên nữ múa.
Biến mây thành phượng hoàng.
Rải cam lộ.
Hóa thành cầu vồng.
Có khi líu lo ríu rít, hóa thành đàn chim.
.............

Các vị Không hành mẫu thích đồ ngọt, phô mai, bánh mochi, trà sữa và nhiều thứ khác.
Các Ngài đàn hát múa ca để cúng dường Lư Sư Tôn và Pháp thân.
Có những điều tôi không thể hiểu được.
Pháp thân của Lư Sư Tôn nói:
"Dần dần em sẽ hiểu thôi, Không hành mẫu là đạo bạn của em, Pháp thân Lư là husband của em."

🌟

Một ngày nọ.
Gần nhà tôi có mưa nhỏ.
(Đó không phải mưa nhỏ, mà là cam lộ do Không hành mẫu rải xuống.)
Mưa như những cánh hoa.
Từng đóa hoa một.
Đi đón nhận mưa hoa.
Sau đó trên bầu trời nhà tôi xuất hiện ánh cầu vồng của mặt trời, ngay phía trên nhà tôi (ngay trên đỉnh).
Trên cầu vồng, có rất nhiều chư Phật Bồ Tát trong cầu vồng, thấy được điềm lành, thật vui mừng!

Pháp thân của Lư Sư Tôn nói:
"Phật tính là mặt trời, Không hành mẫu là cầu vồng, em hãy hòa cùng ta thành một cầu vồng."
Tôi nói:
Mặt trời lên trăng lặn
Vốn vô thủy vô chung
Cảnh xuân tưởng hiện hữu
Sấm xuân cứ chần chừ

Lư Sư Tôn và tôi
Những cảnh tượng trong mộng
Ôm trăng sáng vào lòng
Chiếu rạng má hồng tôi.

Em luôn ghi nhớ: "Hãy giữ ánh sáng trong tâm. Thầy nói vậy!"


### 39. Nhật ký Không hành mẫu (3)


Lư Sư Tôn làm chủ đàn pháp hội Ái Nhiễm Minh Vương. Pháp hội này được tổ chức trong hư không.
Pháp hội kết thúc.
Mời tất cả các vị Không hành mẫu phát nguyện.
Trong tâm tôi thầm nguyện:
"Nguyện chúng sinh thân thể khỏe mạnh, nguyện chúng sinh tư lương đầy đủ, nguyện chúng sinh kính ái viên mãn, nguyện chúng sinh tu hành thành tựu."
Lư Sư Tôn nói:
"Vị Không hành mẫu này tuy chưa nói ra, nhưng âm thanh của cô ấy lớn nhất, lời nguyện sẽ thành hiện thực."
Tôi chắp tay cảm tạ.
(Lư Sư Tôn chú thích: Chỉ vì chúng sinh, không vì bản thân, nguyện này là số một.)

Còn nữa:
Sau đó Lư Sư Tôn đi ngang qua trước mặt tôi, tôi chắp tay giữa các vị Không hành.
Thầm nói với Lư Sư Tôn:
"Kính chào Lư Sư Tôn! Nhớ Thầy! Yêu Thầy!"
Lư Sư Tôn dừng bước.
Nhìn tôi.
Nói:
"Sau này, em sẽ đến cõi bí mật (Phật quốc) của ta."

🌟

Tôi cầu xin Lư Sư Tôn ban cho quán đảnh bí mật truyền thừa.
Sau khi được quán đảnh.
Tôi thấy mình biến đổi:
Thân không mảnh vải.
Toàn thân trắng tinh như sữa.
Đầu đeo trang sức xương người.
Gương mặt mười sáu tuổi, đẹp tuyệt trần.
Tay đeo vòng.
Chân đeo lắc chân.
Đường cong uyển chuyển.
Thân có dải lụa bay.
Tay cầm trống lục lạc.
Hoàn toàn hóa thành Không hành mẫu.

Lư Sư Tôn đặc biệt xoa đầu gia trì cho tôi rất lâu, tôi biết mình thực sự là:
Không hành mẫu.
Tôi tự nhiên nhảy múa điệu Không hành mẫu.
Thật vui sướng!
Thật hạnh phúc!
Lư Sư Tôn nói:
"Tương lai em sẽ độ hóa rất nhiều chúng sinh!"
Tôi nói:
"Em sẽ làm được."
Lư Sư Tôn nói:
"Chúng sinh khổ nạn nhiều lắm!"
Tôi nói:
"Em nguyện đảm đương sự nghiệp Như Lai!"

🌟

Bổn tôn hiện thân bảo tôi:
"Trong cõi Ta Bà huyễn hóa này, Lư Sư Tôn đã hiến dâng trọn đời mình, Ngài đã soi sáng vô số chúng sinh."
Đại lạc của Ngài là một sự thị hiện.
Thân tâm vô lậu là một pháp tu.
Bệnh khổ của Ngài là sự giáo hóa.
Ngài là vị Duy Ma Cật Đại Sĩ thứ hai.
Bổn tôn lại nói:
"Ngài cao quý thiêng liêng, dùng pháp phương tiện độ hóa chúng sinh, siêu phàm nhập thánh đem trí tuệ quang minh của vũ trụ, rải cam lộ khắp nơi, để chúng sinh hữu duyên nhập Phật trí, không phân biệt ta người, Ngài có thề nguyện vượt thời không. Tất cả Không hành nên hộ trì!"


### 40. Quy y và cảm ứng


Đệ tử Liên Hoa Kính Dật hy vọng được chia sẻ với Sư Tôn về hành trình tu tập của con, đồng thời cầu xin được Sư Tôn gia trì và chỉ dạy.

Đệ tử thông qua sư tỉ trong nhà trên Facebook năm nay (2023) đã được biết đến sư phụ Quý Khiêm và sư phụ Đại Hồ, các vị đều là đệ tử quy y Sư Tôn và đang giúp đỡ những người có duyên ở Singapore. Từ đó chúng con dần dần tìm hiểu và biết đến Chân Phật Tông và Lôi Tạng Tự.

Tại đại sảnh của Singapore Lôi Tạng Tự, chúng con nhìn thấy một tượng Phật A Di Đà rất trang nghiêm, với kim thân cao lớn và gương mặt từ bi. Phía trước tượng Phật A Di Đà có một tượng kim thân Đại Lực Kim Cang. Chúng con trò chuyện một lúc với các sư huynh sư tỉ ở đó, và cũng tham quan phòng đồng tu ở tầng hai, tìm hiểu về Chân Phật Tông và Sư Tôn. Đúng lúc đó là 11 giờ sáng chủ nhật, tương đương với 8 giờ tối thứ bảy ở Seattle. Trên màn hình xuất hiện hình ảnh từ Seattle Lôi Tạng Tự, các sư huynh sư tỉ đều xúc động quay người về phía màn hình. Thì ra đó là buổi trực tiếp đồng tu từ Seattle Lôi Tạng Tự. Lúc đó chúng con cũng lần đầu tiên được nhìn thấy Sư Tôn bước ra từ Mật Uyển, đi về phía chính điện. Chúng con tò mò ở lại đó để theo dõi buổi đồng tu đầu tiên của mình.

Chúng con ở lại cho đến khi buổi đồng tu kết thúc mới về nhà. Sau khi về nhà, chúng con đã hoàn toàn thay đổi cách nhìn về Mật giáo, Chân Phật Tông và Lôi Tạng Tự, đồng thời cảm thấy vô cùng bị thu hút và cảm động. Hóa ra Liên Sinh Hoạt Phật của Chân Phật Tông là có thật, Ngài rất trang nghiêm, thân thiện dễ gần, và còn biết kể chuyện vui nữa! Hoàn toàn không phải như tưởng tượng là một người khó gần và cao ngạo.

Sau đó vào tháng 7 âm lịch, con và sư tỉ trong nhà đã tham dự đại pháp hội Hộ Ma Nam Mô Liên Hoa Đồng Tử do Singapore Lôi Tạng Tự tổ chức và đại pháp hội Du già diễm khẩu Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát siêu độ tiêu tai cầu phúc do Singapore Lôi Tạng Tự tổ chức. Trong pháp hội Địa Tạng Vương Bồ Tát, con và sư tỉ trong nhà được nghe từ một sư tỉ khác về đại pháp hội A Di Đà Phật siêu độ tiêu tai mùa thu năm Quý Mão do Seattle Lôi Tạng Tự tổ chức và pháp hội Hộ Ma Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang do Cầu Vồng Lôi Tạng Tự tổ chức, còn có pháp hội lần đầu truyền pháp Thánh Quán Âm Đệ Nhất Phú Hào, rất nhiều sư huynh sư tỉ đều rất muốn đi.

Con đã xin công ty thay đổi ngày nghỉ phép và dẫn con trai út cùng đi tham dự pháp hội. Cảm ơn Sư Tôn gia trì, để con trai có thể mua được tấm vé cuối cùng đi cùng con.

Trên chuyến bay đến Seattle, thật trùng hợp được quen biết sư tỉ Liên Hoa Dịch Tâm và sư huynh của cô ấy. Chúng con làm việc cùng một công ty, trước đây không quen biết, nhưng lại đi cùng một ngày, lên cùng một chuyến bay, đến cùng một điểm đến, tham dự cùng một pháp hội. Sư tỉ Dịch Tâm đã giải thích và chỉ dạy cho con rất nhiều điều trên đường đi, cảm ơn Sư Tôn đã sắp xếp để cô ấy làm người dẫn dắt cho con.

Sau khi trở về từ pháp hội mùa thu, con và sư tỉ trong nhà thường xuyên tham gia các hoạt động ở Singapore Lôi Tạng Tự, đồng thời hiểu rõ hơn về Chân Phật Tông. Con cũng bắt đầu tu tập Tứ gia hành. Một lần khi đi công tác ở Melbourne, Úc, con đã hẹn gặp pháp sư Thích Liên Vi, sư tỉ Krystal và mẹ của cô ấy mà con đã quen biết ở Seattle Lôi Tạng Tự, cùng đến thăm Nghiêm Minh Lôi Tạng Tự ở đó.

Mỗi khi con tu tập Tứ gia hành, khi làm Cửu tiết Phật phong nhập Tam ma địa, đều có cảm ứng linh động. Con có thể cảm nhận được đầu được nâng lên và các cơ ở cổ được kéo giãn. Ban đầu rất ngạc nhiên, vì cổ và cơ cổ của con bị thương từ thời đi nghĩa vụ quân sự, từ năm 2001 cứ bị đau nhức từng đợt, cột sống cổ còn bị lệch nhẹ. Khi được Sư Tôn phát công trị liệu 5 phút trong pháp hội mùa thu, con đã xoa cổ mình, hy vọng được chuyển biến tốt. Không ngờ bây giờ mỗi lần tu Tứ gia hành nhập Tam ma địa đều được cảm ứng kéo giãn ở cổ. Hiện tại cơn đau cổ của con từ khi trở về sau pháp hội mùa thu đã không tái phát nữa. Con vô cùng cảm tạ đại lực gia trì của Sư Tôn.

Ngày mùng 8 tháng 11, con và sư tỉ trong nhà đã tham dự pháp hội Hộ Ma Diêu Trì Kim Mẫu do Singapore Lôi Tạng Tự tổ chức, hồi hướng cầu nguyện Sư Phật khỏe mạnh bình an, trường thọ trụ thế. Pháp hội Hộ Ma này do Thượng sư Thích Liên Duyệt chủ trì. Khi con nhìn vào lửa Hộ Ma để quán tưởng và nhập định, con có thể cảm nhận được một luồng khí rung động ở đan điền. Sau đó luồng khí đó từ đan điền đi lên đến luân xa tim, nhưng bị tắc nghẽn ở đó và như đang cố phá vỡ một rào cản nào đó. Khoảng vài phút sau, con cảm thấy luồng khí đó đã phá vỡ được luân xa tim và tiếp tục đi lên, vượt qua luân xa họng lên đến đỉnh đầu, khiến đầu con căng tức. Một lúc sau, luồng khí đó di chuyển xuống dưới, rồi như gặp phải một luồng khí khác, hai luồng khí cứ thế đối chọi nhau ở vị trí luân xa tim. Cảm giác đó kéo dài cho đến khi nghi thức Hộ Ma kết thúc mới dừng lại.

Sau buổi Hộ Ma đó, mỗi khi ở nhà theo dõi đồng tu trực tuyến, khi trì tụng tâm chú Diêu Trì Kim Mẫu, luồng khí đó lại bắt đầu vận hành. Vẫn cùng một lộ trình, chỉ là dường như rào cản ở luân xa tim không còn bị tắc nghẽn nhiều như trước, dễ dàng vượt qua hơn để đến được luân xa họng và đỉnh đầu.

Cuối cùng cả gia đình quyết định quy y, đến Seattle. Vô cùng cảm tạ ân sư gia trì, chuyến bay rất thuận lợi đến Seattle, gia đình chúng con cũng rất may mắn được Sư Tôn đích thân quán đảnh sau buổi đồng tu ngày 25 tháng 11, trở thành một gia đình Phật tử Chân Phật Tông. Ngày hôm sau chúng con cũng tham dự pháp hội Hộ Ma Trừ Cái Chướng Bồ Tát ngày 26 tháng 11, được Sư Tôn gia trì và quán đảnh.

Chúng con đã sắp xếp thời gian với Thượng sư Thích Liên Kỳ để được hỏi việc, hy vọng có thể nhận được sự gia trì và chỉ dạy từ Sư Tôn. (lược bỏ đoạn sau)

Con xin cảm tạ Sư Phật!
Đệ tử Liên Hoa Kính Dật đảnh lễ.


### 41. Tâm đắc của Liên Hoa Kính An


Kính gửi Sư Tôn Liên Sinh Phật soi xét.
Sư Phật cát tường!

Con Kính An xin cảm tạ ân sư đã hồi đáp văn trình của con trong cuốn sách "Thần Thông Đại Sư Duy Ma Cật", và con đã nhận được câu trả lời từ Đại Sĩ Duy Ma Cật: "Tu hành vô tác là không đoạn phiền não, cũng chẳng phải không đoạn; không tu đạo, cũng chẳng phải không tu đạo, cần phải tư duy kĩ điều này." Khi đọc và suy ngẫm ý nghĩa sâu xa, như một tiếng hét tỉnh thức, con chợt tỏ ngộ. Con xin cảm tạ lòng từ bi chỉ dạy của Sư Phật và Đại Sĩ Duy Ma Cật.

Gần đây đệ tử đang chuyên tâm biên soạn các bài giảng cho trường đại học trực tuyến. Mặc dù học vấn nông cạn, tài năng hạn hẹp, nhưng con chỉ biết nỗ lực hết sức. Con tha thiết cầu xin Sư Phật từ bi gia trì mạnh mẽ, để đệ tử có thể hoàn thành viên mãn lời dặn dò của Sư Phật trong giấc mơ.

Vì lý do trên mà sau khi hoàn thành công khóa gia hành hàng ngày, đệ tử không còn thời gian để tĩnh tọa quán chiếu nữa. Một ngày nọ, trong lúc quán tưởng truyền thừa gia trì trong phần tiền hành của Tứ gia hành, con thấy Pháp thân trang nghiêm của Sư Phật hiển hiện trong hư không như thật, "ý sinh thân" của con tự nhiên hướng về phía Sư Phật. Trong khoảnh khắc đó chợt ngoái đầu lại, lại thấy một "đệ tử" vẫn đang quỳ trước đàn thành, toàn thân được bao quanh bởi hào quang trắng tinh khiết, trong chớp mắt trực giác mách bảo con rằng, đây chính là Tịnh Quang Bí Mật Phật (không phải "ngã tướng" là Phật, mà là hiển hiện chân tính vốn có của con và chúng sinh), giây phút ấy cảm giác thật tốt đẹp, tâm cảnh tĩnh lặng và an hòa.

Sau sự việc này, khiến đệ tử nhớ lại lời Sư Phật từng dạy, tịnh quang của Tịnh Quang Bí Mật Phật chính là đại diện cho Phật tính vốn thanh tịnh của chúng sinh. Cũng khiến đệ tử nhớ đến một lời dạy khác của Sư Phật: "Tất cả Phật pháp đều là phương tiện thiện xảo, sự quy y quan trọng nhất chính là quy y tự tính."

Hay có lẽ như thế này, trong Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, vị được quy y đầu tiên chính là Tịnh Quang Bí Mật Phật (sau khi phá vỡ vô minh, lấy quy y tự tính làm bậc nhất); lúc mê thì thầy độ (ngoại quy y), sau khi ngộ thì tự độ (nội quy y), chính mình là Phật (mật quy y), vốn dĩ đây chính là giáo pháp vô thượng của Mật giáo.

Tịnh Quang Bí Mật Phật vốn là biểu tượng cho bản tính chân như của chúng ta (nguồn gốc Phật tính ban sơ của chúng sinh), chỉ vì bị vô minh che lấp, tam độc bùng cháy mà tịnh quang không hiển lộ, hay có thể nói rằng, tịnh quang vẫn còn đó nhưng chúng sinh không thấy được. Tịnh Quang Bí Mật Phật đã nói lên điều bí mật mà Phật Đà đã thấy "chúng sinh đều có trí tuệ đức tướng của Như Lai" (khổ công tìm kiếm Bổn tôn bên ngoài, nào hay "cái gốc" đã ở ngay chính mình). Danh hiệu Tịnh Quang Bí Mật Phật đã diễn giải đạo lý không phải bí mật, nhưng cũng là bí mật... Kính An cúi đầu thưa hỏi Sư Phật, sự hiểu biết và cách diễn đạt trên có đúng không ạ? Đây thuần túy là sự suy ngẫm của đệ tử trước cảnh, tuy không trở ngại việc tu thân học Phật của con, nhưng vẫn kính xin Sư Phật chỉ dạy và sửa đổi.

Trong thời gian này, đệ tử chuyên tâm biên soạn tài liệu giảng dạy, nghiên cứu và phân tích giáo lý trong kinh điển Phật giáo, và tổng hợp giáo pháp của Sư Phật để áp dụng vào bài giảng. Tuy nhiên, trong lòng lại lo sợ việc này sẽ ảnh hưởng đến thời gian thiền định hàng ngày. Lần tu pháp này được thấy ánh sáng thanh tịnh khai thị, trong lòng tự biết không phải do năng lực của mình, mà là nhờ lòng từ bi thương xót của Sư Phật và chư Phật Bồ Tát, thị hiện cảnh giới để giải tỏa nghi hoặc cho con. Hơn nữa, điều này cũng giúp con thực sự thấu hiểu: thiền định không giới hạn ở hình thức tọa thiền nhập định, thường ngày chuyên chú, không có ra vào, cũng là thiền định, như Đại Sĩ Duy Ma Cật đã dạy: "Không tu đạo, cũng chẳng phải không tu đạo".

Trong quá trình biên soạn tài liệu giảng dạy cho trường đại học trực tuyến, đệ tử đã được làm quen với đồng môn từ khắp nơi trên thế giới. Họ đều mang theo câu chuyện riêng của mình đến để hộ trì và âm thầm cống hiến cho sự nghiệp giáo dục của tông phái. Trong thời gian tiếp xúc, con vô cùng ngưỡng mộ sự kiên trì của họ - các nhân viên hoằng pháp và giáo sư dành thời gian giữa bộn bề công việc để duyệt bài, đồng môn tận dụng thời gian rảnh ít ỏi để biên tập, thậm chí có người tranh thủ viết bài trên điện thoại khi đi phương tiện công cộng, thật sự khiến người ta xúc động. Vì vậy, đệ tử có một lời thỉnh cầu, kính mong Sư Phật ban cho họ đại lực gia trì và ban phúc, để họ có thể giữ vững tấm lòng thuần phác ban đầu, để giáo pháp Chân Phật Mật Pháp tiếp tục bay cao, như cam lộ thấm nhuần chúng sinh khắp thiên hạ! Con xin cảm tạ Sư Phật!

Kính thư!
Kính chúc Phật an!
Ngu đệ tử Liên Hoa Kính An chắp tay tạ ơn.

🌟

Tôi viết một bài thơ, tặng Liên Hoa Kính An:

Tịnh Quang Bí Mật Phật
Vốn dĩ là bạn, tôi
Nhớ đến
Cần quy y
Vẫn là nguồn cội của chính mình
Từng là đồng tử nơi điện vàng
Xuống cõi Ta Bà chơi thuyền rồng
Một đi cách nghìn thu
Giờ đây
Đã tỏ tường
Nước vẫn chảy về Đông.


### 42. Phỏng vấn Tân Xuân năm Rồng


Thời gian: Cuối năm 2023.
Địa điểm: Seattle Lôi Tạng Tự.
Nhân vật:
Người dẫn chương trình: Bội Bội, Lạc Lạc.
Người được phỏng vấn: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Phát sóng: Đài truyền hình.
Nội dung:
1. Phỏng vấn Tân Xuân với Liên Sinh Hoạt Phật.
2. Liên Sinh Hoạt Phật viết câu đối.
3. Liên Sinh Hoạt Phật chúc Tết mọi người.
4. Liên Sinh Hoạt Phật phát lì xì cho mọi người.

Câu đối:
Rồng bay đại địa xuân.
Phúc khí ào ào đến.

Câu hỏi phỏng vấn:

1. Nhân dịp Tết Giáp Thìn 2024, xin Sư Phật ban lời chúc phúc năm mới đến đại chúng trong và ngoài nước.

Tôi nói:
Thiên long trên trời, địa long dưới ruộng, nhân long hưng vượng.
Kính chúc cát tường như ý, vận may rồng rồng đến.

2. Mỗi năm vào dịp Tết, Sư Phật đều dạy mọi người pháp cầu tài khai vận bằng vật cát tường đơn giản và thực dụng. Năm nay nên đón Thần Tài như thế nào?

Tôi nói:
Ngũ hành nạp âm là Hỏa, Thần Tài ở phương Đông.
Vật cát tường đón Thần Tài:
Bình tụ tài bằng gốm màu đỏ có hình rồng cuộn, bên trong đặt bảy viên thủy tinh màu đỏ. (Trên viên thủy tinh có chữ Phạn "Jam".)

Thời gian đón Thần Tài:
Mùng hai, mười sáu. Hoặc vào ngày trực Mãn. (từ 9 giờ đến 11 giờ sáng)

Phương pháp:
Hai tay nâng vật cát tường, từ cửa nhà bước ra, đi tám bước về hướng Đông.
Niệm: "Mời Thần Tài đến nhà tôi" ba lần.
Sau đó quay về, về nhà thờ cúng ở vị trí kho tài là được.

Ghi chú:
Vật cát tường năm Mão có thể làm sạch và dùng để trang trí.
Hoặc:
Chôn xuống đất, hoặc thả vào dòng nước chảy.
Lưu ý: Cúng tiễn Thần Tài về vị trí.
Vị trí kho tài là bên trái hoặc bên phải phòng khách khi bước vào cửa, cũng có thể cúng ở bàn thờ. (Vị trí kho tài cần tránh gió tụ khí.)
Nếu còn chưa rõ, xin hãy hỏi thầy phong thủy.

3. Pháp khai vận năm nay là gì?

Tôi nói:
Bố thí nhiều, làm việc thiện.
Mặc quần áo màu đỏ, cả trong lẫn ngoài.
Trồng hoa đỏ trong chậu.
Rèm cửa màu đỏ.
In sách thiện tặng người.
Lái xe màu đỏ. (Ăn thanh long để sinh rồng trai rồng gái.)

4. Chữ đại diện cho năm Rồng là gì?

Tôi nói:
Chữ "Tiêu".
Chữ "Tiêu", tôi sẽ giải thích, ý nghĩa đã ẩn chứa trong đó.

5. Làm sao để tránh xui xẻo trong năm Rồng?

Chính xung: Thìn, Tuất. Thiên xung: Sửu, Mùi.
Cần chú ý đề phòng hỏa hoạn, thiên tai, địa chấn, lũ lụt, bão tố và mọi tai nạn bất ngờ.

6. Làm thế nào để bảo vệ Trái đất?

Tôi nói: Bảo vệ môi trường là ưu tiên hàng đầu. (Nội dung sẽ được giải thích chi tiết.)

7. Tinh thần sáng tác của Sư Phật là gì?

Tôi nói:
Mỗi ngày một bài văn.
Chỉ đơn giản là kiên trì không ngừng. (Viết văn, tu pháp, thuyết pháp, vẽ tranh, đều như vậy cả.)


### 43. Tạo hóa trong ánh sáng cầu vồng


Kính gửi: Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Thánh Tôn Hoạt Phật tôn quý.

Sư Phật Phật an. Ngu đệ tử Liên Hoa Quang An (Hồng Liên) cùng em gái ruột Liên Hoa Bảo Diệp (Tử Loan Thiên Nữ) xin mượn email này, đảnh lễ kính bạch Căn bản Truyền thừa Thượng sư tôn quý, cầu chúc Thánh Tôn Phật thể an khang, trường thọ tự tại, trường trụ thế gian, và nguyện Sư Phật tiếp tục thuyết pháp độ chúng, lợi lạc trời người.

Đệ tử viết thư này là vâng theo sắc lệnh của Kim Mẫu và lời dặn dò của Liên Sư, cần phải như thật bạch báo lên Sư Tôn về tất cả những gì đệ tử và em gái ruột đã trải qua trong hai năm qua. Thông qua pháp sư, con hy vọng có thể gửi bức thư này đến Sư Phật. Mong rằng nếu mọi việc thuận lợi, năm sau vào tháng 3-4, ngu đệ tử sẽ cùng em gái ruột đáp máy bay đến Seattle hành hương. Điều quan trọng nhất là sau khi được gặp Sư Tôn, theo ý chỉ của Kim Mẫu, xin Ngài ban cho đệ tử và em gái được ấn chứng, và được nhận tổ quy tông.

Ngu đệ tử là một hiệu trưởng đã về hưu từ bang Kedah, Malaysia. Trước khi cống hiến cho sự nghiệp giáo dục, con từng giữ chức thanh tra các trường Hoa ngữ trong bang, quản lý tất cả các trường Hoa ngữ trong toàn bang. Sau đó, con quay trở lại trường học, đảm nhận vị trí hiệu trưởng cho đến khi về hưu vào ngày 9 tháng 2 năm 2020. Trong thời gian làm hiệu trưởng, từ năm 2012 đến 2017, con đã nhiều lần đến Đài Loan Lôi Tạng Tự để tham dự các pháp hội vạn người, cảm nhận được pháp vị và gia trì, thu được nhiều lợi ích.

Lần này viết thư này là vì mẹ đệ tử, Mã Loan Kiều, đã cao tuổi 89, vốn khỏe mạnh, nhưng vào giữa tháng 5 năm ngoái, bà bất ngờ bị ngã ở nhà và gãy chân phải. Khi vào viện điều trị, đúng lúc ấy tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, Sư Phật đang làm Hộ Ma Đại Tùy Cầu Bồ Tát, nên con đã cầu phúc cho mẹ, mong ca phẫu thuật được thuận lợi. Ngày hôm đó, sau khi ngu đệ tử đồng tu với Sư Phật qua mạng, tối trước khi ngủ, trong lúc mơ màng, dường như nghe Bồ Tát báo rằng, đã là con cầu xin, thì để cho mẹ ở lại thế gian thêm hai năm. Sau đó, con còn nghe hai vị quan sai đang đối thoại, nói rằng mẹ con đã hết dương thọ, đáng lẽ theo phép phải đi, nhưng nay có Bồ Tát gia trì, phải làm sao đây, rồi nghe Bồ Tát nói không sao, Ngài sẽ thông báo cho Đông Nhạc Đại Đế.

Ngày hôm sau, đệ tử vốn định chia sẻ những điều trong giấc mơ này với em gái, vì trong thời gian mẹ điều trị ở bệnh viện, chỉ có hai chị em chúng con luôn tất bật chăm sóc. Nào ngờ, vừa định chia sẻ thông tin này, má bên trái bỗng nóng rát, như thể bị tát một cái. Lúc đó, đệ tử chợt tỉnh ngộ ra rằng, đây là thiên cơ, không được tiết lộ, nên đành nói với em gái rằng có những điều tạm thời chưa thể nói.

Sau đó, nhờ ơn gia trì của Sư Phật và Đại Tùy Cầu Bồ Tát, ca phẫu thuật của mẹ đã thành công, bệnh tình dần khỏi. Con cũng nhân dịp này gửi thư đến Seattle xin quy y cho mẹ. Khi bệnh tình của mẹ bắt đầu thuyên giảm, em gái con lại bị cảm lạnh, nên con đã gửi thư đến Cầu Vồng Lôi Tạng Tự đăng ký tham dự pháp hội Hộ Ma cho em. Một ngày nọ, em kể với con rằng gần đây thường mơ thấy một vị Phật đội mũ Ngũ Phật, còn dạy em chú ngữ và thủ ấn. Em gái con vốn sống ở Úc, không phải đệ tử Chân Phật Tông, lần này lại có tình huống như vậy. Có lẽ là có duyên với Sư Phật rồi. Ngày hôm đó, ngu đệ tử gửi cho em xem hình ảnh chư tôn trên bàn thờ nhà mình, bỗng nhiên Diêu Trì Kim Mẫu ở vị trí chính giữa phóng ra một đạo hào quang vàng, nhập vào thân em gái.

Lúc đó, em gái như được khai thiên nhãn, khóc không ngừng, nói rằng cô ấy là Thiên Nữ thứ năm của Kim Mẫu, đã luân hồi nhiều kiếp ở hạ giới, Kim Mẫu vẫn luôn tìm kiếm. Lần này nhờ ngu đệ tử đăng ký cho em tham gia pháp hội mà tìm được. Sau khi kể xong về sự tạo hóa của em gái, giờ đến lượt những trải nghiệm gần đây của ngu đệ tử.

Ngu đệ tử sinh vào lúc 10 giờ sáng ngày 9 tháng 2 năm 1960. Sau khi em gái khai thiên nhãn, liên tiếp mơ thấy Sư Tôn và Kim Mẫu không ngừng gia trì. Một ngày nọ, sau khi nhìn đệ tử, em gái đột nhiên nói một cách kỳ lạ rằng, một vị Đại Phật trong đàn thành của con đã cho em biết nguồn gốc của con là từ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Em không biết Liên Sư là ai, còn con thì giật mình, vội vàng đưa cho em xem ảnh của Liên Sư, hỏi có phải người này không. Em xác nhận đúng là vậy, lúc này đến lượt con bỗng nhiên nước mắt tuôn trào không ngừng. Từ đó về sau, khi tu pháp, con bắt đầu có thể cảm nhận được pháp vị, như khi tụng Cao Vương Kinh và chú vãng sinh, tâm thần đột nhiên nhập vào cảnh giới bên trong, rồi nước mắt tuôn trào, khóc không ngừng, đồng thời như Sư Tôn đã nói, thông một pháp thì vạn pháp thông, chính là tình huống như vậy. Khi tu pháp của Liên Sư và pháp Thiên Thủ Quan Âm, pháp lưu của Thiên Thủ Quan Âm truyền xuống, cho ngu đệ tử biết rằng qua nhiều đời kiếp đều xuất gia ở chùa Samye ở Tây Tạng, đời này tuy có gia đình nhưng không con cái, là để đệ tử an tâm tu hành, để có thể trở về nguồn cội. Khi tu pháp của Liên Sư, đệ tử cũng không biết vì sao lại khóc không ngừng, chỉ cảm nhận được pháp lưu của Liên Sư liên tục tuôn xuống, cho biết con thực sự đến từ cõi tịnh độ Orgyen, là đóa sen đỏ lớn thứ hai dưới tòa của Ngài, bản thân vốn có cung điện ở Liên Hoa Việt Lượng Cung. Ngày xưa chỉ vì phạm thiên quy nên bị bắt đi luân hồi, đời này có duyên gặp được Sư Tôn, học được Chân Phật Mật Pháp, phải tu hành thật tốt thì tương lai mới có thể trở về nguồn cội.

Ngu đệ tử vẫn còn nhớ cuối năm ngoái, khi Sư Tôn tổ chức pháp hội đại pháp hóa cầu vồng của Liên Sư tại Đài Loan, tuy đệ tử không thể đích thân đến Đài Loan, nhưng khi tham gia pháp hội qua mạng, năm dải cầu vồng luôn vây quanh bên cạnh đệ tử, cảm giác rất quen thuộc, như thể đã từng học pháp này qua nhiều kiếp. Sư Tôn chủ trì pháp hội trên đài cao, vạn người tham dự, còn đệ tử bên này thì cứ khóc không ngừng.

Sau đó, ngu đệ tử nhận được chỉ dẫn từ Kim Mẫu rằng mùa xuân năm sau cần phải đến Tây Tạng một chuyến, đặc biệt là đến chùa Nyetang, chùa Drepung và chùa Samye, nơi đó sẽ có cơ duyên của con. Sau đó, đệ tử và vợ bắt đầu tìm công ty du lịch để thu xếp chuyến đi Tây Tạng. Vào thời điểm tháng 2-3, Trung Quốc vẫn chưa mở cửa hoàn toàn, chỉ cấp visa cho mục đích thương mại, thăm thân và du học. Đệ tử đã nộp đơn hai lần đều bị từ chối với lý do chưa mở cửa du lịch. Sau đó, con nhờ em gái cầu xin Kim Mẫu chỉ dạy phải xử lý việc này thế nào. Kim Mẫu cho biết có thể cầu xin sự giúp đỡ từ Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên mà con đang thờ phụng, tự khắc sẽ có quý nhân phù trợ. Sau khi con làm theo, quả nhiên gặp được chủ tịch hội đồng quản trị trường con, ông ấy đã liên hệ với một thương hội ở Quảng Châu để xin được một thư mời khảo sát kinh doanh tại Trung Quốc, nhờ đó mới được cấp visa. Công ty du lịch đã dùng visa công tác này để xin được giấy phép vào đất Tạng cho con, và thế là, theo sự sắp xếp của công ty du lịch, vợ chồng con đã bắt đầu chuyến hành hương Tây Tạng như vậy.

Chuyến hành hương Tây Tạng này chỉ có đệ tử và vợ, một hướng dẫn viên và một tài xế. Khi chúng con đến Tây Tạng, chúng con là những du khách nước ngoài duy nhất, nếu không nhờ lòng từ bi của Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên giúp đỡ, thật sự không thể đến được Tây Tạng.

Trước khi đến Tây Tạng, Kim Mẫu đã thông báo rằng Ngài đã ban ba đạo luật lệnh đến ba ngôi chùa lớn, đó là chùa Nyetang, chùa Drepung và chùa Samye. Ngài cho biết phải đến ba ngôi chùa này vì có những đại đạo và cơ duyên. Khi vừa đến chùa Nyetang, vừa thấy Lục Độ Mẫu chính tôn, con đã không kìm được, quỳ xuống trước Ngài và khóc không ngừng, cảm giác như gặp lại người thân trong gia đình. Sau đó, khi đảnh lễ Hộ pháp Kim Cang Thủ Bồ Tát và Hộ pháp Mã Đầu Minh Vương tại chùa Drepung, con cảm nhận được sức mạnh tâm linh do hai vị Hộ pháp ban cho, còn được vị đại Lama trông coi chùa tặng khăn khata màu đỏ và xanh, trong cõi u minh tương ứng với sắc quang của hai vị Hộ pháp.

Điều kỳ diệu nhất là khi đến chùa Samye, con cảm thấy như đã trở về nhà, cảm giác đó thật huyền diệu. Khi con lấy tiền ra nói với vị đại Lama phụ trách rằng muốn sơn kim thân và may y phục cho Liên Sư, con cảm nhận được dường như Liên Sư đã ban cho năm màu linh lực. Sau khi lễ bái xong, bước ra khỏi điện, bỗng nhiên giữa bầu trời xanh thẳm vang lên một tiếng sấm, trong đó dường như nghe thấy Liên Sư nói: "Hồng Liên, con đúng là đóa sen đỏ thứ hai dưới tòa của ta ở cõi tịnh độ Orgyen, tại Liên Hoa Việt Lượng Cung, cung điện thứ hai chính là nguồn cội của con. Nay con đã không quản đường xa đến đây để tái tạo kim thân cho ta, những thiên quy con đã phạm trước đây, từ nay xóa sạch. Về sau hãy chuyên tâm tu trì mật pháp của Lư Sư Tôn, để chờ ngày trở về nguồn cội."

Con còn mua được một chuỗi tràng hạt bồ đề mắt phượng cổ tại cửa hàng bên cạnh chùa Samye. Vị Lama ấy nói, chuỗi tràng hạt này nửa bán nửa tặng để kết duyên với con, và còn nói một câu ý nghĩa sâu xa rằng, đây vốn là của con, đã cất giữ nhiều năm rồi, chỉ đợi con đến lấy. Sau khi nhận chuỗi tràng hạt này, con lại khóc không ngừng.

Tối hôm đó khi về khách sạn, bỗng nhiên cảm thấy toàn thân khó chịu. Sau đó, thông qua em gái cầu xin Kim Mẫu chỉ dạy, Kim Mẫu nói do con một lúc nhận được năm màu linh lực do Liên Sư ban cho, cộng thêm linh lực của hai vị Hộ pháp, thân thể nhất thời không thể gánh vác nổi. Ngài dạy ngu đệ tử lập tức đắp lên người chiếc khăn khata năm màu đã thỉnh từ cung Potala mà ngủ, tự khắc sẽ hóa giải. Qua ngày hôm sau, quả nhiên mọi việc đều bình thường.

Viết đến đây, khi trở về nước, tất cả như một giấc mộng. Khi đang tu pháp tại đàn thành ở nhà, bỗng nhiên con nảy ra một ý nghĩ, nếu con và em gái đều là người có lai lịch, vậy còn mẹ thì sao? Vừa nghĩ xong, từ hư không truyền đến một thông điệp: "Mẹ của con vốn là một đạo nguyên linh hóa thân của Địa Tạng Kim Sắc Độ Mẫu ở cõi Tây phương, chuyên lo việc nuôi dưỡng các con."

Hiện nay, cùng với căn bệnh của mẹ, dường như một số bí mật cũng đã được hé lộ. Kim Cang Thủ Bồ Tát cho biết, Ngài đã theo sắc lệnh của Kim Mẫu bảo hộ con suốt sáu mươi năm, và giờ đây con cũng đã biết được lai lịch của mình. Ngài đặc biệt dặn dò rằng từ nay về sau, con phải tinh tấn tu tập, đồng thời phải thận trọng trong lời nói và hành động, bởi vì xuất thân của con không phải tầm thường, không chỉ mang mệnh trời, nên phải luôn giữ tâm ý ngay thẳng, chính niệm.

Thiên Thủ Quan Âm còn đặc biệt từ bi, thông qua em gái báo cho con biết, bảo con phải cúng một đóa hoa sen trên đàn thành, dùng để dẫn dắt ngũ sắc linh lực của con, theo thứ tự ấn vào luân xa ở mi tâm, cổ họng, tim, rốn và mật luân của đệ tử, lần lượt là màu trắng, đỏ, xanh dương, cam và xanh lục. Hiện nay, con đã có thể quán chiếu được năm luân xa màu sắc, rồi một mạch trung tâm màu xanh dương xuyên thẳng qua năm luân xa.

Ngày mùng 7 tháng 6 năm nay, mẹ con đã đột ngột vãng sinh vào lúc 4 giờ sáng. Dưới sự chỉ dẫn của Kim Mẫu, cùng với sự gia trì của các vị Hộ pháp của đệ tử và em gái, cùng với sự hiện thân của Sư Tôn, chúng con đã thuận lợi tiễn đưa mẹ về cõi Tây phương Tịnh thổ.

Thư có hơi dài dòng, nói không hết đạo không hết lời, chỉ là theo chỉ thị, sang năm vào khoảng tháng 3 tháng 4 may mắn được đến Seattle hành hương, hy vọng được diện kiến Sư Tôn một lần, để cho ngu đệ tử và em gái có thể lá rụng về cội, đồng thời có thể nhận được quán đảnh hóa cầu vồng của Liên Sư và Kim Cang Hợi Mẫu, để có thể tu tập chuyết hỏa định.

Ngu đệ tử Liên Hoa Quang An (Hồng Liên) và Liên Hoa Bảo Diệp (Tử Loan Thiên Nữ) chắp tay trăm lạy.

Ngày 20 tháng 9 năm 2023.

🌟

Nhận được thư của Liên Hoa Quang An, vừa ngạc nhiên vừa vui mừng, nhưng tôi, Lư Sư Tôn, vẫn xem đó là chuyện bình thường.
Bởi vì Phật Thích Ca Mâu Ni đã dạy: "Tất cả chúng sinh đều có Phật tính."
Duy Ma Cật nói:
"Nương vào trí huệ bát nhã để thấu hiểu các pháp bình đẳng nhất như."
Cho nên:
Tâm, Phật, chúng sinh, cả ba không sai khác.
Tất nhiên, Liên Hoa Quang An chính là Hồng Liên. Liên Hoa Bảo Diệp chính là Tử Loan Thiên Nữ.

Thơ:

*Người dù có sắc cùn,
Phật chẳng phân Đông Tây;
Nguồn cội vốn thanh tịnh,
Chẳng luận trụ hay không.
Chấp trước là mê muội,
Buông không liền giác ngộ;
Tất cả không can thiệp,
Trở về chốn bản lai.*

(Hết.)

---

---
# File: sach-tam-linh/300-tro-ve-tinh-ha.md
# Title: 300. Trở về tinh hà
---

![image](/img/img_a11fb4115d2e35d2d617bae15c95f8eb.jpg)



## Trở về tinh hà


🪷 Pháp tính đại viên mãn

Văn tập: 300
Xuất bản: 06/2024
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### 00. Cuốn văn tập thứ 300. (Lời tựa 1)


Đây là tập văn thứ 300 của tôi (Lư Thắng Ngạn). Ôi! Thật sự là tập văn thứ 300.
Hiện nay tôi đã 80 tuổi.
Tôi là một vị tăng già tám mươi tuổi.
Nhìn lại 80 năm trước, tôi sinh ra trong một trại gà bên bờ suối Ngưu Trù, tại Gia Nghĩa (Hậu Hồ). (năm 1945)
Sau đó,
Tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông đều học ở Cao Hùng.
Đại học ở Đài Trung.
Vào ngày 16 tháng 6 năm tôi 38 tuổi, tôi di cư đến Seattle, Hoa Kỳ.
Bây giờ là năm 2024.
(Theo cách tính tuổi của Đài Loan thì tôi 80 tuổi, thuộc tuổi Dậu.)

🌟

Có người hỏi tôi:
"Ngài bắt đầu viết văn như thế nào?"
Tôi đáp:
"Bắt đầu từ tiểu học."
Người ấy hỏi:
"Học sinh tiểu học viết những gì?"
Tôi đáp:
"Lúc đó có một tạp chí tên là "Bạn Học", tôi viết những mẩu chuyện cười ngắn để đăng."
Người ấy hỏi:
"Còn ở trung học cơ sở thì viết gì?"
Tôi đáp:
"Mục Quang Cảnh Học Đường" trên báo."

Người ấy hỏi:
"Còn ở trung học phổ thông thì sao?"
Tôi đáp:
"Trung học phổ thông thì khác hẳn rồi, ngoài mục "Quang Cảnh Học Đường" ra, thơ, văn xuôi, tạp văn, tiểu thuyết, tôi viết đủ thể loại. Tôi làm tổng biên tập của tờ "Thanh Niên Công Nghiệp Cao Hùng", tổng biên tập của tờ "Cao Thanh Văn Túy". Các bài viết của tôi được đăng trên khắp các báo chí tạp chí lớn."
Tôi nói:
"Ấn tượng sâu sắc nhất là khi tôi đến Đài Loan Tân Văn Báo để nhận nhuận bút, phó chủ bút Lâm Hải Cầu và Tiểu Ngư thấy tôi thì giật mình kinh ngạc! Họ kêu lên: "Cậu là Lư Thắng Ngạn đấy à, có nhầm không vậy, sao cậu nhỏ thế!""
(Nhỏ ở đây ý nói là học sinh cấp ba, vóc dáng thấp nhỏ.)

Tôi nói:
"Khi lên đại học, tôi làm tổng biên tập tạp chí "Văn Nghệ Trắc Lượng". Tôi viết chuyên mục cho tờ "Đài Loan Nhật Báo" và "Dân Thanh Nhật Báo". Các bài viết của tôi được đăng trên tất cả các báo chí tạp chí trong nước, Tư Mã Trung Nguyên và Doãn Tuyết Man gặp tôi đều rất ngạc nhiên."
Dĩ nhiên,
Tôi đã đoạt vô số giải thưởng.
Khi còn học đại học, tôi đã xuất bản bốn cuốn sách, bắt đầu từ cuốn đầu tiên là "Tập Thơ Khói Mỏng".

Việc viết văn của tôi, trong suốt cuộc đời này, chưa từng ngừng nghỉ, tôi viết đủ mọi thứ.
Tôi nói:
"Trong trời đất đều là văn chương, trong văn chương đều là trời đất."
Mỗi ngày một bài.
Không nghỉ ngơi.

Thật ra tôi cũng chẳng là gì cả, những lời khen ngợi như thông minh tài trí, đức hạnh xuất chúng, tôi đều không xứng đáng.
Tôi chỉ có hai chữ:
"Nghị lực!"
Việc viết lách của tôi, chỉ là nghị lực mà thôi!
Việc tu học Phật pháp của tôi, cũng chỉ là nghị lực mà thôi!
300 cuốn văn tập, có gì đâu!
Chỉ mong bạn mở sách có ích!

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn**

**Sheng-Yen Lu**

17102 NE 40th Ct.,
REDMOND WA 98052
U.S.A.

Tháng 12 năm 2023


### 01. Cuốn văn tập thứ 300. (Lời tựa 2)


Cuốn văn tập thứ 300 này của tôi, với tựa đề "Trở Về Tinh Hà", có một câu chuyện đặc biệt.
Thật lòng mà nói, vào năm tôi 79 tuổi, cơ thể vốn khỏe mạnh của tôi bỗng nhiên vì bác sĩ thay đổi thuốc.
Thân thể bất ổn. (bật đèn đỏ)
Xuất hiện nhiều loại bệnh tật, chưa hết cơn bệnh này đã đến cơn bệnh khác, kéo dài suốt một năm trời.
Tôi tự cảm thấy thân tâm mệt mỏi.
Thật sự là muốn khóc mà không còn nước mắt.
Một ngày nọ, trong lúc thiền định.
Trong khoảnh khắc một niệm, tôi đến được một "cõi ẩn" vừa xa lạ vừa dường như quen thuộc. "Cõi ẩn" chính là "tịnh thổ".

Cõi tịnh thổ ấy, toàn là thất bảo.
Ánh sáng rực rỡ.
Cung điện vàng.
Âm nhạc thiên giới du dương.
Tôi thấy một vị thiên nhân phát sáng, đang vẫy tay với tôi tại cổng một điện vàng nguy nga.
Ngài nói:
"Người đã trở về! Chính ta đã triệu người về đây."
Ngài hỏi:
"Người có nhận ra nơi này không? Người có nhận ra ta không?"
Tôi bệnh đến mê muội, vừa quen thuộc, vừa xa lạ, nhất thời không nói nên lời, tôi câm lặng.
Ngài vỗ nhẹ vào trán tôi.

Đột nhiên, tôi hoàn toàn hiểu ra. Nước mắt trào ra khỏi khóe mi, vị thiên nhân trước mặt tôi chính là Liễu Minh Hòa Thượng, thượng sư của tôi.
Điện vàng này chính là nhà của tôi trước khi hạ sinh xuống trần gian.
Đây là Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ.
Tôi quỳ xuống, đảnh lễ Liễu Minh Hòa Thượng.
Liễu Minh Hòa Thượng nói:
"Lư Sư Tôn, chúng ta chưa từng xa cách, ta luôn quan tâm và chăm sóc con!"
Tôi nói:
"Mỗi lần thuyết pháp, con đều đảnh lễ Thượng sư trước."

Thiên nhân Liễu Minh Hòa Thượng nói:
"Hiện giờ con là Ma Ha A Phạm Đạt (Đại Thượng Sư), là Đại Trì Minh Kim Cang A Xà Lê."
Tôi nói:
"Con cảm ơn lời chỉ dạy của Thượng sư."
Thiên nhân Liễu Minh Hòa Thượng nói:
"Thấy con buồn bã, ta không đành lòng, độ sinh ở cõi Ta Bà thật không dễ dàng. Ta có cam lộ đây, con uống đi, về pháp tọa của con nghỉ một lát là sẽ khỏe thôi."
Tôi đảnh lễ Thượng sư nhiều lần, nước mắt vẫn tuôn rơi.
Thiên nhân Liễu Minh Hòa Thượng nói:
"Nhìn con kìa, vẫn còn như một đứa trẻ!"

Tôi nói:
"Liên Hoa Đồng Tử vốn dĩ là trẻ con mà!"
Thiên nhân Liễu Minh Hòa Thượng nói:
"Hãy nhớ lời ta, ta bảo con, "từ không đến có rồi từ có trở về không", con phải ở giữa có và không."
Tôi nói:
"Con hiểu rồi, thưa Thượng sư."
Thượng sư nói:
"Chốc nữa, con hãy trở về!"
Tôi nói:
"Con không muốn về nữa!"
Thượng sư nói:
"Chúng ta chưa từng xa cách, con chưa từng đến, cũng chưa từng đi."
Tôi nói:
"Con biết! Con biết! Con biết!" - Tôi lại đảnh lễ Thượng sư.
Vì vậy, cuốn sách này có tên là "Trở Về Tinh Hà".


### 02. Cuốn văn tập thứ 300. (Lời tựa 3)


Tôi (Lư Sư Tôn) viết tập văn thứ 300, với tiêu đề phụ là "Pháp tính đại viên mãn".
"Pháp tính đại viên mãn" là gì:
Tôi nói:
"Pháp tính đại viên mãn chính là pháp tính đại viên mãn."
Ha! Đây chẳng phải là "nói suông". Đúng vậy, đây là điều không thể diễn tả bằng văn tự hay ngôn ngữ.
Tôi chỉ có thể miễn cưỡng, nói sơ qua mà thôi!

🌟

Trước tiên chế tâm vào một chỗ.
Kế đến quán tưởng Bổn tôn.
Sau cùng hòa hợp thành một.
Tôi chính là tối thượng, tối thượng chính là tôi.
Tôi từ ánh sáng bước ra, thị hiện trang nghiêm là Lư Sư Tôn. (Báo thân, Ứng thân)
Lư Sư Tôn thị hiện xong, lại ẩn vào trong ánh sáng rực rỡ của đại hư không.
Tức là tôi từ hư không đến.
Tôi trở về hư không.
Thực ra cũng chẳng có đến đi!

🌟

Tại sao không có đến đi?
Cái gọi là thập phương, đại diện cho không gian, phương trên, phương dưới, tám phương, gọi chung là mười phương.
Mười phương đều có Lư Sư Tôn! Làm sao có đến đi?
Cái gọi là tam tế, đại diện cho quá khứ, hiện tại, vị lai.
Đời quá khứ có Lư Sư Tôn.
Đời hiện tại có Lư Sư Tôn.
Đời vị lai có Lư Sư Tôn.
Vì vậy, làm sao có đến đi?
Sự tu hành của tôi đã tu thành Pháp thân, Pháp thân là trăm nghìn triệu hóa thân.
Trăm nghìn triệu hóa thân này, hợp lại chính là pháp tính.
Có thể là một.
Cũng có thể là trăm nghìn triệu.
Muốn hóa thế nào thì hóa thế ấy. Đó chính là:
Tự tại.
Nhậm vận.
Đó chính là "Pháp tính đại viên mãn".
Chúng ta tụng:
"Nam mô 36 vạn tỷ, 11 vạn, 9 nghìn, 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật."
A Di Đà Phật trăm nghìn triệu hóa thân.
Tôi (Lư Sư Tôn) thành tựu rồi, cũng như vậy, đó chính là "Pháp tính đại viên mãn".

🌟

Cuốn sách này dạy bạn cách giải thoát dù mang nghiệp tội nặng nề (ác nghiệp).
Cuốn sách này dạy bạn cách khiến mọi người khi gặp bạn đều kính mến và ủng hộ bạn. (đại kính ái)
Cuốn sách này dạy bạn có được đại thần thông, trở thành bậc "đại năng" hộ trì gia đình, dòng họ, quốc gia và thế giới.
Cuốn sách này dạy bạn cách điều khiển thiên long bát bộ thần tướng, hô mưa gọi gió, cầu gì được nấy. (sắc lệnh quỷ thần chúng)
Cuốn sách này dạy bạn trở thành bậc tối thắng trong chư thiên, thiên phúc trong tầm tay. (làm chủ của tam giới)
Cuốn sách này dạy bạn cách tự tại du hành mười phương ba đời, trong một niệm có thể hiện khắp tam thiên đại thiên thế giới. (hóa thân bên ngoài thân)
Cuốn sách này dạy bạn thành tựu Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới, tất cả đều nằm trong lòng bàn tay. (tứ Thánh)
Cuốn sách này dạy bạn thành tựu tối thượng.
Tối thượng là bạn.
Bạn là tối thượng.
Vô lượng thọ, vô lượng quang. (Pháp tính đại viên mãn)


### 03. Trí huệ tối thượng


Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người:
Phật Đà dạy chúng ta bốn pháp ấn:
Chư hành vô thường.
Chư pháp vô ngã.
Niết bàn tịch tĩnh.
Một thực tướng ấn.
Bốn chân lý này chính là đại trí huệ, bốn câu này bao hàm tất cả.

Chúng ta hãy suy ngẫm về bốn niệm xứ:
Thân bất tịnh.
Thọ là khổ.
Tâm vô thường.
Pháp vô ngã.

Tôi xin nói với mọi người rằng bốn niệm xứ và bốn pháp ấn có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, chúng tương thông với nhau.
Tôi thường suy nghĩ về: khổ, không, vô thường, vô ngã.
Vô thường chính là khổ.
Niết bàn chính là không.
Sinh tử chính là vô thường.
Mộng huyễn chính là vô ngã.

Mọi người không cảm thấy sao? Trong cõi Ta Bà này, có một câu nói mà bạn cần phải thật sự thấm thía, đó là:
"Vô sở đắc!"
Tôi (Lư Sư Tôn) luôn ghi nhớ câu "vô sở đắc" này trong tâm khảm.
Bạn có thể đến nghĩa trang mà xem, những người nằm dưới lòng đất, có ai được gì đâu?
Bạn hiện giờ còn sống.
Tương lai sẽ nằm dưới đất.
Tất cả những gì có được, rồi sẽ trở thành không có gì.
Một nấm mồ.
Bạn có được gì?

🌟

Tôi đã từng nói với một người tranh cử tổng thống một câu:
"Ông mà đắc cử thì cũng như không đắc cử vậy."
Ông ấy ngạc nhiên nói:
"Không hiểu! Sâu xa quá!"
Tôi nói:
"Hãy từ từ lĩnh hội đi!"
Tại sao tôi lại nói như vậy?
Bây giờ tôi sẽ giải thích!

Kinh Kim Cang có một câu như thế này:
Tâm quá khứ bất khả đắc.
Tâm hiện tại bất khả đắc.
Tâm vị lai bất khả đắc.
Thực ra: "Quá khứ đã qua rồi, hiện tại rồi cũng sẽ thành quá khứ, còn tương lai thì chưa
đến!"
Bạn có thể có được gì?
Đó chính là:
"Không được gì cả!"
Vạn Lý Trường Thành vẫn còn đó.
Tần Thủy Hoàng năm xưa nào thấy đâu.
Tần Thủy Hoàng đã được gì?

Câu quan trọng nhất trong Tâm Kinh:
"Dĩ vô sở đắc cố Bồ Đề Tát Đỏa."
Cái "không được gì cả" này chính là trí huệ tối thượng.

Kinh Kim Cang nói:
Tất cả pháp hữu vi.
Như mộng huyễn bọt ảnh.
Như sương cũng như điện.
Nên quán chiếu như vậy.

Tôi (Lư Sư Tôn) nói:
"Khổ là không, vô thường là không, vô ngã là không, cho nên, thấu rõ tính Không là đại trí huệ, không, không, không."


### 04. Tất cả bắt đầu từ khổ


Phật Thích Ca Mâu Ni vì sao bước lên con đường tu hành?
Bởi vì Ngài du hành qua bốn cửa thành, Ngài đã nhìn thấy sinh, lão, bệnh, tử - bốn khổ.
Dù cuộc sống trong hoàng cung vô cùng thoải mái, nhưng tương lai cũng khó tránh khỏi các khổ.
Vì vậy Ngài quyết tâm xuất gia để tìm kiếm chân đế.

Tôi đã đọc được vài câu, đặc biệt ghi lại:
Nếu bạn muốn thành công trong thế tục, bạn phải nỗ lực vì lợi ích thế tục.
Nếu bạn muốn thành tựu về tâm linh, bạn phải nỗ lực tu dưỡng tâm linh.
Đây là hình nhi hạ và hình nhi thượng (thân và tâm).
Cả hai không thể thiên lệch.
Cuộc sống bên ngoài.
Tu dưỡng bên trong.
Cần cân bằng và hòa hợp.

[Hình nhi hạ - cái ở bên dưới hình, gọi là khí vật, đồ vật, tức vật hữu hình. Hình nhi thượng - cái ở bên trên hình, gọi là Đạo.]

Tôi xin nói với mọi người: "Tất cả bắt đầu từ khổ, nhưng tu hành cũng không phải là việc dễ dàng, bạn phải tinh tấn, tự nhiên, cân bằng mới có thể đạt được niềm vui của Tam ma địa."

Tôi lại suy nghĩ kĩ về ba chữ "vô sở đắc", thực ra "vô sở đắc" chính là "cầu mà không được thì khổ".
"Vô sở đắc" là một trong những nỗi khổ.

Suy nghĩ rồi lại suy nghĩ:
Trái đất trải qua "thành, trụ, hoại, không".
(Những người nghiên cứu địa chất học đều biết rằng trong vũ trụ, Trái đất đã trải qua nhiều chu kỳ thành, trụ, hoại, không.)
Con người trải qua "thành, trụ, hoại, không".
Xe cộ trải qua "thành, trụ, hoại, không".
Nhà cửa trải qua "thành, trụ, hoại, không".
Tất cả những gì có hình tướng đều trải qua "thành, trụ, hoại, không".

Thì ra:
"Vô sở đắc là chân lý."
Cái "vô sở đắc" này là đại trí huệ.
Thảo nào Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng dạy:
"Vô sở đắc".

Nói thêm một bước nữa:
Vô sở đắc tức là không được.
Vô sở đắc tức là được.
Khi bạn nhận thức rõ, nhận thức rõ tất cả đều "không được gì cả", khi hiểu được điều này, đó chính là được.
Tôi, Lư Sư Tôn đã giác ngộ, chính là:
"Chứng đắc vô sở đắc!"

🌟

Phật Đà vì khổ mà tu hành.
Khổ là sự bức bách thân tâm.
Chúng ta biết có tám khổ:
"Sinh, lão, bệnh, tử, ái biệt ly, oán tắng hội, cầu bất đắc, ngũ ấm xí thịnh."
Mười khổ là thêm vào "sầu oán, phiền não."
Phật Thích Ca Mâu Ni thường nói:
"Ta thấy chúng sinh, chìm đắm trong biển khổ."
Lại nói:
"Tham là gốc của khổ."
Lại nói:
"Trong biển khổ sinh tử, hãy làm vị thuyền trưởng đại nguyện độ chúng sinh."

Cá nhân tôi cảm nhận được:
Khổ không chỉ có thế.
Khổ vì chiến tranh.
Khổ vì dịch bệnh.
Khổ vì đói kém.
(Ba nỗi khổ này còn đáng sợ hơn nữa.)
Chính vì những nỗi khổ này liên tiếp ập đến, chúng ta để giải thoát khỏi chúng.
Cho nên, bước lên con đường tu hành.


### 05. Chế tâm một chỗ


Phật dạy:
"Chế ngự tâm vào một chỗ, không việc gì không thành!"
Lão Tử cũng nói:
"Người có thể chuyên nhất, vạn sự hoàn tất!"
Kinh Yoga Ấn Độ nói:
"Dừng suy nghĩ, dập tắt vọng niệm, ngưng nghĩ, an trụ mãi trong niềm hỷ lạc của Tam ma địa."
(Kinh Yoga cũng dạy về chuyên nhất, chế tâm một chỗ.)
Kinh Yoga sử dụng:
Pháp thở.
Pháp tư thế.
Pháp trì chú. (quán tu)
Để đạt được "chế tâm một chỗ".
Tôi nói:
"Chế tâm một chỗ là yếu tố hàng đầu để thành tựu tất cả."

🌟

Trong đời này, tôi thường khuyên mọi người cầu vãng sinh Tây phương Cực Lạc, cõi tịnh thổ của Phật A Di Đà.
Tôi tu pháp siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp.
Tôi lĩnh hội được ba khẩu quyết lớn:
Một, không thể thiếu thiện căn để đến được Cực Lạc.
Hai, nhất tâm bất loạn.
Ba, niệm Phật.
Đây là ba yếu tố chính để vãng sinh tịnh thổ của Phật A Di Đà.

Có người nói:
"Tịnh thổ của Phật A Di Đà là con đường dễ tu. Nhưng cũng không dễ, người vãng sinh cũng không nhiều."
Tại sao không dễ?
Câu trả lời là:
"Nhất tâm bất loạn."
(Nhất tâm bất loạn chính là chế tâm một chỗ.)

Tuy nhiên, tôi Lư Sư Tôn cho rằng, về cõi tịnh thổ của Phật A Di Đà vẫn là cách thuận tiện nhất, chỉ cần được gặp Phật A Di Đà, lo gì không thể thành Phật.
Tôi khuyên mọi người đừng sợ khó.
Chỉ cần tâm luôn hướng về Phật A Di Đà.
Một lòng niệm Phật.
Nhất định sẽ đến được bờ giác ngộ!
Tâm chân thành chính là nhất tâm, sẽ đạt được chế tâm một chỗ.
Tâm chân thành lâu ngày sẽ thành tâm thâm sâu, tâm thâm sâu chính là nhất tâm bất loạn.
Ngoài ra,
Cần đoạn trừ mọi điều ác, thực hành mọi điều thiện.

🌟

Đức Phật dạy chúng ta:
Bốn chính cần:
Điều ác đã sinh khiến đoạn diệt.
Điều ác chưa sinh khiến không sinh.
Điều thiện chưa sinh khiến phát sinh.
Điều thiện đã sinh khiến tăng trưởng.
Đây là điều chúng ta cần tinh tấn thực hành, bởi vì muốn về Tây phương tịnh thổ, không thể thiếu thiện căn.
Không thể xem thường bốn chính cần này, bởi vì nỗ lực thực hành, nỗ lực tu tập, chính là bốn vô lượng tâm:

Từ - mang lại niềm vui cho người khác.
Bi - xóa bỏ nỗi khổ của người khác.
Hỷ - tinh tấn không gián đoạn.
Xả - đối xử bình đẳng với tất cả mọi người.
Đây chính là "Phạm". (hành giả thanh tịnh)
Tương ứng với cõi trời, chính là Phạm thiên.

Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
"Tương ứng với Phạm thiên mà không nhập vào Phạm thiên, đó chính là hạnh Bồ Tát."
Chúa Jesus nói: 
"Đây là người chính nghĩa."
Phật Đà dạy:
"Không thể thiếu thiện căn, nhất tâm bất loạn, niệm Phật, Tây phương Tam Thánh hiện tiền tiếp dẫn."


### 06. Tiểu thừa và Đại thừa


Phật giáo sau này chia thành Tiểu thừa và Đại thừa.
(Kim Cương thừa cũng nằm trong Đại thừa.)

Tiểu thừa - chuyên chú vào giới luật, thiền định.
Đại thừa - chuyên chú vào thiền định, trí huệ.
(Cũng không nhất định là như vậy.)

Tiểu thừa thiên về tự độ.
Đại thừa thiên về độ tha.
Thật ra tự độ, độ tha đều rất quan trọng. 

Quả vị tu hành có thể chia thành:
A La Hán (Thanh Văn).
Duyên Giác.
Bồ Tát.
Phật.
Đây là bốn Thánh giới.

Nhìn chung, tôi phân chia như sau:
Tu bốn diệu đế - khổ, tập, diệt, đạo để chứng quả A La Hán.
Tu mười hai nhân duyên để chứng quả Duyên Giác.
Tu lục độ vạn hành để chứng quả Bồ Tát.
Tu tám chính đạo viên mãn để chứng quả Phật.
(Đây cũng chỉ là phân chia sơ lược.)

Tôi (Lư Sư Tôn) nói:
Tiểu thừa, Đại thừa, Kim Cương thừa, bất kể là thừa nào, đều không thể bỏ qua, Tiểu thừa là nền tảng của Đại thừa. Học Tiểu thừa và Đại thừa đều quan trọng. Giới, định, huệ đều phải tu, đều phải học, và không được gián đoạn, không nên phê phán.

Phật giáo sau này chia thành:
Thượng tọa bộ - Tiểu thừa.
Đại chúng bộ - Đại thừa.

Chúng ta không cần phân biệt Đại thừa hay Tiểu thừa, điều quan trọng là giác ngộ, giác ngộ chính là từ mê đi đến ngộ.
Mê - chúng sinh.
Ngộ - Phật.

🌟

Có một vị giáo sư nổi tiếng của Đại học Oxford Anh quốc là Tiến sĩ Cương Bộ Lâm, ông đã thành lập Quán Phật Giáo.
Ông nói với tôi:
"Thanh Văn chính là Phật."
Tôi nói:
"Điều này cần phải bàn thêm!"

Tôi giải thích:
Thanh Văn (A La Hán) trong tứ Thánh, đứng dưới Phật, Bồ Tát, Duyên Giác.
Trong chín thứ bậc của Mật giáo Đại viên mãn: Thanh Văn thừa, Duyên Giác thừa, Bồ Tát thừa, Sự bộ, Hành bộ, Du già bộ, Maha Du già, Anu Du già, Ati Du già, đều là sơ học.
Tôi cho rằng:
"Thanh Văn (A La Hán) không phải là Phật."
(Trong Kinh Duy Ma Cật, Duy Ma Cật Đại sĩ nhiều lần quở trách hàng Tiểu thừa A La Hán, như vậy làm sao có thể là Phật được?)

Tuy nhiên,
Xét trong "tâm, Phật, chúng sinh" không có sự khác biệt, Thanh Văn (Tiểu thừa) đương nhiên là Phật.
Xét dưới quan điểm "tất cả chúng sinh đều có Phật tính", chúng sinh chính là Phật, Thanh Văn đương nhiên là Phật.
Xét theo "tất cả chúng sinh, đoạn tận phiền não quả báo, gọi là Phật", thì Thanh Văn là Phật. (Kinh Nhân Vương)
"Phật chính là bậc giác ngộ."
Thanh Văn đương nhiên có tự giác.
Vì vậy, khi tôi nói "Thanh Văn không thể gọi là Phật, điều này cũng chưa chắc đúng."
Cho nên,
Tiểu thừa.
Đại thừa.
Không thể thiên lệch.
Đây là sự tôn trọng của tôi đối với Đại thừa và Tiểu thừa.


### 07. Tôi chuyên chú vào Tam ma địa


Trong Ba mươi bảy phẩm trợ đạo có bốn thần túc.
Dục thần túc - niềm vui và hỷ lạc lớn.
Cần thần túc - tinh tấn không gián đoạn.
Tâm thần túc - đoạn trừ các phiền não. (chính niệm)
Quán thần túc - phá trừ các tán loạn.

Tôi chuyên chú vào thiền định Tam ma địa, nói cho chính xác, tôi thực sự không gián đoạn tu trì pháp Tam ma địa.
Đây hoàn toàn là công phu thiền định!
Đây là:
Nỗ lực an trụ thân tâm.
Cần phải liên tục, ổn định, kiên cố, lâu dài.

Tôi thực sự đã tu đến được:
Thân vô lậu.
Minh điểm kiên cố.
Hoàn toàn không lay động.
Không bị ảnh hưởng bởi ngoại duyên.
Không bị ô nhiễm.
(Tôi tu theo pháp vô lậu của Sakya lục thế biến, tu theo pháp đại lạc tính Không của Hỷ Kim Cang, đã thành tựu được minh điểm kiên cố, thật đáng mừng.)

Thành thật mà nói, việc tôi có thể đạt được minh điểm vô lậu kiên cố là một điều may mắn hiếm có.
Thời điểm tu chứng là trong thời gian nhập thất ba năm tại Ballard (Linh Tiên Các) ở Seattle, Hoa Kỳ.

Theo tôi được biết:
Rất nhiều vị Hoạt Phật (Rinpoche) lớn nhỏ của Tây Tạng, họ đều có con cái. (cũng có ngoại lệ)
(Điều này cho thấy họ chưa đạt được minh điểm vô lậu.)

Việc tôi đạt được minh điểm vô lậu thật sự là điều bất ngờ. Đây là điều mà trong vạn người chỉ có số ít đạt được. Cho đến bây giờ, tôi vẫn chưa hiểu rõ làm sao mới có thể chứng đắc được?

Tôi đã thực hiện được:
Tinh tấn không gián đoạn, nhất tâm bất loạn, quán chiếu không tán loạn.
Và điều quan trọng nữa là, đại lạc đã phát sinh, đại lạc là:
Minh điểm thượng trì.
Minh điểm thông mạch.
Minh điểm ma sát.
Đây là một loại thiền định dục lạc nội tại.

🌟

Tôi nói với mọi người, bạn nói đã minh điểm kiên cố e là còn sớm lắm!
Đó chỉ là "minh điểm nhơ".
Theo Đạo gia thì cần phải:
Luyện tinh hóa khí, luyện khí hóa thần. Dùng cửu chuyển thần công. (pháp đan đỉnh)

Theo Mật giáo:
Minh điểm nhơ.
Minh điểm tịnh.
Minh điểm quang.
(Dùng chuyết hỏa để thiêu đốt tinh ô trọc, biến tinh ô trọc thành tinh thanh tịnh, rồi lại biến thành ánh sáng.)

Đây là chuyết hỏa trong mạch đốt cháy minh điểm.
Gọi là:
(Quang minh phong mạch). Đại lạc và quang minh cùng xuất hiện.
Tôi chứng minh:
Đại lạc - tương ứng Dục giới thiên.
Quang minh - tương ứng Sắc giới thiên.
Không - tương ứng Tứ không thiên.

Tại sao tôi có thể như vậy:
Bởi vì tôi được Bản tôn Diêu Trì Kim Mẫu điểm hóa, tôi là hóa thân Liên Hoa Đồng Tử của A Di Đà Phật.
Còn có sự chỉ dạy của linh sư vô hình. (vị thượng chủ không có thân tướng)

Còn có các vị thượng sư hữu thân giáo hóa:
Hòa thượng Liễu Minh.
Thượng sư Chứng Không.
Đại Karmapa (Đại Bảo Pháp Vương thứ 16).
Thubten Dhargye.
(Đây là những vị Thượng sư đã giáo hóa tôi, là những bậc đạo sư nhân gian mà tôi tôn kính.)

Tôi là:
Tín - Lòng tin kiên định.
Tấn - Tinh tấn không gián đoạn.
Niệm - Giữ vững một niệm.
Định - Nhiếp tâm một chỗ.
Huệ - Quán chiếu Phật huệ.
(Dùng năm căn này, sinh ra thánh đạo, rồi nhập vào thánh đạo, đó chính là tín lực, tấn lực, niệm lực, định lực, huệ lực.)

Tôi đối với:
Linh sư vô thân.
Thượng sư tạo hóa.
Luôn tâm mang ơn, lòng biết ơn vô tận.

🌟

Tôi chuyên tâm tu tập Tam ma địa, điều này hoàn toàn không phải nói suông, không phải lý thuyết, càng không phải kiến văn giác tri.
Không phải ước lượng.
Không phải nói kinh điển.

Điểm quan trọng là:
Tự thân chứng nghiệm.
Điều tôi muốn nói với mọi người là:
Nghi quỹ tu hành hiện đại, phần nhiều rất phức tạp, nghĩa là mỗi tông mỗi phái đều có rất nhiều quy tắc rườm rà phiền phức.
Tôi thích cái đơn giản nhất.
Đi thẳng vào trọng tâm.
Tôi hiểu rằng:
"Vô trí diệc vô đắc" trong Tâm Kinh nói, chính là pháp nhĩ bản nhiên!
Hãy nhớ: tất cả các pháp đều không có tự tính.


### 08. Tôi dựa vào Bổn tôn để nhập Tam ma địa


Người hỏi:
"Lư Sư Tôn dựa vào pháp nào để nhập Tam ma địa?"
Tôi đáp:
"Dựa vào Bổn tôn để nhập Tam ma địa."
Người hỏi:
"Là Bổn tôn nào?"
Tôi đáp:
"Bổn tôn của tôi, ai cũng biết. Một là Diêu Trì Kim Mẫu, là Bổn tôn khai ngộ cho tôi. Hai là A Di Đà Phật, là Bổn tôn bản địa của tôi. Ba là Địa Tạng Bồ Tát, là Bổn tôn nguyện lực của tôi."
Người hỏi:
"Tu như thế nào?"
Tôi đáp:
"Tu theo nghi quỹ pháp Bổn tôn của Mật giáo, trong sách của tôi đã viết về nghi quỹ tu pháp."
Người hỏi:
"Nghi quỹ đến chỗ nào thì nhập Tam ma địa?"
Tôi đáp:
"Khi nhập ngã hoặc ngã nhập. Nhập ngã nghĩa là Bổn tôn nhập vào thân ta, hoặc thân ta nhập vào thân Bổn tôn."
Người hỏi:
"Làm sao để nhập?"
Tôi đáp:
"Nghi quỹ Mật giáo đều có giải thích chi tiết, ở đây không nhắc lại nữa, xin hãy đọc sách của tôi."
Người hỏi:
"Con biết nhập Tam ma địa rất khó, nhiếp tâm một chỗ rất khó, làm sao để vượt qua những khó khăn này?"
Tôi đáp:
"Muốn nhập Tam ma địa phải dừng tâm dứt vọng, muốn vượt qua khó khăn, cần có lòng kiên trì, tức là tâm lâu dài, chỉ cần nghị lực mà thôi. Phương pháp sử dụng là quán tưởng Bổn tôn, trì chú Bổn tôn, kết ấn Bổn tôn."

Tôi nói thêm:
"Diệt trừ vọng tưởng, dứt niệm, lắng dịu tán loạn, ngưng vọng niệm, kiềm chế tạp tưởng, làm chủ tâm. An trụ trong tự tính của Bổn tôn."
Người hỏi:
"Nếu không làm được như vậy thì sao?"
Tôi đáp:
"Thì không thể tu thành được. Dù có tu cũng chỉ là chuyện không tưởng, điên đảo, tạp nhiễm, biến đổi, vọng tưởng, tưởng tượng..."
Người hỏi:
"Vậy phải làm sao?"
Tôi đáp:
"Chỉ có kiên trì tu quán chiếu lâu dài, cho đến khi tâm định vào một chỗ mà thôi. Thông qua quán chiếu để dứt trừ tâm niệm."

Người hỏi:
"Ngoài cách nương vào Bổn tôn để nhập Tam ma địa, còn có phương pháp nào khác không?"
Tôi đáp:
"Có rất nhiều pháp môn, mỗi hành giả đều có phương pháp riêng của mình, mỗi người mỗi khác. Riêng tôi, tôi nương theo pháp Bổn tôn để nhập Tam ma địa."
Người hỏi:
"Xin cho ví dụ?"
Tôi đáp:
"Có người dùng pháp đếm hơi thở, pháp tư thế, pháp nằm như thây ma, pháp quán hương, pháp niệm Phật, pháp ban chu, pháp lắng nghe, pháp khổ hạnh, pháp lạc hạnh, pháp hơi thở..."
Người hỏi:
"Phật Thích Ca Mâu Ni dùng pháp quán sao? Ban đêm nhìn sao sáng?"
Tôi đáp:
"Anh hãy đi hỏi Ngài!"
Tôi nói thêm:
"Khi nhập Tam ma địa, sẽ có đại trí tuệ, đại lực hành, sẽ có đại hỷ, sẽ có đại lạc, trừ bỏ phiền não, trừ bỏ tán loạn, sẽ được tiến bộ, định huệ sẽ cân bằng. Đó chính là giác."


### 09. Lợi ích của Bổn tôn Tam ma địa


Tôi nói:
Chỉ cần bạn tự hóa thành Bổn tôn, an trụ trong Bổn tôn Tam ma địa, chân thật và không lay động, sẽ có lợi ích lớn.
Bởi vì:
Diêu Trì Kim Mẫu là Tiên Vương.
A Di Đà Phật là Phật Vương.
Địa Tạng Bồ Tát là Địa Vương.
Tam Vương này là đấng chủ tể điều khiển vạn hữu trong vũ trụ.
Tam Vương không bị phiền não thế gian và quỷ thần phương khác xâm phạm, nên không cần bất kì sự che chở nào.
Tam Vương ngược lại có thể che chở cho chính mình và hộ trì chúng sinh khác, tất cả tự nhiên an trụ.

Hơn nữa,
An trụ trong Bổn tôn Tam ma địa, không bị bất kỳ phiền não nào, không bị quấy nhiễu, không chịu quả báo, không chịu nghiệp từ kiếp trước.
An trụ trong Bổn tôn Tam ma địa, trong đó có trí tuệ vô song, căn bản trí, phân biệt trí, nhất thiết chủng trí, đều có thể đạt được.
Lợi ích rất nhiều, nói mãi không hết.
Bổn tôn Tam ma địa bao gồm:
Tám chính đạo: chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng, chính tinh tấn, chính niệm, chính định.
Giới, định, huệ đều đầy đủ.
Đặc biệt là trong Bổn tôn Tam ma địa, dần dần có thể thấu hiểu đời quá khứ, đời hiện tại, đời vị lai, thần thông túc mệnh đều có thể biết được.

Thậm chí, thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, thần túc thông, túc mệnh thông, lậu tận thông đều có thể đạt được.
Thực ra Bổn tôn Tam ma địa chính là:
Tâm thức hòa nhập vào Bổn tôn.
Tiểu ngã hòa nhập vào Bổn tôn.
Ý thức hòa nhập vào Bổn tôn tối thượng.
Bổn tôn và tính Không tan vào nhau.

🌟

Chúng ta biết pháp nhập Tam ma địa có các thứ bậc như sau:
Du già chuyên nhất.
Du già ly hý.
Du già nhất vị.
Du già vô tu.
Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể tu thành.
Bởi vì con người được chia làm ba hạng: hạ phẩm, trung phẩm, thượng phẩm, mỗi hạng đều khác nhau.
Thượng phẩm — mãnh liệt và tăng thượng.
Trung phẩm — cường độ trung bình.
Hạ phẩm — nhiều chướng ngại nghiệp từ đời trước.

Ví dụ:
Bệnh tật tấn công, thân thể không chữa được, làm sao nhập Tam ma địa.
Hôn trầm xâm nhập, thân thể yếu đuối mê muội, vào Tam ma địa liền ngủ thiếp đi.
Do dự không định, thiếu lòng tin, thay đổi thất thường.
Buông thả đùa giỡn, tâm thích phiêu đãng, lãng phí thời gian.
Lười biếng trễ nải, tính tình biếng nhác, không làm gì cả.
Buông thả chạy theo dục vọng, tâm thích phóng túng, không nghỉ không ngơi.
Tâm niệm tán loạn, như thác đổ, vọng tưởng không ngừng.
Quan niệm thiên lệch, hiểu sai chính pháp, đi vào tà đạo.

Còn có:
Kiêu ngạo tự mãn, vui buồn thất thường, tâm thần bất định, tư tưởng rối loạn...
Những chướng ngại này, chỉ có siêng năng tu tập pháp chuyên nhất mới có thể phá trừ.
Tu khí là rất quan trọng.
Bởi vì khí động thì niệm động"
Dùng trụ khí và trì khí để kiểm soát niệm tưởng, dần dần ổn định tâm niệm, tập trung vào thánh tượng Bổn tôn, đây là một phương pháp rất tốt.
Nếu có thể định vào một.
Ánh sáng trí tuệ sẽ xuất hiện.


### 10. Vô niệm Tam ma địa


Khi chúng ta ở trong trạng thái ngủ sâu, hoàn toàn không mơ không tỉnh.
Mắt vừa nhắm.
Mở mắt ra.
Trời đã sáng, một đêm đã trôi qua!

Nếu chúng ta thiền định:
Không có bất kì cảm thọ nào, không có bất kì giác quan, quán chiếu, tìm kiếm nào, không hình không tướng, tinh vi trong cái tinh vi nhất.
Lúc này,
Phật tính quang minh hiển hiện.

Tôi (Lư Sư Tôn) có kinh nghiệm này:
Tất cả đều diệt tận.
Ngay cả diệu huệ cũng không.
Không hình không tướng.
Ngay cả vi tế cũng không.
Tâm phân biệt hoàn toàn diệt tận.
Không chứa bất kì chủng tử nào.
Hoàn toàn trống rỗng.

Có khi chỉ năm phút, có khi một giờ, có khi mười giờ, thậm chí còn lâu hơn.

Tôi đã từng đọc một cuốn sách, ghi chép về một vị hành giả, ông nhập định từ thời nhà Đường, mãi đến thời nhà Minh mới xuất định.
Trong khoảng thời gian đó đã trải qua hai triều đại nhà Tống và nhà Nguyên.
Đến thời nhà Minh mới xuất định.
Ông là một vị hành giả thiền định trong một hốc cây trên núi sâu.
Cho đến khi những người thợ đốn củi tìm thấy ông.
Lúc đó ông mới xuất định.
(Câu chuyện này, không biết là hư cấu, hay là có thật.)

Nhưng,
Tôi nghĩ như thế này:
Vô niệm Tam ma địa là có thật.
Đây chính là niết bàn.

Trong Chân Phật Kinh, tôi viết: "Lấy vô niệm làm chính giác Phật bảo."
Vô niệm được giải thích là:
Không vọng niệm tức là chính niệm.

Kinh Bốn Mươi Hai Chương nói:
"Cúng dường nghìn ức chư Phật ba đời, không bằng cúng dường một người vô niệm."
"Một niệm không khởi, tức mười tám giới đều không." (Truyền Tâm Pháp Yếu)
"Nếu khởi một niệm tức là cảnh, không một niệm thì không còn gì để tìm kiếm."

Có lời rằng:
Hỏi: Thế nào là chính niệm?
Đáp: Chính niệm là chỉ niệm bồ đề.
Hỏi: Bồ đề có thể đạt được không?
Đáp: Bồ đề không thể đạt được.
Hỏi: Đã không thể đạt được, tại sao phải niệm?
Đáp: Bồ đề chỉ là tên giả.
Điểm quan trọng là:
"Vô niệm chính là chân niệm."

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) nói như sau:
Lành thay! Lành thay! Đây là điều bất khả tư nghì không thể tưởng tượng, dùng văn tự ngôn ngữ để diễn đạt thật là khó khăn.
Đó là điều vô tận.
Một câu nói: "Pháp nhĩ bản nhiên." (vô trí diệc vô đắc)
Pháp môn bất nhị, tối thượng.
Đó là tuyệt đối, không có gì cao hơn vô niệm nữa.

Khi đạt đến vô niệm Tam ma địa, Văn Thù Bồ Tát đã im lặng, Duy Ma Cật đại sĩ cũng lặng thinh.
Đệ nhất nghĩa không, vô tướng, vô tác.
Tôi nói:
Vì phương tiện trí huệ, vì chúng sinh, nên ứng hóa ra từ, bi, hỷ, xả, bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ. Là thế! Là thế!


### 11. Tự tính quang minh Tam ma địa


Cái gọi là tự tính chính là chân ngã bên trong.
Cái gọi là quang minh chính là thanh tịnh.
Tôi nói:
Đây là Phật tính hiển hiện!
Tất cả các Tam ma địa đều lấy Phật tính hiển hiện làm đích đến, làm điểm tột cùng.

Kinh Tam Ma Địa nói rằng: "Độc diệu". [một mình tỏa sáng]
Điều này cũng tượng trưng cho: trí huệ đại viên mãn.
Bởi vì loại quang minh này sẽ chứng minh:
Quá khứ, hiện tại, vị lai, chứng túc mệnh thông.
Hiểu biết tâm mình và tâm người khác, chứng tha tâm thông.
Có thể du hành vô tận khắp mười phương, thần túc thông.
Tam thiên đại thiên thế giới đều trong tầm mắt, thiên nhãn thông.
Có thể nghe được âm thanh của vô lượng thế giới, thiên nhĩ thông.
Ngăn chặn tất cả nghiệp cũ, phiền não dứt sạch, không còn ngã chấp, pháp chấp, sở chấp, lậu tận thông.
Đây chính là đầy đủ sáu thần thông.

Tôi gọi "tự tính quang minh Tam ma địa" giống như lưu ly trong suốt vậy.
Tất cả đều thông suốt.

🌟

Chúng ta là phàm phu, vốn không thể chế ngự được tâm, nhưng nhờ tu tập, dần dần từ việc chế ngự tâm nhỏ, đến chế ngự tâm vô tận, khi đạt đến điểm tột cùng, Phật tính sẽ hiển hiện.
Thanh tịnh.
Trong suốt.
Thuần khiết.
Đây chính là thành tựu của việc tu pháp.
Tôi nói:
Chúng sinh vốn dĩ là "vô minh", trong sự che chướng, nếu có thể dọn sạch những che chướng, đạt được "quang minh", lúc đó mới chuyển mê thành ngộ, thành tựu cho chính mình, cũng lợi ích cho người khác.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) muốn kể cho mọi người một câu chuyện có thật:
Một ngày nọ.
Tôi ngồi trên pháp tọa tại Seattle Lôi Tạng Tự. Các đồng môn ngồi phía dưới tu pháp.
Tôi nhắm mắt, nhập định.
Trong khoảnh khắc một niệm.
Thần quang của tôi đến được Long Cung. Tôi du ngoạn khắp nơi trong Long Cung, vô cùng hoan hỷ.
Tôi nói với Long Vương:
"Tôi muốn mượn cung điện của Ngài để làm một thí nghiệm được không?"
Long Vương nói:
"Lư Sư Tôn đã mở lời, đương nhiên phải tuân theo."
Tôi nói:
"Tôi muốn đem Long Cung giấu vào trong tay áo Lama của tôi, mang về Seattle Lôi Tạng Tự, sau khi thí nghiệm xong, sẽ lập tức hoàn trả Long Cung về vị trí cũ."
Long Vương nói:
"Lư Sư Tôn thần thông quảng đại, đây là vinh hạnh của chúng tôi!"

Thế là,
Tôi giấu Long Cung vào trong tay áo.
Chỉ trong khoảnh khắc,
Tôi trở về pháp tọa tại Seattle Lôi Tạng Tự.
Tôi nói với đại chúng:
"Tôi vừa đi đến một nơi, và bây giờ tôi đã đem nơi đó giấu trong tay áo, mang về đây."
Tôi nói:
"Tôi sẽ viết tên địa điểm này lên giấy và che lại. Xin mời các đồng môn có thiên nhãn thông nhìn vào tay áo của tôi xem bên trong có gì? Nếu nói đúng, điều đó chứng tỏ quý vị có thiên nhãn thông, và sẽ có phần thưởng."
Các đồng môn im lặng.
Nhìn nhau bối rối.
Tôi nhìn quanh, không ai lên tiếng.

Bỗng có một người đứng dậy, hô lên một tiếng:
"Rồng!"
Tôi nói:
"Cô còn chưa nhìn vào tay áo của tôi mà!" - Tôi hỏi: "Còn ai nữa không?"

Ngay lúc đó, Phân Phân - người có thiên nhãn thông, đứng dậy, bước đến trước pháp tọa.
Phân Phân nhìn vào tay áo của tôi, giật mình hoảng hốt! Ngồi phịch xuống đất.
Phân Phân - người có thiên nhãn thông, nói với đại chúng:
"Cung điện Long Vương."
Mọi người đều sửng sốt.

Tôi đưa ra tờ giấy đã viết sẵn "Long Cung" cho mọi người xem.
Tiếng vỗ tay vang dội như sấm.
Tôi trao phần thưởng cho Phân Phân, và một nửa phần thưởng cho người đã hô "Rồng".
(Tại sao Phân Phân có thể nói ra "Cung điện Long Vương", bởi vì cô ấy đã nhìn thấy rồng trước, rồi mới thấy cung điện.)

🌟

Câu chuyện này muốn nói với chúng ta điều gì? Và có ý nghĩa gì?
Tôi có thể đặt Long Cung vào trong tay áo.
Phân Phân có thể nhìn thấy Long Cung.

Tôi đã chứng minh được rằng tâm có thể làm chủ tất cả, và lý sự vô ngại. Vốn dĩ trong cõi người hư ảo này, con người bị giới hạn trong dục vọng vật chất, chỉ cần thoát khỏi dục vọng vật chất, sẽ được tự do tự tại, có thể làm chủ bản thân, và đạt được sự tự tại vô tận.
Thần quang không gì là không thể. (Phật tính)
Tự tính không gì là không thể.

Phân Phân cũng đã chứng minh:
Sự tồn tại của thiên nhãn thông.
Mắt thịt của phàm phu thế tục không thể nhìn thấy thiên long bát bộ. Thiên long bát bộ, chư thiên vô thân, chư thiên chư thánh không phải là không có, mà là vì phàm phu không có thiên nhãn.


### 12. Một vị Không hành mẫu đã nhìn thấy


Trong số đệ tử của tôi, có một vị Không hành mẫu tên là Vu Vu.
Cô ấy gửi cho tôi một bức thư.
Bức thư này của cô ấy đã chứng minh rất nhiều điều hiện hữu, và cũng chứng minh rất nhiều điều không hiện hữu.
Rất thực tế, nhưng cũng siêu việt thực tế.
Mọi người đọc xong "Những điều Không hành mẫu nhìn thấy" sẽ hiểu rõ.

Những điều nhìn thấy như sau:

Vào một ngày đầu tháng 10, trong lúc thiền định, tôi đột nhiên cảm thấy mình đang ở giữa đêm tối và tiếng súng đạn, trong lòng tràn ngập đau khổ và buồn thương.
Khi đang tu pháp siêu độ, có một nhóm người với thân thể không toàn vẹn đến. Sau đó xem tin tức mới biết chuyện gì đã xảy ra. (chiến tranh)

Tối hôm sau, khi đang cầu nguyện cùng người bạn Thiên Chúa giáo, bỗng nhiên cảm nhận một bầu không khí hùng hậu rất khác lạ đang giáng xuống.
Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ, thấy thiên thần khắp trời, ở giữa có một vị thần mặc áo trắng với hào quang sau lưng, khi Ngài vừa giáng xuống, tôi bỗng nhiên nói được ngôn ngữ của trời. (trung mạch của tôi rung động)

Ngài nói rằng Ngài là Chúa Jesus. Ngài còn nói, chiến tranh sẽ còn kéo dài một thời gian, con hãy giúp tiếp dẫn các vong linh.
Tôi hỏi:
"Giúp bằng cách nào?"
Ngài đáp:
"Hãy dùng pháp siêu độ do Lư Sư Tôn truyền, ta sẽ giáng xuống giúp con."

Từ đó về sau, mỗi ngày tôi tu Nghìn chiếc thuyền pháp. Tôi triệu thỉnh các vong linh từ chiến trường về đàn thành của tôi.
Trước tiên thỉnh Diệu Sắc Thân Như Lai tu bổ những khiếm khuyết của các vong linh.
Kế đến thỉnh Dược Sư Như Lai chữa lành những đau đớn của họ.
Thứ ba thỉnh Tư Duy Bồ Tát hóa giải nỗi sợ hãi và ký ức của họ.
Cuối cùng phóng thuyền pháp, dùng thiên ngữ cầu nguyện: "Xin Chúa Jesus và các thiên thần đưa thuyền pháp đến thiên quốc."

Chúa Jesus dạy tôi một điều:

Khi tôi gặp nhiều chướng ngại, lòng nản chí. Ban đầu tôi nghĩ: "Có lẽ mình là Job chăng? Satan và Chúa đánh cược, thử thách Job, mình cũng xui xẻo như vậy, chắc cũng đang bị ma quỷ thử thách."

Vài ngày sau, Ngài chợt cho tôi hiểu ra, tôi không phải là Job, mà là Peter! Trong sách Job, vẫn còn sự phân biệt nhị nguyên giữa Satan và Chúa.

Nhưng trong Phúc Âm, Chúa Jesus cho Peter đi trên mặt nước. Điều đó không dựa vào việc đối trị nỗi sợ, mà là đức tin tuyệt đối phá bỏ mọi phân biệt, từ đó tôi không còn than phiền nữa.

(Câu chuyện trong Kinh Thánh)

Chúa Jesus nói với tôi một việc nữa.
Khi Lư Sư Tôn bị bệnh lần này, tôi không ngừng cầu nguyện, hồi hướng.
Kim Mẫu nói với tôi:
"Đừng lo lắng, cứ xem như một vở kịch!"
A Di Đà Phật nói:
"Đừng sợ, cứ xem như một vở kịch!"
Đại Uy Đức Kim Cang nói:
"Chẳng có gì đâu, cứ xem như một vở kịch!" Rồi nói thêm: "Con không cần phải ra mặt đâu!"
Tôi hỏi:
"Xem vở kịch gì vậy?"
Chúa Jesus cho tôi xem một đoạn kinh:
"Trong Người, chúng ta được cứu chuộc nhờ máu Người, được tha thứ tội lỗi theo lượng ân sủng dồi dào của Người." (Ephesus 1:7)

Ngài nói:
"Việc chịu đóng đinh trên thập giá là để độ chúng sinh, Lư Sư Tôn thị hiện bệnh, thân Phật chảy máu, cũng là để độ chúng sinh. Các đệ tử vì cầu Phật trụ thế mà tinh tấn tu pháp, từ đó được độ. Rồi đây con cũng sẽ như vậy, một ngày nào đó con sẽ hiểu."

Một ngày khác.
Tôi gặp một số chướng ngại.
Pháp thân Sư Tôn Lư nói:
"Có ma quỷ bên ngoài muốn ăn thịt uống máu con, con sẽ làm sao?"
Tôi nói:
"Tất cả của con đều là của Lư Sư Tôn, vốn không tăng không giảm, ma quỷ muốn thì cứ cho."
Chúa Jesus xuất hiện.
Ngài biến con thành vô lượng món thánh, vô lượng rượu thánh.
Con cảm nhận được ánh sáng và ngọn lửa, vô số thiên thần giáng xuống, trú ngụ trong từng lỗ chân lông của con.
Chúa Jesus nói:
"Hãy tiếp tục xả thân bố thí! Xả đến cuối cùng, chỉ còn lại tự tính trong sáng."

🌟

Phụ lục:

Cuộc đối thoại giữa tôi (Lư Sư Tôn) và Duy Ma Cật Đại Sĩ:
Tôi nói:
"Cả đời tôi giúp người chữa bệnh, nhiều bệnh nhân được lành bệnh nhờ linh liệu, có rất nhiều phép màu. Nhưng khi chính tôi bị bệnh, tại sao lại không thể tự chữa lành, không có phép màu?"
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
"Lư Sư Tôn thị hiện bệnh là để hòa quang đồng trần [hòa ánh sáng với bụi, tức hòa hợp với trần tục, không tự tách biệt] với người đời. Đây chỉ là bệnh nhỏ thôi. Còn có bệnh lớn nữa đấy!"
Tôi hỏi:
"Bệnh lớn là gì?"
Duy Ma Cật đáp:
"Bệnh lớn chính là nhục thân của ngài. Ngài dùng bệnh nhỏ để chữa lành bệnh lớn của mình."
Tôi suy nghĩ một chút, dường như có điều tỏ ngộ.

Nhục thân của con người chính là bệnh lớn, thân xác là một mối lo lớn, dùng bệnh nhỏ để chữa bệnh lớn!
Không còn nhục thân nữa thì giải thoát thành tựu! (pháp nhĩ bản nhiên)


### 13. Tôi và Vu Vu cùng viết một bài thơ


Tôi ở đây là nói đến Pháp thân của tôi (Pháp thân Lư Sư Tôn).
Đi vào tâm của Vu Vu.
Viết ra một bài thơ.
Bài thơ này rất có linh tính, tương ứng với "Trở về tinh hà", và còn có pháp vị Tam ma địa độc diệu.

Bài thơ như sau:

Tên bài thơ: Trở về tinh hà

*Vì dòng suối trong veo đáy mắt Người
Nàng bay qua núi
Bay qua sông
Khẽ khàng trong dòng thời gian
Vuốt phẳng
Con đường uốn lượn
Xếp thành thiên y không chút bụi trần của Người
Đây là trái tim nàng
Dâng tặng Người*

*Nàng từ quê nhà
Mang theo thư nhà đến
Bao nhiêu quá khứ rực rỡ đều lướt qua
Chỉ để thấy những tháng năm huy hoàng Người dệt thành gấm
Vẻ đẹp diễm lệ
Nàng không phải khách du lịch hay người qua đường
Mà là người bước theo dấu chân Người
Đếm từng bước giang hồ của Người
Nàng nguyện trong lâu đài Người xây
Đặt xuống hành trang
Cùng Người đào kênh cày cấy
Trồng cọ
Bảo vệ tường thành trong ốc đảo của Người
Chắn cát vàng trong gió
Về sau mới hiểu
Đáy mắt Người không phải nước mắt
Mà là ngọn lửa xanh biếc
Là ngọn lửa nóng bỏng nhất
Cũng là ngọn đèn sáng mãi
Ánh sáng vĩnh hằng mà nàng chưa từng nghĩ đến
Người đã thắp sáng nàng
Nàng trở về dải ngân hà của Người*

*Ngày đêm cầu nguyện Người
Thắp ngọn đuốc trong tim nàng
Lấy ánh sáng của Người soi đường cho nàng
Để nàng cao giơ truyền thừa của Người
Soi đường cho người khác
Vì pháp duyên của Người
Trở về nơi thiên hà*

*Nàng từ quê nhà đến
Mang theo trái tim
Viết nên khúc ca dâng lên Người
Và
Sẽ cúng dường Người thời gian vĩnh hằng.*

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) cũng viết một bài "Trở về tinh hà".

*Ngày tháng vẫn mải miết trôi
Không còn thấy khổ trên đời
Thoáng chốc đã tám mươi rồi
Trong lòng tự tại thảnh thơi.*

*Cảm ơn em đến nơi này
Hẹn ước chưa muộn hôm nay
Cùng tỏa ánh sáng ngất ngây
Ngân hà chiếu rọi muôn ngày.*


### 14. Tu hành là hành pháp thanh tịnh


Phật giáo chủ trương tu hành. Do đó gọi là hành giả.
Chúng ta thường nói:
Dùng giới, định, huệ để đối trị tham, sân, si.
Làm sao để tu trì?
Tôi chủ trương dùng pháp lục độ:
Bố thí - độ tham.
Trì giới - độ ác.
Nhẫn nhục - độ sân.
Tinh tấn - độ lười.
Thiền định - độ loạn.
Trí tuệ - độ si.
Đây chính là sáu ba la mật, sáu ba la mật này là hành pháp, hoàn toàn liên kết với tam vô lậu học (giới, định, huệ). (Kinh Tăng Nhất A Hàm)

🌟

Bố thí có tài thí, pháp thí, vô úy thí.
Trì giới có luật nghi giới, nhiếp thiện pháp giới, nhiêu ích hữu tình giới.
Nhẫn nhục có sinh nhẫn, pháp nhẫn, vô sinh pháp nhẫn.
Tinh tấn có đoạn tinh tấn, tu tinh tấn, cầu hóa tinh tấn.
Thiền định có thân định, khẩu định, ý định.
Trí tuệ có căn bản trí, phân biệt trí, nhất thiết chủng trí.

Tôi cho rằng:
Sau khi chúng ta có những quan niệm này rồi, thì phải thực hiện, đó chính là hành pháp.
Bản thân tôi hiểu rằng:
Khi con người ở cõi người, chịu ảnh hưởng của vô minh, sẽ sinh ra rất nhiều phiền não.
Phiền não là:
Vì có cái tôi, nên mới có phiền não.
Vì có ái luyến, nên mới có phiền não.
Vì có oán ghét, nên mới có phiền não.
Vì có sợ hãi, nên mới có phiền não.
Vì có vô minh, nên mới có phiền não.
Muốn tiêu trừ phiền não, cần phải có kiến giải đúng đắn mới có thể tiêu trừ được. (chính kiến)

Ái luyến là thọ lạc, tham.
Oán ghét là thọ khổ, sân.
Vô minh, sợ hãi là si.
Tất cả những điều này đều đến từ có cái ta.
Vì vậy Đức Phật dạy:
Không có tướng ngã.
Không có tướng nhân.
Không có tướng chúng sinh.
Không có tướng thọ giả.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) chủ trương vô niệm.
Vô niệm thì vô ngã.
Vô ngã thì là không.
Không chính là thanh tịnh.
Thanh tịnh thì là Phạm.

Tôi nói:
Vô niệm là chính giác Phật bảo, là Phật tính, là pháp nhĩ bản nhiên.
Đây là:
Bát nhã vô thượng.
Sức mạnh tối thượng.
Hỷ lạc vô tận.
Cảnh giới khinh an.
Thượng niệm vô thượng.
Nhất như tuyệt đối.
Đại viên mãn giác.

Có người hỏi tôi:
Đây là gì?
Tôi đáp:
Chính là giác ngộ của thất bồ đề.


### 15. Hành pháp tiêu trừ phiền não


Trong Mật giáo, chúng ta cần tu tập Tứ gia hành hoặc nhiều pháp gia hành hơn nữa. Những pháp gia hành này có thể làm phai bớt phiền não hoặc giảm thiểu phiền não, đây là pháp tu căn bản, cũng là nền tảng vững chắc cho sự tu hành.
1. Pháp đại lễ bái.
2. Pháp tứ quy y.
3. Pháp đại cúng dường.
4. Pháp đại sám hối (pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát).
Hoặc:
Tứ vô lượng tâm.
Những pháp này đã được trình bày chi tiết trong sách của tôi, không cần phải lặp lại nữa.

Tuy nhiên, tôi khuyên mọi người phải trân trọng pháp gia hành, nếu không như vậy, nền tảng sẽ không vững chắc, rất khó thành tựu.

Công đức lợi ích như sau:

Pháp đại lễ bái - khi toàn thân phủ phục hành đại lễ bái, sẽ hàng phục được ngã mạn kiêu căng của bản thân. Vì khi thực hiện động tác toàn thân phủ phục, không còn vọng tưởng tán loạn, chuyên nhất vào động tác, có thể tránh được phiền não, làm phai nhạt phiền não.(Quán tưởng tứ Thánh ở phía trước hư không, hướng lên đảnh lễ.)
(100.000 lần.)

Pháp tứ quy y - tụng miệng "Nam mô gu-ru pây. Nam mô pút-ta yê. Nam mô đa-mô yê. Nam mô sâng-kya yê."
Quy y Thượng sư, Phật, pháp, tăng bảo.
Đây là nghĩa nương tựa.
Đây là sự thanh tịnh của miệng.
Đây là sự thanh tịnh của thân.
Đây là sự thanh tịnh của ý.
Tăng trưởng tín lực, tăng trưởng thiện lực, làm phai nhạt phiền não.
(100.000 lần.)

Pháp đại cúng dường - hành giả đem những vật mình yêu thích cúng dường lên Thượng sư, Tam Bảo (mười pháp giới).
Đây là một loại bố thí, một trong lục độ ba la mật.
Có ý nghĩa dứt tham.
Thậm chí đem cả thân mạng gia đình cúng dường trọn vẹn, có thể tiêu trừ tham, sân, si.
Tài thí, pháp thí, vô úy thí. Công đức rất lớn, không chỉ cúng dường tứ Thánh, mà còn cúng dường lục đạo, cúng dường tất cả pháp giới, đây là một loại xả, bình đẳng xả.
Pháp cúng dường trong Mật giáo rất nhiều, nghi quỹ rất nhiều, thực ra công đức cúng dường là vô tận.
(100.000 lần.)

Pháp đại sám hối - Thần chú trăm chữ Kim Cang Tâm là phương pháp tốt nhất để tiêu trừ vô minh nghiệp chướng.
Bách tự minh chú là không.
Phiền não không.
Chấp trước không.
Nghiệp chướng không.
Tập khí không.
Tự ngã không.
Nghiệp chướng phiền não có phân chia thô và vi tế, nghiệp chướng phiền não thô dễ tiêu trừ, nghiệp chướng phiền não vi tế khó tiêu trừ.
Theo tôi, nghiệp chướng phiền não thô dùng Bách tự minh chú để tiêu diệt.
Nghiệp chướng vi tế cần dùng sức mạnh thiền định mới có thể thanh tịnh hoàn toàn.
(Pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát có pháp môn nhập thiền định sơ cấp, có thể tiêu trừ hoàn toàn cả thô lẫn vi tế.)
(100.000 lần.)

Mọi người hãy suy nghĩ kĩ, bốn pháp hành này, mỗi pháp đều là giới, định, huệ, có thể phá trừ tham, sân, si.
Cũng phá trừ nghi, mạn.
Vô minh, chấp ngã, ái luyến, oán ghét, sợ hãi, đều có thể tiêu hóa, suy yếu và phá trừ.


### 16. Tứ gia hành cũng có thể nhập Tam ma địa phải không?


Có người hỏi:
"Tứ gia hành cũng có thể nhập Tam ma địa phải không?"
Tôi đáp:
Tam ma địa chính là chỉ tức. [dừng hơi thở]
Tam ma địa chính là du già.
Tam ma địa chính là chỉ niệm.
Tam ma địa là dừng tâm niệm lại. Khi dừng tâm niệm này, vô minh, chấp ngã, ái luyến, oán ghét, sợ hãi, sẽ được tiêu tan đoạn trừ.
Tôi nói:
Việc gì cũng có thể nhập Tam ma địa.

Tôi xin nêu một ví dụ:
Thời Phật Thích Ca Mâu Ni, có một người thợ cắt tóc là đệ tử, khi anh ta đang cắt tóc cho Phật Đà.
Tâm chỉ chú ý vào một chỗ.
Cứ thế cắt tóc, trong một khoảnh khắc, anh ta đã nhập vào Tam ma địa.
Người thợ cắt tóc đã dừng lại tâm niệm.
Từ đó có thể thấy, Tứ gia hành pháp có thể nhập vào Tam ma địa.

Chúng ta cũng có thể nói như vầy:
"Làm bất cứ việc gì, đều có thể nhập Tam ma địa!"
Làm đại lễ bái, đại cúng dường, tụng chú tứ quy y, đại sám hối pháp, đều phải nhiếp tâm vào một chỗ.
Mơ hồ mơ hồ, liền nhập vào Tam ma địa.

Ví dụ:
Mỗi ngày, tôi tập trung tâm vào một chỗ để viết, và đây là cảm nhận của tôi:
Ý nghĩ chỉ tập trung vào chữ viết, không được sai một chữ nào, với sự chuyên nhất như vậy, tâm sẽ định vào một điểm, và trong một khoảnh khắc, không còn ý nghĩ nào khác.
Đây chính là Tam ma địa.
Thiền tông Trung Hoa gọi đó là vô tâm, vô tâm chính là điều kiện của thiền định.
Vô tâm cũng chính là dừng lại tất cả ý nghĩ.
Tại sao lại gọi là chỉ tức?
Bởi vì:
Hơi thở động thì tâm động.
Hơi thở động thì khí động.
Khí động thì tâm động.
Vì vậy Tam ma địa chú trọng phép điều hòa hơi thở, hơi thở đều đặn, hơi thở vi tế, là cửa ngõ vào Tam ma địa.

Tôi biết rằng:
Tam ma địa đại khái có thể phân chia thành:
Tam ma địa hữu ngã - vẫn còn tồn tại một cái tôi, vẫn còn có cảm giác.
Có tìm cầu.
Có tư duy.
Có trí tuệ.
Có kiến giải.
Đây được gọi là Tam ma địa còn chủng tử, hành giả thông thường tự cảm thấy có một cái tôi, có thấy nghe hay biết, ví dụ như: thấy Bổn tôn, thấy ánh sáng, thấy cảnh bên ngoài, thấy cảnh bên trong, v.v... Những điều này vẫn thuộc về Tam ma địa còn chứa chủng tử.

Một khi bước vào Tam ma địa vô ngã:
Không hình không tướng.
Không không gian.
Không thời gian.
Không niệm.
Không tạo tác.
Không.
Đây chính là Phật tính minh quang. (tự nhiên hiển hiện)
Đây là đại minh chú, đại thần chú, vô thượng chú, vô đẳng đẳng chú.
Vi tế của vi tế nhất. (pháp nhĩ bản nhiên)


### 17. Phật tính của Tam ma địa vô ngã


Có người hỏi:
"Xin Sư Tôn Lư giải thích về Phật tính?"
Tôi nói:
Thời đại Phật Đà.
Phật nói: "Hư không có thể nghĩ lường được chăng?"
Đáp:
"Bạch Thế Tôn, không ạ, hư không không thể nghĩ lường được."
Nghĩa là: Hư không không thể nghĩ, không thể bàn, không thể nói, không thể suy lường.

Trong Kinh Duy Ma Cật, tôi xem xét Kim Túc Như Lai giải thích như thế nào:

Phật tính,
không phải sắc, không phải thọ, không phải tưởng, không phải hành, không phải thức, tức là không phải ngũ uẩn.
Phật tính,
không phải mười hai xứ, không phải mười tám cõi giới.
Phật tính,
không phải Dục giới thiên, không phải Sắc giới thiên, không phải Vô sắc giới thiên.
Phật tính,
không phải Phật tướng, cũng không phải pháp tướng, cũng không phải chúng sinh tướng, cũng không phải thọ giả tướng.
Phật tính,
không phải thế gian, cũng không phải xuất thế gian, không phải phiền não, không phải giải thoát.
Phật tính,
không phải tu đạo, cũng không phải cầu đạo, không phải hý luận, không phải ly khổ, không phải đoạn lạc, không khổ không lạc.
Phật tính,
vô sinh vô diệt, không phải sinh diệt tử tuyệt, hoàn toàn không phải.
Phật tính,
không cấu uế, cũng không bị ô nhiễm.
Phật tính,
không đến không đi.
không phải nơi tâm hành, không phải có chỗ nương tựa, cũng không giữ, cũng không bỏ, không thể nương tựa, không thể dừng trụ.
Phật tính,
không hình không tướng, chẳng phải hình chẳng phải tướng, thấy nghe hay biết đều không phải.
Phật tính,
không chấp trước.
Phật tính,
không mong cầu.
Phật tính,
không tạo tác.
………………………

Tôi đã viết nhiều như vậy, mà vẫn không có cái nào đúng cả. Thực ra Phật tính như hư không, hư không chẳng là gì cả. Mặt trời, mặt trăng, tinh tú, mây, mưa, sương mù, sấm sét, tuyết, đều không phải.
Hư không không thể nghĩ bàn, không thể luận bàn.
Phật tính không thể nghĩ bàn, không thể luận bàn.
Đây chính là điều Lão Tử của Trung Quốc đã nói:
Mơ hồ, phảng phất, trong đó có vật.
Cũng chính là điều Đức Phật đã nói:
Không thể nói.
(Nói có, lại không có. Nói không có, lại có.)

Có người ví von, Phật tính như một tấm gương, có thể phản chiếu vạn sự vạn vật, đến gì hiện cái đó. Nhưng, nếu không có gì cả thì gương cũng trống rỗng không một vật.
Có người ví von, Phật tính chính là niết bàn, Phật tính chính là tịch diệt. Dường như đúng, lại dường như không đúng.
Có người nói:
Không trí cũng không đắc, dường như đúng lại dường như không đúng.
Cuối cùng chỉ có thể nói: "Pháp nhĩ bản nhiên."
Phật Đà dạy: "Tất cả chúng sinh, đều có Phật tính."
Mãi mãi tồn tại!


### 18. Tất cả đều khổ


Ở đây tôi muốn nhắc lại: tất cả đều là khổ.
Tại sao tất cả đều là khổ?
Bởi vì bậc trí giả như Phật Thích Ca Mâu Ni, Ngài đặt "khổ" ở vị trí đầu tiên.
Như: khổ, tập, diệt, đạo (bốn diệu đế)
Khi Phật thuyết pháp, thường nhắc nhở chúng sinh: "Tất cả đều là khổ, không có gì không khổ."
Ngài còn dạy:
"Con người sống trong cõi Ta Bà này, hai chữ: trả nghiệp. Đó là một loại nhân duyên quả báo."

Tôi nói:
Con người sở dĩ là con người, là vì luân hồi. Nguyên nhân của luân hồi là hạt giống vô minh, là hạt giống ái luyến, là hạt giống oán hận, là hạt giống sợ hãi, là những hạt giống do chính ta gieo.
Luân hồi chính là khổ.
Lại nói:
Ái luyến chẳng phải là sung sướng sao?
Bậc trí giả nói:
Ăn là một sự hưởng thụ, nhưng chỉ là tạm thời. Ăn xong lại đói, lại ăn, lại đói. Tóm lại, không bao giờ thỏa mãn, và sự không thỏa mãn đó chính là khổ.

Nam nữ hoan lạc, chẳng phải là sự hưởng lạc sao? Mọi người hãy nghĩ xem, nam nữ hoan lạc, tình dục là một cái hố không đáy, có rồi lại muốn có nữa, dục vọng càng ngày càng lớn, thỏa mãn thì là sung sướng, nhưng, phần không thỏa mãn nhiều hơn, há chẳng phải càng ngày càng khổ.

Khổng Tử nói:
"Ăn uống và tình dục là bản tính con người!"
Thỏa mãn được dục vọng là sướng.
Không thể thỏa mãn là khổ.
Nhưng, nghĩ kĩ xem - hưởng lạc sẽ biến thành chịu khổ, liên tục theo đuổi hưởng lạc, sự theo đuổi này là một nỗi đau khổ, được rồi lại mất, mất rồi lại được, không thể thỏa mãn chính là khổ.

Hãy suy nghĩ kĩ:
Chủ nghĩa hưởng lạc cuối cùng sẽ dẫn đến đau khổ.
Niềm vui nhất thời sẽ biến thành nỗi buồn vĩnh cửu. Hưởng lạc chỉ là tạm thời, khổ mới là vĩnh hằng.

Vì thế Đức Phật dạy:
"Tất cả đều là khổ."

Nói một cách đơn giản, hưởng lạc ăn uống, sắc dục, buông thả vô độ, là điều không bao giờ có thể thỏa mãn, chỉ càng khiến sự theo đuổi thêm mãnh liệt, từ đó sinh ra khổ.

Phật dạy bốn Thánh đế:
Một chữ "Diệt".
Diệt chính là cần đoạn.
Phương pháp để đoạn trừ chính là Đạo.

Tu hành của chúng ta chính là thanh tịnh, triệt để quét sạch vô minh, chấp ngã, ái luyến, oán hận, sợ hãi.
Như vậy mới là giải thoát.
Tôi (Lư Sư Tôn) về phương diện này, quan điểm cá nhân của tôi là: chuyển hóa.
Dục vọng về tài - dùng pháp Tài Thần.
Dục vọng về sắc - dùng pháp song thân.
Dục vọng về danh - dùng pháp kính ái.
Dục vọng về thực - dùng pháp cúng dường. (pháp siêu độ)
Dục vọng về ngủ nghỉ - dùng pháp miên quang.
(Tùy thuận dục vọng, biến dục vọng thành phương pháp tu hành, dần dần chuyển hóa.)

Ví dụ:
Về phương diện sắc dục, chuyển hóa "lạc" ngắn ngủi thành "đại lạc quang minh của trung mạch".
Nhưng, nói thì dễ mà làm thì khó, có người dành cả đời cũng không làm được. Bản thân tôi mất năm năm mới làm được, đó đã là quá may mắn rồi.
Đây chính là lấy ngọc từ miệng rắn độc, dùng độc trị độc.


### 19. Vì sao tôi có phân thân (Pháp thân)


Tôi hỏi Duy Ma Cật Đại Sĩ:
"Làm thế nào để có phân thân (Pháp thân)?"
Duy Ma Cật đáp:
"Hòa nhập vào hư không."
Tôi hỏi:
"Đó là năng lực gì?"
Duy Ma Cật đáp:
"Năng lực của Tam ma địa."

Phân thân (Pháp thân) của tôi tràn đầy khắp hư không, tương tác với các Không hành
mẫu và Không hành dũng phụ ở nhân gian.

Một vị Không hành mẫu của tôi là Phàm Phàm gửi cho tôi một bức thư như sau:

*Lư Sư Tôn kính yêu!*

*Trong pháp hội hôm qua, con thấy Sư Tôn và Liên Hoa Sinh Đại Sĩ không có gì khác biệt. Hợp nhất với Phật Mẫu Diệu Âm.
Con thấy được Liên Hoa Sinh Đại Sĩ và Phật Mẫu Diệu Âm hóa hiện ra ánh hào quang cầu vồng, cùng với vẻ đẹp vô song của Phật Mẫu Diệu Âm.
Phật Mẫu dạy:
"Hãy nhớ con là ai, con đến từ đâu, hãy nhớ truyền thừa của con, và tấm lòng phụng sự Lư Sư Tôn đời đời kiếp kiếp."
Tuy vốn đã biết nhân duyên này, nhưng con vẫn như được rưới cam lộ lên đỉnh đầu, như được đánh thức một lần nữa. Con cảm thấy Phật Mẫu và con là một, không phải hai.*

*Lư Sư Tôn, con sẽ ngoan ngoãn, biết vâng lời, để Thầy thương yêu con. Con sẽ cố gắng trưởng thành, vượt qua phiền não tập khí, để vừa có thể hầu cận Thầy, vừa tu trì, củng cố khí mạch điểm, còn phải học hành và làm việc nữa.*

*Con muốn có năng lực chăm sóc Sư Tôn, hộ trì Sư Tôn hoằng pháp lợi sinh, bản thân cũng chứng đắc đại thành tựu.
Thầy nói:
Thầy để lại một phân thân cho con, và con cũng tu được phân thân, dâng phân thân cho Thầy.
Con biết rằng, chỉ cần con không phiền não, không sợ hãi, sẽ vĩnh viễn không xa cách.
Con nguyện cùng tất cả chư Phật Mẫu, Bổn tôn yêu kính Thầy ở bên nhau. Con trở thành tâm của Thầy, con vốn đã đầy đủ.
Kính yêu Thầy nhất!
Phàm Phàm đảnh lễ.*

Lời thề của Không hành mẫu Phàm Phàm:

*Om Ah Hum
Đảnh lễ Sư Tôn, bậc Đạo sư của con.
Như mặt trời phương Đông chiếu khắp, như trăng tròn phương Tây không tỳ vết,
Như lửa hừng phương Nam bùng cháy, như sương giá phương Bắc bất động,
Cầu xin bậc truyền thừa bí mật, Bổn tôn Không hành gia trì con.*

*Giới luật là y phục bên ngoài, viên mãn chân như là thể tính,
Vô niệm là ý chân thật của con, vô tâm là lời chân thật của con,
Vô tướng là kim cang thân của con, như huyễn như hóa là bồ đề,
Cầu xin bậc truyền thừa bí mật, Bổn tôn Không hành đồng gia trì.*

*Mọi lời nói là kim cang ca, mọi cử chỉ là kim cang vũ,
Pháp giáo viên mãn như trò chơi, Bổn tôn trang nghiêm là tràng hoa,
Trong lưới huyễn hóa nổi gió nghiệp, bầu trời mây trắng là tâm con,
Cầu xin bậc truyền thừa bí mật, Bổn tôn Không hành đồng gia trì.
Samaya.*

(Bức thư này là minh chứng về sự phân thân (Pháp thân) phân bố khắp nơi của tôi, Lư Sư Tôn.)


### 20. Tôi là tâm của A Di Đà Phật


Tôi (Lư Sư Tôn) có truyền thừa từ hư không là:
Tỳ Lô Giá Na Phật - Phật Nhãn Phật Mẫu - A Di Đà Phật - Liên Hoa Đồng Tử - Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.
Vốn dĩ tôi chính là hóa thân đồng tử (Liên Hoa Đồng Tử) do A Di Đà Phật hóa hiện.

Vào thời nhà Đường có mười bài ca dao được trẻ em truyền tụng.
Trong đó có bài:

*Liên Hoa Đồng Tử gặp Kim Tiên.
Khắp cả hư không hoa rơi xuống.
Vượt mây nghe tiếng trời vi diệu.
Lời nào tả xiết lạc cõi thiên.*

Tôi (Liên Hoa Đồng Tử - Lư Thắng Ngạn), vốn dĩ là hóa thân của A Di Đà Phật.
Nguồn gốc của tôi là A Di Đà Phật, A Di Đà Phật là bản địa của tôi.
Tôi là tâm của A Di Đà Phật.

🌟

Tôi tu pháp Thượng sư, Thượng sư của tôi là A Di Đà Phật, tôi tu pháp Bổn tôn, Bổn tôn của tôi là A Di Đà Phật.
Tôi kết ấn A Di Đà Phật. (Di Đà định ấn)
Tôi quán tưởng A Di Đà Phật.
A Di Đà Phật sắc vàng kim, tướng đẹp quang minh không ai sánh.
Bạch hào uyển chuyển năm Tu Di, mắt biếc trong như bốn biển lớn.
Trong hào quang hóa vô số Phật, hóa hiện vô biên các Bồ Tát
Bốn mươi tám nguyện độ chúng sinh, chín phẩm đều được lên bờ giác.

Tôi trì chú tâm của Phật A Di Đà:
"Nam mô 36 vạn tỷ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. Ôm a-mi-đê-wa sê."
Cuối cùng:
Tôi nhập Tam ma địa của Phật A Di Đà.

Tôi tụng bài hồi hướng:
"Thập phương tam thế Phật, A Di Đà đệ nhất, chín phẩm độ chúng sinh, uy đức không cùng tận. Con nay xin quy y, sám hối ba nghiệp tội, tất cả các phước lành, chí tâm xin hồi hướng. Nguyện cùng người niệm Phật, cảm ứng hiện tức thì, lâm chung cảnh Tây phương, hiện rõ ngay trước mắt. Thấy nghe đều tinh tấn, cùng sinh cõi Cực Lạc, thấy Phật thoát sinh tử, như Phật độ tất cả."

🌟

Đây là tôi tu pháp Bổn tôn.
Tôi tu một pháp tương ứng.
Bổn tôn khai sáng Diêu Trì Kim Mẫu cũng tương ứng.
Bổn tôn nguyện lực Địa Tạng Bồ Tát cũng tương ứng.
Còn có chư tôn:
Từng vị đều tương ứng.

Tôi là Liên Hoa Đồng Tử này, vốn do chính Diêu Trì Kim Mẫu đích thân nói cho tôi biết.
Sau này được chứng thực qua các bức bích họa ở hang Đôn Hoàng. Đại học Lan Châu thậm chí còn xuất bản cuốn "Nghiên cứu về Liên Hoa Đồng Tử".
Cuối cùng chứng thực:
Bảo Thượng Đồng Tử.
Bảo Ý Đồng Tử.
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.
Tất cả đều là hóa thân của Liên Hoa Đồng Tử, Liên Hoa Đồng Tử là một vị Đại Bồ Tát.

Tôi thông qua tu tập Mật giáo với pháp Tứ gia hành, pháp Bổn tôn...... Từ đó trong tâm khôi phục lại những điều đã biết từ tiền kiếp.

Tôi ở trong chuyên nhất mà biết được.
Tôi ở trong xa lìa hý luận mà biết được.
Tôi ở trong tương ứng mà biết được.
Tôi ở trong nhất vị mà biết được.
Tôi nương tựa vào Tam ma địa của Bổn tôn, trở thành Bổn tôn, không hai không khác.
Biết quá khứ, hiện tại, vị lai.
Tôi là tâm của A Di Đà Phật.


### 21. Bí mật về tu pháp Bổn tôn


Chúng ta biết nghi quỹ của pháp Bổn tôn, vậy bí mật của nó là gì?
Chế tâm một chỗ kết thủ ấn - thân thanh tịnh.
Chế tâm một chỗ quán tưởng - ý thanh tịnh.
Chế tâm một chỗ trì chú - khẩu thanh tịnh.
Chế tâm một chỗ nhập Tam ma địa - ta với Bổn tôn hợp nhất.
Còn nữa:
Không thể thiếu thiện căn.
(Mọi ác không làm, hãy làm mọi thiện.)

Còn nữa:
Nhất tâm bất loạn chính là chế tâm một chỗ.
Niệm Phật.
Riêng cá nhân tôi cảm thấy ngoài những bí mật này ra, còn có đại bí mật quan trọng hơn:
Cần có trí tuệ quang minh.
1. Chúng ta hiểu rõ đời là khổ, muốn lìa khổ được vui, nên nhất định phải vãng sinh Tịnh thổ.
2. Chúng ta cần đoạn trừ nhân của khổ.
3. Chúng ta cần Tam ma địa của pháp Bổn tôn, chỉ có Tam ma địa mới có thể đoạn trừ khổ.
4. Pháp Bổn tôn chính là phương pháp đoạn trừ khổ.
5. Bí mật của Tam ma địa chính là vô tâm, tức là dừng niệm, chỉ có dừng niệm mới có thể thanh tịnh.
6. Tâm của tiểu ngã cá nhân cần hòa nhập vào tâm của A Di Đà Phật, trở thành tâm tâm tương ấn.
7. Từ đây an trụ trong trí tuệ quang minh.
8. Có được trí tuệ quang minh thì sẽ không thối chuyển nữa, đã đến cảnh giới bất động địa, đây chính là không đánh mất đạo tâm, là cảnh giới rất cao.
9. Có thể làm lợi tha.
10. A Di Đà Phật có 48 nguyện.

Hành giả cũng cần phát 48 nguyện:
01. Nguyện không có ba đường ác
02. Nguyện không còn đọa đường ác
03. Nguyện thân sắc vàng
04. Nguyện không phân biệt đẹp xấu
05. Nguyện có túc mệnh thông
06. Nguyện có thiên nhãn thông
07. Nguyện có thiên nhĩ thông
08. Nguyện có tha tâm thông
09. Nguyện có thần túc thông
10. Nguyện có lậu tận thông
11. Nguyện trụ trong chính định
12. Nguyện ánh sáng vô lượng
13. Nguyện thọ mạng vô lượng
14. Nguyện Thanh văn vô số
15. Nguyện quyến thuộc trường thọ
16. Nguyện không có điều bất thiện
17. Nguyện chư Phật khen ngợi
18. Nguyện niệm Phật vãng sinh
19. Nguyện được tiếp dẫn
20. Nguyện nhất tâm vãng sinh

Còn nữa:
21. Nguyện có ba mươi hai tướng tốt
22. Nguyện nhất định đến địa vị Bổ Xứ
23. Nguyện cúng dường chư Phật
24. Nguyện cúng dường như ý
25. Nguyện thuyết nhất thiết trí
26. Nguyện có thân Na La Diên
27. Nguyện mọi điều cần đều thanh tịnh
28. Nguyện thấy cây đạo tràng
29. Nguyện được trí tuệ biện tài
30. Nguyện trí biện vô cùng.

Còn nữa:
31. Nguyện cõi nước thanh tịnh
32. Nguyện cõi nước trang nghiêm
33. Nguyện ánh sáng xúc chạm đều mềm mại
34. Nguyện nghe danh được nhẫn
35. Nguyện nữ nhân vãng sinh
36. Nguyện thường tu phạm hạnh
37. Nguyện trời người cung kính
38. Nguyện y phục tùy niệm
39. Nguyện thọ lạc không nhiễm
40. Nguyện thấy các cõi Phật

Còn nữa:
41. Nguyện các căn đầy đủ
42. Nguyện trụ định cúng Phật
43. Nguyện sinh vào nhà tôn quý
44. Nguyện đức hạnh đầy đủ
45. Nguyện trụ định thấy Phật
46. Nguyện tùy ý nghe pháp
47. Nguyện được bất thoái chuyển
48. Nguyện được tam pháp nhẫn.

(Trên đây là 48 nguyện.)

Ngoài ra:
Xin chú trọng đến phương pháp tư thế cơ thể.
Xin chú trọng đến phương pháp hít thở.
Làm thế nào để thu về các giác quan?
Làm thế nào để chuyên chú nhất tâm?
Làm thế nào để thiền định?
Làm thế nào để chính định?
Những điều này cần phải thỉnh giáo các vị Kim cương Thượng sư chân chính.


### 22. Vì sao phải giữ năm giới?


Tôi (Sư Tôn Lư) ở đây, đề cập đến việc giữ năm giới, vì sao phải giữ năm giới?
Lý do rất đơn giản: Vì không giữ năm giới thì không thể chế tâm một chỗ. Hành vi của bạn tán loạn, không thanh tịnh, tham tiền, tham sắc, tham danh, đủ loại sân hận, đủ loại si mê, tâm niệm không chính, làm sao có thể nhập Tam ma địa?

Năm giới là:
Không sát sinh — không dùng bạo lực, không hại sinh linh.
Không trộm cắp — không lấy của phi nghĩa.
Không tà dâm — không buông thả giác quan, phạm dâm.
Không vọng ngữ — không tâm niệm bất chính, nói không thật, lừa dối chúng sinh.
Không uống rượu — không gây rối loạn tâm tính.

Tôi nói:
Nếu muốn chế tâm một chỗ, nhập Tam ma địa, không thể phạm năm giới này. Bởi vì hành vi không chính, tâm niệm không chính, làm sao tâm thanh tịnh được, tâm không thanh tịnh thì không thể chế tâm một chỗ.

Cá nhân tôi không tán thành chiến tranh. Nhưng khi quốc gia động viên, vẫn phải tuân theo. (Chiến tranh là sát sinh tập thể.)
Giết một người, giết sinh linh, đều là bạo lực. Có hành vi bạo lực, tâm không thể tĩnh lặng, loại tâm này sẽ gây nhiễu loạn, không thể dừng nghỉ.
Làm sao có thể tĩnh tọa?
Làm sao có thể thiền định?
Làm sao dừng niệm?
Làm sao nhập Tam ma địa?

Nói thêm về không trộm cắp, nếu bạn thèm muốn tài vật của người khác, tâm sẽ không yên ổn.
Trộm cắp tài vật chính là tâm tham.
Tham lam tài vật của người đã là tâm niệm bất chính, nếu thực hiện thì tạo thành nghiệp.
Dù thế nào đi nữa, với tâm thái này mà muốn chế tâm một chỗ thì chỉ là vọng tưởng.
Đã mất chính niệm rồi!

Nói đến tà dâm. 
Đó là hành vi không kiểm soát được ý niệm dục vọng, đã đánh mất thanh tịnh hạnh (phạm hạnh).
Đầu óc toàn là dâm trùng.
Bản thân là dâm trùng của dục vọng.
Thân là dâm trùng.
Niệm là dâm trùng.
Tà dâm tràn ngập trong tâm trí của bạn, khiến bạn không thể đạt được sự thanh tịnh của phạm hạnh.
Bạn đã không thể kiểm soát được các giác quan của mình từ lâu, một người như vậy làm sao có thể kiểm soát được tâm niệm?
Người phạm giới này rất nhiều.
Do đó, không thể chế tâm một chỗ, nhập Tam ma địa.
Dục vọng là hố sâu không đáy, không thể tự thoát ra được.

Nói về vọng ngữ.
Thực ra lời nói và tâm niệm không hợp nhau chính là vọng ngữ. (tâm khẩu bất nhất)

Và: Những lời nói không chân thật.
Lừa dối người khác.
Phỉ báng người khác.
Dùng lời nói để làm tổn thương người khác.
Nói lời thô tục.
Làm rối loạn phải trái.
Nói chuyện vô bổ, bàn tán thị phi.

Và: Thế nào là lời nói chân thật? 
Câu trả lời là: những lời có lợi ích cho tất cả chúng sinh trong thiên hạ, là lời nói chân thật.
Vì thế Phật Đà dạy: "Ta là người nói lời chân thật, không nói lời sai khác."

Về nguyên tắc, vọng ngữ bao gồm cả văn tự, văn tự cũng là một phương thức truyền đạt, hình vẽ cũng là một phương thức.

Ngoài ra, giới rượu là nguồn gốc của bốn giới trên, vì rượu có thể làm rối loạn tâm tính. Một khi say rượu, có thể làm ra đủ mọi chuyện.

Muốn tu tập chế tâm một chỗ, có ba phương pháp:
Một, lên núi. Hai, nhập thất. Ba, khổ hạnh.


### 23. Bậc yogi tu khí


Tại đây, tôi xin kể một câu chuyện:
Một ngày nọ.
Khi tôi đang thuyết pháp trên pháp tọa, có người đặt câu hỏi: "Khí có thực sự chữa được bệnh không?"
Vì vậy tôi biểu diễn một phương pháp chữa bệnh. (Đây là một trong những cách gia trì cho bệnh nhân.)

Trước tiên tôi kết ấn.
Tôi tụng thần chú Lục Đinh Lục Giáp:
"Thượng Thanh Thượng Đế Đông Hoa Đại Đế Quân, Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn, lệnh cho Liên Sinh nhận Lục Giáp thiên thư, và sai khiến thần Lục Đinh Lục Giáp, Thiên Du Thập Nhị Khê Nữ, Na Diên Thiên Nữ ngũ nhân, thống lĩnh thần binh tam viên đại tướng, Hỏa Quang đại tướng, Phù Hải đại tướng, Hống Phong đại tướng, mỗi vị dẫn trăm vạn thần binh, phù hộ cho Liên Sinh, thần thông, biến hóa, pháp lực, với đạo hợp chân. Như luật lệnh. Seh!"
Sau đó, vận khí phóng thẳng vào bệnh nhân. (phát công)

Sau đó, tôi vẽ ấn tứ tung ngũ hoành.
Thủ ấn vẽ bốn đường dọc.
Thủ ấn vẽ năm đường ngang.
Tụng Cửu tự chân ngôn: "Lâm binh đấu giả giai trận liệt tại tiền".
Mỗi nét một chữ. Tổng cộng chín chữ.
Mạnh mẽ vẽ ra.
(Đây là một trong những phương pháp chữa bệnh bằng khí, cũng có thể đuổi tà ma nhập thân, thậm chí giải trừ bùa ngải, và có thể dùng làm kết giới v.v.)

Tôi đang ở trên pháp tọa, thị hiện sức mạnh của khí.
Công pháp của tôi có phát trực tiếp.

🌟

Tôi có một đệ tử, ở đất nước của anh ấy, sau khi xem đoạn phát trực tiếp này, đã ghi lại quá trình phát công này.
Anh ấy chợt nảy ra một ý tưởng.
Đem đoạn phát công này chiếu lên tivi, rồi ngồi trước tivi.
Người đệ tử này bị đau viêm đầu gối nhiều năm, đã tìm khắp các bác sĩ để chữa trị nhưng vẫn không khỏi.
Uống thuốc.
Châm cứu.
Tiêm thuốc.
Đều không hiệu quả.
Bác sĩ khuyên anh ấy phẫu thuật.

Anh ấy ngồi trước tivi, chắp tay, với tâm thành kính, cầu nguyện tôi giúp chữa bệnh.
Tôi phát công ở Seattle Lôi Tạng Tự , còn anh ấy ở một quốc gia Đông Nam Á.
Tôi chỉ đang biểu diễn khí.
Anh ấy có tâm thành.
Kết quả kỳ diệu xuất hiện, đầu gối anh ấy hết viêm, sưng đỏ biến mất, không còn đau nữa, có thể đi lại được, tất cả đều khỏi hẳn!
Sau khi khỏi bệnh, anh ấy đợi đủ hai tháng, chắc chắn là hoàn toàn bình phục rồi mới báo cho tôi biết.

Trời ơi!
Tôi chỉ biểu diễn phát công khí ở Seattle, Mỹ.
Anh ấy ở Đông Nam Á, chỉ xem một đoạn phát trực tiếp về phát công.
Vậy mà cũng chữa được bệnh!
Thật là thần kỳ!

Tôi (Lư Sư Tôn) thành thật nói với mọi người:
"Chỉ cần thành kính, thật sự sẽ sinh ra sức mạnh."
Tu khí.
Tu mạch.
Tu minh điểm, chuyết hỏa.
Là tu hành Nội pháp sau khi tu pháp Bổn tôn.


### 24. Tâm mềm mại


Trong bài văn này, tôi lại muốn kể một câu chuyện kỳ diệu:
Có người hỏi tôi:
"Tại sao Hòa thượng Hư Vân có thể độ cho cả những con hổ dữ quy y Tam Bảo?"
Tôi trả lời:
"Hòa thượng Hư Vân đã tu được tâm mềm mại!"
Người ấy hỏi:
"Làm sao có thể như vậy được?"
Tôi trả lời:
"Đó là cảnh giới tự tại, chỉ những người tu hành như vậy mới có thể đạt được."

Tôi xin giải thích như sau:
Một hành giả phải giữ giới luật, điều đầu tiên là không sát sinh. Không được dùng bạo lực để làm tổn hại bất kì sinh linh nào.
Hành giả phải từ bi với vạn vật, đồng thể đại bi, vô duyên đại từ.
Hành giả không chỉ thực hành không sát sinh.
Hành giả còn phóng sinh.
Hành giả không có ác ý với bất kì sinh linh nào.
Tâm mềm mại.
Mắt dịu dàng.

Tôi nói: Không có ác ý là điều quan trọng nhất, dù là với nhện cũng phải yêu thương như vậy, với chuột cũng không làm hại, với muỗi mòng cũng không đập đánh............
Bởi vì hành giả và vạn linh là một thể.
Hành giả chỉ có hai chữ từ bi.
Nếu giữ mãi như vậy, sẽ tu được một loại siddhi, cũng có thể gọi là thần thông. (hay còn gọi là thành tựu)
Nhìn hổ một cái, hổ biến thành mèo con.
Nhìn rắn độc một cái, rắn độc trở nên hiền lành.
Nhìn bọ cạp độc một cái, bọ cạp biến thành hộ pháp.
Nhìn sói một cái, sói biến thành cừu non.
Nhìn tê giác một cái, tê giác dừng bước.
Nhìn gấu một cái, nó đi ngang qua bên cạnh hành giả.
Hành giả không có ác ý với vạn linh, vạn linh cũng không có ác ý với hành giả, đây là sự tương hỗ.

Ví dụ:
Trong rừng có nhiều cây cối, và trong rừng cũng có nhiều thú dữ.
Cây cối không làm hại thú dữ.
Thú dữ không làm hại cây cối.
(Ví dụ này không được chính xác lắm, nhưng cũng chỉ có thể như vậy thôi.)

Tóm lại,
Hòa thượng Hư Vân, với đôi mắt dịu dàng, chỉ nhìn hổ một cái, hổ liền ngoan ngoãn như mèo con, xin thọ tam quy y.
Quy y Phật.
Quy y pháp.
Quy y tăng.

Những tín đồ khác sợ hãi hổ, chạy tán loạn khắp nơi, những người này tất nhiên là sợ.
Bởi vì họ có ác ý với hổ.
(Một hành giả tu được tâm mềm mại, tu được đôi mắt dịu dàng, đệ tử có duyên nhìn thấy hành giả, như đứa con nhìn thấy mẹ.)
Bậc đại tu hành phải như vậy.
Hổ là thị giả.
Gấu là thị giả.
Sói là thị giả.
Rồng rắn là thị giả.

Nhưng nếu chưa tu đến thành tựu, chưa có thần thông, chưa đạt đến đích, xin đừng thử!
Những bậc hành giả tối thượng như vậy rất hiếm gặp, cầu xin các ngài ban phúc, ban điều ước nguyện, phần lớn đều được thực hiện.
Hòa thượng Hư Vân chính là một hành giả như vậy, bậc đại tu hành, được long thiên hộ trì.
Lành thay!


### 25. Kiến chứng của một đệ tử phương Tây 


**Chuyến trị liệu Thời Luân Kim Cang của tôi**

A Di Đà Phật!

Ngày 31 tháng 12 năm 2023, tôi đã được tận mắt gặp Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật và tham dự pháp hội Hộ Ma Thời Luân Kim Cang do Sư Tôn chủ trì, thật là một ngày hạnh phúc. Đối với tôi, để có thể đến được nơi đây (Cầu Vồng Lôi Tạng Tự), tôi đã trải qua rất nhiều chướng ngại. Chúng tôi vô cùng cảm tạ sự hỗ trợ của tất cả các huynh tỷ đồng môn, mới giúp tôi thực hiện được mục tiêu này. Đồng thời, tôi cũng cảm ơn có thể cùng mẹ - người đã mắc chứng trầm cảm và đau đớn dữ dội suốt 11 năm, hầu như chưa từng rời khỏi nhà - cùng đến diện kiến Sư Tôn và nhận được gia trì lớn lao của Ngài, cầu xin được giải thoát khỏi bệnh khổ.

Nhớ lại khoảnh khắc đáng nhớ năm ngoái, vào ngày 16 tháng 10 năm 2022, khi tôi tham dự pháp hội Hộ Ma Thời Luân Kim Cang và nhận được vô lượng gia trì cùng phép màu chữa lành từ Liên Sinh Hoạt Phật. Lúc đó tôi được chẩn đoán mắc một căn bệnh hiếm gọi là "SPS" - Hội chứng cứng người. Nó được gọi là căn bệnh "một phần triệu", nghĩa là cuộc sống của tôi luôn chịu đựng nỗi đau của những cơn co giật có thể xảy ra bất cứ lúc nào, nhiều lần tôi mất khả năng nói vì dây thanh quản bị các cơ co thắt làm tê liệt. Hầu hết thời gian, tôi phải dùng gậy chống, và khi cơ thể quá mệt mỏi, tôi phải ngồi xe lăn.

Trong chuyến đi kéo dài 13 tiếng từ Sacramento, California đến Redmond, Washington, tôi đã trải qua nhiều cơn co giật. Dưới sự đồng hành của một vị sư phụ và nhiều pháp sư, họ đã phải chịu đựng những cơn đau đớn của tôi trên xe, và đã tận tình cõng tôi đi gặp Hoạt Phật và tham dự nghi lễ Hộ Ma.

Trước khi pháp hội bắt đầu, cuối cùng tôi cũng được đích thân gặp Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật. Tôi đã được nghe kể rằng Thánh Tôn chỉ cần nhìn tôi một cái là có thể chữa lành cho tôi, điều này khiến tôi tràn đầy niềm tin và hân hoan đón chờ sự xuất hiện của Sư Tôn. Khi tôi gặp được Sư Tôn, ánh sáng Phật quang chiếu rọi vào nghiệp chướng nặng nề của tôi, thật không ngờ tôi có thể hoàn toàn từ bỏ xe lăn và gậy chống, đứng dậy được, thật là một điều hạnh phúc biết bao. Khi về nhà, tôi đã chia sẻ phép màu và niềm vui này với con gái và mẹ tôi, họ đều kinh ngạc và vui mừng khi thấy tôi có thể đi lại và ngay lập tức đi làm ở văn phòng ngày hôm đó. Là một người mẹ đơn thân, cuộc sống của tôi luôn không dễ dàng, đặc biệt là chi phí y tế để được chữa trị, giờ đây được Liên Sinh Hoạt Phật ban cho sự hỗ trợ to lớn, khiến chúng tôi vô cùng cảm kích.

Tôi đã quy y Hoạt Phật Liên Sinh Thánh Tôn, hiện tại tôi là một đệ tử khao khát học hỏi thêm Phật pháp. Tôi vô cùng cảm tạ ân đức của Sư Tôn đã ban cho tôi sự chữa lành trong pháp hội Hộ Ma Thời Luân Kim Cang. Cảm ơn Ngài, không có lời nào có thể diễn tả hết lòng biết ơn của tôi. Om guru liansheng siddhi hum.

— Tina Mortini


### 26. Bí mật của tu khí


Chú âm rung động luân xa tim

Bí mật của chân ngôn nằm ở đâu? Thì ra bí mật của chân ngôn nằm ở hơi thở, khi người ta trì tụng chân ngôn lâu ngày, hơi thở sẽ tuần hoàn theo một trình tự nhất định, tần số của chân ngôn và hơi thở này sẽ dần dần tích tụ thành sức mạnh, sức mạnh này ẩn chứa trong một khớp nối nào đó trong cơ thể, sẽ dẫn dắt khí đi theo kinh mạch, khai thông tất cả các kinh mạch. 
(Đây là một nhận thức tổng thể của Liên Sinh Hoạt Phật sau khi chứng ngộ.) 
Phương pháp trì tụng chân ngôn có pháp tụng thanh âm, pháp tụng kim cang, pháp tụng chủng tử, pháp tụng thực tướng v.v.

Pháp điều hòa hơi thở:
1. Cửu tiết Phật phong.
2. Pháp đếm hơi thở kim cang, còn gọi là kim cang tụng.
- Đếm hơi thở
- Theo dõi hơi thở
- Dừng hơi thở
- Quan sát hơi thở
- Thanh tịnh hơi thở
- Phương pháp hít thở niệm tụng ba chữ kim cang.

3. Pháp quán tu năm luân xa chuyển động.
4. Bảo bình khí.

Về bí mật tu khí, tôi đã từng giảng dạy, có thể tham khảo một số sách trước đây của tôi.

Hòa thượng Liễu Minh dạy tôi:
"Nạp khí, nuốt dịch."
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ dạy:
"Tất cả công đức đều đến từ Bảo bình khí."
Thầy Thubten Dhargye dạy tôi:
"Tu minh điểm."
Đại Bảo Pháp Vương thứ 16 dạy:
"Thông trung mạch, khai luân mạch, bảo trì quang minh phong mạch."
Thầy Sakya Chứng Không nói:
"Khẩu quyết pháp vô lậu."

Tôi (Lư Sư Tôn) đã thuyết giảng về pháp hóa cầu vồng tại Đài Bắc Arena, Đài Loan.
Đã một mạch giảng dạy toàn bộ thứ tự tu tập khí, mạch, minh điểm.
(1) Trước tiên tu hơi thở.
(2) Thông trung mạch.
(3) Thăng chuyết hỏa. (Bảo bình khí)
(4) Giáng minh điểm.
(5) Khai ngũ luân, thất luân.
(6) Thất luân phóng quang.
(7) Cầu vồng.

Tôi nói:
Khí - chính là chiếc xe.
Mạch - chính là con đường.
Minh điểm chuyết hỏa - chính là hàng hóa.
Những pháp tu này hoàn toàn dựa vào tư thế ngồi bảy chi (thiền định), được hơi thở dẫn dắt mà tiến hành. (dùng ý niệm)
Tất cả pháp tu và chi tiết có thể tham khảo sáu pháp thành tựu của Tổ sư Naropa. (6 pháp Naropa)

🌟

Phụ chú:

Liên Sinh Hoạt Phật trong tập 17 của mục "Trò hỏi Thầy đáp - Tương tác chính là sức mạnh" ngày 6 tháng 6 năm 2020 đã nhấn mạnh (trích như sau):

Tu trì Mật pháp có thứ tự, nội ngoại kiêm tu cũng tiện lợi

Q1: Đảnh lễ Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật, xin hỏi theo thứ tự tu hành, có phải nên tu cho tương ứng với Bổn tôn trước, rồi sau đó mới tu trì Nội pháp?

A1: Đây được gọi là "tiệm tu", nghĩa là tu tập theo từng bước. Theo thứ tự mà tu hành, sau khi tương ứng với Bổn tôn rồi mới tu Nội pháp, có được gia trì của Bổn tôn thì Nội pháp sẽ dễ thành tựu hơn. Theo lý thuyết mà nói thì đúng là như vậy. Nhưng có một số người là như thế này, trong Mật tông Tây Tạng hiện nay, có người vừa tu Bổn tôn vừa tu Nội pháp, tức là bên ngoài tu tương ứng Bổn tôn, bên trong tu chuyết hỏa thăng khởi; tu Nội pháp chuyết hỏa, có cách tu song song như vậy. Cũng có người trước tiên tu tương ứng Bổn tôn, sau đó mới tu Nội pháp. Một cái gọi là ngoại tu, một cái gọi là nội tu, còn có cái gọi là "mật tu", tương đương với Vô thượng mật. Còn có "mật mật tu", tương đương với hiển phát ánh sáng của đàn thành toàn thân, đó thuộc về mật mật tu.

Phải xem căn khí. Thông thường tốt nhất là nên tương ứng với Bổn tôn trước rồi mới tu Nội pháp, nhưng nếu bạn vừa tu pháp Bổn tôn vừa tu Nội pháp, theo Sư Tôn thì cũng được. Tuy nhiên, nếu bạn chưa tương ứng với Bổn tôn và chưa tương ứng với Nội pháp thì không thể tu Vô thượng mật. Bạn phải tương ứng với Bổn tôn và thành tựu Nội pháp rồi mới có thể tu Vô thượng mật. Sau khi hiển phát ánh sáng, tự nhiên ngũ luân sẽ hoàn toàn khai mở, huyễn hóa thành năm loại đàn thành, năm màu sắc, biến thành cầu vồng, đây chính là Mật mật pháp, là pháp Đại viên mãn cao nhất. Vì vậy, Vô thượng mật và Mật mật pháp không thể tu khi chưa tương ứng với Bổn tôn và chưa thành tựu Nội pháp. Nói với bạn như vậy, chắc bạn đã hiểu rõ. Do đó, tương ứng Bổn tôn và Nội pháp có thể tu song song, nhưng Vô thượng mật thì phải thành tựu cả hai mới được. Mật mật pháp đương nhiên là cao nhất.


### 27. Sự phụ trợ của thể công pháp kim cang quyền (khí, mạch, minh điểm, chuyết hỏa)


1. Bảy luân xa
Điểm trọng yếu là rung động mở năm luân xa.
Luân xa mi tâm: vỗ đập
Luân xa họng: xoay chuyển
Luân xa tim: chống đẩy
Luân xa rốn: nằm ngửa gập bụng
Luân xa bí mật: nâng hai chân lên đạp xe luân phiên

2. Pháp nuốt khí của Đại thủ ấn

Cách thực hành như sau:
Bước 1: Hai chân rộng bằng vai, đứng thẳng, hai lòng bàn tay nhẹ nhàng áp vào ngực, lưỡi chạm vòm họng, đây là tư thế đứng Đại thủ ấn.
Bước 2: Bắt đầu hít vào nhẹ nhàng và chậm rãi, đếm khoảng sáu nhịp, đan điền tự nhiên hơi nhô ra. Lúc này hai lòng bàn tay từ trên xuống dưới nhẹ nhàng ấn vào bụng dưới, đây là động tác phụ trợ để chỉ dẫn khí đi xuống đan điền.
Bước 3: Khi hai tay ấn đến vùng bụng dưới, phối hợp nước bọt trong miệng với cổ họng, nuốt nước bọt xuống, giống như nuốt thức ăn vậy, ấn khí xuống vị trí.

3. Pháp đại than thi - Phương pháp thả lỏng cơ bắp.

4. Pháp hít khí tồn tưởng của Đại thủ ấn.

Hành giả Mật tông, dù ở nhà, đi ra ngoài, về sớm hay về muộn, đều dùng pháp hít khí tồn tưởng để thu nhiếp tất cả ánh sáng vào thiên tâm, tâm và đan điền. (ánh sáng mặt trời, ánh sáng mặt trăng, ánh sáng tinh tú, ánh sáng lửa, ánh sáng nến, ánh sáng điện). Pháp hít khí tồn tưởng của tôi chính là nhìn mặt trời, mặt trăng.

5. Pháp thể công sáu tư thế khai luân xa rốn.

6. Tám đại pháp Diêu Trì Kim Mẫu.

7. Pháp hét lớn lắc thân.

8. Pháp thể công Bảo bình khí.

9. Pháp thể công kéo trung mạch.

10. Kim cang quyền Kim Cang Hợi Mẫu.

11. Thân ấn của pháp vô lậu

Nam quán tưởng chữ Hum màu trắng ở luân xa bí mật, nữ quán tưởng chữ Hum màu đỏ ở luân xa bí mật. Khi thức dậy vào buổi sáng sớm, ngồi thiền tu pháp Bảo bình khí, sau khi tu xong pháp Bảo bình khí, quán tưởng (nam) chữ Hum màu trắng ở luân xa bí mật, (nữ) chữ Hum màu đỏ ở luân xa bí mật, kết thủ ấn nắm chặt tay (ngón cái đặt trong lòng bàn tay, bốn ngón còn lại nắm lại). Đặt ở vị trí luân xa rốn, dùng một hơi nâng chữ Hum lên, hét chữ Hum một tiếng về phía hư không, hai tay kết thủ ấn nắm chặt đưa lên hư không. Toàn thân có thể nhảy bật lên, dùng sức mạnh tối đa.

Khi hét chữ Hum, hãy quán tưởng minh điểm màu trắng, từ trung mạch phóng lên đỉnh đầu vào hư không, sau đó lại kéo nó trở về, tay phải vỗ nách trái ba cái, tay trái vỗ nách phải ba cái, thu hồi chữ Hum này, vỗ sau lưng ba cái, rồi thu hồi chữ Hum về luân xa bí mật. Lần thứ hai, lại tiếp tục, phóng lên trên, phải dùng sức thật mạnh! Hum! vào hư không, chữ Hum từ luân xa bí mật phóng vào hư không, bạn chỉ cần làm tư thế này là được. Sau đó lại thu hồi chữ Hum về luân xa bí mật.

Mỗi ngày sau khi thức dậy vào buổi sáng, hãy tu pháp Bảo bình khí, sau đó vận dụng minh điểm đỏ trắng, từ trung mạch phóng lên đỉnh đầu rồi thu về, phóng ra rồi thu về. Tôi nói cho bạn biết, không chỉ là vật đỏ không đến, vật trắng không đến, mà bạn còn khai đỉnh. Đây vẫn là pháp phowa, đều là những khẩu quyết rất quan trọng. Rất quan trọng, rất quan trọng.

1. Thủ ấn chuyết hỏa định của Milarepa

Milarepa sinh ra chuyết hỏa chính là sử dụng mười tám ấn này: ngoại thân lục táo ấn, nội mạch lục táo ấn, mật bồ đề tâm lục táo ấn.

Ngoại thân lục táo ấn là sáu hình tam giác, hai chân bắt chéo tạo thành hai hình tam giác (đầu gối gần sát ngực), hai tay ôm lấy hai chân, hai tay tạo thành hai hình tam giác, hai tay và hai chân lại tạo thành hai hình tam giác, tổng cộng sáu hình tam giác, gọi là ngoại thân lục táo ấn.

Luân xa rốn cũng có "lục táo ấn", phía dưới có một hình tam giác lập thể gồm ba hình tam giác, phía trên có một hình tam giác lập thể ngược cũng gồm ba hình tam giác, tổng cộng sáu hình tam giác; ở giữa là Dorje Pamu đứng, đây là lục táo ấn của luân xa rốn.

Mật bồ đề tâm lục táo ấn là dùng ý niệm kết lục táo ấn, gồm sáu hình tam giác.

Phải dùng mười tám ấn mới có thể sinh ra chuyết hỏa.
Nhưng lục táo ấn rất khó kết và không thể duy trì lâu, nên phải dùng dây thiền để buộc chân, buộc tay, ép vào luân xa rốn, rồi làm pháp Bảo bình khí vào trung mạch, chuyết hỏa mới có thể sinh khởi.

13. Pháp đúc kiếm của Vô thượng mật bộ.

14. Pháp Sakya lục thế biến, nâng minh điểm, vô lậu của Vô thượng mật bộ.

15. Ba loại thân ấn của pháp Đại viên mãn.

(Bài giảng thứ 27 về "Pháp 9 thứ tự Đại viên mãn" tại Pháp hội Hộ Ma Sư Diện Không Hành Mẫu, Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, Hoa Kỳ, ngày 15 tháng 9 năm 2013.)

Pháp Đại viên mãn có ba tư thế:

1. Ấn sư tử tọa

Sư tử tọa - hai chân khép lại, lòng bàn tay đối nhau, hai bàn tay đặt ở giữa hai chân (hai tay đặt bên trong chân), ngồi với tư thế như sư tử, giống như sư tử vậy, đan hai tay vào chân, ấn vào luân xa rốn, đây là sư tử tọa. Bạn hãy nghĩ xem sư tử ngồi như thế nào? Ấn vào luân xa rốn.

Tư thế sư tử, hai lòng bàn chân áp vào nhau (đối nhau) tạo thành một hình tam giác, hai tay chống xuống đất, hoặc chống lên chỗ ngồi, giống như một con sư tử đang ngồi; tư thế ngồi của sư tử chính là hai tay đặt như vậy, hai chân khép lại, đó chính là sư tử tọa.

2. Ấn tượng tọa

Tư thế giống con voi - quỳ xuống, hai tay chống má, ấn vào dưới rốn, toàn thân quỳ xuống, hai đầu gối vừa khít chạm vào luân xa rốn.
Tư thế của voi (tượng tọa) - ngồi xổm, tay đặt như thế này (Sư Tôn thị phạm khuỷu tay chống đất đỡ má), đó là tư thế voi.

3. Ấn tiên nhân tọa

Tiên nhân ngồi giống như ăn mày, tiên nhân cũng là ăn mày. Tại sao tiên nhân lại là ăn mày? Bởi vì, khi đã thành tiên rồi thì ngồi thế nào cũng được, có hơi giống như "lục táo ấn" của Milarepa, nhưng chỉ cần hai chân khép lại áp sát vào ngực là được rồi, hai tay ôm lấy hai đầu gối áp sát vào ngực, đây gọi là tiên nhân tọa.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) nói:
Cái gọi là pháp tư thế cơ thể, kim cang quyền đều là để phụ trợ thông trung mạch, khai ngũ luân, thất luân.
Tất nhiên đối với việc sinh chuyết hỏa, hạ minh điểm, đều có lợi ích.
Có người nói đó là yoga, cũng có người nói là kim cang quyền.
Tôi nói:
Những phương pháp tu hành này, mục đích cuối cùng là nhập Tam ma địa, kiến chứng Phật tính.

Có người hỏi:
"Thái cực quyền có được xem là kim cang quyền không?"
Tôi đáp:
"Dĩ nhiên là có. Bởi vì thái cực quyền dùng khí để khai thông kinh mạch, nên cũng được tính vào. Tôi nói thêm: Bất kỳ môn vận động nào có thể khai thông kinh mạch đều được tính là kim cang quyền."
Mật tông Tây Tạng có kim cang quyền tĩnh và kim cang quyền động. Có người nghĩ đó là võ thuật quyền cước, nhưng không hoàn toàn đúng. (khác với võ thuật)

Kim cang quyền Tây Tạng không phải là quyền thuật dùng để đánh nhau, mà là phương pháp tư thế để nội tu khí, mạch, điểm.
Chủ yếu là để điều hòa khí mạch. (hài hòa thân tâm)
Giống như pháp thất chi tọa cũng vậy.

Tôi xin nói lại một lần nữa:
"Tất cả các pháp đều là để kiến chứng Phật tính vốn có của ta".


### 28. Giảng nghĩa khẩu quyết bí mật của Nhị quán vô lậu pháp của Chân Phật Tông


Chủ Kim Cương Chân Ngôn Giới Bí Mật Chủ
Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đích thân truyền

Thứ tự tu hành của Mật giáo chia làm bốn quán đảnh, đó là:

Sơ quán (bình quán), phần lớn dùng nước.

Nhị quán, dùng hồng bạch bồ đề, hồng bồ đề là huyết của nữ, bạch bồ đề là tinh của nam, hiện nay dùng cánh hoa màu đỏ, trắng để tượng trưng.

Tam quán là quán đảnh xúc chạm, nói chung thì nam giới là với Kim Cang Hợi Mẫu hoặc Không hành mẫu, nữ giới là với Kim Cang Tát Đỏa.

Tứ quán chính là Đại viên mãn, không có một nghi thức chính thức nào, không câu nệ hình thức.

Trong Chân Phật Mật Pháp, Nhị quán chia thành:
Chuyết hỏa, cần phải sinh khởi chuyết hỏa.
Minh điểm, cần phải hòa tan minh điểm.
Vô lậu, cần phải tu thành thân kim cang bất hoại.

Tu pháp Nhị quán chính là tu khí, mạch, minh điểm, để biến mình thành:
Kim cang sĩ đại lực, dù hữu hình hay vô hình, bạn đều có sức mạnh phi thường.
Kim cang sĩ kiên cố, dù thế nào, thân tâm bạn cũng rất vững chãi.
Kim cang sĩ vô lậu, dù ra sao, thân khẩu ý của bạn cũng không rò rỉ.

Nói chung, nam nữ đều có sự rò rỉ. Về mặt ý niệm, cần dùng phương pháp Hiển giáo để tu vô lậu; về mặt thân thể, cần tu pháp vô lậu của Mật giáo để không bị rò rỉ. Đối với nam giới, cần tu đến mức tinh tử hoàn toàn không rò rỉ; đối với nữ giới, khi còn trẻ (trước khi mãn kinh) cần tu đến mức tinh huyết hoàn toàn không rò rỉ. Nếu nữ giới đã mãn kinh do tuổi tác, việc tu Nhị quán vô lậu vẫn có lợi ích, có thể giúp cơ thể kiên cố, máu có thể lưu thông khắp toàn thân.

Pháp vô lậu Nhị quán được tu vào lúc thức dậy vào buổi sáng sớm. Tôi sẽ giảng đơn giản về quán tưởng, thần chú và thủ ấn của nó:

Thủ ấn: thất chi tọa.
Chú ngữ: Hum
Quán tưởng: Trước tiên Bảo bình khí vài lần, sau đó quán tưởng tại luân xa rốn có một chữ Hum màu đỏ. Nam giới quán tưởng phần móc câu dưới chữ Hum kéo dài từ nam căn ra, móc vào hoa sen trắng (tượng trưng cho tinh tử nam). Nữ giới thì quán tưởng móc vào hoa sen đỏ (tượng trưng cho tinh huyết nữ)

Lúc này hít một hơi làm Bảo bình khí, dùng hơi thở này đẩy chữ Hum và hoa sen theo trung mạch đi lên, niệm chữ Hum dài, đẩy chữ Hum và hoa sen lên đến đỉnh đầu, chữ Hum ở trên, hoa sen ở dưới. Nam giới cần đặc biệt quán tưởng sau khi hoa sen trắng vào nam căn, thịt của nam căn cuộn ngược theo trung mạch đi lên đến đỉnh đầu, nằm dưới hoa sen trắng, biến thành nhục kế màu đỏ. Phép quán tưởng này cần làm lặp đi lặp lại nhiều lần, biểu thị bạch bồ đề và hồng bồ đề sắp rò rỉ của bạn đã được đưa lên đỉnh đầu. Đây là khẩu quyết ban đầu của pháp Nhị quán vô lậu, cũng là khẩu quyết rất quan trọng.

Pháp này không phải chỉ thực hành vài lần hay vài tháng là có thể thành công, mà phải tu tập và luyện tập mỗi ngày, trải qua nhiều năm mới có thể thành tựu. Nguyên lý của nó là dùng khí của Bảo bình khí để nâng tinh tử và tinh huyết lên. Vì vậy, Bảo bình khí là nền tảng của Nhị quán, việc tu luyện để có được sức mạnh của Bảo bình khí là vô cùng quan trọng.

Ý niệm lúc bình thường cũng rất quan trọng, cần thường xuyên quán tưởng chữ Hum ở luân xa rốn. Khi dục vọng mạnh mẽ, hãy quán tưởng chữ Hum biến thành lửa thiêu đốt toàn thân, khiến toàn thân cảm thấy mát mẻ, dục vọng sẽ tiêu tan. Khi không còn dục vọng, tâm bạn sẽ vô lậu. Sau một thời gian dài tu trì, thân tâm bạn đều vô lậu, tinh thần sẽ rất mạnh mẽ, thân thể sẽ rất tốt, luôn trẻ trung khỏe mạnh.

Khi bạn thức dậy vào buổi sáng để tu tập pháp này, có thể sẽ không tạo ra được sức mạnh vững chãi ngay lập tức, vì vậy bạn cần phải thực hành "Kim cang quyền tam thức" để củng cố nó. Kim cang quyền tam thức gồm ba thức: thức thứ nhất là tư thế ngồi, thức thứ hai là quỳ gối, thức thứ ba là đứng cúi người hai tay chống gối. Mỗi thức phải niệm bốn tiếng Hum dài (quay đầu sang trái một tiếng, sang phải một tiếng, lặp lại, tổng cộng bốn tiếng) và mười tiếng Hum ngắn (gật đầu lên xuống). Phải dùng sức mạnh của Bảo bình khí, không được yếu ớt, phải phát âm, phải quán tưởng chữ Hum đi lên, phải rung động toàn thân, phải đổ mồ hôi. Sau khi hoàn thành, tâm phải trở về trạng thái tự nhiên, lắng xuống và hóa thành không, không chính là vô lậu.

Ghi chú: Tam thức quyền pháp phải do Kim cương Thượng sư đích thân truyền.

🌟

Lư Sư Tôn nói:
"Pháp vô lậu này là pháp bí mật của Nhị quán, trước đây, người chưa nhận quán đảnh không được xem. Nhưng trong xã hội hiện đại, mạng Internet phát triển, những điều bí mật không còn bí mật nữa. Tuy nhiên, vẫn mong những người có chí hướng, những người có tâm học hỏi, hãy nhận quán đảnh trước rồi mới tu pháp, tránh đui tu mù luyện. Điều này rất quan trọng! Rất quan trọng!"

Pháp vô lậu này không dễ tu thành, có người nói: trong vạn người không có được một người, tôi đã tu thành công, tính ra căn khí cũng tạm được.

Pháp vô lậu là một trong những điều kiện cơ bản của pháp song thân. Không có vô lậu mà tu pháp song thân thì chỉ là làm bừa, không đáng nhắc đến.

Tôi công khai điều này với thế gian mà không hề giữ lại, mong rằng những người có chí hướng hãy thận trọng! Thận trọng!
Trung mạch chưa thông.
Chưa khai đỉnh.
Chuyết hỏa chưa sinh.
Minh điểm chưa giáng.
Kính xin đừng tu.
Lành thay!


### 29. Giảng nghĩa một phần khẩu quyết bí mật của Tam quán Vô thượng mật của Chân Phật Tông


Chủ Kim Cương Chân Ngôn Giới Bí Mật Chủ
Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đích thân truyền

Phần Vô thượng mật của Mật giáo Tam quán có hai phương pháp tu tập là minh phi thực thể và minh phi huyễn thể. Các tăng ni của Chân Phật Tông chỉ được nhận quán đảnh tu minh phi huyễn thể (trí huệ thủ ấn), còn cư sĩ tại gia sau khi nhận quán đảnh có thể tu minh phi thực thể (sự nghiệp thủ ấn).

Trong kỹ thuật pháp Tam quán có Sakya lục thế biến, là phương pháp dành cho nam giới:

1. Nhật nguyệt triều thiên. Khi nam giới sắp xuất, hai mắt nhìn lên không trung, nhìn Bổn tôn trong hư không.
2. Lưỡi đẩy lên vòm họng. Chủ yếu là thông khí, để nâng minh điểm.
3. Ép yết hầu. Giống như ống hút nước, một khi ấn vào sẽ không rò rỉ nữa.
4. Thượng hành khí xuất ra hết. Khiến hạ hành khí tự nhiên thăng lên, nâng minh điểm lên.
5. Bụng dính lưng. Hóp bụng lại, quán tưởng bụng dính sát vào lưng, giữ minh điểm.
6. Nâng hậu môn. Cũng là để giữ minh điểm.

Ngoài ra còn có ấn nắm chặt. Quán tưởng minh điểm của mình là ngón tay cái, một khi nắm chặt là giữ được không rò rỉ.

Mật giáo Tam quán cần thực hiện nhiều kỹ thuật và quán tưởng, không phải đã thành tựu Nhị quán là có thể tu được. Ít nhất phải quán tưởng ở trên hoa sen, nam biến thành Phật, nữ biến thành thiên nữ, hai tay cầm chuông chày kim cang mới không tính là sai phạm. Đồng thời phải quán tưởng khí vào trung mạch, miệng trung mạch phải tiếp xúc được.

Mục đích của tu trì Tam quán là để giúp hòa tan minh điểm. Nếu trong quá trình tu trì Nhị quán, minh điểm có thể tan ra tạo ra tứ hỷ tứ không, thì có thể trực tiếp tiến vào Tứ quán mà không cần phải tu trì Tam quán riêng biệt. Từ quá trình tứ hỷ tứ không đi vào không lạc đại định, sinh ra tịnh quang, rồi ngược dòng sinh ra nghịch sinh tứ hỷ. Từ cảnh giới tịnh quang lại thăng hoa thành cảnh giới vô niệm, cảnh giới vô niệm lại sinh bồ đề tâm thì thành Phật. Đây là một điểm trọng yếu.

Về các khẩu quyết khác của Tam quán, xin hãy đọc cuốn sách thứ 122 của tôi "Mật Giáo Áo Nghĩa Thư", trong đó có nhiều giải thích chi tiết hơn.

Lưu ý quan trọng:

Kỹ thuật quán tưởng của Tam quán (pháp thực tu), phải do Kim cương Thượng sư đích thân truyền khẩu.
Bản văn này chỉ là một phần, không phải toàn bộ.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) vẫn nói như sau:
"Pháp Nhị quán và Tam quán chỉ dành cho đệ tử đã đủ căn khí mới được tu. Đệ tử chưa đủ căn khí, không được tu."
Bởi vì nơi sư tử nhảy, thỏ không thể nhảy theo, nếu không sẽ chết, đọa vào địa ngục kim cang.
Thận trọng! Thận trọng!

Pháp Tam quán song vận này có lợi cho hành giả nam nữ, xin tham khảo "Tính Không Trong Đại Lạc" (Giảng nghĩa Hỷ Kim Cang).
Ví dụ:
Có thể khiến khí nhập vào trung mạch. (mạch và mạch tiếp xúc)
Có thể khiến chuyết hỏa dễ dàng bùng cháy. (do ma sát)
Có thể khiến minh điểm hạ giáng. (chuyết hỏa đốt minh điểm)
Có thể khiến tham nhiễm đoạn tận. (dùng tham để chấm dứt tham)
Có thể khiến chứng đắc câu sinh hỷ. (vô thượng hỷ)
Có thể khiến hành giả hiểu rõ tất cả mật nghĩa của Mật giáo, chứng thực tướng của nhân sinh.
Có thể chứng tính Không. (tâm trụ pháp nhĩ bản nhiên)

Tôi (Lư Sư Tôn) nói:
Tổ sư Liên Hoa Sinh Đại Sĩ (Hồng giáo)
Tổ sư Virupa (Hoa giáo)
Tổ sư Sukhasiddhi (Bạch giáo)
Thượng sư Rwa Lotsawa (Hoàng giáo)
.................

Những vị tổ sư này đều tu pháp song thân và chứng đắc đại thành tựu. Milarepa cũng vậy.
Tôi nói:
Chín thức Minh phi của Mật giáo và chín pháp trong "Tố Nữ Kinh" của Trung Quốc có những điểm tương đồng. Theo thứ tự là: rồng lật, hổ bước, vượn vồ, ve bám, rùa nhảy, phượng bay, thỏ mút lông, cá ghép vảy, hạc giáp gáy.

Tôi còn muốn nói với mọi người:
Chỉ cần bạn tu tập đúng cách, thì có thể đi vào Tam ma địa.
Miệng tụng chú.
Thân kết ấn.
Ý quán tưởng.
Thân, khẩu, ý thanh tịnh, an trụ trong pháp nhĩ bản nhiên, Tam ma địa hiện tiền.
Cả hai cùng tỏa ánh sáng, thiền định trong ánh sáng.
Tôi không nói dối, đây là một sự siêu việt, là cảnh giới bản ngã thiêng liêng.
Lành thay!


### 30. Ngã kiến của pháp tư thế cơ thể (kim cang quyền)


Tôi (Lư Sư Tôn) nói như sau:
Pháp tư thế (kim cang quyền), tức là kỹ thuật yoga, chính là những tư thế của cơ thể.
Điều này khác với thể dục thể thao.
Nhiều người tập yoga có sự hiểu lầm, cho rằng đó là phương pháp rèn luyện sức khỏe.
Do đó, họ dùng sức mạnh quá độ, tư thế quá khó, khiến một số người bị thương ở cơ và xương.

Còn theo tôi:
Các tư thế yoga là pháp tu hành.
Trọng điểm nằm ở sự bình ổn, vững chãi, thoải mái và thư giãn.
Ví dụ:
Tỳ Lô thất chi tọa là bình ổn và vững chãi.
Chú trọng tư thế ngồi, đương nhiên lưng phải thẳng, giống như tư thế ngồi của Phật vậy.

Nhưng nhất định phải thoải mái, phải thư giãn, nếu không sẽ không thể ngồi lâu, không thể tĩnh tọa, không thể nhập Tam ma địa.
Kiết già.
Bán già.
Ngồi như ý.
Ngồi tự do.
v.v............

Tất cả đều tùy thuộc vào khả năng thích nghi của mỗi hành giả, có ba yêu cầu chính:
Một là cân bằng đối xứng.
Hai là ổn định thoải mái.
Ba là nhẹ nhàng thư thái.
Có như vậy mới có lợi cho việc nhập định, chế ngự tâm vào một chỗ, nhập Tam ma địa.

Thêm nữa:
Để trung mạch thông, để nâng chuyết hỏa, để hạ minh điểm, để mở luân xa.
Nên sử dụng các tư thế mềm dẻo của cơ thể.
Phần đầu.
Phần cổ.
Cột sống.
Tất nhiên phải thẳng, nhưng không cần dùng sức, chỉ cần dùng ý niệm để vận khí, tự nhiên tùy ý thực hiện các động tác mềm dẻo.

Điểm trọng yếu vẫn là:
"Thả lỏng".
Giống như tập thái cực quyền vậy, động tác uyển chuyển, mềm mại nhẹ nhàng, tự nhiên cân bằng.
Không cần mạnh mẽ.
(Cho nên mới nói "bốn lạng đẩy ngàn cân".)

Trên đây là quan điểm của tôi, tôi tập thái cực quyền, có người nói đó là "múa thái cực".
Đúng vậy, giống như múa.
Không phải là bài quyền võ thuật.
Không phải là bài tập thể dục.
Về nguyên tắc, trước khi tập tư thế (kim cang quyền), trong khi tập và sau khi tập, đều phải thực hiện phương pháp thả lỏng.

Thả lỏng có những lợi ích:
1. Tiết kiệm năng lượng.
2. Tâm có thể nghỉ ngơi.
3. Không căng thẳng.
4. Không mệt mỏi.
5. Không bị cảm xúc chi phối.

Có một số người, khi thực hiện pháp tư thế (kim cang quyền), sẽ tự nhiên lắc lư, rung động.
Đây là khí động.
Nên tự mình kiểm soát, vì điều này cũng có thể liên quan đến cảm xúc.

Hãy ghi nhớ:
Phải từng bước thả lỏng, đồng thời không để tâm chạy Đông chạy Tây, có thể thả lỏng thì mới có thể tĩnh, mới có thể nhập Tam ma địa. Tam ma địa mới chính là siddhi chân thật.


### 31. Lợi ích khi tương ứng với Bổn tôn


Tôi (Lư Sư Tôn) là người tín ngưỡng Bổn tôn, Bổn tôn này có duyên với tôi, và tôi tự mình kính yêu.
Mật giáo chủ trương:
Tu Pháp Bổn tôn là tu tập để thân khẩu ý của mình hợp nhất với thân khẩu ý của Bổn tôn.
Chúng ta dùng trì chú, quán tưởng, kết ấn để xích lại gần với Bổn tôn.

Tôi xin nói với mọi người, tại sao phải tu Bổn tôn?
Bởi vì:
Đối với người có niềm tin sâu sắc, Bổn tôn và các bậc đại thành tựu trong lịch sử, các bậc Thánh hiền đã đạt quả vị thành tựu, những vị Phật Bồ Tát này, đều sẽ hiện thân để giúp đỡ hành giả.
Người không có tín ngưỡng thì hoàn toàn phải dựa vào tự lực.
Người có tín ngưỡng sẽ phát sinh cả tha lực và tự lực.
Ví dụ:
Tịnh Độ tông trong Phật giáo.
Hoàn toàn nương nhờ vào nguyện lực của Phật A Di Đà (tha lực) mà có thể vãng sinh tịnh thổ.
Đây là nhờ Phật A Di Đà thay ta làm.
Hành giả chỉ cần:
Có thiện căn.
Nhất tâm bất loạn trì danh niệm Phật.
Là có thể đến được Phật quốc tịnh thổ của Phật A Di Đà, điều này quả thật quá thuận tiện.

Tin tưởng và thờ phụng Bổn tôn có những lợi ích gì?
1. Ngài sẽ hiện thân giúp đỡ bạn.
2. Bạn sẽ vô hình trung tuân giữ giới luật của Ngài.
3. Bạn sẽ có từ bi hỷ xả.
4. Bạn sẽ học được tình thương lớn của Ngài.
5. Bạn có một lòng tin tưởng. (chuyên nhất)
6. Bạn sẽ dần dần buông bỏ tham, sân, si.
7. Vô minh, ái luyến, oán ghét, sợ hãi sẽ giảm bớt.
8. Buông bỏ chấp trước, buông bỏ phiền não.
9. Buông bỏ bản ngã.
10. Nhờ Bổn tôn mà nhập được Tam ma địa.
Những điều khác.

Điều quan trọng nhất khi tu pháp Bổn tôn là hợp nhất với Bổn tôn, không phân biệt, hai thành một, nhập vào Tam ma địa.
Tuy là Tam ma địa hữu tướng, nhưng vẫn có thể dần dần tu đến Tam ma địa vô tướng.(Tương ứng với Bổn tôn rồi tiến vào hư không vô tận.)

Tổ sư Tsongkhapa nói:
Ba đại thành tựu của Mật giáo là:
Thành tựu Trì minh.
Thành tựu Hộ Ma.
Thành tựu Tam ma địa.

Trì minh chính là trì chú, chú có năng lượng (thế năng), trì chú có thể sinh ra tâm quang minh.
Hộ Ma chính là Hỏa Cúng, đây là một trong những pháp cúng dường, người có tín tâm, đem thân tâm mình hoàn toàn phụng hiến cho Bổn tôn, ngay cả sinh mạng cũng có thể cúng dường.
Đến khi sinh mạng cũng có thể cúng dường, chính vì như vậy, mới có thể hợp nhất với Bổn tôn, hợp nhất với hư không, bạn sẽ nhận được ân điển của Bổn tôn.

Về thành tựu Tam ma địa, đó cũng là mục đích tối hậu của tín ngưỡng.
Tu pháp Bổn tôn mà có thể nhập Tam ma địa, thành tựu của hành giả sẽ tương đồng với Bổn tôn, đây là thành tựu siddhi lớn nhất.

Tôi (Lư Sư Tôn) biết rằng:
Người có tín ngưỡng thì có cả tự lực và tha lực. Người không có tín ngưỡng chỉ có thể nương vào tự lực.
Tôi không ép buộc mọi người nhất định phải có tín ngưỡng.
Nhưng,
Giữ giới luật là điều bắt buộc!


### 32. Từ pháp đại than thi nhập Tam ma địa


Trước đây tôi đã từng dạy tín chúng tu pháp đại than thi.
Kinh nghiệm của tôi là:
Pháp này rất tuyệt.
Tôi nằm trên tấm thảm yoga, thân hình tạo thành chữ "đại" 大. 
Thứ nhất, thả lỏng đầu, thả lỏng tay, thả lỏng thân, thả lỏng chân.
(Nằm như người chết.)
Thứ hai, tôi dùng phương pháp thở.
Có ba kiểu thở:
Hít khí.
Thở khí.
Trụ khí.
Khi hít vào chú ý mảnh, chậm, dài, thở ra cũng mảnh, chậm, dài.
Hãy dùng hơi thở sâu, còn gọi là hơi thở hoàn toàn hay hơi thở cơ hoành.
Không phải là hơi thở dùng sức. (hơi thở nhịp điệu)

Cũng có thể dùng Cửu tiết Phật phong. Thực hành Cửu tiết Phật phong nhiều lần sẽ mang lại lợi ích lớn.
1. Chuyên chú.
2. Hít thở hoàn toàn.
3. Kiểm soát được vọng tưởng của hành giả.
Bởi vì hơi thở mảnh, chậm, dài, hít vào đến hạ đan điền, thở ra từ hạ đan điền.
Có thể thanh tịnh ý niệm của hành giả.

Tiếp theo,
Khi các vọng niệm đã hoàn toàn biến mất, hành giả nam, khi hít khí đến hạ đan điền, hãy trụ khí một lúc, trong thời điểm trụ khí đó, ý niệm cũng dừng lại.
Tôi nói:
"Khí dừng thì tâm dừng."

Chú ý:
Khi trụ khí, cần nâng hậu môn lên, đây chính là Bảo bình khí trong Mật giáo.
Hành giả nam giữ khí ở hạ đan điền (dưới rốn bốn lóng tay).
Hành giả nữ giữ khí ở trung đan điền (luân xa tim). (Để tránh rối loạn kinh nguyệt cho hành giả nữ.)
Trụ khí chính là giữ khí.

Tôi cảm thấy thời gian trụ khí của mỗi người mỗi khác, có một số vị Thượng sư dạy phải giữ hai phút rưỡi.
Có người chỉ có thể giữ được nửa phút.
Nhưng tôi nghĩ điều đó không quan trọng, điểm chính là khi trụ khí thì tâm cũng dừng lại.
Chỉ cần tâm niệm dừng lại, là có thể dễ dàng nhập vào Tam ma địa.
Tâm niệm dừng lại chính là không.
Tâm niệm dừng lại chính là vô tướng.
Tâm niệm dừng lại chính là vô tác.
(Đây là tam giải thoát.)

Có một số người căn cơ lớn, trong Tam ma địa này, chứng được bản ngã, bản ngã chính là Phật tính.

Hãy nhớ:
Khi không thể giữ khí được nữa, lúc thở ra, cũng không nên quá nhanh, hãy tìm cách để khí tỏa ra khắp tứ chi, rồi mới thở ra qua mũi. (Giữ nguyên tắc mảnh, chậm, dài.)

Một số Thượng sư dạy dùng "xạ tức" để thông đỉnh đầu, đó là pháp khai đỉnh, nhưng không nên làm thường xuyên.

Pháp đại than thi này giống như một người đã chết.
Đây là công phu kiểm soát hơi thở, cũng là phương pháp điều tâm.
Nếu đạt đến mức thuần thục, việc chứng ngộ Phật tính sẽ dễ dàng.

Khẩu quyết là:
Mảnh, chậm, dài.
Trụ khí (Bảo bình khí) là điều quan trọng nhất.
Sự tịnh hóa tâm hoàn toàn nằm ở trụ khí.
Nếu nhập được vào không, ánh sáng của bản ngã sẽ hiển hiện.


### 33. Thanh tịnh tâm cảnh


Tôi (Lư Sư Tôn) nói:
Để chứng được bản ngã, Phật tính, cần phải thanh tẩy một số cấu uế của thân tâm.
*Thân là cây bồ đề.
Tâm là tấm gương sáng.
Thường xuyên nhớ lau phủi.
Chớ để vương bụi trần.*

Bài kệ này, tuy ở cảnh giới "có", nhưng cũng có đạo lý. Đây là bài kệ của Đại sư Thần Tú.

Cấu uế là gì?
Vô minh, ngã chấp, tham ái, oán hận, tình cảm, thù hằn.
Thói quen xấu.
Cảm xúc.
Phiền não.
Bám chấp.
Tham, sân, si, nghi, mạn về tài, sắc, danh, ăn, ngủ.
Ghen tuông.
Đố kỵ.
Ảnh hưởng từ ngoại cảnh.
Ảnh hưởng từ nội cảnh.
Sợ hãi.
v.v…

Tất cả những điều này cần phải được thanh tẩy để có thể nhập vào Tam ma địa và hiển lộ Phật tính.
Những cấu uế này cần phải được thanh tẩy hoàn toàn.
Để thanh tẩy những điều này, trước hết phải hiểu rõ Phật lý. Nếu không có trí tuệ của Phật lý thì không thể đoạn trừ được.
Muốn hiểu được đại trí tuệ cần có Thượng sư chỉ dạy.
Thức tỉnh những việc thế tục, thực hành sự huân tập của Mật giáo.
Vì vậy cần phải tu pháp.
Thông qua Thượng sư truyền dạy các nghi quỹ để tiến hành thanh tẩy những chướng ngại của cấu uế.

🌟

Bài kệ của Đại sư Huệ Năng:
*Bồ đề chẳng phải cây.
Gương sáng cũng đâu có.
Vốn dĩ chẳng có gì.
Lấy đâu mà bám bụi.*

Đây là cảnh giới tất cả đều không, chỉ có hành giả thượng căn mới hiểu được.

Đây là:
*Trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật.
Giáo ngoại biệt truyền, nhất thời đốn ngộ.*

(Tuy nhiên người căn cơ cao thì ít, người căn cơ trung và thấp thì nhiều.
Cho nên phải tu dần dần, không thể ngay lập tức đốn ngộ.)

Tu tập dần dần cần phải:
Khổ hạnh - không được hưởng lạc, buông thả dục vọng. Mà phải sống đơn giản.
Tinh tấn - tinh tấn tu pháp, thường xuyên học kinh điển.
Cúng dường - cúng dường Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp. Phải làm như vậy mới có thể nhận được sự chỉ dạy của bậc đại thành tựu.
Giữ giới - quy phạm của hành giả, phải làm được "phi bạo lực".
Dùng tám vạn bốn nghìn pháp môn để đối trị tám vạn bốn nghìn loại bệnh.
Khi bệnh hết rồi mới có tâm địa thanh tịnh.

Cần học:
Pháp tư thế thân thể.
Pháp hô hấp.
Pháp thu vào bên trong.
Pháp quán chỉ.
Pháp chuyên chú.

Tu hành cần có tâm dài lâu, đầy đủ lòng kiên trì và nghị lực.

Một mây trôi nghìn vạn núi.
Thân tâm ở giữa có không.
Quan trọng là thoát luân hồi.
Tìm cầu hết thảy vị thầy.


### 34. Quan điểm của Lư Sư Tôn


Tu hành đến nay, trong tâm tôi nghĩ rằng:
1. Tôi và chúng sinh là một thể.
2. Tôi xin dâng trọn cuộc đời này cúng dường Bổn tôn.
3. Tất cả đều nương tựa vào Bổn tôn.
4. Tôi không cần mong đợi tương lai.
5. Không có gì để đạt được.
6. Không có gì hiện hữu.
7. Không có gì để bận tâm.
8. Không có gì để mong cầu.
9. Không có gì để thuộc về.
10. Không có vật gì là của riêng tôi.
11. Bình đẳng bình đẳng bình đẳng.
12. Khổ và vui đều là hoàn hảo.
13. Tôi không làm tổn hại bất kì sinh linh nào.
14. Tôi của hiện tại chỉ là ảo ảnh tạm thời. (vô ngã)
15. Xả bỏ tất cả.
16. Bố thí tất cả.
.............

Tôi nói như vầy:
Tôi của hiện tại hiểu rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tính, tôi cũng có Phật tính. Tất cả là một thể.
Tôi không thể làm tổn hại bất kì sinh vật nào, bởi vì làm tổn hại sinh vật chính là làm tổn hại chính mình.
Tôi phát nguyện không kiện tụng ai, nhưng nếu có người kiện tôi thì phải làm sao?
Hãy tùy thuận họ!
Tôi chỉ có thể im lặng không lời. Nghĩ kĩ lại, tất cả rồi sẽ qua đi, đừng để tâm nổi sóng. (không oán hận)

Tôi dâng hiến trọn cuộc đời mình để cúng dường Bổn tôn, Bổn tôn của tôi là tối thượng. Nương tựa vào Bổn tôn, tu tập tương ứng, tôi phải tu cho đến khi giống như Bổn tôn, tỏa ra ánh sáng trí tuệ tối thượng.
Tôi không mong đợi tương lai, bởi vì tôi biết rằng:
Hiện tại chính là quá khứ.
Hiện tại cũng là tương lai.
Tôi chỉ làm tốt từng việc nhỏ, theo thứ tự hoàn thành công việc mỗi ngày, chỉ đơn giản vậy thôi.

Tất nhiên tôi biết rằng:
Vô sở đắc - Không thể đạt được bất cứ điều gì, và chính cái không đạt được ấy chính là đắc, là buông bỏ mọi bám chấp.
Vô hà hữu - Buông bỏ bám trước tức là buông bỏ phiền não. Không tham tiền tài, sắc đẹp, danh vọng. Tại sao vậy? Rất đơn giản, vì ngay cả thân thể này cũng không phải là của mình.
Nếu tôi không bám chấp, tất cả đều không quan trọng nữa.
Vô sở nguyện - Sinh tử tất nhiên, còn mong cầu gì nữa?
Vô sở thuộc - Tất cả đều không, thuộc về cái gì cũng chỉ là hư vọng mà thôi. Nhân duyên còn, tất cả còn. Nhân duyên không, tất cả không. Tôi chẳng là gì cả.

Tại sao bình đẳng?
Như người thổi bong bóng, bong bóng có to có nhỏ, có nhiều màu, có ít màu, có bay Đông, có bay Tây, đến một lúc nào đó, bong bóng vỡ ra, tất cả đều trở về không.
Đó chính là bình đẳng.
Tất cả chúng sinh có khổ có vui, đó là do nhân duyên khác nhau, nên mới có sự khác biệt.
Khổ là nhân của vui, vui là nhân của khổ, cũng là quả. Tuy có khác nhau, nhưng khi suy xét thấu đáo, trong chỗ tinh tế, chỉ một nụ cười mà thôi!

Đại thiên thế giới là huyễn ảo.
Tiểu thiên thế giới là huyễn ảo.
Thế giới Ta Bà là huyễn ảo.
Tôi và bạn đều là người huyễn, đây là huệ kiến của bậc thành tựu. Bạn có thể thấu suốt tất cả.
Tôi có thể xả bỏ tất cả, bởi vì không xả cũng phải xả.
Tôi có thể bố thí tất cả, nếu không bố thí, tương lai cũng sẽ phải thí, thật thú vị!
Tôi muốn nói với người đời, đây chính là trí huệ phân biệt rõ ràng.


### 35. Cuộc sống của Lư Sư Tôn


Tôi nay đã tám mươi tuổi rồi, tôi sống như thế nào? Tôi xin nói với mọi người:

Thứ nhất: Biết đủ.
Tôi đã từng nói, tất cả đều là sự sắp đặt hoàn hảo nhất, không có gì đáng tiếc nuối, quá khứ đã qua, hiện tại rồi cũng sẽ qua, tương lai chưa đến, cũng sẽ qua đi.
Đối với tất cả đều biết đủ!
Ăn — chùa cúng dường.
Mặc — đệ tử cúng dường. (đến cả quần áo lót)
Ở — đệ tử chu cấp. (gián tiếp)
Đi lại — đệ tử cúng dường. (xe cộ)

Ngoài lòng biết ơn, lời cầu nguyện hàng ngày của tôi là:
Từ — mang lại niềm vui cho người khác.
Bi — cứu khổ cho chúng sinh.
Hỷ — ngày ngày bước đi trên con đường thiện lành.
Xả — bố thí một cách bình đẳng.
Mỗi ngày tôi làm pháp Nghìn chiếc thuyền pháp để siêu độ cho các chúng sinh cõi u minh.

🌟

Thứ hai: Tu hành.
Tôi có tập yoga, tĩnh tại thì ngồi thiền, vận động thì tập kim cang quyền.
Luyện Thiếu Lâm côn.
Tập thái cực quyền.
Tu pháp trì chú, thủ ấn, quán tưởng. Thời thời khắc khắc không rời Bổn tôn, Bổn tôn cũng không rời tôi, sống cuộc sống hợp nhất.
Mỗi ngày vẽ một bức tranh.

Tu hành của tôi chú trọng đến sự thanh tịnh.
Thân thanh tịnh.
Khẩu thanh tịnh.
Ý thanh tịnh.
Môi trường thanh tịnh.
Không thể không ăn, nhưng không ăn quá no.
Mặc áo quần tùy thời tiết, trang phục Lama.
Không thể không ngủ, nhưng không tham ngủ.
Nơi ở phải luôn giữ sạch sẽ.
Tu hành tinh tấn, nhưng giữ mức độ vừa phải.
Phải hiểu rõ ràng việc gì có thể làm, việc gì không thể làm.
Không được tạo nghiệp.
Chỉ được tiêu nghiệp. (tụng kinh mỗi ngày)
Mỗi ngày tôi viết một bài văn, không cần quá dài, nhưng cứ viết mỗi ngày, và cứ thế đã viết được ba trăm cuốn sách.
Chú trọng đến sức khỏe thể chất.
Không cần quá khổ hạnh, cũng không được quá buông thả.

Thứ ba: Nói chuyện.
Tôi vốn ít nói, thường im lặng là chủ yếu, lời nói có chừng mực.
Khi thuyết pháp thì nói Phật pháp. Có thể hài hước một chút, có thể kể chuyện vui, nhưng không được kể chuyện tục tĩu.
Không tán gẫu.
Thường ngày niệm Phật trì chú.
Nói chuyện phải nói lời thật.
Không nói những điều khiến người khác không vui.
Không bàn chuyện thị phi.
Không bàn về ưu khuyết điểm của người khác.
Giọng nói cần làm cho người nghe dễ chịu, có thể hát vài bài, cái chính vẫn là mình thích và người khác thích.
Cần nói những lời quan tâm đến người khác.
Cần nói những lời có ý nghĩa.
Cần nói những lời có trí tuệ.
Cần nói những lời nuôi dưỡng thiện tâm.
(Không được nói những lời hại người lợi mình.)


### 36. Phát lộ sám hối


Trong Phật pháp có rất nhiều nghi quỹ sám hối, với nghi thức rất hoàn chỉnh, nổi tiếng có:
Lương Hoàng Bảo Sám.
Thủy Sám.
Pháp Hoa Sám.
Chân Phật Bảo Sám.
Và còn nhiều nữa.
Các chùa Phật thường tổ chức pháp hội bái sám.
(Cá nhân tôi rất coi trọng việc sám hối. Tôi rất vui mừng về các pháp hội bái sám, nhưng đừng để trở thành hình thức. Điều quan trọng nhất là mỗi người tham gia bái sám phải thực sự phát tâm sám hối.)

Phát lộ sám hối là phương pháp tiêu nghiệp tốt nhất, vì thế có câu: Lễ Phật diệt tội.
Sám hối không chỉ có trong Phật giáo.
Thiên Chúa giáo có xưng tội, chuộc tội.
Hồi giáo có viện chuộc tội. (Islam)
..................

Tôi nghĩ về bản thân mình, những điều cần sám hối trong cuộc đời mình nhiều như mây đen che khuất mặt trời (trời âm u), như cát sông Hằng, như núi Tu Di cao vời vợi, như biển sâu thẳm, như bụi trần trên mặt đất, không thể đếm xuể!

Vì vậy, tôi tu tập pháp mười điều sám hối.

Một sám hối tội của con mắt. Thường nhìn sắc dục động đến tâm. Nay ở trước Phật cầu sám hối. Thường dùng mắt Phật nhìn lương tâm.

Hai sám hối tội của đôi tai. Thích nghe âm thanh rồi tâm động. Nay ở trước Phật cầu sám hối. Sắc thân không cản trở thân này.

Ba sám hối tội của cái mũi. Ngửi mùi ăn thịt động đến tâm. Nay ở trước Phật cầu sám hối. Giữ giới cá nhân tự nhắc mình.

Bốn sám hối tội của cái lưỡi. Tham ăn vị ngon hại sinh linh. Nay ở trước Phật cầu sám hối. Cơm nhạt tùy duyên sống đời này.

Năm sám hối tội của cái tâm. Thường tham sắc dục tổn tinh thần. Nay ở trước Phật cầu sám hối. Đoạn dục dừng dâm bảo dưỡng thân.

Sáu sám hối tội của ý niệm. Thường nghĩ vọng tưởng làm loạn tâm. Nay ở trước Phật cầu sám hối. Lìa trần hợp giác ngộ vô sinh. 

Bảy sám hối tội của tam nghiệp. Kiếp trước đời này ác nghiệp duyên. Nay ở trước Phật cầu sám hối. Theo Phật Như Lai chuyển pháp luân.

Tám sám hối tội của tam độc. Chỉ vì không nghe Thánh Phật kinh. Nay ở trước Phật cầu sám hối. Pháp luân thường chuyển độ chúng sinh.

Chín sám các duyên do ham muốn. Lục tặc can dự làm hại tâm. Nay ở trước Phật cầu sám hối. Sau này  không phạm luật tuân theo.

Mười sám tất cả tội chê trách. Từ nay bước khỏi cửa thị phi. Nay ở trước Phật cầu sám hối. Nhất tâm niệm Phật đi tu hành.

Hồi hướng: 

Thế nhân đa phần bị lục tặc. Quấy nhiễu đẩy xuống hố lửa sâu.
Nay ở trước Phật kể hết tội. Cửu phẩm liên hoa định vãng sinh. 
Hôm nay chư Phật đều hoan hỷ. Thiên địa thần minh giáng cát tường.
Tuyên dương mười sám viên mãn nhất. Phật Tổ chân cơ cầu hiển hiện.
Hôm nay trở thành thiện nam nữ. Tại hội Long Hoa lại tương phùng.
Chư tôn Bồ Tát Ma Ha Tát. Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật.
Lành thay!
Om. Ah. Hum.

🌟

Cá nhân tôi nhớ đến lời dạy trong Kinh Địa Tạng:
"Chúng sinh cõi Diêm Phù Đề, mỗi cử chỉ ý niệm, không gì không là nghiệp."
Lòng thật hổ thẹn.
Không thể không quán chiếu thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp của chính mình. Thường xuyên quán chiếu, thường xuyên sửa đổi, thường xuyên sám hối. Nhất định phải đoạn trừ tam nghiệp của mình.
Thanh tịnh bản thân là điều vô cùng quan trọng.
Chúng sinh như thế.
Thượng sư như thế.
Huống chi bản thân càng phải như vậy.

Cầu nguyện:
Xin Đấng Tối Cao tiếp nhận sám hối, chư Thánh hiền tiếp nhận sám hối, nguyện Đấng Tối Cao gia trì, Bổn tôn nhiếp thọ, chư Hộ pháp ủng hộ.


### 37. Tinh yếu của chín thứ tự Đại Viên Mãn


Tôi giảng về pháp Đại Viên Mãn, vì đây là giáo pháp do Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền lại. Có một vị Yari Panchen (Tổ sư truyền thừa phái Nyingma) có pháp hiệu là Liên Hoa Tự Tại, đã viết một bài kệ về chín thứ tự Đại Viên Mãn: "Theo Đại Viên Mãn giáo pháp cổ, Thanh Văn Duyên Giác Bồ Tát thừa, là do nhân thừa mà khác biệt, Sự Hành Du già ba ngoại mật, Đại Du già mật là phụ tục, Vô Tỷ Du già là mẫu tục, Vô Thượng Du già vô nhị tục, chính là Mật thừa ba nội mật." Đây là chín thứ tự của pháp Đại Viên Mãn do Panchen Liên Hoa Tự Tại viết.

"Ba loại ngoại mật" chỉ Sự bộ, Hành bộ và Du già bộ, thuộc về ba loại ngoại mật; "Đại Du già mật là phụ tục", Đại Du già bộ thuộc về phụ tục, thuộc về phương tiện; "Vô Tỷ Du già là mẫu tục", Vô Tỷ Du già chính là A Nậu Du già (Anu Yoga), thuộc về trí huệ; tiếp theo, Vô Thượng Du già chính là A Để Du già (Ati Yoga), "Vô Thượng Du già vô nhị tục" có nghĩa là không có phụ tục và mẫu tục, là sự tổng hợp, cũng chính là pháp Đại Viên Mãn; "chính là Mật thừa ba nội mật", thuộc về nội mật, chính là Ma Ha Du già, A Nậu Du già và A Để Du già, thuộc về ba nội mật, còn ba loại ngoại mật chính là Sự bộ, Hành bộ và Du già bộ.

Thứ tự là như thế nào? Người xưa tu pháp Đại Viên Mãn cũng phải tu Hiển giáo, thuộc về Thanh Văn. Điểm chính yếu nhất của Thanh Văn chính là bốn diệu đế khổ - tập - diệt - đạo. Khi Phật Thích Ca Mâu Ni truyền pháp ban đầu, Ngài đã truyền pháp tứ diệu đế trước tiên. Tiếp đến là Duyên Giác, pháp Duyên Giác là quán chiếu theo mười hai nhân duyên, người có thể giác ngộ được gọi là Duyên Giác. Thanh Văn là khổ - tập - diệt - đạo, Duyên Giác là tu theo mười hai nhân duyên. Đến Bồ Tát thừa thì dùng pháp lục độ để độ. Tiếp đến Sự bộ, có thể nói là pháp cúng dường, cúng dường Bổn tôn, đã thuộc về Mật giáo. Khi bắt đầu Mật giáo, việc cúng dường Bổn tôn là điều quan trọng nhất.

Những điều tôi giảng bây giờ đều là điểm chính yếu. Sự bộ hoàn toàn tập trung vào việc cúng dường Bổn tôn. Đến Hành bộ, Hành bộ chính là cầu nguyện Bổn tôn gia trì, sau khi cúng dường xong thì phải cầu nguyện Bổn tôn gia trì. Giống như chúng ta tu pháp Bổn tôn hiện nay, chính là cầu nguyện Bổn tôn gia trì, đây là trong phạm vi của Hành bộ, đây là điểm trọng yếu. Đến Du già bộ, hành giả và Bổn tôn đã bình đẳng. Như tôi nói, tôi quán tưởng Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, Ngài không chỉ trụ trong hư không, là Bổn tôn mà tôi phụng sự, thậm chí đi vào trong thân thể tôi, tôi tự biến thành Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Khi tự mình biến thành Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, hành giả và Bổn tôn là bình đẳng, phương diện tu hành này được gọi là Du già bộ, Du già chính là tương ưng.

Trong Đại Du già bộ, hành giả bước vào ba nội mật, Bổn tôn và hành giả hợp nhất, hòa làm một; khi hành giả và Bổn tôn hợp nhất tức là đã hòa làm một, đây là phương pháp tu hành chủ yếu nhất. Đến A Nậu Du già thì nói về khí, mạch, minh điểm. Trong phương diện khí, mạch, minh điểm, có cái gọi là "lạc" - đại lạc, khi khí lưu thông, khi chuyết hỏa vận hành, khi minh điểm hạ giáng, đều sẽ sinh ra hiện tượng đại lạc, đây là "lạc".

Tiếp theo nói về "minh", "minh" chính là quang minh, sẽ sinh ra ánh sáng, sau khi có lạc thì tiến vào quang minh. Đến điểm thứ ba, chuyển thành "không", chính là Không tính, Phật tính sẽ sinh ra. Khi đến A Để Du già, sẽ khai mở ngũ luân, "minh tâm kiến tính", khi thấy được Phật tính của chính mình thì gọi là minh tâm, kiến tính là thấy được Phật tính, hiểu rõ đạo lý của vũ trụ, lúc này tự tính chính là Phật, Phật tính của chính mình vốn là Phật. Đây chính là khẩu quyết quan trọng nhất của chín thứ tự. Tôi đã giảng xong toàn bộ chín thứ tự trong chốc lát, điểm trọng yếu chính là ở đây.

Điểm trọng yếu của Thanh Văn thừa là khổ tập diệt đạo, điểm trọng yếu của Duyên Giác thừa là mười hai nhân duyên, điểm trọng yếu của Bồ Tát thừa là lục độ, thực hiện lục độ của chính mình; điểm trọng yếu của Sự bộ chính là làm cúng dường, cúng dường Bổn tôn, điểm trọng yếu của Hành bộ chính là cầu nguyện Bổn tôn gia trì, gia trì thanh tịnh, điểm trọng yếu của Du già bộ là chính mình kết hợp với Bổn tôn làm một, bình đẳng là điểm trọng yếu của Du già bộ; điểm trọng yếu của Đại Du già bộ chính là hòa hợp làm một với Bổn tôn, tiến thêm một bước nữa, A Nậu Du già chính là tu đại lạc: quang minh và tính Không, đến A Để Du già, có thể thấy được ánh sáng của Phật tính, minh tâm rồi, thấy được Phật tính của chính mình, thực hành Phật tính của chính mình, tự tính chính là Phật.

Đây chính là phương pháp tu hành chín thứ tự Đại Viên Mãn. Có người nói rằng, nếu tu pháp Đại Viên Mãn từ Thanh Văn đầu tiên cho đến A Nậu Du già, cả đời cũng không tu xong được. Nhưng từ xưa đến nay, những người tu hành đều có hiện tượng như vậy, đó chính là sự viên dung giữa Hiển và Mật. Trong Thanh Văn thừa có giới luật, coi trọng giới luật, mỗi thừa đều coi trọng giới luật, giới luật vô cùng quan trọng, đây chính là chín thứ tự Đại Viên Mãn.


### 38. Chư tôn nói về tình yêu


Tôi (Lư Sư Tôn) thường nói với đại chúng:
"Aishiteru" (tiếng Nhật).
Câu này có nghĩa là: "Tôi yêu các bạn".
Chữ "yêu" này không phải là tình yêu nam nữ, mà có ý nghĩa rộng lớn vô hạn.

Chúng ta hãy lắng nghe chư tôn nói về chân đế của tình yêu:

Đại Uy Đức Kim Cang nói:
"Bạn là tâm tử của Bổn tôn, tâm tử nhiệt thành yêu Bổn tôn, cả hai hợp nhất, đó chính là yêu."
Lại nói:
"Yêu thích ở cùng nhau, chính là samaya!"
Khi một đệ tử tâm niệm bất chính, đối với Thượng sư, Bổn tôn sinh lòng nghi hoặc.
"Đó chính là đánh mất tình yêu lẫn nhau, cũng phá vỡ samaya, đây là giới luật rất nghiêm khắc."

Bát Nhã Phật Mẫu nói:
"Bản chất của tình yêu là vô sinh."
(Đây là cảnh giới cao nhất, người thường rất khó lĩnh hội.)

Trừ Cái Chướng Bồ Tát nói:
"Phải trừ chướng ngại lớn nhất, chướng ngại đó chính là bản thân mình. Khi tình yêu của mình không trọn vẹn một trăm phần trăm, lúc đó samaya sẽ không chân thật, phiền não ma chướng sẽ đến."
Trừ Cái Chướng Bồ Tát lại nói:
"Yêu chính là gìn giữ giới thề, có như vậy mới sinh ra được sức mạnh và trí huệ."

Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
"Tình yêu thế tục đều chỉ là từng màn kịch diễn đi diễn lại. Chỉ có tình yêu xuất thế gian mới là tâm ấn giữa hành giả với Thượng sư và Bổn tôn."
"Tình yêu không ở ngoài, không ở trong, không ở khoảng giữa, tình yêu là vô hình, vô tướng, vô tác, hư không."
"Bản lai diện mục của tình yêu là giải thoát, buông xả, tự tại."

A Di Đà Phật nói:
"Tình yêu là thiện tướng."
Lại nói:
"Tình yêu là tịnh thổ."
Lại nói:
"Tình yêu là tự tính." (Phật tính)
Cuối cùng nói:
"Tình yêu chính là A Di Đà Phật."

A Đạt Nhĩ Mã Phật nói:
"Yêu chính là yêu chính mình. Chính mình chính là Thượng sư, Bổn tôn. Không trái với chính mình, đó chính là yêu."
"Tự quy y Phật." (Phật tính của chính mình)
"Tự quy y pháp." (tự mình tu Phật pháp)
"Tự quy y tăng." (chính mình là bậc thánh hiền tăng)
"Ánh sáng tâm của chính mình hiển lộ chính là yêu."
"Yêu là bản lai diện mục."
Tâm.
Phật.
Chúng sinh.
Ba thứ không khác biệt, đó chính là yêu.

Tình yêu vĩ đại hơn nữa là:
"Phật ma như một." (pháp môn bất nhị)
Tất cả chúng ma và các ngoại đạo, hành giả đều bình đẳng cúng dường và phụng sự.
Tất cả đều bình đẳng bình đẳng.
Không có chút sai biệt nào, đó chính là yêu.

Nếu có người hiểu được bài văn nhỏ này, và thực hành được, đó là vị Giải Thoát Bồ Tát không thể nghĩ bàn.
Om. (tối thượng)
Ah (Bổn tôn)
Hum (tự tính)
Seh (hợp nhất)
Samaya.


### 39. Phỏng vấn của hai vị học giả Phật giáo


Sau khi hai học giả đến thăm Đài Loan Lôi Tạng Tự, tham dự thực tế toàn bộ pháp hội Hộ Ma và lắng nghe khai thị truyền pháp của Liên Sinh Pháp Vương, Giáo sư Phật học nổi tiếng người Anh Richard Gombrich và Giáo sư Diêu Ngọc Sương thuộc Viện Nghiên cứu Tôn giáo học Đại học Phật Quang Đài Loan, để có thể hiểu sâu hơn về Chân Phật Tông và Chân Phật Mật Pháp, đã mời Liên Sinh Pháp Vương - Căn bản Truyền thừa Thượng sư của Chân Phật Tông dùng cơm trưa tại Đài Trung vào ngày 21 tháng 4, và tiến hành phỏng vấn về Phật học với Pháp Vương sau bữa ăn.

Giáo sư Gombrich là Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu Phật học Đại học Oxford của Anh, từng là Chủ tịch Hội Văn học Pali Anh quốc, có hiểu biết rất sâu sắc về Phật giáo nguyên thủy. Ông còn hai lần vinh dự nhận giải thưởng Thành tựu Trọn đời của Sri Lanka, là một học giả Phật giáo nổi tiếng và đáng kính trọng. Còn Giáo sư Diêu Ngọc Sương nghiên cứu về tôn giáo xã hội nhân loại tại Anh và đã lấy được bằng Tiến sĩ Thần học Tôn giáo tại Đại học London. Hiện nay, hai vị giáo sư đang nỗ lực biên soạn phiên bản tiếng Anh của "Bách khoa Toàn thư Tôn giáo Đài Loan", với hy vọng chuyến đi này có thể giới thiệu Chân Phật Tông đến với chúng sinh khắp thế giới.

Thông qua những câu hỏi của các Giáo sư, Pháp Vương đã giới thiệu với hai vị về hành trình tu học của mình. Khi còn trẻ, Pháp Vương theo đạo Cơ Đốc và là thành viên của Giáo hội Trưởng Lão. Vào năm 26 tuổi, Ngài gặp được một người thông linh thuộc Đạo giáo, và sau khi được Diêu Trì Kim Mẫu mở thiên nhãn, Ngài bắt đầu học Đạo, sau đó chuyển sang học Phật giáo Tịnh Độ tông và thọ giới Bồ Tát.

Vì Giáo sư Gombrich là một sử học gia Phật giáo, nên ông muốn tìm hiểu xem khi Pháp Vương học Tịnh Độ tông, có chịu ảnh hưởng của Đại sư Thái Hư - một vị cao tăng cận đại hay không? Pháp Vương chia sẻ rằng Đại sư Thái Hư là người đầu tiên cải cách Phật giáo Trung Quốc, và vị thầy Hiển giáo đầu tiên mà Pháp Vương quy y chính là Đạo sư Ấn Thuận - đệ tử của Đại sư Thái Hư. Đạo sư Ấn Thuận hoằng dương "Tam Luận" của Bồ Tát Long Thụ tại Đài Loan, nên thuộc về phái Trung Quán của Bồ Tát Long Thụ. Đạo sư Ấn Thuận cũng từng giảng giải cho Pháp Vương về đạo lý "duyên khởi tính Không", và dạy cho Pháp Vương một câu quan trọng nhất: "Tất cả mọi thứ trên thế gian này đều không có tự tính."

Sau đó, theo sự chỉ dẫn của chư Phật Bồ Tát, Pháp Vương đã tìm được bốn vị Thượng sư Mật giáo. Khi còn ở Đài Loan, Pháp Vương học pháp với Hòa thượng Liễu Minh (còn gọi là Thanh Chân Đạo Trưởng) thuộc phái Hồng giáo; sau khi di cư đến Mỹ, Pháp Vương học pháp với Thượng sư Chứng Không (còn gọi là Dezhung Rinpoche) thuộc phái Sakya ở Seattle, cầu pháp với Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16 thuộc phái Bạch giáo ở New York Upstate, và học pháp với Thượng sư Thubten Dhargye thuộc phái Hoàng giáo ở Hồng Kông. Từ đó, Ngài bắt đầu tu trì Mật pháp.

Khi hai vị Giáo sư tham dự pháp hội ngày hôm trước, họ đã nghe Pháp Vương giảng dạy nhiều khẩu quyết tâm yếu của Mật pháp, nên muốn tìm hiểu xem những khẩu quyết tâm yếu này có phải là điều mà tất cả các tông phái đều có hay không? Pháp Vương cho biết một số khẩu quyết tâm yếu có thể là điều mà các phái Mật giáo đều có, nhưng một số khẩu quyết lại khá bí mật và không được công khai. Do đó, trong Mật giáo có cái gọi là "pháp chung" và "pháp không chung" [cộng pháp và bất cộng pháp]. Tuy nhiên, với lòng từ bi, Pháp Vương đã chọn công khai phần lớn những khẩu quyết bí mật, nhờ đó các đệ tử có thể tùy theo căn cơ của mình mà học tập Mật pháp ở các thứ bậc khác nhau.

Ngoài ra, hai vị Giáo sư cũng rất tò mò về cách Pháp Vương hướng dẫn đệ tử Chân Phật đi đến giác ngộ? Pháp Vương cho biết đệ tử trước tiên phải tu tập pháp Tứ gia hành cơ bản, sau đó mới tu pháp tương ứng. Khi giác ngộ gọi là kiến đạo, sau khi giác ngộ kiến đạo còn phải tu đạo, cuối cùng đạt đến cứu cánh đạo mới được coi là thành tựu.

Giáo sư tiếp tục hỏi Pháp Vương, trong quá trình tu tập có cần phải đọc kinh sách hoặc tác phẩm của Pháp Vương trước khi khai ngộ không? Pháp Vương chỉ rõ, đệ tử Phật có thể đọc "Quảng" là Kinh Đại Bát Nhã, tiếp đến là "Trung" tức Kinh Kim Cang, cuối cùng là "Lược" tức Tâm Kinh. Do Giáo sư Gombrich là chuyên gia về tiếng Pali, ông đặc biệt hỏi Pháp Vương là phải tụng kinh bằng tiếng Phạn hay có thể tụng bằng tiếng Trung? Pháp Vương giải thích rằng có thể tụng bằng tiếng Trung, bởi vì Tâm Kinh chính là tinh hoa của Kinh Đại Bát Nhã.

Pháp Vương tiếp tục giải thích cho các Giáo sư về tầm quan trọng của việc tu trì khí, mạch, minh điểm trong Mật giáo, cũng như những thành tựu thực tế của bản thân trong việc tu trì khí, mạch, minh điểm. Ví dụ, khi Pháp Vương muốn giao tiếp với chư Phật Bồ Tát, chỉ cần vận khí đến tai là có thể giao tiếp được với chư Phật Bồ Tát. Hơn nữa, trong tương lai nếu muốn nhanh chóng rời khỏi nhân gian, chỉ cần dùng phương pháp vận khí, đưa Phật tính trong tâm trực tiếp ra khỏi đỉnh khiếu là có thể trở về nơi ban đầu. Pháp Vương còn đặc biệt cho hai vị Giáo sư xem lỗ tròn lõm trên đỉnh đầu của mình, đây là bằng chứng của việc khai đỉnh, tức là đã đạt được thành tựu trong pháp phowa.

Cuối cùng, Giáo sư Gombrich đặc biệt hỏi Pháp Vương rằng theo quan điểm Mật giáo, khai ngộ và giải thoát có giống nhau không? Pháp Vương cho biết trước tiên phải khai ngộ, sau đó còn phải tu đạo, cuối cùng mới đạt được giải thoát, không phải là đồng thời. Pháp Vương giải thích thêm rằng đôi khi khai ngộ chỉ là trên lý thuyết, ví dụ như mọi người đều biết Tâm Kinh dạy chúng ta rằng tất cả đều là vô sở đắc, vì biết rằng tiền bạc, địa vị đều vô dụng (vô sở đắc), nên vô sở đắc có thể đoạn trừ phiền não của mỗi người.

Giáo sư Gombrich tiếp tục hỏi Pháp Vương một câu hỏi thú vị: nếu một người đã khai ngộ nhưng chưa đạt được giải thoát mà phải đối mặt với cái chết thì sẽ như thế nào? Pháp Vương cho biết người này vẫn chưa thể thành tựu. Mặc dù sau khi khai ngộ đã hiểu được vô sở đắc, biết rằng tâm quá khứ không thể đắc vì quá khứ đã qua; biết rằng tâm hiện tại không thể đắc vì hiện tại cũng sẽ nhanh chóng trở thành quá khứ; biết rằng tâm tương lai không thể đắc vì tương lai còn chưa đến; do đó, ba tâm đều không thể có được! Đây là sự giác ngộ về tâm vô sở đắc từ Kinh Kim Cang và Tâm Kinh. Đã là vô sở đắc thì sẽ không bám chấp vào bất cứ điều gì, từ bỏ mọi chấp trước, do đó có thể phá trừ ngã chấp và tất cả phiền não. Vì vậy, trong tâm không còn phiền não mà luôn ở trong trạng thái hỷ lạc.

Giáo sư Gombrich tiếp tục hỏi Pháp Vương, sự hiểu biết như trên có được gọi là khai ngộ không? Pháp Vương cho biết sự hiểu biết này đã rất gần với khai ngộ, bởi vì chứng được vô sở đắc thì có thể giải thoát khỏi mọi phiền não.

Giáo sư Gombrich giải thích rằng từ "Buddha" (Phật) trong tiếng Phạn hoặc tiếng Pali có nghĩa là giác ngộ, đồng thời cũng có nghĩa là giải thoát. Trong kinh điển Phật giáo nguyên thủy thường đề cập rằng giác ngộ và giải thoát xảy ra đồng thời. Trong Phật giáo nguyên thủy, A La Hán là cảnh giới cao nhất, ngang bằng với Phật, không có gì cao hơn nữa. Tuy nhiên, Pháp Vương chỉ ra rằng trong Mật giáo có chút khác biệt, Mật giáo cho rằng sau khi hiểu được lý thuyết, vẫn cần phải thực hành. Mặc dù người thường có thể ngộ được vô sở đắc, nhưng trong đời thường vẫn còn tranh giành địa vị và tài sản, vẫn còn rất bám chấp vào sắc, nếu còn những hiện tượng này thì chưa đạt được giải thoát. Nếu sau khi giác ngộ, hoàn toàn thấu hiểu, dù ở trong đời thường vẫn có thể thực hành theo đó, thì đó mới thực sự là người giác ngộ và giải thoát.

Trong cuộc phỏng vấn này, chúng ta đã hiểu được những điểm tương đồng và khác biệt giữa Phật giáo nguyên thủy và Mật giáo về phương pháp tu tập và quan điểm. Hy vọng thông qua sự giao lưu tích cực giữa các tông phái, mọi người có thể hiểu biết và học hỏi lẫn nhau, đồng thời hy vọng có thể giới thiệu Chân Phật Tông đến với nhiều người hơn nữa.

Sau buổi phỏng vấn, Pháp Vương từ bi sờ đầu gia trì cho hai vị Giáo sư, ký tặng sách ban phúc và chụp ảnh lưu niệm. Tất cả đều viên mãn cát tường!

🌟

Tôi cần phải giải thích thêm về nhận thức của mình về Richard:
Richard nói:
Phật chính là khai ngộ, chính là giải thoát.
Thêm nữa:
A La Hán chính là Phật. Đó là cảnh giới cao nhất, không có gì cao hơn nữa.

Tôi nói:
Tôi hiểu về bốn Thánh giới như sau:
Phật - là khai ngộ, là giải thoát, là giác hành viên mãn.
Bồ Tát - giác ngộ chúng sinh, tự giác và giác tha.
Duyên Giác - giác ngộ dựa vào mười hai nhân duyên.
A La Hán - dựa vào khổ tập diệt đạo, đắc tứ quả. (tự giác)
Tôi nói như thế này cũng chỉ là đại khái mà thôi!

Nếu nói rằng A La Hán chính là Phật, đó là quan điểm của Phật giáo Tiểu thừa.
Trong Phật giáo Đại thừa, điều này không thể chấp nhận được.
Theo Kinh Duy Ma Cật và nhiều kinh điển Đại thừa, thành quả tu hành của các vị Bồ Tát giải thoát không thể nghĩ bàn đều vượt trên A La Hán.
Tôn giả Đại Ca Diếp nói:
"Bồ Tát Giải Thoát không thể nghĩ bàn, khi chúng tôi nghe đến, chúng tôi không thể sánh bằng."


### 40. Chân tướng của chúng sinh


Kinh Kim Cang dạy rằng:
Vô ngã tướng. Vô nhân tướng. Vô chúng sinh tướng. Vô thọ giả tướng.

Có người hỏi:
"Thế nào là tướng chúng sinh?"
Duy Ma Cật đáp:
Chúng sinh là người huyễn hóa, con người là hư ảo.
Chúng sinh như trăng trong nước.
Chúng sinh như hoa trong gương.
Chúng sinh như ánh nắng hừng đông, như ảo ảnh sa mạc.
Chúng sinh như tiếng vọng trong thung lũng.
Chúng sinh như mây trôi trong không trung.
Chúng sinh như gợn sóng trên mặt nước.
Chúng sinh như bọt nước.
Chúng sinh như tia chớp giữa bầu trời.
……………….

Tôi (Lư Sư Tôn) đọc Kinh Duy Ma Cật, nghĩ về những ví von này, thấy rất thích hợp, và vừa đọc đã ngộ ra.
Chúng sinh là:
Huyễn ảo.
Không thật.
Biến hiện tạm thời.
Một lần sinh, một lần tử.
Luân hồi.

Tôi nói:
Con người chỉ là sự kết hợp tạm thời của tứ đại đất, nước, lửa, gió. Mỗi người đều là sự kết hợp tạm bợ như vậy, một đám đông những sự kết hợp tạm bợ tụ lại với nhau, làm những việc tạm bợ, sống cuộc đời ngắn ngủi này, từ sinh đến tử, từ tử đến sinh, cứ thế luân chuyển.
Tôi nói:
Con người không thể mang theo bất cứ thứ gì khi rời khỏi thế giới này. Huống chi người huyễn cầm vật huyễn, cả hai đều là hư ảo, không có bất cứ thứ gì không hoại diệt, ngay cả thế giới Ta Bà cũng trải qua thành, trụ, hoại, không.
Do vậy, chúng ta đã hiểu được chân tướng của chúng sinh.

Và:
Duy Ma Cật nói:
Khi có người đến xin bố thí, những thứ bố thí là:
Tay, chân, tai, mũi, đầu, mắt, tủy não, máu, thịt, da, xương.
(thân thể của hành giả)
Nhà cửa, ruộng vườn, lâu đài.
(tài sản của hành giả)
Vợ con, tôi tớ, người thân.
(người thân của hành giả)
Voi, ngựa, xe cộ.
(phương tiện đi lại của hành giả)
Vàng bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách, trân châu, ngọc bội.
(thất trân bát bảo)
Y phục.
(y phục quý báu của hành giả)
Thức ăn.
(thức ăn của hành giả)
v.v…

Duy Ma Cật nói: "Người ăn xin này rất có thể là hóa thân của Bồ Tát Giải Thoát bất khả tư nghì. Với những yêu cầu bố thí như vậy, hành giả có đồng ý không?"

Khi tôi hỏi đại chúng.
Thượng sư Liên Vượng đáp: "Không thể!"

Hãy nghĩ xem, người ta đòi bạn bố thí vợ, làm sao có thể? Đòi bạn bố thí nhà, làm sao có thể? Đòi bạn bố thí thân thể của chính mình, làm sao có thể?

Tôi lại ngẫm nghĩ thêm.
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
Thân thể chỉ là sự kết hợp tạm thời của tứ đại (một bị thịt hôi thối).
Vợ con là do nhân duyên, nếu không có nhân duyên, mỗi người một ngả.
Nhà chỉ là chỗ ở tạm.
Thất trân bát bảo cũng không phải sở hữu vĩnh viễn.
Tương lai:
Không, không, không. (vô sở đắc)
Vậy thì, người tu hành có chịu bố thí không?
Đạo lý thì thông.
Nhưng, làm không được!

🌟

Đại Sĩ Duy Ma Cật (Như Lai Kim Túc) dạy chúng ta.
Tu hành lấy thân làm gốc.
Phải trừ bỏ phiền não của thân.
Phải trừ bỏ chấp trước của thân.
Phải trừ bỏ tham dục của thân.
Phải trừ bỏ hư vọng của thân.
Phải trừ bỏ điên đảo của thân.

Tôi (Lư Sư Tôn) nghĩ:
"Nếu thân này không còn nữa, ăn uống, quần áo, nhà cửa, đi lại đều không còn nữa, thất trân bát bảo cũng không còn nữa, tất cả tài sản đều không còn nữa, vợ con gia đình đều không còn nữa."
Chỉ còn:
"Phật tính quang minh."

Tục ngữ thế gian:
"Người thì ở thiên đường, tiền thì ở ngân hàng, vợ thì trong lòng người khác, anh em thì tranh giành tài sản."
Tôi nói:
"Chỉ cần người được về thiên đường là tốt rồi, những thứ khác tùy duyên mà đi!"
Hãy nghĩ thoáng đi!
Dù nghĩ không thoáng được, thì chắc chắn mọi việc cũng sẽ như thế thôi.

Om guru liansheng siddhi hum.


### 41. Trí huệ vô thượng tỏa hào quang


Khi đọc Kinh Duy Ma Cật, tôi rất thích đoạn đối thoại giữa thiên nữ Tán Hoa và Xá Lợi Phất.
Những câu trả lời của thiên nữ Tán Hoa thể hiện trí huệ vô thượng. So với ngài, Xá Lợi Phất tỏ ra kém cỏi ở mọi phương diện.

Tôi xin tóm tắt như sau:
Thiên nữ Tán Hoa rải hoa, hoa rơi trên thân Xá Lợi Phất, phủi mãi không rớt.
Thiên nữ Tán Hoa hỏi:
"Tại sao thầy phủi hoa?"
Xá Lợi Phất đáp:
"Theo nghi lễ của Phật, không được dính hoa, phải gỡ bỏ."
Thiên nữ Tán Hoa nói:
"Hoa không phân biệt, chính tâm thầy phân biệt. Thầy cần đoạn trừ vọng tưởng phân biệt."
(Câu nói này thật là trí huệ vô thượng, Xá Lợi Phất im lặng.)

Xá Lợi Phất hỏi:
"Thiên nữ ở đây bao lâu rồi?"
Thiên nữ Tán Hoa đáp:
"Cũng lâu bằng thời gian thầy tu hành."
Xá Lợi Phất hỏi:
"Ôi! Lâu vậy sao?"
Thiên nữ Tán Hoa đáp:
"Thời gian tu hành của thầy cũng đâu có ngắn."
Xá Lợi Phất không nói được gì.
(Cuộc đối đáp ngắn này đã chỉ ra rằng thời gian vốn không liên quan.)

Thiên nữ Tán Hoa hỏi:
"Xá Lợi Phất sao không nói nữa? Phải chăng bậc đại trí huệ không còn gì để nói?"
Xá Lợi Phất đáp:
"Giải thoát không thể dùng ngôn ngữ để diễn tả!"
Thiên nữ Tán Hoa hỏi:
"Tất cả các pháp đều có tướng giải thoát, ngôn ngữ cũng vậy, ngôn ngữ cũng có tướng giải thoát."
Xá Lợi Phất hỏi lại:
"Như vậy, tham sân si cũng được xem là giải thoát sao?"
Thiên nữ Tán Hoa đáp:
"Chỉ với những hành giả tự cao tự đại, Phật mới dạy đoạn trừ tham sân si. Nhưng, bản thân tham sân si cũng có tướng giải thoát."
(Lư Sư Tôn cho rằng, tham sân si là nguyên liệu của giải thoát. Nếu không có tham sân si, cần gì phải giải thoát?)

Xá Lợi Phất hỏi:
"Thiên nữ Tán Hoa, với biện tài như vậy, cô tu pháp môn gì? Chứng đạo gì?"
Thiên nữ Tán Hoa đáp:
"Tôi không tu không chứng."
(Câu này thể hiện pháp tính tự nhiên, là trí huệ vô thượng.)

Xá Lợi Phất hỏi:
"Tại sao cô không chuyển thân nữ thành thân nam?"
Thiên nữ Tán Hoa đáp:
"Đây chỉ là vật huyễn hóa! Tất cả các pháp đều là huyễn hóa."
Thế rồi:
Thiên nữ Tán Hoa dùng thần lực, biến mình thành Xá Lợi Phất.
Còn Xá Lợi Phất biến thành thân nữ.
Thiên nữ Tán Hoa nói:
"Tất cả các pháp, không nam không nữ."
(Các pháp bình đẳng, không có cao thấp nam nữ, không có phân biệt.)
.............

Tôi (Lư Sư Tôn) qua cuộc đối đáp giữa thiên nữ Tán Hoa và Xá Lợi Phất.
Dường như có chút tỏ ngộ.
Thật ra tôi cũng biết rằng, tất cả hiện hữu tức là tất cả không hiện hữu.
Chúng ta không thể chấp tướng.
Vô thượng chính đẳng chính giác cũng chỉ là một danh tướng. Thật ra cũng là vô sở đắc.
Lành thay! Hào quang trí huệ vĩ đại!


### 42. Nữ Thần Thanh Xuân nói như vầy


Khi pháp hội Hộ Ma Tôn Thắng Phật Mẫu kết thúc.
Tôi thấy Nữ Thần Thanh Xuân.
Tôi hỏi Ngài:
"Vì sao Ngài đến? Có việc gì?"
Ngài đáp:
"Tôi muốn hợp nhất với Lư Sư Tôn."
Tôi nói:
"Thân khẩu ý là một, thời gian không gian cũng là một."
Ngài nói:
"Lư Sư Tôn đã có sự chứng ngộ phi thường, ngài với Diêu Trì Kim Mẫu là một, với A Di Đà Phật là một, với Địa Tạng Bồ Tát là một, tất cả đều không có sự phân biệt."
Ngài lại nói:
"Thảo nào mà hóa thân vô số."

Nữ Thần Thanh Xuân trong khoảnh khắc, biến hóa ra vô số lọng che khắp trời như mây, dưới những chiếc lọng có vô số Nữ Thần Thanh Xuân, mỗi vị đều là tuyệt sắc nghiêng nước nghiêng thành, ca hát múa nhảy, vui vẻ vô cùng.
Thế rồi,
Lư Sư Tôn hóa thân vô số, từng vị cùng Nữ Thần Thanh Xuân ca hát múa nhảy.
Trong không trung vang lên thần chú cát tường.
Có kệ tán thán.
Có tiếng ca.
Những khúc ca này không có ở nhân gian, đó là âm thanh hòa nhã của cõi trời.

Nữ Thần Thanh Xuân nói:
"Chỉ cần tâm không vọng niệm, từng phút từng giây đều là vĩnh hằng, chúng ta mãi mãi yêu thương bên nhau."
Thế rồi,
Cam lộ từ trời rơi xuống.
Ngọt ngào không gì sánh bằng.
Đây là khoảnh khắc đáng ghi nhớ.


### 43. Chương cảm ứng


Con xin năm vóc sát đất đảnh lễ tri ân Liên Sinh Phật - bậc đại thành tựu giả, người cha đại từ bi.

Kính chúc Sư Tôn Sư Mẫu bình an!

Qua một thời gian tự quan sát, đệ tử nhận thấy rằng khi hành giả tu hành đến một trình độ nào đó, muốn đột phá những chướng ngại để tiến lên cao hơn thì không thể thiếu sự gia trì trực tiếp từ bậc đại thành tựu. Đặc biệt là khi bước vào Nội mật như Maha Yoga, Anu Yoga, Ati Yoga, những cảnh giới này thâm sâu khó lường, không thể nào tự mình thành tựu được. Nhìn lại bao nhiêu năm qua, xét về những cảm ứng khi tham gia pháp hội Hộ Ma do Sư Phật chủ trì, đệ tử xin phân tích như sau:

Trong mấy chục năm qua khi tham gia pháp hội Hộ Ma của Sư Phật, dù luôn cảm nhận được năng lượng gia trì và sự thù thắng phi phàm từ Sư Phật, nhưng so với những lần tham dự trực tiếp từ đầu năm đến nay, ngoài pháp hỷ bên ngoài ra, còn có thêm những trải nghiệm kỳ diệu sâu sắc và chân thật hơn về tâm linh và trí huệ bên trong. Mỗi lần đều là một bước phát triển cao hơn về tâm linh và trí huệ nội tại, công lực rõ ràng tăng tiến mạnh mẽ.

Giống như trong tiểu thuyết võ hiệp, bậc cao nhân có công lực thâm sâu khó đo lường, dẫn đệ tử đến một nơi tàng phong tụ khí để bí mật truyền công, dùng công lực cả đời của sư phụ để giúp đệ tử khai thông Nhâm Đốc và kỳ kinh bát mạch, khiến đệ tử trong thời gian ngắn công lực tăng tiến vượt bậc. Đệ tử có cảm nhận đúng như vậy, những điều tưởng chỉ có trong thần thoại hay tiểu thuyết võ hiệp, dưới sự gia trì của Sư Phật, đệ tử lại được đích thân trải nghiệm những điều kỳ diệu tương tự trong thực tế, thật không thể nghĩ bàn!

Lấy ví dụ về đại pháp hội Hộ Ma do Sư Phật chủ trì trong hai tuần gần đây, vào ngày 10 tháng 9 năm 2023, trong đại pháp hội Hộ Ma Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, trong suốt thời gian pháp hội, đệ tử cảm nhận được Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang và Phật Mẫu nhiều lần giáng xuống thân đệ tử, hình ảnh rất rõ ràng. Trong năm phút cuối cùng trước khi kết thúc, khi được gia trì chữa bệnh, toàn thân đệ tử càng trở nên sáng ngời trong suốt, năng lực quán tưởng tăng mạnh.

Mặc dù chỉ có hai bàn tay, chỉ có thể chạm vào hai chỗ, nhưng nơi nào đệ tử quán tưởng đến, quán cái gì hiện cái đó. Khi quán tưởng chỗ có sỏi mật, liền thấy một hạt đậu đen nhỏ, lập tức cầu xin tiêu trừ, vừa cầu xin thì hạt đậu đen liền hóa thành ánh sáng. Năm phút không dài không ngắn, đệ tử đã quán khắp hơn mười chỗ cơ quan già hóa trong cơ thể, ngay cả những đốm nám trên người cũng được cầu xin chủ tôn gia trì đến nỗi toàn thân nóng rực tỏa sáng, mồ hôi đầm đìa, thật là lợi hại!

Sau pháp hội, quả nhiên toàn thân cảm thấy nhẹ nhàng vô cùng, những cơn đau nhức khớp thường ngày đã biến mất không còn dấu vết. Hai ngày pháp hội từ Vancouver đến Cầu Vồng Lôi Tạng Tự đều lái xe đi về trong ngày, đối với người ở độ tuổi này quả thật khiến mọi người phải kinh ngạc. Ngày hôm sau soi gương, phát hiện những đốm nám tự nhiên nhạt đi rất nhiều, tâm trạng vui vẻ mỗi ngày, luôn nở nụ cười. Một hôm, bỗng nảy ra ý định lấy máy đo huyết áp đã lâu không dùng ra đo thử, vừa đo xong, không dám tin vào mắt mình, huyết áp cao 119, huyết áp thấp 66. Vốn tưởng rằng với việc đi lại liên tục những ngày qua, huyết áp vốn cao suốt mấy chục năm chắc chắn sẽ vượt ngưỡng, không ngờ nhiều ngày liền đều ở mức này, thậm chí còn thấp hơn, khiến đệ tử vui mừng đến phải nhảy cẫng lên. Sự gia trì của Sư Tôn và chư Phật Bồ Tát quả thật là linh đơn diệu dược!

Tiếp theo từ ngày 14 đến 16 tháng 9, tinh xá Hạo Nhiên lần đầu tiên tổ chức khóa tu Mật Tam sau nhiều năm gián đoạn. Điều không thể nghĩ bàn là, đệ tử từ nhỏ đã bị "khí hư", nói năng yếu ớt, toàn thân không có sức lực, nên phải tiết kiệm hơi để nói. Vậy mà bây giờ từ sáng đến tối, miệng như thác đổ, nói liên tục không ngừng nghỉ, ngay cả giờ ăn trưa cũng không tha. Ba ngày liên tục thay thầy truyền pháp thiền mật, không biết mệt mỏi, tràn đầy năng lượng! Đồng môn từ Seattle đến tham dự đều cảm thấy chuyến đi rất đáng giá, còn hẹn nhau lần sau sẽ dẫn thêm nhiều người đến tham gia!

Sức gia trì của Sư Phật thật không thể nghĩ bàn, hai đại pháp hội mùa thu đã khiến đệ tử, một bà lão 70 tuổi, bùng nổ năng lượng chưa từng có. Vì khóa tu Mật pháp có nhiều nội dung như "Pháp tịnh hóa Kim Cang Tát Đỏa", "Lớp trì chú tinh tấn Thánh Quán Âm", giảng dạy và giải đáp về thiền định và Mật pháp, giảng dạy "Công pháp Kim Mẫu", "Hộ Ma mừng Thánh đản Hoàng Tài Thần", v.v… Đệ tử thậm chí có thể học đến đâu truyền đạt đến đó, thong dong tự tại, mọi người đều hoan hỷ. Tất cả đều nhờ vào phép màu được tạo ra dưới sự gia trì của Sư Phật, Thánh Quán Âm và Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang! (Kính gửi kèm Phụ lục A / Cảm ứng của học viên khóa Mật Tam.)

Ngày 17 tháng 9 năm 2023, Sư Phật chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Diêu Trì Kim Mẫu Vạn Phật Thủ Vô Cực Nhãn tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự. Đây là một đại pháp hội trọng đại. Khi Thượng sư Liên Khiết vừa đến pháp hội, liền hỏi pháp sư: "Pháp hội Kim Mẫu, Thượng sư Liên Từ có đến không?!" "Có! Đến từ sớm rồi!" Quả nhiên, dưới sự gia trì của Sư Phật, từ trường dày đặc, khí thế hùng hồn, chỉ cảm thấy sức mạnh của chư Phật Bồ Tát trong vũ trụ tập trung và rót vào thân thể liên tục, bất chợt đệ tử nhìn thấy trong đan điền xuất hiện một vầng thái dương màu vàng kim to lớn, xung quanh mặt trời tỏa ra vạn tia hào quang như kim châm, kéo dài cho đến khi pháp hội kết thúc. Đệ tử trong lòng vô cùng xúc động, thực sự cảm nhận được trí huệ bình đẳng của vũ trụ. Hơn nữa, trong luồng khí tròn đầy hùng hậu như vậy, lần đầu tiên lĩnh ngộ được Đạo pháp "hỗn nguyên quy nhất", đối với tinh khí thần của Đạo giáo và khí mạch minh điểm của Mật giáo tuy khác đường nhưng cùng đích, có được sự lĩnh ngộ sâu sắc hơn.

Ngày hôm đó, sau pháp hội, bên Sư Phật đang giới thiệu về Hộ Ma Diệu Âm Thiên Nữ tuần sau, còn bên này đệ tử thì đang tính toán: thiên nữ trẻ trung xinh đẹp, ca hát nhảy múa chắc không liên quan gì đến bà già như mình nhỉ?! Hay là xin nghỉ, vắng mặt thì sao? Không ngờ, vừa mới nghĩ được vài ý, bỗng nhiên, một vị yogi nữ chân quấn dải lụa bảy màu hiện ra và thong dong ngồi lên đùi đệ tử! Ôi! Tôi đã trở thành pháp tọa của Ngài ư?! Bây giờ thì hiểu rồi! Được! Được! Được! Tôi sẽ đến hộ trì đây! Biết đâu tôi, một bà lão thường ngày nói như Hồng Vệ Binh, sẽ ca hát nhảy múa như hoàng oanh bay khỏi thung lũng, nhẹ nhàng vui vẻ như chim sẻ, lại có biện tài vô ngại, đa tài đa nghệ... có hy vọng rồi!

Ngày 20 tháng 9, đệ tử cuối cùng cũng có thời gian để tự mình thực hiện một buổi Hộ Ma Vạn Phật Thủ Vô Cực Nhãn Diêu Trì Kim Mẫu cúng dường Bổn tôn. Vừa thực hiện xong, đệ tử nhận ra rằng sự gia trì to lớn mà mình nhận được từ Sư Phật và Kim Mẫu những ngày trước, dù trải qua nhiều ngày bận rộn với việc đời, nhưng công đức gia trì vẫn không hề suy giảm. Năng lực quán tưởng, sức mạnh kiên cố và ánh sáng đều tăng gấp nhiều lần so với trước đây, ánh sáng tràn ngập khắp hư không, thực sự cảm nghiệm được sức mạnh siêu việt của tiểu vũ trụ hòa nhập vào đại vũ trụ, trong suốt thời gian đó đều cảm nhận được tâm đại bồ đề từ bi và bình đẳng khó diễn tả của Kim Mẫu. Ngay lúc đó, tất cả vô minh phiền não, tứ đại ngũ uẩn, bức bối trần tục đều tan biến, không kìm được việc đắm chìm trong cảnh giới diệu hỷ vong ngã, lâu lâu không muốn xuất định.

Mỗi tuần, dưới sự gia trì từ bi vĩ đại của Sư Phật và chư tôn, đệ tử liên tục nhận được những cảm ứng kỳ diệu, nhiều đến nỗi không kịp tiếp nhận, khiến đệ tử không còn phân biệt được mình đang ở đâu, thật sự là thiên thượng nhân gian chung một nhà! Ân đức gia trì và tái tạo của Sư Tôn và chư Phật Bồ Tát thực sự là điều không thể nghĩ bàn trong những điều không thể nghĩ bàn. Nếu đệ tử không ghi lại bằng bút mực này, năm vóc sát đất đảnh lễ, xin được tri ân rồi lại tri ân, tán thán rồi lại tán thán thì thật đáng bị phạt!

Kính dâng văn chương vụng về này lên Sư Phật, mong được Người mỉm cười!!
Kính chúc Sư Phật, Sư Mẫu khỏe mạnh tự tại, trường thọ trụ thế chuyển pháp luân

Đệ tử Liên Từ đảnh lễ kính bái.
Ngày 24 tháng 9 năm 2023.


### 44. Liên Hoa Hiểu Quang nhìn thấy


Đảnh lễ Sư Tôn kính yêu.
Kính chúc Sư Tôn khỏe mạnh cát tường.

Đệ tử Liên Hoa Hiểu Quang, trong buổi đại pháp hội Hộ Ma Hồng Tài Thần được tổ chức tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự ở Seattle, Hoa Kỳ vào chiều hôm qua, ngày 28 tháng 1 năm 2024 (chủ nhật), trong thiền định đã nhìn thấy nhiều cảnh tượng đặc biệt từ sự gia trì của Sư Tôn, nay xin được báo cáo và kính mong Sư Tôn ấn chứng.

Sau khi pháp hội bắt đầu, khi Sư Tôn biến hóa thủ ấn, đệ tử tập trung tinh thần vào huyệt ấn đường giữa hai chân mày trên trán, thả lỏng toàn thân, chế tâm một chỗ, chẳng bao lâu liền đi vào cảnh giới không minh, cảm thấy như người đã bước vào một không gian khác.

Sau đó, đệ tử nhìn thấy những cảnh tượng sau đây, xin trình bày cụ thể như sau:

1. Sự hiển hiện của thân biến hóa của Sư Tôn và Hồng Tài Thần:

Tại một nơi giống như nhà hát opera phương Tây, Sư Tôn đang diễn hóa đại thủ ấn, trước mặt Sư Tôn xuất hiện vô số Hồng Tài Thần, đứng hướng về phía Sư Tôn một cách cung kính. Bỗng nhiên, trong một sát-na, Sư Tôn hóa hiện thành một vị Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử để vai trần, đầu đội mũ Ngũ Phật, trang nghiêm vô cùng.

Sau đó, thân tướng của Sư Tôn xoay chuyển, trong chớp mắt trên thân sinh ra vô số cánh tay, mỗi bàn tay đều cầm một chày kim cang. Rồi mỗi cánh tay đều vươn về phía một vị Hồng Tài Thần và chạm vào đỉnh đầu của từng vị. Tất cả các vị Hồng Tài Thần sau khi được chày kim cang chạm đỉnh đều đồng loạt chắp tay đảnh lễ Sư Tôn. Sau khi lễ xong, các vị cùng nhau bước ra từ một cánh cổng vòm bằng thủy tinh trong suốt, bay đi khắp nơi trên thế giới để gia trì cho tất cả tín chúng đã ghi danh tham dự pháp hội. Có một vị Hồng Tài Thần Vương to lớn nhất không rời đi, vẫn luôn hộ trì bên cạnh Sư Tôn. Cánh cổng đó trông giống như cổng không gian trong các bộ phim khoa học viễn tưởng của Mỹ.

2. Mây cát tường và lời tiên tri trong không gian phía trên điện Hộ Ma của Cầu Vồng Lôi Tạng Tự:

Phía trên điện Hộ Ma của Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, từ hư không chậm rãi bay đến một đám mây sắc màu tuyệt đẹp, phủ kín cả đại điện. Mây cát tường rực rỡ huy hoàng, kỳ diệu lấp lánh. Nó gần như hoàn toàn trong suốt, bề mặt có một lớp ánh sáng vàng nhạt, trong ánh sáng ấy lấp lánh những đốm sao bảy màu, trong những đốm sao lấp lánh lại tràn ngập ánh sáng châu báu (có lẽ đây chính là ánh sáng thất bảo). Khi mây phủ kín cả đại điện, từ trên trời lập tức rơi xuống vô số thỏi vàng nhiều như bông tuyết. Lúc này, đệ tử nghe thấy trong hư không có tiếng nói rằng: Sau đại pháp hội này sẽ có người trúng giải lớn.

3. Sự thị hiện vô duyên đại từ, đồng thể đại bi của Sư Tôn:

Đệ tử nhìn thấy Sư Tôn ngồi trên pháp tọa, trước mặt Sư Tôn có một mandala lớn bằng chum nước, bên trong chứa đầy thất bảo bát bảo, trong đó có những viên ngọc trai to bằng quả bóng bàn. Dưới sự gia trì của Sư Tôn, mandala bắt đầu xoay theo chiều kim đồng hồ, tốc độ từ chậm đến nhanh, dần dần biến thành núi Tu Di, giữa nhọn, trên dưới rộng, toàn bộ núi Tu Di được tạo thành từ thất bảo bát bảo. Núi Tu Di tiếp tục xoay, đột nhiên bùng nổ, bay tỏa khắp bốn phương tám hướng. Cùng lúc đó, đệ tử chân thực cảm nhận được tiếng nói từ tâm của Sư Tôn: Nguyện cho tất cả chúng sinh trên thế gian đều thoát khỏi nghèo khó, xa lìa khổ đau, hạnh phúc vui vẻ. Cầu xin gia hộ cho tất cả chúng sinh trên thế gian đều được tăng trưởng tài phú, không lo âu về cơm áo.

4. Sự hóa hiện của phân thân của Sư Tôn:

Đệ tử nhìn thấy Sư Tôn được Hồng Tài Thần Vương thỉnh mời vào một cung điện hoàng kim chứa đầy châu báu để tiếp đãi.
Lại thấy Sư Tôn được Long Vương mời vào mật thất uống trà.
Rồi lại thấy Sư Tôn và Ngọc Hoàng Đại Đế đang đàm đạo trong thiên cung.
Đệ tử từ tận đáy lòng tán thán pháp lực cao cường của Sư Tôn, phân thân vô số, vừa có thể chủ trì pháp hội ở đây, vừa có thể đồng thời thần hành phương khác. Đủ thấy lời khai thị thường ngày của Sư Tôn về sự biến hóa phân thân là chân thật không hư.

Tất cả những điều được thấy ở trên, đệ tử cảm thấy vô cùng chân thực, thân tâm vô cùng xúc động, nay xin đặc biệt báo cáo, kính mong Sư Tôn ấn chứng.

Kính chúc Sư Tôn Phật an.
Đệ tử Liên Hoa Hiểu Quang quỳ lạy đảnh lễ.
Ngày 29 tháng 1 năm 2024.


### 45. Kiến chứng của Liên Hoa Thái Hồng


Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật chí cao vô thượng tôn quý và kính yêu nhất!

Trước khi viết thư đến Thầy, con xin thành tâm cầu chúc Thầy thân thể khỏe mạnh! Sớm bình phục! Khỏe mạnh trường thọ! Trường trụ thế gian! Pháp luân thường chuyển! Đồng thời cầu chúc Sư Mẫu thân thể khỏe mạnh! Sớm bình phục! Tinh thần sảng khoái!

Sư Tôn tôn quý, con và sư huynh của con không bao giờ bỏ lỡ các buổi đồng tu do Thầy chủ trì vào mỗi thứ bảy ở Seattle và pháp hội Hộ Ma trực tuyến tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự vào mỗi Chủ nhật.

Vào tối đồng tu pháp A Di Đà Phật ngày 25 tháng 11 năm 2023 vừa qua, con thấy Thầy hỏi mọi người tại hiện trường rằng: "Ai nhìn thấy Pháp thân của Sư Tôn, xin giơ tay! Có thể giơ tay hoặc đứng lên nói cũng được."

Sư Tôn tôn quý, nếu lúc đó con cũng có mặt tại hiện trường, con chắc chắn sẽ đứng lên để làm chứng, bởi vì con thực sự, chân thật nghìn lần vạn lần đã cảm ứng được Pháp thân của Thầy đang ở cùng con.

Trong những năm gần đây khi dịch bệnh lan rộng, Chân Phật Tông phát triển mạnh mẽ trên mạng, con may mắn được theo học với Thượng sư Liên Ha trên mạng, thực tu pháp Liên Hoa Đồng Tử Căn bản Thượng sư tương ứng, và vào ngày 30 tháng 4 năm 2022, con may mắn được tương ứng với Thầy. Từ đó trở đi, con thực sự cảm nhận được rằng Pháp thân của Sư Tôn hiện diện khắp nơi; chỉ cần con khởi một niệm về Sư Tôn, toàn thân con lập tức trở thành Sư Tôn; Sư Tôn là con, con là Sư Tôn. Thật sự, chân thật, sinh động!

Vào chủ nhật ngày 8 tháng 5 năm 2022, đúng vào tuần thứ hai sau khi con được tương ứng với Sư Tôn, hôm đó là Ngày Của Mẹ nên con không phải đi làm, con và sư huynh của con đã tham dự pháp hội Hộ Ma Lễ Tắm Phật trực tuyến do Thượng sư Liên Ha chủ trì và Thượng sư Liên Già hộ đàn tại Chân Đế Lôi Tạng Tự ở Brazil.

May mắn thay, trong suốt thời gian diễn ra pháp hội Hộ Ma Lễ Tắm Phật hôm đó, Pháp thân của Sư Tôn luôn đồng hành cùng con.

Con nhớ lúc đó, sau khi chuẩn bị xong cúng phẩm cho Lễ Tắm Phật, con đang hoan hỷ bày tỏ lòng biết ơn đến chư Phật Bồ Tát và Hộ Pháp Kim Cang trong đàn thành.

Thật không ngờ, ngay khi con vừa nói lời tri ân xong, đột nhiên hai tay con tự động kết ấn của Sư Tôn, và rất nhanh sau đó toàn thân con biến thành hình dáng của Sư Tôn, hoàn toàn giống như Sư Tôn thật vậy, thật sự không giả dối! Con lập tức kết ấn của Thầy và tự động gia trì cho chính mình. Điều này khiến con kinh ngạc đến sững sờ!

Sau đó, khi con và sư huynh của con đăng nhập vào "đám mây" và chuyên tâm theo dõi nghi thức pháp hội Lễ Tắm Phật, con không thể ngờ được rằng, khi đến lượt Thượng sư Liên Ha dẫn đầu mọi người xếp hàng tiến đến gần thân đồng tử của Phật Thích Ca Mâu Ni để lễ Phật và tắm Phật.

Kỳ lạ thay! Trong khi mắt con vẫn mở to, toàn thân tứ chi của con bỗng nhiên như bị trói chặt! Con ngồi bất động và lập tức tự nhiên nhập định! Thật là không thể nghĩ bàn!

Khi con mở mắt ra, con hoàn toàn quên mất bản thân, chú tâm hoàn toàn, tập trung tinh thần; như pho tượng đồng tượng sắt bất động, trong định con quan sát bên trong Chân Đế Lôi Tạng Tự, lúc đó người đông như nêm cối, xe cộ tấp nập trong không khí sôi động của Lễ Tắm Phật. Con còn phát hiện ra rằng, toàn bộ khuôn mặt, ánh mắt và thần thái của con đã hoàn toàn giống như Sư Tôn! Rõ ràng minh bạch, chân thật không giả. Con cũng biết rõ rằng, con đã hợp nhất với Pháp thân của Sư Tôn. Con chính là Sư Tôn, Sư Tôn chính là con. Thật không thể nghĩ bàn! Trong suốt khoảng hai giờ diễn ra Lễ Tắm Phật, con vẫn ngồi bất động, quan sát và lắng nghe. Thật đáng kinh ngạc!

Giống như Sư Tôn đang dùng Pháp thân của Thầy để quan sát Chân Đế Lôi Tạng Tự ở Brazil, nơi đang diễn ra Lễ Tắm Phật với người đông như trẩy hội, đồng thời lắng nghe đệ tử Kim cương Thượng sư của Thầy đang chủ trì pháp hội và giảng giải về Pháp thân của Thầy cho đồng môn như thế nào. Và hôm đó, Thượng sư Liên Ha và Thượng sư Liên Già, cả hai vị trong bài khai thị đều tán thán Pháp thân của Sư Tôn, về việc Pháp thân của Thầy biến khắp hư không, vũ trụ, không nơi nào không hiện diện. Sự trùng hợp kỳ diệu này thực sự khiến con phải thán phục vô cùng, rung động tận đáy lòng và không ngừng tán thán!

Sư Tôn, Thầy thật sự là bậc tiên tri tiên giác, là bậc đại Thánh nhân, đại Pháp Vương, Hoạt Phật có Pháp thân hiện diện khắp nơi! Và khi Pháp thân của Thầy hợp nhất với con, thật sinh động, sống động và chân thực đến nỗi sau khi đích thân chứng nghiệm, con không ngừng tán thán! Con sẽ không bao giờ quên được!

Vì vậy, ngày hôm đó con đã lập tức viết thư báo cho Thượng sư Liên Ha, tán thán sự thù thắng của Lễ Tắm Phật hôm đó, và đã viết thành bài về niềm pháp hỷ khi Pháp thân của Sư Tôn hợp nhất với con trong ngày Lễ Tắm Phật, rồi đăng lên nhóm học tập để khích lệ các đồng học và bạn đạo khác.

Kể từ đó, sau khi con được tương ứng với Sư Tôn, Pháp thân của Thầy luôn ở bên cạnh con, hiện diện khắp nơi, gắn bó không rời, như hình với bóng.

Năm ngoái vào tháng 11, khi Sư Tôn và Sư Mẫu trở về Đài Loan, khi các đệ tử khắp thế giới đồng lòng hướng về Đài Loan; khi các đệ tử Mỹ khao khát được sum họp cùng Sư Tôn; và khi các đệ tử Đài Loan lại được gặp Thầy trong niềm hân hoan, phấn khởi, lòng con không khỏi ngưỡng mộ. May mắn thay, Pháp thân của Sư Tôn lúc đó, như thấu hiểu tâm tư của con vậy, thường xuyên ở bên cạnh con, khích lệ con, sưởi ấm lòng con, khiến con thực sự nhận ra và cảm nghiệm được rằng: chỉ cần chúng con chuyên tâm thực tu Chân Phật Mật Pháp của Sư Tôn, chỉ cần chúng con tinh tấn thực hành thiền định và pháp môn thiền của Sư Tôn, chắc chắn sẽ được cùng Pháp thân của Sư Tôn đồng hành mọi lúc, và dù Sư Tôn đang ở nơi đâu, thân ở chốn nào; chúng con vẫn luôn có thể cùng Thầy sum họp. Bởi vì Sư Tôn có vô số, đích thực là vô lượng vô biên, không thể đếm xuể, những Pháp thân và Báo thân chân thật vĩnh hằng.

Mùa hè năm ngoái, khi sư huynh của con yêu cầu con đi xem giải bóng đá, trong lúc con đang xem giải đấu một cách chán nản, không hứng thú, và đang thực hành pháp Liên Hoa Đồng Tử Căn bản Thượng sư tương ứng trên sân vận động, Sư Tôn đã đáp ứng lời cầu nguyện của con, từ bi dùng Pháp thân của Thầy di chuyển đến sân vận động ở Vermont, vùng Đông Bắc Hoa Kỳ nơi chúng con sinh sống, hợp nhất với con, hòa làm một, và cùng nhau vui vẻ xem giải bóng đá. Khiến con sau khi xem xong giải đấu, bất ngờ tràn đầy pháp hỷ, vui mừng khôn xiết!

Sau đó, con còn hân hoan viết thư kể lại cho Sư Tôn. Sau khi đọc thư của con, Sư Tôn còn đính kèm bức thư vào tác phẩm thứ 292 của Thầy "Thần Thông Đại Sư Duy Ma Cật", chương 26 "Xem bóng đá". Điều này khiến con vô cùng hoan hỷ và không ngừng cảm thấy được cổ vũ!

Sư Tôn tôn quý, trong đời này con có thể quy y Thầy, tiếp nhận giáo lý chân thật của Thầy, và đích thân chứng nghiệm sự thù thắng của Chân Phật Mật Pháp, thật là hạnh phúc và may mắn biết bao!
Con luôn khao khát thực tu Chân Phật Mật Pháp của Thầy; bởi con cảm thấy như cá uống nước!
Con luôn khao khát thiền tu pháp môn thiền định của Thầy; bởi con cảm thấy như cá gặp nước!
Thầy thật là vĩ đại!

Mỗi lần thông qua thực tu, thông qua nhập Tam ma địa thiền định, Thầy đều dùng Pháp thân của Thầy, và kết ấn của Thầy, sinh động sống động, chân thực hợp nhất, dung hòa với con.
Bất kể lúc nào nơi đâu, chỉ cần con nhớ đến Thầy, chỉ cần con cầu nguyện trước Phật đàn, Pháp thân của Thầy lập tức tự động kết ấn của Thầy, hợp nhất dung hòa với con, gia trì cho con, khích lệ con.

Tình thầy trò và duyên thầy trò giữa con và Thầy chính là như vậy, trong lúc thực tu, trong lúc hợp nhất với Pháp thân của Thầy, càng ngày càng sâu đậm, kiên định không lay chuyển, vững chắc như sắt!
Con thực sự đã chứng nghiệm được sự bất khả tư nghì về Pháp thân của Thầy hiện diện khắp hư không, vũ trụ, thậm chí ở mọi ngóc ngách!
Thầy thực sự là bậc Hoạt Phật Pháp Vương nghìn năm có một trong thời đại ngày nay!

Con thực sự đã chứng nghiệm được những gì Thầy đã dạy trong buổi pháp hội đồng tu pháp Bổn tôn A Di Đà Phật vào tối ngày 25 tháng 11 năm 2023:
"Mặc dù Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã rời khỏi thế giới Ta Bà, nhưng Ngài đã từng dạy rằng, chỉ cần trì tụng thần chú của Ngài, kính sư, trọng pháp, thực tu, Ngài sẽ hiện thân, nghĩa là, Pháp thân của Ngài hiện diện khắp nơi.
Rồi sẽ có một ngày, ở Seattle Lôi Tạng Tự, Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, và tất cả các chùa, đường, hội trên toàn thế giới, bạn sẽ không còn tìm thấy Lư Sư Tôn nữa, nhưng chỉ cần bạn thực tu Chân Phật Mật Pháp, Sư Tôn vẫn có thể hiện thân, hiện nay đã có rất nhiều người có thể nhìn thấy Pháp thân của Sư Tôn nói chuyện."

Quả thật đúng như vậy, không hề sai!
Quả thật chính xác là như thế!

Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật chí cao vô thượng tôn quý và kính yêu nhất!
Con vô cùng biết ơn vì có Thầy!
Con sẽ mãi mãi kính sư, trọng pháp, thực tu như từ trước đến nay.

Trong khi con và sư huynh của con đang tích cực trì tụng Kinh Cao Vương, tâm chú A Di Đà Phật, thành tâm hồi hướng cho Thầy và Sư Mẫu, cầu nguyện Thầy sớm bình phục khỏe mạnh, con cũng xin chân thành cầu chúc Thầy Phật thể an khang, không bệnh không đau, tinh thần sảng khoái, trường thọ khỏe mạnh! Và cầu chúc Sư Mẫu vạn sự như ý, mọi điều cát tường, sớm bình phục, thân thể khỏe mạnh!

Ngu đệ tử Liên Hoa Thái Hồng trợ giảng đảnh lễ cảm tạ.
Viết tại Vermont, vùng Đông Bắc Hoa Kỳ.


### 46. Tâm đắc về hóa cầu vồng


Đảnh lễ Liên Sinh Phật - bậc Đại thành tựu giả cầu vồng
Kính chúc Sư Tôn Sư Mẫu pháp an!

Đệ tử tiếp tục xin báo cáo với Sư Phật về tâm đắc và cảm nhận tu hành gần đây. Từ tháng 4 năm 2022, sau khi biên giới Mỹ-Canada chính thức mở cửa hoàn toàn cho xe cộ sau đại dịch, các đệ tử Canada lại có thể như thường lệ, hàng tuần lái xe đến Seattle, được Sư Phật đích thân giáo hóa gia trì. Đến nay đã gần một năm rưỡi trôi qua thật nhanh, đệ tử nhận thấy qua mỗi lần Hộ Ma của Sư Phật, sức gia trì và cảm ứng rõ ràng càng lúc càng vững chắc hơn, mạnh mẽ hơn, rõ nét hơn. Dù là ở hiện trường hay tự tu ở nhà, bản thân đều có thể cảm nhận được sự tiến bộ rõ rệt. Đại thành tựu của Sư Phật thật sự không thể dùng bất kì ngôn từ nào để miêu tả, nhưng đệ tử vẫn muốn mạnh dạn thử trình bày....

Thành tựu cầu vồng vĩ đại

Ngày 1 tháng 10 năm 2023, tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, trong pháp hội Hộ Ma Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, Sư Phật lần đầu tiên truyền đại pháp hóa cầu vồng tại Bắc Mỹ. Đệ tử vô cùng coi trọng pháp hội này, vì pháp hội này, đệ tử đã âm thầm chuẩn bị trước bằng cách thực hiện nghi quỹ Hộ Ma cúng dường Liên Sư và Phật Mẫu Yeshe Tsogyal, để bày tỏ lòng thành kính sâu sắc, với hy vọng có thể đạt được thành tựu trong pháp hội của Sư Phật.

Trong pháp hội hôm đó, khi Sư Phật thắp lửa Hộ Ma và chậm rãi bước vào điện Hộ Ma, trong khoảnh khắc, con thấy phía sau lưng của Sư Phật được bao phủ bởi một vòng hào quang cầu vồng bảy sắc rực rỡ, giống như vầng hào quang tròn của chư Phật Bồ Tát, hợp nhất làm một với thân. Theo tiếng chú âm vang vọng xa xăm và nghi thức thỉnh pháp, dẫn dắt mọi người vào trong cảnh giới trang nghiêm thanh tịnh. Trong tiếng chú âm liên tục không ngừng, tự nhiên thu nhiếp vạn niệm về một niệm, nhất tâm hòa nhập vào dòng pháp vi diệu thù thắng của Liên Sư, Phật Mẫu và Sư Phật ba vị hợp nhất.

Từ đầu đến cuối, toàn bộ hư không mở ra, ngoài ánh sáng cầu vồng bảy sắc ra thì vẫn là ánh sáng cầu vồng, toàn bộ hư không tràn ngập ánh sáng cầu vồng, không hề ngừng nghỉ. Thậm chí có vài lần, đệ tử vô thức nhìn xuống, toàn bộ ánh sáng cầu vồng tự động xoay chuyển, thật là kỳ diệu. Trong tai vang lên âm thanh: "Đây là đại truyền thừa thành tựu cầu vồng của Liên Sinh Phật!" khiến đệ tử vô cùng xúc động, mãi mãi... Sau khi kết thúc, Sư Phật cho biết, trong pháp hội lần này, có nhiều đợt Liên Sư, Phật Mẫu, chư Phật Bồ Tát, chúng không hành đến tham dự, số lượng lên đến hàng vạn vạn, chưa từng có trước đây. Thầy còn nói: "Từ đầu đến cuối tôi đều đang chuyển động chú luân trong tâm." Nghe được lời này, đệ tử mới biết ánh sáng cầu vồng xoay chuyển mà mình thấy trước đó chính là hiện tượng do chú luân của Sư Phật chuyển động, thật là không thể nghĩ bàn không thể tưởng tượng, thật là thành tựu cầu vồng vĩ đại kỳ diệu biết bao!

Thần thông nhậm vận trong niệm vô niệm

Thứ Sáu ngày 6 tháng 10, đệ tử đã thực hiện một lễ Hộ Ma Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử để cúng dường Bổn tôn và cầu nguyện cho pháp hội phóng sinh Liên Hoa Đồng Tử vào ngày thứ bảy được thuận lợi viên mãn. Trong buổi Hộ Ma này, thân tâm đệ tử đạt đến trạng thái an tịnh thanh thản chưa từng có, không suy không nghĩ, không phiền không não, tĩnh lặng trong sáng... Thực sự lĩnh hội được ý nghĩa "tâm chẳng ở ngoài, tâm chẳng ở trong, tìm tâm bất khả đắc". Sự lĩnh ngộ của đệ tử là, theo cách giải thích về sáu thức của con người - sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, tâm nương theo thức mà giác, vô tâm tức vô giác, vô tâm vô giác rốt ráo là không, giác mà không giác, không giác mà giác, chính là chân đế trong Tâm Kinh đã nói: "Chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách. Xá Lợi Tử, sắc bất dị không, không bất dị sắc, thọ tưởng hành thức, diệc phục như thị".

Trong buổi Hộ Ma này, nhờ có đại gia trì lớn lao của Sư Phật, đệ tử đã bước đầu nắm bắt được bí quyết "không hữu bất nhị" và thậm chí cả "niệm trong vô niệm". Đệ tử còn nhớ lại chuyện năm xưa khi Sư Phật hoằng pháp tại Indonesia, nơi đó đang gặp hạn hán kéo dài nhiều tháng, người dân vô cùng khổ sở. Sư Phật ngồi trên pháp tọa, thuận theo ý nguyện của đại chúng mà cầu mưa. Chỉ sau mười mấy phút kết thúc pháp hội, trời thực sự đổ mưa như trút nước, mưa liên tục mấy ngày, giải quyết được tình trạng hạn hán vô cùng nghiêm trọng của địa phương.

Gần đây, khi đọc tác phẩm mới của Sư Phật - quyển 296 "Tặng Bạn Một Đóa Hoa", trong sách có viết về hai lần cầu tuyết của Hòa thượng Hư Vân năm xưa. Khi đó vừa có hạn hán, vừa có dịch bệnh, Hòa thượng Hư Vân quỳ trên pháp đài, bất động không ăn không uống, ngày đêm không ngủ nghỉ, liên tục ba ngày. Thật kỳ diệu thay, giữa tháng năm trời lại đổ mưa, lại có tuyết rơi, trời hiện điềm lạ, hiển thần tích, hóa giải tai ương. Những thần tích vĩ đại được lưu truyền rộng rãi này, đệ tử tin sâu sắc rằng chính là do các bậc đại tu hành có công phu thiền định thâm sâu, dùng "niệm trong vô niệm" để diễn hóa thần thông nhậm vận.

Tâm tịnh Phật thổ tịnh

Đệ tử cũng hiểu sâu sắc hơn về điều Sư Phật thường nói gần đây: Lý tưởng "cả thế giới chỉ cần một quốc gia, cùng chia sẻ cùng thịnh vượng" đều bắt nguồn từ thánh nghĩa lý thú của Phật giáo "tâm tịnh thì Phật thổ tịnh". Đất nước lý tưởng của nhân gian, chỉ có thể thành tựu tịnh độ nhân gian khi được xây dựng dựa trên trí huệ truyền thừa một mạch từ Phật Đà, chư Phật Bồ Tát và Sư Phật.

Đệ tử tin sâu sắc rằng pháp môn Mật giáo quả thật vừa tinh tế vừa vi diệu, có thể chuyển hóa triệt để phàm phu thành Thánh nhân, chuyển uế thổ thành tịnh thổ, là Thánh giáo hiếm có trong thời đại ngày nay.

Cho nên dù là Đại Thủ Ấn của Bạch giáo: Chuyên nhất Du già, Ly hý Du già, Nhất vị Du già, Vô tu Du già, hay Thật tướng Đại Thủ Ấn thành tựu từ bốn Du già, hoặc Hằng Hà Đại Thủ Ấn tức thân thành Phật.

Chín thừa của Hồng giáo: Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Sự bộ, Hành bộ, Du Già bộ, Ma Ha Du già, A Nỗ Du già, A Để Du già của giáo pháp Đại Viên Mãn.

Bất kể là một trong bốn giáo phái Mật giáo Hồng Hoàng Bạch Hoa, chỉ cần hành giả tùy duyên tu tập, kiên trì không bỏ cuộc, đều được thanh tịnh, đều có thể thành tựu.

Đệ tử may mắn được Sư Phật từ bi giáo hóa trong đời này, càng thêm thấu hiểu minh sư khó cầu, muốn được đại pháp, khẩu nhĩ tương truyền, tâm tâm tương ấn, quyết chí chứng đắc, cơ hội nghìn năm khó gặp, sao mà không trân quý rồi lại càng trân quý?!

Kính chúc Sư Phật Sư Mẫu cát tường an khang, độ chúng nhậm vận, trường thọ trụ thế chuyển pháp luân.
Đệ tử Liên Từ đảnh lễ cung kính.
Ngày 8 tháng 10 năm 2023


### 47. Báo cáo của Thượng sư Liên Ha


Sư Phật Sư Mẫu kính yêu nhất, Phật an!

Ngu đệ tử Liên Ha một lòng đảnh lễ và xin dâng cúng thân khẩu ý lên Sư Phật Sư Mẫu!

Chủ nhật tuần trước, khi đệ tử tham gia lễ Hộ Ma do Sư Phật chủ trì tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, thấy Sư Phật vừa ho vừa cố gắng thuyết pháp, trong lòng vô cùng xúc động và đau xót! Đệ tử ngay lập tức quyết định sẽ bay đến Seattle thăm Sư Phật càng sớm càng tốt, và đã mua được vé máy bay vào thứ hai tuần sau, ngày 11 tháng 12, sẽ đến Seattle vào ngày 12. Khi Sư Phật nhận được bức thư này, thầy trò chúng ta đã gặp nhau rồi.

Nghe Sư Phật khai thị, đệ tử vô cùng xúc động trong lòng, Sư Phật dù đang đau bệnh vẫn truyền dạy cho đệ tử những bí quyết tu hành: tầm quan trọng của việc cầu nguyện. Thầy còn thị hiện cho đại chúng thấy thế nào là tinh tấn vĩnh hằng: sau khi lên giường lúc 2 giờ sáng, nhớ ra quên chưa cầu nguyện Diêu Trì Kim Mẫu, vẫn phải xuống giường đến trước đàn thành để cầu nguyện.

Đệ tử vô cùng xúc động, trong đời này về sau, bất cứ khi nào cảm thấy mệt mỏi chán nản, đều sẽ nhớ đến hình ảnh Sư Phật xuống giường cầu nguyện lúc 2 giờ sáng, đó là tấm gương tinh tấn tu trì vĩnh hằng cho các đệ tử.

Trong bài khai thị, Sư Phật nói rằng dù đã 80 tuổi vẫn đang không ngừng học hỏi. Sự khiêm nhường và tinh thần không ngừng tiến thủ của Thầy đã truyền cảm hứng cho tất cả đệ tử Chân Phật, để chúng con luôn giữ tâm khiêm cung, tiếp tục học hỏi và không ngừng tiến bộ trên con đường tu hành.

Về việc học hỏi, từ giữa tháng 10 đến giữa tháng 11 năm nay, đệ tử đã liên tục tham gia "Đại hội cúng tăng và Lớp nghiên cứu giáo dục ở Malaysia", "Khóa tu Mật giáo và Lớp nghiên cứu ở Indonesia", cũng như "Chuỗi khóa học ở Singapore". Đệ tử vô cùng hoan hỷ khi thấy sự phát triển và tiến bộ của nền giáo dục Chân Phật tại các quốc gia.

Tại Malaysia có khóa huấn luyện nhân viên hoằng pháp kéo dài 6 ngày (trong đó có 3 ngày là khóa học dành riêng cho chư tăng). Cảm ơn Thượng sư Liên Mãn, Trưởng lão Liên Truyền giảng dạy "Giới luật cho cư sĩ và xuất gia", Trưởng lão Liên Tài giảng dạy "Oai nghi của cư sĩ", Trưởng lão Liên Tăng giảng dạy "Nhập môn Duy Thức" và "Bách trượng thanh quy", Thượng sư Liên Phi hướng dẫn "Thực hành nghi thức làm chứng hôn lễ", Thượng sư Liên Duyệt hướng dẫn "Những điểm chính trong tụng kinh tang lễ", Thượng sư Liên Đông hướng dẫn "Quan niệm và phương pháp phóng sinh đúng đắn", Thượng sư Liên Phu hướng dẫn "Thất trùng luân, sáu tư thể công pháp và Bảo bình khí", và mỗi tối, đệ tử hướng dẫn đại chúng cùng nhau tu tập thiền định theo phương pháp "định trong định" của Sư Phật.

Đặc biệt nhất là "Khóa thực hành và tương tác" dành cho chư tăng. Chúng tôi đưa ra một chủ đề cho chư tăng và mời từng vị lên thuyết giảng. Sau đó đưa ra một đề tài "Xin hãy mô tả mô hình sinh hoạt tăng đoàn lý tưởng trong tâm quý vị", mời các giảng sư hướng dẫn chư tăng thảo luận theo nhóm, rồi cùng lên trình bày quan điểm. Cuối cùng toàn thể Thượng sư chấm điểm bằng bảng biểu, và các vị Trưởng lão nhận xét chỉ dẫn. Thật hoan hỷ khi thấy chư tăng từ căng thẳng đến thư giãn, từ rụt rè đến can đảm, tiến bộ thay đổi chỉ trong vài ngày ngắn ngủi, tỏa sáng rực rỡ trước đại chúng và ống kính máy quay!

Tại khóa tu Mật giáo toàn quốc ở Indonesia, Thượng sư Liên Mãn và Trưởng lão Liên Truyền giảng dạy "Ba mươi bảy phẩm trợ đạo" gồm "Tứ niệm xứ", "Tứ thần túc", "Tứ chính cần", "Ngũ căn, Ngũ lực", đệ tử giảng giải về "Thất bồ đề phần", Trưởng lão Liên Tăng giảng dạy "Bát chính đạo", Thượng sư Huệ Quân giảng giải "Oai nghi đi đứng nằm ngồi của hành giả Chân Phật". Mỗi sáng 6 giờ, mọi người thức dậy kinh hành niệm Phật giữa khung cảnh núi xanh nước biếc, chim hót hoa thơm, tối đến tổ chức nghi lễ trang nghiêm cúng đèn và nhiễu Phật. Ai nấy đều lưu giữ ấn tượng vô cùng tốt đẹp, thậm chí đã quyết định năm sau sẽ tiếp tục tổ chức hoạt động như vậy!

Tại Singapore, chúng con cũng sắp xếp một tuần học tập, trong đó hai vị Trưởng lão giảng dạy "Nhập Bồ Tát Hạnh Luận", Thượng sư Liên Già giảng dạy "Quản lý cảm xúc và Tứ vô lượng tâm", đệ tử giảng giải về "Chuẩn bị và cốt lõi của thiền định" và "Xã hội học về hội cúng". Tại Singapore, chúng con đã thấy được sức mạnh và hiệu quả của giáo dục, những đạo tràng chú trọng giáo dục lâu năm có những nhân viên hoằng pháp và đồng môn với phẩm chất và trạng thái khác biệt, họ có nhiều trí tuệ hơn và tinh tấn hơn. Sau hơn một tháng trải nghiệm, đệ tử đã thấm thía sâu sắc lời Sư Phật đã viết: muốn phát triển tông phái Chân Phật, muốn truyền thừa vĩnh viễn, muốn nhân tài xuất hiện liên tục, nhất định phải có giáo dục.

Cũng đúng hôm nay, chúng con vừa long trọng tổ chức lễ tốt nghiệp trực tuyến cho "Khóa học Chân Phật Mật Pháp" của Đại học Trực tuyến Chân Phật. Sau một năm học tập, giảng dạy, tinh tấn, điểm danh và thi cử, cuối cùng chúng ta đã trao bằng tốt nghiệp cho các học viên, và dựa theo thành tích đã chọn ra ba vị đứng đầu năm nay là Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa. Đồng thời, chúng con cũng tri ân tất cả những nhân tài trong đội ngũ giáo dục Chân Phật, tri ân giảng sư Thượng sư Liên Nhất, giáo thọ sư Liên Như - thư ký điều hành Ban Giáo dục, giảng sư Dực Tài - thư ký hành chính, trợ giảng Mỹ Nga, cùng toàn thể đội ngũ cố vấn và biên soạn giáo trình.

Thật ra điều mà đệ tử cảm thấy biết ơn nhất trong lòng chính là Căn bản Thượng sư: bởi vì tất cả giáo pháp đều xuất phát từ Sư Phật; tất cả nhân tài cũng đều là ân phước từ Sư Phật ban cho; tất cả nhân duyên đều là sự gia trì thầm lặng của Sư Phật.

Sư Phật kính yêu, trong chuyến đi Châu Á này, dù bận rộn đến mấy, đệ tử vẫn hành pháp không ngừng mỗi ngày, thậm chí còn học được cách luyện khí trong lúc làm việc, giảng dạy, luôn giữ được Bảo bình khí, và càng thêm thấm thía rằng "trung trụ khí" là nền tảng của mọi công đức, bởi vì nó liên quan trực tiếp đến chủng tự ở Tâm luân và ánh sáng Phật tính. Vô cùng cảm tạ khẩu quyết của Sư Phật! Cầu chúc Sư Phật sớm bình phục, cát tường an khang, trường thọ tại thế, vĩnh chuyển pháp luân, thỉnh Phật trụ thế. Xin kính chúc Sư Phật Sư Mẫu năm mới vui vẻ, ngày cát tường, đêm cát tường, một ngày sáu thời thường cát tường!

Ngu đệ tử Liên Ha kính lạy.
Ngày 9 tháng 12 năm 2023 tại núi Brazil.


### 48. Hướng dẫn đọc văn tập "Mưa bụi bé nhỏ" - Giáo thọ sư Thích Liên Truy


**I. Cuộc đời kỳ diệu của Sư Tôn**

Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật, từ một chàng thanh niên yêu thích văn nghệ, trở thành một quân nhân chuyên nghiệp, rồi trở thành nhân vật nổi tiếng trong giới phong thủy, Ngài đã trải qua nhiều cuộc hành trình kỳ diệu, cuối cùng được Phật pháp cảm hóa sâu sắc, bước vào lĩnh vực tôn giáo, và trở thành bậc tông sư của một phái. Trong cuốn sách "Mưa bụi bé nhỏ", mỗi bài thơ đều chứa đựng câu chuyện của Ngài, có sự say mê văn chương thời niên thiếu, có khoảnh khắc rung động ngọt ngào đầu tiên, có sự rèn luyện trong quân ngũ, có sự tiếp xúc với khoa huyền học, có sự chứng nghiệm thành tựu tu hành của bản thân, tất cả đều là hành trình và xúc cảm trong cuộc đời của Sư Tôn. Trước hết, hãy để chúng ta từ bài viết "Ba bài thơ và vài câu nói" này, một cách ngắn gọn súc tích, nhìn lại cuộc đời kỳ diệu của Sư Tôn, tôi chia thành ba giai đoạn để trình bày:

1. Thời thơ ấu (thời kỳ bị bắt nạt); 2. Thời kỳ quân nhân (thời kỳ rèn luyện); 3. Thời kỳ tu hành (thời kỳ học Phật).

Trong thời thơ ấu, Ngài thường xuyên bị đánh đập vô cớ. Giai đoạn này là thời kỳ bị bắt nạt, Ngài sống trong cảnh ba ngày một trận đòn lớn, hai ngày một trận đòn nhỏ. Ngài đã từng làm một bài thơ rằng:

*"Mùa xuân tuổi thơ, chưa từng thấy được. Da thịt sưng đỏ, vết thương chưa lành, lại thêm vết mới. Đánh đánh đánh, thời kỳ đó thật có chút oán hận, đành chấp nhận số phận, cố che giấu nỗi đau trước người khác."*

Trong thời kỳ quân nhân, Ngài vào trường Trắc Lượng, chịu huấn luyện quân sự nghiêm khắc, nhưng lại đặc biệt say mê sáng tác thơ ca, văn xuôi và tiểu thuyết. Ngài đọc rất nhiều sách, viết rất nhiều bài, trở thành một quân nhân mang hơi thở văn nghệ, Sư Tôn có thơ rằng:

*"Chịu đựng hết nước ngập trời xanh gió nổi sóng, như thể, thuyền trên sông trong, nỗ lực chèo mái chèo của cuộc đời. Một bên là quân nhân, một bên là văn nghệ. Cả hai cùng bay, hướng về nhau."*

Trong thời kỳ tu hành, Sư Tôn từ quân nhân chuyển sang học Phật, một lòng học Phật, một lòng học pháp, một lòng hướng thiện. Phật pháp trở thành niềm tin và chỗ dựa vững chắc của Ngài, Sư Tôn có thơ rằng: *"Ta ở bờ này, nhìn về bờ kia, học tập nhất tâm bất loạn. Tín, nguyện, trì danh, để định huệ sáng rực của ta, bay về tòa bồ đề."*

Cuộc đời kỳ diệu nhiều tai ương của Sư Tôn không vì thế mà buông xuôi thất chí bị đánh bại, mà ngược lại kiên cường bất khuất, tinh tấn thực tu và viên mãn thành tựu, đây chính là bậc Căn bản Truyền thừa Thượng sư của chúng ta - Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật - một bậc thành tựu vĩ đại thừa nguyện lại đến.

Con cũng xin viết một bài thơ tán thán Sư Tôn:

*"Than ôi! Ngài là đứa trẻ chịu hết mọi đau đớn bạo hành.
Hùng tráng thay! Ngài là bậc anh dũng bảo vệ quê hương đất nước.
Vĩ đại thay! Ngài là bậc Thánh giả trên tòa bồ đề.
Kiếm cầm nơi tay, là trí huệ thâm sâu vô tận của bậc Thánh.
Mũ đội trên đầu, là lòng từ bi thương xót chúng sinh của bậc Thánh.
Áo giáp khoác trên mình, là nguyện lực kiên cố bất động của bậc Thánh.
Nguyện cầu Sư Tôn Thánh Tôn, ánh sáng thanh tịnh của trí huệ từ bi và nguyện lực vô tận, mãi mãi chiếu soi chúng sinh, không bao giờ dứt!"*

**II. Luận về tu hành qua thơ thiền**

Thơ của Sư Tôn chứa đựng thiền ý, chứa đựng sự tu hành, và cũng chứa đựng nhân văn. Sư Tôn là một bậc Thánh giả thành tựu, nhưng Sư Tôn cũng là một nhà văn, bởi vì từ thuở ban đầu Sư Tôn đã là một thanh niên văn nghệ, khí chất văn nghệ của Sư Tôn, ngoài văn xuôi ra, còn thể hiện trong thơ ca của Ngài. Trong thơ ca, nội dung không phải là những lời than vãn vô cớ, hay những tiếng thở than u sầu. Hướng đi cuối cùng đều là dạy chúng ta tu tập nghiêm túc, trở về chân như. Đặc điểm trong thơ của Sư Tôn, tôi tóm tắt có ba điểm: (1) Thấy sự vĩ đại trong khiêm nhường; (2) Hướng dẫn thực tu trong hiện thực; (3) Trong thơ có họa thể hiện thần thái.

**III. Nỗi nhớ quê hương trong làn mưa bụi**

Sư Tôn nói: "Tôi thường tự suy ngẫm, tôi không quen thuộc với các thành phố lớn, nơi tôi sống chỉ là thành phố vừa và nhỏ. Mỗi lần xem tin tức truyền hình, những bản tin đó luôn nói về New York hoặc Los Angeles, tin tức về Seattle hầu như không có." Sư Tôn thường nghĩ về hai chữ "vi vi" (bé nhỏ).

Trong phần "Lời tựa" của cuốn sách này, Ngài nói: "Tôi đã viết một bài thơ nhỏ: *Khói bé nhỏ. Mưa bé nhỏ. Thành phố bé nhỏ. Người bé nhỏ. *Bài thơ ngắn này rất đơn giản, nhưng nó đã thể hiện được những suy tư sâu sắc và cảm nhận trong cuộc đời của tôi."

Sư Tôn chưa từng sống ở Đài Bắc rộng lớn, cũng chưa từng ở thành phố lớn New York, chỉ sống ở những thành phố nhỏ, nên tự cảm thấy nhỏ bé, và viết nên "thành phố bé nhỏ, người bé nhỏ"; còn Seattle thì nhiều mưa, những cơn mưa phùn như sương khói, nên viết nên "khói bé nhỏ, mưa bé nhỏ".

Bài thơ này thể hiện sự gần gũi với cuộc sống và con người trong thơ của Sư Tôn, bởi vì sương mù, thành phố, con người là những thứ chúng ta có thể trực tiếp nhìn thấy, chạm vào được, nhưng lại biểu đạt cảm nhận cả đời của Sư Tôn, đó là tất cả đều nhỏ bé, nhỏ bé đến vô ngã, bởi vì vô ngã mới có thể chứng được Phật tính.

Đó chính là: Thấy sự vĩ đại trong khiêm nhường.

Cảm ngộ tâm cảnh của Sư Tôn, tôi cũng viết một bài thơ nhỏ:

*Hoa bé nhỏ, cỏ bé nhỏ, cây to cũng bé nhỏ.
Cát bé nhỏ, đất bé nhỏ, đại địa cũng bé nhỏ.
Vũ trụ mênh mông không biên giới, trái đất như bụi cũng bé nhỏ.
Người bé nhỏ, bạn bé nhỏ, tôi cũng bé nhỏ.
Vì thế tôi nguyện sám hối tội, học từ bi, và khiêm nhường.*

**IV. Chỉ cầu hỏi việc mà quên tu hành**

Sư Tôn trong bài "Vì sao không còn hỏi việc nữa?" có đề cập: "Có người hỏi: 'Lư Sư Tôn, thật sự không còn hỏi việc nữa sao?' Tôi đáp: 'Dù sao tôi cũng là một hành giả!'"

Và trong sách này, bài "Hỏi việc" viết rằng:
*"Bạn đến hỏi tôi, tôi cho đáp án, đáp án của tôi phải thật hay. Lòng người đời luôn quá rối ren, không dứt được niệm. Tôi sẽ dạy bạn, làm sao thật sự đến được bờ kia. Bệnh có thể chữa, tai ương có thể tan, duyên đến duyên đi không giống nhau, lợi ích, quyền vị, điều quan trọng nhất là tu hành, tôi là đạo bạn tốt nhất của bạn."*

Đặc điểm của bài thơ này rất chân thực, phản ánh một mặt tán loạn và phụ thuộc của chúng sinh chúng ta.

Thật ra, Sư Tôn hiện nay vẫn hỏi việc mỗi ngày, suốt năm không nghỉ kể cả đêm Giao Thừa và Tết Nguyên Đán, Ngài làm vậy để thuận tiện độ hóa chúng sinh, chỉ e ngại chúng sinh chỉ phụ thuộc vào việc hỏi việc mà quên đi tu hành. Nhưng Sư Tôn vẫn kiên nhẫn khuyên bảo, để đưa chúng ta trở về con đường tu hành chân chính. Đây chính là: Hướng dẫn thực tu trong hiện thực.

Về việc hỏi việc, tôi cũng làm một bài thơ để tưởng nhớ tấm lòng của Sư Tôn:

*"Hỏi việc tới, hỏi việc lui, không ngoài vợ con tài lộc.
Pháp nhập thế, tiện lợi độ, Sư Phật từ bi bận rộn.
Tâm nếu loạn, như thỏ chạy, sáu thần vô chủ không chỗ nương.
Mật pháp thật, đừng phụ lòng, nhập ngã ngã nhập trụ chân như."*

**V. Cảnh thơ trong bức họa**

Trong bài "Trong thơ có họa", Sư Tôn có một đoạn "Sự hé lộ của biển" viết rằng:
*"Sóng dâng trào cuồn cuộn, lời răn của nó là tiếng thì thầm vĩnh hằng, màu xanh trải dài đến chân trời góc biển. Tấm lòng của bậc vĩ nhân, dùng bọt sóng thay cho cơn giận, dùng tĩnh lặng thay cho dịu dàng. Màu xanh là tự do và bình đẳng, biển cả, tấm lòng của bậc vĩ nhân."*

Từ bài thơ ngắn này, có thể dệt nên ấn tượng về biển, trong thơ có họa.

Ngài lại nói: "Tôi làm thơ, cũng vẽ tranh, đôi khi tôi còn đề thơ trong tranh, hai thứ bổ trợ cho nhau. Quán tưởng trong Mật giáo dạy chúng ta phác họa hình tượng Bổn tôn trong tâm trí, đó chính là bức tranh trong não. Sau khi vẽ xong, lại phổ thành giai điệu tâm chú."

Bài thơ này của Sư Tôn có đặc điểm như một bức tranh, trực tiếp vẽ nên biển xanh mênh mông, đó chính là: trong thơ có họa hiển lộ thần thái. Còn việc chúng ta quán tưởng Bổn tôn, chính là từng nét từng nét vẽ nên Bổn tôn trong tâm trí, rồi như ngâm thơ để trì chú. Đó chính là: trong họa có thơ như mây trôi.

Tôi cũng xin dâng lên Sư Tôn một bài thơ tán thán:

*"Họa trong thơ, hình ảnh thơ khắc ghi tâm trí.
Thơ trong họa, văn thơ tự do tuôn chảy.
Quán Bổn tôn, cần vững vàng. Tụng tâm chú như thơ, vẽ Bổn tôn như họa.
Bổn tôn nhập ngã, Phật mạn không e ngại.
Ta nhập vào mẫu quang, tâm linh trống không chẳng còn ta người."*

**VI. Cảnh thơ của Sư Phật**

Trước khi học Phật, tập văn đầu tiên mà Sư Tôn viết là một tập thơ, có tên là "Tập Khói Mỏng". Xin trích dẫn hai bài như sau:

**"Bóng dáng của tình yêu":**

*"Dẫm trên thảm cỏ xanh mướt, bước dưới ráng chiều tươi đẹp, trong ráng chiều có bóng dáng kiều diễm của em, trong ráng chiều có câu chuyện tình yêu rực rỡ, đó là chuyện đã qua, chuyện xưa giờ đã nhạt nhòa."*

Bài thơ kể về một câu chuyện tình đã qua, kèm theo nỗi buồn mơ hồ.

**"Đón Mừng Năm Mới":**

*"Ánh sáng rực rỡ tuôn chảy, lá xanh mới mọc, vũ điệu của tuổi xuân, múa bên hồ sen mới nở, bước theo khúc nhạc cách mạng của thời đại mới, khúc nhạc của sự sống, cùng nhau đo lường non sông gấm vóc tuyệt đẹp trong ánh bình minh."*

Điều này miêu tả cảnh giới trần thế vừa bình minh, cây cỏ lại bắt đầu một ngày sống mới.

Sau khi Sư Tôn học Phật, trong cuốn sách "Mưa bụi bé nhỏ", bài viết "Học Phật và làm thơ", Sư Tôn nói: "Sau khi học Phật, tôi phát hiện ra cư sĩ Nam Hoài Cẩn cũng làm thơ, ông có tác phẩm 'Thơ Ghi Năm Tháng của Kim Túc Hiên'. Kim Túc Như Lai chuyển thế thành Duy Ma Cật Đại Sĩ. Đại sư Nam Hoài Cẩn và đại sư Trần Kiến Dân đều tự ví mình như Duy Ma Cật Đại Sĩ."

"Thơ của tôi được tập hợp thành một tập lớn, tên sách là: 'Hài lòng tâm vui'. Tôi viết: Năm mươi năm qua làm khách thơ, tính ra trăng vẫn trắng, gió vẫn trong. Giờ đây chẳng biết lo âu nữa, chỉ biết nghe lại khúc nhạc xưa."

Trong đó, bài "Trăng trắng gió trong" là để miêu tả một đêm tĩnh lặng và tươi đẹp.

Bài thơ này đề cập đến: "Giờ đây chẳng biết lo âu". Điều này có nghĩa là Sư Tôn đã giải thoát khỏi mọi ưu phiền và tai ương, tức là đã giải thoát khỏi phiền não. Đây là cảnh giới của bậc Thánh xuất thế gian.

Vì vậy, từ bài thơ này tôi nhận thấy:
Trước khi học Phật, cảnh giới thơ của Sư Tôn là cảnh giới của thi nhân thế gian thông thường.
Sau khi học Phật cho đến nay, cảnh giới thơ của Sư Tôn đã là cảnh giới của bậc Thánh xuất thế gian.

Tôi xin dâng lên Sư Phật một bài thơ nữa:

*"Ánh sáng rực rỡ lá xanh mới,
Tình yêu mờ ảo cõi trần gian.
Lo âu tiêu tán ngã phai tàn,
Đôi cánh vô hình cõi Thánh nhân.
Tình phàm trần, cảnh giới Thánh,
Phàm Thánh như một chẳng phân chia."*

**VII. Thơ của Sư Phật giải bày tâm tôi**

Sư Tôn không chỉ là bậc đại thành tựu đương đại, mà còn là một nhà văn học lớn của thời đại. Sư Tôn nói: Văn chương thể hiện tâm của tôi. Và thơ, tất nhiên cũng thể hiện tâm của Sư Tôn. Chỉ là, thơ dùng cách thức giản dị và đẹp đẽ để thể hiện nội hàm có nhịp điệu.

Thơ của Sư Tôn có hơi thở nhân văn đậm đà, có trí huệ bát nhã siêu việt, cũng có đôi chút cảm khái và bất đắc dĩ, tuy nhiên, dù Sư Tôn có cảm khái, Ngài vẫn luôn: "Như như bất động, tâm gắn với chúng sinh, không bỏ một chúng sinh nào". Vì vậy, từ thơ của Sư Tôn, tôi học được: "Hơi thở nhân văn, trí huệ bát nhã, và lòng từ bi cùng đại nguyện hướng về chúng sinh." Từ những gì học được, tôi nguyện tinh tấn thực hành, nỗ lực không ngừng.

**(Hết.)**

---

---
# File: sach-tam-linh/3001-phat-phap-lam-dep-than-tam.md
# Title: 3001. Phật pháp làm đẹp thân tâm
---

![image](/img/img_c43674df36b707261a6ed6b814660a26.jpg)



## Phật pháp làm đẹp thân tâm


Văn tập số: 3001
Xuất bản năm: N/A
Tác giả: Thượng sự - Sư Mẫu Lư Lệ Hương
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời dịch giả


Các bạn độc giả yêu quý! 
Các bạn đang cầm trên tay một cuốn sách vô cùng trân quý được viết bởi một con người vĩ đại đã hy sinh rất nhiều và dành trọn cuộc đời mình cống hiến cho sự nghiệp hoằng dương Phật pháp, một người mẹ dung dị luôn ở phía sau âm thầm, miệt mài làm các việc pháp vụ không ngừng nghỉ, giúp đỡ vô hạn cho Tôn Sư Lư Thắng Ngạn và Chân Phật Tông thế giới.

Đó cũng chính là người mà các đệ tử vô cùng yêu quý và quen gọi thân mật là Sư Mẫu. 

Liên Hương Thượng sư tên thật là Lư Lệ Hương, sinh năm 1949 tại Đài Trung, Đài Loan. Khi trưởng thành bà đã kết hôn với Tôn Sư Lư Thắng Ngạn. Sau này khi Tôn Sư thành lập tông phái, bà được mọi người ca ngợi gọi là Sư Mẫu, cũng bởi bà đã thực sự đóng góp với vai trò quý giá như một người mẹ của Chân Phật Tông. 

Trong rất nhiều bài nói chuyện và khai thị, Tôn Sư Lư Thắng Ngạn luôn nhấn mạnh vai trò quan trọng to lớn đặc biệt của bà. Nếu không có Sư Mẫu sẽ không có Chân Phật Tông với hơn 5 triệu đệ tử ngày nay. Trong một văn tập của mình, Tôn Sư cũng đã từng ví von rằng, nếu như Lư Sư Tôn là người thủ lĩnh tinh thần của Chân Phật Tông, thì Liên Hương Thượng sư chính là người thủ lĩnh bằng xương bằng thịt hiện hữu trên mặt đất này để điều hành toàn bộ hoạt động của tông phái.

Liên Hương Thượng sư từng chia sẻ rằng bản thân mình chưa bao giờ nghĩ đến chuyện trở thành một tác giả viết văn. 

Cuốn sách "Phật pháp làm đẹp thân tâm" này không hẳn là một sáng tác văn học. Đây là tuyển tập những bài viết tùy bút mà Liên Hương Thượng sư viết cho mục Liên Hương Tùy Bút của tờ Chân Phật Báo - tờ báo chính thức của Chân Phật Tông. 

Trong mục Liên Hương Tùy Bút, Sư Mẫu thường viết rất chân thực, mộc mạc, gần như có gì viết nấy. Bà chia sẻ với các đệ tử Chân Phật những câu chuyện thường ngày về cuộc sống, về công việc, về hoạt động của tông giáo, về trải nghiệm tu hành của bản thân, về các lời khuyên cho đệ tử hay bạn bè… 

Các bài viết chia sẻ của Sư Mẫu vô cùng có giá trị và cực kì được yêu thích. Chúng rất chân thành, bình dị, nhiều lúc vô cùng xúc động như chính tâm hồn tuyệt đẹp của Người. Không hề ngạc nhiên khi mục này luôn được chờ đón mỗi kì Chân Phật báo ra số mới.

Ngày 1/10/1995, nhà xuất bản Đại Nhật đã xuất bản cuốn sách tiêu đề "Phật pháp làm đẹp thân tâm", chính là tổng hợp lại những bài viết được Sư Mẫu viết trong khoảng thời gian từ năm 1992 đến năm 1995. 
Nay đã ở vào độ tuổi 75 (tính tới tháng 4/2022) nhưng Sư Mẫu vẫn bền bỉ bước chân trên con đường phụ giúp Tôn Sư Lư Thắng Ngạn đem Phật pháp đi khắp nơi, tiếp tục cứu giúp chúng sinh thoát khỏi khổ đau trong cõi luân hồi. 

Chúng ta hãy cùng đọc những bài viết dung dị để hiểu hơn về một người phụ nữ có dáng vóc nhỏ bé nhưng trái tim vô cùng bao la quảng đại nhé.

Gửi đến bạn mọi lời chúc an lạc, cát tường. 
Sarva mangalam!
Om mani padme hum!

Ghi chú
Tất cả chú giải, được đánh dấu (*) có màu xanh đi kèm hoặc ghi trong ngoặc đơn (), là của người dịch. Mọi lời dịch hay lỗi sai có thể gây nên các hiểu lầm không đáng có, là của người dịch.


### Lời tựa. Xuất bản Liên Hương Tùy Bút


Lời tựa - Lư Thắng Ngạn

Có rất nhiều đệ tử nói với tôi rằng, khi mở tờ Chân Phật Báo ra, đầu tiên là họ sẽ đọc mục Liên Hương Tùy Bút. Điều này cho thấy rằng Liên Hương Tùy Bút cũng giống như cột "dự báo thời tiết" của Chân Phật Báo vậy. 
 
Liên Hương Thượng sư có thể viết văn ư? Đây là việc khiến người ta khó tưởng tượng được. Trong trí nhớ của tôi, đây là việc trước nay chưa từng có ở Chân Phật Báo, Sư Mẫu chưa từng một lần nào viết văn, đương nhiên càng không cần phải bàn đến chuyện làm thơ. 
 
Tôi nghĩ, nếu nói văn chương phải nặn từng chữ mới ra được, thì câu nói này đúng chính xác với Sư Mẫu, cực kì chuẩn. 
 
Mỗi khi Sư Mẫu hoàn thành xong một trang viết, trên mặt bà sẽ biểu hiện cái vẻ muốn trốn mất tiêu luôn. Sau đó, hiển nhiên tôi chính là người được hưởng niềm sung sướng khi là độc giả đầu tiên. 

Kì thực tôi rất ít khi sửa những câu văn của Sư Mẫu, thường chỉ là sửa một chút xíu các chữ viết chưa đúng chính tả, dấu chấm câu hay các câu văn có ý nghĩa mù mờ không rõ ràng. Sư Mẫu cũng rất sẵn lòng nghe tôi chỉ ra cái sai chứ không cố chấp với quan điểm của riêng mình. 
 
Đương nhiên, cái gọi là "tùy bút" nghĩa là viết ra những sự việc xảy ra vào lúc nào ở đâu, bày tỏ thêm một chút cảm xúc tâm linh của bản thân. Phong cách viết của Sư Mẫu có liên quan nhiều đến Chân Phật Tông, đọc bài chia sẻ của bà có thể biết được rất nhiều chuyện to nhỏ của tông phái trong nhiều năm, thấy được quá khứ và hiện tại, từ đó mà ngẫm nghĩ về con người thế gian.
 
Nội dung của Liên Hương Tùy Bút bao gồm đủ mọi thứ, có tiểu phẩm văn nghệ, có những chuyện thú vị của đời sống, có tu dưỡng tĩnh tâm, có khái niệm của tông phái, có thể nói là không bỏ sót chuyện gì, nhiều như sao trên trời, nhờ đó mở mang tâm trí, lấy việc khiến người ta phải suy ngẫm làm quy tắc. 
 
Tôi chúc mừng việc xuất bản sách thành công của Sư Mẫu. Việc này sẽ đem đến cho độc giả cuộc sống phong phú hơn để ai ai cũng đều được hưởng lợi lạc từ sách.


### Lời tựa. Xâu chuỗi hoa sen


Lời tựa - Lư Lệ Hương

Tôi chưa từng nghĩ đến việc sẽ viết văn, cũng chưa từng nghĩ đến việc sẽ xuất bản sách, giống như cách đây rất lâu tôi chưa từng nghĩ đến chuyện di cư sang Mỹ vậy. 

Hồi đó, trong hoang mang mơ hồ về vận mệnh của tạo hóa, có một sức mạnh cứ liên tục thôi thúc tôi rằng "hãy dũng cảm đi thích ứng với cuộc sống di cư mới". Thấm thoắt thời gian trôi qua, đến giờ tôi đã sống ở Mỹ được 13 năm rồi. Tôi nghĩ, tất cả đều là cái duyên. Xuất bản sách cũng là cái duyên. 
 
Đối với việc sáng tác mà nói, bản thân tôi cho rằng cho dù công việc nặng nhọc cỡ nào thì cũng đều không khó bằng việc sáng tác. Mỗi khi cầm bút lên là tôi lại cảm thấy như phải chịu đựng gánh nặng, ý tứ lộn xộn, rất khó hạ bút viết nhưng lại không có đường thối lui. Tôi thường xuyên mở căng mắt nhìn vào tờ giấy nháp hơn nửa ngày trời mà vẫn chẳng có lấy một giọt mực tội nghiệp nào rơi ra. Tôi cũng thường xuyên ngồi đến khô cả người mà vẫn chẳng có tí cảm hứng nào. 
 
Có nhiều lúc, tôi đem bày ra một chồng sách để tìm kiếm xem có tư liệu nào không. Tiếc thay dù cả một quyển từ điển dày cộp đã bị giở đến nát cả ra nhưng tôi vẫn không tìm được ý gì để viết. Tôi thực sự đã nếm trải nỗi thống khổ sâu sắc của việc sáng tác. 

Tôi càng thêm ngưỡng mộ những tác giả hạ bút thành văn, đặc biệt là người liên tục viết 104 cuốn sách - một đại tác giả mà khắp thế giới cũng là hiếm có - Sư Tôn. Công lực của Sư Tôn thật khiến người ta phải thán phục!
 
Tôi thỉnh giáo Sư Tôn, xấu hổ nói: "Đệ tử không có năng khiếu trời phú, không hiểu làm sao có thể viết được. Có đủ thứ từ cách phân chia đoạn văn, cách dùng tu từ, lại còn công lực và kĩ xảo, những kiến thức sâu sắc vô hạn thế này thật khó mà nắm bắt."
 
Sư Tôn hướng dẫn, viết văn là phải sống động, đôi khi không nhất thiết phải theo trình tự và thủ tục nào, chỉ cần tóm lấy một chủ đề, quyết định ý chính của cả bài, bám vào ý chủ đạo mà viết ra. Viết văn cũng giống như dùng "tâm" để viết ra vậy. Nói cách khác chính là phương thức dùng ý thức tâm linh thông qua biểu đạt bằng văn chương, đánh thức sự cộng hưởng!
 
Với sự hướng dẫn của Sư Tôn, tôi được tiếp thêm niềm tin lớn lao. Tôi lấy hết dũng khí cầm bút, dùng hết tinh thần và tâm lực bắt đầu tập viết. Mỗi lần vắt kiệt hết ngọn nguồn ý tưởng để tập hợp lại thành một trang văn chương, tôi nhất định phải đưa Sư Tôn đánh giá. 
Sau khi được Sư Tôn chỉnh sửa xong, tôi mới phát hiện ra câu văn đã đẹp đến nhường nào, nhất là khi sửa dù chỉ một chữ trong bài thơ là có thể ảnh hưởng đến toàn bộ ý tứ đẹp đẽ ẩn giấu trong đó. Do vậy tôi càng cẩn thận chau chuốt, trong lúc tập viết cũng đã có được tiến bộ. 
 
Tôi viết Liên Hương Tùy Bút phải đặc biệt cảm ơn Chân Phật Báo. Tờ báo đã cho tôi cơ hội có được một "cột đặc biệt" để rèn luyện bản thân, hơn thế nữa còn giúp tôi kinh nghiệm được  việc "trải qua phấn đấu để có được niềm vui, bằng viết văn mà đi vào thiền định, hưởng niềm an lạc của Phật pháp". Đây là điều mà không bút mực nào có thể mô tả giúp hình dung được. 
 
Đồng thời tôi cũng cảm ơn Tăng Văn Long sư huynh ở phía sau đã thu xếp mọi việc giúp cho xuất bản sách. Thực sự, Liên Hương Tùy Bút toàn bộ đều nhờ có sự gia trì của Sư Tôn. Người tôi cần cảm ơn nhiều nhất chính là Sư Tôn.  
 
Tôi hy vọng rằng thông qua ngòi bút của mình, với tất cả sức lực của mình tôi mong kết nối từng bông từng bông hoa sen lại thành một tràng hoa, rồi lại từ tràng hoa này tiếp tục kết nối với nhau trở thành một vạt hoa, để rồi trải đầy một thảm hoa sen dưới chân bạn.

Địa chỉ liên lạc của Chân Phật Mật Uyển
Sheng-yen Lu
17102 NE 40th CT.
Redmond, WA. 98052. U.S.A.


### 01. Bận rộn kết duyên


Hôm đó, ngày 20 tháng 12, tôi từ Seattle xuất phát hộ trì Sư Tôn đi Hồng Kông để tổ chức đại pháp hội Hộ Ma "cầu phúc tiêu tai trị bệnh" trong ngày 28, sau đó tới 31 tháng 12 sẽ rời Hồng Kông trở về Seattle. 

Tính ra chúng tôi chỉ lưu lại đúng 12 ngày. Trong 12 ngày vô cùng gấp gáp này, có thể nói, từ lúc chúng tôi bước xuống sân bay đã bắt đầu bận rộn, cho đến tận khi lên máy bay bay về  Mỹ mới có thể coi là được nghỉ ngơi. 
 
Trên máy bay, tôi sắp xếp hành lý tùy thân xong, chỉ định nghỉ ngơi một lát. Không ngờ "việc nghỉ ngơi một lát" này lại giống như một lần "đại sạc pin" với giấc ngủ kéo dài 10 tiếng đồng hồ. Đến khi tôi mở mắt ra thì máy bay đã sắp hạ cánh xuống Seattle rồi. 
 
Tôi cảm thấy lần này máy bay sao mà bay nhanh thế, tôi còn chưa ăn được bữa ăn nào trên máy bay cơ mà, làm sao mà  đã sắp hạ cánh được. 
 
Lúc ở Hồng Kông, tôi trú tại khách sạn Lục Quốc, quận Loan Tử, phòng 2505. Số phòng cùng số điện thoại đều công khai cho mọi người biết. [Loan Tử: tiếng Quảng Đông là WanChai - một quận ở Hồng Kông.]

Mỗi sáng đều có khoảng 105 đệ tử xếp hàng đến thỉnh giáo Sư Tôn để hỏi việc. Sau vài ngày, tổng cộng đã có hơn 1000 người đến hỏi việc. Sư Tôn hỏi việc thì ngay lập tức sẽ có linh nghiệm. Bên cạnh Sư Tôn có bốn vị hộ pháp giúp đỡ, là Liên Hoa Thường Trí, Thường Nhân, Liên Mãn, Liên Bảo. 
 
Tôi phụ trách các vấn đề liên quan đến tổ chức Chân Phật Tông, ví dụ như trưởng các Phật đường đến báo cáo, các Thượng sư hoằng pháp báo cáo, hoặc là bàn bạc việc hoằng pháp của Sư Tôn năm nay, năm tới, giải quyết các vấn đề lên lộ trình cùng những việc linh tinh khác. 

Tôi luôn luôn phải cẩn thận nghe mọi người nói, sau đó dựa vào việc đã theo Sư Tôn nhiều năm, học được kinh nghiệm tổ chức sắp xếp ra sao để chỉ đạo họ, giúp phát triển những hoạt động chính yếu và việc hoằng pháp của các Phật đường. Cuối ngày tôi sẽ tổng kết mọi chuyện và tóm gọn lại thành vấn đề chính để báo cáo với Sư Tôn. 

Bên cạnh đó, điện thoại trong phòng tôi từ sáng đến tối đều kêu không ngừng nghỉ. Tất cả đều dùng điện thoại này để liên lạc tổ chức sắp xếp các đơn vị pháp hội, và tôi cũng phải khéo léo trả lời mỗi cuộc điện thoại gọi đến. 

Có một vài đồng môn rất muốn đích thân mời ăn cơm, thành ý của họ chúng tôi cũng hiểu được. Tuy nhiên chúng tôi cũng không được tự do thoải mái, nhiều lúc chỉ muốn được tự do ăn một bát mì với nước lèo nhạt thôi cũng không thể. Mỗi bữa cơm của chúng tôi đều là các bữa ăn lớn với cả trăm người! 

Có rất nhiều người không biết rằng, từ lâu rồi Sư Tôn trong nhiều bữa ăn chỉ ngồi nhìn, một miếng cũng không ăn nổi! Sau đó Sư Tôn sẽ giải thích là đã ăn tạm một chút rồi. 

Thêm nữa, hàng ngày chúng tôi đều nhận được một chồng thư và văn kiện gửi đến, do vậy cũng vô cùng bận rộn đọc và trả lời thư. Bốn vị hộ pháp giúp đỡ Sư Tôn ngày nào cũng đều trả lời thư đến nửa đêm 2 giờ sáng, thực sự là rất vất vả. 
 
Nói tóm lại, những lần chúng tôi đi hoằng pháp ở nước ngoài đều vô cùng tất bật, mỗi ngày chỉ ngủ được 3-5 tiếng, thời gian khác đều bận rộn không ngơi nghỉ. Tôi nghĩ, nếu như tôi liên tục phát tướng ra giống như các Abasang, thì chỉ cần đi ra nước ngoài trở về là lại biến thành một cô gái thon thả ngay, giảm cân miễn phí, kể cũng không tệ ha! [Abasang: tiếng Đài Loan, chỉ những người phụ nữ già béo phốp pháp.]
 
Lần này ở Hồng Kông thấy mọi người thật thành tâm, từ khắp nơi trên thế giới hội tụ về tham gia pháp hội, thật khiến người ta vui sướng và cảm động. Có một số đệ tử lần đầu tiên ngồi máy bay, một số không quen đi xa nhà, và một số người già đi xa nhà vượt qua các bất tiện của mình. Lại có nhiều đồng môn nhiều năm không gặp cũng đến ủng hộ pháp hội. Tất cả đều nhận được lợi ích to lớn. 

Tôi nhìn thấy mọi người tươi cười, dáng vẻ cực kì sung sướng, ai cũng thể hiện sự hòa hợp cùng tinh thần đại đoàn kết. Chân Phật Tông đúng là một tông phái chiếu rọi ánh sáng quang minh. 
 
Cuộc đời là những chuỗi ngày bận rộn. Mỗi người lại bận rộn không giống nhau. Có người bận rộn với những việc thường ngày. Có người bận rộn với việc tu hành. Nhưng chúng ta cần quán xét sự bận rộn này có ý nghĩa hay không. Nếu có thể lấy chân lý làm mục tiêu theo đuổi thì có thể từ từ xa rời thế tục. Nếu lấy việc thế tục làm trọng thì sẽ ngày càng rời xa chân lý. Rời càng xa chân lý, bản tính tự mê lầm, cuối cùng sẽ khó quay đầu lại. Hoằng pháp độ chúng sinh là một công việc vất vả, nhưng niềm vui trong cái vất vả này lại vô cùng tận. 
 
Có người hỏi tôi: "Sư Mẫu cho rằng thu hoạch lớn nhất trong đời người là gì?"

Tôi đáp: "Ánh sáng Đại Nhật Như Lai chiếu rọi khắp nơi, Liên Hoa Đồng Tử hiển hiện biến hóa vi diệu cùng sự liên thông năng lực của ngài với chư vị đại thần tiên, chữa trị bệnh tật của chúng sinh hay gánh vác thiên tai của nhân gian. Tôi đã chứng kiến bao việc tai qua nạn khỏi, thấy việc nào cũng đều có sự thị hiện chịu (nghiệp) thay, thực sự ngoài sức tưởng tượng."
 
Thế nên, tôi cảm thấy vui mừng cho mọi người. Niềm vui mang lại chính là thu hoạch lớn nhất. Nhân đây xin cảm ơn tất cả những đệ tử của Phật đã tham gia và hộ trì cho pháp hội. 
Công đức vô lượng!
 
Tháng 2 năm 81 (*)
(Tháng 2/1992)


### 02. Nâng niu duyên nghiệp


Người tu hành phải biết trân quý duyên nghiệp, bất luận đó là thiện duyên hay ác duyên. Chỉ nhờ như vậy mới được tăng thêm thượng duyên. 
 
Trong kinh, bậc trí huệ đệ nhất Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát có nói: "Văn Thù gặp duyên nghiệp giống như có được thầy." 

Có thể nói rằng mỗi duyên nghiệp đều là vị thầy giáo huấn chúng ta. Có thể nói rằng, như học sinh nghe lời thầy giáo, như hiểu được tùy duyên mà thuận theo. Vậy là vui nhất. 
 
Mối quan hệ giữa người với người đều dựa trên duyên phận cùng sự tương trợ lẫn nhau, có duyên sẽ hợp, vô duyên sẽ tan. Cho dù "duyên cũng là hư không", nhưng chúng ta ở tại nhân gian thì vẫn phải dựa vào pháp duyên để tu hành và đạt được thành tựu.


### 03. Thiện và ác


Có người hỏi tôi: "Phật coi chúng sinh là vô thiện vô ác." Như vậy thì định nghĩa thiện ác thế nào? Nếu vậy thì làm việc thiện và tạo điều ác có sự khác biệt gì?"
Tôi đáp: "Ý nghĩa thực sự của vô thiện vô ác chính là nhân duyên quả báo bình đẳng không khác biệt". 
 
Nếu dùng con mắt thế tục để đánh giá thiện ác thì đương nhiên là có khác biệt. Nếu dùng nhân duyên quả báo để đánh giá thiện ác thì cơ bản là bình đẳng không khác biệt. 

Nếu chệch ra khỏi Phật đạo và đạo lý thông thường thì là ác, còn nếu phát tâm bồ đề, giúp người như giúp mình thì là thiện. Không hẳn là chẳng có định nghĩa thiện ác. 
 
Người tu hành hãy lấy thiện niệm và dùng tâm không phân biệt để đánh giá chúng sinh do vô minh mà tạo nghiệp. Từ đó sẽ nảy sinh tâm đồng cảm, tâm từ bi, và từ đó không còn phân biệt người tốt người xấu nữa.


### 04. Nhân quả


Có rất nhiều người nói rằng: "Tôi cả đời này không biết đã làm việc xấu gì? Cả đời này đến giờ mới gặp phải những chuyện khó khăn trắc trở thế này." Và kết quả sẽ thở ngắn than dài, oán trời trách người, cả ngày mặt ủ mày chau. 
 
Kì thực vận mệnh tốt hay xấu đều có mối liên hệ sâu sắc với nhân quả, do vậy trước tiên cần phải biết nhân quả từ đâu mà đến. 
 
Mọi người đều biết "trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu", tuyệt đối không có chuyện trồng dưa được lê, trồng đậu lại được táo. Thế nên kiếp trước tạo nhân gì, kiếp này chắc chắn sẽ nhận được quả báo. Kiếp này tạo nhân gì, cũng chắc chắn kiếp sau sẽ nhận quả báo. Đối với chuyện nhân quả chúng ta nên biết rõ như thế, chính là làm bất kì việc gì ắt sẽ có nhân quả. 
 
Trong kinh điển có nói "Bồ Tát sợ nhân, chúng sinh sợ quả". Câu này có nghĩa Bồ Tát rất cẩn thận không tạo nhân nghiệp, bởi vì  ngài ý thức sâu sắc rằng mỗi nhân gây ra đều sẽ có quả báo. 

Chúng sinh sợ quả, là chúng sinh sợ hãi kết quả, thường khi nhận được quả khổ thì mới biết thế nào là khổ.
 
Chúng ta nên làm người có trí huệ, cần hiểu nhân quả, đừng nên tùy tiện tạo nên nghiệp chướng từ thân, khẩu, ý.


### 05. Chúc mừng văn tập thứ 100 đại viên mãn


Trên thế gian, số người có thể viết 100 cuốn sách thực sự ít vô cùng. Hơn nữa, người có thể viết sách mà trong đó hàm chứa các phạm trù chân lí trí huệ vô thượng, Phật trong Phật, pháp trong pháp, rất có thể chỉ có người thành lập Chân Phật Tông Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - Sư Tôn của chúng ta. 
 
Sư Tôn viết sách là để độ chúng sinh. Bởi muốn mọi người dễ dàng hiểu được Phật pháp, thâm nhập khái niệm, do đó ngài dùng bút pháp xảo diệu giải thích những vấn đề phức tạp bằng cách biểu đạt đơn giản. Dùng cách thức này để viết về Phật pháp tinh nghiêm Tam Tạng Thập Nhị bộ khiến cho ai ai cũng đều có thể từ sách mà phát sinh trí huệ. 
 
Những văn tập này là những cuốn sách quý, rất hiếm có trên đời, vô cùng trân quý, bao gồm tất cả triết lý nhân sinh và trí huệ tính Không của vũ trụ. 

Gặp lúc bối rối, sách sẽ cho bạn biết phương hướng.
Gặp lúc ý loạn tình mê, sách sẽ cho bạn biết cách để thức tỉnh. Gặp lúc nghèo khó khốn cùng, sách sẽ cho bạn biết làm sao để tăng trưởng phúc phận.
Gặp lúc vận mệnh tuyệt vọng sa sút, sách sẽ khiến bạn phát khởi lòng tin. 

Không chỉ như vậy, sách còn có thể chỉ dẫn bạn từ thế tục tu tới minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử, tức thân thành Phật. Những văn tập này thực sự là sách quý đời người không thể thiếu. 
 
Cuộc đời khó được, Minh sư khó tìm. 
Đời này chúng ta vô cùng may mắn khi có thể gặp được một vị Phật đích thực tại thế, khi có thể quy y Sư Tôn - một vị có pháp lực, có chứng lượng, có thể đích thân nhập Tì Lư Tính Hải, thành tựu vô thượng khắp các cõi Thiên - Địa - Nhân (Trời Đất -  Người).

Chân Phật Tông chúng ta có chín mươi vạn đệ tử đều nguyện tiếp tục truyền đạo, nguyện đời đời kiếp kiếp làm công việc hộ sự hộ pháp, giúp Chân Phật Mật Pháp có thể lưu truyền, phổ chiếu khắp thập phương pháp giới. 
 
Trong cuốn sách Văn tập thứ 100 Sư Tôn có hỏi "Kết thúc của cuốn văn tập này là gì?"
 
Đáp án là cơ bản không có đáp án, kết thúc chính là vĩnh viễn không có kết thúc. Đúng vậy, mãi mãi không có kết thúc. Đệ tử Chân Phật sẽ tiếp mãi không dừng, truyền từ đời này sang đời khác, tiếng thơm vạn năm truyền lại cho con cháu, không bao giờ bị lãng quên. 
 
Chín mươi vạn đệ tử Chân Phật Tông chúng ta hãy cùng chung tiếng nói, tất cả hoan hô, ngợi ca đến mây xanh: "Văn tập thứ 100 đại viên mãn!"
 
Tháng 4 năm 81
(Tháng 4/1992)


### 06. Khảo nghiệm


Có đồng môn phàn nàn với tôi về chuyện chồng ngoại tình nên vô cùng đau lòng, không biết phải làm gì. Lúc đầu cô vốn có một gia đình hòa hợp mỹ mãn, giờ bỗng chốc sắp tiêu tan. Cô hy vọng tôi giúp đỡ, khuyên răn cô. 
 
Tôi nói: 
"Chuyện vô thường xảy đến quá nhanh không cách nào ngăn chặn được, trở tay không kịp, thật khiến người ta phải thở dài. Biểu hiện của chồng chị, theo cách nhìn của thế gian thì không đúng, nhưng xét theo nhân duyên mà nói thì đây chỉ là một định duyên tạm thời mà thôi!
 
Hãy xem như chuyện này đến để khảo nghiệm mình đi.
 
Hãy thử đứng ở góc độ người khác để xem xét chồng chị. Anh ta cũng đang đối mặt với khảo nghiệm, đang cân nhắc xem làm sao có thể dùng Phật pháp viên mãn hợp nhất để đối diện với vấn đề gia đình và bạn gái. Trên phương diện tình cảm, anh ta chắc chắn là cũng khó chấp nhận, rất đau khổ. Chị phải thông cảm với anh ta, tội nghiệp cho cảnh ngộ của anh ta, giúp đỡ anh ta sớm vượt qua cuộc khảo nghiệm này mới đúng. 
 
Khảo nghiệm có ý nghĩa gì? 
Chính là khi đối mặt với sự việc vốn không thể chấp nhận được mà vẫn có thể giữ được thái độ ôn hòa để tiếp nhận. Hơn nữa còn có thể dùng trí huệ để dung hòa nó, xem như chuyện bình thường.
 
Bước từng bước vững chắc với niềm tin kiên định, Phật Bồ Tát sẽ gia trì cho cô, nhất định sẽ giải quyết được việc dễ dàng."


### 07. Đúng và sai


Một số người cho rằng hễ phạm lỗi lầm thì xin lỗi là xong chuyện. Tuy nhiên hết lần này tới lần khác, phạm lỗi cả trăm lần thì lời xin lỗi cũng chỉ là nói cho xong thôi. 
 
Cũng có người quen biết sâu với tôi luôn luôn cho rằng bản thân mình vĩnh viễn không sai lầm, đều là người khác sai. Kiên quyết muốn người khác phải xin lỗi mình, tuy nhiên khi không có được lời xin lỗi của người khác thì lại thù hận cả đời!
 
Khi giải quyết các vấn đề trong cuộc sống thường phát sinh chuyện tôi đúng anh sai, tôi sai anh đúng. Chỉ cần chúng ta không truy cứu đúng sai, lại có chút tấm lòng bao dung để tha thứ, nghĩ nhiều hơn cho người khác, quan tâm nhiều hơn đến ưu điểm thì sẽ không nhìn thấy những mặt sai, lập tức có thể cùng với người ấy tương trợ dung hòa. 
 
Trong quá trình tu hành khó tránh khỏi sai lầm. 
Sợ nhất chính là sai mà không biết hối cải, sai mà không biết sai, tạo ra nghiệp chướng, khi đó sẽ là tồi tệ nhất. Biết sai để sửa mới có thể tinh tấn được. 
 
Nếu có thể đem mọi sự việc phát sinh xung quanh (dù đúng hay sai), quan sát nhân quả sinh ra thế nào, dùng tâm bình đẳng để xem xét ra sao, thì khi đó đúng sai cũng sẽ không khởi lên tác dụng gì trong tâm cả. 
 
Phải làm thế nào có được tâm bình tĩnh an ổn để tu hành?
 
Tôi nói: việc quá khứ đừng nhắc lại, nói nhiều cũng không ích lợi gì. Nói nghìn câu vạn lời cũng chẳng bằng một câu: A Di Đà Phật!


### 08. Chứng ngộ


Có vị tên Chu Chung Huân, là một đệ tử có pháp hiệu Liên Tiếp. Ông ấy là một trong bảy vị bác sĩ giỏi của khoa phụ sản tại thành phố Cao Hùng, hành nghề y đã được 20 năm. 

Bình thường ông tu pháp rất tinh tấn, mỗi ngày đều đọc kinh sách, đặc biệt là nghiên cứu sách của Sư Tôn, yêu thích đến mức không thể rời xa. Ông có niềm tin vô cùng kiên định đối với Căn bản Thượng sư mà mình đã quy y, chưa bao giờ ngừng tu trì Chân Phật Mật Pháp. 
 
Có lần trong bữa tiệc lớn, vị đệ tử này kể chuyện với Sư Tôn: 
Có một hôm, bạn học của vị đệ tử đột nhiên đến thăm, cố ý đưa đến một vị giáo sư giảng dạy Phật học nổi tiếng của Hiển giáo, Pháp sư XY. 

Đệ tử thấy Pháp sư đến thì cũng cung kính làm lễ. 
Pháp sư hỏi: "Ông quy y ai?" 
Đệ tử nói tên một vị Pháp sư. 
Ông ta nói: "Tốt lắm tốt lắm." 
Đệ tử lại nói: "Tôi cũng quy y Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn." 
Ông ta nghe xong, lúc đầu cười nhếch mép, nhưng rồi lập tức căng thẳng kéo đệ tử xuống và nói: "Ông quy y nhầm người rồi. Lư Thắng Ngạn không phải là Pháp sư, ông ta vẫn chưa thọ tam đàn đại giới, ông ta nói chuyện thần thông cũng là bậy, ông ta cái gì cũng đều sai hết."

Đương nhiên, vị đệ tử bác sĩ này hỏi lại ông ta rất nhiều pháp Mật giáo, ông ta đều không biết trả lời thế nào, lại còn tức khí bỏ đi. 
Sư Tôn rất từ bi, quan sát căn cơ mà dạy, ngay tại bữa tiệc đã giảng cho hơn mười vị đệ tử khác cùng ngồi ở bàn ăn đó về vấn đề nói trên. 

"Lư Thắng Ngạn không phải là Pháp sư."
Đáp: có pháp tất có sư (thầy). 

"Ông ta chưa thọ tam đàn đại giới."
Đáp: thời đại của Phật Thích Ca Mâu Ni, căn bản là chẳng có tam đàn đại giới, giới này là từ những cải biến trong Phật giáo Trung Quốc mà có. Ngoài Phật giáo Trung Quốc ra, Phật giáo nơi khác không có ai bị điểm giới thành sẹo, Mật tông Tây Tạng cũng chẳng có ai bị điểm giới thành sẹo cả. 

"Nói chuyện thần thông là bậy." 
Đáp: Phật Thích Ca Mâu Ni khi sinh ra chân đã dẫm lên hoa sen, mỗi bước đi là sinh ra hoa sen, hóa hiện thần thông, sau đó cũng dùng thần thông để cứu thế, do vậy có nghìn lời thỉnh cầu thì có nghìn lần ứng cứu. 
 
Nghe xong những lời giảng của Sư Tôn, trong lòng tôi cũng có chút cảm ngộ. Tôi nhận thấy rằng cho dù kiến thức Phật học có uyên bác đến mức nào, cho dù xuất gia từ nhỏ đến tận khi già, hay kể cả dù có giỏi giảng dạy Phật học, nếu không thực tu thì chẳng có cách nào đạt được chứng ngộ chân chính. 

Nếu chỉ đọc kinh sách, đem theo kinh sách, hướng dẫn người khác hiểu rõ kinh sách, thì cũng chỉ là người "biết" mà không "tu", vẫn không có cách nào đạt đến những chân lý thâm sâu nhất của thực hành pháp. 

Vì thế, lý thuyết pháp và thực hành pháp đều cần khai ngộ, mới là chứng ngộ chân chính.


### 09. Chúc mừng Thánh đản Liên Sinh Hoạt Phật


Ngày 18 tháng 5 âm lịch, một ngày trong 365 ngày, chính là ngày thù thắng vĩ đại vô cùng quan trọng, cũng là thời khắc mà người, trời, thập phương pháp giới đều cùng tung hô. Đây chính là ngày đản sinh của Liên Hoa Đồng Tử. 
 
Chúng ta đều biết, khởi đầu của nhân duyên này là từ Đại Nhật Như Lai, Phật Nhãn Phật Mẫu, Liên Hoa Đồng Tử, Liên Sinh Hoạt Phật. 

Tây phương cực lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì chính là hóa hiện từ hai mắt của Phật Nhãn Phật Mẫu. Trong đó Liên Hoa Đồng Tử cũng là biến hóa thân của Phật Nhãn Phật Mẫu. Liên Hoa Đồng Tử lại hóa thân thành Liên Sinh Hoạt Phật. 
 
Nguồn gốc truyền thừa đặc biệt này đã thu hút vô số chúng sinh mong muốn được quy y, công đức của việc này là vô lượng vô biên đó!
Sư Tôn đã gặp rất nhiều nhân duyên, thọ giáo nhiều vị thầy, chính bản thân cũng được Phật Thích Ca Mâu Ni thọ kí, được Phật A Di Đà tin cậy giao nhiều trọng trách, được Bồ Tát Di Lặc ban cho đội hồng quan, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ dạy mật pháp. 

Nhân duyên với đại pháp này chính là thời đại của Liên Hoa Đồng Tử cứu độ chúng sinh. 

Ứng hóa của Liên Hoa Đồng Tử dùng pháp thân biến hiện khắp pháp giới, không nơi nào là không có nguyện lực của ngài tồn tại. Trong tất cả chúng sinh và thiên giới quốc độ luôn luôn chuyển động pháp luân, vô cùng diệu kì. 
 
Do nhân duyên đại sự này, ngày đản sinh của Liên Sinh Hoạt Phật là vô cùng quan trọng!

Trong bài chúc mừng sinh nhật hôm nay, có 100 vạn đệ tử đồng loạt tụng Chân Phật Kinh, tu Chân Phật Mật Pháp. Mọi người cùng có chung ý niệm và lời chúc phúc. 
 
Nguyện: Liên Hoa Đồng Tử Phật quang luôn phổ chiếu.
Nguyện: Sư Tôn sức khỏe an khang, thường chuyển pháp luân, mãi trụ thế gian. 
 
Tháng 6 năm 81
(Tháng 6/1992)


### 10. Tu không chậm trễ


Đời người chúng ta đều nằm trong các giai đoạn, từ lúc còn nhỏ, đến thanh niên, trung niên, rồi tới lão niên. 

Có thể nói lúc còn nhỏ cuộc sống trong trời đất rất vô tư, lúc thanh niên thì cầu học vấn, còn lúc về già thì thể lực trí lực lại suy yếu dần, phải nghỉ hưu dưỡng lão. Vì thế giai đoạn trung niên là lúc tinh hoa nhất, là giai đoạn có thể thành tựu toàn bộ sự nghiệp. 
 
Có câu nói: "Nếu đến 45 tuổi sự nghiệp vẫn chưa thành, thì bạn hãy buông bỏ đi, không cần phải cố gắng thêm nữa", ngụ ý sau 45 tuổi là đã bước sang ranh giới của tuổi già. Lúc này thể lực trí lực đều không bằng thanh niên, cơ hội thành tựu cũng đã bỏ lỡ, tốt nhất là chấp nhận vận mệnh, giữ lấy hoàn cảnh bình an hiện tại thôi!
 
Tương tự trong quá trình học pháp cũng vậy, tốt nhất là khi ngoài 20 tuổi bắt đầu học ngồi thiền, nhập định, tinh thần dễ tập trung, thể lực tốt, ngồi thẳng được, trung khí đủ, thân thể khỏe mạnh trí lực tốt, rất dễ học pháp. 
 
Sư Tôn cũng từng dạy rằng: vào lúc thanh thiếu niên, cần đọc nhiều nghe nhiều, ngoài 20 tuổi liên tục cho đến trung niên là thời kì hoàng kim để tu học nhập định, lúc già tốt nhất là dựa vào sức mạnh của việc đọc kinh trì chú, nhất tâm bất loạn cầu vãng sinh. 
 
Nói như vậy thì mỗi giai đoạn của đời người đều rất quan trọng, tùy vào căn cơ đọc nhiều nghe nhiều thế nào để mà đi sâu vào thực tu. Lúc già không thể lấy lý do là già rồi để ngừng và buông bỏ, càng phải nỗ lực bước tiếp, khích lệ bản thân để bắt kịp với đội ngũ ở Ma Ha Song Liên Trì.


### 11. Tu hành không tinh tấn như cây không gốc


Sự sinh trưởng của cây cần dựa vào gốc rễ để hút nước và chất dinh dưỡng. Từ gốc chất dinh dưỡng sẽ chuyển đi đến thân cành lá, cuối cùng đơm hoa kết quả. Gốc rễ là nguồn sống của cây, nếu không có gốc rễ cây chắc chắn sẽ chết. 
 
Đã lâu Seattle không có mưa, có nguy cơ thiếu nước. Mọi hộ gia đình đều bắt đầu ý thức dùng nước tiết kiệm, hạn chế không tưới nước cho cây cỏ và rửa xe. 

Bắt đầu xuất hiện hiện tượng cây cỏ bị héo, nhưng tôi phát hiện ra trong thời kì cây không được tưới nước tương đối dài này, hoa cũng vẫn nở nhiều như trước. Cho dù cỏ khô úa thì hoa vẫn sống, cây vẫn đứng vững như thường, khiến tôi nghĩ đến ý nghĩa của "gốc rễ". 
 
Gốc rễ của loài cây đó đối diện với thử thách khô hạn, trời không mưa, con người không tưới nước, lại phải chịu đựng ánh mặt trời thiêu đốt. Nhưng gốc rễ vẫn có thể giữ vững tinh thần, vẫn giữ lấy trách nhiệm, lại gia tăng nỗ lực, tinh tấn sinh trưởng, từ trong đất rộng hấp thu độ ẩm và chất dinh dưỡng, kiên nhẫn tích lũy, khiến cho bản thân cây tiếp tục lớn lên. Tinh thần phấn đấu của gốc rễ rất đáng cho con người học tập. 
 
Có câu "cây cao chẳng ngại gió rung" ngụ ý những người tựa cây cao có gốc rễ sâu, vững chắc kiên cường thì dù sóng to gió lớn cũng không thể ngã được. Cho nên tu hành, tu pháp phải từ cái gốc vững chắc mà tu lên là cực kì quan trọng.
 
"Tu hành không tinh tấn, giống như cây không gốc." Tinh tấn là động lực gốc để thành công. Hãy xem những vĩ nhân tự cổ chí kim, thành công của họ không phải ngẫu nhiên, chính là nhờ có tinh tấn mà đạt được. Chúng ta làm bất kì việc gì hoặc tu hành đều cần chắc chắn giống như gốc rễ, tinh tấn không ngưng nghỉ, tạo cơ sở vững chắc, tự nhiên sẽ khai hoa kết quả và có được thành công.


### 12. Chúc mừng thành lập biệt thự Cầu Vồng


Vào một ngày đã được trông đợi từ rất lâu.
Ngài từ bi xuất hiện ở nơi ngọn núi đó.
Vòng tròn ánh sáng bảy sắc tráng lệ làm mê hoặc toàn bộ hư không. 
Níu giữ những sợi dây tình cảm của con người.
Giống như từ mặt đất mà nở rộ.
Lại cũng giống như từ không trung mà nhẹ rơi.
Một sức mạnh thần bí kéo đi.
Khiến chúng ta tiến vào cảnh giới của thần thánh.
Thiên mã bên trái.
Quý sơn bên phải.
Viễn cảnh từng hàng bày ra.
Lưng dựa núi cỏ mao.
Nghìn trăm tỉ vạn hóa thân.
Chư Phật Bồ Tát trang nghiêm.
Tây phương cực lạc thế giới.
Hóa hiện Ma Ha Song Liên Trì.
Thực tại ôi đẹp làm sao!
 
Phật Bồ Tát phóng ánh sáng bảy sắc.
Truyền thừa thành tựu hóa hồng quang.
Oa! Đó cũng là dấu hiệu của Chân Phật Tông.
Tôi nhớ mãi, mau mau hướng về nơi cầu vồng. 
 
Tháng 8 năm 81
(Tháng 8/1992)


### 13. Cam Lộ của Long Vương


Mùa hè năm nay ở Seattle đặc biệt nóng, hơn nữa lại rất lâu rồi không mưa, chúng tôi dùng nước tiết kiệm đã được ba tháng rồi. Hầu như mỗi ngày mặt trời từ trên cao đều chiếu gay gắt, nóng đến mức Sư Tôn thường đùa: "Seattle và Đài Loan xem ra nóng như nhau, rốt cuộc thì nơi nào có thể làm cho ta cảm thấy mát mẻ đây?"
 
Ngày 1 tháng 8 chúng tôi hoàn thành xong việc xây dựng biệt thự Cầu Vồng, có thể mở cửa cho đệ tử và các vị khách quý tại Seattle đến tham quan. 
Chúng tôi nghĩ: "Thời tiết nóng thế này, phải làm sao đây?"
 
Tại buổi đồng tu Sư Tôn công khai nói: "Thỉnh cầu Long Vương vào ngày hôm đó, trước khi khai mạc ban cho một cơn mưa may mắn, khiến tất cả những vị khách đến được mát mẻ, được tắm một chút không khí vui vẻ, được đem theo một chút nước cát tường."
 
Chính vào ngày hôm đó, chúng tôi đều cảm ứng thấy:
 
Sáng sớm thức dậy.
Mặt trời vốn dĩ nóng như lửa đã xấu hổ mà trốn sau những đám mây rồi. 
Mây từng đám từng đám tụ lại ở không trung phía trên biệt thự Cầu Vồng. 
Mưa rơi nhẹ như tơ, cũng nhanh chóng thành cam lộ.
Gió thổi mơn man khiến người ta tinh thần thư giãn.
Khiến mảnh đất này được trang hoàng đẹp như tranh vẽ. 
 
Có nhiều người nghe thấy:
Thổi đại pháp loa.
Giáng đại pháp vũ.
Đánh đại pháp trống.
Kêu đại pháp chung. 
 
Dịch nghĩa:
Thổi vỏ ốc pháp.
Mưa pháp rơi mau.
Đánh trống đại pháp.
Chuông pháp vang rền. 
 
Đây chính là sự sắp đặt kì diệu của Long Vương. Lời Sư Tôn thỉnh cầu đã ứng nghiệm.


### 14. Hồi đáp thư tín


Hành trình hoằng pháp ở nước ngoài trong năm nay của Sư Tôn đã được sắp xếp rất tỉ mỉ, mỗi tháng sẽ đi xa hoằng pháp một hoặc hai chuyến. Trước mắt đã đi Canada hai lần, San Francisco, Los Angeles, Chicago, Đài Loan, Hong Kong, tiếp theo sẽ là New York, Dominica, Singapore, Malaysia, v.v … 
 
Việc thường xuyên đi hoằng pháp ở nước ngoài khiến công việc của "công ty hồi đáp thư tín" không thể hoạt động đều đặn được. 
Thư tín ngay lập tức dồn lại thành những chồng cao như núi và có xu hướng mỗi ngày một cao thêm. Cũng chính vì thế nên một lần nữa, chúng tôi lại nhận được thêm rất nhiều thư gửi đến để kiểm tra thông tin (xem vì sao ko có trả lời).
 
Thư tín chắc chắn không thể mất.
Sư Tôn vì sao không trả lời thư của chúng ta?
Vì sao lâu thế mà vẫn chưa nhận được thư trả lời?
 
Do vậy công ty hồi đáp thư tín mỗi ngày đều phải tăng ca, số người tình nguyện giúp đỡ cũng đã lên tới hơn 20 người. Mọi người đều tận tâm tận lực làm việc. 
Kì thực cũng không thể trách người gửi thư đến để kiểm tra tình trạng thư trước đó. Bởi vì gửi thư gửi hàng, đến rồi đi cũng phải mất thời gian khoảng 2 tháng, đợi đến lúc nhận được thư thì cũng đã qua thời gian hiệu lực rồi. 
 
Nhân đây tôi muốn nói với mọi người, mặc dù thư trả lời đến chậm, nhưng thư gửi đến của mỗi ngày đều được mở ra để đọc vào ngày hôm đó. Hơn nữa mỗi lá thư cũng được chính Sư Tôn đích thân xem qua và còn trì chú gia trì nữa. Nếu có tình huống quan trọng, thì còn đặc biệt được làm pháp gia trì. 
 
Sư Tôn nói: "Mỗi một bức thư gửi đến đều là nỗi lòng của mỗi đệ tử. Tôi nguyện dùng sức  mạnh hữu hình và vô hình để giúp chúng sinh mãn nguyện."
Tôi cảm nhận rất sâu sắc tấm lòng từ bi vô lượng của Sư Tôn.  
 
Tháng 9 năm 81
(Tháng 9/1992)


### 15. Thời gian đáng quý


Ở Chân Phật Tông, những đệ tử già đã theo Sư Tôn nhiều năm đều cực kì hiểu thói quen làm việc của Sư Tôn, đó là luôn đúng giờ đúng hẹn. Một khi Sư Tôn đã hẹn ai rồi thì không bao giờ đến muộn. 
 
Trong cuộc sống hàng ngày Sư Tôn cũng rất đúng giờ, công việc cũng trở thành quy luật. 
 
Sư Tôn thường nói với tôi:
Khoa học công nghệ mới nhất có thể làm ra một con thuyền chỉ trong 1 phút (thuyền nhỏ), nếu chậm 30 phút sẽ làm ít đi 30 con thuyền. 
 
Thời gian có thể sản sinh ra nhân tài
Thời gian có thể cho chúng ta biết việc nên làm
Thời gian có thể khích lệ tinh thần chăm chỉ của chúng ta.
…..
Tôi nghe xong. 
Oa! Chỉ một lời nói thôi, liền đã thấy gấp gáp.
Thời gian thực sự quan trọng, đến giờ tôi vẫn ghi nhớ tận đáy lòng. 
 
Người Mỹ cũng hiểu được tầm quan trọng của thời gian. Thường thường vốn phải tốn rất nhiều thời gian lái xe vòng quanh mới có thể đến bên kia núi, vậy là bất kể tốn bao nhiêu nghìn vạn tỉ đô la họ cũng phải xây đường hầm vượt núi, tiết kiệm được rất nhiều thời gian để làm việc khác. 
 
Người tu hành chúng ta càng phải hiểu sự quý giá của thời gian. Hãy cố gắng hết sức để sắp xếp chút thời gian mà đọc sách tu pháp, đừng nên lãng phí thời gian không cần thiết. Cố gắng hết sức để giảm thiểu các việc thế gian, làm nhiều hơn các việc có lợi ích chân chính cho chúng sinh. 
 
Bởi vì đời người ngắn ngủi, thời gian đáng quý trọng, hãy nhanh chóng rời xa thế tục, dùng tài năng thanh tịnh tu hành. Mỗi ngày tu hành thanh tịnh mới không còn chướng ngại. Tu đến không còn chướng ngại, cũng chính là đến gần đạo rồi.


### 16. Chúc mừng kỉ niệm 1 năm Chân Phật báo


Vào ngày kỉ niệm này, tôi đặc biệt nghĩ đến vị chủ tịch Chân Phật báo, Liên Hoa Mỹ Quyên (Thượng sư Liên Từ) cũng như các nhân viên khác. Tiền thân của Chân Phật báo vốn là Tạp chí Bồ Đề Chân Phật. 

Lúc Liên Hoa Mỹ Quyên từ Toronto, Canada chuyển đến Vancouver, thường hay đến Bồ Đề Đường tham gia đồng tu hội và tham dự công tác quảng bá pháp vụ. Trong nhiều lần tổ chức họp mặt, bà đã đưa ra nhiều đề nghị cho các vấn đề, xác định việc hoằng pháp quan trọng nhất là phải dựa vào tuyên truyền, đã đưa ra nhiều ý kiến xuất sắc, do đó mọi người bầu chọn bà ấy tiếp quản tạp chí. 
 
Bà ấy nói: "Tôi tốt nghiệp khoa ngoại văn trường Đại Học Phụ Nhân, ra nước ngoài sống đã hơn 20 năm. Đối với việc làm báo thì tôi là người ngoại đạo. Đây là tâm ý nhiệt thành và cũng là biểu lộ sự kính lễ với Căn bản Thượng sư, làm một chút việc ý nghĩa với tông phái để có thể đẩy mạnh Chân Phật Mật Pháp, quảng độ chúng sinh. Tôi kì vọng việc phát hành Chân Phật báo có thêm người giúp một tay, để có thể tạo ra một tờ thời báo chân chính đóng vai trò là công cụ đại diện cho Chân Phật Tông."
 
Vạn sự khởi đầu nan, trong giai đoạn mới thành lập, Liên Hoa Mỹ Quyên cũng từng loay hoay khổ sở đối với các vấn đề như kinh phí, nguồn bài viết, rồi phát hành ra sao. Bản thân bà cũng lao tâm khổ tứ, hoàn toàn vì nghĩa vụ phục vụ, không nhận một đồng thù lao nào, lại còn tự rút tiền túi của mình ra để đi khắp nơi thu thập những tin tức liên quan đến Chân Phật Tông. Tới mỗi kì xuất bản bà lại viết bản thảo, sắp chữ, thường xuyên làm việc đến mức quên cả bản thân mình.
 
Bà ấy còn nói: "Làm Chân Phật báo có ý nghĩa hơn làm các  việc khác rất nhiều, do vậy bà sẽ từ bỏ công việc làm môi giới trước đây, chuyên tâm làm báo. Bởi vì làm những việc khác là chỉ lợi ích cho cá nhân, còn làm Chân Phật báo không những giúp chính mình tu hành mà cũng là quảng độ chúng sinh. Sự nghiệp to lớn này là liên tục không ngừng, có ý nghĩa vô cùng sâu sắc, từng thời khắc không thể buông lỏng thư giãn."
 
Ngày nay, con lăn của Chân Phật báo mỗi kì đều hoan hỉ xuất bản ra một con số đáng kể là 10 vạn tờ. Thành tích này chính là thể hiện trí huệ tuyệt vời của bà ấy. 
Năm vừa qua, tôi đọc Chân Phật báo có cảm nhận:
Nội dung phong phú - có Seattle Lôi Tạng Tự, biệt thự Cầu Vồng, Chân Phật Mật Uyển, các tin tức về hoạt động của Chân Phật Tông khắp nơi trên thế giới, đọc mà thấy thật vui. 
Lấy điều cơ bản của căn bản truyền thừa làm trung tâm - mục tiêu chính xác. 
Bố trí trang báo - dễ dàng và nhanh chóng truyền đạt tin tức mới nhất đến hành giả Chân Phật. 
 
Kỉ niệm 1 năm thành lập Chân Phật báo khiến người ta thực lòng ngưỡng mộ, chủ tịch cùng nhân viên đều phát tâm khiến người khác cảm động, công đức vô lượng!
Những độc giả của Chân Phật báo đều sẽ giống như tôi, cảm ơn các bạn (ở tòa soạn báo) đã âm thầm vun trồng, tạo phúc cho chúng sinh. Chúc Chân Phật báo tiền đồ vô lượng!
 
Tháng 10 năm 81
(Tháng 10/1992)


### 17. Lời của thành tựu giả


Có đệ tử nói với Sư Tôn:
"Con người ta thông thường lòng tự tôn rất mạnh mẽ, không thể tiếp nhận lời phê bình của người khác, chỉ cần có một chút mạo phạm cũng không cách nào tha thứ. Họ đều rất trọng thể diện, che giấu khuyết điểm của mình càng nhiều càng tốt, chỉ biểu hiện ra ưu điểm. Nhưng Sư Tôn hoàn toàn khác, trong lúc khai thị thuyết pháp thường tự chế nhạo bản thân mình, thậm chí mắng chính mình, hơn nữa còn ca ngợi người khác. Đây chính là điều tôi thích ở Sư Tôn, một khía cạnh rất đáng yêu."
 
Sư Tôn đáp: "Chế nhạo bản thân, mắng chính mình, chính là dạy đệ tử thấy "mặt xấu". Đừng để ý đến những công kích, phỉ báng, lăng mạ từ bên ngoài, hãy xem chúng như "vô sự", tâm trạng sẽ không buồn chán, đêm đến có thể ngủ ngon."
 
Sư Tôn đã phải chịu rất rất nhiều sự phỉ báng, không những coi chúng là vô sự mà còn cảm ơn chúng, dùng việc này làm hiệu quả tuyên truyền. Không bị chửi thì không nổi danh, càng bị chửi càng nổi tiếng, đệ tử quy y ngày càng nhiều. Tóm lại, Sư Tôn chính là ở trong sự phỉ báng mà trưởng thành. 
 
Sư Tôn lại nói: "Người khác công kích, phỉ báng bản thân tôi, chửi mắng cũng vẫn chẳng thể thành sự thật được. Tôi tự hiểu bản thân mình nhất, để sau này tôi sẽ viết một cuốn sách Phê bình Lư Thắng Ngạn, lấy hết toàn bộ những khuyết điểm của chính mình mà viết ra."
 
Lúc đầu tôi nghe vậy cũng thấy hoảng hốt, sau đó dùng trí huệ ngẫm nghĩ khiến tôi lĩnh ngộ được đạo lí bên trong:

Phàm phu có tâm phân biệt đặt chuyện, do vậy không thể hiểu được bản thân, tìm được tự tính. 
Tâm bất tịnh, nghiệp sản sinh, không thể cùng Phật ấn tâm được. 
Hoàn toàn hiểu bản thân, chính là "minh tâm kiến tính". 
Hành giả có "tự tính bản không", bị giết hại, phỉ báng, sẽ không âu sầu.
 
Tôi nói với Sư Tôn: "Đại thành tựu giả dùng tài năng viết sách phê bình bản thân. Mặc dù bề ngoài là sách phê bình, thực chất chính là một cuốn sách chứng ngộ cảnh giới nội tâm cao nhất đó!"


### 18. Từ thiện cứu tế và Phật pháp


Nhiều người cho rằng từ thiện cứu tế chính là Phật giáo, kì thực không phải như vậy! Hành thiện chỉ đơn giản là mức độ "bố thí" thứ nhất trong "lục độ vạn hành", vẫn còn cách giáo nghĩa thâm sâu của Phật giáo rất xa. Do vậy từ thiện cứu tế không thể được coi là Phật giáo, chỉ có thể coi là một bộ phận của Phật pháp mà thôi. 
 
Mọi người đều có thể làm việc thiện, không nhất định phải là đệ tử Phật giáo mới có thể làm. Người theo đạo Cơ Đốc, đạo Thiên Chúa, Hồi giáo, Đạo giáo... cũng đều cổ vũ con người làm việc thiện, con người xã hội, cơ quan đoàn thể, giới giáo dục, học sinh hỗ trợ, hướng đạo sinh đều làm việc thiện mỗi ngày. 

Có những doanh nhân lớn không theo đạo Phật, họ cũng cứu tế bằng việc đóng góp những khoản tiền lớn. Chúng sinh đều có Phật tính, do vậy đều có bản tính lương thiện, thấy người đáng thương liền sinh lòng trắc ẩn. Thấy người gặp nạn đưa tay giúp đỡ, kẻ mạnh giúp đỡ kẻ yếu,… ví dụ những việc thiện như vậy. Đây là lẽ cơ bản của làm người. 
 
Mọi người đều biết "làm việc tốt chính là tu phúc". Khi đó tất cả công đức làm được đến đời sau sẽ được phúc báo. Theo mức độ mà nói, nhờ phúc lớn, bạn có thể lên được thiên giới hưởng phúc, nhưng phúc hưởng hết rồi vẫn sẽ phải sinh về lục đạo luân hồi. Từ thiện cứu tế không phải là phương pháp thoát khỏi sinh tử, chỉ là sẽ lên được cõi thiên thôi. 
 
Trong lục độ vạn hành pháp là "bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ", bốn thứ độ đầu vẫn là công phu ngoại tu, còn thiền định và trí huệ mới thuộc về nội tu. Ngoại tu là tu hành biểu hiện ra bên ngoài, nội tu là tu hành nội tâm, nội ngoại cùng tu mới là tu hành viên mãn. 
 
Hiện nay có nhiều loại báo chí, mở ra xem thử, đều là những bài báo cáo ca ngợi làm việc thiện, đăng lên người nào đã ủng hộ bao nhiêu tiền, người nào đi làm bao nhiêu việc thiện. 

Như vậy báo chí thiếu đi tính sâu sắc, chỉ là khích lệ rộng rãi tiền từ thiện của người khác, thay người khác đi làm việc thiện vậy thôi, thiếu đi việc hướng dẫn người ta làm sao để tu pháp cảnh giới nội tâm. 

Người hiểu được Phật pháp đọc những bài báo tương tự kiểu này sẽ có cảm giác về sự thiên kiến. 
 
Trong Phật pháp cũng sẽ nhận thấy công đức của việc tặng pháp lớn hơn tặng tiền rất nhiều, bởi vì tặng tiền chỉ là giúp đỡ nhất thời, còn tặng pháp có thể cho người ta dùng được muôn đời. 
 
Phật pháp viên mãn, không những cần cổ vũ người ta làm việc thiện mà còn cần chủ động giáo dục thực hành pháp nội tu, dựa vào tu khí, mạch, điểm, chứng đắc công phu của nội tu, đạt được thân, khẩu, ý thanh tịnh để còn dung nhập vào vũ trụ.


### 19. Giấc mộng đêm qua


Tăng tốc vượt qua đỉnh núi tham sân si.
Thân nhẹ như lông vũ, lắc lư lơ lửng theo gió.
Du ngoạn khắp ba mươi ba thắng cảnh thiên giới.
Hỏi người nơi nào để quy y.
Theo tiếng gọi của Liên Hoa Đồng Tử!
 
Nơi sâu thẳm trái tim.
Đã lưu giữ ghi nhớ danh hiệu của Ngài - tâm chú.
Kết thành cảm xúc đời đời kiếp kiếp.
Quán tưởng, trì chú, thiền định.
Lúc nhỏ thích nhất chơi trốn tìm.
Đã từng ở nơi bí mật trong tim.
Nghênh tiếp Ngài, phóng đại quang minh, phổ chiếu thập phương.
Namo A Di Đà Phật.


### 20. Bồ Đề Tâm cứu độ


Có câu hỏi: "Biết rõ một người tâm địa không thiện lương, bản tính ngạo mạn, miệng nói lời vô trách nhiệm, việc không ác không làm, liên tiếp tạo nghiệp, tội không thể tha. Khi người  ác này sinh bệnh sắp chết, vào lúc cận kề cái chết, có nên cứu người đó không?
 
Cũng như biết rõ người này, sau khi được cứu sẽ không biết ơn, mà chạy lồng lộn lên, biến thành kẻ làm bại hoại tổ chức, lại còn lấy oán báo ân, có nên cứu người đó không?"
 
Có ý kiến cho rằng người không chút gì tốt đẹp kiểu này sẽ làm ô nhiễm mọi nơi, hung hãn như hổ, là người làm hại chúng sinh. Cứu hắn ta không giống việc cứu một con trùng nhỏ, cứu hắn ta chính là hại hắn ta càng gây thêm ác nghiệp. 
 
Phật pháp từ bi bình đẳng không phân biệt, chúng sinh gặp khó nhất định cứu độ, mặc dù chỉ còn một tia hy vọng vẫn thấy nạn là cứu. 

Giống như bác sĩ trong phòng cấp cứu của bệnh viện, chỉ tồn tại hai chữ "cứu người", không có suy nghĩ gì khác. Bất kể người bị trọng thương được đưa tới cửa cầu cứu là người tốt người xấu hay thậm chí là kẻ giết người, trước tiên cứu đã rồi mới nói. 

Người xấu được cứu có nhân duyên của việc được cứu, chúng ta cứu hắn ta, có nhân duyên của việc cứu hắn ta. Trên thế gian chính là cần có những con người xấu xa như thế tồn tại mới có thể thấy được Phật pháp từ bi vĩ đại. 

Cũng bởi vì có những người xấu như thế tồn tại nên mới phải cứu độ. Nếu ai ai cũng đều tốt, ai ai cũng thanh tịnh, vãng sinh tịnh độ, thế giới Ta Bà này không cần phải có Phật pháp nữa. 
 
Cuộc sống tựa như sân khấu, mỗi người đều diễn một vai diễn có nhân duyên quả báo bình đẳng, quan trọng tương đương nhau. Chỉ là mọi người trong quá trình diễn xuất có thanh tịnh hay ô nhiễm mà trở nên khác biệt. 

Xem xét kĩ tâm tình vở kịch đó, hiểu rõ ràng chú hề, kỹ đào, vai phụ, vai chính, trung thần, gian thần... chúng ta sẽ thấy các vai diễn của bọn họ, mỗi vai đều không giống nhau, kết quả cuối cùng: ác sẽ luôn có ác báo, thiện sẽ luôn có thiện báo. 

Cảnh giác bản thân, mọi điều ác không làm, chỉ theo đuổi mọi điều thiện, tự thanh tịnh ý nghĩ. Thiện mới vĩ đại làm sao!


### 21. Biệt thự Cầu Vồng nghe hiểu Phật pháp


Từ ngày 24 đến 30 tháng 11 tại biệt thự Cầu Vồng, Sư Tôn giảng kĩ lưỡng "nghi quỹ tu pháp hoàn chỉnh của Mật Giáo". Ngài dùng kinh nghiệm hơn 20 năm tu pháp của bản thân, không một chút giấu diếm, mô tả kĩ càng từng thứ từng thứ một. Dùng phương thức sống động, khế hợp chân lý với căn cơ của chúng sinh để dẫn dắt chúng sinh gia tăng lòng tin. 
 
Sư Tôn hiện thân thuyết pháp, lấy ví dụ thực tế để chứng minh, thực tu trên thực tế như thế nào. Sư Tôn liên tục khích lệ chúng ta: Phật cũng là từ người mà tu thành, cần thực tu, biến kiến thức thành trí huệ. Cần lấy tam nghiệp chuyển thành tam mật, tu đến khi ngang bằng với tam mật thanh tịnh của Như Lai, chuyển thành ngũ đại trí huệ của Phật, đó chính là "tức thân thành Phật". 
 
Sư Tôn lại dùng ngôn ngữ đơn giản dễ hiểu để giải thích vấn đề phức tạp, giải thích tâm yếu khẩu quyết, lại lưu ý pháp nào nên giảng. Mọi người đều có thể hiểu được. Sư Tôn giảng giải rất thẳng thắng trực tiếp về Tiểu thừa, Đại thừa, Mật thừa, về tính chất không thể tách biệt của tam thừa. Điều đó càng khiến mọi người hiểu được minh bạch rõ ràng về sự vĩ đại của Chân Phật Mật Pháp - là pháp hợp nhất toàn bộ, bao hàm mọi pháp, có thể trực chỉ minh tâm chứng ngộ thành Phật. 
 
Tôi nhận thấy Chân Phật Mật Pháp so với triết lý của tông giáo khác không có chút nào kém cỏi hơn. Thông qua lời giảng giải của Sư Tôn, ta sẽ thấy từ "thanh tịnh chú" đến "nhập Tam Ma Địa", mỗi cái đều có những ý nghĩa thâm sâu của nó. Còn về  pháp quán tưởng khẩu quyết, làm sao để cùng Phật hợp nhất, thực sự là mật trong mật, kì diệu trong kì diệu.
 
Vì muốn làm cho mọi người đạo tâm vững chắc, vì muốn mọi người sớm thành Phật, Sư Tôn phát lời thề nguyện (rằng các việc sau là thật): 

Khi 26 tuổi đã đến Tây Phương Cực Lạc Thế Giới "Ma Ha Song Liên Trì", mắt thấy tai nghe. 
Ngày 6 tháng 5 năm nay, cùng Phật Thích Ca Mâu Ni uống cà phê, Phật thọ kí danh hiệu "Hoa Quang Tự Tại Phật".
Mỗi lần tu một đàn pháp, đều có khí và ánh sáng tràn ngập bao quanh, hòa nhập vào hư không và hợp nhất với vũ trụ. 

Sư Tôn đã minh chứng đích thực ba điều này, nếu có một chút nào là giả thì nguyện sa vào địa ngục kim cương, vĩnh viễn không siêu sinh. Các đệ tử chứng kiến cảnh tượng này, nghe thấy lời thề nguyện lặp đi lặp lại này, không thể kiềm chế được mà cảm động đến rơi nước mắt. 
 
Các đệ tử Chân Phật Tông cần hiểu rõ sự khổ cực của Sư Tôn khi độ chúng sinh, cố gắng thực tu, thực chứng, thành tựu Chân Phật Mật Pháp, minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử, quang diệu tông môn. 
 
Tôi nhớ vị trưởng phái Mật tông mũ trắng, Kyabje Kalu Rinpoche từng nói: Liên Sinh Hoạt Phật là thành tựu giả bậc nhất trong việc dùng văn chương độ chúng sinh. 
 
Lại thấm thía sâu sắc rằng: Sư Tôn là người cống hiến vĩ đại nhất và chưa từng có cho Phật giáo đương đại. 

Tháng 12 năm 81
(Tháng 12/1992)


### 22. Tội và nghiệp


Từng có một lá thư gửi đến cầu Sư Tôn gia trì hóa giải kiện tụng, thư viết như thế này:
 
"Tôi biết mình đã làm việc sai trái, hãm hại đối phương thiệt mạng, đến mức khiến người nhà điên tiết lên, bây giờ bọn họ đã kiện tôi ra tòa. Tôi cũng đã mời luật sư biện hộ, nhưng luật sư nói tôi nhiều khả năng vẫn sẽ phải đi tù. Bây giờ chỉ có cách cầu cứu Sư Tôn, hy vọng Sư Tôn đại hiển thần thông, pháp lực gia trì, chuyển bại thành thắng. Nếu có thể được vô tội, thân này được tự do, tôi sẽ quỳ gối khấu đầu cảm ơn, suốt đời cảm kích."
 
Sư Tôn dựa vào thần toán, trả lời thư: "Ông chạy trốn khỏi kiếp nạn lại sợ họa vào tù. Giờ nếu gấp rút sám hối, niệm Phật, trì chú, Phật Bồ Tát từ bi sẽ gia trì cho ông, việc to thành nhỏ, việc nhỏ thành không có, nếu có phải đi tù thì cũng là vô sự."
 
Ông ta lại viết thư trả lời: "Sư Tôn, ngài đã cứu rất nhiều người, vì sao không cứu tôi? Chỉ cần ngài dùng đại lực gia trì, thay tôi tu pháp hóa giải là coi như được tuyên phán vô tội. Tôi thực sự chưa sẵn sàng bị giam như vậy, cầu xin ngài…" Ông ta liên tiếp không ngừng viết thư đến cầu xin. 
 
Trong việc này, điều chúng ta nên nói cho ông ta hay là:
 
Đã làm việc sai trái, phải dũng cảm nhận sai.
Làm bất kì việc gì, cần nghĩ kĩ càng xem liệu có hại đến đối phương không, việc hại đến người thì đừng làm. 
Phải có quan niệm về nhân quả, ghi nhớ trong lòng, mới không dễ dàng tạo nghiệp. 
Phát lộ sám hối, tiêu tai giải ách, làm lại từ đầu. 
 
"Thần thông không bằng nghiệp lực", không phải Sư Tôn không cứu ông. Mời suy nghĩ cho cẩn thận. 
 
Trên thế gian này, mỗi người đều bị quấn chặt trong cuộc sống hiện thực nhiều phiền não, do bị "tâm thức" ràng buộc, bị "tâm dục" níu trói, không cách nào đạt được tâm thanh minh trong sáng. 
 
Chỉ tu hành học Phật mới có thể đem tam nghiệp chuyển hóa thành tam mật thanh tịnh:
•	Thân thanh tịnh -- trang nghiêm như Như Lai thiền định, nhất cử nhất động đều là "thủ ấn", là "thân ấn".
•	Khẩu thanh tịnh -- trang nghiêm như Như Lai mật ngữ, mỗi câu nói đều là "chú âm".
•	Ý thanh tịnh -- trang nghiêm như Như Lai ý mật, mọi suy nghĩ đều ở khắp thập phương pháp giới. 

Có thể lĩnh hội thâm sâu, kết hợp tu trì sẽ hiểu được vào ngục tù cũng chính là đạo lý của "vô sự".


### 23. Tâm tu hành vui vẻ


Ngày 4 tháng 11 năm 1992, nhóm của chúng tôi gồm Liên Hoa Thường Trí, Liên Hoa Thường Nhận, Liên Hoa Thiếu Đông, Liên Hoa Lệ Huệ và tôi. Chúng tôi đợi năm vị Thượng sư cùng hộ trì Sư Tôn đến đất nước Dominica hoằng pháp. 

Dù chỉ trong thời gian một tuần ngắn ngủi, nhưng những điều được mắt thấy tai nghe đã khiến tôi cảm nhận sâu sắc và thường nghĩ đến địa phương đa quốc gia độc đáo này. Điều khiến tôi chú ý nhất là cuộc sống con người nơi đây rất nghèo khổ. 
 
Do Phật đường Thường Minh nằm ở thủ đô đất nước nên chúng tôi cũng trú ngay tại thủ đô thần thánh của Dominica. Các đệ tử biểu thị lòng tôn kính đối với Sư Tôn, sắp xếp cho chúng tôi ở tại khách sạn 9 tầng loại cao cấp nhất ngay trung tâm thành phố. 
 
Tôi vào khách sạn, sắp xếp xong hành lý, mở cửa sổ nhìn ra bên ngoài liền vô cùng kinh ngạc!
 
Ngay tại thủ đô mà có rất nhiều ngôi nhà thấp lụp xụp. Nhà cao tầng chỉ có thể đếm được trên đầu ngón tay. Ngược lại, cây dừa thì lại vô số. Từ việc này có thể thấy nền kinh tế của đất nước này không phát triển, kiến trúc xây dựng rất lạc hậu, không thể thúc đẩy mức sống của người dân, do vậy người nghèo rất nhiều. 
 
Sư Tôn nói: "Đứng ở tầng 9 khách sạn, ngắm nhìn và suy ngẫm về thủ đô của một nước đa quốc gia, thấy cảnh vật rất giống nông thôn Malaysia. Ở nơi đây cũng không có mùa đông, bốn mùa đều là mùa hè, chỉ cần hai bộ quần áo là có thể mặc đủ cả năm rồi. Nơi đây rất giống Đài Loan của 30 năm trước."
 
Ở tại đất nước đa quốc gia này, Sư Tôn từ bi khai thị ba buổi, ngoài ra còn có một buổi truyền pháp, một buổi đại pháp hội. Mỗi lần đều có rất nhiều người vừa nhận quán đảnh và gia trì xong ngay tại đó có được "cảm ứng". Rất nhiều người giơ tay phát biểu, kể việc tu pháp thường ngày có được cảm ứng gia trì của dòng truyền thừa. Lại càng có nhiều người hơn nói: Liên Hoa Đồng Tử thị hiện thần thông, đi vào giấc mơ độ hóa những người đã quy y. 
 
Trong pháp hội, có người nhìn thấy ánh sáng bảy sắc bao phủ khắp đàn thành, Sư Tôn ở trên pháp tọa toàn thân tỏa kim quang, có hơn trăm người giơ tay chứng minh nhìn thấy "Phật quang giáng lâm", cảm ứng thực sự rất nhiều…
 
Tôi chú ý thấy mặc dù hoàn cảnh sống nghèo khó, nhưng trên gương mặt họ có thể nhận ra: họ không cảm thấy khổ, ánh mắt họ vẫn lấp lánh rạng rỡ.

Bất kể có bữa ăn hay không có bữa ăn, họ vẫn luôn hát ca nhảy múa, vô lo vô nghĩ. Hóa ra, con người ở đây đều hài lòng với những gì mình có. Họ chẳng theo đuổi danh lợi, không bị khuất phục bởi hoàn cảnh chướng ngại, vẫn giữ được tấm lòng thuần khiết thiện lương, sống vui vẻ, tu hành vui vẻ. Chẳng trách, họ cảm ứng được rất nhiều. 
 
Người tu hành chính là phải bài trừ những áp lực bên ngoài, thường giữ được tâm hỷ lạc, dùng tâm hỷ lạc mà tu hành sẽ dễ nhập vào cảnh giới thanh tịnh, hóa thành bổn tôn, nhập ngã ngã nhập, sẽ có được vũ trụ, từ đó mới có thể từ bi tế thế khắp nơi. 
 
Tháng 1 năm 82
(Tháng 1/1993)


### 24. Tình nghĩa của đệ tử Chân Phật


Lần này tôi theo Sư Tôn đi nước ngoài hoằng pháp một tháng. Ngoài việc tổ chức đại pháp hội Hộ Ma ở sân vận động Hung Hom ở Hong Kong, đại pháp hội ở IMM Singapore, chúng tôi còn đến Viên Chứng Đường, Viên Học Đường, Viên Hỷ Đường và Hồng Sơn đồng tu hội ban khai thị. 

Thời gian ba tuần còn lại chúng tôi đều ở Malaysia đi khắp nơi hoằng pháp, đi khắp toàn bộ đất nước từ cực Tây tới cực Đông. 
 
Ở Malaysia làm bốn lần đại pháp hội, có hơn bốn vạn người tham dự, ở Kuala Lumpur, Penang, Sibu, Tawau (mỗi nơi này cách nhau khá xa, đều phải đi máy bay). Chưa kể những buổi gặp gỡ khai thị lớn nhỏ cũng phải đến 50 lần, gần như mỗi lần vào bữa ăn đều phải khai thị. Mọi người rất muốn được nghe lời nói của Sư Tôn, thấm đẫm pháp ngữ, từng lời từng lời đều in dấu trong tim. 
Chân Phật Tông tại Malaysia có khoảng hơn 50 phân đường và đồng tu hội, có hơn 20 vạn đệ tử quy y. 

Có tới 90% số đệ tử lần đầu tiên được nhìn thấy Sư Tôn. Vào thời khắc nhìn thấy Sư Tôn, họ vui sướng phấn khích muôn phần, người nào người nấy vỗ tay vừa gọi, vừa nhảy, vừa hét: "Chào Sư Tôn! Sư Tôn, con ở đây!" 

Đám đông vây quanh bốn phương tám hướng, ồn ào náo nhiệt, cảnh tượng làm người ta cảm động, làm cho Sư Tôn không biết phải nhìn theo hướng nào, không biết phải nhìn vào đệ tử nào, cứ theo những tiếng kêu gào mà đi theo thôi. 
 
Tình cảm nồng nhiệt của họ từng đợt từng đợt trào dâng, nhiệt tình như sóng biển liên tiếp xô vào đập lớn, hết lượt này đến lượt khác. Lúc đó tôi nhìn thấy Sư Tôn niệm chú âm, chú âm này nhanh chóng nhập vào biển người, len lỏi vào trong tim của mỗi người, tương ấn tâm với tâm, hàng triệu lần cảm tạ, không lời nào tả xiết. 
 
Những người đệ tử này chạy đến Sư Tôn đảnh lễ, ngẩng đầu lên nhìn Sư Tôn, thở hổn hển, nói không thành tiếng, cảm xúc đầy ứ trong tim, cảm giác không thể nói ra thành lời, nước mắt tuôn rơi. Mọi người ở gần đó cũng đều cảm động sâu sắc. 
 
Lúc chúng tôi ở trong phòng chờ VIP tại sân bay Tawau, có đệ tử đảnh lễ Sư Tôn xong thì nói: "Sư Tôn, xin ngài cho con nhìn kĩ hơn một chút!", sau đó đứng trang nghiêm cứ thế nhìn Sư Tôn rất lâu, đơn vị tổ chức phải nhắc ông ta rằng thời gian có hạn, vẫn còn có rất nhiều đồng môn đang xếp hàng ở ngoài chờ đến lượt mình vào nhìn Sư Tôn cho rõ. 
 
Trong hành trình cuộc đời tôi, dù gặp phải những cú sốc và những nỗi buồn to lớn, chúng rất khó làm tôi khóc. Nhưng lần này đi Malaysia, tôi đã khóc nhiều lần. Cảm nhận được sự nhiệt tình của mọi người khiến tôi cảm động phát khóc. 
 
Dòng người đổ về pháp hội chật cứng cả địa điểm, tạo thành sức mạnh to lớn làm cảm động Chân Phật Mật Pháp đến mức khiến người ta rơi lệ. 
 
Chư Phật Bồ Tát, Kim Cương hộ pháp thường xuyên gia trì bảo hộ, ánh sáng cầu vồng lan tỏa khắp nơi, tiếng sấm vang vọng khắp đất trời, cảm động muốn khóc. 
 
Tinh thần và sự kiên trì hoằng pháp của Sư Tôn, công đức viên mãn thù thắng, làm sao không khiến người ta cảm động đến chảy nước mắt được!
 
Nhân đây cảm ơn các đơn vị tổ chức và các đồng tu Chân Phật, thực lòng cảm tạ các bạn đã hộ trì!
 
Tháng 2 năm 82
(Tháng 2/1993)


### 25. Cơn sốt sầu riêng


Mọi người đều biết, sầu riêng là vua của các loại hoa quả, măng cụt là hoàng hậu của các loại quả. Tính chất của chúng như nước với lửa. Sầu riêng có thể bổ sung dưỡng chất, ăn nhiều sẽ tăng "hỏa", còn ăn măng cụt lại làm giảm "hỏa", đây chính là lấy thứ này khắc chế thứ kia, là đạo lý có chính tất có phản. 
 
Còn nhớ 5 năm trước có đồng môn tặng một hộp sầu riêng đông lạnh mời tôi ăn, bà ấy nói: "Đây là giống sầu riêng thượng đẳng của Thái Lan, đảm bảo Sư Mẫu ăn xong sẽ muốn ăn nữa. Nhưng có người không quen hương vị này. Nếu Sư Mẫu sau khi nếm thử, thấy thích, bảo với con, con biết nơi có thể mua được."
 
Sau đó tôi mở hộp ra liền người thấy một mùi khó chịu đến thấu trời, khó ngửi cực kì. Mùi giống hố phân chuồng của người ở nông thôn vậy, lại cũng giống mùi "đánh rắm". Rõ ràng là mùi của nó không thể có gì so sánh được. Thật không thể nghĩ rằng trên đời này không ngờ có một loại thực phẩm thối đến như vậy. Mặc dù được phong là vua của các loại quả, hóa ra là thối số một. 
 
Cái gì mà rất bổ với lại rất ngon, bỏ đi! Bỏ đi là xong! Nhưng nhìn giá tiền của nó lại rất đắt, bỏ đi kể cũng không nỡ, bèn bịt mũi cố gắng nếm thử một chút, cũng là để có thể nói với người khác rằng tôi đã từng ăn sầu riêng rồi. 
 
Miếng đầu tiên vừa vào miệng khiến toàn thân tôi tê cứng, cảm giác giống như phân đổ trên đầu. Tôi nhanh chóng gói ngay phần còn lại, chạy ra ngoài cửa đem vứt hết, rồi đứng cạnh thùng rác để nôn ra. Tôi cũng xúc miệng rồi đánh răng, đánh răng xong lại xúc miệng mãi mới rửa sạch hết mùi hôi. 
 
Tôi lấy làm lạ vì sao có người lại thích nó, lẽ nào họ hợp với mùi thối? Nhắc đến mùi vị khủng khiếp của nó thực khiến tôi sợ hãi, ôi cái mùi còn mãi ám ảnh trong kí ức này. 
 
Từ ngày 20/12/1992 đến 10/1/1993, chúng tôi ở Malaysia hoằng pháp, lại có đệ tử cúng dường Sư Tôn loại sầu riêng thượng phẩm của địa phương. Sư Tôn đối với sầu riêng vốn cũng tàm tạm, có thể chịu đựng được, vẫn từ bi tùy duyên mà thuận theo, cho người cúng dường nhận được tâm hoan hỷ. 

Vào lúc mở hộp ra để ăn Sư Tôn còn khen ngợi nói: "Ngon đấy, ngon đấy, không có mùi lạ đâu!" Lời khen này, ôi thảm rồi! Các đệ tử liền mỗi ngày người nọ bắt chước người kia nhiệt tình cúng dường sầu riêng, Sư Tôn không ăn không được. 
Lần đầu tiên ăn, cảm thấy chút miễn cưỡng. 
Lần thứ hai ăn, cảm thấy chẳng ra làm sao cả. 
Lần thứ ba ăn, cảm thấy cũng tạm được. 
Lần thứ tư ăn, cảm thấy cũng khá ngon. 
Bây giờ đã ăn quen hương vị của nó rồi, thực sự cũng ngon. 
 
Sư Tôn hỏi tôi, vua của các loại quả ngon thế này, vì sao bà không ăn? Hãy nghĩ đến dòng suối ngọt trong sa mạc, một hạt quả trong cảnh đói kém, người chết đói ở châu Phi… Nghe thấy khai thị thế này, tôi đột nhiên thấy đói. 
 
Tôi lại học ăn sầu riêng thêm lần nữa, nghĩ là nó rất thơm, rất ngon, nhiều chất bổ, rất có cảm tình. Chuyển biến với suy nghĩ này, tôi đã ăn đến mức hai tay, hai má đều đầy sầu riêng, hơn nữa mỗi ngày đều ăn, vô cùng vui vẻ. 
 
Bây giờ, nghĩ đến Malaysia là nghĩ đến sầu riêng, nghĩ đến sầu riêng là nghĩ đến tình nghĩa của đệ tử Chân Phật ở Malaysia. 
 
Từ việc ăn sầu riêng, tôi học được kinh nghiệm thành tựu "nhất niệm tùy hỷ", chỉ cần hành giả dựa vào suy nghĩ tùy hỷ mà làm mọi việc, khi đó mọi sự vật trên thế giới này đều tốt đẹp. Nếu có thể giữ được suy nghĩ này lâu dài, mọi suy nghĩ đều vui, mọi suy nghĩ đều kiên định, chắc chắn đạt được thành tựu "nhất niệm nghiệp thành". 
 
Tháng 2 năm 82
(Tháng 2 /1993)


### 26. Truyền thừa và gia trì


Nói đến truyền thừa, mọi người đều biết truyền thừa trong Mật giáo là quý giá nhất, quan trọng nhất. Cũng vì có pháp mạch liên tiếp truyền từ đời này qua đời khác, hành giả mới có thể nương nhờ vào Căn bản Thượng sư mà có được lực gia trì của truyền thừa. Từ đó lần lượt người nọ kế tiếp người kia dựa vào pháp tu trì, chắc chắn có thể đạt được thành tựu của truyền thừa. 
 
Nhưng vẫn có nhiều người không biết tầm quan trọng của truyền thừa, mặc dù quy y Căn bản Thượng sư rồi nhưng không tu pháp của truyền thừa mà chỉ nghe nói rồi làm theo, việc này không như pháp, làm sao có thể tương ứng?
 
Có người thì một mặt tu pháp của truyền thừa, một mặt thì tu pháp của dòng phái khác, nếu không tập trung chuyên nhất như vậy làm sao mà thành tựu? 
 
Cũng có một số vị tu được một thời gian vẫn chưa có được cảm ứng thì mất bình tĩnh, lại chạy khắp nơi hỏi xin Rinpoche này gia trì quán đảnh, chạy qua đạo tràng kia tham gia tu tập,  cố tìm đường tắt nhanh chóng thành Phật. 

Như vậy sẽ không ổn định được một pháp nào cả. Dù có đi sâu vào một pháp kiên trì bền bỉ cũng đã khó đạt được thành tựu rồi. Hơn nữa, chạy đến đạo tràng khác, vị Rinpoche đó sẽ gia trì cho bạn cái gì, quán đảnh cái gì, thậm chí có quán đảnh cho bạn pháp lớn nhất, có ích gì không?
 
Xin khẳng định là chẳng có ích gì, bởi vì nếu chỉ có quán đảnh, không có lực gia trì của truyền thừa, cũng không có khẩu quyết chi tiết của tu pháp thì chỉ có thể xem như là kết duyên với đạo tràng mà mình chạy qua đó thôi. 
 
Hành giả Chân Phật sau khi quy y xong làm sao để có thể tu lâu dài:
 
•	Trì "Thượng sư tâm chú" - 1 triệu biến, sáp nhập Thượng sư trụ trên đỉnh đầu và nhập vào tâm. 
•	Tu "Tứ gia hành" pháp, đếm đủ 1000 đàn trở lên cho đến khi tương ứng, đây là cơ sở của Mật tông, cũng là nền móng vĩ đại của Mật thừa từ xưa đến nay. 
•	Tu "Liên Hoa Đồng Tử tương ứng pháp", đây là đại pháp của Chân Phật tông truyền thừa, cũng là pháp tu liên tục không được gián đoạn hoặc ngừng lại. 
Nếu có thể dựa vào pháp mà tu, sẽ tăng dần lên các cấp bậc, tiệm tiến đến vô thượng Mật pháp. 

Chân Phật Mật Pháp đảm bảo mọi người đều thành Phật.


### 27. Làm công quả ở chùa cũng là tu hành


Có người nói: sau khi xuất gia sống tại chùa, mỗi ngày chỉ có niệm Phật, lạy Phật, tụng kinh, ngồi thiền, chuyên tâm tu pháp, không cần phải làm các việc tạp vụ ở trong chùa kiểu như thúc đẩy pháp vụ, quét dọn chùa miếu, tưới cây nhổ cỏ, nấu cơm xào rau, v.v. Những việc này thuê người làm là được. Bởi vì người xuất gia chúng ta cần phải tu hành, không phải đến chùa miếu để làm công việc tạp vụ. 
 
Đây là quan niệm sai lầm, học Phật tu hành không phải là cả ngày tu pháp không làm các việc khác. Niệm Phật, lạy Phật, tụng kinh, ngồi thiền là tu hành, quét dọn chùa miếu, tưới cây nhổ cỏ, nấu cơm xào rau cũng là tu hành đó! Mọi thứ từ hành động lời nói, nhất cử nhất động, đi đứng ngồi nằm, cũng đều là trong phạm vi của tu hành. 
 
Nếu cho rằng tu hành chỉ đơn thuần là ở trong đàn thành, còn ra ngoài đàn thành không phải là tu hành, thì tu hành đã có thành kiến rồi. 
Phật Bồ Tát từ bi sẽ không một mực chỉ có thiền định bất động không chú ý gì đến chúng sinh. Chúng sinh có nạn, chúng sinh cầu thỉnh, chắc chắn các ngài nghe thấy những tiếng kêu khổ đó!
 
Có điển cố như sau:
Một vị nữ tu ở tại chùa phụ trách công việc quét dọn nhiều năm, mỗi ngày trong lúc quét dọn đã hiểu được đạo lý của "phất trần trừ bụi" (mỗi ngày quét dọn giống như mỗi ngày quét sạch những ô nhiễm trong tâm) và đạt được trí huệ thiền định. 
 
Kì thực, hành giả chúng ta nên hàng ngày chọn ra một thời gian cố định mà bản thân thấy phù hợp nhất, dễ nhập thiền định nhất để tập trung tu pháp. Nếu tu không tập trung, cả ngày ngồi khô cũng chẳng thể đạt được pháp vị gì. 
 
Có thể biến cuộc sống bản thân thành Phật pháp, giúp đỡ mọi người một chút, khích lệ mọi người một chút, mang tới cho mọi người một chút pháp vị, như vậy chẳng phải chính là lợi mình lợi người trong tu hành đó sao?
 
Làm việc của chùa có công đức đạo tràng trang nghiêm. Cũng bởi vì có đạo tràng trang nghiêm, có Pháp sư trang nghiêm mới có thể gia tăng sức mạnh nhiếp chúng và độ chúng. 
 
Có nhiều chúng sinh đứng bên ngoài cửa vẫn đang chờ bạn cứu độ đó!


### 28. Bệnh khổ


Trong tám thứ khổ của chúng sinh: "sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, chết khổ, khổ do yêu mà phải xa cách, khổ khi ghét mà cứ phải gặp, khổ do cầu mong mà không được, khổ do ngũ uẩn" thì bệnh khổ vẫn là khổ nhất. [ND: Ngũ uẩn: sắc, thụ, tưởng, hành, thức.]
 
Hãy nghe bao tiếng than rên rỉ vì đau đớn khi bệnh bám riết lấy thân. Bệnh lúc không thể chịu đựng được thường khiến con người ta hoàn toàn tuyệt vọng, muốn sống không xong, muốn chết cũng chẳng được. 

Bình thường thì là anh hùng khỏe như vâm, mạnh như rồng như hổ, hảo hán tráng kiện, chỉ cần bệnh đến một cái thì cũng tuyệt vọng ngã lăn ra đất không thể vực dậy được. Anh hùng cũng sẽ biến thành gấu đen. [ND: Anh hùng cũng biến thành gấu đen: ở đây tác giả chơi chữ, anh hùng (yingxiong) và cẩu hùng (gouxiong) - con gấu đen, từ này đồng thời còn có nghĩa là kẻ nhát gan.]

Khi bệnh nặng nhất, thuốc thang chẳng hiệu nghiệm, cả ngày nằm liệt giường, bệnh dày vò không dứt, người ta có thể từ bỏ hết danh lợi. Lúc đó thì tiền bạc nhiều, địa vị cao cũng chẳng còn quan trọng nữa. 
 
Có một số người giàu mắc bệnh, đi khắp trời đất để tìm bác sĩ giỏi nhưng cũng không có cách nào tiêu trừ bệnh, lại cũng không thể chịu nổi sự đau đớn do bệnh dày vò. Khi mắc bệnh lâu mới hiểu được cảm giác khổ thế nào. 

Kết quả là lúc đó họ mới xem nhẹ tiền tài và địa vị, hơn nữa còn nguyện rằng: "Nguyện đem bố thí hết tiền tài, chỉ cần được khỏi bệnh". Họ nhận thấy thân thể khỏe mạnh quan trọng hơn tiền bạc. 
 
Bệnh - ai ai cũng sợ, nhưng có ai không sợ? Mọi người nghĩ xem, bệnh từ đâu đến?
 
Mọi bệnh tật đều là kiếp trước điên đảo vọng tưởng, phiền não mà sinh ra, cũng do sự không hài hòa của bốn yếu tố trong cơ thể mà sinh ra bệnh. Do vậy, bệnh là một loại nghiệp chướng, bệnh nghiệp một khi đến không ai trốn thoát được. [ND: Bốn yếu tố: đất, nước, lửa, gió.]
 
Có điển cố: 
Phật Đà đã từng có một kiếp ở bên bờ biển trông thấy một con cá to, thuận tay cầm gậy gỗ lên đánh vào đầu cá ba cái. Ba kiếp sau đó, Phật Đà đã bị đau đầu nhiều ngày.
Từ điển cố này chứng minh tất cả mọi bệnh đều từ nhân quả mà sinh ra, là "bệnh nhân quả". 
 
Sư Tôn từng khai thị rằng: bệnh nhân quả là "chân bệnh", chân bệnh thì không có thuốc nào chữa khỏi, chân bệnh một khi đến, chỉ có cách là tiếp nhận nó. 

Tuy nhiên hãy dùng tâm chuyển hóa, coi thân thể xương thịt này là giả, đừng tham cầu tình ái, nghĩ tất cả đều là huyễn, quán bệnh là hư không. 

"Không bệnh diệc không, liễu không bệnh cố, thị ngã hữu bệnh, kim ngã bệnh giả, vô thọ nhi thọ." [ND: Đây là một câu khai thị của Sư Tôn, đại ý rằng: Tính chất của Hư không và tính chất của bệnh đều giống nhau, cả hai đều là Không; cần thấu triệt được  nghĩa lý là bệnh cũng chính là Không; "ta có bệnh" chỉ là một sự thị hiện từ hư không mà thôi; nay ta và cái bệnh đó, là bị bệnh mà không phải bị bệnh.]

Bệnh đến rồi, tâm không nên để bệnh gây phiền nhiễu, trái lại cần hưởng thụ bệnh. 
 
Nhân đây cùng mọi người động viên: 
Muốn không bệnh, đừng tạo nghiệp. 
Bệnh đọa thân, cần sám hối. 
Bệnh như không, tâm tự định. 
Khổ thành vui, tất cả vui.


### 29. Lại nói chuyện bệnh


Nhìn chung mà nói thì bị bệnh là do sức đề kháng suy yếu. Khi vi-rút xâm nhập vào cơ thể, hệ miễn dịch không cách nào kháng cự lại vi-rút xấu từ bên ngoài vào, kết quả là sinh bệnh. 
 
Một khi đã mắc bệnh, người ta chỉ muốn đi bác sĩ khám, đề nghị bác sĩ cho đơn thuốc uống. Tuy nhiên, những loại thuốc này chỉ đơn thuần là một kiểu hỗ trợ, làm cho người bệnh đỡ cảm thấy quá đau đớn mà thôi, thuốc không có cách nào tiêu trừ hết bệnh, vẫn phải chờ đến khi vi-rút tự nhiên chết đi, bệnh mới khỏi được. 
 
Nói ví dụ như cảm lạnh thông thường, một kì bệnh của nó là khoảng một tuần. Trong vòng một tuần này, chữa kiểu gì cũng không khỏi, vẫn phải chịu đựng cho đến khi nó hết. Y học đã phát triển nhưng cho đến nay vẫn chưa tìm ra được loại thuốc nào trị cảm cúm. 
 
Các loại vi khuẩn, vi-rút ngày càng đa dạng, các loại bệnh cũng phức tạp hơn, khả năng tồn tại của mỗi loại khuẩn cũng không giống nhau. Thời gian bị bệnh cũng dài ngắn khác nhau, có bệnh thì một tuần, có bệnh thì một tháng, một năm, mười năm, thậm chí cả đời nằm trên giường bệnh, thực tế rất đáng thương. 
 
Kì thực, mặt tối của việc bị bệnh, căn bản chính là sự hiển hiện của nghiệp lực. 
 
Có người hỏi: vì sao có người bị bệnh liên miên, vì sao có người khỏe mạnh tráng kiện rất ít bị bệnh? 
Bởi vì: bệnh là nghiệp chướng, bệnh là do nhân duyên quả báo mà đến. Phải làm sao mới có thể giảm nhẹ nghiệp bệnh đây?
 
Cách duy nhất chính là tu hành. Không có cách thứ hai. Không gì ngoài tu hành có thể làm được "lục độ vạn hành", trong đó thiền định và trí huệ là đặc biệt quan trọng. [ND: Lục độ vạn hành: sáu độ gồm bố thí, trì giới, nhẫn nại, tinh tấn, thiền định, bát nhã - trí huệ.]
 
Thành tựu giả trong thiền định có thể cùng với pháp lưu vũ trụ vận chuyển lẫn nhau, có thể làm cho bản thân dung nhập vũ trụ, bản thân hóa thành không, hóa thành hư, hoàn toàn hư không, bệnh cũng là hư không. 
 
Lại có người hỏi: Thành tựu giả có phải sẽ không mắc bệnh không? 
Thời Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế, ngài vẫn mắc bệnh.  
Ấn Thuận Đạo Sư được xem như là ngọn đèn sáng của Phật giáo đương đại cũng có một thời gian dài mắc bệnh đường ruột. 
 Đại thành tựu giả Mật giáo, Sư Tôn của chúng ta, Liên Sinh Hoạt Phật cũng giống như vậy, đều có thể mắc bệnh. 
 
Nhưng:
Bệnh của con người thế tục chính là bệnh nghiệp chướng. 
Thành tựu giả sinh bệnh là biểu hiện của giác ngộ.
Thành tựu giả bị bệnh là bởi chịu bệnh thay. 
Sắc thân của thành tựu giả và việc thành Phật không có liên quan.


### 30. Dừng lại mà kết duyên


Có đệ tử thỉnh giáo Sư Tôn: "Có phải đệ tử của Chân Phật Tông không thể lại đi quy y Pháp sư, Thượng sư, Rinpoche của các tông phái khác đúng không?"
 
Sư Tôn đáp:
 
"Có thể chứ. Tôi đã từng nói: có thể đi quy y sư phụ khác, đi nghe Pháp sư khác giảng pháp, nhận quán đảnh gia trì của các Rinpoche khác. Khi còn trẻ nên nghe nhiều, so sánh nhiều, đi đến nhiều đạo tràng, nhưng đến cuối cùng vẫn cần lựa chọn một vị sư phụ, chuyên tâm thấm nhập cùng với sư phụ này học pháp. Cần dựa vào sự gia trì của dòng truyền thừa làm gốc để tu pháp. Trong mọi trường hợp đều lấy dòng truyền thừa làm gốc thành tựu của bản thân.
 
Còn nếu chạy Đông chạy Tây khắp các đạo tràng, không tìm được điểm dừng, thì người hành giả đó biểu hiện mới chỉ ở giai đoạn bên ngoài, tâm vẫn chưa dừng lại. Tâm không dừng, tu pháp khó mà thành tựu được."
 
Tôi nghe xong Sư Tôn giảng một cách hoàn toàn "vô ngã" như vậy, tự ngài bình đẳng từ bi khai thị khiến tôi cảm động sâu sắc. Từ đó tôi cũng lĩnh ngộ và nghĩ rằng: Đệ tử Chân Phật Tông lại đi quy y sư phụ khác (cho dù là quy y để kết duyên), thể hiện ra vẫn chưa hiểu được ý nghĩa thực sự của việc "dựa vào duy nhất Căn bản Thượng sư". 
 
Đệ tử Chân Phật Tông vẫn còn đi nhận quán đảnh gia trì từ các Rinpoche khác, biểu hiện vẫn chưa hiểu được ý nghĩa của "lực gia trì từ dòng truyền thừa". 
 
Mật giáo nhấn mạnh tới Căn bản Thượng sư. Tất cả mọi pháp đều từ Thượng sư truyền cho, đây là gốc của gốc. Hành giả Mật giáo cần xem Căn bản Thượng sư giống như Phật, phải hoàn toàn hướng về ngài, dựa vào ngài, cầu ngài độ. 
 
Hành giả Chân Phật cần có trí huệ, phải hiểu rằng chạy qua đạo tràng khác đi nghe pháp, quy y, gia trì, quán đảnh, đều được xếp vào "ngoại pháp".
 
Người thực tu chân chính, hiểu sâu Mật pháp cần thấy ý nghĩa nằm ở "nội tu", để khí, mạch, minh điểm tràn đầy toàn thân, quang minh phong mạch xuyên suốt, ngũ luân liên hoa khai nở, đạt được ngũ trí của Ngũ Phật, đạt tới thành tựu vô thượng.


### 31. Tự thú của người quy y


Có người hỏi: "Vì sao bà phải quy y Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn?"
 
Đáp: "Bởi vì đó là một vị Kim Cương Thượng sư Mật Giáo chứng ngộ chân chính, là một vị Phật sống đã chứng đắc tính Không. Thậm chí chỉ với tâm lượng đức hành của Ngài, bạn đã ngũ thể đầu địa bái phục rồi." (*)
 
Hỏi: "Vì sao có người nói ông ấy là ma?"
Đáp: "Ông ấy ma ở chỗ nào? Hoàn toàn là nghe đồn mà nói, không có bằng chứng nào cả, chúng tôi quy y ông ấy đã hơn 10 năm, tuy nhiên đọc mỗi sáng tác của ông ấy đều thấy nội dung hợp với Tam Pháp Ấn lời Phật dạy." (*)
 
Hỏi: "Cái gì là tà giáo ngoại đạo, phụ Phật ngoại đạo (*) ?"
Đáp: "Dựa vào hành vi không trung thực, làm hại phong tục tốt đẹp chính là tà giáo, tâm ngoại cầu pháp chính là tà đạo. Lợi dụng làm việc Phật sự để lừa gạt người khác, chính là phụ Phật ngoại đạo."
 
Có những điều phỉ báng Liên Sinh Hoạt Phật đó là bởi vì người ta không nhận ra con người ông ấy, không từng ở gần ông ấy, nhất thời nghe người khác mê hoặc, bóp méo sự thật. 
 
Đệ tử Phật cần có trí huệ, đừng vì thấy một cuốn sách nhỏ phỉ báng Phật mà mất đi lòng tin. Một cuốn sách nhỏ làm sao có thể so sánh được với 105 cuốn sách (*) mà bản thân mỗi cuốn đều một cách gián tiếp hàm chứa lời dạy của Phật trong đó?
 
Thế giới Ta Bà là một thế giới đầy ô nhiễm, những việc nghe tận tai thấy tận mắt mà còn bị bóp méo. Kì thực, đây cũng là một biểu tướng của sự ô nhiễm. Chỉ có tâm của hành giả có thể vượt qua được biên giới của ô nhiễm, mới có thể quán chiếu hình tướng của sự việc, chứng giác được thực tướng thanh tịnh. 
 
Quy y Liên Sinh Hoạt Phật khiến người ta pháp hỷ tràn đầy, nhiều năm qua tôi nhận được sự dẫn dắt của Chân Phật Mật Pháp, tinh thần ngày càng bình thản. 
 
Tiếp nối lời dạy, lấy "vô sự, vô tâm" để giải quyết mọi việc, tôi cảm thấy hoàn cảnh xung quanh và tất cả mọi người có mối liên hệ với ta đều toát lên bầu không khí cát tường hòa hảo.
 
Ước như người người quy y Chân Phật, dung nhập vào thế giới Chân Phật, thanh tịnh thân, khẩu, ý, cùng với ý thức vũ trụ tối thượng dung nhập làm một, phổ chiếu thập phương tam thế!

-----------------------
Ngũ thể đầu địa: ngũ thể đầu địa là quỳ lạy 5 vóc gồm hai đầu gối, hai tay, đầu đều chạm đất để lạy Phật, như vậy mới tỏ đủ vẻ cung kính.
Tam pháp ấn: Vô Thường, Khổ, Vô Ngã là giáo lý đặc trưng trong đạo Phật, cũng giúp phân biệt chính pháp và tà giáo ngoại đạo.
Phụ Phật ngoại đạo: ngoại đạo ẩn trong lòng Phật pháp.
Tới tháng 12/2018: Số văn tập của Sư Tôn đã là 268 cuốn, không tính vô số bài giảng kinh luật luận, video và tài liệu khác nữa.


### 32. Cảm ngôn của Phật học tổng thuyết


Các đệ tử Phật sùng đạo đến từ khắp mọi nơi trên thế giới. Họ muốn tìm kiếm "tiếng lòng" của Phật, noi theo từng bước chân của Phật, mở rộng tâm linh trong thế giới nội tâm, trải nghiệm thiên sơn vạn thủy, nên đã đến biệt thự Cầu Vồng tham gia khóa học Phật học tổng thuyết do Sư Tôn giảng dạy. 

Từ đầu đến cuối tổng cộng có hai tuần học pháp, mỗi ngày đều được tắm trong ân huệ của Phật, xem như được hưởng đặc ân, pháp hỷ tràn đầy. 
 
Khi đó, tất cả mọi người không ngoại trừ một ai đều có cảm nhận rằng khoảng thời gian đó giống như được đột nhiên quay ngược trở về 2500 năm trước, vào thời kì sống cùng với Phật Thích Ca Mâu Ni khi ngài vẫn còn tại thế. Phật thuyết pháp ngay trước mắt ta. 

Từ lúc khai giảng nhập môn bằng "khởi lòng tin", tiếp sau đó là tín, giới, hành, chứng, lý - sự hợp nhất, tam vô lậu học (giới, định, huệ), tứ thánh đế (tập, khổ, diệt, đạo), ngũ lực, lục độ vạn hành, thất bồ đề phần, bát chính đạo, thập lực, thập nhị nhân duyên. (*)

Những khoảnh khắc chân-thiện-mỹ đó đã dẫn dắt chúng tôi đi vào cảnh giới của Phật, mãi mãi lưu lại trong sâu thẳm tâm linh của mỗi người. 
 
Sư Tôn giảng pháp là chu toàn nhất, giải thích cặn kẽ bí mật chân ngôn cùng các dạng nghi quỹ, lấy ví dụ cho các nghị luận, cung cấp rất nhiều đại trí huệ, thông đạt tướng chân ngôn. 

Sư Tôn lại dùng phương pháp diễn thuyết hài hước thú vị giúp cho mọi người có thể dễ dàng nắm thông hiểu thấu, vui thích vô cùng, vỗ tay như sấm. 
 
Chư Phật Bồ Tát cũng đến buổi đại pháp hội giảng pháp của Sư Tôn, phóng quang gia trì cho mọi người. Chính vào lúc quán đảnh, Sư Tôn nhìn thấy chư Phật Bồ Tát mười phương từ bi đã đến, ban mọi loại quán đảnh cho mỗi đệ tử đến tham gia. Tất cả đều có được đại pháp hỷ, đại pháp lợi, tinh thần hoan hỷ vui sướng vô cùng. 
 
Trên bầu trời lúc này, vầng hào quang của mặt trời đã xuất hiện rồi! Có người kêu lên kinh ngạc. Mọi người nhìn kìa, bầu trời cao trong vắt, cầu vồng cũng xuất hiện rồi!
 
Các đệ tử đều hết lời cảm ơn, tán dương. 
 
Phật pháp rộng sâu rất nhiệm màu.
Trăm nghìn vạn kiếp khó tìm cầu.
Nay con nghe thấy chuyên trì tụng.
Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm sâu.

Tháng 6 năm 82 
(tháng 6/1993)

-------------------------
Tam vô lậu học: là pháp học thù thắng gồm giới, định, huệ, giúp hành giả vượt khỏi sự trói buộc của mọi phiền não, không còn rơi rớt trong ba cõi.
Tứ Thánh Đế: bốn sự thật chân lý (tập đế, khổ đế, diệt khổ đế, đạo thánh đế) giúp hành giả giải thoát, giác ngộ chứng đắc.
Ngũ lực: 5 năng lực vĩ đại và là 5 thần lực của ngũ căn, gồm tín lực, tấn lực, niệm lực, định lực, huệ căn.
Lục độ vạn hành: sáu độ gồm bố thí, trì giới, nhẫn nại, tinh tấn, thiền định, bát nhã - trí huệ.
Thất bồ đề phần: bảy pháp tu tập tuần tự hướng đến đạo quả Vô thượng Bồ Đề, giúp thành tựu đạo quả Đại giác, gồm trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, niệm, định, xả.
Bát chính đạo: con đường chân chính có tám chi, giúp chúng sinh hướng đến đời sống cao thượng, hạnh phúc, gồm chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng, chính tinh tấn, chính niệm, chính định.
Thập lực: 10 sức mạnh của Phật, gồm: có trí huệ thấy rõ đúng sai, có trí tuệ biết rõ nghiệp báo 3 đời, có trí tuệ về các phép tu thiền định giải thoát, có trí tuệ biết rõ căn cơ chúng sinh cao thấp, có trí tuệ về mọi kiến giải, có trí tuệ biết rõ hoàn cảnh thực tế mỗi chúng sinh, biết rõ phương hướng và kết quả tác động của mọi quy luật, có thiên nhãn vô ngại, biết rõ kiếp sống quá khứ chúng sinh, đoạn trừ mọi tập khí và vô minh.
Thập nhị nhân duyên: 12 nhân duyên của luân hồi là vô minh duyên ra hành, hành duyên ra thức, thức duyên ra danh sắc, danh sắc duyên ra lục nhậ, lục nhập duyên ra xúc, xúc duyên ra thọ, thọ duyên ra ái, ái duyên ra thủ, thủ duyên ra hữu, hữu duyên ra sinh, sinh duyên ra lão tử.


### 33. Chúc mừng sinh nhật Sư Tôn


Ngày 18 tháng 5 âm lịch là đản sinh của Liên Hoa Đồng Tử. Tôi muốn viết một bài văn chúc mừng, trong khi đang nghĩ cách viết thì đột nhiên lại ngộ ra rằng, sinh nhật của Sư Tôn cùng ngày kỉ niệm xuất gia xuất gia của ngài đều có ý nghĩa độ sinh. 
 
Bằng chứng như sau:
Sinh ra: ngày Sư Tôn sinh ra là ngày 18 tháng 5 âm lịch, cho chúng ta thấy rất rõ ràng ý nghĩa được bao hàm là: có thừa ngũ giới, thập thiện, bát chính đạo. 
Xuất gia: ngày Sư Tôn xuất gia là ngày 10 tháng 2 âm lịch, cũng rất rõ ràng thấy được ý nghĩa bao hàm là: có thừa nhị bát nhã, lý sự viên dung, phúc huệ viên mãn, ngày 10 là thập lực của Phật. 
 
Thế giới tâm linh xưa nay, khi một vị Phật giác ngộ chân chính  xuất hiện thì cuộc đời của ngài tính từ khi bắt đầu sinh ra sẽ luôn ẩn chứa những huyền cơ không thể nghĩ bàn. Nhưng những huyền cơ rất vi tế nên rất ít khi có người đi kiểm nghiệm hay tìm cách hiểu chúng. 
 
Cũng giống như Phật pháp bao la tựa biển lớn vậy. Trong biển lớn ẩn giấu vạn vật. Tinh thần của biển, mọi thứ của biển có bao nhiêu người thực sự hiểu được đây. 
 
Tháng 5 - 18, đồng tử sinh.
Mang đầy pháp bảo nguyện bay đến.
Vô số cam lộ ban khắp nơi.
Quán đảnh chúng sinh tịnh Ta Bà.
Ngũ giới thập thiện bát chính đạo.
Kỳ lạ lạ kỳ trong bí mật.
Thâm nhập biển pháp thấu chân nghĩa.
Liên Hoa sớm hiện ánh quang minh. 
 
Tháng 6 năm 82
(Tháng 6/1993)


### 34. Cũng là sinh nhật


Vào mỗi dịp 18 tháng 5 âm lịch, thời điểm sinh nhật của Thánh Tôn, 150 vạn đệ tử quy y Chân Phật Tông ở khắp nơi trên thế giới đều hoan hỷ muôn phần, vui mừng khôn xiết, đâu đâu cũng tổ chức tiệc mừng sinh nhật để bày tỏ tấm lòng thành kính nhất. Tất cả đều quỳ xuống đảnh lễ ngũ thể đầu địa với thân, khẩu, ý thanh tịnh nhất, với nghi thức trang nghiêm nhất làm món quà trang trọng nhất để cúng dường. Mọi người cung chúc Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử Thánh Tôn đã đản sinh ở cõi Ta Bà để hoàn thành tâm nguyện độ chúng sinh. 
 
Tất cả đệ tử Chân Phật Tông, đều vào lúc chính ngọ của ngày đản sinh tu một đàn "Liên Hoa Đồng Tử tương ứng pháp", thỉnh cầu tiêu tai giải nghiệp, tăng trưởng phúc huệ. Điều mong mỏi nhất chính là có thể hòa nhập với tâm linh Thánh Tôn, cả hai hòa nhập làm một, dung nhập vào vũ trụ. 
 
Ngài vì dạy dỗ chúng sinh thành Phật mà đưa ra một lời thệ nguyện to lớn: "Địa ngục bất không thề không thành Phật, phân thân xẻ cốt độ chúng sinh", khiến cho thiên thượng nhân gian vô cùng chấn động, thập phương pháp giới chư Phật cùng nhau hiển lộ tướng lưỡi dài rộng thán phục. 
 
Chúng ta đều biết ngài nhờ có thực tu mà đạt được chứng ngộ. Ngài cũng vì giáo hóa chúng sinh mà thị phạm Chân Phật Mật Pháp, kì vọng chúng sinh sớm có ngày tiêu trừ nghiệp chướng, sớm có ngày minh tâm kiến tính, sớm có ngày tự chủ sinh tử, sớm có ngày tức thân thành Phật. 
 
Chân Phật Mật Pháp là kết hợp "Đạo - Hiển - Mật", là con đường tắt tối ưu để thành Phật, cũng là tiếp nối Phật huệ mệnh, truyền ngọn đèn Phật pháp, dẫn dắt con người đi tới nơi vi diệu, cũng là cùng nhau một lòng tin Phật, niệm Phật, tu pháp thành Phật. 
 
Tấm lòng từ bi to lớn của ngài, tấm lòng đại trí huệ của ngài, tấm lòng vô thượng hỷ xả của ngài hiển hiện ánh sáng đại quang minh viên mãn, hóa hiện thiên thiên vạn vạn đại bồ đề tâm, thành tựu hóa hiện thiên thiên vạn vạn đóa hoa sen, vãng sinh Ma Ha Song Liên Trì. 
 
Chúng con ca ngợi ngài, kính ái ngài, cảm tạ ngài, bởi vì chỉ có ngài mới có thể thắp lên ánh sáng quang minh ở nơi sâu nhất trong cuộc sống của chúng con, ban cho chúng con tăng trưởng trí huệ và sức mạnh. Hãy để cho chúng con đi vào ánh sáng của ngài, đi trên con đường đạo đẹp nhất của đời người. 
 
Nhân dịp sinh nhật của ngài, gửi đến ngài lời chúc phúc chân thành nhất của chúng con. 
 
Kính chúc ngài:
Pháp luân thường chuyển.
Thường trụ thế gian.
Thân thể kiện khang.
Bất nhập niết bàn.
Thọ tỉ nam sơn bất lão tùng.
Phúc như Đông hải trường lưu thủy. 
 
Tháng 7 năm 82
(Tháng 7/1993)


### 35. Pháp vị của thư hồi đáp


Hơn hai mươi đệ tử Chân Phật giúp đỡ công việc trả lời thư ở Chân Phật Mật Uyển, mỗi người đều phát tâm tự nguyện giúp đỡ, thế mà họ đi làm rất đúng giờ, không đến muộn về sớm. Nếu có việc không thể đến được họ cũng đều cung kính xin nghỉ phép, mọi người tận tâm tận lực làm việc, mỗi ngày đều đạt thành tích mấy trăm bức thư. Cứ như vậy ngày qua tháng đến, mọi việc cứ tiếp diễn như thế, tinh thần và nỗ lực đó thực sự khiến người ta ngưỡng mộ, phát tâm của những con người này thật trân quý. 
 
Tất cả các tình nguyện viên đều có cùng chung một cảm nghĩ. 
Có thể vì Sư Tôn mà phục vụ, là việc mà các đệ tử nên làm. 
Có thể vì quảng đại chúng sinh tận điểm tâm lực, chính là tu hành từ bi. 
Có thể bằng việc hồi đáp thư tín thấy được mọi mặt quan điểm của chúng sinh, có thể có được sự cảnh tỉnh thực tu, định hướng được mục đích của bản thân. 
Có thể được ở gần Sư Tôn để học Phật pháp, là phúc phận tu mấy đời mới có được. 
 
Vào lúc 4h chiều mỗi ngày, Sư Tôn sẽ hướng dẫn chúng tôi đồng tu, hơn nữa còn ban cho những khai thị quý giá, mỗi lần nghe Sư Tôn giảng xong, mọi mệt mỏi đều tiêu tan, cảm giác tinh thần thư thái. Cũng có khi thì Sư Tôn rất tự nhiên bàn luận Phật pháp cao sâu, lại cũng kiểm tra trình độ và thành tích của chúng tôi. 

Căn cơ của chúng sinh không giống nhau, tốt xấu lẫn lộn, mỗi người cũng lĩnh hội được khác nhau. Người có trí huệ cao cũng giống như có được gia tài quý giá nhất, có thể hiểu thông hiểu thấu, đối đáp trôi chảy. Nhưng cũng có một số người thực sự thấy rằng tự mình tu không đủ, rất khó để hiểu được sự thâm sâu vi diệu của Phật pháp. 
 
Đôi khi trong bữa ăn chung, Sư Tôn cũng tùy duyên chỉ ra những điều cốt tủy của Phật pháp. Ngài thường nhắc chúng tôi: "Phật pháp là sống, có định pháp, cũng có bất định pháp, cần phải hiểu một cách linh hoạt mới có thể đạt được pháp vị tự do tự tại."
 
Sư Tôn mọi lúc mọi nơi đều dạy pháp rất tự nhiên, chúng tôi cũng thường xuyên tập trung chú ý để nắm lấy những quán đảnh tinh túy này, đợi đến khi có thể hợp nhất với ý thức vũ trụ.
 
Trong cuộc sống hàng ngày, trung tâm hồi đáp thư tín đã trở thành ngôi nhà tinh thần của chúng tôi. Mỗi ngày chúng tôi đều được tắm trong âm thanh của Phật pháp, nghiền ngẫm diệu pháp khiến tâm sinh ra niềm an lạc, thể hội được sâu sắc việc "lấy pháp làm thức ăn, nuôi lớn trí huệ mệnh", vượt qua được tất thảy mọi danh lợi hữu hình. 
 
Sư Tôn, cảm ơn ngài đã giảng những lời dạy xuất phát từ tâm, cảm ơn ngài đã dạy dỗ mọi người bất luận căn cơ thế nào, cảm ơn ngài đã luôn giáo huấn không biết mệt mỏi.


### 36. Sau khi đọc bài viết của Ấn Thuận Đạo Sư


Tôi đọc nguyệt san Phật Giáo Hồng Kông số 396, nội dung bên trong có một bài viết của Ấn Thuận Đạo Sư với tiêu đề "Lư Thắng Ngạn và Tôi". 

Bài viết khiến tôi kinh ngạc đến mức khó tin, nghĩ mãi không hiểu, bởi vì nó có những chỗ không đúng với thực tế cho lắm. Lẽ nào qua nhiều năm gắn bó như vậy, chúng tôi kính lễ đối với sư phụ, mọi chỉ dẫn của sư phụ đối với chúng tôi đều có cảm giác rất hòa hợp với nhau, tất cả đều đã quên hết rồi sao?
 
Có lẽ là do sư phụ chịu áp lực của những hoàn cảnh tác động bên ngoài thời gian gần đây, có những lúc không thể chịu được, không có cách nào khác nên phải làm như thế sao?
 
Nguyên văn thầy viết thế này: 
"Lư quân đã từng quy y tôi, nhưng không phải là tôi đích thân nhận quy y, mà là một cư sĩ già tên Lý Bỉnh thay mặt tôi nhận quy y, là do Bỉnh lão cầu xin tôi. 

Lúc cử hành quy y, bởi vì tôi là một vị thầy quy y nổi tiếng nên vào năm Dân Quốc thứ 59, Lư quân ở Liên Xã đã thọ quy y.  

Vì thế có thể nói tuy là quy y tôi nhưng không phải tôi đích thân chủ trì. Nếu nói là tôi tự tay ban cho chứng nhận quy y thì đương nhiên là nói dối để lừa người rồi. Mọi chứng nhận quy y của tôi đều không phải như thế này."
 
Tôi nhớ lại khi chúng tôi mới dọn nhà đến sống ở cạnh nhà của thầy đã lập tức đến chào và cúng dường thầy. (Nguyên văn bài viết, thầy cũng nói: Thắng Ngạn là đệ tử quy y đến thăm tôi.) 

Thầy cũng rất khách khí nhanh chóng cúi chào đáp lại. Khi  thầy đến nhà tôi chơi, Thắng Ngạn cầm giấy chứng nhận quy y đưa cho thầy xem, sau khi xem xong, đích thân đưa lại cho Thắng Ngạn, còn nói: "Rất tốt, rất tốt."
 
Sư phụ, nhân đây con muốn hỏi: quy y thì là quy y, lẽ nào còn phân biệt đẳng cấp giấy chứng nhận quy y, hơn nữa lại còn đi phân biệt đẳng cấp của các đệ tử sao?

Quy y tức là quy y tam bảo, lễ bái sư phụ, học tập sư phụ tu hành và hoằng dương tinh túy của Phật pháp, không phải thế sao?
 
Nguyên văn cũng nói: "Năm Dân Quốc thứ 80 (năm 1991), anh ta (Thắng Ngạn) đưa mấy đệ tử đến thăm tôi, đảnh lễ cúng dường. Tôi khi đó có bệnh, chỉ là gặp mặt thế thôi, chính xác như trong sách anh ta đã nói, tôi không biết anh ta quay về mấy lần. Tôi chỉ là gặp anh ta duy nhất lần này, nhưng anh ta vẫn nói là mỗi lần về Đài Loan đều thăm hỏi người nhà."
 
Thực tế là chúng tôi mỗi lần về nước đều đã thực sự đến thăm hỏi sư phụ. Trong số năm lần về nước thì đã gặp mặt thầy hai lần, có một lần khác chúng tôi còn ngủ trưa ở đó, hai lần khác thì thầy bị ốm nên chuyển nhà đi nơi khác, không ở tịnh xá nữa, chúng tôi chỉ đảnh lễ đàn thành xong là rời đi.
 
Trong bài viết thầy cũng không thừa nhận đã từng nói rằng: "Liên Sinh, nỗ lực tiến lên, đáng trân trọng, đáng trân trọng." Mà lại nói: "Những lời nói này là anh ta tự viết ra, không phải sự thật, tóm lại, Lư Thắng Ngạn và tôi, quy y và gặp mặt, có thể nói việc xảy ra là có lý do, chỉ là anh ta đã xáo trộn những câu văn từ ngữ một chút để lừa người ta."
 
Thực sự, bản thân sư phụ đã quên hết những lời đã từng nói rồi. Khi đó, năm vị đệ tử mà Thắng Ngạn đưa đến gặp thầy, tất cả họ đều đã nghe chuyện rồi. Chúng con cũng không muốn thay thế pháp mạch của thầy, xin thầy không phải sợ hãi. 
 
Tấm lòng kính trọng của chúng con, ngược lại, không ngờ bị thầy dội một gáo nước lạnh. Con cảm thấy trong lòng thật buồn. 

Đã từng bao lần vì sư phụ mà đi khắp nơi để mua đồ ăn, con hiểu rõ sư phụ mỗi bữa cơm chỉ muốn ăn cà chua và đậu phụ, còn phải thái thật nhuyễn mềm, thậm chí còn phải dùng máy xay để xay nhuyễn. Thầy cũng không bao giờ thay đổi chế độ ăn uống, lần nào cũng chỉ dùng đúng một loại thương hiệu bột yến mạch, chỉ định rõ loại bánh mì lát của cửa hàng bánh mì đó.

Hôm nay, con nói những lời này chỉ muốn nhắn gửi sư phụ nghĩ lại chuyện đã qua, thực tế chúng ta đã từng trải qua quãng thời gian hòa thuận với nhau như thế nào. 
 
Con nhận thấy sư phụ có thể mắng đệ tử, nhưng đệ tử cần mãi mãi tôn trọng sư phụ, như vậy mới có thể có được sự dẫn dắt, mới có thể đạt được thành quả là sự chịu đựng và thử nghiệm. 
 
Chúng con vẫn không ngừng nghiền ngẫm những bài viết của sư phụ, thường xuyên nhận được những chỉ dẫn của sư phụ, khắc ghi trong tim. Cảm ơn thầy, kính lễ thầy, chúng con lấy sự nghiệp của Như Lai làm sự nghiệp của bản thân, tu hành hoằng pháp độ chúng sinh. 
Cảm ơn thầy một lần nữa!
 
Tháng 8 năm 82
(Tháng 8/1993)


### 37. Cảm tưởng trở về Đài Loan


Mỗi lần chuẩn bị cùng Sư Tôn trở về Đài Loan hoằng pháp là tôi đều đếm từng ngày, hy vọng sớm đến lúc gặp mặt các đệ tử Đài Loan. Tôi có một cảm giác rất thích thú, còn mau chóng cẩn thận làm tóc, có một niềm vui không thể tả xiết, ghét là không thể lập tức cưỡi mây bay luôn về được. 
 
Ngày 26 tháng 6 khi đã về đến sân bay Đào Viên ở Trung Chính, tôi lập tức cảm thấy được hít thở lại bầu không khí quen thuộc. Cuối cùng đã về nhà rồi, tôi đột nhiên vui sướng giống như cá gặp nước. Tôi lần lượt nhìn thấy mấy nghìn đệ tử đã đến chật cứng cả sân bay đứng đợi chúng tôi từ lâu. 

Mọi người cùng hát Thượng sư tâm chú để nghênh đón Sư Tôn. Có rất nhiều rất nhiều đệ tử vượt lên phía trước để dâng hoa, không ai muốn nhường ai lên trước nên túm tụm lại thành một vòng tròn, hướng đến Sư Tôn thể hiện những lời chào mừng đã chuẩn bị từ trước. 
Bởi vì âm thanh của dòng người chào đón rất náo nhiệt nên không thể phân biệt được, họ chỉ có thể dùng những bó hoa để thay cho lời nói thể hiện tấm lòng, đại diện cho sự kính trọng nhất. 
 
Sư Tôn bận rộn nhận hoa, hết bó này đến bó khác cứ liên tục truyền đến, giống như là đủ thể loại hoa từ trên trời rơi xuống vậy, tình cảm vô cùng ấm áp, tất cả đều khiến người ta cảm động. 

Khi dòng người trở nên kích động hơn, có nhiều đệ tử cũng cúng dường hồng bao và quà tặng, cúi đầu đặt lên đỉnh đầu để cúng dường, nhưng rất nhiều đồ cũng dường không kịp nhận cho hết, trong phút chốc Sư Tôn giống như là một cơn gió thổi qua. 
 
Càng có nhiều hơn các đệ tử xếp hàng ở phía xa, không gia nhập vào đám đông, từ xa vẫy tay chào và hoan hô, nói chào Sư Tôn, chào Sư Tôn!

Sự nhiệt tình của các đệ tử Đài Loan thực sự hiếm có. 

Tôi cứ đi bên trái bên phải Sư Tôn, nhìn thấy Sư Tôn miệng không ngừng niệm chú để gia trì cho mọi người, gật đầu mỉm cười không ngớt, thể hiện ý cảm tạ, trong ánh mắt chứa đầy sự từ bi vô hạn phóng chiếu bao quát tất cả. 

Sư Tôn và đệ tử, tâm nối liền tâm. 
 
Có người hỏi: "Ngoài việc theo Sư Tôn về Đài Loan hoằng pháp ra, cá nhân bà có việc khác hoặc có việc gì đặc biệt cần phải làm không?"
 
Tôi đáp: "Tôi muốn đi thăm sư trưởng, bạn bè thân thích, giữ tình cảm liên lạc, quan tâm mọi người, muốn tìm lại những dấu tích quá khứ, hoài niệm về những nơi đã sinh ra và lớn lên, muốn nắm giữ lấy những khoảnh khắc cảm xúc đẹp đẽ, muốn đi ngắm nhìn những cửa sổ với ánh đèn neon lấp lánh rực rỡ của các cửa hàng cửa hiệu, muốn ăn những món ăn vặt của Đài Loan mà khi còn nhỏ rất thích, muốn…"

Nhưng thực ra, điều vui nhất là có thể gặp gỡ các đệ tử Đài Loan. 
 
Tháng 8 năm 82
(Tháng 8/1993)


### 38. Đại uy đức của Sư Tôn


Ngày 16 tháng 8 năm 1993, Sư Tôn cùng mấy vị Thượng sư đi cùng từ nước Anh trở về Mỹ, cuối cùng đã kết thúc một đợt đi hoằng pháp ở nước ngoài. 

Từ Đài Loan, Canada, Pháp, Hà Lan, nơi cuối cùng là nước Anh, tổng cộng đã tổ chức 6 đại pháp hội. Đây cũng là kỉ lục gây chấn động nhất trong trong số các pháp hội Phật giáo ở địa phương. Thành tích độ chúng sinh của Chân Phật Tông cũng vượt xa dẫn đầu, đứng hạng mạnh nhất trong số các tông phái. 
 
Đệ tử khắp nơi đồng thanh tán thán, nào là Sư Tôn sức mạnh vĩ đại, thần thông quảng đại, nào là có thiên long bát bộ, không hành hộ pháp hộ trì. 

Pháp hội mà Sư Tôn đích thân chủ trì chắc chắn hiển lộ kì tích lớn, cảm ứng lớn, khiến cho những người đến tham dự đạt được đại phúc huệ, tràn đầy pháp hỷ. Đơn vị tổ chức càng làm càng có nhiều tự tin, lên kế hoạch sau này sẽ làm pháp hội hoành tráng hơn nữa. 
 
Khi đến mỗi địa phương, các đệ tử đều sẽ sắp xếp đi chơi ở trung tâm thành phố, tham quan các di tích văn vật lịch sử ngày xưa và các danh lam thắng cảnh nổi tiếng. 

Du khách nườm nượp, dòng người ken dày, chúng tôi cũng đi tới đi lui trong dòng người đông đúc, tham quan nhà quốc hội Canada, giáo đường thánh Joseph (Quebec Canada), viện bảo tàng. 

Ở Pháp thì tham quan bảo tàng Louvre ở Paris, sông Seine, viện thánh mẫu Maria, tháp Eiffel. Ở Hà Lan thì đi tham quan cối xay gió và các di tích văn hóa lịch sử ở vùng nông thôn. Ở nước Anh thì tham quan tu viện Westminster nổi tiếng nhất, và bảo tàng tượng sáp,v.v.
 
Có việc rất vi diệu, đó là mỗi lần đến một địa điểm tham quan, bất cứ khi nào Sư Tôn đi bộ trên đường thì đều thu hút rất nhiều ánh mắt chú ý của người khác. 

Có một số người không kiềm chế được đã nhanh chóng chạy đến trước mặt hỏi: "Ngài từ đâu đến? Các ngài có phải Mật tông không? Tôi thấy ngài nhất định là một vị cao tăng, tôi muốn kết duyên với ngài, nắm tay có được không?..." 

Chúng tôi đến thăm Hoàng Gia Anh, tại trung tâm mua sắm, (khi người của Hoàng Gia đến thì trung tâm mua sắm lập tức phải phong tỏa, đóng cửa, người ngoài không được đi vào).  

Chúng tôi tham quan ba tầng trưng bày tranh, người quản lý vừa nhìn thấy Sư Tôn thì biểu thị cực kì hoan nghênh, tự động lấy chìa khóa mở cửa phòng tranh đặc biệt mời riêng Sư Tôn vào, lại còn giới thiệu lần lượt từng bức họa nổi tiếng, hơn 10 người đệ tử khác thì đứng ở bên ngoài chờ. 
 
Việc kì diệu hơn nữa là có người ăn mày ở trên đường nhìn thấy Sư Tôn bèn lập tức đứng lên tiến về phía trước, chỉ cầu xin Sư Tôn. Các đệ tử ở bên cạnh đồng thời lấy tiền ra cho kẻ ăn mày, chẳng ngờ ông ta không cần, nhất định chỉ muốn được Sư Tôn cho tiền, miệng thì vẫn tự lầm bầm gì đó. Đáng tiếc là chúng tôi đều nghe không hiểu bởi ông ta là người Ấn Độ nói tiếng Ấn Độ. Nhưng ánh mắt của ông tha biểu lộ ra đầy cung kính là có ý muốn cầu ban cho may mắn. 
 
Những sự việc kì diệu có rất nhiều, thực sự lấy ví dụ không hết. Chuyến đi này luôn có sáu vị Thượng sư đi hộ tống, Sư Tôn không mặc long bào mà mặc quần áo Lama giống như mọi người đi bộ trên đường, nhưng tất cả mọi người đều tập trung ánh mắt lên người Sư Tôn, điều này là vì sao? 

Bởi vì Sư Tôn là một vị Phật sống đã chứng ngộ, có tướng mạo trang nghiêm, huệ nhãn từ bi, thân tỏa hào quang phổ chiếu chúng sinh, phóng chiếu uy lực, một cách tự nhiên chúng sinh nhìn thấy tự phát sinh lòng sùng kính hướng về ánh quang minh này. 
 
Tháng 9 năm 82
(Tháng 9/1993)


### 39. Giả sử tôi là trưởng một tông phái


Giả sử tôi là trưởng một tông phái, tôi sẽ thay đổi rất nhiều việc, lập tức thi hành những quy định mới, sẽ thông báo đến mọi nơi trên thế giới. 
 
Thứ nhất: thiết lập một tổ chức có hệ thống hoàn chỉnh, từ hệ thống phân quyền địa phương đổi thành hệ thống tập quyền trung ương, mọi người có cùng một quy tắc luật lệ hoạt động, thuận tiện giao tiếp và thuận tiện cai trị. 
 
Thứ hai: tất cả mọi khoản đóng góp ủng hộ đều phải quy về trung ương, gây quỹ để khởi động giáo dục, văn hóa, từ thiện, bệnh viện,v.v… Gây quỹ để làm, sức mạnh sẽ lớn. 
 
Thứ ba: không ngừng mở lớp dạy học, đào tạo nhân tài, nâng cao trình độ giáo dục, giáo viên vừa dạy vừa học, giao cho nhân tài đến các nơi thay mặt sư phụ hoằng pháp.
 
Thứ tư: đặt ra kì hạn đi khắp mọi nơi trên thế giới hoằng pháp, cử hành pháp hội, làm mọi hoạt động truyền thụ Chân Phật Mật Pháp, ban gia trì của truyền thừa, quán đảnh, thuyết pháp khai thị, ban phúc phận cho mỗi một chúng sinh hữu duyên, sinh trưởng huệ mệnh. 
 
Thứ năm: làm từ thiện cứu tế rộng khắp, giống như Quan Thế Âm Bồ Tát cứu khổ, từ bi bình đẳng không phân biệt, bất kì người nào hay đất nước nào, chỉ cần có nạn gấp, nhất định cứu độ. 
 
Thứ sáu: thành lập một bệnh viện từ thiện xuất sắc, hoàn toàn miễn phí vì người bệnh mà phục vụ, cứu chữa với tốc độ nhanh nhất và sự tận tụy nhất để trị bệnh cho bệnh nhân, giúp cho mỗi bệnh nhân đều có được sự chăm sóc thân và tâm cẩn thận, nhanh chóng hồi phục sức khỏe. 
 
Thứ bảy: đối với những nhân tài xuất chúng, nhiệt tâm phục vụ, tu pháp tinh tấn, phát bồ đề tâm, xét theo quy định điều luật và kỉ luật giữ nghiêm ngặt của phân đường, không những ban tặng phần thưởng mà còn đặc biệt tuyên dương. 
 
Thứ tám: đối với những phân đường hoạt động quá lỏng lẻo trong quá khứ, phái người tài giỏi đến giúp đỡ hướng dẫn, đối với người đề cao danh lợi, phá hoại tập thể, nhất định nghiêm khắc trừng phạt. 
 
Những điều trên chỉ là mộng tưởng trong mơ!
Hoàn cảnh thực tế là ngay hiện tại, thư từ gửi đến từ các đệ tử và phân đường đã chất cao như núi, chúng tôi bị thư "chèn" đến mức nghẹt thở. Điện thoại và fax từ khắp nơi trên thế giới không ngừng đổ chuông, mỗi ngày khách viếng thăm đến bấm chuông liên tục không dứt, sân trước đông đúc nhộn nhịp như họp chợ. 

Hôm nay cũng đã nhận được rất nhiều điện thoại báo cáo sự việc, các phân đường không hòa hợp với nhau, cãi nhau ồn ào, bất đồng giữa đồng môn và đồng môn, tiến hành việc bỏ phiếu bầu chọn lại thành viên hội đồng, ban điều hành. Mở cuộc họp cũng không đạt được đồng thuận, một lời thô lỗ, thế là lật bàn đạp ghế, thậm chí xắn tay áo lên thách đấu. 
 
Thử nghĩ là trưởng của tông phái, mỗi ngày đều vô cùng bận rộn với các công việc chính sự, mãi mãi có những việc không thể làm xong hết, chỉ mới nghĩ đến điều này một chút mà tôi đã cảm thấy sợ hãi phải than trời! 

Liên Hoa Đồng Tử Thánh Tôn, mau đến cứu con đi! Cả đời này tôi nằm mơ cũng không dám mơ giấc mơ làm trưởng tông phái!
Trên thực tế, tông giáo chính là phương diện tâm linh, là tu tâm, cái tâm tu hành chỉ có thể tự mình lo việc của mình mà thôi.


### 40. Chúc mừng kỉ niệm 2 năm Chân Phật báo


Tháng 10 năm 1993 là kỉ niệm 2 năm Chân Phật báo. Vào ngày kỉ niệm vinh quang này, tôi nghĩ đến mọi loại công đức của Chân Phật báo, tin tưởng rằng tất cả độc giả sau khi đọc xong đều có thể khẳng định đây là một công cụ đại diện cho việc xuất bản, công bố các tính chất và hoạt động của tông phái. Đó chính là món ăn tinh thần của Chân Phật Tông chúng ta, cũng là nơi gửi gắm lòng tin tâm linh của các hành giả Chân Phật. 
 
Có nhiều đồng môn nói:
Chỉ cần đọc Chân Phật báo là biết được tin tức mới nhất về hoạt động hoằng pháp của Sư Tôn, giống như giữ liên lạc liên tục với Sư Tôn vậy. 

Những khai thị mới nhất của Sư Tôn cũng rất nhanh chóng được truyền đạt đến đệ tử Chân Phật. 
Có thể biết được những tin tức mới nhất trong tông phái, cũng như tin tức về sự phát triển mạnh mẽ của các Phật đường ở khắp nơi trên thế giới. 
Chân Phật báo thực sự phát huy được sức mạnh truyền bá tối ưu, Chân Phật đệ tử rất thích nó, đọc nó, đọc rồi lan truyền nó. 
 
Chỉ trong vòng 2 năm ngắn ngủi mà đã lan rộng đến các nơi trên thế giới, số lượng phát hành nhảy vọt với 20 vạn bản. Gần đây Chân Phật báo đã vinh dự được phê chuẩn cho xuất bản và phát hành tại Malaysia. Số lượng phát hành ở đây cũng tương đối khả quan, hơn 40 phân đường tại Malaysia đã phối hợp để lan truyền, tương lai sẽ trở thành "siêu sao" xuất bản của Phật giáo địa phương. 
 
Chân Phật báo cũng dựa trên truyền thừa mà hoằng dương Phật pháp, dựa trên tâm từ bi, tinh thần quảng độ chúng sinh để đi vào xã hội nhân gian. Cũng chính nhờ tờ báo giống như kim xâu chỉ, rất nhiều độc giả đã cảm động mà quy y, học Phật tu hành, đi vào các dạng và lớp của thế giới tâm linh, tìm kiếm chân lý và bước tới quang minh. 
 
Nhân đây hy vọng hành giả Chân Phật ai ai cũng đều quan tâm đến Chân Phật báo, nhiệt tình ủng hộ và đặt mua báo dài hạn. Các phân đường sẽ đóng góp các bản thảo bài viết về hoạt động, từ đó truyền đến các vườn hoa công viên cho mọi người, lợi mình lợi người. Tất cả cùng đoàn kết như một, cùng hoằng dương Chân Phật Mật Pháp, giúp người người thành Phật.
 
Sư Tôn đã từng vì Chân Phật báo mà kêu gọi: "Hy vọng mỗi phân đường Chân Phật Tông trên thế giới và hành giả Chân Phật phối hợp hết sức mình, tương lai có thể phát triển các hoạt động Phật pháp của tông phái, nhờ đó việc truyền pháp quán đảnh có thể được thi hành thuận lợi. Như vậy mới có thể hoàn thành được chức năng của tổ chức, cũng thể hiện được sức mạnh của bản thân, phát huy được phẩm vị tối thượng của Chân Phật Tông."

Hy vọng tất cả mọi người cùng hộ trì. Om Mani Padme Hum!
 
Tháng 10 năm 82
(Tháng 10/1993)


### 41. Nói chuyện "làm người khó”


Cuộc sống có ba cái khó: lên trời khó, kiếm tiền khó, làm người khó.
 
Khó lên trời - tu hành từ khi còn mơ hồ đến khi đạt được tất cả giải thoát và đạt đến cảnh giới giác ngộ là nguyện vọng của mỗi một thành giả, nhưng rất khó đạt được. 

Khó kiếm tiền - trong tâm của con người thế tục lúc nào cũng có vô số dục vọng và lòng tham vô cùng tận, xoay vòng trong việc làm lợi cho bản thân suốt thời gian dài. Có nhiều rồi vẫn còn muốn nhiều nữa do bởi lòng tham vô đáy, thế nên nói kiếm tiền khó. 

Khó làm người - người trong thiên hạ ai mà không có khuyết điểm, mỗi người đều mắc phải không nhiều thì ít. Nhưng thiên hạ lại tập trung vào bới tìm khuyết điểm và lỗ hổng của con người, bám vào những cái này để đánh giá. Làm sao có người hoàn hảo không tì vết đây? Do vậy làm người rất khó. 
 
Có câu nói "nhân thành tất Phật thành", chính là thành tựu làm một con người hoàn hảo tức là thành Phật. 
Sư Tôn khai thị: làm người cơ bản nhất là cần có tâm lương thiện, tâm ái, tâm công đức. Thành tựu hoàn hảo việc làm người thì vị này chính là thánh nhân, vô cùng phi thường. Mặc dù làm người khó, thành Phật lại càng khó, nhưng từ xa xưa vẫn có nhiều người tu hành đạt chứng quả. Những người này đương nhiên có đạo lý làm người và phương pháp tu hành vô cùng vi diệu thậm thâm. Các vị đều bước những bước đi như nhau, cũng có thể đạt đến bến bờ giác ngộ giống nhau. 
 
Tuy nhiên, muốn vãng sinh Phật quốc trước tiên cần có tâm bình đẳng, hòa hợp với tâm của đạo, mới có thể tiến tới tâm từ bi, tâm thủ giới, tâm nhẫn nhục, tâm thiền định, tâm trí huệ.  Lúc đó kết hợp phương tiện thiện xảo sẽ giúp ta đến gần hơn với Phật đạo. 

Con người nói chung vì không thể có tâm bình đẳng nên cảm thấy đau khổ, trên quan hệ giữa con người với nhau ngày càng lắm mâu thuẫn, không thể cùng với bất kì ai sinh sống hòa thuận, nhân duyên không tốt, làm người thì không thể thành công. 
 
Nếu mỗi khi phát sinh sự việc bất hòa đều cẩn thận nghĩ tới cách xử lý, thì bản thân phản ứng này đã khiến sự việc mềm dịu đi. Nếu có thể để mỗi sự việc thuận theo tự nhiên, tùy thuận, thì mọi thứ sẽ đều hài hòa an ổn. 
 
Nếu có thể giữ tâm bình đẳng, tâm tùy thuận làm cơ sở làm người, bước từng bước tiến sâu vào trong Phật pháp, hiển hiện ánh sáng trí huệ. Với cảnh giới này, sẽ làm người thành công, thành Phật cũng dễ hơn nhiều.


### 42. Tình cảm tự nhiên cho Phật tuổi thanh xuân


Vào thời điểm mà tôi có nhiều xúc cảm liên miên, số phận dường như có sự sắp đặt rằng ngài cần trôi dạt đi muôn nơi.  Tôi muốn thưởng thức cuộc đời kẻo không còn kịp nữa, tôi cầu ngài ở lại, nhưng ngài đã đi xa cùng với tham vọng lớn lao rồi.
 
Cảm giác ấy giống như mất đi thứ gì đó.
Dường như cuộc sống không có cách nào hoàn thiện.
Đơn giản là giống như mất đi điều gì đó.
Ngài có hành trình cuộc sống của ngài.
Tôi có vị trí số mệnh đã định của mình.
Một khoảnh khắc gặp gỡ ngắn ngủi huy hoàng.
Mãi mãi lưu lại ở sâu thẳm trong tim.
Hai trái tim biết.
Đi qua những lời thề hứa nguyện cùng ngài dưới cây kia.
Dường như nghe thấy những tiếng gọi của ngài.
Gửi nỗi nhớ theo mưa gió.
Gửi lời chúc phúc vào trong mưa gió.
Chờ đợi hồi đáp của ngài.
Sống trong những ngày tháng chờ đợi.
Mặc kệ người ta nói, tình là duyên, tình là nghiệp, tình là không.
Tôi vẫn thích.
Tình cảm tự nhiên.
Tình thân đem lại hy vọng cho cuộc sống.


### 43. Ý nghĩa thực sự của lui về ẩn cư


Khi tôi nghe thấy Sư Tôn tuyên bố sẽ lui về ẩn cư, sống những ngày tháng an tịnh ở nơi xa xôi, trong lòng tôi bàng hoàng vô hạn, giống như mất đi điều gì đó. Tôi vô cùng buồn bã và khóc trong nỗi buồn đau đớn. 

Giống như đứa trẻ đang học đi trên đường cần có người dẫn dắt mới có thể đi được, tôi cần có người để dựa vào giúp đỡ mình đi. Bỗng trong phút chốc không ngờ giống như mất đi tất cả mọi thứ, không biết cách nào để đi tiếp, hoang mang không biết phải làm sao.
 
Tôi có cảm tưởng rằng mình chẳng còn chỗ dựa, rất cô đơn tội nghiệp, lẽ nào cứ như vậy mà ngày càng trầm luân? Lẽ nào tôi cứ dựa dẫm như vậy không thể đứng lên đi? Lẽ nào một hành giả Chân Phật lại không có dũng khí như vậy ư?
 
Nghĩ đến việc "lao đầu vào uống rượu để đánh thức trí huệ", hóa ra Sư Tôn đang cổ vũ hành giả Chân Phật phấn chấn lên mà lập chí, dũng cảm đứng dậy, tự mình học cách đi trên đường, đừng lúc nào cũng như đứa trẻ mãi không lớn luôn cần có người chăm sóc. 

Mọi thứ cần tự dựa vào mình, vững mạnh tín tâm, phát bồ đề tâm, dũng mãnh tinh tấn tiến lên phía trước, ánh sáng Chân Phật chắc chắn sẽ cùng với ta đồng hành.
 
Lui về ẩn cư lẽ nào không phải là một chuyện tốt. Sư Tôn đã vô cùng cần mẫn giáo dục đệ tử, lại thay đổi cách thức hoằng pháp. Dù ngài đã nói rõ ràng rằng sẽ không chủ trì bất kì pháp hội nào nữa, nhưng lại cổ vũ đệ tử cần trọng pháp, có thể thỉnh cầu truyền pháp cho cá nhân riêng lẻ, truyền dạy pháp một kèm một, tập hợp nhân tài hay truyền pháp cho một lớp học nhỏ. Việc này không chỉ là chủ động hơn trong đào tạo nhân tài mà còn nâng cao tài năng của hành giả Chân Phật.
 
Do vậy việc lui về ẩn cư biểu hiện bên ngoài thì dường như là đi ở ẩn, không quản lo bất kì việc gì nữa, nhưng thực tế không phải vậy. Sư Tôn tuyệt đối hy vọng các đệ tử sớm có ngày thành tựu, nôn nóng hy vọng các đệ tử cùng chuyển pháp luân.

Chúng ta đều biết thệ nguyện của Sư Tôn là "phân thân xả cốt độ chúng sinh", không từ bỏ một chúng sinh nào. Chúng ta cũng đều biết tấm lòng từ bi hỷ xả tứ vô lượng tâm của Sư Tôn, từ bi với chúng sinh, sẽ thỏa mãn nguyện vọng của chúng sinh.

Chúng ta hãy cùng cầu thỉnh "Ánh sáng Chân Phật phóng đại quang minh chiếu thế gian."


### 44. Liên tưởng đến "dấu lặng”


Khi Sư Tôn tuyên bố lui về ẩn cư, các đệ tử trên khắp thế giới đã lan truyền nhau tin tức này, trở thành chủ đề gây chú ý nhất và tạo ra các phỏng đoán của mọi người. Một bầu không khí nóng hừng hực đâu đâu cũng nói đến, hơn nữa còn có đủ kiểu tình huống phản ứng đối với những tin tức này.

Có người nghe tin này lập tức khóc lóc nói không nên lời, ca thán rằng bị bỏ rơi, không còn chỗ dựa.
Có một số người phản ứng là: Sư Tôn đã giải thoát rồi!
Còn có người nói: Sư Tôn đã quá vất vả rồi, cũng phải nghỉ ngơi thư giãn một chút!
Có một số người khác thì biểu hiện là: không biết không thấy, như như bất động.

Thậm chí có phân đường đặt câu hỏi: sau này chúng ta dựa vào cái gì để làm trụ cột tinh thần, v.v… rất nhiều vấn đề.
 
Vì lý do này mà điện thoại của trung tâm hồi đáp thư tín bận liên hồi, tôi giống như một cái máy trả lời vậy, có người hỏi thì phải trả lời, nhưng các câu hỏi giống nhau mãi cũng hơi khiến người ta thấy phiền nhiễu.

Thực ra đáp án của vấn đề này trong những văn tập Sư Tôn sáng tác từ lâu trước đây, thỉnh thoảng có thể thấy được rồi. Nói đơn giản, Sư Tôn chính là vì "không thích danh, không thích lợi, không thích địa vị cao". 

Ngài chính là vì tự do không ràng buộc như thế mà bước xuống bảo tọa. Đây chính là một vị Phật sống tự tại đại viên mãn đã chứng đắc tính Không, không còn vương vấn dù chỉ một sợi chỉ, thì mới có thể làm được việc này.
 
Hiện tại Sư Tôn vẫn viết sách, trả lời thư, ban quán đảnh gia trì, vẫn còn khai thị duy nhất tại Chân Phật Mật Uyển cũng như chọn lọc nhân tài để truyền nội pháp. Các đệ tử nên hết sức trân trọng thời kì "bán ẩn cư" này, nỗ lực tinh tấn, đều đặn tu tốt nền tảng của sơ quán "ngoại pháp", rồi cầu thỉnh Căn bản Thượng sư truyền thụ nhị quán "nội pháp", đừng chần chừ trễ nải tiến lên phía trước, lười biếng không chăm chỉ, để tháng năm trôi qua uống phí mất.
 
Nếu Sư Tôn tuyên bố hoàn toàn ẩn cư, không gặp bất kì người nào nữa, nếu đúng thật như Sư Tôn đã nói: "Tương lai lúc lui về ở ẩn sẽ đi vào núi rừng rồi biến mất, thậm chí biến mất khỏi thế giới Ta Bà, biến mất mãi mãi, tôi không thấy mọi người nữa, mọi người không thấy tôi nữa." Lúc đó, tôi nghĩ, các đệ tử hối tiếc thì đã muộn rồi.
 
Nhân đây tôi cũng chủ động cùng mọi người động viên lẫn nhau: "Trong quang minh của mưa pháp do Sư Tôn ban ra khắp nơi, hãy nắm giữ lấy những lợi ích của mưa pháp, đừng để lỡ mất cơ duyên được sống cùng thời thế với Phật, hãy bộc lộ Phật tính căn bản tự nhiên vốn luôn tràn đầy trong ta, truyền ngọn đèn pháp của Chân Phật từ đời này qua đời khác."
 
Sư Tôn nói:
"Làm nên một giai điệu âm nhạc tuyệt vời, đoạn đẹp đẽ nhất khiến người ta cảm động, đó chính là "dấu lặng", âm thanh ngọt ngào còn đang vang bên tai, đột ngột dừng lại, sự im lặng đột ngột đó là đẹp nhất."

Tôi nghĩ, việc lui về ở ẩn đột ngột này cũng đẹp như một dấu lặng, chẳng phải thế sao?


### 45. Quan điểm về tiền của hành giả


Theo cách nói thông thường: "Tiền tài là vật chất thế gian, khi đến không có gì, khi đi cũng không có gì, sinh ra cũng chẳng đem tiền đến, chết cũng chẳng đem tiền đi, không thể sở hữu mãi mãi, ngay đến thân mình cũng không giữ được, nói gì đến tài lợi!"
 
Dòng chảy của đồng tiền giống như gió luôn thổi không cố định, có lúc thổi đông, có lúc thổi tây, lo được lo mất. Lợi ích đã nhìn thấy tận mắt, thậm chí đã mang theo người rồi, trong nháy mắt lại chảy mất đi nơi nào, đến với người khác, thật khiến người ta khó nắm bắt được.
 
Mọi người thử nghĩ xem, có người dùng toàn bộ sức lực của bản thân để đi kiếm tiền, nhưng vẫn không đạt được phần thưởng xứng đáng, cả đời vẫn khốn cùng. Có người lại vô cùng dễ dàng, vừa đơn giản lại chẳng tốn sức mà tiền tài cứ thế mà đổ về, trở thành đại gia. Trong thế giới tâm linh mà ta không nhìn thấy được, lẽ nào từ lâu đã có "định số"?
 
Trên thực tế, tiền tài đủ dùng thì là tốt, nhiều quá có khi lại đem đến phiền phức, dễ tạo nghiệp chướng, dùng tiền một cách đúng đắn có thể lợi người, còn dùng không đúng thì hại người hại ta.
 
Đạo lý ai ai cũng hiểu, nhưng nói thì dễ làm thì khó, không ngăn nổi tham niệm, mắt thấy tiền thì sáng lên, coi tiền là tình yêu lớn nhất, thậm chí giành chiếm lấy phần lớn, lừa đảo ăn cướp, đầu cơ đánh bạc, muốn dùng hết tất cả mọi cách có thể, lòng tham vô đáy, cả ngày khổ vì theo đuổi tiền tài lợi lộc.
 
Trên thế gian này, vì tiền tài mà các tình huống công khai tranh giành hoặc dùng thủ đoạn ngầm rất nhiều. Anh em một nhà vì tranh giành tài sản mà sát thương lẫn nhau, vì tiền mà chết. Bạn bè chơi với nhau nhiều năm cũng vì lợi ích mà phá hủy mối quan hệ tốt đẹp, đoạn tuyệt qua lại. Có rất nhiều người vì hợp tác làm ăn nhưng không được chia lợi nhuận bằng nhau bèn tố cáo lên cấp trên, lao tâm tốn kém, thật khiến người khác phải thở dài!
 
Người tu hành chân chính đừng gom góp tài sản, cần hài lòng với những gì mình có, cần bố thí cúng dường, làm lợi cho mình cũng cần làm lợi cho người khác, tất cả đều nên tự nhiên. Cần thường xuyên suy nghĩ rằng thân thể của ta cũng không thể giữ được mãi mãi, nói gì đến tài lộc của thế gian.

Niềm vui sướng nhất của đời người quán chiếu yên tịnh, là sự bình hòa tâm linh, là đến được bờ bên kia của cảnh giới khai ngộ.
Vì sao hành giả không vui vẻ mà buông bỏ, hài lòng với những gì mình có.


### 46. Thưởng thức tranh


Trong quá khứ, đối với tranh vẽ có thể nói là trong tâm trí tôi chẳng đọng lại chút ấn tượng gì. Khi Liên Hoa Thục Linh tặng tôi một cuốn sách tranh của các danh họa nổi tiếng, tôi cẩn thận lật từng trang từ đầu đến cuối, xem xong thì cảm giác là: chẳng cảm nhận thấy gì, chẳng bằng đi mua một ổ bánh mì Pháp về cắn một miếng còn cảm thấy thích hơn - rất rõ ràng.
 
Trong cuốn sách tranh tôi thấy phía trên mỗi bức tranh đều có một đường viền run run, đậm nhạt khác nhau, đoạn nối tiếp đoạn không liền mạch, thậm chí các nét vẽ cũng lẫn vào với nhau, rất giống tranh vẽ của trẻ mẫu giáo lần đầu tiên cầm bút, giống như vẽ lung tung loạn xạ.
 
Dù sao chúng cũng vượt xa cả những bức tranh vẩy mực ý cảnh cao thâm trừu tượng, xem giống như là bất cẩn làm đổ mực vẽ ra rồi vẩy lên giấy vậy, rất nhiều màu sắc làm thành một đám, sao có thể gọi là một bức tranh nhỉ? Thật khó để bảo người ta đấy là sách tranh của danh họa nổi tiếng, lại còn có phần làm tôi hoa mắt chóng mặt nữa, tranh và ý nghĩa tên gọi của tranh về cơ bản là chẳng hợp với nhau. 

Ví dụ: tác phẩm tên gọi "Ngựa phi nước đại", cơ bản là nhìn không ra đồng cỏ và bầu trời. Xem phần giải thích thì mới nhận ra dường như là vẽ đồng cỏ, nhưng ngựa thì ở cao tuốt trên không thì không chạy. Không vẽ bầu trời mới có thể thể hiện sự vô hạn của bầu trời rộng lớn.
 
Từ sau khi Sư Tôn bắt đầu học vẽ tranh, Sư Tôn rất thích đến lớp học vẽ, thường tham khảo các tuyển tập tranh, thưởng thức những tác phẩm của người đi trước, hoặc đi ra ngoài vẽ tranh phong cảnh, tràn đầy cảm hứng. Ngài hễ có thời gian rảnh là cầm bút vẽ, mỗi ngày đều vẽ, chìm đắm trong cảnh giới mỹ thuật.

Thời gian này, Sư Tôn ngoài viết sách ra thì vẽ tranh đã trở thành một thú vui của cuộc sống, ngay cả thời gian trống năm phút cũng không nỡ bỏ phí, Sư Tôn dùng cả năm phút này chui vào phòng vẽ, an nhiên tự tại vẽ tranh. Có khi, vẽ một loáng đã hết nửa ngày.
 
Có một lần, lúc Sư Tôn đang hoàn toàn chìm đắm vào việc vẽ tranh, tôi mở cửa đi vào phòng vẽ. 

Tôi nói: "Sư Tôn, có người gọi điện đến có việc quan trọng, muốn nói chuyện với ngài."
Sư Tôn nói: "Bà xem này, La Hán tôi vẽ, như như bất động."
Tôi nói: "Đừng vẽ đến mức tẩu hỏa nhập ma nữa!"

Sư Tôn nói: "Không tẩu hỏa nhập ma làm sao có công lực, thực sự tẩu hỏa nhập ma, ma cũng thành Phật."

Sư Tôn lại nói: "Tôi sẽ đem ý Phật, ý thiền, phối hợp với phương pháp đơn giản nhất để thể hiện trên tranh vẽ, đây là tranh vẽ rất có ý cảnh. Đối với chủ đề vẽ tranh, pháp ngữ là móc vàng, vi diệu tinh tế, từng dòng thơ kệ cũng được xem là sáng tạo."
 
Cuối cùng tôi cũng hiểu được thế nào là thưởng thức tranh, hóa ra vẽ tranh cũng là tu hành, cũng là độ chúng sinh, thông qua tranh vẽ mà đem thân, khẩu, ý dung nhập vào trong định, thể hiện ra ánh sáng rực rỡ đẹp đẽ nhất, phổ chiếu chúng sinh.


### 47. Phật pháp làm đẹp thân tâm


Nói đến quan niệm "đẹp và xấu" của con người làm tôi nhớ đến việc đã từng gặp rất nhiều người. Họ thích được đẹp nên đã đi phẫu thuật thẩm mỹ khuôn mặt cùng ngũ quan, hoặc đi chỉnh hình lại cơ thể. Họ chỉ nghĩ rằng việc đó làm cho chính mình đẹp hơn, có thể có tướng giàu có hơn, để một lần nữa được đổi vận số tốt hơn.
 
Trên nhân quả mà nói, ngũ quan của con người, hình thức của thân thể và tính cách cá nhân đều đến từ nhân quả kiếp trước cộng thêm thêm bớt bớt mà thành. Do vậy ngũ quan được thừa hưởng từ tiền kiếp là không thể thay đổi được.
 
Vô số chúng sinh, mỗi người đều có nhân quả vô số kiếp không giống nhau, do vậy vẻ bề ngoài của vô số người hoàn toàn không giống nhau, ngay cả các cặp sinh đôi cũng có những điểm không giống nhau.
 
Vẻ bên ngoài của con người là dấu hiệu của nhân quả, người nghiên cứu các dấu hiệu này sẽ hiểu cách xem tướng mặt, từ đó bước thêm một bước là quan sát khí biểu hiện ra trên thân thể và tướng mặt mà có thể lập tức tính toán ra được sự tốt xấu của vận mệnh, việc này dễ trong tầm tay, rất chính xác. Do vậy số phận cả đời của con người hoặc làm bất kì sự nghiệp gì, có thể từ trên cơ thể và tướng mặt mà thấy được.
 
Họ dùng hết các phương tiện dựa vào trí lực và nỗ lực. Sự nỗ lực tuy có thể cải tạo được vận mệnh, nhưng vẫn không thể làm thay đổi được quỹ đạo của số mệnh. Tới lúc này thì họ tìm đến các viện thẩm mỹ chỉnh hình, nâng mũi, kéo cằm, cắt mi thành mắt hai mí, xăm mày, xăm mí mắt, thậm chí sửa lại cả cơ thể, đem chính mình ra chỉnh hình thành người đẹp, người có tướng giàu có. Thực tế việc này xảy ra rất nhiều.
 
Đương nhiên họ đã thành người đẹp rồi, có tướng mạo giàu có, nhưng đây chỉ là sự cải tạo bên ngoài. Cái "khí" cơ bản nội tại vẫn còn tồn tại, không hề thay đổi, vẫn đi trên con đường số phận của "khí" gốc này.

Hơn nữa, bát tự của con người từ lâu đã là định số, cũng là một trong những dấu hiệu của nhân quả, ngay cả đến những bác sĩ thẩm mĩ giỏi nhất cũng không thay đổi được bát tự và định luật nhân quả.
 
Duy nhất chỉ có sự chân thành mới có thể làm cho bạn xinh đẹp. Hơn nữa chỉ một điều có thể thay đổi vận mệnh, đó chính là: học Phật tu hành. 

Học Phật tu hành là chuyển đổi từ trong nội tâm, thông qua Phật pháp mà quán tưởng tu trì. Làm đẹp cho thế giới tâm linh, chính bản thân sẽ phát hiện ra vẻ đẹp của thế giới nội tại, sẽ tỏa ra hào quang, sẽ kết thiện duyên rộng khắp, hào quang tỏa chiếu, trở thành người đẹp chân chính, trở thành người giàu có.


### 48. Thượng sư là lửa


Căn bản Thượng sư trong Mật giáo là trân quý nhất, là hóa thân của Ngũ Phật, cũng là Kim Cương Tổng Trì. Ngài có thể đại diện cho mọi chư Tôn, thiên biến vạn hóa, giúp các đệ tử quán tưởng biến hóa quán đảnh, có được gia trì của dòng truyền thừa vô thượng. Do vậy tầm quan trọng của Căn bản Thượng sư chính là cái gốc đầu tiên cho sự thành tựu của hành giả tu hành.
 
Bất kì ai cũng đều muốn được học pháp với chính Căn bản Thượng sư. Không chỉ học lý thuyết pháp và các vấn đề của Pháp mà còn muốn học theo những lời nói hành động trong cuộc sống hành ngày của thầy, hòa nhập với cách thức giải quyết công việc của thầy, lại càng muốn học đến nội pháp một cách chính xác, rồi thâm nhập đạt đến được tâm quán đảnh của vô thượng đại pháp.
 
Trong tiểu sử của các vị tổ sư đời trước, những kí giả thời đó ghi chép lại thời kì các vị tổ sư đi cầu pháp, từ bỏ tất cả mọi tài sản, đối diện với nguy hiểm đến tính mệnh mà đi cả nghìn dặm tìm kiếm minh sư, đem tất cả thân, khẩu, ý mà bản thân mình có cúng dường lên Căn bản Thượng sư với mong muốn được ở gần thầy học pháp.
 
Được ở bên thầy học pháp là điều mọi người đều thích, nhưng trong Mật giáo có câu nói:
Căn bản Thượng sư là lửa.
Ở gần quá sẽ bị bỏng.
Ở xa quá thì không có được nhiệt năng gia trì.

Theo ý nghĩa của câu nói này, hành giả cần biết làm thế nào để ở gần "lửa", làm thế nào để hiểu được nguồn lửa, tia lửa, tuyến lửa, lửa đốt, ngọn lửa, đợi đến khi bạn hiểu đặc tính của lửa rồi thì mới không bị bỏng.
 
Cách tốt nhất là: luyện cho bản thân biến thành vàng, vàng thật không sợ lửa, càng luyện càng hiển lộ sáng lấp lánh.

Người chân tâm tu hành không sợ bất kì bài thử nghiệm nào, phải trải qua rất nhiều thử nghiệm mới có thể tu được tâm kim cương bất động, có được tâm kim cương bất động rồi mới có thể dung nhập với lửa, lửa-ta hợp nhất, thành tựu bổn tôn.


### 49. Thánh giả và phàm ngu


Năm mới đến, mọi người tặng quà lẫn nhau. Nhân tiện đón năm mới, tôi nhận được rất nhiều loại lịch đẹp đẽ. Tôi lấy lịch tháng có tranh Phật mình thích nhất treo lên từng bức tường trong nhà, khiến tôi cảm thấy nơi đâu cũng có Phật, làm tăng thêm không khí trang nghiêm.

Có một quyển lịch tương đối đặc biệt, mỗi trang đều in một câu danh ngôn sâu sắc, trong đó có một câu là: "Không có bạn bè, cũng không có kẻ địch, là phàm ngu. Anh ta không có tài năng, quyền lực."
 
Tôi đọc đi đọc lại, ngẫm nghĩ một lúc thì nhận thấy rằng câu nói này về mặt biểu hiện bên ngoài mà nói có ý nghĩa rất nghiêm túc. Nếu là một người không thích xã giao, thích lặng lẽ hướng nội, bất kể ở vào hoàn cảnh nào đều luôn luôn một mình đơn lẻ, không hợp với đám đông. Như vậy thì người khác cũng sẽ nhận thấy anh ta lập dị và không thích giao lưu với anh ta, thế là không có bạn bè.

Tuy nhiên, không có bạn bè, hiếm khi liên lạc với người khác, khó giao tiếp, không khác gì tự mình tạo giới tuyến ngăn cách, không có va chạm, đương nhiên cũng không có kẻ thù.
Người không có bạn bè, cũng không có kẻ thù, lại không thể hiện được tài năng thì không có quyền lực là điều đương nhiên.Không có tài năng và quyền lực, chắc chắn sẽ bị người khác xem thường là kẻ phàm ngu.
 
Trong lúc suy ngẫm, tôi nghĩ đến: người sáng lập tông phái, Sư Tôn với hai trăm vạn đệ tử cung kính, mà cũng không có bạn bè, không có kẻ thù, nhưng ngài lại là Thánh nhân, là người khai ngộ, có tài năng của "siêu nhân" và quyền lực đại uy đức. 
 
Bởi tất cả mọi người đều ngưỡng mộ Sư Tôn như người có địa vị cao quý, người thân, bạn bè, đồng học, chí thân, thậm chí bạn bè thân thiết nhất. Đến cuối cùng thì bất kì ai kết duyên cũng đều ngưỡng mộ mà quy y thành đệ tử. 

Lễ nghi giữa Sư Tôn và đệ tử: Sư Tôn chính là Sư Tôn, các đệ tử đối với Sư Tôn thì thái độ lời nói hành động đều phải cung kính lễ phép, vì thế trong tình huống này, Sư Tôn không có bạn bè gì.
Một vị Phật sống đã chứng ngộ tính Không chân chính, dung nhập vào vũ trụ, tức thân thành Phật, với trí huệ tu hành đến trang nghiêm viên mãn, nhất thiết vô ngại, tự tại, thần thông, nhậm vận, từ bi bình đẳng không phân biệt. Sư Tôn của chúng ta đương nhiên không có kẻ thù.
 
Sư Tôn người được mọi người kính ái, ủng hộ, ngưỡng mộ, quý trọng và chí tâm đảnh lễ, có tài năng của siêu nhân, hơn nữa lại có quyền lực rộng lớn phủ khắp chúng sinh, người thành tựu như vậy sẽ có quyền lực một cách tự nhiên.
 
Kẻ phàm ngu không có bạn bè, không có kẻ địch hoàn toàn khác với Thánh Tôn không có bạn bè, không có kẻ địch. 
Một người không có tài năng lẫn quyền lực, một người có tài năng và quyền lực. Sự khác biệt này nằm ở chỗ, một người là phàm ngu, một người là Thánh giả.


### 50. Đối thoại giữa tâm và tâm


Tôi còn nhớ vào tháng 8 năm Dân Quốc 93 (năm 2004), lúc Sư Tôn đến Hà Lan hoằng pháp, trong buổi gặp gỡ kí giả, kí giả hỏi: "Hoạt Phật có siêu năng lực thần thông quảng đại, có thể biết quá khứ tương lai, đi khắp mười phương, đến Tì Lư Tính Hải, biết tất cả những gì con người không biết. Xin hỏi: ngài có biết tên của từng con đường tại thủ đô của Hà Lan không?"

Sư Tôn trả lời: "Tôi không biết. Nhưng nếu tôi thiền định, dùng thiên nhãn để quan sát, biết được rằng muốn nhận ra các tên đường của Hà Lan thì trước tiên cần biết các con sông của Hà Lan."
 
Lại có người hỏi: "Ngôn ngữ của Phật Bồ Tát tuyệt vời như vậy, ngài đều có thể hiểu được thông suốt, rõ ràng rành mạch ý nghĩa của các vị, sao ngài không thể dùng tiếng Anh để thuyết pháp, độ hóa người phương Tây?"

Sư Tôn trả lời: "Ngôn ngữ của Phật dùng tâm, dựa vào tâm pháp để thông hiểu, tự khắc có thể hiểu rõ. Giả sử tôi sinh ra ở nước Mỹ, tôi chắc chắn sẽ dùng tiếng Anh để thuyết pháp."
 
Các câu hỏi kiểu dạng thế này vẫn thường có người hỏi. Kì thực sự liên quan của những câu hỏi kiểu này với tâm tu hành không có nhiều. Tu hành là nói chuyện tâm linh, dùng tâm hướng về Phật, không để cho bất kì sự vật bên ngoài quấy nhiễu, luôn luôn duy trì trạng thái thiền định, nhập vào Không, hòa nhập vào tính Không mà có được đại lạc.
 
Đối với việc biết tên đường phố: tài xế taxi là biết rõ nhất.
Đối với việc dùng tiếng Anh để thuyết pháp: người được học tiếng Anh thì sẽ biết.
 
Gần đây Sư Tôn giải thích về Kinh Viên Giác, nói đến trong kinh văn có câu nói: "Phật Đà thuyết pháp cho Đại Bồ Tát Ma Ha Tát 10 vạn vị" để mọi người cùng suy nghĩ. Vào 2500 năm trước, không có micro, không có hiệu ứng của dàn âm thanh hiện đại, Phật Đà làm sao để giảng cho mười vạn người có thể nghe được đây?

Cũng cần biết rằng thời đó Phật Đà cũng không phải dùng tiếng Ấn Độ để thuyết pháp. Ngài nhập vào trong thiền định để thuyết pháp, dùng pháp âm thậm thâm vi diệu để giải thích cho thập phương pháp giới, giúp chúng sinh nghe được pháp âm của Phật Đà.
 
Có rất nhiều đệ tử trong mơ nhận được gia trì, quán đảnh của Liên Hoa Đồng Tử, thậm chí học pháp trong mơ, (việc này được kể trong các văn tập trước đây của Sư Tôn). Những điều này hoàn toàn minh chứng cho việc Sư Tôn có thể đi vào trong mơ của đệ tử để truyền dạy Phật pháp.
 
Lại có rất nhiều đệ tử từ các dân tộc khác nhau cũng có thể trong mơ dùng ngôn ngữ của bản thân cùng Sư Tôn giao tiếp. Điều này càng chứng minh chắc chắn như thép rằng Sư Tôn trong thiền định có thể giao tiếp bằng ngôn ngữ của tất cả các quốc gia. Sư Tôn cũng thường đến thiên giới, dùng thiên âm thuyết pháp, đến Quang Âm Thiên dùng ánh sáng thuyết pháp.

Sư Tôn xem bói hỏi chuyện cho người ta, giải thích mọi nghi ngờ khó khăn của họ, cũng là nhờ có thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, thần túc thông, lậu tận thông cùng với chư Phật Bồ Tát Kim Cương hộ pháp thần chúng linh thông. 

Cảnh giới vi diệu này không lời nào có thể nói hết, thật sự là khó tưởng tượng bất khả tư nghì.
Do vậy âm thanh khai thị của cảnh giới cao nhất là "vô thanh", là diệu âm của thiền định.
 
Tháng 3 năm 83
(Tháng 3/1994)


### 51. Các dạng truyền thừa


Tổ sư Đạt Ma của Thiền tông ngồi quay mặt vào tường thiền định 9 năm, giác ngộ, học được an tâm lập mệnh. Hơn nữa nhờ có pháp tâm khai ngộ này mà ngài đã dạy dỗ chúng sinh tọa thiền minh tưởng, soi xét quan sát tâm mình, bồi dưỡng tâm bình an trong sáng yên tịnh, giúp cho bản thân họ đạt được tâm an.
 
Thiền tông bất lập văn tự, thông qua luyện tập ngồi thiền mà mọi người đều có thể học được cách tu hành. Người bình thường liệu có thể ngồi quay mặt vào tường thiền định 9 năm được không? Việc này thực sự đòi hỏi lòng kiên nhẫn và nghị lực cực kì lớn, và cũng chỉ giới hạn ở những người có căn khí rất lớn mới có thể làm được.
 
Đạt Ma tổ sư dựa vào vô ngã, vô tâm để truyền dạy tọa thiền tinh yếu cho Huệ Khả, thế hệ nối tiếp thế hệ truyền xuống đến Ngũ tổ Hoằng Nhẫn, rồi lại truyền cho Lục tổ Huệ Năng. Mỗi thế hệ tổ sư tới thế hệ tổ sư kế tiếp đều truyền lại y bát, đại diện cho việc truyền thụ pháp tâm cũng như tín vật mà vị thầy luôn mang theo.
 
Khi Lục tổ Huệ Năng có được y bát, nghe theo hướng dẫn của Ngũ tổ Hoằng Nhẫn, lập tức ôm y bát chạy trốn, đi đến nơi khác để hoằng dương đạo lý của Phật giáo. Rất nhiều người nghe được tin tức này đã đuổi theo tìm giết để cướp y bát, muốn giành lấy địa vị của Lục tổ! Đoạn điển cố này vô cùng nổi tiếng, người theo học Phật không ai là không biết.
 
Thiền tông lấy y bát làm tín vật truyền thừa so với truyền thừa của Mật tông thì hoàn toàn khác nhau. Ví dụ: Đời Dalai Lama thứ nhất truyền đến Dalai Lama đời thứ 14. Cả 14 vị Dalai này, mặc dù không phải là cùng một người, nhưng đều là từ vị Dalai đời thứ nhất chuyển thế mà thành. Nói cách khác là vị Dalai đời thứ 14 cũng chính là vị Dalai đời thứ nhất. Do vậy mỗi thế hệ truyền nhân đều được gọi là Dalai.
 
Có người hỏi: Nếu như có được y bát của Sư Tôn, thậm chí là mũ miện, có phải là tương lai sẽ trở thành truyền nhân đời thứ hai không? Thực tế, Chân Phật Tông là tông phái lấy "tu Mật" làm chủ, cách thức truyền thừa của Chân Phật Tông chính là truyền thừa của Mật tông. 200 vạn đệ tử hiện tay đều là truyền nhân đời thứ hai của Chân Phật Tông.
 
Lại hỏi: Tương lai khi Sư Tôn hóa thân thành cầu vồng nhập niết bàn thì ai sẽ làm chủ? Mọi người đừng quên lời thệ nguyện của Sư Tôn: "Phân thân xả cốt độ chúng sinh". Đương nhiên ngài sẽ tiếp tục thực hiện lời nguyện này mà lại đản sinh tại cõi Ta Bà độ chúng sinh, trở thành chủ tông đời thứ hai của Chân Phật Tông.

Truyền thừa kiểu Mật tông chuyển thế như thế này vô cùng vi diệu, cho dù truyền qua bao nhiêu đời thì vẫn chính là từ vị đời thứ nhất. Dòng truyền thừa gốc này mới chính là cái gốc trong cái gốc. 
 
Ở đây rõ ràng là Căn bản Thượng sư của hành giả Mật tông không chỉ là người thầy của kiếp này, mà là Căn bản Thượng sư đời đời kiếp kiếp, thật quan trọng làm sao!


### 52. Tiến hành cùng tu phúc huệ


Nửa năm trước, Bạch Thiện Trí sư tỉ đặc biệt từ Vancouver, Canada đến Seattle nhờ Sư Tôn chỉ giáo đặt tên cho hội công đức. 
 
Sư Tôn tùy duyên bèn nói: "Vậy thì lấy tên là Hội công đức Hoa Quang. Bởi vì bà làm tổng hội trưởng, kêu gọi đồng môn Chân Phật Tông và thiện tín đại đức cùng làm việc thiện, đi giúp đỡ những người cần sự trợ giúp, làm tròn lời dạy của Phật Đà: "Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành" (Mọi việc ác không làm, mọi việc thiện cần làm), cho đến khi thành tựu Phật quả, chứng ngộ Phật đạo."
 
Bạch sư tỉ vui vẻ cao hứng nói: "Hoa Quang Tự Tại Phật" ban cho tên "Hội công công đức Hoa Quang " vô cùng có ý nghĩa. Con nguyện theo lời dạy của Sư Tôn, tứ vô lượng tâm, từ, bi, hỷ, xả, làm các việc bố thí, làm việc thiện thiết thực rộng khắp, góp phần vào tinh thần của Bồ Tát "vô duyên đại từ, đồng thể đại bi", thể hiện ánh sáng hoa quang huy hoàng phổ chiếu khắp con người thế gian!
 
Trong khi làm việc bố thí, có thể dùng phương pháp bố thí để thu nạp người khác, dẫn dắt người khác hướng về đạo Phật. Khi nhìn thấy người khác có được sự giúp đỡ bố thí, hướng về đạo Phật quang minh, tâm mình cảm thấy hoan hỷ, đây chính là bố thí ba la mật. Công đức của việc này rất lớn.
 
Tu hành lại có hai mục lớn là  "pháp nhập thế" và "pháp xuất thế". Pháp nhập thế là gì? Chính là phương pháp đi vào thế gian để giải trừ những thống khổ phiền não của chúng sinh. Thế còn pháp xuất thế? Chính là cắt đứt những mê lầm để tu hành chân chính. Nhưng trước tiên hành giả phải có phương pháp giải trừ thống khổ phiền não của chúng sinh (pháp nhập thế) để làm cơ sở cho pháp xuất thế, việc này rất quan trọng. 

Từ trong pháp nhập thế mà ngộ ra, quay về quán sát tự nhiên mà có được tâm thanh tịnh, thâm nhập sâu vào trong trí huệ thiền định, thì sẽ dễ hơn rất nhiều.
 
Để phổ cập rộng rãi tăng thêm lợi ích của chúng sinh, hội công đức Hoa Quang đã lên kế hoạch bốn hạng mục lớn là: văn hóa, y học trị liệu, giáo dục, từ tế. Bốn hạng mục này đều rất quan trọng, cũng rất có ý nghĩa. Trong cuộc đời là bể khổ này, vô số chúng sinh đang chờ đợi chúng ta đến cứu độ, chúng ta cần phải tích cực thúc đẩy. Sự nghiệp to lớn vất vả này cần thu thập nhiều ý kiến đóng góp để tăng thêm ích lợi, cùng lên kế hoạch,  cùng hợp lực mới có thể phát huy được tốt đẹp.
 
Vì vậy hy vọng rằng các hành giả Chân Phật Tông và thiện tín đại đức, mọi người cùng tu hành, lấy Bồ Tát hạnh "tôi giúp người người, người người giúp tôi" để tu phúc và tu huệ, để có được phúc huệ song toàn, viên mãn vô khuyết, có được đại lạc cùng trí huệ.
 
Tháng 4 năm 83
(Tháng 4/1994)


### 53. Trâu buổi sớm


Số đã định.
Làm tuổi trâu.
Sinh giờ Dần.
Số đã định.
Trâu buổi sớm.
Làm đêm làm ngày, không ngừng lao lực.
Số đã định.
Đeo ách lên người.
Không có lựa chọn.
Chịu đựng gió sương.
Không muốn bị người quất roi.
Dẫm một chân vào mộ phần.
Sẽ có một ngày.
Đất nước lửa gió phân tán.
Khi chỉ còn lại một khắc thời gian.
Tôi vẫn dùng sức lực lớn nhất nỗ lực cày ruộng.
Cuối cùng.
Cũng nguyện lấy thân xác đẫm máu tưới đẫm ruộng vườn.
Là tôi.
Theo vận mệnh mà nói.
Mang thân trâu.
Tôi thích!


### 54. Bí mật của thân, khẩu, ý tương ứng


Cái gì gọi là thân thanh tịnh? 
Có thể phân ra làm "nội" và "ngoại" để nói: Làm tất cả mọi điều thiện được phân loại là ngoại. Còn dấu hiệu thân bí mật của sự tương ứng với tam thân: pháp thân, báo thân, ứng thân được phân loại là nội. Nội ngoại thanh tịnh thì là thân hoàn toàn thanh tịnh. Nói một cách đơn giản là: thiền định, bắt thủ ấn, khiến thân trang nghiêm, ấn chứng bí mật của thân.
 
Cái gì là ý thanh tịnh? Quán tưởng nhiều hóa thành một, lại lấy một hóa thành không, hóa thành hư vô, đi vào hư không vô nhị vô biệt, dung nhập hư không, nhập vào định, chính là ý thanh tịnh.
 
Hành giả tu niệm Phật, đọc kinh, trì chú, đại lễ bái, tứ gia hành… các loại nghi quỹ pháp sự với mục đích làm cơ sở nhập Tam Ma Địa. Thông qua việc tu luyện nghi quỹ như vậy, đi vào cảnh giới định, hành giả có thể đạt được mục đích cuối cùng là thân, khẩu, ý thanh tịnh.
Có một số người đối với ý nghĩa của thân, khẩu, ý vẫn chỉ hiểu biết nửa vời, đã liền phát nguyện rằng: tôi lấy thân, khẩu, ý cúng dường.

Lại có một số người nói: muốn hợp nhất thân, khẩu, ý cùng Căn bản Thượng sư, nói thì dễ hơn làm, cơ bản là không thể được. 

Thân thể dung mạo của Căn bản Thượng sư chúng ta có tu thế nào cũng không thể biến thành giống như Thượng sư được. Mỗi câu nói mà Căn bản Thượng sư nói ra bảo chúng ta đọc theo, cũng không thể nào đọc ra mà không sai sót một chữ, làm sao có thể hợp nhất đây? Chưa nói đến ý niệm hợp nhất lại càng khó! Căn bản Thượng sư nghĩ gì nghĩ ra sao, so với con người thế tục chúng ta căn bản là nhất thanh nhất trọc, khoảng cách rất xa!
 
Kì thực, hợp nhất thân, khẩu, ý với Căn bản Thượng sư không phải là hợp nhất với thân hữu hình, mà là hợp nhất với sự thành tựu của Căn bản Thượng sư, hợp nhất với pháp thân, báo thân, ứng thân của căn bản truyền thừa thành tựu. Như vậy mới chính là hợp nhất với Căn bản Thượng sư một cách đích thực.
 
Dung nhập với thân thanh tịnh viên mãn của vũ trụ - thân thanh tịnh.
Dung nhập với thanh âm thanh tịnh viên mãn của vũ trụ - khẩu thanh tịnh.
Dung nhập với ý thức thanh tịnh viên mãn của vũ trụ - ý thanh tịnh.


### 55. Đi như gió


Đây là một cơ duyên do nhân duyên hòa hợp mà thành. Có 33 đệ tử theo Sư Tôn đến Nhật Bản để khai quang an tọa Trụ Cát Lôi Tạng Tự, đồng thời cũng đến các đồng tu hội ở tỉnh khác như Kobe, Miyazaki, Yokohama để khai quang, sau khi làm xong pháp vụ thì nhân tiện bắt đầu hành trình du lịch tham quan.
 
Chúng tôi đến tỉnh Kagawa đi leo núi Kotohiraguu. Núi này không giống như núi bình thường, núi cao thăm thẳm, có tới 785 bậc đá, muốn lên đến đỉnh núi rất không dễ dàng, cần phải dựa vào cả thể lực và nghị lực.

Chúng tôi một nhóm đệ tử hoạt bát cũng hào hứng tụ tập dưới chân núi, nhìn lên đỉnh cao chạm tới mây mà kinh ngạc không thốt nên lời. Bỗng nhiên nghe thấy Sư Tôn nói: "Đi thôi, đi thôi, cùng đi lên núi nào." Tôi đang trầm tư, câu nói này không chỉ khiến tôi cảm thấy ngạc nhiên, mà câu nói này giống như có một sức mạnh gia trì lớn. Được thôi! Tiến thẳng phía trước đi! Dù núi có cao không thể vững chắc như tâm chúng tôi được.
 
Trong âm thanh vui vẻ vừa đi vừa nói chuyện, Sư Tôn nhắc đến việc người tu hành cần phải trang nghiêm: "Đi như gió, đứng như tùng, ngồi như chuông, nằm như cung." Trong lúc còn đang suy nghĩ về ý nghĩa của những điều này, chúng tôi không ý thức là đã đi được nửa quãng đường lên núi. 

Quay đầu nhìn lại thì thấy toàn bộ các bậc đá đều đầy kín dòng người dồn lên núi như sóng biển, hướng đến mục tiêu ở tít trên cao mà tiến lên. Chúng tôi đứng ở đó có chút thở phào, lại quay đầu nhìn thì thấy Sư Tôn gần như chẳng hề dừng lại mà cứ thế nhanh chóng nhẹ nhàng từng bước đi lên đỉnh núi. Lúc này cả nhóm đã bị tách ra, có rất nhiều người đã không theo kịp nữa. Tôi nghĩ đến trước đây, Sư Tôn ở trường trắc lượng đã là kiện tướng leo núi, bây giờ phong thái vẫn tốt như hồi đó, vẫn là anh hùng leo núi.
 
Thời gian trôi qua rất nhanh, bước chân của chúng tôi cũng đi nhanh hơn, vừa đi vừa trì chú, cuối cùng nhờ có tâm kiên định, ý chí mạnh mẽ, chúng tôi đã leo đến đỉnh núi cao nhất, Sư Tôn đã ở đó chờ mọi người rồi. 

Chúng tôi tại đó vỗ tay hoan hô, ở đó nhảy lên, nhờ núi cao để nhìn ra khoảng không phía xa, chụp ảnh lưu niệm, không khí như trở về thời thanh niên. Trên mặt mỗi người đều có thể nhìn thấy niềm vui vô ưu vô lo, tiêu dao tự tại.
 
Lần leo núi này nếu không phải là có Sư Tôn tiên phong dẫn đường, khả năng sẽ có nhiều người không đủ nỗ lực mà nửa đường bỏ cuộc rồi. 
Điều khiến người ta cảm thấy khích lệ nhất là Thượng sư Liên Hoa Truyền Tịnh đã 70 tuổi không ngớt lời nói: "Sư Tôn lên tới đỉnh núi, chúng ta làm đệ tử mà không leo đến đỉnh núi, như vậy sao được! Phải theo sát bước chân ngài mới được." Do vậy mọi người có thể leo đến đỉnh núi hoàn toàn là nhờ vào sự kết hợp của nghị lực và tín tâm đối với Sư Tôn.
 
Sư Tôn leo núi, thể lực giống như tráng niên, bước chân giống như làn gió nhẹ bay lên, phút chốc đã lên đến đỉnh núi, Sư Tôn thật đúng là "đi như gió".
 
Tháng 5 năm 83
(Tháng 5/1994)


### 56. Gửi Trầm Diệu Quyên


Hợp duyên với nhau.
Nơi sâu thẳm trái tim.
Đã in dấu hình ảnh của bạn.
Từ từ thành hình dáng.
 
Cũng là biệt ly.
Những dòng ý thức.
Trong biển mộng trào lên hung dữ.
Xóa sạch dấu vết của bạn.
Một nỗi nhớ lấp đầy tâm trí.
 
Mặc dù không thể gặp lại nữa.
Mặc dù không thể chuyện trò nữa.
Nhưng, thường nhớ đến.
Đến hôm nay, những lá thư mịt mù nơi xa.
Lẽ nào kết thúc vô duyên.
Lẽ nào không hành mẫu bay đi.
Cuối cùng tôi đã hiểu.
Nhân gian Ta Bà lắm hợp ly.


### 57. Sư Tôn thật thù thắng (chúc mừng sinh nhật thứ 50)


Tôi nhớ rất lâu trước đây Sư Tôn đã từng nói:
"Tôi sống bao nhiêu tuổi sẽ viết bấy nhiêu cuốn sách.
Đời này tôi phải viết 50 cuốn sách.
Viết 100 cuốn sách, vừa hay là một con số viên mãn.
108 cuốn sách thì càng có ý nghĩa."
 
Mới đây khi hoàn thành xong cuốn sách thứ 109, Sư Tôn cười nói: "Không ngờ đặt ra cho bản thân viết bao nhiêu cuốn sách, tự nhiên cứ thế viết mà đã xong rồi." Tinh thần sáng tác này thể hiện lời thệ nguyện của Phật Bồ Tát "từ bi không từ bỏ dù một chúng sinh".
 
Có đệ tử viết thư đến nói: "Sư Tôn viết sách nhanh như tàu vũ trụ con thoi, vù một cái đã lên tới mặt trăng rồi, cũng giống như tên lửa đạn đạo, gần như không để lại dấu vết nào đã tới mục tiêu rồi." 

Sư Tôn viết sách, chúng ta đọc sách, nếu có chút nào lười biếng không đọc thì sẽ theo không kịp, bởi vì Sư Tôn viết còn nhanh hơn ta đọc. Ngược lại tôi nhận thấy Sư Tôn viết sách giống như bánh xe pháp liên tục không dừng lại.
 
Sư Tôn là một tác giả viết rất nhiều, có kinh nghiệm sống phong phú tràn đầy, cũng như thực tu đến cảnh giới chứng ngộ nên viết ra những tác phẩm vô cùng đa dạng. 

Ngài không chỉ là một tác giả nổi tiếng viết sách với nhiều sắc thái dáng vẻ mà còn là một nhà tôn giáo, một nhà triết học, một họa sĩ… Trong biển chúng sinh lớp lớp như mây, hiện lên sự đặc sắc của ánh sáng quang minh như vậy đó!
 
Đệ tử quy y Chân Phật Tông mỗi ngày đều tăng lên nhanh chóng. Hiện tại con số đã lên tới khoảng 300 vạn, khắp nơi trên thế giới đã lập nên hơn 300 phân đường. Có hơn 10 chùa Lôi Tạng Tự có quy mô lớn và vài chùa nữa đang trong quá trình xây dựng, tòa nào cũng trang nghiêm có thể sánh với đại hùng bảo điện. Đàn thành trang nghiêm khiến người ta vừa nhìn thấy là tràn ngập lòng cung kính. Những thành tựu huy hoàng này đều có nguồn gốc đến từ các tác phẩm vĩ đại, từ trong các sáng tác mà sinh ra, các tác phẩm từ đời này qua đời khác sẽ liên tục sản sinh ra các con cháu Chân Phật.
 
Tác giả nổi tiếng có nhiều, tác giả chuyên viết sách tôn giáo cũng không ít, nhưng để tìm một người giác ngộ thực tu viết sách chân ngôn khai ngộ thì khẳng định là cực kì hiếm có. Việc này không chỉ đòi hỏi kiến thức sâu rộng, thông hiểu mọi thứ mà còn cần có đại trí huệ toàn thiện mới có thể viết ra được những áng văn chương đồng điệu với tâm linh của chúng sinh. Đây hoàn toàn là sách Phật.
 
Hôm nay nhân dịp sinh nhật Sư Tôn, tôi không thể ngăn được tâm trạng tràn ngập sự cảm kích này! 

Sư Tôn từ bi, trong sự nghiệp vất vả viết sách hoằng pháp độ chúng sinh của ngài, xin đừng quên rằng ngài cần chăm sóc bản thân nhiều hơn, cần thư giãn nghỉ ngơi một chút. 

Bảo trọng, hãy bảo trọng! Chúng con sẽ tiếp nối truyền thừa của ngài, kính sư, trọng pháp, thực tu, nương nhờ hộ pháp, đạo tâm kiên cố, dũng mãnh tinh tấn tiến lên phía trước, tiến thẳng đến cõi giới của Chân Phật Tông - Ma Ha Song Liên Trì.

Chúc phúc ngài, Sư Tôn!
Phật quang phổ chiếu, pháp luân thường chuyển, thân thể kiện khang, Phật thân thường trụ!
 
Tháng 6 năm 83
(Tháng 6/1994)


### 58. Nhật kí Phật pháp cứu mẹ


Sau khi nhận được cuộc điện thoại từ xa, em gái nói với tôi trong điện thoại:
"Mẹ đột nhiên đổ bệnh, bệnh đã nghiêm trọng, tinh thần hoảng hốt, cũng đã không thể đi được nữa, để ngồi được cũng khó khăn. Mẹ bị ngã nhào một cách bất thường, ngã chảy máu mũi và mặt sưng húp, đã đưa đến bệnh viện kiểm tra toàn thân."
 
Kết quả báo cáo kiểm tra là: axit trong nước tiểu quá cao, lượng đường trong nước tiểu quá cao, mỡ trung tính quá cao, cholesterol quá cao, huyết áp cao, nghẽn cơ tim. 

Bác sĩ nói: "Người bệnh đã nghiêm trọng như vậy, bất kì lúc nào cũng có thể xảy ra chuyện, khả năng không thể ăn xong bữa cơm thì đã ra đi rồi, cũng có thể chỉ qua một đêm ngủ là sẽ ngủ mãi không tỉnh dậy nữa."
 
Em gái lại nói: "Mẹ mặc dù tinh thần đã không còn tỉnh táo, lời nói lẫn lộn, nhưng ấn tượng về chị thì cực kì sâu sắc, miệng luôn gọi tên chị và nóng lòng muốn gặp chị lần cuối. Hay là chị về thăm mẹ xem sao?"
 
Nghe xong những lời này, trong lòng tôi vô cùng đau đớn, lập tức cảm thấy quay cuồng, không thể ngăn nổi những giọt nước mắt tuôn rơi, cổ họng nghẹn lại không thể thốt lên lời. Lẽ nào mẹ cứ sẽ như vậy mà rời khỏi nhân gian sao?

Nghĩ mà xem, 20 năm nay tôi lúc nào cũng bận rộn với các việc pháp vụ của Chân Phật Tông, dốc toàn lực để làm các việc Sư Tôn giao phó, xử lý các việc của tông phái, độ hóa chúng sinh. Có rất ít thời gian còn thừa ra để dành làm những việc cho  chính người thân của mình, lại khó tận dụng cơ hội về Đài Loan hoằng pháp để gặp mẹ, mỗi lần gặp mặt cũng vô cùng ngắn ngủi, lần nào cũng không nỡ rời xa!
 
Thế là tôi buông công việc ở nơi đây, mang theo tâm trạng nặng nề thu xếp hành lý, với những bước chân nhanh chóng nhất đi thẳng tới sân bay, dáng vẻ giống như một bác sĩ mang theo hòm thuốc tức tốc chạy đi cứu người. 

Tôi lên máy bay trở về Đài Loan để thăm mẹ. Lúc tôi về đến Đài Loan nhìn thấy mẹ, từ dáng vẻ ốm bệnh tôi lập tức có thể nắm bắt được sinh khí của bà. Thực sự là vấn đề lớn, tình hình không hề tốt chút nào.
 
Sau đó, qua những phân tích dựa trên kiến thức y học phổ thông của mình, tôi quyết định chắc chắn cần chủ trương dừng việc uống một số loại thuốc, sẽ tập trung vào việc chăm sóc và trợ giúp.
 
Đêm khuya thanh vắng, một mình tôi ngồi bên cạnh giường bệnh của mẹ, cùng tu trì Phật Dược Sư và Liên Hoa Đồng Tử, tĩnh tâm quán tưởng bàn tay Phật Dược Sư cầm lấy bình thuốc phát quang gia trì cho mẹ. 

Tôi liên tưởng lặp lại quán tưởng này và trì tâm chú. Có lúc bất ngờ, mắt của tôi bỗng nhiên run lên không ngớt, toàn thân run rẩy, cảm thấy có một luồng ánh sáng trắng rất mạnh chiếu rọi lên người mẹ tôi, cứ như vậy rất lâu.
 
Ngày hôm sau, tôi nhìn thấy mẹ ngồi dậy đi lại, mẹ nói: "Hôm nay mẹ thấy đỡ nhiều rồi, lần này đổ bệnh giống như trải qua cơn ác mộng." Tôi lập tức biết ngay đây là nhờ Phật Dược Sư và Liên Hoa Đồng Tử phát quang gia trì chữa bệnh. 

Lúc đó tôi nhìn lên trời quán tưởng chư Phật Bồ Tát, trong lòng cảm kích vô hạn! Bệnh tình của mẹ tôi, dưới sự gia trì của việc hợp tu pháp Phật Dược Sư và Liên Hoa Đồng Tử đã giúp mẹ bình phục nhanh chóng không ngờ, thời gian chỉ khoảng 10 ngày. 

Bây giờ bà đã có thể làm việc bình thường, chăm sóc nhà cửa. Tôi thấu hiểu sâu sắc rằng nếu thành tâm thỉnh cầu chắc chắn có cảm ứng, Phật pháp trân quý, lợi ích vô cùng!


### 59. Nhất niệm


Phạn âm và tạp âm.
Chỉ khác nhau một chữ.
Một chữ này được quyết định chỉ trong một suy nghĩ.
Là đường phân chia giữa thanh tịnh và hỗn tạp.
Ranh giới giữa thánh và phàm.
 
Phạn âm khiến tâm rung động vui thích.
Làm đẹp tâm linh.
Tạp âm khiến tâm khô cứng nhiễu loạn.
Ôi! Khác biệt như ngày và đêm.
 
Thánh giả vượt lên cảnh giới.
Lấy tĩnh trong động.
Nhất niệm tịch mịch.
Hoàn toàn tĩnh lặng.
Biến tạp âm thành Phạn âm.
Cả hai dung hòa hợp nhất với cái ngã.
Khắc nhập vào vũ trụ.
A! Tạp âm không còn nữa!


### 60. Khách đi qua cuộc đời


Sau khi Sư Tôn tuyên bố lui về ẩn cư, phân đường các nơi vẫn nhiệt tình thỉnh Sư Tôn đến gia trì pháp hội. 

Mọi người hy vọng Sư Tôn sẽ gật đầu nhận lời, thậm chí ngài chỉ cần xem như một dịp đến cùng mọi người trò chuyện hoặc đơn thuần là đi tham quan du lịch, như vậy đệ tử cũng cảm thấy mãn nguyện rồi, cũng đã cảm thấy pháp vị tràn đầy. Thế nên thư mời vẫn đổ về đều đều như mưa sớm mùa xuân.
 
Bởi thịnh tình của mọi người khó có thể từ chối, hành trình năm nay đã được sắp xếp rất dày, Sư Tôn nói: "Lui về ẩn cư cái gì chứ? Trái lại còn bận ngập đầu!"

Tháng 6 năm 1994, Sư Tôn dẫn tôi cùng bà ngoại, Phật Thanh, thêm vài Thượng sư, đồng môn đến Edmonton, Canada hoằng pháp và tham quan công viên quốc gia Rocky Mountains. 

Mỗi đệ tử đi cùng đều học theo Sư Tôn, chỉ đem theo một hành lý nhỏ. Chúng tôi khoác hành lý lên, cùng có tâm trạng vui vẻ, bắt đầu chuyến hành trình 19 ngày, theo gió rẽ sóng mà đi.
 
Lúc chúng tôi chuyển máy bay ở Vancouver, nhân viên hải quan hỏi tôi: "Bà muốn đi đâu?" Tôi trả lời: "Đi Edmonton." Anh ta lại hỏi: "Đi tới đó làm gì?" Tôi đáp: "Đi du lịch thông thường." 

"Đi du lịch thông thường" là câu trả lời chính xác, không có gì đáng nghi ngờ. Đời người không chỉ đi du lịch lần này. Con người trong thế giới Ta Bà vốn là một lữ khách đến để du lịch trái đất này. Dự định ban đầu của lữ khách là lưu lại một thời gian ngắn. Điểm đầu và điểm cuối của cuộc hành trình tùy theo  dòng lưu chuyển của thời gian, giống như chiếc lông vũ nhẹ rơi rồi bị chôn vùi trong đất, đã bị lữ khách quên mất ngay từ khi vừa tới nơi.
 
Tại thế giới này, sự tồn tại và biến mất của bạn có phải là chỉ trong chớp mắt của một sát-na? Có phải là tay không mà đến, rồi lại tay không mà đi, mơ mơ hồ hồ đi hết quãng đời này? 
Đời người là gì? Giá trị ở đâu? 
"Tất cả là hư không", "không vô sở hữu".

Không biết nhân viên hải quan đã từng nghe qua đạo lý "khách đi qua cuộc đời", "cuộc đời là hư không" hay chưa?
 
Tháng 8 năm 83
(Tháng 8/1994)


### 61. Âm thanh tĩnh lặng trên mây cao


Ngày 26 tháng 6 năm 1994, ở sân bay Edmonton, Canada, có rất rất nhiều đệ tử Chân Phật Tông. Họ nhiệt tình tới sân bay chờ đón Sư Tôn, liên tục hét gọi lớn "Sư Tôn! Sư Tôn!" làm trào dâng lên một sự hâm mộ lớn lao. Mọi người vỗ tay, vui mừng khôn xiết, mừng rỡ rạng ngời. 

Có người trưởng nhóm cao giọng bắt nhịp chỉ đạo mọi người cùng hát "Om guru lian-sheng siddhi hum." Họ căng ra một dải băng chào đón, tất cả giống như một đóa hoa sen rực rỡ sắc màu, tập trung đám đông từ từ đi tới gần Sư Tôn với thái độ khiến cảm động lòng người rồi bao quanh lấy ngài.
 
Tôi cũng bị bao vây trong những đóa hoa sen đẹp đẽ này, tận hưởng hương thơm ấm áp. Bỗng nhiên, nhanh chóng trong suy nghĩ của tôi khởi lên lời thề nguyện của Liên Hoa Đồng Tử: "Phân thân xả cốt độ chúng sinh, không từ bỏ một chúng sinh nào…" Lúc đó tôi buồn vui xen lẫn, cảm động đến rơi nước mắt, khi ngẩng cao đầu nhìn, cảnh tượng trước mắt giống như tấm kính bị giăng đầy nước mưa, nhòe nhoẹt không rõ. Có ánh đèn không ngừng nhấp nháy lóe lên, khiến cho mắt tôi bị lóa, liên tục lúc nhắm lúc mở. Tôi không thốt lên được lời nào, chỉ có thể mỉm cười gật đầu, hai tay chắp lại vái nhè nhẹ, biểu thị tấm lòng biết ơn.
 
Chúng tôi vừa nói chuyện vừa đi ra khỏi sân bay. Có đệ tử nói: "Nhớ lần đầu tiên Sư Tôn đến Edmonton là 6 năm trước, lần thứ hai là 3 năm trước, 3 năm sau là ngày hôm nay lại được gặp mặt Sư Tôn như thế này. Sư Tôn liệu có thể mỗi năm lại đến không? Đệ tử ở Edmonton mỗi ngày đều hát "Bài ca chờ người trở lại". Hát tận ba năm, Sư Tôn mới đến một lần, đúng là chẳng dễ chút nào!"
 
Sư Tôn trả lời: "Tất cả đều là cơ duyên. Trong tông phái có ba trăm phân đường, có rất nhiều phân đường tôi còn chưa từng đến. Tương lai nếu có cơ duyên tôi sẽ đi từng phân đường thăm mọi người."
 
Trong âm thanh cười nói vui vẻ, mọi người tiễn chúng tôi lên xe chuẩn bị từ trước, vẫy vẫy tay nói: "Hẹn gặp lại tại bữa tiệc đón Sư Tôn." Xe ô tô nhấn ga chạy đi, tiếng nói của mọi người từ xa còn vọng lại rồi từ từ tan biến. Trong xe dường như bỗng nhiên thật tĩnh lặng. 
 
Lúc đi qua một vùng đồng cỏ trơ trọi, tôi chăm chú nhìn bầu trời rồi kinh ngạc thốt lên: "Mọi người xem kìa! Mây trên trời sắp rơi xuống đồng cỏ rồi!" 

Mây rất thấp, rất đẹp! Thượng sư Liên Trí nói: "Edmonton cao hơn mực nước biển hơn 3000 mét, lúc áp suất không khí thấp, mây sẽ càng thấp." 

Tôi nói: "Đứng trên đỉnh tòa nhà có thể chạm đến mây, chẳng phải là giống như tiên tử sống trên thiên giới sao."

Hóa ra, các đệ tử ở Edmonton đều có phúc được sống trên mây cao, đi mây về sương, tiêu dao tự tại.

Tịnh Âm Lôi Tạng Tự tại Edmonton thực sự chứa đầy những thanh âm thanh tịnh của thế giới thanh tịnh. Chùa và ảnh hưởng của việc hoằng dương Phật pháp đã thiết lập được sức mạnh kêu gọi tương đối lớn tại địa phương, thậm chí giờ còn là dòng chảy chính của Phật giáo nơi này. Họ đã thuyết phục được Sư Tôn cứ 3 năm sẽ gặp lại ở Edmonton, may mắn này thật khiến người ta ghen tị.
 
Tháng 8 năm 83
(Tháng 8/1994)


### 62. Con thuyền pháp từ bi


Ngày 1 tháng 7 năm 1994, Sư Tôn cùng vài vị Thượng sư tùy tùng theo cuộc hành trình từ Edmonton Canada đến thành phố Calgary rồi chuyển hướng đến New Jersey bên bờ Đông nước Mỹ. 

Việc chính là an tọa khai quang chùa Quán Chiếu Lôi Tạng Tự và làm một đàn pháp hỏa cúng Hộ Ma, tiếp theo là tham gia chuyến du ngoạn trên biển bốn ngày ba đêm đến Bahamas mà mọi người đã sắp xếp. Vừa làm việc, vừa du lịch, giúp cho người tu hành có thể điều chỉnh cân bằng thân tâm giữa việc tu hành nghiêm ngặt và thư giãn.
 
Trong số các Lôi Tạng Tự của Chân Phật Tông, có thể nói Quán Chiếu Lôi Tạng Tự có tốc độ thành lập nhanh nhất, không cần trải qua giai đoạn phân đường mà trực tiếp đăng kí xây dựng chùa luôn. Cho đến ngày nay đã có sự trang trọng trang nghiêm của các tháp chùa, đàn thành chư tôn lấp lánh phát quang. Chỉ cần vừa đi vào chùa là đã bị không khí trang nghiêm choán lấy toàn bộ thân tâm. 

Khởi nguồn của việc xây chùa là do chủ tịch Liên Hoa Tố Minh khởi xướng, nhân duyên của bà rất thù thắng. Có nhiều người bạn làm quan chức chính phủ và luật sư đã tự nguyện giúp đỡ bà đăng kí xây dựng chùa, thông qua các giấy phép xây dựng, chứng thực, phê chuẩn, cùng các loại giấy phép khác giúp việc xây chùa được thuận lợi đúng luật. Do vậy trong việc xây dựng ngôi chùa này công lao của bà là lớn nhất. Đáng quý và cảm động lòng người nhất là: chi phí và đất xây dựng chùa đều do bà đóng góp, ngoài ra còn giao quyền sở hữu tài sản dưới tên ban quản lý chùa.
 
Liên Hoa Tố Minh nói tâm nguyện của mình với Sư Tôn: "Không chỉ xây chùa này, tương lai có thể xây chùa to hơn nữa, thậm chí còn về Việt Nam xây chùa, truyền bá rộng rãi Chân Phật Mật Pháp."

Sư Tôn nói với Liên Hoa Tố Minh: "Sư Tôn trong thiền định đã tìm được con đến đây, thức tỉnh con tiếp tục huệ mệnh. Kiếp này con vẫn tiếp tục theo lời thề xưa, hộ trì Sư Tôn hoằng dương Phật pháp. Bởi vì con cũng là đệ tử lâu năm từ kiếp trước của Sư Tôn."
 
Liên Hoa Tố Minh phát tâm chí thành rất trân quý, đây là may mắn của những đồng tu ở Quán Chiếu Lôi Tạng Tự. Các đồng tu yêu quý trân trọng bà, giúp đỡ bà, hộ trì cho bà, cùng với bà làm việc cho pháp. 

Tất cả sẽ trở thành con thuyền pháp từ bi, thuận buồm xuôi gió, cùng nhau hỗ trợ cho sự phát triển hưng thịnh, đến được bến bờ bên kia, tạo nên sức sống mới cho sự huy hoàng của Chân Phật Tông.
 
Tháng 9 năm 83
(Tháng 9/1994)

[ND: Liên Hoa Tố Minh: đáng tiếc là bà đã mất ngày 11/9/2001, thọ 62 tuổi, khi chưa  kịp về Việt Nam xây được chùa Chân Phật Tông Lôi Tạng Tự theo như ước nguyện.]


### 63. Tự nhiên chính là đạo


Tháng 6 năm 1994, chúng tôi đi du lịch công viên quốc gia Canada, rặng Rocky Mountains. Từ trên tầng cao của khách sạn ngắm nhìn phương Đông xa xôi, đúng lúc mặt trời đang mọc, nhìn trông giống như một quả quýt mọng mềm. Tất cả dường như nói với chúng tôi rằng đây là một ngày đẹp nhất để đi chơi.
 
Người già, người trẻ đem theo cả gia đình, tất thảy tổng động viên tổng cộng 80 đệ tử cùng nhau leo lên hai chiếc xe du lịch loại lớn đi chuyến hành trình mùa xuân. Mọi người tận hưởng một khoảng thời gian được tiêu dao vô câu vô thúc cùng Phật, chìm đắm trong sự rạo rực của ngày hè và vẻ đẹp tự nhiên rộng lớn.
 
Những ngọn đồi hai bên đường, những bình nguyên mênh mông vẫn tràn ngập một màu xanh mướt như chưa hề phải chịu ảnh hưởng của mùa hè nóng bức. Hoa dại trên các dãy núi, hoa đỏ, hoa trắng, hoa vàng, hoa tím… trăm hoa đua nở giống như chào đón chúng tôi. Sự đối lập đó khiến màu xanh lại càng xanh, khiến người ta muốn xuống xe đi ngắm nhìn vẻ đẹp tuyệt vời của muôn hoa, đi để thưởng thức được hương thơm của chúng.

Xe đi vào khu vực sâu trong núi, các biển cảnh báo hai bên đường thông báo: "Cẩn thận động vật hoang dã." Người tài xế kể một câu chuyện ngắn mà mình đã từng kinh nghiệm qua. Chuyện còn chưa kể xong, xe đã nhanh chóng dừng lại ở bên đường. 

Phía trước có một đàn sơn dương và hươu nai hoang dã đang qua đường, trên đầu là những chiếc sừng dài nhọn hoắt. Chúng thèm chẳng quan tâm, cứ thế đi qua đường xe chạy. Một vài người lấy máy ảnh ra chụp hình, chúng vừa đi vừa quay đầu nhìn chúng tôi. Xem ra lũ động vật ở vùng núi này chưa từng gặp con người, do vậy mà không biết sợ hãi tháo chạy. Chúng đã xem tất cả mọi người đều là người tốt, tự do bình đẳng. Tham sân si là gì, với chúng về cơ bản là chẳng tồn tại.
 
Rồi lại có tiếng kêu lớn, mọi người chú ý! Mọi người chú ý! Ở kia có một con gấu. Oa! Mọi người chuyển hướng chú ý qua nhìn con gấu, lại sôi nổi bình luận: gấu khiến người ta sợ nhất, gấu mẹ chắc chắn ở phía sau, gấu có thể ăn thịt người, gấu có thể trèo cây. Rồi liệu gấu có đến lật xe chúng tôi không? Buồn cười nhất là có người nói: Tôi đã từng ăn tay gấu rồi! Tôi từng ăn mật gấu rồi! 
 
Thực tế là bất kì động vật nào cũng đều có tình cảm, ta có thiện ý làm bạn với chúng thì tự nhiên sẽ sinh ra mối liên hệ tương hợp, đây cũng là hiện tượng sinh thái tự nhiên mà thôi. 

Tháng 9 năm 83
(Tháng 9/1994)


### 64. Tâm thanh tịnh trăng tự hiện


Người tài xế xe khách tiếp tục lộ trình, đi sâu vào núi Rocky Mountains, đi qua tầng tầng lớp lớp núi cao, đưa chúng tôi đi qua các điểm ngắm phong cảnh hết trạm này tới trạm khác. Xe chạy vòng quanh eo núi, lên đến trên cao thì bất ngờ dừng lại. Tài xế đánh thức các đồng môn đang nửa tỉnh nửa ngủ tỉnh dậy ngó ra ngoài xem, hóa ra chúng tôi đã đến được ngọn núi kim tự tháp và hồ kim tự tháp nổi tiếng.
 
Trưởng đoàn dẫn chúng tôi đi xuống một con dốc, đi qua một lối đi đầy hoa không rõ tên. Chúng tôi xếp thành một hàng đi qua cây cầu một chiều. Trưởng đoàn đi hàng đầu, Sư Tôn là người đi thứ hai, cứ như vậy đến người cuối cùng, cả đoàn đông đảo tới 80 người tạo thành một hàng dài như đội quân hùng mạnh. Tấm lòng mọi người kết nối lại như một chuỗi hạt chắc chắn, thanh tịnh, sâu sắc.
 
Rốt cục chúng tôi cũng đến được chân núi kim tự tháp, phóng tầm mắt nhìn phía trước, quả nhiên ngọn núi nhìn như một kim tự tháp, hùng vĩ đứng sừng sững, hơn nữa còn lấp lánh ánh vàng kim mà khi nhìn vào cũng chói lóa cả mắt. Hóa ra kim tự tháp không chỉ có màu vàng kim như vàng mà chính nó còn sản sinh ra linh khí. Thực sự là không thể tưởng tượng được có gì đẹp hơn thế!

Ở dưới chân núi kim tự tháp có một cái hồ vừa khéo in bóng toàn bộ hình ảnh phản chiếu của núi kim tự tháp, vì vậy được gọi là hồ kim tự tháp. Vị trí địa lý của hồ chính là một nơi tàng phong tụ khí, mặt hồ giống như tấm gương trong, vừa trong vừa có sắc xanh lam. Đúng là một cảnh đẹp được thiên nhiên ưu đãi. 

Tôi đứng bên hồ ngắm nhìn nhưng không thể phân biệt được rõ núi phản chiếu ở dưới hồ và núi ở phía trên, rốt cục thì cái nào mới là núi thật. 
 
Sư Tôn lấy bút và giấy, ngay tại nơi đó bắt đầu vẽ tranh, đem tất cả núi non hùng vĩ, hồ nước xinh đẹp, hàng cây phía xa xa thể hiện hết lên trên trang giấy, chuẩn bị làm tư liệu cho sáng tác sau này. 
 
Có một cậu bé rất chăm chú xem Sư Tôn vẽ phác họa, lại còn đối chiếu bức vẽ với cảnh thực, cậu nói: "Tranh Sư Tôn vẽ rất giống, nhưng sao Sư Tôn không vẽ con chim nhỏ đậu ở trên cây?" Sư Tôn trả lời: "Chim nhỏ đã ở trong tâm ta rồi." Cậu bé nghe không hiểu, ngẩn người ra!
 
Bức họa rất vi diệu, rất có ý cảnh, không hoàn toàn tả thực, không hoàn toàn trừu tượng, tùy góc nhìn nghệ thuật của mỗi người mà tự cảm nhận. 
 
Chúng tôi lưu luyến không nỡ rời khỏi núi và hồ kim tự tháp. Ở trên xe, tôi nhớ lại cảnh ngọn núi in bóng xuống mặt hồ, núi ở bên hồ, liên tưởng đến: "Tâm thanh tịnh trăng tự hiện, nghìn con sông nước chảy sẽ có nghìn vầng trăng trên sông."
 
Tháng 10 năm 83
(Tháng 10/1994)


### 65. Hồ thanh tịnh


Khi lần đầu tiên tôi nhìn thấy hồ Louise, tôi đã vô cùng kinh ngạc mà cảm thán! Đây là hồ đẹp nhất tôi đã từng được trông thấy.

Tôi thích mặt nước hồ màu xanh lam xanh lục với dòng chảy tự do mạnh mẽ sống động, lại có núi hai bên chạy dài ôm trọn lấy. Trên mặt hồ một chiếc thuyền nhỏ nằm ung dung, ngọn núi phía xa suốt cả năm dài phủ tuyết trắng ánh lên lấp lánh. Có con chim nhỏ cất lên tiếng hót hát bài ca vui vẻ của thanh xuân. Hồ nước đầy thơ mộng đến thế khiến người ta chìm vào trong những sự suy tư.
 
Hồ Louise toát lên phong thái thanh cao như thế, một cảnh đẹp tự nhiên hoàn toàn không có bàn tay con người kiến tạo nên. Khung cảnh khiến người ta cảm nhận được sự thanh tịnh thuần khiết, và hồ dường như nói với chúng tôi:
Tạp niệm của con người nhiều quá, phiền não không ngừng dứt, vì vậy mà không có được tâm linh thanh tịnh.
Chấm dứt tạp niệm mới có thể khiến tâm linh thăng hoa, đi vào thế giới tĩnh lặng.

Tôi nghĩ rồi lại suy tư, ý nghĩ dừng lại ở cảnh giới lãng quên đi cái tôi.
 
Sư tỉ Liên Tường đi đến nói với tôi: "Sư Mẫu, người nhìn xem, cảnh sắc hai bên hồ này cây xanh hoa thắm, đẹp xiết bao! Nhưng ngắm hoa cũng cần phải có tâm trạng ngắm hoa, khi tâm trạng tốt, hoa rất đẹp, khi tâm trạng u ám, hoa đẹp cũng trở thành không đẹp nữa!"
 
Đúng vậy, tôi cảm thấy có rất nhiều việc đều liên quan đến tâm trạng. Tâm trạng tốt hay xấu cũng chỉ là nằm trong ý niệm thôi. Nếu có thể bỏ được sự bám chấp, bất kể gặp phải chuyện gì, tâm của người tu hành đều là "thường lạc ngã tịnh". Cũng có nghĩa là làm bất kì việc gì đều vui vẻ, nhìn thấy bất kì thứ gì cũng đều là thanh tịnh, tất cả đều là tự có được niềm vui.
 
Một cơn gió mát thổi đến làm lay động chiếc thuyền nhỏ trên mặt hồ, lắc lắc lư lư, giống như đang nhảy theo một vũ điệu.  Nước trên mặt hồ lướt va vào những hòn đá lớn ở hai bên làm vang lên những âm thanh róc rách, như một dàn hợp xướng  chơi giai điệu đẹp đẽ mỹ miều cảm động lòng người, cứ thế vang vọng cả vùng hồ.
 
Hồ Louise có cái chất kiên định, hàm chứa ẩn giấu bên trong rất nhiều rất nhiều vẻ đẹp. 
Sự tĩnh lặng của hồ như thiền định.
Sự rung động của hồ giống như linh hồn.

Lưu lại trong tôi những hồi ức vô cùng sâu sắc.
 
Tháng 10 năm 83
(Tháng 10/1994)


### 66. Nhân giả lạc sơn, trí giả lạc thủy


Tục ngữ nói: "Nhân giả lạc sơn, trí giả lạc thủy", đoàn đệ tử Chân Phật Tông chúng tôi vừa thích núi lại vừa thích nước. (*)
Thích sự như như bất động của núi.
Thích đức tính của nước.

[ND: Nhân giả lạc sơn, trí giả lạc thủy: người nhân đức thì vui thích với núi, người trí thức thì vui thích với nước (Khổng Tử) ý rằng: người nhân đức thường có tính an tịnh, vững chãi, trầm tĩnh như núi, người thông minh lại có tính hoạt bát, sống động, linh hoạt như nước.]

Ngày 28 tháng 6 năm 1994, chúng tôi theo bước chân của Sư Tôn đi tham quan du lịch địa danh nổi tiếng thế giới là núi băng và sông băng Columbia, ai ai cũng vô cùng vui thích.
  
Người ta nói rằng, ngoài núi băng lớn nhất ở Bắc cực, Nam cực thì núi băng ở đây lớn thứ hai. Đây cũng là một trong 11 đỉnh cao nhất của rặng Rocky Mountains, vô cùng hùng vĩ trang nghiêm, khí chất phi phàm.
 
Chúng tôi chậm rãi đi bộ trên dòng sông băng này, ngưỡng mộ phong cảnh thiên nhiên rộng lớn, tầng tầng sắc núi, yên tĩnh xinh đẹp. Tiếng nước của sông băng đang tan chảy tấu lên một khúc nhạc giao hưởng duyên dáng. Tôi nhìn thấy trên gương mặt mỗi người đều biểu hiện nét vui vẻ, phong thái thư thái tự do, đi miên man trong vòng tay của tự nhiên rộng lớn.
 
Nước sông băng đang tan chảy hướng về ba nhánh chính, một nhánh chảy hướng về thành phố Edmonton Canada, nhánh thứ hai chảy hướng về bang Washington Mỹ, nhánh thứ ba chảy hướng về bang Oregon Mỹ. 
 
Nước không phân biệt biên giới quốc gia, chảy tới chảy lui, bên nào thấp sẽ chảy về bên đó, không có tính toán, không có kén chọn cầu kì, cứ thuận theo tự nhiên mà chảy. Tôi thích sự mềm mại uyển chuyển và khiêm nhường của nước. 
 
Tôi tán thán những bước chân của người leo núi, vững vàng chắc chắn, từng bước từng bước kiên cường tiến về phía trước với niềm hy vọng hướng thẳng mục tiêu chinh phục. Cho dù người leo núi có thở hùng hục nặng nề vì mệt cũng không suy chuyển được tinh thần, thật khiến người ta bái phục. Do vậy mà nói "núi cao hay không tùy vào nỗ lực của bạn".
 
Vào ngày đó, núi tuyết có mưa phùn, mây đen dày đặc. Bỗng nhiên mặt trời xuất hiện, phóng chiếu những tia nắng mang vẻ đẹp như ánh đèn sân khấu chiếu rọi, quang minh xán lạn. Cả một vùng đất rộng lớn phủ tuyết trắng, sương mờ ảo giăng mắc trắng xóa. Chúng tôi ở đó ngắm tuyết, uống nước sông vạn năm, cảm giác giống như thú tiêu dao của thần tuyết vậy.
 
Tôi cảm thấy núi đẹp nước thanh. Núi cổ vũ, đem lại hy vọng cho con người. Nước thanh lọc, đem lại cảm giác thanh tịnh vô hạn cho chúng ta.

Tháng 11 năm 83
(Tháng 11/1994)


### 67. Đạo của tự nhiên


Thế giới tự nhiên rất vi diệu, sản vật trên trái đất cứ dựa theo quy tắc tự nhiên mà sinh trưởng, nuôi dưỡng vạn vật, nuôi dưỡng chúng sinh, công đức này thật sự là vĩ đại!
 
Ở những vùng nhiệt đới thì có sản vật của nhiệt đới, đặc biệt  có rất nhiều cây dừa. Uống nước dừa có thể trở nên mát mẻ, hạ nhiệt mùa hè.  
 
Chúng tôi tới bờ biển Sisters Cays trên đảo Bahamas, nơi suốt năm chỉ có mùa hè. Xa ngút tầm mắt là cả một rừng dừa cao cao thẳng tắp. 

Khi chúng tôi cố gắng thử rung cây dừa cho quả dừa rụng xuống, thì một người thổ dân đi tới thể hiện ý muốn giúp đỡ. Với động tác vô cùng lanh lẹ, giống như một con khỉ leo lên thoăn thoắt, anh đã lên tới ngọn cây dừa hái xuống hơn chục quả dừa, rồi lại rất nhanh y như lúc leo lên, trong nháy mắt đã trèo xuống dưới, Chúng tôi đều trố mắt ngạc nhiên.
 

Chúng tôi tò mò hỏi thổ dân: "Xin hỏi anh bao nhiêu tuổi?"
Anh đáp: "Không biết bao nhiêu tuổi. Tôi sinh ra trên đảo này."
Lại hỏi: "Chỗ dừa này bao nhiêu tiền?"
"Không biết. Tùy ý mọi người." 
(Vẻ mặt anh cười vui vẻ, trả lời không quan tâm lắm.)

Chúng tôi lại hỏi thêm vài câu nữa, anh ta cười cười, lắc đầu rồi lại gật đầu, dường như biểu thị rằng những câu hỏi này đều không có gì quan trọng.
 
Cuộc sống trên đảo rất yên bình, không có những tòa nhà cao tầng, không có quần áo bắt mắt, không có ô tô, không có sơn hào hải vị, không có những món đồ hưởng thụ của con người hiện đại. Xem ra cuộc sống ở đây giống như cách xa thế kỉ này lắm rồi, không có ý thức của thời đại.
 
Thổ dân trên đảo vui vẻ với cuộc sống mà họ có, không tranh giành, không mong cầu, không ham danh ham lợi, vô ưu vô lo, hài lòng với những gì mình có. Cuộc sống của họ chỉ có những cây dừa, bãi cát và đại dương. Chúng tôi chỉ là những vị khách không mời mà tới. Trên nét mặt của họ có thể thấy là chẳng hề có tham, sân, si. 
 
Cuộc sống của con người hiện đại, luôn theo đuổi những thú vui hưởng thụ cao hơn, tranh danh đoạt lợi, tham lam vô hạn. Bao người lao tâm lao lực vì muốn tranh cầu thêm nhiều tiền tài hơn nữa, địa vị cao hơn nữa, mỗi ngày đều nghĩ đến tiền, vì tiền mà từ bỏ cả sinh mệnh.

Thực tế, ngẫm nghĩ về ý nghĩa đời người, sẽ hiểu được nguồn gốc của mọi thứ là như nhau, mang lại phiền não nhiều như nhau. Sở hữu vật chất càng nhiều, phiền não cũng sẽ càng nhiều. Có nhiều tiền cũng sẽ bị rơi vào bẫy của tiền, "khổ vì kiếm tiền, cũng khổ vì giữ tiền", đến khi hết cuộc đời cũng đâu thể đem đi được. Trên thực tế, "có tiền" hay "không có tiền" thì số mệnh cũng đã được định đoạt rồi.
 
Tôi thích cuộc sống yên bình trên đảo.
Cuộc sống của thổ dân đã minh họa cho nghệ thuật sống của tự nhiên.
 
Tháng 11 năm 83
(Tháng 11/1994)


### 68. Trí huệ của biển


Sau khi Sư Tôn đến Quán Chiếu Lôi Tạng Tự ở New Jersey để khai quang an tọa và làm pháp hội chủ đàn hỏa cúng Hộ Ma, chúng tôi tiện thể tham dự chuyến du lịch năm ngày bốn đêm đến Bahamas do sư tỉ Tố Mẫn sắp xếp. Hơn 40 đồng môn có được cơ hội này vô cùng vui mừng phấn khích, cùng theo Sư Tôn du lịch trên tàu, cùng chiêm ngưỡng vùng biển Caribbean.
 
Trong thời gian du lịch trên tàu năm ngày bốn đêm, tàu cập bến ba lần cho du khách rời tàu tham quan thủ đô Nassau của Bahamas và bãi biển Sisters Cays nổi tiếng, thêm nữa còn đến cảng Lucaya.
   
Ngoài việc xuống thuyền đi tham quan thì tất cả việc ăn uống, ngủ nghỉ, tắm rửa đều ở trên tàu. 

Lần đầu tiên tôi đi chuyến hành trình trên con tàu cao cấp như vậy. Chiếc tàu lớn màu đỏ, có thể chở hai nghìn khách. Bên trong tàu có bể bơi, khu mua sắm, phòng tập gym, thẩm mỹ viện, trung tâm bấm huyệt, sòng bạc, sàn nhảy, rạp chiếu phim, quán bar, khu vui chơi giải trí, nhà hàng lớn. Tất cả mọi thứ đều như khách sạn cao cấp, sang trọng đắt tiền. Mỗi người đều thỏa sức tận hưởng cơ hội này giống như hưởng thụ cuộc sống hoàng cung vậy.
 
Đến buổi tối, vào lúc đêm khuya thanh vắng càng nghe rõ tiếng động cơ làm tàu rung rung nhè nhẹ không ngừng. Thêm cả tiếng nước rẽ ra khi con tàu chạy lướt nhanh trên mặt biển đã khiến tôi cao hứng muốn đi ra ngoài tận hưởng khung cảnh về đêm.
 
Một mình tôi đứng bên mạn thuyền trông ra xa bốn phía. Cả một vùng yên tĩnh lạnh lẽo, không có ánh trăng, không có ánh sao. Đêm đen hun hút khiến ta đột ngột cảm thấy hư không cô độc. Nhớ lại thời gian ban ngày, vùng biển xanh ngắt mênh mông đó đã từng được mặt trời chiếu sáng, những con chim hải âu đa tình giờ đều không thấy đâu nữa rồi! Giống như một thế giới tĩnh lặng. Bỗng nhiên tôi cảm thấy hình như biển cũng trốn đi đâu mất.
 
Tôi một mình đứng đó trầm tư, yên lặng nghe âm thanh của biển, nghĩ đến khai thị của Sư Tôn:
"Một người có trí huệ, cũng giống như con hạc trong đàn gà, khó tránh khỏi việc bị đàn gà phát hiện ra, cũng giống như con lạc đà trong bầy cừu, tự nhiên nổi bật, rất dễ bị người ta ghét, dễ gặp người không ưa mình.

Đừng vô duyên vô cớ đem trí huệ khoe khoang ra ngoài, cần phải vào dịp thích hợp mới có thể biểu lộ ra. Một người có trí huệ phải biết giấu mình khéo léo thế nào, đừng quá thể hiện bản thân, bởi vì thể hiện bản thân quá sẽ rất khó sống sót."

Nghĩ đến đây, tôi tự lẩm bẩm với mình: 
"Biển, người có cô độc không? Không! Sự biến hóa của biển là vô cùng vô tận, biển biết rõ khi nào thích hợp để thể hiện chính mình, biển biết khi nào tự ấn giấu chính mình, biển đúng là có trí huệ nhất rồi."
 
Tháng 12 năm 83
(Tháng 12/1994)


### 69. Thế giới thu nhỏ trên tàu


Trên con tàu Big Red, tôi đi xem khu mua sắm, không bỏ qua một cửa hàng nào. Tôi lấy việc đi xem các cửa hàng như vận động đi bộ, mặc dù không mua đồ gì cả nhưng đi qua đi lại cũng cảm thấy vui thích.
 
Con tàu Big Red giống như một tòa nhà cao tầng vậy. Chúng tôi đi bộ từ tầng thấp nhất đến tầng cao nhất, chân tay tê mỏi hết cả, toàn thân như kiệt sức. 

Có một lần tôi muốn đến salon để làm tóc, bèn đi theo bản đồ chỉ dẫn để tìm salon, chẳng ngờ được là phải đi lên đi xuống khắp tàu, lạc mất nửa tiếng mới tìm thấy một nhân viên phục vụ để hỏi đường, khi đó mới tìm được chỗ.
 
Tôi ngồi trên ghế ở salon, một người phục vụ tóc vàng vừa giúp tôi làm tóc vừa thao thao bất tuyệt giới thiệu bản thân. "Tôi đến từ Mỹ, tôi rất nhớ nhà, nhưng tôi phải làm việc đến khi kết thúc hợp đồng mới có thể trở về. Cuộc sống trên tàu chỉ được giới  hạn cố định trong con tàu này, cảm thấy thật cô đơn bà ạ…"
 
Tôi đi đến nơi có bóng mát cạnh hồ bơi thì gặp Thượng sư Liên Thường, bà mời tôi ngồi xuống uống ly trà rồi nói chuyện: "Vừa mới gặp một người đồng hương Indonesia đến làm phục vụ trên tàu, do muốn kiếm chút tiền mà đã làm việc trên tàu được 8 năm rồi, thực sự cảm thấy cuộc sống trên tàu nhàm chán trống rỗng, nhưng cũng chẳng còn lựa chọn nào khác!"
 
Phạm vi cuộc sống trên tàu thực sự là rất nhỏ, cuộc sống mỗi ngày trôi qua hầu như chẳng có gì thay đổi, chỉ là ăn uống, làm việc, ngủ nghỉ, trôi nổi trên biển liên miên, nơi nào là nhà? Tâm linh cũng không thể giúp tâm bình an, mênh mang không biết an trụ vào nơi nào?
 
Kì thực, hư không nhàm chán, hiu quạnh bất lực, lại chưa chắc là do hoàn cảnh tạo nên, tất cả là nằm trong tâm niệm. Tâm có thể tạo nên vạn vật, tâm tĩnh thì nơi đâu cũng an tịnh. 

Có người ẩn cư nơi núi rừng, tránh xa đám đông, tránh xa phiền nhiễu, không có ai nói chuyện cùng, không có ai gây ồn ào, muốn được bình yên tu hành, không vướng vào những tâm niệm vô danh nhưng những nghiệp chướng trong tiềm thức trỗi dậy, phiền não lại bắt đầu lớn lên.
 
Có người vẫn chọn sống ở nơi phồn hoa náo nhiệt, người người qua lại, đông vui nhộn nhịp, ồn ào không dứt. Họ chọn cùng hòa nhịp vai kề vai với xã hội hiện tại để tìm cách tồn tại. Chuyện này thực sự cũng không phải việc đơn giản. 

Tuy nhiên, nếu có thể ở chính trong hoàn cảnh không an tịnh ấy, lấy tĩnh trong động, nơi đâu cũng là nhà, tâm như nước đứng yên, xem tất cả hoàn cảnh đều là trợ duyên cho việc tu hành, thì sẽ tự mình an vui với chính mình.
 
Tôi cho rằng thế giới Ta Bà cũng chính là một chiếc thuyền nhỏ chở nặng, với nghìn nghìn vạn vạn chúng sinh đi về hướng chân lý, chỉ cần tâm của bạn cũng hướng về chân lý, tâm trụ ở hư không, thì sẽ sống một cách tràn đầy và có ý nghĩa.
 
Tháng 12 năm 83
(Tháng 12/1994)


### 70. Kể chuyện


Bồ Tát! Xin hỏi rốt cục ngài ở đâu?
Tôi làm sao có thể cùng ngài tâm sự?
Tôi làm sao có thể gặp ngài?

Ngày này tháng khác tôi tìm kiếm dấu vết của ngài.
Tôi đặt niềm tin nhờ gió chuyển đi lời nhắn gửi.
Những mỗi cơn gió đi qua lại biến mất tăm.
Tôi đã từng hỏi biển!
Nhưng sóng biển rì rầm, ở khắp nơi khắp nơi. 
Tôi đã từng hỏi núi!
Nhưng núi mịt mùng giăng mắc, chỉ đứng im bất động.

Thế rồi trong mơ Liên Hoa Đồng Tử khai thị.
Sao con không đi hỏi thử:
Hỏi Trí huệ - sẽ thấy hiển hiện
Hỏi Thiền định - sẽ thấy phát quang
Hỏi Tinh tấn - sẽ thấy thành tựu.

Cuối cùng, Liên Sinh Hoạt Phật từ bi hướng dẫn:
Tâm không ở ngoài, tâm chẳng ở trong,
Tâm giống như hư không, giống như vũ trụ.
Tâm thanh tịnh viên mãn.
Bồ Tát ư, chính là con đó!


### 71. Tùy duyên hoan hỷ


Thái độ sống nếu có thể dựa trên quan niệm "tùy duyên", thì có gặp bất kì sự việc nào xảy ra, cuộc sống cũng sẽ dễ dàng hơn nhiều. Tất cả tùy duyên, cảm xúc sẽ rộng mở, tâm trạng sẽ siêu nhiên, cuộc sống sẽ vô câu vô thúc, đạt cảnh giới an nhiên tự tại.
 
Tùy duyên chính là tùy thuận theo số phận, nhân quả nghiệp báo đến chuyển hóa tất cả sự vật, dù một chút cũng không thiên vị, không miễn cưỡng, cứ thuận theo sự biến hóa của nó mà tiếp nhận.
Phật Đà thuyết pháp cũng là tùy duyên để nói.
Nguồn gốc của Phật Đà cũng đến từ duyên.
Con người tại thế cũng là duyên.
Bất kể bạn tùy duyên hay không tùy duyên, thực sự cũng là đang theo nhậm vận của duyên mà tồn tại đó.
 
Sự vận chuyển của vũ trụ này là do nhân duyên mà sinh ra, lại cũng do nhân duyên mà kết thúc.

Có nhiều người nghĩ cho bản thân quá nhiều, nhằm đạt được tham vọng lớn mục tiêu cao, không ngừng làm việc khổ cực tranh đấu bất kể mọi trở ngại. Cuối cùng thì sức tàn lực kiệt, tổn thất nặng nề, vô cùng thống khổ, mà vẫn không đạt được mục đích.
 
Đối với việc nỗ lực tinh tấn làm việc, phải thừa nhận là tốt, nhưng nếu khiến bản thân quá căng thì giống như đập đầu vào tường, không thể quay đầu trở ra. Nếu vậy thì là không tùy duyên, thành quá khổ sở.

Ngược lại có một số người khi làm việc, không những không đem hết năng lực bản thân để gánh vác, mà lại thể hiện thái độ tiêu cực, lấy hai chữ "tùy duyên" làm lẽ sống. Mỗi khi gặp chuyện gì họ đều lấy hai chữ "tùy duyên" để trốn chạy khỏi trách nhiệm. Thật sự không hiểu là tùy duyên hay là sợ liên lụy.

Do vậy định nghĩa của hai chữ "tùy duyên" cũng khó phân giải!
 
Tôi cho rằng tùy duyên là như sau:
Tinh tấn không lười, cố gắng hết sức.
Khi gặp chướng ngại, phải lựa đường vòng.
Đã tận lực rồi, mà vẫn không được, thì tùy duyên mà thuận theo tự nhiên.

Tất cả thành bại đều tùy duyên mà hoan hỷ.


### 72. Mặt trời phổ chiếu chúc mừng Chân Phật Lầu


Tôi thích nhất là đọc Chân Phật báo. Hễ có độc giả nhắc đến nó là lại khiến tôi vui mừng thích thú kể nguồn gốc thành lập tờ báo, giới thiệu thành quả quảng bá. Nói không thể hết, rất hy vọng sẽ ngày càng có nhiều người đến hỗ trợ cho tờ Phật báo đầy giá trị phi phàm và ý nghĩa sâu xa này.
 
Với tất cả ý nghĩa, Chân Phật báo tràn đầy pháp vị chính là một tờ Phật báo rất trang nghiêm. Báo khích lệ chúng ta tích cực tu hành, đừng sợ hãi những trải nghiệm sẽ xảy đến. Báo là trụ cột cần phải có trong cuộc sống thường ngày của mỗi độc giả, là kim chỉ nam của hành giả trên con đường tu hành.
 
Mọi người đều cần biết Chân Phật báo thường xuyên lấy tin tức từ những thông tin trong nội bộ tông phái, tin tức ở các phân đường, nhằm giúp mọi người có thể chia sẻ học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau. 

Đặc biệt là các thông báo với vấn đề cần chú ý, cần quan tâm, mọi tin tức về dự định hoằng pháp của Căn bản Thượng sư.  

Tờ báo như những bước chân lanh lẹ, nhanh chóng truyền đi các lời khai thị thuyết pháp mới nhất, để cho hơn 300 vạn đệ tử đọc báo có được pháp vị "như người ta vẫn nói", vô cùng trân quý!
 
Chân Phật báo mang trên vai trách nhiệm lớn, hoằng dương Chân Phật Mật Pháp, quảng độ chúng sinh. Lại giống như một cây cầu nối, giúp đỡ đệ tử Chân Phật Tông và giúp đỡ Căn bản Thượng sư thuận tiện trong việc truyền thụ Phật pháp. Lại kết nối chặt chẽ như sợi chỉ nối liền tâm của đệ tử Chân Phật Tông với Căn bản Thượng sư. 

Độc giả hoan hỷ đọc, công đức vô lượng!
 
Sư Tôn cũng luôn đọc tỉ mỉ mỗi kì Chân Phật báo, cũng khen ngợi văn chương phong phú đặc sắc, có cả tiểu phẩm hài hước, có các câu chuyện về cảm ứng chân thực, có cái nhìn về tin tức sâu rộng. Các bài viết đều ẩn chứa sức mạnh vi diệu, nhờ độc giả mà chỉ ra được những mê cung muôn hình muôn vẻ của cuộc sống.
 
Tôi nhận thấy: một tổ chức thành công là lấy tập hợp sức mạnh của mọi người làm sức mạnh tổng hợp để ủng hộ văn chương, như vậy chắc chắn sẽ có hiệu quả. Tập hợp sức mạnh của mọi người cũng giống như tập hợp nhiệt năng của mặt trời. Mặt trời phổ chiếu khắp địa cầu, ánh sáng tràn ngập muôn nơi. 

Để hỗ trợ Chân Phật báo xây dựng tòa nhà Chân Phật, bên trong cũng có hội công đức Hoa Quang và các đơn vị phụ trợ. 

Mong ước và nguyện vọng của tôi chính là: những gì tòa nhà Chân Phật cung cấp sẽ có thể được sử dụng hết, nhờ đó lan truyền rộng rãi tinh thần Chân Phật, quảng độ chúng sinh, giúp cho những chúng sinh hữu duyên có được giá trị nhân sinh quan vĩnh hằng.
 
Tháng 2 năm 84
(Tháng 2/1995)


### 73. Hành trình về phương Đông - về Đài Loan hoằng pháp


Ngày 28 tháng 12 năm 1994, chúng tôi theo chân Sư Tôn, ngài được mời đến Đông Hồ đường, Đài Đông để khai quang an vị chư Tôn trong nội đường. Ngài cũng hỗ trợ việc lên kế hoạch xây dựng Đông Hồ Lôi Tạng Tự, giúp dùng la bàn xác định phương hướng. 

Chúng tôi chỉ lưu lại được thời gian ngắn là hai ngày một đêm, nhưng tất cả mọi thứ ở đó đều khiến người ta cảm thấy vui từ trong tâm, trong kí ức tâm linh đều lưu lại dấu ấn nụ cười. 
 
Vùng đất đó có một bên là dãy núi trung tâm, một bên là Thái Bình Dương. Nhìn ra phía xa xa, những sườn đồi gió thổi làm nghiêng ngả những ngọn cây, dường như chúng đang vẫy  vẫy, chào đón chúng tôi. Gió biển Thái Bình Dương cũng nổi lên từng đợt như cổ vũ, biểu lộ sự chào mừng. 

Xe chạy trên đường thưa thớt và từ tốn, con người thì thong dong đi bộ trên đường phố, đây là cảnh tượng của một đô thị ở Sơn Thành. Cảm giác an tịnh hòa bình cát tường đó chính là một nơi tốt cho việc thiền tọa của người tu hành sống trên núi.
 
Chúng tôi đi vào vườn na, hương vị quê hương quen thuộc ở đó khiến tôi nhớ đến cuộc sống lúc còn nhỏ ở quê nhà. Nhớ lúc đi bắt nòng nọc trên ruộng lúa, đào khoai lang ở vườn rau, chơi trốn tìm ở trong những đống rơm… Hương vị của mảnh đất quê này đưa tới những hồi ức vô cùng rõ ràng và thân thiết.
 
Tôi để ý tìm na, lại không ngờ đúng vào mùa thu hoạch na. Tôi trông thấy trên những cây na đầy những quả na chín to bằng bát ăn cơm, khiến người ta mới nhìn đã thấy thèm. Chúng tôi dùng na làm bữa chính, làm điểm tâm, làm ăn vặt buổi đêm, ăn sung sướng đến đầy tay phồng má, chẳng còn màng đến những sơn hào hải vị khác. Chúng tôi không màng đến có hay không quần áo satin, không màng đến những cỗ xe hoa trang trí pháp hội, lúc này có thể được thực sự vui vẻ mãn nguyện mới là việc tuyệt vời nhất.
 
Buổi tối hôm đó, chúng tôi bày tiệc ngoài trời ở quảng trường để mọi người được tận hưởng một bữa cơm bên dưới những vì sao. Tất cả cùng thưởng thức những món ăn ngon, chẳng  cần phải tranh giành với ai. 

Tiếp đó, chúng tôi mặc y phục của những người dân tộc, mọi người nắm tay nhau làm thành một vòng tròn lớn, vừa hát vừa nhảy rất sảng khoái. Có rất nhiều người không cưỡng lại được sự vui vẻ liền nhập hội cùng nhảy với nhau. Tiếng hát ngày càng vang lớn và thuần thục, những bước nhảy cũng quen và đều nhau hơn, những niềm vui gắn bó nhẹ nhàng sâu sắc, những tiếng vỗ tay theo nhịp truyền thêm cảm hứng cho người xem. Tất cả cùng hòa điệu trong trạng thái quên đi bản ngã.
 
Âm nhạc và điệu múa là một dạng nghệ thuật, là thẩm mỹ của con người giữa trời đất. Vào đêm ở Đông Hồ Đường đó, chúng tôi đã trải nghiệm được niềm vui nhất của con người trong trời đất. Nhân gian tựa như thiên đường. Nếu có thể khiến niềm vui này kéo dài mãi mãi, mọi thứ đều tươi sáng, ngày ngày đều vui vẻ, cũng chính là: tâm không còn trở ngại, tâm không nhiễm bụi trần, tâm không còn vị kỉ. Đó chính là hành giả thanh tịnh.
 
Tháng 2 năm 84
(Tháng 2/1995)


### 74. Ý nghĩa thực sự của giàu và nghèo


Rất lâu trước đây, thời kì còn nghèo khó, tôi tin vào sức mạnh của đồng tiền: có tiền có thể tùy ý làm điều mình thích, có tiền là có tất cả, có tiền chắc chắn được vui vẻ, có tiền con người sẽ cao quý, có tiền có thể trường sinh bất lão, thậm chí có tiền có thể dùng quỷ trừ ma… Tôi thường xuyên mơ tưởng đến việc kiếm tiền.
 
Khoảng thời gian đó, tôi thực sự là "người nghèo tâm cũng nghèo", mỗi khi nhìn thấy người có tiền luôn cảm thấy bản thân mình thấp kém đi một nửa, cúi đầu hổ thẹn, giọng nói trở nên rất yếu ớt, bộ dạng ngại ngùng hoàn toàn thiếu tự tin, cảm thấy rằng nếu không có tiền, sống trên thế giới này cũng chẳng có tương lai. 
 
Sau này, tôi đi vào con đường đạo, rồi nhận được những ảnh hưởng từ sự từ bi hỷ xả của Sư Tôn, được Sư Tôn truyền sức mạnh của pháp. Tôi bắt đầu hiểu rõ được việc học Phật quan trọng hơn tiền bạc, hiểu rõ rằng học Đạo trân quý hơn tiền bạc. 

Tôi đột nhiên mở rộng tầm nhìn, trở nên không còn chú ý vào việc có hay không có tiền. Tôi hiểu được sâu sắc rằng "có thêm một món đồ vật chất là sẽ có thêm một sự phiền não", hiểu được có tiền, hay không có tiền hoàn toàn không có liên quan gì đến việc tu tập thành tựu.
 
Tôi tự nhận thấy mình đều đã trải qua giai đoạn "nghèo nhất" và "giàu nhất", tuy nhiên bây giờ cảm thấy nghèo hay giàu chỉ là dựa vào nhận thức của tâm niệm. 

Tôi lại nhận thấy bởi vì tâm tham niệm muốn có được sở hữu mà sinh ra tất cả mọi phiền não chướng ngại. Chỉ người có tâm linh trống rỗng, không có được mưa pháp cam lộ mới là  người nghèo nhất. Người tâm vô sở cầu, sống theo tự nhiên, tâm linh thanh tịnh, trong tâm có Phật, tâm hiện quang minh, là người giàu có nhất.
 
Vật chất trên thế gian, bao gồm cả bản thân, đều là ngắn ngủi. Chúng ta sinh ra không có gì, ra đi cũng tay không, không có vật chất nào có thể ôm lấy vĩnh viễn, đó chẳng qua chỉ là phù du trong đời người, tại sao phải bám chấp chứ.

Danh vị cao, cuối cùng cũng trở về hư không.
Thậm chí vinh hoa phú quý cả đời, đến cuối cùng, vẫn là: người đi vật ở lại.
 
Những lời này tôi viết ra từ cảm tưởng của mình khi nhìn ngắm vương miện kim cương của vua Louis ở bảo tàng Louvre, Paris nước Pháp. Tôi cảm thấy ngắm những di sản văn vật cũng là một việc đầy ý nghĩa, tâm trạng cũng vui thích.


### 75. Chiến dịch tuyển chọn ở Đài Loan


Đệ tử Chân Phật Tông phát tâm không bỏ rơi người khác lại phía sau. Vào ngày 5 tháng 3 tại Đài Loan Lôi Tạng Tự, dựa theo tiêu chuẩn tuyển chọn pháp định, đã có buổi công khai tranh cử thành viên của ban điều hành, rồi từ các thành viên trong ban điều hành chọn ra một người làm trưởng ban. 

Vị trưởng ban này cũng sẽ chính là người đại diện cho chức danh Tổng Hội Chân Phật Tông Mật Giáo Đài Loan Trung Quốc, mỗi phân đường đều nhiệt liệt hưởng ứng tham dự, hơn nữa còn đề cử người ra tham dự tranh cử.
 
Quá trình bầu chọn gây ảnh hưởng rất lớn, mọi người thảo luận nhiệt tình. Có người tình nguyện xung phong giúp làm nhân viên bầu cử, chạy đông chạy tây để kêu gọi ủng hộ cho ứng cử viên. Có người lại âm thầm thu xếp, có vẻ án binh bất động nhưng cũng nhìn gió bẻ lái thuyền để nhắm trúng một phát, thái độ đều thăm dò nhất quán. 
Tin tức về tuyển chọn rất sôi động, cứ giống như bầu cử đảng chính trị của văn phòng chính phủ vậy. Từ đây cũng có thể thấy là cuộc bầu chọn này là cuộc tinh tuyển tự do, công bằng, cũng là một sự kiện tốt để mọi người tham gia nhiệt thành.
Có người hỏi tôi: "Bầu cho ai là tốt nhất?" Tôi nói: "Bầu cho ai cũng như nhau, bất kể ai được chọn cũng sẽ đều hộ trì như nhau."
 
Sau khi công bố người được bầu chọn, Thượng sư Trác Ưu Cận đã gần như lập tức gọi một cuộc điện thoại đường dài đi quốc tế, với tâm trạng đầy lo lắng vì gánh trách nhiệm nặng nề. 

Thượng sư Trác Ưu Cận nói: "Sau khi công bố tôi được chọn làm trưởng ban điều hành, dưới những lời chúc mừng của mọi người, một hồi lâu tôi không thể tự chủ được bản thân, im lặng một lúc, không biết phải làm gì. 

Muốn nhân cơ hội này tôi báo cáo với Sư Tôn một sự việc cảm ứng có thật. Sau khi tôi đến Seattle tham dự pháp hội Đại Uy Đức Kim Cương Bất Cộng Pháp, trên chuyến bay trở về, lúc đang tập trung trì niệm Thượng sư Tâm Chú liền rơi vào nhập định, đột ngột cả người tê liệt không thể nhúc nhích. Không ngờ cảm ứng thấy Sư Tôn xuất hiện chọn giao cho tôi một trọng trách lớn, nói rõ ràng mạch lạc rằng: "Trưởng ban điều hành ngoài bà ra thì không thể là người khác." Cảm ứng này in đậm sâu sắc trong lòng tôi. Sau đó, tôi đem cảm ứng này kể cho con gái nghe, đồng thời cũng nói rõ là tôi không có hứng thú ra mặt ứng cử. Không ngờ hôm nay đến Lôi Tạng Tự thì đã được giao phó cho chức danh trưởng ban điều hành."
 
Từ việc này có thể thấy rằng Thượng sư Trác Ưu Cận được chọn làm trưởng ban điều hành là một việc rất rõ ràng, không chỉ hợp với sự mong đợi của mọi người mà còn là Phật Bồ Tát trong cõi vô hình đã sớm sắp đặt. 

Cảm ứng vô cùng linh nghiệm. Thật sự là nằm ngoài sự kiểm soát của con người.
 
Thượng sư Trác Ưu Cận trong suy nghĩ của tôi là một vị nữ hào kiệt không cao ngạo không thấp hèn, làm việc gì cũng mạnh mẽ quyết đoán, dám nói dám làm dám chịu, là nhân tài tài trí xuất chúng. Sau khi bà phát tâm bố thí không từ bỏ một ai đã hết lòng tôn kính Căn bản Truyền thừa Thượng sư, là một vị Thượng sư thực tu có năng lực đáng quý hiếm có, lan truyền thiện duyên thù thắng nhất. Bà cũng lại có hơn 20 năm kinh nghiệm làm hành chính xã hội, tất cả các việc thiện đều có tiếng tăm nổi bật. 

Tôi nghĩ Thượng sư Trác Ưu Cận đảm nhiệm vai trò trưởng ban điều hành có thể kêu gọi được mọi người cùng hỗ trợ việc hoằng dương Chân Phật Mật Pháp, tin tưởng rằng mọi người nghe được tin tức này cũng sẽ hưởng ứng, đồng lòng hợp tác. 
 
Xin chúc cho bà trong nhiệm kì thuận lợi hoàn thành việc xây dựng Đài Loan Lôi Tạng Tự, đem lại lợi ích cho mọi người!
 
Tháng 3 năm 84
(Tháng 3/1995)


### 76. Tôi nghe như vầy


Tôi biết: Truyền đại pháp, chắc chắn sẽ có dấu hiệu cát tường, đặc biệt là lần này Sư Tôn truyền thụ pháp tối cao của dòng mũ vàng - Đại Uy Đức Kim Cương Bất Cộng Pháp, khuấy động cả vũ trụ ngũ đại, địa, thủy, hỏa, phong, không.
 
Vốn dĩ đang là một ngày thời tiết nắng đẹp gió nhẹ, ánh mặt trời chiếu rọi khắp nơi, bỗng nhiên rồng bay tới, đại địa chấn động (động đất), địa thần bắt đầu khai mở. 

Hộ pháp và đồng môn tại Seattle Lôi Tạng Tự đã gấp rút bí mật chuẩn bị sắp đặt thanh la trống đánh. Những bước chân bận rộn gấp rút, mỗi người đều mang tâm trạng vui vẻ nghênh đón các học giả chuyên cần đến tham dự. Ngay cả đến hoa xung quanh chùa cũng nở rộ tươi cười, ngả đầu đứng đợi. 
 
Trời tối, thời tiết đột ngột biến chuyển, mây đen dày đặc vần vũ cả bầu trời Seattle, sương cũng giăng mịt mù khu vực núi xung quanh gần đó. Các xe đi lại đều phải bật đèn trước, khiến người ta có cảm giác mờ ảo, không rõ là ban ngày hay ban đêm, cứ như cho thấy sắp xảy ra chuyện lớn gì đó!
 
Tiếp đó, gió hối hả thổi tới, gió lộng mây vần, gió thổi tóc chúng tôi rối tung, thổi xuyên qua váy của đội múa cổ vũ, gió táp vào má, thổ lộ vào bên tai pháp vụ của mình. 

Mưa không đợi được thêm, rốt cục cũng đua nhau rơi xuống, mưa từng hàng từng hàng liên tiếp, giống như hàng nghìn hàng vạn chuỗi vòng ngọc trai từ trên trời rơi xuống, vô vàn trân quý. Tâm tư của mưa rất khéo léo, mưa rơi trên mái nhà, rơi trên lều, rơi trên thân, nhẹ nhàng khai mở tâm linh của chúng tôi.
 
Thế rồi đột nhiên xuất hiện liên tiếp những bông tuyết bay lẫn cùng với gió mưa, duyên dáng hòa điệu múa, nước hay sữa hòa tan vào nhau không phân biệt, tôi chính là bạn, bạn chính là tôi. 

Nhiệt độ không khí đột ngột hạ thấp xuống âm 10 độ.  Mặt đất đông cứng, cái lạnh khiến người ta run rẩy, quần áo mọi người mặc trên người trông giống như là từ Bắc cực tới vậy, cả nghìn đệ tử tập trung dưới mái lều lớn, lắng nghe Sư Tôn khai thị, chìm đắm trong không khí "tôi nghe như vầy".
 
Lần này Sư Tôn truyền đại pháp có ý nghĩa đặc biệt bí mật, bí ẩn. Tôi cảm nhận sâu sắc, mình sẽ vĩnh viễn không quên, cho dù sau này có già, quên tên người, quên tên địa danh, quên hết, nhưng tôi vĩnh viễn không quên ân huệ của buổi truyền thụ Đại Uy Đức Kim Cương Bất Cộng Pháp.
 
Tháng 4 năm 84
(Tháng 4/1995)


### 77. Người họa sĩ đặc biệt


Tôi thường nghĩ thế này: "Sư Tôn là một họa sĩ vô cùng đặc biệt."
 
Đặc biệt: không gì là không thể làm được. Sư Tôn chỉ mất có vài giờ đồng hồ quan sát kĩ lưỡng giáo viên Chu Mộc Lan thị phạm vẽ tranh, từ đó tự mình phân tích, nghiên cứu, học tập. Ngài thường xuyên tham khảo những tác phẩm của các danh họa, tự luyện tập cách cầm bút và pha màu, sử dụng cây bút tài năng và tuyệt diệu để thể hiện những ý thơ tình cảm, thiền ý, hương vị triết học. Từng bức, từng bức họa, tác phẩm giống như măng mọc sau mưa, nhiều đến ấn tượng.
 
Đặc biệt: trí nhớ rất lâu. Mỗi lần Sư Tôn ra ngoài vẽ phong cảnh tĩnh vật, nhiều khi không đem theo dụng cụ vẽ. Ngài có thể từ đầu đến cuối quan sát rồi đem sông nước cảnh vật thấm nhập vào trong tâm, hòa thêm những hoài cảm tâm linh, sau đó mới từng chút một vẽ ra trên tác phẩm, chính xác giống như  dùng máy chụp ảnh.
Người ta nói rằng: người mới bắt đầu học vẽ, thông thường để vẽ được một bức tranh như ý thì phải có kinh nghiệm vẽ qua vài trăm hoặc vài nghìn bức tranh trở lên. Từ đó mới chọn ra được một bức thành phẩm, sau đó lại cần mô phỏng những dạng thơ kệ của tiền nhân, vắt óc suy nghĩ, mới có thể viết ra đề tự hoặc đề kệ trên tranh.
 
Nhưng Sư Tôn đặc biệt không giống như vậy, không phải trải qua quá trình học tập từ bước đầu. Mỗi lần ngài hạ bút đều có thành phẩm, rất ít khi có khiếm khuyết mà phải vứt bỏ, sau đó  ngài sẽ kí tên tự do, tuôn chảy những dòng suối trí huệ mát lành. Đây chẳng phải là sự đặc biệt trong cây bút của Phật hay sao? 
 
Những bức họa của Sư Tôn giống như ghi lại các sự tích của Phật, chỗ nào cũng bộc lộ những diệu kì và huyền cơ, chép lại quá khứ, hiện tại và vị lai, chỉ ra con đường chân lý dẫn đến thế giới vĩnh hằng. Đây có lẽ là những bức họa của Phật không gì có thể so sánh.
 
Sư Tôn sáng tác theo kiểu "không làm thì thôi, hễ làm thì khiến người ta kinh ngạc". Trong thời gian vẽ tranh ngắn ngủi chỉ có hai năm, ngài đã có hơn 1000 bức họa, đã tổ chức thành công 6 lần triển lãm tranh, thu hút rất đông dòng người đổ về thưởng thức. Những bức họa nhanh chóng chiếm được cảm tình và  sự ngưỡng mộ của mọi người. Sư Tôn đã "lập kỷ lục họa sĩ sáng tác có khả năng thể hiện nhiều phong cách đặc sắc".
 
Tôi rất ngưỡng mộ Sư Tôn ở phong cách vẽ tranh vô câu vô thúc, tự nhiên phóng khoáng. Ý tưởng của ngài thanh tịnh thiên bẩm, lại từ ý tưởng có thể dùng bút phác họa ra cuộc sống một đời người từ lúc bắt đầu, trưởng thành cho đến khi đi tới tận cùng viên mãn. 

Từ trong cuốn sách tranh huyễn tưởng về hoa sen này có thể thấy được ý cảnh thanh tịnh của từng đóa hoa sen, khiến chúng ta đều cùng nắm bắt được hương vị màu sắc đặc biệt - hương thơm thanh tịnh của hoa sen.


### 78. Bằng chứng chân thực


Các đồng môn thường hỏi Sư Tôn những câu giống nhau, nhưng ngài vẫn luôn luôn kiên nhẫn, từ bi trả lời đi trả lời lại.  Một thị giả phụ trách công việc như tôi ở bên cạnh cũng được hưởng lợi, hết lần này tới lần khác được ôn đi ôn lại. Nhất là tôi năng lực bẩm sinh vốn không tốt, phản ứng chậm, huệ căn bình thường, chính xác là cần phải được dạy đi dạy lại. Chỉ với cách thức được dạy đi dạy lại thì tôi mới từ từ thấm nhuần mà tiến bộ. Nghĩ vậy cũng thấy thật xấu hổ!
 
Có lần đồng môn hỏi Sư Tôn các vấn đề về tu hành và chuyển thế, tôi ở bên cạnh ghi lại một chút. Vấn đề này đáng lấy làm ví dụ để cùng động viên khích lệ mọi người.
 
Hỏi: Nếu cả đời này dùng hết tâm lực để tu hành nhưng vẫn không thành tựu, là vì sao?
Sư Tôn: Một, có liên quan đến căn cơ. Hai, phương pháp tu hành chưa chắc đúng. Ba, phương pháp đã tích lũy từ nhiều kiếp. (Phật Thích Ca Mâu Ni cũng phải trải qua rất nhiều kiếp mới thành tựu.)
 
Hỏi: Trong cách nói là tu từ nhân cho đến quả, nếu là thiên nữ hoặc Đại Bồ Tát chuyển thế, thì có phải là từ lúc sinh ra đã có pháp lực đặc biệt không?
Sư Tôn: Bất kể là vĩ đại thế nào, kiếp trước thần thánh bao nhiêu mà kiếp này không thực tu thực đắc, thì khẳng định sẽ không thể có được chứng lượng thực sự, do vậy sẽ không hiển lộ pháp lực.
 
Hỏi: Trong số các đệ tử quy y, có một số người là các vị Liên Hoa các màu sắc chuyển thế, họ có thể vãng sinh Ma Ha Song Liên Trì không?
Sư Tôn: Mặc dù là Liên Hoa Đồng Tử chuyển thế rất cao quý, nếu không thực tu thì vẫn là phàm phu tục tử, không thể trở về cảnh giới ban đầu. 
Người có thể cùng Căn bản Thượng sư tương ứng, mỗi người đều là Liên Hoa Đồng Tử, chắc chắn sẽ đến Ma Ha Song Liên Trì.
 
Đệ tử: Những người chuyển thế từ cảnh giới bình phàm, khi tu hành liệu có khó thành tựu không?
Sư Tôn: Thành tựu không nằm ở việc chuyển thế, càng không nằm ở cảnh giới, mà là sự hiển hiện tâm linh tự ngã.


### 79. Truyền thừa là quan trọng


Có phân đường gửi thư đến với tâm trạng tuyệt vọng, kể lại tình hình sự việc của phân đường, mong muốn được Sư Tôn chỉ dẫn và gia trì để thúc đẩy đồng môn gia tăng trí huệ, không mơ hồ mờ mịt nữa. 
 
Thư gửi đến nói: nội đường đồng tu, chọn ra một nghi quỹ tu pháp hoàn chỉnh để làm thành pháp tắc đồng tu của nội đường. Họ đặc biệt tổ chức một buổi họp thảo luận, không ngờ mọi người tranh luận không ngừng, mỗi người khăng khăng một ý, bảo thủ ngoan cố, không nhượng bộ nhau, dẫn đến nội bộ chia rẽ. Cuối cùng tất cả chỉ ngồi khô tại nhà mà không đến phân đường đồng tu nữa, hội đồng tu có lúc lạnh lẽo không một ai, chỉ còn Phật Bồ Tát ngồi cao trên đàn thành, như như bất động.
 
Mặc dù tranh luận không phải vì danh, không phải vì lợi, nhưng cũng phiền não vì tranh giành pháp môn. Bởi vì có một số vị  cho rằng phải lấy Liên Hoa Đồng Tử tương ứng pháp làm pháp tắc đồng tu của nội đường mới đúng, nhưng có một số vị khác lại cho rằng, trước tiên phải lấy Tứ gia hành làm cơ sở mới đúng. Một số vị khác lại cho rằng trước tiên cần tu Điều khí hoặc Cửu tiết phật phong trước, hoặc trì niệm Thượng sư tâm chú một triệu biến trước… mỗi người một ý.
 
Thực tế, mỗi một pháp đều rất quan trọng, nếu chiếu theo quy củ Mật giáo, trước tiên phải trì tụng xong một triệu biến Thượng sư Tâm chú mới có thể tiếp tục các gia hành khác. Phải từ từ tạo dựng nền tảng, mỗi một gia hành đều phải đạt được tương ứng thì mới có thể tiến thêm một bậc cao hơn để tu Thượng sư tương ứng pháp.
 
Sư Tôn từ bi từng khai thị: 
Những đệ tử Chân Phật Tông có phúc duyên thù thắng, trí huệ siêu nhiên, sau khi quy y có thể tu thẳng ngay Thượng sư tương ứng pháp.

Nhưng những đệ tử bình thường thì phải trì niệm tâm chú và tu thêm pháp Kim Cương Tâm Bồ Tát, tu trì như vậy mới có thể khiến cho hành nguyện của hành giả Mật tông kiên cố vững chắc được như kim cương.
 
Thứ tự của Mật pháp là từ: Tứ gia hành, Thượng sư tương ứng pháp, Bổn Tôn pháp, Khí mạch, Minh điểm, Kim cương pháp, Vô thượng mật, cuối cùng đến Đại viên mãn. 
Mật pháp xem trọng thứ tự từng bước mà tu lên. 

Phân đường có thể lấy Liên Hoa Đồng Tử tương ứng pháp để làm phép tắc đồng tu, nhưng nếu hiểu rõ tính quan trọng của dòng truyền thừa thì sẽ càng có thêm được lực gia trì của dòng truyền.

Lấy truyền thừa làm gốc rễ, lấy thứ tự làm chủ yếu, vậy thì việc tranh giành pháp môn sẽ tự nhiên được hóa giải.


### 80. Hoài niệm Linh Tiên Các


Tại khu vực tây bắc Seattle có một bộ phận khí hậu mang tính chất điển hình của cái lạnh phương bắc. Cứ mùa đông đến là cái lạnh sẽ đe dọa con người, khiến người ta phải co rúm lại run rẩy trong giá rét. Cứ hễ tuyết rơi là cả đất trời đóng băng, giống như sống ở trong một nhà chứa băng lớn, có ai mà không bị đông cứng thành đá được đây?
 
Sư Tôn rất tiết giản, không muốn phải bật lò sưởi, Linh Tiên Các lại là một tòa nhà gỗ cũ 70 năm, không có thiết bị chống lạnh hoàn thiện, do vậy bên trong và bên ngoài nhà lạnh như nhau. Tôi và Phật Thanh, Phật Kỳ không tìm được góc nào ấm áp, chỉ có thể mặc quần áo chống tuyết thật dày để chống lại cái lạnh, nấu cơm, xào rau, làm việc, đi ngủ đều mặc quần áo chống tuyết. 
 
Hồi đó chúng tôi mới di cư đến Mỹ, còn lạ đất lạ người, ngôn ngữ chưa thông hiểu, có rất nhiều bất tiện, lại có cảm giác rơi vào tình cảnh cực kì cơ cực, do vậy phạm vi cuộc sống vô cùng bó hẹp. Chúng tôi không có người thân bạn bè, không có các hoạt động xã hội ngoại giao, giống như bị trói gọn trong một gian phòng hình hộp vậy, rất hiếm khi bước chân ra ngoài.
 
Khi đó tâm trạng tôi rất rối ren phức tạp. Cằn nhằn vì bị khí hậu mùa đông khắc nghiệt, lại phải chịu giới hạn trong hoàn cảnh thờ ơ thiếu tình người, lạnh nhạt bàng quan, tôi than phiền với Sư Tôn: "Nơi không có sự ấm áp, không có tình cảm, thật khiến người ta không lạnh mà vẫn run, chỗ này cơ bản không phải là nơi người có thể ở!"
 
Tôi thường đứng bên cửa sổ nhìn ra con đường trống không vô tận, suy tư về thế giới con người huyễn hóa, tự hỏi: "Đời người vì cái gì? Vì danh? Vì lợi? Vì tình? Vì bản thân? Vì người khác?…" Đột nhiên cũng có chút cảm giác cô đơn!
 
Tuy nhiên Sư Tôn không như vậy. Sư Tôn tự đóng cửa ở trong Linh Tiên Các, cuộc sống mỗi ngày đều chẳng có gì thay đổi, ngoài viết sách và thiền định ra vẫn chỉ có viết sách và thiền định. Sự tinh tấn và kiên trì đó chẳng ai có thể so sánh bằng.

Dưới sự ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của việc chỉ dạy, được thấm đẫm cam lộ của mưa pháp, tôi mới nhận thấy, hóa ra khi trong tâm có Phật, người cũng ấm áp. 

Linh Tiên Các thật ấm áp.


### 81. Chúc mừng Sư Tôn sinh nhật thứ 51


Tôi muốn hóa thành chim Ca lăng tần già, (*) chim Cộng mạng (*). Cất tiếng hót thanh nhã như thiên âm.
Luôn luôn ngợi ca sự trân quý của sinh mệnh.
Khi ở bên đông, khi ở bên tây.
Từ núi cao đến bình nguyên.
Từ đêm tối đến bình minh.
Lượn vòng khắp thập phương pháp giới.
Làm mặt trời phóng chiếu đại quang minh.
Làm âm thanh của vũ trụ! Nhẹ nhàng hòa hợp!
Nhịp điệu chung và tần số chung.
Có khi biến thành một thanh âm.
Không khởi đầu không kết thúc, bay vút lên vui sướng.
Ca tụng - Liên Hoa Đồng Tử sinh nhật vui vẻ!
Chú ngữ miên man, hát mãi không hết.
Om guru lian-sheng siddhi hum.
 
Tháng 6 năm 84
(Tháng 6/1995)

Ca lăng tần già: tiếng Phạn là Kalavinka, là tên của một loài chim quý, lông màu đen, mỏ đỏ, tiếng hót cực hay, êm ái, véo von hơn cả tiếng trời, thường sống thành cặp chẳng hề rời nhau, còn được gọi là mỹ âm điểu, diệu thanh điểu. Tiếng hót của loài chim này thường được ví như pháp âm của Phật. 
Cộng mạng: là một loài chim lạ, cực kỳ quý hiếm sống ở Tuyết Sơn, với đặc điểm là tuy một thân nhưng có hai đầu nên còn gọi là mạng mạng điểu hay sinh sinh điểu.


### 82. Dòng chảy pháp giới vĩnh viễn không dừng


Gần đây tôi cùng vài đồng môn nói chuyện trải nghiệm tu pháp, từ việc học hỏi trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau có thể rút ra được không ít những kinh nghiệm và động lực. 

Mọi người trao đổi đầy hứng thú nhiệt tình, trong số đó có một đồng môn lo lắng nói:
"Sư Tôn là cha mẹ huệ mệnh của chúng ta, truyền cho chúng ta mật pháp trân quý vô thượng trên thế gian, khiến những bộ não vốn trống rỗng của chúng ta bây giờ không ngờ cũng có một chút trí huệ, giúp cho bản thân trong cuộc sống này xác định được một phương hướng đúng đắn. 

Giờ ta cứ theo phương hướng này mà tiến tới, bất luận là gặp phải chướng ngại hoặc thiên tai biến động lớn thế nào, vẫn bám giữ lấy mục tiêu ban đầu không thay đổi, dũng cảm tiến lên phía trước, thậm chí thề nguyện có lòng tin tưởng kiên định không lay chuyển, đời đời kiếp kiếp theo Sư Tôn cho đến khi đến được bến bờ giải thoát.
 
Thế nhưng, gần đây phát hiện ra Sư Tôn truyền pháp từ cơ sở là Tứ gia hành, tiếp đó là pháp Bổn Tôn, sau đó truyền các loại Kim cương bất cộng yết ma pháp, gần đây nhất lại truyền nội pháp cơ sở là Bảo bình khí, rồi Chuyết hỏa định, Lục nhật thể công pháp, tích cực cổ vũ các đệ tử tu luyện khí mạch minh điểm. 

Thời gian sau đó, trong "Mật Tông đạo thứ đệ quảng luận" Sư Tôn lại trình bày bí mật pháp tam quán đảnh và tứ quán đảnh, còn gọi là ngoại pháp, nội pháp, mật pháp, mật mật pháp. 

Cũng vì vậy mà sinh ra những lo ngại, lo ngại rằng liệu có phải Sư Tôn trao truyền hết thứ tự các mật pháp xong thì sẽ tuyên bố hoàn toàn ẩn cư không? Lo sợ nhất là Sư Tôn thực sự hoàn toàn ẩn cư rồi chúng ta sẽ đi đâu về đâu đây?"
 
Nghe những lời này của đồng môn, tôi cảm động sâu sắc khó có thể diễn tả được, liền phân tích với bà ấy rằng: 
"Việc Sư Tôn có hay không có ẩn cư, và việc hành giả tu tập tinh tấn là hai chuyện khác nhau. Cứ cho là Sư Tôn lui về ẩn cư, thì ta vẫn cứ theo pháp mạch truyền thừa mà tu, vẫn được thành tựu truyền thừa như thường.

Một vị Phật sống đã chứng đắc tính Không, dung nhập với vũ trụ, pháp thân sẽ có tại khắp hư không, gia trì cho hành giả, quán đảnh truyền thụ Phật pháp, dòng chảy pháp giới vĩnh viễn không dừng."
 
Đến từ vũ trụ, pháp thân truyền dạy, thù thắng vô cùng! 
Đừng lo lắng liệu Sư Tôn có lui về ẩn cư hay không!


### 83. Phụ lục. Người mẹ của Chân Phật Tông


Tác giả: Liên Hoa Hinh Liên
 
Tấm lòng từ ái của Sư Mẫu đã được tất cả đệ tử công nhận và ca tụng. Lòng từ bi và đại trí huệ của Sư Mẫu tại triển lãm tranh của Sư Tôn vào ngày 31 tháng 12 năm 83 (năm 1994) lại một lần nữa khiến tôi sốc vì cảm động.

Chuyện là như sau: 
Đệ tử của Trang Nghiêm đường lấy tấm hình Sư Phật diễn hóa bàn tay lưu ly để in trên mặt chính của tấm danh thiếp, còn mặt sau thì in Trang Nghiêm đường. 

Ngày 23 tháng 12 mọi người đón Sư Phật về nước, ở sân bay đã đưa một tấm mẫu cho đồng môn sống tại Tân Trang để in ấn. Vị đó từng in ấn rất nhiều sản phẩm văn hóa, hoàn toàn chịu trách nhiệm, đảm bảo không có sai sót.
 
Kế hoạch là thỉnh Sư Tôn mở màn ngày hôm đó với việc ban gia trì, cho phép những người có được tấm hình Phật này đều được việc dữ hóa lành, tai ách tiêu trừ, cắt đứt bệnh khổ, quy y Chân Phật.
 
Ai biết được rằng ở bên ngoài phòng tranh Thanh Khê, chúng tôi vừa cầm trên tay các tấm hình được in thì ôi trời ơi! 

Trong lòng lập tức buồn thảm, niềm vui trên khuôn mặt lập tức đông cứng, con mắt cũng lập tức trố ra, Liên Sinh Hoạt Phật "diễn hóa" lưu ly thủ đã bị in thành "diễn đại".

Các Pháp sư nhìn thấy, có người nói: "Không được! Có lỗi thế này không thể nào phân phát được." "Trả về để tiêu hủy thôi, in sai rồi không thể phát ra…'' 

Cả nhà người đồng môn kia mặt đều tối sầm lại. Đã từng gọi nhiều cuộc điện thoại để chỉ dẫn cẩn thận, bàn giao, sau khi chế bản xong muốn xem trước bản thiết kế, bên in ấn luôn lặp lại rằng bảo đảm, nói cứ yên tâm, tuyệt đối không sai sót, nhất định sẽ hài lòng… 
 
Bây giờ, một sai lầm ngớ ngẩn thế này, chỉ có thể hỏi Sư Mẫu giải quyết. Sư Mẫu đeo kính lên xem liền nói: "Sao lại sai đến mức khó tin thế này?"
"…" Đệ tử không biết nói sao.
"Sao không kiểm tra trước rồi mới đem in?"
"Bởi thời gian gấp rút, hai nơi lại xa nhau."
"Vì sao lai giao cho nhà này in vậy?"
"Anh ta vốn là đệ tử đồng môn, rất phát tâm, đã in rất nhiều sản phẩm văn hóa tặng Lôi Tạng Tự, lại liên tục nói sẽ đảm bảo, cho nên mới…"
"Đã in bao nhiêu tấm rồi?"
"Mười bảy nghìn tấm."

Sư Mẫu nhìn chăm chú vào hình ảnh Phật một lúc bèn nói: "Vẫn có thể dùng được! Liên Sinh Hoạt Phật diễn hóa hiện đại lưu ly thủ, ai nói là không thể dùng được, vẫn có thể dùng được, rất tốt!"
 
Nghe những lời này của Sư Mẫu, những con tim đã rơi xuống địa ngục của đệ tử lúc đó giống như khói được bay thẳng lên trời cao. Những lời nói và suy nghĩ vội vã tuôn trào như muốn nổ tung, ngũ sắc lộng lẫy, mười phần diễm lệ, quang huy xán lạn, không bút mực nào có thể hình dung được… vô cùng cảm động, tán dương.
 
Trời ạ:
Sư Mẫu tâm lượng vô cùng: có thể bỏ qua được lỗi lầm lớn của người khác.
Sư Mẫu từ tâm vô cùng: giống như người mẹ bao dung cho lỗi lầm của chúng ta.
Sư Mẫu bi tâm vô cùng: lo sợ đệ tử phải chịu tổn thất mười bảy nghìn tấm ảnh.


### 84. Phụ lục. Bức thư gửi Sư Mẫu


Sư Mẫu kính yêu nhất
Mong Sư Mẫu bình an!
Mặc dù không được nhiều lần tiếp xúc với Sư Mẫu, nhưng mỗi lần gặp mặt ngắn ngủi, luôn khiến con ấn tượng vô cùng sâu sắc!

Còn nhớ thời gian tháng tư năm ngoái, gặp nhân duyên may mắn, con không ngờ có cơ hội được cùng Thánh Tôn và Sư Mẫu đi du lịch Nhật Bản, rồi có dịp được cùng Sư Mẫu đi dạo phố mua sắm.

Con phát hiện ra rằng năng lực quan sát của Sư Mẫu vô cùng thấu đáo, phẩm vị thật chẳng tầm thường, luôn luôn có thể rất nhanh đưa ra được gợi ý kết hợp trang phục xuất sắc cho đệ tử đi cùng, nhưng đối với bản thân mình thì lại vô cùng tiết giản. Đặc biệt mỗi lần trên bàn ăn có đồ ăn thừa, Sư Mẫu luôn luôn khích lệ những đồng môn trẻ tuổi cố gắng ăn thêm một chút, hãy trân trọng đồ ăn.

Sư Mẫu biết không? Gặp mặt Sư Mẫu luôn luôn khiến cho con người thẳng thắn và trung thực là con đây có chút căng thẳng và không biết phải làm gì. Thế nhưng một người tỉ mỉ như Sư Mẫu dường như có năng lực hiểu rõ rất thù thắng đối với hoàn cảnh xung quanh. Ngài luôn luôn không quên quan tâm đúng lúc, chăm sóc đệ tử cùng đi, thậm chí còn nhiệt tình giúp chúng con trộn rau! Sự chăm sóc tận tình đầy thân thiết của Sư Mẫu khiến con cảm thấy như được tắm trong sự ấm áp của gió xuân, nhờ đó sinh ra cảm giác được công nhận và thuộc về đại gia đình Chân Phật Tông này.

Ngày 23 tháng 12, Thánh Tôn trở về Đài Loan, sân bay Trung Chính có hơn một nghìn đệ tử đến đón. Được gặp lại các ngài  luôn khiến cho đệ tử trong lòng tràn ngập niềm hạnh phúc, quả thực vui đến nỗi giống như sắp vỡ òa.

Con luôn đứng từ xa xa nhìn về các ngài, như vậy cũng đã cảm thấy trong lòng mãn nguyện rồi. Khi xe buýt từ từ di chuyển, các ngài dựa vào cửa sổ xe vẫy vẫy tay chào đệ tử, còn con đứng trong đám người cũng nhảy lên nhảy xuống, cố gắng hết sức để cùng vẫy tay. Con giật mình phát hiện ra Sư Mẫu nội tâm bình thản, không ngờ vẫn chú ý thấy sự tồn tại của con, hơn nữa còn cười trước hành vi như trẻ nít của con nữa.

Ngày mồng một tháng Giêng, tại phòng tranh Thanh Khê, con lại một lần nữa được gặp mặt, Sư Mẫu nói mấy bài báo của con đăng trên Chân Phật báo viết rất tốt. Trong tích tắc con hiểu rõ Sư Mẫu vẫn quan tâm đến mỗi đệ tử bằng cả tấm lòng như thế đó, và giữa mọi người đều có mối thân tình như vậy! Con cảm thấy mình như được tắm trong dòng chảy ấm áp.

Lâu nay lái xe cho người, còn nhớ có lần con vô tình nghe được Sư Mẫu cùng đồng môn nói chuyện từng có lúc bận đến mức làm việc quá độ, mắt phải làm việc quá sức nên có một khoảng thời gian bị đau mắt, ra gỉ mắt.

Ôi chao! Chân Phật Tông đã là một tông phái có tính quốc tế, toàn cầu có 400 vạn đệ tử quy y, hơn 300 đạo tràng, hiển nhiên là có vô số việc của tông phái! Hơn nữa gần đây có rất nhiều việc cần phải phiền đến Sư Mẫu giải quyết, khéo léo xử trí mới có thể có được kết quả tốt nhất!

Mong rằng Sư Mẫu sức khỏe dồi dào, vạn sự như ý, bởi vì trong lòng chúng con đối với Sư Mẫu có vô vàn kính ái!
Kính chúc Sư Mẫu.
Phật an!
Đệ tử Liên Hoa Thục Mỹ chắp tay.
3.1.1995


### 85. Phụ lục. Ca ngợi Thượng sư Liên Hương


Tác giả: Tăng Văn Long
 
Liên Hương Thượng sư.
Cát Tường thiên nữ.
Diện mạo đoan chính.
Khí chất xuất chúng. 

Liên Hương Thượng sư.
Kĩ nghệ thiên nữ.
Tinh thông bách nghệ.
Sinh tử như nhất.
 
Liên Hương Thượng sư.
Nấu cơm cho Phật.
Phúc duyên thế nào.
Làm việc cho Phật.
Vất vả thế nào.
Thị giả cho Phật.
Vinh hạnh làm sao.
 
Liên Hương Thượng sư.
Đại phúc thiên nữ.
Tại Tối Thắng quốc.
Sớm trồng thiện đức.
 
Liên Hương Thượng sư.
Tỏa sáng khắp nơi.
Ánh sáng yêu kính.
Ánh sáng hoan hỷ.
Ánh sáng trân quý.
Ánh sáng vui tươi.
Ánh sáng hoa sen.
…
…

Đều là vô ngã.
Đều vì chúng sinh.
 
Liên Hương Thượng sư.
Thù thắng sao!
Đẹp đẽ sao!
Diệu kỳ sao!
 
Với tấm lòng biết ơn.
Ca ngợi.
Liên Hương Thượng sư.
Với tấm lòng ngưỡng mộ.
Đảnh lễ.
Liên Hương Thượng sư.


### 86. Phụ lục. Tác giả tự giới thiệu


Lư Lệ Hương, người Đài Trung, Đài Loan, sinh ra tại Cao Hùng vào năm Dân Quốc 38 (năm 1949), lớn lên tại Đài Trung, sau năm 34 tuổi thì di cư sống tại Seattle, Mỹ.

Tôi từ nhỏ hoàn cảnh gia đình nghèo khó, thường không đủ cơm ăn ba bữa, cuộc sống vô cùng gian nan vất vả. Bởi vì hoàn cảnh bần cùng, gia cảnh cực nghèo, tôi không có lựa chọn nào khác là phải giúp đỡ cha mẹ làm việc kiếm tiền. Do vậy từ năm lớp ba tiểu học đã bắt đầu vừa làm vừa học. Khi học năm thứ ba trung học, sau một trận ốm nặng thì tôi cũng nghỉ học. Việc gián đoạn học hành khi đó đã trở thành một sự tiếc nuối vô cùng lớn của tôi!
 
Việc quen với cuộc sống vừa học vừa làm đã nuôi dưỡng nên tinh thần chịu thương chịu khó. Trải qua hành trình cuộc sống nhiều gian nan vất vả, sau này tôi may mắn gặp được Liên Sinh Hoạt Phật, người đã đánh thức khai mở trí huệ khiến tôi được đắm chìm trong cam lộ của Phật pháp, trải nghiệm được những ngọt ngào của cuộc sống. Tôi đã có cái nhìn hoàn toàn mới về cuộc sống mà mình vẫn thường cho rằng xám xịt trước đây. Giờ đây tôi lại tràn đầy tự tin vào cuộc đời cũng như có được giá trị quan tươi đẹp về thế giới vĩnh hằng. 
Nhờ trải qua 25 năm khổ cực, từng làm qua nhiều loại công việc cần sức lực nặng nhọc, tôi có thể làm được đủ mọi việc tạp vụ. Bởi tính cách rất trầm nên tôi cũng làm được các công việc tỉ mỉ, giỏi khâu vá và làm việc thủ công. Tôi từng đảm nhận công việc thợ may, cũng từng được nhận vào làm giáo viên mầm non.
 
Tôi từng sống qua những giai đoạn cuộc sống đầy chông gai, đến cuối cùng đã tìm được sự bình thản an tịnh, vượt lên được khỏi con đường danh lợi. 

Tôi thích nhất là đọc sách, ngồi thiền, học Phật tu hành, giúp mình giúp người. Nếu có thời gian rảnh, tôi thích được yên tĩnh ở nhà, làm một chút việc nhà hoặc việc thủ công, v.v.

Tôi nghĩ: nếu như không phải khi còn trẻ đã trải qua những gian nan khổ nạn như vậy, làm sao có được khả năng như bây giờ. Những bi thương của tuổi thơ tiếc nuối thời kì muốn học mà phải thất học, lúc này đã trở thành một nét đẹp bị khuyết của tôi. 
 
Tôi muốn cảm ơn nhiều nhất tới giai đoạn cuộc sống khốn cùng. Giai đoạn đó đã giúp tôi trưởng thành. Lại càng cảm ơn Căn bản Thượng sư đã thắp sáng cuộc đời tôi, khiến tôi cũng học được cách tỏa sáng trong thế gian này.

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/3002-de-cuoc-song-bung-sang.md
# Title: 3002. Để cuộc sống bừng sáng
---

![image](/img/img_094c531cda087e4d0cf256ff628680df.jpg)



## Để cuộc sống bừng sáng


Văn tập số: 3002
Xuất bản năm: N/A
Tác giả: Thượng sự - Sư Mẫu Lư Lệ Hương
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🔎 **Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!**


### Lời mở đầu. Tán gẫu dưới bầu trời xanh


Lời tựa của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.

Thế giới này vốn rất bình thường, bởi vì có con người nên mới trở thành rất không bình thường.
Chỉ toàn là những âm thanh ồn ào huyên náo.
Và những bi kịch buồn đau của nhân gian.
Không những thế:
Có một chút loạng choạng.
Có một chút nhơ bẩn.

Tôi cúi người trên bàn viết những lời tán gẫu này. 
Chẳng phải là để làm hình mẫu cho ai.
Chẳng phải là biểu hiện bên ngoài cho đẹp đẽ.
Chỉ là mở ô ra hưởng lấy chút mát mẻ. 
Hy vọng rằng có thể khiến con người trong thế giới đầy âu lo này.
Có thêm được một chút bình an.


Lời bạt: 
Thượng sư Liên Hương (Lư Lệ Hương) sắp xuất bản cuốn tuyển tập mới, có nhờ tôi viết lời mở đầu. Tôi nhắc đến những lời tán gẫu dưới trời xanh, ý muốn ám chỉ rằng thiên hạ vốn vô sự, chỉ vì có con người nên mới "lắm chuyện". 
Chuyện đời cần những lời chân thành, cuốn sách này chính là những lời chân thành. 
Mùa hè, năm 2000.


### 01. Hồi tưởng về mưa


Còn nhớ ngày nhỏ, khi làm văn tả trời mưa, trong bài văn, tôi đã tìm cách nói hết những sự bất tiện của mưa. Tôi không thích mưa.
Bởi vì, tôi chẳng có tiền mua áo mưa, ủng đi mưa, ô che mưa. Tôi lại nhút nhát, không dám đi nhờ ô của người khác, thế nên cứ đội mưa ướt sũng mà đến trường, rồi lại đội mưa ướt sũng trở về nhà.

Mùa mưa ở Đài Loan nổi tiếng với mưa gió bão bùng, tôi đi bộ trên đường bị mưa to gió lớn thổi tới tấp, cảm giác hạt mưa rơi xuống với áp lực như bị tạt nước vậy. Những cơn gió to thổi thốc từ sau lưng, khiến cho những bước đi của tôi loạng choạng lảo đảo, muốn ngã dúi về phía trước.

Cứ mỗi khi bầu trời dày đặc mây đen với tiếng sấm vang rền, nỗi sợ hãi trong lòng tôi chẳng có người nào biết, tôi chỉ có mỗi cách thầm cầu nguyện rằng trời chỉ xám xịt để ra oai thế thôi, sẽ chẳng có mưa đâu. Nhưng kết quả lại là mưa to gió giật, mưa liên tiếp như xối nước.

Lúc tan học, tôi một mình đi đường tắt, tôi thường chạy trên những con đường ở miền quê, trên những đường bờ ruộng, mưa càng to thì tôi chạy càng nhanh, dường như tôi trở thành cái bóng của mưa. Thế nhưng, tôi cũng thường ngã nhoài trên đường bờ ruộng ngập bùn, trong lòng tôi dâng lên một nỗi tủi hờn, nước mắt giàn giụa, nước mưa lẫn với nước mắt. Suốt thời tiểu học, tôi cứ chống chọi với mùa mưa như thế.

Thực tế, ngôi nhà của tôi là kiểu nhà cũ tường đất được làm từ bùn, mái nhà cũng là kiểu nhà cũ lợp cỏ, chỉ cần qua vài lần gió mạnh thổi tốc mái thì sẽ thành ra ngoài trời mưa to trong nhà mưa nhỏ. Bởi vậy, cho dù tan học, dũng cảm đội mưa chạy về nhà thì tôi cũng vẫn bị mưa dột vào nhà mà ướt, quần áo thường xuyên ướt rồi lại khô, khô rồi lại ướt. 

Nhà tôi nghèo, nghèo đến nỗi trong thiên hạ chẳng còn một chỗ nào cho tôi tránh mưa!
Mưa từng khiến cho tôi cảm thấy sự khốn cùng. Mưa khiến tôi cảm thấy yếu đuối. Mưa rửa trôi hết lòng tự trọng của tôi. Mưa gây nên bao sự phiền nhiễu. 
Dường như cuộc đời đã an định rằng tôi và mưa có nhân duyên đặc biệt. Seattle có nửa năm là mùa mưa, mùa mưa đến thì mưa giăng mịt mùng, mưa liên miên suốt cả ba tháng là chuyện bình thường. 

Sư Tôn nói: 
"Tôi thích mưa, thích nghe tiếng mưa, thật là thơ tình họa ý, những cảm xúc sáng tác dâng trào, vẽ tranh thoăn thoắt, trong lòng có mưa, trong tranh có mưa, mưa thấm đẫm chúng sinh"

Những cơn mưa thuở nhỏ, những cơn mưa ở Seattle đem đến những cảm xúc khác nhau, khiến tôi có nhiều hồi tưởng. Vũ trụ chứa đựng muôn vàn hiện tượng, sự vận chuyển của muôn vàn hiện tượng là hoàn toàn tự nhiên. Có thể phá bỏ quan điểm của chính mình mới có thể hiểu thấu được hoàn cảnh tự nhiên. 

Đến ngày hôm nay, cuối cùng thì tôi cũng đã tìm lại được chính mình từ trong mưa.


### 02. Mỗi ngày của cuộc đời


Mùa thu ở Seattle luôn có những cơn mưa phùn liên miên. Bởi vậy tôi cũng đã quen với những tiếng mưa tí ta tí tách. Mỗi buổi sáng ngủ dậy, tôi vẫn không quên nhìn ra ngoài cửa sổ xem mưa có còn rả rích hay không. Tối qua có sấm rền vang, tiếng sấm ùng oàng xen lẫn với tiếng mưa. Hễ gió thổi là cây cũng phát ra tiếng xào xạc, lá cây liên tiếp rụng xuống. Thì ra là mưa nóng lòng muốn kể cho tôi nghe câu chuyện của mùa thu.

Mưa nói: cả một đời người, trải qua những giai đoạn kể từ lúc thanh niên, thành niên, trung niên cho đến lúc lão niên dường như cũng giống như bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, cũng giống như lá trên cây, mùa xuân thì đâm chồi nảy lộc, mùa hè thì cành lá xum xuê, mùa thu thì lá khô rụng xuống, mùa đông thì héo quắt khô gầy. 

Mưa còn nói: đời sống của lá cây rất ngắn ngủi tạm thời, kể từ lúc nảy mầm cho đến khi lìa cành chỉ trong vòng một năm mà thôi. Mặc dù tiếc cho đời sống ngắn ngủi, nhưng lá cũng đã thể hiện hết sự rực rỡ của nó. Lá đã hoàn thành sứ mệnh của lá, bởi vậy mà tự nhiên thoải mái buông mình rơi xuống mặt đất.

Câu chuyện mùa thu mà những cơn mưa kể nghe thật hay, nhưng cũng khiến người ta suy ngẫm, và lại càng khiến người ta thức tỉnh. Bởi vì, con người khi bước vào tuổi 50, chẳng phải là đã đến giai đoạn mùa thu của cuộc đời rồi sao, sau quãng thời gian rụng lá là lại phải đón sự tàn cuộc của mùa đông. 
Có ai mà không lo lắng vì điều này?
Có ai mà không vì điều này mà thở dài cảm thán cho cuộc đời ngắn ngủi!

Lá cây muốn mãi mãi lưu giữ được hình ảnh đẹp đẽ nhất, nhưng nhân duyên hợp tan, bởi vậy nó không thể tự kiểm soát được.
Con người muốn khỏe mạnh sống lâu, nhưng đạo lý thành-trụ-hoại-không vốn là nguyên tắc của tự nhiên. Nếu hiểu được và biết cách thích ứng với điều này thì sẽ cảm thấy rằng: mùa xuân thật tốt, mùa hè thật tốt, mùa thu cũng rất tốt, mùa đông lại càng tốt.

Cuối cùng tôi đã hiểu, cho dù cuộc đời đi đến giai đoạn cuối mùa thu thì cũng cần nắm chắc lấy quãng thời gian của mùa thu, rung động trước mùa thu. Cần sống cho vui vẻ, có ý nghĩa, cần sống trọn mỗi ngày của cuộc đời.


### 03. Liên tưởng về ngày sinh nhật


Mỗi lần tôi nhận được thiệp chúc mừng sinh nhật của đồng môn gửi tới, hoặc khi gặp người nào đó chúc mừng sinh nhật tôi, tôi thường cảm thấy không thoải mái lắm. Tôi tỏ ra rất bối rối, nhất thời không biết cần làm gì nữa, không biết cần phải hành xử thế nào, trong lòng luôn trỗi dậy một cảm giác không sao mô tả được. Tôi cứ ngây người ra, ngay cả một câu nói cảm ơn cũng nghẹn lại trong cổ họng mà không thốt ra được. 

Thanh niên ngày nay đều thích tổ chức sinh nhật, đặc biệt là người sống ở các nước phương Tây, họ xem ngày sinh nhật là một ngày lễ quan trọng. Theo tập tục truyền thống của người Trung Quốc, tổ chức sinh nhật thì đa số dùng các loại thực phẩm cho các dịp lễ như rùa trường thọ, đào trường thọ, mì trường thọ nấu giò heo, trứng đỏ [ND: trứng gà được nhuộm đỏ phần vỏ ngoài ] để tượng trưng cho sự hoan hỉ, dâng cúng trời đất, cầu nguyện sống lâu. Người cao tuổi hoặc người có đức cao vọng trọng tổ chức sinh nhật thì trong ngoài thành phố đều vô cùng náo nhiệt, ai nấy đều biết hết.

Nói thật lòng: tôi không quen tổ chức sinh nhật, thiệp sinh nhật, quà sinh nhật, bài hát chúc mừng sinh nhật đều khiến tôi cảm thấy bối rối!

Còn nhớ lúc nhỏ, tôi nói với mẹ tôi một cách đầy hào hứng: 
"Hôm nay là sinh nhật con đó."
Mẹ tôi lập tức sầm mặt xuống, nói một tiếng lạnh lùng, bảo tôi đi tìm một cây gậy. Tôi hỏi để làm gì? Mẹ tôi đáp rằng: 
"Dùng gậy đánh cho mày một trận để cho mày biết hôm nay là sinh nhật!"
Mẹ tôi còn nói:
"Cái đồ ngốc này, nhà ta nghèo đến mức có được bữa ăn còn khó, lại còn đòi sinh nhật à!"

Còn nhớ hơn 20 năm trước, tôi cũng từng nói với Sư Tôn rằng:
"Hôm nay là sinh nhật của tôi."
Sư Tôn đáp lại với khẩu khí có chút hài hước rằng:
"Sống mỗi ngày còn quan trọng hơn tổ chức sinh nhật. Nếu muốn ăn bánh ga-tô thì có thể ra chợ mua một chiếc bánh bông lan về ăn, thế là được rồi."

Hơn nữa, từ nhỏ tôi đã rèn luyện thói quen tiết kiệm, không muốn người khác phải tiêu tiền vì mình, thấy người khác tiêu tiền, bản thân tôi cũng thấy xót xa.

Tôi thích câu nói đầy chí lý đó của Sư Tôn - "Sống mỗi ngày quan trọng hơn tổ chức sinh nhật." Câu nói này đã để lại dấu ấn sâu đậm trong tâm trí tôi, vĩnh viễn không quên. Kể từ giây phút đó, tôi đã lấy thêm dũng khí, xốc lại tinh thần để phấn đấu vì mỗi ngày trong cuộc đời, mỗi bước chân đi lại vững chắc hơn, mỗi ngày trôi qua đều tràn đầy cảm xúc, mang niềm tin vững chắc để chào đón ngày mai.


### 04. Sao Thái Tuế giáng đầu


Rất nhiều người quan tâm đến hành vận của năm tuổi, nếu như gặp trúng sao Thái Tuế, bất luận là trực xung hay thiên xung thì đều lo lắng sợ hãi, tinh thần bất an, làm việc gì cũng lo lắng không yên, thậm chí còn ảnh hưởng đến giấc ngủ, cũng như thường run lập cập không biết cần phải làm gì. 

Nói chung, không chỉ là sao Thái Tuế giáng đầu là xung, người ta còn nói rằng tuổi gặp số 9 thì chắc chắn sẽ xung, ví dụ như 9, 19, 29, 39, 49, 59, v.v… Nhưng trong những số có con số 9 này thì chỉ có 49 tuổi là tương đối đặc biệt, bởi vì nó xung với năm lưu niên, xung với năm con giáp, lại mang số 9, thành ra có cả ba thứ đại xung.

Tôi đã từng đọc một cuốn sách ghi lại những tai họa xảy ra vào năm Thái Tuế, trong sách ghi chép lại những nhân vật gặp tai họa vào năm lưu niên nhiều đến nỗi tôi cũng không đếm, tuy nhiên, những người chết thì đa số là người xung phạm sao Thái Tuế và người mang tuổi có con số 9, thật khiến người ta sợ hãi!

Do vậy, rất nhiều người kị húy con số 9, hỏi những người đó bao nhiêu tuổi thì họ đều không dám trả lời thẳng mà thường sẽ nói bớt đi hoặc nhiều hơn một tuổi, họ cho rằng nói như vậy thì có thể tránh được tai nạn ập đến thân.

Năm lưu niên của mỗi người không hoàn toàn giống nhau, nó sẽ theo quỹ đạo vận mệnh đã được định sẵn mà vận hành, vận hành đến đâu thì sẽ phát sinh ra sự việc gì đều hoàn toàn là định số, giống như sự luân chuyển, tiết khí của bốn mùa xuân, hạ, thu đông là theo quy luật.

Tôi tuổi trâu, vào năm 49 tuổi chính là năm có vận mệnh đại cực xung. Tuy nhiên, tôi cho rằng, năm 49 tuổi có thể không hoàn toàn tốt lành, nhưng hà tất phải lo lắng sợ hãi, khiến cho tâm lý bị áp lực. Nghĩ về mặt tốt thì đại xung mới có thể đại phát, không xung thì không phát. Có xung thì mới có cái tốt, giống như sóng biển nổi lên, sức dâng lên càng cao thì bọt nước trắng sủi lên mới càng cao càng đẹp.

Xung phạm sao Thái Tuế thì ngoài cúng an sao Thái Tuế cầu bảo hộ bình an ra, càng cần phải cảnh tỉnh bản thân đối với mọi thứ cần phải suy nghĩ cân nhắc cẩn thận trước khi làm, thận trọng từng bước. Đối với phương diện tu hành thì càng cần nỗ lực tinh tấn gấp nhiều lần, từ việc trì chú, quán tưởng, thiền định mà đạt được sự chuyển hóa. 

Do vậy, việc "xung" này sẽ đẩy bản thân lên một tầng cao hơn, gặt hái được những điều không ngờ tới. 
Gặp sao Thái Tuế giáng đầu. 
Là lo? 
Hay mừng?
Nhìn nhận nó thế nào cũng được.


### 05. Thị phi chốn nhân gian


Tôi biết một câu chuyện, có một người phụ nữ đi làm ở công ty, bởi sếp phân bổ công việc không công bằng mà cô sinh ra tâm trạng bực bội không vui. Nhiều lần cô hẹn gặp sếp nói chuyện để đấu tranh cho sự bất bình đẳng trong phân công công việc, nhưng đều không đạt được sự thỏa hiệp. Cô tự cho rằng mình nhận được sự đãi ngộ không công bằng, lại không muốn chấp nhận thiệt thòi mà thỏa hiệp, bởi vậy cô đã từ chức. Cô nói: "Tôi thật hối hận đã làm việc cho công ty này."

Vì đổi nơi làm việc, rất khó khăn cô mới có thể tìm được một người bạn cùng thuê phòng trọ, có thể thấy niềm vui sướng trên nét mặt cô. Không lâu sau, vì sống cùng một nhà, một thân hai quen, tiếp xúc thường xuyên, nên đã mất đi sự lịch thiệp ban đầu, thường xuyên xảy ra cãi cọ, cuối cùng chỉ còn cách không ở cùng nhau nữa. 
Cô nói: "Tôi thật hối hận vì đã ở cùng với loại người ấy."

Cô tìm được việc ở một công ty khác, lại vì những mâu thuẫn trong nhân sự, không chịu được việc người khác chia bè phái, ghét thái độ nói chuyện của người khác, nghi ngờ người khác nói xấu mình sau lưng, cô tự cho rằng mình phẩm cách cao thượng, công chính liêm minh, không muốn cùng hội cùng thuyền với những người kia, do vậy cô lại rời khỏi công ty, cũng lại nói: "Thật là hối hận."

Hơn nữa, cuộc sống hôn nhân của cô, vì sinh kế gia đình mà cô thường xuyên tranh luận với chồng, trở mặt nổi giận là chuyện thường xuyên. Nghiêm trọng hơn nữa là cuộc hôn nhân 10 năm không con cái, cuối cùng cô tuyên bố ly hôn, lại là một tiếng thở dài thườn thượt, hối hận vì đã kết hôn!

Tâm tình khổ não trăm bề, cô hướng đến con đường học Phật, cho rằng cửa Phật thanh tịnh, Phật pháp vô biên mới là nơi để an thân lập mệnh, không ngờ chuyện vô thường luôn xảy đến bất kì lúc nào, tâm không tĩnh được, cô thường ngồi quắt queo nghĩ ngợi lung tung, luôn luôn cảm thấy người khác muốn làm hại cô. 
Cô nói: "Không tu thì không có chuyện gì, càng tu thì càng lắm chuyện, cửa Phật lắm thị phi, chi bằng đóng cửa lại tự tu." Cô loạng choạng bước chân rời đi.

Cô bị mắc kẹt trong những quan niệm, luôn sống trong sự hối hận, thật sự khiến người ta thương hại. Nếu có thể nghĩ nhiều hơn cho người khác, đứng từ góc độ của người khác để xem xét, quan tâm đến người khác nhiều hơn một chút, thì sẽ có những cảm giác khác đi, sẽ thay đổi những quan niệm của bản thân.


### 06. Nói chuyện nhân gian


Tục ngữ nói, con người sinh ra có ba cái khó:
"Lên trời khó", ý nói rằng tu hành đạt được thành tựu lên được cõi trời là rất khó.
"Kiếm tiền khó", kiếm tiền là vất vả, chẳng có chuyện ngồi chờ sung rụng không làm mà có ăn, thậm chí có làm việc cật lực cũng vẫn chẳng kiếm được nhiều tiền.
"Làm người khó", trên đời chẳng có ai luôn nhận được sự tán dương ca ngợi, đa số là thường bị nửa khen nửa chê. 

Tôi cảm thấy trong ba cái khó này, cái khó nhất chính là làm người. Đối với việc lên trời, mặc dù khó, nhưng vẫn có người lên trời được. Từ xưa đến nay, đã có rất nhiều người tu hành đạt được thành tựu lớn, họ không chỉ lên trời mà còn lên được đến những quả vị Phật, Bồ Tát cao quý, có thể thấy ở khắp nơi, do vậy mặc dù lên trời là khó, nhưng là vẫn có thể thành tựu được.

Đối với việc kiếm tiền khó, có lẽ chỉ cần bỏ sức lực, tâm lực thì nhiều ít cũng có thể kiếm được một chút tiền. Một khi phúc duyên đến thì vận may sẽ đến, có thể kiếm được nhiều tiền trở thành triệu phú, thậm chí trở thành người giàu đẳng cấp thế giới. Bởi vậy mặc dù kiếm tiền khó, nhưng vẫn có những cơ hội kiếm tiền đang đợi bạn. 

Cái khó cuối cùng là làm người khó, thật sự đây là một việc khó khăn nhất, tự cổ chí kim vẫn chẳng có người nào thật sự được người người yêu quý, nhận được sự tôn kính của mọi người và được người người tán dương. 

Làm người vốn dĩ là khó nhất. Nhân vật bình thường thì có phiền phức nhỏ, nhân vật có vai vế thì có phiền phức lớn. Đưa mắt ra nhìn thiên hạ, những người nổi danh đều khiến người khác đố kị, những kẻ vô danh tiểu tốt thì bị người khác kì thị coi thường, tiêu tiền phóng khoáng thì người ta bảo là lãng phí, tiết giản một chút thì người ta bảo là ki bo bủn xỉn, mặc quần áo đẹp, đeo đồng hồ xịn, lái xe xịn, thì người ta nói là tỏ ra vẻ hư vinh, nếu chất phác không đánh phấn tô son thì người ta bảo mặt nhàu cũ rích…………

Làm người thật khó. Bất kể là bạn làm tốt thế nào thì người ta vẫn luôn có lời phê bình, đây chẳng phải là do những bản tính vốn có của con người như bản ngã lớn, ích kỉ, đố kị… gây nên sao?

Tính cách con người vốn có những căn tính yếu kém, nếu như dựa vào quan điểm tính cách để quan sát vạn tượng vạn vật thì trên thế gian này sao có thể có người hoàn mĩ "làm người thành công" đây?

Bởi vậy, làm người cần phải có lý trí để đo lường bản thân, làm gì cũng cố gắng giữ sự cân bằng tốt nhất, đi trên con đường trung đạo, bất kể người khác nói gì đi nữa thì ý chí của bạn vẫn kiên cường, dũng cảm tiến lên trước thì mới có thể đạt đến mục tiêu lý tưởng.


### 07. Giữa được và mất


Cái chết của Công nương nước Anh Diana tạo nên một sự chấn động trên toàn thế giới, khiến tất cả mọi người trên toàn cầu phải chú ý. Bầu trời dường như phủ một bức màn u ám, một bầu không khí bi thương bao trùm, các phương tiện truyền thông thì đua nhau đưa tin bài. Người dân ở khắp nơi cảm thương, tiếc nuối cho cái chết của Công nương, thậm chí có người thu thập những tư liệu lịch sử có liên quan để viết nên một cuốn hồi kí về cô, hát lên bài hát "Ngọn nến trong gió" cảm động đến tận đáy lòng, khiến rất nhiều người rơi nước mắt! [ ND: bài hát "Candle in the wind" ]

Tôi từng đọc một bài báo đăng tin như thế này:
"Theo thống kê của một công ty chuyên cắt xén báo chí, các tờ báo lớn đưa tin về cái chết của Công nương Diana còn nhiều hơn so với các tin tức thời kì gay cấn nhất của chiến tranh thế giới thứ hai. Các tờ báo lớn của nước Anh đã sử dụng 35% trang báo để đăng bài về sự kiện này, trong khi tin tức về sự bại trận của Đức Quốc Xã chỉ chiếm 26% mặt báo. Điều này khiến cho cái chết của Công nương Diana trở thành tin tức lớn nhất thế kỉ này ở nước Anh."

Mọi người đều biết, sự việc khi Công nương Diana kết hôn rất ồn ào, khi ly hôn cũng rất ồn ào, khi chết lại càng ồn ào. 
Vào những lúc trà dư tửu hậu nói về chuyện này, mọi người có sự đồng cảm, nói đùa rằng: đời người chẳng phải là vì danh vì lợi sao? Được như Công nương Diana chết mà còn nổi tiếng như vậy thì có chết cũng tốt. Giống như cô ấy, đã hưởng hết mọi vinh hoa phú quý rồi thì chết cũng chẳng thấy hối tiếc gì!

Cổ nhân nói: "Tiền tài, con cái, tuổi thọ" là ba phúc báo lớn của đời người, nhưng ít người có được sự viên mãn không khiếm khuyết. Nhà giàu, có tiền có con, nhưng lại không thọ; nhà nghèo có con, sống lâu nhưng lại không có tiền; thêm nữa, có người có tiền sống lâu nhưng lại không có con. Do vậy, về mặt nhân duyên quả báo, vốn dĩ đã có định số từ lâu bạn sẽ được gì, mất gì, có được sẽ có mất.

Giống như Công nương Diana, cô ấy đã có được rất nhiều, và cũng đã mất rất nhiều. Cô ấy có được cuộc hôn nhân lên địa vị Công nương, rồi lại đánh mất cuộc hôn nhân này. (ly hôn)
Cô ấy có được sự nổi tiếng với danh hiệu Công nương, và cũng nhận được nhiều sự phỉ báng khủng khiếp.
Cô ấy có được sự giàu sang của vương thất, nhưng lại mất đi sự tự do. 
Cô ấy ly hôn để lấy lại sự tự do, nhưng lại gặp tai nạn xe mà mất mạng. 
Công nương đã chết rồi, rốt cục cô ấy đã được gì, mất gì?

Đến điểm cuối cùng của cuộc đời thì, kì thực chẳng có gì là được, cũng chẳng có gì là mất. Trong cả cuộc đời, được và mất những thứ hữu hình chẳng qua chỉ là những huyễn tướng tạm thời ngắn ngủi mà thôi. Cái mà ta thực sự có được là: thế giới tâm linh vô hình đã thoát tục không còn ưu phiền, một cái tâm trong sáng.


### 08. Thân tâm an định


Hồi đầu tháng 6, báo chí truyền thông đua nhau đưa tin về tác giả Lâm Thanh Huyền, người đã viết được 105 cuốn sách, đột ngột vào khoảng mùa đông năm ngoái đã rời bỏ người vợ đầu tiên của mình, rồi vào tháng 3 năm nay đã lập tức kết hôn với cô Phương Thuần Trân, nhưng kết hôn mới được 3 tháng thì đã sinh con rồi. 

Bởi vậy, cảm giác đầu tiên của các độc giả là "Chúng ta đã bị Lâm Thanh Huyền lừa rồi." Quần chúng bàn tán xôn xao, tạo nên một cuộc bài trừ sách của ông, cảm thán cho một người đạo sư cải cách tâm linh, một người đã rất gần với hình tượng một vị thánh rồi mà sao có thể làm cái việc quay lưng với luân lý như vậy được!

Tôi đọc bài báo nói về cuộc tình thứ hai của ông cũng không thể không thở dài cảm thán rằng sao có thể như vậy chứ!

Tôi đã đọc những sáng tác của ông, đã nghe những băng ghi âm diễn thuyết của ông, ông đã để lại cho tôi một ấn tượng giống như cái tên của ông - đó là thanh cao và huyền diệu. Còn giờ đây, hình tượng đẹp đẽ đó đã bị hủy hoại rồi, thật sự khiến người ta buồn thay!

Nhớ đến rất nhiều những cuốn sách "hạt giống tâm hồn" của ông, độc giả xem chúng như sách quý, khi gặp ông thì cúi lạy trước ông như đối với một giáo chủ. Thế nhưng bây giờ thì hành vi của ông và sách của ông đã tạo nên một sự hỗn loạn nhận thức, không biết cần phải định nghĩa thế nào. 

Lẽ nào ông ấy là một người viết một đằng, nói một nẻo, làm gì là chuyện khác, tâm khẩu bất nhất sao?
Lẽ nào ông ấy nhất thời hồ đồ mà phạm sai lầm, muốn sửa chữa thì cũng đã muộn rồi chăng?
Lẽ nào tâm hồn của ông đã trống rỗng, vô vọng, không thể an bình được nữa sao?
Lẽ nào ông tự cam lòng rơi vào dòng sông tình ái, không thể vượt qua được tình ái sao?
Lẽ nào đây là nhân duyên? Nghiệt duyên?

Tôi nghĩ có thể quan sát sự việc này theo một góc độ khác, hãy xem ông như một người bình thường, không có gì đặc biệt, một người bình phàm làm những việc bình phàm, vậy thì đây cũng là việc bình thường. Nghĩ như vậy, tâm lý sẽ cảm thấy dễ chịu hơn. 

Có câu nói rằng: nếu tu hành vẫn chưa đạt đến công phu thiền định sâu, chưa đạt đến cảnh giới thanh tịnh cao nhất, thì khi sự khảo nghiệm xảy đến, chỉ cần không cẩn thận là sẽ trượt ngã, đây cũng là một chuyện rất bình thường. 

Bởi vậy, Lâm Thanh Huyền đã gặp phải sự chỉ trích mãnh liệt của đại chúng trong xã hội, nguyên nhân thứ nhất là do thân phận và địa vị của ông không như người khác; nguyên nhân thứ hai là, một người tự xưng là đạo sư cải cách tâm linh, người chuyên giảng dạy cho người khác làm thế nào để thân tâm an định nhưng kết quả lại vội vã ly hôn, vội vã kết hôn và đẻ con, cái việc "lên tàu trước mua vé sau" này thật khiến cho độc giả không sao mà giữ cho thân tâm an định được.


### 09. Ai hợp thì sống


Còn nhớ khi tôi mới di cư đến nước Mỹ, tôi có đọc được bài báo đăng trên báo chí thấy mọi người quan tâm đến vấn đề "hạt nêm" dùng trong ẩm thực ảnh hưởng đến sức khỏe như thế nào. Nội dung bài báo có nhắc đến: những người làm kinh doanh ngày nay vì tranh giành lợi ích, không từ thủ đoạn, đại đa số dùng chất hóa học để sản xuất hạt nêm, nên đã không còn dùng cách thức truyền thống được giữ gìn để chiết xuất ra những thành phẩm thuần chất nữa. 

Những loại hạt nêm được tạo nên bởi những sản phẩm hóa học này ăn vào thì miệng khô, tinh thần hôn trầm, da trở nên mẫn cảm, rất có khả năng dẫn đến tổn thương gan, rụng tóc, nếu tiếp tục dùng những hạt nêm này thì cũng giống như tự sát từ từ vậy!

Kể từ khi đọc xong bài báo về loại hạt nêm muốn lấy mạng người ta, ngay hôm đó tôi đã vứt hết hạt nêm trong bếp của mình đi, và từ đó tôi cũng không bao giờ đụng đến nó nữa. Thậm chí tôi còn bảo với người thân bạn bè rằng đừng sử dụng hạt nêm nữa, hơn nữa còn kêu gọi mọi người cùng loại bỏ nó luôn.

Ai dè, một bài báo trên tờ báo tuần trước đã bất ngờ đăng tin rằng hạt nêm không có tác dụng phụ, còn nói rằng: nó có thể làm cho món ăn ngon hơn, giúp người ta khai vị, chỉ cần bỏ thêm một chút hạt nêm vào món ăn thì mùi vị món ăn sẽ ngon hơn, ăn rồi là muốn ăn thêm nữa, hãy cứ yên tâm mà dùng, không cần phải sợ không cho thêm hạt nêm thì món ăn sẽ mất đi vị ngon. 

Hai bài báo này khiến tôi cảm thấy mình hồ đồ mất rồi, rốt cục là ăn hay không ăn thì tốt? Sau khi ngẫm nghĩ thì cuối cùng, tôi rút ra được mấy ý chính là:
Mỗi loại thực phẩm đều có bản chất đặc thù của nó. Mặc dù bản chất đều có ích, nhưng không nhất định là sẽ hợp với mỗi người. 
Bất kì loại thức ăn nào, sau khi ăn mà sinh ra hiện tượng không tốt thì đều là không thích hợp. 
Không thích hợp cho mình ăn thì không chắc đã không thích hợp cho người khác ăn. 
Do vậy, thực phẩm tốt không chắc là tốt hoàn toàn, những thứ không tốt chưa chắc đã là không tốt hoàn toàn. 
Ví dụ như mọi người đều biết rằng morphine là thuốc độc, nhưng bác sĩ lại dùng chúng để chữa bệnh.


### 10. Tản mạn về ẩm thực


Mấy ngày trước, nhận lời mời của đồng môn, tôi đã đến tham quan Đại Học State ở bang Washington. Đến giờ ăn trưa, chúng tôi đi ra bên ngoài khuôn viên trường đại học để tìm nhà hàng ăn, cũng không có mục tiêu cụ thể nào, nhưng tình cờ gặp một cửa tiệm bán bánh pizza của Ý, chúng tôi đồng thanh nói: "Lâu rồi không ăn pizza, hôm nay hết mình hưởng thụ một phen thôi!"

Khi tôi bước vào nhà hàng, trong đầu tôi đột nhiên trỗi dậy kí ức về 15 năm trước khi mới di cư đến Seattle, có một đệ tử là tiến sĩ Từ Hiến Đường đã cúng dường Sư Tôn và cả gia đình đến một nhà hàng để ăn pizza. Năm người ngồi trên cái ghế đẩu cao cao đó, ngồi xung quanh một cái bàn tròn chân cao. Cảnh tượng khi ấy còn rất mới mẻ trong kí ức của tôi, nhưng loáng một cái đã là chuyện 15 năm trước rồi!

Tôi còn nhớ khi đó, tại bàn ăn, Sư Tôn nói với tiến sĩ Từ rằng: "Di cư đến Seattle đã một năm rồi, đây là lần đầu tiên đi ăn quán."
Tiến sĩ Từ hỏi:
"Hương vị của pizza thế nào, có ngon không?"
Sư Tôn khựng lại một lúc rồi trả lời:
"Tôi không biết là trên đời này lại có cái thứ khó ăn đến vậy!"
Tiến sĩ Từ cười lớn ha ha!

Sư Tôn nói thêm:
"Nếu bảo anh là pizza ngon, e rằng lần sau anh lại mời tôi đi ăn pizza nữa, do vậy tôi cứ nói thẳng, cái mùi vị kì lạ này thực sự tôi không dám thử!"
Tiến sĩ Từ cười không dừng lại được, còn vừa cười vừa bảo, Sư Tôn nói chuyện hài hước quá. Khi mới di cư đến nước Mỹ, chúng ta đều không quen món ăn Tây, chỉ nhớ những món ăn Đài Loan, đặc biệt là những món ăn vặt của Đài Loan, vừa mới nghĩ đến ăn các món Đài Loan là đã thèm chảy nước miếng rồi. Sống trong xã hội phương Tây đã 15 năm rồi, cũng chẳng biết thế nào mà tự động thói quen ăn uống cũng đã dần dần bị đồng hóa rồi, giờ đây chúng tôi đã hoàn toàn tiếp nhận các món ăn Tây. Nếu liên tục nhiều lần ăn món Trung Quốc thì sẽ càng muốn đổi sang ăn món Tây. Do vậy cơ hội chia đều cho món Tây và món Trung. 

Tôi biết ẩm thực là một môn nghệ thuật, là một loại kiến thức, là một dạng hưởng thụ, tuy nhiên, thói quen ăn uống là quan trọng nhất. Mặc dù mỗi người đều có thói quen ăn uống của riêng họ, nhưng thói quen này cũng sẽ vì hoàn cảnh, tuổi tác, thể chất mà thay đổi. Khi đồng môn hỏi, Sư Tôn, Sư Mẫu thích ăn gì để chúng con nhân tiện từ Đài Loan mang tới cúng dường? Trước đây tôi sẽ trả lời rằng:
"Sư Tôn thích ăn đồ ngọt, Sư Mẫu thích ăn lạc." 
Nhưng bây giờ thì đã thay đổi rồi, có lẽ là do liên quan đến hoàn cảnh và tuổi tác! Bây giờ chúng tôi cũng có thể ăn pizza như món ăn chính rồi.


### 11. Giữa thơm và thối


Những thứ ăn được trên đời này, nói ra thì cũng thật kì lạ, có những thứ ăn vào thì rất thơm, rất ngon miệng, nhưng cũng có những đồ ăn có mùi vị kì quái đặc thù, ví dụ như sầu riêng, đậu hũ thối, phô-mai, còn có những đồ ăn có mùi vị kì quái tùy theo cảm nhận của từng người, v.v...

Con người thông thường đều thích mùi thơm, không thích mùi thối. 
Tuy vậy, bất luận là đồ ăn thơm ngon thế nào thì sau khi nuốt vào bụng, lúc đi ra cũng đều biến thành mùi thối hết. 

Nghĩ mà xem, thơm chẳng phải cũng từ thối biến đổi mà thành sao? Những động vật như gà, vịt, bò, lợn đều rất hôi, nhưng sau khi nấu thành món ăn thì lại trở nên rất thơm. 

Thực vật cũng như vậy, mọi loại rau đều cần phân bón, con người trước kia dùng nước tiểu, phân, cứt gà để tưới bón cho cây, khiến cho cây rau vừa dài vừa xanh vừa to. Rau ăn vào trong bụng, sau khi được tiêu hóa, chúng lại biến thành phân và nước tiểu, phân và nước tiểu lại được lấy dùng để làm phân bón, rau ăn vào bụng rồi lại biến thành phân bón, quá trình này chính là một vòng tuần hoàn. 

Buổi sáng còn thơm, buổi tối đã biến thành thối, đồ thối thông qua vòng tuần hoàn lại biến thành thơm. 
Cái thơm chính là cái thối, cái thối chính là cái thơm. 
Càng thối càng thơm, rất thối, rất thơm, rất ngon. 
Mọi thứ trên đời này là một dạng luân hồi. Thơm - thối cũng vậy.


### 12. Xưa và nay


Trong tiếng Anh có một câu tục ngữ: No man can serve two masters. (Không ai phục vụ hai chủ.) Trong tiếng Trung cũng có một câu khá tương tự, đó là: Người đồng thời thờ hai chủ không thể trung thành như nhau đối với cả hai. Ý của câu tục ngữ muốn nói rằng: hãy tập trung phụng sự chủ nhân của bạn, không nên có suy nghĩ sai lầm mà đi phụng sự chủ nhân khác. 

Thế nên, câu tục ngữ này khiến người ta nhớ đến thời xưa, địa vị giữa chủ nhân và đầy tớ khác nhau rất nhiều. Đầy tớ từ nhỏ đã đi theo chủ nhân, bị người ta sai bảo. Chủ nhân có chết đi thì đầy tớ trung thành cũng vô cùng đau đớn suy sụp, cuộc sống như mất đi mục tiêu, không biết đi về nơi nào, trong lòng vĩnh viễn nhớ về chủ nhân. 

Hình thái chủ tớ này là sự chênh lệch giàu nghèo. Khi con người còn chưa văn minh, chưa có những tri thức phong phú mà ngày nay gọi là kinh tế, thương mại, văn hóa, khoa học, giáo dục, do vậy những nhu cầu và đòi hỏi về vật chất đơn giản, gần như chỉ dựa vào sức lao động để đổi lấy ngày ba bữa cơm ăn là đủ, ngoài ra không có nhu cầu nào khác. 

So với xã hội phồn vinh ngày nay, con người đã trở nên thực dụng, từ lâu đã trở thành chủ nghĩa xã hội công lợi, người lao động và tư bản tranh chấp khắp nơi, do vậy muốn tìm một người đầy tớ có thể nhờ cậy được đúng là nói dễ hơn làm, quan niệm trung thành với chủ nhân đã không còn nhiều nữa rồi. 

Con người hiện đại đề cao sự tự do, bình đẳng, khi nhận làm một công việc thì chủ nhân và nhân viên có hợp đồng với nhau, mỗi bên sẽ có quyền lợi và nghĩa vụ riêng. Nếu ở chỗ khác có lợi ích nhiều hơn một chút thì lập tức nhân viên có mới nới cũ, nói nhảy việc là nhảy việc, chủ cũng chẳng giữ được nhân viên. 

Bởi vậy, quan niệm "trung thành tuyệt đối với chủ nhân" đã không còn hợp với trào lưu tư tưởng hiện đại. 
Có lẽ, quan niệm "trung thành tuyệt đối với chủ nhân" giờ đây đã trở thành "trung thành tuyệt đối với lợi ích của bản thân".


### 13. Lý thuyết y học


Đau khổ nhất của đời người không gì sánh bằng việc mắc bệnh. Khi bệnh tật ập đến thân, con người vốn đầy ý chí sục sôi tuổi trẻ thì nay bị bệnh tật dày vò đến mức chí khí cùn nhụt thờ ơ. Từ xưa đến nay, có bao nhiêu anh hùng nằm trên giường bệnh thở than, chẳng còn ý chí, mọi thứ đều mất hết cả rồi!

Bệnh tật là điều đáng sợ nhất, có ai không sợ bệnh tật chứ?
Y học hiện đại phát triển, giáo dục người ta cần kiểm tra sức khỏe định kì để sớm phát hiện ra nguồn gốc của bệnh, để trị liệu từ sớm, mới có thể cứu chữa được. Tuy nhiên, tôi cho rằng phát hiện ra bệnh từ sớm, có phương pháp trị liệu từ sớm thì cũng chưa chắc trăm phần trăm sẽ chữa khỏi được. Hơn nữa, quá trình chữa bệnh cũng sẽ có khả năng gia tăng mức độ xấu đi của bệnh. Đôi khi, biểu hiện bề ngoài là đã chữa khỏi bệnh rồi, nhưng những di chứng ẩn trong cơ thể thỉnh thoảng lại phát tác, sẽ đeo bám bạn đến cuối đời. 

Hiện tại rất phổ biến việc lấy máu để kiểm tra sức khỏe, phân tích hàm lượng của 45 chất trong máu, biết về mức độ cholesterol, mỡ trong máu, đường trong máu, hormone... của cơ thể chính mình xem có ở trong phạm vi bình thường hay không, hay là cao quá hoặc thấp quá. Rồi lại theo sự kê đơn chỉ thị của bác sĩ mà điều chỉnh để mong đạt được hiệu quả sức khỏe tốt. Tuy nhiên, nếu bác sĩ bảo với bạn rằng: lượng cholesterol trong máu của bạn quá cao, huyết áp cao, mỡ máu cao, nếu không uống thuốc trường kì thì rất có khả năng sẽ dẫn đến nhồi máu cơ tim mà chết, hoặc sẽ bị đột quỵ mà chết, hoặc là..., hoặc là...

Kết quả kiểm tra sức khỏe, điều khiến người ta sợ hãi nhất là lời của bác sĩ nói: bạn có thể sẽ bị nhồi máu cơ tim, bạn có thể sẽ bị đột quỵ, bạn có thể sẽ... Những khả năng này sẽ khiến người ta càng thêm nghĩ ngợi, vĩnh viễn lo lắng mãi không yên. Tôi nghĩ, người sợ lấy máu, sợ nghe lời bác sĩ phân tích bệnh lý, từ chối kiểm tra sức khỏe thì cần phải mau chóng chú ý đến cuộc sống bình thường mỗi ngày, chú ý việc ăn uống, sống có quy tắc, lựa chọn thức ăn thanh nhẹ, ăn uống vào thời gian nhất định, với lượng nhất định cũng như vận động thích hợp để cân bằng lại hàm lượng các chất trong máu không bị quá cao quá thấp, thì có lẽ cũng là một ý kiến hay. 

Nếu chỉ dựa vào mỗi việc uống thuốc mà không chú trọng đến ăn uống hàng ngày thì thuốc tiên cũng vô ích, không phải thế sao?

Lý thuyết y học cũng giống như lý thuyết Phật học, Phật pháp dạy người ta sống trang nghiêm, cũng có nghĩa là như cần sống chỉn chu nỗ lực mỗi ngày của cuộc sống.


### 14. Tâm lý học bệnh tật


Nói chuyện khám bệnh uống thuốc thật khiến người ta phiền não. Mắc bệnh thì không khám bác sĩ, không uống thuốc không được. Thường xuyên có những người vì mắc bệnh nhẹ mà không chữa trị, để bệnh tình diễn biến nhiều năm thành bệnh mãn tính đeo bám liên miên. 

Lại còn có những người bỏ qua việc khám bệnh định kì, dẫn đến việc bệnh trạng vốn dĩ có thể phòng ngừa được hoặc chữa khỏi được biến chuyển thành bệnh ung thư giai đoạn cuối không còn hy vọng chữa trị. Rất nhiều người đều như vậy. 

Tuy nhiên, cũng có người khi mới mắc bệnh nhẹ đã rối rít hết cả lên, thậm chí chỉ một cái hắt xì hơi cũng vội vàng đi khám bệnh, yêu cầu được uống thuốc, cảm thấy rằng nếu không có thuốc thì bệnh nặng sẽ ập đến, uống thuốc rồi thì sẽ yên tâm, nhưng chẳng bao giờ nghĩ rằng uống thuốc cũng có tác dụng phụ, chẳng hề nghĩ đến việc làm sao để tăng cường sức đề kháng của bản thân, loại bỏ những bệnh nhẹ trên phương diện thói quen tâm lý. 

Bởi vậy, bản thân có mắc bệnh hay không, có cần phải chữa trị uống thuốc hay không, vẫn cần dựa vào những hiểu biết về quan niệm và kinh nghiệm đối với bệnh lý của mỗi người. Người khác hắt xì hơi có thể vẫn khỏe mạnh bình thường, nhưng bản thân hắt xì hơi thì rất có khả năng là dấu hiệu sớm của việc cảm sốt, mỗi người mỗi khác. 

Có một người họ hàng từng nói với tôi về cách nhìn nhận đối với việc mắc bệnh. Người đó nói:
"Không khám bác sĩ không chữa bệnh cũng tốt, càng chữa càng nặng thôi!"
Nguyên nhân là vì: có một nha sĩ chẳng nhổ đi cái răng sâu của người đó mà lại nhổ nhầm một cái răng tốt, thế là người đó thường xuyên đem theo cái răng tốt hoàn toàn không có khiếm khuyết gì cả này chỉ cho mọi người xem, nhằm thể hiện sự hối hận vì đã đi khám nha sĩ!

Bác sĩ khám bệnh sai, kiểu bác sĩ lang băm là có, trên báo đài tạp chí đăng những bài như cưa nhầm chân, mổ nhầm dao, chữa nhầm bệnh, thật sự khiến người ta sợ hãi! Chẳng trách khiến cho người ta sinh ra quan niệm đối với việc chữa bệnh là: "Không còn cách nào khác mới đi khám bệnh, vạn bất đắc dĩ mới đi khám bệnh."

Thử hỏi: Lương y ở đâu? Thuốc tốt ở đâu?
Tôi nghĩ: thuốc thang trên thế gian này chuyên chữa bệnh cho người có duyên, tuyệt đối không phải là ai ai cũng dùng được, hiệu quả sẽ khác nhau tùy từng người, do thể chất và nhân duyên của mỗi người mà định đoạt. 

Nếu thuốc có thể triệt để trị tận gốc bệnh của con người thì làm gì còn chuyện mắc bệnh mà chết.
Mặc dù thuốc không thể chữa bách bệnh một trăm phần trăm, nhưng cũng có thể chữa được các triệu chứng của bệnh, chữa được nhiều loại bệnh khác nhau...
Sao không điều trị tạm thời cái đã.


### 15. Bắt tay với Tổng thống Mỹ


Chính tại Chân Phật Mật Uyển, đúng vào lúc tôi đang bận rộn với các việc của Tông Ủy như thường lệ, Phật Thanh mừng rỡ chạy đến bảo với tôi rằng: "Con vừa mở đài nghe thông báo rằng năm rưỡi chiều nay, Tổng thống Bill Clinton sẽ từ thủ phủ xa xôi đến Seattle, tại chợ Pike Place (thường được gọi là chợ trời), sẽ có bài phát biểu về quan điểm chính trị cho sự kiện bầu cử tháng 11 năm nay. Chuyên môn ở trường học của con là chính trị và tâm lý học nên con muốn nhân cơ hội này thử trải nghiệm một phen."

Phật Thanh còn nói: 
"Con không tìm được người bạn nào đi cùng, bởi vì các bạn học sau khi kết thúc kì nghỉ hè thì đã đi học lại từ lâu rồi, mẹ đi cùng con được không?"

Thế là chẳng chuẩn bị gì cả, chúng tôi vội vàng lái xe đi. Không những thế còn phải dừng lại bên đường hỏi người đi đường chỉ dẫn hướng đi đúng, bởi vậy nên chúng tôi cũng thuận lợi tìm được đến nơi (chợ trời). Thì ra trên đường lớn ở khu chợ này đã sắp đặt tạm thời một sân khấu ngoài trời. Tạm thời, mấy con đường ở khu vực xung quanh đặt biển: "Cấm xe lưu thông". Mấy con đường đó tự nhiên trở thành nơi cho người tụ tập quan sát, mọi người đứng ngay tại đó. Lúc này, mây đen mịt mù, sấm chớp rền vang, khiến người ta cảm thấy một bầu không khí u ám ảm đạm. 

Tôi và Phật Thanh theo dòng người đứng xếp hàng chuẩn bị tiến vào khu vực sân khấu. Không ngờ vẫn phải thông qua cửa kiểm tra an toàn, lại càng không ngờ tới là có vé mời mới được vào. Điều kì lạ nhất là: có một nhân viên an ninh đã tặng cho chúng tôi hai tấm vé, khiến chúng tôi vui mừng khôn xiết. Chúng tôi theo màu sắc phân khu vực trên vé mà đứng ở một nơi xa, rất ghen tị với những khách quý được ngồi ở ngay trước sân khấu. Tuy nhiên, trong cõi vô hình đã có Bồ Tát sắp xếp, nơi chúng tôi đang đứng chính là một góc có tầm nhìn rất tốt, chúng tôi cảm thấy thật may mắn. 

Lúc này, trời đổ mưa phùn nhỏ, mưa rơi trên đầu, trên người tạo nên những đợt lạnh run người, rõ ràng là mưa đang thử lòng kiên nhẫn của những người chờ đợi. 

Nghe thông báo Tổng Thống Clinton sẽ đến muộn, tôi đưa mắt nhìn đồng hồ, có khả năng phải chờ hơn hai tiếng nữa, mưa thì càng ngày càng to. Tôi đổi ý, không muốn chịu rét cóng ở dưới mưa nữa, muốn lập tức rời khỏi hiện trường. Nhưng ngoảnh đầu nhìn quanh, thấy biết bao nhiêu là những người dân địa phương to cao như ngựa đang vây kín trái phải phía sau tôi, dòng người chật kín đường phố, khiến người ta không thể nào rút khỏi hiện trường được. Tôi bị kẹt cứng một cách tuyệt vọng, chỉ còn cách định tâm lại mà trì chú, quán tưởng mưa đang thanh tịnh thân mình. 

Tôi nhận thấy rằng, giữa đám đông nhộn nhạo mà có thể tập trung suy nghĩ, trì chú trong mưa cũng có sự thú vị của nó. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi bị kẹt giữa dòng người như vậy. 

Trong lúc mọi người sốt ruột chờ đợi, cuối cùng thì Tổng thống Clinton cũng đến. Bài diễn thuyết ngắn gọn và tinh yếu của ông đề cập đến vấn đề cắt giảm thuế, phòng chống tội phạm, đề cao giáo dục,... rất nhiều các chính sách mang tính thúc đẩy, giành được sự hưởng ứng nhiệt liệt của quần chúng, tiếng vỗ tay ầm ầm như sấm. 

Bài diễn thuyết kết thúc, ông đi xuống sân khấu, bắt tay những khách mời ngồi ở khu vực khách quý. Sau đó, ông đột ngột quay người đi về phía khu vực chẳng hề bắt mắt, thế rồi đứng ngay trước mặt tôi, đưa tay ra bắt tay tôi với Phật Thanh và cười một cái!

Phật Thanh cực kì vui, hứng khởi vạn phần, nói: "Có nghĩ cũng chẳng thể nghĩ được rằng Tổng thống lại bắt tay con. Việc không thể cũng có thể biến thành sự thực, đúng là một việc nằm ngoài dự liệu, tiếc quá tiếc quá! Lại chẳng đem theo máy ảnh."

Chúng tôi kể chuyện này với Sư Tôn, Sư Tôn đã giải thích mọi thắc mắc: người tu hành chân chính sẽ có Phật Bồ Tát gia trì phóng quang, tự nhiên sẽ có sức mạnh thu hút, người khác nhìn thấy ánh sáng của bạn thì tự khắc sẽ đến gần bạn thôi. 

Tôi nghĩ: Có thể tập trung tâm ý thì bất kì nơi nào đều có thể tu hành, đều có thể trì chú, dù trong đám đông nhộn nhạo, hay trong mưa cũng vậy.


### 16. Gặp ở sân bay


Như thường lệ, một năm hai lần, mỗi khi Seattle Lôi Tạng Tự tổ chức pháp hội lớn là mẹ tôi luôn từ nghìn dặm xa xôi vượt đại dương không chịu thua kém ai, mau chóng tới tham gia pháp hội, còn tôi thì lần nào cũng đến sân bay đón, chào mừng bà đến, bản thân tôi cũng cảm thấy hân hoan khi được gặp lại bà. 

Nhà chờ máy bay đông kín người, tiếng nói chuyện rôm rả, xôn xao đầy ắp cả không gian. Tôi chỉ còn cách đứng một bên im lặng, nhìn những cảnh tượng người đi đón máy bay muôn hình muôn sắc ấy khiến tôi có một chút cảm tưởng. 

Khi bảng điện tử hiển thị máy bay đã hạ cánh, đột nhiên có người hét lớn "Đã 20 năm tôi không gặp mẹ tôi rồi!" Cũng có em bé nhảy tưng tưng hét lên gọi bố, một số người thì đón người thân bạn bè. Nhưng tôi thì khá đặc biệt, tôi không chỉ đón một người là mẹ tôi mà nhân tiện tôi còn đón cả một đoàn đệ tử Chân Phật Tông hành hương cũng đến nữa. 

Hành khách lần lượt đi qua cửa hải quan, kéo hành lý đi qua, người đi đón thì mừng rỡ tự động tiến lên trước để đón, tặng cho người thân bạn bè món quà mừng gặp mặt tốt đẹp nhất, bắt tay, bá vai, kính lễ, ôm hôn, cũng có cả những khuôn mặt đau buồn và những cảnh tượng khóc sướt mướt, thật khiến người ta thấy cảnh sinh tình. 

Nhìn ra xa xa, có một người già một thân một mình dựa nghiêng vào cột nhà đứng đợi máy bay, nhìn ông có bộ dạng rất đáng thương. Ông đi bộ từng bước từng bước qua trước mặt tôi, lúc tôi đang nhìn rõ hơn xem ông là ai thì tôi giật nảy mình! Ông chẳng phải là một nhân vật lừng lẫy huy hoàng từng tham gia vào chính trị tranh cử chức tổng thống Đài Loan sao? Sự cô độc bây giờ so với phong thái khi xưa cách xa nhau nghìn dặm. Khi xưa, nếu ông được bầu chọn làm tổng thống thì hôm nay chẳng còn cảnh tuổi tác đã cao mà vẫn phải một mình lái xe đến sân bay đi đón người thân rồi. 

Đúng lúc tôi đang trầm ngâm suy nghĩ về danh vị cuộc đời phù du giống như khói mây qua trước mắt, tên tuổi là gì, cái gì làm nên tên tuổi, thì lúc này, mẹ tôi và đoàn người Chân Phật Tông hành hương đã đi tới. Mọi người hết sức mừng rỡ hỏi thăm lẫn nhau, luôn miệng nói A Di Đà Phật, chắp tay cúi lạy để chào hỏi, bầu không khí ở sân bay lúc này bỗng giống như đạo tràng niệm Phật ở Chân Phật Tông vậy, pháp hỉ tràn đầy.


### 17. Thư giãn thật sự


Đi du lịch, tôi vẫn luôn có thói quen chuẩn bị những thứ như máy ghi hình, máy ảnh, sổ ghi chép, chủ yếu là để tìm kiếm cơ hội bắt lấy những sự việc thú vị xảy ra trên đường đi, hoặc những câu danh ngôn chí lý mà mọi người nhắc đến để xem chúng như những tấm gương tinh tấn để học hỏi. Tôi cảm thấy đi du lịch theo đoàn có đông người, náo nhiệt, rất vui!

Mỗi khi đến một nơi nào đó, những chiếc máy ảnh luôn phát ra âm thanh xoạch xoạch, tóm gọn lấy những cảnh đẹp. Cá nhân chụp ảnh, tập thể chụp ảnh, mỗi người đều phô ra những nụ cười ngọt ngào nhất để lưu lại một khoảnh khắc quá khứ, những tấm hình đẹp nhất, sau này xem ảnh, nhớ lại năm xưa, dư vị vẫn còn rõ nét!

Xe du lịch đi xuyên qua thành phố và nông thôn, từng trạm từng trạm trên bản đồ thành phố và các địa danh ở nông thôn đều sẽ được ghi vào trong cuốn sổ ghi chép của tôi, cuốn sổ tay này ghi lại những suy nghĩ phong phú về người, việc, địa điểm và sự vật mà tôi đã gặp trong toàn bộ chuyến đi. 

Tuy nhiên, chuyến du lịch Nhật Bản vào tháng 5 năm nay không giống những chuyến đi trước đây, tôi không mang theo máy quay phim, không mang sổ ghi chép, chỉ có một chiếc máy ảnh cầm tay nhỏ gọn, nhưng cứ vào lúc tôi muốn dùng đến nó thì cái máy ảnh bỗng dưng "dở chứng", không thể dùng được. 

Tôi đã quyết định thử một chuyến du lịch hoàn toàn không lưu giữ lại hình ảnh gì, ngược lại tôi đã có một sự thư giãn hoàn toàn, một sự hưởng thụ hoàn hảo, có thể nắm trọn vẹn những tâm tình vui vẻ lúc đó, thong dong tiêu dao, tự do tự tại thăm thú phong cảnh tự nhiên, thu hết vào trong mắt, gói gọn lại trong tim, hoàn toàn không vướng bận gì cả. Cho dù sau này không có bất kì tư liệu kỉ niệm nào, cho dù sau này quên sạch những nơi mà mình đã từng du lịch tới, tôi chỉ muốn ngay lúc này tận hưởng sự thư giãn hết mức có thể. Lần sau có đi du lịch lại nơi này thì cũng lại là một sự tận hưởng một lần nữa mà không hề nhàm chán. 

Tôi cảm thấy việc ghi lại sự vật có thể giúp cho chúng ta nhớ lại, tuy nhiên, kí ức cũng sẽ theo thời gian mà mờ nhạt và tan biến đi. Có thể hoàn toàn gạt qua một bên những sự vật sự việc phức tạp, không còn chút lo lắng nào, thư giãn thật sự, nắm trọn lấy niềm vui ngay tại lúc này mới là ý nghĩa của việc du lịch.


### 18. Liên tưởng về thực vật thủy sinh


Có thể đến từng rậm Amazon du lịch là một sự việc phát sinh nằm ngoài kế hoạch, bởi vì mục tiêu của chúng tôi là đến thành phố São Paulo hoằng pháp. Trước tấm thịnh tình khó lòng từ chối, chúng tôi đã nhận lời mời cùng đồng môn ở Brazil cùng đi du lịch. 

Rừng rậm Amazon nằm ở phía bắc của châu Nam Mĩ, diện tích rộng khoảng gấp sáu lần Đài Loan, là khu rừng rậm lớn nhất thế giới. Nghe nói nếu chặt phá khu rừng này sẽ gây ảnh hưởng đến khí hậu toàn cầu. Bởi vậy khu rừng này đã được xếp vào danh sách rừng rậm cần bảo tồn của thế giới, vĩnh viễn không thể chặt phá. Do vậy, khu rừng này vẫn mang những sắc thái của rừng rậm nguyên thủy. 

Chúng tôi tổng cộng có 50 đồng môn cùng thích núi, thích nước, thích tự nhiên, tràn đầy sức sống tuổi trẻ, hào hứng khởi hành từ sông Negro, thành phố Manaus, lên thuyền đi về phía rừng rậm. Đến bìa rừng, chúng tôi chia thành năm nhóm, đổi sang đi thuyền không có mái che, mười người ngồi trên một chiếc thuyền nhỏ, đi thành hàng theo con đường nước trong rừng sâu. 

Thuyền đi lại giữa cây rừng. Phóng tầm mắt nhìn ra cảnh vật xung quanh là cả một vùng cảnh quan thiên nhiên rộng lớn. Có một sự lôi cuốn tự nhiên, cái mùi xa xăm kì lạ, nguyên sơ mà thần bí ấy dường như đang kể với chúng tôi về đạo của tự nhiên. 

Tôi tưởng rằng rừng rậm đều chỉ có đồi núi cao, không ngờ trong rừng rậm cũng có những con đường nước. Cũng lại là lần đầu tiên tôi ngạc nhiên nhìn thấy những cây cổ thụ cao lớn hết cây này tới cây khác sinh trưởng dưới nước. Điều đặc biệt kì lạ nhất là hơn một nửa phần cành cây đều sinh trưởng chìm trong nước. Vì điều này mà tôi đã nảy sinh những suy ngẫm sâu sắc về kì quan của rừng núi!

Cây sống nhờ vào nước, nước nhờ cây làm nền mà trở nên đẹp đẽ rực rỡ vạn phần. Cây và nước ở nơi đây tình nghĩa đậm sâu, cùng dựa vào nhau, cùng nâng đỡ nhau. 
Cây quên hết những sự phấn đấu cam khổ ngày xưa.
Nước cũng không nhớ được đã từng chảy qua bao nhiêu những con đường gồ ghề. 
Nước và cây hòa hợp hạnh phúc.
Hưởng thụ những thiền ý của hiện tại. 
Tôi say đắm trong nó, dường như cuối cùng tôi đã quên đi cảnh giới của chính tôi. 

Đột nhiên, tôi nghe thấy trên đầu, chim bòng chanh, chim tu-căng, và rất nhiều loài chim mà tôi không biết tên bay tới bay lui kêu ri rích ri rích, tấu lên khúc nhạc miên man lên bổng xuống trầm, lúc ấy tôi mới dừng những suy nghĩ trong đầu mình. 

Chúng tôi đi du lịch trong rừng Amazon năm ngày, duy có những cảnh quan này là thật sự để lại cho tôi có những ấn tượng sâu sắc không thể nào quên, khiến người ta phải thở dài cảm thán rằng tạo hóa của thiên nhiên thật bất khả tư nghì.


### 19. Tinh thần của Đức Phật


Cuối cùng, vào tháng 11 năm 1996, tôi đã được đặt chân đến những thánh địa nơi có những dấu tích cuộc đời của Đức Phật mà tôi mong ngóng từ rất lâu trong một chuyến du lịch Ấn Độ. Đích thân đi du lịch một chuyến đến nơi đây giống như trở về thời đại của Đức Phật 2500 năm trước, đắm mình trong ân đức của Phật, những cảm giác trong lòng thật quá vui sướng!

Tuy nhiên, điều khiến người ta tiếc nuối nhất là tám thánh địa lớn nơi có những di tích của Đức Phật không ngờ đã bị hư hỏng toàn bộ, hơn nữa còn không nhìn thấy một viên gạch hay một mảnh ngói nào còn lưu lại, không còn lưu lại một vật phẩm nào làm căn cứ lịch sử. Ngay cả sau khi Đức Phật niết bàn 200 năm sau, vua Ashoka vì tôn kính Đức Phật mà đã cho xây dựng vô số tháp xá lợi, đặt ở cả tám đại thánh địa, thì cũng đã hoàn toàn không còn tồn tại, những gì có thể nhìn thấy chỉ là những viên gạch trên nền móng đổ nát của những tháp xá lợi. 

Cây bồ đề nơi Đức Phật thành đạo từ lâu đã bị sét đánh gãy, cây bồ đề hiện tại là do người đời sau trồng mới lại. 
Khi Đức Phật đản sinh, nơi mỗi bước chân nở ra hoa sen đang được xây dựng lại. Thượng sư Liên Trí nói: "Năm ngoái tôi đã đến đây, năm nay sao lại thay đổi hoàn toàn thế này?" Nhân viên quản lý nói: "Đây chỉ là địa điểm mang tính tượng trưng, địa điểm thật sự không có ai biết."

Nơi Đức Phật từng tắm trên sông Nairanjananadi, ngày nay sông đã cạn khô không nước, lòng sông đã biến thành nơi rửa đá và nơi những người khuân vác tụ tập. 

Nơi Đức Phật lần đầu chuyển pháp luân, vườn Lộc Dã nơi Phật giảng Tứ Thánh Đế, cũng đã được hậu thế dùng gạch xếp nên một chiếc kim cang tọa hình chữ thập một cách đơn giản và thô sơ, nhằm tượng trưng cho địa điểm kính lễ. 

Trong khu vườn Cấp Cô Độc xưa kia cúng dường Đức Phật có gắn mấy chữ "Kì Viên Tịnh Xá" bằng vàng, giờ đây, đừng nói là những miếng vàng không còn tồn tại mà toàn bộ khu vườn chỉ còn là một nơi hoang dại. 

Câu Thi Na là nơi Phật niết bàn, hậu thế đã xây dựng nên một kiến trúc nhỏ, bên trong có thờ một vị Phật nằm độc nhất vô nhị để cho người đời thăm bái. Còn nơi mà Đức Phật khi thuyết pháp thường nhắc đến, sông Hằng thanh tịnh không gì sánh bằng, bây giờ đã thay đổi không còn có thể nhận ra được nữa.
.............

Lúc đó, tôi cảm khái!
Những di tích di vật của Đức Phật hoàn toàn không được bảo lưu ư? Có lẽ những hạt xá lợi trong viện bảo tàng là những di vật duy nhất còn lại của Đức Phật. Hướng dẫn viên du lịch nói: "Cũng từng có người tranh cãi về việc những xá lợi này là thật hay giả."

Những thứ trên đời này, rốt cục cái nào là thật? Cái nào là giả? Cái nào mới đáng để bảo lưu?

Đi du lịch một chuyến tới Ấn Độ, tôi đã ngộ ra rằng Đức Phật đừng nên để lại bất kì vật phẩm gì cho hậu thế. Trong cõi vô hình, Đức Phật đã dạy chúng sinh rằng: Mọi vật chất cuối cùng cũng trở về hư không. 
Thứ mà Đức Phật để lại cho chúng ta là: "Tinh thần của Phật, trí huệ bát nhã vô thượng của Phật."


### 20. Kì quan giao thông


Ấn Độ là một đất nước vô cùng nghèo nàn, lại rất bẩn và lộn xộn, không theo kịp thời đại, vô cùng lạc hậu. Chỉ nói về phương diện giao thông đã khiến tôi kinh ngạc vạn phần, hết hồn hết vía.

Ngoài thủ đô New Delhi ra, đường xá ít có những vạch kẻ phân biệt làn xe trái phải, thường thấy những dòng xe cộ đi ngược chiều nhau lộn xộn như chuột chạy, phía sau xe còn gắn chữ viết rằng: "Hoan nghênh bấm còi xin mời vượt". Đi đến chỗ nào cũng khiến người ta giật mình thon thót vì sợ, vô cùng nguy hiểm!

Xe buýt không chỉ chật ních hành khách mà ngay cả trên nóc xe cũng có hơn ba chục người ngồi bên trong phần gờ bảo vệ, trên cửa sổ cũng có người ngồi, cửa xe cũng có người bám vào, xe đi trên đường thì lượn lắc giống như đang biểu diễn kĩ xảo. Các con đường thì phần lớn là nhấp nhô gồ ghề, có những đoạn thì không thể nào di chuyển được, xe lắc lư khiến người ngồi trong xe ngã dúi vào nhau, thỉnh thoảng đập đầu vào cửa sổ xe, rồi đập đầu vào nóc xe, trên đầu mọc mấy cái u. 

Còn có cả xe người kéo, xe đạp, xe máy, xe lam, xe tải lớn đi đi lại lại cùng đám xe trâu kéo, xe ngựa kéo, xe lạc đà kéo, xe voi kéo, nói đơn giản là sự hòa trộn phương tiện giao thông cổ đại và hiện đại. Trong màn bụi dày đặc, cảnh tượng này nhìn giống như một trận chiến tranh hỗn loạn. 

Dọc đường, bất kể là ở thành phố hay nông thôn đều có thể trông thấy gia súc hoặc động vật hoang dã chạy đuổi nhau. Sợ nhất là những con gấu đen ăn thịt người to cao khổng lồ xông ra chặn đường. Còn có những con voi to hơn cả xe du lịch, trên lưng chở cây lớn, lừ đừ bước đi trên đường, tôi lo lắng cái vòi to dài của con voi mà quấn lấy cái xe du lịch thì khẳng định là toàn bộ mọi người sẽ "quy tiên"!

Giao thông tệ hại như vậy bảo sao người ta không nghi ngờ. Lẽ nào họ thực thi "quyền bình đẳng giữa quyền đi đường của người và động vật" hay sao? 
Bởi vậy, có thể nói: trên thế giới chỉ có một và duy nhất kì quan giao thông lớn này!

Khi ấy, tôi đang nghĩ: "Thì ra những xe trâu, xe voi, xe ngựa, xe dê... được nói đến trong kinh Phật quả nhiên là thật."
Mặt khác thì tôi vừa thốt lên kinh ngạc vừa cảm khái: vì sao phương thức giao thông của 2500 năm trước đến bây giờ vẫn còn sử dụng?

Tôi cảm thán đất nước Ấn Độ lạc hậu như vậy, liền liên tưởng đến các vị như Đức Phật, Long Thọ Bồ Tát, Đề Bà, Thiên Thân, Vô Trước... đều sinh ra ở Ấn Độ, thế mà vẫn tu hành đạt đến thành tựu vĩ đại!

Sư Tôn nói:
"Tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại là tìm kiếm cái bên trong, không tìm cầu cái bên ngoài. Trong hoàn cảnh khó khăn lại càng khơi dậy sự tìm hiểu của con người đối với hư không và cuộc đời, hơn nữa còn khá sâu sắc. Lý do hành giả Ấn Độ hiểu được về an bần lạc đạo là nhờ vậy."


### 21. Đồ ăn ở Ấn Độ


Trong ba tuần du lịch Ấn Độ, tôi đã trải nghiệm được sâu sắc: trên đời có rất nhiều sự việc, nếu không đặt mình vào hoàn cảnh của người khác, thâm nhập để hiểu và thông cảm thì rất khó dùng ngôn ngữ để mô tả những tình tiết sâu sắc trong đó, và cũng rất khó dùng văn tự để mô tả rõ ràng tường tận trôi chảy những trạng thái tình cảm lúc đó. 

Thời gian ở Ấn Độ, vì ngày ba bữa cơm, chúng tôi đã trải qua những hoàn cảnh khốn khó, dường như mỗi người đều mắc chứng "khủng hoảng đồ ăn". 

Nói đến đồ ăn ở Ấn Độ, dạ dày tôi lập tức có phản ứng buồn nôn. Đến giờ nhớ lại, tôi vẫn còn cảm giác sợ hãi. Không ngờ dạ dày cũng có sự phản ứng ác liệt như vậy đối với đồ ăn. Kì thực, chẳng phải là chúng tôi kén chọn đồ ăn, chủ yếu là vì vấn đề vệ sinh thực phẩm quá tệ. Rất nhiều người sau khi ăn đã bị tiêu chảy, cứ ăn là bị đau bụng, chỉ còn cách ăn lương khô mà chúng tôi tự mang theo, ăn tạm mấy cái bánh quy và mấy thanh chocolate để chống đói, cũng phải bỏ ăn nhiều bữa. 

Sau khi thu thập ý kiến nhằm giải quyết hoàn cảnh khốn khó đem lại lợi ích cho mọi người, chúng tôi đã rút ra một cách hay: "Ăn chuối và uống nước đóng chai làm thức ăn chính là an toàn nhất." Ở nơi đó, dùng một đồng đô-la Mỹ có thể mua được hơn trăm quả chuối. Ba lô của mỗi người đều đựng đầy chuối, khi đói bụng thì ăn dăm ba quả, có khi ăn cả bảy quả, v.v... rồi uống thêm nước cũng có thể cảm thấy no bụng. Bữa bữa ăn chuối, ngày ngày ăn chuối, những ngày ăn chuối liên miên thật khó quên!

Đi cùng tôi có mười bảy Thượng sư và pháp sư, không ai là không thán phục công lực ăn uống ngon lành và an toàn của Sư Tôn. Bất kể là ăn cá tanh ươn, hoặc ăn mì xào có mùi gián, thậm chí là cơm trắng có lẫn mấy hạt cứt chuột nhỏ nhỏ đen đen, Sư Tôn vẫn có thể ăn sạch sẽ. Mọi người chậc lưỡi trầm trồ hỏi: 
"Sư Tôn dùng kinh chú gì để thanh tịnh đồ ăn, có thể ăn mà vẫn bình yên vô sự vậy?"

Thế là, tôi nhớ đến Sư Tôn đã từng khai thị rằng: hành giả gặp lửa, có thể hòa tan vào lửa, gặp nước hòa tan vào nước, gặp nóng hòa tan vào nóng, gặp lạnh hòa tan vào lạnh, gặp gió hòa tan vào gió. Thế nên cuối cùng tôi đã hiểu được, Sư Tôn ở Ấn Độ đã hòa tan vào đồ ăn của Ấn Độ.


### 22. Bò ở Ấn Độ


Ai bảo làm bò chẳng sướng
Bò có thể bình yên sống qua ngày
Không bị người giết mổ
Không bị người đánh roi
Không bị người hắt hủi
Muốn sống bao lâu thì sống.

Ai nói làm bò chẳng sướng
Bò có thể lăn lê nằm ngang nằm dọc
Bất kể là ở thành phố hay nông thôn
Bất kể là đèn xanh hay đèn đỏ
Bất kể là giữa trung tâm giao lộ
Đâm ngang xiên dọc ta cứ đi
Chẳng khác gì Quốc Vương Sở Bá. 

Ai bảo làm bò chẳng sướng
Bò có thể ăn uống chơi đùa thích gì làm nấy
Dàn thành từng hàng nghênh ngang trên đường
Con người cung kính cho ăn
Hứng chí lên thì lăn vào đồng ruộng.

Ai bảo làm bò chẳng sướng
Cao cao vênh vênh
Người người kính lạy
Đi giày da bò bị xem là báng bổ
Thánh Bò của Ấn Độ là đây.


### 23. Nhân duyên khác biệt


Đầu năm nay, chúng tôi đi du lịch đến thành phố Hồ Chí Minh của Việt Nam. Chúng tôi đã đến thăm rất nhiều chùa, lễ bái chư Phật Bồ Tát, phát hiện ra ít có những tượng điêu khắc Phật Bồ Tát trang nghiêm. Khung cảnh các ngôi chùa đa phần là u ám, đơn giản và chật hẹp, xem ra đã nhiều năm không tu sửa, nhưng đồng thời khiến người ta cảm thấy sự cổ kính và ảm đạm của chúng.  

Chúng tôi lái xe đi thăm quan khắp nơi, đi khắp các đường phố lớn nhỏ, thậm chí đến cả chợ thực phẩm, khắp hang cùng ngõ hẻm đều đầy các mẹt hàng rong bày bán trên mặt đường, ảnh hưởng đến mĩ quan của thành phố, trông rất nhếch nhác. Những tiếng ồn ào từ các mẹt bán hàng trên đường phố trở thành nét đặc trưng của địa phương. Đệ tử Việt Nam nói: "Việt Nam không có trung tâm thương mại, đều là các hàng quán nhỏ." Điều này cũng thật khiến người ta ngạc nhiên!

Dân số Việt Nam đông đúc, bất kì thời gian nào trong ngày người cũng đông như núi như biển, ít xe ô tô, nhiều xe máy, gây tắc nghẽn toàn bộ các con đường trong thành phố, đến mức mà không khí đầy khói bụi đen, che mờ cả thành phố, giống như là chụp ảnh có thêm ống kính bị cháy vậy, không khí ám khói không sạch, mờ mờ mịt mịt.

Chúng tôi cũng nếm thử những hương vị độc đáo của địa phương từ các hàng quán bên đường. Tiếng còi xe máy vang lên từng hồi liên tiếp, còn ngay trước mắt, lớp khói bụi hòa lẫn với hơi nóng tỏa ra từ bát canh trên mặt bàn, khiến trong lòng tôi dâng lên rất nhiều cảm xúc!

Cùng là con người, sống trên những đất nước khác nhau thì cũng mang những số phận khác nhau. Người dân Việt Nam đa phần là nghèo, chiến tranh Việt Nam đầy đau khổ. Ôi! Đây đều là nhân duyên cả!

Kì thực, không chỉ người sinh sống ở các quốc gia khác nhau thì sẽ có vận mệnh khác nhau. Tôi cảm thấy điều có liên quan là: những con chim bồ câu ở Việt Nam không ngờ lại chỉ toàn da bọc xương, không có thịt. Ông chủ nhà hàng nói: "Chim bồ câu ở Việt Nam đều gầy, ăn hương vị của da là đã thỏa mãn rồi!"

Những con chim bay tự do sinh sống trên bầu trời cũng có sự khác nhau tùy theo quốc gia. Đặc biệt là: những con chim bồ câu sống trên bầu trời Việt Nam cũng phải chịu sự gầy gò, nghèo đói, động vật cũng có số phận khác nhau!

Mỗi chúng sinh đều có nhân duyên, sống ở đất nước nào thì cũng đều có số phận đã định rồi.


### 24. Nói về nghệ thuật cao xa


Sư Tôn khi viết sách đã từng viết về vấn đề "Nghệ thuật là gì?" Đẹp chính là nghệ thuật, xấu cũng là nghệ thuật, thoải mái cũng là nghệ thuật, ác tâm cũng là nghệ thuật. 

Sư Tôn cũng từng khai thị rằng: lúc còn nhỏ, thư pháp của Sư Tôn luôn được điểm dưới C, thư pháp của Sư Tôn bây giờ so với lúc còn nhỏ cũng chẳng hơn gì, xem ra cũng vẫn như thế, nếu so sánh với thư pháp truyền thống thì không biết là thuộc về dạng thư pháp của môn phái nào.

Tuy nhiên, qua quá trình phân tích tỉ mỉ và luyện tập chăm chỉ, thư pháp của Sư Tôn đã có tiếng nói riêng độc đáo, thẩm mĩ nghệ thuật độc đáo, từng trang tác phẩm đều luôn có nét đặc biệt.

Tôi nói: 
"Thư họa của Sư Tôn là một dạng siêu việt, chúng không bị trói buộc bởi hình thức, không bị hạn chế vào dạng thức truyền thống, nhưng chúng vẫn tiềm tàng vẻ đẹp truyền thống, một giọt mực thơm lan tỏa hương thơm mạnh mẽ."

Khi tôi thưởng thức những tác phẩm của Sư Tôn, tôi phát hiện ra đa số là chúng là thư pháp "ý bút", ít có thư pháp "công bút". [ ND: ý bút là khi tác phẩm được thể hiện một cách phóng khoáng, các nét thể hiện không cần sắc nét tỉ mỉ. Công bút là dùng các kỹ pháp căn bản để thể hiện chữ hoặc tranh, ngọn bút thể hiện tác phẩm một cách sắc nét, rõ ràng theo chủ ý của tác giả.] Thậm chí chỉ đơn giản là phẩy mấy nét bút là đã xong một bức tác phẩm, dường như đã có thần có lực. Từ đây có thể thấy Sư Tôn vốn có tài năng bẩm sinh, phong cách tự nhiên không gò bó. 

Tôi thỉnh thị Sư Tôn: 
"Làm sao để vẽ được một bức tranh đẹp có nghệ thuật sâu sắc?"
Sư Tôn đáp rằng:
"Tôi quán tưởng bố cục những ý tưởng của mình trong thế giới nội tâm tương đối lâu đó! Trong cái lộn xộn cũng có trật tự, cũng là nghệ thuật. Những bố cục gọn gàng trang nghiêm cũng có nghệ thuật ngoạn mục. Nghệ thuật là vạn tượng, là vạn tượng thì cũng không thể nào phân tách ra được, bất kể là trên phương diện hình thể vật lý hay phương diện tinh thần thì đều là nghệ thuật."

Nhờ vậy tôi đã hiểu được, hóa ra nghệ thuật cũng rất đa dạng, rất khó cầm nắm. Hóa ra, nghệ thuật là một kiểu cảm nhận. 

Tôi từng tham quan triển lãm tranh ở phòng mỹ thuật thành phố Đài Trung, Đài Loan, có rất nhiều tác phẩm của các họa sĩ bày ra lung linh trước mắt. Tôi từ tốn chiêm ngưỡng nghệ thuật của mỗi bức họa. Tôi có thể hiểu được những bức tranh có hình ảnh, có chi tiết và dễ hiểu. 

Khó hiểu nhất là thể loại tranh vảy màu, và tranh không có hình tượng cụ thể, một mảng đen đen, vượt quá cả tranh ý bút, đứng trước những bức tranh ấy, nghĩ ngợi rất lâu để đoán và tưởng tượng ý cảnh của chúng, nhưng tôi vẫn chẳng nhìn ra được ý gì cả. Sau đó, phải nhờ có sự giải thích thông qua cái nhìn nghệ thuật của Sư Tôn, tôi mới hiểu cách thưởng thức nghệ thuật của tranh. 

Tôi còn hiểu được rằng có đôi khi, nghệ thuật hiện lên rất rõ ràng, có thể nhìn ra được, có đôi khi ẩn đi nhìn không ra, chỉ có thể dùng tâm để cảm nhận sâu bằng trực giác. 

Tranh của Sư Tôn là nghệ thuật trong nghệ thuật.
Cảm thấy nó giống cái gì thì giống cái đó. 

Tôi xem tranh của Sư Tôn có cảm tưởng là: 
Quý phái cao xa. 
Thuyền nhỏ lênh đênh.
Vừa thấy ý tình.
Tự nhiên tự nhiên.


### 25. Tự nhiên là đẹp


Dường như chớp mắt một cái, Sư Tôn đã lại hoàn thành tập tranh thứ năm rồi, đặt tên là "Tâm an nhàn". 

Thử tính xem, từ tập tranh thứ nhất đến tập tranh thứ năm, cộng thêm những bức không được đưa vào tập tranh, và những bức tranh được những người yêu thích thỉnh đi, tổng cộng lại là khoảng hơn 800 bức. Trong thời gian hai năm ngắn ngủi mà sáng tác được nhiều tác phẩm như vậy, có thể gọi Sư Tôn là "họa sĩ năng suất". Từ đó có thể thấy, Sư Tôn vẽ tranh cũng giống như viết sách, mỗi ngày đều cầm bút không ngừng nghỉ. 

Những họa sĩ bình thường ngày ngày vẽ tranh, nhưng không nhất định mỗi ngày sẽ vẽ xong một tác phẩm. Chúng ta biết nhiều họa sĩ từng nói rằng: trong quá trình tôi luyện, muốn vẽ được một bức tranh mà trong lòng cảm thấy hoàn toàn hài lòng thì thường phải vẽ trên 500 bức hoặc 1000 bức thì mới có thể chọn ra được một bức trong số đó, số còn lại chỉ là rác rưởi đáng vứt đi. Thế rồi lại đặt bức tranh kiệt tác này lên mặt bàn, nghĩ ngợi rất lâu xem cần viết lời đề cho tranh thế nào, đôi khi phải mất tới mấy ngày, rồi lại phải tham khảo thêm dạng mẫu của cổ nhân rồi mới có thể viết lời đề và đóng dấu. Bởi vậy, hiếm có họa sĩ nào có thể đặt bút đề thơ ngay tại chỗ. 

Tôi làm phụ tá vẽ tranh cho Sư Tôn, giúp Ngài cắt giấy, mài mực, rửa bút lông. Mực và đá mực là hiểu rõ nhất tài vẽ tranh xuất chúng của Sư Tôn. Chỉ cần nhấc bút lên là Sư Tôn có thể phác nên những nét vẽ rất tự nhiên thoải mái để thể hiện những ý tưởng trong đầu mình trên bức tranh, hơn nữa không chút do dự, Sư Tôn có thể lập tức đề mấy câu thơ trong đầu mình. Bức tranh đẹp đẽ kết hợp với những lời thơ cảm động lòng người cực kì sống động, không thể không khiến người ta đập bàn khen "Tuyệt!". 

Có lúc, thỉnh thoảng ở Biệt Thự Cầu Vồng, hoặc ở Chân Phật Mật Uyển, hoặc khi đi hoằng pháp ở bên ngoài, Sư Tôn thường đồng ý lời thỉnh cầu của mọi người mà lập tức cầm bút vẽ tranh ngay trong bữa tiệc cả nghìn người. Mọi người chăm chú quan sát không rời mắt, không ai là không chậc lưỡi thán phục cây bút có thần!

Tôi còn nhớ có lần triển lãm nghệ thuật, tôi đứng trước một bức tranh treo trên tường, tỉ mỉ quan sát một tác phẩm đẹp long lanh, tôi phát hiện ra có một vài căn nhà bị vẽ hơi nghiêng nghiêng. Chẳng phải nhà là phải đứng thẳng sao? Điều này khiến tôi dừng chân trước bức tranh nghĩ ngợi rất lâu. Sau đó, tôi hiểu được ý nghĩa nghệ thuật của những ngôi nhà nghiêng. Thì ra những ngôi nhà cổ xiêu vẹo cũng không ảnh hưởng đến vẻ đẹp của chúng, chúng cũng đẹp như những ngôi nhà mới vậy. 

Đối diện với một ngôi nhà mới với bốn bức tường trắng tinh không tì vết, hầu hết mọi người đều cảm thấy vẻ đẹp của nó. Tuy nhiên, trải qua sự bào mòn của thời gian, sự hủy hoại bởi gió thổi mưa quật, ngôi nhà đã bị nghiêng, lớp sơn bong ra, lớp vôi sẽ bửa ra, lộ ra những viên gạch đỏ liên tiếp, rồi sẽ mọc rêu, thế là bức tường sẽ có nhiều màu sắc, cảm giác hiện thực phong phú, và thường thì nó sẽ biến thành một bức tranh đẹp lạ. 

Những tư liệu bố cục của Sư Tôn đa dạng hóa, mọi lúc mọi nơi đều có thể tóm được ý cảnh đẹp đẽ, bất kì sự vật nào dưới con mắt nhìn của Sư Tôn cũng đều đẹp cả!

Tôi cảm thấy quan điểm thẩm mĩ có thể có nhiều góc độ khác nhau. 
Mỹ nữ không nhất định cần phải vẽ xinh đẹp như tiên nữ mới được coi là đẹp - con người có cả trăm vẻ đẹp. 
Cây không nhất định cần phải vẽ um tùm xum xuê, chúng có quá trình sinh trưởng tự nhiên. 
Hoa không nhất định cần phải vẽ là hoa đỏ lá xanh, bởi xuân hạ thu đông, hoa nở hoa tàn.
Tôi cho rằng, vẽ ra được cái chất nghệ thuật thực sự của sự vật chính là cái đẹp tự nhiên!


### 26. Thiền cảnh của bức tranh thị nữ


Tập tranh "Minh nguyệt tố tâm" mà Sư Tôn vẽ có đôi chút khác với những tập tranh trước đây, bởi vì tập tranh này có rất nhiều những bức tranh vẽ thị nữ mà trong những tập tranh trước không có. Tôi thưởng thức tỉ mỉ những bức vẽ thị nữ này, mỗi nàng mỗi vẻ chẳng ai giống ai, tư thế duyên dáng, không thể không khiến người ta đập bàn khen "Tuyệt!". 

Họa sĩ thông thường có quan điểm giống nhau, cho rằng vẽ cây, hoa, cảnh vật thì tương đối dễ, bởi vì chúng ở trạng thái tĩnh, còn vẽ động vật có trạng thái động như chim, gà, vịt, trâu, ngựa, v.v... thì khó hơn, đặc biệt vẽ người là khó nhất, ngọn bút bất cẩn một chút là sai một li đi một dặm. Muốn vẽ được cái thần của con người thì không có công phu thâm hậu không thể vẽ được. 

Thông thường học vẽ người phải luyện tập vẽ từng bộ phận của con người trước, vẽ cả trăm lần, nghìn lần lông mày, đôi mắt, cái miệng, cái mũi, cái tai, luyện vẽ liên tục thì mới có thể hạ bút thành tranh. Tôi còn nhớ khi xưa tôi học vẽ, họa sĩ Chu Mộc Lan hướng dẫn rằng: khi vẽ trang phục của người nhất định cần phải tưởng tượng bên trong trang phục đó có da thịt, có hình thể, như vậy mới có thể thể hiện được bức tranh vẽ người tạo cảm giác nổi 3D. 

Tôi đã lướt xem qua rất nhiều bức tranh thị nữ, phát hiện ra phần lớn mỹ nữ được vẽ theo cách tả thực. Mỹ nữ được vẽ cực đẹp cực xinh, xinh như tiên trời, bất kì ai nhìn đều phải khen ngợi vẻ đẹp tuyệt thế đó. Tuy nhiên, tôi cảm thấy những bức tranh mỹ nữ này phải chăng khiến người ta cảm thấy một cảm giác xa xăm. 

Sư Tôn vẽ mỹ nữ hoàn toàn khác. Ngài phá bỏ những khung luật cũ kĩ, phong cách vẽ có tính sáng tạo, không quan tâm đến mỹ nữ béo hay gầy, không quan tâm mỹ nữ xinh hay xấu, hoàn toàn dựa trên sự tương đồng giữa tâm trí và bàn tay của chính mình để tóm lấy những nét đẹp nghệ thuật của nhân vật để biểu đạt cái mỹ cảm của ý, nhờ cái đẹp của ý cảnh mà chiếm được cảm tình của người xem tranh. 

Ví dụ, có một bức thể hiện tâm trạng trầm tư, bước chân ngập ngừng, bối cảnh sau lưng xa dần, đột nhiên ánh mắt lóe lên, cái ý cảnh quay đầu lại đẹp và kì diệu vô cùng. Ngoài ra còn có bức mỹ nữ chơi đàn, mắt nhắm lim dim, bên cạnh là một que hương đang cháy, từng vòng khói cuộn bay lên, quyến luyến trong sự thiền định của thanh nhạc, cái ý cảnh này khiến người ta mong ngóng khát khao. 

Mặc dù ai ai cũng thích đẹp, cái đẹp có cảm giác lôi cuốn, đẹp là một dạng nghệ thuật, tuy nhiên nghệ thuật hoàn toàn không có thứ gọi là cái đẹp điển hình. Tôi cho rằng chúng sinh có trăm nghìn sắc thái, không có sự kì lạ nào là không có, có thể vẽ ra được ý cảnh của nhân vật mới là nghệ thuật trong nghệ thuật. Ý cảnh đẹp sẽ còn lưu lại trong tâm trí người ta mãi mãi.


### 27. Lựa chọn tranh


Gần đây, có rất nhiều những người yêu thích nghệ thuật, thích sưu tập tranh và sách tranh đã liên tục gửi thư đến hỏi: "Đã lâu không thấy tập tranh mới của Sư Tôn, không biết khi nào sẽ xuất bản?"

Chính vì nhân duyên này mà Sư Tôn lấy ra một chồng tranh lớn, yêu cầu mấy Thượng sư chúng tôi cùng chọn ra 40 bức tranh đẹp nhất để chuẩn bị xuất bản tập tranh. 

Chúng tôi được dịp vây quanh chồng tranh lớn thưởng thức một phen, thật là sướng hết cả mắt. Chúng tôi say sưa trong những ý cảnh của các bức tranh. Màu sắc của những bức tranh đó, có bức thì hiện lên vẻ đẹp cổ điển, thanh tịnh cao quý, đẹp đẽ tỉ mỉ, có một số bức thì mang vẻ đẹp hiện đại, sinh động sôi nổi. Chúng tôi ca ngợi về chủ đề bố cục, Sư Tôn đã cô đọng những cảnh vật thiên nhiên vào trong những bức tranh, khá giàu tính nghệ thuật, đem lại cho người ta những giá trị quan. 

Điều khiến người ta đập bàn khen "Tuyệt!" là những câu thơ và từ trên mỗi bức tranh đặc biệt xuất chúng. Thơ và từ đều sáng tạo, đặt bút thành văn, khiến người ta say mê, đọc chúng, ngâm nga chúng, đọc lên thành tiếng, ý vị lại càng nồng đượm. 

Tôi ngưỡng mộ nhất là những chữ thư pháp đề tranh của Sư Tôn, tuôn chảy tự nhiên mà tự thành phong cách riêng, không bị giới hạn vào thư pháp cổ điển, không bắt chước theo kiểu chữ đãi thư, thảo thư, giai thư, hành thư. Hay thậm chí kiểu chữ nét kim mảnh hoặc các kiểu chữ khác, không cố tình tạo kiểu hay uốn éo, các nét bút rất phóng khoáng nhưng quyết đoán, thế bút như bay như lượn, tự nhiên như không. 

Nhờ sự lựa chọn tỉ mỉ cẩn thận của mấy Thượng sư, cuối cùng chúng tôi đã chọn ra được 40 bức tranh đẹp nhất. Nhưng kết quả là, đến lần đánh giá thẩm mỹ thứ hai của các Thượng sư, chúng tôi nhận thấy 40 bức tranh đó chưa phải là những bức đẹp nhất, thế là chúng tôi lại lựa chọn lại từ đầu. Cuối cùng, có hai Thượng sư khác am hiểu về tranh nhất đến, cũng góp lời bình luận. Trái với kì vọng của chúng tôi, họ dựa vào kinh nghiệm đánh giá tranh mà đánh giá công bằng, nhưng tôi không nghĩ bức tranh được chọn lần thứ hai là kiệt tác. Đúng là mỗi người có quan điểm khác nhau. 

Chúng tôi đem 40 bức tranh này trình lên Sư Tôn. Sư Tôn xem xong những bức tranh đó cũng ngẩn người ra một lúc, nét mặt lộ vẻ không ưng lắm. Sau đó Sư Tôn lấy ra mấy bức tranh, rồi thêm vào những bức tranh mà Sư Tôn tự mình chọn.

"Xin hỏi Sư Tôn, tập tranh đó sẽ đặt tên là gì?"
"Sẽ đặt tên là Cũng là bụi trần."
"Vì sao nhất định phải đặt tên là Bụi trần?"
"Đó là vì tôi vẽ tranh tùy ý, nghĩ gì thì vẽ đó."
"Ồ! Tôi hiểu rồi, bụi trần tức là tự nhiên."

Thế giới hội họa là vô cùng tận, ý cảnh của hội họa là bất khả tư nghì, quan điểm thẩm mỹ của mỗi người cũng khác nhau, những bình luận cũng chẳng bao giờ giống nhau, chỉ có những bức mà mình thích thì mình mới cho là đẹp. 

Tranh và thư pháp là nghệ thuật, nghệ thuật có thể tu tâm dưỡng tính, rèn dũa năng lực, tô điểm cuộc sống.


### 28. Bản quyền của Phật pháp


Tôi đọc báo thấy một mẩu tin, tiêu đề là: "Bị kiện vì chưa được trao bản quyền dịch và in ấn sách Phật, trụ trì thiền viện Tu Nguyên bị phạt tù một năm". Mẩu tin tức này thật sự khiến người ta kinh ngạc! Trong suy nghĩ của tôi, in sách Phật mà bị kiện ra tòa là chuyện mà lần đầu tiên tôi nghe thấy. 

Tôi chưa từng nghe nói đến thiền viện Tu Nguyên, tôi cũng không biết vị trụ trì của thiền viện, nên cũng không để ý đến chuyện này. 
Trong quá khứ, giới Phật giáo khắp nơi cổ vũ thiện tín đại đức xuất tiền để in ấn rộng rãi sách Phật, gieo trồng công đức, hơn nữa trong sách Phật còn ghi rõ "Hoan nghênh biên dịch và in ấn, lan truyền rộng rãi", việc xây dựng công đức này có thể gặp ở khắp nơi. 

Còn giờ đây, không ngờ người tố cáo kia nói rằng: không thể tùy ý tặng người khác, làm như vậy tức là có tội mạo phạm tới Phật, hành vi sỉ nhục Phật. Không những thế, kiểm sát viên lại còn tin theo lời tố cáo này, đem quy vào tội vi phạm bản quyền tác giả để kiện và phạt. 

Kì thực, Phật pháp vốn cần được lan truyền rộng rãi, bố thí pháp là một trong ba loại bố thí được nói đến trong Phật pháp, tức là mình biết gì về Phật pháp thì đều có thể thí tặng cho chúng sinh. Bởi vậy có thể khẳng định rằng những tác giả đã viết sách xuất bản cũng muốn truyền bá rộng rãi Phật pháp. Vì sao lại không thể tặng cho người khác? Điểm mấu chốt trong việc này vốn là vấn đề lợi ích bản quyền. 

Lẽ nào việc bán bản quyền hoặc dịch và in sách là việc tranh giành lợi ích sao?
Phật pháp có thể tặng cho người khác hay không, là một chuyện hoàn toàn khác. 

Tôi nghĩ rằng Phật pháp là do Phật Thích Ca Mâu Ni truyền lại, không có Đức Phật truyền pháp thì không có Phật pháp. 
Nếu bàn về bản quyền thì chỉ có duy nhất Đức Phật có quyền bàn. Nếu đã kiện tụng thì chỉ có duy nhất Đức Phật thắng kiện. 
(Bài viết này là quan điểm của người viết, hoàn toàn không thích hợp với quy định pháp luật về quyền tác giả.)


### 29. Triết lý về học Phật


Học Phật tu hành là việc có giá trị nhất trong đời người, cũng là mục đích đúng đắn nhất của đời người. Đặc biệt là khi phẩm vị của bạn đến được với pháp vị, khi tâm hiện quang minh, đối với mọi sự việc của thế gian có thể có được cái nhìn tổng quát, luôn vui vẻ với mọi sự, cuộc sống trở nên phong phú hơn thì bạn càng có được cuộc sống hoàn thiện và giàu ý nghĩa. 

Có rất nhiều người không nghĩ như vậy. Họ cho rằng việc tu hành là việc của người xuất gia, không phải là việc của người tại gia. Thậm chí họ còn coi những hành vi tu hành thần thánh vượt ra ngoài thế gian là sự giết thời gian do người già nghỉ hưu không có việc gì để làm, họ bỏ qua khía cạnh thanh tịnh trang nghiêm của Phật pháp. 

Chúng sinh thế tục đâm đầu vào trong những đám lợi ích, đào tới đào lui, hỗn loạn và mất phương hướng, trải qua bao nhiêu gian khổ, và cuối cùng thì mọi nỗ lực đều bay theo gió. 

Đương nhiên cũng có những người có được phúc báo tốt, có được cả danh cả lợi, gia tài đồ sộ, hưởng thụ vinh hoa phú quý, nhờ vào sự giàu có và thế lực, sự nổi tiếng mà có thể hô gió gọi mưa, thật sự đúng là có tiền cũng có thể sai quỷ đuổi ma. 

Cho dù là đại gia thì cũng có thể làm gì? Có tiền, nhưng chưa chắc về phương diện tinh thần và tâm linh đã được vui vẻ, giải thoát khỏi phiền não, vẫn chẳng tránh được những cái khổ do sinh, lão, bệnh, tử gây nên trên cơ thể vật lý, chết rồi thì chung quy cũng hóa thành cát bụi, cuối cùng cũng vẫn chẳng đem theo được bất kì vật gì của nhân gian!

Nếu có thể đời sống hóa Phật pháp, hơn nữa, mỗi ngày dành một chút thời gian ngồi trước đàn thành, đối diện với chư Phật Bồ Tát trang nghiêm để mà trầm tư, quán tưởng, thiền định, cảm nhận về thế giới thanh tịnh, đắm mình trong biển pháp trí huệ, nội tâm sẽ từ từ hướng về sự an bình tĩnh lặng, gặp chuyện gì cũng có thể vui vẻ chấp nhận, bình tĩnh như chẳng có chuyện gì xảy ra, tâm tĩnh lặng như nước đứng yên. 

Đến được cảnh giới này rồi thì thì sẽ thực sự ngộ ra được cái gì gọi là ý nghĩa thực sự của đời người.


### 30. Chuyển tâm


Vào thời Đức Phật, có một tích truyện tương đối nổi tiếng, cho đến nay hành giả vẫn thường lấy tích truyện này để xem như sự cảnh tỉnh và cổ vũ để khiến bản thân tràn đầy hy vọng vào việc tu hành của bản thân. 

Hồi đó, tăng đoàn của Đức Phật có một tì kheo tên là Chu Lợi Bàn Đặc [ND: Cūlapanthaka], sinh ra đã ngu đần, khả năng ghi nhớ rất kém, không thể đọc thuộc được bất kì bài kệ nào, nên ông cực kì buồn phiền, bởi vậy đã chạy đến trước mặt Đức Phật mà lớn tiếng khóc. Rất nhiều người cười nhạo sự ngu đần của ông. Phật Đà biết ông là người thật thà, do vậy rất đồng cảm với ông, chỉ có cách sai ông làm công việc quét dọn đơn giản, còn dặn ông vừa quét dọn vừa niệm đúng một câu là "Quét sạch bụi bẩn". 

Chu Lợi Bàn Đặc y theo lời dạy của Phật Đà, chăm chỉ làm việc, nhất tâm trì tụng, cuối cùng đã ghi nhớ kĩ câu kệ "Quét sạch bụi trần". Lâu ngày, công phu của ông tiến bộ, ông dần dần hiểu được ý nghĩa của câu kệ này, ông nghĩ: "Dục vọng của con người chính là bụi trần, từ dục vọng mà sinh ra đủ mọi nguyên nhân khổ não tai họa, người khôn ngoan cần phải loại bỏ dục vọng thì mới có thể thoát được sinh tử, tâm mới có thể thanh tịnh, giải thoát và tự do, minh tâm kiến tính."
 
Dần dần, Chu Lợi Bàn Đặc đã từ bỏ được ba loại tâm độc, khiến ông tiến vào trí huệ bình đẳng, tâm ông rộng mở và cuối cùng đã rũ sạch được bụi bẩn trong tâm. 

Tích truyện này khiến tôi nghĩ đến sự khác biệt rằng có người trì niệm kinh chú một nghìn biến thì đã có được cảm ứng lớn, thế nhưng có người cũng niệm một nghìn biến cũng chẳng có được cảm ứng gì cả, thì ra sự khác biệt chính là nằm ở chỗ "chuyển tâm". 

Khi niệm kinh chú, cần phải hiểu ý nghĩa của kinh văn, hơn nữa cần duy trì việc thực tu, cho đến khi chuyển tâm, thì nhất định sẽ có được cảm ứng. 

Tu pháp cũng giống như vậy, tu đến khi chuyển tâm, khế hợp với tâm của Phật Bồ Tát, thì chắc chắn sẽ thành tựu. 

Chuyển tâm là điểm trọng yếu của tu hành.


### 31. Thay đổi suy nghĩ thiện ác


Có một đồng môn làm việc trong phòng thí nghiệm của bệnh viện. Do yêu cầu của thí nghiệm thực tế nên thường xuyên phải dùng động vật để thí nghiệm phân tích, thông qua đó thu được kiến thức về y học và thuốc, đem lại đóng góp cho nhân loại. 

Vì những thí nghiệm này mà thường xuyên phải làm chết những động vật vô tội. Anh kể rằng, vì muốn tránh bản thân mắc phải nghiệp sát sinh nên anh thường để người khác thực hiện, anh chỉ tham gia vào phân tích nghiên cứu. Anh còn nói, mặc dù không phải là tự mình sát sinh, nhưng chứng kiến những tiếng kêu thảm thiết của động vật khi bị giết, chẳng phải là cũng không khác gì phạm vào nghiệp sát sinh "không nghe thấy giết, không nhìn thấy giết, tự mình giết" rồi sao. 

Vì công việc sát sinh để làm thí nghiệm này mà trong lòng người đồng môn ấy thường cảm thấy bất an, mang cảm giác tội lỗi lớn, trong đầu thường xuất hiện những suy nghĩ sợ hãi về việc sát sinh. Ngày nghĩ sao thì đêm mơ vậy, buổi đêm anh mơ thấy động vật máu me nằm đầy kín cả một quảng trường mà hốt hoảng tỉnh giấc!

Tôi bảo anh: anh đừng nghĩ nhiều đến chuyện nghiệp sát sinh của mình rất nặng nữa, tuyệt đối đừng nghĩ bản thân mình là kẻ sát sinh điên cuồng, sẽ vì suy nghĩ này mà gây ra tội. Ngược lại, chỉ cần anh hiểu cách thay đổi suy nghĩ, nghĩ rằng: có rất nhiều người bị bệnh đang đau đớn rên rỉ, đang đợi thí nghiệm của anh thành công để đến cứu giúp họ, công việc của anh chính là vì phúc lợi cho mọi người, là một công việc thần thánh, là công việc cứu người. 

Học cách vượt lên trên những suy nghĩ thông thường. Trong lúc anh phân tích động vật cũng tập trung suy nghĩ làm siêu độ cho bọn chúng, trì chú, quán tưởng Phật Bồ Tát phóng quang tiếp dẫn chúng vãng sinh. 

Học cách chuyển đổi những suy nghĩ xấu thành suy nghĩ tốt, dùng những suy nghĩ thiện lành mà nhìn việc thế gian, làm tất cả mọi việc tốt, việc thế gian đều sẽ trở thành tốt đẹp. 

Tu hành tam mật thanh tịnh cũng nằm ở việc thay đổi suy nghĩ, là dùng thân, khẩu, ý vốn không thanh tịnh, nhờ phương pháp tu hành là chuyển hóa ý nghĩ mà tu đạt đến sự thanh tịnh. Hiểu được cách thay đổi suy nghĩ thì một suy nghĩ thanh tịnh, tất cả đều thanh tịnh. 

Sư Tôn từng khai thị rằng: "Tu hành là nhằm hiển lộ ra mặt sáng của con người, không phải là tiêu diệt mặt sáng đó." 
Điểm này rất quan trọng.


### 32. Người bám chấp vào thân thể


Còn nhớ hơn 10 năm trước, có một vị là bác sĩ Âu, trong lúc ngồi nói chuyện đã nhắc đến phương pháp làm đông lạnh cơ thể người để chết rồi lại hồi sinh. Ông ấy có thái độ rất lạc quan, tin rằng một ngày nào đó niềm hy vọng mới về việc kéo dài cuộc đời sẽ có khả năng thành hiện thực. Mọi người trố mắt há miệng ra nghe, biểu hiện hào hứng khác thường. 

Đông lạnh cơ thể người tức là năm phút trước khi chết sẽ được áp dụng phương thức xử lý, lúc này người sắp chết sẽ được đẩy vào khoang đông lạnh, rồi đợi 5, 10, 20 năm, thậm chí lâu hơn, cho đến khi kĩ thuật y dược đã tìm được phương thức tốt thì mới "rã đông" cơ thể người, dùng phương thuốc đúng để chữa trị, khiến người đó sống lại. 

Trước đó không lâu, báo chí truyền thông đã đưa tin về chuyện này, gây xôn xao dư luận trong một khoảng thời gian. Mặc dù biết rằng tổ chức "đông lạnh cơ thể người" nói: "Đến nay vẫn chưa có kĩ thuật hồi sinh", nhưng họ vẫn tiếp tục công việc nghiên cứu không ngừng. Trước mắt đã có 35 hội viên chết được bảo quản trong những khoang đông lạnh. 

Tôi cảm thấy khoa học càng tiến bộ thì càng phát sinh ra những việc kì quái. Chưa nói đến những chuyện khác, chỉ nói đến năm 97 đã có "nhân bản người", "đông lạnh người", "độc quyền thị trường vệ tinh, khống chế viễn thông toàn cầu" đã gây sốc cho con người trên toàn thế giới. Mọi người quan tâm chú ý, lo lắng những phát minh mới này liệu có đem đến mối đe dọa cho nhân loại hay không, làm nhiễu loạn các hiện tượng của tự nhiên, các phép tắc vận động của vật chất và xã hội loài người. 

Tôi có rất nhiều câu hỏi đối với việc đông lạnh cơ thể người, thậm chí tôi tin rằng nó là một sự hỗn loạn thọ mệnh loài người, là một việc không ra sao cả. 
Nếu như người chết bị đông lạnh 100 năm, thời gian đông lạnh trăm năm không lão hóa, nếu thật sự lại hồi sinh một lần nữa thì những người vốn là thế hệ trẻ của người đó đều đã biến thành trưởng bối già của người đó rồi. 

Con người sau khi chết, thần thức sẽ rời khỏi thân thể người, trong những năm tháng trăm năm đông lạnh, thần thức sẽ đi về đâu, sau khi sống lại, thần thức làm sao để trở lại. 

Sau khi sống lại, chất lượng cuộc đời ở đâu. Sau khi sống lại, làm sao để thích ứng với hoàn cảnh con người và sự việc hoàn toàn thay đổi. 

Phật pháp là cứu người sau khi chết trở về với tâm linh, cầu đạo giải thoát, không phải là bám chấp vào thân thể xương thịt này. Trên thế gian, những vật hữu hình đến cuối cùng cũng chẳng còn gì, sinh mệnh vốn dĩ là nhân duyên hòa hợp mà thành, có duyên khởi thì tất có duyên diệt.


### 33. Liên tưởng về việc nhân bản


Kể từ khi trung tâm nghiên cứu động vật bang Oregon nước Mỹ nhờ nghiên cứu cấy ghép phôi thai đã nhân bản thành công hai con khỉ, tin tức này sau khi được công bố ra toàn thế giới đã tạo nên một sự chấn động. Dường như mỗi người đều cảm thấy kích động đối với những viễn cảnh có thể phát sinh từ thành quả nghiên cứu này. Hơn nữa họ còn phân tích những lợi ích và tác hại có thể xảy ra đối với tương lai của nhân loại. 

Mặc dù trên báo chí vẫn thường xuyên thấy có những bài báo về việc nhân bản, mỗi bài báo lại bày tỏ quan điểm riêng, các quan điểm rất khác nhau. 
Có bài báo cho rằng nhân bản động vật là việc tốt, có thể làm vật thí nghiệm, đây là một cống hiến lớn đối với y học và khoa học. 
Đa số mọi người phản đối việc nhân bản người, ngay cả Tổng thống Clinton cũng phát biểu về điều này, rằng không được nhân bản người. 
Cũng có bài báo nói lựa chọn những nhân vật có tri thức cao để nhân bản nhằm nâng cao chất lượng con người, ví dụ như các nhà khoa học, Tổng thống hoặc các nhân vật được công chúng coi trọng. 

Có một câu nói nghe ra tương đối thích hợp là tránh nhân bản toàn bộ thân thể người, chỉ có nhân bản các bộ phận nội tạng như gan, tim, thận,... để cung cấp cho những bệnh nhân chờ nội tạng để chữa bệnh là được rồi. 

Việc nhân bản người, thời cơ tốt nhất là sau chiến tranh thế giới, khi nhân loại bị diệt vong rất nhiều, và những lúc thiếu nhân khẩu. 

Nhân bản người sẽ tạo nên sự loạn luân, người làm vợ hoặc người làm chồng sẽ không biết người nào mới là phối ngẫu gốc của mình. 
Nhân bản người sẽ khiến người ta sợ hãi khi nhìn thấy kẻ thù của mình đi đầy đường, chủ nợ của mình đi đầy đường. 

Giới tôn giáo cho rằng việc sống chết của con người có vòng tuần hoàn nhân quả của nó, nên thuận theo nhân mà sinh, thuận theo quả mà chết, nếu mà nhân bản thêm ra một "ta" nữa thì sẽ không chỉ loạn luân lý đạo đức mà cũng mất đi định luật tuần hoàn của nhân quả. 

Bởi vậy, tôi nghĩ đến một câu hỏi đem thỉnh giáo Sư Tôn:
"Phật pháp bao la như biển, rộng như hư không, bao gồm tất cả, là tám vạn bốn nghìn pháp môn, không biết Phật Đà đã từng nói đến việc nhân bản người hay chưa?"
Sư Tôn khai thị rằng: Có. Nhân bản người là phép "phân thân" trong Phật pháp. 
Di Lặc Bồ Tát duy thức đại thần biến.
Quan Thế Âm Bồ Tát có 32 ứng hóa thân.
Mỗi vị Phật đều trăm nghìn tỉ hóa thân.

Tôi lập tức tiếp lời nói: "Sư Tôn cũng có vô số phân thân để độ hóa chúng sinh. Liên Hoa Đồng Tử cũng có nhiều hóa thân ở cõi Ta Bà. Kì diệu thay! Kì diệu thay!"


### 34. Phật pháp và thần thông


Nói đến thần thông thường khiến cho người ta cảm giác rất thần bí ảo diệu. Tuy nhiên, người theo đuổi thần thông thực sự rất nhiều. Người thích nhờ thần thông để hỏi việc lại càng nhiều. 

Sư Tôn từng khai thị rằng: "Thần thông của người có căn khí cao có thể đến và đi một cách tự nhiên dễ dàng, chỉ cần nhập định là thể đến được bất kì cảnh giới nào. Thần thông của người có căn khí trung thì có thể có các thần, binh, tướng của cõi trời giúp đỡ. Thần thông của người có căn khí thấp thì sẽ tương thông với ma quỷ." 

Việc tu hành của người thông linh, nếu vẫn chưa đạt đến được cảnh giới thanh tịnh quang minh thì sẽ bị linh quỷ giả làm Phật Bồ Tát để liên kết với người đó, và người đó cũng không biết cách mà phân biệt được. 

Mặc dù thần thông có thể giúp biết được quá khứ và tương lai, nhưng khi bạn đã biết được ác nghiệp mà mình đã tạo ra trong kiếp trước thì sẽ tạo ra một áp lực, tâm trạng nặng nề, luôn cho rằng đời này đã hết mọi khả năng rồi, không có cách nào bù đắp được những ác nghiệp đã tạo ra từ kiếp trước, thậm chí còn sinh ra cảm giác bất lực đối với Phật pháp. 

Nếu là người thông linh bảo với bạn rằng, tương lai sẽ xảy ra việc lớn, có khả năng sẽ nguy hại đến tính mạng, khiến bạn lo lắng sợ hãi, ăn không ngon, ngủ không yên, ngày ngày sống trong run sợ và đau khổ, phải làm sao đây?

Thời đại Phật Đà có mười đại đệ tử, tôn giả Mục Kiền Liên được xưng là đệ nhất thần thông, nhờ thần thông mà ngài biết được kiếp nạn của mình đã đến, nhưng cũng không có cách nào trốn thoát được, cuối cùng vẫn là thần thông chẳng thắng được nghiệp lực và đành chết. 

Tôi cho rằng, vì là thần thông không thắng được nghiệp lực, ngược lại chi bằng chẳng cần biết quá khứ và tương lai, cứ thực tu một cách thực tế vững chắc còn quan trọng hơn. Còn đối với những tai họa xảy đến bất ngờ thì vẫn nên giữ tư tưởng thuận theo nghịch cảnh, giữ cho tâm trạng được bình tịnh, điềm tĩnh. 

Mặc dù thần thông có thể độ chúng sinh, nhưng thần thông cũng không phải là cứu cánh. Duy có thực tu, ngộ được chân lý, giải thoát sinh tử thì mới là điều hành giả cần theo đuổi. 

Có sáu loại thần thông là: thần túc thông, thiên nhĩ thông, thiên nhãn thông, túc mệnh thông, tha tâm thông, lậu tận thông.


### 35. Liệu sức mà làm


Từng có một đệ tử Phật rất chăm chỉ đi lễ Phật, thường xuyên tham gia các hoạt động tình nguyện của các chùa chiền. Cô thường im lặng ít nói, chắm chúi làm việc, thích giúp đỡ người khác, tốt bụng và độ lượng, luôn nghĩ cho người khác trước. Những ai biết cô đều ca ngợi cô. 

Một hôm, cô rất vội vã đến gặp người bạn thân để mượn tiền. Bạn thân của cô không chần chừ do dự đã cho cô vay tiền. 
Tuy nhiên, lần này tới lần khác, đã hơn ba lần vay mượn, tổng cộng số tiền vay mượn cũng đáng kinh ngạc khiến người bạn cảm thấy rất kì lạ, đành hỏi cô: "Chồng cô là tiến sĩ có thu nhập cao, chi tiêu của gia đình ba người sơ sơ cũng thừa đủ, hơn nữa cô vẫn luôn rất đơn giản và tiết kiệm, lẽ nào...?"

Cô cười cười trả lời: "Xin đừng nói cho người khác biết, tôi đã đem hết số tiền tiết kiệm tích góp được trong nhiều năm để đóng góp cho các chùa rồi. Ngay cả tiền lương mỗi tháng chồng tôi lĩnh về cũng đều đem quyên góp hết rồi. Bây giờ các chùa đang huy động từ thiện cứu tế, rất thiếu tiền!"
Bạn cô nói: "Vì sao mà cô phải ép mình như vậy? Sao không để dành lại một ít cho chi phí sinh hoạt?"
Cô vẫn cười khẽ và trả lời: "Có rất nhiều người nghèo, người đáng thương cần giúp đỡ, tôi lại thích làm việc thiện, Phật Đà cũng đã dạy chúng sinh hành thiện bố thí đó thôi!"
"Hành thiện bố thí rõ ràng là tốt rồi, nhưng giống như cô thế này, ngay cả đến tiền ăn cũng không dành lại mà đem bố thí, đến mức đi vay nợ, nếu cứ tiếp tục thế này cuối cùng sẽ có ngày đi đến đường cùng, có ai sẽ cứu giúp cho cô đây?" - Bạn cô nói. 

Kì thực, Phật pháp vô biên, Phật Đà giáo hóa chúng sinh không chỉ là từ thiện bố thí, trong lục độ vạn hành có bố thí, giữ giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, bát nhã, bố thí chỉ là một trong số đó thôi. 
Bố thí là Phật pháp, nhưng Phật pháp không chỉ có mỗi bố thí. Tôi nghĩ đến Sư Tôn từng so sánh rằng: "Bạch mã là ngựa, nhưng không phải ngựa nào cũng là bạch mã." 
Về sau, đệ tử này đến quy y Sư Tôn, tu trì Chân Phật Mật Pháp, lúc đó mới biết chân đế của Phật pháp.


### 36. Quỹ đạo của nhân quả


Làm điều thiện có thiện báo, làm điều ác có ác báo, nếu không làm việc thiện, cũng không làm việc ác, liệu có phải là không có thiện báo và ác báo không?

Về mặt biểu hiện thì tưởng rằng ta không làm việc ác, nhưng kì thực là vẫn chưa tu đến cảnh giới thanh tịnh, suy nghĩ vẫn cứ lòng vòng hỗn loạn, rất dễ phạm vào việc nảy sinh suy nghĩ ác mà tạo nghiệp. 

Có người tốt bụng và độ lượng, nhưng vô ý lại làm hại người khác, gây ra tội, có phải là vẫn sẽ nhận lấy ác báo không? Giữa làm việc thiện và phạm tội, liệu có sự bù đắp lấy công chuộc tội hay không?

Phật pháp nói về nhân quả, trồng nhân gì thì được quả đó. Tục ngữ nói rất hay rằng: trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu, tuyệt đối không có chuyện trồng dưa lại được mướp. Trật tự nhân quả rõ ràng, không sai một li, làm một việc thiện thì được một thiện công đức, làm một việc ác thì sẽ có một ác báo, chắc chắn không có chuyện lấy công chuộc tội. 

Đừng cho rằng người khác luôn dùng thủ đoạn lén lút, tìm mọi cách lừa bịp, tâm địa cay độc, không từ thủ đoạn mà kiếm chác lợi ích, ấy thế mà không chỉ không gặp phải ác báo mà ngược lại, xem ra còn gặp rất nhiều vận may, mọi việc thuận lợi, tài nguyên dồi dào. Kì thực, bọn họ đang hưởng những phúc báo mà họ đã trồng từ kiếp trước, đến khi phúc báo hưởng hết rồi thì tài phúc cũng sẽ theo đó mà mất đi, cũng có khả năng đang từ đại gia trở thành ngập trong nợ nần. 

Cũng có người tu hành lâu năm, bình thường lạy Phật đọc kinh trì chú, học Phật tu hành, nhưng cả đời số phận vẫn bấp bênh, liên tiếp gặp kiếp số, ác vận không dừng, khổ không sao kể xiết! Hiện tượng này chính là trong nghiệp chướng mà vẫn bền bỉ tu trì thì cuối cùng sẽ qua cơn bĩ cực đến hồi thái lai. 

Thiện báo và ác báo chắc chắn luôn vận hành theo quỹ đạo nhân quả. Hành vi lời nói, mỗi vật mỗi việc đều sẽ có nhân quả hết. Tất cả mọi sự việc trong cuộc đời, tất cả mọi được mất, căn bản đều là khởi đầu từ nhân và thu về được quả.


### 37. Luân hồi


Nếu có thể nghĩ kĩ về những sinh vật trong vũ trụ, quá trình cuộc sống của chúng từ khi sinh ra cho đến lúc chết có sự khác biệt gì, thì sẽ phát hiện ra sự huyền bí của cuộc đời, rất đáng tìm hiểu. 

Cuộc đời của một số sinh vật, kể từ lúc sinh ra đến lúc chết đi, chỉ tồn tại trong chớp mắt là đã tiêu biến, ví dụ như các loại nấm vi sinh hoặc tế bào. Cũng có những sinh vật thì tuổi thọ dài hơn, sống đến mấy chục năm, mấy trăm năm, thậm chí mấy nghìn năm, ví dụ như khủng long, voi, rùa, cá voi, v.v... Bất kể là đời sống có dài thế nào thì chung quy cũng không thể vĩnh viễn được. Bọn chúng gặp phải nạn đại hồng thủy hoặc động đất thì cũng sẽ tuyệt chủng hoặc tiến gần tới sự diệt vong.

Trong số những sinh vật tồn tại trong vũ trụ, có thể nói làm con người là may mắn nhất, tuy nhiên so sánh giữa người và người với nhau thì lại có những sự khác biệt rất lớn. Có người thì sinh ra trong gia đình nghèo khó, chịu cảnh nghèo khổ cả đời. Có người sinh trưởng trong gia đình giàu sang, hưởng thụ vinh hoa phú quý cả đời. Lại có người từ nhỏ đã mắc bệnh bẩm sinh, hoặc chân tay tàn tật không vẹn toàn, nhưng cũng có người thì lại khỏe mạnh, ít bệnh tật. 

Muốn lấy ví dụ về sự khác biệt lớn lao trong hệ sinh thái vũ trụ thì lấy ví dụ chẳng hết. Những sự khác biệt này rốt cuộc là vì sao?
Cũng có thể nói một cách đơn giản rằng, chúng sinh vốn tiềm tàng những nhân quả luân hồi, nhân duyên quả báo huyền bí, do vậy mới có những đời sống và vận mệnh khác nhau. 

Chỉ cần lấy luân hồi mà phân tích về cuộc đời và số phận là gần gũi nhất. Một kiếp qua đi, một kiếp lại đến, là tốt hay xấu đều có nhân quả rõ ràng. Chỉ là có mắt nhưng nhìn không ra, có tai nhưng nghe không thấy. Tâm quang minh vi diệu khó đo lường mới có thể cảm nhận được sự tồn tại của chân lý này.


### 38. Địa ngục ở đâu


Nếu có người hỏi: Địa ngục ở đâu?
Tôi sẽ giơ tay trả lời ngay: Tôi biết.
Sau đó, tôi sẽ khẳng định chắc chắn với người đó rằng: "Nhân gian này giống như địa ngục."

Nghĩ mà xem, bệnh viện chẳng phải giống như nơi thi hành án của địa ngục sao? Bác sĩ chính là quan thi hành án. Một khi bệnh nghiệp ập tới thì cũng giống như bị phán một tội trạng vậy. Đi vào nơi hành hình của bệnh viện chịu sự dẫm đạp, ví dụ như bị mổ, mổ tim, mổ não, mổ bụng, cắt ruột, cắt gan, phanh bụng moi ruột, cắt cổ tay, cưa chân, thật khiến người ta sợ hãi làm sao!

Không tránh khỏi một ngày sẽ có thời điểm vĩnh viễn không thể thức dậy được nữa, một ngọn lửa thiêu thành tro, trở về với đất, bụi quy về bụi, khí quy về khí. Khi linh hồn bị lựa chọn vào địa ngục thì sẽ một lần nữa bị phán hình phạt, bị giày xéo đau đớn. 

Cảnh giới nhân gian chính là cảnh giới tu hành, tu hành chính quả siêu thoát lục đạo luân hồi, thăng lên Tứ Thánh Giới mới không phải chịu khổ trong lục đạo luân hồi. 

Nghĩ đến những sinh, lão, bệnh, tử khổ, yêu phải xa cách khổ, oán ghét mà phải gặp mặt khổ, mong cầu không được khổ, ngũ uẩn thiêu đốt khổ, v.v... của chốn nhân gian, so với cái gọi là khổ của 18 tầng địa ngục thì có thể nói là cũng chẳng thua kém gì. 

Bởi địa ngục chỉ là nơi linh hồn chịu khổ, nhân gian có cái khổ của linh hồn tinh thần cộng thêm cả cái khổ của thân thể xương thịt. Có đúng thế không?

Tôi nhớ đến bài kệ vô thường mà Sư Tôn niệm:
Mắt thấy người ta khổ
Lòng nóng như lửa đốt
Chẳng phải vì người khác
Mà nghĩ đến lượt ta. 

Khiến tôi thức tỉnh và có cảm nghĩ rằng:
Trông thấy người ta khổ
Nghĩ sẽ đến lượt mình
Sinh tử nếu chẳng thoát
Lục đạo mãi nổi chìm.


### 39. Tán gẫu chuyện tôn giáo


Thỉnh thoảng ngồi tán gẫu cùng đồng môn, chúng tôi vẫn chỉ nói dăm ba câu là lại quay về chủ đề Phật pháp, đây cũng là một chuyện vui. Họ mới quy y cửa Phật không lâu, cũng chưa hiểu nhiều về tín ngưỡng. Họ hỏi: 
"Tôn giáo chỉ là dạy người ta làm việc thiện phải không?"
Tôi đáp:
"Đúng là tôn giáo đều dạy người ta làm việc thiện. Tuy nhiên, làm việc thiện không thể đại diện cho tôn giáo. Con người xã hội thông thường hoặc các tổ chức chính phủ đều có thể làm được, không nhất định phải là người theo tôn giáo thì mới có thể hành thiện bố thí. Lấy việc giúp đỡ người khác là niềm vui là nguyên tắc làm người cơ bản."

Có một số giáo phái thực sự có thiên hướng làm các việc gây quỹ và bố thí, nhưng thiếu mất phần tu sâu hơn là công phu nội tu thiền định và trí huệ. Họ cho rằng đóng góp tiền giúp đỡ những người cần giúp đỡ mới là phương pháp tốt nhất trực tiếp giúp người, thế nhưng họ không biết rằng cứu độ trên phương diện tâm linh mới là phương pháp giải quyết triệt để cảnh khốn cùng.

Mãi mãi chẳng thể cứu hết những người nghèo trên đời. Người nghèo có vận mệnh của người nghèo, sẽ không vì có được sự cứu giúp từ thiện mà sẽ giải quyết được sự nghèo khó. Nếu không hiểu cách làm sao để tự lực cánh sinh thì rất có khả năng sẽ nghèo cả đời. Nghèo dường như là một cái hố thủng vĩnh viễn lấp mãi không đầy. 

Hành thiện bố thí là yếu tố người tu hành nên có. Có thể "xả" tức là có thể kết duyên rộng lớn. Bồi dưỡng tâm linh, loại trừ tâm tham, có được thiện tâm, dễ đi vào nghĩa đế của Phật môn. 

Họ nghe xong gật gật đầu rồi hỏi:
"Chỉ cần không làm việc hổ thẹn với lòng mình, sống có lương tâm thì cũng không nhất định phải có tín ngưỡng tôn giáo, phải không?"
Tôi nói, con người không phải thánh hiền, ai có thể không có sai lầm chứ, trong mỗi hành động suy nghĩ thường sẽ có lỗi lầm, mặc dù tự mình cho rằng không có lỗi gì xấu hổ với lương tâm, nhưng họ có nghĩ được rằng phạm lỗi ngay trong ý nghĩ cũng nhiều như sao trên trời. Ý niệm có thể thanh tịnh tức là có thể khiến cho khẩu thanh tịnh, thân cũng thanh tịnh. Do vậy, không làm việc hổ thẹn với lương tâm cũng chỉ là thân thanh tịnh mà thôi. 

Lại hỏi: 
"Mỗi ngày cứ y theo pháp mà tu trì là được, hà tất phải học đủ loại lý thuyết Phật học phức tạp mà Phật đã giảng?"
Phật giáo nói về Không, về Vô, nói về Niết bàn siêu thoát, nói về Bát nhã trí huệ, đó là những sự thăng hoa tâm linh mà con người tìm kiếm trong cuộc đời. Thành tựu những phương châm bảo điểm của quả vị, nếu không có Phật giáo thì làm gì có những thành tựu giả tu thành chính quả, phụng hành theo những lời chỉ dạy. 

Sau khi quy y, tốt nhất là nên đọc nhiều sách của Sư Tôn, nên xem nhiều những băng ghi hình, băng ghi âm Sư Tôn thuyết pháp, từ từ nghiền ngẫm những lý thuyết Phật học trong đó, mở rộng kiến thức, rất nhanh chóng sẽ có thể hiểu được tầng lớp thứ tự của pháp giới, thậm chí hiểu được sự thật vi diệu rằng mọi tôn giáo là bình đẳng, mọi pháp là bình đẳng, Phật và ta là một.


### 40. Khai thị của Hoạt Phật


Nghe Sư Tôn khai thị, kể đến một đoạn đối thoại trong một câu chuyện cũ rằng:
Người đến hỏi:
"Sư phụ ngài đâu?"
Đáp:
"Sư phụ tôi đang ở trong Đại Hùng Bảo Điện dọa nạt chúng sinh."
Kì thực, sư phụ đang giảng kinh Địa Tạng, bởi vì trong kinh văn có nói đến rất nhiều những câu chuyện con người ta chịu hình phạt khi xuống địa ngục. 

Nghe khai thị, nghe giảng kinh cần có một vài căn cơ mới có thể lĩnh hội được nội dung ý nghĩa, nếu không sẽ sinh ra sự hiểu lầm, xuyên tạc bóp méo những kiến giải, dẫn tới chúng sinh hiểu sai, đó thật sự là điều không thể lường được.

Nhân đây, tôi lấy ví dụ một vài khai thị về hỏi đáp thiền ý của Sư Tôn. 
Đệ tử hỏi:
"Không thấy Chân Phật Báo có những bài viết về kiến tính."
Đáp:
"Trần trụi hết thì sẽ kiến tính."
Thực ra, "trần trụi hết" không có ý nghĩa là hoàn toàn không mặc quần áo, mà là ý rằng "tâm trần trụi hết", tâm không còn bị trói buộc, không hề phiền não, tâm trần như nhộng.

Đệ tử hỏi:
"Sư Tôn, con muốn hoàn tục."
Đáp:
"Anh vốn dĩ chính là tục rồi, còn muốn hoàn tục thế nào nữa?"
Ý ở đây là, nếu chưa tu đến được sự thanh tịnh thì đều vẫn là tục cả. Đệ tử này hiểu ra thì lại càng tinh tấn thực tu hơn. 

Đệ tử hỏi:
"Sư Tôn, ngài là Hoạt Phật, vậy khi nào có thể độ hết chúng sinh?"
Đáp:
"Nếu có thể độ hết chúng sinh thì Phật Thích Ca Mâu Ni đã độ hết từ lâu rồi. Hết thảy những người xuất gia sẽ đều thất nghiệp."
Đây là một trong ba điều mà Phật không thể làm, không thể độ hết giới chúng sinh. 

Sư Tôn là một vị Hoạt Phật thực tu chứng ngộ, khai thị của Ngài rất sinh động và tự nhiên, cực kì cuốn hút mọi người, khiến cho người nghe tinh thần phấn chấn, tiếng cười không ngớt vang lên, tiếng vỗ tay không ngừng dứt, pháp vị tràn đầy, nếu có thể lĩnh hội được kĩ càng thì lời khai thị nào cũng là thiền cơ. Nếu không dùng tâm để nghe giảng thì chỉ có thể nghe được những thứ bề ngoài, sẽ chỉ thấy là toàn chuyện cười.


### 41. Phật tâm


Dưới nhãn quang của Phật, chúng sinh là bình đẳng không khác biệt, không có người tốt kẻ xấu, không có thiện và ác, không có nghèo và giàu, không có thị phi phỉ báng, lại càng không có cái gì là khổ và vui. 

Thế nhưng trên thế gian này, đích thực là có người tốt kẻ xấu, có sự phân biệt thiện ác, có sự chênh lệch giàu nghèo, có nỗi khổ không thể nói thành lời, và những niềm vui khiến quên hết mọi thứ. Lại càng có đầy rẫy những thị phi và phỉ báng bao vây lấy ta khiến ta phiền phức không thể nào chịu được.

Những hiện tượng khác biệt bất bình đẳng này nhiều không kể xiết, khiến cho người ta phiền não, thở ngắn than dài! Khiến người ta khó tự chủ được. 
Thế nhưng mênh mông chúng sinh vẫn không ngừng khổ sở van nài chư Phật Bồ Tát đại từ đại bi phóng đại quang minh hóa giải khổ ách, cầu khẩn quý nhân trợ giúp, cầu thăng quan phát tài, cầu tài cầu phúc, chuyển nghèo thành giàu, loại bỏ mọi khó khăn, tránh được kiếp số, tiêu trừ nghiệp chướng... Vĩnh viễn là những sự cầu khẩn van nài bất tận. 

Kì thực, trên thế gian này vốn dĩ vĩnh viễn tồn tại vô số phiền não, bởi vì con người thế gian sống trong những tư tưởng ngã chấp ngã kiến, do vậy mới sinh ra những phiền não, những bi ai do tự bản thân mình tạo ra. 

Nếu tự mình không lĩnh hội được cho đúng những nghĩa đế thật sự của Phật pháp, dựa vào tu hành để vượt lên phiền não thì cho dù Phật Đà có giải trừ khó khăn cho bạn thì bạn cũng sẽ chỉ có được sự thư giãn tạm thời. Một cơn sóng đi qua lại một cơn sóng nữa đến, vẫn cứ là lăn lộn trong phàm trần, giống như là khi hạt giống bị vùi lấp thì cái mầm lại sinh ra!


### 42. Luận bàn về đạo tâm


Bàn về ý nghĩa thật sự của hai chữ "đạo tâm" sẽ khiến cho người ta suy nghĩ luẩn quẩn trong đầu rất nhiều, nói thế nào mới là cách giải thích chuẩn xác đây? So sánh thế nào mới có thể đạt được một sự rõ ràng dễ hiểu đây? Có lẽ hành giả từng bước thực tu thì mới có thể lĩnh hội được ý nghĩa thâm sâu ảo diệu của hai chữ này.

Tôi cho rằng ý nghĩa hẹp của "đạo tâm" là "tâm nghĩa lý". 
Cái gọi là tâm nghĩa lý, tức là đạo nghĩa, là đạo lý. 
Cái gọi là đạo nghĩa, tức là đạo nghĩa và chính nghĩa.
Cái gọi là đạo lý, tức là nguyên tắc làm người và xử thế. 
Ý nghĩa rộng của "đạo tâm" là "tâm cầu đạo". 
Tâm cầu đạo tức là sự thâm nhập vào kho tàng kinh điển, hiểu nghĩa đế của Phật đạo, loại bỏ sự bám chấp, không màng đến danh lợi thế gian, theo đuổi con đường chính đạo, vượt lên trên mọi điều thế tục, hướng về cảnh giới thanh tịnh vô thượng, tâm an trụ trong thiền định, không chịu tác động của những ảnh hưởng bên ngoài.

Hoàn cảnh cuộc sống của con người hiện đại chỗ nào cũng đầy sự mê hoặc, đầy rẫy danh lợi, tranh đấu quyền thế, vì những sự đòi hỏi của hiện thực mà cảm thấy khó khăn, đã làm ô nhiễm tâm linh vốn dĩ thanh tịnh, khiến tinh thần chịu áp lực. Do vậy, khó gặp được chí sĩ có đạo đức, chính nghĩa, lại càng khó tìm được kẻ sĩ có đạo. 

Bởi vậy, người tu hành đa số vì những mối liên hệ với hoàn cảnh sống xung quanh nên mới bước chân đi và mới dừng lại ở "cảnh giới hữu cầu". Rồi một ngày kia khi nghiệp chướng xảy đến, sự nghiệp thất bại, hôn nhân kiềm tỏa, con cái bất hiếu, bệnh tật đeo bám, kiện cáo quan trường, v.v... thì đạo tâm tu hành cũng lập tức rời bỏ thật xa. 

Đây chính là điều mà ta gọi là: khi còn chưa đạt đến cảnh giới thanh minh thì đạo tâm của hành giả rất dễ thay đổi. 

Thật ra, dưới nhân quả nghiệp báo, những tai nạn của đời người tất sẽ xảy ra. Có một số tai họa không có liên quan gì đến tu hành. Hành giả dùng tâm cảnh siêu việt để quan sát thế sự thì khi gặp tai họa lớn cũng đều chuyển hóa thành những hình tướng huyễn giả, hình tướng không huyễn. 

Hành giả có đạo tâm chân chính là có sự tương ấn với tâm Phật, tâm trong sáng thanh tịnh, kiên cố bất biến, có thể bao dung hết thảy sự vật.


### 43. Mạn đàm về quán đảnh


Hành giả Mật giáo đều biết, tu học Mật pháp coi trọng truyền thừa, có được pháp mạch truyền thừa rồi thì mới có lực gia trì của truyền thừa, tu hành mới có thể đạt được thành tựu. Lực gia trì có thể nói là xuất phát từ việc quán đảnh quy y. Do vậy quán đảnh quy y và quán đảnh tu pháp là vô cùng quan trọng. 

Tôi từng thỉnh thị Sư Tôn xem pháp Tụ Quang là phải trực tiếp quán đảnh hay là có thể quán đảnh từ xa? Sư Tôn giải thích rằng theo quy tắc chặt chẽ của Mật giáo thì bất kể pháp nào cũng đều phải quán đảnh trực tiếp. Sư Tôn nghĩ đến các đệ tử đông, lại phân bố ở khắp nơi trên thế giới, đường xá xa xôi, muốn đến Seattle một chuyến để nhận quán đảnh trực tiếp gần như là một việc không thể. Lộ phí đắt đỏ chỉ là vấn đề thứ yếu, khó khăn nhất vẫn là vấn đề xin thị thực. Vì từ bi chúng sinh và mong muốn quảng truyền Phật pháp nên Sư Tôn đã mở ra một pháp môn tiện lợi, phân thân cách không quán đảnh từ xa. 

Tuy nhiên, các nội pháp từ nhị quán trở lên, hoặc là các pháp được đặc biệt chỉ định, thì vẫn phải quán đảnh trực tiếp. 

Hành giả cần có hiểu biết trong việc nhận quán đảnh: có thể "từ thấp lên cao", nhưng không thể "từ cao xuống thấp". Nói cách khác là, cùng một pháp giống nhau, nếu đã nhận quán đảnh của một vị Thượng sư bình thường thì có thể nhận tiếp quán đảnh từ Sư Tôn, nhưng không thể cùng một pháp mà sau khi được Sư Tôn quán đảnh xong lại nhận quán đảnh từ một Thượng sư bình thường khác. 

Tôi từng nghe nói, có một Thượng sư trong tông phái nói trước đại chúng rằng: "Bây giờ mọi người muốn quán đảnh gì, tôi có thể ban quán đảnh đó cho mọi người, thậm chí không hạn chế số lượng quán đảnh."
Thật ra, điều này là sai rồi. 

Sư Tôn từng khai thị rằng: "Thời điểm bạn cần tu pháp nào thì hãy xin quán đảnh pháp đó, như vậy mới là tu như pháp, hoặc như pháp mà bạn đang tu và Bổn tôn mà bạn muốn nhận quán đảnh giống nhau thì lúc đó giới nguyện mới tương thông với nhau." 

Có rất nhiều đồng môn rất thích xin quán đảnh, một lần xin quán đảnh thì yêu cầu 5, 10, 15 pháp khác nhau. Kì thực, thỉnh cầu Sư Tôn quán đảnh nhiều nhất là không quá ba pháp. 
Sau khi hành giả nhận quán đảnh xong, tốt nhất là tự mình ghi lại, mới không phạm vào lỗi "từ cao xuống thấp".


### 44. Quán đảnh truyền thừa có ngọn nguồn


Có một số đồng môn thích lao đến những chốn ồn ào, chỉ cần nghe thấy ở nơi nào có Rinpoche ban quán đảnh là chạy ngược chạy xuôi để đi nhận quán đảnh hết. Họ thiếu nhận thức về ý nghĩa chân thực của việc quán đảnh. Quán đảnh là phải có dòng truyền thừa, nếu không có quán đảnh truyền thừa thì cũng tương đương như không quán đảnh, chẳng có tác dụng. 

Quán đảnh truyền thừa chính là các vị Tổ sư nhiều đời một người truyền lại cho một người, tiếp tục truyền đến cho Căn bản Thượng sư, rồi lại từ Căn bản Thượng sư truyền đến cho chúng ta. Đây chính là pháp lưu truyền thừa, nó có khởi nguồn của nó. 

Trên đầu của các đệ tử Chân Phật Tông có Căn bản Thượng sư, luôn luôn nhớ đến Căn bản Thượng sư, nhận quán đảnh từ Căn bản Thượng sư thì mới là quán đảnh truyền thừa đúng đắn. 

Gần đây tại Indonesia, có một đồng môn từng đi một vòng quanh Tây Tạng, sau khi trở về liền đội một chiếc mũ có bông hoa to, ngồi trên pháp tọa cao cao và bắt đầu quán đảnh cho mọi người. Có rất nhiều đồng môn đã đến để nhận quán đảnh, làm dấy lên rất nhiều chuyện cười, dồn dập những bức thư gửi đến để hỏi xem có thể nhận quán đảnh từ đồng môn này không. 

Để không bị trả lời lặp lại những bức thư với nội dung phong phú như vậy, nên ở đây tôi giải đáp ngắn gọn để cho mọi người hiểu rõ tầm quan trọng của quán đảnh:
1. Giữa đồng môn với nhau không thể làm quán đảnh, nếu không sẽ làm loạn dòng truyền thừa.
2. Các Thượng sư Acharya [A-xà-lê] do Sư Tôn ban danh hiệu thì có thể quán đảnh cho người khác.
3. Pháp sư của tông phái có thể gia trì cho người khác, nhưng không thể quán đảnh cho người khác. Bởi vì pháp sư thì vẫn chưa nhận được quán đảnh trao trách nhiệm và quán đảnh truyền pháp từ Sư Tôn. 
	
Điều quan trọng nhất là: đồng môn Indonesia kia quán đảnh cho đồng môn, không những làm loạn truyền thừa, mà quán đảnh của anh ta cũng không phải là truyền thừa Chân Phật Tông.


### 45. Phiền não của Như Lai


Đọc "Địa Tạng Bồ Tát bản nguyện kinh", khi đó tôi mới nhận ra rằng không chỉ chúng sinh có phiền não, hóa ra Phật cũng có phiền não. 

Địa Tạng Bồ Tát trong kinh văn nói: "... chỉ mong Thế Tôn đừng vì các nghiệp của chúng sinh hậu thế mà buồn lo..." Nói với Phật như vậy ba lần. 

Tôi vốn cho rằng thân, khẩu, ý của chúng sinh vẫn chưa đạt đến cảnh giới thanh tịnh nên mới có phiền não. Nhưng còn Phật đã có "thập lực", đã đạt đến giải thoát tự tại, hoàn toàn thanh tịnh vô nhiễm, giác hạnh viên mãn, thành tựu hết thảy trí huệ Như Lai, thì sao lại có phiền não được đây?

Sư Tôn giải thích rằng: chúng sinh phiền não vì bản thân, vì những việc thế tục mà bận tâm lo nghĩ, sự phiền não vô bờ bến thành vòng tuần hoàn lặp đi lặp lại, tâm vĩnh viễn không thể tĩnh lại, thế nên mới là chúng sinh. 
Phiền não của Phật không giống với chúng sinh, Phật lo âu thanh tịnh, không phải là vì bản thân mình mà là lo âu vì chúng sinh trong thiên hạ, phiền não vì chúng sinh còn chưa khai ngộ!

Thì ra phiền não của chúng sinh là ích kỉ vì bản thân, là vẩn đục. Còn phiền não của Phật là vì chúng sinh, là thanh tịnh. 

Từ đây, tôi liên tưởng đến Sư Tôn cũng có rất nhiều phiền não:
Mỗi ngày siêng năng viết sách, chưa từng gián đoạn. 
Mỗi ngày siêng năng giảng kinh thuyết pháp khai thị. 
Mỗi ngày siêng năng tu pháp trì chú gia trì.
Mỗi ngày siêng năng vẽ tranh, dùng tranh để truyền đạt tâm ý. 
Mỗi ngày siêng năng trả lời thư hỏi việc.
Thỉnh thoảng, vì bồi dưỡng nhân tài đặc biệt mà Sư Tôn sẽ dạy học riêng. 
Sư Tôn vất vả như vậy, tức cũng giống như Phật: "Phiền não vì đệ tử chưa sớm thành tựu."
Các đệ tử nên tinh tấn tu hành đi.


### 46. Sau khi đọc "Chuyện lạ về siêu độ”


Mỗi lần Sư Tôn hoàn thành xong một cuốn sách mới, tôi nhất định sẽ "giành quyền" đọc bản thảo trước tiên, để hưởng thụ sự thích thú khi là người đầu tiên được đọc!

Tốc độ đọc sách của tôi rất chậm, bởi vì từ trước tới nay tôi có thói quen đọc không bỏ sót một chữ nào, đặc biệt là khi đọc sách của Sư Tôn, tôi sẽ đánh dấu các kí hiệu quan trọng trên đầu sách, thậm chí là ghi chép tóm tắt. Sau khi đọc xong, tôi sẽ suy nghĩ một lượt để đưa vào thành những tâm đắc sau khi đọc sách của bản thân. 

Sau khi tôi đọc xong cuốn mới nhất số 131 - "Chuyện lạ về siêu độ", tôi có một cảm giác không thể nói ra, có một sự thôi thúc muốn chạy ra đường lớn và hét to lên rằng: 
"Trên đời này chỉ có Liên Sinh Hoạt Phật mới có thể viết một cuốn sách kì lạ như vậy! Trên đời này chỉ có Liên Sinh Hoạt Phật mới có thể giúp người ta giải quyết việc siêu độ khó khăn nhất!"

Nhiều câu chuyện về âm linh ma quỷ cổ quái li kì, thâm sâu không thể đo lường được nhắc đến trong sách, ví dụ như đóng giả người khác, sống nhờ trên thân người khác, thậm chí đóng giả thành Bồ Tát, Kim Cang, Thần Thánh, v.v... để trêu đùa người dương, đều lần lượt được Sư Tôn dùng chú lực, công lực thiền định, sức mạnh thần biến để thâm nhập vào mandala mà hiểu rõ được, âm linh quỷ quái không thể nào không khuất phục, mau chóng biến hiện nguyên hình. 

Điều khiến tôi khâm phục nhất là, bất luận những âm linh đó xảo quyệt thế nào thì Sư Tôn vẫn từ bi độ hóa chúng, do vậy u minh địa phủ đều biết Sư Tôn là một hành giả chân tu duy nhất trong thiên hạ, là người có tình chân thành duy nhất trong thiên hạ. 

Chương "Bồ Tát ma" trong sách có nội dung cốt truyện đặc biệt khiến tôi cảm thán! Có người tên là Kim Kí, mặc dù thông minh lanh lợi, nhưng đáng tiếc là tâm địa bất chính, không đủ trung hậu, học pháp tu pháp là vì mục đích danh lợi, thậm chí còn ẩn giấu những mục đích xấu xa gây bất lợi cho Chân Phật Tông, đã bị Hộ Pháp Kim Cang Giáng Tam Thế Minh Vương biết rõ. Do vậy, để bảo vệ Chân Phật Tông, Minh Vương đã lập tức khéo léo biến hóa nhập vào tâm của Kim Kí, khiến cho anh ta mơ mơ hồ hồ tự rời bỏ Chân Phật Tông. Kim Kí đi rồi, Minh Vương mới cảm thấy an lòng. Đoạn nội dung này khiến tôi tán thán một vị thành tựu giả chân chính, đích thực có được sự bảo vệ linh nghiệm của Thiên Long Bát Bộ Kim Cang Hộ Pháp. 

Sư Tôn đã hiểu rõ hết trí huệ của Như Lai, lại có khả năng to lớn trong việc siêu độ cho linh hồn trung ấm, là Bí Mật Chủ trong không gian vũ trụ, có thể tiếp dẫn con người đến cảnh giới mà trong lòng họ mong muốn, người quy y sẽ có được đại phúc báo đó!


### 47. Sư Phật và đệ tử


Tôi quen biết sư tỉ Liên Hoa Phái Nhuận đã rất lâu rồi, khoảng hai mươi năm trước, bà ấy là bạn học thời trung học với tôi. Tháng trước, bà ấy đến thăm nhà tôi ở hồ U Linh, tôi mời bà ở lại nhà dùng cơm, chúng tôi vừa ăn vừa trò chuyện, nói chuyện trên trời dưới đất và việc người, cảm thán vì người tu hành sai lầm nhiều quá!

Bà ấy rất thông minh, giỏi quan sát sắc diện, biết nắm bắt cơ duyên được ăn cơm cùng Sư Tôn này mà xem xét thời cơ có thể hỏi việc một cách tự nhiên. Nhân đây tôi nêu ra những câu hỏi mà bà ấy đã hỏi, chắc hẳn cũng đem đến pháp vị nồng đượm cho hành giả.

"Sư Tôn, nếu đệ tử Chân Phật nhẹ dạ nghe theo những tin đồn, rồi lập tức khởi tâm nghi hoặc, đánh mất lòng tin vào Căn bản Thượng sư, thì phải làm sao?"
"Thì mặc kệ thôi! Bởi vì họ chưa thâm nhập vào nghĩa đế của Phật pháp, không hiểu nhiều về Sư Tôn thì mới không có đủ tín tâm. Cũng có thể nói rằng: căn bản là họ đã không có lòng tin vững chắc thì làm sao có chuyện lòng tin có thể mất đi được?"

"Đệ tử không chỉ mất đi lòng tin, mà còn nghe sai đồn bậy, vì sao Sư Tôn không khuyên giải họ?"
"Sư Tôn ngày ngày thuyết pháp giảng kinh, ngày ngày viết sách độ chúng, dùng hết tâm lực mà chỉ bảo, để con người ngầm thay đổi mà ngay họ cũng không ý thức được, nếu như vẫn không hiểu thì đúng là họ có chướng ngại vô minh rồi! Trên thế gian này, muốn tìm được một vị sư phụ hằng trì không gián đoạn, viết ra những pháp yếu, viết hơn trăm cuốn sách quả thực là khó lắm! Muốn tìm một vị sư phụ có thể giảng "Mật tông đạo thứ đệ quảng luận" lại càng khó hơn nữa! Người có duyên thì biết đây là "báu vật", sẽ trân trọng truyền thừa Chân Phật, người vô duyên thì cứ mặc kệ họ đi!"

"Sư Tôn, có một số đồng môn thích đi đến các đạo tràng của các tông phái khác, không thể ổn định một chỗ ở đạo tràng Chân Phật Tông, phải làm sao mới tốt đây?"
"Sư Tôn đã nói rồi: đệ tử như nước chảy, chảy đến chảy đi, chảy đến chỗ nào thì dừng lại ở chỗ đó. Con mắt của chúng sinh phần lớn là con mắt phàm trần, không có cách nào dùng trí huệ để quan sát, do vậy chẳng có cách nào khiến tâm họ định lại ở một chỗ được."

"Đúng vậy, chúng sinh mang con mắt phàm trần. Quan niệm của cá nhân tôi là: chỉ có độc một mình đại tác gia siêu thắng viết hơn trăm cuốn sách là Sư Tôn đây, từng quyển từng chữ quý như châu ngọc, chỉ dẫn cho con người siêu phàm nhập thánh, tức thân thành Phật, không có bất kì đại pháp sư nào có thể so sánh bằng." - Liên Hoa Phái Nhuận đáp.
"Thật ra, các đệ tử tốt xấu lẫn lộn, cũng là hiện tượng bình thường. Có rất nhiều đệ tử tốt, đương nhiên cũng có những đệ tử rất dở tệ. Nhưng Sư Tôn vẫn đối xử bình đẳng, giáo hóa họ bằng mọi cách." - Sư Tôn nói. "Sư Tôn thường nghĩ thế này: tôi cần phải cảm ơn tấm lòng cúng dường của đệ tử, cho dù là các đệ tử đã thối lùi đạo tâm thì chí ít họ cũng đã từng phát tâm quy y, có suy nghĩ về cái duyên này thì tôi vẫn phải cảm ơn họ."

Tôi ngồi bên cạnh, nghe hết cuộc trò chuyện của Sư Tôn và Liên Hoa Phái Nhuận, trong lòng tôi cảm động không nói lên lời. 
Một người là đệ tử quy y kiền thành.
Một người là Sư Tôn siêu thắng.
Trong Mật giáo, đây chính là samaya quy y giữa Căn bản Thượng sư và đệ tử.


### 48. Tự nhiên mà vậy


Mỗi lần có phóng viên phỏng vấn Sư Tôn, sau cùng luôn có một câu hỏi giống nhau, đó là xin Liên Sinh Hoạt Phật nói một chút về tương lai Chân Phật Tông có kế hoạch gì, có triển vọng gì?

Sư Tôn không chút do dự, trả lời thẳng thắn rằng: "Chẳng có kế hoạch gì, chẳng có triển vọng gì."
Khiến cho các phóng viên nghe xong đều cảm thấy đầy kinh ngạc!

Danh tiếng của Chân Phật Tông đã lan xa rộng khắp, nhân sĩ ở các tôn giáo đều đã quen tai với thanh danh Liên Sinh Hoạt Phật. Địa vị Hoạt Phật rất cao quý, đệ tử quy y tới bốn triệu người, hơn ba trăm phân đường phân bố ở khắp nơi trên toàn thế giới, sự nghiệp Phật giáo to lớn như vậy, thế mà lại không có kế hoạch, không có triển vọng gì hay sao?

Sư Tôn nói:
Tôi coi trọng sự tự nhiên và vô vi, thuận theo tự nhiên, khác các pháp sư của tông phái khác. 
Tôi chưa từng nghĩ muốn độ bao nhiêu người!
Tôi chưa từng nghĩ đến việc lập tổ chức Chân Phật Tông!
Tôi chưa từng nghĩ đến kế hoạch tương lai của Chân Phật Tông!
Tuy nhiên:
Tôi viết sách độ chúng sinh mỗi ngày, chưa từng gián đoạn.
Tôi thuyết pháp độ chúng sinh mỗi ngày.
Tôi vì chúng sinh mà tu pháp gia trì mỗi ngày, hóa giải đủ loại khốn khó của chúng sinh. 
Tôi nỗ lực hoằng pháp mỗi ngày.
....

Tôi nghe những lời nói này của Sư Tôn, lĩnh hội được sâu sắc cảnh giới siêu nhiên của Sư Tôn, đích thực là khác biệt và nổi bật so với đám đông. Người thuận theo tự nhiên sẽ không để bản thân bị trói buộc vào những kiểu cách cũ, hoặc bị trói buộc bởi người khác, cuộc sống có được sự tự do tự tại, sống trong sự tự do tự tại, thuận theo và hợp với sự vô vi. 

Độ chúng sinh không nằm ở kế hoạch, mà nằm ở tâm chân thành, cứ tự nhiên mà độ. 
Tôi nghĩ đến cuộc sống của Thần Tiên là tiêu dao tự tại, cuộc sống của Thần Tiên làm gì có kế hoạch gì?


### 49. Hợp cơ duyên


Phật quang phổ chiếu cả thế giới, tâm chân thành thì tự nhiên sẽ cảm nhận được ánh sáng chiếu rọi, tăng phúc tăng huệ. 

Vào ngày đản sinh của Liên Hoa Đồng Tử, vào thời điểm chính Ngọ tu pháp là dễ có được cảm ứng lớn nhất, bởi vì thời khắc này là lúc Liên Hoa Đồng Tử thực thi ý nguyện đến cõi Ta Bà, ánh sáng tỏa rực rỡ, chuyển pháp luân rộng khắp, quảng độ chúng sinh. Tu pháp vào thời khắc này tất sẽ có những cảm ứng thù thắng. 

Có người tu pháp vào ngày đản sinh Liên Hoa Đồng Tử, đêm đó liền mơ thấy Sư Tôn vẩy nước cam lộ từ bảo bình để chữa cho chỗ đau ốm, trải qua một cảm giác mát rượi, thế rồi khỏi đau bệnh. Cũng có người tu pháp vào ngày đản sinh Liên Hoa Đồng Tử thì tận mắt nhìn thấy trên trời xuất hiện cầu vồng, hơn nữa còn thấy Sư Tôn đứng ở chính giữa vầng cầu vồng phóng quang chiếu rọi lên mình, người đó cảm động đến rơi nước mắt. 

Cũng có người tu pháp vào ngày đản sinh Liên Hoa Đồng Tử, đúng vào lúc nhập tam ma địa thì nhìn thấy Sư Tôn đưa tay ra chạm vào đầu, gia trì cho người đó. 
Còn có người tu pháp vào ngày đản sinh Liên Hoa Đồng Tử thì đêm đó mơ thấy Sư Tôn biến hóa thành Kim Cương Tát Đỏa đang được thờ cúng trong nhà người đó, dạy cho người đó tu pháp, khiến cho người đó tràn đầy pháp hỷ. 

Lại có người tu pháp vào ngày đản sinh Liên Hoa Đồng Tử liền lập tức gặp vận may. Vốn dĩ công việc kinh doanh èo uột, vắng vẻ ít khách, gần như sắp phải đóng cửa đến nơi, đột nhiên buôn bán tấp nập, đơn hàng đổ đến như tuyết rơi, đáp ứng không xuể, thu nhập như nước chảy chỗ trũng. 

Đồng tu hội Hoành Tân ở Tokyo Nhật Bản, vào trước ngày đản sinh Liên Hoa Đồng Tử năm nay, đường chủ đã dẫn dắt đồng môn cùng tu trì chú, hoàn thành một triệu biến Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, nhằm vào ngày đản sinh 18 tháng 5 âm lịch, chọn mua vé số mang số 0518, kết quả là đã trúng giải một triệu Yên Nhật. Đồng môn của đồng tu hội này vui mừng nhảy nhót như chim sẻ vì có được cảm ứng nhờ việc trì chú, vui không tả xiết. 
........

Những sự việc cảm ứng về tu pháp trong ngày đản sinh thật sự là rất nhiều, cảm ứng thần kì, mỗi người mỗi khác, nhưng kết quả thì đều khiến người người sửng sốt và hài lòng. 

Những việc này có thể ứng nghiệm là vì Sư Tôn có đầy đủ sáu thần thông, hóa thân thành vô số hòa vào tam thiên đại thiên thế giới, dùng thần lực vô thượng để cứu độ chúng sinh, thật sự là một vị Hoạt Phật nhân gian hiếm thấy!


### 50. Giáo huấn về thân


Gần đây khi hồi tưởng lại lúc mới thành lập Chân Phật Tông, vì muốn phổ biến và hoằng dương Chân Phật Mật Pháp, quảng độ chúng sinh nên khi đó, chỉ cần có người phát tâm muốn thành lập phân đường để tổ chức các buổi đồng tu là Sư Tôn lập tức không hề do dự mà ban cho tên hiệu của phân đường. Do vậy, chỉ trong vòng mấy năm ngắn ngủi, các phân đường đã được thành lập ở khắp nơi trên thế giới, mỗi ngày các đệ tử quy y mới nhiều như măng mọc sau mưa, sinh sôi phồn thịnh. 

Về sau, tình hình xin thỉnh tên phân đường càng ngày càng nhiều, mặc dù đây là một hiện tượng tốt, thể hiện lòng nhiệt tình tích cực hoằng dương Chân Phật Mật Pháp của mọi người, tuy nhiên chúng tôi nghĩ đến việc cần tránh cho khoảng cách giữa các phân đường với nhau quá gần thì mới không phát sinh ra hiện tượng tranh chấp lẫn nhau, mới không khiến cho các đồng môn tham gia đồng tu cảm thấy khó chọn lựa xem là nên đi đến phân đường nào, cảm thấy ngại khi đi đến phân đường nọ mà không đi đến phân đường kia, rất khó xử!

Mặc dù đã giới hạn khoảng cách giữa các phân đường phải từ 45 phút đến 1 tiếng lái xe trở lên, nhưng chẳng bao lâu sau, vì hết hợp đồng thuê địa điểm nên các phân đường phải dọn đi, kết quả là càng chuyển thì lại càng gần nhau. Cuối cùng thì có lúc bốn phân đường ở cùng một khu, thậm chí cùng trên một con đường. Do vậy con đường đó gần như tuần nào cũng đều làm pháp hội, hết lượt này đến lượt khác, rất là náo nhiệt, giống như là đang cạnh tranh nhau vậy. Vô hình trung, các đồng môn tự nhiên phân biệt thành: anh thuộc phân đường kia, tôi thuộc phân đường này, mỗi người chỉ nỗ lực vì phân đường mà mình thuộc về mà thôi. 

Do vậy, tôi hỏi ý kiến Sư Tôn xem phải làm sao để hướng dẫn cho họ đoàn kết và hợp tác để đạt được nhận thức chung, nắm tay kề vai mà nỗ lực hoằng dương Chân Phật Mật Pháp. 

Sư Tôn chỉ thị rằng: "Hành giả cần học tập Bồ Tát hạnh, lòng dạ rộng rãi bao dung với mọi người, đừng phân biệt anh, tôi, người ta. Việc của người khác thì cũng cần xem như việc của mình. Cùng mang một dòng truyền thừa, làm pháp hội trên cùng một con phố, phải hợp tác hỗ trợ lẫn nhau, nhiệt tình giúp đỡ, có qua có lại, mọi người cùng hoằng pháp thì mới là phù hợp với Bồ Tát hạnh đó!"


### 51. Khẩu quyết của Thượng sư


Khi bạn quy y cửa Phật, tự nhiên bạn sẽ có một cách nghĩ với sự tận tụy sâu sắc, muốn làm một hành giả mẫu mực. Bạn nỗ lực đọc kinh, trì chú, thực hành thực tu, lĩnh hội những điều thú vị diệu kì trong Phật pháp, nhập thiền định ba-la-mật, toàn tâm toàn ý cố gắng đạt thành tựu. Tuy nhiên, Phật pháp rộng lớn như đại dương mênh mông, làm sao tìm được một điểm khởi đầu, rốt cục thì bắt đầu từ đâu để làm nền móng mà tu lên đây?

Thật ra, vấn đề này chỉ cần đọc một chút các sách của Sư Tôn thì không khó tìm được lời giải đáp. Tuy vậy, khi bạn tìm được đáp án rồi, khi bạn y theo thứ tự mà tu lên thì có thể do nhân duyên của mỗi người khác nhau mà sẽ sinh ra các hiện tượng tu pháp khác nhau. Nhưng cũng rất khó để từ một pháp mà ta hoàn toàn không hiểu gì cả, rồi trong khi mò mẫm học tập, từ lúc không biết gì đến khi thành thạo, ngày ngày thực tu rồi có được những tâm đắc, tâm đắc này chính là cảm nhận của việc tu pháp. Tuy nhiên, hành giả luôn luôn vì kinh nghiệm chưa có đủ nên vẫn không biết cảm nhận tu pháp của bản thân là đúng hay sai. 

Đến được giai đoạn này rồi thì tốt nhất là thỉnh thị một vị thầy sáng suốt chỉ điểm cho bạn thì mới không tốn công và lãng phí thời gian vô ích, thậm chí bạn còn có thể đi sai đường, nguy cơ trùng trùng mà vẫn không biết quay trở về điểm ban đầu, hậu quả lại càng không thể lường được. 

Do vậy, hành giả đem những tâm đắc tu pháp của mình để thỉnh thị một vị minh sư, nhờ minh sư xác nhận cho bạn xem là đúng hay sai là một việc rất quan trọng. 
Cần làm sao để tìm được một vị minh sư thật sự hiểu rõ về Phật pháp đây?
Tôi nói cho mọi người biết ba điều quan trọng:
Kinh nghiệm.
Tâm yếu.
Giác thọ.
Ba điều này, Căn bản Truyền thừa Thượng sư của Chân Phật Tông đều có. 
Những điều Căn bản Thượng sư muốn dạy cho bạn là: kinh nghiệm, tâm yếu, giác thọ.


### 52. Tinh thần hoằng pháp (1)


Gần đây, có không ít các phân đường và các Lôi Tạng Tự gửi thư đến mời Sư Tôn, họ biểu thị rằng: mặc dù Sư Tôn đã tuyên bố "mấy năm này sẽ lui về ở ẩn", nhưng trước khi Sư Tôn chính thức ở ẩn thì chúng tôi vẫn hết lòng muốn mời Sư Tôn đến. Tấm lòng tha thiết mong Sư Tôn đến của các đệ tử vô cùng khẩn thiết, những lời mời gọi liên tiếp không dừng. 

Bản thân tôi cũng nhận được không ít những lời nhờ vả của đồng môn, hy vọng tôi sẽ sắp xếp hành trình. Tôi nói: "Không phải là tôi không muốn giúp sắp xếp hành trình, nhưng tôi tôn trọng suy nghĩ của Sư Tôn." Tuy nhiên, đôi khi tôi cũng bị đối phương hiểu sai ý, cho rằng tôi không công bằng khi giúp đỡ người khác. Thật ra, hoằng pháp độ chúng cũng là trách nhiệm của tôi, làm gì có đạo lý là không giúp đỡ! Xin hãy nghĩ mà xem, hai năm rưỡi nay, Sư Tôn chưa từng đi ra nước ngoài, chẳng đi đến nơi nào cả, chẳng phải là bình đẳng hay sao?

Có Thượng sư hỏi tôi, Sư Tôn nói là ẩn cư thì bà có cảm tưởng gì không?
Tôi đáp: Mấy năm trước Sư Tôn nói ẩn cư, tôi lo lắng hỏi Sư Tôn rằng: "Còn chưa già đã nói chuyển ẩn cư, hơi sớm quá, các đệ tử đều cần Ngài mà!" 
Khi đó, Sư Tôn chỉ nói ngắn gọn với giọng điệu hóm hỉnh rằng: "Tôi chẳng thích làm người già bảy, tám chục tuổi, già thì sẽ hồ đồ, già thì lại cố chấp, còn đứng trên phương diện tên tuổi địa vị thì nên là con cái kế thừa nghiệp của cha, cần để cho các đệ tử đi truyền pháp luân mới phải."

Năm nay Sư Tôn lại nhắc đến chuyện lui về ở ẩn, và cùng với việc thành lập "Chân Phật Tông Tông Vụ Ủy Viên Hội", tôi có suy nghĩ mới là: "Bất kì việc gì mà là nghĩ cho Sư Tôn là được." Do vậy ngược lại, tôi sẽ gắng sức hỗ trợ quyết định ẩn cư của Sư Tôn. 

Xin đừng quên rằng Sư Tôn thực hiện theo ý nguyện mà đến thế giới Ta Bà, đó là không từ bỏ một chúng sinh nào, dù có ẩn cư hay không ẩn cư thì vẫn độ chúng sinh, đây chỉ là thay đổi một chút cách thức độ chúng sinh mà thôi.


### 53. Tinh thần hoằng pháp (2)


Bắt đầu từ năm 1985, trong suốt 10 năm ròng rã, vì việc hoằng pháp độ chúng sinh mà Sư Tôn như ngựa không dừng vó, chạy băng băng đến khắp mọi nơi trên thế giới, đem những kinh nghiệm thành tựu trong quá trình tu hành của bản thân mà thản nhiên công khai truyền thụ Mật pháp, truyền ngọn đèn Phật pháp, tiếp tục huệ mệnh Phật, trăn trở thoắt đông thoắt tây, thoắt nam thoắt bắc khắp các nơi, giống như A Di Đà Phật hiện tướng lưỡi dài rộng tại cõi Ta Bà vậy. 

Những ngày tháng hoằng pháp thông thường là, vừa mới kết thúc hoằng pháp một vòng tại một đất nước, sau đó lại tổ chức nhiều đại pháp hội tại các vùng miền, rồi lại hết sức tranh thủ thời gian đi đến các phân đường khai thị. Khi toàn bộ cuộc hành trình kết thúc trở về đến nước Mỹ, vừa hạ hành lý còn chưa kịp nghỉ ngơi thì chúng tôi đã lập tức lại đến Mật Uyển quan tâm đến các bức thư đệ tử gửi đến. Khi đó, những sai sót vẫn còn chưa được điều chỉnh thì sẽ lại cần điều chỉnh, rồi lại tiếp tục sớm sắp xếp chuyến hành trình tiếp theo. Có lúc đi hoằng pháp ở nước ngoài phải đặc biệt vội vã trở về chủ trì đại pháp hội xuân thu tại Seattle để cho những đoàn thể đến hỏi chuyện đông như núi như biển được mãn nguyện. 

Tinh thần hoằng pháp của Sư Tôn thật khiến người ta bái phục, thể lực Ngài khỏe như Kim Cang, bền vững kiên cố.


### 54. Vị giáo chủ chất phác


Các thế hệ của phái Mũ Vàng Gelugpa tương truyền rằng chức danh của vị giáo chủ cao nhất được gọi là Ganden Tripa, nói cách khác đây là danh xưng mỗi một đời giáo chủ, phái Gelugpa sẽ xem vị đó là thủ lĩnh tinh thần. 

Vị Pháp Vương Ganden Tripa hiện tại chính là vị đại biểu thứ 100 từ tổ sư Tsongkhapa, khi mà Pháp Vương Ganden Tripa chủ trì pháp hội thì Dalai Lama cũng vẫn xếp hàng sau. 

Pháp Vương Ganden Tripa đương nhiệm vì ngưỡng mộ và biết Liên Sinh Hoạt Phật đã lâu, nên dù xa xôi nghìn dặm từ Nam Ấn Độ đã đến Seattle. Ngài nói với chúng tôi rằng:
Gặp được Liên Sinh Hoạt Phật giống như gặp được bạn cũ. 
Vô cùng ca ngợi và tôn kính những thành tựu của Liên Sinh Hoạt Phật.
Liên Sinh Hoạt Phật thật thà tự nhiên như vậy, vừa hồn nhiên vừa nhân từ, khiến cho tôi ấn tượng sâu sắc.
Liên Sinh Hoạt Phật quảng truyền Mật pháp, đã viết 122 cuốn sách, quảng độ chúng sinh, đó mới là tinh hoa của Phật pháp, nếu có thể dịch sang tiếng Tạng thì tốt biết mấy, tôi không đọc không được.
……………………………

Những lời nói xuất phát từ đáy lòng này của Pháp Vương Ganden Tripa được Ngài nói ra đầy cảm động, khiến những người có mặt tại đó đều xúc động. Ngài tiếp tục lấy ra áo bào Pháp Vương, chuông chày Kim Cương, khăn khata, cát truyền thừa, thuốc viên truyền thừa, tượng Phật, hạt xá lợi, v.v… tặng cho Sư Tôn. Rồi còn lần lượt giải thích những ý nghĩa chân thực của từng món đồ. Trong nghi thức người tặng người nhận những tín vật này, Pháp Vương và Sư Tôn hai người chìm trong bầu không khí ngầm thấu hiểu lẫn nhau, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng mỗi người. 

Trong khoảng thời gian ngắn ngủi của pháp hội và mấy ngày ở cùng nhau, tôi đã phát hiện thấy Ngài là một vị Pháp Vương thật thà chân chất, nhất là tùy duyên tùy hỉ. Ánh mắt Ngài nồng hậu từ bi, trong những lời nói nhẹ nhàng đã bộc lộ trí huệ bất khả tư nghì cao thâm của một vị thành tựu giả, thể hiện rõ một sức hấp dẫn khó mà cưỡng lại, khiến người ta cảm thấy sùng kính sâu sắc. 

Pháp Vương đã để lại ấn tượng sâu sắc đối với mọi người, đặc biệt là:
Buổi tối đầu tiên Ngài đến Seattle đã lập tức thỉnh chúng tôi mua hộ những cúng phẩm cần thiết, còn nói rằng hôm nay là ngày tốt để tu Hộ Pháp. Thì ra, cúng phẩm để tu Hộ Pháp của Ngài ấy là rượu và thịt sống. 

Trình tự và cảnh giới mà Ngài khai thị trong pháp hội rất khớp với các pháp mà Sư Tôn đã truyền, chứng minh ý nghĩa ảo diệu chân thực của Chân Phật Mật Pháp. 

Khi Ngài ấy nghỉ ngơi vào buổi trưa ở Chân Phật Mật Uyển, Ngài ấy nằm ngủ trên chiếc ghế sofa trong phòng vẽ tranh của Sư Tôn (Chân Phật Mật Uyển vốn không trang bị giường đệm, Sư Tôn bình thường ngủ dưới đất), tùy duyên tùy hỉ, thích ứng trong mọi hoàn cảnh, không nề hà câu nệ. 

Trên phương diện ẩm thực thì Ngài ấy cũng không câu nệ chuyện ăn thịt hay ăn rau, cứ đơn giản tiện lợi, với nguyên tắc là không ăn quá lượng. Pháp Vương còn có nhiều thói quen giống với Sư Tôn, do vậy đặc biệt để lại cho tôi ấn tượng tốt đẹp sâu sắc. Tôi nghĩ: Hoạt Phật tu hành đến cảnh giới cao nhất thì thói quen sinh sống của họ đều tự do tự tại giống nhau. 

Chú thích: Pháp Vương Ganden Tripa vào ngày 7 tháng 9 năm 1996 đã đến Seattle, hộ trì Sư Tôn chủ trì pháp hội.


### 55. Giữa mây và nước


Trong pháp hội ngày 7 tháng 2, Sư Tôn đã chính thức tuyên bố lui về ở ẩn. Một câu tuyên bố lui về ở ẩn này đã làm trào dâng một đợt sóng lớn, làm lay động tới con tim của các đệ tử, khơi dậy một cảm giác không còn cách nào chống lại được, biểu lộ ra những tình cảm sâu sắc - những đôi mắt rưng rưng đỏ mọng, những dòng nước mắt tuôn rơi không cầm lòng được!

Thế là Sư Tôn cứ thế mà đi ẩn cư ở trong núi rừng sao?
Sẽ không còn gặp lại Sư Tôn nữa sao?
.......

Một ngày là thầy, suốt đời là thầy, tình cảm thầy trò thân thiết như cha con, chẳng nỡ rời xa. Giữa thầy và trò tồn tại một giới nguyện samaya một khi đã hình thành thì chẳng bao giờ thay đổi, đã ghi lòng tạc dạ rồi!

Nhớ lại khi xưa Sư Tôn từng khai thị rằng: 
Ẩn cư thì không còn bám chấp vào danh lợi địa vị nữa.
Không nhận cúng dường thì không còn bám chấp vào lợi ích.
Lời nói rõ ràng thẳng thắn dạy dỗ chúng sinh, không màng danh lợi. 

Sư Tôn tôn sùng nhất là đạo tự nhiên, hướng đến cuộc sống tự do như mây trắng, mây bay đến đâu thì đến đó. 
Tâm như mây trắng luôn tự tại, ý như nước chảy mặc đông tây. 
Tâm như mây trắng, ý như nước.
Ẩn cư, chính là muốn trở về với bản chất tự nhiên. 
.......

Cuối cùng tôi đã hiểu, việc ẩn cư của Sư Tôn là một kiểu dạy dỗ, dạy dỗ mọi người cần giống như mây, và cần tự nhiên giống như nước. Mọi sự vật trên đời cuối cùng sẽ đều trở về với bản chất tự nhiên.
Chỉ khi đó mới nhận ra rằng nơi nào có mây có nước thì sẽ có Sư Tôn. 

Khi nỗi nhớ trào dâng, chúng ta hãy ngẩng đầu nhìn lên những đám mây trắng trên bầu trời, hoặc đi ra ngắm biển, ngắm hồ mà tưởng nhớ đến những lời dạy dỗ của Sư Tôn, cảm nhận lòng yêu thương và từ bi của Sư Tôn. 

Cầu mong bản thân cũng có thể hòa tan vào mây trắng bay bay, theo mọi dòng nước chảy đến bất kì nơi nào. 
Cảm ơn lời dạy dỗ của Sư Tôn!


### 56. Nỗi lòng không cần cúng dường Sư Tôn


Ngày 1 tháng 9 năm nay, trong buổi đại pháp hội, Sư Tôn đã đối diện với năm nghìn người, trịnh trọng tuyên bố: "Kính mong mọi người không cần cúng dường Sư Tôn nữa." Muốn các đệ tử hãy đem cúng dường chuyển thành việc thăm nom những người bệnh, đi cứu giúp những người nghèo khổ, hành thiện bố thí, đi cứu khổ cứu nạn, đi xây chùa in ấn kinh sách, như vậy thì cũng như cúng dường Sư Tôn, công đức như nhau. 

Sau lời tuyên bố này, Sư Tôn lập tức viết thành văn tự, công bố trên các trang báo khác, thông qua việc đăng báo mà hi vọng đệ tử ở nơi xa sẽ biết được. 

Điều không dự tính được là sau khi các tòa báo nhận được văn bản tuyên bố này đã gọi điện đến để xác nhận xem có phải là Hoạt Phật tự tay viết ra bút tích hay không. Vì họ ngạc nhiên! Từ trước đến nay họ chưa từng thấy người nào không muốn tiền, tiền càng nhiều thì chẳng phải sẽ làm được càng nhiều việc thiện hay sao?

Đại bộ phận đệ tử Chân Phật đọc xong văn bản thì có phản hồi là:
Đệ tử Mật giáo cúng dường sư phụ thì mới là hợp với lễ tiết trong "Sự sư pháp ngũ thập tụng". 
Cúng dường sư phụ thì mới không phạm vào việc chỉ cầu xin mà không có đáp lễ.
Cúng dường sư phụ cũng như cúng dường tất cả chư Phật, là phúc điền tối thắng, rất nhanh chóng đắc chứng bồ đề quả.
Cúng dường sư phụ sẽ được gia trì tiêu trừ chướng ngại, phiền não và nghiệp chướng. 

Cho dù Sư Tôn đã nhiều lần nhắc lại lời tuyên bố này và giảng giải nên chuyển đổi việc cúng dường ra sao, đi hành thiện bố thí, nhưng tấm lòng các đệ tử cúng dường Sư Tôn vẫn rất chí thành kiên định. 

Sự việc này khiến tôi nghĩ đến một câu nói trong quy tắc nghi thức Mật tông là, "Nếu thầy dạy bảo thế nào thì hãy hoan hỉ làm theo..." Đã là ý của Sư Tôn "Kính mong mọi người không cần cúng dường Sư Tôn nữa" thì mọi người chúng ta nên theo lời dạy này mà làm mới phải. 

Sư Tôn tuyên bố như vậy tất nhiên là có tư tưởng triết lý vĩ đại, mở rộng và nâng cao ý nghĩa của việc cúng dường, phổ cập đến hết thảy chúng sinh, đây là cảnh giới vô cùng siêu nhiên. Từ lâu Sư Tôn đã phá bỏ tất cả mọi ngã kiến, hơn nữa còn là một hành giả du già có thể kết hợp "anh, tôi, người khác" làm một.

Hô hào các đệ tử chuyển cúng dường thành đi làm các việc bố thí hành thiện khác, khẳng định là ngày nay rất hiếm thấy.


### 57. Tương ứng về mặt trời


Gió bắc vù vù, mưa phùn liên miên.
Suốt một tháng trời âm u mưa dầm dề dài dằng dặc.
Vào ngày làm pháp hội đó, đột nhiên, gió dừng, mưa cũng tạnh.

• 

Ngài huyễn hóa vô cùng
Không một chút ồn ào, đến trong sự yên ắng
Âm thầm vận thần thông
Xua tan mây đen
Đẩy lùi màn sương dày đặc
Mặt trời hiện ra
Ánh sáng lan tràn.

• 

Chẳng nịnh bợ, chẳng đua đòi
Tự nhiên nhậm vận
Sự xuất hiện của Ngài
Chính là thắng lợi của niềm tin
Cảm ứng liên tiếp lặp lại
Bất khả tư nghì.

• 

Khi pháp hội cầu phúc kết thúc
Bạch Tài Thần hóa thành giọt mưa
Rơi trên đỉnh đầu, rơi vào trong tim
Cảm giác mát rượi, hoan hỉ tràn đầy
A! Những giọt mưa tài phúc
Lễ gột rửa thanh tịnh!

• 

Chú thích: vào dịp xuân mới năm Đinh Sửu, một tháng trước pháp hội cầu phúc, suốt cả tháng trời đều âm u, dự báo thời tiết thông báo rằng ngày diễn ra pháp hội trời cũng sẽ có mưa. Kết quả là, trong hai ngày liên tiếp diễn ra pháp hội, mặt trời chiếu sáng chói chang, thời tiết cực kì đẹp. Đến khi pháp hội kết thúc, sau khi thu dọn hết các vật phẩm thì trời mới lại bắt đầu mưa. Đây là cảm ứng vô cùng thù thắng.


### 58. Tấm lòng biết ơn


Phương xa chim bay đến ngâm vịnh lời cảm ơn
Lòng biết ơn khắc ghi vào tâm khảm
Chẳng nói nguyên nhân, chẳng nói vì sao
Chỉ là lời cảm ơn nói mãi vẫn chẳng hết.

Âm thanh chân thành, khiến người ta mãnh liệt đắm say
Nhưng cũng khiến người ta không hiểu lời cảm ơn từ nơi nào đưa đến
Trong nội tâm lâu nay luôn hồi tưởng
Đã bao lần tỉnh ngộ sâu sắc
Hiểu được ra chân đế của cảm ơn. 

Cảm ơn, không nhất định để hai bên cùng có lợi
Cảm ơn, xuất phát từ sự thể hội tỉ mỉ của mỗi người
Cảm ơn, xuất phát từ ý thức sâu nhất về bình đẳng vượt trội
Hành giả vẫn thường mang tấm lòng biết ơn
Biết ơn chư Phật Bồ Tát, chư Thiên,
Đạo sư, cha mẹ, các chúng sinh

Trong lòng thường biết hơn, mọi việc đều viên dung
Người đối với ta tốt, đáp lễ nên cảm ơn
Người đối với ta xấu, ta cũng vẫn cảm ơn
Trong cõi lòng biết ơn, chuyển hóa thành sức mạnh
Tu hành càng siêu việt
Ôi! Tấm lòng biết ơn, người người đều cần có.


### 59. Âm thanh tự nhiên


Thời gian qua giống như mùa hè Mexico
Đặc biệt là góc bầu trời tây bắc
Cực kì thuần khiết yên bình
Không một bóng người, như chốn Đào Nguyên
Ngôi nhà sơ sài trên đỉnh núi đứng cạnh biển cả
Chẳng có điện thoại
Chẳng có báo chí
Chẳng có truyền hình.
...

Gần như đoạn tuyệt với thế giới
Tâm linh bỗng nhiên dừng lại trong không tịch
Rắn, rết, thằn lằn từ trong núi
Còn cả những côn trùng chẳng biết tên đã thành những người khách quen thuộc
Đi rồi lại đến
Cua trên bờ biển cả đàn cả lũ
Ào ào bò lên
Cả đàn cùng múa, hết lượt này lại đến lượt khác.

Tiếng thủy triều bốn bề vang vọng
Là nhạc giao hưởng, là nhạc cõi trời
Ban đêm, chẳng nhìn thấy núi, chẳng nhìn thấy biển
Chỉ có những vì sao đua nhau lấp lánh làm bầu bạn
Trong sát-na, dường như rơi vào đường hầm thời gian. 

Ô! Tôi của hiện tại là ai?
Tôi của quá khứ là ai?
Tôi vẫn là tôi?
Tôi đã suy biến?
Tôi đã thành hư không?
Chỉ có những vì sao biết được lòng tôi.


### 60. Ấn tượng của biển


Biển Punta Mita ở Mexico
Nghe nói, biển ôm trọn trăm sông, khoan hồng độ lượng
Biển là bậc trí giả, tùy hỉ tùy duyên
Do vậy, tôi đi gặp biển, thăm biển.

Ngồi trên bãi biển, lắng nghe tiếng biển ì ầm
Biển thích tự do tự tại
Biển thích cuộc sống lang thang
Biển nói, đời người như kẻ lang thang
Nước chảy bèo trôi, chẳng tìm được nguồn cội
Tôi nói, đời người như sóng biển
Hết nổi lại chìm, hết sinh lại diệt.

Tôi thong thả ngồi bên biển ngẫm nghĩ
Mong làm bạn với biển trong từng suy nghĩ
Tôi cưỡi trên những con thuyền cao su, cùng biển rong chơi
Đạp gió rẽ sóng vượt ra khơi.

Lao nhanh vào trong lòng của biển
Giây phút đó, thuyền lật rồi
Con người chìm xuống biển
Như rơi vào một thế giới khác
Mờ mịt và hoảng hốt thất kinh. 

Biển nói, đừng sợ hãi! Chúng ta đều đã từng chết
Ôi! Con đường này hình như quen thuộc
Liễu rủ hoa cười lại gặp làng (*)
Tôi sâu sắc hiểu ra: đời người mong manh, sinh tử huyễn diệt.

(*) Đây là một trong hai câu thơ: "Sơn cùng thủy tận nghi vô lộ, liễu ám hoa minh hựu nhất thôn" - có nghĩa tưởng đi đến tận cùng sông nước là hết lối, nhưng không ngờ lại gặp một ngôi làng, ý nói rằng trong hoàn cảnh khó khăn nhưng vẫn còn hy vọng tìm được lối thoát.


### 61. Lên núi


Leo núi, leo núi
Người người thích leo núi
Nhưng leo núi gì
Là núi vinh hoa phú quý, ai nấy hoan hỉ, công danh lợi lộc.

Leo núi, leo núi
Núi non trùng trùng, cao thấp nhấp nhô
Mồ hôi như mưa, dốc hết tâm lực
Đỉnh núi này rồi lại chóp núi kia
Gió mây hiểm ác, ta vẫn kiên cường.

Leo núi, leo núi
Trổ hết tài năng, lưu danh đỉnh núi
Rực rỡ chói lòa, tài năng lộ rõ
Những người thủ lĩnh
Cùng nhau hát ca.

Leo núi, leo núi
Ở trên đỉnh cao nhưng vẫn cô đơn
Vì sao vẫn hướng đến đỉnh cao
Chỉ vì danh và lợi
Và chẳng có đường lui.

Leo núi, leo núi
Hành giả leo núi thật tự do
Tự tại nhậm vận
Nâng lên, đặt xuống, thiền cơ ảo diệu
Lên cao, thật giỏi lắm
Đi xuống, lại càng giỏi hơn
Thử hỏi xưa nay có được bao người!


### 62. Duyên đến duyên đi là bình thường


Có một người đã mất đi lòng tin
Nay gặp được duyên lòng tin đã trở lại
Cả thế giới lại đáng yêu bừng sáng
Chìm đắm trong những tháng ngày tươi vui
Trong lòng này âm thầm cảm tạ
Lặng lẽ bôn ba, chấp thuận vì cuộc sống
Biết bao hi vọng gửi gắm cuộc đời này.

Rồi một ngày, duyên đột nhiên biến mất
Như khói thuốc tan đi, không để lại tăm tích
Niềm tin bị tổn thương, dày vò, dẫm đạp và đau đớn
Như con diều đứt dây, rơi xuống vực sâu vạn dặm
Ôi! Duyên đến duyên đi,
Nhân duyên đẹp đẽ
Chỉ còn hoài niệm,
Mộng tưởng có ngày duyên trở lại
Thế nhưng, thế nhưng, 
...

Nghe Phật nói:
Tâm điềm tĩnh chính là đạo,
Ôi!
Tâm điềm tĩnh mới có thể bền lâu!


### 63. Truy điệu - Viết cho Thượng sư Liên Phẩm


Khi gió thu bắt đầu thổi tới
Bất ngờ, ngài đã ra đi
Trong yên lặng
Chẳng để lại lời nhắn nhủ gì
Tôi chẳng đến kịp để nói
Xin hãy đợi một chút!
Xin hãy nghe tiếng thì thầm trong lòng của chúng tôi. 

Con người ngài hào sảng, lương thiện
Thích việc bố thí, vui vẻ giúp người
Đài Loan Chân Phật Báo, Hoa Quang Công Đức hội
Trưởng thành lên từ bàn tay ngài
Nào là trại hè, tọa đàm Phật học, chữa bệnh từ thiện
Để lại bao tiếng tăm dư vị
Nơi đây có thứ ngài yêu nhất...

Sư Tôn thiền định kiếm tìm
Thấy ngài tay kết thủ ấn hoa sen
Ngồi trên hoa sen đỏ, gió nhẹ khẽ đưa đẩy
Bay về hồ sen nơi ngài từ đó đến, 
Việc ngài đi như có điềm báo trước
Ngài đã tìm được cõi tịnh thổ vĩnh hằng.

Cảnh giới thanh tịnh vô thượng đó
Mặc dù ngài ở chốn xa xôi
Khoảng cách là một sự cách trở
Mỗi lần gió thu bắt đầu thổi tới
Trong lòng lại miên man nhớ ngài
Lời ca "Trân trọng chào tạm biệt"
Vĩnh viễn chúc phúc ngài!


### 64. Thảnh thơi ra đi


Trong cõi vô hình, vận mệnh đã định thời khắc phải ra đi,
Mẹ đã quyết định thời điểm này, thì ai cũng chẳng ngăn trở được
Kiên quyết vứt bỏ đi mọi việc vặt vãnh
Tự nhiên bảo đi, thế là đi luôn!
Như thể nói với chúng con rằng,
Dù có bảo nhân gian tươi đẹp,
Dù có bảo tiền bạc, châu báu, áo quần, biệt thự xa hoa, đều chẳng ích gì,
Chẳng thà nói rằng, trút bỏ chính là cần trần trùi trụi.

Mẹ đã lựa chọn phương thức để rời đi, có lẽ đã thị hiện đạo lý vô thường, cảnh tỉnh con người sinh mệnh như mộng, huyễn, bào, ảnh, như sương cũng như điện, chớp mắt đã tan biến rồi. Hãy trân trọng giá trị sở tại của sinh mệnh mà ngay lập tức thực tu. Mặc dù điểm cuối cùng của đời người chắc chắn sẽ phải bước trên hành trình chia ly này, nhưng sự ly biệt của tình thân thì bất kì ai cũng vẫn đều cảm thấy đau lòng bi thương, đặc biệt là tình cảm giữa mẹ và tôi vô cùng thân thiết. Bởi vậy, tôi cảm thấy khó mà gạt bỏ được cảm giác đau lòng. 

Trước đây, tôi luôn cho rằng khóc chẳng đẹp đẽ chút nào, khóc là thể hiện sự yếu đuối, khóc không thể giải quyết được sự việc, thậm chí sẽ đánh mất sự tôn nghiêm. Chính vì bản tính kiên cường cứng rắn, gặp chuyện gì cũng không khóc này mà tôi từng bị Sư Tôn gọi là "nữ tướng không đổ lệ". Bây giờ, khi phải từ biệt mẹ, tôi đã không thể kìm lòng, nước mắt tuôn trào như suối. Tôi không còn kìm nén bản thân được nữa, tôi đã khóc rồi!

Chỉ khi nhìn thấy cảnh tượng lúc Sư Tôn thực hành cứu độ thân trung ấm và pháp dịch chuyển thần thức thù thắng nhất của Mật giáo để chuyển dời và dẫn dắt thần thức của mẹ đi, từ thiên môn vãng sinh Phật quốc, trong lòng tôi mới có thể từ đau thương chuyển hóa thành niềm hoan hỉ, ca ngợi mẹ đã có được phúc báo tốt!

Viết bài kệ nhớ về mẹ:
Ở nơi ấy trên trời
Mẹ đừng quên chúng con ở nơi này
Giữ lại những lời nói
Xin nhẹ nhàng thổ lộ
Trái tim con sẽ nghe được lời mẹ
Mặc dù trời đất cách trở
Nhưng hương vị nỗi nhớ còn mãi
Biết đâu, biết đâu
Thời gian chính là vĩnh hằng
Xa cách cũng là một nét đẹp.

ND: người mẹ được nhắc đến trong chương sách này là mẫu thân của Sư Tôn.


### 65. Phụ lục. Đọc đi đọc lại các tác phẩm của Sư Tôn


Thưa Sư Tôn, Thượng sư, pháp sư, trợ giảng, đồng môn của Thập Thiện Đường, và đồng môn đến từ các nơi trên thế giới, xin chào mọi người! (mọi người vỗ tay)

Khi tôi vừa xuống xe buýt, sư tỉ Liên Hoa Thục Mỹ, người phụ trách quảng bá các tác phẩm của Sư Tôn ở Đài Loan, nói với tôi rằng cô ấy đã đến Hong Kong từ sớm vào ngày 20 hay 21 để quảng bá album Thời Luân Kim Cang. Tôi xin hỏi album Thời Luân Kim Cang mọi người đã xem chưa? Ai đã mua rồi xin giơ tay, không ít đâu nhỉ! (cười) 

Cô ấy kể, mấy ngày nay cô ấy cùng Sư Tôn đi đến vài phân đường, đồng môn đều tập trung ở các phân đường, cô ấy rất muốn phục vụ mọi người nên đã gửi album này đến các phân đường cho mọi người. Cô ấy nói mỗi phân đường đều không cho cô ấy cơ hội, ở đây cô ấy không có cách nào bán được những album này. Tôi cũng không rõ rốt cục là có chuyện gì. Tôi biết cuốn album này rất qua trọng, trước khi tham gia pháp hội Thời Luân Kim Cang, tốt nhất là mỗi người nên mua một cuốn và đọc thử xem. Đọc xong rồi bạn sẽ biết về nghi quỹ, truyền thừa và ý nghĩa trọng yếu của Thời Luân Đại Pháp. 

Vào ngày 27 tháng 8 tới đây khi Thượng sư chủ đàn khai thị, khi Sư Tôn khai thị, thì bạn nghe là hiểu ngay. Vì sao chúng tôi lại phát hành album này? Đơn vị tổ chức đã thu thập đủ mọi tư liệu về Thời Luân Kim Cang mà trong quá khứ Sư Tôn đã khai thị, gom chúng lại thành một quyển sách để sau đó ủy nhiệm cho nhóm quảng bá các tác phẩm của Sư Tôn tại Đài Loan xuất bản thành album này, để tiện lợi cho các đồng môn sẽ đến tham gia trước khi nhận được quán đảnh thì sẽ có thêm hiểu biết về pháp Thời Luân Kim Cang. 

Số tiền mà nhóm quảng bá thu được toàn bộ sẽ xung công quỹ, đều góp vào quỹ dùng để quảng bá các tác phẩm của Sư Tôn. Nhóm quảng bá là do Tông Ủy Hội ủy nhiệm. Thông qua hoạt động quảng bá của nhóm, các tác phẩm của Sư Tôn ở Đài Loan đã tiêu thụ được nhiều hơn gấp đôi. Trước đây giả dụ một cuốn sách in ra ba nghìn bản thì bây giờ đã in tới năm, sáu nghìn bản, thậm chí có lần là chín nghìn bản, mười nghìn bản. Trước đây, các nhà xuất bản in sách thì đa số là lưu hành trong các phân đường, còn lưu hành ở trên thị trường thì tương đối ít. Hiện nay, nhóm quảng bá đang cực kì tích cực quảng bá tác phẩm của Sư Tôn. Rất nhiều đồng môn ít nhiều đều đã đọc thấy những bài báo cáo về tình hình này trên Chân Phật Báo. 

Bây giờ tôi sẽ nói ngắn gọn một chút về cảm tưởng của cá nhân tôi khi đọc những tác phẩm của Sư Tôn, nghe băng ghi âm và ghi hình của Sư Tôn, biết đâu có thể có một vài hữu ích cho các bạn đồng môn. Tôi đọc các tác phẩm của Sư Tôn rất chậm, tôi nghĩ quái lạ, đồng môn đọc hơn một tiếng là đã đọc xong một cuốn sách rồi, còn tôi sao tận mấy ngày mới đọc xong được một cuốn. Chắc vì khi còn nhỏ tôi không thích đọc sách, tốc độ đọc sách quá chậm, đọc xong cần hiểu, cần tiếp thu nên tương đối chậm. Lần đầu tiên đọc, cảm nhận khác với lần đọc thứ hai, thứ ba, cảm nhận mỗi lần đọc đều khác nhau. Bởi vì khi bạn đang đọc, bạn sẽ suy nghĩ, có lẽ sau một khoảng thời gian, bạn lại có nhân duyên khác để đọc lại cuốn sách này, cùng là một đoạn văn đó, nhưng bạn lại có cảm nhận khác đi. 

Do vậy, tôi muốn nói với các đồng môn rằng, đọc sách xong đừng vội quẳng nó sang một bên, cần không ngừng ôn tập, vì mỗi lần đều sẽ có những ích lợi khác nhau, những lợi ích rất nhiều. Cũng giống như khi tôi nghe băng ghi âm, khi tôi lái xe, tôi đã quen nghe băng ghi âm thuyết pháp của Sư Tôn rồi. Tôi ở Seattle Lôi Tạng Tự, mỗi lần đều đích thân nghe khai thị của Sư Tôn, thế nhưng tôi vẫn nghe lại những băng ghi âm của Sư Tôn. Rất nhiều khi một cuốn băng tôi nghe lại rất nhiều lần. Có một lần, khi tôi có khúc mắc trong lòng, tôi nghe được một câu trong băng ghi âm rằng "bạn buông bỏ mới có thể tự tại, bạn không thể buông bỏ thì nút thắt trong lòng bạn chính là phiền não của bạn". Chính là câu nói này, tôi đã ngẫm nghĩ một lúc, ngồi trong chiếc xe ô tô đó nghĩ một hồi, nghĩ thông rồi thì lập tức buông bỏ nó, lúc đó có thể buông bỏ luôn. Tôi nói kì lạ thật, vì sao tôi thường xuyên nghe, trước đây đều không phát hiện ra câu nói này có ích như vậy, hôm nay câu nói này sao lại có ích như thế? Tôi lại suy nghĩ, ồ! Hóa ra bởi vì khi trong lòng bạn có chuyện khúc mắc, đúng vào lúc bạn cần sự tưới đẫm của Phật pháp thì khi bạn nghe, bạn sẽ dùng đến nó. Vì vậy, nên nghe thường xuyên, cũng là rất có ích. 

Khi bạn cần có Phật pháp tưới đẫm, bạn hãy nghe, trước đây bạn không có cảm giác gì, khi mà bạn cần đến thì bạn sẽ hiểu được lợi ích của nó. Do vậy, thường xuyên đọc sách của Sư Tôn, nghe băng ghi âm Sư Tôn thuyết pháp, đây cũng là đang thực hành thanh tịnh. Bởi vì bạn đã dung nhập vào trong những văn tự Phật pháp, bạn đang nghe băng ghi âm cũng là quán tưởng nghĩ đến những điều trong khai thị của Sư Tôn, cũng giống như bạn đang đọc sách, đọc tụng kinh văn vậy, bạn để tâm chìm đắm vào trong Phật pháp. Bạn nói xem đây có phải là thực hành thanh tịnh hay không? Bạn muốn thanh tịnh, bạn muốn thành tựu, trước tiên tâm của bạn cần thanh tịnh, tâm không thanh tịnh thì làm sao thành tựu được? Thường xuyên dung nhập vào trong sự thực hành thanh tịnh, tâm linh của bạn sẽ càng được nâng cao, việc thế tục sẽ làm ít đi, việc thanh tịnh làm nhiều lên, tâm linh của bạn nâng cao thì càng ngày càng gần với Phật. Bạn chỉ cần đọc, bạn lập tức có thể lĩnh hội được cảnh giới đó của Phật. Khai thị của Sư Tôn từng nói rằng, bạn sẽ càng dễ tiếp thu hơn người khác, càng có thể lĩnh hội được nhiều hơn, đây chính là điều mà hôm nay tôi muốn nói với mọi người. Cần thực hành thanh tịnh như thế nào ư, thì đọc sách của Sư Tôn đó, nghe băng ghi âm Sư Tôn cũng tương đương với đọc kinh sách, niệm tụng kinh văn. Do vậy, hôm nay nói cho mọi người nghe cảm tưởng của tôi, hy vọng các đồng môn nghe được cuộc nói chuyện này sẽ có được chút ích lợi. 
Om mani padme hum. 

Khai thị tại Thập Thiện Đường ở Hong Kong ngày 24 tháng 8 năm 2000.


### 66. Phụ lục. Báo cáo về đại pháp hội Thời Luân Kim Cang tại Hong Kong


[Tin tức từ TBSN / Tiểu Vũ đưa tin]

Vào hồi 10 giờ sáng ngày 25 tháng 8, hội công đức Hoa Quang tại Hong Kong và hội đồng tu Thập Phương đã tổ chức bữa tiệc chào mừng Sư Tôn tại khách sạn Regent. Trước tiên là Sư Mẫu nói chuyện với mọi người, và còn nhắc đến bốn câu pháp ngữ của Sư Tôn, cùng chia sẻ với mọi người những tâm đắc của mình. 

Sư Mẫu bày tỏ rằng, mấy ngày nay đến thăm các phân đường, đã nghe rất nhiều khai thị của Sư Tôn, có được một vài điều tâm đắc, hy vọng chia sẻ cùng mọi người, cùng nhau ôn tập. Sư Mẫu nói, trước đây Sư Mẫu nghi ngờ Phật Thích Ca Mâu Ni rõ ràng đã thuyết pháp 49 năm, nhưng sao lại bảo là không hề thuyết pháp. Sư Tôn cũng từng nói đã viết hơn trăm cuốn sách, khai thị đã 30 năm, nhưng cũng bảo "viết cũng như không viết, nói cũng như không nói", thế là vì sao? Bởi vì đó vốn dĩ chính là phép tắc tự nhiên của vũ trụ. Sư Tôn chỉ đang lặp lại lời của Phật Thích Ca Mâu Ni nói mà thôi. 

Sư Mẫu cũng chỉnh lý lời nói của Sư Tôn thành bốn câu pháp ngữ:
Thứ nhất: tịch tĩnh là việc hạnh phúc nhất.
Thứ hai: bồ đề tâm là công đức lớn nhất.
Thứ ba: vô thường là chân lý cứu cánh nhất.
Thứ tư: trí huệ là tôn giáo vĩ đại nhất.

Mỗi khi trong cuộc sống có phát sinh phiền não, hy vọng đồng môn sẽ ngẫm nghĩ đến bốn câu này, sẽ có được lợi ích thật sự, có thể đạt đến trí huệ vô thượng chân chính.


### 67. Phụ lục. Hong Kong truyền pháp tiện lợi cho đệ tử toàn cầu


Thưa Sư Tôn, các vị Thượng sư, thầy giảng dạy, pháp sư, trợ giảng, đồng môn của Hong Kong Lôi Tạng Tự và đồng môn ở các nơi, chúc mọi người buổi tối tốt lành!

Nhắc đến Hong Kong Lôi Tạng Tự khiến tôi nhớ lại tiền thân của nó, chính là Tín Pháp Đường. Nhắc đến Tín Pháp Đường, tôi cũng lại liên tưởng đến Thượng sư Liên Hàn, ông ấy là đường chủ sớm nhất của Tín Pháp Đường, cũng chính là vị đường chủ thứ nhất. Trải qua bao nhiêu năm nay, dưới sự dẫn dắt của Thượng sư Liên Hàn, Thượng sư Liên Hùng, và hội đồng Hong Kong Lôi Tạng Tự mà đã sinh ra tòa Lôi Tạng Tự này. Việc này phải nhờ vào tấm lòng nhiệt tình và phát tâm của họ. Ấn tượng của tôi đối với Hong Kong Lôi Tạng Tự vô cùng sâu sắc. 

Chúng ta lại nói chuyện một chút, lần này Sư Tôn truyền đại pháp Thời Luân Kim Cang, đặc biệt từ bi nghĩ cho các đệ tử Chân Phật, do vậy mới chọn lựa Hong Kong làm địa điểm để truyền đại pháp này, để cho đệ tử ở các quốc gia lân cận và đệ tử ở các nước phương Tây đều tiện lợi đến Hong Kong tham dự pháp hội này. Giả dụ tổ chức pháp hội này tại Seattle hoặc ở Đài Loan thì có lẽ rất nhiều người sẽ không dễ dàng đến được. Đặc biệt là đệ tử ở các vùng ở Trung Quốc, họ không thể nào đi Đài Loan được, cũng không dễ dàng đến được Seattle. Do vậy, Sư Tôn đã quyết định chọn địa điểm ở Hong Kong để truyền đại pháp Thời Luân Kim Cang này. Cũng tức là từ bi để tất cả các đệ tử tiện lợi đến được đây tham gia vào pháp hội thù thắng này. 

Muốn truyền đại pháp này, bởi vì đã lựa chọn làm tại Hong Kong, thế thì đương nhiên việc lựa chọn nhân tài cũng lựa chọn Thượng sư tương đối lão thành, tương đối có thâm niên - đó là Thượng sư Liên Hàn. Ông ấy không những là một vị Thượng sư lão thành từng trải, ông ấy cũng là một vị Thượng sư giỏi luôn tỉ mỉ tu trì Phật pháp trên cả phương diện lý thuyết và thực hành. Kể từ khi lựa chọn Thượng sư Liên Hàn chủ trì pháp hội Thời Luân Kim Cang này, Sư Tôn đã ban quán đảnh cho ông ấy, tôi biết rằng ông ấy ngày đêm không ngừng nghiên cứu và tu trì. Trong khoảng thời gian này, ông ấy cũng đích thân đến Seattle. Tôi tin rằng Thượng sư Liên Hàn trong lúc truyền pháp có thể thuật lại một cách tinh tế sâu sắc, cũng tin rằng mọi người có thể có được pháp hỷ tràn đầy. 

Lần này đến Hong Kong, tôi thấy các nhân viên làm việc của đơn vị tổ chức mỗi người đều gầy đi mất mấy cân, Thượng sư Liên Hàn hình như cũng gầy đi một chút, Thượng sư Liên Hùng dường như gầy đi cả chục cân. Tôi còn thấy rất nhiều đồng môn quá khứ đã từng đến Seattle, nay đến tham gia pháp hội, so với bây giờ đều đã khác xưa, đều gầy đi mấy cân rồi. Vì công tác chuẩn bị cho đại pháp hội lần này mà đơn vị tổ chức đã họp vô số lần, bàn bạc lên kế hoạch rất chu toàn, để cho đại chúng tham dự pháp hội có thể tham gia được pháp hội lần này như ý nguyện, có thể thuận lợi nhận được quán đảnh Thời Luân Kim Cang lần này. Do vậy, đơn vị tổ chức đã rất vất vả rồi, công tác chuẩn bị của họ đã bắt đầu được lên kế hoạch từ rất rất sớm, tiến hành từng bước, càng ngày càng bận, càng ngày càng chuẩn bị cho pháp hội một cách chặt chẽ. Do vậy, tôi vừa xuống máy bay đã thấy những gương mặt quen thuộc đều đã gầy đi, chúng tôi hỏi họ: "Mọi người gầy đi rồi đúng không?" Họ nói: "Đúng thế! Đúng thế! Mỗi người chúng tôi đều gầy đi mất mấy cân." Thật sự họ đã rất vất vả. Do vậy, lần này các đồng môn có thể đến hội trường này tham dự pháp hội, cũng hi vọng mọi người có thể tuân thủ một vài quy định của đơn vị tổ chức, để họ có thể tiện lợi sắp xếp, mọi người giữ trật tự, có thể đoàn kết nhất trí để làm tốt được pháp hội này như mong muốn. 

Đại pháp hội Thời Luân Kim Cang lần này có thể nói là rất nhiều đồng môn của Chân Phật Tông đều đưa cả gia đình tới tham dự, những ai có thể đến thì gần như đều đã đến cả, ai không thể đến thì phải chờ đến sự may mắn lần sau. Tuy nhiên, cũng không biết có lần sau không nữa, tôi cũng không dám bảo đảm, việc này cần hỏi Sư Tôn rồi! Pháp hội lần này đặc biệt náo nhiệt. Tôi biết không chỉ trong giới tôn giáo xôn xao mà cả bên ngoài cũng xôn xao. Có người ngoài tôn giáo biết được đã nói rằng, có Liên Sinh Hoạt Phật đại thành tựu như vậy truyền pháp Thời Luân Kim Cang thì họ phải mau chóng tới tham gia để còn nhận quán đảnh Thời Luân Kim Cang. Ngoài ra, còn có đồng môn nói rằng tháng bảy sẽ sinh con, nhưng kết quả là em bé vẫn chưa sinh ra, bèn chọn một cái tên hay trước, rồi mua vé máy bay, ngày 27 tháng 8 nhất định sẽ ôm theo em bé đến nhận quán đảnh. Thành tâm như vậy quả là tuyệt vời quá! Cũng có người ngồi xe lăn đáp máy bay đến nhận quán đảnh, tôi có biết mấy người như thế. Hơn nữa, cũng có những người vốn mắc bệnh nặng, họ cũng nghĩ không còn hi vọng gì. Kết quả là bác sĩ nói: "Anh cần phải mổ!" Đồng thời đã sắp xếp ngày phẫu thuật cho anh ta. Vốn dĩ anh ta không muốn phẫu thuật, kết quả là bản thân anh biết rằng cần đến nhận quán đảnh đại pháp này, liền thông báo với bác sĩ rằng: "Tôi muốn trước khi mổ, tôi đi nhận quán đảnh đại pháp này, vì tôi muốn nhanh khỏi bệnh." Bầu không khí sôi động của đại pháp hội quán đảnh Thời Luân Kim Cang đã sôi sục trong lòng rất nhiều đệ tử. 

Tôi đang nghĩ vào ngày 27 tháng 8 tới, tất cả mọi chỗ ngồi có thể phải người nọ ngồi trên lòng người kia thì mới ngồi hết được, có thể số lượng người sẽ đông gấp đôi so với dự tính. Do vậy, ở đây tôi xin nói với đơn vị tổ chức rằng: sự vất vả của các bạn là rất xứng đáng! Các bạn thật sự đã vất vả rồi! Sự vất vả của các bạn rất có giá trị! Sự vất vả của các bạn đã đem đến cho hàng nghìn hàng vạn đại chúng đến tham dự pháp hội một sự may mắn rất lớn, cũng đem đến phúc đức vô lượng cho các chúng sinh vô hình, sự vất vả này thật có ý nghĩa, là công đức vô lượng đó!

Cuối cùng, chúng ta hãy cùng chúc phúc cho pháp hội này tất cả đều thuận lợi cát tường, công đức viên mãn, để đại chúng đến tham dự pháp hội đều có được quán đảnh vĩ đại này, có thể tu trì đại pháp này, trì chú này, có thể hiểu được về nội thời luân, ngoại thời luân, biệt thời luân mà thành tựu. 
Om mani padme hum!

(Khai thị tại Hong Kong Lôi Tạng Tự ngày 24 tháng 8 năm 2000.)


### 68. Phụ lục. Chuyến du hành quên hết phiền lo cùng Phật


Thân là hành giả Mật giáo, lần này khi đi thăm các đạo tràng, mỗi lần đến một ngôi chùa, tôi sẽ luôn chắp tay quán tưởng đảnh lễ chư Phật Bồ Tát, và quán tưởng hai tay chạm vào chân Phật, và chư Phật cũng phóng ánh sáng trắng, đỏ, lam bao trùm lấy mình, nhờ vậy sản sinh ra pháp vị và cảm giác hoàn toàn thanh tịnh, khi làm như thế thì tâm trạng cũng đặc biệt tốt. 

Vừa nãy Sư Tôn đã khai thị rất rõ ràng ý nghĩa của bài hát, điệu múa, trò chơi, màn hoa, tôi nghĩ, đến tuần này, những tiếng cười vui vẻ phát ra từ nội tâm của chúng ta chính là những tiếng hát thanh tịnh. Hơn nữa, sự thanh tịnh này là những tràng cười lớn thoải mái không có một chút suy nghĩ ô nhiễm, lại càng là những âm thanh đẹp đẽ tuyệt diệu hơn, những thanh âm thanh tịnh nhất. Chuyến đi bộ của chúng tôi, leo núi lễ Phật, tức là đi thanh tịnh, là vũ điệu thanh tịnh. Đương nhiên ăn mặc chỉnh tề, sạch sẽ, trang nghiêm, chỉ cần xuất phát tự nội tâm để trang điểm cho bản thân, khiến người khác cảm thấy thoải mái, không nhếch nhác, thì cũng không khác gì cúng dường màn hoa rồi. Chúng tôi ngắm núi, ngắm sông, tâm không còn ý niệm ô nhiễm đi hành hương đến các đạo tràng tâm linh, cũng tức là một chuyến đi chơi rồi. Do vậy, cả tuần lễ này, tôi nghĩ chúng tôi đều đang hưởng thụ sự thanh tịnh và niềm vui của chốn thiên đường. 

Mặc dù sau khi trở về, có rất nhiều công việc đang chờ chúng tôi hoàn thành, nhưng mọi lời nói hành động của chúng tôi đều là tu hành. Tu pháp không nhất định là cần ngồi bên trong đàn thành, ra khỏi đàn thành chúng ta cũng vẫn phải tu hành. Điều này cho chúng ta trải nghiệm vô cùng sâu sắc. Khi còn nhỏ, tôi đã theo tín ngưỡng Phật giáo rồi, nhưng trước khi quen Sư Tôn, tôi mới chỉ dừng lại ở biểu hiện quỳ lễ thôi. Mãi đến sau khi quen Sư Tôn, tôi mới nhận ra trí huệ của Phật pháp mênh mông như biển. Tôi theo Sư Tôn hoằng pháp độ chúng đã 25 năm nay, trong vai trò xử lý các công việc tạp vụ. Tôi thấy có nhiều người thế này, có những việc hỏi mãi không hết, có những vấn đề giải quyết mãi không xong, tôi cũng từng cảm thấy rất phiền não, trong lòng nghĩ: vì sao những người này chỉ nghĩ về mong cầu cho bản thân, vì sao không nghĩ cho tôi một chút? Tuy nhiên, sau nhiều năm nghe những lời giảng pháp của Sư Tôn, cộng thêm sự tu hành của bản thân, dần dần, tôi bắt đầu thay đổi. Bây giờ, cho dù có nhiều đồng môn đến tìm tôi hơn nữa thì tôi đều dựa vào tâm vui vẻ, tâm hoan hỉ để tiếp nhận công việc vĩnh viễn không bao giờ làm hết này. 

Do vậy, khi sư tỉ Liên Thường nói: có biết bao công việc đặt lên vai Sư Mẫu, vì sao chẳng bao giờ thấy Sư Mẫu có bộ dạng chau mày ủ mặt, thở ngắn than dài? Tôi nói với cô ấy rằng: độ chúng sinh cần có lòng từ bi, bằng không làm sao có thể thu hút chúng sinh vào cửa Phật được? Từ đó có thể thấy là, chỉ cần tâm chúng ta chuyển hóa thì những phiền não trước đây lại trở thành một dạng pháp hỉ đó!

Chuyến du lịch lần này, có thể cùng đi một chuyến quên hết buồn lo cùng Phật, cũng là một chuyến du hành đến thiên giới, trong lòng ngập tràn tình cảm biết ơn. Vừa nãy khi hát bài "Tấm lòng biết ơn", hát được một nửa, tôi không hát tiếp được nữa, vành mắt đều đỏ lên. Lời ca của bài hát này vô cùng có ý nghĩa, giống như kể về một đời con người, từ khi bắt đầu đến khi kết thúc, khiến cho người ta có rất nhiều rất nhiều cảm xúc. Hôm nay là lần đầu tiên tôi có cơ hội thưởng thức tỉ mỉ những ca từ này. Câu hát "tôi đến từ nơi nào, tình cảm đi về đâu" trong bài hát đã thức tỉnh chúng ta. Bạn từ nơi nào đến? Tương lai sẽ trở về đâu? Đây chính là việc tu hành Mật giáo của chúng ta, bởi vì chúng ta đều tu Chân Phật Mật Pháp, sau này sẽ đều trở về Ma Ha Song Liên Trì. Ngoài ra còn câu "nửa cuộc đời tôi, hãy để tôi có được dũng khí được làm chính mình", dường như muốn nói với chúng ta rằng, hành giả Mật giáo luôn có Căn bản Thượng sư ở trên đầu gia trì cho ta, để chúng ta trên con đường tu hành trong đời này có thể thuận lợi đến được bờ bên kia, để chúng ta có thể dũng mãnh, tinh tấn tu pháp, quay trở về với chính mình tự nhiên, có dũng khí để làm chính mình. Do vậy, tôi vô cùng cảm động, mỗi câu từ của bài hát này đều rất có ý nghĩa.

Chúng ta hãy cùng chờ đến lần sau lại gặp mặt nhé! Cũng chúc phúc cho mọi người lên đường mạnh khỏe may mắn.
Om mani padme hum!

(Khai thị trong chuyến du lịch Tokyo Nhật Bản năm 2000.)


### 69. Phụ lục. Sum họp chúc mừng sinh nhật


[Cùng chúc cát tường tại Đại Hùng Điện - Seattle, nước Mỹ đưa tin / Pháp sư Huệ Quân ]

Bất Cấu Bất Tịnh Cát Tường Thiên, 
Khiên Chỉ Thiên Nữ hạ phàm trần,
Hộ trì Thánh Tôn độ chúng sinh
Hoa sen ngát hương mừng chúc thọ.

Ngày 15 tháng 2 âm lịch (tức 26 tháng 3 dương lịch), cũng là ngày sinh nhật của Sư Mẫu Liên Hương Thượng Sư - người mẹ của hai triệu đệ tử. 

Trời vừa sáng, ở Chân Phật Mật Uyển đã có đồng môn dâng lên một lẵng hoa tươi, đính kèm thiệp chúc mừng sinh nhật, trên đó ghi đầy những tâm tình chúc mừng của các đệ tử. 

Bình thường Sư Mẫu ăn mặc mộc mạc giản dị: một chiếc lược đã dùng hơn mười năm, hoặc bộ quần áo, đôi giày đã dùng mấy năm, hiếm thấy có đồ mới, chịu vất vả đã quen, cũng không nỡ từ bỏ việc pháp vụ mà an tâm nghỉ ngơi. Đối với những khổ tâm trong lòng các đệ tử, Sư Mẫu lại càng kiên nhẫn khuyên bảo, khéo léo giảng giải thông qua các ví dụ khiến người ta thâm nhập vào trí huệ của Phật. Đối với việc chăm sóc Sư Tôn, việc lớn việc nhỏ, Sư Mẫu đều có thể quản lo. Sư Mẫu xử lý công việc, ứng đối với trí huệ hơn người, nghị lực của Sư Mẫu trong công việc thì lại càng khó có ai thay thế được. 

Buổi tối ngày hôm nay, Sư Tôn và Sư Mẫu đã đến Lôi Tạng Tự tham gia pháp hội sám hối đại bi. Vừa bước vào trong chùa đã phát hiện ra trong đại điện trang hoàng đầy bóng bay nhiều màu sắc, khiến người ta thích thú. Sau khi pháp hội kết thúc, người chủ trì Thượng sư Liên Diệu bất ngờ tuyên bố hoạt động chúc mừng sinh nhật Sư Mẫu, thế là rộ lên một bầu không khí sôi nổi ấm áp chúc mừng sinh nhật. Đầu tiên là các đệ tử biểu diễn cho các phóng viên truyền hình thông báo về tình hình tổ chức chúc mừng thánh đản của Cát Tường Thiên Nữ, phần giữa thì có xen phần quảng cáo (sợi chỉ ngũ sắc của Cát Tường Thiên Nữ), rồi tiếp theo là hợp xướng "Bàn tay của Sư Mẫu" (cải biên từ bài hát "Bàn tay của Khiên Nguyễn"), đồng môn đã đặc biệt làm ra một bàn tay khổng lồ tượng trưng cho nỗ lực vất vả làm pháp vụ của Sư Mẫu, không nề hà khó nhọc. 

Tiếp theo, các ngọn đèn trong đại điện đều được tắt hết, đồng môn cùng thắp lên những que ánh sáng huỳnh quang, Thượng sư Liên Diệu và mọi người cùng hát bài "Ánh trăng nói hộ lòng tôi", để bày tỏ tấm lòng kính trọng ngưỡng mộ của đồng môn đối với Sư Mẫu. Khi đèn đóm lại được bật sáng, các đệ tử đẩy ra ba chiếc hộp bánh sinh nhật rất to do pháp sư Liên Hinh cúng dường, mọi người cùng hát bài "Chúc mừng sinh nhật", ai nấy cầm hoa quỳ xuống dâng tặng Sư Mẫu, ấm áp cảm động. Sư Mẫu bày tỏ: công khai chúc mừng thế này, thật là ngại quá. Rồi ngay tại đó mọi người cũng đưa ra một vài câu đố hài hước và xoắn não để tất cả cùng được vui vẻ.


### 70. Phụ lục. Sư Mẫu không thích nổi danh


(Viết bởi Thượng sư Huệ Quân)

Trước đây, mỗi lần người viết viết một bài viết mới, nhắc đến Sư Mẫu, hoặc trong ảnh chụp có Sư Mẫu, khi sắp đăng lên báo luôn bị Sư Mẫu phát hiện và ngăn lại. Sư Mẫu nói: "Tôi thích âm thầm làm việc, không thích ra mặt, xin đừng đăng báo." Sư Mẫu tôn sùng nhất, tôn kính nhất là Căn bản Thượng sư của chúng ta. Sư Mẫu thường nói, đệ tử Chân Phật cần dựa chủ yếu vào Căn bản Thượng sư, nương dựa vào Chân Phật căn bản truyền thừa. 

Trong chương sách "Thượng sư Liên Hương có lui về ở ẩn không", Sư Tôn đã hết lời ca ngợi tinh thần làm việc âm thầm của Sư Mẫu. Chương viết này của Sư Tôn đã được đăng trên Chân Phật Báo kì 153, trong chuyên mục "Chân Phật luận kiếm". 

Sư Tôn tuyên bố sẽ ẩn cư, khiến cho các đệ tử nhận ra toàn bộ cảnh giới tu hành thanh đạm của bậc Thánh giả. Một ngày kia Sư Tôn ẩn cư, bảo Chân Phật Tông Ủy tầm cỡ to lớn thế giới phải phát triển làm sao đây? Thượng sư Liên Hương đã quán xuyến và hiểu rõ hết mọi việc lớn nhỏ của tông phái, lại còn có sự ủy thác và gợi ý của Căn bản Thượng sư, tiếp tục trợ giúp cho Tông vụ Ủy viên hội Chân Phật Tông Thế giới. Đặc biệt trong nhiều năm qua, Sư Mẫu đã nghe theo chỉ thị của Căn bản Thượng sư, từ lâu đã giúp đỡ các Lôi Tạng Tự, phân đường, Thượng sư, pháp sư, đồng môn nhiều không kể xiết. 

Bình thường, ở trung tâm hồi đáp thư tín, điện thoại gọi đến tìm Sư Mẫu xin chỉ thị về các việc pháp vụ nhiều vô số kể, thế nhưng Sư Mẫu luôn luôn căn cứ theo chỉ đạo của Sư Tôn để hướng dẫn cho những người xin giúp đỡ. Sau đó, Sư Mẫu sẽ báo cáo lại rõ ràng rành mạch với Sư Tôn về pháp vụ của ngày hôm đó. Những việc pháp vụ ban ngày chưa xử lí hết, đến tối vẫn còn những việc bận rộn làm mãi không xong. 

Buổi tối mồng hai Tết, khi mọi người đang thưởng thức bữa cơm ngon thì Sư Mẫu vẫn còn ở trung tâm hồi đáp thư ôm chiếc điện thoại, trả lời việc trợ giúp pháp vụ của chúng sinh. Đợi đến khi Sư Mẫu về nhà thì lại có điện thoại thỉnh giáo Sư Mẫu về pháp vụ, tình cảnh này đã chẳng còn là chuyện lạ nữa. 

Sư Mẫu chỉ thích âm thầm vun trồng cho Chân Phật Tông, hồi đầu đã cực lực phản đối việc đặt cho Sư Mẫu bất kì chức vụ gì. Bây giờ, do Tông vụ Ủy viên hội đề cử Sư Mẫu là vị Thượng sư chỉ đạo cao nhất vĩnh viễn, Sư Mẫu lại càng dốc hết toàn bộ tâm lực cho sự phát triển của Tông Ủy Hội. Sư Mẫu bây giờ còn bận hơn trước nữa, ngày đêm vì Tông Ủy Hội, lên kế hoạch cho những việc của tông phái cho Chân Phật Tông thế giới.

Sư Mẫu tôn sùng chỉ thị của Căn bản Thượng sư, y theo những điều chỉ dạy mà thực hiện. 
Sư Mẫu ngày đêm bôn ba, bận rộn vì việc của tông phái. 
Mặc dù Sư Mẫu không thích nổi danh, nhưng những việc làm khiến người khác cảm động của Sư Mẫu đã khiến cho người viết không thể kìm được mà viết ra bài viết này.

**(Hết)**

---

---
# File: sach-tam-linh/301-hoa-gio-o-nam-son.md
# Title: 301. Hoa gió ở Nam Sơn
---

![image](/img/img_a75d4e2d12cdb7d9f0ce54c9407f8774.jpg)



## Hoa gió ở Nam Sơn 


🪷 Những bài thơ giác hữu tình

Văn tập: 301
Xuất bản: 08/2024
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


**Hoa gió ở Nam Sơn**

Tôi đặt tên cho ngôi nhà của mình là Nam Sơn Nhã Xá.
Nằm trên một triền đồi nhỏ.
Rộng hai mẫu đất.
Vậy Hoa gió là gì? Hoa gió là những bông hoa trong gió, có lẽ vẫn còn người chưa hiểu những bông hoa trong gió là gì?
Đó chính là tuyết, tuyết trong gió, rơi phất phơ, như từng đóa hoa nối tiếp nhau.
Bay lượn, bay lượn!
Thoạt Đông thoạt Tây,
Trắng trong tinh khiết,
Như thể trái tim tôi đang nhảy múa!

Vì vậy, cuốn sách này, tôi đặt tên là: "Hoa gió ở Nam Sơn".

Năm 2024.
Vào buổi tối ngày 15 tháng 2.
Tôi tình cờ nhìn ra ngoài cửa sổ, dưới ánh đèn đêm, tôi thấy được hoa gió.
Tôi sững người trong giây lát!
Tôi áp sát vào cửa kính, nhìn tuyết rơi phất phơ, những bông hoa trắng nhỏ, như những sợi bông, múa lượn, thật đẹp.

Tôi ngắm nhìn hoa gió, đất trời tĩnh lặng hoàn toàn, không một tiếng động.
Chỉ có tuyết đang bay, tuyết rơi xuống đất, cũng không một tiếng động.
Vào giây phút này:
Đất trời không lời.
Hoa gió không lời.
Tôi cũng không lời.
Tôi nhìn mãi đến 2 giờ sáng, Nam Sơn Nhã Xá đã hóa thành thế giới bạc trắng.
Rồi, tôi lên giường đi ngủ, trong giấc mơ, tuyết vẫn rơi như thế.

Sáng sớm hôm sau.

Tôi ngắm nhìn thế giới bạc trắng, cầm bút viết thơ:

**Tuyết rơi trước nhà tôi**

*Là duyên cớ gì
Từng hạt ngọc trai
Vô thanh hữu sắc
Tựa có tựa không*

*Lòng tôi tự biết
Vạn pháp không khác
Là hoa chẳng hoa
Chớ phân thô mịn*

*Mọi việc vô ngại
Vô câu vô thúc
Thoạt Đông thoạt Tây
Chẳng quản nhanh chậm*

*Không được không mất
Ai thắng ai thua
Vốn là như thế
Thánh hiền phàm phu*

*Trở mình đi ngủ
Liền vào cõi mơ
Thuận nghịch đều được
Tất cả đầy đủ.*

Ghi chú: Bài thơ này là cảm ngộ về tuyết rơi trước nhà tôi, là một chút tỉnh thức nhỏ bé của cuộc đời, nguyện mang lợi ích đến chúng sinh.

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn**

**Sheng-Yen Lu**

17102 NE 40th Ct.,
Redmond WA 98052
U.S.A.

Tháng 2 năm 2024


### 01. Người đến từ ngôi sao nhỏ


Tôi có một đệ tử, tự xưng là Tiểu Tinh Tinh, có khả năng làm thơ văn, soạn nhạc, múa, rất có tài năng.

Cô ấy viết:

Thầy tôi

*Tràn đầy tâm con
Nếu Thầy là cây, con nguyện làm chiếc lá
Nếu Thầy là mặt trời, con nguyện làm mặt trăng
Nếu Thầy là bầu trời, con nguyện làm mây
Nếu Thầy là biển, con nguyện làm cá
Nếu Thầy là đất, con nguyện làm cỏ*

*Con nương tựa nơi Thầy, đó là một niềm mong mỏi
Như tác dụng quang hợp
Như một sự an ủi
Con cảm nhận được sức mạnh an định tự tại
Để ánh dương chiếu rọi vào tim Thầy
Nguyện nắm tay đến vô tận*

*Báo cáo suy nghĩ hôm nay
Buổi sáng hơi nhớ Thầy
Buổi chiều vẫn nhớ Thầy
Buổi tối nhớ Thầy vô cùng
Nhớ nhớ nhớ nhớ nhớ, nhớ mãi không thôi.*

🌟

Tiểu Tinh Tinh nói:
Tâm hồn lương thiện không bao giờ cô đơn
Người sống phải học cách yêu thương
Có một tình yêu đẹp nhất
Không ở bên cạnh
Nhưng ở trong tim
Hóa ra người đã vào trong tim
Thật sự sẽ nhớ lắm.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) muốn viết một bài thơ tản văn, tặng Tiểu Tinh Tinh. Bài thơ tản văn này, tôi đặt tên là: "Trở về Tiểu Tinh Hà"

*Chúng ta đều là người trong mộng
Tỉnh rồi cùng về
Em nhớ ta
Ta nhớ em
Nhớ nhớ nhớ nhớ nhớ
Dẫu có âu yếm nhau
Chúng ta đều biết
Đó chỉ là một cuộc gặp gỡ tương phùng.*

*Khi chợt thấy em
Ta đã hiểu rằng
Em là người ta quen thuở trước
Đây không phải là chuyện kỳ lạ
Khi ngoái nhìn
Em đã ở tận sâu trong tim ta*

*Ngôi sao nhỏ
Chúng ta không phải trò đùa
Lòng chân thành của em
Ta sẽ cho em ánh dương
Tất cả sẽ mãi ấm áp
Rồi sau đó
Thứ ở bên em
Là ký ức vĩnh hằng*

*Hãy trở về dải ngân hà
Ngôi sao nhỏ
Ta sẽ thọ ký cho em.*


### 02. Thơ của Y Y


Y Y là tên giả, thơ của cô ấy có hương vị riêng, bình dị mà không tầm thường, có thể ngâm vịnh.
Là thơ tình, là bày tỏ, cũng là sự quan tâm.

Bài thơ như sau:

*Tiếng gọi từ nơi thẳm sâu
Chốc lát ấm áp trong tim
Ánh trăng đồng hành với từng niệm tưởng
Như thể Người đang bên cạnh*

*Ngoài cửa sổ có cầu nhỏ dòng nước chảy
Sao đêm đom đóm sáng ngời
Gió nhẹ lướt qua mắt
Bóng hình Người khó phai*

*Tìm kiếm Người giữa đất trời
Đường hồng trần
Mưa tương tư
Không biết còn kịp hay không*

*Con đường này
Đã biết mãi mãi không ngày trở về
Không khóc
Nhưng không còn sức
Tìm dấu chân Người để lại
Tình ý chẳng thể cắt đứt*

*Nghìn lời vạn ý trên khóe môi
Con đường phong sương
Nguyện nương tựa bên nhau
Người có biết con mãi không từ bỏ
Sao trời hiểu lòng con
Đó là điều con mãi kiếm tìm.*

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) muốn nói với Y Y rằng:
Khi tôi nhập Tam ma địa, đã biết:
Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc.
Là một.
Không phải hai.
Cũng hiểu rõ không thọ tưởng hành thức, không mắt tai mũi lưỡi thân ý, không sắc thanh hương vị xúc pháp.
Không nhãn giới, cho đến không ý thức giới, không vô minh, cũng không vô minh tận, cho đến không già chết, cũng không già chết tận.
Cuối cùng là:
"Không có gì có thể đắc!"

Tôi muốn viết một bài thơ tặng em:
Tên bài thơ: "Lão tăng tám mươi tuổi"

*Lão tăng năm nay đã tám mươi
Thân huyễn duyên này sắp tàn phai
Không còn vọng tưởng điên đảo nữa
Vô thường sẽ đến tới đây thôi.*

*Cùng trời làm láng giềng
Ta nói lời chân thật
Ngoài khoác áo Lama
Tứ đại vốn không thật
Có sinh ắt có tử
Cứ thế mà tuần hoàn*

*Ta phải nói để em biết rằng
Chẳng bao lâu ta sẽ thành cát bụi
Nguyện hóa thành sự tìm kiếm
Chân Phật ở trong tim em đó
Hãy chuyên tâm tu hành.*


### 03. Hóa tình yêu nhỏ thành tình yêu lớn


Ngọc Ngọc nói với tôi:
Năm ấy
Đệ tử khẽ chạm vào tay Thầy
Và Thầy như cánh hoa bồ công anh tan vào gió
Từ đó thế giới của con tràn ngập bóng hình Thầy
Con tìm kiếm bóng hình Thầy ngày càng nhiều hơn
Như một bài hát:
Huyền diệu khôn cùng
Như bóng theo hình
Từng phút từng giây
Trong tâm hồn con.

Tuy nhiên, con biết rằng, trong đôi mắt của Lư Sư Tôn có chúng sinh, cũng có đệ tử. Con đã nhận được tình thương và sự quan tâm dịu dàng từ ánh mắt của Thầy.
Thầy dùng tứ vô lượng tâm để giáo hóa các đệ tử, và con muốn học theo Thầy:
Thanh tịnh.
Ly tướng.
Nhất vị.
Đại ái.

Đệ tử thật sự rất cảm kích ơn gia trì của Thầy, đã đánh thức con tỉnh giấc mộng, Thầy đã ban cho đệ tử huệ mệnh, dạy cho đệ tử Phật pháp, đệ tử nguyện đời đời kiếp kiếp theo chân Thầy, nguyện dùng thân khẩu ý và tất cả để cúng dường Thầy.
Xin đừng quá vất vả
Đừng để kiệt sức
Tim con sẽ đau
Đó chính là tình yêu thương.

Thơ:

*May mắn được gặp nhau kiếp này
Hồn mơ về người, nhớ thương gấp bội
Nguyện mong tương lai ta lại vui sum họp
Giải tỏa mối tình si của kiếp này.*

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) muốn nói với Ngọc Ngọc rằng:
Tình yêu lớn là gì?
Tôi xin trích dẫn cuộc đối thoại giữa Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi và Duy Ma Cật Đại Sĩ.
Văn Thù hỏi:
"Bồ Tát phải thực hành lòng từ với chúng sinh như thế nào?"
Duy Ma Cật đáp:
"Ta nên thuyết giảng cho chúng sinh nghĩa lý các pháp đều không, đó mới chính là lòng từ chân thật."
Văn Thù hỏi:
"Vậy thế nào là bi?"
Duy Ma Cật đáp:
"Bồ Tát phải đem tất cả công đức, bố thí, thiện hạnh của mình hồi hướng cho chúng sinh, đó chính là bi."
Văn Thù hỏi:
"Vậy thế nào là hỷ?"
Duy Ma Cật đáp:
"Phàm là việc gì có lợi ích cho chúng sinh, đều hoan hỷ làm mà không biếng nhác."
Văn Thù hỏi:
"Vậy thế nào là xả?"
Duy Ma Cật đáp:
"Bồ Tát làm tất cả mọi việc đều không cầu báo đáp, và đối với người oán người thân đều bình đẳng xả bỏ."

Tôi cho rằng: "Bồ Tát đối với chúng sinh, lợi ích chúng sinh, bình đẳng độ hóa chúng sinh, đó chính là tình yêu lớn."
Tôi đã từng nói như thế này:
Không có lợi cho mình, cũng không có lợi cho chúng sinh, không nên làm.
Có lợi cho mình, nhưng không có lợi cho chúng sinh, không nên làm.
Có lợi cho mình, có lợi cho chúng sinh, có thể làm.
Không có lợi cho mình, có lợi cho chúng sinh, phải làm.
(Đó chính là tình yêu lớn.)

Tôi thường nói rằng:
Từ - mang lại niềm vui cho người khác.
Bi - xóa bỏ nỗi khổ của người khác.
Hỷ - hoan hỷ làm việc không mệt mỏi.
Xả - không cầu mong gì, bố thí bình đẳng với cả người thân và kẻ oán.
(Đây chính là mang lại an lạc cho tất cả chúng sinh, đó cũng là tình yêu lớn.)

Thơ:

Hóa tình yêu nhỏ thành tình yêu lớn

*Tình yêu lớn là ngôn từ quý giá nhất
Điều quan trọng là
Phải thực hành*

*Chúng sinh và Phật là một
Ta và chúng sinh
Cùng nhau đạt được hạnh phúc*

*Hạnh phúc không nằm ở ta và người
Đó là tình yêu nhỏ
Chỉ là sự thỏa mãn nhỏ nhoi*

*Bồ Tát không chậm trễ
Trong việc cống hiến
Cuộc sống có ý nghĩa chính là như thế*

*Ngọc Ngọc
Con nguyện có tình yêu nhỏ
Và nguyện có tình yêu lớn hơn
Chúng ta ôm ấp chúng sinh
Tình yêu như thế
Mới không mơ mơ hồ hồ.*


### 04. Con thuyền tình ái


Một lần nọ.
Chúng tôi cùng đi trên một chiếc du thuyền lớn, du lịch đến Bahamas.
Có một nữ đệ tử theo sát bên tôi, cô ấy là một nghệ sĩ, có phẩm chất tốt.
Trên du thuyền có một rạp chiếu phim rộng rãi, vì không có chiếu phim nên không có ai ở đó.
Nữ đệ tử nói:
"Em có một điều bí mật muốn thưa với Thầy!"
Tôi hỏi:
"Điều bí mật gì vậy?"
Nữ đệ tử nói:
"Bí mật của em là em yêu Thầy."
Tôi mỉm cười thản nhiên.
Tôi nói:
"Tất cả đệ tử đều nói rằng họ yêu Lư Sư Tôn, nam nữ đệ tử đều như thế."
Cô ấy nói:
"Em thì khác."
Tôi hỏi:
"Khác thế nào?"
Cô ấy đáp:
"Tình yêu nam nữ." (không phải tình thầy trò)

🌟

Cô ấy là Lâm Lâm.
Cô ấy viết một bài thơ tản văn tặng tôi:

*Vào những đêm có ánh trăng
Em thích bước ra ngoài
Ngắm nhìn trăng sáng
Nhớ về những kỷ niệm xưa*

*Đó là tình yêu thật sự, tình yêu chân thành
Tình yêu cũng tự nhiên như thế
Được gặp Thầy
Là điều bất ngờ đẹp nhất trong đời em
Em nguyện mãi mãi
Gìn giữ*

*Dẫu thời gian trôi qua thế nào
Lòng em vẫn không đổi thay
Hãy để giấc mơ trên con thuyền lớn
Kéo dài mãi*

*Niềm vui và nỗi buồn
Cùng nhau sẻ chia
Yêu những gì Thầy yêu
Khổ những gì Thầy khổ
Cùng nếm trải như nhau*

*Kể từ ngày ấy
Dù ở chân trời góc biển nào em cũng không cô đơn
Em nguyện đem tình yêu này
Kết nối đến Ma Ha Song Liên Trì
Kết nối
Thiên đường*

*Hãy khỏe mạnh
Hãy vui vẻ
Hãy hạnh phúc
Đừng hay khóc
Hãy yêu nụ cười
Đừng quên em
Con thuyền lớn ngày ấy.*

(Chú thích: Đã lâu không gặp Lâm Lâm, nhưng gần đây cô ấy đã gửi thơ cho tôi.)

Tôi cũng viết một bài thơ, tặng Lâm Lâm:
Tên bài thơ: Ngắm Trăng

*Em bước ra ngoài nhà
Ngắm trăng tròn
Tôi thường ngước nhìn trời
Ngắm vầng sáng tròn vành vạnh*

*Điều kỳ diệu là
Qua hàng nghìn vạn năm
Biết bao nhiêu thi nhân
Đều thích dạo bước dưới ánh trăng
Để viết nên những vần thơ*

*Đừng quên
Phải, đừng quên
Những lời thề đã lặp đi lặp lại
Dù chỉ là vài câu ngắn ngủi
Vẫn mãi trong tâm*

*Nhớ phải học làm thần tiên
Ta ở phương Tây
Em ở phương Đông
Vô số núi non biển cả mênh mông
Chỉ cần ngắm trăng
Chỉ cần quán tâm
Là kết nối với nhau*

*Chúng ta cùng bay về
Bay về cõi không gian
Nơi hồ sen thanh tịnh
Cùng mây trắng một bên.*


### 05. Tiểu phẩm yêu trăng


Bài văn tiểu phẩm này được viết ra từ một tấm thiệp mà đệ tử tặng cho tôi, trên thiệp có hình vầng trăng tròn.
Đệ tử này là Trần Di Trang.
Cô ấy viết như sau:
*Bởi vì con thích trăng, khi học đại học con học tiếng Tây Ban Nha, con đặt tên cho mình là "Luna" (nghĩa là trăng).*

*Con nói:
"Tâm hồn con là vầng trăng".
Con có ấn tượng rất sâu sắc với tập thơ "Trăng trong nước" của Lư Sư Tôn.
Khi du lịch Vancouver, con nhìn thấy một tấm thiệp có hình trăng, con đã mua để tặng Thầy, đó là tấm lòng của con.
Con cũng cảm ơn Thầy đã tặng con bùa hộ thân của Nguyệt Quang Bồ Tát, hóa ra bùa cũng có "ánh trăng".
Điều này khiến con xúc động.
Con muốn thiền định và tu khí dưới ánh trăng.
Thổi sáo dưới trăng.*

*Trần Di Trang - người yêu trăng.*

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) viết như sau:
Khi tôi mới sinh ra hay khóc, bố mẹ bế tôi đi xem trăng, vừa thấy trăng là tôi không khóc nữa.
Sau này tôi thích bài thơ của Lý Bạch:
*Đầu giường ánh trăng rọi
Ngỡ mặt đất phủ sương
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng
Cúi đầu nhớ cố hương*

Trong phút chốc, tôi đã bị mê hoặc. Tôi cũng tặng Luna một bài "Thơ Trăng":

*Lưu bóng Tây Thành Tự
Chân trời hiện ánh trăng
Hôm nay tôi không ngủ
Em đi lòng mênh mang*

Lư Sư Tôn - người yêu trăng.


### 06. Bước ngoặt đẹp nhất trong cuộc đời (tiếp)


Trong cuốn văn tập số 294 "Muôn kiếp tình duyên", tôi có viết một chương là "Bước ngoặt đẹp nhất trong cuộc đời".

Nhân vật chính là Bình Bình.
Cô ấy đã đi lòng vòng, và giờ đây lại quay về!
Cô ấy nói:
Sau khi đọc "Bước ngoặt đẹp nhất trong cuộc đời", Bình Bình đã rơi nước mắt.
Người đã lạc lối giữa biển người, cuối cùng vẫn trở về bên Lư Sư Tôn.
Con vẫn mãi là:
Vì Thầy mà mái tóc được chải
Vì Thầy mà ca hát
Vì Thầy mà múa
Vì Thầy mà ánh mắt dừng lại
Vì Thầy mà vẻ đẹp nở rộ

Con nguyện bước lên thuyền Pháp của Chân Phật, đi trên con đường độ vô lượng chúng sinh.
Lư Sư Tôn, con nguyện hoa nở thấy Phật ngộ vô sinh, có Bất Thoái Bồ Tát làm bạn đồng hành.
Những ngày đã qua, như mộng, như huyễn.
Những ngày sắp tới, có Phật bên cạnh.
Như thế,
Cùng người thiện lành nuôi dưỡng tâm, cùng người chính trực nuôi dưỡng đức, cùng người hoan hỷ nuôi dưỡng nhan sắc.
Giờ đây con đã hiểu!
Thấu hiểu học vấn của cuộc đời là điều quý giá nhất, có giá trị hơn, có thể tĩnh tâm hơn, có năng lực nội tại hơn, đạt được sự trong sáng của tư tưởng.
Bình Bình thật may mắn được gặp Thầy. Đây là khúc quanh đẹp nhất, xa cách rồi lại gặp nhau, đúng là xa cách rồi lại gặp nhau thật sự. Thật vậy, cũng là khúc quanh cuối cùng.
Con xin nói lại một lần nữa:
Tụ rồi lại tan
Vô hạn cay đắng
Bể dâu không còn
Nương tựa bình an
Con đã có được tâm thanh tịnh và tâm hoan hỷ, con đã có được ánh bình minh, con đã đạt được tinh hoa của cuộc sống.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) viết một bài thơ tặng Bình Bình:
Tên bài thơ: Khúc quanh cuối cùng

*Gia trì của Thượng sư
Kiếp này khó nghĩ lường
Xuân về trăm hoa nở
Mùa đông thành lẻ loi
Thu sang gió dịu thổi
Khi hạ đến bên thềm
Lại lau giọt mồ hôi (Pháp nhĩ như nhiên)*

*Gia trì của Thượng sư
Vẫn là khó nghĩ lường
Đi dạo chơi
Đi ngắm xuân
Năm tháng dần thay đổi
Người tấp nập
Lòng như cô độc
Người trong gương thật hư ảo*

*Gia trì của Thượng sư
Rốt cục khó nghĩ lường
Đã trở về
Chuyến đi này
Không còn phiêu bạt giữa cõi người
Quay đầu chính là bờ giác ngộ.*


### 07. Thế nào là hợp nhất


Bài thơ của Ngư Ngư:

*Lư Sư Tôn là một
Ngư Ngư cũng là một
Một cộng một vẫn là một
Không có Thầy không có con
Một chữ
Hi*

🌟

K*hông cần phải nói con yêu Thầy
Càng không cần nói Thầy yêu con
Lời nói không cần thiết
Chữ viết càng không cần thiết
Bên nhau chính là bên nhau
Không nương tựa
Cũng là nương tựa*

*Ý niệm ư?
Ý niệm về vô niệm
Đây là tam luân thể không
Đại lạc
Quang minh
Không tính
Cùng lúc hội tụ trong sát-na
Sát-na cũng tịch diệt*

*Không còn hy vọng
Không còn sợ hãi
Phiền não và chấp trước đã phai nhạt
Chứng minh không có gì
Đó chính là
Một*

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) nói:
Bài thơ "Hợp nhất" của Ngư Ngư quả thật có ý nghĩa sâu xa, một hương vị khó diễn tả bằng lời.
Đây là sự "hợp nhất" của "hợp nhất".
Không phải "hợp nhất" cũng là "hợp nhất".
Tôi không còn gì để nói.

Tôi (Lư Sư Tôn) cũng viết một bài vậy! Hãy đùa nghịch chút với văn tự, thêm vào chút khoảng trống.

Tên bài thơ: Khoảng trống

*Một trạng thái tâm linh
Trong trạng thái chân không vô ngã
Hoàn toàn không ô nhiễm
Không có ta
Không có người
Đó chính là không nơi nương tựa*

*Vạn duyên đều dứt
Nghiệp xưa cũng không khởi
Tất cả không ràng buộc
Không gì để nương tựa*

*Có người nói
Tâm người hòa vào tâm trời
Tiểu ngã hòa vào chân ngã
Ý thức cá nhân hòa vào ý thức tối thượng
Có phải vậy không
Không biết tại sao*

*Em viết về hợp nhất
Tôi viết về khoảng trống
Khoảng trống chính là hợp nhất
Kỳ tích muôn đời vô biên vô tận.*


### 08. Ba bài thơ tản văn


Đây là ba bài thơ tản văn của Hiểu Hiểu:

Sư Phật kính yêu:
A Di Đà Phật! Vạn an!
Một ngày không gặp rất nhớ Thầy! Pháp lưu của vũ trụ hòa vào thân con, cả người như đang bừng cháy.
Con muốn cảm ơn Thầy!
Thầy là hư không, bao dung con!
Thầy là không khí, cho con hơi thở!
Thầy là nước, thanh tịnh thân tâm con!
Thầy là ánh dương, sưởi ấm con!
Cảm ơn chư Phật Bồ Tát quan tâm, cho Thầy và con bình an, khỏe mạnh, hạnh phúc.

Lư Sư Tôn! Cuộc hẹn của chúng ta ở cõi Ta Bà, con đã đến trễ, xin lỗi Thầy!
Nhưng, trong tâm con, không có thời gian, không có khoảng cách, chúng ta mãi mãi bên nhau.
Con chưa cầu xin, Thầy đã âm thầm ban cho!
Ngay lúc này đây,
Thật tuyệt diệu.
Thật an bình.
Thật trân quý.
Khi tâm nghĩ Phật.
Tâm chính là Phật.
Nguyện chúng ta cùng hiện hữu! Nguyện chúng ta cùng đồng hành!

Hiểu Hiểu

🌟

Tôi viết một bài kệ:

*Hư không và ta vốn một thể
Hơi thở không khí vốn đồng tâm
Nước cùng ánh dương mãi thân cận
Em - ta không phân đến tận nay.*

Liên Sinh

🌟

Bài thơ tản văn của Hiểu Hiểu, phần hai.

Sư Phật kính yêu:
A Di Đà Phật! Vạn an!
Ngày hôm nay lại là một ngày tuyệt diệu! Thật tuyệt vời! Quá tuyệt vời rồi, hoàn hảo của hoàn hảo.
Chúng con cúng cơm, con được ngồi đối diện với Thầy.
Ha ha ha ha ha! Nghĩ đến thôi là con không nhịn được cười.
Cảm giác ấy, không bút mực nào tả xiết.
Con dùng mắt mình, cảm nhận ánh mắt của Thầy.
Gắn kết thật chặt.
Đây là ánh sáng chiếu rọi lẫn nhau.
Con không chớp mắt.
Thật là giao hòa!

Không bỏ lỡ một phút một giây nào!
Con không ăn uống gì, đôi mắt con nhìn thẳng, dịu dàng, ngắm nhìn Thầy nghìn vạn lần cũng không chán!
Cảm ơn Thầy!
Cảm ơn Thầy!
Cảm ơn Thầy!
Trong mắt con chỉ có Thầy, ánh nhìn của người khác, con chẳng màng để ý, như thể chẳng có ai khác.
Chỉ có Thầy và con.
Người khác có thể ngạc nhiên, nhưng chẳng còn ai khác nữa.
Cảm ơn lòng từ bi của Thầy!
Cảm ơn lời mời của Thầy!
Cảm ơn đôi mắt của Thầy!
Gặp gỡ trong chốc lát chính là vĩnh hằng, trong cõi vĩnh hằng ấy, không còn phân biệt ta người.
Con nguyện hoan hỷ an vui, mãi mãi về sau!
Đêm nay trong mơ, mơ toàn là Thầy!

Hiểu Hiểu

🌟

Bài thơ tản văn của Hiểu Hiểu, phần ba.
Cô ấy viết một bài thơ, tên bài thơ: Sát-na

Sát-na
Chính là sát-na này
Không gian thời gian tan vỡ rồi
Hòa vào nhau
Một chú tự
"Ha"

Phải rồi
Phải rồi sẽ không quên
Không thể quên
Con cũng vậy
Mãi mãi như thế

Như vậy như vậy
Thế này thế này
Như thế này đây
Sâu thẳm trong tim
Gợn sóng

Hiểu Hiểu

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) viết cho Hiểu Hiểu một bài kệ:
Đặt tên: Xuất gia

*Em là tại gia tôi xuất gia
Tại gia xuất gia thật không khác
Nhớ rằng tu trì trong chân ngộ
Hoàng hôn một dải ráng chiều sa*

(Chú thích: Thật lòng mà nói, Hiểu Hiểu thật sự rất đẹp, cô ấy ngày càng đẹp hơn, một người đẹp cổ điển. Tôi chúc phúc cho cô ấy, gia trì cho cô ấy, thành tựu trong tu trì, bởi vì vẻ đẹp con người chỉ là tạm thời.)

Liên Sinh


### 09. Tôi viết thư cho Khám Khám


Ta (Lư Sư Tôn) bỗng nhiên có cảm hứng viết thư cho em, điều này rất hiếm có.
Ta cũng không biết tại sao nữa?
Lại có thể viết thư cho em.
Khám Khám:
Em còn nhớ không?
Năm đó, ta đang cử hành pháp hội tại Đài Loan Lôi Tạng Tự, sau khi chủ trì pháp hội xong, trong nghìn vạn người, ta nhìn thấy một luồng hào quang trắng, tỏa ra từ thân em.
Thế là trong đám đông, ta tìm được em, em đứng ở hàng đầu tiên, ta gật đầu với em.
Em cũng gật đầu với ta.
Trong ấn tượng, em rất thanh tú, rất dịu dàng.
Chỉ vậy mà thôi!

Lần thứ hai, cũng tại Đài Loan Lôi Tạng Tự, ta lại gặp em, chúng ta trao nhau nụ cười nhẹ, nụ cười của em, một cách kỳ diệu vẫn thường ở trong tâm ta.
Như một đóa hoa, rất rực rỡ.
Nhưng, em lặng lẽ.
Ta im lặng.
Chúng ta cùng bước qua nhau.

Lần thứ ba,
Ta nhẹ nhàng hỏi một câu:
"Từ đâu đến?"
Em khẽ đáp:
"Phương Đông."
Em nói thêm một câu:
"Du lịch tự túc."
(Thời đó, các nước phương Đông có thể đến Đài Loan du lịch theo đoàn, cũng có thể đi tự túc.)

Khám Khám à, thật không thể tin được là em đã đến tận Đài Loan Lôi Tạng Tự để nghe ta thuyết pháp!
Thực ra ta gặp em ở Đài Loan Lôi Tạng Tự rất ít, cũng chỉ có bốn, năm lần mà thôi!
Lần cuối cùng, ta sắp về Mỹ rồi.
Ta nói:
"Ta sẽ đợi em ở Seattle!"
Em đáp:
"Em sẽ đến Seattle!"
Thế là chúng ta đã "hẹn ước" như vậy!

Giữa tôi và Khám Khám, chẳng có gì cả, chỉ là gật đầu, mỉm cười.
Ngay cả chạm tay một lần cũng không.
Vậy mà Khám Khám và tôi đã ký kết một giao ước, hẹn gặp tại Seattle, Hoa Kỳ.
Đây là điều vi diệu trong những điều vi diệu, không thể nghĩ bàn trong những điều không thể nghĩ bàn.
Nghe nói:
Khám Khám xin visa Mỹ rất khó!
Nơi Khám Khám ở không có Đại sứ quán Mỹ, phải đến thành phố lớn để đăng ký.
Khám Khám đã dùng hết mọi cách, nhưng đều vô ích.

Khi tôi trở về Đài Loan.
Đài Loan lại hạn chế du lịch và tự do đi lại.
Nhưng,
Tôi (Lư Sư Tôn) thuyết pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, thuyết pháp tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự. (rất nhiều năm)
Khám Khám nhất định tham gia. (trên mạng)
Khám Khám nhất định xem trực tuyến của tôi. Không bỏ lỡ lần nào.
Cô ấy ra dấu "520" với tôi. 
Tôi ra dấu "520" với cô ấy. [ký hiệu 502 nghĩa là "tôi yêu em"]

Trong tâm tôi, Khám Khám đã giữ đúng lời hứa, cô ấy đã đến Seattle rồi! Tôi nghĩ như vậy đấy.
Tôi vô cùng xúc động!
Khám Khám!
Tôi (Lư Sư Tôn) đương nhiên biết kiếp trước của em!
Duyên tình nhiều kiếp?
Là vợ kiếp trước?
Là phi tần kiếp trước?
.............

Thật ra không phải vậy đâu, tôi biết em là Liên Hoa Đồng Tử của Ma Ha Song Liên Trì, mũ miện thánh trắng trên đầu chính là điều đó, em là mũ miện của tôi. (bạch quang)
Mũ miện trắng và Liên Hoa Đồng Tử không bao giờ rời xa nhau.
Chúng ta cũng vĩnh viễn không xa rời.

Tôi tặng em một bài thơ:
Tên bài thơ: Mũ miện trắng

*Giữa tôi và em
Người đời làm sao hiểu được
Em là vương miện bạch quang của tôi
Nói thật lòng
Thật là vi diệu*

*Mũ miện không bao giờ rời xa nhau
Đừng để lòng mình phải bận tâm
Việc của chính mình
Cũng là chính mình rồi*

*Qua bao kiếp luân hồi đến đi
Cũng thật vất vả
Chắc sắp đến lúc rồi
Thời điểm đã tới*

*Viết thư cho em
Kể về cuộc hội ngộ kỳ diệu của chúng ta
Đây là nụ cười vĩnh hằng.*

(Chú thích: Mũ miện trên đỉnh đầu của tôi cũng chính là Bạch Liên Hoa Đồng Tử, Lư Sư Tôn có rất nhiều Pháp thân, Khám Khám cũng là một trong những hóa thân của tôi, người nhà gặp người nhà, làm sao không thân thiết cho được. Nhưng người đời rất khó hiểu được điều này.)

Khám Khám:
Trong Kinh Duy Ma Cật, thiên nữ Tán Hoa nói với Xá Lợi Phất rằng, tịnh thất của ngài Duy Ma Cật có tám loại pháp tướng khó có được.
Thứ nhất, thường có ánh sáng vàng chiếu rọi, đó là ánh sáng đẹp nhất và rực rỡ nhất, còn sáng hơn cả ánh sáng mặt trời mặt trăng.
Thứ hai, nơi đó không có bụi bặm không có ô uế, thanh tịnh vô song, phiền não hoàn toàn tiêu tan.
Thứ ba, chư Phật Bồ Tát mười phương thường xuyên tụ hội tại đây, tất cả đều là Đại La Kim Tiên.
Thứ tư, nơi đây là cảnh giới bất thoái chuyển, chỉ có ba-la-mật và Đại thừa Phật pháp Đại thừa.
Thứ năm, nơi đây nghe được thiên âm hòa nhã, đó là âm nhạc tuyệt vời nhất, là âm thanh không thể nghe được ở cõi trời hay cõi người, khi nghe được thiên âm hòa nhã này liền đắc pháp lạc.
Thứ sáu, nơi đây có thất trân bát bảo, có đầy đủ tất cả, toàn là những báu vật hiếm có trên đời, những báu vật này lấy mãi không hết, có thể cứu giúp các thế giới khác.
Thứ bảy, năm phương năm Như Lai, tám phương tám Bồ Tát, tất cả chư Phật, thường trú nơi đây thuyết pháp, pháp pháp đều là tâm yếu, vô cùng hiếm có.
Thứ tám, nơi đây thường xuất hiện cảnh tượng mười phương tịnh thổ, như cung điện trang nghiêm bằng vàng ròng, tất cả cảnh đẹp vi diệu của tịnh thổ, biến hóa không ngừng, vĩnh viễn đẹp đẽ phi thường.

Khám Khám:
Tôi muốn nói với em, đây là nơi Ma Ha Song Liên Trì mà em sẽ đến trong tương lai.
Chúng ta sẽ bay đến nơi đó, còn có rất nhiều bạn đạo cũng sẽ đến đó.
Chúng ta ở nơi đó, sẽ là vĩnh hằng.


### 10. Ba giấc mơ của Nhã Nhã


Giấc mơ thứ nhất:

Ngày 2 tháng 2 năm 2024.
Sư Phật đang xoa đầu gia trì cho mọi người, mọi người xếp thành bốn hàng, Nhã Nhã đứng ở vị trí cuối cùng, Sư Phật lần lượt xoa đầu gia trì cho từng đệ tử nam nữ.
Không hiểu vì sao? Ba hàng đầu bỗng nhiên dừng lại, mọi người đều không biết vì lý do gì?
Chỉ có hàng thứ tư được xoa đầu gia trì trước.
Đột nhiên, trang phục vốn đơn giản thanh nhã trên người con có sự thay đổi:
Đầu đội mũ phượng trang nghiêm.
Thân khoác thiên y váy xếp màu trắng.
Toàn thân tỏa vạn ánh hào quang.
.................

Lúc này, thiên âm hòa nhã vang vọng khắp nơi.
Khi thấy con xinh đẹp như tiên nữ, Sư Phật tỏ vẻ vô cùng vui mừng.
Thầy xoa đầu gia trì cho con.
Rồi ôm lấy con............
Ban đầu con cảm thấy ngại ngùng, vì các đệ tử đều đang nhìn.
Nhưng Sư Phật không để tâm.
Chúng ta ôm nhau thật lâu.

(Tỉnh giấc.)

🌟

Giấc mơ thứ hai:

Ngày 8 tháng 2 năm 2024.
Trong mơ, con có một cuốn sách do Sư Phật viết. Cuốn sách này chưa có tên, cũng chưa hoàn thành.
Sư Phật nói:
"Cuốn sách này viết cho Nhã Nhã."
Mỗi bài viết đều nói về tất cả những điều về Nhã Nhã.
Nội dung toàn là văn trữ tình.
Nhã Nhã rất xúc động.
Trong mơ, Nhã Nhã đọc nội dung bài viết, thì ra đó là cuộc sống chung của chúng ta ở thôn quê đồng nội.
Nhã Nhã rất thích.
Bởi vì:
Nhã Nhã thích thiên nhiên nhất............
Sự tĩnh lặng.
Thiên nhiên.
Ánh nắng.
Không khí.
Hoa cỏ.
Nhã Nhã mong Sư Phật được sống gần gũi với thiên nhiên, một cuộc sống thanh tịnh tự tại.
Nguyện Sư Phật luôn bình an.
Sư Phật bình an, Nhã Nhã cũng bình an.

🌟

Giấc mơ thứ ba:

Ngày 25 tháng 2 năm 2024.
(Vì hôm trước làm công quả ở Cầu Vồng Lôi Tạng Tự hơi mệt, nên tối ngủ rất say.)
Sư Phật nói:
"Chúng ta hẹn một thời gian............"
Thấy Sư Phật tặng thẻ Phật cho vài đệ tử.
Sư Phật nói:
"Cũng tặng một cái cho Nhã Nhã."
Lại nói:
"Bởi vì chúng sinh đều có Phật tính, bình đẳng không phân biệt. Nương vào công đức pháp tính của Phật, ai ai cũng có thể thành Phật."
Tâm là Phật.
Chúng sinh là Phật.
Và không có sự khác biệt.
Nhã Nhã trong lòng hiểu rõ.

(Tỉnh giấc.)


### 11. Ba giấc mơ và ba bài thơ


Vì ba giấc mơ này, tôi (Lư Sư Tôn) đã viết ba bài thơ.

Giấc mơ thứ nhất:

*Xoa đầu là gia trì
Từng người đều tường minh
Quả nhiên hóa tiên nữ
Tương lai đáng làm chủ.*

Giấc mơ thứ hai:

*Tĩnh lặng lòng ta vui
Núi xanh năm cây tùng
Chim muông về nô đùa
Hương đèn chuông khánh ngân.*

Giấc mơ thứ ba:

*Ai ai cũng là Phật
Yêu ghét đều như nhau
Thực không phân thân sơ
Tất cả lên cõi Phật.*

🌟

Viết xong ba bài thơ này, vẫn còn nhiều điều muốn nói, tôi - một lão tăng tám mươi tuổi, cũng có cảm xúc sâu sắc, cuộc đời này của tôi, còn bao nhiêu thời gian nữa, lòng tôi tự hiểu.
Xin viết thêm một bài, nói lên tâm tình:

Tên thơ: Vô đề

*Hư danh một đời
Một vài lợi nhỏ
Gom lại cũng bận tới bận lui
Đến khi hiểu nhân quả
Chỉ còn chút sức lực*

*Tuổi đời đã cao
Còn vui đùa được gì
Nghĩ đến việc thuyết pháp
Còn được bao lâu nữa.*


### 12. Cuộc đối thoại của cô A và cô B


Đây là cuộc đối thoại của hai nữ đệ tử, họ đã gửi nội dung đối thoại cho tôi.
Tôi công khai cuộc đối thoại.

Cuộc đối thoại như sau:
Cô A hỏi:
"Cô quyết định theo Lư Sư Tôn phải không?"
Cô B đáp:
"Vâng, tôi kiên quyết và chắc chắn."
Cô A hỏi:
"Vì sao lại có quyết tâm này?"
Cô B đáp:
"Bởi vì Sư Tôn Lư đã mở rộng tâm hồn tôi, giúp tôi trở về với sự bình an, hoan hỷ và tự tại."

Cô A hỏi:
"Cô muốn học những gì?"
Cô B đáp:
"Giới, định, huệ."
Cô A hỏi:
"Cô có chắc là không tham, không sân, không si?"
Cô B đáp:
"Như người giặt áo quần, cứ giặt đi giặt lại nhiều lần."
Cô A hỏi:
"Cô có ghen tị với những cô gái khác không?"
Cô B đáp:
"Tôi xem thầy như Phật, tôi kính ngưỡng tâm độ sinh của Lư Sư Tôn. Chúng sinh đâu phải chỉ có mình tôi, không ghen tị như vậy mới là siêu việt."
Cô A hỏi:
"Nếu Lư Sư Tôn đối xử với những cô gái khác tốt hơn cô, cô không ghen tị sao?"
Cô B đáp:
"Không so sánh! Lòng kính yêu đối với Thượng sư vượt trên tình yêu ích kỷ nam nữ."
Cô A hỏi:
"Cô không sống ở Seattle, khi rời đi cô có buồn không?"
Cô B đáp:
"Không buồn, tâm tôi và tâm thầy luôn đồng hiện hữu, không có xa cách."
Cô A hỏi:
"Cô có lưu luyến thế giới này không?"
Cô B đáp:
"Lư Sư Tôn dạy chúng ta, tất cả đều là vô sở đắc. Từ vô sở đắc dẫn đến vô sở trụ, vô hà hữu, vô sở vị, nên tôi không lưu luyến điều gì cả."
Cô A hỏi:
"Còn cha mẹ thì sao?"
Cô B đáp:
"Khi cha mẹ còn sống, con sẽ phụng dưỡng tận hiếu. Khi cha mẹ qua đời, tôi sẽ tưởng nhớ và siêu độ. Tôi sẽ thỉnh cầu Lư Sư Tôn tiếp dẫn cha mẹ vãng sinh Phật quốc tịnh thổ."
Cô A hỏi:
"Lòng tin của cô đối với Lư Sư Tôn được mấy phần?"
Cô B đáp:
"Một trăm phần trăm."
Cô A hỏi:
"Không nghi ngờ gì sao?"
Cô B đáp:
"Tín tâm kiên cố mới sinh ra sức mạnh của niềm tin. Đây là bước đầu tiên trên con đường tu hành. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã dạy, người kính thầy, trọng pháp và thực tu sẽ đạt được điều đó."

Cuộc đối thoại giữa cô A và cô B kết thúc.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) hiểu rõ về cô B này, biết được lai lịch của cô ấy, cô không phải người bình thường, không còn vướng bận thế tục. Cô ấy có lòng thành kính đối với Tam Bảo, có niềm tin thanh tịnh nơi tôi, cô là người bạn đạo tốt nhất.
Lành thay!

Viết sáu bài kệ, chúc mừng "thành tựu" trước.

Tên thơ: Đối thoại

Hỏi đáp thẳng thắn tâm chân thật
Các đệ tử hãy lắng nghe kỹ
Tương ứng Mật pháp chính là đây
Vạn pháp không khác chỉ thân thiết.

🌟

Tôi và bạn chưa từng cách xa
Nếu nói xa cách mới là lạ
Không được không mất cảnh giới thật
Kính thầy vốn dĩ chẳng nghi ngờ.

🌟

Duyên với cha mẹ hãy tùy thuận
Đáp ứng không ngại không mệt mỏi
Làm con phải tận trọn trách nhiệm
Trời đất quân thân đi cho thẳng.

🌟

Phải trái với bạn đều là không
Phàm Thánh hư thực đều bỏ hết 
Chớ có tư tâm vì bản thân
Trong mọi hoàn cảnh đều như thế.

🌟

Vốn dĩ tất cả đều không có
Đã hiểu thầy dạy vô sở đắc
Tây phương Ta Bà đều không màng
Tùy duyên tự tại cũng học được.

🌟

Người nói bạn ngu thì cứ ngu
Người nói bạn mê thì cứ mê
Thật không dài ngắn không thuận nghịch
Do bạn tự chủ trăm phần trăm.

(Lành thay!)


### 13. Công chúa nhỏ giải ưu 


Tôi (Lư Sư Tôn) dĩ nhiên biết "công chúa nhỏ giải ưu" là ai?
Em biết!
Tôi biết!
Người khác không biết!

"Công chúa nhỏ giải ưu" có thể ca hát, múa, viết văn, và còn có thể sáng tác nhạc. Cô là một nghệ sĩ, cũng là một triết gia, một cô gái trẻ rất tài năng.
Cô ấy gửi đến một chồng thư dày, tôi trích một phần thư đăng vào sách của mình để các đệ tử thưởng thức.

🌟

Lư Sư Tôn:
Vô vi trung quán gốc thành Phật.
Vô nhị diệu giác mật nghĩa thiêng.
Trăm năm sau, Sư Tôn không còn là Sư Tôn, công chúa nhỏ cũng không còn là công chúa nhỏ.
Tu pháp là mượn giả tu thật, phương tiện rốt ráo, hoàn quy bản nguyên, cuối cùng trở về hư không.
Thầy hòa vào con.
Con hòa vào thầy.
Bình đẳng, bình đẳng, không gián đoạn trong biển Phật tính.
Sư Tôn ơi! Đời này thầy vất vả quá, ngước nhìn lên bầu trời.
Công chúa nhỏ mỉm cười với thầy, gửi thầy tràn đầy tình thương, công chúa nhỏ luôn đợi thầy, công chúa nhỏ cũng sẽ đi tìm thầy.
Xin cho con được tương ứng với thầy.
Đồng tâm.
Đồng nguyện.
Đồng đức.

Nguyện:
Từng lo đa tình hại phạm hạnh
Vào núi lại nhớ đến giai nhân
Phàm phu song thân sẽ thành không
Thánh nhân song thân là bất không
Thế gian làm sao toàn vẹn được
Chẳng phụ Như Lai chẳng phụ tình
Công chúa nhỏ nguyện dâng hiến cho thầy, người con yêu nhất, con nguyện đồng hành cùng thầy.
Con sẽ mỉm cười với thầy.
Chúc Lư Sư Tôn thoải mái tâm tình, vui vẻ thảnh thơi.
Yêu mến Phật đản
Ánh sáng vĩnh hằng.

Công chúa nhỏ giải ưu kính bái.

🌟

Lư Sư Tôn:
Thầy có khỏe không? Công chúa nhỏ rất nhớ thầy, nhớ thầy, nhớ thầy, nhớ thầy nhiều lắm.
Pháp nhĩ bản nhiên, không lìa không bỏ,
Hòa quang đồng trần, một lời đã định.
Đợi đến khi thầy độ chúng viên mãn, nếu được chí tôn đồng ý, và thầy cũng chấp thuận, khi duyên đến, công chúa nhỏ nguyện đi cùng thầy, tìm một miền đất tốt lành, đóng cửa tu hành, sống đơn giản, âm thầm phụng sự.
Công chúa nhỏ có tâm bồ đề, tâm xuất ly.
Xin thầy dẫn công chúa nhỏ cùng đi.
Xin nhớ đón công chúa nhỏ về nhà.
Công chúa nhỏ cần thầy.
Công chúa nhỏ luôn xem thầy là báu vật, mãi mãi trân quý.
Thầy tràn ngập trong tim con.
Công chúa nhỏ xin dâng hiến thân khẩu ý lên thầy.
Xin cho công chúa nhỏ được nương náu trong tim thầy, trong cuộc đời hữu hạn này, dịu dàng ở bên thầy, nắm tay nhau đến vô tận.

Công chúa nhỏ giải ưu kính bái.

🌟

Lư Sư Tôn:
Những tâm hồn thiện lành sẽ không bao giờ cô đơn.
Người sống phải học cách yêu thương.
Có một tình yêu,
Không ở bên cạnh,
Nhưng ở trong tim,
Thì ra ai đã đi vào tim, thật sự sẽ thương nhớ! Thầy vẫn phải tiếp tục dẫn dắt thêm nhiều chúng sinh.
Trái tim của công chúa nhỏ, luôn ở bên cạnh thầy, không hổ thẹn với lòng, ắt sẽ viên mãn.
Cuộc đời như một thoáng, dài ngắn khác nhau, giàu nghèo bất định, thầy vì độ chúng sinh, từ đầu siêng năng, đến cuối không hối tiếc.
Thầy tâm không xao động, bước chân không ngừng nghỉ. Dùng sức của một đời, hoàn thành một sự nghiệp.
Cuối cùng xin thầy nhìn lại:
Nhà của công chúa nhỏ, đặt tên là "Ngôi nhà nắng ấm".
Công chúa nhỏ đợi thầy tại "Ngôi nhà nắng ấm".
Hãy cùng nhau tận hưởng ánh dương.

Công chúa nhỏ ăn mặc giản dị, không cần quá nổi bật, bình thản yên tĩnh, sống tự do tự tại, con có thể lái xe, khi thầy trở về, con sẽ hầu hạ, theo thầy đến cuối đời.
Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn là Bổn tôn của con.
Mahakala bốn tay màu trắng là Hộ pháp của con.
Diêu Trì Kim Mẫu là mẹ của con.
Liên Sinh Sư Tôn là vị Thượng sư yêu quý của con.
Xin gửi tóc đến thầy:
Búi tóc là Phật.
Kim là trục quay.
Công chúa nhỏ đời này xin phát nguyện với tam Căn Bản, phát nguyện với người con yêu.
Không quên búi tóc Phật.
Suốt đời đến chết không thay đổi.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ và Yeshe Tsogyal.
Lư Sư Tôn và công chúa nhỏ.

Công chúa nhỏ giải ưu kính bái.


### 14. Hồi đáp công chúa nhỏ giải ưu


Công chúa nhỏ giải ưu:
Ta (Lư Sư Tôn) rất yêu thích thiên nhiên, ta là người thích ngắm bầu trời.
Đặc biệt là khoảnh khắc mặt trời từ biệt đại địa, một bức tranh huy hoàng khác bắt đầu.
Bầu trời là họa sĩ, tím nhạt, cam vàng, hồng hoa đỏ, muôn nghìn màu sắc, hiện lên trên tấm vải trời.
Những đám mây vốn trắng dần dần chuyển sắc.
Cam rực rỡ.
Đỏ như lửa.
Xám xanh phai nhạt.
Và cuối cùng là bóng đêm tan biến.
Tam ma địa của ta đã đến!
Công chúa nhỏ:
Mặc dù tất cả đều tĩnh lặng, nhưng chúng ta biết vạn vật đều đang thở, bao gồm động vật, thực vật, hoa cỏ, cây cối, cá bơi... Thế giới này thật kỳ diệu biết bao.
Ta đương nhiên nhớ con!
Ta cũng nhớ mọi chúng sinh!
Ta đặt con và chúng sinh vào trong trái tim ta.
Cảm ơn con!
Cảm ơn tất cả những gì con đã trao cho ta!
Ta muốn nói với con rằng: "Trong biển tâm của ta, con là một điều kỳ diệu đặc biệt!"

Lư Sư Tôn chắp tay.

🌟

Công chúa nhỏ giải ưu:
Con đã từng trích dẫn lời của bậc Thánh nhân:
Đạo tối thượng thì hư vô, không vật không tướng.
Nên không thể dùng tâm để biết, không thể dùng lời để nói.
Âm cực điểm thì u tĩnh, dương cực điểm thì rực rỡ.
U tĩnh phát từ trời, rực rỡ sinh từ đất.
Hai bên hòa hợp tạo thành điều hòa và vạn vật từ đó sinh ra.
Hoặc có sự phối hợp nhưng không thấy được hình tướng.
Thông tin tràn đầy trong hư không, khi tối khi sáng.
Ngày tháng đổi thay.
Ngày có làm việc nhưng không thấy được công trạng.

Ta nói:
Đây chính là lời Phật dạy:
Chân không diệu hữu.
Phương tiện trí tuệ.
Bản thân ta tu tập "minh không, hiểu được vô sở đắc, nên không bám chấp điều gì!
Con nói, sau một trăm năm nữa công chúa nhỏ, không còn là công chúa nhỏ, Lư Sư Tôn không còn là Lư Sư Tôn.
Điều con nói đúng một trăm phần trăm.
Chúng ta hiểu rõ "duyên khởi tính không", duyên khởi là "có", tính không là "không".
Đó chính là:
Sống thì có nơi nảy mầm, chết thì có chốn quay về.
Khởi đầu và kết thúc đối lập vô cùng.
Nhưng không ai biết được điều cần thiết của nó.
Không phải vậy đâu, chỉ là chấp vào làm tôn chỉ.
Nhưng Đạo thì không sinh không diệt, luôn luôn tồn tại.
Điều ta trân quý nhất là: "Sinh tử như một, không sinh không diệt, không được không mất."
Từ đó ngộ ra: "Tùy duyên, tùy thuận, tùy phận."
Ta ngộ ra:
"Tất cả đều là sự sắp đặt hoàn hảo nhất!"
Cảm ơn "Ngôi nhà nắng ấm" của con!
Cảm ơn sự cúng dường "thân khẩu ý" của con!
Cảm ơn sự "hầu hạ" của con!
Ta mong đợi:
"Giây phút hữu duyên gặp gỡ!"

Lư Sư Tôn chắp tay.

🌟

Công chúa nhỏ giải ưu:
Ta viết vài bài thơ ngắn. Tặng con để "giải ưu".
Tên thơ: Giải ưu

*Chuyện đời thường phiền nhiễu
Trong mắt ít nụ cười
Hôm nay làm sao giải 
Chỉ biết rằng
Tất cả rồi sẽ qua đi*

🌟

*Gần bốn mươi năm ở Tây Thành
Đông lạnh ngày thu vẫn còn dài
Bao nhiêu tháng năm trong giấc mộng
Chỉ biết rằng
Vứt bỏ hết mọi u sầu*

🌟

*Thường thấy cuộc đời hợp tan
Náo nhiệt tĩnh lặng hoán đổi
Đến đi tất cả bình thường
Chỉ biết rằng
Ngày đêm sáng tối luân phiên.*

🌟

*Hoa không nói
Nước chảy về không
Sao phải sầu thêm sầu
Chỉ biết rằng
Công chúa nhỏ giải ưu
Hầu hạ vị đầu đà tám mươi tuổi.*

Lư Sư Tôn chắp tay.


### 15. Lời tâm sự


Cầm Cầm là một giáo viên, tính tình điềm đạm, thích tự do tự tại, sống một mình.
Đến tuổi kết hôn, cô cảm thấy mọi thứ đều không đáng tin cậy, vì vậy đã bỏ lỡ cơ hội tốt.
Cô ấy thích thiền định.
Tìm hiểu bản chất con người.
Là một người thầy tâm linh.
Ngũ quan cân đối, trên gương mặt toát lên vẻ thanh tú của trí tuệ.

Cầm Cầm nói với tôi:
*Lư Sư Tôn:
Cầm Cầm thường gặp Thầy trong mơ, Thầy là người bạn trong mộng của con.
Có khi Thầy dắt tay con bay lên trời, nắm tay nhau, không còn như thầy trò.
Có khi đi dã ngoại.
Có khi đi bơi.
Có khi đi leo núi.
Nhiều lúc nhất là chúng ta cùng đọc sách, thân thiết thảo luận nội dung sách.
Con cảm thấy trong thế giới của giấc mộng, Thầy chính là bạn trai của con, con rất hạnh phúc!*

*Mấy ngày trước, trong mơ, chúng ta nép sát bên nhau, con cảm nhận được hơi ấm của Thầy, con tán thán:
Thầy là vị vua đại lực!
Thầy là bậc yogi kim cang!
Thầy thật anh tuấn đĩnh đạc!
Thầy thật uy vũ oai phong!
Vì vậy, con xem Thầy như người yêu, con lấy Thầy làm niềm vinh hạnh của con.
Con thổ lộ tâm tình với Thầy:
Con muốn cùng Thầy, tâm tâm tương ứng.
Con mong mỏi sự quan tâm lẫn nhau!
Con nguyện dài lâu mãi mãi!
Con nguyện tình ý miên man!
Con nguyện Thầy và con đều hạnh phúc! Con hạnh phúc, Thầy cũng hạnh phúc!
Tuy trong thế giới thực không thể gặp nhau, nhưng ở một không gian khác, mãi mãi bên nhau!*

*Con xin gửi đến Thầy một bài thơ mới:*

*Ánh nắng mùa đông
Hơi ấm con yêu thích
Trẻ nhỏ chạy nhảy trong sân
Vui đùa không lo âu
Mang đến sức sống hồn nhiên*

*Nơi Thầy đang lạnh giá
Mong Thầy cảm nhận được hơi ấm từ phương xa
Dù cách xa đôi nơi
Trái tim vẫn kết nối
Ký ức thêm dài*

*Biết rằng chư hành vô thường
Cần học từ bi
Cần học trí tuệ
Đó là đôi cánh để trưởng thành*

*Cảm ơn gia trì trong giấc mộng
Yêu thương như thế
Không hề chia ly
Để lời tỏ bày trong tim con
Khiến Thầy vui vẻ
Thân thiết lại thêm thân thiết.*

*Cầm Cầm kính thư.*


### 16. Viết cho Cầm Cầm


Cầm Cầm:
Ta (Lư Sư Tôn) càng ngày càng cảm nhận được rằng, trong cõi vô hình có những sắp đặt đặc biệt.
Ấn Độ giáo nói: "Trời đất do Phạm Thiên tạo ra."
Thiên Chúa giáo nói: "Ban đầu Thượng Đế tạo ra trời đất."
Đạo gia Trung Quốc nói: "Bàn Cổ tạo ra trời đất."
Phật giáo có: "Nguyên Nhân Luận."
Thật ra, nói thế nào đi nữa, không là thuyết sáng tạo, thì cũng là thuyết tiến hóa.
Hơn nữa, tiến hóa cũng là một dạng sáng tạo.
Ta xuất hiện trong giấc mơ của con, tưởng chừng rất kỳ lạ, nhưng ta biết, đó cũng là điều bình thường.

Chúng ta hiểu rằng:
Phật A Di Đà có 36 vạn tỷ, 11 vạn, 9 nghìn, 5 trăm vị đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật.
Quan Thế Âm Bồ Tát có trăm nghìn triệu hóa thân.
Liên Hoa Đồng Tử có vô số Pháp thân.
Có gặp trong mộng.
Có gặp trong thiền định.
Có gặp bằng nhục nhãn.
Có gặp trong thực tại.
Có gặp trong tâm linh.
Còn ta và con gặp nhau trong mộng, trong cõi người đầy hỗn loạn này, có thể có được một thế giới mộng mơ rõ ràng như vậy, cũng là một sự hài hòa tĩnh lặng.
Dã ngoại.
Bơi lội.
Leo núi.
Đọc sách.
Tất cả đều mang hơi thở của sự sống, con cảm nhận được niềm vui, thật đáng mừng, đó đều là một dạng của ý thức, loại ý thức này, chính là ý thức nội tại.

Cầm Cầm:
Theo ta biết, tất cả chúng ta đều sinh ra từ nghiệp lực, và vô minh chính là nguồn gốc.
Vô minh sinh ra tham, sân, si.
Ta đã từng xem một cuốn sách, trong đó có vẽ ba bức tranh.
Hai người ân ái - tham.
Hai người đánh nhau - sân.
Một người ngủ say - si.
Dùng những bức tranh này để minh họa tham, sân, si thì nhìn một cái đã hiểu ngay.

Phật pháp nói rằng, đây là tam độc, tam độc này sinh ra từ vô minh.
Còn chấp trước và phiền não đều là kết quả do tam độc mang lại. Phật giáo dạy chúng ta tránh khổ cầu vui, nhất định phải trừ bỏ vô minh. Vô minh khiến người ta u mê, luân hồi trong biển sinh tử.
Làm sao để trừ bỏ vô minh?
Đó chính là trí tuệ của Như Lai.
Chúng ta biết rằng cuộc đời là huyễn mộng, mộng trong mộng, càng là huyễn mộng.
Vậy nên không nên chấp trước điều gì?
Cũng không nên phiền não điều gì?
Bởi vì tất cả trong mộng huyễn đều là vô sở đắc. Ngộ được vô sở đắc mới có thể đoạn trừ phiền não, không còn bám chấp điều gì.

Kinh Duy Ma Cật nói rằng: "Vô thượng chính đẳng chính giác chứng đắc được là do vô sở đắc."
Ta (Lư Sư Tôn) chính vì đạt được cái "vô sở đắc" mà có thể buông xả, phóng khoáng, tự tại.
Điều ta muốn nói với con chính là ba chữ "vô sở đắc".
Còn những giấc mộng kia, đều là một cuộc chơi một giấc mộng, hãy xem như trò chơi.
Cũng chỉ là mộng mà thôi.

Ta viết thơ:
Tên thơ: Thời gian

*Thiếu niên trên sân trường
Tóc rồi cũng sẽ bạc
Không còn như thuở ấy
Chạy nhảy đầy tung tăng
Giờ đã mỏi mệt rồi*

*Thuở thanh xuân
Mười năm ngắm nhìn không chán
Một thời nồng nhiệt
Người và hoa
Cùng khoe sắc thắm*

*Đến cũng sầu muộn
Đi thì tâm trạng miên man
Trong mộng cần suy lường
Hợp ít chia ly nhiều
Chỉ còn lại lưu luyến*

*Làn da thơm xương mảnh mai
Uyển chuyển thường thấy
Lúc ấy tay chống gậy
Đâu còn thấy mặt ngọc*

*Hẹn nhau tu Phật
Trong lòng có chỗ gửi gắm
Khi với Bổn Tôn tương ứng
Cùng bay như chim én
Đến lúc pháp nhĩ bản nhiên
Tự thành duyên tiên.*


### 17. Lời nhắn của Ni Ni


Sư Phật kính yêu:
Gần một nghìn ngày qua, mỗi ngày con đều nhớ về Thầy.
Con tưởng rằng sau khi đến Seattle, được diện kiến Bổn tôn, sẽ tìm được phương thuốc chữa căn bệnh tương tư.
Giờ đây con mới hiểu, hóa ra nỗi nhớ không chỉ là một căn bệnh, mà là cây đắng được gieo trồng trong mảnh đất tâm hồn từ nhiều đời nhiều kiếp.
Là lời hứa.
Là lời nguyện.
Là tình nguyện.
Nguyện kiếp kiếp đời đời được theo Thầy, không chỉ nghìn năm vạn năm, mà là sự quyến luyến vĩnh hằng.
Lần này đến đây, con cảm tạ Sư Phật ban cho "tín vật truyền thừa" là bút tích và xá lợi tóc.
Và còn ký tên lên tấm chăn vãng sinh.
Khi Ni Ni lâm chung, nhất định sẽ mang theo đầy đủ những thứ này, để Sư Phật khỏi nhận lầm con là một bà lão đã thay đổi dung mạo.

Khi con ra đi
Từng bước ngoái nhìn
Gió nói không muốn đi
Những cánh hoa nhỏ trắng như tuyết rơi trên đất xuân
Khiến lòng người đau xót không thôi
Quyến luyến khó dứt
Thơ chưa thành
Vết nước mắt còn đây

Con cầu nguyện Lư Sư Tôn nhất định phải từ bi tiếp dẫn, cho con được trở về trong vòng tay của Thầy.
Con không muốn quay về trần gian phiêu bạt nữa, Thầy là chỗ nương tựa vĩnh hằng của con.
Tình yêu vĩnh hằng.
Kính chúc Thầy Phật thể an khang, thường trụ thế gian, độ vô số chúng sinh, ngày ngày hoan hỷ.

Ni Ni chắp tay.

🌟

Tôi quen biết Ni Ni vào một lần đến thăm câu lạc bộ khiêu vũ, Ni Ni ra đón tôi.
Hôm đó là ngày Giáng sinh.
Cô ấy mặc trang phục ông già Noel, váy bay phấp phới dẫn đường phía trước.
Tôi đi theo sau.
Cô ấy rất hoạt bát.
Rất giỏi hướng dẫn múa. Nhìn cô ấy đi đường như đang nhảy múa vậy. Eo thon thả, mọi cử động đều nhẹ nhàng duyên dáng.
Sau đó, không biết từ lúc nào, cứ thế, trong tâm cô ấy đã có một hạt giống.
Hạt giống ấy đã nảy mầm, là như vậy đó.
Cô ấy là đệ tử của tôi, tôi không nỡ quên cô ấy, tôi sẽ đưa cô ấy về Ma Ha Song Liên Trì.

Tôi viết một bài thơ tặng cho Ni Ni.

Tên thơ: Đặt trong tim

*Nhớ thuở mới quen nhau
Đến rồi vội đi
Tình cờ gặp gỡ đậm đà
Ta cùng đặt trong tim*

*Nào có hẹn ước gì
Chỉ là chia ly chồng chất
Nơi cõi Ta Bà này
Cách trở vô cùng*

*Đêm trăng sáng
Nhớ thương vô hạn
Chỉ có nơi tịnh thổ (Ma Ha Song Liên Trì)
Em và ta cùng về.*


### 18. Tặng thơ (1)


Tặng cho Hân Hân.
Tên thơ: Đêm mưa gió

*Ngoài cửa sổ
Gió thổi mưa bay
Seattle về đêm
Khúc giao hưởng leng keng
Kiều diễm*

*Từng thấy em
Dáng hình yêu kiều che dù nhỏ
Bước đi trước mặt tôi
Quả là tuyệt phẩm*

*Nhớ thuở trên thiên giới
Vườn tiên Diêu Trì cũng có
Thiên âm vi diệu
Nghìn lần vang vọng
Âm vang trong lòng
Mãi mãi*

*Đêm nay
Mái tóc như thác đổ
Hương thơm tỏa ra
Vương trên tay áo.*

(Chú thích: Hân Hân tất nhiên là tên giả, khi cô ấy nhớ về tôi, tôi biết. Khi tôi nhớ về cô ấy, cô ấy biết. Cô ấy và tôi là bạn đạo từ vườn tiên Diêu Trì. Tôi đầu thai, cô ấy đầu thai, lần đầu gặp mặt, đã biết rõ ai là ai.

Cô ấy nói: Chi bằng trở về, không đến nữa. Tôi nghĩ một lúc, gật gật đầu.)


### 19. Tặng thơ (2)


Tặng cho Điềm Điềm.
Tên thơ: Gương mặt em

*Ai bảo tôi đã say rồi
Chỉ là một hương vị khác
Là đôi mày của em
Là đôi mắt của em
Là đôi môi của em
Khiến người tỉnh rồi mê*

*Gương mặt xinh đẹp này
Thật là quyến rũ
Thời gian dừng lại nơi đây
Khiến người nhàn rỗi
Theo nụ cười của em
Tương tư và héo mòn*

*Chỉ vì em khi ẩn khi hiện
Khiến người suy tư miên man
Lòng đã bay xa
Thiền định cũng chẳng thành
Một mình ngẩn ngơ
Ngắm nhìn núi xa xanh biếc.*

🌟

(Chú thích: Đây là một bài thơ nhớ thương, Điềm Điềm tất nhiên là tên giả. Đó là một bài thơ được viết lại từ một bài thơ thời kỳ đầu của Lư Sư Tôn, giờ đọc lại thấy ngượng ngùng, thật không dám nhận.

Nhưng, lúc đó tôi còn trẻ, tuổi trẻ chưa biết mùi sầu, giờ tôi đã tám mươi tuổi, Điềm Điềm cũng đã già nua, liệu còn giữ được gương mặt ấy? Đây chỉ là một ký ức. Hiện giờ, tôi Lư Sư Tôn chỉ dạy người ta về vô thường, khổ, không, vô ngã, hãy sớm tu hành thôi.)


### 20. Tặng thơ (3)


Tặng cho Thiến Thiến.

Một lần nọ, khi tôi đang viết sách, bên ngoài sấm chớp ầm ầm, tiếng sấm vang vọng quanh phòng viết của tôi, thật kỳ lạ.

Ngay lúc đang kinh ngạc.
Tôi phát hiện dưới bàn viết có một ma nữ xinh đẹp đang cầu cứu tôi.

Tôi đã cứu cô ấy.
Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thanh Phổ Hóa Thiên Tôn đã nể mặt Lư Sư Tôn tôi.
Sấm sét đánh trúng một cái cây rồi trở về thiên đình!
Ma nữ xinh đẹp ấy chính là Thiến Thiến. Người vợ ma đầu tiên của tôi.

Tên thơ: Thiến Thiến

*Nhà tôi đẹp nhất là Thiến Thiến
Đẹp tựa Tây Thi
Cũng là dòng dõi tiên
Thư phòng xuất hiện bóng hồng
Mười ngón tay lộ ra
Thon dài như măng xuân
Có duyên tự nhiên sẽ gặp.*

🌟

Tặng cho Tân Tân.

Một đêm nọ, Thượng sư Liên Hương nhìn thấy phía sau tôi có một người phụ nữ mặc áo voan trắng, là váy cưới.
Tôi quay lại nhìn.
Hóa ra là người yêu thuở xưa.
Cô ấy từng nói:
"Dù sống hay chết, em đều là người của anh. Em sẽ mặc áo cưới đến gặp anh."
Cô ấy là một người phụ nữ thanh tú.
Cô ấy đã giữ lời hẹn ước.
Cô ấy chính là vợ ma thứ hai của tôi.

Tên thơ: Tân Tân

*Quên đi sáu mươi năm xa cách
Lời hẹn tình còn đó
Buồn vui khó đo lường
Nỗi sầu ly biệt chưa phai
Tôi nhớ đôi mày xanh của em
Có núi
Có biển
Em bất chợt tìm về
Giấc mộng xưa ấy
Đã thấm vào tim tôi.*

🌟

Tặng cho Thụy Quang.
Thụy Quang là một người phụ nữ vùng Đông Bắc Trung Quốc. Lúc còn sống là đệ tử quy y.
Thân hình cao ráo.
Mặt mày thanh tú.
Dáng vẻ uyển chuyển.

Một ngày nọ, khi tôi lái xe ra khỏi garage Chân Phật Mật Uyển, cô ấy đứng đợi tôi bên ngoài.
Cô ấy hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Thầy có muốn cho con ở bên cạnh thầy không?"
Dù không hiểu ý cô ấy.
Nhưng tôi đáp:
"Thầy sẽ giữ con lại!"
"Bao lâu ạ?" - Cô ấy hỏi.
Tôi đáp: "Muốn bao lâu thì bao lâu."
Sau đó cô ấy gặp tai nạn xe!..........
Cô ấy đã đến nhà tôi, trở thành người vợ ma thứ ba của tôi.

Tên thơ: Thụy Quang

*Là hoa bay
Theo gió phiêu bạt khiến người sầu
Như nước chảy về Đông
Giờ gửi nơi đâu
Rốt cuộc ta giữ lại
Nhớ về cảnh xưa
Quả nhiên
Một lời thành ứng
Trân quý cuộc gặp gỡ này.*

🌟

Tặng cho Dung Dung.
Dung Dung là một nhân viên quản lý tòa nhà nơi tôi ở khi về Đài Loan, thường mặc đồng phục.
Cô ấy đối xử với mọi người rất thân thiện, nụ cười trên gương mặt khiến người ta liên tưởng đến những bông hoa tươi mới nở.
Không chỉ cười đẹp, nụ cười của cô ấy còn khiến lòng người cảm thấy thoải mái.
Cô ấy là một nhân viên phục vụ ngồi ở quầy lễ tân với đôi mắt biết nói.
Khi tôi vào tòa nhà, cô ấy sẽ đi ra mở cửa giúp tôi, đưa tôi đến thang máy.
Đồng phục của cô ấy vừa vặn, eo thon thả, chiếc nơ đen ở cổ áo, để lại ấn tượng sâu sắc.
Tôi nói:
"Tôi mời cô đến Seattle, Mỹ chơi!"
Cô ấy đáp:
"Ngài là Hoạt Phật, có pháp lực, Ngài biến con thành một bộ quần áo gấp lại, bỏ vào vali của Ngài, con sẽ theo Ngài về Seattle."
Cô ấy mỉm cười vui vẻ, thường hay trả lời tôi như vậy.

Sau khi quen nhau.
Cô ấy giúp tôi lau chùi bụi bẩn trên đồ đạc, chúng tôi là bạn tốt của nhau.
Cô ấy biết tôi là một Thượng sư Mật giáo.
Cô ấy hỏi tôi về Phật pháp.
Tôi thường giảng cho cô ấy những kiến thức Phật giáo cơ bản và những pháp môn tu tập đơn giản.

Sau đó có một thời gian tôi không về Đài Loan. Khi trở lại, tôi không thấy cô ấy đâu nữa. Tôi hỏi những nhân viên quản lý khác, họ nói: "Chúng ta không thể gặp cô ấy nữa rồi, cô ấy đã qua đời."
Tôi "á" lên một tiếng kinh hoàng, mắt trợn tròn.
Một nhân viên quản lý khác nói: "Là án mạng tình ái! Cô ấy không thích người đàn ông đó, anh ta đã giết cô ấy."
Cô nhân viên quản lý nói:
"Hoạt Phật có thể siêu độ, xin Ngài hãy siêu độ cho cô ấy!"
Thế là tôi siêu độ.
Cô ấy thật sự đến! Tôi gọi: "Dung Dung! Dung Dung!"
Cô ấy không muốn về Cực Lạc, cô ấy muốn ở bên tôi. Cô ấy trở thành vợ ma thứ tư của tôi.

Tôi làm thơ, tên thơ: Dung Dung

*Hoa anh đào như tuyết trắng
Rơi rơi lả tả
Đau đớn thay thời gian trôi quá nhanh
Vừa kết thiện duyên
Tim không chốn bám*

*Ba năm chưa về
Nào ngờ mệnh mỏng manh
Việc đời một phút hóa hư không
Ngoảnh lại
Lúc ta tiếp dẫn nơi Tây Thành
Chính là sau hoàng hôn.*


### 21. Chương hỏi đáp về vợ ma


Có người hỏi:
"Nghe nói bốn người vợ ma của Lư Sư Tôn đều là mỹ nữ. Hai người chết vì tuổi già, một người do tai nạn xe, một người bị giết vì tình, tướng chết đều thảm thương, vậy cái đẹp từ đâu mà có?"
Tôi đáp:
"Thiến Thiến thì rạng ngời quyến rũ, Tân Tân thì thanh tú dịu dàng, Thụy Quang thì đài các kiều diễm, Dung Dung thì dáng vẻ mặn mà. Tất cả họ đều được Diệu Sắc Thân Như Lai gia trì, khôi phục lại dáng vẻ thiếu nữ xuân thì, và mãi mãi xinh đẹp, đó là nhờ sức mầu nhiệm biến hóa."
Người hỏi:
"Các vợ ma có ghen tuông với nhau không?"
Tôi đáp:
"Đây cũng là điều kỳ lạ, bốn người họ ngay từ lần đầu gặp mặt đã rất hợp nhau. Giống như bốn chị em vậy, họ gọi nhau là chị Cả, chị Hai, chị Ba, chị Tư. Không phải phân biệt theo tuổi tác, mà là theo thứ tự đến trước sau."
Có người hỏi:
"Họ ở đâu?"
Tôi đáp:
"Trong tủ lạnh. Họ nói: nhiệt độ mát mẻ."
Người hỏi:
"Có ai từng nhìn thấy bốn người vợ ma chưa?"
Tôi đáp:
"Sư Mẫu Thượng sư Liên Hương đã thấy. Bà ấy nói rằng, Thiến Thiến đẹp nhất, Tân Tân là người bà ấy nhìn thấy đầu tiên, Thụy Quang thì gặp một lần, còn Dung Dung thì ngồi xe lăn, quay lưng về phía Sư Mẫu."
Người hỏi:
"Các vợ ma làm gì trong nhà?"
Tôi đáp:
"Họ làm được mọi việc lớn nhỏ, ma có ngũ thông. Việc lớn thì giúp tôi siêu độ Nghìn thuyền pháp, việc nhỏ thì làm việc nhà, như dọn dẹp nhà cửa chẳng hạn."
Người hỏi:
"Vợ ma ăn gì?"
Tôi đáp:
"Họ ăn khí, ăn khí của thực vật, ăn khí của khoáng thạch. Họ nói, tùng bách là tốt nhất. Còn khoáng thạch thì vàng, thủy ngân là tốt nhất."
Người hỏi:
"Nghe nói ma thường hút khí người?"
Tôi đáp:
"Đúng vậy. Nhưng giờ họ không hút khí người nữa, vì đối với họ, đó là việc làm thiếu đạo đức. Bị hút khí, người ta sẽ suy yếu và sinh bệnh."
Người hỏi:
"Thủy ngân không độc sao?"
Tôi đáp:
"Có thủy ngân tinh khiết và thủy ngân tạp chất. Thủy ngân tinh khiết không độc, chỉ có thủy ngân tạp chất mới độc. Họ nói rằng họ chỉ hấp thu thủy ngân tinh khiết, thủy ngân tinh khiết chính là cam lộ."
Người hỏi:
"Còn khí của động vật thì sao?"
Tôi đáp:
"Ma thông thường thì hút khí động vật. Nhưng họ không hút, vì đó là uế khí, sẽ ô nhiễm việc tu hành của họ."
Người hỏi:
"Ngài nói vợ ma có ngũ thông, vậy là như thế nào?"
Tôi đáp:
"Ngũ thông là thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, túc mệnh thông và thần túc thông. Nhiều ma đại lực đều có khả năng này. Thiến Thiến là ma đại lực vì cô ấy có được khí của địa linh. Trong bốn vợ ma, cô ấy có thần thông mạnh nhất. Ba người còn lại thì bình thường."
Người hỏi: "Nghe nói ma sợ mặt trời, điều đó có đúng không?"
Tôi đáp:
"Điều này đúng. Đặc biệt là ánh nắng giữa trưa, ma thường sợ ánh sáng mặt trời chiếu vào, như hàng vạn mũi tên bắn tới. Trong bốn vợ ma, Thiến Thiến ít sợ hơn, vì ánh sáng mặt trời thuộc về trời, còn Thiến Thiến được tạo thành từ khí của đất. Thiến Thiến nói rằng, tốt nhất vẫn không nên phơi nắng, vì khí của đất cũng sẽ bị cháy xém, cháy hết."
Người hỏi:
"Họ mặc quần áo thế nào?"
Tôi đáp:
"Bốn vợ ma đều là huyễn hóa, vốn không có hình thể. Trang phục của họ tất nhiên cũng là huyễn hóa, vì thế họ có thể đi xuyên tường vách, thần túc vô ngại. Thực ra bốn vợ ma đều là khí, nơi nào khí đến được, họ đều đến được."
Người hỏi:
"Ngài có khả năng hỏi việc, bốn vợ ma đều có thần thông, Ngài có nhờ đến họ không?"
Tôi đáp:
"Khi tôi hỏi việc, lấy Diêu Trì Kim Mẫu làm chủ tôn, Mãn Nguyện Đồng Tử (Hà Diệp Đồng Tử) làm phụ. Nhưng thực tế là Hà Diệp Đồng Tử đến làm việc. Còn về bốn vợ ma, họ cũng có thể cho tôi biết, nhưng tôi vẫn lấy Hà Diệp Đồng Tử làm chính."
Người hỏi:
"Tại sao Ngài không tiếp dẫn bốn vợ ma về Tây phương Cực Lạc?"
Tôi đáp:
"Khi tôi viên tịch, họ sẽ cùng tôi về tịnh thổ. Còn bây giờ họ có đi hay không, đó là do nhân duyên!"
Có người hỏi:
"Người đời cho rằng người và ma khác đường, tất nhiên chư Phật Bồ Tát và ma cũng khác đường. Làm sao chư Phật Bồ Tát Kim cang Hộ pháp ở đàn thành nhà Ngài có thể chung sống với ma được?"
Tôi đáp:
"Từ khi được Diệu Sắc Thân Như Lai gia trì, không chỉ thân tướng họ thay đổi, mà tâm cũng thay đổi. Tuy là ma, nhưng họ là thiện ma. Cõi ma cũng có thiện ác, ma nếu tu hành, cũng có quả vị tiên ma."
Tôi nói thêm:
"Họ là ma, tu hành với tôi, là đại thiện ma, có ánh sáng công đức. Họ tôn kính Phật Bồ Tát, cũng là đệ tử của Lư Sư Tôn, có thể chung sống với Kim cang Hộ pháp."
Tôi nói tiếp:
"Nơi đây tôi làm việc siêu độ tiếp dẫn, ma quỷ qua lại rất nhiều, những ma không có thiện căn thì không thể tiếp dẫn được. Bởi vì kinh điển nói: muốn về được Cực Lạc thế giới thì không thể thiếu thiện căn. Bốn vợ ma của tôi cũng giúp tôi duy trì trật tự."
Người hỏi:
"Lư Sư Tôn truyền pháp gì cho bốn vợ ma?"
Tôi đáp:
"Pháp trung ấm nghe dạy được độ của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ."
Tôi nói thêm:
"Quán tưởng Phật A Di Đà trên đỉnh đầu mình, niệm thần chú A Di Đà Phật “Ôm a-mi-đê-wa sê” trung mạch của Phật A Di Đà nối với trung mạch của họ, chỉ cần đưa thân trung ấm của mình qua trung mạch vào tim Phật A Di Đà. Như vậy là có thể vào được tịnh thổ."
Người hỏi:
"Đơn giản quá vậy!"
Tôi đáp:
"Người phải tu pháp phowa (pháp khai đỉnh). Còn ma không cần tu (pháp khai đỉnh), họ không cần khai đỉnh, vì đã là thân trung ấm rồi."
Người hỏi:
"Ngài còn dạy họ những gì?"
Tôi đáp:
"Tứ diệu đế, lục độ, bát chính đạo, ba mươi bảy phẩm trợ đạo."
Người hỏi:
"Họ ra ngoài bằng cách nào?"
Tôi đáp: "Tôi đặt họ trong túi hương của tôi. Lành thay! Lành thay!"


### 22. Kiến địa của Duy Duy


Không hành mẫu Duy Duy gửi thư trình bày kiến địa của mình.
Đảnh lễ Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật - Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử - Lư Sư Tôn.

Đệ tử Duy Duy xin gửi thư chia sẻ một số đoạn nhật ký đặc biệt, kính xin Sư Tôn từ bi gia trì chỉ dạy, để đệ tử được đầy đủ tư lương, thứ bậc tu hành và cảnh giới không ngừng nâng cao, cho đến viên mãn, khiến cho bản thân và chúng sinh đều được giải thoát.

《Tiếng reo hò của các tiên nữ》

Cuối tháng 12 năm 2023, Duy Duy (tôi) trong bộ trang phục lộng lẫy duyên dáng đã tham dự pháp hội Hộ Ma do Sư Phật chủ trì.
Khi đón Thầy, tôi đứng bên cạnh Sư Tôn, xung quanh có nhiều tiên nữ cùng đi.

Khi Sư Tôn bước xuống pháp tọa để đốt lửa Hộ Ma, bỗng có một tiên nữ đến gần tôi và dâng tặng một đóa hồng trắng và một đóa hồng đỏ, tôi liền hoan hỷ cúng dường hai đóa hoa này lên chư Phật, Bồ Tát, Không hành, Hộ pháp. Sau khi Sư Tôn lên pháp tọa, bắt đầu kết ấn gia trì chúng sinh. Tôi cũng nhảy múa nhẹ nhàng, kết ấn gia trì chúng sinh, sau đó nhập định. Khi tôi xuất định, pháp hội đã kết thúc. Có một tiên nữ đến gần tôi, reo hò nói với tôi: "Hạng nhất".

Tôi ngớ người ra, liền hỏi tiên nữ khác bên cạnh: "Ai được hạng nhất?". Vị ấy nói: "Cô chứ ai!", một nhóm tiên nữ liền cho tôi xem những hình ảnh họ ghi lại, nói: "Đẹp quá!". Tôi ở trong tiếng reo hò của các tiên nữ.

《Thiên nhạc pháp âm, Lễ đăng quang, Tiếng reo hò trên trời》

Cuối tháng 1 năm 2024, Duy Duy (tôi) hóa thân thành Mẫu Phật Mã Cát Lạp Tôn (tay cầm cuốn "Tiểu sử Mẫu Phật Mã Cát Lạp Tôn"), đến dự đại hội khảo thí pháp do Sư Tôn chủ trì. (Khảo thí pháp là kiểm tra thành tích tu hành.)

Khi pháp hội bắt đầu, Sư Tôn an tọa, tôi lặng lẽ ngồi một bên. Tôi nhận thấy một tiên nữ tay ôm "Giới Kinh" ngồi bên cạnh tôi, vẻ mặt căng thẳng hoảng hốt (môi tái nhợt). Cô ấy bất ngờ quay sang nhìn tôi, rồi đột nhiên lấy cuốn "Tiểu sử Mẫu Phật Majila" trong tay tôi, ôm chặt vào lòng. Tôi thương xót nên không nói gì cũng không đòi lại, lặng lẽ đi đến một góc ẩn mình, không muốn tranh phần nổi bật với ai.

Khi Sư Tôn bắt đầu khởi động khảo thí pháp, từ không trung vang lên tiếng tụng thần chú Độ Mẫu tuyệt diệu. Tôi đứng ở một góc, nhắm mắt lặng lẽ hòa mình vào âm thanh ấy, bỗng nhiên trước mắt lóe lên ánh sáng cầu vồng, tôi liền mở mắt ra nhìn, thấy một số người có căn cơ đang nhảy múa và chuyển động theo tiếng tụng thần chú, còn những người chưa được kích hoạt thì đứng một bên quan sát.

Do tiếng tụng thần chú khiến tôi tràn đầy pháp hỷ, tôi hân hoan bay lên không trung theo âm thanh ấy, tự tại vui đùa trong không gian một lúc, thật là hạnh phúc! Không gian bao la vô tận, vô cùng tĩnh lặng! Sau đó, tôi đứng giữa không trung, nhìn Sư Tôn đang quan sát những người tham dự trên sân khấu, còn tôi từ trên không trung cũng có thể thấy rõ mọi ý nghĩ trong tâm của từng người, lặng lẽ xem mọi người biểu diễn. (tha tâm thông)

Khi cuộc thử thách kết thúc, tôi hạ xuống từ không trung và ẩn mình vào giữa đám đông. Bỗng nhiên từ không trung vang lên tiếng nói: "Là cô ấy! Là cô ấy! Là cô ấy!" khiến Sư Tôn chú ý. Lúc này, Sư Tôn rời khỏi pháp tọa, len lỏi qua đám đông đến trước mặt tôi. Lúc này Sư Tôn hiện thân oai vệ, cường tráng của Kim cang tướng, mình khoác giáp trụ và đeo mặt nạ Kim cang, tay cầm một chiếc mũ miện được chế tác từ các loại thủy tinh, kim cương và đá quý. Sư Tôn tháo mặt nạ Kim cang phẫn nộ xuống, mỉm cười nói với tôi: "Ta đã tìm thấy con rồi!". Tôi quỳ xuống đảnh lễ, Sư Tôn với vẻ mặt xúc động và cảm động đội mũ miện lên đầu tôi, rồi nói với mọi người: "Thật ra công lực của cô ấy sâu nhất". Sau đó, Sư Tôn ôm tôi thật chặt rất lâu, và ngâm nga thần chú Mã Cát Lạp Tôn Phật Mẫu bên tai tôi.

Giây phút ấy, trên trời vang lên tiếng reo hò, Sư Tôn và tôi vẫn ôm nhau thật chặt trong tiếng hò reo không ngớt.

Xin hỏi ý nghĩa của việc Sư Tôn bay lượn trong không trung là gì? (Chú thích: Thần túc thông)

Ý nghĩa của việc Sư Tôn trao cho con mũ miện và ngâm nga thần chú Mã Cát Lạp Tôn Phật Mẫu bên tai con là gì? (Đó là sự thọ ký con là hóa thân của Mã Cát Lạp Tôn.)

Sau đó, con đã nhờ người khác dựa theo mô tả của con để phục nguyên pháp tướng của Mã Cát Lạp Tôn Phật Mẫu tay cầm dao cong và kapala xuất hiện trong lúc tu pháp, và dâng cúng chuỗi vòng tay đá vân biển màu xanh lam (Phật tính như biển) để tặng Sư Tôn, cảm tạ tình thương và gia trì của Sư Tôn.

Cầu chúc Sư Phật mỗi ngày đều khỏe mạnh, mỗi ngày đều hoan hỷ, thuận lợi dẫn dắt chúng sinh quay về biển Phật!

Đầu tháng 2 năm 2024, gặp Sư Tôn và Sư Mẫu, Sư Tôn nhìn thấy con vui vẻ cười, bảo con hát và múa cho Người xem. Con nói đợi một vị Không hành mẫu cùng múa cho Sư Tôn xem. Con đứng một bên ngân nga, Sư Mẫu cũng tham gia ngân nga cùng con. Sư Mẫu nói: "Con khiêm tốn quá, chẳng đòi hỏi gì cả, vậy có muốn cùng chúng ta hát đồng ca không?". Con mỉm cười không đáp. Sư Tôn cũng đứng bên cạnh cười nhìn con và Sư Mẫu trò chuyện.

Sau khi Sư Mẫu rời đi, Sư Tôn và con thay đồ đỏ toàn thân (giống như lễ phục cưới thời xưa). Sư Tôn ngồi bên cạnh nhìn con mỉm cười. Có một đứa trẻ mặc áo đỏ chạy đến ôm chặt chân con không buông, đứa bé gọi con là "mẹ", gọi Sư Tôn là "cha", cả nhà hạnh phúc vui vẻ.

Cảm ơn Sư Tôn, Bổn tôn và Hộ pháp đã gia trì và chỉ dạy, khiến mỗi lần trở về Seattle tâm cảnh đều khác biệt. Con xin dâng lên Sư Tôn một bài kệ để tóm tắt tâm cảnh hiện tại của con.

*Không hành giáng sinh cõi Ta Bà, nương tựa Sư Tôn Liên Sinh Phật,
Tự tịnh nội quán bát chính đạo, nguyện hành bồ đề độ chúng sinh.
Dứt khoát buông bỏ tâm không trụ, cười vui trăm nẻo tâm vô nghĩ,
Không tham không cầu tâm tịch tĩnh, huyễn sinh huyễn diệt tâm như như.
Sư tôn Bổn tôn Hộ pháp trụ, hợp thể phóng quang nguyện bảo hộ,
Cam lộ thanh tịnh các vô minh, thuyền pháp dẫn lối độ giải thoát.*


### 23. Thơ tặng Duy Duy


I) Tiên nữ hoan hô

Một hội lớn tưng bừng
Lầu ngọc lan can tiên nữ bay
Múa khiến cành liễu tựa gió lay
Thiền định cũng theo về
Khi xuất định
Được tràng pháo tay như sấm rền.

(Chú thích: Có thể giữa đại pháp hội, giữa vũ điệu tiên nữ, giữa muôn hoa bay lượn, vẫn không bị ngoại cảnh ảnh hưởng mà nhập vào định sâu, đương nhiên là số một.)

II) Đấng Machig Labdrön

Mật pháp thí thân là hạng nhất
Giữa đường sinh tử
Tùy thuận phiêu du
Hiến dâng sinh mạng làm cúng dường
Chớp mắt
Đã xong
Bổn tôn với ta
Vốn là một.

(Chú thích: Machig Labdrön là Bổn tôn của Duy Duy. Nữ thần sông Hằng, Yeshe Tsogyal, Machig Labdrön, Diệu Âm Thiên Nữ - là một không phải hai. Vậy xin hỏi Duy Duy là ai?)

III) Tương ứng

Nến như hoa
Hương cháy tàn
Động phòng dịu dàng thật đa tình
Rèm buông xuống
Giấc ngủ sâu
Giấc mộng đẹp không biết tỉnh nơi đâu
Hạnh phúc này
Chính là tương ứng chân thật.

(Chú thích: Nhiều người hỏi Lư Sư Tôn, tương ứng là gì? Tôi đáp: Đó chính là "kết hôn". Vợ chồng cùng giường cùng ngủ, thề nguyện vĩnh viễn không chia lìa. Đứa bé áo đỏ kia là ai? Đó chính là "thiện quả". Lấy hôn nhân để ví von tương ứng, cá nhân tôi cảm thấy hoan hỷ, bởi vì rất thích hợp.)

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) cũng xin viết thêm năm bài kệ:

〈Tâm〉

Từ Đông hướng về Tây
Huyễn hiện Chân Phật Tông
Hôm nay buông tâm xuống
Vốn dĩ là chân không.

〈Phật〉

Tám mươi năm chí lớn
Phật ở khắp nơi nơi
Nói ra thật kỳ lạ
Người người chẳng nhận ra.

〈Chúng sinh〉

Vô minh đi luân hồi
Luân chuyển đã bao đời
Ở nơi đâu tìm Phật
Chính trong mình đấy thôi.

〈Ba thứ không khác biệt〉

Vốn không hề khác biệt
Huyễn hóa nhiều ràng buộc
Viên thành là bồ đề
Tất cả không chỗ trụ.

〈Không đến không đi〉

Ta từ đâu mà đến
Rồi sẽ đi về đâu
Ba đời đều như một
Nào có đến với đi
Lành thay!


### 24. Điều mắt thấy tai nghe trong thiền định


Đảnh lễ Sư Phật:

Đệ tử cảm ơn Sư Phật gia trì và sự chỉ dạy thường xuyên của Pháp thân Sư Tôn, xin báo cáo cảm ứng trong thời gian tu pháp gần đây.

1. Trong định, con thấy một mặt nước có bậc thang dẫn xuống, lúc đang phân vân thì Pháp thân Sư Phật xuất hiện: "Đến đây, để ta dẫn con xuống!" Con sợ nước, nhưng vì lòng tin nên con đã theo Sư Phật bơi xuống nước.

Nhưng lạ thay, ở dưới nước lại như trên đất liền, có thể mở miệng nói chuyện, có thể thở, cũng có thể đứng, như thể bước vào một không gian khác. Chưa bao lâu sau khi xuống nước, con thấy một nhân viên pháp vụ, con ngạc nhiên hỏi cô ấy sao lại ở đây. Sư Phật cười: "Để sau này giải thích."

Bơi được một lúc thì thấy một cung điện, thật sự có long cung, vì Long Vương Bồ Tát đã đứng ở cửa đón Sư Phật, con đến đây thì đã kinh ngạc đến há hốc mồm, Sư Phật và Long Vương cứ cười mãi, sau đó Sư Phật nói: "Thôi đừng dọa con bé." Cười lớn: "Lần sau ta lại đưa con đến!" Sau khi xuất định, con thấy thật không thể tưởng tượng nổi.

2. Trong định, con thấy một con rắn trắng lớn, sau đó biến thành một con rồng trắng lớn (lần đầu tiên thấy nhưng không sợ), cả hai đều quay mặt về phía con. Đệ tử hỏi tại sao có rồng trắng? Nghe Sư Phật nói: "Vật trên trời dưới đất đều sẽ bảo hộ con." Rồng là Hộ pháp.
Sau đó Sư Phật lại hiện ra: "Đi, ta đưa con về."
Đệ tử vui mừng nói: "Tuyệt quá, là đại hạn đã đến, con có thể về được rồi sao?"
Sư Phật: "Không phải đâu! Ta đưa con về Song Liên Trì." Trong một ý nghĩa đã đến một cảnh giới, khắp nơi đều là hoa sen trắng rất đẹp, ở giữa có một đóa sen trắng lớn, trên đó có ánh sáng trắng rực rỡ nhưng ẩn hiện tướng Sư Phật. Xung quanh đều là những đóa sen trắng to nhỏ khác nhau, bên cạnh đóa sen trắng lớn có những đóa sen trắng nhỏ có người đứng trên đó, nhìn kĩ thì sao lại là đệ tử? Đệ tử hỏi Sư Phật: "Sư tỉ Mạch đâu sao không thấy?" Lúc này nhìn sang bên kia thì thấy sư tỉ Mạch.
Sư Phật nói: "Các con luôn là hai thị giả đứng bên cạnh Đại Bạch Liên Hoa." Con kinh ngạc rồi xuất định.

3. Trong định, Sư Phật nói: "Ta tặng con một túi hương, con xem thử xem." Ban đầu đệ tử thấy túi hương trên pháp tọa có vẻ bình thường, nhưng khi mở hé ra thì thấy bên trong lại là một cung điện lớn sáng lấp lánh ánh vàng, đệ tử cười ngây ngô, sao lại như vậy. Sư Phật lại cười lớn.

Đệ tử cũng từng theo lời dạy của Sư Phật vào mỗi ngày mồng mười âm lịch cầu nguyện Liên Sư gia trì tu pháp, ngày hôm sau đệ tử đã có được giấc mơ cầu vồng thù thắng, trong mộng đệ tử đi đến đâu thì những cầu vồng rất lớn rất đẹp hiện ra bên cạnh, và gặp ai cũng nói rằng có Liên Sư thì có cầu vồng.

Viết báo cáo này, là vì đệ tử nhờ sức mạnh của niềm tin, kính sư trọng pháp và thực tu, nên mới được thấy long cung, được về Song Liên Trì, được ban tặng túi hương, và còn thấy giấc mơ cầu vồng.

Báo cáo tất cả những điều không thể nghĩ bàn này, chỉ để chứng minh lời Sư Phật nói không hư giả, là chân thật.

Cảm ơn Sư Phật, kính chúc pháp thể an khang, trường thọ tự tại.
Ngu đệ tử Liên Hoa Cẩm Phượng kính lễ tạ ơn.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) xin nói với mọi người như sau:
Liên Hoa Cẩm Phượng đề cập đến "trong định" có những ý nghĩa như sau:
"Trong định" là mọi suy nghĩ đều đặt vào Bổn tôn.
"Trong định" là một lòng buộc ý nghĩ nơi Bổn tôn.
"Trong định" là tâm mình hợp nhất với Bổn tôn.

Về nguyên tắc, điều này sẽ sinh ra sức mạnh của niềm tin, chúng ta biết đó chính là "tín lực".
Khi có được tín lực này.
Mọi hành vi đều là tu hành.
Mọi tu hành đều là cúng dường.
Khi chuyên nhất vào một điều, sẽ xuất hiện "cái thấy trong định", đây là một loại năng lực đặc biệt.
Chúng ta gọi đó là:
"Hiển thông".

Như "cái thấy trong định", ai là người quản? Chúng ta không cần phân biệt, nói một cách đơn giản, chỉ cần tinh thần tập trung là được, phạm vi đó là vô tận.
Long cung.
(Long Thụ Bồ Tát vào long cung.)
Phật tử đều biết câu chuyện này.
Song Liên Trì.
(Đệ tử Chân Phật Tông đều biết đó là tịnh thổ của Liên Hoa Đồng Tử.)
Có ai đã từng đến chưa?
Có, rất nhiều. Liên Hoa Cẩm Phượng chính là một người có thể chứng minh điều đó.

Tôi viết một bài kệ:

*Trong định tâm thanh tịnh
Tâm tịnh thiên nhãn minh
Vạn pháp tự sáng tỏ
Rốt cùng thấu bản tính.*


### 25. Câu chuyện nhỏ về cảm ứng


Sư Tôn kính yêu, chào Thầy!

Đệ tử Liên Hoa Nghi Trăn xin báo cáo với Sư Tôn về một vài trường hợp cảm ứng của những người chưa quy y. Họ đều vô cùng biết ơn Sư Tôn ạ!

1. Một người bạn

Mẹ của bạn ấy phải chạy thận và mắc chứng giống như sa sút trí tuệ, đã nhiều năm không nhận ra con cái. Pháp sư Liên Giang gửi tro Hộ Ma để thanh tịnh thân thể cho mẹ bạn ấy. Không ngờ sau khi bạn ấy rắc tro Hộ Ma lên đỉnh đầu mẹ, trải qua nửa tháng, mẹ đã tỉnh táo trở lại và quy y. Cha của bạn ấy trước đây không đồng ý, nay cũng chủ động xin được quy y.

2. Đồng nghiệp thứ nhất

Vì cha không thể làm xét nghiệm thuận lợi, cô ấy nghĩ đến Kinh Cao Vương và khuyên cha tụng kinh hồi hướng. Nhờ vậy mà cha cô ấy đã có thể làm xét nghiệm thuận lợi, sau đó do mắc bệnh ung thư nên đã qua đời.

Trước khi mất, cha cô ấy đặc biệt dặn dò đồng nghiệp nhờ các pháp sư trong tông phái chúng ta làm lễ trợ niệm tám giờ vàng. Điều kỳ lạ là, dù gia đình cô ấy là ủy viên của Pháp Cổ Sơn, và từ khi nhập viện cho đến lúc cha cô ấy sắp lâm chung đều có pháp sư Hiển giáo luôn bên cạnh; trong lúc trợ niệm, vị pháp sư Hiển giáo ấy vẫn ở bên cạnh, và còn tặng tấm chăn vãng sinh được sư phụ của họ gia trì để kết duyên với người đã mất.

3. Đồng nghiệp thứ hai

Cha bị ung thư, khuyên cô ấy tụng Kinh Cao Vương. Một tối nọ, khi đồng nghiệp đang chăm sóc cha, thấy cha đang rất đau đớn khi thuốc morphine đã hết tác dụng, cô ấy ôm cha vừa khóc vừa tụng Kinh Cao Vương, và trong tiếng tụng kinh, cha đã thiếp ngủ. Sau đó, khuyên đồng nghiệp thay đổi lời cầu nguyện trong Kinh Cao Vương, và vài ngày sau, cha đã ra đi một cách thanh thản! Ngay cả bác sĩ cũng thấy không thể tin được, bởi vì những bệnh nhân như thế này thường có tướng mạo rất đau đớn khi ra đi, quả thật Kinh Cao Vương không thể nghĩ bàn!

4. Đồng nghiệp thứ ba

Bà nội nhập viện điều trị do thân thể không khỏe, sau đó rơi vào trạng thái hôn mê. Sau vài ngày, đồng nghiệp hỏi thăm và mang tro Hộ Ma do Sư Tôn chủ trì đến để thanh tịnh cho bà nội, hoặc để trong túi áo của bà. Ngày hôm sau, bà nội lập tức tỉnh lại, không những khôi phục được khả năng nói chuyện như trước mà đầu óc cũng rất minh mẫn.

Bản thân đệ tử có rất nhiều cảm ứng, xin chia sẻ hai điều:

1. Tham gia bái sám Chân Phật Bảo Sám trực tuyến tại Đài Loan Lôi Tạng Tự vào dịp Tết, sau khi làm lễ sám hối, trong lúc ngủ vào buổi tối, rõ ràng thấy những con giòi bò ra từ má, và má vốn ngứa ngáy không ngừng đã lập tức trở lại bình thường.

2. Sau khi quyết định lịch trình đi Mỹ vào tháng 11 năm 2023, con đã gửi email đăng ký xin được hỏi việc và cảm tạ sự gia trì của Sư Tôn. Vào nửa đêm giờ Đài Loan khi Thượng sư trả lời xác nhận ngày hỏi việc, con lập tức cảm nhận được Sư Tôn nhập mộng gia trì cho cái dạ dày không khỏe của con, Sư Tôn từ bi dùng tay xoa vỗ về dạ dày của con, và cho đến nay, sự gia trì vẫn còn.

Con cảm tạ Sư Tôn, vì lòng không nỡ bỏ chúng sinh và tâm không phân biệt của Thầy, khiến ngay cả những người bạn chưa phải đệ tử cũng nhận được gia trì và cảm ứng!

🌟

Sau khi đọc những câu chuyện cảm ứng của "người lạ", tôi (Lư Sư Tôn) cũng xin kể một câu chuyện cảm ứng.

Sau khi Sư Mẫu Thượng sư Liên Hương bị bệnh, chúng tôi đã mời một y tá dài hạn, là người châu Phi.
Chúng tôi thường gọi cô ấy là Tiểu Hắc. Tên cô ấy là AP, công việc chăm sóc rất vất vả, nhưng cô ấy làm việc rất nghiêm túc và có trách nhiệm, thật đáng quý.
Khi Tiểu Hắc mới đến, chúng tôi không biết về tình trạng sức khỏe của cô ấy.
Nhưng,
Vài ngày sau, Tiểu Hắc nói với chúng tôi:
Lư Sư Tôn xuất hiện bên giường.
Kết ấn bằng hai tay.
Gia trì cho thân thể của Tiểu Hắc. Và những bệnh tật trong người cô ấy đã hoàn toàn khỏi.

Một lần khác, khi Tiểu Hắc làm việc mệt mỏi, thân tâm kiệt quệ, Lư Sư Tôn lại xuất hiện, lại kết ấn gia trì, kết quả ngày hôm sau, tinh thần sảng khoái, hoàn toàn hồi phục.
Y tá Tiểu Hắc kể cho tôi và Sư Mẫu nghe, chúng tôi tất nhiên rất ngạc nhiên.
Cô ấy vừa mới đến, tôi hoàn toàn chưa hiểu gì về cô ấy, không ngờ đã gia trì đến hai lần.
Tôi (Lư Sư Tôn) hoàn toàn không nghĩ đến việc phải gia trì gì cho cô ấy.
Điều không ngờ tới là, bản thân tôi không biết, nhưng Pháp thân của tôi đã chủ động làm việc đó.
Thật kỳ diệu!
Thật tuyệt vời!
Sự cảm ứng của Pháp thân thật tuyệt hảo.
Pháp thân (phân thân) mà tôi tu luyện được, đã có đến hàng nghìn hàng vạn, đang ở khắp nơi trên thế giới, thực hiện việc thiện và bố thí.
Lành thay!


### 26. Uda Tennō là Sư Phật?


Chuyến đi kỳ diệu đến Kyoto năm 2024
1. Nguyên do: từ lâu con đã muốn đến Kyoto, và cuối cùng đã quyết định đi một mình. Tuy nhiên, trong lúc tu pháp, Pháp thân Sư Phật nói: hãy tìm Mạch cùng đi.

2. Quá trình:
Mạch: Pháp thân Sư Phật bảo chúng con đến chùa Ninna-ji. Ngày hôm trước khi đến chùa Ninna-ji trong lúc tu pháp, Sư Phật hiện thân mặc áo đen bên ngoài, áo lót trắng bên trong, giống như quan phục kimono. Sau đó lại hiện thân trong tăng phục kimono màu son. Khi tham quan Thần Điện trong chùa Ninna-ji, đệ tử thấy bức họa treo tường của Uda Tennō [Khoan Bình Pháp Hoàng (Vũ Đa Thiên Hoàng)] giống hệt như hình ảnh con thấy trong định. Đệ tử ngạc nhiên nói với Mạch rằng đúng là như vậy.
Đệ tử nghe Pháp thân Sư Phật nói: cần phải kiến chứng.
Đệ tử Liên Hoa Cẩm Phượng kính bạch.
Ngày 26 tháng 1 năm 2024.

Sư Phật kính yêu nhất, Phật an!

Một tháng trước, Pháp thân của Sư Phật đã bảo đệ tử đến chùa Ninna-ji ở Kyoto, Nhật Bản.
Khi đệ tử ở tại chùa Ninna-ji, đệ tử cảm nhận được Sư Phật chính là Uda Tennō (Khoan Bình Pháp Hoàng). Đệ tử hỏi Pháp thân của Sư Phật rằng có phải Sư Phật là Uda Tennō không? Pháp thân đáp: "Phải." Pháp thân muốn đệ tử thưa với Sư Phật điều này.

Đệ tử Liên Hoa Phượng San đảnh lễ.
Ngày 12 tháng 2 năm 2024

🌟

Bức thư này có ba đệ tử:
1. Liên Hoa Cẩm Phượng.
2. Mạch.
3. Liên Hoa Phượng San.
Họ đều đã đến chùa Ninna-ji ở Kyoto, Nhật Bản. Đây là nơi mà Pháp thân của Sư Tôn đã chỉ dẫn họ đến.

Mạch từ Hong Kong nói rằng:
Cô ấy đã thấy Uda Tennō (Khoan Bình Pháp Hoàng) là tiền kiếp của Sư Tôn.
Liên Hoa Cẩm Phượng nói:
Trong thiền định, con đã thấy tiền kiếp của Sư Tôn là Uda Tennō (Khoan Bình Pháp Hoàng).
Liên Hoa Phượng San nói:
Con cảm ứng được rằng Uda Tennō (Khoan Bình Pháp Hoàng) chính là Sư Tôn, và phải đứng ra làm chứng, đây là điều Pháp thân đã dặn dò.
Cả ba người đều đã đến chùa Ninna-ji ở Kyoto.

Tôi (Lư Sư Tôn) nghe xong, mỉm cười thản nhiên.
Là thế thì sao?
Không phải thì sao?
Tôi chỉ nghĩ rằng, mỗi người đều có nhân duyên quả báo của việc chuyển thế, và luân hồi chuyển thế không chỉ một đời, ba đời. Thực ra là rất nhiều đời.
Việc chứng thực tôi là Uda Tennō (Khoan Bình Pháp Hoàng), đối với tôi, chỉ là thêm một câu chuyện mà thôi.

Tư liệu về Vũ Đa Thiên Hoàng:

Vũ Đa Thiên Hoàng (867-931) là vị Thiên Hoàng thứ 59 của Nhật Bản. Còn được gọi là Đình Tử Viện Đế, Khoan Bình Pháp Hoàng. Húy là Sadami (Định Tỉnh). Là hoàng tử thứ bảy của Kōkō-tennō (Thiên Hoàng Quang Hiếu). Sau khi Fujiwara no Mototsune qua đời, đã đề bạt Sugawara no Michizane, giành lại thực quyền của Thiên Hoàng. Năm 897 nhường ngôi cho Thái tử, được Daigo Tennō (Thiên Hoàng Đề Hồ) tặng sách "Khoan Bình Ngự Di Giới". Năm 899 xuất gia tại chùa Ninna-ji, lấy tăng Ích Tín ở chùa To-ji làm thầy, pháp hiệu là Không Lý, chuyên tâm tu Phật, sau đổi tên thành Kim Cang Giác. Đời gọi là Khoan Bình Pháp Hoàng, đây là khởi nguồn của danh hiệu Pháp Hoàng ở Nhật Bản. Năm 931 viên tịch tại chùa Ninna-ji, thọ 65 tuổi. Có để lại các tác phẩm “Thứ tự niệm tụng Kim Cương Đỉnh Liên Hoa Bộ 2 Quyển", "Thứ tự  niệm tụng Thai Tạng Giới Niệm 2 quyển", và "Thần Ký" (bản còn sót lại). Ngoài ra, còn giỏi về thơ waka.

Tôi nói:
Các đệ tử du lịch Nhật Bản, không ngại ghé thăm chùa Ninna-ji ở Kyoto, một vị Thiên Hoàng Nhật Bản xuất gia, trở thành Khoan Bình Pháp Hoàng, quả thật không phải chuyện dễ dàng.
Danh hiệu Pháp Hoàng ở Nhật Bản bắt đầu từ Vũ Đa Thiên Hoàng.

Lúc rảnh rỗi, tôi tiện tay viết:

1. Ai là tôi

*Xem ra tất cả chỉ là một vở kịch
Luân hồi qua lại
Khi lên lầu cao
Khi xuống lầu thấp
Bao nhiêu bụi trần
Ai là tôi đây
Nói phải nói không thật khó nhớ.*

2. Chùa Ninna-ji

*Năng Nhân là Thích Ca
Hòa hợp là tăng đoàn
Trần thế không liên quan
Tịnh tâm là cuộc đời.*

3. Kiến chứng

*Kiến chứng kiếp quá khứ
Đã là mộng trong mộng
Ngoài thân lại có thân
Làm sao mà chứng nghiệm.*

4. Thở dài

*Hát một bài
Ngôi sao lấp lánh
Viên nào là đôi mắt em
Say trong câu hát
Lệ đã rơi
Bài ca nghìn ý
Đếm từng nỗi tình
Biết chăng
Lão tăng còn bao nhiêu sầu.*


### 27. Cảnh giới trong bài thơ Tùy


Đối với bài thơ Tùy, Lư Sư Tôn cảm thấy có chút hương vị hồi tưởng về chuyện xưa, những cảnh tượng hòa quyện trong đó dường như đang mơ hồ hiện về. Cảm ơn bạn!

Tùy

Liên Hoa Huệ Quyên

*Trong gió Người nằm tao nhã, tựa như sư tử cát tường.
Thoáng như hôm qua còn ở Linh Tiên Các, uống cạn nỗi cô đơn và sầu muộn.
Trong gió tiếng chuông kim cang vang vọng, tinh tấn không ngừng nghỉ.
Chợt nhớ đêm ấy người chèo thuyền trên biển nghiệp, câu được đôi ba đệ tử ngu muội.
Bên hồ Diệp Tử đã thôi tản bộ, nhưng việc cứu độ vẫn chưa nghỉ
Dòng sông trăng không nói hết được chân tướng thế gian đều là hư vọng.
Tahiti vị tăng bước đi từng bước, dấu chân lớn che phủ trời phù hộ chúng sinh.
Trong ánh lửa Hộ Ma, chày kim cang quét sạch phiền não thế gian, nhưng người ấy là ai.
Gia trì từng từ giấy phù cùng từng lời nguyện từ bi hỷ xả.
Nét bút thướt tha không viết hết được vô tướng, như mây trôi nước chảy mạnh mẽ trong không gian.
Nét bút uyển chuyển tự nhiên bay bổng, vẽ thiên thượng nhân gian vào tâm khảm mọi người.
Múa gậy kim cang trên cầu vồng điểm hóa ma quỷ yêu tinh.
Từ tay áo tung ra nghìn chiếc thuyền pháp, chưa từng mỏi mệt.
Thương yêu đệ tử như gió xuân thổi lướt qua.
Thầy tôi bước đi sen nở từng đóa, nói cười vui vẻ.
Từng lời pháp ngữ thấm đẫm trong ngôn từ thế gian.
Dạy đệ tử mơ hết phồn hoa trần thế, cuối cùng trở về một hạt cát bụi.
Thầy tôi đi, đệ tử theo, góc biển chân trời không rời xa.
Nhưng hư không vô tận, lời lặng ý tuyệt, mong được hợp nhất cùng thầy.*

*Nghe mưa bay rừng trúc, cầu vồng treo hai bên.
Thầy đến từ mặt trời, mỗi bước nở đèn sen.
Xin thầy hãy dừng bước, đệ tử muốn nói lời.
Sen trong tâm mãi nở, phảng phất hình bóng thầy.*

🌟

Tôi nhớ về ngày tháng ẩn tu ba năm tại Linh Tiên Các, đó là khoảng thời gian tràn ngập cô đơn và u sầu.

Thơ: Linh Tiên Các

*Ngoài cửa sổ núi Rainier
Thiền tu ngày tháng dài
Trong tâm không việc khác
Ba năm thật tự nhiên.*

(Chú thích: Từ Linh Tiên Các có thể nhìn thấy núi Rainier thuộc bang Washington, đỉnh núi quanh năm tuyết phủ, như một cụ già tóc bạc, bất động thiền định ở đó.
Tôi đã nhìn ngắm ba năm, ẩn tu ba năm, không làm gì cả, học được cảnh giới vô sự vô tâm.)

Thơ: Hồ Diệp Tử

*Bảy năm Hồ Diệp Tử
Như hạc giữa mây ngàn
Thị phi tình đã hết
Ngày ngày tụng bình an.*

(Chú thích: Tôi đã ẩn tu tịnh tâm tại Hồ Diệp Tử trong bảy năm dài, như một con hạc hoang dã, thích bơi lội, không còn thị phi, tình cảm không gợn sóng, thấu hiểu được cảnh giới không được không mất.)

Thơ: Nghìn chiếc thuyền pháp

*Tôi tu nghìn thuyền pháp
Đêm đêm độ vong linh
Chẳng dám nói công đức
Tâm từ bi thành bận.*

(Chú thích: Nghìn chiếc thuyền pháp siêu độ vong linh là pháp tu của tôi lúc tuổi già. Tôi tu mỗi ngày, không dám bỏ một ngày. Tôi không phải vì công đức, cũng không phải cầu xin điều gì, càng không phải vì cầu vãng sinh tịnh thổ, đương nhiên không phải vì tích lũy tư lương.)
Vậy vì sao?
Chỉ để cho những vong linh phiêu bạt có một chốn yên ổn.

Thơ: Dòng sông trăng

*Ai biết vùng sông trăng
Không dấu cũng không tích
Muôn phương đều là huyễn
Người ngộ là thượng căn.*

(Chú thích: Người vào được thánh đạo, hiểu rằng Ta Bà là huyễn, tịnh thổ cũng là huyễn, lục đạo đều là huyễn, vùng sông trăng càng là huyễn. Vậy cái gì là thật?
Chỉ có bậc thượng thượng căn mới biết được. Bạn, tôi, họ có biết không? Hãy hỏi bạn, biết chăng?)

Thơ: Tahiti

*Biển bao quanh bốn phía
Chỉ còn một người nhàn
Mặc cho gió mát thổi
Chỉ vì là tiền duyên.*

(Chú thích: Diêu Trì Kim Mẫu bảo tôi đến Tahiti, tôi nghe lời Ngài mà đi. Đây là lãnh thổ của nước Pháp, nơi có bãi biển đen, đi mãi không hết, như chốn đào nguyên. Nơi đây không quen biết ai, không ai hay biết, đến đây mới hiểu tất cả đều không, không tin tức, không thời sự, nên hiểu được "ngộ không".)

Thơ: Sáng tác

*Viết ba trăm cuốn sách
Có khác gì cát bụi
Biết bao chúng sinh khen
Dạy ta chớ mơ hồ.*

(Chú thích: Là một vị tăng tám mươi tuổi, tôi đã viết hết cuộc đời mình vào trong sách. Tất nhiên tôi hy vọng người đọc sẽ được lợi ích. Nếu đọc xong thấy bình thường, thì tôi cũng đành bất lực. Nếu có được chút tâm đắc, thì đó là một niềm an ủi.)

Sáng tác của tôi, chỉ mong:
Gửi tâm vào trăng sáng.
Tất cả vốn như như.


### 28. Thư của Liên Hoa Hựu Trinh


Đảnh lễ Liên Sinh Pháp Vương Lư Sư Tôn tôn quý nhất!

Đệ tử Liên Hoa Hựu Trinh, A Di Đà Phật, cuối cùng con đã lấy hết can đảm viết thư gửi đến Sư Tôn. Trước tiên con muốn tán thán rằng Sư Tôn quả thật là bậc Pháp Vương, hóa thân Hoạt Phật của thời đại, bởi vì trên thân con đã ứng nghiệm rất nhiều điều, con cũng muốn cảm tạ Sư Tôn đã cứu độ con nhiều lần.

Lần đầu tiên là vào năm 2022 khi Sư Tôn trở về Đài Loan, trong pháp hội Thầy có nói rằng có thể cho đệ tử gặp lại người thân đã qua đời. Lúc đó con chưa quy y, nhưng rất muốn được gặp lại cha vừa mới mất (vì dịch bệnh nên con không thể về Đài Loan gặp cha lần cuối). Lúc ấy con nghĩ thầm không biết Sư Tôn có thật sự giỏi đến mức có thể cho con gặp được cha không? Sau đó con nằm xuống sofa nhắm mắt nghỉ ngơi, không ngờ chuyện kỳ diệu đã xảy ra, gương mặt trẻ trung của cha con dần dần hiện ra, càng lúc càng rõ nét, trên người còn mặc bộ quần áo cha thích nhất, con nhìn thấy rất rõ ràng, thật không thể tin được. Con lập tức thức dậy tán thán Sư Tôn, con chỉ cầu nguyện với Thầy qua màn hình ti vi vậy mà Thầy đã cho con được gặp cha, con vô cùng tán thán Thầy, và sau đó vào ngày rằm tháng đó con đã ở nhà quy y theo Thầy.

Lần thứ hai là vào tháng 9 năm 2023, khi cả gia đình đi du lịch Nhật Bản, tối ngày đầu tiên con ăn một con tôm sống và bị nổi mấy cục sưng trên mặt. Con nghĩ thôi chết rồi, con đã ăn phải hải sản không tươi. Trước đây khi đi Mỹ con cũng từng gặp tình huống tương tự, ăn phải cua không tươi khiến mặt và chân sưng lên, ngứa không chịu nổi, đêm không ngủ được, ba ngày sau đó rất khổ sở, về đến Úc mới chữa khỏi. Con nghĩ lần này xong rồi, mới ngày đầu tiên ở Nhật mà đã thế này, mười ngày còn lại biết sống sao đây. Sau đó con nằm trên giường trì chú Thượng sư, cầu nguyện Sư Tôn và Diêu Trì Kim Mẫu gia trì cho các cục sưng đỏ trên người con mau lành. Rồi con thiếp đi, trong giấc ngủ bỗng nhiên cảm thấy tất cả các cục sưng đỏ trên mặt có cảm giác mát lạnh, con cảm nhận rất rõ ràng và kéo dài một lúc, sáng hôm sau soi gương thì tất cả các cục sưng đỏ đều đã biến mất.

Lần thứ ba là vào ngày 1 tháng 10, khi chúng con dự định đi từ Hồng Kông đến Macau chơi. Tối hôm trước, tin tức đột nhiên thông báo có bão. Tối đó con liên tục cầu nguyện Sư Tôn gia trì để cây cầu mà chúng con sẽ đi xe buýt qua không bị đóng, vì chuyến đi này đã được đặt trước từ mấy tháng trước. Sáng hôm sau chúng con vội vã chạy đến trạm xe buýt, trên đường con vẫn không ngừng cầu nguyện Sư Tôn giúp đỡ. Chúng con đã may mắn đến được Macau lúc 10 giờ 30 sáng. Sau đó tin tức đưa tin bão càng lúc càng mạnh và cầu Hồng Kông-Macau đã đóng vào lúc 2 giờ chiều. Con thật xúc động, Sư Tôn đã cho cả gia đình con đến nơi an toàn, trong khi theo tin tức, rất nhiều người đã không thể đi được.

Ngày hôm sau chúng con trở về Hồng Kông, con vẫn tiếp tục cầu nguyện Sư Tôn cho cầu được mở, để chúng con có thể về lại Hồng Kông vì còn vài ngày nữa phải về Úc, không thể để chậm trễ lịch trình. Quả thật, trưa ngày 2 tháng 10, tin tức đưa tin bão đã đổi hướng, cầu được mở và cả gia đình chúng con đã bắt xe buýt về Hồng Kông an toàn vào buổi chiều.

Lần thứ tư là vào tháng trước, khi chùa Nghiêm Sơn Lôi Tạng đang chuẩn bị lễ vật cho Lương Hoàng Bảo Sám, con phụ làm long bào cho Sư Tôn. Trong lúc làm, con không cẩn thận bị keo nóng chảy làm bỏng tay, ngón tay nổi phồng lên, con nghĩ thôi chết rồi, thế này chắc sẽ đau mấy ngày, không làm tiếp long bào được nữa, con tự hỏi sao Sư Tôn không phù hộ cho con. Nhưng rồi chuyện kỳ diệu đã xảy ra, sau nửa tiếng, tay con hoàn toàn không còn cảm giác đau, mặc dù vẫn còn nốt phồng nhưng không đau, vài ngày sau nốt phồng tự biến mất. Thật sự tán thán sức gia trì của Sư Tôn, dù không nhìn thấy Sư Tôn nhưng con luôn cảm thấy Thầy đang lắng nghe con nói. Ngày mai con sẽ bay đến Seattle gặp Sư Tôn, con rất vui, đệ tử thật vô cùng may mắn được quy y theo Thầy trong kiếp này, và con cũng cảm ơn Thầy đã không quản vất vả cứu độ chúng sinh.

Kính chúc Sư Tôn Phật thể an khang, thường chuyển pháp luân.
Kính chúc Sư Mẫu Thượng sư Liên Hương thân thể khỏe mạnh, bệnh nghiệp tiêu tan.
A Di Đà Phật.
Đệ tử Liên Hoa Hựu Trinh ở Sydney, Úc kính bái.
Ngày 10 tháng 4 năm 2024.

🌟

Lá thư của đệ tử Liên Hoa Hựu Trinh ở Úc, đoạn đầu viết về việc cô ấy được gặp lại người cha quá cố của mình.

Đoạn văn này khiến tôi nhớ lại buổi pháp hội siêu độ mà tôi đã làm ở Đài Loan trước khi tôi 38 tuổi.
Khi tôi có được thiên nhãn, lần đầu tiên làm pháp hội siêu độ, chỉ có khoảng 20 đệ tử, tôi sống ở khu hợp tác Thôn Mới gần vòng xoay, tại thành phố Đài Trung.
Tôi làm theo phương pháp siêu độ mà Diêu Trì Kim Mẫu đã chỉ dạy.
Trước tiên cầu thỉnh chư Phật Bồ Tát.
Dâng cúng phẩm.
Tụng kinh.
Sau đó thỉnh mời người được siêu độ.
Cũng dâng cúng phẩm.
Tụng kinh.
(Điểm quan trọng là người được siêu độ sám hối, chư Phật Bồ Tát phóng quang gia trì, lần lượt dẫn họ về cõi tịnh thổ.)

Nghi thức đơn giản mà trang nghiêm.
Trong quá trình đó, tôi yêu cầu các tín chúng nhất tâm quán tưởng tổ tiên giáng lâm đàn tràng.
Bỗng nhiên, bà chủ tiệm Thực Phẩm Vĩnh Long òa khóc nức nở, vì bà nhìn thấy Địa Tạng Bồ Tát vung tích trượng bên tay phải, và đứa con trai đã mất của bà bò ra từ dưới tích trượng, gọi "mẹ ơi" rồi hai mẹ con ôm nhau khóc.
(Đây là cuộc hội ngộ âm dương của mẹ con.)

Tiếp theo —

Tôi thấy càng lúc càng nhiều người đã khuất hiện về.
Tôi thấy tổ tiên, ông bà nội ngoại, cha mẹ, anh chị em, những đứa em đã mất từ nhỏ.
Buổi lễ siêu độ đã trở thành cuộc hội ngộ âm dương.
Tiếng khóc vang trời.
Đứng bên cạnh nhìn, tôi cũng rơi nước mắt. Bởi vì người dương thế rất khó có thể gặp được người thân đã mất, vậy mà trong buổi siêu độ nhỏ bé của tôi, đã có thể giúp họ thực hiện được ước nguyện này.
Những gì tín chúng nhìn thấy đều là thật.
Những vong linh đến đây cũng là thật.
Điều này dường như không thể xảy ra trong thế giới thực, nhưng với sức mạnh tín tâm của tôi - Lư Sư Tôn, đã làm được!
Tôi vừa vui.
Vừa buồn.
Nước mắt cứ tuôn rơi không ngừng trong suốt thời kinh sám...

Tôi tán thán:
Diêu Trì Kim Mẫu - Tiên Vương vĩ đại!
A Di Đà Phật - Phật Vương vĩ đại!
Địa Tạng Bồ Tát - Địa Vương vĩ đại!
Tôi thành tâm cầu nguyện:
"Xin tiếp dẫn các vong linh về Phật quốc thanh tịnh! Xin gia trì cho thân tâm các vong linh được thanh tịnh! Xin ba Bổn tôn từ bi với các vong linh, để họ lìa khổ được vui!"
Tôi thỉnh cầu:
"Thiện niệm tăng trưởng! Ác niệm không sinh!"

Từ buổi siêu độ nhỏ đó, lòng tin của tôi tràn đầy, những buổi siêu độ tiếp theo, phép màu càng nhiều hơn nữa.
Nhiều như sao trời.
Vì thế, tiếng tăm vang xa, truyền khắp nơi.

Có một chuyện, tôi xin kể lại:
Một chủ tiệm hoa nhờ tôi siêu độ cho người thân đã mất.
Tất cả người thân của chủ tiệm đều có mặt. (người đã mất)
Bỗng nhiên xuất hiện thêm một bé gái. Chủ tiệm không biết.
Chủ tiệm hỏi:
"Em là ai?"
Bé gái trả lời:
"Em là Kim Hoàn, em gái của anh."
Chủ tiệm nói:
"Trong nhà tôi là út, làm gì có em gái?"
Chủ tiệm nói với tôi:
"Trong danh sách siêu độ của tôi hoàn toàn không có em gái Kim Hoàn, cô ấy từ đâu đến vậy?"
Tôi cũng không hiểu ra sao.

Ông chủ tiệm hoa về nhà hỏi người lớn tuổi, người lớn tuổi nói với ông:
"Sau khi có con, mẹ con có một lần mang thai nữa, biết là bé gái."
Lúc còn trong bụng đã đặt tên là Kim Hoàn.
Sau đó được bảy tháng thì sảy thai.
Mẹ chưa bao giờ nhắc đến chuyện sảy thai này, không kể cho con cái biết.
Vì vậy ông chủ tiệm hoa không hay biết.
Giờ đây, em gái của ông ấy cũng đến, đây cũng là một chuyện rất đặc biệt.

Tôi viết một bài kệ:

*Ta là thầy độ sinh nhỏ bé
Một lòng thành kính đến độ sinh
Bình đẳng bình đẳng đều tiếp dẫn
Thánh hiền u minh đều đến đây
Truyền rộng linh nghiệm tín chúng tăng
Có người nói ta là tà pháp
Chỉ vì Phật pháp khó nghĩ bàn
Dương thế âm gian chỉ một đường
Diêu Trì Kim Mẫu ban thọ ký
Thì ra âm dương tuy hỗn độn
Pháp ta thật sự diệu khó lường
Xem ra chỉ là một vở kịch
Từng người siêu sinh không đếm xuể
Âm dương đều đến quy y ta
Ta tự từ bi đại hỷ xả
Đảnh lễ chư Phật đại Kim Tiên
Tạ ơn Kim Tiên hành bố thí*


### 29. Lĩnh ngộ "Tặng bạn một đóa hoa"


Tôi đã viết một cuốn sách "Tặng bạn một đóa hoa".
Liên Hoa Kính An từ Anh Quốc đã gửi đến "Bài kệ lĩnh ngộ".
Sự lĩnh ngộ của anh ấy như sau:

Bài thứ nhất:

*Phải chẳng phải hoa phản chiếu
Sắc không đâu là chủ khách
Chưa từng thấy nơi sinh mây
Chỉ cảm mưa sương thấm đẫm.*

Bài thứ hai:

*Trên hồ chèo thuyền cùng hoa sen
Vô tâm ngắm nước liền với trời
Hoàng hôn xuống
Mây hiện ra
Mấy đám tan đi mấy người thấy.*

Bài thứ ba:

*Chúng sinh nên biết đời như huyễn
Khổ não không ngừng chỉ bởi tham
Tùy thuận nghịch
Mặc tốt tươi khô héo
Không chấp không trụ thấy không tranh.*

Bài thứ tư:

*Trong tháp Linh Sơn ai thấy rõ
Nắng chiếu lòng sông tự sáng ngời
Mộng trần thế
Ai tỉnh thức
Núi vắng sau mưa đợi nắng về.*

Bài thứ năm:

*Có ý ngắm hoa hoa khắp chốn
Vô tâm nhìn đâu cũng không hoa
Hình tướng rốt cuộc đều hoại diệt
Hoa ở nơi nào chỉ tại tâm.*

Bài thứ sáu:

*Phàm thánh hòa hợp là tự tính
Tâm ngay luôn nhìn thấu bản chân
Các pháp không sinh vốn vô ngã
Không diệt nên nghĩ sao từng sinh.*

Bài thứ bảy:

*Tâm động chính là nhân, quả chấp phải nhận lĩnh
Duyên khởi rồi duyên diệt, hoa tàn hạt giống còn
Dẫu trải trăm vạn kiếp, gió xuân thổi lại sinh
Thiện ác đều có báo, lời Phật cần chi cầu.*

Bài thứ tám:

*Tự tại tay áo đầy gió mát **[hình ảnh tay áo đầy gió mát nói đến sự thanh bạch liêm khiết]
**Mặc kệ thế tình thoáng chốc không
Buông bỏ đều biết đời như mộng
Nhậm vận như như là gia phong*

Bài thứ chín:

*Tĩnh lặng quán chiếu thấy nguồn cội
Quán chiếu tĩnh lặng an trụ tâm
Quán tâm đừng để phiền não khởi
Quán bất khả quán gần vô sinh.*

Bài thứ mười:

*Sự lý ai người phân biệt rõ
Tùy phương giải thoát ấy huyền cơ
Muôn pháp đều do các căn khí
Là pháp phi pháp chỉ tại tâm.*

Bài thứ mười một:

*Biết huyễn lìa huyễn hiểu rõ huyễn
Pháp nhĩ bản nhiên cũng lặng yên
Thảnh thơi khắp chốn làm mọi việc
Tùy thuận vô nhiễm tự quy chân.*

Bài thứ mười hai:

*Tâm bình sao phải giữ giới
Vẽ rắn không cần thêm chân
Đi thẳng cần chi tham thiền
Dưới ánh mặt trời đốt nến.*

(Chú thích: Liên Hoa Kính An gửi đến tổng cộng hai mươi sáu bài, sách này tôi chỉ đăng mười hai bài. Có thể nói, thấy được cảnh giới lớn, thơ của anh ấy có cảnh giới, độc giả nên suy ngẫm, nghiền ngẫm kĩ, sẽ có lợi ích lớn.)

Ngoài ra:
Tôi ngưỡng mộ "Kệ di chúc của Hòa thượng Hư Vân", Liên Hoa Kính An viết:

*Chén rơi xuống đất vỡ tan tành
Cảnh trần sắc tướng cùng lúc diệt
Cảm ngộ trời cao vốn không có
Tâm loạn cuồng điên liền dứt bặt.*

Lại: "Kệ di chúc của Hòa thượng Hư Vân":

*Sa vào ngôn từ là mất bản tính thật
Ngay tại lúc ấy vô sự cũng vô tâm
Tam muội rốt ráo ở nơi nào
Pháp vốn vô pháp nào có sinh.*

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) viết "Tặng bạn một đóa hoa" là vì tôi mắc một căn bệnh.
Hòa thượng Hư Vân hiện ra trong hư không, duỗi cánh tay xoa đỉnh đầu tôi, tôi cảm tạ sự gia trì của hòa thượng, bệnh tình của tôi nhanh chóng thuyên giảm, tôi ghi nhớ sâu sắc không dám quên.

Gần đây tôi giảng Kinh Duy Ma Cật, lĩnh hội "pháp môn bất nhị", nước mắt trào ra.
Tôi nghĩ:
Thơ của Liên Hoa Kính An và pháp môn bất nhị chiếu rọi lẫn nhau.

Sở đắc của tôi như sau:
Khi tâm thanh tịnh, đi đứng nằm ngồi đều thanh tịnh, tất cả mọi thứ đều thanh tịnh, cõi người cũng là tịnh thổ.
Trí huệ và phương tiện là một, không phải hai. Có được Phật trí, tự nhiên thuận tiện độ chúng sinh, bố thí chúng sinh. Đây mới là đại Bồ Tát không thể nghĩ bàn.

Đại Bồ Tát bố thí chúng sinh, cần thấu hiểu:
Ý nghĩa nội tại của thiền định.
Ý nghĩa sâu xa của Phật pháp.
Phương tiện thuyết pháp.
Bình đẳng cứu độ.
Yếu chỉ Phật pháp.
Nghiệp.
Giới luật.
Tại gia xuất gia.
Lý luận thực tiễn.

Về khía cạnh thực tướng, chư Phật và chúng sinh bình đẳng không hai, tất cả các pháp cũng như vậy.
Bồ Tát bất khả tư nghì đi đến đâu, nơi đó đều là đạo tràng, trên cao đến trời, dưới cho đến kỹ viện, ổ ma cũng đều là đạo tràng.
Cứu độ trùng trùng vô tận, chính là ngọn đèn vô tận.
Bố thí Phật pháp là chí cao vô thượng. Đó chính là bố thí pháp vô thượng thượng, vượt trội hơn các loại bố thí khác. Là đứng đầu các loại bố thí.
Giải thoát bất khả tư nghì là:
"Không" giải thoát.
"Vô tướng" giải thoát.
"Vô tác" giải thoát.

Giải thoát của Duy Ma Cật là: "Biến hóa vi tế cùng tận, thể huyền diệu dụng mầu nhiệm, vô vi mà không gì không làm, đại cơ đại dụng, tung hoành vô ngại, trần lụy không thể trói buộc."
Chúng sinh hư huyễn không thực, như trăng trong nước, hoa trong gương, ảo ảnh dưới ánh nắng, tiếng vọng, mây trên không, bọt nước tụ, bong bóng nước nổi trên mặt nước, vân vân.
Tất cả lấy vô trụ làm gốc, vô trụ lập tất cả pháp, không có suy nghĩ điên đảo, không có phân biệt vô căn cứ, không tham dục, không ngã chấp, bất thiện không sinh, thiện pháp không diệt, như vậy phiền não hoàn toàn đoạn trừ.
Pháp môn bất nhị là thực tướng chân như.
Ý chủ yếu của nó là:
Văn Thù không nói.
Duy Ma im lặng.
Vào pháp môn bất nhị tuyệt đối bình đẳng. Đây là thực tướng chân như, lý niệm về một thực tướng, bình đẳng như nhau.
……………….

Bài thơ tôi viết:

*Áo Lama đỏ
Lại vào đường trần thế
Tính ra đã tám mươi năm
Mỗi lần nghĩ lại
Mỗi lần già thêm
Thì ra cũng là bọt nước tụ lại.*

🌟

*Trì chú niệm Phật
Tưởng nhớ Bổn tôn đến
Bổn tôn không hề trụ
Lặng lẽ yên ắng
Ta tự cười
Mịt mờ xa vắng ta đã biết.*

🌟

*Pháp môn bất nhị
Chư thánh cùng thấu tỏ
Chư tiên đã nói hết lời
Hãy cùng trân trọng
Nói tâm yếu
Ngẩn ngơ thôi kêu gào.*

🌟

*Tám mươi năm trên đời
Hóa ra chẳng có nhà
Giờ đây trôi dạt nơi chân trời
Mơ cưỡi trên ngọn gió Diêu Trì
Tận hưởng hết những điều huyền diệu.*


### 30. Cảm niệm ơn thầy


Chuyến hành hương về Tây Thành lần này, ngoài việc cúng dường âm nhạc đàn cổ tranh tuyệt diệu lên Sư Tôn và Sư Mẫu tôn quý vô thượng, chúng con còn giúp cha và chị hai hoàn thành tâm nguyện về ở tại Song Liên Cảnh Giới! Nhớ lại chuyện xưa, con chỉ thấy lòng tràn đầy biết ơn Sư Phật! Cảm tạ Sư Tôn đã chăm sóc như người cha hiền và ban cho những khai thị vô cùng quý báu! Hơn hai mươi năm trước, cha bị ung thư vòm họng, trước khi xạ trị và hóa trị, phải phẫu thuật nhổ toàn bộ răng trên dưới. Có thể tưởng tượng được nỗi đau đớn như địa ngục bẻ răng, nghiệp quả này có liên quan không thể tách rời với việc sát sinh ở quê ngày xưa! Sau phẫu thuật, cha đau đớn dữ dội, mỗi ngày đều phải dùng thuốc giảm đau morphine liều mạnh. Lúc đó, cha thấy một tờ Chân Phật Báo từ chị hai Lưu Huệ Hoa (sư tỉ Hoa) - người mới quy y Sư Tôn, trong đó Sư Tôn có dạy: "Có bệnh nên đi khám bác sĩ, nếu bác sĩ đã bó tay, đến tìm tôi vẫn còn một tia hy vọng!" 

Dựa vào tia hy vọng này, cha viết thư quy y Sư Phật. Không lâu sau, cơn đau bắt đầu giảm dần đến mức không cần dùng thuốc giảm đau morphine nữa. Sau đó, khi nhận được thư hồi âm từ Sư Phật, cha đối chiếu với nhật ký và phát hiện đúng ngày Sư Phật hồi âm chính là ngày cơn đau giảm bớt! Từ đó, cha càng thêm tin tưởng, mỗi sáng tối đều tụng tâm chú Sư Tôn và Cao Vương Kinh một giờ trước bàn thờ, dù mưa gió vẫn không gián đoạn. Mỗi lần tụng kinh chú xong, gương mặt cha đều hồng hào, tràn đầy an lạc! Nhờ lòng thành kính và tinh tấn của cha, Sư Phật đã ban cho cha được như nguyện kéo dài thêm mười năm tuổi thọ!

Cuộc đời vẫn luôn là họa vô đơn chí. Sư tỉ Hoa vì kinh tế gia đình mà làm việc quá sức đến kiệt quệ, cũng mắc bệnh ung thư vòm họng. Lúc đó sư tỉ Hoa mới 29 tuổi và còn độc thân, sau khi trải qua xạ trị và hóa trị, nhan sắc tàn phai. Khi ấy sư tỉ Hoa thường xuyên đến Tây Thành cầu xin Sư Phật gia trì, Sư Tôn còn đặc biệt dặn pháp sư nấu cháo cho sư tỉ Hoa đang suy nhược thể trạng; thường nghe Sư Tôn nói: "Các con đều rất thật thà." Nhớ năm đó Sư Tôn bị cảm nặng vẫn chủ trì đại pháp hội, sau pháp hội sư tỉ Hoa đợi gia trì theo hẹn tại Chân Phật Mật Uyển, nhưng hôm đó gió to mưa lớn, vừa lạnh vừa ẩm ướt; vị Thượng sư ở Mật Uyển nói có lẽ Sư Tôn sẽ không đến! Không ngờ, Sư Tôn dù ốm vẫn đội mưa đến để hà hơi vỗ lưng gia trì cho sư tỉ Hoa!

Lúc đó sư tỉ Hoa xúc động đến rơi nước mắt, nghẹn ngào không nói nên lời! Sư tỉ Hoa nói: "Con khóc không phải vì lo lắng bệnh của mình có khỏi được hay không, mà là vì Sư Tôn dù đang ốm vẫn không quản gió mưa đến gia trì cho con, con vô cùng xúc động! Dù bệnh của con có không khỏi được, con cũng không hề oán trách, con đã mãn nguyện rồi! Trên đời này làm gì có vị thầy nào quan tâm đệ tử như vậy?" Sư Tôn chính là người chăn cừu trong đại gia đình Chân Phật, luôn ôm ấp những chú cừu con bị thương trong tay; qua sự gia trì của Sư Tôn, sư tỉ Hoa dần dần hồi phục, không may ba năm sau bệnh cũ tái phát, tế bào ung thư di căn đến phổi khiến cô khó thở, phải vào phòng cấp cứu nhiều lần.

Trước lần nhập viện cuối cùng, sư tỉ Hoa bày tỏ với chúng con hy vọng Sư Tôn có thể tiếp dẫn vãng sinh. Con đã chuyển tâm nguyện của sư tỉ Hoa đến Thượng sư Liên Tăng, và Thượng sư Liên Tăng đã báo lại với Sư Tôn! Nhờ lòng từ bi của Sư Tôn đồng ý tiếp dẫn vãng sinh, sư tỉ Hoa đã an nhiên chuẩn bị vãng sinh! Nhưng mẹ già bên cạnh đã rơi nước mắt đầm đìa, mẹ nói: "Không có con, bố mẹ sẽ sống những ngày tháng như thế nào?" Sư tỉ Hoa bình thản và trí tuệ an ủi mẹ: "Bố mẹ cứ xem như con đi Seattle tham dự đại pháp hội của Sư Tôn, phải lâu lắm mới về..."

Không lâu sau đó, sư tỉ Hoa và cha lần lượt qua đời, chưa đầy một năm rưỡi, con đau đớn mất đi hai người thân yêu nhất. Ôm hộp tro cốt của người thân trong tay, con cảm nhận sâu sắc cuộc đời ngắn ngủi, vô thường biến đổi nhanh chóng, ngộ ra chân lý về sự không có gì để đạt được! Cuối cùng đời người chỉ là một hộp tro, quả thật không được gì, cũng chẳng mất gì! Đời người còn cầu gì nữa? Sợ hãi điều gì? Tranh giành điều gì? Phiền não điều gì? So đo điều gì? Lòng con thông suốt, tâm không vướng bận! Nhiều năm sau, Song Liên Cảnh Giới hoàn thành, nhân duyên đầy đủ, sư tỉ Hoa và cha được an trú vĩnh viễn tại Song Liên Cảnh Giới, viên mãn tâm nguyện của cha và chị hai! Dù cuộc đời có vô số điều không như ý, bất tận, nhưng chúng con cảm nhận sâu sắc tình thương yêu và sự quan tâm của Sư Phật như cha mẹ, cảm tạ ơn gia trì vô thượng của Sư Phật, cảm tạ những khai thị vô cùng quý báu của Sư Phật, giúp đệ tử tìm được sự cân bằng và giác ngộ trong cuộc đời vô thường này! Lòng biết ơn vô tận!

Đệ tử Chân Phật Liên Hoa Siêu Hoành.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) đọc bài "Cảm niệm ơn thầy", không phải vì đệ tử cảm ơn mà tôi vui mừng.
Bởi vì đây là bổn phận của một vị Thượng sư, vốn dĩ phải làm như vậy, một hành giả phải luôn nghĩ đến chúng sinh, không chỉ độ mình mà còn phải độ hóa chúng sinh.
Tôi giữ bổn phận (tùy phận).
Tận dụng sức mình (tùy duyên).
Khéo léo phương tiện (tùy thuận).
Đây là việc bổn phận, tôi cũng cảm ơn các đệ tử, vì họ đã cho tôi cơ duyên bố thí.
Điểm quan trọng của bài "Cảm niệm ơn thầy" là lúc Liên Hoa Siêu Hoành ôm hộp tro cốt của hai người thân.

Liên Hoa Siêu Hoành nói:
Đời người ngắn ngủi.
Hư ảo không thật.
Không được gì cả.
Cũng chẳng mất gì.
Đời người còn cầu gì nữa?
Sợ hãi điều gì?
Tranh giành gì?
Phiền não gì?
So đo gì?
Thế là Liên Hoa Siêu Hoành hoàn toàn buông xả, tâm không còn vướng bận!

Tôi (Sư Tôn Lư) thấy rằng người này đã có được ngộ cảnh, có thể nghĩ được như vậy là điều rất quý báu.
Thật ra suy nghĩ của anh ấy cũng chính là điều tôi thường nghĩ, ngộ ra không có gì để đạt được, đoạn trừ phiền não ngay tức khắc.
Cha mẹ tôi không còn nữa!
Các vị Thượng sư của tôi đều đã ra đi!
Các bậc trưởng bối của tôi cũng đều không còn!
Hiện tại,
Tôi đã trở thành bậc trưởng bối. Rồi tôi cũng sẽ sớm không còn nữa!
Tôi còn gì nữa?
Chẳng còn gì cả, phải không?

Kệ di chúc của vị tăng ở Đại Đồng thời nhà Đường:
*Tứ đại vận hành
Tụ tán thường tình
Các ngươi chớ lo
Ta đi tự tại.*

Và nữa, kệ di chúc của Tăng Triệu:
*Tứ đại chẳng phải ta
Năm uẩn vốn là không
Rơi đầu trăm dao sắc
Như chém gió xuân thôi.*
(Tăng Triệu là người thời nhà Tấn, bị xử cực hình.)

Tôi cũng xin làm một bài thơ:
*Việc đời vốn có thịnh suy
Ngày tháng như thoi xoay vần
Giờ đây tuổi đã tám mươi
Rong ruổi Đông Tây Nam Bắc
May thay gặp được Phật pháp
Được một vạn sự đều buông
Lúc này chẳng còn ân oán
Khi đi một dạ thảnh thơi.*

Và nữa:
*Viết ba trăm cuốn sách
Vẽ tranh nhiều vô kể
Thuyết pháp vô số lần
Tương lai gửi lên trời
Có thể hóa thành mây
Cũng có thể thành khói.*


### 31. Thơ của Trinh Trinh


Trinh Trinh gửi đến một bài thơ, cô ấy viết rất táo bạo, táo bạo chính là văn chương kỳ lạ, cùng thưởng thức văn chương kỳ lạ:

Bài thơ như sau:
*Em mãi mãi ghi nhớ
Chúng ta có lời thề nguyện và yêu thương sâu đậm
Chúng ta là vua và hoàng hậu của cảnh đẹp Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ và Ma Ha Song Liên Trì
Người là vị vua thân thiết nhất của em
Còn em là Phật Mẫu*

*Diêu Cơ
Vân Hoa Phu Nhân
Em là thánh chủ Vu Sơn
Nhân duyên của chúng ta cuối cùng đã chín muồi*

*Em đã chứng thực
Người là bậc Đại Tôn Giả vô lậu
Vượt trên tất cả các cõi trời
Đây là sự thật chân thực*

*Người và em đều không phải thế tục
Bổn tôn và Phật Mẫu song vận
Chính là lúc ấy
Tự tại như như như thế*

*Đại lạc
Quang minh
Không tính
Hiển hiện từng cái một
Âm thanh vi diệu của trời
Vang lên ở Song Liên Trì*

*Trong tương lai không xa
Chúng ta cùng nhau quay về
Đó là một cầu vồng của tình yêu
Trinh Trinh
Lư Thắng Ngạn
Vũ điệu vĩnh hằng*

🌟

Tôi (Sư Tôn Lư) nói:

Bài thơ này, ban đầu rất trần trụi, sau đó tôi thấy không thích hợp lắm, tôi đã sửa đổi một chút, nhưng vẫn giữ nguyên ý nghĩa. Mong mọi người thông cảm!
Tôi muốn tuyên bố rằng:
Diêu Trì Kim Mẫu có rất nhiều con gái, trong đó có một số người đặc biệt xuất sắc:
Con gái thứ tư Hoa Lâm là Nam Cực Vương Phu Nhân.
Con gái thứ mười ba Mị Lan là Hữu Anh Vương Phu Nhân.
Con gái thứ hai mươi Thanh Nga là Tử Vi Vương Phu Nhân.
Con gái thứ hai mươi ba Diêu Cơ là Vân Hoa Phu Nhân.
Con gái thứ hai mươi bốn Ngọc Chi là Thái Chân Vương Phu Nhân.

Diêu Cơ ở núi Vu Sơn.
Hóa thân thành mười hai vị thần nữ, tên là Đăng Long, Thánh Tuyền, Triêu Vân, Vọng Hà, Tùng Lãnh, Tập Tiên, Phi Phượng, Thúy Bình, Tụ Hạc, Tịnh Đàn, Khởi Vân, Thượng Thăng.
Mười hai vị này cũng chính là hóa thân của Diêu Cơ, ngoài ra còn có vô số hóa thân khác.
Theo tôi biết:
Nguyên nhân tôi được Diêu Trì Kim Mẫu khai thiên nhãn là do mối quan hệ thân thiết giữa Diêu Cơ và tôi.
Ngày nay, trong số các nữ đệ tử Chân Phật Tông, có rất nhiều người tự xưng là Diêu Cơ.
Vì Diêu Cơ có rất nhiều hóa thân, nên điều này cũng không có gì lạ, đây là điều tôi cần phải ghi chú.
Hiện tại điểm quan trọng không phải là những điều này, điểm quan trọng là việc trở về Diêu Trì Tiên Cảnh không phải là chuyện dễ dàng.

1. Không thể thiếu thiện căn.
2. Tâm thanh tịnh (đoạn trừ ngũ dục).
3. Công đức.
4. Thần thông lực.
5. Được Kim Mẫu thọ ký.

Diêu Cơ cùng mười hai hóa thân, diễm lệ rạng ngời, phong thái trang nghiêm thanh tao, trên đầu búi tóc cài hoa, tuổi mười sáu, dáng vẻ thướt tha, dung nhan tuyệt thế, đôi mắt long lanh, thần thái thanh tú. (tuyệt thế mỹ nhân)

Thật ra tôi rất ngưỡng mộ đôi thần tiên quyến thuộc Diêu Trì Kim Mẫu và Đông Hoa Đế Quân.

Tôi và Diêu Cơ cũng vậy.

Có một bài thơ do Ngô Thừa Ân viết, tôi đặc biệt yêu thích:
*Muôn đạo hào quang tràn không gian, sương màu bay lượn ánh sáng tràn.
Phượng đỏ ngậm hoa thêm tươi thắm, lân xanh múa lượn tiếng du dương.
Phúc như Đông hải thọ như sơn, dung mạo trẻ thơ thân khỏe mạnh.
Hồ ẩn động tiên linh dược quý, lưng đeo phù chú trường sinh thiên.
Trần thế mấy lần ban điềm lành, nhân gian bao độ tiêu tai ách.
Võ Đế từng ban thêm tuổi thọ, Diêu Trì thường dự tiệc đào tiên.
Giáo hóa chúng tăng lìa tục lụy, khai thị đại đạo sáng như điện.
Cũng từng vượt biển chúc nghìn thu, thường đến Linh Sơn bái Phật diện.
Thánh hiệu Đông Hoa Đại Đế Quân, khói mây đệ nhất thần tiên quyến.*

Bài thơ này viết về Đông Hoa Đế Quân, nhưng cũng đề cập đến Diêu Trì Kim Mẫu trong đó.
Họ là quyến thuộc thần tiên.
Ngày xưa.
Tôi nhớ, Đổng Song Thành và Hứa Phi Quỳnh là hai thị nữ chính.
Thanh Loan, Thiếu Loan, Ấu Loan là ba chim xanh, dẫn đường trước Diêu Trì Kim Mẫu.
Diêu Trì Kim Mẫu có ba nghìn tiên nữ hầu cận.

Có một bài thơ về việc Diêu Trì Kim Mẫu tuần du:
*Ta ngự kiệu bát cảnh
Thần hành trong Ngọc Thanh
Rồng bay vút trời đêm
Hổ dẫn đoàn chu binh
Chốn tiêu dao mượt mà 
Vạn dòng không tạm dừng
Thường tại vô trung cảnh
Chẳng chết cũng chẳng sinh
Ngộ được đạo tự nhiên
Tịch hoan hợp thái minh
Đại hội Bàn Đào thịnh
Khách quý tự thọ linh.*

Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn, cao siêu vĩ đại thay.

🌟

Tôi đã từng hỏi:
"Thưa Diêu Trì Kim Mẫu, tu hành là gì?"
Kim Mẫu đáp:
"Tu hành là đoạn trừ ngũ dục."
Tôi hỏi:
"Tại sao phải đoạn trừ ngũ dục?"
Kim Mẫu đáp:
"Ngũ dục là nguyên nhân của luân hồi, một khi đoạn trừ ngũ dục, tức là Kim Tiên."
(Những lời này thật đơn giản và rõ ràng.)

Tôi hỏi:
"Vậy Kim Tiên thì sao?"
Kim Mẫu đáp:
"Từ bi phổ độ, tiếp dẫn người mê, thánh hội Long Hoa, ban đào tiên cho chúng sinh, đại đức đại nhân, độ hồi nguyên linh."
(Thì ra vẫn là bố thí.)

Tôi đã hiểu!
Diêu Trì Kim Mẫu nói:
"Hãy đưa những đứa con gái của ta ở cõi Ta Bà trở về!"


### 32. Nhật ký Quang Nữ Bảy Sắc


Quang Nữ Bảy Sắc cũng chính là Diêu Cơ.
Nàng nói:
Nhật ký em viết là những trải nghiệm gần đây, thật kỳ diệu, chứa đựng những câu vàng ngọc vô cùng quý báu.
Tất cả đều là tâm quang minh!
Đại diện cho thân, khẩu, ý của em hoàn toàn cúng dường Ngài!
Xin hãy trân quý em.
Người thương yêu nhất của em!

🌟

Tôi hỏi Đại Phạm Thiên Vương:
"Ý nghĩa của pháp luân là gì?"
Đại Phạm Thiên Vương đáp:
"Tiêu trừ tai ách, hàng phục ma chướng, diệt trừ tất cả phiền não!"

(Lư Sư Tôn chú: Pháp luân là biểu tượng của Phật pháp. Là thời gian, không gian của Phật pháp. Sự chuyển động của pháp luân là tam tế nhất như, trùm khắp mười phương, không ngừng không dứt, tượng trưng cho chính pháp trụ thế, ý nghĩa vô cùng. Tiêu trừ tai ách, hàng phục ma chướng, diệt trừ tất cả phiền não, cũng vậy.)

🌟

Khi nhập Tam ma địa, Địa Tạng Bồ Tát phóng quang gia trì tôi.
Tôi hỏi:
"Ở cõi người có tác dụng gì?"
Địa Tạng Bồ Tát đáp:
"Tự mình phải giải thoát, và ở cõi người có chúng sinh, cũng phải độ họ được giải thoát."
Tôi hỏi:
"Dùng phương pháp gì?"
Ngài đáp:
"Dùng thiền định."
(Lư Sư Tôn chú: Đúng là thiền định. Khi nhập vào chính tam muội, sẽ xuất hiện rất nhiều phân thân, trăm, nghìn, triệu phân thân, đi giáo hóa chúng sinh, như vậy chúng sinh mới được giải thoát. Dùng trăm, nghìn, triệu để cứu độ trăm, nghìn, triệu chúng sinh.)

🌟

Trong lúc làm Hộ Ma Bồ Tát Di Lặc:
Tôi đã thấy ba hội Long Hoa.
Bồ Tát Di Lặc nói với tôi:
"Ba hội Long Hoa đã bắt đầu từ lâu rồi!"
Tôi hỏi:
"Tại sao vậy?"
Bồ Tát Di Lặc đáp:
"Tam tế nhất như! Chỉ cần một niệm là đến được tịnh thổ Di Lặc."
Bồ Tát Di Lặc nói:
"Lư Sư Tôn chính là Bồ Tát Di Lặc."
Tôi hỏi:
"Sao lại thế?"
Bồ Tát Di Lặc đáp:
"Lư Sư Tôn và ta là một."
Lúc này, Bồ Tát Di Lặc hóa thành Lư Sư Tôn.

(Lư Sư Tôn chú: Trong các vị Bồ Tát bất khả tư nghì, vốn dĩ đã là không thể nghĩ bàn rồi. Tất cả đều nằm trong trò chơi thần thông, cũng như tất cả đều nằm trong nhân duyên. Mắt thịt phàm phu làm sao biết được? Biến hóa đến, biến hóa đi. Hiện tại, quá khứ, vị lai, vốn là thông suốt. Chúng ta cũng có thể biến hóa chư tôn, khi đến được cảnh giới đó, một chính là tất cả, tất cả cũng chính là một.)

🌟

Buổi tối, tại Seattle Lôi Tạng Tự đồng tu Chuẩn Đề Phật Mẫu. Ngay khi bắt đầu đã thấy Kim Mẫu giáng lâm, mặc long bào màu đỏ, xung quanh có các Không Hành Mẫu màu đỏ vây quanh.
Có thần rồng phun lửa.
Kim Mẫu mời các vị tiên nhân ngồi xuống, buổi đồng tu bắt đầu!

Tôi thấy trong cõi hư không, có Lư Sư Tôn chủ trì đồng tu.
Ở cõi người cũng có Lư Sư Tôn chủ trì đồng tu.
Lúc này,
Bạch Độ Mẫu, Diệu Âm Thiên Nữ, Quan Âm Bồ Tát, tám đại Bồ Tát...
Tất cả đều đến đông đủ.
Kim Cang Tát Đỏa (tịnh hóa bằng chổi) tham gia cùng đồng môn.
Ôi! Thật thù thắng quá!

Khi tụng văn cầu nguyện, chư thần ở cõi người dâng cúng dường lên Lư Sư Tôn, thật hùng vĩ quá!
Lòng tôi rất xúc động.

(Lư Sư Tôn chú: Thực ra mỗi buổi đồng tu hay Hộ Ma đều có các thánh giáng lâm. Trên trời có Lư Sư Tôn, dưới trần có Lư Sư Tôn, đây là chuyện rất bình thường. Bởi vì tôi có vô số phân thân.
Khi dùng chổi tịnh hóa phải tụng:
Phẩy một cái nhẹ bớt phiền não.
Phẩy hai cái loại bỏ vận rủi.
Phẩy ba cái tiêu trừ nghiệp chướng.
Phẩy bốn cái Bổn tôn phúc phần giáng lâm.
Về việc các thần cúng dường Lư Sư Tôn, điều này cũng không lạ, bởi vì mọi người bình đẳng nhất như, cúng dường lẫn nhau.)

🌟

Tôi thấy Hổ Đầu Kim Cang, Lư Sư Tôn cũng biến hóa thành Hổ Đầu Kim Cang.
Tiếng hổ gầm vang khắp nơi, oai phong lẫm liệt.
Tôi hỏi Kim Mẫu:
"Con có thể như Hổ Đầu Kim Cang, thành tựu đại sự nghiệp không?"
Kim Mẫu đáp:
"Tâm từ bi là quan trọng nhất!"
Câu nói này thật chấn động!
Bởi vì Hổ Đầu Kim Cang là để quét sạch tà ma, phải có tướng phẫn nộ, sao lại là tâm từ bi!

(Lư Sư Tôn chú: Tất cả các vị Kim Cang thần trong Mật giáo đều bên ngoài hiện tướng Kim Cang phẫn nộ, bên trong ẩn chứa tâm từ bi. Đó cũng là một phương tiện thị hiện, bề ngoài là phẫn nộ hàng phục, nhưng thực sự là tâm đại từ bi, muốn độ hóa những kẻ xấu này.
Cho nên Mật giáo có:
Phương pháp ăn sạch tà ma, tịnh hóa tà ma, chuyển thế thành người thiện.
Cũng có pháp giết để độ. Giết là tịnh hóa, độ là từ bi, trước hết là khuất phục, sau đó dẫn dắt vào chính pháp.)

🌟

Lư Sư Tôn truyền pháp Thiên nhãn thông.
Kim Mẫu dạy:
"Ý thanh tịnh là quan trọng nhất!"
Tôi nghĩ rằng:
Điều kiện của Thiên nhãn thông là:
Khí mạch thông suốt + ý thanh tịnh + hợp nhất với Bổn tôn.

Hiện tượng của tôi là:
Điểm sáng của Diêu Trì Kim Mẫu đi vào thân tôi, lúc này, thân tôi phóng ánh sáng rực rỡ, thanh tịnh hóa tất cả khí mạch trong toàn thân.
Tôi quét sạch tất cả tạp niệm, vọng tưởng, chấp trước của mình như quét rác vậy, đổ bỏ hết, không còn một hạt bụi, đây là ý thanh tịnh.
Lúc này, Diêu Trì Kim Mẫu và tôi hợp nhất, tức là hợp nhất với Bổn tôn vậy.
Thế là:
"Thiên nhãn đột nhiên khai mở".
Tôi thành tựu Quang Nữ Bảy Sắc.

(Lư Sư Tôn chú: Khí mạch thông suốt + ý thanh tịnh + hợp nhất với Bổn tôn. Cách nói này thật đáng tán thán.
Tôi viết thơ ca ngợi:
*Quét dọn sạch sẽ ngôi nhà tự thân
Thắp lên ngọn nến
Mọi thứ rõ ràng minh bạch
Mở cửa sổ cho không khí lưu thông
Đón chào quý khách
Như thế như thế
Chính là lúc trăng sáng.*)


### 33. Các thần tụ hội


Kính lễ Sư Tôn kính yêu! Kính chúc Sư Tôn thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý.

Đệ tử Liên Hoa Hiểu Quang, nhờ ơn Sư Tôn thương yêu, cho phép đệ tử ghi lại chứng nghiệm trong pháp hội của Sư Tôn. Đệ tử vô cùng vinh hạnh, cảm ơn Sư Tôn.

Đệ tử báo cáo lên Sư Tôn không phải để khoe công hay tranh ưu ái. Mà là muốn xin Sư Tôn ấn chứng những gì đệ tử thấy được, đồng thời mong muốn dùng những gì đệ tử đích thân chứng kiến, để nói cho mọi người biết Sư Phụ chúng ta tôn quý và vĩ đại biết bao, từ bi và khoan dung biết bao, chúng ta - những đệ tử Chân Phật - hạnh phúc biết bao, nhất định phải trân quý nhân duyên với Sư Tôn trong kiếp này.

Trong hai buổi pháp hội vừa kết thúc vào thứ bảy (24/2) và chủ nhật (25/2), đệ tử đã chứng kiến nhiều cảnh tượng thù thắng khi được Sư Tôn gia trì. Lúc đó đệ tử đã nhiều lần muốn bước vào Hộ Ma Bảo Điện để báo cáo với Sư Tôn trước đại chúng, nhưng lại sợ rằng nếu những gì mình thấy có sai sót thì chẳng phải là vọng ngữ hay sao. Thêm vào đó, đệ tử cảm thấy nghiệp chướng của mình sâu nặng, không đủ tư cách để làm chứng. Vì vậy cuối cùng đệ tử đã không đủ can đảm thực hiện, chỉ báo cáo miệng với Thượng sư Liên Truyền và nhờ Thượng sư chuyển đạt lại với Sư Tôn. Kính xin Sư Tôn tha thứ.

Sau đó đệ tử cảm thấy làm như vậy là không như pháp và có thiếu sót, trong lòng lo sợ. Vì thế, dưới sự khích lệ của hai vị Thượng sư có chứng lượng là Thượng sư Liên Truyền và Thượng sư Liên Kỳ, đệ tử cầm bút lên, một lần nữa dùng hình thức viết thư để báo cáo lên Sư Tôn và xin Sư Tôn ấn chứng.

I. Chứng nghiệm về Đại Pháp hội truyền pháp Thiên nhãn thông của Bạch Độ Mẫu:

Có hai điểm chính:
1. Về sự hiển hiện giáng lâm của chư Phật Bồ Tát và chư thiên Hộ pháp, các Không hành:
Trong pháp hội, Sư Tôn có khai thị rằng có rất nhiều Quan Thế Âm Bồ Tát giáng lâm.
Đệ tử cũng nhìn thấy. Đồng thời thấy được Sư Tôn và Quan Thế Âm Bồ Tát hợp nhất, Liên Hoa Đồng Tử với Sư Tôn hợp nhất, chư Phật Bồ Tát như những vì sao lấp lánh trên bầu trời, hiển hiện trong hư không.

Trong hư không còn có rất nhiều thiên nữ ngũ sắc đang nhẹ nhàng ca múa, uyển chuyển duyên dáng, tuyệt đẹp vô cùng. Đệ tử lúc đó tưởng các vị là thị giả của Diêu Trì Kim Mẫu, đến khi nghe Sư Tôn khai thị mới biết đó là các vị Không hành mẫu.

2. Con mắt kỳ diệu:
Trong khoảng không gian tĩnh lặng và sáng rỡ, từ từ xuất hiện một con mắt to lớn, xoay theo chiều kim đồng hồ. Chẳng bao lâu sau, xung quanh con mắt xuất hiện một vòng hào quang trắng ngang như vành đai Sao Thổ, xoay từ phải sang trái. Vòng hào quang dần dần mở rộng ra, bên trong có một hàng Sư Tôn ngồi, mặc long bào trắng, y phục Lama đỏ, đỉnh đầu đội vương miện trắng nhọn. Sau đó các vòng hào quang trên dưới xoay tốc độ cao hợp nhất, trong một sát-na biến thành một vị Bạch Độ Mẫu trang nghiêm vô cùng. Đệ tử cảm thấy Bạch Độ Mẫu đang nhìn mình, bỗng nhiên cảm thấy thân mình bị hút vào thiên nhãn của Bạch Độ Mẫu, rồi như đi vào đường hầm thời không, càng lúc càng sâu. Cuối cùng như đi vào một mật thất, căn phòng này trống trải, chỉ có một kim tự tháp pha lê trong suốt, thân đệ tử từ trên không rơi vào bên trong kim tự tháp, thấy Sư Tôn ngồi trước mặt đệ tử, mỉm cười. Đột nhiên Sư Tôn lại biến thành Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, rồi đệ tử cảm nhận Liên Sư phóng hào quang trắng rực rỡ, thế là đệ tử cảm thấy thân mình đi vào trong ánh sáng trắng và nhập định.

II. Chứng nghiệm về đại pháp hội Hộ Ma Thánh Quán Âm đệ nhất phú hào:

Có bốn điểm chính:
1. Về sự hiển hiện giáng lâm của chư Phật Bồ Tát và chư thiên Hộ pháp, các Không hành:
Trong hư không có khoảng bốn tầng, tầng cao nhất là chư Phật Bồ Tát, kế đến là chư thiên Hộ pháp và các Không hành thần chúng, tầng thấp nhất là vô số Long Vương; các Long Vương ngồi trên ghế.
2. Về mây cát tường và văn tự, âm thanh trong hư không trên Hộ Ma Bảo Điện chùa Cầu Vồng:
Phía trên Hộ Ma Bảo Điện chùa Cầu Vồng, từ hư không chậm rãi bay đến từng dải mây trắng cát tường, phủ kín cả đại điện, mây như từng đợt sóng, lớp này chồng lên lớp kia.
Khi đệ tử nhìn thấy các vị lớp lớp giáng lâm, trong hư không hiện ra các chữ (Hiền Kiếp Thiên Phật, Mahakala, Mãn Nguyện Đồng Tử...)
Đệ tử nghe thấy trong hư không có tiếng nói: Về sau Chân Phật Tông sẽ có rất nhiều đại phú hào, sư phụ của các con là Pháp Vương muôn đời.

3. Những viên gạch vàng chuyển động như quân domino:
Đệ tử nhìn thấy một dãy gạch vàng dài vài cây số, xếp như những quân domino, uốn lượn quanh co như dòng Hoàng Hà chín khúc. Bỗng nhiên viên gạch đầu tiên ngã xuống, rồi lần lượt từng viên lăn theo. Trong hư không, Mãn Nguyện Đồng Tử bay lượn nhảy múa.

4. Thị hiện tâm bồ đề rộng lớn và nghiệp lực thay thế chúng sinh của Sư Tôn cùng sự lĩnh ngộ của đệ tử:
Khi Sư Tôn khai thị về thân thể khỏe mạnh, vĩ đại của Ngài, trong tâm trí đệ tử lập tức hiện lên hình ảnh trước đây Sư Tôn cởi áo thị hiện thân hình cường tráng. Nhưng đột nhiên thân trên trần của Sư Tôn trong chốc lát xuất hiện nhiều lỗ thủng, như thể bị súng máy bắn thành tổ ong vậy. Đệ tử kinh hãi, tại sao lại như vậy? Ngay lúc đó, thân thể Sư Tôn lại khôi phục bình thường. Chợt hiểu ra đệ tử bỗng nhiên lĩnh ngộ tại sao lại như vậy. Thì ra chư Phật Bồ Tát thông qua thị hiện này để giáo hóa chúng con - những đệ tử Chân Phật.

Mỗi lần chúng con cầu xin Sư Tôn gia trì, Sư Tôn đều thay thế gánh vác nghiệp lực cho chúng con. Kể cả bản thân con đôi khi cũng có ý nghĩ biếng nhác như vậy: đằng nào có Sư Tôn gia trì, công khóa và công phu của mình kém một chút cũng không sao. Nhưng chính vì thế mà vô hình trung đã tăng thêm rất nhiều gánh nặng và phiền phức cho Sư Tôn, gián tiếp làm tổn thương đến Sư Tôn. Thật sự xin lỗi Sư Tôn. Sư Tôn vì cứu độ chúng sinh, không quản vất vả, không một lời oán thán, vô tư quan tâm đến từng đệ tử. Chúng con làm đệ tử càng phải trân quý Sư Tôn, yêu thương Sư Tôn, phải vừa cầu gia trì vừa làm tốt công khóa, sửa đổi ngôn hành của mình, hiểu rõ nhân quả. Thân tâm thanh tịnh, bất kể kết quả thế nào, đều phải biết ơn. Chỉ có như vậy mới có thể được gia trì thật sự to lớn, đồng thời cũng giảm nhẹ gánh nặng cho Sư Tôn, quan trọng hơn là nâng cao bản thân, đi đúng hướng tu hành, thật sự thể hội được thế nào là tất cả đều là sự sắp đặt tốt đẹp nhất, thế nào là kính Sư chân chính.

Đặc biệt báo cáo lên Sư Tôn và cầu xin Sư Tôn ấn chứng.
Kính chúc Sư Tôn an lạc.
Đệ tử Liên Hoa Hiểu Quang cúi đầu đảnh lễ.
Ngày 26 tháng 2 năm 2024.

🌟

Lư Sư Tôn đọc thư của sư huynh Hiểu Quang, trong lòng vô cùng xúc động.
Tôi thật lòng nói với mọi người rằng, tôi đều cung kính bình đẳng đối với Phạm Thiên.
Phạm Thiên mà tôi nói đến là chư Phật, Bồ Tát, Kim cang, Hộ pháp, Không hành, chư thiên.
Nói một cách nghiêm túc:
Từ Phật Đà trên cao đến Thổ Địa Công dưới thấp, tôi đều cung kính đảnh lễ, bình đẳng cúng dường.
Tôi còn muốn nói với mọi người:
Tu hành hơn năm mươi năm, cuối cùng tôi đã phát khởi lòng kính yêu đối với tất cả chúng sinh.
Từ khủng long cổ xưa nhất đến vi khuẩn nhỏ bé nhất.
Thực vật.
Khoáng vật.
Đều có một phần tình cảm. (Tôi độ thoát cho họ.)

Có người hỏi tôi:
"Trên thế giới này có rất nhiều người xấu, ví dụ như: kẻ sát nhân, cướp bóc, trộm cắp, kẻ tà ác, kẻ lừa đảo, kẻ hung ác, không việc ác nào không làm... Thầy cũng kính yêu họ sao?"
Tôi đáp:
"Đúng vậy. Họ đều có Phật tính, một khi gặp được nhân duyên, họ cũng có thể phát khởi tâm đạo vô thượng. Ta nên bình đẳng cung kính."
Người ấy hỏi:
"Còn ác thú thì sao?"
Tôi đáp:
"Cũng vậy."
Người ấy hỏi:
"Còn những kẻ phản thầy diệt tổ thì sao?"
Tôi đáp:
"Cũng vậy."
Người ấy hỏi:
"Còn những kẻ phỉ báng thầy?"
Tôi đáp:
"Cũng vậy."
Người ấy hỏi:
"Nếu có người giết thầy, ác thú ăn thịt thầy thì sao?"
Tôi đáp:
"Vẫn bình đẳng cung kính."
Tôi nói: "Tất cả những gì xảy đến với tôi đều là nghiệp của chính tôi. Không thể oán trời trách người."

🌟

Do đó, trong pháp hội cầu nguyện, tôi thành tâm trì chú, đều có các thần tụ hội.
Bổn tôn mà tôi kính yêu nhất:
Diêu Trì Kim Mẫu. (Tiên Vương)
A Di Đà Phật. (Phật Vương)
Địa Tạng Bồ Tát. (Địa Vương)
Tất cả quyến thuộc đều sẽ đến pháp hội.
(Tôi vẫn luôn cung kính các tôn giáo khác, thậm chí tất cả các bậc thánh nhân tôn giáo.)
Ví dụ:
Thượng Đế, Chúa Trời, Chúa Jesus, Allah, Vishnu, Brahma, Shiva, chư thiên............
Không hành mẫu và các vị khác.
Các bậc thánh nhân như Khổng Tử, Lão Tử, Trang Tử, Mạnh Tử............
Tóm lại,
Trong tâm tôi (Lư Sư Tôn), đối với mỗi người đều tôn kính. Thậm chí cả những loài bay trên trời, bò dưới đất, bơi dưới nước, đối với hoa, cỏ, cây, gỗ cũng đều như vậy.

Bài cầu nguyện của tôi:

Nguyện con lâm chung không chướng ngại. A Di Đà Phật đón từ xa.
Quan Âm cam lộ rưới đỉnh đầu. Thế Chí kim đài an bước chân.
Trong khoảnh khắc hóa về Tây phương. Cúi mình thoáng chốc thấy ao sen.
Hoa sen nở thấy tự tính mình. Lắng nghe diệu âm tâm hoan hỷ.
Đã ngộ vô sinh pháp nhẫn rồi. Không trái thề nguyện vào Ta Bà.
Dùng phương tiện trí độ chúng sinh. Con xem phiền não là Phật sự.
Con nguyện đồng nguyện với chư Phật. Độ hết tất cả mới thành tựu.
Lành thay!
Lành thay!
Con chỉ là một Liên Hoa Đồng Tử nhỏ bé, cuộc đời này không còn gì phải hối tiếc!
Kính lễ Phạm Thiên và tất cả chúng sinh!


### 34. Chính kiến của Bạch Độ Mẫu


Gần đây, xuất hiện nhiều đệ tử ấn chứng về việc nhìn thấy Pháp thân của Lư Sư Tôn hoặc có thần thông, lai lịch, khiến nhiều người thầm kinh ngạc và khao khát, trong đó không ít người đã rơi vào lệch lạc. Với lòng từ bi của Bạch Độ Mẫu, tôi viết bài này để hướng dẫn chính xác việc tu hành. Nguyện cho hành giả tu tập vững vàng, thuận theo tự nhiên.

Thứ nhất, việc các đệ tử có thể nhìn thấy Pháp thân là phương tiện tùy thuận độ hóa của Lư Sư Tôn, cũng nhằm khuyến khích đệ tử tu hành tinh tấn. Vì vậy, đại chúng không nên quá chấp vào điều này, đuổi theo ảo tưởng (vọng tưởng điên đảo không phải chân thực kiến).

Thứ hai, về những trường hợp đệ tử cảm ứng và nhìn thấy Pháp thân Lư Sư Tôn, thực sự là để ấn chứng Pháp thân của Lư Sư Tôn hiện diện khắp nơi. (Tán thán thành tựu Đại Viên Mãn của Lư Sư Tôn!) Đồng thời, thông qua những trường hợp này để giúp chúng sinh hữu duyên có thêm niềm tin vào giáo pháp của Lư Sư Tôn. Tuy nhiên, việc đệ tử có thể cảm ứng hay nhìn thấy Pháp thân không có nghĩa là họ là hành giả thanh tịnh quang minh.

Thứ ba, việc thể hiện thần thông (thiên nhãn) đều là phương tiện thu hút đại chúng. Bất kể là đương sự hay người bên cạnh, không nên quá phóng đại (truy cầu thần thông), mà lệch khỏi chính đạo (tự tính thanh tịnh).

Thứ tư, hành giả và người hoằng pháp chưa tu hành viên mãn tuyệt đối không được lợi dụng lai lịch để đề xướng thần thông lực, dẫn dắt mù quáng, làm mê lầm chúng sinh. Đồng thời, tuyệt đối không được lợi dụng năng lực đặc biệt (thông lực) của mình để phô trương bản thân mà quên mất căn bản.

Thứ năm, Thượng sư là căn bản của thành tựu, giới luật là căn bản của giải thoát. Nên xem Thầy như Phật, nương tựa vào sự chỉ dạy của Căn bản Thượng sư Lư Sư Tôn, phụng sự, cúng dường và tu hành theo từng bước.

Thứ sáu, bất kể thời gian và địa điểm nào, chỉ cần thành tâm trì tụng thần chú Căn bản Thượng sư (Om guru liansheng siddhi hum), thanh tịnh tín tâm nơi Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật (Lư Sư Tôn), sự gia trì của pháp lưu truyền thừa hư không sẽ không bao giờ đoạn tuyệt.

Thứ bảy, Lư Sư Tôn là cư sĩ Duy Ma Cật thứ hai, có đầy đủ trí tuệ quang minh viên mãn chuyển hóa tất cả thành Phật pháp. Tuy nhiên, chúng sinh bình thường, những người tu hành chưa viên mãn, những người chưa hiểu được tâm yếu chuyển hóa trong đó, nên theo lời dạy của Phật Đà mà giữ giới luật, như pháp tu hành.

Thứ tám, Bạch Độ Mẫu từng dạy: "Trong số các hành giả và phàm phu, có ba hạng người không thể thực sự giải thoát:

(1) Người không có nhân giải thoát: Không hiểu về giải thoát, không tin nhân quả luân hồi, trong tâm không có Phật.

(2) Người thường hành động không như pháp: Không tuân thủ "Sự sư pháp ngũ thập tụng", phá vỡ giới nguyện với Căn bản Thượng sư, v.v.

(3) Người tâm không thanh tịnh: Trong tâm tràn ngập năm độc, đó là:
Tham - Theo đuổi ngũ dục, nương theo ngoại đạo, khó tịnh thân nghiệp. (ngũ dục: tiền, sắc, danh, ăn, ngủ)
Sân - Lửa giận mắng nhiếc, ác ngữ đối đãi, khó tịnh khẩu nghiệp.
Nghi - Tâm nhiều nghi ngờ, thiên kiến vọng tưởng, khó tịnh ý nghiệp.
Mạn - Tâm mạn tự phụ, tự khen chê người, khó sinh từ bi.
Si - Mê đắm thế tục, mù quáng chấp ngã, khó sinh xuất ly.

Thứ chín, qua quan sát, do sự khoan dung về giới luật hiện nay của Chân Phật Tông, hành giả thông thường và nhân viên hoằng pháp thiếu giáo dục và nhận thức đúng đắn về giới luật, dẫn đến tùy tiện hành động (phạm giới) mà hoàn toàn không hay biết. Vì vậy, cần ôn lại giới luật và văn tập số 214 của Lư Sư Tôn "Bảo kiếm của yogi". Nguyện tu hành như hoa sen mọc từ bùn mà không nhiễm, cuối cùng đạt được giải thoát.

🌟

Thơ:

*Ngoại học và nội minh,
Tất cả phải thông tỏ
Cả hai là tương đồng
Hãy nhớ phải hiểu rõ.
Tất cả đều tốt đẹp,
Không so bì cao thấp;
Sinh tử quan trọng nhất,
Thực địa mới là khéo.*


### 35. Báo cáo của Thượng sư Liên Ha


Sư Phật và Sư Mẫu kính yêu nhất, Phật an!
Ngu đệ tử Liên Ha nhất tâm đảnh lễ, xin dâng cúng dường thân khẩu ý lên Sư Phật và Sư Mẫu!

Tết năm Rồng sắp đến, ngày mai đệ tử sẽ bay đến Seattle để đón năm mới cùng Sư Phật và Sư Mẫu. Đệ tử xin kính chúc Sư Phật và Sư Mẫu đón xuân vui vẻ, Phật thể an khang, trường thọ vô lượng, tùy tâm tự tại, độ chúng vô lượng!

Mấy ngày trước, đệ tử vừa ghi hình video giới thiệu về hai văn tập của Sư Phật là "Khẩu Quyết Đạo Giải Thoát" và "Định Trong Định". Hiện tại đang trong giai đoạn hậu kỳ - làm phụ đề, chèn hình ảnh, chữ và biên tập. Các giáo viên hạt giống Chân Phật cũng đã mỗi người chọn một đến hai cuốn văn tập của Sư Phật để viết bài giới thiệu và quay video. Chúng con hy vọng có thể dùng cách này để chúc mừng Sư Phật đã hoàn thành 300 cuốn văn tập, một thành tựu mang tính thời đại.

Tuần trước, đệ tử cũng đã hoàn thành việc giảng giải cho đồng môn về cuốn "Định Trong Định" của Sư Phật. Mỗi bài đều được đọc và giải thích tỉ mỉ từng chữ, thấu hiểu ý nghĩa sâu xa bên trong, tìm ra những khẩu quyết và áp dụng vào thực hành tu tập hiện tại. Nhiều đồng môn chia sẻ rằng, từ chỗ ban đầu hoàn toàn không biết cách thiền định, mỗi lần tu pháp chỉ biết ngồi thẫn thờ, đến nay đã cảm nhận được trạng thái nhập định, thậm chí có đồng môn còn hơi "phóng đại" nói rằng giờ đã có niềm tin tương lai sẽ thành Phật. Đệ tử xin cảm ơn Sư Phật đã viết ra tác phẩm kinh điển về tu tập thiền định quý báu và quan trọng như vậy, giúp các đệ tử được lợi ích sâu sắc. Cuối cùng, đệ tử đã tinh lọc toàn bộ cuốn sách, tổng kết những khẩu quyết tinh túy của mỗi bài để chia sẻ với mọi người, ai nấy đều rất hoan hỷ.

Thật ra dạy và học cùng tiến bộ, trong quá trình giảng sách này, đệ tử cảm thấy mình mới chính là người được lợi ích nhiều nhất, hiểu biết về sách của Sư Phật ngày càng sâu sắc, đối với thứ tự, phương pháp, tâm yếu của thiền định cũng ngày càng hiểu biết toàn diện hơn, về kỹ thuật, khẩu quyết, ứng dụng của thiền định cũng ngày càng thành thục hơn, và còn kết hợp được tất cả những khẩu quyết mà Sư Phật đã truyền cho đệ tử trước đây, hiểu được vì sao Hòa thượng Hư Vân đã nói: "Thiền định là việc đơn giản nhất trên đời." Thật ra tìm đúng phương pháp rồi, sau đó chỉ là vấn đề thời gian mà thôi.

Kính thưa Sư Phật, năm 2024 đã đến, Tông Ủy Hội đã tuyên bố 2024 là năm Giáo dục Chân Phật, đệ tử đã lập kế hoạch toàn diện cho chương trình giáo dục Chân Phật trong năm, kính xin Sư Phật chỉ đạo và gia trì:

**Kế hoạch chỉnh thể chương trình giáo dục Chân Phật 2024:**

I. Đại học Trực tuyến Chân Phật:

1. Nghi lễ Sinh mệnh: Thượng sư Liên Phi, Thượng sư Liên Duyệt, Giảng sư Vũ Tự Tại

2. Thiên âm nhã nhạc: Lý thuyết + Thực hành: Giảng sư Liên Dung, Giảng sư A Tín

3. Giải thích đơn giản về thứ tự đạo bồ đề: Trưởng lão Liên Mãn, Liên Truyền

II. Khóa học Pháp đường:

1. Khóa đào tạo và tuyển chọn nhân viên hoằng pháp tại gia (giảng sư, trợ giảng)

2. Khóa đào tạo tăng chúng Chân Phật

III. Khóa học Tổng quát:

1. Khóa học Nhiếp ảnh pháp hội và hoạt động đạo tràng

2. Khóa học Tư vấn tâm lý (Quan hệ cha mẹ - con cái, vấn đề vợ chồng)

3. Khóa học Nghệ thuật tượng Phật Mật tông và thangka

IV. Khóa học Trực tiếp:

1. Lớp Bồi dưỡng nhân viên hoằng pháp đại pháp hội Mùa Thu 2024

2. Lớp Nâng cao dành cho Thượng sư

3. Khóa học Tụng kinh trực tiếp

4. Lớp Bồi dưỡng đại hội cúng tăng tại Malaysia

5. Lớp Bồi dưỡng khóa tu Mật tông tại Indonesia

6. Khóa học Phật học tại Singapore

7. Khác

Đệ tử nhất tâm thỉnh cầu Sư Phật gia trì, để tất cả các khóa học trong năm Giáo dục Chân Phật 2024 đều được viên mãn thành tựu, mang lại sự tiến bộ cho tông phái và lợi ích tròn đầy cho đại chúng.

Sư Phật kính yêu, vào thứ bảy tuần trước, Chân Đế Lôi Tạng Tự ở Brazil cũng đã tổ chức đại hội ban quản trị và giám sát. Một thế hệ nhân tài mới đã được phát hiện và bắt đầu phát huy, gia nhập ban quản trị và đảm nhận vị trí trưởng nhóm của các tổ công tác, độc lập đảm đương, học tập và rèn luyện để trở thành người lãnh đạo. Hiện nay, ban quản lý của Chân Đế Lôi Tạng Tự có đủ các độ tuổi từ bảy mươi, sáu mươi, năm mươi, bốn mươi đến ba mươi, hai mươi, là một cơ cấu tổ chức kết hợp già trẻ rất viên mãn. Người cao tuổi cung cấp kinh nghiệm, mang lại sự ổn định về cảm xúc cho mọi người, người trung niên chín chắn dẫn dắt mọi người tiến lên, còn người trẻ mang đến sức sống, đầy ắp những ý tưởng và sinh khí mới. Tổng hợp như vậy thì rất viên mãn và viên dung. Quan trọng hơn nữa là có thể giúp Chân Phật Mật Pháp được truyền thừa vĩnh viễn, tương lai đầy hứa hẹn. Cầu xin Sư Phật gia trì cho Chân Đế Lôi Tạng Tự mọi người mãi mãi thân thiết như một nhà, nhân sự hòa thuận, đồng tâm hiệp lực, cùng nhau tiến bộ, việc mua sắm xây dựng ngôi nhà Chân Phật mới được thuận lợi thành công, tương lai mọi người cùng nhau tu thân dưỡng tính, hoằng truyền rộng rãi Chân Phật Mật Pháp, cùng chứng bồ đề.

Cuối cùng, một lần nữa kính chúc Sư Phật Sư Mẫu năm Rồng an vui! Ngày ngày hoan hỷ, thời thời cát tường, Phật thể an khang, trường thọ tự tại, pháp luân thường chuyển, thỉnh Phật trụ thế! Cũng xin Sư Phật gia trì cho đệ tử thân thể khỏe mạnh, tu hành thành tựu, thiền định thành tựu, bồ đề viên mãn! Xin gia trì cho đệ tử tổ chức lễ kỷ niệm đại thọ 80 của Sư Phật được viên mãn thành công!

Ngu đệ tử Liên Ha kính bái.
Ngày 5 tháng 2 năm 2024 tại São Paulo, Brazil.


### 36. Tự thuật của một vị Phật Mẫu


Đảnh lễ Sư Tôn tôn quý, kính thưa Sư Tôn kính yêu!
Trước tiên, đệ tử xin đảnh lễ quỳ lạy Sư Tôn, thành tâm sám hối về nghiệp chướng vô minh và sự không tinh tấn của mình.

Nguyên nhân viết bức thư này: Từ khi quy y Sư Tôn, đệ tử luôn có rất nhiều cảm ứng, vì cảm thấy những điều này rất kỳ lạ và khác với đại chúng, đệ tử không dám chia sẻ với nhiều người, nên trong lòng vẫn luôn âm thầm cầu xin Sư Tôn chứng thực tất cả những giấc mơ không thể nghĩ bàn, những cảm ứng và những điều nhìn thấy trong thiền định này có phải là thật không? Nhiều lần trong mơ đệ tử nhìn thấy Pháp thân của Sư Tôn lần lượt xuất hiện trước mặt đệ tử, đệ tử rất rõ ràng ý thức được Sư Tôn đến để nói với đệ tử rằng những điều này đều là thật, nhưng đệ tử vẫn không có can đảm để thưa với Sư Tôn.

Cho đến khi đệ tử quyết định mua vé máy bay đến Seattle tham dự pháp hội Mùa Xuân, đệ tử lại thấy Sư Tôn trong mơ, và Ngài rất nghiêm túc nói với đệ tử rằng: con chính là Phật Mẫu. Âm thanh đó vang vọng rất lớn, như thể cả hư không đều nghe thấy, vì vậy lần này đệ tử cảm thấy đây là cơ duyên nên cũng lấy hết can đảm viết thư cho Sư Tôn.

Đệ tử trước tiên xin mô tả đơn giản về cảm ứng thiền định: đệ tử là Liên Hoa (Lý) Mẫn, em gái của Thượng sư Liên Hỷ, vô cùng cảm ơn ân sủng và gia trì của Sư Tôn đã cho phép đệ tử đến thế gian này để được gặp gỡ Sư Tôn trong kiếp này và tu hành theo Ngài. Nhân duyên bắt đầu khi chị gái mong muốn đệ tử di cư từ Trung Quốc đến Panama được thuận lợi, chị đã giúp đệ tử quy y. Sau khi đến Panama, điều đầu tiên đệ tử học được là tâm chú của Sư Tôn. Khi bắt đầu trì chú, trong giấc mơ đệ tử thường nghe thấy nhiều vị xuất gia và chư Phật Bồ Tát vây quanh bên cạnh tụng chú và niệm Phật hiệu, cảnh tượng trong mơ luôn biến hóa vô cùng. Không biết từ lúc nào, đệ tử tự nhiên cảm thấy mọi thứ trên thế gian này đều là hiện tượng hư ảo, và vì thế, trong lòng đệ tử luôn cảm thấy mình khác với người khác, nhưng lại không biết phải nói thế nào, bởi vì tất cả những điều đó đều là cảnh hư ảo trong mộng, không thể có trong thế gian này. Vì vậy đệ tử vẫn cứ xem đó chỉ là những giấc mơ mà thôi.

Cho đến một ngày, vì tò mò, đệ tử muốn học cách ngồi thiền. Khi đệ tử ngồi kiết già, những hiện tượng kỳ lạ bắt đầu xuất hiện. Đệ tử bắt đầu cảm nhận được luồng khí đang chuyển động từ lòng bàn chân, chuyển động này liên tục điều chỉnh chân của con (không bị tê chân và rất thoải mái), rồi đến vùng thắt lưng (tự điều chỉnh thẳng lưng), sau đó đến đan điền (cảm thấy ấm), và cổ họng (nước bọt trong miệng có vị ngọt nhẹ), cuối cùng là đỉnh đầu (toàn bộ tê dại, đỉnh đầu căng lên như thể có gì đó sắp thoát ra). Tiếp đến, đệ tử rõ ràng cảm nhận được bản thân nhưng lại không nhìn thấy mình, bởi vì toàn thân đã biến đổi trở nên vô biên rộng lớn, cảm giác toàn thân rất vững chãi, cảm thấy chỉ cần khẽ động một sợi tóc cũng có thể làm rung chuyển cả núi non đất đai. Dần dần lại cảm thấy thân thể như sóng nước đang nhấp nhô, vô cùng thoải mái và có một sức mạnh vô song trong toàn thân, rồi cảm giác như đang nhẹ nhàng lơ lửng. Cuối cùng đệ tử thấy xung quanh biến thành lửa, kể cả bản thân cũng là lửa, không cảm thấy nóng mà ngược lại ấm áp dễ chịu, rồi toàn thân tràn đầy năng lượng, không còn cảm nhận được hơi thở của mình, nhưng ý thức vẫn còn cảm nhận được con người mình đang hiện hữu, nhưng lại là không. Khi xuất định, đệ tử phát hiện mình đã ngồi gần hai tiếng đồng hồ, nhưng cảm giác chỉ như một thoáng thời gian mà thôi.

Sau lần cảm ứng thiền định đó, đệ tử liên tục gặp nhiều điều kỳ diệu, đệ tử hiểu được một ngôn ngữ lạ, viết được một loại văn tự kỳ lạ, rồi vẽ được phù chú. Dường như chư Bồ Tát biết được thân thể đệ tử vốn yếu ớt với nhiều bệnh tật, nên đệ tử luôn cảm nhận được Kim Mẫu và rất nhiều vị Phật Mẫu luôn ở bên cạnh chỉ dạy và nhắc nhở những gì nên ăn, những gì không nên ăn, hướng dẫn điều chỉnh giấc ngủ sinh hoạt, mỗi ngày yêu cầu đệ tử luyện công pháp. Khoảng 30 đến 45 phút, phép màu đã xảy ra, những căn bệnh trước đây đã biến mất, thuốc cũng không cần uống nữa. (Ghi chú: Tất cả những linh động và công pháp này, đệ tử khi đó chỉ cần tập trung tâm ý là có thể thực hiện được ngay, và còn rất thành thạo.)

Ngoài những cảm ứng kể trên, ban đầu hầu như mỗi tối khi nghỉ ngơi và lúc tĩnh tọa, Pháp thân của Sư Tôn thường xuất hiện, chư Phật Bồ Tát dẫn dắt đệ tử đi xem nhiều thế giới khác nhau, bao gồm các cõi Phật và kiếp trước. Dần dần, đệ tử cảm nhận được mỗi lần tu pháp tọa thiền, bản thân sẽ biến hóa thành nhiều Pháp thân và Phật Bồ Tát khác nhau, đi đến những nơi có tai nạn, bệnh tật để cứu độ chúng sinh. Trong mỗi lần cứu độ, tâm đệ tử luôn quán tưởng Sư Tôn trụ đỉnh, sau đó đệ tử nhanh chóng hợp nhất với Sư Tôn, Ngài biến hóa ra nhiều ánh sáng và lực lượng từ bi để cứu độ chúng sinh khỏi đủ loại thiên tai nhân họa. Vì vậy, có một thời gian đệ tử rất tinh tấn nhập định tọa thiền tu pháp, trong lòng vô cùng hy vọng dùng những năng lực này để giúp thêm nhiều chúng sinh giải thoát khỏi những khổ đau trên thế gian. Dần dần, tâm đệ tử rất tự nhiên đi đến đâu, bước đến đâu cũng có thể tự nhiên quán tưởng được Sư Tôn, Kim Mẫu, chư Phật Bồ Tát và chư vị Hộ Pháp, ánh sáng của các Ngài chiếu rọi khắp nơi đệ tử đi qua và những nơi đệ tử nghĩ đến.

Cuối cùng, vì công việc và gia đình, đệ tử đã không tinh tấn tu pháp và ngồi thiền, vì vậy trong lòng đệ tử luôn cảm thấy hổ thẹn và ăn năn. Những lời nguyện trước đây trong thiền định về việc độ hóa chúng sinh đời đời kiếp kiếp, đệ tử đều chưa dụng tâm thực hiện. Hiện tại chỉ riêng việc chăm sóc gia đình đã khiến đệ tử cảm thấy kiệt sức về thời gian và năng lượng, nhưng trong lòng vẫn luôn cố gắng hy vọng bản thân có thể điều chỉnh tốt môi trường sống, nhất định phải trân quý phước báu và nhân duyên hiện tại của mình, tinh tấn tu hành.

Đệ tử một lần nữa thành tâm sám hối với Sư Tôn về sự ngu si và nghiệp chướng của đệ tử, cầu xin Sư Tôn gia trì tăng thêm phước báu và trí tuệ, để có được phúc đức lực này mà tinh tấn tu hành, tinh tấn tu pháp.

Om guru liansheng siddhi hum.
A Di Đà Phật!

🌟

Viết một bài thơ tặng Lý Mẫn:

Tên bài thơ: Khích lệ
*Sao không tìm một khoảng không nhỏ
Tĩnh tâm chuyên chú mà tập định
Phật Mẫu là Pháp thân chân thật
Tiếp nối huệ mệnh lớn của Như Lai.*

(Lành thay! Lành thay! Cố gắng lên! Cố gắng lên! Không chỉ tiếp nối huệ mệnh, mà còn có thể cứu độ chúng sinh.)


### 37. Sức mạnh gia trì của Căn bản Thượng sư


Mẹ của đệ tử Liên Hoa Vận Sương ở Malaysia, pháp danh Liên Nhã, vào ngày 9 tháng 10 năm 2023 không cẩn thận nên bị ngã, ban đầu bác sĩ nghi ngờ mẹ bị gãy xương do bệnh lý, nghĩa là có khối u ở một vị trí nào đó trong cơ thể gây ra, vì vậy bác sĩ đã tiến hành một loạt các xét nghiệm, chụp CT não và toàn thân, làm thêm MRI, thậm chí còn phẫu thuật lấy một mẫu xương nhỏ để xét nghiệm.

Trong thời gian này, mẹ phải nhập viện nhiều đợt, kể từ khi bị ngã, ban đêm mẹ bắt đầu mất ngủ, vừa đau đớn vừa suy nghĩ lung tung, không thể ngủ được suốt đêm. Cả mẹ và người chăm sóc đều vô cùng đau khổ.

Cho đến ngày 26 tháng 10, nhận được một video do Thượng sư Liên Tử gửi đến, trong đó Sư Tôn mặc long bào màu vàng, rất từ bi đưa tay phải ra nói là gia trì cho mọi người, Thượng sư Liên Tử nói có thể cho mẹ xem video, sẽ nhận được gia trì từ Sư Tôn.

Trước khi đi ngủ, đệ tử cho mẹ xem video ba lần và xin Sư Tôn đặc biệt gia trì cho chân trái của mẹ.
Thật kỳ diệu, kể từ khi bị ngã, đây là lần đầu tiên mẹ ngủ yên giấc đến năm giờ sáng.
Trong thời gian nằm viện, đôi khi giường bên cạnh có những bệnh nhân bị âm chướng, càng về khuya họ càng nói năng lộn xộn, thậm chí còn chửi bới vào không khí, y tá cũng không biết làm sao, khiến mọi người không thể ngủ ngon được.

Đệ tử nghĩ nếu Sư Tôn có thể gia trì cho mẹ được bình an và ngủ ngon, chắc hẳn cũng có thể giúp được các bệnh nhân ở giường bên cạnh, vì vậy đệ tử lén mở video chiếu về phía những bệnh nhân bị âm chướng, điều kỳ diệu đã xảy ra, chỉ trong chốc lát họ đã im lặng.

Không chỉ một người, bất cứ bệnh nhân nào bị âm chướng ban đêm la hét, đệ tử đều mở video cầu xin Sư Tôn gia trì cho họ, và họ đều nhanh chóng trở nên yên tĩnh.

Sức mạnh gia trì của Sư Tôn Lư thật không thể nghĩ bàn, Ngài không chỉ gia trì cho đệ tử Chân Phật Tông, mà ngay cả những người không phải đệ tử Chân Phật Tông, dù là người Ấn Độ hay người Malaysia, Ngài đều gia trì bình đẳng như nhau.

Đệ tử đã đưa mẹ vào viện trong ba tháng, cảm ơn Sư Tôn gia trì nên kết quả báo cáo cuối cùng cho thấy không có khối u nguyên phát, HPE cũng không phù hợp với khối u ác tính, mẹ đã trải qua ca phẫu thuật cắt rộng đầu trên xương đùi trái và cấy ghép khớp giả, ca phẫu thuật rất thành công, sau hai tuần dưỡng bệnh tại nhà đã có thể xuống giường đi lại, đối với người mẹ 83 tuổi thật sự là một điều may mắn lớn.

Đệ tử tin rằng đây là nhờ sức mạnh gia trì của Lư Sư Tôn, xin chân thành cảm ơn Sư Tôn.
Đệ tử Trần Vận Sương đảnh lễ.

🌟

Liệu pháp Khí công + Cửu tự chân ngôn (báo cáo cảm ứng)

Kính chúc Sư Tôn Phật thể an khang!
Ngày 9 tháng 5 năm 2022, đệ tử Liên Hoa Đạt Trí tiêm mũi vắc-xin Pfizer phòng Covid-19 thứ tư, ngay lập tức xuất hiện một vết ban đỏ nhỏ ở đùi trái.
Đến ngày 1 tháng 12 năm 2023, vết ban đỏ đã phát triển to bằng bàn tay.
Ngày 13 tháng 1 năm 2024, nhờ ân gia trì của Sư Tôn không bị giới hạn bởi không gian và thời gian, đệ tử đã áp dụng liệu pháp khí công + cửu tự chân ngôn. Mỗi ngày nhiều lần mở video hướng về phía vết ban đỏ.
Ngày 18 tháng 2 năm 2024, cuối cùng vết ban đỏ to bằng bàn tay kéo dài gần hai năm đã biến mất. Da đã hồi phục trắng mịn, tất cả đều bình thường.
Điều này chứng minh pháp lực của Sư Tôn vô cùng mạnh mẽ.

Sư Tôn tuyệt đối không nói dối.
Thật sự hiệu nghiệm.
Tràn đầy tín tâm.
Cảm ơn Sư Tôn.
Xin cảm tạ Sư Tôn.

Liên Hoa Đạt Trí.
Kuala Lumpur Malaysia.
Ngày 20 tháng 2 năm 2024.

🌟

Minh chứng Chân Phật tại thế gian

Liên Hoa Bội Quân đảnh lễ.
Trong lòng có cảm xúc, nên ghi lại.

Chân Phật Tông là một tông phái chân thực hoàn toàn, bởi vì Lư Sư Tôn của chúng ta chính là Phật, nhưng cho đến nay, vì nhiều lý do khác nhau, sự hiểu biết thực sự của thế gian về Chân Phật Tông/Lư Sư Tôn không chỉ thiếu thốn và hiếm hoi, mà một số còn mang tính tiêu cực (phần lớn là do tin theo lời phỉ báng). Một số đệ tử trong tông phái cũng có khoảng cách về nhận thức (chưa đủ tín tâm thanh tịnh). Sự chênh lệch giữa nhận thức và sự thật lớn đến mức đáng kinh ngạc, đã biết tông phái của mình hoàn toàn chân thực, vậy có cách nào giúp thế gian nhận ra chân tướng "Lư Sư Tôn chính là Phật" này không?

Liên Sinh Hoạt Phật trong suốt cuộc đời không ngừng mang đến những điều kỳ diệu siêu việt cho thế gian. Về mặt truyền thông của Chân Phật Tông (đề xuất xây dựng một trang web độc lập), có thể phân loại một cách có hệ thống, lưu giữ vĩnh viễn những sự tích này như một minh chứng. Mục đích của truyền thông là sử dụng phương pháp diễn đạt nổi bật và rõ ràng để thể hiện sự thật không thể phủ nhận - "Lư Sư Tôn chính là Phật".

Từ những ví dụ mang tính khoa học (có bằng chứng vật chất/nhân chứng) và tính huyền thoại, thông qua phương pháp thú vị, sinh động và dễ hiểu, làm rõ sự thật rằng Lư Sư Tôn/Liên Sinh Hoạt Phật của Chân Phật Tông chính là Phật, công bố sự thật này với thế gian. Nội dung chủ yếu dựa vào hình ảnh/video/hình ảnh kèm âm thanh, văn bản đóng vai trò hỗ trợ. Đối tượng truyền thông bao gồm tất cả mọi người, dù có tôn giáo hay không, nam nữ già trẻ.

Phân tán, thất lạc và lãng quên sẽ dẫn đến sự tiêu vong.
Tập hợp, bảo tồn và tỏa sáng sẽ thúc đẩy sự phát triển.
Hơn nữa, khi ánh sáng của Đại Nhật hiện ra, những ngôi sao phỉ báng yếu ớt kia sẽ tự khắc lu mờ.
Có thể đặt tên cho chủ đề truyền thông là "Kỳ tích của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn"?
Dưới đây là ý tưởng về nội dung truyền thông.

Lời mở đầu

Lư Sư Tôn - Ngài thực hiện việc cứu độ ngay trong đời này, có thể giúp con người thoát khỏi khổ đau và buồn phiền, lấy lại nụ cười và niềm vui. Bằng sức mạnh tu hành, Ngài dạy người ta giải thoát khỏi nỗi khổ của cõi người và sáu nẻo luân hồi, có thể đạt đến Phật quốc tịnh độ. Cuối cùng hợp nhất với tự nhiên vũ trụ, trở về cảnh giới cực lạc vĩnh hằng (thành Phật).

Lư Sư Tôn chính là vị Phật mà thế gian tôn xưng, bạn cũng có thể gọi những sự tích kỳ diệu này là... thần tích. Bởi vì có Chân Phật xuất hiện ở thế gian, mới có thể có những phép màu không thể nghĩ bàn thường xuyên như vậy, cầu mong chúng sinh có thể sinh khởi tín tâm với Phật pháp và Chân Phật, giải thoát sinh tử.

1. Những điều kỳ diệu của tự nhiên

A. Có thể nhìn thấy bằng mắt thường (điềm lành từ trời) như:
- Thánh Tôn tại Seattle vẽ cầu vồng trên không trung bằng tay.
- Khi giảng Lục Tổ Đàn Kinh, trên trời hiện ra đám mây hình dấu chân sáu móng.
- Trong đại pháp hội Khổng Tước Minh Vương, xuất hiện đám mây hình cánh chim.
- Tháng 5 năm 2014, tại Đài Loan trong lễ mừng sinh nhật Sư Phật, xuất hiện dải mây dài hình khăn khata trên núi Hoành Sơn.
- Khi Sư Tôn hiện diện (bao gồm cả đại pháp hội), trên trời xuất hiện cầu vồng đặc biệt.
- v.v…

B. Những điều không thể nhìn thấy bằng mắt thường, như:
- Ảnh chụp xích kim cang và hình ảnh Thời Luân Kim Cang hiện ra từ khói trong pháp hội Thời Luân Kim Cang tại Indonesia
- Ảnh chụp hào quang bát nhã khi Sư Tôn chủ trì đại pháp hội (được chụp bởi nhiều máy ảnh khác nhau của mọi người)
- v.v…

2. Tất cả những lời tiên tri đều chính xác
- Tiên đoán về dịch bệnh và chiến tranh năm 2014
- Tiên đoán ai sẽ thắng trong cuộc bầu cử tổng thống Đài Loan năm 2012
- Tiên đoán Đảng Dân Tiến sẽ thắng lớn trong cuộc bầu cử 6 trong 1 tại Đài Loan năm 2014
- Tiên đoán trong pháp hội Indonesia rằng sau pháp hội sẽ có mưa chấm dứt hạn hán
- v.v…

3. Sự tích cứu độ (kèm theo hồ sơ bệnh án được cải thiện, tốt nhất là do bản thân/người thân kể lại)
- Kỳ tích chữa lành bệnh nặng
- Được cứu từ âm phủ trở về dương gian
- Đáng lẽ phải phẫu thuật lớn, nhưng sau khi được Sư Tôn xoa đầu hoặc gia trì, không cần phải mổ nữa
- v.v…

4. Minh chứng quả vị tu hành - hạt xá lợi
Đệ tử Chân Phật Tông (bao gồm cả tử tù), sau khi vãng sinh hỏa táng có xá lợi.

5. Liên Hoa Đồng Tử của Chân Phật Tông và Liên Hoa Đồng Tử trong hang động Đôn Hoàng. (Có nhiều hình ảnh minh họa.)
- Liên Hoa Đồng Tử là có thật, không hư giả.
- Tịnh độ Tất địa của Liên Hoa Đồng Tử là có thật, không hư dối.
- Vào tháng 11 năm 1997, Viện Nghiên Cứu Đôn Hoàng đã xuất bản một cuốn sách có tên “Tuyển tập họa phẩm ô vuông trang trí Đôn Hoàng”, những người biên tập chính của cuốn sách là:
Đoạn Văn Kiệt.
Lý Khải.
Nhà xuất bản là Nhà xuất bản Thiểm Tây.

Nội dung của cuốn sách này chính là về các hang động Phật giáo trong Thiên Phật Động Đôn Hoàng, bên trong hang động Phật giáo toàn là các tôn vị Phật giáo. Trong đó, Liên Hoa Đồng Tử thời nhà Tùy đã được hiển lộ hoàn toàn trong hang động Đôn Hoàng (hang 314). Nói cách khác, bên trong (hang 314) toàn là Liên Hoa Đồng Tử.

Người vẽ phác thảo là:
Lý Thừa Tiên.
Phùng Trọng Niên.

Chúng tôi bỗng nhiên phát hiện, bên trong hang động Đôn Hoàng (hang 314) toàn là những bức tượng đá Liên Hoa Đồng Tử, có rất nhiều tượng Liên Hoa Đồng Tử, có cả mandala của Liên Hoa Đồng Tử.
Liên Hoa Đồng Tử là có thật, không hư giả.
Tịnh thổ siddhi của Liên Hoa Đồng Tử là có thật, không giả dối.
Chúng tôi lại có thêm một minh chứng mới.

6. Việc Hoa Quang Phật thành Phật đã được tiên tri trong kinh "Đại Thông Phương Quảng Sám Hối Diệt Tội Trang Nghiêm Thành Phật" do Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng trước khi nhập diệt. (Liệu có thể có hình ảnh giới thiệu về kinh điển cổ không?)

Chú thích: Hoa Quang Phật được Phật Thích Ca Mâu Ni ấn chứng thành Phật trước (năm 1992), "Kinh Đại Thông Phương Quảng" xuất hiện lại ở Hán địa sau (năm 2000).

7. Lư Sư Tôn hằng ngày không gián đoạn thuyết pháp/khai thị/viết sách, bao gồm những kinh điển thâm sâu như Kinh Viên Giác, Mật Tông Đạo Thứ Đệ Quảng Luận, Đạo Quả... v.v… mang đến cho nhân thế rất nhiều trí tuệ quý báu khai thị. (Chân Phật Bát Nhã Tạng)

Tổng hợp các sự tích kỳ diệu nêu trên, có thể thấy rõ Liên Sinh Hoạt Phật:

I. Có thể tương ứng hợp nhất với chư Phật Bồ Tát (ý thức vũ trụ), được rồng, trời, Hộ pháp, Kim cang, Không hành ủng hộ
- Điềm lành từ trời
- Mọi lời tiên tri đều chính xác
- Vô số kỳ tích cứu độ chúng sinh

II. Từ bi hỷ xả cứu độ chúng sinh (Tứ vô lượng tâm), không bỏ một chúng sinh nào
- Vô số kỳ tích cứu độ

III. Phật pháp được truyền thụ đều có chứng có nghiệm
Minh chứng quả vị tu hành - xá lợi tử.

IV. Qua thân chứng thực tế, đã tuyên thuyết về sự tồn tại chân thực của Liên Hoa Đồng Tử và tịnh thổ Liên Hoa Đồng Tử
- Liên Hoa Đồng Tử là có thật, không hư giả.
- Tịnh thổ siddhi của Liên Hoa Đồng Tử là có thật, không hư giả.

V. Là Phật, là Hoa Quang Tự Tại Phật
- Đã được tiên tri trong kinh "Đại Thông Phương Quảng Sám Hối Diệt Tội Trang Nghiêm Thành Phật" do Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng trước khi nhập diệt.

Hậu ký

Lư Sư Tôn khai thị trong pháp hội tại Lôi Tạng Tự Đài Loan ngày 14 tháng 2 năm 2015:
- Tại sao phải tu hành? Ý nghĩa nằm ở đây. Chúng ta cần giải thoát khổ đau của kiếp người. (ý nói khổ sinh, lão, bệnh, tử)
- Chân Phật Tông là một tín ngưỡng tốt đẹp, một tín ngưỡng thanh tịnh cho bạn. Điều chúng ta giảng dạy là thân khẩu ý thanh tịnh, từ đó bạn có thể đạt đến tịnh thổ của chư Phật Bồ Tát, học theo lòng từ bi với chúng sinh như chư Phật Bồ Tát, học theo tinh thần của Phật, giải thoát khỏi lục đạo, cho đến cảnh giới tâm linh cao nhất, đó chính là sự tu hành của chúng ta.
- Thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý niệm thanh tịnh chính là tu hành, ba sự thanh tịnh này, cộng với độ hóa hữu tình chúng sinh, đó chính là mục đích tu hành của chúng ta.

Ghi chú bổ sung sau khi hoàn thành văn bản

Hôm qua (ngày 18 tháng 3 năm 2015), thật tình cờ tôi đọc lại bài khai thị của Liên Sinh Thánh Tôn trong pháp hội Hộ Ma Liên Hoa Đồng Tử tại Lôi Tạng Tự Đài Loan ngày 29 tháng 11 năm 2014:
- Nền tảng của Chân Phật Tông chúng ta nằm ở chữ "Chân".
- Chân Phật Tông có logic, có suy luận. Tại sao là "Chân"?
- Phật Thích Ca Mâu Ni quả thực là bậc Giác Giả... Ngài là Phật chân thực, vì vậy tất cả đều chân thực.
- Các bạn phải dùng logic, suy luận và trí tuệ để tư duy mới có thể hiểu được "Chân" Phật Tông không phải chỉ nói suông, mà phải có logic, có thể suy luận. Lư Sư Tôn thực sự thấy, thực sự nghe... tất cả đều rất chân thực, đó mới gọi là "Chân".
- Các bạn cần hiểu được ý của Sư Tôn, Sư Tôn nói gì, các bạn phải lắng nghe cho rõ, đừng hiểu lầm. Chân Phật Tông chính là True Buddha School, là điều quý giá nhất... chỉ có chữ "Chân" là quý giá nhất.
- Hôm nay Sư Tôn dạy: Chân Phật Tông là chân thật. Đó là điều quý giá nhất, chính là chữ "Chân" của Chân Phật Tông. Nếu bạn kiên định đạo tâm, bảo đảm sẽ có thành tựu.

Chúng ta tôn kính Sư Tôn, coi trọng Phật pháp, thực hành tu tập để thể hiện sự chân thật của mình. Cũng mong muốn tất cả chúng sinh đều có thể hiểu được chữ "Chân" này, cảm nhận được chữ "Chân" này. Đây là sự hồi đáp mà chúng ta với tư cách đệ tử cần phải có. Nếu không, thỉnh Phật trụ thế chỉ là nói suông, Sư Tôn dạy - Chân Phật Tông không phải chỉ nói bằng miệng. Để kế thừa mạch pháp Chân Phật, không thể chỉ dựa vào lời nói, không thể chỉ phụ thuộc vào Thánh Tôn, chúng ta với tư cách đệ tử, phải làm tròn trách nhiệm của mình, làm những việc cần làm, mới có thể thực sự thỉnh Phật trụ thế (không phải một đời, mà là vĩnh viễn).

Đệ tử Chân Phật dâng bản thảo ngày 16 tháng 5 năm 2015.
Cập nhật ngày 17 tháng 1 năm 2020.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) viết thơ:

Tên bài thơ: Chỉ với một tấm lòng

*Đem trái tim bé nhỏ
Lo lắng vì chúng sinh
Chỉ có trời hiểu thấu*

*Trí tuệ làm gốc
Phương tiện làm kế
Đi khắp Đông Nam Bắc Tây*

*Hoằng pháp là
Như hoa khô trong gương
Như vớt trăng dưới nước
Biết không thể làm được
Nhưng hãy xem phép lạ*

*Hành trình gần kết thúc
Lại có hành trình mới
Bận rộn này vì ai
Nơi chân trời góc biển
Ngoảnh đầu nhìn lại
Thời gian đã trôi qua.*

**(Hết.)**

---

---
# File: sach-tam-linh/302-loi-vang-lap-lanh.md
# Title: 302. Lời vàng lấp lánh
---

![image](/img/img_54186320e4963cf7ee8947c6d9951360.png)



## Lời vàng lấp lánh


🪷 Tìm ngọc trong biển

Văn tập: 302
Xuất bản: 11/2024
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


Tôi nhớ có câu chuyện như thế này:
Vào thời Phật Đà, có một vị lương y nổi tiếng, đó là ngài Kỳ Bà ở nước Ma-kiệt-đà.
Ngài thường xuyên chữa bệnh cho các đệ tử của Đức Phật.
Ngài thậm chí đã dùng phương pháp gây mê khéo léo để chữa khỏi khối u não cho nhà vua, đó là một ca phẫu thuật thời cổ đại.
Kỳ Bà của Ấn Độ.
Hoa Đà của Trung Quốc.
Hai người ngang tài ngang sức, nghe nói Hoa Đà cũng từng phẫu thuật cho Quan Vân Trường như thế.

Câu chuyện như thế này:
Khi Kỳ Bà học y thuật, thầy bảo tất cả học trò đi tìm "cỏ không có dược tính" mang về.
Các đệ tử lên núi tìm kiếm.
Hầu như mỗi đệ tử đều mang về một cọng cỏ "không có dược tính".
Thầy lặng im không nói.

Sau đó Kỳ Bà trở về, tay không mang gì cả.
Thầy hỏi:
"Sao con lại trở về tay không?"
Kỳ Bà đáp:
"Con đã tìm khắp các loại cỏ, mỗi cọng cỏ đều có dược tính."
Thầy gật đầu:
"Lành thay! Đúng vậy, con mới chính là người đệ tử chân chính!"
Thế là,
Kỳ Bà trở thành danh y đương thời.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) lấy câu chuyện này làm dẫn nhập, tôi đang tìm kiếm những viên ngọc quý trong biển cả, những lời vàng lấp lánh. Tôi chợt nhận ra, những chữ hay câu hết sức bình thường đều là những lời vàng lấp lánh, thực ra chỉ cần cúi xuống là nhặt được.
Những câu này đều là:
Châu báu.
Vàng ròng.
Chân lý.
Châm ngôn.
Bí quyết.
.............

Những câu nói bình thường này, sau khi thấu hiểu triệt để, sẽ sinh ra quan điểm siêu việt.
Người thường dễ bỏ qua những câu này, nhưng khi nghiền ngẫm kĩ càng, bạn sẽ phải bật dậy vì quá kinh ngạc.
Hóa ra ngọc quý trong biển cả ở khắp mọi nơi.

Ngày 5 tháng 5 năm 2024, tôi làm pháp hội Hộ Ma hỏa cúng tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự.
Diêu Trì Kim Mẫu đi vào tâm tôi, tôi ngồi trên pháp tọa, bỗng nhiên nước mắt tuôn rơi, chảy trong khoảng hai mươi phút.
Người hỏi:
"Lư Sư Tôn buồn điều chi?"
Tôi đáp:
"Không phải tôi khóc, mà là Diêu Trì Kim Mẫu khóc."
Người hỏi:
"Khóc vì sao?"
Tôi đáp:
"Từ bi với chúng sinh."
Tôi nói với mọi người: "Diêu Trì Kim Mẫu dạy tôi, hãy nghĩ cho người khác, lấy lòng từ bi đối đãi với chúng sinh."
Câu nói này rất bình thường, nhưng trong cái bình thường có điều phi thường. Hiểu chăng?
Đây chính là lời vàng!

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn**

**Sheng-Yen Lu**

17102 NE 40th Ct.,
Redmond WA 98052
U.S.A.
Tháng 5 năm 2024


### 01. Nói về những chuyện lớn trong thiên hạ


Tôi là người rất thích đọc sách, không có ngày nào là không đọc.
Nói đến đọc sách, không phải là sách giáo khoa ở trường, mà là những sách tổng hợp thông thường.
Ví dụ:
Thượng Cổ Thần Thoại Diễn Nghĩ.
Đông Chu Liệt Quốc Chí.
Tam Quốc Diễn Nghĩa, Tây Du Ký, Phong Thần Bảng, Thủy Hử Truyện, Hồng Lâu Mộng, Chinh Đông, Chinh Tây, Bình Nam............

Tiểu thuyết võ hiệp thời kỳ đầu, như "Thanh Bình Kiếm", "La Công Kiếm" của Mao Liêu Sinh. Tác phẩm của Bình Giang Bất Tiếu Sinh. Còn về tác phẩm của Cổ Long, Kim Dung thì đã đọc hết.
Ngoài ra còn có tác phẩm của Alexandre Dumas cha và Alexandre Dumas con.
Lịch sử thời Chiến Quốc Nhật Bản về Tokugawa Ieyasu, Toyotomi Hideyoshi, Oda Nobunaga. Tác phẩm của Kawabata Yasunari.
Và cả "Thục Sơn Kiếm Hiệp Truyện".
Tác phẩm "Núi Linh" đoạt giải Nobel.
Tôi đã đọc hết toàn bộ sách của hiệu sách cho thuê Đại Bằng!
Ha! Ha!
Tóm lại, nói chung là cầm được sách là đọc.
Trong ấn tượng, sách diễn nghĩa có một câu làm tôi chú ý, câu đó là:
"Nói về đại thế thiên hạ, hợp lâu ắt phân, phân lâu ắt hợp".

Tôi suy nghĩ một lúc, đây quả là lời vàng.
Chúng ta hãy nhìn lại lịch sử:
Sự phân chia và thống nhất của Đông Đức, Tây Đức.
Sự phân chia và thống nhất của Bắc Việt, Nam Việt.
Sự phân chia và thống nhất của Nam Hàn, Bắc Hàn.
Sự phân chia và thống nhất của Trung Quốc, Đài Loan.
Và hiện nay là Nga, Ukraine. Israel, Palestine.
Tất cả đều là chu kỳ chia rẽ rồi hợp nhất, hợp nhất rồi chia rẽ, cứ thế luân hồi mãi.
Ngoại Mông, Nội Mông.
Malaysia, Singapore.
.............

Còn có Ấn Độ, Pakistan.
Sự phân chia và hợp nhất trong lịch sử, sự phân chia và hợp nhất về địa lý, sự phân chia và hợp nhất về văn hóa, sự phân chia và hợp nhất về chủng tộc, sự phân chia và hợp nhất về tôn giáo.
Điều này chính là minh chứng cho câu nói:
Nói về đại thế thiên hạ.
Hợp lâu ắt phân.
Phân lâu ắt hợp.

🌟

Tôi biết, tất cả những sự phân chia và hợp nhất này đều là:
Chứng bệnh tham dục phiền não của chúng sinh, chứng bệnh sân hận phiền não của chúng sinh, chứng bệnh si mê phiền não của chúng sinh.
Tất cả những điều này đều là vô minh.
Loại vô minh này từ xưa đến nay chưa từng gián đoạn.
Ví dụ:
Đế quốc Mông Cổ vĩ đại, trải dài từ Châu Á, Châu Phi, Châu Âu, Trung Đông............
Giờ đây còn đâu?
Đế quốc La Mã. Giờ đây còn đâu?
Đế quốc Assyria. Giờ đây còn đâu?
............

Hideki Tojo (rối loạn nhân cách bạo lực)
Mussolini (rối loạn nhân cách bạo lực)
Hitler (rối loạn nhân cách bạo lực)
Cái gọi là chiến tranh chính là vô minh tập thể của nhân loại.

Khi chúng ta nhận thức được căn bệnh vô minh, phải hiểu rõ nguồn gốc của nó, phương pháp đối trị, loại bỏ tận gốc, không bao giờ tái phát.
Hiểu được tất cả những điều này chính là:
Phiền não.
Chấp trước.
Chúng ta đã hiểu rõ, "nói về đại thế thiên hạ, hợp lâu ắt phân, phân lâu ắt hợp."
Tất cả, hãy mỉm cười thôi!


### 02. Ai đã khai ngộ?


Một người chạy đến nói với tôi:
"Tôi thật sự đã khai ngộ!"
Tôi hỏi:
"Khai ngộ điều gì?"
Anh ta đáp:
"Vạn pháp đều không."
Về sau, anh ta vào bệnh viện tâm thần. Mỗi ngày đều hô "khai ngộ".

Lại có một người khác.
"Tôi thật sự đã khai ngộ!"
Tôi hỏi:
"Khai ngộ cái gì?"
Anh ta đáp:
"Mọi việc trên đời đều không liên quan."
Về sau anh ta trở thành người vô gia cư, sống vô công rồi nghề.

Lại có một người.
"Tôi thật sự đã khai ngộ!"
Tôi hỏi:
"Khai ngộ điều gì?"
Anh ta đáp:
"Thân thể của tôi hoàn toàn là giả." (huyễn hóa)
Sau đó anh ta đã tự sát!
............. 
Những người khai ngộ kiểu này thật sự là có.

Hiện nay, khi nghe ai đó nói họ đã khai ngộ, tôi rất quan tâm và hy vọng họ hiểu được:
Trí tuệ phương tiện.
Quyền thật như nhau.
Không sắc như nhau.
Có không như nhau.
Phật ma như nhau.
Nếu không có công phu thực sự, chỉ là học vẹt, mỗi ngày hô to: "Không đến không đi không việc gì!" hoặc "Hư không vỡ nát" hoặc "Ai là người kéo xác chết?" hoặc "Đập vỡ thùng sơn đen!"............
Những điều đó chỉ là khẩu hiệu.

Tôi (Sư Tôn Lu) cũng từng nói:
"Không can thiệp!"
(Nghĩa là đã loại bỏ các chướng ngại của Pháp tính, không can thiệp vào mọi che chướng, trực kiến Pháp tính.)
Tôi cũng biểu diễn sự khai ngộ qua cử chỉ:
"Gà vàng đứng một chân".
(Ý chỉ pháp môn bất nhị, tuyệt đối, chỉ là một, không phải hai.)

Nhưng,
Tôi cũng trân quý một câu vàng:
Tự tính mê chính là chúng sinh.
Tự tính giác chính là Phật.
Từ bi chính là Quan Âm.
Hỷ xả chính là Thế Chí.
Năng tịnh chính là Thích Ca.
Bình trực chính là Di Đà.

Chính những lời bình dị này đã đánh động tâm can tôi.
Cho dù trên phương diện "lý" bạn đã khai ngộ, nhưng trên phương diện "sự", bạn phải từ bi, hỷ xả, thanh tịnh và ngay thẳng. Chỉ khi "lý, sự" hợp nhất, mới là "chân ngộ".
Lý là "không".
Sự là "có".
Là một không phải hai. Đó mới là tinh túy của Phật pháp.
Điều tối kỵ nhất của chúng ta là chỉ có cái "không" trên lý, rất dễ rơi vào con đường sai lạc của "ngoan không" [cố chấp vào cái không].
Phủ nhận nhân quả.
Luân hồi cũng không.
Tịnh thổ không.
Niết bàn không.
Cuối cùng là "không không"!


### 03. Phải nhìn mặt đặt tên


Nhiều người nói:
"Không nên đánh giá người qua diện mạo!"
Nhưng,
Tôi nói: "Phải nhìn mặt đặt tên!"
(Đây cũng là lời vàng của tôi, là lời vàng chân thật không sai.)

Tôi (Lư Sư Tôn) giỏi quan sát khí sắc, việc quan sát khí sắc này chính là đánh giá người qua diện mạo.
Tôi nhìn vào khuôn mặt một người, có thể thấy được cả cuộc đời của người đó.
Lông mày — cung Huynh đệ.
Mắt — cung Thông tuệ.
Đuôi mắt — cung Đào hoa.
Đầu mũi — cung Tài bảo.
Tai — cung Trường thọ.
Cằm — cung Nô bộc.
Lưỡi — cung Sức khỏe.
.............

Không chỉ là khuôn mặt, mà bao gồm cả thân thể, tứ chi đều có rất nhiều dấu hiệu.
Tôi có thể nói như thế này:
"Quá khứ, hiện tại và tương lai của mỗi người đều được ghi khắc trên thân thể của người đó, không có ngoại lệ."
Quan trọng hơn nữa:
Đó là "khí" tỏa ra từ con người này, "khí" là vô hình, chỉ người có huệ nhãn mới nhìn thấy được.

Phật Đà có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp.
Chuyển Luân Thánh Vương cũng có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp.
Nhưng, hai bên khác nhau, điểm khác biệt nằm ở "khí" khác nhau.
Người có ngoại hình đẹp, chưa chắc đã là người thiện.
Người có ngoại hình dữ tợn, chưa chắc đã là người ác.
Lời này không sai, nhưng chúng ta - những người giỏi quan sát "khí" có thể phân biệt được.
Đây là sự quan sát rất tinh tế, không phải chuyện đơn giản, nhưng vẫn có thể nhìn ra được.

Tôi thường nói:
"Mỗi người phải chịu trách nhiệm về diện mạo của mình, bởi vì đó hoàn toàn là do chính mình tạo ra."
Phật có đầy đủ ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, đây là tướng mạo viên mãn nhất, được hình thành từ sự tương ứng giữa các đức hạnh bên trong với bên ngoài.
Những đức hạnh này bao gồm:
Trì giới.
Bố thí.
Tinh tấn.
Vô phiền.
Vô chấp.
Toàn thân tỏa sáng hào quang, chiếu khắp mười pháp giới. Không chỉ tướng bên ngoài viên mãn, mà linh tính bên trong cũng viên mãn.

Còn về Chuyển Luân Thánh Vương, ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp có được là do phúc báo.
Có tướng bên ngoài mà không có tướng bên trong. Không có hào quang, chỉ có ánh sáng phúc báo mà thôi.

Tướng mạo của người tu hành là:
Tướng "thản nhiên vô cầu", tướng này thể hiện không tham tiền của, không tham sắc dục, không tham danh vọng. Bậc tu hành có tướng "thản nhiên vô cầu" này được cả thần linh lẫn muôn loài sinh linh kính trọng, đó chính là bậc thánh.
Tôi nhìn "quang khí":
Ánh sáng trắng — là ánh sáng thanh tịnh.
Ánh sáng đỏ — là ánh sáng bố thí.
Ánh sáng xanh — là ánh sáng trì giới.
Ánh sáng vàng — là ánh sáng phúc báo.
Từ "quang khí", có thể phân biệt được các hạng người khác nhau, đây chính là "phân biệt trí".
Tôi nói:
"Mỗi người phải chịu trách nhiệm về tướng mạo của mình. Nghiệp của bạn, đều hiện ra trên tướng mạo." (Sinh ra đã có tướng mạo xấu, là do nghiệp đời trước.)


### 04. Dùng gia trì để chữa bệnh


Ngày 13 tháng 1 năm 2024, tôi (Lư Sư Tôn) ngồi trên pháp tọa.
Tôi tụng chú (chú lục đinh lục giáp).
Sử dụng Cửu tự chân ngôn "Lâm, Binh, Đấu, Giả, Giai, Trận, Liệt, Tại, Tiền".
Lòng bàn tay vận khí.
Gia trì chúng sinh.
(Phát trực tiếp.)

Lúc này, từ lòng bàn tay phóng ra hào quang vạn trượng, ánh sáng vàng rực rỡ, tràn ngập khắp trời đất.
Bàn tay rung động không tự chủ, phát ra pháp lực, pháp lực như một tấm lưới, đan xen dọc ngang.
Bàn tay nóng bừng, nóng như ánh sáng đỏ đang cháy, thông suốt trời đất, hồng quang vạn trượng, điềm lành nghìn nơi.
Tôi lại vẽ bốn đường dọc năm đường ngang, ấn Cửu tự chân ngôn, ấn hướng về đại chúng.
Vẽ một đường niệm một chữ, chín đường là chín chữ. Đó chính là Cửu tự chân ngôn.

Trong lòng tôi thầm cầu nguyện:
"Tôi là Liên Sinh, dùng sức mạnh truyền thừa, sức mạnh Bổn tôn, sức mạnh Hộ pháp, ba sức mạnh hợp nhất gia trì, có bệnh trị bệnh, không bệnh tăng cường thể lực, cấp cấp như luật lệnh."
Rồi phát ra:
Âm thanh "Uân... uân... uân..."
Tôi nói:
"Sự gia trì này của tôi không bị giới hạn bởi thời gian và không gian, chúng sinh có duyên, trong buổi phát trực tiếp, quán tưởng mình được gia trì, có thể tạo ra kỳ tích."
Lúc đó, mọi người ghi lại đoạn "phát trực tiếp" này, có thể nhận được gia trì mỗi lần xem.
Quả nhiên, kỳ tích đã xuất hiện.

Thứ nhất:
Liên Hoa Đạt Trí ở Malaysia kể:
Ngày 9 tháng 5 năm 2022, tôi đã tiêm mũi vắc-xin phòng COVID-19 Pfizer thứ tư.
(Xuất hiện vết ban đỏ nhỏ ở đùi trái.)
Ngày 1 tháng 12 năm 2023, vết ban đỏ to bằng bàn tay.
Ngày 13 tháng 1 năm 2024, Lư Sư Tôn gia trì qua mạng, nói rằng gia trì không bị giới hạn bởi thời gian và không gian.
Mỗi ngày ba lần, tôi mở video gia trì, hướng vào vết ban đỏ.
Ngày 18 tháng 2 năm 2024.
Vết ban đỏ hai năm đã biến mất, da trở lại trắng mịn, mọi thứ bình thường.
Điều này chứng minh pháp lực của Lư Sư Tôn vô cùng mạnh mẽ, Lư Sư Tôn tuyệt đối không nói dối.
Thật sự hiệu nghiệm, tràn đầy niềm tin.

Thứ hai:
Liên Hoa Tư Tư ở Canada kể:
Tháng 2 năm 2024, đi khám sức khỏe, phát hiện ung thư vú giai đoạn hai.
Nghe nói Lư Sư Tôn gia trì qua mạng.
Mỗi ngày tôi mở video gia trì một lần.
Nửa tháng sau, quay lại bệnh viện tái khám.
Ung thư bỗng nhiên biến mất.
Bác sĩ vô cùng ngạc nhiên.
Tôi cảm thấy rất may mắn, thật tốt khi có được sự gia trì của Lư Sư Tôn.
Ung thư đã biến mất rồi!
Đặc biệt gửi thư cảm ơn.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) xin nói với mọi người.
Những lá thư như thế này đến như bông tuyết bay, rất nhiều người có cảm ứng.
Ở đây tôi chỉ liệt kê hai lá thư.
Tôi, Lư Sư Tôn nói:
"Người có tâm thành, Phật có cảm ứng." (lời vàng)
"Tôi không có gì khác, tôi đã tương ứng với Bổn tôn, tôi có thể hợp nhất với Bổn tôn, tôi chính là Bổn tôn, những gì Bổn tôn làm được thì tôi cũng làm được." (lời vàng)
Tôi có lực gia trì.
Tôi có pháp lực Bổn tôn.
Tôi có năng lực cầu nguyện.
Tôi có lực Tam ma địa.
Tôi có lực thiền định.
Chỉ cần tinh thần thống nhất, nhất tâm bất loạn, sức mạnh sẽ được sinh ra.

Đôi khi,
Chỉ cần vỗ lưng.
Chỉ cần thổi một hơi.
Chỉ cần nhìn bạn một cái.
Chỉ cần xoa đầu.
Bệnh tật sẽ tan biến không dấu vết.
Tôi đã trở thành thiên y [bác sĩ cõi trời], trong lòng tôi chỉ mong muốn "giải trừ bệnh khổ cho thế nhân".
Nhưng,
Có một điều không thể không nói với mọi người, có những người nghiệp chướng sâu nặng, không sám hối, lại chồng chất thêm nghiệp.
Những người này mắc bệnh nghiệp chướng.
Cần phải học Phật pháp trước, tu pháp trừ nghiệp chướng, nếu không trừ được nghiệp nặng, muốn trừ bệnh khổ cũng rất khó.

Tôi xin nói thêm:
Giáo lý của Phật Đà không thuần túy là vấn đề sức khỏe, không đơn thuần là trừ bệnh khổ, giáo nghĩa quan trọng nhất là thiền định, trí huệ, đạt được cảnh giới tối thượng của giải thoát.
Khi con người già đi, sẽ thoái hóa.
Tất cả đều sẽ suy tàn.
Lúc này, liệu bạn đã đạt được chính giác giải thoát chưa?


### 05. Lư Âm nhìn thấy Phật Bồ Tát


Lư Âm, một tuổi rưỡi.
Là con gái của Andy và Phật Thanh.
Chính là cháu gái ngoại nhỏ của tôi. Khi sinh ra, tôi đặt tên là Lư Âm.
Tên tiếng Anh là Elly.
Cháu rất hoạt bát đáng yêu, đôi mắt to tròn, hay cười. Tất cả chúng tôi đều bị cháu mê hoặc.
Lư Âm sinh ngày 18 tháng 8 năm 2022.

Một ngày nọ.
Ngày 1 tháng 5 năm 2024, cháu đến chơi nhà ông bà ngoại, bỗng nhiên cháu nói:
"Có rất nhiều, rất nhiều Phật Bồ Tát!"
Cháu lại kêu to:
"Nhiều lắm nhiều lắm Phật Bồ Tát!"
Mọi người hỏi:
"Ở đâu vậy?"
Lư Âm nói:
"Ở đó kìa!"
Mọi người nhìn về phía đó, nơi ấy trống không, chẳng có gì cả.
Khi Lư Âm sắp rời Nam Sơn Nhã Xá, cháu vẫy tay chào Phật Bồ Tát và nói:
"Tạm biệt! Phật Bồ Tát."

🌟

Lư Âm đến Chân Phật Mật Uyển.
Cháu nhìn thấy:
"Quan Thế Âm Bồ Tát!"
Mọi người hỏi:
"Ở đâu vậy?"
Lư Âm đáp:
"Ở đó kìa."
Mọi người vẫn không nhìn thấy gì!
Lúc sắp về.
Lư Âm nói với Quan Thế Âm Bồ Tát:
"Tạm biệt!"

🌟

Lư Âm là con lai, rất xinh đẹp.
Andy nói tiếng Anh với cháu.
Phật Thanh dạy cháu tiếng Trung.
Mới một tuổi rưỡi đã biết nói rất giỏi, cháu nói chuyện sớm hơn trẻ bình thường một năm.
Lư Âm thấy Phật Bồ Tát là thật sao?
Tôi nói:
"Đúng vậy!"
Lư Âm một tuổi rưỡi, nói gì biết nấy, cháu hoàn toàn không biết nói dối.
Hơn nữa: nói dối cũng chẳng có ý nghĩa gì.
Cháu có tâm hồn thuần khiết, không một chút nhiễm ô, chính cái tâm thuần nhất ấy khiến cháu nhìn thấy Phật Bồ Tát.
(Nghe nói nhiều trẻ em đều có thể nhìn thấy những điều vô hình, bởi vì trẻ em thuần khiết, tâm thẳng, chưa bị ô nhiễm, nên có thể nhìn thấy.)
Tôi nói:
"Lư Âm nhìn thấy Phật Bồ Tát là chuyện bình thường!"
Không có gì lạ!
Phật Thích Ca Mâu Ni dạy:
"Tinh thần thống nhất, không việc gì không thành!"
Lão Tử nói:
"Người giữ được nhất tâm, vạn sự thành tựu!"
Phật A Di Đà dạy:
"Nhất tâm bất loạn niệm Phật, ắt được về Tây phương tịnh thổ."
Hành giả muốn đắc thiên nhãn, chỉ cần nhất tâm.
Tôi nói:
"Hành giả tu tập tất cả pháp, thông đạt tất cả nghĩa, cuối cùng đạt được nhất tâm. Đó chính là thành tựu pháp môn bất nhị." (lời vàng)


### 06. Nhân quả luân hồi và vô thường


Có người nói:
"Tôi không tin luân hồi?"
Tôi nói:
"Xuân hạ thu đông chính là luân hồi."
Người ấy nói:
"Tôi không tin nhân quả?"
Tôi nói:
"Trồng đậu được đậu, trồng dưa được dưa, chính là nhân quả."
Người ấy lại nói:
"Tôi không tin vô thường?"
Tôi nói:
"Hỷ nộ ai lạc chính là vô thường. Những cảm nhận trong lòng bạn mỗi
ngày chính là vô thường."

Vị tiên sinh này càng hỏi sâu hơn.
Người ấy hỏi:
"Làm sao chứng minh có kiếp trước?"
Tôi đáp:
"Diện mạo hiện tại của bạn chính là do kiếp trước mang đến, sự giàu nghèo hiện tại của bạn cũng do kiếp trước mang đến."
Người ấy hỏi:
"Đó có phải là nhân quả không?"
Tôi đáp:
"Phải."
Người ấy hỏi:
"Vô thường cũng là nhân quả sao?"
Tôi đáp:
"Phải."
Người ấy hỏi:
"Sức mạnh nào khiến có luân hồi nhân quả và vô thường?"
Tôi đáp:
"Nghiệp lực."
Người ấy hỏi:
"Nghiệp lực là gì?"
Tôi đáp:
"Tự làm tự chịu."
Người ấy hỏi:
"Vẫn chưa hiểu rõ chữ 'nghiệp' này."
Tôi đáp:
"Nghiệp là điều không thể nghĩ bàn. Phải học Phật pháp mới có thể chứng minh được."

Tôi nói với vị tiên sinh ấy:
Có người hỏi Đức Phật:
"Thân người là gì?"
Đức Phật đáp:
"Ổ trùng." (lời vàng)
Người ấy hỏi:
"Vậy cuộc đời là gì?"
Đức Phật đáp:
"Trả nghiệp." (lời vàng)
Tôi nói:
Câu trả lời của Phật Thích Ca Mâu Ni ngắn gọn mà sâu sắc, thẳng thắn và đi thẳng vào trọng tâm.
Tôi cảm nhận sâu sắc sự không thể nghĩ bàn của nghiệp.
Như người xưa nói:
Bồ Tát sợ nhân.
Chúng sinh sợ quả.
Thật ra vẫn là sự đáng sợ của nghiệp. Vì vậy con người cần tạo thiện nghiệp, không được tạo ác nghiệp. Có thể tránh được luân hồi vào ba đường ác, quả báo xấu ác, và những vô thường không tốt.
Người ấy hỏi:
"Thế nào là bất sinh bất diệt?"
Tôi đáp:
"Ác nghiệp không sinh, thiện nghiệp không diệt." (Đây cũng là lời vàng nhỉ!)


### 07. Ý thanh tịnh như thế nào?


Người học Mật giáo đều biết "tam nghiệp thanh tịnh", tam nghiệp thanh tịnh là:
Thân thanh tịnh.
Khẩu thanh tịnh.
Ý thanh tịnh.
Trong pháp tu Mật giáo, thân thanh tịnh dùng thân ấn, thủ ấn để hành pháp. Khẩu thanh tịnh dùng trì chú để hành pháp. Ý thanh tịnh dùng quán tưởng để hành pháp.
Sau cùng của Mật giáo là Tam ma địa.

Có người hỏi tôi:
"Con có quá nhiều vọng niệm, tạp tưởng không dứt, làm sao để ý được thanh tịnh?"
Đa số người đều có vấn đề này.
Người ta hỏi:
"Làm sao để trừ tạp niệm?"
Tôi đáp:
"Hơi thở động thì tâm niệm động, rất khó để dừng tâm niệm, chỉ có thể bắt đầu từ việc điều hòa hơi thở, học cách nhất tâm, thì niệm mới có thể dừng, dừng chính là ý niệm thanh tịnh."

Tu Cửu tiết Phật phong.
Tu Kim cang tụng.
Tu Bảo bình khí.
Tôi nói: "Cửu tiết Phật phong có thể khiến ý niệm chuyên nhất, tu Bảo bình khí để dừng hơi thở, ý niệm không sinh thì có thể dừng."
Mỗi khi tâm chạy theo cảnh bên ngoài, lập tức nín thở dừng lại, thu nhiếp thị giác và thính giác, cắt đứt tạp niệm, trở về nhất niệm mà thôi.
Vận dụng pháp trì khí, tâm niệm và Bổn tôn hòa nhập vào nhau, thì có thể nhập Tam ma địa.
Tôi nói với mọi người:
"Đây là khẩu quyết, tâm yếu, chính là lời vàng."
Tôi ví dụ:
Nhất tâm chính là biển.
Tạp niệm chính là sóng.
Gió dừng.
Sóng liền trở về biển.
(Lời vàng quan trọng.)

Đại sĩ Duy Ma Cật nói với tôi:
"Nếu ngài có thể hòa tâm vào hư không, như một giọt nước hòa vào biển cả, thì sẽ hiển hiện vô số phân thân."
Đó là:
Tâm niệm diệt tận.
Ý như lưu ly.
Có thể nắm bắt.
Có thể nắm giữ.
Trở về thanh tịnh.

Có người tìm đến tôi hỏi:
"Tạp niệm lung tung, làm sao xử lý?"
Tôi nói:
"Tu pháp hít thở?"
Người ấy hỏi:
"Pháp hít thở gì?"
Tôi đáp:
"Pháp hít thở Cửu tiết Phật phong, chỉ cần đặt niệm vào hơi thở ra vào, khi trái khi phải khi giữa, lặp đi lặp lại, hết lần này đến lần khác niệm theo hơi thở ra vào, tạp niệm sẽ không còn lung tung nữa."
Đây là giữ nhất tâm.
Tu bất kì việc gì, đều phải giữ nhất tâm.
Việc gì cũng có thể thành tựu.
Ý thanh tịnh là quan trọng nhất, chỉ cần làm được ý thanh tịnh thì khẩu thanh tịnh, thân thanh tịnh đều có thể hoàn thành.
Thành tựu thế tục cũng cần giữ nhất tâm.
Thành tựu tâm linh cũng cần giữ nhất tâm.
Giữ được cân bằng trong ngoài, tâm hạnh nhất như, thì có thể tự giác giác tha, giác hành viên mãn.
Lành thay!


### 08. Ma nghiệp chuyển dịch


Tôi hiểu được sự không thể nghĩ bàn của nghiệp!
Ngày xưa.
Tôn giả A Nan, bậc đệ nhất đa văn, thưa với Phật Đà:
"Con đã hiểu về nghiệp."
Phật Đà nhìn ngài và nói:
"Còn sớm lắm!"
Tôn giả A Nan xoa xoa mũi, ngượng ngùng bỏ đi!
Các đồng môn nhìn thấy, cười ha hả!

🌟

Gần đây tôi có một chuyện không thể không nói.
Câu chuyện như thế này:
Có một đệ tử tên Liên Hoa Chí Thành đến gặp tôi.
Anh ấy nói:
"Dạo gần đây không hiểu sao, bụng rất kỳ lạ, đường ruột có vấn đề, lúc thì tiêu chảy, lúc thì táo bón. Sáng táo bón, chiều tiêu chảy, cứ thế luân phiên mãi."
Anh ấy nói:
"Đi khám bác sĩ, uống thuốc, đã thử mọi cách nhưng đều vô hiệu. Giờ chỉ còn biết cầu xin Lư Sư Tôn."
Tôi nói:
"Tôi sẽ vỗ lưng cho anh!"
Anh ấy xoay người lại.
Tôi thỉnh Diêu Trì Kim Mẫu làm chủ, vung tay vỗ lưng.
"Vỗ... vỗ... vỗ..."

Tôi thấy một ma nghiệp rơi ra khỏi thân của Liên Hoa Chí Thành.
Tôi nói:
"Xong rồi!"
Liên Hoa Chí Thành về nhà, quả nhiên đã khỏi, đường ruột hoàn toàn bình thường, không còn tái phát nữa!
Nhưng,
Một ngày nọ khi tôi (Lư Sư Tôn) đang ăn cơm, ma nghiệp thừa lúc tôi không để ý, trà trộn vào trong canh, tôi uống canh, nuốt ma nghiệp vào đường ruột.
Từ ngày đó, đường ruột khó chịu, buồn nôn muốn ói, cũng y như vậy, sáng táo bón, chiều tiêu chảy, cứ luân phiên mãi. Tôi cũng đi khám bác sĩ, uống thuốc. (vô hiệu)

Một đêm nọ, tôi không chịu nổi nữa, sắp tiêu chảy, tôi cầm quyền trượng của Ma Lợi Chi Thiên, đánh mạnh vào bụng mình, bụng kêu "binh binh binh binh binh".
Cuối cùng, đánh được ma nghiệp ra khỏi người tôi.

Tôi hỏi:
"Tại sao lại chạy đến người tôi?"
Ma nghiệp đáp:
"Vì ông đuổi tôi ra, tôi chỉ còn cách chạy đến người ông."
Tôi hỏi:
"Đây là sự chuyển dịch của nghiệp sao?"
Ma nghiệp đáp:
"Tôi là quỷ đòi nợ, anh ta chưa trả đủ. Ông cứu anh ta, đương nhiên ông phải trả."
Cuối cùng, tôi đành phải siêu độ ma nghiệp để giải quyết.

Tôi nhận ra rằng chịu thay cũng là có thật, chứ không chỉ đơn thuần là oan có đầu, nợ có chủ.
Từ đó chứng minh: "Nghiệp quả thật không thể nghĩ bàn!"
Sự hình thành của nghiệp quả thật phức tạp, có khi còn vô cớ liên lụy đến người khác. (Nghiệp đời trước, báo đời này.)

Tôi nhận ra:
Nghiệp lực như máy dệt.
Sợi chỉ này kéo qua kéo lại, sợi chỉ kia kéo Đông kéo Tây, quá phức tạp.
Giống như một bức tranh ghép. (Thiện không thuần thiện, ác không thuần ác.)
Lại như trúng giải.
Không trách được "nghiệp là điều khó nghĩ bàn trong những điều khó nghĩ bàn, bởi vì nó liên quan quá nhiều thứ!" (lời vàng)


### 09. Cảnh giới bí mật của Hoạt Phật - Phỏng vấn Lư Sư Tôn (1)


Hỏi: (Sư tỷ Bội Quân hỏi)
"Thưa Lư Sư Tôn, xin hỏi từ khi nào Ngài bắt đầu nhận ra mình thích viết văn?"
Đáp: (Lư Sư Tôn đáp)
"Hồi tiểu học, có một tạp chí Bạn Học mở cuộc thi sáng tác, bài của tôi được đăng tải. Thầy giáo đem chuyện này kể cho cả lớp nghe, thế là cả trường đều biết. Từ đó, tôi bắt đầu thích viết văn."
Hỏi:
"Thưa Lư Sư Tôn, vì sao Ngài kiên trì viết văn như vậy?"
Đáp:
"Viết văn hàng ngày đã trở thành công khóa thường nhật, tôi luôn cảm thấy đây là việc có ý nghĩa. Đặc biệt là trong việc hoằng dương Phật pháp, đây cũng là một hình thức bố thí pháp."
Hỏi:
"Ngài có từng nghĩ mình sẽ viết được bao nhiêu cuốn sách không?"
Đáp:
"Tôi chỉ đơn giản là mỗi ngày viết một bài, sống một ngày, viết một bài. Chưa từng nghĩ sẽ viết bao nhiêu cuốn sách, dù sao đi nữa, số lượng sách chỉ là con số mà thôi."
Hỏi:
"Viết lách hằng ngày không phải là trải nghiệm của người bình thường, Ngài có thể chia sẻ với chúng tôi tâm cảnh và trạng thái khi viết mỗi ngày là như thế nào?"
Đáp:
"Hướng đạo sinh phải làm một việc thiện mỗi ngày. Tôi mỗi ngày viết một bài văn, bài văn có ích cho chúng sinh, đây cũng là hành thiện, đây chính là việc thiện hằng ngày của tôi."
Hỏi:
"Trước khi viết một cuốn sách, Ngài xác định chủ đề của cuốn sách đó như thế nào?"
Đáp:
"Bổn tôn của tôi sẽ cho tôi cảm hứng, Bổn tôn sẽ chỉ cho tôi biết chủ đề nào có ích cho chúng sinh, vì vậy trong lời tựa tôi thường viết: Mở sách là có lợi ích."
Hỏi:
"Ngài từng viết trong sách rằng: 'Trong đời này có nhiều việc bị bắt buộc phải làm, chỉ có viết văn là việc tự nguyện làm từ trong tâm', xin hỏi Ngài có bao giờ gặp lúc không thể viết được gì cả và muốn từ bỏ việc viết văn không?"
Đáp:
"Hiếm khi tôi không viết được. Bởi vì giữa trời đất, đâu đâu cũng là văn chương, trong văn chương có cả trời đất. Tôi kiên trì viết văn, ý chí rất mạnh mẽ, như ăn cơm, ngủ nghỉ vậy. Tôi nói: Chỉ khi nào không thể viết được nữa mới dừng lại."
Hỏi:
"Theo Ngài, tu hành ảnh hưởng như thế nào đến việc viết văn của Ngài?"
Đáp:
"Tu hành chính là viết văn, viết văn chính là tu hành. Hai điều là một, một chính là một. Khi cầm bút viết, tinh thần hoàn toàn chuyên nhất, chỉ có một, cảm hứng tuôn trào bất tận..."

🌟

Tôi làm thơ:

*Tám mươi tuổi
Vẫn cứ mỗi ngày
Khi cầm bút
Chạm tới đại thiên
Đời này cứ thế miệt mài viết
Tuy là thành tựu
Kim Tiên như vậy
Nhờ có diệu bút nở hoa của tôi
Tung hoành cõi Ta Bà
Vẫy vùng một đời
Chỉ nhờ viết sách
Vun đắp tâm điền.*


### 10. Cảnh giới bí mật của Hoạt Phật - Phỏng vấn Lư Sư Tôn (2)


Hỏi:
"Thưa Lư Sư Tôn, nghe nói Ngài làm việc bận rộn cả ngày, và từ khi đại dịch bắt đầu cho đến bây giờ, mỗi đêm vào lúc buồn ngủ nhất, Ngài vẫn siêu độ cho vong linh. Sinh nhật Ngài có nghỉ không? Bận rộn như vậy, Ngài có hạnh phúc không?"
Đáp:
"Tôi tu pháp siêu độ, một năm 365 ngày, mỗi ngày tu một lần, chưa từng gián đoạn. Sinh nhật cũng không nghỉ.
(Nếu tôi nghỉ, những vong linh đang chờ siêu độ biết làm sao?)
Tôi tu pháp như vậy rất hạnh phúc, bởi vì vong linh được độ hóa về cõi Phật tịnh độ.
Cuộc đời tôi có ý nghĩa nhất! Niềm hạnh phúc của tôi chính là cứu độ chúng sinh đến bỉ ngạn."

Hỏi: "Thưa Lư Sư Tôn, trong nhận thức của nhiều người, Ngài là bậc 'toàn năng', chủ yếu vì Ngài đã thị hiện rất nhiều phép mầu cứu độ. Có rất nhiều câu chuyện kể về những phép mầu Ngài thị hiện, điều này cũng khiến Ngài bị phê bình, xin hỏi Ngài nghĩ gì về những lời phê bình (về phép mầu) này?"
Đáp:
"Khi tu hành, tôi hòa nhập với Bổn tôn nên tự có được pháp lực của Bổn tôn. Tu hành hòa nhập với hư không nên tự sinh ra lực của hư không. Đây là sự hiển lộ tự nhiên của thần thông, không phải cầu mà có, là điều rất tự nhiên.
Thần túc thông.
Tha tâm thông.
Túc mệnh thông.
Thiên nhãn thông.
Thiên nhĩ thông.
Thậm chí là Lậu tận thông.
Những phép mầu này tự nhiên xuất hiện, không phải do tôi tu tập mà có, mà là tự nhiên mà đến!
Sự phê bình, phê phán hay phỉ báng của người khác là việc của họ, tôi chưa bao giờ bận tâm.
Trong mọi việc làm của mình, miễn là thiện lành, có lợi ích cho chúng sinh, tôi đều tinh tấn thực hiện.
Không hề oán thán.
Lời phê bình của người khác, tôi không để trong lòng, phê phán hay phỉ báng cũng vậy.
Có lỗi thì tôi sẽ sửa.
Không lỗi thì thanh thản yên lòng.
Tôi xin cảm ơn mọi người đã chỉ bảo, cảm ơn và cảm ơn! Tôi đã học được cách tôn kính mỗi chúng sinh (Phật)."

Hỏi:
"Thưa Lư Sư Tôn, nghe nói Ngài là:
Hóa thân của ngài Xá Lợi Phất,
Hóa thân của ngài Virupa,
Hóa thân của Đại sư Không Hải,
Hóa thân của vua Nhân Tông triều Tây Hạ,
Hóa thân của ngài Tsongkhapa,
Hóa thân của Lục Tổ Huệ Năng và nhiều vị khác nữa.
Có rất nhiều thuyết về các kiếp trước của Lư Sư Tôn... và những điều này cũng đã được các vị Thượng sư của Ngài công nhận.
Xin hỏi Lư Sư Tôn, Ngài nghĩ gì về những kiếp trước này?"
Đáp:
"Những kiếp trước đều đã qua rồi, quá khứ đã tan như mây khói.
Dĩ nhiên, Lư Sư Tôn của hiện tại mới là điều quan trọng nhất. Vì vậy mới nói 'sống trong hiện tại', tôi cũng biết rằng, Lư Sư Tôn của hiện tại rồi cũng sẽ trở thành quá khứ.
Tương lai thì vẫn chưa đến.
Cho nên nói:
Quá khứ không thể nắm bắt!
Hiện tại không thể nắm bắt!
Tương lai không thể nắm bắt!
Đó chính là vô sở đắc, đoạn trừ phiền não tức thì.
Tôi cũng thường nghĩ, so với các bậc thánh hiền trong quá khứ, Lư Sư Tôn hiện tại của tôi thật không đáng kể.
Ngưỡng mộ cao sơn.
Cần phải tinh tấn hơn nữa."

Hỏi:
"Thưa Lư Sư Tôn! Ngài từng nói rằng bệnh khổ của nhân gian là nỗi khổ lớn nhất. Trong sáu năm nhập thất, Ngài đã trải qua tình trạng não bị tách làm tám mảnh đến mức gần chết, nỗi đau khổ khiến người không nỡ nghe, Ngài bị muỗi đốt đến không thể ngủ, bị kiến lửa cắn đến toàn thân sưng đỏ, thậm chí trầm cảm, sốt cao, chỉ một lòng muốn giải thoát.
Lúc đó, Ngài đã làm thế nào để vượt qua tình trạng thập tử nhất sinh ấy, dựa vào sức mạnh và phương pháp gì? Bởi vì khi chúng con lâm trọng bệnh và đứng trước cửa tử, kêu trời trời không thấu, gọi đất đất chẳng hay, lúc này làm sao có thể như Sư Tôn, vượt qua mà tâm vẫn không rối loạn?"
Đáp:
"Tôi, Lư Sư Tôn đương nhiên biết rằng, tôi đến đây là để lợi ích chúng sinh, pháp luân chưa chuyển xong, làm sao có thể ra đi.
Vì vậy tôi đi tìm Dược Sư Phật, tại Gyeongju, Hàn Quốc, tôi đã thấy được Dược Sư Phật, Nhật Quang Nguyệt Quang Bồ Tát, Dược Vương Dược Thượng Bồ Tát, 12 Dược Xoa Thần Tướng.
Tôi tự biết, bệnh sẽ khỏi.
Tôi luôn có niềm tin kiên định, từ khi Diêu Trì Kim Mẫu khai thiên nhãn, tôi chỉ biết một lòng.
Tôi nói:
Sống một ngày, cảm ơn một ngày.
Sống một ngày, vui vẻ một ngày.
Sống một ngày, tu pháp một ngày.
(Đây là lời vàng của tôi.)
Tôi đã nương vào "sức mạnh của niềm tin" để vượt qua muôn vàn khó khăn."

Hỏi:
"Xã hội hiện nay có thể nói là không còn điều gì cấm kỵ, có người bảo rằng trong thời đại Internet, ai cũng có cơ hội nổi tiếng 15 phút trong đời, quan niệm hiện đại luôn khuyến khích chúng ta phải mạnh dạn bày tỏ.
Thế nhưng Lư Sư Tôn thường dạy đệ tử phải an nhẫn.
Làm sao dung hòa giữa quyền phát ngôn và nhẫn nhục trong việc hoằng pháp? Khi đối mặt với những lời nói và cách đối xử vô lý của người khác, theo quan điểm Phật pháp, có phải lúc nào cũng nhẫn nhục không?"
Đáp:
"Xã hội hiện đại muôn hình vạn trạng, đủ mọi hạng người, Phật pháp có tám vạn bốn nghìn pháp môn, tùy theo căn cơ của mỗi người mà ban cho phương pháp độ hóa.
Sự độ hóa của Phật pháp cũng không thể thiếu thiện căn.
Chúng ta chú trọng:
Ác niệm không sinh.
Thiện niệm không diệt.
Đối với những điều ác ý, không thân thiện, không hợp lý, chúng ta tu nhẫn nhục ba-la-mật.
Nhẫn nhục là một trong các ba-la-mật.
Cảnh giới cao nhất là "vô sinh pháp nhẫn".
Chứng đắc "vô sinh pháp nhẫn" thì sẽ không thoái đạo tâm!
Thế giới này là huyễn hóa mà thành.
Như một ống kính vạn hoa.
Cũng chỉ có nhẫn nhục mới có thể đến được bờ giác!"

Hỏi:
"Thưa Lư Sư Tôn, mỗi ngày Ngài viết văn, vẽ tranh và tu hành, có bao giờ Ngài muốn nghỉ ngơi, lười biếng một chút không?"
Đáp:
"Như câu hỏi của cô:
Mỗi ngày tôi viết một bài văn.
Mỗi ngày vẽ một bức tranh.
Mỗi ngày tu pháp siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp.
Bây giờ tôi không thể không tu pháp siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp được nữa, tại sao vậy? Bởi vì các chúng sinh cõi u minh đã quen rồi, họ đứng đợi ở đó, nếu một ngày không tu thì họ biết đi đâu, họ làm ồn ào không chịu nổi.
Nếu có một ngày không viết, tôi cảm thấy phí phạm cả một ngày, mỗi ngày đều là một ngày có ý nghĩa, một ngày không viết, trong lòng buồn đến chết được.
Vẽ tranh cũng vậy.
Đây là trách nhiệm, mỗi ngày đều phải để lại một cái gì đó cho người đời.
Không dám nghỉ ngơi.
Không dám lười biếng.
Không dám lãng phí.
Có lẽ đây chính là người nghiện việc!"

Hỏi:
"Thưa Lư Sư Tôn, từ khi Ngài nổi danh quốc tế với tài thần toán cho đến khi tu hành thành Hoạt Phật, chắc hẳn Ngài đã xem tướng số cho vô số người và cứu giúp không biết bao nhiêu người. Năm nay Ngài đã 80 tuổi, xin Ngài chỉ dạy cho chúng con - những chúng sinh bình thường này trí tuệ gì để đối mặt với khổ, không, vô thường và an bình sống qua kiếp này?"
Đáp:
"Phật có bốn pháp ấn, đó là:
Chư hành vô thường.
Chư pháp vô ngã.
Niết bàn tịch tĩnh.
Nhất thực tướng ấn
Phật Đà cũng dạy: Khổ là chân đế.
Cho nên khổ, không, vô thường vốn là chân lý, không ai có thể tránh khỏi khổ, không, vô thường.
Nói thật lòng, hạnh phúc thường cũng là nhân của khổ.
Con người sống trên đời, vốn dĩ đến đây để trả nghiệp, nghiệp lực khiến người ta khổ, không, vô thường.
Còn về việc làm sao để an bình sống qua kiếp này?
Chỉ có thấu triệt!
Nghĩa là:
Nhìn thấu.
Buông bỏ.
Tự tại.
Phải biết rằng cuộc đời chỉ là một giấc mộng huyễn, có một bài kệ về mộng huyễn:
Tất cả pháp hữu vi.
Như mộng huyễn bọt bóng.
Như sương cũng như điện.
Nên quán chiếu như vậy.
Tôi thường nói với mọi người: "Tất cả rồi sẽ qua đi!"
Chỉ có nhìn thấu khổ, không, vô thường.
Buông bỏ phiền não chấp trước.
Mới có thể bình an tự tại." (lời vàng)

Hỏi: "Thưa Lư Sư Tôn, đối với người chưa quy y theo bất kì dòng truyền thừa nào, người ấy cảm thấy gần đây mọi việc đều không suôn sẻ, và muốn tìm cách thay đổi vận mệnh, nếu hôm nay người ấy đến xin Ngài chỉ dạy, Ngài sẽ dùng phương pháp gì để chỉ dạy họ?"
Đáp:
"Có một người gặp nhiều chuyện không suôn sẻ, đã đến hỏi một vị thánh nhân.
Hỏi: Gần đây mọi việc đều không suôn sẻ, làm sao để thay đổi?
Thánh nhân đáp:
Gần đây ông có giữ tâm thanh tịnh không?
(Thánh nhân hỏi: thân có thanh tịnh chăng? khẩu có thanh tịnh chăng? ý niệm có thanh tịnh chăng?)
Câu trả lời của tôi, Lư Sư Tôn là:
Hãy bố thí! Cứu trợ thiên tai và người nghèo khó.
In ấn kinh sách thiện.
Nếu có tín ngưỡng thì:
Tụng Chân Phật Kinh.
Tụng Cao Vương Kinh.
(Dùng kinh lực để chuyển vận.)
Sức mạnh của việc in ấn kinh sách thiện rất lớn, ví dụ như: Ngọc Lịch Bảo Sao, Văn Xương Đế Quân Khuyên Thế Văn, v.v.
Trì chú nương vào chú lực.
Thiền định nương vào định lực.
Làm việc thiện, cứu giúp người nghèo khó, đó là thiện lực.
Cầu nguyện Bổn tôn, đó là Bổn tôn lực.
In kinh sách, đó là kinh lực.
Tu pháp nương vào pháp lực. (tức, tăng, hoài, tru)
................"

🌟

Viết vài bài thơ ngắn về cuộc phỏng vấn:
*Khoảng khắc hoàng hôn thật thanh nhàn
Bất ngờ phát sinh cuộc phỏng vấn
Bạn hỏi tôi đáp theo kinh nghiệm
Mười phần chắc cũng được tám chín.*

*Liên Sinh vốn là khách khói mây
Vì độ chúng sinh bày tỏ tâm điền
Điều hỏi cũng là chuyện nhân sinh
Hỏi đáp đều được ghi cẩn thận.*

*Tiếng tăm gần đây cũng hưng thịnh
Nhưng với tu hành chẳng liên quan
Hành giả nên ở chốn sơn lâm
Tùy thuận thuận theo cõi Ta Bà*

🌟

Những gì tôi nói có đúng không?
Xin các bậc quân tử chỉ dạy,
Lành thay!


### 11. Tam quang gia trì


Trong pháp tu Mật giáo của chúng ta có ba ánh sáng gia trì:
Trán là ánh sáng trắng.
Cổ họng là ánh sáng đỏ.
Vùng tim là ánh sáng lam.
Bổn tôn dùng ánh sáng chiếu khắp hư không pháp giới. Ngài phóng ra ba luồng ánh sáng gia trì hành giả.
Ánh sáng trắng có thể rửa sạch lo âu, giải trừ nỗi khổ của tâm tham, đạt được sự an tịnh nội tại.
Ánh sáng đỏ có thể thanh lọc máu huyết tiêu trừ sân khổ, tăng thêm phúc báo, viên thành thệ nguyện của hành giả.
Ánh sáng lam có thể trừ bỏ ác nghiệp do thân tâm tạo ra, trừ bỏ bệnh khổ, tăng trưởng giác tuệ, tăng cường năng lượng tích cực.
Thì ra,
Tam quang trắng, đỏ, lam chính là để tiêu trừ tham, sân, si và tăng trưởng giới, định, huệ. (lời vàng)

Tôi xin nói với mọi người:
Khi chúng ta tu pháp, thông qua thiền định đúng cách (tư thế) và phương pháp hô hấp đúng.
Nhờ tam quang gia trì, tăng trưởng quán tưởng vững vàng, vọng niệm tịch diệt, đạt đến cảnh giới thân tâm cân bằng, có thể cảm nhận được sự tồn tại sâu sắc hơn.

Tam quang gia trì là hợp nhất với Bổn tôn, nghi thức bên ngoài và sự chuyên nhất bên trong, đây là một pháp then chốt quan trọng nhất.
Cuối cùng đạt được:
Cung điện. (thù thắng)
Tịnh thổ. (trang nghiêm)
Bổn tôn. (vi diệu)
Vì vậy, tam quang gia trì của Mật giáo là một trí huệ kỳ diệu.
Bổn tôn là ta, ta là Bổn tôn. Không hai không khác.
Bổn tôn dạy:
"Các con hãy lắng nghe kĩ! Nếu muốn vào Tam ma địa, hãy dụng tâm tu tập đạo lý tam quang gia trì này. Nếu muốn kéo dài tuổi thọ, cầu tài lộc, được an lạc, hãy thực tu tịnh tâm bằng tam quang gia trì. Nếu muốn giải thoát vô minh, rửa sạch khổ đau của mình và chúng sinh trong lục đạo, khi tam quang gia trì hãy hồi hướng tam quang cho chúng sinh. Nếu muốn được người tôn kính, trở thành người lãnh đạo, cũng làm như vậy." (lời vàng)

Tam quang gia trì nhỏ bé này hóa ra là:
Kéo dài tuổi thọ trường sinh.
Lìa khổ được vui.
Cam lộ pháp thủy.
Nhập Tam ma địa.
Thành tựu tất cả.

Thực ra tam quang gia trì tuy nhỏ bé nhưng ẩn chứa một bí mật to lớn. Điều này có nghĩa là chỉ những người có trí tuệ mới có thể ứng dụng, còn những người không có trí tuệ, chỉ nghe qua tai mà thôi!
Khi Bổn tôn hiển hiện,
Ngài có thân ánh sáng trắng, hư không trong ngoài sáng tỏ.
Có khi là cầu vồng rực rỡ.
Ngài nói ra những lời trí huệ vô biên.
Tràn đầy tình thương với chúng sinh.
Ngài ngự trên tòa sen.
Khi khai thị, từ kim khẩu tỏa ra chuỗi hoa lửa.
Tay trái kết ấn sen.
Tay phải kết thuyết pháp ấn.
Tam quang gia trì của Ngài, ánh sáng miên man không dứt.
Bổn tôn và Lư Sư Tôn hợp nhất làm một, hóa hiện thành hình tướng mới nhất, không chỉ tràn đầy sinh lực mà còn có pháp lực biến hóa kỳ diệu.
Như thế.
Tịnh thổ hiển hiện.


### 12. Già và bệnh


Trong Kinh Hoa Nghiêm, tôi đọc được một lời vàng:
"Bồ Tát mới học bồ đề, phải biết bệnh tật là chướng ngại lớn nhất. Nếu chúng sinh thân có bệnh tật, tâm ắt không an. Làm sao có thể tu tập các ba-la-mật? Vì vậy Bồ Tát khi tu bồ đề, trước hết phải chữa trị những bệnh tật nơi thân."
Tôi thường nói:
"Già và bệnh gắn liền!"

Tôi (Lư Sư Tôn) lúc còn trẻ, không biết bệnh là gì?
Về sau:
Sáu mươi tuổi — huyết áp tăng cao.
Bảy mươi tuổi — thỉnh thoảng hay quên.
Tám mươi tuổi — chân đi lảo đảo.

"Lảo đảo" ở đây chỉ trạng thái đi đứng. Còn có rất nhiều con ma bệnh tật đang rình rập, sẵn sàng gây rắc rối bất cứ lúc nào.
Ngoài huyết áp cao còn có cholesterol. Lại còn axit béo, đường huyết.
Ngoài ra:
Xương ống chân. Xương sống. Cột sống thắt lưng. Gai xương.
Đau thần kinh toàn thân.
Các cơ quan lão hóa.
.................

Năm tôi 79 tuổi, tôi gặp phải sụt cân đột ngột, phù chân, protein nước tiểu, kali máu cao...
Than ôi!
Thôi không nói nữa! Chỉ vì bác sĩ chuyên khoa thay đổi thuốc, khiến năm đó tôi rất khó khăn.
Một hành giả, bệnh là một chướng ngại lớn. Thân không an thì tâm làm sao an?
Về sau,
80 tuổi, mọi thứ dần dần ổn định lại!
Cuối cùng tôi đã hiểu:
Nỗi khổ của tuổi già và bệnh tật.
Giờ đây, trải qua nhiều kinh nghiệm, tôi đã hiểu vì sao bệnh từ miệng mà vào?

Ở đây tôi có hai lời vàng.
"Có ăn uống lành mạnh thì không cần uống thuốc."
"Không có ăn uống lành mạnh thì uống thuốc cũng vô ích."
Câu đầu, ai cũng hiểu.
Câu sau, nhiều người không hiểu?
Bởi vì chỉ uống thuốc mà không có chế độ ăn uống lành mạnh thì uống thuốc cũng chẳng có tác dụng gì.
Sức khỏe của cơ thể cần phải có ăn uống lành mạnh, đây mới là điều quan trọng nhất. (lời vàng)
"Lúc trẻ, bạn hành hạ cơ thể. Đến già, cơ thể sẽ hành hạ bạn." (lời vàng)
"Bạn ăn gì thì bạn sẽ trở thành người như thế!" (lời vàng)

Còn có một lời vàng khác khiến tôi vô cùng xúc động!
"Món quà quý giá nhất mà Đấng Tối Cao ban tặng cho loài người chính là thực vật."
Ăn — lấy thực vật làm chính.
Mặc — dệt từ thực vật.
Ở — xây dựng từ thực vật.
Đi — trang bị từ thực vật.
Ngay cả thuốc Đông y và Tây y chúng ta dùng, phần lớn đều được chiết xuất và tổng hợp từ thực vật.
Không khí để loài người tồn tại là sản phẩm tươi mới từ thực vật (quang hợp).
Con người phá rừng bừa bãi thực ra là một thảm họa.
Chúng ta nên thấu hiểu tầm quan trọng của thực vật và trân quý nó.
Hãy cảm nhận tận tâm can về thực vật.


### 13. Thiên đường và địa ngục


Có người hỏi tôi:
"Có thiên đường và địa ngục không?"
Tôi đáp:
"Có."
Tôi giải thích:
"Khi bạn cảm thấy rất hạnh phúc, đó chính là thiên đường. Khi bạn cảm thấy rất đau khổ, đó chính là địa ngục."
Tôi nói:
"Trong bệnh viện, những bệnh nhân đang chịu đựng bệnh tật, bệnh viện chính là địa ngục. Ở công viên giải trí với những trò chơi vui vẻ, công viên giải trí chính là thiên đường." (Đây là ẩn dụ.)

Về việc lên thiên đường hay xuống địa ngục, tôi hiểu như sau:
Làm những việc đúng đắn sẽ được lên thiên đường.
Làm những việc sai trái sẽ bị đọa địa ngục.
Mọi việc đều có cái "nên làm" và "không nên làm".
Hành vi thiện sẽ có quả thiện.
Hành vi ác sẽ có quả ác.
Thiên đường và địa ngục được phân biệt dựa trên thiện ác.
Thiên đường tất nhiên có nhiều niềm vui.
Địa ngục tất nhiên phải chịu khổ không thể chịu nổi.
Thiên đường và địa ngục là những khái niệm tương đối, đôi khi chỉ cách nhau trong một niệm.

Người hỏi:
"Có thiên đường địa ngục thực sự không?"
Tôi hỏi lại:
"Có cõi người không? Thiên đường địa ngục cũng như vậy."
Người ấy nói:
"Cõi người là huyễn hóa."
Tôi nói:
"Thiên đường địa ngục cũng thế."
Thiên đường không chỉ có một tầng, mà có nhiều tầng khác nhau, có Dục giới thiên, có Sắc giới thiên, có Vô sắc giới thiên.
Địa ngục tất nhiên không chỉ có một tầng, cũng có nhiều tầng, như tám địa ngục nóng, tám địa ngục lạnh, lại có địa ngục Vô gián.

Các địa ngục phụ thuộc cũng rất nhiều.
Như địa ngục cận biên:
Sa mạc.
Hoang dã.
Bờ biển.
Núi non.
Có rất nhiều địa ngục cận biên.

Việc đến thiên đường hay địa ngục là do nghiệp báo nhân quả mỗi chúng sinh tự chuốc lấy, hoàn toàn do tự mình tạo ra, tất cả đều liên quan đến nghiệp của chính mình.
Hành vi của chúng ta ở cõi người được chia thành:
Hành vi thường nhật.
Hành vi riêng biệt.
Hành vi lựa chọn.
Hành vi thường nhật chỉ việc ăn uống ngủ nghỉ v.v…
Hành vi riêng biệt chỉ việc đi công tác, du lịch, giải trí, nhiệm vụ v.v.
Hành vi lựa chọn chỉ những việc xảy ra đột ngột, bạn phải lựa chọn nên làm hay không nên làm.
Ví dụ:
Sát sinh.
Trộm cắp.
Tà dâm.
Nói dối.
Uống rượu.
Những điều này cần phải tránh, vì đều là nghiệp ác.
Lại nữa: Bố thí, tinh tấn, nhẫn nhục, trì giới, thiền định, trí huệ, những điều này đều là nghiệp thiện. Đi làm tình nguyện viên, kêu gọi quyên góp, in ấn kinh sách thiện lành, kinh điển, học Phật, tĩnh tọa...
Thiên đường địa ngục ở một tâm.
Thiện ác cũng ở một tâm.


### 14. Vô thượng chính đẳng chính giác


"Vô thượng chính đẳng chính giác" là một thuật ngữ chỉ sự giác ngộ tối thượng trong Phật giáo.
Các đệ tử của tôi có nhiều kiến giải khác nhau về "Vô thượng chính đẳng chính giác", nhưng không hẳn giống nhau.
Cuộc đối đáp giữa tôi và các đệ tử như sau:
Đệ tử A nói:
"Chân lý chính là vô thượng chính đẳng chính giác."
Tôi nói:
"Rất tốt!"
Đệ tử B nói:
"Thân khẩu ý thanh tịnh chính là vô thượng chính đẳng chính giác."
Tôi nói:
"Rất tốt!"
Đệ tử C nói:
"Bình đẳng nhất như chính là vô thượng chính đẳng chính giác."
Tôi nói:
"Rất tốt!"
D nói:
"Không chấp trước vạn pháp chính là vô thượng chính đẳng chính giác."
Tôi nói:
"Rất tốt!"
E nói:
"Giải thoát chính là vô thượng chính đẳng chính giác."
Tôi nói:
"Rất tốt!"
F nói:
"Không chính là vô thượng chính đẳng chính giác."
Tôi nói:
"Rất tốt!"
G nói:
"Phật tính chính là vô thượng chính đẳng chính giác."
Tôi nói:
"Rất tốt!"
H nói:
"Pháp nhĩ bản nhiên chính là vô thượng chính đẳng chính giác."
Tôi nói:
"Rất tốt!"
I nói:
"Ý thức tối thượng chính là vô thượng chính đẳng chính giác."
Tôi nói:
"Rất tốt!"
J nói:
"Tất cả vốn sẵn thành tựu chính là vô thượng chính đẳng chính giác."
Tôi nói:
"Rất tốt!"

Thế là mọi người đuổi theo tôi và hỏi: "Vô thượng chính đẳng chính giác của Lư Sư Tôn là gì?"
Tôi quay người bỏ chạy.
Mọi người đuổi theo.
Vì tôi (Lư Sư Tôn) đã 80 tuổi, chạy không nhanh nên rất nhanh bị đuổi kịp.
Mọi người hét lên: "Vô thượng chính đẳng chính giác là gì?"
Tôi nín thinh không nói.
Tôi học theo cách im lặng của Văn Thù và sự trầm mặc của Duy Ma Cật, bởi hễ mở miệng là "sai".
Nhưng mọi người không để yên, cứ bắt tôi phải trả lời.
Tôi đành phải nói:
"Vô sở đắc!"
"Không can thiệp!"
"Không hề gì!"
Cuối cùng tôi nói:
"Bên ngoài hiển hiện đại lạc, bên trong tàng chứa quang minh, mà nghĩa chân thực là đệ nhất nghĩa không."
Tôi thừa nhận, tôi nói toàn "lời thừa". (nói cũng như không)


### 15. Giác ngộ tâm đồng thể


Đấng Tối Cao của tôi nói với tôi:
"Con đã đạt đến một cảnh giới rất cao."
Tôi hỏi:
"Đó là cảnh giới gì?"
Đấng Tối Cao nói:
"Tâm đồng thể."
Tôi quay lại nhìn bản thân, quả đúng là như vậy. Trong thế giới nội tâm của tôi, tôi đã cảm nhận được nỗi khổ của người khác, và dần dần sinh khởi tâm đại từ bi đối với tất cả mọi người.
Vì thế tôi nói:
Tôi sẽ không kiện tụng ai, bởi nếu tôi khởi kiện, đối phương chắc chắn sẽ đau khổ, và tôi cũng sẽ vất vả. (Tôi không muốn cả hai bên đều khổ.)
Tiếp nữa:
Tôi không oán hận ai, bởi nếu tôi oán hận người khác, chính tôi sẽ khổ sở, và người khác cũng vậy. (Tôi không muốn cả hai bên đều khổ.)
Thực ra cõi người này toàn là khổ, tôi luôn mang tâm từ bi và thương yêu đối với nỗi khổ của tất cả mọi người.
Người khác khổ.
Lòng tôi khổ.
Nhìn thấy nhân loại trên thế gian chịu khổ vì chiến tranh, chịu khổ vì dịch bệnh. Động đất, lũ lụt, hỏa hoạn, bão tố, đói kém...
Tôi rơi lệ.
(Tôi dùng siêu độ Nghìn thuyền pháp.)
Không chỉ đối với con người, tôi siêu độ cho tất cả sinh linh.
Tôi thấu hiểu nhân duyên quả báo, đối với những bệnh nhân đang chịu khổ trong "phòng chăm sóc đặc biệt" của bệnh viện, tôi dành cho họ tình thương yêu lớn nhất, những gì tôi có thể bảo hộ, tôi đều tận lực bảo hộ. (Tôi có phân thân.)

Tôi tận hết sức mình để làm được:
Vô duyên đại từ.
Đồng thể đại bi.
Tôi thành lập "Quỹ từ thiện Lư Thắng Ngạn" chỉ vì mục đích bố thí thuần túy.
Tôi sẵn sàng ở trong bóng tối, bên cạnh những người khổ nhất, tôi cần phải giúp đỡ người khác.
Thân không hại người.
Khẩu không hại người.
Ý không hại người.
(Người khác bao gồm tất cả sinh linh.) (lời vàng)

Tôi nguyện:
Tài thí.
Pháp thí.
Vô úy thí. (Cống hiến trọn vẹn thời gian và sinh mệnh.)
Tôi thấu hiểu được ý nghĩa chân thật khi Đức Phật đảnh lễ bộ xương khô.
Đệ tử hỏi:
"Vì sao lạy bộ xương khô?"
Đức Phật đáp:
"Có thể đó là cha mẹ đời trước của ta."
Chỉ một câu nói ấy thôi đã khiến tôi chấn động!
(Tất cả sinh linh trên thế gian này đều có thể là cha mẹ anh chị em đời trước của mình.)
Tôi có một kiểu tình nghĩa như cha mẹ anh chị em với tất cả mọi người trong thiên hạ. (Kể cả những kẻ thù ghét tôi.)
Dần dần...
Tâm tôi rộng lớn vô biên.
Tôi và hư không hợp nhất.
Phân thân đi khắp nơi cứu người, cứu sinh linh.
Tôi đã không còn bản thân nữa, mọi việc không vì mình nghĩ, mọi việc vì người khác nghĩ.
Bản thân nghĩ cho người khác chính là hạnh phúc.
Bản thân thương yêu chúng sinh là đại ái.
Tâm đồng thể chính là bình đẳng không hai.


### 16. Còn có sự giác ngộ cao hơn tâm đồng thể


Tôi hỏi Đấng Tối Cao:
"Còn có cảnh giới nào cao hơn tâm đồng thể không?"
Đấng Tối Cao đáp:
"Có."
Tôi hỏi:
"Đó là gì?"
Đấng Tối Cao đáp:
"Khi tất cả không còn sự tồn tại nào khác."
Tôi hỏi:
"Không còn sự tồn tại nào khác là gì?"
Đấng Tối Cao đáp:
"Bản giác."
Tôi hỏi:
"Bản giác là gì?"
Đấng Tối Cao đáp:
"Phật tính, chân tính, chân như bản tính, ý thức tối thượng, chân ngã."
Tôi nói:
"Lư Sư Tôn muốn liễu ngộ bản giác?"
Đấng Tối Cao nói:
"Hãy lắng nghe kĩ, không hiện hữu mà không đâu không hiện hữu, chẳng phải hữu vi, chẳng phải vô vi. Ở trên vạn hữu, lại ở trong vạn pháp, là nguồn gốc của các pháp, là căn cứ của giải thoát."
Tôi nói:
"Xin giải thích thêm?"
Đấng Tối Cao nói:
"Chẳng phải hữu tướng, chẳng phải vô tướng, đồng chân tế, bình đẳng pháp
tính."
Tôi nói:
"Thật khó hiểu quá!"
Đấng Tối Cao nói:
"Văn tự, ngôn ngữ đều không thể giải thích được."
Tôi nói:
"Diệu không thể nói, không thể diễn tả."

🌟

Cái gọi là cảnh giới, cũng chính là không gọi là cảnh giới.
Đây là "bất nhị".
Tuyệt đối.
Chúng ta gọi đó là "chân như thật tướng", "nhất thật chi lý", "như thế như thế".
Hành giả đã ngộ nhập!
Chính là:
Văn Thù Bồ Tát không nói.
Duy Ma Cật im lặng.
Trong Kinh Duy Ma Cật, Duy Ma Cật hỏi Văn Thù Bồ Tát:
"Rốt ráo là gì? Thế nào là bất nhị?"
Văn Thù Bồ Tát đáp:
"Đối với tất cả pháp đều không vọng thêm ngôn thuyết, không vọng thêm phân biệt, thậm chí xa lìa tất cả vấn đáp."
Văn Thù Bồ Tát hỏi lại Duy Ma Cật:
"Ngài cũng nói thử xem!"
Duy Ma Cật nghe Văn Thù hỏi, nhưng im lặng không nói.
Văn Thù cảm thán nói:
"Lành thay! Lành thay! Cho đến buông bỏ tất cả ngôn ngữ văn tự, ngay cả không thể nói cũng không nói, đây mới chính là."

🌟

Tôi viết một bài thơ:
*Chiều hoàng hôn rực đỏ,
Chiếu rọi chùa Lôi Tạng;
Lái xe về nhà thôi,
Buông hết mọi pháp sự.
Dọc đường mờ sương khói,
Đèn đỏ dừng chân ngay;
Đèn xanh lại phóng tới,
Cuối cùng là chốn xa.*
(Đã về đến nhà, một ngày nữa lại trôi qua!)


### 17. Cảm tưởng tuổi 80


Chúng ta hãy xem một lá thư mà Thượng sư Liên Ha viết cho Lư Sư Tôn.

*Sư Phật kính yêu nhất, Phật an!
Ngu đệ tử Liên Ha một lòng đảnh lễ và xin dâng lên Sư Phật cúng dường thân khẩu ý!*

*Sinh nhật 80 tuổi của Sư Phật sắp đến rồi, đệ tử xin trước hết chúc Sư Phật sinh nhật vui vẻ! Ngày ngày hạnh phúc, khỏe mạnh trường thọ, thể lực mạnh mẽ như đại địa, tâm tình vui vẻ như gió xuân, hoằng pháp độ chúng như thái dương, xin Phật trụ thế như sao Bắc Đẩu.*

*Đại thọ 80 của Sư Phật và việc hoàn thành 300 văn tập là niềm vui lớn nhất của Chân Phật Tông, là cột mốc mang tính lịch sử, vì vậy chúng ta gọi đây là "Đại lễ song hỉ - Thánh thọ vượt 80, Văn tập vượt 300", và ngày mai đệ tử sẽ bay từ Brazil đến Seattle, chính là để đến sớm chuẩn bị cho đại lễ này.*

*Thực ra công tác chuẩn bị cho lễ kỷ niệm đã bắt đầu từ rất sớm, do Tông Ủy Hội, Cầu Vồng Lôi Tạng Tự và Seattle Lôi Tạng Tự cùng phối hợp tổ chức. Chúng con đã cùng nhau bàn bạc kĩ lưỡng về việc trang trí mới mẻ cho địa điểm, cho đến cả việc bài trí đặc biệt cho điện Hộ Ma, nhà ăn, hệ thống âm thanh, hệ thống phát trực tiếp, hệ thống LED, quà chúc mừng, hình thức chương trình, thậm chí cả bánh sinh nhật cũng khác với mọi năm, để làm nổi bật sự khác biệt của đại lễ song hỉ này, mang đến những bất ngờ đặc biệt cho Sư Phật và đại chúng.*

*10 năm trước, đệ tử đã lên kế hoạch và chủ trì lễ mừng thọ 70 tuổi của Sư Phật tại Cầu Vồng Lôi Tạng. Vào cuối chương trình, đệ tử đã thổ lộ bằng tất cả tấm lòng rằng, mong được tổ chức lễ mừng đại thọ 80 cho Sư Phật sau 10 năm nữa! Thật trùng hợp là đúng 10 năm sau, sinh nhật của Sư Phật rơi vào ngày Chủ nhật và lễ mừng được tổ chức tại Cầu Vồng Lôi Tạng!*

*Đệ tử cầu xin Sư Phật vận dụng thần thông, gia trì mạnh mẽ để mọi công tác chuẩn bị cho lễ mừng được hanh thông, thời tiết trong ngày được thuận lợi, tất cả các hoạt động của lễ mừng đều viên mãn, để toàn bộ "Đại lễ song hỉ - Thánh thọ vượt 80, Văn tập vượt 300" được thành công viên mãn, trời người hoan hỷ, lưu lại những kỷ niệm vĩnh hằng và tốt đẹp cho Sư Phật và mọi người.*

*Sư Phật kính yêu, song song với việc thúc đẩy công tác chuẩn bị lễ kỷ niệm, sự nghiệp giáo dục Chân Phật cũng đang không ngừng phát triển. Hôm nay, khóa học "Nghi lễ cuộc sống" của Đại học Trực tuyến Chân Phật đã nhận được sự hưởng ứng nhiệt liệt dưới sự gia trì của Sư Phật, số lượng học viên tham gia đã vượt quá 1.200 người. Khóa học do Thượng sư Liên Phi, Thượng sư Liên Duyệt và giảng viên Vũ Tự Tại phối hợp giảng dạy. Mọi người hăng hái đặt câu hỏi, không khí vô cùng sôi nổi, phản hồi rất tốt, ai cũng cảm thấy đây là một khóa học rất thiết thực và gần gũi với cuộc sống. Việc đào tạo đội ngũ hoằng pháp mới cho Chân Phật Tông qua "Pháp học đường" cũng đang được tiến hành. Nửa cuối năm sẽ lần lượt triển khai các khóa học trực tiếp, lớp nâng cao dành cho Thượng sư, và các khóa học phổ thông. Kính xin Sư Phật gia trì cho sự nghiệp giáo dục Chân Phật không ngừng phát triển, mang lại lợi ích và tiến bộ cho đại chúng.*

*Sư Phật kính yêu, tuy công việc sự nghiệp bồ đề rất bận rộn, nhưng đệ tử vẫn luôn duy trì hai phương diện tinh tấn: tinh tấn trong tu trì và tinh tấn trong vận động.*

*Về mặt tu pháp, đệ tử mỗi ngày đều kiên trì bốn thời công phu, theo chỉ dẫn của Sư Phật, tăng cường tu trì về khí thông trung mạch và chuyết hỏa. Hiện tại cảm nhận về chuyết hỏa rất tốt, nhiệt và quang xuất hiện rất nhanh, phần thân dưới dường như hóa thành hoa sen lửa, Tâm luân và Mi tâm luân đều có thể phát ra ánh sáng. Đệ tử lại thầm niệm tâm chú của Sư Tôn, cảm thấy bản thân hóa thành Sư Tôn an trụ trên hoa sen lửa, cuối cùng hòa nhập vào trong không tính quang minh. Lúc đó có sự thể ngộ rằng: diệu hữu = chân không, sắc = không, dùng một phương trình toán học để biểu thị thì là: 1 = 0.*

*Vì vậy đệ tử hiện giờ đã thấu hiểu sâu sắc, tại sao Đạt Ma Tổ sư hỏi Sư Phật: "Cái gì là không?"
Sư Phật đáp: "Hữu."
Tổ sư hỏi: "Cái gì là hữu?"
Sư Phật đáp: "Không."*

*Đệ tử trong thiền định thể ngộ được rằng, câu trả lời của Sư Phật chính là lời đáp hoàn hảo nhất, thâm sâu nhất, vi diệu nhất về không và hữu. Đây là câu trả lời mà chỉ bậc đại thành tựu giả trong thực tu mới có thể đưa ra.*

*Đệ tử một lần nữa xin chúc mừng sinh nhật 80 tuổi của Sư Phật! Kính chúc Sư Phật ngày an lành, đêm an lành, sáu thời trong ngày đều được an lành! Nguyện Sư Phật trường thọ tự tại, trụ thế lâu dài, thường chuyển pháp luân, xin Phật trụ thế!*

*Cũng xin Sư Phật gia trì cho đệ tử được khỏe mạnh, thành tựu trong tu hành, viên mãn bồ đề, đời đời kiếp kiếp đều được gặp gỡ và đồng hành cùng Sư Phật, đời đời kiếp kiếp đều được lắng nghe giáo pháp của Sư Phật, và hoằng dương giáo pháp của Sư Phật mãi xa trong thế gian.*

*Đảnh lễ tạ ơn sự gia trì của Sư Phật!
Ngu đệ tử Liên Ha kính bái.
Ngày 28 tháng 5 năm 2024, São Paulo, Brazil.*

(Lời nhắn của Lư Sư Tôn: Thực sự cảm thấy không an tâm khi mọi người phải vất vả nhiều như vậy vì sinh nhật của tôi! Tôi phải cảm ơn các đệ tử. Bởi vì trong cuộc đời này, các đệ tử đã cho tôi quá nhiều, tôi phải biết ơn và báo đáp, cảm ơn!)

🌟

Cảm tưởng tuổi 80 (thơ)

Bài 1:
Tứ đại của ta đây
Đã dùng tám mươi năm
Giờ đây có thể bỏ
Chẳng có gì đáng thương.

Bài 2:
Tứ đại động và tĩnh
Chẳng liên can đến ta
Chỉ cần buông một cái
Tự tại chẳng lạ gì.

Bài 3:
Già bệnh là nghiệp quả
Tùy duyên và tùy thuận
Tự nhiên chính là đạo
Thân này mượn của ai.

Bài 4:
Đệ tử đi theo tôi
Vượt qua núi với sông
Mong cầu bay thăng tiến
Trần thế chẳng màng gì.

Bài 5:
Pháp ta không cô lập
Một chân lý duy nhất
Tham học cần tinh tấn
Chư Phật hiện toàn thân.

Bài 6:
Tất cả là hoa mộng
Vốn không có sinh tử
Giấc ngủ lớn đã tỉnh
Giờ đây được tự chủ.


### 18. Vào pháp môn bất nhị


Tôi giảng Kinh Duy Ma Cật.
Điều bất ngờ là yếu chỉ trọng tâm của bộ kinh này lại chính là "Pháp môn bất nhị", điều mà hành giả thông thường không thể ngờ tới.
Ví dụ:
"Phiền não tức bồ đề".
"Sinh tử tức niết bàn".
"Phật ma đều như một".
"Xuất thế tức nhập thế".
"Diệu hữu tức sắc không".
Tất cả những điều này đều là chân như thật tướng, một lý chân thật, bình đẳng như như, không có phân biệt.

Do đó, các vị Bồ Tát bất khả tư nghì, khi bước vào cảnh giới tuyệt đối bình đẳng, liền đạt được giải thoát bất khả tư nghì.
Tại đây, chúng ta hãy lắng nghe các vị Đại Bồ Tát giảng về "Pháp môn bất nhị":
Pháp Tự Tại Bồ Tát nói:
"Sinh diệt vốn là hai, nhưng các pháp vốn không sinh, đã không sinh thì làm gì có diệt? Vì vậy, thấu hiểu bất sinh bất diệt chính là pháp môn bất nhị." (Chứng vô sinh pháp nhẫn.)
Đức Thủ Bồ Tát nói:
"Ngã và mọi thứ của ngã là hai, nhưng khi ngộ được rằng ngã là vô ngã, là huyễn hữu, là giả hữu, đã không có ngã thì đương nhiên không có mọi thứ của ngã, đó chính là pháp môn bất nhị."
Bất Quyện Bồ Tát nói:
"Thủ và bất thủ là hai, nhưng khi ngộ được rằng tất cả đều là vô sở đắc. Cho nên, vô thủ vô xả, vô tác vô hành, đó chính là pháp môn bất nhị."
Đức Đỉnh Bồ Tát nói:
"Thanh tịnh và ô nhiễm là hai, nhưng khi ngộ được rằng thanh tịnh là không, ô nhiễm cũng là không. Do đó không tịnh không uế, đó chính là pháp môn bất nhị."
Thiện Tú Bồ Tát nói:
"Tâm sinh tức là động, tâm động thì thành niệm, nếu tâm không sinh, không động cũng không niệm, đó chính là pháp môn bất nhị."
Bồ Tát Thiện Nhãn nói:
"Mỗi một sự vật đều có tướng, hữu tướng và vô tướng, đối đãi mà thành hai. Nếu ngộ được rằng tất cả hữu tướng đều là hư huyễn, sẽ không chấp trước hữu tướng vô tướng, đó chính là pháp môn bất nhị."
Diệu Tý Bồ Tát nói:
"Tâm Bồ Tát và tâm Thanh Văn là hai, nhưng tâm vốn không thể tìm thấy, cho nên không có tâm Bồ Tát, cũng không có tâm Thanh Văn, đó chính là pháp môn bất nhị."
Phất Sa Bồ Tát nói:
"Thiện và bất thiện là hai, nếu ngộ được rằng thiện và bất thiện đều là kết quả của vọng tâm phân biệt, không nghĩ thiện, không nghĩ ác, thiện ác đều không, đó chính là pháp môn bất nhị."
Sư Tử Bồ Tát nói:
"Nghiệp tội và phúc báo là hai. Nhưng bậc giác ngộ biết rằng, nghiệp tội cũng là không, phúc báo cũng là không. Hai bên vốn không sai khác, không có người bị trói buộc, không có người được giải thoát, đó chính là pháp môn bất nhị."
Sư Tử Ý Bồ Tát nói:
"Hữu lậu và vô lậu là hai. Nếu đã chứng đắc các pháp, tất cả các pháp bình đẳng, hữu lậu vô lậu đều là một, đó chính là vào pháp môn bất nhị."
Tịnh Giải Bồ Tát nói:
"Pháp hữu vi và pháp vô vi là hai. Nhưng thực chất các pháp đều như hư không, bình đẳng một vị, đó chính là vào pháp môn bất nhị."
Na La Diên Bồ Tát nói:
"Xuất thế gian và nhập thế gian là hai. Nhưng bản chất của thế gian là huyễn, cũng ngang bằng với xuất thế gian, đó chính là vào pháp môn bất nhị."
Thiện Ý Bồ Tát nói:
"Sinh tử và niết bàn là hai. Nhưng bậc minh triết biết rằng không sinh cũng không tử, không sinh không tử tức là niết bàn. Đó chính là pháp môn bất nhị."
Hiện Kiến Bồ Tát nói:
"Phiền não đã hết và phiền não chưa hết là hai. Nhưng xét đến cùng, phiền não từ tâm khởi, nếu tâm vốn không, thì bản chất của hai bên không có sai khác. Đó chính là pháp môn bất nhị."
Phổ Thủ Bồ Tát nói:
"Ngã và vô ngã là hai, nhưng cái ngã này chỉ là sự giả hợp của tứ đại, vốn là vô ngã, như vậy là vào pháp môn bất nhị."
Điện Thiên Bồ Tát nói:
"Minh và vô minh là hai, nhưng thật tính của vô minh chính là minh, minh không thể nắm bắt, vô minh càng không thể nắm bắt, ngộ nhập như vậy tức là pháp môn bất nhị."
Hỷ Kiến Bồ Tát nói:
"Sắc và sắc không là hai, bản tính của sắc chính là không, vì vậy thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy. Lại nữa, thức và thức không là hai, nhưng bản tính của thức là không. Thọ tưởng hành thức có mối quan hệ tương hỗ, đó chính là vào pháp môn bất nhị."
Minh Tướng Bồ Tát nói:
"Hư không và địa thủy hỏa phong là hai, nhưng tứ đại đều không. Sinh ra từ hư không đến, diệt từ hư không diệt, ngộ nhập như vậy chính là pháp môn bất nhị."
Diệu Ý Bồ Tát nói:
"Nhãn căn và sắc trần là hai, nếu nhãn căn không bị sắc trần nhiễm trước, phiền não, mê hoặc, thì chính là một. Cho nên tỵ căn với hương trần, thiệt căn với vị trần, nhĩ căn với thanh trần, thân căn với xúc trần, ý căn với pháp trần. Lục căn lục trần, căn bản là một, đó chính là pháp môn bất nhị."
Vô Tận Ý Bồ Tát nói:
"Trong pháp lục độ, bố thí và hồi hướng là hai, hồi hướng là nhất thiết trí tính. Bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, trí tuệ, thiền định, đều là nhất thiết trí, với hồi hướng là tương đồng, cho nên có mối quan hệ tương hỗ, đó chính là pháp môn bất nhị."
Thâm Huệ Bồ Tát nói:
"Không và vô tướng vô tác là hai. Nhưng không chính là vô tướng, vô tác. Nếu hiểu được không là vô tướng, vô tác, thì sẽ không khởi tâm ý phân biệt vọng tưởng, ba loại giải thoát sẽ hợp thành một giải thoát."
Tịch Căn Bồ Tát nói:
"Tam Bảo Phật, pháp, tăng là hai. Nhưng tăng có Phật pháp, Phật tức là pháp, pháp tức là Phật. Người thấu hiểu sâu sắc biết rằng Tam Bảo Phật, pháp, tăng đều không. Ngộ nhập được như vậy chính là pháp môn bất nhị. Đó cũng chính là tâm, Phật, chúng sinh ba thứ không khác biệt."
Tâm Vô Ngại Bồ Tát nói:
"Sắc thân và nhập diệt là hai, nhưng sắc thân vốn đã có tính Niết bàn của sự nhập diệt. Nếu thông đạt được thực tướng của sắc thân, sẽ biết rằng sắc thân và nhập diệt là bất nhị bất biệt, đó chính là ngộ nhập pháp môn bất nhị."
Thượng Thiện Bồ Tát nói:
"Thân khẩu ý thoạt nhìn thì riêng biệt, đó là tam nghiệp. Nhưng ba nghiệp này liên kết với nhau, đều không có tướng tạo tác, thân không có tướng tạo tác, khẩu không có tướng tạo tác, ý cũng không có tướng tạo tác, đó cũng chính là tất cả các pháp không có tướng tạo tác, như vậy là ngộ nhập pháp môn bất nhị."
Phước Điền Bồ Tát nói:
"Hành vi thiện và hành vi ác vốn là hai. Nhưng bản tính đều là không, như vậy không có thiện, cũng không có ác, quán chiếu thiện, ác, bất động như vậy chính là vào pháp môn bất nhị."
Hoa Nghiêm Bồ Tát nói:
"Thức và ngã là hai, nhưng thực tướng của ngã là không, vô ngã thì tự nhiên vô thức, không có ngã, cũng không có thức, đó chính là vào pháp môn bất nhị."
Đức Tạng Bồ Tát nói:
"Có sở đắc và vô sở đắc là hai. Nhưng thực ra, cho rằng có sở đắc cũng chính là vô sở đắc. Ví như cuộc đời, cuối cùng thì không có gì để lấy bỏ. Ngộ nhập được như vậy chính là pháp môn bất nhị."
Nguyệt Thượng Bồ Tát nói:
"Sáng và tối là hai. Nếu không sáng không tối thì không phải là hai. Có người nhập diệt tận định, trong định không sáng không tối, tất cả bình đẳng, đó chính là vào pháp môn bất nhị."
Bảo Ấn Thủ Bồ Tát nói:
"Thích Niết bàn và không thích thế gian là hai. Nhưng nếu không ham thích Niết bàn, không chán ghét thế gian thì không còn phân biệt nữa. Ví như: có trói buộc mới có giải thoát, không bị trói buộc thì đương nhiên không có giải thoát. Ngộ nhập được như vậy là pháp môn bất nhị."
Châu Đỉnh Vương Bồ Tát nói:
"Chính đạo và tà đạo là hai. Nhưng nếu chúng ta an trú trong chính đạo, thì căn bản không còn phân biệt chính đạo và tà đạo. Hơn nữa, buông bỏ sự phân biệt hư vọng giữa hai bên, đó chính là vào pháp môn bất nhị."
Lạc Thật Bồ Tát nói:
"Thật và không thật là hai. Nhưng cái gọi là chân thật, vốn không có tính thật. Chúng ta biết tất cả đều là hư ảo không thật, đã thế với chân thật, huống chi là không chân thật. Ví như tuệ nhãn thấy được, chính là vô sở kiến, mà cũng vô sở bất kiến. Nếu quán chiếu như vậy, chính là ngộ nhập pháp môn bất nhị."

🌟

Sau khi nghe những lời của chư Bồ Tát, tôi có một cảm nhận:
Ta Bà này là hư ảo.
Chúng sinh là hư ảo.
Tất cả các tướng đều là vô tướng.
Tất cả tạo tác đều là vô tác.
Tất cả trói buộc cũng chính là tất cả giải thoát.
Vốn dĩ tất cả đều là tuyệt đối, đây toàn là pháp môn bất nhị.

Trong Đạo gia có câu:
Vô cực hóa thành thái cực, thái cực là âm dương, âm dương sinh vạn vật. Cuối cùng vẫn trở về vô cực.
(Vô cực là một thật tướng ấn, tức pháp môn bất nhị.)

Nói theo con số:
○ là pháp môn bất nhị.
Một là tuyệt đối.
Hai, ba, bốn, năm, sáu......... Tất cả đều là hư vọng.
Tôi (Lư Sư Tôn), tu học Phật đến đây, tôi vẫn quay về "tâm đồng thể". Bởi vì chỉ có "tâm đồng thể" mới có tác dụng.


### 19. Thỉnh Phật trụ thế


Đây là bài viết của Du Du.
Du Du nói:
Diêu Trì Kim Mẫu ở Chùa Tổ đã nói với Du Du: "Phải thỉnh cầu Lư Sư Tôn trụ thế thật tốt."
Lại nói:
"Con phải thỉnh Phật trụ thế, con phải làm cho Lư Sư Tôn hạnh phúc vui vẻ ở nhân gian."

Sau đó một thời gian, bốn chữ "thỉnh Phật trụ thế" bắt đầu thường xuyên xuất hiện trong cuộc sống.
Sư tỷ Trần Truyền Phương đã đăng ảnh cũ của Lư Sư Tôn lên trang Facebook của tôi, trên đó cũng viết: "Thỉnh Phật trụ thế".
Chư Phật Bồ Tát ở Đài Loan Lôi Tạng Tự cũng bảo tôi: "Thỉnh Phật trụ thế".
Sự thay đổi quan trọng nhất là: Phật Mẫu Mandarava xuất hiện, cuối tháng, Ngài đến tìm tôi, đi vào trong tâm tôi, trong những ngày đó, tôi đã trở nên khác. Tôi bắt đầu kiên định nghĩ rằng:
"Tất cả những gì tôi có, tất cả những gì tôi làm, đều là để cúng dường 'thỉnh Phật trụ thế', phải làm cho bản thân tốt hơn, có thể giúp đỡ Lư Sư Tôn, và nhất là làm cho Lư Sư Tôn trường thọ, vui vẻ hạnh phúc."

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) đọc đoạn văn ngắn này, tôi nghĩ đến bản thân mình.
Đúng vậy.
Có một thời gian, tôi thật sự không muốn ở lại cõi Ta Bà này, nguyên nhân chính là:
Thân tâm không khỏe.
Tự thấy pháp luân đã chuyển, có thể trở về rồi!
Việc cần làm đã làm! Không mắc nợ cõi người, không lưu luyến Ta Bà.
Điều duy nhất tôi nghĩ đến là Sư Mẫu Thượng sư Liên Hương, bệnh nghiệp khiến bà ấy sống rất vất vả.
Bà ấy vẫn chưa đi.
Nếu tôi đi trước, chẳng phải quá tàn nhẫn sao! Bà ấy không thể nhìn thấy tôi nữa, chỉ còn lại người chăm sóc, làm sao tôi có thể thoải mái như vậy? Nói đi là đi.

Vì vậy, tôi vẫn quyết định ở lại.
Ôi! Sư Mẫu đã phụ giúp tôi xây dựng tông phái suốt 50 năm, vất vả biết bao.
Tôi có thể khóc! (Khi bà ấy ra đi trước.)
Nhưng không thể để bà ấy phải khóc! (Khi tôi ra đi trước.)
Tôi cũng nghĩ đến: Đa Bảo Như Lai.
Đa Bảo Như Lai thành đạo, nhưng không ai hay biết. (Người đời quá si mê.)
Vì không có ai "thỉnh Phật trụ thế", nên Đa Bảo Như Lai đã nhanh chóng thị tịch nhập diệt.

Khi Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo dưới cội bồ đề.
Đức Phật đã hiểu rõ:
"Thì ra là như vậy."
Vì thế, sau khi Đức Phật giác ngộ, Ngài định nhập Niết bàn, không nghĩ đến việc độ sinh.
May mắn thay, Đại Phạm Thiên Vương biết Đức Phật đã thành đạo, nên đã "thỉnh Phật trụ thế".
Và, Đế Thích Thiên cũng đến "thỉnh Phật trụ thế".
Thế là, Phật Thích Ca Mâu Ni đã ở lại thế gian thuyết pháp suốt 49 năm.
Việc Phật Thích Ca Mâu Ni trụ thế thuyết pháp là vô cùng quý giá hiếm có (báu vật của thế gian).
Nhờ vậy, chúng sinh đời này mới có thể nương theo giáo pháp của Đức Phật mà chứng đắc "chính giác".
Nếu không có Phật trụ thế.
Nhân loại sẽ hoang mang không định hướng, tất cả đều không nơi nương tựa, như không có mặt trời, sẽ rơi vào địa ngục tăm tối.


### 20. Tu hành ở thi đà lâm


Tôi nhớ:
Tổ sư Mật giáo Liên Hoa Sinh Đại sĩ đã từng tu hành tại thi đà lâm ở Thiên Trúc (Ấn Độ).
Ngài dùng xác chết chất thành pháp tọa.
Ngài khoác vải liệm từ tử thi.
Ngài ăn đồ cúng thừa nơi xác chết.
Ngài dùng ba đầu lâu xâu thành xương làm quyền trượng.
Tại sao lại làm như vậy?
1. Ngài tu khổ hạnh.
2. Thi đà lâm có linh khí nặng nhất. (từ trường tâm linh)
3. Thi đà lâm là nơi thể nghiệm vô thường.
4. Khiến người tinh tấn hơn.
5. Dễ thành tựu siddhi hơn.

Ngoài ra:
Thượng sư Trần Kiến Dân, một hành giả yogi Mật giáo, mỗi khi đến một nơi hoằng pháp, đều phải đến thi đà lâm.
1. Ngài rải lương khô.
2. Siêu độ vong linh.
3. Cầu nguyện linh khí gia hộ.
4. Tiêu trừ một vài chướng ngại.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) cũng học tập cách tu hành của chư Tổ sư, thuở đó tôi là nhân viên đo đạc, thường xuyên đi qua thi đà lâm (nghĩa trang).
Ban đêm ở nhà trọ gần nghĩa trang. Khi tu pháp thì ở giữa thi đà lâm.
Sách của tôi có ghi lại quá trình tu pháp ban đêm tại nghĩa trang lớn ở Đài Nam (Lục Cước).
Đã đến chùa Ma Tổ Lục Cước.
Đã đến Xích Sơn Long Hồ Nham bên cạnh nghĩa trang.

Tôi không sợ thi đà lâm là có lý do:
1. Tôi hiểu phong thủy, giúp người làm âm trạch, thường vào thi đà lâm ban đêm để tiến kim.
2. Tôi là nhân viên đo đạc, đã đi khắp các nghĩa trang trong tỉnh, nên hoàn toàn không sợ mộ địa.
3. Tiện thể siêu độ.
4. Thể nghiệm sự vô thường của kiếp người.
5. Ở Seattle, Mỹ, tôi đã đến nghĩa trang Green Lake, nghĩa trang Redmond, nghĩa trang Bellevue.
(Nghĩa trang ở Mỹ được chăm sóc như vườn hoa.)
Nghĩa trang Rose Hills ở California.
Nghĩa trang ở tiểu bang Hawaii, bên cạnh có một ngôi chùa.
.............

Theo phong tục phương Tây, thường có nghĩa trang xung quanh nhà thờ, ví dụ như:
Tu viện Westminster của Anh.
Vương cung thánh đường Thánh Paul của Ý.
Hầm mộ của Vatican.
Lời vàng của tôi là:
"Muốn thể nghiệm vô thường, hãy đến thi đà lâm!"

🌟

Tôi có một nữ đệ tử tên là Vũ Vũ.
Cô ấy cũng tu pháp ở thi đà lâm.
Cô ấy tự kể:
Lần đầu tiên, tôi đến nghĩa trang quận Tín Nghĩa, tôi biết mình tuyệt đối không được sợ hãi, trên đường đi tôi niệm chú Phổ Ba Kim Cang, tôi mang theo rượu thịt, sau khi mặt trời lặn đi vào sâu trong nghĩa trang, ngồi tu một thời pháp Phổ Ba Kim Cang.
Có ma tò mò hỏi tôi đến đây làm gì?
Tôi nói, tôi đến để học hỏi từ các người, tôi muốn hàng phục nỗi sợ hãi, ngoài ma ra, tôi còn thấy cả chủ của thi đà lâm. Khi tu học, tôi thuận theo linh cảm, giơ chày Phổ Ba lên và nói:
"Ta là Vũ Vũ, ta là Không hành mẫu."
"Sư phụ của tôi là Liên Sinh Hoạt Phật, Ngài là bậc đại thành tựu chân thật.
Tôi muốn thỉnh Phật trụ thế, đây là đại sự vô cùng quan trọng.
Xin tất cả Không hành dũng phụ, Không hành dũng mẫu ở thi đà lâm gia hộ.
Xin tất cả u minh chúng giúp đỡ.
Hãy làm Hộ pháp của tôi, tiêu trừ chướng ngại.
Hãy giúp đỡ, cùng nhau hộ trì chính pháp.
Tương lai chúng ta cùng nhau thành tựu, cùng thành Phật đạo."
Khi tôi nhập định, pháp thân của Lư Sư Tôn hợp nhất với tôi.
Tôi nghe chủ thi đà lâm nói:
"Từ nay về sau, ngọn núi này sẽ mãi mãi chào đón cô, cô thật sự là Không hành mẫu của Liên Sinh Hoạt Phật."

Lại nữa:
Tôi đến nghĩa trang sau núi của Nhà tang lễ số 2 Đài Bắc, ban đêm, một mình đi chân trần leo lên khe núi, đối diện với lò hỏa táng để tu pháp.
Không hành mẫu ở đó nói với tôi:
"Chúng tôi sẽ giúp cô, cô dám đến đây, thật can đảm."
Lại nữa:
Tôi đến nghĩa trang Ngoại Song Khê ở Sĩ Lâm, nơi âm u và hoang vắng.
Phổ Ba Kim Cang đã cứu một số vong linh bị giam cầm ở đó.
Tôi dạy họ niệm chú Thượng sư, giúp họ quy y.
Hóa ra:
Ma mạnh hay bắt nạt ma yếu.

Lại nữa:
Tôi đến núi sau của Bệnh viện Vinh Tổng Thiên Mẫu. Nghĩa trang ở đó đã được di dời, không còn chủ thi đà lâm.
Nhưng có rất nhiều tiểu tinh quái.
Tôi bị chúng vây quanh.
May mắn thay, Phổ Ba Kim Cang đã cứu tôi.
Tôi giới thiệu Lư Sư Tôn với các tinh quái, tôi nói với chúng rằng, khi Lư Sư Tôn về nước, họ phải cải tà quy chính, nhanh chóng đi quy y.
Phải hộ trì chính pháp.

Lại nữa:
Tôi đến núi Phương Lan, ở đó có rất nhiều ngôi mộ nhưng thiếu sự chăm sóc, cỏ dại mọc um tùm, tuy nhiên lại không có nhiều âm hồn, không khí rất yên tĩnh.
Điều này khiến tôi thấy kỳ lạ.
Cho đến khi tôi tu pháp.
Một vị Địa Tạng Bồ Tát hiện đến, tôi mới chợt hiểu ra.
Dưới chân núi có một am thờ Địa Tạng, khu vực này thuộc quyền quản lý của Địa Tạng Bồ Tát.
Những âm hồn ở đây đều là tín chúng. Một số đã trở thành thị giả của Địa Tạng Bồ Tát.
Địa Tạng Bồ Tát núi Phương Lan dạy tôi:
"Phải có tâm nhu hòa, dâng hiến trọn vẹn, hoàn toàn không vì bản thân, đó chính là vô úy."

Lại nữa:
Vào ngày cúng dường Không hành mẫu theo lịch Tạng, tôi đến nghĩa trang Phú Đức ở Phúc Đức Khảm, Mộc Sai.
Nơi đó rất thoáng đãng, bầu không khí rất tốt, Không hành mẫu đã đi cùng tôi đến siêu thị, mua ba loại thực phẩm trắng, ba loại thực phẩm ngọt và các phẩm vật cúng dường khác, chỉ đường cho tôi đến khu vực số 20 của nghĩa trang, ở cuối con đường có một bãi đất bằng nhỏ, đó là điểm cao nhất, bốn phía sườn núi đều là mộ phần, tầm nhìn rộng mở, có thể nhìn bao quát toàn bộ Mộc Sai.

Trên bãi đất bằng nhỏ đó, các Không hành mẫu vây quanh tôi, tôi tự nhiên nói được ngôn ngữ của Không hành mẫu, mọi người đều hoan hỷ, dâng lên cúng phẩm, tôi tự nhiên hát lên bài ca của Không hành mẫu.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ cũng đến, Ngài nói: "Đây là nơi tụ hội của Không hành, con muốn đến thì cứ đến, đây là căn cứ địa tụ hội của Không hành."

Liên Sư dạy tôi:
"Cúng dường lớn nhất chính là thân khẩu ý của con."
Liên Sư hỏi:
"Vì sao con muốn đạt được thành tựu lớn nhất?"
Tôi đáp:
"Con muốn dùng thành tựu lớn nhất, tận hết khả năng thỉnh Phật trụ thế, hộ trì và phụng sự Căn bản Thượng sư Lư Sư Tôn của con."
Liên Sư nói:
"Lành thay!"
Liên Sư nói:
"Con cũng là đệ tử của ta!"
Tôi nói:
"Con không nhớ nữa!"
Tôi hỏi Liên Sư:
"Tuyệt vời quá, Liên Sư tôn kính, xin hỏi làm sao để đoạn trừ phiền não và trực chứng giải thoát?"
Liên Sư đáp:
"Con là đệ tử thông minh, nhưng giải thoát không cần thông minh hay tác ý. Khi không còn vướng bận, không còn suy nghĩ và tạo tác, tự nhiên sẽ giải thoát. Đừng để những suy nghĩ tạo tác trở thành phiền não chấp trước."
(Lư Sư Tôn ghi chú: Câu này chính là lời vàng.)

Tôi nói:
"Con đã hiểu!"
Liên Sư nói:
"Hiểu được thì sẽ giải thoát!"
Tôi khóc!
Tôi hiểu ra đây mới chính là tình yêu đích thực.
Liên Sư nói:
"Ta ban cho con quán đảnh Phẫn Nộ Liên Sư. Con vẫn phải lấy pháp Phổ Ba và pháp Trường Thọ làm pháp tu chính, nhưng Phẫn Nộ Liên Sư sẽ là chỗ dựa của con."

Vũ Vũ từ đó không còn sợ ma.
Đã vượt qua nỗi sợ hãi.
Vũ Vũ có thể trực tiếp chuyển hóa "thân ánh sáng như huyễn".
Hóa ra chúng sinh đều là chữ "không".


### 21. Cảm nhận trong thiền định | Bài viết của Khiết Khiết


Thông thường, tôi hay nghỉ phép vào cuối năm. Sau đó, tôi thường lên kế hoạch dành trọn một tuần để thiền định, nhưng những năm trước đều không thực hiện được. Thật dễ bị xao lãng trong kỳ nghỉ! Tuy nhiên, năm nay cuối cùng tôi cũng có thể dành trọn một tuần nghỉ phép để thiền định.

Tôi quyết định tập trung vào các loại thiền định sau:
1. Thiền định tình thương với trọng tâm là luân xa tim.
2. Hợp nhất với Sư Tôn.
3. Thiền chỉ.

Vì đang trong kỳ nghỉ nên tôi không giới hạn thời gian cho những lần thiền định này, cũng không lập kế hoạch bắt đầu chúng. Bất cứ khi nào cảm thấy muốn thiền định, tôi sẽ dừng việc đang làm để thiền. Quy tắc duy nhất của tôi là phải thực hành một trong ba loại thiền đã nêu trên. Tại sao lại chọn ba loại này? Đơn giản vì cảm thấy chúng tự nhiên!

Loại thiền đầu tiên về tình thương rất đơn giản: chỉ cần cảm nhận tất cả tình thương xung quanh mình, rồi nội hóa nó. Khi có thể cảm nhận được tình thương bên ngoài, tôi tập trung vào tình thương bên trong: tôi hình dung tất cả những người tôi gặp, mở rộng trái tim với họ: dù là bạn hay thù, người thân hay người lạ, không có sự phân biệt. Tôi tập trung vào tình thương thuần khiết dành cho tất cả mọi người. Khi cảm nhận được tình thương này, tôi cảm thấy một áp lực trong lồng ngực: như thể có một quả cầu năng lượng ở vùng luân xa tim, khao khát được mở rộng - như muốn thoát ra khỏi lồng ngực. Đây là một cảm giác thực tế, giống như có ai đó đang ấn vào ngực tôi vậy.

Quả cầu áp lực này còn có một số đặc điểm: nó có thể được nén lại và nó xoay theo chiều kim đồng hồ. Đối với tôi, đây là một cảm giác khá mới mẻ, nên lúc đó tôi chỉ có thể phân tích được một số chi tiết trong đó.

Dần dần, tình thương từ tôi tuôn chảy tạo thành một vòng tròn - tôi hình dung nó như một vòng tròn tỏa ánh sáng màu hồng. Vòng tròn này lớn dần, nhanh chóng bao trùm cả phòng khách của tôi. Mọi vật trong phòng khách đều được bao bọc bởi tình thương của tôi. Sau đó vòng tròn tiếp tục mở rộng, bao trùm cả tòa nhà tôi đang ở - tất cả chúng sinh trong tòa nhà này đều được bao bọc bởi tình thương của tôi. Vòng tròn cứ thế lớn dần một cách vững vàng: từ tòa nhà đến khu phố, đến thành phố, đến tiểu bang, đến quốc gia, đến lục địa, đến thế giới, đến vũ trụ. Trong thiền định này, tôi chỉ muốn cảm nhận tình thương - tình thương thuần khiết, không phân biệt, vô điều kiện và vô tận. Khi vòng tròn không còn hình dạng nữa, tôi nghỉ ngơi trong ánh sáng hồng, đắm mình trong tình thương đó thật lâu.

Dần dần, tôi cảm nhận tâm linh mình chuyển sang trạng thái thiền định thứ hai: hợp nhất với Sư Tôn.

Trong quá trình hợp nhất với Sư Tôn, tôi có thể cảm nhận ánh mắt từ ái của Người dõi theo mình. Khi thân thể tôi hòa quyện với Sư Tôn, một nỗi khát khao và tình cảm sâu đậm trào dâng. Nỗi khát khao này thật khó diễn tả: giờ đây tôi sống ở Seattle, hằng ngày đều được gặp Sư Tôn - vậy tại sao trong lúc thiền định tôi vẫn khát khao Người đến vậy? Đây là một nỗi khát khao khác, một nỗi khát khao rất cổ xưa - có lẽ điều này có nghĩa là tôi đã khát khao Sư Tôn từ rất lâu rồi - và giờ đây, chúng tôi cuối cùng cũng gặp lại nhau. Cảm giác này thường khiến tôi rơi lệ vừa buồn vừa vui trong lúc thiền định.

Sau đó, tôi chìm vào trạng thái hợp nhất sâu hơn, mọi cảm xúc bề mặt tan biến, tất cả trở nên tĩnh lặng.

Trong sự tĩnh lặng này, tâm trí trở nên tỉnh thức hơn. Giống như tỉnh dậy sau một giấc ngủ dài - thường thì chúng ta chỉ nhận ra mình đã ngủ khi đã thức giấc. Cũng như trải nghiệm nâng cao nhận thức của tôi ở giai đoạn này: chỉ khi nhận thức được nâng cao trong thiền định này, tôi mới nhận ra sự tỉnh thức hàng ngày của mình còn chưa đủ. Ở giai đoạn này, cơ thể tôi tràn đầy năng lượng: tôi cảm thấy mình như một quả bóng bay chứa đầy không khí ấm áp. Da, cằm, mặt, cổ, ngực của tôi - tất cả đều cảm thấy tràn đầy hơi ấm. Tôi biết cách mô tả này có thể khiến người khác cảm thấy không thoải mái, nhưng thực tế không phải vậy. Tất cả cảm giác đều đến và đi một cách từ từ, thoải mái và tự nhiên.

Khi trạng thái tỉnh thức này nâng cao, hình ảnh của Sư Tôn dần trở nên chân thực hơn. Sau đó, một điều bất ngờ xảy ra: Sư Tôn đứng dậy và nhanh chóng bước ba bước về phía tôi! Điều này hoàn toàn nằm ngoài dự đoán, như thể Sư Tôn mà tôi hình dung đã thực sự sống động! Tôi cảm thấy kinh ngạc.

Sau khi tâm hồn tôi lắng xuống, nó tự nhiên chuyển sang giai đoạn thiền chỉ. Đối với tôi, thiền chỉ bắt đầu bằng hình ảnh một nén nhang. Tôi hình dung tất cả chi tiết và tập trung chú ý vào đối tượng này. Đây là điều cần khá nhiều luyện tập, nhưng giờ đây việc tập trung vào đối tượng này giống như co một cơ bắp vậy. Một khi đã "siết chặt", sự tập trung được thiết lập. Tôi duy trì trạng thái này cho đến khi cảm thấy phù hợp - rồi lại "siết chặt" một lần nữa, nén nhang biến mất, cùng với tất cả mọi thứ khác. Tôi có bật nhạc nền, nên tôi biết mình không ngủ, vì một phần ý thức của tôi nhận biết được thời gian trôi qua qua nhiều bài hát đang phát.

Mặc dù thông thường tôi kết thúc thiền định sau khi đạt được trạng thái tâm rỗng không, nhưng lần này cảm thấy không tự nhiên, nên tôi để nó tiếp tục. Tôi hiểu được tại sao "rỗng không" lại cuốn hút đến vậy: tôi thấy trong đó có một sự thư giãn và mãn nguyện sâu sắc mà tôi chưa từng trải nghiệm ở nơi nào khác. Khi không có gì tồn tại, thật sự vô cùng thoải mái! Không có khởi đầu, không có kết thúc - đây là một sự tĩnh lặng sâu thẳm mà người ta có thể lưu lại vô thời hạn. Mặc dù tôi muốn duy trì ở giai đoạn này, nhưng có điều gì đó đang kéo tôi tiến tới giai đoạn tiếp theo.

Khi tâm linh tôi tự nhiên trở nên rõ ràng hơn, tôi bắt đầu nhận thức lại về cơ thể mình và môi trường xung quanh. Từ từ, tôi trở về từ trạng thái rỗng không. Ngay khi tâm linh tôi trở lại trạng thái tỉnh thức hoàn toàn, nó tự nhiên bắt đầu tụng niệm tâm chú của Sư Tôn. Ở giai đoạn này, tôi nhận ra hai điều: tâm linh có ý chí riêng của nó, và tôi đang ở một nơi khác.

Ngay khi tôi bắt đầu tụng niệm tâm chú của Sư Tôn, tôi có thể nhìn thấy ánh sáng trong thiền định. Những tia sáng cầu vồng nhảy múa - tạo thành những hình dạng ngẫu nhiên - như những chấm màu khác nhau. Chúng sống động và không ngừng biến đổi. Ở giai đoạn này, tôi hiểu rằng trong trạng thái rỗng không không có pháp vị. Khi pháp vị được đưa vào, sự rỗng không tràn ngập pháp vị, và tôi có thể thấy ánh sáng tuôn chảy qua tâm linh mình.

Mặc dù trạng thái rỗng không rất thoải mái, nhưng sự thiếu vắng pháp vị thúc đẩy tôi bước vào giai đoạn tiếp theo. Tôi hiểu rằng rỗng không không phải là điều tôi đang tìm kiếm.

Khi tôi tụng niệm tâm chú của Sư Tôn, hình dạng của ánh sáng bắt đầu trở nên rõ ràng hơn, và ý thức về bản ngã của tôi lại bắt đầu tan biến. Trong trạng thái thiền định sâu, cảm giác giống như một giấc mơ - nhưng tôi vẫn có thể nghe thấy nhạc nền, và thực tế là nó vẫn đang chuyển bài. Tôi biết thời gian đang trôi qua, tôi đang thiền định, và cảm giác như đang ở trong mơ - tất cả diễn ra cùng một lúc.

Tôi thấy mình đang băng qua không khí cầu vồng. Có lúc cảm giác như đang bay, có lúc như đang bơi. Dù thế nào đi nữa, tôi đang du hành trong bầu trời cầu vồng, dùng hai tay đẩy không khí cầu vồng về phía trước. Cảm giác này không phấn khích cũng chẳng kinh ngạc: tôi chỉ có thể mô tả nó là một cảm giác tự nhiên. Tôi là một phi công tự nhiên trong không khí cầu vồng và một người bơi tự nhiên trong biển cầu vồng!

Chẳng mấy chốc, tôi đến một nơi có thể đứng được. Ở đâu vậy? Cầu vồng! Tôi chỉ có thể mô tả nó như là nhiều cầu vồng hơn nữa. Tôi nhìn thấy một hồ nước màu cầu vồng và múc một vốc nước. Khi xem xét nước, tôi thấy trong đó cũng có cầu vồng, rồi tôi uống vài ngụm. Tôi có thể cảm nhận cầu vồng bên trong cơ thể mình, chiếu sáng thân thể tôi, như thể đang thanh lọc nó.

Trong lúc trôi bồng bềnh giữa cầu vồng, giờ đây tôi có thể chọn những đám mây cầu vồng đủ dày để múc một vốc, và khi quan sát kĩ, tôi cũng thấy cầu vồng trong những đám mây mà tôi nắm được. Một cách tự nhiên, tôi đã ăn nó! Nhưng tiếc thay, nó không có vị gì đặc biệt.

Cảm giác quay trở về với thân thể tôi. Tôi có thể cảm nhận tâm linh đang quay về "chế độ bình thường". Mặc dù trong suốt quá trình tôi vẫn nghe được nhạc nền, nhưng giờ đây tôi chú ý đến nó nhiều hơn. Dần dần, tôi thấy mình đã trở về phòng khách, trở về với thực tại. Dù đã trải qua nhiều cảm giác khác nhau trong thiền định, nhưng bề ngoài dường như chẳng có gì thay đổi.

Mặc dù tôi biết thời gian đã trôi qua nhờ nhạc nền, nhưng khi nhìn đồng hồ, tôi vẫn cảm thấy sửng sốt: đã hai tiếng trôi qua kể từ khi tôi bắt đầu thiền định. Tôi không cảm thấy mệt mỏi như sau khi dành vài giờ học một môn phức tạp, nhưng cũng không cảm thấy tràn đầy năng lượng như vừa tỉnh dậy sau một giấc ngủ dài. Một cách hơi gượng ép, tôi trở về con người cũ của mình và tiếp tục cuộc sống thường ngày.

Giống như trở về từ một chuyến du lịch - con người nhanh chóng quay lại cuộc sống cũ. Tuy nhiên, tôi biết rằng dù bề ngoài dường như chẳng có gì thay đổi, nhưng ở một mức độ nào đó mọi thứ giờ đã khác. Một khi bạn đã trải nghiệm cảm giác thực sự tỉnh thức, bạn sẽ nhận ra rằng từ trước đến nay mọi người đều sống trong trạng thái "mơ màng". Tôi mong được đào sâu hơn vào những giai đoạn này, khám phá những điều mới mẻ và chia sẻ với bạn. Tôi chỉ muốn nói rằng cảm giác "tỉnh thức" trong bài viết này khá là nghĩa đen, không phải là sự tỉnh thức thực sự mà chúng ta vẫn luôn theo đuổi trong việc tu tập suốt đời, hoặc ít nhất nó không giống như sự tỉnh thức thực sự.

🌟

Lư Sư Tôn chú giải:

Bài viết "Cảm nhận trong thiền định" này chưa có tên tác giả, tôi đặt cho tác giả một cái tên, gọi là Khiết Khiết vậy!
Điều tôi muốn nói với mọi người là:
Đây là thiền định có cảm nhận, không phải là không vô. Tuy nhiên, nó ở bên rìa của không vô. Bản thân tôi cũng đã từng trải qua.
Có ánh sáng cầu vồng, có tĩnh lặng, có cảm giác ăn uống.
Tất cả hiện tượng đều như mây trôi mộng ảo, có bay lượn, có bơi lội. Bơi trong ánh sáng.
Điều quan trọng là:
Cần chứng nhập hư không, trở thành hư không. Hợp nhất làm một.
Lúc đó là:
Không giữ không bỏ không đến đi.
Không có tác ý không tự tính.
Đó chính là thiền.
Thiền vốn dĩ là điều không thể nói. Tôi (Lư Sư Tôn) nói ra, chưa hẳn đã nói trúng.


### 22. Hỏi đáp của Liên Hoa Nghi Nghi


Bài viết này là cuộc hỏi đáp giữa tôi và Liên Hoa Nghi Nghi, và đây là những câu trả lời thật của Liên Hoa Nghi Nghi.
Liên Hoa Nghi Nghi có rất nhiều sự tương ứng được tiết lộ trong bài viết này.

Trong cuốn "Sự hé lộ của những giấc mơ", có một bài "Báo mộng vô cùng chuẩn xác", tôi hỏi Liên Hoa Nghi Nghi:
Tôi (Lư Sư Tôn) hỏi:
Mộng chẳng phải mộng. Tôi chẳng phải tôi.
Cô chẳng phải cô. Họ chẳng phải họ.
Tất cả chỉ là "tên giả" mà thôi! Nhớ rằng cuối cùng là "nhìn thấu tất cả".
Hiểu không?
Rõ không?
Liên Hoa Nghi Nghi đáp:
Nghi Nghi nghe Lư Sư Tôn thuyết pháp, mọi thứ trên thế gian này chỉ là nhất thời mà thôi!

Nghi Nghi có cảm nhận:
Duyên vợ chồng của tôi chỉ có bảy năm, tình nghĩa phu thê đã hết.
Mọi nhân duyên trên thế gian này đều có sinh có diệt.
Tôi dựa vào đó:
"Nhìn thấu tất cả"!

Thêm nữa:
Có đồng môn hỏi:
"Khi Lư Sư Tôn làm hoàng đế, cô là phi tần triều đại nào?"
"Có phải cô thật sự là Lục Liên Hoa Đồng Tử không?"
"Có phải cô là Phật Nhãn Phật Mẫu không?"
"Có phải cô là Yeshe Tsogyal không?"
"Có phải cô biết nhiều bí mật hơn không?"
Tôi trả lời mọi người:
Tam thế chư Phật thầy Liên Sinh, vị thầy thiện đức xin gia trì.
Cho con nhớ lại việc tiền kiếp, từ nay cho đến vạn kiếp sau.
Từ đây về sau, không lạc lối!

🌟

Câu chuyện tương ứng của Liên Hoa Nghi Nghi:
Dòng pháp quán đảnh của Lư Sư Tôn chảy thẳng lên đỉnh đầu, từ trung mạch chảy xuống chân và toàn thân, khiến toàn thân tôi rung động.
Hiện tượng này đã xảy ra nhiều lần, kéo dài năm năm, Lư Sư Tôn luôn hạ xuống gia trì cho Nghi Nghi.
Sau khi hết rung động, Liên Hoa Nghi Nghi nhìn thấy ánh sáng, hoặc chữ chú tỏa sáng, hoặc vũ trụ đầy sao.

Có một lần đang nằm, Lư Sư Tôn nâng hai tay tôi lên, xoay vào trong ba vòng, xoay ra ngoài ba vòng, giống như đang đấm quyền.
Sau đó, Lư Sư Tôn nâng chân trái tôi lên, gập đôi, đẩy về phía bụng, chân phải cũng vậy.
Lư Sư Tôn, đây là dạy con pháp thể công? Hay là Kim cang quyền?
(Lư Sư Tôn chú giải: Đây đúng là thể vị pháp Kim cang quyền. Là đưa khí đi xuống rồi nâng lên đẩy hậu môn, giữ khí này, nhờ đó nhập Tam ma địa.)

Thêm nữa:
Pháp hội Bát Nhã Phật Mẫu.
Trong lúc nhập thiền định ở pháp hội, đệ tử tự hóa thành Bổn tôn, tự do bay lượn trên bầu trời xanh.
Bỗng nhiên thấy một chiếc thuyền lớn, xung quanh cũng có rất nhiều thuyền, cảnh tượng vô cùng hùng vĩ.
Đệ tử Liên Hoa Nghi Nghi nghĩ: đây là Lư Sư Tôn đang làm siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp.
Đệ tử đếm số thuyền, nhưng đếm mãi không hết, thuyền nhiều vô tận.
Tôi nghe thấy:
"Tê-ya-tha. Ôm gê-tê gê-tê pô-lô-gê-tê pô-lô-sâng-gê-tê pu-thi sô-ha."
[Tadyatha. Om. Gate. Gate. Paragate. Parasamgate. Bodhi. Svaha.]
Thần chú này, Lư Sư Tôn giải thích: "Đại trí huệ đến bỉ ngạn, tự độ độ tha, cùng đến bờ bên kia, khiến thành tựu chính giác, viên thành Phật đạo."

Thêm nữa:
(Dược Sư Phật và pháp hội Hộ Ma Dược Sư Phật.)
Lúc 4 giờ sáng, Liên Sư nhập mộng đệ tử, phóng quang gia trì con, đệ tử liền tỉnh giấc.
Lúc 6 giờ sáng, đệ tử dùng điện thoại xem trực tiếp pháp hội của Lư Sư Tôn.
Khi nhập định, thấy bò cạp của Phẫn Nộ Liên Sư, hàng nghìn hàng vạn bò cạp từ trên trời rơi xuống, cảnh tượng khiếp đảm.
Sau khi xem xong, đệ tử thắc mắc, hôm nay là pháp hội Dược Sư, sao lại thấy Liên Sư mà không phải Dược Sư Phật?
Về sau,
Hóa ra có một hóa thân, tên là Liên Sư Dược Sư Phật hay Ô Kim Dược Sư Như Lai.
Cảm tạ Liên Sư hóa ba thân.

Thêm nữa:
Hôm nay là sinh nhật đệ tử, vào sáng sớm con nhìn thấy Pháp thân của Lư Sư Tôn.
Sau đó, Lư Sư Tôn hợp nhất với Đại Lực Kim Cang.
Rồi hợp nhất với Liên Hoa Nghi Nghi.
Khiến đệ tử sinh khởi đại lạc.
Thì ra Lư Sư Tôn chúc mừng con "sinh nhật vui vẻ".
Thêm nữa:
Con nghe thấy vài giọng nói:
"Kim Mẫu nói: Liên Hoa Nghi Nghi là vị thiên nữ nào đó."
"Lư Sư Tôn là một vị Thượng sư trân quý hàng thật đúng giá."
"Con là Lục Liên Hoa Đồng Tử!"
"Và là vị nào đó."
Lư Sư Tôn nói với đệ tử:
"Muốn gặp con!"
"Pháp luân này đã chuyển! Lành thay!"


### 23. Pháp thân của tôi ở Norway


Trước tiên xin tiết lộ một bức thư từ Thích Liên Ngật ở Norway gửi đến:

*Căn bản Truyền thừa Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật kính yêu!
Nhân dịp Sư Phật 80 thánh thọ và kỷ niệm xuất bản văn tập 300, đệ tử nguyện cầu Sư Phật pháp thể an khang, trường trụ thế gian, thường chuyển pháp luân! Đệ tử xin ghi lại chút ít tâm đắc và thể nghiệm xuất gia của mình để cúng dường Sư Phật, đồng thời xin làm chứng nhân cho đại thần biến của Sư Phật.*

***Pháp thân ánh sáng***

*Tháng 10 năm ngoái khi từ biệt ở Seattle, Sư Tôn đang đi ngang qua trước mặt đệ tử bỗng dừng bước nhìn đệ tử chăm chú, rồi hỏi đơn giản khi nào đệ tử rời đi. Lúc đó đầu óc đệ tử bỗng trống rỗng, tâm cuồng loạn lập tức lắng xuống, chỉ thấy một vùng ánh sáng rộng lớn.*

*Từ đó trở đi, Pháp thân của Sư Tôn luôn ở bên cạnh, Pháp thân mà đệ tử thấy phần nhiều đều rực rỡ ánh sáng, chỉ có ánh sáng mà không có hình tướng, thỉnh thoảng thì như nhục thân của Sư Tôn ở thế gian mặc long bào. Ánh sáng luôn hiện diện, không chỉ thấy khi nhắm mắt mà mở mắt cũng thấy; không chỉ thấy khi tu pháp thiền định mà trong sinh hoạt hay làm việc hàng ngày cũng luôn thấy được.*

*Đệ tử luôn cảm nhận được Pháp thân rất sinh động và có tác dụng vô cùng tận. Khi đệ tử thành tâm cầu nguyện cho bệnh nhân, ánh sáng của Người sẽ chiếu xuống họ; lúc đệ tử buồn chán nản, Người sẽ ở bên cạnh, bao bọc đệ tử, dịu dàng vỗ về và an ủi đệ tử. Đệ tử sẽ lặng lẽ nhìn ánh sáng đó, lập tức cảm thấy phiền não tan biến. Pháp thân cũng sẽ dẫn dắt đệ tử đọc văn tập, trong mơ ban cho pháp ngữ hoặc điềm báo. Và khi đệ tử hợp nhất với Sư Phật, đệ tử cũng có thể phát huy tác dụng, dùng năng lực này để giúp đỡ chúng sinh.*

*Thỉnh thoảng, từ ánh sáng hiện lên hình tướng nhân gian của Sư Phật, điều khiến con không thể nào quên là ánh mắt từ bi của Người nhìn con, luôn mỉm cười với con, như thể đang nói với con rằng Người luôn ở bên cạnh con, đừng lo lắng, đừng buồn phiền. Pháp thân cũng ban cho con đủ loại linh cảm, khi đối diện với các ca bệnh nan y phức tạp trong việc khám chữa bệnh, chỉ cần con nhất tâm cầu nguyện, Người đều chỉ dạy con cách đối phó và điều trị.*

*Một lần nữa chứng minh rằng chỉ một ánh mắt, một cử chỉ của Sư Phật đều là gia trì vô thượng! Chỉ cần chúng ta chân thành cầu nguyện Tam Bảo căn bản, dòng pháp truyền thừa sẽ không đứt đoạn, năng lực không thể nghĩ bàn cũng sẽ sinh khởi.*

***Du ngoạn sông núi đất trời, dải ngân hà trên cao***

*Một ngày nọ, vào lúc sáng sớm, con thành tâm cầu nguyện Sư Phật, bỗng trong giây phút hoảng hốt, Sư Phật (với hình dáng như người phàm) đã dùng một chiếc thuyền pháp lớn đưa con đi du ngoạn khắp nơi trên thế giới. Chúng ta ngắm nhìn bao nhiêu là núi sông đất trời, thuyền pháp lướt vào nhiều hang động ven biển, trong mỗi hang động đều vang vọng những âm thanh tuyệt diệu do sóng biển vỗ vào tạo nên, nghe thật du dương. Khi dòng nước chảy xiết, thuyền pháp lao xuống như tàu lượn siêu tốc, chúng ta cùng hò reo, tạo thành giai điệu tuyệt vời trong hang động. Những nơi mà Sư Phật đưa con đi thăm đều là những địa điểm con chưa từng đặt chân đến, ví như Vịnh Hạ Long ở Đông Bắc Việt Nam, mãi sau này con mới tình cờ nhận ra qua những tấm ảnh trên mạng.*

*Sau đó, chúng ta cùng nhau ngồi thuyền pháp lên cõi trời, đi qua từng lớp cổng trời khổng lồ, như thể xuyên qua từng khung tranh một, thuyền pháp lơ lửng tiến về phía trước, con nhìn ngắm dải ngân hà lấp lánh trên trời, rực rỡ muôn màu, vô cùng hùng vĩ, lòng tràn ngập niềm hoan hỷ, không bút mực nào tả xiết.*

*Chuyến du ngoạn này để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng đệ tử, con chỉ chia sẻ sơ qua với mẹ mình, mãi đến khi Sư Phật đột nhiên nhắc đến trong buổi đồng tu tối ngày 8 tháng 6 năm 2024, con mới cảm thấy cần phải viết lại để làm một chứng nghiệm nhỏ về Sư Phật. Pháp thân của Sư Phật vô số, con tin rằng có rất nhiều đệ tử Chân Phật đều có những trải nghiệm tương tự.*

*Con chỉ là một đệ tử nhỏ bé sống ở nơi xa xôi, dù con có ở Ukraine, Nga, Berlin của Đức, hay Oslo của Norway, Sư Phật vẫn như vầng thái dương chiếu khắp đại địa, chăm sóc con không phân biệt xa gần.*

***Trải nghiệm xuất gia***

*Nửa năm qua, con dần dần thích nghi với cuộc sống xuất gia, từ sự ồn ào náo nhiệt trước đây chuyển sang trạng thái thanh đạm kiên định, tĩnh lặng thâm sâu hiện tại. Từ bên ngoài, con phá bỏ sự chấp trước với sắc tướng, việc cạo đầu hàng ngày và khoác áo Lạt-ma nhắc nhở con đừng quên tâm xuất ly, tâm bồ đề; từ bên trong, con phá bỏ ngã chấp và pháp chấp, nỗ lực duy trì ánh sáng (chính kiến) trong tâm mình. Con luôn ghi nhớ lời Sư Phật nhấn mạnh khi Đại Bảo Pháp Vương thứ 16 viên tịch: "Chỉ cần trong tâm mình có ánh sáng, thế là đủ rồi".*

*Thời gian tu tập này giúp đệ tử liễu ngộ được chân không diệu hữu, Sư Phật chính là hiện thân Phật tính của chúng con, tất cả diệu dụng không rời đại lạc, quang minh, không tính. Tu tập Chân Phật Mật Pháp giúp con càng thêm gần gũi với Phật tính vốn có, cuối cùng trời người hợp nhất, không hai không khác.*

*Vì quá trình xin thị thực yêu cầu phải duy trì công việc, nên sau khi xuất gia con vẫn tiếp tục làm việc tại phòng khám địa phương. Sau khi trở thành bác sĩ trưởng của phòng khám, con còn phụ trách mọi công việc lớn nhỏ ở đây. Số lượng bệnh nhân ngày càng tăng, mọi người đều muốn đến khám với "bác sĩ nhà sư". Phòng khám nơi con phục vụ có khoảng hai, ba mươi bệnh nhân mỗi ngày. Nhiều người tò mò về trang phục xuất gia của con và thường xuyên hỏi han, điều này tạo cho con nhiều cơ hội để giới thiệu về Sư Phật, tông phái Chân Phật và chia sẻ văn tập của Người. Khi đi trên các con phố lớn nhỏ ở Oslo, con càng thu hút sự chú ý, và với tư cách là đệ tử, điều con có thể làm là trở thành cầu nối giữa Sư Phật và chúng sinh, giúp nhiều người có duyên bước lên con thuyền pháp của Sư Phật, nhìn thấy được bản lai diện mục của mình giữa những phiền não che chướng.*

*Dù việc tiếp tục công việc thế tục sau khi xuất gia là điều bất đắc dĩ, nhưng vô hình trung có thể giúp mọi người biết đến Sư Phật cũng là một điều may mắn. Con sống giữa hai thế giới xuất thế và nhập thế, thường tự thấy việc giữ giới của mình chưa đủ nghiêm túc, tu pháp cũng chưa đủ tinh tấn, hàng ngày vẫn còn nhiều tập khí và phiền não trỗi dậy. Con xem đây như một bài học tu hành cần phải cải thiện, để có thể hợp nhất giữa lý giải và thực chứng.*

*Rất rõ ràng, con nhận ra mình không còn lưu luyến cuộc sống thế tục, ngược lại cảm thấy danh lợi ngày càng xa rời con, không phải điều con muốn theo đuổi. Đệ tử hy vọng đơn xin thị thực sớm được chấp thuận, để sớm được chuyển đến Seattle, thực hiện lời nguyện xuất gia của mình, xin dâng trọn sinh mạng, tài sản, ý chí, thời gian để Căn bản Thượng sư sắp đặt và chỉ dạy.*

*Một lần nữa kính chúc Sư Phật sinh nhật vui vẻ!
Thích Liên Ngật cúi đầu đảnh lễ.*

🌟

Ta (Lư Sư Tôn) nói như sau:
Thích Liên Ngật là Tiến sĩ Y khoa, hiện đang hành nghề y tại Norway, bệnh nhân của thầy gọi thầy là "vị sư bác sĩ".
Thầy tướng mạo đường hoàng, phong thái tuấn tú, học thức uyên bác.
Từ khi còn trẻ, đã lập chí xuất gia.
Ban đầu, cha mẹ không để tâm, sau phát hiện ý chí của thầy kiên quyết, rất đỗi ngạc nhiên.
Tiếp tục học hành, lấy được bằng Tiến sĩ.
Cha mẹ hỏi:
"Con vẫn muốn xuất gia sao?"
Thầy kiên quyết trả lời:
"Vâng!"
Thế là, tôi cho thầy ấy xuống tóc, đặt pháp danh Thích Liên Ngật.

Tôi cho rằng, y học nhập thế và tu hành xuất thế là đồng nhất với nhau.
Y dược có triết lý riêng của nó (y phương minh), trong đó kiến thức rất rộng, bao gồm y dược, tư tưởng huyền bí, thiền định, tâm lý học, v.v.
Những điều này liên quan đến sinh tử, bệnh tật, y liệu, tinh thần, giải thoát. Thân xác và tinh thần của con người vốn không thể tách rời, điều này vốn là như vậy, nếu hiểu được những điều này và có tuệ giác thì mới có thể đi vào cốt lõi của y học.
Tôi thấy rằng:
Thích Liên Ngật có lai lịch không tầm thường, trên đỉnh đầu có một vệt sáng màu trắng.
Đó là "sợi đây trời".
Đó là dấu hiệu của Quang Âm Thiên thần, cho thấy thầy ấy đến từ Quang Âm Thiên.
Thầy ấy có thể nhìn thấy Pháp thân của tôi, điều đó không có gì lạ!
Pháp thân của tôi dẫn thầy ấy đi xem "sơn hà đại địa, tinh hà trên trời" còn dễ dàng hơn nữa!
Ví dụ như:
Ngắm hoa anh đào Nhật Bản.
Ngắm dòng sông uốn khúc.
Ngắm cực quang.
Ngắm dải ngân hà trên trời.
Ngắm chim công bay lượn trên cõi trời.
Ngắm đế võng minh châu.
Còn có thể uống nước cam lộ.
............

Có một câu tôi muốn nói với Liên Ngật và mọi người:
"Trong lần luân hồi này, chúng ta có thêm cơ hội lợi ích chúng sinh, lợi ích người khác, từ tâm bi mà chứng được giác ngộ!" (lời vàng)


### 24. Tiểu Cương nhìn thấy Pháp thân


Trong số đệ tử của tôi có một vị Liên Hoa Tiểu Cương, người có duyên rất sâu với Long tộc.
Lai lịch của vị ấy cũng từ Long tộc.
Liên Hoa Tiểu Cương có thể nhìn thấy Pháp thân của tôi.

Thứ nhất:
Vị ấy đã làm rất nhiều gạch pháp chú ngữ của rồng. Tức là khắc chữ chú của rồng lên những viên gạch sứ hình vuông nhỏ.
Có thể cúng dường.
Có thể hộ thân.
Có thể hành pháp.
Có một lần, vị ấy tận mắt thấy gạch pháp biến hóa, từ nhỏ thành lớn, chữ Hum trên gạch pháp biến thành Lư Sư Tôn, đầu đội vương miện, mặc đồ Lama màu đỏ, long bào màu trắng.
Tay kết ấn Liên Hoa Đồng Tử.
Mặt mỉm cười.
Toàn thân tỏa vạn tia hào quang.

Anh ấy hỏi Lư Sư Tôn, điều này có nghĩa là mỗi viên gạch pháp đều có một vị Lư Sư Tôn ngự trong đó phải không?
Lư Sư Tôn trả lời như sau:
Chúng ta thường nói Pháp thân không đâu là không có, hóa thân trăm nghìn triệu, đương nhiên có thể hóa hiện trên gạch pháp.
Chúng ta cũng biết tất cả chúng sinh đều là chữ Hum , chữ Hum hóa tất cả.
Vì vậy, tôi từ chữ Hum hóa thân.


![image](/img/img_408e75f3f3eaf0db69caaf48d4401dde.png)


(Chữ Hum)
Tôi có thể hiện hữu hóa thân của Lư Sư Tôn trong mỗi viên gạch pháp.
Cho nên, mỗi viên gạch pháp đều có thể có một vị Lư Sư Tôn ngự trong đó.
Nghìn nơi cầu nguyện nghìn nơi hiện.
Trên biển khổ làm thuyền chở người.

Thứ hai:

Liên Hoa Tiểu Cương muốn tôi giảng "Kinh Phật Thuyết Hải Long Vương".
Trong thiền định, anh ấy cảm ứng được đi vào phòng vẽ của Lư Sư Tôn, thấy trên bàn chất đầy những bức tranh cuộn đã được trang trí hoàn chỉnh. Sau đó thấy Sư Tôn cầm lên một bức mở ra, tay cầm một bên, chỉ dẫn anh ấy cầm bên kia, đối diện với một nhóm người để họ chụp ảnh. Rồi lại mở thêm một bức nữa, tổng cộng hai bức, tất cả đều có đề chữ.
Một bức viết "Long Đằng Tứ Hải" (Rồng bay bốn biển).
Bức kia viết "Long Hành Thiên Hạ" (Rồng đi thiên hạ).
Sư Tôn cười rất vui vẻ.

Anh ấy luôn ấp ủ mong muốn được thỉnh cầu Lư Sư Tôn, trong tương lai khi nhân duyên đầy đủ, xin giảng thuyết "Kinh Phật Thuyết Hải Long Vương", lợi ích cho Long tộc, lợi ích cho Thiên Long Bát Bộ chúng.

Bình thường khi đọc kinh, anh ấy cũng phát hiện kinh điển này rất thâm sâu uyên bác, những chỗ sâu xa khó hiểu, rất mong được Lư Sư Tôn khai thị.
Anh ấy hỏi Lư Sư Tôn điều này có nghĩa là Sư Tôn có ý định giảng kinh này không?
Lư Sư Tôn trả lời:
Giảng kinh thuyết pháp, tất cả đều nhờ vào nhân duyên, khi nhân duyên đầy đủ tự nhiên sẽ thành tựu.
Giảng "Kinh Hải Long Vương", bộ kinh này rất vi diệu, kết hợp giữa sự giải thoát tinh thần và cuộc sống an lạc, đây là những giọt mưa châu báu không thể diễn tả bằng lời, cũng có nhiều ý nghĩa khiến người ta tò mò.

Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng đến long cung.
Long Thụ Bồ Tát cũng đã từng đến long cung.
Lư Sư Tôn cũng đã đến long cung.
Tôi xin nói với mọi người:
Thế gian là một giấc mộng, hiểu được điều đó chính là tự giác.
Thế gian có rất nhiều khổ đau.
Bởi vì con người đã quên mất sự tự giác.
Trong long cung có một tảng đá mát lạnh, khi rồng ở cõi Ta Bà, chịu đủ lửa khổ, trở về bên tảng đá mát lạnh, tâm liền được mát mẻ.
Ngộ được Phật pháp.
Tâm liền được mát mẻ.


### 25. Kỳ Kỳ viết bài thơ nhỏ


Kỳ Kỳ viết cho tôi một bài thơ nhỏ, tôi đọc xong thấy dễ hiểu, có thể đọc lên du dương, mang một hương vị riêng.

Bài thơ như sau:

*Múc một chén bơ
Xoắn một đoạn dây
Đốt một que diêm
Thắp một ngọn đèn*

*Là ngọn đèn của Thầy
Trong tim con
Ngày đêm giữ gìn không để tắt
Nguyện dùng làm đốm lửa
Thắp nghìn đèn muôn đời
Soi sáng vĩnh hằng
Nguyện nghìn vạn đệ tử
Đồng tâm cùng con
Nương theo truyền thừa pháp giáo
Đem đèn tâm
Từng ngọn thắp sáng
Một ngọn đèn là một lời nguyện
Trong mỗi lời nguyện
Đều có lời thề*

*Thỉnh Phật tại thế
Thỉnh chuyển pháp luân
Phụng sự Thầy lợi sinh
Năm năm tháng tháng.*

Kỳ Kỳ nói:
Từ hữu hạn đến vô hạn của không, những ngày tháng về sau, cần phải truyền đèn duy trì ngọn lửa, tất cả đều là những chương hồi của cuộc đời.
Chúc mừng sinh nhật 80 tuổi, cùng với Thầy.


### 26. Bài hát "Tạm biệt" của Trương Chấn Nhạc


Kỳ Kỳ nói:
Ca khúc "Tạm biệt" do Trương Chấn Nhạc trình bày, ca từ gốc giống như một bài ca chia ly. Mang ý nghĩa mỗi người một phương, không quay đầu nhìn lại.

Kỳ Kỳ và tôi, sau khi suy nghĩ, đã sửa lại bài hát "Tạm biệt" một chút, biến nó thành một lời "Hẹn gặp lại" đích thực.
Nhất định phải "gặp lại".
Kiên định phải "gặp lại".
Chia xa tạm thời, chính là để "gặp lại" trong tương lai, và không bao giờ chia ly nữa.
Nguyện đời đời kiếp kiếp, không bao giờ chia lìa.

🌟

Lời bài hát được sửa lại như sau:

*Em muốn nói với anh một lời
Nói với anh một lời tạm biệt
Vì có lẽ mắt em không còn thấy anh nữa
Ngày mai em phải ra đi
Rời xa nơi quen thuộc và anh
Phải chia ly, nước mắt tự nhiên rơi
Em sẽ khắc sâu gương mặt anh
Em sẽ trân quý nỗi nhớ nhau
Những khoảnh khắc bên nhau trong tim em
Mãi mãi không phai mờ
Trong tim em hứa với anh
Nhất định sẽ trở về
Vì anh
Cố gắng bước tiếp con đường.*

(Lư Sư Tôn ghi chú: Bài ca chia ly quá buồn, lòng tan nát cả. Tôi cũng nghĩ, hãy để các đệ tử có một tâm nguyện "gặp lại", chúng ta chưa từng xa cách.)

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) cũng muốn viết hai bài thơ về "Tái ngộ", vì tôi cảm thấy, "Tái ngộ" rất cảm động.

Viết tặng Hoàng Kim Hùng:

*Khó quên kỷ niệm xưa
Tiểu học bạn giúp đỡ
Hộp cơm rất phong phú
Sưởi ấm trái tim nhỏ
Nhớ những đêm tại nhà
Chuyện trò đến tận sáng
Giờ bạn đã xa rồi
Gặp lại mãi mịt mù.*

Ghi chú: Hoàng Kim Hùng là người bạn thân nhất của tôi thời tiểu học, nhà bạn giàu, nhà tôi nghèo. Mỗi lần bạn mang theo hai hộp cơm, một hộp cho tôi, một hộp cho bạn ấy. Tôi thường đến nhà bạn ngủ lại, hai đứa tâm sự, làm bài tập cùng nhau. Khi tôi từ Mỹ trở về tìm bạn thì bạn đã qua đời, khiến lòng buồn bã không nguôi.

Viết tặng Trang Chính Hòa:

*Hai ta cùng biên tập
Tờ Hùng Công từng kỳ
Cùng nghe mưa Tây Bắc
Hóa thành lời thơ ca
Tốt nghiệp thăm nhau hoài
Suốt đời mê văn nghệ
Xa nhớ Đài Loan xưa
Về chẳng còn gặp bạn.*

Ghi chú: Trang Chính Hòa là bạn thân của tôi ở trường cấp 3 Cao Hùng, cùng biên tập tạp chí "Thanh Niên Hùng Công". Không chỉ là bạn văn chương, mà còn là tri kỷ. Chúng tôi thường trò chuyện về văn nghệ. Sau khi tốt nghiệp, anh ấy hay đến thăm nhà tôi. Sau đó, tôi sang Mỹ.

Lần đầu tiên tôi về Đài Loan tìm anh ấy, người ta nói anh đã mất vì "tai nạn leo núi", lòng tôi chợt tối sầm.
Tạm biệt! Bạn hiền!


### 27. Trời ban bảo bối huyền bí


Tôi đã đọc qua "Sử ký trụ gian" của Tây Tạng.
Trong đó ghi chép một truyền thuyết cổ xưa, kể về "bảo bối huyền bí" từ trời rơi xuống.
Tôi rất tò mò về điều này.
Câu chuyện như sau:
Vua Tây Tạng đời thứ 28 Lha Thothori Nyantsan đang ở trong Yumbu Lha Khang.
Ngài nghe thấy âm thanh kỳ diệu vang lên từ không trung.
Rồi lại thấy mây lành bay lên.
Trong khoảnh khắc, từ đám mây lành có một luồng ánh sáng ngũ sắc chiếu thẳng vào ngực mình.
Một chiếc hộp báu được khảm bằng châu báu ngũ sắc, bất ngờ rơi xuống trước ngực vua Lha Thothori Nyantsan.
Nhà vua mở hộp báu ra.
Bên trong đựng một tòa bảo tháp pha lê bốn tầng và nhiều cuốn sách bằng vàng được viết bằng bột lưu ly.
(Khi đó Tây Tạng chưa có chữ viết.)

Nhà vua tin rằng đây nhất định là bảo vật hiếm có trên đời, và vua Lha Thothori Nyantsan đã thờ cúng "bảo vật huyền bí" này.
Mãi đến thời vua Songtsen Gampo, đại thần Thonmi Sambhota đã sang Ấn Độ học chữ viết, đây là khởi đầu của văn tự Tây Tạng.
Khi mở cuốn sách ra, mới biết đó là bốn bộ kinh Phật:
1. Kinh Bảo Khám.
2. Kinh Danh Hiệu Chư Phật Bồ Tát Bhomala.
3. Kinh Danh Hiệu Chư Phật Bồ Tát Naga.
4. Kinh Thập Thiện Pháp.
Đó chính là lai lịch của "bảo vật huyền bí" từ trời ban xuống.

🌟

Songtsen Gampo (hóa thân của Quán Thế Âm Bồ Tát) dựa theo Thập Thiện Pháp.
Giáo hóa người Tạng:
Không sát sinh.
Không trộm cắp.
Không tà dâm.
Không nói dối.
Không nói hai lưỡi.
Không ác khẩu.
Không nói lời phù phiếm.
Không tham, không sân, không tà kiến.

Thêm vào đó:
1. Kính tin Tam Bảo. 2. Cầu tu chính pháp. 3. Báo đền ơn cha mẹ. 4. Tôn trọng người có đức. 5. Kính già trọng hiền. 6. Giúp đỡ xóm làng. 7. Nói thẳng thận trọng. 8. Nghĩa sâu với bạn bè. 9. Học tập người trên. 10. Ăn uống có chừng mực. 11. Ghi nhớ ân xưa. 12. Trả nợ đúng hạn, cân đong không gian dối. 13. Thận trọng tránh ganh tị. 14. Không nghe tà thuyết, phụng hành chính giáo. 15. Ôn hòa ít lời. 16. Gánh vác trọng trách, độ lượng khoan dung.
Nhờ đó, người Tạng được giáo hóa.

Cá nhân tôi thấy rằng vua Tây Tạng Songtsen Gampo này, có thể ban hành Thập Thiện và mười sáu quy phạm, thật là vĩ đại.

🌟

Thơ tôi ngợi ca Songtsen Gampo:
*Vua Tạng phong cách nhã
Đại trí cõi Ta Bà
Một mảnh đất tâm lành
Danh tiếng khắp bốn phương*

Và:
*Quan Âm đến hóa thân
Trên đầu là Di Đà
Đại nhật chiếu khắp nơi
Vùng tuyết sinh Hoạt Phật*

(Lư Sư Tôn ghi chú: Songtsen Gampo cưới công chúa Xích Tôn của Nepal, rước tượng Phật đẳng thân tám tuổi. Cưới công chúa Văn Thành nhà Đường, rước tượng Phật đẳng thân mười hai tuổi. Xây dựng chùa Đại Chiêu [Jokhang] và Tiểu Chiêu [Ramoche]. Từ đó Phật giáo Tây Tạng phát triển rực rỡ.)


### 28. Bút ký Song Liên Cảnh Giới


Cầu Vồng Lôi Tạng Tự (Cầu Vồng Sơn Trang) đã xây dựng Song Liên Cảnh Giới, là một tòa linh cốt tháp hùng vĩ.
Việc xây tháp do Thượng sư Liên Cầm và giáo thọ sư Liên Anh phụ trách.
Trong quá trình xây tháp xuất hiện nhiều điềm lành:
Khi đào đất, đất hiện năm màu.
Xuất hiện ánh cầu vồng.
Có đàn chim hót vang.
Trên trời cũng hiện cầu vồng, liên tục xuất hiện.
Nơi đó tỏa hương thơm ngát.
Vầng hào quang Đại Nhật.
Xuất hiện điềm lành chư thần gia trì.
.............
(Địa điểm này chính là nơi khi Lư Sư Tôn xây dựng Cầu Vồng Sơn Trang đã nhận ra "thất tinh lạc địa", một nơi có địa lý huyệt vỏ sò đặc biệt linh thiêng.)

Nghĩa là:
Cửu Thiên Huyền Nữ Hoàng Thạch Công,
Âm dương chỉ cần chuyển vận thông;
Nếu ai thấu tỏ âm dương pháp,
Lo gì thiên địa chẳng tương phùng.

Tôi nói:
Nếu có người đưa tổ tiên của mình vào an nghỉ tại Song Liên Cảnh Giới, tổ tiên sẽ được siêu sinh, con cháu đời sau cũng được gia trì phúc, lộc, thọ, thành tựu phi phàm.

🌟

Bức thư của Liên Hoa Hiểu Quang đã chứng minh tất cả.
Trong thư anh ấy viết:
Khi đệ tử mang tro cốt của cha mẹ vào tháp tại Song Liên Cảnh Giới ở Cầu Vồng Lôi Tạng Tự.
Đã chứng kiến một số cảnh tượng kỳ diệu, xin đặc biệt báo cáo lên Lư Sư Tôn.
Trong lúc Thượng sư và pháp sư tụng niệm nghi quỹ nhập tháp, đệ tử bỗng thấy Đại Lực Kim Cang xuất hiện trên không trung, giơ tay ném bình tro cốt của cha mẹ lên không.
Rồi thấy bình tro cốt của mẹ biến thành hoa sen màu hồng.
Trên đóa sen có một người ngồi.
Bình tro cốt của cha biến thành hoa sen màu xanh, trên đóa sen có một người ngồi.
Hai đóa sen trên không trung hóa thành hai vệt hào quang, bay vút lên cao rồi nhanh chóng biến mất.
Đệ tử chứng kiến cảnh tượng đó thật rúng động, Song Liên Cảnh Giới quả thật thù thắng vô cùng.

Trong lúc chư tăng đang hồi hướng, trước mặt đệ tử hiện ra một gương mặt hoan hỷ, đầu đội mũ quan, để ria mép hình chữ bát, nhìn kĩ chính là cha.
Cha đã thành thần!
Đệ tử lập tức nhớ lại lời Lư Sư Tôn đã nói, khi tro cốt tổ tiên được đặt vào Song Liên Cảnh Giới, nếu không vãng sinh tịnh thổ thì ít nhất cũng được phong thần.
Có thể thấy lời Lư Sư Tôn nói không sai.
Kính xin Lư Sư Tôn ấn chứng.
Liên Hoa Hiểu Quang đảnh lễ.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) làm thơ ấn chứng:

*Cần biết đời người
Hư ảo tựa mộng
Hóa thành tro cốt
Vạn pháp đều không
Song Liên Cảnh Giới
Là cõi thù thắng
Chư Phật hộ trì
Đất thiêng thanh tịnh
Vừa vào đã cùng
Bay lên trời cao
Một đến cõi Phật
Một được ấn quan.*


### 29. Phương Phương viết về tình yêu


Thầy Lư thân yêu:
Trên con đường này, thầy đi đâu, con cũng muốn đi đó.
Sách của thầy,
Tranh của thầy,
Pháp của thầy,
Tất cả về thầy,
Con đều say mê, con luôn đắm chìm trong đó, đánh mất chính mình, cứ đi đi lại lại mãi.
Mỗi lần gặp gỡ, là mỗi lần không nỡ chia xa, mong chờ từng lần được gặp, được nhìn thầy.

Thầy Lư thân yêu:
Con là người nhặt lúa rơi, nhặt từng khoảnh khắc được đón thầy, từng buổi ký tặng sách, từng buổi pháp hội, từng lần được thầy sờ đầu gia trì, từng lần tình cờ gặp gỡ, từng bữa ăn cơm.
Con muốn thưa với thầy, điều con mong mỏi là được "nhìn nhau".
Đôi mắt con chỉ có sáu chữ, sáu chữ ấy là:
"Thầy khỏe không? Con yêu lắm."
Nỗi nhớ thầy của con hoàn toàn khác với người khác, con nhớ thầy một cách đặc biệt, yêu thầy thấu xương, mà thấu xương vẫn chưa đủ, từng tế bào đều chứa đựng tình yêu của con.
Tế bào của con.
Tế bào của thầy.
Hoàn toàn không có sự phân biệt, đó chính là tình yêu này.
Phun lửa rồi!
Phun nước rồi!
Đó là tình yêu như núi lửa phun trào, như động đất lớn, như lũ lụt, như bão tố.
Con muốn trọn đời bên nhau.
Cũng muốn từng được có nhau.
Dù không nhất định được ở bên nhau, nhưng trái tim vẫn gắn kết với nhau.
Con khẳng định chắc chắn rằng:
Ở kiếp sau, chỉ cần một ánh nhìn, con sẽ nhận ra thầy ngay!

Thầy Lư thân yêu:
Chúc thầy sinh nhật vui vẻ.
Phương Phương chắp tay.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) trả lời Phương Phương:
Phương Phương:
Trong thế giới của ta, con là một người rất đặc biệt, ta biết lời hứa của ta với con.
Lời hứa này, trong hư không, trong thời gian, vĩnh viễn không phai mờ hay tắt lịm.
Tâm bồ đề, tâm từ bi của ta sẽ tồn tại vô tận vô cùng.
Con chỉ cần nhớ nghĩ.
Ta sẽ nhớ nghĩ.
Con đã hòa vào ta, ta luôn ở quanh con từng giây từng phút, trong tâm con, trong từng tế bào của con.
Ta chưa bao giờ rời xa con.
Nỗi nhớ của con cũng chính là nỗi nhớ của ta, Phương Phương của ta ơi, chỉ cần con nhớ nghĩ, ta sẽ nhớ nghĩ.

Ta sẽ hóa thành mặt trời, dùng ánh dương chiếu khắp nơi.
Ta sẽ hóa thành ánh trăng, dùng ánh trăng che chở con.
Ta sẽ là ngôi sao, lấp lánh trên thân con.
Dù trời đất có phai tàn.
Dù bốn mùa đổi thay.
Từ kiếp này đến vô số kiếp sau.
Ta sẽ luôn ở bên con.
Hãy trì tụng tâm chú của ta - Lư Sư Tôn! Quán tưởng hình tượng của ta, chỉ cần nhất tâm. Ta nhất định sẽ hiện thân. Bởi pháp thân của ta có đến trăm nghìn triệu.
Ta sẽ viên mãn cho con.
Và cũng sẽ viên mãn cho tất cả chúng sinh.

Ta biết nhà của con ở tận bên kia biển khơi, nơi một góc nhỏ bé, tuy xa xôi và hẻo lánh, nhưng ta vẫn có thể đến được, bởi mọi nơi chốn đều là địa phận của ta, vì giữa ta và con không có sự phân biệt.
Ta sẽ ở tại Ma Ha Song Liên Trì.
Con cũng sẽ ở tại Ma Ha Song Liên Trì.
Khi ấy sẽ là đại hỷ lạc.
Hơn nữa,
Vĩnh hằng.
Lư Sư Tôn chắp tay.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) tặng cho con bài thơ tản văn "Lời trong mộng":

*Sát-na xuyên suốt ba đời như một
Tất cả tất cả đã từng
Bóng hình của con
Trên biển tâm lấp lánh sóng
Dường như đã tới lối ra
Lại dường như còn ở lối vào
Đó là con đường dài vô tận
Không phân biệt
Hôm qua hôm nay ngày mai
Tràn ngập trong tâm khảm
Như thác nước tuôn trào
Vĩnh viễn không khô cạn
Không ngừng nghỉ
Vĩnh viễn không hoại
Không cắt xén
Hoằng nguyện của ta là ngọn đèn vô tận
Nỗi nhớ là ánh sáng
Mịt mùng dày đặc
Đó là đài sen của đế võng minh châu.*


### 30. Điều thấy nghe ở pháp hội Diêu Trì Kim Mẫu


Tôi xin chia sẻ những gì bà Lý Mẫn đã thấy:

Đảnh lễ Căn bản Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật tôn quý!
Kính thưa Sư Tôn tôn quý!

Con vô cùng cảm ơn Sư Tôn gia trì cho đệ tử và gia đình có phước báu được cùng nhau đến Seattle đoàn tụ với Sư Phật, tham dự đại pháp hội Diêu Trì Kim Mẫu Hộ Ma (chúc mừng Sư Tôn 80 thánh đản).

Trong pháp hội này, đệ tử cũng thấy được như Sư Tôn khai thị về tiệc thọ được tổ chức trên hư không, ngoài việc đệ tử thấy rất nhiều chư Phật Bồ Tát dẫn theo quyến thuộc và thị giả của mình, còn có rất nhiều chư Phật Mẫu, Không Hành Mẫu cùng đến dự tiệc chúc thọ.

Trong pháp hội trang nghiêm, Bạch Tản Cái Phật Mẫu giáng lâm, chiếc tán lọng treo lơ lửng giữa hư không, bên dưới tán lọng có rất nhiều tiên trời giáng xuống, cùng với những đóa hoa tươi rực rỡ múa dâng cúng, đệ tử không biết dùng lời nào để diễn tả cảnh tượng trang nghiêm hùng vĩ và ánh hào quang kỳ diệu tỏa khắp hư không như thế.

Tiếp đó đệ tử cảm nhận được một nguồn lực và ánh sáng vô cùng mạnh mẽ, đến từ Kim Mẫu và tất cả chư Phật Mẫu, Không Hành Mẫu, tiên trời, quyến thuộc, cùng rất nhiều Không Hành Mẫu từ nhân gian và rất nhiều Bổn tôn hóa thân của các đệ tử theo Sư Tôn giáng phàm. Họ tụ hội cùng nhau phát nguyện cầu xin Sư Tôn trường thọ tại thế, tập trung toàn bộ năng lượng và ánh sáng để cầu thọ cho Sư Phật. Thật là một khung cảnh vô cùng xúc động.

Viết thư này ngoài việc muốn thưa với Sư Tôn những gì đệ tử đã thấy hôm đó, quan trọng nhất là đệ tử muốn thưa với Sư Tôn rằng dù ở trên trời hay ở nhân gian hiện tại, đệ tử đều một lòng cầu nguyện Sư Tôn pháp thể an khang, trường thọ vô lượng, thường trụ thế gian.

Đệ tử Lý Mẫn đảnh lễ Sư Tôn kính yêu, A Di Đà Phật!

🌟

Ngoài Lý Mẫn, còn có Hiểu Quang cũng nhìn thấy toàn bộ cảnh tượng.
Thượng sư Liên Hùng nhìn thấy:
Đàn thành của chư Phật Bồ Tát.
Đàn thành nằm trong vòng hào quang bát nhã.
Hiểu Quang nghe được cuộc đối thoại giữa tôi và Diêu Trì Kim Mẫu:
Diêu Trì Kim Mẫu hỏi:
"Sinh nhật của con, chúng ta đều đến, con có vui không?"
Tôi đáp:
"Chúng sinh vui, con vui."
Diêu Trì Kim Mẫu hỏi:
"Con thương chúng sinh không?"
Tôi đáp:
"Con thương chúng sinh hơn cả bản thân con."
Tôi nói:
"Con đến đây là để cứu độ chúng sinh!"
Diêu Trì Kim Mẫu hỏi:
"Khổ không?"
Tôi đáp:
"Khổ chính là vui."
(Lúc này, cõi trời hoan hô.)

Tôi (Lư Sư Tôn) thấy:
Thiên nữ áo trắng, thiên nữ áo đỏ, thiên nữ áo vàng, thiên nữ áo xanh lục, thiên nữ áo xanh lam.
Mã Cát Lạp Tôn. Hắc Phẫn Nộ Mẫu.
Kurukulle Phật Mẫu, Dorje Pamu, Kim Cang Du Già Mẫu.
Năm vị Phật Mẫu của Liên Hoa Sinh: Yeshe Tsogyal, Mandarava, Sakyadewa, Kala Siddhi, Tashi.
Saraswati, 12 Cát Tường Thiên, 5 Trường Thọ Nữ, Durga, Kali, Uma.
Mười vạn Không Hành Mẫu của cõi Áo Minh Thiên.
Đổng Song Thành, Hứa Phi Quỳnh của Diêu Trì Kim Mẫu.
Các con gái của Diêu Trì Kim Mẫu: Hoa Lâm, Mai Lan, Diêu Cơ, Ngọc Chi...
Thanh Loan, Thiếu Loan, Ấu Loan.
Mười vạn Không Hành Mẫu của cõi Áo Minh Thiên.
Chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, chư thiên chúng.
Bát Đại Kim Cang.
Ngũ Đại Minh Vương.
Tứ Đại Thiên Vương.
Đó là điều thấy nghe trong đại pháp hội Hộ Ma Diêu Trì Kim Mẫu vào ngày 23 tháng 6 năm 2024 (ngày 18 tháng 5 âm lịch).
(Thật là thù thắng!)


### 31. Lời vàng lấp lánh


Đây là sáng tác chung của Lượng Hựu và Lư Sư Tôn. Tôi cho rằng đây là "Lời vàng lấp lánh".

Ban đầu do Lượng Hựu viết.
Tôi thêm vào chú giải.
Vì vậy đây là sáng tác chung.
Giữa tôi và cô ấy.
Thực ra cũng không phân biệt "của bạn" hay "của tôi".
Đây là "Lời mở đầu".

Bài 1:
Mỗi một khoảnh khắc hiện tại
Dù thời gian đã trôi qua rất lâu rất lâu
Vẫn là vẻ đẹp trong tim của đôi ta
Không cần chụp ảnh lưu niệm
Không cần kỹ thuật chỉnh sửa
Không cần trang điểm
Con người tự nhiên của đôi ta, tất cả đều là sự sắp đặt hoàn hảo.
Và trái tim rung động vô hạn. Thật ra đó chính là tình cảm chân thành.

Bài 2:
Chưa từng nghĩ về tuổi tác của Lư Sư Tôn.
Tôi cũng vậy, chưa từng nghĩ về tuổi tác của con.
Con nói: "Đó chỉ là ký hiệu."
Ta không cần giải thích, con cũng không cần giải thích.
Chúng ta đều biết mọi thứ ở cõi người đều là huyễn ảo.
Tất cả:
Đẹp xấu, tuổi tác, cao thấp, béo gầy, và thành trụ hoại không
Đều chỉ là tướng bề ngoài.
Đức Phật dạy:
"Tất cả các tướng đều là hư vọng."
Đó chính là vô minh tận!

Bài 3: 
Chúng ta trân quý lẫn nhau, trân quý những ý tưởng sáng tạo và sức sáng tác trong từng nét bút.
Sống chính là một trò chơi!
Duyên lành.
Hoan hỷ.
Hạnh phúc.
Cộng thêm sự quan tâm lẫn nhau.
Tất cả đều là những món quà vô giá.
So với những lời nói suông,
Yêu thầy,
Thương thầy,
Quý thầy,
Còn ý nghĩa hơn nhiều!
Những hạt giống được gieo xuống này, tất cả đều là sức sống, sức sống trường tồn bất tận.

Bài 4:
Bài thơ con viết: "Tiếng gọi của Thầy".
Trong giấc mộng đêm suốt hai tuần qua,
Con thường xuyên cảm nhận được giọng nói quen thuộc gọi tên con, đó là giọng nói con yêu thích nhất,
Giọng nói của Thầy.
Không phải là mơ đâu, mà là âm vang từ hư không.
Tiếng gọi ấy, như tín hiệu điện tử, nhưng không cần dùng tai mắt để nghe nhìn mà trực tiếp đi vào tâm thức, thật rõ ràng chân thực!
Con xin thưa với Thầy một điều bí mật,
Trong kiếp này, có ba người gọi tên con nghe thật đặc biệt:
Một người là cha của con đời này,
Một người là thầy hướng dẫn luận văn,
Và một người là Thầy!
Thầy gọi tên con được không ạ?
Để thêm chút niềm vui và hơi ấm cho đứa con không cha không mẹ trong cõi đời này
Được không ạ?
Con sẽ đáp lại Thầy bằng nụ cười ngọt ngào.
Con cảm ơn Thầy!

🌟

Tôi đáp lại bằng một bài thơ tản văn, tôi (Lư Sư Tôn), viết về "Vô danh".
Từ khi chào đời,
Tôi biết mình chính là "vô danh".
Sau này để khai sinh,
Mới có tên gọi là Lư Thắng Ngạn.
Khi viết văn, bút danh của tôi rất đơn giản:
Thánh Yến. (đồng âm)
Thượng Điền. (phong vị Nhật Bản)
Xuyên Lưu. (ý văn lưu loát)
Nguyệt Văn. (lấy bộ Nguyệt và bộ Văn trong chữ Thắng Ngạn)
.............

Khi học Phật: Huệ Ngạn, Đạo Ngạn.............
Đệ tử gọi tôi: Sư Phật, Sư Tôn, Lư Sư Tôn, Thánh Tôn.
Rồi còn có:
Hoa Quang Tự Tại Phật, Hoa Quang Phật.
Liên Hoa Đồng Tử, Liên Sinh, Hóa Sinh Đồng Tử, Hạng Quang Đồng Tử, Liên Sinh Pháp Vương, Liên Sinh Thượng Sư.
Gọi đến cuối cùng, tôi chóng mặt luôn!
Tôi quên mất mình là ai?
"Này! Này! Này!"
Tôi quay đầu lại!
Người gọi tôi là "người lạ".
Cuối cùng tôi hiểu ra, hóa ra tôi vẫn là "vô danh".
Còn về việc bạn gọi tôi là gì?
Tôi đều chấp nhận.

Bài 5:
Con đề cập đến "tình yêu đích thực".
Khi nói hai chữ này, con đã khóc đến ướt cả một mảng thảm.
Con có những kỷ niệm của con,
Ta có những kỷ niệm của ta,
Kỷ niệm của ta là, những người từng nói với ta về "tình yêu đích thực", cuối cùng đều trở thành "tình yêu sai lầm".
Thật đau đớn làm sao!
Yêu đến chết đi sống lại!
Cuối cùng là căm hận đến nghiến răng!
Chết tiệt, chết tiệt, chết tiệt, toàn là chuyện vớ vẩn.
Nhưng ta thích mấy câu của con:
Giữ lời nói trong tim.
Cảm thấy hạnh phúc ngọt ngào.
Ta mong muốn có cảm giác này, mãi mãi về sau, A-men!
Ngoài ra,
Hai câu ta ngưỡng mộ nhất là:
"Yêu đến tận cùng, không oán hận!"
"Tình là chi? Khiến người ta sống chết đều hứa với nhau!"
Đó mới chính là "tình yêu đích thực"!

Bài 6:
Con nói:
Trong cõi nhân gian, có quá nhiều lo âu, phiền não, bất mãn, không như ý, chướng ngại, bệnh thân, bệnh tâm...
Dường như là vô thường, mà cũng dường như là thường tình.
Làm sao để giải quyết?
Hãy giao cho Lư Sư Tôn tiêu tai giải nạn! Lư Sư Tôn là chỗ nương tựa của chúng sinh.
Ta nói:
Ta phó thác bản thân cho Bổn tôn. Đương nhiên ta cũng giao phó nỗi khổ của chúng sinh cho Bổn tôn.
Nhiều người đều biết, Bổn tôn của ta là:
Diêu Trì Kim Mẫu.
A Di Đà Phật.
Địa Tạng Bồ Tát.
Đôi khi, ta phó thác mình cho "không". Phó thác mình cho "không", có người rất khó hiểu?

Ta sẽ nói cho con một điều bí mật:
Sau khi ta buông bỏ bản thân, ta không còn là ta, con không còn là con, người không còn là người, chúng sinh không còn là chúng sinh. Tất cả mọi thứ đều trở thành hư vô. Bao gồm những điều con nói về lo lắng, phiền não, chướng ngại, không thuận, bất an, bệnh thân, bệnh tâm - tất cả đều quy về "không".
Giống như ngọn lửa thiêu rụi thành tro tàn, một cơn gió lớn thổi qua, cuốn bay tro tàn không còn dấu vết.

Đó chính là ba loại giải thoát:
"Không" giải thoát.
"Vô tướng" giải thoát.
"Vô tác" giải thoát.

Bài 7:
Con đề cập đến giấc mơ.
Trong mơ, chúng ta ngồi tâm tình, chia sẻ những bí mật riêng.
Trong mơ, cánh tay ta dài hàng trăm thước, xoa đầu con, thật lâu thật lâu.
Trong mơ, ta ném một ngôi sao sáng rực, bay lượn trên không trung, rồi dừng lại trên tay con, trong chớp mắt hóa thành chày kim cang thập tự.
Trong mơ, con nói ta thật dịu dàng!
Trong mơ, có nhiều câu chuyện tiền kiếp.
Trong mơ, đối thoại cùng chư Phật Bồ Tát.
Trong mơ, có thể thấy trước tương lai.
Ta (Lư Sư Tôn) đã viết một bài "Lời mộng", ta đọc cho con nghe:
Mộng mị mơ hồ chẳng căn cứ,
Vốn dĩ không hay lối tới lui.
Đèn tàn hoa rụng trong đêm vắng,
Chẳng biết đêm dài ẩn chốn đâu.
Ngày ngày gối mộng triền miên mãi,
Như kính vạn hoa chuyện nối dài
Đến khi bình minh vừa rạng sáng,
Mới hay tất cả chỉ uổng công.

Và, bài "Mộng thơ" mà ta yêu thích nhất:

*Biết đời như mộng vô sở cầu,
Vô sở cầu lòng tĩnh lặng không.
Vẫn tưởng trong mơ tùy mộng cảnh, 
Thành tựu công đức tựa hà sa.*

Và, bài "Thơ kiến đạo":

Trong mộng rõ ràng có lục đạo,
Tỉnh rồi tam giới thảy đều không.
("Thơ kiến đạo" của đại sư Vĩnh Gia)

Về giấc mộng, ta chỉ có sáu chữ:
"Mộng mộng mộng, không không không."
"Ta không chấp trước khi tỉnh thức, với giấc mộng, càng không chấp trước, với tất cả mọi thứ, hoàn toàn không chấp trước."

Bài 8:
Con nói:
Lư Sư Tôn, từ nhỏ đến nay, bất kể thầy cô ở độ tuổi nào, dù biết nhiều hay biết ít, dù hiểu sâu hay hiểu nông.
Những người đã chân thành dạy dỗ con, con đều tự nhiên hết lòng kính yêu.
Và tương tự như vậy, con cũng mang tấm lòng này để giúp đỡ người khác.
Lư Sư Tôn, Thầy thật đặc biệt trong tim con.
(Lư Sư Tôn tôi đối với điều này không có ý kiến gì.)


### 32. Cuộc sống thường ngày của Phật tử


Có đệ tử hỏi tôi:
"Phật tử quy y Tam Bảo, trong cuộc sống hằng ngày, Lư Sư Tôn có ý kiến gì ạ?"
Nghe xong, tôi thấy đây là câu hỏi bình thường, nhưng cũng không dễ trả lời.

Tôi suy nghĩ một lúc, rồi trả lời như sau:
Chúng ta học Phật là để thành Phật, trong sinh hoạt hằng ngày, phải ghi nhớ giới luật của Phật pháp.
Làm việc phải quang minh chính đại, đối với người khác phải khoan dung độ lượng.
Phải tùy thuận chúng sinh, khi chúng sinh có chỉ trích, chúng ta phải biết tiếp thu điều thiện.
Tu pháp phải tinh tấn, không được buông thả, tuyệt đối không được lười biếng.
Quản lý tài chính có chừng mực, bố thí có chừng mực.
Phải có phong thái rộng lượng thanh cao, đối với người phải hiền hòa, thường xuyên thấu hiểu nỗi khổ của chúng sinh, có thể giúp người thì hãy giúp, ngày ngày làm việc thiện.
Không được nóng giận.
Không được nói lời thô tục.
Không được mắng người.
Không được lừa dối người.
Kiên định niềm tin của mình, nhất định có thể đạt được giác ngộ.
Tôn trọng người khác, mang lại lợi ích cho người khác.
Không được nghiện rượu, làm rối loạn tâm tính.
Phải cung kính với người xuất gia, cung kính với bậc trưởng thượng, phải có tâm từ bi, tâm bồ đề.

Phải lịch sự với tất cả mọi người, đừng nghĩ rằng mình học Phật là giỏi, rồi nhân cơ hội độ người quy y.
Thường xuyên vui vẻ làm việc thiện, hoan hỷ giúp đỡ người khốn khó.
Thành tâm tu tập Tứ gia hành, tu pháp Bổn tôn, hồi hướng cho mình và chúng sinh.
Hoan hỷ xây dựng chùa chiền, giúp đỡ tăng ni, mang lại lợi ích cho người khác tu hành.

Không được đến những nơi không đứng đắn, trừ phi định lực của bạn đủ mạnh, có thể không bị cám dỗ.
Không được nhận tiền bạc không rõ nguồn gốc, người quân tử yêu tiền, nhưng phải lấy theo đạo, phải là những gì thuộc về mình mới được nhận.
Tập suy ngẫm, viết ra những tâm đắc, cũng có thể viết sách lập thuyết.
Cúng dường Phật.
Cúng dường pháp.
Cúng dường tăng.
Cúng dường Thượng sư.
Cúng dường chúng sinh nghèo khổ.
.............

Là Phật tử, chúng ta cũng phải tuyên thuyết thiện pháp, không mệt mỏi khi dạy dỗ người khác.
Đạo tâm kiên định không thoái chuyển.
Nương tựa vào Căn bản Thượng sư, Phật, pháp, tăng.
Thực hành bát chính đạo.
Bỏ ác, phát huy điều thiện.
Phải sửa đổi những thói quen xấu, đoạn trừ tất cả chấp trước và phiền não.
Phải phát tâm bồ đề, học tập tinh thần Bồ Tát, dùng tứ vô lượng tâm (từ bi hỷ xả) để bước vào Phật giáo Đại thừa.

Tôi (Lư Sư Tôn) chủ trương:
Phật tử cần có tri thức, đó là thiện tri thức của Phật, là tri thức dẫn dắt bản thân và người khác đến tự tại giải thoát.
Phải thông qua thiền định để thấy được Phật tính của chính mình.
Thanh tịnh thức của mình.
Thanh tịnh thân.
Thanh tịnh ngữ.
Thanh tịnh ý.
Trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta, ăn chính là "cúng dường", mặc chính là "kết giới", ở chính là "thiền định", làm việc chính là "giới luật".
Làm việc cũng chính là nhất tâm bất loạn tu hành.
Lành thay!


### 33. Pháp thân huyễn hóa


Liên Hoa Vi Yến nói:
Con muốn chứng minh sự hiện hữu của Pháp thân Lư Sư Tôn.
Con xin làm chứng.
Mỗi khi con mất ngủ, con nhớ đến Lư Sư Tôn, Lư Sư Tôn liền xuất hiện.
Ngài xoa đỉnh đầu con, và thế là con ngủ được.

Liên Hoa Lệ Quyên nói:
Lư Sư Tôn trụ đỉnh, đi vào trung mạch, hai thành một.
Thế là con trở thành Liên Hoa Đồng Tử.
Con giơ hai tay ra, giúp người xoa lưng, tay chạm vào lưng người nào, người đó hết đau lưng.
Đồng thời, tay như tia X-quang vậy, có thể biết điểm đau ở đâu, giúp người khác giải trừ bệnh tật.
(Chú thích: Tương lai chỉ cần hợp nhất, liền có thể giúp đỡ chúng sinh.)

Liên Hoa Chiêu Mỹ nói:
Con đang ở đàn thành tại nhà, con thưa với Sư Phật rằng tai con bị nhiều nước vào, có cả những giọt nước màu trắng, màu vàng, con không còn nghe được gì nữa.
Tối hôm đó, con thấy Sư Phật trong phòng khách, và con nhìn thấy một cái chai, trong chai đựng nước và những hạt nhỏ, lại thấy có những con kiến đen to bò trên đó.
Con đem chai đó vứt vào thùng rác.
Từ đó, tai con đã khỏi hẳn! Thật là kỳ diệu.
Con cảm tạ ơn gia trì của Sư Phật!

Liên Hồng nói:
Lư Sư Tôn khai thị rằng: "Rất nhiều đồng môn đều được ở cùng với Pháp thân huyễn hóa của Sư Phật."
Đúng vậy, từ khi tu pháp tương ứng với Thượng sư, con biết Pháp thân Sư Phật luôn ở bên con, trong mọi sinh hoạt đi đứng nằm ngồi, luôn có hỏi có đáp.
Trời lạnh, giúp con đắp chăn.
Trời nóng, giúp con bớt chăn.
Pháp thân của Sư Phật thật là thân thiết!

Liên Hoa Trung Nhất nói:
Con bị ung thư đại tràng, vào bệnh viện.
Thấy Lư Sư Tôn xuyên tường đến bên giường con, nói với con: "Ta đến chữa bệnh cho con."
Ngài đưa tay vào trong cơ thể con, móc móc móc, lấy ra được ba khối u. Con không hề thấy đau.
Lư Sư Tôn nói:
"Không có vấn đề gì nữa!"
Sau đó, bác sĩ khám lại.
Giật mình kinh ngạc!
Vì không cần phải phẫu thuật, những thứ xấu đó đều biến mất rồi.
Cảm ơn pháp thân huyễn hóa!
Cảm ơn Sư Phật!

Liên Hoa Ngạn Minh nói:
Nhà con có đám cháy rừng ở phía sau, lửa sắp lan đến nhà con.
Con hét lớn:
"Sư Phật cứu con!"
Con bỗng thấy Pháp thân huyễn hóa của Lư Sư Tôn đứng trên mái nhà con.
Ngài nói với đám cháy:
"Lui lại cho ta! Lui lại!"
Đám cháy ngoan ngoãn nghe lời, thật sự lui lại, gió đột nhiên đổi chiều.
Nhà con không bị cháy! Thật là may mắn biết bao!

🌟

Pháp thân huyễn hóa ở cùng với rất nhiều đồng môn, hai mươi bốn giờ mỗi ngày. Ví dụ như: Lệ Phi, Tiểu Phân, Tố Khanh, Liên Ngật, Hiểu Quang, Sư Đầu, Khải Lệ, Giai Hinh, Hoàng Hoành, Hoằng Ngôn, Khiết Tây Ca, Liên Hỷ, Liên Ngạn, Hồng Long, Hàm Dự, Văn Chương, Vương Đỉnh, Lý Mẫn, Thục Phượng, Thiên Thành, Uy Văn, Bảo Dĩnh, Mạch Tử.
Và còn nhiều nữa.


### 34. Lời vàng tối thượng của Lư Sư Tôn


Bổn tôn ở đâu! Tôi ở đó!
Tôi và Bổn tôn không một không khác, hòa nhập vào nhau, không có phân biệt!
Đại dương không thể chia cách chúng tôi,
Núi cao không thể ngăn cản chúng tôi,
Bổn tôn chính là đấng tối thượng của tôi.
Tình yêu chân thật thân thiết nhất của tôi.
Ban ngày nhớ mong,
Ban đêm nhớ mong,
Hai mươi bốn giờ mỗi ngày đều nhớ mong.
Trong cuộc sống quy củ của tôi, từng giây, từng phút, từng giờ, người chính là sinh mệnh của tôi.
Nhờ Bổn tôn, tôi thấy được chính mình.
Nhờ Bổn tôn, tôi thấy được trời đất.
Nhờ Bổn tôn, tôi thấy được chúng sinh.
Nhờ Bổn tôn, tôi thấy được chân như.
Thật ra, không có từ ngữ nào có thể miêu tả được Ngài, Ngài là đấng tối cao, Ngài là Đại Phạm, Ngài là bản thể thanh tịnh, Ngài là bản thể tối thượng.
Vì đã hợp nhất, tôi không còn mong cầu gì nơi Ngài, cuối cùng, Ngài dạy tôi vô sở đắc.
Chính vì vô sở đắc, tôi mới có thể vô sở trụ, mới có thể vô sở vị, mới có thể vô ngã, cuối cùng an trụ tâm tối thượng, đó thật là phong thái mê người.
Không lo.
Không buồn.
Không tham.
Khuôn mặt thanh thản không cầu, đó chính là Đạo.
Thân vật chất và thân tinh quang, tuy là hai thứ, và lại khác nhau.
Nhưng, tôi đã biết, thật không có nhị nguyên đối lập, những điều này vốn là một.
Đấng tối thượng và Lư Sư Tôn cũng là một.


### 35. Thơ của Liên Hoa Đại Bàng


Mưa bay lất phất bên ráng chiều
Ao sen Chân Phật tựa bức tranh
Pháp âm Sư Phật như cam lộ
Ban rải chúng sinh thoát khổ hèn
Từ bi ôm ấp lòng như biển
Trí huệ như đèn rọi u mê
Thuyết pháp tựa xuân phong hóa vũ
Đức hạnh thanh cao khó sánh bì
Áo tăng phất phới bóng tiêu dao
Thiền tâm vắng lặng ngộ vô biên
Cầu Vồng Sơn Trang tùng xanh mãi
Muôn đời đệ tử nhớ ơn thầy
Ơn thầy như núi cao vời vợi
Giáo huấn như suối thấm tâm điền
Nguyện hóa bồ đề soi chúng sinh
Tán tụng vô tận đến bỉ ngạn
Đệ tử thành tâm mừng thọ sinh
Vạn chúng kính ngưỡng cùng ca hát
Hào quang trí huệ không tắt lụi
Tâm như đại nhật chiếu càn khôn.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) đọc bài thơ của Liên Hoa Đại Bàng, tuy là lời tán dương, nhưng tôi cũng tự cảnh tỉnh mình.

Một,
Phải cống hiến triệt để mới có thể thành tựu triệt để. Không ai có thể đạt được ngay tức khắc, đó chính là ý nghĩa của cuộc đời.

Hai,
Tôi chưa từng rời xa bất kì ai, dù người đó có tin tưởng hay không tin tưởng. Người đã gặp tôi, hay chưa từng gặp tôi, có duyên hay vô duyên, đều phải độ họ một cách bình đẳng, đây mới chính là "vô duyên đại từ, đồng thể đại bi".

Ba,
Lục độ của Bồ Tát:
Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ.
Tôi tu hành những điều này.
Không phải để đến bốn thánh giới.
Mà là để vào thế giới đầy hận thù, ngũ trược, thực hành từ bi và tâm bồ đề.

Bốn,
Tôi học cách không chấp trước, do không chấp trước nên không có phiền não.
Diệu pháp và bí mật của đại lạc, tất cả đều ở tại đây, vô chấp trước chính là vương trượng của đại lạc.

Năm,
Pháp thân chân thật của tôi là hư không.
Báo thân chân thật của tôi là Liên Hoa Đồng Tử.
Ứng thân chân thật của tôi là Lư Thắng Ngạn.
Và điều tối thắng trong nhân gian là Phật pháp.
Người ta đảnh lễ tôi là:
"Hư không".

Sáu,
Pháp miên quang của tôi là:
"Ram" - toàn thân là lửa, thiêu thành tro bụi, trở thành cốt tro.
"Yam" - một trận gió lớn thổi lên, thổi sạch bách cốt tro.
"Kham" - tất cả đều là không, tôi không còn gì cả.

Bảy,
Tôi biết rằng, vạn pháp đều là "vô sở đắc", nên điều tôi đạt được chính là đắc được cái "vô sở đắc" này.
Khi nhận rõ "vô sở đắc", sẽ không còn phiền não nữa.

Tám,
Tôi cầu nguyện được Thượng sư gia trì, đây là dòng pháp truyền thừa.
Tôi cầu nguyện được Bổn tôn nhiếp thụ, đây là bản địa của tôi.
Tôi cầu nguyện được Hộ pháp che chở, đây là căn bản của sự nghiệp.
Kính sư.
Trọng pháp.
Thực tu.
Chưa từng một ngày gián đoạn.
Mỗi ngày của tôi, không rời xa các Ngài.

Chín,
Tôi hiểu rằng thế gian là khổ.
Vô sở đắc là không.
Nhân duyên là vô thường.
Con người đều là huyễn ảo, là vô ngã.
Vì vậy tôi có thể bất động tâm, buông bỏ tất cả, "bát phong" chỉ là tiếng cười ha ha.

Mười,
Tôi có thể nhanh chóng nhập vào Tam ma địa, trong Tam ma địa có đại lạc, quang minh, tính Không.
Có thể nhanh chóng tiến vào là vì vô niệm, tại sao tôi có thể vô niệm, bởi vì thế gian này vốn tịch tĩnh an hòa.
Tất cả đều không có gì.
Phi tưởng phi phi tưởng.
Bởi vì tôi không có bất kì chướng ngại nào.

Mười một,
Thân thể vật chất này của tôi, phải mang đến tâm đại bi và tâm bồ đề cho chúng sinh.
Tôi cúng dường cho chúng sinh.
Xin chúng sinh hãy tiếp nhận mandala của đại lạc, quang minh và tính Không này.
Tôi là hoa sen.
Tất cả chúng ta cùng nương theo hoa sen, đến được bờ giác.


### 36. Vũ Tự Tại bàn về chịu thay


Trung Quốc có một câu ngạn ngữ cổ: "Bồ Tát đất qua sông", câu tiếp theo là gì?
Đáp: "Thân mình khó giữ!"

Vậy "Bồ Tát đất" là gì?
Thực ra Bồ Tát có nhiều cấp bậc khác nhau, Bồ Tát đất nếu dịch theo ngôn ngữ Phật giáo thì chính là "Bồ Tát mới phát tâm".
Hãy xem từ điển Phật học giải thích thế nào về "Bồ Tát mới phát tâm":

(1) Phạn ngữ nava-yāna-sajprasthita. Cũng gọi là sơ phát ý, sơ phát tâm, tân phát tâm. Viết tắt là tân phát, sơ tâm. Nghĩa là người mới phát tâm bồ đề và bước vào đạo Phật. Bồ Tát mới phát tâm tương đương với vị trí Thập Tín trong 52 địa vị; do mới học đạo Phật nên còn gọi là Bồ Tát tân học. Kinh Duy Ma quyển trung nói: "Các vị Bồ Tát đã đắc thần thông liền tự biến hình thành tòa sư tử cao bốn vạn hai nghìn do tuần, các vị Bồ Tát mới phát tâm và đại đệ tử đều không thể lên được." Đại Trí Độ Luận quyển 61 nói: "Không nên nói nghĩa tùy hỷ của bát nhã ba-la-mật trước mặt Bồ Tát mới học. Vì sao? Nếu người có ít phước đức thiện căn nghe pháp tính Không triệt để này, liền chấp vào không và nghĩ rằng: 'Nếu tất cả pháp đều rốt ráo không, không có gì cả, thì ta tạo phước đức làm gì?' Từ đó quên mất thiện nghiệp. Vì vậy, đối với Bồ Tát mới phát tâm, trước hết dạy họ tùy hỷ có tướng, dần dần có được sức phương tiện, sau đó mới có thể thực hành tùy hỷ vô tướng." Điều này là vì Bồ Tát mới phát tâm học hiểu chưa thuần thục, nên không nên nói với họ về lý vô tướng của bát nhã. [Kinh Pháp Hoa quyển 1 phẩm "Phương Tiện", Kinh Đại Phẩm Bát Nhã quyển 1 phẩm "Tập Ứng", Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận quyển 12 phẩm "Trợ Niệm Phật Tam Muội", Tịnh Độ Thập Nghi Luận]

Trọng tâm nằm ở hai câu này:
1. Tu học Phật đạo còn nông cạn, nên còn gọi là Bồ Tát sơ học. Không nên giảng về ý nghĩa tùy hỷ của bát nhã ba-la-mật trước mặt Bồ Tát sơ học.
2. Bồ Tát mới phát tâm học hiểu chưa thuần thục, nên không nên nói với họ về lý vô tướng của bát nhã.

Ý nghĩa là:
"Đừng tùy tiện nói với người mới học về giáo lý thâm sâu tột cùng của Phật pháp, nếu không sẽ gây hiểu lầm, không những không giúp ích cho việc tu hành của họ mà còn tạo thêm chướng ngại."
"Người mới học phát tâm học hạnh Bồ Tát để giúp người là điều tốt, đáng được tán thán, nhưng phải tự lượng sức mình, với trình độ hiện tại có thể làm được những gì?"
Nói cách khác, có bao nhiêu năng lực thì làm bấy nhiêu việc!

Có một câu chuyện vui: "Nếu vợ và mẹ vợ của bạn cùng rơi xuống nước, bạn sẽ cứu ai trước?"
Câu chuyện này, "ở đây" câu trả lời đúng là:
"Tôi không cứu ai cả, muốn cứu cũng không cứu được, vì tôi không biết bơi!"
Ha ha ha!!

Kể xong câu chuyện vui, quay lại chủ đề chính hôm nay, Căn bản Thượng sư là gì?

Trọng điểm:
1. Xét từ nghĩa rốt ráo, Căn bản Thượng sư là đại diện cho nghĩa rốt ráo của tính Không. Nghĩa rốt ráo của tính Không, ở đây cũng không thể tùy tiện nói với Bồ Tát mới phát tâm về nghĩa Không là gì, vì vậy chúng ta cũng không nên tùy tiện giải thích cho người thường về nghĩa rốt ráo của Căn bản Thượng sư từ góc độ này.

2. Xét từ nghĩa phương tiện, Căn bản Thượng sư là hiện thân của Tam Bảo Phật pháp tăng, là bậc thành tựu chỉ dạy chúng ta từ phàm phu đến thành tựu. Về phương pháp giáo hóa, bậc thành tựu Căn bản Thượng sư để giúp hành giả đạt được thành tựu như Ngài, cũng thị hiện quá trình từ phàm phu đến thành Phật, bởi vì Ngài muốn dạy bạn cách giải thoát khỏi khổ đau sinh, lão, bệnh, tử, nên Ngài phải thị hiện sinh lão bệnh tử ở nhân gian.

3. Nhưng nhiều người vì thấy Căn bản Thượng sư cũng giống như người bình thường, cũng sinh lão bệnh tử, bệnh cũng phải đi khám bác sĩ uống thuốc, nên nghĩ rằng chúng ta cũng phải đối xử với Căn bản Thượng sư như cách nghĩ và cách làm đối với người thường, dẫn đến: "Tôi thấy Sư Tôn (Căn bản Thượng sư) gặp khó khăn, tôi phải phát tâm giúp Sư Tôn (Căn bản Thượng sư) làm gì đó." - điều này là đã đi quá đà rồi.

4. Phát tâm như vậy từ góc độ "nhân tính" thì không sai, người thân của mình gặp nạn mình còn phải cứu, huống chi là Sư Tôn.
Nhưng điểm quan trọng là xét từ nghĩa phương tiện thì bạn là Bồ Tát đất qua sông đấy! Bạn còn không thể tự cứu được mình, bạn định cứu ai chứ?

5. Có câu ngạn ngữ "lực bất tòng tâm" đúng không? Bạn thấy vợ rơi xuống nước, đầu óc nóng vội, liền "ùm" một phát nhảy xuống nước để cứu cô ấy, sau đó mới chợt nhớ ra: "Chết rồi, mình không biết bơi!", ban đầu định cứu người, cuối cùng lại phải nhờ người khác cứu mình.
Buồn cười hơn nữa là, sau khi nhảy xuống nước mới chợt nhớ ra: "Vợ mình là huấn luyện viên bơi lội"!

6. Tôi biết chắc chắn sẽ có người nói: "Chúng ta tu pháp cuối cùng đều hồi hướng cho Căn bản Thượng sư thân thể khỏe mạnh, thường trụ thế gian, không nhập Niết bàn!" Như vậy có sai không? Không sai! Nhưng đây là nói về ý nghĩa dạy bạn tu hành, học cách giải thoát khỏi khổ đau sinh lão bệnh tử, để bạn từ việc tu pháp học cách lễ kính Căn bản Thượng sư, gần gũi với Căn bản Thượng sư hơn, mới có thể tiếp nhận được đại gia trì.

Hơn nữa, bậc thành tựu không nhập Niết bàn mới có thể độ hóa thêm nhiều chúng sinh, "nhờ công đức hồi hướng này, bạn sẽ có duyên với chúng sinh, phúc phần càng tăng trưởng, trên con đường tu hành sẽ gặp được nhiều thiện tri thức, quý nhân hơn, dễ thành tựu hơn, ít chướng ngại hơn, đây là một vòng tuần hoàn thiện lành." Điều này hoàn toàn khác với việc hiểu sai về ý nghĩa Căn bản Thượng sư khi cho rằng Căn bản Thượng sư gặp nạn nên chúng ta phải phát tâm giúp Căn bản Thượng sư thoát khỏi khổ nạn!

Xin nhắc nhở mọi người một câu: "Nếu bạn xem Căn bản Thượng sư là Phật thì sẽ nhận được gia trì của Phật, nếu bạn xem Căn bản Thượng sư là Bồ Tát thì sẽ nhận được gia trì của Bồ Tát". Cùng đạo lý đó, có nghĩa là: "Nếu bạn xem Căn bản Thượng sư là người sẽ bị bệnh, sẽ gặp nạn, thì đương nhiên bạn cũng sẽ nhận được [gia trì](https://www.notion.so/chanphat/%E6%9B%BF%E4%BB%A3) của bệnh tật và khổ nạn". Cùng một bài hồi hướng, phát tâm khác nhau sẽ được kết quả khác nhau!

Xin nhấn mạnh thêm một lần nữa, bậc thành tựu Căn bản Thượng sư để giúp bạn đạt được thành tựu như Ngài, Ngài cũng thị hiện quá trình từ phàm phu đến thành Phật (tên chuyên môn gọi là Đại Thủ Ấn). Bởi vì Ngài muốn dạy bạn cách giải thoát khỏi khổ đau sinh, lão, bệnh, tử, nên Ngài phải thị hiện sinh lão bệnh tử, đây là nghĩa phương tiện. Nhưng thực tế Căn bản Thượng sư vốn không có sinh lão bệnh tử, như vậy bạn đã hiểu chưa?

Tôi thường nói: "Biết nhưng không làm được, rất bình thường, nếu những gì bạn biết đều làm được hết thì bạn đã thành Phật rồi". Được rồi! Nghe nhiều như vậy, hãy quay lại câu chuyện vui tôi kể ban đầu: "Vợ và mẹ vợ của bạn rơi xuống nước, bạn sẽ cứu ai?" Câu trả lời của bạn là gì? Xin hãy trả lời!

🌟

Lư Sư Tôn nói:
"Nghiệp không thể nghĩ bàn!"
Lại nói: "Hồi hướng không thể nghĩ bàn!"
Và nói: "Phát nguyện không thể nghĩ bàn!"
Tóm lại, bạn vẫn nên đi trên con đường "trung đạo", có bao nhiêu năng lực thì hồi hướng, phát nguyện bấy nhiêu.
Đây là quan điểm của tôi.

Tôi nhớ có một hành giả phát nguyện:
"Tất cả nguyện lực của chư Phật mười phương ba đời, chư Bồ Tát mười phương ba đời đã phát. Tất cả đều là nguyện của con."
Anh ấy hỏi tôi nguyện này, sự hồi hướng này có tốt không?
Tôi đáp:
"Không thể nghĩ bàn!"
Tôi cho rằng: "Bạn nâng được bao nhiêu ký thì hãy hồi hướng bấy nhiêu."
Như vậy mới thích hợp.
Người ăn xin dĩ nhiên có thể phát đại nguyện, nhưng, làm không được thì thôi.
"Chịu thay cũng như vậy."


### 37. Ghi chép việc cứu tế của Thubten Karma


Đảnh lễ Căn bản Truyền thừa Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Phật (ba lần đảnh lễ.)

Đệ tử Thubten Karma trong thời gian gần đây khi thực hiện hoạt động từ thiện bố thí ở Nepal đã nhận được đại gia trì của Sư Tôn, đặc biệt xin báo cáo với Sư Tôn về việc này.

Nguyên do là vào tháng 5, Nepal gặp phải thời tiết hạn hán, nhiều vùng núi đã xảy ra cháy rừng. Một ngày nọ, con nhận được yêu cầu xin giúp đỡ 18 hộ gia đình bị cháy rừng thiêu rụi, địa điểm ở phía sau ngọn núi nơi Phật Thích Ca Mâu Ni xả thân cứu hổ đói, cách Kathmandu khoảng 3 giờ đi đường núi. Con lập tức đồng ý và sắp xếp những vật tư cần thiết cùng tấm lợp mái kẽm, đồng thời chuẩn bị xe cộ, dự định vào ngày 8 tháng 5 sẽ đến đó để an ủi và động viên họ. Mặc dù nhiều người ngăn cản vì lý do đám cháy rừng chưa tắt, có thể nguy hiểm, nhưng con vẫn mong muốn đến được vùng thiên tai để thăm hỏi người dân bị nạn.

Ngày hôm đó, vào buổi sáng khi đang tu pháp cầu nguyện Sư Tôn gia trì cho mọi việc được hanh thông, con nghe rõ tiếng Sư Tôn nói: "Trời sẽ mưa, trời sẽ mưa".

Sau đó con lên xe đến khu vực đó để họp với thị trưởng và các quan chức chính phủ, bàn bạc về việc thành lập trung tâm lọc thận miễn phí trong một bệnh viện mới. Đến trưa, trời vẫn nắng chang chang, con nghĩ trong lòng, có lẽ những gì mình nghe được chỉ là ảo giác...

Sau khi ăn trưa xong, cả đoàn chúng con lái xe đến vùng thiên tai. Một điều không thể tin được đã xảy ra. Khi vào đến vùng núi bị thiên tai, trời bắt đầu mưa. Sau đó mưa càng lúc càng to, kèm theo cả những hạt mưa đá to bằng móng tay.

Khi đến vùng thiên tai, chủ tịch ủy ban thôn nói với con rằng đã một tháng không có mưa, cho đến khi con đến mới có cơn mưa ân điển này, thật là không thể nghĩ bàn. Con nói cơn mưa này là nhờ ân điển gia trì của sư phụ tôi, Ngài là bậc thành tựu, luôn cứu độ chúng sinh.

Trước khi kết thúc hoạt động bố thí, con nhận được báo cáo của họ, nói rằng cơn mưa này đã dập tắt hơn mười điểm cháy rừng trong khu vực. Trong khoảnh khắc ấy, lòng con thực sự dâng trào lòng biết ơn vô hạn và niềm tin kiên định với Sư Phật, nước mắt hòa cùng nước mưa chảy xuống.

Đệ tử trong tháng 5 đã thực hiện các hoạt động từ thiện bố thí nhân dịp kỷ niệm 80 năm Phật đản của Sư Tôn. Đồng thời đã đến chùa tổ của Đại sư Sakya Chứng Không và chùa Karma Lekshey Ling - nơi Sư Phật đã an tọa để bố thí và giảng pháp. Con hy vọng với sức lực nhỏ bé của đệ tử, có thể giúp Sư Tôn được biết đến nhiều hơn ở Nepal, đồng thời giúp tông phái được truyền bá tại Nepal.

Không dám làm phiền thời gian của Sư Phật thêm nữa.
Kính chúc Sư Phật pháp thể an khang, sáu thời cát tường, đại lạc tùy ý, thường trụ thế gian, thường chuyển pháp luân.
Đệ tử Thubten Karma đảnh lễ.

(Lư Sư Tôn có lời vàng rằng: "Có bố thí thì có công đức. Đây là bí quyết khai vận.")


### 38. Tường thuật tại chỗ về Nghìn chiếc thuyền pháp cứu độ


Sự cứu độ không thể nghĩ bàn của Sư Tôn ~ Nghìn chiếc thuyền pháp ~ Ba phần

Đệ tử Liên Hoa Mai Liên xin được trình báo lên Sư Tôn về sự cứu độ không thể nghĩ bàn của Sư Tôn.

(Phần một)

Vào chiều ngày 15 tháng 1 năm 2023, như thường lệ, đệ tử theo Sư Phật đồng tu trên mạng, hôm đó đồng tu Bổn tôn Kim Cang Tát Đỏa. Trong lúc đồng tu, Sư Phật nhắc đến việc trước đây từng làm pháp hội siêu độ ở Seattle và Đài Loan, Sư Phật hiển thần thông, cho phép tổ tiên và người thân đời trước hiện về, gặp mặt những người có mặt tại đó (âm dương hội), có đồng môn tại buổi trực tiếp làm chứng cho việc này.

Lúc đó con chợt nảy ra ý nghĩ, lập tức nhắm mắt chuyên nhất, với tâm tịnh tín chân thành đối với Căn bản Truyền thừa, cung kính dùng thánh danh và Phật lực của Sư Phật, thỉnh mời Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát (vì con mỗi ngày đều chép Kinh Địa Tạng, có thể cảm nhận được sự hộ trì của Địa Tạng Vương Bồ Tát) dẫn dắt bà ngoại đã mất 35 năm lên đây, con muốn gặp bà (bà ngoại sống chung với chúng con, chúng con từ nhỏ đều do bà ngoại chăm sóc lớn lên, nên quan hệ rất thân thiết).

Rất nhanh sau đó có một dòng chảy pháp giáng xuống, xung quanh có một từ trường đặc biệt, con thấy Địa Tạng Vương Bồ Tát từ bi mỉm cười, rồi thấy bà ngoại đứng phía sau Bồ Tát, nước mắt con bắt đầu tuôn rơi không kìm được... Hình dáng bà ngoại hiện ra giống hệt như lúc còn sống. Mặc dù lúc đó con khóc không kiềm chế được, nhưng không quên nhắc nhở bà ngoại rằng vị đang thuyết pháp trực tiếp kia là Lư Thắng Ngạn Hoạt Phật, là Căn bản Thượng sư của con, cũng là vị thầy mà con đã giúp bà quy y. Con từ từ dạy bà ngoại trì chú tâm của Sư Phật (Om guru liansheng siddhi hum), rồi dạy bà trì thánh hiệu "Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát" và "Nam mô A Di Đà Phật". (Con dạy bà ba thánh hiệu, hy vọng bà sẽ chọn một trong những thánh hiệu hoặc thần chú có duyên với bà để trì niệm.)

Con nói với bà ngoại rằng nhất định phải tu hành tốt, phải thường xuyên trì tâm chú hoặc thánh hiệu, vì chỉ có thông qua tu hành mới có thể nâng cao cảnh giới của bà ngoại. Sau đó, một cách tự nhiên, con lại quay về màn hình trực tiếp của Sư Phật...

Vài ngày sau, bà ngoại báo mộng cho con, bảo con giúp bà đăng ký pháp hội của Sư Phật. Thế là con đã đăng ký giúp bà, cầu xin Sư Phật từ bi tiếp dẫn bà ngoại lên nghìn chiếc thuyền pháp, vãng sinh tịnh thổ.

(Phần hai) Siêu độ bằng nghìn chiếc thuyền pháp

Sau pháp hội Hộ Ma tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự ngày 3 tháng 4 năm 2023, Sư Phật hóa hiện nghìn chiếc thuyền pháp để siêu độ. Con chuyên tâm theo sự chỉ dẫn của Sư Phật để quán tưởng, nhìn thấy bà ngoại đã mất đang đứng ở giữa một chiếc thuyền pháp khổng lồ (giống như tàu Titanic). Con đứng trên bến tàu, dùng tâm ý truyền đạt cho bà ngoại, bảo bà một lòng đi theo nghìn chiếc thuyền pháp do Sư Phật chủ trì, theo A Di Đà Phật về tịnh thổ tiếp tục tu hành. Bà ngoại nhìn con một cái, rồi gật đầu với con, sau đó quay về phía đầu thuyền pháp, cung kính chắp tay cúi người 90 độ, đảnh lễ A Di Đà Phật. Ngay lúc đó có một dòng pháp lực rất mạnh giáng xuống, con nghẹn ngào rơi lệ, cảm ơn Sư Phật và chư Bồ Tát đã cứu độ...

(Phần ba)

Một tuần sau khi bà ngoại lên nghìn chiếc thuyền pháp, trong buổi đồng tu thứ Bảy tại Seattle Lôi Tạng Tự, lúc thiền định con nhìn thấy một thiếu nữ trẻ trung xinh đẹp, mặc áo cưới đỏ kiểu cổ. Cô ấy cứ gọi con mãi, con nói không biết cô ấy là ai. Cô ấy nói là bà ngoại của con, giờ đã đến một cảnh giới rất tốt. Bà ngoại trẻ đẹp vui vẻ cười với con, vẫy tay chào tạm biệt.

Kính thưa Sư Phật, đây là trải nghiệm thật sự của đệ tử. Đệ tử không ngờ rằng, nhờ vào tịnh tín đối với Căn bản Thượng sư, lòng thành khẩn cầu nguyện, có thể cảm ứng Địa Tạng Vương Bồ Tát từ bi dẫn dắt bà ngoại hiện thân, bà ngoại báo mộng xin đăng ký pháp hội nghìn chiếc thuyền pháp của Sư Tôn để được siêu độ, vãng sinh tịnh độ và những hiển hóa khác, chứng minh Chân Phật Mật Pháp không thể nghĩ bàn, sự cứu độ của Pháp thân Sư Phật hiện diện khắp nơi, khiến người ta vô cùng xúc động và tán thán.

Cảm ơn sự cứu độ không thể nghĩ bàn, hiện diện khắp nơi của Sư Phật.
Đệ tử thành tâm cầu xin Phật trụ thế, thường chuyển pháp luân.
Đệ tử Liên Hoa Mai Liên đảnh lễ.
(Malaysia - Phù Dung)


### 39. Kiến chứng pháp hội thù thắng


Đảnh lễ Sư Tôn kính yêu:
Kính chúc Sư Tôn thân thể khỏe mạnh, vạn sự cát tường như ý.

Đệ tử Liên Hoa Hiểu Quang, nhờ ơn Sư Tôn thương yêu, cho phép đệ tử viết lại chứng nghiệm tại pháp hội của Sư Tôn. Đệ tử vô cùng vinh hạnh, xin cảm ơn Sư Tôn.

Lý do đệ tử báo cáo lên Sư Tôn không phải để khoe công hay cầu được sủng ái. Mà là muốn thỉnh cầu Sư Tôn ấn chứng những điều đệ tử đã thấy, đồng thời hy vọng dùng những gì đệ tử đã tận mắt chứng kiến để nói cho mọi người biết Sư Tôn của chúng ta tôn quý và vĩ đại biết bao, từ bi và khoan dung biết bao, chúng ta - những đệ tử Chân Phật - thật may mắn biết bao, nhất định phải hết sức trân quý nhân duyên được gặp Sư Tôn trong đời này.

Trong hai pháp hội vừa kết thúc vào thứ Bảy (24/2) và Chủ nhật (25/2), đệ tử đã chứng kiến nhiều cảnh tượng thù thắng khi Sư Tôn gia trì. Lúc đó đệ tử đã nhiều lần muốn bước vào Hộ Ma Bảo Điện để báo cáo với Sư Tôn trước mọi người, nhưng lại sợ nếu những gì mình thấy có sai sót thì chẳng phải là vọng ngữ hay sao. Thêm vào đó, đệ tử cảm thấy nghiệp chướng sâu nặng, không đủ tư cách để làm chứng. Vì vậy cuối cùng đệ tử đã không đủ can đảm thực hiện, chỉ báo cáo miệng với Thượng sư Liên Truyền và nhờ Thượng sư truyền đạt lại cho Sư Tôn. Kính xin Sư Tôn tha thứ.

Sau đó đệ tử cảm thấy làm như vậy là không như pháp và có thiếu sót, trong lòng bất an. Nhờ sự khích lệ của hai vị Thượng sư có chứng lượng là Thượng sư Liên Truyền và Thượng sư Liên Kỳ, đệ tử mới cầm bút lên, một lần nữa dùng hình thức viết thư để báo cáo lên Sư Tôn và cầu xin Sư Tôn ấn chứng.

I. Kiến chứng về pháp hội truyền pháp Thiên nhãn thông của Bạch Độ Mẫu:

Có hai điểm chính:
1. Về sự hiển hiện giáng lâm của chư Phật Bồ Tát và chư thiên Hộ pháp, Không hành thần chúng:

Khi Sư Tôn khai thị trong pháp hội, Ngài có nói đến việc rất nhiều Quan Thế Âm Bồ Tát giáng lâm.

Đệ tử cũng nhìn thấy. Đồng thời thấy được Sư Tôn và Quan Thế Âm Bồ Tát hợp nhất, Liên Hoa Đồng Tử với Sư Tôn hợp nhất, chư Phật Bồ Tát như những vì sao lấp lánh trên bầu trời, xuất hiện trong hư không.

Trong hư không còn có rất nhiều Ngũ Sắc Thiên Nữ đang ca múa nhẹ nhàng, uyển chuyển, tuyệt đẹp khôn tả. Đệ tử lúc đó tưởng các vị là thị giả của Diêu Trì Kim Mẫu, đến khi nghe Sư Tôn khai thị mới biết đó là Không Hành Mẫu.

2. Đôi mắt kỳ diệu:

Trong khoảng không gian tĩnh lặng và rạng ngời, dần dần hiện ra một con mắt to lớn, xoay theo chiều kim đồng hồ. Chẳng bao lâu sau, xung quanh con mắt xuất hiện một vầng hào quang trắng ngang giống như vành đai Sao Thổ, xoay từ phải sang trái. Vầng hào quang dần dần lớn rộng, bên trong có một hàng Sư Tôn ngồi, mặc long bào trắng, y phục Lama đỏ, đầu đội vương miện trắng nhọn. Sau đó vầng hào quang trên dưới xoay hợp nhất với tốc độ cao, trong một khoảnh khắc biến thành một vị Bạch Độ Mẫu trang nghiêm vô cùng. Đệ tử cảm thấy Bạch Độ Mẫu đang nhìn mình, bỗng nhiên cảm giác thân thể mình bị hút vào thiên nhãn của Bạch Độ Mẫu, rồi như đi vào đường hầm thời không, càng lúc càng sâu. Cuối cùng như đi vào một mật thất, căn phòng này trống trải, chỉ có một kim tự tháp thủy tinh trong suốt, thân thể đệ tử từ trên không rơi vào trong kim tự tháp, thấy Sư Tôn ngồi trước mặt đệ tử, mỉm cười. Đột nhiên Sư Tôn lại biến thành Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, rồi đệ tử cảm thấy Liên Sư phóng ra ánh sáng trắng rực rỡ, thế là đệ tử cảm thấy thân mình đi vào trong ánh sáng trắng và nhập định.

II. Kiến chứng về đại pháp hội Hộ Ma Thánh Quán Âm Đệ Nhất Phú Hào:

Có bốn điểm chính:
1. Về sự hiển hiện giáng lâm của chư Phật Bồ Tát và chư thiên Hộ pháp, Không hành:
Trong hư không có khoảng bốn tầng, tầng cao nhất là chư Phật Bồ Tát, kế đến là chư thiên Hộ pháp và Không hành thần chúng, tầng thấp nhất là vô số Long vương. Long vương ngồi trên ghế.
2. Về mây lành và văn tự, âm thanh trong hư không trên Hộ Ma Bảo Điện chùa Cầu Vồng:

Phía trên Hộ Ma Bảo Điện chùa Cầu Vồng, từ hư không chậm rãi bay đến từng dãy mây trắng cát tường, phủ kín cả đại điện, mây như những đợt sóng, sóng này chồng lên sóng kia.

Khi đệ tử thấy chư tôn tầng tầng lớp lớp giáng lâm, trong hư không hiện ra văn tự (Hiền Kiếp Thiên Phật, Mahakala, Mãn Nguyện Đồng Tử...)

Đệ tử nghe thấy trong hư không có tiếng nói: Sau này Chân Phật Tông sẽ có rất nhiều đại phú hào, sư phụ của các bạn là vạn thế Pháp Vương.

3. Những viên gạch vàng di chuyển như quân domino:

Đệ tử nhìn thấy một hàng gạch vàng dài vài cây số, xếp như những quân domino, uốn lượn quanh co như dòng Hoàng Hà chín khúc. Bỗng nhiên viên gạch đầu tiên ngã xuống, rồi lần lượt từng viên lăn theo. Trong hư không, Mãn Nguyện Đồng Tử bay qua bay lại nhảy múa.

4. Sự thị hiện tâm bồ đề rộng lớn của Sư Tôn và việc chịu thay nghiệp lực chúng sinh, cùng sự lĩnh ngộ của đệ tử:

Khi Sư Tôn khai thị về thân thể khỏe mạnh, vĩ đại của Ngài, trong tâm trí đệ tử lập tức hiện lên hình ảnh trước đây Sư Tôn cởi áo thị hiện thân hình cường tráng. Nhưng đột nhiên, thân trên trần của Sư Tôn trong chớp mắt xuất hiện nhiều lỗ thủng, như thể bị súng máy bắn thành tổ ong vậy. Đệ tử kinh hãi, tại sao lại như thế? Ngay lúc đó, thân thể Sư Tôn lại trở về trạng thái bình thường. Chợt hiểu ra đệ tử bỗng nhận ra vì sao lại như vậy. Thì ra chư Phật Bồ Tát thông qua sự thị hiện này để giáo hóa chúng con - những đệ tử Chân Phật.

Mỗi lần chúng con cầu xin Sư Tôn gia trì, Ngài đều gánh chịu nghiệp lực thay cho chúng con. Đệ tử cũng có lúc sinh tâm lười biếng: "Có Sư Tôn gia trì rồi, công khóa và sự tu tập của mình có kém một chút cũng không sao". Nhưng chính vì suy nghĩ như vậy mà vô hình trung đã làm tăng thêm gánh nặng và phiền phức cho Sư Tôn, gián tiếp làm tổn thương Ngài. Thật là có lỗi với Sư Tôn. Vì cứu độ chúng sinh, Sư Tôn không quản vất vả, không một lời than phiền, vô tư quan tâm từng đệ tử. Là đệ tử chúng con càng phải trân quý, yêu thương Sư Tôn, khi cầu xin gia trì phải làm tốt công khóa, sửa chính thân tâm, hiểu rõ nhân quả. Thân tâm thanh tịnh, dù kết quả thế nào cũng phải tâm niệm tri ân. Chỉ có như vậy mới được đại gia trì chân thật, đồng thời giảm nhẹ gánh nặng cho Sư Tôn, quan trọng hơn là nâng cao được chính mình, đi đúng hướng tu hành, thực sự thể hội được thế nào là "mọi sự đều là sự sắp đặt tốt đẹp nhất", thế nào là kính sư chân thật.

Kính trình lên Sư Tôn và cầu xin thầy ấn chứng.
Cầu chúc Sư Tôn Phật an.
Đệ tử Liên Hoa Hiểu Quang quỳ lạy đảnh lễ.
Ngày 26 tháng 2 năm 2024.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) viết một bài kệ:

*Đội chiếc mũ pháp cao nhọn
Một lần nữa
Bước về phía lò Hộ Ma
Đếm đã bốn năm mươi năm
Mỗi pháp hội
Mỗi lần thêm già
Ai bảo mịt mù xa vời
Chư Phật Bồ Tát thiên nữ đều giáng lâm
Đã có tri âm sớm tỏ tường
Hãy làm chứng cho chúng sinh
Thù thắng chưa từng thiếu.*


### 40. Cảm ngộ khi tôi đọc "Tịnh Quang Cứu Cánh Vô Thượng" - Liên Sinh Hoạt Phật giảng Tâm Kinh


Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật vĩ đại đã giảng giải một bộ kinh điển vô cùng thâm sâu là "Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh" tại Seattle Lôi Tạng Tự trong khoảng thời gian từ năm 1991 đến 1993. Nội dung giảng kinh sau đó được biên soạn thành cuốn sách "Tịnh Quang Cứu Cánh Vô Thượng". Sau 30 năm, khi đệ tử đọc lại cuốn sách này, dường như được quay trở về không gian và thời gian khi Ngài đang giảng pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự. Thông qua kiến thức uyên bác và ngôn từ gần gũi của Sư Phật, Ngài đã chỉ dạy chúng con rằng bộ "Bát Nhã Tâm Kinh" này chính là chân lý, là sự tồn tại vượt trên tất cả mọi tồn tại, là đại ý vốn có của vũ trụ mười phương, tất cả hiện tượng đều là sự thể hiện của "Tâm Kinh". Tất cả hiện tượng đều bắt nguồn từ "tính Không", và sự thể hiện của "tính Không" chính là tất cả hiện tượng.

Pháp môn Bát Nhã trong Tâm Kinh là đại pháp thành tựu cuối cùng của con đường Lục độ Đại thừa. Như đã nói, chư Phật ba đời nhờ vào bát nhã ba-la-mật-đa mà đắc được Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác. Không tu bát nhã thì không thể thành Phật. Học Phật không phải là niềm tin mê tín, học Phật đòi hỏi chúng ta phải hoài nghi, phải đặt câu hỏi. Chẳng hạn như vấn đề sinh tử, vấn đề tự ngộ, v.v... đòi hỏi chúng ta phải quan sát thấu đáo, và thành tựu bằng trí tuệ, không phải thành tựu bằng mê tín, điều này phải dựa vào bát nhã. Vì vậy, pháp môn bát nhã là điểm cốt lõi của Phật pháp, dần dần phát triển thành pháp tướng Duy thức, cho đến sự phát huy của bát nhã. Trong sách, Sư Tôn đã giải thích tường tận cho chúng ta về tâm yếu của bát nhã. Pháp môn bát nhã nhờ Bồ Tát Long Thụ hoằng dương rộng rãi mà tỏa sáng rực rỡ.

Giáo pháp của Phật có hai đường hướng, một là lấy bốn diệu đế của Tiểu thừa "khổ, tập, diệt, đạo" làm nền tảng, tất cả mọi thứ trên thế gian đều là khổ. Phiền não cũng là khổ, sinh tử là nỗi khổ lớn, có sinh ắt có tử, sinh lão bệnh tử đều là khổ. Làm sao để thoát khổ? Làm sao để giải thoát? Nếu không thể giải thoát thì sao? Trừ phi đắc đạo, diệt trừ hết thảy vọng tưởng phiền não, dứt sạch nghiệp lực mới có thể giải thoát mọi khổ đau, ly khổ đắc lạc. Nhưng tất cả phàm phu chúng sinh lại lấy khổ làm vui, tích tụ mọi khổ đau, ra sức đuổi theo những điều đau khổ xem như niềm vui hiện thực, vì vậy Đức Phật nói chúng sinh điên đảo.

Ý nghĩa của Quán Tự Tại chú trọng ở chữ "Quán", tức là luôn luôn quán chiếu những ý niệm khởi lên, quan sát sự sinh diệt của từng ý nghĩ, dùng trí tuệ của mình để nhận biết chúng, đây là phương pháp thực hành, cũng chính là "quán chiếu giải thoát". Trên thế gian này, tất cả phiền não của chúng sinh đều do không thấu đáo mà sinh ra phiền não, nếu có thể thấu suốt và buông xả, sẽ không còn phiền não. Cần thường xuyên quán chiếu rằng mọi sự việc trên thế gian này đều là không tướng của vạn pháp. Giống như khi chúng ta tu tập tọa thiền, nếu trong tâm không quán sát tâm niệm của chính mình, không quán tâm, thì chỉ là ngồi trơ ra mà thôi.

"Ngũ uẩn giai không" trong Tâm Kinh nghĩa là thân cũng không, tâm cũng không, thế giới tinh thần và vật chất thảy đều không, thân tâm cũng không, cảm giác cũng không. Không rồi, không còn nữa, nhưng không phải là chết; không có niềm vui, tìm kiếm cảm thọ nơi thân tâm mình cũng chẳng thấy đâu, không còn hiện tượng đau lưng tê cứng, nếu trong tâm thức còn một cảm giác nào đó, đó chính là thọ ấm, cũng phải buông bỏ, vọng tưởng không còn.

Nếu chúng ta cầu thần thông, cầu thanh tịnh, cầu cảnh giới, đều là dục cầu của vọng niệm ý thức. Phải niệm niệm xả, xả tức là bố thí. Ý niệm khởi lên liền buông bỏ, có thể niệm niệm bố thí thì tự nhiên nhẫn nhục, nhẫn tức là cắt đứt ý niệm, phù hợp với pháp nhẫn, tự nhiên tinh tấn. Niệm khởi xả bỏ, đi cũng không đuổi theo, tự nhiên là thiền định. Lục độ này đều ở trong cảnh giới quán tâm, chờ đợi tự tính bát nhã hiển lộ thì soi thấy trong ngoài thảy đều không. Quán tự tại chính là thần chú, quán tự tại chính là đà-la-ni, pháp môn tổng trì.

"Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc." Sau khi đã không rồi thì ngay cả không cũng không giữ lại, nếu còn một cảnh giới không, thì trạng thái thanh tịnh đó vẫn là biến tướng của sắc pháp. Tiểu thừa Thanh Văn chứng đắc "sắc chẳng khác không" rồi vẫn còn phải không luôn cái không đó. "Không chẳng khác sắc", không vẫn còn là tướng thanh tịnh hữu vi, do tâm ý thức biến hiện, vẫn còn chấp trước. "Sắc tức là không, không tức là sắc", sắc pháp này tự thân vốn là không, bản tính của nó vốn không trụ. Bởi vì vốn không nên mới có sắc, có thân thể vật chất, có thế giới vật chất hiện hữu và tác dụng. Tất cả vạn hữu các pháp, tất cả hiện tượng vũ trụ đều do không mà có, không có chân không thì không có duyên khởi của vạn hữu. Giống như căn phòng nếu không trống thì không thể sử dụng, chính vì trống nên mới có nhiều công dụng. Vạn pháp đều từ không sinh ra, từ không diệt đi, không sinh không diệt, chẳng phải là không có gì. Nó có sinh có diệt, đến đi tự tại, sinh diệt tự do. Cho nên Như Lai, không từ đâu đến, không đi về đâu, tự tính vốn không, nên nói "duyên khởi tính không, tính không duyên khởi". Trong sách, Sư Tôn đã giảng giải về tính Không và thực hữu một cách rất thấu đáo, pháp môn bát nhã là pháp môn thành tựu trí huệ tối cao. Chúng ta là người tu hành cần gì phải đi tìm cầu không, tự tính vốn không, không thể nắm bắt được, ngay cả không cũng là do vọng tưởng biến hiện. Hóa ra Bồ Tát Đại thừa không phải đợi làm không vọng tưởng mới chứng đạo, mà là dùng bát nhã quán chiếu, thấy ngay tưởng tức là không.

Trong Tâm Kinh mà Sư Tôn giảng giải đã chỉ cho chúng ta thấy Bồ Tát Quán Tự Tại đã giảng giải tỉ mỉ về pháp môn bát nhã như thế nào, không gì khác hơn là muốn tất cả chúng sinh buông xả, thực sự buông xả để thực sự giải thoát và thực sự tự tại. Ban đầu Ngài giảng từ tứ diệu đế, cuối cùng lại quy kết về nó. "Vô khổ tập diệt đạo, vô trí diệc vô đắc", khi phiền não sinh lão bệnh tử đều không còn, thì cần gì đến trí tuệ hay không trí tuệ như một liều thuốc để chữa trị? Và còn có gì là thành bại được mất? "Vô trí diệc vô đắc" - đắc được cái gì? Vốn dĩ không có gì để đắc. "Dĩ vô sở đắc cố, Bồ Đề Tát Đỏa, y bát nhã ba-la-mật-đa cố, tâm vô quái ngại" - khi tu hành đến bước này, không trí tuệ cũng không đắc, tức là đã chứng được bát nhã. Từ quán mà khởi tu, cuối cùng đã soi thấu, vì thế "tâm vô quái ngại", nghỉ ngơi cũng tốt, làm việc cũng tốt, xuất gia cũng tốt, tại gia cũng tốt, tất cả tâm, tất cả pháp, không hề chướng ngại. Lúc này đối với bất kì cảnh giới nào cũng không còn tâm sợ hãi, không sợ sinh tử, không sợ luân hồi. Chính vì đã ngộ được đại trí tuệ của tự tính bát nhã, nên không còn điên đảo mộng tưởng, rốt ráo Niết bàn, thành tựu Phật quả. Lúc này chúng ta phát tâm bồ đề lớn để giác ngộ chúng sinh hữu tình.

Cuối cùng, Sư Tôn nhấn mạnh rằng toàn bộ kinh này giảng về tính Không, đồng thời mọi người trong quá trình tu tập cũng đã có sự giác ngộ, nhưng cần phải thực chứng nó một cách thấu đáo, đó gọi là thực chứng, thực chứng đến cuối cùng sẽ trở thành khai ngộ. Hành động, lời nói thường ngày của chúng ta có giống Phật không, hãy nỗ lực thực hành "tôi chính là Phật". Nhìn tất cả chúng sinh trong thế gian đều là Phật, đây là bình đẳng không phân biệt, không có tình yêu đặc biệt, cũng không có lòng hận thù đặc biệt. Tự tại chân chính, không có phiền não, không lo không nghĩ, thực hành tư tưởng này mới là chân lý viên mãn nhất. Vì thế mới gọi là "Vô thượng chính đẳng chính giác, A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề".

Ngu đệ tử Đại Bàng vô cùng biết ơn và may mắn được sống cùng thời với Phật, được làm đệ tử của Ngài, tu hành Chân Phật Mật Pháp, lắng nghe Phật pháp, thâm nhập kinh tạng, liễu ngộ chân lý tối thượng. Kết hợp với việc Sư Phật đang giảng giải Kinh Duy Ma Cật càng giúp dễ dàng hiểu được chân đế của trí tuệ bát nhã.

Xin viết một bài thơ ngắn:

Vạn tượng vốn không tướng,
Tâm cảnh tự thanh minh.
Giác ngộ ngay hiện tại,
Liễu ngộ tức bồ đề.
Thế gian như ảo ảnh,
Khổ lạc đều tùy duyên.
Không có đều vô ngại,
Tự tại quán tự tại.

Đệ tử kính chúc Sư Tôn Sư Mẫu Phật thể an khang, trường thọ trụ thế, hằng chuyển pháp luân, phổ độ chúng sinh, đệ tử thành tâm thỉnh Phật trụ thế!
Ngu đệ tử Liên Hoa Đại Bàng đảnh lễ kính bái.
Ngày 12 tháng 6 năm 2024.


### 41. Cảm nhận thiền định


Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật tôn quý và kính yêu nhất,

Phật pháp của thầy thật vô biên, thật không thể nghĩ bàn! Thật đáng tán thán biết bao! Mỗi lần con tham dự pháp hội Hộ Ma do thầy chủ trì, con đều tán thán không ngớt!

Vào lúc 6 giờ tối Chủ nhật ngày 3 tháng 3 theo giờ Đông Bắc Hoa Kỳ, sau khi con tham dự trực tuyến pháp hội Hộ Ma Trường Thọ Phật - Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Pháp Vương giảng Kinh Duy Ma Cật ngày 3 tháng 3 năm 2024, tâm con vẫn còn dâng trào! Tán thán không ngừng! Vì thế con lại hứng khởi viết thư đến thầy!

Trước khi viết thư đến thầy, trước tiên con xin thành tâm đảnh lễ tri ân. Kính chúc thầy thân thể khỏe mạnh! Trường thọ trụ thế!

Vào ngày mùng 3 tháng 3, lúc 6 giờ tối theo giờ Đông Bắc Hoa Kỳ, con và sư huynh như thường lệ đã đúng giờ ngồi trước màn hình máy tính, tham dự buổi giảng Kinh Duy Ma Cật (pháp hội Hộ Ma Trường Thọ Phật) của thầy.

Trong lúc nghi lễ Hộ Ma đang diễn ra, khi bàn tay Phật của thầy đang nhẹ nhàng, biến hóa vô cùng, diễn hóa những thủ ấn pháp lực vô biên, triệu thỉnh chư vị Trường Thọ Phật Bổn tôn, chư Bồ Tát vũ trụ, chư vị Không Hành Mẫu, trong tích tắc, con bỗng như bị điện giật, trong tâm chợt cảm thấy "vụt" một cái, liền nhập định ngay lập tức!

Con ngồi bất động như một ngọn đồi nhỏ. Tuy nhiên, thật bất ngờ là sư huynh ngồi bên cạnh tưởng con ngủ gật nên đã dịu dàng, nhẹ nhàng dùng tay đẩy chân trái con mấy cái.

Con miễn cưỡng xuất định.
Con tưởng rằng trạng thái nhập định ngắn ngủi tuyệt vời này đã kết thúc. Con vẫn tập trung chú ý vào pháp hội Hộ Ma do thầy chủ trì như chưa có chuyện gì xảy ra.
Tuy nhiên thật bất ngờ, con lại nhập định một lần nữa!

Khi pháp hội Hộ Ma kết thúc, khi thầy bắt đầu khai thị, trong lúc con đang chăm chú lắng nghe lời khai thị của thầy, bỗng nhiên con đang bình thường thì mở mắt và lại nhập định!

Lần nhập định này, dường như đã được định sẵn, hơn nữa còn như có một "tha lực" vô hình đang chờ đợi con, nhất định phải hợp nhất với con, ban cho con sự tương ứng! Thật vô cùng, vô cùng thù thắng và vô cùng, vô cùng không thể nghĩ bàn!

Điều không thể nghĩ bàn hơn nữa là, toàn bộ khí trong cơ thể con như vạn ngựa phi nước đại, như sóng to gió lớn! Không ngừng ma sát mạnh mẽ, cuộn trào, tuần hoàn bên trong cơ thể con; tê tê, vô cùng thoải mái...!

Luồng khí này đi lên qua trung mạch, lên đến đầu và đỉnh đầu, rồi lan tỏa xuống hai cánh tay đến tận đầu ngón tay, sau đó từ từ lan tỏa xuống hai chân đến tận lòng bàn chân, cảm giác ấm áp và thoải mái đó thật vô cùng không thể nghĩ bàn và khó tin đến nỗi không thể diễn tả bằng lời!

Điều còn khó diễn tả hơn nữa là, khi con như tảng đá giữa núi rừng, tứ chi bị trói chặt, cứng như sắt, nhưng toàn thân lại nhẹ như lông hồng, thư thái như chim én ngồi đó, ngồi đó, đắm chìm trong cảnh giới vô ngã của Tam ma địa, con dần dần không còn là chính mình nữa, mà trở thành một vị Phật Bồ Tát sắc đỏ trang nghiêm vô cùng, sống động như thật, khoác thiên y lụa là chồng lớp, và toàn thân con tỏa hào quang rực rỡ! Con vừa kinh ngạc vừa tán thán!

Con chú tâm lắng nghe rõ ràng pháp hội Hộ Ma do thầy chủ trì cho đến khi kết thúc, đến lúc thầy chuẩn bị chào tạm biệt các đệ tử trực tuyến, con mới bất đắc dĩ phải xuất Tam ma địa để chào tạm biệt thầy.

Tuy nhiên, thật bất ngờ là sau khi con xuất định và chào tạm biệt thầy, khi con đang tràn đầy pháp hỷ đối diện đàn thành và thành tâm cảm ơn tất cả chư Phật Bồ Tát, trong tích tắc, con lại lập tức biến thành một vị Phật Bồ Tát sắc đỏ vô cùng trang nghiêm, sống động như thật; và đôi tay con tự động lặp đi lặp lại thủ ấn pháp giới định của Bổn tôn Hộ Ma (Trường Thọ Phật) mà thầy vừa mới chủ trì xong!
Thật vô cùng không thể nghĩ bàn!

Con đã thật sự trải nghiệm, chứng thực được điều thầy đã từng khai thị:
"Tương ứng một vị, mọi vị tương ứng" quả thật không sai!

Vì vậy, sau khi con nhất tâm bất loạn theo thầy học Phật, tích cực tu học, tu tâm dưỡng tính, nỗ lực kiên trì thực hành thiền định, thực tu Chân Phật Mật Pháp của thầy và từng giây từng phút tưởng nhớ đến Căn bản Truyền thừa Thượng sư là thầy, cầu xin thầy trụ đỉnh, mà được may mắn tương ứng với Địa Tạng Vương Bồ Tát, Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, Thời Luân Kim Cang, Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát cùng Căn bản Truyền thừa Thượng sư - Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật; và nay lại được tương ứng với Trường Thọ Phật!

Con cũng thật sự trải nghiệm được điều thầy đã dạy:
"Tu hành có cái gọi là tự lực và cũng có cái gọi là tha lực".

Và con đã may mắn như vậy đó, vừa nương vào tự lực của bản thân, vừa được tha lực từ bi gia trì của chư Phật Bồ Tát; lần này, sau khi tham dự pháp hội Hộ Ma Trường Thọ Phật - Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Pháp Vương giảng Kinh Duy Ma Cật ngày 3 tháng 3 năm 2024 do thầy chủ trì với pháp lực vô biên, thù thắng, con lại may mắn được hợp nhất, tương ứng với Trường Thọ Phật!

Con càng thật sự trải nghiệm được điều thầy viết trong văn tập số 155 "Lưu vực ánh trăng", phần "Đi về cõi Ta Bà", thầy hỏi Phật:
"Có được thấy Phật chăng?"
Phật đáp:
"Nhất tâm bất loạn, ắt được thấy Phật."

Sau đó, thầy viết trong sách:
"Điều thầy muốn nói với mọi người là, để được diện kiến Phật, được nghe Phật thuyết pháp khai thị, chỉ cần nhất niệm, nhất tâm, đây là diệu lý tối thượng thừa, đây là sự tương ứng chân thật nhất, rốt ráo nhất." Đó là lời dạy chân thật không hư giả.

Hiện nay, con sống trên con đường học Phật rộng lớn tràn ngập ánh sáng vàng, không phiền não, không lo âu, vui vẻ tự tại, tâm hồn thư thái!
Con vô cùng, vô cùng biết ơn!
Con vô cùng, vô cùng tán thán!

Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật tôn quý và kính yêu nhất,
Con theo thầy học Phật hơn 30 năm đến nay, con vô cùng biết ơn thầy không thể báo đáp!
Thầy thật sự không thể nghĩ bàn!
Thầy thật sự có pháp lực vô biên đại vô úy!
Vì có thầy, hôm nay, con mới được sống trong sự biết ơn và tán thán!
Con chân thành biết ơn thầy! Và chân thành cầu chúc thầy thân thể khỏe mạnh! Vạn thọ vô cương! Trường trụ thế gian cùng Sư Mẫu thân thể khỏe mạnh! Tinh thần sảng khoái! Cuộc sống vui vẻ!

Ngu đệ tử Liên Hoa Thái Hồng trợ giảng đảnh lễ chắp tay tạ ơn.
Viết ngày 25 tháng 3 năm 2024.
Vermont, Đông Bắc Hoa Kỳ.

**(Hết.)**

---

---
# File: sach-tam-linh/303-khe-nhan-nhu-pham-tran.md
# Title: 303. Khẽ nhắn nhủ phàm trần
---

## Khẽ nhắn nhủ phàm trần


🪷 Những lời nhắn nhỏ

Văn tập: 303
Xuất bản: 07/2024
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


Ngày hôm đó.
Tôi muốn đặt tên cho quyển sách thứ 303.
Tôi nghĩ đến một đoạn trong Kinh Hoa Nghiêm:
"Nguyện cho tất cả chúng sinh, đạt được thân trí tuệ, tự tại trong cõi bất tử. Nguyện cho tất cả chúng sinh, đạt được thân biển báu, ai thấy cũng được lợi ích, không ai qua lại vô ích. Nguyện cho tất cả chúng sinh, đạt được thân hư không, phiền não thế gian, không thể nhiễm mắc."
Nguyện thứ nhất — có trí tuệ, được tự tại.
Nguyện thứ hai — có pháp bảo, được lợi ích.
Nguyện thứ ba — có tâm không, được vô phiền.

Quyển sách này của tôi đã có phương hướng, tôi muốn đặt cho nó một cái tên đẹp.
Vì chúng sinh đang ở trong hồng trần, nên trước tiên tôi nghĩ đến hai chữ "hồng trần".

Hơn nữa,
Tôi nghĩ đến việc thuyết pháp cho chúng sinh, vậy thì dùng hai chữ "thủ thỉ" đi! "Thủ thỉ" rất tao nhã.
Tên sách sẽ là "Thủ thỉ với hồng trần", thế nào?
Thượng sư Liên Kỳ nói:
"Sư Tôn trước đây có một quyển sách tên là 'Rời xa chốn hồng trần'."
Tốt! Vậy thì đổi thành "phàm trần", cùng một ý nghĩa nhưng khác chữ.
Sư tỷ Ngọc Đình nói:
"Một quyển sách thời kỳ đầu của Sư Tôn, rất gây tiếng vang, đó là 'Thủ thỉ trong vườn mộng'."
Tôi nói:
"Vậy không dùng 'thủ thỉ', dùng 'hô hoán' đi! Gọi là 'Hô hoán phàm trần', được không?"
Thượng sư Liên Hương chen vào:
"Hô hoán nghe như la hét, hơi gượng, dùng 'nhắn nhủ' thì hợp lý hơn!"
Sư tỷ Ngọc Đình nói:
"Sư Tôn trước đây có một quyển sách, tên là 'Khe khẽ nhắn nhủ'."
Ồ! Lại trùng nữa!

Dùng 'Bút ký phàm trần' thì bút ký quá nhiều rồi! Cũng trùng vậy.
Dùng 'Lời cảnh báo phàm trần' thì không văn học!
Dùng 'Tùy bút phàm trần' tùy bút cũng nhiều vậy!
Thật đấy, đặt tên cho một quyển sách cũng là vấn đề lớn, cuối cùng, thôi kệ đi!
'Khe khẽ nhắn nhủ' bỏ bớt một chữ 'khe' đi vậy!
Và thế là,
"Khẽ nhắn nhủ phàm trần" đã ra đời! Phụ đề là "Những lời nhắn nhỏ".
Vậy đi!
Tên sách đã được quyết định như vậy!

🌟

Cách viết của cuốn sách này là nghĩ đến cái gì thì viết cái đó, nhưng, ít nhất phải mang lại lợi ích cho chúng sinh.

Tôi (Sư Tôn Lư) đã 80 tuổi.
Tu hành hơn 50 năm.
So với người thường, có được chút ít kinh nghiệm, chút ít tâm yếu, chút ít thành tựu không thể gọi là thành tựu.
Viết ra đây, để có một lời nhắn nhủ với mọi người.
Phương thức biểu đạt của cuốn sách này, tôi dùng thể loại văn học mà tôi yêu thích, tiểu phẩm và thơ ngắn.
Có thực tu.
Có vấn đáp.
Có ý nghĩa.
Chúc đọc sách được lợi ích!

Địa chỉ liên lạc của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn

**Sheng-yen Lu
**17102 NE 40th Ct.,
Redmond, WA 98052
U. S. A.


### 01. Bổn tôn là ai?


Đệ tử Chân Phật Tông đều biết, Sư Tôn Lư có ba vị Bổn tôn:
Diêu Trì Kim Mẫu (Bổn tôn khởi phát).
A Di Đà Phật (Bổn tôn bản địa).
Địa Tạng Bồ Tát (Bổn tôn nguyện lực).

Đầu tiên là Diêu Trì Kim Mẫu, Ngài bảo tôi ra ngoài độ chúng sinh, cả đời này, tôi đều nghe theo Ngài, đây là sự khởi phát.

Tôi biết mình là đồng tử hóa sinh từ hoa sen, là Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử ở Ma Ha Song Liên Trì, là hóa thân của A Di Đà Phật, nên A Di Đà Phật là bản địa của tôi.

Hơn nữa,
Tôi phát nguyện như Địa Tạng Bồ Tát, địa ngục chưa trống thề không thành Phật. Vì vậy Địa Tạng Bồ Tát là Bổn tôn của tôi, là Bổn tôn nguyện lực.

Tôi xin nói với mọi người:
Có một bài hát, trong đó có một đoạn nhỏ:
Khi nhớ Người, Người ở chân trời.
Khi nhớ Người, Người ở trước mắt.
Khi nhớ Người, Người ở trong tâm trí.
Khi nhớ Người, Người ở trong tâm điền.

Tôi nói:
Đây là Phật ca, không phải tình ca, quán tưởng của Mật giáo chính là đón Bổn tôn từ "chân trời" về "tâm điền" của hành giả.
Sau đó,
Không hai không khác, tự mình trở thành Bổn tôn, hợp nhất làm một, hành giả biến thành Bổn tôn.
Bây giờ chúng ta đã hiểu rồi phải không!
Bổn tôn là ai?
Bổn tôn chính là "tôi". Bổn tôn là "Lư Sư Tôn".

🌟

Xin thông báo với mọi người một thông tin đáng kinh ngạc:
Tâm tính của chúng ta chính là Phật tính.
Chúng ta là Phật.
Điều này hoàn toàn chính xác.
Mật giáo chỉ ra rằng,
Phật chính là truyền thừa, Phật chính là bổn tôn, Phật chính là tự thân, tất cả mọi thứ đều là chính mình.
Có một truyền thừa là chân thật nhất, đó là truyền thừa "pháp nhĩ bản nhiên".
Phật là chính mình.
Pháp là chính mình.
Tăng là chính mình.
Vì vậy đó là "tự quy y".

Từ một bản thân vô minh, làm thế nào để tiếp nhận giáo pháp về Phật tính trí huệ.
Tu trì giáo pháp này một cách chân thật.
Cuối cùng chứng đắc:
Vô thượng chính đẳng chính giác.
Lúc này,
Tâm.
Phật.
Chúng sinh.
Ba thứ không khác biệt.

Về nguyên tắc, Phật Thích Ca Mâu Ni là vị đạo sư vĩ đại nhất của chúng sinh chúng ta, Phật Đà dạy cho chúng ta phương pháp, và phương pháp này chính là phương pháp hiểu rõ tâm tính của chính mình.
Chúng ta đặt tên cho những phương pháp này là:
Đại Thủ Ấn. (Bạch giáo)
Đại Viên Mãn. (Hồng giáo)
Đại Uy Đức. (Hoàng giáo)
Đại Thắng Huệ. (Hoa giáo)
Hiện nay, trong thế gian này chỉ có một người sở hữu truyền thừa của bốn đại giáo phái này. Người đó chính là Lư Sư Tôn, chính là Liên Sinh Hoạt Phật, chính là tôi.
Lư Sư Tôn đã biết rõ tự tính, giáo hóa chúng sinh biết rõ tự tính, vì vậy tôi là Đại Trì Minh Căn Bản Thượng Sư.
Thiện tai!


### 02. Hành giả cần có sư phụ không?


Có người hỏi tôi:
"Tu hành nhất định phải có sư phụ phải không?"
Tôi đáp:
"Đúng vậy."
Tôi nói:
"Nếu không có sự chỉ dẫn của sư phụ, giống như người mù sờ voi, đồng thời sẽ đi rất nhiều đường oan uổng, dù có đi vòng thế nào, cũng không thể đến được đích."

Ví dụ như một bài kệ đã nói:
Tâm chính là Phật, nhưng không biết làm sao để nhận ra?
Ý niệm là muốn tu hành, nhưng làm sao tu?
Tạp niệm đến cùng với cuộc sống, làm sao để loại bỏ?
Rất nhiều tâm yếu khẩu quyết, nhưng tôi không biết sử dụng?
………….
Vì vậy, nhất định phải có thượng sư.
Cầu xin thượng sư từ bi hướng dẫn, cầu xin thượng sư gia trì, thực tu pháp mà thượng sư dạy.
Như vậy, minh giác bản nhiên mới có thể hiển hiện.

🌟

Có những người hoàn toàn không tin vào Phật pháp.
Họ hỏi:
"Có luân hồi không?"
Tôi đáp:
"Xuân hạ thu đông chính là luân hồi."
Họ hỏi:
"Có nhân quả không?"
Tôi đáp:
"Trồng đậu được đậu, trồng dưa được dưa, đó chính là nhân quả."
Họ hỏi:
"Có báo ứng không?"
Tôi đáp:
"Ăn thức ăn gì, sẽ trở thành người như thế."
Họ hỏi:
"Có thiên đường địa ngục không?"
Tôi đáp:
"Hạnh phúc chính là thiên đường, đau khổ chính là địa ngục."
Họ hỏi: 
"Tại sao chúng ta phải tu hành?"
Tôi đáp:
"Nếu không tu hành, nỗi đau khổ chắc chắn sẽ không tự dừng lại."

Những câu trả lời này của tôi, đơn giản và súc tích, bạn nên tin tưởng, nếu vẫn không tin, tôi cũng chẳng có cách nào. Nhưng, tôi sẽ đợi bạn từ kiếp này sang kiếp khác, dù là chúng sinh phàm phu u mê, tôi cũng sẽ đợi đến cùng.

Thành thật mà nói:
Bản thân tôi cũng đã quy y với nhiều sư phụ, ví dụ:
Đạo sư Ấn Thuận.
Pháp sư Lạc Quả.
Pháp sư Đạo An.
Trong Mật giáo:
Hòa thượng Liễu Minh.
Thượng sư Sakya Chứng Không.
Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16.
Thượng sư Thubten Dhargye.
Và vô số sư phụ khác.

Trong quá trình học tập, bản thân tôi đã từng bị sư phụ trách mắng rất nhiều.
Không ít người đã mắng tôi.
Thậm chí viết sách phê bình.
Nhưng, con người tôi còn có một ưu điểm nhỏ, tôi không bao giờ phản bác, cũng không dám trách sư phụ.
Sư phụ mắng bạn, chắc chắn là vì quan tâm đến bạn. Tôi sẽ càng nghe lời sư phụ, có lỗi thì sửa, cầu xin gia trì.
Tôi chỉ biết lòng biết ơn! (Hãy nhớ "Sự Sư Pháp Ngũ Thập Tụng".)
Có như vậy mới có thành tựu!


### 03. Tôi thường nghĩ đến vô thường


Trong tư duy của tôi, có hai chữ khiến tôi "kinh hồn động phách", hai chữ đó chính là "vô thường".
Tôi nói: "Sự ra đời của tôi chính là vô thường."
Người ta hỏi:
"Sự ra đời sao lại vô thường?"
Tôi đáp:
"Khi tôi chào đời, toàn thân được quấn bởi sợi tơ trắng, chỉ biết rằng bên trong lớp tơ trắng có một đứa trẻ. Sau khi rửa sạch những sợi tơ trắng, tôi mới hiện ra, đó chính là vô thường. Xin hỏi, trên đời này có đứa trẻ nào khi sinh ra, toàn thân lại quấn đầy sợi tơ trắng không?"

Tôi lại nói:
"Sự ra đời của tôi có sự vô thường thứ hai."
Người hỏi:
"Vô thường thứ hai là gì?"
Tôi đáp:
"Tôi sinh ra khi mới bảy tháng."
"Đó là sinh non!"
"Đúng vậy! Mẹ tôi kể rằng Lư Thắng Ngạn là đứa trẻ sinh non. Nhưng cha tôi không tin, làm gì có chuyện kết hôn bảy tháng đã sinh con? Sau đó, tôi được bà ngoại nuôi trước, rồi chuyển cho dì tôi nuôi dưỡng."
Cho đến nay, tôi vẫn không biết tại sao mình lại sinh ra khi mới bảy tháng?
Cha tôi vẫn luôn không thừa nhận.
Đây không phải là vô thường sao?
(Ghi chú: Tôi chưa từng kiểm tra DNA, vì gia đình sợ kết quả.)

🌟

Người hỏi:
"Tại sao Lư Sư Tôn thường xuyên nghĩ đến vô thường?"
Tôi đáp:
"Tôi thường đến nghĩa trang, nhìn thấy nghĩa trang, liền nghĩ đến vô thường."
Tôi nói:
"Hãy đến phòng bệnh nặng trong bệnh viện mà xem, sẽ khiến bạn nghĩ nhiều hơn về vô thường. Khi nhìn thấy tai nạn máy bay, tàu thuyền lật úp, tai nạn xe cộ, thảm họa đất nước lửa gió, chiến tranh... Tất cả đều khiến tôi nghĩ đến vô thường, và còn vô số vô số tai nạn bất ngờ, tất cả đều là vô thường!"
"Còn gì nữa không?"
Tôi nói:
"Thời trai trẻ tôi đẹp trai lắm, bây giờ tại sao lại thế này? Khi tôi còn trẻ, thân thể khỏe mạnh, bây giờ tại sao đi đứng lại già nua? Tôi có lẽ không thể sống được lâu, khi tôi ra đi, một xu cũng không mang theo được, đương nhiên tôi sẽ nghĩ về vô thường."

Giờ đây tôi đã biết:
Khổ vì sinh.
Khổ vì bệnh.
Khổ vì già.
Khổ vì chết.
Tôi không chỉ nghĩ về bản thân, mà còn nghĩ về người khác. Hóa ra không cần phải so sánh, tất cả mọi người đều giống nhau. Từ tổng thống cho đến người bán hàng rong, tất cả đều như nhau. Người giàu, người nghèo cũng vậy. Đẹp và xấu cũng giống nhau, nổi tiếng hay vô danh cũng như nhau.
Giống nhau ........... giống nhau ........... giống nhau ........... giống nhau.
Đã là giống nhau, vậy chúng ta sống trên đời này, để làm gì? 
Phật Thích Ca Mâu Ni dạy chúng ta:
Các hành vô thường.
Các pháp vô ngã.
Niết bàn tịch tĩnh.
Một thật tướng ấn.
(Đây là bốn chân lý. Chúng ta thể nghiệm được khổ, không, vô thường, vô ngã.)

Vì vậy,
Tôi nghĩ đến cách vượt thoát, ngoài việc vượt thoát nó ra, không còn phương pháp nào khác.
Muốn vượt thoát chỉ có tu hành, ngoài việc sửa đổi hành vi của mình, còn phải hiểu được cách chấm dứt sinh tử.
Tôi cần hiểu thực tướng của sinh mệnh.


### 04. Từ vô minh đến minh


Hầu hết nhân loại chúng ta đều sống trong vô minh.
Do vô minh mà thế giới này ngày càng trở nên tồi tệ hơn. Đây là hậu quả từ những hành vi bắt nguồn từ vô minh.
Ví dụ:
Nạn chặt phá rừng đã phá hủy hệ sinh thái và khiến môi trường sống của mọi sinh vật lâm vào tình cảnh khó khăn.
Đất bị xói mòn, các chất hóa học đã phá hủy độ màu mỡ của đất, dẫn đến sa mạc hóa và lũ quét.
Nước đã sớm bị ô nhiễm bởi virus, ký sinh trùng, hợp chất hóa học và mọi loại chất thải.
Không khí đã mất đi sự trong lành, những ống khói nhà máy độc hại thải ra đủ loại khói độc.
Bụi bặm.
Khói độc.
Chất thải hóa học.
Đốt rác thải.
………….

Do ô nhiễm không khí, nước và đất, các bệnh truyền nhiễm ngày càng phổ biến, gây sốt cao, viêm phổi, viêm gan, viêm màng não, viêm thận, tiêu chảy.
…………
Những thứ chúng ta ăn vào đều chứa:
Chất tẩy rửa.
Chất bảo quản.
Thuốc trừ sâu.
Chất tạo nạc.
Thực phẩm tổng hợp. (thực phẩm tái chế)
v.v..
Có tới tám mươi bốn nghìn loại bệnh đáng sợ đang chờ đợi chúng ta. Tất cả đều do vô minh của con người gây ra.
Hạn hán, lũ lụt, thời tiết cực đoan, hiện tượng El Niño đã gây ra đói nghèo, tội phạm, sa đọa, gia đình tan vỡ, dịch bệnh, nạn đói. ………… Những nỗi khổ này đều do vô minh gây ra.

Còn có vô minh về mặt tinh thần:
Tham lam.
Sân hận.
Si mê.
Đố kỵ.
Thù hận.
v.v…
Thế giới bên ngoài, đất, nước, ánh mặt trời, gió, bầu trời, đã mất đi sự cân bằng. Tâm hồn bên trong cũng mất đi sự cân bằng như vậy.

Tôi muốn nói với mọi người ở đây:
Hiện giờ, muốn chữa lành những vết thương này, chỉ có Phật pháp mà thôi. Để phục hồi hệ sinh thái, cần bảo vệ thực vật, động vật. Làm sạch nước, không khí, đất đai và bầu trời.

Bên trong cần:
Thân thanh tịnh.
Khẩu thanh tịnh.
Ý thanh tịnh.
Một thế giới như vậy mới là tịnh thổ nơi thiện quả xuất hiện. Nếu không sẽ là chìm đắm.

Chúng ta học tập Phật pháp, biết được thế nào là vô minh, thế nào là minh.
Vô minh là không hiểu rõ chân lý.
Minh là hiểu rõ chân lý.
Hiểu rõ đời người là huyễn, đời người là mộng, hiểu rõ khổ, không, vô thường, vô ngã.
Cuối cùng hiểu rõ: Vô sở đắc!
Khi đó, tất cả phiền não và chấp trước đều có thể đoạn tận, đây chính là: Ngộ vô sở đắc, đốn đoạn phiền não, lúc này mới có thể thanh tịnh bên trong.
Còn thế giới bên ngoài, từ cá nhân đến tập thể, đến quốc gia, bảo vệ nguồn tài nguyên phong phú của thế giới. Vì lợi ích của chúng sinh, thực hành nền văn minh từ bi, như vậy thế gian mới được cứu.


### 05. Bền lòng và nghị lực


Tôi (Lư Sư Tôn) từng nói rằng:
"Tôi không có ưu điểm gì, rất bình thường, nhưng, chỉ có nghị lực mà thôi!"

Tôi đã đọc tiểu sử của Virupa.
Ông trì mật chú hàng chục năm.
Không có cảm giác gì, không một chút cảm ứng nào, tự cảm thấy trì chú vô ích, lòng đầy tuyệt vọng.
Ông cảm thấy không còn hy vọng, liền ném tràng hạt trì chú vào hố phân.

Đêm đó, Không Hành Mẫu hiện thân động viên ông, thành tựu đã ở trước mắt, đừng từ bỏ, hãy có nghị lực.
Virupa rơi nước mắt, nhặt lại tràng hạt từ hố phân, rửa sạch xông hương, và bắt đầu trì mật chú trở lại.
Về sau cuối cùng ông đã thành công.

Lại nữa:
Tiến sĩ Trương Trừng Cơ đã viết tiểu sử Milarepa.
Milarepa đã theo học với đạo sư Marpa.
Marpa đã cho ông nếm mùi đau khổ.
Đấm đá.
Chửi mắng.
Không truyền pháp quán đảnh cho ông.
Bảo ông xây nhà, xây xong lại phá, phá xong lại xây, xây xong lại phá, phá xong lại xây.
Nhà hình vuông.
Nhà hình thoi.
Nhà hình tam giác.
Nhà hình chữ nhật. ………...
Milarepa bị thương khắp người, đầy vết sẹo, gần như không thể chịu đựng nổi.
Nếu là người khác, hẳn đã bỏ chạy từ lâu. Nhưng vì chính pháp, ông đã chịu đựng mọi sự sỉ nhục.
Về sau,
Milarepa đã thành tựu pháp Nội hỏa, trở thành một vị tổ sư vĩ đại, nghị lực của Milarepa thật phi thường.

🌟

Tôi thành thật nói với mọi người:
Tôi tu tập "minh điểm vô lậu", cũng đã tu luyện nhiều năm công phu.
Một vài điểm quan trọng:
Giữ vững minh điểm.
Nâng minh điểm bay qua núi Tu Di. (danh từ)
Có nhiều khẩu quyết:
Một, chuyển di.
Hai, biến đổi sáu thế Sakya.
Ba, pháp thở ra vào.
Bốn, pháp quán tưởng.
………….

Tôi phải có dục niệm trước, khi minh điểm sắp phóng ra, lập tức giữ chặt minh điểm. (thở ra vào)
Tiếp theo là nâng giữ minh điểm thật chắc, lúc này tâm niệm là sự thanh tịnh của Không. (thở ra vào)
Chuyển từ dục vọng sang cái Không thanh tịnh, là khẩu quyết rất quan trọng.
Thân thể và các chi là biến đổi sáu thế Sakya.
Chuyển di ý niệm rất quan trọng. (quán tưởng)
Từ dục niệm đi vào Không thanh tịnh.
Cứ tuần hoàn như vậy, dục niệm và thanh tịnh luân phiên lẫn nhau hết lần này đến lần khác.
Cho đến khi dục và tịnh đều quên.
Hành giả hợp nhất với Bổn tôn trong hư không.
Sinh ra:
Đại lạc.
Quang minh.
Tính Không.

Sự tu trì của tôi hoàn toàn nhờ vào nghị lực, không có nghị lực thì pháp này không thể thành công được.
Thực ra chỉ có pháp "minh điểm vô lậu" mới có thể tu thành thân kim cang bất hoại, nhưng không dễ dàng gì! (Nghị lực của tôi là số một.)


### 06. Nghị lực sinh ra thế nào?


Tôi (Lư Sư Tôn) có ba việc phải làm mỗi ngày:
Một, viết văn. (Mỗi ngày một bài viết nhỏ.)
Hai, tu pháp. (Tu tập hàng ngày.)
Ba, vẽ tranh. (Mỗi ngày một bức tranh.)
Tôi có nghị lực dồi dào, ngày nào cũng làm như vậy.

Có người hỏi tôi:
"Nghị lực sinh ra thế nào?"
Tôi đáp:
"Sư phụ tôi nói, mỗi ngày phải làm những việc có ý nghĩa. Làm tốt những việc nhỏ mỗi ngày chính là làm việc lớn."
Tôi lại nói:
"Thật sự đó không phải là việc dễ dàng. Nhưng nhất định phải rèn thành thói quen, khi hoàn thành trọn vẹn ba việc này, cuộc sống sẽ cảm thấy rất trọn vẹn, nếu không sẽ là lãng phí thời gian."

Tôi nghĩ đến cuộc sống rất ngắn ngủi.
Thời gian trôi qua nhanh chóng.
Con người không thể sống vô ích.
Thực ra, sinh mệnh con người có được không dễ dàng, đã được làm người rồi mà lãng phí cuộc đời này thì thật đáng tiếc.
Cần phải vui vẻ.
Đừng đọa lạc.
Sự lười biếng là căn bệnh chung của con người, nhất định phải vượt qua nó, khi vượt qua được thì mới có giá trị.

Tôi nói:
"Con người vốn cần tập thể dục mỗi ngày, đó là điều rất tốt. Nếu không tập thể dục, lười biếng không làm, thân thể sẽ trở nên cứng nhắc, không dẻo dai, và cuối cùng sẽ hư hỏng, vì vậy tập thể dục rất quan trọng."
Đây cũng là nghị lực.
Nhờ nghị lực viết sách, tôi viết mỗi ngày, mới có thành tựu 300 cuốn sách.
Nhờ nghị lực tu tập, tôi hợp nhất với Bổn tôn, chú ngữ có sức mạnh, thành tựu Tam ma địa.
Tôi vẽ một bức tranh mỗi ngày, mới có thể tạo ra hàng trăm, hàng nghìn, hàng vạn tác phẩm, và nguồn cảm hứng tuôn trào không ngừng.
Có thể chuyên tâm.
Trí óc linh hoạt.

Vì vậy, nghị lực vô cùng quan trọng, nhờ đó mới có tâm lâu dài, không bị đầu voi đuôi chuột.
Tôi nói: "Bất kì người thành tựu nào cũng đều có nghị lực dồi dào."
Tôi xem viết sách, tu pháp, vẽ tranh đều là công khóa tu tập Phật pháp.
Bởi vì mọi việc đều là Phật pháp!

Về viết văn, đó chính là thuyết pháp bằng văn tự.
Về tu pháp, đó chính là sự thanh tịnh của thân khẩu ý.
Về vẽ tranh, đó chính là nghệ thuật Phật pháp.
Ba việc này đều là Phật pháp tu hành chuyên nhất, bởi vì hành giả phải tập trung tinh thần, dừng hết mọi tạp niệm. Khi chúng ta viết văn, tập trung vào nét bút, không thể viết sai chữ, không thể viết nhầm chữ, đương nhiên phải nhất tâm.

Tu pháp cần nhất tâm, không được có vọng niệm, điều này ai cũng biết.
Quán tưởng chuyên nhất.
Trì chú chuyên nhất.
Nhập Tam ma địa chuyên nhất.
"Nhất" sẽ tạo ra pháp lực.

Vẽ tranh phải chuyên nhất, mực chia năm màu, phải pha ra năm màu, đó chính là công lực.
Tinh thần tập trung, vận bút đều đặn, nông sâu đậm nhạt, một nét hoàn thành.
Đây hoàn toàn là sự thống nhất tinh thần.
Lão Tử nói: "Người giữ được nhất, vạn sự hoàn thành!"
Đức Phật nói: "Tinh thần thống nhất, không việc gì không làm được!"


### 07. Vì sao cần Thượng sư gia trì?


Đệ tử hỏi:
"Vì sao cần Thượng sư gia trì?"
Tôi đáp:
"Bởi vì Thượng sư đại diện cho Phật, pháp, tăng. Thượng sư có đức hạnh có nhiều pháp lực, ví dụ như lực truyền thừa, lực thần thông, lực trừ ma, lực siêu độ, và còn có ngũ lực, thập lực. Được Thượng sư gia trì, công đức tu trì tăng lên rất nhiều."
Đệ tử hỏi:
"Lực truyền thừa là gì?"
Tôi đáp:
"Thượng sư Mật giáo đều có truyền thừa, dòng pháp truyền thừa chảy trong thân đệ tử, biểu trưng cho vô lượng gia trì, sức mạnh của các vị tổ sư qua các đời được rót vào thân đệ tử."
Đệ tử hỏi: 
"Thần thông lực là gì?"
Tôi đáp:
"Thần thông có sáu loại: thiên nhãn, thiên nhĩ, tha tâm, túc mệnh, thần túc, lậu tận. Được Thượng sư gia trì, dễ dàng đạt được ngũ nhãn lục thông, có thể giúp đệ tử tu hành."
Đệ tử hỏi:
"Lực trừ ma là gì?"
Tôi đáp:
"Loại bỏ chướng ngại của đệ tử, ví dụ như sự quấy nhiễu, xâm nhập của ngoại linh, bệnh tật thể xác, khí mạch không thông suốt, v.v… Nhờ vào sự gia trì của Thượng sư, những chướng ngại của bạn được loại trừ."
Đệ tử hỏi:
"Lực siêu độ là gì?"
Tôi đáp:
"Nhờ vào sự gia trì của Thượng sư, các linh bám thân đệ tử, ngoại linh, linh thai nhi, tà linh, linh của các oán thân chủ nợ... tất cả những linh này đều được siêu độ. Đó chính là lực siêu độ."
Đệ tử hỏi:
"Ngũ lực là gì?"
Tôi đáp:
"Ngũ lực là:
Tín lực — phá trừ chướng ngại.
Tấn lực — có thể phá trừ sự biếng nhác.
Niệm lực — có thể phá trừ sự hôn trầm.
Định lực — có thể phá trừ sự tán loạn.
Huệ lực — có thể phá trừ sự ngu muội.
Thượng sư có đức hạnh khi gia trì, có đủ ngũ lực. Đệ tử có lòng tin, được gia trì, sẽ được lợi ích rất lớn trong việc tu tập."
Đệ tử hỏi:
"Thập lực là gì?"
Tôi đáp:
"Đó là Thượng sư có đức hạnh, đã đạt đến cảnh giới tối cao, chính là thập lực của Như Lai. Mười lực này là vô thượng, được gia trì như vậy, chính là đại thành tựu của sự gia trì.
Một, đạt được trí huệ vô thượng.
Hai, biết rõ nhân quả ba đời.
Ba, hiểu rõ ba loại giải thoát.
Bốn, nhập thiền định Tam ma địa.
Năm, ban cho chúng sinh đủ loại hiểu biết.
Sáu, trí phân biệt.
Bảy, đạt được vô lậu và tất cả pháp.
Tám, tất cả đều không chướng ngại.
Chín, thần thông đầy đủ thậm chí niết bàn vô ngại.
Mười, tất cả tập tính đều trừ sạch, chính đẳng chính giác."
Tôi nói:
"Với sức gia trì của Thượng sư, việc tu hành sẽ đạt được lợi ích lớn, thậm chí chỉ cần một lần gia trì, có thể lập tức chứng ngộ bốn cảnh giới thánh. Nếu không có sự gia trì của Thượng sư, không biết phải tu hành hàng trăm, hàng nghìn kiếp mới có thể thành công. Vì vậy, sự gia trì của Thượng sư là vô cùng quan trọng, vô cùng quan trọng."
Thường xuyên thỉnh cầu Thượng sư gia trì, lợi ích thật lớn lao!
Ngay cả một con muỗi được gia trì cũng có thể đến được các cõi trời.


### 08. Tâm từ bi và tâm kiền thành


Để nhận được sự gia trì của Thượng sư cần phải có gì?
Tôi nói, cần phải có sức mạnh niềm tin.
Hai bên nhất định phải tin tưởng lẫn nhau.
Vị Thượng sư có đức hạnh nhất định phải có tâm từ bi.
Còn người đệ tử có lòng tin phải có tâm kiền thành. Như vậy mới hợp lực tăng sức mạnh.

Tôi nhớ có một câu chuyện như thế này:
Một vị Thượng sư vĩ đại và một đệ tử thị giả đang tu hành trong hang động.
Trên người vị Thượng sư bò đầy rận, Thượng sư dùng tay bóp chết một con rận.
Ngài tụng:
"Vãng sinh tịnh thổ, siêu sinh thoát khổ. Om ami dewa seh!"
Con rận đó liền vãng sinh về cõi Phật.
Tiếp đến là con này rồi con khác ............
Tất cả đều vãng sinh về cõi Phật!
Vị đệ tử kiền thành đứng bên cạnh chứng kiến cảnh tượng như vậy.
Trong lòng khởi lên một ý niệm:
"Giá như tôi là con rận đó thì tốt biết mấy!"
Vị Thượng sư vĩ đại hiểu rõ tâm ý của đệ tử.
Ngài nói với đệ tử:
"Con muốn đến cõi Phật chăng?"
Đệ tử đáp:
"Vâng."
Vị Thượng sư vĩ đại chỉ búng tay một cái.
Người đệ tử kiền thành, dưới sự gia trì của một cái búng tay, ngã xuống đất với một tiếng "bịch".
Và nhanh chóng đến được cõi Phật.
(Chú thích: Ở cõi Ta Bà, phải tu hành trong thời gian rất lâu mới có thể đến được cõi Phật. Nhưng vị Thượng sư vĩ đại chỉ cần búng một ngón tay, lập tức vãng sinh, chẳng phải quá may mắn sao?)
Tất cả những thành tựu này.
Đều dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau.

🌟

Trong bài viết này, tôi tiết lộ một lá thư, chứng minh rằng đệ tử có tâm kiền thành sẽ nhận được cảm ứng:

*Kính gửi Sư Tôn kính yêu:*

*Đệ tử cũng đặc biệt muốn cảm ơn Sư Tôn về những gia trì và chỉ dạy trong những năm qua. Ban đầu đệ tử muốn đích thân đến Seattle để bẩm báo với Sư Tôn, nhưng gần đây vừa chuyển nhà lại thêm công việc bận rộn phải làm thêm giờ liên tục nên chỉ có thể dùng hình thức viết thư. Pháp thân của Sư Tôn trong những năm qua thường xuất hiện trong mộng khi cần thiết, chỉ dẫn cho đệ tử những việc sắp tới cần chuẩn bị, như đi tìm công việc mới, những sự việc sắp xảy ra trong cuộc sống và công việc, pháp thân Sư Tôn còn gọi đệ tử dậy tu pháp, v.v…, và cả những việc liên quan đến sự phát triển tương lai của một tòa Lôi Tạng Tự nọ. Tất cả những việc này sau đó đều ứng nghiệm thật, và hoàn toàn giống với những gì Sư Tôn đã báo mộng. Thật là kỳ diệu và huyền ảo. Những người bạn biết chuyện đều đùa rằng đệ tử không cần phải ra ngoài, chỉ cần ở nhà ngủ và mơ là biết được mọi chuyện.*

*Có một thời gian con liên tục nghe những người xung quanh nói: "Sư Tôn quá bận, làm gì có thời gian để ý đến một đệ tử nhỏ bé như anh, cầu Sư Tôn thì ngài cũng không đến đâu!". Khi đó đệ tử nghe xong cảm thấy rất chán nản, niềm tin hoàn toàn sụp đổ, đệ tử cảm thấy trong cuộc đời này ngoài Sư Tôn và Phật pháp thì không còn gì khác, nếu cầu Sư Tôn mà cũng không có tác dụng thì cuộc sống chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Lúc đó đang làm việc ở công ty, tâm trạng không tốt, bỗng nhiên con nhìn thấy Pháp thân của Sư Tôn xuất hiện và nói với đệ tử "Sư Tôn đang ở đây". Lúc pháp thân Sư Tôn hiện ra, xung quanh đệ tử tràn ngập mùi hương đàn hương đậm đặc và tinh khiết, phù bình an mà Sư Tôn ban cho con dù được bọc trong giấy nhựa nhưng cũng tỏa ra mùi đàn hương, và hai tay đệ tử cũng có mùi đàn hương, dù đã dùng nước rửa tay để rửa nhưng vẫn còn mùi đàn hương đậm đặc, và mùi hương này là thứ không có trong cõi trần gian. Lúc đó đệ tử cảm thấy rất an tâm và hạnh phúc. Dù con chỉ là một đệ tử nhỏ bé, Pháp thân Sư Tôn vẫn đến gia trì, Sư Tôn thực sự đã hóa thân nghìn vạn lần để gia trì cho mỗi đệ tử chân thành cầu nguyện. Bây giờ đệ tử cảm thấy chỉ cần làm theo lời dạy của Sư Tôn, giữ tâm chính trực, bất kể điều gì xảy ra đều là sự an bài tốt nhất, cuộc sống sẽ trở nên tốt đẹp. Một lần nữa cảm ơn Sư Tôn, A Di Đà Phật, chúc Sư Tôn pháp thể an khang!*

*Tháng 8 năm 2024.
Đệ tử Liên Hoa Tăng Tăng chắp tay đảnh lễ.*

🌟

Tôi có một câu chuyện nhỏ khác để kể cho mọi người:
Có một vị Thượng sư dẫn một đệ tử qua sông.
Dòng nước chảy rất xiết, tạo thành những đợt sóng bạc đầu, và lòng sông đầy đá.
Thầy trò định qua sông, nhưng có chút do dự.
Sư phụ nói:
"Ta sẽ gia trì cho con qua sông!"
Người đệ tử này có niềm tin rất lớn vào sự gia trì của sư phụ, liền quỳ xuống cầu xin gia trì.
Sư phụ đọc một bài kệ:
*Qua sông qua sông.
Thần sông hộ trì.
Bước chân mạnh mẽ.
Không sợ dòng chảy.*

Sư phụ xoa đầu đệ tử, đệ tử lập tức khởi lòng tin, thực sự vừa bước vào nước, dũng cảm tiến về phía trước, liền lên được bờ bên kia.

Tiếp theo là đến lượt vị Thượng sư qua sông.
Vị Thượng sư vốn sợ nước, nghĩ bụng: "Đệ tử đã qua sông rồi, làm sao ta có thể không qua được?"
Sư phụ vừa chạm vào nước, cảm thấy nước lạnh buốt, nước bắn tung tóe, liền bị uống một ngụm nước, đi đến giữa dòng sông và trượt chân trên tảng đá.
Ông không có niềm tin.
Một đợt sóng mạnh đã cuốn vị Thượng sư đi, nước chảy về Đông, và vị Thượng sư đã ra đi không bao giờ trở lại.

(Chú thích: Lòng tin có thể tạo ra sức mạnh của niềm tin, đệ tử có sức mạnh niềm tin nên đã qua được sông. Bản thân vị Thượng sư không có sức mạnh niềm tin, lẽ ra nên cầu nguyện lực gia trì của dòng truyền thừa. Ngoài ra, hiểu biết về bản chất của nước cũng rất quan trọng.)

Tôi (Lư Sư Tôn) từ nhỏ đã hiểu về bản chất của nước.
Tôi từng bơi ở biển Caribbean.
Mặc đồ lặn, mang bình oxy, đi vào vùng biển sâu của Porto Yamata để tham quan.


### 09. Nhất thể đồng quán


Tất cả chúng ta đều biết:
Đức Phật dẫn các đệ tử đi dạo ở ngoại ô.
Đức Phật nhìn thấy một bộ xương khô.
Đức Phật liền tiến lên phía trước, chắp tay và đảnh lễ bộ xương khô này.
Các đệ tử không hiểu.
Tại sao Phật Thích Ca Mâu Ni lại cúi mình đảnh lễ một bộ xương khô xa lạ?
Các đệ tử nhìn Phật với ánh mắt nghi hoặc?
Phật nói:
"Đây là cha mẹ của ta trong kiếp quá khứ!"
Mọi người hỏi:
"Làm sao có thể như vậy?"
Phật đáp:
"Các ông không hiểu, trong vô số kiếp luân hồi, cha mẹ trong quá khứ của chính các ông rất nhiều. Các ông nên xem tất cả họ đều là cha mẹ của mình."
Phật tiếp tục nói:
"Luân hồi là khổ, cha mẹ trong quá khứ đều đang chịu khổ, chúng ta có thể làm gì để giúp họ, đó là trách nhiệm của người tu hành chúng ta."
Vì vậy, các đệ tử chắp tay tán đồng.

🌟

Ngày xưa có một vị Hỷ Kiến Bồ Tát rất yêu thương tất cả chúng sinh, và chúng sinh cũng thích gặp Ngài. Vì vậy, Ngài được gọi là Hỷ Kiến Bồ Tát"
Thực ra, Hỷ Kiến Bồ Tát xem chúng sinh như chính mình. (Phật tính của mọi người đều bình đẳng.)
Chúng sinh cũng đều là Hỷ Kiến Bồ Tát.
Đây chính là nhất thể đồng quán.

Khi tôi, Lư Sư Tôn, hiểu được đạo lý này, tôi đã thay đổi bản thân.
Suy nghĩ rằng chúng sinh là cha mẹ của chính mình.
Nỗ lực khởi lên tâm bi chân thành.
Họ vẫn chưa biết về chân lý tối thượng của nhất thể đồng quán, đời đời kiếp kiếp đau khổ luân hồi.
Mọi thứ đều liên kết với nhau.
Chúng ta phải dùng tâm từ bi và tâm thành kính để giúp đỡ bất kì ai.

Tôi nói:
"Con người gặp nhau không phải lần đầu!"
Mà là:
"Hội ngộ sau thời gian dài xa cách!"
Có bậc thánh hiền nói:
"Phương pháp để loại bỏ dục vọng là:
Đàn ông nhìn phụ nữ:
Người lớn tuổi hơn là mẹ.
Người cùng lứa tuổi, xem như chị em gái của mình.
Người nhỏ tuổi hơn, xem như con gái của mình.
Ngược lại, phụ nữ nhìn đàn ông:
Người lớn tuổi hơn là cha.
Người cùng lứa tuổi là anh em trai.
Người nhỏ tuổi hơn là con trai của mình."
(Đây cũng là nhất thể đồng quán.)

🌟

Những năm qua, tôi đã hiểu rằng, tất cả chúng sinh đều là chính mình, tôi và chúng sinh không hai.
Giúp đỡ chúng sinh chính là giúp đỡ bản thân.
Không có sự phân biệt giữa bạn, tôi và họ.
Tôi có thể chứng ngộ, cũng mong muốn chúng sinh chứng ngộ.
Từ bi hỷ xả đều là vô lượng.
Mỗi ngày chỉ có lòng biết ơn, rồi lại biết ơn, và biết ơn thêm nữa.
Khi tôi bị sỉ nhục, đó là vì họ không hiểu biết, những điều này đều có thể thông cảm được.
Tôi đã phát khởi tâm từ bi vĩ đại nhất!


### 10. Thế nào là chứng ngộ?


Nhiều người hỏi tôi:
"Chứng ngộ là gì?"
Tôi đáp:
"Đây là câu hỏi rất lớn, nói ra thì dài dòng. Nhưng, tôi có thể trả lời bằng những ý nghĩa ngắn gọn mà sâu sắc."
Hỏi:
"Làm thế nào để chứng ngộ Pháp thân?"
Đáp:
"Buông bỏ, phá chấp và kiến lập là Pháp thân." (Xin hãy lĩnh hội kĩ.)
Hỏi:
"Làm thế nào để chứng ngộ Báo thân?"
Đáp:
"Thấu rõ tính Không, không chấp trước là Báo thân."
Hỏi:
"Thế nào là Ứng thân?"
Đáp:
"Không có gì ngăn cản là Ứng thân."
(Tự tính của ba thân là đồng nhất.)
Lại hỏi:
"Cái ngộ về cuộc đời?"
Đáp:
"Phải biết rằng có sinh ắt có tử, có hợp ắt có tan, cuộc sống trôi qua như dòng nước chảy, đời người ngắn ngủi như giấc mộng phù du."
Lại hỏi:
"Làm sao để ngộ vô thường?"
Đáp:
"Đời người vốn vô thường, sinh tử đều là mệnh, mạng sống con người, chẳng khác cỏ cây."
Lại hỏi:
"Cái chết là gì?"
Đáp:
"Con người sẽ chết, hơi thở sẽ dừng, sinh mệnh như huyễn, như hoa nở tàn."
Lại hỏi:
"Nếu không chứng ngộ thì sao?"
Đáp:
"Không có đôi mắt trí tuệ, bóng tối vô minh bao trùm bốn phương."
Lại hỏi:
"Chứng ngộ rồi thì sao?"
Đáp:
"Mặt trời mọc lên, bóng tối xua tan. Nhận được ân Phật, năm độc hóa tịnh. Nếu được chứng ngộ, vô minh không còn. Thân xác không thật, Pháp thân hiển hiện."
Lại hỏi:
"Có thể giải thích chi tiết hơn về Pháp thân không?"
Đáp:
"Đừng chấp trước bên trong, đừng bài xích bên ngoài, đừng nghĩ đến nơi chốn, tôi-bạn-họ đều không phải, tam tế nhất như, trùm khắp mười phương, tất cả bình đẳng, an trụ nơi không."
Lại hỏi:
"Hữu vi vô vi?"
Đáp:
"Hữu vi đều không, vô vi là không, không chẳng khác sắc, sắc chẳng khác không, chỉ là phương tiện thiện xảo mà thôi!"
Lại hỏi:
"Cảnh giới như thế nào?"
Đáp:
"Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn."
Lại hỏi:
"Chứng ngộ điều gì?"
Đáp:
"Chứng đắc cái vô sở đắc."

Tôi trả lời như vậy, ngắn gọn mà mạnh mẽ, chư Phật Bồ Tát phóng ánh sáng rực rỡ chiếu rọi tôi (Lư Sư Tôn).
Tán thán chưa từng có, lành thay!


### 11. Người tu hành xử thế ra sao?


Có người hỏi tôi:
"Người tu hành xử thế ra sao?"
Lư Sư Tôn trả lời như sau:
Tầm nhìn phải rộng lớn, như hư không vô tận; cũng có thể chỉ tâm lượng, tầm nhìn rộng, tâm cũng rộng, lòng bao dung lớn. Mỗi cử chỉ hành động đều có phép tắc, phải giữ bổn phận, không hành động thiếu suy nghĩ, khi nhẹ nhàng như dòng suối nhỏ, khi chuyển động như thác đổ.

Lý tưởng phải cao như leo núi Tu Di, từng bước từng dấu chân vững chắc, rồi một ngày sẽ đạt đến mục đích, cần có nghị lực và tầm nhìn dài hạn, thành công không phải tình cờ.

Đối với người nên giữ nụ cười thân thiện, không được có biểu hiện ghét bỏ, hòa mình vào đám đông, tùy duyên độ hóa người khác, như pháp môn tứ nhiếp.

Phải tuân thủ chế độ xã hội, pháp luật, quy tắc, tuyệt đối không được lệch lạc, buông thả, không làm những việc vi phạm pháp luật, biết dừng lại trước bờ vực rất quan trọng.

Đối xử với người như đối với chính mình, điều mình không muốn thì đừng làm cho người. Người lớn tuổi hơn xem như cha mẹ, người ngang tuổi xem như anh chị em, người nhỏ tuổi hơn xem như con cái mình.

Hãy nhớ khi nói chuyện, không nói lời đâm thọc, không nói lời độc ác, không nói lời thêu dệt, không nói dối.
Nói chuyện phải có đầu có đuôi, mạch lạc.
Nói chuyện nhẹ nhàng, dịu dàng.
Nói chuyện phải giữ lời hứa.
Nói chuyện nên thường niệm danh hiệu Phật.
Nói chuyện toàn là lời lành.
Nói chuyện không bàn chuyện thị phi.
Nói chuyện không nói suông, viển vông.
Nói chuyện không phải là tán gẫu.
Nói chuyện để tăng cường tình bạn.
Nói chuyện phải có nội dung chất lượng.
Nói chuyện phải lành mạnh.

Nói về sức khỏe cần chú ý, họa từ miệng ra, bệnh từ miệng vào, ăn uống cần đúng giờ đúng lượng.
Đạo gia coi trọng "tinh, khí, thần".
Mật giáo coi trọng "khí, mạch, điểm".
Hiển giáo coi trọng "Phật, pháp, tăng".
Tất cả đều là về sức khỏe thể chất, mới có nền tảng tu hành. Phật, pháp, tăng cũng chính là mình, mình chính là Phật, mình chính là pháp, mình chính là tăng.
Sức khỏe thể chất là gốc rễ của việc tu hành.
Không tham. (dục)
Không sân. (giận)
Không si. (vô minh)
Đối với sức khỏe của mình, phải có lợi không hại. Cần hiểu đạo dưỡng sinh, không nhìn điều khiếm nhã, không nghe điều khiếm nhã, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý đều như vậy.
Tu hành nhất định mang theo ba phần bệnh, đây là quan niệm sai lầm.

Về phương diện quản lý tài chính:
Hãy cần kiệm, tích lũy, hiểu cách sử dụng đúng tài sản có được.
Những tài sản không nên có, không được tham đắm.
Không đánh bạc.
Không làm kinh doanh đầu cơ.
Phải dựa vào kỹ năng của mình để kiếm tiền. Tiền phi pháp đừng tham đắm, người quân tử yêu tiền nhưng lấy nó một cách chính đáng.
Hiểu về bố thí, làm việc công ích.
Giàu sang không được buông thả.
Nghèo hèn không lay chuyển. (Giữ vững niềm tin, tâm đạo không lùi.)
Xử thế công bằng.
Nhẫn nhục như đất.
Thanh tịnh như sen.
Kính trọng người hiền.
Ngày ngày làm thiện.

Đối với việc xấu phải tránh như rắn rết.
Niềm tin phải chuyên nhất, tôn kính mười thiện.
Kính tin Tam Bảo, nghe thầy giảng kinh.
Lợi ích chúng sinh, cứu giúp người nghèo khó.
Tâm hồn thanh tịnh như bầu trời quang vạn dặm.
Cuộc sống hàng ngày không được lười biếng, trễ nải.
Làm việc phải có đầu có đuôi.
Phải có lòng thành tín.
Đối với đất nước phải tận trung, đối với niềm tin phải chuyên nhất, yêu nước yêu đạo.
Tôn trọng tất cả mọi người, không chỉ vậy, phải tôn trọng tất cả các sinh vật.
Những loài bay trên không.
Những loài bò trên đất.
Những loài bơi trong nước.
Không sát sinh, hơn nữa phải bảo vệ sự sống.

Không được nghiện rượu, hút thuốc, dùng chất gây nghiện, một là dễ bị rối loạn, hai là phá hoại môi trường, ba là làm rối loạn tự tính.
Đối với người già, càng phải hiếu kính, phụng dưỡng lúc sống, tiễn đưa khi mất. Đối với trẻ nhỏ, không được lơ là, giáo dục phải có phương pháp.
Tu trì Phật pháp, lễ tán Tam Bảo, tùy hỷ xây dựng chùa chiền, mở đạo tràng, tham gia đồng tu, mỗi ngày tự mình tu thiền định, một lòng tu pháp.
Học Phật cần tu nghe hiểu và suy ngẫm, cũng có thể viết sách, giảng giải, thuyết pháp lợi sinh.
Cúng Phật, cúng pháp, cúng tăng, phải giữ giới luật Phật giáo, thực hành pháp mười thiện.
Thoát khỏi đường ác, đoạn trừ phiền não.
Phát tâm bồ đề, giúp người lìa khổ được vui.
Lấy lòng từ bi làm trọng, đi theo con đường Đại thừa.
Tôi cho rằng giới luật Phật giáo rất quan trọng, có thể giữ giới luật mới là người tu hành.


### 12. Thế nào là chướng ngại?


Có người hỏi tôi:
"Tôi tu pháp gặp chướng ngại, phải làm sao?"
Tôi nói:
"Ai trói buộc bạn?"
Đáp:
"Không ai trói buộc tôi cả!"
Tôi nói:
"Vậy chính là tự mình trói buộc mình."

Phật Đà dạy chúng ta, nói đến chướng ngại thường có hai loại:
Một, phiền não chướng.
Hai, sở tri chướng.
Loại đầu là tham, sân, si. Loại sau chính là chấp trước.

Tôi nói với mọi người, bậc đại hành giả yoga chân chính, sống trong đời một cách độc lập tự tại, không bị bất kì chướng ngại nào ràng buộc, tự do tự tại mọi nơi.

Tôi cho rằng, về mặt lý thuyết, việc loại bỏ phiền não và chấp trước không phải là điều khó.
Một, vô sở đắc, đoạn trừ phiền não ngay tức khắc.
Hai, vô sở đắc, đoạn trừ chấp trước ngay tức khắc.
Một hành giả, thấu hiểu sâu sắc vô sở đắc, luôn luôn nghĩ đến vô sở đắc, tất nhiên sẽ:
Một quét, phiền não nhẹ đi.
Hai quét, nghiệp chướng tiêu tan.
Ba quét, vận xui rời xa.
Tại sao? Bởi vì tất cả đều không thể có được, sao phải phiền não? Sao phải chấp trước?

Đây chính là sự khai ngộ về mặt lý.
Ví dụ:
Tiền, không ai có thể mang theo một cây kim.
Sắc, không ai có thể giữ mãi tuổi xuân.
Danh, không ai có thể sở hữu danh tiếng vĩnh hằng của cái Không.
.............
Vậy phiền não về điều gì?
Vậy chấp trước vào điều gì?
(Đây là sự giác ngộ về mặt lý.)

Về mặt sự pháp:
Mật giáo dạy chúng ta:
Dùng tham để dừng tham.
Dùng sân để chuyển hóa kim cang.
Dùng si để chuyển hóa trí tuệ.
Vì vậy tham, sân, si đều là Phật pháp. Dâm, nộ, si cũng đều là Phật pháp.

Dâm có Song thân pháp.
Nộ có Kim cang pháp.
Si có Trí tuệ pháp.
Tài có Tài thần pháp.
Sắc có Song thân pháp. (lặp lại)
Danh có Kính ái pháp.

Trọng điểm là hai chữ chuyển hóa, biến tất cả tập tính chuyển hóa thành thanh tịnh.
Đó chính là để trừ chướng ngại, lý sự hai phương diện hợp làm một, hành giả nhập cảnh giới thành tựu, hiển lộ Phật tính (tự tính) quang minh tự tại.

Tôi cho rằng:
Ham muốn thể xác của con người sẽ mang đến chướng ngại và chấp trước.
Khi người tu tập đến mức tinh thần vượt trên thể xác, khi tinh thần con người tương ứng với pháp giới trời đất, tự nhiên chướng ngại được loại trừ. Không chỉ vậy, tất cả sẽ tự nhiên đạt đến thành tựu rốt ráo.
Lục đại thần thông.
Bản tính quang minh.
Tất cả đều có thể chứng đắc.
(Nếu không tu hành, con người chẳng khác gì con bò, chỉ biết ăn rồi ngủ mà thôi!)
Hãy ghi nhớ! Hãy ghi nhớ!


### 13. Đối với văn cầu thỉnh Liên Hoa Đồng Tử


Om ah hum.
Emaho! Tán thán bậc Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư.
Bạch Y Liên Hoa Đồng Tử quang minh nhất
Kính thưa Guru Liên Sinh Thánh Tôn
Tâm Ngài khai mở giáo huấn từ bi nhất
Từ cõi Ma Ha Song Liên Trì giáng thế
Om guru liansheng siddhi hum cùng với sự cộng hưởng
Ánh sáng của Ngài xua tan bóng tối trong tâm chúng con
Hướng dẫn chúng con đến sự tỉnh thức thanh tịnh
Tán thán Guru Liên Sinh Phật
Trong biển khổ đầy giông bão, Ngài là ngọn hải đăng của chúng con
Trong đêm lạnh giá, Ngài là hơi ấm của chúng con

Phật Phụ ơi, xin Ngài lắng nghe lời cầu nguyện chân thành nhất của chúng con
Khi chúng con yếu đuối nhất, xin Ngài che chở
Khi chúng con vui vẻ, xin Ngài cũng hiện diện
Xin hướng dẫn chúng con trên con đường tu tập
Xin ban ân phước vô duyên đại từ cho chúng con
Khi chúng con chìm đắm trong biển khổ, xin Ngài hãy mãi ngự trong tâm chúng con
Om ah hum guru beh ahhasa samaha liansheng siddhi hum.

Bài cầu nguyện này do đệ tử Shay biên soạn vào ngày 18 tháng 5 âm lịch năm 2024, như một lễ cúng dường đến tất cả chúng sinh, đồng thời chúc mừng sinh nhật lần thứ 80 của Căn bản Truyền thừa Thượng sư Chân Phật Tông Liên Sinh Hoạt Phật. Bài này được Rinpoche Tenzin Gyatso của Chân Phật Tông dịch sang tiếng Trung.

Bản gốc: 

Om Ah Hum!
Emaho! Praise to the Red Vajra Crown Buddha,
Radiant Lotus Youth adorned in white,
Beloved Holy Guru Liansheng,
Whose heart unfolds the most compassionate teachings.
Descend swiftly from the blissful Twin Lotus Pond Realm,
Echoing Om Guru Lian Sheng Siddhi Hum,
Your bright light dispels darkness from our hearts,
Guiding eternally towards pure realization.
Praise to Guru Buddha Lian Sheng,
Lighthouse in the stormy seas of suffering,
Warmth amidst the coldest of nights,
Buddha Father, hear our earnest prayers,
Protect us in our weakest hour,
Appear in moments of joy,
Guide our spiritual journey,
Bless us with boundless, undiscriminating compassion,
Forever reside within our hearts throughout our journey in
the lower realms.
Om Ah Hum Guru Bei Ah Ha Sa Samaha Lian Sheng Siddhi Hum.

🌟

Tác giả: Shay (phát âm như chữ "sê"). Là một người Anh.
Dịch giả: Tenzin Gyatso Rinpoche.
Bài kệ này rất rõ ràng, dễ hiểu, cách tụng đọc rất giản dị, và dễ dàng chạm đến lòng người.
Đệ tử Mật giáo cần ghi nhớ ai là người ban cho giáo huấn, ai là người truyền đạo, dạy dỗ, giải đáp mọi thắc mắc.
Truyền thừa là điều quan trọng nhất, dòng pháp bắt nguồn từ truyền thừa.
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã dạy: "Người kính sư, trọng pháp, thực tu sẽ đạt được thành tựu".


### 14. Tuyệt đối không được rơi vào chấp không


Tôi (Sư Tôn Lư) cảnh báo mọi người:
"Tuyệt đối không được rơi vào chấp không."
Tôi thấy có những người tu hành, đến cuối cùng, chỉ còn lại một câu: "Tất cả đều là không."
Và rồi: Rơi vào trạng thái tâm lý "hoàn toàn mất cảm giác".
Giống như:
Xác chết.
Như một người đã chết, không còn gì nữa, đi vào cảnh giới không còn ý niệm.
Tất cả đều mất hết ký ức! Trên không có Phật để thành, dưới không có chúng sinh để độ.

Có một câu chuyện, tôi kể như sau:
Xá Lợi Phất đang thiền định tại nơi sâu thẳm nhất trong rừng.
Duy Ma Cật Đại Sĩ xuất hiện.
Duy Ma Cật hỏi:
"Ông đang làm gì ở đây?"
Xá Lợi Phất đáp:
"Thiền định."
Duy Ma Cật hỏi:
"Điều đó có lợi ích gì cho chúng sinh?"
Xá Lợi Phất câm lặng không đáp được.
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói:
"Xá Lợi Phất, sao ông lại như vậy, ông nên biết rằng, thiền định chân chính là tùy duyên an trú, hành giả dù ở bất cứ nơi đâu đều an nhiên tự tại, không bị các pháp ràng buộc, lúc nào và ở đâu cũng được giải thoát tự tại."
Lại nói:
"Như ông ngồi khô cằn trong núi rừng sâu thẳm, không thể hiển bày oai nghi để làm lợi ích cho chúng sinh. Tách rời khỏi cuộc sống thực tế, hoàn toàn không liên quan đến mọi người, không thể tương trợ, sống ẩn dật, chính là sống trộm."

Hai đoạn lời của Duy Ma Cật Đại Sĩ rất rõ ràng:
1. Cái gọi là thiền định, chính là trong bất kì hoàn cảnh nào, bất cứ lúc nào và ở đâu, tâm không tán loạn, an nhiên tự tại.
2. Không thể lợi ích chúng sinh, tương đương với "sống trộm", sống một đời này vô ích, hoàn toàn không có ý nghĩa.

🌟

Theo như tôi biết:
Có người tu hành, tu đến mức:
Không cần sư phụ nữa, sư phụ cũng là không.
Không cần Bổn tôn nữa, Bổn tôn cũng là không.
Không cần lợi ích chúng sinh nữa, chúng sinh là không.
Tất cả đều là không, không, không.
Tu pháp không.
Cuộc sống không.
Đồng tu không.
Vì vậy, chẳng làm gì cả, làm cũng là không, như thể xác không hồn, như người già mất trí, như xác chết nằm đó, trở thành như một người vô dụng vậy.
Người ấy nói:
"Đây chính là giác ngộ!"
Có bậc thánh nhân nói:
"Loại giác ngộ này là hoàn toàn dừng hẳn các giác quan và ý niệm, giống như người nằm trên giường bệnh, mất trí nhớ, mê man và vô tri. Đây không phải là giác ngộ, mà là 'ngu si tột cùng'."
Tôi cảm thấy bốn chữ "ngu si tột cùng" này, dùng rất chính xác.
Đây chính là chấp không cứng nhắc.

Cũng có người nói:
"Dùng gậy sắt đánh một người đến bất tỉnh, thì đó chính là khi mọi ý niệm và giác quan đều tịch diệt. Người này đã giác ngộ rồi! Đây là chuyện cực kì đáng cười."
Sự ngu si hoàn toàn mất cảm giác, đây là chấp không vô dụng.
Ha ha ha, cười lớn ba tiếng!


### 15. Song vận chính là tu pháp


Có một số hành giả cho rằng nên dừng kiến văn giác tri, nếu không còn giá tri, đó chính là "thành tựu".
Nhưng,
Thực tế không phải như vậy.
Tôi cho rằng đó là "sự tỉnh thức hoàn toàn", dùng năm giác quan để quán xét bản thân và vạn vật.
Nhận thức rằng:
Tất cả đều không phải thực tướng.
Ảo ảnh sa mạc.
Phản chiếu.
Cầu vồng.
Mộng huyễn bóng ảnh.
.............

Chỉ như vậy mới có thể phá trừ phiền não và chấp trước, chính lúc này mới được gọi là thành tựu.
Vì vậy, giác tri và trí tuệ phải song vận, đó mới là pháp chân chính. Đây mới là tu hành.

Phàm phu tục tử là gì?
Phàm phu tục tử chấp trước vào tất cả, cố chấp vào tất cả, nên phiền não chồng chất, không thể giải thoát khỏi luân hồi.
Khi một hành giả, vận dụng giác tri, để nhận thức trạng thái bản nhiên, hành giả biết được tự tính, như vậy mới có thể đạt tới sự tỉnh thức chân thực, giải thoát chân chính.
Vì thế:
Sắc tức là không, không tức là sắc, sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc.
Đây là sắc-không song vận.
Những điều khác:
Trí-bi song vận.
Hữu-vô song vận.
Phật-ma song vận. (Phật-ma là một.)
Động-tĩnh song vận.
Tất cả những điều này đều là song vận.

Đây cũng là pháp môn Bất Nhị được nói đến trong Kinh Duy Ma Cật.
Ngã và ngã sở bất nhị.
Cấu uế và thanh tịnh bất nhị.
Thiện và ác bất nhị.
Tội và phúc bất nhị.
Sinh và tử bất nhị.
Ngã và vô ngã bất nhị.
Sáng và tối bất nhị.
………….

Tôi mượn song vận để tu thành pháp minh điểm vô lậu, đây là kinh nghiệm cá nhân của tôi, tôi là người thực tu, cuối cùng đã chứng nghiệm được minh điểm vô lậu vô cùng quan trọng.

Tôi sẽ giải thích tóm tắt về phương pháp tu tập như sau:
Tôi phải khởi lên dục niệm của mình, bởi vì dục niệm có thể tạo ra dục hỏa và minh điểm thủy hạ xuống.
Lúc này,
Khoảnh khắc minh điểm thủy sắp thoát ra, đây là thời điểm then chốt quan trọng nhất.
Điểm chính là:
Co hậu môn và giữ cột sống thẳng.
Khí đi xuống khóa minh điểm lại, đẩy lên trên.
Trong ý niệm.
Không còn trụ vào dục niệm nữa, mà chuyển hóa thành Bổn tôn thanh tịnh trong hư không.
Lúc này lập tức chuyển sang thân tướng thanh tịnh của Bổn tôn.
Dục niệm biến mất.
Thanh tịnh xuất hiện.
Nhờ vậy có thể ngăn chặn sự thoát ra của minh điểm thủy.
Đây chỉ là một sát-na, dục niệm chuyển hóa thành thanh tịnh, đây là điều quan trọng nhất.
Sau đó,
Dùng lưỡi chạm vào vòm miệng. (bắc cầu)
Để ngọc tuyền (nước bọt) tràn đầy miệng, rồi nuốt xuống tâm điền.
Dùng thượng hành khí [khí hướng lên] đưa ngọc tuyền đến vùng tim.
Dùng hạ hành khí [khí hướng xuống] đưa minh điểm đến vùng tim.
Hai thứ này kết hợp với chuyết hỏa, có thể mở ra ánh sáng của Tâm luân.
Tiếp theo,
Lại khởi lên dục niệm.
Chờ đợi thời khắc then chốt đến.
Lập tức đóng dục niệm lại, chuyển hóa thành thanh tịnh.
Như vậy chính là:
Dục-tịnh bất nhị của song vận.
Như thế, vòng tuần hoàn của dục niệm và thanh tịnh, cho đến khi minh điểm hoàn toàn vô lậu.
Đây chính là tinh yếu của pháp minh điểm vô lậu.

Tôi muốn nói với mọi người:
Lục thế biến của Sakya rất quan trọng.
Nâng rất quan trọng. (nâng hậu môn)
Giữ rất quan trọng. (giữ khí)
Khoảnh khắc chuyển từ sắp rò rỉ thành không rò rỉ rất quan trọng. (công phu chuyển hóa từ dục thành tịnh)
Khí hướng lên rất quan trọng.
Khí hướng xuống rất quan trọng.
Mạch thẳng rất quan trọng. (cột sống thẳng)

Tôi (Lư Sư Tôn) tu luyện suốt năm năm mới đạt đến trạng thái hoàn toàn không rò rỉ một giọt.
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói:
"Đây là lấy ngọc từ miệng rắn độc."
Thực tế, thành tựu không dễ dàng, trong vạn người không có được một.
Nhưng, tôi đã thực sự thành tựu!


### 16. Chân không, diệu hữu song vận


*Đảnh lễ Sư Tôn:
Om guru liansheng siddhi hum. Kính lễ nhiều lần.*

*Ngày 9 tháng 8 năm 2008, Sư Tôn giảng "Lục Tổ Đàn Kinh", từng nói với các đệ tử: "Xin hãy trả lời ý nghĩa cốt lõi của Kinh Kim Cang nằm ở đâu?" "Nếu biết được ý nghĩa thâm sâu của nó, hãy đến nói riêng với Sư Tôn, tôi sẽ ấn chứng cho."*

*Đệ tử ngu muội xin thử trả lời tóm tắt về ý nghĩa cốt lõi của kinh như sau:
Trong hàng nghìn năm qua, người tụng Kinh Kim Cang vô số; nhưng, người hiểu thực nghĩa của kinh rất ít!
Người hiểu nói rằng kinh này giảng về tính Không. Dĩ nhiên, cũng có rất nhiều cách giải thích khác.
Đệ tử không nói rằng những người giảng về tính Không là sai! Nhưng, liệu thực sự đơn giản như vậy sao?*

*"Tất cả bậc hiền thánh, đều do pháp vô vi mà có sự khác biệt". Người chứng nhập tính Không, có A La Hán, có Duyên Giác, có Bồ Tát, có Phật! Trong đó, đương nhiên sự chứng ngộ của Phật là viên mãn nhất. Tại sao vậy? Sự chứng ngộ của Phật viên mãn nhất là vì Ngài tuyệt đối không chỉ nói về chân Không mà tránh bàn về diệu hữu.*

*Các bậc thánh A La Hán Tiểu thừa bị nhiều tổ sư Thiền tông quở trách là "kẻ vác bảng". Chỉ vì họ chỉ thấy chân không (vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả) mà không thấy diệu hữu; chỉ thấy một bên, mà không thấy bên kia. Nhưng so với phàm phu chỉ một mực chấp hữu hư vọng, thì đã là vượt trội rồi!*

*Kinh Kim Cang chính là Như Lai "vì người phát tâm Đại thừa mà nói, vì người phát tâm Tối thượng thừa mà nói"! Nói gì vậy?*

*Đệ tử cho rằng đó là Phật Đà khai diễn chân không diệu hữu, muốn khiến các bậc thánh Tiểu thừa (chỉ trụ nơi tính Không) tiến thêm một bước lớn nữa (hồi Tiểu hướng Đại, biết chân không chẳng không, diệu hữu chẳng có)! Đây là lý do khiến Tu Bồ Đề rơi lệ, khóc mãi không thôi!*

*Đệ tử xin trích dẫn một câu cực kì chấn động như năm tiếng sấm vang trời trong kinh. Kinh nói: "Người phát tâm A nậu đa la tam miểu tam bồ đề, đối với pháp không nói tướng đoạn diệt" (Phẩm thứ hai mươi bảy: Vô Đoạn Vô Diệt). Chữ "phát" trong "phát" tâm vô thượng chính đẳng chính giác, có nghĩa là "phát hiện", đồng nghĩa với "đã khai ngộ/ngộ nhập". Không phải là phát tâm thông thường ở nhân địa (phát tâm bồ đề).*

*Người đã đại ngộ, "ắt thực hành lục độ tứ nhiếp, rộng làm Phật sự, làm lợi ích chúng sinh, đối với các pháp nhất định không nói tướng đoạn diệt"; "Chân không không phải là không, chính là từ không để làm sáng tỏ cái có. Nên biết có mà không trụ vào có, mới gọi là diệu hữu; ngộ cái không mà không kẹt vào không, mới gọi là chân không"; "Đã vượt qua không-có, lại xa lìa đoạn-thường, mới thực sự là trung đạo." (Lời của pháp sư Đế Nhàn).*

*Quả thật, kinh nói: "Nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy", đã là câu điểm nhãn. Nhưng đệ tử cho rằng câu "Người phát tâm A nậu đa la tam miểu tam bồ đề, đối với pháp không nói tướng đoạn diệt" còn hình tượng và cụ thể hơn, như thể khiến rồng vàng thoát khỏi bức tranh, bay vút lên chín tầng trời!*

*Đệ tử kém tiếng Quốc ngữ, chưa thể kín đáo thưa trực tiếp với Sư Tôn. Chỉ đành mượn nét bút thô thiển này để bẩm báo với Sư Tôn về cảm ngộ khi đọc kinh. Cầu xin Thầy chỉ điểm một vài điều.*

*Nói lải nhải một đống chữ nghĩa che mắt, rốt cuộc cũng chỉ là "Cứ gọi tên Tiểu Ngọc dù không việc gì, chỉ để chàng Đàn Lang nhận ra tiếng gọi" mà thôi!*

*Đệ tử Liên Kềnh ở Hồng Kông đảnh lễ.*

🌟

Dưới sự song vận của chân không và diệu hữu, có bài kệ làm minh chứng:
Những bài tôi (Lư Sư Tôn) thích nhất như sau:
Thứ nhất:
*Đã ngộ đừng cầu tịch diệt
Tùy duyên chỉ tiếp người mê
Thường gặp tà kiến đều nâng đỡ
Phương tiện quy về chốn thực tế
Năm mắt ba thân bốn trí
Sáu độ vạn hành tu đầy
Hào quang tròn đẹp như ngọc mani
Lợi vật kiêm lợi chính mình.*

Thứ hai:
*Tôi thấy người đời bàn tự tính
Chỉ khoe tài đối đáp nhanh nhạy
Khi gặp cảnh giới lại si mê
Có khác gì đâu kẻ ngu muội
Nói được thì càng phải làm được
Đó mới gọi là lời nói đi đôi với việc làm
Có thể dùng gươm trí tuệ chém đứt ma quỷ
Đây gọi là trí tuệ chân chính của Như Lai.*

Bài thứ ba:
*Đức hạnh tu vượt tám trăm
Âm công chất đầy ba nghìn
Cân bằng vật-ta cùng thân-oán
Mới hợp với bản nguyện của Kim Tiên
Hổ tê đao binh chẳng hại
Nhà cháy vô thường khó lôi kéo
Có thể đến cõi thiên ngoại thiên
An ổn cưỡi xe lân, kiệu phượng.*

🌟

Ba bài kệ này tôi rất thích, đây là sự song vận của chân không và diệu hữu. Đặc biệt liệt kê ra đây để mọi người cùng thưởng thức.


### 17. Tâm đắc của tôi về năm giới


Tu hành chính là sửa chữa hành vi của chính mình.
Có tiêu chuẩn bên ngoài, Phật giáo dạy chúng ta phải giữ năm giới, từ năm giới này phát triển ra nhiều giới luật hơn nữa.
1. Không sát sinh.
Đây là không giết hại chúng sinh, không chỉ là con người, mà là tất cả sinh vật. Những loài bay trên không, bò trên đất, bơi trong nước.
Cần thực hiện:
Không hại, không gây thương tổn, không sát sinh, phi bạo lực.
Lời nói, hành động, ý nghĩ, đều không được phép.
Bất cứ điều gì gây đau khổ cho chúng sinh đều không được phép.

Trong số đệ tử có người làm ngành ẩm thực, phải làm sao?
Câu trả lời của tôi là:
Có thể không làm thì đừng làm.
Nhưng, vì sinh kế, không thể không làm, thì sao?
Tôi chỉ có thể trả lời:
Này đệ tử! Bạn cần học chú vãng sinh, giúp các sinh vật niệm chú vãng sinh cho từng con từng con .
Biết pháp siêu độ thì càng tốt.
Nếu không thì hãy đăng ký tham gia pháp hội siêu độ của Lư Sư Tôn, tôi có pháp siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp.

Tôi có rất nhiều tâm đắc về không sát sinh, ngay cả vi khuẩn tôi cũng siêu độ.
Tôi tu pháp siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp, cho đến nay, chưa từng gián đoạn ngày nào.
Đây là sự siêu độ bình đẳng không phân biệt giữa oán và thân.
(Thử nghĩ xem, mặt trời chiếu sáng khắp đại địa, nào có phân biệt gì đâu.)

2. Không tà dâm:
Tịnh hạnh, phạm hạnh, thanh tịnh hạnh.
Thực ra chính dâm cũng là dâm. Điểm quan trọng là "tâm không rời đạo", câu này quan trọng nhất.
Tôi đã từng nói:
Xem người lớn tuổi như cha mẹ.
Xem người cùng lứa tuổi như anh chị em.
Xem người nhỏ tuổi hơn như con cái.
(Đây là công phu chuyển hóa.)
Điều này sẽ giúp hành giả dập tắt ham muốn, thường ngày cần đọc sách thánh hiền. Sách thánh hiền như nước mát lạnh, có thể làm tăng trưởng đức hạnh, giảm bớt dục niệm.
Đây là sự tu dưỡng đạo đức.

Còn nữa,
Có người hỏi tôi: "Cư sĩ Duy Ma Cật có nhiều thê thiếp, và ngài ấy không tránh xa kỹ viện (lầu xanh), như vậy có được không?"
Tôi nói:
"Cư sĩ Duy Ma Cật là hóa thân của Kim Túc Như Lai, chỉ một câu 'tâm không rời đạo', định lực của ngài đủ mạnh, không khởi tâm dâm dục, nên có thể đi bất cứ nơi đâu! Ngài còn có thể khiến kỹ nữ phát tâm bồ đề."
(Cư sĩ Duy Ma Cật bất cứ lúc nào, nơi đâu cũng giữ hạnh thanh tịnh, nên có thể làm được,)

Lại nữa,
"Pháp song thân trong Mật giáo có phải là phạm giới không?"
Tôi đáp:
"Pháp song thân trong Mật giáo, bề ngoài là phạm giới dâm, nhưng hành giả dùng tâm thanh tịnh để tu pháp này, tâm không rời đạo. Đây là thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh."
Tôi nói:
"Pháp song thân, bề ngoài là dâm dục, nhưng tâm hành giả luôn ở trong đạo. Nam nữ song tu đều là Bổn tôn. Tu khí, tu thông mạch, tu minh điểm thăng giáng, minh điểm không rò rỉ. Đây là hạ minh điểm, nâng minh điểm, giữ minh điểm, phân tán minh điểm. Ý niệm là đang tu pháp, chứ không phải nam nữ hành dâm, tâm không rời đạo, không tính là phạm giới."

Tuy nhiên, pháp này không phải người thường có thể làm được, nếu làm không được thì chính là phạm giới.
Làm được "tâm không rời đạo" là bậc đại thành tựu giả của vô thượng đạo (Mật), trên đời ít ai làm được!

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, cư sĩ Duy Ma Cật đều là bậc đại thành tựu giả, không phải tầm thường.
Thông khí.
Thông mạch.
Thông minh điểm.
Thân hóa cầu vồng, đại lạc, quang minh, Không tính, từ đó mà chứng đắc.
Nếu có sai lệch, sẽ đọa địa ngục kim cang.
Trong vạn ác, dâm đứng đầu, hãy cẩn thận! Cẩn thận!

3. Không trộm cắp:
Không trộm cắp, không lấy trộm, không khởi niệm trộm cắp.
Bất cứ thứ gì không phải của mình, không được khởi tâm động niệm trộm cắp, điều này tuyệt đối bị cấm.
Không chỉ là tài vật.
Bắt cóc người.
Ăn cắp sách.
Trộm động thực vật.
Đạo văn.
Trộm kim.
Ăn cắp kỹ thuật.
Nhiều thứ khác nữa...
(Điều mình không muốn, đừng làm với người khác.)
Làm giả là trộm cắp. Hàng nhái đều là vậy, thậm chí làm thuốc giả, càng là sai lầm nghiêm trọng!

Có người hỏi:
"Gian lận trong thi cử có tính không?"
Tôi đáp:
"Đương nhiên."
Có người hỏi:
"Mượn tiền không trả cũng vậy sao?"
Tôi đáp:
"Đương nhiên."
Có người hỏi:
"Chiếm chút ít tiện nghi cũng tính sao?"
Tôi đáp:
"Đương nhiên."
Có người hỏi:
"Cân thiếu đong thiếu cũng vậy sao?"
Tôi đáp:
"Đương nhiên."

4. Không nói dối:
Không nói dối bao gồm rất nhiều điều, không nói lời giả dối, không nói chuyện thị phi, không nói chuyện tào lao vô bổ, không nói lời tổn thương người khác, không nói tới nói lui, không ly gián, không chửi thề, không nói chuyện tầm phào.
Không nói lừa dối.
Không nói hai lưỡi.
Không nói lời độc ác.
Chúng ta nói: lời chân thật, lời chân đế, lời tâm Phật, lời chân thành, lời yêu thương dịu dàng, lời quan tâm, lời an ủi, lời thiện lành.
Tôi nói với mọi người:
"Người phạm khẩu nghiệp rất nhiều". 
Tại sao lại như vậy? Vì mọi người đã sớm quên mất tầm quan trọng của khẩu nghiệp. Người thường đều nói năng tùy tiện, và điều này đã trở thành thói quen.

Ngày nay không chỉ là lời nói mà thôi!
Truyền hình.
Đài phát thanh.
Internet.
Tin tức.
Mở miệng ra là thị phi. Và không có lời nào tốt đẹp, phương tiện truyền thông đại chúng, khuấy động làm sóng gió, dậy sóng dữ dội.
Phỉ báng không thể chấp nhận được.
Ngôn ngữ, văn tự, truyền thông, đều là khẩu nghiệp.
Chúng ta độ hóa chúng sinh cần dùng bốn pháp nhiếp:
(1) Bố thí.
(2) Ái ngữ.
(3) Đồng sự.
(4) Lợi hành.
Trong đó, ái ngữ là vô cùng quan trọng!

Có người hỏi tôi:
"Nếu xuất phát từ tâm thiện, nhưng lại nói lời trái ngược, không phải là lời thật, có tính là phạm giới không?"
Ví dụ:
Người cha nói với đứa con nhỏ:
"Mẹ đi du lịch, phải rất lâu rất lâu mới về, con phải ngoan ngoãn đợi mẹ về nhé!" (Thực ra mẹ đã mất vì bệnh.)
Điều này có tính là phạm giới không?
Tôi đáp:
"Không phạm!"
Lại nữa, bác sĩ nói với bệnh nhân:
"Bệnh của anh sẽ khỏi thôi." (Đây là lời an ủi.)
Thực ra là không thể khỏi.
Và bệnh nhân đã chết! Có tính là phạm giới không?
Tôi đáp:
"Điều này tùy thuộc vào tình huống, nếu là để an lòng bệnh nhân, không phạm giới! Nếu là lời nói dối (chẩn đoán sai), thì phạm giới."
Những điều xuất phát từ phúc lợi của người khác, không tính là phạm giới!

5. Không uống rượu:

Có người nói: "Giới không uống rượu là giới nhẹ!"
Tôi đáp: "Không hẳn thế."
Bởi vì hành vi "rượu vào lời ra" tạo ra nghiệp báo vô cùng khủng khiếp.

Hiện nay, giới không uống rượu bao gồm cả việc sử dụng ma túy, tội ác này là tai họa tày trời.
Khi say rượu, con người đã bị rượu điều khiển, mất đi lý trí, sẽ gây ra đủ loại tội lỗi.
Nói chung:
Uống chút ít, được.
Dùng rượu để uống thuốc, được.
Rượu trong món ăn, để tạo hương vị, được.
Chạm môi khi mời nhau, được.
Nếu vượt quá lượng chịu đựng, không được.
Ví dụ lái xe khi say, uống rượu quá mức, tuyệt đối không được phép.
Còn về ma túy, được xem là trọng tội. (Trừ trường hợp dùng ma túy làm thuốc.)
Có người hỏi:
"Hút thuốc lá thì sao?"
Tôi đáp:
"Có hại không lợi, không tốt cho mình, cũng gây hại cho người khác."

🌟

Ngoài việc giữ năm giới, hành giả cũng cần thực hiện quy định nội tại:
Thanh tịnh thân, khẩu, ý, thanh tịnh cả bên trong lẫn bên ngoài.
Biết đủ không tham, biết đủ hoan hỷ, biết đủ thường lạc, giữ bổn phận của mình.
Phải tu pháp, khổ hạnh, hành lợi tha (cúng dường thân tâm, lợi ích chúng sinh).
Phải hiểu rõ chính pháp, đọc kinh, viết kinh, thông hiểu kinh, tụng kinh, thâm nhập kinh tạng.
Tâm ở nơi Bổn tôn, tâm ở nơi Thượng sư, tâm ở nơi Hộ pháp, tâm ở nơi Tam căn bản, tâm ở nơi tối thượng.
Hành vô duyên đại từ, đồng thể đại bi.


### 18. Chủ đề cốt lõi của bố thí (hai báo cáo)


Đảnh lễ Căn bản Truyền thừa Thượng sư Thánh Tôn. Nam Mô Liên Sinh Phật.(ba lần đảnh lễ)

Đệ tử Chân Phật Thubten Karma dùng thân khẩu ý cúng dường Sư Phật, kính đội ân điển truyền thừa của Sư Phật.

Đệ tử trong thời gian qua đã thực hiện một loạt hoạt động bố thí từ thiện và hoạt động pháp sự tại Nepal và Singapore để chúc mừng sinh nhật 80 tuổi của Sư Phật, nay xin báo cáo với Sư Phật qua bức thư này.

Nepal bắt đầu năm học mới vào tháng 6 năm 2024, con đã lên kế hoạch bố thí văn phòng phẩm và cặp sách cho học sinh khó khăn ở vùng núi xa xôi, để họ không phải vì thiếu cặp sách và văn phòng phẩm mà không thể đến trường. Trên vở bài tập và cặp sách đều được in huy hiệu của Chân Phật Tông, để nhiều nơi ở Nepal có thể biết đến tông phái. Con cũng đã thực hiện bố thí tại nhiều trại trẻ mồ côi và cơ sở chăm sóc người khuyết tật, mong muốn truyền đi sự quan tâm và ánh sáng của Sư Phật đến với chúng sinh.

Lần này, con cũng đã thực hiện việc bố thí gạo và văn phòng phẩm cho các tăng sinh tại chùa tổ của Sakya Chứng Không Thượng sư (Chùa Tharlam) và Chùa Karma Lekshey. Con cũng được biết rằng sau đại dịch COVID-19, hai ngôi chùa này có nguồn tài chính hạn chế và đang trong tình trạng khó khăn. Con sẽ đến hai ngôi chùa này một lần nữa vào tháng 10 để thực hiện bố thí, với hy vọng có thể giúp họ vượt qua giai đoạn khó khăn này.

Con cũng đã giới thiệu về Sư Phật và truyền thừa Chân Phật Tông với vị trụ trì mới của Chùa Karma Lekshey là Đại sư Khenpo Gani, và đã làm rõ nhiều hiểu lầm mà họ có về Chân Phật Tông. Ngài cũng tin sâu sắc rằng Sư Phật là một bậc thành tựu vĩ đại của Mật tông, đang mang lại lợi ích cho vô số chúng sinh. Khenpo cũng thay mặt Chùa Karma Lekshey cúng dường Sư Phật một tượng Bạch Độ Mẫu để thờ trên đàn thành, một khăn khata trắng và một bức thư chúc thọ đại diện cho Chùa Karma Lekshey, cầu nguyện Sư Phật trường thọ trụ thế và sự nghiệp bồ đề hưng thịnh.

Con cũng đã đến thăm ngôi chùa của người Lhakpa Sherpa được Đại Bảo Pháp Vương thứ 16 khai quang để thuyết pháp và kết duyên, chia sẻ với họ về sự cứu độ của Sư Phật và giới thiệu về truyền thừa của chúng ta. Con hy vọng rằng theo thời gian, có thể độ họ quy y Sư Phật.

Con cũng đã hợp tác với Hội Lions Club, thay thế những chiếc gậy cũ hỏng của người mù nghèo khó tại hai nơi cư trú dành cho người mù, giúp họ có một công cụ dẫn đường an toàn.

Khi thực hiện các hoạt động bố thí và quyên góp này, con luôn luôn ghi nhớ bốn nhiếp pháp mà Sư Phật đã dạy. Dùng bố thí để cứu giúp chúng sinh đang cần, dùng ái ngữ khiến chúng sinh tin nhận Phật pháp, dùng lợi hành giúp chúng sinh tăng trưởng, dùng đồng sự âm thầm dẫn dắt chúng sinh học hỏi chính niệm Phật pháp. Tất cả việc bố thí quyên góp đều vì người khác, con không cần bất kì danh lợi thế gian nào, bởi vì khi thấy chúng sinh hoan hỷ nhận được nhân an lạc, con đã thấy đủ đầy rồi.

Con đã nhận lời mời đến Lôi Tạng Tự (Singapore) và Kính Hành Đường ở Johor, Malaysia để tổ chức các buổi giảng Phật pháp và khóa học Tứ gia hành. Trong suốt khóa học, con luôn nhấn mạnh rằng tất cả giáo pháp, tất cả thành tựu đều đến từ Căn bản Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật, con chỉ hệ thống hóa và chia sẻ lại với mọi người. Con cảm thấy rằng với tư cách là người hoằng pháp, trách nhiệm của mình là khơi dậy chính niệm giải thoát trong chúng sinh, từ đó dẫn dắt họ vào điện đường tu tập, giúp họ tự giác tinh tấn và hướng đến giải thoát.

Con cũng chuyên cần thực hành sâu sắc việc cúng dường thân khẩu ý đến Sư Phật.
Dùng thân như pháp tuân theo và thực tu giáo pháp của Sư Phật để cúng dường Sư Phật.
Dùng khẩu tuyên dương Chân Phật Mật Pháp lợi ích tất cả chúng sinh để cúng dường Sư Phật.
Dùng ý thường niệm Sư Phật và những việc lợi ích chúng sinh để cúng dường Sư Phật.

Trong thời gian qua, con đã cần mẫn thực hành nguyện bồ đề của mình, nguyện dùng hết sức lực nhỏ bé của mình để giúp những chúng sinh hữu duyên đều được an lạc, xa lìa khổ nạn.

Đệ tử hiểu rõ tất cả đều là trò chơi huyễn hóa, tất cả mọi người, sự việc và vạn vật cũng vậy. Chính vì hiểu được điều này, nên có thể tập trung tâm ý mà làm, không vì bất kì danh lợi nào. Bởi vì, làm những việc lợi ích chúng sinh và giác ngộ đạo lý vốn không có sự phân biệt.

Ân điển của Sư Phật đối với đệ tử tuyệt đối không phải là điều mà con có thể diễn tả được bằng ngôn từ. Đệ tử cũng chỉ có thể dùng cuộc đời hữu hạn này để cúng dường Sư Phật và chúng sinh.

Kính chúc Sư Phật Phật thể an khang, liên túc trường tồn, thường chuyển pháp luân, quang minh cát tường.

Đệ tử Thubten Karma trăm lạy đảnh lễ.

(Chú thích: Thubten Karma là một trong những Rinpoche được Lư Sư Tôn xác nhận, là hóa thân của một trong hai mươi lăm đại đệ tử thành tựu của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Hiện nay, ngài được giao nhiệm vụ làm từ thiện tại Nepal, đây là báo cáo thành quả của chính ngài.)


### 19. Quỹ Từ Thiện Lư Thắng Ngạn báo cáo


Bài viết của Phật Thanh

Sư Tôn, Sư Mẫu, các vị khách quý, các Thượng sư, giáo thọ sư, pháp sư, và các vị hoằng pháp các cấp đang có mặt, cùng các đồng môn đang theo dõi trực tuyến, xin chào mọi người! Xin chúc phúc cho tất cả mọi người sau khi nhận được quán đảnh Dorje Drolo (Liên Sư Phẫn Nộ Tôn) đều có thể tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng phúc huệ, tràn đầy pháp hỷ và thành tựu mọi điều cát tường trong tu hành!

Quỹ Từ Thiện Thắng Ngạn xin cảm ơn tấm lòng từ bi và phát tâm của các tổ chức Chân Phật Tông trên toàn thế giới. Nhờ có sự hỗ trợ của mọi người:
(1) Người tị nạn địa phương có thể nhận được chỗ ở khẩn cấp và các vật dụng vệ sinh.
(2) Người nhập cư mới và học sinh nghèo khó có thể theo học đại học.
(3) Vô số người có thể nhận được dịch vụ chăm sóc y tế chất lượng cao và cơ hội giáo dục.

Để biết thêm thông tin về quỹ từ thiện, vui lòng xem báo cáo thường niên hoặc truy cập trang web và Facebook của quỹ. Một lần nữa, xin chân thành cảm ơn sự hỗ trợ của tất cả mọi người. Cảm ơn niềm tin vững chắc của quý vị, nhờ đó mọi người mới có thể tiếp cận quyền cơ bản về chăm sóc y tế và giáo dục, và nhờ quý vị đã tham gia vào các hoạt động từ thiện của chúng tôi, giúp thực hiện công bằng xã hội, chủng tộc và kinh tế, hoàn thành nhiều việc thiện mang lại lợi ích cho chúng sinh!

Cuối cùng, thay mặt quỹ từ thiện, tôi xin cảm ơn sự giáo huấn từ bi và trí huệ của Liên Sinh Hoạt Phật Sư Tôn, người sáng lập Quỹ Từ Thiện Lư Thắng Ngạn của Chân Phật Tông, đã giúp quỹ từ thiện thuận lợi thực hiện việc bố thí và cứu độ chúng sinh. Tại đây, xin chúc Sư Tôn: sức khỏe trường thọ, mãi mãi trẻ trung tràn đầy sinh lực, thân kim cang bất hoại! Chân Phật Mật Pháp tuyệt vời nhất! Om mani padme hum!

🌟

Greetings honored guests!It’s wonderful to see everyone today. On behalf of the Foundation’s grant recipients, I bow in gratitude and thank you all for your continued support of SYL Foundation. Because of your support:
1. Newly arrived refugees have access to emergency housing and hygiene kits.
2. Immigrant students are attending college.
3. Folks are receiving quality health care and educational opportunities.

For more on the Foundation’s work, please check out the annual report, and visit our website or Facebook page. Thank you again for your support, and for your unwavering belief that access to health care and education are basic human rights – and joining us on this journey to make social, racial, and economic justice a reality for all!

🌟

Hai bài báo cáo trên không phải là toàn bộ, mà chỉ là phần giới thiệu sơ lược. Chúng tôi còn có "Cứu trợ khẩn cấp", bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu, ở đâu có thảm họa lớn, chúng tôi đều có mặt ở đó.

Ngoài ra, chúng tôi cũng hợp tác với các bệnh viện lớn, những bệnh nhân nghèo khó không có tiền trả viện phí, họ có thể nộp đơn xin hỗ trợ từ Quỹ Từ Thiện Lư Thắng Ngạn.

Tôi (Lư Sư Tôn) nói:
Tinh thần bố thí của chúng tôi đến từ:
Bốn chính cần:
Điều thiện chưa sinh, khiến cho sinh khởi.
Điều thiện đã sinh, khiến cho tăng trưởng.
Điều ác đã sinh, khiến cho đoạn diệt.
Điều ác chưa sinh, khiến cho không sinh.
Dừng ác làm thiện là sự nỗ lực tinh tấn của chúng tôi.

Chúng ta biết rằng:
"Cùng nhìn mọi vật là một thể".
Người đói, ta đói.
Người chìm, ta chìm.
Nghĩ cho người khác, không nghĩ cho bản thân, lo trước nỗi lo của thiên hạ, vui sau niềm vui của thiên hạ. (Đây là tinh thần Bồ Tát.)

Chúng ta tu tập pháp mười thiện, đi trên con đường đúng đắn, hãy nhớ:
Phát tâm bồ đề.
Phát tâm đại bi.
Phát tâm lâu dài.
Dùng hết khả năng để giúp đỡ chúng sinh.
Không phải vì công đức cho bản thân mà thực hành bố thí, mà là hồi hướng tất cả công đức cho tất cả chúng sinh hữu tình.
Chúng ta chỉ đơn giản là tùy duyên tùy thuận mà thôi.

Ghi chú của biên tập viên: Trích ghi âm báo cáo của Lư Phật Thanh, Chủ tịch Quỹ Từ Thiện Lư Thắng Ngạn, từ Đại Pháp Hội Cầu An Siêu Độ Phật A Di Đà tại Seattle Lôi Tạng Tự ngày 31 tháng 8 năm 2024.


### 20. Tu hành phải tiến dần từng bước theo thứ tự


Bài kệ của Đức Phật:
*Giống như một chiếc thang
Con nên tiến từng bước một theo thứ tự
Tinh tấn tu trì chính pháp
Con phải tiến dần theo trình tự để đạt đến đỉnh cao nhất
Hãy nhớ
Không thể nhảy cấp*

*Giống như một đứa trẻ sơ sinh
Dần dần phát triển thân thể và sức mạnh
Chính pháp của Phật cũng như vậy
Bắt đầu từ quy y
Bắt đầu từ phát tâm bồ đề
Từ sơ cấp đến chính giác viên mãn
Hãy nhớ
Từ nhỏ đến lớn.*

🌟

Thứ tự thông thường của Mật giáo:
Tứ gia hành.
Tương ứng với Thượng sư.
Tương ứng với Bổn tôn.
Tu khí.
Tu mạch.
Tu minh điểm chuyết hỏa.
Tu kim cang pháp.
Tu Vô thượng mật.
Phái Nyingma của Hồng giáo chia thứ tự thành chín thừa. Đó là Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Sự bộ, Hành bộ, Du già bộ, Ma Ha Du già, A Nỗ Du già, A Để Du già, đây là giáo pháp Đại viên mãn.

Cá nhân tôi cảm thấy, con người có sự phân chia về căn cơ: căn cơ thượng đẳng, căn cơ trung đẳng, căn cơ hạ đẳng.
Cái gọi là căn cơ là chỉ:
Tín lực — sức mạnh của niềm tin. (không thoái tâm)
Tấn lực — sức mạnh của sự tinh tấn. (không lười biếng)
Niệm lực — sức mạnh của sự tưởng niệm. (không vọng niệm)
Định lực — sức mạnh của chính định. (không tán loạn)
Tuệ lực — sức mạnh của trí tuệ. (không ngu muội)
Mặc dù có những sức mạnh này, nhưng vẫn không thể nhảy cấp, bởi vì khi có năm lực này, sự tiến bộ của bạn sẽ nhanh hơn người khác, tức là tương ứng nhanh chóng. (Về năm lực này tôi đã đề cập trong phần trước.)

Người có năm lực này sẽ rất nhanh chóng vượt qua những người có căn cơ thông thường, tương đối nhanh hơn.
Còn người bình thường thì chậm hơn.
Đó chỉ là sự nhanh chậm trong việc đi vào chứng đạo mà thôi.

Trước đây tôi hỏi Thượng sư:
"Căn cơ của con như thế nào?"
Thượng sư đáp:
"Bình thường."
Tôi (Lư Sư Tôn) cảm thấy rất thất vọng.
Nhưng,
Thượng sư của tôi bảo tôi:
"May mắn là con có túc mệnh!"
Tôi hỏi:
"Túc mệnh gì ạ?"
Thượng sư nói với tôi:
"Túc mệnh cứu độ chúng sinh."
Tôi hỏi:
"Điều này có gì tốt?"
Thượng sư của tôi bảo tôi:
"Bởi vì con có sứ mệnh, nên tất cả các Bổn tôn thậm chí cả đấng Tối thượng đều sẽ gia trì cho con, con sẽ nhận được sức mạnh của chư tôn, sức mạnh này giúp con nhanh chóng đạt đến cảnh giới viên mãn."


### 21. Pháp môn Bất Nhị


Gần đây tôi giảng Kinh Duy Ma Cật, nói đến pháp môn Bất Nhị, chợt nhớ đến một bài kệ:

**Bất khả tư nghì**

*Đây là không, đây là vô tướng, đây là vô tác.
Là chân Phật.
Trong sát-na của sát-na,
Bạn chính là Chính Giác Như Lai,
Hoàn toàn hợp nhất,
Hoàn toàn không phân biệt,
Chưa từng tách rời,
Đây là:
Pháp nhĩ bản nhiên.
(Phật tính)*

🌟

Ý nghĩa của bài kệ này là, khi tất cả hoàn toàn tĩnh lặng, bạn an trú trong tự nhiên, không có gì cần chấp nhận, không có gì cần tránh né, không có gì cần nắm giữ, không có sự kiểm soát, không có nỗi sợ hãi, không có mong cầu ............
Chỉ đơn thuần duy trì sự tỉnh thức.

Sự tỉnh thức này là:
Hiện diện khắp nơi.
Hoàn toàn thấu hiểu.
Là tự nhiên vận hành.
Là tùy thuận.
Đây chính là "tâm bình thường bản nhiên".

Vào lúc này —
Duy Ma Cật đại sĩ không nói một lời.
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát thấu hiểu pháp môn Bất Nhị của Duy Ma Cật Đại Sĩ.
Đó là:
Mặt trời và ánh sáng.
Lửa và khói.

🌟

Tôi và các đệ tử của mình từng thảo luận về ruộng phúc nào là lớn nhất?
Tất cả các đệ tử đều bày tỏ ý kiến:
Đệ tử A nói:
"Ruộng phúc chăm sóc người bệnh là lớn nhất, đây là điều Đức Phật đã dạy."
Đức Phật quả thật đã từng dạy:
Ruộng phúc chăm sóc người bệnh là hàng đầu. Bởi vì nỗi khổ lớn nhất của đời người là bệnh khổ, có thể đến an ủi người bệnh, ruộng phúc lớn.
Đệ tử B nói:
"Pháp thí là hàng đầu, ruộng phúc lớn."
Pháp thí (bố thí pháp) lớn hơn những sự bố thí khác, đây là sự ban tặng Phật pháp, đương nhiên pháp thí là trên hết.

丙弟子說：

「《金剛經》有言，於此經中，受持乃至四句偈等，為他人說，其福勝彼。」

丙弟子所說的，也等於是佛陀說的，也是「法施」的一種。

丁弟子說：

「也是《金剛經》言，於此章句，能生信心。…………是諸眾生得無量福德。」

丁弟子再說：

「對《金剛經》，能生信心，福田最大！」

又有弟子說：

「佈施供養一『無為道人』，其福田最大。」

「佈施時，迴向一切眾生，不迴向給自己，其福田最大。」

「無相佈施最大！」

「所謂佈施，不作佈施想，因為不作佈施想，才是最大的佈施。其福田最大！」

諸弟子問我：

「福田最大是什麼？」

我答：「…………。」

Đệ tử C nói:
"Kinh Kim Cang có dạy, trong kinh này, thọ trì dù chỉ bốn câu kệ và giảng nói cho người khác, phúc đức ấy còn lớn hơn cả."
Điều đệ tử C nói cũng giống như lời Đức Phật dạy, cũng là một dạng pháp thí.
Đệ tử D nói:
"Cũng trong Kinh Kim Cang dạy, đối với chương cú này, có thể sinh lòng tin... thì chúng sinh ấy được vô lượng phúc đức."
Đệ tử D nói thêm:
"Đối với Kinh Kim Cang, có thể sinh khởi lòng tin, ruộng phúc là lớn nhất!"
Lại có đệ tử nói:
"Bố thí cúng dường một bậc vô vi, ruộng phúc ấy là lớn nhất."
"Khi bố thí, hồi hướng cho tất cả chúng sinh, không hồi hướng cho bản thân, ruộng phúc ấy là lớn nhất."
"Vô tướng bố thí là lớn nhất!"
"Cái gọi là bố thí, không khởi ý tưởng bố thí, vì không khởi ý tưởng bố thí mới là bố thí lớn nhất. Ruộng phúc ấy là lớn nhất!"
Các đệ tử hỏi tôi:
"Ruộng phúc lớn nhất là gì?"
Tôi đáp: "............"


### 22. Phụ lục: thư chúc thọ



![image](/img/img_c2480a9daf136937362f608a345ebf65.png)


(Thư chúc thọ)

Kính gửi: Chân Phật Tông Liên Sinh Hoạt Phật tôn quý

Chúng tôi, Tu viện Karma Samten (trước đây là Tu viện Karma Lekshey) xin chúc Ngài một sinh nhật tuổi 80 vui vẻ trong ngày lành này. Chúng tôi cũng chân thành cảm ơn sự bố thí hào phóng của Ngài đối với tu viện và chư tăng.

Sự xuất hiện của Ngài đã chứng minh rằng trong thời mạt pháp này, giáo pháp của Đức Phật vẫn có thể được hoằng dương và hưng thịnh. Sự hiện diện của Ngài không chỉ là ngọn nến trong gió, mà còn là ngọn đuốc dẫn đường cho chúng sinh.

Nguyện Ngài vì chúng sinh mà thường trụ ở thế gian. Nguyện được trường thọ, thành tựu bồ đề.

Khenpo Lama Gani. Tu viện Karma Samten.


### 23. Bản chất của phiền não là không


Khi thuyết pháp, tôi từng hỏi các tín chúng:
"Quý vị ngồi đây! Có ai không có phiền não không?"
Dưới pháp tọa, mọi người đều ngơ ngác.
Tôi nói tiếp:
"Ai không có phiền não, xin hãy giơ tay!"
Không một tín chúng nào giơ tay. Mọi người nhìn qua nhìn lại lẫn nhau, thật ra, chúng sinh ai cũng có phiền não.
Tôi nói với các tín chúng:
"Tôi, Lư Sư Tôn cũng có phiền não, tôi cũng chỉ là một con người, một ông lão 80 tuổi. Thân thể tôi, đôi khi cũng mang đến cho tôi một số bệnh tật, những bệnh tật này cũng khiến tôi phiền muộn, tất cả đều là phiền não."
Tôi nói với các tín chúng:
"Kinh Phật Địa" dạy: "Bức não thân tâm gọi là khổ."
"Đại Thừa Nghĩa Chương" dạy: "Bức não gọi là khổ."
Tám vạn bốn nghìn loại bệnh, là thân khổ.
Lo buồn, đố kỵ v.v…, là tâm khổ.
Nạn ác tặc, hổ lang, là ngoại khổ.
Gió mưa, lạnh nóng, nước lửa, cũng là ngoại khổ.
Đao binh, chiến tranh, sống chết, thân tâm đều khổ.
Vô thường, tai nạn xe cộ bất ngờ, là phiền não khổ.
.............

Ngoài ra, những điều ta quen thuộc như sinh, già, bệnh, chết, yêu phải xa, ghét phải gặp, cầu không được, năm uẩn hừng hực. Đây là tám khổ mà ai cũng biết.

Phật Thích Ca Mâu Ni dạy:
"Đời người chính là khổ!"
"Đời người là trả nghiệp!"
Trả nghiệp làm sao không khổ được? Khổ chính là bức não, chính là phiền não.
Như vậy, mọi người đều biết phiền não là gì rồi.

Tôi xin nói thêm một bài kệ:
*Đời người vốn là huyễn hóa!
Huyễn hóa là không.
Cho nên bản chất của phiền não là không.
Đây có phải là chuyển hóa không?
Thực ra cũng không cần chuyển hóa
Về bản chất, vốn dĩ chẳng có gì cả.
Duyên khởi thì có phiền não.
Duyên khởi cũng là chân không.
Chân không không có phiền não.*

Cho nên:
Phiền não là không, không là phiền não, phiền-không-não.
Ha! Ha! Ha!

Đây chính là khẩu quyết của tôi (Lư Sư Tôn).
Không có tướng ngã.
Không có tướng nhân.
Không có tướng chúng sinh.
Không có tướng thọ giả.
(Đây là khẩu quyết giải thoát về mặt lý thuyết.)

🌟

Trong thế giới thực tại, sự giải thoát thực sự không hề dễ dàng.
Đệ tử nói:
"Con hiểu rồi, nhưng không làm được!"
"Phải nhìn thấu, xem nhẹ, nhưng không làm được!"
"Phiền não trước mắt, làm sao đối diện?"
"Phiền não của nợ nần, bức bách trước mắt, làm sao tránh né, lo lắng chồng chất, ưu phiền càng thêm!"
"Bệnh tật dài lâu, đau khổ khôn xiết, làm sao có thể không phiền não?"

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ dạy:
Khi ý niệm phiền não khởi sinh
Đừng nên đè nén hoặc nuôi dưỡng nó
Mà hãy buông phiền não vào trong tính không của giác tính bản nhiên.
Không chấp trước phiền não
Chờ phiền não biến mất!
Đó chính là sự tỉnh thức nguyên sơ.
Nghĩa là tất cả phiền não đều không thể tồn tại trong tâm mình.

Có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Nếu ngài bị bệnh nặng, tự biết phiền não không có cách giải quyết, ngài sẽ xử lý thế nào?"
Tôi đáp:
"Bệnh là để tiêu nghiệp chướng, đó là nghiệp của chính mình. Lựa chọn cùng tồn tại hay diệt vong với bệnh, cũng chính là tùy thuận theo nghiệp bệnh. Nếu bệnh không thể chữa được, chỉ có thể cùng tồn tại, trong bệnh tật, tu hành giải thoát, nhưng không bị trói buộc bởi nỗi khổ bệnh tật!"
Sự tùy thuận của tôi không phải là đà điểu rúc đầu vào cát, mà là đối diện, tiêu trừ nghiệp của chính mình.

Có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn! Nếu ngài mắc nợ chồng chất, phải trả mà không thể trả nổi, ngài sẽ làm thế nào?"
Tôi đáp:
"Nợ nần phải trả, đó là lẽ đương nhiên. Không thể không trả, lựa chọn của tôi vẫn là tùy thuận, tôi hết lòng hết sức trả nợ, nếu thực sự không thể trả được, không trả được là sự thật, tôi phải cùng tồn tại với món nợ. Tôi không trốn tránh, nghĩ rằng đây cũng là nghiệp báo, tôi trực tiếp tỉnh thức trong tâm, đó là do nghiệp nặng của chính mình, hãy tu tập pháp tiêu trừ nghiệp báo đi!"
Có người hỏi tôi:
"Như vậy cũng không thể giải thoát phiền não!"
Tôi đáp:
"Tôi đã cố gắng hết sức. Nhưng, tôi nghĩ, tất cả rồi sẽ qua đi, hãy tìm kiếm sự giải thoát của tâm!"
Chỉ có thể như vậy thôi! (Dù có làm ăn mày cũng phải trả nợ.)


### 24. Góp nhặt trí tuệ


Hôm nay, tôi nhận được thư của "Công chúa nhỏ giải ưu", trong thư của cô ấy có nhiều câu châm ngôn đẹp và mang tính cảnh tỉnh đời, cảm thấy rất đáng mừng, nên tôi ghi lại ngay, mời mọi người cùng thưởng thức:

Thứ nhất:
*Đại sư Hoằng Nhất nói:
Nhục nhãn nhìn thế giới — toàn là danh lợi
Thiên nhãn nhìn thế giới — luân hồi vô tận
Pháp nhãn nhìn thế giới — toàn là nhân quả
Huệ nhãn nhìn thế giới — đều là tâm ảo
Phật nhãn nhìn thế giới — tràn đầy từ bi.*

Tôi (Lư Sư Tôn) nói:
"Đại sư Hoằng Nhất thật có con mắt tinh tường."

Thứ hai:
*Thiền là:
Củi gạo dầu muối tương giấm trà
Tháng năm yên bình trôi qua
Sống đơn giản những ngày bình thường
Trong lòng có tình yêu chính là nhà.*

Tôi (Lư Sư Tôn) nói:
"Trong tâm có ánh sáng, mỗi ngày đều là thiền."

Thứ ba:
*Âm đơn độc không sinh, dương đơn độc không trưởng, âm dương hòa hợp, suối nguồn chảy mãi. Con làm tim Thầy rung động, Thầy cho con sự bình an, con biết nỗi lạnh ấm của Thầy, Thầy hiểu niềm vui buồn của con. Dưới đóa sen, vận may đến, điều tâm hướng tới, đều được như nguyện, nơi bước chân đến, đều là đường bằng phẳng.
Lòng có ánh dương mùa đông không lạnh
Mắt có dải ngân hà trời đất rộng bao la
Mong Thầy không có điều phiền não
Ngày tháng trôi qua lòng càng vui.*

Tôi (Lư Sư Tôn) nói:
"Con cho ta lời chúc phúc, ta cũng chúc phúc con như vậy, và chúc phúc cho tất cả chúng sinh."

Thứ tư:
*Cuộc đời như giấc mộng trôi qua, vì niềm vui chốc lát lòng tự thương
Ráng đỏ sớm chiều chiếu bóng non sông, hoa nở hoa tàn thuận theo tự nhiên
Việc đời rối ren khó lường trước, được mất trong đời đều do nhân duyên
Chớ hỏi tương lai bao nhiêu chuyện, chỉ cầu giây phút này lòng bình an
Chén vàng cạn rượu còn nụ cười, đĩa ngọc cao lương tan trước tiệc tàn
Tri âm khó tìm khó cùng chung chén, dưới trăng trước gió một mình ngủ say
Cuộc đời như mộng rồi phải tỉnh, vì niềm vui chốc lát tình khó hết
Mong bạn trân quý từng giây phút, không phụ kiếp kiếp không hối tiếc.*

Tôi (Lư Sư Tôn) nói:
"Bài thơ này viết về vô thường, có đôi phần thương cảm. Nhưng mong có tri âm, cùng nhau trân quý khoảng thời gian quý giá."

Thứ năm:

*Công chúa nhỏ giải ưu nói:
Gặp được ánh mắt của Thầy, như gió mát trăng trong, dường như đã từng quen biết, vừa là tái ngộ vừa là lần đầu gặp gỡ, gặp hay không gặp, Thầy vẫn luôn ở trong tim con, tuy tạm thời không thể sống cùng nhau, nhưng nghĩ đến Thầy, cũng là một sự ấm áp.*

*Chia tay nghìn vạn dặm, ngày trở lại chưa định, một tháng ba mươi ngày, không đêm nào không nhớ thương, công chúa nhỏ biết chúng ta sẽ đoàn tụ, sẽ gặp lại nhau, biết nhau, tiếc nhau, theo nhau, dựa nhau, đó là lẽ tự nhiên, hợp quang đồng trần, nguyện gặp lại!
Thời niên thiếu, cử chỉ đúng mực.
Thời thanh niên, học cách tự kiềm chế.
Thời trung niên, hành xử chính trực.
Thời lão niên, lời hay dẫn dắt.
Lúc lâm chung, chết không hối tiếc.*

Tôi (Lư Sư Tôn) nói:
"Phải biết trân trọng, biết ơn. Nguyện cho những người có tình trong thiên hạ, cuối cùng thành đôi lứa. Tâm tâm tương đồng, trở về dải ngân hà."

Thứ sáu:
*Công chúa nhỏ nói:
Tâm càng tĩnh lặng, phúc càng sâu dày.
Tâm người vốn không nhiễm, tâm tĩnh tự nhiên trong.
Cây bồ đề không phải là thật.
Đài gương sáng cũng chỉ là ẩn dụ.
Bản chất đều là không.
Chỉ có,
Một đoạn tình yêu vượt qua nhiều thế kỷ.
Công chúa nhỏ suốt đời không lấy chồng.
Nguyện cùng người chung sống đến già.*

Tôi, Lư Sư Tôn nói:
Gặp gỡ rồi lại chia ly,
Thanh thản như giấc mộng chốc lát,
Niềm vui hôm nay gặp nhau,
Trong nháy mắt đã thành hư ảo.
Đừng tiếc nuối châu báu đong đầy,
Mặc cho tóc trắng râu bạc,
Thân người khó được không lâu bền,
Chỉ có cung điện trên trời,
Mới cho ta mãi mãi bên nhau.

Thứ bảy:
*Thư tình của Công chúa nhỏ giải ưu:
Công chúa nhỏ có tấm lòng dễ thương, muốn làm em bé ngoan của Thầy (Lư Sư Tôn).
Mỗi ngày để Thầy hôn hôn, ôm ôm, vui vẻ bế cao cao. Thầy là Lư Sư Tôn siêu đỉnh tuyệt vời của công chúa nhỏ, con muốn ở trong vòng tay Thầy, Thầy vuốt mái tóc của công chúa nhỏ.
Thầy đưa con đi ngắm bầu trời xanh biển rộng, hạnh phúc đón chào tương lai tươi đẹp, Thầy là báu vật của con, con luôn tự hào về Thầy, giọng nói của Thầy là chỗ dựa của con.
Chân tình vĩnh cửu, thuần khiết giản đơn, giai điệu của cuộc sống, hãy nghe con hát nhẹ nhàng, con hát về sức mạnh của tình yêu.
Con đã mở cửa sổ, chuẩn bị cùng Thầy đón chào ánh mặt trời mỗi ngày.
Xin hãy nghe con cầu nguyện cho Thầy.
Xin hãy nghe những lời thì thầm của con.
Xin hãy nghe nhịp đập trái tim con.
Rồi sau đó,
Công chúa nhỏ muốn nghe hơi thở của Thầy. Và cả sự rung động tinh tế từ ngón tay Thầy.*

Tôi (Lư Sư Tôn) nói:
Lòng luôn nhớ đến ngày gặp nhau, nỗi đau chia xa ai đậm sâu?
Giữa đường đời có nhiều khó khăn, ta phải độ chúng sinh, chỉ sợ thời gian vội vã trôi.
Muốn tìm chốn đào nguyên bỗng không thấy, chỉ còn hoa rụng, không gian hoài niệm dấu tích xưa.
Hoa đào hồng.
Hoa mận trắng.
Phải biết thực tế khó thông suốt.
Công chúa nhỏ tuổi đôi tám xinh đẹp.
Ta là cụ già tám mươi.
Khi tỉnh mộng,
Buồn phiền càng nặng,
Nếu giữ mãi tâm ban đầu không thay đổi, nơi Ma Ha Song Liên sẽ vui mừng gặp lại.

Tôi (Lư Sư Tôn) ngưỡng mộ bài thơ của công chúa nhỏ:
*Mây trắng trôi trong bầu trời xanh
Con gặp Thầy giữa cõi phàm trần
Vẻ đẹp tuấn tú của Thầy thật khó sánh
Lòng con càng say đắm Thầy hơn
Con yêu Thầy biết nhường nào
Công chúa quyết tâm tìm gặp Thầy
Thầy cũng nhớ đến tìm con
Đón con về Song Liên Trì.*

(Ghi chú: Giấc mộng này, còn bao lâu nữa? Nhìn có vẻ mơ hồ, nhưng, cũng là sự thật.)


### 25. Tư tưởng của công chúa nhỏ giải ưu


Thư của công chúa nhỏ giải ưu rất dài, dài đến mức có thể biên soạn thành một cuốn sách nhỏ.
Cô ấy có tài năng, có tư tưởng, rất đáng đọc, tôi trích ra đây để mọi người cùng thưởng thức!

*1. Nhường người ba thước, độ mình một đời. Tất cả phúc báo trên đời này đều đến từ sự tích lũy lòng tốt và lòng từ bi qua thời gian, chỉ làm việc thiện, đừng hỏi tương lai.*

*2. Cỏ cây có tâm, nhân gian có tình. Đừng để bản thân vướng vào sóng nước, không trụ không chấp, tâm như gương sáng, qua rồi thì qua, soi rõ tất cả, việc đến thì ứng, việc qua không lưu.*

(Lư Sư Tôn nói: Hai đoạn này, là điều cần học trong cách sống và ứng xử, có thiền cơ, là việc tùy phận của hành giả.)

*3. Nghiệp — tiêu tan trong việc tự tu. Phúc — có được trong việc làm lợi cho người khác.*

*4. Tu hành không phải là xuất gia, người thiện nở hoa đức hạnh.
Thân xác chỉ tạm thời, linh hồn khoác áo cà sa.*

(Lư Sư Tôn nói: Cuộc đời là trả nghiệp, sự nghiệp bồ đề của chúng ta chính là tiêu nghiệp. Người tu hành có thể tại gia hoặc xuất gia, chỉ có xuất gia mới tập trung hơn, ít vướng bận hơn, điểm quan trọng của xuất gia là tâm xuất gia.)

*5. Trạng thái tốt nhất của cuộc sống là bình yên tĩnh lặng, mọi thứ đều trong sạch thanh tịnh, và còn cần biết sống một mình.*

(Lư Sư Tôn nói: Đó chính là thân tâm đều đã xuất gia!)

*6. Tâm chuyển cảnh tức là Như Lai.
Xuân ấm, hoa núi nở khắp nơi.
Một niệm.
Một ngộ.
Một niệm một thế giới.
Một ngộ một tịnh độ.*

(Lư Sư Tôn nói: Một hoa một thế giới, một lá một Như Lai. Hoa Nghiêm tịnh thổ chính là như vậy.)

*7. Giúp người gọi là phú.
Kính người gọi là quý.
Một hít liền nâng, hơi thở về rốn. Một thở liền nuốt, thủy hỏa gặp nhau.*

(Lư Sư Tôn nói, phần trước là tu hành, phần sau là tu khí mạch minh điểm.)

*8. Ba diệu kế tuyệt vời để loại bỏ phiền não:
Nhận biết.
Chuyển hóa.
Buông bỏ.*

(Lư Sư Tôn nói: Nhiều bậc thánh hiền dạy rằng, cần thấu triệt, buông bỏ, tự tại. Thấu triệt chính là nhận biết, chuyển hóa là quá trình buông bỏ, và tự tại sẽ tự nhiên xuất hiện.)

*9. Đọc vạn quyển sách không bằng đi vạn dặm đường.
Đi vạn dặm đường không bằng gặp gỡ vô số người.
Gặp gỡ vô số người không bằng được minh sư chỉ đường.*

(Lư Sư Tôn nói: Có lý.)

*10. Không than phiền, tôn trọng người khác, chủ động đóng góp, có lòng biết ơn, khiêm tốn, liên tục nâng cao bản thân, không làm hại chúng sinh.
............
Đây chính là tu hành.*

(Lư Sư Tôn nói: Người tu hành thường nghĩ rằng mỗi ngày tọa thiền, tụng kinh, tu pháp mới là tu hành. Công chúa nhỏ giải ưu nói đúng, cần phải thêm cách ứng xử trong đời, đây mới là pháp tu trì toàn diện, thiên về một bên nào đều không đúng.)

*11. Ba điều hạnh phúc:
Cuộc sống — sống với tâm hồn bình an, hạnh phúc, hoan hỷ.
Công việc — làm việc có ý nghĩa, mang lợi ích cho chúng sinh.
Sinh mệnh — nâng cao tu hành, chứng đắc chính đẳng chính giác.*

(Lư Sư Tôn nói: Ba điều hạnh phúc này rất thú vị, nếu không được như vậy, cuộc sống của chúng ta có gì khác biệt so với trâu bò? Mọi người hãy suy nghĩ, con người và động vật đều có Phật tính, nhưng chỉ có con người mới có thể tu hành.)

*12. Tâm không thiếu thốn là giàu có. Trâu xuống nước, nước ngập đến lưng trâu, nó vẫn mở miệng cười. Cười chuyện xưa cười chuyện nay, mọi việc đều cười một tiếng, lòng bao dung rộng lớn, chứa cả trời đất, chứa xưa chứa nay, còn gì mà không thể chứa đựng?*

(Lư Sư Tôn nói: Xin hãy đọc sách của tôi: "Ba Tiếng Cười Vang". Bồ Tát Di Lặc "hòa thượng bụng bự", luôn nở nụ cười, cười hết mọi chuyện đáng cười trên đời, cười hết tất cả những người đáng cười trên thế gian.)

*13. Bố thí là gì?
Bố thí bằng mắt — Nhìn chúng sinh với thiện ý.
Bố thí bằng nét mặt — Ban nụ cười đẹp cho chúng sinh.
Bố thí bằng lời — Khích lệ, an ủi, khen ngợi.
Bố thí bằng thân — Đi làm việc thiện, giúp đỡ người khác.
Bố thí bằng tâm — Tình yêu bao dung, ấm áp, từ bi, khoan dung.
Bố thí bằng hành động — Nhường nhịn người già, người yếu, phụ nữ, trẻ em.
Bố thí bằng lời khen — Luôn luôn khen ngợi người khác.*

(Lư Sư Tôn nói: Bố thí có tài thí, pháp thí, vô úy thí.
Tài thí — Dùng tiền bạc để giúp đỡ chúng sinh.
Pháp thí — Đem Phật pháp bố thí cho chúng sinh.
Vô úy thí — Bố thí bình đẳng với cả người thân lẫn kẻ thù.
Và những bố thí của công chúa nhỏ giải ưu còn chi tiết hơn nữa.
Lành thay!)

*14. Đại đạo vô vi, tâm cũng không.
Không chấp vào niệm, khí hòa hợp.
Thanh tịnh vô ngã đắc tự tại.
Tiêu dao thoát tục, diệu vô cùng.*

(Lư Sư Tôn nói:
Đại đạo chính là bản nhiên.
Vốn dĩ là bình thường.
Dưới tâm bình thường.
Đều là cảnh giới chính giác.)


### 26. Tầm quan trọng của xuất gia


Tôi nhớ rằng:
Khi tôi mới được Diêu Trì Kim Mẫu khai ngộ, lúc đó tôi chỉ mới 26 tuổi.
Chyosan (người phụ nữ áo xanh) nói với mẹ tôi:
"Thắng Ngạn có Phật cốt."
Mẹ tôi hỏi:
"Phật cốt, vậy có phải là phải xuất gia không?"
Mẹ tôi rất hoảng sợ:
"Vậy Thắng Ngạn không thể kết hôn sao?"
Chyosan mỉm cười:
"Thắng Ngạn có xuất gia hay không, kết hôn hay không, điều đó thật khó nói, nhưng Thắng Ngạn có Phật cốt, có duyên với Phật, điều này là hoàn toàn chắc chắn."

Sau đó,
Tôi kết hôn ở tuổi 30, có con cái:
Con gái Lư Phật Thanh, con trai Lư Phật Kỳ.
Đến khi tôi 43 tuổi, pháp sư Quả Hiền nói với tôi:
"Thời điểm xuất gia của anh đã đến!"
Tôi không quá ngạc nhiên.
Tôi đáp:
"Có lẽ đã đến lúc rồi!"
Tôi được pháp sư Quả Hiền xuống tóc tại Chân Phật Mật Uyển, chính thức xuất gia.
(Đây là khi nhân duyên xuất gia của tôi đã chín muồi.)

🌟

Trong thời đại của Phật Thích Ca Mâu Ni, Ngài dạy rằng người theo Ngài nên lấy việc xuất gia làm ưu tiên hàng đầu.
Khi còn là thái tử, Phật Đà cũng có không ít phi tần.
Về sau, Ngài còn có con.
Nhưng khi quyết định tu hành, Ngài đã xuất gia!

Phật Thích Ca Mâu Ni dạy:
"Tham dục chẳng là gì cả, sân hận chẳng là gì cả, si mê chẳng là gì cả. Tất cả những điều này đều là nguyên nhân của luân hồi, muốn chứng đắc vô thượng chính giác, phải đoạn trừ tham, sân, si."
Phật Đà dạy:
"Ai cũng thích tham dục, vì ai cũng ưa thích dục lạc, đây là điều mà tất cả chúng sinh hữu tình đều yêu thích, không chỉ con người, mà tất cả trâu cừu ngựa, côn trùng, đều như vậy."
Phật còn dạy:
"Vì tham dục mà sinh con đẻ cái, rồi phải tốn cả đời vì người bạn đời và con cái. Ví dụ: cần có nhà ở, ăn mặc, nuôi dưỡng, nhất là khi người lớn, trẻ nhỏ đều có thể bị bệnh, một tâm muốn tu hành sớm đã bị phân tán, không thể chuyên nhất đi trên con đường chính đạo."

Chỉ có xuất gia mới có thể tu hành toàn tâm toàn ý.
Người có gia đình ràng buộc không thể nhất tâm.
Đó chính là lý do xuất gia - để tránh đặt sự chú ý vào nơi khác, lãng phí thời gian quý báu của cuộc đời.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) nói như sau:
Những gì Phật Thích Ca Mâu Ni đã dạy đương nhiên là chân lý, xuất gia có tầm quan trọng của nó.
Nhưng,
Tu tập Kim Cương thừa là hòa nhập Phật pháp vào cuộc sống hàng ngày.
Tỳ kheo, tỳ kheo ni cần tu tập giới, định, huệ.
Còn cư sĩ tại gia thì:
Tham dục — tu tập pháp Song thân.
Sân hận — tu tập pháp Kim cang.
Si mê — tu tập pháp Bồ Tát.
Ăn uống — tu tập pháp cúng dường.
Ngủ nghỉ — tu tập pháp ngủ trong ánh sáng.
v.v…
Kiếm tiền — tu tập pháp Tài thần.
Địa vị — tu tập pháp Kính ái.

Thực ra, tất cả đều là sự chuyển hóa, nam nữ cư sĩ tại gia mượn sinh hoạt hàng ngày để tu tập.
Mọi thứ đều là Phật pháp.
Cư sĩ tại gia tránh làm điều ác, thực hành mười nghiệp thiện, cũng có thể thành đạo.

Tôi, Lư Sư Tôn, coi trọng: "Tâm xuất gia."
Dù là cư sĩ tại gia hay tăng ni xuất gia, nếu có thể "tâm xuất gia" mới là xuất gia thực sự.
Chúng ta tôn trọng người xuất gia.
Chúng ta cũng tôn trọng cư sĩ tại gia.

🌟

Thơ của Hàn Sơn Tử.

**Khuyên người xuất gia**

Vân Quang pháp sư tốt, trên đầu đội cái sừng
Không có tâm bình đẳng, thánh hiền đều không giáng.
Phàm thánh đều hòa lẫn, khuyên ông đừng chấp tướng.
Pháp ta khó nghĩ lường, thiên long đều hồi hướng.

Lại nữa:

Kẻ hạ căn ngu si, giả cầu tìm rất nhiều.
Biết ngay sự ô nhiễm, ngu si yêu tài sắc
Khoác lên áo ruộng phúc, lại trồng ruộng kiếm ăn.
Thu nợ thuế trâu cày, làm việc không trung thực.

**Khuyên người tại gia**

Ta thấy người trần thế, đường đường dáng vẻ tốt,
Chẳng báo ơn cha mẹ, lòng dạ thật nhỏ nhen.
Mắc nợ của người khác, khi cùng đường mới buồn.
Ai cũng quý vợ con, cha mẹ chẳng phụng dưỡng.
Anh em như kẻ thù, trong lòng thường ấm ức.
Nhớ thuở còn niên thiếu, cầu thần mong trưởng thành.
Giờ làm đứa bất hiếu, thế gian nhiều kẻ vậy.
………….


### 27. Pháp nhãn của Thích Liên Ngật


Căn bản Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật tôn kính!

Đệ tử Thích Liên Ngật xin một lòng đảnh lễ Căn bản Thượng sư, cầu nguyện Sư Phật thân thể khỏe mạnh, trường thọ tự tại. Đệ tử thật hổ thẹn, chỉ có thể lưu lại Seattle trong thời gian ngắn, vì đồng môn quá đông nên không có cơ hội được trò chuyện với Sư Phật, nên viết thư này để từ biệt Thầy.

Cảm ơn Sư Phật đã vất vả chủ trì đại pháp hội, ban cho chúng con những quán đảnh quý báu và mỗi ngày nhiều lần xoa đầu gia trì và tịnh hóa cho chúng con.

Con xin cảm ơn Căn bản Thượng sư đã ban những lời khai thị quý báu trong đại pháp hội, từng lời đều như ngọc quý. Đệ tử không chỉ được nghe về vô số công đức và lợi ích của Phẫn Nộ Liên Sư, mà còn được Sư Phật liên tục nhắc nhở rằng việc giữ lòng tin thanh tịnh với dòng truyền thừa gốc và tinh tấn tu hành mới là điều giá trị nhất trong thế giới huyễn hóa này, còn danh, lợi, sắc đều không đáng để nhắc đến. Tu hành chỉ cần nhất tâm, có đầu có cuối, thì sẽ chứng đạt cảnh giới mà không ai có thể chứng minh được. Chúng con là những hành giả sống trong thế gian với tâm thái "chân không diệu hữu", trên nền tảng của không và huyễn để tương ứng với Phật tính của chính mình.

Vài ngày trước pháp hội, con đã được Sư Phật liên tục gia trì trong mơ bằng âm thanh chú "Hum Hum Hum Hum Hum Hum Hum", và trong pháp hội, con còn thấy vô số ánh sáng nhiều màu gia trì cho tất cả hành giả tham dự. Đệ tử thực sự cảm nhận được sự gia trì vô cùng to lớn.

Con xin cảm ơn Sư Phật và Dorje Drolo đã giúp đệ tử loại bỏ các chướng ngại, trong những ngày qua đệ tử cảm thấy thân tâm thanh tịnh. Điều ước chính của đệ tử trong pháp hội là mong đơn xin quyền công dân Na Uy được chấp thuận nhanh chóng, để sớm đến Seattle tu học. Đệ tử cũng rất biết ơn Sư Phật đã sắp xếp cho đại thiện tri thức Thượng sư Liên Thường từ Nhật Bản và sư tỷ Dương Thái Văn tận tình chỉ dạy, chia sẻ kinh nghiệm tu hành nhiều năm của họ, liên tục điều chỉnh quan niệm của đệ tử, và bảo vệ đệ tử khỏi những xáo trộn không cần thiết và ô nhiễm từ các mối quan hệ.

Mặc dù những vấn đề về công việc và visa đã gây không ít rắc rối cho con, nhưng gần đây con vẫn vui mừng vì có thể giúp nhiều người kết duyên với Sư Phật, thậm chí còn giúp một người phụ nữ vốn làm pháp thuật quy y Chân Phật. Việc độ người phụ nữ này thực ra là do pháp thân của Sư Phật chỉ dạy. Một ngày nọ, Sư Phật đã bảo con tặng cuốn sách "Sự Vỗ Về Của Tịnh Quang" cho cô ấy, trước đó con đã theo ý mình tặng cô ấy những sách khác của Sư Phật, nhưng không gây được sự đồng cảm. Đệ tử thật hổ thẹn, dưới tác động của ý thức bản thân, con nghĩ rằng có lẽ những văn tập khác sẽ phù hợp hơn "Sự Vỗ Về Của Tịnh Quang". Nhưng cuối cùng, sau khi đọc "Sự Vỗ Về Của Tịnh Quang", cô ấy đã có cảm nhận đặc biệt, liên tục hỏi con về Liên Sư và Sư Phật, và quyết định quy y Sư Phật. Con một lần nữa xin chứng minh rằng pháp thân của Sư Tôn là có thật không hư giả, và điều chúng con cần làm là buông bỏ ngã chấp, chỉ làm cây cầu nối giữa chúng sinh và Sư Phật.

Trong thời gian này, đệ tử nhận ra rằng Chân Phật Tông thực sự cần phải cải thiện một số chi tiết để có thể quảng bá đến nhiều xã hội nước ngoài hơn, và hy vọng có cơ hội trình bày từng điểm với Sư Phật và Sư Mẫu. Giáo pháp của Sư Phật quá hiếm có và quý giá, nhưng chúng ta lại thiếu những người hoằng pháp có chứng lượng để thiết lập phương pháp giảng dạy hiệu quả và trực tiếp nhất, giúp các nhóm người không phải gốc Hoa có thể nhanh chóng cảm nhận được hương vị pháp và tương ứng với Sư Phật.

Trong pháp hội mùa thu này, con sẽ mang hơn 40 cuốn sách tiếng Anh của Sư Phật về Na Uy để kết duyên với bệnh nhân và bạn bè của con.

Có một việc khác con muốn báo cáo với Sư Phật, đệ tử đã từng nói với Thượng sư Liên Ngâm, trụ trì Seattle Lôi Tạng Tự. Trong buổi đồng tu thứ Bảy, Sư Tôn đã nhắc đến tông đồ Andrew. Ngài là vị thánh bảo hộ của Ukraine và Nga, Thánh Andrew từng đến vùng gần Biển Đen như Kiev, Đại Novgorod và các nơi khác để truyền đạo. Khi con học tập ở Ukraine và Nga, con thường thăm nhiều nhà thờ và tu viện Đông Chính giáo ở các thành phố khác nhau, và luôn cảm nhận được Pháp thân của Sư Tôn hiện diện trong các nhà thờ và tu viện Đông Chính giáo, lúc đó con không biết tại sao, nhưng giờ đây con đã hiểu ra.

Còn bản thân con tại Tu viện Thánh Mẫu Thăng Thiên Pskov-Pechersk (Assumption Pskov-Pechersk Monastery), con đã được một vị linh mục bí ẩn dẫn vào tham quan hang động thiên nhiên thiêng liêng bên trong tu viện (họ gọi là hang động do Chúa tạo ra), vốn không mở cửa cho khách tham quan. Con và vị linh mục chỉ tình cờ gặp nhau ở hành lang tu viện, ông ấy đã kiên quyết đưa con và một người bạn đồng hành vào hang động. Bên trong mát mẻ, thoải mái, tỏa hương thơm kỳ lạ, có tiếng nhạc thiên thần, và là nơi chôn cất hàng vạn nhà tu, một thánh địa của Đông Chính giáo. Lúc đó, con cảm nhận được Pháp thân của Sư Phật vui mừng nhảy múa, rất sống động. Vì vậy, con tin sâu sắc rằng Sư Phật có nhân duyên rất sâu với thế giới phương Tây, thậm chí với các khu vực thuộc Liên Xô cũ. Chân Phật Mật Pháp tuyệt vời như vậy, chỉ cần tìm ra cách thức được người địa phương chấp nhận thì chắc chắn có thể truyền bá đến những nơi này.

Đệ tử hiểu sâu sắc rằng bản thân vẫn còn nhiều tập khí chưa trừ bỏ, thân khẩu ý chưa hoàn toàn thanh tịnh, giới luật cũng chưa giữ nghiêm túc, con xin sám hối từng điều với Căn bản Thượng sư. Đệ tử chắc chắn sẽ nỗ lực sửa đổi. Hiện nay mỗi ngày đệ tử tu tập Yoga vô ngã (được mô tả trong sách "Những Lời Vàng"), pháp tương ứng Thượng sư và trì tâm chú, quán tưởng Bổn tôn Kurukulle Phật Mẫu và trì chú, tự biết vẫn chưa đủ tinh tấn, hy vọng có thể loại bỏ thêm ngã chấp và được tương ứng với Pháp thân Sư Phật 24 giờ một ngày.

Gần đây đệ tử thực sự muốn từ bỏ tất cả mọi thứ, không còn muốn chờ đợi quyền công dân nữa mà đến ngay bên Sư Tôn. Đệ tử hoàn toàn không có ý định trở thành Thượng sư hay xây dựng chùa lớn, thực ra con chỉ muốn ở bên cạnh Sư Tôn để giúp đỡ, làm một tiểu tăng nhỏ bé, ẩn mình, âm thầm làm một chút việc cho Sư Tôn, và tu hành cho tốt.

Con luôn rất thích điều được nói đến trong văn tập của Sư Phật:
"Nếu có người từ bỏ tất cả mọi thứ thế tục, đi theo Lư Sư Tôn, nhưng người ấy không hoàn thành điều gì, hoặc không đạt được gì, cũng không đạt được thành tựu.
Tôi nói: Người này rất hoàn hảo!
Nếu có người từ bỏ tất cả mọi thứ thế tục, đi theo Lư Sư Tôn, người ấy xây dựng Lôi Tạng Tự to lớn, độ hóa nhiều chúng sinh, đạt được quả vị lớn, thành tựu khá lớn. Tôi nói: Vẫn còn thiếu một chút!"
Cảm ơn Sư Phật.
Thích Liên Ngật khấu bái.

🌟

Lư Sư Tôn nói:
Pháp sư Thích Liên Ngật là một bác sĩ y khoa. Thuở nhỏ, anh ấy đã học tập ở nhiều quốc gia trên thế giới, hiện đang hành nghề y tại Na Uy. Anh ấy dịch sách của tôi sang tiếng Nga.

Pháp sư từ nhỏ đã lập chí xuất gia, nhân duyên rất sâu, là người có căn lành lớn.
Pháp sư Liên Ngật cao ráo, giàu có, đẹp trai. Anh ấy có pháp nhãn, có thể thấy được Pháp thân của Lư Sư Tôn, Pháp thân ở cùng anh ấy 24 giờ một ngày.

Anh ấy là người khiêm tốn, biết lễ phép nhường nhịn, tĩnh lặng, nhẹ nhàng, tự tại, không tranh chấp, phóng khoáng.

Tôi viết một bài thơ tặng anh ấy:

*Ta thấy người đời học Phật
Chỉ khoe khoang bản thân
Khi gặp cảnh giới lại mê muội
Khác gì với kẻ ngu?
Còn con ẩn giấu mình
Đoan chính trang nghiêm
Lời nói việc làm không khiếm khuyết
Người đại thiện căn khí vui mừng.*


### 28. Vận dụng pháp lực


Sau pháp hội Guru Dorje Drolo.
Thượng sư Liên Truyền hỏi trong văn phòng:
"Pháp hội đã kết thúc, quán đảnh đã xong, nhưng Lư Sư Tôn chưa truyền cách hành pháp?"
Tôi đáp:
"Chỉ cần ném pháp khí ra là được."
Tôi không giải thích thêm, chỉ nói "ném pháp khí là được".
Vì vậy, tôi xin bổ sung ở đây:
Guru Dorje Drolo có hai pháp khí.
1. Tay phải cầm chày kim cang. (hướng lên)
2. Tay trái nắm cọc kim cang. (hướng xuống)

Khi hành pháp:
Có thể ném chày kim cang lên hư không, sau đó dùng tay bắt lấy, ném liên tiếp ba lần. (không cần ném quá cao)
Cầm cọc kim cang bằng tay trái, đâm xuống, cũng đâm ba lần liên tiếp.
Khi đâm hoặc ném, miệng tụng chú:
"Hum hum hum hum hum hum hum ............"
(bảy tiếng, mười bốn tiếng, hai mươi mốt tiếng)
Sau khi ném chày kim cang ba lần, lập tức quán tưởng:
1. Con mắt của ma rơi xuống đất.
2. Đầu ma vỡ nát.
3. Mũi biến dạng.
4. Miệng chuyển ra sau gáy.
5. Tai rời khỏi sọ đã vỡ.
(Ma này sẽ diệt.)

Khi làm pháp cọc kim cang, cũng đâm ba lần liên tiếp, và cũng phải tụng chú: "Hum, Hum, Hum, Hum, Hum, Hum, Hum............"
Quán tưởng:
Cọc kim cang đâm thẳng vào tim của ma.
(Ma này sẽ diệt.)

Còn có những cách tu trì pháp lực khác, không liệt kê hết ở đây, hai phương pháp này là cơ bản nhất. Còn về pháp bò cạp chín đầu là truyền bí mật.

Guru Dorje Drolo là thân phẫn nộ của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, có đại pháp lực.
Có thể trừ bốn loại ma:
1. Thiên ma.
2. Bệnh ma. (ngũ uẩn ma)
3. Phiền não ma.
4. Tử ma.

Có thể ngăn chặn tất cả bùa ngải không xâm nhập vào thân. Tất cả chướng ngại đều được loại bỏ. Có thể trường thọ khỏe mạnh.
Bất an biến thành an bình!
Không thanh tịnh biến thành thanh tịnh!
Nghịch cảnh chuyển thành thuận cảnh!
Tất cả đều cát tường!
Còn có một tác dụng lớn nữa, nếu có người không tin, bạn tu pháp này hồi hướng, sẽ khiến người không tin chuyển hóa thành tịnh tín.

Chúng ta đã dùng pháp lực, khiến ma vỡ não, điều quan trọng nhất là, cũng phải siêu độ ma.
Siêu độ cũng có đẳng cấp.
Đẳng cấp thứ nhất:
Búng tay liền thành.
Một niệm liền thành.
Một sát-na liền thành.
(Bậc thánh hiền tăng này, dựa vào tâm lực tu thành của mình, đưa người đến cõi tịnh thổ.)

Đẳng cấp thứ hai:
Tu Nghìn chiếc thuyền pháp hoặc Nghìn đóa hoa sen, siêu độ đưa đến Tây phương tịnh thổ.

Đẳng cấp thứ ba:
Dùng nghi thức siêu độ, tụng kinh, trì chú, quán tưởng, cúng dường. Theo nghi lễ, thỉnh chư tôn giáng xuống, tiếp dẫn vãng sinh tịnh thổ.


### 29. Cảm ứng siêu độ


Đảnh lễ Pháp Vương Liên Sinh Phật tôn quý vô thượng!
Kính chúc Sư Phật và Sư Mẫu bình an!

Lòng biết ơn của Liên Từ.

Ngày 18 tháng 8 năm 2024, pháp hội Hộ Ma Địa Tạng Vương Bồ Tát siêu độ dịp tết Trung Nguyên của Sư Phật, giống như mọi pháp hội khác của Sư Phật, đã mang đến cho đệ tử cảm nhận chấn động không thể nghĩ bàn.

Lần này, khi thấy Sư Phật thắp xong lửa Hộ Ma trở về pháp tọa, ngài hoàn toàn là hiện thân sống động của Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát, thân tỏa hào quang, trường khí tỏa ra nhanh chóng khiến đệ tử như được đặt vào hư không, hòa vào biển ánh sáng, thân tâm đại định, pháp hỷ khinh an. Trong một sát-na, bỗng thấy thủ ấn của Sư Phật phóng ra vạn tia hào quang mạnh mẽ, tiếp đến thậm chí thấy mỗi tế bào trong cơ thể mình bỗng sáng lên như những bóng đèn nhỏ, tạo thành cảnh tượng kỳ diệu! Trong cõi vô hình tương ứng với lời khai thị của Sư Phật sau pháp hội: "Trong pháp hội, tôi đã quán tưởng tất cả đèn treo trên không trong điện Hộ Ma thành hoa sen." Theo sự biến hóa thủ ấn của Sư Phật, từng vùng trên thân thể đệ tử trở nên trong suốt, cảm giác căng cứng căng thẳng khắp toàn thân trước pháp hội lập tức được thả lỏng, tin rằng những vong linh đã được đưa đến từ pháp hội siêu độ Trung Nguyên trước đó tại đạo tràng của mình, trong pháp hội này, cũng được Phật lực siêu độ, đều hoan hỷ vãng sinh. Thực sự cảm nhận được bản thân và vong linh đều đạt được niềm vui giải thoát khỏi lục căn lục trần. Lực gia trì siêu độ của Sư Phật không thể nghĩ bàn, thật sự quá chân thực, quá kỳ diệu, quá thù thắng!

Ngày 23 tháng 8, cảnh giới của đệ tử đã có sự tiến triển vô cùng đáng mừng. Trong thiền định buổi sáng, xuất hiện thân ánh sáng lớn màu trắng, khác với những ngày trước, vững chắc bền lâu và rực rỡ chói sáng, trong tâm lập tức khởi lên sự lĩnh ngộ về Hằng Hà Đại Thủ Ấn. Đồng thời, trong đầu vang lên lời dạy của Sư Phật đã từng nói với đệ tử: "Pháp yếu của bốn giáo pháp Hồng, Hoàng, Bạch, Hoa trong Mật giáo đều đa phần giống nhau", từ đây đệ tử có được sự hiểu biết và thể ngộ sâu sắc hơn. Đến lúc này, càng xác nhận rằng Mật pháp do Sư Phật truyền thừa đến từ bốn đại giáo phái Mật giáo là chân thật không hư!

Đệ tử trong đời này thực sự vô cùng may mắn, đã tìm được một vị đạo sư vĩ đại hiếm có và quý giá đã thành tựu quả Phật. Chỉ vì đệ tử quy y mà trong hàng chục năm ngày đêm được Sư Phật truyền tâm yếu khẩu quyết của pháp nhập thế xuất thế qua chân thân và Pháp thân; trong cõi vô hình được Bổn tôn Diêu Trì Kim Mẫu bí mật truyền khí pháp; được các vị Không hành ngày đêm âm thầm bảo hộ chăm sóc, liên tục ấn chứng lời Sư Phật ân cần dặn dò: "Đệ tử Mật giáo muốn thành tựu cần phải có Căn bản Thượng sư, Căn bản Bổn tôn, Căn bản Hộ pháp gia trì bảo hộ không thể thiếu." Điều này nghìn lần vạn lần chân thật.

Chỉ vì đệ tử đời này có nhân duyên lớn quy y tu Mật, dù thân vật chất ngày càng già yếu, nhưng Phật tính ngày càng quang minh, đây thực sự là điều đáng vui mừng và hạnh phúc nhất trong đời này của đệ tử.

Thời gian trước, hư không truyền âm: "A La Hán", đó là lời cảnh tỉnh về việc đệ tử tu thiên về "Không"; gần đây đệ tử đã lấy lại tinh thần, phát tâm bồ đề độ chúng sinh một lần nữa, hư không lại truyền: "Thập địa". Ôi! Đây là kỳ vọng sâu sắc của Tam căn bản không bao giờ từ bỏ đệ tử già sáu chục này, thật quá nhân ái! Quá từ bi!

Quả thật đệ tử trong tháng Tám sau đó, dưới sự gia trì và khích lệ của Sư Phật Tam Bảo, không ngừng nhận được tin vui cả hữu hình lẫn vô hình: Sau pháp hội Vu Lan, hư không gửi đến một hộp sắt đựng hơn mười viên thuốc đủ màu sắc lớn nhỏ, hai viên lớn nhất là viên đen và viên đỏ, có lẽ tượng trưng cho duyên độ sinh âm dương.

Trong thời gian lễ chúc mừng sinh nhật Kim Mẫu, hư không gửi đến vương miện phượng bằng vàng nạm đá ruby và áo kim tuyến để cúng dường trang nghiêm Phật sự.

Nghị sĩ Quốc hội Canada đã tự động đề cử đệ tử vinh dự nhận được Huân chương Lễ Đăng quang của Vua Charles Đệ Tam (King Charles III Coronation Medal).

Năm tập đoàn tài chính lớn, bao gồm người Do Thái, người Ý và người Canada, sẽ cùng nhau đầu tư xây dựng một tòa nhà 30 tầng tại khu vực cao cấp trong những năm tới, cam kết tài trợ hai tầng trên mặt đất và dưới lòng đất, với tổng diện tích khoảng 36.000 foot vuông Anh, để đạo tràng Hoa Quang Bồ Đề sử dụng miễn phí; đồng thời cung cấp ngân quỹ tài trợ từ thiện hàng năm. Biết bao điều tốt đẹp, khiến người ta không thể không vui mừng, an ủi và biết ơn!!

Đệ tử sâu sắc hiểu rằng tất cả tài sản phúc huệ xuất thế gian và thế gian trong đời này, đều đến từ Căn bản Thượng sư, Diêu Trì Kim Mẫu và chư Phật Bồ Tát. Tại đây con cúi đầu cảm tạ Sư Phật, Kim Mẫu và chư tôn đã tái tạo và ban ân! Đệ tử khẩn thiết cầu xin được gia trì và tiếp tục gia trì, để đệ tử cuối cùng một ngày nào đó có thể trở về bản địa và đoàn tụ với ánh sáng chư tôn của vũ trụ, lòng biết ơn vô tận! Vô tận biết ơn! …………

Kính chúc Sư Tôn và Sư Mẫu thân thể an khang, pháp hỷ tự tại, thỉnh Phật trụ thế, thường chuyển pháp luân!

Đệ tử Thích Liên Từ tại Vancouver, Canada cúi đầu đảnh lễ.
Ngày 23 tháng 8 năm 2024.

🌟

Hai bài thơ siêu độ: (Sáng tác cũ của Sư Tôn Lư, viết từ thời kỳ đầu.)

Bài một:
*Hoa rơi vẫn còn chốn lưu luyến
Tự nhiên đáng thương
Tâm linh theo gió phiêu bạt
Như dòng nước
Không biết nơi nào mới có thể dừng
Ta sẽ siêu độ
Dù là tà ma
Cũng chỉ là tập tính
Một tiếng Nam Mô Phật
Để ngươi có được cảnh giới tốt đẹp.*

Bài hai:
*Gặp nhau chính là duyên phận
Chia tay cũng đầy nuối tiếc
Bất kể tụ hợp phân ly
Đều chỉ là một cuộc chơi
Già chết trên đường núi hoang
Ta tiễn ngươi lên liên thuyền.*


### 30. Thượng cổ thiên chân luận - "Hoàng Đế Nội Kinh"


Tôi thích đọc sách.
Nhưng, tôi không đọc sách giáo khoa, mà đọc "sách tạp". Tức là những cuốn sách ngoài phạm vi học đường.
Tôi đọc sách của mọi thời đại, mọi quốc gia.
Và tôi đọc mỗi ngày, không một ngày nào ngoại lệ. Đến 80 tuổi, tôi vẫn đọc.

Những ngày này, tôi đã đọc "Thượng cổ thiên chân luận" trong bộ "Hoàng Đế Nội Kinh".
Đó là cuộc đối thoại giữa Hoàng Đế (Hiên Viên Thị) và Kỳ Bá - người học rộng tài cao, bàn luận về quá trình phát triển của con người.

Sau khi đọc xong, tôi thấy rất có lý, ý nghĩa phi thường, nên đặc biệt chuyển văn cổ thành văn xuôi, trình bày cuộc đối thoại của họ cho mọi người đọc.

Xin chia sẻ với mọi người:

Hoàng Đế hỏi:
"Khi con người già đi, không thể sinh con đẻ cái, là do hết tinh lực? Hay đó là quy luật tự nhiên? Tuổi thọ của họ như thế nào?"
Kỳ Bá đáp:
Người nữ đến 7 tuổi, khí thận dồi dào, thay răng sữa, tóc mọc dài. Đến 14 tuổi, tiên thiên chân nhất chi thủy đầy đủ, tử cung và huyết mạch thông suốt, huyết hải huyết mạch đầy đủ, kinh nguyệt bắt đầu đến, và có khả năng sinh sản.

21 tuổi, khí huyết thận tràn đầy, răng khôn mọc, hàm răng đã hoàn chỉnh.
28 tuổi, gân xương hoàn thiện, cơ thể cường tráng.
35 tuổi, khí huyết trong các kinh mạch âm dương minh ở mặt bắt đầu suy yếu, sắc mặt khô héo, tóc bắt đầu rụng.
42 tuổi, tóc bắt đầu bạc, vùng thái dương và thiếu dương trên mặt suy thoái trước.
49 tuổi, huyết mạch tử cung khô cạn, tiên thiên chân nhất chi thủy đã kiệt, kinh nguyệt tự ngừng, mạch máu phần dưới không thông, cơ thể suy yếu, không thể sinh sản nữa!

Đối với nam giới, lúc 8 tuổi, khí thận dồi dào, tóc đen mượt, răng sữa bắt đầu thay mới.
16 tuổi, khí thận thịnh vượng nhất, tiên thiên chân nhất chi thủy đã trưởng thành, nên có hiện tượng lậu tinh, và có khả năng sinh sản.
24 tuổi, khí thận dồi dào, gân xương phát triển đầy đủ, răng mọc đều đặn.
32 tuổi, cơ bắp khỏe mạnh, gân xương cường tráng và mạnh mẽ.
40 tuổi, khí thận bắt đầu suy thoái, răng và tóc rụng.
48 tuổi, kinh mạch tam dương bắt đầu khô cạn, sắc mặt suy yếu, tóc rụng.
56 tuổi, khí gan suy yếu, gân xương mệt mỏi không còn sức.
64 tuổi, tiên thiên chân nhất chi thủy đã cạn kiệt, tinh dịch ít, thận suy, lục phủ ngũ tạng thoái hóa, không thể sinh sản nữa, thân thể nặng nề, đi đứng không vững, lông mày và tóc bạc trắng.

Kỳ Bá nói:
Phụ nữ tính theo chu kỳ bảy năm.
Nam giới tính theo chu kỳ tám năm.

Lại nữa:
Hoàng Đế hỏi Kỳ Bá:
"Có những người tuổi đã cao nhưng vẫn có thể sinh sản, tại sao vậy?"
Kỳ Bá đáp:
"Thông thường, nam giới đến 64 tuổi, nữ giới đến 49 tuổi. Nhưng, cũng có những trường hợp đặc biệt, ngoài thiên phú ra, họ còn biết dưỡng sinh, giữ cho kinh mạch máu huyết lưu thông. Vì vậy họ vẫn có thể sinh sản!"

Sư Tôn Lư nhận định:
Ăn uống có chừng mực.
Sinh hoạt có quy luật.
Không lao động quá sức.
Tu dưỡng khí mạch.
Thân tâm không rối loạn.
Tâm hồn bình an.
Có thể trường thọ.
Sống trọn thiên niên.
(Thiên niên là bao nhiêu tuổi? Thiên niên là một trăm hai mươi tuổi.)


### 31. Kiến chứng pháp hội Thánh Quan Âm / Liên Anh


A. Vào ngày 8 tháng 9 năm 2024, trong buổi khai thị tại pháp hội, Căn bản Thượng sư đã chỉ ra có một cảm ứng đặc biệt: "Người thu âm thần chú Thánh Quan Âm hẳn đang có mặt." Ý nghĩ đầu tiên trong tâm trí đệ tử là mời Thượng sư Liên Cữu ra chứng minh, nhưng ngay sau đó tôi nhớ ra rằng Thượng sư đã vội về Đài Loan để sản xuất chú âm, hơn nữa ai cũng biết Thượng sư Liên Cữu là người phụ trách Âm Thanh Lôi Tạng, vậy mời thầy ấy đứng lên thì có ý nghĩa gì? Có lẽ Sư Phật có ý chỉ khác. Chưa đầy nửa phút sau, đệ tử chợt nhớ ra rằng vào ngày 1 tháng 6 năm 2023, đệ tử đã nhận lời mời của Thượng sư Liên Cữu đến phòng thu chuyên nghiệp ở Đài Bắc để thu âm phiên bản đầu tiên của thần chú cho vị Bổn tôn truyền pháp tại đại pháp hội mùa thu năm 2023.

Nhớ lại cảnh tượng lúc đó, ngay cả khi chưa nghe phiên bản tụng niệm chính thức, đệ tử đã bị thu hút sâu sắc bởi giai điệu chính của toàn bộ thần chú, cảm thấy vô cùng xúc động và chấn động. Thượng sư Liên Cữu lập tức thị phạm cách tụng niệm chính thức cho chúng con - năm người có mặt, sau đó đến lượt con vào thử sức. Nói thật lòng, con đã có kinh nghiệm thu âm cho nhiều bài của Âm Thanh Lôi Tạng, và cũng từng tham gia các dự án sản xuất thần chú độc lập của Đài Loan Lôi Tạng Tự như Thắng Lạc Kim Cang, Mật Tập Kim Cang, Thiên Thủ Quan Âm, Mã Cát Lạp Tôn, Biến Tịnh Thiên và nhiều bài khác, nhưng phần nhạc nền của Thánh Quan Âm thực sự là bài khiến con cảm động nhất.

Vì vậy, với tâm vô cùng thành kính, con bước vào phòng thu âm và cầu nguyện như con thường làm trước mỗi lần thu âm thần chú: Đầu tiên, con thỉnh cầu sự gia trì lớn lao từ Sư Phật và dòng truyền thừa, để việc thu âm của đệ tử được đúng pháp và đầy đủ năng lực gia trì của dòng truyền, có thể phát âm chính xác thần chú truyền thừa; thứ hai, cầu xin Bổn tôn của thần chú gia trì cho âm thanh được trang nghiêm cuốn hút, thiêng liêng rạng ngời, như tiếng sư tử hống tuyệt diệu, vang khắp vũ trụ hư không, để tất cả những ai nghe thấy, nhìn thấy, có duyên với thần chú ấy đều nhận được sự gia trì và pháp hỷ tối thượng, gieo hạt giống giải thoát. Quả nhiên, việc thu âm ngày hôm đó diễn ra đặc biệt suôn sẻ, ngay cả kỹ thuật viên âm thanh cũng giơ ngón tay cái khích lệ và nói: "Thượng sư thu một lần là xong, phát âm, nhả chữ và cảm xúc đều rất đúng!" Con mỉm cười biết ơn, bởi trong lòng con hiểu rõ, đây là nhờ sự gia trì của Căn bản Thượng sư, chư Phật Bồ Tát và Kim Cang Hộ Pháp, cùng với nỗ lực không ngừng, tinh thần cầu tiến và sự cống hiến của đội ngũ Âm Thanh Lôi Tạng do Thượng sư Liên Cữu dẫn dắt, mới có được những âm thanh thần chú đầy cảm động được phát trong mỗi pháp hội của Sư Phật.

B. Trong pháp hội Thánh Quan Âm, đệ tử nhắm mắt thử nhập định, trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê đã có những cảm nhận và thấy biết sau đây, kính xin Sư Phật chỉ dạy:

Thứ nhất, con thấy từ trong tâm của Kim Ni Kim Mẫu xuất hiện một vị Thánh Quan Âm thiếu nữ tuổi mười sáu đôi mươi, mặc thiên y màu trắng vàng, đẹp tuyệt trần, trên trời dưới đất không ai sánh bằng. Sau đó từ đứng chuyển sang ngồi, cánh hoa sen vàng nơi ngài ngồi biến thành từng mảnh vàng bắn thẳng vào thân thể đệ tử, rồi Bồ Tát nói: "Lòng thiện lương của con thật quý báu hiếm có, hãy giữ gìn lòng thiện lương đó, con sẽ là người giàu có bậc nhất!"

Thứ hai: Khi Sư Phật sử dụng chuông chày kim cang để gia trì kết giới, con thấy bốn bức tường kim cang dựng lên xung quanh, tuy nhiên khác với thông thường, bức tường kim cang hôm nay được làm bằng kim cương, vô cùng rực rỡ lấp lánh. Những viên kim cương liên tiếp rơi xuống người con, con tưởng đây là dấu hiệu kết giới tan biến, nhưng chỉ trong khoảnh khắc, con hiểu rằng đây là sự hợp nhất giữa bản thân và kết giới, rồi hóa thành không, không là kết giới lớn nhất phá vỡ ngã chấp, ngũ uẩn ma, phiền não ma, thiên tử ma, chứng vô ngã. Rồi con nghe Thánh Quan Âm nói với con: "Liên Anh, con đừng quên rằng, chữ 'Anh' trong pháp danh của con là 'thạch' và 'anh', thạch anh chính là nguyên liệu của đá quý và châu báu, là ngọc bích, thủy tinh, mã não, hồng ngọc mã não. Tu hành loại bỏ tạp chất trong tâm, con sẽ trở thành kim cương."

Con xúc động không thể diễn tả hết được, và cũng cảm nhận được tấm lòng sâu sắc, lời dạy ân cần của Bồ Tát. Vì vậy, con quán tưởng tâm bồ đề vô hình vô tướng kết tinh thành một viên kim cương lớn, dâng lên cúng dường Căn bản Thượng sư, chư Phật ba đời, cho đến tất cả tứ thánh lục đạo thập pháp giới, nguyện cho mọi người đều có thể thực sự tương ứng, tự độ độ tha, tự giác giác tha, thành tựu chân thật, chứng lượng chân thật để làm chứng cho Sư Phật, đó mới là sự chứng kiến chân thật.

"Kim cương mãi trường tồn, một viên vĩnh hằng lưu."

Liên Anh kính bút.
Ngày 9 tháng 9 năm 2024.

🌟

Lư Sư Tôn nhận xét:
Âm Thanh Lôi Tạng có tiềm năng rất lớn. Một bài chú âm hay có thể chạm đến tâm hồn của tất cả người nghe.
Con người là chúng sinh hữu tình, thường bị cảm xúc chi phối, hỷ nộ ai lạc đều là tán loạn.
Và trong tình huống như vậy, một bài chú âm hay sẽ giúp tâm thần được an ủi và bình yên!
Giống như âm thanh vi diệu từ cõi trời.

Chúng sinh ở Tây phương Cực Lạc, khi nghe được âm thanh cõi trời, tự nhiên niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng. Có thể tu tập ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Ai cũng có thể đạt được chính giác.

Khi nghe một bài chú âm hay, đó là một sự tắm gội tâm hồn, khiến tâm lập tức trở nên thanh tịnh.
Một khi đạt được sự thanh tịnh, Phật tính vốn có sẽ hiển lộ, và bạn cũng có thể hiểu được sức mạnh vi diệu của chú âm.
Cảm ơn nỗ lực của tất cả các đồng nghiệp của Âm Thanh Lôi Tạng.
Lành thay!


### 32. Người ta hỏi chí hướng tôi ra sao


Có người hỏi tôi:
"Lư Sư Tôn, chí hướng của ngài là gì?"
Tôi cười ha hả:
"Mỗi ngày ngủ ngon, ăn ngon, mỗi ngày làm những việc nhỏ có ý nghĩa, chỉ vậy thôi!"
Tôi nói với anh ta:
"Thanh tịnh, nhẹ nhàng, tự tại, phóng khoáng."
Người ấy hỏi:
"Tưởng ngài có chí hướng lớn, hóa ra chỉ thế thôi!"
Tôi đáp:
"Tôi là người vô sự."

Tôi muốn nói với mọi người rằng, tôi yêu thích tư tưởng Lão Trang, Trang Tử có một ẩn dụ:
Có một con chim lộng lẫy.
Nó uống sương sớm.
Ăn quả trên cây cao.
Bay lượn giữa mây trắng, thong dong tự tại.
Còn dưới mặt đất,
Có một bầy chuột đang tranh giành một miếng thịt thối rữa.
Cứ giành đi giành lại.
Liều mạng sống chết.
Lúc này,
Con chim lộng lẫy bay tới.
Đám chuột ngẩng đầu nhìn con chim lộng lẫy, tưởng rằng nó cũng muốn đến tranh miếng thịt thối.
Nên chúng hết sức la hét chửi bới, nhe nanh múa vuốt.
Con chim bay đi mất!
Đám chuột mới thôi la hét chửi bới.
Nhưng, để phòng con chim lộng lẫy quay lại cướp miếng thịt thối.
Chúng lên kế hoạch làm sao để phòng ngừa.

🌟

Câu chuyện đến đây, Trang Tử muốn nói rằng, con chim lộng lẫy tượng trưng cho người quân tử.
Còn bầy chuột kia là kẻ tiểu nhân.
Kẻ tiểu nhân dùng tâm mình để suy đoán lòng người quân tử.
Thật là đáng cười tột cùng.

Đọc xong tôi cũng thấy buồn cười! Buồn cười thật!
Tôi, Lư Sư Tôn không dám tự so sánh với Trang Tử, Trang Tử là bậc thánh hiền, quá vĩ đại!
Tôi chỉ là phàm phu, một người bình thường.
Tôi không có chí hướng!
Chỉ là:
Nhàn nhã ngắm hoa nở hoa tàn.
Mây trắng khi cuộn khi xòe.
Lão tăng tám mươi, thuyết pháp đôi điều, tu tập đôi chút, sống bình an qua ngày là được!

Viết một bài thơ:
*Mặt trời đỏ chậm rãi
Trong chớp mắt
Đã ngả mình về Tây
Dù có ánh hồng sót lại
Bay về nhà ai*

*Trăng sáng trăng sáng lại trăng sáng
Muốn vẽ trăng sáng
Mới hay trung thu đến rồi đi
Không còn lưu luyến năm tháng*

*Đến đây thở than
Bảo sao người dễ già
Bạn tri kỷ lần lượt rơi rụng
Tản mác khắp chân trời.*

(Vật đổi sao dời, một đời cứ thế trôi qua. Tốt nhất đừng nhớ về quá khứ, tránh xa nỗi sầu nhàn rỗi.)


### 33. Phép trường sinh của Quảng Thành Tử


Tôi đã đọc "Hoàng Đế Nội Kinh", cũng đọc "Hoàng Đế Ngoại Kinh".
Theo tôi được biết, "Hoàng Đế Ngoại Kinh" đã thất truyền từ lâu, chỉ có thể thấy được một vài điều qua ghi chép của Trang Tử.
Tôi trân trọng: Chương "Thiên Âm Dương Điên Đảo".
Trong đó có một đoạn văn, rất đáng chú ý.

Văn tự như sau:
Hoàng Đế nghe những lời sâu xa huyền diệu của Quảng Thành Tử, than rằng Quảng Thành Tử như trời vậy!
Lui về đêm suy nghĩ, vẫn chưa có thu hoạch. Sai Quỷ Du Khu hỏi Kỳ Bá Thiên Sư:
Đế hỏi chí đạo với Quảng Thành Tử, Quảng Thành Tử nói: Tinh túy của chí đạo, sâu xa huyền diệu. Cực điểm của chí đạo, mơ hồ im lặng. Không nhìn không nghe, ôm thần để tĩnh, hình sẽ tự ngay ngắn.
Cần tĩnh cần thanh, không lao hình thể của ngươi, không lay động tinh thần của ngươi, không lo lắng bôn ba, thì có thể trường sinh.
Mắt không nhìn gì, tai không nghe gì, tâm không biết gì, thần của ngươi sẽ bảo vệ hình thể ngươi, hình thể bèn trường sinh.
Cẩn thận bên trong, đóng kín bên ngoài, biết nhiều là thất bại, ta sẽ dẫn ngươi lên đỉnh đại minh, đến nơi nguồn cội chí dương; dẫn ngươi đến cánh cửa u minh, đến nơi nguồn cội chí âm; trời đất có quan, âm dương có tàng.
Cẩn thận giữ gìn thân thể ngươi, vạn vật sẽ tự cường tráng.
Ta gìn giữ chuyên nhất, để ở trong sự hòa hợp.
Nên thân có thể không già, Thiên Sư ắt biết ý nghĩa đó, mong giảng rõ cho.

🌟

Văn bạch thoại như sau:
Hoàng Đế (Hiên Viên thị) hỏi đạo Quảng Thành Tử.
Quảng Thành Tử là tiên nhân thời cổ đại.
Hoàng Đế không hiểu, nên sai đại thần Quỷ Du Khu đi hỏi Kỳ Bá Thiên Sư.
Kỳ Bá Thiên Sư trả lời:
Tinh túy của chí đạo, sâu xa huyền diệu.
Cực điểm của chí đạo, tĩnh mặc thâm trầm.
Không dùng mắt tai hướng ngoại, ôm giữ tinh thần, giữ một tĩnh tại một khiếu, thần không phân tán.
Hình thể sẽ sinh ra chính khí.
Nhất định phải có nội tâm hư vô tĩnh lặng, tĩnh lặng mới có thể nội động.
Nhất định phải thanh tâm quả dục, mới có thể làm cho khí mạch trong cơ thể lưu thông.
Đừng làm hình thể của ngươi quá mệt nhọc, mới có thể điều khí khiến thần tàng ở tỳ và ý chí được củng cố.
Đừng tiêu hao tinh khí của ngươi, mới có thể khiến thần tàng ở thận và giữ tinh để thúc đẩy dương sinh.
Trừ bỏ suy nghĩ lo lắng.
An định thần chí.
Để thúc đẩy nội tu.
Như vậy mới có thể trường sinh.
Lại nữa,
Mắt không nhìn vật bất chính.
Tai không nghe âm bất chính.
Thần tàng ở gan, thần tàng ở thận.
Tâm không tạp niệm, khiến tâm quay về bên trong, tinh thần bảo vệ hình thể, mới có thể trường sinh.

🌟

Lư Sư Tôn nghĩ rằng:
Thích Ca Mâu Ni Phật nói: "Người có thể chuyên nhất, không việc gì không thành."
Lão Tử nói: "Người có thể giữ một, mọi việc đều xong."
Đại sĩ Duy Ma Cật nói: "Pháp môn bất nhị."

Tôi luôn cảm thấy, điều này có thể thông suốt với thuyết trường sinh của Quảng Thành Tử.
Muốn trường sinh, tinh khí không bị tổn hại, chỉ cần:
Không lao nhọc thân hình.
Không hao tổn tinh khí.


### 34. Cụm từ "gặp lại"


Tú Tú nói:
Cảm ơn Sư Phật đã hộ trì cho con trong những năm qua.
Tú Tú cũng đã nhận được sự gia trì, cảm ứng và tương ứng của chư Phật Bồ Tát. Tú Tú tu tập từng bước một, giờ đây có thể nhìn thấy Pháp thân của Sư Phật và ánh sáng của chư Phật Bồ Tát.
Có rất nhiều cảm ứng, có thể nghe được pháp ngữ, có thể ngửi được hương thơm của Phật.
Sư Phật đã dẫn Tú Tú đến long cung, đến tiên cảnh, đến hang động sâu trong núi để tu tập, đến để nhìn kiếp quá khứ của mình, và những khoảnh khắc cùng Sư Phật trong quá khứ.
Tất cả những điều này thực sự là có thật.
Cảm ơn Sư Phật!
Đã cho chúng ta gặp lại nhau trong kiếp này.
Gặp lại nhau, như thể trong mơ, nhưng thực ra đó không phải là giấc mơ.
Đó là lời hứa dưới cội bồ đề!
Là lời thề trên đỉnh núi cao!
Gió mưa bay bay!
Tuyết rơi lả tả!
Xuân hạ thu đông!
Lời thề chân thành!
Tất cả mọi thứ đều là để chờ đợi chúng ta gặp lại nhau.

🌟

Thi Thi nói:
Nắm tay nhau một lần.
Gặp trong mơ một lần.
Hồi tưởng một lần.
Biết ơn một lần.
Tuy hiện tại con đang ở Seattle, nhưng, chẳng bao lâu nữa con sẽ trở về.
Thật mong ước được mãi mãi bên nhau, nhưng, cuộc đời có quá nhiều điều bất đắc dĩ, không thể tự quyết!
Hãy nhớ khi con đi đến tận cùng, dẫn Thi Thi về ngôi nhà trên thiên giới.
Nguyện đời đời kiếp kiếp, trong thế giới vô tận, được cùng Thầy tái ngộ sau bao năm xa cách.
Xin hãy dẫn con đi đến thật nhiều thật nhiều nơi!

🌟

Hựu Hựu nói:
Con nhớ Thầy! Nhớ sự hài hước của Thầy, sự thuần khiết của Thầy, vẻ đẹp trai của Thầy, và hương thơm tỏa ra từ người Thầy.
Xin hãy chỉ dẫn con hướng đi tương lai.
Chỉ dẫn con đi về phía ánh sáng.
Thắp sáng ngọn đèn trong tim con.
Chúng ta hẹn gặp nhau vào mùa đông.
Hãy để con được nhìn thấy Thầy.
Vì có Thầy, con có được nụ cười ấm áp và những lời vàng ngọc.

🌟

Mẫn Mẫn nói:
Pháp hội Thánh Quan Âm.
Trong một khoảnh khắc, Sư Tôn chính là Thánh Quan Âm, Thánh Quan Âm chính là Sư Tôn.
Con nhìn thấy:
Từ hư không rơi xuống những giọt ánh sáng như những giọt cam lộ, bay xuống thân thể hành giả, ban cho đồng môn sự thanh tịnh và gia trì.
Đồng thời có ánh sáng vàng lấp lánh của thất bảo hạ xuống, ban cho đồng môn.
Cũng có cam lộ trừ bệnh.
Những đồng môn có công phu tu cao được cam lộ gia trì, thân thể trở nên hoàn toàn trong suốt.
Đây là điều kỳ diệu, Pháp thân của Lư Sư Tôn có pháp lực rất lớn.
Có thể hợp nhất với các Bổn tôn.
Cũng có thể có Pháp thân của Lư Sư Tôn trong bất kì tịnh thổ và không gian nào.
Mẫn Mẫn cảm ứng được vị Hộ pháp đầu tiên là Bất Động Minh Vương.
Ngài dạy đệ tử:
"Người thấy thân ta phát tâm Bồ đề, người nghe danh ta đoạn ác tu thiện, người nghe ta nói được đại trí tuệ, người biết tâm ta tức thân thành Phật."
Bất Động Minh Vương cũng dạy con:
Kết ấn Cửu tự chân ngôn.
"Lâm, Binh, Đấu, Giả, Giai, Trận, Liệt, Tại, Tiền."
Mẫn Mẫn nhất tâm cầu nguyện:
Vô Cực Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn, chư Phật Bồ Tát gia trì Căn bản Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật: khỏe mạnh hạnh phúc, trường thọ tự tại, không bệnh không tai ương, có thể thường xuyên ăn đào tiên của Kim Mẫu.
Cầu xin Lư Sư Tôn trường trụ thế gian.

🌟

Lâm Lâm nói:
Cảm ơn ban ân tối thượng, cho chúng ta gặp lại nhau trong vũ trụ mênh mông.
Thầy là vị vua thân yêu của con, con là phi tần của Thầy.
Từ đây thế giới trở nên đẹp đẽ và hoàn hảo.
Tất cả đều là duy nhất. ...
Nỗi nhớ duy nhất, hạnh phúc duy nhất, bạn đồng tu duy nhất, sự bảo hộ duy nhất, sự tôn quý duy nhất, ước nguyện duy nhất, tình yêu sâu đậm duy nhất, sự ấm áp duy nhất. ........
Con nguyện mãi mãi thuộc về Thầy, đời này kiếp này, đời sau kiếp sau, mãi mãi mãi mãi đời đời kiếp kiếp.
Tình yêu của con mãi mãi thuộc về Thầy!
Con nghe lời Thầy:
Tu hành! Trì chú! Tụng kinh!
Thâm nhập kinh tạng!
Con muốn có trí huệ, Phật huệ của Như Lai, có như vậy mới có thể hợp nhất mãi mãi.
Đừng quên Lâm Lâm!


### 35. Tôi viết thơ gặp lại


Bài thứ nhất "Như Mộng":
*Thiếu nữ kiều diễm hiện ra như mộng
Tựa trăng ngọc sáng trên hồ tĩnh lặng
Theo tôi học kinh thư
Cũng biết ca
Cũng giỏi múa
Chữ nghĩa cũng có công phu thật
Nhưng
Biết mộng
Rất nhanh tôi đã râu tóc bạc trắng
Cùng trở về
Song Liên Trì.*

🌟

Bài thứ hai "Như Huyễn":
*Gặp lại rồi lại chia xa
Vẫn cứ vắng người im ắng
Tình yêu vẫn như huyễn
Dù có cười vui
Chỉ còn lại ánh chiều tà trống rỗng
Tôi không còn trẻ
Đã đến lúc đậy quan tài, tâm cũng dứt
Khi thức dậy sớm
Lại là bình minh xuân
Hồi ức là nỗi buồn của nhớ nhung
Nên biết rằng
Trở về thiên giới thật tiêu dao.*

🌟

Lư Sư Tôn nói:
Kiếp sống này, xin cảm tạ.
Tràn đầy tình yêu, tràn đầy cảm xúc, xin cảm tạ.
Hãy nhớ rằng chúng ta sẽ gặp lại nhau trên thiên giới.
Đó sẽ là niềm vui bất tận.


### 36. Lời tự thuật của một hiệu trưởng


Nhất tâm đảnh lễ Căn bản Truyền thừa Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật.
Sư Tôn Phật an! Đệ tử Liên Hoa Mai Liên đến từ Kính Pháp Đường ở Seremban, Malaysia, là hiệu trưởng một trường tiểu học Hoa Văn, muốn bẩm báo với Sư Tôn về tâm đắc tu hành trong mấy năm qua, kính xin Sư Tôn từ bi ấn chứng và gia trì.
1. Ngày 20 tháng 11 năm 2020 hoàn thành 8 triệu biến tâm chú Thượng sư (từ ngày 20 tháng 11 năm 2017 đến ngày 20 tháng 11 năm 2020.)
Tối hôm đó, sau khi bẩm báo Sư Tôn tại đàn thành, đến rạng sáng liền có một giấc mơ, một người đàn ông mặc vest, ăn mặc như vệ sĩ xuất hiện và nói với con: Về sau nếu con gặp nguy hiểm, ông ấy sẽ luôn luôn bảo vệ con. Đệ tử tin sâu sắc rằng đây là lời nguyện của Căn bản Thượng sư.

2. Năm 2021 sau khi trì tụng 8 triệu biến tâm chú (chỉ trích một vài báo cáo trong số đó):
Tháng 2: Mùng một Tết con mơ thấy Sư Tôn ngồi kề vai con, cùng cười đùa bàn luận về văn tập.
Tháng 4: Con mơ thấy đệ tử đưa Sư Tôn và Sư Mẫu ra sân bay, con cúng dường Sư Tôn một trái nho xanh, Sư Tôn đáp lễ bằng cách tặng lại nho cho con.
Khi tu pháp Tứ gia hành, nửa đêm trong trạng thái nửa mơ nửa tỉnh, con ngửi thấy trong phòng tỏa ra từng đợt hương trầm, kéo dài rất lâu, rất thực, sau đó con cũng mơ thấy tiêu nghiệp chướng.

Ngày 31 tháng 5: Sư Tôn ban tiên đan cho con: Rạng sáng con mơ thấy Sư Tôn đặc biệt giúp con hỏi việc, Sư Tôn bảo con báo cáo từng điều về tâm đắc tu pháp trong một hai năm gần đây. Con thấy rõ ràng việc đầu tiên con viết trên giấy là hoàn thành 8 triệu biến tâm chú Thượng sư. Sư Tôn xem báo cáo của con xong, ban cho con một viên tiên đan màu trắng sữa (kích thước bằng nửa ngón cái người lớn) bảo con uống ngay, con liền nuốt xuống.

(Sau khi uống tiên đan, sự tu hành của con tiến bộ rất nhiều, sau đây là báo cáo liên quan.)
Ngày 21 tháng 6: Trong lúc trì chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, con bỗng thấy trong rừng cây xanh, một vị tăng trung niên với ngũ quan ngay ngắn, dung mạo từ bi, tâm bình tĩnh ngồi thiền trên tảng đá. Lúc đó con tự nhiên nhập vào định, hợp nhất với hình ảnh, một dòng pháp lực tuôn xuống gia trì, cảm giác xuất thế rất mạnh, con rơi nước mắt, biết rằng vị tăng này là tiền kiếp của con.

Ngày 23 tháng 6: Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã quán đảnh cho con trong thiền định... Khi trì tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ và nhập định, pháp lực tuôn chảy xuống, Liên Sư hiện ra, con không kìm được vừa khóc vừa chí thành sám hối với Liên Sư về nghiệp chướng nhiều đời. Con thấy rất rõ ràng cam lộ từ đỉnh đầu bên tay trái của Liên Sư liên tục chảy vào đỉnh đầu con, chảy vào đầu, cổ, từ hai tay đến các ngón tay, rồi trở lại ngực, dần dần xuống dưới, đến hai chân đang ngồi kiết già, sau đó từ hai chân chảy ra nước đen, thấm vào lòng đất. Đây là điều con thấy rất chân thực, khi con không ngừng sám hối, cam lộ từ đỉnh đầu Liên Sư tiếp tục như thác đổ liên tục quán đảnh cho con. (Lúc đó con đã niệm hơn 200.000 biến tâm chú Liên Sư.)

Sau khi Liên Sư quán đảnh, một hồ sen hiện ra, trên hồ xuất hiện bốn vị ngồi trên đài sen (Lục Độ Mẫu, Kim Cang Tát Đỏa, Liên Sư, Mã Đầu Minh Vương). Vừa thấy Kim Cang Tát Đỏa, con lại chí thành sám hối với ngài, và Kim Cang Tát Đỏa phóng hào quang trắng quán đảnh cho con.

Tháng 12: Trong buổi trực tiếp tại Seattle, Sư Tôn nhắc đến Liên Sư, đệ tử chợt hiện trong tâm trí hình ảnh Liên Sư và các Hộ pháp đang ngồi trên đài sen, bỗng nhiên hiểu rằng đệ tử có nhân duyên tiền kiếp với Liên Sư, không nén được rơi lệ. Liên Sư dạy con: Thế nào là tam luân thể không, vô ngã là điểm quan trọng để phá trừ nghiệp duyên tiền kiếp, con lập tức hiểu ra.

＊＊Hoàn thành 800.000 biến tâm chú Liên Sư (từ ngày 21 tháng 2 năm 2021 đến ngày 22 tháng 10 năm 2021, chuyên tâm trì tụng trong 8 tháng).

＊＊Liên Hoa Sinh Đại Sĩ quán đảnh cho con trong mơ: Khi đọc vài trang đầu của tập 1 sách "Thứ Tự Đại Viên Mãn", lập tức tràn đầy pháp hỷ. Đêm đó con mơ thấy mình ở một hang động lưng chừng núi, có một tượng vàng Liên Sư rất lớn, vị trí con đứng vừa khớp với phần đầu của Liên Sư. Liên Sư ban cho con dòng pháp lực mạnh mẽ liên tục như điện giật, toàn thân con không kìm được run lên. Sau đó Liên Sư dặn dò con: Tên thật của con không phải là Liên Hoa Mỹ Liên mà là Liên (  ), hãy bẩm báo Sư Tôn, đệ tử đã quên tên đó là gì, chỉ nhớ là một chữ đơn. Liên Sư nói công khóa hiện tại con đang làm rất tốt, nhưng trong "Kinh Địa Tạng" con chép có một chữ sai. Khi tỉnh dậy đi kiểm tra, quả nhiên có một chữ sai.

＊＊Vài năm trước, đệ tử đã kết samaya thệ ước với Căn bản Hộ pháp Nam Mô Mã Đầu Minh Vương, cầu xin Hộ pháp bảo hộ đệ tử trong việc hành bồ đề sự nghiệp, các loại pháp vụ và có thể tu hành thành tựu, cùng với Hộ pháp cùng thành tựu.

＊＊Trong thời gian hoàn thành 8 triệu biến tâm chú Sư Tôn, con thường mơ thấy Sư Tôn và Sư Mẫu ban gia trì cho con, Sư Mẫu thường ban cho con bảo vật.

＊＊Đệ tử từng trải qua một thời gian rất dài giấc ngủ không có mộng, thức dậy tinh thần tràn đầy. Đã có vài lần trong mơ, con là người quan sát, biết rõ đây là mơ, không bị ảnh hưởng bởi cảnh mơ. Con cũng có những giấc mơ không tốt, nhưng con lập tức chuyển hóa những giấc mơ không tốt trong chính giấc mơ đó, hơi giống như điều Sư Tôn nói về khả năng tự chủ trong giấc mơ.

＊＊Khi đọc thi tập văn tập của Sư Tôn, đệ tử từng thấy những đốm sáng xuất hiện, kết nối thành một mạng lưới ánh sáng. Nhiều đạo lý trước đây không hiểu thì nay tự nhiên lĩnh hội được.

＊＊Đệ tử thường tự quan sát bản thân, nhận thấy khi xử lý các việc thế tục, tư duy chuyển đổi rất nhanh, có thể biến nhiều thử thách thành nghịch gia trì, chuyển hóa thành năng lượng tích cực, năng lượng của bản thân cũng có thể ảnh hưởng đến bạn bè xung quanh, khiến họ cùng tinh tấn học Phật. Không chấp trước vào dục vọng thế tục, cũng không chấp trước vào tất cả hình tướng bên ngoài. Yêu thích kinh điển Phật giáo, nhiều kinh điển đều cho cảm giác quen thuộc, mặc dù là lần đầu tiên đọc, thích đọc "Kinh Kim Cang", "Thứ Tự Đại Viên Mãn" (chưa đọc xong), "Kinh Lục Tổ Đàn", "Kinh Duy Ma Cật"... do Sư Tôn giảng giải.

3. Đại pháp hội Thánh Quan Âm mùa thu năm 2023

- Vào rạng sáng ngày pháp hội, đệ tử mơ thấy mình cũng tham gia pháp hội, nhìn thấy nhiều kim thân Phật Bồ Tát đưa một phần cơm trắng và món ăn màu trắng cho sư huynh nhà con ăn, còn bảo anh ấy cởi bỏ quần áo bẩn trên người và thay bằng quần áo sạch.
(Sau pháp hội, chứng ho lâu ngày của anh ấy lập tức khỏi.)

- Thấy trên phiếu báo danh của đệ tử ghi chủ tôn Kim Cang Tát Đỏa, bốn chữ này màu đỏ.

- Sau đó thấy mình ngồi trên đài sen giữa hư không, nhìn xuống thấy chúng sinh nổi chìm trong biển nghiệp mà không tự nhận biết, lúc đó lòng mình từ bi dịu dàng như Quan Thế Âm Bồ Tát, có một tấm lưới lớn từ không trung vớt lên vài chúng sinh trong biển, họ vùng vẫy yếu ớt trong lưới, rồi thả họ trở lại biển, họ lại rất vui vẻ. Lúc này trong lòng đệ tử rất đau buồn, chúng sinh trong biển nghiệp, mê muội trong vô minh nghiệp chướng, không ngừng luân hồi, không biết rằng chỉ có học Phật mới có thể tự cứu mình ra khỏi biển nghiệp.

- Trong pháp hội, Sư Tôn biến hóa thủ ấn vô cùng vô cùng mạnh mẽ, từ lúc bắt đầu truyền qua phan quán đảnh cho đến khi kết thúc, dòng pháp lực cực mạnh liên tục chảy vào từ đỉnh đầu, cả người như bị điện giật, vô cùng vô cùng thù thắng.

4. Đại pháp hội Thất Nhãn Phật Mẫu Bạch Độ Mẫu mùa xuân năm 2024 nhìn thấy pháp thân Sư Tôn

Vào ngày 10 tháng 2 năm 2024, đệ tử xem trực tiếp đồng tu từ Seattle tại nhà. Khi đang tiến hành nghi thức thỉnh pháp trong đại pháp hội Bạch Độ Mẫu (Thất Nhãn Phật Mẫu) mùa xuân, ngay khi tâm chú Bạch Độ Mẫu được phát lên, nước mắt đệ tử bắt đầu tuôn trào không kiểm soát được, liên tục chảy không ngừng. Lúc đó, từ sâu thẳm trong tâm là một cảm giác vô cùng dịu dàng và quen thuộc, như thể đang trở về quê hương thân thuộc. Giữa làn nước mắt đang tràn đầy, đệ tử nhìn thấy Bạch Độ Mẫu hiển hiện, lập tức hướng về Bạch Độ Mẫu thành tâm sám hối, sám hối nghiệp chướng nhiều đời, lúc này nước mắt càng tuôn trào không ngừng.

Tiếp theo, đệ tử đi đến một khung cảnh, đệ tử cùng với vài người khác trong pháp hội đang mặc y giới của Bồ Tát giới, đang chuẩn bị thọ giới Bồ Tát tại gia, và Sư Tôn nhìn đệ tử hỏi: "Con vì sao thọ giới?" Đệ tử lập tức trả lời Sư Tôn: "Thọ giới là Phật pháp, không thọ giới cũng là Phật pháp, nên vô sở trụ mà thọ giới." Tiếp đó, Sư Tôn nói: "Trong một hỏi một đáp, con đã đắc giới!" Sau đó, khung cảnh lại trở về buổi trực tiếp đồng tu, lúc này nghi thức thỉnh pháp vừa sắp kết thúc.

Ba ngày sau, bỗng nhiên có một giọng nói trong tâm trí thông báo cho đệ tử rằng, duyên thọ giới Bồ Tát của con đã chín muồi, con nên nắm bắt cơ hội chuyến đi Seattle này để thọ giới. Lúc này, đệ tử mới hoàn toàn tỉnh ngộ, nhưng chỉ còn vài ngày nữa là phải khởi hành, lo lắng không kịp tìm được y giới Bồ Tát, nhưng Hộ pháp kiên định nói với đệ tử rằng hôm nay nhất định sẽ tìm được. Kết quả là ngày hôm đó thật sự tìm được y giới phù hợp. Cảm ơn ân đức gia trì của Sư Tôn và chư Phật Bồ Tát Hộ pháp, đệ tử có thể thọ giới Bồ Tát trong pháp hội Bạch Độ Mẫu.

** "Thọ giới là Phật pháp, không thọ giới cũng là Phật pháp, nên vô sở trụ mà thọ giới." Theo sự hiểu biết hiện tại của đệ tử: Người học Phật phải tuân thủ giới luật Phật giáo, từ giữ giới mà phát sinh định, rồi từ thiền định mà tu ra trí huệ, đó chính là giới định huệ. Còn đối với bậc đại thành tựu như Sư Phật, Ngài đã không cần bị ràng buộc bởi bất kì giới luật nào, mỗi lời nói hành động của Ngài đều là Phật pháp, nên không thọ giới cũng là Phật pháp. Người thọ Bồ Tát giới không phải vì muốn trở thành Bồ Tát mà thọ giới, bởi vì tất cả hình tướng bên ngoài đều là hư ảo, nên cần dùng tâm vô ngã, không trụ vào bất cứ điều gì để tùy thuận nhân duyên. Mặc dù Phật tính là bình đẳng, bình đẳng tính trí, nhưng chúng sinh chưa khai ngộ vẫn phải bắt đầu tu hành từ việc tuân thủ giới luật. (Kính xin Sư Tôn chỉ bảo.)

** Công khóa hiện tại đệ tử đã hoàn thành:
1. Tâm chú Sư Tôn 13.300.000 biến (mười ba triệu ba trăm nghìn), vẫn đang tiếp tục.
2. Tâm chú Liên Sư 830.000 biến (tám trăm ba mươi nghìn), sẽ tiếp tục.
3. Bách tự minh chú 1.080.000 biến (một triệu không trăm tám mươi nghìn), sẽ tiếp tục.
4. Mã Đầu Minh Vương chú 310.000 biến (ba trăm mười nghìn), sẽ tiếp tục.
5. Mãn Nguyện Đồng Tử, Hổ Đầu Kim Cang, Thiên Thủ Quan Âm, Lục Độ Mẫu, Trừ Ôn Dịch Độ Mẫu (mỗi chú trên một trăm nghìn biến)

(Những chú dưới một trăm nghìn biến không liệt kê.)

Kính thỉnh Sư Tôn chỉ dạy:
1. Căn bản Bổn tôn của đệ tử là vị nào? (Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.)
2. Đệ tử đã tương ứng với Tứ gia hành và pháp tương ứng Thượng Sư chưa? Đệ tử đã có thể bắt đầu tu pháp Bổn tôn chưa? (Có thể tu Bổn tôn.)
3. Đệ tử đời này có nhân duyên xuất gia không? (Có.)


### 37. Viết cho Liên Hoa Mai Liên


Sư Tôn Lư viết thơ như sau:

Chú là Phật tính của chư Phật
Phật tính chư tôn cũng như vậy
Lúc trì tụng khí cơ khởi động
Một vầng trăng chiếu soi nghìn hồ.

🌟

Chú dài chú ngắn tâm chú
Không dài không ngắn không tâm
Ngắn dài sâu cạn không bàn
Đều là nhân tố thành tựu

🌟

Trong vạn pháp thực không có pháp
Niệm chú niệm chú cũng là không
Chỉ có nhất tâm vốn đồng nhất
Quả chín tự nhiên sẽ đỏ hồng.

🌟

Giữ giới là để thanh tịnh
Thanh tịnh không vì giữ giới
Tự mình cân nhắc chớ hỏi
Bạn là một tấm gương sáng

🌟

Bổn tôn vốn là có duyên
Có duyên tự sẽ kết nối
Điều này thuần túy tự nhiên
Pháp lưu diệu dụng thêm nhiều.

🌟

Đời người tự có thăng trầm
Đói ăn khát uống tùy phần
Từ đây an tĩnh thường hằng
Tỏa sáng độ đời thuần chính.

🌟

Lành thay! Lành thay!


### 38. Cảm ơn bậc tối cao


*Lư Sư Tôn kính yêu!*

*Đệ tử Liên Hoa Tú Linh từ nhỏ đã mắc căn bệnh hiếm gặp (CHIARI, đau cơ xơ hóa, đau dây thần kinh tam giác). Đã trải qua 14 lần phẫu thuật và đã đi nhiều quốc gia để chữa bệnh.*

*Đệ tử xin được tri ân Lư Sư Tôn:
1. Cảm ơn Lư Sư Tôn đã cho con sức mạnh để đối mặt với những đau đớn của bệnh tật.
2. Cảm ơn Lư Sư Tôn, khi bệnh của con trở nặng, tay trái con không thể cử động được, mỗi ngày đau đớn đến không muốn sống. Vào tháng 2/2017, sau pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, tay trái con đã có thể cử động được, và từ đó tay trái con đã hoàn toàn bình phục!
3. Cảm ơn Lư Sư Tôn, vào tháng 10/2023, bác sĩ ở Singapore đã làm MRI để theo dõi tiến triển bệnh của con, bỗng nhiên thông báo tin vui rằng chứng tủy rỗng và CHIARI của con đã hoàn toàn biến mất, đã khỏi!*

*Lư Sư Tôn!
Con vô cùng biết ơn Thầy, đệ tử không biết lấy gì để báo đáp.
Liên Hoa Tú Linh kính bái.*

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) viết một bài thơ đáp lại "Cảm ơn bậc tối cao":
Sương tím hương nồng đượm
Một nén hương dâng lên bậc tối cao
Động thiên phủ địa
Từ bi đôi mắt nhìn
Chúng sinh đều là con cái
Xin thương xót
Phụng lệnh tiên Diêu Trì
Tỏa ánh sáng đến nơi xa xăm
Bệnh đã hết
Vui nhìn các con nở nụ cười.


### 39. Cảm ứng của thủ ấn


Đây là thư của đệ tử người Anh Seah:

*Ngày: Tháng 1 năm 2023.
Vài ngày trước, con mới quy y. Triệu chứng ở cổ họng của con đã kéo dài rất lâu.
Trong giấc mộng quy y, con nhìn thấy ảo ảnh.
Con thấy Lư Sư Tôn với thần thái trang nghiêm, ánh mắt sâu thẳm, ngồi trên pháp tọa cao.
Ngài mặc pháp y màu vàng kim tạo thành sự tương phản với màu đen sâu thẳm của pháp tọa, có ánh sáng nhiều màu dịu nhẹ bao quanh Lư Sư Tôn. Toàn thân rực rỡ ánh sáng, xung quanh pháp tọa khói sương mờ ảo.*

*Lư Sư Tôn kết một thủ ấn phức tạp, con không thể biết đó là thủ ấn gì.
Nhưng thủ ấn rất đẹp và trang nghiêm.
Thủ ấn tỏa sáng.
Ánh sáng chiếu vào cổ họng con.
Thủ ấn này trông sáng chói, như một thanh bảo kiếm, con đã nhìn trong 30 phút.*

*Ngày hôm sau.
Các triệu chứng ở cổ họng của con đã hoàn toàn biến mất! Từ đó không còn tồn tại nữa.*

*Seah kính bái.*

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) viết thơ:

*Cổ họng không khỏe đã lâu lắm
Chí thành quy y
Chỉ là một lễ bái
Thủ ấn thật kỳ diệu
Giấc mộng đêm đến thật rõ ràng
Chỉ một động tác ấy thôi
Xa xăm chân trời bóng trăng dời
Lúc tỉnh giấc mộng
Mang đến tin vui.*


### 40. Bóng mờ của phổi


*Kính lễ Sư Phật!
Con là Liên Hoa Trọng Hiển. Trong lúc kiểm tra sức khỏe, con bị phát hiện phổi có bóng mờ, đây quả là sét đánh giữa trời quang.
Là phế nang?
Là u?
Là ung thư?
Cần phải kiểm tra kĩ lưỡng một lần nữa.*

*Thật trùng hợp Lư Sư Tôn đang có Hộ Ma Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, có năm phút gia trì.
Con ngồi trước ti vi, tay ấn lên vùng phổi, trong tâm niệm: "Sư Tôn cứu con", "Liên Hoa Đồng Tử cứu con", "Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang cứu con", con thật sự rất sợ, cầu nguyện hết lòng!*

*Một tuần sau.
Con đến bệnh viện lớn để kiểm tra lại.
Bác sĩ nói: "Bóng mờ trong phổi đã biến mất hoàn toàn!"
Ồ!
Có thật không? Con thực sự không dám tin, nhưng, đúng là đã không còn
nữa! Thật vui mừng.
Cảm ơn! Xin cảm ơn lần nữa!
Liên Hoa Trọng Hiển kính thư.*

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) viết thơ:
*Đời người thật khổ cực
Bệnh đến hành hạ là sợ nhất
Ai có thể giải trừ đại nạn
Hóa giải tạo nên kỳ công
Vị thần Kim Cang tối thượng
Nhiều lần hiển hiện thần thông
Trì chú với đại pháp lực
Pháp lưu biến khắp Đông Tây.*

(Đây lại là một lần phép màu vĩ đại hiển hiện.)


### 41. Trong trạng thái mơ hồ


Trên bàn ăn. 
Một thiếu nữ xinh đẹp kể về quá trình cả gia đình quy y Lư Sư Tôn.
Cô ấy nói:
Gia đình cô theo tín ngưỡng đền miếu với đồng cốt (lên đồng), trong họ hàng có người đã quy y Lư Sư Tôn. Người này từng đến nhà khuyên gia đình quy y Lư Sư Tôn, nhưng gia đình không có ý kiến gì.

Sau đó mẹ cô bị bệnh nặng, đã hỏi khắp các vị thần linh, cũng tìm bác sĩ chữa bệnh. Không thấy tiến triển, bệnh tình ngày càng nghiêm trọng, mẹ cô phải vào phòng bệnh nặng. Thoi thóp, bác sĩ nói: "Chỉ còn chờ thời gian thôi!", bảo gia đình chuẩn bị tinh thần.

Một ngày nọ. Mẹ cô trong "trạng thái mơ hồ", lại nhìn thấy Lư Sư Tôn đến bên giường bệnh.
Lư Sư Tôn cầm một bát cơm, nói: "Cho bà ăn!"
Mẹ cô gầy như que củi đã ăn một bát cơm do Lư Sư Tôn đút cho. Cảm thấy đó là bát cơm thơm chưa từng có.

Từ ngày đó. Ngày hôm sau, tinh thần đã có chuyển biến tốt, các cơ quan trong cơ thể như thể đều sống lại. Không lâu sau, sức khỏe hoàn toàn hồi phục, xuất viện, mọi thứ trở lại bình thường. Vì vậy, cả gia đình đều quy y Lư Sư Tôn.

Sau khi cô ấy kể xong quá trình quy y của cả gia đình, tôi nghe xong, cũng cảm thấy rất mới mẻ.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) viết thơ:
*Một miếng cơm thơm ngon,
Có thể độ cả nhà;
Cầu nguyện nhiều hiển hóa
Người người có tâm lành.*

Ghi chép tháng 9 năm 2024.


### 42. Báo cáo của Liên Ha


Sư Phật tôn kính nhất, Phật an!
Đệ tử ngu muội Liên Ha nhất tâm đảnh lễ, và xin dâng lên Sư Phật cúng dường bằng thân khẩu ý!

Đệ tử tuần sau sẽ bay đến Seattle tham dự đại pháp hội mùa thu, đệ tử xin kính chúc Sư Phật truyền pháp Liên Sư Phẫn Nộ Tôn Dorje Drolo thành công viên mãn, giúp các đệ tử Chân Phật tiến bộ vượt bậc trong tu hành, đạt được viên mãn trong cả xuất thế và nhập thế, thậm chí có thể hóa thân thành ánh sáng cầu vồng, tức thân thành Phật!

Chuyến đi sinh nhật Sư Phật cách đây hai tháng dường như vẫn còn như hôm qua, cảnh tượng tráng lệ, lời thề nguyện cảm động, những tình tiết khiến người rơi lệ vẫn còn hiện rõ trong tâm trí, con xin cảm ơn Sư Phật đã ban cho đệ tử cơ duyên tham gia lập kế hoạch cho lễ kỷ niệm quý báu này, giúp đệ tử nhận ra rằng việc kết hợp với tinh hoa Chân Phật toàn cầu là điều phi thường đến nhường nào, cùng nhau chúng ta có thể tỏa ra ánh hào quang rực rỡ đầy màu sắc, và tương lai sự phát triển của tông phái Chân Phật cũng sẽ như vậy.

Đệ tử từ đó được truyền cảm hứng, đã thảo luận với huynh đệ đồng môn ở Brazil: Chúng con dự định tổ chức một "Đại hội liên hợp cầu nguyện cho Brazil" vào năm sau, với sự tham gia của các tổ chức tôn giáo khác nhau tại Brazil. Cảm ơn Sư Phật đã chỉ dẫn và chấp thuận, hiện nay đã có quý nhân xuất hiện, sẽ liên hệ với Thị trưởng São Paulo, nhân danh chính phủ mời gọi các tổ chức tôn giáo Brazil cùng thực hiện sự kiện quan trọng này. Kính xin Sư Phật gia trì cho đại hội này được thành công viên mãn! 🙏🙏🙏

Kính thưa Sư Phật tôn kính, cuốn văn tập thứ 300 của Thầy "Trở Về Tinh Hà" thật vô cùng quan trọng, trong đó chứa đầy những tâm yếu khẩu quyết, đặc biệt là bí quyết về thiền định, đệ tử xin tổng kết sơ bộ ba điểm chính sau:
1. Trước tiên, nương vào sự gia trì của Bổn tôn để nhập vào thiền định chuyên nhất.
2. Tiếp theo, tu bình khí nội hỏa để khiến khí mạch lưu thông.
3. Cuối cùng, từ trụ khí tiến vào Tam ma địa vô niệm.

Hiện nay đệ tử đã hiểu rõ tại sao mỗi khi hỏi về thiền định, Sư Phật đều viết về sự lưu thông của khí mạch, hóa ra đây là chìa khóa để đi vào trạng thái thiền định sâu nhất, chứng ngộ Phật tính bản ngã! Khi nhập định, đệ tử hiện đang kết hợp trụ khí và nội hỏa để làm tan chảy minh điểm ở luân xa Mi tâm, nghĩa là để nội hỏa tự nhiên vận hành trong trạng thái trụ khí vô niệm. Không biết cách kết hợp như vậy có đúng không? Và khẩu quyết trụ khí của Sư Phật cũng giúp đệ tử nhận ra rằng, Bảo bình khí và thiền định có thể kết hợp hoàn hảo với nhau, đồng thời áp dụng vào cuộc sống, công việc, luyện khí và thiền định mọi lúc mọi nơi, con vô cùng biết ơn khẩu quyết đại bí mật của Sư Phật!

Sư Phật kính yêu, tháng trước đệ tử đã cùng với các nhân tài ưu tú của Giáo Dục Chân Phật tổ chức "Hội nghị chuyên gia Giáo Dục Chân Phật". Đệ tử đã mời giảng sư Đại Bằng từ Thụy Điển nghiên cứu và học hỏi về học viện Phật học lớn nhất thế giới hiện nay, "Học viện Phật học Ngũ Minh". Sau đó trong cuộc họp, đã trình bày cho mọi người về phương thức vận hành, hệ thống giảng dạy, giáo trình bài giảng, cấp bậc học kỳ v.v... của Học viện Phật học Ngũ Minh. Đây chính là phương pháp trong quản trị học: "Đối chiếu tiêu chuẩn". Trong phát triển sự nghiệp, tìm kiếm một doanh nghiệp mẫu mực làm chuẩn mực học tập.

Sau khi so sánh Học viện Phật học Ngũ Minh với hiện trạng và đặc điểm của Giáo Dục Chân Phật, mọi người đã thảo luận sôi nổi và cuối cùng quyết định triển khai phương án "Nghìn sông có nước nghìn trăng hiện" của Giáo Dục Chân Phật, đưa giáo pháp của Sư Phật, các khóa học của Đại học Trực tuyến Chân Phật v.v... đến các đạo tràng trên toàn cầu, khơi dậy phong trào học tập, nghiên cứu tại các đạo tràng Chân Phật khắp nơi, để người hoằng pháp dẫn dắt đồng môn địa phương cùng học tập tiến bộ. Như vậy, học tập và thực hành bổ trợ cho nhau, lý sự viên dung, như đôi cánh tung bay. Chỉ có như vậy mới xứng đáng với tên tiếng Anh của tông phái Chân Phật: True Buddha School.

Khi đệ tử trình bày cho mọi người về kế hoạch ba năm, kế hoạch mười năm tương lai của Giáo Dục Chân Phật, có người hỏi đệ tử mục tiêu cuối cùng của Giáo Dục Chân Phật là gì? Tầm nhìn trong tâm đệ tử chính là: Đại học Nalanda.

Nếu chúng ta phát triển đại học và hệ thống giáo dục Chân Phật trở thành như Đại học Nalanda thuở xưa, thì tông phái Chân Phật sẽ tự nhiên trở thành trung tâm Phật pháp thế giới, thánh địa của Mật giáo. Đệ tử khẩn cầu Sư Phật phóng quang rực rỡ, dùng thần thông lực gia trì cho chúng con đầy đủ pháp duyên, nhiều quý nhân phù trợ, tinh hoa liên kết, cùng nhau đạt được mục tiêu cuối cùng của Giáo Dục Chân Phật.

Sư Phật kính yêu, mặc dù đệ tử đang gánh vác trọng trách của Giáo Dục Chân Phật và sự nghiệp bồ đề của Chân Đế Lôi Tạng Tự, nhưng tâm đệ tử thường cảm thấy vô lo vô phiền, hạnh phúc tự tại, như đại bàng tự do vỗ cánh bay lượn trong không trung. Tất cả đều nhờ ơn đội ngũ Giáo Dục Chân Phật, đội ngũ ưu tú Chân Đế cùng nỗ lực, họ không chỉ như anh em thực hiện nhiều công việc, mà còn như bộ não, thường xuyên cùng nhau thảo luận, động não, vui vẻ và đồng tâm hiệp lực như người thân. Và tất cả những điều này đương nhiên không thể thiếu sự ban phúc và gia trì của Sư Phật, ở đây đệ tử xin chân thành cảm ơn Sư Phật!

Kính chúc Sư Phật ngày cát tường, đêm cát tường, sáu thời trong ngày đêm luôn cát tường! Nguyện Sư Phật trường thọ tự tại, thường trụ thế gian, thường chuyển pháp luân, thỉnh Phật trụ thế! Cũng cầu xin Sư Phật gia trì đệ tử thân thể khỏe mạnh, thiền định thành tựu, tu hành thành tựu, giúp chúng sinh cùng thành tựu, bồ đề viên mãn, hoằng dương giáo pháp của Sư Phật lâu dài trong thế gian.

Ngu đệ tử Liên Ha kính bái.
Ngày 25 tháng 8 năm 2024 tại núi São Paulo, Brazil


### 43. Bình về "Không Hành Hoa Vũ"


Hàn Vũ là người đệ tử có phẩm chất của Không Hành Mẫu vĩ đại. Cô ấy đã viết một cuốn sách có tên "Không Hành Hoa Vũ". Sau khi đọc xong, tôi muốn viết một bài bình luận.

Hàn Vũ là sinh viên tốt nghiệp từ Đại học Đài Loan, bản thân là bác sĩ, rất tài năng.
Thơ, văn xuôi... văn tự tao nhã, tư duy trong sáng, lời văn của cô ấy trôi chảy, có nội hàm cụ thể, mỗi bài đều là tác phẩm tuyệt vời.
Tôi viết không phải là bình luận.
Mà đúng hơn là lời khen ngợi.
Cảm nhận sau khi đọc của tôi là:
Độc giả thân mến hãy lắng nghe kĩ
Những chữ này là cam lộ
Trong trẻo
Đáng mừng
Là âm thanh của thiện và mỹ.

🌟

Không phải kinh Phật
Mà là trái tim tu hành của một người phụ nữ
Không bị ô nhiễm
Không bị phá vỡ
Được bộc lộ một cách trọn vẹn
Kết tinh quý hiếm

🌟

Hướng về pháp lưu truyền thừa cầu nguyện
Bổn tôn Hộ pháp
Căn bản Thượng sư
Họ đều sẽ giáng lâm
Sau đó
Rất nhiều rất nhiều Không hành mẫu
Đối với cô ấy
Đã sinh lòng bi mẫn vô tận
Cô ấy đã dâng thân khẩu ý cho Căn bản
Thượng sư biết
Bổn tôn biết
Hộ pháp biết
Phật pháp thuần tịnh
Như thế hợp nhất thân thiết

🌟

Lời bình của tôi là
Sự cống hiến của cô ấy sẽ đạt đến viên mãn
Mọi chướng ngại sẽ được loại bỏ
Thắng giải và chứng ngộ khai mở
Thành tựu như vậy không dễ gặp
Mỗi ngày một bài tâm đắc
Công đức sẽ tăng gấp bội

🌟

Đối với những chúng sinh hiểu lầm
Thị hiện chính niệm
Đối với chúng sinh bị trói buộc
Ban cho sự giải thoát
Đối với chúng sinh đau khổ
Đặt họ vào niềm hạnh phúc
Đối với chúng sinh trong bóng tối
Ban cho ánh sáng

🌟

Tôi nói với Hàn Vũ:
"Truyền thừa của Chân Phật Tông đang ở trên người con, trong tương lai con không thể tránh khỏi việc trở thành một vị tông sư, con sẽ là Yeshe Tsogyal, con cũng sẽ là Machig Labdrön, là Không Hành Mẫu Yidam đại thành tựu."

Hộ pháp thiện thần sẽ bảo hộ.
Sẽ có đại lực.
Hãy nhớ samaya!

Tháng 8 năm 2024.


### 44. Pháp thân là như vậy


Đảnh lễ Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Phật.
Sư Tôn Sư Mẫu Phật an!

Đệ tử xin trình lên Sư Phật những hiểu biết và cảm nhận chưa trưởng thành từ việc thấy nghe nghĩ tu của mình trong thời gian gần đây, kính xin Sư Phật ban gia trì và chỉ dạy.

Bắt đầu từ việc thấy và không thấy Pháp thân.

Gần đây Sư Phật thường xuyên dùng những sự kiện kỳ lạ về việc thánh đệ tử nhìn thấy Pháp thân của Sư Phật để khuyến khích các đệ tử giữ vững niềm tin và tinh tấn thực hành. Vì vậy, đệ tử đã suy ngẫm về Pháp thân và có một vài nhận thức. Theo hiểu biết của đệ tử, Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Phật đã chứng đắc, là sự thị hiện của Không tính và trí huệ, Pháp thân của Ngài "biến khắp hư không, không đâu không có". Dù đệ tử thấy hay không thấy đều như vậy. Sư Phật từng dạy: có thể thấy Pháp thân là do nhân duyên; không thấy Pháp thân, thực ra, Pháp thân luôn tồn tại, quả thật đúng như vậy.

Lấy ví dụ về trường hợp cá nhân đệ tử, một trải nghiệm cách đây vài tháng, đệ tử đã trực tiếp bạch với Sư Phật rằng, một ngày nọ trong lúc thiền định, trong một khoảnh khắc bất ngờ, đệ tử nhìn thấy nhiều Pháp thân của Sư Phật có kích thước như người thật, mỗi vị đều khoác pháp y ngũ sắc, trong thoáng chốc trang nghiêm lần lượt đi vào thân đệ tử. Sau đó, đệ tử cũng quên đi.

Nhưng gần đây, nhiều lần trong định khi quan sát năm luân xa ở trung mạch, thật ngạc nhiên lại hiện ra Pháp thân ngũ sắc của Sư Phật trên tòa sen. Điều không thể nghĩ bàn hơn là, đôi khi vô tình, đệ tử cũng thoáng thấy Ngài xuất hiện bên cạnh. Đến đây, đệ tử có thể xác định rằng, trước đây đệ tử chỉ thỉnh thoảng thấy Pháp thân Sư Phật, giờ đây mới nhận ra, Ngài không chỉ ở trong thân mà còn ở bên trái bên phải. Điều quý giá hơn nữa là, mỗi khi đệ tử có những thắc mắc phiền muộn không thể giải đáp trong tâm, rất rõ ràng, một cách tự nhiên đệ tử nhận được sự chỉ dẫn hữu tướng vô tướng, hữu thanh vô thanh, khiến đệ tử lập tức tâm lĩnh thần hội, bừng tỉnh thông suốt, phiền não được giải quyết nhanh chóng, thật sự không thể nghĩ bàn. Vì vậy đệ tử dám nói, Pháp thân của Sư Phật đã chứng đắc Không tính, dù thấy hay không thấy, đều hiện diện khắp mọi nơi.

Đột nhiên nhớ ra, Sư Phật đã từng nói với đệ tử từ thuở ban đầu: "Khi con đã sẵn sàng, ta sẽ đến!" Lúc đó con còn đang ngóng trông, mơ mộng viển vông, không ngờ phải đến tận nhiều năm sau, hôm nay, ước mơ mới thực sự thành hiện thực, con mới hoàn toàn hiểu rõ.

Kể từ đó, cảnh giới thiền định càng ngày càng khác biệt: định cảnh sâu hơn và kéo dài hơn, đỉnh đầu mát mẻ, tư duy trong sáng, năng lực quan sát tăng cường, trí tuệ phát triển. Khi vô niệm, tất cả đều nhẹ nhàng, tĩnh lặng, sáng suốt, vô ngã; khi hữu niệm, quán lửa, rồng lửa bốc lên, mát mẻ; cảm nhận về khí mạch và minh điểm càng mạnh mẽ, luồng khí từ luân xa đỉnh đầu tràn vào mạnh mẽ, thấu suốt tận xương cụt, lan tỏa khắp toàn thân đến tận ngón chân, chu kỳ lặp đi lặp lại, không ngừng tuần hoàn. Có khi thấy vô số điểm sáng màu vàng kim như muôn vàn ngôi sao phủ kín bầu trời đêm, trong từng điểm sáng dường như có chư tôn; hoặc thấy mặt trời tròn đầy, ấm áp và rực rỡ, toàn thể vững chắc không sợ hãi, khí thế mạnh mẽ như thép. Từ đây, con hoàn toàn tin tưởng vào lời Sư Phật đã dạy trong văn tập thứ 300 "Trở Về Tinh Hà" về lợi ích của việc tương ứng với Bổn tôn: Một, Ngài sẽ hiện thân giúp đỡ con. Hai, con sẽ vô hình trung giữ giới luật của Ngài. Ba, con sẽ phát tâm từ bi hỷ xả. Bốn, con sẽ học hỏi tình thương lớn của Ngài. Năm, con sẽ có niềm tin nhất tâm (chuyên nhất). Sáu, tham, sân, si của con sẽ dần dần tiêu trừ. Bảy, vô minh, ái luyến, thù hận, sợ hãi sẽ giảm bớt. Tám, buông bỏ chấp trước, trừ khử phiền não. Chín, xả bỏ bản ngã. Mười, nhờ Bổn tôn mà nhập vào Tam ma địa. Những điều xảy ra với đệ tử, trăm phần trăm đúng như lời Sư Phật dạy, từ đó con thay Thầy truyền pháp, làm các Phật sự như pháp hội, đồng tu, hỏi việc v.v…, luôn nhận được sự gia trì của Sư Phật và Bổn tôn, sự dẫn dắt vô hình, năng lực độ chúng tăng cường, tín chúng ai cũng cảm ứng liên tiếp, đại chúng hoan hỷ, thư thái và vui vẻ.

Gần đây, khi suy ngẫm về phẩm "Pháp Môn Bất Nhị" trong "Kinh Duy Ma Cật" mà Sư Phật đã giảng giải, con càng tin chắc rằng phẩm kinh này thực sự dạy về pháp môn thành tựu sự viên dung giữa lý và sự của chư Phật Bồ Tát. Đó là dùng Căn bản trí (Phật tính) tuyệt đối, như chiếc định hải thần châm [gậy như ý của Tôn Ngộ Không], xuyên suốt cả hữu tướng vô tướng, hữu vi vô vi, hóa giải mọi đối lập giữa thế gian và xuất thế gian, dung hòa mọi mâu thuẫn của vạn tướng, để đạt đến sự đại viên mãn thuần khiết, thanh tịnh và vĩnh hằng của vũ trụ.

Đệ tử tin rằng, nương theo pháp môn giải thoát được truyền lại từ các bậc thánh hiền nghìn đời, ứng dụng vào cuộc sống bình thường và phức tạp, chắc chắn có thể vượt qua mọi khó khăn, xua tan mây mù để thấy ánh mặt trời, tháo bỏ xiềng xích trói buộc, và mọi người đều có thể trở về với bản tính tự nhiên của pháp.

Ngày 14 tháng 7 năm 2024, tại đại pháp hội Hộ Ma A Di Đà Phật tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, khi âm thanh trang nghiêm của thần chú A Di Đà Phật vang lên, ngọn lửa Hộ Ma được thắp sáng, và Sư Phật an tọa, bắt đầu kết ấn. Trong khoảnh khắc đó, trường năng lượng mạnh mẽ của Sư Phật bao trùm toàn thân con, lan rộng và nâng cao liên tục; kích hoạt con mắt thứ ba, ánh sáng cầu vồng từ tâm của Sư Phật bậc đại thành tựu cầu vồng dâng lên cao; một luồng cam lộ mát lành, gió nhẹ thổi, pháp hỷ tràn đầy, những loài chim kỳ lạ quý hiếm, phượng hoàng đuôi dài... phải chăng con đã đến cõi thiên giới? Phật A Di Đà, Bồ Tát Quan Thế Âm, Bồ Tát Đại Thế Chí, cùng nhiều vị Bồ Tát khác vây quanh, hồ nước tám công đức, hoa sen nhiều màu sắc, bầu trời trong xanh không mây, khắp nơi tràn ngập ánh sáng lung linh, tạo nên cảm giác vô cùng thanh thản và an lạc. Một ý niệm chợt nảy sinh trong tâm con: "Trong tương lai, khi viên tịch, nếu được sinh về cõi tịnh thổ trang nghiêm như vậy, thật là tuyệt diệu!"

Trong lúc con say mê không ngừng, tiếng chuông kim cang vang lên, tất cả trở về yên tĩnh. Sư Phật ứng biến ngay tại đó dạy thêm về pháp Nghìn chiếc thuyền pháp. Sư Phật từ bi, đệ tử có phúc, trong nghi thức mà Sư Phật tụng danh hiệu từng vị Phật Bồ Tát, từng phần tiếp dẫn các chúng sinh cõi u minh, cùng với từng câu Sư Phật mô tả chi tiết rõ ràng về sự trang nghiêm của thế giới Tây phương Cực Lạc, khiến các vong linh hướng về. Điều kỳ diệu hơn, mỗi lời mỗi chữ từ miệng Sư Phật tụng ra, như pháp chỉ, khiến đệ tử thấy rõ như đang ở hiện trường. Cuối nghi thức, Sư Phật truyền một câu cho vong linh xuống thuyền pháp, đảnh lễ Phật A Di Đà, Bồ Tát Quan Thế Âm, Bồ Tát Đại Thế Chí ở thế giới Cực Lạc. Đệ tử thậm chí như đang xem phim trên màn hình lớn, lập tức thấy được vô số vong linh, tuân theo lệnh lên bờ, hướng về trước Phật lễ bái. Cảnh tượng thật đến nỗi làm người ta xúc động.

"Kinh Duy Ma Cật" dạy rằng: "Tâm tịnh thì cõi Phật tịnh." Và trong sách của Sư Phật, Phật Thích Ca từng nói: "Mười phương pháp giới đều nằm trong trung mạch." Đệ tử sau nhiều năm được Sư Phật giáo hóa, tự thân trải nghiệm những cảm ứng chân thật, không khỏi từ đáy lòng tán thán; bí pháp thành tựu giải thoát nhanh chóng về cõi tịnh thổ chính là ở nơi Sư Phật, chúng ta cần gì phải tìm kiếm nơi khác?! Cảm ơn Sư Phật!!

Kính chúc Sư Phật an khang hạnh phúc, Phật thể an khang, thỉnh Phật trụ thế, quảng độ chúng sinh! Sư Mẫu khỏe mạnh vui vẻ, hộ sư hộ pháp, pháp hỷ tự tại!

Đệ tử Liên Từ đảnh lễ cung kính.
Ngày 15 tháng 7 năm 2024.

🌟

Tôi viết một bài thơ về "Pháp thân":

*Khi tôi thiền định
Tâm không ở nơi nào
Cũng không chỉ một ngày hai ngày
Khi là ánh bình minh
Khi là hoàng hôn*

*Du hành trong cõi u huyền không biết bao lần
Hiện thân đường đường
Ai là chủ
Ai là khách
Hướng về ai để dặn dò*

*Biến khắp hư không
Như bướm bay ong vờn
Chỉ cần cầu xin
Sẽ tùy theo lời thỉnh mà đến
Như Quan Thế Âm Bồ Tát 
Rưới khắp cam lộ.*

**(Hết.)**

---

---
# File: sach-tam-linh/304-hoi-dap-duoi-goc-tung.md
# Title: 304. Hỏi đáp dưới gốc tùng
---

![image](/img/img_0e2562912a918ccdd0fa57293fb67ba9.png)



## Hỏi đáp dưới gốc tùng


🪷 Khẩu quyết vô thượng

Văn tập: 304
Xuất bản: 06/2025
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Lời mở đầu


Ngôi nhà tôi ở tại Seattle, Hoa Kỳ (Nam Sơn Nhã Xá), xung quanh toàn là cây tùng.

Vì vậy, từ thư phòng của tôi nhìn ra ngoài, toàn là những cây tùng khổng lồ thẳng đứng, tôi như đang viết sách dưới gốc tùng vậy.

Tôi rất giống với hai bài thơ này:

*Dưới gốc tùng hỏi trẻ
Thầy tôi đi hái thuốc
Ở trong núi này thôi
Mây dày không thấy chỗ.*

[Bài thơ nổi tiếng của Lý Bạch, nói về sự tìm kiếm sư phụ giữa non cao mây phủ — thể hiện cảnh giới thanh tịnh, xa lìa trần tục.]

(Bài thơ này khiến tôi có cảm giác hư vô lúc ẩn lúc hiện.)

Và:

*Ta có am nhỏ tên Tùng Nguyệt,
Yêu tiết sương hàn, lạy trăng trong.
Chẳng kể Nam, Bắc hay Đông, Tây,
Còn trăng, còn tùng, lòng yên nghỉ.*

*Vuốt tùng hỏi tùng, tùng không nói
Ngẩng đầu hỏi nguyệt, nguyệt treo không.
Nhặt củi, đun nước mời trăng sáng,
Tâm ta cùng nguyệt trọn cô đơn. *

[Đây là bài thơ chưa xác định rõ tác giả, thường xuất hiện trong các tập thơ thiền.]

(Tôi đã sống tại Nam Sơn Nhã Xá nhiều năm rồi, tôi cũng thường ngắm tùng ngắm trăng, ngày tháng cứ thế trôi qua từng ngày một. Tôi nghĩ mình tuổi đã cao, không thể chuyển nhà được nữa, mai sau sẽ cùng "tùng nguyệt" trọn cô đơn.)

Tôi có thể nói như thế này:

*Tôi chính là một cây tùng già.
Chẳng sợ sương giá vẫn xanh tươi.
Nhìn lá phong kia đã rơi rụng.
Nghe gió bấc đó mãi thét gào.
Ngước mắt lên thấy vùng xanh thẳm.
Chỉ có ta đây, cây tùng già.*
(Đồng ca)

Tôi nhận ra rằng, bản thân tôi đã là một cây tùng già, không còn sợ hãi điều gì nữa. Tôi chỉ mong mỗi ngày làm một chút việc có ý nghĩa, viết một chút bài có ý nghĩa, tu tập pháp môn có ý nghĩa, như thế là đủ nguyện rồi.

Hỏi đáp dưới gốc tùng, cũng chính là "bạn hỏi tôi đáp", tôi mong muốn mang đến cho các đệ tử chính niệm. Tôi cho rằng trong ba mươi bảy đạo phẩm, quan trọng nhất là "tám chính đạo" - Chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tấn, chính niệm, chính định.
Câu trả lời của tôi, phải "như thế".

Ngoài ra, tôi rất ngưỡng mộ lời dạy của Đại sư Hoằng Nhất:
Nhục nhãn — Chẳng ngoài danh lợi.
Thiên nhãn — Chẳng ngoài luân hồi.
Pháp nhãn — Chẳng ngoài nhân quả.
Huệ nhãn — Chẳng ngoài không huyễn.
Phật nhãn — Chẳng ngoài từ bi.

Mong rằng cuốn sách "Hỏi đáp dưới gốc tùng" này có thể giúp cho chúng sinh hữu duyên được giác ngộ chân lý và giải thoát, khiến chúng sinh thoát khỏi biển khổ.

Cuốn sách này có hỏi có đáp, mong rằng mọi người đều nhận được lợi ích, và cũng có thể thấu hiểu được chân đế cuộc đời.

Chúc bạn mở sách ra có được điều bổ ích.

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
**Sheng-Yen Lu
17102 NE 40th Ct.,
Redmond WA 98052
USA

Tháng 12/2024. 


### 01. Hỏi: Nghe nói pháp hội siêu độ của Lư Sư Tôn có thể nhìn thấy người chết?


Lư Sư Tôn đáp:
Từ lúc tôi còn trẻ làm pháp hội siêu độ chỉ có hơn mười người, đến hôm nay, pháp hội siêu độ của tôi đã lên tới hàng vạn người. Có nhiều người nhìn thấy tổ tiên và người đã khuất của mình, số người nhìn thấy rất nhiều, không phải hiếm. Tôi không thể nói rằng ai ai cũng có thể nhìn thấy, cũng có một số ít người không thể nhìn thấy. Thấy hay không thấy, đều là nhân duyên.

Ví dụ: Ngày 31 tháng 8 năm 2024, tại pháp hội siêu độ A Di Đà Phật, Thượng sư Thường Nhân đã dẫn theo mười đồng môn tham dự, trong đó có sáu người nhìn thấy, bốn người không nhìn thấy. Tại sao có thể nhìn thấy? Câu trả lời đơn giản là: "Họ đã bước vào một cảnh giới." Không nhìn thấy là do chưa bước vào được cảnh giới đó.

Đây là câu trả lời đơn giản nhất. Nếu muốn trả lời nghiêm túc câu hỏi này, có lẽ phải viết cả một cuốn sách.

Tôi là nhân vật chính trong pháp hội siêu độ, tôi ngồi chính giữa pháp tọa. Tay kết ấn siêu độ. Quán tưởng chư Phật Bồ Tát giáng lâm, thuyền pháp đến tiếp dẫn vong linh. Trì chú siêu độ và chú Bổn tôn. Nhập vào Tam ma địa của thiền định.

Để vong linh ngồi lên hoa sen, vãng sinh về Phật quốc tịnh thổ.
Để vong linh ngồi lên thuyền pháp lớn, vãng sinh về Phật quốc tịnh thổ.

Tôi còn muốn nói với mọi người, mỗi ngày tôi đều tu pháp siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp, đã liên tục nhiều năm như vậy, tôi siêu độ không chỉ con người, chỉ cần là sinh linh thì tôi đều độ hóa hết.
Lớn như: khủng long, cá voi.
Nhỏ như: côn trùng nhỏ, vi khuẩn.
Không gì là không độ.
Tôi nói là lời chân thật, không dám vọng ngữ, tuyệt đối không giả dối.

🌟

Mỗi khi pháp hội siêu độ vừa kết thúc, sẽ có rất nhiều người đứng lên làm chứng. Cả nam, nữ, người già, trẻ em đều có.

Đôi khi, tôi sẽ nói: Những người chưa thấy, về nhà sau đó vẫn có thể thấy, có người trong mơ cũng có thể thấy được.
Cũng có rất nhiều người gửi thư làm chứng.

Lấy một lá thư làm ví dụ:

*Minh chứng vĩ đại nhất*

*Ngày 31 tháng 8 năm 2024 là pháp hội siêu độ mùa thu A Di Đà Phật trong năm nay. Trong pháp hội, trước mắt tôi liên tục hiện ra ánh sáng trắng, tâm hồn rất an nhiên, đó là một pháp hội vô cùng thù thắng, cũng là lần thứ hai trong đời tôi khóc đến mức chết đi sống lại.*

*Sau khi pháp hội kết thúc, Sư Tôn từ bi khai thị rằng: "Các bạn có muốn nhìn thấy cha mẹ và tổ tiên đã qua đời của mình không?" Tôi đương nhiên lập tức trả lời: "Có."*

*Tôi thực sự rất muốn gặp cha mẹ đã khuất của mình, vì vậy Sư Tôn đã hướng dẫn chúng tôi yên lặng đi vào thiền định. Nghe Sư Tôn triệu thỉnh A Di Đà Phật, Quan Âm Bồ Tát, Diêu Trì Kim Mẫu, Địa Tạng Vương Bồ Tát, cùng với Kim Cang, Không Hành, Hộ Pháp và rất nhiều chư thiên thần chúng, khi Sư Tôn niệm đến lần thứ hai "Nam mô ba mươi sáu vạn tỷ mười một vạn chín nghìn năm trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật", trước mắt tôi từ từ như mở ra một màn hình lớn, tôi cảm ứng được cha mẹ ở bên cạnh tôi. Sau đó tôi thấy trước mắt có rất nhiều người đều mặc áo trắng quần trắng, rất nhanh tôi nhìn thấy cha mẹ trong đám đông, nước mắt tôi cứ tuôn rơi không ngừng, khóc nghẹn ngào.*

*Thấy cha mẹ bước lên một con thuyền rất lớn, boong thuyền được lát bằng vàng. Dung mạo cha mẹ rất trẻ trung, rất khỏe mạnh, còn nghe thấy cha chỉ tay về phía tôi nói lớn tiếng: "Đó là con gái tôi đấy, đó là con gái tôi đấy!" (tiếng Quảng Đông) Nói nhiều lần sợ người khác không biết, giống hệt như khi ông còn sống nói chuyện với người khác vậy. Lúc đó tôi như thể đang xem một bộ phim vô cùng cảm động, tôi cũng rất xúc động khóc nức nở.*

*Cuối cùng trước mắt tôi dần dần biến thành một biển ánh sáng, vô cùng sáng chói, nghe thấy Sư Tôn nói một tiếng: "Xong rồi!" và tôi xuất định. Sau đó Sư Tôn hỏi có bao nhiêu người tại chỗ nhìn thấy người thân đã qua đời của mình, có rất nhiều người đứng lên kể lại những gì họ đã thấy, trải nghiệm lần này khiến tôi suốt đời không quên. Vô cùng cảm ơn Phật phụ Lư Sư Tôn tôn quý nhất đầy từ bi đại ái, trong mỗi lần Ngài thị hiện thần tích đều khiến chúng con được cứu độ và được lợi ích.
Om guru liansheng siddhi hum. *

*Người viết: Liên Ôn.*


### 02. Người tu hành có nên có tình cảm không?


Lư Sư Tôn trả lời:

Gần đây tôi giảng "Kinh Duy Ma Cật", trong đó có một đoạn văn vô cùng quan trọng. Trong mười đại đệ tử của Phật Đà, Xá Lợi Phất là người trí tuệ đệ nhất, ông tĩnh tọa thiền định trong núi rừng sâu thẳm. Duy Ma Cật Đại Sĩ đến trước mặt Xá Lợi Phất, nói rằng: "Thiền định chân chính, không phải như vậy. Mà là dù ở bất cứ nơi đâu đều vô cùng thản nhiên, tùy duyên tự tại, không bị các pháp trói buộc, mọi lúc mọi nơi đều giải thoát."

Lại nói: "Như ông, chỉ ngồi thiền khô khan trong rừng núi như vậy, không lợi ích cho chúng sinh hữu tình, không độ thế lợi sinh, tách biệt với mọi người, đây chỉ là người tự giải thoát. Không có tình cảm, sống ẩn dật xa lánh mọi người, đây là trốn đời."
Xá Lợi Phất hỏi: "Vậy nên như thế nào?"
Duy Ma Cật đáp: "Hữu tình."

Tôi cảm thấy đoạn đối thoại này đối với người tu hành mà nói là một tiếng thét thức tỉnh. Tôi không phản đối bế quan tu hành, nhưng tôi chú trọng hơn đến hoằng pháp lợi sinh.

Cái gọi là:
Ẩn lớn là ẩn ở chợ.
Ẩn nhỏ là ẩn trong núi.
Tu hành tuy quan trọng, nhưng giáo hóa chúng sinh, lợi mình lợi người còn quan trọng hơn.

Duy Ma Cật Đại Sĩ nói đúng, thiền định là trong cuộc sống hàng ngày, mọi lúc mọi nơi đều trong thiền định, mọi lúc mọi nơi đều đang tu hành, chứ không phải ngồi khô khan.

Tôi dạy chúng sinh:
Ăn — Cúng dường.
Mặc — Kết giới.
Ở — Quán tâm.
Đi — Trì chú.
Ngủ — Ngủ trong ánh sáng. (thiền định)
Tiền — Từ thiện.
Sắc — Song thân. (hợp khí)
Danh — Độ sinh.

Tất cả những điều này đều trở thành phương pháp tu hành. Trong Mật giáo mà nói, tiền là pháp Tài Thần, sắc là pháp song thân, danh là pháp kính ái, thậm chí phẫn nộ là pháp Kim Cang.
Những điều này, toàn bộ đều là "hữu tình".

Đệ tử Liên Hoa Viên Viên của tôi, trong lá thư của cô ấy, tràn đầy những suy nghĩ đầy trí tuệ. Toàn bộ đều là "hữu tình".

Thư như sau:

Mặc dù vô số lần trong mơ cảm nhận được tình cảm sâu đậm của Sư Tôn dành cho đệ tử, nhưng những lời dạy của Sư Phật trong "Muôn Kiếp Tình Duyên" và "Chiếc Hộp Ánh Trăng" đã khiến con hiểu rõ ràng rằng, tình yêu của Sư Tôn là tình yêu lớn từ bi dành cho toàn thể chúng sinh, là tình yêu vượt lên trên thế tục, bao dung muôn vạn, là tình yêu vô ngã, vô chấp, vô trụ, vô tướng, vô lậu. Sư Tôn là giác hữu tình, dùng sự tỉnh thức, giác ngộ để độ hóa tất cả chúng sinh hữu tình. Cảm ơn lời dạy của Sư Tôn, khiến con hiểu rằng không cần chấp trước vào cảnh mơ, đời người một kiếp, mộng huyễn một đời, mỗi người đều đang biểu diễn rất nhập vai theo kịch bản mà mình đã viết sẵn, không ngờ rằng, bỗng một tiếng trống dừng, chẳng biết nơi nào là quê nhà? Chúng ta phải từ trong tình cảm mà vượt lên, phải từ trong tình cảm mà thăng hoa!

Thích nhất là đọc sách của thầy, bởi vì trong sách của thầy toàn là tinh hoa trí tuệ, con có thể đọc một mạch đến hết, nội dung sâu sắc mà lời lẽ dễ hiểu, tinh tế thấu đáo, ý còn chưa hết, pháp hỷ có thể thưởng thức, sâu xa thông suốt, con đứng đọc, ngồi đọc, xếp hàng đọc, ăn cơm đọc, ngủ đọc, đọc đọc đọc... ăn không biết vị, ngủ không biết mơ, đứng không biết mệt, đợi không biết vội, ha ha, cảm giác biết mà không biết, không biết mà biết này khá thú vị. Đọc đến chỗ cảnh giới vô ngã của Sư Phật sẽ chảy nước mắt, sẽ cảm khái, sẽ quán tưởng, nguyện chúng sinh cùng con được Sư Phật cứu độ như nhau, cùng lìa khỏi biển khổ sinh tử, mãi mãi tận hưởng tự tại an lạc.

Tuy nhiên, có gì là khổ? Có gì là vui? Sinh tử có và không có, Phật Ma có và không, luân hồi niết bàn có và không, tồn tại mà không tồn tại, không tồn tại mà tồn tại, hiện tức là có, không hiện tức là không, hiện vì phương tiện mà hiện, cũng vì vô vi mà ẩn, vô vi mà không gì là không làm, nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy. Con thật muốn hòa nhập vào trí huệ của thầy, hòa nhập vào lòng từ bi của thầy, hòa tan trong lực pháp giới của thầy, cùng thầy hợp nhất để hóa độ mười phương, từ ái chúng sinh.

Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn sự gia trì vô thượng phi phàm của Sư Tôn, câu lạc bộ đọc sách do con chủ trì ngày càng có nhiều người tham gia hơn, tâm nguyện ban đầu của con là đưa lời dạy, bài viết của Sư Tôn bố thí pháp đến với nhiều chúng sinh trong nước hơn, gieo vào lòng họ một hạt giống Mật pháp, hạt giống chứng ngộ, nguyện tất cả họ đều kết duyên lành với Sư Phật, tương lai đều nhờ Sư Phật mà được độ.

Sâu sắc cảm ơn Sư Tôn, một lần nữa xin cúng dường bài "Văn cầu thỉnh Thánh Tôn gia trì" do con viết để cúng dường cho Sư Tôn tôn quý:

Đảnh lễ đại ân Liên Sinh Phật, gia trì cho con cùng chúng sinh.
Nguyện con trí tuệ niệm niệm tăng, tâm hoa từ bi đóa đóa nở.
Nguyện con dũng mãnh hằng tinh tấn, sớm nhập trí tuệ quang minh định,
Đảnh lễ Thánh Tôn quỳ dưới chân, cầu xin ban cho con tâm yếu.
Nguyện con tu pháp được tương ứng, minh tâm kiến tính được mở ra,
Nguyện con thân tâm thường thanh tịnh, thành tựu vô thượng bồ đề quả.
Muôn nghìn chúng sinh đều nương tựa, bước lên kính lễ Liên Sinh Tôn,
Nguyện thiện tri thức thường vây quanh, Sư Phật dẫn dắt rời vô minh.
Nguyện con độ sinh không mệt mỏi, đèn tâm vô ngã chiếu đại thiên,
Nồng nàn tha thiết khen Thánh Tôn, tâm tâm niệm niệm bên Sư Phật.
Nguyện đợi hoa nở thời thấy Phật, Liên Hoa Đồng Tử hẹn Liên Trì,
Bi trí song vận nguyện khi chứng, tròn đầy như trăng đại quang minh.
Om guru liansheng siddhi hum.

Cầu nguyện Sư Phật yêu quý thân thể an khang, thường trú thế gian, mãi mãi chuyển pháp luân, thỉnh Phật trụ thế cửu cửu cửu cửu! Yêu tình yêu của thầy dành cho chúng sinh! Mãi mãi vĩnh viễn, đời đời kiếp kiếp, nguyện cùng chúng sinh cùng thành Phật đạo!

Liên Hoa Viên Viên khấu lạy đảnh lễ Sư Phật!
16/07/2024.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) viết một bài thơ ngắn:

Trữ tình

Tuy biết đời như mơ
Lễ thầy mặc cà sa
Vì truyền pháp Chân Phật
Xuất gia như tại gia.

(Xuất gia mà tôi nói chính là trong lòng có ánh sáng. Dùng ánh sáng khiến chúng sinh có ánh sáng thì xuất gia và tại gia là như nhau.)


### 03. Hỏi: Rốt cục thế nào là pháp môn Bất Nhị?


Lư Sư Tôn đáp:
Theo như tôi biết:
Trong kinh điển, phẩm "Nhập Bất Nhị Pháp Môn", từ Bồ Tát Pháp Tự Tại đến Bồ Tát Lạc Thực, có nhiều vị Bồ Tát đều đã bàn về pháp môn Bất Nhị.
Nhưng, Bồ Tát Văn Thù chỉ ra: "Bất khả thuyết".
Đại sĩ Duy Ma Cật:
"…………." - Im lặng không nói.

Tôi (Lư Sư Tôn) xin nêu ra một đoạn lời của Hương Tích Phật để mọi người tham khảo:
Hương Tích Phật nói:
Mười phương thế giới, dù thanh tịnh hay ô uế, đều là nhân duyên huyễn hóa, không có thể tính độc lập.
Vì vậy,
Chẳng phải tịnh chẳng phải uế, chẳng phải nhân chẳng phải duyên, mười phương thế giới đều như hư không, vốn không chướng ngại, chúng sinh không hiểu nên mới có muôn vàn suy nghĩ, nghìn sai vạn biệt.
Nhất thiết như như. [tất cả như nhau]
(Câu "Nhất thiết như như" của Hương Tích Phật chính là pháp môn Bất Nhị.)

Khổng Tử - bậc thánh nhân Trung Quốc, nói:
"Trời nào có nói gì đâu! Bốn mùa vận hành, trăm vật sinh trưởng, trời nào có nói gì đâu!"
Tử Cống nói:
"Phu Tử không nói, chúng con làm sao biết được?"

Ý của Khổng Tử là nói: "Trời không cần nói, nhưng mọi thứ tự nhiên vận hành, mặt trời trăng sao, xuân hạ thu đông, vạn vật hóa sinh, tất cả vốn là như vậy."
(Đây cũng là "như như".)
Tôi nói với mọi người:
"Nhất thiết như như, chính là pháp nhĩ bản nhiên. Pháp nhĩ bản nhiên cũng chính là pháp môn Bất Nhị."

🌟

Mọi người còn nhớ không?
Việc Phật Thích Ca Mâu Ni cầm hoa chính là pháp môn Bất Nhị.
Tổ Đạt Ma lên tòa xuống tòa, không nói một câu nào, chính là pháp môn Bất Nhị.
Huệ Năng (Lư Hành Giả) nói:
"Không nghĩ thiện! Không nghĩ ác! Chính là lúc này đây!"
(Pháp môn Bất Nhị.)
"Kim kê độc lập" [gà vàng đứng một mình] của Lư Sư Tôn cũng chính là Pháp môn Bất Nhị!
Như vậy, Pháp môn Bất Nhị đã rõ chưa?

🌟

Nếu không hiểu, xin hãy đọc lại bài viết của "Kẻ Mê":

**Cầm hoa khẽ cười**
Bài viết của Kẻ Mê

Thế Tôn tại pháp hội Linh Sơn, cầm hoa cho mọi người thấy. Mọi người đều không nói gì, chỉ mỗi Ca Diếp khẽ mỉm cười. Thế Tôn nói: "Ta có chính pháp nhãn tạng, Niết Bàn diệu tâm, thực tướng vô tướng, vi diệu pháp môn, bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, giao cho Ma Ha Ca Diếp." Đây là nguồn gốc của Thiền tông, Sơ tổ chính là Ma Ha Ca Diếp. [Giáo ngoại biệt truyền: sự truyền dạy riêng biệt ngoài ghi chép trong giáo pháp, tức là truyền tâm ấn, nhấn mạnh sự trực ngộ, không nương nhiều vào chữ nghĩa kinh luận.]

Công án Thiền tông này đã có vô số cao tăng đại đức qua các đời giải thích, nói về "thực tướng", "diệu tâm", "tâm ấn" v.v..., ở đây tôi sẽ không nói nhiều nữa. Nhưng tôi nghĩ, Thế Tôn với tư cách là một vị Phật đã giác ngộ, trong cuộc sống chắc không phải lúc nào cũng nghiêm túc đến vậy chứ? Chắc cũng có tâm trạng thoải mái, vô úy vô ngại nên cười hả hả như Sư Tôn của chúng ta chứ?

Vì vậy tôi muốn mô tả công án này, mô tả nội tâm của Phật Đà và Đại Ca Diếp, theo cách nhẹ nhàng.

［拈花微笑內心小劇場］

一時世尊在眾弟子面前拈花示眾。

世尊：

「這麼多年來，有誰真正瞭解我在玩什麼？」

「沒人？」

「咦！善哉，大迦葉笑了。」

大迦葉站起合掌。

**Vở kịch ngắn - Nội tâm cầm hoa khẽ cười**

Một thời, Thế Tôn ở trước mặt chư đệ tử cầm hoa chỉ cho mọi người xem.
Thế Tôn:
"Bao nhiêu năm qua, có ai thực sự hiểu ta đang làm gì không?"
"Không ai sao?"
"Ơ! Lành thay, Đại Ca Diếp cười rồi."
Đại Ca Diếp:
"Thế Tôn, con biết Ngài đang chơi "hoa giữa hư không", nhưng con không thể nói ra, chỉ có thể mỉm cười tâm đầu ý hợp."
Thế Tôn:
"Đã biết ta đang làm gì, thì hãy truyền lại chân tướng này đi!"
Đại Ca Diếp:
"Con biết chân tướng không thể dùng văn tự giải thích, chỉ có thể dùng cách kích thích, dùng cách gây sốc, dùng phương thức hành động kịch, để xem chúng sinh có thể tóm lấy mà đốn ngộ hay không!"
(Hết.)

(Dưới đây là tâm đắc cá nhân của tôi.)

Người tu hành tu tập, mục đích là đắc đạo chứng quả. Trong giai đoạn sinh khởi, họ luôn luôn quan tâm đến việc tu hành của mình đã đạt được gì. Đối với Thiền tông mà nói, chính là đang giảng dạy:
Khai ngộ hiểu rõ "đã đắc" và "không đắc được gì". (tưởng như đối lập)
Vì hiểu rõ "không đắc được gì", nên tâm an.
Tâm an cũng là vì biết "tâm bất khả đắc". (tưởng như đối lập)

Phân tích sâu hơn:
"Đã đắc" tương ứng với Phân biệt trí.
"Vô sở đắc" tương ứng với Căn bản trí.
"Tâm an" tương ứng với Phân biệt trí.
"Tâm bất khả đắc" tương ứng với Căn bản trí.
Phân biệt trí và Căn bản trí hợp lại chính là Nhất thiết chủng trí.
Nhất thiết chủng trí chính là "nhất như", chính là pháp môn Bất Nhị, là tuyệt đối chứ không phải tương đối.
Làm sao để nhập môn pháp môn Bất Nhị? Không có môn (tĩnh mặc). (tưởng như đối lập)
Chính là "chính tại lúc này" cũng là "chính chẳng tại lúc này". (tưởng như đối lập)
Đây là pháp nhĩ bản nhiên.
Đây chính là trí huệ bát nhã.
Nói một cách đơn giản chính là "song vận".

"Kinh Duy Ma Cật" chính là đang kể về cư sĩ Duy Ma Cật, trước tiên quở trách các đệ tử La Hán và Bồ Tát sơ địa, giúp họ phá vỡ Phân biệt trí để nâng lên Căn bản trí. Đến khi Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi dẫn đại chúng đến thăm bệnh, hai vị Đại Bồ Tát cùng nhau diễn giải khái niệm "nhất như" là sự hợp nhất giữa Phân biệt trí và Căn bản trí, giúp họ vào pháp môn Bất Nhị. Trong pháp môn Bất Nhị: phiền não tức là bồ đề, luân hồi tức là Niết Bàn, Đại Tự Tại Vương Phật cũng chính là Đại Tự Tại Thiên Ma.

Thiền tông không lập văn tự, chính là để chỉ thẳng vào pháp môn Bất Nhị. Đại Ca Diếp hiểu rằng Phật Đà dùng đủ mọi cách diễn giải, dùng lời nói không thể nói để giúp chúng sinh vào pháp môn Bất Nhị. "Hoa giữa hư không" này là trò chơi của người đã giác ngộ, là thứ người giác ngộ chơi.
"Kinh Tâm": "Sắc bất dị không. Không bất dị sắc. Sắc tức thị không. Không tức thị sắc."
"Kinh Kim Cang": "Tất cả pháp hữu vi, như mộng huyễn bóng ảnh, như sương cũng như điện, nên quán thấy như vậy."
Chính là như một, chính là môn Bất Nhị.

Cái gọi là pháp chí cao vô thượng, pháp do nhân duyên sinh (hoa giữa hư không), thực ra chỉ người bình thường mới có tư tưởng phân biệt cao thấp, trong mắt người giác ngộ tất cả đều bình đẳng, vì pháp nhĩ bản nhiên, vì "như một".


### 04. Hỏi: Đại Hắc Thiên cũng là Thần Tài phải không?


Lư Sư Tôn đáp:
Truyền thuyết rằng Bồ Tát Long Thụ đang đi dạo bên bờ sông Hằng, nhìn thấy Đại Hắc Thiên trôi nổi trên sông Hằng thì Ngài đã mang về tu viện Nalanda, từ đó trở thành vị thần Hộ pháp của Phật giáo Ấn Độ.

Vào thế kỷ thứ 11, đại dịch sư Tây Tạng Rinchen Zangpo đã rước Đại Hắc Thiên vào Tây Tạng. Đại Hắc Thiên trở thành đại Hộ pháp thần của Tây Tạng, sau đó Đại Hắc Thiên có 72 hình tượng hoặc 75 hình tượng, phần lớn là Đại Hắc Thiên với tướng phẫn nộ, có hai tay, bốn tay, sáu tay, có màu thân đen hoặc trắng, v.v...

Đại Hắc Thiên tiếng Phạn là Mahakala, tiếng Tạng là Nagpo Chenpo, là vị đại Hộ pháp thần uy mãnh nhất, có pháp lực nhất của Phật giáo Tây Tạng, bốn giáo phái Mật tông Tạng đều tôn sùng ngài.
Đại Hắc Thiên có bốn tính chất lớn:
1. Thần chiến đấu.
2. Thần bếp núc.
3. Thần nghĩa địa.
4. Thần phúc đức.

Về lai lịch của Đại Hắc Thiên, Mật giáo nói ngài là Đại Nhật Như Lai thị hiện để hàng phục ác ma. Còn nói ngài là tướng phẫn nộ của Bồ Tát Quan Thế Âm.
Cúng dường Đại Hắc Thiên có hai vật quan trọng nhất:
1. Gạo.
2. Muối.

Đệ tử hỏi Đại Hắc Thiên cũng là Thần Tài phải không?
Tôi nói: "Đúng vậy."
Bạch Đại Hắc Thiên sáu tay là vị Thần Tài của Đại Hắc Thiên (Bạch Hộ Pháp). Ngài có một bài kệ:
Đại Hắc Thiên sinh từ gỗ đàn
Như những cuộn mây trắng mùa thu
Bạch Hộ Pháp Bổn tôn vô thượng
Quan Thế Âm hóa thân hý lạc
Xin giáng xuống cơn mưa châu báu.

Bài kệ này thể hiện Ngài có thể ban tài, châu báu như mưa rơi.
Ngài mang thân phận của vị tài bảo.
Ngài cầm:
Ngọc mani.
Chén kapala chứa đầy châu báu.

Ngoài ra:
Trong Thất Phúc Thần của Nhật Bản có Đại Hắc Thiên.
Thất Phúc Thần của Nhật Bản là Huệ Bỉ Thọ, Đại Hắc Thiên, Tỳ Sa Môn Thiên, Biện Tài Thiên, Phúc Lộc Thọ, Thọ Lão Nhân, Bố Đại Hòa Thượng.
Tại Nhật Bản, Đại Hắc Thiên chủ quản ngũ cốc được mùa, thương nghiệp phồn thịnh, bảo vệ con cháu, khai vận chiêu tài.

Hình tượng của Ngài là:
Thân hình tròn trịa.
Đôi tai to.
Tay trái cầm túi vải.
Tay phải cầm búa phúc.

Lai lịch của Ngài vốn là hóa thân của Đại Tự Tại Thiên trong Ấn Độ giáo, sau này trở thành đại Hộ pháp thần của Phật giáo. Tại Tây Tạng là vị Hộ pháp hung mãnh. Nhưng khi đến Nhật Bản, trải qua sự biến đổi của lịch sử, hòa quyện với văn hóa Nhật Bản, Ngài lại phát triển thành vị thần bếp núc và thần tài được yêu thích.

Đại Hắc Thiên ở Tây Tạng, Tây Hạ, Mông Cổ là thần chiến đấu. Đồng thời kiêm thần bếp núc, thần lều trại, thần hộ mệnh của chùa chiền, và còn có đặc tính của thần âm phủ.

Tuy nhiên khi truyền sang Nhật Bản lại trở thành một trong Thất Phúc Thần, là thần tài. Điều này rất khó hiểu, nhưng vẫn có thể tìm ra manh mối, Ngài là một thần kiêm nhiều chức. Từ tướng phẫn nộ ở Tây Tạng đến tướng thần vương ở Trung Quốc, rồi đến Nhật Bản trở thành tướng phúc đức.


### 05. Hỏi: Thế nào là Kim Đan Đại Pháp?


Lư Sư Tôn đáp:
Câu hỏi này rất rộng, e rằng viết vài quyển sách cũng không thể kể hết, vì đây là một môn học lớn trải qua hàng nghìn năm của Đạo gia. Nhưng, bạn cũng đã hỏi đúng người rồi, vì thầy của Lư Sư Tôn là Thanh Chân Đạo Trưởng, thuộc môn hạ của Thanh Thành Trượng Nhân, đạo hiệu của tôi là Huyền Hạc, tôi là người đã học qua Kim Đan Đại Pháp.

Sư phụ nói với tôi:
Nguồn gốc của Kim Đan Đại Pháp xuất phát từ Hoàng Đế, Lão Tử. Họ được tôn kính là tổ sư. Truyền đến đời Lữ Động Tân, Kim Đan Đại Pháp có rất nhiều lưu phái, nhưng chủ yếu phân thành hai tông phái Nam Bắc.

Bắc tông lấy Vương Trùng Dương làm thủy tổ, đệ tử của ông là Khâu Trường Xuân cùng bảy người, được gọi là Toàn Chân Thất Tử.
(Lấy đơn tu thanh tịnh làm chủ chỉ.)

Nam tông lấy Hải Thiềm Chân Nhân làm thủy tổ, đến thời nhà Tống có Tử Dương Chân Nhân Trương Bá Đoan, Trương truyền cho Thạch Hạnh Lâm, Thạch truyền cho Tiết Đạo Quang, Tiết truyền cho Trần Nê Hoàn, Trần truyền cho Bạch Ngọc Thiềm. Đây là năm vị tổ của Nam tông.
(Lấy song tu làm chủ chỉ.)

Ngoài ra còn có:
Đông phái - Lục Tiềm Hư.
Tây phái - Lý Hàm Hư.
Trung phái - Lý Đạo Thuần.
Thanh Thành phái - Thanh Thành Trượng Nhân.
Ngũ Liễu phái - Ngũ Xung Hư, Liễu Hoa Dương.
Tam Phong phái - Trương Tam Phong.
Còn có Lưu Hải Thiềm truyền cho Trần Hy Di thời Ngũ Đại, Trần Hy Di truyền cho Trương Tam Phong.
(Trên đây là pháp mạch truyền thừa.)

Tôi (Lư Sư Tôn) nói với bạn:
Đạo gia tu luyện Kim Đan Đại Pháp, mục đích chủ yếu là thành Tiên. Muốn trường sinh bất lão.
Cái gọi là "đan" chính là "tinh".
Tục ngữ có câu: Luyện tinh hóa khí, luyện khí hóa thần, luyện thần hoàn hư. Đây là "tam hoa tụ đỉnh". (Tinh khí thần là tam bảo.)

Chân Nhân Trần Hy Di chủ trương thứ tự tu luyện Kim Đan Đại Pháp là: trúc cơ, chú kiếm, điều thần, tụ tài, kết hữu, trạch địa, trạch đỉnh, luyện đan.

Trong "Kim Đan Chân Truyện" của Tôn Nhữ Trung: trúc cơ thứ nhất, đắc dược thứ hai, kết đan thứ ba, luyện kỷ thứ tư, hoàn đan thứ năm, ôn dưỡng thứ sáu, thoát thai thứ bảy, huyền châu thứ tám, phó Diêu Trì thứ chín.

Tôi (Lư Sư Tôn) nói:
Đan chính là tinh.
Đỉnh chính là thân.
Mượn thân mình để luyện thành kim đan. Đan từ đâu chảy ra thì từ đó thu về, hoàn trả về chính nơi xuất phát. (khẩu quyết)
Thận trọng chuyện phòng the.
Bỏ dâm dục.
Giữ cửa tinh.
Đóng đường tinh.

Sư phụ của tôi nói:
Chân khí tiên thiên tuần hoàn chu thiên, vận hành có một mạch lộ nhất định, Đạo gia có thân trước vận hành là do nê hoàn xuôi theo mạch Đốc thân trước mà xuống. 
Đi vào mạch Nhâm, qua trùng lâu (họng), rốn, xuống đến đan điền, mạch này ngắn hơn một chút.
Còn từ huyệt vĩ lư dọc theo Đốc mạch sau lưng mà lên, qua huyệt mệnh môn, giáp tích, ngọc chẩm thì mạch đạo này dài hơn.
Trong quá trình tuần hoàn, mỗi khi đi qua nê hoàn, cần dùng chân ý, khiến nó kết hợp với nguyên thần.
Đây chính là kim đan, giáng xuống đan điền, có thể thành tựu thể thuần dương.

Pháp giữ tinh là:
1. Đề (nâng) — Dùng khí nâng tinh, hô hấp thổ nạp, không để thất thoát.
2. Súc (co) — Co bụng dưới, hoặc tứ chi, khí hướng lên.
3. Hậu môn — Hậu môn khép chặt, không nới lỏng.
4. Bế (bịt) — Bịt đường hô hấp, hình thành kiên cố, tinh không dao động.
5. Chuyển — Ý nghĩ chuyển đến nơi khác, đừng để thất thần tán khí.
6. Hoàn — Đưa tinh trở lại đan điền.

Sáu điểm này giống với sáu thế Sakya của Mật giáo: hai mắt nhìn trời, lưỡi chống hàm trên, ép yết hầu, bụng ép vào lưng, thượng hành khí ra hết, tứ chi co lại, nâng hậu môn.
Ngoài ra:
Kết ấn nắm chặt.
Hút mạnh ngón giữa. (chuyển niệm)

Những tác phẩm về Kim Đan Đại Pháp rất nhiều, đủ loại, sư phụ bảo tôi đọc: Hoàng Đế Nội Kinh, Hoàng Đế Ngoại Kinh, Tham Đồng Khế, Thái Bình Kinh, Tử Đoàn Đan Kinh, Kim Đan Bí Quyết; Vô Căn Thụ và Kim Đan Tiết Yếu của Trương Tam Phong; Kim Đan Chân Truyện của Tôn Nhữ Trung. Ngoài ra còn có Huyền Vi Tâm Ấn, và nhiều sách khác.

Theo như tôi biết, muốn học thành Kim Đan Đại Pháp này thật sự không phải là chuyện dễ dàng, tài, lữ, pháp, địa đều phải đầy đủ. Không chỉ vậy, nhiều danh từ không phải người đời nay có thể hiểu được, lại càng cần phải có nghị lực hằng tâm, ngoài ra, nhất định phải có minh sư bên cạnh, chỉ điểm từng bước một mới có thể thành tựu.

Học vấn trong đó bao gồm dưỡng sinh, âm dương song tu, độc tu, đan dược chì thủy ngân, ngoại đan, nội đan, hoàn đan… đủ mọi thứ. Chính đạo, tà đạo, chính pháp, tà pháp… đều phải do minh sư chỉ điểm.


### 06. Kim Đan Đại Pháp và khí, mạch, minh điểm


Lư Sư Tôn nói:
Kim Đan Đại Pháp và khí, mạch, minh điểm của Mật giáo có điểm tương thông, có sự diệu dụng khác nhau nhưng cùng kết quả.
Ví dụ:
Kim Đan Đại Pháp — Pháp tu không lậu tinh.
Tinh không thể tiết, tiết thì khí tán, khí mất thì thần cũng mất.
Phương pháp như sau:
Khép miệng là đóng thiên môn.
Lưỡi chống hàm trên là đóng hoa trì. [thuật ngữ Đạo giáo, chỉ vùng dưới lưỡi]
Tay xoa vùng thận.
Hai tay cọ nóng xoa vào hai mắt.
Gõ răng tụ thần.
Nuốt nước miếng.
Co rút tứ chi.

Pháp không lậu minh điểm (tinh) của Mật giáo: Hai mắt nhìn trời, lưỡi chống hàm trên, ép yết hầu, thượng hành khí ra hết, bụng ép vào lưng, nâng hậu môn, co rút tứ chi, kết ấn nắm chặt.

Hai pháp này rất giống nhau.

Tôi tu tập pháp minh điểm không lậu 5 năm, cuối cùng đã thành tựu, trở thành "Tôn giả vô lậu". Đây là đại pháp mà trong vạn người khó có một người đạt được. Vạn người tu hành, người thất bại nhiều, người thành công ít, tôi đã thật sự tu thành, thật sự rất may mắn. Tôi là người chân tu hành, nghị lực đầy đủ. Hơn nữa tôi có sư phụ tốt.

🌟

Kim Đan Đại Pháp (Tam hoa tụ đỉnh)
Luyện tinh hóa khí. — Mật giáo dùng chuyết hỏa hóa tinh thành khí.
Luyện khí hóa thần. — Mật giáo dùng thần thủy kết hợp thành thần.
Luyện thần phản hư. — Mật giáo dùng khí mạch trở về đỉnh khiếu.

Kim Đan Đại Pháp (Ngũ khí triều nguyên)
Ngũ khí chỉ: tinh, thần, hồn, phách, ý.
Hoặc là: tim, gan, lá lách, phổi, thận.
Hoặc là: địa, thủy, hỏa, phong, không.
Đưa năm thứ này toàn bộ trở về nơi chốn ban đầu, chính là triều nguyên, tụ tại thượng đan điền, chính là ngũ khí triều nguyên.
(Kim đan có thể thành.)

Cái này trong Mật giáo gọi là năm đại khí: thượng hành khí, hạ hành khí, hỏa bạn khí, biến hành khí, mệnh khí. Năm khí này kết hợp, đẩy lên đỉnh khiếu, thượng đan điền. Đây là pháp xuất nguyên thần, có thể hóa thân bên ngoài thân. Lư Sư Tôn có thể hòa nhập hư không, Pháp thân vô số, chính là hóa thân bên ngoài thân.

Việc thành tiên của Kim Đan Đại Pháp và hòa nhập hư không của Mật giáo, hóa ra lại giống nhau.
Mật giáo dùng trung mạch, tả mạch, hữu mạch. Ba mạch bảy luân xa.
Kim Đan Đại Pháp dùng Nhâm mạch Đốc mạch, đại chu thiên, tiểu chu thiên, tuần hoàn khắp thân. Tinh khí thần ba thứ kết hợp.
Mật giáo dùng minh điểm, chuyết hỏa, khí, đả thông mạch luân xa, cuối cùng thân hóa thành hồng quang.
Cả hai không hơn kém nhau.

Về "tam điền", có người hỏi:
Hạ đan điền, ở dưới rốn bốn lóng tay, không có gì bàn cãi!
Trung đan điền, ở giữa hai vú, không có gì bàn cãi!
Thượng đan điền, ở giữa hai mắt, theo Nhất Quán Đạo thì điểm huyền quan là giữa hai mắt. (Một điểm huyền quan khiếu, Diêm Vương sợ một phen.)
Có người nói là giữa hai lông mày. Có người nói là phía trên hai lông mày, cách một ngón rưỡi.
Tôi nói, chỉ cần là người thực tu thì đều biết!


### 07. Hỏi: Nghe nói gia trì có thể chữa bệnh phải không?


Lư Sư Tôn đáp:
Chuyện này là có thật. Nên thuộc loại liệu pháp dân gian. Nhưng có bệnh vẫn phải nhờ bác sĩ khám mới đúng.

Phạm vi của liệu pháp dân gian rất rộng:
Tụng kinh.
Niệm Phật trì chú.
Phù lục.
Nước chú Đại Bi.
Thu kinh.
Thượng sư gia trì. (sờ đầu)
Ngoài ra, còn có Pháp thân của Lư Sư Tôn, dù bạn ở đâu, chỉ cần cầu nguyện, liền có cảm ứng.
v.v.. 

Thực ra, có bệnh có thể khỏi, có bệnh cũng chưa chắc khỏi, trong đó có rất nhiều yếu tố, tất cả chúng ta đều biết, bệnh có thể khỏi hay không khỏi, thật sự quá phức tạp!
Giống như bác sĩ chữa bệnh vậy:
Có thể chữa khỏi!
Cũng có thể không chữa khỏi!
Nếu tất cả đều có thể chữa khỏi thì trên thế giới sẽ không có người chết nữa! Ngay cả bác sĩ cũng phải chết vì bệnh. Sinh, lão, bệnh, tử, không ai tránh khỏi!

Lư Sư Tôn nói:
Khi tôi dùng tay sờ đầu một bệnh nhân, người đó sẽ khỏi hay không khỏi, tôi đều có cảm nhận.
Nếu dòng chảy pháp vô hình mạnh mẽ chảy về phía đối phương, tôi biết sẽ khỏi.
Nếu dòng chảy pháp vô hình không có sức mạnh chảy về phía đối phương, tôi biết có lẽ không ổn.
Đây chính là lực gia trì.
Một loại cảm ứng đặc biệt rất kỳ lạ!

Tôi tu hành đã có chút thành tựu nhỏ, lực gia trì của tôi thường có phép lạ xuất hiện.
Đây không hoàn toàn là pháp lực của tôi.
Tôi nhờ vào đại pháp lực của Diêu Trì Kim Mẫu, cũng như lực công đức từ bi của chư Phật Bồ Tát.
Rất nhiều bệnh nhân tâm thần nhờ gia trì mà hồi phục bình thường.
Rất nhiều bệnh nhân ung thư khối u biến mất, có người thì dần dần nhỏ lại.
Sỏi thận, sỏi mật, một khi gia trì, biến mất!
Người mù nhìn thấy.
Người câm nói được.
Người điếc nghe thấy.
Ngay cả cột sống cong vẹo cũng được kéo thẳng!
Một số bệnh khó điều trị, đã khám bác sĩ mà vẫn không khỏi. Thế mà nhờ tôi gia trì lại khỏi!
Người vô sinh cũng sinh con được!
Người đột quỵ não, trong não có cục máu đông, một khi gia trì, cục máu biến mất!
Có người phải lọc thận, một khi gia trì, thật sự không cần lọc nữa!
Từ ngồi xe lăn đứng dậy đi được.

Tôi với tư cách là một người gia trì này rất nổi tiếng, mỗi ngày rất nhiều người rất nhiều người nghe tin đồn kéo đến. Bản thân tôi cũng thường xuyên cầu nguyện Diêu Trì Kim Mẫu cùng chư Phật Bồ Tát mong cho chúng sinh xa lìa bệnh khổ. Tôi tu thành Pháp thân, có thể viễn du đến các quốc gia trên thế giới, tùy duyên cứu độ chúng sinh, có cầu có ứng, những điều này đều là có thật.

Tôi xin thật lòng nói với mọi người, người có thành tâm, Phật có cảm ứng.
Tôi cầu nguyện: Mong cho chúng sinh được xa lìa khổ!

Ở đây tôi đưa ra một bức thư làm chứng. Đây là gia trì phẫu thuật.

*Pháp thân Sư Tôn gia trì phẫu thuật suôn sẻ.*

*Từ khi bác sĩ quyết định làm phẫu thuật cắt bỏ một khối u giữa tim và phổi cho tôi, lòng tôi luôn bất an, bác sĩ nói nếu may mắn thì có thể không cần phải cắt bỏ một phần phổi, nhưng phẫu thuật tim phổi rủi ro là rất lớn. Mẹ tôi cũng đã làm phẫu thuật như vậy, kết quả là chưa xuống khỏi bàn mổ đã mất. Vì vậy tôi viết thư đến Chân Phật Mật Uyển ở Seattle Hoa Kỳ cầu Sư Tôn cứu giúp, tuy đã nhận được thư trả lời của Sư Tôn "đã gia trì", nhưng tôi vẫn lo lắng, liên tục niệm tâm chú Sư Tôn cầu nguyện Sư Tôn gia trì.*

*Hôm trước, ngủ đến rạng sáng, tôi nằm mơ rất rõ ràng một giấc mơ tốt lành, trong mơ Sư Tôn đến trước mặt tôi, liên tục hỏi tôi một số tình trạng bệnh, bác sĩ nói thế nào, quy trình phẫu thuật như thế nào v.v…, tôi liền báo cáo với Sư Tôn những gì bác sĩ đã nói với tôi. Trong suốt thời gian đó, Sư Tôn và tôi liên tục hỏi đáp, nhưng nội dung cụ thể tôi không nhớ lắm, chỉ nhớ cuối cùng Sư Tôn nói: "Được, ta biết rồi." Sau khi cảnh này kết thúc, lại có một quý phu nhân toàn thân ánh vàng lấp lánh, trông giống như Kim Mẫu, cũng giống như Thiên Thượng Thánh Mẫu đến, tôi hơi không phân biệt được. Quý phu nhân dẫn tôi đến một căn phòng, trong phòng này ánh đèn lấp lánh, rất sáng sủa, rồi tôi tỉnh dậy.*

*Trước đây tôi đã nghe về các trường hợp cảm ứng của Sư Tôn, có đệ tử phẫu thuật cầu Sư Tôn gia trì, kết quả nằm mơ thấy bác sĩ phẫu thuật chính là Sư Tôn, chỉ một chút đã lấy ổ bệnh ra, không hề có cảm giác gì cả. Sau đó bệnh viện kiểm tra, phát hiện ổ bệnh không còn nữa, kết quả ca phẫu thuật bị hủy bỏ. Cũng có đệ tử thấy Sư Tôn luôn bên giường bệnh bảo vệ đệ tử, cuối cùng phẫu thuật rất thành công. Từ khi nằm mơ thấy Sư Tôn đến, mấy ngày nay tinh thần tôi sảng khoái, cảm thấy nhẹ nhõm hơn nhiều. Hôm qua trong lúc phẫu thuật, tim đột ngột ngừng đập, lúc đó tôi cảm thấy Sư Tôn đến, ngay lập tức lại trở lại bình thường, có kinh sợ một phen nhưng không nguy hiểm, phẫu thuật thành công suôn sẻ! Cảm ơn Sư Tôn đại gia trì, vô cùng biết ơn!*

*Đệ tử Liên Hoa Thiệu Mẫn đảnh lễ khấu lạy (đệ tử Thụy Sĩ).
Ngày 09 tháng 10 năm 2024.*


### 08. Hỏi: Khi tu pháp, vì sao thân thể lại có thể chấn động?


Lư Sư Tôn đáp:
Đây là khí động.
Hiện tượng khí động, có người sẽ có, có người sẽ không có.
Có người chỉ cần thiền định, thân thể liền chấn động. Đây cũng là khí động.
Có người dùng ý niệm thì động, không dùng ý niệm thì không động.
Có loại khí động có thể kiểm soát được, cũng có loại khí động không thể kiểm soát được.
Tóm lại, khí động chính là hiện tượng khí vận hành trong thân thể con người.
Có đủ mọi hiện tượng kỳ lạ.

Ngày xưa, tôi đã viết một cuốn sách tên là "Khởi Linh Học", thực ra nên gọi là "Khởi Khí Học" thì chính xác hơn. Cá nhân tôi cảm thấy tốt nhất là có thể tự kiểm soát khí động, như vậy sẽ không dễ sai sót. Nếu không thể kiểm soát được khí động sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường, gây ra đủ mọi hiện tượng như đồng cốt, bệnh nhân tâm thần, nghi thần nghi quỷ, ảo giác…

Nhưng, khí động tốt có thể khỏe thân, thông các kinh mạch toàn thân, thậm chí có thể thông mạch, luyện khí, khỏe thân, mở năm mạch, xuất khiếu,…
Tôi nói:
Khí tụ ở mắt, có thể được thiên nhãn.
Khí tụ ở tai, có thể được thiên nhĩ.
Khí tụ ở tâm, có thể được tha tâm.
Mở năm luân xa chứng năm đại thần thông.
Lợi dụng khí này để tu hành, gọi là tự phát công.

Tu luyện khí cũng có thể "bão nguyên thủ nhất". Mật giáo tu hành: Cửu tiết Phật phong, Kim cang tụng, Bảo bình khí. Toàn bộ đều là tác dụng của khí động. Vận chuyển chuyết hỏa, minh điểm thủy cũng lấy khí làm công cụ. Luyện tinh, luyện thần, toàn nhờ vào khí.

Về nạp khí:
Thượng tiêu là tâm phế tông khí.
Trung tiêu là tỳ vị trung khí.
Hạ tiêu là cố thận thận khí.
(Đây là thông tam tiêu.)

Lư Sư Tôn nói:
Diêu Trì Kim Mẫu chỉ thị như vầy: Khí động có thể rèn luyện thân thể, khiến tất cả các kinh mạch toàn thân đều mở ra, và không bị tắc nghẽn, thân tâm sảng khoái. Vì vậy đây là phương pháp luyện thân.
Lại nữa:
Chỉ cần vận khí đến ngón tay, ngón tay có thể chấn động, thì có thể vận dụng thủ quyết cắt chữ Cửu tự chân ngôn, có thể trừ tà làm kết giới.
Khí động ở ngón tay có thể gia trì phù lục, khiến phù lục sinh ra pháp lực.
Lấy khí động của chính mình hợp với pháp lưu của Bổn tôn càng có thể tạo ra nhiều phép lạ.
Lấy khí động ngón tay phối hợp với pháp lưu của Bổn tôn có thể bấm ngón tay thần toán, hành giả có thể biết việc thiên hạ, có thể dự đoán tương lai.
Khí động tuy thần kỳ nhưng chớ xem là quái dị, thấy lạ chẳng cho là lạ thì cái quái lạ ấy tự bại.
Nên trân quý.

Tôi xin trích dẫn một bức thư để chứng minh hiện tượng khí động.

*Đảnh lễ Pháp Vương Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật vô thượng tôn quý!
Sư Tôn, Sư Mẫu kính yêu, Phật an!*

*Đệ tử Liên Hoa Lệ Yến xin lấy tấm lòng chân thành đảnh lễ Sư Tôn, Sư Mẫu, cầu nguyện Sư Phật thân thể an khang, trường trụ thế gian, vĩnh chuyển pháp luân! Cũng cầu nguyện Sư Mẫu bệnh nghiệp tiêu trừ, phúc thọ khang ninh!*

*Trước tiên ngu đệ tử xin sám hối với Sư Phật, bao nhiêu năm qua mỗi lần viết thư chỉ cầu xin tiền đồ và hôn nhân cho con cái, chưa bao giờ nhắc đến tiến độ tu hành, đệ tử hổ thẹn, luôn vướng mắc vào con cái, dùng quan niệm truyền thống để trói buộc con, khiến con cái nổi loạn càng mạnh hơn, bây giờ con đã nghĩ thông rồi, con cái đều đã lớn, hãy để chúng theo duyên của chúng.*

*Ngu đệ tử hôm nay viết thư muốn chia sẻ với Sư Phật về những cảm ứng tu pháp trong bao nhiêu năm qua. Thực ra con mới quy y Chân Phật Tông vào năm 2015, trước đó chỉ là tín đồ. Ban đầu con quy y Nhất Quán Đạo, sau đó tin Tịnh Độ, tiếp theo quy y Pháp Vương Như Ý Bảo Tây Tạng, rồi lại tin Tâm Linh Pháp Môn, gặp đạo nào cũng bái. Sau đó có một ngày, con quỳ trước Quan Thế Âm Bồ Tát cầu xin, hy vọng Quan Thế Âm Bồ Tát có thể chọn cho con một vị thầy để một lòng một dạ theo học pháp với một vị thầy, cầu Quan Thế Âm Bồ Tát cho con một giấc mơ chỉ thị. Hôm đó tối không có giấc mơ nào, hôm sau con dậy bình thường đi đến công ty, hôm đó con đi tàu điện ngầm đến chỗ làm, theo thói quen niệm trong tâm chú Đại Bi.*

*Đột nhiên trong toa tàu thoang thoảng một mùi hương trầm, con quay đầu tìm kiếm khắp nơi nhưng không tìm ra mùi hương từ đâu tỏa ra. Quay về công ty không lâu, một người bạn bên cạnh đưa cho con một túi sách Phật, cô ấy nói mình không hiểu Phật pháp, biết con học Phật nên tặng sách Phật cho con. Con mở ra xem thì là Chân Phật Tông, giới thiệu lý lịch của Sư Tôn, do đồng môn tại Chân Độ Lôi Tạng Tự phát. Sau đó cơ duyên chín muồi, con quy y Chân Phật Tông, ở nhà niệm tâm chú Thượng sư. *

*Kể cũng lạ, chỉ mới niệm vài tháng đã có báo mộng. Giấc mơ như thế này, trong mơ sư huynh nhà con lái xe, con ngồi ghế phụ, Sư Tôn, Sư Mẫu ngồi hàng sau, lái xe đến một nơi rất xa rất xa. Chúng ta xuống xe, đi vào một căn nhà, Sư Tôn ở trong nhìn quanh, hỏi con căn nhà này các người mua phải không?*

*Con nói đúng vậy, Sư Tôn nói ngôi nhà này phong thủy rất tốt. Sau đó chúng ta đi ra khỏi nhà, vừa mới bước ra cửa, mặt nhà phát ra một tiếng vang lớn "ầm". Chúng con quay đầu lại nhìn, hóa ra là một con rồng xanh trong nhà bay vòng một vòng. Sư Tôn khen ngợi ngôi nhà này rất tốt, ngôi nhà có màu xám nhạt, tường ngoài có những thanh gỗ nằm ngang, sau nhà có một cây tùng cao vài mét. Sau đó chúng con đưa Sư Tôn Sư Mẫu về, rồi tỉnh khỏi giấc mơ. *

*Năm 2016 lần đầu tiên con đặt chân đến Seattle hành hương, con đã choáng váng, con không ngờ rằng ngôi nhà trong mơ của con lại giống với ngôi nhà ở Seattle đến như vậy. Cây tùng cao sừng sững phía sau nhà, ở London Anh Quốc và Ôn Châu Trung Quốc đều không có loại cây tùng này, tại sao con lại đến Seattle trong mơ? Con tu các pháp môn khác đều không có giấc mơ chỉ thị nào, con tin rằng con đã tìm được Thượng sư, duyên Phật của con ở Chân Phật Tông. Sau đó hàng năm con đều đến Seattle hành hương.*

*Con nhớ vào tối ngày 18 tháng Giêng năm 2023 âm lịch, con đã niệm hơn chục biến Chân Phật Kinh trước đàn thành tại nhà, cũng đã làm lễ hồi hướng. Tối hôm đó trong lòng còn lẩm bẩm vài câu, hơi bực bội, sau đó liền đi ngủ. Gần rạng sáng, con có một giấc mơ vô cùng rõ ràng. Con nhìn thấy một tôn Phật tượng ánh vàng lấp lánh, cao vài mét, sau đó hư không phát ra vô lượng ánh sáng bảy sắc. Con tự mãn tự đắc, nghĩ thầm sao mình lại nhìn thấy được Phật Bồ Tát, có phải mình đã mở thiên nhãn chăng? Khi đang vui mừng, Sư Tôn từ phía sau đi ra, hỏi con đang nhìn gì. Con quay đầu thấy là Sư Tôn, vội vàng kêu Sư Tôn nhìn hư không. Sư Tôn cười cười, con lại không bỏ lỡ cơ hội tốt, hỏi Sư Phật tại sao đồng môn khác cầu gì cũng linh nghiệm, nhưng con cầu sao lại không linh. Sư Phật nói: Có người đã giảm rất nhiều bệnh trên người. Con nghĩ nghĩ cũng đúng, con vốn thân thể đau đớn chỗ này chỗ kia, bây giờ dường như đều không còn nữa, con vội vàng đáp Sư Phật: Đúng rồi, đúng rồi, bệnh trên người con đều khỏi hết rồi, con cảm ơn sự gia trì của Sư Phật! Sư Tôn cười cười rồi đi, con tiếp tục nhìn vô lượng quang trên hư không, giấc mơ này thù thắng quá!*

*Từ năm 2015 con bắt đầu trì chú, tụng Cao Vương Kinh, tu Tứ gia hành, nhớ lúc đó đã có chút cảm giác tê đầu, thỉnh thoảng còn nhìn thấy ánh sáng. Mấy năm gần đây cảm ứng ngày càng mạnh, khi nhập Tam ma địa trước tiên xuất hiện ánh sao màu xanh lam, tiếp theo xuất hiện ánh sáng màu tím, rồi đến ánh sáng màu vàng sữa, giao thoa với nhau, năm nay sinh ra linh giác.*

*Mỗi khi con cúng dường bữa trưa và bữa tối, chỉ cần nhất tâm quán tưởng chư Phật Bồ Tát trụ đỉnh, pháp lưu ngay lập tức từ đỉnh huyệt hạ giáng, tràn khắp toàn thân, thân thể không tự chủ được mà đung đưa trước sau. Tháng 6 năm nay con đến Chân Phật Mật Uyển hỏi việc, Sư Phật nói con có thể tu Bổn tôn rồi. Con về London sau đó bắt đầu trì tu pháp Bổn tôn, tu trì theo nghi quỹ, đến khi nhập Tam ma địa, quán tưởng Bổn tôn trụ đỉnh, biến thành một hạt ngọc ánh sáng nhỏ bằng hạt gạo từ Phạn huyệt đi vào trung mạch, pháp lưu rất mạnh, các mạch trên thân đều nhảy động, đung đưa trước sau, rất chân thật. Pháp lưu của Sư Phật quả thật là danh bất hư truyền, chân thật bất hư, chỉ cần chúng con kính sư, trọng pháp, thực tu, tất có một ngày chúng con đều sẽ được tương ứng. Con vô cùng cảm ơn Sư Phật tận tình dạy bảo, cũng cầu xin Sư Phật gia trì cho con tu hành tinh tấn, tu pháp thành tựu.*

*Ơn Phật mênh mông, cảm ơn thầy của con,
Ơn Phật mênh mông, cảm ơn pháp của con,
Ơn Phật mênh mông, cảm ơn thân của con,
Ơn Phật mênh mông, cảm ơn tuệ của con,
Ơn Phật mênh mông, cảm ơn mệnh của con,
Ơn Phật mênh mông, cảm ơn phúc của con,
Ơn Phật mênh mông, cảm ơn tâm của con,
Om guru liansheng siddhi hum.*

*Ngu đệ tử Liên Hoa Lệ Yến chắp tay quỳ lạy!*

Tôi viết một bài thơ, tặng Liên Hoa Lệ Yến:

*Duyên phận nếu đến thì sẽ tới
Luân chuyển mấy lần ẩn trong lòng
Giữa trời mây nước sẽ gặp nhau
Thời gian du dương cũng chơi vơi*

*Thấy sách ta là thấy tâm ta
Muôn vàn phiền não liền dọn sạch
Từ đây thoát khỏi việc sinh tử
Ra khỏi tam giới vào biển Phật*

*Nhất tâm tam muội là linh vật
Người tục không biết mà chôn nó
Điện quang chợt sáng được lĩnh ngộ
Ném bỏ phiền não với trần ai*

*Thường đến Tây Thành thường qua lại
Chân Phật phóng quang pháp lưu thịnh
Khí động pháp lưu tinh thần mạnh
Từ đây vô ưu lên thiên đài.*


### 09. Hỏi: Thế nào gọi là ngôn ngữ Không Hành, vũ điệu Không Hành, văn tự Không Hành?


Lư Sư Tôn đáp:

Theo những gì tôi biết, trong các cõi trời, có một tịnh thổ tên là Áo Minh Thiên, là tịnh thổ của tất cả Không Hành.

Trong tịnh thổ Không Hành của Mật giáo có Không Hành Mẫu, Không Hành Dũng Phụ. Họ sở hữu rất nhiều siêu năng lực mà người phàm tục không có.
Lời nói của Không Hành Mẫu và Không Hành Dũng Phụ chính là ngôn ngữ Không Hành. (thiên ngữ)
Điệu nhảy của họ chính là vũ điệu Không Hành. (thiên vũ)
Chữ viết của họ chính là văn tự Không Hành. (thiên tự)

Ngoài ra, theo cách nói thông thường, chúng ta đều gọi các thiên nữ ở cõi trời là Không Hành Mẫu, nam giới được gọi là Không Hành Dũng Phụ.
Lấy một ví dụ.
Diêu Trì Kim Mẫu có ba nghìn thị nữ, tương đương với ba nghìn tiên nữ, ba nghìn Không Hành Mẫu.
Trường Thọ Tuyết Sơn Ngũ Thiên Nữ là năm Không Hành Mẫu Trường Thọ.
Cát Tường Thiên có mười hai Không Hành Mẫu.
Trong mười hai thiên, có rất nhiều Không Hành Mẫu (tiên nữ).
Trong tám phương thiên, có Bát Phương Không Hành Mẫu (tiên nữ).

Nơi Không Hành Mẫu, Không Hành Dũng Phụ cư trú, có nơi ở trên trời, có nơi ở dưới đất, có nơi ở hồ biển, có nơi ở nhân gian, khắp nơi đều có.
Ở nhân gian, cũng có nơi tụ họp của Không Hành, tức là họ cũng có những buổi tụ họp, địa điểm tụ họp, được gọi là "căn cứ Không Hành".

Tôi (Lư Sư Tôn) có rất nhiều đệ tử, trong năm triệu đệ tử có rất nhiều người là Không Hành Mẫu chuyển thế, Không Hành Dũng Phụ chuyển thế. Vì vậy đệ tử của Lư Sư Tôn có nhiều người biết nói ngôn ngữ Không Hành, biết nhảy vũ điệu Không Hành, biết viết văn tự Không Hành. Những điều này, chẳng có gì lạ!

Lại có người hỏi: Không Hành Mẫu và Độ Mẫu có gì khác nhau?
Cá nhân tôi cho rằng chữ "độ" trong "Độ Mẫu", có ý nghĩa cứu độ, là có nhiệm vụ của mình.
Ví dụ:
Lục Độ Mẫu - là một vị Bồ Tát nữ, còn gọi là Đa La Bồ Tát. Ngài có 21 hóa thân, Ngài là sự chuyển hóa của Bồ Tát Quan Thế Âm, theo truyền thuyết là sự chuyển hóa từ giọt nước mắt của Bồ Tát Quan Âm. 21 Độ Mẫu mỗi vị đều có nhiệm vụ riêng. Ngài hiện ra dung mạo thiếu nữ tuyệt sắc, một mặt hai tay, từ bi trang nghiêm, tay cầm hoa upala. (Trong "Trụ Gian Sử" của Songtsen Gampo, Ngài đã chuyển hóa thành công chúa Văn Thành của nhà Đường.)

Bạch Độ Mẫu - hình tượng giống như Lục Độ Mẫu, Ngài có bảy con mắt, ba mắt trên mặt, hai mắt ở lòng bàn tay, hai mắt ở lòng bàn chân, nên được gọi là Thất Nhãn Phật Mẫu. Bạch Độ Mẫu, Trường Thọ Như Lai, Tôn Thắng Phật Mẫu, ba vị này được gọi là Trường Thọ Tam Tôn. (Trong "Trụ Gian Sử" của Songtsen Gampo, Ngài đã chuyển hóa thành công chúa Xích Tôn của Nepal.)

Ngoài ra, vị Độ Mẫu tôn quý nhất là Bát Nhã Phật Mẫu, vị trí của Ngài cao nhất giữa chư Phật và chư Bồ Tát.
Kim Cang Hợi Mẫu.
Kim Cang Du Già Mẫu.
Kurukulle Phật Mẫu.
v.v…
Vị trí của các Ngài vô cùng cao siêu.

Tôi cho rằng:
Độ Mẫu có ý nghĩa cứu độ chúng sinh.
Không Hành Mẫu nếu cứu độ chúng sinh thì cũng là Độ Mẫu. Phật Mẫu, Độ Mẫu, Không Hành Mẫu có sự khác biệt không lớn lắm.

Tôi lấy ví dụ như sau: (bức thư)

*Đảnh lễ Sư Phật kính yêu!
Trước tiên đệ tử cảm ơn Sư Phật đã từ bi cứu độ!*

*Buổi đồng tu thứ Bảy ngày 28 tháng 9 năm 2024, Sư Phật trên pháp tọa hỏi đệ tử có biết viết thiên ngữ không, đệ tử trả lời không biết.*

*Sau khi đồng tu xong, trên đường về sơn trang, Không Hành Mẫu cứ liên tục nói rằng cô ấy biết viết, đệ tử vô cùng ngạc nhiên và cũng nửa tin nửa ngờ. Trở về sơn trang sau khi hoàn thành một số công việc chùa chiền, hằng ngày trước khi ngủ đệ tử đều tu một tọa pháp Nghìn chiếc thuyền pháp, sau khi tu pháp xong đệ tử cầm bút lên xin Không Hành Mẫu viết, tay tự động viết được, và còn lẩm bẩm niệm những lời gì đó. Đệ tử nhìn chữ viết ra giống như vẽ phù lại như vẽ tranh, đệ tử hỏi Pháp thân có thật không?*

*Pháp thân nói, Không Hành Mẫu vốn dĩ biết rồi, nhưng đệ tử ngu ngốc trả lời Pháp thân rằng, chỉ có các ngài hiểu mà không để con hiểu được thì không tính, con vẫn còn nghi hoặc. Sau đó đêm thứ hai tu pháp xong con lại cầm bút lên, rất tự nhiên tay tự động viết ra rất nhanh rất nhiều hình vẽ, lúc đó cảm thấy đầu óc mình trống rỗng, nhưng tay thì tự động viết, khi bút dừng lại thì ở giữa đôi lông mày của đệ tử tụ họp ánh linh quang rất mạnh, bất ngờ nhìn thấy toàn bộ hư không giống như những chữ viết hình vẽ vừa rồi phát ra ánh sáng vàng hạ xuống, trong ánh sáng rực rỡ lại biến hóa ra rất nhiều hình dáng hoa nhỏ có màu sắc rực rỡ, thật sự rất đẹp rất xinh! Lúc này Pháp thân nói những điều này vốn dĩ Không Hành đều có, con vốn dĩ biết viết rồi. Đệ tử viết cho Sư Tôn xem những chữ viết này, còn phải xin Sư Tôn chỉ dạy từ bi gia trì cho đệ tử ngu độn trên con đường tu hành được thành tựu có thể tự độ cũng có thể độ người.*


![image](/img/img_68d56570ba1d53747db1e723a547d0b2.png)


*Hai hàng chữ viết này là trước kia viết.*


![image](/img/img_4c3f254a6f142910aaf35d0f82121cd8.png)


*Trong buổi đồng tu thứ Bảy ngày 12 tháng 10 năm 2024, Sư Tôn yêu cầu đệ tử hát một bài ca của Không Hành Mẫu, chính con cũng rất xúc động khi hát, sau khi hát xong miệng đệ tử cứ liên tục nói thiên ngữ với Không Hành Mẫu giáng xuống. Khi Sư Tôn hỏi đệ tử có nhìn thấy các Ngài không? Đệ tử trả lời chỉ nhìn thấy mấy vệt ánh sáng giáng xuống, sau đó xoay vần trong hư không. Sau khi nói xong trong lòng đệ tử cảm thấy rất hổ thẹn, ý nghĩ vừa khởi lên, thật kỳ diệu, bỗng nhiên trước mắt sáng lên rất nhiều khuôn mặt của Không Hành tụ họp lại cho đệ tử thấy.*

*Đệ tử ngu muội xin mô tả sơ lược ý nghĩa của bài ca Không Hành Mẫu lúc đó:*

*Không Hành, những đứa con ơi! Vị Phật Vương trên nhân gian này! Với cam lộ song vận vô thượng mật của Ngài thấm nhuần gia trì cho chúng con! Khiến chúng con rực rỡ phát sáng trở về bản địa của chúng con. Ngài là vị Cổ Phật truyền thừa song vận vĩnh hằng của chúng con! Không Hành mười phương pháp giới từ xưa đến nay chưa từng rời xa! Ôi ái lang ơi! Nhờ đại lạc song vận của Ngài có thể chuyển hóa thành nguyện lực bồ đề vô tận, có thể khiến mười phương pháp giới quang minh đại lạc, có thể độ các chúng sinh sáu nẻo! Chúng con theo Ngài vĩnh hằng vĩnh cửu mãi không đổi thay!*

*Sư Tôn, đệ tử ngu độn không có tiến bộ gì, bản thân cảm thấy chỉ cần mọi lúc nghĩ nhớ đến Căn bản Thượng sư, một lòng một dạ quy y theo Sư Tôn, thành thực giữ vững bổn phận, ngày ngày tu Mật pháp của Sư Tôn, có thể sớm có ngày được Sư Tôn tiếp dẫn vãng sinh Ma Ha Song Liên Trì chính là nguyện vọng tu hành trong kiếp này của đệ tử.*

*Chưa bao giờ nghĩ rằng lại kỳ diệu đến thế, có thể cảm ứng với Sư Tôn Liên Hoa Đồng Tử và còn biết được nguồn gốc của mình, có thể mọi lúc ở cùng với Sư Tôn Pháp thân Không Hành, linh giác khi tu pháp và cảm nhận trong thân thể rất thoải mái suôn sẻ và vui vẻ vô tận, nhưng đôi khi cũng thường khóc đến tan nát cõi lòng và bi thương, bởi vì đệ tử có thể nhìn thấy, có thể nghe thấy, cũng có thể cảm nhận được rằng Sư Tôn, Diêu Trì Kim Mẫu và rất nhiều chư Phật, chư Bồ Tát, Không Hành, Kim Cang thực sự là những vị Đại Nguyện Phật nghe tiếng cứu khổ không bỏ chúng sinh và những vị Đại Phật Mẫu từ bi!*

*Sư Phật ơi! Đệ tử cảm ơn Sư Tôn đã hiển hóa lấy thân làm gương, một bước một dấu chân thực hành thành tựu Mật pháp vô thượng, không giấu giếm gì cả mà từ bi độ hóa chúng sinh. Đệ tử chỉ có kiến thức tiếng Trung ba năm tiểu học, nhưng tất cả những gì của Sư Phật, mỗi lần thuyết pháp khai thị và viết lách hằng ngày, đến nay đã xuất bản đến văn tập thứ 301, đệ tử nghe khai thị xem tác phẩm của Sư Tôn, không ngờ dường như đều có thể hiểu được một chút và còn hòa nhập vào trong đời sống hằng ngày cũng như trên con đường tu hành, giống như theo chân Sư Tôn thực hành vững chắc, từng bước đi để lại một dấu chân!*

*Sư Phật ơi! Đệ tử cần Phật quang của thầy, cần lời vàng của thầy, cần tình thương của thầy, cần sự cứu độ của thầy, cần từng hơi thở của thầy! Đệ tử cầu xin Sư Tôn, Diêu Trì Kim Mẫu, A Di Đà Phật, chư Phật, chư Bồ Tát, Không Hành, chư thiên, cầu nguyện Sư Tôn Sư Mẫu khỏe mạnh, trường thọ, bình an, hạnh phúc, ngày đêm sáu thời mãi cát tường!*

*Tiểu tiểu tiểu đệ tử Liên Hỷ cảm ơn đảnh lễ Sư Phật kính yêu!*

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) viết thơ, tán thán Không Hành Mẫu:

Bài thứ nhất:

*Thời không chẳng ràng buộc
Cứu độ nhiều hứng thú
Việc trăm nghìn vạn năm
Khắp nơi hiển thần thông
Nói ra lời chân thực
Viết ra dấu Chân Phật
Đi tịnh thổ Song Liên
Múa ra gió diệu pháp.*

Bài thứ hai:

*Tán thán Không Hành Mẫu
Cùng ta khéo tương phùng
Hoá ra là túc duyên
Pháp vụ càng hưng long.*


### 10. Phụ lục: Hàn Vũ báo cáo hành hương căn cứ Không Hành


Tôi (Lư Sư Tôn) nói: Ở Seattle có một nơi gọi là Căn cứ Không Hành. Cô (Hàn Vũ), có thể đến tham quan. Bản thân Hàn Vũ chính là Không Hành Mẫu.

Báo cáo của Hàn Vũ như sau:

Đêm qua là rằm tháng mười âm lịch, trăng tròn, tôi cùng pháp sư Liên Lịch, Liên Kỳ đến căn cứ Không Hành, nơi đó linh khí rất tốt, rất thanh tịnh, trên mặt đất có các Không Hành Mẫu đang lễ bái, trên không trung, trên cây cũng có, dưới đất hẳn là cũng có (không phải nhìn bằng mắt thường, mà là trực giác trong tâm).

Lần này đến, họ không tụ tập thành một nhóm lớn như lần đầu tiên, vì vậy, tôi vừa xuống xe đã bắt đầu vỗ tay, hát những bài ca vui vẻ, ý chính của bài ca là: đánh thức họ, mời họ từ trên trời, dưới đất, từ mọi góc cạnh tỉnh dậy, tập hợp lại, cùng nhau sum vầy. Sau khi hát xong, tôi lại hát bài ca triệu thỉnh Không Hành Mẫu của mình, tôi cảm thấy sức mạnh rất lớn, có rất nhiều Không Hành Mẫu xuất hiện trên không trung, đứng trên hoa sen.

Họ đã nói với tôi một số điều, đại ý là: Truyền thừa Chân Phật luôn được các Không Hành Mẫu hộ trì, vì họ hộ trì chính pháp thanh tịnh. Trong truyền thừa Chân Phật của chúng ta,có truyền thừa bí mật của Không Hành Mẫu, được ẩn giấu không ai biết.

Hôm nay, họ gia trì cho ba người chúng tôi, trao cho thọ ký, họ nói với tôi rằng hai vị pháp sư cũng có tên bí mật của họ ở tịnh thổ Không Hành. Liên Lịch là Di Đả Thố, Liên Kỳ là A Tôn Ma.

Sau khi đối chiếu phát âm tiếng Tạng với Liên Lịch, tên chính xác là Chokyi Gyatso, là Pháp Hải trong tiếng Tạng , và Asongma (Nhất Kế Phật Mẫu).

Sau đó, tôi cảm ứng thấy mặt đất biến thành màu vàng, không trung trước mặt xuất hiện một tòa đàn thành (cung điện) vàng khổng lồ, Không Hành Mẫu bao quanh, phía trên đàn thành có Liên Hoa Sinh Đại Sĩ ngồi, họ và Liên Hoa Đồng Tử không hai không khác. Họ nói, chỉ cần tâm thanh tịnh, thì nơi này và tịnh thổ Liên Sư không khác.

Lần này Liên Lịch ban đầu không có cảm ứng gì, chỉ nghe tôi một mình nói, nhưng khi ngài vừa nghe đến Chokyi Gyatso, đột nhiên ký ức tiền kiếp được mở ra, như từng là quốc vương của nước Shambhala. Đồng thời, ngài nhìn thấy trên trời xuất hiện một con mắt khổng lồ. Ngài cũng tiếp nhận được pháp lưu và linh cảm của Liên Sư, hiểu được mục tiêu tu hành kiếp này.

Liên Sư nói sẽ gia trì cho ba người chúng tôi, chúng tôi có truyền thừa Đại Viên Mãn, nhưng chúng tôi không thể chỉ dựa vào truyền thừa rỗng tuếch mà phải theo sát khẩu truyền của Sư Tôn để truyền bá Đại Viên Mãn trong truyền thừa Chân Phật.
(Ngoài việc hát và nghe các ngài nói chuyện, tôi cũng đã làm lễ siêu độ.)

Trên đây là những gì đã xảy ra đêm qua, kính báo cáo lên Sư Tôn vô cùng kính yêu!

Ngày 18 tháng 10 năm 2024.


### 11. Hỏi: Ý nghĩa lớn của pháp xả thân là gì?


Lư Sư Tôn đáp:
Pháp xả thân (pháp thí thân), tôi đã giảng dạy và đã trao quán đảnh cho các đệ tử.
Ý nghĩa lớn của nó là:
Phát tâm bồ đề rộng lớn vô biên.
Trình độ cao nhất của vô ngã!
Hy sinh cái tôi nhỏ, hoàn thành cái tôi lớn. (Đoạn ngã chấp, đoạn pháp chấp.)
Bình đẳng thí xả.

Quá trình tu pháp chia làm ba đoạn, nói một cách đơn giản:

Thứ nhất:
Quán tưởng thân mình to lớn như núi Tu Di, nằm xuống. Thỉnh Hắc Phẫn Nộ Mẫu tay cầm dao sắc bén, chặt đầu, tay, chân, thân thể, thành từng mảnh.

Thứ hai:
Dùng xương sườn của mình làm giá đỡ, trên đặt hộp sọ của mình làm nồi, trong nồi chứa đầy máu thịt của mình. Sau đó dưới giá đỡ đốt lửa bừng bừng, đun máu thịt của mình, nấu nhừ như cam lộ nước súp thịt.

Thứ ba:
Dùng cam lộ thân mình cúng dường bốn bậc thánh (Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn). Bố thí cho chúng sinh sáu nẻo (trời, người, atula, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh).
(Trên đây là cách tu quán tưởng.)

Trong đó có rất nhiều chi tiết, có thủ ấn, quán tưởng, trì chú, cúng dường, phát tâm bồ đề, v.v... Pháp này là pháp của phái Giác Vũ, nhưng, đã phổ biến được tôn sùng trong bốn đại giáo phái.

Cái chết có là gì! Lấy thân xác cúng dường bốn thánh sáu phàm mười pháp giới là số một. Giống như việc hiến tặng nội tạng của người đời nay. Sự cúng dường này vĩ đại nhất! Tâm bồ đề rộng lớn vô biên, đáng ca ngợi!

🌟

Đây là bài viết của Không Hành Mẫu - Liên Hoa Lệ Phi viết, ấn chứng về pháp xả thân như sau:

*Tiến trình tu tập pháp xả thân*

*Đệ tử Liên Hoa Lệ Phi nhất tâm đảnh lễ Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử Lư Sư Tôn (Sư Phật).*

*Vào cuối năm 2023, trong một pháp hội Hộ Ma, đệ tử nhìn thấy Ứng thân Lư Sư Tôn nhập đàn thành trong muôn vàn Không Hành Mẫu rải hoa khắp trời. Lúc này, pháp lưu hư không khiến thân thể đệ tử kiên cố như núi đá, dòng nhiệt chảy xuống, mỗi lỗ chân lông đều nhảy múa, hư không truyền đến tiếng nói vĩ đại: "Ngươi phải phát tâm bồ đề rộng lớn!" Lời dặn dò này như sấm vang rung chuyển trong Tâm luân, khiến đệ tử không kìm được nước mắt. Đệ tử chưa giác hành viên mãn vẫn còn thiếu sót trong việc giúp đỡ chúng sinh. Vì vậy, đệ tử cũng không ngừng học hỏi và trưởng thành trong mọi thử thách và khuyết điểm, cảm ơn tất cả chúng sinh đã ban cho đệ tử những lời giáo hóa! Cầu xin Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp gia trì và hộ trì, nguyện đệ tử có khả năng mang đến cho chúng sinh nhiều hơn nữa sự thanh tịnh, an lạc, quang minh.*

*Sau khi tiếp nhận sự gia trì và lời dặn dò từ pháp lưu hư không này, đệ tử trong việc tu trì pháp xả thân đã có sự giác ngộ mới - Bố thí bình đẳng vô tướng: Trong định, không phân biệt sáu đạo, không phân biệt hình thái, bình đẳng thanh tịnh, bình đẳng tiếp dẫn, pháp lạc vô hạn.*

*Sau đó, huyễn thân Mã Cát Lạp Tôn Phật Mẫu hiển hóa cũng từ phức tạp chuyển thành giản đơn. Ngài trong tịch tĩnh càng hiển quang minh đẹp đẽ, tao nhã khiến người cảm động. Sau khi hợp nhất, Mã Cát Lạp Tôn Phật Mẫu lấy xả thân hóa cam lộ cúng dường bốn thánh sáu phàm mười pháp giới. Sau đó, cam lộ tự nhiên hóa hiện thanh tịnh quang, tịnh hóa nghiệp đen của chúng sinh u minh, đồng thời dẫn dắt chúng sinh u minh hiểu rõ nhân quả phát lộ sám hối.*

*Chúng sinh u minh lòng sinh sám hối nhận được hoa sen do cam lộ biến hóa thành, khiến họ cưỡi sen rời biển khổ. Lúc này, ngoài Mã Cát Lạp Tôn Phật Mẫu, hư không cũng hiển hóa Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử, A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Kim Mẫu, Địa Tạng Bồ Tát và các Không Hành chư tôn đồng thời phóng quang gia trì chúng sinh cõi người, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Cuối cùng, Di Đà cũng hiện thuyền pháp, tiếp dẫn chúng sinh hữu duyên cùng vào biển Phật. Chư vị đồng tâm hợp lực thanh tịnh tiếp dẫn khiến chúng sinh lìa khổ được vui, làm đệ tử cảm động rơi nước mắt.*

*Sau đó, đệ tử tham gia vào mỗi buổi pháp hội Hộ Ma do Sư Phật chủ đàn (dù là tham dự trực tiếp hay tham gia trực tuyến), đệ tử tự nhiên sẽ trong thiền định, trên đầu đội Căn bản Truyền thừa và hợp nhất với Bổn tôn, xả thân hóa cam lộ, nguyện tận sức mình hộ trì Sư Phật, giúp đỡ hữu tình, tịnh hóa nhân tâm, thanh tịnh vô hình. Cảm ơn Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật đại gia trì chỉ đạo, cảm ơn Mã Cát Lạp Tôn Phật Mẫu và chư tôn gia trì chỉ đạo, cảm ơn tất cả chúng sinh giáo hóa, khiến đệ tử không ngừng từ trong cuộc sống tu pháp, tu hành mà tự tỉnh, tự giác, tự độ mà sau đó học tập độ người. Cầu xin Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật ban cho đệ tử sự gia trì và chỉ đạo vô thượng, khiến đệ tử có thể sớm giác hành viên mãn, tự tại lợi lạc hữu tình. Cầu nguyện Sư Phật ngày ngày khỏe mạnh, ngày ngày vui vẻ, thỉnh Phật trụ thế, vô tận cảm ơn Sư Phật!*

🌟

Liên Hoa Lệ Phi (Không Hành Mẫu), viết bài kệ tán thán Mã Cát Lạp Tôn:

*Mã Cát Lạp Tôn con đảnh lễ
Dáng tiên kiều diễm tự hóa sinh
Pháp lạc vang lên lượn bay múa
Cam lộ cúng dường không phân biệt
Tán thán xả thân lời thề lớn
Nguyện độ ta người được giải thoát.*

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) nói với mọi người:

Ở nơi tôi có truyền thừa bí mật vĩ đại của Không Hành. Vì vậy trong các đệ tử của tôi, có rất nhiều Không Hành Mẫu và Không Hành Dũng Phụ đều đến hội tụ. Rất nhiều nhân tài, không thể đếm hết. Tương lai sẽ có nhiều hơn nữa Không Hành Mẫu và Không Hành Dũng Phụ từng người một hiện thân.

Truyền thừa Không Hành của chúng tôi là bí mật trong các bí mật. Đây là do được Liên Hoa Sinh Đại Sĩ giao phó, cùng với năm vị Đại Phật Mẫu và hai mươi vị Đại Phật Mẫu và hai mươi lăm vị đệ tử đại thần thông của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ mà đến.

Tôi viết bài kệ tán thán:
*Thế nhân làm sao biết
Truyền thừa thật đặc thù
Ta Bà được thanh tịnh
Tông tôi là linh chi.*
(Truyền thừa Không Hành quá vĩ đại rồi!)


### 12. Hỏi: Nghe nói Yeshe Tsogyal và Mã Cát Lạp Tôn là cùng một người phải không?


Lư Sư Tôn đáp:
Theo như tôi biết, Yeshe Tsogyal xuất thân quý tộc, là đệ nhất Phật Mẫu của giáo chủ Mật tông Tây Tạng Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.

Năm vị Đại Phật Mẫu nổi tiếng của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là:
1. Yeshe Tsogyal.
2. Mandarava.
3. Shakya Devi.
4. Kalasiddhi.
5. Tashi Khyidren.

Yeshe Tsogyal ban đầu là hoàng phi của Tạng Vương Trisong Detsen, sau đó theo Liên Sư tu thành chính quả. Bà học tập sự xuất ly của Tiểu thừa, bồ đề của Đại thừa, kinh tục của các thừa Mật giáo, Đại Viên Mãn thành tựu tối cao của Ati Yoga. Cuối cùng, bà trở thành giáo chủ thế hệ thứ hai sau Liên Sư, hòa nhập vào cầu vồng.

Còn về Mã Cát Lạp Tôn và Yeshe Tsogyal, hai người ở hai triều đại khác nhau. Chúng ta chỉ biết rằng khi Yeshe Tsogyal tái hóa thân đến nhân gian độ chúng sinh, đó chính là Mã Cát Lạp Tôn. Nghĩa là Mã Cát Lạp Tôn là sự chuyển hóa của Yeshe Tsogyal. Yeshe Tsogyal có trước, Mã Cát Lạp Tôn có sau.

🌟

Trong Mật giáo, loại chuyển thế này rất nhiều, ví dụ như:
Hoa Quang Tự Tại Phật - Liên Hoa Đồng Tử - Lư Sư Tôn. (Tất cả đều là sự chuyển hóa của một người.)
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát chuyển hóa thành Đại Uy Đức Kim Cang. Những điều này rất phổ biến.

Nếu nói đến hợp nhất thì còn nhiều hơn nữa!
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là sự hợp nhất của Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật A Di Đà, Bồ Tát Quan Thế Âm.
Khổng Tước Minh Vương là sự hợp nhất của Phật Tỳ Lô Giá Na, Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật A Di Đà.
Bồ Tát Quan Thế Âm có 32 ứng hóa thân, Lục Độ Mẫu, Bạch Độ Mẫu cũng là ứng hóa của Ngài.
Lục Độ Mẫu lại phân hóa ra 21 vị Độ Mẫu.

Phật A Di Đà có ba mươi sáu vạn tỷ, mười một vạn, chín nghìn, năm trăm vị Phật A Di Đà cùng danh cùng hiệu. Lại có ứng hóa Vô Lượng Quang, Vô Lượng Thọ, Trường Thọ Phật.
Tôn Thắng Phật Mẫu là ba vị hợp nhất.
Hộ pháp La Hầu La là năm vị hợp nhất.
Cát Tường Thiên có mười hai vị.
Trường Thọ Thiên có năm vị.
Ứng hóa của Liên Hoa Đồng Tử càng không thể đếm được.
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là hóa sinh từ hoa sen, Ngài thật sự chính là Liên Hoa Đồng Tử. (Phật A Di Đà hóa thân thành Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, cũng hóa thân thành Liên Hoa Đồng Tử.) Hóa Sinh Đồng Tử, Hạng Quang Đồng Tử, Liên Hoa Đồng Tử là cùng một người, tên khác nhau nhưng thực chất là một. Bồ Tát Quan Thế Âm, Bồ Tát Đại Thế Chí cũng đều là Liên Hoa Đồng Tử.
(Trong "Kinh Bản Sinh" của Đức Phật có ghi chép.)

Các ứng hóa thân của Liên Hoa Đồng Tử ở nhân gian cũng có rất nhiều vị, không thiếu người.
Songtsen Gampo là ứng hóa của Quan Âm.
Công chúa Văn Thành là ứng hóa của Lục Độ Mẫu.
Công chúa Xích Tôn là ứng hóa của Bạch Độ Mẫu.
(Ghi chép trong "Trụ Gian Sử".)

Tổ thứ hai của Thiên Thai Tông là Tuệ Tư, Tuệ Tư chuyển thế sang Nhật Bản, trở thành Thái Tử Thánh Đức. Thái Tử Thánh Đức cũng tự xưng là chuyển thế tái sinh của hòa thượng Trung Quốc. Mà tổ thứ hai của Thiên Thai Tông chính là sự chuyển hóa của Liên Hoa Đồng Tử. Sự chuyển hóa như thế này, tràn lan khắp nơi.

Không Hành Mẫu Liên Hoa Lệ Phi có một bài viết:

*Lời dạy của Yeshe Tsogyal Phật Mẫu*

*Đầu năm 2024, có một ngày khi tu pháp xả thân, tôi hợp nhất với Mã Cát Lạp Tôn Phật Mẫu, hòa nhập vào hư không, trong hư không nhảy múa điệu múa tiên diệu mỹ. Mã Cát Lạp Tôn Phật Mẫu trong hư không, bỗng nhiên biến hóa thành Yeshe Tsogyal Phật Mẫu, sau đó lại trở về là Mã Cát Lạp Tôn Phật Mẫu. Trong lòng tôi bỗng rung động, liền trong thiền định cầu nguyện Phật Mẫu của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ - Yeshe Tsogyal Phật Mẫu ban cho lời dạy.*

*Yeshe Tsogyal Phật Mẫu đã nói như vầy:
"Trong chân đế tối thượng, Yeshe Tsogyal tức là Mã Cát Lạp Tôn Phật Mẫu, không có phân biệt. Tại nhân gian, do nhân duyên hội tụ mà sinh ra các hóa thân khác nhau và các giáo phái khác nhau, nhưng thật ra đều cùng một nguồn gốc. Hôm nay, ngươi cầu nguyện ta, nhân duyên hội tụ, ta sẽ hợp nhất với ngươi, ban cho sự hộ trì, khiến cho duyên chúng sinh tại nhân gian được viên mãn hơn."
Tiếp theo lại nói:
"Không Hành Mẫu đến nhân gian đều có sự mê muội do chuyển kiếp, cũng trong luân hồi nhiễm nhuốm tập khí nhân gian. Cần phải trong các thứ trải nghiệm, rèn luyện mà dần dần tỉnh thức, giác ngộ, buông xả hồng trần ồn ào, tu luyện nội tại, điều phục bên ngoài, đạt được trời người hợp nhất, sau đó mới có thể lợi ích hữu tình."
Cuối cùng Ngài dặn dò: 
"Ngươi có thể xin Lư Sư Tôn truyền pháp chỉ nhân gian của Không Hành Mẫu, tăng trưởng ánh sáng kính ái, những người có duyên sẽ chủ động đến hỏi ngươi. Sau khi quan sát hành vi tu hành và căn khí của họ một thời gian, khi nhân duyên tăng trưởng hòa hợp thì ban cho họ một vài điều chỉ dạy."*


### 13. Hỏi: Thế nào là ý cảnh của thiền định?


Lư Sư Tôn đáp:
Về ý cảnh của thiền định, mỗi người không nhất thiết giống nhau, cảm nhận cũng mỗi người mỗi khác.

Ngày xưa, có người dùng nước để mô tả thiền định:
Thô định — ý nghĩ như thác nước.
Tế định — ý nghĩ như dòng chảy xiết.
Thâm định — ý nghĩ như nước chảy róc rách.
Tối tế định — ý nghĩ như nước đầm không gợn sóng.
Tam ma địa định — nước phẳng lặng như gương không gợn sóng.
(Đây là điều Lư Sư Tôn tôi phân biệt chi tiết ra, là kinh nghiệm cá nhân.)

Khẩu quyết thiền định:
Vô sự.
Vô tâm.
Cảm nhận của thiền định, mỗi người khác nhau, cũng chịu ảnh hưởng của ngũ hành:
Địa — Tự cảm giác như núi Tu Di, kiên định bất động.
Thủy — Tự cảm giác khinh an tự tại, thanh tịnh vô song.
Hỏa — Tự cảm giác ánh sáng tỏa ra bốn phía, cầu vồng đẹp đẽ.
Phong — Tự cảm giác ngồi trên hư không, thần túc đến các tịnh thổ khác.
Không — Tự cảm giác linh quang tự tỏa sáng chói lọi, thời gian không gian đều chẳng tồn tại.
Trống rỗng không một vật.

Nói một cách đơn giản:
"Thiền định chính là chuyên nhất!"
"Con người có thể giữ được sự chuyên nhất, mọi việc đều thành!"
"Thiền định có thể sinh ra trí tuệ, trí tuệ có thể sinh ra thiền định, hai bên là nhân quả lẫn nhau."
"Định tâm vào một chỗ, không việc gì không thành tựu."

25 vị đệ tử thành tựu của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chính là nhờ thiền định mà đạt được sức mạnh thần thông lớn.
Ví dụ:
Namkhe Nyingpo có thể cưỡi trên ánh sáng mặt trời, đi tuần hành khắp nơi.
Shubu Palgyi Senge dùng chày phổ ba đập tảng đá khổng lồ thành mảnh vụn.
Gyalwa Chokyang có thể tự biến hình, lúc thì là Mã Đầu Kim Cang, lúc lại biến thành Đại Uy Đức Kim Cang.
Sokpo Lhapal có thể đến địa ngục đạo, ngạ quỷ đạo, súc sinh đạo, có thể giải trừ nghiệp chướng của người.
Vairotsana có thể đi lại khắp nơi trong tam giới.
Yeshe Yang có thể luôn luôn ở trong tam muội định, bất cứ lúc nào bất cứ nơi đâu đều có thể hiện thân.
Yeshe Tsogyal đắc trí tuệ vô thượng, bất cứ ai cũng không thể bác bỏ được.
Yeshe Tsogyal lấy cam lộ từ tảng đá, biến hóa ngũ hành vô cùng.
Nanam Dorje Dudjom có thể cưỡi gió bay.
Yeshe Tsogyal khi bay có thể đến tịnh thổ Không Hành.
Sokpo Lhapa có thể ở cùng với các loài dã thú không ngại ngần.
Nanam Yeshe De đi bộ trong hư không như đi trên đất bằng.
Karchen Palgyi Wangchuk rút chày phổ ba ra, chày tự động hàng phục ác ma.
Danma Tsemang có thể ghi nhớ các kinh luận lớn nhỏ, trí nhớ siêu phàm.
Shupu Palgyi Senge có thể ra lệnh cho nước, nước sông có thể đảo ngược dòng chảy.
Kawa Paltsek có thể biết được tâm tư của người khác, có thiên nhãn, biết túc mệnh.
Nanam Dorje Dudjom giơ thủ ấn ra, vật đang bay liền rơi xuống đất.
Sokpo Lhapal dùng thủ ấn thuần phục các loài động vật hung dữ.
Namkhe Nyingpo có thể độn thủy, có thể thở trong nước.
Ma Nying Chotsok biến cát đá thành thức ăn.
Bagye Dorje có thể xuyên núi qua hẻm, không chướng ngại.
Odren Palgyi Wangchuk sai khiến sấm chớp, sấm chớp nghe lệnh.
Lasum Gyalwa Changchub ngồi thiền định bay lên hư không.
v.v… 

Những điều này toàn là cảnh giới thần thông sau khi thiền định thành tựu, không thể nghĩ bàn.

Trong số đệ tử của tôi (Lư Sư Tôn), có một vị "cao thủ nhập định", ông đã viết về ý cảnh nhập định, đây chính là ý cảnh của thiền định, bức thư của ông như sau:

Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật chí cao vô thượng tôn quý kính yêu nhất!

Kiếp này được theo Ngài học Phật, con đã thấy mình vô cùng may mắn rồi! Giờ đây con lại có cơ hội tham dự trực tuyến, sau khi Ngài chủ đàn pháp hội Hộ Ma tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, pháp hỷ sung mãn mà viết thư cho Ngài, con cảm thấy thật sự là may mắn trong may mắn! Gấp bội may mắn!

Ngày 6 tháng 10 vừa rồi, Ngài chủ đàn pháp hội Hộ Ma tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, là pháp hội Hộ Ma Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên. Thật sự mà nói, đối với Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên, ban đầu con không quen thuộc lắm.

Tuy nhiên, kể từ Chủ nhật tuần trước, ngày 6 tháng 10 năm 2024, sau khi tham dự trực tuyến pháp hội Hộ Ma Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên do Ngài chủ đàn tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, từ đó về sau, thần chú của Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên, thủ ấn của Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên cùng hình tượng của Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên, đã in sâu vào đáy lòng con, không còn xa lạ nữa.

Ngày hôm đó trước khi pháp hội bắt đầu, con lặng lẽ trì tụng thần chú của Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên (Ôm ma-li-chi-yi sô-ha.) Ai ngờ ngay sau khi pháp hội bắt đầu, đúng lúc Ngài trang nghiêm bước vào hội trường, thù thắng triệu thỉnh chư Bồ Tát, chủ tôn Hộ Ma Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát, Hộ pháp Kim cang cùng Không hành mẫu… thì đột nhiên có hai vệt ánh sáng mãnh liệt chiếu thẳng xuống đỉnh đầu con! Con lập tức như bị điện giật, trong chớp mắt đã kiên cố như sắt nhập vào định!

Con bất động như như, tập trung tinh thần ngồi đó, chuyên tâm nhất ý thư giãn thân thể; con không nghĩ gì cả, chỉ hoàn toàn buông xả thân tâm và quán chiếu khí trong thân mình.

Con cảm nhận rõ ràng khí trong thân con, từ trên xuống dưới trong toàn thân không ngừng lưu thông suôn sẻ. Ấm áp, nhẹ nhàng, trước tiên từ lòng bàn chân, không ngừng vận hành ma sát tinh tế đi lên, sau đó từ trung mạch, đến toàn bộ đầu của con, rồi từ đầu, một mạch từ tứ chi của con từ từ qua lại đến lòng bàn chân… Sự khinh an vui thích, đại lạc thoải mái trong đó! Đơn giản là không thể nào mô tả rất khó hình dung! Con say đắm trong sự hoan lạc của cảnh giới Tam ma địa. Và con cũng lắng nghe toàn bộ nghi thức và trình tự của pháp hội Hộ Ma vô cùng rõ ràng.

Khi con càng chuyên tâm, thân thể càng thư giãn, kinh mạch càng đầy đủ khí chạy, không ngừng lưu chuyển khắp toàn thân; không biết đã qua bao lâu, đột nhiên con cảm thấy con đã từ từ, trong sự chuyên chú nhập định, tập trung tinh thần chú ý đến pháp hội Hộ Ma, biến thành một vị Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát trang nghiêm vô cùng, mặc thiên y đỏ, đeo đầy trang sức lộng lẫy, thiên y lụa mềm bay phấp phới!

Hóa ra dưới sự triệu thỉnh thù thắng, pháp lực vô biên, thần thông quảng đại của Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Ngài, Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên đã từ bi hạ giáng hợp nhất với con. Con bất ngờ vui mừng tán thán! Con biết ơn tràn trề!

Và toàn bộ quá trình nhập định cho đến cuối cùng người dẫn dắt trong hội trường rõ ràng nói với mọi người: "Cung thỉnh Sư Tôn dẫn dắt mọi người đảnh lễ đàn thành." con mới bất đắc dĩ phải xuất định và nói lời tạm biệt với Sư Tôn. Toàn bộ quá trình nhập định trọn vẹn một tiếng ba mươi phút. Con vẫn còn luyến tiếc, chưa muốn dừng lại!

Cảm ứng cảm nhận khi nhập Tam ma địa, khinh an vui sướng, tiêu dao tự tại, pháp hỷ khó diễn tả, thật không thể nghĩ bàn! Khiến con đối với Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Ngài, con năm vóc sát đất quỳ lạy, tán thán vô hạn!

Hơn nữa, ngay sau khi pháp hội kết thúc, con lập tức tràn trề pháp hỷ quay mặt về đàn thành, đảnh lễ đàn thành, biết ơn Thầy - Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật! Biết ơn chư Phật Bồ Tát! Biết ơn Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên!

Kỳ diệu là, khi lời cảm ơn của con vừa nói xong, hai tay của con đã tự nhiên thuần thục, làm lên thủ ấn căn bản của Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên!

Trước hết, hai tay con khép lại như nắm đấm, hai ngón trỏ tự động hướng lên, sau đó hai ngón giữa từ phía sau đưa ra phía trước, móc vào hai ngón trỏ, hoàn toàn thành thủ ấn căn bản của Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên. Không chỉ như vậy, điều kỳ lạ là con còn dùng thủ ấn căn bản của Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên gia trì cho chính mình, sau đó lại quay người về phía sư huynh của con đang ở bên cạnh, cùng tham dự trực tuyến với con, để gia trì cho sư huynh.
Con kinh ngạc tán thán!
Con há hốc mồm không nói nên lời!

Từ đó về sau, chỉ cần con hễ niệm Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên, hai tay con liền có thể tự động dễ dàng làm lên thủ ấn của Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên, và con cũng tự nhiên biến thành hình tượng của Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên.

Từ đó về sau, Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên ở trong đáy lòng con, hình bóng không rời, không bao giờ, không bao giờ còn xa lạ nữa.

Con biết ơn Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật, mỗi pháp hội Ngài chủ đàn, đều là sự triệu thỉnh thù thắng đại vô úy, Phật pháp vô biên, bất khả tư nghì! Để con may mắn được tương ứng với một vị, từ đó tương ứng mọi vị; thậm chí còn được vô số không thể tính đếm sự gia trì và hộ trì bất khả tư nghì của tha lực!

Nhưng mong rằng thông qua pháp hội Hộ Ma Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên ngày 6 tháng 10 năm 2024, do Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật chủ đàn tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự này, Hộ pháp Kim cang ký ước của Chân Phật Tông - Chiến Uy Kim Cang - Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên, có thể dùng năng lực hộ trì mạnh mẽ để canh giữ đệ tử Chân Phật Tông; đồng thời từ bi vị tha, uy phong lẫm liệt canh giữ con ngày đêm, cho phép con tu hành thành tựu, và nguyện vọng từ đời này đến đời sau, thịt nát xương tan hộ trì Chân Phật Mật Pháp của Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Ngài, hoằng dương Phật pháp, phổ độ chúng sinh, có thể vĩnh viễn không có chướng ngại, con đường thông suốt, bồ đề viên mãn!

Chính như Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Ngài đã nói trong văn tập Lư Thắng Ngạn số 251 "Cắt một tấm áo mộng", chương "Hồ ly vái nguyệt": "Tu hành nhất định phải có chính kiến, tìm được minh sư, đắc được chính đạo, như vậy mới có thể xứng với tâm nguyện."
Om guru liansheng siddhi hum.
Om marici soha.

Ngu đệ tử trợ giảng Liên Hoa Thái Hồng đảnh lễ chắp tay khấu tạ.
Viết ngày 12 tháng 10 năm 2024.
Bang Vermont, Đông Bắc Hoa Kỳ.

🌟

Lư Sư Tôn nói:
Chúng ta phải tu tập thiền định, thân tâm trong thiền định có thể phân phân hợp hợp, có thể thấy được Phật tính vốn có của chính mình, và hơn nữa còn hợp nhất Phật tính vào tâm của Bổn tôn, cũng có thể hợp nhất vào tâm của Thượng sư, ba trái tim hợp nhất thành một thể.
Đây không chỉ là "linh quang một mình tỏa sáng".
Khi thiền định, tất cả vọng niệm tiêu diệt, trong hoa sen nơi tâm ta, an trú một vị Phật quang minh, tỏa ra ánh sáng rực rỡ, đó chính là chứng kiến Phật tính.

Trong lúc "linh quang một mình tỏa sáng" này, không thể diễn tả được, tôi thường nói:
Một hạt cát bụi, hòa nhập vào đại địa.
Một giọt nước, hòa nhập vào đại dương.
Một tia lửa, hình thành thành mảng lửa rộng lớn.
Một cơn gió, thổi vào hư không.
Cũng có:
Vô tác, Vô tướng, Pháp nhĩ bản nhiên, Không.
Tuy đã đi vào cảnh giới hỷ lạc, nhưng, có thể biến Phật tính của ta chuyển hóa thành từ bi và yêu thương vô điều kiện đối với chúng sinh.
Đây chính là một loại bố thí.

🌟

Tôi từng ngồi trên pháp tọa, nhập vào thiền định cực sâu.
Tự giác tỉnh lại vì đau đớn.
Tôi đau đớn kêu la inh ỏi.
Tôi nói:
"Vì có người (đệ tử), đang chịu cơn đau bụng dữ dội ba ngày liền, người ấy đau quá, gọi tôi."
Và tôi trên pháp tọa đã gánh chịu cơn đau dữ dội của người ấy. Vì thế mà chịu khổ.

Sau này chứng minh:
"Quả thật là như vậy!" (Đó là Thích Liên Ngật.)
Người ấy đau, tôi đau.
Tôi đau, người ấy không đau. (chịu thay)

Tôi có thể trong thiền định, bằng phương thức thí thọ [bố thí và tiếp nhận], đi chịu thay nỗi khổ của chúng sinh. Đây chính là từ bi hỷ xả.


### 14. Hỏi: Vì sao Lư Sư Tôn thường than: "Như mộng như huyễn"


Lư Sư Tôn đáp:
Phật Đà thường nói: Tam pháp ấn. Ba pháp ấn này chính là:
Chư hành vô thường.
Chư pháp vô ngã.
Niết bàn tịch tĩnh.
Pháp ấn là gì? Pháp ấn chính là chân thật ngữ, có nghĩa là chân lý.
Từ đó, liền biết được "như mộng như huyễn".

Bài kệ trong "Kinh Kim Cang":
Tất cả pháp hữu vi. 
Như mộng huyễn bóng ảnh.
Như sương cũng như điện.
Nên quán thấy như vậy.

Vì vậy, cuộc đời của tôi - một vị lão tăng tám mươi tuổi, như một bộ phim, sắp kết thúc rồi, kết thúc chính là "hết vở kịch", tất cả đều là không huyễn.
Nhà cửa không còn nữa!
Xe cộ không còn nữa!
Đất đai không còn nữa!
Tiền, sắc, danh, tất cả chỉ là một giấc mơ huyễn. Những điều này ai cũng biết, chỉ là mê muội không buông bỏ. Không buông cũng phải buông, lúc này nên biết rằng: "Tất cả đắc" tức là "Tất cả vô sở đắc".
Vô sở đắc mới là chân lý.

Giờ đây, tôi đã học được: tùy duyên, tùy thuận, tùy phận. Dùng ba điều này để sống những năm tháng tuổi già của tôi.
Đối với mọi việc, nhìn thấu, nhìn nhạt, không bận lòng, bước đi những bước cuối cùng của tôi.
Cười phóng khoáng.
Ngủ một giấc thật ngon.
Ăn một bữa cơm thật no.
Như vậy là mãn nguyện rồi! 
Tôi thường tự nhủ với mình một câu: "Buông xuống đi! Buông xuống đi! Buông xuống đi!"

Lại có người hỏi tôi: "Lư Sư Tôn, đôi khi thấy Ngài trên pháp tọa thuyết pháp mà khóc nức nở, vì sao vậy?"
Tôi đáp:
Thật sự ngại quá! Xin lỗi! Tôi thường hay buồn đến nỗi khóc òa lên.
Đây là bản tính của tôi.
Một là, nghĩ đến người mẹ ở nhân gian, tôi sẽ khóc!
Hai là, nghĩ đến người mẹ trên trời, tôi sẽ khóc!
(Mẹ trên trời chính là Diêu Trì Kim Mẫu.)
Ba là, nghĩ đến thân phận của chính mình, tôi cũng sẽ khóc thật đau đớn! Khi sinh ra, cha tôi không thừa nhận tôi là con của ông. Đây chính là khởi đầu của nỗi bi ai.
Bốn là, nghĩ đến bệnh khổ của Thượng sư Liên Hương.
Năm là, nghĩ đến virus corona, đại dịch bệnh.
Sáu là, nghĩ đến cảnh sinh ly tử biệt trong chiến tranh.
Bảy là, nghĩ đến những người đói khổ.
Tám là, nghĩ đến chúng sinh trong đạo địa ngục, đạo ngạ quỷ, đạo súc sinh.
Chín là, đủ thứ tai họa ở nhân gian, những thảm họa về đất, nước, lửa, gió, vô thường v.v...
Mười là, đủ thứ khổ đau.
Trong cõi ngũ trược ác thế này, có chuyện gì có thể khiến bạn thoải mái đi một chuyến được?
Tôi chỉ có khóc!
Khóc cho chúng sinh đang trong mê hoặc, không tỉnh ngộ, xa lìa chân như của Phật Đà quá xa, bao giờ mới chứng ngộ được, nên khóc cho thật đau đớn!
Đây chính là lý do tôi ngồi trên pháp tọa mà khóc nức nở!

Chẳng phải là như mộng như huyễn sao?
Đúng vậy. Là như mộng như huyễn, nhưng, trong mộng huyễn lại có sự chịu đựng thật sự!


### 15. Phụ lục: Thư của Liên Hoa Thái Hồng


Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật tối cao vô thượng kính yêu!

Hôm nay con rất vui mừng, phấn khởi được đến bên Thầy một lần nữa! Nhưng tất cả đều rất đột ngột! Vì vậy chuyến đi này vô cùng gấp gáp!

Từ khi mua vé máy bay cho đến hôm nay có thể bình an, thuận lợi đến Seattle, đến bên Thầy, lý do chính là con cảm nhận được trong nội tâm sự kêu gọi mãnh liệt của chư Phật Bồ Tát từ Seattle như sóng núi đổ, như ngựa phi nước đại!

Vì vậy con đã không do dự, bất chấp tất cả, sau khi bàn bạc với sư huynh, liền mua ngay vé máy bay. Con lập tức trở về bệnh viện, nhờ đồng nghiệp đổi ca, vì những ngày này cần phải đổi ca làm việc. Mọi việc như có thần phù hộ, vô cùng thuận lợi.

Nhưng đồng nghiệp, quản lý, gia đình đều không hiểu gì cả, ngạc nhiên vô cùng! Vì vào tháng trước, ngày mồng 1 tháng 9 (Chủ nhật), con mới cùng gia đình đến Seattle, tham dự đại pháp hội Hộ Ma Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang tiêu tai, cầu phúc, trị bệnh, siêu độ do Thầy chủ đàn tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự.

Tuy nhiên trong lòng con biết rõ; con càng biết chư Phật Bồ Tát rõ, Thánh Tôn Thầy cũng rõ. Như trong bài thơ ở văn tập thứ 298 của Thầy "Sự hé lộ của những giấc mơ", chương thứ 37 "Thiền định cũng là mộng" vậy:

*"Ai biết tôi bâng khuâng
Lòng nhớ tình bạn cũ
Có được như chưa được,
Làm thơ cũng như không
Dưới đèn có bóng hình,
Đối thoại cũng tự nhiên;
Hôm nay không thấy người,
Phương Đông sương mờ mịt."*

Sau khi đọc xong, con không khỏi rơi hai dòng nước mắt… Vì con đã thản nhiên hiểu rõ. Con cũng thật sự ngộ ra trong lòng: Quả thật cuộc đời là mộng huyễn, ngay cả thiền định cũng là mộng huyễn!
Nhưng may mắn thay như Thầy đã nói trong bức thư gửi con:
*"Không phải ta.
Không phải không.
Đó là:
Khi đến một thiền định,
Lại đến một thiền định;
Rốt cuộc là việc gì,
Tây Thành có Liên Sinh."*

Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật tối cao vô thượng kính yêu!
Con cảm ơn sự tương ứng của Ngài!
Con cảm ơn Pháp thân của Ngài luôn hộ trì bên con!
Con cảm ơn lời giáo huấn của Ngài trong cuốn sách này!

Trong tương lai, con nguyện phấn đấu hết mình để hoằng dương Chân Phật Mật Pháp của Thánh Tôn, hết lòng hoằng dương Phật pháp, hết lòng độ hóa chúng sinh! Hết lòng đáp đền ân đức của Chân Phật - Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật! Hết lòng đáp đền ân đức của chư Phật Bồ Tát!

Nay con viết một bài thơ, quỳ lạy lệ tuôn kính dâng lên Thánh Tôn:

*Một đời kiên trì hằng thiền định
Chứng đắc Bồ Tát thường bầu bạn
Đứng trên núi cao lòng thoải mái;
Nhờ có Tây Thành Lư Liên Sinh.
Cảm ơn Chân Phật nói sao hết
Vì thế phấn đấu độ chúng sinh,
Hoằng dương Chân Phật cùng Mật pháp,
Thịt nát xương tan chẳng lo sợ!
Không mộng như huyễn một duyên trần.*

Cảm ơn Thánh Tôn!
Cảm ơn Thánh Tôn với những chỉ dạy quý báu trong sách!
Cảm ơn chư Phật Bồ Tát với mọi sự sắp đặt tốt đẹp!

Ngu đệ tử Liên Hoa Thái Hồng trợ giảng đảnh lễ chắp tay khấu tạ.
Viết vào ngày 16 tháng 10 năm 2024.
Bang Vermont, miền Đông Bắc Hoa Kỳ.

🌟

Lư Sư Tôn nói:
Liên Hoa Thái Hồng là một vị trưởng lão tu hành có thành tựu, thiền định công phu sâu, viết lách rất xuất sắc, và nguyện lực rất lớn, là một vị Bồ Tát từ bi.

Liên Hoa Thái Hồng thấy các thành phố lớn ở Mỹ đều có Lôi Tạng Tự hoặc phân đường đồng tu, duy chỉ có miền Đông, thành phố văn hóa lớn Boston không có, bà ấy phát nguyện đi Boston độ hóa chúng sinh, tinh thần đáng khâm phục!


### 16. Hỏi: Xin nói rõ về dung nhập hư không


Người hỏi này, đối với việc Lư Sư Tôn thường nói "dung nhập hư không", cảm thấy bất khả tư nghì, thỉnh tôi giải thích chi tiết hơn.
Lư Sư Tôn đáp:
Một vị hành giả, trải qua việc liên tục quán chiếu ý niệm, đến cuối cùng quên luôn thế giới bên ngoài thân, cái này gọi là "tọa vong".
Thân thể biến mất!
Ý nghĩ không còn nữa!

Có thể nói như thế này, vật chất biến mất, tâm niệm biến mất, tất cả pháp biến mất, thời gian không gian biến mất, ngay cả linh tính cũng biến mất.
Không có tương đối.
Chỉ có tuyệt đối.
Vốn dĩ điều này không có văn tự, ngôn ngữ nào có thể giải thích, nếu miễn cưỡng mà nói thì chỉ có thể nói: Đây là cảnh giới tự tính bất động, là tâm của hành giả hợp nhất với tâm tối thượng, tự tâm hợp nhất với nguyên lực vũ trụ, thực tướng tuyệt đối.
Không thể phân chia.
Thần thánh.
Trí huệ thuần tịnh.
Quá khứ, hiện tại, tương lai, đều là tính không vô thượng không biến đổi. Ánh sáng của nó như mặt trời, sự thanh lương của nó như mặt trăng, sự rộng lớn của nó như hư không.
Đây là "không quán", nhưng là "không vô biên" khó lòng diễn tả.
Không sở duyên!
Không sở chấp!
Không ngã dục!
Không trói buộc!
Tôi gọi đây là sự thanh tịnh vốn có, giải thoát chân chính, nhậm vận tự tại, dung nhập hư không.
Như ngủ sâu.
Như vô ngại.
Như không không.

Về việc dung nhập hư không, có một bức thư chứng minh như sau:

*Đảnh lễ Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật tôn quý!
A Di Đà Phật, kính chào Sư Tôn kính yêu!*

*Cảm ơn Sư Tôn từ bi gia trì cho đệ tử (Lý Mẫn) lần này lại nhanh chóng đến Seattle gặp gỡ Phật, thứ bảy tuần này Sư Tôn khai thị nói đến chỗ sinh cơ bên cạnh Sư Ma Bồ Tát **[bức tượng Bồ Tát thân mẫu của Sư Tôn]** tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự có một chỗ là điểm tụ hội của tất cả Không hành mẫu.*

*Vì vậy hôm nay (ngày 29 tháng 10 năm 2024) đệ tử đã đặc biệt đến đó, đệ tử trước tiên đảnh lễ quỳ lạy Sư Tôn, Sư Ma Bồ Tát, sau đó Kim Mẫu rất nhanh cho con ngồi xếp bằng, đệ tử chắp tay thành kính quán tưởng đại lễ bái. Sau đó Sư Ma Bồ Tát bắt đầu biến hóa thành một vệt ánh sáng trắng lớn, đệ tử được ánh sáng trắng lớn chiếu sáng toàn thân, rồi đi vào trong ánh sáng trắng lớn. Trong tích tắc bước vào một cung điện, cung điện vô cùng sáng sủa, và có tiếng nước, giống như tiếng thác nước chảy. Đệ tử không thấy bước chân của mình trên mặt đất, mặt đất phủ một lớp mây ngũ sắc màu hồng trắng vô cùng đẹp đẽ, cảm giác giẫm lên nước nhưng lại không có nước, vô cùng thoải mái, và có hương hoa, một tòa cung điện vô cùng lớn và tráng lệ. Lúc này đệ tử nhìn thấy rất nhiều thiên nữ, không biết sao nước mắt con bắt đầu tuôn ào ạt không ngừng, nhìn thấy cung điện dường như rất quen thuộc, lại có rất nhiều rất nhiều giọng nói quen thuộc đang nói thiên ngữ. Tiếp theo con cũng bắt đầu dùng thiên ngữ trò chuyện tâm sự với mọi người, nước mắt vẫn cứ chảy và xúc động. Đột nhiên có một vị Phật Mẫu đến trước mặt, nói với con một câu: "Sao lần này con lại trẻ như vậy, Sư Phật đã..." nước mắt càng chảy mạnh hơn không ngừng.*

*Trong lúc nói chuyện như vậy thì có một vị Phật Mẫu (Yeshe Tsogyal) rất thân thiết bước lại, nói sẽ đưa đệ tử vào chính điện. Đầu tiên, các vị dẫn con đến một ao trời rất lớn, bờ ao đầy hoa tươi và hoa sen, giúp con tắm rửa xong thì thay thiên y và trang sức của thiên giới. Tiếp theo các thiên nữ theo sau một vị Phật Mẫu phía trước đến một tòa cung điện rất huy hoàng, cung điện này rất quen thuộc, vì đệ tử đã từng đến, đó là cung điện của Diêu Trì Kim Mẫu, Kim Mẫu xinh đẹp lộng lẫy, nhìn thấy con từ xa, khiến nước mắt đệ tử lại ào ào tuôn rơi. Kim Mẫu nở nụ cười từ bi, thân tỏa ánh sáng trắng, đệ tử cứ nhìn mãi rồi nhanh chóng đến trước mặt Kim Mẫu, đệ tử thành kính chắp tay quỳ xuống đảnh lễ Kim Mẫu. Sau đó Kim Mẫu vẫn như mọi khi rất từ bi, để đệ tử đến bên cạnh ngài, xoa trán con, như vậy hai mắt nhìn vào nhau, nói với con: "Ở đây còn có một cung điện, con phải đi xem một chút."*

*Rất nhanh các thiên nữ và vị Phật Mẫu vừa rồi dẫn con đến một cung điện khác, cung điện vô cùng lớn, đệ tử nhìn thấy rất rất nhiều thứ, không có cách nào dùng văn tự mô tả hết được. Có đàn thành, có những ngôi nhà tu hành trên đồi núi, có rất nhiều thứ giống như mãnh thú (đệ tử không biết là loại thú gì), và còn nhìn thấy đặc biệt nhiều thị giả cùng quyến thuộc thiên tiên, đang chuẩn bị rất nhiều đồ cúng dường, hoa tươi. Nhìn thoáng qua như thấy được mọi góc cạnh của tất cả cung điện, nhưng mỗi nơi lại vô cùng rộng lớn vô song, rất nhiều cung điện khác nhau. Lúc này hư không phóng ra ánh sáng trắng lớn, chiếu sáng toàn thân đệ tử. Ánh sáng này gia trì đệ tử rất mạnh mẽ, toàn thân đệ tử biến thành ánh sáng, trong vùng ánh sáng này đệ tử bắt đầu lờ mờ nhìn thấy một vị Phật, càng lúc càng đến gần đệ tử hơn, đệ tử nhìn thấy Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ toàn thân phóng quang đặc biệt gia trì đệ tử, trước tiên phóng bạch quang, lục quang, lam quang, hắc quang, lam quang, hồng quang. Cuối cùng đệ tử từ một đám mây trời màu hồng trở về bên cạnh Sư Ma Bồ Tát và xuất định.*

*Đệ tử Liên Hoa Nhất Mẫn thành tâm quỳ lạy đảnh lễ.*

🌟

Lư Sư Tôn nói:
Lá thư này mặc dù không hoàn toàn là dung nhập hư không, nhưng đã có hương vị của dung nhập hư không.
Vì bậc Thánh đã nói:
"Pháp do nhân duyên sinh.
Duyên khởi nơi sinh tử.
Sinh diệt rồi diệt hết.
Tịch diệt là chân lạc."

Lá thư của Lý Mẫn là do duyên khởi, có sinh có diệt, vẫn còn ở trong một niệm. Nếu Lư Sư Tôn trong dung nhập hư không mà vẫn còn một niệm, thì sẽ có khả năng cứu độ chúng sinh và giúp người giải thoát, có thể tự mình thấy nguồn gốc của vạn tượng, thấy được đại quang minh của chân tính.
Dùng cái bên trong chiếu soi chân thường.
Dùng cái bên ngoài chiếu soi vạn tượng.
Thấy vật như gương phản chiếu, chuyên chú vào cái gì thì cái đó sẽ hiện ra.
Có thể du hành khắp thế giới, không có gì ngăn che, nghĩ đến đệ tử nào, đệ tử đó liền hiện ra trước mắt.
Từ chỗ này đến chỗ kia.
Từ Dục giới đến Sắc giới, từ Sắc giới đến Vô sắc giới, từ Vô sắc giới đến Tứ Thánh giới.
(Mười phương pháp giới đều có thể đến.)

Như ăn uống kinh hành, từ một mandala này đến một mandala khác.
Từ tịnh thổ Diêu Trì đến tịnh thổ Tây phương, đến các tịnh thổ của chư Phật Bồ Tát, hoàn toàn tùy thuộc vào tâm niệm của hành giả.
Tất cả đến đi như gió, đây chỉ là một hình dung, nơi tâm động, liền sinh ra tâm hành.
(Đây chính là nhậm vận tự tại, lục thông đầy đủ. Không bị bất kỳ sự tích lũy nghiệp nào ảnh hưởng. Dùng tám vạn bốn nghìn pháp môn, cứu tám vạn bốn nghìn thứ bệnh. Vẫn tiếp tục cứu độ chúng sinh.)


### 17. Hỏi: Vì sao A Di Đà Phật không phải là chủ tôn của pháp siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp?


Lư Sư Tôn đáp:
Thế giới Tây Phương Cực Lạc có ba vị để nương dựa là A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát. Theo lý thì nên lấy giáo chủ A Di Đà Phật làm chủ tôn.
Vì muốn đến Cực Lạc thế giới, có hai điều kiện:
Một, không thể thiếu thiện căn.
Hai, nhất tâm bất loạn niệm A Di Đà Phật.
(Đây là giáo thị của Tịnh Độ tông.)

Nhưng, để độ hóa tín chúng tín ngưỡng Diêu Trì Kim Mẫu, chúng ta lấy Diêu Trì Kim Mẫu làm chủ tôn.
Đây là lý do gì?
Tôi đáp:
"Phật pháp là vô định pháp!"

Chân Phật Tông lấy Diêu Trì Kim Mẫu để khai tông lập phái, lấy Diêu Trì Kim Mẫu làm chủ là được. Trong quá trình tu pháp, A Di Đà Phật gia trì cho chúng sinh u linh vẫn là điều quan trọng nhất.

Có thể nói như thế này:
Diêu Trì Kim Mẫu là chủ tôn.
A Di Đà Phật cũng là chủ tôn.
Trong quá trình tu pháp, hai thánh hiệu đều niệm, không thiên về bên nào.
Theo những gì tôi biết, Phật pháp thực sự không có pháp cố định, chỉ cần có thể đến được Phật quốc tịnh thổ, còn thì phương pháp rất nhiều!

Phật Thích Ca Mâu Ni nói:
"Đúng vậy, đúng vậy, chư Phật Như Lai không có pháp cố định, chỉ tùy theo căn cơ của chúng sinh mà thiết lập Phật pháp.
Có vị dùng Phật quang để tiếp dẫn chúng sinh.
Có vị dùng chư Bồ Tát để thực hành độ hóa.
Lại có vị dùng Pháp thân, Báo thân, Ứng thân để thực hành cứu độ.
Tịnh thổ Chúng Hương dùng gạo thơm để tiếp dẫn chúng sinh.
Dùng quyển kinh để độ chúng sinh.
Dùng thần thông để cứu độ chúng sinh.
Dùng ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp để cứu độ chúng sinh.
Cũng có dùng hư không để làm Phật sự.
Dùng mộng,
Dùng huyễn,
Dùng bóng ảnh,
Dùng âm thanh,
Hoa trong gương, trăng dưới nước cũng có thể độ chúng sinh.
Dùng viết lách, ca hát, trò chơi để độ chúng sinh.
Ngay cả tĩnh lặng tuyệt đối vô ngôn, vô thuyết vô thị cũng có thể cứu độ chúng sinh. Dùng tám vạn bốn nghìn pháp để độ hóa tám vạn bốn nghìn hạng người."
(Tám vạn bốn nghìn là chỉ các căn cơ khác nhau.)

Nếu hiểu rõ:
Một tức là tất cả.
Tất cả tức là một.
Pháp môn bất nhị.
Thì bạn sẽ hiểu Phật - ma như một, phiền não tức bồ đề. Hơn nữa, mọi việc đều là Phật sự, mọi pháp đều là Phật pháp.
Nên dùng pháp gì để độ chúng sinh thì dùng pháp đó, chẳng có chút phân biệt nào cả.
Không chấp trước điều gì, chính là đại thành tựu.

Tôi (Lư Sư Tôn) nói sâu hơn nữa:
A Di Đà Phật và Diêu Trì Kim Mẫu là một, không phải là hai, thực chất không có sự phân biệt Phật - Đạo, cũng không có ai cao ai thấp, cũng giống nhau không tăng không giảm.
Có phân biệt là do chúng sinh chủ quan phân biệt và lầm tưởng, thực sự mà nói, các pháp thực tế, chân như tam muội, tất cả công đức đều bình đẳng.
(Trong giới hiện tượng có sự sai biệt; trong giới chân thực, toàn bộ đều bình đẳng như một.)
Nên mới nói:
Tất cả công đức bình đẳng vô nhị, chỉ vì nhân duyên độ chúng sinh khác nhau mới sinh tâm phân biệt.

🌟

Tôi xin kể về việc Diêu Trì Kim Mẫu độ chúng sinh, dùng pháp thế tục để minh chứng. Đây cũng là một trong vạn vạn pháp môn:

Căn bản Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật từ bi minh giám. 

Con là đệ tử Liên Hoa Dục Phong, hiện nay 32 tuổi (tuổi Dậu), sống tại quận Bắc Đồn, thành phố Đài Trung (địa chỉ xin được lược bỏ), hiện đang làm giám đốc kinh doanh tại công ty bảo hiểm nhân thọ Allianz của Đức. Năm nay do chương trình thưởng thi đua của công ty, ban đầu dự định đi Hawaii, nhưng đột nhiên vì một lý do nào đó đã thay đổi thành chuyến du lịch miền Tây Hoa Kỳ, may mắn được đến tận Seattle, mà công ty sắp xếp ở Seattle chỉ có hai ngày. Mọi thứ quả là trùng hợp đến kỳ lạ, đúng ngày nhận phòng là ngày 13 tháng 4 (thứ Bảy), đúng vào ngày đồng tu tại Seattle Lôi Tạng Tự, nên con đã nắm bắt cơ hội, vượt mọi khó khăn để đến chính chùa tổ hành hương.

Vừa bước vào chùa tổ chiêm bái, bất ngờ được Mẫu Nương linh thị, muốn đệ tử thỉnh kim thân Mẫu Nương về Đài Loan phát huy, nên con đã nghênh thỉnh kim thân và hương hỏa về Đài Loan. Sau khi an vị lên đàn thành thờ cúng, một hôm đệ tử đến Từ Huệ Đường ở Gia Nghĩa chiêm bái, một vị sư cô làm việc cho Mẫu Nương nhìn thấy con, biết được con vừa đi du lịch với công ty về, liền trợn tròn mắt nhìn con bằng ánh mắt nghi hoặc và nói: "Kỳ lạ! Chẳng phải là anh tham gia chuyến du lịch Mỹ của công ty sao? Lẽ ra phải đi chơi mới đúng, sao lại từ Mỹ lĩnh về một chỉ lệnh, kim quang rực rỡ hào quang vạn trượng, chẳng lẽ ở Mỹ cũng có miếu thờ ư? Mà còn thờ cúng nhiều vị Thần Phật mà ở Đài Loan khó thấy được nữa." Rồi con mới kể cho sư cô nghe về việc đến Seattle Lôi Tạng Tự, Mẫu Nương chỉ thị thỉnh kim thân về Đài Loan, còn sư cô nói chỉ lệnh này theo kim thân Mẫu Nương về để phát huy độ chúng, bảo đệ tử phải dẫn dắt chúng sinh tu trì độ chúng sinh thật tốt.

Trước khi đi Mỹ, con từng đến Từ Huệ Đường chiêm bái, lúc đó sư cô đang thu kinh, giải đáp thắc mắc cho tín đồ khác, sau đó Mẫu Nương đột nhiên giáng đồng lên thân sư cô, nói với mọi người là cần tìm "Phong Tử Phong Tử". Người bên cạnh tưởng Mẫu Nương cần quạt điện, ai ngờ Mẫu Nương nhập đồng đi về phía con, nắm lấy tay con, bước đến giữa đại điện, dặn dò rằng phải truyền thừa pháp môn đã tu học, và khích lệ dẫn dắt đại chúng đồng tu, độ hết thảy long tử phụng nhi của Mẫu Nương xung quanh trở về trời, không nên để họ mông lung mịt mờ khổ đau không có ngày giải thoát.

Kể từ khi Mẫu Nương được an vị lên đàn thành, có đồng nghiệp đến thăm nhà nhưng đều chưa từng thắp hương lễ bái. Đến vài lần sau, chị gái của đồng nghiệp mơ thấy anh ta ba lần đi qua cửa miếu mà không vào, sắp bị Hộ pháp thần trừng phạt, liền vội nhắc đồng nghiệp nghĩ lại xem đã đến miếu nào, nhưng đồng nghiệp nói không đi đâu cả, chỉ đến nhà con thôi. Con bảo anh ta hãy đến thắp hương với Mẫu Nương, ai ngờ sau khi thắp hương xong, thỉnh thị xin keo với Mẫu Nương, liên tục được chén thánh, khiến mọi người xung quanh không khỏi khen ngợi về sự linh ứng của Mẫu Nương và chư Phật Bồ Tát.

Đệ tử tự quy y đã được mười tám năm, trong thời gian đó từng vào Đạo môn học tu và tấu chức dạy bùa, nhưng luôn lấy Chân Phật Mật Pháp, đầu đội Sư Phật làm truyền thừa căn bản. Và đệ tử có công việc khác, không phải lấy việc làm kê đồng để sinh sống, chỉ vì chư Phật Bồ Tát nhiều lần hiển hóa, dùng phương pháp thu kinh, phù pháp ngẫu nhiên v.v… để linh ứng độ chúng, nên đã độ nhiều người quy y học tu Chân Phật Mật Pháp, trong mơ được Sư Phật gia trì và khích lệ độ chúng, gần đây được chư Phật Bồ Tát thị hiện đặt tên cho đạo tràng là Ý Hóa Đường.

Việc này đệ tử thực sự đã do dự rất lâu, sự việc trọng đại, kính xin Căn bản Thượng sư ấn chứng, tất cả đều lấy lời dạy bảo của Sư Phật làm chỗ nương tựa.
1. Việc này có phải do Mẫu Nương tại chùa tổ Seattle Lôi Tạng Tự hiển hóa hay không?
2. Đệ tử có được phép lập đạo tràng làm việc độ chúng hay không? Tên đạo tràng có phải là "Ý Hóa Đường" hay không? Việc làm và lập chủ tôn thờ phụng có phải là Diêu Trì Kim Mẫu hay không?
3. Kính xin Sư Phật từ bi khai thị, nếu đệ tử mở đạo tràng độ chúng, phương hướng tương lai nên làm như thế nào?

Khấu thỉnh Sư Phật từ bi giải đáp thắc mắc, tất cả đều lấy lời dạy của Thánh Tôn làm nương tựa, kính cầu Sư Phật Phật thể an khang, trường thọ tự tại, vĩnh viễn chẳng nhập Niết-bàn.

Con hiện nay 32 tuổi, cả đời có rất nhiều câu chuyện và kỳ ngộ, trong đó có một việc rất trùng hợp được ghi lại trong văn tập của Sư Phật, cũng xin Sư Phật giám định, sau đây là câu chuyện cuộc gặp kỳ lạ với Chân Phật của mẹ đệ tử.

Cảm ơn Sư Phật từ bi cứu độ, văn tập số 223 của Sư Phật - "Cảm ứng vô thượng thù thắng", chương "Đại thần cũng quy y Lư Sư Tôn", năm đó người đến Lộc Cảng tìm Tam Thái Tử Na Tra hỏi việc chính là đệ tử và mẹ, và sau khi mẹ tu học Chân Phật Mật Pháp, đột nhiên nhớ lại từ mấy đời trước, con và mẹ, được Mẫu Nương tại thiên giới chỉ thị, dặn dò không được chìm đắm trong hồng trần trược thế, phải mau mau trở về Diêu Trì.

Mẹ đệ tử vào năm 30 tuổi từng gặp một thanh niên đặt quầy bói toán bên đường ở Vụ Phong, lúc đó mẹ là người theo thuyết vô thần, không tin những chuyện quỷ thần, thấy bói toán liền đến thử xem thật hay giả. Mẹ hỏi: "Kiếp này tôi có phát tài không?" Người thanh niên tính toán rồi nói: "Phát tài thì không có, nghiêm trọng hơn là mười năm nữa, bà sẽ gặp đại kiếp sinh tử, người bình thường không thể thoát qua được, nhưng... kỳ lạ thay, bà có quý nhân sẽ giúp đỡ." Mẹ hỏi: "Có được cứu không? Quý nhân phương nào?"

Thanh niên nói: "Thiên cơ không thể tiết lộ." Cuối cùng dưới sự ép hỏi của mẹ, thanh niên trả lời: "Không ở Vụ Phong, mà ở bên cạnh Vụ Phong." Mẹ liền đoán là Đại Lý, Thái Bình, Ô Nhật, Phân Viên. Kết quả đều không phải, thanh niên trả lời: "Chỗ mà bà chưa đoán đến, chính là chỗ đó." (Chính là chưa đoán đến Thảo Đồn ở ngay cạnh.). Rồi thanh niên bói toán nói: "Quý nhân này, người đó không phải là người, bà xem người đó là người, thực ra người đó đã siêu phàm nhập thánh từ lâu, đến lúc tự sẽ xuất hiện, nửa đời sau của bà sẽ thay đổi vì người đó."

Lúc đó mẹ cho rằng người thanh niên bói toán nói lung tung, liền rời khỏi quầy bói toán. Sau đó nhớ lại, người thanh niên này mặt hồng hào dung mạo đường đường, không giống dung mạo người bình thường. Nói cũng kỳ lạ, từ ngày đó mẹ chưa từng gặp lại người thanh niên đặt quầy đó, cũng không tìm thấy người này.

Mẹ trải qua hơn 10 năm sau mới gặp Tam Thái Tử, rồi quy y Căn bản Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật, mới nhớ lại cuộc gặp kỳ lạ hơn 10 năm trước, hóa ra quý nhân chính ở Thảo Đồn!

Còn mẹ vào tháng 3 năm Dân Quốc 100 [tức năm 2011], bác sĩ chẩn đoán ra bệnh ung thư giai đoạn nặng, lúc đó bác sĩ nói nếu không điều trị sẽ nguy hiểm đến tính mạng, nên đã lập tức phẫu thuật và hóa trị, cơ thể yếu đến mức không còn sức để đi lại. Mẹ không có một niềm tin kiên định nào, ban đêm ngủ đều nhìn thấy oan gia trái chủ, sợ hãi đến mức đi khắp nơi cầu thần hỏi quẻ, hỏi Vương Gia Công, hỏi đồng cốt, cuối cùng hỏi đến Tam Thái Tử ở Lộc Cảng. Lúc đó Thái Tử Gia giáng đàn nói thẳng, sao các người lại đến đây tìm ta, bà nên đến Lôi Tạng Tự tìm Sư Tôn, bà có duyên với sư phụ của ta là Liên Sinh Hoạt Phật, các người nên đi tìm Ngài.

Lúc đó mẹ khóc nói: "Không thể chỉ tìm Thái Tử Gia được sao? Con không quen biết Sư Tôn." Thái Tử Gia liền nói: "Ngay cả ta cũng quy y Liên Sinh Hoạt Phật, Ngài là Phật đương thời, bà không tìm Ngài thì tìm ai? Ta dạy bà niệm tâm chú của Ngài, Om guru liansheng siddhi hum, bà chỉ cần về niệm thật tốt, rồi đến Lôi Tạng Tự cầu Sư Tôn gia trì, đây chính là cách duy nhất."

Lúc đó mẹ lần đầu tiên tham dự pháp hội, cũng đăng ký chủ cầu, khi cung kính dâng khăn khata lên Sư Tôn cũng đã trình đơn hỏi việc cầu gia trì lên Sư Tôn.

Một ngày nọ sau khi pháp hội kết thúc, đang ngồi trên ghế trong nhà, mẹ đột nhiên nghe trong tai vang lên tâm chú của Thượng sư vô cùng chấn động, trước mắt hiện ra một vùng ánh sáng, nhìn thấy Sư Tôn ngồi ngay ngắn trên đài sen, thân mặc áo bào Pháp Vương, đầu đội mũ Ngũ Phật, toàn thân phóng ánh sáng ngũ sắc, trên tay kết các loại thủ ấn không ngừng phóng quang gia trì mãi mãi, đây không phải trong giấc mơ, mà đang thật sự xảy ra trước mắt. Lúc đó mẹ khóc nức nở, nghĩ sao không phải là Bồ Tát, không phải là Chúa Jesus, lại chính là Liên Sinh Hoạt Phật mà cả đời này chưa từng quen biết, nên đã kể sự cảm ứng chân thật này cho tất cả những người thân xung quanh, phép gia trì của Liên Sinh Hoạt Phật là chân thật không giả dối.

Sau hai tuần, chúng con nhận được thư trả lời từ Chân Phật Mật Uyển, trên đó Sư Tôn đích thân cầm bút phê, ngày gia trì là 12 tháng 4, chính là cùng ngày mẹ nhìn thấy Sư Tôn gia trì. Mọi người đều vô cùng kinh ngạc, sau đó việc điều trị đều rất thuận lợi, cũng thấy trong văn tập của Sư Phật sau này có viết về kinh nghiệm chuyện này. Sự việc đã qua hơn 10 năm đến nay, sức khỏe của mẹ còn tốt hơn trước, tất cả đều phải cảm ơn sự gia trì của Sư Phật.


### 18. Hỏi: Văn thỉnh cầu trong tu pháp có quan trọng không?


Lư Sư Tôn đáp:
"Quan trọng! Quan trọng! Quan trọng!"
Văn thỉnh cầu chính là bao gồm khởi thỉnh và cầu nguyện.
Khi hành giả muốn tụng "Kinh Kim Cang", ngay lập tức có một câu quan trọng, được viết ở phía trước: "Nếu có người thọ trì "Kinh Kim Cang", trước tiên phải chí tâm niệm chân ngôn tịnh khẩu tịnh thân nghiệp. Sau đó khởi thỉnh danh hiệu tám Kim Cang bốn Bồ Tát, nơi nào có mặt thường được ủng hộ."
Vì vậy, trước khi tu pháp, chúng ta nên niệm Văn thỉnh cầu trước.

Tôi lấy ví dụ:
Văn phát nguyện hoặc kệ tán thán mà chúng ta thường niệm, cũng tương đương như văn thỉnh cầu. Khi muốn niệm "Phổ Môn Phẩm", niệm:
"Kính lễ tam giới tôn, quy mệnh thập phương Phật, con nay phát hoằng nguyện, trì tụng Phổ Môn Phẩm, trên báo bốn ơn nặng, dưới cứu ba đường khổ, nếu có kẻ thấy nghe, đều phát tâm bồ đề."

Tôi thích nhất bài kệ gõ chuông, trước hết xướng:
*Tiếng chuông ngân nở đóa sen thiêng,
Pháp giới lặng nghe khắp mọi miền.
Âm sắc tẩy trần, lòng thanh tịnh,
Chúng sinh đồng ngộ ánh chân nguyên.*

Hành giả muốn niệm chú Lăng Nghiêm, phải thỉnh cầu trước: 
"Nam Mô Lăng Nghiêm Hội Thượng Phật Bồ Tát.
Diệu tính nhiệm màu bất động tôn
Lăng Nghiêm tối thượng đời hiếm có.
Tan muôn ức kiếp si mê tưởng,
Chẳng trải tăng kỳ chứng Pháp thân.
Nguyện con đắc quả thành Bảo Vương
Độ khắp quần mê như cát bụi.
Một lòng dâng trọn mảnh tâm sâu,
Đền đáp ân Phật khắp muôn châu.
Cúi xin Thế Tôn soi chứng giám,
Năm trược đời đen, nguyện trước vào.
Nếu còn chúng sinh chưa thành Phật
Con chẳng cầu an nơi Niết-bàn.
Đại hùng, đại lực, đại bi nguyện,
Xin diệt vi tế hoặc trong tâm.
Cho sớm chứng lên vô thượng giác,
Đạo tràng ngồi khắp cõi mười phương.
Các tính hư vọng đều tan biến
Tâm kim cang ấy chẳng động lay.
(Lại khởi thỉnh.)
Nam mô thường trụ mười phương Phật. Nam mô thường trụ mười phương pháp. Nam mô thường trụ mười phương tăng. Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam mô Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm. Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát. Nam mô Kim Cương Tạng Bồ Tát.
(Cuối cùng mới tụng chú Lăng Nghiêm.)

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) mỗi tối trước khi ngủ, tôi nhất định phải cầu nguyện với Bổn tôn và Hộ pháp của mình trước. Sau cùng mới quán tu pháp miên quang [pháp ngủ trong ánh sáng].
Tôi niệm:
Vãng sinh tịnh thổ, siêu sinh xuất khổ, Nam Mô A Di Đà Phật. (Bổn tôn)
Khởi phát trí huệ, đắc đại pháp lực, Nam Mô Diêu Trì Kim Mẫu. (Bổn tôn)
Phát lời thề lớn, hộ trì Phật pháp, Nam Mô Địa Tạng Bồ Tát. (Bổn tôn)
Nam Mô ba mươi sáu vạn tỷ mười một vạn chín nghìn năm trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật.
Nam Mô Hộ pháp Thời Luân Kim Cang, Nam Mô Hộ pháp Đại Uy Đức Kim Cang. Nam Mô Hộ pháp Bất Động Minh Vương, Nam Mô Hộ pháp Đại Lực Kim Cang. Nam Mô Hộ pháp Hổ Đầu Kim Cang.

Tiếp theo tu:
Chiếc ô ánh sáng chiếu trọn thân tôi.
Ram -  lửa thiêu thân xác tôi thành tro.
Yam - gió thổi tro xá lợi của tôi vào hư không.
Kham -  biến mất chính mình. (vô ngã)
(Tam tự minh chú.)
Ánh sáng của tôi hòa nhập ánh sáng của hư không, ánh sáng nhỏ hòa nhập ánh sáng lớn, ánh sáng gặp gỡ ánh sáng.
Cuối cùng nhập vào giấc ngủ sâu.
…..

Tôi nói với mọi người:
Pháp miên quang của tôi là để luyện tập cho chính bản thân mình khi vãng sinh, cũng phải khởi thỉnh trước, trước tiên kết nối với Bổn tôn.
Bình thường tôi đã phải chuẩn bị sẵn cho vãng sinh, tránh khi thời khắc đến mà lúng túng bối rối. Thiện tai!

Xin nêu ra một lá thư, chứng minh tầm quan trọng của cầu nguyện.

Sư Tôn tôn kính nhất!

Hôm nay trực tiếp nộp bài tập cho Sư Tôn, vì hôm qua có vài câu chuyện nhỏ.

Thượng sư Liên Ngạn luôn rất quan tâm con, đêm qua cô ấy tặng con còi chống gấu, nhiều lần yêu cầu con hứa với cô ấy từ nay không được đi đến chỗ sinh cơ vào nửa đêm nữa, rất nguy hiểm, đừng để người khác lo lắng. (Cô ấy hy vọng con đi vào sáng sớm, an toàn hơn so với lúc trời tối.)

Ban đầu con nghĩ, tiêu rồi. Nhưng Phật Bồ Tát ở Sơn Trang nói với con và Liên Lịch rằng Ngài sẽ gia trì cho chúng con thành công trong chuyến đi. Vì vậy chúng con theo cách thức và thời gian mà Ngài chỉ dẫn, lén lút trốn khỏi Sơn Trang. (Con đã thất hứa với Thượng sư, trong lòng cứ vướng mắc, nhưng Liên Lịch cứ bảo con đừng nghĩ gì, đừng sợ.)

Dọc đường mưa phùn. Chúng con đến bãi cỏ trước mặt Sư Ma Bồ Tát, đặt xuống đồ cúng dường. Lần tu pháp này lấy linh cảm của Liên Lịch làm chủ đạo. Anh ấy trước khi khởi hành đã có linh cảm cần phải cầu nguyện truyền thừa Đại Thủ Ấn.

Anh ấy xướng tụng văn thỉnh cầu của Đại Thủ Ấn mà Sư Tôn viết trong văn tập số 51 "Vô Thượng Mật và Đại Thủ Ấn":

Dorje. Chang chen. Tilopa. Naropa. Marpa. Milarepa. Gampopa. Dusum Khyenpa. Karma pa. Düshi Chokyi. Jeupa. Zangmo. Tamche Dawa. Tsangpa Gyare. Drubpa Sewa. Sangye Ö. Gyalwa Lodrö. Gönpo. Rinpoche. Orgyenpa. Darma Wangchug. Gyalwa Yeshe. Lodrö. Khenchen. Lodrö. Ösel. Gongpa. Jangpa. Yönten. Gyaltsen. Lodrö. Muge. Gyaltso. Sonam. Jangchub. Ö. Lama. Lodrö. Zangpo. Langtö Dorje. Khenchen. Lodrö. Jampa. Gyalwa. Gön. Chökyi. Nyima. Lodrö. Tenzin. Gyatso. Khenchen. Lodrö. Lhamo Tso. Öser. Chökyi. Nyima. Jampa. Gyaltsen. Norbu. Chödrak. Gyalwa. Palsang. Khenchen. Lodrö.

Bản tiếng Trung là: 

Kim Cương Tổng Trì, Tilopa Naropa,
Marpa, Milarepa, Pháp vương Gampopa,
Tổ Karmapa - bậc biết khắp ba thời,
Bốn đại tám tiểu, những bậc thừa truyền,
Từ Takpo Kagyu, Drukpa cùng các nhánh
Đều chứng sâu đạo tối thắng Đại Thủ Ấn.
Dòng truyền thừa Takpo Kagyu
Có năng lực vô song trong việc lợi sinh.
Con chí tâm khẩn cầu các Thượng sư
Xin ban khẩu truyền và truyền thừa gia trì.
Dạy rằng hãy lìa xa tham dục,
An trụ trong ấn lớn của tự tính tâm.
Với của cải, vật thực, chẳng khởi niệm ràng buộc,
Buông bỏ lưới tham đời, tu hành chân chính.
Cầu thầy gia trì cho tâm không nhiễm trước lợi danh.
Dạy rằng giữ chí kiên cố, tinh tấn tu thân ấn lớn,
Tùy duyên hiện tướng, thấu rõ tính như như,
An trụ trong pháp tự nhiên không sửa.
Cầu gia trì khiến tâm thoát mọi vọng tưởng ly tâm.
Dạy rằng vọng niệm vốn chính là Pháp thân,
Các hiện tưởng tuy hư mà hiển nhiên xuất hiện.
Hiểu rõ huyễn hữu chẳng hoại - ấy là thắng pháp,
Chứng biết luân hồi và Niết-bàn vốn chẳng hai.
Con chí thành cầu nguyện các tổ sư gia trì.

(Cả bản tiếng Trung và tiếng Tây Tạng đều xuất từ văn tập của Sư Tôn.)
(Đây là văn cầu nguyện truyền thừa, tất cả các tổ sư Đại Thủ Ấn đều được bao hàm trong đó.)

Khi anh ấy xướng tụng, chúng con đồng thời cảm nhận được một từ trường khổng lồ, khác với linh khí của Không Hành Mẫu và linh khí ấm áp của truyền thừa Đại Viên Mãn, đối với con mà nói, cảm giác đó vừa mộc mạc, vừa vắng lặng lại vừa tĩnh mịch.

Sau đó, trên bầu trời phía trước Sư Ma Bồ Tát, bầu trời chợt sáng lên một tia chớp, đồng thời một trận gió thổi qua, mưa trở nên to hơn. Tiếp theo con thấy mandala của Kim Cương Tổng Trì. (Linh giác của con vẫn chưa nhìn rõ lắm, nhưng trực giác biết được hình ảnh như vậy.) Đó là một mandala lớn hình tròn, trung tâm là Kim Cương Tổng Trì màu xanh thẫm, xung quanh bao vây bởi các tổ sư yogi mặc áo trắng, vòng ngoài cùng là các Không Hành Mẫu hoan hỷ. Nền của mandala là những ánh sao lấp lánh.
Các Ngài nói với con:
- Trong quá khứ, con và truyền thừa Đại Thủ Ấn chưa có sự kết nối sâu sắc, từ hôm nay, sự kết nối giữa con và các Ngài sẽ được mở ra.
- Đại pháp tiêu tai mà các Ngài ban cho con, điểm then chốt chính là ở chữ "xả".
- Nếu tên Tsochö Gyatso của Liên Lịch có ý nghĩa là Pháp Hải thì con chính là ánh trăng sáng trên biển soi đường chỉ lối cho anh ấy.

Liên Lịch thì cảm ứng thấy Kim Cương Tổng Trì cùng dòng pháp khổng lồ trên không trung. Anh ấy trong lúc tu pháp tự động làm ra thủ ấn Kim Cương Tổng Trì.

Sau khi anh ấy xướng xong văn thỉnh cầu truyền thừa, anh ấy nhờ con dùng ngôn ngữ Không Hành Mẫu giúp anh ấy niệm đoạn này, truyền đạt đến các Không Hành Mẫu:
*Cầu nguyện Không Hành Mẫu hộ trì
Tại tịnh độ liên hoa này
Thành tựu thánh cảnh địa siddhi.
Ta, Điều Phục Trì Minh Pháp Vương Hải (Dradul Rigdzin Chokyi Gyatso)
Cũng hiệu là Thích Liên Lịch
Khẩn cầu Không Hành Không Hành Mẫu tịch tĩnh phẫn nộ các phương
Cùng với chiến thần (dralas), hộ pháp long thần
Khẩn cầu giáng lâm ban hộ trì
Nguyện chính pháp được bảo tồn mãi mãi
Mau chóng ban xuống các siddhi
Viên mãn như ý đại nguyện Liên Sinh Hoạt Phật.*

Sau khi con xướng xong bằng ngôn ngữ Không Hành Mẫu, trong lòng con hiểu rằng con cũng sẽ hộ trì anh ấy. Sau đó, chúng con cúng dường cúng phẩm (bao gồm năm loại thịt năm cam lộ của nội cúng dường) cho Kim Cương Tổng Trì cùng quyến thuộc, địa thần chúng, khẩn cầu thành tựu siddhi vô thượng.

Sau khi cúng dường xong, Liên Lịch niệm bài văn hồi hướng do chính anh ấy viết:
*Kính lễ hóa thân của chư Phật ba đời - Liên Sinh Hoạt Phật Đại Liên Hoa Đồng Tử kim cương quang minh vô cấu.
Kính lễ mẹ của tất cả chúng sinh hữu tình - Chủ Côn Lôn vô nhân cảnh Nguyên Thủy Ngọc Trì Kim Mẫu Đại Sĩ.
Kính lễ truyền thừa Chân Phật Tông.
Kính lễ truyền thừa tu hành Đại Thủ Ấn.
Kính lễ yogi mật chú Kim Cương thù thắng Dorje Drakpa.
Kính lễ hội chúng bí mật của Thiên Tôn, Không Hành Mẫu và các Hộ Pháp.
Ta, Đức Đạt Khenpo Tsochö Gyatso, trước hội chúng vĩ đại này, thề nguyện tiêu trừ tất cả chướng ngại ngoại, nội, mật.
Nguyện ta, Đức Đạt Khenpo Tsochö Gyatso, có thể trì giữ truyền thừa Chân Phật Tông, hộ trì Mật pháp Chân Phật Tông.
Quan kiến thù thắng Kim Cang Bố Úy Tôn, thắng hơn tất cả kẻ địch ngoại, nội, mật.
Nguyện ta, Đức Đạt Khenpo Tsochö Gyatso, chứng đắc thù thắng Kim Cang Danh Dự thành tựu, như Lodrö Dorje Drakpa thành tựu. Hây hây sô sô!*

Sau khi làm xong những việc này, chúng con dọn dẹp xong việc. (Vì sợ bị phát hiện nên phải khẩn trương.) Sau khi dọn dẹp xong, những đám mây trên bầu trời bất ngờ tản ra hai bên, lộ ra một khoảng trời đêm trong vắt hình tròn, ánh sao lấp lánh, giống hệt với mandala Kim Cương Tổng Trì mà tôi đã thấy!

Sau khi về lại Sơn Trang, chúng con đem nửa còn lại của cúng phẩm đến điện Kim Cang Minh Vương cúng dường cho hộ pháp địa thần, tri ân các Ngài đã giúp đỡ.

Chúng con phát hiện ra rằng, dòng pháp vẫn tiếp tục tồn tại. Cả con và anh ấy đều chưa từng nhận được quán đảnh Kim Cương Tổng Trì của Sư Tôn, nhưng sau khi con trở về, con phát hiện rằng chỉ cần kết thủ ấn Kim Cương Tổng Trì, dòng pháp của Ngài liền đến ngay lập tức. Hơn nữa, khi con xướng niệm bài văn thỉnh cầu Đại Thủ Ấn ở trên, con cũng đã có cảm ứng.

Chúng con thử thêm vào việc niệm Karmapa Khyenno, nhưng không có cảm nhận gì. Lý thuyết mà chúng con suy luận ra là: Mandala Kim Cương Tổng Trì mà chúng con đã thấy không liên quan gì đến truyền thừa Bạch giáo hiện thời, mà là truyền thừa hư không bí mật.

Con nhận được những thông điệp sau tại điện Kim Cang Minh Vương:
- Trong truyền thừa Đại Viên Mãn, Không Hành Mẫu là "hiển hiện"; cũng như người vợ.
- Trong truyền thừa Đại Thủ Ấn, Không Hành Mẫu là "ẩn tàng"; các Ngài là hư không, cũng là người mẹ sinh ra tất cả chư Phật Bồ Tát.
- Con phải học hỏi trong truyền thừa của các Ngài, trở thành người mẹ của chúng sinh, của các đệ tử. Vì là hư không mới có thể bao dung tất cả, trở thành người mẹ của vạn hữu.
- Tu pháp xả thân của con đến trình độ cao nhất, hòa tan tâm của con vào tâm chúng sinh, chuyển thức thành trí, thì mới có thể tiêu tai.

Liên Lịch nhận được thông điệp từ Đại Uy Đức Kim Cang truyền cho anh ấy: Anh chính là ta, ta chính là anh, anh có tướng bên ngoài của ta, và trong thân thể anh có mandala Kim Cương Tổng Trì. Tuy nhiên, nếu anh muốn phát huy sức mạnh của mandala thì phải tu khí mạch minh điểm. Vì vậy, anh phải lập tức đi cầu quán đảnh Đại Uy Đức Kim Cang nhị quán.

Trên đây là nộp bài báo cáo tâm đắc, một lần nữa xin tri ân Sư Tôn vô cùng kính ái nhất!

Hàm Dữ và Liên Lịch đảnh lễ.
Ngày 27 tháng 10 năm 2024.

🌟

Bài văn thỉnh cầu Liên Hoa Sinh Đại Sĩ do chính Lư Sư Tôn viết như sau:

Tôi (Lư Sư Tôn) hướng đến Liên Sư thỉnh cầu và kính lễ:
Kính lễ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ khắp pháp giới.
Kính lễ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ trang nghiêm vô song.
Kính lễ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ pháp lực vô lượng.
Ngài biết rõ,
Tôi biết rõ,
Chư Phật biết rõ,
Ngài là Thượng Chủ hoàn mỹ, là hỷ lạc viên mãn, là hóa hiện cứu độ chúng sinh.
Ngài từ bản sơ đi tới vô lượng vị lai.
Ngài tượng trưng Đại Viên Mãn, Đại Thủ Ấn, Đại Uy Đức, Đại Thắng Huệ.
Ngài là trọn vẹn trí huệ, là vô thượng.
Ngài có thể tiêu trừ nghiệp chướng thân, khẩu, ý của chúng sinh.
Ngài chém đứt phiền não chấp trước của chúng sinh.

Tôi (Lư Sư Tôn) ca ngợi Liên Hoa Sinh Đại Sĩ vĩ đại lợi sinh.
Tôi nguyện đến nơi siddhi của Ngài.
Tôi nguyện y giáo phụng hành.
Xin ban cho tôi đại lực hoằng giáo độ chúng sinh.
Xin gia trì cho tôi chứng được quả vị viên mãn.
Om ah hum benza guru padma siddhi hum seh. 


### 19. Hỏi: "Vô trí cũng vô đắc" là cái gì?


Lư Sư Tôn đáp:
Có một đệ tử thích đọc "Kinh Tâm", mỗi lần đọc đến câu "vô trí cũng vô đắc" thì đều thấy mơ hồ.
Về "vô sở đắc", vị này hiểu rõ, bởi chúng sinh ở thế giới Ta Bà đều tay không mà đến, tay không mà đi, không ai có thể đạt được gì cả, cho nên hiểu được điều này.

Nhưng, thế nào là "vô trí"? 

Vị đó đến hỏi tôi. Tôi đáp như sau:
Trí huệ chia làm ba loại:
1. Căn bản trí.
2. Phân biệt trí.
3. Nhất thiết chủng trí.

Ngoài ra, Pháp Tướng Tông lập ra "Như Lai có bốn trí": Đại viên cảnh trí, Bình đẳng tính trí, Diệu quan sát trí, Thành sở tác trí.
(Có cách nói năm trí là thêm vào Pháp giới thể tính trí.)
Còn có chia nhỏ hơn nữa thành tám trí, mười trí, mười một trí, hai mươi trí, bảy mươi bảy trí.

Tôi cũng từng nói:
"Muốn thành tựu Phật quả, cần có hai cánh. Một là trí huệ, một là thiền định."
Nhưng, tôi (Lư Sư Tôn) vẫn phải nói với bạn rằng, khi "Kinh Kim Cang" đề cập đến "pháp còn nên bỏ, huống hồ không phải pháp".

Lại nữa: "Ví như chiếc bè".
Điều này có nghĩa là, khi bạn đã đi chiếc thuyền trí huệ đến bờ bên kia rồi, bạn còn cần chiếc thuyền này nữa không?
Cũng tức là sau khi đã thành tựu Vô thượng chính đẳng chính giác, trí huệ là thuyền, là công cụ, là có thể xả bỏ. Người viên mãn tất cả trí huệ, cũng giống như người không có trí huệ, là như nhau.

Tục ngữ của chúng ta có câu "đại trí như ngu", chính là câu này vậy.
Căn bản trí chính là chân không trí.
"Không" "Vô" là trí huệ vô thượng.
Nhưng, không phải là ngốc nghếch!
Người thực sự từng phút từng giây đều ở trong thiền định thì không biết đến thiền định, đó là "vô thiền".
Người thực sự có trí huệ như biển cả, vô tận, chính là "vô trí".
Thiền định cao nhất là "vô thiền".
Trí huệ cao nhất là "vô trí".
Nếu bạn còn hỏi tiếp, tôi sẽ trả lời:
"Không thể nói!"
(Người huyễn hỏi người huyễn vẫn là huyễn.)

Tất cả đều là vô sở đắc, trí huệ cũng nằm trong đó. Tất cả của tất cả, toàn bộ đều ở trong đó.

Tôi lại có một ví dụ:
Có người hỏi tôi, Lư Sư Tôn đến Phật quốc tịnh thổ rồi, còn phải giữ năm giới không?
Câu trả lời của tôi là:
"Không cần giữ giới!"
Tại sao không cần giữ năm giới?
Bởi vì căn bản không có sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu.
1. Phật quốc tịnh thổ không có ba đường ác, không có đường súc sinh, căn bản không có hành vi sát sinh.
2. Phật quốc tịnh thổ khắp nơi đều là vàng, bảy báu, căn bản không có hành vi trộm cắp.
3. Phật quốc tịnh thổ không có tính nam nữ, chỉ có duy nhất Phật tính, căn bản không có chuyện tà dâm.
4. Phật quốc tịnh thổ người người thanh tịnh, thân khẩu ý thanh tịnh, không có chuyện khẩu nghiệp.
5. Phật quốc tịnh thổ ẩm thực tự hóa, toàn là cam lộ, căn bản không có hành vi uống rượu.

Như vậy, căn bản không cần giữ năm giới, cũng không lo phạm giới, cũng không cần giữ mình thanh tịnh, bởi vì vốn dĩ đã thanh tịnh. Hai chữ "thanh tịnh" căn bản không tồn tại.

Phật quốc tịnh thổ toàn là người thiện. Do đó, có thể chứng biết: Khi đến lúc trí huệ viên mãn, hai chữ "trí huệ" có thể không cần dùng đến.
Bởi vì "pháp nhĩ bản nhiên". [pháp vốn là như thế]
Ví dụ:
Như Lai.
Vô thượng chính đẳng chính giác.
Phật Đà.
Ba danh từ này rộng lớn và vô cùng vô tận, không thể diễn tả hết, không thể giới hạn, quá khứ, hiện tại, tương lai cũng không thể nói hết, hoàn toàn hoàn toàn là bất khả tư nghì, tất cả tất cả là bình đẳng tam muội.

Tôi viết hai bài thơ kệ:

Lão tăng tám mươi dạn sương giói
Không nói chuyện phiếm cũng chẳng buồn
Viết mấy dòng văn bàn lý Phật
Chỉ vì tự tại học tiêu dao.

🌟

Tùy ta mà dậy sớm
Tùy ta ngắm bình minh
Thế gian sự vật cũ
Một ngày lại một ngày
Dù cho không lời nói
Tự đã rõ trong lòng
Ha!


### 20. Hỏi: Hư không lớn chừng nào?


Lư Sư Tôn đáp:
Người hỏi nghe tôi thuyết pháp, nói rằng tôi có thể "dung nhập hư không", nên có câu hỏi này.
Câu trả lời của tôi là:
"Lớn mà không có bên ngoài, nhỏ mà không có bên trong, không rời khỏi tấc đất."
Có người nói:
"Ba nghìn đại thiên thế giới."
Người khác lại nói:
"Số cát sông Hằng."
Nhà khoa học nói:
"Một trăm hệ mặt trời."
Còn có người nói:
"Không thể đo lường, không thể khảo sát, không có biên giới, ẩn giấu vô tận."
Người học Phật nói:
"Không thể nói."

Có một người đọc "Kinh Duy Ma Cật" nói rằng:
"Căn phòng một trượng vuông của Duy Ma Cật Đại Sĩ, dù có nhiều đồ đạc đến đâu, đều có thể chứa được, căn phòng một trượng vuông của Duy Ma Cật bằng với hư không."
Có người nói:
"Không và vô."
Lại có người nói:
"Anh hỏi tôi, tôi hỏi ai?"
Lại nói:
"Thượng Đế biết."
Lại nói:
"Phật Đà biết."
Lại nói:
"Allah biết."

Tôi (Lư Sư Tôn) cuối cùng nói với người hỏi: "Vô niệm".
Người kia hỏi lại: "Vô niệm lớn chừng nào?"
Tôi đáp: "Vô niệm không có lớn nhỏ!"

🌟

Từ quan điểm tôn giáo nhìn nhận hư không:
Đạo giáo nói: "Thiên viên địa phương." [trời tròn đất vuông]
Lại có truyền thuyết Nữ Oa luyện đá vá trời, trời bị vỡ một mảng: vì thế có thuyết "Nữ Oa vá trời".
"Thánh Kinh" ghi chép:
"Sáng Thế Ký" câu đầu tiên: "Thủa ban đầu, Thượng Đế tạo dựng trời đất."(Khởi đầu của thuyết sáng tạo, khác với thuyết tiến hóa.)
Phật giáo ("Nguyên Nhân Luận"):
"Con người từ Quang Âm Thiên đến, Quang Âm Thiên là tầng trời cao nhất của Nhị thiền."
Lại có Tam thiền thiên, Tứ thiền thiên.
Quan niệm vũ trụ hư không của Phật Thích Ca Mâu Ni là vĩ đại nhất, vô biên nhất.

Ví dụ, "Kinh A Di Đà" ghi chép: "Phật bảo trưởng lão Xá Lợi Phất: Từ đây về phương Tây, qua mười vạn ức cõi Phật, có thế giới tên là Cực Lạc."
Tức là hướng về phương Tây, trải qua mười vạn ức Phật quốc tịnh thổ, mới đến được thế giới Cực Lạc. (Mười vạn ức cõi Phật, căn bản không thể tưởng tượng được.)

Ngoài ra, "Kinh Duy Ma Cật" ghi chép: "Duy Ma Cật liền nhập tam muội, dùng thần thông lực, chỉ cho đại chúng thấy, theo phương phía trên, qua bốn mươi hai hằng hà sa cõi Phật, có quốc độ tên là Chúng Hương, Phật hiệu là Hương Tích." Tức là thế giới phía trên, trải qua bốn mươi hai hằng hà sa cõi Phật, có một Phật quốc Chúng Hương. (Trời ơi! Bốn mươi hai sông Hằng, vô tận các cõi Phật như cát sông Hằng, mới đến được Phật quốc Chúng Hương.) Đây cũng là hư không vô hạn rồi! (Đây chính là hư không vô tận)

Nhưng hư không vô lượng, muốn đến những cõi Phật này, một niệm có thể đến.
Thế giới Tây phương Cực Lạc:
1. Phải có thiện căn.
2. Nhất tâm bất loạn niệm Phật. (Không rời khỏi tấc đất.)

Phật quốc Hương Tích Như Lai:
Cư sĩ Duy Ma Cật, hóa hiện ra một vị Bồ Tát hóa thân tướng đẹp chói sáng, bay lên phương trên, chỉ trong một sát-na đã đến được Phật quốc Chúng Hương". Cũng chỉ trong khoảng một ý nghĩ.

Vì vậy tôi (Lư Sư Tôn) nói, hư không tuy rằng rộng lớn vô biên, nhưng, không rời khỏi tấc đất (tâm).

🌟

Lư Sư Tôn viết thơ kệ:

Duy tâm duy thức ai thấu rõ
Vô niệm hư không chân pháp chỉ
Nhậm vận tự tại trong tam muội
Lão tăng tám mươi hóa hữu vô.

🌟

Một bát cơm nghìn nhà
Gió cát đi vạn dặm
Trong lòng không một vật
Một đóa bạch liên hoa.

🌟

Đông Nam Tây Bắc đều là nhà
Có thể tùy lúc đến cõi Phật
Giơ tay che khắp hư không giới
Nhấc chân đã đến nơi chân trời.

🌟

Viết thơ không câu chữ
Hát tụng không đàn dây
Nếu hiểu được đến đây
Chỉ còn một tâm linh.


### 21. Hỏi: Pháp đệ nhất phú hào có phải là Phật pháp không?


Lư Sư Tôn đáp:
"Tất cả đều là Phật pháp, vì vậy, pháp đệ nhất phú hào là Phật pháp."
Tôi từng truyền thụ pháp Thánh Quan Âm đệ nhất phú hào, bị người ta phê bình: "Đây không phải là Phật pháp."
Tôi nói: "Là Phật pháp!"
Người kia nói: "Không phải Phật pháp!"
Ai mới đúng?

Tôi (Lư Sư Tôn) trả lời như sau:
Phật Thích Ca Mâu Ni nói, thiện nam tử, pháp môn giải thoát "hữu tận vô tận", các ngươi nên học.
Hữu tận là gì? Chính là pháp thế gian.
Vô tận là gì? Chính là pháp xuất thế gian.
Trước là pháp hữu vi.
Sau là pháp vô vi.

Phật Thích Ca Mâu Ni cho rằng:
Bồ Tát không đoạn trừ cõi duyên khởi hữu vi, cũng không trụ vào cõi pháp lý vô vi. Bồ Tát không rời đại từ đại bi, dùng "tứ nhiếp pháp" thường tùy thuận cơ duyên để lợi lạc chúng sinh.
Tứ nhiếp pháp là tùy theo căn cơ chúng sinh, cùng làm việc với chúng sinh, tùy thuận để độ hóa chúng sinh.
Chúng sinh yêu tiền.
(Trước dùng dục cầu để dẫn dắt, sau đó khiến họ vào Phật pháp.)
Bồ Tát độ chúng sinh, giống như phàm phu, nhưng Bồ Tát dùng nhất thiết trí, quán pháp tự nhiên, như thế mà giáo hóa chúng sinh.

Lại nữa:
Bồ Tát chỉ có pháp vô vi thì giống như:
Ngựa không cương.
Thuyền không lái.
Rất dễ rơi vào chấp không.
Đại Bồ Tát chân chính, trên cầu Phật pháp, dưới độ hóa chúng sinh, tâm thường an trú, tất cả công đức, tâm không bám chấp. Chỉ là tùy duyên phương tiện, hồi tự hướng tha, hồi sự hướng lý.

Vì vậy pháp đệ nhất phú hào là:
Pháp hữu vi.
Pháp duyên khởi.
Giác ngộ thế gian.
Pháp sinh tử.
Nhưng, cũng là Phật pháp, là một trong những pháp phương tiện tùy duyên để độ chúng sinh.
Như bốn đại pháp Thần Tài của Mật giáo v.v...

Tôi từng nói:
Thần Tài ở nhân gian là Sơn Thần Thổ Địa.
Thần Tài ở biển là Hải Long Vương.
Thần Tài trên trời là Tứ Thiên Vương.
Tôi thật sự muốn nói với mọi người rằng, những vị phú hào lớn nhất thực sự trong Phật giáo chính là chư Phật Bồ Tát.
Phật quốc tịnh thổ mà Phật Bồ Tát thiết lập, toàn bộ đều là những báu vật hiếm có trên đời.
Các Ngài mới chính là người giàu có số một thiên hạ.

Tôi lấy ví dụ để chứng minh:
Trong "Kinh A Di Đà" đã ghi chép rõ ràng:
Cõi Cực Lạc có bảy tầng lan can, bảy tầng lưới võng, bảy hàng cây đều do bốn báu bao quanh xung quanh.
Ao bảy báu có nước tám công đức, đáy ao hoàn toàn trải cát vàng.
Bậc thang, lối đi, đều do vàng, bạc, lưu ly, pha lê kết hợp mà thành.
Lầu gác trang hoàng bảy báu.
Trời có thiên nhạc.
Đất bằng vàng.
………….
Ngoài ra còn có mười sáu quán [mười sáu phép quán tưởng về thế giới Cực Lạc]. 
Điều này có thể chứng minh rằng Phật quốc tịnh thổ toàn bộ đều do các vị Phật Bồ Tát là những vị phú hào số một thiên hạ thiết lập ra.


### 22. Hỏi: Na Tra Tam Thái Tự cũng hộ trì Phật pháp sao?


Lư Sư Tôn đáp:
Tôi từng đọc sách Phong Thần Bảng.
Na Tra Tam Thái Tử xuất hiện trong sách Phong Thần Bảng, Phong Thần Bảng là tác phẩm của Đạo sĩ Lục Tây Tinh.
Lúc bấy giờ, Lý Tĩnh có ba con trai:
Thái tử Kim Tra bái Văn Thù Quảng Pháp Thiên Tôn làm thầy.
Con thứ hai Mộc Tra bái Phổ Hiền Chân Nhân làm thầy.
Con thứ ba Na Tra bái Thái Ất Chân Nhân làm thầy.
Na Tra Tam Thái Tử từ khi sinh ra cho đến khi trở thành Nguyên Soái, có rất nhiều diễn biến đầy kịch tính.
Ở Đài Loan, rất nhiều cung miếu thờ phụng Thái Tử Nguyên Soái, cũng có những ngôi miếu riêng thờ riêng các vị.
Uy linh hiển hách.

Tôi nhớ trong tín ngưỡng dân gian, Na Tra Tam Thái Tử cũng có văn khấn nguyện. Đại ý là: "Thiên linh linh, địa linh linh, Na Tra Tam Thái Tử giáng lâm!"
Lại niệm:
"Tay cầm Càn Khôn quyển, lại cầm thương Hỏa Tiêm thương, chân đạp Phong Hỏa luân."
Lại niệm:
"Lên núi bắt hổ dữ, xuống biển bắt giao long. Đến nhân gian cứu vạn dân, cấp cấp như luật lệnh."
…………

Trong Phong Thần Bảng, câu chuyện về Na Tra Tam Thái Tử rất hấp dẫn. Có một lần, hồn phách không nơi nương tựa, khóc lóc kể với sư phụ. Thái Ất Chân Nhân lấy rễ và lá hoa sen, dùng thần thuật khiến hồn phách nương vào hoa sen, từ đó Na Tra Tam Thái Tử biến thành "Liên Hoa Đồng Tử" ba đầu sáu tay.

Những câu chuyện này, giống như Liên Hoa Sinh Đại Sĩ tại Thi Đà Lâm, thu phục chủ nhân Thi Đà Lâm, biến hóa chủ nhân Thi Đà Lâm thành Phổ Ba Kim Cang. Từ đó, hộ trì Phật pháp.

Tôi (Lư Sư Tôn) khi mới học Đạo pháp đã có một đoạn nhân duyên với Na Tra Tam Thái Tử.
Tôi đã nhận một đệ tử. (họ Hoàng)
Na Tra Tam Thái Tử này đã nhập vào người đệ tử ấy,và nói chuyện với tôi về nhân duyên quả báo.
Ngài nói:
"Lư Sư Tôn, chúng ta có số phận giống nhau!"
Tôi vô cùng ngạc nhiên.
Ngài tiếp tục nói: "Ngài bị phụ thân ruồng bỏ, tôi cũng bị phụ thân ruồng bỏ."
Ngài lại nói:
"Lư Sư Tôn, Ngài là Liên Hoa Đồng Tử hóa thân, tôi cũng là hóa thân từ hoa sen."
Lại nói:
"Khi tôi sinh ra là một bọc thịt tròn, khi Ngài sinh ra thì có tơ trắng quấn quanh thân."
"Tôi đã trở thành Trung Đàn Nguyên Soái của Khương Tử Nha, còn tổ tiên của họ Lư của Ngài chính là Khương Tử Nha."
Tôi nghe xong.
Quả thật đúng như vậy.

Na Tra Tam Thái Tử đã trở thành Trung Đàn Nguyên Soái của năm doanh trại binh mã, uy phong tám mặt.
Tôi Lư Sư Tôn đã trở thành người sáng lập Phật giáo (Chân Phật Tông) độc nhất vô nhị.
Hỡi ôi! Đây là chuyện gì thế này?

Cuộc đời tôi này, vừa viết sách, vừa vẽ tranh, vừa tu pháp, vừa truyền pháp. Siêng năng nỗ lực như vậy, nếu không phải ba đầu sáu tay thì còn là gì nữa Viết đến tám mươi tuổi vẫn chưa viết xong, truyền pháp đến tám mươi tuổi cũng chưa nghỉ hưu.
Tôi còn hóa thân bên ngoài thân, biến hóa ra hàng nghìn vạn triệu Lư Sư Tôn. (Na Tra Tam Thái Tử còn đến quy y tôi.)


### 23. Phụ lục: Thư liên quan đến Na Tra Tam Thái Tử


Sư Tôn và Sư Mẫu thân yêu, Phật an!

Đệ tử Liên Hoa Khải Phú, bút danh Tiểu Đào Tử, là đệ tử đến từ Lộc Cảng mà trong buổi đồng tu tại Seattle vào tháng 5 năm nay, Sư Tôn đã chỉ ra rằng Tam Thái Tử đang hiện diện trên thân đệ tử. Tam Thái Tử kết duyên với đệ tử, tất cả đều bắt nguồn từ lúc Sư Tôn đích thân đến đàn thành nhà đệ tử gia trì và ban cho quán đảnh đại pháp Cửu tự chân ngôn. Nhờ được Sư Tôn chỉ dẫn ngọn đèn sáng, đệ tử mới không đến nỗi mê muội đánh mất bản thân.

Khi Na Tra Tam Thái Tử giáng xuống trên thân, vì đệ tử vốn luôn tu trì Chân Phật Mật Pháp nên rất chống đối, và cũng cho rằng Ngài là nhân vật hư cấu, cho đến khi Ngài nói với con: "Phong Thần Bảng, Tây Du Ký có thật có giả, vì mục đích tạo sức hấp dẫn kịch tính."

Ngài lại nói: "Ta không phải là nhân vật hư cấu, anh tin Phật thì hãy tìm trong Đại Tạng Kinh, có một quyển kinh tên là "Tỳ Sa Môn Thiên Vương Tùy Quân Hộ Pháp Nghi Quỹ", lại có "Cao Tăng Truyện", ta từng hộ trì và tặng xá lợi Phật cho Luật Sư Đạo Tuyên." Tra xong, đệ tử vô cùng kinh ngạc, quả nhiên có ghi chép, những điều này trước đây con hoàn toàn không biết, là do Na Tra Tam Thái Tử nói cho con biết, và Ngài cũng hy vọng con có thể đưa Ngài trở về chùa Phật giáo, để các tín đồ Phật giáo biết rằng,Ngài là vị hộ pháp của những người tu hành tôn sư, trọng pháp và thực tu, không phải là độc quyền của Đạo giáo.

Con cũng không hoàn toàn tin, năm 2010 đã thỉnh thị Sư Tôn, xác nhận đúng là thần linh của Na Tra Tam Thái Tử, Sư Tôn cũng nhiều lần gia trì cho Na Tra Tam Thái Tử và Vũ Mao Đồng Tử Thái Tử Gia trên người con. Phật lực gia trì càng hiển thần uy, con mới hợp tác với Ngài, quan sát Ngài ba năm, Ngài cũng quan sát con ba năm, cuối cùng mới chính thức mở đạo tràng Minh Hóa Đường (Sư Tôn ban tên, hiện đã thành lập tư cách pháp nhân là Tổng Hội Minh Hóa Đường Lộc Cảng Trung Hoa Dân Quốc), giúp đời cho đến nay 14 năm.

Năm ngoái thực ra đệ tử cũng đã từng đến Seattle hành hương 20 ngày, nhưng vì đúng dịp đại pháp hội nên không có phúc được vào Chân Phật Mật Uyển thỉnh thị Sư Tôn, mục đích là để báo cáo về công việc của đạo tràng và định hướng tương lai của đạo tràng. Trước khi đến Seattle vào tháng 5 năm nay, Vũ Mao Đồng Tử Thái Tử Gia (là vị Thái Tử mà Sư Tôn đã ban tên khi ở Đài Loan, chính là tôn tượng kim thân Thái Tử mà đệ tử cùng thỉnh vào) đã nói: "Kim thân phải theo đi." Con cũng mới quyết định mang kim thân theo ngay trước khi khởi hành. Nhưng điều kỳ diệu là Sư Tôn đã bắt đầu tụng chú triệu thỉnh Tam Thái Tử từ một tuần trước khi chúng con đi, khiến chúng con rất ngạc nhiên, cũng vô cùng hoan hỷ, Phật nhãn của Sư Tôn đã quan sát thấy sự giáng lâm của Tam Thái Tử, và cũng có phúc vào Mật Uyển yết kiến Sư Tôn.

Đệ tử vô cùng cảm kích ơn Sư Tôn đã trực tiếp truyền thụ và quán đảnh Mật pháp Trung Đàn Nguyên Soái Tam Thái Tử, sau đó đệ tử tra tìm thông tin về Na Tra Tam Thái Tử, phát hiện ra trong "Phật Thuyết Tối Thượng Bí Mật Na Tra Thiên Kinh" có rất nhiều Mật pháp của Tam Thái Tử, giống như pháp Chuẩn Đề vậy, bao gồm cả năm bộ, hy vọng Sư Tôn có thể truyền rộng pháp này, lợi ích chúng sinh.

Đệ tử trong chuyến đi này cũng được Sư Tôn gọi tên, thông qua phát trực tiếp trên mạng, nhiều đồng môn đều nhìn con bằng ánh mắt ngưỡng mộ, cho rằng đệ tử tu rất tốt, nhưng đệ tử có một cảm tưởng, vì Sư Tôn đã từng khai thị: "Con người từ Quang Âm Thiên đến Trái Đất, ăn đất trần gian, tạo ra thân thể vật chất hóa không thể trở về, đây chính là nguồn gốc loài người. Người Quang Âm Thiên đều dùng ánh sáng và âm thanh để giao tiếp." Vì vậy tự động viết chữ trời, mở miệng nói ngôn ngữ trời chỉ là sản phẩm phụ của sự tu hành của chúng ta.

Tu trì Chân Phật Mật Pháp chủ yếu là "giúp chúng ta lọc bỏ tạp chất trong thân thể, khiến linh tính vốn có hiển lộ ra", vì vậy mở miệng nói ngôn ngữ trời chẳng có gì thần kỳ cả, đều là do gia trì của Tam Căn Bản. Biết nói ngôn ngữ trời, viết chữ trời cũng không có nghĩa là có lai lịch hay tu tập tốt, nhưng các đồng môn bắt đầu theo đuổi những cảm ứng kỳ lạ như vậy, đệ tử cảm thấy như đã lệch khỏi trục chính rồi, đã là con người thì nói ngôn ngữ của nhân gian là được.

Đệ tử cũng cho rằng, ngôn ngữ trời và chữ trời, không phải là nhìn vào chữ viết hay nghe âm thanh của nó, những thứ này đều không có logic phàm trần nào cả, chỉ có dùng "tâm" mới có thể cảm nhận được "tần số" mà nó muốn biểu đạt, cũng giống như Phật Đà cầm hoa, Tôn giả Ca Diếp mỉm cười, không cần lời nói, Phật dùng một âm diễn vạn pháp, chúng sinh tùy loại mỗi người tự sẽ hiểu.

Vì vậy sư tỷ Thục Nhất yêu cầu đệ tử dịch bài hát Sư Tôn hát, theo ý kiến ngu muội của đệ tử, thực ra là nghe được từng tiếng gọi da diết của Sư Tôn, chứ không phải là ý nghĩa bài hát cô giáo mẫu giáo hát lúc đó, đệ tử xin thử giải nghĩa như sau:

"Các Liên Hoa Đồng Tử ơi, các Liên Hoa Đồng Tử ơi, các Liên Hoa Đồng Tử ơi, hãy mau tỉnh dậy đi, tỉnh dậy đi, các Liên Hoa Đồng Tử ơi, các Liên Hoa Đồng Tử ơi, các Liên Hoa Đồng Tử ơi, hãy mau tỉnh dậy đi, tỉnh dậy đi, còn đang chìm say trong trần thế sao? Còn đang lưu luyến trong trần thế sao? Hãy mau tỉnh dậy, chúng ta nắm tay nhau, cùng nhau trở về cõi trời."

Nếu có hiểu sai thánh ý, mong Sư Tôn thứ lỗi.

Cuối cùng, con cầu xin Sư Tôn từ bi gia trì cho chuyến đi Seattle năm sau được suôn sẻ viên mãn.
Cung kính chúc Sư Tôn Phật thể an khang, thường trụ thế gian, thường chuyển pháp luân, không nhập Niết-bàn.

Ngu đệ tử Liên Hoa Khải Phú khấu đầu trăm lạy.

(Chú thích của Lư Sư Tôn: Về phần thiên ngữ, đó là ngôn ngữ trên trời, thực ra cũng có nhiều loại, mỗi tầng trời, ngôn ngữ đều khác nhau, nhưng cũng có nơi tương tự. Thêm nữa, tầng trời cao hơn nữa thì không cần dùng ngôn ngữ, vì có tâm thông lẫn nhau. Cũng có dùng ánh sáng để thay thế ngôn ngữ, ví dụ như ở cõi Quang Âm Thiên.)


### 24. Hỏi: Thế nào là "tập khí gia trì"?


Lư Sư Tôn đáp:
Trước tiên tôi xin lấy một ví dụ để giải thích.
Ngày xưa, đệ tử của Đức Phật là Mục Liên, chính là Mục Kiền Liên đứng đầu về thần thông. Mục Liên dùng thần thông quán chiếu thấy mẹ mình sau khi vãng sinh đang chịu khổ ở cõi ngạ quỷ. Vì vậy Mục Liên dùng Thần túc thông đến cõi ngạ quỷ để cứu mẹ mình.

Mục Liên đem thức ăn ngon cho mẹ ăn. Nhưng, thức ăn vừa đến miệng liền hóa thành than lửa, lại làm bỏng miệng mẹ. Lần này như vậy, lần nào cũng như vậy.
Mẹ kêu than!
Mục Liên đau lòng!

Mục Liên trở về thế giới Ta Bà, không có phương kế nào, chỉ có thể đi cầu xin Phật Thích Ca Mâu Ni.

Phật bảo Mục Liên:
"Với công đức lực của một mình ông là không đủ, phải tập hợp công đức lực của chúng tăng, cộng thêm công đức lực của ông, mới có thể trừ được tội nghiệp của mẹ ông."
Sau đó, Mục Liên tập hợp các đệ tử của Đức Phật, cộng thêm chính mình, cùng nhau cúng dường chư Phật Bồ Tát, cùng nhau tụng kinh cầu nguyện, thiết lập pháp hội Vu Lan Bồn.
Nhờ sức mạnh của "tập khí gia trì", cuối cùng mới cứu được mẹ của Mục Liên ra khỏi cõi ngạ quỷ.
(Pháp hội Vu Lan Bồn, nguồn gốc của lễ Trung Nguyên Phổ Độ, chính là từ đây mà ra. Chuyển thành phim, chính là "Mục Liên cứu mẹ".)
Đây chính là "tập khí gia trì".

🌟

Tại nơi tôi (Lư Sư Tôn), mỗi ngày có rất nhiều người cầu gia trì!
Gia trì lực của tôi đến từ:
1. Công đức tu hành từ nhiều kiếp.
2. Công đức lực của ba Bổn tôn căn bản (Diêu Trì Kim Mẫu, A Di Đà Phật, Địa Tạng Bồ Tát).
3. Công đức lực của chư Phật Bồ Tát, Kim cang, Hộ pháp, Không hành, chư Thiên………….
4. Mật chú lực. (chân ngôn)
5. Quán tưởng lực. (niệm lực)
6. Mật ấn lực. (thủ ấn)
7. Tam muội lực. (pháp lưu ý thức vũ trụ)
8. Thân ngoại hóa thân lực. (thần biến lực)

Lại nữa:
Tôi (Lư Sư Tôn) có truyền thừa Không Hành bí mật, sức mạnh này đến từ Áo Minh Thiên Cung, có truyền thừa lực của mười vạn Không Hành Mẫu và mười vạn Không Hành Dũng Phụ.
Lại có Đông Hoa Đế Quân và Diêu Trì Kim Mẫu, Thiên Du Thập Nhị Khê Nữ, Na Diên Thiên Ngũ Đại Nữ Thần.
Lục Giáp Thần Tướng.
Lục Đinh Thần Binh.
Vô số thiên binh thiên tướng hộ trì lực lượng.
Vận dụng đại pháp lực, đại thần thông, đại biến hóa để gia trì chúng sinh.
(Đây cũng là tập khí gia trì.)
Bề ngoài nhìn vào, tôi chỉ là một người đang gia trì, nhưng thực tế là tập hợp sức mạnh gia trì của chư tôn.
Sờ đầu.
Nước chú Đại Bi. 
Phù lục.
Pháp Cửu tự chân ngôn (Bất Động Minh Vương).
………. (Đều là tập khí gia trì.)


### 25. Phụ lục: Thư cảm ơn từ New York


Lư Sư Tôn tôn quý!

Cả gia đình chúng con quy y Chân Phật Tông đã hơn hai năm.
Con gái con Liên Hoa Tử Đình bảy tuổi, cuối năm 2023 bất ngờ nhiễm virus viêm phổi, tại phòng ICU ở New York, sử dụng máy thở và máy rửa máu nhân tạo hơn 20 ngày. Con bé chỉ hôn mê, gượng gạo duy trì sự sống.

Có hai đêm, tình hình nguy kịch, trên màn hình thiết bị hoàn toàn không ổn định, lượng oxy trong máu không thể tăng lên được. Bác sĩ nói: "Chỉ có năm mươi phần trăm cơ hội có thể sống sót."

Cả gia đình chúng con vô cùng lo lắng, cảm thấy bất lực.

Tại New York, Thượng sư Liên Giả và pháp sư Liên Lãm đã làm lễ Hộ Ma (cúng lửa), cầu nguyện chư Phật Bồ Tát gia trì. Cũng nhận được sự giúp đỡ của sư tỷ Liên Hoa Diệu Quân, sư tỷ đã đến Seattle cầu xin Lư Sư Tôn gia trì cho con gái.

Liên Hoa Diệu Quân tại phòng bệnh ở New York, đối thoại trực tiếp với oan thân trái chủ của con gái. Oan thân trái chủ yêu cầu:
1. Tụng kinh hồi hướng.
2. Đốt năm thùng vàng mã.
Oan thân trái chủ nói: "Liên Hoa Tử Đình kiếp trước đã hại ta, kiếp này ta đòi mạng nó."
Vì vậy sư tỷ Liên Hoa Diệu Quân đặc biệt làm kết giới, trì tâm chú Căn bản Thượng sư. Cũng tập hợp các sư huynh sư tỷ đồng môn cùng tụng kinh hồi hướng bên giường bệnh, trì tâm chú Căn bản Thượng sư.

Lúc này, thấy Pháp thân Lư Sư Tôn đến, Lư Sư Tôn sờ đầu gia trì cho con gái. Còn nói: "Phải mạnh mẽ, đừng bỏ cuộc!"

Kỳ tích xuất hiện!
Từ hôm đó, nước da con bé chuyển sang hồng hào, ngày qua ngày trở lại bình thường, các thiết bị và ống dẫn đều lần lượt được tháo ra. Vi khuẩn trong máu phổi bất ngờ ngày càng ít đi, cuối cùng hoàn toàn sạch bóng.

Bác sĩ nói:
"Theo kinh nghiệm của tôi, hôn mê 20 ngày, các chỉ số thấp như vậy, cộng thêm tác dụng phụ của thuốc, hậu quả để lại khi tỉnh lại sẽ bị tổn thương não hoặc suy tạng."
Bác sĩ nói:
"Thần trí sẽ không bình thường."

Ngay tại thời khắc con gái tỉnh lại, bác sĩ và y tá nhìn thấy con gái có thể nói chuyện bình thường với chúng tôi. Mọi thứ tinh thần đều bình thường. Cả phòng bệnh vỡ òa trong niềm vui.

Bác sĩ và y tá đều rất ngạc nhiên, đều cảm thấy không thể giải thích được. Đây là kỳ tích!

Chiến thắng lần này, không thể phủ nhận bác sĩ có công, nhưng nếu không có sự giúp đỡ "tập khí gia trì" của các sư huynh sư tỷ đồng môn, cùng với sự gia trì có đại pháp lực tối thượng của Lư Sư Tôn, con gái chúng con không thể nào bình phục hoàn toàn không tổn thương.

Thật sự biết ơn!
Thật sự cảm tạ!
Thật sự cảm ơn!
Cầu nguyện Lư Sư Tôn mãi mãi từ bi gia trì!

Liên Hoa Thi Nhã.
Ngày 15 tháng 11 năm 2024.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) viết một bài thơ:

*Tập khí vạn cảnh chuyển
Chuyển xứ hiện quang minh
Chỉ mong người dài lâu
Hạnh phúc chẳng lo sầu.*


### 26. Hỏi: Thế nào là "như vầy"?


Lư Sư Tôn đáp:
Từng có người hỏi tôi: "Thế nào là Như Lai? Thế nào là Như Khứ?"
Tôi đáp:
"Nói đơn giản, Như Lai là như có đến, Như Khứ là như có đi. Sự thật là không đến không đi."
(Như Lai, Như Khứ là danh xưng của Phật. Là không thể suy nghĩ, không thể bàn luận, hàm nghĩa không thể nói hết.)
Còn "như vầy" trong kinh điển, câu trả lời của tôi là:
"Chính là như vậy!"
"Như là vậy!"
"Chính là."
(Thực tế, hàm nghĩa của nó, rộng lớn vô biên.)

Tôi xin kể một ví dụ. 
Người hỏi:
"Ai là Lư Thắng Ngạn?"
Tôi đáp:
"Tôi chính là Lư Thắng Ngạn."
Cái "Lư Thắng Ngạn" này thực ra chỉ là "tên họ", thực tính của nó hằng ngày đều thay đổi.
Thời kỳ trẻ thơ, thời niên thiếu, tuổi trung niên, tuổi già.
Tế bào của chúng ta, mỗi ngày đều tăng giảm, thân thể cũng chỉ mang tính tượng trưng.
(Mỗi bức ảnh từ nhỏ đến già, tấm nào cũng khác nhau.)

Sự sống chết của chúng ta, như mộng, như ảo, như điện chớp, như lửa lóe đá, chỉ là tạm thời mà thôi.
Hãy nghĩ một chút.
Vô cùng hư huyễn.
Cho nên người có tư tưởng, thường hay hỏi:
Trước khi sinh, tôi là ai?
Sau khi chết, tôi là ai?
(Sinh từ đâu đến? Chết về đâu?)
Đến thế giới này làm gì?
Ý nghĩa của sự sống là gì?
Cho nên, chỉ có thể nói: "Như vậy." (Dường như là vậy.)

Mỗi người chúng ta, chưa chắc đã nhận biết mình. Ví dụ như người mất trí nhớ, họ thậm chí không thể nhận ra chính bản thân mình, huống chi là gia đình bạn bè của họ. Người mất trí nhớ, tự mình không nhận ra, cha mẹ con cái đều quên hết, vậy họ là ai?
Vì vậy mà: "Như vậy."

Tôi xin kể một ví dụ có thật. Bố tôi tuổi cao rồi, có một lần, đột nhiên mất trí nhớ. Ông quên mất họ tên của mình? Quên mất nhà ở đâu? Ông đạp xe đạp, đã đạp đến tận Chương Hóa, ông không tìm được nhà ở Đài Trung.

Những người tốt bụng đã đưa ông đến đồn cảnh sát. Ông cũng không có giấy tờ tùy thân. Cảnh sát hỏi ông, hỏi gì cũng không biết. Cảnh sát bảo ông nghĩ kỹ lại, ông mới nhớ ra, ông có một đứa con trai, đã viết rất nhiều sách.
Cảnh sát hỏi: 
"Con trai ông tên là gì?" 
Ông cũng quên mất!
Trong số đó có một cảnh sát nói: 
"Có một người viết rất nhiều sách, người đó tên là Lư Thắng Ngạn."
Bố tôi vỗ trán: 
"Đúng rồi! Con trai tôi tên là Lư Thắng Ngạn."
Cuối cùng, cảnh sát gọi điện đến Đài Loan Lôi Tạng Tự, nhờ người đón bố tôi về nhà.
(Lúc đó tôi đang ở Seattle, Hoa Kỳ.)

Xin hỏi:
Khi mất trí nhớ, ai lại là ai? Nếu ngay cả chính mình cũng quên mất, họ tên là gì, vậy bạn là ai?
Tôi có một đệ tử sống ở Thành Đô, Tứ Xuyên, Trung Quốc, anh ấy đã viết gửi đến một bài văn, khá có kiến giải.

Bài văn như sau: "Ai là ai?"

Sư Tôn trong sách đã ghi chép rất nhiều kiếp quá khứ, trong những thời đại khác nhau, thân phận khác nhau, biến hóa rất nhiều. Cũng đã từng trong cùng một thời đại, cùng một đất nước mà ứng hóa thành hai con người khác nhau. Ví dụ như đế vương đời Đường Lý Thế Dân và Đại sư Huyền Trang, tuy cùng một thời đại, nhưng cũng có thể đều là Sư Tôn ứng hóa.
Cuối cùng vị nào mới là Sư Tôn thật sự?

🌟

Trong phim truyền hình, thường có những tình tiết mất trí nhớ. Nhân vật chính vô tình mất trí nhớ, quên mất người yêu, cũng quên mất tất cả về bản thân mình. Khi mất đi ký ức, tôi không nhớ mình, vậy tôi còn là tôi nữa không?

Trong phim truyền hình, còn có một tình tiết khác. Linh hồn của nhân vật chính xuyên việt vào người khác có địa vị cao quý, thay thế người đó, đồng thời cũng sở hữu ký ức của họ. Hòa nhập vào ký ức của người khác, vậy tôi có phải là họ không?

🌟

Vì vậy, tôi bắt đầu suy ngẫm về "Thuyết ký ức".
Khi tôi mất đi ký ức, tôi không còn là tôi.
Khi tôi sở hữu những ký ức khác nhau, thì tôi chính là mỗi người.
Khi tôi chính là tôi vì có ký ức, vậy thì rút cục tôi là ai? Rút cục ai là tôi?

Tương tự, còn có "Thuyết cái bình".
Một cái bình thủy tinh, đựng đầy coca thì là một bình coca. Đựng đầy nước cam thì là một bình nước cam.
Khi bình thủy tinh không có gì bên trong, vậy ai là nước cam? Ai là coca?

🌟

Cuối cùng có một ngày, trong "Thuyết ký ức" và "Thuyết cái bình", tôi phát hiện ra rằng, tôi không phải là tôi, tôi cũng không phải là bất kỳ ai. Hoặc có thể nói, tôi có thể là bất kỳ ai, cái bình thủy tinh cũng có thể là bất kỳ loại đồ uống nào.

Không còn ký ức trần tục, không còn cái bình và nước trái cây, tôi mới là tôi.
Hòa nhập vào những ký ức khác nhau, bạn chính là tôi, tôi chính là bạn.

Cuối cùng tôi đã hiểu ra, Sư Tôn là Đường Thái Tông Lý Thế Dân, đồng thời cũng là Đại sư Huyền Trang đi Tây Thiên thỉnh kinh. Không có mâu thuẫn, chỉ có sự hòa nhập.

🌟

Hòa nhập.
Tôi dường như đã phát hiện ra bí mật lớn.
Cái bình của tôi rửa sạch, chứa đầy linh khí của Sư Tôn, tôi chính là Sư Tôn.
Chứa đầy linh khí của A Di Đà Phật, tôi chính là A Di Đà Phật.
Chứa đầy linh khí của Đại Nhật Như Lai, tôi chính là Đại Nhật Như Lai.
Cuối cùng có một ngày, khi không còn bị bất kỳ ký ức nào trói buộc, đập vỡ cái bình thủy tinh, có lẽ lúc đó tôi mới thật sự là Đại Nhật Di Đà Lư Sư Tôn.

🌟

Nhưng giờ đây, tôi vẫn là tôi.
Bị ký ức trói buộc, bị cái bình giam cầm, bị ngũ uẩn lục thức vướng víu, mỗi hành động, mỗi lời nói cho đến mỗi niệm, đều không phải chân ngã, nên tạo nghiệp không ngừng.

Khi thoát khỏi trói buộc, đập vỡ giam cầm, hoàn toàn rực rỡ quang minh, sẽ ở cùng Đại Nhật Di Đà Hoa Quang Liên Sinh mãi mãi.

🌟

Hậu ký.

Đệ tử thể ngộ, bản thân hiện tại của con chỉ có nghiêm giữ giới luật, thực tu Chân Phật Mật Pháp, thực hành lục độ vạn hành của Bồ Tát, mới là con đường đúng đắn, mới có thể thật sự thoát khỏi ràng buộc, đập vỡ giam cầm.

Nhất tâm khẩn thỉnh Thánh Tôn Pháp Vương Đại Trì Minh Kim Cương Thượng Sư hoàn tịnh, gia trì. Khiến đệ tử trở về diện mạo vốn có, một mình tỏa sáng rực rỡ.
(Đệ tử Liên Tuân, Thành Đô Tứ Xuyên, Trung Quốc. Nguyện lấy bài văn này cúng dường Thánh Tôn.)


### 27. Hỏi: Phật giáo Đại thừa tu thế nào?


Lư Sư Tôn đáp:
Cá nhân tôi đối với Tiểu thừa, Đại thừa, Kim Cương thừa, không có tâm phân biệt, cũng chính là kính trọng cả ba thừa.
Tiểu thừa (tự độ).
Đại thừa (độ tha).
Kim Cương thừa (trực tiếp hóa Phật).

Muốn tu Đại thừa, Phật giáo Đại thừa nhấn mạnh pháp môn tu hành chính là sáu ba-la-mật. Sáu ba-la-mật xuất phát từ "Tăng Nhất A Hàm Kinh". Ba-la-mật có nghĩa là "đến bờ bên kia".

Tôi thích nói:
Phật giáo Đại thừa là Bồ Tát thừa, cũng chính là lời dạy về giác hữu tình.
Chủ trương tự giác rồi phải giác tha, Bồ Tát là nghĩ vì người khác, không nghĩ vì bản thân mình. (Hy sinh bản thân, cứu độ chúng sinh.)

Tu pháp chia làm sáu độ:
1. Bố thí - tài thí, pháp thí, vô úy thí. 
Tài thí là dùng tiền bạc giúp đỡ những người nghèo khổ bệnh tật. 
Pháp thí là dùng Phật pháp để độ chúng sinh. 
Vô úy thí là hy sinh thời gian và tính mạng của bản thân, bình đẳng không phân biệt mà giúp đỡ chúng sinh ra khỏi biển khổ.

2. Trì giới - giữ gìn giới luật Phật giáo. 
Luật nghi giới là đi, đứng, ngồi, nằm đều phù hợp với giáo hóa của Phật Đà.
Nhiếp thiện pháp giới là tự mình giữ giới, đồng thời dùng thiện pháp để lợi ích chúng sinh.
Nhiêu ích hữu tình giới là rộng tu mười thiện, lợi ích quần sinh.

3. Nhẫn nhục - chia thành sinh nhẫn, pháp nhẫn, vô sinh pháp nhẫn.
Sinh nhẫn là nhẫn chịu sự oán hận, phỉ báng của người khác, và nhờ đó mà độ hóa người khác.
Pháp nhẫn - nhẫn tất cả những khổ trong quá trình tu tập như bệnh tật, thân xác bị hành hạ, lạnh, nóng, đói, v.v…, không thoái chuyển tâm tu hành.
Vô sinh pháp nhẫn là hiểu rõ chân lý khổ, không, vô thường, vô ngã, như như bất động. (Là quả vị bất động bất thoái.)

4. Tinh tấn - chia thành đoạn tinh tấn, tu tinh tấn, cầu hóa tinh tấn.
Đoạn tinh tấn là siêng năng đoạn trừ tất cả suy nghĩ và thói quen xấu.
Tu tinh tấn là siêng năng tu tập tất cả thiện hạnh.
Cầu hóa tinh tấn là trên cầu Phật quả, dưới độ hóa chúng sinh, nỗ lực mà không biếng nhác.
(Pháp môn tu hành sáu ba-la-mật, mỗi hạng mục đều phải tinh tấn.)

5. Thiền định - chia thành thân định, khẩu định, ý định.
Thân định là nhắm mắt quan sát lại chính mình có phạm lỗi hay không.
Khẩu định là quan sát lại nghiệp chướng của miệng, có phạm khẩu nghiệp hay không, và giữ cho yên lặng và tịnh mặc.
Ý định là quan sát tâm niệm của chính mình, làm cho thanh tịnh không nhiễm, luôn luôn giữ gìn chính niệm.
(Thân, khẩu, ý có thể chuyên nhất, tiến vào tam muội.)

6. Trí huệ - chia thành ba loại: căn bản trí, phân biệt trí, nhất thiết chủng trí.
Căn bản trí là tất cả chúng sinh và thế giới vật chất rốt cục là không.
Phân biệt trí là do nhân duyên mà sinh ra các căn cơ khác nhau, khéo léo phân biệt các loại trí huệ để độ hóa chúng sinh.
Nhất thiết chủng trí là giác xuất thế, giác nhập thế, đều có thể rõ ràng minh bạch mà ứng dụng.

Tôi (Lư Sư Tôn) cho rằng:
Tu hành Phật giáo Đại thừa, sáu độ này là độ hóa: tham lam, phá giới, sân hận, lười nhác, tán loạn, ngu si. (Cứu chúng sinh đến bờ bên kia.)


### 28. Hỏi: Thế nào là chỗ Không Hành tụ hội?


Lư Sư Tôn đáp:
Do Lư Sư Tôn có truyền thừa Không Hành bí mật nên biết được địa điểm nơi có Không Hành tụ hội.

Tôi biết, tại bang Washington, Hoa Kỳ, thành phố Bellevue, đường 140, đi về phía Bắc, có một nơi. Tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự nơi tôi làm sinh cơ, đó là chỗ Không Hành tụ hội, tại đó có: tháp Tôn Thắng, tượng Quan Âm, tượng Liên Hoa Đồng Tử, tháp xá lợi.
(Tôi biết có hai nơi này, ngoài ra còn có những chỗ khác.)

Làm sao để phân biệt chỗ Không Hành tụ hội?
Tôi nói:
1. Địa điểm đó linh khí rất dày, là đất phong thủy tốt, tàng phong tụ khí. Long, huyệt, sa, thủy, hướng, toàn bộ đầy đủ.
Mặt sau có dựa.
Mặt trước có chiếu. [ao, hồ, sông]
Hai bên có ôm.
Trong chiếu có bọt.

2. Phần lớn là những nơi không ai đến, tránh xa nơi dân cư đông đúc.
Ví dụ: nghĩa địa, đỉnh núi cao, đồng hoang, bờ sông, rừng cây, nơi hoang dã.
Chỗ Không Hành tụ hội, sẽ không bị người thế tục làm phiền.

3. Nơi Không Hành tụ tập, các Ngài tụ tập có thời gian nhất định.
Có ngày tụ tập. Phần lớn vào đêm khuya, khi mọi người đã ngủ rồi, các Ngài mới tụ tập.

4. Khi tụ tập, những Không Hành đến phần lớn là Không Hành tiên. Thiên nhân Địa Cư Thiên đến nhiều hơn, tất nhiên chư Phật Bồ Tát cũng sẽ giáng lâm. Những Kim tiên, Thiên tiên đại thành tựu cũng sẽ đến.
Ngoài ra:
Thiên long bát bộ.
Thần quỷ bộ chúng.
………
(Về cơ bản, họ đều đã có được năng lực Không Hành, có thể bay trong hư không.)

5. Những người có thể đến tham dự Không Hành tụ hội, loại người này không nhiều. Điểm quan trọng là phải có căn cơ, trong kiếp quá khứ họ xuất thân từ Không Hành Mẫu hoặc Không Hành Dũng Phụ, thậm chí xuất thân rất cao.
Người có linh khí, có thể thông linh.
Người có thần thông lực.
Họ có thể nói thiên ngữ (ngôn ngữ Không Hành, có thể tụng văn triệu thỉnh, có thể hát thiên ca, thậm chí có thể viết thiên tự, những người này có thể giao lưu với Không Hành.

6. Lợi ích khi tham gia.
Theo tôi biết, đến được chỗ Không Hành tụ hội, hành giả sẽ nhận được rất nhiều lợi ích.
Được nhận gia trì quán đảnh mandala.
Mở ra ký ức kiếp quá khứ, sáng rõ mọi điều, trong chốc lát đắc được Túc mệnh thông, cùng các năng lực thần thông khác.
Hiểu rõ nghiệp báo của hành giả, lập tức nước mắt chảy tràn, được sám hối chân thật.
Được đại lạc.
Được quang minh.
Được trí huệ tính Không.
Như thể một người hoàn toàn thay đổi, trở thành người thanh tịnh về thân, khẩu, ý, thật không thể nghĩ bàn, không thể dùng bút mực mà diễn tả.

Tôi lấy một bức thư, chứng minh như sau:

Đảnh lễ Căn bản Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật Pháp Vương vô thượng tôn quý!

Sư Tôn, đệ tử Liên Hỷ đến Cầu Vồng Sơn Trang làm sinh cơ, đến điểm tụ hội Không Hành của Sư Ma Bồ Tát và điểm tụ hội Không Hành Mẫu tại nghĩa trang SUNSET HILLS MEMORIAL PARK đường 140 BELLEVUE.

Ngày thứ Hai, 18 tháng 11 năm 2024, sau khi đệ tử tu xong buổi đồng tu sáng, khoảng trước 10 giờ đã đến nơi. Lúc đó thời tiết hơi có chút gió lạnh mùa thu chuyển sang đông, thỉnh thoảng có mưa phùn nhỏ li ti, đệ tử cùng với pháp sư Liên Viên mang theo đồ cúng dường đi suốt đường. Đệ tử sắp xếp xong đồ cúng dường, thắp hương, hướng về tượng Phật Sư Tôn và tượng Phật Sư Ma Bồ Tát đảnh lễ làm lễ cúng dường, rồi đi nhiễu Phật niệm chú bảy vòng quanh tượng Phật Sư Tôn, tượng Phật Sư Ma Bồ Tát, tháp Tôn Thắng, tháp xá lợi. Sau khi nhiễu xong đệ tử trở về trước tượng Phật Sư Tôn, Pháp thân Sư Tôn hiển hiện trong hư không, đệ tử bắt đầu đảnh lễ, miệng cứ kêu lên: Sư Tôn, Diêu Trì Kim Mẫu (Diêu Trì Kim Mẫu màu vàng kim hình thiên nữ), A Di Đà Phật, năm đại Phật Mẫu và quyến thuộc Orgyen Lạp Mẫu Cung, Sư Ma Bồ Tát, rất nhiều Bổn tôn, và cả thủy tử linh tại Cầu Vồng Sơn Trang đều đến.

Không Hành Mẫu khẩn cầu Sư Tôn và Diêu Trì Kim Mẫu dùng đại thần thông lực giải cứu các sơn linh bị trói không thể ra được (sơn linh - đệ tử thấy là các sinh linh trong rừng núi). Diêu Trì Kim Mẫu thanh tịnh cho họ, những linh này quỳ lạy cảm ơn, đảnh lễ Sư Tôn, Diêu Trì Kim Mẫu và A Di Đà Phật, vừa khóc vừa nói rằng đã chờ Sư Tôn rất lâu rất lâu, họ ở đây phải chịu nắng mưa, lạnh lẽo cô đơn khổ sở... Lúc đó đệ tử nghe xong vô cùng hổ thẹn, vì đã có Pháp thân và Không Hành Mẫu mà vẫn chưa từng đến, đệ tử sám hối nói xin lỗi họ. Không Hành Mẫu hướng dẫn họ tụng "Kinh Phật Thuyết A Di Đà" để tiếp dẫn vãng sinh. Không Hành Mẫu thấy có một số linh phạm giới nên trói họ lại, yêu cầu họ kể ra lỗi lầm, hướng về Phật sám hối thì mới có thể lên thuyền pháp.

Đệ tử đi đến nơi có tượng Phật Sư Ma Bồ Tát, Sư Ma Bồ Tát hiển hiện tướng Quan Âm để đệ tử tận mắt nhìn thấy, các thủy tử linh cũng ra nói cảm ơn Sư Tôn tiếp dẫn họ đến nơi nương náu có địa linh tốt như vậy, cảm ơn Sư Ma Bồ Tát đã dẫn dắt họ lớn lên và tu hành, thủy tử linh nói rất vui vẻ rất hạnh phúc.

Pháp thân Sư Tôn gia trì tất cả Không Hành Mẫu, nói với Không Hành Mẫu: Cứu Guru, hộ trì Guru mãi mãi, yêu Guru. Bảo đệ tử phải đến nghĩa trang đường 140.

Pháp sư Liên Viên viết tâm tình gửi đệ tử: Cảm nhận được một nguồn gia trì lực rất lớn, trong lòng sinh ra tâm sám hối mạnh mẽ, nước mắt chảy tràn, trong lòng đột nhiên lĩnh hội được rằng khoảng cách giữa đệ tử và Sư Tôn từ trước đến nay không bao giờ là khoảng cách về thân thể mà là khoảng cách của tâm.

Ngày thứ Ba, 19 tháng 11 năm 2024, dự báo thời tiết lúc 2 giờ chiều sẽ có gió mạnh, nhưng đệ tử vẫn quyết định đi, còn mời Thượng sư Liên Ngạn và Pháp sư Liên Viên cùng đi, hẹn 4 giờ 30 chiều xuất phát mua hoa tươi và đồ cúng dường.

Trước khi xuất phát, đệ tử đi đảnh lễ đàn thành bẩm báo, đột nhiên tượng Phật bằng đồng của Sư Tôn biến thành khuôn mặt Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, đệ tử nghĩ không biết có phải mắt mình hoa có hay không, mở to mắt nhìn lại, thì lại trở về khuôn mặt Sư Tôn, nhưng lại mỉm cười, và còn nói với đệ tử rằng ta sẽ ở cùng với con.

Thượng sư Liên Ngạn lái xe quanh nghĩa trang một vòng để xem nên dừng ở điểm nào thích hợp. Khi đệ tử xuống xe Không Hành Mẫu liền dẫn con đi tìm điểm tụ hội, Không Hành Mẫu định vị con tại điểm đó rồi bắt đầu xưng danh đảnh lễ; Diêu Trì Kim Mẫu (là Diêu Trì Kim Mẫu của chùa tổ Seattle), Dược Sư Phật, Sư Ma Bồ Tát, A Di Đà Phật, năm đại Phật Mẫu, Niguma, và còn rất nhiều Không Hành Mẫu. Khi đệ tử đang cầu nguyện và tiếp nhận gia trì, Thượng sư Liên Ngạn và pháp sư Liên Viên đi lại bày xong đồ cúng dường, họ bắt đầu chắp tay tiếp nhận gia trì và cầu nguyện, không lâu sau Thượng sư Liên Ngạn nói thiên ngữ và hát thiên ca.

Pháp thân Sư Tôn ở đó còn trực tiếp chỉ đạo trao truyền quán đảnh tu pháp Không Hành Mẫu trong hư không, pháp hỷ đầy tràn, đại lạc vô song. Lúc đó thời tiết sấm chớp giao thoa, gió lớn mưa nhỏ, thật sự rất phù hợp với cảnh tượng lúc này.

Pháp thân Sư Tôn biến hóa thành Đại Lực Kim Cang trên thân đệ tử để hàng phục các đại lực quỷ vô hình ở đó. Hổ Đầu Kim Cang giáng lâm trên thân đệ tử để hàng phục các vô hình dã thú. Sau đó làm tứ quy y cho họ, còn hướng dẫn một số linh chúng niệm Phật rồi tiếp dẫn vãng sinh tịnh thổ.

Pháp thân Sư Tôn kể ra những tập tính khuyết điểm của pháp sư Liên Viên rồi dặn dò pháp sư về quan niệm tu hành chính đạo. (Nội dung không công khai.) Trên thân đệ tử biến hóa chày kim cang hình tam giác mổ bụng xuyên tim đâm vào thân thể pháp sư Liên Viên gắp ra  inh nghiệp chướng, rồi tiếp dẫn siêu độ linh nghiệp chướng đó.

Pháp thân Sư Tôn từ miệng đệ tử nói ra: Ngã chấp vô minh trong tâm Thượng sư Liên Ngạn phải buông bỏ (nội dung không công khai). Pháp thân Sư Tôn từ miệng đệ tử nói ra: Nhờ sự gia trì của Sư Tôn, chư Phật Bồ Tát, chư Phật Mẫu mà tiêu nghiệp thanh tịnh cho con hồi phục trí nhớ nói thiên ngữ, mở thiên nhãn. (Thượng sư Liên Ngạn nói cách đây ba ngày mơ thấy Liên Hỷ và Lý Mẫn đi theo Sư Tôn, tay Sư Tôn phóng ra ánh sáng trắng rất mãnh liệt gia trì Thiên tâm.)

Pháp thân Sư Tôn nói với đệ tử: Con là giáng linh cô, dẫn linh cô, phải năng làm những việc khó, chỉ cần con sẵn lòng ra ngoài dẫn tiếp chúng linh, ắt sẽ cho con quán đảnh gia trì, biến hóa các Bổn tôn khác nhau hạ giáng, nhổ bỏ nghiệp chướng, khử trừ ngã chấp vô minh.

Sau đó Không Hành Mẫu khiến ba đệ tử quỳ lạy đảnh lễ trước mặt Sư Tôn và chư Phật Bồ Tát, mà còn có động tác nghi thức rất đặc biệt, cứ như thế kết thúc một cách vô cùng vui vẻ và viên mãn.

Bạch Sư Tôn, ngu đệ tử chỉ kể lại đơn giản những tình huống lúc đó, rất nhiều chi tiết không thể kể hết. Thật sự quá bất khả tư nghì, cảm giác linh lực rất mạnh, được pháp lực gia trì của Sư Tôn và chư Phật Bồ Tát, dường như có thể dẫn thần thức vô hình về mình để độ hóa họ, dạy họ niệm "Kinh Phật Thuyết A Di Đà" để tiếp dẫn vãng sinh, Pháp thân Sư Tôn và Không Hành Mẫu trên thân đệ tử có tác dụng như vậy.

Đệ tử bình thường khi tự mình một mình tu pháp thì có rất nhiều cảm nhận, thường xuyên nhìn thấy Pháp thân Sư Tôn trong pháp giới vô hình biến hóa thật sự là uy lực vô cùng. Khi Sư Tôn làm pháp hội thì loại đại pháp lực vô hình siêu cấp đó không bao giờ bỏ sót một chúng sinh mà chỉ có hy sinh chính mình. Tại sao Diêu Trì Kim Mẫu lại thương yêu Sư Tôn đến vậy? Bởi vì Sư Tôn có thể hy sinh chính mình gấp bội, gấp bội rồi lại gấp bội, hy sinh đều phải đi cứu độ. Đó là sự nhìn thấy và cảm nhận của chính mình, bản thân không giỏi diễn đạt lắm vì rốt cuộc đây là sự biến hóa trên vô hình. Nhưng lần này có Thượng sư Liên Ngạn và pháp sư Liên Viên trực tiếp cảm nhận được, các sư cũng đã có sự thay đổi rất lớn.

Đệ tử cảm thấy ngày đầu tiên Pháp thân Sư Tôn đã ban cho đệ tử sự gia trì pháp lưu truyền thừa, suy nghĩ của đệ tử xin Sư Tôn gia trì chỉ đạo:
1. Cứu Guru – Cứu truyền thừa: Ý nghĩ của ngu đệ tử là cứu truyền thừa chính là cứu chính mình. Bởi vì hành giả Mật tông quy y thầy Mật giáo, Căn bản Thượng sư trao hạt giống Phật, nếu hành giả Mật không một lòng quy y, không có tịnh tín, không dựa vào pháp mà Căn bản Thượng sư truyền để tu hành, truyền thừa tự nhiên không có, bản thân không thể tự độ thì cũng giống như không cứu được truyền thừa, vì vậy mỗi hành giả Mật có thể tịnh tín Căn bản Thượng sư, tự độ chính mình chính là cứu truyền thừa.

2. Bảo vệ Guru mãi mãi – Bảo vệ truyền thừa mãi mãi: Hành giả Mật tông dùng thân khẩu ý để cúng dường Căn bản Thượng sư, học tập Mật pháp mà Căn bản Thượng sư truyền và lắng nghe sự khai thị của Căn bản Thượng sư, đọc các tác phẩm của Căn bản Thượng sư, mỗi ngày tu pháp tụng kinh tu hành, tu pháp tương ứng Thượng sư và Bổn tôn đạt được tương ứng, gia trì lực của truyền thừa liên tục không dứt. Mỗi hành giả Mật tông có thể dùng pháp mà Căn bản Thượng sư truyền xuống và tâm đắc từ các tác phẩm cùng với nguyện lực của Thượng sư và Bổn tôn để thực hành tu hành thành tựu tự độ độ tha, mới có thể được coi là đã bảo vệ truyền thừa mãi mãi.

3. Yêu Guru – Yêu truyền thừa: Hành giả Mật tông xem thầy như Phật, vì vậy Căn bản Thượng sư đại diện cho Phật tính, hành giả Mật tông sẽ biết trân trọng mọi thứ của Căn bản Thượng sư, và sẽ rất khiêm tốn, rất tinh tấn thực hành tất cả pháp và nghi quỹ mà Căn bản Thượng sư truyền cho chúng ta, sẽ phát bồ đề tâm, hành bồ đề nguyện để tu hành, tu thành chính quả, thấy được Phật tính, như vậy mới có thể được coi là có một chút tư cách để yêu truyền thừa. Đệ tử cũng cảm thấy yêu truyền thừa cũng bằng yêu chính mình (chính mình đại diện cho Phật tính).

Ngày thứ hai đệ tử cảm thấy Pháp thân Sư Tôn ban cho: tăng trưởng tín tâm, tăng trưởng nguyện lực, phát bồ đề tâm.

Ngu đệ tử nghĩ rằng có lẽ đang nhắc nhở bản thân tu hành phải thực hành phát bồ đề tâm, nhưng phương hướng vẫn chưa rõ ràng lắm. Cũng không hiểu rõ lắm: Giáng linh cô, dẫn linh cô, là ý nghĩa gì? Ngu đệ tử xin Sư Phật chỉ dẫn giải đáp. 

Bạch Sư Tôn, đệ tử sáng thứ Tư khoảng năm giờ tỉnh dậy tinh thần rất sung mãn, Thiên tâm thấy bầu trời vũ trụ, trong vô lượng quang đầy những điểm kim quang bảy sắc màu, đệ tử cảm thấy có thể tiếp nhận những điểm quang này giáng xuống thân đệ tử. Sau đó Thiên tâm lại xuất hiện bầu trời xanh biếc, giữa có một đám mây trắng, rồi theo chiều kim đồng hồ nhiều vòng bao quanh từng đám mây trắng, Pháp thân Sư Tôn nói một lòng quy y Căn bản Thượng sư, ba mươi sáu vị thiện thần nhất định hộ trì. Pháp thân Sư Tôn cùng đệ tử hồi tưởng giảng giải cảnh tượng gặp phải hai ngày nay, nhưng đệ tử hiện giờ chỉ có thể diễn đạt chút ít suy nghĩ nhỏ nhoi không đáng kể này thôi.

Đệ tử bất tài khẩn cầu Sư Tôn từ bi chỉ dạy.

Ngu đệ tử Liên Hỷ cảm ơn quỳ lạy đảnh lễ Nam Mô Guru Truyền Thừa Đại Tổ Sư Pháp Vương Liên Sinh Phật!

🌟

Lư Sư Tôn nói:
Giáng linh cô - là ý nghĩa có thể triệu thỉnh chư tôn giáng xuống.
Ví dụ chúng ta tụng: "Các nội cảnh trong tâm, ba vạn sáu nghìn thần, nguyện tâm con tự tại, thường trụ trong Tam Bảo." Với sự triệu thỉnh đơn giản này, chư tôn sẽ giáng xuống.
Có thể nói: Tâm và Phật, thật không sai biệt!

Còn:
Dẫn linh cô - có thể tiếp dẫn chúng sinh đến học tập Phật pháp chân chính.
Ví dụ ngày xưa, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, tiếp dẫn Đại Uy Đức Vương. Hai vị Bồ Tát khuyên bảo Đại Uy Đức Vương đi yết kiến Kim Quang Phật. Và hai vị Bồ Tát này chính là dẫn linh cô.
(Đoạn ghi chép này xuất hiện trong "Kinh Bản Sinh".)
"Giáng linh" cũng như "dẫn linh", vốn chỉ là một danh từ, còn "cô" là tỳ kheo ni!


### 29. Siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp có thất bại không?


Lư Sư Tôn đáp:
Tôi nương nhờ đại pháp lực của Diêu Trì Kim Mẫu, lực công đức từ bi của chư Phật Bồ Tát. Có hai lực này, ít khi thất bại.
Bởi vì muốn lên được thuyền pháp, cần phải có đủ hai điều kiện:
1. Phải có thiện căn.
2. Nhất tâm bất loạn niệm Phật.
Hai điều kiện này nhìn có vẻ rất đơn giản, nhưng, suy nghĩ kỹ, cũng có khó khăn.
Không thể thiếu thiện căn, nếu bạn thiếu thiện căn thì căn bản không thể lên được thuyền pháp, xin hỏi:
Có bao nhiêu người thiện?
Có bao nhiêu người ác?

Lại nữa: Có bao nhiêu người có thể "nhất tâm bất loạn"? Nhất tâm bất loạn, phàm phu bình thường rất khó làm được. (Đó là người có công phu thiền định sâu mới có thể nhất tâm bất loạn.)
May mắn có A Di Đà Phật dùng vô lượng ánh sáng để gia trì mới có thể khiến chúng sinh trên thuyền pháp đạt đến cảnh giới nhất tâm bất loạn.

Tôi có một ví dụ thật sự ở đây, xin kể cho mọi người nghe.
Sư huynh M qua đời. Gia đình ông nhờ tôi siêu độ, tất nhiên tôi không thể thoái thác. Tối hôm đó, tôi liền siêu độ. Tôi tu Nghìn chiếc thuyền pháp, mời sư huynh M lên thuyền pháp. Khi sư huynh M muốn lên thuyền pháp, bên cạnh ông xuất hiện một nữ oan hồn kéo ông lại.

Nữ oan hồn có oán khí vô cùng lớn, quấn quanh sư huynh M, không cho ông lên thuyền pháp. Tôi nhìn thấy như vậy, hết sức kinh ngạc:
"Oan hồn sao lại đến đây?"
Oan hồn nói:
"Hắn khi còn sống đã hại mạng ta, ta có cờ lệnh đen, thề phải báo thù rửa hận."
Tôi nói:
"Oan gia nên giải không nên kết, nếu không thì oan oan tương báo bao giờ mới hết?"
Nữ oan quỷ nói:
"Không thể tha cho hắn được, ta đã đợi hắn 30 năm rồi!"
"Phạm nghiệp gì?"
"Nghiệp tà dâm và giết hại."

Tôi nghe xong, sửng sốt! Tôi ngồi trên pháp tọa, nói với nữ oan quỷ rất nhiều Phật pháp. Chỉ ra rằng chuyện đời như huyễn, không thể coi là thật! Giảng về khổ, không, vô thường, vô ngã.
Nói: "Không cần quá chấp trước. Hãy nhìn nhận mọi việc một cách thoáng hơn!"
Nữ oan quỷ lớn tiếng quát:
"Tôi thực sự phải chịu đựng, làm sao có thể không chấp trước? Hắn chỉ tìm khoái lạc nhất thời, khiến tôi mất mạng, nhục nhã gia đình, thù hận này không đội trời chung, ông không thể ngăn cản tôi."
Tôi nói:
"Hãy tha thứ cho hắn đi!"
Nàng nói:
"Không!"
Tôi nói:
"Hãy coi như một vở kịch!"
Nàng nói:
"Tôi chịu thiệt quá lớn!"
Tôi nói:
"Hãy coi như hòa giải đi! Đây là nhân quả!"
Nàng nói:
"Không thể hòa giải được, đây cũng là nhân quả."
Nữ oan quỷ này cãi nhau với tôi suốt một đêm, hai bên quan điểm khác nhau, nói mãi mà vẫn không thể thông suốt.

Than ôi! Tôi nhớ đến một câu nói:
Người thanh tịnh coi điều này là thánh
Người ô trược thấy điều này là dâm
Kẻ tham bất cẩn sẽ tổn hại
Kẻ ngông bất thành cũng tự suy.

Ngày hôm sau, tôi tìm đến gia đình sư huynh M, hỏi về quá khứ của sư huynh M. Gia đình trả lời: "Đúng vậy, có chuyện này."

Sư huynh M, 30 năm qua, sống tại Seattle, không hỏi han chuyện đời. Nhưng chuyện 30 năm trước, tuy thời gian đã trôi qua, nhưng lại để lại dấu vết. (Chuyện của sư huynh M, chị cả của ông biết rất rõ.）

Chuyện này chỉ có sư huynh M mới rõ nhất, người ngoài cuộc chỉ có thể phỏng đoán.
Ví dụ: Trượt chân rơi xuống biển? Hay là bị đẩy xuống biển?
Nhà bị cháy? Hay là cố ý phóng hỏa?
Đây là chuyện xưa, chỉ mình biết, chỉ người đã chết bên kia biết, bất kỳ ai cũng không biết! (Bây giờ thì tôi đã biết rồi.)

Tôi biết đây là chuyện vô cùng bi thảm, giờ đây, tôi tu siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp đã bất lực, vì nữ oan hồn không chịu tha cho ông ta.
Đang lúc khó xử, bốn vợ ma của tôi hiện thân nói với tôi:
"Lư Sư Tôn, chị em chúng em giúp ngài! Chúng em đi khuyên giải."
(Bốn vợ ma của tôi là: Thiến Thiến, Phù Dung, Tân Tân, Thụy Quang.)
Họ nói:
"Hãy đi thỉnh Quan Thế Âm Bồ Tát đến làm chủ! Chỉ có nước cam lộ cành dương liễu của Quan Thế Âm Bồ Tát mới có thể dập tắt ngọn lửa sân hận trong lòng, Bồ Tát thần thông quảng đại, cam lộ rải khắp ba nghìn."

Tôi niệm:
Quan Âm Bồ Tát khó báo đáp, thanh tịnh trang nghiêm nhiều kiếp tu.
Ba mươi hai ứng khắp cõi trần, trăm nghìn muôn kiếp hóa Diêm Phù.
Tay cầm tịnh bình cành dương liễu, ban rải cam lộ chẳng tính ngày.
Nghìn nơi kêu cầu nghìn nơi hiện, biển khổ thường làm thuyền độ người.
Kính thỉnh Nam Mô Phổ Đà Lạc Già Sơn, Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát.

Trong sát-na, Bồ Tát trang nghiêm hiện thân, hào quang trang nghiêm, tay cầm tịnh bình, trên có cành dương liễu.
Ngài rải một lần, thanh tịnh.
Rải hai lần, tự tính thanh tịnh.
Rải ba lần, tất cả tự tính thanh tịnh.
Nữ oan hồn ban đầu dữ tợn sân hận bất ngờ biến thành thiếu nữ thon thả, nét mặt tươi cười ngọt ngào.
Quan Thế Âm Bồ Tát dẫn nàng đi đến rừng Tử Trúc núi Phổ Đà Lạc Già.

Trước khi đi, Ngài nói với tôi:
"Có một bài văn nhỏ, Ngài hãy đưa vào sách, cảnh tỉnh thế nhân."
Tôi nói:
"Tuân lệnh Bồ Tát."

Bài văn nhỏ này do Tỉnh Am Ngu Nhân viết:

Dâm đứng đầu vạn ác. Phải biết rằng chuyện tà dâm chính là tội ác nặng nhất trần gian, là tai họa thảm khốc nhất, là quả báo nhanh nhất. Người xưa nói: "Tội tà dâm như tội giết người."

Vì tâm dâm vừa khởi, cướp đi tình yêu của người khác, đố kỵ người khác có, oán hận sự ngăn cản của người khác, muôn điều ác từ đây mà khởi, đó là tội ác nặng nhất.
Người xưa nói: "Cờ bạc gần trộm cắp, tà dâm gần giết người."

Vả chăng hôn nhân nam nữ đã có sự phối hợp nhất định, tuyệt đối không được tà dâm. Giả như người khác xâm phạm vợ con của ngươi, lòng ngươi sẽ như thế nào? Thường thường những vụ án mạng lớn, nếu không phải là mưu sát chồng, thì là gian phu bị giết, nếu không phải là cưỡng dâm không được nên giết, thì là do ghen ghét mà giết nhau. Vì thế, gian dâm và giết người vốn dĩ là liên quan đến nhau.

Làm chuyện tà dâm chỉ tìm khoái lạc nhất thời, phần lớn đều mất mạng, nhục nhã gia đình. Phải biết rằng bị người giết, giết người cũng phải đền mạng, chung quy đều là cực khổ, là tai họa thảm khốc nhất.

Người xưa lại nói: "Dâm vợ người, hoàn lại con gái mình."
Ta tận mắt thấy nhiều kẻ gian dâm vợ con người khác, chẳng bao lâu vợ con họ cũng bị người khác gian dâm, chung quy là thấy ngay trong người thân của họ, không phải đợi đến con cháu đời sau, đây là quả báo nhanh chóng nhất.

Ta khuyên các ngươi hãy giữ gìn giới dâm, vừa không có tội lỗi, lại không mất thân, há chẳng lành thay sao!

Bài văn khuyên đời của tôi (Lư Sư Tôn):

Rất nhiều người vô tri làm bậy, tùy tiện phóng túng dục vọng, cần phải thiết tha giữ pháp giới. Phải tiết dục biết đủ.

Tôi cũng thấy những kẻ ham sắc dục, gia đình mình còn chưa thỏa mãn, ngoại tình liên tục, thậm chí nuôi gái mại dâm, cưỡng hiếp phụ nữ lương thiện, dâm ô trẻ nhỏ, không gì không làm.

Tuy thoát khỏi tai họa giết thân tù ngục, nhưng không tránh khỏi trở thành kẻ lao lực.
Có kẻ bị yếu sinh lý.
Có kẻ mắc bệnh hoa liễu.
Có kẻ bị lở loét.
Có kẻ bị bất lực.
Có kẻ mắc bệnh hiểm nghèo.
Cho đến bệnh hết phương cứu chữa, thuốc men vô hiệu.

Chỉ vì thoả mãn khoái lạc nhất thời mà đánh mất thân thể hữu dụng do trời sinh, một khi khí tuyệt thân vong, không chỉ sự nghiệp không thành, gia đình tan vỡ, còn phải mang nghiệp rơi xuống ba đường ác, hoặc vào địa ngục, hoặc vào ngạ quỷ hoặc biến làm súc sinh.

Than ôi!
Thật đáng than!
Thật đáng thương!
Thật đáng bi!
Mau tỉnh! Mau tỉnh! Mau tỉnh!


### 30. Zhashi Lhamo


Sư Tôn trong buổi pháp hội đồng tu cách đây vài tuần, đã nhắc đến Zhashi Lhamo cùng với Đại Cát Tường Thiên cùng giáng xuống. Đệ tử nghe được, nên cúng dường một tượng kim thân Zhashi Lhamo nhỏ, mong Zhashi Lhamo có thể hộ trì sức khỏe cho Sư Tôn và Sư Mẫu.

Zhashi Lhamo là một vị Hộ pháp rất đặc biệt, ít được biết đến trong thế gian, là vị Hộ pháp riêng của phái Gelug Tây Tạng, hiện nay chỉ được thờ phụng tại chùa Zhashi ở Lhasa, Tây Tạng. Zhashi Lhamo có làn da đen sẫm, đôi lông mày nhíu chặt, đôi mắt mở tròn, miệng há to với lưỡi thè ra đến cằm, và có chân như móng gà. Hình tượng này thể hiện sức mạnh uy hiếp và khả năng hàng phục mãnh liệt của ngài đối với các thế lực tà ác.

Theo truyền thuyết, Zhashi Lhamo một lòng tu hành, và vì bà khá xinh đẹp nên đã gây ra sự ghen tị, khiến một vị tà thần đầu độc bà. Nhưng với cảnh giới tu tập cao siêu, Zhashi Lhamo đã đẩy chất độc ra đầu lưỡi, tuy nhiên lưỡi không thể rút lại được, nên lưỡi dài của bà luôn lòng thòng bên ngoài. Thấy không thể đầu độc được bà, tà thần đã chặt đứt đôi chân của bà, nhưng không ngờ Zhashi Lhamo lại mọc ra chân gà, vì vậy người ta cũng gọi Zhashi Lhamo là "Thần Chân Gà". Chính hình tượng này thể hiện thần lực giải độc mạnh mẽ của Zhashi Lhamo, đồng thời cũng tượng trưng cho khả năng giải trừ chất độc trong tâm hồn của chúng sinh.

Còn có một truyền thuyết khác về Zhashi Lhamo. Tương truyền Zhashi Lhamo là một thiếu nữ người Hán vừa xinh đẹp, trẻ trung lại vừa hiền lành, được Hoàng đế Càn Long hết mực sủng ái, trở thành phi tần được yêu quý nhất của ngài. Chính vì sắc đẹp và lòng tốt của nàng mà gây nên sự ghen tị của người khác, khiến nàng phải yểu mệnh.

Sau khi bị hại, nàng không muốn rời đi, nghĩ đến việc mình hiền lành như vậy mà lại gặp kết cục này, lòng oán hận đã khiến nàng đánh mất đi sự thuần khiết vốn có, một lòng muốn đòi lại công bằng cho mình, nên hàng ngày cứ lẩn quẩn trong hoàng cung, khiến người trong triều không khỏi sợ hãi.

Sau khi Hoàng đế Càn Long biết được sự việc, đã mời Lama Cương Ba Mẫn Lang từ Tu viện Sera ở Tây Tạng đến, hy vọng vị cao tăng có thể an ủi người đã khuất và xoa dịu lòng người. Khi vị Lama từ Tu viện Sera đến nơi, ông nhìn thấy một người phụ nữ đang khóc trên xà nhà, liền trò chuyện với cô ấy, và mới biết rằng cô là phi tần, bị người khác hãm hại, muốn đòi lại công bằng nên không chịu rời đi.

Vị cao tăng Lama đã kể lại sự việc một cách trung thực cho Hoàng đế, sau khi biết được, Ngài vô cùng tức giận, đã xử tử tất cả những kẻ hãm hại nàng, và mời vị cao tăng làm lễ siêu độ cho phi tần này, hy vọng nàng sớm thoát khỏi biển khổ.

Sau khi mọi việc đã xong, vị cao tăng ra đi, trên đường trở về Tây Tạng, ông phát hiện phi tần này vẫn đi theo mình, không chịu rời đi, liền hỏi lý do, người phụ nữ này nói: "Con vốn tâm địa hiền lành, được đại sư chỉ dạy, nguyện quy y Phật pháp, sớm được giải thoát." Đại sư nói: "Đường đi còn xa, một người phụ nữ như cô rất khó làm được điều đó."

Cuối cùng, dù vị cao tăng khuyên bảo thế nào, người phụ nữ này vẫn không chịu rời đi. Vị cao tăng thấy cô ta một lòng hướng Phật, đạo tâm kiên định, nên đã đồng ý. Khi sắp đến Tu viện Sera ở Lhasa, vị cao tăng nói: "Đó là nơi tu hành của chư tăng, nàng không tiện đến đó. Ta sẽ xây cho nàng một chỗ ở tại đây, để nàng nhận sự cúng dường của mọi người, có được không?" Người phụ nữ vui vẻ đồng ý, và được để lại ở chùa Zhashi, một ngôi chùa trực thuộc Tu viện Sera.

Sau khi trở về, vị cao tăng bắt tay vào việc xây dựng tượng thờ và chỗ ở cho cô, hy vọng cô có thể bảo hộ một phương, đảm nhận trách nhiệm của một vị thần hộ mệnh, và đặt tên là Zashi Lhamo. Từ đó, Zhashi Lhamo hết lòng hết dạ bảo vệ một phương, đồng thời chuyên tâm hướng Phật, tinh tấn tu trì.

Trong quá khứ, chùa Zhashi từng là nơi đóng quân của quân đội đất Hán, vì vậy những người Hán đi lại thường cúng bái và thờ phụng Zhashi Nương Nương tại chùa Zhashi. Bởi vì sự che chở của Zhashi Lhamo đối với những thương nhân qua lại vô cùng linh nghiệm, nên đặc tính Thần Tài của Zhashi Lhamo đã được truyền bá rộng rãi từ đó.

Cho đến ngày nay, Ngũ Tính Tài Thần ở Tây Tạng vẫn thuộc về pháp bí truyền, không giống như Đại Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật Thánh Tôn của Chân Phật Tông chúng ta đã công khai tất cả bí mật của pháp môn Tài Thần, mỗi đệ tử đều có thể tu pháp Tài Thần. Do đó, ở Tây Tạng, rất ít đệ tử Mật tông thực sự thờ phụng và tu tập pháp môn Tài Thần. Những nơi thờ phụng Tài Thần và mở cửa cho tín đồ chiêm bái càng hiếm hơn (chỉ có Hoàng Tài Thần, một trong Tứ Đại Thiên Vương, là tương đối phổ biến ở Tây Tạng. Các vị khác đều thuộc về thờ phụng bí mật, hiếm khi công khai.)

Vì vậy, chùa Zhashi lại trở thành ngôi đền Tài Thần nổi tiếng nhất ở Lhasa, Tây Tạng. Các tín đồ qua lại thường mang theo rượu trắng đến chùa Zhashi để cầu xin sự che chở và ban phước từ Zhashi Nương Nương.

Tại Tây Tạng ngày nay, Zhashi Lhamo đến vùng đất Tạng để tu hành với tư cách là hồn ma của một phi tần từ đất Hán, và được công nhận là hóa thân của Đại Cát Tường Thiên, trở thành vị Đại Tài Thần và Thần Hộ Mệnh của vùng Lhasa. Ngài có thể ban tặng của cải và sức khỏe cho chúng sinh, có thể xua tan đau khổ của chúng sinh, loại bỏ chất độc trong cơ thể và tâm hồn.
Đệ tử một lòng cúng dường Thánh Tôn Pháp Vương. Mong Zhashi Lhamo có thể xua tan bệnh tật của Sư Tôn, xua tan bệnh tật của Sư Mẫu. Mong Sư Phụ trường thọ ở nhân gian, mong Sư Mẫu luôn bên cạnh Phật.

Đệ tử nhất định sẽ nghiêm trì giới luật, nỗ lực sám hối, nỗ lực tu hành thành tựu. Khi nhân duyên chín muồi, sẽ không do dự xuất gia, hộ trì chính pháp của Sư Tôn, khiến chúng sinh đều được độ thoát.
~~ Đệ tử Liên Tuân, tại Thành Đô - Tứ Xuyên, đảnh lễ ba lạy.

🌟

Nhân duyên của tôi (Lư Sư Tôn) với Zhashi Lhamo là chuyện mới đây.
Đầu tiên là sư tỷ Trịnh Di từ chùa Tạng thỉnh về một tôn tượng Zhashi Lhamo, tôi đã thờ phụng Ngài tại đàn thành ở Nam Sơn Nhã Xá.
Khi tôi chắp tay, lưỡi của Ngài thè ra một chút. Hai con mắt tròn xoe của Ngài phát ra hai luồng ánh sáng.
Ồ! Ngài sống động như thật vậy.
Sau đó trong buổi đồng tu, Ngài và Đại Cát Tường Thiên cùng nhau hiện thân giữa hư không. Zhashi Lhamo rất dễ nhận ra, bởi vì hình tượng của Ngài rất đặc biệt, thè lưỡi trợn mắt, đã đủ làm người ta hoảng sợ, huống chi là "chân gà".
Vì vậy, tôi đặc biệt chú tâm vào Ngài. Hy vọng Ngài sẽ hộ trì cho đệ tử Chân Phật.


### 31. Tác phẩm hay cùng thưởng thức


Ngọn đèn của Lôi Tạng Tự

Tháng 11 năm 2024, một cơn bão lốc xoáy như bom đột ngột ập đến, khiến vùng đô thị lớn Seattle chịu thiệt hại nặng nề. Những cây cổ thụ cao vút bị bật gốc, cột điện gãy đổ ngổn ngang, nhiều khu vực rộng lớn mất điện và tê liệt.

Chùa Tổ Lôi Tạng Tự cũng bị ảnh hưởng, mất điện năm ngày. Chiều hôm đó, Chùa Tổ chìm trong bóng tối, sự rực rỡ ngày thường đều ẩn vào đêm đen. Nhìn từ quảng trường phía trước Lôi Tạng Tự, không còn thấy Kim Mẫu, Di Đà, Địa Tạng, Liên Hoa Đồng Tử trong chùa… Kim thân của chư Phật Bồ Tát Kim Cang Hộ Pháp đều ẩn vào đêm đen.

Tình cảnh này, khiến người ta trầm tư.

🌟

Từ trước đến nay, Lôi Tạng Tự luôn sáng rực, luôn rực rỡ. Chúng ta đã quen với ánh đèn rực rỡ, quen với việc đứng ở quảng trường trước chùa có thể nhìn thấy kim thân của chư Phật Bồ Tát chỉ trong chớp mắt.

Nhưng, khi tai biến ập đến, mọi thứ chìm vào bóng tối. Ánh sáng không còn, lòng tôi hoang mang.
Như từng sở hữu điều gì đó, giơ tay nắm bắt, nhưng chẳng có gì cả.
Như từng rực rỡ, trừng mắt cố nhìn, nhưng trong mắt chỉ toàn bóng tối.
Sự tối tăm đột ngột của Chùa Tổ, khiến tôi thất thần.

🌟

Trong chốc lát, một luồng sáng bừng lên ở cửa Mật Uyển.
Hóa ra là Lư Sư Tôn.
Trong đêm tối như mực, dưới ánh đèn pin, Lư Sư Tôn đang sờ đầu cho đệ tử.
Trong khoảnh khắc ấy, mọi thứ lại được thắp sáng.
Ngẩn ngơ nhìn về phía Sư Tôn, có ánh sáng, thật tốt biết bao.

🌟

Sau khi sờ đầu gia trì kết thúc, các đệ tử đi theo Sư Tôn bước vào phòng ăn. Quảng trường trước chùa, một lần nữa trở nên tĩnh mịch, bóng đêm bao trùm.
Trái tim tôi, dừng lại trong đêm tối ấy.

Tôi nương nhờ vào ánh sáng mặt trời chiếu khắp, nhưng cuối cùng mặt trời sẽ lặn. Tôi trông chờ vào đèn lửa sáng rực, nhưng vừa mới mất điện, đã trở nên vắng lặng tịch mịch. Tôi nương nhờ vào Lư Sư Tôn, nhưng Sư Tôn ở nhân gian cuối cùng sẽ chia ly.

Đột nhiên, tôi phát hiện ra, dù đã làm đệ tử của Sư Tôn nhiều năm, nhưng tôi vẫn chưa nhập môn. 
Mắt tôi, thấy được tượng Phật rực rỡ ánh vàng dưới ánh đèn, nhưng lại không thấy được Chân Phật tỏa sáng rực rỡ chưa bao giờ tối tăm.
Tai tôi, nghe được là những câu chuyện cười của Lư Sư Tôn kể, nhưng lại không nghe được tiếng trống pháp từng hồi đánh thẳng vào lòng người.
Mũi lưỡi tôi, ngửi và nếm được là hương vị ngọt ngào của những cúng phẩm, nhưng lại không ngửi nếm được pháp vị chân thật của Phật.
Tâm tôi, cảm nhận được là sự nương tựa vào Sư Tôn ở nhân gian, nhưng lại không cảm nhận được sự nương tựa chân thật vào Căn bản Thượng sư.

Cuối cùng, tôi biết tại sao lại thất thần trong bóng tối. Bởi vì ngọn đèn vẫn còn ở nơi Lư Sư Tôn, tôi vẫn chưa thắp sáng ngọn đèn trong tâm mình.

🌟

Một ngày khác.
Sau khi sờ đầu gia trì xong, Sư Tôn tự nói với mình: Đi bế quan đây, Kim Mẫu Dao Trì bảo tôi đi bế quan, nghỉ hưu rồi.
Nghe vậy, lòng tôi buồn bã.
Bởi vì tôi nghĩ đến tôn giả A Nan.

Khi Phật Đà còn tại thế, tôn giả A Nan là thị giả của Phật Đà, cũng là người đa văn nhất trong các vị A La Hán. Nhưng khi Phật nhập Niết-bàn, A Nan vẫn chưa khai ngộ. Khi tập kết kinh văn, ông cũng không giúp được gì.

May mắn thay, tôn giả A Nan chợt tỉnh ngộ, tinh tán tu hành, cuối cùng đã khai ngộ, tham gia vào đại tập kết kinh văn, để lại giáo ngôn của Phật Đà cho đệ tử Phật đời sau, truyền tải ngọn đèn tâm của Phật Đà.

Còn tôi thì sao? Còn tôi thì sao? Còn tôi thì sao?
Không khỏi hỏi lại mình ba lần.

Hỏi ngược lại bản thân, đã nhận được câu trả lời nào?
Hãy mau mau thắp sáng ngọn đèn trong tâm, truyền tiếp ngọn đèn Chân Phật Mật Pháp của Liên Sinh Hoạt Phật.
Soi sáng con đường của chính mình, cũng soi sáng Phật đạo cho chúng sinh.

Làm thế nào để thắp sáng đèn tâm?
Chuyển hóa sự lệ thuộc vào Sư Tôn thành sự nương tựa vào Sư Tôn.
Thực thực chất chất, chân chân thật thật.
Nghiêm trì giới luật, tu hành từng cấp bậc, thâm nhập thiền định, khí mạch minh điểm, đại lạc, quang minh, tính không, đại viên mãn.

🌟

Lôi Tạng Tự mất điện rồi. Ngọn đèn của Lôi Tạng Tự đã tắt.
Nhưng, sự truyền thừa của Lôi Tạng Tự không thể dừng lại.
Ngọn đèn tâm truyền tiếp của Lôi Tạng Tự không thể tắt.

🌟

Lư Sư Tôn viết thơ:

Truyền đèn

*Quang chiếu thập pháp giới
Dập tắt nghiệp ba đời
Vô số Chân Phật tử
Truyền đèn chẳng lơ là.*


### 32. Phụ lục 1


Đảnh lễ Sư Tôn kính yêu vô thượng tôn quý!

Ngu đệ tử Liên Ngạn vô tận cảm ơn Sư Tôn gia trì lớn lao liên miên không dứt! Lòng từ bi và đại pháp lực thần biến siêu cấp của Sư Tôn thật sự là quá bất khả tư nghì! Mỗi chữ mỗi câu của Sư Tôn đều là pháp chỉ, nhớ lại lần thứ hai Sư Tôn gọi Thượng sư Liên Hỷ nói thiên ngữ tại điện Hộ Ma, Sư Tôn hỏi đệ tử có biết nói thiên ngữ không? Đệ tử lúc đó trả lời Sư Tôn là không biết, nhưng từ tối hôm đó bắt đầu nhận được đại gia trì của Sư Tôn, đệ tử liền tự nhiên biết nói thiên ngữ, nhưng đệ tử chỉ nói thiên ngữ và hát thiên ca khi cầu nguyện với Pháp thân của Sư Tôn. Do đệ tử cảm nhận Pháp thân Sư Tôn khiến con không nên nói thiên ngữ trước đại chúng, chứ không phải là đệ tử cố tình che giấu.

Gần đây, Pháp thân Sư Tôn nói với đệ tử rằng, rồi sẽ có một ngày con sẽ biết được tâm ý của ta dành cho con, đệ tử nghe xong cảm động khóc nức nở. Không lâu sau đó đệ tử mơ thấy hai giấc mơ, giấc mơ thứ nhất là Sư Tôn đeo như ý vào ngón chân giữa của Sư Tôn, như ý biến thành to bằng chân của Sư Tôn. Tiếp theo giấc mơ thứ hai là mơ thấy Sư Tôn đi lấy máy hút bụi, đệ tử năm vóc sát đất đảnh lễ Sư Tôn, Sư Tôn bước tới gia trì Thiên tâm của đệ tử, Thiên tâm phát ra ánh sáng trắng lớn sáng rực liên miên bất tận tuôn trào ra, Sư Tôn thì thầm bên tai đệ tử một câu mật ngữ.

Kể từ khi có hai giấc mơ khai thị này, đệ tử tự nhiên nhớ lại nguyện lực của mình, và đau đớn khóc lóc phát khởi nguyện lực Bồ Tát Đại thừa hướng về Pháp thân Sư Tôn. Từ lúc này trở đi, Pháp thân Sư Tôn thường hóa hiện thành Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Khi đệ tử thấy Sư Tôn biến thành Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, đệ tử càng thêm xúc động đau đớn khóc, cảm giác như trái tim bị khoét ra vậy, hiểu rõ quá khứ hiện tại vị lai tam tế nhất như, hiểu rõ tình duyên giữa thầy trò mật thiết không thể phân ly, sự vĩ đại của Sư Tôn không thể diễn tả bằng lời!

Mấy năm qua, ngoại trừ Chủ nhật, đệ tử có thói quen mỗi ngày đến chỗ Sư Ma Bồ Tát nhiễu Phật. Kể từ khi có hai giấc mơ đó, Pháp thân Sư Tôn đã cho phép đệ tử bắt đầu nói thiên ngữ, hát thiên ca tại chỗ Sư Ma Bồ Tát để thỉnh Phật trụ thế và triệu thỉnh tổ sư các đời.

Ngày thứ Ba, 19 tháng 11, Thượng sư Liên Hỷ nói đi đến căn cứ Không Hành Mẫu 140, ba người đệ tử Liên Ngạn, Liên Hỷ, Liên Viên mua sẵn đồ cúng rồi đi. Thượng sư Liên Hỷ trước tiên tìm ra địa điểm căn cứ Không Hành Mẫu, lúc đó đệ tử được đại lực gia trì của Sư Tôn, dùng thiên ngữ và thiên ca kêu gọi Không Hành và Không Hành Mẫu, chúng con như gặp lại nhau sau lâu ngày xa cách, trong lòng lại một lần nữa cảm động liên miên. Đệ tử cầu nguyện cùng họ thỉnh Phật trụ thế. Tiếp theo Pháp thân Sư Tôn hiện ra trong hư không, chúng con cùng nhau hát thiên ca thỉnh Phật trụ thế. Sau đó Pháp thân Sư Tôn hóa thành Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, đệ tử lại cảm động rơi nước mắt, rất tự nhiên hát thiên ca cầu thỉnh tổ sư các đời.

Tiếp theo Pháp thân Sư Tôn hóa thành Diêu Trì Kim Mẫu, A Di Đà Phật, Địa Tạng Vương Bồ Tát với hàng nghìn thuyền pháp tiếp dẫn các linh ở nghĩa địa vãng sinh Phật quốc tịnh thổ, đệ tử dùng thiên ca khuyên nhủ chúng linh phát bồ đề tâm. Sau đó là duyên sâu và nguyện sâu giữa ba thầy trò Pháp thân Sư Tôn, Thượng sư Liên Hỷ và đệ tử Liên Ngạn, đệ tử trong khoảnh khắc đó phát nguyện với Sư Tôn rằng, đệ tử sẽ cùng với Thượng sư Liên Hỷ, hai chị em chúng con từ nay không phân biệt nhau, cùng nhau nỗ lực độ chúng sinh, tiếp nối truyền thừa pháp mạch! Tiếp theo Pháp thân Sư Tôn, Diêu Trì Kim Mẫu, A Di Đà Phật, Địa Tạng Vương Bồ Tát, Niguma một lần nữa đại gia trì cho đệ tử.

Hôm qua ngày 24 tháng 11, trong pháp hội Hộ Ma Diêu Trì Kim Mẫu, Sư Tôn hỏi đệ tử có biết viết chữ trời không, đệ tử trả lời Sư Tôn là chưa từng viết qua, vì vậy tối hôm đó sau khi đệ tử tu pháp xong, đã viết một số chữ trời, cầu thỉnh Sư Tôn gia trì và chỉ dạy đệ tử. Đệ tử một lần nữa vô tận cảm ơn Sư Tôn đại gia trì! Đệ tử từng thời từng khắc thỉnh Phật trụ thế! Cầu nguyện Sư Tôn trụ thế lâu dài mãi mãi!

Ngu đệ tử Liên Ngạn thành kính quỳ gối đảnh lễ Sư Tôn.
Ngày 25 tháng 11.


### 33. Phụ lục 2


Đảnh lễ Căn bản Truyền thừa Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật tôn quý nhất nhất nhất nhất nhất!

Sư Tôn kính yêu, Phật an! Mở thư vui vẻ!

Tiểu tiểu đệ tử Liên Viên dù đã vô số lần năm vóc sát đất đảnh lễ Sư Tôn cũng chưa thể diễn tả được lòng chí thành cảm ơn của đệ tử, chí thành cảm ơn Sư Phật, chư Phật Bồ Tát, Kim Cang, Không Hành đại lực gia trì, nhổ trừ nghiệp chướng sâu đậm từ nhiều đời kiếp của đệ tử, từng chỉ điểm ra khuyết điểm, sai sót, các hành vi cần phải sửa chữa của đệ tử. Tình thương yêu và lòng từ bi của Sư Tôn, chư Phật Bồ Tát..., sâu sắc cảm động đệ tử, đệ tử vô biên hổ thẹn hướng về Sư Tôn, chư Phật Bồ Tát, Kim Cang, Không Hành cầu sám hối thanh tịnh, từ nay về sau đều sẽ dốc sức nỗ lực tinh tấn tu trì, cầu nguyện có thể sớm ngày tu trì tương ứng, để báo đáp ơn Phật!

Đệ tử tỉ mỉ hồi tưởng lại sức gia trì không thể nghĩ bàn đã xảy ra trên thân đệ tử, và viết ra thành văn tự, dốc chút sức mọn của mình để ấn chứng sức gia trì không thể nghĩ bàn của Sư Tôn. Sư Tôn bất luận là Pháp thân, Báo thân, hay Ứng thân, sức mạnh đều không thể nghĩ bàn đến như vậy, Sư Tôn thật sự như lời thề nguyện của ngài thịt nát xương tan độ chúng sinh. Sư Tôn, chư Phật Bồ Tát, Hộ Pháp Kim Cang, Không Hành luôn luôn hộ trì chúng ta chưa từng rời xa, chỉ cần đệ tử chân tâm thật ý nguyện tu trì thì sẽ được hộ trì.

Việc này bắt nguồn từ Sư Tôn gần đây trong khai thị thuyết pháp, chỉ ra rằng ở Seattle có hai căn cứ tụ tập bí mật của Không Hành, một nơi ở Cầu Vồng Lôi Tạng Tự tại chỗ làm sinh cơ gần tượng Sư Ma Bồ Tát, nơi kia ở phố 140. Có rất nhiều đồng môn đã đến căn cứ, và mỗi người đều thấy các Phật Bồ Tát, đàn thành và vô số Không Hành khác nhau. Đúng lúc chương mới nhất của "Kinh Duy Ma Cật" nói đến hành giả phải hoan hỷ thường làm cúng dường, đệ tử nghĩ rằng, bất luận có hay không nhân duyên có thể thấy được đàn thành hoặc Phật Bồ Tát Không Hành, đi lễ bái và cúng dường cũng là điều nên làm, cũng là rất tốt.

Tất cả mọi thứ đều diễn ra một cách tự nhiên trong nhân duyên đó, sáng ngày 18 tháng 11, sau khi đồng tu xong, Thượng sư Thích Liên Hỷ dẫn con với tâm bình thường đến căn cứ Không Hành ở Cầu Vồng Lôi Tạng Tự. Chúng con bày biện cúng phẩm, đối diện với tượng Phật của Sư Tôn, bắt đầu chuẩn bị nhiễu Phật. Trước tiên chúng con cầu Sư Tôn gia trì, niệm Liên Hoa Đồng Tử tâm chú bảy biến, không ngờ rằng con kết ấn Liên Hoa Đồng Tử, biến đầu tiên của Liên Hoa Đồng Tử tâm chú chưa niệm xong, trong lòng đã trào dâng sự hổ thẹn lớn lao, sự sám hối lớn lao như vỡ đập, biến thành từng giọt nước mắt rơi lã chã, khoảnh khắc này con biết Pháp thân Sư Tôn đang gia trì cho con, pháp lưu gia trì của Sư Tôn từ đỉnh đầu đi vào thân con. Bước chân đầu tiên nhiễu Phật, trong đầu con đột nhiên hiểu ra rằng, hóa ra khoảng cách giữa con và Sư Tôn chưa bao giờ là khoảng cách về vị trí, mà là khoảng cách của tâm.

Từ năm 1996 quy y cho đến nay, con luôn cảm thấy rất xa cách với Sư Tôn, dù cho có gặp trực tiếp Sư Tôn, hay trong tu pháp hàng ngày nhập ngã ngã nhập, vẫn cảm thấy có khoảng cách, không biết tại sao mãi mà không thể làm được trăm phần trăm thân cận với Sư Tôn, đây là vấn đề luôn làm con phiền muộn. Nhưng hóa ra câu trả lời là như vậy, trong lòng rất rõ ràng lý do có khoảng cách chắc chắn là vì bản thân mình đã từng phạm giới samaya, không giữ gìn giới luật và nhiều lỗi lầm khác, con trong lòng không ngừng sâu sắc sám hối với Sư Tôn và chư Phật Bồ Tát: khi xưa đã tạo bao ác nghiệp, là vì vô thủy tham sân si, đều sinh ra từ thân ngữ ý, đã phạm mười ác năm vô gián, và các nghiệp tội samaya, vô lượng vô biên các loại tội, tất cả con nay đều sám hối, chư Phật thương xót thường nhiếp thọ, đến khi thành Phật không rời xa. Không ngừng mặc niệm kính nguyện ngày cát tường, đêm cát tường, một ngày sáu thời đều cát tường, ở trong tất cả cát tường đó, cầu nguyện Căn bản Truyền thừa Thượng sư vĩnh viễn trụ đỉnh gia trì, Bổn tôn nhiếp thọ, Hộ pháp bảo vệ, nguyện truyền thừa pháp lưu quán đảnh vĩnh viễn không khô kiệt, nguyện thầy trò sớm tối ấn tâm, nguyện tu trì sớm có ngày tương ưng. (Lời cầu nguyện này là hồi hướng cố định của đệ tử trong nhiều năm qua mỗi khi báo danh pháp hội và mỗi đàn tu pháp.)

Vì nghiệp chướng do chính mình tạo ra đã che chướng sự thanh tịnh của mình, vì không thanh tịnh nên không thể thân cận, tương ứng với Sư Tôn. Sư Tôn, con thật sự hiểu ra rồi. Từ ngày này, con đồng tu nghiêm túc hơn trước, tu pháp nghiêm túc hơn, và làm tốt hơn từng công việc hàng ngày.

Ngày hôm sau, 19 tháng 11, đúng lúc là ngày bão, Sư Tôn không dùng bữa tối ở Seattle Lôi Tạng Tự, chiều tối, Thượng sư Thích Liên Hỷ, Thượng sư Thích Liên Ngạn và con ba người cùng nhau đi mua cúng phẩm mới, lái xe thẳng đến căn cứ ở phố 140. Thượng sư Thích Liên Hỷ dưới sự dẫn dắt của Không Hành Mẫu đã tìm được điểm tụ tập của các Không Hành, vì biết rằng Thượng sư Thích Liên Hỷ hợp nhất với Pháp thân Sư Tôn, Sư Tôn đang siêu độ dẫn dắt chúng sinh quy y, đệ tử không thể thấy được Sư Tôn, Dược Sư Phật và các Không Hành trong hư không, vì vậy con rất thành kính chắp tay, trong lòng mặc niệm Nam Mô A Di Đà Phật bản Sư Tôn hát, quán tưởng A Di Đà Phật, Sư Tôn cùng tất cả chư Phật Bồ Tát Hộ Pháp Không Hành phóng quang gia trì cho chúng sinh mà Sư Tôn đang thực sự siêu độ, lâu lắm. Không biết tại sao con vẫn rất muốn trì Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, vì vậy con quán tưởng chính mình biến thành hình tượng Sư Tôn trong tranh truyền thừa trú trong tâm, phần còn lại của thân thể con trực tiếp biến thành Diêu Trì Kim Mẫu, truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn và Kim Cang Hộ Pháp trong tranh truyền thừa, không ngừng trì tụng chú dài Liên Hoa Đồng Tử, quán tưởng mỗi tiếng chú dài Liên Hoa Đồng Tử, ánh sáng chú luân bao phủ mảnh đất phía trước.

Điều làm đệ tử không ngờ tới là, đang lúc tập trung trì chú, bỗng nhiên nghe Thượng sư Liên Hỷ không ngừng thúc giục gọi con "pháp sư Liên Viên lại đây lại đây", sau đó Pháp thân Sư Tôn bắt đầu gia trì cho đệ tử, con có thể cảm nhận được Sư Tôn đang kiểm tra nghiệp chướng mà con đã tạo ra, không thể diễn tả được tấm lòng bi mẫn vô lượng cảm động đến phát khóc của Sư Tôn, không ngừng nói với con, "ta nhất định phải nhổ bỏ nghiệp đã ăn sâu vào căn của con, nhất định phải tiêu trừ nghiệp chướng của con". Pháp thân Sư Tôn dùng sức gia trì rất lớn rất lớn, từ Thiên tâm bắt đầu gia trì khắp toàn thân, Pháp thân Sư Tôn không ngừng vỗ nhẹ gia trì cho đệ tử, luôn hỏi con, con có biết không, con đã làm gì, và không ngừng dùng thiên ngữ từng điểm chỉ ra khuyết điểm thiếu sót của đệ tử. Đệ tử đã luân hồi tái sinh không biết được rằng chính mình qua nhiều đời đã tạo ra ác nghiệp gì, nhưng con biết, những gì Pháp thân từng điểm chỉ ra, đệ tử đều sẵn sàng thừa nhận và sám hối cầu hoàn tịnh.

Pháp thân Sư Tôn như người cha từ bi dạy bảo đệ tử đừng vọng ngữ, phải cẩn thận khi nói, nói nhiều lời tốt đẹp, phải tinh tấn tu pháp, đừng lười biếng, không được không tu pháp, phải tương ứng với tâm của Sư Tôn. Lúc đó đệ tử đối với sự dạy bảo của Pháp thân Sư Tôn không lời nào mà không gật đầu, vì con biết rằng Sư Tôn yêu thương con như vậy, tám mươi vạn ức chư Phật Bồ Tát Không Hành đều nhìn con, đều hy vọng con có thể tu trì thành tựu, làm sao con có thể để nghiệp vọng ngữ khiến con đọa vào luân hồi, làm sao con có thể lười biếng không tinh tấn tu pháp, làm sao con có thể không làm tốt từng việc lợi ích cho người khác, làm sao con có thể để những chúng sinh bị tổn thương oán hận chưa được siêu độ mãi mãi không được giải thoát? Không biết làm sao diễn tả được sự cảm động trong lòng đệ tử, nước mắt như suối tuôn, không ngừng gật đầu, con biết con biết, đây đều là nghiệp không được phạm!

Đệ tử thật may mắn biết bao, lại được Pháp thân Sư Tôn đại gia trì, nhổ bỏ nguồn nghiệp ăn sâu bám rễ từ nhiều đời kiếp của đệ tử, tiêu trừ nghiệp chướng lớn lao như vậy.

Sau khi đệ tử được sự gia trì bất khả tư nghì của Sư Tôn chư Phật Bồ Tát Hộ Pháp Kim Cang Không Hành tại hai căn cứ Không Hành, đã có những thay đổi sau đây:

Trước hết như mở ra công tắc cơ chế tự động trong cơ thể, tự động đi giở xem khai thị của Sư Tôn và phát hiện bên trong toàn là pháp bảo mà con rất cần, con nhất định phải nghiêm túc tận tâm học tập tiếp thu khai thị và giáo huấn của Sư Tôn, đi thực tu đi thực hành; tự động đúng giờ tham gia đồng tu buổi sáng; tự động hoàn thành công khóa chưa hoàn thành trong ngày; tự động chặn bớt những lời không quan trọng muốn nói, giữ vọng ngữ, ỷ ngữ.

Lúc rảnh rỗi tự động không ngừng trì tâm chú Sư Tôn hoặc Bách tự minh chú, khi trì chú tự động quán tưởng Tâm luân cho đến toàn thân tự động biến thành chú luân phát ra ánh sáng, niệm tưởng chuyên chú vào chú luân đang xoay chuyển, khi phát giác tạp niệm sinh khởi lên thì tự động, lại tự động kéo chính mình quay về trạng thái trì chú. Con từ khai thị của Sư Tôn trong 'Hồng Quang Đại Thành Tựu' mà biết, hóa ra đây chính là đang làm nhập, trụ, dung, đây chính là đang thanh tịnh. Bởi vì khi chuyên chú quán tưởng Sư Tôn trụ đỉnh nhập vào trong tâm, trụ tại tâm chú, chính mình với Sư Tôn dung hợp vô nhị phân biệt, lúc này con căn bản không sinh ra niệm tưởng nào khác, con với Sư Tôn không còn khoảng cách.

Tiếp theo là tốc độ tu pháp đã chậm lại, trước khi tu pháp sẽ rất nghiêm túc cầu nguyện Sư Tôn, Kim Mẫu, Bổn tôn tu pháp gia trì cho quán tưởng tu pháp được rõ ràng, trì chú trụ tâm, niệm văn thỉnh cầu Liên Sinh Hoạt Phật gia trì, không còn "đọc thuộc làu làu", mà là nghiêm túc cẩn thận làm từng bước một, có thể từ nội tâm mà sám hối, nếu cảm thấy không đủ chuyên chú sẽ làm lại một lần hoặc niệm lại một lần, không còn rất nhanh chóng kết thúc nghi quỹ của một đàn pháp.

Mặc dù cơ chế tự động mới được mở ra, việc tu hành của đệ tử như mới chỉ bắt đầu, bước khởi đầu rất muộn, đệ tử nhỏ bé chỉ là một chồi non nhỏ nhoi, nhưng đệ tử cuối cùng không còn là yêu Sư Tôn bề mặt, kính thầy bề mặt, trọng pháp bề mặt, thực tu bề mặt nữa, mà trong đầu óc sẽ thỉnh thoảng lóe lên những câu tinh hoa trọng điểm mà Sư Tôn đã khai thị, hoặc là những câu sám trong sám văn. Rất nhiều việc giống hệt như Sư Tôn đã nói, đổi canh không đổi thuốc, thời gian địa điểm nhân vật khác nhau, nhưng đạo lý lại giống nhau, lấy một ví dụ: Khi lễ bái Sư Ma Bồ Tát, Thượng sư Liên Hỷ nói các đồng tử rất vui mừng, rất cảm tạ Sư Tôn, cảm tạ Sư Ma Bồ Tát, chúng ở đây vui vẻ trưởng thành, đồng tử còn nói cảm ơn pháp sư Liên Viên đã dẫn dắt. Thượng sư Liên Hỷ và con đều không biết tại sao đồng tử nói phải cảm ơn con, nhưng sau đó chúng con mới nhớ ra, là vì con đến thường trụ tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự sau, đảm nhận đăng ký việc an phụng và cúng dường các linh hồn thai nhi, do không thể thỉnh giáo người phụ trách trước đó đã an phụng linh hồn thai nhi như thế nào, cho nên mỗi thứ Bảy con sẽ lấy một ít đồ cúng dường của mình như kẹo bánh quy, thay mặt các linh hồn thai nhi trong danh sách cầu an phụng mà cúng dường Sư Tôn, Sư Ma và chư Phật Bồ Tát tại đàn thành, quán tưởng các linh hồn thai nhi làm quán tưởng tứ quy y, niệm chú tứ quy y, xướng tụng hoặc niệm tụng vãng sinh vị hồi hướng cho các đồng tử, danh sách an phụng cũng được đặt vào hộp đăng ký pháp hội Hộ Ma ngày Chủ nhật.

Vì sự cảm ơn của các đồng tử, trong đầu óc đệ tử liền xuất hiện câu 'hóa ra tất cả những gì đã làm cuối cùng sẽ quay trở lại với chính mình', đây chẳng phải là nhân quả mà Sư Tôn đã giảng sao? Mặc dù đệ tử biết những việc đã làm đều là bổn phận của một người xuất gia như đệ tử, không có gì đặc biệt, nhưng thật sự là không thể vì thiện nhỏ mà không làm, không thể vì ác nhỏ mà làm. Đệ tử cũng không biết phải làm sao để diễn tả việc trong đầu óc sẽ lóe lên những tinh hoa khai thị hoặc câu vàng ngọc của Sư Tôn, mượn cách nói của Thượng sư Liên Hỷ, đây là pháp tạng trên thân của mỗi đệ tử, càng tu trì, pháp tạng sẽ càng hiển hiện nhiều.

Những pháp tạng này đều là những điều mà mỗi đệ tử đã học tập, đã tu trì, hoặc là bổn nguyện vốn có. Gia trì của căn bản truyền thừa rất quan trọng, nhất định phải hộ trì tốt truyền thừa gia trì của chính mình. Gia trì của chư Phật Bồ Tát Hộ Pháp Kim Cang Không Hành cũng rất quan trọng, tự lực hướng thiện hành thiện tu hành của bản thân cũng không thể thiếu. Hành giả tuyệt đối không được xem thường phát bồ đề tâm trong nghi quỹ tu pháp, không được xem thường mỗi việc lớn nhỏ lợi ích người khác đã làm, tất cả những điều này đều sẽ là sự tích lũy phước đức trong tư lương đạo của chúng ta, khi phước đức nhân duyên mà chúng ta tích tụ đầy đủ, sẽ trở thành trợ lực giúp chúng ta xuyên phá cánh cửa chướng ngại then chốt.

Khi Sư Tôn trên pháp tọa hỏi đệ tử về cảm nhận khi đến hai nơi căn cứ Không Hành, mỗi chi tiết, mỗi cảm nhận mà đệ tử nói ra đều được tái diễn lại một lần tại hiện trường, đệ tử suốt đời sẽ dốc hết toàn lực để thực hiện những việc đã hứa với Pháp thân Sư Tôn, vĩnh viễn không phá samaya này.

Đệ tử hướng về Căn bản Truyền thừa Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật kính yêu mà cầu nguyện, cầu nguyện gia trì cho đệ tử chồi non nhỏ bé này có thể khỏe mạnh vươn lên trưởng thành, dưới Phật quang của Sư Phật, sớm ngày tu trì tương ứng, quay về bản nguyên.

Cầu nguyện Sư Tôn chư Phật Bồ Tát Hộ Pháp Kim Cang Không Hành cũng gia trì cho rất rất nhiều những người bạn đồng tu có vấn đề giống như đệ tử, hoặc còn có những chướng ngại tu hành này nọ khác, cũng có thể sớm ngày phước đức nhân duyên đầy đủ, khai mở cơ chế tự động này, chân thành sám hối, chân thành tu pháp, chân thành làm tốt từng việc một, sớm ngày tu trì thành tựu quay về bản nguyên.

Một lần nữa đảnh lễ tri ân sự gia trì cứu hộ từ bi vĩ đại của Sư Tôn, tri ân sự gia trì hộ trì vĩ đại của chư Phật Bồ Tát Hộ Pháp Kim Cang Không Hành, tri ân Thượng sư Liên Hỷ, tri ân tất cả mọi điều!

Cầu nguyện Sư Tôn Phật thể an khang! Thường trụ thế gian! Mãi chuyển pháp luân! Tất cả cát tường!

Đệ tử nhỏ bé Thích Liên Viên đảnh lễ bái tạ.
Ngày 26 tháng 11 năm 2024.

**(Hết.)**


---

---
# File: sach-tam-linh/index.md
# Title: Sách tâm linh
---

# Sách tâm linh


> Tổng hợp sách, truyện, thơ tâm linh do Liên Sinh Hoạt Phật trước tác


---



### Vừa đăng tải


[079. Chú ấn đại hiệu nghiệm](/sach-tam-linh/079-chu-an-dai-hieu-nghiem) 

[304. Hỏi đáp dưới gốc tùng](/sach-tam-linh/304-hoi-dap-duoi-goc-tung) 

[303. Khẽ nhắn nhủ phàm trần](/sach-tam-linh/303-khe-nhan-nhu-pham-tran) 

[268. Đại Âm Sơn](/sach-tam-linh/268-dai-am-son) 

[249. Ngôn ngữ đến từ Phật quốc](/sach-tam-linh/249-ngon-ngu-den-tu-phat-quoc) 

[228. Đại chuyển thế của Pháp Vương](/sach-tam-linh/228-dai-chuyen-the-cua-phap-vuong) 

[181. Chỉ dẫn một con đường sáng](/sach-tam-linh/181-chi-dan-mot-con-duong-sang) 

[172. Đi theo bước chân của gió](/sach-tam-linh/172-di-theo-buoc-chan-cua-gio) 

[123. Sao băng và cây phong đỏ](/sach-tam-linh/123-sao-bang-va-cay-phong-do) 

[081. Chân Phật Nghi Quỹ Kinh](/sach-tam-linh/081-chan-phat-nghi-quy-kinh) 

[078. Dương trạch huyền bí](/sach-tam-linh/078-duong-trach-huyen-bi) 

[068. Mật tạng siêu kỳ lạ ](/sach-tam-linh/068-mat-tang-sieu-ky-la) 

[067. Tiếng lòng của người quy y](/sach-tam-linh/067-tieng-long-cua-nguoi-quy-y) 

[054. Mật tông Yết Ma pháp](/sach-tam-linh/054-mat-tong-yet-ma-phap) 


---



### Danh mục sách

---
# File: tinh-tuyen/bay-quy-y.md
# Title: Bảy quy y
---

## Bảy quy y


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

**Liên Sinh Hoạt Phật khai thị về Bảy quy y.**

Quy y viên mãn nhất của Mật giáo là bảy quy y. 

Nói chung, Hiển giáo chỉ có ba quy y, chính là quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng. Thế nào gọi là quy y Phật? Cũng có thể nói là quy y Phật tự tính. Quy y pháp là nói là quy y giáo pháp mà bản thân Phật đã truyền xuống. Thế còn quy y tăng? Chính là quy y Thánh hiền tăng.

Thế còn quy y trong Mật giáo mà nói chỉ là một cơ sở, quy y mà Mật giáo nói đến là quy y viên mãn, có thể nói là tương đối chu toàn hơn. Bởi vì bạn quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng, quy y Thánh hiền tăng là chỉ Thánh hiền tăng của mười phương, quy y Phật là chỉ Phật mười phương, quy y pháp là chỉ quy y pháp mà bản thân Phật truyền xuống. Nhưng còn sư phụ của mình thì sao? Trong Mật giáo có thêm quy y Kim cương Thượng sư.

Thật ra bốn quy y thì vẫn chưa chu toàn, bởi vì trong tất cả Phật Bồ Tát, còn phải tìm ra Bổn tôn của mình, cho nên trong Mật giáo còn phải quy y Bổn tôn. Nhưng sau khi bạn quy y Bổn tôn rồi vẫn chưa chu toàn, vì sao vậy? Bởi vì bạn cần có Không hành và Hộ pháp đến giúp đỡ bạn tu hành, cho nên còn phải quy y Không hành và quy y Hộ pháp. Quy y như thế này trong Mật giáo gọi là bảy quy y, không chỉ là sáu quy y, vì tách Không hành và Hộ pháp ra, còn nếu kết hợp Không hành và Hộ pháp lại thì thành sáu quy y. Quy y này khá chu toàn và viên mãn.

Quy y Kim cương Thượng sư, quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng, quy y Bổn tôn, quy y Không hành, quy y Hộ pháp chính là bảy quy y. Trong Mật giáo có bảy quy y thì mới là quy y hoàn chỉnh. Hiển giáo không hiểu, chỉ là quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng, chỉ là quy y mười phương Phật, quy y pháp mà Phật đã truyền xuống, và quy y Thánh hiền tăng. Vậy còn sư phụ của mình thì sao? Cho nên Mật giáo tôn sư trọng đạo hơn.

Bởi vì trong ba căn bản đã nói rất rõ ràng rồi, quy y Kim cương Thượng sư là gia trì căn bản, quy y Bổn tôn là thành tựu căn bản, vì sao? Bởi vì tương lai bạn tu Bổn tôn thì sẽ đến tịnh thổ của Bổn tôn, chính là nơi bạn thành tựu, là tập trung lại ở một nơi thành tựu, đến được chỗ của Bổn tôn, Bổn tôn chính là căn bản thanh tựu của bạn. Thế còn Hộ pháp thì sao? Chính là sự nghiệp căn bản, thế nào gọi là sự nghiệp căn bản? Trong khi bạn tu hành không có Hộ pháp có được không? Không có Không hành đến giúp đỡ bạn có được không? Đều không được. Bạn muốn bế quan mà không có Hộ pháp có được không? Cũng không được. Bạn muốn tu thành thiên sắc thân, muốn tu thành tựu, không có Không hành đến giúp đỡ có được không? Đương nhiên là không được, cho nên bảy quy y của Mật giáo tương đối viên mãn.

Ba quy y của Hiển giáo có thể nói là tương đối thô, còn bảy quy y của Mật giáo thì tương đối tinh vi, đã có Căn bản Thượng sư gia trì cho bạn, có Bổn tôn trực tiếp tương ứng thành tựu với bạn, có Không hành Hộ pháp đến giúp đỡ bạn.

Thế nào gọi là sự nghiệp thành tựu? Bạn muốn có đất, có  Hộ pháp đến giúp bạn bảo vệ mảnh đất này, có Không hành bí mật giúp bạn có được mảnh đất này. Bạn muốn cầu tư lương, có Không hành đi gọi thí chủ có tiền đến giúp bạn, những thí chủ này sẽ trở thành Hộ pháp của bạn, vì hộ trì bạn tu hành thì không phải là Hộ pháp thì là gì đây? Bạn nghĩ muốn có nhà, có Không hành giúp bạn đi tìm nhà, có Hộ pháp đến hộ trì ngôi nhà này của bạn. Bạn nghĩ muốn có đạo tràng tu hành, đạo tràng có thể trang nghiêm, nhất định phải có Không hành và Hộ pháp. Vì thế, Không hành và Hộ pháp vô cùng quan trọng, do đó quy y Không hành, quy y Hộ pháp tương đương với thỉnh cầu các vị đến giúp đỡ bạn, nếu bạn không có Không hành và Hộ pháp đến hộ trì thì sẽ bị ma “ăn thịt” từ lâu rồi. 

Cho nên quy y của Mật giáo tương đối viên mãn, không chỉ quy y Phật, cũng phải quy y pháp, quy y tăng, còn phải quy y sư phụ của mình, vì sư phụ truyền cho bạn Phật pháp, cũng phải quy y Bổn tôn, vì sau này bạn có thành tựu thì bạn sẽ đến tịnh thổ của Bổn tôn, đây chính là thành tựu của bạn. Thế còn Không hành và Hộ pháp ở bên cạnh hộ trì bạn tu hành, bạn thành Phật rồi, sau này các vị cũng có thể có thành tựu, cũng có thể thành Phật, các vị cũng phải hộ trì bạn, bạn cũng giúp đỡ các vị, đều phải giúp đỡ lẫn nhau, thiếu một cũng không được. 

Vì thế, quy y của Mật giáo là viên mãn, ba quy y của Hiển giáo thì thô vì không nói đến quy y Hộ pháp và quy y Không hành, Mật giáo cho rằng Hộ pháp và Không hành đều nên đến giúp đỡ. Nhưng cần là bạn phải cầu các vị thì các vị mới đến giúp bạn, bằng không trước khi bạn thành Phật, các vị cố ý đến phá phách bạn, cố ý chỉnh đốn bạn một chút, thế thì bạn không thành Phật được. Cho nên chúng ta bây giờ niệm Phật cũng phải niệm Vi Đà Tôn Thiên Bồ Tát, niệm Già Lan Tôn Giả, và hai vị Hộ pháp đặc biệt của Chân Phật là Uế Tích Kim Cang và Bất Động Minh Vương, đều phải cầu thỉnh, đều phải cầu các vị, các vị đến hộ trì bạn, bạn tu hành mới có thể viên mãn.

Cho nên Mật giáo là quy y phi thường, không phải là phổ thông. Bình thường học Phật quy y phổ thông là ba quy y, còn quy y viên mãn nhất là bảy quy y.

Om mani padme hum. 

Chân Phật Mật Uyển, Seattle Hoa Kỳ

11/03/1993.

---
# File: tinh-tuyen/bi-mat-cua-kien-tinh.md
# Title: Bí mật của kiến tính
---

![image](/img/img_04b24220491dc853ef8171bcfbbe0d07.png)



## Bí mật của kiến tính


*Bài đăng trong Chân Phật Báo số 1457*

Xuất bản: 19/01/2023
Tác giả: Pháp sư Liên Án
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Bài viết của Pháp sư Liên Án

Thế nào gọi là kiến tính? Vì sao mỗi ngày tu pháp phải ngồi thiền một tiếng đồng hồ? Và tốt nhất là đừng để gián đoạn! Sư Phật khai thị: “Chính là để cho tinh khí chảy ngược đến thiên tâm (tập trung tư tưởng vào thiên tâm), để cho thần quang vô hình ngưng tụ ngày càng dày, tiến tới thấy được chân tính (thiên tâm tự động, thần quang xuất hiện, đây chính là tự tính, là tự ngã vốn có), thần quang sẽ tự nhiên tan vào đại tâm của vũ trụ (Tỳ Lô tính hải), trời người hợp nhất này tức là đắc chứng. Phật Đà ở dưới cây bồ đề thấy những ngôi sao ở phương Đông, thật ra chính là thần quang của chính mình hiển hiện, và thần quang này thì chúng sinh đều có!”

Vì thế Đạo gia vô cùng coi trọng tinh khí (thận thủy), Đạo gia bảo vệ tinh thủy, chính là pháp giữ giới luật của Phật giáo. Phật môn xuất gia cũng là vì để không rò rỉ nguyên dương, giảm bớt việc thế tục để có thể tập trung vào tu hành. Nếu tinh thủy dồi dào thì thần quang sẽ ngưng tụ, ý thổ tịnh thổ tự nhiên sẽ ngưng kết và không lỏng lẻo, nếu thận thủy đầy thì sẽ tràn ra, vì thế hành giả nên tu pháp cố thủ thần thủy, có thể tham khảo pháp Đại ôn dưỡng mà Sư Phật đã dạy (trong văn tập Lư Thắng Ngạn số 22 - Khởi Linh Học), và pháp Thu nhiếp (trong văn tập Lư Thắng Ngạn số 52 - Một Chút Thiền Vị, chương 2). 

Hành giả muốn có thể kiến tính, tư thế ngồi thiền trước tiên phải học Tỳ Lô thất chi tọa: nhờ vào thế ngồi hoa sen, còn gọi là song bàn, sẽ tự động nâng hậu môn, hạ hành khí sẽ đi vào trung mạch; hai tay dùng định ấn đặt dưới rốn, tức là bình trụ khí đi vào trung mạch; ưỡn ngực vai ngang, thẳng xương sống phía sau, tức là biến hành khí đi vào trung mạch; thu hàm dưới lại tức là thượng hành khí đi vào trung mạch; đầu lưỡi chạm vào hàm trên (Đạo gia gọi là bắc cầu trời), mệnh khí đi vào trung mạch, hai mắt nửa nhắm nửa mở nhìn cố định vào một chỗ (nhìn vào chóp mũi hoặc nhìn vào chày kim cang) để điều hòa thân tâm, để năm khí này có thể triều nguyên (chảy ngược đến thiên tâm). Người không ngồi được song bàn thì ngồi đơn bàn cũng được, đơn bàn cũng không được nữa thì ngồi tùy ý cũng được, nhưng cần có đệm ngồi thì khí sẽ thuận hơn một chút, cũng là để hạ hành khí đi vào trung mạch.

Để tập trung suy nghĩ thì trước tiên làm Cửu tiết Phật phong, pháp đếm hơi thở, hoặc pháp thiền định một duyên, v.v… Khổng Tử nói: “Ngô đạo nhất dĩ quán chi” (đạo của ta, chỉ một lẽ có thể xuyên suốt tất cả). Lão Tử nói: “Nhân năng thủ nhất vạn sự tất.” (con người có thể giữ vững một thứ thì muôn việc đều xong xuôi) Phật Đà nói: “Chế tâm một chỗ, không việc gì là không làm được.” Vì sao phải chạm đầu lưỡi vào hàm trên và nâng hậu môn lên? Bởi vì trung mạch của chúng ta ở khoang miệng và ở vị trí đáy chậu là đầu mút, cho nên muốn nối ở trên hay nối ở dưới thì Đạo gia đi từ trước ra sau theo hai mạch Nhâm Đốc rồi đi vào trung mạch, mạch Nhâm là từ huyệt Hội âm bên dưới hông, đi qua bụng ngực đến huyệt Thừa tương ở dưới môi. Mạch Đốc thì bắt đầu từ huyệt Trường cường ở xương cụt, đi dọc theo sau lưng và sau gáy đến huyệt Ngân giao ở trong môi. Còn Mật giáo thì quán tưởng mạch trái phải đi vào trung mạch, Thiền tông trực tiếp tu trung mạch từ Hải để luân đến Đỉnh luân (trục chỉ tâm tính), tu pháp có nhiều cách, nhưng cuối cùng các con đường khác nhau đều đồng quy, đều là để cho khí đi vào trung mạch, chảy ngược đến thiên tâm mà đắc chứng. 

Tư thế thiền định giống nguyên lý của máy bơm nước và cái cây to, ví dụ: 

1. Người đã từng học môn vật lý ở trường cấp hai đều biết nguyên lý của cái máy bơm nước là tạo ra "chân không", sau đó thông qua chênh lệch áp suất khí quyển, nước giếng ở dưới đất theo đường ống mà dâng lên. 

2. Các nhà khoa học đã nghiên cứu nước của những cây lớn được vận chuyển lên ngọn như thế nào? (Cây bạch đàn cầu vồng và cây Hyperion cao tới 116 mét.) Điều này là do sự thoát hơi nước tạo ra lực kéo mạnh, dựa vào lực hút bên trong và lực căng mà hình thành nên áp suất âm, thông qua cột nước liên tục để kéo nước di chuyển lên trên. Cũng như vậy, trong cơ thể con người còn có nhiệt độ, huyết áp, huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương và kinh mạch trung ương cực nhỏ, cũng có thể sinh ra tác dụng thoát hơi nước để kéo tinh thủy vận động lên trên. Cũng như vậy, trong cơ thể con người còn có nhiệt độ, huyết áp, huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương và kinh mạch trung ương cực nhỏ, cũng có thể sinh ra hơi nước để kéo tinh thủy lên trên. Khi ngồi thiền và giữ yên lặng (đúng kỹ thuật và tư thế ngồi) thì tinh thủy và ngũ khí sẽ chảy ngược về thiên tâm và hóa thành thần quang, cho nên nước rất quan trọng, nếu không có nguồn cung cấp nước, cây lớn sẽ khô héo, tinh thủy trong cơ thể người nếu khô kiệt thì sẽ suy vong.

Khẩu quyết tâm yếu của nhập Tam ma địa: vô sự, vô tâm (Lư Thắng Ngạn văn tập số 75 - Chân Phật Pháp Trong Pháp, số 80 - Vua của Phật Vương), tư thế ngồi im như cái cây, thân bất động (thân thanh tịnh), khẩu bất động (không trì chú niệm Phật - khẩu thanh tịnh), ý bất động (không nghĩ quá khứ hiện tại vị lai - vô niệm - ý thanh tịnh), quán tưởng chính mình thành một cái bình rỗng, sau khi phá vỡ nó thì không khí bên trong và không khí ở bên ngoài sẽ tan vào nhau (khai thị tại Seattle Lôi Tạng Tự ngày 20/6/2015), quán tưởng chính mình thân không, tâm không, tính không, pháp không (đây là chân không, dòng chảy pháp của vũ trụ tự nhiên sẽ trút vào toàn thân). Các nhà khoa học về cơ học lượng tử (vật lý lượng tử) đã chứng minh rằng mọi vật chất trong thế giới (bao gồm cả cơ thể con người) khi bị phân hủy thì cuối cùng đều là không, như Tâm Kinh nói: “Sắc tức là không, không tức là sắc”. Có thể thấy rằng vũ trụ là hư vô, nhân gian là là huyễn hóa, chỉ còn lại một ý thức vũ trụ mà thôi!

Ngồi thiền cần ngăn chặn: nhập ngoan không, ngũ uẩn ma (tức là ngũ uẩn, rơi vào trong thế giới của năm uẩn), tẩu hỏa nhập ma (hễ xuất hiện các tướng thì nhất loạt đều không để ý là được), dã hồ thiền [thiền của loài chồn hoang: chỉ loại thiền của những người chưa kiến tính mà đi lừa người, chỉ biết bắt chước làm và thuyết giảng chân lý mà chính mình chưa trực nhận] (bản thân mình là người luyện khí, cho rằng khí của mình đã hợp với khí của trời đất, như vậy hợp với chu thiên thì có thể xem là thành tựu; Đạo gia có rất nhiều sách về luyện đan, chú trọng nội công, chú trọng khí công, chú trọng thái dược, chú trọng thánh thai, cũng chính là tọa thiền hữu hình.) Tọa thiền thông minh pháp là kết thánh thai vô hình, người tọa thiền phải ngồi một cách tự nhiên, từ động nhập tĩnh, từ lạnh thành ấm, từ tán thành tụ, từ loạn thành nhất, chí khí trong sáng, hồi thần nhập thiên tâm. Quan Thế Âm Bồ Tát nói: “Phàm là người tu tọa thiền thông minh pháp này thì tất cả thiện thần sẽ ủng hộ, không rời xa một giây, bao gồm Hộ Thế Tứ Vương, Thiên long bát bộ quỷ thần, v.v… đều thủ hộ.”

Những điều nói ở trên đã chứng minh nguyên lý của tu hành, hành giả vì sao cần sám hối (những ác nghiệp đã tạo trong quá khứ), giữ giới (sau này không tạo ác nghiệp nữa), nêu cao điều thiện, vận động luyện khí thông mạch (bài vận động bảy luân xa, tám đại pháp của Kim Mẫu)? Chính là vì để cho thân thể vô cùng khỏe mạnh, khí huyết lưu thông, có thể ngồi thiền được lâu. Tu pháp Tứ gia hành là để tiêu nghiệp chướng, tăng phúc huệ, đạo tâm kiên cố, tu hành không dễ sinh ma chướng, có thể càng dễ dàng ngưng thần nhập thiên tâm, tiến vào tương ứng, nhập Tam ma địa.

Chân Phật Mật Pháp là cực kì khoa học, nếu hành giả muốn minh tâm kiến tính, nếu hiểu được nguyên lý tu hành (thì sẽ có tín tâm), phương pháp lại chính xác, khi ấy tu hành sẽ có được sức mạnh, chứ nói suông thì vô ích. Điều này đòi hỏi sự kiên trì và tinh tấn thực tu thực chứng, tại đây đặc biệt cảm ơn Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật đã nói ra những đại bí mật nghìn năm không truyền, để chúng ta có được đại pháp tọa thiền thông minh vô thượng thượng có thể tu trì, thoát khỏi sinh tử, hy vọng mọi người biết trân trọng.

**Ghi chú:**
1. Xin tham khảo Văn tập Lư Thắng Ngạn số 45 - Tọa Thiền Thông Minh Pháp, cuốn số 51 - Vô Thượng Mật và Đại Thủ Ấn (Đại Nhật Như Lai thiền định, nhất duyên thiền định pháp).
2. Người muốn thực tu Chân Phật Mật Pháp, trước tiên xin hãy đem tâm thành kính quy y minh sư - Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, người sáng lập Chân Phật Tông, có được truyền thừa Chân Phật Tông, thực tu như vậy mới có thể có được sức mạnh gia trì của truyền thừa và thành tựu, có sự chỉ điểm của minh sư thì tu h ành mới không có sai sót. Xin hãy đọc nhiều sách và khai thị của Liên Sinh Hoạt Phật, Liên Sinh Hoạt Phật nói: “Sách đại diện cho lòng tôi, mở sách của tôi ra là sẽ có được sự gia trì.” 

Chúc: Sư Phật Sư Mẫu thường trụ thế gian, thường chuyển pháp luân, không nhập niết bàn, Phật thể an khang. Các vị đồng tu thân tâm khỏe mạnh, đạo tâm kiên cố, phúc huệ tăng trưởng, tu hành thành tựu. 
Liên Án đến từ Hoa Liên, Đài Loan chắp tay.

---
# File: tinh-tuyen/bi-mat-cua-minh-tam.md
# Title: Bí mật của minh tâm
---

![image](/img/img_a3a8759c940cfdf24cce23660e71f428.png)



## Bí mật của minh tâm


*Bài đăng trong Chân Phật Báo số 1468*

Xuất bản: 06/04/2023
Tác giả: Pháp sư Liên Án
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Bài viết của Pháp sư Liên Án

Sư Phật khai thị: “Một ngày sống uổng phí, nhân gian nhiều ngu si, sao không trọng hiện tại, nắm lấy giá trị ấy. Việc có ý  nghĩa nhất của đời người là tu hành, việc có giá trị nhất của đời người là khai ngộ!” Khai ngộ minh tâm rốt cuộc là cái gì? Có một bài kệ rằng: “Có giống có không giống, không giống cũng không khác, tận dụng hết vạn vật, khai ngộ nằm trong đó!”

*Cái gọi là khai ngộ của tôi là ngộ cái gì? Đây là một bí ẩn lớn nghìn năm, không một vị tổ sư nào dám nói ra, cho dù có nói ra thì cũng chỉ mơ mơ hồ hồ, các vị tổ sư đều nói, bất khả thuyết, không thể nói, vì sao không thể nói? Bởi vì, bởi vì… Cuối cùng tôi đã ngộ ra, đã hiểu rồi, tôi đã chứng đắc, tôi mới là sự thanh tịnh chân chính, cái kiến của sự khai ngộ này không thể xem thường, như sấm sét giữa trời quang, tiếng sấm vang rền.*

*Tôi thấy “tham là Phật tính”, bên trong Phật tính có “đại lạc vĩnh viễn”.
Tôi thấy “sân là Phật tính”, bên trong Phật tính có “ánh sáng xán lạn”.
Tôi thấy “si là Phật tính”, bên trong Phật tính có “giải thoát phiền não”.*

*Tôi nói với mọi người: 
Bên trong Phật tính là đại lạc (Dục giới thiên) tham.
Bên trong Phật tính là tịnh quang (Sắc giới thiên) sân. 
Bên trong Phật tính là tính Không (Vô sắc giới thiên) si. *

*Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người, có thể điều hòa đại lạc, tịnh quang, tính Không đến mức vô cùng quân bình, trở thành một ly nước trái cây tổng hợp, đây chính là bát nhã, đem bát nhã này đi dạy bảo chúng sinh tức là “đại bi độ sinh”, ly nước trái cây tổng hợp này chính là sự nhậm vận của ba thứ đại lạc, tịnh quang, tính Không. *

*Tôi nghiêm túc tuyên bố: 
Mở rộng tham (đại lạc), sân (tịnh quang), si (tính Không) ra để mà nhậm vận chính là khai ngộ, chính là minh tâm kiến tính. Nói một cách đơn giản, Phật tính chính là sự chuyển hóa tham, sân, si, tham sân si chính là Phật tính.* 
(Văn tập Lư Thắng Ngạn số 122 - Mật Giáo Áo Nghĩa Thư, chương 11: Đại công khai khai ngộ.)

Tâm là vô hình vô tướng, không trung diệu hữu [trong cái không có cái có vi diệu], Đạo Đức Kinh của Lão Tử nói: “Vô” được gọi là sự bắt đầu của trời đất, “Hữu” được gọi là mẹ của vạn vật… Hai cái này cùng một điểm xuất phát chỉ khác tên gọi. 

Thiền tông:
Thứ nhất, chặt tay cầu pháp, đại sư Nhị Tổ Huệ Khả ở Trung Thổ khi mới bái tổ sư Đạt Ma đã thỉnh cầu an tâm, thầy nói: “Lấy tâm ra đây, ta sẽ an tâm cho!” 

Huệ Khả đáp: “Không lấy ra được!” 
Thầy nói: “Ta đã an tâm xong rồi đó!” 

Từ đây có thể biết cái tâm này là có, nhưng không lấy tâm ra được.

Thứ hai, ý nghĩa quan trọng của ngồi thiền, tổ sư Đạt Ma ở Thiếu Lâm Tự thấy mấy vị tăng nhân đi vào tịnh phòng ngồi thiền ba ngày ba đêm, còn quy định không được nói chuyện, sau đó tổ sư cũng theo họ đi vào. Đột nhiên đèn dầu tắt, mọi người sợ hãi mở to hai mắt. 

Tổ sư Đạt Ma ở trên bàn của mình mài mảnh ngói nên phát ra tiếng vang, mọi người liền hỏi đại sư đang làm gì vậy. Đại sư hỏi ngược lại, thế các người đang làm cái gì thế. Có người trả lời rằng đang ngồi thiền thành Phật, đại sư nói lại rằng ta đang mài ngói thành gương. 

Người khác phản bác lại rằng mài ngói không thể thành gương được, đại sư lại nói lại rằng ngồi thiền thì làm sao có thể thành Phật được chứ! 

Người thứ ba hỏi tổ sư vậy phải như thế nào mới có thể thành Phật! Tổ sư trả lời rằng: “Cần biết rằng Phật không hề có hình thái nhất định, và thiền cũng không phải là ngồi hay nằm, phải hiểu vì sao mà ngồi thiền, bằng không sẽ vĩnh viễn không thấy đại đạo. Muốn thành Phật phải từ cái gốc tu lên, tâm là cái gốc, tội từ tâm sinh ra và cũng từ tâm mà diệt, tất cả thiện ác đều do tâm sinh.” Vì thế Phật giáo dạy: “Khẩu quyết nhập Tam ma địa là: vô sự, vô tâm, vô niệm, vô ngã.”

Tâm khí như một, tâm tức là năng lượng, khí thông mạch sẽ sản sinh đại lạc. Tôi từng xem một bộ phim do Sylvester Stallone người Mỹ đóng vai chính, nam diễn viên đóng vai một võ sĩ quyền anh, sau cái chết của người vợ trong phim, nam diễn viên rất đau buồn và nhớ nhung, anh ta thường đến trò chuyện với bố vợ. Anh từng tiết lộ trong lòng có ma quỷ nhưng không phóng thích nó ra được, cảm thấy rất khó chịu, không biết phải làm sao! Ông bố vợ không đáp lại, sau đó, nam diễn viên đi tham gia một trận đấu quyền anh, ông bố vợ làm huấn luyện viên cho anh ta, khi trận đấu đến lúc nguy cấp, thấy anh ta sắp không xong rồi, ông bố vợ hét lớn: “Hãy giải phóng con quỷ trong tim anh ra đi!” Kết quả cuối cùng anh ta đã thắng cuộc đấu.

Con quỷ này rốt cục là cái gì? Trong phim, con người dùng ma quỷ để miêu tả nội tâm của mình, điều này đã khơi dậy một suy nghĩ rất lớn trong tôi, có thể thấy rằng anh ta cảm thấy mình có một khối năng lượng rất lớn, nhưng lại không thể giải thích hợp lý, không thể phóng thích nó ra ngoài. Có thể thấy rằng nội tâm anh ta sợ hãi và bất an, nhưng cuối cùng lại nhờ sự kích phát của ma quỷ này mà giành chiến thắng. Có thể thấy tâm (Phật tính) là nguồn gốc của sự chống đỡ và năng lượng lớn nhất của chúng ta! Cái gọi là: “Pháp chính mà người tà thì pháp cũng tà, pháp tà mà người chính thì pháp cũng chính”, sức mạnh được dùng vào việc thiện thì chính là sức mạnh chính, dùng vào việc ác thì tức là sức mạnh tiêu cực, thiện ác đúng là nằm trong một niệm, vì thế tâm phải có thể tự kiểm soát, không thể tự kiềm chế thì rất dễ gọi ma thừa cơ nhập vào! Làm một con người, hành vi phải đoan chính (dừng ác), phải làm nhiều việc thiện (dương thiện), nhưng không được để trong lòng (vô tâm). Vô tâm thì tâm sẽ thanh tịnh, tâm sẽ có thể an, tâm an thì tự nhiên có thể đắc định sinh huệ, giải thoát lục đạo luân hồi sẽ dễ dàng. Bởi vậy kinh Kim Mẫu nói: “Giải thoát không khó, khó ở định huệ.”

Ánh sáng tự tâm: trong tu pháp, trong giấc ngủ, trong khi chết sẽ hiển hiện (Văn tập Lư Thắng Ngạn số 51 - Vô Thượng Mật và Đại Thủ Ấn, chương: Nghĩa chân thực của Thượng sư.) Khai thị rõ ràng của tổ sư Mật giáo, “ánh sáng tự tâm chính là Thượng sư”, pháp Đại thủ ấn chính là thực tu. Hành giả Mật tông chúng ta phải thực tu pháp Đại thủ ấn, nếu bạn thực tu pháp Đại thủ ấn chính là lấy tâm mình làm ánh sáng, dùng tâm mình làm nơi nương tựa, cuối cùng dùng ánh sáng tự tâm làm vị thầy của chính mình. Pháp Đại thủ ấn này đòi hỏi phải còng lưng nỗ lực thực hiện, tự mình đi tìm cách chứng thực, không thể nhờ thầy chứng giùm cho, chỉ cần bạn tu thành tựu vô tướng thì bạn sẽ có hào quang vạn trượng.

Sư Phật khai thị: “Người khai ngộ, bởi vì bất khả thuyết, cho nên không thể nói, mới gọi là khai ngộ!” Vạn vật hữu hình của thế gian không thể so sánh, vì thế nói rằng bất khả thuyết, nói ra cũng không trúng, Phật pháp vốn dĩ luôn tồn tại, không vì nói ra rồi mà tăng thêm một phần, cũng không vì nói ra rồi mà bớt đi một phần. Vì thế, sau cùng Phật Đà vẫn tùy duyên tùy thuận mà khuyên thỉnh, trụ thế, dùng phương tiện thiện xảo để nói Phật pháp, và pháp tức không phải pháp, không phải pháp tức là pháp, tất cả đều là Phật pháp, tất cả cũng đều không phải là Phật pháp, nếu bạn đã đến được bỉ ngạn thì không cần đến Phật pháp nữa, lúc này chúc mừng bạn đã chứng ngộ rồi!

Gửi kèm thêm bài vè đọc nhanh: “Không nói rõ không nói, nói rồi cũng như không, tuy không cũng phải nói, mong nói chẳng như không.”

Liên Án tại Đài Loan chắp tay.
Bài viết đăng trên Chân Phật Báo số 1468 ngày 6/4/2023. 

Xuất xứ của khai ngộ xin tham khảo:
Văn tập Lư Thắng Ngạn:
1. Cuốn số 43 - Địa Linh Dấu Tích Thần Tiên, chương “Tâm yếu bí mật của thành Phật”.
2. Cuốn 274 - Đôi Lời Căn Dặn, chương “Sự hỗn độn mà tôi biết” và “Trái tim ta đang sục sôi”.
3. Cuốn 275 - Khẩu Quyết Đạo Giải Thoát, chương “Tâm đắc của thiền”.
4. Cuốn 289 - Như Mộng Như Huyễn, chương “Tâm pháp tu trì của khai ngộ”.
Tuyển tập khai ngộ: 
1. Tâm Kinh - bài giảng 48.
2. Viên Giác Kinh - quyển 1: Bồ đề.
3. Thảo luận ngang dọc về Phật pháp - Chính niệm trong vô niệm.
4. Bài khai thị (ngày thứ hai) trong pháp hội Uế Tích Kim Cang tại quảng trường Madison Square Garden tại New York, Hoa Kỳ ngày 22/6/1997.

---
# File: tinh-tuyen/cat-tuong-thien-nu-mong-thi-phap.md
# Title: Cát Tường Thiên Nữ - Mộng thị pháp
---

![image](/img/img_ed5f39b4219ee259735af1a394105bb9.png)



## Cát Tường Thiên Nữ ngũ sắc tuyến mộng thị pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: 1992
Địa điểm: Seattle Lôi Tạng Tự
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Tôi nói về chủ đề này bởi vì chúng sinh hữu tình ngày nay luôn phiền não bởi quá nhiều hoàn cảnh áp lực. Trong cuộc sống hàng ngày, họ phiền não vì những việc rất cơ bản như: bất hòa trong hôn nhân, khó khăn trong sự nghiệp, lo lắng về con cái, lo ngại về sức khỏe, xung đột với bạn đời, những vật lộn trong các mối quan hệ cá nhân, dính líu tới luật pháp, v.v...

Đối với việc tu hành, có ba cấp bậc của sự thành tựu:

1️⃣ Cấp độ thành tựu cao nhất:

▪️ Giác ngộ Phật tính.

▪️ Minh tâm kiến tính.

▪️ Sáu năng lực siêu nhiên.

▪️ Đại viên mãn.

2️⃣ Cấp độ thành tựu trung:

▪️ Tàng hình.

▪️ Cực lạc.

▪️ Vô ngại.

▪️ Bất tử.

3️⃣ Cấp độ thành tựu thấp:

▪️ Có được sự yêu mến và tôn trọng.

▪️ Cuộc sống phong phú.

▪️ Tiêu tai.

▪️ Hàng phục.

Hành giả Mật tông và chúng sinh cõi nhân gian cũng thường phải đối mặt với những quyết định khó khăn. Khi một người lưỡng lự hoặc không thể đưa ra quyết định, khi đó cần có sự chỉ dẫn hoặc gợi ý từ chư Phật và Bồ Tát. Do vậy, tôi truyền dạy pháp "Cát Tường Thiên Nữ ngũ sắc tuyến mộng thị pháp".

Bạn hãy mua sợi chỉ ngũ sắc và tịnh hóa nó bằng cách hơ qua lửa. Hành giả Mật tông trước tiên nên nhịn ăn, sau đó tự tịnh hóa chính mình bằng việc tắm gội sạch sẽ. Cúng dường tới Cát Tường Thiên Nữ trước đàn thành. Cầu nguyện ngài về câu hỏi của mình và cầu ngài hạ giáng ban lời chỉ dạy cho mình trong giấc mơ.

🌟

**Cách thức chính như sau:**

Thời gian cầu nguyện rất quan trọng. Người thỉnh cầu phải cầu nguyện sau thời điểm hoàng hôn, ngay khi thấy cần phải bật đèn vì trời đã tối, cũng chính là khoảng thời gian mà bữa cơm tối được nấu xong. Chính thời điểm này hãy lấy chỉ ngũ sắc, đến trước đàn thành hoặc bàn thờ Cát Tường Thiên Nữ.

Quán tưởng ngón chân cái bàn chân phải của Cát Tường Thiên Nữ cử động liên tiếp 3 lần. Tiếp đó, ngón chân cái phóng ra luồng ánh sáng trắng mạnh mẽ chiếu rọi vào sợi chỉ ngũ sắc mà hành giả đang cầm trên tay. Hãy quán tưởng thật rõ ràng.

Niệm chú Cát Tường Thiên Nữ 7 biến. Buộc một nút trên sợi chỉ ngũ sắc sau mỗi lần niệm xong một biến. Tổng cộng sẽ có 7 nút thắt trên sợi chỉ ngũ sắc.

Câu chú là: "Om maha celiya soha."

Cuối cùng nối hai đầu sợi chỉ ngũ sắc lại tạo thành chiếc vòng và đeo vào cổ tay trái.

**Ví dụ về lời cầu nguyện:**

"Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đã truyền pháp Cát Tường Thiên Nữ ngũ sắc tuyến mộng thị pháp cho con - đệ tử Chân Phật Tông ABC (tên mình). Hôm nay con đã chuẩn bị đồ cúng dường và hết lòng cầu nguyện ngài hạ giáng, ban cho con chỉ dẫn và dạy bảo trong giấc mơ.” (Đệ tử cần thành tâm cầu khẩn ngài 3 lần.)

Sau đó niệm Namo Bồ Tát Cát Tường Thiên Nữ, hoặc Namo Mahasri Boddhisattva (3 lần).

Tiếp đó cầu nguyện:

"Đệ tử ABC đang có dự định kết hôn với XYZ. Xin ngài hãy đến trong giấc mơ và chỉ cho con biết cuộc hôn nhân này có cát tường hay không." Hoặc: "Đệ tử ABC đang có dự định mở nhà hàng tên là XYZ. Xin ngài hãy đến trong giấc mơ và chỉ cho con liệu việc này có cát tường hay không." Hoặc: "Đệ tử ABC đang có dự định tu pháp Acala (Bất Động Minh Vương). Xin ngài hãy đến trong giấc mơ và chỉ cho con những gì con có thể đạt được nếu tu pháp này."

Hãy đưa ra những lời cầu nguyện khác tương tự như vậy.

🌟

**Những giấc mơ cát tường:**

Mơ thấy Phật, pháp, tăng, Bổn tôn, hoặc Bồ Tát, hoặc những giấc mơ về việc leo núi, cưỡi voi, băng qua sông, bay, gặp vận may, được cho quần áo, Bổn tôn ban phước bằng cách đặt tay lên đỉnh đầu, v.v… đều là những giấc mơ cát tường với lời ám chỉ là "hãy làm".

**Những giấc mơ xui xẻo:**

Bị chó cắn hoặc rắn cắn, cãi nhau với ai đó, bị đuổi dọa giết, mất của cải, mất quần áo, bị lột trần truồng, ngã xuống từ mỏm đá, bị thương, chủ nợ tới đòi nợ, v.v… đều là những giấc mơ xui xẻo, lời ám chỉ là là "đừng làm".

**Những giấc mơ không tốt không xấu:**

Lời ám chỉ là: bình thường.

🌟

**Những điểm chính cần chú ý:**

- Lựa chọn thời gian.

- Quán tưởng chính xác rõ ràng.

- Tâm chú của Cát Tường Thiên Nữ là câu chú ngắn.

- Cát Tường Thiên Nữ cũng có câu chú dài.

- Niệm câu chú ngắn hay dài cũng đều được.

- Nhịn ăn và thanh tịnh bản thân bằng việc tắm rửa sạch sẽ.

- Đồ cúng dường cần tươi và thanh tịnh.

Tôi, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn thực lòng nói cho các đệ tử Chân Phật Tông biết rằng, trong quá khứ Bồ Tát Cát Tường Thiên Nữ đã đưa ra lời thề nguyện vĩ đại rằng ngài chắc chắn sẽ hạ giáng đến với bất kì hành giả thực sự nào thành tâm hết lòng cầu thỉnh ngài, và cầu nguyện ngài theo đúng những điều trên.

Bằng cách buộc sợi chỉ ngũ sắc trên cổ tay phải, vào buổi đêm mà người đó đã làm thực hành này trong ngày, giấc mơ mà người đó gặp được sẽ là sự thật. Hãy làm theo những hướng dẫn thực hành và bạn sẽ không mắc phải sai lầm.

🪷Nếu chưa được quán đảnh pháp, vui lòng không thực hành để tránh chịu nghiệp nặng và các hệ quả không đáng có.


![image](/img/img_ae13f410722fee13ba0edfaec75ab54a.png)

---

---
# File: tinh-tuyen/chan-de-cua-xuat-gia.md
# Title: Chân đế của xuất gia
---

# Chân đế của xuất gia


Điều hay nhất, điều hay số một, chính là thân và tâm đều cùng xuất gia - thân và tâm cùng xuất gia là điều tốt nhất, cái này chính là có tâm xuất ly, thân thể rời khỏi ngôi nhà để thật sự đi tu hành, tâm cũng rời khỏi ngôi nhà này không còn muốn ngôi nhà này nữa, thân tâm đều xuất gia là chân đế chân chính của xuất gia. 


![image](/img/img_8364e63376efb935445f1b2ce6f27237.jpg)


Có người chỉ có thân thể xuất gia, tâm không xuất gia, mặc dù thân thể bạn xuất gia rồi, nhưng ngày ngày vẫn nghĩ về những sự việc thế tục, đây chính là thân xuất gia nhưng tâm không xuất gia. 

Có người là tâm xuất gia, thân không xuất gia, người này thì vẫn còn tốt. Tâm đã xuất gia rồi, tuy rằng bạn vẫn sống ở trong nhà, nhưng tâm bạn trú trong hư không, trú ở nơi Phật. Mặc dù bạn vẫn làm những việc nhà, làm những việc của thế tục, nhưng tâm bạn hoàn toàn xuất gia rồi. Đây là tâm xuất gia nhưng thân thể không xuất gia, người như vậy cũng là tốt.

Cái hay nhất là thân thể xuất gia và tâm cũng xuất gia. Cái hay thứ hai là tâm xuất gia còn thân thể không xuất gia. Còn cái không hay là thân xuất gia nhưng tâm không xuất gia. Loại cuối cùng không hay nhất chính là tuy rằng bạn cạo trọc đầu nhưng thân không xuất gia, tâm cũng không xuất gia, chỉ là biểu hiện ra bên ngoài là bạn xuất gia mà thôi.

**Sư Tôn trả lời câu hỏi của đệ tử:**

Hỏi: Vì sao quả vị Tu Đà Hoàn vẫn có tham sân si?
Đáp: Thật ra quả vị Tu Đà Hoàn này chỉ là La Hán, vẫn còn chưa đến quả vị A La Hán, trên thực tế, họ vẫn có vi trần, vì ở đây các vị được phân biệt một cách rất vi tế. Cái gọi là La Hán, Thanh Văn thừa có bốn giai đoạn, nhìn chung mà nói, ngã chấp của các vị vẫn còn, vì nếu còn ngã chấp thì mới còn tham sân si. Vì vẫn còn tham sân si, tuy các vị đã đắc được quả vị Thanh Văn, nhưng đôi khi vẫn có tham sân si. Bởi vì con người chỉ có khi tu đến vô ngã mới trừ bỏ được ngã chấp, mới không còn tham sân si. Có tham sân si biểu thị vẫn có cái ngã. Thanh Văn thừa không nhất định là hoàn toàn đạt đến cảnh địa vô ngã.

Hỏi: Thế nào là tức thân thành Phật?
Đáp: Tức thân thành Phật chính là thân khẩu ý thanh tịnh, hoàn toàn tương ứng với thân khẩu ý của Đại Nhật Như Lai. Bạn tương ứng với thân khẩu ý của Đại Nhật Như Lai thì là dung nhập với Đại Nhật Như Lai rồi, tam nghiệp và tam mật hoàn toàn dung nhập mới gọi là tức thân thành Phật. Cái khó nhất chính là ý niệm của bạn, nhưng trên thực tế, thân và khẩu thanh tịnh cũng là rất khó khăn. Nhưng một người có thể đạt đến ý niệm hoàn toàn thanh tịnh thì có thể nói rằng thân, khẩu của họ đã hoàn toàn thanh tịnh rồi, ý niệm bao gồm thân, khẩu. Mật giáo là tu hành ý niệm, điểm này rất quan trọng.

Hỏi: Chỉ tu nội hỏa minh điểm, không tu thiền định sẽ có hậu quả gì?
Đáp: Chỉ tu nội hỏa minh điểm không tu thiền định thì tức là điều vô nghĩa, bởi vì nội hỏa minh điểm chính là phải bắt đầu từ thiền định, không có thiền định thì làm sao có thể có nội hỏa minh điểm chứ!

Hỏi: Tu nội hỏa minh điểm không tu tâm có phải là sẽ nhập ma không?
Đáp: Đây là một câu hỏi về phương hướng, bởi vì nếu bạn tu nội hỏa, chỉ cần hỏa được dẫn lên, nó sẽ đốt cháy, biến thân thể chính mình thành thanh tịnh. Bạn chỉ cần tìm cách để bản thân có thể dẫn hỏa lên, khiến cho phiền não của thân thể mình, tất cả kinh mạch mở ra có được ánh sáng tịnh quang, nếu trung mạch thông thì không dễ nhập ma. Bởi vì khi tề luân của bạn mở ra thì bạn sẽ đắc được định rồi. Bạn đã đắc được định rồi thì ma không thể xâm hại, đây là một điểm quan trọng. Khi bạn tu phương diện nội hỏa và tinh thần thống nhất, mở tề luân, thậm chí trung mạch cũng mở ra, ở bên trong cảnh giới này, tuy bạn không tu tâm, nhưng bạn đã bất động rồi, ma không thể xâm nhập.

Hỏi: Vì sao có một số sư huynh đệ đã có thể xuất thần nhưng sau đó vẫn có thể có phiền não chướng?
Đáp: Xuất thần chỉ là thần thức mà thôi, không phải là một cái thần hoàn toàn thanh tịnh, không phải là cái thần hoàn toàn thanh tịnh thì đương nhiên là có phiền não chướng.

Hỏi: Kinh Tạp A Hàm viết: tâm giải thoát, huệ giải thoát, vì sao có thể đắc A La Hán? Họ không hề tu nội hỏa minh điểm.
Đáp: Thiền tông không tu nội hỏa minh điểm, nhưng vào lúc tinh thần tập trung, tất cả tinh khí đều chảy ngược, điều này tương đương với đang tu nội hỏa minh điểm. Khi tâm bạn có thể đắc được giải thoát, huệ có thể đắc được giải thoát, lúc này bạn đã có định lực rồi, cũng tương đương là đang thiền định. Khi thiền định, vô hình trung tất cả hồi quang, thân thể hồi quang, chỉ cần ánh sáng chảy ngược trong thân thể thì tương đương với tu nội hỏa minh điểm. Mật giáo thì có “sự pháp”, Thiền tông hoàn toàn dùng “không pháp”, đến khi bạn hoàn toàn đạt đến tâm không, huệ không thì tất cả chảy ngược, tự nhiên đắc được quả.

---
# File: tinh-tuyen/dac-dai-phap-xuat-gia-la-dieu-vui-mung-nhat-trong-cuoc-doi.md
# Title: Đắc đại pháp xuất gia là điều vui mừng nhất trong cuộc đời
---

# Đắc đại pháp xuất gia là điều vui mừng nhất trong cuộc đời


Trò chuyện với mọi người một chút. Bản thân tôi cảm thấy đời này sống tại thế gian, có hai việc có ý nghĩa nhất. 

Việc thứ nhất là tại thế giới Ta Bà có thể gặp được đại pháp, gặp được duyên phận thù thắng, biết được đại pháp Mật tông chân lý vũ trụ, đây là việc đáng vui mừng nhất đầu tiên. Người bình thường không chắc có thể tiếp xúc Mật giáo, có một số người thì sau khi gặp được rồi, họ cũng bỏ qua luôn. Giống như đôi khi có được cơ duyên rất tốt, ví dụ như khi cơ duyên đại pháp đến, bạn không cách nào thâm nhập và tìm hiểu, nhìn biểu hiện bề ngoài một chút rồi bỏ qua một bên, thậm chí cả đời cũng không biết lợi ích của pháp Mật giáo. Điều này vô cùng đáng tiếc. Bản thân tôi trong đời này cảm thấy điều lớn nhất, có ý nghĩa nhất, yêu thích nhất, đó là có được pháp vị lớn nhất, cho rằng sống trên đời có được thứ có giá trị nhất chính là học được, ứng dụng được, hưởng thụ được đại pháp của Mật giáo.

**Tu đại pháp đắc chân lý**

Lợi ích, sự trân quý và tôn quý của những pháp Mật giáo này nằm ở đâu? Một lúc nữa đây muốn nói với mọi người thì rất khó, bây giờ tôi sẽ giãi bày tâm sự của chính mình. Mật giáo khiến bạn có được niềm vui lớn nhất. Chúng sinh ở thế giới Ta Bà đều đang tìm kiếm niềm vui, không ai tìm kiếm đau khổ, nhưng không tìm được cái gì gọi là niềm vui vĩnh hằng.

Trước đây tôi từng nêu một ví dụ, một nhà điêu khắc muốn dùng đồng thau để điêu khắc “niềm vui vĩnh hằng”, ông ấy tìm được một khối đồng thau tốt nhất để điêu khắc, nhưng ông ấy phát hiện ra thứ mà ông điêu khắc ra chẳng hề giống, không đủ vĩnh hằng, thứ điêu khắc ra chỉ là “niềm vui chốc lát”. Đột nhiên ông ta lại nghĩ rằng vì đã có niềm vui thì nhất định phải điêu khắc ra bi ai. Ông ta lại đi tìm đồng thau bi ai, nhưng tìm không được. Cuối cùng, ông ta lại phát hiện ra khối đồng thau “niềm vui nhất thời” này có thể lấy ra để điêu khắc thành bi ai. Sau cùng khi điêu khắc xong thì mới nhận ra bi ai mới là vĩnh hằng!

Tôi kể với bạn câu chuyện nhỏ của triết học này, niềm vui nhất thời chính là nỗi bi ai vĩnh hằng. Mọi người nghĩ mà xem, bạn đừng đi tìm cầu niềm vui nhất thời, kết quả là rất bi thảm đó, cái giá phải trả là nỗi bi ai vĩnh hằng. 

Câu chuyện nhỏ này có thể cảnh tỉnh mọi người. Bạn biết cái gì là đại lạc vĩnh hằng không? Trong Mật giáo có, đây chính là chân lý của vũ trụ. Bạn đã gặp được rồi mà bỏ qua thì vô cùng đáng tiếc. Bạn có được rồi, ứng dụng rồi, tu rồi, hưởng thụ rồi, bạn sẽ có một cuộc đời vô cùng có giá trị.

Mật giáo chính là chân lý của vũ trụ, bạn có được rồi, đời này sẽ không có gì tiếc nuối. Đây chính là đại lạc vĩnh hằng, chính là đại lạc quang minh!

**Quán tưởng, thủ ấn và chú ngữ của Tài Bảo Thiên Vương**

Liên quan đến pháp Tài Bảo Thiên Vương, Tài Bảo Thiên Vương có thể dùng chung một thủ ấn. Có thể gập ngón tay, hơi giống với thủ ấn Lục Độ Mẫu. Ngón trỏ tách ra, ngón giữa, ngón áp út hợp lại, ngón út đan nội phộc, hai ngón cái chạm vào nhau, đây là thủ ấn của Tài Bảo Thiên Vương.

Chú ngữ của Tài Bảo Thiên Vương là “Ôm pây xi-wa na-yê sô-ha”. Có thủ ấn, lại có chú ngữ, sau đó chính là quán tưởng. Tài Bảo Thiên Vương trong toàn bộ pháp giới, giàu có nhất chính là Đa Văn Thiên. Biệt danh của Đa Văn Thiên Vương chính là Tài Bảo Thiên Vương. Hoàng Tài Thần cũng chính là Tài Bảo Thiên Vương. Bạn quán tưởng hình tướng của Đa Văn Thiên Vương, bản thân ngài chính là Tài Bảo Thiên Vương. Nếu bạn thờ cúng Tài Bảo Thiên Vương, bạn có thể quán tưởng hình tướng của ngài, trì chú ngữ, kết thủ ấn là có thể tu pháp của Tài Bảo Thiên Vương. Sau này sẽ lại nói rõ hơn với mọi người về pháp Tài Bảo Thiên Vương. Hôm nay chỉ nói đơn giản với mọi người đến đây thôi. Cảm ơn mọi người! 

Om mani padme hum.

---
# File: tinh-tuyen/dai-bach-hao-quang-an.md
# Title: Đại bạch hào quang ấn
---

![image](/img/img_de2e8f5db7ec8392441aae61d7196333.png)



## Đại bạch hào quang ấn


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp! 

**Liên Sinh Hoạt Phật truyền thụ Đại bạch hào quang ấn**

Đại bạch hào quang ấn

Còn nhớ Căn bản Thượng sư của tôi từng nói: “Muốn đắc được định thần thông như ý, nhất định phải có bốn thần túc, bốn thần túc này chính là bốn như ý túc.”

Bốn thần túc này như sau:

Dục thần túc — mong mỏi yêu thích dục lạc.
Cần thần túc — tinh tấn không gián đoạn.
Tâm thần túc — nhất tâm chính niệm.
Quán thần thúc — tâm không tản mát.

Ưa thích dục lạc cũng chính là vì đạt được nguyện vọng, có một một dạng lý tưởng và sáng tạo.
Tinh tấn không gián đoạn cũng chính là phải nỗ lực rèn luyện nhục thể và tinh thần.
Nhất tâm chính niệm cũng chính là tiến vào sự sáng tỏ tiềm ẩn bên trong.
Tâm không tản mát cũng chính là khai phá năng lực ở tầng sâu.

Siêu năng lực của tôi (Liên Sinh Hoạt Phật) có thể gia tăng phi thường, hơn nữa tôi thật sự có nhiều loại pháp lực thần bí, là vì pháp lực của tôi phát huy một cách thích hợp, tất cả đều được ứng dụng thỏa đáng.

Nói cách khác là, tôi vận dụng bốn loại thần định, nỗ lực tu hành đạt đến cảnh giới thành Phật, có thể bước ra ngoài phổ độ chúng sinh, trợ giúp và cứu tế người khác.

Tôi từng ở chỗ của Phật Nhiên Đăng học được một thủ ấn, thủ ấn này chính là Đại bạch hào quang ấn, vị Phật Nhiên Đăng này có biệt hiệu chính là Định Quang Như Lai, Phổ Quang Như Lai.

Vào 91 kiếp trước, Phật Thích Ca Mâu Ni tên là Nho Đồng, đã mua năm bông hoa sen để dâng lên vị Phật này, Phật Nhiên Đăng khi đó đã thọ ký cho Phật Thích Ca Mâu Ni rằng tương lai ngài chắc chắn có thể thành Phật.

Phật Nhiên Đăng từng xuất hiện trong thiền định của tôi, truyền thụ:
Đại bạch hào quang ấn.
Đại bạch hào quang chú.
Muốn tôi (Liên Sinh Hoạt Phật) quán tưởng ba vị Phật của Phật bộ, tức là Nhật Nguyệt Đăng Minh Phật, Nhị Vạn Đăng Minh Phật, Tam Vạn Đăng Minh Phật.
Ấn Đại bạch hào quang này là một trong những thủ ấn bí mật nhất của tôi.

Tôi có thể tam mật hợp nhất mà phóng quang khắp nơi, đó là ứng dụng bốn thần túc, siêng tu pháp ấn chú Đại bạch hào quang, cho đến khi bản tính tự tịnh tự định, nhìn thấy các cảnh tâm cũng không loạn, luôn luôn có cảm giác về niềm vui và sự tự tại rất an tường và ninh tịnh. 

Tôi từng ở sân bay quốc tế Đào Viên. 
Các đệ tử vây xung quanh.
Có một đệ tử hỏi:
”Sư Tôn, Đại bạch hào quang ấn phải kết như thế nào?”
Khi ấy tôi chẳng nghĩ ngợi gì, lập tức kết ấn đặt tại đỉnh đầu.
Niệm một câu chân ngôn bí mật.
Quán tưởng ba vị Phật của Phật bộ.
Trong sát-na, các đệ tử đều im lặng nhìn chăm chú.
Kì thực:
Ấn này giơ lên.
Quang minh đã lộ.
Tam mật hợp nhất.
Trời người bối rối.

Bình thường tôi (Liên Sinh Hoạt Phật) ứng dụng pháp ấn chú Đại bạch hào quang đã cực kì thuần thục rồi, hễ dùng pháp này thì lập tức có vùng hào quang màu trắng bao trùm tất cả, tất cả diện mạo vốn có sẽ hiển lộ ra. Pháp môn vi diệu này từ lâu đã vượt qua sự tưởng tượng của con người, hoàn toàn chỉ có thể hiểu ngầm và không có cách nào phân tích được. Đó là một dạng cộng hưởng. Là sự cộng hưởng của ba thứ: ấn, chú, ba vị Phật.
Đại bạch hào quang tư trên trời giáng xuống!

Thực tướng vốn vô tướng, Đại bạch hào quang ấn đã lộ tướng rồi!

---
# File: tinh-tuyen/dai-huyen-hoa-vong-kim-cang-toan-than-la-mat.md
# Title: Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang toàn thân là mắt
---

![image](/img/img_a4b99daec132bfb29d5cf2f7aa847941.jpg)



## Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang toàn thân là mắt


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp! 

**Chú ngữ:**** **Ôm ben-za chua-ta ma-ha sê xi-li hê-ru-ka hùm pây.

**Liên Sinh Hoạt Phật khai thị khẩu quyết tu pháp**

Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang còn được gọi là Thông Nhãn Kim Cang, bởi vì toàn thân đều có con mắt. Khi tu pháp, quán tưởng lỗ đỉnh đầu có một con mắt, hải để luân có một con mắt, hai con mắt nhìn nhau, nhìn ra trung mạch của mình. Tiếp theo, tai phải có một con mắt, tai trái có một con mắt, hai con mắt nhìn nhau. Tiếp nữa, toàn thân đều là con mắt, vai trái có một con mắt, vai phải có một con mắt, hai con mắt nhìn nhau. Sau đó, từ đầu xuống chân, đầu gối có hai con mắt nhìn nhau, hai con mắt ở lòng bàn chân nhìn nhau, ở chỗ thận này cũng có hai con mắt nhìn nhau. Cứ nhìn mãi như thế thì như thế nào? Toàn thân đều là con mắt, toàn bộ đều nhìn nhau. Khi ánh sáng của bạn hiển hiện ở trong tâm thì toàn bộ con mắt của bạn đều phóng quang, có thể nhìn toàn bộ vũ trụ, toàn bộ thế giới, tất cả bạn đều nhìn thấy hết, từ cái nhỏ nhất cho đến toàn bộ vũ trụ, cho nên gọi là Thông Nhãn Kim Cang, tức là Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang.

Tu pháp này thì bạn sẽ trở thành toàn thân đều là mắt, mỗi một lỗ chân lông đều là mắt, từ con mắt này phóng quang, ánh sáng phóng tỏa ra, nhỏ thì có thể nhìn thấy nội cảnh của toàn thân bạn, lớn thì có thể nhìn thấy ngoại cảnh của vũ trụ. Đây là pháp tu “đại viên mãn toàn thân là mắt”, trong Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang đều có.

Muốn tu pháp “toàn thân là mắt”, bạn phải có địa điểm là ở trong căn phòng tối, hoàn toàn không cho ánh sáng lọt vào để huấn luyện con mắt của bạn. Bạn ngồi trên giường mình, bốn xung quanh dùng vải đen che lại, cửa ra vào và cửa sổ đều dùng vải đen che lại, không để lọt ánh sáng. Lúc này quán tưởng lỗ đỉnh đầu có một con mắt, hải để luân có một con mắt nhìn nhau, lỗ đỉnh đầu và hải để luân của bạn. Thế nào là hải để luân? Vị trí giữa hậu môn và mật luân gọi là hải để luân, ở đó có một con mắt, bạn hãy quán tưởng hai mắt nhìn nhau. Nhưng nhìn nhau như thế thì làm sao nhìn được? Thì bạn phải quán tưởng hai mắt đối nhau nhìn nhau, còn những thứ ở giữa thì đều không có, hai mắt nhìn vào nhau. Thiên tâm có một con mắt, sau não có một con mắt, hai mắt nhìn nhau. Thiên tâm là ở đây, sau não là ở đây, cũng có hai con mắt nhìn nhau. Tai trái có một con mắt, tai phải có một con mắt, nhìn nhau. Vùng tim có một con mắt, sau lưng có một con mắt, hai mắt nhìn nhau. Vai trái có một con mắt, vai phải có một con mắt, hai mắt nhìn nhau. Như vậy tổng cộng có mười con mắt trí huệ nhìn nhau, đối khán lẫn nhau, chiếu ánh sáng về phía nhau, cuối cùng đan vào nhau thành lưới ánh sáng. Pháp tu hành này gọi là tu hành trong phòng tối - bế hắc quan tu hành.

10 con mắt này đều nhìn nhau, đầu tiên bạn quán tưởng nhìn, khi ánh sáng của dây xích kim cang, ánh sáng bát nhã có thể dẫn vào trong tim bạn thì bạn có thể nhìn thấy ánh sáng. Ở đây dùng phương thức dồn ép để ép ra, giống như khi bạn bóp kem đánh răng để ép cho kem đi ra. Đây là một pháp tu hành chân thực, chỉ cần có ánh sáng sinh ra trong tâm bạn, dẫn ánh sáng vào bên trong thân thể hành giả, 10 con mắt trí huệ đều tràn đầy ánh sáng của xích kim cang, đan chéo nhau tạo thành lưới ánh sáng, chiếu tới chiếu lui về phía nhau, ánh sáng sẽ chạm vào nhau, giằng giữ lẫn nhau, chiếu về phía nhau. Sau khi luyện thành công cái này rồi thì lại biến lỗ chân lông trên toàn thân bạn thành con mắt trí huệ, lỗ chân lông trên toàn thân giống như từng con mắt, ánh sáng từ trong tâm bạn từ bên trong các lỗ chân lông này sinh ra. Lúc này toàn thân bạn là mắt, toàn bộ đều phóng ra ánh sáng.

Lúc này toàn thân đều là mắt, toàn thân chính là mắt, toàn thân là ánh sáng, tự thân đã trở hành đức tướng của Vô Lượng Quang Như Lai, trong thân vô lượng ánh sáng đó xuất hiện vô lượng Bổn tôn, vô lượng Không hành, vô lượng Hộ pháp. Thành tựu cao nhất là ánh sáng bản giác hiển hiện, cũng tức là Phật quang hiển hiện, ánh sáng của Như Lai hiển hiện trong thân bạn.

Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang có trăm vị văn võ. Chính nhờ sự dẫn dắt của Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang mà đến cuối cùng có Văn Võ Bách Tôn xuất hiện, đây là hiện tượng các vị xuất hiện để dẫn dắt một người vãng sinh Phật quốc, rất đơn giản, nhất định phải ghi nhớ.

Lúc hành giả lâm chung và nhìn thấy ánh sáng cực kì mạnh xuất hiện trước mắt thì bạn hãy nhập vào ánh sáng ấy, đó là ánh sáng ban sơ, ánh sáng Phật tính ban sơ. Ánh sáng này hiển hiện không phải đến từ nơi nào khác, mà chính là ánh sáng Phật tính của chính bạn. Cơ hội này qua rồi thì bạn còn cơ hội tiếp theo là có Văn Tôn và Võ Tôn, và cơ hội có một nửa Văn Võ Tôn. Cơ hội thứ ba là Bổn tôn của bạn xuất hiện, bạn dung nhập vào Bổn tôn. Hộ pháp của bạn xuất hiện, bạn dung nhập vào Hộ pháp là cơ hội thứ tư. Còn có một cơ hội nữa, chính là Bổn tôn phẫn nộ và tươi cười xuất hiện, đây là cơ hội vãng sinh thứ năm. Sau năm cơ hội này mà bạn không tận dụng được thì sẽ phải lục đạo luân hồi, không thể vãng sinh đến Phật quốc tịnh thổ được.

Thế giới này phân thành quá khứ, hiện tại, vị lai. Nhưng nếu dựa theo việc thành Phật mà nói thì bạn tu Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang bạn sẽ biết, khi bạn lên đến đỉnh cao nhất, thông thường bạn sẽ đạt đến sự thường hằng vĩnh viễn. Sư Tôn khuyến khích mọi người đạt được sự thường hằng vĩnh viễn, niềm vui vĩnh viễn, thanh tịnh vĩnh viễn, Phật ngã vĩnh viễn. Tu Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang sẽ đắc được bốn chữ “thường, lạc, ngã, tịnh”. Nếu không tu hành thì vĩnh viễn dừng lại ở “khổ, không, vô thường, vô ngã”, vĩnh viễn dừng lại ở đây.

Chú ý: chưa nhận quán đảnh, không được tu pháp!

---
# File: tinh-tuyen/dai-tuy-cau-bo-tat-phap-tuong-va-khau-quyet.md
# Title: Đại Tùy Cầu Bồ Tát - Pháp tướng và khẩu quyết
---

![Pháp tướng Đại Tùy Cầu Bồ Tát - Nguồn Tông ủy Chân Phật](/img/img_2c0754b869176ea9e8cedd94eb4fcce4.png)



## Đại Tùy Cầu Bồ Tát - Pháp tướng và lai lịch


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Giới thiệu pháp tướng Đại Tùy Cầu Bồ Tát


Đại Tùy Cầu Bồ Tát đầu đội mũ miện, dáng hình hiên ngang (tướng Vô Úy) không hề sợ hãi với 8 cánh tay, thân mình màu vàng đậm. Tay trái cao nhất cầm bông hoa sen, trên bông hoa sen có một vòng bánh xe lửa. Cánh tay tiếp theo cầm hộp Phạn, một tay cầm bảo tràng, tay trái cuối cùng cầm sợi dây thừng. Tay phải cao nhất cầm chày kim cương 5 chấu, tay tiếp theo cầm lưỡi mác cong, tay tiếp theo cầm bảo kiếm, tay cuối cùng cầm cây đinh ba. Ngài ngồi trên đài hoa sen.

Chủng tự: Chữ Bát la. 
Tâm chú: Om, ma-ha pra-ti-sa-ra, soha.Thủ ấn: (như trong hình) 
Lòng bàn tay phải úp xuống, lòng bàn tay trái ngửa lên, hai lòng bàn tay úp vào nhau.


### Lai lịch vĩ đại của Đại Tùy Cầu Bồ Tát


(Khai thị của Liên Sinh Hoạt Phật Pháp Vương Lư Thắng Ngạn.)

Đại Tùy Cầu Bồ Tát tên gọi trong tiếng Phạn là Maha Pratisara Vidyaraja. Ngài là một biến hóa thân của Quan Thế Âm Bồ Tát, gọi ngắn gọn là Đại Tùy Cầu Bồ Tát, là một trong các vị bổn tôn có liên hệ với Thai Tạng Giới Mandala Âm Viện. Mật hiệu của ngài là Dư Nguyện Kim Cương.

Đại Tùy Cầu Bồ Tát thường tùy theo những điều cầu nguyện của chúng sinh mà sẽ ban cho được như ý. Bạn có điều ước gì thì ngài sẽ cho bạn điều đó, bởi vậy ngài có tên gọi là Đại Tùy Cầu. Một tên gọi khác của ngài là Đại Minh Vương, bởi vì đặc tính đầu tiên của Đại Tùy Cầu Bồ Tát là ngài sẽ hiển hiện lên với ánh sáng chói lọi nhất, rực rỡ nhất, mạnh mẽ nhất. Bất kể là Hiển giáo hay Mật giáo, Đại Tùy Cầu Bồ Tát trong Phật giáo là một vị Bồ Tát đặc biệt và thù thắng phi thường. Nhưng rất ít người biết có Đại Tùy Cầu Bồ Tát.


### Khẩu quyết tu pháp


Công đức của Đại Tùy Cầu Bồ Tát chủ yếu nằm tại chú ngữ của ngài trên "Tùy Cầu tức đắc đại tự tại Đà-la-ni". Theo ghi chép trong kinh văn, Tùy Cầu Bồ Tát cảm ứng truyền quyển 3, có đủ các loại linh nghiệm khác nhau. Nói tóm lại, nghe thấy, thọ trì đọc tụng và lan truyền Đại Tùy Cầu Đà-la-ni có thể đạt được các loại công đức như: không bị lửa thiêu, không bị trúng độc, hàng phục kẻ thù xung quanh, thoát khỏi địa ngục vô gián, đi trên biển tránh được cá dữ và long vương, sản sinh an lạc, tránh được nạn lớn.

Nói về sự linh nghiệm của ngài, trong kinh "Phổ biến quang minh thanh tịnh xí thịnh như ý bảo ấn tâm vô năng thắng Đại Minh Vương Đại Tùy Cầu Đà-la-ni" đã ghi chép: Tại Đại Thành Ca Tỳ La (Kapila), đồng tử La Hầu La khi còn ở trong thai mẹ là bà Gia Du Đà La, người mẹ từng bị ném vào hầm lửa, lúc này, La Hầu La nhớ ra niệm Đà-la-ni này, hầm lửa ngừng cháy biến thành ao sen. Còn có Quốc vương Ma Ca Đà không có con, đã viết Đà-la-ni này ra đeo lên cổ của phu nhân, thế là cuối cùng đã được thỏa ước nguyện.

Tôi cho rằng nếu bạn hướng về hai vị Đại Tùy Cầu Bồ Tát và Bất Không Quyến Tác Quan Âm để thỉnh cầu thì họ đều sẽ giúp cho bạn đạt được ước nguyện. Vì sao gọi là Đại Tùy Cầu, cũng chính vì ngài được xếp vào hàng các vị Bồ Tát cầu gì được nấy. Phật pháp vốn giảng về sự "vô cầu", "vô sở cầu", nhưng Bồ Tát từ bi, vẫn muốn giúp cho chúng sinh được như ý nguyện. Đây chính là bi nguyện lớn nhất của bản thân Bồ Tát, do vậy mới gọi là Đại Tùy Cầu.

Con người trên thế gian này hầu hết đều mong cầu điều gì đó, điều này cũng là bản tính, là đặc tính chung giống nhau của mỗi người. Đại Tùy Cầu Bồ Tát từ bi đối với chúng sinh của thế gian, để cho lòng từ bi hóa hiện thành những việc cầu được ước thấy. Sau khi ngài cho bạn có được cảm ứng, bạn có thể giữ được đạo tâm vững chắc, hơn nữa bạn sẽ càng tôn kính, càng thành tâm tin tưởng vào Quan Thế Âm Bồ Tát.

**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Pháp Vương đặc biệt truyền thụ 8 ấn của Đại Tùy Cầu**

▪️ Nội ngũ cổ ấn

▪️ Thời Luân Kim Cương ấn

▪️ Đại Uy Đức Kim Cương ấn

▪️ Tôn Thắng Phật Mẫu ấn

▪️ Tam cổ ấn

▪️ Đan cổ ấn

▪️ Hư Không Tạng ấn

▪️ Phạn khiếp ấn


![image](/img/img_c84edc5a62f6a56b3b3e084c784236d1.jpg)


Sau khi kết 8 ấn, hai tay xoa vào nhau ba lần, lại lật lại vỗ vào nhau ba lần, đây chính là chìa khóa bí mật, rất quan trọng.


![image](/img/img_27b20a82ae1dc57d26124514876726f3.png)


Bởi vì, làm thế này thì trong tâm của Đại Tùy Cầu Bồ Tát lập tức nghe thấy âm thanh lời thỉnh cầu của bạn, xoa ba lần là có thể chạm tới tâm của Đại Tùy Cầu Bồ Tát, lại vỗ ba cái, ngài sẽ đáp lại lời thỉnh cầu của bạn. Mỗi lần bạn thỉnh cầu ngài, hãy kết thủ ấn này và niệm chú ngữ của ngài: "Om. Maha. Pratisara. Soha."

🌟

Đại Tùy Cầu Bồ Tát không phải là Bồ Tát "tùy tiện", không phải cứ tùy tiện cầu là có thể được. Ngài có pháp lực rất lớn, có thể làm mãn nguyện chúng sinh, nhưng bản thân chúng sinh cũng cần phải cân nhắc, điều cầu xin cần phù hợp với tài năng và phẩm hạnh của bản thân, không phải cứ tùy tiện cầu xin.

Bạn muốn nguyện vọng của mình có thể thành hiện thực thì buộc phải tuân thủ các giới luật của Phật giáo và của ngài Đại Tùy Cầu, có như vậy thì ngài mới giúp nguyện vọng của bạn thành hiện thực được. Đại Tùy Cầu Bồ Tát có thể lựa chọn giúp đỡ chúng sinh khỏi mọi tội chướng, sợ hãi, bệnh tật, và giúp thân tâm an lạc, cầu được viên mãn. Người thọ trì chú này có thể có được sự bảo vệ của chư thiên, rồng, thần và có được sự bảo vệ của Nhất Thiết Như Lai.

Liên Sinh Hoạt Phật truyền dạy pháp Đại Tùy Cầu Bồ Tát nhằm hy vọng mọi người được như ý viên mãn. Sau khi được như ý viên mãn rồi thì bước thêm bước nữa đến "vô cầu", tới cuối cùng là "vô sở cầu", như vậy mới có thể thành Phật, tu hành sẽ được thành tựu.

(Nguồn: [tbsn.org](https://tbsn.org))

Nếu chưa được quán đỉnh pháp, vui lòng không thực hành để tránh chịu nghiệp nặng và các hệ quả không đáng có.


![image](/img/img_fdf9fb9165d3f733e27261fe0bc3f389.png)

---

---
# File: tinh-tuyen/dan-thanh-cua-chan-phat-mat-phap.md
# Title: Đàn thành của Chân Phật Mật Pháp 
---

Chương 3 Thế nào là Chân Phật Mật Pháp 

(6) Đàn thành của Chân Phật Mật Pháp

1. Học tập Mật pháp bắt đầu từ đâu?
Khi thực hành Mật giáo, trước tiên phải thiết lập đàn thành, nghĩa là thiết lập đàn tràng để trì chú tu pháp. Cuốn"Mật Tông Đạo Thứ Đệ Quảng Luận" cũng bắt đầu từ việc thiết lập mandala (đàn thành). (Văn tập Liên Sinh Hoạt Phật số 154, trang 62.)

2. Đàn thành là gì?
Đó là đạo tràng tụ tập, là nơi tu tập pháp. (Văn tập Liên Sinh Hoạt Phật số 48, trang 98.)
Đó là nơi cúng dường pháp tướng chư Phật Bồ Tát. (Văn tập Liên Sinh Hoạt Phật số 81, trang 19.)
Xây dựng đàn thành vuông tròn, an trí chư tôn vào đó để cúng tế, đó là bản thể của đàn thành. Đàn tràng này là nơi tụ hội của thánh chúng, cũng là đàn thành niệm tụng, nơi quy tụ vạn đức.
Kinh Đại Nhật nói: "Mười phương thế giới vi trần số đại bi vạn hạnh ba-la-mật môn giống như hoa tạng." Ba thừa sáu đạo vô lượng ứng thân, giống như rễ thân cành lá, hào quang xen kẽ, do đầy đủ các đức tròn đầy nên gọi là Mandala. (Văn tập Liên Sinh Hoạt Phật số 154, trang 62.)

3. Sau khi quy y và quán đảnh, liệu hành giả Chân Phật có cần thiết lập đàn thành không?
Việc thiết lập đàn thành Mật pháp là cần thiết.
Ý nghĩa quan trọng nhất của nó là cho phép bản thân ở trong tịnh thất này, hàng ngày ngồi thiền tu luyện một cách yên tĩnh, không bị người ngoài quấy rầy. Tông phái chúng ta quy định mỗi ngày ít nhất phải tu một lần.
Tại sao đàn thành là cần thiết, bởi vì người mới tu hành, ngồi thiền tu pháp, lấy yên tĩnh làm trọng, và khi cúng dường chư tôn, nhìn thấy sự trang nghiêm vi diệu, cũng sẽ sinh tâm hoan hỷ, vui thích ngồi lâu trong đàn thành. Việc thiết lập đàn thành còn có lợi cho pháp tu quán tưởng,
Có đàn thành cũng như có một phương hướng. (Văn tập Liên Sinh Hoạt Phật số 81, trang 19.)

4. Tại sao hành giả Mật giáo trước tiên phải hiểu về việc thiết lập đàn thành?
Không có đàn thành thì không có hình tượng, không có hình tượng thì không thể tụng kinh, và không thể tu Mật pháp. Trước đây Mật giáo nói rằng, nếu không có tiền để thiết lập đàn thành, đó là vì nghiệp chướng của bạn quá nặng. Thông thường, tu Mật tông đòi hỏi căn cơ lớn, nếu phước báu của bạn không đủ để tu Mật tông, đương nhiên sẽ khó tương ứng.
Nhưng hiện nay đã rất thuận tiện, bởi vì Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đã nói về quán Không, nghĩa là thiết lập đàn thành trong không gian rồi tu pháp, đây là vì Căn bản Thượng sư không bỏ một chúng sinh nào, nên mới thiết lập phương pháp này. (Hồng Quang Đại Thành Tựu, tập 5, trang 155.)

5. Tại sao phải thiết lập đàn thành?
(1) Để cúng dường.
(2) Để tu pháp.
(3) Để niệm tụng.
(4) Để trang nghiêm.
(5) Để có phương hướng.
(6) Để quán đảnh.
(7) Để thể hiện tính thiêng liêng. (Văn tập Liên Sinh Hoạt Phật số 154, trang 62, số 81, trang 19.)

6. Đàn thành có thể phân thành mấy loại?
Tiếng Phạn của đàn thành là Mandala.
Mandala nhìn chung có thể chia thành bốn loại:
Đại mandala — là đàn thành tập hợp tất cả chư tôn. Có hình tướng và hình vẽ của chư tôn, toàn thể và từng vị đều hiện diện, đây là nơi tụ hội của các bậc thánh hiền, vạn đức quy tụ, vì sự bao quát rộng lớn nên gọi là đại mandala.
Samaya mandala — thờ pháp khí và ấn khế mà chư tôn cầm trong tranh, samaya có nghĩa là lời thề gốc, việc cúng biểu tượng của bản thệ, chính là samaya mandala.
Pháp mandala — thờ phụng chủng tự và chân ngôn của chư tôn, đàn thành thờ văn tự và kinh điển, chính là pháp mandala.
Yết-ma mandala — thờ cúng hình tượng của chư tôn, đàn thành có ý nghĩa thực hành pháp, chính là yết-ma mandala.
Bốn loại mandala này, mỗi loại đều có biểu trưng:
Đại mandala — mười pháp giới.
Samaya mandala — bình đẳng.
Pháp mandala — lục trần tri giác.
Yết-ma mandala — động tác của tác pháp. (Văn tập Liên Sinh Hoạt Phật số 81, trang 20.)

7. Thiết lập đàn thành nên long trọng hay nên đơn giản?
Người có khả năng có thể làm long trọng hơn.
Người không có khả năng có thể làm đơn giản hơn.
Tất cả đều tốt, nhưng quan trọng là cần phải bố trí trang nghiêm, các pháp khí cần thiết phải đầy đủ, nếu pháp khí không đầy đủ là không đúng pháp. Những pháp khí quan trọng có ba: chuông kim cang, chày kim cang, tràng hạt. (Văn tập Liên Sinh Hoạt Phật số 81, trang 22.)

8. Kim thân Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử có thể thờ phụng làm chủ tôn đàn thành không?
Kim thân Liên Hoa Đồng Tử có thể thờ phụng làm chủ tôn đàn thành.
Bởi vì Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử là một trong tám đại Bổn tôn của Chân Phật Tông, đương nhiên có thể là chủ tôn của đàn thành. Ngoài ra, nguồn gốc của Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử rất vĩ đại, mọi người đều biết: Đại Nhật Như Lai hóa thân Phật Nhãn Phật Mẫu, Phật Nhãn Phật Mẫu hóa thân Liên Hoa Đồng Tử, Liên Hoa Đồng Tử hóa thân Liên Sinh Thánh Tôn.
Vì vậy thờ phụng Liên Hoa Đồng Tử cũng như thờ phụng Đại Nhật Như Lai, Phật Nhãn Phật Mẫu, Liên Sinh Thánh Tôn. Đây là truyền thừa tổng trì của Chân Phật Tông.
Kim thân Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử được tạo theo diện mạo của Liên Sinh Thánh Tôn Lư Thắng Ngạn khi ngài hơn ba mươi tuổi, điều này có nguồn gốc của nó.
Chúng ta tu trì pháp Bổn tôn của Chân Phật Mật Pháp, nếu có duyên với Ma Ha Song Liên Trì, hoặc nhất tâm muốn vãng sinh Ma Ha Song Liên Trì, chúng ta có thể thờ Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử làm Bổn tôn chủ tôn, chắc chắn sẽ có thành tựu, chắc chắn có thể vãng sinh.
(Văn tập Liên Sinh Hoạt Phật số 81, trang 28.)

9. Mô tả ngắn gọn về thứ tự bài trí đàn thành.
Trên tường có thể treo tranh Mandala.
Tầng thứ nhất thờ chủ tôn và các vị khác. Bên phải là tháp, bên trái là kinh sách.
Bên dưới là tám món cúng.
Tiếp theo là bát hương.
Tiếp theo là pháp khí để tu pháp.
Hai bên chủ tôn và chư tôn có thể đặt đèn sáng 24/24. (Văn tập Liên Sinh Hoạt Phật số 81, trang 28.)
Chủ tôn của đàn thành chính là vị được thờ ở chính giữa. Điều này tùy thuộc vào từng người.
Liên Sinh Thánh Tôn Lư Thắng Ngạn cho rằng, tốt nhất là thờ Bổn tôn của mình ở chính giữa, chính là vị mà bạn sẽ tu pháp hàng ngày trong tương lai (vị mà bạn có duyên nhất, thích nhất.)

Có hai lý do cho điều này:
Sự thành tựu pháp môn của chúng ta trong tương lai chính là trực tiếp biến thành Bổn tôn.
Bổn tôn ở chính giữa cũng tiện lợi cho việc quán tưởng.
Ngoài ra, khi thờ kim thân chư Phật Bồ Tát, nên chọn số lẻ, như một vị, ba vị, năm vị, bảy vị... Tại sao? Bởi vì số lẻ sẽ làm nổi bật chủ tôn ở giữa, lại có thuyết cho rằng số lẻ thuộc dương, số chẵn thuộc âm, số lẻ xếp đặt đẹp mắt hơn. (Số lượng kim thân tính theo kim thân là chính, tranh ảnh không tính.)
Thứ tự sắp xếp khi thờ cúng theo thứ bậc lớn nhỏ là Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Thiên Thần. Chủ tôn ở giữa, phía bên phải là vị trí cao, phía bên trái là vị trí thấp hơn. Nếu có nhiều kim thân, có thể xếp thành hai tầng hoặc thậm chí ba tầng, năm tầng. (Văn tập Liên Sinh Hoạt Phật số 81, trang 27.)
Phía trước chư Phật Bồ Tát, thiết lập các vật cúng dường, thông thường là năm món cúng hoặc tám món cúng, cũng có khi lên đến ba mươi bảy món.

Năm món cúng là: hoa, hương, đèn, trà, quả. Đèn được thay bằng nến.
Tám món cúng (từ phải sang trái) là: vỏ ốc, quả, bột hương thơm, đèn nến, ba nén hương đàn hương chưa đốt, năm bông hoa trắng, nước trơn (nước có thêm xà phòng), nước lọc.

Cúng phẩm được đặt trong bình sạch hoặc bát sạch. (Có thể dùng các vật dụng bằng vàng, bạc, đồng, sứ, v.v...)
Tám món cúng của Chân Phật Mật Uyển được bày thành hai hàng, hàng trên dùng để cúng dường chư Bồ Tát, hàng dưới dùng để cúng dường bản thân khi quán tưởng biến thành Bổn tôn.
Ý nghĩa của tám món cúng là:
Hai loại nước — nước công đức.
Hoa — bố thí.
Hương — trì giới.
Đèn — nhẫn nhục.
Quả — thiền định.
Hương thoa — tinh tấn.
Vỏ ốc — như ý.
Đàn thành thắp đèn sáng liên tục.
Phía trước nhất của đàn thành đặt lư hương và án hương. Phía trước án hương đặt pháp khí.
Nhìn chung là như vậy, ngoài ra còn có vải màu, lọng che, khăn khata nhiều màu, nhằm tăng thêm vẻ trang nghiêm và uy nghiêm, làm cho đàn thành trở nên đặc biệt tuyệt diệu. (Văn tập Liên Sinh Hoạt Phật số 81, trang 25-27.)

10. Điều cần lưu ý trước khi bố trí đàn thành là gì?
Sau khi chọn được mật thất phù hợp, trước khi bố trí đàn thành, tốt nhất nên sái tịnh trước, sái tịnh là để thanh tịnh hóa mật thất.
Về pháp sái tịnh, có nhiều phương pháp, nhưng hành giả Chân Phật chỉ cần dùng nước chú Đại Bi để sái tịnh là đủ. (Văn tập Liên Sinh Hoạt Phật số 81, trang 29.)

11. Mô tả ngắn gọn về tầm quan trọng của việc lựa chọn mật thất cho đàn thành.
Liên Sinh Thánh Tôn Lư Thắng Ngạn cho rằng, việc lựa chọn mật thất cho đàn thành rất quan trọng.
Có người cho rằng điều này không quan trọng, chỉ cần tâm thành kính là đủ, nhưng thực ra đó là do người thường không hiểu về nguyên lý phong thủy.
Nếu tùy tiện đặt đàn thành dưới xà nhà, hoặc tựa lưng vào cửa sổ lớn, hoặc ở lối đi, hoặc đối diện cửa nhà vệ sinh... Không cần nói đến phong thủy ra sao, thực tế tâm trí bạn đã bị những yếu tố này ảnh hưởng rồi.
Học phong thủy chính là học về môi trường vô hình, vì vậy việc cải tạo mật thất thành đàn thành, cùng với việc đàn thành là nơi "thần thánh giao quy", việc lựa chọn mật thất rất quan trọng, không thể xem nhẹ.

Liên Sinh Thánh Tôn cho rằng khi cải tạo mật thất thành đàn thành cần chú ý những điểm sau:
Thanh tịnh và yên tĩnh. Tránh gió và tụ khí.
Hướng đàn thành phải phù hợp với từ trường của hành giả.
Hướng đàn thành nên ngược dòng nước.
Bức tường nơi đặt đàn thành phải là bức tường chắc chắn, không có khoảng trống ở trên, dưới, trái, phải.
Ánh sáng vừa phải.
Những điểm này nếu có thể đáp ứng đầy đủ thì tốt nhất, nếu không thể đáp ứng đầy đủ, cần mời chuyên gia phong thủy đến chỉ dẫn để điều chỉnh.
Phong thủy đàn thành cũng là một môn học lớn, đàn thành phải tuyệt diệu trang nghiêm, mật thất phải thanh tịnh dịu dàng. Trong quá trình tu pháp trên cúng dường Tam Bảo, dưới cứu độ bốn loài, vô hình trung, phúc huệ tăng trưởng, hành giả Chân Phật đạt được thành tựu lớn.
Đây là sự hợp nhất của ba yếu tố Phật, đàn, người. Cũng chính là sự hợp nhất của ba yếu tố trời, đất, người. (Văn tập Liên Sinh Hoạt Phật số 81, trang 23.)

12. Mô tả sự trang nghiêm của đàn thành (Phật đường).
Đàn thành (điện thờ Phật) phải vô cùng trang nghiêm, bao gồm những điểm sau:
(1) Sự trang nghiêm của tượng Phật.
(2) Sự trang trọng của cờ phướn thờ Phật.
(3) Sự sạch sẽ, gọn gàng của việc bài trí.
(4) Sự quý báu, đẹp đẽ của phẩm vật cúng dường.
Những điều trên đây có thể làm cho chính bạn khi nhìn thấy và nghe thấy sẽ phát khởi tâm cung kính và hoan hỷ. Việc trang trí điện thờ Phật một cách trang nghiêm cũng là một hình thức cúng dường, cúng phẩm chất lượng và đẹp đẽ tự nhiên là sự cúng dường tốt đẹp, sự cúng dường thù thắng như vậy đương nhiên là công đức bậc nhất. (Văn tập Liên Sinh Hoạt Phật, tập 45, trang 75.)

13. Sau khi đã kết giới đàn thành, có được phép cho người khác vào tham bái hoặc tham quan không?
Câu hỏi này có nhiều đệ tử đã hỏi, nên tôi xin giải thích chi tiết như sau:
Đàn thành vốn là nơi tụ hội bí mật, là chỗ thần thánh giao quy, những người không liên quan, người không tin, người ô uế... thực sự không cần thiết để họ tự do ra vào đi lại. Để tránh phạm tội khinh suất.

Đàn thành có thể mời Thượng sư của mình ra vào chỉ dạy, đồng môn của mình ra vào cùng tu, tức là những người cùng an trú trong tam muội này, điều này không có gì trở ngại.

Tuy nhiên, để đáp ứng căn cơ của chúng sinh, và thể hiện sự trang nghiêm tuyệt diệu của đàn thành, việc cho phép người khác vào tham bái hoặc chiêm ngưỡng, đôi khi là có thể. Nhưng cần phải giải thích trước về phép tắc khi vào đàn thành, đây là pháp tùy duyên, phổ môn thị hiện, tiếp dẫn tín chúng.

Đối với đàn thành có người không liên quan ra vào, cần thường xuyên sái tịnh và kết giới là đủ. (Văn tập Liên Sinh Hoạt Phật số 81, trang 38.)

14. Kết giới là gì? Nghi quỹ của kết giới được thực hiện như thế nào?
Kết giới là một phương pháp để xác định ranh giới khu vực của đàn thành. Khu vực được giới hạn bởi phương pháp này được gọi là kết giới địa.
Kết giới có nghĩa là ngăn chặn điều ác, duy trì điều thiện, là pháp đẩy lùi những loài ác và giữ lại những người thiện.
Kết giới nghĩa là tất cả ma quỷ tà ác không thể vào kết giới địa, chỉ có thần thánh mới có thể vào kết giới địa.
Kết giới có phân chia lớn nhỏ:
Lớn như toàn bộ hành tinh, một châu lục, một quốc gia. (Pháp Nhân Vương Hộ Quốc là kết giới một quốc gia.)
Nhỏ như một pháp hội, một giới tràng, một căn phòng, một đàn thành.

Liên Sinh Thánh Tôn Lư Thắng Ngạn hiểu rõ pháp kết giới của Mật giáo như sau:
(1) Pháp cọc kim cang - cắm cọc trên mặt đất.
(2) Pháp tường kim cang - bức tường hình vuông.
(3) Pháp lưới kim cang - như giăng lưới trong hư không, đầu lưới hạ xuống đàn thành kim cang.
(4) Pháp lửa kim cang - nổi lửa trên lưới kim cang.
(5) Pháp đại samaya - dùng ấn chú tạo kết giới tổng thể bên ngoài vùng lửa. (Văn tập Liên Sinh Hoạt Phật tập 81, trang 34.)

15. Hành giả Chân Phật không quen thuộc với nghi quỹ khai quang, không dám tự mình khai quang, đồng thời không có lòng tin, phải làm sao?
Có thể mời Thượng sư của Chân Phật Tông đến thực hiện nghi lễ khai quang điểm nhãn, cũng có thể mời pháp sư am hiểu nghi quỹ khai quang đến làm. Nếu không còn cách nào khác, có thể viết thư cho Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn ở Mỹ, cầu xin Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai quang cho đàn thành.
Mặc dù Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn ở Mỹ, nhưng tại Chân Phật Mật Uyển của mình, có thể dựa vào địa chỉ của bạn và hình ảnh đàn thành, thực hiện pháp khai quang từ xa, chư tôn và Không hành mẫu tự nhiên sẽ bay xuống đàn thành của bạn, đây cũng là pháp khai quang không thể nghĩ bàn.
Nhiều đàn thành được khai quang từ xa cũng nhận được nhiều hiện tượng linh dị:
Sau khi được khai quang từ xa, phát hiện đàn thành có nước tịnh và gạo rải khắp nơi.
Sau khi được khai quang từ xa, đêm đó mơ thấy Sư Phụ đích thân đến khai quang.
Sau khi được khai quang từ xa, chủ nhân đàn thành tự mình nghe thấy nhạc trời du dương.
... (Văn tập Liên Sinh Hoạt Phật tập 81, trang 34.)

---
# File: tinh-tuyen/dieu-tri-kim-mau-7-dai-phap.md
# Title: Diêu Trì Kim Mẫu 7 đại pháp
---

🪷 Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn tại Chân Ngôn Lôi Tạng Tự ở Anh Quốc khai thị tinh yếu ngày 24 tháng 6 năm 2013.

Hôm nay tôi sẽ nói về Bảy đại pháp của Diêu Trì Kim Mẫu. Tôi đã từng nói về điều này trước đây, hôm nay tôi sẽ nhắc lại những điểm quan trọng. Bí pháp chữa ung thư và khối u là phải quán tưởng Diêu Trì Kim Mẫu. Trong Diêu Trì Tiên Cảnh của Diêu Trì Kim Mẫu có ba loài chim thánh, một là Thanh Loan, hai là Thiếu Loan, và ba là Ngọc Loan. Tôi quán tưởng Diêu Trì Kim Mẫu đội mũ phượng, trên đó có một con chim phượng đậu trên đầu Ngài, đây là biểu tượng đặc biệt của Diêu Trì Kim Mẫu. Diêu Trì Kim Mẫu tay phải cầm phất trần màu trắng, tay trái cầm gậy như ý, phần lớn các bức tượng đều như vậy. Nhưng trong quán tưởng của tôi, Ngài không cầm gậy như ý mà cầm quả đào tiên. Bởi vì trong thần thoại cổ của Trung Quốc có nhắc đến tiệc đào tiên của Diêu Trì Kim Mẫu, ba nghìn năm mới kết một lần đào tiên, và đào tiên được cầm trong tay. Tôi quán tưởng Ngài cầm đào tiên, cũng có thể cầm gậy như ý, đều tốt cả, điểm chính là quán tưởng mũ phượng, phất trần, đào tiên, Diêu Trì Kim Mẫu đẹp như tiên nữ trẻ trung. 

Ngài ở Côn Lôn Tiên Cảnh phương Tây, phương Tây thuộc Kim, nên chúng ta gọi Ngài là Kim Mẫu, còn gọi là Tây Vương Mẫu. Trong hang đá Đôn Hoàng của Trung Quốc có tượng Diêu Trì Kim Mẫu, chính là tượng Tây Vương Mẫu. Ngoài ra còn có Đông Vương Công, chính là Đông Hoa Đế Quân, phương Đông thuộc Mộc, phương Đông là Đông Vương Công, phương Tây là Tây Vương Mẫu, tiếp đến là Liên Hoa Đồng Tử, ba vị này thường ở cùng nhau. Tôi đã từng nói, tôi đã gặp Liên Hoa Đồng Tử, người đến giúp tôi mở thiên nhãn chính là Diêu Trì Kim Mẫu, tôi xem Ngài là Bổn tôn của mình, bởi vì Ngài là người đầu tiên mở thiên nhãn cho tôi.

Tám đại pháp của Diêu Trì Kim Mẫu, thực ra không chỉ có tám đại pháp, ngoài ra còn có nhiều pháp khác bên trong, thuộc về pháp của phái Đan Đỉnh trong Đạo gia. Tổ sư của phái Đan Đỉnh chính là Diêu Trì Kim Mẫu, tất cả các phương pháp tập luyện, rèn luyện thân thể đều nằm trong phái Đan Đỉnh, vì thế mới có tám đại pháp của Diêu Trì Kim Mẫu. Thực ra không chỉ có tám đại pháp. 

Thứ nhất, Bí pháp trị ung thư và khối u. Khi trên người bạn mọc u, mắc ung thư, có thể loại bỏ được. Bạn chỉ cần quán tưởng Diêu Trì Kim Mẫu đội mũ phượng, cầm phất trần, cầm đào tiên hoặc gậy như ý, phóng ánh sáng gia trì cho bạn; nếu u mọc ở vai, hãy ấn vào vai, mọc ở đầu thì ấn đầu, mọc ở dạ dày thì ấn dạ dày, mọc ở ruột thì ấn ruột, lúc này bạn quán tưởng Diêu Trì Kim Mẫu phóng ánh sáng chiếu vào ung thư của bạn, hoặc là khối u; khi bạn ấn vào, hãy niệm ba chữ "Hum Hum Hum", sẽ mở khối u ra, sau khi mở ra thì quán tưởng những thứ không tốt bay ra. Trước đây tôi nói về ong mật, ong mật từ khối u đã mở bay ra, bay ra liên tục, quán tưởng nhiều ong mật bay ra, sau khi tất cả đều bay ra, bỏ tay ra, khối u sẽ nhỏ dần từng ngày; ung thư cũng vậy, nhỏ dần từng ngày. Đây chính là "Bí pháp trị ung thư và khối u" của Diêu Trì Kim Mẫu, điểm quan trọng là ở chỗ này, tay bạn ấn vào chỗ mọc u, mắc ung thư, quán tưởng Diêu Trì Kim Mẫu phóng ánh sáng từ đỉnh đầu gia trì cho bạn, sau đó, "Hum Hum Hum" ba tiếng, mở khối u ra, những thứ bên trong chạy ra. 

Mặc dù tôi không có ung thư, tôi thường làm như thế này để phòng bệnh hơn chữa bệnh. Tôi quán tưởng chuột chạy ra, từng con chuột một, chuột ở Mỹ chỉ nhỏ như vậy thôi, có con nhỏ như ngón tay cái vậy. Chuột ở Đài Loan rất to. Đôi khi, quán tưởng của tôi là nhiều con nhện từ trong ung thư và khối u chạy ra cũng được. Bạn quán tưởng sâu bọ bò ra từ bên trong, ong bay ra, gián chạy ra đều được, những thứ này đều là những thứ không tốt; chỉ cần bạn nghĩ là rất bẩn thỉu thì đều có thể chạy ra từ đó. Bạn hãy thường xuyên quán tưởng như vậy. May mắn thay, Sư Tôn có phòng ngừa, đến 70 tuổi vẫn chưa cảm thấy những thứ này. Đây chính là bí pháp trị ung thư và khối u, lấy Diêu Trì Kim Mẫu làm Bổn tôn, đội mũ phượng, cầm phất trần, cầm gậy như ý hoặc đào tiên, quán tưởng một tiên nữ xinh đẹp ngồi trên ghế rồng phóng ánh sáng gia trì cho bạn. Như vậy là được rồi.

Thứ hai, "Phương pháp vận động mắt". Phương pháp này có bí quyết, phải thực hiện vào khoảng thời gian ngay sau khi bạn thức dậy vào buổi sáng, bạn đi đến cửa sổ, lúc này, mắt bạn nhắm lại, hai mắt trước tiên nhìn sang phải, nhìn lên trên, nhìn sang trái, nhìn xuống dưới, sau đó trở về vị trí ban đầu, đây là một vòng, tổng cộng phải xoay mười bốn vòng, bạn đếm trong đầu, một vòng, hai vòng, ba vòng, bốn vòng, năm vòng, sáu vòng, bảy vòng, tám vòng, chín vòng, mười vòng, mười một vòng, mười hai vòng, mười ba vòng, mười bốn vòng, sau đó đối diện với bên ngoài cửa sổ, mở mắt đột ngột, nhìn nơi xa nhất, đừng nhìn chỗ gần, nhìn cảnh vật xa nhất. Vì vậy, Sư Tôn đến nay đã 70 tuổi, mắt không cần phẫu thuật laser; tôi chưa bao giờ đeo kính. Sư Tôn 70 tuổi không đeo kính, như chữ trên đồng hồ Rolex, chữ rất nhỏ, tôi đều nhìn thấy rất rõ. Như trên kia viết: "Sư Tôn truyền tám đại pháp của Kim Mẫu", chữ này khá nhỏ, nhưng tôi cũng nhìn thấy rất rõ. Cho đến nay, buổi tối Sư Tôn lái xe ở Seattle cũng không đeo kính, nhìn đồ vật chưa bao giờ đeo kính, Sư Mẫu thì có hai cặp kính, một cặp kính lão, một cặp kính cho loạn thị.

Mỗi buổi sáng khi thức dậy, xoay mắt mười bốn vòng, phải kiên trì luyện tập, không phải chỉ xoay một tuần là được, hoặc xoay trong một thời gian, mà phải xoay suốt đời! Từ khi tôi hiểu được phương pháp này, tôi đã liên tục thực hiện cho đến bây giờ. Sư Mẫu hỏi bác sĩ Mỹ: "Có phương pháp xoay mắt không?" Bác sĩ Mỹ nói: "Trên thế giới làm gì có chuyện như vậy. Tôi làm bác sĩ nhãn khoa đã lâu như vậy, cũng không biết có phương pháp xoay mắt?" Các bác sĩ nước ngoài thực sự không hiểu sự vĩ đại của văn hóa Trung Quốc, việc xoay như thế này là bài tập vận động cho mắt, nhiều người chưa từng nghe về bài tập cho mắt, đây là bài tập hàng ngày cho mắt. Có đồng môn luyện phương pháp này, thực hiện bài tập mắt như vậy, trước đây họ cận thị đến 10 độ, bây giờ chỉ còn 2 hoặc 1 độ. Đây chính là bài tập cho mắt, giúp bạn duy trì thị lực rất tốt, sau này khi già cũng không bị viễn thị, cũng không bị loạn thị, đây chính là bài tập cho mắt, tôi hàng ngày đều làm như vậy. Buổi sáng thức dậy, Sư Tôn thực hiện ba bài tập, một là bài tập cho mắt, một là bài tập cho răng, một là bài tập cho tai.

Bài tập cho răng: mỗi ngày gõ răng 36 lần. Sau khi hoàn thành bài tập cho mắt, bạn có thể tiếp tục làm bài tập này để củng cố răng. Tuy nhiên, tôi khuyên những người lớn tuổi, những người có răng bị hư, khi thực hiện bài tập gõ răng 36 lần, nếu dùng lực quá mạnh, răng có thể bị gãy, hãy cẩn thận, việc này rất nguy hiểm. Bạn phải chú ý đến tình trạng răng của mình. Đối với người trẻ, tất nhiên có thể gõ răng trên và dưới vào nhau, tổng cộng 36 lần. Tôi làm như thế này (Sư Tôn minh họa), một, hai, ba, bốn, năm, sáu, A Di Đà Phật! Một, hai, ba, bốn, năm, sáu, A Di Đà Phật! Một, hai, ba, bốn, năm, sáu, A Di Đà Phật! Như vậy là đã niệm ba danh hiệu Phật, vừa gõ răng vừa niệm Phật, gõ răng 36 lần. Đây là bài tập cho răng. Các bạn nhớ, đừng gõ quá mạnh. Có người nghe lời Sư Tôn, gõ quá mạnh, răng bị vỡ, người già răng sẽ bị gãy, người trung niên răng sẽ bị mẻ, người trẻ thì dùng lực mạnh đến đâu cũng không sao. Đây là bài tập cho răng, giúp răng của bạn rất chắc khỏe, tập luyện cho nướu, giúp nướu của bạn rất khỏe mạnh, đây là một phương pháp tu luyện, phải thực hiện mỗi ngày, phải có lòng kiên trì.

Thứ tư, phương pháp gõ màng nhĩ, tôi xin minh họa (Sư Tôn minh họa). Đây gọi là gõ màng nhĩ, bạn ấn hai tai lại, dù là búng tai của bạn hay dùng ngón tay gõ vào cổ, đều sẽ tạo ra âm thanh "bùm bùm bùm", đây là gõ màng nhĩ, giống như nghe thấy tiếng trống đang đánh. Chúng ta gõ theo bội số của bảy, bảy lần bảy là bốn mươi chín, giúp tai của bạn vận động, đây là bài tập cho tai. Chưa từng có ai nghe nói đến bài tập cho mắt, bài tập cho răng, bài tập cho tai. Chỉ cần bạn thực hiện bài tập cho tai, tai sẽ rất thông suốt, rất rõ ràng, tất cả đều sẽ rất rõ ràng, ngay cả khi bạn đã 70 tuổi, bạn vẫn nghe rất rõ, không bị điếc. Mù mắt, rụng răng và điếc tai, ba điều này có thể khắc phục được, chỉ cần bạn làm mỗi sáng, gõ màng nhĩ 49 lần, gõ răng 36 lần, xoay mắt theo chiều kim đồng hồ 14 vòng, đây đều là những điều tôi làm mỗi sáng.

Có người nói: "Có làm bài tập cho mắt, cho răng và cho tai, sao không có bài tập cho mũi?" Làm sao mà không có? Trong Mật giáo có phương pháp Cửu tiết Phật phong, đó chính là bài tập thở cho mũi, là hơi thở sâu, bài tập thở hoàn toàn. Người bình thường khi thở, một hít một thở, chỉ đến cổ họng mà thôi, có người thở chỉ đến cổ họng, có người thở chỉ đến phổi; thực sự thở phải đến đan điền; thở sâu nhất, vĩ đại nhất là đến tận ngón chân, hít một hơi, thậm chí đến tận ngón chân; khi thở ra, hơi thở từ ngón chân đó thở ra, đây là hơi thở hoàn hảo nhất. Chỉ cần bạn thường xuyên luyện tập thở đến đan điền, đến ngón chân, đan điền của bạn sẽ có sức mạnh, ngón chân sẽ không bao giờ teo lại, toàn thân đều thở, cuối cùng, da của bạn cũng có thể thở được. Đây là bài tập cho mũi, gọi là thở hoàn toàn. Người thường thở chỉ đến cổ, rất ngắn; hoặc là đến phổi. Nhất định phải đến đan điền, nhất định phải đến chân, đến ngón chân, người hiểu được cách thở này, mao mạch sẽ mở ra, cũng sẽ thở, sau đó sẽ trở thành thai tức, nghĩa là da của bạn hoàn toàn đang thở, bạn có thể tự nín thở, đây chính là bài tập cho mũi. Bây giờ bổ sung một bài tập cho mũi, rất quan trọng.

Tôi làm gì vào buổi tối khi tắm? Khi tắm, tôi thực hiện phương pháp phòng chống nhồi máu cơ tim. Vì khi thực hiện bài tập này cần phải cởi áo lót, hãy làm việc này trước khi tắm, thực hiện vài lần rồi mới tắm. Muốn tu luyện phải làm như vậy, những điều tôi sắp nói là bài tập cần làm trước khi tắm. Phương pháp phòng chống nhồi máu cơ tim, bạn xoa vùng ngực 50 lần, một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy, tám, chín, mười, tổng cộng 50 lần, một, hai, ba, bốn, năm, sáu, A Di Đà Phật! Hai, hai, ba, bốn, năm, sáu, A Di Đà Phật! Bạn cũng có thể niệm Phật, tổng cộng xoa 50 lần, niệm danh hiệu Phật 5 lần. Đây là phương pháp phòng chống nhồi máu cơ tim.

Còn có phương pháp khơi dậy hỏa xà (Kundalini), bạn cần thường xuyên xoa luân xa rốn, rất tốt cho hệ tiêu hóa của bạn, tốt cho nhu động ruột. Tôi làm điều này hàng ngày, tay phải xoay theo chiều kim đồng hồ 14 lần, tay trái xoay ngược chiều kim đồng hồ 14 lần. Thứ nhất, phương pháp này giúp ruột của bạn vận động, giúp dạ dày của bạn vận động, và giúp lửa Kundalini dễ dàng sinh khởi. Đối với nam giới, phương pháp này còn giúp tinh chất không bị mất đi trong giấc mơ. Vì vậy, xoa luân xa rốn là một phương pháp rất tốt, nghĩa là xoa quanh rốn 14 lần bên này, 14 lần bên kia, sử dụng cả hai tay, dễ dàng khơi dậy lửa Kundalini, giúp khí ở luân xa rốn lưu thông, và ruột cũng có thể nhu động tốt.

Thứ bảy là phương pháp giúp ích cho thận của bạn. Mỗi ngày thực hiện một lần, thực hiện cho đến khi tay bạn mỏi. Khi tắm, hai tay của bạn ấn vào vùng thận và chà xát lên xuống, sách cổ có nói dùng mu bàn tay chà xát vùng thận, chà đến khi tay mỏi thì thôi. Tôi nghĩ rằng, lúc mới bắt đầu, chà xát 100 lần là tay đã mỏi; hiện nay tôi chà xát 200 lần, tay vẫn chưa mỏi, có thể chà xát 300 lần. Vì vậy, tôi vừa đến Seattle Overlake Hospital để kiểm tra sức khỏe, bác sĩ nói gan của tôi vẫn rất bình thường, hoàn toàn bình thường; 70 tuổi rồi, vẫn rất bình thường, đó là nhờ chà xát vùng thắt lưng này. Tôi chà xát 300 lần, 300 lần tay vẫn không mỏi; có người chà xát 100 lần đã thấy tay mỏi. Đây là phương pháp giúp ích cho thận của bạn, đây là pháp thứ bảy.

Loại thứ tám là pháp thần thủy. Pháp thần thủy cũng chính là Bảo bình khí. Bảo bình khí là gì? Tại sao miệng người già thường khô? Miệng khô thì phải uống nước, vậy tại sao miệng lại khô? Thứ nhất, hormone trong cơ thể họ đã bị mất đi. Trên thực tế, toàn thân bạn đều có hormone, toàn thân đều tiết hormone, như insulin từ tuyến tụy chính là hormone. Giấc ngủ dựa vào gì? Chính là dựa vào melatonin, melatonin là một loại hormone. Nước bọt đến từ đâu? Nó giúp làm trơn cổ họng của bạn, thậm chí ngay trong miệng đã giúp dạ dày tiêu hóa. Nước từ đâu đến? Nước chính là hormone. Mọi người hãy nhớ kĩ, hormone không chỉ có một loại, tim bạn cũng có hormone, tuyến tụy cũng có hormone, gan cũng có hormone, một khi gan thiếu hormone, gan sẽ xơ cứng, sẽ bị suy; một khi não thiếu melatonin, bạn sẽ mất ngủ. Nơi nào thiếu hormone, nơi đó sẽ teo lại, nơi đó sẽ không thể hoạt động. Tại sao khi người già đến 70 tuổi, luân xa sinh dục quan trọng nhất phải dựa vào câu chuyện cười được kể trong bữa tiệc tối hôm qua về Viagra - viên thuốc nhỏ màu xanh, chưa từng thấy bao giờ, bởi vì nó có thể giúp hormone chảy đến vùng đó. Cái gọi là đêm tân hôn, là lúc hạnh phúc nhất, nhưng đột nhiên không thể cương cứng, đó là điều đáng tiếc của đêm tân hôn, quá căng thẳng, hormone không đến được nơi đó. Ngoài ra, còn có ba điều bất hạnh nhất trong đời người, đó là khi tên được ghi trên bảng vàng - nhưng tên giống nhau, là người khác được nhận, bạn không được nhận; gặp người quen ở nơi xa lạ - hóa ra là chủ nợ; và hạn hán lâu ngày gặp mưa rào - chỉ có hai giọt, đều là những điều không may mắn. Nếu bạn muốn hạnh phúc, toàn thân bạn phải có thể hoạt động, không thể giống như người già, mọi thứ đều cao, như là ba cao: huyết áp cao, đường huyết cao, cholesterol cao, mọi thứ đều cao, chỉ có một thứ không cao, đó là "trường kỳ ủ rũ", như vậy không được, đó là do hormone có vấn đề.

Chúng ta luyện pháp thần thủy, chính là hormone. Hormone rất quan trọng, bạn để lưỡi di chuyển giữa các kẽ răng, di chuyển cho đến khi nước bọt liên tục chảy ra, chảy đến khi miệng đầy, sau đó dùng lưỡi khuấy động, tức là súc, súc nước bọt, rồi nuốt xuống, thẳng đến đan điền của bạn. Lúc này hít mạnh một hơi, sau đó nín thở, ép một hơi xuống, trên ép dưới nâng, hậu môn siết chặt, tạo thành một bảo bình, trong bảo bình có hormone. Sau khi nín thở như vậy, khí và thần thủy lăn trong cơ thể, đến tất cả các kinh mạch trên cơ thể bạn, đây gọi là pháp thần thủy, cũng gọi là thần thủy bảo bình khí. Luyện lâu ngày, miệng bạn sẽ không khô, thường xuyên có thần thủy tự nhiên nhỏ xuống, và nó thơm, ngọt, thơm ngon dễ uống. Rất lạ, nước bọt này trong cơ thể bạn là một loại vitamin, nhưng khi bạn nhổ ra ngoài, lập tức bị vi khuẩn nhiễm vào, ngay lập tức sẽ hôi. Bạn không nên tùy tiện khạc đờm, tất nhiên khi bị bệnh, đờm phải ra ngoài, đó là bất đắc dĩ, nếu bạn không bị bệnh, tùy tiện khạc đờm là lãng phí thần thủy của bạn. Người thực sự khỏe mạnh không khạc đờm, chỉ khi bị bệnh mới không có cách nào khác, chảy nước mũ, có đờm trong cổ họng phải khạc ra, đó là khi bị bệnh, bị cảm lạnh, nhất định phải khạc. Khi khỏe mạnh bình thường, tuyệt đối không được khạc đờm, không thể thành thói quen, không thể giống như các quan lớn Trung Quốc ngày xưa, mỗi người đều chuẩn bị ống nhổ, lúc nào cũng nhổ, nhổ xa lắm.

---
# File: tinh-tuyen/doan-tru-luc-dao-tap-khi.md
# Title: Đoạn trừ lục đạo tập khí
---

## Đoạn trừ lục đạo tập khí


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

*Liên Sinh Hoạt Phật văn tập số 240 - “Mở cửa kho báu”*

Khẩu quyết bí mật của Lư Thắng Ngạn.

Cá nhân tôi tin rằng, mỗi một người khi sinh ra đã mang theo nghiệp chướng của nhiều kiếp. 

Bởi vì có rất nhiều người bị thiểu năng bẩm sinh, có khuyết tật bẩm sinh, có bệnh câm điếc bẩm sinh, chân tay không đầy đủ, thiểu năng trí tuệ, mắc bệnh mềm xương, miệng méo mắt xếch, đầu to tay ngắn… 
Những người này vừa sinh ra.
Còn chưa làm tất cả việc thiện và tất cả việc ác.
Vì sao lại bị như vậy?
Bởi vì nghiệp chướng nhiều kiếp mà ra!
Tập khí, phiền não, nghiệp chướng sinh ra đã có, hơn nữa còn ăn sâu bén rễ.
Có một số người sau khi sinh ra thì mắc bệnh, do ảnh hưởng của hoàn cảnh xung quanh mà dần dần nhiễm thói xấu.

Chúng ta thường nói:
Rồng sinh rồng.
Phượng sinh phượng.
Con chuột sinh ra đã biết đào hố.
Văn hóa “chum tương” là tất cả ô nhiễm thành một vị.
Đây đều là do hoàn cảnh sau này tạo nên.

Mật giáo có tu trì pháp đoạn trừ lục đạo tập khí, khẩu quyết của nó như sau:
Hành giả ngồi tư thế Tỳ Lô thất chi tọa.
Quán tưởng chủng tử tự của lục đạo.
(Ah), màu trắng, đặt ở mi tâm, thiên đạo.
(Su), màu lục, đặt ở họng, atula đạo.
(Ni), màu lam, đặt ở tim, nhân đạo.
(Chi), màu đỏ, đặt ở rốn, súc sinh đạo.
(Chưa), màu lục, đặt ở chỗ kín, ngạ quỷ đạo.
(Tô), màu xám, đặt ở lòng bàn chân, địa ngục đạo.
(Cần ghi nhớ các chủng tử tự này đều có màu nhạt.)

Lại quán tưởng:
(Ôm), ánh sáng trắng, đặt ở mi tâm.
(Ah), ánh sáng đỏ, đặt ở họng.
(Hùm), ánh sáng lam, đặt ở tim.
Sau khi tất cả đã ở yên vị trí. 
Dùng ba chữ của Như Lai bắt đầu đốt cháy, đốt cháy rụi hoàn toàn chủng tử tự của sáu đạo. 
Ba chữ như lửa, lửa bùng lên, đốt cháy hoàn toàn chủng tử tự của sáu đạo, không còn lại chút nào. 
Hành giả tỏa sáng vô tận.
Trong miệng hành giả khe khẽ tụng “Ôm ah hùm”. 
Cứ thế đốt cháy hết chủng tử tự của sáu đạo.
Niệm “Ôm ah hùm” càng nhiều càng tốt.

Nếu tập khí của lục đạo đã thanh trừ sạch sẽ rồi thì sẽ sinh ra những điềm mộng cát tường. 

1. Hành giả bay tự do trong hư không.

1. Hành giả nhìn thấy toàn thân mình trong suốt như pha lê.

1. Hành giả nhìn thấy ánh sáng trắng quấn lấy thân mình.

1. Hành giả nhìn thấy mình mặc thiên y màu trắng sạch sẽ.

1. Hành giả ăn vào thứ màu trắng và nhổ ra thứ màu đen.

1. Hành giả tắm trong ánh sáng trắng.

1. Hành giả nhìn thấy mình hóa thành Bổn tôn.

Lúc này, hành giả tự mình cảm nhận thấy tham, sân, si, nghi, mạn, đố kỵ đã giảm bớt và tan biến.
Nội tâm rất an nhiên, tự tại.

Cá nhân tôi cho rằng nếu hành giả đã tu thành công chuyết hỏa, dùng chữ “Ah” ngắn lộn ngược. 
Đốt cháy.
Lửa chạy lên trên. 
Đốt khắp toàn thân.
Như vậy lục đạo tập khí tự nhiên cũng tiêu trừ toàn bộ, hành giả trở nên thanh tịnh.

Tôi nói:
Mật pháp là sống.
Từ đây mà suy rộng ra.

---
# File: tinh-tuyen/gioi-thieu-bat-dong-minh-vuong-phap.md
# Title: Giới thiệu Bất Động Minh Vương pháp
---

## Giới thiệu Bất Động Minh Vương pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Chú ngữ


Chân ngôn: Nam-mô san-man-tô. Mô-zư-la-nai. Hằng. (Theo văn tập 076)

Nam-mô san-man-tô. Wa-zư-la. Hàn.

Nam-mô san-man-tô. Wa-zư-la. Lan. Hàn. (Câu chú làm xúc động tâm của Bất Động Minh Vương, theo khai thị ngày 20.09.2006.)

Nam-mô san-man-tô. Mô-thô-nam. Wa-zư-la. Lan. Han. (Theo khai thị ngày 02.12.2007)

Nam-mô san-man-tô. Mô-thô-nam. Wa-zư-la. Lan. Han. (Theo cuốn sách Chân Phật số 670)

Ngũ sắc Bất Động Minh Vương dựa theo Ngũ hành: trung ương - thổ - vàng; tây - kim - trắng; bắc - thủy - đen; nam - hỏa - đỏ, đông - mộc - xanh (lam). (Theo khai thị ngày 08.11.2022)

Kết giới của và Cửu tự chân ngôn của Ngũ sắc Bất Động Minh Vương: lâm, binh, đấu, giả, giai, trận, liệt, tại, tiền. (Theo khai thị ngày 01.01.2023)


### Công đức của pháp


Bất Động Minh Vương chiếm vị trí thủ tọa trong số tám đại Minh Vương, là biến hóa thân và giáo lệnh luân của bộ chủ của hai bộ Kim cương bộ và Thai tạng bộ là Đại Nhật Như Lai (Biến Chiếu Kim Cang).

Bất Động Minh Vương là vị phẫn nộ nhất trong số 18 vị phẫn nộ. Bất Động Minh Vương khá phổ biến trong Đông mật, Tạng mật thì ít gặp, là vị quan trọng nhất trong số các vị Kim Cang Minh Vương của Đông mật, là vị Đại Minh Vương chủ yếu nhất.

Ngũ Phật hóa thành Ngũ Kim Cang, Bát Đại Bồ Tát hóa thành Bát Đại Kim Cang, vị số một trong đó, hóa thân của trung ương Tỳ Lô Giá Na Phật chính là trung ương đại thánh Bất Động Minh Vương. Có thể nói, đây là vị lớn nhất trong số các vị Minh Vương, và uy lực của vị này là mạnh nhất, cho nên Ngũ Đại Minh Vương, Bát Đại Minh Vương đều lấy vị này đứng đầu.

Lời thề của Bất Động Minh Vương là:

**“Người nào thấy thân ta thì phát bồ đề tâm, người nào nghe tên ta thì bỏ ác tu thiện, người nào nghe ta nói thì đắc đại trí huệ, người nào biết tâm ta thì tức thân thành Phật.”**


### Ứng dụng Yết ma


Tu pháp Bất Động Minh Vương để đốt sạch nghiệp chướng của mình, có thể hàng yêu phục ma, phá chướng trừ tai, tăng phúc tăng huệ, quý nhân trợ giúp, gia đình viên mãn, sản sinh đại kính ái. Tinh tấn tu trì có thể tức thân thành Phật, là đại pháp vô cùng thù thắng.

---
# File: tinh-tuyen/gioi-thieu-ngan-ve-21-do-mau.md
# Title: Giới thiệu ngắn về 21 Độ Mẫu
---

![image](/img/img_d20e5e93ec8daa61c9a995bbdb0dfd6a.jpg)



## Giới thiệu ngắn về 21 Độ Mẫu


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Công đức của pháp


Độ Mẫu là tên gọi tắt của Thánh Cứu Độ Phật Mẫu, là một trong những Bổn tôn trọng yếu của Mật giáo. Dịch sang tiếng Hán là Đa La Bồ Tát, hoặc Đa La Quan Âm, bắt nguồn từ âm của chữ Tara trong tiếng Phạn.

Căn cứ theo “Độ Mẫu bản nguyện ký” ghi chép: Vào vô lượng kiếp trước, Quan Thế Âm Bồ Tát đã cứu độ rộng khắp vô số chúng sinh, nhưng có một ngày, Bồ Tát dùng huệ nhãn của mình quan sát lục đạo, phát hiện ra chúng sinh chịu khổ chịu nạn vẫn không hề giảm bớt, nhọc nhằn sinh sống, lo lắng đau khổ, ngài đã chảy nước mắt, nước mắt trở thành hoa sen, hoa sen lại biến thành Lục Độ Mẫu, sau đó lại biến thành 21 vị Độ Mẫu. Trong “Lục Độ Mẫu tụng” có nói: 21 Độ Mẫu là các vị Phật Mẫu do công đức khác nhau của Lục Độ Mẫu hóa hiện mà ra, trong đó cũng thuật lại rất tường tận về trí huệ của các vị.


### Quán tưởng



![image](/img/img_afd7225f47096520cb9b580f9a6de977.jpg)


Thánh Cứu Độ Mẫu tổng cộng có 21 vị hóa thân, gọi tắt là 21 vị Độ Mẫu, lấy Lục Độ Mẫu làm tổng trì, các vị khác mỗi vị đều là Độ Mẫu cứu tai nạn, Cứu Địa Tai Độ Mẫu, Bảo Nguyên Độ Mẫu, Như Ý Độ Mẫu, Trường Thọ Độ Mẫu, Cứu  Độc Nạn Độ Mẫu, Cứu Hỏa Tai Độ Mẫu, Cứu Thủy Tai Độ Mẫu, Cứu Thú Nạn Độ Mẫu, Cứu Súc Nạn Độ Mẫu, Cứu Ma Nạn Độ Mẫu, Tăng Uy Quyền Độ Mẫu, Tăng Phúc Huệ Độ Mẫu, Cứu Ngục Tai Độ Mẫu, Cứu Phong Tai Độ Mẫu, Cứu Đạo Nạn Độ Mẫu, Cứu Binh Tai Độ Mẫu, Cứu Thiên Tai Độ Mẫu, Phục Ma Độ Mẫu, Dược Vương Độ Mẫu. 

Thánh Cứu Độ Phật Mẫu là pháp dễ gần gũi nhất, cũng dễ đắc tương ứng nhất. Có những người cả đời chuyên tu pháp Độ Mẫu, có được trí huệ rất lớn. 


### Ứng dụng Yết ma


Chú Lục Độ Mẫu chính là chú căn bản của 21 Độ Mẫu, nếu con người thường siêng năng trì tụng thì sẽ dần dần cắt đứt được những căn nguyên của luân hồi. Thành tựu giả tu trì pháp môn Độ Mẫu sẽ tránh được tất cả ma chướng, ôn dịch bệnh khổ, tiêu trừ tất cả kiếp nạn nước, lửa, đao binh, trộm cướp. Ngoài ra còn có thể tăng trưởng phúc huệ, quyền uy, thọ mệnh. Hễ khi nào có thỉnh cầu đều được như ý nguyện, khi tuổi thọ kết thúc sẽ vãng sinh cõi Cực Lạc.

Thành tựu giả tu pháp môn Độ Mẫu sẽ tránh được tất cả nghiệp tội, tiêu diệt ma chướng, có thể cứu tất cả tai nạn, mau chóng đắc công đức viên mãn vô lượng, trường thọ phú quý đều được như ý, lợi ích công đức quảng đại vô lượng bất khả tư nghì. Trong quá khứ ở Ấn Độ và Tây Tạng, ví dụ về những thành tựu giả tu trì pháp môn này và đắc được những điềm báo cát tường nhiều không đếm xuể, cho đến nay vẫn được lưu truyền rộng rãi.


### Liên Sinh Hoạt Phật khai thị tâm yếu khẩu quyết


Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn từng khai thị: “Lục Cứu Độ Mẫu (Tara Xanh) trong Tạng mật là một vị đại Bồ Tát cứu đời, rất nhiều nữ hành giả Mật tông tu Tạng mật đều tu trì Lục Cứu Độ Mẫu. Ngài ngồi trên tòa hoa sen màu trắng, dựa theo lời thề gốc của ngài thì ngài là biến hóa thân của Quan Thế Âm Bồ Tát vì từ bi chúng sinh trong thiên hạ, đau lòng mà rơi nước mắt, cho nên ngài là vị từ bi nhất.

Trong Tạng mật, Lục Cứu Độ Mẫu có 21 hóa thân. Bạch Độ Mẫu và Lục Độ Mẫu là chị em, là một vị đại Bồ Tát xứng đáng được người tu Mật tông kính ngưỡng, là vị dễ gần gũi nhất, cũng dễ tương ứng nhất. Có những người cả đời chuyên tu pháp Lục Độ Mẫu, đắc được trí huệ rất lớn. Chúng sinh chỉ cần thành tâm thành ý xưng niệm tên của ngài, trì tâm chú của Lục Cứu Độ Mẫu, tu hành tự có thể đắc quả.

Tu trì pháp Lục Cứu Độ Mẫu có ba điều thù thắng như sau:

1. Thay đổi tự tâm, đạt tới tâm từ bi cứu đời, chuyển thành đại bồ đề tâm không sinh không diệt.

1. Từ đây minh tâm kiến tính, tịnh thổ của người đó chính là Thường Tịch Quang thổ.

1. Tất cả phúc huệ thế gian đều có thể thành tựu, đầu tiên dựa theo tướng mà đắc phúc báo thế gian, sau khi lìa tướng thì đắc tịnh thổ xuất thế gian.

Khi xưa Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi thiền dưới cây bồ đề chính là có Lục Độ Mẫu trụ đỉnh. Vì có Lục Độ Mẫu trụ đỉnh nên mới sản sinh ra truyền thừa Độ Mẫu.

---
# File: tinh-tuyen/gioi-thieu-thanh-quan-am-de-nhat-phu-hao-phap.md
# Title: Giới thiệu Thánh Quan Âm đệ nhất phú hào pháp
---

![image](/img/img_05c7da44932f9d7bfda088493e883816.jpg)



# Giới thiệu Thánh Quan Âm đệ nhất phú hào pháp



### Pháp hội ngày 09.09.2023.


Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật đã truyền và ban quán đảnh pháp Thánh Quan Âm đệ nhất phú hào. 

Pháp Vương đã khai thị rằng, Hiển giáo lấy giới định huệ để đối trị tham sân si, nhưng Mật giáo thì khác, giống như trong Kinh Duy Ma Cật có nói, tham sân si cũng là Phật pháp. Con người sống trên đời khó tránh khỏi tham, thậm chí, muốn thành Phật, muốn thành Bồ Tát, muốn thành A La Hán, muốn giúp đỡ chúng sinh cũng đều thuộc về tham. Trong đường đời khó khăn gian khổ, Thánh Quan Âm thương xót chúng sinh nên có pháp đệ nhất phú hào để giúp đỡ chúng sinh thoát khỏi nghèo khổ.

Pháp Thánh Quan Âm thiên hạ đệ nhất phú hào có hai ý  nghĩa: 
Thứ nhất: Bạn thành Phật Bồ Tát, đây là đệ nhất phú hào ở cõi trời. 
Thứ hai: Trong cuộc đời ngắn ngủi tại thế giới Ta Bà, bạn có thể trở thành người giàu có số một ở nhân gian. 
Cho nên, chỉ cần là những người báo danh tham gia, báo danh làm chủ cầu trong buổi pháp hội này thì đều có phần, bởi vì bạn đã có được bồ đề tâm chân chính - bồ đề tâm của Thánh Quan Âm. Chỉ cần tương ứng với Thánh Quan Âm, tu hành thành tựu thì có thể trở thành người giàu có số một.

Pháp Vương đã tóm tắt ba trọng điểm của pháp này:

1. Thủ ấn của Thánh Quan Âm: hai tay đan nội phộc, tay phải ngón cái giơ thẳng, tượng trưng cho số một. Hễ kết thủ ấn này thì tất cả Tài Thần trong thiên hạ đều phải nghe lệnh.

2. Chú ngữ của Thánh Quan Âm: “Ôm ma-ni-pát-mi-hùm. Ta-cha-pu-chưa ku-lu-ya sô-ha.”
“Ôm ma-ni-pát-mi-hùm” chính là Thánh Quan Âm. 
”Ta-cha-pu-chưa” nghĩa là tất cả đại tư lương đầy đủ, đại tài phúc đầy đủ.
”Ku-lu-ya” là number one, số một.
”Sô-ha” nghĩa là viên mãn nguyện vọng này.

Bất kể hành giả trì tụng bao nhiêu biến chú ngữ, chỉ cần tu trì tương ứng rồi thì cả đời này bạn sẽ giàu có.

3. Cúng phẩm: nhất định phải cúng ba khay đồ rất đặc biệt. Khay thứ nhất là ngũ bảo, gồm: vàng, bạc, trân châu (ngọc trai), đá quý, thủy tinh. Khay thứ hai là vải lụa năm màu sắc, vải lụa hoặc vải tơ đều được. Khay thứ ba là ngũ cốc: gạo, lúa mì, đại mạch, tiểu mạch, đậu, vừng (mè). 

Khi cúng dường, phải quán tưởng ngũ bảo biến vô cùng vô tận. Sau cùng khi hồi hướng phải niệm:
Vàng bạc tài bảo dùng không cạn.
Ngũ cốc hoa màu ăn không xuể.
Y phục ngũ sắc mặc không hết.

Các bước tu pháp hoàn toàn giống như các pháp tu Bổn tôn khác. Đời này không thành tựu thì đời sau chắc chắn thành tựu. 

Sau buổi pháp hội truyền thụ pháp này, rất nhiều đệ tử có thắc mắc, vì thế, Tông Ủy Hội Chân Phật Tông vào ngày 20.09.2023 đã thỉnh Sư Tôn chỉ thị, giải đáp, và vào ngày 25.09.2023, Tông Ủy Hội đã có thông báo chính thức như sau:

Q1: Xin hỏi xem đoạn video phát lại Căn bản Thượng sư ban quán đảnh pháp Thánh Quan Âm hoặc xem video toàn bộ pháp hội có phải là có được quán đảnh trực tiếp không?
A1: Xem video phát lại không thể coi là đã có được quán đảnh, chỉ có thể có sự gia trì. Nhưng, Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật có chỉ thị đặc biệt: (người có được pháp lưu, xem là đã được quán đảnh).

Chú ý 1: Nếu sau này có cơ duyên, tốt nhất là tự mình có thể thỉnh cầu Sư Tôn đích thân quán đảnh.
Chú ý 2: Theo quy định về Mật pháp mới được truyền lần đầu của tông phái chúng ta, phải đợi 6 tháng sau lần truyền pháp đầu tiên, đợi Tông Ủy Hội công bố liệu pháp này có thể quán đảnh từ xa được không, sau đó các bạn mới viết thư cầu quán đảnh từ xa.

Q2: Những cúng phẩm bắt buộc mà Căn bản Thượng sư đã truyền dạy, ngoài ngũ cốc ra, ngũ bảo và vải ngũ sắc, có cần mỗi lần tu một đàn pháp lại phải đổi cúng phẩm mới không?
A2: Người có nhiều tư lương (tức là có điều kiện tài chính), thì nửa tháng thay mới một lần. Người có ít tư lương thì ba tháng thay mới một lần. 
Ba khay cúng phẩm (ngũ bảo, vải lụa ngũ sắc, ngũ cốc) thay mới cùng lúc. Thời gian thay mới do hành giả tự mình quyết định.

Q3: Vải lụa ngũ sắc có thể dùng chỉ ngũ sắc để thay thế không?
A3: Không được dùng chỉ ngũ sắc thay cho vải lụa ngũ sắc.

Q4: Cúng phẩm của pháp Thánh Quan Âm, về phương diện tài bảo vàng bạc, đá quý và thủy tinh có chỉ định số lượng bao nhiêu không? (1 cái hay là 5 cái) Về phương diện màu sắc thì là đá quý và thủy tinh 1 màu hay là 5 màu?
A4: Số lượng, màu sắc tùy ý.

Q5: Ba lại cúng phẩm quan trọng (vàng bạc tài bảo, ngũ cốc hoa màu và tơ lụa ngũ sắc) phải bày trên đàn thành như thế nào? Bày cùng với bát cúng hay sao? Hay là có cách bố đàn đặc biệt nào không? Ví dụ như đàn thành của Khổng Tước Minh Vương và Kỵ Long Bạch Tài Thần. 
A5: Lấy ba khay riêng, bày ba loại cúng phẩm tại đàn thành để cúng dường là được.

Tông Ủy Hội Chân Phật Tông Thế Giới trân trọng kính báo.

Tu pháp Quan Thế Âm Thiên Hạ Đệ Nhất Phú Hào của Thánh Quan Âm sẽ có được tiền tài của cõi trời và tiền tài ngắn ngủi của nhân gian.

Cúng phẩm rất quan trọng, đồ cúng dường không phải là những thứ đồ bình thường, đồ cúng nhất định phải cúng ba khay đồ rất đặc biệt:

Khay thứ nhất là ngũ bảo: năm loại bảo vật là vàng, bạc, trân châu, đá quý, thủy tinh. 

Khay thứ hai là vải tơ lụa ngũ sắc: vải tơ lụa có năm màu sắc, loại vải quý. 

Khay thứ ba là ngũ cốc: gạo, lúa mì, đại mạch, tiểu mạch, đậu, vừng (mè). Thứ mà con người chúng ta ăn, năm loại thức ăn.

Trọng điểm của tu pháp này nằm ở hồi hướng. Khi cúng phải quán tưởng ngũ bảo biến vô cùng vô tận, vàng bạc tài bảo dùng không hết.

Hồi hướng phải niệm: “Vàng bạc tài bảo dùng không cạn. Ngũ cốc hoa màu ăn không xuể. Y phục ngũ sắc mặc không hết.”

Trong cuộc đời, vàng bạc tài bảo dùng không hết, quần áo mặc không hết, ngũ cốc ăn không hết, đó chính là người giàu có.

Đời này không thành tựu, đời sau nhất định thành tựu.

Mong rằng tất cả những người hữu duyên tư lương đủ đầy, tu pháp tương ứng thành tựu.

---
# File: tinh-tuyen/hoi-huong-den-su-ton-se-co-duoc-su-ban-phuc-cua-su-ton.md
# Title: Hồi hướng đến Sư Tôn sẽ có được sự ban phúc của Sư Tôn
---

![image](/img/img_55d2080d1c29de8ceb435dcca3227827.jpg)



# Hồi hướng đến Sư Tôn sẽ có được sự ban phúc của Sư Tôn


Tôi nghe như vầy…
Đệ tử Chân Phật hồi hướng cho Sư Tôn đều sẽ có được sự ban phúc của Sư Tôn, không có cái gọi là gánh chịu nghiệp chướng.
Mạng Chân Phật Toàn Cầu TBSN đưa tin.
Ngày 19/05/2024, trước buổi pháp hội tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, khi mọi người cùng Sư Tôn dùng cơm đã nói chuyện, có người đã nghe khai thị của Sư Tôn ngày hôm trước liên quan đến gánh chịu nghiệp chướng cho nên đã tỏ ý rằng đệ tử không dám hồi hướng cho Sư Tôn, bởi vì sợ gánh nghiệp của Sư Tôn. Sư Tôn nghe xong nói: “Bạn hồi hướng cho tôi, Sư Tôn cũng sẽ ban phúc cho bạn.”

Sư Tôn nhắc đến hội Vu Lan Bồn, Mục Kiền Liên muốn đi đến địa ngục cứu mẹ, nhưng chỉ dựa vào sức mạnh của một mình Mục Kiền Liên là không đủ, cho nên cần có tất cả những người xuất gia dùng chậu đựng cúng phẩm để cúng dường mười phương pháp giới. Mục Kiền Liên có thần thông, muốn đi đến địa ngục cứu mẹ, nhưng tất cả thức ăn muốn đưa cho mẹ đều biến thành than. Phật Thích Ca Mâu Ni nói với ông rằng sức mạnh của một mình ông không đủ, dạy ông phải tập hợp sức mạnh của tăng chúng cùng đi cứu mẹ của ông, vì thế mới có hội Vu Lan Bồn, cúng dường tất cả tăng chúng, cúng dường Phật, cúng dường pháp, cúng dường tăng, tập hợp sức mạnh của mọi người đi cúng dường hồi hướng thì sẽ thành công.

“Tập hợp sức mạnh của mọi người, niệm kinh hồi hướng cho Sư Tôn là việc có thể làm, giống như Mục Kiền Liên vậy. Nếu nói rằng không dám hồi hướng cho Sư Tôn, sợ sẽ gánh chịu nghiệp của Sư Tôn thì là không đúng.”

Thượng sư Liên Ngạn có mặt ở đó nói, trong cuộc đối thoại giữa Sư Tôn và Duy Ma Cật, Sư Tôn thị hiện bệnh tật là để các đệ tử càng tinh tấn tu pháp trì chú hồi hướng, các đệ tử hồi hướng cho Sư Tôn là đang gia tăng phúc báo của bản thân đệ tử. Cho nên, hồi hướng cho Sư Tôn và hồi hướng cho người bình thường là khác nhau.

Thượng sư Liên Tăng cũng bày tỏ rằng, các đệ tử đều mang tấm lòng cảm ơn Sư Tôn để hồi hướng cho Sư Tôn, các đệ tử không nên cắt câu lấy nghĩa [tức là lấy một câu trong lời nói của người khác rồi giải thích theo ý mình], lấy ra một đoạn khai thị của Sư Tôn mà ảnh hưởng đến sự phát tâm của mọi người.

Sư Tôn chỉ ra rằng, nghiệp là thứ rất khó giải thích, và cảm thán rằng: “Đệ tử đều biết nói đem thân, khẩu, ý của mình cúng dường cho Sư Tôn, nhưng vừa nghe thấy có thể gánh nghiệp chướng là sợ đến mức không dám hồi hướng cho Sư Tôn, sợ chính mình sau này sẽ gánh chịu nghiệp của Sư Tôn, thế thì gọi gì là thân khẩu ý cúng dường chứ? Ngay cả điều này cũng sợ.” 

“Bản thân Sư Tôn hòa tan vào cùng hư không. Có cái gì đáng sợ chứ?”

Con người sống trên đời gặp được minh sư là điều rất khó có được, đệ tử Chân Phật nên luôn luôn giữ gìn chính niệm, đối với Căn bản Truyền thừa Thượng sư phải có niềm tin thanh tịnh thì sẽ có được lực gia trì lớn nhất!

Phật Đản của Sư Tôn sắp đến, Tông Ủy Hội hô hào đồng môn Chân Phật tiếp tục cùng trì tụng tâm chú Diêu Trì Kim Mẫu hồi hướng cho Sư Phật, Sư Phật trụ thế chính là phúc phần lớn nhất của mọi người chúng ta!

---
# File: tinh-tuyen/index.md
# Title: Tinh tuyển
---

# Tinh tuyển


> Các bài giảng và tư liệu quý


### Giới thiệu về Bổn tôn và pháp tu



---



### Giới thiệu về pháp khí



---



### Bản văn hữu ích



---



### Các bài giảng của Kim cương Thượng sư Liên Anh

---
# File: tinh-tuyen/lien-hoa-dong-tu-cac-mau-sac.md
# Title: Liên Hoa Đồng Tử các màu sắc
---

![image](/img/img_2e908423f8c639eabd4840a1d3790864.jpg)



## Liên Hoa Đồng Tử các màu sắc


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

**Tranh Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng đồng chân**

Ánh sáng đồng chân của Liên Hoa Đồng Tử màu cam là ánh sáng ngây thơ thuần khiết của tâm trẻ thơ, không một chút ô nhiễm, hoàn toàn chân thật.

Người tu hành nên trở về với sự ngây thơ, lìa xa giả dối, ánh sáng này tượng trưng cho bản tính thuần khiết của tu hành.


![image](/img/img_fe29c7ac5b8e768e871e76070ed98ebe.jpg)


**Hoàng Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng phúc túc**

Liên Hoa Đồng Tử màu vàng hiện lên ánh sáng phúc túc, tượng trưng cho phúc huệ song tu.

Phúc đến từ sự kết hợp của đức và trí huệ, người tu hành phải có cả phúc và huệ mới có thể độ mình độ người, thành tựu viên mãn phúc đức.


![image](/img/img_33d6beb6863350ee7f3afacd1ecb0de0.jpg)


**Hồng Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ánh sáng hạnh nguyện**

Khi đã ngộ được rằng - tất cả mọi thứ trên thế gian đều không phải là thứ mà ta có, đỉnh đầu sẽ xuất hiện ánh sáng hạnh nguyện màu đỏ.

Ánh sáng này đến từ thiện tâm quảng đại vô tư, giúp đỡ người khác, tấm lòng như trời đất, người như vậy sẽ là Liên Hoa Đồng Tử màu đỏ của tương lai.


![image](/img/img_12b10170c14dca86dbb67968309cdc6c.jpg)


**Lam Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ánh sáng quả đắc**

Ánh sáng quả đắc màu lam đại diện cho kết quả viên mãn có được sau khi giúp đỡ người khác.

Ánh sáng này tượng trưng từ quả của sự tu viên mãn đức hành, giống như vẻ đẹp của hoa sen nở rộ, hào quang viên mãn không tì vết.


![image](/img/img_bcad852a205970378e9d1eb6c2e4ab91.jpg)


**Tử Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ánh sáng đoan nghiêm**

Ánh sáng đoan nghiêm màu tím đến từ sự đoan chính và trang nghiêm của nội tâm. 
Đoan - đại diện không điên đảo, tâm không vọng niệm.
Nghiêm - ý vị không thiếu sót.

Ánh sáng này tượng trưng hành vi đoan chính, tâm cảnh ổn định, hiện lên ánh hào quang không khiếm khuyết.


![image](/img/img_30f2745d2dac2e4032cb47971f71c8c8.jpg)


**Hắc Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ánh sáng hàng phục**

Ánh sáng hàng phục màu đen, phô bày sức mạnh của Kim Cang Hộ Pháp, có công năng bảo hộ và khuyến thiện.

Mặc dù biểu hiện sự trừng phạt, nhưng thật ra là hy vọng chúng sinh sửa lỗi hướng thiện, hành vi đoan chính, cuối cùng chịu quy phục mà làm thiện dừng ác.


![image](/img/img_59043251241f8719f0f11ee7725274ce.jpg)


**Lục Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ánh sáng vạn bảo**

Liên Hoa Đồng Tử màu xanh lục hiện lên ánh sáng vạn bảo, đại diện cho vô số hào quang của pháp bảo, tương thông vói vô số pháp bảo ở long cung.

Ánh sáng này tượng trưng cho trí huệ của pháp bảo vô tận.


![image](/img/img_7b02cd802f0ac1c24fcc0e4e85612a58.jpg)


**Bạch Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ánh sáng pháp giới**

Ánh sáng pháp giới không chỉ chiếu rọi Ma Ha Song Liên Trì mà còn bao phủ bốn Thánh giới cho đến Phật giới, thậm chí thâm nhập giới địa ngục, giới súc sinh, giới ngạ quỷ.

Ánh sáng này phá tan mười pháp giới, hòa tan thành một pháp giới, là ánh sáng vươn đến khắp mọi nơi.


![image](/img/img_4fcfdcba8fc040833c986080d1203db7.jpg)


**Kim Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ánh sáng đại trí huệ**

Ánh sáng đại trí huệ có thể chiếu khắp toàn bộ vũ trụ, xuyên qua quá khứ, hiện tại và vị lai, khiến tất cả đều hiện lên rõ ràng.

Có một số người không biết đời quá khứ, nhưng ở trong ánh sáng này, tất cả những gì của tiền kiếp đều sẽ hiện lên trước mắt. Thông qua việc hiểu hiện tại cũng có thể nhìn rõ tương lai. 

Ánh sáng này chính là ý nghĩa thâm sâu của ánh sáng đại trí huệ.


![image](/img/img_61ee81caea1df56fd0495725676169fc.jpg)

---
# File: tinh-tuyen/linh-giac-bam-ngon-tay-than-toan.md
# Title: Linh giác bấm ngón tay thần toán
---

## Linh giác bấm ngón tay thần toán


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Tôi nói cho bạn biết: “Một người thông linh chân chính, khí xung quanh họ họ đều biết.” Bạn phải có một dạng cảm giác! Một loại cảm giác, cảm nhận thấy có điều kỳ lạ. Ví dụ có Phật đến bên cạnh bạn, bạn sẽ biết là Phật đến rồi, không khí sẽ khác. Bạn phải có cảm giác nhanh nhạy này. Thông linh là như vậy.

Bạn phải thông với Phật Bồ Tát! Phật Bồ Tát có thể thông với bạn, bạn có thể thông với họ, thông linh qua lại với nhau, đây chính là bấm ngón tay thần toán. Muốn đạt đến sự thông này, bạn phải có “hợp đồng” với các vị, có giao kèo. Đây là trọng điểm. Bạn phải phối hợp linh giác của chính mình và chỉ thị mà ngài dành cho bạn, ngài chỉ thị cho bạn và bạn biết ngài đang chỉ thị cái gì. Bạn muốn hỏi cái gì thì ngài sẽ biết, đây chính là thông linh.

Bất kể bạn thông với Phật, thông với Bồ Tát, thông với chư thiên, hoặc thông với quỷ thần, thì đều gọi là thông. Nhưng cấp bậc có sự khác biệt, có một số là cấp cao, có một số là cấp thấp. Cũng có người thông với quỷ thần, đó tức là thể chất của thân thể bạn và thể chất của quỷ thần tương đương nhau. Các vị có thể giao tiếp với bạn, bấm ngón tay thần toán thì thông với quỷ thần cũng có, chỉ cần triệu thỉnh là họ đến. Khi họ đến, bạn dựa vào cảm giác của ngón tay, cảm giác ngón tay cử động, đó chính là bấm ngón tay thần toán. Đây chính là một khẩu quyết.

Có rất nhiều người nói không tu hành cũng có thể thông linh. Tôi nói cho bạn biết, giả sử người này thân khẩu ý không thanh tịnh, chính niệm còn chưa có, linh đến thông với họ chắc chắn có vấn đề. Thông linh không nhất định là việc tốt, hiện nay pháp sư hoặc Thượng sư của chúng ta, hoặc người bình thường, nghe nói đến người nào thông linh là lập tức đi hỏi việc, giống như bầy ong mật vậy, chạy theo người đó để hỏi việc. Người này còn chưa có chính niệm, thân khẩu ý cũng không thanh tịnh, đúng là họ thông linh đấy, nhưng linh mà họ thông cũng chẳng thanh tịnh, vẫn khởi lên những vọng tưởng điên đảo, bám chấp, đủ loại hiện tượng sẽ sản sinh ra, trái lại khiến người ta thối lui đạo tâm, thông linh này không chính xác. Cho nên Mật giáo rất coi trọng tu thân khẩu ý thanh tịnh, thứ tự sinh khởi này vô cùng quan trọng.

Linh động chính là khí động, chính là pháp tự phát công. Để cho khí của bạn lưu thông khắp toàn thân, chạy đến mọi chỗ, tương đương với một công pháp bổ trợ, là một phương pháp để thân thể bạn, mạch của bạn có thể thông. Nói chung là để nó tự nhiên động.

Nhưng nếu đang đồng tu mà bạn cũng động như vậy thì sẽ ảnh hưởng đến người khác. Có một điểm phải nhớ rõ, rất quan trọng, nếu bạn cho rằng linh động là đang hiển phát thần thông thì rất dễ nhập ma, cho rằng đây là thần gì đến, thế thì sẽ biến thành kê đồng. Cảnh cáo: khởi linh cũng có họa hoạn, hoặc vì quá nhạy cảm, hoặc vì thể chất, hoặc vì nghiệp chướng. Nếu bị linh cấp thấp chiếm thân, trêu chọc, cản trở thì cũng có khả năng tẩu hỏa nhập ma, sẽ trở thành hiện tượng tâm thần phân liệt và thất thường. 

Tôi cần phải nói rõ rằng:
Thông linh không đại diện rằng có tu hành.
Thông linh không đại diện rằng có khai ngộ.
Thông linh không đại diện rằng có chứng ngộ.
Thông linh không đại diện rằng có thành tựu.
Đừng có lẫn lộn!

Tôi nói một cách đơn giản:
”Thông linh và thiên nhãn, thiên nhĩ, tha tâm, túc mệnh, thần túc, lậu tận của Như Lai khác xa nhau mười vạn tám nghìn dặm, không được lẫn lộn!”
Thông linh — sợi dây kết nối.
Thần thông — tu hành mà có.

Xin tham khảo các văn tập và khai thị sau đây của Sư Phật để thâm nhập hiểu thêm. 
1. Hồng Quang Đại Thành Tựu (tập 7) (Nhìn thấy âm linh) 15/09/1993.
2. Liên Sinh Hoạt Phật giảng kinh Địa Tạng (trang 248).
3. Ngữ ngữ thăng hoa (tập 3) (Thập trụ tâm luận — Tâm động vật và tâm con người 1, 2) 07/10/1996.
4. Tân Hồng Quang Đại Thành Tựu (tập 2) (Thái độ đối với linh giác 1, 2) 07/03/1997.
5. Tâm sự cùng bạn (tập 6) (Sinh mệnh chuyển cơ - 22/08/1998, Tu Phật quang minh nhìn thấy tất cả - 17/10/1998). 
6. Đài Loan Thái Bình Đồng Tu Hội 03/01/2009.
7. Văn tập 208 “Cười Vang Ba Tiếng” (Mức độ đáng tin của người thông linh). 
8. Văn tập 212 “Hồ Sơ Cơ Mật Của Lư Thắng Ngạn” (Hồ sơ thông linh).
9. Văn tập 220 “Đương Đại Pháp Vương Trả Lời Thắc Mắc” (Khắp nơi có quỷ thần, Linh hồn và huyễn thân có giống nhau không, Linh sống và khởi linh.)
10. Pháp Rahula tôn giả 30/10/2011.
11. Văn tập 227 “Ngộ Cảnh Nhất Điểm Thông” (Người thông linh bẩm sinh có đáng tin không?)
12. Đài Loan Văn Hóa Đại Đăng - Quán sáng tác Vụ Phong phỏng vấn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - 14/02/2016.
13. Trò hỏi Thầy đáp - Kê đồng 20/02/2021.

---
# File: tinh-tuyen/long-vuong-bo-tat-bao-binh-va-dieu-dung.md
# Title: Long Vương Bồ Tát, bảo bình và diệu dụng
---

![image](/img/img_ce23ec2448369029a1d151d3c07b833e.jpg)



## Long Vương Bồ Tát, bảo bình và diệu dụng


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Giới thiệu Long Vương Bồ Tát


Trong kinh Phật ghi chép rằng có vô số Long Vương, chuyên quản việc cho mây và giáng mưa. Trong các Long Vương thì Bà Kiệt La Long là nổi tiếng nhất, vì con gái của ngài chính là Long Nữ sau này thành Phật.

Kinh Pháp Hoa (phẩm mở đầu) viết: “Có tám Long Vương: Nan Đà Long Vương, Sa Ca La Long Vương, Hòa Tu Cát Long Vương, Đức Xoa Ca Long Vương, A Na Bà Đạt Đa Long Vương, Ma Na Tư Long Vương, Ưu Bát La Long Vương, và còn nữa.” Long Vương vốn sống ở Long Cung, là cung điện của Long Vương, ở dưới đáy biển, là do thần lực của Long Vương hóa hiện ra.

Vào thời đại Phật Thích Ca Mâu Ni, Long Vương trong biển từng đến núi Linh Thứu nghe Phật thuyết pháp, tín tâm hoan hỷ. Thế là muốn thỉnh Phật đến Đại Hải Long Cung để cúng dường. Phật ưng thuận. Long Vương lập tức trở về biển cả, hóa ra một cung điện lớn, có vô lượng châu báu, đủ loại trang nghiêm, thậm chí từ bờ biển đến đáy biển còn làm ra ba con đường bậc thang bằng châu báu, giống như Phật Thích Ca Mâu Ni hóa ra cầu thang châu báu từ Đao Lợi Thiên hạ xuống cõi Diêm Phù Đề. Cuối cùng, Phật Thích Ca Mâu Ni và các tì kheo Bồ Tát cùng bước trên bậc cầu thang châu báu đó đi vào Long Cung, tiếp nhận cúng dường và thuyết pháp.

Sau đó, một nghìn năm trăm năm sau, ác ma Ba Tuần và các ngoại đạo đã đua nhau phá chùa tháp, giết hại tì kheo, tất cả kinh tạng đều được di chuyển đến nước Cưu Thi Na Kiệt, A Na Bà Đạt Đa Long Vương đều gìn giữ ở trong biển, cho nên toàn bộ kinh tạng đều ở Long Cung.

Ngày xưa, lại có Đại Long Bồ Tát tiếp dẫn Long Thụ Bồ Tát vào Long Cung, ở Long Cung đưa ra bảy chiếc hộp thất bảo, đem các kinh điển phương đẳng thâm diệu và vô lượng diệu pháp trao cho Long Thụ. Long Thụ đã nhận và đọc trong 90 ngày, thông hiểu rất nhiều, những gì ngài đọc được đã nhiều gấp mười lần cõi Diêm Phù Đề. 

Liên Sinh Thánh Tôn cũng từng đến Long Cung, đọc Minh Tướng Kinh. Khi ấy, các Long Thần và tám bộ chúng đều hộ trì phái Chân Phật Tông. Phái Chân Phật Tông có trời hộ trì, cũng có rồng hộ trì, đặc biệt là Nan Đà Long Vương, vị Long Vương này ở vị trí thượng thủ trong số tám đại Long Vương, vô cùng hoan hỷ hộ trì Chân Phật. Hình tượng của ngài là đầu đội mũ miện có bảy đầu rồng, tay phải cầm đao, tay trái nắm cuộn dây thừng. Nan Đà Long Vương và Liên Sinh Hoạt Phật rất thân thiết. 

Long Vương trong tiếng Phạn chính là Naga, là một trong những hàng bất khả tư nghì mà Phật nói. Long Vương cũng có sức mạnh đại thần thông.

Chú Long Vương mà Liên Sinh Thánh Tôn niệm có hai câu:
”Ôm na-ga na-ga mi.”
”Nam-mô san-man-tô mô-thua-nam wa-zư-la mi.”


### Lợi ích thù thắng khi cúng dường Long Vương bảo bình



![image](/img/img_0f6d90d9398772fe2b33798e3f67f713.jpg)


Long Vương có đại thần thông và đại phúc báo, thành kính cúng dường Long Vương bảo bình là phương pháp nhanh nhất để cầu phúc báo thế gian. 

Long Vương bảo bình có công đức vô lượng, có thể khiến Long Vương vui thích, và khiến cho các long tộc bị làm hại được hồi phục năng lực, khiến người thờ phụng tránh được nghiệp báo do vô ý làm thương tổn đến long tộc mà bị long tộc hại, ví dụ mắc bệnh truyền nhiễm, bệnh da rắn, hoặc các loại bệnh kỳ lạ không biết tên đeo bám. Cho dù nghiệp xấu hiện tiền cũng có thể bình an vượt qua được những cơn sóng dữ dội, tránh xa được cái chết không đúng lúc và tai họa lao tù.

Đại Trí Độ Luận ghi chép rằng: “Chúng sinh thời kỳ Mạt pháp phúc mỏng và nghèo khổ, còn trên đầu Long Vương lại có bảo châu như ý, nếu chúng sinh đem cúng dường thanh tịnh khiến cho ngài hoan hỷ, ngài sẽ lấy bảo châu như ý ra để giúp thỏa mãn ước nguyện, ngài nguyện sẽ cho tất cả bảo vật mà người đó cần, tận lực cho họ hết. Lúc này, mây đen giăng kín, trời đổ mưa xuống các loại bảo vật, quần áo, thức ăn, chỗ ngủ, thuốc thang, những thứ mà con người cần đều có đủ, sẽ luôn được hưởng phúc báo như vậy không cạn cho đến khi mệnh chung.”

Long Vương chính là vị vua của tất cả quyền thế, nắm giữ tất cả tài phúc. Phàm chúng sinh nào phát tâm thanh tịnh cúng dường Long Vương bảo bình, sẽ được các lợi ích thù thắng như sau:

1. Tài phúc tăng trưởng vô hạn, phú quý song toàn, đạt được đại quyền thế.
2. Mưa thuận gió hòa, được mùa màng, không thiếu thốn.
3. Tránh được 424 loại bệnh tật đau khổ, cả nhà an khang.
4. Tránh được các vấn đề khó khăn trong cuộc sống.
5. Sự nghiệp thuận lợi, bình thản vô ngại.
6. Chất độc không thể làm hại, ví dụ các loài rắn độc không thể làm hại.

(Thông tin dịch từ Tổng hội Mật giáo Chân Phật Tông Malaysia.)


### Điều kiện tương ứng của pháp Long Vương bảo bình


Liên Sinh Hoạt Phật khai thị:

Trước đây tôi đã từng dạy pháp Long Vương bảo bình, cũng có rất nhiều người đi dâng bảo bình Long Vương, khi đó có rất nhiều đệ tử Chân Phật Tông đều đã hứa nguyện cũng đi khắp nơi để dâng bảo bình, cũng có người có được cảm ứng, rất nhanh chóng nguyện vọng đã thành hiện thực. Cũng có người không có cảm ứng gì. Vì thế, có người hỏi: “Vì sao có người có cảm ứng, có người không có cảm ứng?” Bảo bình như nhau, tu pháp như nhau, cùng đi ra biển để dâng bảo bình, có người có cảm ứng, có người thì không có cảm ứng. Vấn đề này rốt cục nằm ở đâu? Chúng ta biết bản thân Long Vương rất từ bi, pháp này cũng được xem như là pháp mà Long Vương và Như Lai ở trong kinh Long Vương truyền xuống. Cũng niệm chú, cũng dâng bảo bình, cùng đi ra biển và còn tu pháp bảy ngày. Nói đúng ra phải có cảm ứng, nhưng vì sao lại không có?

Thật ra nói đến việc cảm ứng cúng dường, có một số người rất nhanh có cảm ứng, có một số người thật sự là không có cách nào cho bạn có cảm ứng được. Bởi vì trên thực tế, đi dâng bảo bình Long Vương là để có được sự kết nối liên thông với Long Vương, bởi vì khi quán tưởng Long Vương, dâng lên ngài thứ mà ngài thích nhất, hy vọng ngài có thể cảm ứng, tức là ngài có thể nhìn thấy bạn và sau đó ban phúc cho bạn. Nhưng trong quá trình bạn tu pháp hoặc nguyện vọng mà bản thân mình cầu không phù hợp với chính bạn: không chắc phù hợp với ý của bản thân Long Vương, cũng không chắc bạn có thể có được cái phúc này, hoặc là nguyện cầu của bạn quá lớn, không thích hợp để cho bạn.

Lấy đơn giản một ví dụ. Có một người nông dân làm một việc tốt, quan lớn ở vùng đó cho gọi người này đến, bảo với anh ta rằng: “Anh làm việc này tốt quá, anh là người làm ruộng, ta sẽ cho anh một nguyện vọng, anh có thể nói nguyện vọng trong lòng mình ra.” Người nông dân nghe nói có thể ước nguyện thì rất vui mừng nói: “Tôi làm việc này đã khiến ông thích thú như vậy thì tôi sẽ có một điều ước.” Điều ước của anh ta rất lớn. Là điều gì thế? Chính là “hy vọng lập tức lên chức huyện trưởng”. Thật ra điều này là không thể nào, vì người nông dân không biết chữ, chí ít có rất nhiều sự việc phải cân nhắc xem năng lực của bản thân mình có thể làm được không đã.

Đệ tử chúng ta thường đi khắp nơi hứa hẹn, cũng đi khắp nơi cầu lung tung, ngay cả chơi cổ phiếu cũng cầu, nếu thế thì Long Vương cũng phải quản cả thị trường cổ phiếu mất. Cho nên khi bạn cầu cũng phải dựa vào bổn phận của mình mà cầu. Rất nhiều đệ tử cũng cầu rất kỳ quái, thậm chí là đem cổ phiếu giả đi bán, hy vọng Long Vương sẽ gia trì cho họ có thể đem cổ phiếu giả bán sang nước khác, và phải bán được hết tất cả. Thỉnh cầu vô lý như vậy thật sự là rất quá đáng rồi. Ví dụ như đánh bạc, làm tổ trưởng, anh ta cũng cầu. Cũng có người đến Las Vegas, đến đến thành phố Atlantic để đi đánh bài, cũng cầu Long Vương giúp đỡ anh ta, đây đều là những thỉnh cầu quá đáng rồi. Cũng giống như người nông dân kia làm được việc tốt xong thì cầu được làm huyện trưởng vậy, những thỉnh cầu kiểu này đều là quá đáng. 

Cho nên nói chung, có tương ứng hay không tương ứng có liên quan tới phúc phần của bản thân bạn. Nếu bạn không tương ứng, phải nghĩ xem liệu có phải phúc phần của mình chưa đủ không? Liệu có phải nghiệp chướng của mình quá nặng không? Nên tu pháp sám hối. Phải tu đến trình độ nào đây? Chính là trước tiên bạn thỉnh cầu Long Vương, đến khi bạn nhìn thấy Long Vương hoặc mơ thấy mình đến Long Cung đi lấy tài bảo, hoặc Long Vương ban cho bạn các thứ, hoặc Long Vương phóng quang gia trì cho bạn, hoặc mơ thấy rồng, hoặc mơ thấy có con thuyền chở bạn sang bờ bên kia, đây đều là những giấc mơ cát tường mà Long Vương ban cho bạn, biểu thị bạn có thể tương ứng rồi, đây là có chứng có nghiệm rồi. Bạn đã có được giấc mơ tương ứng rồi thì lại tu pháp Long Vương bảo bình bảy ngày, rồi đem dâng bảo bình, như vậy mới có thể có tương ứng.

Phúc phần của bản thân mỗi người có lớn có nhỏ, Long Vương cũng phải xem phúc phần của bạn lớn nhỏ thế nào mà quyết định phải lập tức cho bạn hoặc là bạn phải từ từ tu mới có thể có được chứ. Hoặc là về cơ bản bạn không có cách nào có được phúc phần này. Nói chung là sẽ đều cho bạn chỉ thị. 

Cho nên bất kì pháp tu dâng cúng dường nào cũng đều như vậy, chứ không phải là tu pháp bảy ngày xong là có thể có được tương ứng. Giả sử mọi ước nguyện đều đạt được hết thế thì tôi cũng muốn ngày ngày tu pháp Long Vương bảo bình, bảy ngày là có thể cầu được rồi, như thế thì cái gì tôi cũng cầu, cái gì cũng ứng. Thế nhưng ở đây phải dựa vào tâm, phúc phần và con đường tương ứng của mỗi người, và xem cả nghiệp của chính mình nữa, còn cả hành vi nữa, tất cả những điều này đều phải xem xét. Hy vọng mọi người đã hiểu đạo lý của việc dâng bảo bình Long Vương và cúng dường.

Om mani padme hum.
16/7/1993.


![image](/img/img_3f0c54931964543a64d530258a89e2ba.jpg)



### Điểm quan trọng khi tu pháp Long Vương bảo bình 


Khai thị của Liên Sinh Hoạt Phật.
Thời gian: 12/02/2011.
Địa điểm: Viên Nhuận Đường.
Quán đảnh: pháp Long Vương.

Vừa rồi Thượng sư Liên Nhuận có cầu pháp Long Vương, điểm quan trọng của bảo bình Long Vương trong pháp Long Vương là: thứ nhất, bạn phải quán tưởng bảo bình thành Long Vương, miệng bình là miệng của Long Vương, chỗ cổ bình tròn tròn này quán tưởng thành đầu của Long Vương, răng của rồng. Thế rồi xuống dưới thân bình tròn tròn này quán tưởng thành thân của Long Vương, chân của Long Vương. Bảo bình Long Vương cần phải được quán tưởng thành Long Vương như vậy. 

Thế rồi sau khi quán tưởng xong thì phải trang bị thêm nội tạng, trong Mật giáo phải trang bị thêm tim, gan, lá lách, phổi, thận, tất cả đều phải trang bị đầy đủ cho Long Vương. Mỗi thứ này đều có vật tượng trưng của nó, phải bỏ những vật tượng trưng này vào trong bình. Trước kia tôi có viết trong sách rồi, tim, gan, lá lách, phổi, thận, có thứ đại diện cho đầu của Long Vương, cũng có thứ đại diện cho đuôi của Long Vương, còn có cả thứ đại diện cho âm thanh của Long Vương nữa, nhưng vật tượng trưng này đều phải bỏ vào trong bảo bình Long Vương.

Trước đây Thượng sư của tôi nói như thế này. Bắt buộc trong bảo bình này phải bỏ một món đồ mà bạn thích nhất, món đồ mà bạn thích nhất đó gọi là “khó bỏ mà có thể bỏ”, bỏ vào món đồ khó bỏ mà bạn có thể bỏ đó thì bạn mới có thể có được sự ban phúc của Long Vương.

Người bình thường nghe tới đây thì nói “tôi không muốn tu  nữa”. Phải bỏ thứ mà bạn thích nhất vào trong bình, sau đó đem ra biển rồi ném xuống biển, thỉnh Long Vương tiếp nhận bình rồng này. Bạn không thể nào lại nhảy xuống nước để vớt nó lên, coi như thứ này không có được nữa. Thứ bạn thích nhất là gì? Ví dụ như kim cương. Bạn từ bỏ được viên kiêm cương mà bạn thích nhất, dâng cho Long Vương, đem thứ mà bạn thích nhất, bất kể là thứ gì, tóm lại là thứ bạn thích nhất, bỏ vào trong bình, cái này gọi là “khó bỏ mà có thể bỏ”. 

Sau khi “khó bỏ mà có thể bỏ” được rồi, Long Vương thấy là bạn thật sự vô cùng kiền thành, ngài mới có thể ban phúc cho bạn. Sau này Thượng sư của tôi thấy như vậy thì pháp Long Vương bảo bình sẽ rất khó để tu, liền dạy chúng tôi một cách đơn giản nhất, dùng thủy tinh thay thế cho kim cương. ”Khó bỏ mà có thể bỏ” này cực kì quan trọng. 

Thứ hai, bạn tu Long Vương bảo bình phải vô cùng thành tâm dâng hiến, nói cách khác là tôi dâng bảo bình này cho Long Vương, tôi làm với tâm thành kính dâng hiến nhất, đây là điều quan trọng nhất. Nếu có thể làm như vậy thì sẽ có được cảm ứng của Long Vương.

Những thứ bỏ vào trong bình là đại diện cho tim, gan, lá lách, phổi, thận và đầu, đuôi, ngoài ra còn có thứ mà bạn thích nhất, vàng cũng có thể cho vào. Có thể bây giờ vàng tương đối đắt, bạn dùng miếng vàng nhỏ thôi, không nhất định phải là miếng to. Nếu mà đòi to như quả bóng, bảo bình sẽ rất nặng, bạn sẽ không chịu nổi đâu, dùng một miếng vàng nhỏ, thứ bạn thích để làm vật tượng trưng. Khi ném bảo bình đi, bạn phải đem toàn bộ thân khẩu ý của bạn dâng hiến cho Long Vương. 

Trước khi đem dâng bảo bình, bạn phải trì chú, mỗi ngày vào buổi tối phải đi trì chú: “Nam-mô san-man-tô mô-thua-nam wa-zư-la mi.” Khi bạn trì chú thì còn phải kết thủ ấn, kết thủ ấn chữ “tỉnh” (井) [cái giếng] này đây là đầu, bên dưới là chữ “tỉnh”, bởi vì nó chính là chủng tử tự của Long Vương. Quán tưởng bảo bình này biến hóa thành Long Vương, bạn ở trước mặt ngài kết thủ ấn, trì chú, quán tưởng ngài đi vào bên trong bạn, bạn đi vào bên trong Long Vương.

Bình thường hiện tượng tu pháp có cảm ứng là bạn cảm thấy bản thân Long Vương ban tài bảo cho bạn, cảm ứng thấy Long Vương hiện thân, cảm ứng thấy hình tướng của Long Vương, ngài xuất hiện trong giấc mơ của bạn, xuất hiện trong thiền định của bạn, trong lúc trì chú bạn nhìn thấy hình Long Vương và thấy ánh sáng, lúc này bạn mới đi dâng bảo bình, đem bảo bình dâng ra biển. Đây là một điểm quan trọng. Thật ra Mật giáo mà chúng ta nói chính là yoga, bản thân yoga này dịch ra tiếng Trung chính là tương ứng.

Bản thân Long Vương rất dễ tương ứng. Thật đó, các vị Thần Tài mà chúng ta gọi, ví dụ trên trời thì có Tứ Thiên Vương, dưới biển là Long Vương, trên mặt đất là Sơn Vương, rất nhiều Sơn Thần, rất nhiều Hồ Thần. Sơn Thần, Thiên Thần, Hải Long Vương, Long Thần đều tương đối dễ tương ứng. 

Bản thân Long Vương có nguyện vọng của ngài, đó là ngài mong muốn có thể thành Phật, nhờ việc tu hành của bạn, bạn hợp nhất với ngài rồi, sau khi bạn thành Phật, Long Vương cũng có thể thành Phật. Chúng ta có thể khuyên thỉnh Long Vương thành Phật, tu hành thành Phật! Chính bản thân bạn cũng có thể thành Phật. Trọng điểm của pháp Long Vương là khi hồi hướng, bạn phải khuyên thỉnh Long Vương thành Phật. Long Vương thích thành Phật, mà ngài đã thích rồi thì khi bạn khuyên thỉnh ngài thành Phật, ngài sẽ sinh tâm hoan hỷ, sẽ ban phúc cho bạn.

Trọng điểm của pháp này nằm ở đâu. Thứ nhất, làm đầy bảo bình. Thứ hai, quán tưởng bảo bình biến thành Long Vương. Thứ ba, bạn phải chuẩn bị một đàn thành thanh tịnh, tu pháp Long Vương bảo bình cho tốt, quán tưởng, trì chú, kết thủ ấn, nhập Tam ma địa. Mỗi ngày làm như vậy cho đến khi ngài tương ứng với bạn, có được cảm ứng rồi, sau đó bạn lại cầm bảo bình này đi ra biển, dâng bảo bình cho Long Vương, sau đó khuyên thỉnh Long Vương thành Phật. Tu hành đúng như vậy mới là như pháp. 


![image](/img/img_2a048bc3a05804b1183f3606614a9858.jpg)



### Cảm ngộ về pháp Long Vương bảo bình 


📝 Bài viết của Kim cương Thượng sư Liên Từ đăng trên Chân Phật Báo tháng 12/2019.


![image](/img/img_9bd7e3eecf2e07fc2110e213302ac287.png)


Kể từ năm 1996 khi Sư Tôn Liên Sinh Phật truyền pháp Long Vương bảo bình tại Vancouver, hàng năm, Hoa Quang Lôi Tạng Tự đều cố định hai lần cử hành pháp Long Vương bảo bình và pháp hội từ bi phóng sinh, cho tới nay đã 23 năm không hề gián đoạn. Tôi cảm thấy điều này có thể làm tấm gương vững chắc cho các đồng môn, tinh thần kiên trì này cũng rất khó có được.

Còn nhớ năm xưa khi mới thành lập Hoa Quang Lôi Tạng Tự, thỉnh Sư Tôn đến khai quang, lần đầu tiên Sư Tôn truyền pháp Long Vương bảo bình tại Vancouver, nhân duyên này đã rơi trúng vào Hoa Quang Lôi Tạng Tự. Những năm qua, pháp Long Vương bảo bình và pháp hội phóng sinh đã trở thành pháp vụ tiêu biểu của đạo tràng Hoa Quang, rất nhiều đồng môn trong và ngoài nước đều vô cùng hoan hỷ, có được sự gia trì của Long Vương Hộ Pháp, cảm ứng linh dị không ngừng.

Để khuyến khích mọi người phóng sinh, đạo tràng đặc biệt thu xếp cho các công đức chủ làm phóng sinh được tặng bảo bình, xuất phát điểm là hy vọng có thể có kinh phí để mua được nhiều vật phóng sinh hơn. Đồng thời cũng cổ vũ mọi người tu pháp Long Vương bảo bình. Nhưng tôi phát hiện ra, bởi vì hàng năm đều tu pháp Long Vương bảo bình, cho nên có một số người vì thế mà sinh ra tâm xem thường, chỉ phóng sinh mà không muốn có bảo bình. Điều này không khỏi khiến tôi nghĩ đến lời Sư Tôn đã nói trong buổi pháp hội khai thị tuần trước: “Chủ tôn của tuần sau là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, nếu mọi người không muốn trí huệ thì không cần báo danh làm chủ cầu, cũng không cần tham gia… tất cả đều không cần.” Bây giờ tôi cũng có cảm tưởng như vậy, Long Vương muốn ban phúc, thế mà lại không muốn! Mọi người thật sự không cần tài bảo sao? Thật ra, Phật Bồ Tát về biểu hiện bề ngoài thì là đáp ứng mong cầu của chúng sinh mà ban tài ban phúc, nhưng trên thực tế, đây chỉ là Phật Bồ Tát vì lòng từ bi và phương tiện mà tùy thuận chúng sinh. Có một câu nói là “tiên dĩ dục câu chi, tái lệnh nhập Phật trí”, cuối cùng đều là để dẫn dắt chúng sinh đạt đến thành tựu giải thoát. Trên thực tế, mọi pháp của Chân Phật Tông, bất kể là đại pháp mà cả đời Sư Tôn chỉ truyền một lần, pháp đặc biệt, hay là pháp Tứ gia hành cơ bản nhất, pháp cầu tài ví dụ như pháp Long Vương bảo bình, đều có thể khiến hành giả thành tựu đại pháp. Sư Tôn nói: “Phật pháp tương thông, tương ứng một vị, tương ứng mọi vị.” Chúng ta tu pháp Long Vương bảo bình là nhờ quán tưởng Long Vương bảo bình biến hóa thành rồng, sau đó lại quán tưởng rồng biến hóa thành Phật, có thể thấy là pháp Long Vương bảo bình có thể khiến long tộc thành Phật. Chỉ dựa vào điểm này thôi, tôi dám bảo đảm bạn có thể khiến cho long tộc thành Phật, vậy thì chính bạn có phải là cũng có thể thành Phật không?

Năm xưa Sư Phật ở trên bờ biển, đột nhiên sóng biển cuồn cuộn, thì ra là tất cả long tộc đều hướng về Sư Tôn thỉnh cầu truyền pháp Long Vương bảo bình, giúp đỡ long tộc thành Phật. Bởi vì niệm lực của chúng sinh, niệm lực của vũ trụ bất khả tư nghì, chỉ cần chúng sinh cầu thỉnh long tộc thành Phật thì sẽ có một ngày họ có thể thành Phật. Hành giả có nguyện lực khiến long tộc thành Phật, nếu dùng sức mạnh này trên chính mình, thì có thể thành Phật không? Tôi tin rằng nhất định được.

Từ đây có thể thấy, chúng sinh không muốn tiền, không muốn trí huệ, cái gì cũng không muốn, mà không phải là thật sự không muốn, mà là vì lười nhác và làm biếng, có tâm phân biệt, cho rằng pháp Long Vương bảo bình là pháp nhỏ, đây tuyệt đối không phải là cái nhìn đúng đắn. Pháp Long Vương bảo bình có thể ban tài ban phúc, cũng có thể tiêu tai kính ái, lại còn có thể tăng trưởng trí huệ, tôi không tin là mọi người đã vạn sự như ý rồi, hoàn toàn không còn mong cầu gì nữa, bởi vì mọi người đều đang ngày ngày ra sức tu, như tôi mỗi ngày tôi làm Hộ Ma cúng dường, mỗi ngày tu pháp, như vậy cho thấy tôi vẫn còn chưa đủ, tôi vẫn còn mong cầu, chỉ cần là chưa thành Phật thì tôi vẫn sẽ liên tục cầu mong tiếp. Cho dù đã có tài phúc của thế gian rồi, nhưng có trí huệ giải thoát không? Tư lương phúc đức cho vãng sinh tịnh thổ đã đủ chưa? 

Chúng ta tu bảy đàn pháp Long Vương bảo bình, bỏ qua việc cầu tiền tài chưa nói, chỉ mới nói phụng thỉnh Phật Bồ Tát bảy lần, đại lễ bái bảy lần, niệm kinh bảy lần, tương đương tu pháp bảy lần, chẳng phải đây chính là tinh tấn sao? Pháp tinh tấn thành Phật có thể lợi mình lợi người thì có gì mà không tu chứ?

Liên Từ Kim cương Thượng sư.


### Chuẩn bị Long Vương bảo bình


1. Chuẩn bị 1 bình cao khoảng 18cm, miệng bình rộng 9cm. 

![image](/img/img_9e9d934051000f2932b5eeb82c68fc9c.jpg)


1. Chuẩn bị các loại dược liệu: hà thủ ô, bạch thược, đương quy, hoàng kỳ, thiên ma. Tất cả các nguyên liệu này được xay thành bột và cho vào bình theo thứ tự:
1. Hà thủ ô.
2. Bạch thược.
3. Đương quy. (sau khi bỏ đương quy vào thì bỏ những vật quý, có giá trị như kim cương (pha lê), vàng, bạc, xá lợi.)
4. Hoàng kỳ.
5. Thiên ma.
(Đổ các vị thuốc đầy đến miệng bình.)

1. Chuẩn bị 1 đồng xu hình rồng. 

![image](/img/img_6df5645f4347a57a7db6c7af604ee738.jpg)


Bịt miệng bình bằng đồng xu hình rồng lên trên cùng. (dùng keo nến dính đồng xu vào). 

1. Chuẩn bị 5 miếng vải vuông 5 màu, phủ lên miệng bình, xếp theo thứ tự từ lớp dưới cùng lên trên cùng: vàng, trắng, xanh lam, xanh lá, đỏ. Buộc lại.

---
# File: tinh-tuyen/luc-tao-an.md
# Title: Lục táo ấn
---

## Lục táo ấn


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

Ngày 06/01/2009. Liên Sinh Pháp Vương khai thị tinh yếu tại Đài Loan Trung Quán Đường.

Trước tiên chúng ta kính lễ Liễu Minh Hòa Thượng, Sakya Chứng Không Thượng sư, Đại Bảo Pháp Vương Karmapa 16, Thubten Dhargye Thượng sư! Kính lễ đàn thành Tam Bảo. Thượng sư Liên Duyệt, Thượng sư Liên Diệu, Thượng sư Liên Đặng ở Trung Quán Đường, và cả các vị Thượng sư, pháp sư, giảng sư, trợ giảng, đường chủ, các vị đồng môn, và cả những người phụ trách của mỗi sự vụ, xin chào mọi người.

Hành trình lần này của tôi rất gấp rút, thời gian cũng không nhiều. Ban đầu không phải tôi muốn đi đến các phân đường trong cả nước, chỉ vì sau khi trở về từ Singapore, vừa xuống máy bay thì có Phúc Hựu Lôi Tạng Tự, rồi có Đại Bàng Đường, họ có người đến mời, cho nên tôi mới quyết định đến hai nơi này. Kết quả là vừa mới bắt đầu thì các phân đường trên cả nước đều mời, bao gồm cả Lục Đảo ở Đài Đông, phải chạy đi khắp nơi như vậy thì rất vất vả, và cũng cần mất nhiều ngày mới có thể đi hết được. Cho nên lần này cũng phải nói là các nơi tôi đến cũng chóng vánh giống như là “chấm xì dầu” thôi, mùi vị sẽ không đầy đủ lắm, chủ yếu là để gặp mọi người một chút thôi. (Mọi người vỗ tay cảm ơn Sư Tôn!)

Thế còn những nơi mà tôi không đến được thì xin thứ lỗi, sau này có cơ hội thì tôi sẽ đi, lần này đến mỗi phân đường thì sẽ để cho phân đường đặt câu hỏi, một vấn đề liên quan đến pháp. 

(Thưa Căn bản Thượng sư, bởi vì tầng tám của Trung Quán Đường lấy Minh Vương làm chủ tôn, có 10 đại Minh Vương, nhưng rồi hiện nay chúng tôi lại sắp có thêm một nhóm đại Minh Vương và Kim Cang lực sĩ nữa, vậy thì đây là nhân duyên gì của Trung Quán Đường? Còn nữa, hàng ngày vào buổi sáng chúng tôi đều tu Hộ Ma, xin Sư Tôn khai thị. Bởi vì Sư Tôn từng nói rằng, chỉ cần nhen lên được chuyết hỏa thì mới có thể giải thoát phiền não. Vậy thì phương pháp nhanh nhất để chuyết hỏa bùng lên là gì, đồng môn làm sao để tu hành nhanh nhất từ Ngoại pháp đi vào Nội pháp và đạt đến đại thành tựu cầu vồng thật nhanh đây? Xin cảm ơn Sư Tôn.)

Phương pháp nhanh nhất để thổi bùng chuyết hỏa, cái này ở trong Truyện Milarepa có nhắc đến là ngài tu chuyết hỏa rất lâu mà mãi vẫn chưa tu được. Thế rồi ngài liên tục cầu nguyện Căn bản Thượng sư của mình gia trì cho mình, mỗi lần đều cầu nguyện Căn bản Thượng sư gia trì, đây là nguồn gốc đầu tiên của tu pháp. Mỗi một đệ tử trước khi tu pháp, tốt nhất là cầu nguyện Căn bản Thượng sư gia trì cho bạn. Có sức mạnh gia trì này rồi mới khiến cho chuyết hỏa của thể bùng lên, mỗi lần khi tu pháp, Milarepa đều nhắc đến Căn bản Thượng sư của mình.

Thế còn Sư Tôn mỗi khi tu pháp, hoặc trước khi làm quán đảnh, cũng thỉnh cầu Truyền thừa Thượng sư của bốn dòng pháp của mình. Mỗi lần đều nhớ đến các thầy, đều quán tưởng các thầy trụ đỉnh đầu, cầu nguyện các thầy gia trì cho Sư Tôn trên phương diện hoằng pháp lợi ích chúng sinh có thể có sức mạnh, pháp lực này đến từ truyền thừa, đây là điều kiện thứ nhất. 

Điều kiện thứ hai, bình thường muốn chuyết hỏa bùng lên thì phải dựa vào hơi thở, hơi thở chính là sức mạnh của gió, ngoài quán tưởng hành trì ra, nhất định cần đến hơi thở. Hơi thở này phải dựa vào chúng ta thường xuyên luyện tập Bảo bình khí. Nếu thường xuyên tu Bảo bình khí, bạn dùng khí để thông mạch, mạch mới có thể thông. Khí của bạn càng căng thì chuyết hỏa của bạn càng bùng lên nhanh. Nếu không có hơi thở, không có khí đó, chuyết hỏa của bạn sẽ không bùng lên được, bởi vì chuyết hỏa dựa vào quán hành, dựa vào quán tưởng, giống như chúng ta quán tưởng chính mình biến thành một cái bảo bình vậy, rồi ở chỗ dưới rốn bốn lóng tay này có một hình tam giác, ở giữa hình tam giác có chuyết hỏa, chuyết hỏa rất ngắn, màu đỏ, phát nhiệt, sáng rực, quán tưởng như vậy. Nói chung, quán tưởng như vậy không chắc có thể nhanh chóng thổi bùng lên chuyết hỏa, vậy thì bạn nhất định phải dựa hoàn toàn vào hít thở. Hít thở của bạn phải đi thẳng đến rốn, dùng sức mạnh của hơi thở này để thổi chuyết hỏa mà bạn quán tưởng lên, dựa theo Lục táo ấn của Milarepa, đến cuối cùng bạn dùng Lục táo ấn. 

Thế nào là Lục táo ấn? Chính là sáu hình tam giác, gọi là Lục táo ấn. Cái chân này phải bắt chéo nhau, khi ngồi thì phải bắt chéo chân, như thế này là có hai hình tam giác. Bản thân tay cũng bắt chéo nhau, lại tạo thành hai hình tam giác nữa. Còn tư thế ngồi là ngồi xổm, ép xuống, cái đầu giống như là cái bếp lò, cho nên chữ “táo” (灶) là có một ngọn lửa (火 )và một đám đất (土), chữ táo trong Táo Quân. Dùng cách ép. Bởi vì chân của bạn không thể ép vào đan điền rất lâu được, cho nên phải dùng cách trói lại, dùng dây thừng để trói hai chân của bạn và toàn bộ thân thể của bạn lại thật chặt để ép vào, chân đặt cao đến đây, hai tay ôm lấy chân, ép lại, tạo thành hai hình tam giác ở hai bên, tay tạo thành hai hình tam giác nữa, chân có hai hình tam giác, gọi là Lục táo ấn. Trói chặt tay và chân lại để ép vào vị trí dưới rốn bốn lóng tay, sau đó dùng cách hít khí vào thật mạnh để thổi lửa ở đan điền của bạn, để cho nó phát nhiệt. Đây là cách nhanh nhất, là phương pháp nhanh nhất của chính Milarepa. Sau cùng ngài đã dùng cách ép, ép để sinh ra lửa. Giống như chúng ta, bản thân lửa mà nói là vô hình. Thật sự nếu dùng cách đánh lửa bằng gỗ là dùng hai thanh gỗ xoay tròn, cứ xoay tròn cho đến khi nóng lên, đột nhiên nó sẽ tóe ra lửa. Bên trong thân thể người cũng dùng cách đánh lửa bằng gỗ, có đạo lý tương tự. Cái lúc xoay tròn chính là gió, ép vào chính là dùng gỗ ép vào gỗ, ép cho thật căng, lại có thêm khí, quán hành của bạn, như vậy chuyết hỏa mới dễ bùng lên. Cho nên phải hiểu Lục táo ấn, tư thế đó của bạn là đúng rồi. Thứ nhất tư thế phải đúng, chân của bạn rất dễ bị tê, bạn hãy buộc chân vào thân thể mình, bởi vì hai chân bắt chéo nhau, tư thế của bạn, chỗ ngồi phải đúng. Bởi vì hai chân co lên cao cũng gần đến chỗ vai của bạn rồi, hai chân bắt chéo nhau, sau đó trói lại, sau đó dùng tay, dùng sức mạnh dồn ép để ép chặt. 

Trước kia trong sách tôi từng viết về một phương pháp gọi là đại ôn dưỡng, là dùng phương pháp thân thể chuyển động và phương pháp hít thở, dùng khí và sự vận động của thân thể, bởi vì nếu thân thể bạn vặn vẹo sẽ sinh ra nhiệt, như vậy có thể khiến cho chuyết hỏa nhanh chóng bùng lên, đây chính là phương pháp nhanh nhất rồi. Vì thế, Lục táo ấn là cách mà Milarepa dùng, sư phụ của ngài trong vô hình đã chỉ thị cho Milarepa, là Marpa đã chỉ thị cho Milarepa. Bạn phải dùng Lục táo ấn mới có thể thổi bùng chuyết hỏa lên. Nhưng trước khi chúng ta tu chuyết hỏa, trước tiên nhất định phải tu Bảo bình khí cho tốt, khí nhất định phải mãnh liệt. Có đôi khi chúng ta tu Bảo bình khí, khí không cần phải mãnh liệt, bởi vì nếu mãnh liệt thì quá căng cũng không tốt, quá lỏng cũng không tốt. Thật sự khi muốn chuyết hỏa nhanh chóng bùng lên, bạn dùng khí mãnh liệt là được, hơi thở đó gọi là “xạ tức”, giống như thở hắt ra vậy, gọi là xạ tức, là sau cùng khi muốn thổi bùng chuyết hỏa lên thì mới dùng, còn bình thường bạn có thể dùng hơi thở chậm, đều, dài để luyện Bảo bình khí. Sau khi luyện Bảo bình khí đủ rồi thì mới học tu chuyết hỏa, như vậy thì sẽ nhanh hơn.

---
# File: tinh-tuyen/luu-y-cua-chan-phat-tong-ve-tri-lieu-tam-linh.md
# Title: Lưu ý của Chân Phật Tông về trị liệu tâm linh
---

# Những điều cần chú ý của Chân Phật Tông về trị liệu tâm linh


Trị liệu tâm linh tức là một dạng thể hiện của lực gia trì, chủng loại của trị liệu tâm linh bao gồm hơ qua lửa, uống nước chú Đại Bi, niệm chú, niệm kinh, vẽ phù, tu pháp, thôi miên, hỏi việc, sờ đầu gia trì, thủ ấn gia trì, gia trì cách không, thậm chí nói chuyện thiền cơ, v.v… 

Trị liệu tâm linh không thể vượt qua giới hạn trị liệu y học (thuốc), ví dụ kê đơn thuốc, chẩn đoán bệnh tình, buôn bán được phẩm, trị liệu có tính thâm nhập hoặc tiếp xúc, hoặc bất kì phương pháp trị liệu tâm linh nào dẫn đến di chứng hoặc có thể làm trầm trọng hơn tình trạng bệnh tình của thể chất và tinh thần, thì Chân Phật Tông đều không cho phép.

Nhân viên hoằng pháp của Chân Phật Tông không được viện cớ trị liệu tâm linh để tiến hành bất kì sự tiếp xúc thân thể không phù hợp nào đối với bất kì người nào, chẳng hạn như nửa trước cơ thể, eo hông, hoặc các bộ phận nhạy cảm khác, người xuất gia của Chân Phật Tông lại càng đặc biệt tuyệt đối nghiêm cấm những hành vi này.

Bởi vì trong cách nhìn của xã hội đã gắn liền trị liệu tâm linh với hình tượng những kẻ thần côn lừa tiền gạt sắc, cho nên để tránh cho dân chúng hiểu lầm, đề nghị các đạo tràng không sử dụng khái niệm trị liệu tâm linh trong bất kì tài liệu quảng bá nào với bên ngoài.

Nếu nhân viên hoằng pháp của Chân Phật Tông vì sử dụng phương pháp trị liệu tâm linh không thỏa đáng, trái với cách trị liệu y học (thuốc) của chính quyền địa phương, thì hành vi của họ không có liên quan gì đến Chân Phật Tông, họ sẽ phải tự chịu hình phạt của pháp luật. 

Nếu qua điều tra xác định người phạm tội là đúng thì ban giám sát của Tông Ủy Hội cũng sẽ căn cứ theo tình tiết nặng nhẹ để xử phạt. Xin đặc biệt thông báo để mọi người được biết.
Trân trọng!
Tông Ủy Hội Chân Phật Tông Thế Giới.
Ngày 20 tháng 9 năm 2023.

---
# File: tinh-tuyen/ma-ha-ca-diep-do-ba-lao-ngheo.md
# Title: Ma Ha Ca Diếp độ bà lão nghèo
---

![image](/img/img_ad4d1118b5457755a3f01d4fdffcacb5.png)



# Ma Ha Ca Diếp độ bà lão nghèo


Trích đoạn Ma Ha Ca Diếp độ bà lão nghèo

Tôi nghe như vầy, một thời, Phật ở nước Xá Vệ thuyết Pháp cho vua quan dân cùng chúng tì kheo và những Bồ Tát đại sĩ, trời, rồng, quỷ thần, nhân dân ở thế gian, đông vô số kể.

Khi ấy, Ma Ha Ca Diếp đi một mình đến thành Vương Xá giáo hóa. Ngài thường hành hạnh nguyện từ bi, đem ruộng phúc đến cho chúng sinh. Ngài không khất thực nhà giàu có, chỉ khất thực những nhà nghèo. Thường trước khi đi khất thực Ma Ha Ca Diếp nhập định xem: “Ta nên gieo phước cho người nghèo nào”.

Sau đó, ngài đi vào thành Vương Xá, trông thấy một bà lão đơn côi, quá nghèo khổ tá túc tại cái hang phân dơ bẩn bên cạnh đống rác, trong một ngõ hẻm. Thân thể bà gầy gò ốm đau tật bệnh, thường nằm trong cái hang dơ bẩn ấy. Cuộc sống bà lão lẻ loi bấp bênh, bữa đói bữa no, suốt ngày ở trong hang dơ bẩn, che đậy thân thể bằng mảnh cót tre nhỏ. Nhờ nhập định, ngài biết người này kiếp trước không tạo phước lành nên kiếp này phải chịu nghèo khổ. Và biết được mạng sống bà lão sắp hết, ngài nghĩ: “Nếu ta không độ thì bà lão mãi mãi mất phước”. 

Trong lúc này, bà lão đang đói cồn cào thì có một người đầy tớ gái của trưởng giả mang nước cơm đi đổ, mùi hôi khó 
chịu. Bà lão lân la lại xin phần nước cơm ấy, liền lấy cái bát bể làm đôi đựng đầy cả hai. Bước đến chỗ bà lão, Ma Ha Ca Diếp chú nguyện nói: “Hãy cho tôi một ít thức ăn, sẽ được phước lớn.”

Bấy giờ, bà lão nói: “Tôi đang bị bệnh nặng, nghèo khổ không thể nói, nghèo nhất trong nước này, ăn mặc lại không đủ, ở đời không người thương, nhìn thấy chẳng thương xót. Sao gọi là từ bi? Mà không biết nạn này, bần cùng khắp thế 
gian, không ai bằng tôi được, chẳng thương hại khinh ghét, thật chẳng phải lòng dân.”

Ma Ha Ca Diếp đáp: “Phật tôn quý ba cõi, ta dự định đến đây, muốn giúp kẻ đói khổ, nên khất thực nhà nghèo. Ai giảm được phần ăn, bố thí vật tốt đẹp.”

Khi ấy, bà lão nói: “Đúng như lời Ngài nói, ở đời không công đức, nay trong hang phân này, dơ bẩn dính đầy thân, ăn uống không đầy đủ, mình trần không đồ che. Nay tôi quá nghèo khổ, muốn thí lấy gì cho?”

Ma Ha Ca Diếp đáp: “Bà nói điều không phải, nghèo khổ lấy gì cho, nếu ý bà muốn cho, tất nhiên không vì nghèo. Nếu bà biết xấu hổ, thì mặc pháp y này, việc ăn mặc của bà, nhờ đó sẽ đầy đủ. Ở đời có người ngu, tham tiếc chứa tiền 
của, xấu lòng không muốn thí, đời sau phải nghèo khổ. Lo sợ tích phước đức, có thể là hy hữu, phải tin tội và phước, thật đúng chứ không sai.”

Bấy giờ nghe kệ, bà lão vui mừng nhưng nghĩ thầm: “Cả ngày nay, ta chỉ xin được một ít nước cơm có mùi, muốn bố thí nhưng nước cơm không thể uống được”. Cho nên mới thưa với ngài Ca Diếp: “Ngài vui lòng nhận cho tôi không?”

Ma Ha Ca Diếp đáp: “Lành thay! Lành thay!”

Bà lão liền từ trong hang, lom khom lấy tô nước cơm nhưng thân thể trần truồng không dám ra ngay, bà lấy mảnh cót che lại co ro đưa miếng nước cơm. Ngài Ca Diếp nhận cúng dường rồi chú nguyện cho bà lão được phước báo và an lành. Với suy nghĩ: “Nếu ta mang nước cơm này đi nơi khác 
uống, chắc bà lão không tin, nghi ta đổ nó đi.” Nên ngay trước mặt bà lão, ngài uống xong bát nước cơm, rồi bỏ bát vào trong đãy. Lúc ấy, bà lão mới thật lòng tin. 

Ngài Ca Diếp suy nghĩ: “Phải hiện thần thông làm cho 
bà lão được đầy đủ sự bình an.” Tức thì ngài độn thổ, biến lên hư không. Thân xuất ra lửa nước, nửa thân trên phun ra nước và thân dưới lửa bùng cháy. Lại biến hóa nhiều cách, bay bổng lên hư không, hiện ra hướng Đông, ẩn về phương Tây, phía Nam phía Bắc cũng vậy.

Khi ấy, bà lão thấy thế vui mừng hớn hở nhất tâm quỳ gối nhìn ngài Ca Diếp thị hiện.

Ngài Ca Diếp mới bảo: “Lão bà muốn ước nguyện những gì? Làm người giàu có ở thế gian, làm Chuyển Luân Thánh Vương hay Tứ Thiên Vương, Đế Thích, các Phạm Thiên. Hay muốn đắc quả Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán, Bích Chi Phật, hay muốn trở thành A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề, thành tựu Chính Đẳng Chính Giác. Tất sẽ được như điều mong muốn.”

Bấy giờ, bà lão đã chán ngán cái khổ sở ở đời này, nghe trên cõi trời đầy an vui hạnh phúc liền thưa với ngài Ca Diếp: “Con nguyện đem một chút phước nhỏ được sinh về trời thôi.”

Ngài Ca Diếp bỗng nhiên biến mất. Trong ngày ấy, bà lão cũng lâm chung, được sinh về cõi trời Đao Lợi thứ hai, oai đức rực rỡ, chấn động trời đất. Ánh sáng chói rọi như bảy mặt trời cùng một lúc chiếu sáng thiên cung. 

Thích Đề Hoàn Nhân giật mình kinh sợ và nghĩ: “Người ấy thế nào mà phước đức đến cảm ứng, lẽ nào nơi này có người hơn ta sao?” Mới dùng thiên nhãn xem thiên nữ ấy phước đức như thế nào. Thích Đề Hoàn Nhân hỏi bài kệ rằng: “Nữ này từ đâu tới? Hào quang lớn tỏa sáng. Ví như bảy mặt trời. Một lúc cùng chiếu rọi. Chấn động cung điện ta. Oai đức không thể nói.”

Khi ấy, trả lời Đế Thích, thiên nữ nói bài kệ: “Xưa ở Diêm Phù Đề. Trong hang phân dơ bẩn. Già yếu và tật bệnh. Cơm áo không đủ đầy. Nơi tam thiên đại thiên. Đức Phật Thích Ca nghe. Có người đại đệ tử. Là Ma Ha Ca Diếp. Thương xót cho lão bà. Nói pháp nên tôi vui. Cúng dường nước cơm hôi. Cho ít được quả nhiều. Nhất tâm gieo ruộng phước. Nguyện được sinh cõi trời. Bỏ thân nơi hang phân. Sinh về cung Đao Lợi.”

Bấy giờ, thiên nữ nghĩ rằng: “Phước báo này do duyên tiền kiếp cúng dường ngài Ca Diếp mà được như vậy. Nếu ta đem trăm nghìn châu báu mỗi loại trên đời để cúng dường cho ngài Ca Diếp thì cũng chưa đền đáp được ơn ấy của ngài.”

Thiên nữ liền cùng thị nữ đem hương hoa lập tức giáng trần. Trong hư không tung hoa dâng cúng lên người ngài Ca Diếp. Sau đó, thiên nữ bay xuống, lạy sát đất, đảnh lễ rồi đứng dậy chắp tay khen ngợi: “Cõi nước Đại thiên. Phật là chí tôn. Đệ tử Ca Diếp. Đóng cửa tội lỗi. Con ở Diêm Phù. Trước ở hang phân. Làm bà lão nghèo. Ngài dạy chân thật. Bà lão hoan hỷ. Cúng nước gạo hôi. Món thí nhỏ mọn. Phước được như núi. Được làm thiên nữ. Tự nhiên được vậy. Nên mới giáng hạ. Lễ bái phước điền.”

(Trích: Phật thuyết Ma Ha Ca Diếp độ bần mẫu kinh)

---
# File: tinh-tuyen/man-thien-hoa-cai-ket-gioi-ho-than.md
# Title: Man thiên hoa cái - Kết giới hộ thân
---

![image](/img/img_677345ed150bd27fd530e3f23eab9aa5.png)



## Tấm màn Man Thiên Hoa Cái - Kết giới hộ thân


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam


---


Người tu đạo trong quá trình tu luyện, khó tránh khỏi ma chướng đến quấy nhiễu, vì vậy nhất định phải tu pháp hộ thân, Hiển giáo, Mật tông, Đạo gia đều như nhau.
Thanh Chân Đạo Trưởng từng dạy tôi nhiều pháp kết giới hộ thân của Đạo gia, trong đó có một loại gọi là Man thiên hoa cái hộ thân, công hiệu rất lớn, là pháp mà các đạo sĩ xưa nay đều thực hành, có thể nói bí pháp này nghìn vàng khó mua, vô cùng quý giá, người học Đạo tọa thiền có thể thử làm, sẽ có pháp lực hộ thân rất lớn.

Man thiên hoa cái này dùng vải vàng hình vuông, mỗi cạnh dài năm thước [mỗi thước bằng 1/3 mét], chữ và bát quái ở giữa đều vẽ bằng chu sa, còn những vòng tròn bao quanh thì vẽ bằng mực đen.

Chọn ngày để treo ở phía trên tịnh thất, chọn ngày trực Định, nhớ rằng hình vẽ phía trên của vải vàng phải úp lên trên, hình vẽ phía dưới chiếu xuống, chiếu thẳng vào nơi bạn (Đạo nhân) tĩnh tọa, nghĩa là trên đỉnh đầu của bạn chính là hình vẽ phía dưới của man thiên hoa cái. Đạo nhân ngồi dưới man thiên hoa cái để tu pháp, như vậy sẽ vạn sự bình an. (Một tấm vải vàng, vẽ lên hai mặt, Vô Cực Đại Tướng Quân chiếu xuống.)

Sau khi treo man thiên hoa cái vào ngày trực Định, cần thắp trầm hương để xông tịnh thất, sau đó trì một câu chú 21 mốt lần, chú rằng: "Thiên thượng hoàng vân biến địa hộ, nhân gian hoàng vân tường quang chú, nhật nguyệt tinh thần đại quang cảnh, giang hà sơn nhạc quân linh chí, ma dã phiên, quỷ dã phiên, duy hữu thần kỳ chấp linh trụ, khứ miểu mang lai quân tấn tốc, thế gian vạn sự mạc can nhiễu, hồn phách cụ tùy hoa cái trụ, duy hữu Tam Thanh Thái Thượng Ông, thân thừa Vũ Cái Tướng Quân hộ, thượng diện đoàn viên đa thần tướng, thập đoàn xán xán như bỉnh chúc, trung hữu vạn lôi ma kinh phạ, nhất kiến tường quang giai phủ phục. Ngô phụng Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh luật lệnh. Nhiếp!"

Niệm chú này 21 lần thì công đức viên mãn. Cần biết rằng khi Đạo nhân tĩnh tọa, man thiên hoa cái này sẽ phát ra hào quang màu vàng bao phủ xung quanh thân Đạo nhân. Khi thiên ma ngoại ma đến dòm ngó Đạo nhân tu đạo, Đạo nhân ở trong hào quang màu vàng sẽ ẩn thân không thấy, nếu thiên ma ngoại ma cố tình xông vào, trên không trung sẽ có vạn tiếng sấm nổ vang, khiến thiên ma ngoại ma hồn bay phách lạc, chạy nhanh thì ba hồn mất hai, chạy chậm thì hình thần đều diệt.

Thông thường khi vẽ bằng chu sa đỏ và mực đen lên vải vàng, tốt nhất là phải làm trong tâm trạng thanh tịnh, ngồi ngay ngắn, cũng phải thắp hương. Trước khi cầm bút vẽ, phải niệm chú tịnh khẩu tịnh tâm tịnh thân. Cần biết rằng trong man thiên hoa cái này có tam thai tinh, nhị đẩu, bát quái, nhị thập bát tú tướng, tứ linh. Khi vẽ phải quán tưởng Huyền Hạc Đạo Trưởng đến, kim quang tràn ngập căn phòng, sau khi chấm chu sa đỏ và mực đen, trước hết phải để khói hương xông qua một lượt, rồi mới có thể bắt đầu vẽ.

Thần chú tịnh khẩu: "Ôm. Ngọc trì tiên tịnh. La thiên khí ngưng. Hổ bôn dị hương nhiếp."
Thần chú tịnh thân: "Ôm. Tam hoa xung cốc. Ngũ khí hỗn ngưng. Nội ngoại chân bạch nhiếp."
Thần chú tịnh tâm: "Ôm. Đài quang oánh khiết. Thần di linh đài. Ứng biến thiên chân nhiếp."

Người tu đạo, khi tu luyện dưới man thiên hoa cái giống như được thần mặt trời chiếu sáng thân thể, giống như thần mặt trăng đến biến hóa hình thần, có Đại La Kim Tiên chân chính hộ trì, hai mươi tám tinh tú là thần bảo vệ Chuyển Luân Vương trực nhật, vì vậy vạn tà nghìn ma hoàn toàn không thể gây hại, công dụng của man thiên hoa cái thật là vĩ đại như vậy, thực sự không thể nghĩ bàn.

Tôi nhớ, năm đó tôi có một người bạn, nhà anh ấy bị quấy nhiễu bởi ma quỷ, lúc đầu những con ma chỉ đè người trong giấc mơ, mọi người trong nhà đều bị bóng đè đến kêu la thảm thiết, sau đó ma quỷ thậm chí còn hiện hình giữa ban ngày để hù dọa, nhiều người cùng nhìn thấy, trong nhà xảy ra rất nhiều chuyện kỳ lạ, tách trà tự nhiên vỡ tan, quần áo bay lung tung, ngủ ở phòng này sáng ra lại thấy ở phòng kia, trẻ con mộng du v.v...

Cuối cùng, người bạn biết tôi tu Đạo nên xin tôi giúp đỡ, tôi chuyển lời cầu xin đến Thanh Chân Đạo Trưởng. Đạo Trưởng lục lọi trong một cái túi cũ rách, móc ra một tấm vải vàng cũ, khi mở ra xem thì đúng là man thiên hoa cái. Thanh Chân Đạo Trưởng rất trân trọng trao cho tôi, Tiên sư nói: "Đây là man thiên hoa cái từ tịnh thất của Thượng Thanh Cung ở độ cao hơn 1600 mét trên núi Thanh Thành, vốn là di vật của Tổ sư để lại, có công năng trừ tà bắt ma. Con hãy mang về treo ở chính điện nhà bạn con, treo bốn mươi chín ngày rồi mang về trả ta."

Tôi không dám chậm trễ, dặn dò người bạn làm theo. Thật kỳ lạ thay, khi man thiên hoa cái vừa được treo lên, căn nhà của người bạn tôi khắp nơi vang lên những tiếng lộp bộp, giống như có hai phe đang giao chiến, một bên thắng thế rồi truy đuổi, còn bên kia thì chạy tán loạn như chuột.

Người bạn kể với tôi rằng ngay đêm đầu tiên treo man thiên hoa cái, nhà cửa bình yên lặng lẽ, lần đầu tiên sau nhiều năm được an ninh, và từ đó về sau đêm nào cũng vậy. Cả nhà vỗ tay mừng rỡ, họ hy vọng man thiên hoa cái này sẽ được để lại mãi trong nhà, họ sẵn sàng trả giá cao nhất để mua lại man thiên hoa cái, họ nói với tôi rằng họ muốn trả 50.000 tệ. (Vào thời điểm đó, 50.000 tệ là số tiền không nhỏ.)

Khi nghe xong, Thanh Chân Đạo Trưởng bật cười ha ha, Tiên sư nói: "Man thiên hoa cái của Tổ sư Thượng Thanh Cung này là báu vật vô giá, là di tích cổ, cũng là tiên bảo, có công năng vô hạn. Nếu lấy man thiên hoa cái này phủ lên thi thể, thì thi thể cũng sẽ được tiêu trừ tội chướng, tội nhẹ sẽ được lên trời, tội nặng sẽ được đầu thai. Thế này vậy! Liên Sinh, con hãy làm một cái giống như vậy, treo ở chính điện nhà bạn con, cũng sẽ có tác dụng như nhau thôi."

Vì vậy, tôi làm y như mẫu, treo ở phòng khách nhà bạn tôi, quả nhiên mọi việc đều bình an vô sự, đây chính là thần lực vĩ đại của man thiên hoa cái.

Hôm nay, khi viết "Đạo pháp truyền kỳ lục" đến phần "Man thiên hoa cái", nếu ai biết được và học được pháp này thì đã là vô giá, như nhặt được kim cương châu báu vậy, những người có duyên với Đạo pháp có thể dùng cách này để kết giới hộ thân.


![Mặt dưới của Man Thiên Hoa Cái](/img/img_9ab1ea897079abffee2a5fcbeb22b677.png)



![Mặt trên của Man Thiên Hoa Cái (dán ốp vào trần)](/img/img_1e0cf231ea6c4879331974afed606389.png)

---
# File: tinh-tuyen/minh-chung-chan-phat-tong-la-chinh-phap.md
# Title: Minh chứng Chân Phật Tông là chính pháp
---

# Minh chứng Chân Phật Tông là chính pháp


🪷 Liên Hoa Vưu Hân tu Bổn tôn Liên Hoa Đồng Tử Kim cương Thượng sư tương ứng pháp được 4 năm 5 tháng, chịu hành hình vào ngày 03/04/1992, sau khi thiêu xong đã có được không ít hạt xá lợi, trên đầu có 20 hạt xá lợi.

Hạt xá lợi còn được gọi là hạt kiên cố, là người tu hành có thành tựu mới có thể có, từ xưa đến nay đã trở thành bằng chứng lớn cho việc vãng sinh Phật quốc và thành Phật. Cao tăng qua các thời kỳ nếu có được hạt xá lợi thì xá lợi đều được lưu giữ và thờ cúng. 

Từ đây có thể thấy, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn là một vị Hoạt Phật chân chính không có gì phải nghi ngờ, Chân Phật Tông là Phật giáo chính tín, Chân Phật Mật Pháp là chính pháp, vì người tu trì đều có được thành tựu lớn, ngay cả tử tù cũng có được thành tựu lớn, những người phỉ báng còn gì để nói đây? (Bài trừ mọi tin đồn nhảm.)

Tại đây tôi khuyên những người phỉ báng Chân Phật Tông, hãy nhìn cho rõ sự thật chứng minh, xin hãy hạ quyết tâm lập tức sám hối, quy y từ đầu, chăm chỉ tu trì mật pháp của Phật, đừng do dự không quyết nữa, đừng tạo ra nhân ác địa ngục.

Hãy xem tử tù Liên Hoa Vưu Hân, mấy ngày trước khi bị xử tử đã viết thư cho em gái là Liên Hoa Kim Ngọc, trong thư có đoạn:
”Em gái Kim Ngọc, anh biết anh sắp đi rồi, hôm nay có được cơ hội hiếm có để lại lá thư này cho em. Sư Tôn dạy anh “mở rộng tấm lòng”, đây là điểm mấu chốt quan trọng nhất. Vì thế, thân anh tuy là tử tù, thế nhưng lòng anh không buồn rầu, sống rất thanh thản. Tu bất kì pháp môn gì, nếu là càng tu càng tâm bình khí hòa, tự tại an lạc, không phiền não thì tin chắc rằng tuyệt đối không có gì sai.

Sau này nếu anh có để lại hạt xá lợi thì:
(1) Có thể chứng minh thứ mà anh tu học là chính đạo, không phải ma đạo, cũng không phải tà đạo.

(2) Có thể công bố thư này với đời. Nếu giới Phật giáo thừa nhận hạt xá lợi là người tu chính pháp mới có được, vậy thì xin những người không hiểu Chân Phật Mật Pháp thì tốt nhất đừng công kích một vị Hoạt Phật chân chính, để tránh sinh khẩu nghiệp mà chịu khổ báo.

(3) Có thể mời người đến dùng các phương pháp kiểm nghiệm tính chân thực của chúng, đem hạt đẹp nhất giao cho Liên Sinh Hoạt Phật tôn quý nhất, từ bi nhất, viên mãn nhất của chúng ta…”

(Kết quả là vào lúc chịu hành hình, Liên Hoa Vưu Hân đã mỉm cười bước lên đài treo cổ, thi thể của anh ấy trên khuôn mặt còn mang nụ cười, nét mặt hiền hậu, trên đầu sau 12 tiếng đồng hồ vẫn có hơi ấm, sắc mặt như còn sống, sau khi hỏa thiêu có hạt xá lợi và hoa xá lợi, đủ mọi tướng lành, bất khả tư nghì.)

Trong đoạn thư nhỏ này, có thể nhìn ra tử tù thực tu Chân Phật Mật Pháp, nội tâm tràn đầy an lạc, hiền hòa, tự tại và tín tâm, phát lộ sự tôn sùng và cảm kích vô hạn đối với Liên Sinh Thánh Tôn. Đối với những người phỉ báng và công kích Chân Phật Tông đã bộc lộ lời khuyên chân thành và ôn hòa, đúng là lời nói thấm thía!

Không có gì nghi ngờ, thực tu Chân Phật Mật Pháp có thể có được hạt xá lợi và hoa xá lợi, là sự thật đanh thép!

Thực tu Chân Phật Mật Pháp có thể khiến tử tù phạm tội đại ác không thể miễn xá nhanh chóng tiêu trừ nghiệp chướng, an lạc tự tại, vãng sinh Phật quốc, là sự thật đanh thép!

Phỉ báng Chân Phật Tông là người của ma giáo ma pháp, xin hãy nhanh chóng nghe theo lời khuyên chân thành của tử tù, hãy nhanh chóng xem sự thật về tử tù vãng sinh Phật quốc!

Lẽ nào tu ma giáo ma pháp mà có thể có được xá lợi sao?
Lẽ nào tu ma giáo ma pháp mà có thể vãng sinh Phật quốc sao?
Sự thật đanh thép đã chứng minh từ lâu!

📰 (1992) Tin tức lớn nhất của Phật giáo được lan truyền rầm rộ trên toàn thế giới gần đây là: "Nhiều người là phạm nhân tử tù trong nhà tù Changi ở Singapore quy y Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, chăm chỉ tu Chân Phật Mật Pháp, kết quả là sau khi bị xử tử và hỏa thiêu, ai nấy đều có hạt xá lợi."

🪷 Liên Hoa Bảo Sinh tu Bổn tôn Chuẩn Đề Phật Mẫu 3 năm 9 tháng, sau khi chịu hành hình vào ngày 28.03.1992 đã có được 3 hạt xá lợi, qua ngày hôm sau đã sinh ra thêm 1 hạt nữa.

🪷 Liên Hoa Khánh Văn tu Tứ gia hành khoảng 3 năm, chịu hành hình vào ngày 15.11.1991, sau khi hỏa thiêu đã có được hơn 30 hạt xá lợi.

📝 Chú thích: Hạt xá lợi của các tử tù này đã từng được trưng bày tại 2 buổi đại pháp hội rất lớn tổ chức tại Singapore và Malaysia để cho tất cả tín chúng chiêm ngưỡng. Đã có vài chục nghìn người đến xem tận mắt.

---
# File: tinh-tuyen/ngu-phuong-phat.md
# Title: Ngũ Phương Phật
---

## Ngũ Phương Phật


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Nói đến chủng tử tự của Ngũ Phương Phật. "Pu-mu. A-mu. Chu-li. Khang. Hùm.” Các chủng tự này phải niệm cùng nhau, âm này rất khó. Chú tự này có hai chữ niệm thành một chữ, “A-mu”, đôi khi âm “a” này phải đọc nhỏ một chút, âm “mu” thì đọc to một chút. Chữ “A-mu” này rất khó phát âm, đây là chữ Tạng. 

"Pu-mu. A-mu. Chu-li. Khang. Hùm.” Chữ “Chu-li” này là tiếng Nhật, trong tiếng Tạng thì đọc thành “sê”. “Sê” trong tiếng Anh thì đọc lên rất khó nghe, người Mỹ cả ngày từ sáng đến tối đều niệm chú “shit, shit, shit”. Hầy! Chả trách, họ thường xuyên đang niệm chú đó! Ý nghĩa không hay, nhưng âm thì lại là chú âm, cái này đúng thật là… Chẳng biết làm sao, càng nói càng tệ. 

Có một chuyện cười về càng nói càng tệ. Một hôm, lão Hoàng và vợ cùng xem ti vi, bỗng nhiên thấy tin tức đưa tin: “Theo nghiên cứu phân tích, có 70% đàn ông hy vọng trong cuộc đời có một lần ngoại tình.” Lão Hoàng thấy tin này bèn trịnh trọng nói với vợ mình rằng: “Tôi chính là 30% kia, tôi rất trong sáng đó, tôi là 30% nằm ngoài 70% kia.” Hai người họ tiếp tục xem ti vi. Tin tức ti vi tiếp tục báo cáo: “Ngoài ra, 30% còn lại hy vọng có nhiều lần ngoại tình.” (Mọi người cười.) Tôi cho rằng không chỉ là đàn ông như vậy, phụ nữ cũng có trách nhiệm. Bạn thử nghĩ mà xem. Cái gọi là ngoại tình thì có nam sẽ phải có nữ, nếu chỉ có mỗi nam thôi thì ngoại tình cái gì chứ? Tuyệt đối không có chuyện như thế. Nhất định còn có phụ nữ. Cho nên ở đây đã nói rõ nam nữ bình đẳng rồi, nam nữ bình đẳng, đây là 100%. 

Ngũ Phương Phật chủng tử chú, 100% câu chú đều nằm bên trong chú tự của Ngũ Phương Phật. Bạn niệm Ngũ Phương Phật tương đương với niệm trăm nghìn vạn ức Phật của vũ trụ, là như nhau. Đây là Ngũ Phương Phật chủng tử chú mà Phật Thích Ca Mâu Ni nói.

---
# File: tinh-tuyen/ngu-sac-bat-dong-minh-vuong.md
# Title: Ngũ Sắc Bất Động Minh Vương
---

![image](/img/img_d0faa19cd16ea0cf141b29e0b5e5762e.jpg)



# Giới thiệu về Ngũ Sắc Bất Động Minh Vương



### Giới thiệu pháp tướng và tác dụng


Ngũ Sắc Bất Động Minh Vương đặc biệt có tác dụng hộ quốc hộ thành, kết giới hộ thân. Ngũ Sắc Bất Động Minh Vương biến hóa ra từ Bất Động Minh Vương, Tây phương trắng thuộc Kim, Nam phương đỏ thuộc Hỏa, Bắc phương đen thuộc Thủy, Trung ương vàng thuộc Thổ, Đông phương xanh (lục hoặc lam) thuộc Mộc.

Bất Động Minh Vương tay phải cầm thanh kiếm của Câu Lợi Già La Long Vương ở trước ngực, tay trái cầm thừng kim cang và kết đại ấn của hai bộ Kim cương giới - Thai tạng giới. Mắt trái mở hé, mắt phải trợn tròn, miệng ngậm chặt,răng trên chúc xuống dưới, răng dưới chĩa lên trên, hàm dưới bặm lên hàm trên, uy vũ phẫn nộ, ngồi trên tảng đá, sau lưng bốc lên ngọn lửa Ca Lâu La.

Hai đại thị giả chủ yếu của Bất Động Minh Vương là Quan Yết La Đồng Tử và Chế Tra Ca Đồng Tử, ngoài ra còn có tám đại đồng tử thường thấy, và ba mươi sáu đồng tử được nhắc đến trong “Phật Thuyết Thánh Bất Động Kinh”, và bốn mươi tám sứ giả trong “nghi quỹ thành tựu bí mật bốn mươi tám sứ giả của Thắng Quân Bất Động Minh Vương” làm quyến thuộc. 


![image](/img/img_49a865f9a92df4d2358d6ce3a85575c7.jpg)


**Thủ ấn Bất Động Minh Vương:**
Tay trái, tay phải đều kết kiếm chỉ, tay trái nắm lấy tay phải. Giữ ấn trước ngực.

**Tâm chú Bất Động Minh Vương:**
“Nam-mô san-man-tô mô-thô-nam wa-zư-la lan hàn.” 
Chú dài: “Ôm a-chưa-la-ka-tan-bu-thô-chưa-cha-ka. Hùm hùm. Khưa-yi-khưa-yi. Yi-than-xuê-li-hai. Ma-ha-li-bi-sa-su. Tô-âu. Chi-li. Hu-pan.”


![image](/img/img_6df793853ad4fcaac9612c8a0635b866.jpg)


Liên Sinh Hoạt Phật khai thị nói rằng: “Bất Động Minh Vương là giáo lệnh luân thân của Đại Nhật Như Lai Biến Chiếu Kim Cang, thịnh hành trong Đông mật. Trong Đông mật gọi là Đại Thánh Bất Động Tôn - Trung Ương Đại Thánh Bất Động Minh Vương, là vị Minh Vương phẫn nộ nhất, được tôn sùng nhất trong số mười đại Kim Cang Minh Vương, cũng là Minh Vương có uy lực lớn nhất. Lời thề của Bất Động Minh Vương là: “Người nào thấy thân ta thì phát bồ đề tâm, người nào nghe tên ta thì bỏ ác tu thiện, người nào nghe ta nói thì đắc đại trí huệ, người nào biết tâm ta thì tức thân thành Phật.” Chỉ cần bạn tương ứng với Bất Động Minh Vương thì có thể tức thân thành Phật. Chỉ cần hiểu tâm của Bất Động Minh Vương thì sẽ biết tâm mình, thì sẽ có thể nhìn thấy tâm mình, hiển hiện tâm mình, sau đó đầy ắp vũ trụ, trực tiếp tỉnh ngộ, thành tựu Phật quả.”


### Ý nghĩa của Bất Động Minh Vương kim cang pháp


**Khai thị pháp nghĩa 1: **
(Trích từ buổi khai thị ngày 15/06/1992 khi Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật chủ trì Bất Động Minh Vương kim cang pháp.)

Từ trong kim cang pháp tiến vào Vô thượng mật bộ, kim cang pháp có thể nói là đại pháp thành Phật rất đặc thù, bởi vì tu được kim cang đại pháp rồi thì rất gần với tức thân thành Phật. Mặc dù bạn vẫn chưa là Phật, nhưng đã có thể nói là tương đương với một vị Phật dự khuyết sẽ thành Phật.

Bất Động Minh Vương Kim Cang là biến hóa thân phẫn nộ của Đại Nhật Như Lai, cũng chính là sự thúc đẩy của sắc lệnh Đại Nhật. Sự đẩy mạnh Mật giáo hoàn toàn dựa vào Bất Động Minh Vương Kim Cang làm chủ, Bất Động Minh Vương Kim Cang là giáo lệnh luân chủ, là một vị giáo chủ, uy lực của  ngài giống như bánh xe quay, có thể phá tan tất cả ác nghiệp, ác nghiệp bị phá thì ánh sáng của ngài sẽ chiếu đến hành giả, lập tức sinh khởi trí huệ.

Chưa từng có một vị thần Kim Cang nào giống với Bất Động Minh Vương có thể hiển hiện ngọn lửa đại phẫn nộ, ngọn lửa đại phẫn nộ của ngài là lớn nhất và uy mãnh nhất trong số năm đại Kim Cang Minh Vương, là vị Kim Cang Hộ pháp số một của Chân Phật Tông.

**Khai thị pháp nghĩa 2:**
(Trích từ buổi khai thị ngày 01/01/2023 khi Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật chủ trì Bất Động Minh Vương kim cang pháp.)

Khẩu quyết kết giới Ngũ Sắc Bất Động Minh Vương: quán tưởng chữ Han năm màu (mỗi chữ một màu), tay kết kiếm ấn Bất Động Minh Vương, sau đó quán tưởng Ngũ Sắc Bất Động Minh Vương ở xung quanh mình: phương Đông Bất Động Minh Vương màu lam, Tây phương Bất Động Minh Vương màu trắng, Bắc phương Bất Động Minh Vương màu đen, Nam phương Bất Động Minh Vương màu đỏ, Trung ương Bất Động Minh Vương màu vàng. Sau đó niệm chú cộng thêm quán tưởng các vị Minh Vương bao vây chính mình ở trung tâm, còn chính mình là Bất Động Minh Vương ở trung ương màu vàng. Nếu hành giả rất bận thì có thể 15 ngày làm một lần kết giới. Ngoài ra, Ngũ Sắc Bất Động Minh Vương cũng có thể tiêu tai, tăng ích, hàng phục, trừ chướng. 

Tại pháp hội, Pháp Vương đã thị phạm thủ ấn Cửu tự chân ngôn: Lâm, Binh, Đấu, Giả, Giai, Trận, Liệt, Tại, Tiền. Nếu làm nhanh thì tức là làm ấn tứ tung ngũ hoành và đẩy ra, tất cả quỷ mị đều sẽ sợ.

Lời thề của Bất Động Minh Vương là: “Người nào thấy thân ta thì phát bồ đề tâm, người nào nghe tên ta thì bỏ ác tu thiện, người nào nghe ta nói thì đắc đại trí huệ, người nào biết tâm ta thì tức thân thành Phật.”

Pháp Vương giải thích rằng: Phật Đà nói thế này “thấy tướng phi tướng, tức thấy Như Lai”, một câu kệ trong hồi hướng là: “Thấy Phật thoát sinh tử, như Phật độ tất cả.” Nếu muốn nhìn thấy Phật thì phải hiểu thấy tướng không phải tướng, tức thấy Như Lai. Phật vốn không có tướng, còn Bất Động Minh Vương là giáo lệnh luân của Đại Nhật Như Lai nên cũng không có tướng. Tuy không có tướng nhưng lại không chấp vào không, tức là “như Phật độ tất cả”, giống như phát bồ đề tâm. Nếu đúng là hiểu tất cả thứ có tướng đều là hư vọng, lúc này hành giả sẽ phải phát bồ đề tâm đi đánh thức những chúng sinh mê lầm, trở thành Bồ Tát giác ngộ. Trong Kinh Duy Ma Cật có nhắc đến: Bồ Tát là bậc giác ngộ, phát bồ đề tâm, còn chúng sinh là Bồ Tát còn mê lầm, chỉ cần thức tỉnh thì sẽ là Bồ Tát bất thoái tâm. 

“Người nào thấy thân ta thì phát bồ đề tâm”: khi chúng ta thấy thân của Bất Động Minh Vương, hiểu rõ tướng này không phải tướng, từ thấy bên ngoài mà bên trong phát bồ đề tâm. 

“Người nào nghe tên ta thì bỏ ác tu thiện”: Bất Động Minh Vương tức là Phật (Đại Nhật Như Lai), khi chúng ta nghe thấy Thánh hiệu của Phật thì muốn loại bỏ ác niệm, thanh tịnh ba nghiệp, vì thiện trừ ác (ô trọc) thì là thanh tịnh. Quan trọng nhất là không có gì nằm ngoài “mọi ác đừng làm, làm mọi điều thiện”. Ví dụ: A Di Đà Phật hóa thân thành Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, Liên Hoa Đồng Tử. 

“Người nào nghe ta nói thì đắc đại trí huệ”: Nghe được Phật pháp, đắc đại trí huệ, cũng là trí huệ Như Lai.

“Người nào biết tâm ta thì tức thân thành Phật”: Bất Động Minh Vương chính là Phật tâm, chúng ta thường viết Phật tâm. Thần Quang nói với Tổ sư Đạt Ma rằng tâm tôi không an. Thế là Tổ sư nói đưa tâm cho tôi để tôi an cho. Thần Quang tìm kiếm cả nửa ngày rồi nói không tìm được tâm. Tổ sư nói thế thì anh yên tâm rồi đó. 

Pháp Vương nói không tìm thấy tâm mình thì sẽ không giữ sự bám chấp, mới có thể an tâm, chỉ có người vô tâm mới có thể thành Phật. Tâm không nằm ở trong, ở ngoài hoặc ở giữa, tâm chỉ là một khái niệm. Khi chúng ta tu đến tất cả ngũ độc chấp niệm đều tiêu trừ, cũng vì “hữu ngã” nên mới có bám chấp, ví dụ như bám chấp và phiền não của ăn mặc ở đi lại. Ngược lại, nếu hành giả có thể tùy duyên an tâm thì có thể tức thân thành Phật. “Lấy vô niệm làm chính giác Phật bảo” trong Chân Phật Kinh. Tâm là thứ tìm không thấy, có tâm đi tìm thì vĩnh viễn tìm không thấy. Chỉ cần vô tâm rồi thì mới có thể hiểu tự thân là huyễn. Đoạn trừ tất cả tài sắc danh của thế gian thì sẽ là lúc thành Phật. Cho nên, phát bồ đề tâm, bỏ ác tu thiện, đắc đại trí huệ đều là vì tức thân thành Phật. Có thể thay đổi tất cả “ngã” thành Phật, tất cả đều có thể nối liền lại. Trong kinh Phật nhắc đến: “Tâm, Phật, chúng sinh không khác biệt.” Phật thuyết pháp cũng như không thuyết, thân Phật là huyễn thì lấy đâu ra tâm? Ngài thuyết pháp là chỉ điểm hành giả từ huyễn tìm đến chân thực. Mọi bám chấp vào danh, ví dụ muốn làm Thượng sư, giáo thọ sư, pháp sư, những cái này đều là danh. Nếu hành giả là một vị tại gia, lúc này nếu hiểu “vô tâm” thì họ chính là Phật, cần gì phải trở thành nhân viên hoằng pháp ở cấp bậc nào đó đâu. 

Pháp Vương nói: trong con mắt của Phật không có tướng nam nữ. Hành giả nên đoạn trừ tất cả phiền não, bám chấp, vô niệm vô tâm vô ngã thì có thể tức thân thành Phật.


![image](/img/img_d93ae3600dec94fbeb2a03bf4045d1ac.jpg)



![image](/img/img_2239f2455bee2e6ddca04009da2490c4.jpg)



![image](/img/img_158d38dac1b98e97b4040072a9cf59a4.jpg)



![image](/img/img_67af2f5bc2bde167073c1fc13a9202a4.jpg)



![image](/img/img_3f7e8c101f6c1b769740661a67f586a1.jpg)

---
# File: tinh-tuyen/nguyet-quang-bo-tat.md
# Title: Nguyệt Quang Bồ Tát
---

![image](/img/img_d5f9766143d4509184ba21811b78917b.jpg)



## Nguyệt Quang Bồ Tát


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Ngày rằm tháng tám Âm lịch không chỉ là ngày Tết Trung Thu mà còn là ngày Thánh đản của Nguyệt Quang Bồ Tát.

Nguyệt Quang Bồ Tát còn được gọi là Nguyệt Quang Biến Chiếu Bồ Tát, là một trong ba vị Đông phương Tam Thánh của Đông phương Dược Sư Lưu Ly Quang thế giới. Kinh Dược Sư viết: “Ở nước ấy có hai Bồ Tát Ma Ha Tát: một vị là Nhật Quang Biến Chiếu, một vị là Nguyệt Quang Biến Chiếu. Là thượng thủ của vô lượng vô số Bồ Tát.” Nguyệt Quang Bồ Tát và Nhật Quang Bồ Tát lần lượt là hai thị giả ở bên phải và bên trái của Phật Dược Sư, được gọi chung là Đông phương Tam Thánh hoặc Dược Sư Tam Tôn.

Nguyệt Quang Bồ Tát đầu đội mũ miện, trong mũ miện có ánh trăng, thân đeo chuỗi vòng, tay cầm hoa sen xanh, trên hoa sen có nửa mặt trăng. Ánh trăng tỏa khắp là ẩn dụ cho sự tươi mát tĩnh lặng, phát ra ánh sáng trong suốt trong bóng tối, bảo vệ chúng sinh khỏi sự bức bách phiền não của tam độc tham, sân, si.

Nguyệt Quang Biến Chiếu có nghĩa là ánh trăng soi khắp, biểu thị tịch định, trong suốt, mát mẻ và tĩnh lặng.

Nguyệt Quang Bồ Tát đà-la-ni: “Sân-ti-ti-thu-su-cha, a-rua-mi-ti-u-tu-cha, sân-chi-cha, pô-lai-ti-yê-mi-rua-cha, u-tô-cha, chuy-lua-ti-cha, chi-ma-cha, sô-ha.” Đà-la-ni này xuất phát từ “Thiên Thủ Quan Âm Đại Bi Tâm Đà-la-ni Kinh”. Chú này chính là do quá khứ bốn mươi Hằng hà sa chư Phật thuyết để hộ trì các chúng sinh, loại bỏ tất cả chướng nạn, trừ tất cả bệnh ác đau khổ, rời xa tất cả sợ hãi, thành tựu tất cả thiện pháp.

Hành giả lấy chỉ ngũ sắc cúng trước Phật, tụng chú ngữ của Nguyệt Quang Bồ Tát, sau đó đặt chỉ ngũ sắc lên chỗ đau hoặc buộc quanh chỗ đau, như vậy bệnh khổ có thể giảm bớt, thậm chí hóa thành vô hình. Năng lực từ bi và mát lành của Nguyệt Quang Bồ Tát rất đáng kinh ngạc, vì thế pháp trừ bệnh lấy chú lực của Nguyệt Quang Bồ Tát là cao nhất, người tu trì không thể không biết.

Cung kính chúc Sư Tôn, Sư Mẫu và tất cả các đồng môn Trung Thu vui vẻ.


![image](/img/img_d2d55f0dd6f88f3b055070359ba40062.jpg)

---
# File: tinh-tuyen/phap-bat-bat-quan-khong-cua-tam-luan-tong.md
# Title: Pháp Bát bất quán không của Tam Luận tông
---

## Pháp Bát bất quán không của Tam Luận tông


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

Pháp Bát bất quán không của Tam Luận tông

1. Bất sinh bất diệt - gương sáng soi ảnh, tùy duyên hiện huyễn.

1. Bất đoạn bất thường - nước Trường Giang thay đổi, chưa bao giờ gián đoạn.

1. Bất nhất bất dị - chụp ảnh một người, tư thế chẳng giống nhau.

1. Bất lai bất xuất - như người trong vở kịch, như đến như đi.

Dùng bát bất này để ngăn trừ tám loại tà chấp của thế tục.

---
# File: tinh-tuyen/phap-bi-mat-lam-giau-nhanh-trat-co-lap-mau.md
# Title: Pháp bí mật làm giàu nhanh Trát Cơ Lạp Mẫu
---

![image](/img/img_c4fede6a62cbbac171326033703deca8.jpg)


🪷 Khai thị của Liên Sinh Hoạt Phật ngày 21/03/2026 tại Seattle. 

Hôm nay chúng ta truyền pháp quan trọng nhất chính là "Pháp bí mật làm giàu nhanh Trát Cơ Lạp Mẫu". Ở đây tôi chỉ giảng một lần, mọi người phải nhớ cho thật rõ.

Mọi người hôm nay đến đây, đều là vì làm giàu nhanh. Làm giàu nhanh! Làm giàu nhanh! Làm giàu nhanh! Làm giàu nhanh có nghĩa là gì? Đột nhiên bạn trở nên giàu có. Nếu giống như Sư Tôn đây, tôi là "giàu từ từ". Thế nào gọi là giàu từ từ? Dần dần, dần dần, từ không đến có, từ từ mà đến, từ từ mà đến, từ từ mà đến, nước nhỏ chảy dài. Thế nào gọi là làm giàu nhanh? Đột nhiên, thác nước ập đến, bạn liền có được tất cả, cái gì cũng có, đây mới gọi là làm giàu nhanh.

Cho dù bạn muốn giàu thế nào, trước tiên bạn nhất định phải có phúc phận. Bản thân bạn nếu không có phúc phận thì lấy đâu ra làm giàu nhanh? Trước tiên bạn phải có phúc phận của chính bản thân, phúc phận từ đâu mà đến? Chính là từ Đại Phúc Kim Cang mà đến. Trước có Đại Phúc Kim Cang, bạn có đại phúc rồi, bạn mới có thể nhờ Trát Cơ Lạp Mẫu, bạn mới có thể làm giàu nhanh, Trát Cơ Lạp Mẫu là làm giàu nhanh.

Cho nên hôm nay chú ngữ chúng ta niệm, phải niệm "Ôm gu-ru lien-sâng sit-đi hùm. Ôm ma-mố na-mố thung-thung cha-cha sô-ha." Hai câu chú hợp lại mà niệm, đây là khẩu quyết thứ nhất. Bạn chỉ niệm "Ôm gu-ru lien-sâng sit-đi hùm." bạn có thể nhận được phúc phận. Nhưng thêm vào "Ôm ma-mố na-mố thung-thung cha-cha sô-ha." hai câu hợp lại chính là làm giàu nhanh, vừa có phúc phận, lại được làm giàu nhanh. Không có phúc phận thì không thể nào có được sự làm giàu nhanh to lớn, đây là khẩu quyết quan trọng đầu tiên. Mọi người phải nhớ nhé!

Có một bài kệ, tôi đã niệm cho mọi người nghe rồi: "Thập phương Trát Cơ Mẫu. Thiên long bát bộ chúng. Cho con phúc lộc lớn. Trúng thưởng giải đặc biệt." Chính là bài kệ này.

Vậy thì bạn niệm chú phải hướng về hướng nào? Không phải hướng về đàn thành của bạn. Niệm chú, bản thân Trát Cơ Lạp Mẫu ngự ở phương Bắc, bạn phải hướng mặt về phương Bắc mới là đúng, bạn quay mông về phía ngài là không đúng. Cũng có thể nói như thế này, Tài Thần của Mật giáo phần lớn đều ngự ở phương Bắc. Khuôn mặt của bạn phải hướng về phương Bắc. Bạn niệm hai câu chú, phải niệm 10.000 biến là ít nhất; 100.000 biến là bậc trung; 500.000 biến là thượng thừa. Cho nên, bạn nhất định ít nhất phải niệm đủ 10.000 biến, hoặc là 100.000 biến, 500.000 biến, hoặc nhiều hơn.

Bạn niệm xong chú rồi, bạn phải bắt đầu đi mua xổ số đi chứ! Phải bắt đầu thôi, phải hành động thôi! Nhớ kỹ, quy củ của Mật giáo, mặc quần áo màu xanh lam là thuộc về hàng phục; mặc quần áo màu đỏ là thuộc về kính ái; mặc quần áo màu trắng là thuộc về tiêu tai; mặc quần áo màu vàng là thuộc về tăng ích. Bạn muốn gia tăng tài phú của mình, ngày hôm đó bạn đi mua xổ số, nhất định phải mặc quần áo màu vàng mà đi.

Nói cho bạn biết một khẩu quyết bí mật quan trọng nhất nhé! Tay phải của bạn phải viết chữ "Trúng", tiếng Trung, chữ 中. Bàn tay trái này phải viết chữ chú, chính là chữ chú của Trát Cơ Lạp Mẫu, chữ chú của ngài gọi là chữ "Chiêu". Biết viết chữ chú của Trát Cơ Lạp Mẫu đó không? Nhớ kỹ, phải viết cho rõ ràng một chút, bên này (lòng bàn tay trái) viết chữ "Chiêu" (chữ chú), bên này (lòng bàn tay phải) viết chữ "Trúng".

Cần chọn ngày, một tuần có hai ngày. Nhớ kỹ rồi, Friday and Saturday, hai ngày thứ Sáu và thứ Bảy này, những ngày khác bạn đừng đi. Thứ Sáu và thứ Bảy, một tuần chỉ có thể hai ngày, thứ Sáu và thứ Bảy. Thời gian thì sao, là buổi sáng từ 7 giờ đến 11 giờ.

Bạn vào Friday, Saturday, morning Seven to Eleven, lựa chọn thời gian. Quần áo bạn mặc màu vàng, bạn niệm xong chú rồi, chuẩn bị hai tay viết sẵn chữ, nắm chặt lại. Đi đến nơi đó, chữ chú đó liền giơ ra. Bên này (tay trái) là chữ "Chiêu", tay phải là chữ "Trúng", "Sẽ chúng" chính là "liền trúng", liền trúng. Nói như vậy bạn nghe đã hiểu chưa?


![image](/img/img_3a3f2734925725cfa081fbc7b0a7cf7a.jpg)

---
# File: tinh-tuyen/phap-duyen-va-mat-yeu.md
# Title: Pháp duyên và mật yếu
---

# Pháp duyên và mật yếu


Các vị Thượng sư, các vị đồng tu, chào mọi người. Trước khi thuyết pháp, chúng ta xin mời Liên Hoa Bỉnh Phát ở Singapore kể cho chúng ta biết về tình hình xá lợi của những tử tù trong nhà tù Changi ở Singapore và tình hình thực tu của họ.

**Chân Phật kiến chứng.**

Đây là một sự việc rất chân thực. Vì sao tôi dám nói như vậy? Bởi vì chính bản thân tôi đã từng sống cùng với một trong số những tử tù đó, tôi ở cùng họ 3 năm, tôi đã nhìn thấy tình hình thực tu của họ ở trong phòng giam tử tù.

Ở trong phòng giam tử tù, chúng tôi cất giữ pháp tướng của Sư Tôn giống như một bảo bối, người này truyền cho người kia. Vì thế, ở trong xã hội tự do này, chúng tôi có cơ duyên có thể lễ bái được Sư Tôn, cho nên các bạn nên kính sư trọng đạo cho đúng!

**Tử tù trong nhà ngục.**

Bây giờ ở trong nhà tù Changi ở Singapore vẫn có một trăm người đang chăm chỉ tu Chân Phật Mật Pháp. 

Họ lấy ra một tấm ảnh rất nhỏ rồi quỳ lạy và niệm kinh, điều này đã chứng minh sự thù thắng của Chân Phật Mật Pháp. Hiện nay trên báo ở Singapore và Malaysia đều đã đăng tin là tổng cộng có mười người đã có được xá lợi.

Còn có gì có thể chứng minh Chân Phật Mật Pháp của chúng ta là Mật pháp chân chính đây? Tu Chân Phật Mật Pháp có được xá lợi chính là bằng chứng duy nhất.

**Duyên chuyển thế.**

Mỗi người chúng ta đi đến cuối cùng thì chắc chắn đều phải chết, Sư Tôn cũng không phải ngoại lệ.

Một hành giả, một vị Hoạt Phật chân chính, sẽ biết hai pháp, một pháp là phương pháp rời khỏi ngôi nhà, tức là pháp ly xá; thứ hai là pháp đổi sang ngôi nhà mới, tìm một nơi có ngôi nhà tốt hơn, phương pháp này gọi là pháp đoạt xá, những người như thế này gọi là Rinpoche, gọi là Hoạt Phật. Nói một câu đơn giản là, người có thể tự chủ sống và chết chính là Hoạt Phật.

Vì sao Hoạt Phật không đến Tây phương? Vì sao mà lại chuyển thế qua nhiều đời như vậy? Vì sao có Hoạt Phật phát nguyện đời đời kiếp kiếp ở tại thế giới Ta Bà để độ chúng sinh? Giả sử các bạn phát nguyện như vậy thì tương lai các bạn đều là Hoạt Phật. Giả sử không phát nguyện như vậy, thế thì các bạn sẽ vãng sinh đến Tây phương Cực Lạc thế giới, vãng sinh Ma Ha Song Liên Trì. Sư Tôn trước kia đã phát nguyện sai rồi [đùa], cho nên, tôi đời đời kiếp kiếp cũng đều phải ở tại nhân gian.

Các vị điều cực kì có duyên với Sư Tôn, bởi vì các bạn chỉ cần nhìn thấy dung mạo của Sư Tôn, thậm chí tôi nhìn thấy dung mạo của các bạn, tôi liền cảm thấy dung mạo này vô cùng quen thuộc. Dòng máu đang chảy trong người bạn và huyết thống của Sư Tôn cùng có liên quan, vì thế, tôi nhất định phải đưa mọi người trở về Tây phương Cực Lạc thế giới, trở về Ma Ha Song Liên Trì.

**Tướng lành khi vãng sinh.**

Khi vãng sinh, chân bắt đầu lạnh, liên tục lạnh dần lên phía trên, lạnh lên đầu gối, lạnh đến đan điền, rồi lạnh đến họng, đến đầu, đầu là nơi lạnh sau cùng. Đây chính là thần thức của bạn, từ bàn chân di chuyển lên trên, cho đến tận đỉnh đầu, từ lỗ đỉnh đầu đi ra ngoài tức là vãng sinh. Thế còn tương phản lại, trong thoáng chốc đỉnh đầu đã lạnh, rồi họng lạnh, tim lạnh, đan điền lạnh, cho đến tận chân, chân là nơi lạnh sau cùng, như thế tức là xuống địa ngục.

Lúc này, thứ duy nhất có thể cứu bạn chính là chính niệm của bạn, chính niệm mà thường ngày bạn tu hành có được. Trong trạng thái bạn xuất nguyên thần, bạn có một cao tăng đắc đạo ở bên tai chỉ thị cho nguyên thần của bạn đi như thế nào, đây chính là mật pháp cứu độ trung ấm.

**Sản sinh tướng lành.**

Chân Phật Mật Pháp cần tu đến trình độ tương ứng thì sẽ có tướng lành. Vì sao có trình độ tương ứng thì có thể có tướng lành?

Bởi vì từ tính bên trong thân thể bạn và từ tính của Phật Bồ Tát đã đến gần với nhau rồi. Bởi vì khi bạn ngồi thiền quán tưởng Phật, phía trên Phật có nước, trong nước mọc ra một đóa hoa sen. Hoa sen này sẽ phóng quang chiếu đến lục phủ ngũ tạng của bạn, khí đen nghiệp chướng ở trong thân thể bạn sẽ từ các lỗ chân lông, thậm chí là từ tất cả các lỗ sẽ chảy ra, thân thể bạn sẽ sinh ra ánh sáng. Khi cường độ ánh sáng của thân thể bạn càng ngày càng mạnh, ánh sáng của bạn và Bồ Tát sẽ chiếu sáng lẫn nhau. Ánh sáng của Phật Bồ Tát chiếu đến lỗ chân lông của bạn, lỗ chân lông của bạn sẽ nở ra, bên trong sẽ có nghìn vạn vị Hóa Phật. Bạn tập hợp tất cả các vị Hóa Phật thì sẽ biến thành một vị Phật hiện có. Khi bạn đã là Phật rồi, chắc chắn sẽ có tướng lành của vãng sinh, đây chính là tức thân thành Phật của Mật giáo.

Thế còn Hiển giáo thì sao? Họ phải tu đến trình độ nào mới có thể có tướng lành vãng sinh? Bạn phải tu đến khi niệm một câu A Di Đà Phật, A Di Đà Phật liền hiện lên trước mặt bạn. A Di Đà Phật không đến thì bạn không thể vãng sinh được.

**Pháp yếu Mật thừa.**

Tu trì quán đếm hơi thở là có thể dừng vọng niệm tốt nhất.

Tu quán bất tịnh là coi tất cả những hiện tượng bên ngoài thân thể thành bất tịnh thì có thể dừng được mọi tham niệm.

Tu quán xả thân không vì chính mình mà chuyên vì người khác, hy sinh chính mình thì có thể chữa được sân niệm của mình. Quán xả thân tức là bình đẳng tính trí.

Hôm nay Sư Tôn cũng tu quán xả thân, tôi phát nguyện “phân thân xả cốt độ chúng sinh”, điều này chính là muốn xả bỏ thân thể của chính mình, sống vì chúng sinh, những việc có lợi ích cho chúng sinh thì tôi đều sẽ bất chấp nước sôi lửa bỏng mà không hề do dự.

Trong Mật giáo còn có quán nguyệt luân, quán mặt trăng, trong mặt trăng quán tưởng chữ Phạn, chữ Phạn xoay tròn chuyển thành quán Bổn tôn, hành giả Mật giáo đều phải học quán nguyệt luân. 

Hành giả Mật giáo còn phải học quán nhập ngã ngã nhập.

Mọi người hãy lĩnh hội cho tốt: quán đếm hơi thở, quán bất tịnh, quán xả thân, quán nguyệt luân, quán nhập ngã ngã nhập. Học cho tốt mười việc nên học của Mật giáo.

Đầu tiên là ngoại tu, ngoại tu là phải khiến từ tính của thân thể bạn tương ứng với Phật Bồ Tát.

Tiếp theo là nội tu, nội tu tức là tu chủng tử của Phật bên trong thân thể bạn.

Tiếp theo là mật tu, mật tu tức là vận chuyển minh điểm của bạn tuần hoàn khắp thân, mở ra trung mạch phóng ra ánh sáng.

Tiếp theo là mật mật tu, mật mật tu tức là tu pháp thân của bạn biến thành pháp thân Phật.

Từ Tứ gia hành, Thượng sư tương ứng, Bổn tôn, Kim cang pháp, Vô thượng mật mà đắc được thành tựu cao nhất của Mật giáo.

**Bí mật của vũ trụ.**

Khi bạn làm Hộ Ma, có thể triệu thỉnh pháp lực của ý thức lớn nhất của toàn bộ vũ trụ, tất cả pháp lực của Phật Bồ Tát toàn bộ đều tập trung tại lửa Hộ Ma. Thỉnh cầu của bạn có thể cảm động trời đất, tập hợp mọi pháp lực để làm việc có lợi ích cho chúng sinh, đây chính là thành sở tác trí.

Bạn đạt đến pháp giới thể tính trí, đại viên kính trí của chân lý, thành sở tác trí của tất cả Yết ma, trí huệ của bạn là diệu quan sát trí, khai ngộ của bạn là bình đẳng tính trí. Năm loại trí huệ của Phật ở trên người bạn, tất cả toàn bộ đều rõ ràng minh bạch, đây chính là Mật giáo, Mật giáo chính là chân lý.

---
# File: tinh-tuyen/phap-hoi-mua-xuan-va-phap-bi-mat-that-nhan-phat-mau-thien-nhan-thong.md
# Title: Pháp hội mùa xuân và pháp bí mật Thất Nhãn Phật Mẫu thiên nhãn thông
---

# Pháp hội mùa xuân và pháp bí mật Thất Nhãn Phật Mẫu thiên nhãn thông


Chân Phật Tông Seattle Lôi Tạng Tự tại Mỹ cung thỉnh Căn bản Truyền thừa Thượng sư Pháp Vương Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Quan Thế Âm Bồ Tát tiêu tai cầu phúc siêu độ Xuân Giáp Thìn vào ngày 24/02, lần đầu tiên truyền và quán đảnh pháp bí mật Thất Nhãn Phật Mẫu thiên nhãn thông. Địa điểm tổ chức pháp hội là ở Cầu Vồng Lôi Tạng Tự tại North Bend, thiện tín từ các nơi trên thế giới tụ tập, biển người ùn ùn. Thị trưởng Renton là Armondo Pavone cùng các vị khách từ mọi tầng lớp xã hội bao gồm chính trị, y học, khoa học, luật, kinh doanh đã đến tham dự sự kiện. Tổng thống sắp nhậm chức Đài Loan Lại Thanh Đức cũng như các chính trị gia của cả chính phủ và phe đối lập cũng gửi tin nhắn chúc mừng.

Toàn bộ Pháp hội được truyền hình trực tiếp trên khắp thế giới đồng thời bằng tiếng Trung và tiếng Anh. Vào giờ Ngọ, trưởng lão Thượng sư Liên Hùng đã dẫn đầu đội múa lân nồng nhiệt chào đón Pháp Vương Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật đến Cầu Vồng Lôi Tạng Tự. Sư tử và kỳ lân nhảy múa theo tiếng trống, khung cảnh tràn đầy náo nhiệt, sau đó Pháp Vương được mời đến gia trì cho các gian hàng của của các tổ lễ tân tại hiện trường cũng như gia trì cho các bài vị sống thọ, bài vị vãng sinh.

Tiếp sau đó, Pháp Vương đã đến hội triển lãm thư họa và ký sách năm 2024 của Liên Sinh Hoạt Phật do Chân Phật Bát Nhã Tạng bài trí. Hội trường lần này đặc biệt dùng bìa sách mới tái bản của các cuốn văn tập của Pháp Vương làm thành những chiếc đèn trời để trang trí. Liên Sinh Hoạt Phật bắt đầu sáng tác cuốn văn tập đầu tiên vào năm 1967, viết sách cho đến nay đã hơn 50 năm, ánh sáng viên mãn trong tâm hiển hóa thành từng cuốn từng cuốn sách truyền bá rộng rãi khắp thế giới, giống như ngọn đèn vô tận tản đi ánh sáng vô lượng khắp mười phương để chiếu sáng chúng sinh. Đồng thời khi xếp hàng chờ đợi ký sách, những chuỗi đèn trời khiến tất cả người đến tham quan cảm nhận được những tình cảm cao quý nguyện hành vô tận của Phật Bồ Tát.

Văn tập số 298 mới nhất của Pháp Vương “Sự Mặc Khải Của Giấc Mơ”, đã được bán hết vào ngày đầu tiên phát hành, ngày hôm đó đồng thời phát hành hai cuốn sách mới là “Đại Viên Mãn Cửu Thứ Đệ - Khai thị tập 4” và “Đại Viên Mãn Cửu Thứ Đệ - Khai thị toàn tập”, còn có ba cuốn sách mới, bao gồm cả bản tái bản tiếng Anh của cuốn "Vô thượng mật và Đại thủ ấn" cũng được bán đồng thời tại chỗ. Sau phần ký tặng sách, đội múa lân một lần nữa chào đón Pháp Vương đến khu lưu thông Phật cụ để gia trì, sau đó quay về đại điện nghỉ ngơi một lát.

Đúng 2 giờ chiều, người người thành tâm chắp tay hát tụng tâm chú Liên Hoa Đồng Tử, cung thỉnh Căn bản Truyền thừa Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật vào Hộ Ma Bảo Điện khai đàn truyền pháp. Trong tiếng hát tụng Phạn âm du dương Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Liên Sinh Hoạt Phật cạo đầu cho bốn vị xuất gia, truyền thụ giới Bồ Tát tại gia cho 23 vị, làm chứng hạnh phúc cho ba cặp cô dâu chú rể. Pháp Vương khích lệ các đệ tử Bồ Tát giới tại gia chỉ có thể làm những việc có lợi ích cho chúng sinh, thọ giới Bồ Tát là vì chúng sinh chứ không vì chính mình, sau khi thọ giới xong càng phải tuân thủ giới luật của Bồ Tát tại gia và không được phạm. Sau đó Pháp Vương dùng gương chiếu đến đệ tử thọ giới để thanh tịnh những tập khí không tốt của quá khứ. Tiếp theo là khai thị cho cô dâu chú rể mới, Phật Bồ Tát ở nhân gian đều lấy kính ái làm điểm xuất phát, không chỉ giữa hai người phải kính ái lẫn nhau mà ngay cả láng giềng, cộng đồng và thậm chí cả các quốc gia phải tôn trọng lẫn nhau mà không oán giận hay hận thù, Phật Đà và Guru Jesus Christ của Sư Tôn đều dạy dỗ chúng sinh như vậy. Hôm nay dưới sự chứng kiến hạnh phúc của Phật, nhất định sẽ viên mãn.

Sau nghi lễ làm chứng hạnh phúc, trụ trì Seattle Lôi Tạng Tự là Thượng sư Thích Liên Ngân thay mặt cho tứ chúng kính dâng khata, Phạn âm nổi lên. Trong tiếng chú âm Quan Thế Âm Bồ Tát từ bi, Pháp Vương diễn hóa đại thủ ấn tiêu tai cầu phúc siêu độ. Mọi người theo Liên Sinh Hoạt Phật tiến vào quán tưởng, trì chú, nhập định và hồi hướng.

Sau khi nghi quỹ pháp hội kết thúc viên mãn, mọi người tham dự đã nhiệt liệt vỗ tay cung thỉnh Pháp Vương truyền pháp khai thị pháp bí mật Thất Nhãn Phật Mẫu thiên nhãn thông. Pháp Vương trong khi khai thị đã giải thích ý nghĩa và cách dùng phù thiên nhãn thông. Trong A Dục Vệ Đà chuyên môn nhắc đến phù chú, và có hai việc rất quan trọng: một là cầu nguyện, hai là thiền định. Hành giả chúng ta coi trọng cầu nguyện hàng đầu, cũng chính là hồi hướng. Từng giờ từng phút chúng ta phải hướng đến Bổn tôn, Phật Bồ Tát để cầu nguyện, luôn luôn nghĩ đến Bổn tôn của mình trụ đỉnh, đây là việc mà Pháp Vương làm mỗi ngày, không có một lúc nào quên. Bất kể bạn đang làm việc gì, nhất định phải quán tưởng Thượng sư của mình trụ đỉnh.

Tiếp theo Pháp Vương giải thích thế nào là A Dục. A Dục dịch sang tiếng Trung có nghĩa là sinh mệnh, Vệ Đà là chỉ học vấn, cái gọi là văn tự bí mật chính là chỉ phù lục. (Pháp Vương cầm lên phù thiên nhãn thần thông.) Trên phù này có ba nét ngang là quẻ Càn với ba vạch liền, bên dưới là sáu đoạn đứt, đây là phù hiệu trong Bát Quái, tượng trưng cho trời đất, bên dưới có một chữ “mục”, chính là con mắt của trời đất, tiếp theo là một cái lọng, trong đó có chữ “kiến, hình”, tức là tất cả vô hình bạn đều nhìn thấy được, bên dưới có Nam Đẩu thất tinh, Bắc Đẩu thất tinh.

Những phù lục này đều đã được Pháp Vương gia trì, sau khi được quán đảnh thì mọi người sẽ đốt phù thành tro, hòa vào nước để uống. Lá phù này có linh có nghiệm, bên trong có ẩn chứa sức mạnh gia trì của Bạch Độ Mẫu. Bình thường người tu hành rất tốt, nhờ cơ duyên này có thể đắc được thiên nhãn. Bạch Độ Mẫu có bảy con mắt, cũng gọi là Thất Nhãn Phật Mẫu. Ngài hóa hiện từ giọt nước mắt từ bi của Quan Thế Âm Bồ Tát, đến giúp đỡ Quan Thế Âm Bồ Tát độ chúng sinh, là một trong 21 vị Độ Mẫu.

Ngoài sự trợ giúp của phù lục ra, hành giả còn phải tu khí, mỗi ngày đều phải tu trì khí, không được để khí tắc nghẽn, nếu khí tắc nghẽn, bị đóng kín hoặc tàn lụi đều không được, khí phải tập trung ở chỗ mi tâm thiên nhãn, dùng sức mạnh tu khí để mở ra con mắt thứ ba của mình (Pháp Vương thị phạm tại chỗ). Khí ở trên tay là tay động, khí ở chân là chân động, tâm bạn ở chỗ nào thì khí ở chỗ đó, biểu thị khí của toàn thân bạn đều sống, đây chính là khí động. Có người từng hỏi: “Nếu mở thiên nhãn xong, nhìn thấy ma (quỷ) thì phải làm sao?” Hành giả chúng ta đều có tu trì pháp phòng hộ, cũng có thể kết giới, đừng vì việc này mà cảm thấy sợ hãi. Nếu không muốn nhìn thấy thì đóng thiên nhãn lại là không còn nữa.

Trong yoga của Ấn Độ có động năng cũng có tĩnh năng, yoga động năng chính là Kim cang quyền trong Mật giáo, yoga tĩnh năng chính là Tỳ Lô thất chi tọa. Đầu tiên là tư thế ngồi của bạn phải ngay ngắn, cột sống phải thẳng, hàm hơi thu về và vươn ngực, kéo thẳng trung mạch, đây chính là yoga tĩnh năng. Mục đích quan trọng nhất của yoga là nhập Tam muội địa.

Trọng điểm của tu trì Thất Nhãn Phật Mẫu thiên nhãn thông nằm ở phù thiên nhãn thông, tu khí và tương ứng với Bạch Độ Mẫu, có đủ ba điều này thì có thể mở thiên nhãn.

Trong pháp hội, Pháp Vương đã ca ngợi đơn vị chế tác chú âm Âm Thanh Lôi Tạng do Thượng sư Liên Cựu chủ trì. Chú âm Bạch Độ Mẫu lần này khiến người nghe trong lòng dễ chịu. Chú tượng trưng cho tâm của Bổn tôn, khi truyền tải cần có ý vị của ngài, đồng thời để cho tâm của Bổn tôn và tâm của chúng sinh hợp nhất, điều này không hề dễ dàng.

Trong văn tập số 299 sẽ có pháp tu trì của Bạch Độ Mẫu, trong đó sẽ có những điểm chính của pháp thiên nhãn. Tu pháp phải chuẩn bị cúng phẩm là ba trắng ba ngọt, còn có bảy quả cầu thủy tinh trong suốt màu trắng tượng trưng cho bảy con mắt. Pháp Vương tóm tắt nghi quỹ tu pháp như sau: tứ quy y, tứ vô lượng tâm, phát bồ đề tâm, bài kệ tụng tán: “Phổ nguyện chúng sinh thoát ly lục đạo. Mãi đoạn sinh tử bước lên Phật địa. Chỉ mong từ bi Đại Bạch Độ Mẫu. Thiên nhãn như nhất đắc diệu quan sát. Bình đẳng gia trì thành tựu cõi Phật.” Và bài kệ ca ngợi Bạch Độ Mẫu: “Bạch Độ Mẫu thất nhãn phóng quang. Cuối cùng hành giả mở thiên nhãn. Diệu quan sát trí đại trí huệ. Tự độ độ tha đến bỉ ngạn.” Trọng điểm nằm ở nhập Tam muội địa.

Hôm nay có rất nhiều vị Quan Thế Âm Bồ Tát, còn có Lục Độ Mẫu, Bạch Độ Mẫu, còn có rất nhiều Không Hành Mẫu đều đến, ở trong hư không. Bình thường sẽ có rất nhiều người đứng dậy làm chứng điều họ nhìn thấy, đây cũng không phải là việc gì hiếm có kỳ lạ. (Thượng sư trưởng lão Liên Hùng và sư huynh Cao Minh Lộc ngay tại chỗ kể lại việc nhìn thấy Pháp thân của Sư Tôn.) Pháp Vương tiết lộ cuốn sách thứ 300 “Trở Về Thiên Hà” gom lại rất nhiều tâm yếu, khẩu quyết Tam muội địa. Lậu tận thông là quan trọng nhất, thế nào gọi là lậu tận thông? Chính là loại bỏ hết phiền não, không còn phiền não, cũng không còn bám chấp, tâm cảnh hiện tại của chính mình là vô sở đắc, không có mong chờ gì.

Ngũ nhãn lục thông chỉ là để bạn có thể có cảm ứng, mượn cơ duyên này để động viên mọi người tinh tấn tu trì. Khai thị xong, Pháp Vương ban quán đảnh pháp bí mật Thất Nhãn Phật Mẫu thiên nhãn thông, mọi người kiền thành theo thứ tự nhận quán đảnh thù thắng. Đại pháp hội Xuân Giáp Thìn kết thúc viên mãn.

Toàn thể nhân viên của Seattle Lôi Tạng Tự chí tâm đảnh lễ cảm ơn Căn bản Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật, và cảm ơn nhân viên hoằng pháp các cấp, khách quý, đồng môn, thiện tín đã tham gia hộ trì, và cả sự giúp đỡ hào phóng của các tình nguyện viên từ các tổ nhóm khác nhau.

---
# File: tinh-tuyen/phap-huong-hoa-tam-muoi.md
# Title: Pháp hương hoa tam muội
---

![image](/img/img_42b387a7a6212457dda0e0b496c21121.jpg)



# Pháp hương hoa tam muội


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Lúc này thứ tôi đang cầm là hương, hoa tức là hoa, trên bàn có bày hoa, tam muội chính là định. Thế nào gọi là định? Chính là có thể tập trung tinh thần làm một, không nghĩ lung tung. 

Tôi cảm thấy đa số người chọn tên đều thích lấy chữ Hương [thơm], rất ít người lấy chữ Xú [thối], ví dụ Sư Mẫu tên là Lư Lệ Hương, bà ấy không dám lấy tên là Lư Xú Xú. Cũng có rất nhiều người lấy tên là Thu Hương, Xuân Hương, Lan Hương… Giống như hoa ngọc lan này tức là lan hương, mùi thơm của hoa lan cũng là lan hương. Hoa ngọc lan rất thơm. Hoa ngọc lan này là do tài xế lái xe du lịch của chúng ta mấy ngày hôm nay mua để cúng dường Sư Tôn, bỏ vào trong túi của Sư Tôn, để tăng thêm mùi thơm trên người Sư Tôn. Theo như tôi biết, hai lần ông ấy cũng dường, tương lai ông ấy chuyển thế, sẽ có hai kiếp sẽ rất đẹp trai tuấn tú, hơn nữa trên người sẽ tỏa ra mùi thơm, đồng thời vì ông ấy cúng dường người xuất gia, ông ấy sẽ có được phúc báo, ông ấy sẽ được cao to đẹp trai, sẽ có rất nhiều bạn gái. 

Tên của con người có hương thơm, nhưng trên thân thể không chắc đã có mùi thơm. Tôi đã gặp rất nhiều người, từ quan chức cấp cao cho đến người bán hàng rong, ai cũng từng nói chuyện với tôi, tôi nhận ra mùi của mỗi người. Có một số đại đức đến hỏi việc, thời gian họ ở trong phòng lâu hơn một chút, bởi vì trên người họ tỏa ra mùi thơm, cho nên thời gian tôi nói chuyện với họ tương đối lâu. Có một số người vừa đi vào, trên người họ tỏa ra mùi hôi, không thể chịu nổi! Có người vừa mở miệng ra thì mùi hôi miệng phả vào mặt bạn, có người thì trên người có mùi hôi nách, cũng khiến người ta không chịu nổi. 

Thân thể con người, vì sao có người tỏa ra mùi thơm, có người lại tỏa ra mùi hôi? Chủ yếu nhất là có cúng dường hay không, có người dùng hoa cúng dường Phật Bồ Tát, có người thì không, có người còn nhổ nước bọt trước Phật Bồ Tát. Người bị thối chân, bị bệnh về da đa phần đều là do nghiệp chướng, rất khó chữa! Những nghiệp chướng này là vì bạn đối với Phật Bồ Tát không cung kính, không lễ phép, thậm chí có lúc cố ý ở trước Phật Bồ Tát cởi quần áo, làm những động tác không lễ độ, cố ý xúc phạm Phật Bồ Tát, nhổ đờm trước mặt Phật Bồ Tát, đây đều là những việc từng làm trong kiếp trước, cho nên đến kiếp này bị nghiệp chướng mắc bệnh da. Đôi khi tôi đi ở phía trước, người ở phía sau có thể ngửi thấy như có hoa thơm, giống như mùi đàn hương, họ cho rằng trên người tôi có đàn hương, thật ra không có. Chỉ cần bạn thực tu, đạt đến cảnh giới tu hành, tự nhiên bạn có thể tỏa ra mùi thơm từ trên người mình, mùi thơm cơ thể sẽ giống như mùi đàn hương, rất thơm, mùi thơm ấy rất dễ chịu, đây chính là một người tu hành đã đạt đến thanh tịnh, vì thế có mùi thơm thanh tịnh, mùi thơm là từ bên trong thân thể tỏa ra, không phải là bên ngoài xịt nước hoa. Người tu hành chúng ta phải tỏa ra mùi thơm từ bên trong thân thể, nhất định phải thụ giới mới có thể có mùi thơm. Trong khi niệm kinh có một mùi thơm gọi là giới định hương, bạn giữ giới, có thể định, bạn sẽ sản sinh ra mùi thơm của cơ thể, tỏa ra bên ngoài, chính là Phật hương bên ngoài. 

Người tu hành chúng ta phải giữ giới gì?

1. Không sát sinh: tội báo của sát sinh rất nặng, không sát sinh, thậm chí còn phải phóng sinh. Rất nhiều đệ tử mở nhà hàng, bảo họ không sát sinh thì phải làm sao? Phải niệm chú vãng sinh trước, sau đó quán tưởng tất cả động vật bay lên, như vậy bạn mới có thể làm kinh doanh nhà hàng. Vì thế, người làm kinh doanh nhà hàng và làm nghề đầu bếp phải nhớ thường niệm chú vãng sinh. 

2. Không uống rượu: vì uống rượu có hại cho sức khỏe nên không uống rượu. Nếu uống rượu một cách hợp lý thì có được không? Khi uống thuốc phải bỏ thêm rượu bổ, hoặc dùng rượu để dẫn thuốc có được không? Được, không uống rượu ở đây là chỉ không say rượu, bởi vì say rượu thì sẽ loạn tính, thân thể bạn sẽ không thanh tịnh, người uống rượu thì trên thân thể sẽ có mùi rượu, vì đã sinh ra mùi rượu thì trong người chẳng thể nào có được mùi thơm. 

3. Không ác khẩu, không hai lưỡi, không phê bình, không phỉ báng, không nói những lời khó nghe, không nói lời ong bướm. Không hai lưỡi tức là không tạo ra chuyện thị phi. Tôi nhận thấy rằng con người hiện nay có đôi khi hệ tiêu hóa không tốt, bị sâu răng, sưng và đau lợi, hôi miệng do quá trình lên men của thực phẩm họ ăn. Chữa trị hôi miệng có hai cách, một là răng, lợi, bao gồm cả răng sâu đều phải làm sạch. Cách hai là bạn không ác khẩu, chăm sóc tốt cho hệ tiêu hóa, khí bên trong bạn phát ra sẽ thơm tho, thở ra hơi sẽ thơm giống như hoa lan vậy. 

4. Không tà dâm: phụ nữ hoặc đàn ông ngoài vợ chồng chính ra thì đều là tà dâm. Nếu như là vợ hoặc chồng mình thì không tính là tà dâm. Tu Chân Phật Mật Pháp có thể có chính dâm. Bởi vì có sự tồn tại của cư sĩ tại gia, cư sĩ tại gia thì không thể tránh khỏi. 

5. Không trộm cắp: giả sử người người đều giữ giới luật này, không trộm không cắp thì tốt, người học Phật bản thân không trộm cắp, còn phải khuyên người ta không trộm cắp, càng phải khiến cho cả xã hội an lành lợi lạc, không trộm cắp. Một xã hội trộm cắp thì trong lòng mỗi người đều lo âu, bởi vì nhìn thấy người khác bị trộm cắp, không biết đến khi nào sẽ đến lượt mình bị trộm cắp. Mỗi ngày tôi đi ra ngoài đều khoác theo cái túi này, đừng nghĩ rằng trong cái túi này có tiền mặt, đô-la Mỹ, kim cương, thật ra chẳng hề có, bên trong chỉ có vé máy bay trở về Mỹ thôi, nếu không có vé máy bay thì tôi chẳng có cách nào trở về Seattle bên Mỹ. Hy vọng mọi người đừng vì muốn giữ tôi ở lại mà trộm đồ trong cái túi này của tôi. Việc trộm cắp này là xây dựng niềm vui cho mình trên nỗi đau khổ của người khác, việc này rất tàn nhẫn, vì một chút lợi ích mà bạn đem lại đau khổ cho người khác, thế thì trong người bạn làm sao có được mùi thơm chứ?

Bạn có suy nghĩ xấu, trong tâm bạn có tà niệm thì thân thể làm sao có thể có mùi thơm? Bạn thường xuyên chửi người khác, thường xuyên phỉ báng người ta, trên thân thể bạn làm sao có hương thơm? Bạn thường xuyên uống rượu, uống xong thì nôn mửa, loạn tính, thần trí không tỉnh táo, mùi hôi của rượu, thân thể bạn làm sao có mùi thơm chứ? Bạn thường xuyên sát sinh, có suy nghĩ ác, bất kể bạn sát sinh như thế nào, tội này rất nặng, thân thể làm gì có từ bi, làm sao có thể có mùi thơm? Chỉ cần giữ được năm giới, thân thể bạn tự nhiên sẽ phát sinh tâm hương.

Các bậc yogi Ấn Độ khi tu quán tưởng thường nghĩ đến một bông hoa sen màu trắng ở trong hư không phía trước mặt, hoặc ở trên đỉnh đầu họ. Vì sao phải nghĩ đến hoa sen trắng? Bởi vì hoa sen có mùi thơm, họ có thể ngửi thấy hoa thơm, màu trắng là sạch sẽ nhất, tinh khiết nhất, họ dùng quán tưởng như vậy là quán tưởng có mùi vị. Tôi từng đến Ma Ha Song Liên Trì, cũng chính là tịnh thổ cuối cùng của phái Chân Phật Tông chúng ta. Nước ở Ma Ha Song Liên Trì chính là hồ nước thơm, nước hồ thơm cực kì vi diệu, không thể mô tả được. Giả sử chúng ta có thể đến Ma Ha Song Liên Trì thì có thể quán tưởng thế này - có một cái hồ vô cùng mát mẻ, trên mặt hồ có một bông hoa sen màu trắng, hoặc là hoa sen nhiều màu sắc tỏa ra hương thơm, nước rất mát mẻ lại có mùi thơm. 

Tay trái bạn kết thủ ấn hồ nước thơm (ngón cái và ngón trỏ kết thành một hồ nước, một cái hồ và ba đường ngang). Cái hồ này nhìn có vẻ rất nhỏ, nhưng bạn có thể quán tưởng nó thành rất to, thế là biến thành Ma Ha Song Liên Trì. Sau đó tay phải của bạn giơ một ngón tay đặt trên ba ngón tay, tương đương với bản thân đang ở bên cạnh hồ, đây gọi là “em thơm em đứng một mình cũng thơm”. Khi bạn quán tưởng Ma Ha Song Liên Trì, có một bông hoa sen sinh trưởng trên hai chiếc hồ lớn đó, tỏa ra mùi thơm xoay tròn bay lên. Quán tưởng xong thì niệm chú: “Ôm ma-ha-pô-rưa-mi sô-ha.” Pháp này có thủ ấn, có chân ngôn, có quán tưởng, bạn có thể nhập vào hương hoa tam muội của hồ nước thơm Ma Ha Song Liên Trì. Pháp môn này cũng rất vi diệu. 

Làm sao để thân mình thanh tịnh nhập vào hương hoa tam muội? Đương nhiên nhất định phải giữ không sát sinh, không uống rượu, không ác khẩu, không tà dâm, không trộm cắp. Bạn phải thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh, khi  nhập Tam ma địa, bạn phải tập trung tinh thần vào Ma Ha Song Liên Trì, khi bông hoa sen xoay tròn thì tỏa ánh sáng chiếu đến bạn, thân thể bạn biến thành một bông hoa sen có màu sắc mà bạn thích nhất, bạn chính là hóa thân hoa sen, bạn sẽ có mùi thơm, nhập hương hoa tam muội. 

Tu hành để từ chính mình chuyển hóa thành một bông hoa sen nhập hương hoa tam muội là thế nào? Khẩu quyết chính là bạn tập trung tinh thần, khi bạn biến hóa thành một bông hoa sen, bạn phải nhận thấy được hương thơm của toàn bộ vũ trụ, toàn bộ và bạn hợp lại thành một, bạn tiến vào Ma Ha Song Liên Trì, hồ hoa sen, hương hoa tam muội của biển nước thơm là một pháp rất hay, từ trong sự thanh tịnh của bạn mà có được, từ trong mùi thơm của bạn mà có được. 

Lát nữa đây mọi người nhận quán đảnh hương hoa tam muội. Mỗi người tu hành sẽ khác nhau, phương pháp khác nhau. Chỉ cần bạn học được pháp hương hoa tam muội thì có rất nhiều lợi ích, không chỉ có thể vãng sinh mà thân thể còn có mùi thơm, kiếp sau làm người bạn cũng có thể giống như bông hoa trở nên như hoa như ngọc, nếu là con gái thì đều vô cùng xinh đẹp, nếu là con trai thì rất tuấn tú, chỉ riêng điều này thôi cũng đáng giá cho lần nghe pháp này.

Tôi xin hỏi mọi người, các bạn có nhận thấy mùi cơ thể trên người mình không? Có ngửi thấy không? Tôi tin là mỗi người đều cảm thấy được. Mỗi lần có đông người hỏi việc, thậm chí tôi đến phòng thay đồ để đi vệ sinh một chút cũng không được, có một vị đại đức đi theo đến cửa phòng thay đồ để hỏi tôi: “Xin hỏi tháng 4 sang năm tôi có vận khí không tốt gì không?” Tôi ở bên trong đang ngồi “tòa hoa sen”, tôi nói: “Để tôi tập trung tinh thần một chút rồi trả lời anh.” Anh ta hỏi: “Tinh thần ngài tập trung ở đâu?” Tôi trả lời: “Tôi tập trung tinh thần vào hậu môn. Anh bận thế cơ à? Đợi tôi đi ra rồi trả lời câu hỏi của anh có được không?” Anh ta nói: “Không được. Tôi phải đi ngay lập tức rồi, vẫn xin ngài ở trong phòng thay đồ trả lời tôi.” Câu trả lời của tôi cũng rất khéo: “Anh có ngửi thấy mùi gì không?” Anh ta nói: “Chẳng có mùi gì cả! Rất thơm.” Đại khái là mấy ngày hôm đó tôi ăn chay, cho nên chỉ có mùi rễ cây, không có mùi thịt, ăn chay và ăn mặn có sự khác biệt, mùi của rau xanh có hơi giống mùi rễ cây. Cá thịt tôm có vị ngon nhưng khi thịt thối rữa thì mùi trở nên vô cùng vô cùng khó chịu. Ăn chay có lợi ích gì? Có thể giúp bạn không sản sinh ham muốn, là một dạng trợ duyên, cá tôm thịt sẽ kích thích ham muốn của cơ thể bạn trở nên mạnh mẽ hơn. Người ăn chay cũng có mùi cơ thể dễ chịu hơn một chút, người ăn mặn có mùi thân thể hơi khác. Người phương Đông buổi sáng ăn sữa đậu nành và quẩy cũng tương đương ăn chay, tương đương với nửa chay, cho nên mùi tương đối dễ chịu.

Hy vọng mọi người có thể tu hành trên thực tế, đạt được hương hoa tam muội, thân thể mỗi người đều tỏa ra mùi thơm, mùi thơm vi diệu thanh tịnh sẽ bay bay trong tim mỗi người, hơn nữa không chỉ bản thân trên người có mùi thơm mà còn lây sang người bên cạnh cũng được thơm, các mùi thơm hòa quyện vào nhau, tạo nên thế giới xứ xở mùi thơm, biển nước thơm. 

Om mani padme hum.

Hương Hoa Đường | 20.04.1989

---
# File: tinh-tuyen/phap-kalachakra-thoi-luan-kim-cang.md
# Title: Pháp Kalachakra - Thời Luân Kim Cang
---

![image](/img/img_fea2d593752339f9367ea2b82da69847.png)



## Pháp Kalachakra - Thời Luân Kim Cang


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Thời Luân Kim Cang tâm chú: Om ha kamala walaya soha. (108 biến) 
Chủng tự: chữ "Hum".


### Giới thiệu pháp tướng Thời Luân Kim Cang


Trong vòng thời gian hóa hiện Ngũ Đại - đất, nước, lửa, gió, không khí. Ở trung tâm là núi Tu Di, trên đỉnh núi Tu Di xuất hiện một bông hoa sen lớn, chính giữa hoa sen là vòng bánh xe nhật nguyệt, đứng trên vòng bánh xe là Thời Luân Kim Cang ôm Phật Mẫu. Thời Luân Kim Cang có 4 mặt, 3 cổ, 6 vai, 12 cánh tay, 24 bàn tay, mỗi bàn tay đều cầm pháp khí, hai chân dẫm lên Tự Tại Thiên và Thiên Mẫu. Đầu ở giữa của Thời Luân Kim Cang có màu xanh lam, đầu bên phải màu đỏ, đầu phía sau lưng màu vàng, đầu bên trái màu trắng. Phật Mẫu trong trạng thái lõa thể. Trên mỗi khuôn mặt của Phật Phụ, Phật Mẫu đều có ba con mắt, cả hai ôm lấy nhau tạo thành tư thế đứng. Bốn mặt của Thời Luân Kim Cang đại diện cho thân, khẩu, ý và sắc của Tính không Đại lạc. 3 cổ, cổ trái màu trắng, cổ phải màu đỏ, cổ ở giữa màu xanh lam. Búi tóc trên đỉnh đầu Phật Phụ có chày kim cang để trang điểm, phía dưới mặc váy da hổ, được trang trí thêm bởi những viên đá ngọc châu báu, dải ruy-băng làm tăng thêm sự trang nghiêm.


### Công năng của biểu tượng Chakra



![image](/img/img_e24601182ca51c0e237723b2838efc89.png)


1️⃣ Nơi nào có treo biểu tượng Kalachakra thì nơi đó xem như có Đức Phật Thích Ca Mâu Ni xuất hiện.

2️⃣ Nơi nào treo biểu tượng Kalachakra thì nơi đó không bị nạn động đất mà chết.

3️⃣ Nơi nào treo biểu tượng Kalachakra thì nơi đó không bị nạn về nước mà chết.

4️⃣ Nơi nào treo biểu tượng Kalachakra thì nơi đó không bị nạn về gió mà chết.

5️⃣ Nơi nào treo biểu tượng Kalachakra thì nơi đó không bị nạn về lửa mà chết.

6️⃣ Nơi nào treo biểu tượng Kalachakra thì nơi đó không bị các nạn còn lại trong tám nạn mà chết.

7️⃣ Nơi nào treo biểu tượng Kalachakra thì nơi đó không bị các tinh linh làm hại.

8️⃣ Nơi nào treo biểu tượng Kalachakra thì nơi đó không bị các ma quỷ làm hại.

9️⃣ Nơi nào treo biểu tượng Kalachakra thì nơi đó các vong linh nhìn thấy sẽ được vãng sinh về cõi Tịnh Độ.

🔟 Nơi nào treo biểu tượng Kalachakra thì nơi đó không bị các âm binh, cô hồn của các thế lực tà giáo, thế lực xấu làm hại.


### Nguồn gốc và khẩu quyết


*Nguồn gốc vĩ đại của Thời Luân Kim Cang và khẩu quyết tu pháp thù thắng. (Khai thị quý báu của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Pháp Vương)*

Thời Luân, chính là Bánh Xe Thời Gian. Thời Luân Kim Cang trong Phật giáo Mật Tông là Bổn tôn của Vô Thượng Du Già Bộ Bất Nhị Tục, là pháp môn thậm thâm quảng đại và vô thượng thù thắng trong mọi Mật pháp.

Nguồn gốc lai lịch của ngài là như sau: Ngày xưa thời Nguyệt Hiền Quốc Vương của đất nước Shambhala, chúng ta gọi ngài là Pháp Vương, ngài đến Nam Ấn Độ nơi có một ngọn tháp được gọi tên là Cát Tường Mễ Tụ Tháp. Khi đó Phật Thích Ca Mâu Ni đang thuyết pháp ở núi Linh Sơn, ngài liền phân ra một thân đến Cát Tường Mễ Tụ Tháp, biến thành Chủ Tôn Thời Luân Kim Cang của Thời Luân Kim Cang Tục, truyền dạy pháp Thời Luân Kim Cang cho Nguyệt Hiền Pháp Vương, vì vậy Nguyệt Hiền Pháp Vương chính là người đã đem pháp Thời Luân Kim Cang về đất nước Shambhala, thế rồi đại bộ phận vương quốc Shambhala đều tu trì pháp Thời Luân Kim Cang, đây chính là khởi đầu của nhân duyên này.

Căn Bản Thượng Sư Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn của Chân Phật Tông vào năm 2000, tại Hồng Kông, đã truyền dạy pháp Thời Luân Kim Cang lần đầu tiên. Ngay lần đầu tiên này đã làm chấn động trời đất, trở thành Pháp Vương người Hán đầu tiên trong lịch sử truyền thụ pháp Thời Luân Kim Cang. Pháp Thời Luân Kim Cang được tôn sùng bởi cùng lúc 4 giáo phái lớn của Phật giáo Tây Tạng.


### Truyền thừa Thời Luân Kim Cang của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn


1️⃣ Truyền thừa thứ nhất: Ganchu (Cam Châu) Hoạt Phật --- Thubten Nyima --- Thubten Dali --- Thubten Dhargye --- Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Pháp Vương. (Giải thích thêm: Ganchu Erwa chính là một vị Phật tái sinh vĩ đại (Hoạt Phật) của Mông Cổ, Hoạt Phật vĩ đại nhất của Mông Cổ là ngài Jetsun Dampa, kế tiếp là ngài Ganchu Erwa và Janggya Rinpoche. Do vậy Thời Luân Kim Cang của chúng ta là truyền thừa của các vị Đại Hoạt Phật.)

2️⃣ Truyền thừa thứ hai: Panchen Lama thứ 9 --- Sakya Chứng Không Thượng Sư --- Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Pháp Vương. (Giải thích thêm: Sakya Chứng Không Thượng Sư ở Cây Ngọc trên biển Thanh Hải được ngài Panchen Lama thứ 9 truyền dạy pháp Thời Luân Kim Cang, sau đó ngài đã truyền dạy tiếp cho Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Pháp Vương. Do vậy truyền thừa thứ hai của Chân Phật Tông là từ ngài Panchen Lama thứ 9, chính là truyền thừa của một vị Hoạt Phật tối cao của Tây Tạng.)

3️⃣ Truyền thừa thứ ba: Truyền thừa Bí mật trong Thiền định Tĩnh tịch. Khi Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Pháp Vương nhập vào "Thậm thâm tĩnh tịch Tam Ma Địa" đã có được truyền thừa này.


### Ý nghĩa của Thời Luân


Thời Luân được phân thành:
- Ngoại Thời Luân.
- Nội Thời Luân.
- Biệt Thời Luân.

Quá trình tu hành từ phàm phu đến Thánh giả, khẩu quyết trọng yếu là:

- Bản thân là Nội Thời Luân.

- Chư Tôn của vũ trụ là Ngoại Thời Luân.

Kéo Ngoại Thời Luân đến trên thân, tâm mình, đạt được trạng thái hợp nhất chính là tạo ra Biệt Thời Luân. Do vậy Biệt Thời Luân chính là Thành Tựu, Ngoại Thời Luân chính là Tính Không, Nội Thời Luân chính là Khí, Mạch, Minh Điểm. Ta gọi Thời Luân, chính là Bánh Xe Thời Gian lớn. Thời gian giống như một bánh xe lớn xoay vòng, cứ thế luân chuyển quay vòng giữa sinh, lão, bệnh, tử, tất cả đều bị hủy hoại, chính là Thời Luân. Không còn thời gian tồn tại, cũng chính là hằng tại, hằng của vĩnh hằng, tồn tại vĩnh viễn, chính là mục đích cuối cùng của Thời Luân Kim Cang, chính là thành Phật, thành Bồ Tát, thành tựu Thanh Văn, thành tựu Duyên Giác, thành tựu A La Hán.

Mật giáo được phân chia thành rất rất nhiều pháp, ví dụ như Tứ Gia Hành, Thượng Sư Tương ứng, Bổn Tôn, Bảo Bình Khí, Chuyết Hỏa, Minh Điểm, Vô Lậu, Kim Cang Pháp, Vô Thượng Mật, Đại Viên Mãn. Được phân chia thành các pháp theo thứ tự các tầng lớp, tất cả tổng hợp lại thành Thời Luân Kim Cang Vô Thượng Mật Bộ Đại Pháp.

Pháp Thời Luân Kim Cang vô cùng quan trọng, bởi vì pháp này có thể sinh ra tất cả, cũng có thể loại bỏ tất cả, bởi vì nó chính là vòng bánh xe thời gian. Thời gian có Quá khứ, Hiện tại, và Tương lai. Vị Bổn tôn chuyển hóa thời gian chính là Phật Thời Luân Kim Cang, ngài cũng chính là đại diện cho thời gian.

Thời Luân Kim Cang tượng trưng cho Thành, Trụ, Hoại, Không, cũng chính là tượng trưng cho vòng thời gian, chuyển dời tất cả, đem tất cả mọi phiền não, nghiệp chướng đều loại bỏ sạch sẽ, bạn có thể đến được Phật quốc tịnh độ, thậm chí thành Phật. Cũng chính bởi vì vòng bánh xe thời gian xoay chuyển, nó sẽ phá hủy tất cả phiền não và chướng ngại, đạt tới cảnh giới hư không, kết quả cuối cùng là thành Phật. Đây chính là ý nghĩa gốc của Phật Thời Luân Kim Cang.

Phật giảng: bất tự sinh, bất tha sinh, bất cộng sinh, bởi vì có nhân mà sinh ra, dựa vào cái nhân này mà sinh ra. Phật Thời Luân Kim Cang nói điều này có ý nghĩa rằng, Phật Thời Luân Kim Cang là Phật Thích Ca Mâu Ni hóa thân mà thành. Ngài dạy rằng tất cả mọi thứ của chúng sinh đều sẽ trở thành quá khứ hết, mọi thứ đều là vô thường, không có cái gì được gọi là không thay đổi, đều sẽ biến mất hết. Ngoài ra, tất cả các sinh vật, bao gồm sinh vật hữu tình và vô tình, tất cả đều không có tự tính, không có pháp của chính mình.

Tính là bản tính khác biệt của giới tính, tất cả đều không có tự tính. Dưới sự quay vòng của thời gian, tất cả đều tiêu biến, tất cả hữu hình và vô hình, đều không có tự tính. Đây chính là Vô ngã, mọi pháp vô ngã, không có một cá tính nào tồn tại cả. Cái cuối cùng còn lại chính là niết bàn tịch tĩnh, là chí lạc. Nếu bạn hiểu được ba pháp ấn này, bạn sẽ phù hợp với Phật.


### Chú ngữ Thời Luân Kim Cang


Chú ngữ Thời Luân Kim Cang có 10 âm: Om ha kamala walaya soha.

10 âm này cũng là ý nghĩa gốc của ngài, tượng trưng cho: thọ, tâm, vật, sự nghiệp, sinh, thần biến, thắng giải, nguyện, trí huệ, tự tại. Vừa hay đủ 10 âm, vì vậy còn gọi là Thập Luân Kim Cang, Thời Luân Kim Cang. Tất cả mọi thứ của vũ trụ được gọi là Ngoại Thời Luân. Tất cả mọi thứ trên cơ thể con người gọi là Nội Thời Luân, kết hợp lại với nhau, tạo thành Thời Luân Khác. Nếu bạn có thể vận dụng thời luân thân thể của mình cùng với thời luân ở giữa vũ trụ phối hợp lại, sẽ tạo thành một cảnh giới của Thời Luân Kim Cang.


### 7 quán đảnh của Thời Luân Kim Cang


- Quán đảnh sinh ra: tượng trưng cho sự khởi đầu mới của thọ mệnh.

- Quán đảnh bình: tượng trưng cho thanh tịnh thân, ngũ đại chuyển hóa thành ngũ Phật Mẫu.

- Quán đảnh mũ: tượng trưng cho tóc trên đỉnh đầu lúc mới sinh ra, cũng chính là ngũ uẩn chuyển hóa thành ngũ Phật, tương lai bạn sẽ thành Phật.

- Quán đảnh băng giấy màu: tượng trưng cho sự trang nghiêm, tịnh hóa khí của hành giả.

- Chuông kim cang: tượng trưng cho những gì nói ra từ miệng đều là thanh tịnh. Quán đảnh chuông chày thuộc về Phật tâm Phật ngữ, tịnh hóa song mạch.

- Chày kim cang: tượng trưng cho sự vĩnh viễn bất hoại, đạo tâm của bạn vô cùng kiên cố.

- Quán đảnh tên: tượng trưng cho một danh hiệu kim cương, sau này bạn sẽ thành tựu Thời Luân Kim Cương.

- Quán đảnh như ý: tượng trưng cho tiêu trừ mọi tai nạn.

- Quán đảnh cho phép: cho phép tu pháp Thời Luân.


### Những lợi ích thù thắng của pháp Thời Luân Kim Cang


1️⃣ Có được quán đảnh pháp Thời Luân Kim Cang rồi, ai có thể giữ giới và tu trì tốt, có thể thành Phật trong bảy kiếp.

2️⃣ Có được quán đảnh pháp Thời Luân Kim Cang, lại trì chú, tu pháp, có thể tránh được tất cả mọi tai nạn.

3️⃣ Tu pháp Thời Luân Kim Cang và trì chú, tương lai sẽ không tái sinh vào tam ác đạo.

👉 Nhận quán đảnh pháp Thời Luân Kim Cang, bảy kiếp có thể thành Phật, tu tập pháp này có thể tránh được tất cả các tai nạn do binh đao chiến trận, có được hòa bình, mưa thuận gió hòa, ngũ cốc dồi dào, quốc thái dân an, vãng sinh đến tịnh thổ của Bổn tôn là vương quốc Shambhala.


### Cõi giới của của Thời Luân tịnh độ


Cảnh tượng của Thời Luân tịnh độ như thế nào? Liên Sinh Hoạt Phật từng nhắc đến Viên Thông Quốc dưới mặt đất, trên thực tế đó chính là Tịnh độ Shambhala.

Liên Sinh Hoạt Phật đã mô tả: "Thế giới này không giống như Cực Lạc thế giới, cũng không giống Thiên giới, lại càng không giống với cõi người. Mà là vương quốc duy nhất không còn ưu phiền, không biết đến cái chết, cũng rất hiếm sự sinh ra, không thiện không ác, cho đến ngày trời đất đều bị hủy diệt thì nó mới bị hủy diệt, có thể nói là nơi đây sống thọ cùng trời đất.

Ở đây, tôi nói trước, nếu có người nguyện sinh ra ở đất nước này, người đó cần thường xuyên niệm tụng, Nam Mô Đại Tự Tại Địa Để Hỏa Diễm Phật, tự khắc sẽ được vãng sinh đến Viên Thông Quốc dưới mặt đất, thành tựu của thế giới này cũng vô cùng bất khả tư nghì. Con người ở đất nước này thân cao hơn trượng, ai nấy trên đầu đều có ánh sáng, có thể bay, vĩnh viễn được thanh tịnh. Mặt đất trải đầy hoa sen. Có những mái nhà tranh tự nhiên xinh đẹp, không có bốn mùa xuân hạ thu đông, ngày đêm ánh sáng vô tận, không còn sinh lão bệnh tử, không còn đói khát, ai nấy đều là thánh nhân. Trong thập pháp giới chỉ có thể xuất đến cõi giới loài người, giúp đỡ con người hiện tại tu đạo, nhưng không lưu lại tên, không ai có thể biết được con người của Viên Thông Quốc dưới mặt đất này."

🌟

Ngày 13 tháng 12 năm 2015, tại Hồng Kông, khi Liên Sinh Hoạt Phật truyền thụ Bạch Liên Hoa Vương Bổn tôn pháp đã hé lộ bí mật về đất nước Shambhala rốt cuộc là ở đâu. Hóa ra tịnh độ Shangri-La chính là núi Đảng Hạng của Đại Bạch Cao Quốc dưới vương triều Tây Hạ. Diệu Cát Tường hóa thân thành Nguyệt Hiền Quốc Vương đầu tiên của nước Shambhala, vị quốc vương thứ hai chính là Bạch Liên Hoa Vương mà đã được viết trong Vô Cấu Quang Minh Luận… Và Bạch Liên Hoa Vương chính là Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử, cũng tức là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.

Pháp Thời Luân Kim Cang là Phật pháp được truyền bá rộng rãi trong tịnh độ của đất nước Shambhala. Có người nói bản thân Thời Luân Kim Cang là Ấn Độ giáo, là vị thần của tôn giáo Bà La Môn. Sai rồi! Vì sao vậy?

Hãy nhìn vào chân của Thời Luân Kim Cang, chân của ngài dẫm lên Đại Tự Tại Thiên và Thiên Hậu, chính là thần Shiva và vợ của thần Shiva. Điều này thể hiện rằng, Thời Luân Kim Cang siêu việt hơn tất cả các vị thần của Ấn Độ giáo và Bà La Môn giáo. Hơn nữa bản thân pháp Thời Luân Kim Cang là đích thân Phật Thích Ca Mâu Ni truyền lại. Do vậy, Thời Luân Kim Cang Tục là Mật pháp do Phật Thích Ca Mâu Ni đích thân truyền.

Phật Thích Ca Mâu Ni cũng đã truyền lại rất nhiều Mật pháp, chỉ là khi đó ở đất nước Shambhala đã hoằng dương pháp này. Còn nếu không hoằng dương thì sau này cũng sẽ từ từ hoằng dương thôi.


### Truyền pháp Thời Luân Kim Cang


Các pháp tu liên quan đến Thời Luân Kim Cang mà Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Pháp Vương của Chân Phật Tông đã truyền thụ qua nhiều năm gồm có:

- Thời Luân Kim Cang bảy đại pháp

- Thời Luân Kim Cang chân thực quyết pháp

- Thời Luân Kim Cang thiền định cửu thứ đệ pháp

- Thời Luân Kim Cang bản nghĩa pháp

- Thời Luân Kim Cang thuẫn bài phòng hộ pháp

- Thời Luân Kim Cang nhật nguyệt luân pháp

- Thời Luân Kim Cang liên bất cộng đại pháp

- Thời Luân Kim Cang giới luật.

Nếu chưa được quán đảnh pháp, vui lòng không thực hành để tránh chịu nghiệp nặng và các hệ quả không đáng có.

---

---
# File: tinh-tuyen/phap-tho-khi-thanh-phat.md
# Title: Pháp thổ khí thành Phật
---

# Pháp thổ khí thành Phật


Hôm nay chúng ta giảng về pháp thổ khí thành Phật.

Pháp này là do Norlha Thượng sư giảng, nhân duyên của ngài là vì trước đây Norlha Thượng sư lúc còn ở Đại Lục, trong khi hoằng pháp, ngài đã nói rất nhiều pháp. Trong đó có mấy đệ tử rất khẩn thiết cầu pháp, họ rất muốn nhanh chóng thành tựu, cho nên đã uy hiếp Norlha Thượng sư. Khi đó có mấy đệ tử cầm dao uy hiếp Norlha Thượng sư, họ nói: “Thầy nhất định phải truyền pháp có thể thành tựu lập tức, nhanh nhất.” Bằng không họ sẽ giết chết Norlha Thượng sư, đệ tử này đã có phần quá đà.

Norlha Thượng sư nói: “Được, nhanh nhất, cấp tốc.” Ngài liền nói pháp này, pháp này rất đơn giản. Ngài nói: “Anh hít vào một hơi đầy khí, sau đó lại thở khí này ra. Khi thở khí này ra thì phải mảnh, phải chậm, phải dài. Khi thở khí ra, ngay cả tâm mình cũng phải đẩy hết ra.” Ngài nói đây là pháp thổ khí thành Phật, là pháp nhanh nhất. 

Khi ấy đệ tử có được pháp này, đương nhiên là thấy rất đơn giản, hít vào một hơi khí, rồi lại thở khí ra, đẩy luôn cả tâm ra ngoài, thế là anh ta thành Phật rồi, rất đơn giản. Thế nhưng tôi không rõ mấy người này có thành Phật hay không. Sau khi tôi biết được pháp này, thật ra đây là pháp rất nhanh, tuyệt đối không hề sai. Theo như tôi biết, đây cũng là pháp khó số một, cũng là pháp rất khó.

Đại thành tựu giả trước kia, vào lúc chuẩn bị rời đi thành Phật, họ đã dùng chính pháp này, tôi có thể nói với mọi người như vậy. Tâm và khí đó cùng đi, Mật giáo là tâm khí hợp nhất. Khi khí đi ra, tâm cũng đi ra cùng, cũng đi theo, đương nhiên thành tựu.

Trước kia khi một số lão hòa thượng sắp đi, họ đều dùng phương pháp này, về cơ bản chính là phương pháp này. Đem tâm của thân thể bạn, cái gì là tâm? Nó là vô hình, tức là đưa ý thức sinh mệnh của bạn đi, theo ý thức của bạn, đưa đến tịnh thổ, đương nhiên sẽ thành Phật rồi, cái này đương nhiên là cách đơn giản nhất rồi. 

Nhưng vấn đề nằm ở ý thức sinh mệnh của bạn, cái tâm đó của bạn khiông thể nào đi cùng với khí, vấn đề là như vậy. Rất đơn giản, bạn thở ra từ mũi, tâm và khí đi cùng nhau thì bạn sẽ thành tựu. Khi lão hòa thượng ngồi yên chuẩn bị viên tịch, rất đơn giản, khí sắc rất hồng hào. Ngồi xếp bằng, mọi người niệm Phật, sau đó nói với mọi người: “Tôi phải đi đây.” Thế rồi ông ấy nhắm mắt lại, thở ra một hơi khí, đưa ý thức sinh mệnh của mình hoàn toàn theo hơi khí đó đi ra, đi đến tịnh thổ, đây đương nhiên là tức thân thành Phật rồi, lập tức đi ngay.

Đệ tử ở bên cạnh đi đến, sờ vào lỗ mũi ông ấy, không còn hơi thở. Bởi vì hơi thở này đã hết rồi, ý thức sinh mệnh của ông ấy đã đi theo hơi thở đó rồi.

Norlha Thượng sư nói đúng, các bạn muốn tức thân thành Phật, vấn đề nằm ở đâu? Có phải là khi bạn thở ra một hơi khí, ý thức sinh mệnh đó có thể đi ra theo không, vấn đề nằm ở đây. Có để đến được cảnh giới lý tưởng của bạn hay không, vấn đề nằm ở đây. Chứ không phải là bạn đánh một cái rắm, ý thức sinh mệnh của bạn đi ra cùng cái rắm, có người nói như vậy.

Tôi nghe nói có người đi vệ sinh, ông ta bị huyết áp cao, khi dùng sức để rặn, ngay tại chỗ đã ngồi trên hoa sen mà đi, ngồi ngay trên bệ xí mà ra đi, ở đây là ý thức sinh mệnh đi ra cùng cái rắm rồi. Cũng là tức thân thành Phật sao? Cái này thì tương đối khó khăn một chút, cũng là tức thân thành tựu, lập tức kết thúc được sinh mạng rồi, nhưng mà có thể thành Phật không? Vấn đề chính là ở đây.

Rất nhiều cao tăng các thời kỳ của Phật giáo nói đi là đi, đây chính là thổ khí thành Phật. Pháp mà Norlha Thượng sư nói đến chính là thổ khí thành Phật. Không đơn giản, vấn đề là tâm phải đi cùng, hơn nữa còn phải đến được tịnh thổ mà bạn kỳ vọng.

Cho nên cũng phải dựa vào công phu mà thường ngày bạn tu luyện, công phu của bạn sâu thì về mặt linh học mà nói là vận chuyển thể tinh quang của bạn đi ra khỏi lỗ đỉnh đầu để thành tựu.

Đây chính là pháp thổ khí thành Phật, hy vọng mọi người tu cho tốt. Khi khí của bạn đi ra, tâm đi theo cùng, có một ngày bạn cũng có thể giống như các cao tăng đại đức, ở nơi đông người, sắc mặt hồng hào, nói “tôi phải đi đây”, kết quả là bạn hít vào một hơi đầy khí, sau đó thở ra một hơi khí rất sâu, mọi người xung quanh giúp bạn niệm Phật, “nam mô A Di Đà Phật, nam mô A Di Đà Phật”. Niệm cả nửa ngày, bạn lại mở mắt ra, hóa ra là không đi được. Vì sao vậy? Bởi vì ý thức sinh mệnh của bạn chẳng có cách nào đi ra cùng với khí, công lực không đủ. Khí bạn hít vào và thần vẫn không thể hợp nhất, không thể đạt đến trạng thái thần khí hợp nhất đó, không thể đưa ý thức sinh mệnh ra ngoài, cái này phải dựa vào tu khí.

Pháp thổ khí thành Phật rốt cục là như thế nào? Có phải là pháp của Mật giáo không? Bởi vì khí thuộc về Mật giáo, nhưng cũng có thể nói là thuộc về Thiền tông. Cũng có thể nói là thành tựu của Thiền tông. Cái tâm đó thật ra chính là tính Không, ý thức sinh mệnh vốn dĩ chính là không. Sau khi bạn nhận biết được tính Không rồi thì phân giải đất, nước, lửa, gió của thân thể mình ra, thế là thành Phật rồi. 

Om mani padme hum.

---
# File: tinh-tuyen/phap-thoai-ve-dieu-tri-kim-mau.md
# Title: Pháp thoại về Diêu Trì Kim Mẫu
---

![image](/img/img_593bda233299e5206b15d354a6889a55.jpg)



## Pháp thoại về Diêu Trì Kim Mẫu


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Pháp tướng của Diêu Trì Kim Mẫu


Diêu Trì Kim Mẫu đội vương miện phượng hoàng. Tay trái ngài cầm quả đào tiên (hoặc gậy như ý). Tay phải ngài cầm cây phất trần của trời. Về diện mạo, ngài xinh đẹp và trẻ trung như một thiên nữ. Ngài ngồi trên cỗ xe cửu phượng hoàng với pháp tướng trang nghiêm, khuôn mặt nở nụ cười mỉm nhẹ. Ngài nhìn chúng sinh với tất cả tấm lòng từ bi.


![image](/img/img_c24a1bbfc21e62d87f5ae572f88f80dc.png)


Chủng tự: chữ Hum - màu trắng. Tâm chú: Om, jin-mu, siddhi, hum. (Đọc Việt âm: Ôm, chin-mủ, sít-đi, hùm)


### Bài giảng của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn


Vô Cực Diêu Trì Đại Thánh Tây Vương Kim Mẫu Đại Thiên Tôn (Diêu Trì Kim Mẫu) là một trong ba vị Bổn tôn chính của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - Căn Bản Truyền Thừa Thượng Sư của Chân Phật Tông. Ngài cũng là vị Bổn tôn đầu tiên mà Liên Sinh Hoạt Phật tương ứng. Những ngày đầu tiên sau khi Diêu Trì Kim Mẫu khai mở thiên nhãn, ngài đã luôn đóng vai trò là một vị cao linh hộ trì phía sau Liên Sinh Hoạt Phật.

Trong dãy hang động Đôn Hoàng, Phật Thích Ca Mâu Ni, Diêu Trì Kim Mẫu và Hạng Quang Đồng Tử (Liên Hoa Đồng Tử) đã xuất hiện bên cạnh nhau, tượng trưng cho tầm quan trọng ngang bằng nhau. Điều này chứng minh mối nhân duyên giữa Liên Sinh Hoạt Phật (Liên Hoa Đồng Tử) và Diêu Trì Kim Mẫu cực kì gắn kết, không thể tách rời.

Diêu Trì Kim Mẫu còn được gọi là Tây Vương Mẫu bởi vì ngài sống tại hồ Ngọc Thạch ở Thiên Cung phía trên đỉnh núi Côn Lôn. Nơi đây ở phía tây và phía tây thuộc về nguyên tố kim (vàng), nên ngài được gọi là Kim Mẫu. Tây Vương Mẫu và Kim Mẫu là một vị, chỉ là tên gọi khác nhau mà thôi. Một số người gọi ngài là Vương Mẫu, một số người gọi là Kim Mẫu.

Diêu Trì Kim Mẫu Tây Vương Mẫu, Đông Vương Công (Đông Hoa Đế Quân) và Hạng Quang Đồng Tử (Liên Hoa Đồng Tử) được tìm thấy qua những hình chạm khắc trên những thánh tích văn hóa của vương triều Đông Hán được khai quật ở Nghi Nam, Sơn Đông. Những di tích văn hóa của triều đại Đông Hán được xem như là những di tích cổ đại cổ xưa nhất được tìm thấy.

🌟

Lư Sư Tôn tôn kính nhất là Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn, gọi Diêu Trì Kim Mẫu là nữ hoàng của chư Tiên, là Tiên Vương.

- Diêu Trì Kim Mẫu là Tiên Vương

- Phật A Di Đà là Phật Vương

- Địa Tạng Vương Bồ Tát là Địa Vương

Đây là ba vị Bổn tôn tu hành của Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.

Diêu Trì Kim Mẫu là một trong Ngũ Lão của Đạo gia, trấn thủ ở phương tây, giống như người mẹ chăm sóc che chở tất cả mọi sinh linh. Ngũ Lão của Đạo gia, ở giữa là thổ, được gọi là Hoàng Lão. Phía đông là mộc, gọi là Mộc Công Thượng Thánh. Phía tây là kim, vậy nên gọi là Diêu Trì Kim Mẫu. Phía nam là hỏa, gọi là Hỏa Đức. Phía bắc là thủy, gọi là Thủy Quân, Thủy Đức. Địa vị của Ngũ Lão trong Đạo gia cũng tương đương như Ngũ Phương Phật, vì vậy vị trí của Diêu Trì Kim Mẫu rất tôn quý, ngài cũng giống như Phật.

🌟

Các tôn giáo ở Trung Quốc từ xưa tới nay, vị xa xưa nhất là Đại La Kim Tiên cũng chính là Diêu Trì Kim Mẫu, là vị duy nhất có thể vượt lên trên tất cả các vị thiên tôn, vượt qua ngoài mọi giới hạn ranh giới, là vị đại thiên tôn có pháp lực mạnh nhất, uy lực vô song. Bởi vì Diêu Trì Kim Mẫu là Thượng Tiên, là vị thần tiên tối cao vô thượng, trong "Truyền thuyết các vị thần tiên" có ghi chép về Diêu Trì Kim Mẫu đứng vị trí số một, là vị thượng tiên số một.

- Ứng hóa thân của ngài có tên là Câu Hồi.

- Báo thân của ngài chính là Diêu Trì Kim Mẫu.

- Pháp thân của ngài là Đại La Kim Tiên Tiên Thiên Nhất.

Các sách Đạo giáo đã ghi chép lại rằng Huyền Huyền Thượng Nhân đã truyền pháp cho Đông Phương Mộc Công Thượng Thánh Thiên Tôn, sau đó Mộc Công đã truyền pháp cho Diêu Trì Kim Mẫu, Mộc Công được gọi là Đông Vương Công, Diêu Trì Kim Mẫu được gọi là Tây Vương Mẫu. Trong Đạo gia, Tây Vương Mẫu được gọi là mẹ của chúng sinh, tất cả mọi nguyên linh đều là Tây Vương Mẫu hóa thành.

Tu tiên theo Đạo gia có thể được so sánh với Phật giáo tam giới như sau:

- Cõi trời dục giới --- Địa Tiên.

- Cõi trời sắc giới --- Thiên Tiên.

- Cõi trời vô sắc giới --- Kim Tiên.

Phật giáo truyền vào Trung Quốc, cùng với Đạo giáo vốn có ở Trung Quốc, đã có những sự tác động lẫn nhau, hình thành nên Phật giáo Trung Quốc. Ví dụ trong Mật giáo, Vô Thượng Mật Bộ của Tạng mật và "nội pháp" rất gần và giống với pháp khí công "đan đỉnh pháp" của Đạo gia, cách tiếp cận thì khác nhau nhưng kết quả đạt được giống nhau.

"Diêu Trì Kim Mẫu thu viên định huệ giải thoát chân kinh" có một số đoạn rất quan trọng, là đoạn kinh văn giảng về tu tinh, khí, thần: "Cái gốc cơ bản được làm mạnh bằng cách nào? Con người Nho giáo xem lòng hiếu thảo và tình cảm anh em là cái gốc cơ bản. Còn trong Đạo giáo, tinh và thần là cái gốc cơ bản."

- Nho gia (Nho đạo) dạy rằng con người nên lấy lòng hiếu thảo làm gốc.

- Đạo gia thì lấy tinh khí thần làm gốc.

- Mật giáo thì lấy khí, mạch, minh điểm làm gốc, đây cũng là thứ giống như tinh khí thần trong Đạo gia.

Theo kinh văn, trước tiên cần loại bỏ lục tặc. Tai không để ảnh hưởng bởi âm thanh, mắt không bị phân tán bởi hình sắc, thân không để bị nhiễm bẩn, ý không bám chấp vào vật thể, chính là vô niệm. Mũi không say mùi, mũi không ngửi lung tung đủ thứ mùi. Miệng không tham đồ ăn, miệng không ăn lung tung, miệng cũng không tham ăn đồ ngon. Trước tiên cần loại bỏ lục tặc này, bởi vì chỉ cần mê đắm vào thứ gì sẽ bị nghiện thứ đó, đây chính là những tên trộm, tên "tặc" trong cơ thể ta, làm cho ta không thể nào thiền định được.

- "Thọ, tưởng, hành, thức, ngũ uẩn tự minh", đây chính là những yếu tố trong Phật giáo. Diệt trừ lục tặc cũng chính là sáu đối tượng của Phật giáo: sắc, thân, hương, vị, xúc, pháp chính là lục tặc.

- Ngũ uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Khi hiểu rõ được ngũ uẩn thì tinh, thần, khí sẽ giống như ba nhà đoàn tụ, thì khi đó "nuôi dưỡng cuộc sống, trên dưới lưu thông, dễ dàng giải thoát" cũng chính là khí.

- Chỉ cần khí, mạch của ta đều thông thì minh điểm sẽ phát quang, tự khắc có thể đắc đạo, có thể thành Phật thành đạo. Mật giáo là khí, mạch, minh điểm tương thông với tinh, thần, khí của Đạo gia.

Bởi vì Diêu Trì Kim Mẫu đã chỉ cho Lư Sư Tôn (tôi) từ một phàm phu bình thường đến với con đường độ hóa chúng sinh, Bổn tôn đầu tiên mà tôi (Lư Sư Tôn) tương ứng cũng chính là Diêu Trì Kim Mẫu. Tất cả mọi thứ cho đến bây giờ, từ lúc tôi 26 tuổi cho đến bây giờ, tất cả mọi thứ của tôi (Lư Sư Tôn) đều nhờ Diêu Trì Kim Mẫu ban cho, vì vậy Liên Sinh Hoạt Phật cảm tạ nhiều nhất đến Diêu Trì Kim Mẫu. Không có Diêu Trì Kim Mẫu thì sẽ không có Chân Phật Tông. Nguồn gốc của tất cả chúng ta đều xuất phát từ Diêu Trì Kim Mẫu, đây cũng là cái gốc của pháp Chân Phật Tông chúng ta, nguồn gốc của mọi pháp. Ngày nay có nhiều đệ tử như thế này, có Chân Phật Tông True Buddha School, có Sư Tôn, Sư Mẫu, có thượng sư, giáo thụ sư, pháp sư, giảng sư, trợ giáo, đường chủ, còn có tất cả đồng môn, đều đến từ pháp nguyên là Diêu Trì Kim Mẫu.

Do vậy tôi mới nói không có Diêu Trì Kim Mẫu thì không có Chân Phật Tông, không có Diêu Trì Kim Mẫu cũng không thể thay đổi số mệnh đời này của tôi. Định mệnh cuộc đời này của tôi đều do Diêu Trì Kim Mẫu thay đổi, nếu như không có Diêu Trì Kim Mẫu thì không tồn tại Chân Phật Tông ngày nay.

🌟

Các pháp Diêu Trì Kim Mẫu mà Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn của Chân Phật Tông đích thân truyền thụ rất nhiều, ví dụ như:

- Diêu Trì Kim Mẫu bổn tôn pháp,

- Diêu Trì Kim Mẫu bát đại pháp.

- Diêu Trì Kim Mẫu cửu chuyển huyền công.

- Diêu Trì Kim Mẫu dịch sử thần binh đại pháp.

- Diêu Trì Kim Mẫu thu tài chiêu tài pháp.

- Diêu Trì Kim Mẫu lập tức có tiền.

- Diêu Trì Kim Mẫu trạng nguyên khôi tinh pháp.

- Diêu Trì Kim Mẫu thủy cúng pháp.

- Diêu Trì Kim Mẫu phẫn nộ thân Hổ Đầu Kim Cang.

- Hắc Diện Kim Mẫu bất cộng đại pháp.

Nếu chưa được quán đỉnh pháp, vui lòng không thực hành để tránh chịu nghiệp nặng và các hệ quả không đáng có.

---

---
# File: tinh-tuyen/phu-dai-phuc-kim-cang-ban-tai-bao.md
# Title: Phù Đại Phúc Kim Cang - Ban tài bảo
---

![image](/img/img_c2666c634d4be7c28148f7b07d368456.png)



## Phù Đại Phúc Kim Cương ban tài bảo


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: 2019
Địa điểm: Đài Loan Lôi Tạng Tự
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam


---


Đây là tấm Đại Phúc Kim Cương ban tài phù (đi cùng bộ heo đỏ phát tài) được chính nhà xuất bản Đại Đăng phát hành và Liên Sinh Hoạt Phật đích thân gia trì, bố quang cẩn thận... Có thể dùng mãi mãi, có thể đặc biệt ban tài bảo (và cả phúc lộc, sức khỏe) cho người giữ phù.


![image](/img/img_edb3697fdbdd79540a1639544f728a48.png)


- Hãy tắm gội sạch sẽ. Trước mật đàn, đặt tấm phù vàng to và tấm phù giấy nhỏ lên 1 cái đĩa sạch trên bàn thờ, thắp nhang. Sau khi tịnh hóa bản thân, cúng dường, thỉnh nguyện chư vị, đọc chú Sư Tôn 1 chuỗi, dâng đọc sớ viết như sau:
*Con tên ... tuổi ... sinh ngày ... tháng ... năm ... (Âm Dương lịch đều được), sống tại địa chỉ.. Nay con có đầy đủ nhân duyên có được tấm phù quý giá này từ thầy của con, Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật. Con xin thỉnh cầu được sử dụng tấm phù Đại Phúc Kim Cương này. Con cầu xin sự gia hộ từ ngài, Đại Phúc Kim Cương và chư vị hộ trì. Cầu cho con được... (tài bảo, sức khỏe, sự nghiệp...) Vì nguyện ước trên, con xin hứa sẽ thực hiện các thiện hạnh sau: (Liệt kê ra các thiện hạnh mình định làm ... VD: tu tập chăm chỉ, đọc Cao Vương Kinh, Chân Phật Kinh, hỗ trợ phát triển CPT, ... Cúng dường tới ngài mỗi ngày hoặc tháng 2 lần...)*

- Quán tưởng Sư Tôn, chư vị Bồ Tát hiện thân, tươi cười phóng quang gia trì thêm cho hành giả. 

- Sau đó đốt sớ. Tiếp đó đốt tờ phù nhỏ bằng giấy.

- Đốt từ dưới chân phù lên, không được để sót. Tro này ko cần uống, phù chỉ cần đốt là được.

Tấm phù cứng màu vàng có thể lồng khung đặt ở bàn thờ (là tốt nhất), hoặc luôn mang theo thân (cho vào cặp, nhưng tránh bẩn, nước chảy qua, người bước qua).


![image](/img/img_5424f265bcc46a1ba3866554642eaeb9.png)


Khi thực hành pháp, hay khi cúng dường mỗi ngày, nếu có thể cầu phù hoặc hướng cúng tới phù thì càng tốt (tuy ko bắt buộc). Thiếu phúc báu thì phù nào cũng không thành. Phù thay đổi vận chứ không đổi được mệnh. Phù trợ giúp tăng trưởng chứ không thể biến Không thành Có. 

Hành giả nên đọc hết 1000 biến Cao Vương Kinh, 1000 biến Chân Phật Kinh và thực hành các thiện hạnh để tích lũy thêm phúc đức cho bản thân. Như vậy phù sẽ càng hiệu quả và phát huy năng lực nhanh chóng.

**Lưu ý**
Phù nếu mang theo thân thì cứ sau 15 ngày hoặc 1 tháng nên được tịnh hóa qua (xông khói, qua lửa, hoặc được quán tưởng phóng quang gia trì thêm từ hành giả...) để giữ sự thanh tịnh.

Phù lục tuôn chảy từ tự tâm Lư Sư Tôn luôn nổi tiếng linh nghiệm. 
Chúc những anh em huynh đệ may mắn có tấm phù quý giá được đích thân Sư Tôn gia trì này có nhiều tài phúc và luôn tăng trưởng thiện hạnh.

---
# File: tinh-tuyen/ps-lien-ngat-cuu-tiet-phat-phong-truoc-tien-hay-luyen-tot-mot-hoi-tho.md
# Title: PS Liên Ngật: Cửu Tiết Phật Phong: Trước tiên hãy luyện tốt một hơi thở
---

![image](/img/img_0799bdab3fba47e36e350a9ffba86e99.jpg)


**Bài chia sẻ của pháp sư Liên Ngật | Trung Quán Lôi Tạng Tự - 24/12/2025. **

Cửu Tiết Phật Phong mọi người ngày ngày đều tu, nhưng điều thực sự khó thường không phải là thuộc lộ trình, mà là bốn chữ: tâm khí hợp nhất. Tôi thường hỏi đồng môn: Lúc này bạn hít vào một hơi thở, trung bình mấy giây? Một phút thì thở bao nhiêu lần? Đa số mọi người đều không trả lời được. Điều kỳ diệu là, chúng ta cả đời đều nhờ nó mà sống, nhưng lại hiếm khi thực sự "nhận thức" được hơi thở của chính mình. Cửu Tiết Phật Phong muốn thực hành được, bước đầu tiên trái lại là quay về với công cụ đáng tin cậy nhất: chính hơi thở này.

1. Hơi thở
Người trưởng thành bình thường khi yên tĩnh thở khoảng 12–20 lần/phút, khi ngủ có thể chậm xuống còn 10–16 lần/phút. Cấu trúc thường gặp của một hơi thở hoàn chỉnh là: hít vào khoảng 1–1,5 giây, giữa có khoảng dừng ngắn tự nhiên khoảng 0–0,5 giây, thở ra khoảng 1,5–2,5 giây, tỷ lệ hít vào và thở ra gần bằng 1:2. Khi chúng ta có ý thức làm chậm hơi thở, nhiều người có thể giảm xuống còn 6–10 lần/phút, thậm chí còn chậm hơn. Nếu tiếp tục rèn luyện nín thở, người bình thường thường khoảng 20–60 giây, người luyện khí tốt có thể kéo dài tuần tự đến 1–3 phút.

Những con số này không phải để biến bạn thành kế toán viên của hơi thở, mà là để bạn có một thước đo: Cửu Tiết Phật Phong nói về "một hơi thở", bạn phải biết hơi thở của mình dài bao nhiêu đã. Nếu không, bạn tưởng mình đang "lấy ý dẫn khí", nhưng thực ra chỉ là tâm đang loạn chạy, khí cũng đang loạn tán, tâm khí càng không thể hợp nhất.

Hơi thở vừa tự động, vừa có thể bị niệm can thiệp. Bạn không thể ra lệnh cho tim ngừng đập, cũng không thể tắt tai đi để không nghe; nhưng hơi thở khi không chú ý thì tự động vận hành, khi chú ý lại có thể được bạn điều chỉnh, làm chậm, kéo dài, thậm chí tạm dừng lại. Chính vì vậy, hơi thở là cửa ngõ tu hành thực tế nhất: đời thường nâng đỡ cuộc sống, tu pháp nâng đỡ nhập định.

2. Thở quá nhanh và quá chậm
Khi luyện khí có người bị hoa mắt, tê tay, tê môi, tim đập nhanh, phản ứng đầu tiên liền nghĩ đến "linh quấy nhiễu". Thực ra nhiều khi chỉ là trực tiếp cho thấy: bạn thở quá nhanh rồi. Thở quá nhiều sẽ khiến khí carbon dioxide quá thấp, cân bằng axit-kiềm thay đổi, máu thiên kiềm, từ đó xuất hiện các phản ứng như hoa mắt, tê, tim đập nhanh.

Ngược lại, nếu cố gắng nín thở, làm cho hơi thở chậm quá mức, khí carbon dioxide lại tích tụ, cơ thể có thể lệch hướng toan máu, xuất hiện đau đầu, tức ngực, tim đập nhanh, trường hợp nặng thậm chí hôn mê. Vì vậy khi có hiện tượng không thoải mái, trước hết đừng thần bí hóa, hãy quay về kiểm tra xem nhịp điệu của mình có phải là "dùng lực quá mức" hay không.

Khẩu quyết của Cửu Tiết Phật Phong là mảnh, chậm, dài. Sư Tôn giải thích rất thấu đáo: chậm mới có thể định tâm, tự tại, khí mới có thể tụ; mảnh mới có thể tinh tế, khinh an, động tĩnh tùy ý; dài mới có thể nhập tĩnh, thanh tịnh, đạt đến chỗ thù thắng. Theo kinh nghiệm của chính tôi, hít vào và thở ra đại khái dùng đến tám phần lực là ổn thỏa nhất, để lại hai phần nới lỏng làm dư địa. Nếu quá dùng lực gần đến mười phần, hoặc vội vã chuyển đổi giữa hít và thở, thì dễ bị xẹt khí, thậm chí gây khó chịu cho cơ thể.

3. Chi tiết then chốt của Cửu Tiết Phật Phong
Tài liệu và video trên mạng rất nhiều, Sư Tôn cũng có thị phạm, nhưng mọi người hiếm khi hỏi đến vấn đề thực tế nhất: một tiết Cửu Tiết Phật Phong, một hơi thở rốt cuộc phải đi bao lâu? Có cần nín thở không?

Cách làm của tôi rất đơn giản, nhưng lại rất thực dụng: trước tiên đo xem mình hít vào thoải mái được bao nhiêu giây, ví dụ 6 giây, rồi quay lại đối chiếu xem "một hơi thở" đi hết đường mạch có hợp lý hay không.

Nhịp điệu cơ bản của Cửu Tiết Phật Phong rất rõ ràng:
Một hơi thở, lỗ mũi phải vào, đi một vòng, lỗ mũi trái ra.
Một hơi thở, lỗ mũi trái vào, đi một vòng, lỗ mũi phải ra.
Một hơi thở, hai lỗ mũi hít vào, theo tả hữu mạch đi xuống đến nơi giao hội đan điền, vào trung mạch xông lên đỉnh đầu, không thông, quay trở lại đan điền, rồi theo tả hữu mạch từ hai lỗ mũi ra.
Các tiết còn lại chỉ là sự sắp xếp thứ tự của ba loại đường đi trên.

Trong thực hành, bản thân tôi quan sát được hai cách thức, bạn phải nhìn rõ mình đang làm cách nào:

Cách thứ nhất, là hít một hơi rồi nín thở: trước hết hít đầy, sau đó trong trạng thái nín thở dùng ý niệm từ từ dẫn khí đi theo đường mạch, thời gian có thể kéo dài đến 20~30 giây.

Cách thứ hai, là hoàn thành trong quá trình hít vào hoặc thở ra: ví dụ như đặt "lỗ mũi phải vào, đi một vòng" vào khoảng 6 giây hít vào, rồi đặt "lỗ mũi trái ra" vào khoảng 6 giây thở ra, ý niệm phải chạy rất nhanh.

Cả hai cách làm đều có người dùng, vấn đề không nằm ở phương pháp, mà ở chỗ bạn có rõ ràng hay không. Rất nhiều người rõ ràng đang nín thở, nhưng lại tưởng mình đang liên tục hít thở, kết quả giữa chừng bị xẹt khí, tâm khí hoàn toàn không hợp.

Khó xử hơn là tiết thứ ba. Tiết thứ nhất và thứ hai chủ yếu đi tả hữu mạch, đường đi ngắn; đến tiết thứ ba bắt đầu đi trung mạch, dễ nhất để phơi bày ra rằng thực ra bạn đang nín thở hay đang tiếp tục hít thở. Nếu vẫn muốn duy trì "một hơi thở, 6 giây đi hết" gần như không làm được, không phải là dùng lực cực độ thì cũng là biến tướng đang nín thở. Quan sát của tôi là: đa số người đến tiết thứ ba đã "vô thức nín thở" rồi, chỉ là không biết mà thôi.

Vì vậy tôi không vội vàng phán đoán cách nào mới là duy nhất đúng, tôi quan tâm hơn là mỗi người trước hết nhìn rõ nhịp điệu của chính mình. Khuyên bạn đo ra mình một hơi hít vào có thể duy trì được bao nhiêu giây, rồi theo số giây của mình mà phân bổ tốc độ đi đường mạch, chứ đừng cứng nhắc áp dụng nhịp điệu của người khác. Chỉ khi khí đi được thuận, mới có khả năng thực sự tâm khí hợp nhất, tiến thêm một bước vào định.

Cửu Tiết Phật Phong chủ yếu nhất là khiến chúng ta tinh thần chuyên nhất. Ý nghĩ chỉ nghĩ về màu sắc, hít vào ánh sáng trắng, vào mạch hóa thành ánh sáng đỏ, thở ra biến thành khí đen; chỉ nghĩ về đường đi của khí, thế nào vào, thế nào ra. Còn phải quán tưởng Bổn tôn thở ra khí ta hít vào, ta thở ra khí Bổn tôn hít vào, giao lưu với nhau. Đây cũng là sự giao lưu giữa vũ trụ với ta, đại ngã với tiểu ngã.

4. Đừng bị cấu tạo giam hãm
Chúng ta rất dễ đào sâu vào "trung mạch rốt cuộc ở đâu": dọc theo cột sống sao? Ở giữa cổ họng, khí quản, tạng phủ và cột sống? Càng nghiên cứu giải phẫu nhiều, phiền não cũng theo mà nhiều. Sự dạy bảo của Sư Tôn lại đơn giản: trung mạch là vô hình, là quán tưởng ra, quán mình thành một cái vỏ rỗng, chỉ còn lại ba mạch. Đừng còn quan tâm đến vị trí chính xác của phổi, gan, cột sống.

Huống chi các truyền thừa dạy pháp vốn dĩ đã khác nhau, có nơi hít vào nhẹ nhàng, thở ra mãnh liệt. Sư Tôn dạy chúng ta khi hít vào thì đan điền hơi hướng về phía trước phồng lên; nhưng bạn đi hỏi người tu khí công hoặc yoga, có người hít vào lại thu vào trong. Đã là đệ tử của Liên Sinh Hoạt Phật thì hãy lấy giáo pháp của Sư Tôn làm chuẩn. Có sai có nhân quả, đây là sự gánh vác của Căn bản Thượng sư, không cần phải so sánh qua lại, khởi tranh luận giữa các cách thuyết giảng, khiến tâm tu lệch hướng.

Sư Tôn cũng đã dạy người mới học có thể dùng ngón tay ấn lỗ mũi, giúp phân biệt luồng khí trái phải. Cá nhân tôi rất thích thêm một cách làm đơn giản nữa: dùng tay so lượng đường đi ở phía trước thân, phối hợp với số giây hít vào của mình để phân bổ tốc độ. Ví dụ bạn hít vào 6 giây, thì nhắc mình ba giây đầu đến nơi giao hội, ba giây sau mới đi lên, để tốc độ đồng đều. Cảm giác xúc giác của tay có thể tăng cường ý niệm, cũng có thể lập tức kiểm tra mình đi quá nhanh hay quá chậm.

5. Cửu Tiết Phật Phong làm tới thì thiền định mới có cửa

Cửu Tiết Phật Phong nếu giữa chừng bị xẹt khí, hơi thở dài ngắn không đều, thiền định phía sau gần như không thể nào suôn sẻ. Ngược lại, Cửu Tiết Phật Phong nhịp điệu ổn định, khí thuận, thân thể thoải mái, tâm tự nhiên thu nhiếp, mới có khả năng nhập định. Nếu cảm thấy Cửu Tiết Phật Phong quá khó, có thể dùng đếm hơi thở trước, luyện một hơi vào một hơi ra có độ dài bằng nhau; luyện lâu rồi tạp niệm tự nhiên giảm đi, vì chúng ta thực sự chuyên chú. Khi đạo tràng đồng tu tập thể, mỗi người hơi thở nhanh chậm khác nhau, muốn thống nhất nhịp điệu Cửu Tiết Phật Phong thực ra rất khó; đồng tu dùng quán nhập ngã ngã nhập, đếm hơi thở… làm trục chính sẽ thích hợp hơn. Nếu muốn thực sự đi sâu vào Cửu Tiết Phật Phong, thích hợp ở lớp thiền định nhỏ, có thời gian từng người một đo số giây hơi thở, điều chỉnh đường đi, mới nói đến chuyện tu tập kỹ lưỡng.

Cuối cùng là tư thế và điều kiện cơ thể. Trước khi thiền định cần phải nhận thức cơ thể của chính mình trước: khi hít thở những cơ bắp nào đang gắng sức? Xương sườn trương ra như thế nào? Bụng phối hợp ra sao? Ấn thanh quản quá dùng sức, cổ rất nhanh đau mỏi; vấn đề gù lưng hoặc cột sống, có thể dựa tường hoặc điều chỉnh tư thế ngồi; tiền hành mà đã ngồi kiết già cứng thì Cửu Tiết Phật Phong chưa làm xong chân đã tê rồi, đoạn sau khó ngồi được tiếp. Có thể thử tiền hành ngồi cho thoải mái trước, để chân được thả lỏng, đến lúc muốn nhập định, làm Cửu Tiết Phật Phong mới bắt chéo chân, thân an trước thì tâm mới an.

Tinh túy của Cửu Tiết Phật Phong, rốt cuộc không phải là thuộc lòng đường đi, mà là đưa tâm trở về với hơi thở này: nhìn rõ bản thân có đang dùng sức không, có bị xẹt khí không, rồi điều chỉnh nhịp điệu trở về mảnh, chậm, dài. Sư Tôn từng nói Cửu Tiết Phật Phong chính là rèn luyện tinh thần chuyên nhất, làm tốt thì pháp lưu tự nhiên đi vào; và khi làm xong chín tiết phải làm trống rỗng, tức là không nghĩ gì cả, khiến một niệm quy về một, rồi từ một quy về không, liền có cửa để vào Tam ma địa. Khi một hơi thở đi được thuận, đi được vững, tâm khí hợp nhất không còn chỉ là khẩu hiệu, mà là dẫn chúng ta từng bước một bước vào cửa thiền định.

---
# File: tinh-tuyen/ps-lien-ngat-lam-the-nao-tu-nhap-nga-nga-nhap.md
# Title: PS Liên Ngật: Làm thế nào tu Nhập Ngã Ngã Nhập
---

⛩️ 2026-01-07 Những điểm chia sẻ chính sau buổi đồng tu của pháp sư Liên Ngật tại Trung Quán Lôi Tạng Tự.


![image](/img/img_124f7b650ad2b95f95d28152b481a335.jpg)



### 1. Làm thế nào tu "Nhập Ngã Ngã Nhập"?


1. Vấn đề nằm ở "làm thế nào để hòa nhập"?

- Nhập Ngã Ngã Nhập ai cũng biết, pháp bản cũng viết rất rõ ràng. Vấn đề thực sự là: Ta mãi mãi là ta, Bổn tôn mãi mãi là Bổn tôn.

- Ta có thân xác này, dung mạo này, nhận thức về bản ngã này, còn Bổn tôn là Pháp thân được sinh ra từ Không tính; "cảm giác chân thật" và "chấp vào cái ta" như vậy khiến chúng ta rất khó thực sự hòa nhập vào Bổn tôn.

2. Ngoại tướng cũng là chướng ngại

Khi quán tưởng chư Phật Bồ Tát, Căn bản Thượng sư trên đàn thành, rất dễ có nhận thức "ta không giống Ngài/các Ngài", như thế thì rất khó hòa nhập. Trong thâm tâm vẫn phân biệt rất rõ ràng: "Đó là Ngài, còn ta vẫn là ta."

3. Tại sao "ta không không" thì rất khó hòa nhập vào Bổn tôn?

- Bổn tôn hiển hiện từ Không tính, nhưng chúng ta lại nắm chặt ta là ta, không có cách nào để không, đương nhiên rất khó hòa nhập hoàn toàn.

- Nếu ta luôn là 1, Bổn tôn là 0, 1+0 vẫn là 1. Chỉ khi ta cũng trở thành 0, cùng với Bổn tôn 0+0, mới thực sự là hợp nhất.

- Độ khó của Nhập Ngã Ngã Nhập nằm ở việc phá trừ ngã chấp, học cách không có ta. Khó, nhưng mỗi ngày đều phải luyện tập.

4. Trình tự quán tưởng:

- Chú quán Không → Nguyệt luân, chú tự xoay chuyển → Sinh khởi Bổn tôn hoặc Căn bản Thượng sư.

- Trước quán dung nhan, sau quán thân, rồi quán y phục.

- Ba ánh sáng gia trì: ánh sáng trắng, đỏ, lam.

- Trước quán tưởng, sau trì chú - Dùng 108 biến tâm chú để kiên cố quán tưởng.


### 2. Nhập Ngã rốt cục có mấy bước? 


5 bước, nếu kể cả ba ánh sáng gia trì thì thành 6 bước.

5 bước Nhập Ngã (kết hợp trì 108 biến chú ngữ):

Bước 1: Bổn tôn di chuyển đến đỉnh đầu trụ đỉnh

- Bổn tôn từ hư không hiển hiện ra.

- Bổn tôn chuyển đến phía trên đỉnh đầu của mình ngồi xuống.

- Chi tiết phải tưởng tượng rõ ràng: Bổn tôn di chuyển như thế nào, quay người như thế nào rồi mới ngồi, nếu không sẽ quán tưởng thành lưng quay về phía mình, lúc hạ xuống đầu sẽ ngửa ra phía sau, không hợp lý.

- Phải dùng 108 biến tâm chú kiên cố quán tưởng trụ đỉnh; có thể lấy tượng Phật nhỏ đặt lên đầu soi gương, cảm nhận hình dáng và trọng lượng của trụ đỉnh.

Bước 2: Cuống sen của tòa sen tiếp nối trung mạch, giáng cam lộ

- Bổn tôn ngồi trên tòa hoa sen, cuống sen cắm vào trung mạch của bạn, làm đến khi mạch nối mạch.

- Quán tưởng cam lộ như giọt sương, nhỏ giọt mát mẻ, chảy xuống, tịnh hóa toàn thân, cũng dùng 108 biến chú ngữ kiên cố cảm nhận cam lộ tịnh hóa này.

Bước 3: Bổn tôn hóa thành quả cầu ánh sáng

- Bổn tôn thu lại thành một quả cầu ánh sáng, dừng lại ở đỉnh đầu. Có thể lấy quả cầu pha lê nhỏ hoặc viên bi đặt lên đầu thử cảm giác, như vậy kích thước, cảm giác về trọng lượng của quả cầu ánh sáng trong tâm sẽ cụ thể hơn, cũng trì 108 biến chú ngữ, khiến hình ảnh quả cầu ánh sáng vững chắc, sáng rỡ.

Bước 4: Quả cầu ánh sáng dọc theo trung mạch hạ xuống, ngồi trên hoa sen tám cánh ở Tâm luân

- Quán tưởng hoa sen tám cánh: Đông Tây Nam Bắc thêm bốn góc chéo, cộng lại tám cánh. Nếu chưa quen, có thể tự mình vẽ một lần, gia tăng ấn tượng.

- Quả cầu ánh sáng dọc theo trung mạch hạ xuống, vững vàng ngồi trên tòa sen Tâm luân, lại trì 108 biến chú ngữ kiên cố.

Bước 5: Quả cầu ánh sáng phóng đại

- Quả cầu ánh sáng trước tiên ở Tâm luân từ từ phóng to ra, từ nhỏ xíu lớn lên ngang bằng cơ thể của bạn.

- Phải có quá trình "lớn lên", đừng chỉ trong nháy mắt đã biến thành kích thước lớn nhất.

- Khuyến nghị quá trình phóng to phải chậm một chút, mới có thể thực sự cảm nhận Bổn tôn và ta mật thiết hòa hợp.

- Lúc này thực ra đã hoàn thành công khóa niệm chú 6 chuỗi.

- Bước cuối cùng: lại phóng đại vô hạn, cho đến khi tràn đầy cả hư không, khắp nơi đều là Bổn tôn.


### 3. Niệm Lực Tông và "mượn giả tu thật"


1. Đối mặt với sự nghi ngờ của người khác "Những cái này chẳng phải đều là tưởng tượng sao?", "Các bạn Mật giáo quán tưởng nhiều chi tiết như vậy, giống như đang mơ mộng."

- Mật giáo vốn được gọi là Niệm Lực Tông – đang tu luyện niệm lực.

- Quán tưởng ban đầu đúng là tưởng tượng, nhưng tưởng tượng tu luyện lâu sẽ sinh ra sức mạnh, là "mượn giả tu thật".

2. Đối với hành giả, tu lâu trong cuộc sống sẽ xuất hiện kinh nghiệm "tâm tưởng sự thành", nghĩ đến ai người đó xuất hiện; nghĩ đến việc gì thì việc đó xảy ra. Vì vậy phải vô cùng chú ý tâm niệm của mình: niệm lực càng mạnh, hậu quả của việc khởi niệm sai càng lớn.

3. Khóa chặt cảm giác gia trì. Ví dụ về sờ đầu.

- Hồi tưởng lại ở Seattle được Sư Tôn sờ đầu: ngay lúc đó ghi nhớ cảm nhận của cái chạm đó, đứng bên cạnh xem Sư Tôn sờ đầu bốn nghìn người, liền quán tưởng mỗi người được sờ đầu đều là "lại chạm đầu mình", tức là mình được sờ đầu bốn nghìn lần.

- Đây cũng là mượn giả tu thật: ban đầu là tự mình quán tưởng, lâu dần sẽ trở thành gia trì và quán đảnh thật sự.

- Từng bước của Nhập Ngã Ngã Nhập đều phải có cảm nhận và ký ức cơ thể", càng thật càng tốt.


### 4. Nhập Ngã Ngã Nhập cũng là sự luyện tập trước cho Nội pháp


- Hiện tại chỉ tu pháp Căn bản Thượng sư tương ứng, pháp Bổn tôn, nhìn có vẻ như chưa tiến vào Nội pháp, thực ra trong Nhập Ngã Ngã Nhập đã đang luyện mạch, khí, minh điểm: mạch nối mạch, khí với khí xoay chuyển, minh điểm với minh điểm tan vào nhau, rất có ích cho việc tu trì Nội pháp trong tương lai.

- Từ 1 đến 0 - Cửu tiết Phật phong và thiền định sau Nhập Ngã Ngã Nhập: Khi Cửu tiết Phật phong luyện đến rất chuyên nhất, Nhập Ngã Ngã Nhập cũng làm rất vững chắc, bạn đã là "Một" rồi, bước tiếp theo phải học cách "buông", từ "Một" quay về "Không", mới có thể thực sự nhập Phi trí Tam ma địa, dung nhập vào Không tính.


### 5. Cẩn thận rơi vào cạm bẫy "chấp không" (không trơ trụi)


Nhiều người lầm tưởng rằng hoàn toàn không có niệm, nín thở, trạng thái "trống rỗng ngây dại" chính là hòa nhập vào Không tính.

- Nín thở, cố ý không nghĩ bất cứ điều gì, lúc đầu có vẻ như rất tĩnh, nhưng cơ thể rất nhanh sẽ đòi bạn thở, một khi hít vào, ý niệm lại quay trở lại. Nếu coi loại "không có hơi thở, không có ý nghĩ" này là cái không tột cùng thì sẽ không ngừng đối kháng với cơ thể, cảm thấy một khi hít vào là "mất đi không", càng khó nhập định hơn.

- Kiểu trống không giả, trống rỗng như chết, rỗng không trơ trụi đạt được nhờ nín thở này, là ở trong đối lập nhị nguyên "có/không, thở/không thở", không phải là chân không và diệu minh chân tâm mà Phật pháp nói đến.

Buông bỏ đúng cách là không tạo tác, không can thiệp:

- Làm xong Cửu tiết Phật phong, Nhập Ngã Ngã Nhập, cảm thấy đã rất vững rồi, tiếp theo không cần quan tâm bất cứ điều gì, có niệm cũng được, không có niệm cũng được; hơi thở tự nhiên đến đi, hoàn toàn không cố ý kiểm soát. Giống như ngủ, chúng ta không bao giờ biết mình khi nào ngủ thiếp đi, chỉ là nằm xuống, nhắm mắt, thư giãn.

- Sự nhập định cũng tương tự: chỉ cần phương hướng đúng, tự nhiên sẽ "đi vào". Nếu cứ mãi đối kháng: "Ta phải giữ cho không tịch" , "phải nín thở lâu hơn một chút", thực ra cứ mãi tạo tác, ngược lại rất khó vô sự, vô tâm.


### 6. Học từ sự sám hối mà Sư Tôn thị hiện


Tuần trước Sư Tôn chia sẻ kinh nghiệm khi ốm đau đã vào cảnh giới atula, nhiều người nghe rất cảm động, cũng rất thương xót. Đừng bình luận suy đoán "Sư Tôn đã làm sai điều gì mới đến đó". Sư Tôn đâu cũng có thể đi, và biết "cách đi về nhà". Đây là điều khai thị cho chúng ta: Nếu một ngày nào đó vì suy nghĩ lệch lạc mà đọa vào đạo atula hoặc ba đường ác, phải học cách lập tức sám hối, mới có cơ hội tìm được đường về nhà.

Sám hối và Bố thí: từ đầu đến cuối đều không thể bỏ:

- Từ Tư lương đạo, Gia hành đạo, Kiến đạo, Tu đạo đến Cứu cánh đạo, không có giai đoạn nào có thể nói "Tôi không cần bố thí, không cần sám hối".

- Sư Tôn thành Phật rồi vẫn còn sám hối, chúng ta học được một chút xíu thôi đã rất tốt rồi.

- Thực hành sám hối hàng ngày: Mỗi ngày tự hỏi bản thân: Hôm nay có khởi suy nghĩ không tốt không? Đã nói lời gì làm tổn thương người khác không?

- Sám hối phải tỉ mỉ đến từng câu nói, từng ý nghĩ khởi tâm động niệm.

Tại sao không có thiền định thì không thể nhìn thấy "hạt giống" của chính mình?

- Điều thực sự cần sám hối là những hạt giống, tập khí, phiền não ẩn sâu trong A-lại-da thức, những thứ này thường ngày cảm nhận không được, ẩn giấu trong đất.

- Tầm quan trọng của thiền định: Khi lực cảm nhận và quán sát nâng cao, mới có thể nhìn thấy "ác niệm chưa nảy mầm".

- Mới có khả năng thực hiện Tứ chính cần: Thiện đã sinh làm cho tăng trưởng, thiện chưa sinh làm cho sinh khởi, ác đã sinh làm cho diệt, ác chưa sinh làm cho không sinh.

- Thí dụ y học: Tế bào ung thư lúc đầu chỉ có một tế bào thì hầu như không thể phát hiện được, đợi đến khi phát triển thành khối u mới được phát hiện thì đã quá muộn rồi.

- Tương tự như vậy: Không có thiền định thì nhìn không thấy phiền não ở "trạng thái hạt giống", chỉ có thể kinh hoàng nhận ra khi nó đã phát triển thành cây lớn.

Chuyển thức thành trí rất khó: Chuyển thức thành trí vô cùng khó khăn, khi có người chấp vào một việc nào đó đến mức không nhìn thấy xung quanh, cần nhờ mọi người giúp đỡ trì chú, tụng kinh, hồi hướng, cho họ tư lương công đức, giúp họ buông bỏ sự chấp trước, mới có cơ hội chuyển thức thành trí.


### 7. Tu hành thực hiện vào trong đời sống


1. "Các bước giả" khi tu tương ứng rồi tự nhiên sẽ giảm bớt:

- Nhập Ngã Ngã Nhập hiện nay chia thành rất nhiều bước đối với người đang luyện tập là rất có ích, nhưng không có nghĩa là mãi mãi phải phức tạp như vậy.

- Khi thực sự tương ứng với Bổn tôn, Thượng sư, hễ nghĩ đến Bổn tôn thì tự nhiên hợp nhất, không cần phải chia nhỏ nhiều bước như vậy nữa.

- Nghi quỹ Sự bộ, Hành bộ lúc đầu phức tạp, càng lên cao càng đơn giản hóa, cho đến vô tu.

2. Sắp xếp thời gian tu pháp trong cuộc sống bận rộn:

- Lấy ví dụ bản thân làm việc tại Na Uy: Mỗi chuyến đi làm 20 phút, biết rằng 20 phút không thể tu xong một đàn thành nghi quỹ hoàn chỉnh, nên trên tàu điện ngầm chỉ tu phần Chính hành, đi về hai chuyến, hoàn thành hai lần tu Chính hành.

- Từ tàu điện đi bộ về nhà 10 phút thì cố định trì chú Bổn tôn.

- Tối ở nhà có nhiều thời gian hơn thì làm pháp tu đàn thành hoàn chỉnh.

- Trọng tâm là mỗi ngày đều quy hoạch rất rõ ràng, khiến bản thân có cảm giác "mỗi ngày đều tiến bộ".

3. Mỗi người vốn đã có kinh nghiệm "chuyên nhất":

- Ví dụ một người làm kế toán, hễ ngồi xuống làm là làm liền mấy giờ, hoàn toàn quên mất thời gian, quên mất mình đang ở đâu.

- Bản thân pháp sư đọc sách cũng vậy, đọc mãi đến nửa đêm, những điều này đều là "trạng thái chuyên nhất" bậc sơ cấp của thiền định, chứng minh mỗi người vốn đã có khả năng thiền định.

- Mục đích luyện tập thiền định là kéo dài sự chuyên nhất này, và học cách "bất cứ khi nào muốn vào thì vào được".

4. Tìm phương pháp thiền định phù hợp với bản thân

Phương pháp thiền định rất nhiều, thể chất khác nhau, sở thích khác nhau:
Có người cảm thấy quán đếm hơi thở "một hai ba bốn" rất nhàm chán, đếm được nửa chừng thì quên mất; có người nhìn chằm chằm vào một điểm không chớp mắt, kết quả mắt cay, chảy nước mắt; Cửu tiết Phật phong cũng không nhất định phù hợp với mọi người.

Phương pháp nào giúp bạn dễ dàng nhất vào được trạng thái chuyên nhất, thì hãy dùng phương pháp đó làm cửa vào, cuối cùng mọi người đều đến cùng một nơi là Phi trí Tam ma địa", chỉ là lối đi khác nhau thôi.

5. Đồng môn có thể giúp đỡ lẫn nhau, nhưng không ai có thể thay ai nhập định

Điều pháp sư có thể giúp mọi người: Nghe nhịp thở, chỉ ra chỗ nào vội vàng, chỗ nào niệm lực chưa theo kịp; Cùng thảo luận phương pháp nào phù hợp hơn với người này; giúp điều chỉnh, tối ưu hóa các bước, để họ ngày càng vững vàng hơn.

Nhưng có những điều không làm được: Không thể búng tay một cái mà khiến đối phương lập tức nhập định; Nhập định cần cơ duyên và công phu của bản thân.

Mỗi người nhất định đều có khả năng thiền định, chỉ là chưa tìm được "chiếc chìa khóa mở cửa" đó; Tìm được rồi thì bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu đều có thể vào được.

---
# File: tinh-tuyen/quang-uan-thien-thuc-phap.md
# Title: Quang uẩn thiên thức pháp
---

## Quang uẩn thiên thức pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

Quang uẩn thiên thức pháp

Con người có đôi khi bản thân có nhân duyên lành, nếu có nhân duyên lành thì sẽ có rất nhiều duyên có thể được đại thiện tri thức làm công việc siêu độ cho họ. Trong Mật giáo gọi là pháp Thiên thức, tuy rằng bình thường bản thân bạn không tu hành, cũng không bố thí, cũng không có công đức gì cả, nhưng nếu trong số mệnh của bạn vẫn có nhân duyên lành, bạn sẽ gặp được đại thiện tri thức siêu độ cho bạn. 

Ở trong đây còn có cái gọi là Thiên thức pháp, trước đây Sư Tôn đã giảng về pháp Quang uẩn thiên thức rồi. Pháp Quang uẩn thiên thức là nói rằng, bạn bị mắc bệnh rất nặng, sắp đi rồi, bạn gặp được một đại thiện tri thức, người đó hiểu pháp Quang uẩn thiên thức của Mật giáo, người đó sẽ phong kín lại các nơi trên thân thể bạn mà linh thức của bạn sẽ đi ra từ đó, tức là phong kín hai mắt, là con đường mà thần thức đi ra; phong kín hai tai, phong kín lỗ mũi, phong kín miệng, phong kín rốn, phong kín hai chỗ rò rỉ là hậu môn và khí môn của bạn, bịt lại hết các lỗ mà thần thức có thể đi ra, chỉ chừa lại lỗ ở đỉnh đầu, đây chính là pháp Thiên thức. Thần thức của bạn ở trong thân thể bạn không ra ngoài được, đi tới đi lui đều không đi ra ngoài được, cuối cùng chỉ có cách đi ra từ lỗ đỉnh đầu, hễ đi ra khỏi lỗ đỉnh đầu thì sẽ có ánh sáng, có ánh sáng đang đợi ở đó, đây gọi là pháp Quang uẩn thiên thức.

Mọi người cho rằng như thế này thì thật sự quá tốt, bạn chẳng phải làm việc gì cả, bạn chỉ cần đợi một vị đại thiện tri thức đến phong kín lại hết các lỗ cho bạn, để chừa lại thiên khiếu, để cho bạn vãng sinh đến các cõi trời là được rồi. Không có chuyện dễ dàng mà đợi được đâu. 

Trên thế gian này không có mấy người hiểu được pháp Quang uẩn thiên thức đâu. Bạn phải gặp được họ, lại đúng lúc họ ở bên cạnh bạn, họ phải biết pháp Quang uẩn thiên thức, điều này đúng là nghìn năm khó gặp. Bạn tùy tiện đi tìm một người làm siêu độ cho bạn, làm pháp dịch chuyển thần thức cho bạn, người đó không biết thì bạn cũng hết cách, cho dù người đó có biết thì cũng không ở bên cạnh bạn. Khoảng thời gian trước khi bạn chết, người đó và bạn không có nhân duyên gặp gỡ bạn, cho dù bạn dùng toàn bộ tiền đi mời họ, họ cũng chưa chắc có thể đến được, cho nên cái này cũng đòi hỏi có nhân duyên tốt thì bạn mới có thể mời được người rất cao minh, rất hiểu pháp Thiên thức đến để làm pháp Quang uẩn thiên thức cho bạn, siêu độ cũng như vậy.


### **Mục “Trò hỏi Thầy đáp” - Tương tác chính là sức mạnh - Tập 20. **


Ngày 17/05/2020 tại Seattle Lôi Tạng Tự, Liên Sinh Hoạt Phật khai thị pháp ngữ và giảng Đạo Quả bài giảng số 299. 

**Câu hỏi 81:** Thỉnh thị Sư Tôn, đệ tử vẫn chưa tương ứng tam căn bản, vì thế không thể làm pháp Quang uẩn thiên thức, đệ tử cũng không hiểu rõ pháp trung ấm nghe dạy mà được độ. Hành giả có thể làm sao để dùng phương pháp thù thắng nhất, nhanh chóng nhất, dễ dàng nhất để giúp đỡ người hấp hối và người vãng sinh giải thoát khỏi khổ của luân hồi? Thỉnh thị Sư Tôn, pháp Quang uẩn thiên thức và pháp Phowa có gì khác nhau? Khẩn cầu Sư Tôn từ bi tuyên thuyết diệu pháp hướng dẫn đệ tử, để đệ tử có thể dựa theo lời dạy mà phụng hành, lợi ích cho mình và người khác.

**Trả lời: **

Khi chưa tương ứng thì rất khó làm pháp Quang uẩn thiên thức. Pháp Quang uẩn thiên thức nhìn chung mà nói, Sư Tôn là người tương ứng, vừa đúng lúc có mặt tại đó, Sư Tôn có thể giơ tay lên, Bổn tôn trong hư không sẽ giáng lên trên đầu ngón tay, sau đó sẽ mở thiên môn, đóng địa hộ, bịt nhân đạo, chặn quỷ lộ cho người chết. Mở thiên môn, đóng địa hộ, bịt nhân đạo, chặn quỷ lộ tức là mở lỗ đỉnh đầu ra, đóng chặt lại địa hộ ba ác đạo, chặn lại con đường chuyển sinh làm người, chặn lại toàn bộ các đạo ngạ quỷ, thấp sinh, hóa sinh, thai sinh, noãn sinh, chỉ có thể từ thiên môn đi ra, cái đó gọi là pháp Quang uẩn thiên thức.

Chưa tương ứng thì Bổn tôn sẽ không giáng lên đầu ngón tay, sẽ không sản sinh ra ánh sáng, không thể sản sinh ra ánh sáng thì không có cách nào mở thiên môn, đóng địa hộ, bịt nhân đạo, chặn quỷ lộ, bạn sẽ không cách nào làm được. Vậy phải làm sao đây? Lúc này, nếu bạn có mặt ở đó, bạn có thể dùng kẹo cao su tương đối dính, dính kẹo cao su đó lên chỗ thiên môn để chỉ dẫn cho người chết, nói với người chết rằng: “Bây giờ anh chỉ có một con đường có thể đi ra, chính là phải đi ra từ chỗ thiên môn thiên khiếu này của anh, những chỗ khác anh đều không được đi ra, nguyên thần của anh chỉ có thể đi ra từ chỗ thiên khiếu này thôi, vậy mới có thể vãng sinh đến Phật quốc tịnh thổ.” Lúc này, dù rằng bạn chưa tương ứng, nhưng bạn có thể chỉ thị cho người đó là lỗ đỉnh đầu của anh ta nằm ở đâu. Chỗ đó là điểm ở chính giữa đỉnh đầu, cách mép tóc tám đốt ngón tay, bạn chỉ cho người chết thấy. Đây là cách để giúp họ.

Cách thứ hai, bạn phải nói với người đó: “Tuy là anh chưa tương ứng với Bổn tôn, nhưng anh vẫn phải quán tưởng Thượng sư và Bổn tôn trụ đỉnh.” Người chết đó bình thường nếu có tu pháp, bạn hãy nói bên tai anh ta rằng: “Bây giờ anh hãy quán tưởng Căn bản Thượng sư và Bổn tôn của anh trụ tại lỗ đỉnh đầu của anh.” Bạn phải nhớ làm như vậy, bởi vì khi nguyên thần của anh ta từ lỗ đỉnh đầu đi ra, anh ta lập tức có thể được Bổn tôn và Thượng sư tiếp dẫn anh ta đến Phật quốc tịnh thổ. Đồng thời, bản thân bạn còn phải nói với người vãng sinh là phải mau chóng niệm chú ngữ của Bổn tôn, hoặc xưng niệm danh hiệu của Bổn tôn. Nếu Bổn tôn là Quan Thế Âm Bồ Tát thì bạn phải mau chóng bảo người chết: “Trong tâm anh phải khẩn trương niệm tâm chú của Quan Thế Âm Bồ Tát.”

Khi mẹ tôi vãng sinh, tôi dùng pháp Quang uẩn thiên thức, sau đó tôi nói với mẹ tôi: “Lúc này, thời gian vãng sinh của mẹ sắp đến rồi, bây giờ mẹ chỉ có thể ngửa mặt trông lên Bổn tôn đến tiếp dẫn mẹ, nếu mẹ nhìn thấy Diêu Trì Kim Mẫu xuất hiện, mẹ hãy đi theo Diêu Trì Kim Mẫu. Nếu mẹ nhìn thấy Quan Thế Âm Bồ Tát xuất hiện, mẹ hãy đi theo Quan Thế Âm Bồ Tát. Quan Thế Âm Bồ Tát chính là Bổn tôn của mẹ, Diêu Trì Kim Mẫu chính là vị mà mẹ sùng kính, cũng là Bổn tôn của Sư Tôn. Mẹ có thể quán tưởng Diêu Trì Kim Mẫu đến đưa mẹ đi, hoặc là Quan Thế Âm Bồ Tát đến đưa mẹ đi, trong tâm mẹ luôn phải mặc niệm các vị để thỉnh cầu tương ứng. Trong sát-na đó mẹ có thể tỉnh táo không mơ hồ, đi theo Diêu Trì Kim Mẫu hoặc Quan Thế Âm Bồ Tát.” Đi theo Bổn tôn của người vãng sinh, đây là phương pháp thù thắng nhất, cũng là nhanh nhất, cũng là đơn giản nhất.

Đồng thời, bạn biết Bổn tôn của người vãng sinh là vị nào thì hãy phát băng tâm chú của Bổn tôn đó, hoặc là phát băng danh hiệu của Bổn tôn. Việc chăm sóc lúc lâm chung của chúng ta là làm thế này: bạn ở bên cạnh cùng niệm Phật, cùng niệm Phật hiệu A Di Đà Phật, hy vọng A Di Đà Phật Tây phương Tam Thánh có thể tiếp dẫn người vãng sinh đến Phật quốc tịnh thổ, đến Ma Ha Song Liên Trì. Nếu người vãng sinh này có tu hành, Bổn tôn của họ là vị nào, nếu người nhà đều biết thì người nhà hãy giúp họ niệm tâm chú của Bổn tôn. Nếu không biết Bổn tôn của họ thì bạn có thể niệm tâm chú của Căn bản Thượng sư, sau đó nói với người vãng sinh: “Anh phải nhanh chóng quán tưởng Căn bản Thượng sư của anh trụ ở đỉnh đầu, để ngay khi nguyên thần của anh đi ra, Căn bản Thượng sư sẽ lập tức đưa anh đến tịnh thổ của Căn bản Thượng sư.” Khi ấy, Căn bản Thượng sư và Bổn tôn hợp nhất. Quan trọng là nói rằng, bình thường khi chúng ta tu pháp, Căn bản Thượng sư, Bổn tôn và Căn bản Hộ pháp của bạn đều hợp nhất, tam căn bản hợp nhất, phải ghi nhớ điểm này.

Pháp Quang uẩn thiên thức và pháp Phowa là khác nhau. Vừa rồi tôi đã nói về pháp Quang uẩn thiên thức, còn pháp Phowa là bình thường khi bạn tu, bạn mở cái lỗ trên đỉnh đầu ra. Mở đỉnh khiếu này chính là pháp Phowa. Còn pháp Quang uẩn thiên thức là nói rằng khi lâm chung, vì lỗ đỉnh đầu của bạn đã mở ra rồi, rất nhanh chóng có Bổn tôn, Thượng sư và Hộ pháp đều ở tại lỗ đỉnh đầu của bạn, bạn vừa đi ra khỏi lỗ đỉnh đầu thì có thể vãng sinh Phật quốc tịnh thổ. Hãy nhớ, khi nguyên thần của bạn đi ra, nhìn thấy Thượng sư, Bổn tôn và Hộ pháp đều ở đó, hơn nữa ba vị hợp làm một, bạn liền có thể tiến nhập vào trong tâm của ngài, lập tức đến được Phật quốc tịnh thổ, trong sát-na (một cái búng tay), là có thể đến được Phật quốc tịnh thổ rồi. Pháp Quang uẩn thiên thức là khi lâm chung sẽ làm, còn pháp Phowa là bình thường phải tu cho lỗ đỉnh đầu mở ra. Nói như vậy đã rõ chưa?

Ở đây anh nói rằng “cũng không hiểu rõ pháp trung ấm nghe dạy mà được độ”. Trung ấm nghe dạy được độ là có  một cuốn sách do Liên Hoa Sinh Đại Sĩ viết, có một cuốn sách như vậy. (Chú thích: terma “trung ấm nghe tức giải thoát” của Liên Sư.) Ngoài ra, Sư Tôn cũng có một cuốn sách dạy mọi người phương pháp làm thế nào để vãng sinh Phật quốc, tên là cuốn “Độ qua biển sinh tử”. Anh có thể thỉnh về đọc, anh sẽ hiểu làm thế nào để giúp đỡ người vãng sinh, cũng có thể hiểu pháp trung ấm nghe dạy được độ. Vì thế, anh không hiểu rõ pháp trung ấm nghe dạy được độ, anh có thể đọc cuốn sách “Độ qua biển sinh tử” của Sư Tôn. Anh hãy đọc cẩn thận, mỗi đồng môn đều cần đọc cuốn sách này, bởi vì cuốn sách này giúp cho chính bạn và cũng có thể giúp người khác vãng sinh đến Phật quốc tịnh thổ.

---
# File: tinh-tuyen/tam-quan-trong-cua-ho-phap.md
# Title: Tầm quan trọng của Hộ pháp
---

![image](/img/img_28186ff65bb4a0f78ea02629ecdc30c6.jpg)



# Tầm quan trọng của Hộ pháp


Khai thị của Liên Sinh Hoạt Phật ngày 20.02.1994 tại Đài Loan Lôi Tạng Tự.

Hộ pháp là sự nghiệp căn bản, giúp đỡ bạn hoằng pháp. Hôm nay có rất nhiều Hộ pháp thì mới có rất nhiều chúng sinh đến học tập Chân Phật Mật Pháp. Hộ pháp ở xung quanh Sư Tôn, theo ý niệm của Sư Tôn mà hành động. Tôi khởi lên tâm niệm là Hộ pháp sẽ giúp Sư Tôn, ở đây là sự giúp đỡ lẫn nhau. Sau này bạn thành Phật, Hộ pháp cũng sẽ cùng bạn thành Phật.

Chúng ta có rất nhiều ví dụ về tu hành cho thấy tầm quan trọng của Hộ pháp. Ở bên ngoài, rất nhiều đều là Hộ pháp đang làm công việc kết giới, ví dụ làm một đàn pháp là Hộ pháp đang làm kết giới, đang hộ trì thuyết pháp, hộ trì làm pháp hội, làm Hộ Ma, vì thế nhất định phải cung kính Hộ pháp. Mỗi lần trước khi bạn bế quan, đầu tiên phải thỉnh cầu Hộ pháp bảo vệ bạn bế quan. Vì thế, trong đàn Hộ Ma cực kì coi trọng đàn Hộ pháp, bạn làm Hộ Ma nhất định phải làm đàn Hộ pháp.

Tứ Đại Thiên Vương là Hộ pháp rất tốt của Chân Phật Tông chúng ta, Tứ Thiên Vương hộ trì chúng ta, trước khi bế quan phải tu một đàn Hộ Ma, cúng Tứ Đại Thiên Vương, để trong lúc bạn bế quan, tu hành mới có thành tựu, không bị ma nhân cơ hội làm hại. Bình thường cũng cần cúng Tứ Thiên Vương, bất kể là bạn trì chú, niệm Phật, đi ra ngoài đều phải cúng Tứ Thiên Vương. Tứ Thiên Vương là Hộ pháp rất tốt của tông phái chúng ta, Bất Động Minh Vương cũng là Hộ pháp rất tốt, Uế Tích Kim Cang cũng là Hộ pháp rất tốt. Mahakala cũng vậy, khi Mahakala đến thì chắc chắn có mưa đá. Vị Bạch Mahakala sáu tay là hóa thân của Quan Thế Âm Bồ Tát, khi ngài đến chắc chắn có mưa đá, ngài đã đến giúp tôi rất nhiều, ngài giúp tôi kéo dài thọ mạng, giúp tôi thân thể khỏe mạnh, giúp tôi có thể được như ý, về phương diện tài lực, phương diện độ chúng đều giúp đỡ tôi, ngài rất có sức mạnh. Vị Mahakala sáu tay màu trắng, tôi rất cung kính.

Đại Uy Đức Kim Cang hiện tại là vị Hộ pháp chính, tôi biết ngài đến để hộ trì tôi, ngài và tôi đều đã phát lời thề, ngài phải hộ trì tôi cho đến khi tôi niết bàn, tôi cũng nói từ nay không rời xa ngài, ngài hộ trì tôi, tôi mãi mãi cung kính ngài. Đại Uy Đức Kim Cang không sợ gì cả, tất cả đều không sợ, ngài là vị Hộ pháp lớn nhất của Mật tông Hoàng giáo, là đại Hộ pháp của tổ sư Tsongkhapa. Mọi sự nghiệp hoằng pháp vì có sự hộ trì của Hộ pháp mới có thể lưu truyền trên đời. Về mặt thay đổi lòng người đều là công lao của sự nghiệp của Hộ pháp. 

Tôi hy vọng mọi người đối với Hộ pháp phải cung kính, tốt nhất là có một đàn Hộ pháp, thừa nhận một vị Hộ pháp tại đàn thành của mình, mỗi bữa đều cúng dường ngài. Tốt nhất là ngài sẽ hiển hiện ra, cho thấy ngài muốn hộ trì bạn, ngài muốn đi theo bạn, bạn phải hết sức cung kính ngài, bạn và Hộ pháp là vĩnh viễn không tách rời, còn thân thiết hơn cả bạn thân. Bạn phải làm được đến mức như vậy. Sau khi bạn có Hộ pháp rồi, đối với sự nghiệp hoằng pháp của bạn, tu hành của bạn, phương diện phòng ma của bạn, đối với phòng tránh sự quấy nhiễu của yêu ma quỷ quái bên ngoài đều có lợi ích, điểm này vô cùng quan trọng. Mọi người phải ghi nhớ tam căn bản: Thượng sư là gia trì căn bản, Bổn tôn là thành tựu căn bản, Hộ pháp là sự nghiệp căn bản. Ba vị này thường xuyên đặt trong tâm mình thì về phương diện tu hành Mật giáo của bạn nhất định có thành tựu rất lớn.

---
# File: tinh-tuyen/that-phat-duoc-su-ngu-dan-phap.md
# Title: Thất Phật Dược Sư ngũ đàn pháp
---

## Thất Phật Dược Sư ngũ đàn pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!


### Công đức của pháp:


Trong tu trì pháp của Chân Phật Tông, có pháp Bổn tôn Dược Sư Như Lai, ngoài ra, Liên Sinh Thánh Tôn còn có Thất Phật Dược Sư ngũ đàn pháp, đây là đại pháp của Đài mật, đàn ở chính giữa là Đại Thánh Bất Động Minh Vương, đàn phía nam là Quân Đồ Lợi Dạ Xoa Minh Vương, đàn phía bắc là Kim Cang Dạ Xoa Minh Vương, đàn phía đông là Hàng Tam Thế Minh Vương, đàn phía tây là Đại Uy Đức Minh Vương. Đại pháp này không những có thể cứu người mà cũng có thể cứu nước, cứu thế giới.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, muốn đạt được lợi ích tất cả hữu tình, cứu độ chúng sinh, có thể tu Thất Phật Dược Sư ngũ đàn pháp. 

Bảy vị Phật là: Thiện Xứng Danh Cát Tường Vương Như Lai, Bảo Nguyệt Trí Nghiêm Âm Tự Tại Vương Như Lai, Kim Sắc Quang Diệu Hạnh Thành Tựu Như Lai, Vô Ưu Tối Thắng Cát Tường Như Lai, Pháp Hải Lôi Âm Như Lai, Pháp Hải Huệ Du Hý Thần Thông Như Lai, Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai.

Năm đàn là: ở giữa Đại Thánh Bất Động Minh Vương, phía nam là Quân Đồ Lợi Dạ Xoa Minh Vương, phía bắc là Kim Cang Dạ Xoa Minh Vương, phía đông là Hàng Tam Thế Minh Vương, phía tây là Đại Uy Đức Minh Vương.

Ngoài ra còn có đại pháp Dược Sư 12 thần tướng dựa theo Mật pháp của 12 giờ theo địa chi. 

Pháp này thuộc Sơ quán Ngoại pháp.

---
# File: tinh-tuyen/tien-giay-chan-phat-tong.md
# Title: Tiền giấy Chân Phật Tông
---

![image](/img/img_c057060c287e270cd63eb56c7b6dd6cb.jpg)



## Ý nghĩa và cách sử dụng tiền giấy Chân Phật Tông


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🌟 **Ngày 14.08.2023, Liên Sinh Hoạt Phật đã ban phép gia trì, cho phép phát hành và sử dụng giấy tiền Chân Phật bản cho người Việt, với mục đích gây quỹ hỗ trợ cho các hoạt động biên dịch và hoằng pháp **🙏

(Thỉnh mua duy nhất tại: [shop.upalamani.org](http://shop.upalamani.org/))


## Ý nghĩa công dụng thù thắng của tiền giấy Chân Phật Tông



### Chân Phật Kim



![image](/img/img_88cd63ee69cd2c994b45837ed6ce9877.jpg)


Nhờ bát diệp luân và đệ nhất quán của Liên Sinh Hoạt Phật làm trọng tâm, cộng thêm truyền thừa gia trì của Phật để tiêu tai, ban phúc, tăng ích. Phòng ma đuổi tà, tiêu trừ nghiệp chướng, hóa giải tai nạn, bảo hộ thân tâm, bình an cát tường. Cứu tế âm linh, an ủi cô hồn quỷ đói, bệnh tật tàn phế, siêu thăng tổ tiên. Cúng dường Phúc Thần để tăng tiến tài vận.

Bình thường và lúc nguy cấp đều có thể dùng. Tiền vàng này có thể hóa đốt riêng, có thể đốt cùng tiền vàng khác. Cách dùng tiền vàng này phân thành hai loại:

1. Người thỉnh cầu vào ngày kỷ niệm Phật đường, chùa miếu, phụng thỉnh Chân Phật Hải Hội Thập Phương Bồ Tát, Diêu Trì Kim Mẫu, Liên Hoa Đồng Tử, Hộ Pháp Kim Cang Không Hành, các thần địa phương làm chủ cho đệ tử (tín giả), (XX) người, tại địa chỉ….. vì (XX) việc thỉnh cầu phù hộ giúp đỡ, gia trì cho (XX) việc được viên mãn, sau đó hóa đốt tiền vàng cúng dường. (XX là điền con số.)

1. Nếu có việc đặc biệt quan trọng (có việc thỉnh cầu), người thỉnh cầu quay mặt về hướng Đông, cung kính niệm một hoặc nhiều biến Liên Sinh Hoạt Phật gia trì văn hoặc, 108 biến tâm chú Liên Hoa Đồng Tử (tốt nhất là niệm chú dài). 

Khi niệm tâm chú có thể niệm như sau: “Ôm ah hùm. Gu-ru pây. A-ha-sa-sa-ma-ha. Liên Sinh sắc lệnh đệ tử Liên Hoa… ABC… (lời nguyện cầu) như ý viên mãn. Sit-đi hum.”

Khi hóa đốt tiền vàng này, mỗi tờ niệm 1 biến, càng nhiều càng tốt, tối thiểu là 7 biến (tức hóa đốt 7 tờ). 


### **Thất Phật Kim **



![image](/img/img_2d091407bbba0a50511e6309bdaced6e.jpg)


Con người đều có nghiệp chướng không tên từ nhiều kiếp đến nay, tạo nên đủ loại chướng ngại trong cuộc sống thường ngày, mọi việc không thuận. Thành tâm đốt cúng loại tiền này có thể nhanh chóng tiêu nghiệp chướng, cát tường như ý. Nhờ Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh và Thất Phật Diệt Tội Chân Ngôn để tiêu trừ các nghiệp tội của chúng sinh, tiến tới tăng trưởng tư lương phúc đức.


### **Như Ý Kim**



![image](/img/img_e45c2b8a64f6dca15ef6c4f4c3ca5129.jpg)


Cầu việc kinh doanh, sự nghiệp hưng vượng, nghiệp vụ giao thiệp thuận lợi, cúng dường tiền vàng này thì phúc phần lợi ích sẽ tăng trưởng. Nhờ biểu tượng như ý của Kim Mẫu, ban phúc cho chúng sinh mọi sự như ý, mọi sự cát tường, phúc lộc tăng trưởng. 


### **Hòa Hợp Kim**



![image](/img/img_c908bd94709c4a1126e5ce3adf7cf096.jpg)


Hóa giải những bất hòa trong và ngoài công xưởng, doanh nghiệp, khách hàng, vợ chồng. Cúng dường tiền vàng này có thể hóa trừ tất cả oán hận, phát triển tốt các mối quan hệ giữa con người. Nhờ sức mạnh kính ái của Kurukulle Phật Mẫu và Ái Nhiễm Minh Vương để hóa giải những chướng ngại nhân sự và ban phúc chúng sinh oan thân bình đẳng, kính ái hòa hợp.


### **Trừ Tật Kim**



![image](/img/img_a6baa9c06cb3b8b036888ac516070eca.jpg)


Chữa khỏi sự khó chịu của thân thể, những bệnh lạ trên người làm tiêu hao tài chính và rối loạn gia đình, thuốc thang vô hiệu. Cúng dường tiền vàng này, thành tâm sám hối, thường trì tâm chú, có thể mau chóng tiêu bệnh nghiệp, thân thể an khang. Nhờ kim đan của Kim Mẫu và chú lực của Dược Sư Phật, nguyện chúng sinh tiêu trừ tất cả bệnh nghiệp, bệnh chướng, bệnh nạn, bệnh khổ.


### **Địa Tạng Kim **



![image](/img/img_1e602d666e83b1adc13c6574e0c79870.jpg)


Có thể tiêu trừ nghiệp chướng tích tập nhiều kiếp và những tội sát sinh trong ngày. Siêu độ tổ tiên vãng sinh thế giới Cực Lạc, độ tất cả vong hồn rời khỏi khổ luân địa ngục. Khiến tổ tiên có được lợi ích, sự nghiệp của bản thân phát đạt, âm dương đều có lợi. Tảo mộ, tiến kim (bốc mộ, cải táng) đều đại cát. Nhờ nguyện lực của Địa Tạng Bồ Tát để tiêu trừ định nghiệp của chúng sinh và bổ sung tài khố, tăng trưởng tư lương phúc phần.


### **Đại Phúc Kim**



![image](/img/img_ffd0d031ab759c224cfd20750c869324.jpg)


Nhờ sức mạnh của tam tự minh chú và văn cầu thỉnh, thỉnh cầu Đại Phúc Kim Cang ban phúc cho chúng sinh, tiêu tai giải nghiệp, khai vận cát tường.


### **Tứ Phương Kim**



![image](/img/img_37397e9a95b995c6f0ccc641ab1c3163.jpg)


Nhờ pháp tăng ích bốn phương làm trọng tâm, mong khiến chúng sinh được Địa Thần, Tài Thần ban phúc, bốn phương tăng ích, tám phương trợ tài.


### **Đà-la-ni Kim **



![image](/img/img_bcc0be8e63b337279d211d994d28a79b.jpg)


Nhờ chú lực của Tôn Thắng Phật Mẫu và chú vãng sinh, khiến chúng sinh u minh vãng sinh tịnh thổ, siêu sinh thoát khổ, chúng sinh dương thế hóa giải tất cả oan khuất.


### **Minh Tư**



![image](/img/img_6871ba750e54067b5742e7751d28c0fe.jpg)


Nhờ luật lệnh chú lực của Ma Ha Song Liên Trì để lưu thông mười pháp giới, khiến chúng sinh cõi âm dương đều được lợi, tiền tài lưu thông, tư lương tăng trưởng.


### **Giáp Mã** 



![image](/img/img_f4bb95da65bddd02d20766254fa31103.jpg)


Nhờ luật lệnh thông hành pháp giới của Liên Sinh Phật, bảo đảm văn sớ được trình lên trên và lợi ích tiền vàng lưu thông.


## Cách thức sử dụng



### Phạm vi sử dụng


- Có thể đốt hóa cúng cho Chư Phật Bồ Tát, Kim Cang Hộ Pháp, Không Hành, chư thiên thần chúng, Thành Hoàng, Thổ Địa Công, Tài Thần và các thần linh thông thường, chủ đất.

- Đốt cho người âm. Đốt cho Cửu huyền thất tổ, oan gia trái chủ, vong đi theo thân, thủy tử linh... Có thể vãng sinh, trả nợ, chữa lành, tháo được duyên nghiệp.

- Trong pháp Hộ Ma (Homa - cúng lửa). Có thể gấp thành hoa sen, gấp thành thuyền, hoặc đốt trực tiếp độ người âm, cầu phúc cho người sống, cho hành giả, thực hiện giải nghiệp, thực hiện tăng ích, tức tai, kính ái, hàng phục.

- Dùng cho pháp Thế thân (khi tiễn thế thân đi) Diêu Trì Kim Mẫu - Thế thân pháp. Chọn buổi chiều ngày Trừ nhật (ngày có thể đuổi đi), chọn nơi đất trống ở cửa sau nhà để đốt giấy tiền vàng và thế thân. (Sau khi đốt tiền vàng thì cho hình thế thân vào đốt.)


### **Cách dùng thường ngày**


Có thể vào ngày mồng 1, mồng 2, 15, 16 âm lịch hàng tháng thì dùng để cúng. Vào tết Thanh Minh tế tổ hoặc ở Phật đàn của mình, bất kì lúc nào đều có thể cúng và đốt. Riêng Thất Phật Kim, khi hóa đốt thì cứ hóa một tờ lại niệm một câu Thất Phật Diệt Tội Chân Ngôn, làm được như vậy thì càng thù thắng, hiệu quả càng tốt.


### Các bước đốt tiền giấy


1. Cung kính triệu thỉnh Căn bản Truyền thừa Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật và các vị chủ tôn được thờ cúng tại đàn thành, cầu thỉnh được thanh tịnh, gia trì, ban phúc, chuyển hóa mong ước bằng việc đốt giấy vàng kinh chú.

1. Cung kính bẩm báo tên họ của người cúng, địa chỉ, nội dung cúng phẩm, và đối tượng mình muốn cúng dường, bao gồm cả địa chỉ cúng dường (trên cúng sớ văn, dưới đặt thẻ tên) và nêu cụ thể sự việc muốn cầu thỉnh.

1. Thỉnh cầu Hộ pháp, chư tôn, Thổ Địa thần từ bi đi theo hộ tống giấy vàng kinh chú quý giá này, truyền đạt tới đối tượng được cúng dường.

1. Đặt ở trên cúng: chư Phật, Bồ Tát, Hộ pháp, Thổ Địa thần. Phải nhất mực một lòng cảm ơn và thành kính.

1. Đặt ở dưới cúng: Với tổ tiên nhiều đời, phải cần có tấm lòng hiếu kính, v.v... Với oan gia trái chủ cần có lòng nhớ việc sám hối, sẽ sửa đổi sai lầm.

1. Đối với tất cả chúng sinh pháp giới cần có tấm lòng từ bi và khoan dung bằng việc thường xuyên nuôi dưỡng bồ đề tâm.


### **Dùng vào lúc khẩn cấp**


Nếu có việc đặc biệt quan trọng, có thể vào sau 9 giờ tối hàng ngày, hướng về phía Tây hóa đốt, khấn nguyện thỉnh cầu Diêu Trì Kim Mẫu và các thần thánh đi qua đi lại giúp giải quyết, sau đó hóa đốt cũng có hiệu quả, chỉ là khi khẩn cầu nhất thiết phải một lòng thành kính. (Chỉ thỉnh cầu 1 việc.)


### Thời điểm đốt cúng


**Tu pháp:** có thể cúng cho Chư Phật Bồ Tát, Hộ Pháp, thần chúng tại đàn thành và oan thân trái chủ mỗi vị 1 phần, thỉnh cầu cho nguyện vọng đạt thành.

**Pháp hội: **ngoài những đối tượng kể trên, có thể cúng dường tổ tiên, thủy tử linh và chúng sinh cõi âm báo danh pháp hội, mong họ được ăn uống no đủ, thoát khổ được vui.

**Lễ chùa: **có thể cúng chư thiên thần chúng trong chùa mỗi vị 1 phần, cầu nguyện phù hộ bình an cát tường.

**Phổ độ:** có thể cúng dường 7 phần hoặc 21 phần, cầu nguyện phù hộ bình an cát tường, gia đình yên ổn.

**Ngày mồng 1, 2, 15, 16 Âm lịch:** khi cúng cho cửa hàng theo phong tục, có thể cúng dường 7 phần tiền, cầu nguyện phù hộ kinh doanh thịnh vượng, nhân sự hòa hợp.

**Tế tổ:** có thể cúng dường tổ tiên 7 phần, mong họ được ăn uống no đủ, thoát khổ được vui, phù hộ cho con cháu đời sau đời đời hưng vượng. 

**Ma chay:** trong thời gian ở trong linh cữu, mỗi ngày cúng 7 phần trước linh vị (đề nghị không đốt tiền cước vĩ). Vào lúc chôn, hoặc 7 ngày, 100 ngày, ngày giỗ, mỗi lần đốt cúng tổng cộng 21 phần, mong người chết có tư lương đầy đủ, vãng sinh tịnh thổ, siêu sinh thoát khổ, và phù hộ cho con cháu đời sau tiền tài dồi dào, quan vận hiển đạt.

**Lễ Thổ Địa Công:** có thể cúng dường 3 phần, cầu nguyện phù hộ nhân sự hòa hợp, kinh doanh hưng vượng, tài nguyên dồi dào.

**Chủ đất: **có thể cúng 1 phần, thỉnh cầu phù hộ gia trạch an ổn, xuất nhập bình an, tất cả cát tường.

**Cầu phúc cho bệnh nghiệp:** có thể cúng Phật Bồ Tát, Hộ Pháp thần chúng 3 phần, cúng oan thân trái chủ 7-21 phần (tùy tình hình mức độ nghiêm trọng hoặc khẩn cấp), thỉnh cầu bệnh nghiệp đẩy lùi.

**Thú cưng vãng sinh:** có thể đốt cúng 7 phần, nguyện thú cưng thoát đạo súc sinh, vãng sinh tịnh thổ (nếu được, hãy trì niệm thêm chú vãng sinh 7 biến). 

**Thương nhân làm kinh doanh:** mỗi ngày khi mở cửa hàng, có thể đốt 1 phần, cầu nguyện Địa Thần giúp đỡ, chiêu quý nhân, trợ tài thông, làm ăn phát đạt.

Lưu ý: 1 phần gồm 11 loại tiền, mỗi loại 7 tờ.


## Giảng pháp và luận bàn



### Đốt tiền vàng là mê tín hay là chính tín? 


(Trích: Liên Sinh Hoạt Phật giảng Hồng Quang Đại Thành Tựu)

Bây giờ ở Đài Loan có rất nhiều chùa hoặc miếu không đốt tiền vàng, rồi một số miếu Đạo gia cũng không đốt tiền vàng, cũng có rất nhiều pháp sư khi thuyết pháp nói rằng đốt tiền vàng là mê tín, khuyên các Phật tử không đốt tiền vàng. Những thứ như nhà cửa bằng giấy, tivi bằng giấy, tủ lạnh bằng giấy cũng không cần đốt cho người chết. Có một số pháp sư nói rằng đốt những thứ này đều là mê tín.

Từ quan điểm của bản thân tôi mà nói thì những pháp sư và các chùa miếu đó thật ra đều sai lầm. Tôi nói như thế này, nếu không xét về mặt an toàn và ảnh hưởng tới bảo vệ môi trường thì có thể đốt tiền vàng, cũng có thể đốt những thứ như nhà cửa, tủ lạnh, tivi bằng giấy. Vì sao tôi lại nói như vậy? Bởi vì trong kinh Phật nói “vạn pháp duy tâm, vạn pháp duy thức”. Thật ra mọi pháp đều là do thức và tâm sản sinh ra, tất cả chúng ta coi trọng cái tâm này, cho nên người học Phật phải hiểu cái thức, hiểu cái tâm, thì mới có thể phân biệt được đạo lý ở trong đây. 

Đốt tiền vàng là đốt cho tổ tiên bạn, là biểu đạt tấm lòng hiếu thảo của bạn, là một dạng cúng dường. Bạn đã đặt cái tâm của con cháu nơi dương thế vào trong đó thì cái này sẽ có tâm, có tâm thì sẽ có hiệu quả, sẽ sản sinh ra sức mạnh.

Đốt tiền vàng không phải là đốt để chơi, mà là biểu đạt tấm lòng hiếu thảo của con cháu ở dương thế. Vì đã có tâm, trong Phật pháp gọi là “duyên khởi”, ý nghĩa của duyên khởi là do nhân duyên mà khởi lên việc đốt tiền vàng. Vì đã có duyên khởi, vậy thì tức là chính pháp, là hợp pháp, tuyệt đối không thể nói là mê tín. Nói là mê tín, vậy thì tất cả mọi thứ đều biến thành mê tín hết. Nói rằng đốt tiền vàng là giả, vậy tôi muốn hỏi bạn, dưới bầu trời này có cái gì là thật? Tượng Phật bằng gỗ, bằng đồng, bằng xi-măng, bằng thủy tinh được thờ cúng trong Phật giáo, thế vị nào là thật? Thật ra toàn bộ đều là giả. Thế vì sao bạn vẫn lạy? Là vì bạn có tâm bạn mới lạy. Bạn dùng cái tâm này tức là duyên khởi, “vạn pháp duy thức, vạn pháp duy tâm”, bạn lạy như vậy thì sẽ có hiệu quả. Giả sử bạn chỉ lạy chơi chơi thì không có hiệu quả. Đạo lý của mê tín và chính tín nằm ở đây.

Cho nên những pháp sư kia lên bục nói rằng tiền vàng là mê tín, đó là họ không hiểu đạo lý này. Nói một cách rất đơn giản, có tâm thì hữu hiệu, vô tâm thì vô hiệu. Phật  pháp là nói về duyên khởi, cho nên bạn dùng tâm hiếu đạo để đốt tiền vàng, tiền vàng sẽ biến thành hữu hiệu và có pháp lực, đây là một đạo lý rất đơn giản. Nhưng rất nhiều pháp sư và chùa miếu, quán đường đều không hiểu, cho rằng đốt tiền vàng là mê tín.

Trên thế giới này, bất kể là như thế nào, bạn đều phải dùng trí tuệ để phân biệt. Thế nào là có tâm? Chỉ cần tâm lực bạn đặt vào đó, “vạn pháp duy tâm, vạn pháp duy thức”. Cúng dường Phật Bồ Tát cũng thế. Khi bạn cúng dường, thứ nào có thể cúng, thứ nào không thể cúng, thứ nào Phật Bồ Tát ưa thích, thứ nào Phật Bồ Tát không ưa thích, thứ nào là đồ cúng thanh tịnh, thứ nào là đồ cúng ô nhiễm, hoàn toàn do tâm bạn cúng dường. Vạn sự vạn vật trên thế giới này đều là do tâm, quán tưởng và cúng dường của Mật giáo cũng là dùng tâm và thức để làm. Cần biết rằng âm gian vốn dĩ cũng là do tâm thức của dương gian tạo thành, và tiền vàng cũng là do tâm thức của dương gian tạo thành. Bạn biết tiền mà dương gian dùng cũng làm bằng giấy, cũng là vì được cùng thừa nhận thì mới xem là có hiệu quả. Tiền giấy là thứ mà mọi người cùng thừa nhận thì mới có hiệu quả. Bởi vậy, chính tín và mê tín, sự khác biệt vô cùng nhỏ, toàn toàn nằm ở tâm. Chỉ cần các bạn từ từ thể hội sẽ biết thế nào là chính tín, thế nào là mê tín.

Muốn nói là giả, trên thực tế vạn vật không có một thứ nào là thật, toàn bộ đều là giả, nhưng bạn dùng tâm lực lên đó thì toàn bộ đều biến thành thật. Bạn xem, người phương Tây cúng hoa ở trước mộ, người Trung Quốc chúng ta thì vào Tết Thanh Minh tảo mộ cúng thức ăn, trước Phật Bồ Tát cúng rất nhiều thứ, đối với người chết thì còn đốt nhà giấy, tivi giấy, tủ lạnh giấy và tiền giấy. Toàn bộ đều là do tâm mà thôi, cho nên cái này đều nên thuộc về tín ngưỡng đúng đắn chứ không phải mê tín. Mọi người cần biết thế nào là chính tín, thế nào là mê tín. Có một số người cho rằng đốt tiền vàng là giả, pháp sư cũng cho rằng không thể đốt, ở chùa miếu quán đường đều không thể đốt, đó là vì họ đều không hiểu đó là tác dụng của tâm.

Om mani padme hum.

14.07.1993.

---

---
# File: tinh-tuyen/trach-nhiem-va-nghia-vu-cua-phap-su-xuat-gia-duoi-chan-phat-tong.md
# Title: Trách nhiệm và nghĩa vụ của pháp sư xuất gia dưới Chân Phật Tông
---

# Trách nhiệm và nghĩa vụ của pháp sư xuất gia dưới Chân Phật Tông


Vào lúc 4:30 chiều ngày 09/12/1992, tại Chân Phật Mật Uyển ở Seattle, Liên Sinh Hoạt Phật đã khai thị trách nhiệm và nghĩa vụ của pháp sư cạo đầu đi tu dưới phái Chân Phật Tông và mấy điểm quan trọng cần chú ý.


![image](/img/img_c4fe6c91ddbf82221071691cd21bd2a4.jpg)


Thánh Tôn nói:

“Trong tông phái chúng ta, pháp sư cạo đầu đi tu phân thành hai loại. 
Loại thứ nhất là người sống trong chùa, pháp sư sống trong chùa đương nhiên là do người phụ trách của chùa đến phân phối công việc. Còn về phương diện chùa thì đương nhiên là phải thu xếp tất cả cuộc sống cho pháp sư, và bản thân pháp sư cũng phải phục vụ chùa. 

Loại thứ hai là cạo đầu xuất gia xong, muốn có thân tự do, không muốn sống trong chùa, muốn trở về địa phương của mình tu hành, muốn sống ở nơi nào cũng được. Nhưng bất kể là bạn sống trong chùa hay là rời khỏi chùa, tự mình đi đến nơi tu hành của mình thì đều phải chú ý ba điểm dưới đây:

Điểm thứ nhất, đệ tử xuất gia của Chân Phật Tông đều phải y theo giới luật xuất gia của Chân Phật Tông, phải giữ giới xuất gia.

Điểm thứ hai, xuất gia tu hành phải tu bảy pháp thanh tịnh, bảy pháp thanh tịnh này nhất định phải làm được.

Bảy pháp thanh tịnh là:
1. Mỗi buổi sáng, trưa, tối, trước khi ngủ, tổng cộng tu bốn đàn pháp.
2. Định tâm.
3. Tùy hỷ công đức.
4. Sám hối.
5. Hồi hướng.
6. Lễ bái cúng dường.
7. Thuyết pháp.

Điểm thứ ba, ngoài tự tu ra thì còn phải đi độ chúng sinh.

Bởi vì ý nghĩa của xuất gia là trên cầu Phật quả, dưới hóa chúng sinh. Bạn phải vừa dạy vừa học, dạy và học đều nâng cao, hai phương diện này đều phải làm được, bất kể là sống ở chùa hay là rời đi thì đều phải đi độ chúng sinh, đều phải khuyên thỉnh người ta quy y Chân Phật. Bạn có thể làm một vài pháp sự, có thể giúp người ta cầu phúc, giúp người ta siêu độ, giúp người ta vẽ phù, ngoài ra giúp người ta hóa nước chú Đại Bi, đều được. Chỉ cần tâm, khẩu, ý của bạn làm được thanh tịnh thì bạn không phạm giới. Nhưng tâm bạn không làm được, khẩu không làm được, ý không làm được mà lại có những tham niệm để đi làm pháp sự thì tức là phạm giới. 

Nói cách khác là, một pháp sư xuất gia, trong nghi quỹ tu pháp phải hoàn toàn phù hợp nghi quỹ, không bỏ sót nghi quỹ, như thế thì tất cả pháp sự mà người đó làm là không phạm giới, có thể làm được. Nhưng giả sử bạn dùng tâm niệm khác để làm những pháp sự, không hề thật sự vì chúng sinh, không có toàn tâm 100%, hoặc không có tâm thanh tịnh nhất để đi làm pháp sự, mà lại vì tham lấy cúng dường nên mới đi làm pháp sự thì xem là phạm giới. Phạm giới và không phạm giới chính là sự khác biệt này mà thôi.

Pháp sư tức là lấy pháp làm thầy, muốn làm những việc về mặt Phật pháp đều có thể được. Phân đường trong tông phái có mời bạn đi, bạn có thể đi, cũng có thể thuyết pháp. Không có phân đường nào trong tông phái mời bạn đi mà bạn cứ cố đi, thì cũng giống như quy tắc của Thượng sư mà trước đây đã nói, vì phân đường không mời bạn mà bạn cứ muốn đi thì đó là điều không hay. Nói cách khác phải là đôi bên cùng mong muốn, đôi bên đều vui vẻ, như vậy mới là tốt nhất. 

Cho nên, bất kể thế nào, bạn có thể tự mình cân nhắc lẽ phải, điểm đó là hợp lý, điểm đó là không hợp lý, tức là điểm đó như pháp, điểm đó không như pháp, tự bạn có thể cân nhắc, ngẫm nghĩ thử, nên biết là có thể làm hay không.

Đi đến mỗi phân đường, trước tiên phải được phân đường mời bạn thì bạn có thể thuyết pháp, bởi vì bạn là pháp sư, bạn là người xuất gia, bạn có thể giảng pháp. Nhưng pháp mà bạn giảng là như pháp, Phật Bồ Tát sẽ hoan hỷ, giảng mà không như pháp, Phật Bồ Tát không sinh lòng hoan hỷ, thế thì nhân quả tự chịu.

Thuyết pháp như thế nào, đúng hay sai, trong đó có như pháp hay không như pháp, ở đây nhân quả tự chịu. Tất cả các pháp mà bạn làm cũng là nhân quả tự chịu. Điều này mọi người nên hiểu rõ.

Vì thế, trên cầu Phật quả, dưới hóa chúng sinh, là trách nhiệm, cũng là nghĩa vụ của tất cả các pháp.”

---
# File: tinh-tuyen/trung-am-thanh-tuu-phap.md
# Title: Trung ấm thành tựu pháp
---

## Trung ấm thành tựu pháp


Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chú ý: Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!

Pháp thành tựu trung ấm không nhất định là mỗi người đều phải tu. Giả sử bạn có tu niệm Phật của Hiển giáo, chỉ cần nhất tâm bất loạn, vì A Di Đà Phật có thề nguyện là vào lúc bạn chết, ngài sẽ đến tiếp dẫn, cho nên A Di Đà Phật sẽ xuất hiện tiếp dẫn bạn, bạn sẽ vãng sinh, như vậy thì không phải trải qua trung ấm, cái gọi là trung ấm tức là linh hồn.

Thứ hai, giả sử bạn tu pháp Bổn tôn đã đạt đến tương ứng với Bổn tôn, tương tự, Bổn tôn cũng sẽ xuất hiện để tiếp dẫn bạn, trong chốc lát bạn sẽ vãng sinh đến tịnh thổ của Bổn tôn, cái này cũng không trải qua trung ấm, tương tự có thể tức thân thành Phật. Mật giáo nói tức thân thành Phật, biến hóa Bổn tôn đều không trải qua trung ấm.

Ngoài ra còn có một kiểu người cũng không trải qua trung ấm, người đó đã làm rất nhiều việc thiện, trong lòng họ vô cùng từ thiện, có thần ở cõi trời đến tiếp dẫn họ, trên trời có âm nhạc vang lên, căn phòng xuất hiện hương thơm, có mùi thơm, có thiên thần đến dẫn họ đi, người này cũng không trải qua trung ấm.

Vì thế, chỉ cần vãng sinh thiên cung, đến Tây phương Cực Lạc thế giới, đến tịnh thổ của Bổn tôn tức thân thành Phật, thì đều không trải qua trung ấm. Cho nên bạn chỉ cần tu pháp Bổn tôn đến khi tương ứng xong rồi, không nhất định phải tu pháp thành tựu trung ấm. 

Có một kiểu người cũng không cần trải qua trung ấm, chính là người đó đã làm rất nhiều việc ác, quỷ vương của âm gian nhanh chóng bắt họ đi, họ cũng không trải qua trung ấm mà lập tức đi xuống địa ngục.

Vậy thì người nào tu cái gọi là trung ấm? Người này chính là kiểu người không thiện không ác thì tu, họ không làm việc thiện gì, nhưng cũng không làm việc xấu gì, loại người này tu trung ấm thì tốt, bởi vì họ phải trải qua một giai đoạn linh hồn chuyển hóa. Loại người thứ hai là loại người thừa nguyện lại đến, họ vẫn muốn chuyển thế làm người thì họ phải tu trung ấm. 

Rất nhiều Hoạt Phật của Mật giáo đều tu thành tựu trung ấm, bởi vì họ muốn chuyển thế làm người, họ lựa chọn một đất nước tốt, chọn một người tốt một chút, chọn một nhân duyên tốt một chút, chọn cha mẹ có duyên với họ, họ lợi dụng thành tựu trung ấm, sau đó nhanh chóng chuyển thế thành người, chỉ mấy ngày sau khi chết là họ chuyển thế rồi, hai loại người này phải tu thành tựu trung ấm.

Trong pháp thành tựu trung ấm phân thành ba giai đoạn, giai đoạn thứ nhất là bạn có thể nhìn thấy một vài ánh sáng, nhưng những ánh sáng này là ánh sáng của thế gian. Khi ánh sáng của thế gian này biến mất thì lập tức có ánh sáng của mây trôi xuất hiện, gọi là “nhiễm quang”, sau khi ánh sáng của mây trôi xuất hiện thì ở trong một cảnh giới “duy trì”, trong quãng thời gian rất dài này gọi là “duy trì”. 

Trong sự biến hóa của trung ấm (linh hồn), đầu tiên mọi thần thức từ cơ thịt của thân thể bạn, thần thức bên trong các tế bào, dần dần rút ra, tức là các tế bào của bạn sẽ chết trước.

Địa đại quy về thủy đại, thần thức trong các tế bào đều tập trung bên trong máu và dịch.
Thủy đại quy về hỏa đại, trong sự tuần hoàn của máu dịch, toàn bộ thần thức lại đi vào bên trong nhiệt độ (khí ấm).
Hỏa đại quy về phong đại, tức là những thứ bên trong thân thể bạn chạy theo nhiệt độ sẽ chạy đến hô hấp. 
Phong đại quy về không đại, tức là trong sự hít thở của bạn sẽ chuyển hóa thành không, với hành giả Mật giáo mà nói thì không chính là phải tiến nhập tịnh quang.

Vào lúc này, việc tu trì thành tựu trung ấm của bạn, bạn phải khiến thần thức hoàn toàn từ địa đại quy về thủy đại, thủy đại quy về hỏa đại, hỏa đại quy về phong đại, sau đó lại quy về tịnh quang, đây là một quá trình biến hóa. 

Giả sử trong lúc này, bạn nhìn thấy cha mẹ mình đến đón bạn, hoặc tổ tiên của bạn đến đón bạn, bạn đều không thể đi theo! Bởi vì nếu đi theo, chắc chắn đọa vào âm gian. Nói chung, cha mẹ đến đón, tổ tiên đến đón, đây là cảnh giới tương đối, bạn ở dương gian, họ ở âm gian, họ không tu  hành, cho nên chắc chắn sẽ đưa bạn đến âm gian.

Người đến đón bạn, trừ Phật, Tiên ra, còn lại bạn không thể đi, ở đây có một điểm mấu chốt. Bạn ở trong sự đau khổ, rất nhiều quỷ vương muốn bắt bạn, hoặc là người của âm gian muốn bắt bạn, nếu bạn lẩn trốn, tùy tiện nhìn thấy một cái hang nào đó bạn liền chui vào, vậy thì có lẽ bạn sẽ sinh ra làm con của một con chó. Bạn nói: “Ui chà, có một quỷ vương đến rồi, nhất định phải trốn.” Bên cạnh đó có một cái hang, bạn liền chui vào, biến thành thấp sinh, noãn sinh, hóa sinh, thai sinh. 

Làm sao để phá giải? Trong lòng bạn thường xuyên phải nghĩ: “Những quỷ vương này, người âm gian này đều là huyễn tượng.” Toàn bộ đều là huyễn ảo, tất cả đều là giả, giả sử bạn nghĩ được là huyễn thì bạn có thể phá được tất cả những hiện tượng này, dùng huyễn để phá mọi hiện tượng, phá được mọi hiện tượng rồi thì những thứ này đều là huyễn cảnh, có thể phá bỏ hết tất cả những huyễn cảnh này.

Trước mặt bạn xuất hiện một đường ánh sáng, bạn tiến vào bên trong tịnh quang, duy trì lời nguyện gốc trong tâm của bạn, duy trì nguyện lực của bạn rồi tiến vào bên trong tịnh quang, thế là bạn có thể thành tựu trung ấm. Đến lúc đó xoay một cái, bạn có ý nguyện muốn đến đâu, bạn sẽ có thể đến đó, đây là một phương pháp thành tựu trung ấm.

Trong thành tựu trung ấm, có hai điều phải rất chú ý, một là nguyện lực, bạn phải vĩnh viễn duy trì được nguyện lực, khi bạn qua đời, bạn phải bảo trì được nguyện lực của mình, ví dụ tôi nguyện sinh về nơi đó. Bạn là một hành giả, bạn mong muốn lại chuyển thế độ chúng sinh, vậy thì bạn hãy duy trì nguyện lực đó. Cho nên đầu tiên là nguyện lực, rất quan trọng!

Thứ hai, bạn phải nghĩ rằng mọi hiện tượng đều là một dạng huyễn cảnh. Bạn trốn được cái đau khổ đó, con người sau khi chết giống như là thịt bị xé ra, hoặc là núi lở đất nứt, rất đau khổ, nhưng bạn phải nghĩ rằng những hiện tượng này đều là một dạng huyễn cảnh.

Bạn vượt qua được điều này rồi, trước mặt bạn sẽ xuất hiện tịnh quang. Bạn tiến vào bên trong tịnh quang, bạn sẽ có thể theo nguyện vọng của bạn mà đi chuyển thế. Nguyện lực của bạn là vãng sinh đến thiên cung nào, bạn muốn vãng sinh đến cảnh giới của Phật Bồ Tát nào, bạn bảo trì nguyện lực đó là bạn có thể đi. Đây là phương pháp thành tựu trung ấm mà bình thường hành giả Mật tông tu. 

Bảo trì nguyện lực, tất cả lấy huyễn để phá, chỉ có khi tịnh quang xuất hiện thì bạn mới có thể đi vào. Có quỷ vương chặn đường bạn, bạn nghĩ rằng đây là huyễn cảnh thì nó sẽ biến mất, bạn gặp phải bất kì cái gì bạn đều cho rằng là huyễn. Chỉ có khi tịnh quang xuất hiện thì bạn mới có thể vào, đây là thành tựu trung ấm, bạn cần dựa vào nguyện lực.

Sau đó có ba hiện tượng xuất hiện, một là “quang”, ánh sáng xuất hiện sẽ biến mất, đó không phải là tịnh quang, ánh sáng mà biến mất thì đó là ánh sáng của thế gian. Thứ hai là “nhiễm”, tức là rất nhiều lửa bay lên, rất nhiều huyễn cảnh xuất hiện thì gọi là nhiễm. Thứ ba là “trì”, thời gian này rất dài, nhưng bạn giữ mãi được nguyện lực của bạn, dùng huyễn quán để phá. Khi tiến vào tịnh quang, bạn mới có thể chuyển thế luân hồi, sau đó theo nguyện lực của mình mà đi đến cảnh giới, đây chính là thành tựu trung ấm.

Bình thường khi luyện tập thành tựu trung ấm, bạn có thể dùng pháp Đại than thi của yoga, để cho nguyên thần trên người bạn đi vào bên trong sự tuần hoàn của huyết dịch, sau đó từ sự tuần hoàn huyết dịch lại tiến vào bên trong nhiệt độ, lại từ nhiệt độ tiến vào bên trong hô hấp, thường xuyên luyện tập như vậy. Địa đại quy về thủy đại, thủy đại quy về hỏa đại, hỏa đại quy về phong đại, phong đại quy về không đại, chính là tịnh quang. Nếu bạn có thể vận chuyển nguyên thần của bạn như vậy thì tức là bạn thành tựu trung ấm rồi. Thế nhưng, có một số người không nhất định phải tu trung ấm, không bằng tu pháp Bổn tôn, vì bạn tương ứng với Bổn tôn rồi thì lập tức đến được tịnh thổ của Bổn tôn, rất nhanh! Niệm Phật, bạn có thể đến được tịnh thổ của A Di Đà Phật. Bạn làm việc thiện, bạn có thể có thiên thần đến tiếp dẫn bạn. Những điều này đều tốt hơn thành tựu trung ấm. Thành tựu trung ấm của Mật giáo chính là pháp mà các Hoạt Phật chuyển thế cần tu để chuyển thế làm người. Bạn tìm đến một nhân duyên tốt, nói: “Tôi muốn chuyển thế vào trong bụng người phụ nữ kia.” Tìm được một người phụ nữ đúng lúc họ đang có bầu và đúng lúc bạn sắp chết, bạn nói: “Tôi sẽ đi chuyển thế vào trong bụng người phụ nữ đó.” Bạn duy trì lời nguyện này, dùng thành tựu trung ấm để tiến vào bên trong bụng của người phụ nữ đó. 

Điều này người bình thường không cần tu, thứ cần tu là có thể tu pháp Linh nhiệt. Bạn không tu pháp Linh nhiệt thì nhất định phải tu Cửu tiết Phật phong. Có thể tu pháp Huyễn quán, pháp Huyễn quán là pháp rất hay. Cần tu pháp Mộng quán, cần tu pháp Tịnh quang, bởi vì pháp Tịnh quang phù hợp với pháp Linh nhiệt, Mộng quán, Huyễn quán. Tịnh quang là do thiền định sinh ra, sau đó sẽ là trung ấm.

Om mani padme hum.

---
# File: tinh-tuyen/ts-lien-anh-bai-tho-dia-cong-cac-huong-nghia-la-the-nao.md
# Title: TS Liên Anh: Bái thổ địa công các hướng nghĩa là thế nào?
---

🪷 Thượng sư Liên Anh khai thị

⛩️ Chính Pháp Đường - Malaysia | 28.08.2025


![image](/img/img_be09099bbc0547aeb175f28a636128f3.jpg)


Sư Tôn cũng dạy mọi người cách thờ cúng thổ địa công, cầu vị thổ địa có duyên với bạn. Vì vậy nhiều người đến hỏi việc gặp nhiều vấn đề, Diêu Trì Kim Mẫu cũng chỉ thị họ đi thờ cúng thổ địa công ở hướng nào đó.

Tiện đây tôi nói với mọi người biết vì nhiều người không hiểu. Sư Tôn đã truyền phương pháp thờ cúng Địa Thần theo Thiên can Địa chi, tức là chia thành các hướng Đông Nam Tây Bắc, Đông Nam, Tây Nam, Tây Bắc, Đông Bắc - những vị thổ địa ở các hướng này. Mỗi con giáp đều có duyên với vị thổ địa ở một hướng nhất định. Đôi khi tôi nói với mọi người là bạn hãy về thờ cúng thổ địa công ở hướng nào, có nghĩa là bạn từ nhà mình đi theo hướng đó để tìm. Ví dụ bảo bạn thờ thổ địa công hướng Bắc, bạn đặt la bàn ở chính giữa nhà mình xem hướng Bắc ở đâu rồi đi theo hướng đó để tìm kiếm miếu thổ địa công. Vì Malaysia rất giống Đài Loan, có nhiều miếu thờ thổ địa công nên tương đối dễ tìm.

Bạn hãy tìm đến những ngôi miếu lớn, đừng tìm miếu nhỏ hay miếu âm, mà hãy tìm miếu lớn, nơi thờ chính thần, đến đó để lễ bái. Theo phương vị tam hợp, vì tam hợp có sự hỗ trợ lẫn nhau, nên vị thần ở đó sẽ giúp đỡ bạn.

Nếu bạn đi theo hướng đó nhưng không tìm được miếu thờ thì còn một cách nữa: nhà bạn hẳn cũng có đàn thành, bạn có thể ở đàn thành này thành tâm thỉnh mời thổ địa công của hướng đó về.

Vậy cần chuẩn bị gì? Chính là chuẩn bị những thứ mà Sư Tôn đã dạy khi cúng Địa Thần, như lạc, rượu gạo, và các vật phẩm khác, vàng mã để đốt cho Ngài. Đây cũng là một pháp môn thuận tiện.

---
# File: tinh-tuyen/ts-lien-anh-bao-danh-sieu-do-nen-phat-tam-the-nao-moi-dung.md
# Title: TS Liên Anh: Báo danh siêu độ nên phát tâm thế nào mới đúng?
---

🪷 Thượng sư Liên Anh khai thị

⛩️ Chính Pháp Đường - Malaysia | 28.08.2025


![image](/img/img_b19ef7baa08e8feac7685f073fcc1829.jpg)


Hôm đó trong bữa tiệc cảm tạ Thượng sư của Diệu Lý Lôi Tạng Tự, bởi vì chúng tôi sẽ làm pháp hội Bạch Liên Hoa Vương siêu độ, cho nên tôi đã nói với họ, khi Căn bản Thượng sư lần đầu tiên truyền pháp Bạch Liên Hoa Vương này ở Hồng Kông đã nói Ngài có sáu lợi ích, tức l à tu pháp này có sáu công đức, trong đó, một công đức quan trọng nhất chính là Ngài có thể siêu độ cửu huyền thất tổ, cha mẹ nhiều kiếp của chúng ta. Vì vậy tôi nói với họ rằng dùng pháp này để siêu độ là rất tốt.

Nhưng mà, vì trước buổi pháp hội có xảy ra một chút chuyện, đó là các đồng môn khi viết bảng báo danh, tôi thường nói đông môn xem bảng báo danh như một bản nguyện cầu. Cúng dường ba đồng ringgit Malaysia mà viết đầy cả trang, còn viết cả toàn thế giới, còn viết cả mười phương cô hồn vô chủ, còn giúp tất cả… tôi nghe nói là những ca sĩ Malaysia đã khuất mà họ chưa từng biết. Báo danh xếp thành hàng. 

Tôi đã hỏi đồng môn viết bản đó có quen biết những người đó không? "Biết chứ, đã từng thấy trên ti vi!" Tôi nói bạn thật sự rất tốt bụng, bạn còn tốt bụng hơn cả tôi, để cho bạn làm Thượng sư là được rồi. 

Người đó hỏi tại sao không thể viết? Chẳng phải Phật Bồ Tát dạy về lòng từ bi sao? Có điều này rất quan trọng. Trong Phật giáo, lòng từ bi và trí tuệ phải cân bằng, nếu không có sự cân bằng giữa từ bi và trí tuệ thì đó gọi là tình cảm tràn lan. 

Sư Tôn đã từng nói, nhiều đồng môn nói Sư Tôn siêu độ mà, cho nên thấy tai nạn máy bay xảy ra, ngày hôm sau đã mang một xấp phiếu báo danh nhờ Sư Tôn siêu độ, rồi cúng dường chưa đến 100 đô la Mỹ mà muốn siêu độ cả máy bay 300 người. Sư Tôn nói một câu: Số tiền cúng dường này bạn đưa cho tôi, tôi mua lễ vật còn không đủ! Có người nói Sư Tôn chẳng phải có thể biến hóa sao? Phật Bồ Tát, vị chủ đàn, Sư Tôn có thể biến hóa, nhưng còn tâm của bạn thì sao? Bạn có phát tâm cúng dường hay không? Điều này phải suy ngẫm!

Việc chúng ta báo danh không phải là xem tiền của bạn! Mà là có một đạo lý gọi là tùy sức mà làm. Vì thế, Sư Tôn có lần đã nói một cách khéo léo. Thực ra, khi bạn siêu độ, dĩ nhiên bạn có nhiều người cần siêu độ. Nhưng chúng ta hãy bắt đầu từ việc siêu độ ba đời gần đây. Ba đời gần đây là gì? Cha mẹ, ông bà nội ngoại, ông bà cố, như thế đã rất nhiều rồi. Vậy mỗi lần chúng ta cúng dường đều ghi những người đó, bạn nghĩ rất đơn giản, cũng chẳng suy nghĩ quá nhiều, cứ ghi, tôi cảm thấy mình có khả năng lo được cúng phẩm thì tôi sẽ ghi cúng phẩm còn không thì thôi.

Bạn biết không, trong pháp hội siêu độ, quan trọng nhất là bánh bao, nước gạo, và những cúng phẩm đó là để cho họ ăn, nếu không đủ ăn sẽ gây ra hỗn loạn, loạn thì những vong linh này sẽ chạy lung tung, và sẽ có nhiều người dễ bị xung phạm. Vì vậy, bởi vì trong những pháp hội vô hình này, mọi người không có cảm giác, có người có thể trạng này và có người không có thể trạng này. Nếu bạn có thể trạng này, thậm chí bạn có thể nhìn thấy thì bạn đều biết, một pháp hội, giả sử như hiện tại chúng ta có khoảng năm mươi người, nhưng số vô hình mà bạn không nhìn thấy có ở đây chắc chắn gấp nhiều lần. Tất cả áp lực sẽ đổ lên người chủ đàn. 

Sau khi kết thúc pháp hội ở Diệu Lý Lôi Tạng Tự, tôi suýt không thể tiếp tục khai thị được nữa. Tại sao? Tay của tôi nặng như nghìn cân, tôi không thể nhấc lên được. Tôi biết rằng trong pháp hội vừa rồi vẫn còn nhiều người chưa được siêu độ. Nên lúc đó tôi đã nói với Bổn tôn của mình: "Con nhất định phải nói xong phần khai thị. Xin hãy gia trì cho con, để họ rời khỏi xung quanh con, không thể quấy rầy con trong lúc thuyết pháp. Khi con trở về khách sạn, con hứa sẽ giúp họ siêu độ." Như thế cảm giác đó mới dần biến mất.

Vừa rồi khi đồng tu ở đây, tôi cảm thấy mơ màng, lờ đờ, cũng là cảm giác tương tự. Vì vậy, nếu các bạn muốn tổ chức pháp hội, hãy cố gắng an vị sớm, sau đó tăng số lần đồng tu để hồi hướng công đức cho pháp hội này. Nhất định phải nhớ rằng, một pháp hội thành công hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố.

Thứ nhất là người chủ đàn có công lực không? Họ có lực truyền thừa gia trì không? Thứ hai, nghi quỹ pháp hội của bạn có đúng như pháp không? Mọi thứ đều được chuẩn bị chu đáo. Thứ ba là tâm của đồng môn, tuyệt đối đừng để đồng môn nghĩ rằng dù sao có Thượng sư đến, có đạo tràng tổ chức, chúng ta đến tham gia, thế thôi! Giống như tham gia một buổi tiệc rồi đi! Không phải vậy! Mỗi người tham gia pháp hội đều là một phần quan trọng quyết định sự thành công của pháp hội. Bạn phải dốc hết tâm sức
Vì vậy bất kể chúng ta tổ chức pháp hội gì, chẳng hạn lần tới là pháp hội Diêu Trì Kim Mẫu, mọi người phải kêu gọi chúng ta cùng nhau trì tụng tâm chú Diêu Trì Kim Mẫu vài chục nghìn lần, hai trăm nghìn lần, chúng ta cùng nhau hồi hướng cho pháp hội này, triệu tập bạn bè, người thân, những ai muốn đăng ký tham gia cùng tụng niệm. Không phải đổ hết áp lực lên một người chủ đàn, hoặc đổ lên vài vị trong ban tổ chức của đạo tràng.

Mọi người còn nhớ không? Khi Sư Tôn chủ trì pháp hội La Thiên Đại Tiếu, Sư Tôn nói gì trên pháp tọa? Phải dựa vào sức mạnh của tất cả Thượng sư, giáo thọ sư, pháp sư và tất cả đồng môn, tất cả công đức trì kinh niệm chú của các bạn để cùng nhau làm đại siêu độ này. Chúng ta thường đã quá ỷ lại vào lòng từ bi của Sư Tôn, quá ỷ lại vào pháp lực của Sư Tôn, nhưng lòng từ bi và pháp lực của Sư Tôn không phải để chúng ta lạm dụng như vậy. Chúng ta phải thấu hiểu sự vất vả của Ngài, Ngài có nhục thân, Ngài phải gánh vác, phải chịu thay, người thường không hiểu được những điều này, nhưng đó là sự thật.

Giờ đây tôi đang nói với mọi người hết sức chân thành, là điều chân thật và đúng đắn. Sự vận hành của pháp giới rất huyền diệu. Cho nên tôi đã thấy quá nhiều, có thể thấy được đồng môn có tâm hay không, xem thái độ tham gia của họ, xem mức độ hộ trì, mức độ tích cực của họ, họ có hiểu pháp không, hay chỉ đến để hòa mình vào đám đông. Có sự khác biệt rất lớn.

---
# File: tinh-tuyen/ts-lien-anh-bat-dong-minh-vuong.md
# Title: TS Liên Anh: Bất Động Minh Vương
---

![image](/img/img_023f6bf05b142cee5983c21b84cd285d.jpg)



# Thượng sư Liên Anh khai thị Bất Động Minh Vương


Giảng pháp: Thượng sư Liên Anh
Thời gian: 11.08.2024
Địa điểm: Quang Minh Lôi Tạng Tự - Surabaya Indonesia
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Mỗi người chúng ta, sau khi tiếp xúc Phật pháp thì mỗi một buổi Hộ Ma, một buổi pháp hội, quan trọng nhất là gì? Là thỉnh cầu chủ tôn gia trì quán đảnh cho chúng ta, mỗi một lần quán đảnh tương đương với hoàn tịnh, hoàn tịnh cũng giống như là được tái sinh, vì vậy vừa rồi mọi người cùng hát bài chúc mừng sinh nhật cũng chính là hát cho chính chúng ta nghe. Người tu hành chúng ta phải luôn luôn ghi nhớ, trong quá trình tu hành không ngừng loại bỏ những thứ đen tối, đón lấy ánh sáng từ bên ngoài vào, luôn luôn cầu nguyện Phật Bồ Tát cho bạn được tái sinh, như thế việc tu hành của bạn mới có cơ hội tiến bộ.

Bây giờ chúng ta đi vào chủ đề chính. Hai ngày pháp hội trước, tôi có nói với mọi người rằng hôm nay tôi sẽ chia sẻ với mọi người Địa Tạng Vương Bồ Tát và Bất Động Minh Vương có quan hệ huyết thống như thế nào. Trong Phật giáo, giáo chủ Thích Ca Mâu Ni Phật của chúng ta đại diện cho Ứng thân Phật, Báo thân là Lô Xá Na Phật, Pháp thân Phật là Tỳ Lô Giá Na Phật. 

Địa Tạng Vương Bồ Tát được giáo chủ Thích Ca Mâu Ni Phật dặn dò rằng thế giới Ta Bà phải do ngài đến độ hóa. Còn vị được Pháp thân Phật dặn dò giao phó cần đến nhân gian độ hóa chúng sinh chính là Bất Động Minh Vương. Bởi vậy chúng ta cho rằng Bất Động Minh Vương hiển hiện tướng Kim Cang Minh Vương nhưng thật ra bản địa của ngài chính là Đại Nhật Như Lai. Cho nên ở trong rất nhiều giáo phái ở Tây Tạng, Nhật Bản, ngài đều được bày để thờ cúng cùng với rất nhiều Phật và Đại Bồ Tát, cho nên vị Bất Động Minh Vương này có một sự tồn tại rất đặc biệt. 

Hôm nay chúng ta ở tại Quang Minh Lôi Tạng Tự làm pháp hội của vị này là một duyên khởi rất tốt, bởi vì bản thân Minh Vương quan trọng nhất là hai chữ “Minh” và “Vương”. 
”Minh” là gì? Thứ nhất đương nhiên là ngài thông hiểu Phật pháp mà Phật giảng, hơn nữa bản thân ngài có thể phóng quang chiếu sáng chúng sinh của mười pháp giới. “Vương” có ý nghĩa gì? Vương tức là ngài có thể vận dụng đúng Phật pháp để dạy dỗ chúng sinh, khiến chúng sinh cũng giống như ngài có thể sản sinh ánh sáng.

Vì thế chúng ta dùng tâm quang minh để cầu thỉnh Minh Vương, tại Quang Minh Lôi Tạng Tự làm pháp hội này đúng là tất cả quang minh. 


![image](/img/img_829701a0cd33e436a3502c222005e60a.jpg)


Điều chúng ta biết rõ nhất là ở Nhật Bản, Bất Động Minh Vương rất nổi tiếng, thật ra ở Tây Tạng ngài cũng là một vị rất nổi tiếng, lần nào tôi cũng phải nói lại điều này bởi vì tôi thật sự cảm thấy rất thù thắng, bởi vì cả Tây Tạng có được nguồn pháp của Bất Động Minh Vương không ngờ là bắt đầu từ Kim Châu đại sư. Kim Châu đại sư truyền cho tôn giả Atisa, Atisa tôn giả lại truyền cho tâm tử của ngài là Drom Tonpa, và do Drom Tonpa tôn giả sáng lập phái Kadam, ảnh hưởng đến phái Gelug, Sakya và Nyingma sau này, ít nhiều đều nhìn thấy bóng dáng của pháp Bất Động Minh Vương. Nhưng người giữ được hoàn chỉnh nhất vẫn là Atisa tôn giả. Khi Kim Châu đại sư truyền pháp cho Atisa tôn giả, ngoài dạy ngài pháp phát bồ đề tâm của Độ Mẫu thì còn truyền cho ngài Thánh Bất Động Tôn, còn có tất cả đàn thành của Mã Đầu Minh Vương kim cang quyết. Sau khi truyền cho Atisa tôn giả, Atisa tôn giả đã coi Bất Động Minh Vương là Hộ pháp căn bản của ngài, chính ngài đã viết ra văn thỉnh cầu Bất Động Minh Vương và nghi quỹ tu pháp. 

Atisa tôn giả còn coi Phật Thích Ca Mâu Ni, Lục Độ Mẫu và Quan Âm Tứ Thủ là Bổn tôn. Atisa tôn giả từng ngồi thuyền đi ra biển, gặp phải một con quái vật biển lớn, từ trong tâm mình ngài đã niệm chú ngữ của Bất Động Minh Vương. Đầu tiên, Bất Động Minh Vương từ trong hư không giáng xuống, dẫm chân lên thuyền, sau đó, có một vị gọi là Hồng Diêm Ma, chính là Diêm Ma Pháp Vương trong địa ngục nhưng có màu đỏ, Hồng Diêm Ma liền nuốt chửng yêu quái đó. Atisa tôn giả cho rằng pháp của Bất Động Minh Vương có thể bao hàm việc sai khiến sứ giả địa ngục, cho nên về sau Atisa tôn giả cũng tu Đại Uy Đức Kim Cang. 

Pháp của Tây Tạng truyền đến Nhật Bản chính là nhờ Không Hải đại sư. Không Hải đã đến Trung Quốc Đại Lục học Mật pháp với Acharya Huệ Quả, ngài đã đem Mật pháp của Đại Nhật Như Lai và pháp Bất Động Minh Vương về Nhật Bản, sáng lập Chân Ngôn Tông, vì thế Bất Động Minh Vương cũng là Hộ pháp của Không Hải đại sư.

Khi Không Hải đại sư đi thuyền ra biển gặp nạn, Bất Động Minh Vương cũng đã hiện thân cứu Không Hải đại sư. Vì thế, bình thường chúng ta nhìn hình tướng của Bất Động Minh Vương, tay phải ngài cầm thanh kiếm áp vào trước ngực, nhưng vì nguyên nhân là Bất Động Minh Vương đã cứu Không Hải đại sư ở trên biển, nên trong suốt cuộc đời mình, Không Hải đại sư đã tự mình khắc hai bức tượng Phật, một bức trong số đó chính là Ba Thiết Bất Động Minh Vương, tức là Bất Động Minh Vương chém bay sóng lớn, cánh tay này giơ lên. 


![image](/img/img_6ebc1fd32e473d445fa50d9c70a1c97c.jpg)


Và mọi người đều biết Atisa và Không Hải đều là chuyển thế của ai? Chính là Căn bản Thượng sư của chúng ta. Cho nên bạn thấy đó, bất kể bạn chuyển thế như thế nào thì những sự việc bạn gặp phải cũng giống nhau, Bổn tôn mà bạn tu cũng giống nhau. 

Cuối cùng tôi nói về một điều đặc sắc nhất. Lúc trước Sư Tôn có nói rằng, khi  ngài làm Hộ Ma Địa Tạng Vương Bồ Tát, ngài đi đến trước lò Hộ Ma, ngài nhìn thấy diện mạo trước kia của mình chính là Thánh Đức Thái Tử thời đại Asuka. Mọi người biết rằng Nhật Bản là quốc gia thịnh hành Phật giáo và Mật giáo, điều này nghĩa là sao? Thịnh hành Phật giáo và cả Mật giáo cho thấy trong đầu của những người đó đã chấp nhận sự tồn tại của linh hồn, họ tin vào nhân quả luân hồi, cho nên người Nhật Bản giống với người Trung Quốc chúng tôi rất thích siêu độ tổ tiên. Vào thời đại Asuka có một truyền thuyết rằng khi ấy muốn siêu độ thì phải phụng thỉnh mười ba vị, được gọi là mười ba Phật, nguồn gốc của mười ba Phật này là mười điện Diêm La, tôi đọc sơ qua cho mọi người nghe:
Điện thứ nhất Tần Quảng Vương, bản địa của Tần Quảng Vương chính là Bất Động Minh Vương.
Điện thứ hai Sơ Giang Vương, bản địa là Thích Ca Mâu Ni Phật.
Điện thứ ba Tống Đế Vương, bản địa là Văn Thù Bồ Tát.
Điện thứ tư Ngũ Quan Vương là hóa thân của Phổ Hiền Bồ Tát.
Điện thứ năm Diêm Ma Vương chính là hóa thân của Địa Tạng Vương Bồ Tát.
Điện thứ sáu Biến Thành Vương là hóa thân của Di Lặc Bồ Tát.
Điện thứ bảy Thái Sơn Vương là hóa thân của Dược Sư Phật.
Điện thứ tám Bình Đẳng Vương là hóa thân của Quan Thế Âm Bồ Tát.
Điện thứ chín Đô Thị Vương là hóa thân của Đại Thế Chí Bồ Tát.
Điện thứ mười Ngũ Đạo Chuyển Luân Vương là hóa thân của A Di Đà Phật.

Sau cùng cộng thêm Hư Không Tạng Bồ Tát, A Súc Phật và Đại Nhật Như Lai. 
Ý nghĩa của mười ba Phật này ở Nhật Bản có lưu truyền một thuyết rằng: tập tục của người Hoa chúng tôi là phải cúng tuần cho người chết, cho nên từ vị thứ nhất cho đến vị thứ mười, người Hoa phải làm mười tuần, và bắt đầu từ vị đầu tiên chính là do Bất Động Minh Vương làm chủ. Cho nên như tôi đã nói, nguyên nhân Bất Động Minh Vương là hành giả của địa ngục chính là ở đây, và sự tồn tại của ngài không phải là vì muốn mọi người vào địa ngục, mà là ngài dùng hết khả năng của mình để tìm ra chủng tử lương thiện trên con người để cho bạn có được cơ hội tự kiểm điểm.

Vì thế, ở phía sau điện thứ nhất Tần Quảng Vương có một cánh cửa nhỏ là trực tiếp đi đến chỗ của Chuyển Luân Thánh Vương, do Phật Bồ Tát đón bạn đi, hoặc để cho bạn đầu thai làm người một lần nữa, nhưng bạn sẽ được đến nhà của người tốt. Câu chuyện này một lần nữa chứng minh rằng trong Mật giáo nói đến Kim Cang Thần là bên ngoài hiện tướng phẫn nộ nhưng bên trong các vị đều khởi tâm từ bi. Cho nên thật ra bạn nhìn thấy Kim Cang Thần hung mãnh, sự phẫn nộ của ngài không phải giống như bình thường chúng ta tức giận, mà là các ngài còn sốt ruột lo lắng hơn cả chúng ta, ngài sợ rằng chúng ta không tự mình biết rằng chúng ta đang ở trên con đường tạo nghiệp, e rằng chúng ta nhỡ đâu lại phạm tội thì thật sự sẽ bị rơi vào địa ngục. Vì thế ngài mới hiển hiện tướng phẫn nộ như vậy. 


![image](/img/img_0137a5ade6aa60db3e8f1d76f41ee9de.jpg)


Cho nên chúng ta cần biết rằng chúng ta phải rất cảm ơn trên con đường tu hành của mình đã gặp được Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp. Bởi vì bất luận là các vị xuất hiện dưới hình thức nào thì đều không nằm ngoài việc nói với chúng ta một đạo lý giống nhau: đoạn ác tu thiện. Đây chính là điều mà bài kệ thề nguyện của Bất Động Minh Vương nói: 

*“Người nào thấy thân ta thì phát bồ đề tâm
Người nào nghe tên ta thì bỏ ác tu thiện
Người nào nghe ta nói thì đắc đại trí huệ
Người nào biết tâm ta thì tức thân thành Phật.”*

Bốn câu kệ này chính là châm ngôn bốn chữ của Phật Đà, đó là: tín giải hành chứng. 

Đầu tiên là tín, đó là bạn phải tin tưởng sâu sắc, không phải là hôm nay tin ngày mai không tin nữa. Sau khi bạn thật sự tin rồi bạn mới bạn mới có thể thật sự muốn hiểu về pháp mà Phật nói, khi bạn thật sự hiểu rồi bạn cũng mới có thể thật sự thực hành pháp của Phật trong cuộc sống của mình. Đương nhiên cuối cùng bạn sẽ chứng minh được điều Phật dạy bạn là thật, thì ra bản thân bạn chính là Phật, mọi người chúng ta vốn dĩ đều là Phật. Đây là nguyên nhân quan trọng nhất vì sao bạn cần niệm bốn câu kệ của Bất Động Minh Vương. 

Cuối cùng tôi muốn nói cho mọi người biết về kiếm rồng của Bất Động Minh Vương. Có rất nhiều kinh điển ghi chép lại sự xuất hiện của ngài, nhưng vừa hay tôi mới phát hiện ra, trong nghi quỹ Tôn Thắng Phật Mẫu phá địa ngục chuyển nghiệp chướng thành thanh tịnh có ghi chép, và Sư Tôn cũng từng viết trong sách, mỗi một vị Phật trong Ngũ Phương Phật đều có một chủng tử tự đại diện. Khi Đại Nhật Như Lai xuất hiện thì ngài hóa thành một chữ “Han”, chữ “Han” này hóa thành kiếm rồng, kiếm rồng mới biến thành Bất Động Minh Vương, đầu rồng còn có bốn cái sừng, bốn cái sừng đại diện cho Tứ Đại Minh Vương của Đông mật, đó là Cam Lộ Minh Vương, Đại Uy Đức Minh Vương, Kim Cang Dạ Xoa Minh Vương và Hàng Tam Thế Minh Vương.

Cho nên thanh kiếm này không chỉ là pháp khí của ngài mà còn đại diện cho sự biến hóa của bản thân Bất Động Minh Vương. Tác dụng của việc ngài hiển hiện là để giúp đỡ Tôn Thắng Phật Mẫu tiêu trừ nghiệp chướng của chúng sinh, đưa họ đến Phật quốc thanh tịnh. Vì thế mandala của Tôn Thắng Phật Mẫu là ở bốn phía Đông Nam Tây Bắc đều có một vị Minh Vương, phía Đông là Bất Động Minh Vương, phía Nam là Ái Nhiễm Minh Vương, phía Tây là Trì Bổng Minh Vương, phía Bắc là Đại Lực Minh Vương. 

Kết luận lại, đệ tử Chân Phật thật ra đều có thể nhìn thấy bóng dáng của Bất Động Minh Vương ở rất nhiều nơi, mặc dù bản địa của ngài là Phật nhưng ngài luôn thị hiện thân phận giống như nô bộc đến để phục vụ tất cả Bồ Tát, tôi cho rằng đây là tinh thần vĩ đại nhất của Bất Động Minh Vương. Tôi hy vọng mọi người không xem thường pháp của vị này, mặc dù nghi quỹ của ngài không phức tạp giống như là pháp Hỷ Kim Cang hay Thời Luân Kim Cang mà Sư Tôn đã truyền. Trong nghi quỹ của Sư Tôn truyền, quan trọng nhất chính là chú ngữ, thủ ấn, quán tưởng, lần nào tôi cũng phải nói rằng nghi quỹ đơn giản mà chúng ta nhìn thấy đó là do Căn bản Thượng sư của chúng ta từ bi, bởi vì ngài đã dùng cách thức đơn giản nhất để dạy chúng ta làm sao để tương ứng với Bổn tôn ở rất xa như vậy. Vì thế xin mọi người hãy trân trọng ba điều: thứ nhất là trân trọng thời gian mà Căn bản Thượng sư vẫn còn tại thế; thứ hai là trân trọng Phật pháp mà Căn bản Thượng sư truyền xuống; thứ ba là điều ngay đầu bài khai thị tôi đã nói, chúng ta hãy trân trọng thân thể được tái sinh này của chúng ta. 

Om mani padme hum.


![image](/img/img_8432137a3897a6cc9b27ca63dff018c6.jpg)

---
# File: tinh-tuyen/ts-lien-anh-can-co-nhan-thuc-dung-khi-thinh-phat-hoi-viec.md
# Title: TS Liên Anh: Cần có nhận thức đúng khi thỉnh Phật hỏi việc
---

🪷 Thượng sư Liên Anh khai thị

⛩️ Chính Pháp Đường - Malaysia | 28.08.2025


![image](/img/img_520c09e6c4f300f4e92aff06389e3830.jpg)



Hôm nay tôi phục vụ hỏi việc. Những lần hỏi việc này tôi rất cảm thán, cảm thán điều gì? Chúng sinh quá vô minh. Vô minh ở đâu? Nhiều người đến hỏi về sức khỏe. Có thể hỏi về sức khỏe không? Được! Nhưng đừng xem Thượng sư như bác sĩ. Đến hỏi về sức khỏe, tôi hỏi bạn bị bệnh ở đâu, bạn nói không biết, Thượng sư giúp tôi xem! Bạn nghĩ tôi là máy X-quang à? Hay là máy chụp cắt lớp?

Nếu bạn muốn hỏi chư Phật Bồ Tát, đầu tiên bạn nhất định phải đi khám bác sĩ trước.Đau đầu, hay đau ở đâu, bạn phải đi khám bác sĩ trước. Bác sĩ điều trị cho bạn, khi thuốc bạn uống không có tác dụng, bạn đã thử cả y học Đông và Tây phương, bạn đã đi khám, thật sự không thể chữa khỏi thì sau đó bạn mới thành tâm cầu xin chư Phật Bồ Tát xem có phải còn điều gì tôi chưa chú ý đến không? Tôi có thể cải thiện hoặc có mối quan hệ nhân quả nào không? Tôi có thể nỗ lực gì? Đây mới là chân tín, nếu không thì chỉ là mê tín.

Bạn thậm chí không đi khám bác sĩ. Có người nói tôi sợ đi khám bác sĩ, đây cũng là một loại vô minh. Bạn lo lắng mình bị bệnh nhưng không tìm kiếm phương pháp y tế chính đáng, đây là vô minh.

Còn hỏi về vận mệnh gia đình, vận mệnh gia đình là gì? Những người học Phật không nên hỏi về vận mệnh gia đình. Tôi nói thẳng thắn, trừ khi bạn theo tín ngưỡng dân gian, và nếu hôm nay bạn chưa quy y Sư Tôn thì không sao cả, bạn cứ hỏi tùy ý. Nhưng nếu bạn đã quy y Sư Tôn mà còn đến hỏi về vận mệnh gia đình, tôi hỏi bạn vận mệnh gia đình là gì? Vận mệnh gia đình chính là tổng hợp vận may của mỗi người trong gia đình. Vậy xin hỏi vận may của mỗi người là gì? Đó chính là nhân quả của mỗi người.

Vậy bạn đến hỏi tôi về nhân quả của bạn, thì bạn nên tự hỏi chính mình, bạn đã chịu trách nhiệm cho cuộc đời mình chưa? Đến hỏi về công việc, bạn nhờ tôi tìm giúp, bạn đã nỗ lực chưa? Bạn đã nộp hồ sơ xin việc chưa? Sếp không đánh giá cao tôi, vậy bạn có khuyết điểm gì cần sửa đổi không? Bạn có điều gì cần học hỏi không? Bạn nên nỗ lực.

Những điều bạn đáng lẽ phải làm mà chưa làm, tất cả những điều này bạn cần tự hỏi bản thân trước, chứ không phải đem mớ rắc rối của mình đổ lên chư Phật Bồ Tát và đòi hỏi các ngài trả lời bạn. Đây là việc làm rất thiếu trách nhiệm. Hỏi việc không phải làm như vậy. Hỏi việc chính là tự chịu trách nhiệm với bản thân. Khi tôi đã quán chiếu bản thân, tôi đã làm đến giới hạn của mình, tôi thực sự rất tha thiết cầu xin, tôi không thể thấy được những điều ngoài tam giới ngoại trừ sự ngu si của mình, tôi tha thiết cầu xin chư Phật Bồ Tát thương xót sự ngu si của tôi, ban cho tôi một chút chỉ dẫn, đây mới gọi là hỏi Phật. Vì vậy, tôi nói nghiêm túc, nếu bạn vẫn coi mình như phàm phu tục tử đến chùa hỏi việc, bạn nên sám hối. Và khi bạn đã sám hối, một tia hy vọng sẽ xuất hiện.

Những vấn đề mà bạn vốn gặp phải sẽ được cải thiện nhờ vào một ý niệm sám hối của bạn. Bởi vì khi chư Phật Bồ Tát thấy bạn sẵn lòng sám hối cho sự vô minh của mình, sám hối cho nhân quả mà bạn mong cầu, các ngài sẽ ban cho bạn gia trì. Nếu bạn vốn không có việc làm, các ngài sẽ cho bạn một nhân duyên, là như vậy đấy.

Hôm nay chúng ta sắp làm pháp chổi tịnh hóa. Cái chổi thanh tịnh hóa này, mỗi lần tôi đều phải nói, khi bạn làm cái chổi tịnh hóa này, có phải bạn đang hy vọng sau khi Thượng sư quét cho bạn là một lần xóa sạch, tất cả nghiệp chướng đều được thanh tịnh chăng? Vậy bản thân mình đã cống hiến những gì? Trước khi đến nhận cái chổi tịnh hóa này, có ai ở nhà tự tụng niệm chú 100 âm để hồi hướng cho buổi gia trì tịnh hóa này không? Xin giơ tay lên. Không có ai à? Bạn thấy đấy, tôi có thể coi là có thần thông tiên tri không? Không, đây là bản chất con người thôi. Tại sao vậy? Bởi vì mọi người đều mong muốn người khác giúp giải quyết vấn đề của mình, đúng không? Chính là như vậy đấy.

Thực sự, tôi nói cho bạn biết, nếu mỗi ngày ở nhà bạn đều tụng niệm Bách tự minh chú như vậy, dù không có ai quét cho bạn, thông thường ở nhà bạn làm thế nào? Bạn không có chổi, bạn quán tưởng Kim Cang Tát Đỏa ở trước mặt bạn, ngài cầm chổi của ngài quét cho bạn, như vậy có phải là một lần tịnh hóa ban phúc không? Có chứ! Nếu mỗi ngày bạn thành thật thực hành, bạn còn sợ nghiệp chướng không giảm nhẹ sao? Cái chổi này, tôi nói cho bạn biết, là dành cho những người không thể tự cứu mình. Vậy bạn muốn trở thành người tự cứu mình hay người không thể tự cứu? 

Bạn nói Sư Tôn vì sao truyền pháp này? Tôi không phê bình pháp của Sư Tôn. Pháp của Sư Tôn là để độ rộng khắp mọi loài chúng sinh ở mười phương. Nhưng chúng ta cần học cách tự lập từ đó, tự mình đứng lên, nếu không, bạn sẽ mãi chờ đợi người khác cứu mình. Khi vô thường đến thì sao? Khi không có nhân viên hoằng pháp thì sao? Khi không có Thượng sư thì sao? Một ngày nào đó khi Sư Tôn nhập diệt thì sao?

Pháp mà Sư Tôn truyền vẫn còn đây! Chư Phật Bồ Tát và chư thiên vẫn còn đây! Tự dựa vào lực của mình. Vì vậy, tất nhiên tôi có thể giúp mọi người quét chổi tịnh hóa, chỉ muốn nói với mọi người rằng sau khi về nhà, hãy nghĩ tôi cần tự cứu mình. Đó mới là điểm quan trọng.

---
# File: tinh-tuyen/ts-lien-anh-can-phan-biet-the-gian-va-xuat-the-gian.md
# Title: TS Liên Anh: Cần phân biệt thế gian và xuất thế gian
---

🪷 Thượng sư Liên Anh khai thị

⛩️ Malaysia | 08.2025


![image](/img/img_948a4c7febab0ddc63ce9501476b14d2.jpg)


Tôi muốn chia sẻ với mọi người một khái niệm rất quan trọng. Gần đây nhiều người hỏi tôi rằng mọi người đều nói ngôn ngữ của Không Hành Mẫu. Theo sự hiểu biết của tôi, như tôi vừa nói về quá trình Liên Hoa Sinh Đại Sĩ độ hóa chúng sinh, Ngài đã độ hóa nhiều Không Hành. Và nhiều quyến thuộc của ngài cũng là Không Hành. Nhưng họ đã đạt đến cứu cánh chưa? Họ có thành tựu không? Không. Cấp độ của họ vẫn còn chênh lệch không đồng đều. Có Không Hành cư trú trên mặt đất. Có Không Hành cư trú trên không trung. Có Không Hành có thể biến hóa thần thông. Cũng có những đạt cấp độ rất cao như Dorje Pamu, Machig Labdrön, Yeshe Tsogyal,… Những Không Hành vĩ đại như vậy cũng có.

Vì vậy, Không Hành chỉ là tên gọi chung cho một loại này, không phải tất cả Không Hành bạn đều có thể quy y.

Chúng ta tu tập Phật giáo, đặc biệt là trong Mật giáo có đề cập đến các vị Hộ pháp nhập thế gian và các vị Hộ pháp xuất thế gian. Hộ pháp thế gian là gì? Thổ Địa Công, thần của cõi Dục giới, Phạm Thiên, Đế Thích Thiên, 12 Thiên Thần, tất cả đều thuộc về Hộ pháp nhập thế gian. Hộ pháp xuất thế gian như Bất Động Minh Vương, Uế Tích Kim Cang, Ngũ Đại Kim Cang Minh Vương, Đại Lực Kim Cang. Xuất thế gian nghĩa là gì? Họ chính là hóa thân không khác của chư Phật Bồ Tát, tương đương với Phật, chỉ là các ngài thị hiện những hình tướng như vậy để phù hợp với nhân duyên của bạn. Bạn có thể quy y họ, bạn có thể nương tựa vào họ. Còn với những vị khác, bạn chỉ có thể cung kính cúng dường, khi cần thiết bạn có thể cầu xin họ giúp đỡ,
nhưng không phải quy y họ. Vì vậy chúng ta không thể quy y Thổ Địa Công,
Thổ Địa Công thuộc về chính thần trong cõi âm, mặc dù ông có thần cách,
nhưng cấp độ của ông chưa đạt đến, ông còn nhiều chặng đường tu tập phải đi. Vì vậy bạn có thể lễ kính ông, như Sư Tôn đã nói, ngài cũng lễ kính ngay cả với Thổ Địa Công.

Chúng ta vốn có lòng tôn kính đối với tất cả các vị thần, nhưng bạn cần biết rằng, trong quá trình tu tập của bạn, tuyệt đối không nên dựa vào quỷ, ma, và quá phụ thuộc vào những thực thể thế gian này làm Hộ pháp. Đặc biệt khi chúng ta tu theo Mật giáo. Nên có cái gọi là samaya về ẩm thực. Ngay cả đồ cúng Thổ Địa Công, chỉ cần là hành giả có tu khí thì bạn đều không được ăn. Có người hỏi tôi: "Hành giả đang tu khí là gì?" Nói đơn giản, mỗi khi bạn tu pháp, có làm Cửu tiết Phật phong chính là đang tu khí đó. Vì vậy về lý thuyết, chúng ta không nên thọ dụng đồ cúng Thổ Địa Công.

Có lẽ nhiều người sẽ hoảng sợ, thế lâu nay đã ăn đồ cúng thì phải làm sao, đôi khi là để không lãng phí. Bạn có thể rảy nước chú Đại Bi lên đồ cúng. Nếu bạn vẫn còn do dự thì hãy đem bố thí, làm từ thiện, bố thí cho những người không liên quan, hoặc cho những nhóm người yếu thế nghèo khó hơn. 

Nếu bạn đang có tu Cửu tiết Phật phong, nghĩa là khí của bạn sẽ trong sạch. Nếu bạn nhiễm phải khí của âm thần, dần dần bạn sẽ bị ảnh hưởng. Vì vậy, ẩm thực samaya rất quan trọng.

Về loại Không Hành mà tôi vừa nói, bạn phải có nhận thức đúng đắn. Chúng ta không nên nghĩ rằng người biết nói ngôn ngữ của Không Hành là rất giỏi. Đó chỉ là duyên nghiệp của họ, một loại thiên phú của họ.

Có người nói: "Họ biết nói, còn tôi không biết." Tôi nói điều quan trọng nhất, cốt lõi của Phật pháp không phải là hiểu được người khác nói gì, mà là hiểu chính mình. Bạn có hiểu chính mình không? Họ nói những ngôn ngữ Không Hành đó, bản thân họ có hiểu lẫn nhau không? Họ có thật sự hiểu họ đang nói gì không? Ngôn ngữ chỉ là một công cụ giao tiếp, giống như loài mèo có ngôn ngữ của mèo, loài chó có ngôn ngữ của loài chó, người ngoài hành tinh có ngôn ngữ của người ngoài hành tinh. 

Những ngôn ngữ này cuối cùng chỉ là sự kết nối của tần số, vì vậy chúng ta biết rằng, những người tu thiền định, những người có kiến giải chính xác về Phật pháp, đều hiểu rằng càng ở cấp độ cao, càng không cần đến ngôn ngữ.
Ví dụ cõi Dục giới, khi gặp nhau vẫn cần có sự tiếp xúc của thân thể; cõi Sắc giới thì chỉ một ánh mắt đã biết tất cả, khi ánh sáng gặp ánh sáng là đã biết; cõi Vô sắc giới thì thậm chí những thứ này cũng không cần nữa. 

Vậy có gì đáng ngưỡng mộ đâu. Thực sự khi chúng ta tu hành, như hôm nay tu pháp Liên Sư, Ngài ở quốc thổ đó đã giáo huấn tất cả Không Hành và quyến thuộc. Ngài cũng giáo hóa tất cả Không Hành trong cõi này, tất cả đều phải quay về Phật tính tối thượng cuối cùng, đây mới là điều căn bản nhất. 

Vì vậy trong tu tập, đừng so sánh, đừng ngưỡng mộ, mỗi người có nhân duyên thành tựu riêng. Tôi chưa bao giờ ngưỡng mộ ai. Tôi không biết nói ngôn ngữ Không Hành thì cũng không ảnh hưởng gì đến việc tu tập của tôi. 

Cho nên tôi cảm thấy rằng khi chúng ta tu tập hôm nay, tôi đã nhận được nhiều điều khai sáng. Những khai sáng này là một niềm hỷ lạc, là một sự sáng tỏ, là một sự thư thái, là một tình yêu thương rộng lớn. Tu tập của chúng ta chính là để hòa nhập vào cảnh giới như vậy, dần dần từ bỏ sự phân biệt, lòng tham, tình yêu ghét oán thù của bạn. Đây mới chính là tinh thần của Phật giáo.

---
# File: tinh-tuyen/ts-lien-anh-chan-phat-bao-sam.md
# Title: TS Liên Anh: Chân Phật Bảo Sám
---

![image](/img/img_7d3a1515e42a10309d2160f93d7d8587.jpg)



## TS Liên Anh khai thị Chân Phật Bảo Sám


Giảng pháp: Thượng sư Liên Anh
Thời gian: 19.10.2024
Địa điểm: Tâm Đăng Đường - Malaysia
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Xin chào mọi người!

Lần đầu tiên tôi công khai hát Chân Phật Bảo Sám, chắc là cũng ổn nhỉ? [Mọi người: Rất hay!!!] Tôi cũng phải cảm ơn trợ giảng đã dẫn dắt hát xướng. Buổi chiều chúng tôi chỉ có chưa tới một tiếng để luyện tập với nhau, vừa rồi cũng có nhiều chỗ là trực tiếp tùy hứng mà hát. 

Đối với Chân Phật Bảo Sám, rất nhiều nơi đều chọn làm pháp hội, và cũng rất nhiều nơi làm đồng tu, đây đã trở thành một đặc sắc của Chân Phật Tông chúng ta. Gần như mỗi dịp 18/5 Âm lịch, tức là Thánh đản của Sư Tôn, hoặc là vào ngày 18 hàng tháng là một ngày kết duyên đặc biệt, mọi người đều đến bái sám, sau đó cùng tu, vì thế đây đã trở thành một hoạt động rất quan trọng của các đạo tràng lớn nhỏ.

Vậy tôi muốn hỏi mọi người vì sao phải bái sám, đặc biệt là Chân Phật Bảo Sám? Các bạn có biết không, chúng ta đọc nghi quỹ Chân Phật Bảo Sám mà Sư Tôn viết trong sách, điểm đặc biệt là bản sám này dựa theo “Chân Thực Phật Pháp Tức Tai Tứ Phúc Kinh” để mà mở rộng ra thành bản sám này. Đây là một điểm quan trọng. Bạn thấy đó, Hiển giáo có rất nhiều sám: Đại Bi Sám, Dược Sư Sám, Thủy Sám, Lương Hoàng Bảo Sám, Kim Quang Minh Sám, v.v… đều là một dạng nghi quỹ. Nghi quỹ tức là một bộ phương thức tu hành, cho chúng sinh một phương pháp để kết duyên. Chúng đều có một cái gốc để dựa trên, Chân Phật Bảo Sám của chúng ta là dựa trên kinh điển được tuôn chảy từ tâm của vị Kim cương Thượng sư chân chính của chúng ta, từ đó mở rộng ra thành nhiều phần để bái sám. Vì thế, chúng ta cần biết rằng Chân Phật Bảo Sám là bất cộng pháp, bất cộng tức là ở bên ngoài không có, chỉ có sư phụ của bạn truyền cho bạn thì mới có. 

Ví dụ Mahabala Đại Lực Kim Cang, Tây Tạng cũng có, nhưng pháp khí khác nhau. Vị Mahabala của chúng ta cầm một cây gậy, nhưng ở Tây Tạng, hình tượng của ngài trong “Kinh Đại Lực Kim Cang” là trên đỉnh đầu cũng là A Di Đà Phật, nhưng trên tay ngài lại cầm trượng đầu lâu, tức là trên cây gậy có đầu lâu. Có đầu lâu và không có đầu lâu khác nhau rất xa. Sư Tôn đã nói hình tượng Mahabala của chúng ta chỉ riêng Chân Phật Tông mới có, và bốn pháp khí của ngài đều có tượng trưng. 

Trước đây có người hỏi tôi rằng chúng ta thường nói đến truyền thừa, Mật giáo coi trọng truyền thừa hàng đầu. Làm sao để giải thích về truyền thừa? Đương nhiên có rất nhiều cách, bạn xem kinh của Mật giáo, chúng có thể nói cho bạn một cách rất nghiêm ngặt về truyền thừa này truyền thừa nọ. Trong lòng mỗi người cũng sẽ có cách hiểu của riêng mình về truyền thừa, mỗi cách giải thích của các Thượng sư cũng khác nhau. Tôi lấy ví dụ về việc uống sữa. Sữa thì nơi nào cũng có, mỗi đất nước lại có một hương vị riêng, lại có nhiều thương hiệu khác nhau. Nhưng chung quy vẫn là sữa. Bạn tới một tiệm gọi trà sữa, trà sữa là hồng trà pha thêm sữa, nhưng bạn cũng không hề hỏi cụ thể xem là họ dùng sữa hiệu gì. Nhưng khi bạn đã uống quen thì bạn có thể nhận ra, ồ, hôm nay vị trà sữa có khác. Ví dụ buổi sáng mẹ tôi rót cho tôi cốc sữa, tôi uống vào thấy khác sẽ bảo mẹ tôi rằng bà đã đổi loại sữa khác rồi. Vậy truyền thừa là gì? Nếu bạn đã thích dùng hiệu A thì bạn sẽ mãi mãi dùng hiệu A, bạn thích hiệu B thì từ đầu tới cuối bạn đều dùng hiệu B. Đây chính là pháp nhũ của truyền thừa. Chỉ cần mùi vị khác đi một chút là sẽ khác. 

Với người ngoài họ sẽ nói rằng “Mật tông các bạn…”, tức là họ quy đồng hết, nhưng với hành giả Chân Phật mà nói, bạn cần phải biết, chúng ta là sữa hiệu gì trong số các hiệu sữa, đó là hiệu Chân Phật Tông, do Liên Sinh Hoạt Phật truyền. Vậy bạn đã thấy khác chưa? Không thể nói rằng đều là sữa cho nên tôi có thể đến đạo tràng này, có Pháp Vương kia đang quán đảnh tôi cũng có thể đến, có đại Rinpoche kia đang quán đảnh tôi cũng có thể đi, vì đều là sữa mà. Nhưng khi uống vào thì sao, khi uống vào thì có quan hệ gì không? Tôi nói cho bạn biết, có quan hệ đó! Chỉ cần thêm một chút vị vào là khác rồi. Ví dụ trong một cốc sữa mà bạn cho vào một giọt nước tương thì nó sẽ thế nào? Rất kì cục đúng không, bởi vì đã hỏng mất vị rồi. Đây không còn là truyền thừa nữa. Với cá nhân tôi mà nói thì ví dụ này rất dễ hiểu, tôi nói cho người khác nghe họ sẽ bảo ồ thì ra là như vậy, thế là hiểu rồi. 


![image](/img/img_afdd31862949a158e38fccd7187995d9.jpg)


Vậy hôm nay chúng ta bái sám hiệu gì? Là hiệu Chân Phật. Mỗi người đều nói mình là hiệu Chân Phật, tôi tin rằng những người đang ngồi đây chắc đều là đệ tử Chân Phật Tông, định nghĩa thế nào? Định nghĩa rộng nhất là bạn đều có chứng thư quy y Chân Phật Tông. Ai chưa có thì có thể điền vào tờ giấy quy y, hoặc bạn chưa quy y tôi sẽ quán đảnh cho bạn rồi viết giấy. Nhưng còn nói về thực tế thì sao? Bạn có dám nói bạn 100% là đệ tử của hiệu Chân Phật không? Ai dám nói bạn là 100% Chân Phật xin giơ tay! Vâng xin mời anh mặc áo xanh nói xem vì sao anh là 100%? (Đồng môn: Không bị những thứ bên ngoài làm dao động, hiểu rõ phương hướng của mình.) Câu trả lời này được 80 điểm. Hôm nay tôi không có thời gian để hỏi tiếp anh kĩ hơn thế nào là trong, thế nào là ngoài. 

Trước buổi bái sám của chúng ta tôi đã ăn tối cùng các vị của Phật đường, họ khích lệ tôi nói rằng khai thị của Thượng sư Liên Anh rất dễ hiểu, hóa phức tạp thành đơn giản, nghe là biết nói đến trọng điểm gì. Tôi nói cá nhân tôi không thích những thứ phức tạp, tôi thích nói những thứ đơn giản, nhưng những thứ đơn giản lại luôn là những thứ mà mọi người khó hiểu nhất. Vừa rồi tôi nói với họ, mỗi một đệ tử có chứng thư quy y Chân Phật Tông, về mặt lý luận, họ biết là họ phải tu Chân Phật Mật Pháp, về mặt lý luận họ cũng cần phải biết thế nào là Chân Phật Mật Pháp. Tu 10 năm, 20 năm, 30 năm, 40 năm, 50 năm hoặc thế nào đó, cần phải hỏi “vì sao”. Đây là khẩu quyết mà bố tôi dành cho tôi, ông ấy là giáo sư đại học, ông ấy thích nhất là hỏi sinh viên “vì sao”. Ông ấy cũng thích nhất là sinh viên hỏi ông ấy “vì sao”. Giáo viên hỏi bạn “vì sao” là vì mong bạn hiểu được đạo lý thật sự. Học sinh hỏi giáo viên “vì sao” cũng cho thấy họ muốn hiểu thế nào là đạo lý thật sự, chứ không phải là mơ mơ hồ hồ. 

Bạn mời đệ tử Chân Phật Tông nói về truyền thừa Chân Phật Tông xem truyền thừa Tạng mật của anh là thế nào, Hiển giáo có truyền thừa gì, Đạo giáo có truyền thừa gì, xin hỏi đang ngồi ở đây có ai có thể nói được hai năm rõ mười? Bạn chưa cần phải nói đến truyền thừa hư không, người ngoài sẽ phê phán bạn, mời bạn nói Hiển giáo của bạn là ai cạo đầu, hòa thượng cạo đầu là ai, giới sư là ai, giáo thọ Acharya là ai, đắc giới Acharya là ai, yết ma Acharya là ai, bạn có nói được không? Bạn có biết không, mọi người bên ngoài đều đang dùng kính lúp để soi đệ tử Chân Phật Tông của chúng ta. Vì sao tôi lại nói nghiêm túc như vậy? Ngoài chính mình tự nhận thức rằng chúng ta đang tu theo “hiệu” này ra, bạn còn phải nói ra được mỗi khi có người hỏi bạn, chỉ hiểu được nửa chữ thôi thì chưa gọi là tu hành. Người ta sẽ nói đấy nhìn đi, đệ tử Chân Phật Tông mà ngay cả truyền thừa của mình mà cũng không nói ra được. Cho nên tôi thường xuyên đi đến các đạo tràng của Chân Phật Tông, tôi không cần phải hỏi, chỉ cần nghe là biết đạo tràng này có đang dạy truyền thừa hay không, nghe là biết lý niệm của đạo tràng này có đúng hay không, không cần hỏi mà chỉ cần quan sát thôi. 

Bạn hãy nghe những lớp giảng bài của Chân Phật Tông, cứ mỗi lần có hội nghị quy mô lớn là đều sẽ có các lớp giảng bài, lần này ở Seattle cũng có. Thật ra lớp giảng bài là thế nào? Không phải là tự mình nói về mình, bởi vì giảng bài là nói cho người không hiểu về bạn nghe. Người mà hiểu bạn rồi thì không cần hỏi bạn nữa, với người đã hiểu bạn rồi thì hà tất phải nói, họ còn hiểu hơn cả bạn. Trong “Binh Pháp Tôn Tử” có một câu nói rất hay là “biết người biết ta, trăm trận trăm thắng”, vì sao? Vì tiền đề của “trăm trận trăm thắng” là phải biết rõ mình đang làm gì, vì sao làm việc này. Cho nên vừa nãy tôi mới nói là tôi thích nhất là hỏi vì sao, tôi thích người ta biện luận với tôi, đặc biệt là bạn có gì không hiểu về Phật pháp, đặc biệt là những thứ thuộc về “ngoại đạo”. Chúng ta không thể nói người khác là ngoại đạo, vì trong con mắt của người khác người ta cũng nói Chân Phật Tông chúng ta là ngoại đạo. Chúng ta nói đến những người có quan niệm khác với chúng ta, khi họ muốn biện luận với chúng ta, bạn cần phải biết trả lời họ như thế nào. Những bài giảng là để dạy cho bạn hiểu những lý niệm về truyền thừa. 


![image](/img/img_647ce26e8c32a6d933957917acab13bb.jpg)


Truyền thừa không phải là chỉ có nói và nói, mà là bạn có thật sự dụng công không, bạn có đọc sách không. Hiện nay hàng năm Chân Phật Tông đều có các kỳ thi giảng sư, trợ giảng, đó là thi cái gì? Tôi cũng không rõ là thi cái gì, vì tôi xuất gia xong thì đã làm pháp sư rồi. Nếu tôi đi thi giáo thọ sư chắc là tôi cũng chẳng thi đạt đâu, bởi vì bài thi cũng rất khó, cho nên tôi chưa chắc thi đạt. Chức vụ hiện tại của tôi bây giờ là Thượng sư, bạn cho rằng dễ làm à? Tôi xin hỏi mọi người, bạn ngồi trước mặt cả một đám đông quần chúng để dẫn dắt một buổi đồng tu, ngày mai phải làm pháp hội Thất Phúc Thần, một mình bạn đối diện với đại chúng, bạn có dám ngồi trên ghế này không? Không chỉ có chúng sinh hữu hình mà còn có cả chúng sinh vô hình nữa. Rồi ai chịu trách nhiệm cho những đơn báo danh kia? 

Hôm nay chúng tôi đại diện cho Căn bản Thượng sư đi hoằng pháp, bất kì một đạo tràng nào cũng có thể đặt câu hỏi cho bạn, họ cũng chẳng nể mặt nể mũi gì cả, phang thẳng luôn mà hỏi. Nói truyền thừa đi, nói tam pháp ấn đi, nói năm bộ đại luận đi. Bạn có nói được không? Bởi vậy, vì sao tôi dụng công cố gắng nỗ lực? Chẳng phải là để lừa người ta, để cho người ta thấy là Thượng sư này đang chăm chỉ đọc sách, mà đây là bổn phận cần phải làm. Mới đây trong đại hội Thượng sư ở Mỹ, bởi vì các đại Thượng sư đều nói các Thượng sư pháp sư của Chân Phật Tông cần phải được giáo dục như thế nào. Tôi ủng hộ 200%, việc này vốn dĩ là đúng rồi, nhưng mà quan trọng hơn cả việc này là đồng môn Chân Phật Tông có tiếp xúc được với những sự giáo dục này không, nghĩa là có được đào tạo không ngừng không. Vì sao? Vì mỗi người đều có trách nhiệm hoằng pháp, bởi vì người ta đều đang nhìn vào nhất cử nhất động thường ngày của bạn, các bạn đã hiểu Phật pháp thế nào và đang làm thế nào. Cho nên mỗi đồng môn đều là bộ mặt của Chân Phật Tông. Bạn nói trên đầu bạn là Căn bản Thượng sư, không sai, ai cũng nói được như thế, nhưng bạn đã làm những gì? 

Có thể bạn nói tôi đang nói những điều rất thô và nông, đúng vậy, chúng là những cách biểu hiện rất bề ngoài. Nhưng bạn còn phải đi sâu vào bên trong. Vì thế, bái Chân Phật Bảo Sám, bạn phải biết rằng đây là căn bản sám, là đích thân Sư Tôn chân truyền, không giống cái bên ngoài, vậy bạn phải biết là vì sao không giống? Nếu bạn đọc kĩ bài văn sám, có thể nói rằng nếu không thật sự cố gắng tìm hiểu thì trên 50% nội dung bản thân tôi đọc cũng không hiểu được là đang nói về cái gì. Bạn nói xem có đúng không? Nhìn chữ thì hiểu rồi, cũng biết cách đọc chúng lên, nhưng còn ý nghĩa thì sao? Cho nên cần phải tra tư liệu và dụng tâm để hiểu được nội dung này, bởi vì Sư Tôn đã viết ra tất cả Phật Bồ Tát mà chúng ta nên phải đảnh lễ một cách rất hoàn chỉnh để có một bài văn sám đầy đủ này. Tôi hy vọng sau này khi tôi hiểu kĩ rồi, sau khi nghiên cứu rồi, có dịp thỉnh thị Sư Tôn, và sau khi hiểu được rồi tôi sẽ nói lại cho mọi người biết, bởi vì bây giờ thật ra chúng ta đều đang sám hối ở mức độ khá nông. 

Đối với người bình thường, thế nào là bái sám? Đó là đọc một đống chữ, hát một đống bài, đứng dậy xong lại quỳ xuống, đứng dậy xong lại quỳ xuống, như thế gọi là bái sám, đúng không? Hôm nay có một số vị là bố mẹ đến đây, con cái của các bạn không đến, bạn bảo với con là bạn đi bái sám. Thế là trong đầu họ sẽ xuất hiện ý nghĩ bố mẹ tôi đi bái sám, đứng lên lại quỳ xuống, đứng lên lại quỳ xuống, sau khi về nhà thì kêu đau lưng, đau chân, đau tay, đấy gọi là bái sám. Người hiểu hơn một chút thì biết rằng chúng ta có một nghi quỹ, có rất nhiều pháp sư, có âm nhạc rất trang nghiêm, nhưng thực tế có phải chỉ là như vậy không? 


![image](/img/img_e1cc3d32a3a105b0f3428c8a72a780a0.jpg)


Vừa rồi tất cả mọi người đều bái một cách rất nghiêm chỉnh và đầy đủ phải không? Với những người như vậy, xin hỏi có phải là họ đang bái sám không? Người bị đau nhức nhiều hơn thì công đức có lớn hơn không? Người nào phải xoa dầu nhiều, phải dán cao dán nhiều, sẽ được Phật Bồ Tát phù hộ nhiều hơn không? Mời mọi người thử trả lời xem. (Mọi người: Không phải!) Vậy xin nói cho tôi biết, sự khác biệt nằm ở đâu? (Mọi người: Nằm ở sự chuyên tâm, dụng tâm.) Chà, mọi người đúng là đệ nhất cao thủ! Nhưng tôi muốn nói cho bạn biết, trước khi bạn luyện được cho tâm mình đạt đến trình độ như vậy, tốt nhất là bạn hãy bái cho đau nhức một chút. Xin hãy nghĩ cẩn thận về câu nói này của tôi, nó có lý của nó. 

Người bình thường, thử lấy tôi làm ví dụ đi, tôi bị nhục thân này của mình lừa gạt, bị lục căn lục trần chiếm dụng tới nay là 30 năm rồi, nhưng trong quá trình tôi bị lừa này cũng có lợi ích. Thông qua sự đau nhức, nó giúp bạn ý thức được rằng tôi đang nỗ lực nghiêm túc sám hối. Có tác dụng gì không? Có đấy! Nếu hôm nay bạn trở về mà không bị đau nhức một chút nào, có thể bạn sẽ hoài nghi chính mình là có phải mình bái sám không có hiệu quả gì không. Mặc dù trên thực tế, đau hay không đau, nhức hay không nhức, bái như thế nào chẳng có liên hệ gì cả. Nhưng trước khi bạn thật sự hiểu được tâm pháp như lúc nãy các bạn nói, bạn phải thông qua hành động trên thực tế để biểu thị sự sám hối của mình. Đây là vì sao mà trước khi tu Bổn tôn pháp, tu đại pháp vô thượng, bạn đều phải làm Tứ gia hành. Bạn nghĩ rằng niệm 100.000 biến thật lãng phí thời gian, lạy 100.000 lạy thật lãng phí thời gian ư? Sai rồi. Ở đây là phải bắt tay vào từ Sự bộ pháp để làm cơ sở. Vì sao thầy của Milarepa bảo ngài đập đi xây lại, đập đi xây lại, bạn nghĩ rằng sư phụ của Milarepa rảnh quá không có việc gì làm sao? Nói rằng đây là khảo nghiệm thì cũng là khảo nghiệm, nói rằng đây là gia trì thì cũng là gia trì. Nếu bạn thật sự hiểu một Thượng sư Mật giáo dạy dỗ đệ tử như thế nào, thì tất cả mọi thứ đều là sự rèn luyện dành cho bạn. Tâm, tính, thể, tướng, dụng, kết hợp lại vận tác, để bạn có thể thật sự thâm nhập Mật pháp, bằng không thì mọi người chẳng qua chỉ là người đeo lên cái hiệu Chân Phật, nhưng trên thực tế chẳng hề thực hành hiệu Chân Phật. 

Vì thế, tôi chúc mừng các bạn, cái đau nhức ngày hôm nay biểu thị bạn đã bái sám thật sự nghiêm túc, bởi vì việc đau nhức này là rất bình thường. Trước đây có người hỏi tôi: “Thượng sư, tôi bái sám kiểu gì mà cảm thấy thật khó chịu, tức ngực khó thở, có phải là oan thân trái chủ đến tìm tôi không? Thầy hỏi xem giúp tôi!” Tôi chẳng buồn hỏi cái vấn đề ngớ ngẩn này, có gì mà phải hỏi, vì sao? Bình thường bạn không vận động, bây giờ đột ngột vận động thì làm sao mà không đau nhức, bạn nghĩ bạn là siêu nhân sao? Không thể nào, đừng có thường xuyên nghĩ về những chuyện thần thần quỷ quỷ như vậy. Làm gì có chuyện đó. Ví dụ bình thường chúng ta không hát tụng, hôm nay bỗng dưng hát tụng thì họng sẽ bị khàn, bị rát. Thế nhưng bạn lại đi nói với người ta là: “Hôm nay oan thân trái chủ đến quấy nhiễu tôi, khiến tôi đau họng!” Dù sao thì bạn nói thế nào cũng được, bạn khoái là được! Thường xuyên có những chuyện như vậy. 


![image](/img/img_801e2d892a1e8028d875ed7f842ed322.jpg)


Thế nhưng làm một hành giả, bạn phải có chính tín. Cho nên hôm nay mọi người về nhà, nếu bạn có đau nhức thì phải làm sao? Bôi thuốc, dán cao, tắm nước nóng, thư giãn, không sao đâu, vì ngày mai không phải lạy nữa, ngày mai chỉ có ngồi thôi. 

Chân Phật Bảo Sám là trân quý, thật ra tôi cũng không hiểu là vì sao cuối cùng tôi lại sắp xếp tu Chân Phật Bảo Sám trước pháp hội của chúng ta. Đã có những thay đổi, ban đầu chúng ta định bái Lương Hoàng Bảo Sám, nhưng vì tuần sau sẽ lại có đại hội cúng tăng, thời gian đã gần kề, mà bạn cũng biết là các đồng môn tình nguyện chuẩn bị cho pháp hội cũng rất bận rộn, cho nên không có nhiều thời gian như vậy. Tu Chân Phật Bảo Sám sẽ dễ dàng cho chúng ta hoàn thành, chỉ trong vòng nửa tiếng đồng hồ, một tiếng đồng hồ, cộng thêm tôi nói huyên thuyên nữa, mọi người vẫn có thể ngồi được để hoàn thành xong Chân Phật Bảo Sám. 

Ngày mai là Hộ Ma Thất Phúc Thần. Hôm nay ai đến bái sám, ngày mai mới có tư cách có được Thất Phúc Thần ban phúc, tôi dám nói như vậy. Ai không đến bái sám mà vọng tưởng ngày mai tham gia pháp hội có được ban phúc thì đó gọi là vọng tưởng. Vì sao? Trong “Kinh Pháp Cú” nói, người học Phật khi chưa thành tựu, bạn phải có đầy đủ 7 loại pháp tài [của cải], tôi tin rằng tất cả mọi người đều biết. 

Đầu tiên là tín tài, bạn tin tưởng Phật giáo biểu thị bạn đã có được một loại tài. Sau khi tin Phật giáo rồi, bạn giữ giới luật, tài này gọi là giới tài. Bạn sám hối quá khứ, đây gọi là sám tài. Bạn đã hối hận rồi, làm lại từ đầu, gọi là quý tài. Bạn nghe được Phật pháp thì gọi là văn tài. Bạn làm công đức bố thí thì gọi là thí tài. Bạn có được trí huệ của Phật thì gọi là huệ tài. Nếu bạn không có được những loại tài này, Phật Bồ Tát ban phúc cho bạn, bạn nghĩ rằng bạn có thể cứ thế mà nhận được hay sao? Không có đâu, vì sao? Bởi vì không có được điều kiện cần và đủ, giống như cái túi đã rách, bạn chẳng thể đựng được. Mật giáo nói đến ba pháp khí [ba kiểu người], tôi rất hay nói đến điều này. Thứ nhất là phú pháp khí, tức là hoàn toàn bị che kín, cam lộ căn bản là không thể chạm tới bạn được. Thứ hai là phá pháp khí, tức là đã bị vỡ rồi, có đổ vào bao nhiêu thì cũng chảy đi hết. Loại thứ ba là loại có khiếm khuyết, bạn sẽ không có cách nào viên mãn được, có vào được đấy, nhưng rồi cũng sẽ rò rỉ hết. Vì thế, hôm nay việc đến đây sám hối là để bạn tin vào nhân quả, để bạn thật sự sám, thật sự hối, thật sự hổ thẹn. 


![image](/img/img_730ecdb07e77cbbf40fe722ce0132ffa.jpg)


Bạn nghe được Phật pháp, bạn tin tưởng Phật pháp, bạn sẵn lòng dùng Phật pháp để thay đổi chính mình, bạn rất nỗ lực làm, bạn chăm chỉ lễ sám, dần dần bạn nhìn thấy cải biến, tâm bạn tiếp nhận, rồi bạn mạnh mẽ tinh tấn theo đuổi con đường này, đến cuối cùng sẽ thành tựu. Đây chính là bảy loại tài, bảy loại tài này sẽ khiến bạn có được phúc phần của xuất thế gian và tư lương của nhập thế gian. Vì sao? Bạn thật sự hiểu Phật pháp, biết cách làm người, muốn thành Tiên thành Phật, trong Kinh Diêu Trì Kim Mẫu có nói rồi, thành Tiên thành Phật là dựa vào cách làm người, phải làm người thế nào, làm người đâu dễ làm. Phải làm người thế nào? Kinh Phật nói ai “giữ năm giới, làm mười thiện” có thể làm người, những người ngồi đây ai làm được? Chỉ mỗi “giữ năm giới, làm mười thiện” đã khó thế nào rồi. Bạn có ác khẩu không? Bạn có hai lưỡi không? Bạn có thêu dệt không? Bạn bảo không, nhưng ý nghĩ của bạn thì có đấy, như vậy là hỏng rồi, cho nên cần phải sám hối. 

Trước hết bạn hãy có đầy đủ bảy loại tài mà Phật dạy bạn, bao gồm cả việc chúng ta tu chúng thật viên mãn, như vậy bạn mới có được tài khố. Chúng ta thường nói đến tài khố, tài khố ở đâu? Tâm bạn chính tài khố của bạn. Cuối cùng tôi nói một đạo lý này để mọi người hiểu vì sao hôm nay cần phải đến. Trước đây người ta thỉnh tôi phù trời ban tài phúc, phù Đại Phúc Kim Cang ban tài, thỉnh phù từ Sư Tôn. Trong sách phù có nói, phù không thể tùy tiện cho người ta. Có người không khoái, bảo Sư Tôn keo kiệt quá, tự nhận mình là Đại Phúc Kim Cang thế mà xin một lá phù cũng yêu cầu này yêu cầu nọ. Cuối cùng Sư Tôn đã nói ra bí mật. Phù trời ban tài phúc không phải là tự dưng cho bạn của cải từ trên trời rơi xuống. Thế thì ai đi xin phù cũng thành Bill Gates hết. Hoặc là mọi người cũng biết Warren Buffett đấy, ông ấy là Thần cổ phiếu, lời mà Thần cổ phiếu nói ra cũng khác chúng ta. Khi chúng ta thử micro thường nói một, hai, ba, còn ông ấy cầm micro thì nói một triệu, hai triệu, ba triệu. Mọi người vọng tưởng rằng có được cái phúc kia thì lập tức trở thành Buffett. Đâu phải thế!

Sư Tôn nói, khi mang phù này bên mình thì tất cả thần Phật, chư thiên Hộ pháp Không hành sẽ nhìn rõ ràng bạn đang làm cái gì. Bạn có đang làm việc thiện không, nếu có thì các vị sẽ cho bạn phúc báo. Nếu bạn làm việc ác, trời sẽ giáng tai họa. Giống như trong Kinh Tứ Đại Thiên Vương đã nói rất rõ ràng, từ mồng 1 đến mồng 7 là quyến thuộc của ngài xuống, tuần giữa là Thiên Tử giáng xuống, ngày 15 Tứ Thiên Vương tự mình giáng xuống nhân gian để mà thưởng thiện phạt ác, và sau đó báo lại đến chư thiên thiên đình là người này đang ở nhân gian làm việc gì. Vì thế khi bạn mang phù này theo người thật ra là bạn hoàn toàn bộc lộ hết rốt cục là bạn đang làm thiện hay làm ác. Cho nên với lá phù này, không cần phải hỏi người khác, hãy hỏi chính bạn xem bạn có đeo nổi lá phù này không, nếu như đeo được thì tức là bạn hành vi đoan chính thiện lành, trời tự nhiên sẽ giáng phúc, còn nếu không thì sẽ là tự bạn chuốc lấy tai ương. 


![image](/img/img_a7301a477e4a5294b5b447c120b260c8.jpg)


Nguyên tắc tương tự có thể được chứng minh. Hiện nay chúng ta tu rất nhiều pháp tư lương, Tư lương đạo, Gia hành đạo, tu rất nhiều pháp Tài Thần, mỗi người đều hỏi vì sao tôi không có tiền, vì sao tôi chưa phát tài, vì sao người ta đi ra ngoài là tự dưng kiếm được ngay khoản tiền lớn. Trong Phật giáo không có hai chữ “tự dưng”, tất cả đều là nhân quả. Lần trước tôi đến đây làm pháp hội Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, tôi từng kể câu chuyện về một vị thiền sư, không biết mọi người còn nhớ không? Ông ấy đem đôi giày của mình treo ở giữa đường lớn bảy ngày bảy đêm nhưng chẳng có ai lấy mất đôi giày của ông. Có thể mọi người cho rằng thời đó nơi đó là thời thái bình, chẳng ai lấy nhầm đồ, chẳng có kẻ trộm. Nhưng sư phụ của ông ấy nói cho ông ấy biết rằng trong quá khứ ông không có cái nhân lấy trộm của người ta, vì thế ông sẽ không có cái quả bị trộm. Bạn đã hiểu chưa?

Hôm nay ai đến đây tham gia pháp này là đang trồng xuống cái nhân bố thí, trồng xuống cái nhân có được phúc báo, ngày mai cũng trồng xuống cái nhân bố thí, tương lai bạn sẽ có được quả thu hoạch. Bố thí cái gì? Đến đạo tràng, nhìn thấy Thượng sư, nhìn thấy pháp sư, giảng sư, trợ giảng, đồng môn, chắp tay mỉm cười, đây gọi là bố thí nụ cười, bố thí sự cung kính. Người kia vốn dĩ đang không vui, nhìn thấy bạn cười với họ, họ sẽ cảm thấy cuộc sống của tôi đã tệ hại thế này rồi, thế mà bạn vẫn sẵn lòng cười với tôi, bạn vẫn cung kính chắp tay trước tôi, điều này cho thấy tôi không phải là một phế nhân. Trong lòng người đó sẽ cảm thấy mình không vô dụng. Khi người đó phát sinh tâm ấy tức là bạn đã trồng xuống cái nhân phúc báo rồi, thiện quang của bạn đã xuất hiện rồi. 

Bạn bước vào đạo tràng, đưa tay ra nhặt một mảnh rác đi bỏ vào thùng rác, như vậy là bạn đã trồng phúc báo rồi. Đạo tràng này gồm tầng một và tầng hai, chúng sinh của khắp mười phương, không phải là chỉ có những người bạn nhìn thấy ở đây,  mà còn có rất nhiều thiện tín đại đức đã quyên góp và chung tay xây dựng nên đạo tràng này, hiện nay họ có thể ở Mỹ, ở Anh, ở Úc, ở châu Âu, hoặc họ được ghi tên trong điện công đức, vì các nhân duyên khác nhau mà họ đã cùng xây nên đạo tràng này để cho chúng ta sử dụng. Bạn làm cho đạo tràng này trang nghiêm, bạn khiến cho những người khác đến đạo tràng này cảm thấy hoan hỷ: “Đạo tràng này thật trang nghiêm, chẳng có một mảnh rác nào.” Khi người đến cảm thấy như vậy và mong muốn lần sau lại đến, bạn có biết bạn đã trồng xuống bao nhiêu phúc báo không? Bởi vì để một người bước vào đạo tràng, hơn nữa còn khiến người đó sinh tâm hoan hỷ, muốn lại đến, đây là một việc vô cùng khó. 

Trái lại, nếu hôm nay bạn đến đạo tràng, bạn tùy tiện nói một câu, tôi lấy ví dụ: “Nhìn cái đồng hồ của Thượng sư Liên Anh kìa, không biết là bao nhiêu tiền nhỉ?” Anh ta thật sự không biết đồng hồ này chỉ trị giá 100$, nhưng lại nói: “Chắc là cũng phải 300$. Ôi trời ơi, người xuất gia mà đeo cái đồng hồ 300$.” Người bên cạnh nghe được, ồ, Thượng sư đeo đồng hồ 300$, thế là lại đem đi nói tiếp, hôm sau đã biến thành cái đồng hồ 500$. Có chuyện này hay không? Có đấy, tôi đã từng gặp rồi. Thế rồi người đó không đến nữa, bởi vì bạn không chắc chắn mà bạn dám nói lung tung. Đi vào đạo tràng nhìn thấy cúng phẩm, không khen ngợi, không tán thán, lại chê “Ôi, cúng phẩm sao mà lèo tèo thế!”. Thế thì hay là bạn tự mình đi mua đi! Tự bạn sẽ biết chuẩn bị cúng phẩm vất vả đến thế nào. “Sao hoa lại cắt như thế này?” Vậy bạn tự mình đi cắt đi! Tôi thường nói với đồng môn ở đạo tràng của tôi rằng, trước khi nói người khác, bạn hãy xem xem chính mình làm được bao nhiêu điểm. Bước vào đạo tràng chỉ nên có tâm ca ngợi tán thán người khác, bạn có hiểu điều này không, bởi vì bạn không bao giờ biết được ở phía sau người ta đã phải nỗ lực vất vả thế nào. Vì đạo tràng này mà mọi người đồng tâm hiệp lực làm biết bao nhiêu việc, đây là việc có thật, vậy mà bạn dám nói họ ở sau lưng? Vậy thì bạn phải gánh chịu bao nhiêu nghiệp chướng nhân quả? 

Lần nào nói đến đoạn sau cùng tôi cũng trở nên nghiêm túc, bởi vì tu hành chính là phải nghiêm túc. Bạn muốn có tiền không? Muốn, vậy thì bạn phải nghiêm khắc với mình một chút. Mọi người không tự dưng đi cúng dường Căn bản Thượng sư, mọi người không tự dưng đi cúng dường một vị Thượng sư, mọi người đều quan sát xem. Thượng sư cũng không thể cứ thế mà tiếp nhận cúng dường suông, nếu như không có năng lực ban phúc cho người khác thì có thể tiếp tục có phúc đi nhận cúng dường của người ta không, bạn hiểu chứ? Hôm nay bạn muốn nói, tôi muốn có phúc phần, tôi muốn có tâm niệm là làm một người luôn luôn có thể cúng dường người khác, vậy thì bạn sẽ có tiền, chứ không phải là hôm nay tôi không cúng dường đâu bởi vì tôi chẳng có tiền. Tôi từng nói rồi, một đồng cũng là cúng dường, mười đồng cũng là cúng dường, một trăm đồng cũng là cúng dường, bạn đừng lo nhiều hay ít, bạn sẵn lòng cúng dường mới là quan trọng. 

Vì thế sau khi kết thúc buổi hôm nay, khi rời khỏi đạo tràng này, tôi xin mọi người hãy làm một việc, đó là xin lỗi trước Phật Bồ Tát, sám hối trước Phật Bồ Tát, sám hối tất cả những việc bạn đã làm sai tính từ hôm nay trở về trước, chọn ra một điều và hứa rằng sẽ không tái phạm nữa. Dùng cái tâm sẵn sàng chịu trách nhiệm như vậy để cho Phật Bồ Tát chứng minh bạn thật sự mong muốn thay đổi, Phật Bồ Tát có thể ban phúc cho tôi không, bạn có làm được việc này không? Nếu làm được thì bạn sẽ được cứu. Hôm nay tôi khởi ác niệm với người khác, tôi sám hối với Phật Bồ Tát: “Xưa con đã tạo bao ác nghiệp, đều vì vô thủy tham sân si, đều sinh ra từ thân ngữ ý, nay con tất cả xin sám hối.” Đừng chỉ có đọc như vậy, bạn có làm được không? Nếu làm được thì ngày mai bạn sẽ được cứu. Om mani padme hum.

---
# File: tinh-tuyen/ts-lien-anh-chia-se-tai-phap-hoa-duong-ngay-28112024.md
# Title: TS Liên Anh: Chia sẻ tại Pháp Hoa Đường ngày 28.11.2024
---

![image](/img/img_3e3c265d8455ad3cc5d8a98be76eb7c8.jpg)



## TS Liên Anh khai thị tại Pháp Hoa Đường ngày 28.11.2024


Giảng pháp: Thượng sư Liên Anh
Thời gian: 28.11.2024
Địa điểm: Pháp Hoa Đường
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

(Lược dịch bài giảng)

Lược dịch khai thị của Thượng sư Liên Anh tại Pháp Hoa Đường ngày 28.11.2024

Trước tiên, tôi xin nhắc lại với mọi người một chút. Chủ nhật tuần sau, vào lúc 15:00 ngày 08.12.2024, Pháp Hoa Đường sẽ tổ chức pháp hội Hội cúng Đại Lực Kim Cang cầu phúc, tăng ích, tiêu tai, siêu độ. Lần này chúng ta vinh hạnh mời được Thượng sư Liên Dạng là trụ trì của Đại Giác Đường ở Indonesia đến hộ đàn. Tôi lén tiết lộ với mọi người một bí mật, đó là Thượng sư Liên Dạng sẽ mang theo quà tặng rất trân quý để tặng cho mọi người, cho nên ai trực tiếp đến tham dự mới có thể lĩnh quà.

Cá nhân tôi cho rằng pháp hội sắp tới này cũng là quý giá hiếm có. Ý nghĩa đầu tiên là khởi động hoạt động cúng Hộ pháp lớn hàng năm của Phật đường chúng ta, để cảm ơn các vị Hộ pháp trong nhiều năm qua đã hộ trì. Ý nghĩa thứ hai là Sư Tôn thường nhắc nhở rằng Đại Lực Kim Cang là vị Hộ pháp đặc biệt của Chân Phật Tông, đại diện cho truyền thừa của chúng ta, vì thế chúng ta làm pháp hội của vị Hộ pháp này cũng mang ý nghĩa thỉnh Phật trụ thế. Ý nghĩa thứ ba là ngài là chủ tôn tịnh hóa, hoàn tịnh, vì vậy nếu bạn có chướng ngại, bạn thỉnh cầu ngài, bạn báo danh hoặc đăng ký làm công đức chủ, bạn sẽ được mãn nguyện. Đại Lực Kim Cang cũng có năm màu sắc, bốn loại tác dụng: tiêu tai - tăng ích - kính ái - trừ chướng. 

Tôi vừa đi hoằng pháp từ nước ngoài trở về chưa được bao lâu, vì sao tôi lại đã khẩn trương bố trí sắp đặt xong đàn thành? Bởi vì bố trí đàn thành cũng chính là sắp đặt mandala, rồi thông qua cầu nguyện và cúng dường, các vị sẽ giáng xuống. Có thể mọi người không biết rằng một khi công bố sẽ có pháp hội, hễ công bố trên mạng, đương nhiên chúng sinh hữu hình sẽ biết, và chúng sinh vô hình thì lại càng biết, cho nên họ đã tìm đến từ lâu rồi, tụ tập ở Phật đường hoặc ở lân cận đây, hoặc tìm đến tôi. Hai ngày trước trong pháp hội Sư Tôn cũng nói rằng làm siêu độ cũng rất dễ “mất mạng”, Sư Tôn đã nói ra trọng điểm rồi. Bởi vì bạn muốn siêu độ chúng sinh u minh đến Phật quốc tịnh độ, bạn phải chịu thay nghiệp chướng của họ. 

Tôi kể cho các bạn nghe một chuyện. Tôi vừa đi Indonesia về, trước đó thì tôi đi Malaysia, suốt 1-2 tháng trước khi đi Malaysia tôi bị chẩn đoán nhịp tim không ổn định, cũng đã đi khám chuyên khoa theo chỉ định của bác sĩ, bác sĩ cũng cho thuốc uống, mặc dù bản thân tôi cũng không cảm thấy thân thể mình có sự khác biệt gì cả. Bác sĩ cũng nói 90% người bị nhịp tim không ổn định đều không tự nhận biết được, và bác sĩ khuyên tôi nên uống thuốc, nghỉ ngơi để ổn định nhịp tim. Thế là tôi uống thuốc suốt một tháng. Sau đó thì tôi đi Malaysia. Trong thời gian ở đó, có khoảng năm người đến gặp tôi nói rằng tim của họ không ổn, họ thỉnh tôi gia trì. Tôi cũng không tiện nói với họ rằng hiện tại nhịp tim tôi còn nhanh hơn họ, họ nói tôi gia trì cho họ thì có phải là tôi rất mất mặt không, cũng mất mặt Phật Bồ Tát nữa. Đương nhiên tôi vẫn phải bảo họ đến trước đàn thành, sau đó thỉnh tam căn bản trụ đỉnh, sau đó thì niệm chú, tôi thường niệm nhất là chú Lục Đinh Lục Giáp, rồi Cửu tự chân ngôn. Tôi gia trì cho năm người bị bệnh tim đó, một người bị suy tim, hai người bị nhịp tim không ổn định, một người thì tim hay là phổi bị phù nề, một người thì bẩm sinh tim đã bị khiếm khuyết. Sau khi được gia trì thì họ đều nói với tôi rằng vốn dĩ phải uống thuốc thì nay không phải uống thuốc nữa, nhịp tim không ổn định thì nay đã bình ổn rồi. Còn về phía tôi, bỗng dưng có một ngày Diêu Trì Kim Mẫu nói với tôi rằng tôi không cần phải uống thuốc tim nữa, bởi vì tôi đã chịu thay xong rồi. Cứ theo logic này suy luận ra, mỗi tháng tôi đều làm pháp hội, cho nên tháng nào tôi cũng sẽ bị kiểu như thế này. Vừa xong tôi cũng phải uống thuốc hạ sốt, họng cũng bị đau nên vừa rồi không niệm chú được hết. 

Còn khi ngủ, ở trong mơ có quỷ đòi nợ đến tìm tôi để đòi nợ, không phải là họ đòi tiền tôi, mà là đòi tiền của những người đứng sau lưng tôi. Tôi quay lại nhìn thì thấy ai nấy đều cầm giấy báo danh tham gia pháp hội. Quỷ đòi nợ đó nói rằng muốn tìm những người báo danh kia, nhưng nay tôi đã giúp họ giải trừ nợ nần rồi, vậy thì quỷ đó tìm tôi thay thế. Tôi nói tôi không có tiền, thế là quỷ đó nói sẽ đánh tôi. Trong mơ, “lão đại ca” đã xuất hiện, chính là Bất Động Minh Vương, ngài không xuất hiện để đánh quỷ đòi nợ, mà ngài biến thực, biến hóa ra thức ăn, ban cam lộ, vẩy nước cam lộ để thanh tịnh nghiệp chướng của họ, cho họ những gì họ muốn. Đây chính là nghiệp chướng mà chúng sinh tích lũy nhiều kiếp tạo nên. Ai vừa rồi tham gia bái Lương Hoàng Bảo Sám sẽ biết, con người và con người, con người và động vật, con người và lục đạo chúng sinh đều có oán hận, bất kể là tốt hay xấu, thiện hay ác thì đều là sự dính líu liên lụy không thể hiểu được. Vì thế không thể nói là quỷ đòi nợ đến đòi nợ những chúng sinh này, bạn cứ thế đuổi quỷ đi, nhưng còn nhân quả vẫn chưa được giải quyết. Bạn cần phải thay họ thỉnh cầu sức mạnh của Phật Bồ Tát hồi hướng cho họ. 

Vì thế, trong kinh Lương Hoàng Sám liên tục lặp lại câu nói “đạo tràng hôm nay, đại chúng cùng nghiệp”. Vì sao lại là “cùng nghiệp”? Thật ra nghiệp duyên của mọi người đều dính líu lẫn nhau, sẽ ở cùng nhau, gặp được nhau tức là có duyên. Tiếp theo là “nương nhờ sức mạnh Tam Bảo, giải oán hận tích lũy nhiều kiếp”. Trong kinh còn nói, “vì sợ chưa trừ hết được nghiệp chướng, cho nên ai cũng trân trọng cùng tu sám hối”. Quyển nào cũng nói vậy. Bạn đừng cho rằng bạn bái xong một quyển thế là nghiệp chướng của bạn đã tiêu trừ rồi. Vẫn còn đó. Bạn bái xong quyển thứ hai, quyển thứ ba, … nghiệp chướng của bạn vẫn còn, bạn vẫn phải cầu sám hối, bái đến quyển thứ mười, bạn cho rằng đã viên mãn rồi, nhưng không phải. Vì “sợ rằng còn những tội rất nhỏ, cho nên vẫn lại tiếp tục trân trọng cầu sám hối”. Đây chính là ý nghĩa mà chúng ta tu hành. 

Vừa rồi tôi nói đến quỷ đòi nợ. Tôi còn giúp người ta đuổi quỷ ở dương trạch, âm trạch, tôi còn đi đến rất nhiều nơi. Tôi không thể tự mình làm chủ được thì phải làm sao? Phải nương nhờ sức mạnh của Tam Bảo. Khi tôi đi ra ngoài hoằng pháp, bạn xem bái sám đó, từ 7 giờ tối bái cho đến tận 10 giờ, 11 giờ tối, làm gì còn thời gian tu pháp. Buổi sáng tôi thường ngủ dậy lúc 7 giờ, sau đó tu Bảo bình khí, đến 8 giờ thì đi đánh răng rửa mặt, 8 rưỡi thì ăn sáng, sau đó 9 giờ tu pháp, tu một tiếng rưỡi. Buổi chiều 4 rưỡi lại tu pháp đến 6 giờ là ăn tối. Mỗi ngày ít nhất tôi phải tu ba đàn pháp. Vào những lúc ngồi trên xe đi đường, đi ăn cùng đồng môn, tôi đều trì chú. Pháp hội tiếp theo làm vị nào thì tôi sẽ cần niệm chú của vị đó, mỗi ngày ít nhất phải niệm mười chuỗi chú của vị đó hoặc nhiều hơn, niệm đến khô cả họng, không thể không niệm. Bởi vì như quỷ đòi nợ đã nói, tôi giúp chúng sinh trả nợ cho họ mà. Tuy vậy, tôi vẫn cổ vũ mọi người báo danh pháp hội, bởi vì thấy khó mà không độ thì sẽ đánh mất bồ đề tâm, cho nên không thể như vậy được. Tôi vẫn luôn tự nói với mình, đây không phải là sức mạnh của bản thân tôi, tôi chỉ là một phàm phu, đây đều là nương dựa vào sức mạnh của Tam Bảo, là Phật Bồ Tát đến giúp chúng sinh giải trừ khó khăn. 

Tôi đã rất cẩn thận tỉ mỉ bố trí đàn thành này, mong rằng mọi người hiểu được ý nghĩa của đàn thành. Ở chính giữa chính là A Di Đà Phật, vì trên đỉnh đầu của Đại Lực Kim Cang chính là A Di Đà Phật. Sư Tôn từng nói ngài là hóa thân của ba vị Vương: Tiên vương - Diêu Trì Kim Mẫu, Phật vương - A Di Đà Phật, U minh giáo chủ - Địa Tạng Vương Bồ Tát. Phía trước A Di Đà Phật có Bạch Liên Hoa Vương, ở chính giữa phía trước là Bạch Liên Hoa Đồng Tử, hai bên có 20 vị Liên Hoa Đồng Tử, hàng đầu tiên là chủ tôn Đại Lực Kim Cang, quý vị đồng môn nào có nhu cầu thì đều có thể thỉnh tượng về thờ phụng. 

Vừa rồi khi chúng ta tu pháp, niệm chú, Đại Lực Kim Cang đã giáng xuống thân tôi, mặt tôi đã biến đổi. Ngài đã phóng quang gia trì cho đàn thành này, tôi biết ngài đến rồi thì cảm thấy yên tâm rồi. Cái gì cần đối mặt thì vẫn phải đối mặt thôi. Con đường này thật sự không hề dễ dàng. Ngoài Thượng sư chủ đàn phải tự mình tu rất nhiều công khóa ra thì người đến tham gia pháp hội không thể có suy nghĩ rằng tôi cứ thế tay không đến tham gia pháp hội. Mọi người cũng nên vì tiêu trừ nghiệp chướng của chính mình và những gì mình mong cầu mà tự mình sám hối, phát nguyện trì kinh niệm chú. Sư Tôn khi làm pháp hội La Thiên Đại Tiếu cũng từng yêu cầu mọi người cùng trì chú hồi hướng, chứ không phải là chỉ có mỗi Thượng sư chủ đàn làm là được.


![image](/img/img_a39493c7ecda784962dea11d76959d0e.jpg)


Khi điền vào đơn báo danh, có người hỏi là vì sao công đức chủ ghi lời cầu nguyện chỉ nên tập trung vào một điều thỉnh cầu thì tốt hơn, điều này có lý không? Thật ra điều này rất có lý. Bởi vì công đức mà thường ngày bạn làm, công đức mà bạn tích lũy qua nhiều kiếp, rồi cả âm đức trong cõi vô hình nữa, bạn muốn hồi hướng tiêu tai tăng ích, vậy tiêu tai bằng cách nào? Chính là dùng phúc phần mà bạn thường ngày đã tích lũy được để đổi lấy. Có người nhìn thấy tờ giấy báo danh có chỗ trống, thế là cứ viết thật nhiều điều thỉnh cầu. Sư Tôn từng nói cúng 1 USD viết cả trăm lời thỉnh cầu, cúng 1 USD xin quán đảnh cả trăm pháp, đây chính là lòng tham của con người.

Ở đây có logic của nó. Bạn cần tự hỏi mình bạn thật sự cần thỉnh cầu điều gì, vì sao cần thỉnh cầu điều đó, bạn có thật sự cần cái đó không, mình có thể tự mình giúp mình cái này không, ngoài cầu Phật Bồ Tát ra thì mình có tự nỗ lực được không. Ví dụ như cầu thăng quan phát tài, cầu cấp trên ưu ái. Đương nhiên là có thể viết những thỉnh cầu này rồi, nhưng Sư Tôn cũng từng nhắc, ở công ty bạn làm việc lười biếng, ganh đua danh lợi, trước mặt sếp thì tâng bốc nịnh nọt, bạn cảm thấy rất chán ghét, nhưng chốn công sở là như vậy. Bạn nên làm gì thì bạn vẫn cần làm, chứ nếu chỉ hời hợt, chọn việc nhẹ nhàng, đùn đẩy việc nặng, bạn đã làm tốt được bổn phận của mình hay chưa mà đòi thăng quan tiến chức? Khi mình chưa làm được như vậy thì đừng viết ra một đống thỉnh cầu, sau đó pháp hội xong thì bạn lại oán trách là báo danh cũng như không. Đừng hoang tưởng như vậy. Trong kinh Lương Hoàng Sám cũng nói rồi, bạn làm được bao nhiêu phần thì bạn sẽ có được bấy nhiêu phần, làm được bao nhiêu phần phúc thì sẽ được bấy nhiêu phần phúc, gây ra bao nhiêu phần nghiệp sẽ gánh bấy nhiêu phần tội. 

Vì thế, nếu bạn thật sự có thể đến tham dự pháp hội, với tấm lòng chân thành nhất của mình, thế nào là tấm lòng chân thành nhất? Không phải là bạn phải cúng dường thật nhiều tiền. Nếu như bạn có thể đến nhưng lại không đến, trong Mật giáo mà nói thì đó là phạm giới. Bạn không có tiền, bạn tùy hỷ cúng dường 50 đồng, 100 đồng, 200 đồng, đó là cái tâm của bạn. Nhưng bạn phát nguyện với Phật Bồ Tát rằng con không có tiền, nhưng con nguyện trì kinh niệm chú một ngày ba thời, con chăm lo người già, hiếu thuận cha mẹ, sau đó sẽ hồi hướng cho việc con thỉnh cầu, việc này đương nhiên là được. Cho nên Thượng sư chủ đàn nhất định phải làm, đồng môn cũng nhất định phải làm, như vậy mới có thể cùng nhau làm pháp hội viên mãn. 


![image](/img/img_8fd2c8eb374f876fa3088462601a176a.jpg)


Trùng hợp là ngày hôm nay chính là sinh nhật tôi. Tôi không có ý nói để mọi người chúc mừng sinh nhật mình đâu, bởi vì trong tháng này tôi đã được ăn rất nhiều bánh sinh nhật rồi, cũng đã được nghe rất nhiều bài hát chúc mừng sinh nhật bằng các thứ tiếng, hôm nay cũng đã nhận được rất nhiều lời chúc phúc của các đồng môn ở các nước trên thế giới. Tôi lấy ngày hôm nay ra để nói là vì ngày 28 hàng tháng (Dương lịch), là ngày kết duyên với Đại Nhật Như Lai, Bất Động Minh Vương và Ái Nhiễm Minh Vương, ý nghĩa của ngày kết duyên chính là đại diện cho ngày thần linh giáng xuống, giáng sinh ở trần gian, là ngày mà nếu bạn lễ bái ngài thì sẽ sản sinh ra công đức thù thắng, vì thế gọi là ngày kết duyên. Ví dụ nữa là ngày kết duyên với Quỷ Tử Mẫu (mẹ của Mãn Nguyện Đồng Tử) là ngày 8, 12 và 28 hàng tháng. Ngày kết duyên với A Di Đà Phật là 15 hàng tháng, với Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm là ngày 17, với Không Hải Đại Sư là ngày 21. Có rất nhiều ngày kết duyên. Trên thực tế như người Nhật, từ ngày 1 đến ngày 30 hàng tháng, họ bày ra 30 vị Phật, mỗi ngày đều kết duyên với một vị Phật Bồ Tát.

Trong tín ngưỡng của Bất Động Minh Vương, từ tháng 1 là Sơ Bất Động cho đến tháng 12 cuối năm gọi là Chung Bất Động, mỗi tháng vào ngày 28 những người tín ngưỡng Bất Động Minh Vương đều làm cúng dường lớn. Trùng hợp thay tôi lại sinh ra đúng vào ngày 28, vì thế tôi tin rằng mọi thứ đều đã được định sẵn. [Thượng sư Liên Anh là hóa thân của Bất Động Minh Vương - điều này do chính Sư Tôn xác nhận và công bố.] Thêm một điều đặc biệt nữa là ngày Lễ Tạ Ơn [Thanks Giving] của năm 2024 này chính là vào hôm nay. Tôi cảm thấy ngày Lễ Tạ Ơn này còn quan trọng hơn cả sinh nhật của mình. Gần đây, rất nhiều người tôi quen biết đã qua đời, tôi cứ nghĩ mãi về sinh tử. Mọi người đã trải qua sinh ly tử biệt chưa? Rất nhiều người thân của chúng ta đã qua đời, đó là tử biệt. Thế còn sinh ly, mọi người đã trải qua chưa? 

Gần đây, việc thiền định của tôi đã tiến thêm một bước nữa, thiền định đến mức cao nhất thì không còn thời gian, không còn không gian nữa. Trước khi thiền định, niệm chú quán Không rất quan trọng, niệm 3 biến hoặc thậm chí nhiều hơn, hóa chính mình thành không. Khi đạt đến đỉnh điểm của không thì bạn có thể nhìn được đời quá khứ của mình. Bởi vậy, gần đây tôi gặp nhiều người, thì ra người mà tôi đã từng hận nhất là người mà trước kia tôi từng yêu nhất, thì ra người mà bây giờ tôi yêu nhất là người trước kia tôi từng hận nhất, người đã từng giúp tôi cũng đã từng làm hại tôi, người đời này làm hại tôi thì trong đời quá khứ đã từng giúp tôi, người đời này từng giúp tôi thì trước kia cũng từng giúp tôi, người đời này làm hại tôi thì đời trước cũng vẫn làm hại tôi. Vì thế, tại nhân gian này bạn không thể phân biệt được rõ ràng thị phi đúng sai, thiện ác xấu đẹp. Không có đúng sai tuyệt đối, đều là nhân duyên quả báo mà thôi. 

Sư Tôn cũng từng nói, khi bạn mở ra ký ức về tiền kiếp, bạn sẽ phát hiện ra rất nhiều việc, thật ra biết nhiều quá thì cũng rất đau khổ. Bởi vì gần đây tôi thường đau buồn, Bổn tôn của tôi đã viết ra một chữ cho tôi thấy, đó chính là chữ “mê” 迷 - mê huyễn. Trong chữ “mê” có chữ “mễ” 米 - “mễ” này chính là chúng sinh, vì chúng sinh đều ăn gạo. Chữ “mễ” chính là một chữ thập 十 và một chữ X, chính là chúng sinh mười pháp giới, bên cạnh chữ “mễ” 米 có bộ sước, nghĩa là đi, nghĩa là chúng sinh mười pháp giới vĩnh viễn đi trong vòng luân hồi, đó là mê. Bổn tôn nói giờ đây tôi nhìn thấy tất cả quá khứ, toàn bộ đều là mê. Mỗi con người đều đang mê. Bổn tôn nói với tôi cần phải tu hành để trở về quả vị vốn có của mình, dần dần đổi chữ “mê” này thành chữ “đạo” 道. Trong kinh Diêu Trì Kim Mẫu cũng nói: giết lục tặc, thu viên định huệ giải thoát. Ngài nói thì nghe rất dễ, nhưng làm thì rất khó. 

Vì thế, thường ngày bạn thực hành mỗi đàn pháp, bạn hãy suy ngẫm lĩnh hội, hãy thực tiễn. Khi tôi bái sám, tôi nghĩ đến cha mẹ, sư trưởng, người thân, bạn bè, sau đó nghĩ đến đồng môn ở các Phật đường mà tôi thường gặp cùng bái sám với tôi. Tôi cảm thấy tôi không còn là chính mình nữa, tôi chỉ là một người đại diện cho chúng sinh. Tôi mong rằng mọi người không chỉ nhớ tới “sinh” mà hãy nhớ cả đến “tử”, và nhớ cả những huyễn mộng giữa sinh tử, phải loại bỏ chữ “mê”. Sư Tôn hay nhắc đến tấm ảnh Sư Tôn lúc 20 tuổi, rất đẹp trai trẻ trung, bây giờ không còn như vậy nữa, giây phút hiện tại này đang qua đi, thời khắc tương lai đang đến cũng sẽ nhanh chóng qua đi. Trong kinh Lương Hoàng Sám quyển 1 cũng nói, bạn đừng cho rằng lúc này mình đang trẻ trung, khí lực dồi dào, tuyệt đối đừng nghĩ mình mạnh mà kiêu ngạo, đừng cho rằng bạn sẽ mãi mãi có được sự tráng kiện này, rất nhanh chóng bạn sẽ chẳng còn gì cả. Vì thế, hãy trân trọng từng phút giây hiện tại, hãy trân quý lúc bạn còn có đầy đủ chân tay, có thể nghe hiểu và học tập Phật pháp. Khi bái sám, mỗi lần tôi quỳ lạy tôi lại cảm thấy cảm ơn Phật Bồ Tát gia trì cho tôi lúc này chân tay vẫn còn tốt, vẫn nghe được, nhìn được, ngửi được, tu được. 

Khi tham gia pháp hội, hoặc khi tôi tu pháp, tôi đều phải làm kết giới để căn phòng của tôi hoặc đàn thành được thanh tịnh. Nhưng tôi phát hiện ra vẫn sẽ có “vô hình” đến. Tôi nghĩ mãi vẫn không hiểu, tôi liền hỏi Diêu Trì Kim Mẫu thế nào là kết giới. Ngài nói căn bản không hề có tịnh hay bất tịnh, không biết mọi người có hiểu được điều này không? Có duyên thì sẽ đến, duyên hết thì sẽ rời đi. Kết giới như thế nào? Tôi thu ánh sáng của nhật nguyệt tinh vào trong tim mình, hóa thành một chữ Hum, sau đó lại phóng ánh sáng đi, biến thành lưới ánh sáng, ánh sáng này chiếu đến mọi chúng sinh. Ngài nói, tịnh là do con tự cho là tịnh, bất tịnh cũng là do con tự cho là bất tịnh, mọi người đều chỉ là những chúng sinh đau khổ lưu chuyển trong giấc mộng lớn của nhân quả luân hồi mà thôi. Ngài nói ngay cả việc kết giới cũng cần phải phát tâm từ bi, phát tâm bình đẳng, chứ không phải là tâm phân biệt. Nếu như có tâm xua đuổi, “vô hình” sẽ cảm nhận được. Bạn cần giống như tôi ở trong mơ, khi quỷ đòi nợ đến, đừng chỉ có xua đuổi, bạn cần hiểu biến hóa và làm lợi ích chúng sinh. 

Bạn cho rằng các pháp khí mà Đại Lực Kim Cang cầm trên tay là để đánh các tà linh, nhưng đó chỉ là biểu trưng mà thôi. Sau khi cầm sợi thừng trói tà linh lại, ngài sẽ dùng cái gậy kim cang gõ vào đầu tà linh, chính là thủ ấn của Duy Ma Cật Đại Sĩ - ấn răn dạy, dạy rằng thế này là không được, nay dạy cho mi bắt đầu từ làm mười thiện để làm cái gốc. Cuối cùng là dùng phất trần để thanh tịnh, để mi trở về với tự tính vốn có của mình. Đó là sự vận dụng thiện xảo, không phải là chỉ có xua đuổi. 

Cho nên bạn nhìn thấy những đồng môn đó đến xin gia trì cho bệnh tim, có việc gì không phải là bệnh nhân quả chứ? Cái người mà bị suy tim, khi tôi đặt tay lên đầu họ, oan thân trái chủ của họ liền chạy đến nói với tôi: “Đây không phải là việc của thầy! Thầy giúp họ, tôi sẽ đến tìm thầy đó!” Tôi phải làm sao đây, không thể nào đưa tay ra lại rụt tay lại được. Tôi thỉnh cầu Bổn tôn trụ đỉnh, Hộ pháp trụ đỉnh, giao cho Bổn tôn. Vì sao người này bị suy tim? Bởi vì trong đời quá khứ người này luôn mồm nói dối, làm đau lòng rất nhiều chúng sinh. Tôi có thể gia trì cho bạn, nhưng bạn phải niệm vô số biến Bách tự minh chú để sám hối khẩu nghiệp của bạn. Khẩu nghiệp đến bằng cách nào, chính là đến từ tim của bạn. 

Sau đó tôi làm Cửu tự chân ngôn tứ tung ngũ hoành, vì Diêu Trì Kim Mẫu nói không thể làm hại chúng sinh, cho nên sau khi hóa ra lưới ánh sáng đó, tôi quán tưởng trong hư không có vô tận bảo tràng, thiên y thiên dược, Diệu Sắc Thân Như Lai hóa ra quần áo mềm mại, đồ ăn, chỗ ở, tất cả những gì mà oan thân trái chủ muốn đều xuất hiện trong lưới ánh sáng cho họ. Thế là bệnh tim của họ sẽ khỏi. 

Vì thế độ chúng sinh phải dùng trí huệ diệu quan sát, đại viên kính, bình đẳng tính, thành sở tác, pháp giới thể tính, thiên lệch về Không-Hữu đều không phải là chính đạo. Tôi mong rằng mọi người hãy trân trọng cơ hội có thể đến Pháp Hoa Đường đồng tu, trân quý đạo tràng này, quý trọng bạn vẫn còn có thể lực và tinh thần để tu pháp, trân quý pháp hội Đại Lực Kim Cang. Bạn có thể đến mà không đến, bạn sẽ tiếc nuối cả đời.

Om mani padme hum.

---
# File: tinh-tuyen/ts-lien-anh-giang-cao-vuong-kinh.md
# Title: TS Liên Anh: Giảng Cao Vương Kinh
---

![image](/img/img_1aed815dc685a3e4b3949a2196fe29aa.jpg)



## TS Liên Anh giảng Cao Vương Kinh


Giảng pháp: Thượng sư Liên Anh
Thời gian: N/A
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

(Lược dịch bài giảng)

Khi tìm hiểu về lịch sử và pháp mạch của Cao Vương Kinh, có một điểm quan trọng cần biết là kinh này có rất nhiều tên gọi, ví dụ như “Triết Đao Quan Âm Kinh”, “Cứu Sinh Quan Âm Kinh”, “Triết Đao Kinh”, “Đại Vương Quan Thế Âm Kinh”, “Tiểu Quan Thế Âm Kinh”, hoặc tên gọi tắt là “Quan Âm Kinh”. 

Trong lịch sử có ba nhân vật quan trọng nhất đóng vai trò trong việc truyền bá rộng rãi Cao Vương Kinh là Tôn Kính Đức, Lư Cảnh Dụ và Vương Huyền Mô. Ba người này đều nhờ niệm Cao Vương Kinh mà hóa giải được họa ngục tù, đây là điểm chung giữa họ mặc dù thời đại của họ khác nhau nhưng cùng niệm một bộ kinh và được cứu độ giống nhau. 

Sư Tôn nhắc đến câu chuyện của Tôn Kính Đức nhiều nhất. Thật ra trước khi bị giam vào ngục, ông vốn tín phụng Quan Âm, có tâm rất kiền thành cung kính, tự mình điêu khắc một bức tượng Quan Âm. Khi ông ấy được một sa môn nhập mộng nói với ông rằng niệm kinh này có thể giải cứu ông khỏi oan ngục, sau khi được thả khỏi ngục trở về nhà thì phát hiện ra trên bức tượng Quan Âm của mình có ba vết đao hằn trên thân, tức là tượng Quan Âm đó đã chịu thay ông ba nhát đao. Vì ông một lòng phụng trì pháp môn Quan Âm cho nên Quan Âm đã chịu thay đao hình cho ông. 

Vương Huyền Mô cũng vậy, ông mơ thấy Quan Âm nói với ông rằng hãy niệm Kinh Quan Âm 1000 biến đi. Trên thực tế, chính tôi và bố tôi đã từng liên tục niệm 1000 biến Cao Vương Kinh từ đầu tới cuối, từ phụng thỉnh Bát Đại Bồ Tát cho đến cả niệm kệ hồi hướng, ngoài lúc ăn và ngủ ra thì hầu như thời gian còn lại đều niệm, thế mà cũng phải mất ba ngày rưỡi. Vậy xin hỏi vì sao Tôn Kính Đức, Vương Huyền Mô và Lư Cảnh Dụ có thể chỉ trong một đêm trước ngày hành hình có thể niệm xong được 1000 biến? Trong lịch sử có ghi lại là Vương Huyền Mô được Quan Âm chỉ thị niệm “Thập Cú Quan Âm Kinh”, người đời sau đã gọi đây là bản “cô đọng” của Cao Vương Kinh, gọi là “Tiểu Quan Âm Kinh”. Kinh này như sau: “Quan Thế Âm. Nam mô Phật. Dữ Phật hữu nhân. Dữ Phật hữu duyên. Phật pháp tương duyên. Thường lạc ngã tịnh. Triều niệm Quan Thế Âm. Mộ niệm Quan Thế Âm. Niệm niệm tòng tâm khởi. Niệm Phật bất ly tâm.” [Quan Thế Âm. Nam mô Phật. Cùng Phật hữu nhân. Cùng Phật hữu duyên. Phật pháp tương duyên. Thường lạc ngã tịnh. Sáng niệm Quan Thế Âm. Tối niệm Quan Thế Âm. Niệm niệm khởi từ tâm. Niệm Phật không lìa tâm.]

Vì thế chính tôi từng nghĩ những người này một đêm trước khi chịu hành hình có thể niệm đủ 1000 biến ắt có cách đặc biệt. Cách đặc biệt này diễn biến cho đến ngày nay không biết mọi người còn nhớ không? Căn bản Thượng sư của chúng ta từng truyền pháp đặc biệt, đó là Cao Vương Quan Thế Âm thanh tịnh pháp. Nhưng bạn cần phải có tiền đề, trong sách Sư Tôn cũng từng viết rõ rồi, bình thường bạn thường xuyên niệm tụng Cao Vương Kinh, bạn đã niệm hơn 1000 biến rồi, thì vào lúc vô cùng cấp bách, bạn ở trước đàn thành, thắp hương phụng thỉnh, sau đó niệm tên kinh “Cao Vương Quan Thế Âm Kinh”, sau đó bạn quán tưởng ngài chiếu đến bảy mạch luân của bạn, bạn sẽ được thanh tịnh và được ngài bảo hộ tất cả đều bình an. Cho nên tự cổ chí kim, Quan Thế Âm Bồ Tát thương lo cho chúng sinh, chưa từng bao giờ bỏ rơi chúng sinh. 

Từ thời Bắc Ngụy đến nay, Cao Vương Kinh đã lưu truyền trên đời hơn 1500 năm rồi, và có nhiều bản khác nhau, trong những bản đầu tiên thật ra không có Thất Phật diệt tội chân ngôn, phải đến triều Tống mới có thêm chân ngôn này. Nhưng cho đến tận ngày nay, ngoại trừ Chân Phật Tông, đại bộ phận học giả Phật giáo và Phật tử đều cho rằng Cao Vương Kinh là ngụy kinh, luận điểm chính của họ là Cao Vương Kinh không phải kinh điển do Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết, họ cho rằng kinh này phụ họa theo “Phổ Môn Phẩm”. Nhưng vì sao kinh điển này vẫn được lưu truyền rộng rãi như vậy, các học giả nói rằng đa số các ngụy kinh đều có liên quan đến tín ngưỡng Quan Thế Âm Bồ Tát. Chúng ta thường nghe câu nói “gia gia Di Đà hộ hộ Quan Âm”, đó là vì sức mạnh từ bi và linh cảm của A Di Đà Phật và Quan Thế Âm Bồ Tát vẫn luôn hiển hiện, cho dù là người có học hay thất học, những người nghèo khổ chẳng có trình độ học vấn gì cả, nhưng họ niệm tụng vẫn có được cảm ứng. 

Tiếp theo tôi sẽ nói đến mối quan hệ giữa Cao Vương Kinh và vương triều Tây Hạ. Sư Tôn nói rằng dưới thời Tây Hạ, Cao Vương Kinh được tất cả mọi người cùng niệm tụng. Vì sao gọi là Đại Bạch Cao Quốc? Đây còn được gọi là đất nước của Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử Cao Vương Quan Thế Âm. Sư Tôn nói rằng vương triều Tây Hạ tồn tại khoảng 190 năm và trải qua mười vị hoàng đế, Sư Tôn chính là vị hoàng đế đầu tiên khai triều tức là Hạ Cảnh Tông Lý Nguyên Hạo, cũng là vị hoàng đế thứ năm Tây Hạ Nhân Tông Hoàng đế Thánh Đức, cũng là vị hoàng đế cuối cùng Lý Hiện đều cực kì thúc đẩy Cao Vương Kinh. Làm sao biết được điều này? Ở thành Hắc Thủy trong khu hang đá Đôn Hoàng có thể tìm được ghi chép của Cao Vương Kinh. 

Trong sách Sư Tôn cũng từng nói, vương triều Tây Hạ trước sau đã nhiều lần tổ chức đại pháp hội hộ quốc, kinh điển mà họ niệm tụng đều là kinh Đại thừa, trong đó có một bộ là Cao Vương Kinh, thời kỳ đó Cao Vương Kinh cũng được gọi là Hộ Quốc Cao Vương Quan Thế Âm Kinh. Đó là vì sao mà Thành Cát Tư Hãn trong 3 năm tấn công Tây Hạ tổng cộng 14 lần phái quân đánh nhưng không đánh thắng nổi, bởi vì Tây Hạ được Cao Vương Kinh cứu độ. 

Tôi bổ sung thêm một điểm nữa là Cao Vương Kinh, Đại Luân Kim Cang Đà-la-ni, Tôn Thắng Đà-la-ni, Như Ý Luân Quan Âm Kinh, Đại Tùy Cầu Đà-la-ni Kinh đều được đặt cùng với nhau trong khắc đá ở Phòng Sơn. Điều này có nghĩa là thời gian đó ở Tây Hạ đã thịnh hành Mật tông. Quốc sư ở Tây Hạ là vị nào? Trước sau có hai phái Mật tông lớn nhất, phái thứ nhất là Kagyu với vị Karmapa đời thứ nhất là Đại Bảo Pháp Vương Dusum Khyenpa, ngài chính là quốc sư của Tây Hạ. Vị quốc sư thứ hai là Drogön Chogyal Phagpa [Bát Tư Ba] của phái Sakya. Vì thế trong đời này chúng ta đều có liên hệ với phái Kagyu và Sakya, bởi vì hoàng đế khi xưa đã mời hai vị đại Pháp Vương này làm quốc sư. Còn nữa, trong kinh bộ ngoài kinh tạng Mật giáo ra còn có Pháp Hoa Kinh, Hoa Nghiêm Kinh, và Duy Ma Cật Kinh mà hiện tại Sư Tôn đang giảng. Tất cả đều có trong khắc đá ở Phòng Sơn. Vì thế tôi tin rằng chẳng có việc gì là tự nhiên xảy ra, từ xưa cho đến nay tất cả đều có nhân duyên, được Sư Tôn đem đến đời này. Đời xưa chúng ta đã đi theo Sư Tôn, ký ức cũng đem theo đến đời này, khi xưa học cái gì thì đến bây giờ cũng học cái đó, chỉ là thay đổi thân xác da thịt mà thôi. Nhưng những gì đã được cất giấu trong chúng ta sẽ lần lượt được lấy ra.

Trong những văn tập của mình, Sư Tôn đã từ từ tiết lộ Cao Vương Kinh rốt cục là do ai thuyết. Hồi đầu tiên Sư Tôn nói vị sa môn nhập mộng thuyết kinh cho Tôn Kính Đức đó chính là Sư Tôn. Sau này trong văn tập Sư Tôn cũng viết Cao Vương Kinh vốn là do Tịnh Quang Bí Mật Phật thuyết. Lại một lần khác trong thiền định, Sư Tôn đã gặp Định Quang Như Lai. Rồi gần đây Sư Tôn lại tiết lộ Cao Vương Kinh là do Duy Ma Cật nói. Tóm lại, Sư Tôn càng ngày càng nói ra nhiều bí mật. Rốt cục là Kim Túc Như Lai hay là Kim Cương Trì Tịnh Quang Bí Mật Phật, hay là Định Quang Phật, rốt cục là ai? 

Trọng điểm quan trọng nhất của Kinh Duy Ma Cật là ngoài nói về pháp môn bất nhị thì còn nói về cảnh giới thần thông bất khả tư nghì, nói về biến hóa và phân thân. Trong văn tập của mình, Sư Tôn đã ghi lại cuộc nói chuyện với Duy Ma Cật Đại Sĩ về hóa thân bên ngoài thân, tức là sự kỳ diệu của phân thân. Trong Mật giáo có một khái niệm rất lý thú, đó là hợp nhất và biến thân. Sư Tôn nói rằng bản thân là hóa thân của A Di Đà Phật, sao cũng lại là phân thân của Duy Ma Cật? Quan Âm đời đời là thị giả của A Di Đà Phật, đồng thời cũng là thị giả của Dược Sư Phật. Điều này đã chứng minh sự hiển hiện, biến hóa và thị hiện của Bồ Tát thành các Bổn tôn vốn dĩ là biến tới biến lui, Phật rốt cục là ai, chúng ta cần có trí huệ để phân biệt. Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh cũng là sự hóa hiện của Duy Ma Cật Đại Sĩ. 


![image](/img/img_4acc898c3d51b53621262f2f393b5b10.jpg)


Có một hôm khi tôi đang niệm Cao Vương Kinh vào khoảng giữa năm 2018 lúc ở trong ký túc xá, tôi bỗng dưng nghĩ đến Sư Tôn đã giảng nhiều pháp như vậy rồi nhưng vì sao vẫn chưa từng nhắc đến lai lịch của bốn vị Quan Âm trong Cao Vương Kinh, bởi vì ngoại trừ Đại Minh Quan Thế Âm có thể tra được thông tin trên mạng thì lai lịch của ba vị còn lại không rõ. Buổi trưa ngày hôm sau tôi phải lái xe đưa Sư Tôn đến Đài Loan Lôi Tạng Tự, trước đó chúng tôi có vào một nhà hàng bên đường để ăn trưa. Thông thường khi Sư Tôn dùng bữa thì không nên hỏi bất kì việc gì cả, nhưng lúc đó Sư Tôn rất vui vẻ, tôi đột nhiên có linh cảm, tôi liền hỏi có thể thỉnh thị Sư Tôn một thắc mắc trong lòng được không. Sư Tôn bảo cứ nói đi. Tôi nói trong Cao Vương Kinh nói đến nhiều Phật Bồ Tát như vậy, trong đó có bốn vị mà tôi nghĩ rằng rất tuyệt vời, rất thần bí, có thể thỉnh Sư Tôn khai thị không. Tôi hỏi Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm có lai lịch thế nào. Sư Tôn nhìn tôi hỏi: “Sao con biết mấy vị này rất thần bí?” Tôi nói: “Con cũng không biết nữa cho nên mới hỏi Sư Tôn.” Sư Tôn nói bốn vị này là bí mật trong bí mật, sau này thầy sẽ nói. Từ đó đến nay đã gần 7 năm rồi, tôi hy vọng sẽ có một ngày Sư Tôn giải thích cho chúng ta biết lai lịch của bốn vị Quan Âm này. 

Thất Phật diệt tội chân ngôn đại diện cho Thất Phật quá khứ, hiện tại, vị lai, trùng trùng vô lượng Thất Phật, diệt trừ các tội đã biết và chưa biết của chúng sinh, diệt trừ trọng tội căn bản vô tận từ vô thủy tới nay, là căn bản sám, vô sinh sám, thù thắng vô cùng.

Cao Vương Kinh có phải là ngụy kinh không, Sư Tôn hỏi Phật làm sao để phán xét kinh điển là thật hay giả? Phật Đà cho rằng chỉ cần là kinh điển lợi ích chúng sinh thì đó là chính pháp, phù hợp với tam pháp ấn. 

Mọi người có để ý hình tượng của Cao Vương Kinh không? Khi chúng ta tu pháp của ngài thì kết ấn chuyển pháp luân, nhưng bức tượng của ngài thì lại là tay phải kết ấn thuyết pháp, tay trái kết ấn đẳng trì, ấn đẳng trì còn gọi là ấn tam muội da, hoặc định ấn. Định ấn mang ý nghĩa là chế tâm một chỗ, vì thế Sư Tôn từng giảng khẩu quyết tu trì Cao Vương Kinh là “nhất tâm”, từ xưa đến nay vẫn chỉ nói đến “nhất tâm”. Bạn nhất tâm xướng danh, nhất tâm cung kính, nhất tâm quy y Phật pháp tăng, bạn đọc từng câu từng chữ đi vào tâm, bạn nhất định sẽ có được sự gia trì của Phật Bồ Tát. Ngay trong hình tượng điêu khắc của bức tượng đã nói rõ ràng rồi. Tay phải thuyết pháp tay trái đẳng trì còn có hàm nghĩa gì nữa? Trong các kinh điển có thể đọc thấy, trước khi Phật nói đà-la-ni đều sẽ nhập sâu vào Tam ma địa sau đó mới nói chân ngôn đà-la-ni. Ở đây hoàn toàn hợp với lý niệm của Phật giáo tam vô lậu học giới-định-huệ, trước tiên phải  có giới sau đó mới định, có định sau đó mới sản sinh ra huệ, từ trong định chân chính bộc lộ ra diệu pháp gọi là không-hữu song vận, đây là hàm nghĩa chân chính của Phật giáo, không thể thiên lệch không, cũng không thể thiên lệch hữu. 

Tôi tin rằng cho đến bây giờ thì Cao Vương Kinh đã làm lợi lạc vô lượng vô số chúng sinh rồi, đây là điều không thể phủ nhận.


![image](/img/img_289126935af83d0a6b131e5140b8cd03.jpg)


Ngày 30/10/2024, tại lớp giáo dục học tập dành cho nhân viên hoằng pháp các cấp của Chân Phật Tông trong khuôn khổ của đại hội cúng tăng thường niên diễn ra tại Malaysia, Thượng sư Liên Anh đã có bài giảng xuất sắc về tinh hoa của hai bộ kinh điển quan trọng nhất trong Chân Phật Tông là Cao Vương Kinh và Chân Phật Kinh. 

Là một hành giả Chân Phật, không ai là không biết đến hai kinh điển này, rất nhiều người thường xuyên trì tụng hàng ngày, rất nhiều người có thể đọc thuộc lòng một cách trôi chảy dễ dàng, nhưng nói một cách nghiêm túc, có bao nhiêu người thật sự hiểu được những ẩn ý và bí mật sâu xa của hai bộ kinh này? 

Thượng sư Liên Anh giảng rằng, trong giáo pháp Chân Phật có hai tượng trưng lớn: một là cầu vồng - tượng trưng cho ánh sáng xán lạn rực rỡ, tác dụng trong Mật pháp là tức-tăng-hoài-tru-bảo; hai là tiếng sấm - tượng trưng cho pháp môn bất nhị, chân như, nhậm vận, cũng tượng trưng cho tiếng gầm sư tử - đó là đại pháp loa vang vọng khắp mười pháp giới.

Mọi người đều biết rằng Cao Vương Kinh là kinh điển được truyền trong mơ. Vào thời Bắc Ngụy, có một người là Tôn Kính Đức do liên lụy mà bị xử tử hình, vào đêm trước này hành hình, ông đã mơ thấy tăng nhân dạy cho ông niệm Cao Vương Kinh 1000 biến, đến khi ở pháp trường, đao chém xuống mà ông không hề bị thương, từ đó Cao Vương Kinh đã được triều đình coi trọng và lưu truyền. 

Điều mọi người không biết là Tôn Kính Đức rất kiền thành thờ cúng Quan Thế Âm Bồ Tát cho nên mới có nhân duyên được cứu này. Từ chính kinh nghiệm của bản thân mình, Thượng sư Liên Anh kể đã từng trong một thời gian rất ngắn niệm xong 1000 biến, nhưng nhanh nhất cũng phải mất đến hai ngày rưỡi, vậy thì làm sao Tôn Kính Đức có thể trong một đêm mà niệm xong 1000 biến được chứ?

Đây chính là pháp thù thắng của Cao Vương Kinh, vì còn có “Tiểu Quan Thế Âm Kinh”, trong thời gian rất ngắn có thể niệm đủ 1000 biến. Giống như Căn bản Thượng sư từng dạy các đệ tử rằng khi gặp lúc nguy cấp, chỉ cần niệm tên kinh của Cao Vương Kinh cũng có thể tránh được tai họa. Đây là Quan Âm Bồ Tát từ bi cho pháp phương tiện thù thắng, tự cổ chí kim, ánh sáng từ bi của Quan Âm Bồ Tát vẫn luôn chiếu sáng chúng sinh. 

“Tiểu Quan Âm Kinh” - tức Thập Cú Quan Âm Kinh như sau: “Quan Thế Âm. Nam mô Phật. Dữ Phật hữu nhân. Dữ Phật hữu duyên. Phật pháp tương duyên. Thường lạc ngã tịnh. Triều niệm Quan Thế Âm. Mộ niệm Quan Thế Âm. Niệm niệm tòng tâm khởi. Niệm Phật bất ly tâm.” [Quan Thế Âm. Nam mô Phật. Cùng Phật hữu nhân. Cùng Phật hữu duyên. Phật pháp tương duyên. Thường lạc ngã tịnh. Sáng niệm Quan Thế Âm. Tối niệm Quan Thế Âm. Niệm niệm khởi từ tâm. Niệm Phật không lìa tâm.]

Niệm tụng tên kinh của Cao Vương Kinh có thể tránh được tai họa, nhưng muốn được giống như Tôn Kính Đức thì thường ngày cũng phải làm đủ công khóa, bình thường Tôn Kính Đức đã không ngừng niệm Phổ Môn Phẩm, vì thế pháp phương tiện lúc nguy cấp này mới có thể phát huy sức mạnh.

Thượng sư giải thích mối quan hệ giữa Cao Vương Kinh và Căn bản Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật, mối quan hệ giữa Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử, Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Bạch Cao Quốc và đệ tử Chân Phật, mối quan hệ giữa Cao Vương Kinh và Duy Ma Cật Đại Sĩ, mối quan hệ giữa Cao Vương Kinh và Liên Hoa Đồng Tử, mối quan hệ giữa Cao Vương Kinh và Định Quang Phật, tất cả đều vô cùng bất khả tư nghì. Từ đây có thể tin tưởng rằng người và người gặp nhau đều là cửu biệt trùng phùng, mỗi một sự việc xảy ra đều không bao giờ là ngẫu nhiên, chắc chắn trong đời quá khứ đều có tồn tại mối liên hệ chặt chẽ.

Thượng sư đặc biệt giải thích Thất Phật diệt tội chân ngôn đại diện cho Thất Phật quá khứ, hiện tại, vi lai, trùng trùng vô lượng Thất Phật, diệt trừ các tội đã biết và chưa biết của chúng sinh, diệt trừ trọng tội căn bản vô tận từ vô thủy tới nay, là căn bản sám, vô sinh sám, thù thắng vô cùng.

Có người cho rằng Cao Vương Kinh là ngụy kinh (kinh giả), nhưng trong Cao Vương Kinh có mật ý thực tiễn. Phật Đà cho rằng phàm là kinh hợp với ba pháp ấn, lợi lạc chúng sinh thì đều là chân kinh, thay vì nói đây là ngụy kinh thì chi bằng nói đây là một bộ chính kinh.

---
# File: tinh-tuyen/ts-lien-anh-hay-biet-tran-quy-quan-danh-phap.md
# Title: TS Liên Anh: Hãy biết trân quý quán đảnh pháp
---

![image](/img/img_273f40e664d3aae872c15928d2b9a306.jpg)



## TS Liên Anh chia sẻ: Hãy biết trân quý quán đảnh pháp


Giảng pháp: Thượng sư Liên Anh
Thời gian: 07.02.2025
Địa điểm: N/A
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Xin chào mọi người!

(Lược dịch từ bài viết của Thượng sư Liên Anh sau chuyến thăm Tu viện Sakya tại Seattle ngày 07/02/2025.)

Hôm nay, nhân cơ hội này, tôi đã thỉnh giáo vị trụ trì về các điều kiện và nhân duyên cần hội đủ trong dòng phái Sakya để có thể nhận được quán đảnh của hai pháp truyền thừa đặc biệt là Hỷ Kim Cang và Kim Cang Du Già Mẫu.

Tóm tắt lời giải thích của Rinpoche, điều cốt yếu là phải xây dựng nền tảng vững chắc qua Tứ gia hành, quán chiếu triệt để về tính Không, có sự thấu hiểu sâu sắc về tính Không và có khả năng nhập vào thiền định thâm sâu. Sau đó là gặp được một vị Kim cương Thượng sư đức hạnh và nắm giữ giáo pháp hoàn chỉnh để truyền quán đảnh. Sau đó phải nhập thất đúng như pháp ít nhất một năm hai tháng, cắt đứt mọi liên hệ với thế giới bên ngoài, thực hành bốn giai đoạn tu tập Hỷ Kim Cang (đây là truyền thừa của dòng phái Sakya).

Nhìn lại truyền thừa của chúng ta, Căn bản Thượng sư đã dùng thân đàn thành chân thật do tự thân chứng ngộ, cùng với thân khẩu ý thanh tịnh không khác biệt với Phật, để ban quán đảnh Vô thượng mật bộ như Ngũ đại Kim cang cho chúng sinh ở các cấp độ và nhân duyên khác nhau. Đây là phước báu chúng ta đã tu tập nhiều đời mới có thể gặp được giáo pháp hoàn chỉnh, như pháp và không giấu giếm.

Thế nhưng chúng ta thường xuyên xem nhẹ và bỏ qua những quán đảnh khó có được này.

Đừng nói đến Kim cang đại pháp của vô thượng Du già bộ, ngay cả với các giáo pháp thuộc về Ngoại pháp như hệ thống các pháp Độ Mẫu, chúng ta cũng phải tự hỏi mình "có đức hạnh và năng lực gì", liệu đã chuẩn bị sẵn sàng để nhận quán đảnh, tu tập tiền hành, hiểu rõ các bước nghi quỹ và yếu chỉ quán chiếu chưa.

Có một vài điểm tôi muốn chia sẻ với mọi người:
Thứ nhất, vị chủ tôn truyền pháp ngày mai là Dược Vương Độ Mẫu, nhưng đừng quên rằng vị chủ tôn của pháp hội là Quan Âm, toàn bộ chính hành cũng lấy pháp tu Quan Âm làm chủ, điều này luôn nhắc nhở chúng ta rằng Độ Mẫu là hóa thân từ bi của Bồ Tát Quan Thế Âm, Quan Âm là Thượng sư của Độ Mẫu, Độ Mẫu là hiện thân của tâm đại bi tột cùng của Thượng sư. Chúng ta thường nói Độ Mẫu là hiện thân của nước mắt Quan Âm, nhưng nói cho đúng, Độ Mẫu là sự thị hiện của bồ đề tâm của chư Phật mười phương, là bồ đề tâm đã làm xúc động giọt nước mắt vô tư, nước mắt không đơn thuần chỉ là "chất tiết của tuyến lệ", xin đừng hiểu lầm điều này.

Thứ hai, khi Căn bản Thượng sư truyền pháp khai thị thường luôn niệm danh hiệu của bốn vị tổ sư một cách không chút ngần ngại (đối với Căn bản Thượng sư, bốn vị tổ sư là các vị Căn bản Thượng sư của Sư Tôn), nhưng đừng quên rằng, là đệ tử của Chân Phật Tông, chúng ta phải đảnh lễ Căn bản Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật trước tiên, Ngài là vị Acharya truyền giáo pháp căn bản, sau đó mới đảnh lễ các vị tổ sư truyền thừa, không được làm sai thứ tự.

Thứ ba, tôi nghe được một lời nói rằng: "Không cần phải tốn nhiều tiền đến Seattle tham dự pháp hội của Sư Tôn, dù sao Sư Tôn vẫn sẽ còn truyền pháp nữa, hoặc sau này có thể xin quán đảnh từ xa."

Tôi muốn nói rằng nếu bạn có đủ tư lương, cách suy nghĩ này thật đáng buồn, bởi vì bạn không hiểu được sự quý giá khi Căn bản Thượng sư truyền pháp, không hiểu tầm quan trọng của việc được trực tiếp lắng nghe giáo pháp, không hiểu được sự thù thắng của việc được tận mắt chứng kiến đàn thành truyền pháp - ba yếu tố cốt lõi của kính sư trọng pháp thực tu đã không đầy đủ, thì làm sao có được dòng pháp quán đảnh chân thật.

Hơn nữa, nguồn gốc thiết lập quán đảnh từ xa chưa bao giờ là để cho chúng sinh hưởng thụ sự tiện lợi một cách vô cớ, mà là phương tiện pháp do Kim cương Thượng sư chân chính khai mở dành cho những người "chân tâm" cầu pháp nhưng vì nhiều nhân duyên bên ngoài tạm thời chưa hội đủ; tuy nhiên nói chung, về thái độ cầu pháp của đệ tử, dù là quán đảnh trực tiếp hay từ xa, những yếu tố cần thiết của hành giả khi cầu pháp đều không thể thiếu được.

A. Thái độ cầu pháp.
B. Hiểu biết và tôn kính chủ tôn quán đảnh, cung kính và cúng dường Căn bản Thượng sư ban quán đảnh từ xa, Không hành Hộ pháp tôn, cung kính và cúng dường chư tôn quyến thuộc.
C. Phẩm vật cúng dường và vật phát khởi duyên lành khi cầu pháp.
D. Chuẩn bị trì minh, tu pháp và thiền định.
E. Chú ý đến tướng quán đảnh và tướng sám hối.

Nếu bản thân bạn không đủ tư lương, không hội đủ các nhân duyên về thân, thì suy nghĩ như vậy cũng đáng tiếc. Bạn nên có quan niệm rằng: "Con xin cầu nguyện ân gia trì của Tam căn bản, để con nhanh chóng tích lũy và hội đủ các thiện duyên đến trước chân sen của Căn bản Thượng sư, đích thân nhận lãnh quán đảnh quý báu, lắng nghe giáo pháp bất cộng viên mãn vô ngại xuất thế nhập thế, gieo hạt giống thoát ly luân hồi, kết quả tự độ độ tha." 

Đây là tâm đắc của tôi...

Tông Ủy Hội đã thiết lập trang điền đơn quán đảnh trực tuyến, tạo điều kiện thuận lợi cho việc lợi ích chúng sinh rộng lớn, nhưng đừng để sự thuận tiện trở thành tùy tiện, những gì cần có thì phải có, những điều cần có là gì, có thể tham khảo như đã nêu ở trên.

Om mani padme hum.
Om tare tutare ture soha.

---
# File: tinh-tuyen/ts-lien-anh-hoc-phat-can-co-quan-niem-va-tri-kien-dung-dan.md
# Title: TS Liên Anh: Học Phật cần có quan niệm và tri kiến đúng đắn
---

![image](/img/img_821451f4cca6aa42727f21c69ebcc103.jpg)



## TS Liên Anh khai thị: Học Phật cần có quan niệm và tri kiến đúng đắn


Giảng pháp: Thượng sư Liên Anh
Thời gian: 15.06.2023
Địa điểm: Pháp Hoa Đường - Đài Loan
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

(Lược dịch - P1)

Mới đây tôi đi hoằng Pháp ở Anh Quốc, khi mọi người ở đó làm tuyên truyền truyền thông thì có ghi là “Kim Cương Thượng Sư Thích Liên Anh”. Có người cảm thấy không hài lòng về hai chữ “Kim Cương” này nên cũng có ý kiến, và Tông Ủy Hội dường như cũng có ý kiến tương tự, vì thế yêu cầu sau này trong các văn bản truyền thông không dùng hai chữ “Kim Cương”. 

Khi ấy tôi đã nói với người đại diện của Phật đường rằng, trong Mật giáo, quán đảnh Acharya là quán đảnh “bất thối”, bản thân Acharya là đại diện cho Kim Cang Tát Đỏa, Kim Cang Tát Đỏa chính là Pháp Vương Tử của Ngũ Phương Phật, bản thân Kim Cang Tát Đỏa chính là kim cương bất hoại, về pháp nghĩa mà nói là như vậy. 

Tôi hiểu ra rằng nhân gian có rất nhiều quy tắc quy định, có rất nhiều cách nói. Đối với hai chữ “Kim Cương” này, trọng điểm là chính mình có chứng lượng này hay không. Nếu bạn không có chứng lượng thì cho dù có “đeo” thêm hai chữ này thì cũng chỉ là một cái danh xưng mà thôi. Vì thế với tôi mà nói, tôi không bận tâm về những chuyện này, nhưng phải tôn trọng quy định của nhân gian, cho nên sau này chúng ta làm tuyên truyền truyền thông cũng sẽ không để hai chữ “Kim Cương” này.

Lần này tôi đi hoằng pháp ở Anh, ngoài làm pháp hội Đại Lực Kim Cang ra, chúng tôi còn đồng tu A Di Đà Phật, Văn Thù Sư Lợi, Đại Uy Đức Kim Cang vào mỗi thứ bảy. Ban đầu họ sắp xếp để tôi giảng tọa Phật học, tôi hỏi họ muốn nghe cái gì. Họ nói rằng tùy ý Thượng sư giảng thôi. Tôi nói rằng thật ra ở Đài Loan, chúng ta thường tu nhất là Kim Cang Tâm Bồ Tát và Liên Hoa Đồng Tử, là hai vị căn bản nhất và cũng quan trọng nhất. Thật ra ngoài đồng tu ở Seattle ra thì tôi cũng chưa tham gia đồng tu ở Phật đường nào khác, vì thế tôi đề nghị đường chủ của Chân Độ Lôi Tạng Tự là có lẽ buổi giảng tọa đầu tiên tôi sẽ dẫn dắt mọi người tu pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát, sau đó tôi sẽ nói cho mọi người biết trong nghi quỹ tu pháp cần chú ý những gì, nói một số khẩu quyết. Ngay lúc đó có người nói rằng đồng tu thì ở đâu chẳng giống nhau, có gì mà phải “đặc biệt” dẫn dắt chứ? Họ nghĩ rằng giảng tọa Phật pháp thì phải đặc biệt một chút, họ muốn nghe những thứ khác biệt. Khi ấy tôi nói rằng hãy cùng làm với tôi một lần, mọi người sẽ biết. Cho nên buổi đồng tu đầu tiên ở đó là tu Kim Cang Tâm Bồ Tát.

Hôm đó cũng có không ít người đến tham gia, có cả người phương Tây, người Hoa. Sau khi tu xong, tôi hỏi họ: “Bây giờ mọi người có cảm thấy là giống nhau không?” Mọi người đều lắc đầu nói là không giống. Tôi hỏi không giống ở chỗ nào, rất nhiều người đã trả lời là phần quán tưởng không giống, họ không ngờ có thể quán tưởng như vậy, rồi tốc độ niệm chú, rồi từ trường trong lúc tu pháp, nói chung là có rất nhiều ý kiến phản hồi. Tôi hỏi tiếp là vì sao lại khác, trong số họ có một sư tỉ trả lời rằng khi Thượng sư Liên Anh dẫn dắt thì phần quán tưởng mô tả rất kĩ. Tôi nói những gì tôi nói với mọi người hôm nay chỉ là 1/3, 1/5 những gì bình thường tôi vẫn quán tưởng thôi, nói hết thì chắc chắn các bạn sẽ càng cảm thấy khác. 

Thật ra những quán tưởng của tôi đều giống như Sư Tôn đã dạy, không hề khác biệt, chỉ là bình thường các bạn có dụng tâm để tìm hiểu và nhận ra chúng hay không. Tất cả cái gọi là khác biệt chính là khác biệt ở mức độ dụng tâm, khiến bạn cảm thấy cảm nhận khác nhau, cái này cũng tương tự như lực và phản lực thôi, tạo ra bao nhiêu lực sẽ nhận lại bấy nhiêu lực. Tôi nói kĩ với họ về từng bước trong nghi quỹ, bắt đầu từ bước đầu tiên nhất như là vỗ tay và búng ngón tay, tôi dự tính là trong một buổi chiều sẽ giảng hết, không ngờ rằng không thể nào nói cho hết nói cho đủ, bởi vì Chân Phật Mật Pháp quá ảo diệu. Ví dụ chỉ riêng vỗ tay búng ngón tay, tôi đã có thể nói đến 15, 20 phút, chưa nói đến quán Tứ vô lượng. Thật sự rất nhiều quan niệm về Phật pháp, trọng điểm, chi tiết quán tưởng, căn bản là không thể nói hết. Cho nên tôi đề nghị là mỗi buổi giảng tọa tiếp theo, tôi sẽ nói rõ với mọi người thật chi tiết từng bước cơ bản nhất có được không, mọi người đều vỗ tay tán thành. 

Cho nên không phải lúc nào cũng cần nói đến Phật pháp gì to tát xa xôi, cái căn bản nhất, nền tảng nhất chính là cái mà bạn cần. Thật ra những thứ căn bản nhất lại thường là những thứ đặc sắc nhất, chỉ là bạn không dụng tâm để phát hiện ra mà thôi. 

Thật trùng hợp, vào ngày đồng tu đầu tiên, có một gia đình ngồi xe 5 giờ đồng hồ đến tham gia. Trước buổi đồng tu, họ kể rằng họ có chuyện rất phiền phức, gần như cả gia tộc đều quy y rồi, nhưng vẫn còn một số người thân rất kỳ lạ, họ rất chống đối. Tôi nói với họ rằng bạn nghĩ họ chống đối là từ xuất phát điểm của bạn mà bạn thấy như vậy, còn họ không nhất định đã nghĩ như thế, chỉ là tôi không nhất định phải tin vào cái này thôi. Vì thế bây giờ có thể bạn đang nghĩ là bạn vì muốn tốt cho họ, tất nhiên là tốt, nhưng bạn cũng cần có cách nói cho họ hiểu chứ không phải là “sấn sổ tiếp thị”. Gặp việc gì cũng không nên “sấn sổ tiếp thị”, bởi vì bạn cho là tốt nhưng không có nghĩa là người khác cũng nghĩ là tốt. Đặc biệt là trong việc đề xuất người khác quy y hoặc theo tín ngưỡng, thường xuyên sẽ tạo ra tác dụng ngược lại, nhất là khi bạn còn chưa hiểu hết nhiều thứ, người ta hỏi ngược lại rằng bạn nói xem vì sao tốt, tôi cảm thấy tin Chúa Jesus cũng tốt, vì sao nhất định phải tin Phật. 

Vì thế, trước tiên từ phân tích lý tính để nói với họ rằng, bạn cần từ từ lựa cách phù hợp với người nhà đang gây chướng ngại cho bạn. Ngoài ra, Sư Tôn cũng từng nói, nếu bạn hy vọng bạn bè thân hữu, quyến thuộc của mình, hoặc là người bạn mong muốn độ cũng quy y cùng bạn để tăng trưởng Phật duyên, vậy thì trong lúc bạn tu pháp, trong lúc làm Tứ vô lượng quán, bạn hãy quán tưởng họ ngồi bên cạnh bạn, cái này là quan trọng nhất. Điều này đã được ấn chứng ngay tại nhà tôi. Còn nhớ lúc tôi còn nhỏ, bố tôi từng kể khi ông tu pháp đều quán tưởng những người họ hàng trong nhà cùng ngồi tu, vì họ không hề quan tâm. Lúc nhỏ tôi từng hỏi bố là bố nghĩ nhiều như vậy làm gì, có liên quan gì tới bố đâu, vốn dĩ họ đã như thế rồi. Bố cho rằng bố yêu họ sao, bố đem những ân điển mình có được chia sẻ với họ sao? Trong cuộc sống hiện thực rất khó để nói với họ rằng cái này tốt, tốt ở chỗ nào? 

Nhưng Phật Bồ Tát rất khác, sức mạnh của Phật Bồ Tát rất vĩ đại. Quán tưởng người thân tới cùng tu pháp, dần dần từ trường sẽ thay đổi. Công đức mỗi lần bạn tu pháp có được thì người thân cũng sẽ được lợi ích, họ sẽ thay đổi từng chút từng chút một. Ví dụ cô tôi trước đây không hề quy y Sư Tôn, muốn cô tôi quy y Sư Tôn cũng phải mất tới cả chục năm, nhưng rốt cục vẫn là có hiệu quả. Chỉ là ở nhân gian này, mọi người đều luôn muốn nhìn thấy hiệu quả ngay lập tức, đây là tập tính của chúng sinh. Nhưng Phật pháp nói với bạn rằng mọi sự không nhất định là như vậy. Cho nên chỉ cần là bạn tin, và bạn bền bỉ làm, sẽ có một ngày bạn nhìn thấy sự thay đổi.  

Những gì tôi chia sẻ với mọi người ở Anh Quốc thật ra tôi đều đã chia sẻ với mọi người ở Pháp Hoa Đường này kể từ khi thành lập Phật đường đến nay, đó đều là tâm đắc của tôi, cũng là những điều rất quan trọng. Tôi cũng nói với mọi người về một quan niệm rất quan trọng trong đại lễ bái, đại cúng dường. Vì sao Sư Tôn nói “kính thần như thần tại”, năm chữ này nói lên rất đơn giản, thật ra trong nó có ý nghĩa rất lớn. “Kính thần như thần tại” có thể xem như cảm giác Bổn tôn giáng xuống đàn thành. Hôm nay, giả sử Sư Tôn xương thịt thật sự đứng trước mặt bạn, bạn đảnh lễ ngài, bạn cúng dường ngài, chắc chắn sẽ khác với việc bạn nhìn thấy tượng Sư Tôn ở đây và cúng dường ngài. Bởi vì bạn nhìn thấy ở đây bạn cho rằng đây là tượng Phật, bạn không cho rằng Phật Bồ Tát thật sự đang ở đây, tâm cung kính của bạn cũng sẽ khác. Nhưng nếu hôm nay Sư Tôn đứng trước mặt bạn, bạn nhất định sẽ giơ tay cao một chút, sẽ khom lưng cúi đầu hơn, chắc chắn sẽ khác. Vì sao khác? Vì tâm con người luôn bị hoàn cảnh xung quanh ảnh hưởng, tất cả hoàn cảnh xung quanh sẽ tác động đến hành vi của bạn, chúng ta tu hành là để loại bỏ những sự phân biệt này, để có thể từng phút từng giây nghĩ đến Pháp thân, Báo thân, Ứng thân của Căn bản Thượng sư đều không thấy có sự khác biệt. Từ việc tu đại cúng dường, đại lễ bái mà điều chỉnh tâm thái của bạn.  

Cho nên Phật pháp không phải ở tận chỗ nào xa xôi, chính ngay trong phần Tiền hành của chúng ta đã rèn luyện bạn rất nhiều rồi. 


![image](/img/img_821451f4cca6aa42727f21c69ebcc103.jpg)


Có một sư tỉ ở Đại Hoằng Đường ở Pháp đã làm một việc rất hay. Khi bước vào Phật đường đó, ở bên trái có một bức tượng Sư Tôn cao 2 mét, có ba bức thangka to. Sư tỉ đó bước vào Phật đường thì chắp tay lạy Phật, sau đó quỳ xuống đảnh lễ Sư Tôn, cô ấy nói với bức tượng Sư Tôn: “Sư Tôn, con trở về rồi!” Đến giờ ăn trưa, cô ấy nói: “Sư Tôn, ăn cơm thôi, có Thượng sư, có đường chủ, mọi người cùng ăn.” Buổi tối khi thay nước, cô ấy nói: “Sư Tôn, phải tắt đèn rồi, chúng con xuống nhà rồi.” Khi chúng tôi đi ra ngoài, cô ấy nói: “Sư Tôn, chúng con đi ra ngoài đây!” 

Đối với người không có quan niệm về Phật pháp, họ sẽ cho rằng sư tỉ này đầu óc có vấn đề. Sao lại nói chuyện với tượng Phật chứ? Đối với chúng ta, cô ấy là một đệ tử quy y, cô ấy đã coi linh quang của Sư Tôn ở ngay trên bức tượng đó. Đây vẫn còn là một bức tượng Phật hữu hình, giả sử là vô hình, giả sử hôm nay Pháp Hoa Đường không có tượng Phật, ở nhà bạn không có tượng Phật, bạn phải làm thế nào? 

Từ việc này tôi chia sẻ với các bạn một câu chuyện, đây là chị gái của một người bạn. Chị ấy lấy chồng, những người ở nhà chồng không được hợp lý cho lắm, họ không cho phép chị này bày đàn thành ở trong nhà, hơn nữa họ còn nói một cách rất nặng nề rằng chị ấy đang tin theo tà giáo, đang thờ thần ma, phải dẹp hết, còn nếu cứ bày thì ly hôn với con trai họ đi. Chị ấy rất đau lòng tuyệt vọng, cảm thấy đời này không dễ tìm được một tín ngưỡng như vậy, một tín ngưỡng đem đến sức mạnh an định, chị ấy khóc với tôi và hỏi phải làm sao đây. Vừa mới an vị Phật Bồ Tát xong bây giờ phải dẹp bỏ. Tôi nói với chị ấy đừng lo lắng, đây là một nhân duyên tạm thời, để duy trì sự hòa hợp trong gia đình thì chị cứ thuận theo nhân duyên này trước đi. Có thu đàn thành lại thì Phật Bồ Tát vẫn ở trong không trung, Phật Bồ Tát không chỉ ở trong không trung mà còn ở trong tâm bạn nữa. 

Tôi nhớ trong cuốn sách “Chân Phật Mật Trong Mật” có dạy một quán tưởng, gọi là quán tưởng hư không đàn thành. Quán tưởng đó là bạn phải niệm 3 biến tịnh pháp giới chân ngôn: “Ôm nam-mô sô-ha.” Có nghĩa là thông qua sức mạnh của thần chú này để thanh tịnh hư không, sau đó bạn quán tưởng đàn thành rõ rệt hiện lên trong không trung. Bạn muốn đàn thành của bạn như thế nào thì bạn hãy quán tưởng nó ở trong không trung, rồi bạn ngồi đối diện với đàn thành đó để tu pháp, có thể làm như vậy. Sự vĩ đại của Mật giáo nằm ở chỗ mọi tâm niệm đều là tu hành, mọi tâm niệm đều có thể chuyển hóa, không có bất kì sự hạn chế nào. Thật sự là như vậy. Phật Bồ Tát ở trong hư không, ở trong thân thể chúng ta, vì thế Mật giáo mới nói đến thân đàn thành. 

Trước kia lúc tôi còn mới làm thị giả, có một Thượng sư nói với tôi: “Pháp sư Liên Anh, thầy phải quen với việc cùng với Sư Tôn Sư Mẫu chuyển tới chuyển lui, sống ở bên ngoài, không thể bày đàn thành, mong là thầy tu pháp sẽ không bị ảnh hưởng.” Tôi muốn nói rằng tôi chưa bao giờ bị ảnh hưởng, cho dù có đàn thành hay không có, tôi vốn luôn nghĩ bản thân mình chính là đàn thành, tôi thường xuyên làm quán tưởng như vậy. Tôi đi Anh, đi Pháp, ngồi trên máy bay, nếu có chỗ thì tôi bày một đàn thành đơn giản, không có đàn thành thì tôi ngồi xuống, xung quanh tôi có nhiều người lạ cho nên tôi không vỗ tay và búng ngón tay. Nhưng ở trong tâm, tôi tưởng tượng tôi đang triệu thỉnh Phật Bồ Tát, sau đó quán tưởng Tâm luân có một chữ Hum màu trắng, sau khi chữ Hum màu trắng phóng quang, tôi liền niệm “Ôm nam-mô sô-ha”. Sau đó quán tưởng Sư Tôn ở chính giữa, sau đó quán tưởng những vị mà thường ngày mình thờ, rồi quán tưởng các Hộ pháp mà bình thường vẫn triệu thỉnh, quán tưởng toàn bộ đàn thành xong như thế là bắt đầu tu pháp. Đôi khi không cần tu pháp mà niệm chú cũng được. Sau đó tôi sẽ quán tưởng tất cả Phật Bồ Tát phóng rất nhiều ánh sáng gia trì cho tôi. Nếu lúc đó thân thể tôi có chỗ nào không khỏe, tôi sẽ quán tưởng ánh sáng trắng. Nếu lúc đó tôi cần có sức mạnh kính ái, tôi sẽ quán tưởng ánh sáng đỏ. Nếu buổi chiều có pháp hội, cần ban phúc cho đồng môn, tôi sẽ quán tưởng Phật Bồ Tát phóng ánh sáng đỏ, vàng gia trì cho tôi, để tôi có đầy đủ phúc đức, công đức để có thể lại ban phúc cho chúng sinh. 

Vì thế đối với tôi mà nói, tôi không bị thời gian không gian giới hạn, không bị việc có hay không có đàn thành giới hạn, có thì rất tốt, không có thì cũng vẫn được. Cho nên hành giả tu tập ở trình độ càng cao thì sẽ càng không bị những hoàn cảnh thời gian không gian của thế gian trói buộc, là bạn tác động đến ngoại vật chứ không phải bị ngoại vật tác động. Sư Tôn từng nói trong tu hành, an tâm rất quan trọng. Nếu không an được cái tâm, bạn ở trước đàn thành trang nghiêm cũng chẳng có tác dụng gì. Nếu bạn có thể an tâm, mọi lúc mọi nơi mọi chỗ đều là đàn thành, đều là Bổn tôn, đều là Phật ở cùng với bạn. 

Sư Tôn vẫn luôn nói kể từ khi gặp được Diêu Trì Kim Mẫu cho đến nay không có một thời khắc nào rời xa Kim Mẫu, câu nói này có ý nghĩa gì? Người bình thường rất khó hiểu được điều này. Nếu bạn thật sự ngẫm nghĩ về điều này, thật sự cố gắng thường xuyên làm điều này, bạn sẽ nhận thấy để làm được điều này là rất khó. Trong đầu chúng ta, đừng nói đến 24 giờ, chỉ cần nói trong 1 phút đã có bao nhiêu vọng niệm sinh ra. Hành giả chúng ta thường xuyên bị kéo qua kéo lại giữa vọng niệm và chính niệm. Giống như chúng ta luyện tập thiền định, khi bạn thiền định mà có vọng niệm sinh ra, bạn làm sao để định tâm lại, đó mới là công phu của bạn. 

Như trường hợp của sư tỉ kia, quan trọng nhất là phải an định tâm mình, thường xuyên đặt tâm ở cùng với Phật Bồ Tát mà mình ưa thích, mình có nhân duyên. Ví dụ bạn thích Lục Độ Mẫu, bạn hãy thường xuyên niệm chú của ngài, nghe chú âm của ngài, cho dù không có đàn thành cũng được, Phật Bồ Tát sẽ không trách tội. Sư Tôn cũng có một pháp quán đảnh rất đặc biệt, chuyên môn quán đảnh cho những người tàn tật, bởi vì họ không thể kết thủ ấn, quán đảnh này cho phép người tàn tật có thể quán tưởng kết thủ ấn. Đây chính là chỗ vĩ đại của Mật giáo, tháo gỡ những sự bất tiện của chúng ta. Đây là chỗ mà tôi cảm thấy Phật Bồ Tát rất từ bi, Sư Tôn rất từ bi. 

Lần này đến Anh hoằng pháp, tôi đã giảng cho mọi người rất chi tiết, rất tỉ mỉ. Trước khi tôi rời đi, có một đồng môn đến nói với tôi rằng xin lỗi Thượng sư, lần này Thượng sư đến đã không tiếp đãi được chu đáo, cũng vì vẫn còn phải đi làm, nhưng cảm nhận rằng Thượng sư đã dốc hết lòng mình, đồng môn đã có được lợi ích vô cùng. Với tôi mà nói, chỉ câu nói này là đủ rồi, tôi cũng biết rằng họ nghe giảng rất nghiêm túc. 

Vừa rồi có nói khi độ chúng sinh, bạn không nên cưỡng ép họ, cưỡng ép quy y. Ngoài ra còn một lỗi thường xuyên phạm đó là… Tôi lấy ví dụ trước. Hôm đó sau buổi pháp hội A Di Đà Phật, có một sư tỉ quy y có con trai bị mắc bệnh trầm cảm, sư tỉ này nói kể từ khi quy y đến nay, mỗi ngày cô ấy đều ngửi thấy mùi đàn hương. Thông thường chúng ta hay nói đây là Phật Bồ Tát cho cô cảm ứng quy y, trong lòng tôi cũng nghĩ vậy. Nhưng tôi vẫn cứ hỏi là cô đã đi kiểm tra mũi chưa, cô ấy nói trước nay mũi chưa từng có vấn đề gì. Hoặc hàng xóm của cô có đốt hương gì không. Sau khi loại trừ những yếu tố này, tôi nói tôi tin rằng đây chính là sự cổ vũ của Phật Bồ Tát dành cho cô. Đôi khi chúng ta hay đứng từ góc độ tâm linh học, Phật học để nghĩ về sự việc, nhưng thực tế không hẳn là như vậy, bạn còn cần đứng từ góc độ logic để đánh giá sự việc. 

Trong mấy ngày đó cũng có một đồng môn khác nói rằng tai anh ấy nghe thấy cái này cái nọ. Tôi hỏi anh ấy đã đi khám tai chưa, anh ấy nói chưa. Tôi khuyến nghị anh ấy đi khám tai, giả sử thật sự không có vấn đề gì thì chúng ta tiếp tục tìm hiểu xem chuyện này là thế nào. Đối với việc độ chúng sinh, cần đứng từ góc độ khoa học, góc độ linh học, góc độ Phật học để nói với mọi người, không nên chỉ dồn tất cả về một khía cạnh, vốn dĩ không hề là như vậy. Vì thế, chúng ta tu hành nhất định cần có chính tri chính kiến, đôi khi quan niệm của chính mình sai lầm bạn sẽ dạy cho người khác đến chỗ rất tệ hại, rồi người này lại tiếp tục đi dạy cho những người khác nữa. 


![image](/img/img_4f24d871c56546fe90266ca9eb14529e.jpg)


Hôm qua tôi có đến thăm một công xưởng ở Chương Hóa, công xưởng đó có rất nhiều vấn đề, tôi nói ở chỗ các bạn có rất nhiều vô hình tụ tập, bởi vì về phong thủy mà nói, trên nguyên tắc là phía sau nhà ở không nên đặt nhà kho dài, ở Mỹ thường gặp cái này, họ xây một nhà dài ở phía sau nhà chính để trữ đồ. Nhưng Sư Tôn viết về phong thủy có nói đó gọi là “quan mộc sát” [hung sát quan tài], có hai vấn đề nghiêm trọng, thứ nhất là sẽ tụ âm, thứ hai là hình dạng hộp chữ nhật tượng trưng cho cái chết, vì thế rất không tốt. Công xưởng đó lại làm đúng như vậy, tôi nói rằng việc làm ăn chắc chắn sẽ không thuận, thế rồi người chủ liền kể cho tôi nghe đủ chuyện nào là các công nhân nhìn thấy gì, rồi ông ấy nghe thấy gì, v.v…

Công xưởng đó còn ở ngay cạnh đường cái, cạnh giao lộ, nhất định sẽ có rất nhiều cô hồn lang thang, cho nên nhất định phải cúng bái. Mà phía sau cũng có đường cái cho nên cũng phải cúng bái cả phía sau. Tôi hỏi là ông ấy cúng lúc nào, cúng vào tết Trung Nguyên phổ độ [Rằm tháng 7 Âm lịch] hay là sao? Ông ấy nói không có, khi nào rảnh thì cúng. Rồi tôi hỏi ông ấy có làm kết giới không? Họ cũng là đệ tử quy y nhưng không thành thạo lắm, họ cũng không đi sâu vào tông phái. Từ đó cũng dễ hiểu là họ đã cúng sai rồi, họ sẽ hút âm càng nhiều. Bạn không biết cách tiễn âm đi, lại chỉ biết cách gọi đến, như vậy chắc chắn sẽ có nhiều vấn đề. 

Về mặt lý luận, vào tết Trung Nguyên chúng ta cúng ở bên ngoài cửa nhà, bạn cúng diễm khẩu hoặc thí thực đều được. Có hạn chế về thời gian, có hạn chế về địa điểm, nghi quỹ thì làm qua loa, cho nên bạn nhất định phải làm kết giới. Rất khó để nói cho người bình thường hiểu được những điều này. Tôi đành nói bây giờ tôi vẽ cho ông một lá phù Cửu phụng phá uế, ông phải sái tịnh để kết giới cho công xưởng. Nếu được thì tốt nhất là dẹp bỏ nhà kho chứa đồ. 

Tôi nói với ông ấy, từ góc độ Phật pháp, ông hiểu đạo lý này là như thế nào? Vì sao không thể tùy tiện cúng? Vì người bình thường chỉ nghĩ rằng có cúng bái là sẽ kết thiện duyên, chẳng phải là điều tốt sao mà Thượng sư lại ngăn cấm? Bạn phải từ góc độ đúng đắn mà nói cho họ hiểu vì sao không được. Rất nhiều người làm kinh doanh còn thích thắp hương rồi cắm ở bên ngoài cửa, hy vọng là sẽ buôn may bán đắt. Thật ra rất có thể dễ biến thành bái ma quỷ, bái vô hình. Khả năng cũng có ích lợi, nhưng cũng có khả năng mang tới cái hại còn ghê gớm hơn bạn có thể tưởng tượng. 

Cho nên hành giả Mật giáo nhất định cần có trí huệ, Sư Tôn dạy bạn thế nào thì bạn làm theo như thế. Ví dụ muốn chiêu tài, có thể dùng tro Hộ Ma tăng ích để rải trên vỉa hè để cho người ta đi qua, như thế có thể tăng tiền tài cho bạn. Hoặc bạn trì chú Tài Thần, làm pháp tăng ích, bạn đều có thể làm nhưng cần đúng theo nghi quỹ, đừng tự mình thêm thắt, thêm cái này một tí, thêm cái kia một tí, như vậy là đã thay đổi bản chất rồi. Tôi chia sẻ với mọi người một chút về cách nhìn của tôi như vậy.

Có đồng môn vừa hỏi linh liệu [trị liệu bằng tâm linh] có phải là pháp mà Sư Tôn truyền không? Hai chữ “linh liệu” này không hẳn là Sư Tôn đặc biệt truyền một pháp, không phải là pháp thuộc về Chân Phật Tông. Nói về ý nghĩa của hai chữ “linh liệu” thì thật ra là chỉ cần trên người bạn có sức mạnh của Thần, Thần đều có thể có cách chữa khỏi cho người khác, trong dân gian cũng có các phương pháp linh liệu. Phương pháp chữa trị vốn là trung tính, nhưng vấn đề là tâm của người chữa trị có chính hay không, vị mà đến/giáng xuống có thật là Thần hay không, có thật sự có hiệu quả không, thì cái này chưa chắc. 

Ví dụ chúng ta nghĩ đến Sư Tôn, quán tưởng Phật Bồ Tát, niệm chú ngữ của Phật Bồ Tát, thật ra cũng là đang làm linh liệu, như vậy mới là phương pháp linh liệu đúng đắn nhất. Còn nếu thông qua một người khác làm, nếu đó là một người có tu hành, ví dụ như là Sư Tôn, hoặc Thượng sư có đội mũ Ngũ Phật làm, thì đây cũng là đang làm linh liệu, nếu kênh dẫn là đúng thì được. Nhưng nếu không đúng thì… giống như gần đây Sư Tôn nói đến khởi linh, bản thân khởi linh không có gì sai, nhưng bạn dùng phương pháp không đúng, tâm niệm không đúng, thì bạn sẽ chiêu cảm đến linh không tốt, nếu bạn không thể nào khống chế thì sẽ biến thành không tốt. Cho nên quan điểm của tôi là linh liệu tốt nhất là chính bạn ở trước đàn thành niệm chú, quán tưởng Phật Bồ Tát phóng quang chiếu đến bạn, đây chẳng phải là linh liệu sao? Vì thế đừng nghĩ nhiều như vậy.

Ví dụ có một người ở, một tháng trước, khi người đó cảm thấy công việc rất thuận lợi, bèn tu Kim Cang Tâm Bồ Tát. Sau đó đột nhiên bị mất chức, người đó cảm thấy lại không thuận lợi bèn không tu Kim Cang Tâm Bồ Tát nữa, lại đổi sang tu Liên Hoa Đồng Tử hoặc là Diêu Trì Kim Mẫu. Một tháng sau lại bị mất chức, người đó lại hỏi tôi phải làm sao. Tôi nói anh tu pháp cứ đổi tới đổi lui như vậy, chẳng pháp nào thành, tu loạn cào cào, không có thứ tự gì cả. Tôi khi nói khi anh tu pháp mà mọi việc đều thuận lợi cũng là do có nhiều yếu tố ảnh hưởng. Với việc tu pháp, đừng nên hôm nay thấy pháp này hay thì tu pháp này, ngày mai thấy pháp kia hay lại đổi sang tu pháp kia, quan niệm như vậy là không đúng. Sư Tôn có nói tốt nhất là bạn hãy thông thạo một pháp và đi sâu vào tu nó, tu đến khi có cảm ứng, Phật Bồ Tát xuất hiện ban cho mộng thị, trong mơ bạn mơ thấy tướng sám, như vậy là tốt. Nên đừng có liên tục đổi nghi quỹ này với nghi quỹ khác, như vậy cũng không phải là tốt. 

Tôi đã đồng ý sang năm đi Anh hoằng pháp sẽ làm pháp hội Hộ Ma Kurukulle Phật Mẫu. Họ có hỏi tôi vì sao chọn làm pháp này, tôi cảm thấy ở nhân gian, sức mạnh kính ái rất quan trọng, đặc biệt là trên phương diện hoằng pháp, nhất định phải có cùng tiếng nói, đồng tâm hiệp lực. Lần này tôi đi hoằng pháp một lượt trở về, có được tâm đắc rất sâu sắc. Khi bạn gặp được bạn đạo Phật pháp có từ trường hợp với mình, bạn nhất định phải trân trọng, giống như tôi gặp được sư huynh ở Chân Độ Lôi Tạng Tự, cảm thấy nhân duyên cực kì tốt, cực kì khó gặp. Tốt như thế nào? Anh ấy cực kì tôn kính Sư Tôn, cung kính Sư Mẫu, làm việc gì cũng đúng quy củ, công chính vô tư. Anh ấy cũng tâm sự với tôi rất nhiều việc đau lòng và sự phỉ báng mà mình đã trải qua. Anh ấy cũng chẳng mắng lại người khác, nói rằng qua rồi thì thôi, tôi nên làm thế nào thì làm như thế. Nếu như tôi có nhân duyên đi tiếp thì tôi tin rằng Sư Tôn sẽ gia trì để cho tôi tiếp tục có nhân duyên đi tiếp. Anh ấy đi cùng tôi đến rất nhiều nơi, gặp chuyện không tốt anh ấy sẽ ngăn chặn, chuyện tốt thì sẽ suy ngẫm xem sự việc này có thật sự tốt với mình không, rồi thảo luận với tôi. Về pháp vụ, anh ấy rất tôn trọng tôi, đương nhiên tôi cũng rất tôn trọng anh ấy, chúng tôi cùng nhau thảo luận. Với mọi việc đều cùng nhau chịu khó, cùng nỗ lực đi về một hướng, đối với một bạn đạo như vậy, với một đồng môn tốt như vậy là rất khó có được, phải rất trân trọng. 

Tôi hy vọng rằng, trong việc hoằng pháp, bất kể là đạo tràng nào, mọi người đều nên trở thành bạn đạo tốt của nhau, chứ không phải trở thành người ngáng đường. Tôi nói như vậy vì gần đây tôi gặp phải một số chuyện không vui, khiến tôi cũng rất buồn. Có người cho rằng tôi không thỏa mãn được mong muốn của họ, thế là họ có thể gạt bỏ hết tất cả những việc tốt mà trước đó tôi đã làm, cho rằng tôi không tôn trọng họ, thế là rất nhiều việc đều phá hoại. Tôi muốn nói rằng phá hoại cá nhân tôi cũng được thôi, nhưng giả sử chỉ vì một chút tham sân si của bạn mà phá hoại sự vận hành của Phật đường, vậy thì bạn cần phải cẩn thận, bạn phá hoại tăng đoàn thì tức là phá hòa hợp tăng. Bạn phá hoại gia đình người khác, phá hoại người khác tu hành huệ mệnh thì việc này là rất nghiêm trọng, cho nên đừng cho rằng một chút tham sân si nhỏ của mình không quan trọng, bạn không biết rằng ở phía sau nhân quả liên lụy nghiêm trọng đến mức nào. Đó là vì sao Sư Tôn nhắc nhở chúng ta phải thường xuyên kiểm điểm chính mình chứ không phải kiểm điểm người khác. Đôi khi bạn không nhìn được toàn cảnh sự việc, bạn chỉ đứng từ góc độ của mình để nghĩ, đôi khi chính tôi cũng như vậy nhưng cần tự mình nhận ra, tự giác sám hối, đừng có luôn luôn cho rằng là người khác sai. Đôi khi bạn phải đặt mình vào vị trí của người khác để nghĩ, có đôi khi sự việc không đơn giản như chúng ta nghĩ, nhất là những việc của Phật đường đâu phải là dễ dàng. Chúng ta luôn cần phải kiểm điểm. 

Sau chuyến đi hoằng pháp vừa rồi, trong tâm tôi có thêm nhiều phiền não, dễ phát sinh vọng niệm, khó định tâm hơn trước. Trước tình hình này, tôi đã làm một cách, đó là quán tưởng mình sắp chết rồi, quán tưởng mình đang hấp hối, vào lúc hỗn độn này tôi cần phải định tâm thế nào. Tôi quán tưởng A Di Đà Như Lai, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, sau khi tôi quán tưởng như vậy thì đã dần dần lấy lại được định lực của mình. Vì thế bạn đừng sợ nghĩ đến cái chết, vào lúc bạn hoang mang, hỗn loạn, nghĩ đến cái chết bạn sẽ tìm lại được ánh sáng trong tim mình. 

Nói thì dễ, làm thì khó. Là con người nhất định sẽ chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh xung quanh, cái gì cũng có thể ảnh hưởng đến bạn, ví dụ thời tiết, nhiệt độ, hoàn cảnh, người nói, người bình luận, tất cả đều có thể ảnh hưởng đến bạn, vậy lúc này phải làm sao? Tôi sẽ nghĩ đến một câu nói Sư Tôn nói với tôi: “Người tu hành đừng để hoàn cảnh ảnh hưởng.” Câu nói này thường xuyên nhắc nhở tôi mỗi khi mình để cho tâm mình bị ảnh hưởng. Vì thế, tôi chúc mọi người tu hành có thể định tâm mình, làm chủ được chính mình, những gì bạn nghĩ đều phù hợp với bản ý của Phật Bồ Tát, phù hợp với Phật pháp, không sai lệch, giả sử có sai lệch thì hãy thường xuyên nghĩ đến Bách tự minh chú của Kim Cang Tâm Bồ Tát để sám hối. Làm sao để bạn có thể an định trong thế giới hỗn loạn mới là điều ý nghĩa nhất. Cảm ơn mọi người. A Di Đà Phật!

---
# File: tinh-tuyen/ts-lien-anh-khai-thi-phap-hoi-hoi-cung-dieu-tri-kim-mau-ngay-01012025.md
# Title: TS Liên Anh: Khai thị Pháp hội Hội Cúng Diêu Trì Kim Mẫu ngày 01.01.2025
---

![image](/img/img_88d4e19584c2d7891669eaec5bd28a3a.jpg)



## TS Liên Anh khai thị Pháp hội Hội Cúng Diêu Trì Kim Mẫu ngày 01.01.2025


Giảng pháp: Thượng sư Liên Anh
Thời gian: 01.01.2025
Địa điểm: Nghiêm Sơn Lôi Tạng Tự - Sydney Australia. Pháp hội Hội Cúng Diêu Trì Kim Mẫu
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Kính lễ Căn bản Truyền thừa Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật, kính lễ Chủ Tôn Hội Cúng Vô Cực Diêu Trì Tây Vương Kim Mẫu Đại Thiên Tôn, kính lễ Tam Tôn Trường Thọ, kính lễ tất cả chư tôn Hội Cúng, kính lễ Đại A La Hán Tân Đầu Lư Tôn Giả, kính lễ đàn thành Tam Bảo.

Kính thưa pháp sư Liên Vi, pháp sư Liên Do, pháp sư Liên Tinh, trợ giảng Mã, các vị đường chủ, ban điều hành, tất cả đồng môn và đồng môn trên mạng, chào buổi tối mọi người.

Việc chúng ta tụ họp tại Lôi Tạng Tự vào ngày mùng một Tết Dương lịch để làm lễ hội cúng thật sự rất cảm động, và cũng là một việc có ý nghĩa nhất, trước hết xin mọi người hãy tự vỗ tay cho chính mình.

Trong buổi hội cúng hôm nay có trì chú Đại cứu nạn, mọi người hãy nhớ phải trì cho đúng âm, đừng tự mình thay đổi. Thế còn, chủ tôn của chú Đại cứu nạn là ai? Ai đã truyền cho Sư Tôn vậy? 

Đúng, chính là Đại Tự Tại Vương Phật. Đại Tự Tại Vương Phật có lai lịch như thế nào? Từ rất lâu về trước, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã dạy rằng, giữa Phật và Ma chỉ cách nhau một sợi tơ, một niệm thành Phật, một niệm thành Ma.

Đại Nhật Như Lai thuyết pháp tại cung Kim Cương Pháp Giới, ở cõi Đại Tự Tại Thiên, tức là cung trời thứ sáu - nơi Ma Vương cư ngụ. Đây là một cung trời rất cao, bên ngoài toàn là Ma Vương, ma con ma cháu, nhưng trong nội viện vẫn có một cung điện Phật, cung điện Phật này chính là Đại Tự Tại Vương Phật. Điều này có ý nghĩa gì? Chính là khi Ma buông bỏ được vô minh, tham sân si trong tâm, đột nhiên vượt thoát thì cũng có thể thành Phật, cho nên trong Ma cung cũng có Phật thuyết pháp, đó chính là Đại Tự Tại Vương Phật.

Vì vậy trước đây Sư Tôn truyền tướng của vị này giống hệt như tướng của Tỳ Lô Giá Na Phật, nếu là thân ấn thì kết ấn ngoại chuyển pháp luân, thân thể màu xanh, đó chính là Đại Tự Tại Vương Phật. Thần chú của Ngài là: "Ôm mô-si-sư-la-pô-yê pu-ta sô-ha". Mô-si-sư-la-pô-yê chính là Đại Tự Tại Thiên, nhưng thêm chữ “pu-ta” vào nghĩa là Ngài đã thành Phật. Cho nên thực sự, Phật pháp này rất thâm diệu.

Khi Sư Tôn truyền Đại Tự Tại Vương Phật, Ngài đã nhấn mạnh một điểm là sức phá hoại của Đại Tự Tại Thiên Ma rất mạnh mẽ, hủy diệt nhiều thứ và gây trở ngại cho nhiều việc ở nhân gian. Vì thế chúng ta biết trong Ấn Độ giáo có ba vị thần lớn, mọi người có biết không? Vị thần thứ nhất là Vishnu là thần bảo hộ, Shiva là thần hủy diệt, và Brahma Phạm Thiên là thần sáng tạo. Ba vị thần này rất quan trọng, trong đó Shiva đại diện cho sự hủy diệt. Nhưng Sư Tôn đã từng nói một câu quan trọng, đó là khi sức mạnh hủy diệt này biết tiết chế, khi họ biết cách kiểm soát và vượt qua, thì sức mạnh hủy diệt này sẽ chuyển thành sức mạnh bảo vệ, sẽ trở thành sức mạnh kiến tạo. Vì vậy, lúc đó Sư Tôn dạy rằng, nếu con muốn cầu xây dựng Lôi Tạng Tự, hoặc con phát nguyện lớn làm bồ đề sự nghiệp ở nhân gian, con hãy cầu đến Đại Tự Tại Vương Phật, bởi vì sức mạnh của Ngài chính là từ sức mạnh hủy diệt chuyển thành sức mạnh bảo vệ. Ngoài ra, nếu con có kiện tụng, quan phi hoặc những việc khó giải quyết, con cầu Đại Tự Tại Vương Phật cũng có thể giải quyết được. Trong tu hành nếu con có chướng ngại gì khó vượt qua, con cũng cầu vị này.

Vị này xuất hiện, nếu tôi không nhầm thì vào năm xảy ra động đất lớn ở Tứ Xuyên Văn Xuyên, lúc đó số người chết và bị thương rất thảm khốc, Đại Tự Tại Vương Phật đã dạy Sư Tôn thần chú này, nói rằng thần chú này có sức độ sinh rộng lớn nhất, đó chính là nguồn gốc của chú Đại cứu nạn.

Thần chú này có một số tầng ý nghĩa: Tầng thứ nhất là có thể siêu độ, siêu độ rất rộng lớn, như gần đây có bốn vụ tai nạn máy bay, trong đó vụ ở sân bay Muan Hàn Quốc là nghiêm trọng nhất, 179 người chết ngay tức khắc, như Sư Tôn đã nói, những người trong trung ấm đó, có khi không biết mình đã chết, bởi vì cái chết xảy ra quá nhanh. Nhưng chú Đại cứu nạn có thể siêu độ được.

Tầng thứ hai: có thể giúp tâm hồn người còn sống được an ủi, bởi vì đôi khi những người ở lại còn đau khổ hơn cả người đã mất, người chết không biết mình đã chết, nhưng người còn sống có tình cảm, sẽ nhớ thương, sẽ mãi không thoát ra được, đó chính là hội chứng sang chấn mà chúng ta nói đến, thậm chí những đội cứu hộ đi cứu nạn, nhìn thấy nhiều thi thể như vậy, họ đều có thể bị PTSD, vì vậy cũng phải cầu nguyện cho đội cứu hộ.

Tầng thứ ba: có thể thúc đẩy sức mạnh cứu trợ thiên tai, tình nguyện viên và tiền quyên góp từ khắp nơi trên thế giới, tất cả đều có thể tích lũy liên tục không ngừng. Vì vậy tôi nghĩ điều làm cho thần chú này đặc biệt thù thắng nằm ở chỗ này - Ngài chăm lo cả hữu hình lẫn vô hình, cả cõi người và cõi âm. Khi tu hành, chúng ta thường nói về Tứ Vô Lượng Tâm, bạn phải phát Tứ Vô Lượng Tâm, phải thực hành Tứ Vô Lượng Tâm. Trì tụng chú Đại cứu nạn chính là đang thực hành Tứ Vô Lượng Tâm rộng lớn, bởi vì bạn hồi hướng cho những chúng sinh này, những người mà bạn chưa từng gặp, không quen biết, chỉ thấy qua mạng internet, những người không thù không oán với bạn, không có cảm giác thân sơ, nhưng bạn vẫn sẵn lòng cầu nguyện cho họ. Khi bạn biết phát tâm như vậy, bạn đang thực hành Tứ gia hành.

Và tôi sẽ chia sẻ với mọi người một bí mật, quy luật của vũ trụ là như thế này: Tại sao khi thực hành pháp đại cúng dường trong Mật giáo, bạn sẽ trở nên giàu có? Tại sao lại trở nên phú quý? Tại sao Sư Tôn nói rằng trì chú Om Ah Hum sau khi làm đại cúng dường sẽ nhanh chóng tích lũy tài phú?

Thực ra không chỉ đơn thuần là kết ấn và quán tưởng, ý nghĩa sâu xa đằng sau là khi chúng ta thực hiện tất cả sự biến hóa trong quán tưởng, chúng ta đều tụng một câu: "Thượng cúng chư Phật, Bồ Tát; trung cúng Hộ Pháp Kim Cang; hạ thí lục đạo chúng sinh, oan thân trái chủ và tất cả chúng sinh hữu duyên vô duyên". Chỉ một câu này thôi chính là "kết thiện duyên" với tất cả chúng sinh rộng lớn. Như vậy trong tương lai, tất cả những người được bạn hồi hướng đều mang ơn bạn một phần, nên trong nhiều kiếp luân hồi, giả sử bạn gặp họ, bạn sẽ gặp được quý nhân. Vậy nên quý nhân tăng trưởng từ đâu mà có? Cũng là do chính mình gieo nhân. Ác duyên tiêu tan từ đâu mà có? Vẫn là do chính mình gieo nhân. Cho nên vạn pháp do tâm tạo, tất cả đều do chính mình. Vì vậy tại sao trước khi tu pháp xuất thế gian, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni phải dạy "mọi ác đừng làm, hãy làm mọi thiện"?

Chúng ta phải thông qua việc tích lũy những thiện duyên như thế này, tích tiểu thành đại, từng chút từng chút một tích tụ thiện duyên. Nhờ những thiện duyên này giúp cho việc tu hành nhập thế của chúng ta được vững vàng. Khi tu hành nhập thế đã vững vàng rồi thì bạn mới có thể bước lên con đường tu hành xuất thế. Vì vậy đây là sự song hành giữa xuất thế và nhập thế, bạn không thể thiên lệch một bên! Nói rằng những thứ ở thế gian này không quan trọng, nếu không quan trọng thì sao buổi pháp hội Tài Bảo Thiên Vương hôm trước lại có đến 180 người đến, vậy tài bảo thế gian có quan trọng không? Rất quan trọng! Đây là quy luật của thế gian, nên vẫn rất quan trọng.

Vậy, chủ đề quan trọng nhất mà tôi muốn chia sẻ với mọi người hôm nay là thế này, xin mọi người hãy mở mắt nhìn đàn thành phía trước, có khác với trước không? Có đẹp không? (Mọi người vỗ tay mạnh: Đẹp!) Là tác phẩm của ai vậy? (Mọi người đồng thanh: Của Thượng sư!) Không thể nói là của riêng tôi, mà là do mọi người cùng bàn bạc với nhau, và ý kiến của tôi là thế này, đàn thành có rất nhiều tượng Phật lớn nhỏ, nếu không sắp xếp cho tốt thì trông sẽ khá lộn xộn, mà đàn thành của Mật giáo, như Mandala (Mạn-đà-la) mà chúng ta đã nói hôm trước, chính là cung điện của chư Phật Bồ Tát, và cung điện nhất định phải ngăn nắp trật tự. Cung điện là gì? Có ai đã từng đến Cố Cung chưa? Xin giơ tay. Nhiều người quá! Cố Cung là nơi có Thiên Tử ngự ở chính giữa, bởi vì trời tròn đất vuông, từ trung tâm Tử Cấm Thành, từng lớp từng lớp hướng ra ngoài có điện Dưỡng Tâm, điện Sùng Thánh, phía sau có hậu cung của Thiên Tử, bên trái có Thượng Thư Phòng, bên phải có Xu Cơ Viện v.v., theo như tôi nhớ khi đi một lần, nó lấy một trung tâm, rồi dần dần hướng ra ngoài là thân quyến, đại thần, quan viên nhất phẩm, nhị phẩm, tam phẩm, phân chia như thế.

Phẩm cấp nhất phẩm, nhị phẩm, tam phẩm là gì? Trong Phật giáo đó chính là thứ bậc, là cảnh giới, cho nên tại sao sắp xếp từ trên xuống dưới là Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, Chư Thiên, từ chính giữa tỏa ra hai bên cũng là Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, Chư Thiên, tiếp theo là Địa Cư Thần, cho nên dù là chiều dọc hay chiều ngang hay chiều sâu, ba chiều XYZ, tất cả đều tuân theo một logic như vậy, đây chính là bí quyết quan trọng khi sắp xếp đàn thành trong Mật giáo, nên không thể sắp xếp bừa bãi! Bạn không thể đặt vị trời lên trên Bồ Tát, như vậy sẽ làm rối loạn thứ bậc.

Vì vậy, tôi không dám nói rằng đàn thành Pháp Hoa Đường của chúng tôi là trang nghiêm nhất, tôi không dám nói vậy, bởi vì có rất nhiều đạo tràng đều rất trang nghiêm, nhưng tôi dám nói chắc chắn nằm trong top 3! Bởi vì tôi đã rất dụng tâm thực hiện, tôi đã tuân theo quy củ để sắp xếp, từ kích thước, màu sắc, chất liệu, ý nghĩa pháp, theo thứ tự tức-tăng-hoài-tru, dựa theo nhân duyên giữa chư tôn và chúng sinh để thể hiện.

Nói về việc ở thế gian này, khi công ty yêu cầu bạn làm báo cáo, có câu trả lời nhất định nào không? Câu trả lời là những gì sếp muốn, những gì bạn viết không nhất thiết là những gì sếp muốn. Ý tôi là, ở thế gian này có rất nhiều cách sắp xếp tổ hợp, miễn là bạn có thể trình bày một hệ thống hợp lý, phù hợp với đạo lý, thì đều được cả. Vì vậy hôm qua đường chủ hỏi tôi, tại sao Thượng sư lại sắp xếp như vậy? Tại sao lại điều chỉnh như vậy? Lý do quan trọng nhất là ban đầu Diêu Trì Kim Mẫu của chúng ta được đặt ở phía bên trái [đứng từ đàn thành nhìn ra ngoài cửa], Chuẩn Đề Phật Mẫu ở phía trên Sư Tôn, theo như "logic tư duy" mà tôi vừa nói thì điều này hơi đảo lộn.

Tôi đã từng kể rằng mình làm thị giả của Sư Tôn trong ba năm rưỡi, theo Sư Tôn đi đến rất nhiều đạo tràng lớn nhỏ. Có một số đạo tràng không thực sự hiểu về cách sắp xếp đàn thành Phật Bồ Tát. Tôi rất hiếm khi thấy Sư Tôn nghiêm túc nói về điều gì, Sư Tôn thường nói "fine, never mind", luôn bao dung, đại ái, cái gì cũng được, Sư Tôn cái gì cũng được. Nhưng khi liên quan đến Diêu Trì Kim Mẫu, có đạo tràng đặt kim thân Diêu Trì Kim Mẫu sang một bên, đặt chủ tôn khác ở giữa, Sư Tôn nói: "Các bạn đặt sếp của tôi sang một bên, làm sao tôi chịu nổi?! Ngài là nguồn gốc của tôi mà!" Họ mới vội vàng đặt lại. 

Vì vậy năm ngoái khi tôi đến đây, thực ra tôi rất muốn nói, tôi đã nén lại một năm! (mọi người cười) Năm nay đến đây, mấy ngày trước tôi vẫn còn nén, nén đến không chịu nổi nữa, tôi sắp bị thương trong người rồi, tôi ho đến nội thương rồi, đã bị thương rồi thì nói luôn! Muốn đánh muốn mắng muốn giết muốn lột da gì cũng được! Nhưng tôi cho rằng, kiên định làm điều thiện là nguyên tắc của tôi, tôi thấy đúng thì phải nói, thấy sai thì tùy tình huống mà nói, vì vậy tôi nói với đường chủ và pháp sư tôn kính của chúng ta rằng, tôi hy vọng Diêu Trì Kim Mẫu được đặt ở giữa, thực ra điều này không phải do cá nhân tôi nói.

Mọi người có biết trên núi Hổ của Đài Loan Lôi Tạng Tự có Điện Kim Mẫu không? Mọi người còn nhớ nguồn gốc của Điện Kim Mẫu không? Từ năm 2000 đến 2006, đó là sau khi Sư Tôn đến Sydney xong thì nhập thất phải không? Nhập thất hơn sáu năm, trong sáu năm đó, Chân Phật Tông gần như bị diệt vong, người làm bậy thì làm bậy, người bỏ đạo tràng thì bỏ đạo tràng, người quy y tông phái khác thì quy y tông phái khác, tình trạng này xảy ra khắp nơi, không có Sư Tôn ra mặt trấn giữ, mọi người đều làm loạn cả lên.

Lúc đó Đài Loan Lôi Tạng Tự đã có hình dáng cơ bản, một ngày nọ Sư Tôn kể rằng, khi Ngài đang nhập thất, lúc đó Ngài sống ở hồ Diệp Tử, mọi người đều không biết hồ Diệp Tử là ở đâu, tôi xin nói cho mọi người biết, vì có dịp hầu cận Sư Tôn một thời gian, tôi may mắn được đến hồ Diệp Tử, xin nói cho mọi người biết, hồ Diệp Tử là một hồ bơi ở nhà Sư Tôn, đây là chuyện ngoài lề.

Trong tòa nhà nơi Sư Tôn nhập thất, Diêu Trì Kim Mẫu giáng lâm tệ xá, theo lời Sư Tôn kể, Tiên Vương giáng lâm tệ xá, trong hư không có các Thiên nữ theo xuống, Diêu Trì Kim Mẫu nói: "Ngài đang xây Đài Loan Lôi Tạng Tự phải không?" Sư Tôn đáp phải, Diêu Trì Kim Mẫu nói: "Ngài nên xây một điện Kim Mẫu ở phía trên Đại Hùng Bảo Điện của Đài Loan Lôi Tạng Tự, ngài nhìn xem đỉnh núi chính giữa đó, chính là vị trí cổ của chúng ta, nói về phong thủy thì đó chính là vị trí đầu rồng, phải xây một Điện Kim Mẫu!" Sư Tôn nói đã có Tam Bảo Phật rồi, còn phải xây thêm một Điện Kim Mẫu nữa sao? Diêu Trì Kim Mẫu nói: "Ngài đừng có thắc mắc! Chớ nghi ngờ!" 

Cuộc đối thoại tiếp theo rất thú vị, Mẫu Nương nói: “Ngài là Phật Vương, ta là Tiên Vương, ta đến phụ trợ ngài, Phật Vương là gì? Phật Vương là dùng pháp xuất thế gian để độ hóa chúng sinh.” Diêu Trì Kim Mẫu nói trong văn chương rằng, hiếm có người, mỗi người có thứ tự căn cơ khác nhau, không phải ai cũng có thể nhanh chóng đạt đến Phật pháp thượng thừa, không phải ai cũng nhanh chóng hiểu được đệ nhất nghĩa đế, tính Không, không phải vậy, Tiên Vương dùng phương pháp nhập thế gian, như việc hỏi việc, như nhiều phương tiện pháp để độ hóa chúng sinh, nhưng nguồn gốc và kết quả đều như nhau, Ngài mong muốn dùng pháp nhập thế để dẫn dắt chúng sinh đến chỗ xuất thế, cho nên Ngài nói, dùng Tiên Vương để độ hóa chúng sinh, vì vậy Diêu Trì Kim Mẫu có một bộ kinh điển gọi là "Phổ Độ Thu Viên Định Huệ Giải Thoát Chân Kinh". Ở đây "Phổ Độ Thu Viên" này có thể nói là tinh thần của Diêu Trì Kim Mẫu! Dùng sức mạnh phổ độ thu viên, phương tiện pháp, kết hợp với trí tuệ của Phật Đà, đây chính là song vận nhập thế và xuất thế!

Đây là điều được nói trong văn chương chứ không phải do tôi nói, vì vậy Lư Sư Tôn nên xây Điện Kim Mẫu phía trên Đại Hùng Bảo Điện. Diêu Trì Kim Mẫu đã nói một câu rằng, nếu ngài xây, ta sẽ dùng Phật nhãn, Pháp nhãn của ta để quán sát tất cả các loại căn cơ khác nhau của chúng sinh, dùng phương pháp thích hợp với họ. Trung Quốc có câu "tùy bệnh cho thuốc", nghe qua chưa? Bạn mắc bệnh gì, tôi cho thuốc đó, đây chính là phương tiện pháp, trong phương tiện pháp còn có trí tuệ! Diêu Trì Kim Mẫu có vĩ đại không? Vĩ đại! Ngài bảo Sư Tôn phải kết hợp điều này, sẽ được song vận! Vì vậy tại sao Chân Phật Tông có thể độ được nhiều chúng sinh như vậy? Sư Tôn độ được nhiều chúng sinh như vậy, mãi mãi đều có Diêu Trì Kim Mẫu làm chỗ dựa phía sau, làm sao có thể không đặt Diêu Trì Kim Mẫu ở giữa! Không thể đặt sang một bên! Tôi nói lại lần nữa, Diêu Trì Kim Mẫu không thể đặt sang một bên! Ngài là gốc! Sư Tôn là người rất coi trọng gốc gác! (Không quên nguồn cội)


![image](/img/img_979a6e12312af69ec0dca34b09e6ed17.jpg)


Tôi xin nói thêm một chuyện ngoài lề, trước khi tôi đến Úc lần này, tôi có nhập thất một thời gian ngắn, tại sao vậy? Vì có quá nhiều pháp hội, quá nhiều chú ngữ của các chủ tôn cần phải trì tụng, như tôi đã báo cáo với mọi người, tôi thật sự đã bỏ rất nhiều tâm huyết để làm công khóa. Sau đó tất nhiên tôi còn hướng dẫn đồng tu ở Pháp Hoa Đường, mỗi lần trì tụng chú tứ quy y, tôi đều nhắc đến bốn vị Tổ sư, chúng ta có bốn vị Tổ sư quan trọng nhất: Hồng - Hoàng - Hoa - Bạch. Theo thói quen, tôi còn tụng thêm Phổ Phương Kim cương Thượng sư của chùa Tổng Trì Tự, chủ tôn của Tổng Trì Tự là ai? Là Chuẩn Đề Phật Mẫu, giống như Nghiêm Sơn Lôi Tạng Tự của chúng ta! Tôi nghe Sư Tôn nói Nghiêm Sơn Lôi Tạng Tự có duyên với chủ tôn là Chuẩn Đề Phật Mẫu, Phổ Phương A Xà Lê chính là người tu Chuẩn Đề Phật Mẫu, vì vậy truyền thừa Chuẩn Đề Phật Mẫu của Sư Tôn là từ Phổ Phương Thượng sư.

Ngoài ra, pháp mặc giáp hộ thân của Chân Phật Tông là do Thượng sư Phổ Phương truyền thừa, và còn nhiều mật pháp khác cũng do Thượng sư Phổ Phương truyền. Ban đầu, khi Thượng sư Phổ Phương còn ở chùa Tổng Trì tại đảo Xã Tử, Đài Bắc, Sư Tôn chỉ trao đổi thư từ với Ngài, mãi đến rất lâu sau mới đến gặp Ngài. Thượng sư Phổ Phương xem Sư Tôn như tâm tử, tức là người con trong tim, là người đứng đầu trong việc truyền thừa mật pháp. Tôi thường tụng niệm Thượng sư Phổ Phương vì tôi rất kính ngưỡng Chuẩn Đề Phật Mẫu. Chuẩn Đề Phật Mẫu là hóa thân của Đại Nhật Như Lai, pháp môn Chuẩn Đề vô cùng huyền diệu, có mười tám bất cộng pháp. Ngài là Đại Phật Mẫu, đồng thời là một trong tám đại bản tôn của Chân Phật Tông, quan trọng không? Rất quan trọng! Vì vậy tôi luôn ghi nhớ hình tướng của Thượng sư Phổ Phương, in sâu trong tâm trí.

Vậy tôi kể nhé, tôi đã nhập thất trong một thời gian ngắn, và có một việc rất quan trọng trong thời gian nhập thất là tôi quan sát giấc mơ của mình, xem đó là điềm lành hay không lành? Hay có nhân duyên gì? Tại sao vậy? Bởi vì trong thời gian đó, tất cả công phu tu tập và hồi hướng đều liên quan đến pháp hội, trong giấc mơ, Tam Căn Bản của tôi sẽ chỉ dạy tôi những việc gì cần điều chỉnh? Những việc gì cần phải làm? Tôi nói thật, thật trùng hợp, một ngày trước khi xuất thất, tôi mơ thấy mình đến chùa Tổng Trì. Trong những ngày đó, tôi mơ thấy Thượng sư Thubten Dhargye, mơ thấy Đại Bảo Pháp Vương, mơ thấy nhiều vị Tổ sư các đời, cuối cùng tôi mơ thấy Thượng sư Phổ Phương, đến chùa Tổng Trì gặp Thượng sư Phổ Phương. Ban đầu tôi không thấy Ngài, tôi thấy đàn thành Chuẩn Đề Phật Mẫu, tôi đảnh lễ đàn thành đó, sau đó Thượng sư Phổ Phương bước ra, tôi còn có một ý nghĩ, lạ thật! Sao Sư Công vẫn còn ở nhân gian? Trong mơ tôi vẫn nghĩ vậy, sao Sư Công vẫn còn ở nhân gian? Ngài nói: "Con đến rồi à! Con đến lễ Chuẩn Đề Phật Mẫu đi!"

Tôi nói đúng rồi, tôi nói tôi rất thích đàn thành ở đây. Sau đó, mọi người nghe kĩ điểm quan trọng này nhé! Sư Công giơ tay định xoa đầu tôi, nếu là các bạn, các bạn sẽ làm sao? Chắc chắn sẽ nghiêng đầu về phía trước, chắc chắn là vậy. Chín mươi chín phần trăm là vậy. Tôi kể cho các bạn nghe trong mơ tôi đã làm gì nhé? Tôi chắp tay với Sư Công và nói: "Sư Công, cảm ơn Ngài! Nhưng con đã quy y Căn bản Thượng sư! Nếu Ngài muốn gia trì cho con, con phải trì tụng thần chú Sư Tôn bảy lần trước." Vì vậy trong mơ, tôi còn nhớ tôi kết ấn Liên Hoa Đồng Tử, quán tưởng Sư Tôn, sau đó tụng bảy lần, rồi Sư Tôn trụ ở đỉnh đầu tôi. Các bạn có biết trong mơ Sư Công nói gì không? Ngài nói con là đệ tử chân chính của Lư Sư Tôn! 

Đây đúng là giấc mơ của tôi! Đây chính là truyền thừa! Chưa cần nói về những thứ khác, mọi người đều nói về truyền thừa, nhưng bạn có làm được không? Trước đây ở Đài Loan, tôi đã đến rất nhiều đạo tràng khác, tại sao? Tôi đi giúp hỏi việc.

Việc hỏi việc này không phải tự tôi muốn, mà là Căn bản Thượng sư yêu cầu tôi! Tôi nhân cơ hội này nói với mọi người, mọi người nghĩ tôi thích sao? Tôi ghét nhất là những chuyện phiền phức, hỏi mãi cũng chỉ là những việc đó, cần gì phải hỏi nữa? Nhưng Sư Tôn bảo tôi đừng dừng lại. Tôi nói lại một lần nữa, nếu có ai còn phỉ báng tôi, không sao cả. Tôi đã đến nơi nào? Ở Đài Trung có một hội Phật học Long Thụ Bồ Tát, họ tất nhiên không quy y Sư Tôn, họ nghe người ta nói tôi có thể thỉnh ý Phật Bồ Tát một số việc nên mời tôi đến. Sau khi đến, họ có đàn thành, có truyền thừa riêng của họ, có thể đảnh lễ đàn thành không? Được! Nhưng điểm quan trọng là, cũng giống như quy tắc trong mơ vậy, bạn phải quán tưởng Sư Tôn trụ đỉnh trước, Sư Tôn hiện ra rồi, tất cả đàn thành đều là hóa hiện của Căn bản Thượng sư của bạn, vậy bạn có thể đảnh lễ không? Được chứ! Tôi đã làm như vậy đấy!

Trước tiên tôi quán tưởng Sư Tôn, rồi đảnh lễ tượng Phật Thích Ca Mâu Ni ở giữa đàn thành của họ. Họ thuộc truyền thừa Bạch giáo, bên cạnh là các vị Thượng sư của họ. Tôi chỉ chắp tay chứ không đảnh lễ. Sau lần đó, tôi đến Học viện Phật học Long Thụ rồi đi Seattle, tôi không hề nói gì với Sư Tôn, nhưng chính Ngài đã nói với tôi: "Ta biết con luôn quán tưởng ta trụ trên đỉnh đầu dù con đi đâu!"

Có được lời này của Sư Tôn, còn cầu gì nữa! Là một đệ tử Mật giáo, nếu không làm được điều này, dù làm nhiều việc khác rực rỡ như pháo hoa cũng đều vô dụng. Vì vậy, bản thân tôi có lòng tin vững vàng, không sợ người khác nói gì, vì bạn biết mình đang làm gì mà! Đây chính là Tự Tâm Minh Bạch Kim Cang. Đại Bảo Pháp Vương có nói, Tự Tâm Minh Bạch Kim Cang là gì? Là khi làm bất cứ việc gì, bạn đều hợp tình, hợp lý, hợp pháp, bạn có logic của riêng mình, người khác hiểu lầm bạn thì đó là việc của họ, bạn không thể quản được.

Tôi tiếp tục nói về Viện Phật Học Long Thụ. Khi tôi bước vào, nhờ uy linh của Diêu Trì Kim Mẫu, Ngài nói với tôi rằng đàn thành của họ vốn ở tầng hầm, sau đó vì một số sự việc xảy ra nên mới dời lên tầng hai. Tôi hỏi họ có phải vậy không? Họ hỏi sao tôi biết? Tôi nói không phải tôi biết, mà là Diêu Trì Kim Mẫu lợi hại. Sau đó tôi còn nói với họ, đừng tiêu xài bừa bãi tiền đi đầu tư, vì đó là tiền của chúng sinh, không thể lấy tiền đạo tràng đi đầu tư, trừ khi tất cả người quyên góp đồng ý! Họ gãi mũi, biết mình đã làm sai! Tôi nói với họ việc thứ ba, Hộ pháp mật tu của các vị là Mahakala, nhưng các vị cũng không cúng! Họ hỏi sao tôi biết họ thờ Mahakala? Không phải tôi lợi hại, mà là nhờ uy linh của Diêu Trì Kim Mẫu! Tôi biết họ thờ Hộ pháp Mahakala, tôi nói Hộ pháp của các vị không được cúng rượu, không cúng thịt thì Hộ pháp của các vị không có lực! Không thể làm được việc! Đây là lời Căn bản Thượng sư của tôi dạy. Cho nên tại sao chúng ta làm Hộ Ma phải cúng rượu cúng thịt? Trong Mật giáo, rượu thịt tượng trưng cho sức mạnh chứ không phải tham cái vị, nhớ kĩ! Tất cả mọi thứ đều chuyển hóa trong một niệm. Ba việc này khiến họ giật mình đến độ muốn rơi cả hàm.

Sau đó ông ta nói với tôi một câu: "Ban đầu tôi cứ nghĩ Chân Phật Tông của các vị toàn là những kẻ lấy số đông để lập lờ đánh lận con đen, Lư Sư Tôn của các vị, suốt năm cứ truyền pháp, cứ quán đảnh rồi lại quán đảnh, tôi cứ tưởng Chân Phật Tông của các vị chỉ biết truyền pháp, nhiều đệ tử như vậy nhưng chẳng có mấy người tu hành." Tôi lập tức nói với ông ta, Căn bản Thượng sư của tôi truyền pháp, là do lòng từ bi của Ngài, tại sao lại truyền nhiều chủ tôn như vậy? Ngay từ đầu Ngài không hề yêu cầu mọi người phải tu tất cả các pháp, Ngài chỉ dạy tu tốt Tam căn bản, thậm chí chỉ cần tu một Bổn tôn đến cùng là được, tại sao phải truyền pháp? Bởi vì mỗi chúng sinh có căn cơ và nhân duyên khác nhau, Ngài truyền pháp là để quảng độ chúng sinh, đây là nguyện ước đời này của Ngài! Không hề trái nghịch.

Có ai trong số những vị chủ tôn mà Sư Tôn đã truyền thụ, đã kết duyên và thành tựu qua tu tập một pháp môn không? Tất nhiên là có! Vì vậy không thể nói việc Căn bản Thượng sư rộng mở pháp môn là sai, bạn chỉ cần biết bước tu tập của mình ở đâu, điều này không có gì mâu thuẫn.

Vậy nên Sư Tôn đã truyền những pháp gì ở đâu, pháp nghĩa là gì? Tôi nói với ông ấy về những vị chủ tôn trên đàn thành của tông phái họ, tôi có thể nói cho ông ấy biết lai lịch của vị tổ sư này từ đầu đến cuối, lai lịch của Ngài là gì? Pháp nghĩa là gì? Pháp nghĩa của họ khác với pháp nghĩa của Chân Phật Tông ở chỗ nào? Tâm yếu tu trì của chúng ta khác ở đâu? Tôi dám nói như vậy vì tôi đã nghiên cứu! Tôi đã đặt mật pháp của Sư Tôn trong tâm mình, tôi luôn sẵn sàng ứng chiến! Đây chính là trách nhiệm và nghĩa vụ của một vị Acharya!

Sau khi nói xong, ông ta cúi đầu xuống và nói rằng bây giờ ông đã biết Chân Phật Tông thực sự có nhân tài. Sau đó tôi báo cáo chuyện này với Sư Tôn, Ngài nói rất tốt! Chính là như vậy đó. Cho nên, hôm nay tôi ngồi ở đây, tôi dám nói rằng, Diêu Trì Kim Mẫu phải ngồi ở chính giữa! 

Tôi đã đến thăm nhiều nhà đồng môn, đến nhiều đạo tràng, và tôi nhận thấy có những quan niệm, tư tưởng rất kỳ lạ. Các đồng môn này rất thích bàn luận về việc này thế nào, khuyên người ta làm thế này thế kia, cái gì đúng cái gì sai. Cho ý kiến thì tốt thôi, nhưng trước khi cho người khác ý kiến, bạn phải tự xem xét bản thân mình có đủ tư cách không, những gì bạn nói có phải là tri kiến chính xác không. Nếu không, bạn làm ảnh hưởng sai lệch người khác, nhân quả đó bạn gánh không hết đâu!

Tôi đã đến một nơi và hỏi: "Sao các vị lại bày trí như thế này?" Người đó trả lời rằng một vị đồng môn lâu năm đã dạy họ bày như vậy. Các bạn đoán tôi nói thế nào không? "Truyền thừa của bạn là từ vị đồng môn lâu năm hay từ Lư Sư Tôn? Đơn giản vậy thôi! Bạn quy y với ai?" Một câu là đủ giải quyết, không cần phải nói gì thêm. Trong pháp, tuyệt đối đừng bàn đến tuổi tác. Nếu quan niệm của bạn sai, bạn sẽ sai cả đời, dù tu 100 năm cũng vẫn sai; nếu quan niệm của bạn đúng, chỉ cần tu ba năm năm năm, nắm được tâm yếu của mật pháp, dù Căn bản Thượng sư chỉ truyền cho bạn một khẩu quyết, một pháp quán tưởng, miễn là bạn nắm được, bạn nhất định sẽ thành tựu, đó chính là Mật giáo.


![image](/img/img_a615f159482793fbe64cec1c11cce196.jpg)


Tại sao tôi tôn sùng Diêu Trì Kim Mẫu? Tôi xin kể cho mọi người một câu chuyện. Trước khi xuất gia, tôi thường đến phân đường Thạch Bích ở Hoa Liên, đó là tổng đường của Diêu Trì Kim Mẫu. Tại sao lại ở Hoa Liên? Sư Tôn nói rằng, vào thời kỳ đầu của Đài Loan Dân Quốc, chân linh của Diêu Trì Kim Mẫu đã giáng xuống Hoa Liên tại hai địa điểm. Một là căn lều tranh bên cạnh Từ Huệ Tổng Đường ở Hoa Liên, lúc đó thậm chí chưa có điện thờ, chỉ là một nơi đồng tu được che bằng cỏ tranh, chỉ có một tấm biển. Một ngày nọ, có một người phụ nữ bị một vị thần linh nhập vào, bà ấy nói rằng mình là Diêu Trì Kim Mẫu. Lúc đó không ai biết Diêu Trì Kim Mẫu là ai, sau khi bà ấy nói ra thì người ta mới khắc một tấm biển gỗ. Sau đó vì rất linh nghiệm, cứ một người truyền mười, mười truyền trăm, trăm truyền nghìn, mới xây được Từ Huệ Đường như ngày nay. Sau đó Ngài còn giáng xuống tại Thạch Bích Đường, cũng chính là nơi sư cô Lâm Thiên Đại từng trú ngụ, một người phụ nữ mặc áo xanh. Chỉ có hai nơi này ở Hoa Liên, Hoa Liên là một nơi địa linh nhân kiệt.

Tôi thường đến đó lễ bái Diêu Trì Kim Mẫu, và cũng đã từng nhập thất ngắn hạn. Vậy tôi nhập thất tu pháp gì? Tu Tứ gia hành, Thượng sư tương ứng pháp. Tu vào thời gian nào? Tý, Ngọ, Mão, Dậu, chúng ta gọi là Tứ chính thời. Những thời gian khác không nói chuyện, bế khẩu, thậm chí cố gắng không ăn uống gì cả, chỉ uống một chút nước, ăn một chút trái cây, gần như tuyệt thực, để điều chỉnh thân tâm.

Tôi nhớ một đêm vào giờ Tý, khi đang tọa thiền tu pháp trong chùa, Diêu Trì Kim Mẫu nói chuyện với tôi. Ngài bảo: "Lành thay! Lành thay! Diêu Trì Kim Mẫu của Đạo giáo làm chủ tôn trong Lôi Tạng Tự của Mật giáo các con, còn con là đệ tử Mật giáo lại đến đền thờ Đạo giáo của ta để tu Chân Phật Mật Pháp. Con hãy nói ta nghe, Phật là gì? Đạo là gì?" Mọi người có hiểu không? Thực ra không có sự phân biệt nào cả. Ngài nói đúng sự thật đấy. Tôi đang tu tập trong một ngôi đền được người ta cho là của Đạo giáo, họ cho rằng điện Diêu Trì Kim Mẫu là của Đạo giáo, đó là cách phân chia của người đời. Nhưng tôi vẫn tu Chân Phật Mật Pháp trong đó, vẫn theo đúng nghi quỹ, tu tập thân khẩu ý như Sư Tôn đã dạy. Tôi tu Chân Phật Mật Pháp, và tất cả đạo tràng Chân Phật Tông đều thờ Diêu Trì Kim Mẫu, dù lớn hay nhỏ, cũ hay mới, tạo hình thế nào, cầm đầu phượng hay gậy đầu rồng hay phất trần, tóm lại đều có Diêu Trì Kim Mẫu. Vị thần linh mà người ta cho là của Đạo giáo này lại ngự giữa Lôi Tạng Tự của chúng ta. Vậy Phật là gì? Đạo là gì? Đó chỉ là sự phân biệt của con người mà thôi.

Vì vậy trong bài viết "Biết ơn Diêu Trì Kim Mẫu", Sư Tôn dạy rằng Diêu Trì Kim Mẫu chính là Phật, và cuối bài Sư Tôn có viết một bài kệ, tôi xin đọc cho mọi người nghe, đoạn văn ngắn này rất cảm động, Sư Tôn nói:

Trong tam muội
Mỗi tông mỗi giáo đều có cách nói khác nhau
Người tự lĩnh ngộ
Chỉ mình ta hiểu tâm có bạn đồng hành
Muôn nghìn lời nói
Vạn lời ngôn luận
Dạy người sau làm sao thông suốt
Những việc này thật mênh mang
Trong tâm tôi
Đã đi qua Đạo Hiển Mật và những thứ khác
Chẳng cần lo
Cũng chẳng cần buồn
Người khác có thể nhíu mày
Diêu Trì Kim Mẫu
Tây Phương Tam Thánh
Làm sao có thể gặp gỡ
Tôi chỉ có đôi phần oán trách
Sao người đời lắm phân biệt tôn giáo
Tìm bên trái tìm bên phải
Chỉ thị của trời mỗi nơi mỗi khác
Chỉ mình tôi đây
Tâm dung chứa các bậc thánh hiền
Hóa ra đều ở chung một lầu.

Từ lần đầu tiên tôi đọc bài văn này đến nay, tôi luôn cảm thấy xúc động sâu sắc, bởi vì bài văn này đã nói lên tâm trạng của tôi, chính là câu mà Diêu Trì Kim Mẫu đã nói với tôi ngày ấy, tất cả đều do sự phân biệt của "con người" mà tạo ra đủ loại tranh chấp và vô minh. Ai thật sự hiểu được tâm mình? Ai thật sự hiểu được chân tâm mà Lư Sư Tôn đã dạy chúng ta?

Nhân tiện tôi xin hỏi mọi người: Thiên ngữ là gì? Gần đây không phải nhiều người nói về thiên ngữ sao? Tôi hỏi mọi người: Xin hỏi Diêu Trì Kim Mẫu đã nói với tôi bằng ngôn ngữ gì? Câu hỏi thứ hai, việc bạn biết hay không biết thiên ngữ có liên quan gì đến việc tu hành của bạn không?

Vì vậy tôi hy vọng mọi người hiểu rằng, Sư Tôn là một vị Đại Pháp Vương, Ngài phải độ vô số chúng sinh, mỗi người đều có nhân duyên riêng, không phải pháp môn nào cũng phù hợp với tất cả mọi người. Trong vạn pháp của Sư Tôn, chỉ cần bạn tìm được dù chỉ một kinh một chú, một pháp quán tưởng nào đó phù hợp với mình, bạn hãy thực tu và chứng nghiệm nó, thì đó chính là của bạn. Bạn không cần so sánh với người khác, không cần học thiên ngữ, không cần ganh tị với người khác, cũng không cần than phiền. Tôi đã nói với bố mẹ tôi rằng, tôi chắc chắn hồi nhỏ mình đã từng nói thiên ngữ, vì tôi và con của đồng nghiệp bố tôi khi còn nhỏ đều nói một thứ ngôn ngữ mà chính tôi cũng không hiểu, nhưng tôi biết được cậu ấy đang nghĩ gì, và cậu ấy cũng biết tôi đang nghĩ gì. Nhưng cho đến tận bây giờ, điều đó đã phai mờ trong ký ức của tôi rồi, bảo tôi nói thì tôi cũng không biết nói, bảo tôi "ga ga gi gi gua" thì tôi cũng không "gua" được. Nhưng điều đó có ảnh hưởng gì đến việc giao tiếp giữa tôi và Bổn Tôn không? Có ảnh hưởng gì đến việc hợp nhất với Sư Tôn không? Có ảnh hưởng gì đến việc độ chúng sinh không? Không! Không có ảnh hưởng gì cả.

Thiên ngữ chân chính là ngôn ngữ của tâm linh. Như tôi đã nói với sư huynh Hạ hôm đó, khi tâm bạn đủ tĩnh lặng, giống như một mặt hồ có thể phản chiếu vạn vật, bất kể ngôn ngữ gì, tất cả đều nằm trong hồ này một cách rõ ràng. Tâm bạn hòa làm một với mặt hồ, Bổn Tôn của bạn hòa làm một với mặt hồ, lúc đó các bạn chính là một mặt hồ - đó chính là Tỳ Lô quang minh hải.

Tỳ Lô quang minh hải chính là biển Phật tính. Vì thế Sư Tôn có một bài thơ nói rằng: dù bạn là mưa hay là sóng, cuối cùng một ngày nào đó, chúng ta sẽ trở về biển cả. Biển này là gì? Chính là biển Phật tính đó. Vì vậy hôm nay khai thị của tôi có phần nghiêm túc, nhưng tôi hy vọng mọi người hiểu được tâm tôi, và cũng hy vọng mọi người biết rằng quyết định hôm nay của các bạn là đúng đắn.

Theo cá nhân tôi, đạo tràng hiện tại đang tỏa sáng rực rỡ. Tôi cũng hết lòng cầu nguyện Diêu Trì Kim Mẫu, hy vọng dưới sự phù hộ của Ngài, Nghiêm Sơn Lôi Tạng Tự sẽ độ tận vô lượng chúng sinh! Om mani padme hum!

---
# File: tinh-tuyen/ts-lien-anh-khai-thi-sau-buoi-ho-ma-bat-dong-minh-vuong-tai-vn.md
# Title: TS Liên Anh: Khai thị sau buổi Hộ Ma Bất Động Minh Vương tại VN
---

![image](/img/img_ddcfa2b25d63dba4ec2a770f275189fc.jpg)



![image](/img/img_450427516527bdde867630122d126357.jpg)



# TS Liên Anh khai thị sau buổi Hộ Ma Bất Động Minh Vương


Chúng ta kính lễ Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật, kính lễ chủ tôn pháp hội Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử, tất cả các vị Liên Hoa Đồng Tử và quyến thuộc. Cảm tạ Tam Bảo tại đàn thành.

Xin chào tất cả các vị khách quý, chào các bạn đồng môn. Bỗng dưng tôi muốn kể một việc này. Năm ngoái tôi đã đặt may 6 bộ y phục Lama, sư tỉ may y phục hỏi tôi là vì sao phải cần nhiều như vậy. Nếu cô ấy đến tận nơi mà xem chúng ta làm buổi Hộ Ma hôm nay như thế này thì cô ấy sẽ hiểu vì sao lại phải đặt may nhiều như vậy. Bình thường chúng ta làm Hộ Ma ngoài trời là làm theo kiểu Tây Tạng. Theo kiểu Đông mật thì sẽ ngồi ở khoảng cách gần như thế này. Nhưng vừa rồi khi lửa bốc lên, tôi muốn bỏ cúng phẩm vào lò cũng gặp khó khăn, cho nên đây cũng không phải là một việc rất dễ dàng. Pháp sư cũng rất vất vả, khói đều bay hết về phía bên ấy, bởi vậy rất cảm ơn Pháp sư đã giúp đỡ.

Thông thường khi tôi đi ra ngoài hoằng pháp, tôi từng nói là tôi không hy vọng sẽ tùy tiện làm pháp hội này, bởi vì rất nhiều khi là cái gì bạn có được một cách quá dễ dàng thì bạn sẽ không biết trân trọng. Rất khó để trong 30 phút ngắn ngủi tôi có thể nói cho mọi người hiểu pháp này trân quý đến mức nào.

Hôm nay tôi làm quán đảnh trì chú cho mọi người, một lát nữa trong số các bạn, nếu có ai đã từng nhận quán đảnh pháp Bất Động Minh Vương từ Căn bản Thượng sư thì các bạn sẽ không tới để tôi quán đảnh nữa. Nếu bạn đã viết thư để thỉnh cầu quán đảnh từ xa trì chú Bất Động Minh Vương thì bạn cũng sẽ không đến để nhận quán đảnh từ tôi. Pháp này nếu chỉ mỗi trì chú thôi thì cũng đã có công đức và sức mạnh không thể nào nói hết. Vì vậy tôi hy vọng mọi người nhận thức được rằng theo truyền thống của Tạng mật, một người theo Căn bản Thượng sư học pháp, phải học 30 năm thì mới được nhận quán đảnh Thượng sư tương ứng pháp. Vì thế trong Tạng mật, bạn phải học tới khi bạn được niệm Thượng sư tâm chú thì quả thật là vô cùng vô cùng trân quý. Cho nên đừng nói gì đến chuyện bạn nhận được quán đảnh chủ tôn hay là Kim Cang Thần, không thể nào, điều này là cực kì ít.

Hôm nay chúng ta có thể ngồi ở đây, Thượng sư thay mặt cho Thầy truyền quán đảnh trì chú này, đó đều là vì Căn bản Thượng sư của chúng ta từ bi. Trước kia Sư Tôn đã từng viết trong sách rằng, pháp mà Sư Tôn đã truyền cho đồng môn Chân Phật Tông, rất nhiều pháp là không nên công khai. Nhưng ngài tình nguyện phạm vào luật trời, bị Phật Bồ Tát trách cứ, ngài vẫn muốn truyền cho mọi người những pháp lợi ích chúng sinh. Cho nên ở đây là lòng đại bi và bồ đề tâm của Sư Tôn.

Thật ra bạn muốn có được sự bảo hộ của Hộ pháp, đặc biệt là vị Bất Động Minh Vương, bạn nhất định phải có bồ đề tâm. Ba chữ “bồ đề tâm” này kì thực rất khó giải thích, chúng ta giải thích một cách đơn giản thôi. Đơn giản là bạn cần phải xem những người ở bên ngoài bản thân mình quan trọng hơn chính mình. Cái gọi là những người ở bên ngoài bạn bao gồm cả người mà bạn thích và người mà bạn không thích, người bạn thân thiết và không thân thiết. Đó mới là tinh thần của Bồ Tát. 

Các vị Kim Cang Thần chính là từ Phật Bồ Tát chuyển hóa, cho nên trí huệ, sức mạnh, chứng lượng của các vị đều giống như Phật Bồ Tát. Vì thế bạn muốn trì chú này, muốn tu pháp này, bạn phải hạ mình rất khiêm tốn. Bạn trì chú này có được một chút ân huệ, bạn đều phải trả lại cho chúng sinh gấp trăm nghìn vạn lần. 

Trước khi đến Việt Nam hoằng pháp, tôi đã có chuyến hoằng pháp ở Malaysia, trước khi chuyến hoằng pháp đó kết thúc thì có xảy ra một vài sự việc mà bản thân tôi cũng không cảm thấy vui lắm. Có thể nói là gần như tôi muốn mua vé máy bay trở về Đài Loan, tôi không muốn tiếp tục đi hoằng pháp nữa. Có người vì thế mà ghét tôi cũng được, chửi mắng tôi cũng được, gây chướng ngại cho tôi cũng được, dù sao cũng đã xảy ra đủ mọi việc khiến cho tôi không vui rồi. Khi tôi quyết định mua vé về Đài Loan, buổi tối đó tôi tu pháp, Bổn tôn của tôi hiển hiện. Ngài nói với tôi rằng cần phải thông cảm với người đã chửi mình. Tôi vừa nghe vậy thì suýt chút nữa ngã từ trên ghế xuống. Bây giờ tôi muốn hỏi mọi người, nếu đổi lại là bạn thì bạn có thông cảm được với người đã chửi bạn hay không? Bạn nào làm được thì thật là lợi hại đó, như thế thì bạn là Bồ Tát rồi. 

Khi ấy tôi rất mạnh dạn, tôi hỏi vì sao lại yêu cầu tôi làm như vậy. Rõ ràng là họ hại tôi, vậy mà còn muốn tôi thông cảm cho họ? Diêu Trì Kim Mẫu nói với tôi, nếu bạn vẫn còn có tâm oán hận người khác thì cho thấy là bạn vẫn còn phân biệt, cho thấy là bạn chưa thật sự hiểu được rằng bạn và tất cả chúng sinh là cùng một nguồn gốc. Chính vì những chúng sinh này còn vô minh cho nên họ mới trở thành như thế này, nếu bạn có trí huệ hơn họ, bạn nên dạy dỗ họ chứ không phải là vẫn tham sân si giống như họ. Vì thế dưới sự gia trì của Bổn tôn, tôi đã cay đắng bật khóc, tôi cảm thấy hổ thẹn với sự vô minh của chính mình, và cũng cảm thấy tội nghiệp cho sự vô minh của chúng sinh. Nhưng chính Sư Tôn cũng đã nói rồi, Phật pháp đem ra để dạy dỗ chúng sinh vô minh, những người còn chưa hiểu biết, nếu không thì không còn cần đến Phật pháp nữa. Vì thế có một câu nói là “khó làm mà làm được”, bởi vì có khó khăn cho nên mới cần làm, đây mới gọi là tâm Bồ Tát.

Tinh thần mà tôi vừa nói đến chính là tinh thần của Bất Động Minh Vương. Trong tất cả kinh điển nhắc đến Bất Động Minh Vương đều nói rất rõ ràng rằng ngài chính là Đại Nhật Như Lai, chính là ngài đã hóa thân và biến thành hình tướng này, mọi người nhìn thấy hình tướng ngài rất hung dữ nhưng thật ra bản thể của ngài chính là Phật. Trong Đông mật, tức là Mật giáo Nhật Bản, có quán tưởng liên quan đến Bất Động Minh Vương. Quán tưởng đầu tiên là bạn phải quán tưởng Đại Nhật Như Lai hiển hiện trong hư không, sau đó từ Đại Nhật Như Lai chuyển biến thành Bất Động Minh Vương. Trên đỉnh đầu của ngài có bông hoa sen tượng trưng cho vị thầy của ngài là Đại Nhật Như Lai. Trên đỉnh đầu ngài có bảy búi tóc, đại diện cho thất bồ đề phần. Ngài có một bím tóc thả xuống vai trái biểu thị lòng từ bi chúng sinh, cũng đại diện cho trí huệ cao nhất. Mắt trái của ngài nhắm lại, mắt phải thì mở to, bởi trong kinh Phật có nói, mắt trái tượng trưng cho bàng môn ngoại đạo, tức là tà đạo, ma đạo, cho nên nhắm mắt trái vào là biểu thị ngăn chặn tất cả tà đạo. Mở to mắt phải là biểu thị ý nghĩa quy thuận tất cả Phật đạo và hàng phục ma. 

Vì thế mỗi lần làm Hộ Ma Bất Động Minh Vương, tôi sẽ luôn làm thân ấn - tức là thủ ấn toàn thân. Tức là tôi mím môi lại, nhíu một mắt, đây gọi là con mắt kim cang phẫn nộ. Sau khi bạn quán tưởng hợp nhất với Bất Động Minh Vương, con mắt kim cang phẫn nộ của bạn nhìn lên trên, nhìn sang phải, nhìn xuống dưới, nhìn sang trái, nhìn chính giữa, biểu hiện quét sạch tất cả ma chướng của mười phương. Tiếp theo là cái miệng, môi dưới bặm lên môi trên, biểu thị rằng ngài không muốn nói chuyện, đóng lại tất cả những ngôn luận không cần thiết. Rất nhiều khi tai nạn của chúng ta đến từ những điều mà miệng chúng ta nói ra. Khi ngài nói chuyện thì luôn luôn sẽ nói những điều có trí huệ, phù hợp với Phật pháp, còn những thứ khác ngài không nói. 

Tiếp theo là một điểm quan trọng, quán tưởng hình tượng của ngài, có thể quán tưởng thân thể rất tráng kiện nhưng bụng ngài phải hơi béo. Ở đây có hai ý nghĩa. Ý nghĩa thứ nhất là ngài hiển hiện tướng mạo này để thị hiện tướng nô bộc, là nô lệ của Phật Bồ Tát, bởi vậy ngài rất khiêm nhường. Thứ hai là cái bụng to tượng trưng cho việc ngài hút hết về những vô minh và thói quen xấu của chúng sinh. Bởi vậy trong bức họa của Nhật Bản, nếu đồng thời có Đại Nhật Như Lai và Bất Động Minh Vương thì thân thể của ngài luôn luôn phải cong xuống, thể hiện ngài quy thuận Thượng sư. Cho nên khi chúng ta nói chuyện với Căn bản Thượng sư, bạn tuyệt đối không được ngẩng đầu ưỡn ngực, bạn nhất định phải khom người, rất cung kính, không dám ngẩng đầu. Thậm chí khi bạn muốn rời đi, bạn cũng không thể quay lưng vào thầy, bạn phải nhìn mặt thầy và từ từ lui đi, cho đến khi không nhìn thấy thầy nữa thì bạn mới có thể quay người. 

Vì thế Bất Động Minh Vương đã thị hiện hình tướng cho chúng ta thấy, ngài là vị phẫn nộ nhất trong số các vị Minh Vương nhưng ngài vẫn biểu thị sự khiêm nhường của mình. Ngoài ra còn một điểm quan trọng nữa, cho dù ngài đứng hay ngồi thì chắc chắn phải ở trên tảng đá, ngài sẽ không ngồi trên hoa sen. Cho nên khi thiết kế bức thangka này, người ta vẽ ngài ngồi trên hoa sen là không đúng. Có thể bạn sẽ nghĩ là rất kỳ lạ, rõ ràng ngài là Phật, vì sao không ngồi trên hoa sen? Bởi vì trong kinh điển nói, lời thề nguyện của ngài là ngài sẽ sống ở những nơi khó khăn, còn bông hoa mềm mại để dành cho Phật Bồ Tát ngồi thôi, ngài không muốn, ngài chỉ cần ngồi trên tảng đá và có rất nhiều bọt sóng, bọt sóng tức là nơi có rất nhiều chướng ngại. 

Còn một điểm nữa là thân ngài hơi gồng lên, vòng tay chặt lại, còn có một ý nghĩa biểu thị sự tinh tấn, mọi lúc đều hy sinh vì Phật pháp. Vì tất cả Phật pháp đáng để nghe thì ngài luôn sẵn sàng nhấc mình lên để đi nghe Phật pháp. Tay phải ngài cầm long kiếm, bên trên có một con rồng, đó là Câu Lợi Ca La Long Vương (Kulikah). Tay trái ngài cầm sợi dây thừng, sợi dây thừng này không phải dây thừng bình thường. Sợi dây thừng này hai bên trái phải có treo ấn chương của hai bộ Mandala Kim Cương Giới và Thai Tạng Giới, cho thấy là ngài đại diện cho Đại Nhật Như Lai cai quản toàn bộ pháp giới vũ trụ, ngài là vị chúa tể trung tâm. Ý nghĩa của sợi dây thừng có treo ấn chương này là trói toàn bộ chúng sinh lại sau đó đưa lên Phật quốc tịnh thổ thanh tịnh ở trên trời. Đương nhiên ngài có thể hàng phục tất cả linh hồn, yêu ma quỷ quái. Sau lưng ngài có vòng lửa phừng phừng, trên đầu của ngọn lửa có Đại Bàng Kim Sí Điểu, Đại Bàng Kim Sí Điểu này có thể ăn hết tất cả long vương ác độc. Còn có một cách nói khác là đây là ngọn lửa Ca Lâu La, tượng trưng cho phượng hoàng. Ý nghĩa chủ yếu của phượng hoàng nằm ở chỗ chết rồi có thể sống lại, có thể liên tục tái sinh. 

Vì sao Bất Động Minh Vương được gọi là tổng chúa tể của ba nghìn thế giới, ngài là một vị bất bại, ngài sẽ không bao giờ đánh thua, ngài luôn luôn thắng, bởi vì ngài có lửa phượng hoàng tượng trưng cho thắng lợi. Tiếp nữa, Bất Động Minh Vương không hề đơn thương độc mã, bên cạnh ngài có rất nhiều quyến thuộc. Quan trọng nhất là có Bát Đại Đồng Tử, trong kinh điển nói Bát Đại Đồng Tử này đều là Bát Đại Bồ Tát, là tám vị Bồ Tát chuyển hóa, chứ không phải là những trẻ em đáng yêu đứng xung quanh nhảy múa ăn bánh kẹo, bởi vì Đồng Tử này mang ý nghĩa là Bồ Tát. Còn có 36 vị đồng tử và 48 vị thị giả. Hôm nay tôi nói với mọi người bí mật 48 vị thị giả này là gì. Gần đây Sư Tôn giảng kinh Duy Ma Cật, trong đó có nói về một vị Giải Thoát Bồ Tát bất khả tư nghì. Trong số 48 vị thị giả có 19 vị Giải Thoát Bồ Tát bất khả tư nghì, có 15 vị thiên thần, lấy ví dụ như Atula, Diêm Ma La, Nhật Thiên, Nguyệt Thiên, Tinh Quang Thiên, Hỏa Thiên, Thủy Thiên, tất cả những gì bạn có thể nghĩ đến trên toàn thế giới này đều bao gồm trong đó. Hóa thân của Ngũ Phương Phật và Thất Phật. Tất cả cộng lại còn thiếu 2 vị nữa, xin hỏi 2 vị còn thiếu này là ai? Một vị trong số đó là hóa thân của toàn bộ thái dương, còn một vị cuối cùng gọi là Hoa Khai Phật, hóa thân của Hoa Khai Phật, Hoa Khai Phật là một vị Cổ Phật, tức là vị Phật từ xa xưa. Cho nên, có thể nói quyến thuộc của Bất Động Minh Vương tương đương với hóa thân của tất cả Phật Bồ Tát của ba nghìn thế giới, cùng đến giúp ngài làm mọi việc. 


![image](/img/img_a0e304fd9b64a15523524f44cb520fc3.png)


Ở Đài Loan tôi từng chia sẻ với mọi người một chuyện. Các bạn có thể thấy mỗi khi Thượng sư, pháp sư chúng tôi cầm hồng bao đều sẽ chạm vào trán, khi chúng tôi nhận hồng bao cúng dường không thể tùy tiện bỏ ngay vào túi mà chúng tôi luôn luôn phải chạm vào trán. Điều này đại diện cho việc bạn tiếp nhận cúng dường của chúng sinh và đưa lên trên, chính bạn biến thành Bổn tôn. Các bạn cũng nghe thấy pháp sư niệm “Om Ah Hum”, vì sao phải niệm câu chú này? Đó là biến một hồng bao của bạn thành rất nhiều hồng bao đầy ắp cả hư không để cúng dường Bổn tôn trong hư không. Sau đó, rất nhiều hồng bao như thế lại hoàn trả lại cho bạn. Cho nên “Om Ah Hum” có ý nghĩa thanh tịnh, có ý nghĩa biến hóa, có ý nghĩa kiên cố. Đối tượng mà bạn cúng dường, vị Thượng sư pháp sư đó phải có năng lực, vị đó phải dùng được sức mạnh của Bổn tôn để làm lợi ích cho hành giả. 

Giống như vừa rồi có những vị chủ cầu dâng khăn khata, không phải là Thượng sư Liên Anh tôi quàng khăn khata cho bạn, tôi phải liên tục quán tưởng, niệm chú và chính tôi biến thành Bất Động Minh Vương, sau đó xung quanh tôi là rất nhiều quyến thuộc và thị giả mà vừa rồi tôi có nói đến. Các đồng môn này muốn gì, các vị thị giả xung quanh tự nhiên một cách tự động họ sẽ cho bạn thứ đó. Vì thế, khi bạn tu đến mức có thể tập trung vào một ý niệm và bạn có thể hợp nhất với Bổn tôn thì chỉ cần một ý nghĩ là làm xong việc. Cho nên tôi hy vọng các bạn đừng xem nhẹ việc cúng dường này, đặc biệt là cúng dường Căn bản Thượng sư của chúng ta. Bạn cần có niềm tin thanh tịnh, trên người bạn cho dù chỉ có 10 đồng, bạn đem 5 đồng để cúng dường thầy, 5 đồng tiền này là bạn rất thành tâm thành ý lấy ra để cúng dường, Căn bản Thượng sư của chúng ta sẽ chắc chắn hoàn trả lại cho bạn, chỉ cần bạn thành tâm thành ý, đây chính là yêu cầu khi chúng ta học cúng dường. 

Bởi vì chúng ta ở vào những điều kiện không gian, thời gian, hoàn cảnh khác nhau, chúng ta không thể yêu cầu ở đây phải có không gian rộng lớn, phải có điều hòa, không thể nào như vậy. Nhưng với điều kiện như thế này, chúng ta đã cố gắng hết sức để làm được tốt nhất, đó chính là cúng dường tốt nhất. Vì thế tôi nói những điều này là hy vọng mọi người, bạn có được duyên phận ngồi đây ngày hôm nay, nghe được pháp ngày hôm nay, các bạn phải biết cảm ơn, trân trọng, sau đó bạn phải làm vào thực tế, tức là phải niệm chú trì minh. Thế nào gọi là trì minh? Trì có ý nghĩa là bảo trì, duy trì, dùng ý niệm của bạn để gìn giữ, khi ý niệm của bạn luôn luôn đặt vào Bổn tôn, ví dụ Bất Động Minh Vương, bạn niệm chú lâu ngày rồi, ngài sẽ phóng ra ánh sáng thật sự, khi ấy bạn có thể giúp đỡ chính bạn, cũng có thể giúp đỡ người xung quanh bạn.

Tôi có một câu chuyện xin kể với mọi người, xem như là một kết luận. Ở Mỹ từng có một đồng môn nói với Sư Tôn rằng anh ấy chỉ có quán đảnh trì chú Ái Nhiễm Minh Vương, nhưng anh ấy đã dùng tâm niệm rất nhiều, tới mấy trăm nghìn biến, thậm chí cả triệu biến, anh ấy mơ thấy Ái Nhiễm Minh Vương đến trong giấc mơ và quán đảnh cho anh ấy. Anh ấy thỉnh giáo Sư Tôn liệu giấc mơ này có tương đương với việc anh ấy có thể tu pháp Ái Nhiễm Minh Vương không? Sư Tôn nói với anh ấy là đúng rồi, bởi vì anh đã thành tâm trì minh, anh đã cảm ứng được ngài, ngài cảm ứng được anh, ngài quán đảnh cho anh cho nên anh có được sự cho phép. Cho nên hôm nay bạn nhận được quán đảnh trì chú, bạn nhất định phải có tín tâm, hãy đạp những thói quen không tốt của bạn xuống dưới chân, đem tất cả những gì bạn có cúng dường tới Căn bản Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp, dùng cái tâm như vậy để niệm chú Bất Động Minh Vương, bạn niệm tới khi bạn nhìn thấy ngài, bạn gặp được ngài, ngài dành cho bạn sự quán đảnh chân thực, khi ấy có thể nói bạn không cần phải sợ gì nữa. 

Vì thế tôi vẫn nghĩ mãi, tôi đến nơi này rốt cục có thể cho chúng sinh điều gì? Cho tiền ư, hay là cho thangka, tượng Phật, những thứ này chỉ là những đồ vật tạm thời thôi. Tôi và Pháp sư chỉ có một cái tâm đi hoằng pháp, hy vọng có thể đem đến cho chúng sinh ánh sáng, đây mới là thứ vĩnh hằng, những thứ khác chỉ là tạm thời. Qua hai buổi pháp hội lần này, tôi hy vọng Chân Phật Mật Pháp có thể bắt rễ tại Việt Nam. Tấm ảnh chụp tập thể sau buổi pháp hội Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử tuần trước, Sư Tôn đã phóng to tấm ảnh lên, nhìn hết từng người, cho nên nếu mọi người hy vọng được Sư Tôn gia trì thì lát nữa đây chụp ảnh chung đừng bỏ chạy đi mất. Om mani padme hum.

Hà Nội 16/06/2024. 

Pháp hội Hộ Ma Bất Động Minh Vương.


![image](/img/img_ae57a67c7e8b3ae37695627638af8d31.jpg)

---
# File: tinh-tuyen/ts-lien-anh-khai-thi-sau-buoi-ho-ma-lien-hoa-dong-tu-ban-phuc.md
# Title: TS Liên Anh: Khai thị sau buổi Hộ Ma Liên Hoa Đồng Tử ban phúc
---

![image](/img/img_acb786820ab0fb6efacc7b83421052db.jpg)



# TS Liên Anh khai thị sau buổi Hộ Ma Liên Hoa Đồng Tử ban phúc


Một lần nữa chúng ta kính lễ Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật, kính lễ chủ tôn pháp hội Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử, tất cả các vị Liên Hoa Đồng Tử và quyến thuộc. Cảm tạ Tam Bảo tại đàn thành.

Xin chào tất cả các vị khách quý, chào các bạn đồng môn. Rất cảm ơn mọi người đã đến đây.

Trước tiên tôi xin một tràng vỗ tay cho pháp sư Liên Án. Bởi vì nhân duyên mà tôi có thể đến đây hôm nay là nhờ có pháp sư giới thiệu. Đương nhiên tôi cũng muốn cảm ơn sư huynh Nguyễn Văn Quế và sư huynh Mai Quang Duy. Xin cảm ơn sư tỉ Ngọc Linh đã phiên dịch và sư huynh Anh Tuấn giúp đỡ.

Thành thật mà nói, buổi Hộ Ma vừa xong của chúng ta có rất nhiều chỗ chưa chu toàn. Đây là buổi pháp hội đầu tiên của tôi ở đây (Việt Nam). Bởi vậy thật ra quá trình tu hành cũng chính là một sự rèn luyện từ chỗ chưa quen thuộc, làm chưa tốt cho đến chỗ làm được tốt. Vì thế, nếu mọi người thật lòng mong muốn Chân Phật Mật Pháp có thể hoằng dương tại Việt Nam thì mọi người cần phải học tập một cách khiêm tốn. 

Vì sao tôi lại nói đến sự khiêm tốn? Sư Tôn cũng đã nói, đã từng khai thị, trong Phật giáo dùng hình ảnh chiếc bình nước để tượng trưng cho một hành giả. Có ba loại bình. Loại thứ nhất được ví như pháp khí vỡ, tức là chiếc bình bị thủng đáy, vì thế cho dù bạn có đổ vào nó bao nhiêu cam lộ cũng sẽ chảy ra ngoài hết. Loại thứ hai là bình có đậy kín nắp, cho dù bạn có đổ thế nào cũng bị chảy ra ngoài hết. Loại bình tốt nhất là loại bình nguyên vẹn tròn trịa, có thể đựng được hết tất cả dòng chảy pháp và cam lộ từ trên đưa xuống. Cho nên nếu bạn muốn hoàn toàn tiếp nhận và học được những điều này, bạn nghĩ bạn sẽ chọn loại bình nào?

Đúng rồi, người có trí tuệ đều biết là nên chọn loại bình thứ ba. Hôm nay chúng ta làm pháp hội Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử chủ yếu là vì đây là vị chủ tôn của truyền thừa, tiếp theo chúng ta còn có buổi pháp hội Bất Động Minh Vương, trước hết tôi cần phải đưa ra một lời nhắc nhở nghiêm khắc. Pháp hội của một vị đại Hộ pháp sẽ không cho phép chúng ta để xảy ra những sai sót như ngày hôm nay. Vì thế chúng ta phải thực hành, phải luyện tập cho đến khi nào chúng ta thành thục, bao gồm tất cả nghi quỹ, toàn bộ tiến trình đều phải tiến hành trôi chảy. Bởi vì Kim Cang Thần cực kì nghiêm khắc, chỉ cần có một chút sai sót cũng sẽ dẫn tới tai nạn. Ví dụ nói đến lửa Hộ Ma của ngày hôm nay vẫn có khói tỏa ra, vì thế xin mọi người hôm nay trở về nhà hãy niệm nhiều Bách tự minh chú, vừa là để hồi hướng, cầu nguyện cho chính mình, cũng là để hồi hướng cầu nguyện cho những trở ngại đối với việc hoằng dương Phật pháp ở nơi đây. 


![image](/img/img_4b134c174030a119ab4adb1e44e31970.jpg)


Cho đến nay, vì chuyến hoằng pháp tại Việt Nam và buổi pháp hội lần này mà tôi tổng cộng đã thỉnh cầu Sư Tôn gia trì sáu lần. Lần thỉnh cầu Sư Tôn gia trì cuối cùng là vào lúc 2h chiều hôm nay, tôi thỉnh cầu Sư Tôn gia trì để trời không mưa, giúp cho pháp hội của chúng ta có thể viên mãn, vì thế xin cảm ơn Sư Tôn. Thật may chúng ta có đồng môn ở bên Phật đường hôm nay đang ở tại Seattle, đồng môn đó đã báo cáo trực tiếp với Sư Tôn. Trong lần thứ tư nhờ đồng môn thỉnh cầu Sư Tôn gia trì, anh ấy đã hỏi tôi một câu: “Vì sao Thượng sư phải nói nhiều lần như vậy, chẳng phải Sư Tôn đã biết rồi sao?” Trong Mật giáo mà nói, thỉnh cầu Căn bản Thượng sư là không có chuyện cắt giảm hay giảm bớt, phải là thỉnh cầu càng nhiều càng tốt. Mọi lúc mọi nơi, trong mọi hoàn cảnh điều kiện, bạn phải xem việc thỉnh cầu Căn bản Thượng sư gia trì là yếu tố đầu tiên. Đây chính là một khái niệm cơ bản nhưng rất quan trọng khi bạn tu hành Mật giáo. Vì thế cho nên buổi pháp hội đầu tiên mà chúng ta làm tại đây cũng lấy chủ tôn là Liên Hoa Đồng Tử, bởi vì đây là một nhân duyên khởi đầu tốt lành. 

Tôi thẳng thắn thông báo với mọi người. Chúng ta không chỉ có những người đến tham dự đang ngồi đây công khai báo danh mà còn có rất nhiều “vô hình” báo danh, cho nên tổ chức pháp hội này không phải làm cho vui, không phải một trò chơi. Đó là vì sao mà cả tôi và pháp sư đều rất nghiêm túc, đều yêu cầu rất nhiều thứ, bởi vì chúng ta cũng biết và cũng nhìn thấy rất nhiều về hậu quả của việc không làm cho tốt. Nguyên nhân chủ yếu là vì ngoài những gì mà mắt thường của chúng ta có thể nhìn thấy thì còn có rất nhiều tổ tiên, oan thân trái chủ mà chính bạn báo danh đều đến đây. Vậy xin hỏi mọi người là họ có thể ở chỗ nào đây? Chúng ta có nhà để ở, còn họ có thể ở chỗ nào? Cho nên, pháp hội của chúng ta có lập bàn bài vị vãng sinh và bài vị diên sinh (tăng thọ), ít nhất trước pháp hội 1, 2 ngày là chúng ta phải bày và an vị xong, để cho những “vô hình” đó có nơi chốn để ở. Giống như khi mọi người bước vào đây, nếu khi bước vào mà không nhìn thấy có ghế bày sẵn ở đó, chắc chắn bạn sẽ cảm thấy hoảng loạn, bạn sẽ chạy khắp nơi. Nhưng nếu đã có ghế bày sẵn, bạn sẽ biết trước khi pháp hội bắt đầu có thể ngồi xuống, ổn định vị trí, sẵn sàng để tham dự pháp hội. Bởi vậy dương gian và âm gian có cùng một đạo lý. 

Hôm nay chúng ta bị quá gấp rút, ngay trước pháp hội mới an vị hai bàn đó, thế nên họ (các vô hình) đều chạy đến phòng tôi, rồi chạy tới cái cây phía sau lưng tôi đây. Nhưng tôi được biết là cái cây này có Thần Cây, cho nên vừa rồi tôi cũng đặc biệt cảm tạ Thần Cây đã giúp thu nhận những vô hình đó. Vì thế rất nhiều những khái niệm, kiến thức, nếu không được các nhân viên hoằng pháp giải thích thì bạn sẽ không hiểu được, bạn cứ thế đến tham gia pháp hội xong là đi về thôi. 

Lần này tôi đến đây kết nhân duyên với mọi người, tôi thì nói tiếng Trung, còn các bạn thì nói tiếng Việt, cho nên cần có người phiên dịch. Trong Phật giáo mà nói, dịch thuật là một việc cực kì quan trọng. Ngày hôm nay, tất cả những kinh Phật mà chúng ta đọc được là bởi vì có những vị đại sư chuyên môn làm công tác dịch thuật qua rất nhiều thời kỳ đã dịch những văn bản tiếng Phạn thành ngôn ngữ mà chúng ta có thể đọc hiểu được. Ví dụ chúng ta biết có Huyền Trang đại sư, hay là Bất Không Tam Tạng, đó là hai vị biên dịch kinh Phật rất nổi tiếng. Dịch kinh điển Phật giáo có hai cách thức. Cách thứ nhất là chiếu theo từng câu từng chữ để dịch một cách rất chặt chẽ nghiêm chỉnh. Cách thứ hai là giống như ngài Cưu Ma La Thập, ngài dịch một cách rất có trí huệ, uyển chuyển, dùng những câu từ mà người đọc có thể dễ dàng hiểu được, từ đó mà cảm thấy thích thú. Những bản kinh Phật mà chúng ta thường niệm ngày nay như kinh Kim Cang, kinh Pháp Hoa, kinh Tâm đều là do ngài Cưu Ma La Thập dịch. Tôi nói đến điều này chủ yếu là vì, chính vì ngôn ngữ của chúng ta khác nhau, cho nên tôi biết đồng môn Việt Nam rất khó hiểu được rốt cục Sư Tôn đang giảng cái gì. Tôi biết có nhóm dịch thuật tiếng Việt của vợ chồng sư tỉ Ngọc Linh và hai đồng môn nữa, đây là một công việc vô cùng quan trọng, mong rằng mọi người có thể bỏ tiền bỏ sức để hỗ trợ thúc đẩy sự nghiệp biên dịch này. Vì sao vậy? Bởi vì việc hoằng pháp chân chính không phải là có pháp sư ngồi đây làm pháp hội, hoặc là pháp sư giảng pháp, hoặc ai đó tới để làm pháp hội, đó không phải là hoằng pháp chân chính. Bởi vì do bất đồng ngôn ngữ, chúng tôi là nhân viên hoằng pháp cho dù thế nào cũng không thể truyền đạt những văn tự và khái niệm mà Căn bản Thượng sư đã nói ở trong sách đến cho tất cả chúng sinh. Cho nên nếu như nhân viên hoằng pháp truyền đạt sai, dạy người ta làm sai thì sẽ gây nên ảnh hưởng rất lớn. Bởi thế ở đây nếu có thể thì tốt nhất là các bạn hãy học tiếng Trung để có thể đọc được sách của Sư Tôn, hoặc không thì bạn hãy thật sự dùng tâm để thường xuyên đọc các văn tập đã được dịch để có thể hiểu được tâm của Sư Tôn. 

Mấy năm nay, hàng năm Tông Ủy Hội đều tổ chức hoạt động đón Tài Thần, bạn cũng biết hàng năm đều có tín vật cát tường để mọi người mang về nhà. Năm nay là năm con Rồng, vì thế năm nay có bình tụ tài bảo hình rồng màu đỏ. Tôi chia sẻ với mọi người điều này, vào mùa xuân năm nay, Sư Tôn đã nói làm sao để đưa Tài Thần đến nhà. Không phải là mỗi cầm bình tài bảo về nhà một cách đơn giản như vậy đâu, còn có một điểm mấu chốt nữa. Căn bản Thượng sư nói, nếu bạn muốn đưa Tài Thần về nhà, bạn cần phải đem cả sách của Sư Tôn về nhà nữa. Ai có thể hiểu được là vì sao không? Bản thân sách của Sư Tôn không chỉ là sách, sách bình thường chỉ là một tập giấy đóng lại với nhau thì gọi là sách. Đối với đệ tử Chân Phật Tông mà nói, mỗi một câu chữ mà Căn bản Thượng sư nói đều là kinh điển, là kinh Phật. Chúng ta gọi Chân Phật Kinh tức là gì? Sư Tôn nói, Chân Phật Kinh khác với kinh điển thông thường ở chỗ đây là kinh điển từ chính tâm Sư Tôn tuôn chảy, cho nên 300 cuốn văn tập có thể nói rằng chính là kinh điển tuôn chảy từ chính tâm Sư Tôn. 

Vậy kinh điển là gì? Đó chính là phương hướng cho chúng ta tham khảo khi tu hành, ngoài ra thì ở bên trong kinh điển còn có tất cả Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp. Vì thế tôi nói để mọi người biết điều này, đem sách của Sư Tôn về nhà tương đương với mang tất cả Phật Bồ Tát về nhà. Vậy vì sao phải yêu cầu bạn mua sách? Bởi vì việc mua bán này tạo nên một thiện duyên, bạn mua sách thì đầu tiên là bạn đang cúng dường Sư Tôn, thứ hai là bạn đang cúng dường tất cả Phật Bồ Tát trong kinh điển. Bạn mua sách rồi, đến khi bạn đọc xong, bạn lại chuyển cho người khác đọc, tương đương với bạn đang cúng dường chúng sinh. Bởi vậy đừng cho rằng việc mua sách này chỉ là một hành động nhỏ là bỏ chút tiền ra để mua cuốn sách của Sư Tôn, sự ảnh hưởng của nó là cực kì lớn. Cho nên vì sao mà tôi rất ca ngợi pháp sư Liên Án? Bởi vì pháp sư đã tự mình bỏ tiền ra mua sách của Sư Tôn và đem chúng đi rất nhiều nước để kết duyên với rất nhiều chùa và rất nhiều người. Đây chính là sự hoằng pháp chân chính. Chúng ta nên tặng cho pháp sư một tràng vỗ tay nữa. 

Vì thế tôi nghĩ rằng, nếu bạn thật lòng muốn giúp Sư Tôn hoằng dương Phật pháp, đừng chỉ chú trọng vào làm hình thức hay biểu hiện bề ngoài. Lần này tôi đến đây, trong buổi hỏi việc đầu tiên, tôi biết có rất nhiều đồng môn vì ở cách Sư Tôn quá xa, cho nên các bạn đồng thời quy y rất nhiều sư phụ khác. Bây giờ tôi cũng sẽ không bảo các bạn tuyệt đối không thể được hay là mạnh mẽ ngăn cản bạn, bởi vì tôi biết làm như thế chẳng ích gì. Tôi hy vọng rằng thông qua khai thị của mình và những gì chúng ta đã làm, bạn có thể biết được quy y Sư Tôn tương đương với bạn đã quy y tất cả. Từ góc độ tâm lý mà nói, vì sao bạn lại đi tìm một vị sư phụ khác, đó là vì bạn nghĩ rằng vốn dĩ vẫn chưa đủ. Bởi vậy bạn cần biết rằng, vì tâm bạn thấy chưa đủ, vì tham nên nghĩ rằng bạn muốn nhiều hơn nữa, bạn cần phải có thầy thứ hai, thầy thứ ba, thầy thứ tư, cứ như thế sẽ không bao giờ tìm được hết. Hôm nay tôi nói cho mọi người biết, bạn quy y Sư Tôn, thậm chí bạn không cần tu pháp, bạn chỉ niệm tâm chú của ngài “Om guru liansheng siddhi hum” là đã đủ để bạn viên mãn tất cả những điều mà bạn mong muốn. 

Tôi nhớ như thế này, vào tuần trước ở Mỹ, trong khi khai thị cho phần “Trò hỏi Thầy đáp”, có một đồng môn ở Malaysia thỉnh giáo Sư Tôn là vì sao trong chú ngữ “Om guru liansheng siddhi hum” lại bao hàm tâm chú của tất cả Phật Bồ Tát? Lấy ví dụ như là Đại Luân Kim Cang - vị này là thân phẫn nộ của Di Lặc Bồ Tát, rồi có Nhật Quang Bồ Tát, Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát, ba vị Bồ Tát này trong sách thời kỳ đầu Sư Tôn đã viết, niệm chú ngữ này sẽ có được sự gia trì của những vị Bồ Tát này. Lúc còn nhỏ tôi đã đọc được bài viết này, nhưng đọc xong rồi thì cũng quên mất. Vì có đồng môn hỏi điều này nên tôi mới tìm đọc lại bài viết đó của Sư Tôn và tự mình lĩnh hội nó, cộng thêm lời giải thích của Sư Tôn khiến chúng ta càng hiểu rõ hơn. “Om” là toàn bộ vũ trụ, “guru” đại diện cho vị đạo sư có thể dẫn dắt bạn tu hành. Bản thân Di Lặc Bồ Tát đại diện cho vị đại đạo sư trong tương lai sẽ tiếp nối Phật Thích Ca Mâu Ni đến nhân gian truyền pháp. Tác dụng của ngài là gì, chính là chuyển pháp luân. Chuyển pháp luân nói một cách đơn giản chính là thuyết pháp cho chúng sinh nghe. Vì sao Đại Luân Kim Cang lại đứng ra đại diện? Bạn biết rằng đôi khi, bạn nói lý lẽ với người khác nhưng họ nghe không hiểu. Có những chúng sinh rất bám chấp, cá tính rất cố chấp, bạn buộc phải thị hiện tướng phẫn nộ để mà dạy dỗ họ. Đó là vì sao chúng ta có những vị như Bất Động Minh Vương. Cho nên “guru” đại diện cho vị đạo sư chuyển pháp luân. Và Sư Tôn cũng nói “guru” này không chỉ có trong Phật giáo, chúa Jesus Christ, Thượng đế, hay đấng Allah, Đức Mẹ Teresa và tất cả hình tướng thiên sứ của các tông phái khác, toàn bộ đều là các vị guru, các vị đều đến để độ chúng sinh, dạy dỗ chúng sinh. Hai chữ “liansheng” (Liên Sinh) chính là bản địa Liên Hoa Đồng Tử của Sư Tôn. Liên Hoa Đồng Tử đến từ chỗ của Đại Nhật Như Lai, đến từ chỗ của A Di Đà Phật, cho nên bản thân hai chữ “liansheng” chính là ánh sáng mặt trời. Hơn nữa, Nhật Quang Bồ Tát thường xuyên ở bên cạnh Dược Sư Phật, cung điện của ngài ở trên mặt trời, tác dụng chủ yếu của Nhật Quang Bồ Tát là trừ ma. Anh em của Nhật Quang Bồ Tát chính là Nguyệt Quang Bồ Tát, ngài chuyên trị bệnh. Bởi vậy thật ra khi bạn niệm “liansheng” chính là bạn đang niệm sức mạnh của mặt trời, niệm sức mạnh của Bồ Tát hóa thân từ mặt trời. 

Tiếp theo nói về “siddhi”, bản thân “siddhi” có tác dụng gia trì, bình thường chúng ta nói “siddhi” tương đương với Phật quốc tịnh thổ, đó chính là mục tiêu cuối cùng của việc chúng ta tu hành. Nhưng trước khi bạn đến được Phật quốc tịnh thổ, bạn cần phải trải qua rất nhiều sự gia trì. Căn bản Thượng sư nói, trong tâm chú Liên Hoa Đồng Tử, “siddhi” có bảy loại lực gia trì. Lực gia trì thứ nhất là thí chủ, tức là bạn cúng dường người ta, lực gia trì của sự cúng dường. Thứ hai là sức mạnh tín ngưỡng. Thứ ba là sức mạnh giới luật. Thứ tư là sức mạnh nghe hiểu Phật pháp. Thứ năm là sức mạnh vật chất hữu hình và vô hình. Thứ sáu là pháp vị, tức là một cảm giác thích thú sung sướng giống như bạn có được trong thiền định. Thứ bảy là sức mạnh có thể tự phát quang. Nếu bạn không ngẫm nghĩ kĩ càng, bạn sẽ cho rằng bảy loại sức mạnh này là tách biệt. Nếu bạn suy ngẫm kĩ càng bạn sẽ biết bảy loại sức mạnh này có mối liên hệ lần lượt theo thứ tự, trước tiên phải có cúng dường thì mới có lòng tin, sau đó mới có những thứ phía sau. Bởi vậy bảy loại lực gia trì này là tinh thần mà tất cả chúng ta cần phải học. Nếu bạn thật lòng muốn học, bạn sẽ có được sự gia trì. Cho nên đầu tiên bạn phải học để biết cúng dường. Ngày hôm nay chúng ta làm Hộ Ma này chính là đại cúng dường. Vì sao điều đầu tiên phải là cúng dường? Bởi vì đây chính là phương thức mà chúng ta có thể tiếp nhận được. Bản thân cúng dường chính là một sự kết duyên, như tôi nói ban nãy, mua sách của Sư Tôn chính là kết duyên. Bạn có thể thật tâm cúng dường chính là vì bạn tin tưởng, bất kể là tâm bạn đang ở cấp độ nào thì nền tảng vẫn nằm ở lòng tin, chứ không làm sao bạn nghĩ rằng chúng ta đốt những cúng phẩm này sẽ có Phật Bồ Tát từ hư không đến để tiếp nhận. 

Cho nên lúc này, cuộc đời của bạn từ nhục thân hữu hình đi về thế giới vô hình, bạn tin chắc rằng có sự tồn tại của các vị thần thánh ở các tầng cao hơn. Nếu bạn thật sự tin thì bạn sẽ sản sinh giới luật. Bởi vì hàm nghĩa thật sự của giới luật chính là cung kính và thanh tịnh, không phải là người khác nói với bạn không được làm cái này không được làm cái kia thì đó là giới luật. Mà là tự bạn biết mình nên làm thế nào, cần làm cái gì, đó mới là giới luật. Ở đây là sự tự nhiên. Có giới luật rồi, bạn định tâm lại, chắc chắn bạn có thể lĩnh hội được Phật pháp, bạn sẽ thật sự phát tâm đi nghe pháp. Nhưng nếu bạn chỉ nghe thôi mà không đem ra để ứng dụng thì cũng là vô ích. Nghe hiểu Phật pháp là bạn phải đưa Phật pháp vào trong đời sống, bạn phải ứng dụng nó thì mới có tác dụng, bạn sẽ có được sự thành tựu tất cả mọi thứ, tất cả mọi thứ ở đây nói một cách đơn giản là bạn cầu cái gì bạn sẽ có được cái đó. Tác dụng đặc biệt nằm ở trên phương diện vật chất, lấy ví dụ ở Việt Nam, kinh tế của đồng môn không tốt, bạn muốn cầu tiền bạn sẽ có được tiền. Các nhà tâm lý học thường nói khi bạn có tiền rồi thì bạn sẽ bắt đầu hướng đến sự tìm kiếm tâm linh. Bởi vậy sau khi chúng ta tìm kiếm vật chất rồi thì chúng sẽ biến thành pháp vị. Ví dụ khi chúng ta thiền định, chúng ta tìm đến ý nghĩa của sinh mệnh, chúng ta bắt đầu hiểu việc nâng cao tâm linh. Sau cùng, nếu bạn có thể dung hợp việc tu hành vào trong cuộc sống, bạn thật sự có thể mở ra được Phật tính nội tại, cuối cùng bạn có thể phát quang. Đó là vì sao mà câu chú “Om guru liansheng siddhi hum” đã bao hàm tất cả mọi thứ, những gì bạn có thể nghĩ tới hoặc thậm chí không thể nghĩ tới đều nằm trong đó. Nếu bạn thật sự hiểu điều này rồi thì bạn có còn đi tìm kiếm sư phụ khác hay không?

Tôi sẽ cho mọi người có thêm một niềm tin nữa. Lần này có một người bạn học đi cùng tôi đến đây là bác sĩ Hồng, là bạn thời Trung học với tôi, hiện nay anh ấy làm bác sĩ ở Đài Trung, Đài Loan. Câu chuyện về mẹ của anh ấy đã được Sư Tôn viết trong cuốn sách mới, cuốn số 299. Tôi không thể nói chi tiết, xin mọi người tự về nhà tìm đọc. Mẹ của anh ấy bị phát hiện mắc bệnh ung thư, phổi có hai khối u cứng. Anh ấy đưa mẹ đến hỏi việc, Phật Bồ Tát nói hãy niệm Cao Vương Kinh 1000 biến, chắc chắn sẽ có kỳ tích. Mẹ anh ấy trong thời gian ngắn nhất đã đọc xong 1000 biến Cao Vương Kinh, sau đó lại đi kiểm tra, khối u ung thư đã biến mất. Bản thân anh ấy chính là bác sĩ mà còn nói thật bất khả tư nghì, không thể giải thích, không thể suy luận. Xin hỏi đây là sức mạnh gì?

Bởi vậy con người cần phải khiêm tốn, tất cả những gì bạn gặp phải, bất kể là khổ nạn hay đau thương đều là hậu quả do tự bạn tạo ra. Nếu tâm bạn thật sự kiền thành giống như mẹ của anh ấy, với tâm khiêm tốn nhất, với tâm khẩn thiết nhất để niệm tụng chú ngữ, bạn đặt lòng tin vào chú ngữ này, chắc chắn kỳ tích sẽ xuất hiện. 

Cho nên hôm nay làm buổi Hộ Ma này, tôi có một kết luận dành cho mọi người, các bạn đừng xem thường vị Liên Hoa Đồng Tử, bởi vì có thể nói sức mạnh của ngài là vô cùng vĩ đại, ngài là một vị vô cùng trân quý trong vũ trụ. Bạn không biết tu pháp, bạn không có thời gian tu pháp cũng không hề gì, bạn cố gắng hết sức mọi lúc mọi nơi chỉ niệm câu chú này, quán tưởng Sư Tôn, bất kể là hình tướng gì, bạn thích hình tướng gì cho dù là Pháp thân, Báo thân hay Ứng thân, chỉ cần ý niệm của bạn có sự liên kết với Sư Tôn, bạn luôn luôn nghĩ đến Sư Tôn và nói với ngài tâm nguyện của bạn thì ngài chắc chắn sẽ giúp đỡ bạn. Vì thế hôm nay, tôi mong rằng các bạn một lần nữa tìm lại được lòng tin thanh tịnh của mình. 

Trước pháp hội của chúng ta thì ở Seattle có buổi đồng tu, Sư Tôn đã gọi một đồng môn nữ người Việt đứng dậy, nói rằng có phải cô đã nhìn thấy Pháp thân của Sư Tôn không? Sao có thể trùng hợp như vậy khi mà Sư Tôn gọi đúng một đồng môn người Việt? Việc này nói với chúng ta điều gì? Cho dù bạn ở Việt Nam và cho rằng cách Seattle rất xa, nhưng vẫn có người nhìn thấy, cảm nhận được Pháp thân của Sư Tôn. Cho nên đừng để cho các yếu tố như là thời gian, không gian, hoàn cảnh đánh bại lòng tin của bạn. Om guru liansheng siddhi hum. 

Hà Nội 09/06/2024. 

Pháp hội Liên Hoa Đồng Tử ban phúc.


![image](/img/img_74dcba7fade7f62c21614f0f729d9b72.jpg)

---
# File: tinh-tuyen/ts-lien-anh-khai-thi-tai-chan-do-loi-tang-tu.md
# Title: TS Liên Anh: Khai thị tại Chân Độ Lôi Tạng Tự
---

![image](/img/img_63d27ef3250a442762fc24a139e9551a.jpg)



# Bài khai thị của TS Liên Anh tại Chân Độ Lôi Tạng Tự


Giảng pháp: Thượng sư Liên Anh
Thời gian: N/A
Địa điểm: Chân Độ Lôi Tạng Tự
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Chuyến đi này xin cảm ơn lời mời của Chân Độ Lôi Tạng Tự và sư huynh Hán Sơn, cho nên hôm nay tôi mới có cơ duyên đến đây. Cũng cảm ơn Thượng sư Thích Liên Hoa Thường Trí, và các Thượng sư đã sẵn lòng cho tôi cơ hội đến để học tập. 10 năm trước tôi từng đến nước Anh, khi ấy tôi đi cùng người nhà đến du lịch, vì lúc nhỏ tôi đặc biệt thích bộ tiểu thuyết Harry Potter, nghe nói rất nhiều cảnh đều được hoàn thành ở nước Anh, cho nên từ nhỏ tôi đã có mơ ước được đến nước Anh.

Bản thân tôi học Trung văn, có một thi nhân rất nổi tiếng là Từ Chí Ma dùng lời thơ để miêu tả Cambridge của nước Anh với hình ảnh rất xinh đẹp, khiến tôi rất khao khát. Cho nên trong ấn tượng của tôi, thành phố của nước Anh có vẻ đẹp rất mơ hồ và đậm chất di sản. Chớp mắt đã 10 năm trôi qua, bây giờ tôi đã 25 tuổi rồi, tôi hiện tại đã xuất gia, trở thành người xuất gia của Chân Phật Tông. Mọi chuyện đã thay đổi rất nhanh!

Nói đến nhân duyên với Chân Độ Lôi Tạng Tự, kì thực cá nhân tôi thích nhất một bức pháp tướng của Sư Tôn chính là bức ảnh Sư Tôn mặc áo long bào màu vàng và xanh lục, ngồi trên ghế Pháp Vương, khi đến đây nhìn thì thấy hóa ra nền phía sau chính là Chân Độ Lôi Tạng Tự! Từ lâu đã có duyên rồi, chính là bức pháp tướng trân quý mà Sư Tôn đã để lại khi Sư Tôn đến đây truyền đại pháp hội Thời Luân Kim Cang vào năm 2013. Tối hôm qua, tôi lên mạng tìm một vài tư liệu về Chân Độ Lôi Tạng Tự thì nhận ra đàn thành cũng đã có rất nhiều thay đổi, rất khác so với ảnh trên mạng, tôi đã nghiệm thấy tất cả mọi thứ đều đang ở trong sự vô thường. Dường như mười năm trước khi tôi đến nước Anh, còn là học sinh cấp ba, cái gì cũng không hiểu, cũng vẫn chưa chăm chỉ tu hành. Bây giờ tôi đã là pháp sư xuất gia, đàn thành cũng khác so với lúc trước.

Có một câu nói, “chân lý không thay đổi duy nhất trên thế giới này chính là mọi thứ đều đang thay đổi”, chân lý này ít khi chúng ta để nó ở trong tâm, nhưng thật ra Phật thường xuyên nói với chúng ta phải nhớ về vô thường, như thế mới hiểu rằng đừng bám chấp, có thể xả bỏ tất cả mọi thứ. Vô thường này rất hay, dạy ta rằng thân làm người tu hành, là đệ tử Phật thì phải thường xuyên đặt vô thường ở trong tâm thì sẽ biết nắm lấy thời gian để tu hành cho tốt. Nói đến chữ “thường” trong vô thường này, đây cũng chính là pháp hiệu của Thượng sư Thích Liên Hoa Thường Trí, đã cho tôi rất nhiều gợi ý, có thường thì sẽ có vô thường.

Sư Tôn từng khai thị, nhắc đến Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Bảo Trang Nghiêm Kinh, A La Hán Tôn giả Xá Lợi Phất trí huệ đệ nhất cùng Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát đi đến Phật quốc, có đất nước lửa gió hóa hiện ra quốc thổ, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát hỏi Xá Lợi Phất có cảm nhận gì, Xá Lợi Phất nói Phật quang biến chiếu. Ngài hỏi ngược lại Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát trong mắt nhìn thấy cái gì, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nói “hư không”. Chỉ có hư không mới là vĩnh hằng bất biến! Còn tất cả mọi thứ của thế gian đều đang ở trong dòng chảy của thành-trụ-hoại-không, vì thế, Phật nói vạn vật đều không có tự tính, cũng không vĩnh cửu.

Ngoài ra, thế giới mà A La Hán và Bồ Tát nhìn thấy cũng có sự khác biệt, cũng có khả năng là Xá Lợi Phất từ bi giúp chúng sinh hỏi Văn Thù nói ra hai chữ “hư không” quan trọng này, nhưng từ trong việc này, tôi nghiệm thấy tất cả cảnh giới Phật chỉ có Phật và Phật biết với nhau, cảnh giới Bồ Tát chỉ có Bồ Tát mới biết, sáu pháp giới khác thì càng không phải nói. Vì thế, đệ tử Phật chúng ta tu hành phải lấy việc thành Phật là mục tiêu cao thượng!

Bản thân tôi rất thích tượng Phật và thangka, tượng Phật ở Chân Độ Lôi Tạng Tự đều rất trang nghiêm. Theo tôi được biết, rất nhiều bức tượng là do Thượng sư Thường Trí đặt làm ở Nepal, cũng có bức là do Thượng sư Thích Liên Hoa Thường Nhân ở Trung Quốc đặt làm. Việc này cũng rất thù thắng, nhất là tôi đặc biệt thích bức thangka Ngũ Phương Phật ở phía sau lò Hộ Ma, nhìn thấy bức thangka này là tôi nghĩ đến nói với mọi người về ngũ trí. Tu hành Hiển giáo và Mật giáo có rất nhiều cái khác nhau, tu hành Hiển giáo thì tất cả Phật Bồ Tát đều ở trên đàn thành, cách chúng ta tương đối xa, mỗi khi có việc gì mới nghĩ đến Phật Bồ Tát, khi không có việc gì thì giống như phàm phu. Mật giáo không phải là cầu thần hỏi Phật thông thường, mà phải thông qua sự huân tu Phật pháp, phương pháp tu hành có thứ tự, có một ngày phải chứng minh mình chính là Phật!

Mật giáo nói Phật có năm trí, lấy Ngũ Phương Phật để đại diện, Đại Nhật Như Lai là Pháp giới thể tính trí, A Di Đà Phật là Diệu quan sát trí, Bất Không Thành Tựu Phật là Thành sở tác trí, A Súc Phật là Đại viên kính trí, Bảo Sinh Phật là Bình đẳng tính trí. 

Phật giáo có rất nhiều thuyết pháp, trong đó lấy Duy thức học mà Vô Trước Bồ Tát nói, ngài cho rằng ngũ trí của Phật là từ tám thức chuyển hóa thành mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, mạt-na, thức thứ tám a-lại-da, thậm chí còn có thức thứ chín.

Còn Trung quán của Long Thụ Bồ Tát cho rằng ngũ trí là từ ngũ uẩn - sắc thọ tưởng hành thức, trực tiếp chuyển hóa, nhưng Sư Tôn từng nói, học thuyết Duy thức và Trung quán không giống nhau, nhưng đạo lý đều rất sâu, đến cuối cùng cũng sẽ thông nhau, bất kể thế nào, chúng ta kỳ vọng rằng chúng ta tu hành đều có thể chuyển thức thành trí.

Trước kia khi tôi mới xuất gia, tại Đài Loan Lôi Tạng Tự tham gia pháp hội của Sư Tôn, trên đơn báo danh tôi đã điền là hồi hướng nghiệp chướng tiêu trừ, tu trì tinh tấn, chuyển thức thành trí. Bên cạnh có một tình nguyện viên nói với tôi: “Pháp sư, thầy không thể viết chuyển thức thành trí, từ này chỉ dùng với người âm thôi.” Khi ấy tôi rất bối rối, không biết vì sao cô ấy lại giải thích như vậy. Theo cách hiểu của tôi, bất kể hữu hình hay vô hình đều là chúng sinh, chỉ cần là chúng sinh thì đều phải chuyển thức thành trí, đây là ý nghĩa lớn nhất mà chúng ta tu hành! Tôi nghĩ điều này giống với ý nghĩa cơ bản khi chúng ta làm hội nghị bái Lương Hoàng Bảo Sám, kinh văn nhắc đến rất nhiều oán hận đều là do nghiệp chướng vô minh và tập khí tích lũy nhiều kiếp của chúng ta, đời người có đủ loại tạo tác từ đó sinh ra nghiệp chướng, liên tục lưu chuyển. Dùng giới định huệ huân tu, thông qua tất cả kinh luật luận để tu học, triệt để từ tiềm thức chuyển hóa đến ý thức sâu nhất, đến cuối cùng thì toàn bộ đều chuyển hóa thành ngũ trí của Ngũ Phật, sau cùng trở về với Pháp giới thể tính trí, cũng tức là một trí. Ngũ trí của Phật trong thế giới Ta Bà vận dụng trí huệ vi diệu để độ chúng sinh thì sẽ rất viên mãn.

Lương Hoàng Bảo Sám là do Lương Vũ Đế làm cho Hoàng Hậu. Khi ấy, thiền sư Chí Công được mời làm pháp bản. Quyển sám có kinh Pháp Hoa, kinh Hoa Nghiêm, kinh Lăng Nghiêm, rất nhiều kinh điển kết tập lại trong đó mà thành quyển sám. Giới Phật giáo có rất nhiều quyển sám, có Di Đà Sám, Đại Bi Bảo Sám, Dược Sư Sám, Quan Âm Sám, Chân Phật Bảo Sám của Chân Phật Tông, v.v… Quyển sám thật ra cũng là một nghi quỹ tu hành. Nghi quỹ Mật giáo phân thành Tiền hành, Chính hành, Hậu hành. Trong tu pháp, Chính hành là quan trọng nhất, Tiền hành là xây nền móng cho Chính hành, hồi hướng của Hậu hành cũng là sự nâng cao của Chính hành.

Phương pháp tu hành đặc thù của Mật giáo là lợi dụng tam nghiệp thân, khẩu, ý chuyển thành tam mật, thật ra cũng chính là phải chuyển thức thành trí. Sư Tôn dạy rằng giá trị cốt lõi của tu hành chính là du già tương ứng. Trong nghi quỹ thông thường có thủ ấn, tâm chú, quán tưởng Bổn tôn, còn Lương Hoàng Bảo Sám cũng có nghi quỹ của nó, dùng thân khẩu ý của chúng ta dung nhập vào trong bài văn sám thì sẽ sinh ra sức mạnh. Niệm Phật hiệu xem như là Bổn tôn, kinh văn chính là chú ngữ. Trong khi niệm kinh văn sẽ phát khởi tâm sám hối, tâm từ bi, tâm bồ đề dung nhập bái sám. Người bình thường niệm kinh bị kinh chuyển, không phải chuyển kinh. Cho nên chúng ta hôm nay là hành giả có trí huệ, phải dốc sức mà làm. Trước khi nhập sám phải buông bỏ vạn duyên, loại bỏ ngoại duyên thì mới có thể thu tâm về.

Thật ra tôi đang hỏi mình một vài câu hỏi, phải chia sẻ với mọi người cái gì đây? Trước tiên nói về cái đầu tiên, thế nào mới là thân, khẩu, ý thanh tịnh. Khi bái thì thanh tịnh, bái xong lại trở về như ban đầu, thế thì nghiệp chướng của chúng ta khi nào mới có thể tiêu trừ, bái xong thì nghiệp chướng không còn sao? Bái sám chỉ là cầu tâm an sao? Rồi khi nào có việc thì mới dâng hương bái Phật, không cần làm gì cả, cũng không cần lo lắng, chẳng khác gì giao hết cho Phật Bồ Tát. Thế thì phiền não cũng không giải quyết, chỉ biết cầu vợ, tiền, con, lộc, thọ mới bái Phật. Cũng có thể cho rằng niệm rất nhiều câu Phật hiệu là có thể thành Phật, thế thì niệm Phật kệ cũng có thể thành Phật sao?

Nếu nói thiền định có thể thành Phật, thế thì hòn đá cũng có thể thành Phật sao? Đương nhiên hòn đá không đại diện cho nghĩa chân thực của thiền định. Ở đây chắc chắn có chỗ đặc biệt, mọi người suy ngẫm thử xem.

Dùng thiền định thậm thâm mới có thể loại bỏ hạt giống nghiệp chướng tập tính, vì đã được giấu rất sâu, phải rất tĩnh lặng mới có thể nhận thức được.

Đương nhiên chúng ta phải dùng tâm để trì kinh chú, cũng phải tu thiền định, thông qua tự lực, lực truyền thừa của Sư Tôn, dùng sức mạnh tính Không của Bách tự minh chú, mới có thể tiêu trừ nghiệp chướng. Thật ra quan trọng nhất là đừng tạo lại nghiệp quá khứ, sau này cũng đừng tạo nghiệp thì mới có thể thật sự gìn giữ được ánh sáng trong tâm.

Vấn đề thứ hai là nghiệm được tiếng tụng kinh có thể đem đến cho chúng ta sự cộng hưởng, sự phối hợp của Thượng sư Thích Liên Dạng, Thượng sư Thích Liên Cữu khiến chúng ta có một cảm nhận khác nhau, âm điệu cũng rất quan trọng. Vì sao có đôi khi dùng điệu bi thương, thật ra âm nhạc sẽ ảnh hưởng đến thần thức của chúng ta, thúc đẩy tâm sám hối của chúng ta. Tôi học piano từ tiểu học, ban đầu thầy giáo nói khi tôi chơi chẳng có cảm xúc, nhất định phải đánh có cảm xúc. Tôi nhớ khi ấy tôi chơi một bài nhạc nói về khinh khí cầu, phải tưởng tượng khinh khí cầu bay như thế nào, bay đến đâu, tưởng tượng những cảnh tượng liên quan rồi mới bắt đầu chơi, thế là có cảm nhận khác. Tiếng tụng kinh quán tưởng có hiệu quả tương tự như vậy, bất kể là việc gì, đặc biệt là tu hành, nhất định phải dùng tâm thậm thâm, không phải tâm thô ráp, thì mới có thể nghiệm ra được Phật pháp chân chính.

Thượng sư Liên Cữu chia sẻ việc sáng tác âm nhạc của thầy ấy, đều có điểm tương tự, phối nhạc cũng phải có âm điệu của tức-tăng-hoài-tru khác nhau, có vui vẻ, có kích động, có một tình cảm có sức mạnh. Mọi người thử nghĩ xem vì sao họ có thể hát có tình cảm?

Thứ ba, Thượng sư Thích Liên Dạng ở Indonesia (Đại Giác Đường) khi cử hành pháp hội, bày đàn pháp vô cùng trang nghiêm, mỗi gói đều có cúng phẩm khác nhau, ý nghĩa khác nhau. Cúng dường lớn nhất trong thời gian bái sám là khi niệm kinh văn biết rằng mình thật sự phạm lỗi, cảm tạ Căn bản Thượng sư, Phật Bồ Tát gia trì, các Thượng sư dẫn dắt khiến chúng ta ý thức được sai lầm của mình mà sinh khởi tâm sám hối, đây mới là cúng dường tốt nhất. Kim Cang Tâm Bồ Tát và Sư Tôn nói, trong pháp sám hối, cúng dường quan trọng nhất là cúng dường tự tính thanh tịnh, sự khác nhau giữa hiểu ra và thực tiễn là khi bạn hiểu vì sao sai lầm, biết đem sai lầm đó, dùng kinh chú để bù đắp gia trì trên người mình, dùng ý niệm thanh tịnh để nói ra sai lầm đó, phóng đại nó thật lớn đến hư không, mới là cúng dường quan trọng nhất. Rất nhiều sự việc cần tìm nguyên nhân từ chính mình, không phải chỉ cầu sự gia trì của Phật Bồ Tát.

Thời gian tu hành có Căn bản Thượng sư, Phật Bồ Tát, thiện tri thức hướng dẫn, chúng ta có chỗ nào sai sót có thể sửa chữa, rồi chân thành hồi hướng Thượng sư, Phật Bồ Tát, Hộ Pháp thường xuyên ở bên cạnh chúng ta.

Đồng môn ở Chân Độ rất có phúc phận, có đạo tràng trang nghiêm như thế này, có Thượng sư Thích Liên Thanh thường trụ, có tiền, có bạn, có pháp, có địa điểm, là một nhóm đồng môn rất may mắn. Hy vọng các bạn có thể trân trọng Tam Bảo Phật pháp tăng.

Khi ở Thụy Điển, tôi nhắc đến ý nghĩa hai chữ Tu Đức của Tu Đức Đường. Tại đây, tôi nghiệm thấy hai chữ Chân Độ là “khi mê thầy độ, khi ngộ tự độ”. Khi mê thì nương nhờ sư phụ, khi ngộ thì dựa vào đạo lý mà tu hành, đây mới là thực độ. Chữ Chân của Chân Phật Tông là tịnh thổ thật, truyền thừa thật, mật pháp thật, thật cũng là đặc tính của Liên Hoa Đồng Tử. Chân và Độ hợp lại thì vô cùng viên mãn. Tại đây xin chúc phúc mọi người, mỗi người tu hành đều có thành tựu, có thể đến Ma Ha Song Liên Trì. Om mani padme hum!

---
# File: tinh-tuyen/ts-lien-anh-khai-thi-tai-hoi-cung-dai-luc-kim-cang-112024.md
# Title: TS Liên Anh: Khai thị tại hội cúng Đại Lực Kim Cang 11.2024
---

![image](/img/img_1ea196ca86eef63c24e0d95b013bfac3.jpg)



## TS Liên Anh khai thị tại hội cúng Đại Lực Kim Cang


Giảng pháp: Thượng sư Liên Anh
Thời gian: 11.2025
Địa điểm: Pháp Hoa Đường - Đài Loan
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Đảnh lễ Căn bản Thượng sư, đảnh lễ chủ tôn pháp hội hội cúng Đại Lực Kim Cang, đảnh lễ đàn thành Tam Bảo.
Thượng sư Liên Dạng tôn kính! Xin chào pháp sư Liên Thù, giảng sư Dư Phỉ, tất cả các vị khách quý và mọi người, A Di Đà Phật.

Tôi phát hiện ra rằng cá nhân tôi không thích hợp khai thị sau người khác [trước đó là bài khai thị của Thượng sư Liên Dạng], bởi vì [nghe người khác khai thị xong], tôi sẽ có rất nhiều tâm đắc và cảm tưởng. Sau khi nghe thầy ấy giảng xong thì tôi quên luôn ban đầu tôi muốn giảng cái gì. 

Mọi người có nghe được trọng điểm trong bài khai thị của thầy ấy không? Thượng sư nói rằng tiếng Trung của thầy ấy không tốt, nhưng thực tế là từng chữ đi vào tâm. Cho nên, một người muốn truyền đạt Phật pháp, bạn nói rằng ngôn ngữ có thể là một loại công cụ, nhưng đó không phải là thứ quan trọng nhất. Một người có thể có chỉ số IQ rất cao, nhưng đây không phải là thứ quan trọng nhất. Người đó có thể thu hút chúng sinh quy y Phật, quy y bất kì pháp môn nào, thì phải sử dụng đồng thời từ bi, trí huệ, phương tiện.

Sở dĩ tôi có thể cùng với Thượng sư Liên Dạng đi nhiều nơi hoằng pháp, thầy ấy cứ luôn nói rằng thầy ấy học tập tôi, thật ra là thầy ấy quá khiêm tốn rồi, tôi còn học tập được nhiều hơn từ thầy ấy. Người khiêm tốn đều không nói rằng mình có năng lực, nhưng người đó thật sự rất nỗ lực, nếu không thì đã chẳng có một Đại Giác Đường trang nghiêm như vậy. Cho nên chúng ta vỗ tay cổ vũ cho sự chân thành và nỗ lực của thầy ấy.

Hôm nay tôi chia sẻ với mọi người đơn giản thôi. Trước tiên cảm ơn Sư Tôn đã gia trì, bởi vì Sư Tôn truyền pháp này [Đại Lực Kim Cang] cho nên hôm nay chúng ta mới có duyên phận ngồi ở đây. Tiếp theo tôi phải cảm ơn Thượng sư Liên Dạng từ xa đến đây “phóng quang”. 

Nói đến “phóng quang”, tôi kể một chuyện ngoài lề. Buổi pháp hội đầu tiên sau khi tôi được phong Thượng sư là pháp hội Câu Tài Thiên Nữ, khi sắp xếp phòng nghỉ ngơi của Thượng sư, bên cạnh phòng tôi là Thượng sư Liên Thanh trụ trì Chân Độ Lôi Tạng Tự ở Anh Quốc. Khi nhìn thấy Thượng sư thì tôi nói rằng mời Thượng sư lúc nào rảnh đến Pháp Hoa Đường “phóng quang”. Bình thường chúng ta thường lịch sự nói “À ok, A Di Đà Phật, cảm ơn các bạn đã mời!” Kiểu vậy. Nhưng bạn có biết Thượng sư nói với tôi thế nào không? “Tôi không biết phóng quang!”. Đương nhiên lúc ấy tôi rất bối rối, không biết phải nói gì tiếp. Nhưng một số người thật sự là như vậy, nghĩ gì thì nói đây, đây chính là sự thật lòng của họ. Nhưng tôi đã học câu nói này, khi thầy Liên Dạng nói mời tôi đến phóng quang, tôi nói tôi không biết phóng quang, nhưng thật ra, như thế nào thì có thể phóng quang? Buông bỏ thì bạn có thể phóng quang, giống như thầy Liên Dạng nói về sự buông bỏ. 

Vì sao buông bỏ thì bạn có thể phóng quang? Khi tâm bạn không còn tạp chất thì bạn mới có thể tỏa sáng. Thế nên bình thường chúng ta đừng cho rằng mỗi Thượng sư đều có thể phóng quang, chỉ có là cạo đầu rất sạch thì có thể phản quang thôi chứ không phải là phóng quang. Thượng sư, pháp sư, giảng sư, trợ giảng, bất kể chức vụ, bất kể bạn có danh hiệu gì, bạn có thể nhập mandala, bạn có thể nhập tâm thì bạn sẽ có thể phóng quang. Đây là một điểm quan trọng.

Ngoài ra, thầy Liên Dạng nói về buông bỏ, tôi xin biểu diễn một hành động cho mọi người xem. [Thượng sư cầm lên một chai nước suối.] Chai nước này nặng chừng nào, ai có thể trả lời được? Có người nói 600g. Cho dù nó nặng chừng nào thì cũng phải xem bạn cầm nó được bao lâu. Hôm nay tôi cầm nó 30 giây, thân thể bạn sẽ cảm nhận được sức nặng của 30 giây; tôi cầm 1 phút, tôi cầm 1 giờ, tôi cầm 24 giờ, bạn sẽ có cảm nhận về trọng lượng khác nhau. Đây chính là sức nặng của áp lực của chúng ta. Vì thế khi thầy Liên Dạng nói về buông bỏ, tôi có sự cảm nhận sâu sắc. Bây giờ bạn bỏ chai nước xuống, áp lực của bạn cũng tiêu tan. Bạn cứ mãi giữ chặt lấy phiền não, chướng ngại của bạn, 1 tiếng, 2 tiếng, 10 năm, 20 năm, bạn tích tụ lại trong người mình. Cho nên vì sao phải tu hành? Phật nói hãy buông bỏ phiền não tham sân si của bạn, thật sự là một điểm quan trọng. Cho nên tôi rất cảm ơn Thượng sư Liên Dạng đã nhắc nhở.

Lần này tôi rất cảm ơn các đồng môn nước ngoài đã đến và đồng môn đến từ các nơi trong nước, đúng là lần này đã phá kỷ lục, có 101 người. Tiếp đó cũng phải cảm ơn tất cả những đồng môn tình nguyện viên đã giúp sắp đặt và thu dọn trước và sau pháp hội, vì tôi thường xuyên bận việc ở bên ngoài, cảm ơn cả pháp sư, thật sự mọi người đã giúp đỡ rất nhiều. Nói đến đây cũng phải cảm ơn các công đức chủ, lần này rất nhiều người báo danh làm công đức chủ. Nhìn thì thấy là công đức chủ bỏ tiền ra, nhưng cũng là bỏ tâm lực ra, bạn đã bỏ tâm lực chuyển hóa thành số tiền đó, còn tình nguyện viên bỏ sức, vì thế chúng ta thường nói bỏ tiền bỏ sức. Từ góc độ của Phật pháp thì bỏ tiền bỏ sức là thế nào? Đây chính là sự hộ trì, hộ trì một buổi pháp hội, hộ trì đạo tràng. Làm sao để tương ứng với Hộ pháp? Đó là phải có tâm hộ trì. 

Nguyên tắc tương tự có thể chứng minh. Bạn không có tiền, nhưng bạn có tâm, nếu bạn có sức thì bạn làm tình nguyện, nếu bạn có tiền thì bạn làm bố thí, bất kể thế nào, bạn phải phát tâm hộ trì thì mới có thể tương ứng với Hộ pháp. Lát nữa tôi sẽ nói cụ thể hơn, bây giờ tôi mở đầu như vậy là vì tôi cảm nhận được sâu sắc bất kể là đồng môn từ trong nước hay ngoài nước, từ Bắc chí Nam đến, khi bạn đã đến đây chính là đã có tâm hộ trì, vì thế hãy tự thưởng cho mình một tràng vỗ tay. 

Khi làm pháp hội Đại Lực Kim Cang này, cá nhân tôi có nhiều cảm xúc, vì vào ngày 27/08/2016, cũng là trong pháp hội Đại Lực Kim Cang, tôi đã xuất gia, năm đó tôi 22 tuổi. Ngày hôm đó, năm đó, có Thượng sư biết xem thiên tượng, biết tính bát tự đã nói với tôi, ngày hôm đó thuộc Hỏa, thầy ấy nói cậu là Bất Động Minh Vương chuyển thế, Bất Động Minh Vương cũng là hỏa, thầy ấy nói Hỏa và Hỏa tương ứng. Tôi nói để mọi người biết, ngày hôm nay là ngày Bính Ngọ, tháng Bính Tý, năm Giáp Thìn, cũng là Hỏa. Vì thế nên ba cái Hỏa đi với nhau, đây gọi là tam muội chân hỏa. Vì sao tôi chọn ngày 8/12 để làm pháp hội, vì khi mở cuốn lịch âm ra, hôm nay là ngày trực Phá, cho nên tôi hy vọng tam muội chân hỏa này có thể phá trừ tất cả chướng ngại của năm tới, và tất cả những phiền não lo lắng quá khứ, hiện tại, tương lai của mọi người đều được phá trừ hết. Đây chính là thiên thời, địa lợi, nhân hòa, rất quan trọng.

Hôm nay làm pháp hội Đại Lực Kim Cang, cái đặc sắc của ngài nằm ở chỗ ngài là Thần Giới Luật của truyền thừa, tức là vị Kim Cang Thần về giới luật của truyền thừa, ngài là hóa thân của Liên Hoa Đồng Tử, hóa thân của Tam Vương - ba vị Bổn tôn của Sư Tôn, còn có hóa thân của Đại Lực Thị Giả. Hôm nay tôi nói cho mọi người biết, bình thường mọi người cũng không nghĩ đến nên rất ít người biết. Thật ra ban đầu Địa Tạng Vương Bồ Tát có bảy thị giả chứ không phải sáu, điều này được viết trong cuốn văn tập số 137 của Sư Tôn “Vị khách đến từ hư không”. Có hai tiểu quỷ đánh thức Sư Tôn dậy vào ban đêm, nói rằng “Lão Đại” của chúng tôi muốn mời ngài đến chữa bệnh. Sư Tôn nói ác quỷ ở đâu đến đánh thức tôi dậy thế, sau đó Sư Tôn thần hành đi cùng với hai tiểu quỷ này, thì ra có một người gọi là Hắc Sơn Đại Vương, vị này uống rượu say, đi qua miếu Lữ Tổ, đá đổ lò Thiên Công ở miếu Lữ Tổ, bị tổ sư Lữ Động Tân vẽ một lá “cự sơn phù” dán lên chân ông ta, vì thế ông ta không cử động được. Hắc Sơn Đại Vương đã thỉnh Kim Giáp Thần, mọi người cũng biết là Kim Giáp Thần có sức mạnh vô cùng, đã thỉnh Sơn Thần, thỉnh tất cả chư thiên thần thánh nhưng không ai có thể lấy được lá phù của Lữ Tổ ra, bởi vì trong Đạo gia, Lữ Tổ là Đại La Kim Tiên, không thể coi thường. 

Sư Tôn dùng thiên nhãn để nhìn, thì ra là phù “núi lớn” của Lữ Tổ, bảo sao chẳng ai làm gì được. Hắc Sơn Đại Vương nói, tôi nghe nói Liên Sinh Hoạt Phật pháp lực cao cường, ông giúp tôi thu phù lại. Sư Tôn thu lại nhưng không có một chút động tĩnh gì. Sư Tôn nói, như vậy đi, tôi giúp ông đi xin Lữ Tổ. Hắc Sơn Đại Vương nói tôi không muốn bị mất mặt, không được đi xin xỏ. Sư Tôn nói, vậy thế này đi, Địa Tạng Vương Bồ Tát có mấy thị giả, trong số đó có một thị giả gọi là Đại Lực thị giả có sức mạnh vô cùng, tôi giúp ông đi xin Địa Tạng Vương. Hắc Sơn Đại Vương cũng nói không được, không muốn mất mặt. Tôi chỉ muốn xem Liên Sinh nhà ông có pháp lực gì. Sư Tôn đột nhiên nghĩ đến ngày xưa khi Sư Tôn hạ giáng xuống nhân gian có đến tịnh thổ Thúy Vi. Khi ấy bên cạnh Địa Tạng Vương Bồ Tát thật ra có bảy thị giả, đó là Diễm Ma Quỷ Vương, Đại Lực Quỷ Vương, Trì Bảo Đồng Tử, Đại Từ Thiên Nữ, Bảo Tạng Thiên Nữ, Nhiếp Thiên Quỷ Vương và Tiếu Diện Quỷ Vương, trong đó Đại Lực Quỷ Vương và Tiếu Diện Quỷ Vương là song sinh, cho nên trông rất giống nhau, một vị mặt phẫn nộ, một vị mặt tươi cười, nhưng cả hai vị đều có sức mạnh vô cùng. Địa Tạng Vương Bồ Tát yêu cầu Tiếu Diện Quỷ Vương sống trong ngón cái tay phải của Sư Tôn, vì thế có một hình mặt Quỷ Vương ở trên ngón tay cái của Sư Tôn. 

Vì vậy Sư Tôn nghĩ lại chuyện này, Sư Tôn bèn niệm chú của Tiếu Diện Quỷ Vương, Tiếu Diện Quỷ Vương đã chạy ra, ngài nói, Đại Lực Kim Cang là huynh trưởng của ta, ngài trấn thủ phương Nam, còn bản thân ta là Tiếu Diện Quỷ Vương cũng có sức mạnh vô cùng, ngài [Sư Tôn] đã thỉnh đúng người rồi. Thế là Tiếu Diện Quỷ Vương vung tay ra là đã có thể thu phù về. Cho nên trong chương sách này Sư Tôn nói, ban đầu có bảy vị, thiếu mất một vị còn lại sáu vị, nguyên nhân hiện tại còn sáu vị là như vậy. Sáu thị giả là có nhân duyên, bởi vì trong sáu đạo đều có hóa thân của Địa Tạng Bồ Tát, cho nên sáu thị giả này đã phân ra đi cùng sáu vị Địa Tạng ở sáu đạo để đi độ chúng sinh. Vì thế mỗi vị thị giả đều có trách nhiệm riêng của mình ở trong mỗi đạo. 

Tối hôm qua mẹ tôi kể cho tôi nghe chuyện này. Bà ấy báo danh pháp hội cho con mèo Đệ Đệ của nhà tôi, đã viết là phúc báo tăng trưởng. Đường chủ mới nói con mèo này đã đủ phúc báo rồi, ngày nào cũng ăn đến mức béo mầm rồi, không cần phải tăng trưởng phúc báo nữa, tăng trưởng trí tuệ đi! Thế là mẹ tôi viết trí tuệ tăng trưởng. Thế rồi hôm qua, hôm nay có một nhóm đông người đến nhà tôi, vốn dĩ nó nhìn thấy người là sẽ bỏ chạy, ấy thế mà nay nó lại ngoan ngoãn nằm trên ghế sofa cho mọi người vuốt ve. Mẹ tôi nói đúng là trí tuệ tăng trưởng rồi. Tôi nói cho mọi người biết vì sao, Đại Lực Quỷ Vương chính là Đại Lực Kim Cang, ở trong sáu đạo, ngài chuyên môn phụ trách độ đạo súc sinh. Như vậy ở đây đã tương ứng rồi. Đạo súc sinh có thể độ được không? Được! Mã Đầu Minh Vương cũng là độ súc sinh, Lục Quan Âm cũng phụ trách độ lục đạo chúng sinh. 

Tôi cũng từng kể câu chuyện ngày trước ở Đài Loan Lôi Tạng Tự tôi viết đơn báo danh, tôi viết lời cầu nguyện của mình là “chuyển thức thành trí”. Có một pháp sư nói với tôi: “Chuyển thức thành trí là viết cho người đã chết, cậu còn đang sống sao lại viết cái này!” Tôi không tiện nói với pháp sư đó rằng chả lẽ pháp sư ấy không cần phải chuyển sao. Mỗi người đều phải chuyển, bất kể là bạn ở đạo nào đều cần phải chuyển thức của bạn, bằng không sao lại gọi là thân nghiệp báo luân hồi trong lục đạo chứ? Lấy ví dụ đạo trời thì phải chuyển thức gì thành trí gì? Đó là ở thiên giới sẽ bị quá bám chấp vào phúc báo, phúc báo quá nhiều không thể tu hành, phúc báo quá ít cũng không thể tu hành, đó là vì sao mà Sư Tôn nói con người là thích hợp nhất để tu hành, bởi con người có cả khổ lẫn sướng, và khổ thường là nhiều hơn sướng một chút. Là người bạn sẽ cảm thấy ôi hôm nay đau lưng, hôm nay sếp không thích tôi, hôm nay bạn học ghét tôi, bởi vì khổ nên mới sinh ra suy nghĩ muốn tu hành. Cho nên con người đừng nghĩ rằng khổ là không tốt, khổ là một động lực để bạn thoát khỏi lục đạo, bằng không bạn sẽ không hướng thiện, hướng về trời, hướng về Bồ Tát, hướng về Phật, cái này chính là chuyển thức thành trí. 

Súc sinh có thể thay đổi, điều này đã được chứng minh, thế còn chúng ta làm người có cần phải thay đổi không? Súc sinh đã thay đổi thì con người càng cần phải thay đổi. 

Bổ sung thêm một chút, chúng ta thường nói Đại Lực Kim Cang là hóa thân của năm vị, vừa rồi tôi đã nói. Còn một bí mật nữa, sau khi Sư Tôn truyền pháp Đại Lực Kim Cang từng nói một lần, chỉ có một lần thôi, nhưng tôi nhớ đến tận hôm nay, tôi tìm lại khai thị đó nhưng không tìm được, nhưng tôi nhớ Sư Tôn đã nói rằng Đại Lực Kim Cang cũng là hóa thân của Đại Uy Đức Kim Cang. Bạn hãy nhìn bức tượng Đại Lực Kim Cang của chúng ta, trên đỉnh đầu ngài là ai, chính là A Di Đà Phật. A Di Đà Phật là chủ của Liên Hoa Bộ, giáo lệnh luân của A Di Đà Phật là Đại Uy Đức Kim Cang, trên đỉnh đầu của Đại Lực Kim Cang cũng là A Di Đà Phật, cho nên ngài cũng được hóa ra từ tâm của A Di Đà Phật. Bởi vậy Đại Uy Đức Kim Cang và Đại Lực Kim Cang có mối liên hệ với nhau. 

Còn có một bí mật nữa, Đại Lực Kim Cang và Đại Hắc Thiên Mahakala là anh em, một vị là Mahabala, một vị là Mahakala. Maha là Đại, Bala là Hộ pháp, Kala là thần quản lý quỷ thần, cả hai vị đều quản lý quỷ, hai vị chính là anh em. Tôi kể cho các bạn nghe chuyện này. Hôm qua tôi lái xe từ Đài Trung về nhà, suốt dọc đường tôi đều niệm chú Đại Lực Kim Cang, quán tưởng chính mình biến thành Đại Lực Kim Cang: “Ôm ma-ha-pa-la-ya sô-ha. Ôm ma-ha-pa-la-ya hùm hùm pây.” Có người có thể làm chứng, khi lái xe gần về đến Gia Nghĩa, có một con chim ưng bay đến phía trên xe tôi, để cho tôi nhìn thấy nó một lúc rồi nó chuyển hướng bay đi. Mọi người có nhớ không, vào năm 2016 trong pháp hội Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang ở Trung Chính Kỷ Niệm Đường đã dựng lên mandala Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang. Khi Sư Tôn khai quang, trong hư không có mười con chim ưng bay vòng tròn theo chiều kim đồng hồ, Sư Tôn nói chim ưng chính là hóa thân của Hộ pháp, chính là Bala. Cho nên tôi niệm chú, chim ưng sà xuống, đây là sự tương ứng thứ hai.

Thứ ba, bình thường trước khi làm pháp hội, tôi đều phải làm công khóa, nếu là quán đảnh truyền pháp thì từ lúc làm Thượng sư đến nay tôi từng một lần truyền pháp Hồng Độ Mẫu, nhưng tôi yêu cầu chính mình cho dù đây là làm pháp hội ban phúc nhưng cũng phải cố hết khả năng của mình niệm chú Đại Lực Kim Cang ít nhất là 100.000 biến. Vào buổi tối mà tôi niệm xong, trước đó thì mỗi khi tu pháp tôi đều cầu nguyện, nói rằng trước khi pháp hội diễn ra, mỗi công khóa mà tôi làm được đều hồi hướng cho tất cả thỉnh cầu của những người báo danh pháp hội ngày hôm nay đều có thể hoàn thành. Vào buổi tối khi tôi niệm đủ 100.000 biến, lúc ấy tôi đang ở Đại Giác Đường, buổi đêm tu pháp xong đi ngủ thì mơ thấy tôi đang nằm trên giường, xung quanh có rất nhiều người âm, vô số, họ đưa tay về phía tôi đòi các thứ. Tôi biết là tôi tiêu đời rồi. Vào lúc nguy cấp, tôi chợt nghĩ chẳng phải là tôi sắp làm pháp hội Đại Lực Kim Cang sao, vậy thỉnh Đại Lực Kim Cang thôi. Tôi niệm “Ôm ma-ha-pa-la-ya sô-ha”, bất ngờ quanh giường tôi xuất hiện một cái chụp bảo vệ, người âm không thể nào đi vào được, sau đó lưới ánh sáng đó từ từ mở rộng ra, bao bọc lấy họ, sau đó Đại Lực Kim Cang nói: “Đi theo ta! Vô hình các người đi theo ta!” Thế là khối ánh sáng đó liền bay “vèo” đi đến nơi nào đó. 

Trước pháp hội, Thượng sư phải làm công khóa toàn bộ đều là hồi hướng cho pháp hội, phải chăm chỉ nghiêm túc hồi hướng cho pháp hội, để có thể viên mãn tâm nguyện của mọi người. Đại Lực Kim Cang đến trong giấc mơ của tôi, ngài có thể làm siêu độ, vì thế tôi tin rằng buổi pháp hội này, cho dù là pháp hội cúng dường Hộ pháp, nhưng sức mạnh siêu độ cũng rất lớn. Tôi báo cáo với mọi người như vậy.  

Tiếp theo, Đại Lực Kim Cang là Hộ pháp, rất nhiều người hỏi tôi phải tu Hộ pháp thế nào? Tôi nói sách của Sư Tôn đã viết rõ như vậy rồi, không biết là mọi người có đọc kĩ không, hôm nay tôi nhắc cho mọi người một vài trọng điểm. Rốt cục thì làm thế nào để kết liên minh với Hộ pháp? Trong cuốn văn tập số 108 của Sư Tôn có viết, để kết liên minh với Hộ pháp cần bốn điều, thứ nhất là cúng dường, thứ hai là cầu nguyện, thứ ba là phát tâm, thứ tư là hành trì. Sư Tôn đã đi thẳng vào trọng điểm, nếu chỉ có cầu nguyện và cúng dường, bạn có thể triệu thỉnh Hộ pháp bình thường, là Hộ pháp nhập thế, ví dụ thiên thần, thổ địa thần, những vị này đều thuộc về Hộ pháp bình thường, có thể nói thẳng ra là họ chưa thành tựu, bản thân họ vẫn ở trong lục đạo luân hồi, vì thế nên gọi là Hộ pháp bình thường. Bạn cúng dường họ, cầu nguyện họ là vì sao, bởi vì tính cách của họ gần giống với con người, có người đối tốt với bạn thì bạn hoan hỷ, sẽ có thiện cảm với người đó, nếu họ có khó khăn thì sẽ giúp người đó. Bạn có thể cầu nguyện và cúng dường họ được, như là các vị Ngũ Lộ Tài Thần, binh tướng binh mã, Trung Đàn Nguyên Soái thông thường. Nhưng nếu bạn cúng dường không chu toàn, không cầu nguyện cẩn thận thì không gặp tai e là cũng gặp họa. Bởi vậy Sư Tôn mới nói rằng không thể tùy tiện đi lễ các miếu âm, bởi vì bản thân các vị đó vẫn chưa thành tựu, họ vẫn có tham sân si. Thế nào gọi là cúng dường không chu toàn? Tức là bạn không thỏa mãn đúng mong muốn của họ, tâm của bạn không hợp với tâm của họ, vì sao vậy? Vì tâm của họ vẫn còn tham cầu mà. Sư Tôn đã nói rồi, Phật Bồ Tát chân chính là bạn thích cái gì thì bạn cúng dường cái đó, các ngài sẽ hoan hỷ. Còn thần cõi Dục giới, ví dụ Phạm Thiên, Tài Thần, vì sao bạn nhất định phải cúng dường điệu múa, vì sao phải cúng rượu ngon, còn phải mời gái xinh đến nhảy múa, bởi vì các vị đó có thói quen này. Bởi vậy mọi người phải có chính kiến rất rõ ràng. 

Phát tâm và hành trì, nếu bạn có thêm hai điều này thì bạn có thể thỉnh được Hộ pháp trí huệ đến, tức là Hộ pháp xuất thế gian, ví dụ như là ngũ đại Kim Cang, thập đại Minh Vương, đương nhiên trong đó có bao gồm Đại Lực Kim Cang, và tất cả các vị mà Phật đường chính tín của chúng ta thờ phụng đều là Hộ pháp trí huệ. Thế nào là Hộ pháp trí huệ? Các vị đều là hóa hiện của Bổn tôn, bản thân các vị chính là Phật. Ví dụ Bất Động Minh Vương chính là do Đại Nhật Như Lai hóa ra, Đại Uy Đức Kim Cang là A Di Đà Phật hóa ra cho nên bản tâm của ngài giống như A Di Đà Phật. Phát tâm ở đây là tâm gì? Sư Tôn nói rằng bạn cần kết liên minh với Tam Căn Bản của mình, đây gọi là samaya. Trong 
”Văn Thù Bồ Tát Sở Vấn Kinh” nói samaya chính là sự kết hợp của ba loại bồ đề tâm, bạn phải dùng ba loại bồ đề tâm thì bạn mới có thể tương ứng với Bổn tôn trí huệ. 

Ba loại bồ đề tâm nào? Bạn phải phát nguyện bồ đề, bạn phát nguyện xong và đi làm nó gọi là hành bồ đề, cuối cùng kết hợp nguyện bồ đề và hành bồ đề cùng làm gọi là thắng nghĩa bồ đề, ở đây tức là bạn hiểu được rằng bạn làm mà không vì gì cả, chỉ là làm một cách bền bỉ không gián đoạn, làm mà không oán thán gì, đây chính là “vô báo oán hành” trong “Đạt Ma Lục Hành”. Bạn không tham sẽ có được hồi báo, không tham sẽ có được cái gì đó thì mới làm, làm một cách không oán thán không hối hận mới gọi là samaya. Vì thế, bạn cùng Hộ pháp kết lời thề, không được kiểu ngày hôm nay tôi thích vị này, ngày mai tôi lại thích vị kia. Hôm nay tôi thích cúng dường ngài, ồ nhưng ngài không giúp tôi, tôi không cúng nữa! Hôm nay ngài giúp tôi, ôi, thật đáng yêu quá, tôi thích vị này, ngài chính là Căn bản Hộ pháp của tôi! Một tháng sau, bố ốm, mẹ ốm, oán trời trách đất là Hộ pháp không giúp tôi. Bạn nghĩ là bạn có Hộ pháp sao? Bạn đùa à! Đó không phải là Hộ pháp. Đó là Phật Bồ Tát từ bi nhắc nhở bạn một chút mà thôi, bạn vẫn chưa xứng để gọi là có Hộ pháp. 

Thế nào mới gọi là có Hộ pháp? Bạn đã phát bồ đề tâm chưa? Bạn có biết lời thề của vị Hộ pháp đó không? Bạn có hành trì nguyện lực của ngài không? Sự hành trì thứ tư là luôn ghi nhớ nguyện lực của Hộ pháp của bạn. Ví dụ nguyện lực của Ma Lợi Chi Thiên là hộ trì tất cả chúng sinh, bạn có như vậy không, hãy tự hỏi chính mình đi. Thế còn Đại Lực Kim Cang? Sư Tôn nói khẩu quyết tương ứng với Đại Lực Kim Cang chính là bản thân bạn phải giữ giới, bởi vì ngài là Kim Cang Thần của giới luật. Rất nhiều người có kiểu suy nghĩ viển vông thế này: Tôi đã được quán đảnh Đại Lực Kim Cang, Sư Tôn nói Đại Lực Kim Cang là Kim Cang Thần của giới luật, trên tay cầm phất trần, phẩy một cái là nghiệp chướng đều thanh tịnh rồi. Nói thì là như vậy, nhưng trọng điểm là bạn có thật sự được phất trần của Đại Lực Kim Cang phẩy cho bạn không? Không phải bạn quán tưởng là sẽ có đâu. Bạn có phát tâm sám hối không? 

Còn nhớ hôm ấy tôi đang ở Indonesia, xem truyền phát trực tiếp thấy Sư Tôn ở Seattle phát tặng cho mỗi người một miếng vàng, mọi người đều cảm thấy rất tiếc nuối vì không có mặt ở đó để được nhận vàng, còn tôi lúc đó thì khóc rất nhiều. Trong lòng tôi cảm thấy Sư Tôn đang nói với mọi người rằng trên đời này ngay cả vàng mà thầy cũng có thể từ bỏ, với thế gian này thầy đã chẳng còn hứng thú gì nữa rồi, thầy có thể chuẩn bị ra đi bất kì lúc nào, vậy mà các bạn vẫn còn để ý đến miếng vàng này. Đương nhiên đây cũng là sự ban phúc của Sư Tôn. Điều tôi nghĩ đến là miếng vàng chẳng phải là vĩnh viễn, có một ngày bạn cũng không có được nó. “Miếng vàng” mà Sư Tôn tặng cho tôi là gì? Đó chính là ba chữ “vui lòng, cảm ơn, xin lỗi”. “Vui lòng” là tâm cung kính, “cảm ơn” là tâm biết ơn, “xin lỗi” là tâm hổ thẹn. Hãy dùng ba tâm này để nghĩ về chính mình xem mình có nguyện, hành, thắng nghĩa để đi làm mọi thứ không, bằng không bạn vĩnh viễn không có được sự hộ trì của Hộ pháp, bạn chỉ có được sự trợ giúp tạm thời thôi, trong cuộc đời bạn vẫn sẽ có những lúc nổi lúc chìm, trắc trở éo le, thế rồi bạn lại không hiểu rằng thật ra đây chính là nghiệp lực của bạn đang tạo tác chứ không phải là Hộ pháp không giúp bạn. 

Trước đây khi tôi tu Hộ pháp, ngài nói với tôi một câu: “Con đi về phía trước một bước, ta đi về phía con ba bước.” Tôi đã khóc nức nở, bởi vì ngài còn mong muốn tương ứng với bạn hơn chính cả bản thân bạn. Thế nhưng bạn đã buông bỏ tham sân si của mình chưa? Thật ra ngài còn muốn dựa vào bạn hơn, nhưng nghiệp lực của chính bạn đã khiến bạn bị ngăn trở. Cho nên không phải là các vị không muốn bảo vệ các bạn, mà là nhân quả nghiệp lực của các bạn vẫn còn chuyển vần.

Trọng điểm cuối cùng, vừa rồi nói đến phát tâm. Thật sự muốn liên minh là có khẩu quyết, trong văn tập số 114 của Sư Tôn viết rằng, khi Sư Tôn treo bức thangka Đại Uy Đức Kim Cang tại đầu giường mình, đêm đó ngài đã hiển hiện trong thiền định của Sư Tôn, Sư Tôn đã nói một câu: “Ngài hãy xem tôi như thân mình, nếu tôi thành Phật thì ngài cũng thành Phật. Ngài hãy lấy tôi làm hình của mình, tôi đi đó đi đây thì ngài cũng đi đó đi đây. Tôi ăn gì thì ngài ăn nấy, bảo vệ tôi, đi theo tôi, tất cả ô uế không nhiễm mắc. Cả hai cùng bay lên, cùng độ chúng sinh.” Đây gọi là văn cầu thỉnh kết liên minh của Hộ pháp. Ở đây có ai từng đọc cái này xin giơ tay? [Không ai có mặt tại pháp hội giơ tay.] Điều này chứng tỏ là mọi người đều chưa tu Hộ pháp một cách thực tế. 

Sư Tôn đã nói ra khẩu quyết rồi. “Xin hãy xem tôi như thân mình” là ý gì? Vì sao Mật giáo phải tu thân đàn thành, bởi vì bạn đã không còn là chính bạn, bạn chính là Bổn tôn. Thân thể của ta phải biến thành Hộ pháp. Sư Tôn từng kể rằng Sư Tôn tu Đại Uy Đức Kim Cang đến mức mà khi đi qua cửa, thầy còn phải cúi đầu xuống, bởi vì trên đầu của Đại Uy Đức Kim Cang còn có cái sừng trâu, Sư Tôn đã tu đến mức cảm giác như trên đầu mình cũng có cặp sừng. Hình hài của ta cũng chính là hình hài của Hộ pháp. Ta đi về bên Đông thì Hộ pháp cũng đi về bên Đông, chứ không phải là ngài đi về bên Tây, căn bản bạn và Hộ pháp là một chứ không phải hai. Bởi vậy, hai người đồng hành tức là bạn và Bổn tôn cùng ở bên nhau, cuối cùng hai người sẽ biến thành một người, căn bản vốn là một.

Tôi kể với mọi người chuyện này. Có một trợ giảng ở Malaysia hỏi tôi: “Khi Thượng sư giúp người ta hỏi việc đã lấy Diêu Trì Kim Mẫu làm Bổn tôn.” Đây là Sư Tôn chỉ thị. Trợ giảng nói: “Trong Mật giáo chẳng phải tất cả đều lấy Căn bản Thượng sư làm chủ sao? Vậy Thượng sư lấy Diêu Trì Kim Mẫu làm chủ chẳng phải là đi ngược truyền thừa sao?” Tôi không biết cái logic này của trợ giảng từ đâu mà có, nhưng tôi nói với trợ giảng là, tôi chưa bao giờ cảm thấy Diêu Trì Kim Mẫu và Sư Tôn là hai vị, chính là một. Là chính bạn đã có sự phân biệt này, mỗi một vị về cơ bản đều là sự thị hiện của Căn bản Thượng sư, bạn phải sâu sắc lĩnh ngộ được điều này, mà không chỉ là lĩnh ngộ mà bạn còn phải hành trì, tức là phải làm được chứ không phải chỉ có nói, như thế mới là thật! 

Đoạn văn cầu thỉnh trên bạn nên niệm lúc nào? Thánh đản của Đại Lực Kim Cang là ngày nào? Đó là ngày 18/7 âm lịch, là Thánh đản của Diêu Trì Kim Mẫu, ngày này cũng là Thánh đản của Đại Lực Kim Cang, vào ngày này bạn dâng cúng dường, bạn cầu nguyện ngài, bạn phát tâm, phát tâm rằng bạn sẽ bảo vệ truyền thừa của mình, hành trì là bạn niệm chú của ngài, tu pháp của ngài, niệm bài kệ cúng dường này, phát nguyện, đây chính là kết liên minh với ngài. Mỗi khi chúng ta mua nhà, mua xe chẳng phải đều có ký một khế ước sao, thế nào gọi là khế ước? Đó là tôi và anh đều tình nguyện, bình đẳng tôn trọng. Làm được như vậy thì bạn mới có được sự bảo vệ của Hộ pháp. 

Mong rằng sau buổi hôm nay, mọi người sẽ hiểu sâu sắc làm sao để tu Hộ pháp, chứ không phải là cứ lập là lập lờ, lúc này lúc nọ. Người ta nói với bạn một câu: “Ôi dào, Chân Phật Tông chẳng có tí hiệu quả nào! Anh xem, cúng nhiều như thế, vậy mà vẫn xảy ra chuyện này chuyện kia…” Bạn cần phải biết đó là nhân quả nghiệp lực của bạn chứ không phải là Phật Bồ Tát không giúp đỡ. 

Tôi đọc được một bài viết trên mạng, người này trong cả cuộc đời tin theo Jesus Christ, tin tưởng sâu sắc, cảm thấy Thánh ân quảng đại. Nhưng càng về cuối đời thì cuộc đời ông ấy càng xuống dốc, ông ấy đến nhà thờ quỳ trước Jesus và khóc, nói rằng vì sao Chúa không giúp con, chẳng phải Chúa luôn nói là ở cùng con sao, nói rằng Chúa yêu thế nhân sao, vậy thì Chúa cũng phải yêu con chứ, Chúa bỏ đi đâu mất rồi?… Khóc xong, ông ấy đi dạo trên bãi cát, ánh nắng mặt trời chiếu lên bãi cát, ông ấy nhìn thấy chính mình ở trên bãi cát, ở trên vai ông không ngờ có một cái bóng. Đây là Chúa Jesus muốn nói với ông ấy rằng ta vẫn luôn ở ngay trên vai ông, chỉ là ông không nhìn thấy tôi mà thôi.

Những gì bạn mất đi chính là do cái nhân mà bạn đã trồng từ kiếp trước, những gì bạn có được cũng chính là do cái nhân bạn đã trồng từ kiếp trước, đó vẫn chính là bạn. Bất kể là bạn mất hay được, Chúa vẫn ở cùng bạn, đây mới là tình yêu mà Chúa dành cho bạn. Vì thế xin mọi người hãy ghi nhớ thế nào là tình yêu. Tình yêu là vĩnh hằng, không phải là tạm thời. Cho nên xin bạn hãy ký khế ước với Hộ pháp. Thời hạn cho vay mua nhà của chúng ta thông thường là 30 năm, nhưng bạn ký khế ước với Hộ pháp thì đừng ký ngắn hạn như vậy, hãy là đời này, đời sau, vĩnh viễn đều phải kết liên minh. Om mani padme hum.

---
# File: tinh-tuyen/ts-lien-anh-khai-thi-tinh-yeu-ve-bat-dong-minh-vuong.md
# Title: TS Liên Anh: Khai thị tinh yếu về Bất Động Minh Vương
---

🌟 Thượng sư Liên Anh giảng sự vĩ đại của Bất Động Minh Vương (P2)

⛩️ Sư Thành Lôi Tạng Tự - Singapore | 06.12.2025


---



![image](/img/img_08bed22ae1196c396827e9b8b60baca9.jpg)


Vị Bất Động Minh Vương này, tất nhiên mọi người đều đã quen thuộc, thường xuyên nghe đến, khắp nơi đều có hình bóng của Bất Động Minh Vương. Hôm nay tôi sẽ nói từ nhiều khía cạnh, từ kinh điển, từ lịch sử, từ pháp nghĩa, từ góc độ tu pháp để nói với mọi người.

Trước hết, mọi người đều biết, điều thường nghe nhất chính là Bất Động Minh Vương là hóa thân của Đại Nhật Như Lai, nhưng thực ra, trong các kinh điển mà Phật thuyết, nhắc đến nhiều lần nhất thực ra là Thích Ca Mâu Ni Phật hóa thành Bất Động Minh Vương. Thế nên nhiều người nói, lạ thật, sao hai cách nói này lại khác nhau? Thực ra không có gì khác biệt.

Hôm qua trong pháp hội tôi đã nói rồi, Đại Nhật Như Lai là Pháp thân, Lô Xá Na Phật là Báo thân, Ứng thân Phật chính là Thích Ca Mâu Ni, vì vậy Đại Nhật Như Lai hóa thành Bất Động Minh Vương cũng được, Thích Ca Mâu Ni Phật biến hiện thành Bất Động Minh Vương cũng được, đều có nguồn gốc của nó. Mục đích xuất hiện của Ngài chỉ có một, chính là Giáo lệnh luân, Ngài đang thi hành giáo lệnh của Phật Đà. Vì vậy truyền thuyết sớm nhất, trong hư không, tôi nói về hư không trước, truyền thừa trong hư không Ngài xuất hiện như thế nào?

Xuất hiện sớm nhất là, có một bộ kinh gọi là "Phật Thuyết Tam Samaya Bất Động Tôn Thánh Giả Niệm Tụng Bí Mật Pháp", trong đó nói đến một việc, việc này rất chấn động, xin mọi người chú ý lắng nghe. Mọi người đã nghe câu chuyện về Uế Tích Kim Cang chưa? Chính là khi Thích Ca Mâu Ni Phật sắp nhập Niết Bàn, có hai cách nói, một là Ngài gọi Ma Hê Thủ La Thiên, chính là Đại Tự Tại Thiên - Thiên Ma của tầng trời thứ sáu cao nhất trong Dục giới đến. Cách nói thứ hai là gọi Loa Kế Phạm Vương, đã từng nghe chưa? Hắn không chịu đến trước mặt Phật Đà để đảnh lễ, thậm chí không thỉnh Phật trụ thế, kinh điển có nói như vậy. Ma Hê Thủ La - chủ tam thiên thế giới, có tâm kiêu mạn, không chịu khuất phục trước sự sai khiến, triệu gọi của chư Phật, thậm chí Phật Đà ban đầu cử vị Trì Minh Chú Tiên, chính là những vị tu tập trì chú, những vị tiên nhân có thể bay trong không trung này đến, muốn mời hắn đến. Ma Hê Thủ La biết rằng, những vị Trì Minh Tiên này sợ nhất chính là uế vật, chính là tiểu tiện, đại tiện, máu chó, rất nhiều thứ ô uế. Sau khi Thích Ca Mâu Ni Phật biết, kinh điển nói, Ngài sắc lệnh Bất Động Minh Vương hiển hiện, Bất Động Minh Vương thừa sắc lệnh Phật, thừa mệnh lệnh của Phật, Ngài hóa thành Bất Tịnh Kim Cang, còn gọi là Thọ Xúc Kim Cang. Nói đến đây mọi người còn chưa nhận ra sao? Tôi nói cho bạn biết tiếng Phạn này gọi là gì? Ucchuṣma, là ai? Uế Tích Kim Cang!

Uế Tích Kim Cang chính là do Bất Động Minh Vương hóa hiện! Đây không phải tôi nói, mà trong kinh điển có nói! Vì vậy là Bất Động Minh Vương hiển hiện, Ngài chuyên môn đến để hàng phục tâm kiêu mạn của Đại Tự Tại Thiên này, bắt hắn lại. Quả thực, vị Bất Tịnh Kim Cang này chạy đến trước mặt Ma Hê Thủ La, lập tức nắm đầu hắn mang đến trước mặt Phật, nhưng, bạn nghĩ hắn cam tâm chịu đựng sao? Không đâu! Hắn vốn là chủ của sự kiêu mạn mà! Vì vậy trong kinh điển nói, hắn trốn bảy lần, liên tục trốn rồi bị bắt về, trốn rồi bị bắt về. Sau đó, Bất Động Minh Vương này nói với Phật Đà, như vậy có nên “xử đẹp” không? Tất nhiên không phải nói theo kiểu “chợ búa” như vậy. Ngài nói: Có nên xử lý gì không?

Phật nói: Được thôi! Nên làm như thế nào, xin hãy chặt đứt huệ mệnh của hắn. Vì vậy Bất Động Minh Vương hiển hiện tướng uy nộ, đặt chân phải đạp lên đỉnh đầu Đại Tự Tại Thiên, chân trái đạp lên đỉnh đầu Đại Tự Tại Thiên Phi, giẫm một cái, đây gọi là bẹp dí, rồi chết luôn. Pháp này trong Mật giáo gọi là Sát độ pháp [pháp giết để độ], rất cứng rắn. Bạn tưởng họ chết rồi là hết chuyện? Thực ra khi Ngài đạp xuống, trong kinh điển nói, một khi đoạn huệ mệnh của họ, hai vị Thiên Ma và Thiên Phi này lập tức chuyển thế, chuyển thế trở thành các thiên thần nguyện hộ trì Phật giáo, sau đó, Bất Động Minh Vương báo cáo với Thích Ca Mâu Ni Phật, tiếp theo nên làm như thế nào?

Thích Ca Mâu Ni Phật nói: Ngài có thể khiến họ tỉnh lại, trở lại hộ trì Phật pháp. Vì vậy, Bất Động Minh Vương trì tụng một chân ngôn, chính là "pháp giới sinh chân ngôn", sau đó, họ lại tỉnh lại. Tất nhiên, thiên thần có rất nhiều hóa thân, họ cũng có thể ở trên trời, cũng có thể ở nhân gian; tóm lại, sau khi trải qua việc này, Thiên Ma đã quy thuận Phật giáo.


![image](/img/img_2accb9cea86bdb5bef75da377c7a6578.jpg)


Còn có một trọng điểm, trong kinh điển có nói, hai vị trời này, Đại Tự Tại Thiên và Thiên Phi, được Phật ngay lập tức thọ ký thành Nhật Nguyệt Thắng Như Lai. Ngài được gọi là Nhật Nguyệt Thắng Như Lai là vì sao? Bởi vì bạn nhìn vào thangka, trên đỉnh đầu của Đại Tự Tại Thiên và trên đỉnh đầu của Thiên Phi của Ngài, đều có một mặt trăng hình bán nguyệt, đây là biểu tượng của các Ngài, cũng là căn mệnh của các Ngài. Khi các Ngài chưa thành tựu, các Ngài lấy mặt trời mặt trăng này làm trang trí trên đỉnh đầu. Sau khi Phật Đà thọ ký cho Ngài, Phật Đà cho rằng tương lai Ngài vẫn có nhân duyên độ hóa chúng sinh, nên thọ ký Ngài trở thành Như Lai, dùng hai biểu tượng mặt trời và mặt trăng.

Trọng điểm tiếp theo, sau khi người đứng đầu của họ đã bị Bất Động Minh Vương hàng phục, tất cả thiên ma và quyến thuộc đều sinh ra một tâm niệm, họ nghĩ: anh cả của chúng ta đã bị hàng phục rồi, chúng ta tu hành còn yếu hơn, còn có năng lực gì để chống cự? Vì vậy sinh khởi tâm kính sợ và quy thuận, quy y pháp giới, đảnh lễ dưới chân Phật. Sau sự việc này, Đại Tự Tại Thiên hỏi Phật Đà: Bất Động Minh Vương này là ai? Ngài trông rất giống dạ xoa, tướng hung mãnh, lùn lùn mập mập xấu xấu, Ngài rốt cuộc là ai?

Phật nói: Ngươi đừng xem thường Bất Động Minh Vương và Bất Tịnh Kim Cang, các Ngài tuy trông hung ác nhưng thực chất là chủ của chư Phật, tại sao lại nói như vậy? Từ đâu mà biết được? Xin kể cho mọi người một kinh điển khác, một bộ kinh khác có tên là "Kim Cương Thủ Quang Minh Quán Đảnh Kinh Tối Thắng Lập Ấn Thánh Vô Động Tôn Đại Uy Nộ Vương Niệm Tụng Nghi Quỹ", trong kinh này có một câu chuyện về Bồ Tát Kim Cương Thủ, chính là bộ chủ Mật Tập Kim Cang. Có một ngày Ngài nhập vào một thiền định, gọi là "kim cương xí thịnh quang minh Tam ma địa", toàn bộ thế giới hư không hiện ra ngọn lửa lớn đốt cháy tất cả ma chướng, sau đó chính Ngài đột nhiên bị đánh thức! Sau khi tỉnh lại, nhiều người hỏi Bồ Tát Kim Cương Thủ rốt cuộc chuyện gì đã xảy ra? Tại sao hiện ra sáu chấn động lớn như vậy.

Bồ Tát Kim Cương Thủ vừa xuất định, cũng không biết chuyện gì đã xảy ra. Ngài liền hỏi Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi trí tuệ đệ nhất chuyện gì đã xảy ra. Văn Thù nói: Ta cũng không biết, chuyện này chỉ có Phật Đà mới biết được. Các Ngài liền đi thỉnh giáo Phật Đà, Phật Đà nói, ngươi nhập vào thiền định kim cương xí thịnh quang minh Tam ma địa này, là Bất Động Minh Vương Kim Cang Tôn Giả vì hàng phục tất cả các ma mà hiển hiện ra thánh cảnh, sau đó, Phật Đà còn nói với Kim Cương Thủ và Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, không chỉ hiện tại có cảnh tượng như vậy, trong quá khứ, có sáu mươi vạn hằng hà sa chư Phật, khi phá trừ ma chướng, khi bị ma chướng quấy nhiễu, các Ngài chưa thành tựu trước đây đều đã trải qua Tam ma địa này, để hàng phục tất cả ngoại đạo, vì vậy mới có sáu mươi vạn hằng hà sa chư Phật hiện ra như bây giờ, sáu mươi vạn câu chi này, mọi người có nhớ không? Chuẩn Đề Phật Mẫu được gọi là Thất Câu Chi, đây là sáu mươi vạn câu chi.

Vì vậy Phật nói với các đại Bồ Tát và Thiên Long Bát Bộ có mặt tại đó, Ngài nói, Bất Động Minh Vương hộ trì Phật giáo mới khiến tất cả vô số chư Phật hiển hiện, vì vậy Ngài là chủ của chư Phật. Phật nói như vậy đó, ý nghĩa thù thắng, vĩ đại như vậy ở trong đó, đây là truyền thừa trong hư không.

Tại sao cốt lõi của "Phật Thuyết Thánh Bất Động Kinh" là bồ đề tâm của Bất Động Minh Vương?
Đây là điều mọi người thường nghe nhất, nhưng nếu bạn muốn hiểu, thực ra cũng không dễ dàng như vậy. Tuy nhiên, Phật còn giảng một bộ kinh khác có tên là "Phật Thuyết Thánh Bất Động Kinh", tôi sẽ đọc một lần cho mọi người nghe, rất ngắn:
"Phật Thuyết Thánh Bất Động Kinh"
"Bấy giờ đại hội, có một Minh Vương, là Đại Minh Vương, có đại uy lực.
Do đại bi đức, hiện tướng xanh đen. Do đại định đức, ngồi kim cương thạch.
Do đại trí tuệ, hiện đại hỏa diệm. Cầm kiếm đại trí, chém tham sân si.
Cầm thừng tam muội, trói kẻ khó hàng. Pháp thân vô tướng, đồng thể hư không.
Không có chỗ trú, nhưng chỉ trú trong, tâm tưởng chúng sinh.
Ý tưởng chúng sinh, mỗi người mỗi khác.
Tùy theo ý chúng sinh, mà tạo lợi ích, sở cầu viên mãn.
Bấy giờ đại hội, nghe nói kinh này, đều đại hoan hỷ, tín thọ phụng hành."

Chỉ ngắn ngủi như vậy thôi, nhưng tôi nói với mọi người, phần sau mới là cốt lõi, bắt đầu từ đâu?

Pháp thân vô tướng, đồng thể hư không: Ngài đang giảng rằng, pháp thân vô tướng chính là Đại Nhật Như Lai. Sư Tôn thực sự đã từng giảng rồi, có Pháp thân, Báo thân, Ứng thân. Pháp thân là vô hình vô tướng; Báo thân là trang nghiêm nhất, các tượng Phật mà chúng ta nhìn thấy bây giờ đều có thể gọi là tướng Báo thân; Ứng thân chính là Ngài đầu thai xuống nhân gian, có thân xác máu thịt này.

Thực ra căn bản nhất, Ngài là Pháp thân vô tướng, Ngài giống như hư không, không có chỗ trú, không có Ngài cố định ở tại một nơi nào đó. Nhưng trú chúng sinh, Ngài chỉ trú tại nơi chúng sinh cần đến.

Trong tâm tưởng, ý tưởng chúng sinh, mỗi người mỗi khác, nghĩa là gì? Không sai, tâm của chúng sinh, trong "Kinh Địa Tạng" có nói, chúng sinh cõi Diêm Phù Đề, khởi tâm động niệm không gì không là nghiệp, không gì không là tội, mỗi người có căn cơ và nhân duyên khác nhau, điều họ cầu mong cũng khác nhau. Và lúc này, Bất Động Minh Vương trú trong hư không, quan sát nhân duyên chúng sinh mà hiển hiện lợi ích, ban cho bạn điều tốt đẹp, ban cho bạn điều cần thiết, ban cho bạn sự giúp đỡ, khiến cho mong cầu của bạn được viên mãn.

Vì vậy bộ kinh này giảng giải về hình tướng của Ngài, phần sau giảng giải về nguyện lực của Ngài, Ngài đã làm như thế nào? Đoạn sau này chính là bồ đề tâm. Bồ đề tâm thực sự là như vậy, Ngài không chấp trước vào một thứ gì nhất định, Ngài tùy nơi ứng hóa, tùy nhân duyên ứng hóa, biến hóa muôn vàn, Ngài ở tại mọi nơi, vì vậy có người hỏi: Phật Bồ Tát ở đâu? Kim Cang Hộ Pháp ở đâu? Ở trong một niệm của bạn, Ngài mới có thể không có chỗ trú, nhưng trú nơi chúng sinh, hiển hiện trước mặt chúng ta.

Vì vậy, không chỉ trong lửa Hộ Ma, không chỉ trong mandala này, bạn cần Ngài, bạn nhớ nghĩ đến Ngài thì Ngài có mặt, đây chính là thệ nguyện của chư Phật Bồ Tát, đây chính là bồ đề tâm.

Trong Mật giáo có giảng, thực ra bồ đề tâm có ba loại, mọi người có biết không? Có cái gọi là: Nguyện bồ đề, Hành bồ đề, Thắng nghĩa bồ đề. Cái gọi là nguyện, mọi người xem kinh điển vừa rồi đã giảng, Ngài muốn giúp đỡ chúng sinh, nhưng Ngài không chỉ có ý niệm này, Ngài còn tiến thêm một bước nữa để thực hành, chính là tùy ý chúng sinh mà làm lợi ích, sở cầu viên mãn, Ngài cũng đã thực hành điều đó. Cuối cùng thế nào gọi là Thắng nghĩa bồ đề? Ngài không chấp trước vào những điều Ngài làm, Ngài cho rằng đây là điều Ngài nên làm, cuối cùng trở về với tính Không, trú trong hư không, đây mới là bồ đề tâm chân chính.

Vì vậy, ban đầu mọi người biết đấy, khi Tôn giả Atisa tiếp nhận giáo pháp của Đại Sư Kim Châu, vị Căn bản Thượng sư quan trọng nhất của Ngài, Ngài đã học Thất bồ đề tâm, bảy loại bồ đề tâm. Loại thứ nhất gọi là Tri mẫu tâm, nghĩ tất cả chúng sinh như mẹ của mình. Loại thứ hai, vì đều như mẹ, nên bắt đầu sinh ra ân đức, nghĩ đến những ân đức này, sau khi nhớ đến ân thì sao? Phải báo ân. Loại thứ ba gọi là Báo ân tâm, từ báo ân tâm mà biết, không chỉ là mẹ, cũng tức là cha, tức là tất cả chúng sinh là anh em ruột thịt, thân quyến qua muôn đời, từ đó sinh ra từ tâm và bi tâm.

Tiếp theo, có một điều quan trọng, gọi là Tăng thượng ý lạc, thuật ngữ chuyên môn này, có người nói Thượng sư giảng quá khó rồi, có thể nói đơn giản hơn không? Tăng thượng ý lạc, dùng tiếng Anh nói, gọi là motivation - động lực. Sau khi bạn đã đầy đủ tất cả những điều trên như tri ân, niệm ân, báo ân, từ bi hỷ xả, bạn phải khiến cho bản thân sinh ra động cơ mãnh liệt, mạnh mẽ, và tự động sẵn lòng làm điều đó, đây gọi là Tăng thượng ý lạc, cuối cùng mới gọi là Viên mãn bồ đề tâm. Đây là một số hàm nghĩa của bồ đề tâm cần giảng giải cho mọi người nghe.

---
# File: tinh-tuyen/ts-lien-anh-khai-thi-ve-kinh-su-trong-phap-thuc-tu.md
# Title: TS Liên Anh khai thị về Kính sư, Trọng pháp, Thực tu
---

![image](/img/img_1eda0fb6bac29475d5ec540556b5a11e.jpg)


Tuyệt đối đừng ngoài miệng nói một đằng, phía sau lén lút làm một nẻo. Đừng coi kính sư là khẩu hiệu, cũng không cần đem ra làm cột cờ vẫy cờ reo hò, có tâm cung kính hay không thì trong lòng mình tự hiểu rõ. Trên đỉnh đầu bạn có ai ngự? Logic suy nghĩ, phong cách làm việc, cách ăn nói cùng nội dung lời nói của bạn, hoàn toàn có thể phản ánh rốt cuộc bạn có tự mình thực hành sự dạy dỗ qua chính hành động và lời nói của Căn bản Thượng sư đúng như pháp như lẽ vào trong đi đứng nằm ngồi hay không. Điều này với việc có thể nhìn thấy Pháp thân hay không, có cảm ứng, báo mộng, chỉ thị viết tay, chỉ thị bằng lời nói hay không là hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Hai người cùng đi, từng bước noi theo là sự thực tập bước đầu. Tiếp đó hình bóng đi theo nhau, hình bóng không rời là bước nâng cao, nói một cách dễ hiểu thì là: ấm lạnh tự biết, từng chút ghi khắc trong lòng, sáng sáng cùng dậy, đêm đêm cùng ngủ, là một chứ không phải hai. Từ thân, khẩu, đến tâm đều khăng khít hợp nhất là mục tiêu cuối cùng. Đương nhiên pháp nghĩa của sự hợp nhất vượt xa những gì ngôn từ này có thể diễn tả, vì thế chớ nên vội vàng đọc lướt qua rồi thôi. 
Có người phê bình rằng Lư Sư Tôn nói Pháp thân cùng bạn tắm chung thật kỳ quái! Tôi nói, không cùng nhau mới là kỳ quái! Người trong lòng có quỷ nhìn cái gì cũng là quỷ, người trong tâm không sạch sẽ thì nhìn cái gì cũng không sạch sẽ. Kỳ quái là đối lập nhị nguyên, tự nhiên mới là hợp với Đạo!

Sư Tôn nói, người đích thân đến tận nơi tham gia pháp hội sẽ có cơ hội trúng giải đặc biệt! Người không đến, người xem trực tiếp, xem phát lại có cơ hội trúng giải nhì, giải ba, giải nhỏ, đây tuyệt đối không phải là nói cho bạn sợ, nhân quả vốn dĩ vận hành như vậy. Điều này chỉ liên quan đến việc phát tâm như thế nào, nỗ lực hoàn thành quá trình này ra sao mà thôi. 

Đừng nên nói người đến được là vì họ không có chướng ngại, là họ có nhiều thời gian, có nhiều tiền nhàn rỗi, mà nên nghĩ rằng, người có thể đến rất có phúc báo, bởi vì rất nhiều người trong số họ đều đã khắc phục vô vàn khó khăn, trở ngại, đối mặt với rất nhiều lựa chọn, tiến thoái lưỡng nan, vướng phải những vấn đề thực tế, ví dụ như thời gian, ngân sách, áp lực, chỉ là cuối cùng họ đã gạt bỏ muôn vàn khó khăn, hội đủ nhân duyên để đến được pháp hội. Cho nên cần phải tùy hỷ, cần phải tán thán, cần phải tràn ngập pháp hỷ. 

Ngược lại những người không đến pháp hội, đương nhiên không thiếu một số người không coi trọng giáo pháp trân quý như vậy, không hiểu rõ tầm quan trọng, tùy tiện, khinh suất, đây là do họ không đủ phúc báo, tri kiến không đúng, cũng không cần phê bình, bởi vì người tổn thất chính là họ.

Nhưng tôi cho rằng nhiều hơn là vẫn còn rất nhiều đồng môn thiện tín vô cùng muốn đến, vô cùng có tâm, nhưng điều kiện không hội đủ, đành ngồi trước tivi, máy vi tính đúng giờ đón xem trực tiếp thậm chí là phát lại, những vị đại đức này cũng cần được tùy hỷ, tán thán, tràn ngập pháp hỷ.

Bởi vì trọng pháp không nằm ở bề ngoài, mà là sức nặng của giáo pháp này ở trong tâm bạn là nhiều hay ít, tự bạn sẽ biết rõ. Cần khuyến khích họ tiếp tục cố gắng, cần giúp đỡ họ tương lai viên mãn một giấc mơ được gặp Sư Tôn, giấc mơ đến chùa Tổ hành hương, giấc mơ được đích thân nhận quán đảnh. Mỗi người chúng ta đều phải cố gắng hết sức làm Mãn Nguyện Đồng Tử, đây chính là pháp tùy hỷ mà Bạch Độ Mẫu truyền dạy, cũng là pháp tùy hỷ mà tất cả chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, chư thiên tán thán và hộ trì.

Chữ "thực" này thể hiện ở một số phương diện: thứ nhất là thời gian, thứ hai là số lượng, thứ ba là làm theo đúng nghi quỹ, thứ tư là nhớ kỹ khẩu quyết, thứ năm nỗ lực chứng đắc.

Tôi đã thấy quá nhiều ví dụ về những đồng môn nếu không phải là chưa tiếp nhận quán đảnh thanh tịnh thì là không nắm rõ rốt cuộc bản thân mình đã được quán đảnh hay chưa (không có trách nhiệm với bản thân, không nghiêm túc với giáo pháp).

Quán đảnh rồi lại không tu theo nghi quỹ, tự mình thêm mắm dặm muối, vẽ rắn thêm chân, nói bừa là tự có truyền thừa trong hư không hoặc cao linh chỉ đạo. Tự mình sửa đổi nghi quỹ tự mình tạo nghiệp thì thôi đã đành, lại còn đem kinh nghiệm tu hành không thực tế chia sẻ cho người khác, tự cho mình là A-Xà-Lê truyền pháp.

Rất thẳng thắn chia sẻ với mọi người một sự thật, cao linh có cao đến đâu cũng không quan trọng bằng Căn bản Thượng sư‼️ (Trong Mật giáo, có bất kỳ cảm nhận, cảnh giới thiền định và hiển tướng nào, đều còn phải xác nhận với Căn bản Thượng sư, thỉnh cầu chứng nhận và thọ ký.)

Khẩu quyết, trình tự đảo lộn, chỉ biết một mà không biết hai, không đi sâu vào pháp nghĩa, không thấu hiểu nguyên lý, nói một cách đơn giản là không có nghe, ngẫm và tu.

Thế rồi, tu pháp giống như ăn uống vô độ, có cảm nhận thì một ngày tu ba đàn bốn đàn, tự đội cho mình chiếc mũ "tinh tấn"; khi hết cảm giác rồi thì vứt pháp bản vào một xó, đi tìm cảm giác, đợi cảm giác, mong chờ cảm ứng, mong chờ báo mộng, mong chờ những lời khích lệ hoặc ngon ngọt thiếu thực tế đến từ nhân viên hoằng pháp, đồng môn đồng tu, tìm cho mình đủ loại lý do khác nhau để tự an ủi bản thân rằng tôi đang tĩnh dưỡng thân tâm. 

Các vị tổ sư nhấn mạnh, tu hành như cỏ mọc, những cuốn truyện ký về các vị đại Tổ sư như Milarepa, Marpa, Virupa, v.v... mà tôi từng xem qua, đã cho thấy rõ ràng hơn bao giờ hết, sự thực tu của các ngài là nước chảy đá mòn, sự trọng pháp của các ngài là vượt núi băng biển cũng không từ nan, sự kính sư của các ngài là tan xương nát thịt, đồng nguyện đồng hành!

Có rất nhiều người buồn bực, hối hận, oán trời trách người vì không thể đến tham gia pháp hội để được tiếp nhận quán đảnh. Mọi người lại quên mất rằng, họ có thể đã từng thọ nhận pháp lập tức có tiền của Diêu Trì Kim Mẫu, pháp giàu có số một của Thánh Quan Âm, Mật pháp rung cây tiền của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, pháp Ngũ Lộ Tài Thần, pháp Ngũ Tài Thần của Tạng mật, pháp Tài Nguyên Độ Mẫu, pháp Mãn Nguyện Đồng Tử, pháp tăng ích của Liên Hoa Đồng Tử, pháp như ý bảo loa, pháp uy quang như ý, v.v… nhiều kể không xiết. Những Mật pháp Tài Thần này nghe có vẻ rất ngầu và chói lóa, quan trọng nhất là mọi người đừng quên:

Ngay khi bạn quy y là đã được ban cho hai pháp tu trì:

1. Pháp Tứ gia hành Kim Cang Tâm Bồ Tát.

1. Pháp tương ứng Căn bản Thượng sư.

Nếu tôi nói thẳng ra quan niệm này: chỉ cần bạn tu pháp Kim Cang Tâm và Căn bản Thượng sư tương ứng cơ bản nhất, bạn cũng sẽ trở nên giàu to (về cả tâm linh và vật chất), bạn có tin không?? 

Tin hay không tùy bạn, còn cá nhân tôi thì tin! Tin thôi vẫn chưa đủ, còn phải giải, hành, chứng, cứ làm đi thôi. Liên Hoa Đồng Tử muôn năm! Diêu Trì Kim Mẫu muôn năm! Trát Cơ Lạp Mẫu muôn năm!

Tiếp nhận các quán đảnh khác nhau chưa bao giờ là để chúng ta so sánh mức độ linh nghiệm riêng biệt của chúng, mà là trong quá trình đó hiểu được rằng, bối cảnh nhân quả, nhân duyên nghiệp lực khác nhau của mỗi người sẽ phù hợp với pháp nào, rồi thành thực bồi đắp tình cảm với pháp đó, đến chết không đổi, chuyên nhất mà tu, tu cho ra pháp vị, nhất định sẽ có thành tựu.

---
# File: tinh-tuyen/ts-lien-anh-khai-thi-ve-tu-ho-phap.md
# Title: TS Liên Anh: Khai thị về tu Hộ pháp
---

![image](/img/img_cd3b9234c876342fc327fb7d18cece98.jpg)



## TS Liên Anh khai thị về tu Hộ pháp


Giảng pháp: Thượng sư Liên Anh
Thời gian: 22.12.2024
Địa điểm: Nghiêm Minh Lôi Tạng Tự - Melbourne
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Có người nói rằng, tu Hộ pháp thì tính khí càng ngày càng tệ, dễ nổi nóng, nhưng đây là một quan niệm sai lầm. Tôi càng tu Hộ pháp thì càng thấy mình nghiêm khắc với chính mình, càng ngày càng hiểu phải đặt mình vào vị trí của người khác, càng ngày càng biết nghĩ cho người khác. Bạn sẽ học được tinh thần không sợ gian khó, có thể hy sinh tính mạng của mình vì chúng sinh, đây chính là tinh thần của Bồ Tát đạo. 

Bởi mọi người biết tôi có nhân duyên với Bất Động Minh Vương nên thường xuyên thỉnh tôi làm pháp hội của vị Hộ pháp này. Tôi có một sự cố chấp của cá nhân tôi, đó là tôi mong mọi người trên phương diện cầu pháp cần phải hiểu ý nghĩa của pháp. Mỗi khi bạn muốn cầu pháp gì, muốn xin quán đảnh gì, muốn tu pháp gì, bạn phải từ góc độ ý nghĩa của pháp để mà cầu Bổn tôn đó, chứ không phải chỉ nhìn vào biểu hiện bề ngoài, nhìn những nhân duyên thế tục, có như vậy bạn mới có thể bước vào pháp môn của ngài. 

Cho đến một ngày, suy nghĩ của tôi thay đổi. Tôi nhận ra rằng, người nghiên cứu và hiểu rõ về Bất Động Minh Vương hơn tôi đã ít nay lại càng ít. Tôi thật sự đã bỏ ra rất nhiều thời gian và tinh thần để tìm hiểu về ngài. Tôi lấy ví dụ Kim Cang Tát Đỏa, mọi người đã quy y từ lâu, nhắc đến Kim Cang Tát Đỏa một cái là mọi người nói ngay vị này thì quen thuộc quá rồi, nhưng thật ra những gì bạn biết về ngài mới chỉ bằng cái móng tay mà thôi. Đối với Bất Động Minh Vương, nếu bạn thật sự đi tìm hiểu lịch sử, lai lịch, nhân duyên, tác dụng của ngài, bạn sẽ thấy, khi Sư Tôn giảng pháp thì Sư Tôn chỉ có thể nói sơ qua một cách đơn giản, chỉ nói những tinh hoa nhất cho mọi người nghe. Nhưng còn có những câu chuyện dài, có những ý nghĩa bí mật sâu xa hơn mà mọi người không dành thời gian để tìm hiểu. Tôi càng tìm hiểu thì càng phát hiện ra ngài quá sức vĩ đại, quá bất khả tư nghì. 

Hôm qua đồng môn hỏi tôi, trong Tạng mật tu Thứ tự viên mãn, sau cùng sẽ có pháp Ngũ Đại Kim Cang để làm cơ sở để tu Thứ tự viên mãn thành tựu, anh ấy hỏi tôi tu pháp Bất Động Minh Vương “độc hùng” [hình tượng Minh Vương một mình không có Phật Mẫu] có được không? Hôm nay tôi có thể nói với anh ấy một cách rất có trách nhiệm rằng, anh tu pháp của ngài có thể tức thân thành Phật. Vì sao?

Hiện nay đa phần những gì mọi người biết về Bất Động Minh Vương là đến từ Đông mật, là từ Chân Ngôn Tông - Mật giáo của Nhật Bản, là phái Mật giáo do Không Hải Đại Sư sáng lập. Mọi người nhìn hình tướng của ngài đa phần là hình tướng theo Đông mật. Thật ra, ở Tây Tạng, ngài cũng là một vị vô cùng quan trọng. Hôm nay tôi sẽ lấy vài ví dụ chứng minh là các bạn sẽ hiểu, Chân Phật Tông lấy Bất Động Minh Vương là đại Hộ pháp, đây là điều không thể xem thường. 

Đầu tiên phải nhắc một chút về Atisa tôn giả. Sư Tôn là hóa thân của Atisa tôn giả, một trong số các vị Căn bản Thượng sư của Atisa là một vị học giả chuyên dịch kinh sách, cũng là một đại thành tựu giả Mật giáo. Trong cuộc đời của vị dịch giả này, vì ngài đã dịch rất nhiều kinh điển, vì thế ngài đã từng nhìn thấy vô số Bổn tôn, gồm các vị tịch tĩnh, phẫn nộ, cực phẫn nộ, và ngài cũng cực kì am hiểu. Ngài tự cho rằng mình hiểu biết rất nhiều, có một hôm ngài đi tìm thêm một hang động bế quan cho mình, khi vừa bước vào một hang núi, ngài nhìn thấy một vị thấp thấp mập mập màu đen, một mặt hai tay, có hình tướng phẫn nộ, nhìn rất hung tợn, răng lộ ra bên ngoài, vị này được thờ ở trên tảng đá. Trong đầu ngài xuất hiện một ý nghĩ, mình đã từng nhìn thấy nhiều Bổn tôn như vậy, sao mình lại không biết vị này là ai nhỉ? Vị này sao trông kỳ quái vậy, thấp thấp mập mập, trông còn có vẻ hung tợn, liệu có phải ngoại đạo không? Đêm đó, ngài nằm ngủ trên giường, linh thức của ngài đã được đưa đến cung Kim Cương Pháp Giới, đó là tịnh thổ của Tỳ Lô Giá Na Phật. Trong ánh sáng tịnh quang hiển hiện lên vị phẫn nộ Bất Động Minh Vương một mặt hai tay này, thì ra vị này chính là Bất Động Minh Vương. Đại Nhật Như Lai nói với ngài; “Đây là hóa thân của ta, là vị phẫn nộ nhất trong số các vị phẫn nộ, tuyệt đối không được coi thường ngài. Hơn nữa, sự vô minh của ngươi trong sát-na sinh ra một ý nghĩ, đó là đã sinh ra ý nghĩ bất tịnh, trong cuộc đời hoằng pháp tương lai của ngươi sẽ gặp rất nhiều chướng ngại lớn.” 

Vị dịch giả này nói: “Chết rồi, phải làm sao đây, tôi có thể sám hối không?” Đại Nhật Như Lai nói với ngài: “Chỉ mỗi sám hối thôi thì không đủ, ta yêu cầu ông viết ra nghi quỹ tu pháp của ngài, để càng nhiều người thế gian biết đến sự tôn quý và pháp nghĩa của ngài. Vì thế từ rất sớm đã có vị dịch sư này viết ra nghi quỹ tu trì pháp Thánh Bất Động Tôn. Về sau nghi quỹ này đã đi đến đâu? Đã được truyền cho Kim Châu Đại Sư, chính là Liễu Minh Hòa Thượng, rồi lại từ Kim Châu Đại Sư mà truyền thừa này được giao cho Atisa tôn giả. Sau này Atisa tôn giả sáng lập phái Kadam, phái Kadam có bốn vị Bổn tôn quan trọng nhất mà chính bản thân Atisa tôn giả cũng tu trì, tổ sư của ngài cũng tu trì, ngài cũng ra lệnh cho tất cả các đệ tử của phái Kadam cùng tu trì, đó là các vị: giáo chủ Thích Ca Mâu Ni Phật, vị chủ của từ bi Quan Âm Tứ Thủ, vị chủ của sự nghiệp Thánh Lục Độ Mẫu, vị chủ của trừ chướng Thánh Bất Động Minh Vương. Cho nên, Hộ pháp căn bản của Atisa tôn giả cũng là Bất Động Minh Vương. Thầy của Atisa tôn giả cũng có Hộ pháp là Bất Động Minh Vương, tâm tử của Atisa tôn giả cũng có Hộ pháp là Bất Động Minh Vương. Cho nên phái Kadam ngay từ sớm như vậy, phái Kadam còn có sớm hơn cả Nyingma, Gelug, đã có pháp tu trì này rồi. Đây là câu chuyện thứ nhất.

Câu chuyện thứ hai là, từ năm ngoái, tôi phát hiện ra là mình có một chút nhân duyên với phái Sakya. Hình tượng Liên Hoa Đồng Tử mà Sư Tôn ban cho Pháp Hoa Đường trên đầu có đội mũ Pháp Vương của phái Sakya. Khi ấy tôi vào phòng hỏi việc, tôi tự vẽ ra bốn mũ Pháp Vương của bốn giáo phái để thỉnh Sư Tôn chọn xem Liên Hoa Đồng Tử ở Pháp Hoa Đường nên đội mũ Pháp Vương nào. Sư Tôn tính một lúc rồi nói hãy dùng mũ của phái Sakya. Sư Tôn còn nói một câu: “Việc này rất hiếm có!” Sau khi tôi làm xong, rất nhiều ký ức tiền kiếp đã ùa đến với tôi, cuối cùng tôi đã hiểu là vì sao lại có nhân duyên này. 

Năm ngoái tới Australia, tới nhà đồng môn, đồng môn đã tặng cho tôi một cuốn pháp bản “Cát tường Hỷ Kim Cang tập luân cam lộ tuyền”, đây cũng là một khởi nguồn rất hay. Tóm lại, sau khi tôi tìm hiểu kĩ hơn về truyền thừa phái Sakya của Sư Tôn và truyền thừa các đời của phái Sakya, tôi nói để mọi người biết, năm vị tổ sư quan trọng nhất của phái Sakya: vị sơ tổ Sachen Kunga Nyingpo, vị nhị tổ Sonam Tsemo, vị tam tổ Dkapa Gyeltsen, vị tứ tổ Sakya Pandita, vị ngũ tổ là Drogon Chogyal Phakpa. Trong số năm vị tổ này thì có đến ba vị tổ tu Bất Động Minh Vương, lấy ngài làm căn bản Hộ pháp, trong đó có vị sơ tổ đã thành lập ra phái Sakya. Trong quá trình ngài tu pháp, chúng ta biết rằng các vị ngồi ghế Pháp Vương trong phái này được xem là hóa thân của Văn Thù Bồ Tát, vì thế sau khi mỗi vị được nhận ra thì lần đầu tiên nhận quán đảnh sẽ là quán đảnh Văn Thù Sư Lợi, và lấy Văn Thù Sư Lợi làm Bổn tôn để tu trì. Sachen Kunga Nyingpo sau khi được Thượng sư quán đảnh Văn Thù Sư Lợi đã tu hành rất nghiêm túc chăm chỉ, nhưng đã gặp phải rất nhiều chướng ngại, và ngài không tự mình phá bỏ chướng ngại được. Sachen Kunga Nyingpo đi hỏi thầy của mình phải làm sao để phá bỏ những chướng ngại trong tu hành, bởi vì lúc này ngài không thể tu tiếp được nữa. Thầy của ngài nói chỉ còn cách tu pháp của vị chủ trừ tất cả chướng ngại, chính là Thánh Bất Động Tôn, phải quảng tu hội cúng của ngài, trì chú của ngài, làm cúng dường quảng đại của ngài, viết ra nghi quỹ của ngài, tụng tán ngài, đảnh lễ ngài, thờ phụng ngài, như vậy chướng ngại mới có thể tiêu trừ. 

Vì thế mà sơ tổ phái Sakya đã tu viên mãn tất cả gia hành của Bất Động Minh Vương, cho đến tận ngày nay, trong phái Sakya có một truyền thuyết rằng, khi bạn tu pháp gặp phải chướng ngại gì, ngoài cầu nguyện vị hỗ chủ của phái Sakya là Hỷ Kim Cang và Mahakala hai tay ra, cần phải cầu vị chủ tôn chuyên trừ chướng là Bất Động Minh Vương. Vì thế, Bất Động Minh Vương còn được gọi là vua trừ chướng.

Ở Nhật Bản, Bổn tôn của Không Hải Đại Sư là Hư Không Tạng Bồ Tát, sau đó khi ngài vào đàn thành của Thanh Long Tự làm theo lời của Huệ Quả Acharya, khi tung hoa để chọn Bổn tôn thì đã tung trúng vào Đại Nhật Như Lai, từ sau đó ngài đã lấy Đại Nhật Như Lai làm Bổn tôn, lấy Bất Động Minh Vương làm Hộ pháp. Về sau có lần ngài đi thuyền trên biển trở về Nhật gặp phải sóng to gió lớn, ngài đã thỉnh cầu Bất Động Minh Vương xuất hiện. Bất Động Minh Vương từ không trung giáng xuống, dùng chân đè lên thuyền, sau đó dùng kiếm chém phẳng những ngọn sóng cao, vì thế vị này gọi là Ba Thiết Bất Động Minh Vương. Atisa tôn giả đi thuyền đến Ấn Độ hoằng pháp cũng gặp phải nạn trên biển, ngài cũng thỉnh Bất Động Minh Vương đến dẹp yên chướng ngại này. 

Như vậy bạn thấy đó, Chân Ngôn Tông ở Nhật Bản tôn sùng Bất Động Minh Vương, phái Kadam cổ xưa tôn sùng Bất Động Minh Vương, phái Sakya tôn sùng Bất Động Minh Vương. Trong “Đại Viên Mãn Cửu Thứ Đệ” gồm ba thứ tự thấp, ba thứ tự trung, ba thứ tự cao, trong ba thứ tự cao này thì thứ tự đầu tiên là Anu yoga, tiếp theo là Ati yoga, sau cùng là Maha yoga, trong Anu yoga có tu pháp Bất Động Minh Vương. Trong một terma của phái Nyingma có tu pháp Bất Động Minh Vương, cũng là pháp trừ chướng. Trong phái  Kagyu, tổ sư phái này coi Bất Động Minh Vương là Hộ pháp của Lục Độ Mẫu. Vì thế, bên dưới thangka Lục Độ Mẫu thường nhìn thấy có vị Bất Động Minh Vương màu trắng và màu lam. Vì thế từ hôm nay trở đi, mọi người tuyệt đối đừng cảm thấy Bất Động Minh Vương rất ít gặp. Thật ra trong cả Tạng mật đều có sự tồn tại của ngài, chỉ là sau khi truyền đến Nhật Bản thì đặc biệt thịnh hành, ngài được gọi là Hỏa Thần. Cho nên vị này thật sự rất quan trọng. 

Ngài thường được coi là hóa thân của Đại Nhật Như Lai. Trong một bản kinh do Phật Thích Ca Mâu Ni giảng có nhắc đến Thánh Bất Động Tôn đà-la-ni, nguồn gốc là do Di Lặc Bồ Tát hỏi Phật rằng nếu có người gặp phải đủ loại độc long quỷ nạn, bệnh tật, ác quỷ, chướng ngại trong tu pháp mà không thể phá trừ thì phải làm sao. Phật Thích Ca Mâu Ni tự mình biến hóa thành Bất Động Minh Vương. Sau đó ngài đã nói chân ngôn hàng ma của Bất Động Minh Vương. Vì thế trên mạng cũng có tư liệu nói rằng Bất Động Minh Vương là hóa thân của Phật Thích Ca Mâu Ni. Vậy ở đây có mâu thuẫn gì không? Thật ra không hề có mâu thuẫn, bởi vì chúng ta thường nói trong Phật giáo, Đại Nhật Như Lai là Pháp thân, Lô Giá Na Phật là Báo thân, Thích Ca Mâu Ni Phật là Ứng thân, vì thế nguồn gốc là như nhau. 

Sau khi biết được lai lịch của ngài rồi, bạn cần phải có tâm rất cung kính đối với ngài. Tôi sẽ nói đơn giản một vài khẩu quyết quan trọng trong quán tưởng ngài. Bất Động Minh Vương trong hình tượng của Nhật Bản là không ngồi trên hoa sen, nhất định phải ngồi trên tảng đá. Hình tượng trong Tạng truyền thì ngài rất giống Kim Cang Thủ Bồ Tát, ngài sẽ đứng trên nhật luân hoa sen, tay phải cũng cầm kiếm, tay trái cầm dây thừng. Ngồi trên tảng đá biểu thị lời thề của Bất Động Minh Vương là ngài mong muốn sống ở những nơi khó khăn nhất, ở nơi có hoàn cảnh hoằng pháp khó khăn nhất để đi hoằng pháp, để độ chúng sinh ngang ngạnh nhất. Vì thế ở Nhật Bản, còn có truyền thuyết gọi Bất Động Minh Vương là vị chủ địa ngục, ngài đứng canh ở cửa địa ngục.

Lúc ở Indonesia tôi có kể một câu chuyện rất cảm động. Trong Chân Ngôn Tông có một vị Acharya rất vĩ đại, lúc ngài sắp viên tịch, ngài có rất nhiều đệ tử lo lắng đứng đợi bên cạnh, chỉ có một đệ tử thành tâm quỳ bên cạnh giường ngài cầu nguyện, đệ tử phát nguyện: “Sư phụ bình thường làm cho các đệ tử nhiều như vậy, đã dạy dỗ chúng con nhiều giáo pháp như vậy, làm sao con báo đáp ơn thầy, sinh mệnh của con sẽ hy sinh cho thầy.” Sau khi có suy nghĩ ấy, đệ tử trở về cầu nguyện Bất Động Minh Vương, nói rằng con muốn cúng dường mạng sống của mình cho sư phụ. Kết quả, khi phát ra lời nguyện này, bệnh của sư phụ đã khỏi, còn đệ tử này thì bị đầu trâu mặt ngựa dùng dây thừng trói lại bắt đi địa ngục gặp Diêm La Vương. Đây chính là chịu thay. Khi đầu trâu mặt ngựa đè người này quỳ xuống trước mặt Diêm La Vương, vừa quỳ xuống một cái thì Diêm La Vương từ ghế ngồi ngã lăn xuống, bởi vì con mắt của Diêm La Vương nhìn thấy người bị trói đó không phải là một hòa thượng nữa, mà là đang trói Bất Động Minh Vương. Ngài nói mau cởi trói đi, các người đã bắt trói Bất Động Minh Vương rồi. Bất Động Minh Vương liền hiện thân, sau đó nói với đệ tử: “Bởi vì con chân thành sẵn lòng chịu thay sư phụ, cho nên ta đến chịu thay con.” Đây là đệ tử khi phụng sự sư phụ nên phát cái tâm này. Đây cũng là samaya chân chính, thật sự kết liên minh với Hộ pháp. 

Bởi vậy, vào lúc chúng ta nguy cấp, Bất Động Minh Vương có thể hiện thân bảo vệ chúng ta, chuyển dời nghiệp chướng của chúng ta. Hình tượng Bất Động Minh Vương ở Nhật Bản có hai kiểu, một kiểu là trên đầu ngài có bông hoa sen, tượng trưng trên đầu ngài có Đại Nhật Như Lai; trên trán của ngài có ba nếp gợn sóng, tượng trưng ngài tâm niệm độ hóa chúng sinh tam giới. Vì sao con mắt bên trái của Bất Động Minh Vương lại nhíu lại? Vì chúng ta thường nói câu “bàng môn tả đạo”, bên trái được coi là tà đạo, cho nên ngài nhắm con mắt trái là để che chắn tà đạo, con mắt bên kia mở ra để nhìn những điều tốt. Cũng có người nói ngài một mắt nhìn trời một mắt nhìn đất. Miệng của ngài mím chặt, sau đó môi dưới bặm lên môi trên, răng nanh trên chĩa xuống dưới, răng nanh dưới chĩa lên trên. Đây là hình tướng phẫn nộ nhất. Vì sao mím chặt môi? Bởi vì làm người dễ phạm nhất là khẩu nghiệp, cả ngày đều nói chuyện thị phi của người khác, nói người khác cái này không đúng, cái kia không đúng, bình phẩm lung tung. Vì thế ngài mím chặt môi biểu thị loại bỏ hết mọi nghị luận, ngài sẽ không nói những điều vô nghĩa. 

Tay phải ngài cầm kiếm rồng, chỗ này rất ảo diệu, bởi vì kiếm vốn là rồng, rồng vốn là kiếm, nhưng rất khó biểu hiện điều này, vì thế bạn đi đến cửa hàng bán đồ Phật giáo, rất nhiều người không muốn điêu khắc thanh kiếm rồng này, họ nói kiếm này đâm rồng nên họ không muốn làm. Rồng này có tên đầy đủ là Câu Lợi Ca La Long Vương (Kulikah Naga), có gì đặc biệt? Có một bản kinh là “Phật thuyết Câu Lợi Ca La Đại Long thắng ngoại đạo đà-la-ni kinh”, kể về chuyện khi xưa Bất Động Minh Vương hàng phục chướng ngại lớn nhất của tam thiên đại thiên thế giới là Đại Tự Tại Thiên như thế nào. Phật Thích Ca Mâu Ni đang thuyết pháp, Đại Tự Tại Thiên Vương xuất hiện làm loạn, hơn nữa còn hóa thành một cây kiếm. Lúc này, Bất Động Minh Vương hiện thân, bản thân ngài cũng biến thành một thanh kiếm, biến thành một con rồng, con rồng của ngài nuốt gọn thanh kiếm của đối phương. Trong kinh điển nói rằng rồng có một cái đầu và bốn chân, bốn chân này là ai? Là Hàng Tam Thế Minh Vương, Quân Đồ Lợi Minh Vương, Đại Uy Đức Minh Vương, Kim Cang Dạ Xoa Minh Vương. Bởi vậy có thể nói, trong một thân Câu Lợi Ca La Long Vương Bất Động Minh Vương có tồn tại cả năm vị Minh Vương. Ngài căn bản chính là hóa thân của Tỳ Lô Giá Na, vì thế có thể tức thân thành Phật.

Tay trái ngài cầm sợi thừng là để trói ma, trói tà linh, trói cả tâm vượn ý mã của chính mình. Bạn thờ phụng ngài thì có một khẩu quyết rất quan trọng, đó là cúng rượu càng mạnh càng tốt, phải có cả thịt bò sống, thịt bò chín, và tốt nhất là có thể thờ phụng luôn quyến thuộc của ngài, đó là tám đại đồng tử thường thấy nhất, ngoài ra có ba mươi sáu đồng tử, bốn mươi tám thị giả, tổng cộng hơn 100 vị. Tám đại đồng tử này mọi người nghĩ rằng là trẻ con, nhưng không phải vậy. Có một kinh điển là “Phật Thuyết Bát Đại Đồng Tử nhất tự chân ngôn đà-la-ni xuất thân bí mật pháp yếu”, trong kinh này nói bát đại đồng tử chính là bát đại Bồ Tát bên cạnh Đại Nhật Như Lai hóa thân mà ra, cho thấy ngài có thể tiêu tai, ban phúc, tăng ích, kính ái, hàng phục, tất cả công đức đều có, vì thế ngài mới vĩ đại như vậy. 

Hiện nay, đại đa số nhà ở dương trạch đều có vấn đề về phong thủy, về xây dựng, về hoàn cảnh xung quanh. Sư Tôn đã dạy rất nhiều pháp phong thủy, nhưng rất ít người hiểu được phong thủy. Bạn có thể dán phù trấn sát của Diêu Trì Kim Mẫu, hoặc làm những pháp khác, có thể phá giải, nhưng bạn cần có hiểu biết về pháp, phải tu, phải biết cách nhận định tình hình và ứng đối mới có thể làm. Sau này Sư Tôn có truyền một pháp rất hay là Hổ Đầu Kim Cang, bạn thờ Hổ Đầu Kim Cang và thỉnh cờ lệnh của ngài đặt trong nhà, nhưng ngày nào bạn cũng phải trì chú ngài, cúng dường ngài, cầu nguyện ngài loại bỏ sát khí. 

Tôi làm thị giả cho Sư Tôn ba năm, có lần một người đến hỏi việc Sư Tôn. Thông thường mỗi ngôi nhà đều có vấn đề, Sư Tôn đều có một lá phù là Diêu Trì Kim Mẫu áp bách sát. Đồng môn ấy nói dán phù này lên vẫn chưa yên tâm. Sư Tôn nói, vậy thì hãy thỉnh một bức tượng Bất Động Minh Vương đem đến cho tôi khai quang rồi mang về đặt trong nhà, bất kể là bạn đặt ở đâu, chỉ cần đặt trong nhà thì tất cả sát khí về phong thủy đều sẽ không còn ảnh hưởng gì đến bạn. Cho nên bạn cần tin tưởng vào sức mạnh của Bất Động Minh Vương. 

Cuối cùng, tôi nói cho mọi người biết một điều cực quan trọng. Ngài còn được gọi là “không mời tự đến”. Khi lòng tin của bạn vào ngài đủ lớn rồi, bạn không cần phải phụng thỉnh ngài thì ngài tự đã có ở bên cạnh. Điều này là Không Hải Đại Sư nói. Bạn tu Hộ pháp cần phải tu đến trình độ này. Chỉ một ý nghĩ, thậm chí chưa cần nghĩ đến, ngài đã hiển hiện để hộ trì bạn. Tôi mong rằng bạn sẽ có được sự bảo hộ của ngài nhờ vào tâm cung kính của bạn. Và hãy chú ý đến thân khẩu ý của mình, đừng tùy tiện phê bình người khác, đừng tùy tiện bới móc đủ điều. Thật ra rất nhiều sự việc tôi đều biết, chỉ là tôi không muốn nói ra. Thật đó! Vì thế đừng tùy tiện phê bình người khác, bằng không, tôi không xử lý bạn thì ngài cũng xử lý bạn. Đừng coi thường mà có ác niệm với Thượng sư truyền pháp. Các Thượng sư đi ra ngoài thay Sư Tôn truyền pháp, khi làm pháp hội là Thượng sư đang đại diện cho Căn bản Thượng sư, vì thế trong toàn bộ quá trình chuẩn bị pháp hội, bạn tự gây ra chướng ngại, bạn phỉ báng sau lưng, có thể đến nhưng bạn không đến, bạn kêu gọi người ta không đến hộ trì pháp hội, cái nghiệp này bạn không gánh nổi đâu. 

Tôi từng nói rồi, chỉ cần ngài ở trên người tôi thì tôi rất nghiêm khắc đó. Rất nhiều sự việc cần phải nghiêm khắc, bởi vì không nghiêm khắc, dễ dãi thì bạn sẽ tùy tiện, như thế là không được. Người tu hành phải chịu trách nhiệm với lời nói và hành động của mình, bằng không sau này ở dưới địa ngục sẽ không có Bất Động Minh Vương cứu bạn đâu. Om mani padme hum.

---
# File: tinh-tuyen/ts-lien-anh-khau-quyet-tu-cuu-tiet-phat-phong.md
# Title: TS Liên Anh: Khẩu quyết tu Cửu tiết Phật phong
---

![image](/img/img_44df99eb6dfc9202576b928a8b19d774.jpg)



## TS Liên Anh giảng khẩu quyết tu Cửu tiết Phật phong


Giảng pháp: Thượng sư Liên Anh
Thời gian: 10.11.2024
Địa điểm: Pháp Hoa Đường - Đài Loan
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Vì sao chúng ta cần tu Cửu tiết Phật phong? 

Hiện tại hàng ngày buổi sáng tôi tu Bổn tôn, buổi tối tu Hộ pháp. Ý nghĩa của việc tu Bổn tôn là ngoài duy trì mối liên hệ chặt chẽ với Bổn tôn ra thì mỗi ngày tôi đều tu luyện mình sẽ chết thế nào. 

Sau khi tôi được Sư Tôn quán đảnh “Quang uẩn thiên thức pháp”, tôi nghĩ rằng tôi đang giúp đỡ người khác, nhưng kết quả tôi nhận ra mình sai rồi, mục đích quan trọng nhất của pháp này chính là giúp chính mình, sau đó là giúp người khác. Cho nên có một ngày Bổn tôn của tôi nói với tôi rằng mỗi ngày cần phải làm cho chính mình một lần, phải luyện tập tự mình làm, tự mình dung nhập, tự mình dẫn dắt trung ấm của chính mình phải đi như thế nào. Đây không phải là chuyện đùa, không phải là bạn có được quán đảnh rồi là có thể đi giúp người khác, bạn không có kinh nghiệm thực chiến thì không thể làm được. 

Theo sách “Tử Thư Tây Tạng”, theo “Tây Tạng Độ Vong Kinh”, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói rằng một Thượng sư muốn thật sự làm được pháp trung ấm thiên thức, ngoài việc phải nhìn thấu được sinh tử ra thì Thượng sư đó cần phải nhìn được mỗi một trung ấm mà linh hồn này sẽ trải qua, trung ấm trong suốt, trung ấm thực tướng, mỗi chi tiết trong quá trình trải qua của trung ấm đều phải nhìn rõ thì mới có thể dẫn dắt được. 

Còn chúng ta thì sao, bạn cho rằng chúng ta không phải là trung ấm sao? Chúng ta không phải là trung hữu sao? Về cơ bản chúng ta chính là thân trung ấm hỗn độn. Sư Tôn nói lúc chúng ta mơ thì ta giống như linh hồn, còn bình thường chúng ta đều là đang mơ giữa ban ngày. Vậy tôi dẫn dắt chính mình như thế nào? Khi tôi nhập định, tu Cửu tiết Phật phong, lúc ấy bạn cần quan sát mình đã chết rồi, đang ngồi đây nhưng thật ra là chết rồi, nhục thể thối rữa hết rồi, bạn không kiểm soát được thân thể nữa, các cơ quan đều thối rữa rồi, bạn khống chế không nổi nữa, tất cả đều không còn, chỉ còn lại minh thể, chính là thân thể ánh sáng trong suốt mà chúng ta quán tưởng khi làm Cửu tiết Phật phong. Niệm chú quán Không để gia trì cho minh thể này, bạn phải biến thành một cái vỏ rỗng, bên trong trống rỗng. Sau đó bạn phải quán tưởng Bổn tôn hiện tiền, ví dụ như là Liên Hoa Đồng Tử hiện tiền. Vì sao phải làm Cửu tiết Phật phong? Đây chính là dùng ánh sáng và hơi thở để dẫn dắt và vận tác một cách thực tế. Lúc là trung ấm làm sao dung nhập tịnh quang? Trong sách nói rất đơn giản rằng bạn đi vào là được rồi, nhưng trọng điểm là đi vào bằng cách nào. 

Bạn phải nhận thức được đó là ánh sáng. Khi làm Cửu tiết Phật phong, bạn quán tưởng mũi của Bổn tôn phóng ra ánh sáng, và ánh sáng đó phải rõ ràng, sáng sủa, phải nóng, có nhiệt độ, khi ánh sáng đó đi vào thân thể của bạn cũng không phải là chẳng có một cảm giác gì, nếu mà tu hành như vậy thì cũng vô tác dụng. Bạn phải cảm nhận được cảm giác khi ánh sáng mà Bổn tôn phát ra và đi vào thân thể bạn, thành màu đỏ, nóng, cảm giác ánh sáng chạy trong mạch, có sự ma sát, phải cảm nhận được ánh sáng chạy tới đâu. Vì sao mà biết được? Đây gọi là “giác”, cảm giác được ánh sáng chạy trong thân thể bạn thì sau này bạn mới có thể dùng thân ý của mình để dẫn dắt mệnh khí đi ra khỏi trung mạch. 

Vì sao Cửu tiết Phật phong quan trọng? Đó là vì nó luyện tập sự quán tưởng rất tỉ mỉ, cảm nhận hơi thở rất kĩ càng, kết hợp lại với nhau để bạn khống chế minh điểm quang và thở ra. Ngoài việc luyện tập quán tưởng ra thì Cửu tiết Phật phong còn thanh trừ chướng ngại trong mạch luân của bạn, tương lai khi bạn vãng sinh, khi mà thân trung ấm trải qua sự tan rã của các yếu tố đất nước lửa gió sẽ bị mạch luân ngăn trở. Bây giờ bạn có thể thanh trừ được bao nhiêu thì tương lai bạn càng có thể chỉ cần làm ít mà hiệu quả được nhiều, và bạn càng có thể nhận thức được rõ ràng hơn về ánh sáng và nhiệt độ. 

Vì thế, Bổn tôn của bạn có màu sắc gì bạn cần phải ghi nhớ rất rõ ràng, không phải mờ ảo mà phải sáng tỏ quang minh. Mọi người cho rằng Cửu tiết Phật phong chỉ là luyện tập hít thở, không phải đâu. Căn bản cái này chính là dạy cho bạn cách đi thế nào. 

Vừa rồi tôi ngồi đây, tôi cảm giác mình đã chết rồi, Bổn tôn đã đến rồi, tôi phải giao mình cho Bổn tôn. Lúc này sẽ xuất hiện rất nhiều vọng niệm. Người mà bạn nhớ, việc mà bạn đang vướng bận đều sẽ xuất hiện. Khi càng tĩnh thì những thứ này càng xuất hiện, bạn có đi nổi không? Bây giờ bạn vẫn còn cái thân thể này, còn thể lực này mà đã không thể khống chế nối rồi, huống hồ lúc ấy tứ đại phân rã, hiển hiện ra những cảnh tượng ảo ảnh, và bạn thì hoảng sợ, bạn có thể kiểm soát nổi không? Cho nên phải luyện tập ngay từ bây giờ. 

Bởi vậy, quang uẩn thiên thức - quang uẩn là trọng điểm, thiên thức là trọng điểm, pháp quang uẩn thiên thức lớn nhất chính là tự mình di chuyển thần thức của mình đến tịnh thổ, không phải là làm cho người khác, cũng không phải là người khác làm cho mình, đó chỉ là hạ đẳng thôi. 

Cho nên pháp Liên Hoa Đồng Tử, pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát, cho dù bạn tu hành đến trình độ nào, cũng vẫn cực kì quan trọng. Bạn chỉ cần biết rằng tương lai nhất định bạn sẽ phải ra đi, nhưng bạn muốn đi thật tốt, đi rất thuận lợi, bạn phải thành thực giao mình cho Bổn tôn. 

Hôm nay khi tôi quán đảnh quy y cho phu nhân của tiến sĩ Bạch, tôi triệu thỉnh Liên Hoa Đồng Tử, thế nhưng tôi lại cảm ứng thấy Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang và Kim Cang Tát Đỏa đến gia trì. Tôi cứ thắc mắc vì sao lại là Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang đến. Bởi vì Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang chính là giáo lệnh luân - thân phẫn nộ của Tịnh Quang Bí Mật Phật, Tịnh Quang Bí Mật Phật chính là Liên Hoa Đồng Tử, bởi vậy vẫn là tịnh quang. Dùng cái gì để quán đảnh? Chính là dùng tịnh quang để quán đảnh. Dùng cam lộ để quán đảnh. Cam lộ không phải là nước bình thường, mà là nước có ánh sáng. Vì thế đừng cho rằng chúng ta tu pháp Liên Hoa Đồng Tử, pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát là pháp đơn giản, đó là đại pháp đó. 

Từng có Thượng sư hỏi tôi rằng tôi có duyên với vị nào nhất. Tôi nói thật lòng, khi tôi nhập định sâu nhất, không cần phải tốn công sức nhất, chính là lúc tu Kim Cang Tát Đỏa. Cho nên vì sao hành giả sơ cấp nhất cần phải tu pháp gia hành, phải tu Bách tự minh, phải tu pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát, bởi vì đây chính là cái gốc của cái gốc của cái gốc. Nếu bạn có thể hợp nhất với Kim Cang Tâm Bồ Tát - ngài chính là hóa thân của Ngũ Phương Phật, chính là tổng trì của tất cả, bạn cũng sẽ lĩnh hội được Căn bản Thượng sư chính là sự hóa hiện của Kim Cang Tâm Bồ Tát. Điều mà tôi chia sẻ này chính là sự thật.

---
# File: tinh-tuyen/ts-lien-anh-long-chung-thuong-ton-vuong-phat.md
# Title: TS Liên Anh: Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật
---

![image](/img/img_cc5777fe0b8fb840ad808d31df14d6fc.jpg)



# Thượng sư Liên Anh khai thị Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật


Giảng pháp: Thượng sư Liên Anh
Thời gian: 21/04/2024
Địa điểm: Truyền Luật Lôi Tạng Tự 
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Kính lễ Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật. Kính lễ chủ tôn pháp hội Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật. Kính lễ tất cả Long Phật, kính lễ năm loài Long Vương, mười đại Long Vương, tất cả các Long Vương và quyến thuộc. Kính lễ đàn thành Tam Bảo của Truyền Luật Lôi Tạng Tự. Kính lễ các vị đến hộ trì đạo tràng đàn thành Tam Bảo. Kính lễ tất cả các vị của long cung. 

Pháp sư Liên Khang, giảng sư, trợ giảng, chủ tịch, các vị đại biểu của đạo tràng, các bạn đồng môn và đồng môn xem trực tiếp trên mạng, xin chào mọi người. 

Nhìn chung là đã hoàn thành rồi, buổi chiều còn phải đi dâng bảo bình. Tôi biết rất nhiều người không đi được, chủ yếu không phải không muốn đi, mà là rất muốn đi nhưng thuyền không đủ chỗ, cho nên rất nhiều người năn nỉ tôi đi dâng giúp. Thế là tôi biến thành nghìn tay nghìn mắt rồi. Cho nên hôm qua khi trở về phòng mình, tôi đặc biệt cầu nguyện Phật Bồ Tát, bởi vì khi khai thị tôi nói làm mọi người cảm thấy rất áp lực, tôi nói rằng tốt nhất là tự mình đi dâng, nếu không tự mình dâng thì bảo bình sẽ biến thành của người khác. Ôi, tôi nên sám hối điều này. Tôi nói với Phật Bồ Tát rằng rất nhiều người rất muốn đi nhưng thật sự là không cách nào đi được, vì sao chúng ta chỉ có một chiếc thuyền chứ? Không có hai chiếc thuyền? Không có thuyền khác thì thế là đúng rồi! Nếu có thể thì vẫn mong có thể thỏa mãn mọi người, nhưng nếu không được thì thôi không sao, mọi người có thể cùng giúp đỡ, cho nên đừng lo lắng, thỉnh cầu của các bạn Long Vương đã tiếp nhận đem đi rồi. 

Trước khi tôi khai thị, tôi sẽ phát hồng bao. Gần đây tôi biết ở Malaysia có một tòa Lôi Tạng Tự đang xây dựng, là Trực Tâm Lôi Tạng Tự ở Perak. Ban đầu đó là Trực Tâm Đường, bây giờ là Trực Tâm Lôi Tạng Tự, đã có đất rồi, đang xây dựng, tượng Phật cũng đều chuẩn bị xong hết rồi, sẽ nhanh chóng xây xong, vậy thì tôi cũng kêu gọi mọi người có thể cùng hộ trì xây chùa. Mặc dù năng lực của mọi người không đồng đều cũng không sao cả, bạn dùng tâm lực của mình tùy hỷ tài trợ. Sau khi hành trình hoằng pháp ở Đông Malaysia của tôi kết thúc, tôi đã viết cho Sư Tôn Sư Mẫu một lá thư, tôi gửi đến điện thoại của Sư Mẫu để báo cáo với Sư Mẫu hành trình và tâm đắc hoằng pháp của tôi, lần nào tôi cũng làm như vậy, bất kể là đi đến đâu, mỗi khi kết thúc thì tôi đều viết một đoạn cảm ơn Sư Tôn gia trì và Sư Mẫu đã dạy dỗ. Tôi cũng báo cáo với Sư Tôn Sư Mẫu tình hình đạo tràng ở nơi đó đại khái là như thế nào, bầu không khí rất tốt, rất đoàn kết. Hơn nữa tôi cũng báo cáo với Sư Tôn Sư Mẫu rằng tôi đi ra ngoài hoằng pháp, cúng dường sẽ phân thành ba phần, phần thứ nhất chắc chắn là cúng dường Sư Tôn, phần thứ hai là gần đây Đài Loan có thiên tai động đất lớn cực kì nghiêm trọng, rất nhiều nơi bị sụp đổ, rất nhiều người không có nhà để về. Cho nên tôi nói rằng phần cúng dường thứ hai của tôi sẽ đem đi quyên góp quỹ cứu trợ động đất. Phần cúng dường thứ ba là tôi muốn tài trợ Trực Tâm Lôi Tạng Tự xây chùa. Vì thế có thể nói rằng lần này tôi đi hoằng pháp là tay không trở về, nhưng mà pháp hỷ thì tràn đầy. Bởi vì vốn dĩ tiền không đem đi được, bạn đem tiền này đi làm sự nghiệp bồ đề, cho nên hai vị luật sư của Lôi Tạng Tự ngày hôm nay xin hãy làm chứng giúp tôi. Hồng bao thứ nhất tôi đã chuẩn bị trước, có một phần của công đức chủ là 1388, còn tôi chuẩn bị 1680, phiền luật sư giúp tôi chuyển đến Trực Tâm Lôi Tạng Tự để làm quỹ xây chùa cho họ, đây là phần thứ nhất. Tiếp theo, tập hồng bao này là của tất cả các chủ cầu vừa nãy, cũng thế, tôi không biết là bao nhiêu tiền, lát nữa đây xin luật sư làm chứng cho tôi, tôi sẽ dành toàn bộ hồng bao của chủ cầu và công đức chủ này cho việc xây chùa, vì thế các bạn làm chủ cầu hôm nay mỗi người đều có công đức xây chùa.

Tiếp theo, hồng bao này là để cúng dường pháp sư Liên Khang, cảm ơn pháp sư đã điều khiển pháp hội. Tiếp nữa, các vị giảng sư trợ giảng hiện đang ở đây có mấy vị? Tám hồng bao này là để cúng dường cho trợ giảng, cảm ơn họ đã đến hộ trì pháp hội này, đợi lát nữa pháp hội kết thúc tôi sẽ lấy đưa cho họ. Đây chính là làm công đức, tôi cam tâm tình nguyện làm, pháp hỷ tràn đầy, cảm thấy nên làm như vậy. 

Hôm nay tôi sẽ giảng cho mọi người điều hôm trước tôi chưa giảng hết, vẫn cứ không thể giảng hết. Trong thiên long bát bộ lấy trời đứng đầu, lấy rồng đứng đầu, tiếp theo thì là kim sí điểu. Trong bát bộ từng có trải nghiệm thành Phật, mọi người đều biết, Long Tôn Vương Phật, Long Nữ thành Phật, Long Quang Vương Phật, đây đều là các ví dụ về rồng thành Phật. Nhưng thật ra trong loài kim sí điểu cũng có một vị thành Phật, cho nên vì sao kim sí điểu thù thắng như vậy, tên của ngài là Đỉnh Kế Vô Tận Trí Huệ Quang Phật, Phật hiệu này rất đặc biệt, cũng xuất hiện trong Đại Tạng Kinh, tôi đã tìm ra ngài.


![image](/img/img_801a8a5c77a3d3c33fe729c7e9beef01.jpg)


Rốt cục vì sao chủ tôn hôm nay phải đổi thành Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật? Chủ yếu nhất là tôi hy vọng, tượng trưng cho cầu nguyện của bảo bình Long Vương của chúng ta thành tựu, bởi vì Long Vương đã thành Phật rồi, ngài trở thành Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật, đây chính là viên mãn quả địa. Mọi người nghe “viên mãn quả địa” có hiểu không? Từ Long Vương Bồ Tát thành tựu quả vị của Phật thì là Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật, cũng đại diện cho thỉnh cầu tu pháp của chúng ta là viên mãn. Đây chính là nguyên nhân chủ yếu nhất mà hôm nay làm pháp hội. 

Tiếp theo tôi sẽ nói với mọi người tôi lấy gì để cúng dường Long Vương, cái gì là quan trọng nhất đối với tôi? 

Trong “Phật Thuyết Hải Long Vương Kinh” mọi người niệm, trong “Diệu Pháp Liên Hoa Kinh” cũng có một câu chuyện, chính là câu chuyện Long Nữ thành Phật. Khi ấy, Phật ở núi Linh Thứu thuyết pháp, đột nhiên thiên ngữ hoa hương liên tục trút xuống, đại Bồ Tát liền hỏi Phật vì sao có hiện tượng này. Phật nói vì Long Vương đến rồi, chính là Sa Yết La Long Vương đem theo quyến thuộc của ngài đến Linh Sơn hải hội của Phật Thích Ca Mâu Ni để gặp Phật Đà, kết quả Phật đáp ứng thỉnh cầu của Sa Yết La Long Vương nên biển đã mở ra một con đường, Phật trực tiếp thần hành tiến đến long cung. Ngày hôm trước chúng ta có nhắc đến con gái của Sa Yết La Long Vương chính là Thiện Nữ Long Vương. Vì Phật đến, Long Nữ một lòng muốn cúng dường Phật, nàng nói thứ quý báu nhất ở long cung là ngọc rồng, thế là khi mọi người còn chưa nói gì, nàng đã dẫn đầu, đi đến trước tòa ngồi của Phật, nhiễu Phật ba vòng, sau đó đảnh lễ ba lần, nàng nói với Phật, hôm nay hiếm khi có một vị Phật giá quang lâm, tôi lấy gì để cúng dường ngài đây. Nàng nói nàng muốn chúng sinh đến một kho báu ở đáy biển lấy ra viên ngọc rồng to kia để cúng dường Phật, kết quả là Phật nói với Long Nữ: “Lành thay lành thay, cô có tâm cúng dường này là thù thắng nhất! Nhưng, ta không nhận châu báu ngọc ngà của thế gian.” Phật nói ngài không cần châu báu ngọc ngà của thế gian, ngược lại ngài còn dạy Long Nữ, tôi đọc một đoạn kinh văn cho mọi người nghe: “Phật nói, Phật nhận tín tâm như ngọc trắng tinh khiết, không nhận bảo châu diễm lệ, bởi vì Thiện Nữ Long Vương tuyên thuyết, xin mọi người lắng nghe cho kĩ, chư Phật Bồ Tát dùng bốn pháp nhiếp từ-bi-hỷ-xả làm bảo châu để bố thí cho tất cả hữu tình, viên mãn lục độ ba-la-mật. Cái này không giống với bảo châu ở nhân gian hay long cung. Phật còn khuyên Long Nữ bảo vệ tất cả hữu tình để làm chính pháp của Như Lai, đây mới là bảo châu mani chân chính.” 

Sự việc này rất chấn động! Phật không nhận bảo châu của nhân gian, ngài còn dạy ngược lại Long Nữ thế nào là bảo châu chân chính. Vì thế gần đây có người hỏi tôi, nguyện vọng hoằng pháp của Thượng sư là gì. Thầy có nguyện vọng gì không. Rất khó nghĩ đến có nguyện vọng gì, tôi cũng từng chia sẻ với mọi người rồi, trước khi xuất gia, tôi luôn cầu cho chính mình, mong rằng mình có thể thế nào ra sao, tương lai thế nào. Sau khi xuất gia, mỗi lần dẫn dắt đồng tu hồi hướng, nói cho mọi người xong thì chẳng còn thời gian mà nói cho mình, cũng không vì mình mà mong cầu điều gì. Sau khi làm Thượng sư thì tôi lại càng như vậy, lấy điều mà chúng sinh thỉnh cầu để thỉnh cầu, xem bệnh tật của chúng sinh là bệnh của mình, xem khổ của chúng sinh là khổ của mình. Bởi vậy tôi lấy cái gì để cúng dường?

Như vừa rồi, đầu tiên là bố thí tiền, đây gọi là cúng dường hữu hình. Tôi lấy công đức bố thí chúng sinh xây chùa dựng tháp để cúng dường rồng. Còn vô hình, tôi lấy tinh thần và tín niệm trên suốt quãng đường hoằng pháp cho đến nay để bố thí pháp cúng dường Phật, cúng dường rồng. Thứ ba, kim sí điểu thích ăn rồng, nhưng trên thân rồng có khí độc, cho nên kim sí điểu ăn rồng xong thì chúng sẽ ngộ độc thức ăn, cũng sẽ bị đau bụng, thân thể chúng sẽ đau khổ, thân thể chúng sẽ phát sốt. Cho nên trong truyền thuyết nói thế này, chúng sẽ tung cánh bay lên, bay đến đỉnh núi Tu Di, sau đó toàn thân bốc lửa tự thiêu cháy, cháy đến khi chỉ còn lại một viên bảo châu mani, chính là trái tim của kim sí điểu.

Sư Tôn viết về thiền định, hình như là cuốn “Lời khuyên thiền định” hay là cuốn nào nhỉ? Dù sao thì khi viết về thiền định Sư Tôn có nói, thiên long bát bộ đều tự hiến dâng diệu bảo trân quý nhất của họ để cúng dường Sư Tôn nhằm tôn trọng đại thành tựu khi Căn bản Thượng sư tu thiền định. Trong đó, Atula Vương tặng Sư Tôn một bảo kiếm của atula, mọi lúc đều xoay tròn trong hư không để bảo vệ Sư Tôn. 

Thế Kim Sí Điểu Vương cúng dường Sư Tôn cái gì? Chính là cúng dường trái tim của ngài. Trái tim của ngài chính là ngọc mani, bất kì hành giả nào có được bảo châu mani này thì đều có thể tùy tâm mãn nguyện, viên bảo châu này ở trên đỉnh núi Tu Di, tất cả long vương đều muốn đi tranh cướp nó, cho nên tập tục dân gian có “song long tranh ngọc”, bạn đã từng nghe chưa? Chính là rồng tranh nhau bảo châu mani.

Tranh cướp xong thì có thể làm gì? Chỉ cần bất kì long vương nào có được viên bảo châu mani này thì sẽ không bị kim sí điểu ăn nữa, cho nên mọi người đều đi tranh cướp. Bởi vậy, tôi dùng cái gì để cúng dường Long Vương? Vừa rồi lúc thiền định, tôi quán tưởng chính mình hóa thành Ca Lâu La Đại Bàng Kim Sí Điểu, dùng tam muội chân hỏa để thiêu đốt chính mình, tự thiêu đến khi chỉ còn lại một quả tim, chính là mani bảo châu, dùng viên mani bảo châu này để cúng dường tất cả long tộc, khiến cho họ không còn bị kim sí điểu sát thương, đây là cúng dường thứ ba. 

Thứ tư, hôm trước là đàn thứ mấy? Tôi có nói họ giúp tôi chuẩn bị nước cam lộ để đi thí thực, chính là niệm “đại bàng kim sí điểu, hoang dã quỷ thần chúng, La Sát quỷ tử mẫu, cam lộ đều tràn trề”. Bởi vì pháp này là do Phật dạy để cho rồng và kim sí điểu đừng chiến tranh với nhau nữa, cho nên bạn làm pháp này cũng là cúng dường tốt nhất cho long tộc.

Cho nên tôi dùng bốn cúng dường này để cúng dường tất cả long tộc, hy vọng họ tiêu trừ bốn loại bệnh khổ, sau đó có thể trong kiếp ngắn mau chóng tích lũy nhân thành Phật, kết thành quả Phật. 

Tôi tin rằng họ sẽ hoan hỷ tiếp nhận, hơn nữa chắc chắn sẽ vì nguyên nhân này mà sẽ ban phúc rộng lớn cho mọi người. 


![image](/img/img_1e7f8652c57fc6256053741c6d1129f6.jpg)


Nguyên nhân thứ hai làm chúng ta làm Long Tôn Vương Phật là vì trong kinh điển có nói, pháp môn của Long Tôn Vương Phật là “hiếm có trên đời”, nghĩa là tại nhân gian bạn rất hiếm khi thấy được, vô cùng khó cho nên gọi là “hiếm có trên đời”. Chúng ta niệm chú Phật đỉnh thủ lăng nghiêm có nói “Thủ Lăng Nghiêm Vương hiếm có trên đời” cũng là mô tả chú lăng nghiêm là vô cùng trân quý, thù thắng không gì sánh bằng, thế gian rất hiếm khi tìm được, cho nên gọi là “hiếm có trên đời”. Giống như mười ba pháp vàng của Sakya, vì sao gọi là pháp vàng? Vì không được đem ra ngoài bức tường của chùa Sakya, vì thế gọi là pháp vàng, tức là pháp quý giá giống như vàng.

Pháp của Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật chính là pháp vàng, pháp hết sức thù thắng trân quý. Hình tượng của Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật mà chúng ta nhìn thấy hôm nay, mặt của ngài màu trắng, mọi người hãy nhìn thangka ở trước mặt, thân ngài màu lam, trên đầu có bảy con rồng, ngài ngồi trên tòa hoa sen, bên dưới tòa hoa sen có bảo tọa kim cang. Hình tượng này là do tổ sư Tsongkhapa tự mình lễ 35 vị Phật, ngài lễ Phật rất kiền thành, sau cùng ngài đã nhìn thấy 35 vị Phật hiện thân trong hư không để gia trì cho ngài, vị Phật thứ 35 trong số đó, vị Phật cuối cùng, chính là Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật, còn gọi là Long Tự Tại Vương Phật. Hình tượng của vị này chính là do tổ sư Tsongkhapa tự mình viết ra.

Tổ sư Tsongkhapa là ai? Là Sư Tôn.
Bạn nghĩ là đã hết rồi sao? Vẫn còn chưa hết đâu. Pháp môn này là Atisa tôn giả truyền thụ xuống. Atisa tôn giả là ai? Là Sư Tôn. 

Cho nên Atisa tôn giả sáng lập ra phái Kadam, ngài đã viết “Bồ Đề Đạo Cự Luận”, “Bồ Đề Đạo Đăng Luận”, ngài đã ảnh hưởng cả Hoàng giáo, tức là phái Gelug, ngài chuyển thế thành Tsongkhapa, cho nên tổ sư Tsongkhapa chính là Atisa tôn giả chuyển thế. Vì thế, Tsongkhapa tổ sư viết “Bồ Đề Đạo Thứ Đệ Quảng Luận”, trong đó có bóng dáng của “Bồ Đề Đạo Cự Luận”, “Bồ Đề Đạo Đăng Luận”, thể hiện rằng ngài là Atisa tôn giả tái thế. Tổ sư Tsongkhapa cũng giúp cho phái Gelug bảo tồn được pháp tu Long Tôn Vương Phật. Chúng ta biết phái Gelug có hai đại pháp đài, thứ nhất là đệ tử của Tsongkhapa sau này chuyển thế thành Dalai Lama, ngoài ra còn một người nữa là Khedrup Je Panchen. 

Tsongkhapa có ba tâm tử, Gyaltsab Je, Khedrup Je, còn một người nữa đột nhiên tôi quên mất rồi. Hai vị tâm tử này chuyển thế thành Panchen và Dalai. Panchen các đời dạy đệ tử của ngài, trước khi bạn tu pháp Bổn tôn, bạn phải tu ba vị rất quan trọng tịnh trừ nghiệp chướng của bạn. Vậy lấy vị nào đứng đầu? Lấy Long Chủng Thượng Tôn đứng đầu. Bên phải có Kim Cang Tát Đỏa tướng song thân, đại diện cho Phật Phụ Phật Mẫu song vận. Bên trái có một vị gọi là Sơn Lâm Nghiệp Nhất Mẫu mà tục gọi là Diệp Y Phật Mẫu, vị này chuyên môn chiến đấu chống lại tất cả độc long, bệnh truyền nhiễm, dịch bệnh, là một vị Phật Mẫu vô cùng quan trọng. Vì thế bên trong các chùa chiền do Panchen các đời trụ trì, trên tường nhất định có thờ Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật, Kim Cang Tát Đỏa và Diệp Y Phật Mẫu. Xin mọi người vỗ tay, mọi người nghe tới mức nhập thần mà quên mất cả vỗ tay rồi, không phải vỗ tay cho tôi mà là vỗ tay cho ba vị này. 

Còn nữa, tôi không chỉ từng chuyển thế tại Nhật Bản, tôi từng tái sinh tại tu viện Tashi Lhunpo, làm một người học việc ở đó. Trước kia tôi cũng là một Lama. Tôi thường xuyên mơ thấy mình ở bên ngoài tu viện Tashi Lhunpo quét nhà và tụng kinh, thiền định, tu pháp. Ai là chủ tịch của tu viện Tashi Lhunpo? Chính là Panchen. Nơi mà Panchen Lama các đời đã sống là tu viện Tashi Lhunpo ở Shigatse. Sư Tôn hay hát một bài hát đúng không: “Quê hương tôi ở Shigatse, nơi có những dòng sông xinh đẹp và những đàn bò đàn cừu đầy sườn đồi, đều được Bồ Tát che chở.”

Shigatse là nơi tọa lạc của tu viện Tashi Lhunpo. Đây là một nơi thịnh vượng trên cao nguyên Thanh Hải-Tây Tạng. Cho nên tôi tin rằng mình có mối liên hệ sâu sắc với Panchen các đời. Bởi vậy ở trong tim tôi, khi vừa nhìn thấy Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật là tôi có một sự xúc động không thể giải thích được, ngài vẫn luôn mang lại cho tôi một cảm giác vô cùng mạnh mẽ và chấn động. Nên dù thế nào đi chăng nữa, tôi cũng mong có cơ hội giới thiệu với mọi người trong Mật giáo vị này quan trọng tới mức nào. Đây không phải là một pháp trôi nổi trên đường phố, đây là pháp vàng được thờ bên trong bức tường của tu viện Tashi Lhunpo. 

Vị Panchen thứ 10, hiện tại đã chuyển thế đến đời thứ 11, nhưng vì Trung Quốc vĩ đại của chúng ta mà không biết đã phải chạy tới đâu rồi. Dù sao Panchen thứ 10 đã tự mình viết bài kệ ca ngợi Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật, Kim Cang Tát Đỏa và Diệp Y Phật Mẫu, để cho những người đi theo tu viện của ngài, đệ tử của phái Gelug, mỗi ngày tu pháp đều phải niệm tụng.

Tôi đọc cho mọi người nghe: “Kim Cang Tát Đỏa trừ nghiệp chướng, Phật đội mũ rồng hàng địa yêu, Diệp Y Phật Mẫu trừ dịch bệnh, ba vị tối thắng xin kính lễ.” 


![image](/img/img_e2d4c1beacf60edd6dc31351dd8f6db7.jpg)


Vị đầu tiên mà ngài viết chính là Kim Cang Tát Đỏa, vị thứ hai hàng phục địa yêu, địa yêu tức là địa long, Phật đội mũ rồng chính là Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật, Diệp Y Phật Mẫu trừ dịch bệnh là Diệp Y Phật Mẫu. Có tấm thangka ở đây chứng minh rằng tôi không nói bừa, bức này lấy Kim Cang Tát Đỏa làm chủ tôn, góc dưới bên phải là Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật, góc dưới bên trái là Diệp Y Phật Mẫu.

Ngoài ra còn có bức thangka cũng thường gặp là có Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật ở chính giữa, nói chung là ba vị này hoán đổi vị trí với nhau, giống như là ba vị Trường Thọ của chúng ta cũng là có thể hoán đổi vị trí, có bức thangka như vậy.


![image](/img/img_f5a6b86152d0cb3e2cfbd12eeba1af59.jpg)


Bức này cũng thế, rõ ràng hơn một chút. Rồi trong nghi quỹ Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật mà Căn bản Thượng sư truyền thụ, các bạn hãy xem nghi quỹ của mình, ở bên cạnh Long Tôn Vương Phật có phải là có bốn vị không? Bốn vị này là ai? Quan Âm, Văn Thù, Trừ Cái Chướng và Di Lặc. 


![image](/img/img_e8358261d264fe5592fa53d03910924a.jpg)


Vị này là Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật, bức thangka này chính là thangka Tạng mật truyền thống, vị này chính là Trừ Cái Chướng màu trắng, bên dưới là Di Lặc màu đỏ, vị màu trắng là Quan Âm, còn vị này là Văn Thù màu vàng. Bởi vậy thật sự là pháp mà Sư Tôn truyền đều có cơ sở. Bức thangka này được lưu giữ trong kho tàng bí mật trăm pháp Bảo Sinh, có ghi chép lại chính là bốn vị này. Bốn vị này đại diện cho điều gì? Đại diện rằng Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật có pháp lực tức-tăng-hoài-tru: tiêu tai, tăng ích, kính ái, trừ chướng, toàn bộ ngài đều có, bốn vị này ở bên cạnh làm thị giả.


![image](/img/img_f6eec686c9b35b192716f2dff5c5c305.jpg)



![image](/img/img_3e5a520d26896e6834d00cc4e71af6ce.jpg)


Đây chính là hình tượng Long Vương vẽ theo Tạng truyền, tương đối khác với hình tượng chúng ta thường nhìn thấy, thân rắn mặt người, trên đầu có năm con rồng, rồi hai bên đối xứng nhau, bên trái bốn vị, bên phải bốn vị, toàn bộ đều cúi lạy Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật. Vì thế, trong thangka Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật, chủ tôn là Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật, bên cạnh có bốn vị Bồ Tát là quyến thuộc, phía trên bên phải có một vị Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, phía trên bên trái có một vị Kim Cang Bất Động Phật, cũng tức là A Súc Phật. Ba vị này đều là Phật của Đông Phương thế giới, có một thuyết nói rằng ba vị Phật này đời quá khứ là anh em, sau khi các vị chuyển thế, trải qua tu hành mà thành Phật, hiện thân màu lam, ở phương Đông hộ trì chúng sinh. Vì thế, tu Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật cũng sẽ có công hiệu trị bệnh, vì sao? Bởi vì quyến thuộc của ngài có Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. 


![image](/img/img_45dd7bfd4e70310d9d90945b596a74da.jpg)


Phía trên bên trái có Bất Động Phật, Bất Động Phật là Bổn tôn trừ chướng của Tây Tạng, là Bổn tôn của Kim cang bộ. Tu Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật bạn sẽ vô cùng giàu có, vì sao? Bởi vì Long Vương quản lý của cải, bạn niệm tụng danh hiệu, chú ngữ của Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật có thể lợi ích tất cả long tộc, long tộc vui vẻ thì ngài chắc chắn sẽ hộ trì bạn. Vì thế bạn làm chủ cầu, bạn báo danh làm công đức chủ, bạn báo danh, bạn đến tham gia pháp hội, bạn nhất định có thể tiêu trừ nghịch duyên khiến bạn gặp khó khăn về tiền bạc, bởi vì Long Vương chắc chắn sẽ đến hộ trì bạn.

Thứ ba, theo truyền thống, hiện nay tất cả các bệnh ngoài da, viêm da mãn tính, bệnh vẩy nến và các bệnh về da khó chữa theo truyền thuyết là do rồng hại, những tổn hại do long tộc gây ra, rồng này thuộc ác long, độc long, cho nên trong kinh điển có nói, long tộc trên thế giới này, ngoài năm loài Long Vương, tám đại Long Vương ra, có thể trực tiếp phân thành hai loại: một loại là Long Vương thuận pháp hành, tức là họ hộ trì Phật pháp, một loại là Long Vương nghịch pháp hành, tức là Long Vương làm hại tất cả Phật pháp. Thuận pháp hành là hộ trì Phật, nghịch pháp hành là tạo ra đủ loại chướng ngại thì gọi là độc long. Các bệnh ngoài da bao gồm rất nhiều bệnh ung thư, bệnh truyền nhiễm, dịch bệnh đều do độc long tạo ra, cho nên ở vùng Tây Tạng, hễ bạn mắc bệnh da hay các loại u bướu thì nhất định phải niệm tụng danh hiệu của Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật. Bạn niệm xong, quán tưởng Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật phóng quang chiếu đến bạn, những độc long đó tự nhiên không thể làm hại bạn, đây là điều rất quan trọng.

Còn một điểm nữa, trong “Long Tạng Kinh” có ghi chép, có một bộ kinh gọi là “Đại Vân Kinh Thỉnh Vũ Phẩm”, trong đó có đại Bồ Tát hỏi Phật: “Làm thế nào để lợi ích long tộc? Làm thế nào để giáng mưa?” Bởi vì đây là phẩm thỉnh mưa, trong kinh Phật có ghi lại rằng chỉ cần rồng không vui thì con người nhân gian làm việc gì trái với luật trời thì rồng sẽ không tạo mây, không giáng mưa, lúc này phải niệm đà-la-ni “Thí nhất thiết chư long an lạc đà-la-ni”. Đà-la-ni này rất dài, tôi sẽ không đọc lên cho mọi người nghe, sau này mọi người có thể tự mình lên mạng tìm, tên của nó là “Thí nhất thiết chư long an lạc đà-la-ni”, còn gọi là “Thí nhất thiết chúng sinh an lạc đà-la-ni”. Từ đây có thể thấy chúng sinh và Long Vương có quan hệ không tách rời, căn bản là ràng buộc với nhau. Vì thế sau cùng bộ kinh này có nói, vì sao “Thí nhất thiết chư long an lạc đà-la-ni” còn gọi là “Thí nhất thiết chúng sinh an lạc đà-la-ni”. Phật nói, bởi vì chỉ cần các loài rồng an định, điều hòa thì họ có thể làm lợi ích rất lớn cho chúng sinh, chúng sinh cũng sẽ vì thế mà nhận được lợi ích quảng đại. Mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, làm gì cũng thịnh vượng, làm cái gì là hưng cái đó, bạn tu pháp cũng sẽ thành tựu, nhập thế cũng sẽ thành tựu. Vì thế Phật nói, sau khi rồng nhận được lời dạy của Phật, không thể giúp bạn ở các pháp nhập thế mà cũng có thể giúp bạn pháp xuất thế. Cho nên đây là vì sao khi tôi mời mọi người hồi hướng cầu nguyện, đừng chỉ tập trung vào nhập thế mà còn phải xuất thế nữa, bởi vì trong kinh điển đã ghi chép như vậy.

Bạn niệm “Thí nhất thiết chư long an lạc đà-la-ni”, tất cả rồng ở lân cận chắc chắn sẽ giáng xuống gần nơi bạn để nghe bạn niệm chú, sau đó những đau khổ do họ bị côn trùng cắn trên người sẽ không còn nữa, những đau khổ vì nóng nực không còn nữa, kim sí điểu cũng không dám tới ăn họ, cho nên có thể nói rằng bạn niệm đà-la-ni này chính là niệm chú cầu Long Vương mau mau hiện thân, bởi vì bạn niệm thì ngài chắc chắn phải đến. Giống như khi chúng ta bị bệnh thì phải nhanh chóng đi bệnh viện khám bác sĩ, bởi vì bạn cảm thấy đi khám bác sĩ, bác sĩ có thể kê thuốc cho bạn, chính là đạo lý này.

Tôi muốn tiếp tục kể những bí mật. Sau khi đến đây lần trước, tôi đã nói với luật sư La, luật sư Hoàng rằng bên ngoài chúng ta có tháp Tôn Thắng, thế vì sao bên trong không có tháp Tôn Thắng? Nếu bên trong có tháp Tôn Thắng đặt ở giữa, khi bên ngoài trời nắng to mọi người có thể lễ Phật ở bên trong, rất thuận tiện. Cho nên sau khi tôi trở về, tôi sẽ kêu gọi đồng môn của chúng ta, nói rằng muốn tài trợ cho Truyền Luật Lôi Tạng Tự một tòa tháp Tôn Thắng mạ vàng ròng. Bây giờ ở đây đã có rồi, là do Pháp Hoa Đường tài trợ.

Tôn Thắng Phật Mẫu là quyến thuộc của Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật, trong đại mandala, Tôn Thắng Phật Mẫu là quyến thuộc thân cận nhất của Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật, cho nên vì sao khi bạn niệm chú Tôn Thắng, trong hư không nhất định có đại bạch quang, nhất định có mây rồng hiển hiện, bởi vì căn bản là các vị ở cùng nhau. Vì thế trong bộ kinh Tôn Thắng đà-la-ni có nhắc đến bạn niệm chú Tôn Thắng thì tất cả Long Vương cũng sẽ hộ trì bạn, vì bản thân các vị ở cùng với nhau. Tất cả đều có nhân duyên, chỉ là bạn có để tâm để tìm hiểu và nhận ra không thôi. Thế nên tôi chia sẻ với mọi người để các bạn không phải đi giở sách ra đọc. 

Bởi vậy ở bên này có tháp Tôn Thắng, còn có pháp duyên của Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật truyền tại đây, Sư Tôn tới đây truyền pháp này lần đầu tiên, các bạn nên biết rằng Truyền Luật Lôi Tạng Tự cũng không phải tầm thường đâu, phải trân trọng!

Cuối cùng tôi nói với mọi người trọng điểm cuối cùng, trong Mật giáo chúng ta đều làm cúng dường. Bạn làm pháp hội gì, tu pháp gì nhất định phải cúng dường, cúng dường đối với hành giả Mật giáo mà nói là vô cùng quan trọng. Cúng phẩm thường ngày, rất nhiều người hỏi tu pháp gì thì làm cúng phẩm gì, rốt cuộc cúng phẩm gì là tốt nhất với Phật Bồ Tát. Mọi người biết Sư Tôn từng nói cúng dường pháp là hàng đầu, rất khó giải thích về cúng dường pháp. Sư Tôn nói trong Mật giáo có cái gọi là “duyệt sư tam yếu”, tức là ba điều quan trọng khiến cho Căn bản Thượng sư hài lòng, thứ nhất là sau khi quy y xong thì bạn thọ giới, bạn giữ gìn giới luật giữa bạn và Căn bản Thượng sư tức là giới samaya, giới samaya là điểm quan trọng thứ nhất. 

Thứ hai là cúng đồ mình yêu thích, cúng dường những vật phẩm chân ái của bạn, giống như làm bảo bình Long Vương, bạn phải đem thứ mà bạn khó lìa xa nhất cúng dường cho Căn bản Thượng sư, dùng vật chất thực tế để cúng dường làm cho Thượng sư của bạn hoan hỷ. Thật ra đây cũng là để đối trị lòng tham và sự keo kiệt của chúng ta.

Thứ ba quan trọng nhất, cái gì là bố thí lớn nhất? Thứ cúng dường Căn bản Thượng sư tốt nhất là gì? Đó là đem tất cả thiện pháp, Phật pháp mà bạn tu học được từ chỗ của Căn bản Thượng sư lục độ bố thí quảng đại cho bất kì chúng sinh nào, đây chính là cúng dường tốt nhất. Cho nên hôm nay, hành giả Mật giáo phải biết ba bí quyết vô cùng quan trọng này. 

Tôi muốn kể lại một chuyện này. Tôi ở bên Sư Tôn ba năm rưỡi, bắt đầu từ năm 2018, sau đó vì dịch bệnh mà Sư Tôn trở về Mỹ, tôi không có hộ chiếu Mỹ cho nên không thể thường xuyên ở lại Mỹ, tôi chỉ có thể ở Đài Loan. Vốn dĩ đang ở cùng Sư Tôn, đột nhiên tôi ở Đài Loan, Sư Tôn ở Mỹ, trở thành gặp ít xa nhiều, thân vật lý gặp ít xa nhiều. Có một hôm mẹ tôi hỏi tôi: “Pháp sư Liên Anh, thầy và Sư Tôn cách xa nhau như vậy, liệu mối quan hệ có nhạt đi không? Xa mặt cách lòng?” Tôi nói với bà rằng không thể, bà ấy rất ngạc nhiên nhìn tôi nói: “Vì sao lại không? Thầy nên mua nhiều vé bay qua bên đó.” Bà ấy nói cũng có lý, nhưng tiền của tôi và túi tiền của tôi chẳng phải do tôi nói là xong, tôi cũng mong là mọi lúc mọi nơi đều có tiền để mua vé máy bay. Tôi nói với bà rằng kể từ khi tôi bắt đầu có tín tâm mạnh mẽ và có nhận thức đến nay, tôi không hề cảm thấy tôi và Sư Tôn có sự xa cách. 

Bây giờ ở trên pháp tọa, Sư Tôn thường xuyên hỏi ai có thể nhìn thấy Pháp thân, đệ tử nào có thể nghe thấy hoặc nhìn thấy như vậy, 24 giờ đều ở cùng với Sư Tôn. Rất nhiều người hỏi tôi vì sao tôi không giơ tay nói với Sư Tôn, vì sao không viết thư báo cáo với Sư Tôn. Hôm qua tôi nói rồi, nếu bạn là một, bạn còn phải báo cáo sao? Đây chính là pháp vị, bạn tu pháp Căn bản Thượng sư tương ứng, bạn phải tu đến trình độ như vậy. Tôi sẽ nói cho mọi người biết tôi tu như thế nào.

Tôi trở về phòng mình, tối hôm qua tôi đã giúp mọi người làm tịnh hóa bằng chổi rồi trở về phòng mình, trước khi đi tắm, tôi chắp tay lại nói với Sư Tôn, cúng dường quán đảnh chổi tịnh hóa kia toàn bộ sẽ do Truyền Luật Lôi Tạng Tự tập hợp lại để cúng dường Sư Tôn. 10h sáng mai con sẽ phải làm pháp hội Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật, xin Sư Tôn gia trì. Rồi tôi lại nói với Sư Tôn lát nữa sau khi tắm xong, con còn muốn tiếp tục đọc sách, đọc lại một lần nữa những trọng điểm mà con đã ghi chép để chia sẻ với mọi người, xin Sư Tôn gia trì cho con để con có thể nói hết được những pháp nghĩa và pháp yếu cho mọi người.

Tôi có thể thật sự cảm nhận được Sư Tôn đã đi vào trong thân thể tôi, hợp làm một với tôi, ngay cả khi đi tắm tôi cũng cảm thấy Sư Tôn đang ở cùng tôi, khi xả nước chính là mưa pháp cam lộ đang rửa thân thể tôi. Tôi quét chổi tịnh hóa cho mọi người là sẽ có chịu thay chứ không phải là không có. Vì thế khi tắm rửa, tôi phải quán tưởng toàn bộ nghiệp chướng bị tẩy rửa. Tôi tắm rửa xong thì đi ra ngoài ngồi, tôi tiếp tục đọc lại một lần, tôi đọc “Phật Thuyết Long Vương Danh Kinh” ngắn nhất, chỉ có 157 chữ mà thôi, tôi đọc lại một lần. Buổi sáng tôi liền nằm mơ, tôi mơ thấy Sư Tôn mặc long bào màu vàng đến. (Sư Tôn chỉ long bào đó là Truyền Luật Lôi Tạng Tự cúng dường Sư Tôn.) Sư Tôn nói với tôi: “Thầy biết con từ trước đến nay vẫn đang chuyển pháp luân, việc mà một đệ tử Phật chân chính nên làm!” 

Cảm ơn Sư Tôn! 

Ba điều khiến cho thầy vui vẫn luôn ở trong lòng tôi. Rất nhiều đệ tử chẳng có cách nào ở bên cạnh Sư Tôn, có vấn đề gì không? Không có vấn đề gì, nhất định phải biết trong Mật giáo, “ba thân không khác đại Phật ân” của Căn bản Thượng sư, tôi luôn luôn ghi nhớ ba điều làm cho thầy hài lòng, làm thế nào để thực hành nó trong cuộc sống của bạn, tức là chuyển hóa tất cả hành vi của bạn thành lợi ích chúng sinh, dùng cái tâm như thế đi cúng dường Căn bản Thượng sư của bạn. 

Sau một tháng tôi đi Anh hoằng pháp thì tôi bay đến Mỹ, lần đó đã hơn nửa năm thậm chí là gần một năm tôi chưa gặp Sư Tôn rồi, cuối cùng cũng đến lượt tôi đi vào phòng hỏi việc, tôi rất mong chờ, cực kì xúc động. Đã rất lâu rồi tôi mong chờ được đại lễ bái ngũ thể đầu địa trước Sư Tôn. Thế là toàn thân tôi nằm xuống đảnh lễ, tôi nói: “Sư Tôn, lâu quá rồi chưa gặp thầy! Con rất nhớ Sư Tôn!” Sư Tôn nhận báo cáo hoằng pháp và cúng dường trong tay tôi, tôi rất ít khi nhìn thấy Sư Tôn vui mừng như vậy, niềm vui không thể kìm được. Thầy liên tục vỗ vai tôi, thầy nói những gì con làm thầy đều biết, con đã đi đến rất nhiều nơi, đã giúp rất nhiều người. 

Tôi còn có thể nói gì đây? Bạn làm gì, Căn bản Thượng sư của bạn đều biết, cho nên không cần phải hối tiếc. Truyền Luật Lôi Tạng Tự ở tận cùng của Nam Á, cách nước Mỹ bao xa? Nhưng Sư Tôn đang ở ngay đây! Căn bản Thượng sư ở trong tim của mỗi thánh đệ tử! 

Om mani padme hum.

---
# File: tinh-tuyen/ts-lien-anh-noi-ve-bao-on-chung-sinh.md
# Title: TS Liên Anh: Nói về báo ơn chúng sinh
---

![image](/img/img_3160d6f465e9a74644945623771f9714.jpg)



# Thượng sư Liên Anh khai thị về báo ơn chúng sinh


Giảng pháp: Thượng sư Liên Anh
Thời gian: 05/06/2024
Địa điểm: Pháp Hoa Đường
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Khi tôi bay từ Indonesia đến Singapore, vì vấn đề đồ ăn nên sức khỏe tôi không được tốt, triệu chứng chính là bị sốt cao. Đã rất lâu rồi tôi không sốt cao tới 40 độ, và sốt tới hai ngày rưỡi. 

Mục đích tôi đến Singapore là thực hiện buổi giảng tọa về thangka và chia sẻ tâm đắc về văn tập Sư Tôn. Trước đó tôi đã có sự chuẩn bị mình sẽ nói gì về thangka, còn về văn tập thì khi tới nơi, tôi nhận được cuốn văn tập nào thì đều có thể dễ dàng phát huy chia sẻ. Nhưng không ngờ tôi lại bị ốm đến mức như vậy, không còn sức để bò dậy nữa. Nhưng tôi biết ơn vì trong quá trình hoằng pháp đã gặp được quý nhân, đó là một gia đình ở Singapore. Thật may có một bác sĩ chăm sóc cho tôi kể từ ngày đầu tiên tôi đến Singapore, người nhà họ đều chăm sóc tôi mỗi ngày. 

Sau đó tôi mới biết, vào ngày mà tôi đến Singapore Lôi Tạng Tự để khai thị, cô ấy có kỳ thi chuyên khoa. Tôi cứ tưởng cô ấy đã là bác sĩ chuyên khoa rồi. Tôi hỏi cô ấy thi gì, cô ấy nói thi Nội Khoa. Tôi hỏi Nội Khoa là thế nào? Cô ấy nói chủ yếu là chăm sóc bệnh nhân, ví dụ bệnh nhân bị sốt cao, đau đớn, mệt mỏi, các bệnh nan y, họ phải phán đoán, quan sát và kê thuốc. Tôi liền hỏi cô ấy, như vậy chẳng phải tôi chính là sự luyện tập tốt nhất trước khi thi sao? Thế là cô ấy nói đúng rồi, thầy đã để cho tôi được luyện tập. Khi ấy tôi liền nghĩ rằng, nếu như tôi bị ốm như vậy mà có thể giúp cho cô ấy thi cử thuận lợi, sau này có thể cứu được càng nhiều người thì tôi rất sẵn lòng. 

Khi ấy tôi vẫn còn sốt, cô ấy đưa thuốc giảm đau cho tôi, rồi cô ấy nói: “Thượng sư, trước khi thầy đi đến Lôi Tạng Tự, có thể cầu nguyện và gia trì cho tôi không?” Ban đầu tôi nghĩ tôi đã bị ốm tới mức này rồi, ngay cả đứng cũng không vững, cô vẫn muốn tôi gia trì sao. Cô ấy nói: “Cầu xin thầy đó! Tôi cần có sức mạnh của Phật Bồ Tát!” Tôi hỏi trước đó cô đã viết thư cho Sư Tôn để cầu gia trì chưa. Cô ấy nói đã viết thư rồi, hơn nữa cũng học hành rất chăm chỉ. Và Sư Tôn cũng đã cho cô ấy phù. Tôi nói được, vậy trước khi tôi đi, tôi sẽ dẫn dắt cô cầu nguyện tại đàn thành trong nhà cô. 

Sau đó ở tại đàn thành nhà cô ấy, tôi phụng thỉnh Tam căn bản, sau đó Mãn Nguyện Đồng Tử đến. Rồi tôi còn nhìn thấy Phổ Ba Kim Cang. Tôi không hề phụng thỉnh hai vị này đến. Tôi nói với cô ấy: “Tôi nhìn thấy hai vị này đến gia trì cho cô.” Cô ấy nói trời ạ, đây là hai vị mà thường ngày cô ấy niệm chú, hơn nữa Phổ Ba Kim Cang là Sư Tôn nói với cô ấy đây là Hộ pháp căn bản của cô ấy. Tôi không hề biết điều này.

Chính vì có câu chuyện này mà tôi muốn chia sẻ với mọi người hai khái niệm. Khi bạn cho rằng bản thân bạn không có sức mạnh thì thật sự bạn sẽ không có sức mạnh. Một câu nói của chúng sinh khiến tôi phát khởi một lòng tin lớn lao, cho nên tôi vẫn phải nhấn mạnh một câu: “Đạo tràng của Bồ Tát chính là chúng sinh.” Việc tu hành của chúng ta phải dựa vào sự tương tác với chúng sinh, bạn muốn tìm được bồ đề tâm và thực tiễn tất cả tinh thần lục độ của Đại thừa, bạn phải dựa vào chúng sinh thì bạn mới có thể dùng cái “giác” [nhận thức] của mình, đi thực hành cái “giác” này, như thế mới gọi là giác hành viên mãn. 

Bởi vậy thì sao tôi nói phải cảm ơn chúng sinh? Cuối cùng tôi đã hiểu vì sao Sư Tôn thường nói ngài phải cảm ơn chúng sinh, bởi vì nếu không có chúng sinh để cho ngài đến luyện tập kỳ thi ở nhân gian này, không có đối cảnh thì không thể thành tựu Phật đạo. 

Sự việc thứ hai là tôi nhất tâm cầu nguyện cho cô ấy. Tôi cầu nguyện như thế nào? Tôi nói với Bổn tôn của tôi, tôi hy vọng ngài gia trì cho người này bởi hai nguyên nhân. Thứ nhất, cô ấy đã dành hết tâm lực và thời gian không phân biệt ngày đêm để chăm sóc cho tôi, còn tôi vì được chúng sinh cúng dường nên gọi là ứng cúng, tôi là người phải cho chúng sinh ruộng phúc để đại diện cho tăng. Vì thế cô ấy phải có được nhân duyên, phúc đức này, bởi vì cô ấy đã toàn tâm cúng dường tăng, ngài nhất định phải ban phúc cho cô ấy. Thứ hai, tôi hy vọng ngài gia trì cho cô ấy, không phải là vì điểm số thi cử của cô ấy, điểm tốt thì đã tốt rồi, mà là qua kỳ thi này cho cô ấy có được tín tâm, hơn nữa cho cô ấy có thêm nhiều cơ hội học tập và thiện duyên để tương lai cô ấy gặp bất kì người bệnh nào, cô ấy cũng sẽ có nhận có cho, hơn nữa cũng vẫn sẽ toàn tâm toàn ý chăm sóc mỗi một người bệnh giống như cô ấy đã chăm sóc tôi, phát huy bản tính của một lương y. Chỉ có hai điều này thôi. 

Cho nên tôi nhìn thấy Mãn Nguyện Đồng Tử và Phổ Ba Kim Cang. Mãn Nguyện Đồng Tử tượng trưng cho sự thỏa mãn nguyện vọng, còn Phổ Ba Kim Cang là căn bản Hộ pháp của cô ấy, chỉ cần khi bạn cầu nguyện, Bổn tôn và Hộ pháp của bạn hiển hiện, bạn chắc chắn sẽ thành công. 

Tóm lại, thông qua kỳ thi này, cô ấy đã thi đỗ, tôi cũng tin rằng tương lai cô ấy sẽ thật sự đi giúp đỡ chúng sinh. Từ sự việc này, tôi lĩnh ngộ được rằng, trong kinh Duy Ma Cật nói, “Chúng sinh có bệnh ta có bệnh.” Rốt cục là Duy Ma Cật có bệnh hay là chúng sinh có bệnh? Cho nên rất nhiều sự việc đòi hỏi chúng ta phải suy ngẫm. Khi thật sự bị bệnh, bạn không làm được việc gì, khi ấy bạn sẽ quan sát lại hành động của chính mình. Thân bạn chẳng thể nào phạm giới được, khẩu của bạn cũng không có sức mà phạm giới, ý của bạn đã bị bệnh tật giày vò. Khi tôi sốt, thật sự tôi không biết mình đang ở đâu, không biết là ban ngày hay ban đêm, thân thể lúc nóng lúc lạnh, tôi rất khó phân biệt. Khi ấy ý niệm của tôi có muốn nghĩ xằng bậy cũng rất khó. Vì thế tôi phải cảm ơn trận ốm này. 

Om mani padme hum.

Pháp Hoa Đường | 05.06.2024

---
# File: tinh-tuyen/ts-lien-anh-noi-ve-that-phuc-than.md
# Title: TS Liên Anh: Nói về Thất Phúc Thần
---

![image](/img/img_f9eb8101f59583e5196496e8b9e25168.jpg)



## TS Liên Anh khai thị Thất Phúc Thần


Giảng pháp: Thượng sư Liên Anh
Thời gian: 20.10.2024
Địa điểm: Tâm Đăng Đường - Malaysia
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Xin chào mọi người!

Cuối cùng thì chúng ta đã hoàn thành nhiệm vụ quan trọng của ngày hôm nay. Bản thân tôi cũng thở phào. Cảm ơn mọi người đã đến hộ trì.

Trước pháp hội này tôi có hỏi trợ giảng là tình hình mọi người báo danh pháp hội như thế nào. Họ nói chắc là không có nhiều người, bởi vì có nhiều pháp hội quá, cũng không phải là vào ba ngày Tết lớn, không phải tết Thanh Minh, tết Trung Nguyên hay là dịp cúng dường lớn trong năm gì cả, hơn nữa đầu tháng sau còn có đại hội cúng tăng. Tôi không biết cuối cùng thì tình hình báo danh có cải thiện gì không, nhưng mà số lượng người đến tham dự hôm nay nhiều hơn tưởng tượng của tôi rất rất nhiều. 

Mỗi lần tôi chọn chủ tôn cho pháp hội, tôi đều chọn một vị rất hi hữu, vị mà rất ít người làm. Có phải là tôi muốn “khác người” không, đặc biệt không muốn giống người khác? Nếu bạn nói như vậy thì cũng đúng được một nửa. Trong lòng tôi thật sự nghĩ như thế này. Bạn xem, tối hôm qua chúng ta bái Chân Phật Bảo Sám, chúng ta đã đảnh lễ rất nhiều chủ tôn đúng không? Một điểm rất đặc biệt của Chân Phật Bảo Sám là trong đó có một câu là “Đảnh lễ các đà-la-ni và thập phương tam thế tất cả Mật pháp mà Liên Sinh Hoạt Phật đã thuyết”. Việc này rất đặc biệt, một câu đảnh lễ của bạn tương đương với đảnh lễ tất cả pháp mà Căn bản Thượng sư đã truyền thụ, bình thường chúng ta làm gì có cơ hội như vậy. Tất cả pháp bao gồm cái gì? Kể từ lúc Sư Tôn xuất đạo đến nay đã truyền bao nhiêu pháp, thật sự là không đếm xuể. Tôi luôn cho rằng, mỗi chủ tôn mà Sư Tôn truyền đều rất trân quý, rất thù thắng. Nhưng vì sao mọi người rất ít nghĩ đến, rất ít làm? Đương nhiên là pháp mà Sư Tôn đã truyền là quá nhiều, nếu mỗi tuần đều làm pháp hội thì cũng không biết là phải làm đến khi nào thì mới hết một vòng. 

Giống như Thất Phúc Thần này, lần đầu tiên Sư Tôn truyền hình như là vào năm 2015, cho đến hiện tại đã làm pháp hội mấy lần, rất ít, dường như mọi người đều quên rồi, nhưng rõ ràng là ngài rất quan trọng. Vì thế, tâm nguyện của tôi là làm pháp hội của  những vị rất quan trọng, để chia sẻ với mọi người, để kết duyên với mọi người, để mọi người có được tín tâm từ trong pháp của Sư Tôn, có được lợi ích, được mãn nguyện. Vì sao tôi lại chọn vị này? Thật ra không phải là tình cờ, trong hai năm qua tôi đã đến Tâm Đăng Đường ba lần rồi, thật sự cảm ơn mọi người đã để mắt đến tôi. Không biết còn có bao nhiêu lần hai năm nữa, hy vọng còn có nhiều lần lần thứ ba nữa. 

Lần trước tôi đến đây là làm pháp hội Văn Thù Sư Lợi, mỗi lần đến tôi đều đảnh lễ đàn thành. Lần trước trước khi rời đi, tôi đã nhìn thấy điện Thổ Địa Công, bên đó có Kiên Lao Địa Thần, phía trước có thờ Thất Phúc Thần, cả một bộ bảy vị. Khi ấy tôi cảm thấy ồ thật đặc biệt, rất ít đạo tràng thờ vị này, ngay cả Pháp Hoa Đường của tôi cũng không có. Pháp Hoa Đường tự xưng là bao la vạn tượng cái gì cũng có, thế mà Pháp Hoa Đường cũng không có còn ở đây lại có. Đương nhiên lúc đó tôi không hề biết sẽ còn có buổi pháp hội tiếp nào nữa, chỉ là trong đầu tôi có một ấn tượng như vậy. Vì thế khi mọi người ở đây lại mời tôi đến làm pháp hội và hỏi muốn làm chủ tôn gì, tôi liền nghĩ đến vị này. 


![image](/img/img_88200725269c6457e7b9f6ee93a51cdc.jpg)


Có tin tốt thế này, bảy vị này, pháp này Sư Tôn cho quán đảnh từ xa, vì thế hôm nay sau khi mọi người trở về, hãy mau chóng xin quán đảnh, bởi vì nếu không xin quán đảnh thì bạn không thể tu pháp. Về lý luận mà nói thì hôm nay chúng ta đều đang “lén” niệm chú. Đó là vì sao lần trước đến Malaysia tôi đã nói với mọi người, thật ra mời Thượng sư đến làm pháp hội, nếu bạn chưa được quán đảnh, nếu có thể xin Sư Tôn quán đảnh trì chú hoặc tu pháp thì tốt nhất là hãy xin từ trước. Cho nên hôm nay nói một cách nghiêm khắc thì chúng ta đều là kẻ trộm, đang trộm pháp. Đương nhiên chúng ta không hề có cái tâm trộm pháp này, tâm của chúng ta là rất trân trọng pháp này, vì thế khi trở về nhà bạn hãy nhanh chóng viết thư xin quán đảnh, nếu bạn trân trọng vị này bạn sẽ biết là ngài rất trân quý.

Sư Tôn từng nói, trong năm vị Tài Thần của Mật giáo, cầu vị nào thì sẽ dễ cảm ứng nhất? Có lần Sư Tôn nói hãy cầu Lục Tài Thần, vì sao? Vì có rất ít người cầu ngài, cho nên bình thường ngài rất rảnh rỗi. Còn Hoàng Tài Thần thì bận rộn như vậy, ai cũng cầu Hoàng Tài Thần, Sư Tôn nói là ngài bị mọi người làm phiền muốn chết rồi. Vì thế, bạn cầu Lục Tài Thần, hoặc Hắc Tài Thần. Hắc Tài Thần là con trai của Hoàng Tài Thần, mọi người đều hâm mộ cha của ngài và chẳng để ý gì đến ngài, cho nên thật ra Hắc Tài Thần bình thường đều nhàn nhã, cho nên bạn hãy cầu ngài. Câu nói này có ý nghĩa của nó. Thật ra rất nhiều vị rất linh cảm, chỉ cần bạn để tâm để ý, bình thường không có ai cầu ngài, bạn cầu ngài, giống như là trên biển cả mênh mông bạn nhìn thấy một viên ngọc, bạn tôn trọng ngài, ngài cũng sẽ trân trọng bạn. Mối quan hệ giữa người với người là như vậy. Bạn kính trọng một người, người đó sẽ cảm nhận được, bạn yêu thích một người, người đó sẽ cảm nhận được, vì thế trước hết chúng ta cần phải yêu. Yêu thích pháp này nghĩa là bạn tôn trọng pháp này, vì  mọi người đã tôn trọng pháp này rồi cho nên hôm nay mới ngồi tại đây. 

Thật ra chúng ta có thể làm pháp hội Thất Phúc Thần là phúc phần và vinh hạnh rất lớn của chúng ta. Tiếp theo đây chúng ta có đại hội cúng tăng, Thượng sư Liên Đông sẽ chủ đàn pháp hội Thánh Quan Âm thiên hạ đệ nhất phú hào. Và chúng ta đã nghe Sư Tôn khai thị rồi, chuẩn bị cúng phẩm không phải là dễ, bạn xem, các gia đình nhỏ, gia đình trung lưu, hàng tháng phải thay đổi châu báu, cắt y phục, chuẩn bị ngũ cốc, chưa chắc đã làm được, vì tu pháp này phải có điều kiện. Cúng dường Thất Phúc Thần thì cúng phẩm quan trọng nhất là gì? Thật ra ở trong đây có bảy vị, vì thế bạn cần phải hiểu lai lịch của bảy vị. Hôm nay ở đây chúng ta làm rất tốt, lần nào đến Tâm Đăng Đường tôi đều nhìn thấy cúng phẩm được làm thủ công do một sư tỉ làm, lần nào cũng làm rất đẹp khiến chúng ta nhìn vào là hoan hỷ, nhìn cứ như thật. Vì dụ bạn cầm lên cái đàn tỳ bà, cảm giác có thể gẩy lên âm thanh. Chính là phải làm được đến mức như vậy thì Phật Bồ Tát chủ tôn mới hoan hỷ. Vì thế, nếu bạn có thể cúng thì hãy cúng pháp khí của Thất Phúc Thần để tượng trưng cho tương ứng. Và quan trọng nhất là ngũ cốc, hoặc là thập cốc, giống như cúng phẩm của Thánh Quan Âm, vì gạo (ngũ cốc) đại diện cho tư lương. Chúng ta làm Hộ Ma thì biết cúng gạo, cúng lá trà khô là đại diện cho tư lương. Khi bạn thỉnh cầu thì quan trọng nhất cũng giống như thỉnh cầu Thánh Quan Âm: ăn không hết, mặc không hết, dùng không hết, nhờ sức mạnh của Thất Phúc Thần để cho chúng ta ăn không hết, mặc không hết, dùng không hết, như vậy tất cả mọi dục lạc của bạn đều được thỏa mãn. 

Lần này đến Malaysia, mấy hôm trước có đồng môn mời tôi ăn cơm. Anh ấy nói rất ít khi gặp được Thượng sư, lần này gặp được có thể hỏi Thượng sư một vài vấn đề Phật pháp không. Tôi nói, anh không hỏi Phật pháp thì tôi mới không muốn trả lời, anh hỏi Phật pháp thì tôi càng hoan hỷ trả lời. Anh ấy kể rằng đã quy y Sư Tôn rất lâu rồi, anh ấy làm công việc bán hàng. Anh ấy thường đi gặp các ông chủ lớn, rất muốn giới thiệu Phật pháp với các ông chủ đó, nhưng anh ấy cảm thấy bản thân mình thấp cổ bé họng, những ông chủ lớn kia đều nói với anh là: “Tôi có cuộc sống tốt như thế này, còn anh chỉ là một tay bán hàng bé nhỏ, không có tiền, anh còn muốn giới thiệu Phật pháp trong bụng anh, tôi làm sao tin anh được?” 


![image](/img/img_12912d5a66703cdac0e5317461e4f183.jpg)


Câu nói này có lý không? Từ góc độ nhân gian mà nói thì đương nhiên là có lý. Bởi vậy Sư Tôn nói có hai loại người rất khó tu hành, thứ nhất là người làm kinh doanh, thứ hai là người làm chính trị. Nếu bạn kinh doanh thành công và rất giàu có thì bạn sẽ chẳng có thời gian để tu pháp, và bạn tự cho rằng nhân định thắng thiên, có tiền rồi thì chẳng sợ gì nữa. Làm chính trị thì suốt ngày ở bên ngoài đấu đá nhau, làm gì có thời gian tu pháp. Đồng môn kia nói với tôi: “Đúng thế, tôi phải làm sao để độ họ?” Tôi nói không cần phải cả ngày nghĩ về việc độ họ, anh hãy độ chính mình trước. Anh ấy hỏi tôi rằng người tu hành Mật giáo chúng ta nói đến tiền, rốt cục có phạm giới không, rốt cục có nên nói về tiền không, đây chẳng phải là tham hay sao? Tôi cầu mong tiền, tôi cảm thấy bản thân rất hổ thẹn. Tôi bảo anh ấy rằng có gì mà hổ thẹn. Mật giáo sở dĩ khác Hiển giáo là vì nó thừa nhận dục vọng, đối mặt với dục vọng, sau đó chuyển hóa dục vọng, Hiển giáo né tránh dục vọng, không nhìn thấy, không nghe thấy. Trước đây Sư Tôn nói giới luật Hiển giáo chính là lấy hòn đá đè cỏ, cỏ chính là dục vọng của con người tham sân si nghi mạn. Đá đè cỏ thì cỏ có mọc không, nó vẫn mọc được. Còn Mật giáo là bạn bỏ hòn đá ra, dùng phương pháp khơi thông, dùng phương pháp chuyển hóa, để nó có lớn lên nhưng có chuyển hóa. 

Vì thế trong Mật giáo vì sao có pháp Tài Thần? Bởi vì ai cũng yêu tiền, nói đúng hơn là ai cũng cần tiền. Ở nhân gian này, hễ bạn mở mắt ra, có ngày nào là không cần tiền? Ngày nào cũng phải củi gạo đèn dầu trà nước, bạn không cần phải nuôi con sao, không cần phải phụng dưỡng cha mẹ sao? Bạn ăn cơm một ngày ba bữa, chưa nói đến hưởng thụ, đều cần có tiền. Sao có thể không cần tiền? Hiện nay rất ít người có thể thanh tâm quả dục. Vì thế tôi nói bạn thừa nhận bạn cần tiền không có gì là sai cả, Mật giáo có thể cho bạn giàu có. Sau khi bạn có tiền rồi, bạn có thể tùy ý, thỏa sức dùng tiền của bạn để làm việc đúng đắn, đây chính là Mật giáo. Vì thế Mật giáo có pháp đại phú đại quý, pháp đại uy quyền, pháp đại kính ái, để thỏa mãn những dục vọng thế gian của bạn, sau khi bạn thỏa mãn rồi, bạn có thể yên tâm mà tu hành. 


![image](/img/img_1421b2dee5c53d40354a025f7f0986c5.jpg)


Bạn ngồi đây hôm nay để làm gì? Để cầu tài à, có ai đến không vì cầu tài xin mời giơ tay? Vậy thì người đó có thể ngồi phía trên đây để cho mọi người lạy, bởi vì bạn đã không còn dục vọng rồi. Thượng sư Liên Anh có cầu tài không? Có chứ, sao có thể không có? Bạn nghĩ rằng tôi xuất gia rồi thì không cần phải phụng dưỡng cha mẹ nữa sao? Tôi còn phải phụng dưỡng cha mẹ, đây là tấm lòng của tôi, họ không hề yêu cầu. Cha mẹ nuôi dưỡng bạn từ nhỏ đến lớn, bạn cần phải báo ơn cha mẹ. Phật đường có cần tiền không? Hàng ngày, hễ mở mắt ra nào là tiền điện tiền nước, đều cần tiền cả. Ở đây chúng ta có điều hòa mát mẻ thế này, cúng phẩm Hộ Ma nhiều thế này, đều là tiền đó. Vì thế đừng sợ có tiền, điểm quan trọng là kiếm tiền đúng cách, không sợ có tiền nhưng bạn cũng không được dùng cách sai để kiếm tiền. Muốn có tiền mà không phải dùng cách thức thì phải giữ giới luật Phật giáo, gọi là tịnh tài. 

Những hòm công đức của chúng ta ở trên có ghi chữ “tịnh tài”, nghĩa là nguồn gốc của tiền này là sạch sẽ, còn bất tịnh tài là tiền có được do ăn trộm, do lừa đảo, do lật lọng, do khoác lác, do ác khẩu. Trước kia, Phật đường của tôi ở Gia Nghĩa xây dựng đạo tràng, có đồng môn bỏ tiền ra mua một mảnh đất, nơi đó có một kẻ đại lưu manh, rất giàu có. Có một người làm việc trong đạo tràng của tôi quen biết người này nên đã đến quyên tiền. Sau khi tôi nghe được, tôi thà không có số tiền này, bởi vì tiền xây chùa cần phải sạch sẽ thanh tịnh. Tiền của ông ta từ đâu đến? Từ chè chén cờ bạc, lừa đảo mà có. Nếu tiền này vào đạo tràng của bạn, bạn sẽ có duyên khởi không tốt. Tôi là người không theo lệ cũ, cho dù bạn có cho tôi một trăm triệu hai trăm triệu, tôi cũng không lấy, bởi vì nguồn gốc không tốt. Bạn phải giữ giới luật của Phật giáo thì mới gọi là tịnh tài, bao gồm cả bảy loại tài mà hôm qua tôi vừa giảng, đó là thanh tịnh, và thanh tịnh thì mới có thể lấy. 

Người xuất gia lấy tiền của chúng sinh có được không? Được, bạn phải tu phúc, tu thiện cho chúng sinh, nếu bạn lấy mà không hồi hướng cho người ta, lấy tiền đi hưởng lạc, làm xằng làm bậy, vậy thì tự bạn đi mà trả nghiệp, khoác lông đội sừng trả. Bạn đi làm ở công ty cho người ta, sếp giao cho bạn năm văn kiện phải hoàn thành, bạn lén lút vụng trộm chỉ hoàn thành ba văn kiện, còn hai văn kiện kia là sao chép, như vậy có phải là gian dối không. Bạn nghĩ vì sao bạn không có tiền, bạn cho rằng không có ai nhìn thấy hay biết bạn, nhưng tất cả đều đang làm giảm đi phúc phần của bạn. Vì thế kiếm tiền phải đúng cách, đường đường chính chính kiếm tiền thì được. Hôm nay bạn đến đây tu Hộ Ma này là để thỉnh cầu Phật Bồ Tát một thiện duyên, hứa một thiện duyên, rằng tôi sẽ đường đường chính chính làm người, làm việc thật thà chăm chỉ, xin ngài ban cho tôi phúc báo, xin ban cho tôi cơ duyên. 

Lần đầu tiên Sư Tôn truyền pháp Thất Phúc Thần đã nói chúng ta tu hành là có một quá trình, Tư lương đạo, Gia hành đạo, Kiến đạo, Tu đạo, Chứng đạo. Chúng ta thường xuyên nói Phật tính, Không tính, không sai, đây là chính pháp cần phải tư duy. Nhưng cơ bản, những vấn đề trong cuộc sống thường ngày con người phải đối diện thì phải giải quyết trước. 


![image](/img/img_bb516bfe044c9e19b6e4504fa5bcc398.jpg)


Tôi từng đọc một luận văn nghiên cứu về Chân Phật Tông của một vị giáo sư Đại học Trung Văn ở Hồng Kông, trong luận văn này đã phân loại phân tích giai cấp, thu nhập, v.v… của đệ tử Chân Phật Tông. Có một bộ phận là phần tử trí thức cao, nhưng nhiều nhất là giai cấp trung và hạ lưu. Giáo sư này sắp xếp tín chúng Chân Phật Tông theo thu nhập. Khi báo cáo này của ông ấy được đăng lên mạng, các tông phái khác, các học giả khác bắt đầu phân tích, xem này Chân Phật Tông phần đông là giai cấp trung hạ lưu, không được giáo dục. Bản thân câu nói này khá buồn cười. Sở dĩ Chân Phật Tông được giai cấp này ủng hộ là bởi vì giáo pháp của Sư Tôn quá từ bi, ngài cho phép con người ở tất cả giai cấp đều có thể tiếp xúc được, chứ không chỉ là dành pháp này cho những người có tiền, mà là dành cho mỗi một người có mong muốn sinh tồn, có mong muốn nâng cao trí lực, mong muốn cho cuộc sống của mình tốt hơn. Các bạn nói xem có đúng vậy không?

Căn bản Thượng sư từng nói, trong con mắt của Phật chỉ có từ bi, vì thế Sư Tôn sẵn lòng công khai Mật pháp vô thượng, mỗi người đều có cơ hội tu, mỗi người đều có cơ hội cúng dường, người không có tiền có thể trở nên có tiền, người đã có tiền có thể có nhiều tiền hơn. Mỗi người đều có Phật tính, mỗi người đều có quyền tu hành. 

Bảy vị phúc thần đều có trách nhiệm riêng, đều có sự đại diện, bạn có thể tìm đọc được rất nhiều tài liệu trên mạng, hôm nay tôi không thể giới thiệu chi tiết được mà chỉ nói về trọng điểm để mọi người tham khảo. Ở đây có Huệ Bỉ Thọ là thổ địa công ở Nhật Bản, hoặc còn gọi là thần thương nghiệp, hình tượng của ngài là cầm một con cá to và cần câu, tượng trưng cho sự uy nghi. Biện Tài Thiên chính là Diệu Âm Thiên Nữ, đại diện cho kính ái, bởi vi ngài ôm đàn tỳ bà, đàn tỳ bà được ví như đối tượng tương kính tương ái. Thọ Lão Nhân tượng trưng cho trường thọ. Vậy Thọ Lão Nhân khác với Phúc Lộc Thọ thế nào? Bên cạnh Thọ Lão Nhân có hươu đi theo, còn bên cạnh Phúc Lộc Thọ có hạc tiên đi theo. Nói chung trong truyền thuyết của Trung Quốc, hạc và hươu tượng trưng cho trường thọ. Đại Hắc Thiên tượng trưng cho phúc phần. Bì Sa Môn Thiên tượng trưng uy lực, Bố Đại Hòa Thượng tượng trưng cho đại lượng. Nói một cách khác, làm sao để tương ứng với bảy vị này, không phải là cả ngày cầu khấn, bạn cần phải xem bạn có bảy loại đức tính này không. Trọng điểm là cái này. 


![image](/img/img_3c5d8305c94c6825558fed61abf0ae6b.jpg)


Vì thế Sư Tôn nói bạn muốn thành tựu một Bổn tôn, bạn phải phát nguyện vọng của vị đó. Nguyện vọng của Liên Hoa Đồng Tử là gì? Là phân thân xả cốt độ chúng sinh. Nguyện vọng của Ma Lợi Chi Thiên là gì? Là bảo hộ chúng sinh. Nguyện vọng của Thất Phúc Thần là gì? Bạn cần phải có bảy đức tính nói trên. Ngoài ra, trong cách quán tưởng ngài, quan trọng nhất có hai điểm: thứ nhất là thuyền báu. Khi bạn tụng chú âm, tốt nhất là bạn phải quán tưởng trên mặt biển lớn có một thuyền báu lớn chở đầy vàng bạc châu báu, chở cả Thất Phúc Thần, đem phúc phần đến. Đây gọi là trở về đầy ắp. Bài kệ tán thán hôm nay là do tôi viết: “Trên thuyền báu kim sắc, Thất Phúc Thần tề tựu, vợ con tài lộc thọ, tùy tâm được như ý, quay về chở đầy ắp, ra khơi gió thuận hòa.” Khi bạn niệm chú cũng phải nghĩ đến cảnh tượng này. Tôi nhắc nhở mọi người là khi nãy làm Hộ Ma chú âm bị ngắt quãng là không được, không thể nào người dẫn chương trình dừng lại để giảng giải và mọi người không niệm chú nữa, điều này là không được. Sau này cần chú ý nếu người dẫn chương trình không niệm chú thì mọi người cũng không được ngừng niệm chú, giống như lửa không được tắt, không được để có khói. Điều này tượng trưng là chủ tôn liên tục giáng xuống. Vừa rồi khi mọi người không niệm thì tôi đã phải tự niệm hộ mọi người. 

Thuyền báu tượng trưng cho sự sung túc, quay về phải chở đầy, còn mặt biển lớn chính là nhìn ra vô biên vô tận, khi tương ứng rồi thì ăn không hết, mặc không hết, dùng không hết. Vì vậy quán tưởng ở đây là có ý nghĩa, không phải tự dưng mà có thuyền báu, không phải tự dưng đi trên biển lớn. Khi chúng ta siêu độ thì có thuyền pháp, thuyền này thật ra cũng chở vàng bạc châu báu, bởi vì người và ma cũng giống nhau thôi, có ai không thích tiền chứ? Khi còn sống thích tiền, vậy chết đi sẽ không thích nữa sao? Nói đúng hơn là sau khi chết rồi còn yêu tiền hơn, cái mà rất nhiều người chết muốn mang đi là tiền. Vì thế, thuyền pháp cũng chở đầy vàng bạc châu báu là vì đây là tính người. Vì thế, thuyền báu không chỉ bố thí cho chúng sinh hữu hình, mà còn có thể ban phúc cho chúng sinh vô hình. Vì sao nói pháp hội Thất Phúc Thần hôm nay có thể siêu độ? Bởi vì thuyền pháp có thể chở đầy tài bảo cho chúng sinh, và cũng có thể chở vong linh tổ tiên, oan thân trái chủ của bạn đến Tây phương Cực Lạc thế giới. Lúc nãy hồi hướng tôi cũng đã nói như vậy. Và khi tổ tiên, oan thân trái chủ của bạn nhìn thấy bạn đang giúp họ làm công đức, giúp họ quán tưởng tiền bạc, họ sẽ hết sức vui mừng mà rời khỏi bạn. Đây là trọng điểm của siêu độ, bạn phải khiến cho oan thân trái chủ phát khởi tâm hoan hỷ. Vì thế bạn tu pháp này sẽ không chỉ có thành tựu nhập thế gian mà còn có thể giúp xuất thế, nguyên nhân là ở đây. 


![image](/img/img_aa7032335ec0fc6ed50a32e54b158f77.jpg)


Ngoài Thất Phúc Thần chúng ta còn nghĩ đến Bát Tiên. Trung Quốc có câu “Bát Tiên qua sông, thần thông hiển lộ”. Dù là bảy hay tám vị thì đều tượng trưng cho sự đoàn kết để mà phổ độ chúng sinh, tương ứng đạo Bồ Tát của Đại thừa. Hôm nay bạn tu pháp Thất Phúc Thần, bạn vẫn phải phát bồ đề tâm, trước tiên độ mình, sau đó độ chúng sinh. Đoàn kết rất quan trọng, đạo tràng Chân Phật Tông phải đoàn kết, đồng môn phải đoàn kết.

Pháp Thất Phúc Thần là bất cộng pháp của Chân Phật Tông, bởi vì phương pháp tu hành rất đặc biệt. Sư Tôn đã truyền nhiều pháp như vậy, bạn có thấy pháp nào mà phải quán tưởng chủ tôn ở thượng đan điền, trung đan điền, hạ đan điền không? Rất ít. Chính là Thất Phúc Thần nói với Sư Tôn cần phải tu như vậy. Vì sao? Cách nghĩ của tôi là thế này. Năm xưa, tại nhà thi đấu thể thao ở Đào Viên, Sư Tôn từng truyền thụ đại pháp Diêu Trì Kim Mẫu sai khiến thần binh, và truyền pháp Khôi Tinh Thích Đẩu trạng nguyên pháp, là một pháp để cầu thi cử. Khi ấy Sư Tôn nói, tu pháp này, bạn niệm chú, bạn tu 49 đàn, thế là được rồi. Sư Tôn nói rất đơn giản. Lần ấy khi trở về, tôi còn đang học trung học, tôi đã tu đủ 49 ngày. Sư Tôn nói bạn tu đến lúc Lục Đinh Lục Giáp nói bên tai bạn rằng “chúng tôi đến giúp bạn”, như vậy tức là bạn đã tu thành tựu pháp này. Thế là tôi tin rằng tôi tu đến ngày thứ 49 thì bên tai tôi sẽ có người nói “chúng tôi đến giúp bạn”. Khi tôi tu đến ngày thứ 49 thì bên tai tôi có tiếng mẹ tôi gọi: “Xuống ăn cơm đi, đừng tu nữa!” Chẳng hề là câu nói mà tôi đang chờ đợi. 


![image](/img/img_eb8b37736e50665aa878e46e5783f272.jpg)


Khi ấy tôi nghĩ, tu pháp sao mà khó vậy, tương ứng không phải chuyện dễ dàng như mọi người nghĩ. Sau năm đó, tôi thỉnh thị Sư Tôn rằng tôi đã y theo Sư Tôn dạy mà tu, vì sao không có cảm ứng. Sư Tôn nói rằng đó là bởi vì không biết cách dùng thần. Dùng thần là thế nào? Muốn biết cách dùng thần, bạn phải biết thần ở chỗ nào. Hôm nay tôi nói lại cho mọi người biết tức là mọi người may mắn rồi, bởi vì đây là khẩu quyết mà Sư Tôn đã khẩu truyền cho tôi. Sư Tôn bảo tôi đi đọc hai cuốn sách là “Hoàng Đình Ngoại Cảnh Kinh” và “Hoàng Đình Nội Cảnh Kinh”, là hai kinh điển của Đạo giáo, sẽ nói cho bạn biết thần ở chỗ nào, thần có tác dụng gì, tên của thần là gì, làm thế nào để “phản phác quy chân” [trở về nguyên trạng], bạn tu luyện đến cùng thì bạn sẽ trở về với Phật tính. 

Nếu bạn giở sách ra đọc thật sự rất khó hiểu, nó rất thâm sâu, nhưng đại ý nói rằng bên ngoài con người có thế giới không gian ba chiều, không gian bốn chiều đều có thần tồn tại, gọi là ngoại thần. Bên trong thân thể bạn cũng có thần, tồn tại ở thượng đan điền, trung đan điền, hạ đan điền, đây còn gọi là tam nguyên cung, trong Đạo gia vẽ thành ba cung điện. Ngoài ba nơi này, “Hoàng Đình Nội Cảnh Kinh” còn nói ở mắt, mũi, tai, miệng, lục phủ ngũ tạng, mỗi nơi đều có thần tồn tại. Bạn muốn dùng thần thì cần phải biết tên của thần ở vị trí đó. 

Lục Đinh Lục Giáp thần tướng đều có tên gọi, họ ở ngay trong thân thể bạn. Vì thế bạn muốn khai triển Lục Đinh Lục Giáp, không phải là niệm 49 ngày, mỗi ngày niệm 49 biến, không phải là niệm càng nhiều thì càng có thể dùng thần. Bạn cần phải tu luyện cho đến khi linh tính và thần tính trong người bạn “sống dậy”, bạn có thể “nội quán”, tức là trong thiền định bạn có thể nhìn thấy các thần của lục phủ ngũ tạng, nhận rõ các vị, bạn dùng niệm lực sai khiến các vị xuất nhập, khi ấy bạn mới có thể dùng thần. Đây mới là cách thật sự thực tu, không phải là chỉ nói khơi khơi ngoài miệng, người đó có sai khiến được binh mã hay không lại là một chuyện khác. 


![image](/img/img_76aed5753188138e85a5c48f8750605c.jpg)


Vừa rồi là nói về Đạo gia, thế còn Mật giáo thì có Thời Luân Kim Cang Phật, Ngoại thời luân chính là đại chu thiên, Nội thời luân chính là tiểu chu thiên, Biệt thời luân là kết hợp Ngoại thời luân và Nội thời luân, cho nên thủ ấn mới là hai tay đan vào nhau, đây gọi là cảm ứng đạo giao, đó là tương ứng. Bạn và Bổn tôn hoàn toàn kết hợp lại với nhau, hoàn toàn nhậm vận. 

Hôm nay mặc dù bạn tu pháp Thất Phúc Thần thì không phải là pháp cao cấp như vậy, nhưng lý niệm về tu pháp là giống nhau. Bạn phải dẫn ngài vào trong thân thể bạn, ngài trú trong cung điện trong thân thể bạn, nên Mật giáo gọi là thân đàn thành. Ví dụ trong pháp Quan Âm thân đàn thành, chúng ta đều biến hóa mắt tai mũi miệng mà. Cho nên khi tu pháp này, bạn phải tin tưởng tất cả các cơ quan trong thân thể bạn đều là “sống”, đều là cung điện của Bổn tôn, vì thế bạn phải tu thân khẩu ý thanh tịnh. Nếu thân khẩu ý của bạn không thanh tịnh, bạn cũng không có đủ những đức tính của các vị, bạn sẽ không thể có được phúc phần. 

Đạo gia có câu nói rằng: “Thân trung chư nội cảnh, tam vạn lục thiên thần, nguyện ngã tâm tự tại, thường trụ Tam Bảo trung.” Khi bạn tu pháp, bạn thiền định đều có thể niệm bài kệ này, bài kệ này đã nói lên rằng trong thân thể bạn có thần. 

Sau đó tôi đã y theo phương pháp của Sư Tôn để tu tiếp pháp Lục Đinh Lục Giáp. Tôi tu đến một ngày trong mơ tôi nhìn thấy thân thể mình đang nằm trên giường. Tôi nghĩ ôi mình chết rồi sao. Nhưng rồi tôi chạy vào bên trong thân thể mình, tôi phát hiện ra bên trong thân thể mình có rất nhiều bộ phận, chỗ nào cũng giống như cung điện, nơi nào cũng có thần tiên ở. Tôi lần lượt gặp hết từng vị Lục Đinh Lục Giáp. Tôi không dám nói tôi đã thành tựu, nhưng tôi thỉnh các vị thì các vị sẽ đến. 

Tôi sẽ kể cho các bạn một ví dụ sau đây. Một người bạn học cấp ba của tôi hiện nay đang làm bác sĩ, nhà bố mẹ cậu ấy xảy ra tranh chấp tài sản. Ông của cậu ấy phân chia tài sản cho các con, bác chú dì của cậu ấy rất quyết liệt, dùng rất nhiều thủ đoạn để khiến nhà cậu ấy không có được mảnh đất nào. Cậu ấy kể cho tôi nghe, tôi nói cậu ấy đưa tôi đến nhà người anh họ mà gay gắt với nhà cậu ấy nhất. Cậu ấy bảo là đưa tôi đến đó thì tôi đừng có vào trong nhà rồi lắc chuông tinh tinh tinh đấy nhé, họ lại tưởng cậu ấy đưa thuật sĩ giang hồ về làm trò. Tôi nói tôi tu Mật pháp, không cần phải phức tạp như vậy. Tôi nói tôi muốn đi vào ngày trực Trừ, đến hôm đó tôi chỉ ngồi trong xe của cậu ấy và không nói gì. Tôi chỉ bảo cậu ấy lái xe đưa tôi đi quanh ngôi nhà của người anh họ một vòng, sau đó thì đi về. Cậu ấy bảo: “Ơ, mỗi thế thôi à? Thật hay giả đấy?” Tôi bảo cậu cứ chờ mà xem. Hai tuần sau, anh họ cậu ấy tự động từ bỏ tài sản, đã viết tên cậu ấy cho tài sản đó, bởi vì anh ta liên tiếp mơ thấy có người cảnh cáo anh ta rằng: “Cái gì không thuộc về mình thì không được lấy! Không phải nhà của anh, anh mà lấy là sẽ có chuyện đó!” Mới đầu anh ta mặc kệ, nhưng sau đó anh ta kể ra những chuyện bất thường, anh ta lái xe thì đâm xe khiến anh ta kinh hoảng, sếp thì “đì” anh ta, cắt giảm lương còn một nửa, liên tiếp xảy ra rất nhiều việc. Có phải tôi làm những việc này không? Không phải, bởi vì anh ta thất đức, Phật Bồ Tát đã cảnh cáo anh ta rồi. Còn tôi đã làm gì? Tôi đã đi nhiễu quanh Lục Đinh Lục Giáp trong nhà anh ta, tôi nói với các vị Lục Đinh Lục Giáp là vì các vị cực kì chính trực, các vị là Hộ pháp của  Đông Hoa Đế Quân, Đông Hoa Đế Quân chính là sư phụ của Diêu Trì Kim Mẫu, các vị cũng chính là Hộ pháp quan trọng nhất của Đạo gia. Người có tấm lòng chính trực thì mới có thể thỉnh các vị đến. Tôi không dám nói rằng tôi chính trực đến mức nào, nhưng khi tôi cầu các vị đến, tôi đã nói: “Nếu như bố mẹ bạn tôi lấy được tài sản thuộc về họ, tôi sẽ bảo họ giúp in ấn kinh sách, bảo họ đi quyên tiền xây cầu sửa đường, làm từ thiện.” Sau này tôi cũng nói lại với người nhà bạn tôi rằng tôi đã hứa với Phật Bồ Tát rồi, mọi người mà lấy được tài sản thì phải làm những việc như vậy, họ nói nhất định sẽ làm.

Vì thế, pháp thuật muốn linh thì ý nghĩ của bạn phải chính. Bạn phải thật sự có sức mạnh, bằng không làm sao đi một vòng mà hai tuần sau có thể lấy lại được tài sản chứ? Đây chính là dùng thần. 


![image](/img/img_ccbc38191853aabe6e81b70e3a342ea4.jpg)


Lần này cũng thế, tôi đến đây làm pháp hội Đại Hắc Thiên, Thất Phúc Thần, tôi rất thành tâm nói với ngài. bởi vì có rất nhiều người nghèo khó, rất nhiều người kinh tế khó khăn, xin hãy cho tôi linh cảm, xin hãy cho mọi người linh cảm. Bạn có biết vị Đại Hắc Thiên ba mặt này không, hôm nay tôi sẽ dùng vị này để làm quán đảnh cho mọi người. Ngài là ba thân hợp thể trong số bảy vị phúc thần. Mặt chính là Mahakala, mặt phải là Bì Sa Môn Thiên, mặt trái là Biện Tài Thiên. Ba pháp khí của ngài có như ý mani bảo châu đại diện cho Đại Hắc Thiên, gậy đinh ba đại diện cho Đa Văn Thiên, móc kim cang đại diện cho Diệu Âm Thiên. Sau khi tôi đồng ý với Tâm Đăng Đường là sẽ đến làm pháp hội này, có một hôm ông chủ làm tượng cho Pháp Hoa Đường tự mình đem vị này đến tặng tôi. Anh ấy nói tặng Thượng sư món quà. Tôi nói gần đây tôi có đặt tượng đâu, anh ấy bảo gần đây tôi đã giúp anh ấy rất nhiều khi mọi người nhờ tôi liên hệ đặt tượng giúp, cho nên Thượng sư rất vất vả rồi. Tôi mở ra xem thì không ngờ là Đại Hắc Thiên ba mặt. Tôi ngạc nhiên hỏi anh ấy có biết tôi sắp đi Malaysia làm pháp hội Đại Hắc Thiên không, anh ấy bảo không biết, chỉ tự nhiên làm bức này tặng tôi thôi. Vậy đây là gì? Đây chính là tương ứng. Sau khi làm quán đảnh xong, tôi sẽ tặng Tâm Đăng Đường bức tượng này. 

Tôi mong rằng sau này mỗi đông môn khi muốn thỉnh cầu gì, bạn có thể đến đây để cầu Đại Hắc Thiên ba mặt. Móc kim cang không chỉ câu tiền mà còn câu nhân duyên, và câu đi những thứ không tốt. Mani bảo châu là bạn có nguyện vọng gì thì sẽ cho bạn nguyện vọng đó. Gậy đinh ba là trừ ma trừ yêu. Vì thế vị Đại Hắc Thiên ba mặt này có thể đại diện cho Thất Phúc Thần. Om mani padme hum. 


![image](/img/img_6f588b7f0ae50b7a2e88d2887ba9ed55.jpg)

---
# File: tinh-tuyen/ts-lien-anh-phap-long-vuong-bao-binh.md
# Title: TS Liên Anh: Pháp Long Vương Bảo Bình
---

![image](/img/img_7943c5547112b926ac34a815dae1f690.jpg)



# Thượng sư Liên Anh khai thị pháp Long Vương Bảo Bình


Giảng pháp: Thượng sư Liên Anh
Thời gian: 18.04.2024
Địa điểm: Truyền Luật Lôi Tạng Tự - Malaysia
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Phần 1


⛩️ Truyền Luật Lôi Tạng Tự - Malaysia | 18.04.2024

Kính lễ Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn, kính lễ Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật, Long Quang Vương Phật, Long Nữ Phật, Diệu Vân Tướng Tự Tại Vương Như Lai, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. Kính lễ Truyền Luật Lôi Tạng Tự đàn thành Tam Bảo, kính lễ tất cả long thần chư tôn, quyến thuộc. Pháp sư, giảng sư, trợ giảng, chủ tịch, quản lý, tất cả đồng môn, đồng môn ở trên mạng, xin chào mọi người. A Di Đà Phật.

Vốn dĩ hôm nay không có khai thị, luật sư Hoàng nói với tôi rằng tu xong bảy đàn viên mãn, tức là tối thứ bảy, sau khi tu liền ba đàn xong thì mới khai thị. Tóm lại là đàn cuối cùng mới khai thị. Nhưng vừa rồi tu xong, tôi không kìm được muốn nói với mọi người rằng, bởi vì chủ đề tiếp theo mà tôi diễn giảng là nói về bí mật của long tộc. “Long Vương Tạng” nói rốt cục thế nào là Long Vương? Bí mật của rồng là gì? Và giảng về khẩu quyết nghi quỹ tu trì pháp Long Vương. 

Nếu như tu xong hết rồi mới nói về khẩu quyết thì có ý nghĩa gì nữa? Hình như có hơi lẫn lộn đầu đuôi, cho nên vừa rồi tôi cứ nghĩ mãi, tôi nói với Phật Bồ Tát rằng thật xin lỗi, vừa rồi làm đàn pháp tôi thật sự không nghiêm chỉnh lắm, mạch suy nghĩ của tôi có hơi chạy lung tung. Thế rồi sáng nay phải ra ngoài hơi sớm, cho nên vừa rồi tôi rất buồn ngủ. Vì thế cuối cùng tôi đã hiểu được dụng tâm của Thượng sư Liên Duyệt ở Trung Quán Đường. Trước mỗi buổi hỏa cúng hoặc pháp hội, đại khái phải dành 1/3, thậm chí là 2/3 thời gian để khai thị, cuối cùng tôi đã hiểu vì sao, bởi vì Thượng sư ấy muốn nói cho mọi người biết những thứ tinh hoa nhất, đó là một sự hướng dẫn và giới thiệu, vì thế tôi đang phân vân liệu chúng ta có nên điều chỉnh một chút hay không.

Buổi sáng là Hộ Ma Diêu Trì Kim Mẫu, thời gian khác liệu chúng ta có nên điều chỉnh một chút, tức là chia sẻ với mọi người một chút về những điều cốt lõi đơn giản, những thứ quan trọng nhất, để mọi người có khái niệm, như vậy bạn tu pháp mới nắm được bí quyết. Vì thế, trước tiên tôi nói với mọi người những chỗ mà tôi nghĩ là nên điều chỉnh. 

Thứ nhất là tâm chú Liên Hoa Đồng Tử, mỗi đàn niệm 21 biến, nếu không thì thời gian niệm sẽ dài quá, lại thêm gõ mõ, thế thì sẽ ngủ mất. Thứ hai, phần chúng ta phụng thỉnh, sau khi phụng thỉnh xong Căn bản Thượng sư và tổ sư các đời, xin hãy phụng thỉnh Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật 3 lần, phụng thỉnh Thế Tôn, giáo chủ Thích Ca Mâu Ni Phật 3 lần, đây là một trọng điểm. 

Bảo bình ở trước đàn thành của chúng ta hôm nay đều bày ở phía trước để làm trang nghiêm đàn thành, nhưng thật ra tu pháp này, khẩu quyết quan trọng nhất chính là ở trong phần Chính hành, bạn phải quán tưởng hết sức tỉ mỉ, miệng bình hóa thành đầu rồng, cổ bình hóa thành cổ rồng, thân bình hóa thành thân rồng, đáy bình hóa thành đuôi rồng, và cứ thế. Bởi vậy tôi đề nghị mọi người, nếu bạn không biết bảo bình của chính bạn ở đâu thì hãy đi tìm nó, chụp ảnh cũng được, đặt ở trước chỗ ngồi của bạn, khi tu đến phần Chính hành, bạn lấy bảo bình ra, nhìn vào bảo bình của bạn để làm quán tưởng. Nếu là đồng môn đến từ các nơi trên thế giới, bạn tự mình đi thỉnh bảo bình để mang đến đồng tu cũng được, bạn cần chú trọng vào quán tưởng này, phải biến hóa nó, không phải là để bày trước đàn thành cho đẹp mà phải lấy nó ra để dùng.

Còn nữa, một khẩu quyết quan trọng nữa mà Sư Tôn có nói, tu Long Vương bảo bình, bạn phải đem thứ mà bạn thích nhất ra, bỏ vào trong bình để cùng dâng cúng. Nhưng khi những bảo bình của chúng ta đem đến đây thì đã được đậy lại hết rồi, cho nên hình như không có quá trình bỏ các thứ vào bình, cho vào đó thứ mà chúng ta yêu thích. Thế nên tôi có đề nghị là giả sử bây giờ trên người bạn có thứ mà bạn thích, tôi từng nghe ví dụ như là bỏ nhẫn của mình vào trong bình, hoặc khi thả bình thì cùng thả cũng được, hoặc mời mọi người hãy suy nghĩ xem rốt cục cái gì là thứ mình thích nhất, thứ mà bạn khó rời bỏ nhất, nó không nhất định phải là thứ hữu hình, cũng có thể là thứ vô hình, trong quá trình bạn tu pháp, bạn phải đem cảm giác này đặt vào trong đó để dâng cúng.

Chúng ta tu đến phần Chính hành thì phải kéo dài thời gian ra một chút, tỉ mỉ quán tưởng Phật xuất hiện, rồng xuất hiện, quá trình rồng biến thành Phật phải có thứ tự và pháp vị, cho nên phần Chính hành phải quán tưởng chi tiết cẩn thận một chút.

Tiếp theo tôi muốn nói về chú âm mà chúng ta nghe vừa rồi là do Thượng sư Liên Cựu cung cấp, “Âm Thanh Lôi Tạng” hiện tại do Thượng sư ấy phụ trách. Trước tuần này, tôi đã đặc biệt nhờ Thượng sư ấy nhanh chóng làm chú Long Vương cho lần pháp hội này, vì thế vừa rồi là lần đầu tiên thế giới nghe được chú Long Vương này chính là ở tại Truyền Luật Lôi Tạng Tự. Chú âm này là vào năm 2018, tôi và Thượng sư Liên Cựu đã thu bản demo ở Đài Bắc, nhưng khi ấy gặp trở ngại trong vấn đề kinh phí, còn có những chú âm khác phải sáng tác, cho nên mãi vẫn chưa hoàn thành được nó.

Trước đó, sư tỉ Nguyệt Cầm đã tìm được rất nhiều mẫu tụng chú âm ở trên mạng, nói thật lòng là tôi không hài lòng với bản nào. Vì gần đây Sư Tôn luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của chú âm, bạn có chú âm thì mới có thể dung nhập cảnh giới đó, cho nên tôi rất miễn cưỡng, mặt dày nói với Thượng sư Liên Cựu, tôi cũng biết thầy ấy rất bận, không ngờ Thượng sư Liên Cựu từ bi, thầy ấy hỏi tôi pháp hội là khi nào thì trước pháp hội sẽ đưa.

Thật ra chế tác chú âm cũng đòi hỏi một số kinh phí, đúng lúc có một cơ duyên, mấy ngày tiếp theo tôi sẽ nói với mọi người, tóm lại là Thượng sư ấy đã từ bi nhanh chóng cung cấp chú âm này. Chú âm này chính là giọng của tôi và Thượng sư Liên Cựu, cũng là một khởi nguồn, tôi hy vọng mọi người vào buổi sau phải đặt toàn bộ thân tâm của mình vào trong chú âm đó. 

Pháp Long Vương bảo bình không nằm ngoài việc đặt toàn bộ thân tâm của bạn vào để dâng cúng, để cầu nguyện, đây là trọng điểm. Về sau, tất cả khẩu quyết và một số điểm thù thắng, tôi sẽ bật mí cho mọi người, vì thế cũng xin các đồng môn có mặt tại đây và ở trên mạng nhớ xem đúng giờ, như vậy bạn mới không bỏ lỡ. Om mani padme hum. 🙏


![image](/img/img_b790719298deebb1526d3d3d929fdd0f.jpg)



### Phần 2


⛩️ Truyền Luật Lôi Tạng Tự - Malaysia | 19.04.2024

Đảnh lễ Sư Tôn, đảnh lễ chủ tôn đồng tu, tất cả chư Phật, tất cả long tộc, bát đại Long Vương, chí thành kính lễ cảm tạ đã gia trì. Pháp sư, giảng sư, trợ giảng, quản lý, đồng môn, đồng môn đang xem trên mạng, xin chào mọi người, A Di Đà Phật.

8 rưỡi tối đến bây giờ là 9 rưỡi tối, gần một tiếng đồng hồ, nếu mọi người bị tê chân thì có thể đứng dậy đi lại một chút cũng không hề gì, tôi cũng muốn đứng dậy! 

Xin hỏi cảm nhận của các bạn khi làm đàn pháp vừa rồi thế nào? Có phải là có sự khác biệt không?

Chúng ta tu pháp nhất định phải tu được pháp vị, tuyệt đối đừng chỉ học vẹt. Không phải tôi nói về người dẫn dắt đồng tu vừa rồi, mỗi người có nhịp độ riêng, nhưng vừa nãy tôi từ nhà bếp đi tới đây, tôi nhìn thấy bài báo cáo về ngày 11/11 năm ngoái khi tôi đến đây, khiến tôi có một cảm tưởng, khi ấy tôi nói một câu rằng: “Bất kì pháp nào, thêm vào lửa, tức là nhiệt độ, khi ấy mọi thứ đều trở nên khác biệt bởi vì có thêm nhiệt độ. Nhiệt độ này là cái gì? Chính là cái tâm của bạn.”

Bạn hãy nhìn những văn tự tôi mới viết ở đây, đây không phải là tôi viết ra bản nháp, không phải là nghi quỹ của tôi khác người khác, xin hỏi những văn tự đó của tôi, những quán tưởng đó đến từ đâu? Đến từ tâm tôi. Cho nên, cúng dường tốt nhất của bạn dành cho Long Vương là cái gì? Vì sao tôi muốn trước khi kết thúc đàn pháp chia sẻ sớm với mọi người về “Long Vương Tạng” và 12 trang ghi chép mà tôi đã chuẩn bị trước? Đó là hy vọng mọi người có thể giống như tôi, bạn tìm hiểu về lời thề của ngài, hoàn cảnh của ngài, lai lịch của ngài và nguyện lực của ngài, hiểu được những yêu cầu của các vị, phải có sự “đầu tư” như vậy thì mới có thể cảm động các vị. Bao gồm vừa rồi quán tưởng Sư Tôn, vì sao rồng từ trên long bào Sư Tôn mặc trên người lại bay ra, tôi cũng chưa bao giờ quán tưởng như vậy, vì sao? Bởi vì trong đầu tôi, Căn bản Thượng sư chính là thầy của rồng, cho nên mỗi một đàn pháp, sự gia trì của dòng truyền thừa gốc của bạn là rất quan trọng, ngay cả tu pháp Long Vương bạn cũng phải đưa dòng chảy pháp của truyền thừa vào trong pháp này. 

Mỗi giáo phái đều có tu Long Vương, không phải chỉ có Chân Phật Tông, vậy đệ tử Chân Phật tu pháp Long Vương có chỗ nào khác? Chỗ khác biệt nằm ở pháp của chúng ta là Sư Tôn truyền, thủ ấn là Sư Tôn truyền, khẩu quyết là Sư Tôn truyền, tâm yếu là Sư Tôn truyền, vì thế, khi tôi quán tưởng, tôi phải thỉnh cầu Sư Tôn gia trì cho pháp hội này, gia trì cho từng cái bảo bình. Cho nên trước khi chúng ta tu đàn thứ nhất, Lôi Tạng Tự mời tôi dùng hương để gia trì cho những bảo bình này, thật ra đó chỉ là một hình thức, gia trì thật sự là gì? Đó là mỗi một đàn pháp, chúng ta phải thành tâm thành ý cầu nguyện Phật Bồ Tát giáng xuống bố quang, đó mới là sự gia trì đối với bảo bình. Cho nên vừa rồi tôi có nói, khi hồi hướng cầu  nguyện tôi có nói đến hai chữ “bố quang”, cũng giống như phù lục, một lá phù muốn có hiệu quả thì quan trọng nhất là tâm của chính mình, như thế mới có thể sinh ra hiệu lực và tác dụng. Trọng điểm nằm ở bố quang, nếu một lá phù không có bố quang thì lá phù đó không có tác dụng. Phù hộ thân của bạn, ngày nào bạn cũng đeo lên rất đẹp đẽ, nhưng không có bố quang thì cũng vô tác dụng. Bảo bình của bạn không có Phật Bồ Tát bố quang thì cũng không có tác dụng.

Phải bố quang như thế nào? Dùng tâm của bạn cầu nguyện, sau đó, ngoài Ngũ Phật ra, quan trọng nhất là phải thỉnh Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật, vì sao? Phải thỉnh Long Quang Vương Phật, vì sao? Bởi vì mấy vị này chính là những tấm gương sáng từ rồng thành Phật. Chính là những tấm gương mẫu mực! Long tộc muốn thành Phật, trong quá khứ có mấy vị từ long tộc thành Phật, bạn nhất định phải thỉnh họ đến. Và phần tiếp sau đây lẽ ra vào pháp hội ngày chủ nhật tôi sẽ nói cho mọi người biết, cho nên không nói quá nhiều, nhưng, trong tu trì nhất định phải có bí quyết.

Vì sao vừa rồi tôi lại phải can thiệp như vậy? Mọi người nghĩ chắc là Thượng sư muốn biểu diễn, thế rồi đem micro qua để tự mình dẫn dắt tu đàn pháp này. Các bạn không biết rồi, tôi đúng ra rất muốn ngủ. Nhưng vì sao tôi phải làm như vậy? Vì đó là Long Vương nói với tôi rằng xin Thượng sư hãy dẫn dắt tu pháp. 

Như vậy cũng là một sự bố thí pháp. Tối qua tôi nằm mơ, tôi phải nói với mọi người một điều, đây cũng là điều mà tôi rất tiếc nuối. Tôi là Thượng sư thường trụ của Pháp Hoa Đường, nhưng tôi vẫn luôn nói với mọi người rằng, tôi đã trở thành không thường trụ rồi, bởi vì tôi thường xuyên đi vắng, năm nay tôi đã đi Kuching, nhưng tôi chỉ đi qua đó thôi, không làm pháp hội ở đó. Nhưng ở Pháp Luân Lôi Tạng Tự có Thượng sư Liên Doãn kính yêu của chúng ta, thầy ấy rất từ bi, thấy tôi đi đến đó thì mời tôi đi ăn cơm, cũng không phải là thầy ấy mời, mà là công đức chủ cùng mời tôi. Khi ngồi xuống, thầy ấy hỏi tôi: “Khi nào thì Thượng sư lại đến Malaysia?” Tôi nói: “Tôi đến đây như vậy vẫn chưa đủ sao? Đã phải “tem tém” lại bớt rồi mà vẫn là đến chưa đủ sao?” Thầy ấy nói: “Tôi muốn mời thầy đến để làm bài giảng về nghi quỹ Mật giáo trong bảy ngày, hoặc ba ngày, hay hai ngày đều được, đến để dạy Phật học cũng được.” Tôi nói: “Tôi nào dám, cũng không có nhiều thời gian như vậy.” Thầy ấy nói: “Thượng sư giảng dạy hay như vậy, thầy có thể đến để dẫn dắt mọi người thì rất tốt.”

Thầy ấy nói với tôi: “Nền tảng Phật học của thầy tốt hơn tôi, tôi không dám giảng bài.” Tôi nói: “Đâu có đâu có, xin đừng nói như vậy, trong quá trình tu hành của mỗi người, họ sẽ hiểu biết được những thứ khác nhau, trải nghiệm cũng khác, Phật học của tôi tuyệt đối không phải là giỏi, chỉ là tôi rất chăm chỉ học tập những thứ này thôi, thật sự là tôi đặt rất nhiều tâm trí vào việc học.” Thượng sư ấy nói với tôi một câu: “Vì sao đồng môn ở Đài Loan không trân trọng thầy?” Thầy ấy nói Pháp Luân Lôi Tạng Tự của họ đã đào được kho báu, buổi pháp hội đầu tiên đã mời thầy chủ trì Đại Nhật Như Lai siêu độ dịp Tết Thanh Minh. Tôi nói cảm ơn Pháp  Luân Lôi Tạng Tự đã cho tôi cơ hội ăn một miếng cơm, có một sân khấu, chính vì tôi đã đi đến Pháp Luân Lôi Tạng Tự cho nên về sau mới có nhiều lời mời như vậy, tôi nói cảm ơn sự đánh giá cao của thầy ấy. Thầy ấy nói: “Thượng sư có rất nhiều fan hâm mộ đến từ rất nhiều nơi.” Thật ra tôi không biết vì sao, nhưng nếu phải nói thì tôi chỉ có thể nói rằng tôi đã đem hết trái tim mình ra cho mọi người.

Tôi đã cháy hết mình để làm việc, mọi người đều nói tôi rất trẻ, nhưng cho dù có trẻ thì nhục thể này cũng vẫn làm bằng thịt thôi. Các bạn có biết chuyến này tôi đến, tôi đã bay bao nhiêu chuyến bay không? Thân thể tôi mệt rã rời, nhưng tối hôm qua tôi đọc “Long Vương Tạng”, đọc tới hơn 2 giờ sáng để xem có thể trích ra được những tâm yếu nào không, hoặc là có gì đó có thể chia sẻ với mọi người không. Thậm chí nếu chỉ một câu một chữ có lợi ích cho chúng sinh thì tôi đều cảm thấy đây là sự báo đáp mọi người tốt nhất. Vì sao lại như vậy? Sư Tôn nói “phân thân xả cốt độ chúng sinh”, làm sao chúng ta có thể so sánh với Sư Tôn. Có điểm nào sánh bằng được Sư Tôn? Bạn chỉ có thể học tập Sư Tôn. Học tập thế nào? Bạn nói bạn muốn học tập Sư Tôn, nhưng bạn lại không làm điều đó trong cuộc sống, vậy thì đều là giả. Bạn độ chúng sinh, người này bạn thích thì bạn độ, người kia bạn nhìn thấy ghét thì bạn không độ, không thể có chuyện như vậy. Đạo tràng này có duyên với bạn, đạo tràng kia không có duyên với bạn, thế là bạn bắt đầu chọn lựa, đây không phải là phát bồ đề tâm. Vì thế hôm nay tôi nỗ lực như vậy bởi vì tôi biết những thứ này là kho báu, buổi sáng tôi đã nói với mọi người rồi, long tộc rất muốn mọi người biết sự tồn tại của họ. Nhưng tôi đã nói rồi, kiến thức này phải rất vững chắc, dựa trên lý thuyết, có thể khảo chứng, có quá trình phát triển. Quá trình phát triển tức là có biến hóa, có quá trình thay đổi, không thể nói miệng suông rằng: “À, tôi biết rồng, tôi biết Phật, tôi biết Bồ Tát!” Chúng ta nghiên cứu Phật học phải dựa trên thực tế vững chắc. Tôi vừa nghĩ đến khi ở Tâm Đăng Đường tôi đã nói, tôi nói càng nghiên cứu về Bất Động Minh Vương, càng tìm kiếm trong kinh điển những dấu tích của ngài thì càng nhận ra sự tầm thường và thiếu sót của bản thân. Vì thế người tu hành làm sao có thể kiêu ngạo tự đại? Bạn càng đọc kinh tạng thì bạn càng biết trong Phật pháp bao la, bạn chẳng là cái cọng hành gì cả!

Bởi vậy vì sao cần đọc kinh tạng? Khi chưa đọc kinh tạng, tôi không biết hình tượng của rồng, tôi không biết lai lịch của rồng. Sư Tôn có một chương sách nói rằng mọi người đều nói rồng trông như thế nào ra sao, đó gọi là thầy bói xem voi thôi, đó là tự tưởng tượng ra. Sư Tôn nói hôm nay sẽ nói cho người đời biết hình tượng của rồng, tức là muốn nói với mọi người rằng học Phật không thể người mù dẫn dắt người mù, không thể như thầy bói xem voi, không thể dựa vào tưởng tượng, phải dựa vào chính bạn đi chứng minh trên thực thế rằng Phật pháp là thật.

Bố tôi thường nói rằng ông là một học giả, một giáo sư, một nhà khoa học. Điều tôi học được từ ông là nếu bạn biết điều gì đó, hãy nói rằng bạn biết điều đó. Nếu bạn không biết điều gì đó, hãy nói rằng bạn không biết. Biết hai phần thì nói là hai phần, biết năm phần thì nói là năm phần, đây gọi là làm nghiên cứu. Thế rồi bạn biết điều gì thì bạn phải nói được tại sao bạn biết.

Cho nên tại sao hai chữ “tại sao” lại quan trọng như vậy? Khi còn nhỏ tôi không hiểu, càng lớn thì càng hiểu ra, càng đọc kinh Phật càng hiểu thì ra hai chữ này chính là động lực để bạn không ngừng tiến bộ, bạn phải hỏi chính mình “tại sao”. 

Vì thế, bạn thấy tại sao tôi lại ghi chép trang này đến trang khác? Bởi vì mỗi khi tôi tra đến một từ, tôi liền hỏi chính mình tại sao kinh điển lại nói như vậy? Có hợp lý không? Thế là tôi lại đi kiểm tra tiếp những chỗ khác có nói như thế không, Sư Tôn đã từng nói chưa, quan điểm của các tổ sư khác như thế nào. Chỉ bằng cách này, những gì bạn học được mới vững chắc, chỉ khi đó bạn mới có thể chắc chắn về bản thân và chỉ khi đó bạn mới có thể vững vàng tiến về phía trước. 

Tối hôm qua tôi đi ngủ rất muộn, khoảng 2 giờ sáng, đánh răng và đi tắm xong thì lên giường đã là 2 giờ rưỡi. Tôi biết buổi sáng 8 giờ 30 phải ăn sáng thì cảm thấy thật đau khổ, nhưng vẫn phải ăn thôi. Trước khi ngủ tôi cầu nguyện, quán tưởng giường mình hóa thành hoa sen giống như Sư Tôn dạy, nghi thức trước khi ngủ này tôi cũng làm. Nhưng tối hôm qua tôi làm đặc biệt hơn, tôi mời tất cả long tộc, Long Phật đến trong giấc mơ của tôi, xin gia trì cho tôi, và xin nói cho tôi biết có điều gì tôi cần chú ý và cần chia sẻ với mọi người không, có điều gì tôi còn thiếu sót không, có chỗ nào mà tôi vẫn còn phải cố gắng không?

Buổi sáng, tôi nhớ là tôi thức dậy để đi vệ sinh một lần, trước lần đi vệ sinh đó, sáng sớm tinh mơ, tôi mơ thấy một con rồng hình người, tôi biết đó là Long Vương, nhưng không giống Long Vương đội mũ miện cầm kiếm, nhưng tôi biết là Long Vương. Ngài nói: “Thượng sư Liên Anh, thầy cố gắng như thế là vì cái gì?”

Ở trong mơ tôi nghĩ rất lâu, tôi nói với ngài: “Tôi chẳng vì gì cả, tôi không nói ra được là tôi vì cái gì.” Kết quả là Long Vương nói: “Tôi thích câu nói không vì cái gì của ngài.”

Vì thế Sư Tôn nói, hãy cố gắng hết sức trong mọi việc nhưng kết quả thì tùy duyên, bạn phải cháy hết mình. Bạn nghĩ rằng trong quá trình này tôi không cảm thấy cảm thán sao, không cảm thấy buồn sao? Tôi vừa nói tôi là Thượng sư thường trụ ở Pháp Hoa Đường, tôi bắt đầu hoằng pháp cho đến nay, khắp nơi đều có thể nhìn thấy hành trình hoằng pháp của tôi, ở trên trang web, Line, Facebook, khắp mọi nơi. Những người bạn, bạn học, đồng môn, đồng môn ở Phật đường mà tôi quen biết, có người nào nhìn thấy hành trình hoằng pháp của tôi mà nói với tôi “chúc Thượng sư hoằng pháp thuận lợi, pháp hội viên mãn” không? Tôi nói để mọi người biết, trong một nghìn người không có đến năm người. Tôi gửi cho một người bạn mà rất lâu tôi chưa liên lạc, cậu ấy nói với tôi, chúc pháp hội của thầy viên mãn!

Tôi cảm thấy buồn ghê gớm. Một người bạn bình thường không liên lạc, khi biết bạn làm pháp hội vất vả cũng có thể nói chúc pháp hội thuận lợi viên mãn. Còn những người bình thường có vẻ rất thân, nói là đồng môn kim cương, nhưng lại làm như không nhìn thấy, dù sao thì thầy làm pháp hội đó là việc của thầy, chẳng liên quan gì đến tôi, thầy cũng không làm ở tại Pháp Hoa Đường mà. Có liên quan gì tới việc của tôi chứ?

Những người thân cận này không có ai nói với tôi chúc Thượng sư làm pháp hội viên mãn. Vì thế, Long Vương đã hiển hiện trong giấc mơ của tôi, ngài nói những người này hoàn toàn không hiểu thế nào gọi là tôn trọng pháp, họ cũng không biết tôn trọng ngài là Thượng sư, vậy thì tại sao ngài vẫn cứ muốn làm như vậy? Tôi nói tôi chẳng vì gì cả!

Tôi làm những điều này không phải để người ta tôn trọng tôi, không phải để cho chính mình trở nên nổi tiếng, không phải để làm giàu cho chính mình. Không hề một chút nào! Tôi chỉ hy vọng những điều tôi vừa nói, nếu bất kì một người nào đang ngồi đây, nghe được từng chữ từng câu của tôi, bạn có được tín tâm đối với Phật pháp, bạn có tín niệm đối với căn bản truyền thừa, cho dù chỉ một chút xíu đi vào trong cuộc sống của bạn, cộng thêm một chút nhiệt độ, tôi đều cảm thấy “sáng nghe pháp chiều chết cũng cam lòng”. Tôi hoằng pháp với cái tâm như thế đó, mọi người có biết không?

Cho nên là, cảm thán, thật sự là cảm thán! Phật Bồ Tát biết tôi, Bổn tôn biết tôi, Hộ pháp biết tôi, tôi vẫn sẽ tiếp tục làm, đây là cái tâm của tôi, giống như Sư Tôn vậy.

Bao nhiêu người không thể hiểu được Sư Tôn, bao nhiêu người không nhìn thấy nỗ lực của Sư Tôn, cho nên đừng nhìn vào bề ngoài mà hãy nhìn nội tại của ngài, nhìn xem rốt cục ngài đang làm cái gì. Bởi vậy, giống như khi tôi nghe được Thượng sư kia đang hoằng pháp, rất lâu không liên lạc rồi, tôi nói, chúc Thượng sư hoằng pháp thuận lợi. 

Tôi thảo luận về chú âm cùng với Thượng sư Liên Cựu, tôi nói với Thượng sư rằng: “Thượng sư, thầy vất vả rồi! Làm chú âm rất vất vả, tôi biết ngày nào thầy cũng phải tranh thủ! Hy vọng việc thầy làm chú âm sẽ được thuận lợi viên mãn!” Tôi bất kể là nhìn thấy ai, thấy nhân viên hoằng pháp thì tôi đều nói như vậy. Tại sao? Hoán đổi vị trí của mình và người khác. Bạn biết sự nghiệp bồ đề không dễ dàng, cho nên bạn cổ vũ họ, đây là cái gì? Đây là bố thí. Bởi vậy Sư Tôn nói rồi, bố thí tuyệt đối không chỉ là tiền, bố thí tiền chỉ là một thứ rất cơ bản, còn có bố thí pháp, còn có bố thí nụ cười, để người ta cảm thấy ấm áp, cổ vũ cũng là một dạng bố thí. 

Tại Pháp Luân Lôi Tạng Tự, tôi từng nói, bạn nhấn nút “like” cho đạo tràng hoằng pháp, rồi chia sẻ thông tin ấy đi, để càng nhiều người biết được tin tức về sự kiện hoằng pháp đó, và biết được lai lịch của chủ tôn, đó có phải là bố thí không? Chính nó. Đó là một sự quan tâm của bạn dành cho chúng sinh, bởi vì chia sẻ chính là bạn không chỉ nghĩ cho chính mình mà còn muốn chia sẻ với người khác, như vậy chính là bố thí.

Cho nên lại nói về điều mà Long Vương nói, bạn phải có cái nhân bố thí thì mới có thể có được tất cả thiện quả. Bố thí như thế nào? Không phải chỉ có trong khi tu pháp mới phát tâm, bình thường trong cuộc sống bạn làm thế nào thì không thể lừa được ai đâu! Trời biết đất biết bạn biết tôi biết! Chỉ sợ là chính bạn không biết thôi! Là như vậy đó. 

Vì thế hôm nay tôi dùng cách thức này để dẫn dắt mọi người, hy vọng để lại trong cuộc sống của mọi người một chút kỷ niệm. “Ồ! Tu một đàn pháp Long Vương, pháp Long Vương này có một chút hương vị!” Hãy đem pháp vị này vào trong cuộc sống của bạn, sau này trong mỗi đàn pháp, bạn đều có thể vận dụng như vậy, tôi tin rằng mỗi người, ngoài tu pháp Long Vương ra, sau này bạn ở đạo tràng đồng tu bất kì chủ tôn nào, bạn nhất định cũng có thể có cảm nhận khác biệt. Vâng, cảm ơn mọi người. 

Om mani padme hum. 🙏


### Phần 3



![image](/img/img_a381bb60c9155d4e61f485a93a833fea.jpg)


⛩️ Truyền Luật Lôi Tạng Tự - Malaysia | 20.04.2024

Một lần nữa chắp tay cung kính đảnh lễ Căn bản Truyền thừa Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật, kính lễ Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính lễ Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật, Long Quang Vương Phật, Long Nữ Phật, Diệu Vân Tự Tại Vương Như Lai, tất cả Long danh chư Phật, tất cả Long danh chư Bồ Tát, tất cả Long danh Kim cang thần chư tôn, bát đại Long Vương, ngũ đại Long Vương và quyến thuộc. Kính lễ đàn thành Tam Bảo.

Pháp sư Liên Khang kính yêu, giảng sư, trợ giảng, tất cả các đồng môn và đồng môn xem trên mạng, và cả những khách quý mà chúng ta nhìn thấy hoặc không nhìn thấy, xin chào mọi người, A Di Đà Phật.

Trước tiên cảm ơn pháp sư Liên Khang trước khi chúng ta tu pháp bảo bình đã dẫn dắt mọi người niệm “Phật thuyết Hải Long Vương kinh”, tất cả đều viên mãn, và cả mấy đàn pháp bà ấy dẫn dắt rất tốt, đã khiến cho mọi người tràn đầy pháp hỷ. 

Tôi thay mặt cho Truyền Luật Lôi Tạng Tự mở lời, hy vọng pháp sư Liên Khang sẽ ở lại đây để phục vụ mọi người, tôi cảm thấy rằng một đạo tràng trang nghiêm, một đạo tràng có đầy đủ mọi thứ thì càng không thể thiếu tăng bảo, cho nên xin pháp sư tôn quý hãy cân nhắc. 

Ngoài ra cảm ơn đại gia đình Tâm Đăng Đường đã lái xe từ Kuala Lumpur đến hộ trì, cảm ơn trợ giảng của Nội Minh Mật Uyển đã lái xe đến hộ trì, cảm ơn các sư huynh sư tỉ đến từ Singapore, và cả từ Johor Bahru nữa nhỉ. Cảm ơn Nhã Linh và em gái cô ấy đã lái xe đưa tôi đến đây, xin cảm ơn mọi người.

Vốn dĩ là không có khai thị, nhưng ngày mai sẽ không có giảng bài, ngẫm nghĩ thì vẫn nên nói một chút. Ngày hôm trước khi chia sẻ với mọi người về Long Vương, trang thiết bị không được ổn, cho nên những lúc chập chờn gián đoạn, đầu óc tôi cũng bị “kẹt”, có một vài thứ chưa nói xong, hôm nay tôi sẽ bổ sung một chút. 

Chúng ta có nói đến những thứ bỏ vào trong bảo bình Long Vương, có những dược liệu quý đại diện cho Ngũ Hành, đại diện cho não, tim, dạ dày, phổi, gan, thận, dùng hình bổ hình. Cúng bảo bình này giống như thỉnh cầu Phật Bồ Tát ban phúc cho thân thể chúng ta. Trong truyền thừa khác, bảo bình Long Vương cũng được xem là một vật linh thánh, không nhất định là phải đem đi dâng ở biển mà cũng có thể cúng tại đàn thành hoặc nơi tụ tài bảo trong nhà, tượng trưng rằng kho báu đặt ở đó, đây cũng là một vật may mắn. Nhưng ở trong Chân Phật Tông, pháp bảo bình mà Sư Tôn truyền thì khi tu xong sẽ đem đi thả, đây thuộc về truyền thừa của Chân Phật Tông. Thế còn bình thường đàn thành trong nhà bạn  muốn thờ cúng bảo bình Long Vương cũng được, bạn hãy xem như  là cúng Long Vương, bình ấy cũng tượng trưng cho Long Vương nên có thể thờ cúng, còn việc bạn có muốn đặt nó ở vị trí tài bảo hay không thì do bạn tự quyết định.

Nhưng có một vấn đề rất hay như thế này, bởi vì tôi nghe nói lần này, điều rất viên mãn là bảo bình của chúng ta, mọi người đoán xem có bao nhiêu? 99 cái! Vừa đúng 99 cái, đây là một con số đẹp, vì sao số 9 lại đẹp? Trước kia nói rằng hoàng đế cổ đại có 95 vị chí tôn, số 9 đại diện cho trời, tức là rồng, cho nên 99 là long long, cũng là một dạng tương ứng. Sư tỉ Nguyệt Cầm nói thỉnh Phật trụ thế cửu cửu, đây cũng là lời cầu nguyện đầu tiên khi chúng ta làm bảo bình Long Vương, mọi người có lời thỉnh cầu chung đầu tiên chính là hồi hướng cho Sư Tôn. 

Thế còn cái gì cửu cửu? Phát tài cửu cửu, kiện khang cửu cửu, quý nhân cửu cửu, kính ái cửu cửu, toàn bộ đều là cửu cửu, lúc này đừng làm việc gì xấu, nếu không việc xấu của bạn cũng sẽ trở thành trộm cắp cửu cửu, khoác lác cửu cửu mất. Phải chú ý đấy! [Ở đây có chơi chữ, chữ cửu - số 9 và cửu - vĩnh cửu là đồng âm.] Vì đã có được duyên khởi tốt như thế này, tự mình cũng phải chú ý. 

Hôm trước giảng xong thì sư tỉ có hỏi tôi là có thể đi dâng bảo bình hộ được không. Tôi đi kiểm tra khai thị của Sư Tôn thì Sư Tôn nói thế này, bởi vì bảo bình là bạn đặt trước đàn thành, tu quán tưởng, cái bình đó thuộc về bạn, chứ không thì vì sao mỗi cái bảo bình đều có ghi tên của bạn? Vì thế Sư Tôn trả lời thế này, nếu người khác giúp bạn đi dâng bảo bình, thế thì sẽ biến thành bình của người khác, cho nên tốt nhất là nên dẹp hết mọi khó khăn để tự mình đi dâng. Có một số người khả năng không ngồi thuyền được, cho nên chẳng có cách nào để họ làm lễ dâng, lúc này phải làm sao? Bạn chỉ có thể cầu nguyện Phật Bồ Tát, nếu bạn thật sự có việc gì đó khiến không còn cách nào khác, phải nhờ người ta giúp, ví dụ nhờ Thượng sư giúp, pháp sư giúp, thì tự bạn lo liệu. Tốt nhất là tự mình đi dâng, Sư Tôn khai thị trong “Trò hỏi Thầy đáp” có nói đây cũng là một điểm quan trọng.

Ngoài ra, hôm trước còn chưa nói với mọi người rằng tu pháp Long Vương rốt cục cần cúng phẩm gì. Tôi tin rằng trong lòng mọi người đều đã có sẵn một khái niệm, nhưng tôi chia sẻ với mọi người một chút là Tạng mật truyền thống có một vài cúng phẩm rất đặc biệt. 

Thứ nhất là huyết rồng, bạn có thể mua ở các cửa hàng thảo dược hoặc cửa hàng thực phẩm tốt cho sức khỏe, khi nghiền thành bột sẽ có màu đỏ nhạt, tượng trưng cho hồng bồ đề. Thật ra nếu trong bảo bình của chúng ta có kỷ tử thì kỷ tử cũng có thể thay thế cho huyết rồng, nó cũng tượng trưng cho hồng bồ đề. 

Lần này khi tôi đi nước ngoài, Phật đường của chúng tôi có một sư tỉ, cô ấy bán sản phẩm chăm sóc da, cô ấy cúng dường tôi một chai dưỡng da. Tôi thường xuyên làm Hộ Ma, làm Hộ Ma thì mặt đều sẽ… không thể nói là bị bỏng, nhưng dù sao cũng bị nóng tới mức đỏ lên, giống như bị viêm vậy, thật sự là có hại cho da. Cô ấy đưa cho tôi một lọ kem dưỡng da, khi thoa lên mặt có hiệu quả dưỡng da rất tốt, tên của lọ đó gọi là huyết rồng, nhưng tôi đã dùng hết một nửa rồi, không thể lấy ra để cúng, nhưng đây cũng là một nhân duyên rất trùng hợp. 

Thứ hai là bột long cốt, tại hiệu thuốc Đông y cũng có thể tìm mua được. Long cốt được nghiền thành bột tượng trưng cho bạch bồ đề của Long Vương. Chúng ta biết rằng hồng bồ đề và bạch bồ đề trong Mật giáo mà nói, về phương diện tu hành Nội pháp là vật phẩm rất quan trọng, cũng tức là nội tiết tố trong thân thể bạn, nam nữ đều có. Ví dụ chúng ta tu pháp xả thân của Mã Cát Lạp Tôn, trong pháp xả thân của Hắc Phẫn Nộ Mẫu, bạn phải quán tưởng bạch bồ đề và hồng bồ đề trong thân thể bạn đầy ắp hư không để cúng dường, khiến cho Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp hoan hỷ, khiến lục đạo chúng sinh hoan hỷ, khiến oan thân trái chủ hoan hỷ. Cho nên, hồng bạch bồ đề ngoài đại diện cho tinh thần của rồng thì còn là một cúng phẩm rất trân quý. Nhưng vì sao lại có hai thứ? Bởi vì rồng vẫn ở trong dục giới, dục giới thì có tướng nam nữ, có rồng đực và cũng có rồng cái, có thiên thần nam và cũng có thiên thần nữ, đó là vì sao có sự phân biệt.

Khi hồng bạch bồ đề hòa tan vào nhau sẽ hóa quang, giống như là chuyết hỏa đi lên làm tan bồ đề tâm nguyệt dịch ở thiên tâm, mở ra năm luân xa của bạn, hai thứ tan nhập vào nhau rồi hóa quang đi vào trong cung điện của Bổn tôn, Bổn tôn khi ấy đã không còn tướng nam nữ. Đây là thứ tự tu hành của Nội pháp trong Mật giáo. Ở đây tôi bổ sung một chút, tóm lại là có cúng phẩm như vậy.

Thứ ba là hải long, hải long chính là hải mã đó, cũng là một loại thuốc Đông y, mọi người có biết không? Để bổ khí. Mấy hôm nay chúng ta đến Shangri-La để ăn tối, mọi người có chú ý trên cột của Shangri-la chính là hải mã, tức là hải long, ở đây viết rằng hải long đại diện cho Bổn tôn của Long Vương. Vì thế tất cả mọi việc đều có sự tương ứng, vì sao chúng ta lại tu pháp Long Vương ở đây? Bởi vì bản thân huyện Pontian là cảng cá, toàn bộ khu vực lân cận đều là làng chài nên chắc chắn có nhiều Long Vương. Nhưng cần phải chú ý, bởi vì người ở cạnh làng chài thông thường đều thích ăn cá, ăn hải sản, pháp Long Vương có một điều kiện nho nhỏ, đó là trong thời gian tu pháp Long Vương, bạn cố gắng hết sức không ăn hải sản, bởi vì trong Long Vương Kinh có nói, có một nguyên nhân mà Long Vương không vui đó là vì mọi người đều cứ ăn chủng loại của ngài, dẫn đến sự cân bằng sinh thái của họ bị phá hủy. Tất nhiên chúng ta cũng khó trách lỗi này, và đương nhiên chúng ta có thể siêu độ, nhưng mà lực siêu độ của bạn có đủ không thì cũng là do mỗi người phải đảm đương. Bởi vậy tôi khuyên mọi người, nếu bạn không có công lực thì tốt nhất là bạn đừng ăn, bằng không bạn tu pháp Long Vương, bạn chưa kịp cầu nguyện được gì, bạn đi ra biển để dâng bình thì… “A! Chính là anh đã ăn ta!” Thôi xong! Thế nên cần phải cẩn thận. 

Thứ tư, có một loại quả gọi là quả nhãn, có không? Long nhãn khô, quả nhãn, tượng trưng cho mắt rồng, có thể cúng nhãn, sau đó, bạn đừng bóc vỏ quả nhãn ra, cần phải cúng cả quả để tượng trưng cho mắt của rồng. Long nhãn cũng là một loại thuốc bổ, tượng trưng cho viên mãn. 

Thứ năm là trà. Có một loại trà gọi là Long Tỉnh, vì thế có thể cúng trà. Bình thường làm Hộ Ma đều có cúng trà, tượng trưng cho tư lương, pháp vị, hơn nữa lá trà là thứ được mưa và sương của Long Vương tưới đẫm mà sinh trưởng, cho nên cũng tượng trưng cho năm nền móng chính, đó là đất trong đất-nước-lửa-gió-không, chính là trà.

Thứ sáu là chính là thuốc cho năm luân xa, là thiên ma, hoàng kỳ, đương quy, bạch truật, hà thủ ô hoặc kỷ tử, tượng trưng cho thân thể của rồng.

Thứ bảy là hợp hoan bì, cũng là một loại thuốc Đông y, tượng trưng cho da của Long Vương. 

Thứ tám là câu đằng, mọi người từng nhìn thấy chưa? Có hơi giống đại hồi, nhưng màu sắc thì khác, giống như là móng vuốt của Long Vương. 

Thứ chín là rễ nhân sâm, tượng trưng cho tóc của rồng, cũng là thuốc rất bổ. 

Thứ mười là đồ trang sức bằng vàng, hoặc thứ mà chính bạn thích nhất. 

Những thứ vừa kể trên, xin mọi người hãy ghi lại, sau này nếu bạn tự chuẩn bị bảo bình thì tốt nhất là hãy chuẩn bị những thứ này để cúng, bạn bày ở trước đàn thành để cúng cũng được, đều là để tượng trưng.

Cúng phẩm trong Mật giáo đều có đạo lý hô ứng lẫn nhau, bạn cúng cái gì, bạn cầu cái gì, chúng ta làm Hộ Ma đều biết, bạn cúng cái gì thì tượng trưng cho cái gì, đây là một điểm quan trọng.

Hôm trước đã nói về hình tượng, thủ ấn của Long Vương, tôi quên chưa nói về chú ngữ, thế rồi mọi người nói rằng mọi người đã nghe chú ngữ rồi, thường nghe thấy nhất là chú ngữ vừa mới phát “Nam-mô san-man-tô mô-thô-nam wa-zư-la mi”. Hôm nay có một đồng môn rất thú vị, anh ấy hỏi riêng tôi rằng vì sao chú của Bất Động Minh Vương và chú của Long Vương chỉ khác có hai chữ, có phải là vì các vị đó có quan hệ huyết thống không. Tôi nói rằng sức tưởng tượng của anh thật phong phú! Đúng là trên tay của Bất Động Minh Vương có rồng, nhưng trọng điểm không phải là quan hệ huyết thống, mà là vì Sư Tôn đã nói, chú ngữ của Đông mật đều bắt đầu bằng “Nam-mô”, giống như là “Nam-mô san-man-tô mô-thô-nam wa-zư-la đa-mô sê”. Chú ngữ mà có bắt đầu như vậy thì chính là chú ngữ của Đông mật, “Nam-mô san-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wây sô-ha”. Câu chú Tạng mật thường bắt đầu bằng “Ôm”, vì thế đừng tự mình làm mình rối. 

Còn có câu chú thứ hai, đó là “Ôm na-ka na-ka mi”. Hoặc Sư Tôn từng niệm là “Ôm na-kya na-kya mi”. Hai âm này đều được. Na-kya chính là na-ka, na-ka có nghĩa là rồng. Trong tiếng Phạn, tiếng Indonesia, tôi không biết trong tiếng Malay thì có gọi là naga không, nhưng naga nghĩa là rồng. Đây là danh chú. Chú ngữ trong Mật giáo phân làm mấy loại, chú sự nghiệp, chú yết ma, tiêu tai, hàng phục, tăng ích, còn có danh chú, danh chú tức là bạn xưng hô tên của ngài, ví dụ như “Ôm pê-cha a-ta-ơ-ma ta-tu sô-ha”. A Đạt Nhĩ Mã chính là Bản Sơ Phật, bạn xưng hô tên của ngài thì tức là danh chú. Vì thế, “Ôm na-ka na-ka mi” cũng là danh chú.

Nếu mọi người để ý kĩ thì trong nghi quỹ của chúng ta phần Chính hành có một chủng tử tự, chữ này gọi là “Mi”, đây là chữ tiếng Phạn, có ai tò mò vì sao trong nghi quỹ có chủng tử tự này nhưng lại không quán tưởng nó không? Thật ra bạn cũng có thể quán tưởng đầu tiên chữ này hiển hiện trong nguyệt luân, sau đó xoay tròn biến hóa thành Long Vương, sau đó Ngũ Phật trụ ở phía trên Long Vương cũng được, bởi vì bản thân chữ này tượng trưng cho Long Vương. Nếu bạn muốn quán tưởng thì phải quán tưởng chủng tử tự màu xanh lam. Còn có một bí quyết nữa, khi tu pháp Long Vương phải quán tưởng trong hư không có tất cả rồng, nhưng nếu khả năng quán tưởng của bạn không được thì làm thế nào? Bạn hãy quán tưởng chủng tử tự này lấp lánh trong hư không giống như sao vậy, chữ này đại diện cho rồng, tôi sẽ viết chữ này bằng tiếng Tạng cho mọi người xem.

Ồ, lại có tiếng sấm rồi! Chữ này cũng là “Mi” nhưng là tiếng Tạng, bạn quán tưởng chữ này bằng tiếng Phạn hoặc Tạng đều được. 

Còn nữa, trong một cuốn văn tập của Sư Tôn, rất khó phát hiện ra, trong văn tập hồi đầu có viết rằng ngài dùng pháp Long Vương để cứu một khu vực, địa phương đó gặp hạn hán, ngài bèn lập đàn mời Long Vương, khi ấy chú mà Sư Tôn niệm không phải là câu “Nam-mô san-man-tô mô-thô-nam wa-zư-la mi”, cũng không phải là “Ôm na-ka na-ka mi”. Sư Tôn niệm câu “Nam-mô san-man-tô mô-thô-nam mi-ka sơ-ninh-yu sô-ha.” Bình thường ở trên mạng không tra được câu này, bởi vì đúng lúc tôi đọc được bản kinh Long Vương kia, hình như đọc tới quyển ba, quyển bốn thì có nói đến chú này, có nói đến nguồn gốc của chú này, trong kinh Đại Nhật Như Lai Thần Biến Gia Trì có nói đến chú giáng mưa của Long Vương, vì thế Sư Tôn viết trong sách không phải là viết bừa, đều có truyền thừa cả.

Hai bộ kinh quan trọng nhất của Mật giáo là kinh Kim Cương Đỉnh và kinh Đại Nhật, tên đầy đủ của kinh Đại Nhật là Đại Nhật Như Lai Thần Biến Gia Trì Kinh. Bởi vậy Mật giáo cực kì nhấn mạnh thần biến gia trì là vì sự hiển hiện công đức thật sự sẽ có đủ kiểu thần thông biến hóa. Tại Viên Âm Đường tôi đã nói với mọi người vì sao Mật giáo có thần thông, thần biến? Sự khác biệt giữa thần thông của Mật giáo và những thuật sĩ giang hồ của Hiển giáo hay ở bên ngoài nằm ở chỗ nào? Người tu hành chúng ta nên nhìn nhận chuyện thần thông này thế nào? Tại Viên Âm Đường tôi đã giải thích rất rõ ràng rồi, nếu có thời gian, tôi nhờ mọi người ghi lại bài khai thị đó, vì sao cần ghi lại? Bởi vì người khác có thể thách thức bạn, này, sao Chân Phật Tông của anh lại nói đến thần thông? Sao lại nói đến cảm ứng? Tôi đơn giản nói với mọi người một câu, đoàn thể Phật giáo ở Đài Loan rất nhiều nhóm Hiển giáo đều phỉ báng Mật giáo, trọng điểm chính là nói rằng Mật giáo của các người nói đến thần thông. Tôi bảo mọi người, bạn có thể hỏi họ, anh có phải là Phật tử không? Bạn hãy để cho họ rơi vào cái bẫy đó trước, họ nhất định sẽ tràn đầy tự tin, kiêu hãnh nói với bạn “tôi là Phật tử”. Tôi theo Phật Quang Sơn, tôi theo Pháp Cổ Sơn. Khi ấy bạn nói với họ, vậy nếu anh nói thế là phỉ báng Phật rồi. Anh nói Phật không nói về thần thông tức là anh phỉ báng Phật. Bởi vì trong kinh tạng Phật, chưa cần nói gì khác, chỉ nói đến việc Phật xuất thế, ngài đi bảy bước về phía trước, mỗi bước đều nở hoa sen, ngày hôm đó, hai Long Vương hiển hiện trong hư không giáng mưa. Phật nói, khi ngài thành đạo ở dưới cây bồ đề, có ai đến làm chứng? Là 11 vị Pháp Thân Đại Sĩ, trong kinh Hoa Nghiêm có nói Pháp Thân Đại Sĩ là gì. Mắt thịt của bạn không nhìn thấy, vậy đó không phải là thần thông thì là gì? Sáu cơn đại chấn động, trời rung đất chuyển, Long Vương hiển hiện, ma quân đến đánh, đây đều là những thứ mà mắt thịt không nhìn thấy. Xin hỏi Phật đang nói về cảnh giới gì? Chính là cảnh giới Như Lai thần biến gia trì bất khả tư nghì, vì thế, anh nói anh là Phật tử, anh còn tự mình tát vào lời Phật nói, anh có xứng đáng là Phật tử không?

Vì thế, làm một Phật tử chính tín phải dùng tư duy logic đi suy ngẫm rất nhiều sự việc, đừng có người ta nói một câu là bạn đã không dám trả lời. Vì sao có thể tranh luận với ngoại đạo? Bất Động Minh Vương vì sao tranh luận với ngoại đạo? Bởi vì ngài thông triệt tất cả Phật lý, ngài biết cái gì là chính cái gì là tà, nhất định phải biết. 

Ngoài ra tôi nhớ đến một việc nên muốn nói với mọi người, tôi đã vẽ một lá phù. Hôm nay có vị sư huynh kia đưa con trai đến hỏi việc, công tử nhà anh ấy bị viêm mũi, về bệnh viêm mũi thì trong phù lục mà Sư Tôn truyền có hai hay ba lá phù, trong số phù chữa bệnh mũi, lá phù Liên Sinh Hoạt Phật trị bệnh mũi phần dưới cùng có phù hiệu giống thế này. Lá phù này là Liên Sinh Hoạt Phật trấn đàn áp sát phù. Ba cái móc ở trên đại diện cho nhật nguyệt tinh hoặc Tam Thanh Đạo Tổ. Liên Sinh chính là chủ tôn của lá phù này, ra lệnh trấn đàn, đây chính là ý nghĩa chính của lá phù này. Dùng cái gì để trấn đàn? Chính là những vòng tròn phía bên ngoài này, chúng là cái gì? Đây là rắn sao? Đây chính là rồng. 

Khi bạn vẽ phù mà nhìn thấy những vòng tròn vòng quanh như thế này thì đó chính là rồng. Cho nên hôm nay tôi nói với sư huynh kia rằng đây chính là rồng. Trong văn tập Sư Tôn có nói lá phù này là Liên Sinh Hoạt Phật cưỡi rồng đến áp sát, bởi vì có Long Thần thật sự đến tọa trấn tại đàn thành hoặc trong nhà bạn, sát khí ở nơi đó sẽ được tiêu trừ hết, bởi vì rồng có đại lực, ngài có sức mạnh rất lớn có thể đến hộ trì chúng sinh. Vì thế, chúng ta tu pháp Long Vương còn có một điểm quan trọng nữa, ngoài thỉnh cầu nguyện vọng nhập thế của bạn ra, bạn nhất định phải giống như tôi hồi hướng khi nãy, đó là phải thỉnh cầu sự hộ trì của thiên long bát bộ để bạn tu pháp xuất thế cũng có thể thuận lợi và thành tựu.

Bởi vì trong quá trình tu hành của chúng ta sẽ có rất nhiều tà ma ngoại đạo đến quấy nhiễu, gây chướng ngại, đôi khi bạn bị “dính chưởng” mà bạn không biết. Vì thế, nhất định phải thỉnh thiên long bát bộ đến hộ trì. Cho nên vì sao trước khi chúng ta bế quan, Sư Tôn nói trước và sau khi bế quan, bạn phải tu Hộ pháp. Vì sao trước khi bế quan phải tu Hộ pháp, thỉnh cầu Tứ Đại Thiên Vương hoặc Hộ pháp Kim cang của bạn, thiên long bát bộ đến bảo vệ bạn bế quan thuận lợi, bế quan xong bạn lại phải tu bảy đàn Hộ Ma là để cảm tạ sự hộ trì của các vị.

Thật ra tu bảo bình Long Vương cũng là một phương pháp, trước khi bế quan bạn dâng bảo bình, bạn có thể thỉnh Long Vương đến bảo vệ bạn, vì sao? Bởi vì rồng và con người nhân gian rất gần nhau, vì ở gần cho nên sẽ dễ dàng nghe được lời cầu nguyện của bạn, sau đó sẽ nhanh chóng đến cho bạn cảm ứng, ngài sẽ bảo vệ bạn tu hành, sau đó bạn tu xong, bế quan xong thì lại tu pháp bảo bình đi ra biển dâng cúng là để cảm ơn ngài đã bảo vệ bạn. Pháp Long Vương cũng có tác dụng như vậy.

Pháp cúng khói cũng được, pháp thủy cúng cũng được, chỉ cần bạn biết bạn cầu nguyện và mục đích gì thì đều được.

Ngày hôm trước tôi giảng bài có hỏi mọi người một câu: “Vì sao cầu thỉnh Long Vương thành Phật?” Đến bây giờ chỉ có một người trả lời tôi, đó là trợ giảng, trợ giảng là người có căn khí lớn, còn có ai muốn trả lời nữa không? Vì sao thỉnh cầu Long Vương thành Phật? Vì sao thỉnh là có thể được? Có hai tầng ý nghĩa, ai trả lời đúng thì lá phù này tôi gia trì xong sẽ tặng cho bạn. 

Không có ai muốn trả lời, có phải là vì tôi vẽ quá xấu không? Phù mà tôi vẽ cũng được coi là đẹp đó chứ! Vâng, xin mời luật sư trả lời! Câu trả lời của luật sư cũng rất có pháp vị, tôi sẽ nói một chút về cách nghĩ của tôi, không nhất định là câu trả lời chính xác. Ngoài câu trả lời của luật sư ra thì hôm trước trợ giảng cũng trả lời tôi. Câu trả lời của trợ giảng cũng là đáp án đầu tiên trong đầu tôi. Bởi vì khi tôi đọc Long Tạng Kinh, tất cả những kinh điển có nhắc đến long tộc, khi tôi bắt đầu giảng bài thì tôi đã phá đề rồi, phá đề ở chỗ nào? Tôi nói nguồn gốc của thiên long bát bộ chính là vì Kim Dung đã để cho các nhân vật chính trong Thiên Long Bát Bộ tượng trưng cho thiên long bát bộ đều vẫn có tập tính tham sân si nghi mạn rất mạnh của nhân gian. Khi tôi càng đọc kinh Long Vương thì tôi càng biết thêm, thói quen của rồng và con người thật sự là rất giống nhau, thật ra tính của người và rồng không khác nhau mấy. Cho nên trong khi tu trì pháp Long Vương, ngoài khuyên thỉnh Long Vương thành Phật ra, chính bạn cũng phải phát tâm, một lòng hướng về Phật đạo, bạn cũng phải dựa vào thứ tự để tu hành thành Phật.

Có một câu nói thế này, đó là ta dạy người khác một đạo lý, nếu chính bạn không hiểu thì bạn không thể dạy được người khác, cho nên khuyên thỉnh Long Vương thành Phật thì chính bạn phải hiểu vì sao bạn muốn thành Phật thì bạn mới phát được cái tâm chính xác đó, thỉnh cầu ngài cùng thành Phật. 

Vì thế trong Mật giáo, bạn lập lời thề với Hộ pháp như thế nào? Xin hỏi có ai biết không? Lập lời thề với Hộ pháp là có một hợp đồng, hợp đồng này bạn phải nói rằng: Tôi thành Phật, ngài thành Phật, tôi thành tựu, ngài thành tựu, tôi đi tới đâu ngài đi tới đó, tôi nhận cúng dường ngài nhận cúng dường. Đây là cái gì? Đây là hóa hai thành một, kéo hai đối tượng lại thành một, vì thế tu pháp Bổn tôn là tu nhất, tức là pháp yếu của Sự bộ, Hành bộ, Du già bộ, chính là một, từ nhiều thành một, sau cùng trở về hư không gọi là zero, đây chính là tu hành Mật giáo. Cho nên tu pháp Long Vương là bạn có samaya với Long Vương, ngài thành Phật thì bạn cũng thành Phật, không phải chỉ có ngài thành Phật. Ngài thành Phật để làm gì? Ngài thành Phật xong thì cuối cùng cũng lại độ cho bạn thành Phật, vì thế mới gọi là samaya giữa hành giả và Long Vương và cả Phật. Đây là một bí mật cực kì cực kì lớn. Đây cũng là một tâm đắc mà tôi phát lộ sau khi bản thân mình đã tu rất nhiều đàn pháp Long Vương.

Vừa rồi có nhắc đến Đại Nhật Như Lai Thần Biến Gia Trì Kinh, Mật giáo cực kì chú trọng thần biến gia trì, nói một cách đơn giản, thế nào là thần biến gia trì? Quán đảnh chính là một dạng thần biến gia trì. Nói về quán đảnh bình cơ sở nhất, làm quán đảnh bình cho người khác chính là quán đảnh quy y, quán đảnh bình là gì? Dùng cái bình tượng trưng cho Bổn tôn đến làm quán đảnh thì gọi là quán đảnh bình. Bình quán đảnh khi rót xuống chính là thần biến gia trì. Thần biến gia trì ở chỗ nào? Từ tính phàm phu chuyển thành Phật tính, đưa chủng tử thức của bạn cho ngài chuyển biến, chuyển thức thành trí, chuyển hóa tham sân si nghi mạn của bạn thành ngũ trí của Phật, đây chính là quán đảnh. Vì thế, bản thân quán đảnh cơ sở đã là một dạng thần biến gia trì. Cho nên bạn thấy đó, khi làm phần Chính hành, bạn quán tưởng Long Vương hiển hiện tại hư không, Ngũ Phương Phật trụ tại đỉnh đầu ngài để làm gì? Để làm quán đảnh.

Cái này gọi là ấn chỉ thị, đây gọi là ấn ngũ sắc quang, khi bạn tu pháp thì quán tưởng Ngũ Phương Phật phóng ánh sáng đỏ vàng trắng lam lục “Ôm hùm chân sưa-ah”. Năm đường ánh sáng quán đảnh gia trì cho rồng, bắt đầu từ giây phút này chính là thần biến gia trì, để cho thân rồng này và các tính cách của rồng chuyển hóa thành Phật tính.

Ở đâu có thể chứng minh việc này? Trong phần “Trò hỏi Thầy đáp” lần trước, có đồng môn hỏi Sư Tôn trong văn tập thời kỳ đầu có nói, có Bổn tôn chân thực đàn thành, Hộ pháp chân thực đàn thành, thân đàn thành, ngữ đàn thành, ý đàn thành. Đồng môn hỏi nếu tu pháp Thượng sư tương ứng, có phải tu những pháp đàn thành chân thực gì gì đó không. Câu trả lời của Sư Tôn như sau: “Không cần tu gì khác.” Vì sao? Trong Mật giáo, dựa vào sự gia trì của Căn bản Thượng sư là số một, có nghĩa là bạn thật sự có được sự gia trì của truyền thừa, tự nhiên bạn sẽ thành tựu tất cả, vì thế Căn bản Thượng sư có thành tựu rồi, bạn cũng có thể có được thành tựu như thế, Căn bản Thượng sư có công đức gì, bạn cũng có thể có được công đức như thế. Đây chính là pháp Thượng sư tương ứng của Mật giáo, cũng chính là thần biến gia trì. Cho nên vì sao mười bốn đại giới của Mật giáo có một điều là “Làm tổn hại người khác, tự làm khổ bản thân là không như Phật”. Nếu trong đầu bạn có quan niệm này thì bạn vĩnh viễn không thể nào tu hành thành tựu, bởi vì ngay từ đầu bạn đã không tin tưởng chính mình có bản chất và tiềm năng tu hành thành tựu, thế thì mãi  mãi bạn không thể nào từ nhị nguyên thành nhất nguyên.

Vì vậy khi tôi ở Đài Loan có đồng môn nói anh ấy đã uống phù thiên nhãn, anh ấy muốn nhìn thấy Bổn tôn của mình, rốt cục cần phải tu như thế nào mới có thể nhìn thấy? Tôi sẽ theo logic mà trả lời như thế này, đương nhiên nhất định phải theo thứ tự, pháp gia hành, pháp Thượng sư tương ứng, pháp Bổn tôn, tu như thế nào đó xong bạn uống phù thiên nhãn, niệm chú mở thiên nhãn, sau đó uống phù này, xem xem có chuyển biến gì. Nhưng khi tôi nói xong thì anh ấy ngơ ngác nhìn tôi, tức là những việc này tôi cũng biết, nhưng mà rất khó, mỗi người đều nói nhìn thấy Bổn tôn là rất khó. Không sai, rất khó! Khi tôi cảm thấy mơ mơ hồ hồ, còn chưa biết trả lời anh ấy như thế nào, chúng tôi đang đứng trước đàn thành của anh ấy, tôi liền quay về Bổn tôn của anh ấy, chắp tay lại nói xin ngài hãy gia trì cho tôi, tôi cần phải trả lời như thế nào. Vị đó rất có trí huệ, ngài ấy nói Bổn tôn là một, không phải là hai. Không biết mọi người có thể hiểu được đạo lý này không? Đừng mãi tìm kiếm ở bên ngoài, phải nhìn vào bên trong, tu hướng vào trong, cho nên văn tập Sư Tôn có viết, tất cả Bổn tôn đến cuối cùng bạn tu thành tựu cũng là sự hóa hiện tự tính của bạn. Vì thế hôm nay tu pháp Long Vương cũng thế, bạn tu pháp Long Vương không phải là tu hướng ra ngoài, ở đây cũng nói bạn hãy khởi phát Phật tính của chính mình, bạn cũng phải giống như Long Vương, Long Vương có khổ, nguyên nhân của khổ là vì trước kia đã tạo ra nhân, đời này mới gặp phải quả khổ. Bạn cũng phải suy ngẫm chúng ta làm thân người cũng là trước kia đã tạo ra nhân nghiệp, đời này trở thành người, chịu quả ác này, tương lai chúng ta cũng phải phát nguyện giống như long tộc, dựa theo thứ tự mà tu hành thành tựu. Tôi nghĩ đây mới là tinh túy thật sự của bất kì pháp nào mà chúng ta tu. Bởi vậy tôi từng chia sẻ với mọi người, bất kì pháp nhập thế nào cũng có khái niệm của pháp xuất thế ở trong đó, bất kì pháp xuất thế nào cũng có phương tiện nhập thế ở trong đó.

Vì vậy, vốn dĩ chính là Lạc-Không song vận, trí huệ - phương tiện song vận. Bất nhị, không phải là hai, xem bạn vận dụng như thế nào, đây cũng là pháp vị mà tôi đã nói. Bạn có thể rất siêu thắng, bạn cũng có thể rất thế tục, sau khi làm lợi ích cho chúng sinh xong thì bạn phải vượt qua thành tựu tu hành thế gian, một hành giả chân chính phải có tri kiến như vậy mới không bị trói buộc. Bạn không nhảy thoát ra được sự trói buộc của pháp bởi vì sau cùng kinh Kim Cang nói, pháp vẫn còn phải bỏ huống chi không phải là pháp. Hy vọng mọi người ngày mai đến tham gia pháp hội Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật, tôi sẽ lại giảng cho mọi người vì sao vốn dĩ làm pháp Long Vương cầu phúc lại đổi thành vị này. Tôi có dụng ý của mình, cho nên tôi sẽ giảng cho mọi người biết Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật rốt cục là thượng tôn tới mức nào, tôn quý tới mức nào.

Om mani padme hum. 🙏

---
# File: tinh-tuyen/ts-lien-anh-quet-don-phat-duong-lau-tuong-phat-cung-co-the-tieu-tai-tang-phuc.md
# Title: TS Liên Anh: Quét dọn Phật đường, lau tượng Phật cũng có thể tiêu tai, tăng phúc
---

![image](/img/img_a119a22636e6f21691b4b1d93d9d1452.jpg)



# TS Liên Anh: Quét dọn Phật đường, lau sạch tượng Phật cũng có thể tiêu tai, tăng phúc


Giảng pháp: Thượng sư Liên Anh
Thời gian: 22/04/2024
Địa điểm: Kính Hành Đường - Malaysia
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🪷 Thượng sư Liên Anh khai thị
(Trích từ bài khai thị tại Kính Hành Đường - Malaysia | 22.04.2024)

Tôi nhớ Pháp Hoa Đường khi ấy vừa mới thành lập, Phật đường còn nhỏ, không giống như bây giờ, tượng Phật nhiều đến mức lau không xuể. Khi ấy có con trai của một đồng môn bị bệnh da liễu, tôi liền lóe lên một ý tưởng, tôi nói bức tượng Như Ý Bảo Châu Quan Âm này bị ám khói hết rồi, rất khó lau sạch. Tôi nói, hôm nay tôi giao cho anh bức tượng này, anh hãy tìm cách làm sạch vị Quan Thế Âm Bồ Tát này, anh vừa lau sạch vừa niệm chú sám hối, hoặc là niệm tâm chú của Quan Thế Âm Bồ Tát. Thật ra là tôi muốn một cách âm thầm giúp đỡ anh ấy. 

Cuối cùng, sau khi anh ấy đem về nhà làm sạch, hai tháng sau đó, bệnh da liễu của anh ấy đã khỏi rồi, chính anh ấy cũng cảm thấy rất kỳ lạ. Sau đó anh ấy mơ thấy Quan Thế Âm Bồ Tát đến trong mơ nói với anh: “Vì công đức anh làm sạch tượng cho nên ta giúp anh lấy hết đi khí đen trên người.” Một cách vô hình, bạn giúp Phật đường làm rất nhiều việc nhỏ, thật ra là đều đang giúp chính mình tích lũy nhân lành. 

Vì thế tôi từng nói với mọi người, bạn đi vào Phật đường, bạn dùng giẻ lau sàn nhà, lau cửa sổ, lau bàn, lau tượng Phật, tất cả đều là đang làm Tứ gia hành, chính là đang làm Tư lương đạo, Gia hành đạo của bạn, không chỉ là trong khi tu pháp mới làm. Bởi vậy thì sao Phật đường cần có nhiều tình nguyện viên đến giúp đỡ, thật ra là đang cho mọi người cơ hội trồng ruộng phúc, không phải là muốn mọi người đến để lao động lao lực, đó chỉ là cái biểu hiện bên ngoài thôi.

Nghiêm Sơn Lôi Tạng Tự ở Sydney Australia có bà xã của trợ giảng Mã làm nghề bất động sản, họ kể lại cho tôi nghe như thế này. Ban đầu họ không muốn quy y, không tin Sư Tôn. Bà vợ mắc ung thư, khi ấy trợ giảng Mã cũng chưa phải là trợ giảng. Trong một lần cơ duyên trùng hợp, sư huynh Diệu Toàn ở Hiệp Hội Mật Giáo Indonesia đưa bà ấy đi Đài Loan tìm Sư Tôn. Sau đó đặc biệt trình bày với Sư Tôn rằng, đệ tử mới quy y này mắc ung thư, thế là Sư Tôn gia trì cho bà ấy. Sư Tôn nói không sao đâu, bà sẽ không sao hết, đi về nhất định sẽ khỏi. Trở về Úc kiểm tra, ban đầu bác sĩ nói với bà ấy rằng báo cáo kiểm tra là ung thư ác tính, nhưng hồi sau thì đã biến thành lành tính. Thật chẳng hiểu thế nào, nhưng khi đó bà ấy đã rất có lòng tin. 

Vì có lòng tin nên sau khi trở về, bà ấy rất muốn đến Phật đường. Vốn dĩ bà ấy làm nghề bất động sản, những ngôi nhà trong tay bà ấy muốn bán đều không thể bán được, bản thân bà là một sư tỉ rất có năng lực, về lý thuyết mà nói thì phải là người bán hàng hạng “top”, nhưng thực tế là không hề như vậy. Bà ấy liền đi giúp Phật đường, bởi vì bà ấy không bán được nhà mà, cho nên thời gian đó bà ấy đến Phật đường làm tình nguyện viên. Bắt đầu từ nhà vệ sinh, kho chứa đồ mà người ta không muốn đi vào nhất, bà ấy lau dọn sạch Phật đường đến sáng bóng. Sau đó bà ấy nói chẳng hiểu thế nào mà lau dọn Phật đường xong thì có người không sống ở khu vực của bà ấy gọi điện cho bà ấy, hình như ở bên họ là bán bất động sản có phân khu, giống như là đoạn nào đoạn nào thuộc về ai, tất cả họ đều gọi điện đến tìm bà ấy. Chỉ trong một tháng, bà ấy đã giúp công ty bán được mười mấy căn nhà. Thế rồi tên của bà ấy đã chói sáng trên tạp chí của khu vực đó là “top sales”. Cũng chính vì nguyên nhân này mà càng nhiều người tìm đến bà ấy.

Bây giờ bà ấy đã đổi hướng rồi, tự mình thành lập công ty kế toán, toàn bộ tài sản ròng của bà ấy không biết đã tăng lên bao nhiêu lần. Sau đó sư tỉ này liền nói với tất cả đồng môn tình nguyện ở Nghiêm Sơn Lôi Tạng Tự: “Các bạn muốn tiền phải không? Hãy đến Phật đường làm tình nguyện viên. Các bạn muốn có tư lương phải không? Hãy đến phục vụ Phật Bồ Tát.” Rất nhiều người vì nghe bà ấy nói như vậy nên đã đến Phật đường, vì bà ấy chính là một ví dụ, một bằng chứng sống. Bởi vậy Nghiêm Sơn Lôi Tạng Tự được quét dọn rất sạch sẽ.

---
# File: tinh-tuyen/ts-lien-anh-tam-dac-doc-van-tap-nghin-chiec-thuyen-phap.md
# Title: TS Liên Anh: Tâm đắc đọc văn tập “Nghìn chiếc thuyền pháp”
---

![image](/img/img_3056eaf51b6a9432c27ca69a7e3dc5da.jpg)



## TS Liên Anh chia sẻ tâm đắc đọc văn tập “Nghìn chiếc thuyền pháp”


Giảng pháp: Thượng sư Liên Anh
Thời gian: 19.05.2024
Địa điểm: Singapore Lôi Tạng Tự
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Thượng sư Liên Anh chia sẻ tâm đắc về cuốn văn tập Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng số 283 “Nghìn Chiếc Thuyền Pháp”. (Trích lược)

Tôi tin rằng rất nhiều người đều đã đọc cuốn sách này rồi. Đây là một trong những cuốn văn tập Sư Tôn viết trong thời kỳ dịch bệnh Covid mà tiêu đề sách có dùng chữ “thuyền pháp”, nội dung chủ yếu kể về việc Sư Tôn đã thường xuyên làm siêu độ cho những người chết vì dịch bệnh. 

Có thể nói cuốn sách này là một lời vàng trong số những lời vàng của Sư Tôn, là tinh hoa trong số những tinh hoa. Tôi cho rằng nhiều người, ngay cả chính bản thân tôi, cũng từng xem nhẹ cuốn sách này. Khi đối diện với mỗi cuốn văn tập và rất nhiều giáo pháp của Sư Tôn, chúng ta nên luôn luôn giữ thái độ khiêm tốn. Bạn cần liên tục liên tục cẩn trọng đọc từng câu từng chữ đối với bất kì chương sách nào, cho dù đó là Tứ gia hành rất cơ bản, cho dù đó là những câu nói đơn giản nhất. Bởi vì con người có vô minh, vì vô minh cho nên khi đọc sách, chúng ta thường nghĩ rằng câu này mình đã hiểu rồi, nhưng thường xuyên các sự việc về sau chứng minh khi bạn gặp phải chướng ngại, căn bản là bạn chẳng hề cười vui vẻ đối diện với chúng theo những gì Sư Tôn đã dạy hay Phật pháp đã dạy, chưa nói gì đến việc bạn chuyển hóa quan điểm và cuộc sống của mình. 

Vừa rồi trước khi đi vào nói về cuốn sách này, tôi có yêu cầu mọi người cùng đọc một lần Văn cầu thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật gia trì. Việc đọc bài văn này cũng thay cho việc thực hành công khóa nếu như buổi sáng nay bạn chưa kịp làm công khóa. Chúng ta muốn nhờ vào sự gia trì của Thượng sư khiến cho thân khẩu ý của chúng ta thanh tịnh, để chúng ta có thể thật sự lĩnh hội được những giáo pháp trân quý sâu sắc, lĩnh hội được những lời vàng. 

Khi mở sách ra, đương nhiên chúng ta thường chú ý đến tên sách và lời mở đầu, tôi cũng vậy. Tên của một cuốn sách chắc chắn là tinh hoa trong sách, và toàn bộ khái niệm mà cả cuốn sách muốn biểu đạt. Lời mở đầu giống như một kiểu hướng dẫn đọc sách, tác giả sẽ nói trong cuốn sách tổng thể sẽ nói về điều gì, sau đó thì bạn sẽ đọc từng chương từng chương để hiểu thêm. Cho nên có thể nói, lời mở đầu là tinh hoa của cả cuốn sách. 

Trong lời mở đầu, Sư Tôn cũng đã nói nhân duyên viết cuốn sách này là do Covid-19, toàn bộ con người trên thế giới, kinh tế, văn hóa đều bị ảnh hưởng, rất nhiều  người đã chết vì dịch bệnh. Vì thế, Sư Tôn nguyện dùng Phật pháp của mình để làm lợi ích cho chúng sinh một cách thực tế, đưa siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp vào trong nghi quỹ. Ở đây Sư Tôn có đoạn viết: 

***Khi tôi xuất định rời khỏi pháp tọa, có một âm thanh nói với tôi:
"Cuốn sách tiếp theo của ngài, tên sách chính là "Nghìn chiếc thuyền pháp".***

Ở đây đã chứng minh lời mà Thượng sư Liên Lai giảng vào ngày hôm qua rằng “sách của Sư Tôn là sách trời”, nếu không như vậy thì làm sao có âm thanh nói với Sư Tôn rằng cuốn sách tiếp theo của ngài sẽ là gì là gì. Điều này cũng cho chúng ta thấy, Phật pháp chân chính là siêu việt thời gian không gian, không có quá khứ, hiện tại, vị lai. Sư Tôn thật sự là một vị thầy nắm giữ kho tàng, đã lấy ra rất nhiều terma của quá khứ, hiện tại, vị lai để diễn giải, bày ra trước mặt mọi người. 

Sư Tôn lại nói: 

***Tôi đã có được một linh cảm, cuốn văn tập số 283 của tôi, tên sách là "Nghìn chiếc thuyền pháp". Cuốn sách này mang đầy những pháp cú độ người.***

Câu này đúng như tôi nói, chính là “lời vàng trong những lời vàng, tinh hoa trong những tinh hoa”. Lúc đầu tôi cũng tưởng rằng cuốn sách này chỉ kể chuyện siêu độ thông thường, nhưng sau khi đọc sách xong mới nhận ra, siêu độ nói đến trong cuốn sách không chỉ là siêu độ những người đã chết vì dịch bệnh, mà Sư Tôn còn đang nói đến chính chúng ta. “Pháp cú độ người” chính là độ mỗi người  mở cuốn sách này ra. 

Tôi muốn hỏi mọi người điều này. Nói chung, chỉ cần là người có tín ngưỡng vào một truyền thừa nào đó, chưa cần nói tới Phật pháp, chúng ta đều muốn siêu độ. Người Hoa thích nhất là siêu độ. Có ba ngày tết lớn là năm mới, tết Thanh Minh, tết Trung Nguyên, chúng tôi đều làm siêu độ. Nhưng rốt cục thế nào là siêu độ? Hàm nghĩa của nó là gì? Mỗi người lại có định nghĩa riêng. Còn tôi nghĩ rằng, cái gọi là siêu độ, thứ nhất tức là từ thân thể thô lậu chuyển thành thân thể vi tế, hàm nghĩa thứ hai là chuyển thức thành trí, tức là chuyển ngũ căn, lục trần, ý thức thô của chúng ta thành trí huệ của Phật. Thứ ba là sự vô minh do bị u ám, bóng tối che mờ được siêu độ đến ánh sáng, quang minh, đây cũng là siêu độ. 

Trước khi tôi xuất gia, có lần ở Đài Loan Lôi Tạng Tự viết vào đơn báo danh pháp hội, sau khi điền tên và địa chỉ của mình xong, ở phần hồi hướng, tôi viết: thân thể khỏe mạnh, tu hành tinh tấn, quả vị tăng trưởng, chuyển thức thành trí. Có pháp sư ở bên cạnh thấy vậy nói: “Anh vẫn còn sống, sao có thể viết chuyển thức thành trí? Cái này chỉ viết cho người đã vãng sinh thôi.” Tôi không bận tâm, tôi hiểu bản thân mình đang làm cái gì. Lẽ nào người sống không cần chuyển thức thành trí sao? Lẽ nào hai chữ “siêu độ” này chỉ dành cho vô hình [tức người chết] sao? Không phải. Tất cả tu hành chính là từ khi bạn vẫn còn sống tại nhân gian, bạn có được đủ các nhân duyên tiếp xúc với Phật pháp là bạn bắt đầu chuyển hóa chính mình, chuyển thức thành trí là cả một quá trình tu hành, chứ không phải cái này chỉ dành cho chúng sinh vô hình. Nhưng vì sao chúng ta thường viết bốn chữ này trong bài vị cho người vãng sinh? Bởi vì Sư Tôn từng nói, khi linh hồn rời khỏi thân thể bạn thì gọi là trung ấm, hoặc trung hữu. Trung ấm hay trung hữu có gì khác thể xác này? Thần thức của họ rất linh hoạt, rất bay bổng, rất mẫn cảm, bởi vì đã thoát ra khỏi cái thân xác rồi, lúc này bạn dùng Phật pháp, Phật quang hướng dẫn cho những thần thức này rời khỏi sự sợ hãi của họ đi đến nơi sáng sủa thì sẽ rất dễ dàng có tác dụng. Đây là khẩu quyết rất quan trọng, nhưng điều này không đồng nghĩa với người sống thì không cần phải chuyển. Điều đầu tiên tôi muốn chia sẻ là như vậy.

Tiếp theo, chương đầu tiên Sư Tôn viết là “trao tặng huân chương”, A Đạt Nhĩ Mã Phật tặng huân chương cho Sư Tôn. Chúng ta biết trong Mật giáo, A Đạt Nhĩ Mã là vị Phật cao nhất, là Kim Cương Tổng Trì ở địa thứ 16. Chương này trong cuốn sách là nhân, và cũng là quả. Nhân là gì? Là Sư Tôn sâu sắc biết rằng “Phật pháp vô biên thề nguyện học, chúng sinh vô biên thề nguyện độ”, vì thế Sư Tôn đã thật sự từ bi hỷ xả viết ra cuốn sách này, viết ra ngài đã thực tiễn từ bi hỷ xả làm sự nghiệp bồ đề như thế nào. Thế còn quả là gì? “Viên mãn cứu cánh vô đẳng đẳng”. Bởi vì Sư Tôn hiểu được những điều này, trên thực tế đã làm một cách giác hành viên mãn, chính là Phật. Cho nên ở đây vừa là nhân vừa là quả. 

Sư Tôn viết thế này: 

***Có một cảnh tượng như thế này:
Bản Sơ Phật ở địa thứ 16 là A Đạt Nhĩ Mã Phật ngồi trên pháp tọa cao cao, Ngài nhìn ra phía xa toàn bộ hư không.
Năm vị Như Lai của năm phương, tám vị Đại Bồ Tát, năm vị Đại Kim Cang, tám vị Đại Minh Vương, chư Thiên Hộ Pháp, tất cả Không Hành, chư Thiên chúng.
Từng tốp đi nhiễu quanh pháp tọa của A Đạt Nhĩ Mã Phật.***

Sư Tôn không nói rõ đây là định cảnh hay là mộng cảnh hay là nhìn thấy một cách chân thực. Sau khi đọc xong cả chương, bạn sẽ có cảm giác hình như Sư Tôn tách ra khỏi không gian. Thông thường chúng ta nói đến không gian ba chiều, có đối tượng để xác định, ví dụ tôi đối thoại với bạn. Không biết bạn có để ý Sư Tôn từng nói ngoài Phật ở địa thứ 16 còn có Phật ở địa thứ 17 tên là Vô Minh Phật. Theo như tôi nghĩ, Sư Tôn thậm chí đã rút mình ra khỏi không gian, đứng bên ngoài nhìn thấy cảnh tượng này, Sư Tôn nói có một cảnh tượng, giống như sự mô tả khách quan một sự việc đang diễn ra. Đây là một chi tiết vô cùng bất khả tư nghì.

A Đạt Nhĩ Mã Phật vì muốn tuyên dương ca ngợi Sư Tôn đức hành viên mãn nên muốn tặng Sư Tôn một chiếc huân chương hình tròn có tỏa hào quang. Xin chú ý ở đây Sư Tôn nói: 

***Tấm huân chương này không phải của tôi, là dâng tặng cho tất cả các vị Thượng sư của quá khứ, hiện tại, vị lai.***

Tức là tất cả các vị thầy trong truyền thừa, thậm chí tất cả các vị thầy từng dạy Sư Tôn, các vị thầy từng dạy Phật pháp.

Sư Tôn viết: 

***Tôi vô sở cầu.
Tôi không có bất kì một thứ gì cả.
Tôi cầm lấy tấm huân chương ấy, tung nó vào hư không. Kết quả là toàn bộ hư không ngập tràn ánh hào quang phát ra từ tấm huân chương, chiếu sáng đến tâm linh của vô lượng chúng sinh.***

Tôi nhận thấy, Căn bản Truyền thừa Thượng sư có thể làm như thế này là đang dạy chúng ta trân trọng tất cả tinh tủy quan trọng nhất của Phật pháp. Tất cả hàm nghĩa của pháp nằm ở trong đoạn văn này. 


![image](/img/img_519c789d6989d11f1e0bebfc131ed912.jpg)


Ngoài ra, chúng ta cũng biết rằng, trong “Mật Tông Đạo Thứ Đệ Quảng Luận” có một cái rất quan trọng gọi là “quán công niệm ân”. Quán công niệm ân nói rằng bất kể bạn ở vào cảnh giới nào, ở vào cấp độ nào, bạn đều phải hồi hướng tất cả công đức của mình cho Thượng sư và Tam Bảo. Quán công niệm ân rất quan trọng, thế nào là công, thế nào là ân? Chúng ta tu pháp thường hay niệm “trên báo bốn ơn sâu, dưới cứu ba đường khổ”, bốn ơn (ân) chính là ơn cha mẹ, ơn sư trưởng, ơn đất nước và ơn chúng sinh. Bốn ơn này, dưới sự thực hành của Sư Tôn, ngài đã viết ra những chữ vàng đầy linh lực. Sư Tôn đã hoàn toàn thực tiễn tứ vô lượng tâm từ bi hỷ xả, vì thế tấm huân chương này ngài không cần đến, ngài tung nó vào hư không. 

Khi tôi đọc truyện Milarepa, Milarepa Tôn Giả có viết một câu khiến tôi rất cảm động: “Khi tôi chưa thành tựu, tôi nghĩ rằng tôi đang độ chúng sinh. Sau khi tôi đã thành tựu, tôi mới nhận ra thì ra chúng sinh đang độ tôi.” 

Tiếp sau đó Sư Tôn có viết ba chương về khai ngộ vô thượng. Sư Tôn nói về ngộ, vậy rốt cục là ngộ cái gì? Tôi không thể đi vào nói từng chi tiết với mọi người, nhưng tôi tổng kết lại là, Sư Tôn nói rằng trong toàn bộ quá trình trưởng thành từ nhỏ đến lớn, Sư Tôn đã trải qua đủ mọi đau khổ, giày vò, áp lực, phỉ báng, nhưng những thứ này ngược lại lại khiến cho Sư Tôn có được “ngộ”. Sư Tôn thường nói phiền não tức là bồ đề là thế nào, chính là đang nói về cái ngộ này. Bởi vì nếu không có những phiền não này thì làm sao bạn có thể tiếp tục đạt đến bồ đề cuối cùng, đến cái ngộ này. Sư Tôn đã kể rất nhiều câu chuyện từ nhỏ bị bố bạo lực thế nào, bị bạn bè bắt nạt ra sao… từ đó mới có được cái ngộ này.

Tiếp theo Sư Tôn viết ba chương với tiêu đề “Ôm mặt khóc to”. Tổng kết của ba chương này là gì? Tổng kết là nói về bi tâm của Sư Tôn. Vì đã có được ngộ, Sư Tôn biết rằng tất cả những nhân duyên này toàn bộ đều là nhân quả. Ngày hôm nay Sư Tôn bị người ta phỉ báng, thường xuyên bị bố đánh mắng cũng là nhân quả. Sư Tôn gặp được những người đối tốt với Sư Tôn cũng là nhân quả, gặp phải người không tốt cũng là nhân quả. Vì thế, trong lòng Sư Tôn ôm trọn sự từ bi của Phật, Sư Tôn nói với chính mình rằng từ nay về sau sẽ thật sự đi làm công việc từ bi hỷ xả, đối với mình thì là nội chứng thành tựu viên mãn, đối với bên ngoài là hy vọng tất cả chúng sinh cũng thành tựu viên mãn. 

Nói đến chương “Ôm mặt khóc to” thứ ba, kể về Phật Thích Ca Mâu Ni ở Sắc Cứu Cánh Thiên thuyết pháp, gọi thị giả A Nan đến hỏi hiện tại Lư Sư Tôn đang ở thế giới Ta Bà làm gì. Phật hỏi rất nhiều câu hỏi và thị giả A Nan đều lần lượt trả lời rất nhiều câu hỏi. Nhưng vấn đề là thế này, lẽ nào Phật Đà không biết sao, hà tất phải hỏi thị giả của ngài? 

Rồi Phật Đà còn hỏi: 

***"Lư Sư Tôn khóc vì đau khổ, thương xót những chúng sinh trong đạo súc sinh, đạo ngạ quỷ, đạo địa ngục nữa sao?”***

Vì sao Phật lại hỏi câu này? Tôi chia sẻ với mọi người cách nghĩ của tôi như sau. Thông thường chúng ta nhắc đến từ bi hỷ xả chúng ta sẽ nghĩ đến những người nhà thân yêu của chính mình, bạn bè, người yêu, người thân thích, toàn là những người đối tốt với bạn, người xung quanh bạn. Trước đây có một chuyện vui thế này. Bình thường trước khi chúng ta tu pháp có làm quán tứ vô lượng, quán tưởng người thân phụ hệ, mẫu hệ, người thân bạn bè ở xung quanh cùng tu pháp, cả những oan thân trái chủ đi theo mình, phải quán tưởng cả kẻ thù hoặc người mình không ưa. Có người nói không muốn quán tưởng người mình ghét cùng ngồi tu pháp vì không muốn họ có được Phật pháp. Cũng lại có người quán tưởng rất rõ ràng người mình ghét nhưng đồng thời nghĩ gạt họ qua một bên, không để cho họ tu pháp cùng, không muốn đám người đó được Phật quang chiếu tới. Đây vốn dĩ là thói xấu của con người. Bạn gạt người bạn ghét qua một bên, người mà bạn thích thì bạn bê vàng đến cho họ.

Ở đây, súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục, mặc dù họ ở trong lục đạo, nhưng thật sự chúng ta rất ít quan tâm đến họ. Chúng ta thường nói chúng ta phát tâm rất lớn, phát tâm lớn gì đây? Ngay cả đến những người nhà của bạn bạn còn không để ý quan tâm chăm sóc thì làm sao bạn có thể nói đến chuyện quan tâm đến chúng sinh của ba ác đạo. Bạn khó mà thật sự đi quan tâm đến họ. Phật Thích Ca Mâu Ni hóa hiện trong lục đạo, ngài thật sự dành cho chúng sinh lòng từ bi, tiêu trừ những đau khổ của họ, cho họ tín tâm, để cho họ có thể chứng ngộ Phật quả. Vì sao chúng ta mỗi lần đều mong mỏi Sư Tôn và thỉnh Phật trụ thế, lợi ích lục đạo chúng sinh, là bởi vì thứ nhất, Sư Tôn có nguyện lực này, ngài có cái tâm này, hơn nữa quan trọng nhất là ngài có chứng lượng này. Sư Tôn thật sự làm được việc độ hóa và chăm lo cho chúng sinh của ba ác đạo chứ không chỉ nói miệng khơi khơi. Bạn nói rằng bạn hy vọng, bạn mong muốn chúng sinh thế nào đó khác xa một trời một vực với việc bạn thật sự có thể làm nó. 

Lấy một ví dụ về sự việc nào chứng tỏ Sư Tôn ở trong đạo súc sinh cũng độ chúng sinh. Vào tháng 8 năm nay Sư Tôn sẽ truyền pháp Phẫn Nộ Liên Sư Dojre Drolo. Trong các hóa thân của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ có một hóa thân gọi là Phẫn Nộ Liên Sư Kim Cang Khải Giáp. Kim Cang Khải Giáp từng xuất hiện trong sách của Sư Tôn, khi ấy Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã đưa Sư Tôn đến Đất Nước Cầy Đồng [Thổ Bát Thử Quốc]. Đất Nước Cầy Đồng chính là thuộc về đạo súc sinh. Ở đó cũng có chiến tranh. Dưới sự gia trì của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, Sư Tôn hóa thành Kim Cang…. để điều giải chiến tranh trong đạo súc sinh. Đây chính là thần thông nhậm vận của Phật, thực tiễn dùng chứng lượng của ngài ở trong đạo súc sinh độ chúng. Chưa cần nói đến đạo địa ngục, đạo ngạ quỷ, trong các văn tập của Sư Tôn thường kể ngài có rất nhiều hóa thân, ví dụ ngài hiện thân Địa Tạng Vương, hiện thân Quan Âm, hiện thân Di Đà ở trong lục đạo thuyết pháp, nhưng đặc biệt là ở trong tịnh thổ Thúy Vi ở đạo địa ngục thuyết pháp cho chúng sinh. Đây là việc làm thực tiễn. 

Trong chương này Phật Đà nói ngài muốn chuyển một bông hoa Upala tặng Sư Tôn. Tôi tin rằng rất nhiều người đọc cái này xong là thôi, vì hoa cũng chỉ là hoa thôi, việc mọi người dâng hoa lên Sư Tôn là rất bình thường. Nhưng với tôi mà nói, khi đọc đến đây, bởi vì Sư Tôn có dùng dấu ngoặc kép, khi có dấu ngoặc kép tức là không phải bình thường, vì thế tôi đã đi kiểm tra. Mặc dù tôi có biết về hoa Upala, nhưng khi Upala đặt trong bài viết này thì càng khiến tôi cảm thấy chấn động. Hoa Upala trong tiếng Tạng gọi là Utpala, còn gọi là thanh liên hoa [hoa sen xanh], còn gọi là thủy liên [hoa sen nước], còn gọi là dạ liên [hoa sen đêm] - ban đêm nở hoa, một loài hoa sen thuần tịnh. Trong kinh điển, nó ẩn dụ cho Phật nhãn quan sát đủ mọi vi diệu của thế giới lục đạo, dùng sự quan sát tịnh diệu, tịnh thiên nhãn quan sát chúng sinh. Cho nên Phật tặng hoa Upala cho Sư Tôn là có hàm ý, Phật cũng đang quan sát lục đạo, Liên Hoa Đồng Tử Lư Sư Tôn cũng đang quan sát lục đạo, hơn nữa ngài còn giác hành viên mãn, cho nên hoa Upala không chỉ là ban phúc, ca ngợi mà còn là một sự chứng minh. 

Tiếp nữa, chúng ta cũng thấy trong tay trái ngón cái và ngón áp út của các Không Hành Mẫu có cầm hoa Upala tượng trưng cho Bồ Tát đang thực hành lục độ, cũng tượng trưng cho sự phát huy tâm từ bi. Cành hoa Upala thường có ba bông, một bông nở rộ, một bông nở hé, một bông chưa nở, trong kinh điển nói rằng tượng trưng cho Phật quá khứ, hiện tại, vị lai, cũng tượng trưng cho chúng sinh tam giới. Vì thế, cầm hoa Upala cho thấy tâm nguyện của Bổn tôn này vĩnh viễn đặt vào chúng sinh. Vì thế, bông hoa này được tặng cho Lư Sư Tôn cũng là ca ngợi, tùy hỷ, ấn chứng, không hề đơn giản chỉ là một bông hoa. Nó là một bông hoa sen xanh tượng trưng cho toàn bộ giác hành viên mãn chín muồi, cũng tượng trưng cho bản địa của Lư Sư Tôn. Đây là những gì tôi hiểu.

Phật nói: 

***"Không phải là vì ôm mặt khóc to, mà là tấm lòng từ bi của Lư Sư Tôn đã chín muồi rồi!”***

Phải trải qua lục độ vạn hành mới có thể chín muồi. Cho nên như tôi vừa nói, Milarepa nói: “Khi tôi chưa thành tựu, tôi nghĩ rằng tôi đang độ chúng sinh. Sau khi tôi đã thành tựu, tôi mới nhận ra thì ra chúng sinh đang độ tôi.” Nếu không có chúng sinh, con người không thể nào tu hành thành tựu. Ở đây tôi cũng xin bổ sung, chúng ta thường cho rằng chúng ta vẫn luôn thực hành từ bi hỷ xả, nhưng thật ra phạm vi cũng thường chỉ ở xung quanh chúng ta, bạn rất khó để đem sức mạnh, tình yêu này phổ rộng đến rất nhiều nơi. Vì thế, bạn phải trải qua rất nhiều khó khăn và khảo nghiệm, phải tiếp xúc với rất nhiều hoàn cảnh đau xót của chúng sinh thì bạn mới có thể thành tựu. Cho nên Bồ Tát không thể nào vì khó mà không làm, vì khó mà không độ, bởi vì từ lâu Phật đã biết, nếu con người không trải qua đủ mọi kiếp nạn thì làm sao có thể thành tựu Phật quả, cần phải có chúng sinh khảo nghiệm bạn. 

Tiếp đó Sư Tôn viết tiếp năm chương về quán tu hỷ vô lượng. Nhưng khi bạn đọc xong, bạn sẽ phát hiện ra những chương này không chỉ nói về hỷ mà thật ra là kể những câu chuyện về Sư Tôn thực tế đang làm tất cả từ bi hỷ xả. 

Chương tiếp theo Sư Tôn viết là “Tôi coi trọng pháp gia hành”. Sư Tôn nói rằng:

***Đừng cho rằng pháp gia hành là không quan trọng.
Đó chính là nền tảng của thành tựu Mật giáo.***

Rồi có người hỏi Sư Tôn: 
***"Thường nghe người ta nói đến "thứ tự sinh khởi", vậy "thứ tự sinh khởi" là gì? Nội hàm của nó là gì?”***

Thông thường khi bạn hỏi một Thượng sư Mật giáo, rất khó để Thượng sư đó nói cho bạn rõ ràng thứ tự sinh khởi là gì, họ sẽ giới thiệu cho bạn rất nhiều nghi quỹ gì đó. Còn Sư Tôn nói: 

***Thứ tự sinh khởi nghĩa là nghi quỹ. Đó là những nghi thức "chính tu" mà ban đầu các vị tổ sư đã lập ra dựa trên quá trình trải nghiệm của mình.
Tôi thì nhận định đây là việc tu quán Bổn tôn.***

***Quán tưởng bản thân biến thành Bổn tôn.
Quán tưởng môi trường sống của bản thân là cung điện của Bổn tôn.
Quán tưởng người xung quanh bản thân là Bồ Tát quyến thuộc của Bổn tôn.***

Thật ra thứ tự sinh khởi xét về khái niệm siêu độ tức là quá trình tu hành từ thân thô lậu đến thân vi tế. Thân thô đến thân tinh đến thân vi tế đến thân bí mật chính là bốn bộ pháp. Cho nên nhìn chung, chúng ta phân toàn bộ thứ tự của quá trình tu hành thành hai bộ phận: trước pháp Bổn tôn là thứ tự sinh khởi, đi vào tu hành Nội pháp đến Đại viên mãn gọi là thứ tự viên mãn. Còn thế nào là thân tinh? Nói một cách đơn giản là khi bạn có thể sinh ra cảm nhận thanh tịnh thì đó là thân tinh. Thân vi tế là khi bạn có thể xuất dương thần. Còn thân bí mật là dương thần của bạn và khí mạch minh điểm trên người bạn kết hợp lại biến thành thân ánh sáng, thân ánh sáng dung nhập vào Bổn tôn. Giống với khái niệm Cửu chuyển huyền công của Đạo gia.

Tiếp theo đến chương 19 “Tu Kim Cang Tát Đỏa để tịnh hóa”. Có người cho rằng bạn tu Kim Cang Tát Đỏa thì có thể bỏ qua pháp Thượng sư tương ứng, còn bạn tu pháp Thượng sư tương ứng thì có thể bỏ qua pháp Kim Cang Tát Đỏa. Đây là sai lầm. Sư Tôn đã nói, cho dù bạn tu đến Đại viên mãn thì bạn vẫn cần tu gia hành. Bất kì Bổn tôn nào cũng không tách rời Thượng sư, không tách rời Kim Cang Tát Đỏa, bởi vì các vị là tổng trì của Mật giáo. Quán tưởng Kim Cang Tát Đỏa là Báo thân Phật. Báo thân Phật là sự hiển hiện mọi tướng trang nghiêm, tướng trang nghiêm này được đại diện bằng 13 sự trang nghiêm được phân ra làm 5 y và 8 trân bảo. 5 y là cái nào? Thứ nhất là dải băng trên mũ Phật, dải băng hai bên người, dải băng quấn quanh eo, váy và áo khoác, tổng cộng là 5 y đều phải quán tưởng ra. 8 trân bảo, ta lấy Kim Cang Tát Đỏa làm ví dụ. Trân bảo thứ nhất là mũ Ngũ Phật. Thứ hai là khuyên tai. Tiếp theo là vòng cổ, chuỗi vòng ngắn, chuỗi vòng dài, khuyên đeo ở cánh tay, khuyên đeo ở cổ tay và cổ chân. Bạn phải quán tưởng rõ ràng tất cả, vì thế đừng cho rằng quán tưởng là không quan trọng. Muốn hợp nhất với Bổn tôn thì phải quán tưởng lần lượt từng chi tiết này rõ ràng, sự trang nghiêm của ngài cũng chính là sự trang nghiêm của bạn. Bạn tu được như thế này thì tương đương với bạn chính là Báo thân Phật. 

Tiếp theo Sư Tôn nói: 

***Tụng bách tự minh chú. (chú dài)
Tụng chú ngắn. (Om benza satto ah hum pei) [Ôm pê-cha sát-tô a hùm pây]
Tụng tâm chú. (Om benza satto hum) [Ôm pê-cha sát-tô hùm]***

***Om (ánh sáng trắng).
Benza (ánh sáng vàng).
Sat (ánh sáng đỏ).
To (ánh sáng lục).
Hum (ánh sáng lam).***

***Năm vệt ánh sáng chiếu lên trên, thiên nữ cúng dường trân bảo.
Năm vệt ánh sáng chiếu xuống dưới, cứu giúp lục đạo chúng sinh.***

Tôi tin rằng thông thường bạn đọc xong là thôi, ở đây có bí mật là gì? Bởi vì tôi đã từng đọc Sư Tôn nói về quán tưởng phẫn nộ tôn bách tự minh chú. Tôi cũng từng đọc kinh Kim Cương Đỉnh và kinh Đại Nhật, trong đó có ghi rõ về mandala Kim cương giới và Thai tạng giới. Vì thế tôi biết, trong mandala Kim cương giới và Thai tạng giới, xung quanh mỗi chủ tôn đều có bốn vị Bồ Tát và cộng thêm bốn thiên nữ cúng dường. Sự xuất hiện của bốn thiên nữ cúng dường và bốn Bồ Tát không phải để “bày cho đẹp” mà có mật ý bên trong. Bởi vì Sư Tôn từng tiết lộ rằng Đại Nhật Như Lai là chủ tôn của toàn bộ pháp giới, xung quanh ngài có bốn đại Bồ Tát - Kim Cang Ca, Kim Cang Vũ, Kim Cang Hy Hý, Kim Cang Hoa Man. Còn một vị nữa là Kim Cang Diệu Hạnh. Năm vị này tượng trưng cho năm loại cúng dường, mặc dù là dùng cúng dường của nhân gian để đại diện, nhưng thông qua sự chuyển hóa của Phật Bồ Tát, chúng biến thành một sự thăng hoa tinh diệu thù thắng. 

Xung quanh Kim Cang Tát Đỏa cũng có bốn vị Bồ Tát là Kim Cang Dục, Kim Cang Xúc, Kim Cang Ái, Kim Cang Mạn. Dục, Xúc, Ái, Mạn ở đây là chỉ tập khí của nhân gian, tập khí nhân gian sau khi chuyển hóa sẽ biến thành cúng dường Phật. Cúng dường Phật thế nào? Dục tức là bạn nguyện độ hết tất cả dục vọng của chúng sinh, tức là quá trình chuyển hóa tham thành đại tham [tham cái lớn]. Xúc, tức là bạn đem tình yêu lớn của mình tiếp xúc với tất cả chúng sinh. Ái là không chỉ yêu những người bạn thích, mà còn phải yêu cả những người làm hại bạn, chuyển hóa tình yêu nhỏ thành tình yêu lớn. Mạn là chuyển hóa ngã mạn của chính mình thành Phật mạn kiên cố, tức là Bổn tôn kiên cố. Thông qua các kiểu chuyển hóa, bạn sẽ thành tựu Bổn tôn, dùng thân của Bổn tôn để phân bố năm ánh sáng đến lục đạo chúng sinh. Đây chính là pháp nghĩa của tu Kim Cang Tát Đỏa để tịnh hóa.

Bình thường chúng ta tu pháp Kim Cang Tát Đỏa đã là rất giản lược rồi. Vì sao Sư Tôn nói pháp Kim Cang Tâm là đại pháp? Bởi vì trong pháp này có quá nhiều đạo lý bạn có thể lĩnh ngộ được. Phần đầu cuốn sách Sư Tôn nói về từ bi hỷ xả, phần sau nói về Kim Cang Tâm, bởi vì cá tính quan trọng nhất của Kim Cang Tâm Bồ Tát chính là từ bi hỷ xả viên mãn tất cả thế giới. Sư Tôn nói bạn muốn tu một Bổn tôn bạn phải hiểu nguyện lực của Bổn tôn đó, 

Phần cuối cuốn sách Sư Tôn còn viết mấy chương về những lời vàng, chính là cô đọng lại toàn bộ cuốn sách. Mong rằng các bạn hãy đọc cuốn sách thật cẩn thận, từ đó hiểu được Sư Tôn đã nghĩ thế nào, đã làm ra sao, đã thực tiễn trên việc thực tu ra sao, bạn sẽ có được sự thành tựu. Tương lai bạn độ chính mình đến bỉ ngạn, sau đó tiếp tục độ chúng sinh.

Om mani padme hum.

---
# File: tinh-tuyen/ts-lien-anh-thang-7-am-lich-niem-chu-bao-on-cha-me.md
# Title: TS Liên Anh: Tháng 7 âm lịch niệm chú báo ơn cha mẹ
---

🪷 Thượng sư Liên Anh khai thị

⛩️ Chính Pháp Đường - Malaysia | 28.08.2025


![image](/img/img_2252b2934149cf139266b9a7e8a7899b.jpg)


Niệm chú báo ơn cha mẹ là bắt đầu từ tháng 7 âm lịch này, vậy khi niệm chú báo ơn cha mẹ quán tưởng như thế nào? Mọi người có quán tưởng không?

Bạn có thể nghĩ như thế này. Vì thần chú báo ơn cha mẹ được truyền từ chính Phật Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn, Ngài truyền thần chú này chủ yếu là để lợi ích cho cha mẹ trong sáu đạo. Cha mẹ trong sáu đạo là gì? Đó không chỉ đơn thuần là cha mẹ ruột của bạn. Theo kinh Phật dạy, trong nhà bạn, những con chó, mèo bạn nuôi đều có thể là tổ tiên của bạn đầu thai, thậm chí cháu của bạn cũng có thể là tổ tiên bạn đầu thai. Sư Tôn cũng đã nói trong phần Hỏi Đáp, chẳng phải nhiều người lớn tuổi chăm sóc trẻ nhỏ, ông bà nuôi cháu thương cháu đến mức cực đoan sao? Đôi khi họ còn nói: "Ôi, ông ơi, bà ơi, xin tha cho con!" Đó không phải nói đùa.

Trong mắt Phật, luân hồi là không thể nghĩ bàn. Vì vậy, lục đạo phụ mẫu này có hai ý nghĩa. Ý nghĩa đầu tiên là cha mẹ mà bạn nhìn thấy được, là cha mẹ đang sống. Hai vị Phật trong nhà chính là cha bạn, mẹ bạn, đây là những người bạn nhìn thấy được. Còn người bạn không nhìn thấy thì có nhiều trường hợp khác nhau. Trường hợp thứ nhất, họ có thể đã ở cõi Phật tịnh độ rồi. Cha mẹ quá khứ của bạn có thể đang ở trong sáu cõi như cõi trời, cõi người, cõi atula, đây được gọi là ba đường thiện. Họ cũng có thể ở trong ba đường ác, đó là địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Vì vậy, thần chú này dạy bạn phát tâm rộng lớn chứ không chỉ dạy bạn mang lợi ích cho chính mình.

Những người cha mẹ hiện tại của bạn, hoặc trong sáu cõi, những người có duyên với bạn, đã từng nuôi dưỡng bạn, những ân đức này bạn đều phải báo đáp. Vì vậy, hãy thỉnh cầu Phật Thích Ca Mâu Ni phóng hào quang để mang lợi ích cho họ, bất kể họ đang ở cõi nào, đều có thể chuyển tăng thánh nhân [chuyển hóa tăng trưởng nhân duyên tốt đẹp].

Bốn chữ này được nhắc đến trong Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện, nhiều người thích tụng Kinh Địa Tạng. Ý nghĩa của "chuyển tăng thánh nhân" là việc siêu độ không thể dừng lại, vì cảnh giới của họ đã tốt nhưng có thể trở nên tốt hơn nữa. Từ không tốt đến tốt, tốt có thể trở nên tốt hơn nữa, điều này thể hiện cảnh giới của họ luôn được nâng cao, đây cũng là ý nghĩa tu hành của chúng ta.

Vì vậy chúng ta thường nghe câu nói: "Một người đắc đạo, gà chó lên trời."
chính là ý nghĩa này. Trong cả gia tộc của bạn nếu có một người niệm Phật, đó là điều may mắn cho gia đình bạn. Tại sao? Nếu người niệm Phật này biết cách niệm Phật đúng cách, giống như tôi vừa nói, họ biết cách vận dụng danh hiệu Phật và quán tưởng âm thanh, thì chắc chắn không chỉ có lợi cho riêng mình. Chúng ta thường thấy người Đài Loan có một câu đối, vế sau là "cửu huyền thất tổ vĩnh lưu phương". Phải như thế nào thì mới "vĩnh lưu phương" [mãi mãi để lại tiếng thơm]. Đó là con cháu đời sau làm công đức. Công đức này đến từ đâu? Đến từ việc niệm chú báo ơn cha mẹ, từ tất cả thiện nghiệp bạn tu hành mà có.

Vì thế khi tu pháp bạn phải có pháp vị, pháp vị này không phải là bảo bạn thêm tiêu, thêm muối, thêm nước tương, không phải là các gia vị này. Vậy làm sao để điều vị?

Nếu bạn không hiểu giáo lý Phật pháp, không thâm nhập vào Phật pháp, chắc chắn việc tu tập của bạn sẽ trở nên khô khan, vô vị. Tụng niệm đến khô miệng, khô lưỡi, Phật Bồ Tát có đến hay không, bạn không biết. Pháp sự mà bạn làm có công đức hay không, bạn không biết. Nhưng nếu bạn hiểu được ý nghĩa đằng sau những kinh Phật, những nghi quỹ này, bạn sẽ rất có động lực, rất xúc động khi tụng niệm, đây chính là điều vị.

Vì vậy, mỗi khi bắt đầu tháng 7 âm lịch, có một điểm rất quan trọng
là tháng này không phải là tháng để chúng ta sợ hãi, mà là để chúng ta báo ơn, để chúng ta tăng thêm công đức. Đây là một tháng rất tốt.

Trong Phật giáo có rất nhiều ngày, như ngày cát tường, ngày công đức cát tường, ngày Đức Phật đản sinh, những ngày đặc biệt. Khi bạn xem lịch Phật giáo, lịch Tây Tạng có nhiều ngày như vậy, trên đó sẽ ghi rằng nếu bạn trì kinh, niệm chú và tạo công đức vào ngày này sẽ được nhân lên gấp trăm lần, nghìn lần. Thực ra tháng 7 âm lịch chính là một tháng như vậy.

Tất nhiên, Sư Tôn đã từng kể có người hỏi Sư Tôn về tháng cầu siêu này, Sư Tôn nói thực ra Ngài chẳng bao giờ quan tâm đến những điều này. Đối với Ngài, mỗi ngày Ngài đều thực hành tu tập một cách chân thực, mỗi ngày Ngài đều hoàn thành công khóa cần làm, đó chính là sự hồi hướng lớn nhất. Nhưng đối với chúng sinh thì khác, chúng sinh có tâm phân biệt, họ sẽ nghĩ rằng mình cần chọn một ngày nào đó để tu tập. Điều đó cũng rất tốt, tất nhiên đây cũng là phương pháp độ chúng của chư Phật Bồ Tát. 

Vì vậy điều này khiến chúng ta liên tưởng đến việc tôi thường hỏi mọi người, mỗi lần đạo tràng tổ chức Thánh đản của chư Tôn, tôi đều hỏi đồng môn tại sao phải chúc mừng sinh nhật chư Phật Bồ Tát? Liệu các vị Bồ Tát còn cần bạn giúp họ mừng sinh nhật không? Rồi các vị sẽ vui mừng nhảy múa và như thế nên các vị mới ban phúc cho bạn sao? Đó là thần, không phải Phật!
Thần có sở thích riêng, còn Phật hoan hỷ vì sự hoan hỷ của bạn. Bạn không hoan hỷ, Ngài vẫn hoan hỷ, Ngài là chính giác, Ngài không phải thiên giác.

Vì vậy, mời mọi người suy ngẫm tại sao chúng ta phải chúc mừng Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nhân ngày Thánh đản? Dĩ nhiên các bạn xem tiểu sử của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, tôi đã đọc toàn bộ tiểu sử của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, mọi người đều nói sau khi Đức Phật nhập diệt bao nhiêu năm thì Liên Hoa Sinh Đại Sĩ xuất hiện. Vì thế sau này Ngài được gọi là vị Phật thứ hai của xứ Orgyen. Vị Phật thứ hai chính là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, Ngài có ngày sinh, nơi sinh là hồ Đạt Lạt Quách Khiếu, cách vương thành về phía Nam bao nhiêu dặm, trên một đóa sen giữa hồ, rồi vị quốc vương đi ngang qua đã thấy, tất cả đều có ghi chép.

Tôi hỏi mọi người một điều quan trọng, chỉ có mùng 10 tháng 7 là ngày sinh của ngài thôi sao? Ngày sinh của Liên Hoa Đồng Tử là gì? Mọi người sẽ nói ngày 18 tháng 5. Chỉ có ngày 18 tháng 5 là ngày sinh của Liên Hoa Đồng Tử thôi sao?

Cho nên khi bạn thực sự đi sâu vào Phật pháp bạn sẽ hiểu, bạn sẽ không còn dựa vào những phong tục dân gian của thế gian này nữa. Mỗi ngày, miễn là bạn duy trì việc tu pháp của mình, bạn mở rộng tâm niệm của mình, tôi nói cho mọi người biết, ngày sinh thực sự của chư Phật Bồ Tát chính là khoảnh khắc ánh sáng bản tâm của bạn hiển lộ. Khi bạn thành tựu một Bổn tôn thì đó chính là sự đản sinh của Phật. Đây mới là điều mà hành giả Mật giáo nên theo đuổi, đó là điểm rất quan trọng.

---
# File: tinh-tuyen/ts-lien-anh-thu-an-phat-kham.md
# Title: TS Liên Anh: Thủ ấn Phật kham
---

🪷 Thượng sư Liên Anh khai thị

⛩️ Chính Pháp Đường - Malaysia | 28.08.2025


![image](/img/img_9736e2613236240fca34691299dad214.png)


Trong Mật tông Tây Tạng, Phật kham là một hộp đựng tượng Phật, gọi là Phật kham (hoặc Phật khám). Vì vậy thủ ấn này, thủ ấn đích thực không phải là hai tay khép chặt, không phải là hai bàn tay áp sát vào nhau. Thủ ấn chắp tay kim cang thì bạn phải ép sát hai bàn tay vào chứ không phải tách ra. 
Còn ý nghĩa của Phật kham là như thế này, tức là phải rỗng bên trong, hơi mở ra một chút, bạn phải quán tưởng bên trong thủ ấn Phật kham của mình có Phật.

Tại sao phải ấn lên Thiên tâm, Hầu luân, Tâm luân? Không phải là bạn dùng nhiều sức để vỗ vào thiên tâm, họng, tim. Cái gọi là ấn vào Thiên tâm, Hầu luân, Tâm luân, ấn này ám chỉ dấu ấn vô hình, có ý nghĩa cảm ứng đạo giao.
Vì vậy khi giơ thủ ấn Phật kham lên, bạn phải quán tưởng Căn bản Thượng sư và chư Phật trong tay bạn, trong không trung, sau đó khi ấn vào thiên tâm của bạn, Phật quang này đi vào thiên tâm, Hầu luân, Tâm luân của bạn.
Vì vậy thủ ấn Phật kham không phải là ép chặt lại. Bạn hãy nhìn kỹ Sư Tôn làm thủ ấn Phật kham. Sư Tôn hơi mở tay ra. Nhiều người không biết điều này.

Trong sách của Sư Tôn còn giải thích sâu hơn nữa. Đại lễ bái quán tưởng ba ánh sáng bao trùm gia trì của chúng ta chính là một bước vô cùng quan trọng. Bởi vì ở đây cần phải quán tưởng ánh sáng Phật đi vào thân thể, thực ra đây chính là để tiêu trừ tham, sân và si của chúng ta. Vì vậy bạn nhất định phải quán tưởng rõ ràng ánh sáng trắng, ánh sáng đỏ, ánh sáng xanh.

Tốt nhất là niệm thêm: Kim cang thân gia trì con, Kim cang ngữ gia trì con
Kim cang ý gia trì con. Đây là điều được viết trong sách của Sư Tôn. Nếu mỗi động tác bạn đều có thể niệm như vậy thì càng tốt. Trong bài viết đó Sư Tôn đã nói rằng đừng bao giờ xem thường đại lễ bái trong pháp tu của chúng ta, cũng như tam quang gia trì.

Cho nên vừa rồi khi tôi mở mắt ra, bất chợt thấy mọi người đang lễ bái, tôi biết có lẽ nhiều người không biết khẩu quyết này, nên cần phải chia sẻ với mọi người, nếu không bạn có thể dễ dàng bỏ qua điều này.


![image](/img/img_775adbec55132a1951a71bdff0f0959c.jpg)

---
# File: tinh-tuyen/ts-lien-anh-thuong-nghi-ve-cai-chet.md
# Title: TS Liên Anh: Thường nghĩ về cái chết
---

🪷 Thượng sư Liên Anh khai thị

⛩️ Malaysia | 08.2025


![image](/img/img_7db3bca99d6169c892a363596e3007b4.jpg)


Liên Hoa Sinh Đại Sĩ hỏi Yeshe Tsogyal: Theo con, phương pháp tu tập
nào là con đường thành tựu thuận tiện nhất, nhanh nhất? Yeshe Tsogyal cũng đưa ra kiến giải rất cao, đó là con đường giải thoát. 

Lúc đó Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói một cách gần gũi hơn, và cũng đơn giản hơn, đó là nghĩ về cái chết, nghĩ về sự tử vong. Nghĩ về cái chết chính là nghĩ về vô thường. Nếu bạn thực sự nghĩ rằng mình còn sống lâu thì bạn sẽ cảm thấy mình còn nhiều thời gian để lãng phí. Bạn sẽ không thấy việc tu tập cấp bách như lửa đốt lông mày và cần phải tranh thủ thời gian. 

Vì vậy bạn sẽ không phát khởi tâm dũng mãnh, cũng không có tâm xuất ly, càng không có tâm bồ. Vì thế Liên Sư nói với Yeshe Tsogyal rằng phải nghĩ về cái chết, khi nghĩ về cái chết, nếu giây phút kế tiếp bạn sẽ chết, bạn sẽ làm gì?

Sư Tôn kể, có người hỏi Sư Tôn cần phải chuẩn bị những gì cho cái chết. Sư Tôn nói bản thân Sư Tôn không cần chuẩn bị, đó là vì Sư Tôn mỗi ngày đều đang chuẩn bị rồi chứ không phải như mọi người thường không chuẩn bị.

Nếu bảo bạn không cần chuẩn bị thì đến lúc chết đó bạn sẽ thất bại. Vì vậy bình thường chúng ta hàng ngày tu pháp, thực ra chính là tu tư lương đạo, chuẩn bị tư lương để vãng sinh. 

Lần này tôi ở Malaysia, có một vị công đức chủ mời tôi đến nhà xem phong thủy và gia trì đàn thành. Sau khi gia trì xong, ông ấy ngồi xuống, nói muốn hỏi việc. Trước khi ông ấy hỏi, vị chủ tịch Phật đường đã nói nhỏ với tôi ông ấy chắc chắn sẽ hỏi ba câu hỏi này. Quả nhiên đúng như dự đoán. Câu hỏi đầu tiên ông ấy hỏi: Tư lương vãng sinh của tôi như thế nào? 

Những điều tiếp theo là chuyện riêng của ông ấy, tôi không kể. Và sau đó ông ấy còn hỏi tôi một câu nữa: Tôi đã tương ứng Liên Hoa Đồng Tử chưa?
Tôi nói với ông ấy, thực ra câu hỏi này và câu hỏi đầu tiên của ông là giống nhau. Giả sử ông thực sự đã tương ứng rồi thì ông không cần đến hỏi tôi. Hơn nữa, nếu ông thực sự đã tương ứng, thì tư lương vãng sinh của ông chắc chắn đã đủ.

Tư lương vãng sinh là gì? Khi bạn tương ứng với Bổn tôn, bạn hợp nhất với ngài, bạn là tất cả, bạn còn sợ gì nữa? Còn lo gì về tư lương không đủ? Vì vậy, quay lại vấn đề, nghĩ về cái chết thực sự rất quan trọng. Cái chết, bạn nói nó đáng sợ không? Đúng là nó có điều đáng sợ.

Bởi vì chúng ta phải trải qua sự già đi, trải qua bệnh tật, đôi khi nó rất khó khăn, nhưng nếu bạn nhìn từ một góc độ khác, theo thuyết luân hồi của Phật giáo, cái chết không phải là điểm kết thúc. Linh hồn bạn rời khỏi thể xác, tùy theo nghiệp duyên của bạn, tùy theo nhân duyên quả báo mà bạn đầu thai đến một nơi nào đó mà thôi. 

Vì vậy Liên Hoa Sinh Đại Sĩ trong Mật giáo có một pháp môn quan trọng nhất, đó là pháp môn Trung ấm nghe dạy được độ. Tổ sư của pháp Trung ấm nghe dạy được độ cũng chính là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.

Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang Mật Tục mà chúng ta đã quán đảnh, pháp Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang xuất phát từ Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang Mật Tục. Bạn hãy nhìn kỹ trên đàn thành đó có một bức tranh thangka đại diện cho truyền thừa của Đại Huyễn Hóa Võng này.
Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang là Dorje Chang, Dorje Chang chính là hóa thân của Kim Cang Tổng Trì, khác tên gọi nhưng cùng là một, Kim Cang Tổng Trì ở trên cùng, bên trái là Kim Cang Tát Đỏa, bên phải là Guru Rinpoche, đại diện cho truyền thừa của Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang này cũng bắt nguồn từ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.  

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ cũng là tổ sư của pháp Trung ấm nghe dạy, bởi vì Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang chủ yếu nói về thực hành cứu độ lớn nhất, đặc biệt là trong giai đoạn trung ấm xuất hiện trăm vị tôn văn võ.

Cho nên khi tôi đọc cuốn “Giáo Huấn Dakini”, điều đầu tiên và quan trọng nhất gây ấn tượng sâu sắc với tôi là điều này, sau khi đọc được điều đáng kinh ngạc này thì tôi đã giảm bớt sợ hãi. 

Do địa vị của tôi, tôi thường xuyên phải đến những nơi như nhà tang lễ, đến để trợ niệm, trước đây rất sợ, bây giờ dần dần đã quen, dần dần càng ngày càng hiểu làm thế nào để hòa nhập kiến thức Phật pháp để giáo dục những đồng môn, mang đến cho họ sự tin tưởng và hướng dẫn đúng đắn về công việc chăm sóc cuối đời theo những gì Sư Tôn đã dạy chúng ta, sau đó còn phải an ủi gia đình. 

Tôi thường nói pháp trung ấm nghe dạy còn có một điểm rất quan trọng. Ngoài việc giúp đỡ người đã mất, tức là người đã vãng sinh, giúp người sống cũng rất quan trọng. Chăm sóc trạng thái tâm lý của những người còn ở lại trên đời, sự hồi phục tâm hồn, và làm thế nào để hướng dẫn họ xây dựng con đường Phật pháp đúng đắn, điều này cũng rất quan trọng.

---
# File: tinh-tuyen/ts-lien-anh-truyen-thuyet-ve-dieu-tri-kim-mau.md
# Title: TS Liên Anh: Truyền thuyết về Diêu Trì Kim Mẫu 
---

![image](/img/img_3d25a4e39e08512c7727af0220e91ac2.jpg)


🪷 Thượng sư Liên Anh khai thị sau pháp hội Hộ Ma Diêu Trì Kim Mẫu
⛩️ Trung Quán Lôi Tạng Tự 20.7.2025

🪷🪷🪷

Đầu tiên, một lần nữa chúng ta cung kính đảnh lễ Pháp Vương Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật vô thượng tôn quý, kính lễ các tổ sư truyền thừa các đời của Chân Phật Tông, kính lễ chủ tôn Hộ Ma hôm nay là Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn - người mẹ của cõi trời, kính lễ tất cả Tam Bảo nơi đàn thành của Trung Quán Lôi Tạng Tự.

Kính thưa Kim cương Thượng sư Liên Duyệt, pháp sư Liên Tú, pháp sư Liên Kháng, giảng sư Hữu San, giảng sư Liên Chân, trợ giảng Thiên Thành, trợ giảng Khai Lương, trợ giảng Mỹ Huệ, trợ giảng Lệ Quyên, cùng tất cả quý vị đồng môn, các đồng môn ở tầng tám, và tất cả đồng môn, xin chào mọi người, A Di Đà Phật 🙏

Đầu tiên, cảm ơn Thượng sư Liên Duyệt đã mời, cho phép kẻ tài hèn này được thực hiện Hộ Ma tại đạo tràng thù thắng như vậy, thật sự là vinh hạnh của tôi!

Nói về sự thù thắng và ưu việt của Trung Quán Lôi Tạng Tự này, tôi nghĩ không cần phải nói nhiều ở đây, bởi vì có những điều tốt, có những điều thiện, không cần nói cũng nhìn thấy được, những điều tuyệt vời này hiển hiện khắp nơi trong tất cả phương hướng lớn, phương hướng trung cũng như tất cả những chi tiết nhỏ, vì vậy tôi chỉ dùng một câu làm kết luận mở đầu: đó là hy vọng tất cả đạo tràng của Chân Phật Tông, thậm chí là những người hoằng pháp, đều nên đến Trung Quán Lôi Tạng Tự để học tập.

Đây không phải là lời nịnh bợ hay tâng bốc, mà là lời thật lòng của tôi, bởi vì trong những năm gần đây tông phái luôn đẩy mạnh nền giáo dục Chân Phật. Trong bữa trưa vừa rồi, Thượng sư Liên Duyệt cũng liên tục nói về sự tiếp nối và bền vững của nền giáo dục này. Thực sự, một giáo pháp thù thắng như thế này, nếu không được liên tục giáo dục, liên tục truyền thừa, thì đó là một điều rất đáng tiếc. Vì vậy, các Thượng sư đã từng nói một câu rằng, để bánh xe pháp luân chuyển mãi không chỉ dựa vào những người tăng trọc đầu này, không chỉ dựa vào những người hoằng pháp này, mà mỗi người lấy vị Căn bản Thượng sư làm trang sức trên đỉnh đầu, làm niềm vinh dự, tự xưng là đệ tử Chân Phật, đều nên dốc lòng để chuyển bánh xe pháp. Vì vậy, câu đầu tiên tôi xin chúc phúc cho mọi người.

Thông thường khi tôi khai thị, tôi không chuẩn bị ghi chú nhiều, nhưng hôm nay đến một Phật điện đẳng cấp như thế này, nếu tôi không chuẩn bị kĩ lưỡng sẽ bị cười chê. Vì vậy, sáng nay khi ra khỏi nhà, tôi suýt quên mang theo cuốn sổ nhỏ này, thật sự rất căng thẳng.

Hôm nay thời gian pháp hội thực sự hơi dài, nếu mọi người có kiên nhẫn, xin hãy nghe tôi trình bày nội dung mà tôi đã chuẩn bị hôm nay, những điều mà tôi cho rằng rất tuyệt vời và thú vị, xin mọi người hãy lắng nghe kĩ.

Mặc dù Diêu Trì Kim Mẫu mọi người đều rất quen thuộc, Sư Tôn đã giảng từ trước đến nay, giảng trong mỗi pháp hội, giảng trong mỗi pháp hội lớn quan trọng, nhưng chúng ta có thực sự hiểu về Ngài không? Thực ra còn rất nhiều điều chúng ta chưa hiểu.

🍑 Diêu Trì Kim Mẫu và nơi cư trú của Ngài được ghi chép trong ”Liệt Tiên Truyện”

Sư Tôn đã từng đề cập đến một số điểm khai thị quan trọng khi chủ trì pháp hội Diêu Trì Kim Mẫu. Trong ”Liệt Tiên Truyện”, xin hỏi có ai từng đọc ”Tiên Truyện” không, xin giơ tay. Tôi không nhìn thấy được tầng tám, chắc là rất ít người đã đọc. ”Liệt Tiên Truyện”, ”Phong Thần Diễn Nghĩa”, đây đều là những tiểu thuyết rất nổi tiếng thậm chí có tính lịch sử, mọi người có thời gian nên đọc.

Trong ”Liệt Tiên Truyện” có ghi chép về lai lịch của Diêu Trì Kim Mẫu, Ngài từng đầu thai xuống nhân gian, ở nhân gian có hai truyền thuyết về Ngài. Một là họ Dương, nên nếu có đồng môn nào họ Dương, (chữ Dương gồm) bộ Mộc và chữ Dị, thì có duyên rất lớn với Diêu Trì Kim Mẫu. Hai là họ Câu, chữ Câu này, bên trái là bộ Mịch, bên phải là chữ Hầu như trong tên đạo diễn Hầu Hiếu Hiền. Chữ này trong tên tiếng Trung đọc là Câu, tên ngài là Hồi, nên thường gọi là Câu Hồi, Câu Hồi, đó chính là tên của Tây Vương Mẫu khi hóa thân xuống nhân gian, Câu Hồi, đó là điều được ghi lại trong Liệt Tiên Truyện.

Về nơi cư trú của Ngài, chúng ta thường nói "đỉnh núi Côn Lôn, cảnh tiên Diêu Trì", cung điện của Ngài nằm ở đó. Theo ghi chép trong "Liệt Tiên Truyện", cung điện này có một kiến trúc nhất định, chín tầng lầu gác, và được chạm khắc bằng ngọc.

Chín tầng lầu gác bằng ngọc vô cùng lộng lẫy! Hơn nữa, những bậc thang, những khung cảnh ấy thực sự không khác gì cõi tịnh thổ của chư Phật Bồ Tát, thù thắng trong những điều thù thắng! Điều thú vị hơn là, lầu gác này còn có một tên gọi là Lãng Phong, chữ Lãng gồm bộ Môn, bên trong là chữ Lương nghĩa là phẩm hạnh tốt, chữ thứ hai là Phong, thành Lãng Phong.

Vì vậy qua các triều đại, đặc biệt là vào thời nhà Hán, nhiều nhà văn, thi sĩ, sử học gia, khi ca ngợi Diêu Trì Kim Mẫu, thường dùng từ "Tây Vương Mẫu trong Lãng Phong", hoặc là "phong cảnh Lãng Phong". Lãng Phong là gì? Chính là cung điện nơi Diêu Trì Kim Mẫu cư ngụ - nơi quan trọng nhất trong cảnh tiên Côn Lôn. Giống như ngày nay chúng ta nói, thế giới Tây phương Cực Lạc Ma Ha Song Liên Trì - cung điện nơi chủ tôn Liên Hoa Đồng Tử cư ngụ, chính là trung tâm của trung tâm thành phố Đài Bắc, CBD, đại khái là như vậy.

🍑 Tại sao Sư Tôn tôn kính Diêu Trì Kim Mẫu đến vậy?
🍑 Câu chuyện về Chu Mục Vương thời nhà Chu với Diêu Trì Kim Mẫu và Hổ Đầu Kim Cang

Tiếp theo tôi sẽ kể bốn truyền thuyết nhỏ, giúp các bạn hiểu thêm về tấm màn bí ẩn của Diêu Trì Kim Mẫu, và lý do tại sao Sư Tôn tôn kính Diêu Trì Kim Mẫu đến vậy.

Truyền thuyết đầu tiên, tin rằng mọi người đều biết và cũng thường được nhắc đến nhất, là về vị thiên tử thứ năm của triều đại nhà Chu trong thời Đường, Tấn, Hán, Chu, tên là Chu Mục Vương. Sở thích lớn nhất của Chu Mục Vương đi chơi khắp nơi, nhưng cách chơi của ông rất có phẩm vị, ông nhất định phải đến những nơi rất trang nghiêm, những danh sơn thắng cảnh để du ngoạn. Hơn nữa, khi ông đi du ngoạn, ông đi cùng tám con tuấn mã, vì vậy hiện nay tại các công ty, cơ sở kinh doanh, bạn thấy trong văn phòng của các ông chủ lớn thường treo bức tranh tám con tuấn mã, thực ra bức tranh tám con tuấn mã này chính là tám con tuấn mã của Chu Mục Vương, và không phải là ngựa thường mà là ngựa thần! Năm nay không phải là năm Rắn sao? Có một câu nói "Xà mã long hạ" nghĩa là "sa-mi-long-hô" (tiếng Đài nghĩa là mọi thứ đều tốt).

Những con ngựa này là ngựa thần, chúng có thể bay được, và tất cả tám con ngựa đều có tên riêng, nhưng hôm nay chúng không phải là nhân vật chính nên tôi sẽ không đề cập đến tên. Tóm lại, tám con ngựa này đều có thể bay được. Một ngày nọ, tám con tuấn mã này đã đưa Chu Mục Vương đột nhiên bay lên, hướng về phía ánh sáng, bay lên cao mãi, bay bay bay bay đến một nơi, sao lại có một nơi đẹp đến thế, hoàn toàn khác với nhân gian! Một danh sơn thắng cảnh như vậy, dù ông đã du ngoạn sơn thủy đại địa bấy lâu cũng chưa từng biết đến, trước mắt hiện ra lâu đài, mặt đất bằng vàng, và còn có một thiếu nữ khoảng hai mươi tuổi, Chu Mục Vương bị vẻ đẹp của nữ thần này làm cho sững sờ, gọi nàng là nữ thần, vậy nữ thần này là ai? (Mọi người đáp: Diêu Trì Kim Mẫu)

Diêu Trì Kim Mẫu thấy Chu Mục Vương này rất anh tuấn phong nhã, nên đã thiết lập một bữa tiệc mời ông đến cùng ngâm thơ xướng họa, chuyện trò vui vẻ. Chu Mục Vương rất biết cách làm vui lòng phụ nữ, ông đã tặng tất cả vàng bạc châu báu trên người và trên ngựa cho Tây Vương Mẫu. Điều này không phải tôi bịa đặt, mà được ghi chép trong văn sử. Tại sao phải nói về điều này? Vì có một điểm đặc biệt, sau khi tặng vàng bạc châu báu - thứ mà ai cũng có thể tặng, ông hiểu lòng người phụ nữ này, nhất định phải tặng một món đặc biệt, đó là một cây trâm cài tóc làm bằng ngọc.

Tin rằng đến đây mọi người đã biết, đó chính là Ngọc Thắng (trâm cài tóc bằng ngọc), cũng là thứ mà Sư Tôn đã dạy khi truyền pháp Hổ Đầu Kim Cang. Khi quán tưởng Hổ Đầu Kim Cang trên con hổ, trước tiên Ngài cài Ngọc Thắng vào tóc. Ngọc Thắng này, theo truyền thuyết, chính là do Chu Mục Vương tặng. Đây không phải là ngọc bình thường, mà là ngọc dạ minh châu, có thể phát sáng vào ban đêm, tóm lại là bảo vật thiên hạ. Ông đã tặng nó cho nữ thần trong lòng mình, và Diêu Trì Kim Mẫu đã nhận lấy. Vì vậy, sau này có một truyền thuyết, ở núi Côn Lôn, gần Côn Lôn, theo ghi chép trong "Thủy Tinh Trước", thực ra Diêu Trì ở gần Côn Lôn, truyền thuyết rằng dưới đáy biển Diêu Trì có một con quái vật biển. Khi Diêu Trì Vương Mẫu thiết tiệc mời chư tiên, con quái vật này không phục tùng, còn gây bão tố, làm nhiều điều kỳ quặc. Diêu Trì Kim Mẫu sai thị giả cầm Ngọc Thắng của Ngài, đứng bên bờ biển và cắm xuống biển, trực tiếp cắm vào tim con quái vật, tương đương với việc hàng phục nó. Tôi nghĩ, khi thấy câu chuyện này, tôi đã tự hỏi tại sao khi Căn bản Thượng sư truyền pháp Hổ Đầu Kim Cang, Ngài đặc biệt dạy "quán tưởng Diêu Trì Kim Mẫu đeo Ngọc Thắng lên". Tôi nghĩ, đây là suy nghĩ cá nhân của tôi, Ngọc Thắng này có thể cũng là một trong những pháp khí của Diêu Trì Kim Mẫu, và cũng thực sự là một biểu tượng của Ngài. Đây là điều đầu tiên tôi muốn chia sẻ với mọi người.

Vậy trong bữa tiệc này có điều gì đặc biệt? Vì theo truyền thuyết, Chu Mục Vương có tuổi thọ ở nhân gian lên đến 150 tuổi, nghĩa là ông không phải là người bình thường. Tại sao ông có thể sống lâu đến vậy? Lý do chính là ở đây, khi Diêu Trì Kim Mẫu mời khách, Ngài cũng không đãi những thứ thông thường. Chúng ta đã từng nghe nói ở tiên cảnh Diêu Trì có một thứ gọi là "quỳnh tương ngọc dịch", mọi người có nghe qua chưa? Giống như chúng ta biết những dược liệu Đông y quý giá, biết tên không quan trọng và cũng chẳng có tác dụng gì, điều quan trọng là phương thuốc gồm những gì. Bây giờ tôi sẽ nói cho mọi người về phương thuốc đó, tuy nói xong rồi các bạn cũng không thể có được, nhưng các bạn vẫn sẽ thấy rất thú vị!

Theo ghi chép trong "Liệt Tiên Truyện", phương thuốc này gồm hoa đỏ (hoa đỏ Động Uyên), sen trắng (sen trắng Côn Lưu), tức là hoa sen màu trắng, táo đen (táo đen Âm Kỳ), củ sen xanh (củ sen xanh Thiên Thường), tức là củ sen màu xanh, quýt trắng (quýt trắng Thanh Hoa) cùng với đào băng (đào băng Vạn Tuế) từ cây đào tiên do Diêu Trì Kim Mẫu trồng. Tổng cộng có sáu loại báu vật này, ngoại trừ đào băng, năm loại còn lại mà mọi người vừa nghe qua đúng là năm màu, tương ứng với Ngũ Hành. 

Vì vậy tại sao Chu Mục Vương có thể trường sinh bất lão, đây là nói so với tuổi thọ con người, chúng ta thường chỉ sống đến sáu bảy mươi tuổi đã là tốt rồi, ông ấy đã sống gấp đôi người khác, truyền thuyết nói rằng vì ông đã uống quỳnh tương ngọc dịch này. Vì vậy, Diêu Trì Kim Mẫu có một hóa thân gọi là Biến Thân Kim Mẫu, Ngài không phải là đại diện cho năm phương hóa thân sao? Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Diêu Trì Kim Mẫu sử dụng một cách khéo léo Ngũ Hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ này, giống như cho ông ta uống một thang thuốc Đông y, một viên thuốc bổ cực mạnh, nên ông đã sống được 150 tuổi. Vậy thì, tin đồn nhỏ, có người lén nói với tôi tin đồn nhỏ, chúng ta biết lịch sử được chia thành chính sử và dã sử, chính sử thường được viết một cách khô khan vô vị, còn dã sử thì được viết một cách hấp dẫn, tại sao vậy? Bởi vì tùy tiện bịa chuyện mà! Bạn rất thích đọc nó, con người là như vậy đấy.

Dã sử kể rằng, vì Chu Mục Vương say mê Tây Vương Mẫu, và Tây Vương Mẫu cũng có lòng thương tiếc với Chu Mục Vương, nên Ngài muốn Chu Mục Vương sống lâu hơn. Bởi vì khi Tây Vương Mẫu đối đáp với Chu Mục Vương, lưu lại những ghi chép này, Tây Vương Mẫu đã nói với Chu Mục Vương: "Ta biết ngươi là vua của nhân dân, ngươi đến đây chỉ là một sự tình cờ. Chúng ta gặp nhau ở đây chỉ là một cơ duyên nghìn năm có một. Ngươi cuối cùng phải trở về bên cạnh thần dân của mình. Dù ta mong ngươi quay lại, nhưng ta không biết khi nào ngươi sẽ trở lại. Ta hy vọng sau khi uống quỳnh tương ngọc dịch, ngươi sẽ trường sinh bất tử và ba năm sau quay lại." Nhưng hiển nhiên, Chu Mục Vương không quay lại sau ba năm. Và câu chuyện tiếp theo là Tây Vương Mẫu trực tiếp đến tìm Chu Mục Vương, có lẽ để đòi một lời giải thích. Cái này là do tôi tự nói ra, đừng đánh tôi nhé.

🍑 Mối liên hệ giữa trận chiến lớn của Hoàng Đế với Xi Vưu và Diêu Trì Kim Mẫu

Truyền thuyết thứ hai.

Chúng ta đã biết Diêu Trì Kim Mẫu là thần tiên thượng cổ, Ngài đã vô cùng cao quý và vĩ đại, nhưng sự lợi hại của Ngài, mọi người có biết không? Khoảng năm 2008, Sư Tôn đã truyền pháp gì tại sân vận động Đào Viên? Dịch Sử Thần Binh Đại Pháp! Mọi người có biết pháp này không? Chính tại pháp hội đó, Sư Tôn đã truyền pháp Lục Đinh Lục Giáp Dịch Sử Thần Binh Đại Pháp này, thực ra nếu bạn không hiểu rõ, không nghiên cứu kĩ, bạn sẽ thắc mắc, ơ, Kim Mẫu có quan hệ gì với binh tướng? Khi truy ngược lại, khi tìm hiểu tận gốc, thì thuyết này là có căn cứ rõ ràng.

Khi Hoàng Đế giao chiến với Xi Vưu, trong trận chiến Trác Lộc, ai là thầy của Hoàng Đế? Đó là Cửu Thiên Huyền Nữ, và thầy của Huyền Nữ chính là Vương Mẫu. Đây cũng là lý do Vương Mẫu đã truyền lại việc cai quản binh tướng thiên hạ, bao gồm các thuật binh pháp của nhân gian, cho Cửu Thiên Huyền Nữ, sau đó Cửu Thiên Huyền Nữ mới truyền cho Hoàng Đế. Vì vậy, lịch sử ghi chép rằng Hoàng Đế nhận được binh phù từ Tây Vương Mẫu, nên đã đại thắng Xi Vưu. Do đó, việc Diêu Trì Kim Mẫu nắm giữ binh phù đã được ghi lại trong truyện thần tiên cổ đại. 

Lý do tại sao chúng ta phải niệm "Thượng Thanh Thượng Đế, Đông Hoa Đại Đế Quân, Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn" trong thần chú Lục Đinh Lục Giáp do Sư Tôn truyền dạy ngày nay, là vì ngay từ đầu đã nói rõ sự truyền thừa của thần chú ở đâu, đó là Chân Phật Tông có sự truyền thừa này. Sau đó mới thỉnh mời tất cả các binh tướng hộ pháp. Vì vậy, Diêu Trì Kim Mẫu là người nắm giữ binh phù. Trong ghi chép, Sơn Hải Kinh, mọi người đã đọc Sơn Hải Kinh chưa? Sơn Hải Kinh có Sơn Hải Nội Kinh, Sơn Hải Ngoại Kinh và Đại Hoang Kinh. Tóm lại, toàn bộ Sơn Hải Kinh đã phân chia bản đồ thế giới trước đây, lấy núi Côn Lôn làm trung tâm, tức là lấy Diêu Trì Kim Mẫu làm nơi cư trú trung tâm của thế giới. Xung quanh núi Côn Lôn có bốn con sông, nghe nói là nguồn gốc nuôi dưỡng tất cả chúng sinh ở năm châu lục trên thế giới này. Vì vậy, sau này có một thuyết cho rằng bốn giáo phái của núi Côn Lôn: Phật giáo, Phật giáo Tây Tạng, đạo Kỳ Na và Ấn Độ giáo, đều cùng xem núi Côn Lôn là thánh địa chung.

🍑 Câu chuyện bí ẩn về núi thiêng Gang Rinpoche [tức núi Kailash, hoặc Kangrinboqê] ở Tây Tạng

Người ta còn kể rằng, có một ngọn núi thiêng ở Tây Tạng tên là Gang Rinpoche, tương truyền chính là vị trí của núi Côn Lôn. Núi này có gì đặc biệt? Tôi xin bổ sung cho mọi người biết, thông thường, mặt hướng về phía mặt trời của núi tuyết, tuyết thường sẽ tan chảy; còn mặt hướng bóng râm, tuyết sẽ tích tụ quanh năm. Nhưng ngọn núi thiêng này lại khác, nó ngược lại với các núi khác, mặt hướng về phía mặt trời lại có tuyết phủ quanh năm không tan, còn mặt hướng bóng râm lại trơ trụi. Các nhà nghiên cứu huyền bí nói rằng, trên ngọn núi này chắc chắn có thần tiên cư ngụ, nếu không tại sao lại dùng tuyết trắng để che đậy, bên trong không biết có bí mật gì?

 Hơn nữa, qua nhiều thời đại, các nhà khảo cổ học, các đoàn thám hiểm, có một đoàn thám hiểm Nga đã đi khám phá, khi leo lên núi, thể trạng của họ là 30 tuổi, khi xuống núi kiểm tra thì đã 70 tuổi, và họ đã nhanh chóng qua đời. Vì vậy, truyền thuyết kể rằng khi leo lên ngọn núi đó, không gian và thời gian đều đã thay đổi. Điều này phù hợp với quan điểm của Phật giáo là một ngày trên thiên đường bằng trăm năm ở nhân gian. Tất nhiên, đây chỉ là chuyện ngoài lề, mọi người nghe qua cho biết sự kỳ diệu. Tôi chỉ muốn nói với mọi người rằng, truyền thuyết về Diêu Trì Kim Mẫu và diện mạo của Ngài có nhiều khía cạnh. Ngài còn nắm quyền kiểm soát, thậm chí cai quản hình phạt. Theo Ngũ Hành, phương Tây thuộc Kim, Kim cai quản hình phạt, nên Ngài là vị thần hình phạt, và Ngài còn cai quản thần dịch bệnh thiên hạ, cùng binh phù. Đây là truyền thuyết thứ hai.

🍑 Tại sao Sư Tôn nói Diêu Trì Kim Mẫu là mẹ của tất cả chúng sinh?

Truyền thuyết thứ ba, Sư Tôn thường nói, ồ, Diêu Trì Kim Mẫu có rất nhiều con gái, ba nghìn thị nữ, rất nhiều con gái, khi tôi hồi hướng, khi thỉnh mời đều có cung thỉnh, ngoài Đổng Song Thành và Hứa Phi Quỳnh là hai thị giả con gái của Ngài, còn có năm người được ghi lại trong truyện thần tiên, đó là Hoa Lâm, Mai Lan, Diêu Cơ (Vân Hoa phu nhân), Thanh Nga, Ngọc Chi, cùng với công chúa Long Cát, Tây Cát, Nguyễn Lăng Hoa, Phạm Thành Quân, Vạn An Tương, còn những người khác nếu tôi đọc hết thì hôm nay chúng ta không cần đi tàu cao tốc trở về nhà vì vậy đọc đến đây là đủ rồi.

Tôi xin nói với mọi người, trong số đó có một người tên là Nguyễn Lăng Hoa, họ Nguyễn này, hiện nay quốc gia nào thường dùng họ này nhất? (Mọi người đáp: Việt Nam). Hôm nay chúng ta có hai vị sư tỷ người Việt Nam ở hai bên này.

Họ Nguyễn có duyên với Diêu Trì Kim Mẫu, đây là một truyền thuyết. Vì vậy, khi nói rằng Diêu Trì Kim Mẫu là mẹ của tất cả chúng sinh trên thế gian, là bởi vì tên của tất cả con cái của Ngài giống như trăm họ, có nghĩa là nguyên linh của Diêu Trì Kim Mẫu đã để những long tử phượng nữ của Ngài lan tỏa khắp thế giới, luân hồi trong cõi trần. Tương lai, Ngài sẽ đưa những long tử phượng nữ này trở về, vì thế có một bộ kinh gọi là "Phổ Độ Thu Viên Định Huệ Giải Thoát Chân Kinh", có truyền thuyết này.

Điểm quan trọng của truyền thuyết thứ ba là, ngoài những thị giả này, còn có ba vị rất quan trọng. Vì trong số các thị giả của Diêu Trì Kim Mẫu, trách nhiệm của họ rất đa dạng, có người rót trà dâng nước, có người quét dọn, đây là tôi tự nói (mọi người cười). Nhưng có một loại thực sự được ghi chép, gọi là sứ giả, những người đưa thư của Diêu Trì Kim Mẫu, đi lại giữa núi Côn Lôn và nhân gian, thậm chí Diêu Trì Kim Mẫu còn yêu cầu họ chuyển tin cho Chu Mục Vương, ba vị đó là ai? Đại Loan, Thanh Loan, Thiếu Loan, Thiếu Loan còn gọi là Ấu Loan, đó là ba con chim loan. Điều đặc biệt của chim loan là gì? Giống như Ca-lăng-tần-già trong Phật giáo của chúng ta, có mặt người thân chim, và giọng hát rất hay, lông vũ của chúng vô cùng phong phú như thần tiên, và khi dang cánh như bay vạn dặm, bay lượn khắp bốn biển, nên chúng không phải là loài chim bình thường, mà là chim thần.

Có một truyền thuyết, ai cũng biết ở Trung Quốc Đại Lục có nhiều thánh nhân, trong đó có một thánh nhân tên là Trang Tử. Trang Tử có một dự ngôn gọi là "Trang Tử mộng điệp", ý nghĩa trong đó chính ông đã nói: "Tôi mơ thấy mình là bướm, tôi không biết mình là bướm hay bướm là tôi?" Giống như giấc mộng Nam Kha, giữa thực và hư, thật thật giả giả, giả giả thật thật. Đây là một câu chuyện rất nổi tiếng, hậu thế đã dùng góc độ triết học, góc độ văn học để khảo chứng rất nhiều. Hôm nay tôi sẽ nói với mọi người từ góc độ thần học để khảo chứng, vì có một truyền thuyết rằng Trang Tử nguyên là một con bướm trắng ở tiên cảnh Diêu Trì. Nó thèm muốn đào tiên do Vương Mẫu trồng, bên cạnh đào tiên có mật hoa, sau khi nó hút mật thì bị chim loan xanh phát hiện. Chim loan xanh nói: "Đây là mật để Vương Mẫu đãi khách, ngươi dám lấy trộm sao?" rồi mổ chết nó. Vì lý do này, nó đầu thai xuống nhân gian trở thành Trang Tử, nên khi Trang Tử mơ thấy bướm, từ góc độ thần học, chúng ta thấy ông đang nhớ về kiếp trước kiếp này. Có phải tôi đang đùa không? Dù sao cũng có truyền thuyết như vậy.

🍑 Diêu Trì Kim Mẫu có những vật cưỡi và thú nuôi nào?

Truyền thuyết thứ tư

Điều này mọi người hãy lắng nghe kĩ. Như tôi vừa nói, trong "Sơn Hải Kinh" có ghi lại, hình tượng của Diêu Trì Kim Mẫu, thực ra ban đầu có người nói rằng Ngài có đuôi báo, răng hổ, tóc rối bù, mặt bẩn, và có diện mạo của một Vương Mẫu rất dữ tợn, đây là truyền thuyết ban đầu nhất. Tuy nhiên, sau thời Hán, trong "Tiêu Diêu Hư Kinh", có một đạo trưởng nghiên cứu lịch sử, sau khi ông ấy nghiên cứu một vòng và dùng lý thuyết của mình để giải thích, rằng "tóc xù đeo thắng" có nghĩa là tóc của Ngài rất dày, và cài ngọc thắng, tức là đeo trâm cài tóc, và "răng hổ cười mỉa", tức là do răng hổ nên rất biết cách gầm thét, thực ra là đệ tử của Vương Mẫu, chính là Tây phương Bạch Hổ Thần. Ông ấy cho rằng, đuôi báo răng hổ thực ra là vật cưỡi của Diêu Trì Kim Mẫu.

Tôi rất cảm ơn ông ấy đã giúp chú thích cho Hổ Đầu Kim Cang của Chân Phật Tông chúng ta, pháp Diêu Trì Kim Mẫu Hổ Đầu Kim Cang của Chân Phật Tông chính là Diêu Trì Kim Mẫu cưỡi trên Hổ Đầu Kim Cang (con hổ), vì vậy hổ được xem là vật cưỡi của Diêu Trì Kim Mẫu, và cũng là thú nuôi.

Không chỉ vậy, trong "Liệt Tiên Truyện" có ghi chép về thú cưng của Diêu Trì Kim Mẫu, còn có rồng giống cá, phượng hoàng, hổ, báo, kỳ lân, hươu tím, thỏ ngọc ở cung trăng trên trời, cáo, và cóc, vậy mọi người có biết không? Diêu Trì Kim Mẫu có một pháp gọi là pháp cóc vàng buộc tiền, con cóc đó là cóc ba chân, đây không phải là cóc thường, mà là thị nữ của Diêu Trì Kim Mẫu làm sai chuyện biến thành.

Khi tôi đang làm công khóa, đọc đến đoạn này, bây giờ tôi muốn nói với mọi người, thú cưng của Ngài, Diêu Trì Kim Mẫu có thể mở sở thú rồi, và những con vật này không phải loại thông thường, chúng đều là những sinh vật bay trên trời, bơi dưới đất, có thần thông biến hóa.

Trong việc thực hiện pháp hội Diêu Trì Kim Mẫu này, từ khi có lời mời của Thượng sư Liên Duyệt, mỗi ngày tôi đều thực hành công khóa, quán tưởng bản thân trở thành Diêu Trì Kim Mẫu, tự quán Bổn tôn là điều rất quan trọng.

Qua câu chuyện này, tôi muốn chia sẻ với mọi người rằng, người tạc tượng Diêu Trì Kim Mẫu hình thiên nữ này, trước đây chúng ta gọi anh ấy là ông chủ nhỏ, lần này khi đi Seattle cùng tôi, nhân duyên thù thắng đã đầy đủ, anh ấy đã quy y với Căn bản Thượng sư, nên giờ chúng ta gọi anh ấy là sư huynh Khâu. Hiện giờ sư huynh Khâu đang ở Malaysia giao tượng Phật nên không thể đến được, muốn gửi lời xin lỗi đến Thượng sư Liên Duyệt, nhưng đó không phải là điểm chính. Điểm chính là cách đây vài ngày anh ấy đã nằm mơ, tôi xin kể ngắn gọn với mọi người, anh ấy nói mơ thấy tôi và anh ấy ngồi trên một chuyến tàu, đột nhiên, tôi nói với anh ấy: "Các Hộ pháp của Thượng sư Liên Anh đều đã đến!" Hộ pháp là ai? Trên bầu trời có mây hình rồng, còn có loan phượng, và một con kỳ lân chạy từ phía đối diện lại, anh ấy cảm thấy sao mà thù thắng thế, sao mà đặc biệt thế! Vô cùng trang nghiêm và an tịnh. Anh ấy hiện không có mặt ở đây, tôi cũng không thể nói trực tiếp với anh ấy, tôi xin tiết lộ bí mật này với mọi người, thực ra những vị đó không phải là Hộ pháp của Thượng sư Liên Anh, mà là Hộ pháp của Diêu Trì Kim Mẫu.

Vì vậy đây là tướng tương ứng, trước khi vị Thượng sư chủ đàn thực hiện pháp hội, ngài phải liên tục trì tụng thần chú của Bổn tôn này, phải tự quán Bổn tôn, xem chúng sinh như chính mình, đặt họ trong tâm, nên tôi luôn thực hành quán tưởng như vậy, và Hộ pháp sẽ tự nhiên đến.

Như tôi vừa đề cập trong truyền thuyết thứ tư, chúng ta biết rằng, tất cả những sinh vật kỳ lạ quý hiếm trên thế gian, đều nằm dưới sự quản lý của Diêu Trì Kim Mẫu. Đây là một truyền thuyết có thật.


![image](/img/img_41d301055fb48c22e9914c44860634b5.jpg)


🍑 Trong tâm của Căn bản Thượng sư, Diêu Trì Kim Mẫu là một sự tồn tại như thế nào?
🍑 Thượng sư Liên Anh hướng dẫn mọi người đọc và suy ngẫm về bài viết của Sư Tôn "Diêu Trì Kim Mẫu là Phật"

Được rồi, sau khi kể xong các truyền thuyết, chúng ta cần phải đề cập, trong tâm của Căn bản Thượng sư, Diêu Trì Kim Mẫu là một sự tồn tại như thế nào?

Dù là từ Đạo giáo bên ngoài, hay Phật giáo, hay truyền thuyết dân gian, đều có rất nhiều cách mô tả về Diêu Trì Kim Mẫu, nhưng những điều đó chỉ là tham khảo đối với chúng ta. Ngày nay, khi bạn quy y Sư Tôn, bạn nên học theo cách Căn bản Thượng sư của bạn nghĩ về Diêu Trì Kim Mẫu, đó mới là điều chúng ta cần học hỏi. Vì vậy, tôi đã tìm ra một bài viết, bài viết này nằm trong văn tập số 161 "Nhất Niệm Thanh Lương". Sư Tôn đặt tên bài viết rất thẳng thắn, không giấu giếm, ngài viết "Diêu Trì Kim Mẫu là Phật". Bài viết chính là như vậy, và hôm nay tôi sẽ hướng dẫn mọi người đọc bài viết này. Tôi sẽ giải thích tại sao Sư Tôn dám nói như vậy.

Bối cảnh là khi Sư Tôn đang bế quan ở hồ Diệp Tử, khoảng từ năm 2000 đến 2006, Sư Tôn nói rằng mỗi ngày đều có chư Phật, Bồ Tát, Kim cang, Hộ pháp, Không hành, chư Thiên giáng xuống phòng nhập thất của Sư Tôn để làm khách. Vị thường đến nhất chính là Diêu Trì Kim Mẫu, điều này cũng không có gì đáng ngạc nhiên, vì Ngài là một trong ba Căn bản của Sư Tôn mà!

Một ngày nọ, Sư Tôn hỏi Diêu Trì Kim Mẫu: "Người có phải là Phật không?"
Diêu Trì Kim Mẫu hỏi lại Sư Tôn: "Vậy hãy nói cho ta biết, Phật là gì? Và Phật còn là gì?"

Hãy lắng nghe nhé, Sư Tôn nói, Phật là bậc giác ngộ, là thánh nhân có giác ngộ và hành động viên mãn. Thông thường, người ta viết đến đây thì dừng lại, vì đã nói xong rồi, đã dùng kiến thức Phật học của thế gian để nói đến tận cùng, đã giác hành viên mãn rồi còn gì để nói nữa? Điều đáng nể của Diêu Trì Kim Mẫu là như thế này, Ngài tiếp tục hỏi! "Vậy giác là gì?" Đây là điểm mấu chốt, người thực sự học hỏi là phải truy đến cùng, không phải chỉ nói cho bạn A rồi B là xong. Giáo sư Vương ngồi đây, ông ấy thích nhất là hỏi học sinh tại sao? Tôi cũng học theo ông ấy, tại sao?

Vì vậy Diêu Trì Kim Mẫu hỏi Sư Tôn tại sao? Thầy cảm thấy gì? Hãy trả lời.
Sư Tôn nói, vô thượng chính đẳng chính giác, đã giác ngộ, nhất thiết chủng trí.

🍑 Lớp học nhỏ về Phật pháp "Nhất Thiết Chủng Trí"

Được rồi, bây giờ sẽ là một buổi học nhỏ về Phật pháp. "Nhất thiết chủng trí" trong Phật giáo là một trong những thuật ngữ về trí tuệ, thực ra còn có hai loại khác, một loại gọi là "đạo chủng trí", một loại gọi là "đạo chủng trí". Nói chung, chúng ta có thể nói rằng hàng Thanh Văn hiểu và tư duy về "đạo chủng trí", đó là tư duy về một sự hiện hữu. Bồ Tát đại diện cho "nhất thiết trí", các ngài nói về tính không; Phật đại diện cho sự giác ngộ viên mãn gọi là "đạo chủng trí".

Vì vậy, có một cách nói, Thiên Thai tông giảng về ba quán: Không quán, Giả quán và Trung quán. Giả quán chính là đạo chủng trí, Không quán chính là đạo chủng trí, Trung quán chính là đạo chủng trí, nghĩa là không và có đều tự nhiên vận hành, không thiên về không cũng không thiên về có, là nhậm vận. Điểm quan trọng là hai chữ "nhậm vận", không có chướng ngại.

Vì vậy hôm nay tại Trung Quán Lôi Tạng Tự, tôi muốn nói một chút liên quan đến Trung quán, không thiên về không cũng không thiên về có. Sư Tôn đã trả lời Kim Mẫu như vậy, sau đó, Kim Mẫu nói: "Được rồi, những điều thầy nói đó ta cũng hiểu, vậy hãy nói cho ta biết thầy tu tập như thế nào?" Sư Tôn nói: "Con tu theo pháp Thanh Văn, tu Viên Giác, tư duy về bốn thánh đế, tư duy về mười hai nhân duyên, chứng Diệt đế và giải thoát phiền não." Nếu bạn nghe Đại sứ Liêu giảng về Phật học, bạn sẽ biết đoạn này Sư Tôn đang nói về việc Ngài tu Tiểu thừa, tu đến cùng là chứng quả A La Hán, nhập lưu. A La Hán có bốn quả vị, quả vị đầu tiên là Nhập Lưu, Nhập Lưu nghĩa là gì? Là nhập vào dòng chảy thánh thiện, người đó không còn là phàm phu nữa; A La Hán Nhị quả gọi là Nhất Lai, họ chỉ cần đến thế giới hữu tình này một lần nữa là đủ; Tam quả, họ đã trở thành bậc thánh; và bậc thánh thực sự là A La Hán Tứ quả, gọi là Vô Sinh, không cần luân hồi nữa, đã rời khỏi niết bàn, đã chứng niết bàn của A La Hán.

Đoạn đầu tiên mà Sư Tôn giảng đang nói về việc Ngài tu tập theo giáo pháp của Đức Phật, từ những nguyên lý cơ bản nhất về nhân quả để tu tập pháp Thanh Văn, Viên Giác và A La Hán. Ngài đã chứng minh từng điều một, và dựa vào thiền định để chứng minh. Trong đoạn thứ hai, Sư Tôn nói, tiếp theo Ngài tu Bồ Tát đạo, nghĩa là tâm lợi tha đã phát khởi, quảng độ chúng sinh, tu từ Sơ địa, Nhị địa cho đến Thập địa, từ Đẳng giác tiến vào Diệu giác để trở thành một vị Phật chân chính, minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử, và vĩnh viễn đoạn trừ cả hai loại sinh tử là biến dịch sinh tử và phân đoạn sinh tử.

🍑 Lớp học Phật pháp bài hai: Biến dịch sinh tử và Phân đoạn sinh tử là gì?

Bây giờ chúng ta bước vào bài học Phật pháp thứ hai, Biến dịch sinh tử và Phân đoạn sinh tử là gì? Cái gọi là phân đoạn sinh tử chính là trạng thái của chúng ta, những người phàm tục. Tất cả mọi người có mặt ở đây hôm nay, tất cả những ai còn hơi thở, đều đang trong trạng thái phân đoạn sinh tử. Bạn bị ràng buộc bởi nhân duyên quả báo, không thể tự chủ được, đó gọi là phân đoạn sinh tử. Bạn sẽ phải tiếp tục đến cõi người để luân hồi, bạn bị vướng mắc trong nhân duyên quả báo, bạn không có khả năng tự chủ.

Biến dịch sinh tử, giống như tôi vừa đề cập đến bậc A La Hán Tứ quả. Mặc dù các ngài vẫn còn phải luân hồi, nhưng khi đến cõi người này, các ngài hoàn toàn rõ ràng, biết mình đến để làm gì. Các ngài đến để giải quyết những nghiệp vi tế cuối cùng của mình trong cõi Ta Bà, những ràng buộc cuối cùng với cõi người. Sau khi hoàn thành xong, các ngài sẽ ra đi, đó là lý do tại sao gọi là "người có thể tự chấm dứt", có hai phần như vậy.

🍑 Niết bàn hữu dư, niết bàn vô dư, niết bàn vô trụ là gì?

Để giải thích thêm cho mọi người, trong Phật giáo nguyên thủy, có vài loại niết bàn được đề cập, loại thứ nhất gọi là "niết bàn hữu dư", loại thứ hai gọi là "niết bàn vô dư". Nếu bạn tra cứu trong Đại Từ Điển Phật Quang, đọc xong có lẽ bạn cũng sắp nhập niết bàn luôn, vì bạn sẽ không hiểu gì cả. Những thuật ngữ đó rất phức tạp. 

Tôi muốn nói với mọi người rằng, sự tuyệt vời của Sư Tôn là Ngài có thể biến phức tạp thành đơn giản. Sư Tôn nói, niết bàn hữu dư có thể tóm gọn trong hai câu, đó là tâm hồn thanh tịnh nhưng khổ đau của thể xác vẫn còn tồn tại, đó là niết bàn hữu dư; niết bàn vô dư là khi toàn bộ khổ đau của thân và tâm đều được giải thoát, bao gồm phiền não và khổ đau, tất cả đều được giải thoát. Niết bàn vô dư giống như trạng thái của bậc A La Hán Tứ quả cùng tất cả các vị Bích Chi Phật và chư đại Bồ Tát đều đạt đến niết bàn vô dư.

Tôi xin chia sẻ với mọi người một câu chuyện nhỏ. Khi Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16 hấp hối tại Mỹ, Ngài đang ở trong một bệnh viện ở Nam California. Ngài bị ung thư dạ dày giai đoạn cuối và ung thư đã di căn khắp cơ thể. Bác sĩ muốn cho Ngài morphine và thuốc giảm đau, nhưng Ngài từ chối. Bác sĩ nói: "Ngài bị ung thư dạ dày giai đoạn cuối, sẽ đau đến mức lăn lộn dưới đất mà Ngài không cần thuốc sao?" Đại Bảo Pháp Vương thứ 16 khẳng định: "Không cần!" Và Ngài còn vui vẻ kể chuyện cười với bác sĩ. Ngày hôm sau, khi bác sĩ thấy vẻ mặt đau đớn bắt đầu xuất hiện trên gương mặt của Đức Dalai Lama, bác sĩ nói với Ngài: "Tôi khuyên Ngài nên tiêm một mũi morphine giảm đau, tôi sẽ giúp Ngài điều trị giảm nhẹ." Đại Bảo Pháp Vương trả lời: "Tôi không cảm thấy đau." Vài giờ sau đó, Ngài ngồi trên giường bệnh và lại kể chuyện cười với các bác sĩ. Trạng thái niết bàn này được gọi là gì? Đó là niết bàn vô trụ.

Niết bàn vô trụ có thể chuyển hóa mọi khổ đau và mọi cảm nhận của tứ đại (đất, nước, lửa, gió) trong cơ thể, bao gồm cả khổ và lạc, hoàn toàn chuyển hóa tất cả. Các Ngài có khả năng chuyển hóa, nhưng không làm như vậy vì muốn gánh vác nghiệp chướng của chúng sinh. Điều này giống như vị Căn bản Thượng sư của chúng ta, vì vậy đừng nhìn Căn bản Thượng sư của bạn bằng góc nhìn của kẻ phàm phu. Bạn cần hiểu rằng một bậc thành tựu chân chính sử dụng thân xác của mình để thể hiện thần thông tự tại. Chúng ta nên thấu hiểu, hồi hướng và cầu xin chư Phật trụ thế.

Nhưng thái độ của bạn không nên là khinh thường: "Tại sao bậc thành tựu vẫn còn cảm thấy đau? Vẫn còn buồn khổ?" Bạn không biết rằng trong Phật giáo có cảnh giới niết bàn vô trụ, đây chính là thần thông tự tại của chư đại Bồ Tát và bậc thành tựu khi tái sinh vào cõi người.

Sau khi Sư Tôn giảng xong, Diêu Trì Kim Mẫu nói: "Đúng vậy! Những điều thầy vừa giảng chính là cái gọi là minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử." Đây cũng chính là tông chỉ của Chân Phật Tông. Bạn thấy đó, biểu tượng của Chân Phật Tông là một đóa sen với bánh xe chú của Liên Hoa Đồng Tử ở trên, hai bên có hai câu: "Minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử; tự độ độ tha, tự giác giác tha." Hai câu này mọi người hãy nhớ kĩ.

Rồi Diêu Trì Kim Mẫu nói: "Thầy đã giảng về minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử, giảng rất hay, vậy ai đã dạy thầy điều này?"
Sư Tôn đáp: "Diêu Trì Kim Mẫu dạy con! Vì vậy Diêu Trì Kim Mẫu là Phật!"

Mọi người tưởng câu chuyện kết thúc ở đây, nhưng không phải.

Phật là gì? Thực ra, Phật chỉ là một danh xưng, bạn có biết không? Trong Phật giáo, Phật có mười danh hiệu: Như Lai, Chính Biến Tri, Ứng Cúng, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn, tổng cộng mười danh hiệu, thậm chí không chỉ mười danh hiệu, nếu bạn muốn gọi là Phật, có vô lượng vô biên danh hiệu để gọi Ngài. Sở dĩ có mười danh hiệu này là vì được nói từ những góc độ và công đức khác nhau, ví dụ Ứng Cúng nghĩa là đáng được chúng ta cúng dường, là vượt trên ba cõi của nhân gian, là người mà chúng ta nên cúng dường; Ngài là Chính Biến Tri, Ngài biết xa lìa tất cả hí luận, thậm chí Ngài viên mãn cùng khắp. Những danh từ này đều có ý nghĩa, tuy nhiên để đại diện cho Phật, tuyệt đối không chỉ có mười danh hiệu này, huống chi chỉ có danh hiệu Phật.

Vì vậy Diêu Trì Kim Mẫu nói, chúng sinh đều có Phật tính, chỉ cần tu giải thoát đạo, Bồ Tát đạo, ai ai cũng có thể thành Phật, điều này đã tiến thêm một bước nữa, tất cả những điều nói trên đều là lý thuyết.

🍑 Chân Phật Tông là tông phái thực tu, làm thế nào để thực tu? Trung Quán là gì?

Tuy nhiên, Chân Phật Tông là tông phái thực tu, làm thế nào để thực tu? Khi bạn thực sự tu tập sẽ có chứng lượng xuất hiện. Tiếp theo, tôi sẽ chia sẻ với mọi người về cách Diêu Trì Kim Mẫu thể hiện thần thông của mình.

Sư Tôn và Diêu Trì Kim Mẫu trong chớp mắt đã đến một nơi, Diêu Trì Kim Mẫu nói với Sư Tôn, đây chính là Diêu Trì.
Sư Tôn nói: "Ủa, sao giống với Cực Lạc thế giới tịnh thổ mà con đã thấy vậy?"
Diêu Trì Kim Mẫu nói: "Vốn dĩ đã tương tự! Bất nhất bất dị! Có những điểm giống nhau, cũng có những điểm khác nhau, thậm chí có những nơi thù thắng gấp trăm nghìn vạn lần!"

Tiếp đó, Diêu Trì Kim Mẫu vừa ấn linh quang, lại đưa Sư Tôn đến một nơi khác, nơi này hóa ra chính là Cực Lạc thế giới.
Sư Tôn hỏi Mẫu Nương: "Tại sao người có thể đưa con đến tịnh độ của Phật?"
Diêu Trì Kim Mẫu nói: "Bởi vì cảnh giới của Phật chỉ có Phật với Phật mới biết được, tự tại giao tiếp với nhau."

Đây là sự hiển hóa của Diêu Trì Kim Mẫu.

Tiếp đến, Diêu Trì Kim Mẫu xoay mình biến hóa, biến thành thân Phật Mẫu, đúng như trong văn bản đã viết, biến thành thân vàng cao một trượng sáu rất cao, và trở nên giống như Phật, tay có thể duỗi dài, hiện tướng lưỡi rộng dài, đầy đủ ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp. Diêu Trì Kim Mẫu nói: "Đây chính là thân Phật, thân của ta tương đương với Phật."

Nhưng Sư Tôn cũng không phải kẻ phàm phu tầm thường, Sư Tôn đã giảng trong "Kinh Đại Bát Niết Bàn" rằng Ma Vương Ba Tuần cũng có thần thông như vậy, có thể biến hóa thần thông, cũng có thể biến thành giống như Phật! Vậy Diêu Trì Kim Mẫu, điều này có gì khác với Ma Vương Ba Tuần?

Diêu Trì Kim Mẫu tiếp tục nói: "Thực sự kiến tính thành Phật phải thực hành đúng theo lý, thấy tướng không phải là tướng, lìa tất cả sắc lìa tất cả tướng, không có bất kì chấp trước hay vướng mắc nào."

Có bốn câu nói: không một không khác, không sinh không diệt, không đến cũng không đi, không thường cũng không đoạn. Đây là gì? Đây chính là Trung Quán! Tư tưởng Trung Quán rất vĩ đại và quan trọng! Người học Phật nhất định phải tư duy về Trung Quán, tư duy về những lời dạy của chư Phật Bồ Tát, vì vậy gần đây Sư Tôn đang giảng về diệu minh chân tâm trong Kinh Lăng Nghiêm.

Diệu minh chân tâm là gì? Nếu bạn tư duy về những lời trong bài viết này, bạn sẽ dần dần hiểu được, tất cả đều là tác dụng của diệu minh chân tâm! Bản tính của nó vốn bất động.

Tiếp theo, Sư Tôn nói, người đời cho rằng Người là bậc tiền nhân thượng cổ, cho rằng Người là Vô Sinh Lão Mẫu, cho rằng Người là Ngũ Lão trong Đạo giáo, cho rằng Người là vị thần ở cõi Dục giới, thậm chí chỉ là một vị thần như Thổ Địa Công, nhưng tôi biết Người là bất khả tư nghì. Bất khả tư nghì là gì? Không ai có thể so sánh được.

Vì vậy, tôi xin kể một câu chuyện với mọi người. Trước đây, khi tôi làm thị giả cho Sư Tôn, có một ngày đang lái xe trên đường Thị Chính, đột nhiên trong đầu tôi nảy ra một thắc mắc. Vì thuở nhỏ tôi được Lê Sơn Lão Mẫu chăm sóc, Ngài đã chăm sóc tôi, nên tôi hỏi Sư Tôn: "Xin hỏi Sư Tôn, Lê Sơn Lão Mẫu là vị thánh thần nào? Có người nói Ngài là thần núi, có người nói Ngài là hóa thân của Vương Mẫu, có người nói Ngài là thế này thế kia, có rất nhiều truyền thuyết." Sư Tôn đã ngắt lời tôi khi tôi chưa nói xong: "Không cần hỏi! Không có ai lớn hơn Diêu Trì Kim Mẫu cả!" Lúc đó tôi nghĩ, hình như Sư Tôn không trả lời câu hỏi của tôi, vì tôi muốn biết Lê Sơn Lão Mẫu là ai. Sau đó, tôi suy ngẫm kĩ, hóa ra Sư Tôn đã giải đáp thắc mắc của tôi rồi, bởi vì trong tiềm thức tôi cho rằng Lê Sơn Lão Mẫu vô cùng cao quý, cao quý đến mức có thể đem ra so sánh với Diêu Trì Kim Mẫu, vì vậy lời nói của Sư Tôn đồng nghĩa với việc cho tôi biết, Diêu Trì Kim Mẫu là "độc tôn", cao quý và thiêng liêng nhất!

Vậy mọi người còn nhớ không? Hoàng Đế Lôi Tạng Tự hàng năm đều tổ chức pháp hội Tam Thánh Mẫu, bỗng nhiên có một năm Sư Tôn khai thị trên pháp tòa: "Không thể gọi là Tam Thánh Mẫu! Phải gọi là Diêu Trì Kim Mẫu và Nhị Thánh Mẫu!" Đây là Diêu Trì Kim Mẫu cùng với Địa Mẫu và Ma Tổ, có ai từng suy nghĩ tại sao không? Có phải Sư Tôn đang phân biệt không? Không phải! Đằng sau điều này có lý do, Ma Tổ vĩ đại đến mức nào? Địa Mẫu, chúng ta gọi danh hiệu trong kinh Địa Mẫu là "Vô Thượng Hư Không Địa Mẫu Đại Từ Tôn"! Ngài có thể sánh ngang với trời đất nhật nguyệt, công đức của Ngài rộng lớn không thể tính hết, vậy tại sao Sư Tôn lại nói về Diêu Trì Kim Mẫu và Nhị Thánh Mẫu? Cần phải suy ngẫm, tại sao Diêu Trì Kim Mẫu lại cao quý như vậy?

Vì vậy, trong bài viết cuối cùng Sư Tôn viết rằng, Kim Mẫu không hoàn toàn giống với những gì người đời nghĩ, thấy và nghe! Đừng bao giờ dùng góc nhìn của phàm phu để suy nghĩ!

Tiếp theo, vâng, đến kết luận rồi, Diêu Trì Kim Mẫu là Phật là kết luận của bài viết này, xin hỏi mọi người, Sư Tôn đứng từ góc độ nào, Ngài có đức hạnh và khả năng gì để nói rằng Diêu Trì Kim Mẫu là Phật? Như đã viết trong phần trước của bài, Kim Mẫu nói, cảnh giới của Phật chỉ có Phật với Phật mới biết được, tự do giao tiếp với nhau, vậy tại sao Sư Tôn có thể viết Diêu Trì Kim Mẫu là Phật? Trừ phi, Căn bản Thượng sư đã chứng kiến Phật tính của Ngài!

Quả nhiên, trong phần cuối của bài viết, sau khi Diêu Trì Kim Mẫu nói chuyện với Sư Tôn, thậm chí đã thị hiện những thần thông này, tôi cuối cùng đã hiểu, Như Lai Tạng là gì? Diêu Trì Kim Mẫu đã dạy Sư Tôn về lục thức, ý thức, ý căn, tiến vào A-lại-da, và cuối cùng có một Như Lai Tạng tâm, Diêu Trì Kim Mẫu cũng dạy Sư Tôn về Duy Thức, không chỉ dạy Trung Quán mà còn dạy Duy Thức.

Sư Tôn nói tôi cuối cùng đã chứng minh được, câu nói này chính là nói, Sư Tôn đã chứng kiến Phật tính của Ngài, vì vậy Ngài nói và viết Diêu Trì Kim Mẫu là Phật!

Vì vậy, Sư Tôn đã xuất bản một cuốn sách có tên "Thiên Hạ Đệ Nhất Linh", trong đó nói về thần toán của Diêu Trì Kim Mẫu. Nhiều người cho rằng Diêu Trì Kim Mẫu vĩ đại vô cùng, vĩ đại hơn cả Sư Tôn, và Sư Tôn quá nhỏ bé đến nỗi không hiểu gì nên phải hỏi Diêu Trì Kim Mẫu. Sau khi đọc xong bài viết đó, họ đã đặt Căn bản Thượng sư lên tận chín tầng mây! Bạn đã sai! Căn bản Thượng sư và Diêu Trì Kim Mẫu là một, không phải hai!

Đừng bao giờ bị mê hoặc bởi kiến văn giác tri của phàm phu nữa. Bạn phải tư duy qua những manh mối trong bài viết của Sư Tôn. Cho dù Ngài đang nói về những điều tự nhiên, những thần thông, bao gồm cả việc gần đây Sư Tôn đang giảng về thiên ngữ, tất cả đó chỉ là một cách vận dụng! Bạn cần biết minh giác chân tâm đằng sau những vận dụng này, diệu minh chân tâm ở đâu? Đó mới là điều chân thật.

🍑 Phép cộng, trừ, nhân, chia và đặc biệt là dấu bằng của người tu hành mang ý nghĩa gì?

Cuối cùng tôi muốn nói với mọi người, bạn có nghĩ rằng mục đích quan trọng nhất của tôi hôm nay là ca ngợi Sư Tôn là Phật, Diêu Trì Kim Mẫu là Phật không? Nếu vậy, bạn đã sai lầm. Tôi muốn nói với mọi người rằng, trong bài viết "Diêu Trì Kim Mẫu là Phật" của Sư Tôn, chủ đề quan trọng nhất là để cho bạn biết rằng, tất cả những người đọc bài viết đều là Phật! Mỗi người đều có đầy đủ Phật tính, trong Như Lai Tạng tâm của bạn, làm thế nào để chứng minh, làm thế nào để khai quật nó ra, chính là đi theo quá trình mà Sư Tôn đã nói trong bài viết, bạn phải văn tư tu [nghe pháp, tư duy, tu hành], bạn phải thực hành Phật pháp này, bạn phải thực hành nghi quỹ này, chứ không phải đặt nghi quỹ này lên bàn thờ rồi không liên quan gì đến bạn cả.

Vì vậy, trong phần cuối ghi chép của mình, tôi đã viết một câu: Trong thế giới này, bạn học toán học, bạn học tất cả mọi thứ, bạn học mật pháp, phép cộng, trừ, nhân, chia rất quan trọng. Phép cộng, trừ, nhân, chia là gì? Mỗi chúng ta đều cầu phước lành, cầu tiêu trừ nghiệp chướng, tiêu nghiệp chẳng phải là phép trừ sao? Hãy trừ đi, hãy trừ bỏ nghiệp chướng! Tại sao phải tu pháp thiên chuyển luân? Bạn hy vọng phước báu của mình trong một đêm sẽ tăng vô tận, biến hóa vô lượng vô biên, đó chẳng phải là phép nhân sao? Phép cộng, tôi hy vọng có cái này, tôi hy vọng có thêm cái kia, tất cả cộng lại; phép chia, loại bỏ nghiệp chướng này, loại bỏ chướng ngại kia, điều đó rất quan trọng! Nhưng mà, dấu bằng còn quan trọng hơn!

Dấu bằng là gì? Bạn tạo dấu bằng giữa bạn và Căn bản Thượng sư của bạn, Căn bản Thượng sư của bạn tạo dấu bằng với Bổn tôn, Bổn tôn tạo dấu bằng với Hộ pháp, tạo dấu bằng với tất cả vũ trụ không gian, khi bạn hiểu được nguyên lý của dấu bằng, bạn sẽ biết cách cộng, trừ, nhân, chia, nếu bạn chỉ biết cộng, trừ, nhân, chia mà không biết dấu bằng, bạn sẽ bị ràng buộc trong cõi người này.

Vì vậy "dấu bằng" là một yếu tố quan trọng nhất của người tu hành! Trọng điểm khi bạn nhập Tam ma địa là gì? Chính là dấu bằng. Bạn hòa nhập bản thân mình với Bổn tôn và hư không làm một, đó mới là điều bài viết này muốn dạy chúng ta, đó mới là điều Sư Tôn và Diêu Trì Kim Mẫu muốn nói với chúng ta: "Đừng tự ti! Bạn phải thực sự tu tập cho tốt." 

Đây là điều tôi muốn gửi đến mọi người hôm nay.
Om mani padme hum.

---
# File: tinh-tuyen/ts-lien-anh-tu-phap-dieu-tri-kim-mau-lap-tuc-co-tien.md
# Title: TS LIên Anh: Tu pháp Diêu Trì Kim Mẫu lập tức có tiền
---

![image](/img/img_38294b00689807e05364f6c6946dfd37.jpg)



# TS LIên Anh khai thị: Tu pháp Diêu Trì Kim Mẫu lập tức có tiền


Giảng pháp: Thượng sư Liên Anh
Thời gian: 10.04.2025
Địa điểm: Kính Tu Đường - Malaysia
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

### Tu pháp Diêu Trì Kim Mẫu lập tức có tiền sẽ có tiền ngay lập tức?


Tất cả chúng ta sống tại nhân gian đều cần có tiền, Sư Tôn từng nói tiền là trung tính, không phải là thứ xấu xa, quan trọng là xem bạn có tiền bằng cách nào, bạn dùng tiền như thế nào. Trong Mật giáo có nhiều pháp Tài Thần, pháp Diêu Trì Kim Mẫu lập tức có tiền cũng là một pháp Tài Thần, quan trọng nhất là: kiếm tiền hợp đạo lý, dùng tiền đúng mức độ. Bạn phải kiếm tiền thông qua cách chính đáng, không phải thông qua cá cược, lừa đảo, cướp giật. Khi dùng tiền phải có sự tiết chế, tôi kiếm được bao nhiêu tiền thì tôi sẽ chi tiêu từng nào. Sư Tôn rất chú trọng dạy chúng ta điều này, không phải là kiếm được bao nhiêu thì đem tiêu hết bấy nhiêu, vì thế, mỗi năm Sư Tôn mới có thể làm bố thí nhiều như vậy. Quỹ hoạt động của Tông Ủy Hội phần lớn đến từ sự quyên góp của Sư Tôn và Sư Mẫu. Tiền quyên góp của quỹ từ thiện Lư Thắng Ngạn phần lớn là tiền do chính Sư Tôn đóng góp, có thể thấy Sư Tôn đã làm bao nhiêu công ích. 

Có người nói Sư Tôn có hàng triệu đệ tử trên thế giới, Sư Tôn có rất nhiều tiền. Không sai! Sư Tôn là Đại Phúc Kim Cang mà. Nhưng bạn phải xem Sư Tôn đã dùng tiền như thế nào, đừng chỉ nhìn thấy tiền đi vào thế nào mà không nhìn tiền đi ra theo cách nào. Sư Tôn chính là tấm gương cho chúng ta, chúng ta nương dựa vào Sư Tôn là rất tốt, chúng ta hãy học tập tinh thần của Sư Tôn. 

Tiền thì ai cũng cần, và tôi cũng biết rất nhiều người gặp khó khăn về kinh tế. Nhưng trước khi tu pháp Tài Thần, có một điểm quan trọng, xin hãy nghe theo lời khuyên của tôi. Hôm nay sau khi bạn nhận được quán đảnh tu pháp này, đừng nghĩ rằng tôi tu pháp lập tức có tiền, ngày mai các khoản nợ của tôi thật sự sẽ được giải quyết. Tu được một tuần, ồ sao chủ nợ vẫn đòi tiền? Tu được một tháng, quái lạ, sau tôi vẫn nợ tiền? Tu được hai tháng, ba tháng, sau đó thoái lui đạo tâm. Ôi dào, thì ra Sư Tôn truyền pháp lập tức có tiền nhưng thực tế chẳng hề “lập tức”, vứt bỏ luôn pháp bản, tượng Diêu Trì Kim Mẫu cũng dẹp qua một bên. 

Chân Phật Tông chúng ta gọi là Chân Phật Mật Pháp. Mật pháp thì vẫn lấy cái gốc là Phật pháp. Tinh thần quan trọng nhất của Phật pháp là gì? Đó là nhân quả. Có một lần, Sư Tôn đến một đạo tràng nọ viết tặng thư pháp, ngài đã viết bốn chữ: “Tự làm tự chịu”, đây chính là nhân quả, cũng là tam pháp ấn. Pháp ấn chính là chân lý bất biến. Sao lại là “tự làm tự chịu” chứ, chẳng phải là Sư Tôn sẽ ban phúc cho chúng ta sao? Nói cho mọi người biết, bốn chữ này chính là sự ban phúc lớn nhất đó. Sư Tôn đã nói cho mọi người một đạo lý lớn của vũ trụ, “tự làm tự chịu” chính là nhân quả, những gì bạn đã làm trong quá khứ khiến cho bạn giống như hiện tại. Những gì bạn đang làm hiện tại sẽ ảnh hưởng đến tương lai, mọi việc lớn nhỏ đều có quan hệ nhân quả. Đó là vì sao tôi hay nhấn mạnh mọi người phải chú ý căn nguyên. 

Lấy ví dụ một chuyện, không được đi vòng ra phía sau ghế ngồi của Thượng sư, vì sao? Vì trong Mật giáo, hành động này đã trồng xuống chủng tử bất tôn kính đối với Tam Bảo. Đôi khi bạn nói không phải tôi cố ý đâu. Nếu nói không phải cố ý thì bạn đừng tu Mật pháp nữa. Sở dĩ Mật giáo có thể giúp thành tựu nhanh chóng là vì giới luật mà Mật giáo phải giữ nhiều hơn Tiểu thừa, Đại thừa. Vì sao tu Mật pháp sẽ nhanh chóng có được phúc báo, đó là vì bạn phải chú trọng vào nhiều thứ hơn, khi ấy bạn giảm bớt được những tội mà bạn phạm phải, giảm bớt những “cơ hội” phạm giới, giảm bớt tạo nghiệp, có như thế phúc báo mới đến. Đừng nghĩ rằng hôm nay tôi nhận được quán đảnh rồi thì phúc báo cứ thế sẽ đến, không có đâu. “Tự làm tự chịu” chính là nhân quả.

Vì thế, bạn phải có nhận thức đúng đắn. Hôm nay tôi cảm thấy rất đau khổ, kinh tế rất khó khăn, đó là vì sao? Là vì trong quá khứ, tôi đã không tích lũy đủ thiện duyên, bạn cần phải sám hối. Hôm nay vì sao tôi nỗ lực như vậy mà vẫn không kiếm được tiền? Vì quá khứ tôi đã không có đủ thiện duyên, không có đủ quý nhân, tôi cần phải sám hối: “khi xưa đã tạo bao ác nghiệp, là vì vô thủy tham sân si, đều sinh ra từ thân ngữ ý, nay con hết thảy xin sám hối”. Phải có sám hối mới có tiêu nghiệp chướng, gia tăng cơ hội chuyển biến tốt. 

Cho nên, trước khi muốn có tiền, bạn phải tiêu nghiệp chướng, đây là đạo lý bất biến, không phải là tự nhiên cứ thế bạn sẽ lập tức có tiền. Sám hối như thế nào? Hôm trước khi nói chuyện với một đồng môn, tôi có một cảm giác về người đó, cho nên tôi có nói: “Anh cần sám hối đấy! Nếu trong đời này, quá khứ anh đã sinh ra ác niệm với ai anh đều phải sám hối.” Tôi không biết anh ta nghe có hiểu không, nhưng theo kinh nghiệm thông thường mà tôi thấy thì người ta hay nói: “Tôi không hề. Tôi đâu có ý nghĩ xấu gì về người khác.” Tôi nghĩ, chẳng lẽ lại nói với anh ta: “Bản thân tôi còn có ác niệm, anh thật sự không có ư?” Không phải là Thượng sư rồi thì không có ác niệm đâu nhé. Là Thượng sư thì càng phải sám hối ác niệm của mình mới có thể làm Thượng sư. Giới luật cần phải giữ càng nhiều hơn thì lại càng phải sám hối nhiều hơn. 

Bởi vậy con người rất vô minh. Hỏi đã làm việc gì sai, họ bảo rằng chẳng làm việc gì sai cả, bởi vì căn bản là họ không thấy được là họ đã làm cái gì, nhưng thực tế là họ đã gây ra nhiều tội nghiêm trọng nhưng lại còn không biết sám hối. Giống như hòn tuyết lăn, cứ thế lăn mãi, càng ngày càng trở nên to ra, bạn càng không nhìn thấy được bản tính của mình. Giả sử bạn thật sự không biết thì sao? Thỉnh chư Phật Bồ Tát, chư thiên, Hộ pháp Không hành làm chứng, trong quá khứ nhất định mình đã có những chỗ không tốt nhưng vì nghiệp chướng mà không nhìn ra, xin Phật Bồ Tát hãy từ bi, hãy bày những nhân quả ấy dưới ánh mặt trời, để cho ánh sáng mặt trời hong khô những nhân quả ấy, đó là sự sám hối thật sự. 

Trong Mật giáo có một câu chuyện về một đệ tử của Bạch giáo, khi tu Mật giáo vẫn liên tục phạm tội, đồng môn nói với anh ta nếu cứ như vậy thì tu sẽ chẳng thể có thành tựu. Đến một ngày anh ta biết sợ nên đã đi sám hối với thầy của mình, vị thầy ấy chẳng hề lập tức gia trì, sờ đầu, hay quán đảnh cho anh ta rồi nói rằng nghiệp chướng của anh đã hết rồi đó. Bạn có biết vị tổ sư này đã làm gì không? Ngay ngày hôm sau, vị thầy này đã đi khắp các ngõ hẻm lớn nhỏ nói cho người ta biết đệ tử này đã gây ra nghiệp chướng gì. Thông thường mà nói thì đệ tử chắc chắn sẽ đánh mất đạo tâm, thầy không thương xót mình lại còn đi mắng mình nữa, còn công khai sỉ nhục mình. Vị tổ sư ấy đã nói rằng, ta làm như vậy chính là cách khiến cho ngươi tiêu nghiệp chướng nhanh nhất đó, bày nghiệp chướng của ngươi dưới ánh sáng mặt trời, để cho người ta đến mắng ngươi, như thế đã nhổ bỏ nghiệp báo mà tương lai ngươi sẽ phải chịu, đây chính là cách từ bi nhất. 

Vì thế, sám hối không phải là hôm nay ở trước đàn thành bí mật nói với Phật Bồ Tát nhưng ngày mai lại tiếp tục đi phạm lỗi, dù sao có ai biết đâu. Chính vì cái suy nghĩ “không có ai biết” này cho nên bạn vĩnh viễn không thật sự sám hối. Bạn phải sám hối đến mức khóc thảm thiết. Sư Tôn từng khai thị, khi bạn thỉnh cầu Diêu Trì Kim Mẫu, có một điểm quan trọng, nếu bạn có thể khóc lóc thảm thiết trước mặt Diêu Trì Kim Mẫu thì nhất định bạn sẽ được Diêu Trì Kim Mẫu gia trì. Có đồng môn hỏi tôi vì sao phải như vậy? Như thế rất giả tạo mà, sao phải khóc chứ? Bạn nói sai rồi. Vì khi bạn thật sự xúc động từ trái tim mình, chắc chắn bạn sẽ rơi lệ, bạn thật sự biết mình đã sai rồi bạn sẽ khóc. Dùng cái tâm xúc động mà khóc này chứ không phải là biểu hiện cố khóc bên ngoài, dùng cái tâm chân thành này để cảm động chư Phật Bồ Tát, thật sự con đã sai rồi, xin hãy gia trì cho con, để Phật Bồ Tát tiếp nhận bạn. Vậy tiền đề đầu tiên là phải biết sám hối. 


![image](/img/img_eb9d01a9866244d7447dd8e403003680.jpg)



### Tu pháp Diêu Trì Kim Mẫu lập tức có tiền cần chú ý


Trong phần Chính hành của pháp tu này, cần phải quán tưởng Căn bản Thượng sư như thế nào? Chú ngữ và thủ ấn thì vẫn thế, chỉ thêm vào phần quán tưởng. Cách quán tưởng này đã được Sư Tôn viết trong cuốn “Chân Phật Pháp Trong Pháp” - cách quán tưởng Liên Hoa Đồng Tử ban tài. Bạn phải quán tưởng Căn bản Thượng sư ngồi trên hoa sen vàng kim, bông hoa sen trên tay ngài cũng có màu vàng kim, trên hoa sen có vàng bạc châu báu, quán tưởng vàng bạc châu báu trong hoa sen này là Căn bản Thượng sư ban cho mình, làm thế này cũng không khác gì bạn đang tu pháp Tài Thần. Khi bạn tu pháp Liên Hoa Đồng Tử có thể quán tưởng Thượng sư mặc long bào màu vàng, đội mũ Pháp Vương màu vàng, chuỗi hạt màu vàng, tất cả đều nhằm có được sự tương ứng. Khi bạn tu pháp này cũng thế, tốt nhất là mặc quần áo màu vàng, dùng chuỗi niệm hạt màu vàng, chuẩn bị cúng phẩm màu vàng, đây chính là bí quyết. 

Sau khi quán tưởng Căn bản Thượng sư như trên thì đi tiếp vào phần chính. Pháp Diêu Trì Kim Mẫu phân thành hai phần quan trọng. Phần thứ nhất thực ra chính là pháp Bổn tôn Diêu Trì Kim Mẫu. Trước khi tu pháp lập tức có tiền, bạn phải thông qua thân khẩu ý thanh tịnh để quán tưởng Diêu Trì Kim Mẫu, sau đó chính mình biến thành Diêu Trì Kim Mẫu. Bắt đầu từ chú quán Không, bản thân phải hóa thành hư  không, môi trường xung quanh cũng phải hóa thành không, vì sao quán Không lại quan như vậy? Nếu bản thân không thật sự hợp nhất với hư không, không thể làm cho mình trở nên hoàn toàn “biến mất” thì tức là bạn đang dùng chính sự tham sân si ngã mạn, nghiệp chướng của chính mình để triệu thỉnh, mà như thế thì bạn chẳng thể triệu thỉnh được Phật Bồ Tát. Bạn phải dùng tâm thanh tịnh nhất, vô nhiễm nhất để triệu thỉnh, vì thế nhất định phải hóa thành không. Còn nữa, phải loại bỏ hết tạp niệm, phải trong vắt tinh khiết và tĩnh lặng như ly nước suối này, như thế thì Phật Bồ Tát mới dung nhập vào bạn. Ý nghĩa của quán Không là như vậy.

Vì thế, tôi kiến nghị mọi người khi niệm chú quán Không đừng niệm quá nhanh, hãy niệm chậm một chút và từ từ quán tu, chậm rãi quán tưởng, đợi đến khi hoàn toàn trống không hết, ngay cả thân thể xương thịt này cũng không còn, ngay cả trì chú quán Không cũng loại bỏ nốt, mọi áp lực của cuộc sống đều được loại bỏ, dần dần nghiệp chướng sẽ tiêu trừ. Cho nên đừng coi thường chú quán Không, ở Tây Tạng có một vị Lama cả đời chỉ tu trì chú quán Không mà đạt được thành tựu Đại viên mãn, bởi vì vị Lama này hiểu được pháp ích của chú quán Không.

Sau quán Không là quán tưởng nguyệt luân, chủng tử chữ Hum màu trắng xoay tròn biến thành Bổn tôn Diêu Trì Kim Mẫu, phải quán tưởng Bổn tôn rất chi tiết, mũ phượng phải quán tưởng rõ ràng, khuôn mặt ngài rõ ràng, y phục rõ ràng, pháp khí rõ ràng. Có người hỏi có nhiều hình tướng Diêu Trì Kim Mẫu như vậy, nhất định phải quán tưởng pháp tướng giống như trong pháp bản này sao? Câu trả lời là không nhất định. Hãy dùng pháp tướng mà bạn thích, gần đây Sư Tôn thường nhấn mạnh Diêu Trì Kim Mẫu hình tượng thiên nữ, còn cá nhân tôi thích quán tưởng Diêu Trì Kim Mẫu hình tượng người mẹ hiền từ. Bạn có thể quán tưởng ngài cầm đào tiên hoặc gậy như ý, bạn quán tưởng cả hai cũng được, tóm lại là theo nhân duyên của bạn mà quán tưởng, quán tưởng càng rõ ràng càng có công đức. 

Sau đó Diêu Trì Kim Mẫu phóng ba ánh sáng chiếu đến bạn để thanh tịnh nghiệp chướng, phải thanh tịnh chính mình thì phúc phần lập tức có tiền mới có thể đến. 

Tiếp theo phải quán tưởng trong nguyệt luân có một chữ Ah, từ chữ Ah này hóa thành một con ngựa báu. Vì sao lại là chữ Ah? Trong Mật giáo, chữ Ah đại diện cho sự sinh ra, cũng đại diện cho Báo thân Phật, tức là Phật tính xuất hiện từ trong hư không. Ngựa báu này phải khỏe mạnh cường tráng chứ không phải gầy gò, gầy gò sẽ không có lực, như thế ngay cả đứng cũng không vững. Ngựa màu nào cũng được nhưng cần phải to khỏe, và trên lưng ngựa phải có hàng bao tải đựng đầy vàng bạc châu báu, đựng đầy đồng 1000 đô la Mỹ, bạn muốn bao nhiêu thì quán tưởng bấy nhiêu. Tất nhiên cũng có thể quán tưởng đồng tiền của đất nước bạn, nhưng tiền đô la Mỹ hiện tại vẫn là to nhất. Bạn hãy quán tưởng con ngựa thật to thì càng chở được nhiều. 

Đây chỉ là sự biến hóa, quan trọng là quán tưởng chính mình biến thành Diêu Trì Kim Mẫu, cầm phất trần phẩy lên con ngựa đó, sau đó hô lên “Chi-a”, đây chính là khẩu lệnh cho ngựa mà, hô lên như vậy thì ngựa mới hành động, tức là phúc phần của bạn mới chuyển động, chạy đến bên bạn, đi vào trong người bạn, hợp nhất với bạn. Còn rất nhiều chi tiết nhỏ nữa, bạn có thể tự mình đi tìm hiểu thêm.

Tu mỗi đàn pháp đều cần có tụng tán, bạn thích bài tụng tán Diêu Trì Kim Mẫu nào thì có thể tự mình thêm vào trong nghi quỹ để đọc tụng, để tán dương ngài, thể hiện sự cung kính ngài, cũng là sự cầu thỉnh. Ca ngợi ngài xong thì hồi hướng, nhiều người nói không biết hồi hướng thế nào, thật ra chỉ là bạn cần cái gì thì nói ra cái đó, chỉ đơn giản thế thôi. Cho nên nói là không biết hồi hướng thì tức là trong đầu bạn cũng không rõ mình muốn cái gì, không biết mục tiêu của chính mình.

Khi hồi hướng bạn cũng cần phải hiểu sự chừng mực, không thể nào nói muốn trúng xổ số giải cao nhất bao nhiêu tiền, muốn được tăng lương bao nhiêu tiền. Có thể thỉnh cầu Diêu Trì Kim Mẫu tiêu trừ nghiệp chướng, từ đó dần dần vận mệnh sẽ thay đổi, thỉnh cầu trong công việc gặp được quý nhân, được sếp yêu thích và tăng lương, nhưng không thể yêu cầu đòi được mức lương bao nhiêu, như thế thì quá đáng rồi. Tất cả đều phải đúng mực, nhưng cần phải có mục đích hồi hướng rõ ràng, dùng sự thành tâm để thỉnh cầu. 

Sau cùng niệm Bách tự minh chú, cũng đừng niệm thật nhanh cho xong mà không quán tưởng gì cả, phải thỉnh Kim Cang Tát Đỏa phóng quang gia trì, lượng thứ cho mọi lỗi lầm sai sót trong quá trình tu pháp, phải như vậy thì tu pháp mới viên mãn. 


![image](/img/img_1d5d73388ab78546e1e8eb18c211fbf2.jpg)

---
# File: tinh-tuyen/ts-lien-anh-ung-dung-cua-phap-ho-lua.md
# Title: TS Liên Anh: Ứng dụng của pháp hơ lửa
---

🪷 Thượng sư Liên Anh khai thị

⛩️ Chính Pháp Đường - Malaysia | 28.08.2025


![image](/img/img_18bbaa2a150f8dd318fbc628a2464055.png)


Chúng ta có pháp hơ lửa [bước qua lửa] nữa. Nhiều người không biết cách hơ lửa và trường hợp nào có thể hơ lửa. Ví dụ tạp âm, bạn ngủ không ngon, vận khí kém, cơ thể có bệnh, bạn đi khám bác sĩ, sau khi khám không khỏi, bạn có thể thử hơ lửa. Hơ lửa có thể làm dương khí mạnh mẽ, cũng có thể trừ âm khí.

Cách làm thế nào? Nếu là người bị bệnh, bạn nên đặc biệt đi mua Trừ Tật Kim, trong Chân Phật Tông có tiền giấy Trừ Tật Kim. Nếu không có Trừ Tật Kim, bạn dùng tiền giấy Chân Phật Kim, Thất Phật Kim cũng được. Ý tôi nói nếu có Trừ Tật Kim thì tốt hơn, bởi vì trên đó có hình phù mà khi xưa Diêu Trì Kim Mẫu đích thân truyền cho Sư Tôn, ở trong đó có ấn trừ bệnh tật.

Buổi chiều ngày Trừ, tức là bạn đi xem lịch âm sẽ thấy trực của mỗi ngày, sau 1 giờ chiều, bạn ở cửa sau nhà mình đốt tiền giấy, tại sao phải là cửa sau? Bởi vì đón cửa trước, tiễn cửa sau; cửa sau tượng trưng cho việc đuổi đi khí xấu. Bạn chuẩn bị một lò đốt vàng mã ở sân sau, cửa sau. Trước đó bạn báo cáo trước đàn thành, thắp một nén hương, chuẩn bị một ít lễ vật, báo cáo với Phật Bồ Tát tôi là ABC, đang sống ở đâu, tôi hiện đang gặp phải vấn đề gì, rất khó giải quyết, tôi hy vọng Phật Bồ Tát gia trì vàng mã này, để sau khi tôi bước qua lửa, những vận khí trên cơ thể này, cái xấu sẽ được loại bỏ, cái tốt sẽ được đón nhận. Sau đó tay phải bạn có thể dùng ấn kiếm chỉ viết chữ "Hum" màu trắng lên vàng mã, dùng sức mạnh của Bổn tôn để gia trì vàng mã này, rồi quán tưởng biến hóa làm cho nó trở nên nhiều vô số, như núi như biển.

Sau đó bạn đốt tiền vàng. Sau khi đốt, đợi khi lửa cháy mạnh, khi lửa đã bốc lên mạnh mẽ, bạn bước qua nó, Sư Tôn đã dạy nếu bạn không biết sát khí của mình từ hướng nào cũng không sao, bạn có thể bước qua theo tất cả các hướng Đông Nam Tây Bắc, tức là đi qua lại theo hướng Đông Tây tính là một lần, bạn có thể làm ba lần. Đi qua lại theo hướng Nam Bắc tính là một lần, bạn có thể làm ba lần. Điều này tượng trưng cho việc sát khí từ mười phương đều được đuổi đi.

Pháp bước qua lửa có thể thường xuyên làm. Trong trường hợp khẩn cấp không nhất thiết phải chọn ngày Trừ, chỉ là vào ngày Trừ thì từ trường tốt nhất, và không chỉ có Trừ Tật Kim, còn có Chân Phật Kim, Thất Phật Kim, hiện nay còn có rất nhiều loại vàng mã khác, bạn hãy xem và làm theo công dụng được ghi trên đó.

Còn nữa, đôi khi bạn mua tượng Phật, thỉnh tượng Phật về nhưng chưa thể khai quang ngay, và bạn lo ngại trên đó có những thứ không tốt, bạn cũng dùng phương pháp tương tự, bạn chỉ cần đốt lửa, lửa là một loại trường năng lượng, bạn hun khói trên đó một chút, hơ qua lửa một chút về cơ bản là đã được tịnh hóa. Còn có rất nhiều công dụng khác. Chúng ta đi mua nhiều thứ, bạn sợ có điều dơ bẩn, bạn về nhà cũng hơ qua lửa một lần là được rồi.

Còn có một số thứ khác, có tiền phát tài không nhỉ? Có tiền tăng ích đấy. Vào ngày Mãn, bạn hãy lấy ví tiền của bạn hơ qua lửa là tượng trưng cho làm vượng khí của bạn. Chúng ta có thể tương tự mà suy ra công dụng khác. Cho nên lo gì không có pháp, chỉ là bạn không biết cách sử dụng thôi. Đây chính là chính pháp, bạn chỉ cần sử dụng đúng cách thì đó chính là chính pháp.

---
# File: tinh-tuyen/ts-lien-anh-ve-hoi-huong-va-bao-an.md
# Title: TS Liên Anh: Về hồi hướng và báo ân
---

![image](/img/img_e71494cddf38666928d1a388ca5e7da8.jpg)



# Thượng sư Liên Anh khai thị về hồi hướng và báo ân


Giảng pháp: Thượng sư Liên Anh
Thời gian: 05/06/2024 
Địa điểm: Pháp Hoa Đường 
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

🪷 Rất lâu rồi mới gặp mọi người. Bây giờ tần suất tôi gặp mọi người hình như là mỗi tháng một lần, sau này có trở nên lâu hơn không thì việc này cũng rất khó nói, nhưng tôi sẽ cố hết sức để việc này không xảy ra.

Lần này tôi vốn không định trở về, bởi vì gần như lập tức tôi lại phải bay đi tiếp. Vì thật ra mỗi lần tôi quay trở về đây đều khá tốn tiền, khá mất thời gian. Tôi từ Kuala Lumpur bay về đây mất gần 5 tiếng đồng hồ, sau đó tôi lại ngồi xe đi về Gia Nghĩa, cho nên gần như mất nửa ngày chỉ ở trên đường. Ban đầu tôi cảm thấy rất phí thời gian, nhưng sau đó tôi cảm thấy không nên nghĩ như vậy, vốn dĩ chúng ta tự nắm bắt thời gian của chính mình, chúng ta nên học cách làm thế nào để sử dụng thời gian ấy một cách có ý nghĩa.

Gần đây nếu các bạn có nghe Sư Tôn khai thị thì sẽ thấy Sư Tôn nhắc đến hồi hướng và chịu thay một vài sự việc. Ví dụ hồi hướng cầu phúc cho Đài Loan trong vụ động đất vừa rồi, bản thân đây là một hồi hướng rất lớn. Cho nên từ đầu chúng ta hô hào làm hoạt động mọi người cùng hộ trì, tôi vốn đã hiểu đạo lý này, bởi vì đây không phải là việc của một cá nhân, không phải là trách nhiệm của một mình Liên Anh. Bản thân bạn sinh ra là người Đài Loan, bạn nên có ý thức yêu nước. Các bạn thường xuyên nói bạn yêu Đài Loan, bạn đều hô lên như vậy, nhưng khi Đài Loan xảy ra việc thì bạn ở đâu? Bạn hô lên thế thì có ích gì không, chẳng có ích gì. 

Vì sao ngay từ đầu tôi đã nói chuyện này? Tôi đã gửi fax để hỏi Sư Tôn. Khi ấy tôi đang ở nước ngoài hoằng pháp, nhưng vì tôi thương xót Đài Loan. Sư Tôn cũng thường xuyên nói ngài thương xót Đài Loan, nhưng ngài nói là làm, ngài hồi hướng cho Đài Loan, niệm Phật cho Đài Loan, ngày nào cũng xem tin tức, nhất định đều xem tin tức về Đài Loan, tin tức nước Mỹ, tin tức thế giới. Tôi từng tham gia việc báo cáo tin tức cho Sư Tôn cho nên tôi biết, chúng tôi phải báo cáo tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, giải trí, tài chính của Đài Loan, gồm cả tin tức quân sự, bởi vì Sư Tôn rất quan tâm. 

Bởi vậy Sư Tôn viết trong sách, ngài quan tâm đến Đài Loan, đến người dân và đệ tử ở trên khắp thế giới không phải chỉ có nói miệng, ngồi một chỗ mà nói. Hôm nay tôi phải trịnh trọng nói với mọi người. Khi chúng ta tu pháp có phần gọi là hồi hướng, có “trên báo bốn ơn sâu, dưới cứu ba đường khổ”. Bạn sẵn lòng đến đây tu pháp rồi hồi hướng thì bạn mới có thể nói rằng bạn “trên báo bốn ơn sâu, dưới cứu ba đường khổ”. Bởi vì “trên báo bốn ơn sâu” là ơn đất nước, ơn cha mẹ, ơn sư trưởng và ơn chúng sinh. Vì sao ơn đất nước đứng đầu tiên? Bạn không có nơi cư trú, không có một đất nước yên ổn, xin hỏi cha mẹ bạn làm sao nuôi dưỡng bạn? Không có cha mẹ nuôi dưỡng bạn, làm sao bạn gặp được sư trưởng (những người thầy) trong quá trình trưởng thành của bạn. Không có sư trưởng giáo dục bạn, làm sao sau này bạn có thể trưởng thành để tương tác kết duyên với chúng sinh, để họ giúp đỡ bạn? Ở đây có sự logic, vì thế, ơn đất nước rất quan trọng. 

Làm sao để báo ơn đất nước? Khi Đài Loan có hạn, Đài Loan gặp tai nạn, bạn phải tận trung tận hiếu với đất nước của bạn. Tôi chưa từng đi lính, nhưng tôi hiểu rõ đạo lý này. Người ta nói rằng nếu bạn không thể cống hiến thân mình cho đất nước thì bạn vẫn còn bộ óc, bạn còn có thể làm rất nhiều việc khác. Giống như chúng ta nói về bố thí trong Phật pháp, tuyệt đối không chỉ có bố thí tiền. Tôi thường xuyên nhấn mạnh với mọi người, thí chủ bố thí tiền chỉ là một trong mười loại thí chủ. Chúng ta tu pháp nói “trên báo bốn ơn sâu”, tức là đem công đức tu pháp này hồi hướng, bạn phải quán tưởng ánh sáng tỏa ra, đó là ánh sáng công đức, cầu nguyện đất nước bạn an bình, ổn định, hạnh phúc, không gặp họa, hồi hướng cho cha mẹ nuôi dưỡng bạn để họ khỏe mạnh, sống lâu vui vẻ. Với sư trưởng của bạn cũng thế, để họ có thể tiếp tục giáo hóa những người khác. Thứ tư là đối với chúng sinh có ơn với bạn, hy vọng họ đều bình an hỷ lạc. Sau đó bạn lại đem công đức này để “dưới cứu ba đường khổ”. Ba đường khổ chủ yếu là chỉ tam ác đạo trong số lục đạo luân hồi: địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Vì sao? Họ không có phúc có được nhân duyên như bạn để được nhận sự giáo hóa của Phật Bồ Tát, rất nhiều chúng sinh không được tiếp xúc với Phật pháp để giúp họ giải thoát khỏi trạng thái khốn cùng đó. So với họ chúng ta có quá nhiều ân đức. 

Theo lý lẽ này, chúng ta hồi hướng công đức tu hành của chúng ta cho họ. Việc bạn hồi hướng cũng nằm ở phần quán tứ vô lượng tâm ở mục Tiền hành, bạn nói về từ bi hỷ xả, bạn thật sự phát tâm sẽ ảnh hưởng tới phần bạn hồi hướng phía sau liệu bạn có thể thật sự hồi hướng hay không. Vì thế tôi tin rằng, vào thời điểm đồng tu này, có rất nhiều người cho dù bạn biết Pháp Hoa Đường có đồng tu, nhưng bạn vẫn ở nhà xem ti vi, bạn vẫn đang nghe nhạc, chơi games, dường như Đài Loan xảy ra việc gì thì đó không phải là việc của bạn. Nhưng khi Đài Loan có chuyện, gia đình bạn có chuyện, bạn lại hy vọng người khác tới cứu bạn đầu tiên, bạn hy vọng gia đình bạn được bảo hộ tốt nhất. Tôi nói cho mọi người biết, xét trên luật nhân quả, bạn không xả thì làm sao có nhân duyên được có. Bạn không giúp người khác thì làm sao có nhân duyên được người khác giúp. 

Nếu các bạn có nghe tôi giảng bài về phù lục tại Tâm Đăng Đường ở Malaysia, tôi có kể một câu chuyện về hòa thượng Đỗ Thuận vào thời Đường Thái Tông đã thử nghiệm một sự việc cho mọi người thấy. Ngài đem đôi giày của mình, mặc dù trông không bắt mắt, nhưng đối với kẻ trộm cắp thì bất cứ thứ gì cũng là đối tượng để chúng lấy trộm. Ngài treo nó ở trên con phố tấp nập nhất trong thành Trường An, giống như là Tây Môn Đình ở Đài Bắc vậy. Ngài treo giày ở đó cả một tuần, không có ai lấy trộm đôi giày đó. Đường Thái Tông hỏi ngài ấy: “Đại sư, vì sao không có ai lấy giày của ngài?” Ngài nói: “Trong quá khứ tôi không có nhân lấy trộm giày của người khác, vì thế đời này tôi không có quả bị người ta lấy trộm giày.” 

Việc này nói cho chúng ta thấy rằng tất cả mọi việc đều là bạn không trồng xuống cái nhân thì làm sao có được quả, tất cả đều do bạn tự làm tự chịu. Vì thế hôm nay bạn hy vọng chúng ta thường xuyên viết đơn báo danh là mong muốn hồi hướng an cư lạc nghiệp, ăn mặc đủ đầy. Trên đời không có bữa trưa nào miễn phí.  Bạn không thể bỏ một phần tâm của mình vào đó, vì dụ bạn niệm một câu Phật cho Đài Loan, nếu một câu Phật hiệu của bạn là thành tâm thành ý, bạn sẽ trồng xuống nhân duyên. Vì sao có người ở trong thảm họa mà không chết, ở trong hỗn loạn vẫn bảo toàn được mạng sống? Bởi vì họ đã trồng rất nhiều nhân duyên phúc đức. Vì thế Phật giáo dạy bạn đầu tiên là dạy về nhân quả, nếu bạn không hiểu về nhân quả bạn sẽ không biết bắt tay vào tu hành từ đâu. 

Tôi kể cho các bạn tôi đã làm như thế nào. Bản thân tôi cho rằng ban đầu cho rằng là lãng phí thời gian, nhưng sau đó tôi tự nói với mình không thể được, muốn làm một hành giả, vốn dĩ không có thời gian để mà lãng phí. Mỗi lần tôi từ Đông Nam Á bay trở về Đài Loan, tôi đều mở la bàn hành trình trên máy bay ra xem. Tôi tự nói với mình trước khi máy bay tiến vào Đài Loan, nếu tôi ngủ thì thôi, nhưng nếu tôi thức thì tôi sẽ nói với tiếp viên hàng không cho tôi một khay bánh gạo, rồi rót một ly nước ngọt, hoặc đồ uống. Bạn nghĩ là tôi uống cho vui ư? Tôi bày bàn ăn phía trước ra, đặt các thứ lên đó để làm cúng dường. Không cần nhiều, một chiếc bánh gạo, một cốc nước, một cốc đồ uống, dùng niệm lực của bạn để biến ra đầy ắp hư không để làm cúng dường. Tôi nói với Phật Bồ Tát: dù chỉ có chút cúng dường này, nhưng đây là phạm vi những gì tôi có thể làm, đó là cúng dường lớn nhất. Sau đó quán tưởng Sư Tôn, thỉnh cầu Sư Tôn gia trì cho tôi, gia trì cho quê hương tôi. Tôi phụng thỉnh Bổn tôn của tôi giáng xuống, tôi triệu gọi Hộ pháp thần giáng xuống, tôi còn đặc biệt thỉnh Ngũ Sắc Bất Động Minh Vương, Đại Bạch Tản Cái Phật Mẫu, Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát cùng với tôi bay. Tôi quán tưởng ánh sáng đỏ bao trùm toàn bộ lộ trình bay của máy bay. 

Có người nói, sức mạnh của anh lớn bao nhiêu? Anh chỉ là một Liên Anh nhỏ bé mà lại muốn làm hồi hướng lớn như vậy, anh có đủ năng lực không? Tôi nói cho mọi người biết, khi ấy tôi không nghĩ đến bản thân mình, tôi chỉ nghĩ tôi hợp nhất với Bổn tôn, tôi không nghĩ đến sức mạnh của tôi lớn chừng nào. Sư Tôn nói: “Chế tâm một chỗ, mọi việc đều thành.” Tôi đã giao toàn bộ thân tâm tôi cho Tam căn bản rồi, làm gì còn thời gian mà nghĩ đến sức mạnh của mình có bao nhiêu. Nếu bạn còn nghĩ đến sức mạnh của mình thì khi ấy sức mạnh của bạn đã yếu đi rồi. Hơn nữa trọng điểm nằm ở chỗ tôi thật sự tin tưởng Sư Tôn, tin tưởng Bổn tôn, tin tưởng Hộ pháp của tôi, là các vị cho tôi sức mạnh, không phải là tự tôi đang làm. Tôi báo ân như vậy. Tôi thật sự hành động trên thực tế chứ không chỉ ngồi trên pháp tọa và hô lên cùng mọi người là chúng ta phải “trên báo bốn ơn sâu, dưới cứu ba đường khổ”. Lý thuyết Phật giáo thì ai cũng biết nói, trong sách cũng đều viết, nhưng bạn có làm không? 

Tôi hoằng pháp ở nước ngoài, tôi sẽ hồi hướng cho đất nước đó quốc thái dân an. Tôi cũng hồi hướng cho Đài Loan. Khi bạn ở đất nước đó, bạn nên tôn trọng pháp luật của đất nước đó. Và tôi là người Đài Loan, tôi còn sinh sống ở đây, tôi vẫn cần phải cảm ơn. Cho nên tôi cảm thấy Phật pháp nên như thế này. Thế nào gọi là dung nhập Phật pháp vào trong cuộc sống? Khi ta làm một việc thực tiễn, ta không thể nói nó vĩ đại thế nào, chỉ là đó là việc chúng ta nên làm. Có người nói không thể giống như Thượng sư Liên Anh bay đi bay lại trên trời như vậy thì phải làm sao? Bạn không thể quán tưởng sao? Bạn ngồi trước đàn thành, chúng ta bày bản đồ lên bàn để cúng, bạn cũng có thể quán tưởng Phật Bồ Tát phóng quang. Ý của bạn niệm Phật hiệu, ý niệm tâm lực, giao cho Phật, do Phật thay bạn làm chủ, là như vậy. Cho nên tôi nghĩ rằng, mặc dù sức khỏe tôi không tốt, thân thể rất mệt mỏi, nhưng những gì tôi đang làm là đáng. 

Om mani padme hum. 🙏

Pháp Hoa Đường | 05.06.2024.

---
# File: tinh-tuyen/ts-lien-anh-ve-phap-kim-cang-tat-doa.md
# Title: TS Liên Anh: Về pháp Kim Cang Tát Đỏa
---

![image](/img/img_c95b293ab89521132a3c4c79f6bdd313.jpg)



## TS Liên Anh khai thị về pháp Kim Cang Tát Đỏa


Giảng pháp: Thượng sư Liên Anh
Thời gian: 21.12.2024
Địa điểm: Nghiêm Minh Lôi Tạng Tự
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Pháp cơ bản là pháp quan trọng nhất 

Kính lễ Căn bản Truyền thừa Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật.
Kính lễ Hộ Ma chủ tôn Kim Cang Tát Đỏa.
Xin chào các vị pháp sư, giảng sư, các nhân viên thường trực, các đồng môn.

Rất cảm ơn mọi người đã đón tiếp và chăm sóc tôi ân cần chu đáo trong lần thứ hai đến Úc hoằng pháp này. Quả thực lịch trình hoằng pháp của tôi bận tới mức tôi không còn biết trời trăng là gì nữa. Tôi sâu sắc cảm nhận được với người xuất gia thì bốn bể là nhà, đi đến nơi đâu cũng là nhà của mình. Tôi xuất gia rồi, tôi không còn mang họ thế tục nữa, họ của tôi bây giờ là Thích - Thích có nghĩa là gì? Chữ “Thích” này có nghĩa là tự tính thanh tịnh. Ai có tự tính thanh tịnh? Thật ra mỗi một người trong bốn bể là nhà này đều có tự tính thanh tịnh, chỉ là bạn đã tìm thấy hay chưa mà thôi. Xét đến tận gốc, thật ra không phải chỉ có một mình tôi mang họ Thích, mỗi người các bạn khi thật sự tin Phật rồi, bạn giao thân tâm mình cho Căn bản Thượng sư, cho Bổn tôn, cho Hộ pháp của bạn, bốn biển đều là anh em, mọi người đều là người một nhà. Bởi vậy không có sự phân biệt, không có sự ngăn cách, không phân biệt bạn-tôi. Tôi thật sự cảm ơn Phật Bồ Tát đã cho tôi bằng chính thân thể xương thịt này trải nghiệm và lĩnh ngộ rốt cục thế nào là chúng sinh bình đẳng. Bình thường chúng ta cứ hay nói bình đẳng bình đẳng, nhưng đó vẫn chỉ là nói miệng thôi. 

Ở đâu có bình đẳng chứ? Sự bình đẳng chân chính phải trải qua sự trải nghiệm và trưởng thành khắc cốt minh tâm, ngoài ra còn phải có một chút đau khổ và thăng hoa bạn mới có thể nếm được cái vị đó. 

Hôm trước ở hội đồng tu Thiện Minh tôi có giảng về tu pháp vô vi nghe rất bùi tai. Trước khi bạn tu pháp vô vi, thật ra vẫn còn rất nhiều con đường phải đi, còn con đường rất dài phải đi, chính vì còn phải đi nhiều con đường dài cho nên cái nền tảng phải làm cho vững. Nền tảng của chúng ta chính là Kim Cang Tát Đỏa - chủ tôn của buổi Hộ Ma hôm nay, là pháp Kim Cang Tâm mà ngài đã dạy. 

Trong sách Sư Tôn từng viết về Điện Tịnh Hóa. Sau khi cuốn sách này xuất bản, ngay ngày hôm sau tôi đã tạo một Điện Tịnh Hóa ở Pháp Hoa Đường, không một chút chần chừ. Sư Tôn đã viết trong sách thì chắc chắn có nguyên nhân. Điện Tịnh Hóa chính là mandala của Kim Cang Tát Đỏa. Sư Tôn viết trong sách rằng mỗi một chùa, đường, hội của Chân Phật Tông đều nên có một Điện Tịnh Hóa, bởi vì tiêu trừ nghiệp chướng, chuyển hóa vận mệnh là lời khấn nguyện chung của mỗi người. Vì thế, theo ý kiến cá nhân tôi, tôi kiến nghị Nghiêm Minh Lôi Tạng Tự trong hai ngày tới hãy sắp đặt ngay Điện Tịnh Hóa, sau đó có pháp sư, có trợ giảng ở đây dẫn dắt mọi người đồng tu, nếu bạn chưa niệm đủ 100.000 biến chú thì đây vừa hay sẽ là động lực để bạn đến hoàn thành mục tiêu này. 

Tôi có thể thẳng thắn chia sẻ với mọi người rằng, kể từ khi tôi tu pháp đến nay, tôi chủ yếu lấy Kim Cang Tát Đỏa để làm Bổn tôn quán tu của mình. Có Thượng sư từng hỏi tôi đã tu Bổn tôn thế nào, có cảm nhận gì, làm sao biết mình đã có hiện tượng tương ứng với Bổn tôn? Nếu bạn không có trải nghiệm thực tế, bạn sẽ không thể trả lời được. Nói thật lòng, trong số rất nhiều Bổn tôn, vị mà tôi đặc biệt ưa thích, và cũng không phải mất nhiều công sức để quán tưởng chính là Kim Cang Tát Đỏa. Tôi không cần phải nhắm mắt gắng sức quán tưởng thì ngài đã ở trước mặt tôi rồi. Tôi có thể dung nhập vào ngài. Dường như bạn có thể ngửi được mùi của ngài, bạn có thể sờ vào da thịt ngài, bạn nghe hiểu được ngôn ngữ của ngài, ngài hiểu được hỷ nộ ái lạc của bạn, sau đó ngài sẽ chuyển hóa hỷ nộ ái lạc của bạn. Là một mối quan hệ rất mật thiết như vậy. Vì thế, Tạng mật có nói, cho dù bạn tu đại pháp vô thượng, cho dù có tu pháp terma nào đó rất bí mật ảo diệu, thì pháp gia hành Kim Cang Tát Đỏa là mỗi người nhập môn hay tốt nghiệp, căn cơ trung hay căn cơ cao, thậm chí là đại thành tựu giả thì đây đều là pháp gia hành đặc biệt của mỗi người, bạn không thể bỏ qua. Cho dù bạn đang tu Đại viên mãn, Đại thủ ấn, thì khái niệm và trọng tâm trong đó cũng không tách rời pháp gia hành. Điều này đã cho chúng ta thấy vì sao Tứ gia hành là đại pháp. Bởi nếu bạn thật sự hiểu đúng thì trong pháp Tứ gia hành đã bao gồm pháp nghĩa của Thứ tự sinh khởi và Thứ tự viên mãn, gồm cả tâm yếu khẩu quyết về chứng ngộ về mặt lý thuyết và thực tế.

Cho nên Sư Tôn nói, bạn tương ứng với Kim Cang Tát Đỏa rồi thì bạn có thể tương ứng với bất kì Bổn tôn nào, bởi vì thông một pháp thì thông vạn pháp. Kim Cang Tát Đỏa sở dĩ trân quý như vậy là vì vị giáo chủ đời thứ nhất của Mật giáo, Bổn tôn truyền pháp là Đại Tỳ Lô Giá Na, ngài đã truyền xuống “Kim Cương Đỉnh Kinh” và “Đại Nhật Kinh”, hai bộ kinh này đã nói hết những lý thú của Mật giáo. Đại Nhật Như Lai ở tại cung Kim Cương Pháp Giới đã giao chìa khóa của hai bộ kinh này và hai bộ đại luận Kim cương giới Thai tạng giới cho Pháp Vương Tử Kim Cang Tát Đỏa. Vì thế, Kim Cang Tát Đỏa trở thành vị tổ sư đời thứ hai của Mật giáo, vì thế ngài chính là một vị Kim Cương Trì trong số các vị Kim Cương Trì, là chủ tôn của tất cả mandala. Nhưng đây vẫn dừng lại ở truyền thừa hư không. 

800 năm sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni diệt độ, Phật pháp truyền đến Nam Ấn Độ, khi ấy Long Thụ Bồ Tát mở cửa tháp sắt, diện kiến Kim Cang Tát Đỏa. Kim Cang Tát Đỏa dùng phương pháp ấn tâm đã trực tiếp truyền hai bộ Mật pháp Kim cương giới Thai tạng giới vào trong não của Long Thụ Bồ Tát. Chính vì nguyên do này mà truyền thừa Mật giáo mới bắt đầu được truyền tại nhân gian. 

Vì thế, chúng ta nói Kim Cang Tát Đỏa là giáo chủ của Mật giáo, không rõ mọi người hiểu được sâu đến mức nào, bởi vì ngài là nguồn gốc của mọi pháp. Cho nên khi tôi chia sẻ với mọi người về Ngũ Đại Kim Cang, tôi đã nói, về lý luận Ngũ Đại Kim Cang là do Ngũ Phật hóa ra, nhưng trong thangka của Tạng mật thường không được biểu hiện như vậy, mà trong các bức thangka đó thường đều có xuất hiện Kim Cang Tát Đỏa. Các đại Hoạt Phật của Tây Tạng cho rằng Kim Cang Tát Đỏa có thể nói là vị Phật ở trên đầu của tất cả tịch tĩnh tôn, phẫn nộ tôn, thậm chí là cực phẫn nộ tôn, toàn bộ đều do ngài hóa ra. 

Kim Cang Tát Đỏa quan trọng như vậy, là Bổn tôn của các pháp thông thường và pháp đặc biệt, vì thế chúng ta tu pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát, dùng phương pháp tu thân, khẩu, ý để tiếp xúc với ngài, mới đầu bạn sẽ cảm thấy thật “thô thiển”, đơn giản như vậy sao. Phương pháp thì đơn giản như vậy, nhưng khi bạn thâm nhập rồi, sức mạnh tâm linh của bạn nâng cao rồi, bạn sẽ nhận ra thủ ấn, quán tưởng, chú ngữ của Kim Cang Tát Đỏa có thể khiến bạn dung nhập vào trong sự bí mật ảo diệu của vũ trụ, đưa bạn từ thô thiển nhất đến viên mãn nhất. Vì thế, ngài là vị bộ chủ của các vị bộ chủ. Lai lịch của ngài trân quý như vậy.


![image](/img/img_37905cfd97c7102ceaf5c3076dd2875c.jpg)


Chúng ta đều biết chú ngữ quan trọng nhất của Kim Cang Tát Đỏa chính là Bách tự minh chú, ai cũng biết niệm, nhưng có ai biết hàm nghĩa chân chính của câu chú 100 âm này không? Chúng ta có quan niệm là niệm chú để tiêu trừ nghiệp chướng, nhưng cái gì là nghiệp chướng? Nếu bạn không hiểu cái gì là nghiệp chướng thì bạn bắt đầu từ chỗ nào, làm sao bạn biết cách để tiêu trừ, cái gì phải tiêu trừ, cái gì không cần phải tiêu trừ? Bạn niệm chú xong thì nghiệp của bạn đã được tiêu trừ rồi hay sao, đã tiêu trừ được hết sao, có thể thật sự được thanh tịnh sao? Bạn cần thường xuyên hỏi chính mình như vậy.

Tổ sư Tsongkhapa trong “Mật Tông Đạo Thứ Đệ Quảng Luận” có giảng giải một trọng điểm lớn, đó là giảng giải tu Kim Cang Tâm Bồ Tát như thế nào. Tổ sư Tsongkhapa chính là hóa thân của Sư Tôn, ngài nói, niệm Bách tự minh chú bắt buộc phải có bốn nhận thức và chính kiến, bằng không, nghiệp chướng vẫn là nghiệp chướng, bạn vẫn là bạn. 

Cần phải dùng sức mạnh nào?

Thứ nhất, đó là phá bỏ hiện hình lực. Hiện hình tức là trạng thái hiện tại của bạn, ở trên người chúng sinh thì đó chính là sự vô minh, hỗn độn, với mọi chuyện thì hình như hiểu mà cũng hình như không hiểu, dùng tham sân si, tự ngã ngạo mạn của bạn để quan sát vũ trụ, quan sát tất cả mọi người, người đến người đi, là trạng thái đối ứng với mọi thứ một cách mơ hồ hỗn độn, lập là lập lờ. Thế nào gọi là phá bỏ hiện hình? Là phá bỏ vô minh, chuyển hóa vô minh thành minh. Sự giải thoát chân chính được tổ sư Tsongkhapa so sánh thế này, bạn phải xem mình như một bệnh nhân mắc bệnh nặng, giống như là bạn mắc bệnh hiểm nghèo, khi mắc bệnh nan y thì bạn sẽ thế nào? Chỉ luôn nghĩ về việc chữa khỏi cho chính mình, đại bộ phận sẽ là như vậy. Tôi cảm thấy căn bệnh này rất đau khổ, tôi nhất định phải chữa khỏi nó, khi bạn có cái tâm này tức là phá bỏ hiện hình lực. 

Sau khi đã có được sức mạnh này rồi thì dẫn tới giai đoạn thứ hai, gọi là đối trị hiện hình lực. Bạn bắt đầu đi tìm bác sĩ, vì bác sĩ sẽ cho bạn thuốc, có bệnh gì sẽ cho bạn thuốc đó, có rất nhiều phương pháp để đối trị bệnh. Tổ sư Tsongkhapa cũng đưa ra mấy phương pháp rất tốt để đối trị, thứ nhất là thiết lập đàn thành, bởi vì thiết lập đàn thành chính là bước thứ nhất đến nghênh đón Bổn tôn đến. Cho nên yếu tố thứ hai chính là Bổn tôn. Thứ ba là kinh điển, kinh do Phật thuyết hoặc các luận điểm, luật điểm của các vị đại tổ sư, ở đây tức là Tam Tạng - Kinh Luật Luận, đây là mối liên hệ gắn với đàn thành. Bổn tôn, đàn thành, kinh điển kết hợp lại, quán tu tính Không. Thứ tư, chăm chỉ tu quảng đại cúng dường, ý nghĩa ở đây giống như chúng ta tu Tư lương đạo, Gia hành đạo, bởi vì chăm tu cúng dường kết đại thiện duyên sẽ giúp bạn trong quá trình tu hành gặp được thiện tri thức, gặp được thiện duyên, gặp được những điều tốt và rời xa những điều xấu. Thứ năm là miệng tụng chân ngôn mật chú, lấy Bách tự minh chú làm chính, hoặc niệm Phật hiệu.

Giai đoạn thứ ba, tìm được bác sĩ rồi giống như đã được tiêm thuốc, thân thể sẽ sinh ra kháng thể, cho nên giai đoạn này gọi là che chắn phòng hộ lực. Kháng thể trong thân thể bạn sẽ trở thành vi khuẩn, virus đến từ bên ngoài, bạn sẽ biết phải làm sao để đối trị, chứ không phải là mỗi lần gặp vấn đề lại đi tìm bác sĩ, lại vẫn mơ mơ hồ hồ đi tìm cách. Sẽ không như vậy vì lúc này bạn cần phải biết làm như thế nào rồi, gọi là che chắn phòng hộ. Bạn bắt đầu hiểu được nhiều hiện tượng, biết được cái này có thể làm, cái kia không thể làm, quan niệm này là chính xác, quan niệm kia là không chính xác. Như vậy mới có thể gọi là phòng hộ.

Giai đoạn thứ tư là thật sự nương dựa Kim cương Thượng sư, nương dựa Tam Bảo. Vì sao? Trong “Mật Tục” nói, trong quá trình tu hành của bạn, bạn là thân vô minh, sở dĩ có vô minh là do tập tính tích lũy nhiều kiếp đã che mờ bạn, bạn phải nương nhờ tổ sư, đại đức, đại thành tựu giả thực tu thực chứng, các vị sẽ dựa vào kinh nghiệm thực tu của mình và khẩu quyết giác ngộ tính Không, truyền thừa thực tu Bổn tôn, trên người các vị có cam lộ, nên các vị có thể quán đảnh gia trì cho bạn. Lúc này bạn cần phải đi quy y các vị, đây là chỗ đặc thù của Mật giáo. 

Sau khi nương dựa vào Thượng sư, dựa vào nhân duyên của truyền thừa thanh tịnh của Thượng sư, bạn có thể tiếp xúc với Tam Bảo thanh tịnh, vì thế trong Mật giáo rất chú trọng đến nguồn gốc, đó là ngay từ khi bắt đầu bạn đã cần phải có truyền thừa thanh tịnh, bằng không thì sẽ giống như sữa tươi bị đổ thêm nước tương, bạn có uống thế nào thì cái vị của nó cũng đã bị thay đổi rồi. Bạn cần phải tìm truyền thừa thanh tịnh, vì thế bạn phải biết phân biệt, tìm hiểu, nghe nhiều, nghĩ nhiều, dùng trí tuệ của mình để nhận định.

Tổ sư Tsongkhapa nói về quan niệm và chính kiến khi niệm tụng Bách tự minh chú. Như tôi đã nói, trong pháp Tứ gia hành đã bao gồm Thứ tự sinh khởi và Thứ tự viên mãn. Bốn giai đoạn vừa nói ở trên cũng chính là 37 đạo phẩm. 37 đạo phẩm là lộ trình và phương pháp mà Đức Phật dạy tất cả các Phật tử làm sao để từ nhân vị của phàm phu đi về quả vị thành Phật. Tôi lấy ví dụ, bạn biết mình mắc bệnh, bạn ghét căn bệnh này, bạn muốn tránh xa và không muốn nó phát sinh, nếu đối chiếu với 37 đạo phẩm thì chẳng phải đây  là Tứ chính cần sao? Ngăn chặn điều xấu đã phát sinh, loại bỏ nó. Ngăn chặn điều xấu chưa phát sinh, không để cho nó xảy ra. Phát triển những điều thiện đã phát sinh. Phát triển những điều thiện chưa phát sinh. Ví dụ như Tứ thần túc. Bạn phải phát tâm thanh tịnh, đây gọi là Dục thần túc, rời bỏ dục vọng, dục vọng nếu có phải là chính, không thể là tà. Khi đã có dục vọng chính thì bạn cần phải cần cù đi tu cái dục vọng này, gọi là Cần thần túc. Tiếp theo là Tâm thần túc, bạn phải đặt hoàn toàn thân tâm vào đó, nếu không thì cái mong muốn và sự cần cù cũng chỉ là giả. Cuối cùng phải nội quán, là Quán thần túc. Cho nên khi bạn hiểu Tứ gia hành rồi, bạn còn nói bạn không hiểu 37 đạo phẩm sao? Khi bạn hiểu Tứ gia hành rồi, bạn không tu được pháp Thượng sư tương ứng sao? Khi bạn hiểu được Tứ gia hành rồi, có Bổn tôn nào sẽ không tương ứng với bạn chứ? 

Vì sao Sư Tôn nói “một pháp thông vạn pháp thông”? Đây không phải là một biểu ngữ quảng cáo để lừa gạt bạn đến thử xem, mà thật sự đích thực là như thế. Hôm nay Căn bản Thượng sư nói với bạn rằng bạn tu Tứ gia hành là bạn có thể thành tựu, bạn có tin không? Bạn bảo tin, nhưng bạn lại không làm. Vì sao? Vì bạn không hiểu về trình tự. Hàng ngày bạn giở pháp bản ra, lật qua các trang, tụng xong một lượt, thế là cho rằng hôm nay mình đã tu xong Tứ gia hành rồi, cứ như vậy làm xong 100 lần, rồi tự hỏi ồ sao có người nói có tướng sám, có tương ứng, còn mình lại chẳng thấy gì. Bởi vì có người dùng đúng phương pháp, đặt đúng cái tâm, có người thì mãi mãi xem nghi quỹ vẫn chỉ là nghi quỹ, tu một cách cưỡi ngựa xem hoa, vĩnh viễn không chạm được đến tâm của Kim Cang Tát Đỏa. 

Bởi vậy nếu mọi người nghe cẩn thận, nhất định phải ghi chú lại những gì tôi nói hôm nay. Cái gọi là sám hối và hối lỗi là khác nhau. Hối lỗi là lúc này tôi đang cảm thấy hổ thẹn, thấy ăn năn, ngày mai cảm giác ấy sẽ bớt đi, bởi vì không có ai biết, thế là bắt đầu tự cho mình một lý do, kiểu như mình làm như vậy cũng là đúng, mình có lý do của riêng mình, nên tha thứ cho mình thôi, Phật Bồ Tát từ bi như vậy mà. Lần sau bạn lại đụng chuyện, lại đá vào tảng đá, ái chà, sao lần trước mình không làm như thế nhỉ, rõ ràng mình đã có thể thế nào đó… Kiểu này gọi là ăn năn. Sám hối là bạn đã đá phải tảng đá này rồi, bạn biết rằng chân đạp phải tảng đá thì sẽ đau, lần sau gặp phải tảng đá bạn sẽ biết rằng phải đi vòng, bạn không sợ tảng đá, cũng không hề chọn con đường không có tảng đá để đi, bởi vì nhân gian này bạn không né tránh được mọi thứ. Vì thế, sau khi tu pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát kiên cố rồi, bạn sẽ có phương pháp, bạn không sợ khó khăn.

Có một vị Rinpoche từng nói, con người luôn cho rằng mình nhìn người khác rất rõ ràng, thật ra là bạn chỉ nhìn thấy được những gì mà nhân quả nghiệp lực cho bạn nhìn thấy thôi. Bạn cho rằng bạn nhìn thấy được toàn bộ, như chúng ta thường nói đến ếch ngồi đáy giếng, chúng ta cười con ếch, nhưng có khi chúng ta còn không bằng được con ếch. Cho nên nói ngược lại, mỗi con người đều chìm chìm nổi nổi trong sóng biển, ai lợi hại hơn ai, ai ưu tú hơn ai, ai trung thực hơn ai, ai lương thiện hơn ai, chẳng nên so sánh nhau như vậy. 

Vì thế Sư Tôn nói, con mắt phàm phu nhìn chúng sinh là oán hận, thiên nhãn nhìn chúng sinh là luân hồi, Phật nhãn nhìn chúng sinh chỉ có từ bi, bởi vì trong con mắt của Phật, tất cả chỉ là nhân duyên quả báo mà thôi. Phật nói, tất cả con người đến nhân gian này chỉ là để trả nghiệp. Câu nói này không hề chỉ sự bị động, không phải là kiếp trước tôi nợ bạn thì kiếp này tôi trả, tôi đã chấp nhận rồi, không phải là sự tiêu cực bị động như vậy. Sự trả nghiệp chân chính còn tích cực hơn mỗi cá nhân, thật sự hiểu đúng về trả nghiệp là bạn phải phát Tứ chính cần, Tứ thần túc, Bát chính đạo, cuối cùng là thành tựu Phật quả. Bởi vì bạn hiểu rồi thì bạn sẽ không tạo ra nghiệp mới. Cái gì đã xảy ra trong quá khứ bạn không lặp lại nữa, bây giờ thì bạn đã hiểu cái gì nên làm cái gì không nên làm, tương lai bạn sẽ có “kháng thể”, bạn sẽ rất tích cực chứ không hề tiêu cực, hiệu quả lớn nhất của việc tu Kim Cang Tâm Bồ Tát Tứ gia hành là ở đây, từ đây mới có thể sinh ra tính Không chân chính, tính Không chân chính này mới có thể tiêu diệt hết mọi nghiệp chướng của bạn, bằng không thì nói tiêu nghiệp chướng cũng chỉ là nói miệng mà thôi. 

Hôm nay tôi đến đây khai thị, tôi muốn mang đến cho các bạn điều gì. Tôi có thể giảng một cách đơn giản, giới thiệu chủ tôn một chút, rất viên mãn rồi, phủi phủi mông đứng dậy đi. Sở dĩ tôi hoằng pháp mệt là vì tôi đang móc toàn bộ tim phổi của mình, những khẩu quyết này do chính tôi “tiêu hóa” mà có được, chính tôi cọ sát thực tế, tự mình trải nghiệm và lĩnh ngộ, sau khi lĩnh ngộ được thì đi thỉnh giáo Sư Tôn để Sư Tôn nghiệm chứng xem có phải như vậy không, sau đó thực tiễn đi làm, chuyển hóa mà có. Những khẩu quyết này quan trọng hơn những cuốn sách hướng dẫn người ta viết rất hay mà bạn lên mạng mua được, bởi vì có viết kín cả trang bạn đọc cũng không hiểu. Cho nên tôi có một cảm xúc sâu sắc, bạn có thể cầm lên bất kì một cuốn văn tập nào của Sư Tôn, mở ra tìm một lời vàng trong đó và đi thực tiễn nó, chắc chắn sẽ thành tựu. “Mọi ác đừng làm, hãy làm mọi thiện, thanh tịnh ý mình, là điều Phật dạy”, đây chính là Kim Cang Tâm. Vậy làm sao để tương ứng Kim Cang Tâm? Bạn hãy về nhà và tự mình làm, không cần phải trả lời tôi. Om mani padme hum. 

(Hết.)

---
# File: tinh-tuyen/ts-lien-anh-ve-thinh-phu-trich-luoc.md
# Title: TS Liên Anh: Về thỉnh phù (trích lược)
---

![image](/img/img_3ff0693bb45e91cd1d61b65dfcd18f73.jpg)



# Trích lược bài giảng của Thượng sư Liên Anh về thỉnh phù


Giảng pháp: Thượng sư Liên Anh
Thời gian: N/A
Địa điểm: Pháp Hoa Đường 
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Phù là một sự giao tiếp chân thành, cho nên bản thân phù phải có thông tin chính xác rõ ràng. Về cơ bản, một lá phù có linh nghiệm hay không đòi hỏi ba yếu tố. Thứ nhất, người thỉnh phù nhất định phải có sự thành tâm, phải có họ tên, giờ ngày tháng năm sinh của bạn. Nếu bạn có học về tử vi đẩu số, bạn sẽ biết giờ, ngày, tháng, năm sinh của bạn chính là bốn thông tin đại diện cho bản thân bạn, từ bốn thông tin này mà diễn biến ra đủ loại quẻ. Đó là lý do vì sao tử vi đẩu số có thể xem cá nhân bạn từ nhỏ đến già sẽ xảy ra những chuyện gì, bởi vì trong đó có ẩn giấu tất cả bí mật. Bạn phải bẩm báo với Phật Bồ Tát họ tên, họ tên này có ý nghĩa là gì? Họ tên này chính là phù hiệu mà cha mẹ đặt cho bạn khi sinh ra bạn. Tên gọi chính là phù hiệu, giờ ngày tháng năm cũng là phù hiệu. Nơi ở cũng là phù hiệu, bạn sống ở đâu? Rất nhiều người hỏi, lúc thì tôi sống ở Anh, lúc thì sống ở Hồng Kông, lúc thì ở Malaysia, lúc thì ở Singapore. Tôi nói thế này, hãy chọn nơi mà bạn thường xuyên ở, hoặc không thì bạn viết cả hai. 

Khi chúng ta đi khám Tây y, khám Đông y, rất nhiều người già có bệnh là vì họ tự nghĩ rằng bản thân họ có bệnh. Khi đi bệnh viện bác sĩ sẽ nói, ồ được tôi sẽ kê đơn thuốc cho ông, sẽ tiêm cho ông, thật ra liều thuốc tiêm đó là thuốc dinh dưỡng, thuốc đó là B-complex, vitamin C, vitamin A, vitamin D, sau đó người già sẽ cảm thấy, ồ khỏe rồi. Phù có tác dụng như vậy không? Có! Nó có tác dụng an ổn thân tâm, an ủi tinh thần, nó cũng là một liều thuốc. Đó là vì sao phù lục được xếp vào khoa thứ ba trong y học cổ truyền, đó là khoa Chúc Do, bởi vì nó không chỉ là đạo âm dương, đạo ngũ hành, nó càng có thể giúp đời cứu người. Vì thế, bác sĩ thật sự cao minh nhất định sẽ có hiểu biết về phù lục, họ tuyệt đối sẽ rất khiêm tốn, một bác sĩ cao minh sẽ biết bệnh của mỗi người đều có nhân quả luân hồi. Không thể nói rằng hôm nay tôi kê thuốc cho anh, anh chắc chắn sẽ khỏi. Không phải như vậy. 

Hôm nay tôi nói với mọi người, người cầu phù phải thật thành tâm thành ý, đó là điều kiện tiên quyết tối quan trọng. Không thể có khái niệm rằng tôi có bệnh, tôi tới tìm anh, anh vẽ phù cho tôi, tôi uống xong phải khỏi lập tức. Với kiểu người như vậy tôi sẽ không vẽ. Tôi đã gặp rất nhiều rồi. Có lần ở Đài Loan hỏi việc cho người ta, một người đi vào cầm theo cuốn Tiên Thiên Phù Bút, vứt lên bàn tôi, nói: ”Tôi muốn cái phù này, anh vẽ cho tôi 3 lá, à không, 5 lá, tôi muốn uống cả tuần!” Tôi nói tôi không vẽ, xin mời đi về. Với thái độ này của bạn, cho dù tôi có vẽ cho bạn, thần cũng sẽ không giáng xuống. Thỉnh phù không phải như vậy. Còn nữa, ví dụ bạn có bệnh tim, bạn cần báo cáo rõ tình hình bệnh tật, chứ không phải là bản thân cũng không rõ tình trạng của mình, nói rằng: “Cứ vẽ một lá phù nào uống vào khỏi là được!” Bản thân mình cũng không rõ vấn đề của mình. Tôi từng ở Đài Bắc, có sư tỉ nói thân thể không khỏe, tôi thỉnh thị Diêu Trì Kim Mẫu xem rốt cục nên vẽ phù gì để mà cho thuốc đúng bệnh. Thế rồi Kim Mẫu nói cho tôi biết tim của sư tỉ đó có vấn đề. Tôi liền hỏi chị ấy đã đi khám bác sĩ chưa, chị ấy nói đã khám sức khỏe. Tôi nói tim của chị có vấn đề, chị có biết không? Chị ấy nói tôi đâu có, tôi rất khỏe mạnh mà. Tôi nghĩ, ồ, sao lại không như tôi vừa được biết nhỉ. Thế rồi nói một lúc thì chị ấy nói, tôi chỉ có bôi thuốc, rồi uống thuốc hạ huyết áp, rồi uống thuốc trợ tim mà thôi. Tôi nói như thế không phải là tim chị có vấn đề sao? Chị ấy vẫn nói không hề có, đây đâu phải là vấn đề. Bởi vậy, bệnh lớn nhất của con người chính là vô minh, ngay cả sức khỏe của mình có vấn đề gì cũng không dám thừa nhận, không dám khám bác sĩ. Đây chính là bệnh, bạn cho rằng bệnh là gì đây? Không dám đối mặt với chính mình cũng là bệnh. Tôi vẫn phải nói cho mọi người hiểu về những quan niệm này, mặc dù tôi cũng e rằng tôi nói hết ra thì không ai dám cầu phù nữa. 

Cho nên phù và thuốc, chú, pháp thuật, thân tâm linh, tâm sinh lý, tôn giáo, khoa học, đều có quan hệ với nhau, nó là khoa học của toàn bộ vũ trụ, chỉ là nó được biểu hiện ra trên một lá phù đơn giản. 

Phù lục cũng có truyền thừa. Đạo pháp của Chân Phật Tông là thuộc phái Thanh Thành, truyền thừa nhân gian của chúng ta chủ yếu đến từ Liễu Minh Hòa Thượng, sau đó Căn bản Thượng sư của chúng ta được Diêu Trì Kim Mẫu dạy dỗ, có toàn bộ dòng chảy pháp của Diêu Trì Kim Mẫu. Sư Tôn có nói, phù lục của Sư Tôn là đến từ “tiên thọ” [phù do tiên cõi trời dạy], “sư thọ” [phù do thầy dạy] và “tuôn chảy từ tâm”. Đạo pháp, Mật pháp của Chân Phật Tông là “bất cộng” [đặc biệt], không giống với pháp của người khác, đây chính là truyền thừa của chúng ta. Cho nên hôm nay bạn học phù, bạn phải biết bạn học từ đâu, sư phụ của bạn học từ đâu, bạn phải thuộc như lòng bàn tay. 

Hôm nay bạn nghe giảng về vẽ phù, bạn trở về nhà có thể lập tức vẽ phù không? Không được, cần phải có truyền thừa, cần phải được Sư Tôn trực tiếp quán đảnh pháp vẽ phù. Trước đây tôi từng trông thấy đồng môn Chân Phật Tông vẽ phù, tôi có hỏi đã được quán đảnh chưa, họ nói được rồi, được nhân viên hoằng pháp ABC quán đảnh cho. Ồ, thật là vĩ đại! Giảng sư, trợ giảng lai lịch không rõ thế nào mà có thể quán đảnh vẽ phù cho bạn thì đó là quỷ vẽ phù. Truyền thừa, quán đảnh, nghi quỹ, giới luật bạn đều không hiểu thì bạn vẽ phù gì chứ?

Ba yếu tố: người cầu phù, người làm pháp, Bổn tôn đều phải có thì lá phù mới linh nghiệm. Người cầu phù phải thành tâm, phải có tâm khẩn thiết. Người làm pháp phải dốc toàn tâm toàn ý, hoàn toàn từ bi hỷ xả để cứu giúp người này. Có Bổn tôn giáng xuống. Ba sức mạnh này kết hợp với nhau thì phù mới linh nghiệm.

---
# File: tinh-tuyen/ts-lien-anh-vi-sao-phai-sieu-do.md
# Title: TS Liên Anh: Vì sao phải siêu độ? 
---

![image](/img/img_403ded6bb2967e4ffb649b07b2baae39.jpg)



# TS Liên Anh: Vì sao phải siêu độ?


Giảng pháp: Thượng sư Liên Anh
Thời gian: 06.04.2025
Địa điểm: Diệu Kính Đường - Malaysia
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

*Khai thị tại pháp hội Đại Nhật Như Lai *

Vào Tết Thanh Minh, mọi người đều nghĩ đến siêu độ, muốn siêu độ tổ tiên, cửu huyền thất tổ. 

Sư Tôn nói siêu độ có ý nghĩa gì? Có người nói rằng tôi đã báo danh siêu độ cho tổ tiên xong rồi, bài vị của tổ tiên đã được đặt trong chùa ABC, trong tu viện XYZ rồi, ở chỗ của một vị đại Hoạt Phật nào đó rồi, bài vị đã được gia trì rồi, cho nên phần hồi hướng không có liên quan gì đến tôi. 

Căn bản Thượng sư của chúng ta luôn dạy: uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Bất kể là truyền thừa, hay bất kể chúng ta làm người phải nhớ đến cái gốc, nhớ đến tổ tiên, Sư Tôn đều nói rằng cho dù bạn đặt bài vị tổ tiên ở đâu, đã hỏa thiêu, chôn dưới đất, hay là rải tro xuống biển, bạn đều phải nhớ đến nguồn gốc, bạn đều phải không ngừng siêu độ cho tổ tiên. Vì sao?

Bởi vì siêu độ có phân cảnh giới. Ví dụ một người có nghiệp nặng, khi được siêu độ, nghiệp của họ sẽ nhẹ bớt, nhưng vẫn chưa được giải thoát. Khi nghiệp nhẹ bớt, họ sẽ được lên thiên giới, hưởng phúc báo của trời, nhưng khi hưởng hết phúc báo ở trên trời thì cũng vẫn đọa xuống nhân gian, hoặc thậm chí là địa ngục. Vì thế, đến được cõi trời rồi thì còn phải đến đâu nữa? Còn cần phải đến bốn thánh giới, đó là Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác, La Hán. Nhưng đây vẫn chưa phải là tột cùng, cuối cùng còn phải thành Phật. Nghĩa là siêu độ không thể nào dừng lại. 

Mặt khác, vì sao phải siêu độ? Việc siêu độ này còn liên quan đến tập khí của người sống chúng ta. Bạn có biết vì sao có bệnh ung thư không? Từ góc độ y học thì nói rằng trong cơ thể bạn có tế bào hỏng, tế bào đột biến, từ đó gây ra ung thư, hầu như không thể chữa được. Từ góc độ của Phật thì là thế nào? Sư Tôn từng nói, trong con mắt của thầy, tất cả bệnh tâm thần, trầm cảm, loạn thần kinh, chứng rối loạn lưỡng cực, ung thư, tất cả đều là oán thân trái chủ linh theo thân trốn trong thân thể bạn gây nên, chúng bám trên tế bào của bạn. Bám vào mắt sẽ có u mắt, bám vào trong não khiến đầu óc bạn không rõ ràng nữa, nếu bạn mắc nợ họ nhiều thì sẽ biến thành u não, bám vào phổi biến thành ung thư phổi, đủ các thể loại. 

Những linh thức có nghiệp báo với bạn, nghiệp báo muốn lấy mạng bạn thì chúng sẽ ở trên người bạn, vì thế con người sẽ không chữa được, không phát triển được, làm cái gì hỏng cái đó. Có nhiều người nói là do tôi bị xung phạm, tôi gặp quỷ thần, tôi bị đánh bùa ngải. Tôi nói cho bạn biết nhé, không có nhiều chuyện đánh bùa ngải như vậy đâu, đại đa số là vấn đề của chính bạn, trước kia bạn đã mắc nợ họ thì bây giờ bạn phải trả thôi. Phật nói chúng ta làm người đều là đang trả nợ mà. 

Cho nên vì sao nói khó nghe được Phật pháp? Gặp được Phật pháp là một việc rất may mắn, bởi vì cho dù nói từ góc độ nào, có Phật pháp thì thân chúng ta sẽ yên, tâm chúng ta sẽ an, linh chúng ta sẽ ổn, vì thân-tâm-linh tương tác lẫn nhau. Làm sao để an? Dùng pháp để an. Pháp gì? Chính là pháp siêu độ, siêu độ oán thân trái chủ của bạn để họ rời khỏi thân thể bạn, họ sẽ không muốn lấy mạng bạn nữa. Bạn khiến họ vui vẻ, họ rời đi, mọi việc của bạn sẽ thuận. 

Ví dụ, khi tìm việc thì bạn phải phỏng vấn đúng không? Có một việc rất kỳ lạ là nhiều người trông rất cao to đẹp trai, xinh gái, bạn trả lời đối đáp cũng rất ổn, nhưng người được chọn lại trông khá kì cục, vì sao vậy? Bởi vì đôi khi phỏng vấn, oán thân trái chủ của bạn sẽ chạy đến bên người phỏng vấn để che mắt họ. Đừng nghĩ tôi đang kể chuyện cười nhé, thực tế có chuyện như vậy. 

Cho nên khi học Phật bạn cần có quan niệm rằng, việc gì nên tận lực thì bạn hãy tận lực làm, không thể nào ỷ lại phó thác hết cho Phật Bồ Tát vô hình. Không thể nào không đi học, thi cử không cần học, phỏng vấn không cần chuẩn bị, việc gì cần phải cố gắng thì bạn phải làm hết sức, khi cố gắng hết sức rồi bạn cũng cần phải hiểu rằng luôn luôn có những thứ bên ngoài ảnh hưởng sâu sắc đến chúng ta. Vì thế, Sư Tôn nói, siêu độ có lợi ích rất lớn với người dương gian, bởi vì vô hình rời khỏi thân thể bạn, tổ tiên sẽ không ở bên cạnh bạn cả ngày. Tất nhiên có những tổ tiên rất tốt với con cháu, họ có tu hành, trên người họ có ánh sáng, khi ở bên cạnh bạn sẽ giúp ích cho bạn, đây gọi là linh quý nhân, chứ không phải là linh quấy nhiễu. Thế nhưng nếu tổ tiên không được siêu độ mà cứ đi theo bạn, có câu nói là gì, “âm dương cần có khoảng cách”, khi người âm cứ ở bên bạn suốt thì bạn sẽ nhiễm khí âm, chính là khí âm của tổ tiên. Vì thế, siêu độ có ích cho người dương gian, lại càng có ích với người âm gian. 

Vì sao tôi nói là “càng”? Người hiểu về trung ấm sẽ biết, giác tri của linh hồn nhạy hơn con người cả vạn cả triệu lần. Nghĩa là sao? Ví dụ chúng ta đang ngồi đây, cảm thấy quạt thổi gió thật mát mẻ, tôi nhìn thấy các bạn ai cũng đẹp trai xinh gái, ngửi thấy mùi hương, mùi thức ăn ở đây thấy thơm, đây chính là kiến văn giác tri của con người chúng ta. Nhưng đối với chúng sinh vô hình thì sao? Gió mát nhẹ nhàng này đối với họ lại là bão, một chút mùi đối với họ lại là cực kì nồng, một chút ánh sáng nhẹ với họ lại là rất gắt. Với trung ấm là như vậy, bởi vì họ không có nhục thể che chắn, vì thế mọi cảm quan đều được phóng đại lên. 

Khi phóng đại lên như vậy thì có lợi ích là nếu bạn biết cách khéo léo hướng dẫn họ thì họ nhanh chóng có thể tiến vào ánh sáng. Nhưng nếu không có ai hướng dẫn thì họ sẽ rất nhanh chóng đọa lạc. Đây là đặc tính của trung ấm. Vì thế, trọng điểm của pháp trung ấm nghe dạy được độ chính là an ủi họ, nói với họ rằng bây giờ anh gặp phải tình huống nào thì anh nên làm cái gì. Sự an ủi này không chỉ có hiệu quả cho trung ấm mà với con người chúng ta cũng có hiệu quả, đó là vì sao mà chúng ta đi hỏi việc. Bạn hỏi việc là vì bạn mơ hồ mông lung mà, bạn không biết nên làm thế nào, Phật Bồ Tát sẽ cho bạn phương hướng, như thế là làm bạn an tâm, là một pháp phương tiện giúp an thân tâm linh bạn. Vì thế cho nên siêu độ rất quan trọng.  

Phật và Ma

Ma cũng có năng lực lớn, họ có đại thần biến. Trong kinh điển cũng nói ma có thể biến thành trang nghiêm giống như Phật, có thể hiển hiện 32 tướng tốt. Cho nên, thế nào là ma? Rất khó nhận biết, rất khó phân biệt. Ở tại nhân gian này chúng ta nên hiểu thế nào? Đại bộ phận chúng ta đều cho rằng mình thuộc loại “thiện”, nhưng bạn không biết rằng trong cái thiện của bạn có ẩn cái ác, ẩn ma tính. Vì thế, tôi không dám nói rằng tôi là người thiện, loài thiện, tôi chỉ là người cố gắng hết sức muốn hành thiện, muốn làm thiện để tích đức mà thôi. Đừng nói mình là loài thiện, bởi vì khi bạn nhìn thấy người mà bạn không thích ở trước mặt, bạn sẽ sinh ra ác niệm, thế là ngay lập tức sẽ trồng xuống hạt giống bất thiện. Nếu bạn mặc kệ nó thì nó sẽ nảy mầm và trở thành một cái cây nhỏ, nếu bạn tiếp tục không để ý đến nó thì nó sẽ thành một cây lớn, đến một ngày bạn sẽ muốn cầm dao chặt đổ cái cây đó. Đây chính là hạt giống ác từ từ phát triển, chứ không thì tự nhiên làm sao mà có? 

Vì thế, nhân gian không có người thiện người ác, trong con mắt của Phật chỉ có nhân quả, không có phân biệt loài thiện loài ác. Những gì bạn nói là thiện, là ác, đều là do bạn “cho rằng”, bạn “cảm thấy”, bạn dùng chính sự tham sân si nghi mạn của mình để đánh giá người khác. Hôm nay tôi thích người này, tôi ghét người kia, tất cả đều do sự chấp vào cái tôi tạo ra. 

Cho nên, Phật ở đâu? Trong Đại Tự Tại Thiên Cung ở Sắc cứu cánh thiên có cung điện của một vị Phật, trong cung điện của Ma Vương còn có một cung điện nữa là của Phật, đó là Đại Nhật Như Lai. Đại Nhật Như Lai thuyết pháp ở Ma Cung, nói pháp gì? “Một niệm thành Phật, một niệm thành Ma.” 

Lần trước tôi từng nói Phật và Ma khác nhau ở đâu? Ma cũng có tu hành rất lớn rất cao, Ma cũng hành thiện, làm bố thí, Ma cũng có thiền định, nếu không thì Ma đã không thể ở Sắc cứu cánh thiên, Ma cũng có định lực. Nhưng căn bệnh lớn nhất khiến trở thành Ma chính là tự cao ngã mạn, Ma cho rằng mình lợi hại hơn tất cả, cho rằng thần thông của mình là không ai địch nổi. Đại Tự Tại Thiên Ma chính là tồn tại như vậy. Vì thế, Đại Nhật Như Lai đã dạy Ma rằng, 32 tướng tốt cũng chỉ là phương tiện thôi, Pháp thân chân chính là vô hình vô tướng.

Tu hành dạy bạn đừng chấp vào tướng, chấp vào tướng sẽ biến thành Ma. Mọi người nên tận lực hành thiện, nhưng không thể tự xưng công đức, đừng cho rằng tôi làm việc thiện là rất giỏi, tôi không cần tu hành nữa. Bố thí đem lại phúc báo nhân gian, nhưng bạn vẫn còn phải tu xuất thế gian mới là rốt ráo, bạn cần hồi hướng tất cả công đức của mình đến tịnh thổ, còn ở thế gian thì tận lực, tùy duyên, không bám chấp, có chấp trước sẽ không có công đức, không có thành tựu.

---
# File: tinh-tuyen/ts-lien-anh-y-nghia-cua-thinh-phat-tru-the.md
# Title: TS Liên Anh: Ý nghĩa của Thỉnh Phật Trụ Thế
---

![image](/img/img_c1946e6f7c009a23e4bc4272b662128d.jpg)



# Thượng sư Liên Anh khai thị về ý nghĩa của Thỉnh Phật Trụ Thế


Giảng pháp: Thượng sư Liên Anh
Thời gian: 27/05/2024
Địa điểm: Diệu Trí Đường - Kuantan - thuộc tổng hội Mật giáo Malaysia
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Thượng sư nói rằng, trong Mật giáo, Căn bản Thượng sư được xem như hóa thân của tất cả chư Phật Bồ Tát Kim Cang Hộ Pháp Không Hành chư Thiên trong mười phương ba đời. Ý nghĩa của thỉnh Phật trụ thế cũng đại diện cho mỗi đệ tử Phật kiền thành phát tâm, khuyên thỉnh Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Phật, Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Pháp, Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Tăng mà Căn bản Thượng sư đại diện trụ thế.

Thỉnh Phật trụ thế không chỉ là vì thỉnh cầu cho chính mình, là vì khuyên thỉnh hết cho tất cả tứ Thánh lục phàm mười pháp giới, vì thế cũng kết nối thiện duyên với chúng sinh mười phương. Trong kinh Phật cũng viết rằng thỉnh Phật trụ thế có công đức và ruộng phúc số một, vì khuyên thỉnh cho nên thế giới Ta Bà có Phật trụ thế, diễn hóa diệu pháp, quảng độ chúng sinh.

Đừng coi thường rằng Căn bản Thượng sư đã là đại thành tựu giả, nhậm vận tự tại, những hoạt động này là muốn chúng sinh trân trọng, phát tâm, tinh tấn, khiêm nhường, chân thành, cảm ơn, thỉnh Phật trụ thế cũng là sự thị hiện tốt nhất khiến chúng sinh vào Phật đạo.

Sư Tôn từng khai thị, trong Mật giáo, cho dù nhục thân của Căn bản Thượng sư thị hiện bệnh tật thì vẫn có thể gia trì cho đệ tử, bởi vì Căn bản Thượng sư là gia trì căn bản, nếu đệ tử từ chối sự gia trì của Sư Tôn thì đó là đánh mất truyền thừa, cũng là phạm giới, đây là một điểm rất dễ sơ xuất.

Ở nhân gian, chúng ta phải thông cảm cho sự vất vả cực nhọc của Căn bản Thượng sư, phải nghiêm cẩn đối đãi với bất kì duyên khởi nào của Thượng sư và đệ tử trong Mật giáo.

Thượng sư nêu ra rằng, thỉnh Phật trụ thế tuyệt đối không chỉ là một hoạt động nhất thời, không phải là công phu bề ngoài. Dưới sự dẫn dắt của Tông Ủy Hội, các Thượng sư, giáo thọ sư, pháp sư, và nhân viên hoằng pháp các cấp đại diện cho các phân đường trên toàn thế giới, và tứ chúng đệ tử đã tích cực tham gia, có thể khiến mọi người hiểu được nội hàm và ý nghĩa sâu xa của thỉnh Phật trụ thế. Ngoài ra, càng quan trọng hơn là, các đệ tử Phật càng nên nhận thức được rằng chúng ta thỉnh Phật trụ thế là vì thật sự tu hành giải thoát luân hồi, dựa theo giáo pháp mà Phật nói, giữ năm giới làm mười thiện, tu 37 đạo phẩm, tu hành theo thứ tự, mỗi người đều thành Phật, kiến chứng Phật tính của chính mình.

Thượng sư nói thỉnh Phật trụ thế là việc nên làm, thỉnh Phật trụ thế là siêu thắng, là hành động tinh tấn vô lượng, tương đương với tổng trì bốn tâm vô lượng quảng đại, vì thế nên làm một cách kiên trì.

27/05/2024
Diệu Trí Đường - Kuantan - thuộc tổng hội Mật giáo Malaysia

---
# File: tinh-tuyen/ts-lien-dang-chia-se-ve-thoi-diem-xuat-gia.md
# Title: TS Liên Dạng chia sẻ về thời điểm xuất gia
---

![image](/img/img_e5327b2a43c8fc5622a788f67706e5ea.jpg)



## TS Liên Dạng chia sẻ về thời điểm xuất gia


Giảng pháp: Thượng sư Liên Dạng
Thời gian: 08.12.2024
Địa điểm: Pháp Hoa Đường - Đài Loan
Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Giới thiệu Thượng sư Liên Dạng - trụ trì Đại Giác Đường - Indonesia.
*Nhân duyên xuất gia của Thượng sư Liên Dạng - từ bỏ sự nghiệp Giám đốc chi nhánh ngân hàng Công thương Trung Quốc ICBC - tại Indonesia.*

Trước tiên chúng ta kiền thành chắp tay kính lễ Nam Mô Căn bản Truyền thừa Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật. Nhất tâm kính lễ chủ tôn pháp hội Nam Mô Đại Lực Kim Cang Minh Vương. Nhất tâm kính lễ Nam Mô Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn. Nhất tâm kính lễ Chân Phật Tông lịch đại truyền thừa tổ sư và đàn thành Tam Bảo. Xin thỉnh cầu gia trì cho bài khai thị Phật pháp hôm nay có thể lợi ích tất cả chúng sinh.

Thượng sư Liên Anh tôn quý, và cả pháp sư Liên Thù, giảng sư, bác sĩ Ngô Đông Long - chủ tịch Pháp Hoa Đường, và cả đường chủ tiến sĩ Vương Tiến Hiền, cô giáo Lâm Thế Trân, tất cả các đồng môn thường trực của Pháp Hoa Đường và tất cả sư huynh sư tỉ, xin chào mọi người, A Di Đà Phật!

Trước tiên cảm ơn Thượng sư Liên Anh đã có lời mời, cảm ơn chủ tịch, đường chủ và các vị thường trực đã mời, vốn dĩ tôi không hề có dự định đến Pháp Hoa Đường và tham dự pháp hội này. Nhưng bởi vì mới đây tại Indonesia, chúng tôi đã mời Thượng sư Liên Anh đến hộ đàn bái Lương Hoàng Bảo Sám, sau đó Thượng sư Liên Anh đã rất khách khí nói hy vọng khi tôi đến Đài Loan có thể đến hộ trì pháp hội hội cúng Đại Lực Kim Cang. Chính vì nhân duyên này mà hôm nay tôi mới đến Pháp Hoa Đường, tham gia và hộ trì pháp hội này cùng với các bạn. 

Lần đầu tiên đến Pháp Hoa Đường, cảm nhận của tôi là Phật đường rất trang nghiêm, mandala của Pháp Hoa Đường cực kì trang nghiêm, vì thế xin hãy cho Thượng sư Liên Anh một tràng pháo tay cổ vũ, thầy ấy đã rất vất vả rồi! Tôi và Thượng sư Liên Anh đã quen biết nhau rất lâu rồi, từ năm 2018 chúng tôi đã cùng đưa Sư Tôn đi hoằng pháp ở Indonesia, đó chính là khi tổ chức pháp hội Atisa, ngày hôm đó mới thật sự quen biết Thượng sư Liên Anh, khi đó còn là pháp sư, bây giờ thì là Thượng sư rồi. Chính vì nhân duyên này cho nên sau khi thầy ấy được phong làm Thượng sư, tôi hy vọng thầy ấy có thể đến Indonesia để “phóng quang, tỏa sáng” một chút. 

Chắc là rất nhiều người còn chưa biết tôi, bởi vì vào năm 2017 thì tôi xuất gia, sau đó tôi chủ yếu là hoằng pháp ở tại Indonesia, do vấn đề là tiếng Trung của tôi cũng có giới hạn, trình độ tiếng Trung không hẳn là tốt lắm, vì thế tôi ở tại Indonesia hoằng pháp nhiều hơn. Hôm nay đã có được nhân duyên này, tôi cũng muốn chia sẻ với mọi người một chút về kinh nghiệm cuộc đời của tôi, mong rằng có thể lợi ích tất cả khán giả, tất cả các sư huynh sư tỉ. 

Đầu tiên tôi muốn nói đến việc tôi quy y Sư Tôn, từ năm 13 tuổi tôi đã quy y Sư Tôn rồi, sau đó tới năm 16 tuổi, lần đầu tiên tôi đọc văn tập của Sư Tôn, khi ấy tôi vẫn chưa biết đọc tiếng Trung, vẫn là phải đọc sách dịch sang tiếng Indonesia. Khi đọc xong cuốn sách ấy, suy nghĩ đầu tiên của tôi là muốn xuất gia, khi ấy tôi 16 tuổi. Nhưng vì bố mẹ ngăn cản, tức là họ phản đối tôi xuất gia, sau đó thì tôi quen Thượng sư Liên Cấm [trước khi xuất gia, hai vị Thượng sư này là vợ chồng], sau đó thì tôi đi học Đại học, làm việc, phải chờ đến 18 năm sau thì tôi mới có được nhân duyên xuất gia, tức là khi tôi 34 tuổi thì mới có thể xuất gia. 

Hôm nay tôi muốn chia sẻ với mọi người về vấn đề buông bỏ, bởi vì trong cuộc đời của chúng ta, có thể mọi người sẽ nghĩ rằng chúng tôi muốn xuất gia bởi vì “nghĩ không thông”, có thể là do thất tình, hoặc là thất nghiệp, nhưng khi tôi xuất gia, tôi đã từng hai lần mơ thấy Sư Tôn rất rõ ràng, khi có được giấc mơ đó thì tôi biết rằng thời điểm xuất gia của tôi đã đến rồi. Vì thế khi ấy, tâm xuất ly của tôi rất mạnh, tôi học được sự buông bỏ, buông bỏ tất cả sự nghiệp. Khi đi làm tôi làm việc ở ngân hàng ICBC, tôi buông bỏ tức là buông bỏ cả thu nhập của mình, buông bỏ xe của tôi, nhà của tôi, buông bỏ tất cả mọi thứ của mình, bao gồm cả gia đình. 

Khi tôi buông bỏ, khi ấy tôi nghĩ, khi ấy tôi đang ở đỉnh cao của sự nghiệp, sếp của tôi còn nói nếu tôi cân nhắc không xuất gia nữa thì sẽ giao cho tôi chức chủ tịch trụ sở chính của ngân hàng. Tôi nói là không cần đâu, tôi đã không còn cái tâm phát triển sự nghiệp nữa, tôi muốn cúng dường cuộc đời này của tôi cho Căn bản Thượng sư. Vì thế, khi ấy tôi đã học tập sự buông bỏ. Vì sao lần này tôi nói về sự buông bỏ, bởi vì tôi nhìn vào vị Thượng sư ngồi bên cạnh tôi đây, thầy ấy còn lợi hại hơn cả tôi, từ lúc rất trẻ còn đang đi học mà thầy ấy đã có thể từ bỏ tuổi thanh xuân của mình để lựa chọn con đường xuất gia. Chúng ta nên vỗ tay khen ngợi thầy ấy vì điều này. 

Lúc thầy ấy xuất gia thì tôi cũng có mặt ở đó, chứng kiến và trong lòng tôi nghĩ pháp sư này thật sự là rất cừ, khiến người ta tán thán. Khi ấy mới biết cho nên tôi cũng chưa biết là thầy ấy vẫn còn đang đi học, chỉ cảm thấy là thầy ấy có thể học được sự buông bỏ sau đó đã xuất gia, điều này cho thấy huệ căn của thầy ấy rất cao, Phật duyên của thầy ấy cũng rất sâu. 

Khi tôi xuất gia, lúc ấy tôi cũng vẫn còn rất ngây thơ. Tôi nghĩ rằng sau khi xuất gia rồi, tôi có thể cả ngày tu pháp, cả ngày trì chú, có thể cả ngày ở trước mật đàn của mình tu rất nhiều pháp. Không ngờ rằng sau khi xuất gia tôi mới biết hóa ra còn bận rộn hơn lúc trước đi làm ở ngân hàng, luôn cảm thấy rằng một ngày 24 giờ là không đủ. Bởi vì không chỉ là các vấn đề về pháp vụ mà còn có vấn đề về đồng môn, vấn đề về đạo tràng, rất nhiều vấn đề phải giải quyết, pháp vụ của Chân Phật Tông cũng rất nhiều, đạo tràng có rất nhiều việc pháp. Điều này khiến cho tôi cảm thấy quản lý một đạo tràng cũng giống như trước kia tôi quản lý ngân hàng, bởi vì một đạo tràng cũng giống như một chi nhánh cửa hàng, bạn phải hiểu làm sao để quản lý tài chính, làm sao để quản lý nhân sự, rồi phải nghĩ cách để duy trì đạo tràng này, hàng tháng phải đủ khả năng trả tiền điện, tiền nước, còn phải nghĩ cách làm sao để đồng môn đến đạo tràng mà cảm thấy vui vẻ, nghĩa là cảm thấy trong lòng đầy pháp hỷ, để mọi người cảm thấy đạo tràng giống như nhà mình, luôn phải nghĩ rất nhiều cách. 

Tôi nhớ tuần trước Sư Tôn có nói nhân gian có ba việc không dễ dàng, thứ nhất là tu hành không dễ dàng, thứ hai là kiếm tiền không dễ dàng, thứ ba là sống cùng người khác không dễ dàng. Cá nhân tôi cảm thấy còn cái không dễ dàng thứ tư nữa là quản lý đạo tràng không dễ dàng. Cho nên chúng ta hãy nhìn vị thượng sư trẻ này mà đã có thể làm cho Pháp Hoa Đường cực kì hưng vượng như thế này, thật sự là rất xứng đáng vỗ tay khen ngợi!

Tôi nhớ lúc 28 tuổi còn đang đi làm, sếp tôi gọi tôi đến nói rằng ông ấy muốn thăng chức cho tôi làm trưởng chi nhánh ngân hàng trẻ tuổi nhất. Tôi nói với sếp chắc là tôi không có năng lực này đâu, hôm ấy sếp đã nói với tôi một câu là “hãy chứng minh cho tất cả mọi người thấy là tôi không nhìn lầm người, hãy chứng minh cho tất cả mọi người là tôi không chọn sai người, cậu nhất định sẽ thành công”. Sau khi tôi được công bố làm trưởng chi nhánh, rất nhiều đồng nghiệp không vui vẻ, không hài lòng, đôi khi ở trong thang máy họ còn cố ý nói ra để cho tôi nghe thấy, kiểu như châm chọc. Tôi cảm thấy việc này chẳng hay chút nào, nhưng nó đã biến thành sự cổ động đối với tôi, yêu cầu tôi chạy nhanh hơn để chứng minh cho họ thấy. Trong vòng một năm, tôi đã hết sức nỗ lực, rất tập trung nghiêm túc làm việc. Trong cuộc hội nghị cấp cao hàng năm của ngân hàng, công bố thành tích, quả nhiên chi nhánh do tôi quản lý đã đứng thứ nhất. Việc này không chỉ có một mình cá nhân tôi kinh ngạc mà rất nhiều người đều ngạc nhiên, không ngờ cậu trẻ ranh mới 28 tuổi này lại có thể làm cho chi nhánh của mình đứng thứ nhất toàn Indonesia, đó là ngân hàng HSBC tại Indonesia, chúng tôi tổng cộng có 35 chi nhánh, và chi nhánh của tôi đứng số một. 

Khi ấy tôi đã chứng minh được cho tất cả những đồng nghiệp của mình và sếp của tôi thấy là tôi đã làm được. Kể từ khi họ thấy tôi có thể lãnh đạo được một chi nhánh, thái độ của họ đã thay đổi, thật sự là thay đổi 100%. Trước đó thì họ chẳng muốn nói chuyện với tôi, không muốn ăn trưa cùng tôi, bây giờ thì ngày nào cũng muốn đi ăn trưa cùng tôi. Vì sao thế? Vì họ rất tò mò, không biết tôi có “khẩu quyết” gì mà lại thành công được? Họ muốn nghe và học tập. Với tôi thì hoàn toàn không thành vấn đề, tôi hoan nghênh họ cùng học tập với tôi. 


![image](/img/img_6de689ebec669344aac671968eb31d6a.jpg)


Kinh nghiệm này có ảnh hưởng rất sâu sắc đối với tôi… Sau khi tôi xuất gia, không ngờ sự việc tương tự lại xảy ra đối với tôi, tôi đã trải qua một tình huống tương tự. Tháng 2/2017 thì chúng tôi xuất gia, sau đó Sư Tôn đã ban cho chúng tôi quán đảnh Acharya vào tháng 5 năm đó [hai vị Thượng sư Liên Dạng và Liên Cấm cùng xuất gia, cùng được Sư Tôn phong làm Thượng sư cùng lúc]. Ngày hôm đó cũng xảy ra rất nhiều vấn đề, rất nhiều người kinh ngạc gọi điện thoại đến hỏi vì sao hai người lại được phong làm Thượng sư, rất nhiều người cũng không vui vẻ, không hài lòng, rất nhiều người phê bình chúng tôi. Mặc dù tôi cũng không để chuyện này trong lòng, nhưng khi ấy Sư Tôn phong chúng tôi làm Thượng sư thì tôi cũng cảm thấy áp lực hệt như lúc trước, sức khỏe cũng có rất nhiều áp lực khi Sư Tôn đặt trách nhiệm này lên người chúng tôi. 

Lúc trở thành Thượng sư thì đạo tràng của chúng tôi chỉ có hai gian nhà, tức là chỉ mới sở hữu được hai gian nhà cạnh nhau. Sau đó, nhờ sự gia trì của Sư Tôn và Phật Bồ Tát, sự hộ trì của Hộ pháp, từ hai gian nhà nay đã trở thành năm gian nhà. Nói tới nói lui thì thật sự rất kỳ diệu, thật sự là có được sự gia trì rất lớn, tự nhiên có người tự đến nói rằng muốn cúng dường, nói rằng chúng tôi mua cho mọi người gian nhà bên cạnh. Theo chỉ thị của Sư Tôn, ban đầu chúng tôi chỉ có ba tầng, bây giờ đã thành bốn tầng, tầng thứ tư cao tới 7 mét, trở thành Đại Hùng Bảo Điện của chúng tôi, cực kì hoành tráng, cảm giác vô cùng trang nghiêm. Tôi không dám nói rằng Đại Giác Đường của chúng tôi là đạo tràng trang nghiêm nhất ở Indonesia, nhưng lúc ở hội đồng tu Thập Phương ở Hồng Kông tôi từng nói, Hồng Kông có Thập Phương đồng tu hội, Jakarta có Đại Giác Đường. 

Ở đạo tràng của chúng tôi làm nên những mandala rất trang nghiêm, chính là để mong rằng mọi người có thể đến đạo tràng để cho mình tinh tấn. Bạn bước vào mandala này, không phải là để cảm thấy đàn thành này thật đẹp, mà hơn thế là để bạn được thanh tịnh, thân thể thanh tịnh, ý niệm thanh tịnh, khi bạn trở về thì sẽ cảm thấy thân khẩu ý của mình đã được thanh tịnh rồi. Bước vào đàn thành, có được sự gia trì của Sư Tôn, của Phật Bồ Tát để thân khẩu ý được thanh tịnh. Tôi mong rằng mọi người hãy trân trọng Pháp Hoa Đường này, mong rằng đồng môn sống ở Gia Nghĩa hàng tuần đều có thể đến Phật đường cùng đồng tu, bước vào đạo tràng giống như bước vào mandala tịnh thổ của Bổn tôn. 

Đến Pháp Hoa Đường, tôi cảm thấy Thượng sư Liên Anh thật vất vả, thầy ấy biết rõ về từng bức tượng, hiểu rõ từng bức thangka, bày đàn thành vô cùng trang nghiêm, rất nhiều khi tôi phải thỉnh giáo Thượng sư Liên Anh bởi vì thầy ấy đọc rất nhiều sách, hiểu rất nhiều về lịch sử Mật giáo. Các bạn có một Thượng sư ưu tú như vậy, mọi người cần biết trân trọng. 

Các bạn biết rằng Chân Phật Tông chúng ta, mỗi một địa phương Sư Tôn đều để cho chúng ta tự mình phát huy, vì thế có những đạo tràng không có nhân viên hoằng pháp, không có Thượng sư, không có pháp sư, cho nên nhiều khi người ta rất ngưỡng một một đạo tràng kia vì có Thượng sư, cho nên ở đây các bạn đã có một Thượng sư rất ưu tú, có mandala trang nghiêm như thế này, vậy thì hãy nên trân trọng nhân duyên này. 

Tôi và Thượng sư Liên Anh đã đi hoằng pháp cùng với nhau rất nhiều lần rồi, tôi cảm thấy thầy ấy rất nghiêm túc. Ví dụ như thầy ấy luôn chuẩn bị trước những bài khai thị, rồi tu pháp rất tinh tấn, rồi cũng luôn sẵn lòng mỗi khi có đồng môn đến muốn hỏi việc hoặc thỉnh giáo thì đều giúp đỡ. Có một Thượng sư kính sư, trọng pháp, thực tu như vậy, mọi người nên học tập từ thầy ấy nhiều một chút, không phải chỉ có mình tôi học tập, các bạn cũng nên học tập thầy ấy. 

Hiện tại Đại Giác Đường của chúng tôi có hai Thượng sư, cả hai chúng tôi đều rất bận, tôi thì hay đi ra ngoài để hoằng pháp hơn, còn Thượng sư Liên Cấm thì ở tại đó nhiều hơn để dịch văn tập và khai thị của Sư Tôn. Mỗi đạo tràng đều có những nhân vật của đạo tràng đó. Thượng sư Liên Anh nếu khi nào có mặt ở Đài Loan thì các bạn nên hộ trì thầy ấy. 

Hôm nay chúng ta có thể tập trung tại đây, cùng gặp mặt ở đây, tất cả là nhờ có sự gia trì của Căn bản Thượng sư nên chúng ta mới có được nhân duyên này, vì thế tôi mong rằng tất cả chúng ta đều có lòng phụng hiến tất cả cho Căn bản Thượng sư của chúng ta. Chúng tôi hoằng pháp, chúng tôi làm mandala trang nghiêm như thế này, toàn bộ đều là cúng dường Căn bản Thượng sư, mong mọi người đều nhất tâm thỉnh Phật trụ thế. Cảm ơn mọi người. Om mani padme hum!


![image](/img/img_ee6489c9a97a77c8ae0b770ac2f7c0a9.jpg)

---
# File: tinh-tuyen/tu-scan-va-in-lai-tien-giay-chan-phat-de-dung-duoc-khong.md
# Title: Tự scan và in lại tiền giấy Chân Phật để dùng được không?
---

![image](/img/img_817cecf857ea272e34ebcff37a39d047.jpg)



# T**ự scan và in lại tiền giấy Chân Phật Tông để dùng được không?**


Ghi chú: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

---

Các bạn thân mến,

Việc sử dụng pháp khí tiền giấy không đúng đắn như con dao hai lưỡi, có thể tạo ra thiệt hại và nghiệp lực xấu ngoài sức tưởng tượng của bạn. 

Rất dễ dàng để có thể scan lại và tự in một mẫu tiền giấy bất kì đang lưu hành chính thức của Chân Phật Tông. Nhưng điều này mang lại rất nhiều tai hại cho người cúng và đối tượng được cúng.


### **Tiền giấy Chân Phật Tông khác tiền giấy vàng mã thông thường**


Tác dụng của tiền vàng mã bình thường vốn dựa trên niềm tin, định lực hoặc sự gia trì của bạn - một hành giả Mật tông. Riêng tiền giấy của Chân Phật Tông còn có thêm linh lực đặc biệt lớn: Sự gia trì của Sư Tôn và sự hộ trì của Hộ pháp, Không hành xuất hiện đi theo hộ trì, bảo vệ trong tâm linh. 


### **Sư Tôn không ban tiền giấy Chân Phật để có thể tự in bừa bãi**


Tiền giấy Chân Phật được ban xuống luôn đi kèm mục đích huy động tài lực cho các hoạt động hoằng pháp đặc thù và nó được các Hộ pháp, Không hành “hộ trì, bảo vệ trong tâm linh” **dành riêng chỉ cho phạm vi mục tiêu này, bởi duy nhất tổ chức xuất bản ra nó.** 

Tiền giấy chỉ được cấp phép in bởi những tổ chức Chân Phật Tông chính thức và phải có nhiệm vụ hoằng pháp. Ở bình diện thế gian, rất khó để quản lý việc in “lậu”, nhưng trong tâm linh, dưới pháp lực của Sư Tôn và dòng truyền thừa, điều này được đảm bảo rất chặt chẽ.


### **Nếu ta tự scan và in lại tiền giấy Chân Phật để dùng thì sao? **


- Đây là một hành động trộm cắp do không hề được phép từ Tông Ủy Hội hoặc nhà xuất bản được cấp phép. Chúng ta không đi ăn trộm đồ để cúng Phật hoặc đi giải nghiệp cho chính chúng ta. 

- Ta sẽ gánh nhân quả của việc đi ngược lại ý chỉ tuyên bố của Sư Tôn cùng mục tiêu được tuyên ngôn và gia trì của tiền giấy. 

- Tổ tiên, oan gia trái chủ hoặc những đối tượng được ta cúng chắc chắn sẽ gánh nghiệp và oan gia sẽ càng nặng. 

- Ta sẽ không nhận được sự gia hộ cho sự linh nghiệm của tiền giấy bởi chư vị Hộ pháp vì việc tự in này đi ngược lại sự ban phép và ý nguyện của Sư Tôn.


### **Cách sử dụng tiền giấy Chân Phật đúng đắn**


- Hãy thỉnh mua tiền giấy Chân Phật ở nơi xuất bản được Sư Tôn ban phép gia trì, bất kì đâu trên thế giới. Khoản tiền bạn thỉnh mua tiền giấy đó đồng thời cũng đem tới công đức cho bạn, và điều này cũng đem lại chính sức mạnh tâm linh của tiền giấy đó. Bởi vì khoản tài lực đó sẽ được dùng cho các nhiệm vụ hoằng pháp, xây chùa, đắp tượng, biên dịch giáo pháp… Cố gắng đừng mua ở bất kì chỗ nào in lại, in lậu, vì dù giống nhau y hệt, tiền giấy đó sẽ không có linh lực và công đức trong tâm linh mà nó mang lại.

- Đối tượng được cúng đốt tiền giấy sẽ được hưởng 3 loại:
  - Linh lực của Sư Tôn, cùng sự gia trì của Hộ pháp, Không hành và cả dòng truyền thừa.
  - Công đức của việc hoằng pháp thông qua việc thỉnh mua tiền giấy.
  - Niềm tin và định lực của bạn. (nếu bạn có tu tập và có niềm tin to lớn)

- Ngoài ra ở bình diện thế gian, nếu bạn là đệ tử của Sư Tôn, hãy thỉnh pháp khí tại các tổ chức của Chân Phật Tông nhằm trợ giúp tông phái có thể hoằng pháp rộng rãi hơn. 


### **Tiền giấy Chân Phật phiên bản cho người Việt**


- Bản quyền thuộc về Tông Ủy Hội.

- Mục đích phát hành được Sư Tôn ban phép gia trì rất rõ ràng: Huy động tài lực cho các hoạt động hoằng pháp đặc thù. 

- Được lưu thông và được quản lý trực tiếp dưới sự hướng dẫn chi tiết từ Tông Ủy Hội.

Mong chúng ta có được nhiều lợi ích từ những ý niệm, hành vi cùng động lực thanh tịnh và đúng đắn. 🙏

---
# File: tinh-tuyen/y-nghia-cua-dang-khan-khata.md
# Title: Ý nghĩa của dâng khăn khata
---

# Ý nghĩa của dâng khăn khata


Khăn khata cát tường - lời giảng của Khenpo Sodargye

Khata (tiếng Tây Tạng là kha gtags) là một vật phẩm nghi lễ của Phật giáo Tây Tạng. Nó là một loại vải lụa dài và chắc chắn, có chiều dài từ ba hoặc bốn thước (tức 1 đến 1,3 mét) đến hơn mười thước, có màu trắng, vàng, xanh, đỏ và các màu khác. Ở Tây Tạng, khata được dùng để thể hiện sự tôn trọng trong các đám cưới và các cuộc gặp chung giữa người thân và bạn bè, hoặc khi gặp Dalai Lama và các Lama có địa vị cao. Trong số các nghi thức khác nhau ở Tây Tạng dâng khăn khata là nghi thức phổ biến và tôn kính nhất. Ngoài ra, màu sắc và độ dài của khata còn phụ thuộc vào thân phận của người nhận, người càng cao quý thì khăn càng dài, về màu sắc thì dùng màu trắng là tôn quý nhất, tượng trưng cho sự thuần khiết và cao quý.

Theo truyền thống, khi bạn dâng khata màu vàng trước mặt một vị cao tăng hoặc tượng Phật, biểu thị bạn hy vọng đạt được công đức to lớn như vàng ròng và không bị ô nhiễm; khi bạn dâng khata màu trắng, biểu thị bạn hy vọng rằng chư Phật, chư Bồ Tát, cao tăng đại đức có thể tiêu trừ mọi nghiệp chướng và dơ bẩn của bản thân và người khác, và đạt được ánh sáng tự tính thanh tịnh như ánh trăng; nếu bạn dâng khăn khata màu xanh lam, có nghĩa là bạn mong muốn với sự gia trì của Thượng sư và Tam Bảo, sự nghiệp của bạn và những người khác có thể bao la vô biên như bầu trời xanh…

Nhưng, để đạt được những tâm nguyện tốt đẹp kể trên, bất kể là cúng dường, dâng biếu hay là tặng khata, khăn khata đều phải không được có bất kì khuyết điểm hoặc ô nhiễm nào, nếu không sẽ đem đến những chướng ngại cho việc tu đạo và thế gian của chính mình, bởi vì khata ô nhiễm cho thấy tâm bạn không thanh tịnh. 

Ngoài ra, khi đến thăm một quan chức, bạn bè hoặc nhân vật lớn nào đó, nếu có nhiều việc muốn thỉnh cầu đối phương làm giúp, vậy thì khi dâng khăn khata phải bày khăn dài trên hai tay, còn không thì không cần phải trải khăn dài. Trong tập tục thường ngày, khăn càng dài thì tượng trưng cho hàm nghĩa chúc thọ càng nhiều, vì thế có “khata trường thọ”. Đồng thời, khăn khata dài còn biểu thị quan hệ đôi bên giống như dòng chảy mãi mãi không cạn.

Điều đặc biệt cần chú ý là, ngoài tình huống đặc biệt, Thượng sư thường sẽ không nhận khăn khata của người khác vào lúc chia tay. Nghe nói, năm xưa Rechungpa khi rời xa Thượng sư Milarepa của mình đã dâng lên chiếc khăn khata, kết quả là từ đó cũng không gặp lại Thượng sư của mình nữa. Bởi vậy, nếu chúng ta không muốn phá bỏ nguồn gốc thì tốt nhất là khi mới gặp mặt hãy cung kính dâng khăn khata.

Nếu người khác dâng khăn khata lên bạn, vì phép lịch sự, bạn nên trả lại khăn khata cho đối phương. Lúc này, nếu đối phương và địa vị tuổi tác của mình tương đương thì bạn nên đặt khata trên tay của đối phương. Nếu đối phương là thế hệ sau hoặc cấp dưới của mình thì có thể quàng khăn lên cổ của đối phương.

Phật giáo bắt nguồn từ Ấn Độ, khata bắt nguồn từ Tây Tạng. Chúng ta hãy mãi mãi giữ gìn khăn khata cát tường đến từ Tây Tạng ở trong tim mình nhé!


---


Trong văn hóa Tạng truyền, dâng khăn khata dùng để biểu đạt lòng tôn kính cao thượng.

Khata là từ Tây Tạng, được làm từ vải, giống như khăn quàng cổ. Nếu chúng ta đến chùa ở Tây Tạng có thể nhìn thấy cả ngôi chùa được trang trí rất trang nghiêm, kiến trúc nguy nga, cung điện rực rỡ, các bức tượng, tranh vẽ, vải thêu, cờ phướn ở trong đó đều rất đẹp. Và ở trên các bức tượng, trên pháp tọa luôn luôn được trang trí bằng những dải lụa dài màu trắng tuyền hoặc màu sắc rực rỡ, đây chính là khăn khata.

Người Tây Tạng không chỉ treo khăn lên tượng Phật mà cũng xem đây như nghi lễ tặng quà lẫn nhau, người dân tộc Tạng biểu thị lòng tôn kính của mình thông qua một nghi lễ tập tục là tặng khăn khata cho nhau, sự lễ phép, tinh tế tỉ mỉ, khéo léo này có một cảm nhận mãnh liệt, nếu có thêm hoa văn mới lạ, màu sắc tươi sáng thì sẽ có cảm nhận về sự soi sáng lẫn nhau. 

Hành giả Chân Phật dâng khăn khata lên Kim cương Thượng sư, còn Kim cương Thượng sư dùng sức mạnh gia trì của truyền thừa quán tưởng gia trì cho khata. Sau đó lại quàng khăn lên cổ của hành giả, đây là một nghi thức.

Dâng khata và choàng khata này có ba ý nghĩa lớn:
1. Mặc giáp hộ thân — có thể kiên trì ý chí tu hành của chính mình, không nửa chừng bỏ dở, đối với tất cả chướng ngại đều có thể phá trừ, tất cả ma nạn đều sẽ được đẩy lùi. Dùng khata tượng trưng cho mũ và áo giáp, mặc giáp lên người có thể phòng thân.

2. Cổ vũ thiện hành — hành giả phải vui với làm việc thiện, không một chút sợ hãi rụt rè, không vì thấy việc thiện nhỏ công đức nhỏ mà không làm, không vì thấy việc thiện lớn khó thực hiện mà không làm. Choàng khata chính là sắc lệnh và cổ vũ đừng hời hợt trong việc một lòng hướng thiện.

3. Pháp lạc tinh tấn — Hành giả Chân Phật dâng khăn khata là thỉnh cầu một sự gia trì cho tu hành, Kim cương Thượng sư choàng khata là ban cho gia trì tinh tấn pháp lạc, để cho hành giả bắt đầu tu hành có một sự khởi đầu ấm áp, không chỉ gia trì pháp lực mà đồng thời cũng gia trì lợi ích khác. Hành giả Chân Phật nên càng tinh tấn tu hành cho đến khi thành Phật  mới thôi.

Khata cũng tượng trưng cho một dạng bố thí và cúng dường, hành giả Chân Phật dâng lên tài phúc và thân thể của mình để thỉnh cầu có được sức mạnh truyền thừa của Chân Phật.

---
# File: tinh-tuyen/y-nghia-tuong-trung-cua-cung-pham-ho-ma.md
# Title: Ý nghĩa tượng trưng của cúng phẩm Hộ Ma
---

# Ý nghĩa tượng trưng của cúng phẩm Hộ Ma


Liên Sinh Hoạt Phật khai thị tinh yếu

Thượng sư Liên Ấn, các vị Thượng sư, giáo thọ sư, các vị pháp sư, các vị đồng môn, xin chào mọi người.

Hộ Ma này chỉ có Mật giáo mới có, cũng là một pháp cúng dường do Tổ sư truyền xuống. Nhờ vào ngọn lửa này, tức là miệng của Hỏa Thiên, để mà đem tất cả cúng phẩm cúng cho chư Phật Bồ Tát, Kim Cang Hộ Pháp, Không Hành chư Thiên thần chúng.

Tất cả cúng phẩm đều có ý nghĩa. Lửa Hộ Ma đại diện cho cúng dường của chúng ta, cũng đại diện cho tinh thần thống nhất của chúng ta, có nghĩa là lửa và người chủ trì Hộ Ma, và Bổn tôn của Hộ Ma phải hợp nhất, tức là khi tu tập cúng dường thực hiện một năng lực quán tưởng tập trung tinh thần. Cúng rượu là cúng cho Kim Cang thần chúng, Kim Cang Minh Vương, cho tất cả Thần Hộ Pháp dùng. Rượu có thể sản sinh ra một dạng sức mạnh, bản thân cúng rượu là phát huy pháp lực của ngài, rượu đối với Kim Cang Thần mà nói cũng giống như là một loại cam lộ, một loại sức mạnh.

Vì sao cúng nước hoa? Đó là cúng dường Không Hành Mẫu, cúng dường cho thiên nữ dùng, ý nghĩa của nó chính là muốn khiến cho chúng sinh hễ gặp phải chuyện gì thì đều đầy ắp hương thơm, có thể loại bỏ điều không tốt, có được hương thơm viên mãn vi diệu. 

Thế còn thuốc thì sao? Phải cầm thuốc đặt lên phía trên lông mày của bạn tức là thỉnh cầu có bệnh thì thuốc sẽ trừ bệnh. Cúng quả là hy vọng mỗi người tương lai đều có quả vị. Cúng những thức ăn như bánh quy là hy vọng mỗi người ngày ngày đều có đồ ăn ngon, hơn nữa mỗi người đều được ăn no.

Còn cúng hoa, cúng hoa màu trắng, nếu là phụ nữ thì có thể có được bạn đời tốt, có được chồng đẹp trai. Cúng hoa màu đỏ là hy vọng có thể gặp được cô gái xinh đẹp tươi mới, trẻ trung. Tất cả cúng dường hoa đều là thỉnh cầu kính ái có thể viên mãn. Thế còn cúng hoa sen là thế nào? Là hy vọng hoa sen hóa thành nghìn nghìn vạn vạn bông hoa ở trong hư không, để tất cả những ai thỉnh cầu siêu độ đều có thể vãng sinh Phật quốc thanh tịnh. Còn có cúng nhà là hy vọng mỗi người trong một năm đều có thể mua được một căn nhà. Đây chính là tăng ích. Cúng quần áo là hy vọng mỗi người đều có thể được vui vẻ, mỗi khi mặc vào là đều rất xinh đẹp.

Cho nên, ăn cũng có rồi, mặc cũng có rồi, ở cũng có rồi, còn đi lại thì sao? Có cả cúng xe hơi, là hy vọng mỗi người đều có thể lái băng băng, xe Rolls-Royce và xe nổi tiếng nhất Ferrari. Ăn, mặc, ở, đi lại, còn dục thì sao? Phương diện giáo dục, cúng kinh sách là hy vọng mọi người đều có thể thâm nhập kinh tạng, có được pháp vị. 

Vì thế, pháp Hộ Ma của chúng ta, ý nghĩa tượng trưng của cúng phẩm vô cùng nhiều, pháp lực gia trì của nó sẽ sản sinh ra sẽ khiến tất cả đạt được viên mãn. Nhờ cúng dường này, bạn cầu nguyện chư Phật Bồ Tát, Kim Cang Hộ Pháp, Không Hành chư Thiên, nhờ cúng dường Hộ Ma, bạn cầu nguyện ngài để cho tất cả tai nạn có thể đẩy lùi, bệnh nghiệp không còn, tất cả thị phi không còn, tất cả phiền não loại bỏ, tất cả kẻ thù cũng biến mất. Nhờ vào pháp lực Hộ Ma, bạn có thể hàng phục tất cả tai nạn, biến thành không có.

Ngoài ra, thân thể của bạn cũng sẽ khỏe mạnh, chính là tiêu tai đó. Tất cả tai nạn của bạn đều không có thì tương đương với tiêu tai rồi! Nhờ pháp Hộ Ma này, bạn cũng có thể thỉnh cầu hôn nhân của bạn viên mãn, gia đình có được sự kính ái, đây là tăng ích. Vì thế, tiêu tai, tăng ích, hàng phục, kính ái đều viên mãn. Đây chính là tất cả nguyện vọng mà chúng ta cầu nguyện Phật Bồ Tát, chư Thiên trong khi làm Hộ Ma. Chúng ta cúng dường rồi, cũng cầu nguyện chư Thiên rồi, hy vọng các vị sẽ ban cho chúng ta phúc phần rất lớn, rồi tất cả tai ách đều được đẩy lùi.

Khi Sư Tôn làm Hộ Ma, tinh thần vô cùng thống nhất. Tôi cầu nguyện vô cùng tập trung. Mỗi một cúng phẩm tôi đều giơ lên, ở trên lông mày, biểu thị rất tôn sùng, tôi cực kì thành ý, đem những cúng phẩm này dâng cho Diêu Trì Kim Mẫu và tất cả chư tôn. Tôi làm xong cầu nguyện thì sao? Tôi sẽ bỏ cúng phẩm vào lò, khi ngọn lửa này bốc lên, Diêu Trì Kim Mẫu sẽ giáng xuống giữa ngọn lửa, ngài tiếp nhận cúng dường này, còn người làm cúng dường chúng ta thì đi vào trong lửa, và Diêu Trì Kim Mẫu, người cúng dường, tất cả chúng sinh đều ở trong lửa, có được pháp lực gia trì lớn nhất của Hộ Ma.

Trong lúc bạn làm cúng dường, kết thủ ấn, niệm chú Tứ quy y, hoặc bạn làm thí thực, làm siêu độ, đều là đang huấn luyện cho tinh thần bạn chuyên nhất. Tinh thần có thể chuyên nhất, hoàn toàn rất chuyên nhất để làm đàn cúng dường Hộ Ma này, bạn lại biến hóa đàn cúng dường này thành nghìn nghìn vạn vạn đàn cúng dường, thế thì pháp lực này càng tuyệt vời. Vì thế, Tổ sư Tsongkhapa từng nói: ba đại thành tựu của Mật giáo, một là thành tựu trì minh, tức là tinh thần tập trung để trì chú. Chỉ cần bạn có thể tập trung tinh thần liên tục trì chú thì sẽ xúc động tâm của Phật Bồ Tát và hợp nhất với bạn. Sau đó bạn nhờ vào trì chú mà sinh ra sức mạnh, có thể vãng sinh Phật quốc thanh tịnh. Hai là thành tựu cúng dường. Tức là khi làm Hỏa Cúng, bạn có thể tập trung tinh thần để làm một lần Hỏa Cúng thì tương đương với làm nghìn nghìn vạn vạn lần Hỏa Cúng, có thể nhập vào trong lửa, đạt đến tinh thần thống nhất, Phật Bồ Tát chư Thiên giáng xuống người bạn, với sức mạnh nhiếp triệu này, bạn có thể huấn luyện sự tập trung của bạn thành công, nhập Tam ma địa vãng sinh Phật quốc thanh tịnh, đây là thành tựu cúng dường. Ba là thành tựu Tam ma địa. Bạn có thể nhờ sức mạnh thiền định, tứ thiền bát định mà siêu vượt tam giới, đi đến Phật quốc.

Vì thế Hộ Ma vô cùng quan trọng, bởi vì bạn không những nhập thế thành tựu về pháp thế gian, mà còn có thể thành tựu pháp xuất thế gian. Lửa này là lửa bên ngoài, cũng có thể tịnh hóa thân thể của chúng ta, bởi vì sự tịnh hóa của lửa này từ từ biến thành thân vi tế, chính là Báo thân, sau đó nhờ ánh sáng của lửa tịnh hóa, tất cả thân thô của bạn sẽ đều biến mất, hoàn toàn tiến vào thân vi tế nhất, chính là Pháp thân của niết bàn. Lúc này, Pháp thân thành tựu rồi, Báo thân thành tựu rồi, Ứng thân cũng thành tựu rồi. Vì thế, Mật giáo dạy bạn rằng biến thân thô của con người chúng ta thành thân vi tế, rồi lại biến thành thân vi tế nhất, nhờ vào Hộ Ma cũng có thể thanh tịnh thân thô của chính mình. Om mani padme hum.

Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật khai thị tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự ngày 19/11/2006.
